A mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet

A mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet:
Follow the links bellow to connect at:

Dropbox ((dot)) com mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet

Box ((dot)) net mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet

((Google)) ((Drive)) mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet

((Microsoft)) ((One Drive Online)) mini Buddhism Sutra Doctrine Books Cabinet

You could save to your own Cloud Drive to read and print.
Free distribution and download to print out! Thanks!

Blog Post

 

Be yourself; Everyone else is already taken.

— Oscar Wilde.

This is the first post on my new blog. I’m just getting this new blog going, so stay tuned for more. Subscribe below to get notified when I post new updates. 

 

 

The Mahayana Lotus Sutra (Saddharma pundarika sutram * 妙法蓮華經): 

Lotus Sutra: Chapters: 

 

 

 

 

 

 

Introduce Yourself (Example Post)

This is an example post, originally published as part of Blogging University. Enroll in one of our ten programs, and start your blog right.

You’re going to publish a post today. Don’t worry about how your blog looks. Don’t worry if you haven’t given it a name yet, or you’re feeling overwhelmed. Just click the “New Post” button, and tell us why you’re here.

Why do this?

  • Because it gives new readers context. What are you about? Why should they read your blog?
  • Because it will help you focus you own ideas about your blog and what you’d like to do with it.

The post can be short or long, a personal intro to your life or a bloggy mission statement, a manifesto for the future or a simple outline of your the types of things you hope to publish.

To help you get started, here are a few questions:

  • Why are you blogging publicly, rather than keeping a personal journal?
  • What topics do you think you’ll write about?
  • Who would you love to connect with via your blog?
  • If you blog successfully throughout the next year, what would you hope to have accomplished?

You’re not locked into any of this; one of the wonderful things about blogs is how they constantly evolve as we learn, grow, and interact with one another — but it’s good to know where and why you started, and articulating your goals may just give you a few other post ideas.

Can’t think how to get started? Just write the first thing that pops into your head. Anne Lamott, author of a book on writing we love, says that you need to give yourself permission to write a “crappy first draft”. Anne makes a great point — just start writing, and worry about editing it later.

When you’re ready to publish, give your post three to five tags that describe your blog’s focus — writing, photography, fiction, parenting, food, cars, movies, sports, whatever. These tags will help others who care about your topics find you in the Reader. Make sure one of the tags is “zerotohero,” so other new bloggers can find you, too.

Địa Mẫu Chơn Kinh

Địa Mẫu Chơn Kinh

Kinh Địa Mẫu

ĐỊA MẪU CHÂN KINH

Địa Mẫu Chơn Kinh

Kinh Địa Mẫu

ĐỊA MẪU CHÂN KINH

dia-mau-chon-kinh

dia-mau-chon-kinh

Địa Mẫu Chơn Kinh

ĐỊA MẪU TỪ BI

Download ban in ve may

Tai ve may de in

TỰ LUẬN:

Quang Tự cửu niên, chánh ngoạt, sơ cửu nhật, Thiểm Tây Tỉnh, Hớn Trung Phủ, Thành Cố Huyện, Địa Mẫu miếu, Kim Mẫu phi Loan truyền kinh. (Đời nhà Thanh, vua Quang Tự, năm thứ 9, nhằm Tiết tháng Giêng, ngày mùng 9, tại nơi tỉnh Thiểm Tây, phủ Hớn Trung, huyện Thành Cố, đức Địa Mẫu ngự chim Loan hiện xuống tận Miếu, Ngài giáng Cơ bút truyền ra kinh này).

 

NAM MÔ VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH BẢO MẠNG CHƠN KINH

(Đức Địa Mẫu ngự trên cõi Thượng Tầng tối cao, làm quyển Chơn Kinh để khuyên răn, dưỡng dục và bảo toàn tánh mạng cho tất cả người đời).

 

ĐỐT HƯƠNG:

Khói hương xông thấu mấy tầng xanh,

Rốt ráo tâm con bổn nguyện lành,

Trên khói hương này xin Mẫu ngự,

Chứng minh con trẻ tấm lòng thành.

NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG ĐỊA MẪU CHỨNG MINH

 

LỄ PHẬT:

Kính lạy Phật từ bi, quảng đại,

Vì chúng sanh muôn loại đảo điên,

Luân hồi khổ não triền miên,

Mới dùng phương pháp giải phiền nơi tâm.

 

LỄ PHÁP:

Kính lạy pháp, nguồn ân chưa trả,

Nẽo quang minh mô tả rõ ràng,

Vì đời lắm kẻ lầm than,

Nên thuyền Bát Nhã sẵn sàng đợi đưa.

 

LỄ TĂNG:

Kính lạy Tăng, là người chí cả,

Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu,

Vô minh nên mới lo âu,

Rọi đường cứu khổ, dẫn đường chúng sanh.

 

  • Nam mô Hội Thượng Phật cảm ứng chứng minh. (1 lạy)
  • Nam mô Tam Bảo đạo tràng cảm ứng chứng minh. (1 lạy)
  • Nam mô con nhất tâm đảnh lễ đức Hoàng Mẫu cứu độ chúng sanh. (1 lạy)
  • Nam mô con nhất tâm đảnh lễ Phổ Đà Sơn Nam Hải Hội Thượng Phật, Bồ Tát cảm ứng chứng minh. (1 lạy)
  • Nam mô con nhất tâm đảnh lễ Tổ Thầy cảm ứng chứng minh. (1 lạy)
=======================
太上老君說五谷妙經
Thái thượng lão quân thuyết ngũ cốc diệu kinh 
眼光真經
Nhãn quang chân kinh 
炫懿普德門
Huyễn ý phổ đức môn 
太上老君說五谷妙經
Thái thượng lão quân thuyết ngũ cốc diệu kinh 

爾時盤古滅度 之後。
Nhĩ thời bàn cổ diệt độ chi hậu. 
復有人民。未有五穀。食草木為生活。炎帝王復立。 
phục hữu nhân dân. vị hữu ngũ cốc. thực thảo mộc vị sinh hoạt. viêm đế vương phục lập. 
天地世界三千七百年。所為出處。住七十二山。
thiên địa thế giới tam thiên thất bách niên. sở vị xuất xứ. trụ thất thập nhị sơn. 
尋覓五谷。口嘗百草惡毒。 唇舌燋爛。然後炎帝王往一羊山。
tầm mịch ngũ cốc. khẩu thường bách thảo ác độc. thần thiệt tiêu lạn. nhiên hậu viêm đế vương vãng nhất dương sơn. 
尋得粟子一粒。計在棗樹中。八種得成粟谷。
tầm đắc túc tử nhất lạp. kế tại tảo thụ trung. bát chủng đắc thành túc cốc. 
大梁山中尋得稻谷一粒。計在柳樹中。
đại lương sơn trung tầm đắc đạo cốc nhất lạp. kế tại liễu thụ trung. 
七種得成稻谷。朱石山尋得小豆一顆。 
thất chủng đắc thành đạo cốc. chu thạch sơn tầm đắc tiểu đậu nhất khoả. 
計在李樹中。六種得成小豆。
kế tại lý thụ trung. lục chủng đắc thành tiểu đậu. 
維石山尋得大豆一粒。計在槐樹中。 五種得成大豆。
duy thạch sơn tầm đắc đại đậu nhất lạp. kế tại hoè thụ trung. ngũ chủng đắc thành đại đậu. 
長石山尋得大小麥二粒。計在桃樹中。四種纔成大小麥。 
trưởng thạch sơn tầm đắc đại tiểu mạch nhị lạp. kế tại đào thụ trung. tứ chủng tài thành đại tiểu mạch. 
武石山尋得芝麻一粒。計在荊樹中。數種纔成芝麻。初種五谷皆因六樹而生。
vũ thạch sơn tầm đắc chi ma nhất lạp. kế tại kinh thụ trung. số chủng tài thành chi ma. sơ chủng ngũ cốc giai nhân lục thụ nhi sinh. 
炎帝王菩薩往七十二山中。尋覓五谷就土。遍滿天下。救度人民衣食父母。 
viêm đế vương bồ tát vãng thất thập nhị sơn trung. tầm mịch ngũ cốc tựu thổ. biến mãn thiên hạ. cứu độ nhân dân y thực phụ mẫu. 
神農黃帝登位。置立天下江河社稷。五谷大王。
thần nông huỳnh đế đăng vị. trí lập thiên hạ giang hà xã tắc. ngũ cốc đại vương. 
田公田母掌管苗稼。 初分天地之時。人民慈善。忠良孝順。
điền công điền mẫu chưởng quản miêu giá. sơ phân thiên địa chi thời. nhân dân từ thiện. trung lương hiếu thuận. 
晝晴夜雨。五谷大收。風調雨順。 國泰民安。不生盜賊。
trú tình dạ vũ. ngũ cốc đại thu. phong điều vũ thuận. quốc thái dân an. bất sinh đạo tặc. 
五谷一粒重三兩。見得眾生拋撒作賤。五谷不收。 炎帝天心生煩惱。
ngũ cốc nhất lạp trọng tam lạng. kiến đắc chúng sinh phao tán tác tiện. ngũ cốc bất thu. 
viêm đế thiên tâm sinh phiền não. 
連年遭橫。欲晴不晴合雨不雨。蟲蝗旱澇。五谷不收。 
liên niên tao hoạnh. dục tình bất tình hợp vũ bất vũ. trùng huỳnh hạn lạo. ngũ cốc bất thu. 
饑荒餓死皆因作賤。世間人民。不知當來受 苦三千七百年。萬死萬生。 
cơ hoang ngạ tử giai nhân tác tiện. thế gian nhân dân. bất tri đương lai thụ khổ tam thiên thất bách niên. vạn tử vạn sinh. 
始得五谷滿天下。衣食王菩薩。流傳此經。不可思議。善哉善哉。善男子善女人。
thỉ đắc ngũ cốc mãn thiên hạ. y thực vương bồ tát. lưu truyền thử kinh. bất khả tư nghị. thiện tai thiện tai. thiện nam tử thiện nữ nhân. 
每逢出種下子之時。虔備香燈。請僧善友於家。看誦此經。神聖歡喜。苗稼長旺。
mỗi phùng xuất chủng hạ tử chi thời. kiền bị hương đăng. thỉnh tăng thiện hữu ư gia. khán tụng thử kinh. thần thánh hoan hỷ. miêu giá trưởng vượng. 
五谷成收。獲福無量。佛說此經己。天人阿修羅聞。 
ngũ cốc thành thu. hoạch phước vô lượng. phật thuyết thử kinh kỷ. thiên nhân a tu la văn. 
佛所說。皆大歡喜。信受奉行。作禮而退。 
phật sở thuyết. giai đại hoan hỷ. tín thụ phụng hành. tác lễ nhi thoái. 
五谷經終 
ngũ cốc kinh chung 

五谷讚
ngũ cốc tán 
虔誠頂禮 
kiền thành đỉnh lễ 
五谷經來五谷經。五谷原來有根生。天地本是我父母。日月星光助我成。 
ngũ cốc kinh lai ngũ cốc kinh. ngũ cốc nguyên lai hữu căn sinh. thiên địa bổn thị ngã phụ mẫu. nhật nguyệt tinh quang trợ ngã thành. 
五谷苦楚言不盡。五谷原來養命根。君王重我五谷經。萬里江山樂太平。 
ngũ cốc khổ sở ngôn bất tận. ngũ cốc nguyên lai dưỡng mệnh căn. quân vương trọng ngã ngũ cốc kinh. vạn lý giang sơn lạc thái bình. 
官員重我五谷經。子孫世代贈乾坤。讀書重我五谷經。龍虎榜上中頭名。 
quan viên trọng ngã ngũ cốc kinh. tử tôn thế đại tặng kiền khôn. độc thư trọng ngã ngũ cốc kinh. long hổ bảng thượng trung đầu danh. 
生意重我五谷經。朝朝每日得金銀。個個神靈有人敬。那個敬我五谷神。 
sinh ý trọng ngã ngũ cốc kinh. triêu triêu mỗi nhật đắc kim ngân. cá cá thần linh hữu nhân kính. na cá kính ngã ngũ cốc thần. 
五谷八月初一生。家家念佛點明燈。為人在世要敬神。不敬神靈枉為人。 
ngũ cốc bát nguyệt sơ nhất sinh. gia gia niệm phật điểm minh đăng. vị nhân tại thế yếu kính thần. bất kính thần linh uổng vị nhân. 
留與天下九洲地。無有五谷活不成。家有一卷五谷經。一生衣祿不受貧。 
lưu dữ thiên hạ cửu châu địa. vô hữu ngũ cốc hoạt bất thành. gia hữu nhất quyển ngũ cốc kinh. nhất sinh y lộc bất thụ bần. 
五谷原是聖經寶。勝如天下寶合珍。朝中無我無世界。世間無我無乾坤。 
ngũ cốc nguyên thị thánh kinh bảo. thắng như thiên hạ bảo hợp trân. triêu trung vô ngã vô thế giới. thế gian vô ngã vô kiền khôn. 
五谷根生敘不盡。勸人敬神保安寧。 
ngũ cốc căn sinh tự bất tận. khuyến nhân kính thần bảo an ninh. 
五谷天尊大天尊 
Ngũ cốc thiên tôn đại thiên tôn 

 三稱八叩 
 tam xưng bát khấu 
—————- 

眼光真經 
nhãn quang chân kinh 

佛說眼光經眼明是心燈
Phật thuyết nhãn quang kinh nhãn minh thị tâm đăng 
西方舍利塔 
Tây phương xá lợi tháp 
恒沙厚世大藏經
Hằng sa hậu thế đại tạng kinh 
千眼千手留地章 
Thiên nhãn thiên thủ lưu địa chương 
大智菩薩放毫光
Đại trí bồ tát phóng hào quang 
文殊菩薩騎獅子 
Văn thù bồ tát kỵ sư tử 
普賢菩薩坐象王
Phổ hiền bồ tát toạ tượng vương 
大地空羅漢 
Đại địa không la hán 
眼翳雲霧一掃光 
Nhãn ế vân vụ nhất tảo quang 
南無尊佛 摩訶般若波羅密
Nam mô Tôn Phật ma ha bát nhã ba la mật 

眼光真經終 
Nhãn quang chân kinh chung 
=======================

 

 

全真祈福科仪朝星拜斗

 




北京白云观庆贺上元九炁赐福天官圣诞三元朝科




新加坡三清宫己亥年超度大法会——全真青玄济炼铁罐施食(上)



北京白云观庆贺上元九炁赐福天官圣诞祈福法会




《北斗经》(北京白云观)




太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命真經 标清




2017 -11-28 「羅天大醮」福建省道教–九夷淨壇、九夷發奏_part 4




道教武當山真武祖師大表-上 Taoist

 

地母經

地母經

Địa Mẫu Chơn Kinh

Kinh Địa Mẫu


ĐỊA MẪU CHÂN KINH

dia-mau-chon-kinh

敬誦

Kính tụng

地母真經

Địa mẫu chân kinh

敬誦

Kính tụng

地母真經

Địa mẫu chân kinh

盤古初分我當尊,陰陽二氣配成婚。萬物本賴風和雨,開堂先念地母經。

Bàn cổ sơ phân ngã đương tôn , âm dương nhị khí phối thành hôn. Vạn vật bổn lại phong hoà vũ , khai đường tiên niệm địa mẫu kinh.

上奉高真親歡喜,下保萬民永安寧。地是地來天是天,陰陽二氣緊相連。

Thượng phụng cao chân thân hoan hỷ , hạ bảo vạn dân vĩnh an ninh. Địa thị địa lai thiên thị thiên , âm dương nhị khí khẩn tương liên.

統天統地統三光,包天包地包乾坤。坎離 震兌當四柱,乾坤艮巽是為天。

Thống thiên thống địa thống tam quang , bao thiên bao địa bao càn khôn. Khảm ly chấn đoài đáng tứ trụ , càn khôn cấn tốn thị vi thiên.

地母本是戊己土,包養先天 與後天。天君本是玄童子,他聾我啞配成雙。

Địa mẫu bổn thị mậu kỷ thổ , bao dưỡng tiên thiên dữ hậu thiên. Thiên quân bổn thị huyền đồng tử , tha lung ngã á phối thành song.

神與氣和化天 地,氣與神和產賢人。真氣為母母是氣,真神為子子是神。

Thần dữ khí hoà hoá thiên địa , khí dữ thần hoà sản hiền nhân. Chân khí vi mẫu mẫu thị khí , chân thần vi tử tử thị thần.

陰陽會合真造化,造化天地產賢君。雖然不會人言語,三九二八時時行。

Âm dương hội hợp chân tạo hoá , tạo hoá thiên địa sản hiền quân. Tuy nhiên bất hội nhân ngôn ngữ , tam cửu nhị bát thời thời hành.

子母不離懷胎孕,身懷有孕十年整。十月胎足卦爻定, 胎滿產出六賢君。

Tử mẫu bất ly hoài thai dựng , thân hoài hữu dựng thập niên chỉnh. Thập ngoạt thai túc quái hào định , thai mãn sản xuất lục hiền quân.

天皇地皇人皇氏,伏羲軒轅與神農。伏羲能化天合地,陰陽二氣八卦分。

Thiên hoàng địa hoàng nhân hoàng thị , phục hy hiên viên dữ thần nông. Phục hy năng hoá thiên hợp địa , âm dương nhị khí bát quái phân.

神農皇帝治五谷,軒轅皇帝治衣襟。飲食衣服從此起,留下後世照樣行。

Thần nông hoàng đế trì ngũ cốc , hiên viên hoàng đế trì y khâm. Ẩm thực y phục tòng thử khởi , lưu hạ hậu thế chiếu dạng hành.

三世諸佛從我出,菩薩不離母一身。各位諸神不離我,離我何處去安身。

Tam thế chư phật tòng ngã xuất , bồ tát bất ly mẫu nhất thân. Các vị chư thần bất ly ngã , ly ngã hà xứ khứ an thân.

東西南北四部洲,春夏秋冬我造成。江河湖海不離我,萬國九州我長成。

Đông tây nam bắc tứ bộ châu , xuân hạ thu đông ngã tạo thành. Giang hà hồ hải bất ly ngã , vạn quốc cửu Châu ngã trưởng thành.

歷代帝王不離我,大小皇官我養成。天下五嶽仙山境,山林樹木我造成。

Lịch đại đế vương bất ly ngã , đại tiểu hoàng quan ngã dưỡng thành. Thiên hạ Ngũ nhạc Tiên sơn cảnh , sơn lâm thụ mộc ngã tạo thành.

庶民百姓不離我,五谷六米我長成。七十二樣不離我,萬物草木我長成。

Thứ dân bá tính bất ly ngã , ngũ cốc lục mễ ngã trưởng thành. Thất thập nhị dạng bất ly ngã , vạn vật thảo mộc ngã trưởng thành.

人活在世吃用我,死後還在我懷中。各府州縣不離我,庵觀寺院我體成。

Nhân hoạt tại thế ngật dụng ngã , tử hậu hoàn tại ngã hoài trung. Các phủ châu huyện bất ly ngã , am quán tự viện ngã thể thành.

大小賢神是我塑,諸佛金身我功成。黃金本是四方寶,想壞世上多少人。

Đại tiểu hiền thần thị ngã tố , chư Phật kim thân ngã công thành. Hoàng kim bổn thị tứ phương bảo , tưởng hoại thế thượng đa thiểu nhân.

金銀財寶從我出,看來不離我一身。各國王子把我敬,累代帝王把我尊。

Kim ngân tài bảo tòng ngã xuất , khan lai bất ly ngã nhất thân. Các quốc vương tử bả ngã kính , luỹ đại đế vương bả ngã tôn.

國王為我動干戈,那個敬我地母身。綾羅綵緞從我出,花木菜果我長成。

Quốc vương vị ngã động can qua , na cá kính ngã địa mẫu thân. Lăng la thái đoạn tòng ngã xuất , hoa mộc thái quả ngã trưởng thành.

酸甜辣苦從我出,四季藥苗我長成。蔥蒜韭菜從我出,薑糖古月我長成。

Toan điềm lạt khổ tòng ngã xuất , tứ quý dược miêu ngã trưởng thành. Thông toán cửu thái tòng ngã xuất , khương đường cổ ngoạt ngã trưởng thành.

天下男女多生病,地母萬藥造生成。男女口中無滋味,油鹽醬醋我造成。

Thiên hạ nam nữ đa sinh bệnh , địa mẫu vạn dược tạo sinh thành. Nam nữ khẩu trung vô tư vị , du diêm tương thố ngã tạo thành.

樣樣都是我造出,萬般都是我造成。地母心血都費盡,地母費了無邊心。

Dạng dạng đô thị ngã tạo xuất , vạn ban đô thị ngã tạo thành. Địa mẫu tâm huyết đô phí tận , địa mẫu phí liễu vô biên tâm.

老娘為兒更為女,兒女忘了我的恩。吃喝穿帶娘造化,造化發生我長成。

Lão nương vị nhi cánh vị nữ , nhi nữ vong liễu ngã đích ân. Ngật hát xuyên đái nương tạo hoá , tạo hoá phát sinh ngã trưởng thành.

變賣銀子你們用,那個提念我一聲。世上諸物不離我,萬物還是娘生成。

Biến mại ngân tử nễ môn dụng, na cá đề niệm ngã nhất thanh. Thế thượng chư vật bất ly ngã, vạn vật hoàn thị nương sinh thành.

本來土產生一物,無數包藏六道行。世上只知天為大,地母敢大天一層。

Bổn lai thổ sản sinh nhất vật , vô số bao tàng lục đạo hành. Thế thượng chỉ tri thiên vị đại , địa mẫu cảm đại thiên nhất tằng.

天上一點甘露水,地下田苗五谷生。雖然降下是好雨,還是地母骨體精。

Thiên thượng nhất điểm cam lộ thuỷ , địa hạ điền miêu ngũ cốc sinh. Tuy nhiên giáng hạ thị hảo vũ , hoàn thị địa mẫu cốt thể tinh.

龍藏千里不離我,風雲還是地母生。母不與龍起風雲,看龍何處有雨行。

Long tàng thiên lý bất ly ngã , phong vân hoàn thị địa mẫu sinh. Mẫu bất dữ long khởi phong vân , khan long hà xứ hữu vũ hành.

龍也無處把身隱,呼雷閃電漏了形。說來說去都是我,世上怎知我苦心。

Long dã vô xứ bả thân ẩn , hô lôi thiểm điện lậu liễu hình. Thuyết lai thuyết khứ đô thị ngã , thế thượng chẩm tri ngã khổ tâm.

勞碌辛苦地母受,好穿好吃兒女行。地母晝夜不合眼,合眼眾是有災星。

Lao lộc tân khổ địa mẫu thụ , hảo xuyên hảo ngật nhi nữ hành. Địa mẫu trú dạ bất hợp nhãn , hợp nhãn chúng thị hữu tai tinh.

地母一時打個盹,鰲魚翻身一掃平。也無天來也無地,世上成了一場空。

Địa mẫu nhất thời đả cá truân , ngao ngư phiên thân nhất tảo bình. Dã vô thiên lai dã vô địa , thế thượng thành liễu nhất trường không.

諸佛逃走天涯外,菩薩逃走永無窮。

Chư Phật đào tẩu thiên nhai ngoại , Bồ tát đào tẩu vĩnh vô cùng.

君民人等盡皆無,天地神賢似火焚。

Quân dân nhân đẳng tận giai vô , Thiên địa thần hiền tự hoả phần.

無東無西無南北,萬物盡皆如灰塵。參透發筆地母意,地母光明度此身。

Vô đông vô tây vô nam bắc , vạn vật tận giai như hôi trần. Tham thấu phát bút địa mẫu ý , địa mẫu quang minh độ thử thân.

地母發筆靈芝現,地母真炁結月成。性命保全精神合,精神氣合我造成。

Địa mẫu phát bút linh chi hiện , địa mẫu chân khí kết ngoạt thành. Tính mệnh bảo toàn tinh thần hợp , tinh thần khí hợp ngã tạo thành.

仙佛賢聖忘母意,誇強賣會成才能。君臣文武忘母意,忘了地母大慈恩。

Tiên Phật hiền thánh vong mẫu ý , khoa cường mại hội thành thủ năng. Quân thần văn vũ vong mẫu ý , vong liễu địa mẫu đại từ ân.

士農工商忘母意,將恩不報反無情。不分正法圖如意,墮落萬劫不翻身。

Sĩ nông công thương vong mẫu ý , tương ân bất báo phản vô tình. Bất phân chính pháp đồ như ý , đoạ lạc vạn kiếp bất phiên thân.

要知地母名合姓,鴻蒙未判老混沌。

Yếu tri địa mẫu danh hợp tính , Hồng mông vị phán lão hỗn độn.

壽活十二萬年載,九千六百刻時辰。

Thọ hoạt thập nhị vạn niên tải , Cửu thiên lục bách khắc thời thần.

出世受了千萬苦,不料地母閃了空。嬰兒姹女無一個,坐在長江放悲聲。

Xuất thế thụ liễu thiên vạn khổ , Bất liệu địa mẫu thiểm liễu không. Anh nhi sá nữ vô nhất cá , Toạ tại trưởng giang phóng bi thanh.

若要母子重相見,除非子丑另開天。真經一百八十二,句句說的是真言。

Nhược yếu mẫu tử trùng tương kiến , Trừ phi tử sửu lánh khai thiên. Chân kinh nhất bách bát thập nhị , Cú cú thuyết đích thị chân ngôn.

家家都把地母敬,五穀豐收樂太平。也無大災與大難,善男信女享康寧。

Gia gia đô bả địa mẫu kính , ngũ cốc phong thu lạc thái bình. Dã vô đại tai dữ đại nạn , Thiện nam tín nữ hưởng khang ninh.

若還不聽地母話,五榖不收吃不成。若還不信地母話,大劫大難活不成。

Nhược hoàn bất thính địa mẫu thoại , Ngũ cốc bất thu ngật bất thành. Nhược hoàn bất tín địa mẫu thoại , Đại kiếp đại nạn hoạt bất thành.

地母十月十八生,家家誦念地母經。

Địa mẫu thập ngoạt thập bát sinh , Gia gia tụng niệm địa mẫu kinh.

香燈供果排齊整,做會誦經申表文。

Hương đăng cúng quả bài tề chỉnh , Tố hội tụng kinh thân biểu văn.

有人傳娘地母經,子孫萬代受皇恩。夫人傳我地母經,代代兒女滿堂興。

Hữu nhân truyền nương địa mẫu kinh , tử tôn vạn đại thụ hoàng ân. Phu nhân truyền ngã địa mẫu kinh , đại đại nhi nữ mãn đường hưng.

人人傳我地母經,五男二女香煙生。男女忌戊敬地母,榮華富貴萬萬春。

Nhân nhân truyền ngã địa mẫu kinh , ngũ nam nhị nữ hương yên sinh. Nam nữ kỵ mậu kính địa mẫu , vinh hoa phú quý vạn vạn xuân.

處處立壇把戊忌,地母保命救眾生。方方立壇把戊忌,地母化生顯賢靈。

Xứ xứ lập đàn bả mậu kỵ , địa mẫu bảo mệnh cứu chúng sinh. Phương phương lập đàn bả mậu kỵ , địa mẫu hoá sinh hiển hiền linh.

謝恩答報虛空母,連修廟宇把香焚。塑畫母像人朝敬,纔算孝子兒女心。

Tạ ân đáp báo hư không mẫu , liên tu miếu vũ bả hương phần. Tố hoạ mẫu tượng nhân triều kính , tài toán hiếu tử nhi nữ tâm.

急早誠心把功趕,莫把銀錢放在心。

Cấp tảo thành tâm bả công cảm , mạc bả ngân tiền phóng tại tâm.

虛空地母把令掛,脫凡成聖登天庭。

Hư không địa mẫu bả linh quải , thoát phàm thành thánh đăng thiên đình.

大忠大孝大結果,大慈大仁永長生。地母勅封蓮花增,吾國果成大羅京。

Đại trung đại hiếu đại kết quả , đại từ đại nhân vĩnh trường sinh. Địa mẫu sắc phong liên hoa tăng , ngô quốc quả thành đại la kinh.

男女盡成大羅體,極樂寶殿萬古名。

Nam nữ tận thành đại la thể , cực lạc bảo điện vạn cổ danh.

無上虛空地母玄化養生保命慈尊大慈尊。

Vô thượng hư không địa mẫu huyền hoá dưỡng sinh bảo mệnh từ tôn đại từ tôn.

——————

敬誦

Kính tụng

地母妙經

Địa Mẫu diệu kinh

虛空地母治人倫,混沌初開母為尊。生天生地是吾根,一僧一道一俗人。

Hư Không Địa Mẫu trị nhân luân , hỗn độn sơ khai mẫu vi tôn. Sinh thiên sinh địa thị ngô căn , nhất tăng nhất đạo nhất tục nhân.

地母傳下地母經,男女印送保安寧。安得天下太平定,處處要唸地母經。

Địa mẫu truyền hạ địa mẫu kinh , nam nữ ấn tống bảo an ninh. An đắc thiên hạ thái bình định , xứ xứ yếu niệm địa mẫu kinh.

地母傳留地母經,無有人家敬地神。地母傳說此經起,誦念真經堅可成。

Địa mẫu truyền lưu địa mẫu kinh , vô hữu nhân gia kính địa thần. Địa mẫu truyền thuyết thử kinh khởi , tụng niệm chân kinh kiên khả thành.

人人若不敬地母,死後永坐地獄門。人生若不敬地母,造下罪孽海樣深。

Nhân nhân nhược bất kính địa mẫu , tử hậu vĩnh toạ địa ngục môn. Nhân sinh nhược bất kính địa mẫu , tạo hạ tội nghiệt hải dạng thâm.

吃穿二字從我出,誰知地母這苦辛。那個兒女把孝敬,替娘行道勸化人。

Ngật xuyên nhị tự tòng ngã xuất , thuỳ tri địa mẫu giá khổ tân. Na cá nhi nữ bả hiếu kính , thế nương hành đạo khuyến hoá nhân.

三災八難眼前到,天下人民受災星。母為兒女心費盡,兒女把娘不在心。

Tam tai bát nạn nhãn tiền đáo , thiên hạ nhân dân thụ tai tinh. Mẫu vị nhi nữ tâm phí tận , nhi nữ bả nương bất tại tâm.

世上樣樣心費到,樣樣地母都治全。七十二神都有會,惟我地母會不成。

Thế thượng dạng dạng tâm phí đáo , dạng dạng địa mẫu đô trì toàn. Thất thập nhị thần đô hữu hội , duy ngã địa mẫu hội bất thành.

天下各處都有廟,諸神會內亂紛紛。老娘廟宇無一座,反將老娘落了空。

Thiên hạ các xứ đô hữu miếu , chư thần hội nội loạn phân phân. Lão nương miếu vũ vô nhất toạ , phản tướng lão nương lạc liễu không.

天無雨來地不生,荒亂年間不太平。九歲兒女念此經,父兄相離又相生。

Thiên vô vũ lai địa bất sinh , hoang loạn niên gian bất thái bình. Cửu tuế nhi nữ niệm thử kinh , phụ huynh tương ly hựu tương sinh.

人人皆得傳此經,傳與天下老幼人。倘若有念老母經,日後康健子孫賢。

Nhân nhân giai đắc truyền thử kinh , truyền dữ thiên hạ lão ấu nhân. Thảng nhược hữu niệm lão mẫu kinh , nhật hậu khang kiện tử tôn hiền.

四時八節多重利,天和地靈多收成。男女大小都要記,誠心要念地母經。

Tứ thời bát tiết đa trùng lợi , thiên hoà địa linh đa thu thành. Nam nữ đại tiểu đô yếu ký , thành tâm yếu niệm địa mẫu kinh.

快快說來快快傳,眼前就是豐收年。黃臘寶燭常供獻,每月三戊要虔誠。

Khoái khoái thuyết lai khoái khoái truyền, nhãn tiền tựu thị phong thu niên. Huỳnh lạp bảo chúc thường cúng hiến , mỗi ngoạt tam mậu yếu kiền thành.

諸凡日期都無忌,三十六戊要忌全。六盞明燈五柱香,黃錢白紙茶水清。

Chư phàm nhật kỳ đô vô kỵ , tam thập lục mậu yếu kỵ toàn. Lục trản minh đăng ngũ trụ hương , huỳnh tiền bạch chỉ trà thuỷ thanh.

男女立壇逢戊忌,立壇忌戊講分明。心記口念七次誦,處處自然得太平。

Nam nữ lập đàn phùng mậu kỵ , lập đàn kỵ mậu giảng phân minh. Tâm ký khẩu niệm thất thứ tụng , xứ xứ tự nhiên đắc thái bình.

終朝每日常時念,免得一家得病症。榖麥未黃震風起,餓死年老合後生。

Chung triêu mỗi nhật thường thời niệm , miễn đắc nhất gia đắc bệnh chứng. Cốc mạch vị huỳnh chấn phong khởi , ngã tử niên lão hợp hậu sinh.

五榖上蒼天上收,留下眾生有變成。有人念我地母經,保佑一方好修成。

Ngũ cốc thượng thương thiên thượng thu , lưu hạ chúng sinh hữu biến thành. Hữu nhân niệm ngã địa mẫu kinh , bảo hữu nhất phương hảo tu thành.

有人傳我地母經,諸神家神得安寧。天官賜福全家興,青龍白虎應接身。

Hữu nhân truyền ngã địa mẫu kinh , chư thần gia thần đắc an ninh. Thiên quan tứ phước toàn gia hưng , thanh long bạch hổ ứng tiếp thân.

十月十八午時生,辰戌丑未易改成。

Thập ngoạt thập bát ngọ thời sinh , thìn tuất sửu vị dịch cải thành.

天下男女立大會,地母聖誕方方成。

Thiên hạ nam nữ lập đại hội , địa mẫu thánh đản phương phương thành.

方方能念地母經,何愁五榖不收成。家家能念地母經,人人昇天受香燈。

Phương phương năng niệm địa mẫu kinh , hà sầu ngũ cốc bất thu thành. Gia gia năng niệm địa mẫu kinh , nhân nhân thăng thiên thụ hương đăng.

地母寶經非一經,只為天下迷眾生。一卷能消千萬劫,勝念諸佛萬卷經。

Địa mẫu bảo kinh phi nhất kinh , chỉ vị thiên hạ mê chúng sinh. Nhất quyển năng tiêu thiên vạn kiếp , thắng niệm chư Phật vạn quyển kinh.

字字光明普天照,句句改罪改冤愆。行行消災賜福壽,卷卷地母保安寧。

Tự tự quang minh phổ thiên chiếu , cú cú cải tội cải oan khiên. Hàng hàng tiêu tai tứ phước thọ , quyển quyển địa mẫu bảo an ninh.

若還不念地母經,一家在劫罪不清。人民不聽地母勸,水火大劫風又臨。

Nhược hoàn bất niệm địa mẫu kinh , nhất gia tại kiếp tội bất thanh. Nhân dân bất thính địa mẫu khuyến , thuỷ hoả đại kiếp phong hựu lâm.

老娘要把大劫免,男女不順地母心。

Lão nương yếu bả đại kiếp miễn , Nam Nữ bất thuận địa mẫu tâm.

老娘要不免劫數,為娘見死心不忍。

Lão nương yếu bất miễn kiếp số , Vị nương kiến tử tâm bất nhẫn.

左思右想娘無路,差下善惡眾神靈。善者正歸善人引,惡人歸入惡人群。

Tả tư hữu tưởng nương vô lộ , sai hạ thiện ác chúng thần linh. Thiện giả chính quy thiện nhân dẫn , ác nhân quy nhập ác nhân quần.

地母一網要打盡,連累善人受驚心。地母要現善惡法,天下方方樂道真。

Địa mẫu nhất võng yếu đả tận , liên luỹ thiện nhân thụ kinh tâm. Địa mẫu yếu hiện thiện ác pháp , thiên hạ phương phương lạc đạo Chân.

二十八宿斗柄轉,六十花甲安乾坤。天干地支常擁護,九天星斗共微神。

Nhị thập bát tú đẩu bính chuyển, lục thập hoa giáp an càn khôn. Thiên can địa chi thường ủng hộ , cửu thiên tinh đẩu cộng vi thần.

八方雷神分六四,六四天下變化神。丁甲庚辛成陣伍,天羅地網鬼魔精。

Bát phương lôi thần phân lục tứ , lục tứ thiên hạ biến hoá thần. Đinh giáp canh tân thành trận ngũ , thiên la địa võng quỷ ma tinh.

八大金剛來護法,四大天王守四門。

Bát đại kim cương lai hộ pháp , tứ đại thiên vương thủ tứ môn.

八大金剛來護法,搖天動地星斗行。

Bát đại kim cương lai hộ pháp , dao thiên động địa tinh đẩu hành.

地母收完了萬法,呼雷閃電漏了形。地母收了諸萬法,普天匝地現真人。

Địa mẫu thu hoàn liễu vạn pháp , hô lôi thiểm điện lậu liễu hình. Địa mẫu thu liễu chư vạn pháp , phổ thiên tạp địa hiện chân nhân.

地母玄妙現訣法,東西南北化蓮心。男女個個金身現,大羅天仙永不生。

Địa mẫu huyền diệu hiện quyết pháp , đông tây nam bắc hoá liên tâm. Nam nữ cá cá kim thân hiện , đại la thiên tiên vĩnh bất sinh.

功果雙全齊赴會,蟠桃大會受榮華。永不投東把凡下,能塑地母壽長青。

Công quả song toàn tề phó hội , bàn đào đại hội thụ vinh hoa. Vĩnh bất đầu đông bả phàm hạ , năng tố địa mẫu thọ trường thanh.

無上虛空地母玄化養身保命慈尊大慈尊(廿四叩)

Vô thượng hư không địa mẫu huyền hoá dưỡng thân bảo mệnh từ tôn đại từ tôn (niệm tứ khấu)

願以此功德,普及於一切,虔誠敬地母,永遠享福澤。

Nguyện dĩ thử công đức , phổ cập ư nhất thiết , kiền thành kính địa mẫu , vĩnh viễn hưởng phước trạch.

無上虛空地母言養身保命真經卷終

Vô thượng hư không địa mẫu ngôn dưỡng thân bảo mệnh chân kinh quyển chung.

資料來源: 寶湖宮天地堂地母至尊總廟

Tư liệu lai nguyên : Bảo hồ Cung, Thiên địa đường, Địa mẫu chí tôn tổng miếu.

