HOC VAN NGUOI QUAN TU

HOC VAN NGUOI QUAN TU

HỌC VẤN NGƯỜI QUÂN TỬ.

HOC VAN NGUOI QUAN TU

HỌC VẤN NGƯỜI QUÂN TỬ
Quan niệm Nho giáo xưa chia con người ta thành hai hạng chính là quân tử và tiểu nhân. Để cho mọi cá nhân hoàn mỹ, nền văn hoá cổ đưa ra hàng loạt khái niệm quan trọng: nhân, đức, lễ, hiếu, nghĩa nhằm ràng buộc, chế ngự hành vi con người, mong muốn con người nhanh chóng được hoàn thiện.

Cần phải hiểu rõ các danh từ riêng quân tử và tiểu nhân thì mới biết xã hội xưa đã đề cao nhân cách cao đẹp trong cuộc sống biểu hiện qua tư duy biểu đạt, giáo dục và hành vi của bậc chính nhân quân tử. Con người ta đi trên đường đời cũng giống như người lữ khách nhìn thấy trước mặt rất nhiều lối rẽ phải lựa chọn. Nếu đi đường thẳng quang minh thì sẽ đến đích suôn sẻ, nếu đi đường cong queo sẽ lạc bước sa chân, vì thế người quân tử bao giờ cũng xác định chọn đường thẳng, còn kẻ tiểu nhân toàn chọn những đường gấp khúc ngoắt ngoéo. Hai danh từ chủ yếu trong các sách vở, ngôn từ, sinh hoạt cổ này thoạt đầu chỉ đề cập đến địa vị trong xã hội, về sau mở rộng nghĩa ra thành người quân tử luôn đàng hoàng, phẩm cách cao thượng. hiên ngang chính đại, vì nghĩa quên thân, kẻ tiểu nhân chí khí bạc nhược, hèn hạ cúi luồn, hám lợi bỏ nghĩa. Ngay cả trong những người có văn hoá giáo dục, cũng vẫn chia làm hai loại là nho quân tử và nho tiểu nhân Nho quân tử là người học và làm theo đạo thánh hiền, lo tư thân sửa mình để hoàn thiện nhân cách chứ không nghĩ học lấy bằng cấp chỉ cốt lấy nghề kiếm ăn. Người quân tử làm việc dựa vào sức mình là chính, làm sai điều gì trước hết phải tự trách mình rồi sửa mình, khi thấy việc thiện thì phải cố làm cho được thấy điều ác thì phải sợ hãi tránh xa. Muốn học làm quân tử cần phải thành thực, không bao giờ tự lừa dối mình mà làm hại sự hiểu biết của chính bản thân và biết giữ chất phác trong nội dung và văn hoá ngoài hình thức.

Đối với một người nhân nghĩa trung chính thì học vấn là điều tối quan trọng. Người quân tử bao giờ cũng muốn có đức’ nhưng phải có học thì cái đức mới có giá trị bởi nhân, trí tín trực dũng, cương đều là đức tốt cơ bản để tư thân, nhưng nếu chỉ muốn đức mà không muốn học để hiểu lý lẽ hay dở, đúng sai thì rất sai lầm. Muốn nhân lại bị tình cảm chi phối, che mờ đi thành ra ngu tối. Muốn trí lại bị ham muốn phân tâm thành mông lung. Muốn tín lại cố chấp hẹp hòi đâm ra ích kỷ. Muốn trực lại bị nóng nảy khống chế đâm ra ngang ngạnh. Muốn dũng lại không kiềm chế được thành ra bạo loạn. Muốn cương nhưng cố bảo thủ kiểu gàn dở đâm ra ngông cuồng… hậu quả của việc có đức nhưng không có học vấn là vậy. Sự học cũng như việc trồng lúa, có cây lúa mọc lên không tốt, có cây mọc tốt lại không có hạt. Người đi học thì có người học mãi vẫn không giỏi, có người giỏi thì đức lại không ra gì, vì thế mà con người ta cần giáo dục bồi đắp, tu dưỡng đạt được cả tài và đức. Người đi học thì phải say mê thì mới mong tiến bộ, nhất là đừng vội đặt ra mục đích cầu danh, kiếm lợi thì kiến thức mới sâu sắc, chắc chắn.

Người quân tử phải chuyên tâm nghiên cứu mọi diều hay, điều tết trên lý thuyết và trong thực tế cuộc sống chứ không phải học vẹt, khoe mồm chỉ biết nghe qua tai rồi nói ra miệng lấy mẽ thì học kiểu gì cũng vô bổ. Khổng tử còn cho rằng: “Người quân tử có ba điều lo nghĩ không thể không xét đến. Trẻ mà không học thì khi lớn lên không có tài năng gì. Già mà không chỉ dạy người, khi chết rồi không ai tưởng nghĩ đến mình. Khi giàu có mà không đem của giúp người thì lúc cùng quẫn không ai giúp mình. Cho nên người quân tử lúc trẻ nghĩ đến tuổi già mà lo học, lúc già nghĩ đến cái chết mà lo dạy người, lúc thịnh nghĩ đến lúc suy mà lo giúp người”. Sách Đại học xưa cũng dạy rằng: từ vua đến dân ai cũng phải lây tự sửa mình làm gốc vì kết quả học vấn là biểu hiện rõ nhất của phép tu thân. Muốn hoàn thiện mình, quan trọng nhất phải giữ được tâm và ý. Giữ được tâm cho chính tức là không bị chi phối và điều khiển của tức giận, sợ hãi, vui say. Còn khi tâm đã loạn thì mắt trông không thấy, tai nghe không hiểu, mồm ăn không biết mùi vị. Giữ được ý cho thành nghĩa là không bao giờ tự lừa dối mình, đối với mọi việc đều thành thực như như ghét mùi thối, yêu sắc đẹp. Nho giáo lấy thành ý là chìa khóa của phép tư thân. Khi đã biết cách sửa được mình thì biểu hiện đầu tiên là không làm điều gì bất thường, trái đạo, không dùng lời nói khéo mà hại đạo đức, không nóng nảy làm bậy, không bo bo tính lấy lợi ích của riêng mình, tuy ai cũng muốn có phẩm giá nhưng không được dựa trên danh lợi phi nghĩa. Đã là người quân tử thì không bao giờ thấy điều lợi mà bỏ việc nghĩa, nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quý thì đành chịu bần tiện còn hơn. Sách Luận ngữ nhận xét: “Quân tử lo nghĩ giữ đức hạnh, tiểu nhân chỉ nghĩ đến địa vị mình. Quân tử nghĩ sợ pháp luật, tiểu nhân chỉ nghĩ đến sự lợi lộc. Quân tử có tính cách trung hoà mà không a dua bè phái, tiểu nhân thích a dua bè phái mà không có tính dung hoà”. Vì vậy mà trong mọi hoàn cảnh, người quân tử đều tím thấy niềm vui kể cả khi ăn gạo hẩm, uống nước lã, nằm đất. Ngoài ra, người quân tử có học vấn thật sự còn biết tuỳ vị trí và cảnh ngộ của bản thân để ứng xử cho đúng. Phú quý thì hành lễ theo cách phú quý, bần tiện thì hành xử theo cảnh bần tiện, gặp người hoang dã thì đối xử theo cách hoang dã, khi lâm nạn thì hành động theo cảnh ngộ hoạn nạn. Trong mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện đểu biết cách ứng xử cho thích hợp, đó là thành quả của học vấn, hiểu biết, giáo dục trong đối nhân xử thế của người quân tử, như Mạnh tử đã nói: “Người quân tử lấy đức nhân làm nhà ở, lấy đức nghĩa làm đường đi, lấy lễ làm cửa. Chỉ có mỗi người quân tử mới có thể đi đường ấy, ra vào cửa ấy mà thôi”.

Đỗ Hoàng Linh
Tạp chí Hà Nội ngàn năm

 

 

運轉金剛經 * KINH KIM CANG VAN CHUYEN

運轉金剛經 * KINH KIM CANG VAN CHUYEN

運轉金剛經

KINH KIM CANG VẬN CHUYỂN

運轉金剛經

運轉金剛經

 

KINH KIM CANG VẬN CHUYỂN

運 轉 金 剛 經
———————
KINH KIM CANG VẬN CHUYỂN

( 運轉金剛經 )

I.- PHỤNG THỈNH :-

1.- Phụng thỉnh BÁT KIM CANG:-

-Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang .
-Phụng thỉnh Tị Độc Kim Cang .
-Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang .
-Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang .
-Phụng thỉnh Xích Thanh Hỏa Kim Cang .
-Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang .
-Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang .
-Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang .

2.-Phụng thỉnh TỨ BỒ TÁT:-

-Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ Tát.
-Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ Tát.
-Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ Tát.
-Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ Tát.

II.- PHÁT NGUYỆN VĂN:-

Khể thủ tam giới tôn,
Qui mạng thập phương Phật.
Ngã kim phát hoằng nguyện,
Trì thử Kim Cang Kinh,
Thượng báo tứ trọng ân,
Hạ tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả,
Tất phát bồ-đề-tâm,
Tận thử nhứt báo thân,
Đồng sanh Cực Lạc Quốc.

III.- VÂN HÀ PHẠM:-

Vân hà đắc trường thọ,
Kim Cang bất hoại thân ?
Phục dĩ hà nhân duyên,
Đắc đại kiên cố lực ?
Vân hà ư thử kinh,
Cứu cánh đáo bỉ ngạn ?
Nguyện Phật khai vi mật,
Quảng vị chúng sanh thuyết.

IV.- XƯNG THÁNH HIỆU:-

Nam-mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)

V.- KHAI KINH KỆ :-

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa.

-Nam-mô Quan Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần)
-Nam-mô Vi-Đà Tôn Giả (3 lần )

VI.- CHÁNH VĂN

Nhĩ thời, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Bát Bộ Kim Cang , Tứ Đại Thiên Vương, Hộ Trì Quốc Giới, tác đại chứng minh, vinh ngã thân đắc thần tiên lực, vô úy yêu ma, độ đệ tử thọ trì pháp.

-Nam-mô Đông phương Bà Rị Câu Chi, Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát, xuất tướng hiện hình, oai linh thần tướng, Bà Lô Yết Đế.

-Nam-mô Nam phương Đa La Phược, Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát , xuất tướng hiện hình, cứu khổ cứu dịch, Bà Lô Yết Đế.

-Nam-mô Tây phương Thủ Già La , Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát , xuất tướng hiện hình, cứu khổ cứu nạn, Bà Lô Yết Đế.

-Nam-mô Bắc phương Hải Chỉ Rị, Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát , xuất tướng hiện hình, cứu khổ cứu bệnh, Bà Lô Yết Đế.

-Nam-mô Thượng phương Phổ Đà Lạc Già Sơn, lưu ly cảnh giới, hiện đại thần thông, chư Phật thánh tượng, cứu độ dân gian :-

*TÍN CHỦ :- (Họ tên, tuổi, chỗ ở …)
Tốc đắc trừ tai ách nạn, phá chư nghiệp chướng, đắc đại đà-ra-ni , Bà Lô Yết Đế.

– Nam-mô Quan Thế Âm Bồ Tát .
– Nam-mô Kim Cang Thủ Bồ Tát .
– Nam-mô Di Lạc Bồ Tát .
– Nam-mô Diệu Kiết Tường Bồ Tát .
– Nam-mô Hư Không Tạng Bồ Tát .
– Nam-mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát .
– Nam-mô Phổ Hiền Bồ Tát .
– Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma-ha-tát.

VII.- VẬN CHUYỂN :-

– Vận chuyển Chư Thiên Thượng Đế, Vận chuyển Chư Phật hà sa, Vận chuyển Minh Đà Quốc Vương.
– Vận chuyển Tây phương Trúc Quốc, Vận chuyển Thánh Mẫu Ma Da, Vận chuyển Thích Ca Thủy Tổ.
– Vận chuyển Liên Hoa Ngũ Sắc, Vận chuyển chư thiên chư địa, Vận chuyển tam thập tam thiên.
– Vận chuyển Hạo Thiên Thượng Đế, Vận chuyển nhựt nguyệt tinh thìn, Vận chuyển tứ phương bát hải.
– Vận chuyển chư thủy chư sơn, Vận chuyển bát quái thiên đinh, Vận chuyển Vạn Quốc Thánh Mẫu.
– Vận chuyển Lôi Đình Tích Lịch, Vận chuyển Phạm Vương Đế Thích, Vận chuyển phong võ thời ha.
– Vận chuyển thiên Nghiêu địa Thuấn, Vận chuyển Phổ Đà thánh tượng, Vận chuyển Phật Tổ Ma Ha.
– Vận chuyển Bát Nhã Đa La, Vận chuyển Đà La Đại Đế, Vận chuyển sơn hà thần thánh.
– Vận chuyển tứ hải Tăng Già, Vận chuyển bát vạn Tăng Già, Vận chuyển Tề Thiên Đại Thánh.
– Vận chuyển Thiên Vương Đại Tướng, Vận chuyển Bồ Tát Ma Ha, Vận chuyển Diễn Độ Dược Già.
– Vận chuyển tứ phương sơn nhạc, Vận chuyển chúa thiên chúa địa, Vận chuyển bát hải cửu hà.
– Vận chuyển chúa hải chúa hà, Vận chuyển tường hoa ngũ sắc, Vận chuyển chúa sơn chúa thủy.
– Vận chuyển hồng hoa liên hoa, Vận chuyển độ lỗ quân trà, Vận chuyển thập phương thế giới.
– Vận chuyển chư thiên chư địa, Vận chuyển lục động tiên gia, Vận chuyển Địa Phủ Diêm La.
– Vận chuyển Long Vương Thủy Tộc, Vận chuyển văn võ quan liêu, Vận chuyển Tam Giới Đại La.
– Vận chuyển Kim Đồng Ngọc Nữ, Vận chuyển chư thiên Yết Đế, Vận chuyển thế giới ta-bà.
– Vận chuyển vạn quốc chư gia, Vận chuyển Kim Cang Thần Tướng, Vận chuyển quốc vương đại thần.
– Vận chuyển chư thiên hiện hình, Vận chuyển Ba Nhân Hoàng Hậu, Vận chuyển Từ Bi cứu khổ.
– Vận chuyển chư Phật hóa thân, Vận chuyển binh thâu tướng đả, Vận chuyển chư tướng phá tà.
– Vận chuyển chư binh trừ quỷ, Vận chuyển thiên địa hóa dược, Vận chuyển tam giới thánh thần.
– Vận chuyển địa tiên trừ ma, Vận chuyển Chúa Tiên địa quái, Vận chuyển Thủy Tiên giải nhiệt.
– Vận chuyển ngũ hổ ba-la, Vận chuyển Đại Sư trị bệnh…
– Tam giới Thánh Thần , đồng lai phục mệnh Bồ Tát Ma-ha-tát.

Thiên Tôn thuyết thị kinh, các hữu đại chúng, văn kinh thính pháp, giai đại hoan hỉ, tín thọ phụng hành. Tức thuyết chú viết:-

“ ÁN, ĐA RỊ, ĐA RỊ, ĐỐT ĐA RỊ, ĐỐT ĐỐT ĐA RỊ, TA BÀ HA ” ( 100 biến)

VIII.- PHẬT SAI :-

– Phật sai :- thiên binh Trúc Quốc, Phật sai :- Kim Cang Đà La, Phật sai :- thần thông đại tướng.
– Phật sai :- ngũ phương thần binh, Phật sai :- ngũ phương thần tướng, Phật sai :- Lão Tổ Ma-Ha.
– Phật sai :- bát hải long xà, Phật sai :- Hắc Hổ Thần Tướng, Phật sai :- Kim Cang Đại Thánh.
– Phật sai :- Bạch Hổ Đà-La, Phật sai :- sát phạt ôn ma, Phật sai :- lôi đình tích lịch.
– Phật sai :- Kim Cang tốc đáo, Phật sai :- điện mẫu tăng gia, Phật sai :- Bồ-Tát Ma-Ha.
– Phật sai :- tả sư hữu tướng, Phật sai :- ngũ phương thiên tướng, Phật sai :- tiền mã hậu xa.
– Phật sai :- bát hải long xà, Phật sai :- trừ bệnh trừ tà, Phật sai :- Kim Cang Đại Thánh.
– Phật sai :- trừ thần trừ quỷ, Phật sai :- sát phạt ôn ma, Phật sai :- Long Vương trừ bệnh.
– Phật sai :- Kim Cang tốc đáo, Phật sai :- cải tử Diêm La, Phật sai :- Bồ-Tát Ma-Ha.
– Phật sai :- thiên binh thiên tướng, Phật sai :- tróc phược tà ma, Phật sai :- Thập Điện Chơn Quân.

IX.- PHẬT SAI PHÁ :-

– Phật sai phá :- phá ôn phá dịch, Phật sai phá :- vạn quốc hà sa, Phật sai phá :- phá ương phá tà.
– Phật sai phá :- sơn quân thực quỷ, Phật sai phá :- phá tai phá ách, Phật sai phá :- long nhạc đình bà.
– Phật sai phá :- phá quỷ phá ma, Phật sai phá :- Thành Hoàng tiếp dẫn, Phật sai phá :- phá hàn phá nhiệt.
– Phật sai phá :- phá khu phá tà, Phật sai phá :- Mộc Trụ Thần Quan, Phật sai phá :- phá quỷ phá ma.
– Phật sai phá :- phá hung tà quỷ, Phật sai phá :- phá tinh phá tà, Phật sai phá :- phá Cố Hỉ Quỷ.
– Phật sai phá :- phá hành tai bệnh, Phật sai phá :- phá thể Diêm Bà, Phật sai phá :- túc trái oan gia.
– Phật sai phá :- ngũ phương hành bệnh, Phật sai phá :- tự đầu chí túc, Phật sai phá :- ly mỵ vọng lượng.
– Phật sai phá :- liên táng trùng tang, Phật sai phá :- thần hô thần sát, Phật sai phá :- thượng mã thôi thi.
– Phật sai phá :- hổ lang độc xà, Phật sai phá :- thiên la địa võng, Phật sai phá :- nam thương yểu tử.
– Phật sai phá :- lôi điện oan gia, Phật sai phá :- đại phá tiểu phá, Phật sai phá :- thần đẩu trùng phục.
– Phật sai phá :- trùng phụ trùng mẫu, Phật sai phá :- phục nặc hà sa, Phật sai phá :- trùng ông trùng bà.
– Phật sai phá :- khắc tử khắc tôn, Phật sai phá :- tự đầu chí túc, Phật sai phá :- phu thê bất hòa.
– Phật sai phá :- ngũ tạng đoạt ba, Phật sai phá :- lân lý oan gia, Phật sai phá :- hình hô câu giảo.
– Phật sai phá :- cô di nội ngoại, Phật sai phá :- chú sát kiên sát, Phật sai phá :- cừu thệ kháng họa.
– Phật sai phá :- túc võ trái vân, Phật sai phá :- oan khiên nhĩ hà, Phật sai phá :- lụy kiếp oan gia.
– Phật sai phá :- hung tà quỷ ma, Phật sai phá :- tiền duyên nghiệp chướng, Phật sai phá :- cô hồn yểu tượng.

X.- PHẬT THUYẾT PHÁ SÁT LINH NGHIỆM THẦN THÔNG:-

– Hoặc sát :- tại thiên tại địa, Hoặc sát :- tổ tiên nội ngoại, Hoặc sát :- tại hải tại hà.
– Hoặc sát :- thúc bá nhĩ hà, Hoặc sát :- kiều lương đạo lộ, Hoặc sát :- huynh đệ bằng hữu.
– Hoặc sát :- lân lý oan gia, Hoặc sát :- phu thê giao ỷ, Hoặc sát :- đồng sàng đồng tịch.
– Hoặc sát :- hung thần ác đảng, Hoặc sát :- phu thê bất hòa, Hoặc sát :- thệ nguyện giang hà.
– Hoặc sát :- cô thần quả tú, Hoặc sát :- mưu sự ỷ ý , Hoặc sát :- Hoặc sát :- nam nữ oan gia.
– Hoặc sát :- lụy kiếp oan gia, Hoặc sát :- tử tôn phản nghịch, Hoặc sát :- sanh sanh tử tử.
– Hoặc sát :- dâm dục triêu hoa, Hoặc sát :- địa võng thiên la, Hoặc sát :- quân vương phản nghịch.
– Hoặc sát :- phản sanh tuần hoàn, Hoặc sát :- phụ mẫu gia oan, Hoặc sát :- luân hồi thế giới.
– Hoặc sát :- yêu tà đạo tặc, Hoặc sát :- xuất nhập nhơn gian, Hoặc sát :- xúc loại thuyết phá.
– Hoặc sát :- niên niên ngoạt ngoạt, Hoặc sát :- dị tà dị nhâm, Hoặc sát :- nhựt nhựt thời thời.
– Hoặc sát :- tha khương tha gia, Hoặc sát :- nhứt thiết tà thần, Hoặc sát :- giai ưng cấm kỵ.

XI.- CHUYỂN TRÓC :-

– Chuyển tróc :- Đại Càn Nhâm Vương, Chuyển tróc :- đạo lộ đường sá, Chuyển tróc :- Bạch Mã Thái Bàn.
– Chuyển tróc :- ly mỵ hợp tróc, Chuyển tróc :- sơn lâm thần vương, Chuyển tróc :- chúa tinh chúa quỷ.
– Chuyển tróc :- tai ương mộc ách, Chuyển tróc :- long vương hà bá, Chuyển tróc :- Kim Tinh Thủy Vương.
– Chuyển tróc :- Mộc Tinh Thổ Tinh, Chuyển tróc :- đại tiểu quỷ vương, Chuyển tróc :- chúa quỷ sơn lâm.
– Chuyển tróc :- minh sầu giang quỷ, Chuyển tróc :- Độc Giác Đại Vương, Chuyển tróc :- độc địch sơn thần.
– Chuyển tróc :- cầm sắt động quỷ, Chuyển tróc :- Câu Trận Đằng Xà, Chuyển tróc :- thế giới quỷ ma.
– Chuyển tróc :- Kim Cô Đà-La, Chuyển tróc :- bát hải Long Vương, Chuyển tróc :- kim côn thần quỷ.
– Chuyển tróc :- kim côn sơn thần, Chuyển tróc :- cửu vĩ hồng bào, Chuyển tróc :- Hỏa Vân Động quỷ.
– Chuyển tróc :- ma thiêng ngại lãnh, Chuyển tróc :- Bạch Vân Động quỷ, Chuyển tróc :- Minh Kê Động quỷ.
– Chuyển tróc :- Hắc Phụng Sơn Thần, Chuyển tróc :- tam kiêu thập châu, Chuyển tróc :- Phước Lăng Sơn Thần.
– Chuyển tróc :- Hắc Hớn Đại Vương, Chuyển tróc :- Ô Khi Đổ Giới, Chuyển tróc :- Vân Oanh Động quỷ.
– Chuyển tróc :- Ô Sào tà ma, Chuyển tróc :- phù đồ sơn thần, Chuyển tróc :- lưỡng giới tà ma.
– Chuyển tróc :- Thủy Liêm Động Giới, Chuyển tróc :- tiên long động quỷ, Chuyển tróc :- tam giới yêu tinh.
– Chuyển tróc :- sơn thần quỷ mị, Chuyển tróc :- ôn ma quỷ mị, Chuyển tróc :- Cố Hỉ Quỷ Vương.
– Chuyển tróc :- Khi Xà Chúa Quỷ, Chuyển tróc :- thượng giới tinh, Chuyển tróc :- trung giới ma, Chuyển tróc :- hạ giới tà.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ,

THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN,

QUAN ÂM BỒ TÁT,

TỔ MẪU LINH SƠN

SẮC LỆNH:-

– Chuyển tróc :- chư hung thần sát, Chuyển tróc :- ôn hoàng dịch lệ, Chuyển tróc :- thiên phủ thiên hoàng.
– Chuyển tróc :- Cố Hỷ Quỷ Vương, Chuyển tróc :- địa phủ địa hoàng, Chuyển tróc :- hình hô câu giảo.
– Chuyển tróc :- Thành Hoàng Bổn Xứ, Chuyển tróc :- liên táng trùng tang, Chuyển tróc :- nam thương yểu tử.
– Chuyển tróc :- Chàng Cả Long Vương, Chuyển tróc :- cổ ly thái nhĩ, Chuyển tróc :- Chàng Hai Long Vương.
– Chuyển tróc :- tam đầu cửu vĩ, Chuyển tróc :- Chàng Ba Long Vương, Chuyển tróc :- Chúa Ngọc Thần Nương.
– Chuyển tróc :- Chàng Tư Long Vương, Chuyển tróc :- mộc trụ thần quan, Chuyển tróc :- Bà Vương Quan Sát.
– Chuyển tróc :- Chàng Năm Long Vương, Chuyển tróc :- Hà Bá Long Vương, Chuyển tróc :- Bá Linh Thằng Bố.
– Chuyển tróc :- ngưu đầu ngục tốt.

TÍN QUANG THỌ TRÌ PHÁP GIỚI.

[ Niệm thầm:- NAM-MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT. (12 lần) ]

(Ghi chú:- Khi niệm thầm NMQTABT, pháp sư không được động lưỡi, tay mặt bắt ấn kiết tường, họa chữ も ). (Thực hành bí pháp ……………….)

XII.- NGÃ NGUYỆN :-

– Ngã nguyện :- Tảo trừ chư gia chướng, Tảo đắc lực sĩ kiến, Tảo ly oan gia đoạn.
– Ngã nguyện :- tảo độ nhứt thiết nghiệp, Ngã nguyện :- nhứt thiết chư Phật giáng, Ngã nguyện :- nhứt thiết trừ bệnh tà.
– Ngã nguyện :- tốc tri nhứt thiết pháp, Ngã nguyện :- tảo trừ trí huệ phục, Ngã nguyện :- tốc độ nhứt thiết chúng.
– Ngã nguyện :- tảo đắc thiện phương tiện.
– Ngã nguyện :- tốc thừa Bát Nhã, Ngã nguyện :- tốc đăng sơn nhập lâm, Ngã nguyện :- tốc chứng thành tâm.
– Ngã nguyện :- tảo trừ đồng tánh thân, Ngã nguyện :- tốc hội vô vi nghiệp.
– Ngã nguyện :- trừ tốc nhứt thiết oan, Ngã nguyện :- trừ ly chư khổ ách.

NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT.

NGÃ NGUYỆN TẢO TRỪ BÁ SỰ KHIÊN.

XIII.- PHẬT THUYẾT GIẢI OAN KINH :-

Quan Âm ứng hộ thân, Phật trừ nhứt thiết oan khiên, Phật trừ nhứt thiết bá sự oan . Nam-mô Phật, nguyện nhứt thiết ly chư khổ nạn.

Nam-mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma-Ha-Tát . (Niệm một lần cho mỗi câu sau :- )

– Ngã nhược vấn đao sơn, đao sơn tự tồi chiết.

– Ngã nhược vấn hỏa thang, hỏa thang tự tiêu diệt.

– Ngã nhược vấn oan gia, oan gia phân giải đoạn.

– Ngã nhược vấn tử sanh, tử sanh phân giải đoạn.

– Ngã nhược vấn hỏa binh, hỏa binh phân giải đoạn.

– Ngã nhược vấn đồ lao, đồ lao phân giải đoạn.

– Ngã nhược vấn địa ngục, địa ngục tự khô khan.

– Ngã nhược vấn ngạ quỷ, ngạ quỷ tận tiêu diệt.

– Ngã nhược vấn tà thần, tà thần phân giải đoạn.

– Ngã nhược vấn hung thần, hung thần tự tiêu diệt.
XIV.- PHẬT THUYẾT QUAN ÂM HIỆN PHẬT THẦN THÔNG KINH :-

Nhĩ thời, Quan Thế Âm Bồ Tát tại Phổ Đà Sơn, hiện Đà-La Yết-Đế, hội đồng vạn vạn thiên binh, Kim đế Ngân đế Thiên chủ Đế Thích.
Tam thập tam thiên, cửu trùng thiên quân, Hạo Thiên Chí Tôn Đế Thích, Ma Vương Thiên Chủ, Thích Phật thần thông, Đại Phạm Thiên Vương Thiên Chủ.

HIỆN PHẬT THẦN THÔNG :-

-Thiên Tiên Ngọc Nữ, thí dược độ nhơn.
-Phật tử Kim Cang, đồng cứu sanh tử.
-Hiện Phật thần thông, Bạch y quá hải, khấu xỉ kim luân.
-Hiện Phật thần thông, đắc đạo tiên linh, cứu cơ cứu dịch.
-Hiện Phật thần thông, Bát-nhã-đa-la , phò trì ủng hộ. Tam giới Như Lai, chư Phật, chư Thánh, chư Thiên, bà-lô-yết-đế.
-Hiện Phật thần thông :- Tổng Trì Vương Bồ-Tát, Bửu Vương Bồ-Tát, Dược Vương Bồ-Tát, Hư Không Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ-Tát, Đức Tạng Bồ-Tát, Kim Cang Ngôn Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát.
Lâm hội đại chúng, Vô Song Bồ Tát Thượng thủ A-Nan-Đà Tôn Giả, cập nhứt thiết Hiền, Thánh Tăng, cộng giáng Phổ Đà thượng sơn, tán nhứt thiết thế gian cộng khổ, độ nhứt thiết chúng sanh, xuất tướng hiện hình, ngũ bá danh hiệu kiếp xưng :-

“THÁNH MẪU ĐÔ HUYỀN GIÁO CHỦ, CHÁNH NHỨT TUYÊN VƯƠNG,

ĐẠI TỪ ĐẠI BI, THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN THẾ ÂM BỒ-TÁT.”
Đại chúng hội tiền, hiệp chưởng chánh tín, ư chúng sanh khởi đại bi tâm, khai nhan hàm tiếu, tức thuyết Như Lai quảng hải vô ngại đại bi tâm, vô vi đại từ, xuất tướng kim thân, thủ hiện thần thông, sa chương chính cú, đại đà-ra-ni. Phổ Đà thượng sơn, Kim Xỉ Man Vương, chư hầu xuất tướng , đà-la-yết-đế. Nhứt nhơn thủ quyết, nhứt bá bát phù, xuyên tạo sớ châu, hội đồng tam giới. Thập phương chư Phật, nhứt thiết chư Phật, chư Đại Bồ Tát, nhứt thiết Bồ-Tát, chư Hiền, Thánh Tăng, chư Tổ Thiền Sư, bá vạn La Hán, đại thiên Long Vương, ngũ nhạc Thánh Đế, chư phủ quân thập nhị, đương Hành Khiển Hành Binh, Thái Tuế chí đức, tôn thần đại tướng, thiên la viễn nhơn, Thiên Địa Hộ Túc Bá lưỡng sư, Thập Chơn Quân Lôi Công Điện Mẫu, Bát Bộ Kim Cang, Tứ Đại Thiên Vương, tam cung Đại Đế, tam thập tam thiên, lục động thần tiên, thủy phủ Long Vương, chơn tiên thánh tượng, thập điện Chơn Quân, Diêm La Thiên Tử, Ngũ Hành Sứ Giả, Công Tào Tài Phán, Hộ Pháp Già-Lam, thần cảnh hương lý, Thổ Địa Thần Quan, đương tùy Tam Bửu, hồng lực dương truy, hiện Phật thần thông, bà-lô-yết-đế, giai đại hoan hỉ, tín thọ phụng hành.

Nam-mô Phật-Đà-Da—Nam-mô Đạt-Mạ-Da—Nam-mô Tăng-Già-Da
Nam-mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.
Nam-mô đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát Ma-Ha-Tát.
Nam-mô Phổ Am Tổ Sư Bồ Tát.
Nam-mô bá vạn Kim Cang Bồ Tát.

*TÁN:-

PHỔ AM công đức
Diệu pháp nan lường.
Tam thừa liễu ngộ,
Hoạch chứng chơn thường.

*CÔNG PHU ĐẠI ĐẠO KỆ:-

Triêu triêu vân diện già,
Dạ dạ nhựt đầu quang.
Nhơn nhơn hội đắc kiến,
Thế thế vi Tiên gia.

CHUNG (Hết)

(Đánh máy lại theo bản chữ Hán của Thầy sáu Nguyễn Vĩnh Xuân.
Ấp Phước An, xã Phước Hiệp, quận Củ Chi, tỉnh Bình Dương—chép tay năm 1958 )
(địa danh nói theo thời điểm 1958)

(xem tiếp Phần Phụ Lục)

PHẦN PHỤ LỤC

I.- PHỤ LỤC 1

THẬP VƯƠNG SÁM

十王懺

(Mỗi câu mỗi lạy)

1.- NHỨT SÁM:- Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn,
Đường thượng sanh hạ huyết bàn khiên
Khiên nghiệt sanh thân, kim thời sám,
Sám hối giải tội báo xuân huyên.

2.- NHỊ SÁM :- Thượng Đế Đại Thiên Tôn,
Phụ mẫu lũy thế vạn niên oan
Oan tai kim thời cầu tiêu giải
Giải tội tiêu tai, phước miên miên.

3.- TAM SÁM :- Huyền Khung Đại Thiên Tôn
Ha phong, mạ võ, xúc nộ thiên
Kim thời đàn tiền thân sám hối,
Ngưỡng vọng thiên xá tội nghiệt triền.

4.- TỨ SÁM :- Thượng Hoàng Đại Thiên Tôn
Sát tể sanh linh, ác nghiệt oan
Tòng kim sám hối, cầu thiên xá
Nghiệt tội tai ương hóa vi yên.

5.- NGŨ SÁM :- Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn
Cao minh dương thanh xúc Phật Tiên
Tòng kim Thánh tiền, tương thân sám
Tiêu tội, nhứt thân thoát khổ liên.

6.- LỤC SÁM :- Phật tiền bái Thiên Tôn
Phu Phụ si dục, tội nghiệt khiên
Thời tiết thánh đản, bất tỉnh kỵ
Kim thời sám hối xá tội diên.

7.- THẤT SÁM :- Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn
Nhãn quan tâm động , luyến hoa nghiên
Tòng kim thân sám , cầu tiêu giải
Giải thoát vọng đàm, tội nghiệt liên.

8.- BÁT SÁM :- khấu bái Đại Thiên Tôn
Xích thân, lộ thể, uế nộ thiên
Thời thời tỉnh sát, ngật thiên xá
Xá tội lao ngục già tỏa liên.

9.- CỬU SÁM :- ai cầu bái Thiên Tôn
Xá tội, tai ương ly thân triền
Tiền phi chư tội, kim thời sám
Bá thiên vạn kiếp tận tiêu hoàn.

10.- THẬP SÁM :- bái cầu Đại Thiên Tôn
Diên thọ tăng phước, bảo an nhiên
Tiêu tai, truyền đạo, độ mê, giác
Cửu Huyền Thất Tổ tận siêu Tiên.
( Ăn chay, tắm gội sạch sẻ, thay quần áo sạch, đọc tụng vào ngày rằm và mùng một mỗi tháng, mỗi lần ba biến hoặc chín biến càng tốt)

———————-
II.- PHỤ LỤC 2

LỤC TỰ NIỆM PHẬT GIẢI

Thích Ca bổn thị Thái Thượng hóa,
Sanh ư Tây Vực bái Nhiên Đăng.
Chỉ thị Càn Khôn Mồ Kỷ thổ
Hiệu viết “Nam-Mô” tánh mạng căn.

***

“A” tự thuộc thủy, bổn tánh nhu
Trừ cấu, tẩy tâm bất nhiễm trần.

“DI” tự thuộc hỏa, tánh cang liệt
Chiếu phá lục hợp, phóng quang minh.

“ĐÀ” tự thuộc mộc, chất nãi khúc
Từ nhơn chánh trực, hòa khí thanh.

“PHẬT” tự thuộc kim, kiên chí tánh
Khắc kỷ phục lễ, thủy minh tâm.
III.- PHỤ LỤC 3 :-

(Phần ghi bằng chữ quốc ngữ)

KINH HỒI HƯỚNG CỬU HUYỀN

***
Đầu cúi lạy Cửu Huyền Thất Tổ,
Ngõ đáp ơn báo bổ sanh thành
Nay con qui Phật tu hành,
Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri.

***

Lời Phật dạy :- “Từ bi, bác ái”
Dạ nhơn từ quảng đại, mở mang,
Hiếu trung con nguyện giữ tròn,
Từ nay chẳng dám gây loàn như xưa.

***

Sau đặng hưởng phước thừa của Phật,
Hồn nhẹ nhàng vượt thoát tử sanh
Nguyện đem công quả tu hành
Cầu cho Tông Tổ vãng sanh Liên Đài.

***

Về đất Phật, ngày ngày an lạc,
Cả họ hàng giải thoát luân trầm.
Quyết đem đạo pháp huyền thâm
Độ cho sanh chúng hết lầm, hết sai.

***

Cả nhân loại đặng về Phật cảnh,
Chẳng luyến trần, ảo ảnh, gạt lường.
Nguyện cầu chư Phật mười phương
Niết-Bàn diệu cảnh là đường con đi.

***

Nguyện cầu Phật Tổ từ bi,
Độ cho con trẻ tu trì đủ duyên
Độ cho Thất Tổ Cửu Huyền
Hồi tâm hướng Phật về miền Tây phang.

*Nam-mô A-DI-ĐÀ PHẬT (3 lần)

PHỤ LỤC KINH PHẬT

Phật nói:

Kinh Nhứt Thế Như Lai Kim Cang Thọ Mạng Đà Ra Ni

***

(Nước Nam Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Kim Cang Trí cùng Ngài Sa môn Trì Tạng vâng chiếu dịch)

***
Ta nghe như vầy: Một thuở Phật ở bên sông Căn già, cùng với các Tỳ Khưu và Đại Bồ Tát cùng vô lượng đại chúng trời người đến hội.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo bốn vị Thiên Vươnghàng Tỳ Sa Môn rằng: Có bốn pháp rất đáng ghê sợ, dù nam dù nữ, đồng nam, đồng nữ, tất cả hữ tình không ai tránh khỏi. Bốn pháp ấy là sanh, già, bệnh, chết. Trong đó một pháp rất tức tởi đau khổ, khó bề đối trị gọi là sợ chết.(1)

Vì vậy ta thường nói pháp đối trị.

Khi ấy, bốn vị Thiên Vương bạch Phật rằng:

”Kính thưa Thế Tôn. Chúng con ngày nay, mong được lợi lớn, xin Đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh tuyên nói pháp ấy”.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn xây mặt hướng Đông, Ngài búng ngón tay triệu tập tất cả các đức Như Lai nói lời thệ rằng:

“Khắp cả mười phương các đấng Như Lai thành Chánh Đảng Giác, vì độ chúng sanh, chứng đạo Bồ Đề thảy đều giúp ta, đem sức oai thần tất cả Như Lai, khiến cho tất cả chúng sanh đổi nghiệp phi mạng, tăng thêm thọ mạng.

Từ trước, ta chưa vì chúng sanh chuyển pháp luân nầy, đến nay mới chưỳển có thể khiến cho sắc lực và thọ mạng của chúng sanh, đều được thành tựu khỏi sợ chết yểu”.

Lại hướng qua các phương Tây, Nam, Bắc bốn góc(2) trên dưới, đức Thế Tôn, cũng đều triệu tập, kỉnh cáo như thế.

Lúc ấy bao nhiêu thế giới mười phương, tột chỗ mắt Phật thấu tới, tất cả các đức Như Lai thảy đều đến họp, đấy đủ hư không, như số vi trần.

Bấy giờ, tất cả các Đức Phật, vì cớ gia trì, khác miệng đồng lời, đều nói Đà Ra Ni: ” Nhất Thế Như Lai Kim Cang Thọ Mạng” rằng:

“Đát nể gỉ tha, giả lê, giả lã, giả lê, vỉ nô chi tát phạ, tát để, khể chiết ngật lảng, nghiệt nẩm, bát ra, xá mản đô, tát phạ lộ, nga tát phạ nẩm, a nô lai, cu nô lai, ma ha no lai, giả mê giả mê, hệ mạ nghiểu rí, hệ mạ sản ni hệ mạ thi khí, kiêu ra ví, kiêu ra thoan, hệ cu ra vi,cu ra lê, cu mạ để, vi xá mạ ní mạ ní, thú thú tì, phạ a giả lê, dỉ giả lê, mạ vỉ lảm mạ, hộ mộ, hộ mộ, án phạ rạ, dụ lệ, tát phạ hạ”.

Bấy giờ, tất cả các vị Chấp Kim Cang Bồ Tát, ở chỗ các Phậtmười phương, cũng khác miệng đồng lời, đều nói Đà Ra Ni Diên thọ rằng:

” Hồng hồng thi khí tát phạ hạ”.

Như vậy, tất cả các Đức Như Lai và các vị Chấp Kim Cang Bồ Tát trong mười phương đều nói Đà Ra Ni nầy rồi thì không thị hiện ra nữa.

Lúc đó, vị Tỳ Sa Môn Thiên Vương bạch Phật rằng: nương thần lực của Phật, để gia trì hộ niệm, trừ nghiệp phi mạng cho tất cả chúng sanh, con xin nói Đà Ra Ni rằng:

” Thỉ vỉ đế, thỉ vỉ, đát lỵ, lật lỵ”.

