Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ

Cách Lập Bàn Thờ Cửu Huyền Thất Tổ

Văn hóa thờ cúng đã có từ rất lâu đời và cho đến ngày nay thì đã là một tín ngưỡng của người dân. Bất kỳ một xã hội nào dù văn minh hay không đều thờ cúng một vị thần nhất định với mong muốn có thể được che chở, được bảo vệ và gửi gắm những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Việt Nam là một đất nước có truyền thống lâu đời, được tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Chính vì thế mà văn hóa thờ cúng đã xuất hiện rất sớm, đồng hành cùng sự phát triển xã hội, nhân loại. Đi cùng với văn hóa thờ cúng là các đồ thờ cúng được điêu khắc, vẽ tạo dựng rất tinh xảo phù hợp cho từng nền văn hóa khác nhau. Cửu Huyền Thất Tổ là một trong số những đồ vật thờ cúng như vậy. Bài viết hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu về Cửu Huyền Thất Tổ mục đích, ý nghĩa thờ cúng của nó.

Ý nghĩa của Cửu Huyền Thất Tổ:
Như chúng ta đã biết, mỗi một đồ vật thờ cúng đều có ý nghĩa của riêng nó nhằm phục vụ cho đời sống tâm linh của con người.

Cửu Huyền Thất Tổ khi phân tích từng chữ một chúng ta sẽ thấy được sự huyền diệu và ý nghĩa của trong đó. Theo Phật giáo cửu là số chín, là con số trọn vẹn may mắn. Chính vì thế mà đối chiếu với văn hóa thờ cúng tổ tiên của Việt Nam thì thì Cửu Huyền ở đây có nghĩa là Chín đời của gia chủ. Chín đời đó bao gồm: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Việc thờ cúng chín đời là việc chúng ta nhớ đến tổ tiên, nhớ đến những người đã khuất, đức cao trọng vọng mong sao được phù hộ, che chở cho các thế hệ sau và đồng thời cũng là 5 thế hệ sau nhằm mục đích răn dạy con cháu phải biết nhớ ơn đến người đã khuất, mong muốn được bao bọc và sống phải có tâm. Theo các cư sĩ đã đi theo phật pháp thời gian dài và những nghiên cứu lâu dài đã cho biết tính từ gia chủ tính ngược về trước bốn đời và tính về sau 5 đời thì đủ Cửu Huyền.

Thất Tổ là chỉ về bảy đời bao gồm là Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ. Thất Tổ chỉ thờ cúng những người quá cố có mối quan hệ mật thiết với gia chủ. Những người quá cố đó đều là đức cao, trọng vọng có thể che chở con cháu đời sau bình an đời đời.

Liễn thờ Cửu Huyền Thất Tổ của các gia chủ có thể được viết bằng chữ việt cũng có thể được viết bằng chữ hán ở ngay trước cửa. Văn hóa thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ là sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng của người Việt từ xưa.

Không ai biết văn hóa thờ cúng tổ tiên có từ bao giờ nhưng từ khi đời sống của con người được đảm bảo ổn định, những hiền triết hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc con cháu luôn nhớ đến công ơn người đã khuất. Tranh thờ Cửu Huyền Thất Tổ đã dần trở thành một tín ngưỡng, một văn hóa tinh thần cho người dân với mong muốn nhớ đến công ơn những bậc cha chú, ông bà cầu mong được bao bọc, được phù hộ cho con cháu. Đặc biệt bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ còn thể hiện sự thành kính của những người còn sống với người đã khuất, mong muốn con cháu đời sau phải biết cư xử đẹp, đúng khuôn phép, gia đình hòa thuận, cuộc sống ấm no làm rạng rỡ tổ tiên.

Nội Dung tranh thờ Cửu Huyền Thất Tổ:
Rất nhiều người chưa hiểu rõ được về Cửu Huyền Thất Tổ cứ tưởng là thờ một hoặc một số vị phật tổ nào đó nhưng không phải như vậy. Cửu Huyền Thất Tổ chủ yếu là một bài vị có được khắc chú “Cửu Huyền Thất Tổ”. Tùy thuộc vào gia chủ mà có những cách khắc khác nhau như là: khắc bằng chữ Việt, khắc bằng chữ Hán,… Trên bài vị khắc Cửu Huyền Thất Tổ có chạm trổ thêm những hoa văn khác nhau để mang ý nghĩa thờ cúng, may mắn cho các gia chủ.

Thực chất Cửu Huyền Thất Tổ được bắt nguồn từ đạo Nho và được truyền thừa lại cho con cháu. Đến khi có Phật giáo lưu truyền thì người dân đã biết kết hợp giữa hai văn hóa tinh thần với nhau lại. Trong bài vị của Cửu Huyền Thất Tổ thường được chạm khắc hình rồng bởi theo nho giáo rồng là vật chí cao vô thượng cai quản mọi sự vật trên trời đất. Ở giữa chữ Cửu Huyền Thất Tổ được khắc tinh xảo ngay ngắn, có khi thêm cả hai câu đối ngụ ý bình an, răn dạy con người.

Cách lập bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ:
Như đã nhắc đến ở trên, việc thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ hiện nay có một chút liên quan đến Phật giáo nên các gia chủ không nắm rõ được cách bày trí sao cho đúng nhất. Cửu Huyền Thất Tổ chỉ là một bài vị được điêu khắc cẩn thận, tỉ mỉ bằng chất liệu đặc thù các gia chủ cần có những bàn thờ riêng biệt. Với những gia đình có điều kiện thì có xây một căn nhỏ dành cho việc thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ.

Trên bàn thờ bài vị Cửu Huyền Thất Tổ được đặt nghiêm trang và cố định vào tường thể hiện sự vững chãi chắc chắn. Trên bàn thờ cũng phải có đầy đủ tất cả những vật dụng thờ cúng cần thiết và được đặt những vị trí quy định.

Đèn vọng thì được đặt chính giữa phía trước bài vị Cửu Huyền Thất Tổ, đĩa trái cây được đặt ở bên trái bàn thờ, bên phải là bình hoa. Với bình hoa thì các gia chủ có thể sử dụng hoa tươi hoặc là hoa sen được khắc từ gỗ. Tiếp đến là chung nước trà được đặt ở bên trái nhưng thụt vào một chút so với đĩa trái cây và ly rượu cũng ở bên đối diện tương tự như vậy. Hai đèn ghi được đặt ở phía bên ngoài thẳng hàng với đĩa trái cây và bình hoa. Cuối cùng là lư hương dùng để cắm hương (thông thường 3 cây) sẽ được đặt chính giữa phía ngoài cùng trước mặt đèn vọng.

Như vậy cách bày trí bài vị Cửu Huyền Thất Tổ chúng ta có thể thấy được yếu tố nho giáo vô cùng rõ rệt trong đó. đạo Nho hướng đến giáo dục, răn dạy con người bằng những triết lý cuộc sống, đặc biệt là biết nhớ thương những người đã khuất, cầu phúc cho con cháu đời sau. Trước kia trong dân gian chỉ có nghi thức thờ cúng Cửu Huyền còn Thất Tổ chỉ dành cho bậc vua chúa, quyền quý nhưng ngày nay các gia đình đã gộp lại Cửu Huyền Thất Tổ để thờ cúng.

Nhìn vào cách bày trí bàn thờ chúng ta cũng có thể thấy được ngoài Đạo giáo cũng có chút hơi hướng liên quan đến Phật giáo như là: bình cắm hoa, đèn vọng… Đặc biệt là bình hoa chúng ta thường thấy là các hoa sen được đúc bằng đồng hoặc khắc từ gỗ quý.

Một điều đặc biệt là bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ có thể được đặt ảnh hoặc bài vị của những người đã khuất. Đây là sự kết hợp giữa đạo Nho và văn hóa thờ cúng của người Việt xưa là nhớ đến những người đã khuất. Tuy nhiên những người đã khuất có tuổi đời còn trẻ thì không được đặt ngang hàng mà phải đặt ảnh, bài vị, bát hương thấp hơn bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ.

Một số điều nên tránh khi bày trí Cửu Huyền Thất Tổ
Đầu tiên là nên tránh bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ trong lồng kính hoặc trong hộp. Không được đặt đồ vật gì lên trên kể cả kinh sách Phật. Điều này là để chúng ta tôn trọng mỗi một văn hóa thờ cúng và tôn giáo một.

Thứ hai là tránh đặt bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ bên dưới bàn thờ Phật. Điều này cũng tương tự như trên là sự tôn trọng của gia chủ với những văn hóa thờ cúng khác nhau cũng như để gia chủ có thể thờ cúng một lúc hai bàn thờ mà không ảnh hưởng gì.

Nếu gia chủ không có điều kiện thì có thể đặt bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ cùng bàn thờ Phật nhưng phải có vách ngăn và bài vị Cửu Huyền Thất Tổ không được cao hơn các bức tranh hoặc tượng Phật.

Cách thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ:
Ngoài cách bày trí các gia chủ cúng phải học hỏi cách thờ cúng sao cho đúng với văn hóa của Đạo gia. Bài văn cúng đã được truyền lại đời đời cho con cháu với mục đích lưu giữ văn hóa, tưởng nhớ đến những người đã khuất.

Bài văn khấn cúng Cửu Huyền Thất Tổ được lưu truyền đến hiện nay là:

Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ,
Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành,
Con quy y Phật tu hành,
Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri.
Noi theo hạnh từ bi của Phật,
Bỏ dứt đi những tật xấu xa,
Trau giồi đức hạnh thuận hòa,
Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền.
Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng,
Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin,
Cửu Huyền Thất Tổ hương linh,
Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu.
Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm,
Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn,
Ăn cay, uống đắng không sờn,
Vì con đau khổ không hờn phiền chi.
Cha mẹ rất từ bi hà hải,
Nội ngoại đồng bác ái tình thương,
Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương,
Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh.
Ân dưỡng dục minh minh như hải,
Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao,
Con nay muốn đáp công lao,
Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong.
Lời Phật dạy mênh mông biển khổ,
Cõi Ta bà không chỗ dựa nương,
Chúng sanh vì bởi tình thương,
Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu.
Sanh tử mãi biết đâu mà kể,
Cứ trầm luân trong bể ái hà,
Cũng vì bản ngã chấp ta,
Tham lam, sân giận, cùng là si mê.
Những tội lỗi không hề dứt bỏ,
Ðường tử sanh nên khó bước qua,
Làm con muốn cứu mẹ cha,
Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân.
Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo,
Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền,
Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền,
Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy.
Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ,
Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền,
Chúng sanh tất cả các miền,
Thì nên phát đại lời nguyền độ tha.
Trước xuất thế lìa xa cõi tục,
Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm,
Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham,
Thân tâm thanh tịnh, Già Lam dựa kề.
Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả,
Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng,
Vượt lên cửu phẩm thượng tầng,
Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao.
Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ,
Muốn đáp đền mối nợ từ xưa,
Cần nên tu niệm sớm trưa,
Công dầy quả mãn phước thừa báo ân.

Bài cúng Cửu Huyền Thất Tổ
(Văn khấn cúng cơm)

Nền văn hóa của Việt Nam đã trải qua rất nhiều những thay đổi nhưng cái cốt lõi chúng ta vẫn giữ gìn được. Chính vì thế mà các văn hóa thờ cúng vẫn luôn được bảo tồn như chính con người Việt Nam vậy.

Quan Thánh Đế Quân

Quan Thánh Đế Quân tức là Đại tướng quân Quan Vũ của nước Thục Hán thời đại Tam Quốc. Tên tự là Vân Trường, có bộ râu dài rất đẹp, vũ dũng tuyệt luân, về dung mạo Quan Vũ, La Quán Trung miêu tả như sau: “… to lớn trượng phu, (…) mình dài chín thước, râu dài hai thước [Một thước tàu (xích) khoảng 0,3581 mét], mặt đỏ như gấc; môi thắm như son; mắt phượng, mày ngài; tướng mạo đường đường; uy phong lẫm lẫm.” [La Quán Trung I, 1994: 10].
Kinh Minh thánh tả:
Ngọa tàm mi bát tự,
Đan phụng mục song tinh.
Ngũ long tu bãi vĩ,
Nhứt hổ ngạch dao thân.

(Mày tằm nằm hình chữ bát,
Mắt phượng sáng như sao.
Râu rồng rõ năm chòm,
Trán hùm thân lẫm liệt.)

Ngài cùng với Lưu Bị, Trương Phi kết nghĩa làm anh em ở Đào Viên, nay gọi là “đào viên kết nghĩa”, Ngài có công bình định Tây Thục, vỗ an bá tánh Kinh Châu, từng đại phá quân Tào. Sự trung nghĩa của Ngài quá cao cả, còn sáng mãi với sử xanh.

*Tín ngưỡng dân gian Trung Quốc từ triều đại nhà Hán đến nay, đã dần dần dung hợp tinh túy cả ba tôn giáo lớn Nho, Lão, Thích lại làm một. Nhưng về niềm tin thần minh, thì đa số tùy theo một hệ thống của tôn giáo đó mà thôi. Ví dụ như, đức tin về “Ma Tổ” (Thiên Hậu Nương Nương) là thuộc về Đạo giáo (Lão), tin về Khổng Tử thuộc về Nho giáo, tin đức Quán Âm Bồ tát thuộc về Phật giáo v.v…Giới hạn niềm tin thần minh có ranh giới hẵn hoi, tức tùy thuộc vào tôn giáo của người đó. Riêng về đức Quan Thánh Đế Quân thì không có ranh giới nào, mà cả ba tôn giáo đều có. Như đạo Khổng thì tôn xưng Ngài là “ Quan Thánh Đế Quân” còn gọi là “Văn Hành Đế Quân”. Phật giáo nêu cao gương trung nghĩa của Ngài mà gọi là Hộ Pháp. Theo truyền thuyết thì Ngài đã từng hiển thánh ở Ngọc Tuyền Sơn và qui y nhà Phật. Nhân đó mà thành Hộ Pháp Già Lam của nhà Phật. Có nơi còn nói Ngài là một vị “Cái Thiên Cổ Phật” nữa. Còn trong Đạo giáo thì qua nhiều đời tôn xưng, danh hiệu chẳng đồng. Như các danh hiệu sau:- “Hiệp Thiên Đại Đế”, “Tường Hán Thiên Thần”, “Vũ Thánh Đế Quân”, “Quan Đế Gia”, “Vũ An Tôn Vương”, “Ân Chủ Công”, “Tam giới Phục Ma Đại Đế”, “Sơn Tây Phu Tử”, “Đế Quân Gia”, “Quan Tráng Mậu”, “Văn Hành Thánh Đế”, “Sùng Phú Binh Quân”, v.v… Phổ biến nhất trong dân gian tôn xưng Ngài là “ÂN CHỦ CÔNG”.

*Ngài Quan Vũ giáng sanh vào ngày hai mươi bốn tháng sáu năm Diên Hi thứ ba đời Đông Hán, ở thôn Hạ Phùng, huyện Giải (sau thành châu Giải) , quận Hà Đông, bộ Hiệu Úy của Trực Lệ.(nay là thôn Thường Bình làng Thường Bình của Vận Thành). Trước nay hay nói Ngài Quan Vũ là người của châu Giải.

*Theo các sách sử ghi lại, Ngài kết hôn vào năm 17 tuổi, năm sau sanh ra Quan Bình. Đến năm 19 tuổi, tên quan coi về muối của địa phương (Diêm quan) đàn áp bốc lột bá tánh nên bị Quan Vũ giết chết , đây coi như một hành động nghĩa khí “trừ ác giúp đời”. sau đó, Ngài phải chạy trốn đến vùng châu Trác của Hà Bắc, làm quen được với Trương Phi rồi sau đó là Lưu Bị. Ba người đã cùng nhau kết nghĩa bằng hữu kim lan, rồi từ đó theo phò Lưu Bị, trải qua nhiều cuộc nam chinh bắc chiến để khôi phục nhà Hán. Năm 40 tuổi được phong chức “Thọ Đình Hầu”. năm 49 tuổi được phong làm Thái Thú ở Tương Dương, chức là “Đãng Khấu Tướng Quân”. Năm 50 tuổi phong làm “Tổng Đốc Kinh Châu Sự”. Năm 59 tuổi (năm 219) thì anh dũng xả thân từ biệt nhân thế ở Đương Dương, Hồ Bắc.

*Cũng theo truyền thuyết thì Ngài Quan Vũ thân cao chín thước sáu tấc (thước ta), râu dài một thước sáu tấc, mặt đỏ như táo bầm, mày ngài mắt phượng, thần khí uy nghiêm. Đó là do cái khí tiết trung can nghĩa khí bên trong của Ngài biểu hiện ra bên ngoài vậy. Người xưa có bài thơ ca tụng Ngài:-

“Tinh trung xung nhật nguyệt
—Nghĩa khí quán càn khôn
—Diện xích tâm vưu xích
—Tu trường nghĩa cánh trường”.

*Dịch:-
Lòng trung chói lọi trời trăng,
Đất trời nghĩa khí sánh bằng, không ngoa.
Đỏ tâm đỏ mặt sáng lòa,
Râu dài, đại nghĩa ai qua được Ngài?”

*Theo “Tam quốc chí diễn nghĩa” thuật lại, Quan Vũ bị tướng Ngô là Lữ (Lã) Mông mưu hại ở Mạch Thành, con trai Quan Bình và bộ hạ Châu Thương (Xương) cũng chết theo. Hồn phách anh linh của ba người bay về núi Ngọc Tuyền ở Đương Dương, Kinh Châu, được Phổ Tĩnh Pháp Sư điểm ngộ cho, nên Chân Linh Ngài thường trụ ở Ngọc Tuyền mà phù hộ dân chúng, do đó mà dân cư quanh vùng lập Miếu Thờ Ngài.

*Sinh thời, Quan Thánh Đế Quân có nghĩa khí vô cùng lớn lao, phủ trùm trời đất. Xét về đức ngũ thường : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì Ngài gồm đủ. Ngàn dậm tìm anh (Lưu Bị) là “nhân”, ở Hoa Dương tha Tào Tháo là “nghĩa”, thắp đèn đọc sách suốt đêm là “lễ” (lúc hộ tống hai bà vợ Lưu Bị), chỉ khói nước làm an lòng quân sĩ là “trí”, đơn đao đi phó hội là “trí” (xem truyện Tam Quốc),
Do đó, trong “Quan Thánh Đế Quân Minh thánh Chân Kinh” có nói rằng :- “Ngài là nguồn gốc đức trung tín hiếu để của con người, là căn cội hạnh lễ nghĩa liêm sĩ của con người vậy!”. Tóm lại Ngài có đủ đức hạnh của loài người.
Do đó, sách “Nam thiên Văn hành Thánh Đế truyện lược” đã dựa vào nội dung tám đức nầy mà kể lại câu chuyện đời Ngài . Dân chúng ở Tam Giáp xây Miếu Thờ nhưng nay đã bị nước lũ làm trôi đi rồi.