標籤: 地母妙經, 地母真經, 地母至尊總 廟, 寶湖宮, 虛空地母

Tiêu tiêm : Địa mẫu diệu kinh , địa mẫu chân kinh , địa mẫu chí tôn tổng miếu , bảo hồ cung , hư không địa mẫu

=======================
太上老君說五谷妙經
Thái thượng lão quân thuyết ngũ cốc diệu kinh 
眼光真經
Nhãn quang chân kinh 
炫懿普德門
Huyễn ý phổ đức môn 
太上老君說五谷妙經
Thái thượng lão quân thuyết ngũ cốc diệu kinh 
爾時盤古滅度 之後。
Nhĩ thời bàn cổ diệt độ chi hậu. 
復有人民。未有五穀。食草木為生活。炎帝王復立。 
phục hữu nhân dân. vị hữu ngũ cốc. thực thảo mộc vị sinh hoạt. viêm đế vương phục lập. 
天地世界三千七百年。所為出處。住七十二山。
thiên địa thế giới tam thiên thất bách niên. sở vị xuất xứ. trụ thất thập nhị sơn. 
尋覓五谷。口嘗百草惡毒。 唇舌燋爛。然後炎帝王往一羊山。
tầm mịch ngũ cốc. khẩu thường bách thảo ác độc. thần thiệt tiêu lạn. nhiên hậu viêm đế vương vãng nhất dương sơn. 
尋得粟子一粒。計在棗樹中。八種得成粟谷。
tầm đắc túc tử nhất lạp. kế tại tảo thụ trung. bát chủng đắc thành túc cốc. 
大梁山中尋得稻谷一粒。計在柳樹中。
đại lương sơn trung tầm đắc đạo cốc nhất lạp. kế tại liễu thụ trung. 
七種得成稻谷。朱石山尋得小豆一顆。 
thất chủng đắc thành đạo cốc. chu thạch sơn tầm đắc tiểu đậu nhất khoả. 
計在李樹中。六種得成小豆。
kế tại lý thụ trung. lục chủng đắc thành tiểu đậu. 
維石山尋得大豆一粒。計在槐樹中。 五種得成大豆。
duy thạch sơn tầm đắc đại đậu nhất lạp. kế tại hoè thụ trung. ngũ chủng đắc thành đại đậu. 
長石山尋得大小麥二粒。計在桃樹中。四種纔成大小麥。 
trưởng thạch sơn tầm đắc đại tiểu mạch nhị lạp. kế tại đào thụ trung. tứ chủng tài thành đại tiểu mạch. 
武石山尋得芝麻一粒。計在荊樹中。數種纔成芝麻。初種五谷皆因六樹而生。
vũ thạch sơn tầm đắc chi ma nhất lạp. kế tại kinh thụ trung. số chủng tài thành chi ma. sơ chủng ngũ cốc giai nhân lục thụ nhi sinh. 
炎帝王菩薩往七十二山中。尋覓五谷就土。遍滿天下。救度人民衣食父母。 
viêm đế vương bồ tát vãng thất thập nhị sơn trung. tầm mịch ngũ cốc tựu thổ. biến mãn thiên hạ. cứu độ nhân dân y thực phụ mẫu. 
神農黃帝登位。置立天下江河社稷。五谷大王。
thần nông huỳnh đế đăng vị. trí lập thiên hạ giang hà xã tắc. ngũ cốc đại vương. 
田公田母掌管苗稼。 初分天地之時。人民慈善。忠良孝順。
điền công điền mẫu chưởng quản miêu giá. sơ phân thiên địa chi thời. nhân dân từ thiện. trung lương hiếu thuận. 
晝晴夜雨。五谷大收。風調雨順。 國泰民安。不生盜賊。
trú tình dạ vũ. ngũ cốc đại thu. phong điều vũ thuận. quốc thái dân an. bất sinh đạo tặc. 
五谷一粒重三兩。見得眾生拋撒作賤。五谷不收。 炎帝天心生煩惱。
ngũ cốc nhất lạp trọng tam lạng. kiến đắc chúng sinh phao tán tác tiện. ngũ cốc bất thu. 
viêm đế thiên tâm sinh phiền não. 
連年遭橫。欲晴不晴合雨不雨。蟲蝗旱澇。五谷不收。 
liên niên tao hoạnh. dục tình bất tình hợp vũ bất vũ. trùng huỳnh hạn lạo. ngũ cốc bất thu. 
饑荒餓死皆因作賤。世間人民。不知當來受 苦三千七百年。萬死萬生。 
cơ hoang ngạ tử giai nhân tác tiện. thế gian nhân dân. bất tri đương lai thụ khổ tam thiên thất bách niên. vạn tử vạn sinh. 
始得五谷滿天下。衣食王菩薩。流傳此經。不可思議。善哉善哉。善男子善女人。
thỉ đắc ngũ cốc mãn thiên hạ. y thực vương bồ tát. lưu truyền thử kinh. bất khả tư nghị. thiện tai thiện tai. thiện nam tử thiện nữ nhân. 
每逢出種下子之時。虔備香燈。請僧善友於家。看誦此經。神聖歡喜。苗稼長旺。
mỗi phùng xuất chủng hạ tử chi thời. kiền bị hương đăng. thỉnh tăng thiện hữu ư gia. khán tụng thử kinh. thần thánh hoan hỷ. miêu giá trưởng vượng. 
五谷成收。獲福無量。佛說此經己。天人阿修羅聞。 
ngũ cốc thành thu. hoạch phước vô lượng. phật thuyết thử kinh kỷ. thiên nhân a tu la văn. 
佛所說。皆大歡喜。信受奉行。作禮而退。 
phật sở thuyết. giai đại hoan hỷ. tín thụ phụng hành. tác lễ nhi thoái. 
五谷經終 
ngũ cốc kinh chung 
五谷讚
ngũ cốc tán 
虔誠頂禮 
kiền thành đỉnh lễ 
五谷經來五谷經。五谷原來有根生。天地本是我父母。日月星光助我成。 
ngũ cốc kinh lai ngũ cốc kinh. ngũ cốc nguyên lai hữu căn sinh. thiên địa bổn thị ngã phụ mẫu. nhật nguyệt tinh quang trợ ngã thành. 
五谷苦楚言不盡。五谷原來養命根。君王重我五谷經。萬里江山樂太平。 
ngũ cốc khổ sở ngôn bất tận. ngũ cốc nguyên lai dưỡng mệnh căn. quân vương trọng ngã ngũ cốc kinh. vạn lý giang sơn lạc thái bình. 
官員重我五谷經。子孫世代贈乾坤。讀書重我五谷經。龍虎榜上中頭名。 
quan viên trọng ngã ngũ cốc kinh. tử tôn thế đại tặng kiền khôn. độc thư trọng ngã ngũ cốc kinh. long hổ bảng thượng trung đầu danh. 
生意重我五谷經。朝朝每日得金銀。個個神靈有人敬。那個敬我五谷神。 
sinh ý trọng ngã ngũ cốc kinh. triêu triêu mỗi nhật đắc kim ngân. cá cá thần linh hữu nhân kính. na cá kính ngã ngũ cốc thần. 
五谷八月初一生。家家念佛點明燈。為人在世要敬神。不敬神靈枉為人。 
ngũ cốc bát nguyệt sơ nhất sinh. gia gia niệm phật điểm minh đăng. vị nhân tại thế yếu kính thần. bất kính thần linh uổng vị nhân. 
留與天下九洲地。無有五谷活不成。家有一卷五谷經。一生衣祿不受貧。 
lưu dữ thiên hạ cửu châu địa. vô hữu ngũ cốc hoạt bất thành. gia hữu nhất quyển ngũ cốc kinh. nhất sinh y lộc bất thụ bần. 
五谷原是聖經寶。勝如天下寶合珍。朝中無我無世界。世間無我無乾坤。 
ngũ cốc nguyên thị thánh kinh bảo. thắng như thiên hạ bảo hợp trân. triêu trung vô ngã vô thế giới. thế gian vô ngã vô kiền khôn. 
五谷根生敘不盡。勸人敬神保安寧。 
ngũ cốc căn sinh tự bất tận. khuyến nhân kính thần bảo an ninh. 
五谷天尊大天尊 
Ngũ cốc thiên tôn đại thiên tôn 
 三稱八叩 
 tam xưng bát khấu 
—————- 
眼光真經 
nhãn quang chân kinh 
佛說眼光經眼明是心燈
Phật thuyết nhãn quang kinh nhãn minh thị tâm đăng 
西方舍利塔 
Tây phương xá lợi tháp 
恒沙厚世大藏經
Hằng sa hậu thế đại tạng kinh 
千眼千手留地章 
Thiên nhãn thiên thủ lưu địa chương 
大智菩薩放毫光
Đại trí bồ tát phóng hào quang 
文殊菩薩騎獅子 
Văn thù bồ tát kỵ sư tử 
普賢菩薩坐象王
Phổ hiền bồ tát toạ tượng vương 
大地空羅漢 
Đại địa không la hán 
眼翳雲霧一掃光 
Nhãn ế vân vụ nhất tảo quang 
南無尊佛 摩訶般若波羅密
Nam mô Tôn Phật ma ha bát nhã ba la mật 
眼光真經終 
Nhãn quang chân kinh chung 
=======================

2016 白沙屯媽祖歌曲「媽祖ㄟ祝福」
2016 bạch sá truân ma tổ ca khúc 「ma tổ ㄟchúc phước 」
白沙屯媽祖歌曲「媽祖ㄟ祝福」
bạch sá truân ma tổ ca khúc 「ma tổ ㄟchúc phước 」

以前我們祈求
dĩ tiền ngã môn kỳ cầu

我們
ngã môn
盼望 媽祖賜
phán vọng ma tổ tứ

於我們願望
ư ngã môn nguyện vọng

成真,但人生
thành chân , đản nhân sinh

路哪可能是
lộ na khả năng thị

事事如意呢,
sự sự như ý nê ,

平安是多麼
bình an thị đa ma

平凡但卻又
bình phàm đản khước hựu

是如此重要
thị như thử trọng yếu

的祈求呢這
đích kỳ cầu nê giá

是一首 需有
thị nhất thủ nhu hữu

些人生經歷
ta nhân sinh kinh lịch

體驗 及適合
thể nghiệm cập thích hợp

夜晚獨處時
dạ vãn độc xứ thời

聽的歌,沒有
thính đích ca , một hữu

激動的情感
kích động đích tình cảm

但卻有著堅
đản khước hữu trứ cảm

定地剛柔信
đản khước hữu trứ tín

仰 ,而這樣的
ngưỡng , nhi giá dạng đích

內心信仰 如
nội tâm tín ngưỡng như

同母愛般的
đồng mẫu ái ban đích

陪伴著我們
bồi bạn trứ ngã môn

過每一天,人
quá mỗi nhất thiên , nhân

生努力的追
sinh nỗ lực đích truy

求每個人想
cầu mỗi cá nhân tưởng

要的不一樣,
yếu đích bất nhất dạng ,

再多的物質
tái đa đích vật chất

名利最終還
danh lợi tối chung hoàn

是需要回歸
thị nhu yếu hồi quy

到塵土大地
đáo trần thổ đại địa

懷抱!我想唯
hoài bão! ngã tưởng duy

有平安 闔家
hữu bình an hạp gia

平安 是人生
bình an thị nhân sinh

最大的幸福。
tối đại đích hạnh phước .

闔家平安的
hạp gia bình an đích

祝福人世間
chúc phước nhân thế gian

的故事如天
đích cố sự như thiên

際之大説不
tế chi đại thuyết bất

完我的感受
hoàn ngã đích cảm thụ

化成文筆幻
hoá thành văn bút huyễn

成樂音入心
thành nhạc âm nhập tâm

—–
中謙虛。謙卑
trung khiêm hư. khiêm ty

增智慧低調。
tăng trí huệ đê điều.

內斂蘊慈善
nội liễm uẩn từ thiện

———-
———-
歌名:媽祖ㄟ祝福
ca danh : ma tổ ㄟchúc phước
詞曲:鄭宥媃.
từ khúc : trịnh hựu nữ.
演唱:張丹瑋.
diễn xướng : trương đan vĩ .
—-

編曲:廖子傑
biên khúc : liêu tử kiệt

人生海海
nhân sinh hải hải
命運攏不同
mệnh vận lũng bất đồng
有時甜蜜.
hữu thời điềm mật.
有時怨嘆流目屎
hữu thời oán thán lưu mục thỉ
人生ㄟ滋味
nhân sinh ㄟtư vị
好壞也有分時陣
hiếu hoại dã hữu phận thời trận
高興和失志攏是人生ㄟ體驗
cao hưng hoà thất chí lũng thị nhân sinh ㄟthể nghiệm
打拼不一定就有好結果
đả bính bất nhất định tựu hữu hảo kết quả
怨嘆不一定就會有路用
oán thán bất nhất định tựu hội hữu lộ dụng
暗暗找沒路 茫茫
ám ám trảo một lộ mang mang
沒依靠時
một y kháo thời
請你要記得
thỉnh nễ yếu ký đắc
有一個人
hữu nhất cá nhân
…………
…………

惦惦在陪伴咱
điếm điếm tại bồi bạn tự
———–
———–
媽祖婆陪著咱
ma tổ bà bồi trứ tự
陪咱
bồi tự
惦惦來走過風雨ㄟ暗眠
điếm điếm lai tẩu quá phong vũ ㄟám miên
慢慢體會人生路
mạn mạn thể hội nhân sinh lộ
媽祖婆保護咱 乎咱未
ma tổ bà bảo hộ tự hồ tự vị
閣暗暗找無路.
các ám ám trảo vô lộ.
茫茫心裡沒依靠
mang mang tâm lý một y kháo
你我ㄟ人生
nễ ngã ㄟnhân sinh
命運瀧不同
mệnh vận lũng bất đồng
有時快樂有時艱苦
hữu thời khoái nhạc hữu thời gian khổ
無人知阮問媽祖婆
vô nhân tri nguyễn vấn ma tổ bà
人生在追求甚麼她
nhân sinh tại truy cầu thậm ma tha
攏笑笑講平安
lũng tiếu tiếu giảng bình an
二字最重要心內
nhị tự tối trọng yếu tâm nội
ㄟ話沒人可講時
ㄟthoại một nhân khả giảng thời
媽祖婆攏會
ma tổ bà lũng hội
靜靜聽咱講現實
tĩnh tĩnh thính tự giảng hiện thật
ㄟ生活遇到
hiện sinh hoạt ngộ đáo

不如意 請你
bất như ý thỉnh nễ

要記得有一
yếu ký đắc hữu nhất

個人…………惦惦….在
cá nhân …………điếm điếm ….tại
陪咱
bồi tự
———–
感謝天 .
cảm tạ thiên .
感謝地 感謝
cảm tạ địa cảm tạ
媽祖慈悲來
ma tổ từ bi lai
保庇乎阮平
bảo tý hồ nguyễn bình
安來過日感
an lai quá nhật cảm
謝天 . 感謝地
tạ thiên . cảm tạ địa
感謝媽祖慈
cảm tạ ma tổ từ
悲來教阮平
bi lai giáo nguyễn bình
安過日是幸
an quá nhật thị hạnh
福人生最大
phước nhân sinh tối đại

ㄟ幸福 就是
ㄟhạnh phước tựu thị

平安來過日
bình an lai quá nhật

白沙屯媽祖
bạch sá truân ma tổ

陪著咱 平安
bồi trứ tự bình an
來過每一天
lai quá mỗi nhất thiên

白沙屯媽祖
bạch sá truân ma tổ
祝福咱 闔家
chúc phước tự hạp gia
平安是幸福
bình an thị hạnh phước

—————
———
歌名:媽祖ㄟ祝福
詞曲:鄭宥媃.
———
ca danh :ma tổ ㄟchúc phước
từ khúc :trịnh hựu nữ.
演唱:張丹瑋.
編曲:廖子傑
diễn xướng :trương đan vĩ.
biên khúc :liêu tử kiệt
人生海海 命運攏不同 有時甜蜜.
nhân sinh hải hải mệnh vận lũng bất đồng hữu thời điềm mật.
有時怨嘆流目
hữu thời oán thán lưu mục
屎人生ㄟ滋
thỉ nhân sinh ㄟtư
味好壞也有
vị hảo hoại dã hữu
分時陣高興
phận thời trận cao hưng
和失志攏是
hoà thất chí lũng thị
人生ㄟ體驗
nhân sinh ㄟ thể nghiệm
打拼不一定
đả biền bất nhất định
就有好結果
tựu hữu hảo kết quả
怨嘆不一定
oán thán bất nhất định
就會有路用
tựu hội hữu lộ dụng
暗暗找沒路
ám ám trảo một lộ
茫茫沒依靠
mang mang một y kháo
時請你要記
thời thỉnh nễ yếu ký
得有一個人
đắc hữu nhất cá nhân
惦惦在陪伴咱
điếm điếm tại bồi bạn tự
———–
媽祖婆陪著咱
ma tổ bà bồi trứ tự
———–
陪咱惦惦來走過風雨ㄟ暗眠
bồi tự điếm điếm lai tẩu quá phong vũ ㄟám miên
慢慢體會人生路
mạn mạn thể hội nhân sinh lộ
媽祖婆保護
ma tổ bà bảo hộ
咱 乎咱未閣暗暗找無路.
tự hồ tự vị các ám ám trảo vô lộ.
茫茫心裡沒依靠
mang mang tâm lý một y kháo
你我ㄟ人生
nễ ngã ㄟnhân sinh
命運瀧不同
mệnh vận lang bất đồng
有時快樂有時艱
hữu thời khoái nhạc hữu thời gian
苦無人知
khổ vô nhân tri
阮問媽祖婆
nguyễn vấn ma tổ bà
人生在追求甚麼 她
nhân sinh tại truy cầu thậm ma tha
攏笑笑講平
lũng tiếu tiếu giảng bình
安二字最重
an nhị tự tối trọng
要心內ㄟ話
yếu tâm nội ㄟthoại
沒人可講時
một nhân khả giảng thời
媽祖婆攏會
ma tổ bà lũng hội
靜靜聽咱講
tĩnh tĩnh thính tự giảng
現實ㄟ生活
hiện thật ㄟsinh hoạt
遇到不如意
ngộ đáo bất như ý
請你要記得
thỉnh nễ yếu ký đắc

有一個人
hữu nhất cá nhân
…………
惦惦….在陪咱
điếm điếm ….tại bồi tự
——
—–
感謝天.感謝地
cảm tạ thiên. cảm tạ địa
感謝媽祖慈悲來保庇乎阮平安來過日
cảm tạ ma tổ từ bi lai bảo tý hồ nguyễn bình an lai quá nhật
感謝天. 感謝地
cảm tạ thiên. cảm tạ địa
感謝媽祖慈悲來教阮平安過日是幸福
cảm tạ ma tổ từ bi lai giáo nguyễn bình an quá nhật thị hạnh phước
人生最大ㄟ幸福
nhân sinh tối đại ㄟhạnh phước
就是平安來過日
tựu thị bình an lai quá nhật
白沙屯媽祖陪著咱
bạch sá truân ma tổ bồi trứ tự
平安 來過每一天
bình an lai quá mỗi nhất thiên
白沙屯媽祖祝福咱
bạch sá truân ma tổ chúc phước tự
闔家平安是幸福
hạp gia bình an thị hạnh phước

—————
歌名:媽祖ㄟ祝福
詞曲:鄭宥媃.
演唱:張丹瑋 .
編曲:廖子傑

人生海海
命運攏不同
有時甜蜜.
有時怨嘆流目屎
人生ㄟ滋味
好壞也有分時陣
高興和失志攏是
人生ㄟ體驗
打拼不一定
就有好結果
怨嘆不一定
就會有路用
暗暗找沒路
茫茫沒依靠時
請你要記得
有一個人
…………
惦惦在陪伴咱
———–
媽祖婆陪著咱
陪咱惦惦來走過風雨ㄟ暗眠
慢慢體會人生路
媽祖婆保護咱
乎咱未閣暗暗找無路 .
茫茫心裡沒依靠
你我ㄟ人生
命運瀧不同
有時快樂有時艱苦無人知
阮問媽祖婆
人生在追求甚麼
她攏笑笑講平安二字最重要
心內ㄟ話沒人可講時
媽祖婆攏會
靜靜聽咱講
現實ㄟ生活
遇到不如意
請你要記得

—————

歌名:媽祖ㄟ祝福
詞曲:鄭宥媃.
演唱:張丹瑋.
ca danh : ma tổ ㄟchúc phước
từ khúc : trịnh hựu nữ.
diễn xướng : trương đan vĩ.

編曲:廖子傑
biên khúc : liêu tử kiệt
人生海海
nhân sinh hải hải
命運攏不同有時甜蜜.
mệnh vận lũng bất đồng hữu thời điềm mật.
有時怨嘆流目屎
hữu thời oán thán lưu mục thỉ
人生ㄟ滋味
nhân sinh ㄟtư vị
好壞也有分時陣
hảo hoại dã hữu phận thời trận
高興和失志攏是
cao hưng hoà thất chí lũng thị
人生ㄟ體驗
nhân sinh ㄟthể nghiệm
打拼不一定
đả biền bất nhất định
就有好結果
tựu hữu hảo kết quả
怨嘆不一定
oán thán bất nhất định
就會有路用
tựu hội hữu lộ dụng
暗暗找沒路
ám ám trảo một lộ
茫茫沒依靠
mang mang một y kháo
時 請你要記
thời thỉnh nễ yếu ký
得有一個人
đắc hữu nhất cá nhân
…………
惦惦在陪伴咱
điếm điếm tại bồi bạn tự
———–
媽祖婆陪著咱
ma tổ bà bồi trứ tự

陪咱惦惦來走過
bồi tự điếm điếm lai tẩu quá
風雨ㄟ暗眠
phong vũ ㄟám miên
慢慢體會人
mạn mạn thể hội nhân
生路媽祖婆
sinh lộ ma tổ bà
保護咱 乎咱
bảo hộ tự hồ tự
未閣暗暗找
vị các ám ám trảo
無路 .茫茫心
vô lộ .mang mang tâm
裡沒依靠你
lý một y kháo nễ
我ㄟ人生 命
ngã ㄟnhân sinh mệnh
運瀧不同 有
vận lang bất đồng hữu
時快樂有時
thời khoái nhạc hữu thời
艱苦無人知
gian khổ vô nhân tri
阮問媽祖婆
nguyễn vấn ma tổ bà
人生在追求
nhân sinh tại truy cầu
甚麼 她攏笑
thậm ma tha lũng tiếu
笑講平安二
tiếu giảng bình an nhị
字最重要心
tự tối trọng yếu tâm
內ㄟ話沒人
nội ㄟthoại một nhân
可講時
khả giảng thời
媽祖婆攏會
ma tổ bà lũng hội
靜靜聽咱講
tĩnh tĩnh thính tự giảng
現實ㄟ生活
hiện thật ㄟsinh hoạt
遇到不如意
ngộ đáo bất như ý
請你要記得
thỉnh nễ yếu ký đắc
—————

 

 

 

 

 

 

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân
關聖帝君

Quan Thánh: vị Thánh họ Quan.

Đức Quan Thánh Đế Quân, hay gọi đầy đủ là: Đức Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân, là Đệ Tam Trấn Oai Nghiêm, đại diện Đức Khổng Tử, cầm quyền Nho giáo trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Trên tấm diềm trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thánh Đế Quân với tư thế đang ngồi xem sách Xuân Thu, ở bên dưới tượng của Đức Khổng Tử, gần bìa phía trái thuộc bên Nam phái.

Trên Thánh Tượng Ngũ Chi thờ tại tư gia, hình Đức Quan Thánh Đế Quân ở về phía trái của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Khổng Tử. Ngài mặt đỏ, râu đen năm chòm, đầu đội mão có ngù đỏ, tay mặt vuốt râu, tay trái cầm Kinh Xuân Thu.

Ngài có nhiều danh hiệu, xin kể ra sau đây các danh hiệu thường gặp: Quan Công, Quan Thánh, Quan Đế, Nhân Đức Thánh Quân, Phục Ma Đại Đế, Thần Oai Viễn Trấn, Phật Già Lam, Cái Thiên Cổ Phật,….

Ngài giáng trần nơi nước Trung Hoa vào cuối thời nhà Hán, họ Quan, tên Võ (hay Vũ), tự là Thọ Trường, sau đổi lại là Vân Trường, người đất Giải Lương, tỉnh Hà Đông (có sách chép Ngài sinh tại Bồ Châu).

Theo Trung quốc Sử lược, Ngài bị giết chết năm 219 sau Tây lịch, và theo truyện Tam Quốc Chí, Ngài bị Tôn Quyền xử trảm, năm đó là năm Kiến An thứ 24, hưởng được 58 tuổi. Do đó, ta có thể suy ngược ra năm sanh của Đức Quan Thánh là: 219 – 57 = 162 sau Tây lịch.

Vậy, Đức Quan Thánh sanh năm 162 và mất năm 219 sau Tây lịch, hưởng thọ 58 tuổi.

Theo sách Minh Thánh Kinh, thân phụ của Quan Võ là Quan Nghị, tự là Đạo Viễn, ông nội là Quan Thẩm tự là Vân Chi, và ông cố là Quan Long Phùng.

Theo truyện Tam Quốc Chí, Quan Võ đi đến Trác Quận, thì gặp Lưu Bị và Trương Phi. Lưu Bị nhìn Quan Võ thấy Quan Võ mình cao 9 thước, mặt đỏ như thoa son, mắt phượng mày ngài, tướng mạo đường đường, oai phong lẫm lẫm, liền mời nói chuyện để làm quen.

Quan Võ tự giới thiệu: Tôi họ Quan, tên Võ, tự là Vân Trường, người đất Giải Lương, tỉnh Hà Đông. Nhân vì vùng tôi có một tên thổ hào ỷ thế hiếp đáp dân lành, tôi nổi giận giết nó, rồi bỏ đi lánh nạn. Tôi phiêu bạt giang hồ đã hơn 5 năm, nay nghe có giặc Khăn Vàng (Huỳnh Cân) nổi lên quấy nhiễu, nên muốn đầu quân trừ giặc, cứu an bá tánh.

Lưu Bị và Trương Phi cũng đem chí nguyện của mình tỏ bày, thì ba người rất hợp chí hướng, đồng kéo nhau về nhà Trương Phi gần đó. Trương Phi nói:

– Muốn làm nên việc lớn, cốt phải hiệp sức đồng tâm. Sau nhà tôi có một Vườn Đào đang tiết nở hoa rất nhiều, ngày mai chúng ta đến đó tế cáo Trời Đất, kết nghĩa làm anh em (Đào viên kết nghĩa).

Lưu Bị (Lưu Huyền Đức) và Quan Võ (Quan Vân Trường) đều cho lời nói của Trương Phi (Trương Dực Đức) là phải. Ngày hôm sau, Trương Phi sai gia nhân mổ trâu đen, ngựa trắng, bày đủ lễ nơi Đào Viên, ba người đứng trước hương án, vái mỗi người hai vái, rồi cùng nhau thề rằng:

“Ba chúng tôi là Lưu Bị, Quan Võ, Trương Phi, tuy khác họ, nhưng kết làm anh em, quyết đồng tâm hiệp lực cứu khổn phò nguy, trên báo đáp quốc gia, dưới giúp yên bá tánh. Chúng tôi không mong được sanh cùng năm cùng tháng cùng ngày, chỉ nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Hoàng Thiên Hậu Thổ chứng giám lời thề nầy, ai bội nghĩa có Trời Đất tru diệt.”

Thề xong, ba người so tuổi nhau, Lưu Bị lớn tuổi nhứt nên làm anh cả, Vân Trường làm thứ và Trương Phi làm em út.

Trương Phi sai gia nhân bắt trâu dê trong chuồng làm thịt đãi tiệc lớn tại Vườn Đào, tập trung tất cả các tráng sĩ trong vùng đến ăn uống. Các tráng sĩ tề tựu có tới 300 người, vui say một bữa no nê. Hôm sau, mọi người chia nhau đi thu thập khí giới. Mọi việc tạm yên, chỉ hiềm còn thiếu ngựa trận để cỡi.

Trong lúc lo tính, bỗng có người chạy vào báo: Có hai người khách thương cùng đoàn tùy tùng dẫn theo bầy ngựa khá đông đang đi về hướng trang trại nầy.

Lưu Bị nói: Đây là Trời giúp ta.

Ba anh em vội ra khỏi trại. Hai vị khách thương nầy chính là thương gia lớn ở đất Trung Sơn, một người tên là Trương Kế Bình, một người tên là Tô Song, hàng năm thường lên mạn Bắc mua giống ngựa khỏe đem về bán ở Trường An. Nay vì miền nầy có giặc, nên không thể đem ngựa đi được.

Lưu Bị hối dọn tiệc đãi đoàn khách thương, rồi đem ý muốn chống giặc cứu dân của mình ra bày tỏ. Hai vị khách thương vui lòng hiến cho 50 con ngựa khỏe, lại tặng thêm 500 lượng vàng bạc, và 1000 cân thép tốt để rèn binh khí và làm giáp trụ. Khách cáo từ. Lưu Bị tạ ơn, và tiễn chân khách đến mấy dặm đường mới trở về.

Sau đó, Lưu Bị cậy thợ rèn giỏi chế tạo một đôi Song Cổ kiếm; Quan Võ thì một cây đại đao Thanh Long Yển Nguyệt, còn gọi là Lãnh Diệm Cứ nặng 82 cân (Thanh Long là Rồng xanh, Yển nguyệt là trăng khuyết nửa vành), Trương Phi rèn một cây Xà Mâu gọi là Bát Điểm Cương Mâu.

Ai nấy đều trang bị cương giáp, rồi kéo hơn 300 quân dũng sĩ đến ra mắt Thái Thú Lưu Yên. Lưu Yên hỏi danh tánh, ba anh em đều xưng rõ tên họ, riêng Lưu Bị còn nói cho Lưu Yên biết rằng mình là tông phái Hoàng gia. Lưu Yên mừng rỡ, nhận Lưu Bị tức là Lưu Huyền Đức làm cháu.

Vào thành được vài hôm thì có tin quân thám thính về báo: Tướng giặc Khăn Vàng là Trình Viễn Chí thống lãnh 5 vạn quân kéo đến quấy nhiễu Trác Quận.

Lưu Yên liền sai Châu Tỉnh dẫn ba anh em Lưu Bị cùng 300 quân dũng sĩ đi trước phá giặc. Anh em Lưu Bị không hề ngần ngại, lãnh quân đi tiền đạo trực chỉ đến chân núi Đại Hưng, vì vừa thấy quân giặc kéo tới đó.

Lưu Bị thúc ngựa ra trận, bên tả có Quan Võ, bên hữu có Trương Phi yểm hộ. Lưu Bị giơ roi mắng giặc: Đồ phản loạn, đừng hòng múa rối, hãy xuống ngựa đầu hàng cho sớm.

Tướng giặc Khăn Vàng Trình Viễn Chí nổi giận, sai Phó tướng ra đánh. Phó tướng Đặng Mậu vừa xông ra thì Trương Phi thình lình lướt tới, đâm cho một xà mâu trúng ngay ngực, ngã lăn xuống ngựa chết liền.

Thấy Phó tướng của mình chưa ra tay đã bị hại, Trình Viễn Chí liền múa đao xông tới đánh Trương Phi. Quan Võ liền vung đao cản lại. Uy lực của Quan Võ rất mạnh khiến Trình Viễn Chí sợ hãi, trở tay không kịp, bị Quan Võ vớt một đao đứt làm hai đoạn.

Đó là lần đầu tiên ba anh em Lưu Bị, Quan Võ và Trương Phi ra trận chiến thắng vẻ vang.

Nhờ công tham gia dẹp giặc Khăn Vàng, vua Hán Hiến Đế triệu ba anh em vào cung khen thưởng, nhận Lưu Bị là chú họ của vua, và phong chức là Tả Tướng Quân, còn Quan Võ và Trương Phi thì không kể đến. Do đó, nhiều người gọi Lưu Bị là Lưu Hoàng Thúc.

Bấy giờ, nơi triều đình, Đổng Trác chuyên quyền, phế vua Hán Thiếu Đế, lập Trần Lưu Vương lên làm Hán Hiến Đế lúc mới 9 tuổi, Đổng Trác làm Tướng Quốc, nắm hết binh quyền. Các trấn chư Hầu không phục. Tào Tháo nhân cơ hội nầy, phát hịch kêu gọi các trấn chư Hầu đến họp binh tại Đức Châu, bàn việc trừ Đổng Trác. Các chư Hầu đồng tôn Viên Thiệu lên làm Minh Chủ.

Đổng Trác sai một dõng tướng là Hoa Hùng cất quân đánh chư Hầu. Các tướng của chư Hầu không ai đánh lại Hoa Hùng, còn đang lúng túng, thì bỗng có tiếng nói: Kẻ bất tài nầy xin lấy đầu của Hoa Hùng về dâng dưới trướng.

Mọi người nhìn lại thấy người mới nói đó là Quan Võ, em của Lưu Bị, đang đứng hiên ngang chờ lịnh.

Tào Tháo sai quân rót một chén rượu nóng thưởng Quan Võ trước khi lên ngựa ra trận.

Quan Võ nói: Xin cứ rót rượu, tôi sẽ trở về ngay.

Dứt lời, Quan Võ bước ra ngoài, cầm Thanh Long đao phi thân lên ngựa bay ra mặt trận.

Các trấn chư Hầu ngồi trong trướng, nghe bên ngoài trống trận vang rền, quân sĩ hò hét như sấm dậy. Các quan đều lo sợ định cho người ra thám thính xem sao thì bỗng nghe tiếng nhạc ngựa trở về reo lên trước trướng. Quan Võ hiện ra uy phong lẫm liệt, tay cầm thủ cấp Hoa Hùng ném xuống đất, rồi đưa tay cầm lấy chén rượu còn nóng hổi, uống một hơi.

Tào Tháo mừng rỡ vô cùng, liền bàn kế tấn binh.

Đổng Trác hay tin Hoa Hùng tử trận, liền cử đại binh tiếp ứng đánh các chư Hầu, Lữ Bố dẫn binh đi tiên phong nhằm nơi Thái Thú Công Tôn Toản đóng binh khiêu chiến.

Công Tôn Toản buộc phải thúc ngựa ra đánh với Lữ Bố, nhưng chỉ được vài hiệp là Công Tôn Toản đuối sức, sắp nguy đến nơi, Trương Phi thúc ngựa chạy ra tiếp cứu.

Trương Phi cùng Lữ Bố đánh nhau được 50 hiệp vẫn chưa phân thắng bại, Quan Võ liền giục ngựa xông ra tiếp chiến. Lữ Bố vẫn không nao núng, ba người đánh vùi. Lưu Bị nóng lòng múa cặp song cổ kiếm xông ra trợ chiến với hai em. Ba người vây đánh Lữ Bố, xoay tròn như đèn kéo quân.

Lữ Bố biết sức mình không cự nổi ba người nên hoành kích nhắm Lưu Bị đâm một nhát, Lưu Bị né tránh thì Lữ Bố liền giục ngựa Xích thố nhảy vọt khỏi vòng chiến, chạy trở về thành cố thủ.

Cuối cùng Tào Tháo cũng diệt được phe Đổng Trác, Tào Tháo lên làm Thừa Tướng và cũng chuyên quyền y như Đổng Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương, rất bất bình, kéo quân đến chiếm Từ Châu, chống lại Tào Tháo. Lưu Bị sai Quan Võ giữ thành Hạ Bì, Tôn Càng, Giản Ung, My Trúc giữ Từ Châu, còn Lưu Bị và Trương Phi đóng binh ở Tiểu Bái.

Tào Tháo đem binh đánh Tiểu Bái, Lưu Bị thua chạy sang nương náu với Viên Thiệu, Trương Phi chạy lạc đến Cổ Thành, giết chết quan Huyện, thu lấy ấn tín, chiếm đóng thành trì làm chỗ an thân.

Quan Võ ở Hạ Bì cũng chịu thất thủ, bỏ chạy lên đỉnh núi Thổ San đóng binh. Trương Liêu, tướng của Tào Tháo, đến gặp Quan Võ tỏ bày hơn thiệt. Trương Liêu nói:

– Tôi vì cảm nghĩa ngày trước anh cứu tôi, nay tôi đến đây đem tin cho anh rõ: Lưu Bị hiện lưu lạc ở đâu chưa rõ, còn Trương Phi chẳng biết mất còn. Hôm qua, Tào Tháo đã chiếm thành Hạ Bì, dân chúng trong thành đều không bị hại, gia quyến của Lưu Bị được Tào Tháo bảo vệ tử tế.

Quan Võ nổi giận hét lớn:

– Trương Liêu dám đến đây dụ ta hay sao? Ta thà chết chớ không đầu hàng ai cả. Hãy về đi, nếu không ta chém đầu bây giờ.

– Anh nói thế không sợ người ta chê cười anh sao? Tôi vì sợ thiên hạ chê cười anh nên mới đến đây nói cho anh rõ, chớ đâu dám đến dụ hàng.

– Ngươi nói thiên hạ cười ta việc gì?

– Tôi biết anh dũng lực có thừa, song hiện nay thế binh của anh tan vỡ, nếu liều chết thật là có tội.

– Ta bình sanh không chịu nhục, nay ta ra trận quyết sống thác với địch, nay chẳng may thất cơ thì liều chết mà đền nợ nước, sao lại có tội?

– Nếu anh liều chết, anh sẽ phạm 3 tội. Anh thử nghĩ xem, Lưu Bị hiện nay thất lạc, nhưng chí cả chưa đoạt, thế nào cũng cần người nghĩa dũng, nếu sau nầy LưuBị cần đến anh mà không có anh tức là anh có tội thứ nhứt. Lưu Bị lại phó thác gia quyến cho anh mà anh chết rồi thì ai bảo vệ giaquyến ấy, đó là tội thứ nhì. Anh là kẻ võ nghệ siêu quần, há lại không khuông phò nhà Hán để danh muôn thuở, lại liều chết như thế phỏng có ích gì, đó là tội thứ ba.

Quan Võ nghe Trương Liêu phân tách như thế thì dịu xuống, thở dài nói:

– Ngươi nói ta ba tội, vậy ngươi bảo ta bây giờ phải làm thế nào?

– Nay bốn phía đều có binh của Tào Tháo, nếu chống cự cũng không thoát khỏi, chi bằng hãy tạm đầu hàng để nghe ngóng tin tức của Lưu Bị. Nếu người còn ở nơi nào thì anh sẽ đến đó tìm. Như vậy, một là anh bảo vệ được hai vị phu nhân của Lưu Bị, hai là chẳng phụ lời ước thệ ngày xưa, ba là để dành cái thân hữu dụng ngày sau giúp cho nhà Hán. Ba điều ấy, anh nên suy nghĩ.

Quan Võ nói:

– Ngươi nói ba điều ấy, ta lại có ba điều ước: nếu Tào Thừa Tướng bằng lòng khứng chịu, ta sẽ cởi giáp hàng đầu, còn thiếu một điều ta quyết liều chết mà thôi.

Một là ta với Lưu Bị có thề với nhau một lòng giúp nhà Hán, nay ta đầu là đầu Hán Đế chớ không phải đầu Tào.

Hai là xin lấy lương bổng của Lưu Hoàng Thúc cấp cho nhị tẩu của ta, lại không một ai được bén mảng đến chỗ ở của nhị tẩu của ta.

Ba là khi nào hay tin anh ta ở đâu thì ta lập tức đến đó, dù đường xa ngàn dặm.

Trương Liêu ưng chịu trở về ra mắt Tào Tháo và nói rõ ba điều ước của Quan Vân Trường. Tào Thừa Tướng đành chấp nhận vì rất mến nghĩa khí của Quan Võ.

Hôm sau, Tào Tháo truyền lịnh thâu binh về Hứa Xương. Quan Võ thỉnh nhị tẩu lên xe, tự mình đi theo hộ vệ. Khi quân đến trạm dịch, Tào Tháo truyền quân đóng lại nghỉ ngơi, lại truyền Quan Võ ở chung một nhà với nhị tẩu: Cam Phu nhân và My Phu nhân, hai bà vợ của Lưu Bị, tức là hai chị dâu của Quan Võ.