Lúc đó, vị Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương cũng bạch Phật rằng: nương thầ lực của Phật để trừ nghiêp phi mạng cho nhiều chúng sanh, con xin nói Đà Ra Ni rằng:

“Ma đắng nghe, ma đắng nghê ni, du ma du ma mưu”.

Lúc đó vị Đề Đầu Lại Cha Thiên Vương cũng bạch Phật rằng: cũng để trừ nghiệp Sợ Chết cho các chúng sanh, con xin nói Đà Ra Ni rằng:

“Giả rể giả rể, giả ra rí”.

Lúc đó vị Tỳ Lâu Bát Xoa Thiên Vương cũng bạch Phật rằng: nương thần lực của Phật để trừ nghiệp phi mạng cho tất cả chúng sanh, con xin nói Đà Ra Ni rằng:

“Mạt lâm, phạ phạ phạ phạ”.

Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng:

” Nếu ai đọc tụng kinh này, ngày thọ trì, dù cho một biến, phải nên cung kính các trai lành, gái lành ấy, nên tưởng như Phật, sau không đợa ba đường dữ, quyết được tăng thêm thọ mạng.

Nếu người nào thường ngày, vì tất cả chúng sanh luân chuyển tụng kinh này, thì sau không còn sợ m5ng ngắn, chết yểu, điềm dữ, yêu tinh nguyền rủa, và hình bóng hung ác, la sát quỷ thần, cũg không bị tai nạn; nước lửa và độc họa binh đao. Sẽ được tất cả các Chư Phật, Bồ Tát nhiếo thọ hộ niệm, xứ sở đó cũng được Chư Phật hộ trì”.

Khi Đức Thế Tôn nói Kinh này xong, các vị Tỳ Sa Môn Thiên Vương cùng tất cả đại chúng đều rất vui mừng, tin chịu vâng làm.

Phật nói kinh Nhứt Thế Như Lai Kim Cang Thọ Mạng Đà Ra Ni.

Hết

Tán

Kim Cang thị mạng

Lời Phật thân tuyên

Đà Ra Môn tỏ nghĩa u huyền.

Tụng chú đức Kim tiên

Pháp lực vô biên

Tuổi thọ được tăng diên

Nam Mô Tăng Thọ Toán Bồ Tát Ma Ha Tát

Phật từ rộng lớn

Cảm ứng không ngoa

Tịch quang chánh định khắp hà sa

Nguyện chẳng lìa Già gia

Tế độ trai gia

Đất báu trổ liên hoa

Nam Mô Tiêu Tai Tăng Phước Thọ Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần)
___________________________

(1) tạm dịch chữ ” Tử Bố”

(2) tạm dịch chũ “Tứ Duy” Bốn Phương: Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc.

 

 

 

BANG KE HANG MUC TOI VA PHUOC O DIA NGUC * 地獄行善惡功過格錄

BANG KE HANG MUC TOI VA PHUOC O DIA NGUC

地獄行善惡功過格錄

地獄行善惡功過格錄

BANG KE HANG MUC TOI VA PHUOC O DIA NGUC

地獄行〔之十五〕

地獄行善惡功過格錄

BẢNG KÊ HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC

地獄行善惡功過格錄
BẢNG KÊ HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC
地獄行〔之十五〕
地獄行善惡功過格錄

LGT:- Như chúng ta đã biết, đạo Phật có pháp thế gian và pháp xuất thế gian, đạo Khổng có pháp hình nhi hạ và pháp hình nhi thượng, đạo Lão có phần lý thuyết gọi là Đạo, phần thực hành gọi là Đức.

Trước nay, sách về Đạo thì thấy có nhiều người nghiên cứu, chú giải như: – Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh v.v…, còn Đức, tức pháp tu thì cũng hay phổ biến ở cấp độ cao: – luyện tinh hóa khí v..v… Những nội dung cụ thể dành cho tín đồ đạo Lão thực hành trong sinh hoạt ít thấy phổ biến (có lẽ vì số người ít ỏi chăng?).

Tài liệu dưới đây là phần dịch của sách “ĐỊA NGỤC HÀNH THIỆN ÁC CÔNG QUÁ CÁCH LỤC” (地獄行善惡功過格錄) mà chúng tôi lấy ở: –

http: / / http://www.fengshui-magazine.com.hk / No.107-May06 / A51.htm

Tài liệu khá dài nên phần nguyên tác sẽ chỉ đưa lên tượng trưng (xem toàn thể ở link dẫn), chú trọng vào phần dịch tiếng Việt nhiều hơn.

Qua bài nầy, quí huynh đệ sẽ: –

1.- Biết pháp thực hành (pháp tu) cụ thể của tín đồ đạo Lão (và cả trong dân gian)

2.- Biết nội dung giáo dục của người xưa đã dạy cho con cháu như thế nào, tăng thêm sự hiểu biết về Đạo giáo.

Mong rằng tài liệu nầy mang lại những đề mục (nội dung) cụ thể cho những “hành giả” có ý chí tu tập và thực hành, để có thể thúc liễm nhận thức cùng hành vi cuộc sống, trở thành những người tốt trong xã hội.

Dĩ nhiên, đây là tài liệu xưa, chắc chắn có một số quan điểm, nhận thức không còn hợp thời. Mong huynh đệ sẽ tùy nghi ứng dụng, đạt ý quên lời cho.

Ít dòng giao cảm.
Thân mến
(cuối năm Kỷ Sửu)

——————

ĐỊA NGỤC HÀNH
THIỆN ÁC CÔNG QUÁ CÁCH LỤC

http: / / http://www.fengshui-magazine.com.hk / No.107-May06 / A51.htm

地獄行〔之十五〕

善惡功過格錄

***

文‧ 道教 金蘭觀 陸毅

地獄二殿的活大地獄,懲治生魂之說,當然信不信由你。但如果有人患上嚴重之疾病、怪病,尤其是不治之症,屢醫無效,不妨想想是否正受活獄的折磨,再看看自己有沒有行善少、作惡多,計一計分數(古時所稱之功過格),然後試試改變,看如何效果,也是可以嘗試的方法。當然如果能夠深刻懺悔,並且痛改前非,努力行善,效果一定更好!或者能夠自此重出生天,也未可料也。

為了讓讀者更好地搞清楚何屬善,何屬惡?能夠計算自己的功過,以下將經整理過的舊計分表(天律)附上,供參考。

本表格乃依據一九五一年上庭所頒《玉律金篇》,節選其部分內容,並參考文昌帝君《功過格》等整理,供讀者參考並慎重對待。

BẢNG KÊ MƯỜI BẢY HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC THỨ HAI

Theo tín ngưỡng dân gian, địa ngục thứ hai gọi là “Hoạt đại địa ngục” (địa ngục lớn hành tội kẻ lúc sống tạo ra). Việc nầy thì tùy theo quan điểm của mỗi người, tin hay không thì tùy.
Nhưng niềm tin có tác dụng rất quan trọng trong việc làm lành lánh dữ của con người, thí dụ như, một người bị bệnh hoạn, đau ốm lâu ngày chạy chữa không hết, hoặc bị thất thoát hao tốn tiền bạc… nếu người đó biết suy nghĩ đến tội lỗi mình đã gây ra liền dừng lại, rồi chuyển đổi sang làm lành, thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn.

Trên thế gian, người nào tin vào tội phước, chắc chắn sẽ hướng đến việc thiện nhiều hơn, giãm tránh bớt việc sai quấy, tội lỗi. Đó là chưa nói đến niềm tin, làm nhiều việc lành sẽ được “sanh lên cõi trời”.

Bảng kê Tội—Phước ở địa ngục thứ hai nầy dựa vào nội dung của “Ngọc luật kim thiên” và các sách “Công quá cách” (ghi Công = phước và Quá = tội) mà liệt kê ra.

Thái Bình Kinh 太 平 經, thiên Đại Công Ích Niên Thư Xuất Tuế Nguyệt Giới 大 功 益 年 書 出 歲 月 戒, nói: –

“Tội lỗi chớ kể lớn nhỏ, Trời đều biết cả và ghi chép vào sổ thiện ác, vào ngày [cuối] tháng có tiểu kết và cuối mỗi năm đều có đại kết, [xem] trước sau [để] trừ bớt tuổi thọ. Nếu không dừng tội ác, kẻ gây ác phải vào cửa quỷ.”

Tuy nhiên trong các chủng loại Tội—Phước, việc thiện được tính theo đơn vị là PHƯỚC (như cứu sống một người trọng bệnh thì tính là 10 PHƯỚC, chẩn tế những kẻ quan quả cô độc một trăm quan tiền thì tính là một PHƯỚC, v.v.), việc ác được tính theo đơn vị là TỘI (như hại tính mạng người khác thì tính là 100 TỘI, hại sinh mạng mỗi con chim muông cầm thú thì tính là 10 TỘI, v.v.). TỘI và PHƯỚC còn nhân lên với số ngày và số đối tượng liên đới (người / vật) như tạo thuyền bè và bắt cầu giúp người qua sông miễn phí thì tính theo chi phí đã bỏ ra, cứ 100 quan tiền là một PHƯỚC và mỗi người lao động một ngày được 10 PHƯỚC.

Bảng kê TỘI và PHƯỚC chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (PHƯỚC coi như điểm dương, TỘI coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng ở cõi lành hay hình phạt ở Địa ngục. Người tuân thủ thực hành theo Bảng kê Tội – Phước nầy để có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập 百福 駢 臻 千 祥 雲 集 (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về).

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác (Tội—Phước) khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện / ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người.

Cho nên, Bảng kê Tội—Phước nầy đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng thật ra, những trường hợp ấy vẫn là tượng trưng, không sao kể ra đầy đủ mọi hành vi cực kỳ phức tạp đối với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng của con người.

Dù sao, có được phần cụ thể vẫn hơn, nhất là để cho giới bình dân (học hành không cao) có thể “Hiểu được và Làm theo”. Thế là đạt yêu cầu rồi.

I / ĐỐI VỚI CHA MẸ

[43 điều, 20 PHƯỚC – 23 TỘI].

A.- PHƯỚC: –

1.- Thương yêu hoà nhã với cha mẹ (mỗi ngày một PHƯỚC).
2.- Sớm tối hỏi han sức khoẻ (mỗi ngày một PHƯỚC).
3.- Khéo cư xử và lao động tốt để cha mẹ vui lòng (mỗi ngày một PHƯỚC).
4.- Tận tụy với cha mẹ (mỗi lần một PHƯỚC).
5.- Khi cha mẹ la rầy, khiêm cung lắng nghe, mà không cãi lại (1 PHƯỚC).
6.- Khuyên cha mẹ một điều ích lợi (3 PHƯỚC).
7.- Xoa dịu, an ủi cha mẹ (3 PHƯỚC).
8.- Chi tiêu rộng rãi cho cha mẹ (3 PHƯỚC).
9.- Dè dặt kín đáo khuyên cha mẹ sửa lỗi (10 PHƯỚC).
10.- Khuyên cha mẹ hành thiện (10 PHƯỚC).
11.- Thay mặt cha mẹ mà sửa chữa một lầm lỗi hoặc một món nợ (10 PHƯỚC).
12.- Yêu quí những gì cha mẹ yêu quí (một lần 10 PHƯỚC).
13.- Chăm sóc và canh chừng giấc ngủ khi cha mẹ bệnh (30 PHƯỚC).
14.- Chân thành chia sẻ sự khổ não của cha mẹ (50 PHƯỚC).
15.- Làm rạng rỡ danh tiếng cho cha mẹ (50 PHƯỚC).
16.- Chu đáo lo việc tang ma cha mẹ (50 PHƯỚC).
17.- Chịu đựng khi cha mẹ [vốn là người nóng nảy] buồn bực cáu giận (100 PHƯỚC).
18.- Khuyên nhủ được cha mẹ đổi ác làm thiện (100 PHƯỚC).
19.- Không trì hoãn việc mai táng cha mẹ (100 PHƯỚC).
20.- Ấn định một khoản tiền dự trữ để cúng giỗ cha mẹ hằng năm (1000 PHƯỚC cho mỗi 100 đồng bỏ ra).

B.- TỘI: –

1.-Khiến cha mẹ không có con cháu nối dõi tông đường bằng cách tự hủy hoại thân thể do trụy lạc
2.- hoặc bị hành hình do phạm TỘI (100 TỘI).
3.-Làm lợi cho vợ con nhưng gây tổn hại cho cha mẹ (100 TỘI).
4.-Khâm liệm cha mẹ vội vã qua loa (100 TỘI).
5.-Trì hoãn để lâu việc mai táng cha mẹ (100 TỘI).
6.-Khi cha mẹ đau ốm, không quan tâm chăm sóc (50 TỘI).
7.-Biêu riếu TỘI lỗi cha mẹ (50 TỘI).
8.-Không cảnh báo cho cha mẹ thấy trước điều lầm lỗi (30 TỘI).
9.-Xúi dục cha mẹ làm điều quấy (20 TỘI).
10.-Nóng giận và ngược đãi cha mẹ (20 TỘI).
11.-Khinh bỉ bạc đãi người mà cha mẹ quý trọng (10 TỘI).
12.-Chán ghét ghê tởm cha mẹ già yếu tật nguyền (10 TỘI).
13.-Mắng cha mẹ người khác để rồi cha mẹ mình bị người ta mắng lại (10 TỘI).
14.-Không phân chia tài sản cho cha mẹ (10 TỘI).
15.-Tranh chấp tài sản với cha mẹ (10 TỘI).
16.-Trách móc cha mẹ (10 TỘI).
17.-Mặt sưng mày sỉa với cha mẹ (10 TỘI).
18.-Khiến cha mẹ đau khổ (10 TỘI).
19.-Khiến cha mẹ vất vả khó nhọc (10 TỘI).
20.-Đi xa, để cha mẹ già một mình ở nhà (10 TỘI).
21.-Thiếu sót với cha mẹ (mỗi lần 10 TỘI).
22.-Không kính trọng và không quan tâm cha mẹ (mỗi ngày một TỘI).
23.-Ăn uống không dành phần cho cha mẹ (mỗi lần một TỘI).
II.- ĐỐI VỚI ANH EM

[24 điều, 10 PHƯỚC – 14 TỘI]

*Chú ý: Cư xử tốt với anh cùng cha khác mẹ, mỗi PHƯỚC sẽ được nhân đôi. Cư xử tốt với anh họ, mỗi PHƯỚC được nhân ba.

A.-PHƯỚC: –

1.-Yêu thương và tận tụy với anh / em (1 PHƯỚC / 1 người).
2.-Chân thành hòa hợp và cộng tác với anh / em (1 PHƯỚC / 1 người).
3.-Khuyên anh / em làm điều thiện, ngăn cản anh / em làm điều ác (1 PHƯỚC).
4.-Không nghe lời vợ hay tôi tớ mà nghịch với anh / em (10 PHƯỚC).
5.-Không cãi cọ với anh / em về công việc hằng ngày (10 PHƯỚC).
6.-Không giành lấy riêng cho mình những tài sản chung trong nhà (10 PHƯỚC).
7.-Chịu phí tổn về tang ma / cưới hỏi của anh / em (50 PHƯỚC / 1 người).
8.-Cưu mang anh / em bị sa sút túng bấn (50 PHƯỚC).
9.-Bằng cách nêu gương tốt và khuyên bảo, khiến cho anh / em trở nên tốt đẹp hơn (100 PHƯỚC).
10.- Giúp đỡ anh / em giác ngộ, đi theo con đường đạo đức (100 PHƯỚC)

B.- TỘI: –

1.-Làm cho gia đình bất hòa, chia rẽ, kiện tụng giữa anh em (100 TỘI).
2.-Bạc đãi và xúc phạm em út (100 TỘI).
3.-Không cứu giúp anh / em lúc khốn khó (100 TỘI).
4.-Cản trở anh / em làm điều thiện, xúi giục làm điều ác (50 TỘI).
5.-Tranh chấp lợi lộc giữa anh em (10 TỘI).
6.-Nghe lời gièm pha của vợ hay tôi tớ mà chia rẽ anh em (10 TỘI).
7.-Hất hủi anh / em kém may mắn đến vay mượn (10 TỘI).
8.-Ganh tị với anh / em may mắn hơn mình (mỗi ngày 2 TỘI).
9.-Tỏ ra thói xấu với anh / em (1 TỘI).
10.-Không cho em những gì em cần (mỗi lần 1 TỘI).
11.-Lấy trội phần của mình lẽ ra được hưởng (giá trị cứ 100 quan thì tính 1 TỘI).
12.-Làm thinh khi thấy anh / em làm quấy (1 TỘI).
13.-Nói xấu về anh / em trước mặt người lạ (1 TỘI).
14.- Không bênh vực anh / em khi bị người khác hiếp đáp (10 TỘI)

*Ghi chú: – Theo quan điểm xã hội xưa, không đề cập chị em gái vì họ không ở lâu với gia đình. Các cô con gái được gả đi càng sớm càng tốt. Họ không có quyền thừa kế. (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô).
III.- ĐỐI VỚI THÊ THIẾP

[15 điều, 6 PHƯỚC – 9 TỘI]

A.- PHƯỚC: –

1.-Chồng nhường nhịn, khiêm tốn đối với thê / thiếp (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Cảnh báo cho họ biết những lỗi lầm (mỗi lần 1 PHƯỚC).
3.-Khéo xử để thiếp giữ phận thấp hơn thê (1 PHƯỚC).
4.-Cản trở vợ và con gái không cho đi rong chơi khỏi nhà (10 PHƯỚC).
5.-Khuyên bảo vợ trẻ biết tôn trọng cha mẹ chồng và sống hòa hợp với chị / em gái của chồng (50 PHƯỚC).
6.-Khuyên bảo vợ khéo cư xử (100 PHƯỚC).

B.-TỘI: –

1.-Lúc nên danh phận và giàu có thì ruồng rẫy vợ (100 TỘI).
2.-Làm ngơ khi vợ thiếu sót bổn phận với cha mẹ chồng (100 TỘI).
3.-Coi trọng thiếp hơn thê (100 TỘI).
4.-Cho phép vợ này hà hiếp vợ kia (30 TỘI).
5.-Không nghe lời can gián đúng đắn của vợ (10 TỘI).
6.-Cho phép vợ đi rong chơi (10 TỘI).
7.-Để mặc thê thiếp chửi nhau thô tục (5 TỘI).
8.-Để cho vợ kế hành hạ con của vợ TỘI cố (1 TỘI).
9.-Để cho thê thiếp bất hòa (mỗi ngày 1 TỘI).

IV.- CHA VÀ CHÚ BÁC ĐỐI VỚI CON CHÁU

[13 điều, 5 PHƯỚC – 8 TỘI].

A.-PHƯỚC: –

1.-Giúp con / cháu một ý kiến hay (mỗi lần 1 PHƯỚC).
2.-Ngăn cấm con / cháu làm quấy (mỗi lần 10 PHƯỚC).
3.-Ngăn cấm con / cháu trộm cắp (mỗi lần 30 PHƯỚC).
4.-Dạy con / cháu về đạo đức (mỗi lần 100 PHƯỚC).
5.-Bảo trợ việc học hành của chúng (mỗi lần / đứa 100 PHƯỚC)

B.-TỘI: –

1.-Không dạy con / cháu biết bổn phận chủ yếu của chúng (100 TỘI).
2.-Cản trở sự học hành của chúng (50 TỘI).
3.-Xúi trẻ làm quấy (50 TỘI).
4.-Lợi dụng trẻ ngây thơ (30 TỘI).
5.-Dung túng con / cháu tập tành thói hư tật xấu (30 TỘI).
6.-Làm gương xấu cho chúng (10 TỘI).
7.-Con yêu con ghét (10 TỘI).
8.-Chửi rủa đánh đập con cháu thay vì giáo dục chúng (2 TỘI).

BẢNG KÊ MƯỜI BẢY HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC THỨ HAI
V.- HỌC TRÒ ĐỐI VỚI THẦY, BẠN BÈ ĐỐI VỚI NHAU

[17 điều, 10 PHƯỚC – 7 TỘI].

A.-PHƯỚC: –

1.-Tôn kính thầy và thực hành điều thầy dạy (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Giao du với bạn tốt và duy trì sự kết giao này (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
3.-Chia sẻ với bạn những gì mình có (giá trị cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
4.-Gạt bỏ ngoài tai những xúi giục của bạn xấu (mỗi lần 1 PHƯỚC).
5.-Chia sẻ vui buồn với bạn (mỗi lần 1 PHƯỚC).
6.-Giữ lời hứa với nhau (mỗi lần 1 PHƯỚC).
7.-Dẫn dắt bạn về đường ngay lẽ phải (10 PHƯỚC).
8.-Khi trở nên giầu có không đoạn giao với bạn cũ thuở hàn vi (30 PHƯỚC).
9.-Thành tâm tưởng nhớ bạn quá cố (30 PHƯỚC).
10.-Trợ giúp bạn lúc bạn gặp nguy khó (100 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Từ chối giúp bạn khi mình có khả năng giúp được (50 TỘI).
2.-Từ chối giúp vợ con của bạn khi bạn qua đời hay đi xa (50 TỘI).
3.-Quên lãng thầy học, bạn quá cố, bạn sa cơ lỡ vận (50 TỘI).
4.-Vô cớ đoạn giao với bạn cũ (20 TỘI).
5.-Phê bình và chỉ trích thầy học về nhân cách và sự giảng huấn (10 TỘI).
6.-Yếu lòng nghe lời bạn xấu xúi dục làm quấy (3 TỘI).
7.- Nuốt lời hứa với bạn (1 TỘI).

VI.- ĐỐI VỚI NGƯỜI ĂN KẺ Ở

[16 điều, 8 PHƯỚC – 8 TỘI]

A.- PHƯỚC: –

1.-Chu cấp rộng rãi thực phẩm và y phục cần thiết cho họ (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Động viên và an ủi họ trong công việc (mỗi lần 1 PHƯỚC).
3.-Tha thứ lỗi vặt của họ (mỗi lỗi 2 PHƯỚC).
4.-Chăm sóc họ lúc họ đau ốm (20 PHƯỚC).
5.-Tác thành cho tôi tớ kết hôn với nhau (20 PHƯỚC).
6.-Thuận cho tớ gái lấy chồng bên ngoài và cho của hồi môn (30 PHƯỚC).
7.-Mua trẻ nô lệ và trả nó về cha mẹ nó mà không đòi hỏi gì hết (cứ 100 quan giá mua tính 1 PHƯỚC).
8.-Giáo dục đạo đức cho tôi tớ (100 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Buộc tôi tớ phải sống độc thân [để phục vụ chủ nhiều, lâu] (100 TỘI).
2.-Tra tấn làm què quặt tôi tớ (100 TỘI).
3.-Bán tớ gái cho kẻ muốn lợi dụng ả (100 TỘI).
4.-Thông dâm với tớ gái (20 TỘI).
5.-Thưởng phạt tôi tớ một cách bất PHƯỚC (20 TỘI).
6.-Vô cớ quát mắng tôi tớ (3 TỘI).
7.-Cư xử tàn nhẫn với tôi tớ (5 TỘI).
8.-Không chu cấp cho tôi tớ các đồ dùng cần thiết trong sinh hoạt và việc làm (mỗi ngày 1 TỘI).

VII.- BÁC ÁI TỪ THIỆN
[75 điều, 41 PHƯỚC – 34 TỘI]

A.- PHƯỚC: –

1.-Thu nhận người không nơi nương tựa (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Cung cấp thực phẩm cho kẻ bị đói kém (1 PHƯỚC).
3.-Cho 10 người khát uống nước (1 PHƯỚC).
4.-Cấp y phục cho người thiếu mặc (giá trị y phục cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
5.-Cho mượn đèn đóm (1 PHƯỚC).
6.-Cho mượn dù, ô đi đường che mưa / nắng (1 PHƯỚC).
7.-Phát thuốc miễn phí (1 PHƯỚC).
8.-Đưa giúp một lá thư giùm cho ai đến tay người nhận mà không đọc lén (1 PHƯỚC).
9.-Bố thí cho người nghèo (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
10.-Giúp kẻ tha hương [nghèo túng] được hồi hương (phí tổn cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
11.-Giúp vợ chồng người ta [vì hoàn cảnh phải xa nhau] được đoàn tụ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
12.-Mùa đông cho kẻ hành khất bát canh nóng (1 PHƯỚC).
13.-Giúp người trong việc tang ma, cưới hỏi (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
14.-Đóng góp tiền để tạo tác hoặc bảo trì cầu cống, đường sá, đê điều, giếng nước (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
15.-Giúp khâm liệm và mai táng xác chết [vô thừa nhận] (phí tổn cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
16.-Cho người bát cháo trong mùa đói kém hoặc lúc thời giá đắt đỏ [kinh tế khó khăn] (2 PHƯỚC).
17.-Cứu giúp người bị bệnh dịch (2 PHƯỚC).
18.-Giúp chuộc tội cho kẻ bị án oan (phí tổn cứ 100 quan tính 2 PHƯỚC).
19.-Giúp người lang thang một chỗ qua đêm (1 đêm 2 PHƯỚC).
20.-Khuyên người điều hay lẽ phải (3 PHƯỚC).
21.-Chữa lành một vết thương nhỏ cho ai (3 PHƯỚC).
22.-Chôn cất xương vô chủ (10 PHƯỚC).
23.-Bảo vệ sức khỏe / sinh mệnh người khác (10 PHƯỚC).
24.-Giúp người khác trong công việc (10 PHƯỚC).
25.-Giúp người khỏi bị sẩy thai (20 PHƯỚC).
26.-Cứu người khỏi tội hình (20 PHƯỚC).
27.-Chữa lành một bệnh nặng (30 PHƯỚC).
28.-Bố thí quan tài (30 PHƯỚC).
29.-Cho phép chôn cất người nghèo trong phạm vi đất đai của mình (30 PHƯỚC).
30.-Chẩn tế cô nhi và quả phụ (30 PHƯỚC).
31.-Đem lại công bằng cho người bị áp bức (từ 30 đến 100 PHƯỚC tùy trường hợp).
32.-Cứu tế người bị đại nạn (50 PHƯỚC).
33.-Giúp một người nghèo khổ (50 PHƯỚC).
34.-Tổ chức tang ma cho người nghèo (50 PHƯỚC).
35.-Cứu trẻ gái khỏi bị trấn nước 15 (50 PHƯỚC). (định giết chết không nuôi con gái)
36.-Cứu sống ai (100 PHƯỚC).
37.-Khi không có con nối dõi thì nhận một con nuôi (100 PHƯỚC).
38.-Giúp người nghèo một vốn liếng cần thiết để kết hôn (100 PHƯỚC).
39.-Thu nhận trẻ bị bỏ rơi (100 PHƯỚC).
40.-Giúp vợ chồng con cái người khác đang ly tán được đoàn tụ (100 PHƯỚC).
41.-Giúp người nghèo có một nguồn lợi đáng kể (100 PHƯỚC).
(hạng mục VII còn tiếp phần TỘI)
(tiếp hạng mục VII)

B.- TỘI: –

1.-Giết người (100 TỘI).
2.-Hại người cho đến tàn mạt lụn bại (100 TỘI).
3.-Trấn nước bé gái (100 TỘI). (giết chết không nuôi con gái, vì trọng nam khinh nữ)
4.-Phá gia cang người khác (100 TỘI).
5.-Làm cho người khác hư hỏng sa đọa (100 TỘI).
6.-Xâm phạm nghĩa trang của gia tộc người khác (100 TỘI).
7.-Phá hoại mộ phần người ta (100 TỘI).
8.-Cản trở, phá hoại hôn nhân người khác (100 TỘI).
9.-Pha chế độc dược (100 TỘI).
10.-Chỉ vẽ phương thuốc cho ai khiến họ phải tốn kém nhưng chẳng trị được hết bệnh (100 TỘI).
11.-Không cứu người khỏi cơn nguy khi mình có thể giúp (50 TỘI).
12.-Xúi giục, tán trợ việc trấn nước bé gái (50 TỘI).
13.-Xúi giục, tán trợ việc phá thai (50 TỘI).
14.-Do oán hận mà hãm hại gia đình người ta (50 TỘI).
15.-Quăng ném bừa bãi hài cốt đã bị khai quật ra ngoài đồng ruộng (50 TỘI).
16.-San bằng phần mộ người khác trong vùng đất của mình (50 TỘI).
17.-Đạp dẫm lên lúa người khác trồng (30 TỘI).
18.-Làm hư hoại cầu, phà, giếng nước công cộng (30 TỘI).
19.-Trừng phạt lầm người (30 TỘI).
20.-Có thể giúp mà không chịu giúp cô nhi quả phụ lúc hoạn nạn (30 TỘI).
21.-Có thể làm được mà không chịu minh oan cho kẻ bị kết án sai (30 TỘI).
22.-Làm thầy thuốc mà chăm sóc bệnh nhân cẩu thả (20 TỘI).
23.-Không giúp kẻ bất hạnh (20 TỘI).
24.-Có thể làm được mà không chịu chỉ dạy cho người điều hay lẽ phải (10 TỘI).
25.-Xúc phạm người già, người tật nguyền, trẻ em vô tội (10 TỘI).
26.-Hớn hở mưu lợi từ sự bất hạnh của người khác (10 TỘI).
27.-Suốt một ngày làm cản trở giao thông tại đường nhỏ hẹp, bến phà, cầu kiều (10 TỘI).
28.-Quở trách người vô tội (3 TỘI).
29.-Đọc lén thư người khác (3 TỘI).
30.-Có trách nhiệm quản lý nhưng quản lý dỡ nhân viên (3 TỘI).
31.-Uy hiếp, khủng bố người khác (3 TỘI).
32.-Cự tuyệt người nghèo đến xin giúp đỡ (2 TỘI).
33.-Gọi đích danh tên riêng (bí mật) của ai (2 TỘI).
34.- Vu cáo oan cho người vô tội (30 TỘI)

(xem tiếp hạng mục VIII)
VIII.- THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT

[16 điều, 8 PHƯỚC – 8 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Cứu một con vật vô dụng [như già yếu, bị giết] (1 PHƯỚC).
2.-Cứu một côn trùng (1 PHƯỚC).
3.-Nuôi nấng chu đáo gia súc (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
4.-Chôn xác một con vật bị chết (1 PHƯỚC).
5.-Vuốt ve xoa dịu một con vật đang bị đau đớn (1 PHƯỚC).
6.-Mua và phóng sinh các con vật nhỏ bị bắt giữ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
7.-Không ăn thịt trong một năm (5 PHƯỚC).
8.-Cứu một con vật có ích (10 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Xúi giết hoặc ngăn cản phóng sinh một con vật (100 TỘI).
2.-Sát sinh một con thú lớn để ăn thịt (100 TỘI).
3.-Sát sinh một con thú có ích (20 TỘI).
4.-Sát sinh một con thú vô dụng [như già yếu] (3 TỘI).
5.-Sát sinh một côn trùng (1 TỘI).
6.-Xông khói hủy hoại tổ hang thú vật hay côn trùng (3 TỘI).
7.-Nhốt giữ chim trong lồng (1 TỘI).
8.-Không thương xót một con vật bị đau đớn (1 TỘI).

BẢNG KÊ MƯỜI BẢY HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC THỨ HAI
IX.- TỔNG QUÁT VIỆC THIỆN VÀ ÁC

[40 điều, 21 PHƯỚC – 19 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Khuyên người hành thiện (người được 1 PHƯỚC, mình được 1 / 2 PHƯỚC).
2.-Khuyến khích và giúp người hành thiện (người được 1 PHƯỚC, mình được 1 / 2 PHƯỚC).
3.-Khuyên ai đóng góp tiền làm việc thiện (cứ 300 quan tính 1 PHƯỚC).
4.-In ấn và truyền bá sách khuyến thiện (phí tổn in ấn cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
5.-Tặng ai một bản kinh sách khuyến thiện (10 PHƯỚC).
6.-Trong công việc, làm tốt nhiệm vụ được giao (10 PHƯỚC).
7.-Khuyên một gia đình hướng thiện (30 PHƯỚC).
8.-Công bố người tốt việc tốt (30 PHƯỚC).
9.-Xây dựng trường học cho bá tính (30 PHƯỚC / 1 học sinh học ở đó).
10.-Giúp một người cải tà quy chính (50 PHƯỚC).
11.-Đề xướng vận động thực hiện một công trình công ích (100 PHƯỚC).
12.-Truyền bá tiểu sử những vị đạo đức, anh hùng (1000 PHƯỚC).
13.-Hoà giải một vụ xung đột, tranh chấp (3 PHƯỚC).
14.-Hoá giải một mối hận thù (5 PHƯỚC).
15.-Dàn xếp một vụ kiện tụng (5 PHƯỚC).
16.-Đốt bỏ sách đồi trụy (10 PHƯỚC).
17.-Cản ngăn sự đàm luận thô tục về phụ nữ (10 PHƯỚC).
18.-Lên án việc trấn nước trẻ gái (30 PHƯỚC).
19.-Cảnh báo một tội ác sắp xảy ra (30 PHƯỚC).
20.-Thuyết giảng về sự hòa thuận (50 PHƯỚC).
21.-Giảng về đạo hiếu (100 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Ngăn cản sự khuyến thiện (100 TỘI).
2.-Sàm báng người thiện lương (50 TỘI).
3.-Không hành thiện (5 TỘI).
4.-Khi có khả năng mà không động viên giúp đỡ ai cả (5 TỘI).
5.-Yểm tài người có công (5 TỘI).
6.-Là nguyên nhân khiến người khác tiếp tục lún sâu vào tội ác (5 TỘI).
7.-Tán tụng người quấy, khen kẻ tà đạo (5 TỘI).
8.-Dạy người làm ác (mỗi việc ác 1 TỘI, người xúi giục bị 2 TỘI).
9.-Xúi giục và tiếp tay người làm ác (mỗi người 1 TỘI).
10.-Gieo bất hòa, xúi giục kiện tụng (100 TỘI).
11.-Đỡ đầu trẻ lang thang để xúi chúng làm ác (100 TỘI).
12.-Khắc in và truyền bá sách đồi trụy (50 TỘI).
13.-Viết hồ sơ giấy tờ cho một vụ kiện càn quấy hay vu oan người khác (50 TỘI).
14.-Viết giấy xác nhận ly hôn (50 TỘI).
15.-Tiến cử, giới thiệu kẻ vô đạo đức (30 TỘI).
16.-Bày vẽ cho người lề thói đồi bại (30 TỘI).
17.-Giao du với kẻ ác (mỗi lần 10 TỘI).
18.-Không an ủi kẻ đau khổ (1 TỘI).
19.-Không soi sáng cho kẻ u mê gây ác (1 TỘI).

X.- TƯ TƯỞNG

[12 điều, 5 PHƯỚC – 7 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Quét sạch tư tưởng hắc ám ngay khi nó mới nảy sinh trong đầu (1 PHƯỚC).
2.-Luôn ăn ở đàng hoàng ngay cả khi không có mặt ai (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
3.-Không làm những gì có thể kích thích tư tưởng hắc ám (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
4.-Suy gẫm điều thiện / ác xãy ra cho người thể như cho mình (10 PHƯỚC).
5.-Trọn một tháng làm lành tránh ác (100 PHƯỚC cộng thêm số PHƯỚC của các việc thiện đã làm, coi như thưởng cho sự bền bĩ).

B.- TỘI: –

1.-Nuôi dưỡng trong đầu những tư tưởng hắc ám suốt một ngày (30 TỘI).
2.-Muốn điều xấu xảy ra cho người (10 TỘI).
3.-Đắc ý hớn hở trước lỗi lầm kẻ khác (10 TỘI).
4.-Không tin vào đức hạnh của người khác (2 TỘI).
5.-Khoái trá nghĩ đi nghĩ lại một tư tưởng bẩn thỉu (mỗi lần 1 TỘI).
6.-Uất hận, hoặc có tư tưởng xấu nói chung (mỗi lần 1 TỘI).
7.-Lơ đãng khi đọc kinh hoặc cầu nguyện, cúng kính (mỗi lần 1 TỘI).
XI.- HÀNH VI

[19 điều, 10 PHƯỚC – 9 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Hoàn thành nhiệm vụ trong ngày (1 PHƯỚC).
2.-Hành động vì bổn phận, không vì cầu khen thưởng (2 PHƯỚC).
3.-Tự sửa được lỗi lầm khi được cảnh cáo (3 PHƯỚC).
4.-Noi gương tốt của ai (3 PHƯỚC).
5.-Không tìm cầu ân huệ của kẻ giàu sang quyền thế (5 PHƯỚC).
6.-Kiêng tránh những tham vọng ngông cuồng (20 PHƯỚC).
7.-Nhượng bộ người đức hạnh (20 PHƯỚC).
8.-Bền bĩ kiên trì hành thiện cho đến lúc đạt kết quả tốt đẹp (20 PHƯỚC).
9.-Chịu thiệt phần mình mà lợi cho người (50 PHƯỚC).
10.-Sống hòa thuận với người khác, không chấp nê những xúc phạm vụn vặt (100 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Mưu hại người (100 TỘI).
2.-Làm hại người để lợi về mình (50 TỘI).
3.-Sàm báng người đạo cao đức trọng (50 TỘI).
4.-Giành công về mình những điều thiện không do mình làm (30 TỘI).
5.-Núp bóng việc từ thiện để trục lợi riêng [như lợi dụng lạc quyên để bỏ túi riêng] (10 TỘI).
6.-Ngoan cố làm ác (3 TỘI).
7.-Cản trở không cho một việc thiện được thành tựu (1 TỘI).
8.-Hành động ích kỷ (1 TỘI).
9.-Từ chối không tán thành một việc đáng tưởng thưởng (1 TỘI).
XII.- NGÔN NGỮ

[18 điều, 5 PHƯỚC – 13 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Nói năng thận trọng, dè dặt, trung thực (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Nói lời lành và lời ấy giúp ích cho ai (10 PHƯỚC).
3.-Khuyến khích việc lành, bài bác việc ác, bằng cách giảng thuyết về lẽ thiện ác báo ứng, luật nhân quả (10 PHƯỚC).
4.-Chứng minh sự vô tội của một bị cáo oan (50 PHƯỚC).
5.-Giảng thuyết sách khuyến thiện (100 PHƯỚC).

B.-TỘI: –

1.-Làm báo cáo láo, phúc trình sai lạc (100 TỘI).
2.-Nói báng bổ thánh thần (50 TỘI).
3.-Tiết lộ tật kín của ai (50 TỘI).
4.-Châm biếm về đức hạnh phụ nữ (50 TỘI).
5.-Gieo rắc bất hòa (30 TỘI).
6.-Nói lừa phỉnh ai (10 TỘI).
7.-Báng bổ việc thiện, đạo đức (10 TỘI).
8.-Đặt vè châm biếm ai (5 TỘI).
9.-Diễu cợt dáng vẻ bộ điệu của ai (3 TỘI).
10.-Thích nói về khuyết điểm của người khác (1 TỘI).
11.-Nói dối (1 TỘI). Nói chơi, nói tục (1 TỘI).
12.-Khoe khoang về mình, gia đình mình quá đáng (1 TỘI)
13.-Ba hoa lắm lời không thôi (1 TỘI).

XIII.- ĐỐI VỚI THÁNH THẦN

[16 điều, 4 PHƯỚC – 12 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Cúc cung phụng thờ thiên thần, địa thần, tổ tiên nơi từ đường (1 PHƯỚC).
2.-Lấy giấy có chữ lẫn trong đống rác mà đốt đi (1 PHƯỚC).
3.-Chi phí vào nơi đền miếu thờ phụng (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
4.-Khắc in và truyền bá lời dạy của thánh hiền (100 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Phê bình thánh hiền và chữ nghĩa của thánh hiền (100 TỘI).
2.-Phá hoại miếu mạo, đền chùa (50 TỘI).
3.-Hủy hoại kinh sách (20 TỘI).
4.-Nhục mạ thánh thần, tổ tiên (20 TỘI).
5.-Trích dẫn kinh sách để đùa cợt mua vui (10 TỘI).
6.-Gọi tên thần thánh để thề thốt gian dối (10 TỘI).
7.-Day về hướng Bắc [có sao Bắc Đẩu, nơi ngụ của chư thần] mà chửi rủa, khạc nhổ, tiểu tiện (3 TỘI).
8.-Làm dơ bẩn giấy có chữ viết / in (3 TỘI).
9.-Làm dơ bẩn bếp lò và giếng nước [là nơi của Táo quân và chư thần] (1 TỘI).
10.-Tay bẩn chạm vào kinh sách (1 TỘI).
11.-Làm rách nát kinh sách (1 TỘI)
12.-Đêm tối để cho thân thể lõa lồ (trời nóng ở trần cho mát) (1 TỘI).
BẢNG KÊ MƯỜI BẢY HẠNG MỤC TỘI VÀ PHƯỚC Ở ĐỊA NGỤC THỨ HAI
XIV.- DỤC VỌNG VÀ TỰ CHỦ

[15 điều, 8 PHƯỚC – 7 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Lịch sự, nghiêm trang (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Không lì lợm, ngoan cố (1 PHƯỚC).
3.-Chịu đựng sự mâu thuẫn (1 PHƯỚC).
4.-Không nổi giận (3 PHƯỚC).
5.-Kiên trì, chịu khó (3 PHƯỚC).
6.-Tha thứ kẻ xúc phạm mình (3 PHƯỚC).
7.-Nhẫn nhịn sự công kích / chống đối (5 PHƯỚC).
8.-Cam chịu nghịch cảnh, không oán trách trời và người (10 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Cư xử thô lỗ cục súc (100 TỘI).
2.-Hay gây hấn với mọi người (30 TỘI).
3.-Phản kháng, cãi lại dù mình làm sai (10 TỘI).
4.-Càu nhàu phàn nàn khi có lỗi hay thất vọng (5 TỘI).
5.-Cáu giận, quát tháo (5 TỘI).
6.-Thích lời nịnh bợ (1 TỘI).
7.-Khi say rượu chửi bới / đánh đập người khác (1 TỘI).