*Câu tán dương công đức Ngài như sau:- “Đầu thì gối lên đất Lạc Dương, thân thì nằm trên đất Tương Dương, tinh hồn bay về quê cũ”. Các địa điểm Đương Dương ở Hà Bắc, Tương Dương ở Hà Nam, Vận Thành ở Sơn Tây đều có xây dựng Miếu Quan Đế rất to lớn.

*Truyền thuyết nói rằng, khi Quan Công chết, ngã vào thân của Lã Mông thì Lã Mông bị bảy lổ ra máu mà chết. Nước Ngô đem thủ cấp Quan Công sang cho nước Ngụy, lúc Tào Tháo mở nắp hộp đựng thủ cấp của Ngài ra, Quan Công đã trừng mắt mở miệng nhìn , khiến mọi người run sợ. Vì vậy mà Tào Tháo phải cúng tế Ngài rất trọng hậu.
*
* *

*Chẳng những Quan Công được ba tôn giáo Nho. Lão, Thích tôn xưng là thần, mà ngay cả các vua nhiều đời cũng đã gia phong cho Ngài suốt 23 lần, từ chức “Hầu” lên đến chức “Thánh” như sau:-
-Hán Hậu Chủ (năm 260) truy phong tên thụy của Quan Công là “Tráng Mậu Hầu”.
-Năm Sùng Ninh thứ nhất (năm 1102 ) đời vua Huy Tông Bắc Tống phong làm “Trung Huệ Công”.
-Năm Sùng Ninh thứ ba (năm 1104 ) đời vua Huy Tông Bắc Tống tấn phong làm “Sùng Ninh Chân Quân”.
-Năm Đại Quan thứ hai (năm 1108 ) chúc phong làm “Vũ An Vương”.
-Năm Tuyên Hòa thứ năm (năm 1112 ) tái phong làm “Nghĩa Dũng Vũ An Dương”.
-Năm Kiến Viêm thứ hai (năm 1128 ) đời vua Cao Tông Nam Tống phong làm “Tráng Mậu Nghĩa Dũng Vũ An Vương”.
-Năm Thuần Hi thứ mười bốn (năm 1187 ) vua Hiếu Tông phong làm “Tráng Mậu Nghĩa Dũng Vũ An Anh Tế Vương”.
-Năm Thiên Lịch thứ nhất (năm 1328 ) đời vua Văn Tông nhà Nguyên phong làm “Hiển Linh Nghĩa Dũng Vũ An Anh Tế Vương”.
-Năm Hồng Vũ thứ hai mươi bảy đời vua Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sắc lệnh cho xây dựng “Quan Công Miếu” ở Nam Kinh, và ra lệnh mọi người phải bái kính Ngài.
-Minh Hiến Tông sắc lệnh trùng tu Miếu Quan Công.
-Năm Vạn Lịch thứ mười (năm 1528 ) đời vua Thần Tông nhà Minh phong làm “Hiệp Thiên Hộ Quốc Trung Nghĩa Đế”.
-Sau ban sắc chỉ sửa đổi tên Miếu Thờ Quan Công ở châu Giải là “Anh Liệt Miếu”.
-Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi hai (năm 1614 ) đời vua Thần Tông nhà Minh phong làm “Tam giới Phục ma Đại Đế Uy viễn chấn Thiên tôn Quan Thánh Đế Quân ”. Lại ban sắc lệnh cho “dát vàng” y phục của tượng Ngài Quan Công ở miếu thờ kinh đô, phong Lục Tú Phù và Trương Thế Kiệt làm tả hữu Thừa Tướng cho Quan Thánh Đế Quân ; Nguyên soái Nhạc Phi (đời Tống) và Uất Trì Cung (đời Đường) là Già Lam Hộ Pháp cho Ngài; lại phong cho phu nhân của Quan Công là “Cửu Linh Ý Đức Vũ Túc Anh Hoàng Hậu”; phong cho trưởng tử Quan Bình làm “Kiệt Trung Vương”, thứ tử Quan Hưng làm “Hiển Trung Vương”, Châu Thương (Xương) làm “Uy Linh Huệ Dũng Công”.
– Năm Thuận Trị thứ nhất (năm 1644) đời vua Thế Tổ nhà Thanh phong làm “Trung Nghĩa Thần Vũ Quan Thánh Đại Đế ”.
– Năm Ung Chính thứ nhất đời Thanh gia phong làm “Linh Hựu”.
– Vua Khang Hi nhà Thanh phong làm “Phục Ma Đại Đế ”.
– Năm 1703, đích thân vua Khang Hi nhà Thanh đến quê của Quan Công ở châu Giải để bái yết và đề biển cho Miếu thờ Ngài.
– Năm Càn Long thứ 53 đời Thanh gia phong “Trung Nghĩa Thần Vũ Linh Hựu Quan Thánh Đại Đế .
– Năm Ung Chính thứ ba (năm 1725) vua Thế Tông nhà Thanh truy phong tằng tổ của Quan Công , ông cố là “Quang Thiệu Công”, ông nội là “Dụ Xương Công”, còn cha là “Thành Trung Công”.
* Trải qua các đời vua Nhân Tông, Cao Tông, Tuyên Tông, Văn Tông nhà Thanh cũng đều có gia phong và đề biển ở Miếu thờ Ngài.
– Năm Đạo Quang thứ tám, gia phong hai chữ “Uy Hiển”, – Năm Hàm Phong thứ nhất, tái gia phong hai chữ “Tinh Thành”, Tuyền Hựu phong hai chữ “Tuy Tĩnh” và ban cho tấm biển đề “Vạn Thế Nhân Cực”, Đồng Trị gia phong hai chữ “Dực Tán”, Quang Tự gia phong hai chữ “Tuyên Đức”. Đến năm Quang Tự thứ năm (năm 1879) thì Quan Công đã được sắc phong danh hiệu dài tới 26 chữ là:-

“TRUNG NGHĨA THẦN VŨ LINH HỰU NHÂN DŨNG UY HIỂN HỘ QUỐC BẢO DÂN TINH THÀNH TUY TĨNH DỰC TÁN TUYÊN ĐỨC QUAN THÁNH ĐẠI ĐẾ”.

Nhà vua lại sắc lệnh cho cả nước đều xây Miếu Thờ Quan Thánh Đế Quân , hai kỳ Xuân, Thu phải chí thành cúng tế.
Tín ngưỡng dung hợp được cả ba tôn giáo Nho, Lão, Thích hòa với tính ngưỡng dân gian như trường hợp của Ngài Quan Thánh Đế Quân thì vốn không có nhiều ở Trung Quốc.

* Nho giáo thì tôn xưng Quan Công là một trong “Ngũ Văn Xương”, lại tôn là “Văn Vệ Thánh Đế”, hoặc “Sơn Tây Phu Tử”, Có khi tôn là á thánh, á hiền rằng:-“Ở Sơn Đông có một người làm Xuân Thu (chỉ Khổng Tử)—Sơn Tây có một người xem Xuân Thu (chỉ Quan Công)”.

* Đạo giáo thì thờ Quan Công như là một vị gần gũi với Ngọc Hoàng Thượng Đế , tôn xưng Quan Công là “Dực Hán Thiên Tôn”, “Hiệp Thiên Đại Đế” hoặc “Vũ An Tôn Vương”.

* Phật giáo thì lấy sự trung nghĩa của Quan Công làm Hộ Pháp, lại có truyền thuyết Ngài đã từng hiển thánh ở núi Ngọc Tuyền, qui y với nhà Phật. Do đó, tôn Ngài làm “Cái Thiên Cổ Phật” hoặc “Hộ Pháp Già Lam”.

* Trong dân gian, việc cúng tế Quan Công đã trải qua một ngàn bảy trăm năm. Quan Công đã sớm lìa bỏ thân phận của Quan Vũ trong Tam Quốc Chí, để trở thành vị thần minh “đa nguyên hóa” (nhiều nguồn gốc sanh ra).

*** VỊ THỦ HỘ THẦN CỦA THƯƠNG GIỚI:-

Theo truyền thuyết thì Quan Công lúc còn trẻ, nơi quê hương có lúc làm nghề bán vải vóc để sinh nhai. Lúc sinh tiền, Ngài cũng giỏi về việc quản lý , từng làm công việc kế toán sổ sách, đã phát minh ra pháp “Nhật thanh bộ” (kế toán mỗi ngày rõ ràng) giống như ngày nay chúng ta gọi là “Nhật ký chi thu” vậy.
Ngài Quan Công sở trường về sử dụng cây đao Thanh long yểm nguyệt, thập phần “có lợi”, từ nầy đồng âm với chữ “Lợi” trong nghề buôn hay giao dịch (có lời). Hơn nữa, trong việc làm ăn mua bán với nhau, điều tối quan trọng là chữ “tín” và tinh thần “trọng nghĩa khí” v.v… mà những đức tính đó, Ngài Quan Vũ đều có thừa. Cho nên giới thương gia mới tôn thờ Ngài làm “thần thủ hộ” cho nghề nghiệp mình, hơn nữa Ngài cũng có chức năng là “Thần Tài” để phù hộ cho mọi người phát tài. (xem bài nói về Thần Tài).

*** THẦN Y DƯỢC:-

Dân gian tin rằng, con người sở dĩ bị bệnh hoặc gặp xui xẻo, là do thần ma quỷ quái phá phách. Quan Công đã được tôn xưng là “Phục Ma Đại Đế” thì dĩ nhiên là có năng lục trừ tà trị quỷ rồi. Do đó, tại các Miếu Quan Đế thường có đặt thùng thuốc để dân chúng đến cầu trị bệnh thì sử dụng cho lành bệnh. Như vậy, Quan Công đã trở thành “Thần Y Dược” rồi vậy .

*** THẦN CHIẾN ĐẤU:-

Quan Công xưa đã từng là một vị đại tướng nổi danh, vũ dũng của Ngài hi hữu trong đời. Cho nên, những người học tập võ nghệ thờ Ngài là bậc “Võ Thánh” (vị thánh về võ nghệ) trong nhiều đời, mọi người khác thì tin vào tinh thần thượng võ (cứu khổn phò nguy) của Ngài, nên xưng là thần hộ mệnh. Còn giới chiến đấu thì cũng thờ Ngài làm thần bảo hộ , cho nên, giới thanh niên trước khi đi vào quân ngũ cũng thường hay đến Miếu thờ để cầu xin sự bảo hộ bình an của Ngài.
*
* *
Bậc anh hùng sau khi chết thành thần, được nhân gian sùng kính, là một nét văn hóa đặc sắc của người Trung Quốc. Thế nhưng, xưa nay số lượng anh hùng được dân gian sùng bái như Ngài Quan Công thì cũng không có nhiều. Việc thờ cúng Ngài đời đời chẳng những tồn tại mà còn có xu thế ngày càng phát triển cao hơn, rộng hơn, tôn kính nhiều thêm lên chứ không bị suy giảm, thì chỉ có tín ngưỡng về Quan Thánh Đế Quân mà thôi ! Điều đó khẳng định rằng, Quan Công là một vị “Thần Anh Hùng” tối thắng trong tim mắt của mọi người dân Trung Quốc.

*** KẾT LUẬN:-
Giới học tập và văn nhân thì nương vào Quan Công là một trong “ngũ văn xương” (Văn Xương, Châu Y, sao Khôi, Lã Tiên, Quan Công).
Phật giáo thì xưng Ngài có chính khí, xứng đáng làm thần hộ pháp nên phong làm “Già Lam Hộ Pháp”.
Rồi trong Nho giáo, Đạo giáo, giới thương gia, y dược v.v… cũng đều tôn xưng Quan Công như đã nói trên.
Như vậy, chúng ta có thể nói, Quan Công là vị thánh thần của muôn nhà muôn đời.

* Về hình tượng thì giới thương nhân thờ Quan Công với hình tượng ngồi xem kinh Xuân Thu, giới quân sự hay nhà võ thì thờ Ngài bằng hình tượng cỡi ngựa múa đao
Các cơ quan cảnh vệ ở Hồng Kông đều có phòng thờ Quan Thánh Đế Quân .
Nơi thờ phượng Ngài gọi là Miếu Quan Đế hoặc Hiệp Thiên Cung, Vũ Miếu, Văn Vũ Miếu.
* Thánh đản của Ngài Quan Thánh Đế Quân là ngày hai mươi bốn tháng sáu âm lịch.

Sau khi qui vị, chơn linh của Quan Công nhờ tu ở chùa Phổ Tịnh mà được hiển Thánh. Khi hiển Thánh rồi, Ngài trừ tà diệt quỉ, cứu độ sanh linh và từ đó đến bây giờ không tái kiếp lần nào nữa, cho mãn đến hạ ngươn bạch dương tam kỳ này ngài chỉ dụng cái quyền Thiêng Liêng mà hành đạo nên Ngài đắc hàng phẩm Phật (Cái Thiên Cổ Phật) như trên đã nói. Ngài đứng hoàn toàn về giới luật mặt Pháp, cầm quyền Tam Trấn Oai Nghiêm thay mặt Nho Giáo nắm phần công bình nên còn được biết đến với Thiên chức vị Pháp luật chủ, diệt trừ những kẻ tà tâm, phản loạn chơn truyền, phân phe lập phái để làm nền Đạo cho ra thiệt tướng.
Lại nữa, vào thời kỳ Nho Giáo chuyển luân nên thờ Đức Quan Thánh Đế Quân là soi gương trung thành cho toàn Nam phái nối chí, dốc tâm tu hành lập đời Thánh Đức.

Tư Liệu Tham Khảo Hiệu Đính.
Kho tàng trí thức từ Hư Vô.

Giáng Vũ Lão Nhân.

KINH NGŨ CỐC

KINH NGŨ CỐC

NGŨ CỐC DIỆU KINH
THÁI-THƯỢNG LÃO-QUÂN THUYẾT NGŨ CỐC DIỆU KINH
Nhĩ thời Bàn-Cổ diệt độ chi hậu,
Phục hữu nhơn dân, vi hữu ngũ cốc,
Thực thảo mộc vi hượt sanh,
Diên-Ðế-Vương phục lập.

Thiên địa thế giới tam thiên thất bá niên sở vì vi xuất xứ, vãng thất thập. Nhị sơn, tầm mạch Ngũ cốc khẩu thường bá thảo, ác độc thần thiệt tiêu lạng. Nhiên hậu Diêm-Ðế Vương vãng nhứt Dương sơn, tầm đắc túc tử nhứt liệp, kế táo thọ trung, bác chưởng đắc thành túc cốc. Ðại lượng sơn trung, tâm đắc đạo cốc Nhứt liệp, kế tại liểu thọ trung. Thất chưởng đắc thành đạo cốc. Châu Thạch sơn tầm đất tiêu đậu nhứt lõa, kế tại lý thọ trung lục chưởng đắc thành tiểu đậu, duy thạch sơn tầm đắc đại đậu nhứt liệp, kết tai quẻ, thọ trung ngũ chưởng đắc thành đại đậu. Trưởng thạch sơn tầm đất đai tiểu mạch, Nhị liệp, kế tài đào thọ trung. Tây chưởng tài thành đại tiểu mạch, Vọ Thạch sơn tầm đất chi ma nhứt liệp, kế tai kinh thọ trung trung, hậu chưởng tài thành, chi ma sơ chưởng, Ngũ cốc giai nhơn lục thọ nhi sanh, Diêm Ðế Vương Bồ-Tát vãng thất thập thị sơn trung tầm mách. Ngũ cốc tựu vâng biến mãn thiên hạ cứu độ nhơn dân y thực phụ mẫu Thần-Nông Hoàng-Ðế đăng vị trị lập thiên hạ giang hà xã tắc ngũ cốc đại, lập vương điền công điền, Mẫu chưởng quản, liệu giá sơ phân thiên địa chi thời, nhơn dân từ thiện trung lương hiếu thuận. Trú thành dạ võ, ngũ cốc đại thâu. Phong điều vũ thuận, quốc thới dân an, bất sanh đạo tặc, ngũ cốc nhứt liệp trọng tam lượng, kiến đắc chúng sanh phao tan tát tiện, ngũ cốc bất thâu.

Diêm-Ðế-Vương tâm sanh phiền não, liên miên tao hoạch, dục thanh bất thanh hiệp võ bất võ. Hoàng trùng hạng lao, ngũ cốc bất thâu, cơ quang ngạn tử giai nhơn tác tiện, thế gian nhơn dân, bất tri đương lai thọ khổ. Tam thiên bất bá niên, vạn tử vạn sanh thì đắt ngũ cốc mãn thiên hạ.

Y-Thực-Vương Bồ-Tát, lưu truyền thử kinh bất khả tư nghì, thiện tai thiện tai. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn mỗi mỗi phùng xuất chưởng hạ tử chi thời, kiến bị hương đẳng thỉnh tăng thiện hữu ư gia khán tụng thử kinh, Thần Thánh hoan hỷ, miêu gia trượng vượng ngũ cốc thành thâu, hoạch phước vô lượng Phật thuyết thử kinh dĩ; Thiên, Nhơn, A-Tu-La văn Phật sở thuyết giai đại hoan hỷ tín thọ phụng hành tác lễ nhi thời.

Ngũ cốc kinh tán, kiền thiền đảnh lễ. Lời khen kinh ngũ cốc thành tâm đãnh lễ.
Ngũ cốc kinh lai ngũ cốc kinh. Ngũ cốc hằng nuôi sống nhơn dân
Ngũ cốc nguyên lai hữu căn sanh. Năm cốc vốn thiệt có góc sanh.
Thiên Ðịa bổn thị ngã phụ mẫu, Trời đất vốn thiệt cha mẹ ta.
Nhựt nguyệt tình quang hảo hữu thành Ánh sáng nhựt nguyệt trọn cả nền.
Ngũ cốc khổ sở ngôn bất tận. Ngũ cốc ơn thiệt nói chẳng hết.
Ngũ cốc nguyên lai dưỡng mạng căn. Năm giống nguồn gốc nuôi mạng sống.
Quân vương trọng ngã ngũ cốc kinh. Vua chúa cũng đều trọng kinh này.
Vạn lý giang san lạc thái bình. Núi non sông biển ưa yên lặng.
Quan viên trọng ngã ngũ cốc kinh Quan viên tôn trọng ngũ cốc kinh.
Từ-Tôn thề đại tặng kiền khôn. Cháu con đời đời đặng thêm tuổi.
Ðộc thơ trọng ngã ngũ cốc kinh. Nho sanh phải trọng ngũ cốc kinh.
Long hồ bản thượng trúng đầu danh. Thi đậu bản cao danh đứng trước.
Sanh ý trọng ngã ngũ cốc kinh. Thương buôn nên trọng ngũ cốc kinh.
Yêu Triệu mỗi nhựt đất kim ngân. Đổi trác bán buôn đắc tiền tài.
Cá cá thần linh hữu nhơn kinh Mỗi vị linh thần phải đều kính.
Na cá kinh ngã ngũ cốc thần. Chúng ta nên kính thần ngũ cốc.
Ngũ cốc bát ngoạt sơ nhứt sanh Ngũ cốc ngày sinh một tháng tám.
Gia gia niệm Phật điểm minh đăng. Hương đăng mỗi nhà đều niệm phật
Vi nhơn tại thế yếu kinh thành Làm người ở đời phải thành kính.
Bất kỉnh thần linh uổng vị nhơn Chẳng kính thần linh uổng làm người.
Lưu dữ thiên hạ cửu châu địa Để lại chín châu trong thiên hạ.
Vô hữu ngũ cốc hượt bất thành Không có ngũ cốc sống không được.
Gia hữu nhất quyển Ngũ Cốc Kinh. Nhà có một cuốn kinh ngũ cốc.
Nhứt sanh y lộc bất thọ bần, Một đời hưỡng phước thiệt chẳng thiếu.
Ngũ cốc nguyên thị Thánh Kinh bửu, Ngũ cốc vốn thiệt thánh kinh báu.
Thắng như thiên hạ bửu hạp trân Còn hơn ngọc vàng trong thiên hạ.
Triều trung vô ngã vô thế giới, Trong triều không lúa không quan lại.
Thế gian vô ngã vô kiền khôn Ngoài trời không gạo không trời đất
Ngũ cốc càng sanh từ bất tận, Ngũ cốc này đây cho chẳng hết.
Khuyên nhơn kỉnh thần bảo khương ninh. Khuyên người thành kính được khương ninh./.
NAM MÔ NGŨ-CỐC THIÊN-TÔN ÐẠI-THIÊN-TÔN
Thái thượng lão quân giảng nói kinh ngũ cốc.