Đêm ấy, Quan Võ cầm đuốc đứng trước cửa nhà suốt đêm để canh cho hai chị dâu an giấc, đồng thời lấy Thanh Long đao chém sạt một góc tường để người ngoài nhìn vào thấy rõ lòng quang minh chánh đại của Quan Võ. Tào Tháo biết được đem lòng kính phục vô cùng.

Tào Tháo dắt Quan Võ vào triều yết kiến vua Hán Hiến Đế, được vua phong cho chức Thiên Tướng Quân.

Quan Võ có bộ râu 5 chòm rất đẹp, được vua khen là Mỹ Nhiêm Công (Mỹ là đẹp, Nhiêm là râu mọc, Công là Ông).

Kể từ đó, Quan Võ và hai chị dâu nương nhờ nơi dinh của Tào Tháo. Tào Tháo hết sức trọng đãi để chiêu dụ Quan Công, ba ngày đãi một tiệc nhỏ, bảy ngày đãi một tiệc lớn, lên ngựa thưởng vàng, xuống ngựa thưởng bạc.

Tào Tháo lại đem ngựa Xích thố bắt được của Lữ Bố tặng cho Quan Công. Quan Công phục xuống lạy tạ ơn. Tào Tháo ngạc nhiên hỏi:

– Ta đã bao phen trao tặng nào mỹ nữ, nào vàng bạc, nào gấm vóc, sao chẳng thấy Vân Trường vui, nay tặng cho con ngựa nầy Vân Trường lại tạ ơn hậu như vậy?

Quan Công nói:

– Tôi biết con ngựa quí nầy ngày đi ngàn dặm. Nay được Thừa Tướng ban ơn, nếu biết anh tôi ở đâu thì tôi có thể đi một ngày là gặp, nên tôi cảm ơn Thừa Tướng rất nhiều.

Tào Tháo nghe nói như vậy thì hối hận, nhưng đành thôi.

Lúc đó Viên Thiệu hưng binh đánh Tào Tháo. Tướng Tiên phuông của Viên Thiệu là Nhan Lương rất tài giỏi, các tướng của Tào Tháo không ai cự nổi. Tào Tháo phải vời Quan Công đến cự địch. Tào Tháo nói:

– Nhan Lương giết luôn hai tướng của ta, chẳng ai dám ra đánh nên phải mời Vân Trường đến đây bàn định.

Quan Công liền nói:

– Tuy tôi bất tài, song cũng xin ra trận lấy đầu Nhan Lương đem về nạp cho Thừa Tướng.

– Giữa chốn ba quân không nên nói đùa.

Quan Công hăng hái nhảy phóc lên ngựa xích thố, chạy bay đến chỗ Nhan Lương, vẹt quân Nhan Lương ra hai bên, thấy Nhan Lương đang đứng dưới cây lọng. Nhan Lương thấy Quan Công vừa muốn hỏi thì ngựa xích thố đã đến trước mặt rồi, Nhan Lương chưa kịp trở tay, bị Quan Công vớt một đao, Nhan Lương ngã lăn xuống ngựa. Quan Công nhảy xuống cắt lấy thủ cấp, rồi phi thân lên yên, vung đao lướt ra khỏi trận. Binh Tướng của Nhan Lương nhốn nháo cả lên, thừa dịp binh Tào tràn sang chém giết tơi bời.

Quan Công phi ngựa đến trước Tào Tháo dâng nạp thủ cấp của Nhan Lương. Tào Tháo hết sức khen ngợi:

– Tướng quân là Thần nhân đó.

Tào Tháo làm biểu tâu với Hán Đế, phong thưởng cho Quan Công làm chức Hán Thọ Đình Hầu, sai đúc ấn ban cho Quan Công.

Sau đó, Viên Thiệu sai Đại Tướng Văn Xủ lên thay cầm quân đánh Tào Tháo.

Tướng Tào là Trương Liêu chống cự không nổi phải bỏ chạy, Quan Công lướt tới, Văn Xủ mắng:

– Mi đã giết Nhan Lương là bạn của ta, lẽ nào ta không trả thù được hay sao?

Nói rồi cầm thương xốc ngựa đến đánh Quan Công. Hai bên cự địch được ba hiệp, Quan Công giục ngựa Xích thố bay đến bất ngờ chém Văn Xủ rơi đầu xuống đất.

Trần Chấn đem tin đến cho Quan Công biết, hiện Lưu Bị đang ở Hà Bắc. Quan Công vào cho hai chị hay để chuẩn bị ra đi tìm Lưu Bị. Quan Công sai gia nhân thu thập hành trang, sửa soạn xe ngựa. Tất cả những thứ gì mà Tào Tháo đã ban cho phải để lại hết, vàng bạc thì niêm phong cất vào kho, còn cái ấn Hớn Thọ Đình Hầu thì buộc treo lơ lửng nơi xà nhà. Quan Công đến dinh Tào Tháo từ biệt, ba lần mà không gặp mặt, liền viết một bức thơ để lại từ tạ Tào Tháo, đại lược như sau:

“Võ nầy tự thiếu thời thờ Lưu Huyền Đức, thề sống chết có nhau, lẽ đâu dám phụ. Trước đây, thành Hạ Bì thất thủ, có ước hẹn với Thừa Tướng ba điều. Nay được biết chủ cũ hiện đang ở nơi Hà Bắc. Hồi tưởng lời thề năm xưa, lòng nầy há dám phụ phàng. Vậy xin dâng thư nầy cáo biệt Thừa Tướng. Còn ơn nào thiếu sót chưa đền, xin đợi ngày mai báo đáp.”

Quan Công sai niêm phong kho tàng cẩn mật, rồi mời nhị tẩu lên xe, Quan Công cỡi ngựa Xích thố, cầm Thanh long đao, dẫn vài mươi đứa tùy tùng, nhắm hướng Hà Bắc tiến tới.

Quá Ngũ quan trảm Lục tướng:

. Quan Công đến ải Đông Lĩnh, tướng giữ ải là Khổng Tú không cho qua. Quan Công đành phải giết chết Khổng Tú mới qua ải được.

. Đến ải Lạc Dương, Thái Thú Hàn Phúc và tướng Mạnh Thản ngăn chận, 2 người đều bị chết dưới ngọn Thanh long đao.

. Quan Công tiếp tục bảo hộ hai chị dâu đi đến ải Nghi Thủy. Tướng giữ ải là Biện Hỷ cho quân đao phủ mai phục nơi Trấn Quốc Tự, rồi dụ Quan Công đến nghỉ ở đó. Trong Chùa Trấn Quốc nầy có Đại Sư Phổ Tịnh, người cùng quê với Quan Công, báo cho Quan Công biết âm mưu của Biện Hỷ. Quan Công kịp thời đối phó, giết chết Biện Hỷ, quân đao phủ chạy tán loạn. Quan Công tạ ơn Phổ Tịnh:

– Nếu không nhờ Đại sư, chắc tôi bị hại rồi.

– Bây giờ tôi cũng không thể ở chùa nầy được nữa, phải đi vân du để tránh bè đảng của chúng, xin Tướng quân rán giữ mình, ngày sau chúng ta còn dịp gặp gỡ.

Quan Công từ giã Phổ Tịnh, rồi hộ tống xe của hai chị dâu đi thẳng đến ải Huỳnh Dương.

. Tại ải Huỳnh Dương, quan Thái Thú giữ ải là Vương Thực, sui gia với Hàn Phúc, nên lập kế giết Quan Công trả thù cho Hàn Phúc.

Vương Thực chuẩn bị hỏa công đốt quán dịch, nơi Quan Công và hai chị dâu tạm nghỉ. Nhờ có Hồ Bang báo cho biết, Quan Công vội phò nhị tẩu thoát đi. Vương Thực dẫn quân rượt theo, bị Quan Công vớt cho một đao bay đầu.

. Đến ải Hoàng Hà, Tần Kỳ xông đến ngăn lại, đánh với Quan Công được vài hiêp rồi cũng bay đầu.

Quan Công vội lấy thuyền đưa nhị tẩu qua sông Hoàng Hà, tới địa phận Hà Bắc. Tôn Càng đón Quan Công, báo tin Lưu Hoàng Thúc đã qua Nhữ Nam, nên Quan Công bỏ đường đi Hà Bắc, rẽ qua Nhữ Nam.

Khi đi ngang qua Ngọa Ngưu Sơn thì thâu phục được một bộ tướng là Châu Thương.

Châu Thương, quê ở Quan Tây, hai tay xách nổi ngàn cân, râu quai nón, hình dung dữ tợn, trước đây theo giặc Khăn Vàng. Khi giặc Khăn Vàng tan rã thì Châu Thương ẩn nơi núi rừng làm thảo khấu, nhưng rất hâm mộ uy danh của Quan Công, nên khi gặp được Quan Công thì cải tà qui chánh, theo hầu Quan Công. Nhưng Quan Công bảo Châu Thương hãy tạm ở lại đây, chờ sau sẽ đến rước.

Châu Thương nói với Quan Công:

– Trước mặt có một Cổ Thành rất kiên cố. Cách đây không bao lâu, có một người tên là Trương Phi đến chiếm cứ, tập hợp được hơn 4000 binh mã, bốnphía không ai dám cự địch.

Quan Công đưa nhị tẩu vào Cổ Thành giao cho Trương Phi bảo vệ, rồi cùng với Tôn Càng đi Nhữ Nam tìm Lưu Bị.

Dọc đường, Quan Công đến một túp lều tranh xin trọ đỡ, gặp một Cụ già chống gậy bước ra, xưng danh là Quan Định, cùng họ với Vân Trường. Quan Định có đứa con trai tên là Quan Bình mới vừa 10 tuổi, cho theo hầu Quan Công, được Quan Công nhận làm con nuôi.

Tôn Càng đến gặp Lưu Bị, rồi lập kế ra đi thoát khỏi tay Viên Thiệu, thẳng đến Ngọa Ngưu Sơn, để hiệp với binh của Châu Thương ở đó, nhưng khi đến nơi thì binh của Châu Thương đã bị Triệu Tử Long đánh tan và chiếm cứ nơi đó.

Thế là một nhà xum hiệp, trở lại Cổ Thành, lại có thêm được Triệu Tử Long; Quan Công thì có thêm được Châu Thương và Quan Bình. Anh em mừng rỡ, mở tiệc ăn mừng.

Trải qua một thời gian, thế nước chia ba, Lưu Bị liên kết với Ngô Tôn Quyền chống lại Tào Tháo.

Tào Tháo đem đại binh 83 vạn quân xuống đóng dọc theo sông Trường giang, tập luyện binh sĩ thủy chiến, chuẩn bị đánh Đông Ngô. Khổng Minh, Quân sư của Lưu Bị, sang Đông Ngô bày kế giúp Chu Du, Đại Đô Đốc của Ngô Tôn Quyền, lập trận Xích Bích, dùng hỏa công đánh tan 83 vạn quân Tào. Tào Tháo thảm bại, dắt tàn quân chạy qua Hoa Dung Đạo để về Hứa Đô. Khổng Minh toán quẻ biết trước việc đó, nên sai Quan Công đem binh đón bắt Tào Tháo.

Khổng Minh nói với Lưu Bị:

– Sở dĩ tôi sai Vân Trường đón bắt Tào Tháo nơi Hoa Dung Đạo là để Vân Trường trả nghĩa Tào Tháo, vì tôi xem Thiên văn biết mạng Tào Tháo lớn lắm, chưa chết được.

Đúng như lời của Khổng Minh, Tào Tháo đại bại ở trận Xích Bích, kéo tàn quân chạy qua Hoa Dung Đạo về Hứa Đô

Giữa đường bị Vân Trường chận đường, Tào Tháo chết đứng, hối các tướng xuống ngựa năn nỉ:

– Tôi đã bị bại binh, thế nguy đến đây cùng đường. Xin Quan Hầu nghĩ tình tôi ngày trước mà tha cho.

Quan Vân Trường đáp:

– Ngày trước, tôi tuy mang ơn Thừa Tướng rất hậu, song công tôi chém Nhan Lương và Văn Xủ cũng đủ trả rồi. Hôm nay Thừa Tướng lại lấy việc tư mà bỏ việc công sao?

Tào Tháo năn nỉ tiếp:

– Thế lúc Quan Hầu qua năm ải, chém chết sáu tướng, Quan Hầu còn nhớ không? Hễ là đại trượng phu thì phải lấy ơn làm trọng. Quan Hầu đã từng đọc Kinh Xuân Thu há chẳng nhớ việc Du Công Chi Tư đuổi theo Tử Trạc Nhu Tử đó sao? Hôm nay, với mấy tên tàn quân ở bước đường cùng, đã xuống ngựa để cầu an mà Quan Hầu không niệm tình thì đâu phải là đại trượng phu.

Vân Trường nhìn thấy Tào Tháo xác xơ, quân sĩ tả tơi như muốn khóc, bắt động lòng, không nỡ ra tay, liền quay ngựa bảo quân tránh ra mở đường sanh lộ cho Tào Tháo.

Tào Tháo hối quân sĩ chạy thoát qua chỗ ấy. Vân Trường ngó theo, hét lên một tiếng, bao nhiêu quân Tào đều khóc lạy dưới ngựa. Vân Trường thấy vậy càng thêm bất nhẫn. Lại thấy Trương Liêu giục ngựa chạy đến, tình cố cựu động tâm, Vân Trường than dài rồi tha cho cả bọn đi hết.

Sau đó, Vân Trường được lịnh đi đánh Trường Sa. Thái Thú Trường Sa là Hàn Huyền bất tài nhưng có Lão tướng Hoàng Trung tài giỏi phò tá.

Hoàng Trung ra đánh với Quan Võ cả trăm hiệp mà sức cầm đồng, bỗng con ngựa của Hoàng Trung quỵ hai chân trước làm ông ta té ngã xuống đất. Quan Võ dừng đao hét: Ta tha chết cho ngươi, mau trở về thay ngựa khác ra đây đánh với Ta.”

Nhờ nghĩa khí đó mà Hoàng Trung tâm phục Quan Võ. Ngụy Diên nổi lên chém chết Hàn Huyền rồi cả hai mở thành rước Quan Võ vào chiêu an bá tánh. Thế là bên cánh Lưu Bị có thêm được hai đại tướng nữa là Hoàng Trung và Ngụy Diên.

Lưu Bị và Khổng Minh đem đại binh đi đánh Tây Thục, giao Kinh Châu cho Quan Võ gìn giữ.

Phía Đông Ngô, Lỗ Túc bàn kế với Tôn Quyền: Nay tôi ra đóng binh ở Lục Khẩu, sai người qua mời Quan Võ phó hội. Nếu hắn chịu đến, tôi sẽ dùng lời lẽ phải chẳng mà bảo hắn trả đất Kinh Châu cho ta, nếu hắn không nghe thì tôi hô quân đao phủ ùa ra giết hắn.

Tôn Quyền bằng lòng kế ấy, liền cho sứ giả qua Kinh Châu mời Quan Võ qua Đông Ngô phó hội. Quan Võ nhận lời

Quan Bình can nghĩa phụ:

– Sao nghĩa phụ xem thường tấm thân muôn trượng, dấn thân vào hang hùm ổ sói, nếu rủi ro có bề nào có phải phụ lòng bá phụ không?

Quan Võ nói:

– Ta từng xông pha nơi rừng tên mũi giáo, một đao một ngựa tung hoành, có sá gì lũ chuột Giang Đông. Đời Chiến Quốc có Lạn Tương Như nước Triệu, tay trói gà không chặt, mà giữa Hội Dân Trì, còn coi vua nước Tần như cỏ rác, huống chi ta là người có sức địch nổi muôn người. Một lời đã hứa không thể thất tín.

Bên Đông Ngô, Lỗ Túc bàn với Lữ Mông: Lữ Mông và Cam Ninh lãnh vài ngàn quân chia nhau phục nơi bờ sông, nếu thấy QuanVõ đem binh đội theo thì đổ ra chận đánh. Còn Quan Võ không đem quân theo thì cho phục sẵn 50 quân đao phủ sau đình, hễ nghe hiệu lịnh thì nhảy ra giữa tiệc giết chết Quan Võ.

Đến giờ ước hẹn, Lỗ Túc thấy Vân Trường ngồi trên thuyền nhỏ, có Châu Thương cầm đao đứng hầu, có 10 đại hán đất Quan Tây đeo mã tấu đứng hầu hai bên, trên thuyền có một lá cờ đỏ đề chữ Quan rất lớn. Vân Trường mặc áo bào lục, đầu đội khăn xanh, ngồi oai vệ giữa thuyền.

Lỗ Túc ra bến đón Vân Trường vào dự tiệc nơi Thủy Đình. Vân Trường nét mặt như hoa, nói cười sang sảng, không chút sợ sệt. Sau một hồi dự tiệc, Lỗ Túc đem chuyện đòi đất Kinh Châu nói với Vân Trường. Vân Trường đáp:

– Việc đó của anh tôi, tôi không tự ý quyết định được.

Châu Thương đứng hầu phía sau xen vào nói lớn:

– Đất đai của thiên hạ, ai có tài đức thì chiếm cứ, đâu phải của riêng Đông Ngô mà các ông đòi.

Vân Trường sa sầm nét mặt, đứng phắt dậy, bước tới giật lấy cây đao trong tay Châu Thương nạt:

– Đó là việc quốc gia đại sự, sao mày dám xen vào. Hãy cút đi mau lên.

Châu Thương hiểu ý, lập tức lui ra bờ sông, phất cờ đỏ ra hiệu. Quan Bình thấy cờ hiệu, vội lướt thuyền như bay qua sông, đến bờ bên Đông Ngô để tiếp ứng.

Bấy giờ Vân Trường đang ở trong Đình, tay mặt cầm đao, tay trái nắm chặt Lỗ Túc, giả bộ say lè nhè nói:

– Hôm nay Ngài mời tôi sang đây dự tiệc, xin đừng nhắc chuyện Kinh Châu làm mất vui. Tôi say rồi, nếu xảy ra điều gì sẽ tổn thương đến tình cố cựu. Để hôm nào tôi rảnh, tôi sẽ cho người sang mời Ngài qua Kinh Châu họp mặt.

Lỗ Túc bị Vân Trường nắm chặt cánh tay, hồn phi phách tán, không còn biết xoay sở thế nào được. Vân Trường giả say, nắm chặt Lỗ Túc từ từ đi xuống bờ sông. Lữ Mông cùng với Cam Ninh phục sẵn nơi bờ sông, nhưng chẳng dám động thủ vì Vân Trường đang kềm chế Lỗ Túc.

Vân Trường bước lên thuyền, buông tay Lỗ Túc, nói lời từ biệt. Lỗ Túc lúc nầy như người mất vía, đứng trân nhìn đoàn thuyền của Vân Trường rẽ sóng lướt nhanh trở về Kinh Châu.

Từ khi Lưu Bị sai Vân Trường trấn thủ Kinh Châu, Lưu Bị có cưới vợ cho Vân Trường, sanh được một trai đặt tên là Quan Hưng, và một gái đặt tên là Quan Ngân Bình.

Gia Cát Cẩn bàn kế với Tôn Quyền là đi cầu hôn con gái của Vân Trường cho Thế tử của Đông Ngô. Vân Trường nặng lời từ chối và đuổi Gia cát Cẩn trở về.

Vân Trường được lịnh đi đánh Phàn Thành, chém chết Bàng Đức, bắt sống Vu Cấm, oai danh lừng lẫy. Trong khi đánh phá Phàn Thành, Vân Trường bị Tào Nhơn bắn một mũi tên có tẩm thuốc độc, trúng vào cánh tay mặt. Quan Bình điều binh rút về trại để chữa trị vết thương cho Vân Trường. Thần y Hoa Đà nghe tin liền tìm đến nơi để điều trị vết thương.

Vân Trường cởi áo bào ra, đưa cánh tay bị tên cho Hoa Đà xem vết thương. Hoa Đà xem kỹ rồi nói:

– Ấy là tên ná, có tẩm thuốc độc, chất độc đã thấm tới xương, nếu không trị sớm thì cánh tay nầy sẽ trở nên vô dụng. Bây giờ phải lựa một chỗ vắng vẻ, trồng một cây trụ cho thật chắc, đóng vào đó một cái khoen. Tôi phải cột tay tướng quân vào đó, bịt mắt tướng quân lại, rồi tôi mổ vết thương ra, lóc thịt đã thấm chất độc bỏ đi, cạo bỏ chất độc đã thấm vô xương, rồi rịt thuốc may lại, để tướng quân trông thấy chắc không chịu nổi.

Vân Trường cười nói:

– Như vậy có chi mà không chịu nổi.

Liền bày tiệc rượu thết đãi. Vân Trường uống mấy chén, rồi bày cờ ra đánh với Mã Lương, tay trái đánh cờ, tay mặt đưa ra cho Hoa Đà mổ.

Hoa Đà cầm dao mổ lên nói:

– Nào, tôi xin bắt đầu, Ngài chớ giựt mình.

– Ta không phải là kẻ phàm phu nhút nhát đâu.

Mọi người thấy Hoa Đà làm mà rùn mình, nhưng Vân Trường vẫn thản nhiên ngồi đánh cờ. Hoa Đà làm xong, rịt thuốc may lại, nói:

– Tôi chưa bao giờ thấy một người khí phách như thế nầy, tiếng đồn thật chẳng sai.

Quan Vân Trường đứng dậy nói:

– Cánh tay nầy bây giờ hết đau nhức rồi, co dãn được như thường. Tiên sinh là Thần y đó.

Quan Công sai đem 100 lượng vàng thưởng công cho Hoa Đà, nhưng Hoa Đà từ chối, nói:

– Tôi nghe Vân Trường là người trung nghĩa, nên đến trị bịnh, chớ đâu phải để lấy tiền. Xin Ngài chớ nhọc lòng.

Nói xong từ giã Vân Trường ra về.

Một hôm, Vân Trường vào trướng phủ ngủ trưa, bỗng chiêm bao thấy một con heo lớn đen thui chạy đến cắn nơi chân mình. Vân Trường thét lên định rút gươm ra chém, liền giựt mình tỉnh dậy. Vân Trường trong lòng nghi ngại không yên, nói với Quan Bình:

– Ta nay đã gần 60 tuổi rồi, làm tướng xông pha trong ba quân đã lâu, giá như nay chết đi cũng không ân hận gì nữa.

Sau đó, Quan Vân Trường lầm mưu của Lữ Mông và Lục Tổn để mất Kinh Châu, lại bị quân Tào phía Bắc đánh xuống, lưỡng đầu thọ địch, nên thua trận chạy về Mạch Thành chống giữ. Quan Công lại sai Liêu Hóa vượt vòng vây chạy đến Thương Dung kêu Lưu Phong (con nuôi của Lưu Bị) và Mạnh Đạt đem binh tới giúp, nhưng Lưu Phong và Mạnh Đạt sợ chết nên từ chối.

Liêu Hóa thấy không xong, liền nhắm Thành đô chạy riết để cầu cứu với Hán Trung Vương Lưu Bị.

Tôn Quyền cho Gia Cát Cẩn qua dụ hàng Quan Công, nhưng lòng Quan Công như sắt đá, không thể dụ được.

Lữ Mông dâng kế:

Quan Công cố thủ Mạch Thành, không chịu hàng đầu, chẳng bao lâu lương thực hết thì phải bỏ thành tìm đường trốn về Tây Thục. Phía Bắc Mạch Thành có một con đường nhỏ rất hiểm trở, nếu Vân Trường bỏ thành ắt phải theo con đường đó mà đi. Phải sai Chu Nhiên đem quân đến phía Bắc Mạch Thành mai phục, gặp Vân Trường kéo quân đi ra thì chớ đánh vội, cứ phía sau rượt nà, để hắn chạy qua ngã Lâm Thư. Lại sai Phan Chương dẫn 500 binh hùng phục nơi đường Lâm Thư, chỗ núi non chật hẹp, dùng dây giăng ngang đường và câu móc mà giựt thì các ngựa chiến té quị, binh túa ra bắt sống Quan Công.

Quan Công trông mãi không thấy binh cứu viện, kiểm điểm binh mã chỉ còn được 300, lương thực hết sạch, ba mặt thành Đông, Tây, Nam, đều bị quân Đông Ngô công phá rất ngặt, chỉ còn mặt Bắc là ít hơn.

Quan Công truyền Châu Thương và Vương Phủ ở lại thủ thành, còn Quan Bình với Triệu Lụy và vài chục quân đi theo Quan Công vượt trùng vây để đi Tây Thục theo cửa Bắc Mạch Thành tiến ra.

Đi được vài dặm thì gặp phục binh, Triệu Lụy tử trận. Quan Công đi trúng vào mưu kế của Lữ Mông, ngựa Xích thố bị vấp chân ngã nhào, Quan Công té xuống đất, bộ tướng của Phan Chương là Mã Trung bắt sống được Quan Công cùng với Quan Bình và toàn bộ mấy chục tên quân đi theo.

Phan Chương giải Quan Công và Quan Bình đến Tôn Quyền. Tôn Quyền chiêu dụ nhiều lần nhưng Quan Công nhứt định không chịu đầu hàng. Tôn Quyền ra lịnh đem cha con Quan Công ra pháp trường xử trảm. Quan Công thọ 58 tuổi.

Quân Đông Ngô đem thủ cấp của Quan Công và Quan Bình đến Mạch Thành để gọi Châu Thương và Vương Phủ đầu hàng. Châu Thương thấy chủ tướng đã chết, nên khóc lóc rồi tự vận chết theo, Vương Phủ thì nhào đầu xuống chơn thành tự tử.

Còn con ngựa Xích thố của Quan Công được Tôn Quyền thưởng công cho Mã Trung, nhưng ngựa bỏ ăn và vài ngày sau thì chết, linh hồn bay theo chủ.

Tôn Quyền mở tiệc khao thưởng các tướng và quân sĩ. Tôn Quyền nói:

– Nay nhờ mưu của Lữ Mông mới bắt được Quan Công và giết đi, lấy được đất Kinh Châu, công ấy rất lớn.

Nói rồi rót một chén rượu, bưng đến thưởng Lữ Mông. Lữ Mông tiếp lấy chén rượu toan uống, bỗng dưng ném chén rượu xuống đất, nhảy lại thộp ngực Tôn Quyền, mắng lớn:

– Thằng mặt xanh râu đỏ và bọn chuột kia có biết ta là ai không?

Chư tướng thất kinh, vừa muốn bước lại gỡ Tôn Quyền và xô Lữ Mông ra thì Lữ Mông đã xô Tôn Quyền té nhào xuống đất, rồi nhảy vọt lên ghế của Tôn Quyền ngồi, trợn đôi mắt tròn vo, hét lớn:

– Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường là ta đây.

Tôn Quyền và các tướng hoảng sợ, quì lạy lia lịa. Bỗng Lữ Mông té nhào xuống đất, hộc máu chết tươi.

Tôn Quyền và các tướng Đông Ngô phải một phen hoảng vía trước sự hiển linh báo thù của Quan Công.

Mưu thần của Tôn Quyền nói:

– Quan Công chết rồi, thế nào Lưu Bị và Khổng Minh cũng kéo đại binh đến đánh Đông Ngô báo thù. Bây giờ ta phải đem thủ cấp của Vân Trường gởi qua Tào Tháo, để cho Lưu Bị nghĩ rằng Tào Tháo chủ mưu trong vụ nầy. Như vậy, Lưu Bị sẽ căm giận Tào Tháo, giải được mối nguy cho Đông Ngô.

Tôn Quyền nghe theo, đóng một cái thùng đựng thủ cấp của Quan Công, rồi sai sứ đem dâng cho Tào Tháo.

Tư Mã Ý nói với Tào Tháo:

– Quan Công cùng Lưu Bị và Trương Phi kết nghĩa anh em với nhau. Nay Quan Công đã chết, thế nào Lưu Bị và Trương Phi cũng đem binh báo thù. Đông Ngô lo sợ cái họa ấy nên đem đầu của Quan Công đến đây gieo họa cho ta.

Tao Tháo hỏi:

– Như thế ta phải làm sao?

– Đại Vương nên hết lòng tử tế, sai quân tạc một hình gỗ trầm hương, đem đầu Quan Công chắp vào, rồi tẫn liệm, làm lễ an táng theo hàng vương hầu. Lưu Bị hay được ắt cho Đại Vương là người ơn, còn Đông Ngô chính là kẻ tử thù.

Tào Tháo mừng rỡ làm y theo kế ấy, lại nhìn thủ cấp của Quan Công nói đùa một câu:

– Quan Hầu mạnh giỏi đấy chứ?

Bỗng cái đầu của Quan Công trợn mắt tròn vo, tóc râu dựng ngược. Tào Tháo thất kinh té nhào xuống đất. Chư tướng đỡ lên. Sứ giả Đông Ngô lại đem chuyện Lữ Mông bị Quan Công bắt hộc máu chết kể lại cho Tào Tháo nghe nữa.

Tào Tháo khiếp vía, làm y theo lời Tư Mã Ý, dùng Vương lễ an táng Quan Công. Tào Tháo bổn thân quì tế, đặt quan giữ mộ và cúng tế 4 mùa.

Về phần linh hồn của Quan Công, uất khí chưa tan, linh hồn bay lơ lửng về phía núi Ngọc Tuyền, trên núi có một ngôi chùa mà Đại Sư Phổ Tịnh đang tu tại đó.

Đêm ấy trăng sáng, vừa mãn canh ba, bỗng nghe trên không có tiếng kêu lớn: Trả đầu cho ta. Phổ Tịnh ngước mặt nhìn lên mây, thấy một người cỡi ngựa Xích thố, cầm cây Thanh long đao, bên tả có một tướng mặt trắng khôi ngô, bên hữu có một tướng mặt đen râu quai nón, theo hầu.

Phổ Tịnh lấy đuôi chủ gõ vào cửa nói:

– Vân Trường ở đâu?

Hồn Vân Trường liền đáp xuống trước chùa, hỏi:

– Sư Cụ là ai? Xin cho biết pháp hiệu.

Phổ Tịnh đáp:

– Lão Tăng là Phổ Tịnh, khi trước nơi chùa Trấn Quốc, Quan Hầu quên rồi sao?

– Trước kia tôi nhờ ơn Ngài cứu cho, nay tôi đã thác, xin Ngài chỉ đường mê muội cho tôi.

– Nay Quan Hầu bị Lữ Mông làm hại, kêu lên: Trả đầu cho ta , thế còn Nhan Lương, Văn Xủ, sáu tướng qua năm ải, và biết bao nhiêu cái đầu khác nữa, họ đòi vào đâu?

Quan Công nghe Đại Sư Phổ Tịnh nói câu ấy thì chợt tỉnh ngộ, liền biến mất. Phổ Tịnh biết Quan Công hiển Thánh. (Viết theo truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa)

Khi Quan Công đã hiển Thánh rồi, Ngài trừ tà diệt quỉ, cứu độ sanh linh, và từ đó đến nay, Ngài không tái kiếp, mà dùng quyền hành thiêng liêng để lập công, đạt được Phật vị, gọi là Cái Thiên Cổ Phật.

Trong Đạo Cao Đài, Hội Thánh lấy ngày 24 tháng 6 âm lịch hằng năm làm ngày Đại lễ Vía Đức Quan Thánh. Khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại đàn cúng Vía Đức Quan Thánh Đế Quân, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức của Ngài.

Để bổ túc cho phần Tiểu sử trên của Đức Quan Thánh, xin chép ra sau đây bài Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp vào thời Tý ngày 24-6-Mậu Tý (dl 30-7-1948) tại Đền Thánh nhân Lễ Vía Đức Quan Thánh:

“Hôm nay là ngày Vía Đức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Đế Quân, tức là Hớn Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường nhà Hớn, đời Tam Quốc. Một vị hiển Thánh đời Hớn thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai Nghiêm trong nền Chánh giáo của Đức Chí Tôn, sự vinh hiển cao trọng đó, ta thấy gía trị vô đối.

Với một Đấng thiêng liêng mà lập vị mình một cách oai quyền vinh hiển, ta thường thấy rất ít, thảng có chăng trong nước Việt Nam ta, Đức Trần Hưng Đạo gọi là có thể đương đầu với Ngài được mảy may chút ít mà thôi, chớ phần đông từ thử đến giờ, kể cả các nước Á Đông nầy hiếm có.

Vậy ta nên khảo cứu coi Ngài làm thế nào đạt được Thiên vị vinh diệu đặc biệt dường ấy.

Hớn Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường buổi nọ là một vị tướng của Thục, tức Lưu Bị. Ta thấy đại nghĩa của Ngài, trung can nghĩa khí của Ngài, nhứt là về bằng hữu chi giao, tình nghĩa đối với bạn hữu của Ngài, dám chắc dầu chúng ta, dân tộc Việt Nam hằng chịu ảnh hưởng văn hóa Nho Tông, chưa có được người nào giống như Ngài vậy. Tâm trung nghĩa, chẳng vì sang mà theo Tào, chỉ chuộng Hớn, nghĩa chẳng vì bạn buổi khổ não truân chuyên mà phụ rãy tình nhau. Trung và nghĩa ấy hy hữu.

Nói đến chí khí của Ngài, Bần đạo tưởng luận không hết: Ngài bất sát hạ mã chi nhơn. Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ Hầu Đôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng, nếu không có Trương Liêu đến cứu. Mỗi khi Ngài trở cây Yển Nguyệt Thanh long đao định vớt nhà nớ thì nhà nớ nhảy xuống ngựa. Chí khí đó, thế gian hy hữu. Ngài lập chí với bộ sách Xuân Thu mà thôi.

Người sau có tặng Ngài đôi liễn:

Chí tại Xuân Thu, công tại Hớn,
Trung đồng nhựt nguyệt, nghĩa đồng Thiên.

(Chí hướng lập ở Kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử, công lao lập với nhà Hán. Lòng trung sáng như vừng mặt trời mặt trăng, cái nghĩa cao như trời.)

Trọn đời Ngài không lúc nào rời bộ sách Xuân Thu nầy, đọc để lấy tinh thần của sách, suy luận làm tinh thần của mình.

Kể từ Đào Viên kết tình bằng hữu cùng nhau, từ thuở bần hàn cho đến khi vinh hoa phú quí sang trọng, Ngài vẫn một mực không hề thay đổi tâm đức bao giờ.

Tinh thần của người ấy là tinh thần đứng riêng biệt một mình, một cảnh giới mà thôi. Thế gian khó tìm thấy một kiểu vở thứ hai nữa đặng. Tinh thần của Ngài có oai quyền đặc sắc. Ta thử tìm coi Ngài làm sao mà đặng như vậy?

Nguơn linh của Ngài là Xích Long Tinh. Buổi nọ dân Bắc Hớn phạm Thiên điều, bị Ngọc Hư Cung phạt, hạn không cho mưa, đặng cho dân ấy phải đói. Dân làng biết mà cầu nguyện nơi Ngài cứu nạn.

Ngài cũng thừa biết dân ấy bị Thiên điều hành pháp, nhưng vì lòng ái tuất thương sanh, không nỡ để dân chết đói, nên Ngài làm mưa. Ngọc Hư Cung bắt tội, sai Ngũ Lôi tru diệt. Ngài chạy trốn vào một cái chùa, nhờ ông thầy chùa lấy chuông úp lại. Vị sư căn dặn bổn đạo trong chùa đừng ai dở chuông cho đến ngày nào Ngài hết nạn. Chư Đạo trong chùa tọc mạch dở chuông ra xem coi vật gì. Thành thử Ngài phải chịu đầu kiếp, kiếp ấy là Hạng Võ. Hạng Võ thì ai cũng biết.

Nếu ta quan sát trong Trọng Tương vấn Hớn, thì rõ tiền căn Hạng Võ, hậu kiếp Quan Công.

Bởi Hớn Bái Công khi lập quốc rồi, nghe lời Lã Hậu, diệt công thần, giết Hàn Tín. Án ấy nằm dưới Phong Đô mấy đời mà không ai xử đặng.

Buổi ấy có thầy Trọng Tương là học trò khó, nhà nghèo nhưng rất hiếu hạnh. Cha chết, Trọng Tương cất nhà mồ thờ cha mà ở. Thường hay buồn than thân trách phận, biết mình hữu tài mà vô dụng, nên viết một bài thi có ý than rằng: Thiên địa hữu tư, Thần minh bất công. (Trời Đất có lòng riêng, Thần minh không công bình), dụng ý trích điểm cái án nhà Hớn mà dưới Phong đô xử chưa có nổi. Vì vậy mà mắc tội phạm thượng, bị bắt hồn dẫn đến Phong đô, đem cho Thập Điện Diêm Vương vấn tội.

Trọng Tương bình tỉnh trả lời rằng: Nếu cho tôi ngồi làm Thập Điện Diêm Vương, tôi sẽ xử án ấy cho mà coi.

Thập Điện Diêm Vương bằng lòng.

Ngài xử: Tiền căn báo hậu kiếp:

Như Bành Việt, cho đi đầu thai làm Lưu Bị,

Anh Bố làm Ngô Tôn Quyền,

Hàn Tín làm Tào Tháo,

Hạng Sư làm Nhan Lương, Hạng Bá làm Văn Xủ,

Hạng Võ làm Quan Công . . .

Ta thấy 6 tướng của Hạng Võ đem lòng phản bội, đầu nhà Hớn, rượt Hạng Võ đến bến Ô Giang, phải cắt đầu trao cho Đình trưởng. Chú của Hạng Võ là Hạng Bá, trở lại phản cháu, đã đầu lụy Hớn Bái Công, còn trở lại phạt Sở.

Tiền căn hậu kiếp vay trả, quả báo y nhiên.

Có một điều lạ là với Lữ Mông, oan nghiệt có khác.

Tiền kiếp của Lữ Mông là ông thợ rèn, Quan Vân Trường đến mướn rèn Thanh long đao với một kiểu đặc biệt. Khi rèn xong, Ngài cầm ra sân thử đao, chẳng ngờ vô tình làm chết oan ông thợ rèn.(1)

Ông thợ rèn sau đầu kiếp làm Lữ Mông. Cho nên buổi Ngài xuất thần qui vị, là trả cái ngày làm chết ông thợ rèn là Lữ Mông đầu kiếp, trả báo giết lại Ngài.

Khi chơn linh của Ngài xuất ngoại, Châu Thương và Quan Bình cùng tự tử chết theo, ba người ấy bay giữa không trung, đi ngang ngôi chùa, kêu ông thầy chùa là Phổ Tịnh, đòi ông nọ trả đầu, ông bèn lấy cái quạt gõ trên cửa, tụng ba biến Vãng Sanh. Ngài hạ xuống tiếp đòi đầu nữa. Ông nọ nói rằng: Nhan Lương, Văn Xủ kia mới đòi đầu với ai? Ấy là tiền căn báo hậu kiếp thôi chớ.

Đức Quan Thánh tỉnh ngộ, xin ông Phổ Tịnh cho Ngài ở đó đặng tu. Chơn linh Ngài ở nơi chùa đó mà hiển Thánh.

Khi hiển Thánh rồi, Ngài trừ tà diệt quỉ, cứu độ sanh linh, và từ đó đến bây giờ, Ngài không tái kiếp lần nào nữa, duy dụng cái quyền hành thiêng liêng hành đạo mà thôi. Với quyền thiêng liêng ấy mà Ngài lập được Phật vị là Cái Thiên Cổ Phật, nhờ Vạn linh tôn trọng Ngài lên.