XV.- Y PHỤC VÀ ẨM THỰC

[7 điều, 3 PHƯỚC – 4 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Tri túc (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Gom nhặt ngũ cốc rơi rớt trên mặt đất (1 PHƯỚC).
3.-Ăn không kén chọn / đòi hỏi thức ăn (1 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Mong muốn quá phận (10 TỘI).
2.-Mặc y phục vượt quá hoàn cảnh của mình (5 TỘI).
3.-Lãng phí ngũ cốc (1 TỘI).
4.-Hoang phí của cải, vật chất (1 TỘI).

XVI.- TÀI SẢN VÀ THƯƠNG NGHIỆP

[31 điều, 14 PHƯỚC – 17 TỘI]

A.-PHƯỚC: –

1.-Trung thực trong kinh doanh mua bán (mỗi ngày 1 PHƯỚC).
2.-Chia lời lãi chính xác cho người hùn hạp kinh doanh (1 PHƯỚC).
3.-Trả lương đúng kỳ hạn cho nhân viên (1 PHƯỚC).
4.-Cho người hàng xóm mượn đồ nghề khi họ cần đến (1 PHƯỚC).
5.-Chịu xác nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).

6.-Xỏ xâu các quan tiền và đếm đúng (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
7.-Nộp thuế đủ và đúng hạn (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
8.-Không tăng giá lúa gạo / lương thực trong năm đói kém (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
9.-Bố thí xứng đáng cho người nghèo đang xin mình (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
10.-Nhận phải tiền giả bạc giả, thà chịu thiệt thòi phần mình chứ không chuyển sang người khác (cứ 100 quan tính 1 PHƯỚC).
11.-Cho mượn tiền không lấy lãi (cứ 200 quan tính 1 PHƯỚC).
12.-Cân đo đúng (10 PHƯỚC).
13.-Không truy bức một con nợ đang túng quẫn (10 PHƯỚC).
14.-Giúp một gia đình mắc nợ được phục hồi cơ nghiệp (100 PHƯỚC).

B.-TỘI: –

1.-Làm tiền giả bạc giả (100 TỘI).
2.-Tiêu tán di sản tổ tiên (100 TỘI).
3.-Truy bức một con nợ đang túng quẫn (100 TỘI).
4.-Chiếm đất đai người khác (50 TỘI).
5.-Xúi giục người khác cờ bạc (10 TỘI).
6.-Cờ bạc bịp (cứ 100 quan ăn gian tính 1 TỘI).
7.-Cưỡng đoạt tiền của người khác (cứ 100 quan tính 10 TỘI).
8.-Trục lợi từ cảnh khốn cùng của người khác (cứ 100 quan tiền lời tính 10 TỘI).
9.-Trong năm đói kém, bán lúa gạo cứa cổ thiên hạ (mỗi ngày 1 TỘI).
10.-Trong thanh toán, tính trội số tiền mà người ta phải trả (cứ 100 quan tính trội tính 5 TỘI).
11.-Không thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 5 TỘI).
12.-Uy hiếp người ta phải bán rẻ cho mình một tài sản (cứ 100 quan tiền lời tính 5 TỘI).
13.-Chi trả cho người khác tiền giả, ngân phiếu giả, bạc giả (cứ 100 quan tính 3 TỘI).
14.-Cân đo dư khi thu vào, cân đo thiếu lúc bán ra (cứ 100 quan lời bất chính tính 1 TỘI).
15.-Trộm cắp hoặc gây thiệt hại cho người (cứ 100 quan tính 1 TỘI).
16.-Dùng sái tài năng trời phú cho mình [dùng tài năng vào việc bất chính] (mỗi lần 1 TỘI).
17.-Lén chiếm đoạt tài sản của người dù là cây kim cọng rạ (1 TỘI).

XVII.- GIỚI DÂM

[38 điều, 16 PHƯỚC, – 22 TỘI]

A.- PHƯỚC: –

1.-Trải qua một ngày một đêm không tà ý (100 PHƯỚC).
2.-Không đọc dâm thư, không xem hình ảnh đồi trụy (1 PHƯỚC).
3.-Tránh né một cuộc gặp gỡ nguy hiểm [dẫn đến tà dâm] (1 PHƯỚC).
4.-Không kết giao kẻ dâm ác (1 PHƯỚC).
5.-Ngăn cản người khác thốt lời tục tĩu (3 PHƯỚC).
6.-Mạnh dạn nói về hậu quả của hạnh kiểm xấu, v.v. (mỗi lần 1 PHƯỚC).
7.-Không nhìn chòng chọc vào người nữ (5 PHƯỚC).
8.-Xua đuổi kẻ xúi mình làm quấy (5 PHƯỚC).
9.-Ở nhà cư xử trang nghiêm với vợ (10 PHƯỚC).
10.-Cưỡng lại sự sa ngã cám dỗ (mỗi lần 10 PHƯỚC).
11.-Tôn trọng tớ gái (100 PHƯỚC).
12.-Tôn trọng một phụ nữ, không lợi dụng cô ta trong hoàn cảnh có thể lợi dụng được (100 PHƯỚC).
13.-Hủy bản khắc gỗ dùng in sách / ảnh đồi trụy (300 PHƯỚC).
14.-Viết bài đả kích sự dâm dục (300 PHƯỚC).
15.-Dìu dắt một thiếu nữ bỏ nhà đi hoang trở về với gia đình (300 PHƯỚC).
16.-Suốt đời không ngoại tình (1000 PHƯỚC).

B.- TỘI: –

1.-Sáng tác dâm thư, vẽ hình tục tĩu (vô số TỘI).
2.-Do thông dâm mà ám sát / đầu độc một phụ nữ (1000 TỘI).
3.-Do phóng đãng mà phá nát gia cang (1000 TỘI).
4.-Xúi giục người phá thai (1000 TỘI).
5.-Thông dâm với tớ gái, gái góa, nữ tu (300 TỘI).
6.-Thông dâm với đàn bà đã từng trung trinh với chồng (100 TỘI).
7.-Thông dâm với phụ nữ mất hạnh phúc [chăn gối] trong hôn nhân (50 TỘI).
8.-Cưỡng dâm tớ gái, vợ của tớ trai, vú em (100 TỘI).
9.-Qua đêm với gái điếm (10 TỘI).
10.-Ăn chơi sa đọa làm hủy hoại thân thể [hoặc mắc bệnh phong tình] đến nỗi cha mẹ không có cháu nối dõi (100 TỘI).
11.-Chứa gái điếm, dắt mối cho kẻ kê gian, công khai bảo bọc gái điếm hay gái bao (100 TỘI).
12.-Trong danh sách các tuồng hí kịch, cố ý lựa chọn các vở tuồng dâm đãng (10 TỘI).
13.-Ngắm nghía phụ nữ một cách đầy tà ý (5 TỘI).
14.-Bỡn cợt trơ trẽn về tính dục (5 TỘI).
15.-Tại nhà, quá phóng túng suồng sã với vợ (5 TỘI).
16.-Không kiêng cữ chuyện chăn gối vào các ngày chay và ngày giỗ cha mẹ (3 TỘI).
17.-Sở hữu và gìn giữ dâm thư, hình ảnh đồi trụy (mỗi ngày 1 TỘI).
18.-Đặt thơ vè tục tĩu (1 TỘI).
19.-Trong mùa nóng nực để thân thể lõa lồ cho thoải mái (1 TỘI).
20.-Nói lời tục tĩu (1 TỘI).
21.-Trên phố không nhường bước phụ nữ (mỗi lần 1 TỘI).
22.-Chửi tục tớ gái (mỗi lần 1 TỘI).
TẠM KẾT

Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách là ba thiện thư tối cổ và tiêu biểu của Đạo giáo. Ta nhận ra sự dung hợp luân lý tam giáo với lý luận của Đạo giáo về sinh mệnh (tu luyện thành Tiên).

Công Quá Cách quá chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (PHƯỚC coi như điểm dương, TỘI coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng hay hình phạt vô hình nào đó. Người tuân thủ Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách dễ có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập 百福 駢 臻 千 祥 雲 集 (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về).

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện / ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người. Ở khía cạnh này, Công Quá Cách đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng những trường hợp ấy vẫn chưa được kể ra đầy đủ so với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng.

 

 

 

NGHI LE CUA DAO GIAO * 道 教 禮 儀

道 教 禮 儀
NGHI LỄ CỦA ĐẠO GIÁO * 道 教 禮 儀

道教的禮儀
NGHI LE CUA DAO GIAO * 道 教 禮 儀

NGHI LE CUA DAO GIAO * 道 教 禮 儀

NGHI LỄ CỦA ĐẠO GIÁO * 道 教 禮 儀

道 教 禮 儀

道教的禮儀

道 教 禮 儀
NGHI LỄ CỦA ĐẠO GIÁO— 道 教 禮 儀

NGHI LỄ CỦA ĐẠO GIÁO

道 教 禮 儀

***
*Source: – http: //www. taoismdata. org/index. php?cPath=27

道教的禮儀
宗教禮儀,是人類對無形中的神一種祭祀方式。在道教中以左手為敬手【楚人尚左,老子楚人也】,故以左邊為大。上相時,用左手插香於香爐中,跪拜時以右手握掌,左手掌蓋於右掌之上,下起拜於雙膝間,上至齊眉間為一拜揖。右膝先屈,左膝後區;起立時,左膝先起,再將右膝伸直,或是雙膝同時屈拜,同時起立亦可。雙掌合十之跪拜方式為佛教之禮節,與道教有所不同。

古時以四跪八叩為最敬禮。坤道女居士行禮與乾道男居士,隻有拜揖時,下起拜於雙膝間,上至則齊於頷即可,不必齊於眉間,姿態仍須端莊嚴謹。執香朝拜之姿勢,右手執香,左手蓋於右手,放於胸前(不必放於眉毛之上或頭頂之上),香頭傾斜約於嘴之前方,上拜舉香不超過眉毛,下拜恭敬而垂拱形,形似天上半月。空手朝拜之姿勢,雙手抱拱作揖,身體須彎曲形似天上半月。

與人相逢相遇道好時,以雙手抱拳作揖,口說:無量觀或善哉、善哉,亦可說:道祖慈悲。與人相見,一手持物時,則伸出一手,食指內屈為禮(為一氣化三清之意),口說:無量觀或善哉、善哉,亦可說:道祖慈悲。無量觀有與人祝福無限之意。

道教對敬神之供品,僅須四喜五果及四供養、六供養、七供養或十供養,絕不主張殺豬宰羊來奉祀聖尊。四喜為「茶、酒、麵、飯」,四供養為「香、花、茶水、燭」,以香代表「無為」;花代表「自然」;茶水代表「清靜」;燭代表「順化」

以表達「清淨、無為、自然、順化」的道教基本教義,七供養所指為:「香、花、燭、荼、果、食、樂」;十供養則為:「香、花、燭、荼、果、茶、食、寶、珠、衣」,而不以「血食」敬奉聖尊。(註:荼為蔬菜之總稱。)
NGHI LỄ CỦA ĐẠO GIÁO

Nghi lễ của tôn giáo là phương thức cúng tế vị “THẦN” vô hình tối cao theo quan điểm tôn giáo đó.

Trong Đạo giáo, chủ trương “tay trái” là “tay tôn kính” vì theo tập quán “Người nước Sở trọng tay trái, mà Lão Tử lại là người nước Sở”, ví thế nên “phía bên trái” được coi trọng.

Khi cúng tế, người ta dùng tay trái để cắm nhang vào lư hương. Khi quì lạy, bàn tay phải nắm lại, bàn tay trái bao nắm tay phải, đưa hai tay lên giữa hai lông mày rồi quì xá xuống đất. Khi lạy xuống thì quì gối phải trước rồi mới tới gối trái. Khi đứng lên thì gối trái co lên trước kế đến gối phải rồi toàn thân đứng lên. Cũng có nơi quì hai gối xuống và lên cùng một lúc. Phật giáo khi lạy thì chấp hai bàn tay lại rồi xá xuống, còn Đạo giáo thì nắm bàn tay như trên, hai bên có hình thức khác nhau.

Ngày xưa, người ta lấy hình thức “bốn lần quì thực hiện tám lần xá” gọi là “lễ kính tối cao”. Nữ cư sĩ thì lạy có khác với nam cư sĩ, hai gối quì một lượt, nắm tay chỉ cần đưa ngang cổ rồi xá xuống một cách nghiêm cẩn là được.

Tư thế thắp hương lễ bái là, tay phải cầm nhang, tay trái bao ngoài tay phải, đưa lên ngang ngực (không cần phải đưa lên tới ngang hai lông mày hoặc lên khỏi đầu). Đầu nhang hơi nghiêng xéo một chút, nếu xá cao cũng không đưa nhang quá hai lông mày, nếu xá thấp thì từ ngực xá xuống, giống như vẽ thành một nửa vòng tròn.
Nếu không cầm nhang thì hai tay nắm lại như trên, đưa lên ngang ngực, đầu cúi xuống thành nửa vòng tròn.

Khi gặp bạn đồng đạo, hai tay nắm lại thành quyền đưa ngang ngực, miệng chào “Vô lượng quan” hoặc “Thiên tai! Thiện tai!”, cũng có thể nói câu “Đạo tổ từ bi”. Trường hợp một tay đang cầm đồ vật, thì chỉ cần tay kia nắm lại ngang ngực, cúi đầu chào, miệng nói như trên là được.

Về mặt phẩm vật cúng tế, Đạo giáo chọn “tứ hỉ ngũ quả”, cúng dường bốn món, sáu món, bảy món hoặc mười món, chứ tuyệt không có chủ trương giết heo mỗ dê để cúng tế.

Tứ hỉ gồm: – trà, rượu, mì sợi, cơm. Bốn món cúng dường là: – bông hoa, nước trà, nhang, đèn sáp.
Trong đó, nhang tượng trưng cho sự “vô vi”, bông hoa tượng trưng cho “tự nhiên”, nước trà tượng trưng cho “thanh tịnh”, đèn sáp tượng trưng cho sự “thuận hóa = biến hóa theo chiều thuận”, nghĩa là bốn món nêu lên ý niệm cơ bản của Đạo giáo: -“thanh tịnh, vô vi, tự nhiên, thuận hóa”.

Bảy món cúng dường là: – nhang, hoa, đèn sáp, nước trà, trái cây, cơm, âm nhạc.

Mười món cúng dường là: – nhang, đèn, bông, trái, trà, cơm, rau cải, vàng bạc, châu ngọc, y phục.

Không thể dùng các loại thức ăn máu huyết để cúng dường.
道教禮儀-道教稱謂-道士稱謂

在歷史上,隨著各朝代文化的影響,道士修行程度和教理造詣,以及擔任的教職,配以相關的稱謂,擇要簡述如下:
天師:
指張陵或其嗣號之後裔。但後世也有個別道士稱“天師”,如寇謙之(北魏),隋焦子順,唐胡惠超等。
法師:
精通經戒、主持齋儀,度人入道,堪為眾范的道士,叫法師。精通道法,能養生教化,為人師表者叫法師。
煉師:
起初多指修習上清法者,後泛稱修煉丹法達到很高深境界的道士。
祖師宗師:
各道派的創始人曰祖師;各派傳道的首領稱之為宗師。
真人:
通常尊稱那些體道大法,道行高深,羽化登仙的道士。
黃冠:
早期道教徒崇尚黃色,故世人根據道士衣冠顏色,稱道士為黃冠。
羽客:
亦稱“羽士”、“羽人”。以鳥羽比喻仙人可飛升上天,引申為神仙方士,進而專指道士。後世道士多取以自號。
先生:
道士的尊稱或謚號、賜號。
居士:
信奉道教的俗家信眾。
方丈:
對道教十方叢林最高領導者稱謂,亦可稱“住持”。方丈是受過三壇大戒,接過律師傳“法”,戒行精嚴,德高望重,受全體道眾擁戴而選的道士。
監院:
亦稱“當家”、“住持”。由常住道眾公選,為道教叢林中總管內外一切事務者。當監院大任者,必須才全智足,通道明德,仁義謙恭,寬宏大量,弱己衛眾,柔和善良,明罪福因果,功行俱備。
知客:
負責接待參訪及迎送賓客,《三乘集要》記載:“知客應答高明言語,接待十方賓朋,須以深知事務,通達人情,乃可任也。
高功:
指那些德高望重,精於齋醮科儀,善於踏罡步鬥,溝通神人,代神宣教,祈福消災,拔度幽魂,主持齋醮法會的道士,是經師的首領。
道人:
最初與方士同義,最早出現于《漢書•京房傳》。道教創立後,道人一詞曾專指道士。南北朝時代,則以道人專指沙門,而區別於道士。唐朝以後,又以道人泛指有道術之人,或指道士。
道長:
是當今教外人士對出家道士的尊稱,而不是職稱。

Thuật ngữ xưng hô trong Đạo giáo:

Trải qua nhiều thời đại lịch sử, nhiều nét văn hóa khác nhau, việc xưng hô trong Đạo giáo cũng thay đổi nhiều lần, trong các chức vụ, ngành nghề, công việc của Đạo. Đại khái, thuật ngữ quan trọng nên biết là: –

1. – Thiên Sư: – đầu tiên để tôn xưng Ngài “Trương Đạo Lăng”, sau cũng dùng để tôn xưng những bậc hậu hiền về sau, như: – Khấu Khiêm Chi (Bắc Ngụy), Tiêu Tử Thuận (Tùy), Hồ Huệ Siêu (Đường) v. v….

2. – Pháp sư: – tinh thông kinh điển, giới luật, chủ trì các buổi cúng tế, chứng nhận cho người mới vào đạo, là vị Đạo Sĩ có tài ba, năng lực, tinh tông đạo pháp, có khả năng giáo hóa người khác.

3. – Luyện sư: – lúc đầu chỉ cho những vị tu tập pháp “thượng thanh”, sau dùng chỉ cho những vị tu luyện “đan pháp” đến trình độ cao.

4. – Tổ Sư –Tôn Sư: – những vị sáng lập các tông phái của Đạo giáo được đệ tử tôn xưng là Tổ Sư. Những vị đứng đầu việc truyền đạo của chi phái được tôn xưng là Tôn Sư.

5. – Chân Nhân: – danh hiệu tôn xưng những vị đắc đạo, có đạo hạnh cao thâm, được đăng tiên khi vũ hóa (từ trần).

6. – Hoàng Quan (mũ vàng): – chỉ cho Đạo sĩ. Thời kỳ đầu, Đạo giáo rất tôn sùng màu vàng, người thế gian căn cứ vào màu sắc của y phục, áo mão nên gọi các đạo sĩ là “Hoàng quan = mũ vàng”.

7. – Vũ Khách: – (vũ = lông chim) cũng còn gọi là “Vũ Sĩ” hay “Vũ Nhân”. Lấy hình tượng lông chim để chỉ cho tiên nhân có khả năng phi thăng vào cõi “thượng thiên”. Lúc đầu dùng để chỉ những phương sĩ đắc đạo, sau mở rộng dùng chỉ cho tất cả Đạo Sĩ. Các đạo sĩ ngày nay cũng hay dùng từ nầy để xưng kèm danh hiệu mình.

8. – Tiên Sinh: – là danh hiệu tôn kính để gọi các tên hiệu, tên thụy của các vị Đạo Sĩ.

9. – Cư Sĩ: – chỉ những tín đồ tại gia của Đạo Giáo.

10. – Phương Trượng: – chỉ vị lãnh đạo tối cao trong một tự quán của Đạo Giáo (tùng lâm); cũng gọi là “Trú Trì”. Những vị Phương Trượng đều là người đã thụ ba đại giới của ba đại đàn tràng, gìn giữ giới luật nghiêm minh, đức cao vọng trọng, thường được toàn thể đại chúng chọn lựa ra trong các vị đạo sĩ ở tự quán ấy.

11. – Giám Viện: – cũng gọi là “Đương Gia” hay “Trú Trì”, do tất cả đạo chúng trong tự quán công cử, là vị Tổng Quản mọi việc trong ngoài của tự quán. Đây là một chức vụ quan trọng, người đảm trách phải là vị có tài có đức, tinh thông đạo học, tính tình khiêm cung, khoa hòa đại lượng, hiền lành thương yêu bảo vệ đại chúng, thể hiện trung thực tội phước nhân quả, công bằng chu đáo tận tình trong mọi việc.

12. – Tri Khách: – vị nghênh đón và tiếp đãi quan khách đến tự viện, tự quán.
Trong “Tam Thừa Tập Yếu” viết: –
Tri khách có ngôn ngữ ứng đối cao minh, tiếp đãi quan khách bằng hữu mười phương, kiến thức sâu rộng, hiểu thấu nhân tình, mới hoàn thành nhiệm vụ.

13. – Cao Công: – chỉ những vị “đức cao vọng trọng”, tinh thông những nghi thức của khoa nghi Đạo gia như: – đạp cương bộ đẩu, cầu nối với thần nhân, chỉ bày giáo lý, cầu phước tiêu tai, bạt độ vong linh u hồn, là vị đạo sĩ chủ trì những pháp hội “Trai Tiếu”, cũng là thủ lĩnh của những vị Kinh Sư khác.

14. – Đạo Nhân: – lúc đầu đồng nghĩa với “Phương Sĩ”, xuất hiện sớm nhất trong “Hán Thư—Kinh Phòng Truyện”. Sau khi Đạo Giáo được sáng lập, thuật ngữ “đạo nhân” chuyên chỉ cho “Đạo Sĩ”. Thời kỳ Nam-Bắc Triều lại dùng từ Đạo Nhân để chỉ “tu sĩ Phật giáo” phân biệt với “tu sĩ Đạo giáo” gọi là “Đạo Sĩ”. Từ đời Đường về sau, thuật ngữ “Đạo Nhân” dùng để chỉ chung cho những người có đạo thuật cao hoặc chỉ cho Đạo Sĩ tổng quát.

15. – Đạo Trưởng: – danh từ tôn xưng của người ngoài gọi những vị đạo sĩ xuất gia, chứ không phải là chức vị thực sự.

道教禮儀-道教服飾

冠服:

道士平時穿戴的冠裳和免簪帔以及在齋醮儀式中穿著衣帔的總稱。早期道教對於冠服之規定甚為簡單,從南朝劉宋陸修靜起,道士的冠服制度趨向嚴格,冠服區別愈加明顯。據南北朝《洞玄靈寶三洞奉道科戒營私》卷五,對各類道士的冠服作了明確規定。書稱:“服以象德儀形,道士女冠,威儀之先參佩經法,各須具備如本法,不得叨謬。違奪算三千六百。”唐道士張萬福《三洞法服科戒文》中的道士冠服分類已趨簡化,按法派分為六類。

法服:

道教神像以及高功和法師在齋醮儀式中所穿服飾的名稱。道教法服源於中國古代祭祀禮儀的服飾規定,又與道教教義思想和服飾的時代流變有關。

道士諸巾

混元巾:
象徵混元一炁。是以黑繒糊制而成,硬沿圓帽。頂之正中留有一圓孔,以露發髻,現全真道士多戴此帽。
莊子巾:
象徵如莊子一樣,無拘無束,超凡脫俗。亦稱沖和巾,該巾下面為方形,上部成三角形,狀如屋頂,帽前正面鑲有白玉,便以正帽,象徵品性端正。老年道士多戴莊子巾。
純陽巾:
明朝《三才圖會》稱:“純陽巾,又名樂天巾,頂有寸帛,襞積如竹簡,垂之於後,曰純陽者以仙名,而樂天則以人名也。”
九梁巾:
類似純陽巾。前頂平斜如尾面,排有九疊,九縫。道教奉九為極陽之數,一切修行最終目的。故九梁巾又象徵道徒們對大道的嚮往。
浩然巾:
清代道士閔一得在《清規玄妙》中說:“雪夜用浩然。”明代朱權的《天皇至道太清玉冊》卷六中有雪巾的記載:“以玄色紵絲為之,以天鵝皮為裏,凡雪天嚴寒皆用之以護腦。”可見浩然巾即是雪巾。此巾象徵道士的浩然正氣。
逍遙巾:
亦稱荷葉巾,全真年輕道士多戴此巾。用塊大方巾將挽好的頭髮包紮起來,留有兩角虛于後背。走路時隨風飄動,顯示出道士逍遙自在。
三教巾:
應該是王重陽祖師提出三教合一思想時所縫製。體現了道教的包融性,崇尚和平的宗教理念。道士受了中極戒就可以戴此巾。
一字巾:
舊稱幅巾,用青布做成布帶,端頭用優質木雕成太極八卦扣相互銜接。平時為了固定頭邊沿的短髮所戴。該巾扣上為“混元圈”,散開為“一”,正體現了“道生一、一生二、二生三、三生萬物”的教義思想。
太陽巾:
形如現代的太陽帽,主要是遮擋夏日陽光。不同的是,太陽巾是用藍布做成。因全真道士挽發後要插簪子,便以佩戴,所以中間隆起的部分為三角形。此巾在湖北使用者較多。
道士諸冠
黃冠:
曾受初真戒者方可戴;三台冠,
受過中極戒者可戴;五嶽冠,覆鬥形,上刻“五嶽真形圖”,必須受過天仙戒者方可戴;
五老冠,蓮瓣形,中繡五老像,晚間做超度法事時,高功所戴;
元始冠,是洞真法師、太洞法量和三洞講法師所戴;
芙蓉冠,大羅金仙所戴。
道士諸衣
法衣:
道教科儀中高功法師各種穿著的統稱。懺衣,道士在科儀中唸經拜懺時所穿的一種法衣;絳衣,在大型齋醮法會中,高功法師所穿的一種法衣,穿時裏襯海青,其制兩袖寬大垂地,雙臂展開時,兩袖和衣身合成四角形,兩袖和衣身均繡有金絲龍紋;海青,為道士日常穿用,是用青布簡單製作而成寬袖道袍。現今為了穿著方便,夏天多穿白色對襟和斜襟兩種道衣,多數以棉綢制做。
道人鞋襪
道人平時穿雙臉鞋或十方鞋,用青布制做,鞋邊沿剪有孔,再用白布將孔縫上或不縫,多為夏天穿。用高筒白襪套住褲管繫上,以便進入殿堂避免體垢落地。
高功法師所用的鞋
道靴:高功法師在舉行大型齋醮法事所穿的鞋,其制黑色高筒,白漆高厚硬底;
雲鞋,大型齋醮法事中高功所穿,其制彩錦淺幫,繡制雲紋,圓頭厚白底,多在高功踏罡步鬥時所用。

CÁCH ĂN MẶC TRONG ĐẠO GIÁO
1. – ÁO MÃO: –

Lúc bình thường, đạo sĩ đội mũ không có trang trí như mũ đội lúc làm đàn tràng trai tiêu. Ban sơ, những qui định về áo mão trong Đạo giáo rât1 là đơn giản. Đến thời Nam Bắc Triều do Lưu Tống Lục Tu Tĩnh đề xuất, mới có hình thức nghiêm trang, qui định thể thức cố định.

Trong sách: – 《Động Huyền Linh Bảo Tam Động Phụng Đạo Khoa Giới Doanh Tư》 quyển thứ năm, có ghi rõ qui cách bắt buộc. Ý chính nói: – “Áo mão tượng trưng cho cái đức của người tu, nhất là những đạo sĩ nữ, càng phải hết sức oai nghi, đúng đắn. Những qui định trên phải được chấp hành nghiêm chỉnh, không được khinh suất, coi thường, số lượng qui định lên đến ba ngàn sáu trăm điều.”.
Đạo sĩ Trương Vạn Phúc đời Đường, trong sách 《Tam Động Pháp Phục Khoa Giới Văn》 đã đơn giản hóa, tùy theo pháp phái chia thành sáu loại: –

I. – Pháp Phục: – là loại mặc, đắp cho các thần tượng thờ cúng; cũng là loại y phục dành cho Pháp sư và Cao Công mặc trong nghi thức “Trai Tiêu”. Loại nầy có ý nghĩa theo lễ nghi cúng tế thời cổ đại kết hợp với những xu thế biến cải của thời đại ngày nay.

II. – Các loại khăn của Đạo sĩ: –

(tạm dịch chữ Cân 巾 là khăn, nhưng nên hiểu là loại “khăn đóng”, giống như là loại mão)

1/- Khăn Hỗn nguyên: – tượng trưng cho “hỗn nguyên nhất khí”, do Hắc Tắng Hỗ chế ra. Hình tròn, cạnh xung quanh nỗi rõ, trên đỉnh có chừa một lỗ tròn để lộ búi tóc. Hiện nay, đạo sĩ phái Toàn Chân thường đội.

2/- Khăn Trang Tử: – tượng trưng cho tư tưởng Trang Tử, không bị câu thúc, gò bó chi cả, siêu phàm thoát tục. Còn có tên là “Khăn Xung Hòa”. Khăn nầy, phía dưới có hình vuông, phía trên tạo thành hình tam giác, giống như nóc nhà. Phía trước khăn có đính một viên ngọc trắng, để đánh dấu phía chính, đồng thời tượng trưng cho phẩm tính đoan chính. Các vị đạo sĩ cao tuổi thường đội Khăn Trang Tử nầy.

3/- Khăn Thuần Dương: – Sách “Tam tài đồ hội” đời Minh viết: – “Khăn Thuần Dương còn gọi là Khăn Lạc Thiên. Trên đỉnh có dãi lụa bạch, xung quanh quấn thành hình lóng trúc, rũ xuống phía sau. Gọi Thuần Dương là nói theo tên Tiên, gọi Lạc Thiên là nói theo tên người.

4/- Khăn Cửu Lương: – Giống như khăn Thuần Dương, nhưng mặt đỉnh phía trước và mặt đỉnh phía sau cũng bằng phẳng, có trang trí chín mối, chín gút. Đạo giáo lấy số chín là số cực dương, là mục đích cao nhất của việc tu hành. Vì thế, khăn Cửu Lương còn tượng trưng cho mục tiêu và ảnh hưởng của Đại Đạo

5/- Khăn Hạo Nhiên: – Đời Thanh, đạo sĩ Mẫn Nhất Đắc viết trong “Thanh Qui huyền diệu” có câu “Đêm tuyết dùng Hạo Nhiên”. Đời Minh, Chu Quyền viết trong 《Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách》 quyển thứ sáu: – “Lấy tơ sắc đen làm nên, trong có đệm lót lông thiên nga. Vào mùa lạnh rét nhiều tuyết rơi thì đội nó để bảo vệ bộ não. Vì thế, khăn Hạo Nhiên cũng gọi là khăn tuyết. Khăn nầy tương trưng cho chính khí “hạo nhiên” của đạo sĩ.

6/- Khăn Tiêu Dao: – còn gọi là khăn Hà Diệp (lá sen). Những đạo sĩ trẻ tuổi phái Toàn Chân thường dùng loại khăn nầy.
Khăn nầy là khối vuông trùm kín tóc, có chừa hai góc lụa phía sau, khi đi ra ngoài, gió thổi bay phơ phất hai dãi lụa, hiển thị tính chất tiêu dao tự tại của đạo gia.

7/- Khăn Tam Giáo: – do Tổ sư Vương Trùng Dương đề xuất, chế tạo theo quan điểm “tam giáo hợp nhất”. Loại khăn nầy thể hiện tính tôn giáo ưa thích hòa bình, dung hòa các thứ. Những đạo sĩ từ trung cực giới trở lên mới có thể đội khăn nầy.

8/- Khăn Chữ Nhất: – trước gọi là “khăn bức”, dùng lụa xanh làm thành một dãi dài, có gắn hình thái cực, bát quái làm bằng gỗ tốt. Khăn nầy thích hợp cho loại tóc ngắn. Ý nghĩa là “vòng tròn hỗn nguyên” khai mở ra thành “một”, thể hiện ý nghĩa “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật”.

9/- Khăn Thái Dương: – Giống như mão Thái Dương, biểu ý mặt trời đang tỏa sáng. Chỗ khác biệt là Khăn Thái Dương dùng lụa xanh làm thành. Các đạo sĩ phái Toàn Chân thích giắt trâm cài tóc nên thường đội. Vùng Hồ Bắc sử dụng nhiều loại khăn nầy.

III. – Các loại mão của đạo sĩ: –

1/- Mão vàng: – Người vừa thọ giới vào Đạo là có thể đội loại mão vàng nầy, từ trung cực giới thì đội loại Mão Tam Thai. Khi thọ giới Thiên Tiên mới được đội loại mão Ngũ Nhạc (trên có vẽ hình năm ngọn Ngũ Nhạc)
2/- Mão Ngũ Lão: – có vẽ hình Ngũ Lão, dùng đội trong pháp hội siêu độ vong linh, hoặc các vị Cao Công thường hay đội.
3/- Mão Nguyên Thủy: – Các vị Động Chân pháp sư, Thái Động pháp lượng và Tam Động giảng pháp sư mới được đội.
4/- Mão Phù Dung: – các vị Đại La Kim Tiên mới được đội.

IV. – Các loại y phục của đạo sĩ: –

1/- Pháp Y: – dùng cho các vị Cao Công pháp sư mặc trong các khoa nghi của Đạo giáo.

2/- Sám Y: – trong khoa bái sám thì mới mặc loại nầy.

3/-Giáng Y: – trong các pháp hội Trai Tiêu lớn, các vị Cao Công pháp sư mặc loại nầy. Loại nầy có hai vạt áo và hai tay áo rộng dài, khi làm lễ thì tà áo, tay áo bay bay thành ra bốn góc rất kỳ ảo.

4/- Hải thanh: – là y phục mặc thường ngày của đạo sĩ, may bằng vải màu xanh hình thức đơn giản, gọn gàng để chấp tác. Ngày nay có sự biến cải vào mùa nóng bức thì dùng áo may bằng vải màu trắng có hai loại: – đối khâm và tà khâm.

V. – Các loại giày vớ của đạo sĩ: –

Bình thường, đạo nhân mang loại giày Song Kiểm hoặc Thâp Phương, làm bằng vải xanh, hai bên có khoét lỗ nhỏ. Mùa hạ mang giày bằng vải trắng.

Vớ thì dùng loại màu trắng. Khi vào lễ bái ở điện đường không mang giày, chỉ mang vớ mà thôi.
Có một loại giày đặc biệt gọi là “Đạo Ngoa = giày đạo” dùng cho các vị Cao Công mang khi tổ chức pháp hội Trai Tiêu lớn. Còn các vị Trung Cao Công thì mang loại Vân Hài, có trang trí hoa văn rồng mây. Khi tác pháp “đạp cương bộ đẩu” các vị pháp sư cũng mang loại giày nầy.
道教主要儀范
(1)早晚功課:

早晚功課是全國現有兩大派全真、正一派的早晚必修課。早晚課約起于南北朝以後。住觀道士每日卯酉二時上殿作課,誦念香讚、開經偈、凈心咒、凈口咒、凈身咒以及《清靜經》、《玉皇心印妙經》等經,唱讚禮拜,一是修真養性,二是祈禱崇拜,三是堅定道心,四是為了體現宮觀道風的管理。早晚功課現在各常住都按傳統定制早晚上殿。

(2)全真傳戒:

傳戒,又稱開期傳戒。指從開壇傳戒到傳戒圓滿的整個過程。道士
家,初人道觀者為道童,在於孫廟拜師學經,等到了十方叢林開壇傳戒之時,子孫廟的師父便薦其赴叢林受戒。
道教全真傳戒,是從金元全真教出現以後,長春真人邱處機遂根據道教已有的戒律,訂立了道教全真傳戒儀范。清順治年間,全真龍門派第七代律師王常月方丈又創全真叢林,在北京白雲觀首次公開設壇傳戒。他承襲全真派戒法科儀,講說《初真戒》、《中級戒》、《天仙大戒》,合稱“三壇圓滿大戒”。王常月說:“學道不持戒,無緣登真箓。”傳戒時,戒壇一般分為三期進行。傳戒由十方叢林的方丈負責,稱為“傳戒律師”,又謂傳戒本師。
傳戒期間經過“考偈”:受戒弟子分清名次,按《千字文》次序排號,傳戒圓滿後,編人《登真箓》。獲得戒名後,自願遵守戒律不犯規戒,經審查合格,發給“戒牒”,以為憑據。
(3)正一授箓。

“箓”通常指記錄有關天官功曹、十方神仙名屬,召役神吏,施行功法術的牒文。正一道士只有得受法箓,才能名登天曹,才能有道位神職。有了道位神職的道士,其齋醮中的章詞,才能奉達天庭,才能得到神靈護佑,反之齋醮章詞無效。
道士受箓之後,箓牒中拔付受篆者有護身將帥,協助受箓者在主持齋醮時,斬妖除邪。拔度生靈,救濟困厄。未受箓受職,就無權遣神役鬼。
“受箓”的意義是“戒除情性,止塞愆非,制斷惡根,發生道業,從凡人聖,自始及終,先從戒箓,然始登真。”
道士受箓後,頒發給職券牒文,以證其所得之法職,名所錄之神界,以通達神靈。簡稱為“職牒”。
CÔNG PHU CHỦ YẾU CỦA ĐẠO GIÁO
1. – CÔNG PHU SỚM CHIỀU (Tảo vãn công khóa)

Hiện nay hai phái lớn là Toàn Chân và Chính Nhất thực hành công phu sớm chiều nầy.
Công phu nầy bắt đầu từ thời Nam Bắc Triều, các vị đạo sĩ trụ trì các đạo quán, vào hai giờ Mão (5-7 giờ sáng), Dậu (5-7 giờ chiều) vào chánh điện để lễ bái, thắp hương, khai kinh kệ, tịnh tâm chú, tịnh khẩu chú, tịnh thân chú rồi tụng “Thanh Tịnh Kinh” hoặc “Ngọc Hoàng Tâm Ấn Diệu Kinh”.
Công phu sớm chiều nầy là để: –

a. – Tu chân dưỡng tính.
b. – Cầu đảo lễ lạy.
c. – Kiên định đạo tâm.
d. – Gìn giữ phong cách nội qui đạo quán.
2. – Pháp truyền giới của Toàn Chân: –
Truyền giới còn gọi là khai kỳ truyền giới, là pháp để chứng nhận sự tu tiến đầy đủ tư cách đạo sĩ. Mới vào đạo, gọi là “đạo đồng” chuyên việc lễ bái, học kinh. Chờ đến khi các nơi hợp lại đủ số lượng thì khai mở giới đàn truyền giới, các tự quán gởi đạo đồng đến thọ lễ.

Giới luật của Toàn Chân áp dụng là từ thời Trường Xuân Chân Nhân Khưu Xứ Cơ đặt ra. Đến đời Thanh, niên hiệu Thuận Trị, chi phái Long Môn của Toàn Chân có vị Phương trượng thứ bảy là Đại luật sư Vương Thường Nguyệt lại đặt ra giới luật mới, áp dụng lần đầu tiên tại giới đàn Bạch Vân Quán tại Bắc Kinh.
Giới luật gồm: – “Sơ Chân Giới”, “Trung Cấp Giới”, “Thiên Tiên Đại Giới” gọi chung là “Tam đàn viên mãn đại giới”.

Ngài Vương Thường Nguyệt dạy: – “Học đạo mà không thọ trì giới luật, không thể nào đăng Chân Tiên”. Trong pháp hội truyền giới, chia ra ba cấp thọ giới khác nhau tùy đẳng cấp. Vị đứng đầu giới đàn là Phương Trượng của Thập phương tòng lâm, tôn xưng là “Truyền giới Luật sư” hay “Truyền giới bổn sư”.
Trong lễ truyền giới, các đệ tử phải qua kỳ “khảo kệ” (kiểm tra trình độ), sắp xếp theo thứ tự của “Thiên Tự Văn”. Sau lễ truyền giới, đệ tử được ban cho “đạo hiệu” và cấp phát “giới điệp” chứng nhận đã thọ giới.

3. – Pháp thọ “Diên = Chân Tiên” của phái Chính Nhất: – Đây là một pháp dành cho mười phương tu tiên, Thiên quan công tào, Triệu dịch thần lại, được thọ giới để chính thức xác thực đạo hạnh đạo lực của người tu. Những vị thọ giới nầy sẽ được nhập thiên tào, đảm nhận chức vụ ở thiên đình, có thần linh theo bảo hộ.