(tam xưng, cửu khấu)
(niệm 3 biến, 9 lạy) 

(cúng ngày 01/8 âl) 
Cúi xin quý Ông Bà cùng nội ngoại thiện tín, như muốn tụng kinh nầy cầu cho ruộng vườn sung túc, nhà an nước thạnh, trên dưới thuận hòa, thì trước khi tụng phải súc miệng, rửa tay, rửa mặt, bàn ghế cho sạch sẽ, mỗi việc đều tinh tấn, coi như luật nhà Phật mà y theo, thì cầu chi đặng nấy là: Sở nguyện sở cầu giai toại ý. Không sai.

Nguyện đem công đức ấn tống kinh này hồi hướng cho Cửu Huyền Thất Tổ quá vãng được siêu sanh Tịnh Độ, sinh chúng hiện tiền được hưởng huệ phước THIÊN TIÊN.

 

 

Đạo Đức Thiên Tôn

Đức Lão tử sinh thời Chu mạt.
Yêu hư vô, mà bạn thanh nhàn,
Không cầu danh với thế gian,
Không ưa những thói phô phang đức tài.
Coi chức trọng là nơi nguy hiểm,
Vui sống trong chốn kém, chốn hèn,
Tặng cho đức Khổng lời khuyên,
Giã từ thế tục, lâm tuyền ẩn cư.
Thay họ mạc cũng như danh tánh,
Sợ đời hay, nên lánh chuyện đời.
Vừng dương sáng tối lần hồi,
Vầng trăng tròn khuyết đầy vơi tương tùy.
Thêm với bớt thịnh suy ấy gốc,
Và trên đời họa phúc theo nhau,
Trời kia nào thích đầy đâu,
Mà thương những kẻ gót đầu khiêm cung.
Theo Lão tử, lao lung vất vả,
Định giang sơn mấy nả mà mong?
Vì dân xin chớ kể công,
Công lênh rôùt cuộc cũng không ích gì.
Ngài nay được tôn suy, sùng thượng,
Chính vì xưa chẳng tưởng công danh,
Một ngày một giảm công trình,
Sống trong hư tĩnh, siêu linh tuyệt vời.
Rằng ngài trước đất trời sinh xuất,
Chính vì ngài chẳng mất lòng son,
Thiên chân giữ được vẹn tròn,
Cho nên ngũ phúc chẳng còn thiếu chi.
Nên tôi mạn mà ghi tiếp tục:
IV. Đức độ ngài rất mực cao siêu,
Hư không, thanh tĩnh đến điều,
Ưa nơi thấp kém, chê chiều quang hoa.
Giây khi thẳng, thời đà thẳng dẵng,
Nhưng đem khoanh cũng chẳng ngại cong,
Trời làm chấn động ba sông,
Can vua, vả khiến cho lòng dân an.
Nếu Âm chẳng lăng loàn lấn át,
Át Dương kia, tan tác sao sinh?
Cơ suy vừa lộ mối manh,
Thời đà rũ áo, ẩn mình từ đây.
Người nài nỉ: ra tay sáng tạo,
Đạo đức kinh di cảo dạy đời.
Nhẹ nhàng chỉ trích đương thời,
Đem điều sáng sủa soi nơi mịt mùng.
Cùng Thái nhất thủy chung bầu bạn,
Treo cho đời gương sáng chính trung.
Dặn dầy, chân thực thời ưng,
Mỏng manh hào nháng thời không ngó ngàng.
Ưa cốt cách, bạc vàng rẻ rúng.
Bao dục tình chặn đứng mới nghe.
Trở về trạng thái Anh nhi,
Mái sương vượt quá hạn kỳ trần gian.
Hành tung ngài, khó toan, khó luận,
Luật gian trần chẳng bận niềm riêng,
Khinh phiêu phơi phới tự nhiên,
Vô vi, vô dục biến thiên mặc tình.
Tiến hay thoái phiêu linh tùy tiện,
Tùy thời cơ thiên biến vạn năng.
Xá chi kiến thức gian trần,
Dẫu đầy mà vẫn ngỡ rằng còn vơi.
Bậc đại nhân siêu thời xuất thế,
Kẻ phàm phu, hồ dễ mà hay.
Uổng công xếp hạng nọ này,
Miệng phàm hồ dễ xấu lây danh người.
Cùng nhật nguyệt chói ngời sáng láng,
Cùng ngũ tinh chiếu rạng quang huy.
Vào ra nơi chốn đan trì,
Huỳnh đình lên xuống muôn bề khinh phiêu.
Cùng lưu tục chẳng điều quyến luyến,
Dấu phong quang làm biến hình hài.
Chắt chiu ôm ấp tính trời,
Muôn nghìn biến hóa theo đòi thần minh.
Hô hấp khí khinh thanh thuần túy,
Trong trần hoàn hồ dễ ai hay,
Vĩnh sinh ấy chính là ngài,
Đời rằng ngài với đất trời trường sinh.
Vua tế tự linh đình bày biện,
Để oai ngài trình hiện muôn nơi,
Tôi nay muốn để tiếng Người.
Cho nên ghi tạc những lời ngợi khen.

———–

Ngài cùng với Hỗn nguyên ly hợp,
Với tam quang, ngài vượt thời gian.
Trông trời, đoán vận trần hoàn,
Bảy vì tinh đẩu, nhẹ nhàng xuống lên.
Cùng với ngày, biến thiên chín bận,
Tùy theo mùa, khi giảm khi tăng.
Tinh huy, qui củ chuẩn thằng,
Tứ linh, tứ tượng vốn hằng chầu bên.
Ngưng thần khí, đơn điền não bộ,
Cung nê hoàn mấy độ tiêu dao.
Sánh vai Thái nhất ra vào,
Đạo thành, thân thoát, từ bao độ đời.
Từ Hi, Nông, đến thời hiện tại,
Bao thánh hiền, ngài mãi là thầy…

Lão Tử _ Đạo Đức Thiên Tôn _ Thái Thượng Lão Quân

… Nhất nhật hữu vũ sĩ tạo môn tương yết. Đức Tụ thiết trai cung dưỡng, khấu vấn Nguyên môn diệu.

… … … …  (Chinese here! 🙂  … … …)

Dịch nghĩa:
1. Những từ có trước đất trời,
Vui trong thái thủy tuyệt vời ngao du.
2. Thung dung từ thủa thái sơ,
Khi còn chưa có bến bờ đục trong.
4. Tịch nhiên tiêu sái, vô song,
Trước trời, trước đất thung dung vui hòa.
Hai bề ẩn, hiện lại qua,
6. Ẩn là Thái nhất, hiện ra là người.
Đục trong biến chuyển dòng đời,
Thần ngài mới mượn hình hài thế nhân.
7. Mượn lòng Lý mẫu giáng trần,
Bảy hai năm chẵn gửi thân mẹ lành.
8. Mượn nơi đất Sở giáng sinh,
Môi dày, miệng rộng, thiên đình nở nang.
Có văn tam ngũ rõ ràng,
Hai vừng nhật nguyệt ẩn tàng quang hoa;
9. Mũi hai sống, lỗ tai ba,
10. Chân hai chữ ngũ, tay hoa số mười.
Thiên nhiên vô dục tính trời,
Vô vi ấy chính nết người ở ăn.
Giúp trời lại giúp thánh quân.
11. Tam hoàng âu cũng nhờ ân hộ trì.
Đời người ẩn ước ly kỳ,
Biến thiên ảo hóa huyền vi khôn lường.
12. Gặp khi vận nước nhiễu nhương,
Hôn quân vô đạo tìm đường ẩn thân,
Giã từ nước Sở, lánh trần,
Cưỡi con bạch lộc băng chừng Côn Lôn,
Dặm Tần mù mịt nguồn cơn,
13. Người xưa vết cũ, nay còn thấy đâu.
Tinh hoa trời đất gồm thâu.
14. Đạo trời đạo đất gót đầu chốt then.
Sinh cơ chủ chốt diệu huyền,
15. Muôn thần, vạn thánh mọi miền, quản cai.
Âm dương mặc sức phân phôi,
Là hồn, là phách muôn loài thụ sinh.
16. Hư vô chưởng quản mặc tình,
Biến thiên huyền hóa siêu linh tuyệt vời.
Bao trùm khắp tám phương trời,
Đất thời lo chở, trời thời lo treo.
17. Ruổi rong nhật nguyệt khinh phiêu,
Tinh huy vận chuyển muôn chiều chẳng ngơi.
Chư thần Lục Giáp nương hơi,
Càn khôn cũng mặc ý người ruổi rong.
18. Tứ thời chuyển biến thong dong,
Hai chiều nóng lạnh mặc lòng xở xoay.
Tiêu phù cầm gọn nơi tay,
Chữ vàng, thẻ ngọc sẵn bày từ khi.
20. Lão quân sáng tối tùy nghi
Tồn vong, đại tiểu, cao đê tung hoành.
21. Khuất thân, tiến thoái mặc tình,
22. Không gì thoát khỏi uy linh của người.
Đi vào nước lửa như chơi,
Dầu lâm họa hoạn, pha phôi nhẽ nào.
23. Gặp cơn bức bách chẳng sao,
Vương thương, vết tích tơ hào chẳng khi.
Trường sinh chẳng có hạn kỳ,
24. Tiêu thân, diệt thể, quyền uy vô ngần.
Sánh đôi mà vẫn đơn thân,
Cô đơn mà vẫn chẳng phần lẻ loi.
Ngài luôn gần gũi con người.
25. Không ai có thể sánh tài vô vi,
Chẳng ai mà chẳng phải tùy,
Người người đều dõi bước đi của ngài.
Hành vi Lão tử để đời,
26. Lời ngài giảng dạy, mấy người tinh thông.
27. Ngài sinh ngoài cõi cửu trùng,
Những điều biến hóa mung lung khôn lường.
Biết ta chín kiếp nhân lương,
28. Đời ta mà biết lối đường ta hay.
29. … …

39. Ngài sinh cùng với Hư vô,
Tùy thời ly hợp trầm phù tiến lui.
Khi lui, nguyên thể tài bồi,
40. Đến khi tiến bước, dạy đời, dạy vua.
41. Thời Phục Hi, tên Ôn Sủng tử,[53]
42. Thời Thần Nông, lấy chữ Xuân Thành;[54]
43. Thời Chúc Dung, gọi Quảng Thành,
44. Đến đời Chuyên Húc, Xích Tinh là người. [56]
45. Thời Đế Cốc, tên ngài Chân tử,[57]
46. Thiên Lão khi cộng sự Hiên Viên;[58]
47. Thời Nghiêu, tên gọi Mạo Thiềng,[59]
48. Thời Thuấn, Quách Thúc là tên của ngài. [60]
50. Thời Hạ Võ, tên thời Lý Nhĩ,[61]
51. Thời Ân Thang, đích thị Tư Cung. [62]
52. Đời Văn, ngài thủ thư tàng,[63]
53. Đến đời vua Võ, tên mang Vệ Thành. [64]
54. Đời Thành vương, tên Thành gọi lại,[65]
55. Nguyên Khang 5, lại tái giáng trần;[66]
Trong lòng mẹ bảy hai năm,
56. Ra đời mới gọi tên bằng Lý Đam.
Ngài cũng có Bá Dương là tự.
Và từng là quản thủ thư tàng;
Bảy trăm tuế nguyệt chứa chan,
57. Băng chừng Sở quốc, lai hoàn cố hương.
Lại gặp khi Bình vương ngoan cố.
Đạo đức trời tới độ suy vi.
58. Ngài liền bỏ Sở ra đi,
Băng chừng tây tiến lâm ly dặm trường.
59. Đến Hàm Cốc, gặp quan Doãn Hỉ,
Đạo đức kinh ngài ký thác cho;
60. Thời Tần, Kiển Thúc cũng là,[67]
61. Tên ngài Phù Khánh [68] thời Hồ nhiễu nhương.
62. Thời nhà Hán, Vương Phương Bình gọi,[69]
(Mỗi khi cần, ngài mỗi hiện ra;)
63. Năm đầu niên hiệu Dương Gia,[70]
Thành đô núi Tước hiện ra đường hoàng.
64. Năm đầu niên hiệu Kiến Khang,
Đỉnh non Bạch Lộc, rỡ ràng quang hoa. [71]
65. Năm đầu niên hiệu Thái Sơ,
Nơi đền Bạch Lộc hiện ra với đời. [72]
66. Kiến Hòa vào khoảng năm 2,
Lão quân lại hiện cửa ngoài Thành đô.
69. Năm đầu Vĩnh Thọ hiện ra,
Đầu non Bạch Lộc xưng là Bộc Nhân. [74]
Những là lẳng lặng trầm ngâm,
Dẫu ai gạn hỏi cũng không trả lời.
70. Đời sau lập miếu thờ ngài,
Xưng ngài Thiên Phó, tên ngài hiển linh. [75]
71. Ngài rằng:
Ta vui trong cảnh Thái thanh,
Quang hoa xử sự, tinh thành trị dân.
72. Nhiệm huyền biến hóa tấm thân,
Lấy tuần lâm tử, làm tuần phục sinh.
Chu du bốn biển phiêu khinh,
Tứ thời bát tiết Huỳnh đình vào ra.
Dòng đời khinh khoát vượt qua,
73. Tam hoàng mỗi bước ta đà theo chân.
Tam thai ta đội làm khăn,
Áo ta đã được dệt bằng Hư vô.
Phàm phu sao biết được ta,
74. Tử sinh, phản phục, biết là bao phen.
Dân ta đông đảo muôn miền,
Phàm phu ngoài mặt, mà tiên đáy lòng.
75. Quang huy thu liễm vào trong,
Tinh thần sung mãn bởi không hao gầy.
Ai về ta tưởng đêm ngày,
76. Ta luôn phù trợ phút giây chẳng rời.
Ai mà mơ đến ta hoài,
Hiển linh, ta sẽ vì người hiện ra.
Cơ đồ nhà Hán phôi pha,
77. Xót vì, ta lại sinh ra ở đời.
Phàm phu nhảy nhót dể duôi,
Nhưng mà trí giả nghe lời bảo ban.
Đất trời nghiêng ngửa nguy nàn,
78. Ta bèn chuyển hóa mà toan cứu đời.
Nay ta lựa chọn hiền tài,
79. Người hay người phải, ta thời nhận ra.
Những ai mà muốn tìm ta,
80. Sách ta hãy đọc cho qua vạn lần,
Tộâi khiên phải biết tự tân,
Làm người tri kỷ, tri thân mới là.
Ta đây chẳng ở đâu xa,
Thần người cùng với Thần ta khác nào.
81. Cha con tưởng nhớ gần sao,
Bằng không nhớ tưởng, xa bao dặm đường.
Chớ nên biếng nhác buông tuồng,
82. Biếng lười, thần có cũng nhường như không.
Theo ta mau mắn mới mong,
Mới mong ta tháo gỡ tung buộc ràng.
Trắng, xanh ngoài mặt ngỡ ngàng,
83. Vàng, đen ẩn áo tiềm tàng bên trong.
Sinh ta, màu đỏ ấy công,
Ta sinh từ Nhất, từ trong điểm vàng.
84. Rượu nồng người chớ có ham,
Để ta đem đạo, chỉ đàng nẻo cho.
Tu thân người phải nên lo,
Tâm thần an tĩnh, lòng hồ như vơi!
85. Vô vi, vô dục thảnh thơi,
Lầm than, hoạn nạn có đời nào đâu !
Cốc thần khăng khít trước sau,
Con đường giải thoát cơ mầu là đây.
86. Lìa ta, suy tưởng dông dài,
Tâm thần lạc lõng, càng ngày càng mê.
Cương nhu cân nhắc mọi bề,
Hai chiều thành bại, đi về do ta.
Tả biên sinh khí mới là,
87. Hữu biên tử khí, giữa là Hoàng trung.
Giữa là Hoàng khí mung lung,
Nguyên dương nghi ngút muôn trùng cửu tiêu.
88. Khuyên chư đồng tử sớm chiều,
Tiềm tâm tu luyện, để theo Đạo mầu.
89. Ta đà căn dặn từ lâu
Kim tinh lệch lạc thì cầu tới ta.
Mau mau rong ruổi mới là,
90. Gặp ta Nam Nhạc, sẽ qua nguy nàn.
Chớ đừng bịn rịn tơ vương,
Xuân ngày Quí tỵ nên thương thả tù.
91. Đâu đâu dân cũng âu lo,
Bệnh tình chất ngất, ngã cơ đầy đường.
Ta nay hoán cải mối giường,
92. Cơ đồ nhà Hán tan hoang từ rày.
Dân ta đã biết, đã hay,
Tránh điều vạ gió, tai bay sá nào.
93. Những người thành khẩn thanh cao,
Việc ta thông tỏ tơ hào khó chi.
94. Ý ta hiền thánh minh tri,
Phàm phu nào biết vân vi gót đầu.
95. Bao lần giáng thế trước sau,
Theo dòng lịch sử cơ mầu biến thiên.
Hiểu ta hỏi mấy thánh hiền,
Chê ta, vô số phàm hèn bấy nay.
«Ngài cùng với hỗn nguyên ly hợp,
Với tam quang ngài vượt thời gian.»… [77]
«Rằng ngài trước đất trời sinh xuất,
Chính vì ngài chẳng mất lòng son.
Thiên chân giữ được vẹn tròn,
Cho nên ngũ phúc chẳng còn thiếu chi.» [78]
Lão tử biến hóa kinh viết:
«Những từ có trước đất trời,
Vui trong Thái thủy tuyệt vời ngao du.»… [79]
«Trường sinh chẳng có hạn kỳ,
Tiêu thân diệt thể, quyền uy vô ngần.» [80]
Khảo Trang tử ta cũng thấy có câu:
«Ta và trời đất cùng sinh,
Ta và vạn vật sự tình chẳng hai.» [81]

ĐẠO ĐỨC KINH

LÃO TỬ – ĐẠO ĐỨC KINH
Dịch giả: Thu Giang Nguyễn Duy Cần

Chương 1: Đạo khả đạo, phi thường đạo, Danh khả danh, phi thường danh. Vô, danh thiên địa chi thuỷ. Hữu, danh vạn vật chi mẫu. Cố, thường vô dục, dĩ quan kì diệu. Thường hữu dục, dĩ quan kì kiếu. Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, Đồng vị chi Huyền. Huyền chi hựu Huyền, chúng diệu chi môn.