Bần đạo dám quả quyết Ngài không phải là Thiên phong mà chính là người của Vạn linh bầu cử.

Cho nên Đức Chí Tôn mở Đạo là cơ quan hiệp nhứt Vạn linh, để Đấng ấy là Tam Trấn Oai Nghiêm đặng làm quan Trạng sư cho Vạn linh đạt kiếp.”

(1) Theo Tam Quốc Ngoại Truyện, cái chết của ông thợ rèn xảy ra như sau: Khi Quan Võ ra sân múa thử đường đao, ông thợ rèn biết cây Thanh long đao nầy oai lực rất mạnh nên chạy núp trong bọng của một cây đại thọ gần đó. Quan Võ thử đao, muốn chém một vật nào đó xem đao thế nào, thấy có cây đại thọ ở gần liền múa đao chém thử, thân cây đại thọ bị đứt ngang ngã nhào, ông thợ rèn núp trong đó cũng bị đứt đầu chết theo.

Đức Quan Thánh không thường giáng cơ dạy Đạo như Đức Lý Đại Tiên, thỉnh thoảng Ngài mới giáng cho một bài.

Sau đây, chúng tôi xin chép lại bài giáng cơ của Ngài tại Minh Thiện Đàn, làng Phú Mỹ, Mỹ Tho, ngày 19-6-Tân Mùi (1931) với 4 câu thi đầu, khoán thủ là: CÁI THIÊN CỔ PHẬT:

CÁI thế công danh thế quí oai,
THIÊN tào kim phụng lịnh Cao Đài.
CỔ kim độ chúng lao hà nại,
PHẬT Thánh đạo tông tạo thế lai.

Ta chào Giáo Hữu, cùng chư Nhu. Biết Lão không?

– Quan Thánh Đại Đế. Nay chư Nhu cầu chi?

Bạch: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

– Việc ấy chẳng cần nói.

Chư nhu nhẹ tánh lắm âu lo,
Lo vậy càng xa Thánh ý trò.
Trò cứ một lòng vâng thửa lịnh,
Lịnh trên nào để dễ gì cho.

Vậy chư Nhu tuân mạng nghe! Giáo Hữu khá nghe, bởi tiên tri của Lý Đại Tiên dạy trước rằng, phải coi chừng Quỉ vương chen lấn vào mà thử thách chư Chức sắc Thiên ân, cùng cả Đạo lưỡng phái.

Ta nói vậy khá kiếm hiểu, chớ chẳng khá … … trọn phận.

THI:
Huỡn vì việc Đạo ở nơi nào?
Nhưng cũng tại lòng chẳng phải cao.
Sung sướng càng quen càng giả dối,
Gây nên oan nghiệt, tội dường bao!

Nay Lão cũng vì cơ chuyển phục cũng cần, nên còn chưa tỏ cho cùng Thánh ý đặng. Vậy Lão xin chư Nhu ráng lo cùng Lão mà chấn hưng Minh Thiện chuyển phục các nơi nghe!

Lão mong cho chư Nhu trọn lời phú thác.

Lão mừng chư Nhu. Lão thăng.

TNHT: Hai bài thi của Đức Quan Thánh trong TNHT:

Hớn Thọ Đình Hầu
Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,
Phò lưu dựng Thục một lòng ngay.
Kinh Châu Thất thủ nơi Thiên định,
Khiến Hớn vận suy phải đổi thay.

QUAN thành tái hiệp Hớn triều phong,
THÁNH đức mạc vong hám thế trần.
ĐẾ thất nhứt tâm trung khí dõng,
Thanh y xích diện hảo vinh phong.
TỰ ĐIỂN CAO ĐÀI-NGUYỄN VĂN HỒNG

Khai Thị Về Kinh Và Chú Thủ Lăng Nghiêm

Khai Thị Về Kinh Và Chú Thủ Lăng Nghiêm

-Trì chú Lăng Nghiêm điều quan trọng nhất là phải nghiêm trì giới luật
-Con Cháu Của Ma Vương
-Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
-Kinh Lăng Nghiêm: Ðại Biểu Của Chánh Pháp
-Khai tuệ có Lăng Nghiêm

Trung Thiên Trúc Sa Môn Bát Lặc Mật Ðế dịch

-Thấm Nhuần Nghĩa Lý Kinh Ðiển
-Kinh Lăng Nghiêm Tuyệt Ðối Là Bộ Chơn Kinh
-Trì Chú Trước Tiên Phải Chánh Tâm Thành Ý
-Quy Mạng Chú Lăng Nghiêm Trên Ðảnh Phật
-Nâng Cao Tiêu Chuẩn Hàng Tăng Sĩ, Tích Cực Xiển Dương Kinh Lăng Nghiêm
-Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh Chân Thật, Bất Hư
-Năm Mươi Thứ Ấm Ma Trong Kinh Lăng Nghiêm
-Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
-Chúng Sanh Biệt Nghiệp Vọng Kiến Và Ðồng Phận Vọng Kiến
-Chương Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông

Trì chú Lăng Nghiêm điều quan trọng nhất là phải nghiêm trì giới luật
Chú Lăng Nghiêm là chú dài nhất, lại gọi là “linh văn” vì nó rất linh nghiệm, rất diệu mầu không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả. Ai niệm thì người đó có cảm ứng, ai trì tụng thì người đó được sự hộ trì của Bồ tát Kim Cang tạng. Cho nên quý vị trì chú này cần phải thành ý chánh tâm, tu thân, cách vật. Thế nào là cách vật ? Tức là cách trừ tất cả vật dục (lòng tham vật chất), cũng tức là không có lòng tham, thì sự nhận thức mới chính xác, mới có thể thành ý chánh tâm, tu thân, thì trì chú này sẽ có đại cảm ứng. Có người không hiểu rõ ý nghĩa của chú, nói bừa rằng : Chú Lăng Nghiêm là do nhiều chú nhỏ hợp lại mà thành mới dài như thế. Người nói câu này thật không bằng đứa con nít, đứa con nít nói chuyện cũng nghe người lớn nói rồi mới theo người lớn nói, không nói sai lầm một cách trầm trọng như thế. Nếu nói chú Lăng Nghiêm là do nhiều chú ngắn nối liền với nhau, vậy thì những chú ngắn này là những chú gì ? Nếu nói không biết thì tại sao lại cho rằng chú Lăng Nghiêm là do nhiều chú ngắn hợp thành ? Ðây thật là lời nói không có căn cứ. Những chú ngắn này có tên không ? Nếu không có thì chú này ai nói? Ngay cả tên cũng không có, thì còn được gọi là chú gì. Cho nên lời nói ra phải chịu trách nhiệm, không thể nói một cách tùy tiện, nhất là học giả, bản thân mình nói một cách tùy tiện, thì học sinh của mình cũng sẽ nói một cách tùy tiện, một chút căn cứ cũng không có. Cho nên chú Lăng Nghiêm từ lúc bắt đầu tức là quy y mười phương tận hư không biến pháp giới nhất thiết chư Phật, sau đó lại quy y mười phương tận hư không biến pháp giới nhất thiết chư Bồ tát, sau đó lại quy y các bậc thánh Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả A la hán, sau đó lại quy y thiên, quy y thiên này không phải là theo (follow) chư thiên, chỉ là cung kính chư thiên. Người xuất gia vốn không nên lễ bái bất cứ ai, người xuất gia là bậc đáng thọ nhận sự cúng dường của chư thiên, tại sao lại phải cung kính chư thiên ? Chư thiên lễ bái quý thầy, vì quý thầy có đạo đức, có tu hành, nhưng quý thầy không thể sanh tâm cống cao ngã mạn, nói : “Quý vị biết không ! Tất cả chư thiên hộ pháp đều khấu đầu đảnh lễ tôi”. Không thể sanh tâm cống cao ngã mạn như thế, cảm thấy mình là người giỏi hơn hết. Dù đạo đức của mình có viên mãn đi chăng nữa thì cũng làm như không có, bản thân mình có đạo đức mà không chấp trước, có học vấn chân thực mà không tự mãn, như thế mới là người tu đạo chân chánh. Cho nên người tu hành tụng trì chú này cũng nên cung kính chư thiên, các vị thiện thần. Không những thiện thần cần phải cung kính, mà ác thần cũng nên cung kính. Nên thu thúc những tập khí cống cao ngã mạn của mình. Cho nên sự lợi ích của việc thọ trì chú Lăng Nghiêm nói hoài không hết. Tôi cũng không muốn nói chú Lăng Nghiêm rốt cuộc có lợi ích gì, vì nếu tôi nói ra quý vị trì tụng lại sanh ra lòng tham muốn. Tụng trì chú Lăng Nghiêm vì mong muốn có lợi ích, thì không phải là chân chánh muốn trì tụng chú Lăng Nghiêm.

Nếu quý vị thật muốn trì tụng chú Lăng Nghiêm, thì nên xem chú Lăng Nghiêm quan trọng như là cơm ăn, áo mặc, ngủ nghĩ. Chúng ta nên làm như thế, còn được cảm ứng gì, linh nghiệm gì thì không nên nghĩ đến, vì quý vị vừa nghĩ đến cũng tức là vọng tưởng, chưa thành công, làm sao mà khởi lên vọng tưởng này ? Giống như một đứa trẻ mới sanh ra, ngay ngồi còn không biết, thì nghĩ chi đến việc chạy, ngay cả việc đi còn không biết, làm sao mà có thể chạy được ! Tại sao người ấy lại nghĩ đến việc như thế ? Chính là vì không hiểu biết, đến khi biết chạy rồi thì lại muốn bay, quý vị nói có thể thực hiện được chăng ? Vốn là việc không thể thực hiện được, sao lại mong muốn đến điều đó. Ðã không phải là chim, lại không có mọc cánh thì làm sao có thể bay được ? Vọng tưởng đó thật là quá lớn. Tụng trì chú Lăng Nghiêm cũng như vậy, tu hành thì lo tu hành, không nên chấp giữ cái tâm có sở đắc, nói “tôi phải nhất định có chỗ đắc”. Như quý vị nói: “tôi nhất định không chết”, nhưng đến lúc phải chết thì không có cách nào thoát khỏi cái chết. Cho nên sự mong muốn này chỉ là vọng tưởng. Nếu có thể siêng năng tinh tấn tu hành, khi chứng quả liễu thoát sanh tử thì lúc đó mới muốn không chết thì không chết. Không phải chỉ nghĩ: “tôi không muốn chết, tôi không muốn chết”, rồi sẽ được không chết, mà cuối cùng rồi cũng sẽ chết như mọi người. Tôi chắc rằng sẽ có người nghĩ rằng : “Tôi thật sự không muốn chết, tôi muốn giữ gìn cái túi da thúi này”, giữ gìn tới giữ gìn lui, đến lúc đó túi da thúi nói câu “tạm biệt ” rồi chạy luôn.

Chú Lăng Nghiêm là linh văn, mỗi câu đều có hiệu lực, quý vị không nên nghĩ “tôi trì chú Lăng Nghiêm đã lâu như thế tại sao không có hiệu nghiệm”, ăn cơm không đói thì được rồi, còn muốn ăn bữa cơm này vĩnh viễn không đói, làm sao có thể được ! Ngày mai quý vị phải ăn nữa mới không đói, tụng chú Lăng Nghiêm cũng như vậy, ngày ngày trì tụng, công đức không luống mất, lâu ngày thì có công dụng của trì tụng.

Tụng trì chú Lăng Nghiêm thì có tám vạn bốn ngàn Bồ tát Kim Cang tạng thường theo bên mình hộ trì, đó là điều chân thật, nhưng khi tụng chú không nên khởi lên vọng tưởng, nếu không Bồ tát Kim Cang tạng sẽ cho rằng : “Người này thật là thấp kém, không có lòng dõng mãnh. Ta muốn đi theo để bảo hộ, nhưng ta thấy người này không có tiền đồ gì cả, làm lãng phí thời gian của ta”, Bồ tát hộ pháp sẽ sanh lòng nóng giận.

Cho nên phải chú ý, trì chú Lăng Nghiêm điều quan trọng nhất là phải nghiêm trì giới luật, nếu không giữ gìn giới luật, trì tụng như thế nào cũng không có linh nghiệm. Nếu có thể giữ gìn giới luật, không có lòng tật đố chướng ngại, không có tham sân si, thì tụng trì chú Lăng Nghiêm càng có cảm ứng lớn, lợi ích lớn. Tôi bảo với quý vị tụng trì chú Lăng Nghiêm còn kiếm được nhiều tiền hơn buôn bán vàng nữa, tụng trì một biến chú Lăng Nghiêm thì có giá trị muôn vạn ounce vàng ròng, nhưng không nên dùng lòng tham để trì tụng.

Chú Lăng Nghiêm theo cách giảng của tôi như thế, cũng không thể nói không hay, nhưng từ xưa đến nay không có ai giảng như thế. Khi giảng chú Ðại Bi, mỗi câu chú tôi làm bốn câu kệ tụng để hình dung sức mạnh và công dụng của chú. Ðương nhiên bốn câu kệ tụng giải thích một câu chú thì khó mà giải thích cho hết, vì ý nghĩa mầu nhiệm của chú thì vô cùng vô tận. Bốn câu kệ tụng thì làm sao có thể nói hết, chỉ là nói một phần nhỏ mà thôi, được một mất mười, do phần nhỏ này hiểu được ý nghĩa của một câu chú. Vì bốn câu kệ tụng rất dễ nhớ, từ cạn đến sâu, từ ít đến nhiều, từ gần đến xa, thì có thể thâm nhập nghĩa lý của chú.

Chú vốn không thể giảng và cũng không thể giải thích, nhưng miễn cưỡng giảng, giống như “quăng ngói dẫn ngọc”. Vì thế nay giảng chú Lăng Nghiêm, dù tôi nói đúng hay không, có ý nghĩa hay không, nhưng nó thì từ trong tâm của tôi tuôn ra, cũng có thể nói là máu của tôi, mồ hôi của tôi. Tôi dùng chân tâm của tôi để giảng giải, hy vọng quý vị nghe xong hiểu được ý nghĩa chân chánh của chú, hiểu sâu sắc hơn tôi, hiểu rộng hơn tôi. Ðó là lòng mong muốn của tôi, cho nên tôi nói : “quăng ngói dẫn ngọc”, hy vọng phô bày ra trí huệ của quý vị, có thể thâm nhập kinh tạng trí huệ như biển. Người học Phật pháp cần phải hướng đến mục đích cao thượng tốt đẹp, đã tốt còn muốn tốt hơn, đã hiểu rồi còn muốn hiểu hơn. Không nên nói “tôi hiểu rồi nhưng không biết tu hành như thế nào”, nên thực thực tại tại tu hành, dù quý vị có hiểu biết mà không tu hành thì cũng không có ích dụng gì. Cho nên tu hành cần phải chân đạp chắc chắn trên đất, nỗ lực tu hành, không nên bịt tai trộm chuông, tự lừa dối mình, không lừa được người. Tôi viết lên bốn câu kệ tụng cũng có thể nói là giới thiệu trí lực của tôi, giới thiệu tâm của tôi, dùng chân tâm của tôi giảng chú Lăng Nghiêm, hy vọng quý vị có thể hiểu rõ một chút.
Trích LĂNG NGHIÊM CHÚ SỚ LƯỢC GIẢNG (câu 24)
Con Cháu Của Ma Vương

Đức Phật đã dùng định lực để thắng lực thần thông của ma vương trong khi đấu pháp với chúng. Lúc đó ma vương bèn nói với Phật rằng: “Bây giờ tôi không có cách gì để thắng được ông, nhưng chờ đến tương lai sau nầy, khi đệ tử của ông không có đủ định lực, tri kiến lại bất chánh, lúc đó tôi sẽ đục cửa chui vào nhà ông mà mặc áo của ông, ăn cơm của ông, sau đó tôi lại còn tiểu tiện vào trong bát của ông, thử xem ông sẽ làm sao!” Đức Phật Thích Ca điềm nhiên nói: “Thế thì ta không có cách gì cả.”
Rõ ràng hiện nay, đã có người xuất gia công khai nói Kinh A Di Đà là giả, với lý do là trong kinh có những câu không có căn cứ để khảo chứng như: “Từ đây đi về phương tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc.” Ông ấy hỏi rằng: “Vị quan địa phương nào đo vậy? So ra khoảng cách của mười vạn ức cõi Phật có lẽ là nhiều hơn một chút, hoặc cũng có lẽ là ít hơn một chút. Thế thì có chắc là mười vạn ức cõi Phật không?” Đúng là những lời lý luận ngu si xằng bậy, chỉ làm trò cười cho thiên hạ!
Gần đây, lại có vị xuất gia tuyên bố với mọi người rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, đừng nên tin. Bởi căn cứ vào đoạn kinh văn: “Nhân ngày húy kỵ của vua cha, vua Ba Tư Nặc thiết trai thỉnh Phật vào cung điện. Nhà vua đích thân nghênh đón đức Như Lai, và thiết bày đầy cả thức ăn quý,” vị đó cho rằng đoạn văn nầy không phù hợp với phong tục Ấn Độ lúc đương thời – bởi ở Ấn Độ không giảng về đạo hiếu. Nhân đó ông quyết đoán rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, không phải do Phật thuyết giảng. Đó chính là hành vi hủy kinh báng Phật, và quả báo của sự hủy báng nầy khó mà tưởng tượng nổi. Tư tưởng của sư nầy thật quá ấu trỉ! Tâm sư ở đâu, quý vị có thể suy ra thì biết!
Trong Kinh Pháp Diệt Tận nói rằng: “Tương lai khi đến thời kỳ Mạt Pháp, bộ kinh Lăng Nghiêm sẽ bị hủy diệt trước hết.” Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm là đại biểu cho thời đại Chánh Pháp. Nếu không có kinh Lăng Nghiêm, tức là không có Chánh Pháp. Hiện nay có rất nhiều sơn yêu thủy quái, chúng chủ trương là Kinh Lăng Nghiêm không phải do Phật nói, và muốn mọi người đừng tin. Nếu không tin Kinh Lăng Nghiêm, vậy bao nhiêu Kinh điển khác đều có thể lấy bút quẹt bỏ hết mà không tin luôn à! Vì sao? Bởi không có căn cứ chăng! Cho nên quý vị có thể thấy rằng tâm địa của ma vương quả thật quá cay độc!
Đây cũng bởi vì Kinh Lăng Nghiêm nói lên sự thật quá rõ ràng. Trong khi ma vương lại không thể giữ được Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối tức bốn lời răn dạy thanh tịnh, cũng không thể tu được Pháp Môn Viên Thông của hai mươi lăm vị Thánh, và càng không dám đọc về cảnh giới của Năm Mươi Loại Ấm Ma. Vì nó sợ bại lộ nguyên hình, khiến cho người ta biết được bộ mặt thật của nó, cho nên nó mới tìm cách hủy diệt Kinh Lăng Nghiêm. Hủy diệt đây không phải là đốt kinh điển, mà là hủy diệt kinh từ trong tâm chúng sanh, khiến cho mọi người mất lòng tin đối với Kinh Lăng Nghiêm.
Chuyện trên đời là kỳ diệu như thế đấy. Thật rất ít có ai nhận biết được. Cũng giống như nghề buôn, người bán thuốc giả thì rất đắc hàng, trong khi người bán thuốc thật lại chẳng có ai mua. Tại sao? Bởi không có người chân chánh nhận biết được giá trị của nó. Cho nên tôi bảo là sự thật thì không ai nhận biết, còn giả thì lại làm cho mọi người say mê. Đó là đạo lý rất dễ hiểu thôi!
Hiện nay là thời kỳ Mạt Pháp, có nhiều người phỉ báng và không tin các vị thầy chân chánh tu trì Phật Pháp. Nhưng các thầy giả, bởi giảng pháp quá náo nhiệt nên có rất nhiều người đến nghe Pháp, đến nỗi trong giảng đường không còn chỗ chứa, người ta chen chúc như hộp cá mồi, chật thở không ra hơi. Thế mà lại có người xuất gia đề xướng khẩu hiệu không ăn chay. Ông thầy nầy nói với mọi người rằng: “Phàm hễ là người ăn chay đều có tâm tham; còn người không ăn chay mới không có tâm tham.” Lý luận như vậy thật là chọc cười cho cả thiên hạ, là làm mù mắt người, khiến cho người ta hồ đồ – hồ đồ qua, hồ đồ lại, hồ đồ cho đến lúc xuống địa ngục, vĩnh viễn không bao giờ thoát khỏi.
Cho nên khi học Phật Pháp, chúng ta cần nên có trạch pháp nhãn, con mắt biết chọn lựa Pháp thì mới có thể phân biệt được phải hay trái, đúng hay sai và thiện hay ác một cách rõ ràng. Nếu không vậy, chúng ta chẳng khác gì như người mù sờ voi, mò không ra được đạo lý chân chánh. Người ta nói sao thì mình lập lại y như vậy, nghe rồi phụ họa theo. Người ta nói con voi như bức tường, mình cũng nói theo là voi như bức tường. Người ta nói con voi giống như cây cột, mình cũng phụ họa nói voi giống cây cột. Rốt cuộc thì con voi giống như cái gì? Chúng ta đều chẳng biết. Khi học Phật Pháp, chúng ta phải hiểu cho được đạo lý, chứ đừng đi theo một cách mù quáng. Mọi người nên đặc biệt chú ý điểm nầy!
Giảng ngày 17 tháng 4 năm 1984

Trích Khai Thị 6
Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?

Ðại sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: “Chẳng đọc Pháp Hoa thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ của tu tâm”. Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh giới “năm mươi loại ấm ma” đặng tránh khỏi sa vào vòng của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành kẻ quyến thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ nguy hiểm!
Chẳng riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói “thuộc sẽ nẩy cái hay”, thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm, văn từ thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh lý tưởng.
Có một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một số, có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt kẻ mù, thật đáng thương xót!
Tại sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy, thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong. Trước hết chúng không giữ được “Lời dạy về bốn loại thanh tịnh”, thứ hai chúng không tu tập được các “Pháp viên thông của hai mươi lăm bậc thánh”, thứ ba chúng không dám đối diện với các cảnh giới của “Năm chục loại ấm ma”.
Nếu như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng, thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông của họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy.
Chẳng cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo. Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu, khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng oan là vì lẽ đó.
Lúc xưa tại Ấn Ðộ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và, để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.
Hồi đó tại Ấn độ – bên Trung Hoa lúc đó là đời Ðường – một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế (Paramiti) đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.
Ðến khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc. Căn cứ theo truyền thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một Kinh A-Di Ðà.

Ghi chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ, Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành Chánh Pháp, và đó là tâm cơ của Thượng nhân trong sứ mạng nối tiếp huệ mạng Phật. Bài “Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng” sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành Kim Cương Bồ Ðề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin thông báo cùng quý bạn độc giả.

Trích Khai Thị 5
Kinh Lăng Nghiêm: Ðại Biểu Của Chánh Pháp
Tất cả kinh điển trong Phật Giáo đều rất quan trọng, nhất là Kinh Lăng Nghiêm. Ở đâu có Kinh Lăng Nghiêm, ở đó có Chánh Pháp trụ thế. Kinh Lăng Nghiêm không còn, thời Mạt Pháp liền hiện tiền. Kinh Lăng Nghiêm là chân thân Phật, Kinh Lăng Nghiêm là xá lợi Phật, Kinh Lăng Nghiêm là tháp thờ Phật; do đó, tất cả tín đồ Phật Giáo cần phải đem hết sức lực, khả năng của mình để ủng hộ, giữ gìn bộ Kinh Lăng Nghiêm này.

Kinh Pháp Diệt Tận nói: “Thời Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm diệt trước, các kinh điển khác dần dần diệt sau.”
Nếu Kinh Lăng Nghiêm không bị diệt, thì Chánh Pháp sẽ hiện tiền. Vì thế, chúng ta là Phật tử, cần phải dùng sanh mạng của chính mình để hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, đem hết sức lực và khả năng của mình ra để hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, lập hạnh nguyện hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, khiến cho Kinh Lăng Nghiêm vĩnh viễn trụ thế, phát dương rộng lớn, lưu thông trong từng mỗi hạt vi trần, lưu thông cho đến mọi nơi trên thế giới, tận hư không biến Pháp Giới. Ðược như vậy, hào quang của Chánh Pháp sẽ soi sáng khắp nơi.
Tại sao Kinh Lăng Nghiêm bị diệt trước? Vì kinh này giảng đạo lý rất chân thực, thiên ma ngoại đạo không chịu nổi, cho nên chúng dùng đủ cách để phá hoại, tiêu diệt. Ðầu tiên, chúng tạo ra lời đồn xuyên tạc, nói rằng Kinh Lăng Nghiêm không phải từ kim khẩu Phật thuyết ra, mà là do người đời sau ngụy tạo. Ðó là cách nói hàm hồ xuyên tạc của ngoại đạo, dùng những thủ đoạn xấu xa, cố ý phá hoại “chân kinh.”
Nội dung của Kinh Lăng Nghiêm là thuyết minh Bốn điều thanh tịnh minh hối, Năm mươi cảnh giới ấm ma, và lời thuật lại của hai mươi lăm bậc Thánh về sự tu hành viên thông của mình. Toàn thể bộ kinh có thể ví như tấm “kính chiếu yêu,” khiến cho yêu ma quỷ quái, bàng môn ngoại đạo, đều phải hiện nguyên hình, không chỗ ẩn núp. Cho nên, chúng ta không nên tin tưởng vào những lời xuyên tạc, đồn đãi rằng Kinh Lăng Nghiêm là “ngụy kinh.”
Mấy năm gần đây, có một số học giả vô trí và giáo đồ ngu xuẩn, không nhận thức được Phật Giáo, không hiểu rõ Phật Học, mà dám đặt điều nói càn, ngông cuồng chỉ trích lời dạy của bậc Thánh nhân. Những người vô trí vô thức này vì không có trí huệ để phân biệt được chân ngụy, nghe người ta nói sao thì nói hùa theo như vậy, chỉ biết “vẽ đường cho giặc chạy,” cổ võ người khác làm điều xấu, nên mới lộng ngôn nói rằng Kinh Lăng Nghiêm không phải là lời Phật thuyết!
Người học Phật Pháp không những cần phải hiểu rõ sâu sắc các đạo lý hàm chứa trong Kinh Lăng Nghiêm để làm cho Chánh Pháp được trụ thế lâu dài và tà pháp phải vĩnh viễn biệt tăm, mà còn phải đề xướng Kinh Lăng Nghiêm—khắp chốn đều xiển dương Kinh Lăng Nghiêm, khắp nơi đều giảng thuyết Kinh Lăng Nghiêm, và khắp mọi chỗ đều hộ trì Kinh Lăng Nghiêm. Người tín đồ Phật Giáo cần phải tận tâm tận lực đối với trách nhiệm này.
Hôm nay tôi bảo đảm với quý vị một điều: bảo đảm rằng Kinh Lăng Nghiêm đích thật là “chân kinh”! Nếu Kinh Lăng Nghiêm là “ngụy kinh,” thì tôi nguyện đọa địa ngục vì mình đã không nhận thức được Phật Giáo, “lấy giả làm chân,” cho nên cam tâm tình nguyện nhận chịu quả báo. Chính vì Kinh Lăng Nghiêm là “chân kinh” cho nên tôi mới phát nguyện đời đời kiếp kiếp hoằng dương Ðại Pháp Lăng Nghiêm, tuyên giảng chân lý Lăng Nghiêm.
Quý vị hãy thử nghĩ: Kinh Lăng Nghiêm nếu không phải do Phật tuyên thuyết, thì ai mà có thể thuyết ra diệu pháp chân chánh như vậy? Tôi cầu mong những người phê bìnhKinh Lăng Nghiêm là ngụy kinh sẽ mau mau sám hối, sửa đổi lỗi lầm, nếu không, nhất định sẽ bị đọa vào địa ngục cắt lưỡi!
Tôi cầu nguyện cho những người tụng niệm Kinh Lăng Nghiêm, người giảng Kinh Lăng Nghiêm, người tuyên dương Kinh Lăng Nghiêm, người lưu thông Kinh Lăng Nghiêm, tất cả đều được sớm thành Phật Ðạo. Nguyên nhân quan trọng là đạo lý mà Kinh Lăng Nghiêm thuyết giảng thì vừa chính xác lại vừa hợp lý, có thể khiến cho yêu ma quỷ quái và bàng môn tả đạo không chỗ ẩn mình; đồng thời có thể làm cho người Phật tử có được lòng tin chân chánh, giữ gìn chánh niệm, kiên trì ủng hộ Chánh Pháp.
Khai tuệ có Lăng Nghiêm

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
Nam Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát.

Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, bảy chữ này là tựa đề của kinh. Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương là tựa đề của một chương trong bộ kinh ấy. Hôm nay vì thời gian có hạn cho nên tôi không giải thích tựa Kinh Lăng Nghiêm. Chỉ đơn thuần giải thích tựa kinh cũng đòi hỏi rất nhiều thời giờ, vì vậy tôi chỉ giảng sơ lược mà thôi.
Bộ Kinh Lăng Nghiêm này gồm có Chú Lăng Nghiêm. Hai chữ “Lăng Nghiêm” có nghĩa là “Cứu cánh kiên cố.” Tại Trung Hoa bộ kinh này có tầm quan trọng đặc biệt, nên có câu:
“Thành Phật có Pháp Hoa
Khai tuệ có Lăng Nghiêm”.

Tôi rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Pháp Hoa, vì hai bộ kinh này giúp khai mở trí tuệ và giúp thành Phật. Chẳng những tôi hoan hỷ mà còn mong muốn mỗi Phật tử đều nghiên cứu để am tường đạo lý trong Kinh, đặc biệt là Kinh Lăng Nghiêm.
Nói đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung Qưốc có một vị Trí Giả Ðại Sư bình sanh chỉ nghe tên bộ Kinh này là liền ao ước được trì tụng. Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn Ðộ rập đầu lễ bái, hy vọng có thể thấy tận mắt bộ kinh này. Ngài lễ bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy được bộ kinh. Trí tuệ của Trí Giả Ðại Sư rất vượt bực, và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài vẫn hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Như vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của bộ Kinh này.
Kinh Lăng Nghiêm còn lưu hành trên thế gian, thì thiên ma ngoại đạo đều không dám xuất hiện. Bất hạnh thay, vào thời Mạt-pháp Kinh Lăng Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên. Một khi bộ Kinh Lăng Nghiêm này không còn trên thế gian nữa, thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.
Thậm chí hiện nay có một số người tự xưng là chuyên gia về Phật học mạo nhận là học giả từng nghiên cứu Phật-pháp, hoặc là giáo sư khoa học Phật học của một trường đại học nào đó, và công nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả, do người Trung Hoa ngụy tạo. Quý vị hãy nghĩ xem tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở Trung Hoa nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được vị thánh nhân đã tạo ra Kinh Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi tuyệt đối tin rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là chính xác, và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Vì trong Chú Lăng Nghiêm toàn là những câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu chú cuối cùng, mỗi câu đều có một sự diệu dụng và uy lực bất khả tư nghì của nó. Cho nên, Phật vì Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm.
Trước kia, tại Hương Cảng, có người đã phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm ra Anh văn, nhưng lại xén bỏ đoạn Kinh văn về nghi quy thiết lập “Lăng Nghiêm Ðàn,” ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị loại bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây phương chẳng ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng chẳng ai tụng Chú này, bởi họ cho rằng Chú là những gì mê tín và không tin ở công dụng của Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có đoạn nói về cách “thiết đàn” và cách tu trì “Lăng Nghiêm Ðại Pháp.”
Từ khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất là qua kinh nghiệm bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy rất nhiều người Tây phương thích trì tụng Chú Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ trì tụng mà còn học thuộc lòng nữa.
Tại Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai thời công phu sáng tối đều cùng chúng tôi trì tụng Chú Lăng Nghiêm và chỉ tụng mỗi ngày hai thời như thế mà trong hai mươi sáu ngày là y đã thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm!
Tại Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch trước tiên là khi học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm; ai trả bài thông suốt thì đậu; ai không thuộc thì tạm thời bị đánh rớt. Ðó là quy định của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một người học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có một người trong hai mươi tám ngày. Cho nên hiện nay có rất nhiều Phật giáo đồ Tây phương biết đến Chú Lăng Nghiêm.
Quý Phật tử hãy nghĩ xem, vì sao những kẻ mạo nhận là chuyên gia Phật học, những kẻ tự xưng là học giả, hoặc khoe khoang mình là giáo sư của trường đại học nào đó, lại chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì những gì nói trong Kinh Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm cùng những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rõ rằng: “Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối” (bốn điều răn dạy về tánh thanh tịnh), là không được phỉ báng. Những kẻ này chẳng muốn dứt bỏ khuyết điểm của họ nên mới chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là do người Trung Hoa tạo ra.
Vậy, ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do người Nhật. Thế người Nhật nói là ai nói với họ? Truy nguyên ra là một vị Pháp-sư Trung Hoa đã mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Tôi chẳng rõ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị Pháp-sư này ra vì chuyện đã xưa rồi. Như vậy, do “cái sai loan truyền cái sai” mà nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.
Việc này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang suy tàn, là do người trong hàng ngũ Phật giáo tạo ra tin đồn này, từng bước từng bước khiến cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần dần không tin nữa. Vì hồ nghi không tin nên bộ Kinh này được xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác thì chẳng khác gì hủy diệt. Vì chẳng còn ai nghiên cứu hoặc quan tâm đến nữa, thì lâu dần Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải vì Kinh không có chữ, hoặc vì khan hiếm giấy, mà là vì dần dà người ta quên hẳn nó đi.
Vì sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ vì họ không muốn tuân theo quy củ. Trong Kinh nói rằng 50 ấm ma có vô số phép thần thông song đều không đáng kể. Bởi vậy khi họ có đôi chút thần thông, thì họ cho là nếu có thần thông thì cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những kẻ mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.
Tôi nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị có thần thông, dùng tay chỉ ngọn nến thì ngọn nến bốc cháy, không hiểu có đúng như vậy hay không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật Bản và có thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy vọng được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể cùng nhau trao đổi ý kiến.
Tầm quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm không thể nào nói cho hết được, và tương lai cũng không nói hết được sự diệu dụng, cho nên nói rằng bất khả tư nghì.
Hôm nay tôi thành thật trình bày với quý vị tầm mức diệu dụng của Chú Lăng Nghiêm này.
Khi xưa lúc tôi ở tại Ðông Bắc, mỗi khi gặp người có bệnh tôi nhất định làm cho họ lành bịnh. Tôi lấy oai lực gì làm cho họ khỏi bịnh. Ðó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Trong Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:

Ðông Phương có:
A Súc Phật – Kim Cang Bộ
Nam Phương có:
Bảo Sinh Phật – Bảo Sanh Bộ
Trung Ương có:
Tỳ Lô Giá Na Phật – Phật Bộ
Tây Phương có:
A Di Ðà Phật – Liên Hoa Bộ
Bắc Phương có:
Thành Tựu Phật – Yết Ma Bộ
Phương Ðông có A Súc Phật, A Súc Phật tức là Kim Cang Bộ; Phương Nam có Bảo Sanh Phật, tức là Bảo Sanh Bộ; Trung Ương là Phật Bộ; Phương Bắc là Yết Ma Bộ; tất cả gồm năm bộ. Năm bộ này cai quản năm đại ma quân ở năm phương trên thế giới, cho nên khi trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì năm đại ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục, không dám cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Công năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:
1. Tức tai Pháp
2. Hàng phục Pháp
3. Tăng ích Pháp
4. Thành tựu Pháp
5. Câu triệu Pháp.

1. Tức tai Pháp (Pháp giải trừ tai ương). Một khi chúng ta trì Chú lăng Nghiêm thì hết thảy tai ương đều được giải trừ.
2. Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục). Bất luận đối phương là thứ thiên ma ngoại đạo gì chăng nữa, một khi chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm thì pháp lực của chúng ma liền bị phá vỡ, chúng sẽ bị hàng phục dễ dàng.
3. Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi ích). Thí dụ chúng ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lựcỦmọi thứ đều tăng trưởng. Ðó là pháp làm gia tăng sự lợi ích.
4. Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành tựu). Chúng ta trì Chú Lăng Nghiêm, thì bất luận chúng ta tu pháp môn gì, chú này cũng sẽ giúp chúng ta được thành tựu.
5. Lại còn một loại nữa là Câu triệu Pháp (Pháp thâu tóm về). Pháp này có thể dùng khi chúng ta gặp thiên ma ngoại đạo và muốn bắt chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát bắt kẻ phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại đạo, nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng thì hết thảy Hộ Pháp Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và tám muôn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát tức khắc bắt giữ chúng. Ðó là Câu Triệu Pháp.
Chú Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra trên ba mươi bộ pháp. Lúc tôi ở Ðông Bắc tôi nhờ vào công lực của Chú Lăng Nghiêm để trị bịnh. Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy tiện sử dụng Chú Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này chăng nữa thì cũng không sử dụng được toàn bộ, vì chú này bao gồm trên ba mươi bộ pháp.
Khi nghe tôi nói như vậy thì có một số giáo sư đại học ở Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng “A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm là do nhiều bài chú nhỏ chắp nối lại mà thành!” Qúy Phật tử nghĩ xem, đúng là làm trò cười cho thiên hạ! Chính họ cũng chẳng hiểu ất giáp gì cả, nên mới lấy bộ óc chứa đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại học mà suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú Lăng Nghiêm.
Vì sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? Vì Phật do Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm thì căn bản chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.
Do đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh ngữ nói trên đã bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không dịch phần nghi quy kết đàn. Như vậy, có thể nói rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác gì người mất đầu. Một người không có đầu thì còn chi hữu dụng nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không được tự mình phán đoán, không được dùng cái trí tuệ hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của mình mà cắt câu lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai lệch ý văn. Người có thái độ như vậy đối với Kinh điển thì không thể chấp nhận được.
Hiện nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang thực hiện công tác phiên dịch Kinh điển. Phàm những lời trong Kinh phải tuyệt đối lưu giữ, không được “bỏ đầu xén chân.” Lại cũng không thể như vị giáo sư nào đó đã phiên dịch “lưỡng túc tôn” đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là “đấng hai chân.” Ông đã dịch: “Quy y Phật, đấng hai chân.”
Dịch như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy nhiên ít nhiều cũng có lệch lạc không tương hợp với ý chính của Kinh. Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta phải hết sức cẩn thận trong công tác phiên dịch Kinh điển, không được tùy tiện “thủ tiêu” bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện trình bày cho quý Phật tử rõ.

Trung Thiên Trúc Sa Môn
Bát Lặc Mật Ðế dịch

“Trung Thiên Trúc” là một quốc gia tại Ấn Ðộ. Ấn Ðộ phân ra: Ðông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ấn. Trong mỗi khu lại có rất nhiều quốc gia. Sa Môn Bát Lặc Mật Ðế là người xứ Trung Thiên Trúc.
“Sa Môn,” Phạn ngữ dịch ra tiếng Trung Hoa là “Cần Tức,” nghĩa là chuyên cần tu giới, định, huệ, dập tắt tham, sân, si. “Cần tu” là không giải đãi, không thối chuyển, thời thời khắc khắc luôn tinh tấn dõng mãnh, cứ hướng về phía trước bước tới, chẳng thối chuyển, không lười biếng. Không lười biếng ở đây chẳng phải là chỉ một ngày không lười biếng mà là bất cứ ngày nào cũng không lười biếng; chẳng phải hôm nay tinh tấn, hôm sau giải đãi. Tinh tấn một ngày, giải đãi mười ngày thì không kể là tinh tấn, phải tinh tấn trọn đời, chuyên cần trì giới trọn đời.
Giới là:

Không làm điều ác
Làm mọi điều thiện.