Những vị “Chân Tiên” nầy có đầy đủ năng lực để “trảm yêu trừ quỷ”, có các vị tướng soái theo bảo hộ, cứu độ sanh linh, giải nguy trừ khổ cho thế gian.

Những vị nầy coi như đã đoạn trừ tất cả nghiệp ác, đạo nghiệp đủ đầy, chuyển phàm thành thánh, chờ ngày công thành quả mãn sẽ đăng tiên giới.

道教主要戒律
道教主要戒律有: –

想爾九戒;五戒;十戒;碧玉真宮大戒規;孚佑帝君十戒;智慧上品大戒;智慧閉塞六情上品戒;智慧度生上品大戒;三洞眾戒文;三壇大戒及崇百藥、說百病等等。這些戒律的內容大同小異,只不過產生的時代不同,一些高道大德對戒律的觀點不同而已,但其目的都是一致的。
下面將其主要者分述如下:
(1)想爾九戒:即“老君想爾戒”,又稱“道德尊經想爾戒”。戒文源出於《老子道德經想爾注》,分上中下三品,共九條。上品戒文是:行無為;行柔弱;行守雌勿先動。中品戒文是:行無名;行清靜;行諸善。下品戒文是:行無欲;行知止師認為,能持上品戒者,可望位登仙班;能持中品戒者,可以延年益壽;能持下品戒者,可以避免夭傷。想爾九戒成為正一派的主要戒律之一。
(2)五戒:即老君五戒,托稱太上老君演說之戒。第一戒殺,第二戒盜,第三戒淫,第四戒妄語,第五戒酒;道教規定,篆生弟子受三戒後,再受五戒,五戒與三戒為八戒。五戒在天為五緯,天道失戒則現災異;在地為五嶽,地道失戒則百谷不成;在數為五行,五數失戒則水火相薄,金木相傷;在治為五帝,五帝失戒則祚夭身亡;在人為五臟,五臟失戒則性發狂。五戒失一則命不成。《太上老君戒經》中說:“是五戒者持身之本,持法之根。善男人,善女人,願樂善法,受持終身不犯,是為清信。”即清信弟子、清真弟子所受戒律。
(3)九真戒:亦稱“九真妙戒”,為亡者所持之戒。係九天帝君親口宣說,佩奉者升人九天,輕慢者墮入九地。《道法會元》卷二0稱,“九真戒者,宣告亡靈,奉戒專心,克臻妙道。”據《北帝伏魔神咒妙經》卷六稱,此戒內容為:一者敬讓,孝養父母;二者克勤,忠於君王;三者不殺,慈救眾生;四者不淫,正身處物;五者不盜,推義損己;六者不嗔,兇怒淩人;七者不詐,諂賊害善;八者不驕,傲忽至真;九者不二,奉戒專一。《無上玄元三天玉堂大法》謂:世人若能受九真妙戒,佩受救苦長生寶策,生在之日,受之福報,壽齡綿遠,運盡數終,不趨輪迴,直上丹天。
(4)初真戒:初真戒是人道者必須遵守的金科玉律,是入道的門戶,是修道的起點。初真戒有五戒、八戒、十戒和女真九介等。《初真戒說》裏就制定初真的意義說得很詳細,目的就是樹立道心,弘道立德。
初真戒要求十惡不生,無思無為,一念修道,去掉凡心,以戒為師。
清代王常月著的《初真戒律》中,讓人道者先受三皈依戒:第一皈身,太上無極大道。永脫輪迴,故曰道寶;第二皈神,三十六部尊經。得聞正法,故曰經寶;第三皈命,玄中大法律,不落邪見,故曰師寶。
①初真五戒:初真真戒是初真戒的根基,是人道之初門,清心之良方,是出俗與人俗的樞紐,每人道者,必須牢牢領會其意。
五戒指:一、不得殺生;二、不得葷酒;三、不得口是心非;四、不得偷盜;五、不得邪淫。
這五戒是持身之本,護法之根,如果能以此五戒為對照,就能益算延齡,天神護佑,永脫五刑之苦,世世不失人身。
五戒後來發展成“八戒”。陸修靜在《受持八戒》中說:在匠戒之外加:六、不得雜臥高廣大床;七、不得普習香油,以為華飾;八飛不得耽著,以作倡伎。
②初真十戒:持五戒者,校正身心,去除雜念,許受虛皇己尊所命初真十戒。十戒為:
第一戒者,不得不忠不孝,不仁不信,當盡節君親,推成萬物;
第二戒者,不得陰賊潛謀,害物利己,當行陰德,廣濟群生;
第三戒者,不得殺害含生,以充滋味,當行慈惠,以及昆蟲;
第四戒者,不得淫邪敗真,穢慢靈氣,當守貞操,使無缺犯;
第五戒者,不得敗人成功,離入骨肉,當以道助物,令九族雍和;
第六戒者,不得讒毀賢良,露才揚己,當稱人之美善,不自伐其功能;
第七戒者,不得飲酒食肉,犯律違禁,當調和氣性,專務清虛;
第八戒者,不得貪求無厭,積財不散,當行節儉,惠恤貧窮;
第九戒者,不得交游非賢,居處穢雜,當慕勝己,棲集清虛;
第十戒者,不得輕忽言笑,舉動非真,當持重寡辭,以道德為務。
這十戒,托虛皇天尊所命,能做到者,天神護佑,永脫—切苦腦。“十戒”注重道教徒的品德修養,要做到忠、孝、濟世、守身、節儉、利人、清修,作為修道養性的前提,潔身戒行的道德規範,能使道教徒品行端正,世人競嚮慕之、歸之。
道教特別講究廣濟群生,要迴光返照,與人為善,則廣施陰德,普濟群生,乃為人道之本。對貞操方面來講要獨拔常倫,頓息塵緣,斷絕色慾,精修道行,當證仙階,福及九祖,慶流一門。對於財物方面來講:夫人之貧富,命稟生初悉已前定,若生財有分,用盡還來,若胎骨受貧,廣求不富,能明此理,一切取覓付之自然,非己之財不妄取,非義之財不茍得。合得之財,隨分取可,不陷於貪求無厭之欲,能做到“十戒”的人,則心領神會,精神分明,修道積德之第一步成矣。
NHỮNG GIỚI LUẬT CHỦ YẾU CỦA ĐẠO GIÁO
Những giới luật chủ yếu của Đạo giáo gồm có;-

-Tưởng nhĩ cửu giới.
-Ngũ giới.
-Thập giới.
-Bích ngọc chân cung đại giới qui.
-Phù Hữu Đế Quân thập giới.
-Trí tuệ thượng phẩm đại giới.
-Trí tuệ bế tắc lục tình thượng phẩm giới.
-Trì tuệ độ sanh thượng phẩm giới.
-Tam động chúng giới văn.
-Tam đàn đại giới và Sùng bách dược.
-Thuyết bách bệnh v. v…

Nói chung, những giới luật nầy có chỗ “đại đồng tiểu dị”, do vì thời đại đề ra giới luật không giống nhau nên có quan điểm khác nhau chút ít, nhưng tựu trung thì mục đích vẫn thông nhất nhau mà thôi.

Sau đây là những giới luật chủ yếu của Đạo giáo: –

1. – Tưởng nhĩ cửu giới: – còn gọi là “Lão Quân tưởng nhĩ giới” hay “Đạo đức tôn kinh tưởng nhĩ giới”. Giới nấy xuất phát từ “Lão Tử Đạo Đức Kinh Tưởng nhĩ chú”, chia ra làm ba: – thượng, trung, hạ phẩm, cộng là chín điều.

-Thượng phẩm giới là: –
+Hành vô vi.
+Hành nhu nhược.
+Hành thủ thư vật tiên động.

-Trung phẩm giới là: –
+Hành vô danh.
+Hành thanh tĩnh.
+Hành chư thiện.

-Hạ phẩm giới là: –
+Hành vô dục.

Thọ giới nào là do sự quyết định của Sư dạy cho mà thi hành. Người thọ giới thượng phẩm thì mới có hy vọng đăng tiên, thọ giới trung phẩm thì có thể thêm tuổi thọ, sống lâu khỏe mạnh, thọ giới hạ phẩm thì được miễn giảm tai nạn.
Tưởng nhĩ cửu giới là giới luật chủ yếu của Phái Chính Nhất.

2. – Ngũ giới: – còn gọi là “Lão Quân giới” do đức Thái Thượng Lão Quân truyền dạy. Năm giới là: –

-không sat sanh.
-không trộm cắp.
-không tà dâm.
-không vọng ngữ (nói dối)
-không uống rượu.

Đạo giáo qui định, đệ tử mới vào đạo thì thọ ba giới, kế là thọ năm giới, trước sau tổng cộng là tám giới.

Ngũ giới ở trời là ngũ vĩ (năm mối ngang), nếu mất giới thì trời hiện ra nhiều điềm xấu; ở đất gọi là ngũ nhạc (năm ngọn núi lớn), nếu mất giới thì đất bị thất mùa, sản vật kém khuyết. Ngũ giới theo khoa số thì gọi là ngũ hành, nếu mất giới thì thủy hỏa không dung hợp, kim mộc hại nhau; trong trị vì thì gọi là ngũ đế, nếu mất giới thì bị yểu mạng mất thân; ở người thì gọi là ngũ tạng, nếu mất giới thì phát sinh cuồng loạn. Nói tóm lại, ngũ giới mà mất thì mệnh chẳng thành.

Trong sách “Thái Thượng Lão Quân Giới Kinh” viết: – [Ngũ giới là cái gốc của việc trị thân, là cội rễ của việc trì pháp. Các trai lành, gái thiện, vui tuân theo giới luật, suốt đời chẳng phạm, gọi là “Thanh Tín”] Do vậy, những đệ tử nào giữ tròn giới luật thì gọi là Thanh Tín Đệ tử hay Thanh Chân Đệ tử.

3. – Cửu Chân Giới: – còn gọi là “Cửu chân diệu giới” là giới luật dành cho vong linh áp dụng. Giới nầy do chính Cửu Thiên Đế Quân truyền dạy, những ai áp dụng tuân theo thì được thăng cửu thiên, nếu khinh lờn thì bị xuống cửu địa (địa ngục).

Quyển hai của “Đạo pháp hội nguyên” nói: – “Cửu chân diệu giới, truyền dạy vong linh, một lòng trì giới, diệu đạo ắt thành”. Còn 《Bắc Đế Phục Ma Thần Chú Diệu Kinh》 quyển sáu viết về nội dung giới nầy là: –

-1 là kính trọng hiếu dưỡng cha mẹ.
-2 là trung tín, siêng năng phục vụ vua.
-3 là không giết hại, một lòng cứu giúp chúng sanh.
-4 là không tà dâm, gìn giữ hạnh tốt, nết na đoan chánh.
-5 là không trộm cắp, hay giúp đỡ người.
-6 là không nóng giận, chữi mắng người.
-7 là không dối gạt, dèm siểm người, làm mất tình người.
-8 là không tự cao, ngạo mạn khinh người.
-9 là một lòng nghiêm trì giới luật, không lơ là vi phạm.

《Vô Thượng Huyền Nguyên Tam Thiên Ngọc Đường Đại Pháp》 nói: – “Người thọ trì Cửu chân diệu giới được xa lìa mọi khổ ách, sống lâu khỏe mạnh. Tại đời nầy, được hưởng phước báo, tuổi thọ dài lâu, khi mãn số lâm chung, khỏi rơi đọa vào luân hồi khổ sở, mà trực thượng đăng thiên”.

4. – Sơ Chân Giới: – là khuôn vàng thước ngọc dành cho những người mới vào đạo tu trì.
Sơ Chân Giới gồm có: – ngũ giới, bát giới, thập giới và Nữ chân cửu giới. Ý nghĩa của giới nầy là từng bước phát triển đạo tâm, hoằng đạo lập đức. Sơ chân giới cốt giữ cho mười điều ác không sinh ra, lấy giới luật làm thầy, thanh tĩnh vô vi, một lòng tu đạo, bỏ lòng phàm trở nên thánh đức.

Ngài Vương Thường Nguyệt đời Thanh viết “Sơ Chân Giới Luật” dạy cho người mới vào đạo trước tiên là thọ “tam quy giới” gồm: –

a. – Đạo Bảo: – quy y phần Thân, tôn kính Thái Thượng, đại đạo vô cực, ra khỏi luân hồi.
b. – Kinh Bảo: – quy y phần Thần, ba mươi sáu bộ Tôn Kinh, được nghe chánh pháp.
c. – Sư Bảo: – quy y phần Mệnh, học đại pháp huyền môn, không rơi lạc vào tà kiến.

Sau đây là các giới thuộc về Sơ Chân: –

①Sơ Chân Ngũ Giới: là căn bản của giới Sơ Chân, là cửa vào đạo, phương tiện tốt để thanh lọc tâm thức, giúp người thoát khỏi trần tục, cho nên, người muốn đi vào pháp môn tu đạo, cần phải nắm vững và thực hành tốt.

Năm giới gồm: –

-1 là không sát sanh hại vật.
-2 là không đam mê rượu thịt.
-3 là không nói lời dối trá, không thật với lòng.
-4 là không gian tham trộm cướp.
-5 là không tà dâm.

Năm giới trên là căn bản của việc tu trì bản thân, là căn bản cho việc hộ trì pháp. Người giữ tròn năm giới thì được an ổn trong cuộc sống, khỏe mạnh sống lâu, có thiên thần bảo hộ, trong đời thoát khỏi ngũ hình, đời đời không bị mất thân người.

Năm giới phát triển thành tám giới. Lục Tu Tĩnh trong quyển “Thọ trì tám giới” viết: – “Lấy năm giới kể trên làm căn bản, gia thêm giới thứ sáu là không ngồi, nằm giường to, cao, rộng; giới thứ bảy là không sử dùng đồ trang sức vàng bạc, dầu thơm, lụa là gấm vóc; giới thứ tám là không nghe âm nhạc ca xướng, không xem hát kịch”.
②Sơ Chân Thập Giới:

Sau thời gian thọ trì ngũ giới, thân tâm đã chân chính, tạp niệm vọng tưởng bớt dấy khởi, người tu nâng lên việc thọ trì “Mười giới Sơ Chân” (Sơ Chân Thập Giới). Gồm có: –

-1 là không bất trung bất hiếu, bất nhân bất tín, làm hết sức mình trọn đạo vua tôi, tôn trọng muôn vật.
-2 là không âm mưu hại người, chiếm vật làm lợi cho bản thân, mà trái lại phải thi hành âm đức sâu dầy, cứu giúp chúng sanh rộng rãi.
-3 là không được sát hại sanh linh, để phục vụ cho vị ngon thức béo, mà trái lại phải thương yêu muôn vật, phóng sanh cứu mạng, kể cả côn trùng nhỏ nhít.
-4 là không được dâm tà bại hoại luân lý, tổn hao linh khí, gìn giữ nết na đoan chánh, đức hạnh trọn vẹn.
-5 là không dùng cách làm tổn hại người để lợi cho mình, không chia rẻ cốt nhục, luôn lấy tình cảm hòa ái thương yêu người, vật, xử sự tốt đẹp trong thân tộc gần xa.
-6 là không ém tài người giỏi, nói xấu người hiền, hạ nhục người khác để tự nâng cao mình lên, mến trọng nhân tài, giúp sức và tạo điều kiện tốt để họ phát huy.
-7 là không được rượu thịt say sưa, phung phí tiền của, mà phải sống cuộc sống thanh đạm, có chừng mực, giao du với người lành bạn tốt.
-8 là không tham lam bỏn xẻn, vơ vét tiền của làm tài sản riêng tư, bo bo giữ của không bố thí, mà phải siêng năng cần mẫn, tiết kiệm để có điều kiện trợ giúp người khác.
-9 là không giao thiệp với kẻ ác, làm những việc trái pháp luật để kiếm tiền bất hợp pháp.
-10 là gìn giữ tư cách đứng đắn, ăn uống, nói năng chừng mực, không hành động, cử chỉ thô tháo, kém tư cách, phi đạo đức.

Mười giới nầy là do Hư Hoàng Thiên Tôn truyền dạy. Người giữ được trọn, thiên thần bảo hộ, tiến tu đến chỗ giải thoát.

Thập giới chú trọng về đạo đức, lối sống, cách cư xử, giao tiếp, hành sự tốt đẹp… nghĩa là bao gồm các yếu tố: – trung, hiếu, giúp đời, rèn mình, tiết kiệm, làm lợi cho người … nói chung là rèn luyện cho tín đồ phẩm chất đạo đức thanh cao, làm tiền đề cho việc tu đạo thanh tĩnh vô vi, đăng tiên thoát hóa về sau.

Đạo giáo hết sức quan tâm đến việc rộng cứu quần sanh, dè dặt tu thân, luôn cẩn thận soi xét, quán chiếu hành động bản thân, lấy sự thương người làm việc lành, đề cao việc làm đạo đức âm thầm (âm đức), hoàn thành phần “đạo làm người” một cách tốt đẹp để có điều kiện nâng cao thêm việc tu hành giải thoát.
Những điều quan trọng trong việc gìn giữ Thập giới là: –

-Về phương diện tài vật: – phải biết rõ việc giàu nghèo là do phước đức, được giàu không kiêu căng, gặp cảnh nghèo không oán trách, an phận, siêng năng làm hết khả năng mình, không chán nản, không bi quan hờn trách. Những của cải phi nghĩa không lưu giữ, những người phi nhân không giao tiếp. Biết làm ra tiền của một cách chân chính, biết dùng tiền của bố thí, giúp đỡ người nghèo khó, chứ không bo bo ích kỷ.
-Về phương diện tu dưỡng thân tâm: – gìn giữ tánh hạnh tốt, bảo vệ luân thường đạo đức, làm nền tảng cho việc nâng cấp tu hành đạo thanh tĩnh vô vi về sau.

Xây dựng được nền tảng đạo đức “Mười giới Sơ Chân” nầy là nền móng vững vàng cho việc tu hành lên cao, nói chung, người tu hành bậc thấp, cao đều phải giữ.

(tiếp và hết Phần giới luật)

③(4) 女真九戒:王常月在初真戒後面,還加上了女真九戒,作為道姑信女修持之戒,
九戒為:

一曰,孝敬柔和,慎言不妒;
二曰,貞潔持身,離諸穢行;
三曰,惜諸物命,慈愍不殺;
四曰,禮誦勤慎,斷絕葷酒;
五曰,衣具質素,不事華飾;
六曰,調適性情,不生煩惱;
七曰,不得數赴齋會;
八曰,不得虐使奴僕;
九曰,不得竊取人物。
道教經書上講只要能持戒修持,必生十善之家,不經地獄之若,精進修道,則名登紫府,位列仙班。
(5)中極大戒:中極戒是元始天王授給太上高聖道君,以傳太微天帝及太極高仙。此戒共三百條,稱“中極三百大戒”。中極戒的內容非常詳細,從言行舉止到傳授戒篆,無所不包,可謂道教最為詳細的戒律之一。但中極戒中有的內容已不適應時代要求,則應區別對待。持初真戒時能毫無過犯,方許授中極戒。
(6)天仙大戒:天仙大戒是三壇圓滿的最後一個大戒。三壇圓滿即為全真傳戒時以初真戒、中極戒、天仙大戒三戒為主的三壇傳授方式。持三百中極大戒毫無過犯者,方授天仙大戒。
初真戒、中極戒、天仙大戒,總稱為“三壇圓滿天仙大戒”道書上講受天仙戒者稱妙道師;受中極戒者稱妙德師;受初真戒者稱妙經師。
(7)齋日:齋日也就是指齋月中某一天或祖師聖誕或有齋醮科儀等活動時,道教徒必須嚴格按照道教儀范所規定內容行事。
道教在制定戒律的同時,還特別設立了齋日,齋日是一月之中應持齋戒的日子。這一天必須嚴格遵守道教戒律,這樣舉行儀式時才能有天神護佑,才能有求必應,心神感應。
道教的齋日有十直齋日、八節齋日、三元齋日、四始齋日、三會齋日。
①十直齋日:每月一日,八日,十四日,十五日,十八日,二十三日,二十四日,二十八日,二十九日,王十日(小月可取二十七日)。
②八節齋日:立春日,春分日,立夏日,夏至日,立秋日,秋分日,立冬日,冬至日。
③三元齋日:正月十五,七月十五,十月十五。
④四始齋日:正月一日,四月一日,七月一日,十月一日。
⑤三會齋日:正月七日,七月七日,十月五日。
這些齋日是持戒做齋的特定時間,齋日裏必須嚴格持戒、護戒,這樣才能真正以身正教化世人,以凈心感,化世人。
⑥違戒的處罰:違戒謂受戒道士違背所應受持的規戒條律。破戒謂道士受持規戒後重又違犯規戒。對違戒、破戒者,原本都有統一規定,後來各宮觀以清規作為處罰的標準,現在基本是以批評教育為主,直至催單(開除)。
⑦現行主要齋日:現在各全真廟宇中的齋日與傳統定制有些變化,十方叢林主要以農曆初一、十五及祖師聖誕日等作為齋日,子孫廟裏還以傳統定制齋日為主。

4. -③Nữ Chân Cửu Giới:

Ở phần sau của Sơ Chân Giới, Ngài Vương Thường Nguyệt có đưa thêm phần “Chín giới của Nữ Chân” (Nữ Chân Cửu Giới) áp dụng cho các vị đạo cô thọ trì tu học.

Chín giới gồm: –

-1 là hiếu kính nhu hòa, cẩn thận lời ăn tiếng nói, không ghen ghét người khác.
-2 là giữ thân trinh khiết, không suy tư nhớ nghĩ điều tà dục.
-3 là thương yêu người vật, không sát sanh hại vật.
-4 là lễ bái tụng kinh nghiêm chỉnh, không bê tha trễ nãi.
-5 là phục sức đơn giản, kín đáo, tránh lòe loẹt kiểu cọ, không đeo đồ trang sức.
-6 là luôn giữ tính tình vui vẻ hòa nhã, không gây sự, không phiền não.
-7 là không được tham gia vào “Trai Hội”.
-8 là không được ngược đãi kẻ ăn người ở, kẻ dưới quyền mình.
-9 là không gian tham trộm cắp tài vật người khác dù lớn nhỏ ít nhiều.

Kinh điển Đạo gia cho rằng, những người gìn giữ những giới luật nêu trên, không bị rơi vào địa ngục, được tái sanh vào những nhà giàu có, lương thiện, là điều kiện thúc đẩy sự tiến bộ trong việc tu hành bậc cao, phi thăng tiên cảnh, dự vào sổ bộ chư Tiên.

(5)Trung Cực Đại Giới: Đại giới nầy là do Nguyên Thủy Thiên Vương truyền cho Thái Thượng Cao Thánh Đạo Quân, kế truyền cho Thái Vi Thiên Đế và Thái Cực Cao Tiên.
Giới nầy gồm ba trăm điều, gọi là “300 Đại giới Trung Cục”. Nội dung của giới nầy rất vi tế, từ lời nói, cử chỉ… cho đến việc truyền thụ đệ tử, đều có ghi rõ. Đây là giới luật hoàn chỉnh nhất của Đạo gia. Nhưng đến nay, tình thề xã hội đã biến cải, có những giới không cón phù hợp với thời đại, cần phải linh động ứng xử mà thôi.

Theo luật định, người nào thọ giới sơ chân đã lâu mà không bị phạm giới luật nào, được nâng cấp lên dể thọ giới Trung cực.

(6)Thiên Tiên Đại Giới: là giới luật hoàn chỉnh cho “tam đàn viên mãn”, tức là sau khi đã thọ Sơ chân giới, Trung cực giới, không bị phạm điều luật nào thì được thọ Thiên Tiên Đại Giới nầy.

Sơ Chân giới, Trung Cực giới, Thiên Tiên Đại giới gọi chung là “Tam Đàn Viên Mãn Thiên Tiên Đại Giới”. Trình tự tu hành như sau: –

-thọ Sơ chân giới gọi là Kinh Sư.
-thọ Trung Cực giới gọi là Diệu Đức Sư.
-thọ Thiên Tiên giới gọi là Diệu Đạo Sư.
(7) NHỮNG NGÀY CHAY CỦA ĐẠO GIÁO: –

Là những ngày vía của chư Tổ sư, chư vị Thánh … có tổ chức lễ trai tiêu hay lập đàn tràng, hàng đệ tử phải giữ gìn thân tâm một cách nghiêm nhặt, sạch sẻ, tinh khiết để có sự giao lưu với thần thánh cho tốt. Trái lại, nếu không giữ tròn giới luật, thân tâm ô uế thì sự giao lưu không có kết quả.

Ngày chay của Đạo giáo gồm có: –

-Ngày chay của mười trực.
-Ngày chay của tám tiết.
-Ngày chay của ba nguyên.
-Ngày chay của tứ thủy.
-Ngày chay của tam hội.

1. – Ngày chay của mười trực là: – mỗi tháng vào ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm (15), 23, 24, 28, 29, 30. (nếu tháng thiếu thì tính ngày 27,28,29)

2. – Ngày chay của tám tiết là: – ngày Lập xuân, ngày Xuân phân, ngày Lập hạ, ngày Hạ chí, ngày Lập thu, ngày Thu phân, ngày Lập đông, ngày Đông chí.

3. – Ngày chay của ba nguyên là: – rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười.

4. – Ngày chay của tứ thủy là: – ngày mùng một tháng giêng, ngày mùng một tháng tư, ngày mùng một tháng bảy, ngày mùng một tháng mười.

5. – Ngày chay của tam hội là: – ngày mùng bảy tháng giêng, mùng bảy tháng bảy, mùng năm tháng mười. .
Những ngày chay nầy, tín đồ nên nghiêm chỉnh ăn chay, giữ giới, an định thân tâm, để có sức cảm hóa người đời.

6. – Người phạm vào việc không ăn chay vào những ngày kể trên gọi là “Vi giới”, những đạo sĩ phạm giới luật gọi là “Phá giới”, tùy theo tình tiết mà có cách xử phạt khác nhau, chủ yếu vẫn là nhắm vào “giáo dục cải hóa” là chính, trường hợp quá nghiêm trọng mới đưa đến biện pháp “Thôi đan = Khai trừ”

7. – Những ngày chay chủ yếu ngày nay: – Hiện nay, các tự quán, miếu vũ của phái Toàn Chân có nhiều sự linh động, thay đổi. Quan trọng nhất là cố định hai ngày mùng một và rằm hàng tháng là phải ăn chay. Thêm nữa là vào ngày thánh đản của các Tổ sư, tùy theo truyền thống của mỗi nơi mà qui định ngày chay khác nhau.
(xem tiếp phần Nghi lễ Trai Tiêu)

GIỚI THIỆU ĐƠN GIẢN VỀ NHỮNG KHOA NGHI TRAI TIÊU THƯỜNG DÙNG HIỆN NAY:

現行道教常用齋醮科儀之簡介
現行道教常用的齋醮科儀很多,大略有:早晚壇功課、接駕、祝壽、進表、煉度等等,現擇要分述如下。  (一)早晚壇功課
道教住觀道士每日早晚例行的科儀。約起于南北朝以後。據《早晚功課經•序》曰:“功課者,課功也。課自己之功也,修自身之道者,賴先聖之典也。誦上聖之金書玉誥,明自己本性真心,非科教不能弘大道,非課涌無以保養元和。是人道之門墻,修性之徑路。”
在觀道士每日卯、酉之時上殿做功課,早誦香讚、開經偈、凈心咒、凈口咒、凈身咒以及《清靜經》、《玉皇心印妙經》等;晚誦步虛、開經偈、玄蘊咒、《太上洞玄靈寶救苦拔罪妙經》、《元始天尊說生天得道真經》等。唱讚禮拜,諷誦仙經,一是修真養性,二是祈禱吉祥,三是堅定道心,四是超度亡靈,五是體現宮觀道風管理。

(二)祝將科儀
常用於道教早壇功課出壇中的一種科儀。祝為恭請之意,將即神真;祝將是恭迎神真登臨壇場。
早壇功課化天地疏文後,通過高功表白,舉威顯化天尊、禮拜、上香、宣表、念(唱)咒(靈官咒),顯示祖師赫赫威靈,降臨壇場,以護經護道護壇庭,達到道門常清靜。

(三)祭孤科儀
常用於道教晚壇功課出壇中的一種科儀。祭為祭祀、超度之意;孤為孤魂;祭孤即祭祀孤魂,為亡靈超度。
晚壇功課出壇,各執事如法如儀後,通過高功表白、舉太乙救苦天尊、禮拜、上香、灑凈水、表白宣表篆、高功步罡撒食,以期甘露灑開地獄門,孤魂亡靈升仙都。

(四)祝壽科儀
道教用於祖師聖誕之時的科儀。祝為慶賀之意,壽為壽辰,祝壽即慶賀祖師壽辰。如正月初九、正月十五、正月十九,分別為玉皇、天官、邱祖的聖誕,于當天晚上零點例行此儀,以賀祖師誕辰。
其程式為:各執事如威如儀,高功、表白,齊舉玄教萬壽天尊,上香禮讚,舉道經師寶天尊,耠“三寶香”韻,舉香雲達信天尊,宣表念祖師寶浩(某祖師聖誕即念某祖師誥)、焚表、退班。

(五)慶賀科儀
亦為道教用於祖師聖誕之日的科儀。慶為慶祝之意,慶賀即慶祝祖師誕辰。一般在祖師聖誕日白天舉行。
其程式為:各執事如列如儀,上香禮讚;舉三清應化天尊,舉道經師寶天尊,舉香雲達信天尊,上祝香咒,上威靈咒,宣表、表白、念誥(某祖師聖誕即念某祖師誥)、焚表、退班。

通過此儀,恭對醮壇,以賀祖師聖誕。
GIỚI THIỆU ĐƠN GIẢN VỀ NHỮNG KHOA NGHI TRAI TIÊU THƯỜNG DÙNG HIỆN NAY
Những khoa nghi Trai tiêu thường dùng thì rất nhiều, đại khái có: –

-Công khóa đàn sớm tối.
-Tiếp giá.
-Chúc thọ
-Tiến biểu.
-Luyện độ
v. v…

1. – Công khóa đàn sớm tối: –

Trong các tự quán của Đạo gia, đạo sĩ cử hành khoa nghi khóa đàn sớm tối mỗi ngày.

Từ sau thời Nam Bắc Triều, trong sách “Tảo vãn công khóa kinh- Tự” (Bài tựa sách Công khóa sớm tối) viết: – “Công khóa nghĩa là thực hành các công phu, khoa nghi hàng ngày, mục đích để tu thân, học tập kinh điển các Thánh, ôn tập lời dạy vàng ngọc của Thượng Thánh, để làm sáng tỏ thêm chân tâm tự tính của bản thân. Nếu không có khoa giáo thì không thể hoằng truyền đại đạo, không có công khóa thì không thể nuôi lớn nguyên khí. Đây là cửa vào đạo của người, là con đường quan trọng cho việc tu tính”.

Trong tự quán, hàng ngày vào hai thời Mão và Dậu, đạo sĩ lên điện để thực hiện công khóa, buổi sớm tụng tán hương, kệ khai kinh, chú tịnh tâm, chú tịnh khẩu, chú tịnh thân và “Kinh Thanh Tĩnh”, “Ngọc Hoàng Tâm Ấn Diệu Kinh”; buổi chiều tụng Bộ Hư, kệ khai kinh, chú Huyền Uẩn, tụng các kinh 《Thái Thượng Động Huyền Linh Bảo Cứu Khổ Bạt Tội Diệu Kinh》 、《Nguyên Thuỷ Thiên Tôn Thuyết Sanh Thiên Đắc Đạo Chân Kinh》 v. v…

Việc xướng tán lễ lạy, phúng tụng kinh Tiên, một là để tu chân dưỡng tính, hai là để cầu xin việc lành, ba là vững vàng tâm đạo, bốn là siêu độ vong linh, năm là thể hiên đạo phong của cung quán Đạo gia.

2. – Khoa nghi Chúc Tướng: –

Là khoa nghi tiếp sau khóa lễ buổi sớm, “Chúc” có nghĩa là cung thỉnh, “Tướng” là những vị Tiên, Thánh. Chúc Tướng là cung nghênh Tiên, Thánh giáng lâm đạo tràng.
Sau khi đốt xong lá sớ dâng thiên địa của khóa lễ buổi sớm, vị Cao Công dâng lời biểu bạch, ca tụng Thiên Tôn hiển hóa, lễ lạy, dâng hương, cáo bạch, niệm chú Linh Quan, ca ngợi uy linh hiển hách của Tổ sư giáng hạ đạo tràng, hộ trì cho đạo tràng, cho đệ tử đạt đạo thanh tĩnh.

3. – Khoa nghi Tế Cô: –

Là khoa nghi tiếp sau khóa lễ buổi chiều, “Tế” có nghĩa là cúng tế, siêu độ, “Cô” là những cô hồn, uổng tử, vong linh phiêu bạt … “Tế Cô” tức là cầu siêu độ cho cô hồn.
Sau khi xong khóa lễ buổi chiều, các vị chấp sự cử hành khoa nghi Tế Cô. Mở đầu là vị Cao Công dâng lời bạch, tâu trình với Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, lễ lạy, dâng hương, làm phép sái tịnh thủy, dâng lời biểu, Cao Công thực hiện nghi Bộ Cương Tán Thực, dùng nước Cam Lồ rãy để mở cửa địa ngục, siêu độ vong linh cô hồn thăng tiên cảnh.

4. – Khoa nghi Chúc Thọ: –

Dùng trong lễ kỷ niệm ngày vía thánh đản của Tổ sư. “Chúc” nghĩa là chúc mừng, “Thọ” là ngày thoát hóa, Chúc Thọ có nghĩa là Chúc mừng ngày thoát hóa (đăng tiên) của Tổ sư.
Vào các ngày mùng chín tháng giêng, ngày rằm tháng giêng, ngày 19 tháng giêng là ngày thánh đản của Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thiên Quan, Khưu Tổ. Khoa nghi nầy thường tổ chức vào buổi chiều của ngày thánh đản. Trình tự khoa nghi như sau: –

-các vị chấp sự tề tựu đủ mặt.
-Cao Công dâng biểu bạch ca ngợi sự mầu nhiệm của Thiên Tôn được lâu dài.
-dâng hương
-lễ lạy
-kinh sư thực hiện nghi Bảo Thiên Tôn, thắp “Hương Tam Bảo” để kính dâng lên Thiên Tôn.
-ca ngợi công đức của vị thánh đản.
-đốt sớ.
-lễ thành

5. – Khoa nghi Khánh Hạ: –

Dùng để chúc mừng ngày sinh của Thầy, thường cử hành vào buổi sáng của ngày khánh hạ.

Trình tự như sau: –
-các vị chấp sư tề tựu đủ mặt
-dâng hương
-tán lễ xưng tụng Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
-kinh sư thực hiện nghi Bảo Thiên Tôn, thắp hương “Tín Thiên Tôn” để dâng cúng.
-niệm chú thượng hương
-niệm chú thượng uy linh
-đọc lời biểu
-dâng biểu
-ca ngợi công đức của vị Khánh hạ
-đốt sớ
-lễ thành
(六)接駕科儀
道教專用於玉皇巡天之晨的科儀。接為迎接之意;駕為聖駕,指玉皇大帝;接駕科儀指迎接玉皇大帝時所行的朝科。宮觀于農曆臘月二十五日子時(即零點)舉行迎接王帝聖駕大典,簡稱迎鑾接駕。
其程式是《早課》念完《太上靈寶天尊說禳災度厄真經》,高功跪起啟請韻、起“小讚韻”,監院拈香、剎板,高功說文,提科起步虛韻,高功舉大羅三寶天尊,高功起吊挂,高功提綱、表白,高功說文、起天尊板,眾念鶴駕採臨天尊,眾出殿至天壇,退班。
通過此儀恭對瑤壇,延請玉帝降臨人間,賜福禳災,延齡益壽。
(七)大回向科儀
常用於道場圓滿時的一種科儀,是為道場圓滿做的總懺悔。
其程式為:高功拈香說文,提科起步文,高功舉大羅:寶天尊,高功起吊挂、提科提“恭對道前”,表白接“回向如法,高功朗念回向文,眾念《彌羅寶誥》及《洞玄靈寶高上玉皇本行集經》,高功起送花讚、退班。
通過此儀,仗道威力,願罪消除,常,轉法輪,普度群晶。
(八)進表科儀
進表亦稱“化表”、“焚疏”,是道教齋醮中一種非常重要的科儀,廣泛應用於各種大犁的齋醮活動中。例如金箓、玉箓、黃箓,或者大型醮會,均要舉行此儀。
進表,源於中國古代的祈禱儀式,經兩漢南北朝、隋唐諸代的發展,逐漸由簡趨繁,直至宋元以後才日趨統一和完善。但由於道法師承的系統不同以及傳播地域的經濟文化,乃至語言、風俗習慣的差異,各地在演習中有了很大的不同。例如上海道教現行“進表”科儀,大體分三個步驟舉行。第一步為啟壇:法師和眾道士人壇敬香,跪奏祝告,醮壇被幻化成瑤壇仙境,以分燈法點燃全壇之燈,擊金玉之聲,然後漱水。凈灑壇場。第二步為請聖:奉安五方神聖、請聖、降聖。第三步為拜表:法師和眾道士奉請三師相助,降臨壇場,高功默念“薰香咒”,行祭禮于司表仙官,以勞動仙官遞送表文于天庭,然後封表,法師虛畫符文于表上,以示封緘;行送表禮,焚表化行;高功步罡踏鬥,以示元神飛升天庭,默念表文,稟告上蒼,高功在踏表後,收斂元神;眾法師和執事致謝眾神,獻供,上表結束,退堂。此為進表科儀的核心內容。
通過此儀,道士將書寫信眾祈願的表文呈達天庭,祭告上蒼。眾聖降臨壇場,賜福延齡,先靈受度。
(九)水火煉度儀
道教齋醮中常用的一種科儀。水火即真水真火,水火煉度即指用真水真火,交煉亡靈,拔度幽魂。包括:九煉生屍、靈寶煉度和南昌煉度三種。
在舉行該儀時,壇場上要設置水池和火沼,水池盛真水,火沼置真火。其中真水是在拂曉時,“于東井中,人末汲者”(《上清靈寶大法》),經焚請水符後,在燭光下,汲水入水池內;真火是在日午時,“面日,截竹取火,下用印香引之”(同上),火著後,焚請火符,引火燒沼內炭。
其程式為:祝香,啟聞上帝,焚降真詔靈符;高功就座召將吏,存將吏降臨,次念五帝真諱;收召亡魂,水火交煉;焚符九章,使亡魂之臟腑生神;說戒;舉道經師寶;鬼神十戒;九真妙戒;舉奉戒頌;讀符告簡牒;高功下座,送魂度橋;焚燎,舉三清樂;退班。其核心是收召亡魂,水火交煉。
通過此儀,水火交煉,超陰度亡。
(十)燈儀
道教齋醮中常用的一種科儀。指以燈為豐要法器的一種儀式,多在日落後舉行。包括:九幽燈儀、北斗燈儀、本命燈儀、血湖燈儀等。
燈儀源於中國古代的祭禱儀式,至南北朝時,醮壇執事中已有“侍燈”一職,到唐末五代,道教齋醮中就有了完整的禮燈儀。元朝時期,燈儀被廣泛地運用於金箓、玉箓類道場中。後經過發展,大體分為金箓、黃箓兩大類。
金箓類燈儀的程式是:入壇、啟白(通意)、皈命和讚頌、諷經、宣疏、回向。
黃箓類燈儀的程式是:入壇、啟白(通意)、舉天尊之號和讚頌、諷經、宣疏、回向。可見刁;同燈儀在舉天尊之號和讚頌部分有所區別,這與破獄度亡有關。
燈儀中的火種的來源是,從正午陽光取得火源,然後再在分燈儀中點燃壇場各燈。
通過此儀,照耀諸天,續明破暗,下通九幽地獄,上映無福極堂。
6. – Khoa nghi tiếp giá: –

Đạo giáo dùng trong khoa nghi “Ngọc Hoàng Tuần Thiên” (Ngọc Hoàng đi tuần trong dân gian). “Tiếp” có nghĩa là đón tiếp, “Giá” có nghĩa là thành giá (xe vua), chỉ Ngọc Hoàng Đại Đế.

Khoa nghi nầy các đạo quán tổ chức vào buổi khuya ngày vía Ngọc Hoàng. Đó là giờ Tý ngày 25 tháng chạp (12) âm lịch. Lễ nầy nói đủ là “Nghênh tiếp Thánh Giá Đại Điển”, nói gọn là “Nghênh loan tiếp giá”.