Chương 1: Đạo có thể gọi được, không phải là Đạo “thường”. Danh có thể gọi được, không phải là danh “thường”. Không, tên là gốc của Trời Đất; Có, tên là mẹ của vạn vật. Bởi vậy, thường không tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo; Thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia lìa của đạo. Hai cái đó, đồng với nhau; cùng một gốc, tên khác. Đồng, nên gọi là Huyền. Huyền rồi lại Huyền, Đó là cửa vào ra của mọi huyền diệu trong Trời Đất.

Chương 2: Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác dĩ; Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ. Cố, Hữu Vô tương sinh, Nan Dị tương thành, Trường Đoản tương hình, Cao Hạ tương khuynh, Âm thanh tương hoà, Tiền Hậu tương tuỳ. Thị dĩ Thánh nhân Xử vô vi chi sự, Hành bất ngôn chi giáo. Vạn vật tác yên nhi bất từ, Sinh nhi bất hữu, Vi nhi bất thị, Công thành nhi phất cư. Phù duy phất cư Thị dĩ bất khứ.

Chương 2: Thiên hạ đều biết tốt là tốt, Thì đã có xấu rồi; Đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi. Bởi vậy, Có với Không cùng sinh, Khó và Dễ cùng thành, Dài và Ngắn cùng hình, Cao và Thấp cùng chiều, Giọng và Tiếng cùng họa, Trước và Sau cùng theo Vậy nên Thánh nhân. Dùng vô vi mà xử sự, Dùng bất ngôn mà dạy dỗ. Để cho vạn vật nên mà không cản, Tạo ra mà không chiếm đoạt, Làm ra mà không cậy công, Thành công mà không ở lại. Vì bởi không ở lại, Nên không bị bỏ đi.

Chương 3: Bất thượng hiền, Sử dân bất tranh; Bất quí nan đắc chi hoá, Sử dân bất vi đạo. Bất kiến khả dục, Sử dân tâm bất loạn. Thị dĩ thánh nhân chi trị, Hư kì tâm, Thực kì phúc, Nhược kì chí, Cường kì cốt, Thường sử dân vô tri vô dục, Sử phù trí giả bất cảm vi dã. Vi vô vi, Tắc vô bất trị.

Chương 3: Không tồn tại bậc hiền tài, Khiến cho dân tranh giành; Không quí của khó đặng, Khiến cho dân không trộm cướp Không phô điều ham muốn, Khiến cho lòng dân không loạn. Vì vậy cái trị của Thánh nhân, Hư lòng, No dạ, Yếu chí, Mạnh xương. Thường khiến cho dân không biết, không ham, Khiến cho kẻ trí không dám dùng đến cái khôn của mình. Làm theo vô vi, ắt không có gì là không trị.

Chương 4: Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh; Uyên hề tự vạn vật chi tòng. Toả kì nhuệ, Giải kì phàn, Hoà kì quang, Đồng kì trần, Trạm hề tự hoặc tồn, Ngô bất tri thuỷ chi tử, Tượng đế chi tiên.

Chương 4: Đạo thì trống không, nhưng đổ vô mãi là không đầy, Đạo như vực thẳm, dường như tổ tông của vạn vật. Nó làm nhụt bén nhọn, Tháo gỡ rối rắm, Điều hoà ánh sáng, Đồng cùng bụi bặm. Nó trong trẻo thay! lại dường như trường tồn, Ta không biết Nó là con ai, Dường như có trước Thiên đế.

Chương 5: Thiên địa bất nhân, Dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân, Dĩ bách tính vi sô cẩu. Thiên địa chi gian, Kì du thác thược hồ! Hư nhi bất khuất, Động nhi dũ xuất, Đa ngôn sổ cùng, Bất như thủ trung.

Chương 5: Trời đất không có nhân, Coi vạn vật như loài chó rơm; Thánh nhân không có nhân, Coi trăm họ như loài chó rơm. Có khoảng giữa Trời Đất, Giống như ống bễ. Tuy trống không mà vô tận, Càng động lại càng hơi ra. Càng nói nhiều, càng không sao nói hết được, Thà là giữ lấy cái Trung.

Chương 6: Cốc thần bất tử, Thị vị Huyền tẫn, Huyền tẫn chi môn, Thị vị thiên địa căn, Miên miên nhược tồn, Dụng chi bất cần.

Chương 6: Thần hang không chết, Nên gọi Huyền tẫn, Cửa của Huyền tẫn, Gốc rễ của Đất Trời, Dằng dặc như còn hoài, Dùng hoài mà không hết.

Chương 7: Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường, Thả cửu giả, Dĩ kì bất tự sinh. Cố năng trường sinh. Thị dĩ thánh nhân, Hậu kì thân nhi thân tiên, Ngoại kì thân nhi thân tồn. Phi dĩ kì vô tư da? Cố năng thành kì tư .

Chương 7: Trời dài đất lâu. Trời đất sở dĩ dài lâu, Là vì không sống cho mình, Nên mới đặng trường sinh. Vì vậy Thánh nhân, Để thân ra sau, mà thân ở trước; Để thân ra ngoài, mà thân đặng còn. Phải chăng vì không riêng tư, Mà thành được việc riêng tư?

Chương 8: Thượng thiện nhược thuỷ; Thuỷ thiện lợi vạn vật. Nhi bất tranh, Xử chúng nhân chi sở ố, Cố cơ ư Đạo. Cư thiện địa, Tâm thiện uyên, Dữ thiện nhân, Ngôn thiện tín, Chính thiện trị, Sự thiện năng, Động thiện thời. Phù duy bất tranh, Cố vô vưu.

Chương 8: Bậc thượng thiện giống như nước; Nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh, Ở chỗ mà người người đều ghét, Nên gần với Đạo. Ở thì hay lựa chỗ thấp; Lòng thì chịu chỗ thâm sâu; Xử thế thì thích dùng đến lòng nhân; Nói ra thì trung thành không sai chạy, Sửa trị thì chịu làm cho được thái bình. Làm việc thì hợp với tài năng, Cử động thì hợp với thời buổi. Ôi vì không tranh, Nên không sao lầm lỗi.

Chương 9: Tri nhi doanh chi Bất như kì dĩ. Suỷ nhi chuyết chi, Bất khả trường bảo. Kim ngọc mãn đường, Mạc chi năng thủ. Phú quí nhi kiêu, Tự di kì cữu. Công toại thân thối, Thiên chi đạo.

Chương 9: Ôm giữ chậu đầy, Chẳng bằng thôi đi. Dùng dao sắc bén, Không bén được lâu. Vàng ngọc đầy nhà, Khó mà giữ lâu. Giầu sang mà kiêu, Tự vời hoạ ưu. Nên việc, lui thân, Đó là đạo Trời.

Chương 10: Tải doanh phách bão nhất, Năng vô li hồ? Chuyên khí trí nhu, Năng anh nhi hồ? Địch trừ huyền lãm, Năng vô tì hồ? Ái dân trị quốc, Năng vô vi hồ? Thiên môn khai hạp. Năng vô thư hồ? Minh bạch tứ đạt, Năng vô tri hồ? Sanh chi súc chi, Sanh nhi bất hữu, Vi nhi bất thị, Trưởng nhi bất tể, Thị vị Huyền đức.

Chương 10: Làm cho hồn phách hiệp một, Không thể chia lìa, đặng không? Làm cho hơi thở tụ lại, Như trẻ sơ sinh, đặng không? Gột rửa lòng ham huyền diệu, Đừng còn chút bợn, đặng không? Thương dân trị nước, Mà làm như không làm, đặng không? Cửa trời khép mở, Mà làm như con mái, đặng không? Hiểu biết tất cả, Mà làm như không biết gì cả, đặng không? Sinh đó, nuôi đó, Sinh mà không chiếm cho mình, Làm mà không cậy công, Làm việc lớn mà không làm chủ, Đó gọi là Huyền đức.

Chương 11: Tam thập phúc, cộng nhất cốc, Đương kì vô, hữu xa chi dụng. Duyên thực dĩ vi khí, Đương kì vô, hữu khí chi dụng. Tạc hộ dũ dĩ vi thất, Đương kì vô, hữu thất chi dụng. Cố, Hữu chi dĩ vi lợi, Vô chi dĩ vi dụng.

Chương 11: Ba chục căm, hợp lại một bầu, nhưng nhờ chỗ không, mới có cái dụng của xe. Nhồi đất để làm chén bát, Nhờ chỗ không mới có cái dụng của chén bát. Khoét cửa nẻo, làm buồng the, Nhờ chỗ không mới có cái dụng của buồng the Bởi vậy, Lấy cái có để làm cái lợi, Lấy cái không đó để làm cái dụng.

Chương 12: Ngũ sắc lệnh nhân mục manh. Ngũ âm lệnh nhân nhĩ lung. Ngũ vị lệnh nhân khẩu sảng? Trì sỉnh điền liệp, Lệnh nhân tâm phát cuồng. Nan đắc chi hoá, Lệnh nhân hành phương. Thị dĩ Thánh nhân, Vị phúc bất vị mục. Cố khử bỉ thủ thử.

Chương 12: Năm mầu khiến người mù mắt. Năm giọng khiến người điếc tai. Năm mùi khiến người tê lưỡi. Sải ngựa săn bắn, Khiến lòng người hoá cuồng. Của cải khó đặng, Khiến người gặp nhiều tai hoạ Bởi vậy Thánh nhân, Vì bụng mà không vì mắt. Nên bỏ cái này mà lấy cái kia.

Chương 13: Sủng nhục nhược kinh, Quí đại hoạn nhược thân, Hà vị sủng nhục nhược kinh? Sủng vi thượng, nhục vi hạ; Đắc chí nhược kinh, Thất chi nhược kinh. Thị vị sủng nhược kinh Hà vị quí đại hoạn nhược thân? Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả Vi ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, Ngô hữu hà hoạn! Cố, Quí dĩ thân vi thiên hạ Nhược khả kí thiên hạ, Ái dĩ thân vi thiên hạ, Nhược khả thác thiên hạ.

Chương 13: Vinh và Nhục đều là sợ hãi; Quí và Hoạn đều là vì có thân. Tại sao gọi Vinh và Nhục đều là sợ hãi? Là vì, Vinh trên thì Nhục dưới, Được cũng sợ hãi, Mà mất cũng sợ hãi. Vì vậy mới gọi “Vinh Nhục đều là sợ hãi.” Tại sao gọi “Quí và Hoạn đều là vì có thân”? Là vì, ta sở dĩ có lo lớn là vì ta có thân, Nếu ta không thân, Ta sao có lo! Vậy, Kẻ nào biết quí thân vì thiên hạ, Nên giao phó thiên hạ cho họ Kẻ nào biết thương thân vì thiên hạ, Nên gửi gắm thiên hạ cho họ.

Chương 14: Thị chi bất kiến danh viết Di; Thính chi bất văn danh viết Hi; Bác chi bất đắc danh viết Vi. Thử tam giả bất khả trí cật. Cố hỗn nhi vi nhất. Kì thượng bất kiểu, Kì hạ bất muội. Thằng thằng bất khả danh. Phục qui ư vô vật, Thị vị vô trạng chi trạng, Vô vật chi tượng, Thị vị hốt hoàng, Nghinh chi bất kiến kì thủ, Tuỳ chi bất biến kì hậu. Chấp cổ chi đạo, Dĩ ngự kim chi hữu, Năng tri cổ thỉ, Thị vị đạo kỉ.

Chương 14: Xem mà không thấy, nên tên gọi là Di; Ngóng mà không nghe, nên tên gọi là Hi; Nắm mà không giữ gọi là Vi. Ba cái ấy không thể phân ra được, Vì nó hỗn hợp làm một Trên nó thì không sáng, Dưới nó lại không tối, Dài dằng dặc mà không có tên. Rồi lại trở về chỗ không có. Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng Cái hình trạng của cái không có vật. Ấy gọi là “hốt hoảng”. Đón nó thì không thấy đầu, Theo nó thì không thấy đuôi. Giữ cái đạo xưa, Để mà trị cái có của hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, Ấy gọi là nắm được giềng mối của Đạo.

Chương 15: Cổ chi thiện vi sĩ giả, Vi diệu huyền thông, Tham bất khả thức. Phù duy bất khả thức, Cố cưỡng vi chi dung. Dự yên nhược đông thiệp xuyên, Do hè nhược uý tứ lân. Nhiễm hề kì nhược khách, Hoán hề nhược băng chi tương thích. Đôn hề kì nhược phác, Khoáng hề kì nhược cốc, Hỗn hề kì nhược trọc.
Thục năng trọc dĩ chỉ, Tĩnh chi từ thanh;
Thục dĩ an dĩ cửu, Động chi từ sinh. Bảo thử Đạo giả bất dục doanh, Phù duy bất doanh, Cố năng tế bất tân thành.

Chương 15: Bậc toàn thiện xưa, Tinh tế nhiệm mầu, siêu huyền, thông suốt. Sâu chẳng khá dò. Bởi chẳng khá dò, Tạm hình dung Đó.
Thận trọng dường như qua sông trên nước đặc. Do dự dường sợ mắt ngó bốn bên. Nghiêm kính dường như khách lạ, Chảy ra dường băng tan,Quê mùa dường gỗ chưa đẽo gọt,Trống không dường hang núi, Pha lẫn dường nướcđục.
Ai hay nhờ tịnh mà đục hóa trong, Au hay nhờ động mà đứng lại đi? Kẻ giữ Đạo không muốn đầy. Chỉ vì không muốn đầy, Nên mới che lấp được mà chẳng trở nên mới.

Chương 16: Trí hư cực, Thủ tịnh đốc, Van vật tịnh tác, Ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân… Các phục qui kì căn. Qui căn viết tịnh, Thị vị viết Phục Mạng. Phục Mạng viết Thường. Tri Thường viết Minh, Bất tri thường vọng tác hung. Tri thường dung, Dung nãi công, Công nãi vương, Vương nãi thiên, Thiên nãi Đạo, Đạo nãi cửu, Một thân bất đãi.

Chương 16: Đến chỗ cùng cực hư không, Là giữ vững được trong cái “Tịnh”. Vạn vật cùng đều sinh ra; Ta lại thấy nó trở về gốc, Ôi! mọi vật trùng trùng, Đều trở về cội rễ của nó. Trở về cội rễ, gọi là “Tịnh”. Ấy gọi là “phục mạng”. Phục mạng gọi là ‘Thường”. Biết Thường gọi là Minh. Không biết đạo thường mà làm càn là gây hung hoạ Biết đạo thường thì bao dung, Bao dung thì công bình, Công bình thì bao khắp, Bao khắp là Trời, Trời là Đạo, Đạo thì lâu dài Suốt đời không nguy…

Chương 17: Thái thượng, hạ tri hữu chi. Kì thứ thân nhi dự chi. Kì thứ uý chi. Kì thứ vũ chi. Tín bất túc yên, Hữu bất tín yên. Du hề kì quí ngôn. Công thành sự toại, Bách tính giai vị ngã tự nhiên.

Chương 17: Đời thái sơ, dân chỉ biết có đấy. Kế đó, dân than và khen đấy. Kế đó, dân sợ đấy. Kế đó, dân khinh đấy. Vì không đủ tin, Nên dân không tin. Bậc thánh xưa, quí lời nói, Làm xong công việc cho dân, Mà dân cứ tưởng tự nhiên tự mình làm.

Chương 18: Đại Đạo phế, hữu Nhân Nghĩa. Huệ Trí xuất, hữu đại nguỵ. Lục thân bất hoà hữu hiếu từ. Quốc gia hôn loạn hữu trung thần.

Chương 18: Đạo lớn mất, mới có Nhân Nghĩa. Trí Huệ sinh, mới có dối trá. Lục thân chẳng hoà, mới có hiếu từ. Nước nhà rối loạn, mới có tôi ngay.

Chương 19: Tuyệt thánh khí trí, Dân lợi bách bội. Tuyệt nhân khí nghĩa, Dân phục hiếu từ. Tuyệt xảo khí lợi, Đạo tặc vô hữu. Thử tam giả, dĩ; Vi văn bất túc. Cố lịnh hữu sở chúc. Kiến Tố bão Phác, Thiển tư quả dục.

Chương 19: Dứt Thánh bỏ Trí, Dân lợi trăm phần. Dứt Nhân bỏ Nghĩa, Dân lại thảo lành. Dứt xảo bỏ lợi, Trộm cướp không có. Dứt ba khoản đó, Có đủ vào đâu. Phải được như vầy Ăn ở giản dị và chất phác, Ít riêng tư, ít tham dục.

Chương 20: Tuyệt học vô ưu Duy chi dữ a, Tương khứ kỉ hà? Thiện chi dữ Ác, Tương khứ nhược hà? Nhân chi sở uý,
Bất khả bất uý. Hoang hề kì vị ương tai! Chúng nhân hi hi, Như hưởng thái lao, Như xuân đăng đài. Ngã độc bạc hề kì vị triệu, Như anh nhi chi vị hài, Luy luy hề nhược vô sở qui. Chúng nhân giai hữu dư, Nhi ngã độc nhược di, Ngã ngu nhân chi tâm dã tai! Độn độn hề. Tục nhân chiêu chiêu Ngã độc hôn hôn. Tục nhân sát sát, Ngã độc muộn muộn, Đạm hề kì nhược hải. Liêu hề nhược vô chỉ. Chúng nhân giai hữu dĩ, Nhi ngã độc ngoan tự bỉ. Ngã độc dị ư nhân, Nhi quí thực mẫu.

Chương 20: Dứt học không lo. “Dạ” với “Ơi” khác nhau chỗ nào Lành với dữ, Khác nhau ở đâu? Chỗ mà người sợ, Ta há chẳng sợ Nhưng chưa có chi, sợ cũng vô ích. Người đời vui vẻ, Như hưởng thái lao. Như lên xuân đài. Riêng ta im lặng, chẳng dấu vết chi Như trẻ sơ sinh, chưa biết tươi cười. Rũ rượi mà đi, đi không chỗ về. Người đời có dư, Riêng ta thiếu thốn Lòng ta ngu dốt vậy thay! Mờ mệt chừ! Người đời sáng chói, Riêng ta mịt mờ, Người đời phân biện, Riêng ta hỗn độn. Điềm tĩnh dường như tối tăm, Vùn vụt dường như không lặng. Người đời đều có chỗ dùng, Riêng ta ngu dốt, thô lậu. Ta riêng khác người đời: Ta quí Mẹ nuôi muôn loài.