Không làm điều ác tức là làm mọi điều lành; nếu có thể làm tất cả mọi điều lành tức là chẳng làm các điều ác. Cho nên trì giới cần tinh nghiêm, “nghiêm tịnh tỳ ni, hoằng phạm tam giới,” phải lấy chính mình làm mẩu mực, tự mình nêu gương tốt. Ðó mới là trì giới.
Lại nữa phải tu định. Ðịnh là một thứ công phu của thiền định. Thiền định cần tu luyện thường xuyên thì mới sanh định. Do giới mà sanh định. Nếu quý vị muốn có định thì việc trước tiên là phải trì giới. Nếu thiếu trì giới tâm sẽ tán loạn, không thể nào có định được. Không có định, cố nhiên sẽ không sanh tuệ. Cho nên do định mà phát tuệ. Ðó gọi là Tam vô lậu học. Nếu mình cần mẫn tu giới định tuệ thì sẽ siêu xuất tam giới. Diệt được tham sân si thì chẳng bị đọa tam ác đạo.
Vì sao từ vô lượng kiếp đến nay mà chúng ta vẫn không thành Phật? Vẫn là chúng sanh? Vẫn đi ra vào mãi trong lục đạo luân hồi? Chỉ vì tham sân si tam độc làm cho chúng ta say đến mức mất hết giác ngộ. Chúng ta bị tham sân si tam độc làm cho mê mê hồ hồ, điên điên đảo đảo khiến cho chúng ta chẳng thể lội ngược dòng sanh tử, chỉ có cách thuận theo dòng lục trần phàm phu. Từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ vì tham sân si nó che lấp cái ánh sáng tự tánh của chính mình.
Tham, tức là chẳng biết chán. Sân, là do tham mà chẳng được nên nổi sân; chỉ vì tham chẳng biết chán nên khi chẳng được gì cả bèn sanh sân hận. Sanh sân hận rồi, sau đó mới tiến đến cảnh giới ngu si, đi vào con đường ngu si. Sân là ngọn lửa vô minh, vô minh tức là có nóng giận. Một khi lửa vô minh bùng cháy thì theo đó cơn sân bốc lên.
Vì sao có vô minh? Chỉ vì tiền kiếp mình tạo tội quá nặng. Do đó, tục ngữ có câu: “Lửa vô minh chẳng khác gì thần hổ, đó là do nghiệp căn từ tiền kiếp.” Lửa vô minh là gốc rễ của nghiệp từ tiền kiếp.
Thế nào gọi là ngu si? Người ngu si toàn khởi những vọng tưởng ngông cuồng. Thí dụ con ếch muốn ăn thịt con ngỗng, đó là ngu si bởi vì con ếch làm sao mà ăn ngỗng được? Lại nữa, không đi học mà muốn có mảnh bằng tiến sĩ, mạo nhận ta là học giả với phong độ của một tri thức, sống có vẻ như ta là một tiến sĩ. Chẳng đi học gì cả mà muốn có bằng tiến sĩ. Ðó mới là ngu si. Lại có người chẳng hề mua vé số mà muốn trúng độc đắc, không vốn muốn sinh lời, thì đó cũng là hạng người ngu si vậy. Không làm ruộng, nhưng vào mùa thu trông thấy người ta gặt lúa thì cũng muốn có thu hoạch hoa lợi như họ, đó là việc tuyệt đối chẳng thể có được.
Cho nên Ông Hồ Ðại Xuyên có làm bài thơ Huyễn Tưởng Thi diễn tả ý nghĩ của người ngu si như sau:
Háo hoa thường linh triều triều diễm,
Minh nguyệt hà phương dạ dạ viên,
Ðại địa hữu tuyền giai hóa tửu,
Trường lâm vô thọ bất dao tiền.
“Háo hoa thường linh triều triều diễm.” Người tham sắc muốn hoa ngày ngày tươi đẹp, chẳng bao giờ tàn. Cho nên họ ao ước hoa luôn tươi thắm, thậm chí muốn vợ mình chẳng bao giờ già, cứ trẻ đẹp mãi. Ðó là ý nghĩ của người tham sắc.
Còn người thích du ngoạn thì nghĩ gì? “Minh nguyệt hà phương dạ dạ viên.” Vào ngày rằm trăng tròn và sáng, qua rằm thì trăng khuyết một ít và càng ngày càng khuyết nhiều hơn. Người thích thưởng trăng bèn nghĩ rằng: “Nếu đêm nào trăng cũng tròn như thế này thì hay biết mấy!”
Người thích uống rượu, vì hiện nay rượu quá đắt, tốn kém nhiều, bèn nghĩ rằng: “Ngày ngày mình uống rượu, phải chi tất cả dòng suối trên mặt đất biến thành rượu, đến nơi nào cũng có rượu uống, chẳng tốn tiền mua rượu mà vẫn có thể say sưa. Như vậy thì hay biết mấy!” Khởi vọng tưởng như thế thì thật là ngu muội.
Còn người bị đồng tiền mê hoặc thì sao? Người này cũng khởi vọng tưởng chẳng kém. Hắn nghĩ bụng: “Tiền! Hiện nay mình phải làm lụng vất vả mới kiếm được tiền. Ước gì tất cả cây trong rừng đều biến thành tiền, chỉ đến lắc nhẹ là tiền rơi xuống tha hồ tiêu xài. Cây ở hai bên lề đường cũng thế. Quả là tốt lắm ư!”
Quý Phật tử nghĩ xem, trên đây là những thí dụ về vọng tưởng ngu si, làm không được mà cũng cố nặn óc nghĩ ra. Như vậy người sa môn thì sao? Người sa môn chẳng có tâm si mê vọng tưởng, nhất tâm tu đạo. Sa Môn có bốn hạng:

1. Thắng Ðạo Sa Môn – Bậc Sa Môn tu đạo chứng quả, gia nhập hàng ngũ Thánh nhân, được gọi là “thắng đạo sa môn.”
2. Thuyết Ðạo Sa Môn – Bậc Sa Môn giảng kinh thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, được gọi là “thuyết đạo sa môn.
3. Hoạt Ðạo Sa Môn – Bậc Sa Môn lấy pháp làm lẽ sống, lấy đạo làm lẽ sống. Trong Phật giáo hàng sa môn này có thể tu đạo lại vừa phát bồ đề tâm.
4. Ô Ðạo Sa Môn – Ô là dơ bẩn. Ðây là hạng Sa Môn chẳng giữ giới luật, chẳng tu giới định huệ, Chẳng đoạn trừ thâm sân si. Tuy cũng được gọi là sa môn, nhưng hàng sa môn này nên sanh tâm hổ thẹn, cần tự vấn lương tâm.
“Bát Lặc Mật Ðế,” là tên vị dịch giả bằng Phạn ngữ, dịch ra Hán Văn là “Cực Lượng,” nghĩa là lượng của Ngài rất lớn, có thể nói: Kiến thức của Ngài bao trùm cả trời đất, tâm của Ngài trong sáng như mặt trời mặt trăng.
Lại có thể nói tâm Ngài bao trùm hư không, lượng của Ngài trải khắp thế giới nhiều như cát sông Hằng, cho nên gọi là cực lượng.
Vị Sa môn này rất thông minh, có trí tuệ. Ngài mang “Kinh Lăng Nghiêm” truyền sang Trung Quốc. “Kinh Lăng Nghiêm” vốn chẳng dễ gì truyền ra nước ngoài. Lần đầu tiên Ngài có ý định mang bộ Kinh này sang Trung Quốc, nhưng đến cửa ải thì bị tra xét, và chẳng những nhà cầm quyền cấm mang bộ Kinh ra khỏi nước mà chính ngay cả Ngài cũng bị cấm xuất dương. Lần thứ hai, Ngài bèn chép bộ Kinh trên lụa rất mỏng với nét chữ cực nhỏ. Rồi Ngài tự rạch bắp tay đặt kinh vào rồi kéo da phủ kín vết thương, thoa thuốc cao lên, và bằng cách này Ngài đã thành công mang bộ Kinh Lăng Nghiêm ra khỏi nước.
Ðối với người Trung Hoa Kinh Lăng Nghiêm rất lợi ích. Ngày xưa có nhiều vị tổ sư xuất gia cũng như cư sĩ, nhờ đọc tụng Kinh Lăng Nghiêm mà khai ngộ. Trong quá khứ, Kinh Lăng Nghiêm đã mang nhiều lợi ích đến cho rất nhiều người. Do đó công tác dịch Kinh Lăng Nghiêm của Ngài đối với chúng ta hiện tại và tương lai sẽ giúp ích rất nhiều. Cho nên những người nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm đều nên biết đến vị Sa-môn dịch giả này.
Vị Sa môn này thuộc ba hạng sa môn nói trên và không thuộc vào hạng thứ tư. Ngài đến Trung Hoa vào đời nhà Ðường, Sau khi Võ Tắc Thiên thoái vị. Ngài khởi sự dịch bộ Kinh này vào ngày 23 tháng 5 khi Ngài tới Quảng Châu.
Ðối với Phật-pháp và Phật giáo, Kinh Lăng Nghiêm có tác dụng và uy lực rất lớn. Cho nên người nghiên cứu Phật-pháp trước tiên cần hiểu rõ đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày nay, chúng ta phải hộ trì bộ Kinh này, đừng để kinh bị mai một.
Nếu chúng ta không sinh vào thời điểm này thì chúng ta chẳng có trách nhiệm gì cả. Chúng ta hiện ở trong đời này, vậy bổn phận chúng ta là phải dùng toàn lực và mọi khả năng để hộ trì bộ kinh này.
Khảo xét quá trình lịch sử Phật giáo, bộ Kinh Lăng Nghiêm vốn xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long Thọ Bồ Tát đã đọc bộ Long Tạng tại Long Cung. Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng trí nhớ của Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này. Nước Thiên Trúc xem bộ Kinh Lăng Nghiêm là quốc bảo, cấm truyền ra nước ngoài. Vì người Trung Hoa có nhân duyên lớn với Phật giáo, nên mới được một vị Thắng Ðạo Sa Môn chẳng tiếc thân mạng mang bộ kinh này sang Trung Quốc. Hiện nay ai có thiện duyên xem được bộ Kinh Lăng Nghiêm đều nên đảnh lễ vị Sa môn này.
Trí Giả Ðại Sư lúc chưa thấy bộ Kinh Lăng Nghiêm đã từng hướng về nước Ấn Ðộ ở phương tây rập đầu lạy tên bộ Kinh này. Ngài lạy như vậy trong mười tám năm, nhưng rất tiếc Ngài vẫn chưa được trông thấy tận mặt bộ Kinh. Như vậy chúng ta may mắn có thiện duyên hơn Trí Giả Ðại Sư, chẳng cần lễ bái nhiều năm mà đã gặp được Kinh Lăng Nghiêm. Quý vị nghĩ xem, có phải nhân duyên của chúng ta hơn Trí Giả Ðại Sư chăng?
Thấm Nhuần Nghĩa Lý Kinh Ðiển:
Muốn nghiên cứu Phật Pháp thì cần phải hiểu rõ nghĩa lý trong kinh. Mỗi bộ kinh do Ðức Phật thuyết giảng đều bao hàm một nghĩa lý chân chánh riêng biệt; tuy nhiên, tất cả kinh điển đều có quan hệ liên đới với nhau và nghĩa lý cũng có tính cách liên đới.
Ðức Phật viện dẫn Tiểu Thừa, Ðại Thừa, rồi cuối cùng quy nạp về một thừa duy nhất là Phật Thừa. Bất luận là Ðại Thừa, Tiểu Thừa, hay Phật Thừa, thừa nào cũng dạy mọi người sửa đổi thói hư tật xấu, dẹp bỏ vô minh, quét sạch phiền não và dứt trừ tham, sân, si. Nếu các bạn dứt bỏ được mọi thói xấu thì đối với nghĩa lý kinh điển tự nhiên sẽ có sự tương hợp; nếu không dứt bỏ thói xấu thì các bạn sẽ không thể nào thấu triệt được nghĩa lý trong kinh.
Chúng ta đang nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm, và hiện đã nghiên cứu xong Ngũ Thập Ấm Ma (Năm Mươi Thứ Ấm Ma) cùng Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh). Vậy, nghĩa lý chân chánh của bộ kinh này là gì? Tại sao Ðức Phật thuyết bộ kinh này? Các bạn tìm ra đặng thì mới được xem là thật sự hiểu rõ giáo pháp hàm chứa trong kinh; nếu không tìm ra chân-nghĩa thì coi như các bạn vẫn chưa thật sự thông suốt kinh pháp! Chẳng hạn bạn gặp một người nào đó, mặc dù đã biết tên của người ấy nhưng bạn vẫn cần phải “tiến thêm một bước nữa”, nhận rõ tướng mạo, tư tưởng, hành vi, v.v… của người ấy; như thế mới là nhận biết người ấy. Nếu bạn chỉ biết danh tánh mà không biết gì về tướng mạo, tư tưởng… của người ta, thì đó vẫn chưa phải là nhận biết. Chúng ta nghiên cứu kinh Phật thì cũng tương tự như vậy!
Tướng của Kinh Lăng Nghiêm là “đại nhi vô ngoại, tiểu nhi vô nội.” (lớn đến độ không gì có thể vượt ra ngoài nó, nhỏ đến độ không gì nhỏ hơn nó). Nghĩa lý của Kinh Lăng Nghiêm ví như bộ xương người vậy, nếu con người không có xương, chỉ có da, thịt, gân, máu… mà thôi, thì chẳng ra hình dáng con người cũng chẳng thể nào đứng vững được. Cho nên, Kinh Lăng Nghiêm là cốt tủy của các bộ kinh. Kinh Lăng Nghiêm có công dụng “phá tà hiển chánh”, phá hủy tất cả tà vạy để hiển lộ Tam-muội chân chánh. Nếu không có Kinh Lăng Nghiêm, thì không có Phật Pháp; có Kinh Lăng Nghiêm, tất có Phật Pháp! Vậy, muốn hộ trì Phật Pháp thì trước hết chúng ta hoằng dương, phổ biến Kinh Lăng Nghiêm, phải học cho thuộc, giảng giải cho được, rồi dựa theo đó mà tu hành.
Vạn Phật Thánh Thành chính là “Lăng Nghiêm Ðàn Tràng” đạo tràng của Kinh Lăng Nghiêm. Chúng ta nhất định phải ngời sáng “Lăng Nghiêm Ðại Quang,” tu tập “Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh,” thành tựu “Lăng Nghiêm Ðại Trí” và viên mãn “Lăng Nghiêm Ðại Từ!”
(Giảng ngày 01 tháng 5 năm 1983)

KINH LĂNG NGHIÊM
TUYỆT ÐỐI LÀ BỘ CHƠN KINH

Hôm nay là ngày 17 tháng 12 năm 1976 (ngày vía Ðức A Di Ðà), tôi đối trước mười phương chư Phật phát nguyện như sau. Nguyện gì? Nguyện này có liên hệ đến vấn đề Kinh Lăng Nghiêm là thật hay giả.
Gần đây có rất nhiều học giả phê bình Kinh Lăng Nghiêm, cho rằng bộ Kinh này không phải do chính Ðức Phật Thích Ca nói ra, mà là do người đời sau ngụy tạo. Ðó là lối tuyên truyền phá hoại, làm cho rất nhiều tín đồ không muốn thâm giải Phật Pháp, sinh lòng phỉ báng hoài nghi. Nhiều người nghe nói thì nói theo, nhưng lại không biết chân giả thế nào, đó là điều rất đáng thương!
Hôm nay, tôi đối trước mọi người mà bảo chứng rằng Kinh Lăng Nghiêm là bộ kinh chân thật; không những Kinh Lăng Nghiêm mà Chú Lăng Nghiêm cũng chân thật! Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá lợi của Phật, không ai có thể phá hoại được!
Có Kinh Lăng Nghiêm thì có Chánh Pháp, không có Kinh Lăng Nghiêm thì không có Chánh Pháp! Nếu như Kinh Lăng Nghiêm là giả thì tôi nguyện sẽ bị cắt lưỡi, và đọa Vô Gián địa ngục.
Tôi hy vọng các vị từ đây về sau phải có Trạch Pháp Nhãn, đừng nghe theo lời của các vị tiến sĩ hay học giả nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm mà cho rằng bộ Kinh này là ngụy tạo! Các vị đừng để bị dao động, mà trái lại, cần phải có Ðịnh lực để chuyển hóa sự sai lầm đó!Vì sao những kẻ đó lại cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Là vì họ đã mê lầm đến cực điểm, không muốn cho Chánh Pháp trụ thế, không muốn người khác tu hành, cho nên cố ý phá hoại! Trong Kinh Lăng Nghiêm có dạy rằng:
“Dâm tâm bất trừ, Trần bất khả xuất.”

Nghiã là:

“Lòng dâm không dứt, Trần gian chẳng thoát.”

Chỉ hai câu này thôi cũng đủ chứng minh bộ Kinh này hàm chứa diệu lý chơn thật, xác quyết của chư Phật nói ra: “Nếu không trừ được lòng dâm dục, thì không thể ra khỏi được Tam Giới. “(2) Cũng có thể nói rằng: Nếu không đoạn dục, khứ ái, thì căn bản không thể nào chứng quả được! Trong Kinh Lăng Nghiêm còn dạy rằng:
“Nhược bất đoạn dâm,
Tu Thiền Ðịnh giả,
Như chưng sa thạch,
Dục kỳ thành phạn,
Vô hữu thị xứ.”
Nghiã là:

“Không dứt lòng dâm,
Mà tu Thiền Ðịnh,
Cũng như nấu cát,
Rồi mong thành cơm,
Thật chẳng thể được.”
Do đó, quán chiếu thì biết rằng Chánh Pháp Nhãn Tạng là ở đây! Phàm là người Phật tử chân chính thì nhất định phải ủng hộ, nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm và tụng trì Chú Lăng Nghiêm, bởi vì Chú này có năng lực không thể nghĩ bàn; đó là kinh nghiệm của chính bản thân tôi.
Tôi lại phát nguyện đặc biệt nhấn mạnh rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm là thật chứ không phải giả. Nếu tôi có sai lầm thì nguyện sẽ đọa địa ngục và bị cắt lưỡi!
Hy vọng các vị nhận thức rõ ràng vấn đề này, tự mình phải có chánh kiến, đừng cô phụ lòng tôi.

CHÚNG SINH BIỆT NGHIỆP VỌNG KIẾN,
VÀ ÐỒNG PHẬN VỌNG KIẾN

Trong Kinh Lăng Nghiêm có một đoạn thảo luận về hai thứ điên đảo vọng kiến. Thế nào là hai thứ điên đảo vọng kiến?
Thứ nhất gọi là Chúng Sinh Biệt Nghiệp Vọng Kiến, tức là do mình đơn độc tạo nghiệp không giống với tất cả những người khác, tự mình kiến giải hành vi không giống kẻ khác, trong mọi trường hợp thì mình hoàn toàn đều khác.Thí dụ cho mình là người giỏi nhất, hại người lợi mình, thích những điều xa vời hão huyền hoặc làm những việc mà không có người nào dám làm. Ðó là tạo nghiệp, mà tự mình tạo thì mình thọ, so với người khác không giống nhau.
Loại thứ hai gọi là Chúng Sinh Ðồng Phận Vọng Kiến, tức là do chúng sinh cộng nghiệp tạo thành, mình cùng với tất cả những người khác thì đều giống nhau; cũng như thiên tai làm chết hàng ngàn vạn người thì đó gọi là cộng nghiệp, là một số người cùng chịu chung. Những người đó cùng tạo điều ác nên cùng thọ quả báo giống nhau.
Chữ “kiến” ở đây có nghĩa là kiến giải, bởi vì lấy si mê của chúng sinh làm của mình, nhận tên trộm làm con mình, cho nên sinh ra đủ thứ chấp trước vọng tưởng. Do vọng tưởng mà sinh ra mê hoặc, do mê hoặc mà tạo ra vô số ác nghiệp, bởi vậy cho nên cùng nhau thọ quả ác.
Bây giờ tôi xin kể một chuyện thật về Cộng nghiệp như sau: Năm Dân Quốc thứ 33 (1944), ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, hoàn toàn không có mưa cả một năm trời, đất đai khô cằn mà còn bị thêm nạn châu chấu. Những con châu chấu này mỗi lần bay tới thì đầy cả bầu trời. Tất cả nông sản đều bị chúng ăn hết, thậm chí một ngọn cỏ một chiếc lá cũng không mọc lên nổi. Lúc bấy giờ có một đứa trẻ nhìn thấy trên trời có một ông già đeo cái túi, từ sáng đến chiều luôn tay vứt xuống những con châu chấu từ trong túi ấy bay khắp bầu trời.Dân ở đó vì quá đói nên giăng lưới bắt châu chấu về ăn cho đỡ đói. Họ nghĩ rằng châu chấu cũng là một nông sản nên không có chất độc. Ngờ đâu khi những con châu chấu này bị nấu chín rồi thì biến thành phân, thành đất bùn, ăn không được, không ai dám ăn cả. Vì đói quá nên dân chúng chỉ còn có cách là dời đến nơi khác. Từ tỉnh Hà Nam đến Trường An cách xa tám trăm dặm, trong khoảng đường có người chết không biết bao nhiêu mà kể; những người này chết một cách khủng khiếp, ai nấy nhìn thấy cũng khiếp sợ. Ðây có thể nói là một ví dụ do “cộng nghiệp” mà chiêu cảm lấy quả báo.
Bây giờ nói tới Biệt Nghiệp Vọng Kiến và Ðồng Phận Vọng Kiến. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật có giải thích rất rõ ràng.Thế nào là Biệt Nghiệp Vọng Kiến? Cũng như trong thế giới này, có những người mắt bị nhặm thì thấy trước mắt toàn một màu đỏ, ban đêm khi nhìn ánh đèn lại thấy xung quanh đèn có những vòng ánh sáng đủ màu. Bởi mắt có bịnh nên mới thấy những huyễn ảnh như vậy, thấy đủ năm màu tạp sắc trùng trùng điệp điệp. Con mắt bịnh này tượng trưng cho vô minh, ban đêm tượng trưng cho si mê, ánh đèn tượng trưng cho tạng tánh, tức là bổn tánh của mình, năm màu sắc tượng trưng cho Ngũ Uẩn hay Ngũ Ấm, là những trần cảnh giả tạo.
Vì do chúng sinh có vọng kiến nên mới có huyễn ảnh ở ngoại cảnh; nếu vọng kiến mà trừ rồi thì bịnh không còn nữa, ánh sáng huyễn ảnh đó làm sao mà có được? Con mắt tốt tượng trưng cho trí huệ chân thật, còn bóng đèn tượng trưng cho chân lý. Dùng trí huệ chân thật mà thấy được chân lý, thì Nhất Chân Pháp Giới hoàn toàn không có Ngũ ấm, Ngũ Trần gì cả.
Cũng như có người mắt mình vốn không có bịnh nhưng tự mình lại làm cho có bịnh. Giống như một anh chàng hút thuốc phiện vậy, có lần anh ta cười lớn trong khi anh ta đang đứng trước một bức tường.
-Tôi hỏi: “Tại sao anh cười?”
-Anh ta trả lời: “Thật là kỳ quái! Bức tường này thật đẹp, nó có đủ năm màu ánh sáng chiếu rọi bốn phía.”
Ðó chỉ là do huyễn ảnh mà ra, không có bịnh mà hút thuốc phiện thì tâm thần trở nên điên đảo. Những huyễn ảnh đó vốn là giả lại cho là thật, nên thân ở trong mê mà chẳng biết mình mê! Trên đây đã lược giải Biệt Nghiệp Vọng Kiến.
Tiếp theo, trong Kinh lại giải thích thế nào là Ðồng Phận Vọng Kiến. Thí dụ như trong Diêm Phù Ðề có một châu nhỏ, chỉ có hai nước mà quả báo chiêu cảm không giống nhau. Dân chúng của một nước thì thọ cảm ác duyên, toàn gặp những tai nạn bất tường; còn dân ở nước lân cận thì chẳng bị gì cả. Ðó là do vọng hoặc, vọng nghiệp, vọng kiến mà tạo thành.
Như hiện tại ở Mỹ, miền Ðông thường có tai họa bão lụt làm chết nhiều người, nhưng miền Tây Nam thì hoàn toàn vô sự. Ðó là vì nghiệp cảm chỉ tại miền Ðông mà thôi, không có tại miền Tây Nam vậy.Hoặc có kẻ thấy hai mặt trời hay hai mặt trăng thì đều là những điềm bất tường; người xưa nói: “Thiên vô nhị nhật, Dân vô nhị quân.” (Trên, không có hai mặt trời; Nước, không có hai vua.)
Ở Trung Hoa, về đời nhà Hạ, vua Kiệt là người bạo ngược, trên không trung bỗng nhiên hiện ra hai mặt trời, nhà Hạ nhân đó mà diệt vong. Ðó là điềm hung dữ được báo trước.Ngoài ra còn có những điềm gọi là Vựng, Thích, Bội, Quyết. Những ác khí bao quanh mặt trăng làm mờ mặt trăng thì gọi là Vựng; khí đen che lấp mặt trăng gọi là Thích; khí trắng ở bên cạnh mặt trăng gọi là Bội, mà che đi một nửa thì gọi là Quyết. Ðó là những điềm xấu thuộc về mặt trăng.
Lịch sử Trung Hoa có chép rằng khi mặt trăng bị che lấp bảy lần thì Hán Cao Tổ ở Bành Thành bị giặc Hung Nô vây khốn.Ngôi sao có ánh sáng dài sau đuôi gọi là Tuệ, tức là sao chổi; hào quang ngắn hơn quét đi bốn phía thì gọi là Bột Tinh; ở trên không trung xẹt xuống gọi là Phi Tinh; ở dưới mà vọt lên gọi là Lưu Tinh; đó đều là những điềm xấu thuộc về các ngôi sao.
Sách Xuân Thu có chép rằng vua Tống Nhượng Công không có nhân nghĩa nên sao xẹt xuống như mưa, vua Tần Thủy Hoàng hết sức bạo ngược thì sao chổi xuất hiện; đó cũng là những điềm không lành.Ác khí ở phía trên mặt trời gọi là Phụ, ở bên cạnh mặt trời gọi là Nhĩ. Sau khi trời mưa mà xuất hiện cầu vồng thì gọi là Hồng Nghê, buổi sáng gọi là Hồng, buổi chiều gọi là Nghê; đó đều là những điềm xấu của mặt trời. Tóm lại, bên cạnh mặt trời, mặt trăng có hiện ra những khí đó đều là những điềm báo trước sự bất tường.
Ở nước Trung Hoa, mỗi khi một triều đại thay đổi thì đều có những điềm bất tường xảy ra. Có lần, một vị Hoàng Ðế thấy điềm bất tường nơi một ngôi sao, liền triệu quan Thiên Văn đến để hỏi sẽ xảy ra điềm tốt hay xấu.
-Vị Khâm Thiên Giám tâu rằng: “Ðây là điềm hết sức bất tường, Bệ Hạ có thể sẽ tử vong, nhưng thần có cách làm cho vị Tể Tướng chịu điều hung dữ ấy thay cho Bệ Hạ, Bệ Hạ có bằng lòng không?”
-Nhà vua trả lời: “Tể Tướng lo liệu quốc gia đại sự thì làm sao có thể chết thay cho ta được.”
-Viên quan lại hỏi: “Có thể chuyển tai họa đến nhân dân chăng?”
-“Dân là gốc của nước, ta vì dân mà làm, có thể nào để dân chết thay cho ta được.”
-“Nếu vậy thì chuyển tai họa này đến mùa màng được chăng?”
-“Mùa màng mà mất thì dân sẽ chết đói, đó là chuyện ta không thể làm được!”
Quan Khâm Thiên Giám nghe xong liền sụp lạy mà tâu rằng: “Hoàng Thượng đúng là bậc minh quân có lòng nhân từ, thì nhất định sẽ chuyển được điều hung dữ thành điều kiết tường; Hoàng Thượng nhất định không thể chết được!”
Quả nhiên, ngày hôm sau điềm xấu trên trời biến mất, không còn thấy nữa. Việc đó chứng minh rằng không có chuyện gì là cố định, chỉ do tâm mình mà chuyển biến thôi. Nếu tâm thiện thì có thể chuyển điều xấu thành điều tốt; cho nên Lão Tử nói rằng:
“Hồi tâm thú thiện,
Thiện tuy vị vi nhi Thiện Thần tùy chi.
Hồi tâm hướng ác,
Ác tuy vị vi nhi Ác Thần tùy chi.”

Dịch là:

“Quay tâm hướng thiện,
Ðiều thiện tuy chưa làm mà Thiện Thần đã theo sát. Chuyển tâm về ác,
Ðiều ác tuy chưa làm mà Ác thần đã kề bên.”
Thần thì có thiện có ác; Thiện thần thì bảo hộ thiện nhân, Ác thần thì trừng phạt kẻ ác, cho nên nói rằng: “Họa, phước vô môn, Duy nhân tự chiêu”. (Họa, phước không cửa vào, Chỉ do mình tự chuốc lấy). Nếu trong tâm mình không làm điều ác thì điều bất tường (không lành) không thể phát sinh.
TRÌ CHÚ TRƯỚC TIÊN PHẢI
CHÁNH TÂM THÀNH Ý
(Vạn Phật Thành ngày 25 tháng 1 năm 1981)
“Tụng trì, mặc niệm, thiểu ý ngôn,
Thị giáo lợi hỷ hóa đại thiên.
Sở tác chư pháp tất cứu cánh,
Bất tăng bất giảm đáo Niết Bàn.”

Dịch là:

“Tụng trì, thầm niệm, ít nói năng,
Dạy dỗ, lợi vui, khắp nơi nơi.
Mọi việc làm ra đều cứu cánh,

Không tăng, không giảm, tới Niết Bàn.”
Học Chú thì trước tiên cần phải chánh tâm, thành ý; tâm không chánh thì học chú gì cũng thành tà. Tâm chánh, học Chú mới có cảm ứng. Chánh tâm cũng chưa đủ, cần phải thành ý. “Thành” tức là lúc nào mình cũng hết sức chuyên chú, chuyên tâm, không xao lãng, không làm những chuyện cẩu thả, tắc trách. Ðược vậy thì mới có cảm ứng.
Nếu không “chánh tâm, thành ý,” nếu trong lòng đầy dẫy tư tưởng sai lầm, làm hại kẻ khác, tức là mình làm chuyện của ma. Pháp của ma vương là hại người, không lợi ích cho ai cả.
Nếu thật sự muốn tu hành thì trong bất cứ trường hợp nào cũng không được làm hại kẻ khác. Phải nuôi tâm làm lợi chúng sinh; không được học Chú để hàng phục ma quỷ hoặc đi đấu với người khác.
Người theo Phật Giáo không có kẻ thù, không tìm người để trả thù. Ðối với kẻ cố ý hại mình, mình phải nhẫn nại, tu hạnh Nhẫn Nhục Ba-la-mật; không sinh tâm báo thù. Ðó là chỗ cao siêu, là ưu điểm của Phật Giáo mà các tôn giáo khác thiếu sót.
Tuy Cơ Ðốc Giáo có nói rằng “ái địch” (thương kẻ địch), nhưng đó chỉ là trên phương diện ngôn ngữ, thực sự họ có thể hiện được trong hành động không? Họ luôn luôn xem người Phật Giáo như kẻ địch, họ có thương yêu những người Phật Giáo không? Chắc chắn là không, vì họ gọi người Phật Giáo là nghịch đồ, là ma quỷ!
Tôn chỉ hết sức trọng yếu của Phật Giáo là: Nếu bạn là ma quỷ thì tôi tuyệt đối không làm tổn hại bạn, không sinh lòng đối kháng, mà ngược lại, sẽ tìm cách để nhiếp thọ bạn. Ðây là giáo nghĩa đặc biệt nhất của đạo Phật. Ðối với chúng sinh luôn phát tâm từ bi, không làm hại kẻ khác.
Chú Lăng Nghiêm là chú kinh thiên động địa, khiến quỷ thần phải run sợ, là linh văn hết sức hiệu nghiệm. Học Chú Lăng Nghiêm rồi thì phải luôn luôn phát tâm từ bi, cử tâm động niệm không được làm hại người khác. Nếu ai đối với mình không tốt cũng đừng khó chịu, đừng oán ghét. Tâm mình cần phải rộng lớn như ba ngàn thế giới vậy, vạn vật đều có thể chứa gọn trong tâm mình; đó chính là bản sắc của người Phật tử vậy!
“Tụng trì, mặc niệm, thiểu ý ngôn.” Câu chú “Yin two na” (Nhân đa la) dịch nghĩa là tụng trì, hoặc là mặc niệm, hoặc thiểu ý ngôn; tức là mình không cần nói nhiều, cũng không vọng tưởng nhiều, chuyên tâm thì linh, tán loạn thì không cảm ứng.
Thế nào là chuyên nhất? Tức là luôn luôn đừng sinh tâm làm hại chúng sinh. Nếu có tâm làm hại kẻ khác thì tương lai sẽ gặp chuyện hết sức nguy hiểm; bởi vì: “Ða hành bất nghĩa tất tự tệ.” (Nếu luôn làm chuyện bất nghĩa, thì mình sẽ tự tiêu diệt mình.)
Mình hại kẻ khác tức là mình đã hại chính mình. Mình giết cha người, thì có kẻ chắc chắc sẽ giết cha mình; mình giết anh người thì sẽ có kẻ giết anh mình; đó là luật nhân quả. Là Phật tử thì cần phải làm lành lánh dữ. Nếu không tạo nhân ác, thì sẽ tránh được quả ác trong tương lai.
“Thị giáo lợi hỷ hóa đại thiên.” Câu này nói rằng lấy Phật Pháp chỉ dẫn, giáo hóa chúng sinh, làm cho tất cả mọi người đạt được chỗ lợi ích, hoan hỷ. Khi thấy có chuyện gì lợi ích cho người khác thì mình làm ngay:
“Tài bồi tâm thượng địa,
Trưởng dưỡng tánh trung thiên.”

Dịch là:

“Vun bồi miếng đất tâm linh,
Nuôi lớn bầu trời bản tánh.”
Thường giúp kẻ khác thì lâu ngày tự nhiên sẽ có đức hạnh. Không phải chỉ kêu gọi người khác làm lợi ích cho mình, mà tự mình không làm lợi ích kẻ khác. Kẻ nuôi dưỡng tánh ỷ lại và chỉ muốn tận hưởng tiện nghi là kẻ không có khí phách.
Hãy xem trên đời này, những kẻ chuyên đi tìm tiện nghi cho mình kết quả đều thất bại; nếu các vị không tin thì hãy nghiên cứu cho kỹ lưỡng. Bất luận là ai, với lòng tham không đáy, chuyên đi tìm tiện nghi cho chính mình thì kết quả đều không tốt. Nếu mình đem lại lợi ích cho người khác, làm cho mọi người hoan hỷ, thì đi tới đâu ai ai cũng kính phục mình.
Khổng Tử nói rằng: “Ngôn tất trung tín, Hành tất đốc kính, Tuy man mạch chi bang, hành hỹ.” (Lời nói chân thật, Hành động chắc thật, cung kính, thì dù ở nơi nguy hiểm cũng vẫn được an toàn.)
Một lời nói ra thì phải thành thật, không được gian trá, lừa dối kẻ khác. Hành vi thì phải hết sức thành thực, trung hậu, khiêm nhường, cung cẩn. Bất cứ làm việc gì cũng có lòng “khiêm cung hòa kiết”; không được cống cao ngã mạn, coi mình như ông trời, không ai sánh bằng. Như vậy thì không thể chấp nhận được!

QUY MẠNG CHÚ LĂNG NGHIÊM
QUANG MINH TRÊN ÐẢNH PHẬT

“Ngã kim quy mạng Ðại Phật Ðảnh,
Vô tận Pháp tạng trí huệ quang.
Nguyện ngã minh liễu diệu Tổng Trì,
Phụng hành Như Lai sở thuyết”
“Ngã kim quy mạng Ðại Phật Ðảnh”: Ðó là lời của các vị Hộ Pháp, rằng các vị ấy quy mệnh Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú.
“Vô tận Pháp tạng trí huệ quang”: Ðại Phật Ðảnh là đảnh đầu của Phật và là kho Pháp tạng vô tận. Nếu đuợc kho Pháp tạng ấy thì dùng không bao giờ hết cả. Pháp tạng vô tận này tại nơi tự tánh của mình mà xuất hiện chứ không phải từ bên ngoài vào. Nhưng tại sao ngay bây giờ không xuất hiện? Pháp tạng cũng giống như những con trùng ngủ vùi trong mùa đông, chờ khi xuân tới nắng ấm thì chúng bắt đầu hoạt động trở lại. Khi nào thân của người tu hành phát nhiệt thì con trùng tự tánh sẽ hồi sinh, đồng thời tất cả những loại vi khuẩn khác đều chết (vi khuẩn đây tức là phiền não).
Như vậy không phải là sát sanh sao? Nếu các vị cho rằng đây là sát sanh, thì có thể không cần tu hành! Không ai bắt buộc các vị cả; các vị có thể hoàn tục, có thể làm như người tại gia với đầy dẫy phiền não, chướng ngại, tranh giành, vô minh, ganh tị. Nhưng nếu muốn tu thì phải cải biến những thứ vi khuẩn đó và khôi phục lại Phật tánh của mình.
Khi chưa thành Phật thì trong thân mình có đến 84.000 loại trùng ăn thịt của mình, uống máu của mình, trú ngụ nơi thân của mình. Chúng xúi giục mình đừng giữ giới luật, bắt mình làm chuyện điên đảo. Bởi bị chúng chi phối nên mình mới làm đủ chuyện xấu xa. Nếu mình nói rằng: “Ôi! Ðó là tại chúng nó làm, không phải tôi làm.” Như vậy thử hỏi tại sao mình lại giúp cho chúng? Nghĩa là đói một chút thì chịu không nổi, khát một chút thì cũng không xong, ngủ không đủ thì cũng không đành; tại sao mình phải trợ giúp những thứ vi trùng đó? Trợ giúp chúng thì tự tánh chẳng thể hiển lộ được!
Vậy những thứ vi trùng đó rốt ráo là gì? Tức là trùng ngu si, làm cho thân mình chỗ này không dễ chịu, chỗ kia không yên ổn; toàn thân thật phiền hà! Có lúc thì chúng làm cho mình bịnh này, lúc thì làm mình bịnh khác. Những thứ vi trùng ngu si này khiến mình không đủ áo mặc thì không được, cơm không đủ ăn cũng không xong, rốt cuộc cứ phải vật lộn với chính mình.
Vô tận Pháp tạng thì ở nơi Ðại Phật Ðảnh mà phát sinh. Trí huệ quang này không giống như những thứ hào quang khác mà là hào quang của Phật. Tại sao Phật lại có hào quang? Bởi vì Phật không muốn có vi trùng ngu si tăm tối, cho nên mới dùng trí huệ để chiếu sáng mọi vật, quét tan vô minh. Khi vô minh bị quét sạch thì Pháp tánh tự nhiên hiển hiện, do đó Trí huệ quang tức là Phật quang vậy!
“Nguyện ngã minh liễu diệu Tổng Trì” : Tại sao cung kính Ðại Phật Ðảnh Trí Huệ Quang? Tại sao phải cung phụng Ðại Phật Ðảnh Trí Huệ Quang? Bởi vì mình muốn hiểu rõ Chú Ðại Tổng Trì, cũng là Ðà La Ni Lăng Nghiêm. Chú Ðại Bi còn gọi là Ðại Bi Ðà La Ni.
Ðà La Ni là tiếng Phạn Dharani, dịch là Tổng Trì. “Tổng” nghĩa là bao nhiếp tất cả các pháp, “trì” nghĩa là giữ gìn vô lượng ý nghĩa. Tất cả các pháp đều được tổng nhiếp vào chú này, tất cả các pháp đều khởi nguyên từ chú này.
Các vị hãy nhìn lá cờ của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, mỗi một màu hồng trên lá cờ là biểu hiện cho Trí huệ quang. Ánh sáng này từ nơi “một” mà phát xuất ra, cho nên nói rằng:
“Nhất bổn tán vi vạn thù,
Vạn thù hoàn quy nhất bổn.”