Sau khi xong thời cúng buổi sáng, thì tụng tiếp 《Thái Thượng Linh Bảo Thiên Tôn Thuyết Nhương Tai Độ Ách Chân Kinh》 . Vị Cao Công quì xuống khải thỉnh, tụng “tiểu tán vận”. Vị Giám Viện dâng hương, lễ bái. Cao Công thực hiện động tác “bộ hư vận” để cúng dường “Đại La Tam Bảo Thiên Tôn”, kế tiếp là các nghi điếu quải, đề cương, biểu bạch, thuyết văn cúng bái Thiên Tôn. Toàn chúng tụng bài “Hạc giá thải lâm Thiên Tôn”, ra khỏi điện đường, hướng hư không lễ bái, sau đó lễ thành.
Mục đích khoa nghi nầy là cung thỉnh Ngọc Đế giáng lâm nhân gian, cầu xin ban bố phước lành, giải trừ tai nạn, khỏe mạnh an ổn trong cuộc sống.
7. – Khoa nghi Đại hồi hướng: –

Dùng sau khi hoàn mãn buổi cúng tế và sau lễ sám hối lớn trong đạo tràng.
Trình tự như sau: –
-Cao Công dâng hương, thuyết văn, khởi bộ văn.
-Cao Công cúng dường Đại La Bảo Thiên Tôn.
-tiếp theo là các nghi điếu quải, cung đối đạo tiền, biểu bạch.
-Cao Công niệm Hồi Hướng Văn.
-Toàn chúng tụng Di La bảo cáo và 《Động Huyền Linh Bảo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh》
-Cao Cống rải hoa xưng tán.
-Lễ thành.

Mục đích của nghi nầy là nói lên uy lực mạnh mẽ của Đạo pháp, tiêu trừ tội lỗi, thường chuyển pháp luân, phổ độ chúng sanh.

8. – Khoa nghi Tiến Biểu: –

Cũng gọi là “Hóa biểu” hay “Phần sớ” (đốt lá sớ).
Đây là một nghi thức rất quan trọng trong Đạo giáo, có giá trị cao, không thể thực hiện chiếu lệ hay sơ sài mà được. Trong các khoa nghi quan trọng như “Kim Khuyết”, “Ngọc Khuyết”, “Hoàng Khuyết” và các đại khoa khác, đều chú trọng nghi “tiến biểu” nầy.
Tiến Biểu có gốc là nghi thức “cầu đảo” trong thời kỳ Trung Quốc cổ đại, trải qua hai thời nhà Hán, kế tiếp thời Nam Bắc Triều, rồi đến đời Tùy, Đường tiếp tục phát triển, cho đến thời Tống, Nguyên thì coi như hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, trải qua thời gian lâu xa, phổ biến trong một vùng đất rộng lớn, có nhiều nét khác nhau về phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói v. v… nên dẫn đến kết quả là nội dung khoa nghi có nhiều chỗ không giống nhau.
Thí dụ như, ở Thượng Hải thì tổ chức khoa nghi Tiến Biểu nầy gồm có ba mục: –
– Thứ nhất gọi là “Khải đàn”, pháp sư và chúng đạo sĩ tập hợp làm lễ dâng hương, quì xuống chúc cáo, đàn tràng được “giả định” như là một cõi Tiên (tưởng tượng), các đèn trong toàn đàn đều đốt lên cả, đánh chiêng vàng khánh ngọc, sau đó là “làm phép sái thủy”, rãi tịnh thủy ra khắp đàn tràng để tẩy uế.
-Thứ nhì là “Thỉnh Thánh”: – an vị thần thánh năm phương, thỉnh thánh, giáng thánh.
-Thứ ba là “Bái Biểu”: – pháp sư và chúng đạo sĩ phụng thỉnh Tam Sư tương trợ, giáng lâm đàn tràng.
-Cao Công mặc niệm “Huân hương chú”, thỉnh “Tiên quan” để đưa biểu văn lên thiên đình.
-Niêm phong biểu văn, Pháp sư họa phù trên phong biểu, hành lễ “Tống biểu” (đốt lá biểu).
-Cao Công thực hiện “bộ cương đạp đẩu”, xuất nguyên thần bay lên thiên đình, tuyên đọc biểu văn tấu cáo Thượng Đế.
-Cao Công thu liễm nguyên thần, chúng Pháp sư và đạo sĩ lễ tạ chư Thần, kết thúc lễ Tiến Biểu.
-Lễ thành.

Nghi nầy dùng để dâng biểu văn tâu trình lên Thiên Đình, bẩm báo Thượng Đế. Đồng thời cũng cầu chư Thánh giáng lâm đàn tràng, ban phước tứ chúng, siêu độ vong linh.

9. – Khoa nghi luyện độ thủy hỏa: –

Đây là khoa nghi các Pháp Sư dùng chân thủy chân hỏa hợp giao lại để cứu độ vong linh, siêu độ u hồn. Khái quát gồm có ba nghi: – cửu luyện sanh thi, Linh Bảo luyện độ và Nam Xương luyện độ.

Trước khi cử hành nghi thức nầy, đán tràng phài chuẩn bị sẵn hai cái ao nhỏ, một cái để chứa “chân thủy” và một cái để chứa “chân hỏa”. Theo “Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp” thì: – (chân thủy) “…lấy ở giếng phía Đông sau khi đốt linh phù, làm kín đáo không ai biết”. Đem nước nầy đổ vào ao, lại đốt linh phù, biến thành chân thủy. Chân hỏa thì lấy khi vừa nhìn mặt trời lúc chính ngọ, vừa cọ xát cây tre cho bắt lửa vào bùi nhùi để tạo thành lửa ngọn, rồi đem lửa ấy đốt cháy than đựng trong ao, làm thành chân hỏa.

Trình tự nghi như sau: –
-Dâng hương
-Trình biểu tâu bày cùng Thượng Đế.
-Đốt linh phù
-Cao Công ngồi trên đàn đọc chú triệu thỉnh Tướng Soái và Thần Binh tụ hội.
Kế niệm “Ngũ đế chân húy” để triệu tập vong hồn, dùng chân thủy và chân hỏa để giao luyện, đốt phù chín lá để sanh thần cho tạng phủ của vong hồn.
-Cao Công thuyết giới như: – Thập Giới, Cửu Chân Diệu Giới; đọc tờ điệp cấp cho vong linh.
-Cao Công xuống đàn, đưa vong linh đi qua cầu tiên để thăng thiên giới.
-Đốt linh phù, hương liệu, tấu nhạc Tam Thanh để đưa vong linh thăng tiên.

Nghi nầy chủ yếu là triệu tập vong hồn, dùng phép chân thủy hỏa giao luyện để cứu độ vong linh.

10. – Khoa nghi “Đưa đèn” (Đăng Nghi): – Đạo sĩ cầm “đèn pháp” để “đưa rước” thần thánh, vong hồn. Gồm có các nghi: – Cửu U, Bắc Đẩu, Bổn Mệnh, Huyết Hồ Đăng Nghi.

Đăng Nghi cũng có nguồn gốc từ nghi thức “cầu đảo” thời xưa của Trung Quốc. Đến thời Nam Bắc Triều thì trong các đàn trai tiêu có chức chấp sự gọi là “Thị Đăng” thực hiện động tác “đưa đèn”. Đến cuối đời Đường sang đời Ngũ Đại, thì “Đăng Nghi” mới chính thức thành một khoa nghi.
Thời nhà Nguyên thì Đăng Nghi biến dạng thành các khoa: – Kim Khuyết, Ngọc Khuyết, Hoàng Khuyết nhưng về sau chỉ có Kim và Hoàng Khuyết mà thôi.

Trình tự Kim Khuyết như sau: –
-Nhập đàn
-Khải bạch
-Lễ bái tán tụng
-Đọc kinh-
-Đọc sớ, đốt sớ
-Hồi hướng

Trình tự Hoàng Khuyết như sau: –
-nhập đàn
-khải bạch
-xướng danh hiệu Thiên Tôn và tán tụng
-đọc kinh
-đọc sớ, đốt sớ
-hồi hướng
Hai bên chỉ khác chỗ xướng danh hiệu Thiên Tôn, phần nầy giống như nghi phá địa ngục độ vong vậy.

Phải lấy lửa vào lúc chính ngọ để lưu giữ lại và thắp mồi cho tất cả đèn của đàn tràng.
Nghi nầy có ý nghĩa nêu cao đạo lực chu Thiên, trừ tăm tối hiển lộ ánh sáng, dưới chiếu thông đến Cửu U địa ngục, trên soi thông đến Vô Phước Cực Đường.
HẾT

 

 

BA KINH QUAN TRONG CUA DAO GIAO * 太清道德天尊醒世玄微真經 * 上清靈寶天尊警世利民真經 * 玉清元始天尊啟智通靈真經

BA KINH QUAN TRONG CUA DAO GIAO * 太清道德天尊醒世玄微真經 * 上清靈寶天尊警世利民真經 * 玉清元始天尊啟智通靈真經

【太清道德天尊醒世玄微真經】

【上清靈寶天尊警世利民真經】

【玉清元始天尊啟智通靈真經】

Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh

Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh

Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn
Khải Trí Thông Linh Chân Kinh

BA KINH QUAN TRỌNG CỦA ĐẠO GIÁO

BA KINH QUAN TRONG CUA DAO GIAO

 


KINH 1.-

Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn

Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh

【太清道德天尊醒世玄微真經】

KINH 2.-

Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn

Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh

【上清靈寶天尊警世利民真經】

KINH 3.-

Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn

Khải Trí Thông Linh Chân Kinh

【玉清元始天尊啟智通靈真經】

BA KINH QUAN TRỌNG CỦA ĐẠO GIÁO

———————–

KINH 1.-

Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh

【太清道德天尊醒世玄微真經】

恭請

太清寶誥。志心皈命禮。(三稱)

隨方設教。歷劫度人。為皇者師。帝者師。王者師。假名易號。立天之道。地之道。人之道。隱聖顯凡。總千二百之官君。包萬億重之梵氣。化行今古。著道德凡五千言。主握陰陽。命雷霆用九五之數。大悲大願。大聖大慈。太上老君。道德天尊。

『開經偈』

焚香恭頂禮。誦經表心虔。瑞氣盈堂室。慈雲佈地天。

鮮果獻佛聖。清茶敬神仙。願祈垂鑒佑。四季消災愆。

『開經讚』

道門始祖。道德天尊。著經說法度人群。深沾雨露恩。誦經方殷。消災福滿門。皈命太上老君道德天尊。(三稱)

『太清道德天尊醒世玄微真經』

夫天地者。大道之氣所生。萬物者。太玄之精所化。乾坤未判。天地未開。天地之體。合而為一。清濁不分。故曰混沌。混沌者。乃無極也。無極不分陰陽。無極而生太極。次由太極而生兩儀。變為四象。五行八卦。太極之元氣。動者屬陽。靜者屬陰。靜極而動。動極而靜。一動一靜。分陰分陽。在天成象。在地成形。天開地闢。乾坤定矣。天有日月星辰。地有山嶽河川。日月照其明。四季順其序。陰陽以分晝夜。寒暑而定歲月。日諸月往循環不息也。玄元之氣。彌羅乾坤。而化生靈。無極之光。照耀宇宙。而育萬物。清濁二氣。合為一體。陰陽之氣。合者為人。人之本性。從無極神光而生。身之良心。由先天道氣而賦。道生三才。惟人最貴。身存三寶。惟神最靈。性賦於天特厚。命立於地獨優也。道生三才。人得此身。乃藉父精母血。土水風火而成。四大假合。各曰幻身。惟天賦之性。道賦之靈。即是真也。載天履地。人居中央。天之體圓。故人之頭圓以象天。地之體方。故人之足方以象地。天是一大天。人是一小天。生我養我育我。三寶五行俱備。一呼一吸。氣脈運行。如同天地之昇降也。天動地靜。男動女靜。天有日月。人有耳目。天以日月為陰陽。人以血氣為陰陽。兩肩似山。兩膝似川。天有三百六十五度。人有三百六十五骨節。天有八萬四千星斗。人有八萬四千毫毛孔竅。乾為天。屬陽。坤為地。屬陰。父為天。屬陽。母為地。屬陰。天有三寶。日月星。人有三寶。精氣神。天有三光。日月星。人有三尊。君親師。物有造化。人有死有生。若能修持得法。精靈永不滅也。自有天地以來。迄今六萬餘年。人之生生死死。未了輪迴。甚至墜落地獄。化生昆蟲。鬼類畜生等。不記其數也。天地始開。道氣同出。人之初生。佛性俱備。自無生有。自有還無。道不遠人。而人自遠。魔不迷性。而性自迷。生生死死。亦殼投胎。萬彙興衰。無有窮盡。均皆人心。離道太遠。六慾昏心。七情迷性。行皆不善。作惡多端。忘其本來善性。昧其固有天良。視榮華如性命。看道德若泥土。日失良心。時迷本性。朝來醉生。暮到夢死。甘墜三塗六道。豈不愚哉痛哉。天下蒼生醉生夢死。三寸氣在。作用無窮。不知世上萬物是假。大限來臨。終必歸空。凡塵萬物皆假。唯我一靈獨真。不知早悟。一味橫行。耗盡精神。以至老死。一失人身。再難復矣。苦樂兩途。皆人自造。故曰苦海茫茫。回頭是岸。天地昇降之理。日月往復之機。分有陰陽。轉生造化。修陰陽以鍊長生。知造化以臻不死。寡慾以去私。寧靜以致遠。修身養性之理也。明慧斷痴。用定以除念。明心見性之道也。性稟輕清之氣。是謂天命。心受重濁之塵。所言人情。天命者。大道也。人心者。鬼魔也。先天之性。清靜無垢。後天之心。塵慾有污。凡欲修真鍊道。必須齋戒身心。心者。身之主。性者。命之原。是故此心若失。此身亦滅。斯性若亡。斯命亦絕。人虧心性。身命必敗。心為有形之物。萬物宜空。性為無形之體。諸根須淨。鍊其心。五氣藉於調元。修其性。三花並得聚頂。修心之法。必須消除情慾。以至一念不生。養性之理。務宜斷絕貪嗔。而到萬緣無侵。一念不生。謂之靜。萬緣無侵。謂之清。清靜者。無為大道也。學道無他。只在明心。參禪不外。惟於見性。欲知天地之道。必要盡人之心。欲明學玄之機。須當參性之理。不以富貴功名以亂其心。當以忠孝仁義而修其性。去三心。掃四相。淨六根。修道之功夫也。斷二惑。空五蘊。行十善。了道之根本也。五蘊若空。六根自淨。三心能了。一性當明。私慾牽纏。難免爭名奪利。塵根俱靜。方能明心見性。道之無極。分陰陽。判清濁。靜以鍊己。善之無量。分善惡。判禍福。動以度人。修道非拋妻棄子之舉。行慈為普度蒼生之修。因時。因地。因人。以度人。寡慾。寡言。寡色。以修持。除其外誘。充其內仁。斷諸慾念。便能修道。以妻為侶。以子為友。在家參禪。向外樂道。功果圓滿。自能飛昇。人之身。乃是假身。道之心。即是真心。棄假身以鍊法體。明真心而養性命。人道修圓。天道乃全也。先天祖氣。學道之人。不可不養也。此祖氣者。乃玄元一本之氣也。懷胎以前。一點太極而已。離胎以後。一點元陽而已。性依此祖氣以為主。命得此祖氣而不壞。故在天謂之命。賦之於人謂之性。性者氣也。在天謂之氣。賦之於人謂之命。氣者神也。命者性之所從出。性者命之所由成。天地交泰。萬物而生。有形斯有氣。有氣斯有理。理之所在。性即具焉。性之所在。命即凝焉。性命之所在。大道即生焉。故修道鍊性。使氣質不廢。佛曰。明心見性。道曰。修心鍊性。儒曰。存心養性。以道全形。以氣全真。贍養浩然。歷劫不壞。性命之道。玄妙無窮。必須性命雙修。始能以臻功用。洞徹陰陽。分明清濁。修真養命。靜心修性。乃得性命雙修之功也。性者理也。在天謂之理。賦之於人謂之性。故名其性曰天性。氣者命也。在天謂之氣。受之於人謂之命。故名其命曰天命。修道之士。心不為物累而常正。氣不為物累而常平。心正氣平。性全命固。存心以養性。盡性以達天。謂和陰陽。全其性命也。修命者。神住於氣。意繫於息。神氣相合。永不分離。聚久不散。一點真靈。自得陰陽二氣。融合一團。鍊精氣神三寶。以復其命也。養性者。言動視聽。必求守禮。喜怒哀樂。必求中節。事事不較長短。處處常存涵養。身無慾。而心自定。心若定。而性亦定。培養祖氣。認明本來先天靈性也。天命之謂性。陽中之陰。人性之於命。陰中之陽。窮天地之玄化。察陰陽之元機。守一抱元。盡性修命。群陰消盡。真陽自生。復我天命。還我本性。歸於無極。還於虛無。永證無始真玄。脫乎生死之關也。善參禪者。必得神通。與天地合一。能全其性命。以靜制動。心不染塵。以柔克剛。性不著妄。奪天地之造化。運陰陽之元機。水火相濟。坎離相通。大則丹成而證聖。小則病癒而體康。自古至今。何以修道者多。而成道者少。其弊者有三也。生居塵世。貪戀富貴。視財如命。未肯樂善。此其一也。心存奇異。迷惑旁門。不尊師。不重道。此其二也。或前世冤孽未盡。或今生道德有虧。只知參禪。不知懺悔。三剛五常不守。四維八德全無。此其三也。修道者不知其理。參禪者不明其法。盲修瞎鍊。以訛傳訛。或入邪門。或走歧路。以致未能歸真。枉費歷來功夫。故初學者。宜尋明師。指點妙訣。始有所得焉。今逢三期。大道宏開。急須參禪悟道。而鍊成法體。更要修心養性。得返本還原。外功成。內果就。不歸仙道。亦得長生也。靜坐之道者。陰陽造化之理也。得玄運法。可以長生。盲修瞎鍊。亦能致命。故參禪者。有益於人。亦能損人。所謂有益便有害也。參禪之理。應知寡慾靜神。而玄關不雜。練功之法。主要存誠去妄。以正竅至虛。初步學道者。先鍊氣。心神氣能平。則性情醇良。自然與世無爭。忍辱精進也。心能定。則憂驚不起。自然樂我常靜。智慧加增也。神能和。則魂魄安寧。自然此身舒適。玄妙可通也。身中之精氣神。乃鍊丹之至寶。無精不能化氣。無氣不能養神。無神不能至虛也。鍊精化氣。命入丹田之內。鍊氣化神。性寄黃庭之中。陽精滿而純。陰氣極而化。自然神氣調和也。由神鍊成純陽之體。由精化為純真之氣。由氣還到清靜之虛。心火下降。腎水上昇。水火融和。性命合一。萬劫不壞。永生不滅。與天地同體。免受無常之拘也。人之大患。皆因利慾薰心。世之是非。盡自金錢害命也。富者不修。終日沈迷酒色。貪者未悟。畢生盜淫犯規。實堪哀憫也。人生於世。不知修道者。惑也。心染於塵。不曉打掃者。迷也。人身寶貴。貴在知修。不分愚賢。若能堅志。遵守聖賢之道。培養陰德。踐履仙佛之箴。勤鍊玄機。能忍苦中之苦。方為人上之人。莫待老而體弱。始知看破世情。悔而莫及也。修道者。慈悲為本。方便為門。戒殺放生。免結來世之惡業。佈施立德。好種今生之善果。富者扶危濟困。貧者克勤克儉。三千功滿。便能脫凡入聖。八百果圓。更喜超俗成真。吾奉天命。普度三期。著經以覺世。說法以醒人。不辭婆心苦口。為度末劫殘靈。願眾生期早回頭。上慈航而登彼岸。超脫苦海。同歸靈山。此經奉旨闡著成篇。流傳世世。示及人人。永沾吉度。信受奉行。復聖顏回夫子讚曰。民智日高。世風日下。報恩立德者少。爭名奪利者多。說文明。唱平等。男不忠良。女不節貞。迷昧靈性。實可傷矣。道祖宏願。頒賜真經。或講人天性命之理。或說陰陽造化之道。皆是大道精華。誠為醒世寶箴。修道參禪者。必修必悟。齊家向善者。宜誦宜持。道祖傳此經。勞力又勞心。經文雖淺近。句句是良箴。深願善男女。虔誠報聖恩。誦經救劫演真銓。普度慈航結善緣。了悟浮生渾似夢。急修妙果返先天。

『完經偈』

真經虔誦畢。聖駕返太清。遵守經中語。願求智慧生。

參禪玄竅靜。修性道心明。修功功必就。鍊道道必成。

『完經讚』

醒世玄微。普化四方。修身學道悟禪功。一竅自然通。苦海慈航。大道廣宣揚。

皈命太上老君道德天尊。(三稱)

『三皈依』

稽首稽首皈依道。道在玉京山。玉京山說法。說法利人天。

皈命。元始大天尊。

稽首稽首皈依經。經寶顯靈文。靈文書鳳篆。鳳篆廣宣揚。

皈命。靈寶大天尊。

稽首稽首皈依師。師身如水清。水清秋月現。月現法無邊。

皈命。道德大天尊。

太清道德天尊醒世玄微真經終。
(xem tiếp Phần âm Hán Việt)

PHIÊN ÂM HÁN VIỆT

“Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh”

Cung Thỉnh

THÁI THANH BẢO CÁO.

Chí tâm qui mệnh lễ. (tam xưng)

Tuỳ phương thiết giáo. Lịch kiếp độ nhân. Vi hoàng giả sư. Đế giả sư. Vương giả sư. Giả danh dị hiệu. Lập thiên chi đạo. Địa chi đạo. Nhân chi đạo. ẩn thánh hiển phàm. Tổng thiên nhị bách chi quan quân. Bao vạn ức trùng chi phạm khí. Hoá hành kim cổ. Trước đạo đức phàm ngũ thiên ngôn. Chủ ác âm dương. Mệnh lôi đình dụng cửu ngũ chi số. Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ. Thái Thượng Lão Quân. Đạo Đức Thiên Tôn.

“Khai Kinh Kệ”

Phần hương cung đỉnh lễ. Tụng kinh biểu tâm kiền. Thuỵ khí doanh đường thất. Từ vân bố địa thiên.

Tiển quả hiến Phật thánh. Thanh trà kính thần tiên. Nguyện kì thuỳ giám hựu. Tứ quý tiêu tai khiên.

“Khai Kinh Tán”

Đạo môn thuỷ tổ. Đạo Đức Thiên Tôn. Trước kinh thuyết pháp độ nhân quần. Thâm triêm vũ lộ ân. Tụng kinh phương ân. Tiêu tai phước mãn môn. Qui mệnh Thái Thượng Lão Quân Đạo Đức Thiên Tôn. (3 lần)

“Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh”
Phù thiên địa giả. Đại đạo chi khí sở sanh. Vạn vật giả. Thái huyền chi tinh sở hoá. Càn khôn vị phán. Thiên địa vị khai. Thiên địa chi thể. Hợp nhi vi nhất. Thanh trọc bất phân. Cố viết hỗn độn. Hỗn độn giả. Nãi vô cực dã. Vô cực bất phân âm dương. Vô cực nhi sinh thái cực. Thứ do thái cực nhi sinh lưỡng nghi. Biến vi tứ tượng. Ngũ hành bát quái. Thái cực chi nguyên khí. Động giả thuộc dương. Tĩnh giả thuộc âm. Tĩnh cực nhi động. Động cực nhi tĩnh. Nhất động nhất tĩnh. Phân âm phân dương. Tại thiên thành tượng. Tại địa thành hình. Thiên khai địa tịch. Càn khôn định hĩ. Thiên hữu nhật nguyệt tinh thìn. Địa hữu sơn nhạc hà xuyên. Nhật nguyệt chiếu kỳ minh. Tứ quý thuận kỳ tự. Âm dương dĩ phân trú dạ. Hàn thử nhi định tuế nguyệt. Nhật chư nguyệt vãng tuần hoàn bất tức dã. Huyền nguyên chi khí. Di La càn khôn. Nhi hoá sinh linh. Vô cực chi quang. Chiếu diệu vũ trụ. Nhi dục vạn vật. Thanh trọc nhị khí. Hợp vi nhất thể. Âm dương chi khí. Hợp giả vi nhân. Nhân chi bản tính. Tùng vô cực thần quang nhi sinh. Thân chi lương tâm. Do tiên thiên đạo khí nhi phú. Đạo sinh tam tài. Duy nhân tối quí. Thân tồn tam bảo. Duy thần tối linh. Tính phú ư thiên đặc hậu. Mệnh lập ư địa độc ưu dã. Đạo sinh tam tài. Nhân đắc thử thân. Nãi tịch phụ tinh mẫu huyết. Thổ thuỷ phong hoả nhi thành. Tứ đại giả hợp. Các viết huyễn thân. Duy thiên phú chi tính. Đạo phú chi linh. Tức thị chân dã. Tải thiên lý địa. Nhân cư trung ương. Thiên chi thể viên. Cố nhân chi đầu viên dĩ tượng thiên. Địa chi thể phương. Cố nhân chi túc phương dĩ tượng địa. Thiên thị nhất đại thiên. Nhân thị nhất tiểu thiên. Sinh ngã dưỡng ngã dục ngã. Tam bảo ngũ hành câu bị. Nhất hô nhất hấp. Khí mạch vận hành. Như đồng thiên địa chi thăng giáng dã. Thiên động địa tĩnh. Nam động nữ tĩnh. Thiên hữu nhật nguyệt. Nhân hữu nhĩ mục. Thiên dĩ nhật nguyệt vi âm dương. Nhân dĩ huyết khí vi âm dương. Lưỡng kiên tự sơn. Lưỡng tất tự xuyên. Thiên hữu tam bách lục thập ngũ độ. Nhân hữu tam bách lục thập ngũ cốt tiết. Thiên hữu bát vạn tứ thiên tinh đẩu. Nhân hữu bát vạn tứ thiên hào mao khổng khiếu. Càn vi thiên. Thuộc dương. Khôn vi địa. Thuộc âm. Phụ vi thiên. Thuộc dương. Mẫu vi địa. Thuộc âm. Thiên hữu tam bảo. Nhật nguyệt tinh. Nhân hữu tam bảo. Tinh khí thần. Thiên hữu tam quang. Nhật nguyệt tinh. Nhân hữu tam tôn. Quân thân sư. Vật hữu tạo hoá. Nhân hữu tử hữu sinh. Nhược năng tu trì đắc pháp. Tinh linh vĩnh bất diệt dã. Tự hữu thiên địa dĩ lai. Ngật kim lục vạn dư niên. Nhân chi sinh sinh tử tử. Vị liễu luân hồi. Thậm chí truỵ lạc địa ngục. Hoá sinh côn trùng. Quỷ loại súc sinh đẳng. Bất kí kỳ số dã. Thiên địa thuỷ khai. Đạo khí đồng xuất. Nhân chi sơ sinh. Phật tính câu bị. Tự vô sinh hữu. Tự hữu hoàn vô. Đạo bất viễn nhân. Nhi nhân tự viễn. Ma bất mê tính. Nhi tính tự mê. Sinh sinh tử tử. Diệc xác đầu thai. Vạn vựng hưng suy. Vô hữu cùng tận. Quân giai nhân tâm. Ly đạo thái viễn. Lục dục hôn tâm. Thất tình mê tính. Hành giai bất thiện. Tác ác đa đoan. Vong kỳ bản lai thiện tính. Muội kỳ cố hữu thiên lương. Thị vinh hoa như tính mệnh. khán đạo đức nhược nê thổ. Nhật thất lương tâm. Thời mê bản tính. Triêu lai tuý sinh. Mộ đáo mộng tử. Cam truỵ tam đồ lục đạo. Khởi bất ngu tai thống tai. Thiên hạ thương sinh tuý sinh mộng tử. Tam thốn khí tại. Tác dụng vô cùng. Bất tri thế thượng vạn vật thị giả. Đại hạn lai lâm. Chung tất qui không. Phàm trần vạn vật giai giả. Duy ngã nhất linh độc chân. Bất tri tảo ngộ. Nhất vị hoành hành. Hao tận tinh thần. Dĩ chí lão tử. Nhất thất nhân thân. Tái nan phục hĩ. Khổ lạc lưỡng đồ. Giai nhân tự tạo. Cố viết khổ hải mang mang. Hồi đầu thị ngạn. Thiên địa thăng giáng chi lý. Nhật nguyệt vãng phục chi cơ. Phân hữu âm dương. Chuyển sinh tạo hoá. Tu âm dương dĩ luyện trường sinh. Tri tạo hoá dĩ trăn bất tử. Quả dục dĩ khứ tư. Ninh tĩnh dĩ trí viễn. Tu thân dưỡng tính chi lý dã. Minh huệ đoạn si. Dụng định dĩ trừ niệm. Minh tâm kiến tính chi đạo dã. Tính bẩm khinh thanh chi khí. Thị vị thiên mệnh. Tâm thụ trọng trọc chi trần. Sở ngôn nhân tình. Thiên mệnh giả. Đại đạo dã. Nhân tâm giả. Quỷ ma dã. Tiên thiên chi tính. Thanh tĩnh vô cấu. Hậu thiên chi tâm. Trần dục hữu ô. Phàm dục tu chân luyện đạo. Tất tu trai giới thân tâm. Tâm giả. Thân chi chủ. Tính giả. Mệnh chi nguyên. Thị cố thử tâm nhược thất. Thử thân diệc diệt. Tư tính nhược vong. Tư mệnh diệc tuyệt. Nhân khuy tâm tính. Thân mệnh tất bại. Tâm vi hữu hình chi vật. Vạn vật nghi không. Tính vi vô hình chi thể. Chư căn tu tịnh. Luyện kỳ tâm. Ngũ khí tịch ư điều nguyên. Tu kỳ tính. Tam hoa tịnh đắc tụ đỉnh. Tu tâm chi pháp. Tất tu tiêu trừ tình dục. Dĩ chí nhất niệm bất sinh. Dưỡng tính chi lý. Vụ nghi đoạn tuyệt tham sân. Nhi đáo vạn duyên vô xâm. Nhất niệm bất sinh. Vị chi tĩnh. Vạn duyên vô xâm. Vị chi thanh. Thanh tĩnh giả. Vô vi đại đạo dã. Học đạo vô tha. Chỉ tại minh tâm. Tham thiền bất ngoại. Duy ư kiến tính. Dục tri thiên địa chi đạo. Tất yếu tận nhân chi tâm. Dục minh học huyền chi cơ. Tu đương tham tính chi lý. Bất dĩ phú quí công danh dĩ loạn kỳ tâm. Đương dĩ trung hiếu nhân nghĩa nhi tu kỳ tính. Khứ tam tâm. Tảo tứ tướng. Tịnh lục căn. Tu đạo chi công phu dã. Đoạn nhị hoặc. Không ngũ uẩn. Hành thập thiện. Liễu đạo chi căn bản dã. Ngũ uẩn nhược không. Lục căn tự tịnh. Tam tâm năng liễu. Nhất tính đương minh. Tư dục khiên triền. Nan miễn tranh danh đoạt lợi. Trần căn câu tĩnh. Phương năng minh tâm kiến tính. Đạo chi vô cực. Phân âm dương. Phán thanh trọc. Tĩnh dĩ luyện kỷ. Thiện chi vô lượng. Phân thiện ác. Phán hoạ phúc. Động dĩ độ nhân. Tu đạo phi phao thê khí tử chi cử. Hành từ vi phổ độ thương sinh chi tu. Nhân thời. Nhân địa. Nhân nhân. Dĩ độ nhân. Quả dục. Quả ngôn. Quả sắc. Dĩ tu trì. Trừ kỳ ngoại dụ. Sung kỳ nội nhân. Đoạn chư dục niệm. Tiện năng tu đạo. Dĩ thê vi lữ. Dĩ tử vi hữu. Tại gia tham thiền. Hướng ngoại lạc đạo. Công quả viên mãn. Tự năng phi thăng. Nhân chi thân. Nãi thị giả thân. Đạo chi tâm. Tức thị chân tâm. Khí giả thân dĩ luyện pháp thể. Minh chân tâm nhi dưỡng tính mệnh. Nhân đạo tu viên. Thiên đạo nãi toàn dã. Tiên thiên tổ khí. Học đạo chi nhân. Bất khả bất dưỡng dã. Thử tổ khí giả. Nãi huyền nguyên nhất bản chi khí dã. Hoài thai dĩ tiền. Nhất điểm thái cực nhi dĩ. Ly thai dĩ hậu. Nhất điểm nguyên dương nhi dĩ. Tính y thử tổ khí dĩ vi chủ. Mệnh đắc thử tổ khí nhi bất hoại. Cố tại thiên vị chi mệnh. Phú chi ư nhân vị chi tính. Tính giả khí dã. Tại thiên vị chi khí. Phú chi ư nhân vị chi mệnh. Khí giả thần dã. Mệnh giả tính chi sở tùng xuất. Tính giả mệnh chi sở do thành. Thiên địa giao thái. Vạn vật nhi sinh. Hữu hình tư hữu khí. Hữu khí tư hữu lý. Lý chi sở tại. Tính tức cụ yên. Tính chi sở tại. Mệnh tức ngưng yên. Tính mệnh chi sở tại. Đại đạo tức sinh yên. Cố tu đạo luyện tính. Sử khí chất bất phế. Phật viết. Minh tâm kiến tính. Đạo viết. Tu tâm luyện tính. Nho /nhu viết. Tồn tâm dưỡng tính. Dĩ đạo toàn hình. Dĩ khí toàn chân. Thiệm dưỡng hạo nhiên. Lịch kiếp bất hoại. Tính mệnh chi đạo. Huyền diệu vô cùng. Tất tu tính mệnh song tu. Thủy năng dĩ trăn công dụng. Đỗng triệt âm dương. Phân minh thanh trọc. Tu chân dưỡng mệnh. Tĩnh tâm tu tính. Nãi đắc tính mệnh song tu chi công dã. Tính giả lý dã. Tại thiên vị chi lý. Phú chi ư nhân vị chi tính. Cố danh kỳ tính viết thiên tính. Khí giả mệnh dã. Tại thiên vị chi khí. Thụ chi ư nhân vị chi mệnh. Cố danh kỳ mệnh viết thiên mệnh. Tu đạo chi sĩ. Tâm bất vi vật luỹ nhi thường chính. Khí bất vi vật luỹ nhi thường bình. Tâm chính khí bình. Tính toàn mệnh cố. Tồn tâm dĩ dưỡng tính. Tận tính dĩ đạt thiên. Vị hoà âm dương. Toàn kỳ tính mệnh dã. Tu mệnh giả. Thần trụ ư khí. Ý hệ ư tức. Thần khí tương hợp. Vĩnh bất phân ly. Tụ cửu bất tán. Nhất điểm chân linh. Tự đắc âm dương nhị khí. Dung hợp nhất đoàn. Luyện tinh khí thần tam bảo. Dĩ phục kỳ mệnh dã. Dưỡng tính giả. Ngôn động thị thính. Tất cầu thủ lễ. Hỉ nộ ai lạc. Tất cầu trung tiết. Sự sự bất giác trường đoản. Xứ xứ thường tồn hàm dưỡng. Thân vô dục. Nhi tâm tự định. Tâm nhược định. Nhi tính diệc định. Bồi dưỡng tổ khí. Nhận minh bản lai tiên thiên linh tính dã. Thiên mệnh chi vị tính. Dương trung chi âm. Nhân tính chi ư mệnh. Âm trung chi dương. Cùng thiên địa chi huyền hoá. Sát âm dương chi nguyên cơ. Thủ nhất bão nguyên. Tận tính tu mệnh. Quần âm tiêu tận. Chân dương tự sinh. Phục ngã thiên mệnh. Hoàn ngã bản tính. Qui ư vô cực. Hoàn ư hư vô. Vĩnh chứng vô thủy chân huyền. Thoát hồ sinh tử chi quan dã. Thiện tham thiền giả. Tất đắc thần thông. Dữ thiên địa hợp nhất. Năng toàn kỳ tính mệnh. Dĩ tĩnh chế động. Tâm bất nhiễm trần. Dĩ nhu khắc cương. Tính bất trước vọng. Đoạt thiên địa chi tạo hoá. Vận âm dương chi nguyên cơ. Thuỷ hoả tương tế. Khảm ly tương thông. Đại tắc đan thành nhi chứng thánh. Tiểu tắc bệnh dũ nhi thể khang. Tự cổ chí kim. Hà dĩ tu đạo giả đa. Nhi thành đạo giả thiểu. Kỳ tệ giả hữu tam dã. Sinh cư trần thế. Tham luyến phú quí. Thị tài như mệnh. Vị khẳng lạc thiện. Thử kỳ nhất dã. Tâm tồn kỳ dị. Mê hoặc bàng môn. Bất tôn sư. Bất trọng đạo. Thử kỳ nhị dã. Hoặc tiền thế oan nghiệt vị tận. Hoặc kim sinh đạo đức hữu khuy. Chỉ tri tham thiền. Bất tri sám hối. Tam cương ngũ thường bất thủ. Tứ duy bát đức toàn vô. Thử kỳ tam dã. Tu đạo giả bất tri kỳ lý. Tham thiền giả bất minh kỳ pháp. Manh tu hạt luyện. Dĩ ngoa truyền ngoa. Hoặc nhập tà môn. Hoặc tẩu kỳ lộ. Dĩ trí vị năng qui chân. Uổng phí lịch lai công phu. Cố sơ học giả. Nghi tầm minh sư. Chỉ điểm diệu quyết. Thủy hữu sở đắc yên. Kim phùng tam kỳ. Đại đạo hoành khai. Cấp tu tham thiền ngộ đạo. Nhi luyện thành pháp thể. Cánh yếu tu tâm dưỡng tính. Đắc phản bản hoàn nguyên. Ngoại công thành. Nội quả tựu. Bất qui tiên đạo. Diệc đắc trường sinh dã. Tĩnh toạ chi đạo giả. Âm dương tạo hoá chi lý dã. Đắc huyền vận pháp. Khả dĩ trường sinh. Manh tu hạt luyện. Diệc năng trí mệnh. Cố tham thiền giả. Hữu ích ư nhân. Diệc năng tổn nhân. Sở vị hữu ích tiện hữu hại dã. Tham thiền chi lý. Ưng tri quả dục tĩnh thần. Nhi huyền quan bất tạp. Luyện công chi pháp. Chủ yếu tồn thành khứ vọng. Dĩ chính khiếu chí hư. Sơ bộ học đạo giả. Tiên luyện khí. Tâm thần khí năng bình. Tắc tính tình thuần lương. Tự nhiên dữ thế vô tranh. Nhẫn nhục tinh tiến dã. Tâm năng định. Tắc ưu kinh bất khỉ /khởi. Tự nhiên lạc ngã thường tĩnh. Trí huệ gia tăng dã. Thần năng hoà. Tắc hồn phách an ninh. Tự nhiên thử thân thư thích. Huyền diệu khả thông dã. Thân trung chi tinh khí thần. Nãi luyện đan chi chí bảo. Vô tinh bất năng hoá khí. Vô khí bất năng dưỡng thần. Vô thần bất năng chí hư dã. Luyện tinh hoá khí. Mệnh nhập đan điền chi nội. Luyện khí hoá thần. Tính kí Huỳnh Đình chi trung. Dương tinh mãn nhi thuần. Âm khí cực nhi hoá. Tự nhiên thần khí điều hoà dã. Do thần luyện thành thuần dương chi thể. Do tinh hoá vi thuần chân chi khí. Do khí hoàn đáo thanh tĩnh chi hư. Tâm hoả hạ giáng. Thận thuỷ thượng thăng. Thuỷ hoả dung hoà. Tính mệnh hợp nhất. Vạn kiếp bất hoại. Vĩnh sinh bất diệt. Dữ thiên địa đồng thể. Miễn thụ vô thường chi câu dã. Nhân chi đại hoạn. Giai nhân lợi dục huân tâm. Thế chi thị phi. Tận tự kim tiền hại mệnh dã. Phú giả bất tu. Chung nhật trầm mê tửu sắc. Tham giả vị ngộ. Tất sinh đạo dâm phạm qui. Thực kham ai mẫn dã. Nhân sinh ư thế. Bất tri tu đạo giả. Hoặc dã. Tâm nhiễm ư trần. Bất hiểu đả tảo giả. Mê dã. Nhân thân bảo quí. Quí tại tri tu. Bất phân ngu hiền. Nhược năng kiên chí. Tuân thủ thánh hiền chi đạo. Bồi dưỡng âm đức. Tiễn lý tiên Phật chi châm. Cần luyện huyền cơ. Năng nhẫn khổ trung chi khổ. Phương vi nhân thượng chi nhân. Mạc đãi lão nhi thể nhược. Thủy tri khán phá thế tình. Hối nhi mạc cập dã. Tu đạo giả. Từ bi vi bản. Phương tiện vi môn. Giới sát phóng sinh. Miễn kết lai thế chi ác nghiệp. Bố thi lập đức. Hảo chủng kim sinh chi thiện quả. Phú giả phù nguy tế khốn. Bần giả khắc cần khắc kiệm. Tam thiên công mãn. Tiện năng thoát phàm nhập thánh. Bát bách quả viên. Cánh hỉ siêu tục thành chân. Ngô phụng thiên mệnh. Phổ độ tam kỳ. Trước kinh dĩ giác thế. Thuyết pháp dĩ tỉnh nhân. Bất từ bà tâm khổ khẩu. Vi độ mạt kiếp tàn linh. Nguyện chúng sinh kỳ tảo hồi đầu. Thượng Từ Hàng nhi đăng bỉ ngạn. Siêu thoát khổ hải. Đồng qui linh sơn. Thử kinh phụng chỉ xiển trước thành thiên. Lưu truyền thế thế. Kì cập nhân nhân. Vĩnh triêm cát độ. Tín thụ phụng hành.