Chương 21: Khổng đức chi dung, Duy Đạo thị tùng. Đạo chi vi vật, Duy hoảng duy hốt. Hốt hề hoảng hề, Kì trung hữu tượng, Hoảnh hề hốt hề, Kì trung hữu vật. Yểu hề minh hề, Kì trung hữu tinh. Kì tinh thậm chân, Kì trung hữu tín. Tự cổ cập kim, Kì danh bất khứ. Dĩ huyệt chúng phủ. Ngô hà dĩ tri chúng phủ Chi trạng tai? Dĩ thử.

Chương 21: Dáng của Đức lớn, Theo cùng với Đạo, Đạo sinh ra Vật, Thấp thoáng mập mờ, Thấp thoáng mập mờ, Trong đó có hình. Mập mờ thấp thoáng, Trong đó có Vật. Sâu xa tăm tối, Trong đó có tinh. Tinh đó rất thực, Trong đó có tín. Từ xưa đến nay, Tên đó không mất, Gốc của vạn vật. Ta làm sao biết được Trạng thái của nó? Nhờ đó vậy.

Chương 22: Khúc tắc toàn, Uổng tắc trực, Oa tắc doanh, Tệ tắc tân, Thiển tắc đắc, Đa tắc hoặc. Thị dĩ thánh nhân bão nhất, Vi thiên hạ thức. Bất tự kiến, cố minh, Bất tự thị, cố chương, Bất tự phạt, cố hữu công, Bất tự căng, cố trưởng. Phù duy bất tranh, Cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả, Khởi hư ngôn tai! Thành, toàn nhi qui chi.

Chương 22: Cái gì khuyết thì lại toàn; Cái gì cong thì lại ngay; Cái gì sâu thì lại đầy; Cái gì cũ thì lại mới; Ít thì lại được, Nhiều thì lại mê. Bởi vậy Thánh nhân ôm giữ cái một, để làm mẫu mực cho thiên hạ. Không xem là mình sáng, nên sáng; Không cho mình là phải, nên chói; Không cho mình có công, nên có công; Không khoe mình, nên đứng đầu. Chỉ vì không tranh, Nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình. Chỗ người xưa gọi là khuyết thì lại toàn, Há phải lời nói sai đâu? Thành, là trở về chỗ Toàn vậy.

Chương 23: Hi ngôn tự nhiên. Cố, Phiêu phong bất chung triêu, Sậu vũ bất chung nhật. Thục vi thử giả, Thiên Địa. Thiên địa thượng bất năng cửu Nhi huống ư nhân hồ! Cố, Tùng sự ư Đạo giả, Đạo giả đồng ư Đạo. Đức giả đồng ư đức, Thất giả đồng ư thất. Đồng ư đạo giả, Đạo diệc lạc đắc chi. Đồng ư đức giả, Đức diệc lạc đắc chi. Đồng ư thất giả, Thất diệc lạc đắc chi. Tín bất túc yên, Hữu bất tín yên.

Chương 23: Ít nói để cho tự nhiên Bởi vậy, Gió lốc không thể thổi suốt một buổi mai, Mưa rào không mưa suốt một ngày trường. Ai làm nên mưa gió ấy? Trời Đất. Việc Trời Đất còn không thể lâu, Huống chi là việc của người! Vậy nên, Theo Đạo thì đồng với Đạo, Theo Đức thì đồng với Đức Theo Mất thì đồng với Mất Đồng với Đạo Đạo cũng vui tiếp đó, Đồng với Đức Đức cũng vui tiếp đó, Đồng với mất, Mất cũng vui tiếp đó. Tin mà không đủ, Nên mới không tin.

Chương 24: Khí giả bất lập, Khoá giả bất hành, Tự kiến giả bất minh, Tự thị giả bất chương, Tự phạt giả vô công, Tự căng giả bất trưởng. Kì tại Đạo dã, Viết “Dư thực chuế hành, Vật hoặc ố chi:. Cố, hữu Đạo giả bất tử.

Chương 24: Nhón gót lên thì không đứng vững; Xoạc chân ra thì không bước được. Tự xem là sáng thì không sáng. Tự xem là phải thì không chói. Tự xem là có công là không công. Tự kiêu căng thì không đứng đầu. Theo Đạo mà nói thì: “Đồ ăn dư, việc làm thừa” Ai cũng oán ghét. Vì vậy, người có Đạo không làm.

Chương 25: Hữu vật hỗn thành, Tiên thiên địa sinh. Tịch hề liêu hề , Độc lập bất cải, Châu thành nhi bất đãi, Khả dĩ vi thiên hạ mẫu, Ngô bất tri kì danh, Tự chi viết Đạo, Cưỡng vi chi danh viết Đại. Đại viết Thệ, Thế viết Viễn, Viễn viết Phản. Cố, Đạo đại, Thiên đại, Địa đại, Vương diệc đại. Vực trung hữu tứ đại, Nhi vương cư kì nhất yên. Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên,

Chương 25: Có vật hỗn độn mà nên, Sinh trước trời đất. Yên lặng, trống không. Đứng riêng mà không đổi, Đi khắp mà không mỏi, Có thể là Mẹ thiên hạ. Ta không biết tên, Gọi đó là Đạo, Gượng cho là Lớn. Lớn là tràn khắp, Tràn khắp là đi xa, Đi xa là trở về. Vậy, Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn. Trong đời có bốn thứ lớn. Mà người là một. Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên.

Chương 26: Trong vi khinh căn, Tịnh vi táo quân.Thị dĩ Thánh nhân chung nhật, Hành bất li tri trọng. Tuy hữu vinh quan, Yến xử siêu nhiên. Nại hà vạn thặng chi chủ, Nhi dĩ thân khinh thiên hạ. Khinh tắc thất bổn, Táo tắc thất quân

Chương 26: Nặng là rễ gốc của nhẹ, Tịnh là chủ của náo loạn. Ấy nên, Thánh nhân suốt ngày đi mà không lìa xe nặng. Tuy xem thấy cảnh tượng vẻ vang, Mà lòng yên lặng vượt lên trên cả. Vì sao vua nước vạn thặng, Lấy thân mà xem nhẹ thiên hạ? Nhẹ thì mất gốc, Náo loạn thì mất chủ.

Chương 27: Thiện hành vô triệt tích. Thiện ngôn vô hà trích; Thiện số bất dụng trù sách. Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả phai. Thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải. Thị dĩ Thánh nhân Thường thiện cứu nhân cổ vô khí nhân; Thường thiện cứu vật, cố vô khí vậy. Thị vị tập minh. Cố, Thiện nhân giả bất thiện nhân chi sư. Bất thiện nhân giả, thiện nhân chi tư. Bất quí kì sư, Bất ái kì tư, Tuy trí đại mê, Thị vị yếu diệu.

Chương 27: Đi khéo, không để dấu chân; Nói khéo, không để lỗi lầm; Tính khéo, không dùng bàn toán; Đóng khéo, không cần khoá mà không mở đặng Thắt khéo, không cần buộc mà không tháo đặng. Cho nên Thánh nhân, Thường khéo cứu người nên không có người nào bị bỏ; Thường khéo cứu vật, nên không vật nào bị bỏ Ấy gọi là “sáng bằng hai”. Nên chi, Người lành là thầy của kẻ không lành. Người không lành là của cải của người lành. Không quí người lành ấy, Không yêu người không lành ấy, Dù bậc trí cũng mê to. Yếu diệu là đó!

Chương 28: Tri kì hùng, thủ kì thư, Vi thiên hạ khê, Vi thiên hạ khê, thường đức bất li, Phục qui ư anh nhi. Tri kì bạch, thủ kì hắc, Vi thiên hạ thức. Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, Phục qui ư vô cực. Tri kì vinh, thủ kì nhục, Vi thiên hạ cốc. Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc. Phục qui ư phác. Phác tán tắc vi khí, Thánh nhân dụng chi tắc vi quan trưởng. Cố đại chế bất cát.

Chương 28: Biết như con trống, giữ như con mái, Làm khe nước cho thiên hạ; Làm khe nước cho thiên hạ, hằng theo Đức mà không lìa. Lại trở về trẻ thơ. Biết trắng, giữ đen, Làm khuôn mẫu cho thiên hạ. Làm khuôn mẫu cho thiên hạ, hằng theo Đức mà không sai. Lại trở về vô cực. Biết vinh, giữ nhục, Làm hang sâu cho thiên hạ; Làm hang sâu cho thiên hạ, hằng theo Đức mới đầy đủ. Lại trở về mộc mạc. Mộc mạc, tán ra, sinh đủ hạng người. Thánh nhân dùng hạng tàu năng, phong làm quan trưởng Nên phép trị lớn không chia.

Chương 29: Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi, Ngô kiến kì bất đắc dĩ, Thiên hạ thần khí bất khả vi dã. Vi giả bại chi, Chấp giả thất chi. Cổ, vật Hoặc hành, hoặc tuỳ, Hoặc hư, hoặc xuy, Hoặc cường, hoặc luy, Hoặc toả, hoặc truy. Thị dĩ Thánh nhân Khứ thậm, khứ xa, khứ thái

Chương 29: Muốn lấy thiên hạ mà làm (theo ý mình) Ta thấy không thể được rồi, Thiên hạ là món đồ thần, chẳng thể làm theo ý mình được đâu. Hễ làm thì hỏng, Hễ giữ thì mất. Cho nên, vật hoặc đi, hoặc theo, hoặc hà, hoặc hít, hoặc mạnh, hoặc yếu, hoặc che, hoặc phá. Ấy nên Thánh nhân lánh bỏ những cái gì thái quá.

Chương 30: Dĩ Đạo tá nhân chủ giả, Bất dĩ binh cưỡng thiên hạ, Kì sự hảo huờn, Sư chi sở xử. Kinh cức sanh yên. Đại quân chi hậu, Tất hữu hung niên.
Cố thiện hữu quả nhi dĩ,
Bất cảm dĩ thủ cường. Quả nhi vật căng, Quả nhi vật phạt, Quả nhi vật kiêu, Quả nhi bất đắc dĩ, Quả nhi vật cưỡng. Vật tráng tắc lão Thị vị bất Đạo. Bất Đạo tảo dĩ.

Chương 30: Ai lấy Đạo phò Vua, Không dùng binh mà bức thiên hạ, Sẽ thấy đặng kết quả tốt. Chỗ đóng sư đoàn, Gai góc mọc đầy. Sau cuộc chiến chinh, Nhiều năm mất mùa. Vậy thắng một cách khéo léo, không dám dùng sức mạnh. Thắng mà không khoe khoang, Thắng mà không tự khen, Thắng mà không kiêu căng, Thắng vì cực chẳng đã, Thắng mà không áp bức. Vật mạnh lớn ắt già, Ấy là Trái Đạo. Trái đạo, mất sớm.

Chương 31: Phù giai binh giả bất tường chi khí, Vật hoặc ố chi. Cố hữu Đạo giả bất xử. Quân tử cư tắc quí tả, Dụng binh tắc quí hữu, Binh giả, bất tường chi khí, Phi quân tử chi khí, Bất đắc nhi dụng, Điềm đạm vi thượng. Thắng nhi bất mĩ, Nhi mĩ chi giả. Thị lạc sát nhân. Phù lạc sát nhân giả, Tắc bất khả dĩ đắc chí ư Thiên hạ hĩ. Kiết sự thượng tả. Hung sự thượng hữu. Thiên tướng quân cư tả, Thượng tướng quân cư hữu. Ngôn dĩ tang lễ xử chi. Sat nhân chi chúng, Dĩ ai bi khấp chi. Chiến thắng dĩ tang lễ xử chi.

Chương 31: Binh khí tốt là vật chẳng lành, Vật nào cũng ghét nó. Nên chi, người có Đạo, không dùng. Quân tử thì trọng bên trái, Dụng binh thì quí bên phải. Binh là việc chẳng lành, Không phải đồ của người quân tử. Bắt buộc mà dùng đến, Điềm đạm là hơn.
Thắng trận, đâu có tốt, Mà cho là tốt, Là vui giết người, Phàm vui giết người, Không thể vừa ý muốn thiên hạ Việc tốt chuộng bên trái, Việc dữ chuộng bên phải. Phó tướng ở bên trái, Thượng tướng ở bên phải: Là chỗ đứng trong khi tang lễ. Kẻ giết người nhiều Thảm thương khóc đó, Kẻ chiến thắng, lấy tang lễ mà xử đấy.

Chương 32: Đạo thường vô danh phác, Tuy tiểu, Thiên hạ mạc năng thần dã. Hầu vương nhược năng thủ chi, Vạn vật tương tự tân. Thiên địa tương hợp, Dĩ giáng cam lộ. Dân mạc chỉ lệnh nhi tự quân. Thỉ chè hữu danh, Danh diệc kị hữu. Phi diệc tương tri chỉ, Tri chi khả di bất đãi. Thí Đạo chi tại thiên hạ, Du xuyên cốc chi ư giang hải.

Chương 32: Đạo thường thì không tên, mộc mạc, Tuy nhỏ, Dưới trời chưa chi thần phục được. Nếu bậc Vương Hầu giữ được Nó, Vạn vật sẽ tự xưng thần. Trời Đất hoà hợp, Nước ngọt rơi xuống, Dân không bắt buộc, mà tự phục tùng. Pháp độ bày ra, Thì mới có tên, Tên kia đã có, Cũng phải biết dừng, biết dừng không hại Đạo sánh với thiên hạ Như sông biển với suối khe.

Chương 33: Tri nhân giả trí; Tự tri giả minh. Thánh nhân giả hữu lực. Tự thắng giả cường. Tri túc giả phú. Cưỡng hành giả hữu chí. Bất thất kì sở giả cửu. Tử nhi bất vong giả tho.

Chương 33: Biết người là Trí; Biết mình là sáng. Thắng người là có sức; Thắng mình là mạnh. Biết đủ là giầu. Gượng làm là có chí. Không mất bản tính là lâu dài. Chết mà không mất là sống lâu.

Chương 34: Đại Đạo phiếm hề, Kì khả tả hữu. Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ. Công thành bất danh hữu. Y dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ, Thường vô dục, khả danh ư tiểu. Vạn vậy qui yên nhi bất vi chủ. Khả danh vi đại. Dĩ kì chung bất tự vi đại. Cố năng thành kì đại.

Chương 34: Đạo lớn tràn lấp, Bên phải bên trái. Vạn vật nhờ Nó mà sinh ra, Mà không một vật nào bị Nó khước từ. Xong việc rồi, không để tên.
Che chở, nuôi nấng muôn loài, mà không làm chủ. Thường không ham muốn, nên có thể gọi tên là nhỏ Được muôn vật theo, về mà không làm chủ, Nên có thể gọi tên là Lớn. Bậc thánh nhân, cho đến ngày cùng, không cho mình là lớn. Cho nên mới thành được việc lớn của mình.

Chương 35: Chấp đại tượng, Thiên hạ vãng. Vãng nhi bất hại, An bình thái. Nhạc dữ nhị, Quá khách chỉ. Đạo chi xuất khẩu Đạm hồ kì vô vị, Thị chi bất túc kiến. Thính chi bất túc văn. Dung chi bất túc kí.

Chương 35: Nắm được Đại Tượng, Đi khắp thiên hạ, Đi đến đâu cũng không hại, Được yên ổn thái bình. Nhạc và bánh, Khách đi qua đường dừng lại. Đạo ra cửa miệng, Lạt lẽo vô vị. Nhìn không đủ thấy, Lắng không đủ nghe. Dùng Nó, không hết.

Chương 36: Tương dục hấp chi. Tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, Tất cố cường chi. Tương dục phế chi, Tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, Tất cố dữ chi. Thị vị vi minh. Nhu nhược thắng cương cường. Ngu bất khả thoát ư uyên, Quốc chi lợi khí, Bất khả dĩ thị nhân.

Chương 36: Hòng muốn thu rút đó lại, Là sắp mở rộng đó ra. Hòng muốn làm yếu đó, Là sắp làm đó mạnh lên. Hòng muốn vứt bỏ đó, Là sắp làm hưng khởi đó. Hòng muốn cướp đoạt đó, Làm sắp ban thêm cho đó, Ấy gọi là ánh sáng huyền vi. Mếm yếu thắng cứng mạnh. Cá không thể thoát vực sâu. Lợi khí nước nhà Không thể bảo cho mọi người đều biết.

Chương 37: Đạo thường vô vi, Nhi vô bất vi, Hầu vương nhược năng thủ chi, Vạn vật tương tự hoá. Hoá nhi dục tác, Ngô tương trấn chi. Dĩ vô danh chi phác, Vô danh chi phác. Diệc tương vô dục, Bất dục dĩ tịnh, Thiên hạ tương tự định.

Chương 37: Đạo thường không làm, Nhưng không gì không làm. Bậc Hầu Vương giữ được Nó, Thì vạn vật sẽ tự thay đổi. Muốn thay đổi mà nhúng tay vào, Ta nên ngăn lại, Dùng cái mộc mạc của vô danh, Cái mộc mạc của vô danh. Cũng nên không ham muốn? Không ham muốn thì điềm tịnh Thiên hạ sẽ tự yên.

Chương 38: Thượng đức bất đức, Thị dĩ hữu đức; Hạ đức bất thất đức, Thị dĩ vô đức. Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi. Hạ đức vi chi nhi hữu dĩ vi. Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi. Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi. Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng. Tắc nhương tí nhi nhưng chi. Cố,
Thất Đạo nhi hậu Đức, Thất Đức nhi hậu Nhân, Thất Nhân nhi hậu Nghĩa, Thất Nghĩa nhi hậu Lễ. Phù Lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả, Đạo chi hoa, nhi ngu chi thỉ; Thị dĩ đại trượng phu Xử lì hậu bất cư kì bạc, Xử kì thực bất cư kì hoa. Cố khứ bỉ thủ thử.

Chương 38: Đức cao là do không có đức, Bởi vậy mới có đức. Đức thấp là do có đức, Nên không có đức Đức mà cao thì không làm, lại không cậy đó là có làm Đức mà thấp thì có làm, Lại cho là có làm. Nhân mà cao thì làm, Nhưng không cho đó là có làm. Nghĩa mà cao, cũng làm, Lại cho là có làm. Lễ mà cao, thì làm Nếu không được đáp Thì xăn tay mà lườm. Vì vậy, Mất Đạo rồi mới có Đức, Mất Đức rồi mới có Nhân. Mất Nhân rồi mới có Nghĩa, Mất Nghĩa rồi mới có Lễ. Lễ chỉ là cái vỏ mỏng của lòng trung tín; mà cũng là đầu mối của hỗn loạn. Tiền thức chỉ là hoa của Đạo, Mà cũng là gốc của ngu. Ấy nên bậc đại trượng phu Ở chỗ dầy, không ở chỗ mỏng, Chuộng trái, không chuộng hoa, Nên bỏ đây mà giữ đó.