Nghiã là:

Từ “một” mà phân thành vạn thứ,
Từ vạn thứ lại trở về “một.”
Hào quang từ một điểm mà phóng ra vạn phương rồi từ vạn phương mà thâu về một điểm. Vì vậy, tại Vạn Phật Thành không phải chỉ có “một” mà là tất cả hào quang của chư Phật đều từ đây phóng xuất quang minh, rồi quang minh đó trở về làm “một” mà chẳng xâm phạm hay chướng ngại những hào quang khác.
“Phụng hành Như Lai sở thuyết nghĩa”: là khi đã hiểu ý nghĩa của thần chú này thì phải theo đạo lý của chú đó mà cung kính thực hành.

NÂNG CAO TIÊU CHUẨN HÀNG TĂNG SĨ,
TÍCH CỰC XIỂN DƯƠNG KINH LĂNG NGHIÊM
(Vạn Phật Thành ngày 14 tháng 4 năm 1983)

Chúng ta đang ở trong thời Mạt Pháp, đã xa Phật quá lâu, song Pháp chưa hoàn toàn tiêu diệt. Các vị vẫn còn cơ hội y chiếu theo lời Phật dạy mà tu hành, các vị vẫn còn cơ hội chứng quả thành Phật!
Nếu bản thân là kẻ xuất gia thì mình phải quyết tâm giữ gìn cái tông chỉ là dù gặp hoạn nạn khó khăn tới đâu cũng không bao giờ thay đổi lập trường. Mặc ai tới phá hoại, mình đừng để bị dao động. Chỉ cần nhận thức rõ ràng việc mình làm, con đường mình đi là quang minh chính đại, rồi cứ dũng mãnh mà tiến bước.
Trong thời Mạt Pháp, thiên ma, ngoại đạo, ly mỵ, vọng lượng, sơn yêu, thủy quái, sợ nhất là Chú Lăng Nghiêm vì Chú Lăng Nghiêm có công năng phá tà hiển chánh, và vì Chú Lăng Nghiêm mà Phật đã giảng Kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh cốt tủy của Phật Giáo!
Con người nếu không có xương tủy thì chết, Phật Giáo không có Kinh Lăng Nghiêm thì Phật Pháp diệt. Cho nên phương pháp tốt nhất để hộ trì Chánh Pháp trong thời Mạt Pháp là học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm cho nhuần nhuyễn. Sau khi đọc và học thuộc lòng đến chỗ hết sức thuần thục, hãy tận lực phát huy đạo lý của Kinh và diễn thuyết cho mọi người nghe. Thế giới này nếu thiếu Chú Lăng Nghiêm thì yêu ma, quỷ quái chẳng sợ hãi gì nữa, chúng sẽ tha hồ hoành hành. Song bởi vì trên thế giới còn có người trì Chú Lăng Nghiêm nên bọn bàng môn, tả đạo, vọng lượng, ly mỵ, sơn yêu, thủy quái, còn kiêng sợ, không dám công nhiên xuất hiện. Nếu không có Chú Lăng Nghiêm thì thế giới này trở thành thế giới của bọn yêu ma, quỷ quái!
Các vị coi, hiện tại tư tưởng con người cũng hết sức cổ quái, có kẻ không bằng loài cầm thú. Ðó là do bọn yêu ma, quỷ quái lộng hành ở thế gian, mê hoặc người đời, khiến họ mất đi trí huệ căn bản, biến thành hạng người tráo trở, hết biết nhân nghĩa, làm chuyện thấp hèn không bằng loài trâu ngựa nữa. Ðó cũng là do càng ngày càng ít người biết tụng Kinh Lăng Nghiêm, trì Chú Lăng Nghiêm nên thiên ma ngoại đạo mới hoành hành, không còn kiêng nể gì cả!
Tuy nhiên Vạn Phật Thành là nơi phát nguyên của Phật Pháp ở Tây phương, là chỗ quy tập tinh hoa của những người tu Ðạo chân chính trên thế gian, cho nên Vạn Phật Thành không phải là địa bàn hoạt động của bọn yêu ma quỷ quái, bọn chúng không thể nào đặt chân tới Vạn Phật Thành được! Có những kẻ không thể ở Vạn Phật Thành được là do họ không đủ đức hạnh, tư tưởng đầy dẫy những thứ tà tri tà kiến, nên chỉ ở một thời gian là họ bị lộ nguyên hình, phải bỏ đi chỗ khác.
Từ đây về sau, ở Vạn Phật Thành, các vị xuất gia và đệ tử tại gia đều cần phải học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm. Như vậy thì đối với Phật Pháp không có công lao nào lớn bằng. Bởi vì có những giáo sư nổi tiếng, những vị học giả trứ danh, thậm chí còn có cả kẻ xuất gia, hiện giờ công khai nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!
Vì sao họ lại điên đảo như vậy? Là do Kinh Lăng Nghiêm đề cập đến Bốn điều răn dạy về sự thanh tịnh, và đồng thời Năm mươi thứ ấm ma. Do đó, bọn họ không thể chịu nổi khi đứng trước những tấm kính chiếu yêu được nói đến trong Kinh Lăng Nghiêm này. Khi họ tự so sánh với năm mươi thứ ấm ma thì bản chất yêu quái của họ hiện ra rõ ràng, và khi tự so sánh với bốn điều dạy về sự thanh tịnh thì họ không làm sao giữ được những quy củ nói đến trong bộ Kinh này. Bởi không chịu nổi sự thật đó nên họ mới che đậy lương tâm, và dèm pha cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!
Cho nên, đối với Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm, chúng ta cần phải nhận thức rõ ràng là không có chú nào linh nghiệm bằng Chú Lăng Nghiêm, không có kinh nào chân chính hơn Kinh Lăng Nghiêm. Là vì kinh này đem tất cả những điều sai trái của thiên ma ngoại đạo, và của cả chúng sinh, trình bày vô cùng rõ ràng, xiển minh hết sức tường tận.
Nếu không có Chú Lăng Nghiêm thì Phật Pháp chẳng còn, thiếu Kinh Lăng Nghiêm thì Chánh Pháp bị tiêu diệt! Vì thế, các vị hãy vì hộ trì Phật Pháp mà nhất định học thuộc lòng Kinh Lăng Nghiêm! Nếu lúc nào cũng có thể thuyết giảng được thì mới không hổ thẹn là một đệ tử chân chính của Phật, không hổ thẹn là đã xuất gia một cách uổng phí.
Bởi vậy cho nên các vị đừng để những “học giả trứ danh,” những “giáo sư nổi tiếng,” hoặc những “Ðại Pháp Sư” làm cho mê hoặc, như kẻ đui đi theo người mù mà tin rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo! Dựa vào đâu mà họ dám nói Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Với lời lẽ mù quáng, cống cao, đầy dẫy tà kiến, ngã mạn, cuồng vọng, tương lai họ sẽ chịu quả báo khó tưởng tượng nổi.
Mặc cho gia phong của những đạo tràng khác ra sao, ở Vạn Phật Thành ai muốn xuất gia thì tối thiểu phải có bằng Cử nhân! Nếu các vị đỗ Cử nhân ở trường khác thì cần phải gia nhập chương trình huấn luyện Tăng Già ở Vạn Phật Thành; các vị phải trải qua ba năm huấn luyện nghiêm túc để cho học vấn và đạo đức được ưu tú, rồi mới đủ tư cách thọ giới Cụ Túc làm Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni.
Ở thời đại này, người xuất gia nhất định cần phải xuất chúng, đặc biệt siêu việt, có bối cảnh giáo dục ưu tú, thì mới có thể trở thành bậc Pháp Khí được. Nếu là kẻ không rành chữ nghĩa, cả ngày chỉ biết đi tìm cách móc nối, thủ đoạn, xin xỏ, lợi dụng; hoặc là kẻ giả làm sư để kiếm ăn qua ngày, hoặc chỉ làm những chuyện hoàn toàn không cao thượng, không thanh tịnh, chuyên môn phá giới, thì kẻ đó chỉ làm ô nhục cửa Phật mà thôi, làm sao khiến cho Phật Giáo ngày càng sáng lạng được? Làm sao khiến cho người ta sinh lòng cung kính Tam Bảo đặng?
Vì thế từ đây về sau, những ai muốn xuất gia ở Vạn Phật Thành, bất luận là nam hay nữ, già hay trẻ, trước hết cần đỗ bằng Cử nhân, sau đó cần thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm và Kinh Lăng Nghiêm thì mới đủ tư cách xuất gia. Ngoài ra, người xuất gia cần học thuộc lòng Giới Sa Di, 53 Tiểu chú, Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới và thông đạt Tứ Phần Luật (tức là Giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni). Trước kia, trong đạo tràng này, tiêu chuẩn xuất gia tuy không nghiêm khắc như bây giờ, song tôi không thu nhận đồ đệ một cách cẩu thả. Trước khi thâu nhận ai, tôi hết sức cẩn thận, cho họ trải qua một thời gian dài để quan sát tư tưởng, ngôn hạnh của họ như thế nào rồi mới thâu nhận, thế phát cho xuất gia. Song ở thời Mạt Pháp này, tà ma lộng hành nên tôi chẳng thể không sửa đổi cho triệt để và tích cực đề cao phẩm cách đạo đức và học vấn của người xuất gia. Phàm là kẻ
theo tôi xuất gia thì cần phải “đầu đội trời, chân đạp đất,” văn võ toàn tài, là long tượng trong cửa Phật. Thậm chí nếu lấy con mắt tục mà nhìn, thì phải là bậc nhân tài trác tuyệt, phi phàm. Những kẻ theo tôi xuất gia đã lâu cũng cần học thuộc Kinh Lăng Nghiêm và phải có thể sẵn sàng giảng giải nếu cần. Như vậy thì mới thực sự đảm nhận trách nhiệm hoằng dương Chánh Pháp, tiếp nối sứ mệnh của Phật, và cũng không uổng phí sự nghiệp xuất gia của mình!
BỐN ÐIỀU RĂN DẠY VỀ
TÁNH THANH TỊNH CHÂN THẬT, BẤT HƯ
(Vạn Phật Thành ngày 17 tháng 4 năm 1983)

Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh (Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối) trong Kinh Lăng Nghiêm là: “Ðoạn dâm, Ðoạn sát, Ðoạn thâu, Ðoạn vọng” (dứt dâm dục, dứt giết chóc, dứt trộm cắp, dứt nói dối). Bốn điều đó tương quan rất chặt chẽ với nhau. Nếu phạm giới dâm thì dễ dàng phạm giới sát và cũng dễ dàng phạm giới thâu, tức là ăn cắp, và giới vọng ngữ tức là nói láo. Bởi vì phạm giới dâm thì sát, đạo, vọng, đều đã bao gồm trong đó rồi, cho nên tuy chia làm bốn, nhưng hợp lại mà nói thì là nhất thể!
Phật thật là vô cùng từ bi, hết lòng hết dạ dạy bảo chúng ta hết sức rõ ràng Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh. Tuy nói rõ như vậy, nhưng có người lại không tin. Không phải chỉ có một số người không tin mà thôi, trong đó, những kẻ không tin lại là những học giả, những vị giáo sư, những kẻ xuất gia không giữ giới luật. Những người đó không có niềm tin nên không có cách gì cải thiện, cũng không cách gì để bài trừ cái gốc tà kiến của họ được; bởi vì những điều hiểu biết sai lầm của họ đã chằng chịt, thâm căn cố đế, làm cho họ mất lòng tin và công nhiên cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo!
Trong các bộ kinh mà Phật nói ra, Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh hết sức trọng yếu. Dù cho các vị học giả, giáo sư, những kẻ không giữ giới luật, cho đến những kẻ dùng đủ thứ thần thông, hiện ra mười tám phép biến hóa, tới nói với tôi rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả đi nữa, thì tôi cũng không tin được! Tại vì sao? Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm dạy đạo lý hết sức chân chính, chỉ căn bịnh của chúng sinh hết sức rõ ràng; đó là “vô minh tội nghiệp.” Kinh này chính là “đối bịnh cho thuốc,” là lời khuyên răn rõ ràng nhất. Song người ta không ai muốn uống thuốc đắng, mặc dù thuốc hay thì quá đắng, khó mà chịu nổi. Nên dù có bậc thầy thuốc giỏi đưa toa thuốc ra thì họ cũng vất đi không dùng, nói rằng thuốc chẳng có hiệu lực gì, rằng thứ thuốc này chỉ để lừa người ta. Như vậy đúng là tự mình lừa mình và lừa người khác, tự mình làm hại mình rồi hại người khác vậy!
Bởi vậy cho nên những kẻ không hiểu biết cứ chạy theo những người này, nói rằng có những vị học giả danh tiếng như vầy, có những nhà giáo sư nổi tiếng như kia, hoặc có những vị Ðại Pháp Sư có tên tuổi như nọ nói rằng Kinh Lăng Nghiêm này là giả; rồi họ chạy theo những người đó như những kẻ đui đi theo những người mù, cùng nhau kẻ xướng người họa. Người ta nói làm sao thì họ nói làm vậy, do đó rốt cuộc tà thuyết đầy dẫy.
Nếu thật sự đúng như vậy, tức Kinh Lăng Nghiêm là giả, thì các vị trong Phật Giáo không cần phải giữ giới luật làm gì, cũng không cần nghe Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh này làm gì, và cũng không cần biết đến Năm Mươi Thứ Ấm Ma là ra sao, tất cả mọi thứ đều nhất tề vất bỏ hết! Các vị thử nghĩ coi, loại người như vậy thật là ác độc vô cùng; nếu những người như thế đó mà không bị xuống Ðịa ngục Cắt Lưỡi thì thật là không còn công lý gì nữa!
Mới đây tôi có nói đến một em bé bị bịnh thần kinh (em bé này có bịnh tâm lý biến thái, hành vi quái dị, toàn thân đều có bịnh). Ðứa bé này sở dĩ bị bịnh là vì kiếp trước đã từng hủy báng kinh điển Ðại Thừa, tạo nên tội nghiệp đọa địa ngục Vô Gián, bây giờ sinh ra làm người phải chịu quả báo như vậy. Ðó cũng là vì loài người chúng ta không hiểu đạo lý, lại còn tự cho mình là hay là giỏi, rồi công nhiên tạo ra đủ thứ tội nghiệp, còn trợn tròn mắt mà nói láo. Hành động như vậy thật là mất hết lương tri, lương năng, làm cho bản hữu trí huệ của mình bị hủy diệt đi; thật là đáng thương thay!
Bởi những kẻ hủy báng kinh điển Ðại Thừa đó đã dùng tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý tạo ra đủ thứ ác nghiệp, nên khi họ sinh làm người thì thành những kẻ mắc bịnh tâm lý biến thái, trở nên vô tri, vô giác, đến khi thọ ác báo rồi, lại còn cho rằng mình là hay là giỏi lắm!
Chúng ta không nên dùng cái “thông minh giả” của mình mà hủy báng lời Phật. Nào là những kẻ rất có tiếng tăm, nào là những nhà học giả trứ danh, nào là những vị giáo sư uyên bác, nào là các vị Pháp Sư nổi tiếng, một khi họ nói ra lời hủy báng Phật Pháp thì vô hình trung, lời nói của họ sẽ ảnh hưởng đến trăm ngàn vạn ức, vô lượng, vô biên người khác, khiến cho những người đó đánh mất đi lòng tin chơn chính. Cho nên các vị thấy, tạo ra tội nghiệp như vậy không phải là tai hại vô cùng sao? Trăm ngàn kiếp về sau, họ sẽ đầu thai làm kẻ thọ quả báo, trở thành những người câm! Bởi vì họ làm hại tri kiến của kẻ khác, nói lên những lời khiến kẻ khác hiểu lầm đạo lý, như thế thật là vô cùng nguy hại!
Các vị hãy nghĩ coi, vì sao những người đó cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả tạo? Là bởi vì họ không thể làm được Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh: Không dâm dục thì họ không thể làm được, không sát sinh thì họ cũng chẳng làm nổi! Không trộm cắp thì ở trên bề mặt có thể nói rằng họ không trộm cắp, nhưng thực sự có rất nhiều học giả, giáo sư thường lấy trộm văn chương của học sinh hay của kẻ khác rồi vá víu lại để làm của mình; nếu đem vật sở hữu của kẻ khác mà làm của mình thì đó chính là trộm cắp vậy! Nếu một ngày nào mà họ nói những lời lừa dối học sinh thì ngày đó họ đã nói láo rồi! Ðương nhiên không phải tất cả những vị học giả hay giáo sư đều như vậy, song ở trong hàng ngũ những người đạo đức luôn luôn có vô số những kẻ gian dối tác hại.
Bởi vì không làm được Bốn Ðiều Răn Dạy Về Tánh Thanh Tịnh đó nên họ sợ hãi, và không thể chấp nhận lý luận trong Kinh được. Nếu họ chấp nhận lý luận của Kinh thì họ không thể tồn tại, và dĩ nhiên họ sẽ mất đi địa vị của họ. Nhưng họ lại không muốn như vậy nên mới làm trái với lương tâm, mới nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Khi có ý nghĩ như vậy là họ đã phạm tội lớn tày trời:

“Khoát đạt không,
Bát nhân quả,

Mãng mãng đãng đãng,
Chiêu ương họa.”

Nghĩa là:
“Phủ nhận hết mọi thứ,
Bác bỏ luật nhân quả,
Thì tự chuốc lấy tai ương.”
Trong tương lai họ sẽ thọ lãnh quả báo đọa địa ngục Vô Gián, lúc đó họ có hối lỗi thì không còn kịp nữa!

NĂM MƯƠI THỨ ẤM MA
TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

Hiện tại chúng ta đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, nhưng sợ rằng có đến năm trăm loại Ấm Ma sẽ xuất hiện cả đây! Cho nên các vị đừng mở cửa để hoan nghinh chúng làm loạn! Tuy nói là ma, song nhìn bề trái của nó thì chúng đến để giúp đỡ sự tu Ðạo của mình, xem chí nguyện của mình kiên cố hay chẳng kiên cố. Nếu kiên cố thì dù ngàn con ma tới mình cũng không thay đổi lập trường, vạn con ma tới mình cũng không thối lui, cái gì mình cũng không sợ cả! Nếu mình không có sở cầu, thì tức là: “Ðáo vô cầu xứ, tiện vô ưu.” (Khi lòng không mong cầu, tâm sẽ hết âu lo.)
“Vô sở cầu” tức là không có điều gì sợ hãi. Sợ cái gì? Cũng giống như người sợ quỷ, nghĩ rằng quỷ hết sức ghê gớm, xấu xí. Người nào cũng nghĩ rằng người chết thì biến thành quỷ, nên họ sợ. Nhưng không ai sợ thần. Ông thần Kim Giáp là kẻ hết sức lợi hại mà chẳng ai sợ ông ta!
Khổng Tử từng nói rằng: “Kính quỷ thần nhi viễn chi.” (Kính quỷ thần nhưng lánh xa họ.) Song, mình đừng sợ quỷ cũng đừng sợ thần. Mình cung kính họ nhưng không cần phải thân cận với họ.
Ma là thứ đến thử thách người tu Ðạo nên các vị đừng có lòng khủng khiếp, lo sợ. Nếu mình sợ sệt, thì dù không muốn kêu ma lại, nó cũng sẽ tới. Nếu mình không sợ, thì nó muốn lại cũng không được. Ðó là mật quyết vô cùng trọng yếu: Ðừng sợ hãi! Khi mình không khiếp nhược, không lo sợ, thì tự nhiên mình sẽ chánh. “Chánh” thì có thể hàng phục mọi thứ, vì lẽ “tà bất thắng chánh.” Ma sợ nhất bốn chữ: Chánh Ðại Quang Minh. Nếu mình mà “chánh đại quang minh” thì ma sẽ nép giữ quy củ, chúng sẽ hướng về mình mà đảnh lễ.
Bây giờ hãy nghiên cứu cảnh giới Năm Mươi Thứ Ấm Ma. Năm mươi thứ đó tức là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ðây bất quá là nói sơ lược cốt tủy mà thôi. Kể tường tận thì cảnh giới của chúng thật vô số, không thể kể hết được, nên Phật chỉ nói có năm mươi thứ là để giúp người đời hiểu và quán sát dễ dàng. Khi sáng tỏ được đạo lý của Năm Mươi Thứ Ấm Ma thì mình sẽ không bị cảnh giới đó làm dao động, đó là điều hết sức quan trọng.
Nếu muốn đừng bị cảnh giới làm dao động thì đầu tiên mình phải trì giới. Giới là căn bản của tất cả các Ðịnh; Ðịnh là căn bản của Trí Huệ; Huệ là căn bản để thành Phật. Nếu muốn thành Phật thì nhất định phải tu Giới, Ðịnh, Huệ. Tu mà không tương hợp với Giới, Ðịnh, Huệ tức là mình tìm cầu pháp ở bên ngoài tâm, tức là đã “hướng ngoại truy cầu”! Khi có Giới lực thì mình sẽ đắc Ðịnh lực; có định lực thì mình sẽ có Huệ lực, vì chúng là tương sinh. Giới sinh Ðịnh, Ðịnh phát Huệ, Huệ thành Phật; thiếu một thì chẳng thành được.
Do đó, hiện tại mình phải dùng thái độ khách quan mà nghiên cứu, đừng có thái độ chủ quan. Khi có thái độ chủ quan thì rất dễ có sự thiên lệch. Mình cần phải dùng Trạch Pháp Nhãn (con mắt biết nhận định chân lý) mà quán sát, dùng Trí Diệu Quán Sát mà nghiên cứu, nhưng đừng chấp trước ở điều mình quán sát. Trí Diệu Quán Sát cũng giống như cái gương vậy, chẳng khác gì mấy với Trí Ðại Viên Kính. Trí Ðại Viên Kính thì chẳng dao động mà có thể hiện ra tướng thật của mọi sự; còn Trí Diệu Quán Sát thì có năng lực quán sát mọi vật khiến mình biết được mọi vật một cách rõ ràng.
Phải dùng thái độ khách quan, không thiên lệch, thì mới nhận thức được cảnh giới một cách rõ ràng. Các vị mà nhận thức thấu đáo được cảnh giới thì sẽ không bị nó làm cho mê loạn!
LĂNG NGHIÊM ÐẠI ÐỊNH

Vì sao Chú Lăng Nghiêm có nhiều điều tốt đẹp như vậy? Bởi vì niệm Chú Lăng Nghiêm thì có thể nhập Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh. Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh này không phải là định mà cũng chẳng phải là không định, song không lúc nào là chẳng định (vô định, vô bất định, vô hữu bất định thời). Cho nên nói rằng: “Na-già thường tại Ðịnh, Vô hữu bất định thời.” (Na-già, tức là rồng, lúc nào cũng ở trong Ðịnh, không bao giờ chẳng định.)
Lăng Nghiêm Ðịnh là định hết sức kiên cố, phát sinh ra vô lượng trí huệ, các thứ thiên ma, ngoại đạo không thể nào phá hoại nổi.
Nhưng nhập Ðịnh để làm gì? Ví như tới Disneyland vậy, nơi đó có đủ trò vui, đồng thời cũng có đủ trò kinh dị, mình sẽ thấy những điều chưa từng thấy, nghe những điều chưa từng nghe. Cũng vậy, khi nhập Ðịnh, mình sẽ trải qua những cảnh giới chưa từng thấy hay nghe qua. Nếu như trong Ðịnh mà “như như bất động, liễu liễu thường minh,” không bị cảnh giới làm cho dao động, thì mình có thể xoay chuyển tất cả cảnh giới. Ðó chính là sự kỳ diệu khi nhập Lăng Nghiêm Ðịnh.
Không có Lăng Nghiêm Ðịnh thì mình sẽ tùy theo cảnh giới mà xoay chuyển, cái gì lại thì mình chạy theo cái đó, luôn luôn bị cảnh giới dắt dẫn. Khi mình có Lăng Nghiêm Ðịnh này thì mình không còn bị cảnh giới xoay chuyển nữa. Mắt mình nhìn hình sắc mà bên trong tâm không có rung động; tai mình nghe tiếng nhưng lòng không bị lôi cuốn theo. Khi thấy việc gì xảy ra mà mình tỉnh giác thì sẽ ra khỏi vòng phiền trược; nhưng nếu gặp việc mà mê muội, không tỉnh giác, thì mình sẽ rớt vào vòng luân hồi.
Ở trong Ðịnh mình có thể phát sinh vô lượng trí huệ, cho nên nói rằng Ðịnh sinh Huệ. Nếu không nhập Ðịnh thì không thể khai được trí huệ, cũng giống như chưa tới Disneyland thì không biết trong đó có gì. Cho nên có một vị cư sĩ mời tôi đi Disneyland chơi, muốn tôi coi đây coi đó; họ cho rằng tôi chưa từng thấy qua những chuyện đó bao giờ. Thật ra những hình sắc hay tất cả những đồ vật đều không có gì đặc biệt cả. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay đã thấy qua không biết bao nhiêu thứ, không biết bao nhiêu chuyện nữa, bất quá mình đã nhìn qua rồi quên mất đi. Nếu như mình nhớ được một cách rõ ràng thì không cần phải coi lại làm gì nữa.

48 CÁCH NIỆM PHẬT

48 CÁCH NIỆM PHẬT

Giang Ðô Trịnh Vi Am

(Sa-môn Thích Tịnh Lạc dịch và chú giải)

* * *
1. NIỆM PHẬT NÊN GIỮ Ý CĂN
Ðã đem tâm này niệm Phật, phàm tất cả việc tạp thiện, tạp ác đều không nên nhớ, tức hàng ngày chỉ nên làm mọi việc với ý niệm vạn bất đắc dĩ, xong rồi thì xả, đừng để day dích, sẽ chướng ngại tâm niệm của chúng ta. Vả lại, sở dĩ tâm niệm của chúng ta cứ còn dây dưa mãi với những tạp thiện, tạp ác là vì ý địa chưa thuần; nếu ta niệm Phật đến lúc tâm địa sáng tỏ, thời ý địa tự nhiên chuyên ròng nơi quán sát, không duyên tạp sự.
Phải biết, niệm Phật có thể chuyển phàm thành Thánh, là phương tiện giải thoát thứ nhứt của thế gian và xuất thế gian vậy.
Lời phụ giải: Sự sống hàng ngày đã chiếm quá nhiều thì giờ của chúng ta, bởi vậy nên những lớp trần ai càng bám riết theo cuộc sống, làm cho chúng ta không rảnh được sự tính toán, mà hễ tính nhiều tức loạn trí, lo âu ắt tổn thần. Thế nên khi xác nhận cuộc sống này chỉ là tạm bợ, trả vay, quay về với cuộc sống tâm linh vĩnh viễn, chơn thật, thì còn gì nữa mà không buông bỏ tất cả giả cảnh, để sống với cảnh giới chơn thường. Phàm, Thánh, mê, ngộ đều ở nơi ý địa của đương nhơn mà thôi!
2. NIỆM PHẬT NÊN GÌN KHẨU NGHIỆP
Ðã dùng miệng này niệm Phật, phàm tất cả những việc SÁT, ÐẠO, DÂM, VỌNG không nên buông lời nói càng, nói quấy.
Một khi nói lỡ, nên tự nghĩ rằng: Người niệm Phật không nên nói như thế, rồi cố gắng niệm lớn ít tiếng danh hiệu Phật để trấn áp tâm mình và gột tẩy ngay những lời bất thiện ấy.
Lời phụ giải: Phàm đã mang danh từ Phật tử và đã biết niệm Phật, tất cả phải giữ gìn khẩu nghiệp. Nếu thoảng một lời vô nghĩa thốt ra, tự suy nghĩ ăn năn chẳng ít, huống không có lợi ích gì cho ai, mà còn gây khổ hận cho kẻ khác, thì dầu một tiếng cũng không nên mở miệng. Phật là tượng trưng cho sự thanh tịnh, mà ta lại niệm Phật bằng cái miệng bất tịnh thì phỏng được lợi ích gì? Trong kinh Phạm Võng có chép: “Nhựt nhựt khởi tam nghiệp tội, khẩu tội vô lượng.” Miệng là cửa mở muôn điều ác hay thành vạn sự lành, vậy ta cần phải suy kỹ trong lúc mở lời. Huống chi việc niệm Phật, chúng ta lại càng cần phải giữ miệng cho thật sạch, nghĩa là một lời quấy, một tiếng xấu, nhứt định phải tiêu diệt trong khi chúng còn trong trứng nước, không để chúng thành hình, đừng nói phát ra cửa miệng. Tu thân, tu tâm mà không tu miệng là một khuyết điểm lớn!
3. NIỆM PHẬT PHẢI CHỈNH THÂN NGHIỆP:
Ðã đem thân này niệm Phật, thời trong mọi lúc cũng như trong mọi cử chỉ: Đi, đứng, ngồi, nằm, thân cần phải đoan chánh thì tâm mới được thanh tịnh. Người niệm Phật nên tự nghiệm điều này, thật không bao giờ dối.
Lời phụ giải: Thân thể có ảnh hưởng mãnh liệt đến tinh thần. Thế nên, muốn cho tinh thần vững mạnh, tin tưởng chí thiết nơi tự lực, tha lực, kiên cố chấp trì câu danh hiệu Phật, tất phải dọn mình cho thật đoan chánh, trước khi niệm. Tâm ta tịnh được là do thân nghiệp không động, không nhiễm. Vậy nên, muốn công phu niệm Phật có kiến hiệu, điều kiện trước tiên là phải giữ gìn thân nghiệp cho đoan chánh.
4. NIỆM PHẬT LẦN CHUỖI:
Niệm Phật một tiếng, tay lần một hột. Chỉ nên niệm bốn chữ, đừng lộn sáu chữ, vì bốn chữ rất dễ thành khối. Trong bốn chữ A Di Ðà Phật, hoặc lần chuỗi tại chữ A, hoặc lần tại chữ Ðà, hoạch định cho có phép tắc, không được lầm lẫn, đây là pháp mượn chuỗi để nhiếp tâm vậy.
Lời phụ giải: Giữ tâm niệm thành khối, danh hiệu Phật, mỗi câu xâu xuốt với nhau không xen hở một tạp niệm nào, ví như xâu chuỗi, hột này dính liền với hột khác, hột hột dính liền với nhau, đó là ý nghĩa của sự niệm chuỗi. Hơn thế nữa, đó là phương tiện nhắc nhở kẻ sơ cơ, chưa thuần với chánh niệm, nhớ lại câu niệm Phật. Kẻ lười nhờ đó mà siêng, kẻ trễ nhờ đó mà gắng.
Khi chánh niệm đã tinh thuần, Phật niệm không lìa tự tâm, bây giờ có chuỗi hay không cũng chẳng thành vấn đề. Thế nên kẻ sơ cơ cần nhờ nó để làm phương tiện. Chẳng lẽ sắm chuỗi để mốc à?
5. NIỆM LỚN TIẾNG
Nếu lúc thần trí hôn trầm, hay khi vọng tưởng đua khởi, hãy nên trấn tỉnh tinh thần, to tiếng niệm Phật, niệm cho được vài ba trăm tiếng tự nhiên đổi thành cảnh giới an tịnh. Bởi vì nhĩ căn thính lắm, nên ngoại duyên dễ vào, tiếng làm cho tâm động, tạp tướng nổi dậy, nên phải to tiếng niệm Phật để giữ gìn nhĩ căn, hầu mở tỏ tâm linh. Bấy giờ tâm chỉ nghe tiếng của chính mình, mỗi tiếng liên tục, đầy đủ, tất cả những gì phải quấy, nên, hư tự nhiên phóng xả.
Lời phụ giải: Lúc ta mệt nhọc, trong người hay uể oải, hay sanh chứng ngủ gật, hay cả thân thể lẫn tâm linh như có cái gì đè nặng, bấy giờ nếu ta dùng cách tịnh niệm, thì chỉ càng giúp cho sự mệt nhọc, ngủ gật kia đắc lực. Thế nên ta phải to tiếng niệm Phật, quán sát tiếng niệm Phật kia từ tự tâm lưu xuất, rồi theo lỗ tai vào lại tự tâm, vòng quanh mãi như thế, đến khi nào, tâm ta sáng suốt, ma ngủ gật kia biến mất, chỉ thuần một câu niệm Phật rõ rành mới thôi.
6.- NIỆM NHỎ
Nếu lúc tinh thần tán thất, hoặc khi nhiều việc nhọc nhằn hay phải nhiều điều bức bách, thì không cần phải niệm to, chỉ nên thấu liễm thần minh nhỏ tiếng niệm kỹ. Ðến khi hơi thở điều hòa, tinh thần hứng khởi, an định tâm hồn mới nên niệm to tiếng.
Lời phụ giải: Phương pháp niệm nhỏ là để đối trị bệnh tán loạn. Nhiều khi vì quá bề bộn công việc, mà thân tâm ta phải quá nhọc nhằn, hay có những việc làm ta phải cực lòng, bực trí. Bấy giờ nên dùng pháp niệm nhỏ, vì nếu niệm to sẽ giúp phương tiện cho ma tán loạn thêm sức mạnh. Niệm nhỏ từng tiếng từng câu thật kỹ, thật rõ, lần lần tâm thần ta sẽ được an tịnh, bấy giờ nên niệm lớn.
7. NIỆM THẦM
Nếu tâm khí không được điều hòa, hoặc người hay chỗ có ngại, niệm to, niệm nhỏ đều thấy không tiện, thì chỉ nên động môi, dùng pháp niệm thầm (Kim Cang trì), không bắt buộc nhiều ít, nhưng cần nhứt: Mỗi chữ, mỗi câu phải từ tự tâm lưu xuất.
Lời phụ giải: Pháp này khác với pháp niệm nhỏ trước, vì chỉ được động môi mà không cho phát ra tiếng; nói cho dễ hiểu là chỉ nhép miệng mà thôi. Vả như có người nằm gần ta, hay chỗ ta ở khít gần với kẻ khác, niệm thành tiếng dù lớn dù nhỏ cũng có thể đụng đến họ, vậy nên chỉ nhép miệng niệm thầm, không cần hạn số, bao nhiêu cũng được, miễn sao câu niệm Phật bắt nguồn từ tự tâm, kích động đầu môi, bật thành một thứ âm thanh huyền diệu, không thành tiếng mà vang khắp đại thiên, nhưng vẫn không ngoài đương niệm.
8. MẶC NIỆM
Lại hoặc niệm to, niệm nhỏ đều không hợp, tay lần chuỗi lại hiềm phiền phức, niệm thầm vẫn thấy còn có dấu vết, thì xưa có phương tiện chí xảo là không cần động mồm, không phát ra tiếng, chỉ bắt tâm niệm duyên chuyên một cảnh, âm thầm dùng lưỡi gõ vào răng trước (răng cửa) hay tâm tưởng cũng được, tùy ý, chỉ phải làm sao cho tiếng thật rõ ràng, nhưng tiếng không phải phát ra từ cửa miệng mà phải phát ra từ tự tánh. Tánh nghe lại phải dung thông nội tâm, nội tâm lại phải in nơi đầu lưỡi, đầu lưỡi kéo lấy niệm căn, tự tánh nghe nghe tự tánh, ba thứ dung hội, niệm niệm viên thông, lâu sau sẽ được thành tựu pháp quán: Duy tâm thức.
Lời phụ giải: Dùng pháp mặc niệm để thành tựu duy tâm thức quán này hơi khó và cao, đa phần dành cho những bực có trình độ khá và cao trên bước đường tu tập. Người thực hành phải dùng quán tâm, không phải dùng niệm tưởng. Không động miệng mà tiếng ấy phải rõ ràng, tiếng ấy là tiếng của tự tâm, dùng lối đem tánh nghe (văn tánh) nghe lại tiếng nói của tự tánh (phản văn văn tự tánh) đó là đã thấm đạt thật tướng của vạn pháp, thâm đạt nhứt thiết duy tâm vậy.
9. ÐIỀU HÒA HƠI THỞ
Hoặc lúc khí tịnh, tâm bình, thì trước nên tưởng thân mình đang ở trong vòng hào quang tròn, thầm quán trên đầu chót mũi, tưởng hơi thở ra vào, mỗi một hơi thở thầm niệm một câu A Di Ðà Phật. Phương tiện điều hòa hơi thở, không hưởn không gấp, tâm niệm và hơi thở nương nhau, theo nhau ra, vào; đi, đứng, ngồi nằm đều nên làm như thế, đừng để gián đoạn. Thường phải tự “Mật trì,” nhiếp tâm đã lâu, cả hơi thở lẫn câu niệm, cả hai đều không còn phân biệt, tức thâm tâm này cũng đồng với hư không. Trì đến thuần thục, tâm nhãn khai thông, tam muội thoạt nhiên hiện tiền, chính là “Duy tâm tịnh độ” đó.
Lời phụ giải: Pháp này cũng giống như Sổ tức quán trong Lục diệu môn. Dùng pháp đếm hơi thở, để điều hòa hơi thở ra vào.
Mỗi một hơi thở hoặc ra, hoặc vào đều thầm niệm một câu A Di Ðà Phật đều đều, không nên quá gấp cũng không được quá hưởn, vì sẽ làm chướng ngại cho sự chuyên nhứt. Phật niệm không dứt, tâm được thanh tịnh, trí được chuyên ròng không tạp, hòa hợp với sự bao la vô ngại của Thái hư, tất cả đều duy tự tâm, mà hễ tự tâm thanh tịnh thì quốc độ sẽ hoàn toàn thanh tịnh đối với ta vậy.
10. TÙY PHẬN
Hoặc lúc hôn trầm nhiều, thời nên kinh hành niệm Phật, hay khi tạp loạn nhiều thì nên ngồi ngay thẳng, yên lặng mà niệm. Giả sử đi hay ngồi đều không hợp, thời hoặc quỳ, hoặc đứng, cho đến tạm nằm, cũng đều cho phương tiện rộng rãi, có thể niệm Phật được cả. Cốt yếu: Bốn chữ hồng danh đừng để một niệm lãng quên, đó là yếu thuật hàng phục tâm ma vậy.