Phục Thánh Nhan Hồi Phu Tử tán viết. Dân trí nhật cao. Thế phong nhật hạ. Báo ân lập đức giả thiểu. Tranh danh đoạt lợi giả đa. Thuyết văn minh. Xướng bình đẳng. Nam bất trung lương. Nữ bất tiết trinh. Mê muội linh tính. Thực khả thương hĩ. Đạo tổ hoành nguyện. Ban tứ chân kinh. Hoặc giảng nhân thiên tính mệnh chi lý. Hoặc thuyết âm dương tạo hoá chi đạo. Giai thị đại đạo tinh hoa. Thành vi tỉnh thế bảo châm. Tu đạo tham thiền giả. Tất tu tất ngộ. Tề gia hướng thiện giả. Nghi tụng nghi trì.

Đạo Tổ truyền thử kinh.
Lao lực hựu lao tâm.
Kinh văn tuy thiển cận.
Câu cú thị lương châm.
Thâm nguyện thiện nam nữ.
Kiền thành báo thánh ân.

Tụng kinh cứu kiếp diễn chân thuyên.
Phổ độ Từ Hàng kết thiện duyên.
Liễu ngộ phù sinh hồn tự mộng.
Cấp tu diệu quả phản tiên thiên.
“Hoàn Kinh Kệ”

Chân kinh kiền tụng tất. Thánh giá phản thái thanh. Tuân thủ kinh trung ngữ. Nguyện cầu trí huệ sinh.

Tham thiền huyền khiếu tĩnh. Tu tính đạo tâm minh. Tu công công tất tựu. Luyện đạo đạo tất thành.

“Hoàn Kinh Tán”

Tỉnh thế huyền vi. Phổ hoá tứ phương. Tu thân học đạo ngộ thiền công. Nhất khiếu tự nhiên thông. Khổ hải từ hàng. Đại đạo quảng tuyên dương.

Qui mệnh Thái Thượng Lão Quân Đạo Đức Thiên Tôn. (3 lần)

“Tam Qui Y”

Khể thủ khể thủ qui y đạo. Đạo tại ngọc kinh sơn. Ngọc kinh sơn thuyết pháp. Thuyết pháp lợi nhân thiên.

Qui mệnh. Nguyên Thủy Đại Thiên Tôn.

Khể thủ khể thủ qui y kinh. Kinh bảo hiển linh văn. Linh văn thư phượng triện. Phượng triện quảng tuyên dương.

Qui mệnh. Linh Bảo Đại Thiên Tôn.

Khể thủ khể thủ qui y sư. Sư thân như thuỷ thanh. Thuỷ thanh thu nguyệt hiện. Nguyệt hiện pháp vô biên.

Qui mệnh. Đạo Đức Đại Thiên Tôn.

Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn Tỉnh Thế Huyền Vi Chân Kinh chung.
——————
KINH 2.-

Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh

【上清靈寶天尊警世利民真經】

恭請

上清寶誥。志心皈命禮。(三稱)

居上清境。號靈寶君。祖劫化生。九萬九千餘梵炁。赤書煥發。六百六十八真文。因混沌赤文而開九霄。紀元洞玉曆而分五劫。天經地緯。巍乎造化之宗。樞陰機陽。卓爾雷霆之祖。大悲大願。大聖大慈。玉宸道君。靈寶天尊。

『開經偈』

一炷心香奉。誦經意志丹。願以經功德。普及天下間。

聖佛消災劫。神仙解苦難。願求風雨順。國泰萬民安。

『開經讚』

演傳真理。警世利民。普度蒼生出迷津。向善培果。因四季長春。家門瑞氣新。皈命玉宸道君靈寶天尊。(三稱)

紫微大帝讚曰。

真經之著也。上承天尊之恩澤。下出眾生之真誠。警世聖訓。利民保箴。頒行宇宙。普度蒼生。可為處世之寶。可作待人之明燈。期望人人反省。而知向善修身。願祈處處回春。而得堯天舜日。聊述數語。以誌讚焉。

『上清靈寶天尊警世利民真經』

「孝子事親章第一」

夫孝者。天之經也。地之義也。民之行也。成人之道也。父母者。血統相傳。至情相關也。生育教育之恩。在五倫為最重。十月懷胎。三年哺乳。無時不在。提心吊膽。長大攻書。恐其飢寒。弱冠選妻。擇婿期成。成龍成鳳。愛子之心。無微不至。天地覆載。父母養育。其恩罔極。其德難量也。為人子者。當知盡孝。事親之道。不虧子職。冬溫夏清。晨昏定省。父母在不遠遊。遊必有方。以免親憂。在家事親。承歡菽水。內存敬誠。外敦禮貌。樂其親心。以盡孝子之誠。不違親意。以承歡親之心。父母憂而憂焉。父母喜而喜焉。事親在誠。非在物質。貴盡其悅。體貼入微。不違其意。承順齊心。事親之道也。不奪其身。不羞其親。順孝之徑也。孔夫子曰。身體髮膚。受之父母。不敢毀傷。孝之始也。立身行道。揚名於後世。以顯父母。孝之終也。水無源則渴。木無根則凋。水木者。喻如祖宗也。務要追慕其德。天無日則暗。地無風則燥。天地者。喻如父母也。更知圖報其恩。父母有過。待其怒息。悅色柔聲。和氣以諫。父母怒氣。如發雷霆。不動言勸。必有隱憂。為人子者。務慎其意。視於無形。聽於無聲。隨意察之。先事防之。是謂事親之道也。聲不高厲。氣不粗暴。神色溫純。舉止安詳。是謂之孝矣。父母之喪。追遠景慕。哀傷痛戚。祭之以誠。事死如事生。事亡如事存。不飲酒。不行淫。以盡思親之誠。孝經曰。孝子。事親也。居則致其敬。養則致其樂。病則致其憂。喪則致其哀。祭則致其嚴。五者備矣。然後能事親也。不孝椿萱。還生忤逆逆子。有孝父母。還生順奉之兒。天理循環無差。因果報應不爽也。

「修身齊家章第二」

三才之性。惟人最貴。萬物之生。惟人最靈。天性本善而非惡。降落後天而染毒。知過宜速改。彼岸早回頭。親近賢師益友。遠避惡輩凶徒。修身齊家。何患乎不能克紹其裘乎。欲齊其家。先修其身。先正其心。心不正則身不修。身不修則家不齊。守三綱五常。修身之本也。敦四維八德。齊家之端也。修身者。修養品德端正。栽培高尚人格也。齊家者。克敦勤儉整肅。保持和氣禮讓也。在家者。父慈子孝。兄友弟恭。夫唱婦隨。相敬如賓。敦親睦族。長幼有序。在外者。接事待人。光明正直。內存敬心。外守禮貌。明辨是非。敬老懷幼。士者以誠。農者以勤。工者以精。商者以公。入則孝。出則悌。內心仰不愧於天。俯不怍於人。上則顯祖耀宗。祖德永流芳之樂。下則孫繼子傳。自得無內顧之憂。自然安居樂業。修身齊家之道也。男者一家之主。當知克敦勤儉。安分守己。憤然精進。遇有不德。恥其不德。遇有不善。恥其不善。見善必行。知過必改。毋屈身以求榮。毋喪品而敗節。休交酒友之類。莫契淫朋之徒。待人忠實不私。處世勤勉至正。自能齊家立業致富也。女子者。秉坤之順也。克懍三從。永敦四德。相夫教子。以享令名。惜身如玉。克守懿德。在家孝養父母。出閣敬奉翁姑。性情貞靜。端莊肅慎。切莫貪慕虛榮。不可敗壞貞節。時存敬尊慈愛之道。並懍孝悌廉潔之箴。育子成龍。以樂天倫。以振家聲。是謂賢妻良母好內助也。貧窮之人。易以成家立業。皆因勤儉積蓄而來。富貴之人。易以傾家蕩產。多因浪費濫用所致也。齊家致富。貴在勤儉。儉以養廉。足以致富。勤以補拙。足以齊家。一家和氣。有過互戒。遇事共商。人倫圓滿。則家道必昌隆。子孫必興旺也。

「善惡報應章第三」

人生逆旅。迅速光陰。或為富。或為貧。皆是後果。或為賤。或為貴。皆有前因。易曰。積善之家。必有餘慶。積不善之家。必有餘殃。自古及今。均同一理。豈虛妄乎。刻刻行善。不求福而福自至。時時作惡。不惹禍而禍便來。一念轉動於善。則吉星普照之。一念轉動於惡。則凶星災害之。善惡兩途。介在方寸。自朝至暮。起伏萬狀。得之毫釐。失之千里。可不慎乎。善者。福之原。天地鬼神擁護之。子孫定見英賢。惡者。禍之根。水火刀兵難容。家門必受災害。莫謂善小而不作。休言惡小而可行。人之立身。必先明善。一舉一動。必存乎善。勿履邪徑。莫欺暗室。傷天害理。違背良心之事不敢為。亦謂善果也。應知今逢午運三期。普度收圓。三曹整備。萬神洞鑒。為善者。扶登道岸。功照仙籍。賜福賜祿。子孫昌隆。為惡者。難逃冥律。地獄受刑。轉輪投胎。而報後果也。當今之社會。何為善者少。而願為惡者何其多也。皆因人心不古。世風日下之毒。習染西歐之風。忘卻中土文化。乃上天之劫數。人之造孽也。宇宙萬靈得為人身。仰天地覆載之惠。荷父母養育之恩。當知敦功立德。見善勇為。豈可悖禮違仁。罔敦廉恥。貪嫖賭。貪酒色。敗家之禍也。修陰騭。修善果。成家之福也。勸爾世人。廣修陰騭。性發慈悲。憐貧濟困。心存惻隱。矜孤恤寡。捨藥施茶。戒殺放生。修橋造路。翻建廟宇。印送經書。以醒愚昧。共挽三災七劫之危。超出四生三塗之苦。惡而未報。日子未到。祖宗有餘德。德盡必遭殃。作善非不報。祖宗業未過。業過子孫昌。循環報應而豈謬哉。行善必有善報。作惡必有惡報。不可見利而忘義。切勿損人而益己。諸惡莫作。眾善奉行。家門吉慶。兒孫昌榮也。

「交友宜擇章第四」

交友之道。宜當善擇。與正氣之人雅契。所行則平坦之道。有過相勸。危難相助。有禍同當。有福同享。自然德業日進。家庭昌盛也。與放蕩之徒相交。出入則酒家茶室。往來則賭場花樓。不分日夜。而放蕩舉止輕佻。言無禮義。性帶兇惡。心存詭譎。以致正業不顧。更使父母傷憂。故交友不可不慎。方免走入歧途也。擇友之道。合則留。不合則去。交朋友之理。善擇勉。不善則懲。結交碩德之士。以輔吾仁。雅契賢達之人。以廣吾識。不可尊大自高。切莫威猛自傲。同聲藉以相應。同氣藉於相求。羊角哀左伯桃夫子也。患難藉以相顧。急緩藉以相持。管敬仲。鮑叔牙。夫子也。交同芝蘭之品。以益身也。芝蘭者。瑞草也。益友者。患難相顧。損友者。奸詐相欺也。生存人間旅程中。不能離群而獨居。故朋友不可無郊野。交友之先。宜當善擇。古人云。近朱者赤。近墨者黑。誠哉斯言也。正直信實重義存仁。益友也。雅契之得。招幸福。巧言令色好淫好賭。損友也。親近之必惹禍端。善人之交。如蘭薰之香。一家栽培。兩家芬芳。惡人之交。似抱子過牆。一人失足。兩人遭殃。惜乎世人。受七情六慾所蔽。迷失本性。造成不仁不義之徒。見利而忘義背信以爭奪。口甜如蜜。腹藏利刃。臨危不救。反而加害。如此無賴。宜當戒哉。道義之交情同手足。芝蘭之契。誼似苔岑。廣交遊選賢舉能。多容納知是別非。益友損友。利害所關。應知慎重選擇。庶幾有所得焉。桃園結誼。芳名萬古。以頌三聖也。竹林契盟。佳話千秋。以傳七賢也。

「五常之德章第五」

蓋五常者。仁義禮智信也。人生處世。待人必以仁義為本。禮智為根。信實為用。行德以培仁。敦仁以精義。明義以崇禮。尚禮以增智。益智以篤信。信者。道之全體大用也。「仁者。天之德。立身處世之道也。蘊為中和之氣。發為惻隱之心。有一仁之念。能容天地萬物。有一時之仁。能垂宇宙萬世。仁者。莫不愛人愛物。體天地好生之德。學聖賢愛人利物。是謂仁德也。」「義者。心存正直。至正無私也。自古志士仁人。無求生以害仁。有殺生以成仁。今人去義而遠矣。皆因為利所害。人心多尚虛榮。貪富貴。喜奢華。爭名奪利。見利忘義。不以義為利。皆以利為義之故也。疏財仗義。捨身濟人。不違天理良心。不貪無義之財。是謂義德也。」「禮者。敬也。人苟無禮。尊卑無分。敬畏無存而驕傲。成人不知禮。禽獸不如也。古代定六禮。以節民性。制七教。以崇民德。故上以禮定法。而下以法尚禮。富而知禮則不驕。貴而知禮則不淫。貧而知禮則不諂。賤而知禮則志定。處世以禮相應。待人和藹恭敬。廉恥常存。淫亂不犯。是謂禮德也。」「智者。知也。知時識務。明白進退。正邪善惡。判斷是非。是理則從。非理則棄。智者。知天達命。格物窮理之謂也。有智之人定少有過。雖有過失亦能知改。靈明洞徹。智慧聰明。是謂智德也。」「信者。真誠正直忠厚無偽也。金木水火土。非土不載。仁義禮智。非信不成。故信之道大哉矣。交易往來。必守信用。與人接事。一言為定。不作小人。反覆無常。欲立其身。必先全信。誠實無偽。篤信不欺。是謂信德也。」觀世音菩薩。讚曰。警民利世。內分五章。仰荷天尊。親涉紅塵。費盡心血。飛鸞闡著者也。得種德堂下。體天行道。著書立說。財力雙施。造福人群。虔誠效勞。貫徹始終。歷經歲月。終成寶經。為修身齊家之聖典。足於啟發人心向善。身願善信。晨昏虔誦。則災禍消。而吉祥生。信受奉行。功德無量。切勿束之高閣。庶幾不負天尊一片牖世之婆心。愧無佳句。聊讚志誠。

『完經偈』

真經虔誦畢。送駕返上清。門庭降瑞氣。四時亨利貞。

厄解千祥集。災消百福增。神仙長庇佑。男女獲康寧。

『完經讚』

經功圓滿。感應萬般。廣施雨露潤人間。瑞氣滿河山。風調雨順。國泰民安。皈命玉宸道君靈寶天尊。(三稱)

上清靈寶天尊警世利民真經終。
(xem tiếp Phần âm Hán Việt)
“Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh”
Cung Thỉnh

Thượng Thanh Bảo Cáo. Chí tâm qui mệnh lễ. (3 lần)

Cư thượng thanh cảnh. Hiệu linh bảo quân. Tổ kiếp hoá sinh. Cửu vạn cửu thiên dư phạm khí. Xích thư hoán phát. Lục bách lục thập bát chân văn. Nhân hỗn độn xích văn nhi khai cửu tiêu. Kỷ nguyên đỗng ngọc lịch nhi phân ngũ kiếp. Thiên kinh địa vĩ. Nguy hồ tạo hoá chi tông. Xu âm cơ dương. Trác nhĩ lôi đình chi tổ. Đại bi đại nguyện. Đại thánh đại từ. Ngọc thần đạo quân. Linh Bảo Thiên Tôn.

“Khai kinh kệ”

Nhất chú tâm hương phụng. Tụng kinh ý chí đan. Nguyện dĩ kinh công đức. Phổ cập thiên hạ gian.

Thánh Phật tiêu tai kiếp. Thần Tiên giải khổ nạn. Nguyện cầu phong vũ thuận. Quốc thái vạn dân an.

“Khai kinh tán”

Diễn truyền chân lý. Cảnh thế lợi dân. Phổ độ thương sinh xuất mê tân. Hướng thiện bồi quả. Nhân tứ quý trường xuân. Gia môn thuỵ khí tân. Qui mệnh ngọc thần đạo quân linh bảo thiên tôn. (3 lần)

Tử Vi Đại Đế tán viết.

Chân kinh chi trước dã. Thượng thừa thiên tôn chi ân trạch. Hạ xuất chúng sinh chi chân thành. Cảnh thế thánh huấn. Lợi dân bảo châm. Ban hành vũ trụ. Phổ độ thương sinh. Khả vi xử thế chi bảo. Khả tác đãi nhân chi minh đăng. Kỳ vọng nhân nhân phản tỉnh. Nhi tri hướng thiện tu thân. Nguyện kì xứ xứ hồi xuân. Nhi đắc nghiêu thiên thuấn nhật. Liêu thuật số ngữ. Dĩ chí tán yên.

“Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh”
「Hiếu Tử Sự Thân Chương Đệ Nhất」

Phù hiếu giả. Thiên chi kinh dã. Địa chi nghĩa dã. Dân chi hành dã. Thành nhân chi đạo dã. Phụ mẫu giả. Huyết thống tương truyền. Chí tình tương quan dã. Sinh dục giáo dục chi ân. Tại ngũ luân vi tối trọng. Thập nguyệt hoài thai. Tam niên bộ nhũ. Vô thời bất tại. Đề tâm điếu đảm. Trường đại công thư. Khủng kỳ cơ hàn. Nhược quan tuyển thê. Trạch tế kỳ thành. Thành long thành phượng. Ái tử chi tâm. Vô vi bất chí. Thiên địa phúc tải. Phụ mẫu dưỡng dục. Kỳ ân võng cực. Kỳ đức nan lượng dã. Vi nhân tử giả. Đương tri tận hiếu. Sự thân chi đạo. Bất khuy tử chức. Đông ôn hạ thanh. Thần hôn định tỉnh. Phụ mẫu tại bất viễn du. Du tất hữu phương. Dĩ miễn thân ưu. Tại gia sự thân. Thừa hoan thục thuỷ. Nội tồn kính thành. Ngoại đôn lễ mạo. Lạc kỳ thân tâm. Dĩ tận hiếu tử chi thành. Bất vi thân ý. Dĩ thừa hoan thân chi tâm. Phụ mẫu ưu nhi ưu yên. Phụ mẫu hỉ nhi hỉ yên. Sự thân tại thành. Phi tại vật chất. Quí tận kỳ duyệt. Thể thiếp nhập vi. Bất vi kỳ ý. Thừa thuận tề tâm. Sự thân chi đạo dã. Bất đoạn kỳ thân. Bất tu kỳ thân. Thuận hiếu chi kính dã. Khổng Phu Tử viết. Thân thể phát phu. Thụ chi phụ mẫu. Bất cảm huỷ thương. Hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo. Dương danh ư hậu thế. Dĩ hiển phụ mẫu. Hiếu chi chung dã. Thuỷ vô nguyên tắc khát. Mộc vô căn tắc điêu. Thuỷ mộc giả. Dụ như tổ tông dã. Vụ yếu truy mộ kỳ đức. Thiên vô nhật tắc ám. Địa vô phong tắc táo. Thiên địa giả. Dụ như phụ mẫu dã. Cánh tri đồ báo kỳ ân. Phụ mẫu hữu quá. Đãi kỳ nộ tức. Duyệt sắc nhu thanh. Hoà khí dĩ gián. Phụ mẫu nộ khí. Như phát lôi đình. Bất động ngôn khuyến. Tất hữu ẩn ưu. Vi nhân tử giả. Vụ thận kỳ ý. Thị ư vô hình. Thính ư vô thanh. Tuỳ ý sát chi. Tiên sự phòng chi. Thị vị sự thân chi đạo dã. Thanh bất cao lệ. Khí bất thô bạo. Thần sắc ôn thuần. Cử chỉ an tường. Thị vị chi hiếu hĩ. Phụ mẫu chi táng. Truy viễn cảnh mộ. Ai thương thống thích. Tế chi dĩ thành. Sự tử như sự sinh. Sự vong như sự tồn. Bất ẩm tửu. Bất hành dâm. Dĩ tận tư thân chi thành. Hiếu kinh viết. Hiếu tử. Sự thân dã. Cư tắc trí kỳ kính. Dưỡng tắc trí kỳ lạc. Bệnh tắc trí kỳ ưu. Táng tắc trí kỳ ai. Tế tắc trí kỳ nghiêm. Ngũ giả bị hĩ. Nhiên hậu năng sự thân dã. Bất hiếu xuân huyên. Hoàn sinh ngỗ nghịch nghịch tử. Hữu hiếu phụ mẫu. Hoàn sinh thuận phụng chi nhi. Thiên lý tuần hoàn vô sai. Nhân quả báo ứng bất sảng dã.

「Tu Thân Tề Gia Chương Đệ Nhị」

Tam tài chi tính. Duy nhân tối quí. Vạn vật chi sinh. Duy nhân tối linh. Thiên tính bản thiện nhi phi ác. Giáng lạc hậu thiên nhi nhiễm độc. Tri quá nghi tốc cải. Bỉ ngạn tảo hồi đầu. Thân cận hiền sư ích hữu. Viễn tị ác bối hung đồ. Tu thân tề gia. Hà hoạn hồ bất năng khắc thiệu kỳ cừu hồ. Dục tề kỳ gia. Tiên tu kỳ thân. Tiên chính kỳ tâm. Tâm bất chính tắc thân bất tu. Thân bất tu tắc gia bất tề. Thủ tam cương ngũ thường. Tu thân chi bản dã. Đôn tứ duy bát đức. Tề gia chi đoan dã. Tu thân giả. Tu dưỡng phẩm đức đoan chính. Tài bồi cao thượng nhân cách dã. Tề gia giả. Khắc đôn cần kiệm chỉnh túc. Bảo trì hoà khí lễ nhượng dã. Tại gia giả. Phụ từ tử hiếu. Huynh hữu đệ cung. Phu xướng phụ tuỳ. Tương kính như tân. Đôn thân mục tộc. Trưởng ấu hữu tự. Tại ngoại giả. Tiếp sự đãi nhân. Quang minh chính trực. Nội tồn kính tâm. Ngoại thủ lễ mạo. Minh biện thị phi. Kính lão hoài ấu. Sĩ giả dĩ thành. Nông giả dĩ cần. Công giả dĩ tinh. Thương giả dĩ công. Nhập tắc hiếu. Xuất tắc đễ. Nội tâm ngưỡng bất quý ư thiên. Phủ bất tạc ư nhân. Thượng tắc hiển tổ diệu tông. Tổ đức vĩnh lưu phương chi lạc. Hạ tắc tôn kế tử truyền. Tự đắc vô nội cố chi ưu. Tự nhiên an cư lạc nghiệp. Tu thân tề gia chi đạo dã. Nam giả nhất gia chi chủ. Đương tri khắc đôn cần kiệm. An phân thủ kỷ. Phẫn nhiên tinh tiến. Ngộ hữu bất đức. Sỉ kỳ bất đức. Ngộ hữu bất thiện. Sỉ kỳ bất thiện. Kiến thiện tất hành. Tri quá tất cải. Vô khuất thân dĩ cầu vinh. Vô táng phẩm nhi bại tiết. Hưu giao tửu hữu chi loại. Mạc tiết dâm bằng chi đồ. Đãi nhân trung thực bất tư. Xử thế cần miễn chí chính. Tự năng tề gia lập nghiệp trí phú dã. Nữ tử giả. Bỉnh khôn chi thuận dã. Khắc lẫm tam tùng. Vĩnh đôn tứ đức. Tướng phu giáo tử. Dĩ hưởng lệnh danh. Tích thân như ngọc. Khắc thủ ý đức. Tại gia hiếu dưỡng phụ mẫu. Xuất các kính phụng ông cô. Tính tình trinh tĩnh. Đoan trang túc thận. Thiết mạc tham mộ hư vinh. Bất khả bại hoại trinh tiết. Thời tồn kính tôn từ ái chi đạo. Tịnh lẫm hiếu đễ liêm khiết chi châm. Dục tử thành long. Dĩ lạc thiên luân. Dĩ chấn gia thanh. Thị vị hiền thê lương mẫu hảo nội trợ dã. Bần cùng chi nhân. Dị dĩ thành gia lập nghiệp. Giai nhân cần kiệm tích súc nhi lai. Phú quí chi nhân. Dị dĩ khuynh gia đãng sản. Đa nhân lãng phí lạm dụng sở trí dã. Tề gia trí phú. Quí tại cần kiệm. Kiệm dĩ dưỡng liêm. Túc dĩ trí phú. Cần dĩ bổ chuyết. Túc dĩ tề gia. Nhất gia hoà khí. Hữu quá hỗ giới. Ngộ sự cộng thương. Nhân luân viên mãn. Tắc gia đạo tất xương long. Tử tôn tất hưng vượng dã.

「Thiện Ác Báo Ứng Chương Đệ Tam」

Nhân sinh nghịch lữ. Tấn tốc quang âm. Hoặc vi phú. Hoặc vi bần. Giai thị hậu quả. Hoặc vi tiện. Hoặc vi quí. Giai hữu tiền nhân. Dịch viết. Tích thiện chi gia. Tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia. Tất hữu dư ương. Tự cổ cập kim. Quân đồng nhất lý. Khởi hư vọng hồ. Khắc khắc hành thiện. Bất cầu phước nhi phước tự chí. Thời thời tác ác. Bất nhạ hoạ nhi hoạ tiện lai. Nhất niệm chuyển động ư thiện. Tắc cát tinh phổ chiếu chi. Nhất niệm chuyển động ư ác. Tắc hung tinh tai hại chi. Thiện ác lưỡng đồ. Giới tại phương thốn. Tự triêu chí mộ. Khởi phục vạn trạng. Đắc chi hào ly. Thất chi thiên lý. Khả bất thận hồ. Thiện giả. phước chi nguyên. Thiên địa quỷ thần ủng hộ chi. Tử tôn định kiến anh hiền. Ác giả. Hoạ chi căn. Thuỷ hoả đao binh nan dung. Gia môn tất thụ tai hại. Mạc vị thiện tiểu nhi bất tác. Hưu ngôn ác tiểu nhi khả hành. Nhân chi lập thân. Tất tiên minh thiện. Nhất cử nhất động. Tất tồn hồ thiện. Vật lý tà kính. Mạc khi ám thất. Thương thiên hại lý. Vi bối lương tâm chi sự bất cảm vi. Diệc vị thiện quả dã. Ưng tri kim phùng ngọ vận tam kỳ. Phổ độ thu viên. Tam tào chỉnh bị. Vạn thần đỗng giám. Vi thiện giả. Phù đăng đạo ngạn. Công chiếu tiên tịch. Tứ phước tứ lộc. Tử tôn xương long. Vi ác giả. Nan đào minh luật. Địa ngục thụ hình. Chuyển luân đầu thai. Nhi báo hậu quả dã. Đương kim chi xã hội. Hà vi thiện giả thiểu. Nhi nguyện vi ác giả hà kỳ đa dã. Giai nhân nhân tâm bất cổ. Thế phong nhật hạ chi độc. Tập nhiễm Tây Âu chi phong. Vong khước trung thổ văn hoá. Nãi thượng thiên chi kiếp số. Nhân chi tạo nghiệt dã. Vũ trụ vạn linh đắc vi nhân thân. Ngưỡng thiên địa phúc tải chi huệ. Hà phụ mẫu dưỡng dục chi ân. Đương tri đôn công lập đức. Kiến thiện dũng vi. Khởi khả bội lễ vi nhân. Võng đôn liêm sỉ. Tham phiêu đổ. Tham tửu sắc. Bại gia chi hoạ dã. Tu âm chất. Tu thiện quả. Thành gia chi phước dã. Khuyến nhĩ thế nhân. Quảng tu âm chất. Tính phát từ bi. Lân bần tế khốn. Tâm tồn trắc ẩn. Căng cô tuất quả. Xả dược thi trà. Giới sát phóng sinh. Tu kiều tạo lộ. Phiên kiến miếu vũ. ấn tống kinh thư. Dĩ tỉnh ngu muội. Cộng vãn tam tai thất kiếp chi nguy. Siêu xuất tứ sinh tam đồ chi khổ. Ác nhi vị báo. Nhật tử vị đáo. Tổ tông hữu dư đức. Đức tận tất tao ương. Tác thiện phi bất báo. Tổ tông nghiệp vị quá. Nghiệp quá tử tôn xương. Tuần hoàn báo ứng nhi khởi mậu tai. Hành thiện tất hữu thiện báo. Tác ác tất hữu ác báo. Bất khả kiến lợi nhi vong nghĩa. Thiết vật tổn nhân nhi ích kỷ. Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Gia môn cát khánh. Nhi tôn xương vinh dã.

「Giáo Hữu Nghi Trạch Chương Đệ Tứ」

Giáo hữu chi đạo. Nghi đương thiện trạch. Dữ chính khí chi nhân nhã tiết. Sở hành tắc bình thản chi đạo. Hữu quá tương khuyến. Nguy nan tương trợ. Hữu hoạ đồng đương. Hữu phước đồng hưởng. Tự nhiên đức nghiệp nhật tiến. Gia đình xương thịnh dã. Dữ phóng đãng chi đồ tương giao. Xuất nhập tắc tửu gia trà thất. Vãng lai tắc đổ trường hoa lâu. Bất phân nhật dạ. Nhi phóng đãng cử chỉ khinh diêu. Ngôn vô lễ nghĩa. Tính đái hung ác. Tâm tồn quỷ quyệt. Dĩ trí chính nghiệp bất cố. Cánh sử phụ mẫu thương ưu. Cố giao hữu bất khả bất thận. Phương miễn tẩu nhập kỳ đồ dã. Trạch hữu chi đạo. Hợp tắc lưu. Bất hợp tắc khứ. Giao bằng hữu chi lý. Thiện trạch miễn. Bất thiện tắc trừng. Kết giao thạc đức chi sĩ. Dĩ phụ ngô nhân. Nhã tiết hiền đạt chi nhân. Dĩ quảng ngô thức. Bất khả tôn đại tự cao. Thiết mạc uy mãnh tự ngạo. Đồng thanh tạ dĩ tương ưng. Đồng khí tạ ư tương cầu. Dương giác ai tả bá đào phu tử dã. Hoạn nạn tạ dĩ tương cố. Cấp hoãn tịch dĩ tương trì. Quản Kính Trọng. Bảo Thúc Nha. Phu Tử dã. Giao đồng chi lan chi phẩm. Dĩ ích thân dã. Chi lan giả. Thuỵ thảo dã. Ích hữu giả. Hoạn nạn tương cố. Tổn hữu giả. Gian trá tương khi dã. Sinh tồn nhân gian lữ trình trung. Bất năng ly quần nhi độc cư. Cố bằng hữu bất khả vô giao dã. Giao hữu chi tiên. Nghi đương thiện trạch. Cổ nhân vân. Cận châu giả xích. Cận mặc giả hắc. Thành tai tư ngôn dã. Chính trực tín thực trọng nghĩa tồn nhân. Ích hữu dã. Nhã tiết chi đắc. Chiêu hạnh phúc. Xảo ngôn lệnh sắc hiếu dâm hiếu đổ. Tổn hữu dã. Thân cận chi tất nhạ hoạ đoan. Thiện nhân chi giao. Như lan huân chi hương. Nhất gia tài bồi. Lưỡng gia phân phương. Ác nhân chi giao. Tự bão tử quá tường. Nhất nhân thất túc. Lưỡng nhân tao ương. Tích hồ thế nhân. Thụ thất tình lục dục sở tế. Mê thất bản tính. Tạo thành bất nhân bất nghĩa chi đồ. Kiến lợi nhi vong nghĩa bối tín dĩ tranh đoạt. Khẩu điềm như mật. Phúc tàng lợi nhẫn. Lâm nguy bất cứu. Phản nhi gia hại. Như thử vô lại. Nghi đương giới tai. Đạo nghĩa chi giao tình đồng thủ túc. Chi lan chi tiết. Nghị tự đài sầm. Quảng giao du tuyển hiền cử năng. Đa dung nạp tri thị biệt phi. Ích hữu tổn hữu. Lợi hại sở quan. Ưng tri thận trọng tuyển trạch. Thứ kỷ hữu sở đắc yên. Đào viên kết nghị. Phương danh vạn cổ. Dĩ tụng tam thánh dã. Trúc lâm tiết minh. Giai thoại thiên thu. Dĩ truyền thất hiền dã.

「Ngũ Thường Chi Đức Chương Đệ Ngũ」

Cái ngũ thường giả. Nhân nghĩa lễ trí tín dã. Nhân sinh xử thế. Đãi nhân tất dĩ nhân nghĩa vi bản. Lễ trí vi căn. Tín thực vi dụng. Hành đức dĩ bồi nhân. Đôn nhân dĩ tinh nghĩa. Minh nghĩa dĩ sùng lễ. Thượng lễ dĩ tăng trí. Ích trí dĩ đốc tín. Tín giả. Đạo chi toàn thể đại dụng dã. 「Nhân giả. Thiên chi đức. Lập thân xử thế chi đạo dã. Uẩn vi trung hoà chi khí. Phát vi trắc ẩn chi tâm. Hữu nhất nhân chi niệm. Năng dung thiên địa vạn vật. Hữu nhất thời chi nhân. Năng thuỳ vũ trụ vạn thế. Nhân giả. Mạc bất ái nhân ái vật. Thể thiên địa hiếu sinh chi đức. Học thánh hiền ái nhân lợi vật. Thị vị nhân đức dã.」 「Nghĩa giả. Tâm tồn chính trực. Chí chính vô tư dã. Tự cổ chí sĩ nhân nhân. Vô cầu sinh dĩ hại nhân. Hữu sát sinh dĩ thành nhân. Kim nhân khứ nghĩa nhi viễn hĩ. Giai nhân vi lợi sở hại. Nhân tâm đa thượng hư vinh. Tham phú quí. Hỉ xa hoa. Tranh danh đoạt lợi. Kiến lợi vong nghĩa. Bất dĩ nghĩa vi lợi. Giai dĩ lợi vi nghĩa chi cố dã. Sơ tài trượng nghĩa. Xả thân tế nhân. Bất vi thiên lý lương tâm. Bất tham vô nghĩa chi tài. Thị vị nghĩa đức dã.」 「Lễ giả. Kính dã. Nhân cẩu vô lễ. Tôn ti vô phân. Kính uý vô tồn nhi kiêu ngạo. Thành nhân bất tri lễ. Cầm thú bất như dã. Cổ đại định lục lễ. Dĩ tiết dân tính. Chế thất giáo. Dĩ sùng dân đức. Cố thượng dĩ lễ định pháp. Nhi hạ dĩ pháp thượng lễ. Phú nhi tri lễ tắc bất kiêu. Quí nhi tri lễ tắc bất dâm. Bần nhi tri lễ tắc bất siểm. Tiện nhi tri lễ tắc chí định. Xử thế dĩ lễ tương ưng. Đãi nhân hoà ái cung kính. Liêm sỉ thường tồn. Dâm loạn bất phạm. Thị vị lễ đức dã.」 「Trí giả. Tri dã. Tri thời thức vụ. Minh bạch tiến thoái. Chính tà thiện ác. Phán đoạn thị phi. Thị lý tắc tùng. Phi lý tắc khí. Trí giả. Tri thiên đạt mệnh. Cách vật cùng lý chi vị dã. Hữu trí chi nhân định thiểu hữu quá. Tuy hữu quá thất diệc năng tri cải. Linh minh đỗng triệt. Trí huệ thông minh. Thị vị trí đức dã.」 「Tín giả. Chân thành chính trực trung hậu vô nguỵ dã. Kim mộc thuỷ hoả thổ. Phi thổ bất tải. Nhân nghĩa lễ trí. Phi tín bất thành. Cố tín chi đạo đại tai hĩ. Giao dịch vãng lai. Tất thủ tín dụng. Dữ nhân tiếp sự. Nhất ngôn vi định. Bất tác tiểu nhân. Phản phúc vô thường. Dục lập kỳ thân. Tất tiên toàn tín. Thành thực vô nguỵ. Đốc tín bất khi. Thị vị tín đức dã.」 Quán Thế Âm Bồ Tát. Tán viết. Cảnh dân lợi thế. Nội phân ngũ chương. Ngưỡng hà thiên tôn. Thân thiệp hồng trần. Phí tận tâm huyết. Phi loan xiển trước giả dã. Đắc chủng đức đường hạ. Thể thiên hành đạo. Trước thư lập thuyết. Tài lực song thi. Tạo phước nhân quần. Kiền thành hiệu lao. Quán triệt thủy chung. Lịch kinh tuế nguyệt. Chung thành bảo kinh. Vi tu thân tề gia chi thánh điển. Túc ư khải phát nhân tâm hướng thiện. Thân nguyện thiện tín. Thần hôn kiền tụng. Tắc tai hoạ tiêu. Nhi cát tường sinh. Tín thụ phụng hành. Công đức vô lượng. Thiết vật thúc chi cao các. Thứ kỷ bất phụ thiên tôn nhất phiến dũ thế chi bà tâm. Quý vô giai cú. Liêu tán chí thành.

“Hoàn Kinh Kệ”

Chân kinh kiền tụng tất. Tống giá phản thượng thanh. Môn đình giáng thuỵ khí. Tứ thời hanh lợi trinh.

ách giải thiên tường tập. tai tiêu bách phước tăng. thần tiên trường tí hữu. nam nữ hoạch khang ninh.