Chương 39: Tích chi đắc Nhất giả: Thiên đắc Nhất dĩ thanh, Địa đắc Nhất dĩ ninh, Thần đắc Nhất dĩ linh, Cốc đắc Nhất dĩ doanh, Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh, Hầu vương đắc Nhất dĩ vi thiên hạ trinh. Kì trí chi Nhất dã. Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt. Địa vô dĩ ninh tương khủng phế Thần vô dĩ linh tương khủng hiệt. Cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt, Vạn vật vô dĩ sinh tương khủng diệt, Hầu vương vô quí cao tương khủng quyết. Cố, Quí dĩ tiện vi bổn, Cao dĩ hạ vi cơ. Thị dĩ hầu vương tự vị cô quả bất cốc. Thử kì dĩ tiện vi bổn da? Phi hồ? Cố, Trí số dự vô dự. Bất dục Lục lục như ngọc. Lạc lạc như thạch.

Chương 39: Đây là những vật xưa kia đã được ngôi Một: Trời được Một mà trong, Đất được Một mà yêu, Thần được Một mà linh, Hang được Một mà đầy, Muôn vật được Một mà sống, Hầu vương được Một mà trị thiên hạ. Đều là đã đến được chỗ Một mà nên cả. Nếu trời không trong sẽ vỡ, Đất không yên sẽ lở, Thần không linh sẽ tán, Hang không đầy sẽ cạn, Vạn vật không sống sẽ dứt, Hầu vương không trị thiên hạ sẽ mất. Bởi vậy, Quí lấy Tiện làm gốc, Cao lấy Thấp làm nền. Nên chi hầu vương tự xưng là “con côi”, “ít đức” Đó là lấy tiện làm gốc? Không phải vậy sao? Vậy quá khen thành như không khen Bậc thánh nhân không muốn được quí như ngọc bị khinh như sỏi.

Chương 40: Phản giả Đạo chi động; Nhược giả Đạo chi dụng. Thiên hạ vạn vật sinh ư Hữu; Hữu sinh ư Vô.

Chương 40: Trở lại là cái động của Đạo; Yếu, mềm là cái dụng của Đạo. Vạn vật dưới trời sinh nơi Có; Có sinh nơi Không.

Chương 41: Thượng sĩ văn Đạo, Cần nhi hành chi. Trung sĩ văn Đạo, Nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn Đạo. Đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vi Đạo. Cố kiến ngôn hữu chi: Minh Đạo nhược muội, Tiến Đạo nhược thối. Di Đạo nhược lội. Ngang với Đạo, dường như tầm thường. Thượng Đức nhược cốc, Đại bạch nhược nhục, Quảng đức nhược bất túc. Kiến đức nhược thu, Chất chân nhược du. Đại phương vô ngung, Đại khí vãn thành. Đại âm hi thanh, Đại tượng vô hình. Đạo ẩn vô danh. Phù duy Đạo, Thiện thải tha thành.

Chương 41: Thượng sĩ nghe Đạo, Cố gắng theo liền. Trung sĩ nghe Đạo, Thoạt nhớ, thoạt quên. Hạ sĩ nghe Đạo, Cả cười, bỏ qua. Nếu không cười, sao đủ gọi đó là Đạo.
Nên chi người xưa nói: Sáng về Đạo, dường tăm tối, Tiến về Đạo, dường như thối lui. Đức mà cao, dường như trũng thấp, Thật trong trắng, dường như bợn nhơ. Đức dồi dào, dường không đủ. Đức vững chắc, dường như cẩu thả. Kẻ chân chất, dường như biến đổi. Vuông lớn, không góc. Chậu lớn, muộn thành. Âm lớn, ít tiếng. Tượng lớn, không hình. Đạo kín, không tên. Chỉ có Đạo. Hay cho, lại tác thành.

Chương: 42: Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, Xung khí dĩ vi hoà. Nhân chi sở ố, Duy cô quả bất cốc, Nhi vương còng dĩ vi xưng. Cố, Vật hoặc tổn chi nhi ích, Hoặc ích chi nhi tổn. Nhân chi sở giáo, Ngã diệc giáo chi. Cường lương giả bất đắc kì tử, Ngô tương dĩ vi giáo phụ.

Chương 42: Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật. Trong vạn vật không vật nào mà không cõng âm bồng dương. Nhân chỗ xung nhau mà hoà với nhau Chỗ ghét của người Là cô lậu, quả đức, bất thiện Thế mà bậc vua chúa lại dùng đó mà tự xưng. Vậy, Sự vật trong đời bớt là thêm, Thêm là bớt. Chỗ mà người xưa dạy, Ta nay cũng dạy: Dùng bạo động chết bạo tàn, Người nói câu đó là Thầy ta.

Chương 43: Thiên hạ chi chí nhu, Trì sính thiên hạ chi chí kiên. Vô hữu nhập vô gian. Ngô thị dĩ tri vô vi chi hữu ích. Bất ngôn chi giáo, Vô vi chi ích, Thiên hạn hi cập chi.

Chương 43: Cái rất mềm của thiên hạ, Thắng cái rất cứng trong thiên hạ. Cái không có xen vào được chỗ không thể xen vào, Do đó mà ta biết được sự lợi ích của vô vi Dạy bảo mà không cần đến lời nói, Lợi ích của vô vi, Trong thiên hạ ít ai hiểu kịp.

Chương 44: Danh dữ thân, thục thân? Thân dữ hoá, thục đa?
Đắc dữ vong, thục bệnh? Thị cố, Thậm ái tất thậm phí; Đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục, Tri chỉ bất dãi, Khả dĩ trường cửu.

Chương 44: Danh và thânh, cái nào quí hơn? Thân và Của, cái nào trọng hơn? Đặng và Mất, cái nào khổ hơn? Vậy nên, Thương nhiều ắt tổn nhiều, Chứa nhiều ắt mất nhiều. Biết đủ, không nhục. Biết dừng, không nguy. Và có thể lâu dài.

Chương 45: Đại thành nhược khuyết, Kì dụng bất tệ. Đại doanh nhược xung, Kì dụng bất cùng. Đại trực nhược khuất, Đại xảo nhược chuyết. Đại biện nhược nột. Táo thắng hàn, Tịnh thắng nhiệt. Thanh tịnh vi thiên hạ chính.

Chương 45: Thành tựu mĩ mãn dường như dở dang, Thì chỗ dùng của nó không hư được. Đầy tràn dường như trống không, Thì chỗ dùng của nó vô cùng. Rất ngay thẳng dường như cong queo, Rất khéo léo dường như vụng về, Rất hùng biện dường như ấp úng. Nóng nảy thắng lạnh lẽo, Yên lặng thắng hăng hái. Thanh tịnh mới chính được thiên hạ.

Chương 46: Thiên hạ hữu Đạo, Khước tẩu mã dĩ phẩn. Thiên hạ vô Đạo, Nhung mã sinh ư giao. Hoạ hạc đại ư bất tri túc; Cữu mạc đại ư dục đắc. Cố Tri túc chi túc Thường túc hĩ

Chương 46: Thiên hạ có Đạo, Ngựa cỡi vun phân ruộng. Thiên hạ không Đạo, Ngựa chiến nuôi ngoài thành. Không hoạ nào lớn bằng không biết đủ. Không hại nào to bằng muốn đặng. Bởi vậy Biết đủ trong cái đủ mới luôn luôn đủ.
Chương 47: Bất xuất hộ, tri thiên hạ. Bất khuy dữ, kiến Thiên Đạo. Kì xuất di viễn, Kì tri di thiểu. Thị dĩ thánh nhân, Bất hành nhi tri. Bất kiến nhi danh, Bất vi nhi thành.

Chương 47: Không ra khỏi cửa, biết việc thiên hạ. Không dòm ngoài cửa, thấy được Đạo Trời. Càng ra xa, Càng biết ít. Bởi vậy thánh nhân, Không đi mà biết, Không thấy mà hiểu, Không làm mà nên.

Chương 48: Vi Học nhật ích, Vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tốn, Dĩ chí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi, Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự. Cập kì hữu sự bất túc dĩ Thủ thiên hạ

Chương 48: Theo học, càng ngày càng thêm, Theo Đạo, càng ngày càng bớt. Bớt rồi lại bớt, Đến mức vô vi. Không làm mà không gì là không làm, Thường dùng vô vi thì được thiên hạ, Bằng dùng hữu vi thì không đủ trị thiên hạ

Chương 49: Thánh nhân vô thường tâm, Dĩ bách tính tâm vi tâm Thiện giả ngô thiện chi Bất thiện giả ngô diệc thiện chi Đắc thiện hĩ. Tín giả ngô tín chi Bất tín giả ngô diệc tín chi Đắc tín hĩ Thánh nhân tại thiên hạ Hấp hấp vi thiên hạ hồn kì tâm Bách tính giai chú kì nhĩ mục Thánh nhân giai hài chi.

Chương 49: Lòng của Thánh nhân không phải luôn luôn không thay, Mà lấy cái lòng của trăm họ làm lòng mình. Với kẻ lành thì lấy lành mà ở Với kẻ chẳng lành cũng lấy lành mà ở, Nên được lành vậy. Với kẻ thành tín thì lấy thành tín mà ở, Với kẻ không thành tín cũng lấy thành tín mà ở, Nên được thành tín vậy. Thánh nhân lo cho thiên hạ, Mà không để lòng lộ ra. Trăm họ đều chú tai mắt. Thánh nhân xem thảy như con mình.

Chương 50: Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập hữu tam Tử chi đồ thập hữu tam Nhân chi sinh. Động chi tử địa diệc thập hữu tam Phù hà cố? Dĩ kì sinh sinh chi hậu. Cái văn thiện nhiếp sinh giả. Lục hành bất ngộ tỉ hổ, Nhập quân bất bị giáp binh. Tỉ vô sở đầu kì giác, Hổ vô sở thố kì trảo, Binh vô sở dung kì nhẫn. Phù hà cố? Dĩ kì vô tử địa.

Chương 50: Ra sống thì vào chết. Đường của sống có mười ba; Đường của chết có mười ba; Cái sống của con người, Đi tới chỗ chết cũng có mười ba. Cớ sao vậy? Vì quả lo tận sống cái sống của mình. Ai biết cái đạo nhiếp sinh, Đi đường không gặp thú dữ. Vào trận không bị đao thương, Té không chỗ đâm, Cọp không chỗ vấu, Đao không chỗ phạm. Cớ sao vậy? Tại không có chỗ chết.

Chương 51: Đạo sinh chi, Đức súc chi. Vật hình chi, Thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo. Nhi quí Đức. Đạo chi tôn, Đức chi quí. Phù mạc chi mạng nhi thường tự nhiên Cố Đạo sinh chi Đức súc chi. Trưởng chi dục chi. Đình chi độc chi. Dưỡng chi phúc chi Sinh nhi bất hữu. Vi nhi bất thị, Trưởng nhì bất tể. Thị vị Huyền đức.

Chương 51: Đạo sinh đó, Đức nuôi đó, Chủng loại tạo hình đó, Hoàn cảnh liên kết đó. Vậy nên muôn vật đâu phải tôn Đạo quí Đức Tôn Đạo quí Đức Là một phận sự bắt buộc mà là chiều hướng tự nhiên. Thế nên Đạo sinh đó, Đức nuôi đó, Cấp dưỡng đó, nuôi nấng đó, Đùm bọc đó, bồi sức đó, Dưỡng nuôi đó, chở che đó, Sinh mà không chiếm làm của mình. Làm mà không cậy công, Là bậc trên, mà không là chủ, Đó gọi là Huyền đức.

Chương 52: Thiên hạ hữu thỉ Dĩ vi thiên hạ mẫu. Kí đắc kì mẫu Dĩ tri kì tử. Kí tri kì tử, Phục thủ kì mẫu. Một thân bất đãi. Tắc kì đoài, Bế kì môn. Chung thân bất cần. Khai kì đoài, Tế kì sự. Chung thân bất cứu. Kiến tiểu viết Minh. Thủ nhu viết Cường. Dụng kì quang, Phục qui kì minh. Vô di thân ương, Thị vi tập thường.

Chương 52: Thiên hạ có nguồn gốc, Dùng làm Mẹ của thiên hạ. Hễ giữ được Mẹ, Thì biết được Con. Đã biết được Con, Trở về giữ Mẹ. Thân đến chết không nguy Ngậm miệng lại, Lấp mắt tai, Suốt đời không lao nhọc. Mở miệng ra, Bao biện việc, Suốt đời không cứu được Thấy được chỗ tế vi là Sáng, Giữ được mềm yếu là Mạnh. Dùng cái sáng của Đạo, Trở về cõi sáng của mình. Thân không sợ tai ương. Đó gọi là Sáng gấp hai.

Chương 53: Sử ngã giới nhiên hữu tri, Hành ư đại Đạo. Duy thi thị uý. Đại Đạo thậm di, Nhi dân hiếu kính. Triều thậm trừ, Điền thậm vu. Thương thậm hư. Phục văn thái. Đới lợi kiếm. Yếm ẩm thực, Tài hoá hữu dư. Thi vị đạo khoa, Phi Đạo dã tai?

Chương 53: Nếu ta hiểu biết kha khá, Ta đi theo đường Đạo lớn. Chỉ sợ làm mà sai thôi! Đạo Lớn thì rộng và trơn tru, Dân lại thích đường hẹp và quanh co. Triều đình lộng lẫy thật, Mà ruộng nương đầy cỏ hoang, Còn kho đụn thì trống trơn. Áo quần sang trọng thật, Đeo kiếm bén, Ăn uống chán, Của cải thừa… Nhưng đó là đường của đạo tặc Đâu phải đường của đại Đạo.

Chương 54: Thiện kiến giả bất bạt, Thiện bảo giả bất thoát. Tử tôn dĩ tế tự bất chuyết Tu chi ư thân, Kì đức nãi chân. Tu chi ư gia, Kì đức nãi dư. Tu chi ư hương, Kì đức nãi trường. Tu chi ư quốc, Kì đức nãi phong. Tu chi ư thiên hạ, Kì đức nãi phổ. Cố, Dĩ thân quan thân, Dĩ gia quan gia, Dĩ hương quan hương, Dĩ quốc quan quốc, Dĩ thiên hạ quan thiên hạ. Ngô hà dĩ tri thiên hạ nhiên tai? Dĩ thử.

Chương 54: Cắm thật chặt thì không nhổ lên được. Ôm thật chặt thì không sút ra được. Con cháu tế tự không dứt. Nếu lấy Đạo mà tu thân, Thì Đức ấy chân thành. Nếu lấy Đạo mà lo việc nhà, Thì Đức ấy có dư. Nếu lấy Đạo mà lo cho hàng xóm, Thì Đức ấy mới dài. Nếu lấy Đạo mà lo cho nước, Thì Đức ấy mới thịnh. Nếu lấy Đạo mà lo cho thiên hạ, Thì Đức ấy mới rộng. Nên chi, Lấy thân mà xét thân, Lấy nhà mà xét nhà; Lấy làng mà xét làng; Lấy nước mà xét nước; Lấy thiên hạ mà xét thiên hạ. Ta làm sao biết được việc thiên hạ như thế? Thì lấy chỗ đó.

Chương 55: Hàm đức chi hậu, Tỉ ư xích tử. Độc trùng bất thích, Mãnh thú bất cứ. Cược điểu bất bác. Cốt nhược cân nhu nhi ác cố, Vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi toàn tác. Tinh chi chí dã. Chung nhật hào nhi bất sá. Hoà chi chí dã. Tri hoà viết Thường Tri Thường viết Minh Ích sinh viết Tường Tâm sử khí viết Cường. Vật tráng tắc lão. Vị chi bất Đạo. Bất Đạo tảo dĩ.

Chương 55: Kẻ mà Đức dầy, Giống như con đỏ, Độc trùng không cắn. Thú dữ không ăn. Ác điều không xớt. Xương yếu, gân mềm, tay nắm cứng khư Chưa biếy giao hợp, Tinh khí có dư. Suốt ngày hét vang mà tiếng không khan Hoà hợp hoàn toàn Biết hoà gọi là Thường Biết Thường gọi là Minh Quá ham sống thì hại. Tâm sai khí, thì mạnh. Vật mạnh lớn thì già. Đó là nghịch Đạo, Nghịch Đạo chết sớm.

Chương 56: Tri giả bất ngôn, Ngôn giả bất tri. Tắc kì đoai, bế kì môn, Toả kì nhuệ, giải kì phân, Hoà kì quang, đồng kì trần Thị vị Huyền đồng. Cố, Bất khả đắc nhi thân, Bất khả đắc nhi sơ, Bất khả đắc nhi lợi, Bất khả đắc nhi hại, Bất khả đắc nhi quí, Bất khả đắc nhi tiện, Cố, Vi thiên hạ quí.

Chương 56: Biết thì không nói. Nói thì không biết. Thường ngậm miệng, bịt mắt tai Nhụt bén nhọn, bỏ chia phân, Hoà ánh sáng, đồng bụi bặm, Ấy gọi là Huyền đồng. Thế nên, Không thể lấy chỗ thân mà được, Không thể lấy chỗ sơ mà được, Không thể lấy chỗ lợi mà được, Không thể lấy chỗ hại mà được, Không thể lấy chỗ quí mà được, Không thể lấy chỗ tiện mà được, Vì vậy, Dưới trời không gì quí hơn.

Chương 57: Dĩ chính trị quốc, Dĩ kì dụng binh, Dĩ vô sự thủ thiên hạ Ngô hà dĩ tri kì nhiên tai? Dĩ thử: Thiên hạ đa kị huý, Nhi dân di bần. Dân đa lợi khí, Quốc gia tư hôn. Nhân đa kĩ xảo, Kì vật tư khởi. Pháp lệnh tư chương, Đạo tặc đa hữu. Cố, Thánh nhân vân: Ngã vô vi nhi dân tự hoá, Ngã hiểu tịnh nhi dân tự chính. Ngã vô sự nhi dân tự phú. Ngã vô dục nhi dân tự phác

Chương 57: Lấy ngay thẳng mà trị nước. Lấy trá nguỵ mà dụng binh. Lấy vô sự mà được thiên hạ. Ta làm sao biết được? Thì đây: Thiên hạ nhiều kiêng kị, Thì dân chúng càng nghèo, Nhân dân nhiều lợi khí, Nước nhà càng tối tăm. Người người nhiều tài khéo, Vật lạ càng nảy sinh, Pháp lệnh càng rõ rệt, Trộm cướp càng sinh nhiều. Vậy, Bậc thánh nhân mới bảo: Ta vô vi mà dân tự hoá, Ta ưa tịnh mà dân tự chính, Ta vô sự mà dân tự giầu, Ta không dục vọng mà dân trở thành chất phác.