Lời phụ giải: Câu niệm Phật không phải chỉ dành lúc rảnh rang, hay tắm gội sạch sẽ, đến trước bàn Phật, mà nhứt thiết thời không được xao lãng. Bởi tâm niệm chúng sinh hàng ngày quá tạp loạn, hễ hở là tạp tưởng xen vào ngay, quấy rối tâm niệm.
Như bàn tay quậy vũng nước màng màng, nếu quậy ít hay quên quậy, màng màng sẽ trở lại ngay. Thế nên đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tịnh đều phải cố giữ câu niệm Phật, không cho xen hở. Như ông tướng giữ trại, như con mèo rình chuột, đừng để một niệm gián đoạn. Một câu niệm Phật không hở, tùy phương tiện, tùy trường hợp, miễn sao cố giữ tâm niệm chuyên câu niệm Phật là được.
11. CHỖ NÀO CŨNG NIỆM PHẬT ÐƯỢC
Không luận chỗ sạch hay chăng, hoặc chỗ vắng vẻ hay chỗ chộn rộn, chỗ vừa dạ hoặc nơi thất ý, chỉ “Hồi quang phản chiếu” và suy nghĩ: Những cảnh thế này ta đã gặp hơn trăm ngàn muôn ức lần, từ nhiều kiếp đến giờ; chỉ có việc “Niệm Phật vãng sanh” là ta chưa có thể thực hành trọn vẹn được, nên vẫn còn bị trong vòng lẩn quẩn luân hồi. Giờ đây ta cũng chẳng quản niệm được cùng chăng, chỉ thề giữ chặt “Tâm niệm Phật’ này, dầu chết cũng không để dứt “niệm đầu”. Tại sao? Bởi niệm đầu mà để một phút gián đoạn, thời tất cả thiện, ác, vô ký bao nhiêu tạp niệm lại sanh. Vì lẽ đó, nên dù lúc đi đại, tiểu tiện hay sản phụ lúc lâm bồn, chỉ chăm chú việc niệm Phật, càng khổ càng niệm, càng đau càng niệm nhiều hơn, như con thơ gọi mẹ, không sợ mẹ hiềm giận, nếu sợ mẹ giận mà không gọi nữa, ắt đứa trẻ sẽ bị sa chân vào hầm phẩn nhơ nhớp, vì những sự dại dột do nó gây nên. Như thế chỉ có chết mất đi mà không làm sao được gặp mẹ.
Lời phụ giải: Thế thường, có người không hiểu cho rằng: Vào chỗ nhơ như nhà xí v.v… mà niệm Phật sẽ có tội. Nhưng trong pháp môn niệm Phật thì không phải vậy. Vì câu niệm Phật lúc nào cũng phải ngự trị trong tâm hồn ta; nếu vì lúc ăn, khi đi cầu v.v… mà để dứt, thì tức nhiên tạp niệm sẽ xen vào, mà hễ tạp niệm xen vào được, niệm này sanh niệm khác, nối luôn không dứt, tránh sao khỏi điều tội lỗi, và tránh sao thoát nẻo sanh tử luân hồi.
Chúng ta giờ đây, chưa có thể nhứt thiết thời niệm Phật, nên phiền não niệm xen vào, biết bao điều phiền phức, đau khổ, nhọc nhằn; vậy thời chúng ta hãy cố gắng tập nhiều, tập mãi câu niệm Phật, hễ bận việc thời thôi. bằng hễ rảnh là ta niệm Phật.
Không có gì tự nhiên mà được, phải đòi hỏi nhiều cố gắng, nhiều nỗ lực, vậy sau mới thành công. Bao nhiêu việc đời sẽ làm ta phiền lụy, muốn tránh bao phiền lụy không chi hơn luôn giữ câu niệm Phật.
Ðức Phật như bà mẹ hiền thương con dại, không có bà mẹ nào là không thương con. Thế nên, ta một lòng tưởng nhớ, tha thiết kêu cầu đức Phật sẽ thương mà hiện cứu. Phật không bao giờ bỏ và cũng không bao giờ có giận hờn vì hễ còn giận hờn ắt chưa thể thành Phật, cũng như không có đức Phật, Bồ tát nào mà thiếu lòng từ bi cả.
Xin hãy gắng niệm, đừng khinh mà coi thường.
12. NIỆM PHẬT CÓ ÐỊNH THỜI HAY KHÔNG
Trong pháp thứ mười một, không có định thời, nếu vậy sẽ ít người làm được. Bài này phương tiện nói có định thời là: Sớm, tối hai thời, hoạch định thường khóa, từ nay đến suốt đời, không thêm, không bớt, ngoài ra trong suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ, có thể niệm được một câu, thì nên niệm một câu, có thể niệm được nhiều câu, thì nên niệm nhiều câu, bất luận niệm lớn hay nhỏ.
Cổ nhơn có bảo:
Ít nói một câu tạp
Nhiều niệm một câu Phật
Ðẹp đẽ biết bao nhiêu!
Lời phụ giải: Vì sợ có nhiều vị, không thể lúc nào cũng giữ câu niệm Phật được (bởi quá bận kế mưu sinh) nên phải phương tiện định thời. Thế là ai cũng có thể tu Tịnh độ pháp môn được. Nhưng điều cốt yếu: Khi đã định thời, thì phải cố gìn, đừng để sai siển, dù lúc bịnh hoạn hay đau khổ.
Tuy nhiên, hễ khi nào rảnh rỗi là ta phải nhớ ngay câu niệm Phật.
Ðánh đổi chúng sinh niệm bằng Phật niệm, tuy không được cao siêu nhưng là một phương tiện hiếm có để chuyển mê thành giác vậy.
13. CÓ ĐỐI TRƯỚC TƯỢNG HAY KHÔNG TRONG KHI NIỆM PHẬT?
Lúc đối trước tượng Phật, phải cho tượng này là thật Phật, không cần câu chấp một phương hướng nào, chẳng luận một thân nào trong ba thân của Phật, chỉ tự nghĩ: Ta chỉ nhứt tâm, tâm chỉ nhứt Phật, mắt nhìn tượng Phật, tâm niệm danh Phật, thật hết sức thành kính tất được linh cảm.
Lúc không có tượng Phật, nên ngồi ngay ngắn xây mặt về phương Tây, lúc khởi tâm động niệm, nên niệm tưởng hào quang của đức Phật A-Di-Đà trụ trên đỉnh đầu ta, mỗi niệm, mỗi câu, tự chẳng để rơi vào khoảng không, hắc nghiệp cũng có thể tiêu diệt.

Lời phụ giải: Người sơ cơ chưa có thể quán tự tâm đức Phật, thế nên phương tiện đối trước Phật tượng cho dễ xúc cảnh sanh tâm. Nhưng điều cần thiết là phải hết sức thành kính, vì hễ có cảm mới có ứng được.
Bài này dạy rõ, khỏi phải bàn luận dài dòng, hành giả nên coi kỹ và theo như thế, tội nghiệp sẽ được tiêu trừ, Phật tâm tự hiện.
14. NIỆM PHẬT TRONG LÚC BẬN RỘN
Nếu niệm được một câu thì nên niệm một câu, có thể niệm 10 câu, thì niệm 10 câu; chỉ làm sao trong 100 điều bận rộn, có được trong khoảnh khắc một chút rảnh rang, liền buông bỏ thân tâm sáng suốt tụng trì.
Ngài Bạch Lạc Thiên có bài thi rằng:
Đi niệm A-Di-Đà,
Ngồi niệm A-Di-Đà,
Ví dù bận rộn như tên,
A-Di-Đà Phật niệm lên thường thường.
Người xưa dụng tâm như thế, thật không thể chê được!
Lời phụ giải: Có người quá bận rộn với cuộc sống, có rảnh đâu nhiều mà niệm Phật; tuy nhiên trong trăm việc bận, chắc cũng có chút thì giờ rảnh, hễ rảnh thì niệm Phật, đừng để trí phải nghĩ tưởng vẩn vơ, khổ sầu vô ích. Việc đời, chuyện đâu bỏ đó, đeo đẳng làm gì thêm mệt, để thì giờ niệm Phật cho khỏe trí có hơn không? Có nhiều người để phí bao nhiêu thời giờ tán gẫu những chuyện đâu đâu, chỉ chuốc lấy bao nhiêu điều phiền lụy, do vài câu bất ý trong lúc vui miệng, cũng đủ gây cho lòng những mối lo âu, khổ sở, hay chuốc cho thân những đau đớn lụy phiền!
15. LÚC NHÀN RỖI NÊN NIỆM PHẬT
Trong đời có nhiều kẻ quá ư khốn khổ, muốn chút rảnh cũng không sao có được, nên không thể tu hành. Nay ta được rảnh rang, lại nghe biết được pháp niệm Phật này, cần phải gắng gổ, tương tục, thúc liễm thân tâm, chuyên trì Phật niệm; như thế mới không uổng phí tấc bóng quang âm. Nếu để tâm niệm buông trôi, không làm được việc gì, luống tiêu hao ngày tháng, cô phụ bốn ơn, một mai vô thường thoạt đến, sẽ lấy gì để chống cự đây?
Lời phụ giải: Có người cầu được chút rảnh rang để niệm Phật còn không có, ta nay duyên đời không bận buộc, vậy đừng nên bê trễ nữa, hãy cố gắng niệm Phật, đừng để ngày lại, ngày qua, rồi già, rồi chết, đến khi bấy giờ, dù muốn rảnh được một chút, sống thêm một giờ để niệm Phật cũng không được. Thật tiếc lắm thay!
16. NGƯỜI SANG GIÀU PHẢI NÊN NIỆM PHẬT
Phước đức của đời này đều từ việc tu hành kiếp trước, những vị tôn quý vinh huê, quá nữa là các bực cao tăng chuyển thế.
Nhưng, tuy có vinh huê mà không được trường cửu, nếu lại tạo điều nghiệp chướng, ắt khó thoát khỏi biển trầm luân. Vậy nên các ngài phải tự suy nghĩ: Những gì ta có thể mang theo được khi nhắm mắt? Ấy là công đức niệm Phật. Cũng như thuyền đi nhờ nước. Thế nên, hoặc lập thất niệm Phật, hoặc mời chư Tăng hướng dẫn mình niệm Phật, hoặc in khắc kinh sách Tịnh Độ, hoặc đặt tượng Phật Di-Đà để chiêm ngưỡng mà niệm, việc làm tuy ít, nhưng phải dụng công cho nhiều, lại phải chí quyết vãng sanh, đó là con đường tu hành của tất cả mọi người, chẳng luận giàu, nghèo, sang, hèn. Làm vị sứ giả của ngôi pháp vương, còn gì tôn quý hơn!
Lời phụ giải: “Vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân”, dầu ta có nhờ phước đức đã gieo trồng đời trước, hưởng được phú quý vinh hoa, song chỉ hưởng tạm mà thôi, khi ba tấc hơi dứt, mọi việc buông xuôi, chỉ nắm hai bàn tay trắng. Vậy thì ta có nên bám víu những cái giả ảnh đấy chăng? Chúng ta chắc đã ý thức được rõ ràng điều đó. Thế thì chúng ta phải kíp lập thành tích niệm Phật ngay và thật hết lòng cố gắng như chúng ta đã cố gắng lo làm giàu vậy. Người vô trí cho giả là thật, nên chạy theo những cảnh tướng, danh sắc phù phiếm bề ngoài, có được chút vui, song chỉ là cái vui tạm bợ, trong chốc lát. Kiếp người chóng tàn, thân người chóng diệt, chỉ có đạo đức thường còn, chân thật, không có những ồ ạt bề ngoài, không có cái vui chốc lát. Xem như ngài Khổng Tử còn bảo: “Ăn cơm nguội, uống nước lạnh, co tay lại mà gối đầu cũng có điều vui ở trong vậy!”. Cái vui đó mới là cái vui của người trí.
17. KẺ NGHÈO HÈN CŨNG NÊN NIỆM PHẬT
Than ôi! Có kẻ đã đem thân làm nô lệ, bị người khác sai sử, vất vả, khổ sở, mà không cầu mong thoát khỏi, thì về sau càng khổ hơn.
Nên biết bốn chữ Hồng-danh chẳng luận sang, hèn, giàu, nghèo, già, trẻ, trai, gái, chỉ cần mỗi ngày vào lúc sáng sớm, chí tâm xây mặt về hướng Tây, niệm 10 câu danh hiệu Phật, không xen, không dứt, để cầu sanh Cực lạc, thì hiện đời sẽ được hưởng nhiều lợi ích, khi thác tự được vãng sanh. Đức Phật A-Di-Đà thiệt là chiếc thuyền cứu mạng cho mọi người trong biển khổ vậy.

Lời phụ giải: Ở đời, đâu có ai nghèo cho đến đỗi không có thân, tâm? Vậy ta nên đem thân tâm sẵn có đó niệm Phật. Trong kinh Hiền Ngu nhân duyên có đoạn: Tôn giả Ca-Chiên-Diên độ bà già ở mướn, bán nghèo bằng phương pháp NIỆM PHẬT, bà đã đạt kết quả. Vậy chúng ta nên bắt chước bà già bán quách cái nghèo đi cho rảnh, đeo đẳng làm gì thêm khổ?
Khổ mà biết là khổ để tìm phương pháp thoát ly ấy là kẻ trí. Khổ mà vẫn không biết là khổ, mà lại còn cho cái khổ là vui, thì thiệt là hết chỗ nói!
18. TỊNH TẾ NIỆM PHẬT
Đã là người có trí huệ thì đừng để bị mê hoặc, cần phải hết sức tịnh tế niệm Phật để cho trí huệ được thêm kiên cố.
Phải biết, người trí niệm Phật, thì thiên hạ sẽ có rất nhiều người niệm Phật. Người trí niệm Phật thời những kẻ tu hành theo ngoại đạo sẽ dễ trở về chánh đạo. Tại sao? Vì tiếng tăm của người trí có thể mở tỏ lòng dạ họ, vì có tác dụng trí của người trí cứu rỗi họ.
Lời phụ giải: Việc làm của người trí sẽ mang đến một ảnh hưởng tốt đẹp và hữu ích cho kẻ thấp hay thiếu trí, trong trường hợp việc làm ấy với ý nghiệp lành. Vậy nên người trí phải tỏ ra xứng đáng sự tin tưởng của mọi người, đừng nên để những việc ngu hèn, như thị dục thấp kém gạt gẫm.
Một người có quyền thế tu niệm, sẽ có ảnh hưởng thật tốt đẹp đến những kẻ chung quanh. Nhờ sự khôn khéo, sáng suốt, cộng vào đó sự tin tưởng mãnh liệt của người lân cận, mà người trí khả dĩ làm được những chuyện to tát có ảnh hưởng đến thế đạo, nhơn tâm. Làm một mà kết quả được nhiều, đó là điều của nhiều người mong muốn. Ấy thế mà nhiều kẻ có thể làm được lại không chịu làm, hay làm cho lấy có, thì thật là đáng tiếc rẻ lắm thay!
19. LÃO THẬT NIỆM PHẬT
Đã không cầu danh lợi, cũng không khoe tài năng, chắc thật tu hành thật là rất khó có người làm được.
Tổ sư dạy: Về phương diện tham thiền, bới tìm một người si độn cũng không có. Nay người niệm Phật chính lo mình không được si độn mà thôi. Hai chữ LÃO THẬT là một đại lộ thẳng tắp đưa người sang Tây phương vậy. Tại sao? Vì hai chữ LÃO THẬT là ngoài bốn chữ A-DI-ĐÀ PHẬT không thêm một mảy may vọng tưởng nào.
Lời phụ giải: Người nhứt tâm niệm Phật, không duyên ngoại cảnh, lòng không chao động trước bất cứ một khuấy rối nào, coi như tất cả không có gì dính líu đến mình, con người ấy bề ngoài hình như kẻ ngây ngô, si độn lắm, nhưng trái lại thật là sáng suốt, thật là thanh tịnh đó. Người như thế thật không phải dễ kiếm! Phương chi, trong pháp môn niệm Phật có câu: Niệm bất nhứt bất sanh Tịnh độ. Mà hễ niệm nhứt thì muôn duyên buông bỏ, chuyên ròng câu niệm Phật. Lòng ta niệm Phật cùng lòng Phật tương ưng, Tây phương không lìa đương niệm, không cần đoán xa xét rộng chi cả mà Phật cảnh vẫn hiện tiền. Hy hữu thay Pháp môn Tịnh độ!
20. ĐƯỢC ĐIỀU VUI MỪNG NÊN NHỚ NIỆM PHẬT
Hoặc nhân nơi người mà vui, hoặc nhân nơi việc mà mừng, mối manh tuy nhỏ nhít, nhưng đều là những cảnh vui vẻ của kiếp người. Song phải biết: Cái vui đó nó hư huyễn không thật, không thể còn lâu, vậy nên nương nơi giây phút tươi vui đó, xoay tâm niệm Phật, thời ắt được nhờ ánh hào quang của Phật, trong thuận cảnh ấy, bỏ dứt đi ít nhiều ác niệm, những điều tốt đẹp liên miên, như ý tu hành, mãi đến lúc mạng chung, sẽ được vãng sanh Cực lạc, há chẳng vui mừng lắm sao!
Lời phụ giải: Kiếp sống của ta vui ít khổ nhiều, có vui chăng chỉ là cái vui tạm bợ, chốc lát rồi qua đi, nhường chỗ cho điều đau khổ dày vò con người. Vậy thì cái vui có bền bỉ gì mà ta lại tự hào hay níu nắm nó.
Những điều vui vẻ đáng cho ta ưa thích, vì nó chân thật, thường còn ấy là cái vui Thanh tịnh của tự tâm – Cảnh Cực Lạc của Phật A-Di-Đà sẵn sàng đón tiếp những con người tự tâm được thanh tịnh. Về được đó rồi còn gì vui hơn?
21. HỨA NGUYỆN NIỆM PHẬT
Trì danh niệm Phật nguyện để cầu vãng sanh; nhưng oai quang của chư Phật không thể nghĩ bàn, hễ niệm danh hiệu của các Ngài thì sở nguyện đều tùy tâm. Vì lẽ đó, trong kinh dạy: Niệm Phật có 10 điều lợi ích. (Xin xem lời phụ giải ở pháp số 44).
Những việc cầu cúng quỷ thần, tạp tu sự sám, khấn hứa nhiều ác nguyện, tin xằng những việc bói toán, xâm quẻ, không bằng dùng phương pháp niệm Phật để cầu nguyện.
Có kẻ hỏi: Vả như niệm Phật mà không ứng nghiệm thì làm sao?
Đáp: Ông chưa niệm Phật mà đã lo không ứng nghiệm, chính cái nhân không ứng nghiệm đó sẽ đem cái kết quả không ứng nghiệm vậy. Nhân thế nào thì quả thế ấy, há không đáng sợ lắm sao!
Lời phụ giải: Phật là đấng đại từ, đại bi, đại trí, đại đức, tối tôn vô thượng, là bậc thầy của trời, người sáu đường. Thế thì, khi cầu nguyện sao không cầu nguyện nơi các ngài? Thật cũng đáng lấy làm lạ! Có lắm kẻ sợ ma quỷ yêu tinh hơn sợ Phật, có lẽ cho rằng Phật hiền mà quỷ dữ chăng? Hay tại lòng mình không chân chánh, vì có điều tội lỗi, vạy tà, nên lờn chánh, ngán tà? Người Phật tử hãy suy nghĩ cẩn thận điều này, kẻo mình là Phật tử lại vô tình làm đệ tử của ma!
22. NIỆM PHẬT ĐỂ CẦU CỞI MỞ
Phàm tất cả nghịch cảnh quanh ta, đều do trái duyên nên có hiện, (ta phải cố cam nhận chịu) không nên lại khởi ác niệm, để phải dẫn khởi oan trái đến mãi về sau không dứt.
Ta phải nên tùy thuận nhận lãnh, có thể tránh được thời tránh, dứt được thời dứt, chỉ tùy nhân duyên mà đừng quên niệm Phật.
Phật có vô lượng trí huệ, phước đức quang minh, ngài sẽ gia hộ cho ta; dù gặp nghịch duyên, trái cảnh, cũng chuyển thành thuận cảnh, thuận duyên ngay.
Lời phụ giải: “Oan gia nghi giải bất nghi kết”, đừng nên đem oán trả oán, thì oan trái mới dứt. Vậy, chỉ có pháp niệm Phật là ổn nhứt.
Ví dù muôn đắng ngàn cay,
Một câu niệm Phật tan ngay cấp kỳ!…
Niệm Phật dứt bỏ oán thù,
Lòng không hung dữ ngục tù đâu vương?…
Niệm Phật mở rộng lòng thương,
Oán thân bình đẳng tai ương có nào?…
23. HỔ THẸN, TỰ GẮNG NIỆM PHẬT
Phàm đời này hay kiếp trước, ác quả đã thành tựu, thì khổ báo ắt đến, mà một phần khổ ở đời này tức là một phần ác trong kiếp trước, không thể đổ thừa cho vận mạng bất tề, mà chỉ nên tự hổ phận mình chẳng sớm lo tu. Mỗi một khi tưởng Phật, tưởng như lông trong thân đều dựng đứng, năm vóc như rã rời, buồn thương, cảm mến, đau xót, không muốn sống. Như vậy thời mỗi câu, mỗi chữ, từ trong gan, tủy mà ra, mới là chân cảnh niệm Phật.
Ngày nay, kẻ tăng, người tục niệm Phật, hoặc miệng niệm mà tâm tán, hoặc chỉ nhiếp tâm lúc niệm, dứt niệm thì tâm mê. Lại có người đang lúc niệm Phật xen nói chuyện tạp. Thế thì dù niệm suốt đời cũng không linh cảm. Mọi người thấy vậy, cho rằng: Niệm Phật vãng sanh là những lời láo khoét. Lỗi ấy đâu phải do Phật sao?
Lời phụ giải: Ta cùng chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh, không hai không khác, thế mà các Ngài đã giác ngộ, sáng suốt bỏ giả theo chân, còn chúng ta lại cứ mãi nhận hư làm thật, bối giác hiệp trần, cam chịu quanh quẩn mãi trong vòng khổ lụy trần ai. Thật còn gì hổ thẹn cho bằng! Vậy nên phải vận dụng tận cùng năng lực, hết chí lo tu, lấy chết làm kỳ hạn, cầu thoát sanh tử, không còn nghĩ ngợi, đắm lụy trần ai, để phải nhiều kiếp trôi chìm trong sông mê, bể khổ.
24. KHẨN THIẾT NIỆM PHẬT
Phàm người ở trong tất cả hoàn cảnh khổ đáng thương, mà ta không thương, tất trái với nhân tình, nhưng ở trong tất cả hoàn cảnh đáng thương ta chỉ thương suông thì làm sao hợp được với tánh Phật? Đã thương thì phải tìm phương thoát khổ, phải tìm cách cho mọi người rốt ráo thoát khổ. Phải biết rằng: Phật sở dĩ được tôn xưng là ĐẤNG ĐẠI BI, vì Ngài hay cứu khổ cho chúng sanh. Ta do lòng từ bi niệm Phật là cốt cầu lòng từ bi của Phật ban cho, cứu vớt khổ não cho chúng ta, thì cái niệm đó phải khẩn thiết đến bực nào!
Lời phụ giải: Niệm Phật để cầu thoát sanh tử, mà sanh tử là cái vòng xích vô cùng kiên cố, vì nghiệp hoặc phiền não của chúng ta quá đỗi sâu dày, lại thêm tội chướng ngày càng chồng chất thêm lên, nếu niệm lực không kiên cố, tâm niệm không tha thiết chí thành, thì riêng mình nói đến chuyện giải thoát còn là chuyện xa vời, huống là muốn cứu khổ cho người sao? Vậy ta nên hết lòng khẩn thiết niệm Phật để mong được lòng từ bi chiếu cố của Phật, như con thơ tha thiết trông được về với từ mẫu. Họa chăng?
25. CÚNG DƯỜNG NIỆM PHẬT
Phàm gặp giai tiết (tiết đoan ngũ, tiết trung thu v.v…) hoặc ngày vía Phật, Bồ tát thì nên hương đăng hoa quả tùy phận cúng dường, nhưng đó chỉ là tài cúng, chưa phải pháp cúng. Pháp cúng thuộc về tâm, quý hơn tất cả tài cúng.
Gần đây, vì tà giáo thạnh hành, bày đặt các pháp cúng kiến, la liệt quả phẩm, tam sanh, heo, dê, gà, vịt có ích gì cho sự tu hành? Thậm chí, còn bày bố trận đồ, chiêu hồn dẫn quỷ, tà mị, dị đoan, càng làm cho hao tài tổn mạng, dối dá bậy bạ, phỉnh gạt người đời. Chỉ pháp môn niệm Phật thì vạn bịnh tiêu trừ không tốn không hao, lại ít người chịu biết đến.
Kính mong những trang thức giả đừng để bị lầm.
Lời phụ giải: Giết mạng sống của kẻ khác để cúng cầu cho mạng mình được sống, thật là hết sức ích kỷ và vô nhân đạo!
Câu: “Thiên địa vô tư, thần minh ám sát, bất dĩ tế hưởng nhi giáng phước, bất dĩ thất lễ nhi giáng họa” sao không suy xét cho kỹ càng. Thần thánh đâu vì của cũng như tham quan ăn hối lộ sao? Trời đất không có lòng tư vị ai, hễ làm lành thì hưởng quả tốt, làm dữ mắc báo xấu thế thôi. Các bậc thần minh thầm xét nghiệm những tâm niệm, hành vi thiện, ác của mình tùy thời răn phạt, nào phải vì ta cúng tế mà các Ngài bỏ qua những điều tội lỗi của ta đâu?

Hơn nữa, tâm mình ngay, thân mình chánh, có sợ gì mà phải bận tâm lo nghĩ?

Khi niệm Phật, Phật hiệu đã ngự trong tâm ta, lòng ta xứng hợp với lòng Phật, cùng xứng hợp một điển lực thanh tịnh, thì tà ma nào dám nhập? Nghe theo tà mị, dị đoan chỉ càng làm cho hàng thức giả chê cười, mà cũng lại chuốc lấy họa hại không ít do một số kẻ lợi dụng lòng tin tưởng và sợ sệt của ta. Vậy hãy suy nghiệm cho thật chín chắn.
26. NIỆM PHẬT ÐỂ BÁO ÂN CHA MẸ
Ân của cha mẹ là cái ân to lớn nhứt phải làm sao báo đáp? Cung phụng tất cả những thức uống ăn, lập công danh để hiển đạt phụ mẫu, chỉ là phép báo đáp của thế gian; mặc dầu không phải là bất thiện, song xét cho tột thì đây chưa phải trọn vẹn (vì dù sao cũng vẫn còn trong vòng khổ lụy của kiếp người). Chỉ có cách là ta niệm Phật và khuyên cha mẹ niệm Phật, đem công đức ấy hồi hướng Tây phương, đó là gieo một hột giống kim cương, về sau ta và cha mẹ cùng tự được giải thoát. Huống chi một câu niệm Phật lại có thể tiêu được vô biên tội chướng. Những ai muốn báo thâm ân cha mẹ, không thể không biết pháp này.
Lời phụ giải: Cung phụng cha mẹ về mặt vật chất, nào quạt nồng, ấp lạnh, món ngon vật lạ, áo ấm cơm no, đó mới chỉ là cái hiếu thế gian mà thôi. Nếu không lo tu nhơn xuất thế, tất phải đọa
lạc tam đồ, quanh đi quẩn lại sanh tử không cùng, sao gọi là báo hiếu trọn vẹn được? Thế tất phải tìm cách nào cho rốt ráo? Chỉ có Pháp môn Tịnh độ Niệm Phật, cầu sau khi xả báo thân này, nương nhờ nguyện lực của Phật A Di Ðà mà được cùng vãng sanh Cực Lạc. Nhờ chiếc thuyền nguyện lực của Phật, bao nhiêu tội chướng của chúng ta dù nặng như đá cũng nương đó mà qua sông dễ dàng. Thế thì công ít mà quả to, ta còn chần chờ gì nữa?
27. BỐ THÍ BẰNG CÁCH NIỆM PHẬT
Phàm thấy người khổ não, trước phải giúp cho họ an thân (cho cơm, cho áo) rồi sau mới an ủi khuyên họ niệm Phật. Bởi vì cứu cái khổ trong nhứt thời, bố thí là gấp, mà cứu cái khổ nhiều kiếp, phương pháp niệm Phật lại gấp hơn. Hoặc thấy người hay vật bị nạn, sức mình không cứu rỗi được phải gấp niệm Phật cầu an cho hồn thức ấy. Hoặc đêm thanh tụng niệm cầu nguyện cho mọi loài thoát khỏi tai ương. Gặp lúc đao binh, tật dịch, năm canh trì niệm Phật danh, cầu cho chúng sanh được tiêu trừ mọi oan khổ.
Nên quán tưởng: Một câu A Di Ðà Phật của ta đây, trên tột trời Hữu đảnh dưới suốt đáy phong luân mọi loài chúng sanh một thời đều được lợi ích. Cách bố thí đó thật không thể nghĩ bàn vậy.

Lời phụ giải: Trước cho ăn no, mặc ấm để đỡ khổ phần xác, sau khuyên bảo niệm Phật để cứu rỗi linh hồn. Gặp nhiều trường hợp mà sức ta vô khả nại hà, chỉ nên nhứt tâm niệm Phật, vận dùng tất cả điển lành của mình chí hướng về kẻ ấy, cầu nguyện cho họ thoát khỏi khổ lụy của kiếp sống triền miên, giải thoát an nhàn nơi thiện cảnh. Một câu niệm Phật diệt oan khiên.

28. TỰ TÂM NIỆM, TỰ TÂM NGHE
Tâm tưởng, rồi mới động đến lưỡi, lưỡi khua động thành tiếng lại trở vào tự tâm, là pháp: Tâm niệm tâm nghe vậy. Mà hễ tâm niệm tâm nghe thời mắt không thể thấy bậy, mũi không thể ngửi bậy, thân không thể động bậy, vị chủ nhơn ông (tự tâm) đã bị bốn chữ A Di Ðà Phật bắt cóc mất rồi.
Lời phụ giải: Niệm tức là niệm tự tâm Phật, tai nghe tiếng niệm là nghe tiếng của tự tâm, tiếng ấy từ tự tâm mà ra, rồi lại chạy ngược vào tự tâm, xoây vòng như vậy, thời một mảy vọng tưởng cũng không còn, tất cả vọng trần, vọng cảnh cũng từ đấy mà diệt.
Niệm Phật niệm tâm, tâm niệm Phật
Tham thiền tham tánh, tánh tham thiền.
29. NIỆM PHẬT TRONG TIẾNG NIỆM
Tiếng niệm Phật đã thuần thục rồi, thời trong sáu trần chỉ còn một thinh trần. Tất cả sáu căn hoàn toàn gởi nơi nhĩ căn (lổ tai). Thân cũng không còn cảm biết tới lui, lưỡi cũng không còn biết khua động, ý cũng không còn cảm biết phân biệt, mũi cũng không còn cảm biết hít thở, mắt cũng không còn cảm thấy mở nhắm. Hai thứ viên thông của hai ngài Quán Âm và Thế Chí cũng tức là một, không chi là chẳng viên và chẳng chi là không thông cả. Vì căn tức là trần, trần tức là căn, căn và trần tức là thức. Mười tám giới đều dung hợp thành một giới. Trước chưa được thuần, lâu sau sẽ dần dần thâm nhập.
Phàm trong khi niệm Phật, phải lựa một chỗ vắng, yên, sạch sẽ, khoảng 4,5 thước vuông, đi nhiễu một vòng theo phía tay mặt, rồi sau từ từ cất tiếng niệm Phật, tiếng cao lên dần dần, niệm như vậy độ 3 vòng trở lên sẽ tự cảm thấy tâm, tiếng to bay vòng quanh khắp thái hư, bao bọc cả 10 phương, trùm đầy toàn pháp giới. Ðó là cách an trụ thân tâm, thế giới vào trong tiếng niệm Phật, và đó là đem thân, tâm của mình an trụ trong tiếng niệm Phật mà niệm Phật. Ðây là cảnh thù thắng để tiêu diệt tâm địa phiền não nhơ trược, hành giả cần phải gắng tập cho kỳ được. (Bài này chỉ vẽ rõ ràng, không cần phụ giải)
30. NIỆM PHẬT TRONG ÁNH SÁNG CỦA TỰ TÂM
Phàm tiếng là tiếng của tự tâm, thì ánh sáng cũng là ánh sáng của tự tâm. Hễ tiếng của tự tâm quanh lộn ở chỗ nào thì ánh sáng của tự tâm phóng ra ở chỗ ấy; nếu ta an trụ trong tiếng của tự tâm mà niệm Phật, tức là an trụ trong ánh sáng của tự tâm mà niệm Phật vậy. Ðây cũng là cảnh thù thắng diệt được lòng tham phiền não nhơ bẩn, hành giả nên gắng siêng tu tập.
31. NIỆM PHẬT TRONG THỂ CỦA TỰ TÂM
Tiếng nói của tự tâm vòng quây và ánh sáng tự tâm chiếu phát, tự nhiên tâm thể phơi bày. Một chơn tâm này như tấm gương tròn lớn (Ðại viên cảnh) rỗng thông sáng suốt, không gì ngăn ngại, mười phương, ba đời, ta, Phật, và chúng sanh, vòng khổ của đời trược, đài sen nơi cảnh tịnh đều là bóng trong gương cả. Cho nên niệm Phật trong tiếng tức trong ánh sáng, trong ánh sáng tức trong gương không phải một, khác. Ðây cũng là cảnh thù thắng tột cùng, diệt hẳn được tâm nhơ, cần phải gia công hết lòng tu tập.
Lời phụ giải: Tâm thể vốn luôn luôn thanh tịnh (tịch), nhưng hằng phát khởi diệu dụng sai thù (chiếu). Khi chúng ta nhận được toàn thể đại dụng không ngoài tánh thể thường như, thì bấy giờ, tâm, Phật và chúng sanh vốn chỉ là một, rỗng thông, sáng suốt, không gì ngăn ngại. Thật hành pháp niệm Phật mà đạt được như đây, thật quả là bậc đại căn tánh vậy! Muôn pháp đều chỉ là bóng hình trong gương, vốn dĩ hư huyễn, tự sanh, tự diệt, đâu can phạm gì đến tánh thể tự cổ thường như, bất sanh bất diệt của chơn tâm. Thấu triệt được lý này ắt đã thoát được ngoài dòng cương tỏa của không gian và thời gian rồi vậy.
32. KHÔNG DỨT
Buổi sáng niệm, buổi tối cũng niệm; vô sự niệm, hữu sự cũng niệm; chỗ sạch niệm, chỗ nhơ vẫn niệm, không một niệm nào mà không phải là niệm Phật. Giả sử hàng ngày có sự thù tiếp bạn bè, đãi đằng khách khứa, có lúc gián đoạn, nhưng chỉ gián đoạn thinh niệm, chớ không thể gián đoạn được tâm niệm. Niệm Phật mà công phu đến thế, thì dễ thành Tam muội lắm.

33. KHÔNG TẠP
Không xen tạp niệm tức là Chỉ, Chỉ là nhơn của Ðịnh, dừng được tạp niệm, thì chánh niệm (định) tự nhiên phát hiện.
Tạp niệm có 3: Thiện, ác, và vô ký, trừ hết ba thứ mới là không tạp. Tâm cần vắng lặng, vắng lặng thời các niệm thiện, ác không sanh. Tâm cần sáng suốt, sáng suốt thời vô ký niệm không có.

Ngoài Phật không có niệm nên tường vắng lặng, trong niệm có Phật nên thường sáng suốt rõ ràng.