“Hoàn Kinh Tán”

Kinh công viên mãn. Cảm ứng vạn ban. Quảng thi vũ lộ nhuận nhân gian. Thuỵ khí mãn hà sơn. Phong điều vũ thuận. Quốc thái dân an. Qui mệnh Ngọc Thần Đạo Quân Linh Bảo Thiên Tôn. (3 lần)

Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn Cảnh Thế Lợi Dân Chân Kinh chung.
(xem tiếp Kinh 3)
———————–
KINH 3.-

Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn
Khải Trí Thông Linh Chân Kinh
玉清元始天尊啟智通靈真經

伏以

恭焚真香。虔誠叩請眾聖真。今據弟子(信女)○○○居住○○○○○

虔誠禱神前。求哀懺悔。至誠虔誦。三清聖經。締遵聖訓。信受奉行。仰求風調雨順。國泰民安。次求闔家平安。災消厄解。所祈如願。無任懇禱之至。香花請。香花迎。香花請聖降來臨。

恭請。三清總聖誥。志心皈命禮。(三稱)

天寶。靈寶。神寶。玉清。上清。太清。一氣流行。

三尊應化。含光寂寂。不言而行佈四時。著色空空。

無為而化生三界。大羅天上。太極宮中。虛無妙道。

三清三境三寶大天尊。(三稱)

無極混元老祖玄玄上人三清頌。

大哉三清。道冠群仙。苞符獨洩。窮理探玄。太初一氣。虛無妙玄。無極一動。太極生焉。則生宇宙。道氣轉旋。陰陽造化。闢地開天。化儒化釋。啟迪群賢。至今甲子。六萬餘年。神威浩蕩。法力無邊。功參造化。德配昊天。施恩化劫。滅罪消愆。千秋景仰。萬古流傳。經垂金玉。書述真詮。作為後世。苦海慈船。人生處世。宜當深究。愧無佳句。聊頌一篇。

『開經偈』

十方佛聖眾。下界諸神祗。弟子真經誦。聖訓作良規。

無始諸惡業。行善得清除。四時無災劫。八節雨露施。

『開經讚』

元始天尊。浩氣長存。精靈充塞乎乾坤。大地顯祥雲。救民施恩。掃除不正氣。

皈命真妙道元始天尊。(三稱)
【玉清元始天尊啟智通靈真經】
恭請。

玉清寶誥。志心皈命禮。(三稱)

三界之上。梵炁彌羅。上極無上。天中之天。鬱羅蕭臺。玉山上京。渺渺金闕。森羅淨泓。玄元始炁。混沌之先。寶珠之中。玄之又玄。開明三景。化生諸天。億萬天真。無鞅數眾。旋斗歷箕。回度五常。巍巍大範。萬道之宗。大羅玉清。虛無自然。至真妙道。元始天尊。

『玉清元始天尊啟智通靈真經』

夫。先天之氣。彌羅造化。無形無象。無始無終。視之不見。聽之不聞。其大無外。其小無內。至綱至微。至妙至玄。儒曰太極。道曰金丹。釋曰正覺。散之萬殊。歸為一本。包羅天地。生育萬物。胎卵濕化。昆蟲草木。皆在殼中。運行旋轉。氣者物之。由造化而成物。物者氣之質。由造化而賦氣。天地者。大道之氣所生。萬物者。太玄之精所化。天一為陽。地二為陰。人三而成陰陽。性與命。而合化。性賦於天。特厚。命立於地。獨優。故人能達命知天。而能窮天地之理。人同天地而得其氣。人同萬類。而得其生。天賦本性良善。皆因生長之間。虐境之不同。隨緣而變化。沉迷名利。貪戀恩愛。道德不敦。元氣不培。而使先天之性。難配後天之命。違背大道之心。失卸至道玄微。心之迷惑。萬惡之首。心之覺悟。有善之端也。大道無名。強名曰道。道者。太空之真氣。無體無形。道者。人生之至寶。無聲無色。大道無形。生育天地。大道無情。旋轉陰陽。大道無名。長養萬物。無形先天大道。生於鴻濛之始。混於虛無之中。塞於太空之間。無形之始。有象之先。道在先天。生陰生陽。唯有動靜。包羅萬象。道在後天。生人生物。唯有靈性。包涵萬有。大道無為。傳自中庸。贊天地之化育。作萬世之規章。道之光明。如燈炬之光明。道之燦爛。似星辰之燦爛。日月往來。非氣不得其明。寒暑交更。非氣不得其序。道氣通乎陰陽。一晝一夜。歲月流連而不息。道氣通乎寒暑。一往一來。草木榮枯而有數。惟道之體。言空亦空。無處而可道。惟道之用。言實亦實。無處而不道。天地從道而生萬物。由道而成。故大道者。萬類之母也。夫。道之大。生育天地。可以包羅萬象。可以彌綸太虛。可以格物窮理。可以旋轉乾坤。日月照其明。春夏順其序。陰陽以分晝夜。寒暑而成歲時。日諸月往。循環不息。陰陽兩者。造化之本。陽主義。陰主利。西南陰方。東北陽方。陽主生。陰主殺。消長分焉。縮慝別焉。乾者健也。陽中之性。而帶剛也。坤者順也。陰中之性。而帶柔也。乾動而圓。其氣輕清。上浮為天者。陽也。坤靜而方。其氣重濁下降為地者。陰也。人受之為性。天賦之為命。靜以鍛其陰。動以煉其陽。悟陰陽之變化。識玄機之隱微。忠恕修。而德不孤。鉛汞煉。而道無窮。事不善不得其極。理不參不得其明。善惡之人。形體雖同。性隔天淵。似水清濁。惡與濁。乃陰氣之凝重而下墜。善與清。乃陽氣之結。輕而上昇。此理能知。大道自通也。先天之道。贊天地之化育。凡人得之。可以證聖成真。吉凶禍福。造化之機也。榮枯得失。天地之道也。死生鬼神。陰陽之理也。性命長短。命連之因也。天地生物。生乎其理。陰陽化育。化乎其形。在天成象者。則有日月星辰。晝夜上下。在地成形者。則有山川河嶽。南北高深。天命之謂性。陽中之陰。人性之於命。陰中之陽。人生天地。萬物之靈。得天之陽。得地之陰。陰陽相濟。五行兼備。能知天人性命之學。得曉內外雙修之法。兩者並行。一心貫徹。以期超凡成真。高登聖域無難矣。性之於人。或優或劣。命之於性。或長或短。以養性而克服先天之命。而修命以保全後天之性。洞徹陰陽之理。修煉性命之全。以陰煉化純陽之體。以剛克制至柔之根。以無為靜。以有為動。群陰除盡。純陽則生。陰盡陽存。而成法體也。立天之道。曰陰與陽。立地之道。曰柔與剛。立人之道。曰仁與義。人生天地之間。包乎陰陽之內。秉誠得參造化。至靜能通鬼神。儒教道德為基。綱長倫理之道也。道家陰陽大道。水火相濟之理。佛門菩提妙諦。般若之法也。其名雖異。其義則一也。世尊救世。演法法華。靈山心印。妙悟蓮花。參禪唸佛。不著於邪。皆空色相。法門獨家。大哉道祖。其法玄玄。以虛形實。以汞入鉛。龍虎降伏。烏兔烹煎。丹成九轉。果證金仙。孔聖之道。允執厥中。仁義為旨。忠孝為宗。精一無極。造化陰陽。超生脫死。妙果圓通。道之黃庭。性命之妙玄也。儒之易經。修道之玄機也。佛之心經。涅槃之精髓也。

皈依道。不可不明清靜虛無。

皈依儒。不可不知定靜慮得。

皈依佛。不可不參真空妙有也。

自古三教儒道釋也。雖分門別戶。其宗旨合一。三教聖賢。體天行道。普渡蒼生。大費婆心。各盡其道。指迷開覺。勸人行善。棄暗投明。其治世濟世。其逵一也。其理不外忠孝仁義。慈悲博愛。清靜虛無。各為教門之綱領也。儒教至聖。孔子之道。以德化人。以道律人。教以修身。導以養性。以三綱五常為宗。以四維八德為則。修身以齊家。治國平天下。忠恕之理也。道家教主。太上道祖。以先天清靜。無為大道。而教人參禪。採藥煉丹。鍊精化氣。鍊氣化神。鍊神還虛。運行五行。其宗旨為立德修身濟世之大道也。釋門教主。釋迦古佛。清淨不二法門。鍊心虛至定慧。以寂滅為宗。以慈悲為用。五蘊皆空。四相俱了。無上菩提之妙諦也。儒之忠恕。道之無為。釋之慈悲。皆不離仁。儒之仁民。道之濟世。釋之救苦。則利人也。修己也。綜合三教大綱。無非修善之法。教人棄惡從善。導人棄邪歸正。無論何種之教門。各有宗旨為體用。故無論入何教。應有良知良能。尊重先天善性。不敢為非妄作。持齋禮佛。休管人間是非。樂道參禪。莫貪世上名利。心存濟世度人。願抱安份修己。孝行父母。敬重仙神。忠於國。齊其家。一言一行。必求有益於人。一舉一動。務期無害於世。人道全而天道無不全。性命固而元命無不固。外功圓滿。而修內果。修鍊大道。清靜身心。心不靜。參禪不能通神。身不靜。鍊道難得受益。靜坐參禪能悟性命。精微之理。明心養性。得悟陰陽消長之機。可以去人慾之私。可以全天理之正。以氣全形。以道全真。由俗心鍊為道心。從凡骨鍛為仙骨。自能超生脫死。更得返本還原。永證金剛之體。自在萬劫不壞。豈不妙哉。古之大道授於天子。今之至道傳在庶民。士農工商皆可得聞。三教之道。道源歸一。各教之真理體用。皆以修身行善為剛領也。世風日下。毀謗大道。入儒門則言儒學之特長。入佛門則言佛法之獨優。入道門則言道教之超群。此謂之教。不足以謂之道也。世俗有分。聖賢無異。無論何教弟子。不可執著偏見。分門別戶。互相攻訐。視如仇敵。三教聖人。悲憫蒼生。何嘗有別乎。三教不外一理。一理宜貫通。不澄其衷。其義難以明也。方法不外一心。一心宜領悟。心不純其念。其道難以成也。天地愛人。聖賢救世。到處開壇闡教。隨方現身說法。以期早日浪子回頭。誰知迷者不醒。詎料昧者難悟。或掛名以修道。或假意以參禪。外貌現出慈悲。內心早存詭譎。此等之輩。善無半點。為鸞壇之敗類。為宗教之罪人。亂世教門喪敗不堪。公德微。人情薄。人心險惡。萬端巧計。詐術百出。異端四起。邪道橫行。利慾昏心。迷昧真靈。漁利之徒。藉機取財。至於此極。可不痛乎。以釋論之。今逢三期。或持齋多年而開殺戒。或出家到老而後還俗。唸經先講報酬。說法不持般若。念空其實不空。執相還兼著相。三規五戒不遵。宣淫污穢佛門。慈悲何在。方便皆無。實堪嘆哉。儒家亦然。聖賢不重。見人崇聖。則言迷信。忠孝廉潔。幾個克敦。仁義禮智。幾人能守。讀聖賢書違聖賢訓。如此孔聖門徒。實儒教之罪人也。道教者亦如是。或有半仙。或有乩童。開壇濟世。消災解厄。畫符咒詛。治病處方。或打地獄。或換花叢。藉術以騙人。誑言而惑世。敗德招愆。害人無窮也。身為教徒。宜遵行教規。行方便。種福田。重道德。修善果。以期還本還原。脫離生死之關。莫以迷而不醒。直到惡貫盈。死後魂歸陰府。受盡輪迴之苦。永失人身。豈不可惜哉。儒道釋之學。傳於世久矣。經天緯地。冠絕古今。儒教理陽。說無限經術。為後學格致誠正。修齊平治之安。佛教理陰。開清靜法門。為當世救濟扶持。極度張癉之規。道祖所傳之教。玄玄清靜虛無禪定功夫。全在玄關祖竅。神通妙諦。不外造化陰陽。金言良箴。足以啟發人之善心。菩提妙諦。足以涵養人之靈性。大定大智大慈。為佛之三德。至靜至仁至誠。為道之三善。行忠行孝行恕。為儒之三仁。古今同欽。萬世尊崇也。道德勤修。講因果。體天行道。經典深研。說忠孝。覺世度人。忠恕為立身之本。綱常齊家之原。崇入世之機。修出世之法。莫以大道為虛無。休將真空為縹緲。鍊丹者。悟陰陽造化之玄。念佛者。參菩提般若之諦。讀書者。明哲事理。崇聖賢之學。性命雙修。功圓果滿而證果位。豈不善哉。持齋一生。外功不立。難得證果也。念佛半世。內果不鍊。豈能證真乎。修真學道。心堅意誠。保固形命。涵養性情。如以五常。忠恕為經。道以五行。感應為德。佛以五戒。慈悲為門。修鍊弟子。教門休分。修心養性。持齋誦經。不貪利慾。不慕功名。道以心得。心以道寧。以心觀道。以道觀心。修之達竅。養以通靈。靜心寡慾。益壽延齡。外功建就。內果鍊成。脫離苦海。好還天庭。天尊說經已畢。駕上五彩祥雲。還於玉清。諸天聖眾。皆大歡喜。作揖而退。斯經為度殘靈。

恭請

帝旨。闡述頒行。願爾下界蒼生。珍之。敬之。廣為流傳。

『完經偈』

保經誦圓滿。送駕返玉清。厄解千祥集。災消百福增。

吉星常拱照。宅舍獲光明。向善修因果。願求道早成。

『完經讚』

先天大道。妙奧深藏。演教闡玄挽頹風。苦海作慈行。聖德恩宏。開覺大道通。

皈命至真妙道元始天尊。(三稱)

玉清元始天尊啟智通靈真經終。
【Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn Khải Trí Thông Linh Chân Kinh】

Phục Dĩ

Cung phần chân hương. Kiền thành khấu thỉnh chúng thánh chân. Kim cứ đệ tử (tín nữ )………………… cư trú …………………..

Kiền thành đảo thần tiền. Cầu ai sám hối. Chí thành kiền tụng. Tam thanh thánh kinh. Đế tuân thánh huấn. Tín thụ phụng hành. Ngưỡng cầu phong điều vũ thuận. Quốc thái dân an. Thứ cầu hạp gia bình an. Tai tiêu ách giải. Sở kì như nguyện. Vô nhậm khẩn đảo chi chí. Hương hoa thỉnh. Hương hoa nghênh. Hương hoa thỉnh thánh giáng lai lâm.

Cung thỉnh. Tam thanh tổng thánh cáo. Chí tâm qui mệnh lễ. (3 lần)

Thiên Bảo. Linh Bảo. Thần Bảo. Ngọc Thanh. Thượng Thanh. Thái Thanh. Nhất khí lưu hành.

Tam Tôn ứng hoá. Hàm quang tịch tịch. Bất ngôn nhi hành bố tứ thời. Trước sắc không không.

Vô vi nhi hoá sinh tam giới. Đại la thiên thượng. Thái cực cung trung. Hư vô diệu đạo.

Tam Thanh Tam Cảnh Tam Bảo Đại Thiên Tôn. (3 lần)

Vô Cực Hỗn Nguyên Lão Tổ
Huyền Huyền Thượng Nhân Tam Thanh Tụng.
Đại tai tam thanh. Đạo quán quần tiên. Bao phù độc tiết. Cùng lý tham huyền. Thái sơ nhất khí. Hư vô diệu huyền. Vô cực nhất động. Thái cực sinh yên. Tắc sinh vũ trụ. Đạo khí chuyển toàn. Âm dương tạo hoá. Tịch địa khai thiên. Hoá Nho hoá thích. Khải địch quần hiền. Chí kim giáp tử. Lục vạn dư niên. Thần uy hạo đãng. Pháp lực vô biên. Công tham tạo hoá. Đức phối hạo thiên. Thi ân hoá kiếp. Diệt tội tiêu khiên. Thiên thu cảnh ngưỡng. Vạn cổ lưu truyền. Kinh thuỳ kim ngọc. Thư thuật chân thuyên. Tác vi hậu thế. Khổ hải từ thuyền. Nhân sinh xử thế. Nghi đương thâm cứu. Quý vô giai cú. Liêu tụng nhất thiên.

“Khai Kinh Kệ”

Thập phương Phật thánh chúng.
Hạ giới chư thần chi.
Đệ tử chân kinh tụng.
Thánh huấn tác lương qui.
Vô thủy chư ác nghiệp.
Hành thiện đắc thanh trừ.
Tứ thời vô tai kiếp.
Bát tiết vũ lộ thi.

“Khai Kinh Tán”

Nguyên Thủy Thiên Tôn. Hạo khí trường tồn. Tinh linh sung tái hồ càn khôn. Đại địa hiển tường vân. Cứu dân thi ân. Tảo trừ bất chính khí.

Qui mệnh chân diệu đạo Nguyên Thủy Thiên Tôn. (3 lần)
【Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn Khải Trí Thông Linh Chân Kinh】
Cung Thỉnh.

Ngọc Thanh bảo cáo. Chí tâm qui mệnh lễ. (3 lần)

Tam giới chi thượng. Phạm khí di la. Thượng cực vô thượng. Thiên trung chi thiên. Uất la tiêu đài. Ngọc sơn thượng kinh. Diễu diễu kim khuyết. Sâm la tịnh hoằng. Huyền nguyên thủy khí. Hỗn độn chi tiên. Bảo châu chi trung. Huyền chi hựu huyền. Khai minh tam cảnh. Hoá sinh chư thiên. Ức vạn thiên chân. Vô ương số chúng. Toàn đẩu lịch cơ. Hồi độ ngũ thường. Nguy nguy đại phạm. Vạn đạo chi tông. Đại la ngọc thanh. Hư vô tự nhiên. Chí chân diệu đạo. Nguyên Thủy Thiên Tôn.

“Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn Khải Trí Thông Linh Chân Kinh”
Phù. Tiên thiên chi khí. Di la tạo hoá. Vô hình vô tượng. Vô thủy vô chung. Thị chi bất kiến. Thính chi bất văn. Kỳ đại vô ngoại. Kỳ tiểu vô nội. Chí cương chí vi. Chí diệu chí huyền. Nho viết thái cực. Đạo viết kim đan. Thích viết chính giác. Tản chi vạn thù. Qui vi nhất bản. Bao la thiên địa. Sinh dục vạn vật. Thai noãn thấp hoá. Côn trùng thảo mộc. Giai tại xác trung. Vận hành toàn chuyển. Khí giả vật chi. Do tạo hoá nhi thành vật. Vật giả khí chi chất. Do tạo hoá nhi phú khí. Thiên địa giả. Đại đạo chi khí sở sinh. Vạn vật giả. Thái huyền chi tinh sở hoá. Thiên nhất vi dương. Địa nhị vi âm. Nhân tam nhi thành âm dương. Tính dữ mệnh. Nhi hợp hoá. Tính phú ư thiên. Đặc hậu. Mệnh lập ư địa. Độc ưu. Cố nhân năng đạt mệnh tri thiên. Nhi năng cùng thiên địa chi lý. Nhân đồng thiên địa nhi đắc kỳ khí. Nhân đồng vạn loại. Nhi đắc kỳ sinh. Thiên phú bản tính lương thiện. Giai nhân sinh trưởng chi gian. Ngược cảnh chi bất đồng. Tuỳ duyên nhi biến hoá. Trầm mê danh lợi. Tham luyến ân ái. Đạo đức bất đôn. Nguyên khí bất bồi. Nhi sử tiên thiên chi tính. Nan phối hậu thiên chi mệnh. Vi bối đại đạo chi tâm. Thất tá chí đạo huyền vi. Tâm chi mê hoặc. Vạn ác chi thủ. Tâm chi giác ngộ. Hữu thiện chi đoan dã. Đại đạo vô danh. Cưỡng danh viết đạo. Đạo giả. Thái không chi chân khí. Vô thể vô hình. Đạo giả. Nhân sinh chi chí bảo. Vô thanh vô sắc. Đại đạo vô hình. Sinh dục thiên địa. Đại đạo vô tình. Toàn chuyển âm dương. Đại đạo vô danh. Trưởng dưỡng vạn vật. Vô hình tiên thiên đại đạo. Sinh ư hồng mông chi thủy. Hỗn ư hư vô chi trung. Tái ư thái không chi gian. Vô hình chi thủy. Hữu tượng chi tiên. Đạo tại tiên thiên. Sinh âm sinh dương. Duy hữu động tĩnh. Bao la vạn tượng. Đạo tại hậu thiên. Sinh nhân sinh vật. Duy hữu linh tính. Bao hàm vạn hữu. Đại đạo vô vi. Truyền tự trung dung. Tán thiên địa chi hoá dục. Tác vạn thế chi qui chương. Đạo chi quang minh. Như đăng cự chi quang minh. Đạo chi xán lạn. Tự tinh thìn chi xán lạn. Nhật nguyệt vãng lai. Phi khí bất đắc kỳ minh. Hàn thử giao canh. Phi khí bất đắc kỳ tự. Đạo khí thông hồ âm dương. Nhất trú nhất dạ. Tuế nguyệt lưu liên nhi bất tức. Đạo khí thông hồ hàn thử. Nhất vãng nhất lai. Thảo mộc vinh khô nhi hữu số. Duy đạo chi thể. Ngôn không diệc không. Vô xứ nhi khả đạo. Duy đạo chi dụng. Ngôn thực diệc thực. Vô xứ nhi bất đạo. Thiên địa tùng đạo nhi sinh vạn vật. Do đạo nhi thành. Cố đại đạo giả. Vạn loại chi mẫu dã.

Phù. Đạo chi đại. Sinh dục thiên địa. Khả dĩ bao la vạn tượng. Khả dĩ di luân thái hư. Khả dĩ cách vật cùng lý. Khả dĩ toàn chuyển càn khôn. Nhật nguyệt chiếu kỳ minh. Xuân hạ thuận kỳ tự. Âm dương dĩ phân trú dạ. Hàn thử nhi thành tuế thời. Nhật chư nguyệt vãng. Tuần hoàn bất tức. Âm dương lưỡng giả. Tạo hoá chi bản. Dương chủ nghĩa. Âm chủ lợi. Tây nam âm phương. Đông bắc dương phương. Dương chủ sinh. Âm chủ sát. Tiêu trưởng phân yên. Súc thắc biệt yên. Càn giả kiện dã. Dương trung chi tính. Nhi đái cương dã. Khôn giả thuận dã. Âm trung chi tính. Nhi đái nhu dã. Càn động nhi viên. Kỳ khí khinh thanh. Thượng phù vi thiên giả. Dương dã. Khôn tĩnh nhi phương. Kỳ khí trọng trọc hạ giáng vi địa giả. Âm dã. Nhân thụ chi vi tính. Thiên phú chi vi mệnh. Tĩnh dĩ đoạn kỳ âm. Động dĩ luyện kỳ dương. Ngộ âm dương chi biến hoá. Chí huyền cơ chi ẩn vi. Trung thứ tu. Nhi đức bất cô. Diên hống luyện. Nhi đạo vô cùng. Sự bất thiện bất đắc kỳ cực. Lý bất tham bất đắc kỳ minh. Thiện ác chi nhân. Hình thể tuy đồng. Tính cách thiên uyên. Tự thuỷ thanh trọc. Ác dữ trọc. Nãi âm khí chi ngưng trọng nhi hạ truỵ. Thiện dữ thanh. Nãi dương khí chi kết. Khinh nhi thượng thăng. Thử lý năng tri. Đại đạo tự thông dã. Tiên thiên chi đạo. Tán thiên địa chi hoá dục. Phàm nhân đắc chi. Khả dĩ chứng thánh thành chân. Cát hung hoạ phước. Tạo hoá chi cơ dã. Vinh khô đắc thất. Thiên địa chi đạo dã. Tử sinh quỷ thần. Âm dương chi lý dã. Tính mệnh trường đoản. Mệnh liên chi nhân dã. Thiên địa sinh vật. Sinh hồ kỳ lý. Âm dương hoá dục. Hoá hồ kỳ hình. Tại thiên thành tượng giả. Tắc hữu nhật nguyệt tinh thìn. Trú dạ thượng hạ. Tại địa thành hình giả. Tắc hữu sơn xuyên hà nhạc. Nam bắc cao thâm. Thiên mệnh chi vị tính. Dương trung chi âm. Nhân tính chi ư mệnh. Âm trung chi dương. Nhân sinh thiên địa. Vạn vật chi linh. Đắc thiên chi dương. Đắc địa chi âm. Âm dương tương tế. Ngũ hành kiêm bị. Năng tri thiên nhân tính mệnh chi học. Đắc hiểu nội ngoại song tu chi pháp. Lưỡng giả tịnh hành. Nhất tâm quán triệt. Kỳ siêu phàm thành chân. Cao đăng thánh vực vô nan hĩ. Tính chi ư nhân. Hoặc ưu hoặc liệt. Mệnh chi ư tính. Hoặc trường hoặc đoản. Dĩ dưỡng tính nhi khắc phục tiên thiên chi mệnh. Nhi tu mệnh dĩ bảo toàn hậu thiên chi tính. Đỗng triệt âm dương chi lý. Tu luyện tính mệnh chi toàn. Dĩ âm luyện hoá thuần dương chi thể. Dĩ cương khắc chế chí nhu chi căn. Dĩ vô vi tĩnh. Dĩ hữu vi động. Quần âm trừ tận. Thuần dương tắc sinh. Âm tận dương tồn. Nhi thành pháp thể dã. Lập thiên chi đạo. Viết âm dữ dương. Lập địa chi đạo. Viết nhu dữ cương. Lập nhân chi đạo. Viết nhân dữ nghĩa. Nhân sinh thiên địa chi gian. Bao hồ âm dương chi nội. Bỉnh thành đắc tham tạo hoá. Chí tĩnh năng thông quỷ thần. Nho giáo đạo đức vi cơ. Cương trường luân lý chi đạo dã. Đạo gia âm dương đại đạo. Thuỷ hoả tương tế chi lý. Phật môn bồ đề diệu đế. Ban nhược chi pháp dã. Kỳ danh tuy dị. Kỳ nghĩa tắc nhất dã. Thế tôn cứu thế. Diễn pháp pháp hoa. Linh sơn tâm ấn. Diệu ngộ liên hoa. Tham thiền niệm Phật. Bất trước ư tà. Giai không sắc tướng. Pháp môn độc gia. Đại tai đạo tổ. Kỳ pháp huyền huyền. Dĩ hư hình thực. Dĩ hống nhập diên. Long hổ giáng phục. Ô thố phanh tiên. Đan thành cửu chuyển. Quả chứng kim tiên. Khổng thánh chi đạo. Doãn chấp quyết trung. Nhân nghĩa vi chỉ. Trung hiếu vi tông. Tinh nhất vô cực. Tạo hoá âm dương. Siêu sinh thoát tử. Diệu quả viên thông. Đạo chi huỳnh đình. Tính mệnh chi diệu huyền dã. Nho chi Dịch Kinh. Tu đạo chi huyền cơ dã. Phật chi Tâm Kinh. Niết bàn chi tinh tuỷ dã.

Qui y Đạo. Bất khả bất minh Thanh Tĩnh Hư Vô.

Qui y Nho. Bất khả bất tri Định Tĩnh Lự Đắc.

Qui y Phật. Bất khả bất tham Chân Không Diệu Hữu dã.
Tự cổ tam giáo Nho Đạo Thích dã. Tuy phân môn biệt hộ. Kỳ tông chỉ hợp nhất. Tam giáo thánh hiền. Thể thiên hành đạo. Phổ độ thương sinh. Đại phí bà tâm. Các tận kỳ đạo. Chỉ mê khai giác khuyến nhân hành thiện. Khí ám đầu minh. Kỳ trị thế tế thế. Kỳ quì nhất dã. Kỳ lý bất ngoại trung hiếu nhân nghĩa. Từ bi bác ái. Thanh tĩnh hư vô. Các vi giáo môn chi cương lãnh dã. Nho giáo chí thánh. Khổng tử chi đạo. Dĩ đức hoá nhân. Dĩ đạo luật nhân. Giáo dĩ tu thân. Đạo dĩ dưỡng tính. Dĩ tam cương ngũ thường vi tông. Dĩ tứ duy bát đức vi tắc. Tu thân dĩ tề gia. Trị quốc bình thiên hạ. Trung thứ chi lý dã. Đạo gia giáo chủ. Thái Thượng Đạo Tổ. Dĩ tiên thiên thanh tĩnh. Vô vi đại đạo. Nhi giáo nhân tham thiền. Thái dược luyện đan. Luyện tinh hoá khí. Luyện khí hoá thần. Luyện thần hoàn hư. Vận hành ngũ hành. Kỳ tông chỉ vi lập đức tu thân tế thế chi đại đạo dã. Thích môn giáo chủ. Thích Ca Cổ Phật. Thanh tịnh bất nhị pháp môn. Luyện tâm hư chí định huệ. Dĩ tịch diệt vi tông. Dĩ từ bi vi dụng. Ngũ uẩn giai không. Tứ tướng câu liễu. Vô thượng bồ đề chi diệu đế dã. Nho chi trung thứ. Đạo chi vô vi. Thích chi từ bi. Giai bất ly nhân. Nho chi nhân dân. Đạo chi tế thế. Thích chi cứu khổ. Tắc lợi nhân dã. Tu kỷ dã. Tổng hợp tam giáo đại cương. Vô phi tu thiện chi pháp. Giáo nhân khí ác tùng thiện. Đạo nhân khí tà qui chính. Vô luận hà chủng chi giáo môn. Các hữu tông chỉ vi thể dụng. Cố vô luận nhập hà giáo. Ưng hữu lương tri lương năng. Tôn trọng tiên thiên thiện tính. Bất cảm vi phi vọng tác. Trì trai lễ Phật. Hưu quản nhân gian thị phi. Lạc đạo tham thiền. Mạc tham thế thượng danh lợi. Tâm tồn tế thế độ nhân. Nguyện bão an phần tu kỷ. Hiếu hành phụ mẫu. Kính trọng Tiên Thần. Trung ư quốc. Tề kỳ gia. Nhất ngôn nhất hành. Tất cầu hữu ích ư nhân. Nhất cử nhất động. Vụ kỳ vô hại ư thế. Nhân đạo toàn nhi thiên đạo vô bất toàn. Tính mệnh cố nhi nguyên mệnh vô bất cố. Ngoại công viên mãn. Nhi tu nội quả. Tu luyện đại đạo. Thanh tĩnh thân tâm. Tâm bất tĩnh. Tham thiền bất năng thông thần. Thân bất tĩnh. Luyện đạo nan đắc thụ ích. Tĩnh toạ tham thiền năng ngộ tính mệnh. Tinh vi chi lý. Minh tâm dưỡng tính. Đắc ngộ âm dương tiêu trưởng chi cơ. Khả dĩ khứ nhân dục chi tư. Khả dĩ toàn thiên lý chi chính. Dĩ khí toàn hình. Dĩ đạo toàn chân. Do tục tâm luyện vi đạo tâm. Tùng phàm cốt đoạn vi tiên cốt. Tự năng siêu sinh thoát tử. Cánh đắc phản bản hoàn nguyên. Vĩnh chứng kim cương chi thể. Tự tại vạn kiếp bất hoại. Khởi bất diệu tai. Cổ chi đại đạo thụ ư thiên tử. Kim chi chí đạo truyền tại thứ dân. Sĩ nông công thương giai khả đắc văn. Tam giáo chi đạo. Đạo nguyên qui nhất. Các giáo chi chân lý thể dụng. Giai dĩ tu thân hành thiện vi cương lãnh dã. Thế phong nhật hạ. Huỷ báng đại đạo. Nhập Nho môn tắc ngôn Nho học chi đặc trường. Nhập Phật môn tắc ngôn Phật pháp chi độc ưu. Nhập Đạo môn tắc ngôn đạo giáo chi siêu quần. Thử vị chi giáo. Bất túc dĩ vị chi đạo dã. Thế tục hữu phân. Thánh hiền vô dị. Vô luận hà giáo đệ tử. Bất khả chấp trước thiên kiến. Phân môn biệt hộ. Hỗ tương công can. Thị như cừu địch. Tam giáo thánh nhân. Bi mẫn thương sinh. Hà thường hữu biệt hồ. Tam giáo bất ngoại nhất lý. Nhất lý nghi quán thông. Bất trừng kỳ trung. Kỳ nghĩa nan dĩ minh dã. Phương pháp bất ngoại nhất tâm. Nhất tâm nghi lãnh ngộ. Tâm bất thuần kỳ niệm. Kỳ đạo nan dĩ thành dã. Thiên địa ái nhân. Thánh hiền cứu thế. Đáo xứ khai đàn xiển giáo. Tuỳ phương hiện thân thuyết pháp. Dĩ kỳ tảo nhật lãng tử hồi đầu. Thuỳ tri mê giả bất tỉnh. Cự liệu muội giả nan ngộ. Hoặc quải danh dĩ tu đạo. Hoặc giả ý dĩ tham thiền. Ngoại mạo hiện xuất từ bi. Nội tâm tảo tồn quỷ quyệt. Thử đẳng chi bối. Thiện vô bán điểm. Vi loan đàn chi bại loại. Vi tôn giáo chi tội nhân. Loạn thế giáo môn táng bại bất kham. Công đức vi. Nhân tình bạc. Nhân tâm hiểm ác. Vạn đoan xảo kế. Trá thuật bách xuất. Dị đoan tứ khởi. Tà đạo hoành hành. Lợi dục hôn tâm. Mê muội chân linh. Ngư lợi chi đồ. Tạ cơ thủ tài. Chí ư thử cực. Khả bất thống hồ. Dĩ thích luận chi. Kim phùng tam kỳ. Hoặc trì trai đa niên nhi khai sát giới. Hoặc xuất gia đáo lão nhi hậu hoàn tục. Niệm kinh tiên giảng báo thù. Thuyết pháp bất trì bát nhã. Niệm không kỳ thực bất không. Chấp tướng hoàn kiêm trước tướng. Tam qui ngũ giới bất tuân. Tuyên dâm ô uế Phật môn. Từ bi hà tại. Phương tiện giai vô. Thực kham thán tai. Nho gia diệc nhiên. Thánh hiền bất trọng. Kiến nhân sùng thánh. Tắc ngôn mê tín. Trung hiếu liêm khiết. Kỷ cá khắc đôn. Nhân nghĩa lễ trí. Kỷ nhân năng thủ. Độc thánh hiền thư vi thánh hiền huấn. Như thử Khổng Thánh môn đồ. Thực Nho giáo chi tội nhân dã. Đạo giáo giả diệc như thị. Hoặc hữu bán tiên. Hoặc hữu cơ đồng. Khai đàn tế thế. Tiêu tai giải ách. Hoạ phù chú trớ. Trị bệnh xử phương. Hoặc đả địa ngục. Hoặc hoán hoa tùng. Tạ thuật dĩ biển nhân. Cuống ngôn nhi hoặc thế. Bại đức chiêu khiên. Hại nhân vô cùng dã. Thân vi giáo đồ. Nghi tuân hành giáo qui. Hành phương tiện. Chủng phước điền. Trọng đạo đức. Tu thiện quả. Dĩ kỳ hoàn bản hoàn nguyên. Thoát ly sinh tử chi quan. Mạc dĩ mê nhi bất tỉnh. Trực đáo ác quán doanh. Tử hậu hồn qui âm phủ. Thụ tận luân hồi chi khổ. Vĩnh thất nhân thân. Khởi bất khả tích tai. Nho đạo thích chi học. Truyền ư thế cửu hĩ. Kinh thiên vĩ địa. Quán tuyệt cổ kim. Nho giáo lý dương. Thuyết vô hạn kinh thuật. Vi hậu học cách trí thành chính. Tu tề bình trị chi an. Phật giáo lý âm. Khai thanh tĩnh pháp môn. Vi đương thế cứu tế phù trì. Cực độ trương đơn chi qui. Đạo tổ sở truyền chi giáo. Huyền huyền thanh tĩnh hư vô thiền định công phu. Toàn tại huyền quan tổ khiếu. Thần thông diệu đế. Bất ngoại tạo hoá âm dương. Kim ngôn lương châm. Túc dĩ khải phát nhân chi thiện tâm. Bồ đề diệu đế. Túc dĩ hàm dưỡng nhân chi linh tính. Đại định đại trí đại từ. Vi Phật chi tam đức. Chí tĩnh chí nhân chí thành. Vi đạo chi tam thiện. Hành trung hành hiếu hành thứ. Vi Nho chi tam nhân. Cổ kim đồng khâm. Vạn thế tôn sùng dã. Đạo đức cần tu. Giảng nhân quả. Thể thiên hành đạo. Kinh điển thâm nghiên. Thuyết trung hiếu. Giác thế độ nhân. Trung thứ vi lập thân chi bản. Cương thường tề gia chi nguyên. Sùng nhập thế chi cơ. Tu xuất thế chi pháp. Mạc dĩ đại đạo vi hư vô. Hưu tương chân không vi phiêu diểu. Luyện đan giả. Ngộ âm dương tạo hoá chi huyền. Niệm Phật giả. Tham bồ đề Bát Nhã chi đế. Độc thư giả. Minh triết sự lý. Sùng thánh hiền chi học. Tính mệnh song tu. Công viên quả mãn nhi chứng quả vị. Khởi bất thiện tai. Trì trai nhất sinh. Ngoại công bất lập. Nan đắc chứng quả dã. Niệm Phật bán thế. Nội quả bất luyện. Khởi năng chứng chân hồ. Tu chân học đạo. Tâm kiên ý thành. Bảo cố hình mệnh. Hàm dưỡng tính tình. Như dĩ ngũ thường. Trung thứ vi kinh. Đạo dĩ ngũ hành. Cảm ứng vi đức. Phật dĩ ngũ giới. Từ bi vi môn. Tu luyện đệ tử. Giáo môn hưu phân. Tu tâm dưỡng tính. Trì trai tụng kinh. Bất tham lợi dục. Bất mộ công danh. Đạo dĩ tâm đắc. Tâm dĩ đạo ninh. Dĩ tâm quán đạo. Dĩ đạo quán tâm. Tu chi đạt khiếu. Dưỡng dĩ thông linh. Tĩnh tâm quả dục. Ích thọ diên linh. Ngoại công kiến tựu. Nội quả luyện thành. Thoát ly khổ hải. Hảo hoàn thiên đình. Thiên tôn thuyết kinh dĩ tất. Giá thượng ngũ thể tường vân. Hoàn ư ngọc thanh. Chư thiên thánh chúng. Giai đại hoan hỉ. Tác ấp nhi thoái. Tư kinh vi độ tàn linh.

Cung Thỉnh

Đế chỉ. Xiển thuật ban hành. Nguyện nhĩ hạ giới thương sinh. Trân chi. Kính chi. Quảng vi lưu truyền.

“Hoàn Kinh Kệ”

Bảo kinh tụng viên mãn. Tống giá phản ngọc thanh. Ách giải thiên tường tập. Tai tiêu bách phước tăng.

Cát tinh thường củng chiếu. Trạch xá hoạch quang minh. Hướng thiện tu nhân quả. Nguyện cầu đạo tảo thành.

“Hoàn Kinh Tán”

Tiên thiên đại đạo. Diệu áo thâm tàng. Diễn giáo xiển huyền vãn đồi phong. Khổ hải tác từ hành. Thánh đức ân hoành. Khai giác đại đạo thông.

Qui Mệnh Chí Chân Diệu Đạo Nguyên Thủy Thiên Tôn. (3 lần)

Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn Khải Trí Thông Linh Chân Kinh chung.
——————-

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

Tinh menh khue chi * 性命圭旨

性命圭旨

Tính mệnh khuê chỉ
性命圭旨

性命雙修 萬神圭旨
Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ
Tinh menh khue chi * 性命圭旨

Tính mệnh khuê chỉ * 性命圭旨

性命圭旨

Tính mệnh khuê chỉ

性命雙修 萬神圭旨

Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ

性命雙修 萬神圭旨
Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ

LỜI GIỚI THIỆU
Trong các sách viết về phương pháp tu Tiên của Đạo Gia, chỉ có quyển “Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ–性命雙修 萬神圭旨” (gọi tắt là Tính mệnh khuê chỉ–性命圭旨) nầy được nhà Đạo từ trước nay đánh giá rất cao, được coi là “một bản đồ tu Tiên quí báu nhất” .

Nội dung nó là kết quả của sự tổng hợp lý thuyết của Tam giáo:- Nho, Lão, Thích để làm sáng tỏ hai yếu tố quan trọng “tu tính và tu mệnh” một cách hài hòa, chỉ bày phương pháp cụ thể, rõ ràng, lý giải không thiên lệch, biên kiến.

Ngài Tử Trung Lý (tk 17) cho rằng :-“ Học giả nếu quán thông được Tính Mệnh Khuê Chỉ sẽ có thể Siêu phàm nhập thánh, trở thành Thiên nhân sư, có thể từ Sắc thân mà chứng Pháp thân, từ Sanh Sanh mà đạt Vô Sanh.”

Quyển sách quí giá nầy đã được Thầy chúng tôi, Bác Sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch thuật hết sức công phu và cẩn thận.

Nay chúng tôi xin đăng tải lên đây có kèm theo phần chính văn bằng chữ Hán để quí vị tiện việc đối chiếu, gọi là góp một chút ánh sáng vào vầng hào quang rực rỡ của sách.

Mong rằng, tài liệu nầy sẽ giúp cho những ai có tâm huyết tu theo Đạo gia, có được tấm bản đồ quí báu, chân chính, để rồi khi gặp được bậc Minh sư chỉ bảo thực hành, thì kết quả sẽ vô cùng tốt đẹp. Điều nầy, cũng đồng nghĩa là, nếu không có Thầy trực tiếp chỉ dạy, không nên tùy tiện bắt chước theo đây mà tự tu, hậu quả sẽ vô cùng nguy hiểm.

Kính mong tất cả hết sức lưu tâm cẩn thận cho, chúng tôi vô cùng cảm tạ.

Trân trọng.