Chương 58: Kì chính muộn muộn, Kì dân thuần thuần. Kì chính sát sát, Kì dân khuyết khuyết. Hoạ hề phúc chi sở ỷ, Phúc hề hoạ chi sở phục. Phúc tri kì cực? Kì vô chính, Chính phục vi kì, Thiện phục vi yêu. Nhân chi mê, Kì nhật cố cửu. Thị dĩ Thánh nhân, Phương nhi bất cát, Liêm nhi bất quế, Trực nhi bất tử, Quang nhi bất diệu.

Chương 58: Chính lệnh lờ mờ, Thì dân ôn hoà. Chính lệnh dòm dò, Thì dân lỗi lầm. Hoạ là chỗ dựa của phúc, Phúc là chỗ núp của hoạ. Ai biết chỗ cùng của nó? Trên mà không ngay thẳng, Thì ngay trở thành nguỵ, Thiện trở thành tà, Cái mê của người, Có đã lâu rồi. Bởi vậy bậc Thánh nhân: Để vuông vức mà không đẽo gọt, Cảm hoá người mà không tổn thương. Kéo cho ngay mà không sửa dạy. Rọi ánh sáng mà không chói loà.

Chương 59: Trị nhân sự thiên mạc nhược sắc. Phù duy sắc thị vị tảo phục. Tảo phục vị chi trọng tích đức. Trọng tích đức tắc vô bất khắc. Vô bất khắc tắc mạc tri kì cực. Mạc tri kì cực khả dĩ hữu quốc. Hữu quốc chi mẫu, Khả dĩ trường cửu. Thị vị thâm căn cố đế. Trường sinh cửu thị chi đạo.

Chương 59: Trị người, giúp trời; không chi bằng tiết kiệm Tiết kiệm phải là việc lo đầu tiên. Lấy nó làm việc lo đầu tiên thì chứa được đức Chứa được đức thì không gì là không thắng được Không ai biết được chỗ cùng cực của nó, Thì mới có thể nắm giữ được nước. Giữ được Mẹ của nước, Thì mới có thể lâu dài. Đó gọi là rễ sâu gốc bền Cái đạo trường sinh cửu thị

Chương 60: Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên. Dĩ Đạo lị thiên hạ, Kì quỉ bất thần, Phi kì quỉ bất thần, Kì thần bất thương nhân. Phi kì thần bất thương nhân, Thánh nhân diệc bất thương nhân. Phù lưỡng bất tương thương. Cố Đức giao qui yên.

Chương 60: Trị nước lớn, khác nào nấu cá nhỏ. Lấy Đạo mà điều khiển thiên hạ, Quỉ cũng không lộ thần oai. Không phải quỉ không lộ được thần oai, Mà vì quỉ không làm hại được người, Không phải là thần không hại được người, Mà vì thánh nhân không hại người. Cả hai đều không hại người, Nên Đức của họ nối nhau về một chỗ.

Chương 61: Đại quốc giả hạ lưu, Thiên hạ chi giao, Thiên hạ chi tẫn. Tẫn thường dĩ tịnh thắng mẫu, Dĩ tịnh vi hạ.
Cố, Đại quốc dĩ hạ tiểu quốc Tắc thủ tiểu quốc. Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc Tắc thủ đại quốc. Cố, Hoặc hạ dĩ thủ Hoặc hạ nhi thủ. Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhân. Tiểu quốc bất quá dục nhập sự nhân. Phù lưỡng giả các đắc kì sở dục. Đại giả nghi vi hạ.

Chương 61: Nước lớn mà làm chỗ thấp, Sẽ là chỗ hợp lại của thiên hạ, Là giống cái của thiên hạ. Giống cái thường lấy Tịnh mà thắng giống đực. Lấy Tịnh làm chỗ thấp. Nên Nước lớn hạ mình trước nước nhỏ ắt đặng nước nhỏ xưng thần; Nước nhỏ hạ mình trước nước lớn, ắt đặng nước lớn che chở Nên, Hoặc hạ mình để đặng, hoặc hạ mình mà đặng. Nước lớn chẳng qua muốn gồm nuôi người. Nước nhỏ chẳng qua muốn vào thờ người. Cả hai đều đặng chỗ muốn của mình. Bậc lớn nên hạ mình.

Chương 62: Đạo giả Vạn vật chi áo, Thiện nhân chi bửu, Bất thiện nhân chi sở bảo. Thiện ngôn khả dĩ thị tôn Hành khả dĩ gia nhân. Nhân chi bất thiện Hà khí chi hữu? Cố, Lập thiên tử Trí tam công Tuy hữu củng bích Dĩ tiên tứ mã Bắt như toạ tiến thử Đạo Cổ chi sở di quí thử Đạo giả hà? Bất nhật dĩ cẩu đắc Hữu tội dĩ miễn da? Cổ Vi thiên hạ quí dã.

Chương 62: Đạo là Chỗ chứa sâu kín của vạn vật. Châu báu của người lành. Chỗ nương dựa của kẻ không lành. Lời hay có thể được đắc giá. Việc hay có thể tăng giá con người.
Nhưng còn kẻ không lành, Sao lại bỏ chúng? Bởi vậy, Mới lập đấng thiên tử, Mới đặt bậc tam công. Tay cầm củng bích, Ngồi xe bốn ngựa Nhưng sao bằng ngồi yên trên Đạo mà trị dân. Người xưa sở dĩ quí Đạo ấy là tại sao? Không ngày nào họ không cần cho được đó, Cho nên dù có lỗi cũng được miễn, hay sao? Vì vậy Nó là vật quí của thiên hạ.

Chương 63: Vi vô vi, Sự vô sự. Vị vô vị. Đại tiểu đa thiểu. Báo oán dĩ đức. Đồ nan ư kì dị. Vi đại ư kì tế. Thiên hạ nan sự, Tất tác ư dị. Thiên hạ đại sự, Tất tác ư tế. Thị dĩ thánh nhân, Chung bất vi đại. Cố Năng thành kì đại. Phù khinh nặc, Tất quả tín. Đa dị tất đa nan. Thị dĩ Thánh nhân do nan chi, Cố Chung vô nan hỹ.

Chương 63: Làm mà không làm, Lo mà không lo, Nếm mà không mùi. Xem lớn như nhỏ, coi nhiều như ít Lấy đức báo oán. Làm việc khó, bắt nơi chỗ dễ. Làm việc lớn, bắt nơi chỗ nhỏ. Việc khó trong đời khởi nơi chỗ dễ. Việc lớn trong đời Khởi nơi chỗ nhỏ. Bởi vậy thánh nhân, Suốt đời không làm chi lớn, Nên mới thành được việc lớn, Kẻ hứa dễ, ít tin được. Kẻ xem gì cũng dễ ắt gặp nhiều cái khó. Vậy nên Bậc thánh nhân xem việc gì cũng khó, Nên trọn đời không gặp gì khó cả.

Chương 64: Kì an dị trì, Kì vị triệu dị mưu. Kì tuý dị phán, Kì vi dị tán. Vi chi ư vị hữu. Trị chi ư vị loạn. Hạp bão chi mộc. Sinh ư hào mạt. Cửu tằng chi đài. Khởi ư luỹ thổ. Thiên lí chi hành, Thỉ ư túc hạ. Vi giả bại chi. Chấp giả thất chi. Thị dĩ thánh nhân, Vô vi cố vô bại, Vô chấp cố vô thất, Dân chi tùng sự Thường ư cơ thành nhi bại chi. Thận chung như thỉ, Tác vô bại sự. Thị dĩ thánh nhân Dục bất dục Bất quí nan đắc chi hoá; Học bất học, Phục chúng nhân chi sở quá. Dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên Nhi bất cảm vi.

Chương 64: Vật yên tịnh, dễ cầm, Chưa bày điềm, dễ lo; Vật mềm dễ tan tác; Vật nhỏ, dễ phân tán. Ngăn ngừa khi chưa hiện, Sửa trị khi chưa loạn. Cây to một ôm, Khởi sinh tại gốc nhỏ. Đài cao chính tầng, Khởi đầu nhúm đất con. Đi xa nghìn dặm, Khởi đầu một bước chân. Làm thì hư, Giữ thì mất. Bởi vậy thánh nhân, Không làm nên không hư, Không giữ, nên không mất. Người dân mà làm, Gần thành thì bại. Dè sau như trước, Ắt không hư hại. Vậy nên thánh nhân. Muốn mà không muốn. Không quí của khó được. Học mà không học, Giúp chúng nhân hối mà trở về. Giúp vạn vật sống theo tự nhiên. Mà không dám mó tay vào.

Chương 65: Cổ chi thiện vi Đạo giả, Phi dĩ minh dân, Tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị Dĩ kì trí đa. Cố. Dĩ trí trị quốc, Quốc tri tặc. Bất dĩ trí trị quốc, Quốc chi phúc. Tri thử lưỡng giả diệc khẻ thức. Thường tri khẻ thức, Thị vị Huyền đức. Huyền đức, thâm hĩ, viễn hĩ. Dữ vật phản hĩ, Nhiên hậu mãi chí đại thuận.

Chương 65: Đời xưa, kẻ khéo thi hành Đạo, Không làm cho dân “khôn lanh” Mà làm cho dân “thực thà” Dân mà khó trị, Vì nhiều trí mưu. Bởi vậy Lấy trí mà trị nước, Là cái vạ cho nước. Không lấy trí mà trị nước, Là cái phúc cho nước. Biết hai điều đó, là biết làm mô thức. Thường biết làm mô thức, Nên gọi là Huyền đức. Huyền đức thì sâu, thẳm. Nhân đó, muôn vật trở về. Rồi sau mới đến chỗ đại thuận.

Chương 66: Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả Dĩ kì thiện hạ chi. Cố Năng vi bách cốc vương. Thị dĩ dục thượng dân, tất dĩ ngôn hạ chi Dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi Thị dĩ thánh nhân Xử thượng nhi dân bất trọng Xử tiền nhi dân bất hại Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm Dĩ kì bất tranh Cố Thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.

Chương 66: Sóng biển sở dĩ làm đặng Vua trăm hang. Vì nó khéo đứng dưới thấp Nên Làm vua đặng trăm hang. Vậy nên Muốn ngồi trên dân, hắn lấy lời mà hạ mình Muốn đứng trước dân, hẳn lấy mình để ra sau Vậy nên thánh nhân Ở trên dân mà không hay nặng. Ở trước dân mà dân không thấy hại. Vì thế thiên hạ không chán, lại còn đẩy tới trước Bởi vì đó không tranh, Nên thiên hạ không cùng tranh với đó được.

Chương 67: Thiên hạ giai vị ngã Đạo đại tự bất tiếu. Phù duy đại, Cố Tự bất tiếu. Nhược tiểu cửu hĩ, Kì tế dã phù! Ngã hữu tam bửu Trì nhi bảo chi: Nhất viết từ; Nhị viết kiệm; Tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên: Từ cố năng dũng, Kiêm cố năng quảng. Bất cảm vi thiên hạ tiên, Cố năng thành khí trưởng. Kim xá từ thả dũng, Xá kiệm thả quảng. Xá hậu thả tiên Tử hĩ. Phù từ dĩ chiến tắc thắng Dĩ thủ tắc cố. Thiên tướng cứu chi, Dĩ từ vệ chi.

Chương 67: Thiên hạ đều gọi Đạo ta là lớn mà dường như không giống chi cả. Bởi nó Lớn nên Nó không giống chi cả Nhược bằng Nó giống vật chi Thì Nó đã nhỏ lâu rồi! Ta có ba vật báu, hằng nắm giữ và ôm ấp: Một là “Từ”; Hai là “Kiệm”; Ba là “Không dám đứng trước thiên hạ” Từ mới có Dũng, Kiệm mới có rộng, Không dám đứng trước thiên hạ thì được Ngôi cao Nay, nếu bỏ Từ để được Dũng, bỏ Kiệm để được Rộng, bỏ Sau để đứng trước là chết vậy Lấy Từ mà tranh đấu thì thắng; Lấy Từ mà cố thủ thì vững. Trời mà muốn cứu ai, Lấy Từ mà giúp đó.

Chương 68: Tướng giỏi không dùng vũ lực, Chiến sĩ giỏi không giận dữ. Khéo thắng địch là không tranh với đó. Khéo dùng người là hạ mình giúp đó. Đó là cái đức của sự không tranh. Đó là cái thuật của sự dùng người. Đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời vậy.

Chương 68: Thiện vi sĩ giả bất vũ, Thiện chiến giả bất nộ. Thiện thắng địch giả bất dữ. Thiện dụng nhân giả vi chi hạ, Thị vị bất tranh chi đức. Thị vị dụng nhân chi lực. Thị vị phối thiên cổ chi cực.

Chương 69: Dụng binh hữu ngôn: Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách, Bất cảm tiến thốn nhi thối xích: Thị vị hành vô hành Nhương vô tí, Nhưng vô địch, Chấp vô binh. Hoạ mạc đại ư khinh địch, Khinh địch cơ táng ngô bảo Cố Kháng binh tương gia, Ai giả thắng hĩ.

Chương 69: Dụng binh có câu: Thà làm khách, hơn làm chủ. Thà thối một bước, hơn tiến một tấc. Đó gọi là: bước mà không đi tới; Nhượng mà không xăn tay; Bắt giặc mà không đối địch; Cầm giữ mà không binh khí. Không hoạ nào lớn bằng khinh địch. Khinh địch thì mất của báu. Nên hai bên giao binh, Kẻ nhường là thắng .

Chương 70: Ngô ngôn Thậm di tri, Thậm dị hành. Thiên hạ Mạc năng tri, Mạc năng hành. Ngôn hữu tông, Sự hữu quân. Phù duy vô tri, Thi dĩ bất ngã tri. Tri ngã giả hi, Tắc ngã giả quí. Thị dĩ thánh nhân Bị hạt hoài ngọc.

Chương 70: Lời của ta Rất dễ hiểu Rất dễ làm. Thế mà thiên hạ không hay hiểu, không hay làm. Lời của ta có gốc Việc của ta có chủ. Vì thiên hạ không hiểu được cái chỗ đó, Nên không hiểu được ta. Hiểu ta, ít kẻ, Nên ta mới quí Vì vậy bậc thánh nhân Ngoài mặc bó vải, mà lòng đầy châu ngọc.

Chương 71: Tri bất tri thượng, Bất tri tri bệnh. Phù duy bệnh bệnh, Thị dĩ bất bệnh. Thánh nhân bất bệnh, Dĩ kì bệnh bệnh, Thị dĩ bất bệnh.

Chương 71: Biết mà cho là không biết, thì cao, Không biết mà cho là biết, thì bệnh. Biết đó là bệnh, Thì không bệnh nữa. Thánh nhân không bệnh, Vì biết đó bệnh, Nên không bệnh nữa.

Chương 72:
Dân chi uý uy, Tắc đại uy chí. Vô hiệp kì sở cư, Vô yếm kì sở sinh. Phù duy bất yếm, Thị dĩ bất yếm. Thị dĩ thánh nhân, Tự tri bất tự kiến. Tự ái bất tự quí. Cố Khử bỉ thủ thử.

Chương 72: Dân mà không sợ cái đáng sợ, Tất cái sợ lớn phải đến. Đừng chê hẹp chỗ ở của mình, Đừng chán đời sống của mình. Vì ta không chê, Nên ta không chán. Bởi vậy thánh nhân, Biết mình mà không tự xem là sáng. Yêu mình mà không quí mình. Nên Bỏ đây mà giữ đó.

Chương 73: Dũng ư cảm tắc sát, Dũng ư bất cảm tắc hoạt. Thử lưỡng giả hoặc lợi hoặc hại. Thiên chi sở ố, Thực tri kì cố? Thị dĩ thánh nhân do nan chi. Thiên chi đạo: Bất tranh nhi thiện thắng. Bất ngôn nhi thiện ứng Bất triệu nhi tự lai Xiển nhiên thiện mưu. Thiên võng khôi khôi, Sơ nhi bất thất.

Chương 73: Cái dũng của sự dám làm thì chết, Cái dũng của sự không dám làm thì sống. Hai cái đó, hoặc có lợi, hoặc có hại. Cái chỗ ghét của Trời, Ai hay được duyên cớ? Bậc thánh cũng cấp chỗ khó đó! Đạo của Trời:
Không tranh mà lại thắng; Không nói mà có kẻ nghe; Không gọi mà tự đến; Thong thả mà xong việc. Lưới trời lồng lộng Thưa mà chẳng lọt.

Chương 74: Dân bất uý tử, Nại hà dĩ tử cụ chi? Nhược sử dân thường uý tử Nhi vi kì giã Ngô đắc chấp nhi sát chi. Thục cảm? Thường hữu tư sát giả sát. Phù đại tư sát giả sát, Thị vị đại đại tượng trác. Phù đại đại tượng trác giả, Hi hữu bất thương kì thủ hĩ.

Chương 74: Dân bất uý tử, Làm sao lấy chết doạ đó. Nhược bằng khiến dân thường sợ chết. Và lại có người phạm pháp, Ta bắt được và giết đi, để không ai dám vi phạm Ai dám làm việc đó? Thường có Đấng Tư sát để mà giết. Nay ta lại thế Đó mà giết, Có khác nào thế tay thợ đẽo. Thế tay thợ đẽo Ít thấy chẳng bị đứt tay.

Chương 75: Dân chi cơ, Dĩ kì thượng thực thuế chi đa, Thị dĩ cơ. Dân chi nan trị. Dĩ kì thượng chi hữu vi. Thị dĩ nan trị. Dân chi khinh tử, Dĩ kì cầu sinh chi hậu Thị dĩ khinh tử. Phù duy vô dĩ sinh vi giả. Thị hiền ư quí sinh.

Chương 75: Dân mà đói, Là vì trên bắt thuế nhiều. Nên mới đói. Dân mà khó trị, Là vì trên dùng đạo hữu vi Nên mới khó trị. Dân mà khinh chết, Là vì trọng cầu sự sống. Nên mới khinh chết. Kẻ nào không làm gì cả để sống Ngoan hơn kẻ cố “làm” để sống

Chương 76: Nhân chi sinh dã nhu nhược. Kì tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thuý, Kì tử dã khô kháo; Cố Kiên cường giả, Tử chi đồ; Nhu nhược giả, Sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, Mộc cường tắc chiết. Cố Kiên cường xử hạ. Nhu nhược xử thượng.

Chương 76: Người khi mới sinh thì mềm yếu; Mà khi chết thì cứng và mạnh. Vạn vật cây cỏ mới sinh thì mềm dịu; Mà khi chết thì khô héo. Nên Cứng và mạnh là bạn của chết; Mềm và yếu là bạn của sống. Ấy nên binh mạnh thì không thắng; Cây mạnh thì ắt gãy. Ấy nên Cứng và mạnh ở bậc dưới Mềm và yếu ở bậc trên.