34. KHÔNG DỪNG
Không dừng tức là Quán, Quán là nhơn của Huệ. Câu (niệm Phật) trước đã qua, câu sau chưa đến, câu hiện tại cũng không dừng. Cứ thế mà quán sát, rõ ràng nhưng không thể được (không câu chấp), không thể được nhưng lại rõ ràng. Ðuổi như vậy mãi sẽ thấu đạt lẽ vạn pháp duy tâm, tức Phật tức tâm, tức tâm tức Phật.
Lời phụ giải: (cho cả ba pháp trên) Niệm Phật tức niệm tự tâm Phật, cho nên không ngại gì chỗ nhơ sạch. Lại chúng sanh vốn đồng một thể tánh chơn tâm với Phật, vì vọng động bất giác nên để tánh Phật vốn sẵn sáng suốt phải bị phiền não vô minh che lấp, làm cho mê tối đảo điên, càng ngày càng chạy theo vọng trần vọng cảnh, xa lần thật thể, nhận giả làm chân; bấy giờ nhất niệm giác ngộ quay về ánh sáng của tâm, thì dễ gì trong một ít thời gian mà có thể bôi xóa đi được những phiền não đen tối vốn nhuộm đậm từ lâu. Thế nên, chúng ta cần phải luôn luôn liên tục theo dõi câu niệm Phật (niệm Phật tức niệm tự tâm Phật) Phật niệm liên tục mãi mãi thì chúng sanh niệm không còn, thế nên dù có bận rộn gì cũng chỉ gián đoạn được thinh niệm mà thôi, chớ làm sao ràng buộc được tâm niệm bên trong của chúng ta? Khi mà tâm chúng ta thuần một Phật niệm thì tạp niệm đâu còn? Tạp niệm bặt dứt (gió dừng) tâm không còn bị gì làm chao động nữa, bấy giờ tự tâm an nhiên tại định (nước lặng) thì muôn tượng hiện bày, không thiếu sót một mảy may, bấy giờ vạn pháp đương nhiên hiển lộ, tự tâm quán chiếu một cách thần diệu phi thường (huệ). Hành giả thật hành pháp môn niệm Phật được như đây quả đã đạt đến viên mãn cứu cánh rồi vậy.
35. TỨC THIỀN TỨC PHẬT
Hoặc khởi từ một câu thoại đầu gọi là tham thiền, hoặc ngồi mà dứt niệm gọi là tọa thiền. Tham hay tọa đều là Thiền cả, Thiền hay Phật đều là tâm cả. Thiền tức là Thiền của Phật. Phật tức là Phật của Thiền. Pháp môn niệm Phật đâu có gì ngại với pháp tham thiền, tọa thiền? Vả lại, người tham thiền có thể dùng bốn chữ A Di Ðà Phật làm một câu thoại đầu, niệm đến, niệm lui, niệm xuôi, niệm ngược, trở lại, xoây qua không rời đương niệm, mặc dù không nói tham thiền, mà thiền ở trong đó rồi. Người tọa thiền cần phải đến giai đoạn một niệm tương ưng, hoát nhiên như vinh vào hỗ hư không, mới là Ðắc thủ. Niệm Phật đến lúc nhứt tâm bất loạn, không phải là tương ưng là gì?
Niệm đến lúc tâm không, không phải vĩnh viễn tương ưng sao? Trong lúc niệm Phật, không hôn trầm, không tán loạn, chỉ, quán, định, huệ mỗi niệm viên thành; nếu muốn tìm thiền, thiền ở đâu nữa?
Lời phụ giải: Thiền tức Tịnh vì Thiền hay Tịnh đều cầu đạt mục đích nhứt tâm bất loạn, phương tiện tuy hai, nhưng kết quả vẫn một, mà Thiền thì khó thập bội! Trong Quy ngươn trực chỉ có đoạn thí dụ người tu các pháp môn khác, như thiền v.v… mà đi đến mục đích, khác nào như con kiến bò lên núi cao, như con mọt đục từng mắt tre mà lên, từ gốc cho đến tận ngọn. Pháp môn Tịnh độ niệm Phật thẳng tắt nhờ tha lực, như thuyền thuận buồm, xuôi nước, như con mọt đục ngang cây tre mà ra, còn gì nhanh chóng hơn!
36. TỨC GIỚI TỨC PHẬT
Trì giới luật của Phật để trị thân, trì danh hiệu của Phật để trị tâm. Trì lâu thì thân thuần, niệm lâu được tâm không. Tánh của niệm hay tánh của giới không hai; luôn luôn trì giới thì tội lỗi không hiện, luôn luôn niệm Phật, thời lúc lâm chung đánh tan được quỷ môn quan, vượt khỏi ba cõi. Nếu giữ giới đã có công phu, liền đem công đức này hồi hướng Tây phương, chắc được về trung phẩm. Còn như chưa có thể giữ trọn cả hai, thời nên phải siêng niệm Phật, như cứu lửa cháy đầu.
Lời phụ giải: Trì giới cốt làm cho tự tâm thanh tịnh, vì không gây tội lỗi, không có hối hận. Niệm Phật cũng cốt cho thanh tịnh tự tâm. Vậy nên trì giới tức là niệm Phật. Nhưng niệm Phật là phương tiện thiết yếu hơn khi người chưa giữ giới được trọn vẹn. Thế nên ta hãy cấp tốc niệm Phật, để cho tâm tịnh rồi thì tự nhiên giới được thanh tịnh.
37. TỨC GIÁO TỨC PHẬT
Một Đại tạng kinh đều từ tâm khởi, tâm nếu không Phật thì giáo lý cũng luống mà thôi. Nhưng có tâm ai mà không Phật? Chỉ vì tự mình không niệm vậy. Người có học giáo lý, ắt có coi kinh Lăng Nghiêm, mà có coi kinh Lăng Nghiêm, ắt có kẻ chê đức Thế Chí mà trọng đức Quán Âm.
Một chút chấp trước đó cũng đủ kết thành nguồn gốc sanh tử, dù học hay, thấy xa, hiểu rộng, chẳng qua chỉ giúp cho cái mầm khổ thêm tươi mà thôi, không giúp ích được gì trong việc thoát ly sanh tử. Xin hãy mau mau bỏ đi, bỏ tất cả, để tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương, gần gũi đức Di Đà. Còn nếu không buông bỏ được thì hãy đem công đức học kinh, giảng thuyết này, hồi hướng Tây phương, phát bốn điều thệ nguyện rộng lớn, cũng được kết quả không luống. Thoảng hoặc hoằng dương được pháp môn Tịnh độ, nói cho người ta hiểu công đức niệm Phật, thời nháy mắt, động niệm đều là trang nghiêm Tịnh độ, thế thì được vãng sanh thượng phẩm đâu còn nghi gì?
Lời phụ giải: Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Chí tu niệm Phật tam muội đắc nhập viên thông, còn đức Quán Thế Âm tu nhĩ căn mà được chứng viên thông, hai vị đồng chứng viên thông như nhau… nhưng vì theo căn tánh tương hợp của chúng sanh ta bà mà khi vâng lời Phật tuyển trạch viên căn, đức Văn Thù phải chọn nhĩ căn của đức Quán Âm là đệ nhứt, nếu không hiểu hoặc chấp giáo, cho là đức Quán Âm hơn đức Thế Chí, tất sai với tinh thần giáo điển. Thế là vì chấp giáo lý mà có sanh phân biệt hơn kém do cái ngã kiến sẵn có từ hồi nào đến giờ, làm cho ta mê mờ dễ sanh dị kiến, dễ tạo điều khổ ngay trong tự tâm và cái khổ vẫn gắn bó mãi mãi đến vô tận. Thật nguy hiểm thay!
Học, hiểu, giảng hay, nói giỏi mà cứ bị gò bó trong sự học, hiểu, đầu óc phải bị chi li, phiền toái trong văn tự, ngôn ngữ, có khác gì con tằm mắc trong cái kén, rồi cũng đến chết trong đó mà thôi!
Chi bằng đem hết thân mạng để trang nghiêm Tịnh độ, hay dùng cách lão thật niệm Phật cầu sanh Cực lạc còn hơn, cứ nói Thánh, nói tướng, bàn ra tán vào, luận dọc luận ngang, đều làm rối đạo niệm, không ích gì cho việc thoát ly sanh tử cả!
Thoảng hoặc tận dụng sở học, sở hiểu cùng tất cả khả năng ra xiển dương pháp môn Tịnh độ, hay rộng tán thán công đức niệm Phật, phương tiện diễn dụ khắp ba căn đồng tu hành niệm Phật tam muội, thời thật ngày vãng sanh về Cực lạc không xa mấy đâu!
38. KHÔNG TRÌ MÀ TRÌ
Khi vừa làm xong một việc gì, hay lúc nói dứt một lời nào, còn chưa kịp đá động đến câu niệm Phật, nhưng bốn chữ hồng danh của Phật đã nổi hiện lên ngay. Đây là trạng thái dễ thành tam muội (chánh định).
39. TRÌ MÀ KHÔNG TRÌ
Trì danh niệm Phật không mỏi chán, khoan khoái lại càng khoan khoái hơn.
Trong lúc niệm Phật, trì niệm bốn chữ thật rõ ràng, niệm đầu không lay động, bốn chữ bỗng nhiên tạm dừng. Cũng không phải có cái niệm tức bốn chữ, cũng không có cái niệm ngoài bốn chữ, như thế có thể tạm gọi là được thắng cảnh, chớ chưa phải thật tâm không. Nhưng siêng năng niệm Phật, cảnh này thường hiện, thời dần được tâm không, nếu nhơn một niệm tâm không liền bị hôn trầm, thì gọi là không có huệ.
Phải biết rằng: Tâm càng không thời niệm càng linh, tâm càng không thời niệm càng tịnh, đem cái ta trong tâm Phật mà niệm Phật ở trong tâm ta, không và bất không (có) đâu còn xứ sở? Ví như mặt trời, mặt trăng rực rỡ nơi bửu cung, vòng quanh núi Tu di, châu lưu chiếu thiên hạ.
Ôi! Còn gì bằng Diệu giác được viên minh!
Lời phụ giải: (cho cả hai pháp trên) Niệm Phật khi đã đến mức vô công dụng thì tự tại vô ngại, không cần dụng công, không cần tác ý, không niệm mà vẫn không lìa niệm, có niệm cũng không lìa thể vô niệm của tự tâm.
Như khi chúng ta mới tập đi xe đạp, thì cả đầu, mình, hai tay, hai chân đều như vận dụng tất cả, thế mà xe vẫn nghiêng ngã, lủi đây lủi kia, quanh qua lộn lại, thế mà khi ta đã thuần thục, tay không cần cầm, thân không cần uốn, chân đạp tự nhiên, không dụng công gì mà chiếc xe chạy ngay đi thẳng, không khó khăn như khi ta mới tập.
“Thế thượng vô nan sự, đô lai tâm bất chuyên”. Ơû trên đời không có gì là khó, là không làm được, chỉ sợ ta không làm và có làm lại không bền chí, thì chung quy việc gì cũng chẳng ra việc gì cả. Thế mới đáng ân hận!
40. CÔ THÂN NIỆM PHẬT
Tỳ kheo tu hành không cần bạn lữ. Cảnh niệm Phật càng cô tịch càng hay! Cao thấp tùy hợp, huởn gấp tùy phần, cốt mong cầu được thành một khối (nhất tâm). Chính lúc bấy giờ nên biết: thân côi nhưng tâm không côi, vì, tâm của chư Phật và đức Di-Đà chưa từng tạm rời ta. Móng lòng là Phật biết, khởi niệm thì Phật hay, lo gì cô tịch? Nếu pháp môn Tịnh độ còn điều gì chưa thật hiểu rõ, nên tìm kinh sách Tịnh độ mà coi. Như kinh A-Di-Đà, kinh Quán Vô lượng thọ, Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Thập Nghi Luận, Thiên Như Hòa Thượng Tịnh Độ Hoặc Vấn, Đại Hựu Thiền Sư Tịnh Độ Chỉ Quy, Long Thơ Tịnh Độ Văn, Tịnh Độ Thần Chung, Tây Phương Công Cứ, Tây Phương Xác Chỉ, Di Đà Sớ Sao,v.v… Đây chỉ dẫn một ít điều rõ ràng dễ hiểu, ngoài ra, còn nhiều thứ hay ho hơn,không kể xiết. Nên tìm học hỏi nơi các bậc cao minh thông hiểu Tịnh độ.
Lời phụ giải: Người tu hành cần nơi vắng vẻ để cho tâm được chuyên, nhất là tu Tịnh độ. Vì không nhất tâm tức không thể sanh Tịnh độ, mà muốn nhứt tâm, đầu tiên phải tìm chỗ yên lặng để lắng tâm tư. Như mặt nước có đứng lặng thì muôn sao mới hiện, mà muốn mặt nước lặng không gì hơn là đừng có gió. Khi đã nhập vào thể tịch của tự tâm tức đã nhập vào pháp giới thân của chư Phật, bấy giờ không chỉ là một ngọn đèn huệ của ta độc hiện, mà đã hòa đồng cùng vô lượng vô biên huệ đăng của mười phương chư Phật, ai bảo là cô tịch? Chỉ sợ ta dại dột không hiểu, mãi lo đua chen chốn trần tục lao xao, đến khi bỏ xác thân này, lại một mình một bóng thui thủi vào chốn Địa ngục A tỳ, đấy mới thiệt là cô tịch!
41. KẾT KỲ NIỆM PHẬT
Kết kỳ là kết thất (7 ngày làm một kỳ); nếu kết kỳ một mình, thì nên sắm 4 thứ để ăn: cơm khô, trái cây, gừng sống, dầu mè; 8 thứ để dùng: lư hương, đèn dầu, bồ đoàn (đồ để ngồi thiền), ghế dựa, áo bông (đồ ấm), khăn hay mũ, thùng vệ sinh, giấy vệ sinh (giấy sút). Ngoài 12 thứ đó, không để một thứ gì cả. Có thể trong suốt một tuần, không cho ai lai vãng, để rảnh rang niệm Phật.
Nếu có 5, 6 người đồng phát tâm kết kỳ niệm Phật, thời cần phải thỉnh một vị hộ thất, lập quy điều cho nghiêm chỉnh dán ở trước cửa.
Tất cả mọi cử động, uống ăn, hương hoa đăng quả, đều do vị hộ thất cung cấp đầy đủ, thời những người đồng thất cũng có thể suốt trong bảy ngày, chí tâm niệm Phật. Nếu còn hạn cuộc trong tình chấp buộc ràng, chưa biết những điều lợi hại của việc tu hành, thì đừng nên sớm khinh suất mà làm việc này.
Lời phụ giải: Sợ không vào thất hết kỳ, thì bao nhiêu công chuyện ngoài đời, hoặc khách khứa bạn bè, không sao được yên tĩnh mà niệm Phật. Thế nên cần phải kết kỳ, tức là lập thế trốn khách, trốn việc vậy. Những thứ cần dùng phải sắm đủ, để khỏi phải bận tâm, không nghĩ móng, hoặc nhờ nhõi người ngoài, hầu yên tâm niệm Phật. Đây chỉ nói đến bảy ngày, nhưng nếu người nhiều phương tiện, hoặc rảnh rang, có thể kết hai, hoặc ba thất, v.v… không hạn cuộc. Khi đã quyết định, thì đừng để ngoại sự chi phối, rồi nửa chừng dở thất, nếu chưa hết kỳ mà vội mở cửa, thì thật là chua! Nên biết rằng: người tu, càng tu nhiều ma càng khảo nhiều, nên không thể lơ mơ được, bởi thế nên phải hiểu và phải nhận định kỹ trước khi làm, không thì thua cuộc mà hỏng việc, lại để cười cho kẻ bàng quan.
42. TỤ HỘI NIỆM PHẬT
Bốn, năm người hẹn nhau hội họp tu pháp niệm Phật. Trước hết phải đặt điều ước, trật tự, sau mới bắt đầu niệm. Lúc đầu niệm thì một tiếng mõ một tiếng niệm, một người xướng bao nhiêu người niệm theo, đều đều, không nên so le, lộn xộn, mà làm loạn động tâm người đồng niệm.
(Pháp này không kết thất như pháp trên, mà tùy phương tiện tu tập, thế thôi, bao nhiêu ngày cũng không hạn cuộc.)
43. NIỆM PHẬT ĐỂ THÀNH TỰU CHO NGƯỜI
Hoặc ở yên một chỗ niệm Phật mà cầu nguyện cho người, hoặc đồng với người khác kết kỳ niệm Phật. Hoặc đem pháp môn niệm Phật chỉ dạy cho người biết, hoặc cho người mượn sách tịnh độ mà xem, hoặc phá những mối nghi lầm của người khác trong pháp môn này, hoặc khuyên người bền chí niệm Phật, những việc ấy đều tốt và đều có công đức cả.
Nhưng nếu người trong lúc lâm chung mà có mình đến hộ niệm, khiến cho người bịnh luôn nhớ câu niệm Phật, vừa nhớ vừa niệm, làm cho người ấy sau khi tắt hơi rồi được vãng sanh về cõi Tây phương, đó là thành tựu pháp thân huệ mạng cho người, công đức này lại càng thù thắng hơn!
( Pháp này không có gì là khó hiểu cả)
44. KHI CÓ TAI NẠN NÊN NIỆM PHẬT
Phàm lúc xảy ra tai nạn, mà nhớ phát tâm niệm Phật, tất có kỳ ứng (Ứng nghiệm lạ thường). Tuy rằng một nước có bị can qua hay một làng bị dịch lệ, mà niệm Phật để cầu, thì một người niệm một người an, trăm người niệm trăm người an. Không phải Phật có lòng riêng, lúc nào cũng ở trong ánh sáng bình đẳng, vô tâm mà ứng hiện. Vì sao? Vì động niệm thành tiếng tự mình rõ biết hào quang của đức Phật A-Di-Đà trụ trên đỉnh đầu ta, thời tự nhiên mỗi niệm đầy đủ, mỗi ni?m bền chắc, mỗi niệm dài lâu, thời hào quang của Phật chiếu đến gia hộ, các vị thiên thần độ trì, tự mình có thể lìa khỏi nạn tai, xin đừng chuyển niệm.
Lời phụ giải: Có người bảo: niệm Phật làm sao dứt được nạn này, nạn khác. Đó là tại vì mình không tha thiết hay niệm mà lòng vẫn nghi ngờ, thì bao nhiêu đó cũng chứng tỏ không đem kết quả tốt đến cho mình rồi. Nên hiểu rằng: Tâm mình lúc bấy giờ chỉ nghĩ có một chuyện niệm Phật, ngoài ra không còn nghĩ gì khác, một niệm quên thân, một niệm an tâm ấy càng kéo dài, thì khổ nào đày ải ta được? Câu “Linh tại ngã bất linh tại ngã” có ý vị lắm thay! Một người rồi bắt đầu nhiều người niệm Phật tức là chuyển ác niệm thành thiện niệm cả, thiện niệm ấy càng kéo dài, thì tai nạn nào mà không khỏi, tội khổ gì mà chẳng an?
Ngoài ra, trong kinh ghi 10 điều lợi ích của sự niệm Phật, tôi xin kính chép ra đây để quý vị tin mà cố gắng:
Ngày đêm thường được các vị đại lực thần tướng của các cõi Trời ẩn hình ủng hộ.
Thường được đức Quán Thế Âm Bồ Tát và các vị Bồ Tát khác ủng hộ.
Phật Di-Đà thường phóng ánh quang minh mà nhiếp thọ người niệm Phật.
Hết thảy các loài ác quỉ, rắn độc, thuốc độc không thể hại được.
Không mắc phải tất cả nạn nước, lửa, đao, binh, hoạnh tử, uổng tử, lao ngục, v.v…
Những tội lỗi đã làm về trước đều được tiêu diệt.
Đêm nằm chiêm bao không thấy điềm dữ, thường được thấy Phật, Bồ Tát, hào quang, hoa sen,…
Tâm thường vui mừng và làm việc gì cũng được kiết lợi.
Thường được mọi người thương mến và cung kính cúng dường.
Lúc gần thác lòng không sợ hãi, chánh niệm hiện tiền, tự mình thấy Phật và Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn vãng sanh Tây phương Cực lạc.
45. NIỆM PHẬT TRONG LÚC CHIÊM BAO
Nguyện lực bền chắc, công phu tinh thuần, ban ngày giữ niệm khăng khăng, ban đêm vẫn giữ niệm khư khư, thời trong giấc chiêm bao tự mình có thể niệm Phật, đó là triệu chứng sắp vãng sanh, vậy phải giữ điều hòa và cố gắng lên mãi, đừng lui, đừng loạn.
Lời phụ giải: Niệm Phật đến giai đoạn này, thật đã khá tinh thuần. Có nhiều người niệm được ban đêm, ban ngày không, lúc thức niệm lúc ngủ không. Như vậy tất còn gián đoạn, do công phu chưa thuần. Phải tập thế nào: luôn luôn giữ niệm niệm Phật, dù khi thức hay lúc chiêm bao. Muốn tập điều này, thì trước khi đi ngủ hãy cố niệm Phật đến khi nào ngủ mòm mới thôi, lại trước khi lên giường phải đánh thức tâm niệm niệm Phật bằng cách tự dặn dò: muốn thoát ly sanh tử không gì hơn ngươi phải luôn luôn nhớ niệm Phật, dù khi thức hay lúc ngủ. Mỗi hôm nhớ dặn thế, sẽ quen dần dần, tự nhiên có kết quả. Quý vị muốn khuya thức dậy đúng giờ, nên tập theo cách này: trước khi đi ngủ phải dặn thành tiếng: Đúng 5 giờ (hay 4 giờ tùy) phải thức dậy, nói đôi ba lần như thế, sáng ra sẽ thức dậy đúng giờ; nhưng nên nhớ một vài ngày đầu có khi bị xê dịch ít nhiều, vì ý niệm chưa thuần, nhưng sau đó thì sẽ thức đúng dần dần, rồi thì đúng hẳn, mười hôm như một. Điều này gọi là tập quen thành lệ chứ không có gì lạ cả.
46. NIỆM PHẬT TRONG LÚC BỊNH
Bịnh là cơ sắp chết, chết là mối quan hệ của các thánh, phàm, tịnh, uế. Trong lúc bịnh (bịnh nặng) phải khởi tưởng niệm là sẽ chết (để không sợ chết). Phải siêng niệm Phật, quyết định chờ chết, ắt có hào quang của Phật đến tiếp dẫn, làm toại chí nguyện vãng sanh của ta. Nếu trong lúc bịnh, dừng không niệm Phật, thì tất cả sự ái luyến, sợ sệt, phiền não hiện lên rần rần, các thứ tạp niệm nhứt tề chổi dậy. Thế thì con đường sanh tử lấy gì cứu vớt? Ngày xưa, có một vị Tăng bịnh nặng, rên thành tiếng “Ôi cha”. Bỗng tự biết người tu lúc nghĩ nhớ đến đạo mà lại rên như thế là sái, liền khởi niệm A-Di-Đà Phật. Nhưng cơn đau không chịu dứt. Nên một tiếng rên “ôi cha” là một tiếng niệm Phật tiếp theo, ngày đêm không dứt. Khi bịnh lành, thầy bảo mọi người: Trong lúc bịnh tôi rên thành tiếng “ôi cha” và chen một tiếng niệm A-Di-Đà Phật, hôm nay bịnh lành, tiếng A-Di-Đà Phật hiện mà còn tiếng rên “ôi cha” chẳng biết biến đâu.
Hy hữu thay ! Đây là trường hợp tinh tấn trong lúc bịnh vậy.
Lời phụ giải: Ở đời, có ai khỏi chết, thế mà có kẻ sợ chết đến thành đớn hèn, hay tham sống đến quên chết, thật khổ thay!
Sợ chết rồi cũng không thoát chết, thì có sợ cũng bằng thừa. Ngày xưa có nhiều vị làm những chuyện có thể gọi là đáng buồn cười, thế mà thật là ý vị: Sắm sẵn một cái hòm (quan tài), đêm đêm vào ngủ trong ấy, thật là một việc mà người đời ai cũng sợ. Một người thân, rất thân, vừa mới dứt hơi, có kẻ đã không dám léo hánh đến gần, đừng nói dở mặt để xem. Vào ngủ trong hòm, cho biết rằng vị ấy coi cái chết như một giấc ngủ, không có gì đáng sợ. Hơn nữa để thấy rằng: Cái chết nó sẵn sàng đến với ta bất cứ lúc nào, để mà, không phải sợ chết, chỉ cố lo vun quén cho mình một kiếp sống không bao giờ chết: Con đường giải thoát. Vậy chúng ta hãy cố mà niệm Phật đừng sợ chết, vì cái chết của một xác thân này chỉ là một cái cổi lốt tạm của vô lượng thân vô thường biến chuyển về sau, nếu ta chưa được giải thoát!
47. PHÚT LÂM CHUNG NÊN NIỆM PHẬT
Phút lâm chung nên cố gắng ghi nhớ bốn chữ A-Di-Đà Phật đừng để sót quên. Nếu niệm lớn được thời niệm, còn không niệm lớn được thì niệm nhỏ. Trường hợp lớn nhỏ đều không niệm được (vì quá mệt), thì nên ghi khắc, thầm tưởng bốn chữ trong thâm tâm, đừng cho quên sót.
Những người hầu hạ chung quanh phải thường nhắc nhở, khuyến khích người bịnh nhớ Phật, niệm Phật.
Phải biết rằng: trong nhiều đời, nhiều kiếp, sở dĩ ta bị loạn niệm trong lúc này (gần chết) mà phải luân hồi mãi trong vòng ba cõi. Tại sao? Vì sanh tử, luân hồi đều do nhứt niệm làm chủ, nếu nhứt niệm chuyên chú niệm Phật, thì thân tuy chết nhưng tâm thần không tán loạn, liền theo nhứt niệm ấy mà vãng sinh tịnh độ.
Vậy nên hãy nhứt tâm ghi nhớ bốn chữ A-Di-Đà-Phật đừng quên!
Lời phụ giải: Người tu tịnh độ khi gần mạng chung, nên phải dự tính rằng:
Phút lâm chung là điều quan trọng cuối cùng của đời người tu hành niệm Phật; nếu giữ gìn không kỹ, vận dụng không khéo, thì chẳng những luống uổng công phu trong một đời mà lại vẫn mang cái khổ lụy luân hồi sanh tử, không sao tránh khỏi. Huống chi thân ta đây do nơi nghiệp thức, nhờ chút tinh cha, huyết mẹ tạo nên, hễ có hình phải có hoại, có sanh tất có tử, thật không vĩnh viễn tồn tại!
Còn cõi ta ở đây, đầy đủ uế trược, ác hiểm, cũng từ nơi vọng nghiệp nhơ bẩn mà sanh, không phải là cảnh thanh tịnh, an nhàn, đáng cho ta quyến luyến. Ngày nay ta nhứt tâm niệm Phật cầu khi bỏ thân này, được vãng sanh Tây phương Cực lạc, chẳng khác nào bỏ áo cũ dơ, mặc áo mới sạch, thì còn mong gì hơn nữa.
Nếu suy nghĩ, dự tính được như thế, thì đến khi sắp chết, trong lòng không còn tham luyến sắc thân, ngoài không đắm mến cõi đời, nhứt tâm chánh niệm trực vãng Tây phương, dù sức muôn trâu cũng không kéo lại được.
48. PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI NIỆM PHẬT
Than ôi! Trong đời có thiếu gì kẻ không biết niệm Phật, có người cho niệm Phật là dị đoan nên không chịu niệm, người xuất gia cho niệm Phật là việc tất nhiên của mình phải làm, chớ không biết tại sao phải niệm, kẻ cuồng huệ biết có Phật, nhưng lại không khứng niệm, kẻ ngu si không biết Phật nên không niệm. Đây là đem so sánh, còn có những ngu phu, ngu phụ, nghe nói lý nhân quả cũng biết niệm Phật, nhưng lại mong cầu được phước báo đời sau, vẫn không thoát khỏi hột giống luân hồi.
Tìm kẻ thật vì đường sanh tử mà niệm Phật, trong trăm người họa chăng chỉ có một hai! Nên biết rằng, người đã niệm Phật, tức xứng hợp với lòng từ của Phật, phát thệ nguyện rộng lớn tế độ chúng sanh. Tất cả tội cấu oan khiên thảy đều sám hối. Tất cả những công đức dù nhỏ dù lớn đều đem hồi hướng Tây phương, như thế mới là CHÁNH NHƠN NIỆM Phật.
Lời phụ giải: Làm một việc gì đều phải có mục đích và tất nhiên phải có đạt đến kết quả của nó. Một việc niệm Phật, siêu xuất luân hồi, vãng sanh Tịnh độ, với mục đích đã nhắm và với kết quả sẽ đạt thật là cao siêu và thật tế, thời hành nhân ắt phải rõ thấu và tận dụng trí giác của mình, đâu phải những điều huyễn hoặc, vu vơ hay thiển cận mà khinh hốt!
Nhận thức đúng đắn điểm này thời việc làm ắt không đến đỗi luống, thiệt lòng niệm Phật cầu thoát sanh tử thời cầu mong phước báo hữu lậu ở thế gian làm gì? Vạn vật vô thường của cõi thế nào phải là chỗ gửi thân vĩnh viễn của ta đâu? Nhưng đó chẳng qua vì hoặc nghiệp, phiền não nhiều kiếp sâu dày, mặc dù cũng có hiểu biết đấy, nhưng lại phải chướng dày mà huệ mỏng, nên rồi phải tự cam với số phận hẩm hiu. Vậy khi đã rõ thông và phát tâm niệm Phật thì phải hết lòng, hết sức sám hối nguyện tiêu trừ tất cả chướng cấu trần lao để lòng thanh thoát, không còn bị những ảo ảnh gạt lường, mới mong đạt thành sở nguyện.
Giang Ðô Trịnh Vi Am
(Sa-môn Thích Tịnh Lạc dịch và chú giải)
* * *

地母娘娘就是創造宇宙的上帝

《地母娘娘就是創造宇宙的上帝》

【細說原由】陳漢聲整理

宇宙造化的玄奧和莫測高深,使得人們產生探討性命之源,修心之訣與領悟玄機之秘。民國63甲寅年8月7日,東台灣玉里鎮,混沌古鳳宮地母廟地母娘娘降諭細說原由。童生顏先月、鸞生褚善元飛鸞奉命傳旨到人間。摘錄自「地母化詩真經」細說原由篇,文中「吾」即地母娘娘。
【上帝與人的根源】

(地母娘娘就是西方人所稱創造宇宙的上帝)話說上古時代,當年尚無人類之時,宇宙一片混沌,天地本是虛空,地母娘娘並不是肉體所生,而是白炁陰陽二氣煉化而成的,此典故本來不讓世人知曉。現時為末劫年代,烏肚蟲作怪,惡人甚多,善人稀少。不得已,地母娘娘為救善良世人,今乃將天意公開。世人愚昧,作惡者多,不知生死亂天地,三界外之事,無論有無虛實,甚至不惜捏造,大事宣傳宣染。無人得悉諸神之困境,神與人堪稱恰相似;人在凡塵行走以肉體為寶貴,神則靠靈氣為旋轉也。
地母娘娘為天地間總教之教主,無論何種教派,均脫不出地母娘娘之掌中。却有人傳說,「吾」就是梨山老母,並不正確。「吾」出生在混沌石巖內。何謂混沌?有人解釋為青岩。混沌本係沉在雲霧裡,應沉沒在土地中,不出現在人世間。當年「吾」不欲奔遊四方,而如今不奔遊卻不行。蓋斯時不臆會有今日,世間人作惡多端,變成如此地步。「吾」─地母娘娘有口無憑,此乃「吾」當初傳下人類之過錯也。
「吾」本修行在混沌雲霧青石岩裡,無水無草無物可吃,雙眼必看地(人世間),雙眼若抬起,天地便要震動。「吾」修至八萬五千零二年時,心想只有地母我一人也沒有用。所以就煉製「無極圖」(即虛空),經過一年虛空煉成,於是有了氣候,那時「吾」坐在長江上,心裡感嘆悲哀,心想如果有人為伴,豈不是更好?因此有一天,乃將無極圖(虛空)棄之於地,落地時有十指,其小指有一點血珠滴在白玉石上,年久月深,凝結精華,經過一萬二千年後,變成一個十一、二歲孩童,取名「慈心」就是「王母娘娘」也。
有一天女兒王母娘娘說:「天下間需要有人類傳宗接代,乃以仙桃樹之金果二粒變成人形。」金果者,何人耶?一是「盤古」,一是「女媧」(盤古與女媧也就是耶穌創世紀篇中的亞當與夏娃)。盤古身著樹葉,赤腳,無腦漿,後來轉世為五谷先帝(即是神農氏),集天下靈藥由此起也。女媧(後轉世為九天玄女娘娘,祂另創立佛教,稱為十八手菩薩),此二人亦非人所生,乃樹生也。此時一家共有四人。但女媧聰明如珠,在五谷岩山下,煉成「三聖」─玉麒麟童子(後轉世為「太上老君」)、金爐童子(後轉世為「八卦祖師」)、白鶴童子(後轉世為「鴻鈞老祖」,祂另創白羊教,亦奉地母娘娘為教主。此三兄弟是共爐煉成。「吾」七人相處一家本該融洽,何期有人發出野心想要為王,何況於凡人怎無野心;您想王由何人擔任?由吾女兒乎?但依是女人,無此可能也,雖有天地是有女男,但不能單女獨男成國成家。乃由八卦、紅君下凡借烏肚蟲轉世成人形,從此就有人類。因此,地母娘娘是諸天佛聖仙真和人類共同的祖先,天地間總教之教主,也就是創造宇宙的上帝。
人類起初是溫溫暖暖過日子,不料後來又有人爭著為王,不得已,女兒(王母娘娘)下凡再巡察人世間,查知有溫州府潮州縣張家之子順儀,撿柴維生,是一孝子,慈心王母娘娘乃將他帶回天庭為王,玉皇大帝便是如此之由來。有人傳說,他有建置家室,其實玉皇並無婚配也。到此時,天庭有王,為母(地母娘娘)便隱遁,不再出現人世間。直至昭和時代有一位黃鏘者,以開礦為生,在台灣東北方開出吾肚腹,乃為吾建宮,這卻是天意也。
你們人類係吾之子女,要心堅意切。第一:孝順父母。第二:夫妻子女要和合。第三:救苦濟貧。第四:男女廉恥、智慧眼要開。第五:在宮之人,禮義雙全,開口馴珠,不可欺貧重富,眾生之交,不可站高看低,不可抬高於人。第六:事事明朗,無神指揮不可亂說,不可將事化在神上。第七:對國對民一體同樣,不可開口傷人,地母有命,口到氣到。第八:勸化邪惡,兩足伸起,不可根基露洩,才不致落地獄之苦。(眾邪惡須知地獄之苦,三時風二時雨五火之雷神,掌管十八地獄。語曰:三多不是福祿壽,時在貪嗔痴牽絞,風吹風襲往肌骨,二不醒悟邪惡連,時露狂癲時驚恐,雨淋雨潑受罪衍,五鬼纏身禍難躲,火燒軀殼心頭煎,之時方悔非非做,雷打電霹又連鞭,神祇無私公正做,掌理是非辨奸賢,管轄生前身後事,十惡之人墜深淵,八邪亦難逃閻羅,地禁惡徒無天邊,獄牢苦海苦長年。)
地母娘娘所說之言,勸人要行正道,不可為非作歹,圖一時之樂。地藏王之法無邊,四大天王之法,好比天羅地網。人若行正道,可歸成正果,是以眾神佛及邪惡亦了解,不可貪戀榮華富貴,草木之花亂採,不可違害眾神名聲,不可擾亂地方。吾(地母娘娘)開口說出這些話,並非誇吾(地母娘娘)有此大能力,而係以吾之法心、慈心勸化邪惡及諸佛正神,吾能滅度這段長期間,為何今日才出現來講這些話,這是天意,終歸到底,眾人便知有無地母之存在?
各位想要知道地母娘娘的名與姓,鴻蒙時期尚未分離成為宇宙之前的老混沌就是啦!你們稱呼地母娘娘為【鴻蒙老祖】、【混沌老祖】、【無極至尊】或【無極老母】都可以,一般世俗稱呼為【地母娘娘】。而小混沌的週期是十二萬九千六百年為一循環。芸芸眾生秉持著地母娘娘的靈炁玄化降生以後,受世俗名利權勢的薰陶與引誘,逐步作繭自傅,蒙蔽先天的靈性,暴露後天的貪婪無知,終至墜落六道輪迴中掙扎,失去了原性。芸芸眾生可知道?地母娘娘修道煉炁成形,受盡了千辛萬苦,及至創造宇宙,原本希望眾生過著神仙般的生活,沒想到眾生泯滅了本性,讓地母娘娘失望極了!就像慈母養育子女,等到子女長大成人離家以後音訊杳然,讓地母娘娘悲傷的坐在長江滾滾江流水邊,放聲大哭一樣。啊!芸芸眾生迷失本性,越輪迴越嚴重,無法返回虛空仙境。看樣子,想要母子再團聚見面,除非再來一次混沌,再創造一次宇宙了,這是多麼悲哀啊!
【補註】

1、【地母經】本經於滿清光緒九年正月初九日在陜西漢中府城固縣地母廟飛鸞傳經。地母經是地母娘娘苦口婆心勸化世人的經典,地母經又名玄化養生保命真經。

2、【玄化養生保命真經】即是無上虛空地母玄化養生保命真經,也簡稱【地母經】,地母經分上下二卷,上卷又稱地母真經,下卷又稱地母妙經。

3、地母娘娘是創造宇宙的上帝,因此地母娘娘乃是諸天佛聖仙真和人類共同的祖先,敬奉地母娘娘,持誦地母經和祭祀祖先孝順父母的道理是一樣的。諸天佛聖仙真與人之心意共通,均能心想事成,今世為人,要想改善命運,或想修行成正果之人,必須【時時心存善念,時時做好人做好事】,是每天的重要功課。今世降生為人,若能敬地母、孝雙親、誦真經、行正道,可避災劫、獲常樂、得永生。(誦真經即每日誦唸地母經)
地母至尊總共有十五代
來歸寧宮問事的有緣信眾,有許多人都不知道地母至尊共有十五代。

地母至尊向信眾開示為何會有十五代:就如同『大慈大悲觀世音菩薩』每一個世代來到凡間救渡眾生,所化生的面貌形象都不一樣,如『千手千眼觀世音』『香山會上觀世 音』『天竺靈山觀世音』『普陀山上觀世音』『南海岸上觀世音』『北海河頭觀世音』『白衣素愿觀世音』『紫竹林中觀世音』『七十二愿觀世音』『三十六愿觀世 音』……等等各種觀世音菩薩的形象一般,地母至尊下凡救渡眾生、教化世人時,也因應各世代需求與目的而展現不同形象。
『歸寧宮』主祀恭奉的是第一代地母『救苦地母大慈尊』。

是十五代地母至尊當中唯一白頭髮的老地母。

地母至尊總共有十五代,如下所列:

(一)救苦地母大慈尊      本命延生君
消災保安寧  慈悲救世  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(二)惠眾地母大慈尊      本命元辰君
消災保安寧  育物慈民  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(三)玄元地母大慈尊      本命延生君
消災保安寧  賜子靈應  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(四)三光地母大慈尊      本命元辰君
消災保安寧  助貧行善  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(五)大慈地母大慈尊      本命延生君
消災保安寧  賜福降祥  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(六)圓明地母大慈尊      本命元辰君
消災保安寧  保護善人  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(七)大願地母大慈尊      本命延生君
消災保安寧  所求如意  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(八)懿範地母大慈尊      本命元辰君
消災保安寧  萬民恭敬  地母大慈尊
大道玄玄   虛空地母  無量大慈尊
(九)虛空地母尊        本命延生君
消災保安寧  扶持社稷  慈悲地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十)大聖地母尊        本命元辰君
消災保安寧  禦災捍患  消災地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十一)金光地母尊       本命延生君
消災保安寧  收瘟攝毒  救世地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十二)寶杵地母尊       本命元辰君
消災保安寧  驅邪護正  救世地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十三)上靈地母尊       本命延生君
消災保安寧  囹圄解釋  救世地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十四)聖德地母尊       本命元辰君
消災保安寧  消災滅罪  救世地母尊
虛空地母         無量大慈尊
(十五)靈應地母尊       本命延生君
消災保安寧  解災度厄  救世地母尊
虛空地母         無量大慈尊

地母娘娘就是創造宇宙的上帝 – 歸寧宮神尊聖紀 – 歸寧宮

廣成子自然經

廣成子自然經,陶冶情操還可以
由 天帝賴元和 發表于資訊

至道之情,杳杳冥冥。無視無聽,抱神心以靜。形將自正,心凈心清。無勞爾形,無搖爾精,乃可長生。慎內閉外,多知為敗。我守其一,以處其和,故千二百年,而形未嘗衰。得吾道者上為皇,失吾道者下為士。予將去汝,入無窮之間,游無極之野,與日月齊光,與天地為常,人其盡死,而我獨存焉。

自然之道常清,陰陽之道常靜,為人之道常經,名曰:自然經。

大道無形,生育天地;大道無情,運行日月;大道無名,長養萬物。民欲得道,必修道德。人法地,地法天,天法道,道法自然。故天地之玄奧,盡在自然之造化。道生一, 一生二, 二生三, 三生萬物,萬物負陰而抱陽,沖氣以為和,陽機也;聖神不死,是謂玄牝。玄牝之門,是謂天地根。綿綿若存,用之不勤,陰機也。合此陰陽玄機,方明道理。

民至朴,我無為,超凡之入聖,返本之還元,必化身於自然。道大,天大,地大,人亦大。故天有三寶:日月星;地有三寶:水火風;人有三寶:精氣神;知而會用,大道成。以此,天地與吾一體,萬物與我同化,自然與我同在,何也?全心全意為自然服務,大道之行,天下為公。須知得之於自然,還之於自然,是謂道要。以我之精合於自然之精,我之炁合於自然之炁,我之神合於自然之神,窮理、盡性、了命,功成圓滿,直證太上無極自然之聖境。至此方明天地萬有之根源,宇宙運化之玄機,眾生顯隱之真相。

壯哉,生我養我育我的大自然!天地合其德,日月合其明,陰陽合其道,四時合其序,萬物合其自然,法到乾坤開,功到自然成。故太上無極自然聖祖,廣開自然之道法,普濟群生,以明玄要。玉丹、地丹、天丹、玄丹、聖丹,容過去、現在與未來,五丹合一大光明,自然道炁造化真,紫炁中來無極出,笑傲乾坤億萬年。學道之子,如能恆久修持,必達重整乾坤、再造宇宙、萬化自然、來去自由的大境地。願天下蒼生人人皆愛自然,人人皆證大道,以此享自然無上之智慧,無上之法力,無上之造化。

Design a site like this with WordPress.com
Get started