Chương 77: Thiên chi Đạo kì du trương cung dư? Cao giả ức chi, Hạ giả cử chi; Hữu dư giả tổn chi; Bất túc giả bổ chi. Thiên chi Đạo: Tổn hữu dư nhi bổ bất túc. Nhân chi đạo tắc bất nhiên: Tổn bất túc dĩ phụng hữu dư. Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ? Duy hữu Đạo giả. Thị dĩ thánh nhân; Voi nhi bất thị, Công thành nhi bất xử, Kì bất dục kiến hiền.

Chương 77: Đạo Trời ư? khác nào cây cung giương lên: Chỗ cao thì ép xuống, Chỗ thấp thì nâng lên. Có dư thì bớt đi. Không đủ thì bù vào. Đạo của Trời: Bớt chỗ dư bù chỗ thiếu Đạo của Người thì không vậy: Bớt chỗ thiếu bù chỗ dư. Ai đâu có dư để bù cho thiên hạ. Nếu không phải kẻ đã được Đạo! Bởi vậy thánh nhân: Làm mà không cậy công, Công thành rồi không ở lại, Không muốn ai thấy tài hiền của mình

Chương 78: Thiên hạ nhu nhược, Mạc quá ư thuỷ, Nhi công kiên cường giả, Mạc chỉ năng thắng. Kì vô dĩ dị chi. Nhu thắng cương, Nhược thắng cường. Thiên hạ mạc năng tri, Mạc năng hành. Thị dĩ thánh nhân vân:Thọ quốc chi cấu, Năng vi xã tắc chủ. Thọ quốc bất tường, Năng vi thiên hạ vương. Chánh ngôn nhược phản..

Chương 78: Dưới trời, mềm yếu, không chi hơn nước thắng được vật cứng không chi hơn đó được Không chi thay đó được. Mềm thắng cứng, Yếu thắng mạnh. Dưới trời không ai không biết, Nhưng không ai có thể làm được. Bởi vậy thánh nhân nói: Dám nhận lấy bụi bặm của nước, Mới có thể làm được chủ xã tắc. Dám nhận lấy sự không may của nước Mới có thể làm vua thiên hạ. Lời ngay nghe trái ngược.

Chương 79: Hoà đại oán, tất hữu dư oán, An khả dĩ vi thiện. Thị dĩ thánh nhân Chấp tả khế nhi bất trách ư nhân. Hữu đức tư khế, Vô đức tư triệt. Thiên Đạo vô thân, Thường dữ thiện nhân.

Chương 79: Hoà được oán lớn, vẫn còn oán thừa, Sao cho thế là phải? Ấy nên thánh nhân Cầm tờ hợp ước bên trái mà không trách người. Kẻ Đức thì hợp lại, Người không Đức thì phản ra. Đạo Trời không thân ai, Thường gia ân cho người lành.

Chương 80: Tiểu quốc quả dân. Sử hữu thập bách chi khí nhi bất dụng Sử dân trọng tử nhi bất viễn tỉ Tuy hữu chu dư, Vô sở thừa chi. Tuy hữu giáo binh, Vô sở trần chi.
Sử dân phục kiết thằng nhi dụng chi. Cam kì thực, Mĩ kì phục, An kì cư, Lạc kì tục. Lân quốc tương vọng, Kê khuyển chi thinh tương văn, Dân chi lão tử bất tương vãng lai.

Chương 80: Nước nhỏ, dân ít, Dù có mười hay trăm thứ binh khí, cũng không cho dùng đến Khiến cho dân sợ chết, mà không đi xa. Tuy có thuyền xe, Không chỗ ngồi lên. Tuy có giáp binh, Cũng không cho dùng đến.Khiến dân dùng lại cách gút dây. Ăn món ngon của nơi đó, Mặc đồ đẹp của nơi đó, Yêu nơi mình ở đó, Vui với phong tục của đó. Nước gần cùng trông nhau, Tiếng gà chó cùng nghe chung, Dân đến già, chết không qua lại nhau.

Chương 81: Tín ngôn bất mĩ, Mĩ ngôn bất tín. Thiện giả bất biện. Biện giả bất thiện. Tri giả bất bác, Bác giả bất tri. Thánh nhân bất tích, Kí dĩ vi nhân kỉ dũ hữu. Kí dĩ dữ nhân kỉ dũ đa. Thiên chi Đạo, lợi nhi bất hại. Thánh nhân chi Đạo, vi nhi bất tranh.

Chương 81: Lời thành thực không đẹp, Lời đẹp không thành thực. Người thiện không tranh biện, Người tranh biện không thiện. Người trí không học rộng, Người học rộng không trí Bậc thánh nhân không thu giữ, Càng vì người, mình càng thêm có, Càng cho người, mình càng thêm nhiều. Đạo của Trời, lợi mà không hại. Đạo của Thánh nhân, làm mà không tranh.

THÁI THƯỢNG THANH TỊNH KINH

THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN THUYẾT THƯỜNG THANH TỊNH KINH
Thanh Tĩnh Kinh

太 上 老 君 说 常 清 静 经

THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN THUYẾT THƯỜNG THANH TỊNH KINH

大道无形,生育天地;大道无情,运行日月;大道无名,长养万物;吾不知其名强名曰道。夫道者 : 有清有浊,有动有静;天清地浊,天动地静;男清女浊,男动女静;降本流末,而生万物。清者浊之源,动者静之基;人能常清静,天地悉皆归。

Đại đạo vô hình, sanh dục thiên địa; đại đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt; đại đạo vô danh, trường dưỡng vạn vật; ta chẳng biết gọi là gì, chỉ tạm gọi là đạo. Phàm Đạo ấy : có thanh có trọc, có động có tĩnh; thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh; nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh; giáng gốc giữ ngọn, mà sanh vạn vật. Thanh là nguồn của trọc, động là cơ của tĩnh; người thường hay thanh tĩnh, thì Đạo trời đất đều gồm đủ nơi thân.

夫人神好清,而心扰之;人心好静,而欲牵之。常能遣其欲,而心自静;澄其心,而神自清;自然六欲不 生,三毒消灭。所以不能者,为心未澄,欲未遣也,能遣之者 : 内观其心,心无其心;外观其形,形无其形;远观其物,物无其物;三者既无,唯见于空。观空亦空,空无所空;所空既无,无无亦无;无无既无,湛然常寂。寂无 所寂,欲岂能生;欲既不生,即是真静。真常应物,真常得性;常应常静,常清静矣。如此清静,渐入真道;既入真道,名为得道;虽名得道,实无所得;为化众 生,名为得道;能悟之者,可传圣道。

Phàm thần của người ưa thanh, mà tâm thường bị quấy rối; tâm của người ưa tĩnh, mà bị dục kéo lôi. Thường chế ngự được dục, thì tâm tự tĩnh; lắng được tâm, thì thần tự thanh; tự nhiên lục dục chẳng sanh, tam độc tiêu diệt. Chưa được như thế, vì tâm chưa lắng, dục chưa chế ngự vậy. Phải thường chế ngự : trong xem xét tâm, tâm không thật có gì để gọi là tâm; ngoài xem xét thân, thân không thật có gì để gọi là thân; xa xem xét vật, vật không thật có gì để gọi là vật; Cả 3 đều không, mà còn cái thấy cả 3 đều không. Cái thấy là không cũng không, không không chỗ không; chỗ không đã không, không không cũng không; không không đã không, trạm nhiên thường tịch. Tịch không chỗ tịch, chẳng sinh khởi dục; dục đã chẳng sanh, tức là chân tĩnh. Chân thường ứng vật, chân thường được tính; thường ứng thường tĩnh, thường thanh tĩnh vậy. Thanh tĩnh như thế, dần dần nhập chân đạo; đã nhập chân đạo, gọi là đắc đạo; tuy gọi đắc đạo, thật không chỗ được; vì dạy chúng sanh, tạm gọi đắc đạo; ngộ được như vậy thì có thể truyền thánh đạo .

上士无争,下士好争。上德不德,下德执德,执着之者,不明道德。众生所以不得真道者,为有妄心,既有妄心,即惊其神,既惊其神,即着万物,既着万物,即生 贪求,既生贪求,即是烦恼,烦恼妄想,忧苦身心,便遭浊辱,流浪生死,常沉苦海,永失真道。真常之道,悟者自得;得悟道者,常清静矣!

Thượng sĩ chẳng tranh, hạ sĩ hay tranh. Bậc thượng đức không để ý đến kẻ khác coi mình là có đức hay chê mình là không có đức, còn bậc hạ đức chấp đức, do vì bám chấp, nên đạo đức chẳng trong sáng. Chúng sanh sở dĩ chẳng được chân đạo bởi vì có vọng tâm, đã có vọng tâm, thì kinh động đến thần, đã kinh động đến thần, tức là bám chấp vạn vật, đã chấp vạn vật, thì sanh tham cầu, đã sanh tham cầu, chính là phiền não, phiền não vọng tưởng làm ưu khổ thân tâm, tạo ra vinh nhục đổi dời, nổi trôi sanh tử, đắm chìm bể khổ, mất hết chân đạo. Đạo chân thường này, ngộ mà tự được; ngộ được đạo thì thường thanh tĩnh vậy.

——————————————————————

仙人葛翁曰 : 吾得真道,曾诵此经万遍。此经是天人所习,不传下士。吾昔受之于东华帝君,东华帝君受之于金阙帝君,金阙帝君受之于西王母。西王一线乃口口相传,不记文 字。吾今于世,书而录之。上士悟之,升为天仙;中士修之,南宫列官;下士得之,在世长年。游行三界,升入金门。

Tiên nhân Cát ông nói : Ta được chân đạo, thường tụng kinh này vạn lần. Kinh này là chỗ thiên nhân góp lại chẳng truyền cho kẻ hạ sĩ. Ta nhận được từ Đông Hoa Đế quân, Đông Hoa Đế Quân nhận từ Kim Khuyết Đế Quân, Kim Khuyết Đế Quân nhận từ Tây Vương Mẫu. Tây Vương chỉ theo một cách là khẩu khẩu tương truyền, chẳng ghi văn tự, ta nay ghi lại thành sách cho đời. Kẻ Thượng sĩ gặp được sẽ biết đường để thăng lên thiên tiên; trung sĩ tu được có thể đến bậc liệt quan ở nam cung; hạ sĩ học được cũng được sống lâu trên đời. Du hành ba cõi, lên đến kim môn.

左玄真人曰 : 学道之士,持诵此经者,即得十天善神,拥护其身。然后玉符保神,金液炼形。形神俱妙,与道合真。

Tả Huyền chân nhân nói : người học đạo trì tụng kinh này thì được thiện thần ở 10 cõi trời ủng hộ thân mình, mà về sau được ngọc phù bảo thần, kim dịch luyện hình. Hình thần đều diệu, cùng đạo hợp chân .

正一真人曰 : 人家有此经,悟解之者,灾障不干,众圣护门。神升上界,朝拜高真。功满德就,相感帝君。诵持不退,身腾紫云。

Chánh Nhất chân nhân nói : nhà nào có kinh này, ngộ giải được thì tai chướng chẳng ngại, chúng thánh bảo vệ ngoài cửa. Thần thăng thượng giới, chào hỏi cao chân. Công mãn đức tựu, tương cảm đế quân. Đọc giữ chẳng ngừng, mây tím sẽ rước thân này bay lên.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên

Cảm Ứng Thiên

1. MINH NGHĨA

Thái Thượng viết:
Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu.
Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.

2. GIÁM SÁT

Thị dĩ, thiên địa hữu Tư Quá chi Thần, y nhân sở khinh trọng dĩ đoạt nhân toán. Toán giảm tắc bần hao, đa phùng ưu hoạn, nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi. Toán tận tắc tử. Hựu hữu Tam Thai, Bắc Đẩu Thần Quân tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán. Hựu hữu Tam Thi Thần tại nhân thân trung, mỗi đáo Canh Thân nhật, triếp thướng nghệ Thiên Tào, ngôn nhân tội quá. Nguyệt hối chi nhật, Táo Thần diệc nhiên. Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. Kỳ quá đại tiểu hữu sổ bách sự. Dục cầu trường sinh giả, tiên tu tị chi.

3. TÍCH THIỆN

Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái. Bất lý tà kính. Bất khi ám thất. Tích đức lũy công. Từ tâm ư vật. Trung, hiếu, hữu, đễ. Chính kỷ hóa nhân. Căng cô tuất quả. Kính lão hoài ấu. Côn trùng thảo mộc, do bất khả thương. Nghi mẫn nhân chi hung. Lạc nhân chi thiện. Tế nhân chi cấp. Cứu nhân chi nguy. Kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc. Kiến nhân chi thất như kỷ chi thất. Bất chương nhân đoản, bất huyện kỷ trường. Át ác dương thiện. Thôi đa thủ thiểu. Thụ nhục bất oán. Thụ sủng nhược kinh. Thi ân bất cầu báo. Dữ nhân bất truy hối.

4. THIỆN BÁO

Sở vi thiện nhân, nhân giai kính chi, thiên đạo hữu chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi, sở tác tất thành, thần tiên khả ký. Dục cầu thiên tiên giả, đương lập nhất thiên tam bách thiện. Dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện

5. CHƯ ÁC (THƯỢNG)

Cẩu hoặc phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành, dĩ ác vi năng, nhẫn tác tàn hại, âm tặc lương thiện, ám vũ quân thân, mạn kỳ tiên sinh, bạn kỳ sở sự, cuống chư vô thức, báng chư đồng học, hư vu trá ngụy công yết tông thân, cương cường bất nhân, ngận lệ tự dụng, thị phi bất đang, hướng bối quai nghi, ngược hạ thủ công, siểm thượng hy chỉ, thụ ân bất cảm, niệm oán bất hưu, khinh miệt thiên dân, nhiễu loạn quốc chính, thưởng cập phi nghĩa, hình cập vô cô, sát nhân thủ tài, khuynh nhân thủ vị, tru hàng lục phục, biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, khí pháp thụ lộ, dĩ trực vi khúc, dĩ khúc vi trực, nhập khinh vi trọng, kiến sát gia nộ, tri quá bất cải, tri thiện bất vi, tự tội dẫn tha, ung tắc phương thuật, sán báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức, xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn, nguyện nhân hữu thất, hủy nhân thành công, nguy nhân tự an, giảm nhân tự ích, dĩ ác dịch hảo, dĩ tư phế công, thiết nhân chi năng, tế nhân chi thiện, hình nhân chi xú, yết nhân chi tư, hao nhân hoá tài, ly nhân cốt nhục, xâm nhân sở ái, trợ nhân vi phi, sính chí tác uy, nhục nhân cầu thắng, bại nhân miêu giá, phá nhân hôn nhân, cẩu phú nhi kiêu, cẩu miễn vô sỉ, nhận ân thôi quá, giá họa mại ác, cô mãi hư dự, bao trữ hiểm tâm, tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản, thừa uy bức hiếp, túng bạo sát thương, vô cố tiễn tài, phi lễ phanh tể, tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sinh, phá nhân chi gia thủ kỳ tài bảo, quyết thủy phóng hỏa dĩ hại dân cư, văn loạn qui mô dĩ bại nhân công, tổn nhân khí vật dĩ cùng nhân dụng, kiến tha vinh quý nguyện tha lưu biếm, kiến tha phú hữu nguyện tha phá tán, kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi, phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử, can cầu bất toại tiện sinh chú hận, kiến tha thất tiện tiện thuyết tha quá, kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi, kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi ..

6. CHƯ ÁC (HẠ)

Mai cổ yếm nhân, dụng dược sát thụ, nhuế nộ sư phó, để xúc phụ huynh, cưỡng thủ cường cầu, háo xâm háo đoạt, lỗ lược trí phú, xảo trá cầu thiên, thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết, hà ngược kỳ hạ, khủng hách ư tha, oán thiên vưu nhân, ha phong mạ vũ, đấu hiệp tranh tụng, vọng trục bằng đảng, dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn, đắc tân vong cố, khẩu thị tâm phi, tham mạo ư tài, khi võng kỳ thượng, tạo tác ác ngữ, sàm hủy bình nhân, hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính, khí thuận hiệu nghịch, bối thân hướng sơ, chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài, dẫn thần minh nhi giám ôi sự, thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn, phận ngoại doanh cầu, lực thượng thi thiết, dâm dục quá độ, tâm độc mạo từ, uế thực ủy nhân, tả đạo hoặc chúng, đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng, dĩ ngụy tạp chân, thái thủ gian lợi, áp lương vi tiện, mạn mạch ngu nhân, tham lam vô yếm, chú trớ cầu trực, thị tửu bột loạn, cốt nhục phẫn tranh, nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận, bất tri kỳ thất, bất kính kỳ phu, mỗi háo căng khoa, thuờng hành đố kỵ, vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô, khinh mạn tiên linh, vi nghịch thượng mệnh, tác vi vô ích, hoài hiệp ngoại tâm, tự chú chú tha, thiên tăng thiên ái, việt tỉnh việt táo, khiêu thực khiêu nhân, tổn tử đọa thai, hành đa ẩn tịch, hối lạp ca vũ, sóc đán hiệu nộ, đối bắc thế thóa cập niệu (nịch), đối táo ngâm vịnh cập khốc, hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực, dạ khởi lõa lộ, bát tiết hành hình, thóa lưu tinh, chỉ hồng nghê, triếp chỉ tam quang, cửu thị nhật nguyệt, xuân nguyệt liệu lạp, đối bắc ác mạ, vô cố sát qui đả xà.

7. ÁC BÁO

Như thị đẳng tội, Tư Mệnh tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán. Toán tận tắc tử. Tử hữu dư trách, nãi ương cập tử tôn. Hựu chư hoạnh thủ nhân tài giả, nãi kế kỳ thê tử gia khẩu đang chi, tiệm chí tử tang, nhược bất tử tang, tắc hữu thuỷ hỏa đạo tặc, di vong khí vật, tật bệnh khẩu thiệt chư sự, dĩ đang vọng thủ chi trực. Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã. Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như lậu phụ cứu cơ, trấm tửu chỉ khát, phi bất tạm bão, tử diệc cập chi.

8. CHỈ VI

Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi cát thần dĩ tùy chi.
Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi.

9. HỐI QUÁ

Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã.

10. LUẬT ĐỊNH

Cố, cát nhân ngứ thiện, thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc.
Hung nhân ngứ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hành tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi?

KINH SÁCH

KINH SÁCH:

Download Thien Duong Du Ky at Dropbox at BoxNet

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH.

HUỲNH ĐÌNH NỘI CẢNH KINH.

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ.

NAM HOA KINH NỘI THIÊN – TRANG TỬ.

THIÊN ĐƯỜNG DU KÝ.

TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC DU LÃM KÝ.

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN.

CÔ BA CHÁO GÀ DU ĐỊA NGỤC – THIÊN LONG – TIÊN CẢNH.

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG.

THẤT CHƠN NHÂN QUẢ

 

NHẤN VÀO LIÊN KẾT BÊN TRÊN ĐỂ TẢI VỀ.

 

 

 

 

 

 

PLEASE CLICK THE UPPER LINKS TO DOWNLOAD. 

 

Design a site like this with WordPress.com
Get started