*Cuối Hạ năm Canh Dần—2010
——————

性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳

(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Tức

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền

(Các đệ tử ghi chép lại)

* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch

0-1 前 言
0-2 《性 命圭旨》序
0-3 序
0-4 刻 《性命圭旨》緣起
0-5 題 尹真人《性命圭旨》全書

01 性命雙修  萬神圭旨.元集

01-01 三 聖圖
01-02 大 道說
01-03 性 命說
01-04 死 生說
01-05 邪 正說
01-06 普 照圖
01-07 反 照圖
01-08 太 極發揮
01-09 中 心圖
01-10 火 龍水虎說
01-11 日 烏月兔說
01-12 大 小鼎爐說
01-13 內 外二藥說
01-14 順 逆三關說
01-15 盡 性了命說
01-16 真 土根心說
01-17 鬼 魂說
01-18 蟾 光說
01-19 降 龍說
01-20 伏 虎說
01-21 三 家相見說
01-22 和 合四象說
01-23 取 坎填離說
01-24 念 觀音密咒說
01-25 九 鼎煉心說
01-26 八 識歸元說
01-27 五 炁朝元說
01-28 待 詘說
01-29 飛 昇說
02 性 命雙修 萬神圭旨•亨集

02-01 第一節口訣 涵養本源 救護命寶
02-02 第二節口訣 安神祖竅 翕聚先天
02-03 第三節口 訣 蟄藏氣穴 眾妙歸根
03 性 命雙修 萬神圭旨•利集
03-01 第 四節口訣 天人合發 採藥歸壺
03-02 第 五節口訣 乾坤交媾 去礦留金
03-03 第 六節口訣 靈丹入鼎 長養聖胎
04 性 命雙修 萬神圭旨•貞集

04-01 第 七節口訣 嬰兒現形 出離苦海
04-02第 八節口訣 移神內院 端拱冥心
04-03 第 九節口訣 本體虛空 超出三界
MỤC LỤC

DẪN NHẬP

Lời tựa 1

Lời tựa 2

Khắc Tính Mệnh Khuê Chỉ duyên khởi

Đề Doãn Chân Nhân Tính Mệnh Khuê Chỉ toàn thư

Nguyên tập

1. Tam Thánh đồ

2. Đại đạo thuyết

3. Tính Mệnh thuyết

4. Tử sinh thuyết

5. Tà Chính thuyết

6. Phổ chiếu đồ

7. Phản Chiếu đồ

8. Thời chiếu đồ

9. Nội chiếu đồ

10. Thái Cực đồ

11. Thái Cực đồ phát huy

12. Trung tâm đồ

13. Hoả Long Thuỷ Hổ đồ

14. Hoả Long Thuỷ Hổ thuyết

15. Nhật ô, Nguyệt thố đồ

16. Nhật ô, Nguyệt thố thuyết

17. Đại Tiểu Đỉnh Lô đồ

18. Đại Tiểu Đỉnh Lô thuyết

19. Nội Ngoại Nhị Dược đồ

20. Nội Ngoại Nhị Dược thuyết

21. Thuận Nghịch Tam Quan đồ

22. Thuận Nghịch Tam Quan thuyết

23. Tận Tính Chí Mệnh đồ

24. Tận Tính Chí Mệnh thuyết

25. Chân Thổ đồ

26. Chân Thổ Căn Tâm thuyết

27. Hồn Phách đồ

28. Hồn Phách thuyết

29. Thiềm quang đồ

30. Thiềm quang thuyết

31. Hàng Long đồ

32. Hàng long thuyết

33. Phục Hổ đồ

34. Phục Hổ thuyết

35. Tam gia tương kiến đồ

36. Tam gia tương kiến thuyết

37. Hoà hợp tứ tượng đồ

38. Hoà hợp tứ tượng thuyết

39. Thủ Khảm Điền Ly đồ

40. Thủ Khảm Điền Ly thuyết

41. Quan Âm Mật chú đồ

42. Quan Âm Mật chú thuyết

43. Cửu đỉnh luyện tâm đồ

44. Cửu đỉnh luyện tâm thuyết

45. Bát thức qui nguyên đồ

46. Bát thức qui nguyên thuyết

47. Ngũ khí triều nguyên đồ

48. Ngũ khí triều nguyên thuyết

49. Đãi chiếu đồ

50. Đãi chiếu thuyết

51. Phi thăng đồ

52. Phi thăng thuyết
Hanh tập

Hàm Dưỡng Bản Nguyên đồ

KHẨU QUYẾT 1: HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO

Tẩy Tâm Thoái Tàng đồ

Thoái Tàng Mộc Dục Công Phu

Ngọc Dịch Luyện Hình đồ

Ngọc Dịch Luyện Hình Pháp Tắc

An Thần Tổ Khiếu đồ

KHẨU QUYẾT 2: AN THẦN TỔ KHIẾU, HẠP TỤ TIÊN THIÊN

Pháp Luân Tự Chuyển đồ

Pháp Luân Tự Chuyển Công Phu

Long Hổ Giao Cấu đồ

Long Hổ Giao Cấu Pháp Tắc

Trập Tàng Khí Huyệt đồ

KHẨU QUYẾT 3: TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT, CHÚNG DIỆU QUI CĂN

Thai Tức Quyết

Hành Lập Tọa Ngọa Tứ Thiền đồ

———

Lợi tập

Thái Dược Qui Hồ đồ

KHẨU QUYẾT 4: THIÊN NHÂN HỢP PHÁP, THÁI DƯỢC QUI HỒ

Tụ hoả tải Kim đồ

Tụ hoả tải Kim quyết pháp

Kiền khôn giao cấu đồ

KHẨU QUYẾT 5: CÀN KHÔN GIAO CẤU, KHỬ KHOÁNG LƯU KIM

Châu Thiên tuyền ky đồ

Mão Dậu Châu Thiên khẩu quyết

Linh Đơn nhập đỉnh đồ

KHẨU QUYẾT 6: LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH, TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI

Hỏa hầu sùng chính đồ

Hành hỏa hầu pháp

Trường dưỡng thánh thai đồ

————-

Trinh tập

Anh nhi hiện hình đồ

KHẨU QUYẾT 7: ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ HẢI

Chân Không luyện hình

Thoát Ly khổ ải đồ

Đoan củng minh tâm đồ

KHẨU QUYẾT 8: DI THẦN NỘI VIỆN, ĐOAN CỦNG MINH TÂM

Hoá thân ngũ ngũ — Họa giang thành lộ

Khoá hạc lăng tiêu

Dương Thần xuất hiện đồ

KHẨU QUYẾT 9: BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI

Siêu xuất Tam Giới đồ

Tì Lô chứng quả đồ — Tĩnh thất phần hương đồ — Cấu diện bồng đầu đồ

—————-

《性命圭旨》序

余蚤歲暮道。夫海內有《性命圭旨》,稔聞,竊未 見其書也,如何?迨茲庚戌季春,獲輿閒、若濟二兄,見示圖冊,誦讀之暇,乃儀尹真人之高弟手筆。不然者,從何以識其書之所自哉?故嘗論道,每以《中和》、 《金丹》二集,物色真仙,為其玄宗書,污牛充煉,孿乳浸多,獨未見圖書兼該功夫次第,精意超格,炳若昌星,篾有如書雋永,真擬夫《龍虎》、《參同》、《悟 真》諸經合輒。嗟嗟琅函秘帙,學者著鞭,何慮非一超直入,業紹天師種,由色身而證法身,由生生而達無生,則理之相契,固如是疇克曰︰「小補之哉,雖然知而 修之,謂之聖人,知而不修,是謂愚人,此輿閒、若濟二兄之用心若此。而昕斯夕斯,融通妙諦,亟商取以鏤刊之。僅將盡天地人,頂蹤下針,掃除傍門陋習,撤退 三舍矣。」屬余序,聊述數言,應之以此。

康熙上章閹茂寎月谷旦紫中李朴書於 守中堂
DẪN NHẬP
Lời Tựa 1

性 命 圭 旨 序

Ta từ lúc trẻ đã mộ đạo, và đã biết rằng trong nước có bộ TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ. Nghe biết từ lâu, nhưng không biết nội dung sách đó ra sao.

Mãi đến cuối mùa Xuân năm Canh Tuất (1670), mới được hai anh Dư Nhàn và Nhược Tế trao tặng cho quyển sách này. Lúc rảnh đem ra đọc mới nghi là các cao đệ của Doãn Chân Nhân đã viết. Nếu chẳng vậy làm sao biết được xuất xứ của sách.

Trước đây, người ta thường lấy hai tập Trung Hoà và Kim Đơn để luận về cách tu luyện của các bậc Chân Tiên. Còn các sách bàn về Huyền Tông thì tuy chất đầy nhà, nhưng chưa thấy có quyển nào hay bằng quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ. Nó chỉ cho ta thứ tự của công phu tu luyện, cùng tinh nghĩa diệu lýù, sáng tỏ như ánh mặt trời. Những gì tối tăm, khó hiểu của Đơn Đạo đều được giảng giải, phơi bày ra trước mắt. Sách này cùng với sách Long Hổ, Chu Dịch Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Thiên cũng giống nhau. Thật đáng quí.

Học giả nếu quán thông được Tính Mệnh Khuê Chỉ sẽ có thể Siêu Phàm Nhập Thánh, trở thành Thiên Nhân Sư, có thể từ Sắc Thân mà chứng Pháp Thân, từ Sanh Sanh mà đạt Vô Sanh.

Tuy nhiên, biết được mà tu thì là Thánh Nhân, biết mà không tu thì là Phàm Nhân. Đó là dụng ý của hai huynh Dư Nhàn và Nhược Tế.

Hai huynh ngày đêm lo lắng, quyết đem áo diệu, chân đế của sách, in ra cho thiên hạ biết. Sách này bao gồm hết yếu lý trong thiên hạ.

Mong sách này sẽ diệt trừ được bàng môn tả đạo. Hai huynh nhờ tôi đề tựa sách này. Nên tôi viết ít lời để đáp ứng lại.

Tháng 3, Khang Hi năm thứ 9 (1670), nơi am Thượng Chương, Tử Trung Lý đề tựa.

———————–

《性命圭旨》不著撰人,相傳為尹真人高弟之手 筆也。向來行本絕少。殷君惟一藏弆有年,曹子若濟見而悅之,攜示周子輿閒,欣然共嘗,重授欹劂,則錢子羽振董其成焉。書竣,而問序於 余,余於斯道,蓋嚮往而來能至,何敢賛一辭,雖然竊有述焉。

自三教鼎立,異說聱牙,隱若敵國,日相撞也。是書獨揭大道而儒釋妙義,發揮旁通,要之以中,合之以 一,而盡性至命之理,殊途同歸,微獨柱下五千,隱括靡遺,並六十四卦,四十二章,無不累若貫珠矣。就道家論之,則有九十六種外道,三千六百旁門。好貨之 徒,喜談爐火,漁色之子,豔語彼家,固蝟鄙無足數已。即雄經鳥申,龍吟虎嘯,總屬形容,無關本體。近一方士,教人伏氣捻訣,頃刻開關,忽笑忽啼,四肢遙 戰,見者駭其風狂,而彼方詡為神術,良可哀矣。

是 書一掃繁蕪,務撮標本,致虛守靜,翕聚先天,其於撥邪返正,誠中流一壺也。至其精要,尤在《真意》一說。蓋人身真意,是為真土。動極而靜,此意屬陰,是為 己土;靜極而動,此意屬陽,次為戊土。煉己土者,得離日之汞,煉戊土者,得坎月之鉛,鉛汞己歸,金丹自結。戊巳者,重土之象也。斯其有取於《圭旨》乎?作 者深思,直與《黃庭》相表 裡。周子修而廣之,鼓聾發昧,功亦句矣。殷、曹二子俱善養生者,而 余雇微豐干饒舌,其亦莊生所云︰「言者不知也夫!」

時康 熙己酉孟夏吳門尤侗撰
Lời Tựa 2

Tính Mệnh Khuê Chỉ không có tác giả. Tương truyền là của Doãn Chân Nhân cao đệ. Xưa nay rất là hiếm thấy.

Ân Duy Nhất có được một bản giữ đã mấy năm. Tào Nhược Tế thấy sách này, yêu thích không lìa tay, đem cho Châu Dư Nhàn xem, thảy đều hân hoan, thưởng thức. Sách này được in khắc ra là do công lao của Tiền Vũ Chấn. Khi đã in xong, nhờ ta đề tựa. Với ta trình độ hiểu Đạo chưa đến nơi, đến chốn, làm sao dám đề lời. Tuy nhiên ta cũng có điều muốn nói.

Xưa nay, Nho Thích, Đạo ở thế chân vạc, đối lập lẫn nhau, công kích lẫn nhau, chỉ duy sách này là đề cao diệu Lý của Đạo gia, lại còn đem tinh ngôn, áo nghĩa của Nho, của Phật, nói rõ gót đầu, lấy Trung Hòa, Hỗn Nhất mà đem dung thông, hòa hợp, chỉ rõ lý: Tận tính, chí mệnh. Chỉ rõ chỗ Đồng qui nhi thù đồ của Tam Giáo. Lấy 5000 chữ Đạo Đức Kinh giải Đại đạo, rất là tinh mật, lại lấy Chu Dịch (Nho), lấy Tứ Thập Nhị Chương Kinh (Phật) mà giải, tất cả đều quán thông diệu lýù, như là xỏ chuỗi ngọc châu.

Xét về Đạo Giáo, nay có 96 thứ ngoại đạo, có 3600 bàng môn. Kẻ thích tiền thì bàn về thuật Luyện Kim, người ham sắc thì nói về bí quyết phòng the. Thật là tục tằn bỉ ổi, khó nói nên lời. Họ bàn về phép Đạo Dẫn (Dẫn Khí trong người) như: Hùng Kinh (gấu leo cây), Điểu thân (Chim xoè cánh) để dẫn khí, điều tức, hoặc Rồng ngâm, Cọp rống. Tất cả chỉ nói chuyện xác thân, hình tướng mà không biết gì về tu luyện bản thể.

Gần đây có vị phương sĩ dạy người Phục Khí, niệm quyết để khai thông Đốc Mạch trong khoảnh khắc, thoạt cười, thoạt khóc, tứ chi múa máy, dao động, trông rất dễ sợ, như kẻ điên cuồng, thế mà họ khoe khoang là Thần Thuật. Thật đáng thương thay.

Sách này muốn quét sạch mọi điều phiền tạp, chủ yếu là dạy: Chí Hư Thủ Tĩnh, Hấp Thụ Tiên Thiên. Chỗ cao nhất là bàn về Chân Ý.

Trong con người CHÂN Ý là CHÂN THỔ. Động cực thì Tĩnh. Ý mà Tĩnh thuộc Chân Âm. Gọi là KỶ THỔ.

Tĩnh cực thời động. Ý mà động thuộc Chân Dương. Gọi là MẬU THỔ.

Luyện KỶ THỔ (chỉ Nguyên Thần) thì sẽ được khí Hống trong quẻ LY. Luyện MẬU THỔ (chỉ Nguyên Khí) sẽ được khí Diên trong quẻ KHẢM.

Diên Hống qui tụ Đan Điền thì Kim Đơn kết. Khi đó con người sẽ được trường sinh.

MẬU KỶ như vậy gồm hai chữ Thổ. Do đó đặt tên sách là Khuê Chỉ. Chữ Khuê 圭 gồm hai chữ THỔ 土 .

Sách này ý nghĩa thâm sâu. Sánh với Huỳnh Đình Kinh như là hai mặt trong ngoài.

Chu Tử đã tu sửa sách này và làm sáng tỏ nghĩa lý ra, công lao thật là lớn lao. Ân, Tào hai vị đều tinh thông y thuật dưỡng sinh. Còn ta chỉ là kẻ nhiều lời.

Trang Tử nói: “Kẻ biết Đạo thì không nói, kẻ nói thì không biết Đạo.” (Tri đạo giả bất ngôn, ngôn giả bất tri Đạo).

Tháng Đầu mùa Hạ, Khang Hi bát niên, năm Kỷ Dậu (1669) nơi nhà họ Ngô, Vưu Đồng cẩn tự.

——————–

刻《性命圭旨》緣起

裡有吳思鳴氏,得《性命圭旨》於新安唐太史家, 蓋尹真人高弟所述也。藏之有年,一日出示豐干居士,居士見而悅之。謂其節次功夫,咸臻玄妙;而繪圖立論,尤見精工,誠玄門之秘典也。因相與公諸同志,欲 余一言為引。余從事聖俢,雅尚圓極一乘,不談此道久矣。以其所操說者,無非為色身許也。色身有限,法性無邊。

夫 安德大修行人,以法界為身者,而與之談性命哉。舍法界無性命,亦無身心,如法圓修,直紹人天師種,彼以七尺為軀,一腔論心者,維有修持,皆結業耳。 於一超直入無當焉。聞之師雲︰「修行法門有兩種︰一從法界歸攝色身;一從色身透出法界。從法界攝色身,《華嚴》尚矣;從色身出法界,《楞嚴》諸經有焉。 《圭旨》所陳,大都從色身而出者,夫果出法界矣,方且粉碎虛空,有甚身心可論?因旨日月,得道忘詮,是在善修者自契。居士流通之意,無亦見及此歟 。
余不負其流通善念,並思鳴氏寶藏初心,遂述緣起,質之有道。

萬曆 乙卯仲夏新安震初子佘永寧常吉書

KHẮC “TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ” DUYÊN KHỞI

Ngô Tư Minh, người đồng hương với tôi, được quan Đường Thái Sử ở Tân An, trao cho quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ, do cao đệ của Doãn Chân Nhân trước thuật. Họ Ngô giữ sách nhiều năm, một hôm đưa cho Cư Sĩ Châu Nguyên Phiêu đọc. Cư sĩ quí nó không rời tay, và cho rằng thứ tự công phu của sách, thật là cao siêu huyền diệu, có thể nói là thượng thừa. Đến như hình vẽ và lập luận, thì có thể xưng là Huyền Môn Bí Điển. Nhân đó đem sách công bố cho thiên hạ và nhờ tôi đề tựa.

Tôi xưa nay tu theo Phật giáo, đã lâu không bàn về Đạo giáo, vì lẽ Đạo giáo toàn bàn về Sắc Thân.

Sắc thân thì có giới hạn, còn Phật Pháp thì vô biên. Người tu hành Phật môn, lấy Phật Pháp làm thân, làm sao có thể bàn về Tính Mệnh với các Đan sĩ được.

Bỏ Phật Pháp thời không có Tính Mệnh, cũng không có Thân Tâm nữa. Phật Pháp mà tu hành đến chỗ viên mãn, thời kế thừa được Pháp Thân.

Huyền Giáo gọi thân là Thất Xích, gọi Tâm là Không Xoang, như vậy vẫn là Thực Hữu chi vật, chứ chưa phải là cái Không Vô của Phật Giáo. Tu trì như thế bất quá là thoát vòng duyên nghiệp chứ không thể vào được Phật Gia cảnh giới.

Thầy tôi nói: Tu hành có hai cách:

Một là: Từ Pháp giới qui nhiếp Sắc Thân.

Hai là: Do Sắc thân siêu xuất Pháp Giới.

Hoa Nghiêm dạy dùng Pháp Giới thu nhiếp sắc thân. Lăng Già Kinh dạy cách cho Sắc Thân siêu xuất Pháp giới.

Tính Mệnh Khuê Chỉ cơ bản dạy người từ Sắc Thân siêu xuất Pháp giới. Nếu thực sự dạy được người Xuất Thoát được cõi hiện tượng này, lên được cõi Hư Đãng, Không Vô, thì cần gì mà bàn tới Thân Tâm nữa? Đó chính là dùng tay chỉ trăng, được Đạo quên lới.

Quan trọng là người tu phải biết Khế hợp với Diệu Đạo.

Châu Cư Sĩ theo Huyền Môn lại nhờ tôi đề tựa, chứng tỏ giao tình của Ông đối với tôi. Đến như Ông Ngô Tư Minh là người chân thành khẩn khẩn, từ bao nhiêu năm đã giữ gìn quyển sách, tôi cũng chẳng dám phụ lòng. Tôi kể đầu đuôi duyên khởi để trình bày cùng người hữu đạo.

Giữa mùa Hạ, năm Ất Mão, đời Vua Vạn Lịch nhà Minh (1615)

Tân An, Chấn sơ Tí, ta Vĩnh Ninh Thường Cát đề.

—————————–

題 尹真人《性命圭旨》全書

是書出尹真人高弟手筆,蓋述其師之 意而全演之。中間所載諸圖說,及修行節次功夫,可謂詳且盡矣。玄家書污牛充煉,而真旨玄妙無逾此編。棲真者倘能藉此而入道,不亦希有事哉!

友人余常吉為明德宗孫,而於玄教不無少涉,抑謂 其所重者,我身即長生久視,終不離壽者相也,其見確已!乃獨於是書而引之諄諄,然指人一超直入,以紹人天師種,豈其無故而漫雲然?

夫有所受之也,則由長生而達生生,以生生而證無 生,奚不可者。殊途同歸,百慮一致,道豈有二乎哉?高皇論三教雲︰「天下無二道,聖人無二心。」大哉─皇言,斯其至矣!

凡為皇之民者,一意憲章,莫敢倍上可也。嗟嗟世人,流浪生死。輒置性命於罔顧,得此為之一警覺焉。其有造於身心者不少矣。書院流通,真人師弟,定必加 特賛嘆。

仁文主人鄒元標書

Đề Doãn Chân Nhân TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ toàn thư

Sách này do cao đệ của Doãn Chân Nhân viết ra. Chép lại và quảng diễn ý thầy. Trong đó trong đó có nhiều hình vẽ dạy thứ tự công phu tu luyện, có thể nói là tường tận. Đơn Kinh của Huyền Gia ngày nay đầy rẫy, nhưng mà trực tiếp nói lên được vi diệu của Đạo thời duy có sách này. Người Tu Chân dùng sách này mà thông đạt được Đại Đạo, thì tốt biết bao.

Bạn tôi Dư Thường Cát, là một minh sư tông tôn. Đối với Huyền Giáo không mấy coi trọng. Vì cho rằng Huyền Giáo chỉ trọng Thân Mình, nghĩa là muốn trường sinh vẫn không lìa được thân mình. Thế là chưa lìa được Hình Tướng. Mà cảnh giới tối cao của Phật Giáo là siêu xuất Hình Tướng để đạt cảnh giới Hư Không. Ông đích xác nói thế. Đối với sách này Ông thành khẩn nói lên điều đó. Tuy nhiên Ông nhận rằng con người có thể vào được cõi Phật Gia Thánh Giới. Nếu không chẳng lẽ người xưa nói vô căn cứ hay sao.

Đạo giáo cho rằng: Có biết trường sinh mới hiểu được Luân Hồi, có biết Luân Hồi mới hiểu được Vô Sinh. (Đạo giáo gọi cách tu luyện và thứ tự tu luyện như vậy là Thuận Tu, nghĩa là từ Hữu nhập Vô, từ Thực tới Hư). Cách tu luyện như vậy có gì không đúng đâu? Thiên hạ vạn vật Thù đồ đồng qui, thiên hạ vạn sự Bách lự nhất trí. Mục đích là một, nhưng thủ đoạn dùng có thể thiên sai vạn biệt. Đạo (tức chân lý) chỉ có thể có một.

Cao Hoàng luận về Tam Giáo, có viết: Thiên hạ vô nhị Đạo, Thánh Nhân vô nhị tâm 天下 無 二 道 聖
人 無 二 心 . Thật là vĩ đại. Thế là toàn bộ Đạo Lý, tinh hoa vi diệu đã nói ra hết. Ai là con Trời thì phải nhất tâm, nhất ý thuận theo Thiên Đạo, không được bao giờ sai.

Than ôi, con người luân lạc trong vòng sinh tử, nên coi thường Thiên Mệnh Nguyên Tính. Đọc được sách này như tiếng chuông cảnh tỉnh rất ích lợi cho thân tâm.

Sách này lưu thông, Doãn Chân Nhân sư đệ ở dưới cửu tuyền có thể niệm tụng và tán thán.

Nhân Văn chủ nhân, Châu Nguyên Phiêu đề.

——————-
性命雙修萬神圭旨

元 集

大道說

金臺玉局繞丹 雲,上有真人稱老君。八十一化長生訣,五千餘言不朽文。
六經刪定古文章,洙泗源深教澤長。繼往開來參造化,大成至聖文宣王。
陀羅門啟真 如出,圓覺海中光慧日。靈山會上說真言,滿舌蓮花古文佛。
(三 聖圖)

NGUYÊN TẬP
1. TAM THÁNH ĐỒ 三 聖 圖

Đồ bản này có một đôi Liễn, và ba bài thơ ca tụng Thích Ca, Lão tử, Khổng tử.

Đôi Liễn viết:

*Câu 1:-

具 大 總 持 門 若 儒 道 釋 之 度 我 度 他 皆 從 這 裡

Cụ đại Tổng trì môn, nhược Nho, Đạo, Thích chi độ ngã, độ tha giai tòng giá lý.
(Gồm Đại Tổng Trì Môn, nếu Nho Lão Thích muốn độ người độ ta, đều dùng cách này.)

*Câu 2:-

能 知 真 實 際 而 天 地 人 之 自 造 自 化 只 在 此 中
Năng tri chân thật tế, nhi thiên địa nhân chi tự tạo, tự hoá, chỉ tại thử trung.
(Có thể biết rõ thực tế và cách trời đất người tự tạo tự hoá, chỉ thấy trong đây.)

Ba bài thơ như sau:

Đà La Môn khải, Chân Như xuất, 陀 羅 門 啟 真 如 出

Viên giác hải trung, quang tuệ nhật. 圓 覺 海 中 光 慧 日

Linh Sơn hội thượng thuyết Chân Ngôn, 靈 山 會 上 說 真 言

Mãn thiệt Liên Hoa cổ văn Phật. 滿 舌 蓮 花古 文 佛

*Dịch:-
Đà La Môn mở Chân Như hiện,

Tuệ Nhật toả ra trong Biển Giác

Trên núi Linh Sơn giảng Chân Ngôn,

Lời ngát hương sen, của cổ Phật.

*

Kim Đài, Ngọc cục nhiễu đồng vân, 金 臺 玉 局 繞 彤 雲

Thượng hữu Chân Nhân xưng Lão Quân. 上 有 真 人 稱 老 君

Bát Thập Nhất hoá Trường Sinh quyết, 八 十 一 化 長 生 訣

Ngũ thập dư ngôn bất hủ văn. 五 十 餘 言不 朽 文

*Dịch:-
Hồng Vân quấn quít lấy Kim Đài.

Chân Nhân trên đó chính Lão quân.

Sách 81 chương truyền bí quyết,

Năm chục nghìn lời chẳng uổng phai.

*

Lục Kinh san định cổ văn chương, 六 經 刪 定 古 文 章

Thù, Tứ nguyên thâm, giáo trạch trường. 洙 泗 源 深 教 澤 長

Kế vãng khai lai tham Tạo Hoá, 繼 往 開 來 參 造 化

Đại thành chí thánh Văn Tuyên Vương. 大 成 至 聖 文 宣 王
*Dịch:-

Lục Kinh san định cổ văn chương,

Hai Sông Thù Tứ chảy miên trường.

Tham đạt Hoá Công, soi vạn Thế,

Đại thành chí thánh Văn Tuyên Vương.

————

大道說

庖羲上聖,畫八卦以示人,使萬世之下,知有養生之道。

廣成子謂黃帝曰:至陰肅肅,至陽赫赫。赫赫發乎 地,肅肅出乎天。我為汝遂於大明之上矣,至彼至陽之原也;為汝入於穹冥之門矣,至彼至陰之原也。

軒轅再拜曰:廣成子之謂天矣。

周公繇易曰:君子終日乾乾。

孔子翼曰:終日乾乾,反復道也。

夫道也者,位天地、育萬物,曰道;揭日月、生 五行,曰道;多於恒河沙數,曰道;孤則獨無一侶,曰道;直入鴻蒙而還歸溟滓,曰道;善集造化而頡超聖凡,曰道;目下機境未兆而突而靈通,曰道;眼前生殺分 明而無能逃避,曰道;處卑污而大尊貴,曰道;居幽暗而極高明,曰道;細人刹塵,曰道;大包天地,日道:從無入有,曰道;作佛成仙,曰道。佛經五千四十八 卷,也說不到了處;中庸三十三章,也說不到窮處;道德五千餘言,也說不到極處。道也者,果何謂也?一言以定之,曰炁也。

原夫一炁蟠 集,溟溟滓滓,窅窅莫測,氤氳活動,含靈至妙,是為太乙,是為未始之始。始也,是為道也,故曰無始。

夫天地之有始也,一炁動盪,虛 無開合,雌雄感召,黑白交凝,有無相射,混混沌沌,沖虛至聖,包元含靈,神明變化,恍惚立報,是為太易,是為有始之始。始也,是謂道生一也,是曰元始。

夫天地之太極也,一炁斯析,真宰自判,交映羅列,萬靈肅護,陰陽判分,是為太極,是謂一生二也,是曰虛黃。

陰陽既判,天地位焉, 人乃育焉,是謂二生三也,是曰混元。

陽之清者,升上而煥麗也,則日月星辰在焉。故天左運,三光右旋。陽之清者,騰上而會于陽也,故 風雲動而雷雨作焉。陰之濁者,重滯而就地也,則海嶽奠峙而五穀草木昌焉。故岩岫出雲,山澤通氣。陰陽之氣閉而不通也,則雪霜結而凍冰焉。陰之濁者,積冱而 下凝也,穴岩幽藏而深邃,故五穀八石以錯雜焉。天地之中,陰陽正氣之所交也,聖人焉,仙佛焉,庶民焉,賢愚壽夭,實所宰焉。胎卵濕化,無所息焉。是為六合 也,是謂三生萬物也。

人稟氤氳之氣而生,而長至於二八之年。則九三之陽乃純。當是時也,豈非上德之大人乎?忽天一朝,謀報渾敦之德 者至,乃日鑿一竅,則九三之陽,蹄驟奔蹶,而去之六二之中矣。由是乾不能純,而破於離;坤有所含,而實於坎。

若夫至聖神人,能知道 體太極之所以判,能知死生根本之所以始,能知乾坤陰陽之所以乘,能知天地玄牡之所以交,是以法乾坤之體,效坎離之用,振陰陽之柄,過生死之關,取坎中之 陽,填離中之陰,離陰既實,則複純白為乾矣。

斯時補足乾元,複全渾敦,以全親之所生,以全天之所賦,是為囫囫圇圇一個完人也。再加 向上功夫,精進不怠,則盆丹成而聖胎圓,聖胎圓而真人現。真人出現,變化無窮,隱顯莫測,而與鐘、呂、王、馬並駕,亦又何難?

ĐẠI ĐẠO THUYẾT

Thượng Thánh Bao Hi (Phục Hi) lập bát quái dạy người đạo Dưỡng Sinh.

Quảng Thành Tử nói với Hoàng đế: “Chí Âm lạnh lẽo, Chí Dương nóng nảy. Hàn lãnh sinh từ đất. Nóng nảy phát từ Trời. Ta giúp Ngài đạt cảnh giới Thái Dương, đạt tới căn nguyên của Chí Dương; giúp Ngài vào nơi tăm tối U Minh, đạt tới Căn nguyên của Chí Âm.” Hiên Viên (Hoàng Đế) tái bái và thưa: “Quảng Thành Tử thật thâm hiểu lẽ tự nhiên, thật là Trời vậy.”
Chu Công viết trong Hệ Từ: Quân Tử chung nhật kiền kiền. 君子終日乾乾
Khổng Tử viết trong Thập Dực:
Chung nhật Kiền kiền, phản phục Đạo dã. 終日乾乾, 反復道也

ĐẠO LÀ GÌ?

Đạo là cái gì Lập Thiên Địa, làm cho Trời đất được chính ngôi chính vị, làm cho muôn vật được dưỡng dục, cho mặt trời mặt trăng sáng láng, cho Ngũ Hành sinh hóa, đó là Đạo.
Nhiều thì vô số như cát sông Hằng, cô đơn thì không có ai làm bạn lữ. Đó là Đạo. Nhập vào Hồng Mông rồi lại trở về Minh Tể, đó là Đạo.
Làm mọi việc của Hóa Công nhưng cũng siêu phàm nhập thánh được. Đó là Đạo.
Trước mắt tình hình chưa rõ, mà đột nhiên Linh thông được. Đó là Đạo. Trước mắt thấy chết, không sao thoát được. Đó là đạo.
Ở nơi thấp hèn, đê tiện nhưng vẫn đại tôn quí, đó là Đạo. Ở nơi u minh, vẫn cực cao minh, đó là Đạo. Nhỏ chui lòng bụi, lớn trùm trời đất, đó là Đạo. Từ Vô nhập Hữu, là Đạo. Tác phật, thành Tiên đó là Đạo.

ĐẠO SINH RA VẠN VẬT CÓ THỨ TỰ, TUẦN TIẾT

Truy tới bản nguyên, do một khí ngưng tập, hỗn hỗn mang mang, thâm thúy khôn lường, tương hỗ tác dụng mà hoạt động, hóa sinh, bao hàm vạn Linh, tận kì thần diệu. Đó là NGUYÊN KHÍ, đó là trạng thái của một vật bắt đầu khởi thủy. Đó là Đạo. Thế gọi là VÔ THỦY.

Khi trời đất bắt đầu, thì một khí động đãng, Hư Vô khai hợp, Sống Mái cảm chiêu, Hắc Bạch ngưng tụ, Hữu Vô hỗ tương tác dụng, hỗ tương chuyển hoán, đạm bạc hư tĩnh, chí thánh, chí thần, ảo diệu, linh thiêng, thần minh biến hóa. Giữa cái mơ màng hoảng hốt đó, sinh ra phép tắc tự nhiên cho vũ trụ. Đó gọi là THÁI DỊCH. Đó là CÁI BẮT ĐẦU. Thế gọi là Đạo sinh Nhất. Thế là NGUYÊN THỦY.

Bản Nguyên Trời – Đất là THÁI CỰC. Một khí chia hai. Thế là thế giới tự nhiên tùy tiện phân hóa. Phân thành ÂM – DƯƠNG. Thế là THÁI CỰC. Thế là Nhất sinh Nhị 一生二 . Thế là HƯ HOÀNG 虛皇.

Âm dương đã tách biệt, thế là có Trời – Đất, có con người. Thế là Nhị sinh Tam 二生三 . Thế là HỖN NGUYÊN 混元.
Khí Dương khinh thanh bay lên, sáng láng, rực rỡ, sinh ra Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần thì xoay phải.

Khí Dương trong sáng bay lên hợp với Trời. Cho nên có Phong, Vân, Lôi, Vũ.

Âm khí trọng trọc, ngưng trệ xuống đất, thành sông biển, thành núi non, thành ngũ cốc, thảo mộc tốt tươi.
Hang núi sinh mây, sơn trạch thông khí. Nếu Âm Dương bế kết không giao nhau thì có sương tuyết, và lạnh đóng thành băng. Âm khí trọng trọc sẽ ngưng đọng và ngưng tụ xuống dưới, sẽ đóng vào hang động, và ta có Ngũ cốc, Bát thạch. (Bát thạch là những chất Liệu Đơn gia dùng luyện đơn. Đó là: Đơn Sa, Hùng Hoàng, Thư Hoàng, Không Thành, Lưu Hoàng, Vân Mẫu, Nhung Diêm, Tiêu Thạch).

Trong cõi trời đất này, chính khí Âm Dương giao hoán sinh ra Thánh, Hiền, Tiên, Phật, thứ dân, hiền ngu, thọ yểu, các loài do Thai Noãn Thấp Hóa (như Người, Thú vật (thai), chim chóc, cá rùa (Noãn), các loài sâu bọ như trùng, yết (Thấp), hay tự nhiên xuất hiện như Chư Thiên, Địa ngục (Hóa)). Thế là tam sinh Vạn vật 三生萬物.

奈何 世人不明此道,盛不知養,衰不知救,日復一日,陽盡陰純,死而為鬼。故紫陽真人曰:嗟夫!人身難得,光陰易遷,罔測修短,安逃業報?不自及早省悟,唯只甘 分待終。若臨期一念有差,立墮三塗惡轍,則動經塵劫,無有出期。當此之時,雖悔何及?

故三教聖人,以性命學開方便門,教人熏修,以 脫生死。

儒家之教,教人順性命以還造化,其道公。

禪宗之教,教人幻性命以超大覺,其義高。

老氏之教,教人修性命而得長生,其旨切。

教雖分三,其道一也。

儒之聖教曰:安汝止,欽厥止,艮其止,止其 方,緝熙敬止,在止至善。黃中通理,正位居體,思不出位,立不易方,居天下之廣居,立天下之正位,行天下之大道。渾然在中,粹然至善。誠盡處腔子,裏樂處 方寸。神明之舍,道義之門,活潑潑地,樂在其中。肫肫其仁,淵淵其淵,浩浩其天,天下歸仁,退藏於密,保思何慮之天,不識不知之地。難以悉紀,要而言之, 無非為此性命之道也。

道之玄教曰:玄牝之門,天地之根,生身處,複命關,金丹之母,玄關之竅,凝結之所,呼吸之根。甲乙壇,戊己 門,心源性海,靈府靈台蓬萊島。朱砂鼎、偃月爐、神室,氣穴、土釜、穀神、靈根、把柄、坎離交媾之鄉,千變萬化之祖,生死不相關之地,鬼神覷不破之機。難 以悉紀,要而言之,無非為此性命之道也。

釋之禪教曰:不二法門、甚深法界、虛空藏、寂滅海、真實地、總持門。彼岸、淨土、真境心他 極樂國。如來藏、舍利子、菩薩地、光明藏、圓覺海、般若岸、法王城、西方、天堂、空中、真際、這個、三摩地、華藏海,陀羅尼門、不動道場、波羅蜜地,難以 悉紀。要而言之,無非為此性命之道也。

儒曰:存心養性。道曰:修心煉性。釋曰:明心見性。心性者,本體也。

懦之執中者,執此本體之中也。道之守中者,守此本體之中也。釋之空中者,本體之中本洞然而空也。

道之得一者,得此本體之一也。釋之 歸一者,歸此本體之一也。儒之一貫者,以此本體之一而貫之也。

餘於是而知:不執中、不一貫,其成聖而孔子乎?不守中,不得一,其能 玄而老子乎?不空中、不歸一,其能禪而釋迦乎?唯此本體。以其虛空無朕,強名曰中;以其霹出端倪,強名曰一。言而中即一之藏也,一即中之用也。

故天得此而天天,地得此而地地,人得此而人人。而天地人之大道,原於此也。

皇得此而皇皇,帝得此而地地,王得此而王王。而皇帝王 之大道,原於此也。

聖得此而聖聖,玄得此而玄玄,禪得此而禪禪。而聖玄禪之大道,原於此也。

帝皇之得道者, 若羲農、黃帝焉。仕隱而得道者,如老、莊、關令焉。侯王而得道者,若子房、淮南焉。山岩而得道者,若鐘、呂、希夷焉。

道之在天地 間,成仙作佛者,歷歷不可以指數也。伏睹總仙之傳,始知自古以來沖舉者十萬餘人,拔宅者八千餘處。奇若子晉之驂鸞、琴高之控鯉,壽若李脫之八百、安期之三 千。或住世而留形,或厭世而屍解。複有道成而隱,但為身謀,不肯遺名於世間者、豈勝道哉?是以深山妙窟,代不乏人,或隱或顯,寧具知乎?

古之王公大人,折節下士,只為有道存爾。周子曰:天地間,至尊者道,至貴者德,至難得者人。人而至難得者,道德有於身而已矣。
SỐNG TRONG ĐỜI, BẢN TÍNH TRỜI CHO ĐÃ MẤT SỰ TINH TOÀN, HOÀN THIỆN, CON NGƯỜI PHẢI BIẾT CÁCH TU SỬA LẠI CHUYỆN ĐÓ BẰNG PHƯƠNG PHÁP “THỦ KHẢM ĐIỀN LY”

Con người nhờ Âm Dương nhị khí hun đúc mà sinh trưởng. Khi tròn 16 tuổi, thì Cửu Tam chi Dương đã thuần, nên cũng sánh được với người Đại Nhân, Thượng Đức. Nhưng một ngày kia, con người càng ngày càng đục đẽo Thiên Chân, Hỗn độn, nên quẻ Kiền không còn tinh thuần, mà biến thành Ly có hào âm ở giữa, và quẻ Khôn cũng biến thành Khảm…

Chí thánh, Thần Nhân, hiểu biết lý do sa đọa của con người: sa đọa vì Kiền đã mất một hào dương và đã biến thành Ly, nên tìm ra cách Thủ Khảm Điền Ly, thay hào Âm quẻ Ly bằng hào Dương quẻ Khảm, cho Ly trở thành Thuần Kiền như cũ.

Thế là bổ túc được Kiền Nguyên, phục hoàn được Hỗn độn, làm toàn vẹn lại được bản tính phú bẩm của Trời, khiến con người trở nên hoàn toàn lại. Cứ thế mà tinh tiến, sẽ được Kim đơn, thành Thánh Thai, và Chân Nhân sẽ hiện, biến hóa vô cùng, ẩn hiện khôn lường, sánh vai cùng Hán Chung Ly, Lữ Động Tân, Vương Trùng Dương, Mã Đơn Dương có khó chi đâu?

Bởi người ta không biết đạo ấy, nên lúc Dương khí còn thịnh tráng thì không biết bảo dưỡng, khi Dương khí đã suy thì không biết cách bổ cứu. Ngày qua tháng lại, Dương khí tận kiệt, Âm khí thịnh mãn, chết đi thành quỷ. Cho nên Tử Dương Chân Nhân nói: “Thương thay! Thân người khó được, thời gian mau qua, không biết tu trì, làm sao thoát nghiệp báo. Nếu không sớm tỉnh ngộ, chỉ cam tâm chờ chết, lúc đó một niệm mà sai, thì sẽ nhập tam đồ, ác triệt (Tam Đồ là: Hỏa đồ, Huyết đồ, Đạo đồ hay Địa ngục đạo, Súc sinh đạo, Quỉ đạo). Giả như có kinh qua vạn thế, cũng không thể siêu thoát. Có hối cũng muộn.”
CON ĐƯỜNG TU TÌM HIỂU TÍNH MỆNH, TÌM HIỂU BẢN THỂ CON NGƯỜI
MÀ BẢN THỂ LÀ THÁI CỰC, LÀ TÂM TÍNH.
Cho nên Tam giáo thánh nhân lấy cái học Tính Mệnh dạy đời. Dạy người tu luyện để siêu xuất sinh tử.
Đạo Nho dạy Thuận Tính Mệnh để trở về với Tạo Hóa. Lý luận thế là đúng công đạo vậy.

Thiền tông dạy coi Tính Mệnh là hư ảo, để đạt Đại giác, Đại ngộ, nghĩa lý đó cũng cao diệu.

Lão Tử dạy: Tu Dưỡng Tính Mệnh để đạt Trường Sinh. Những lời lẽ đó thật thiết tha và hợp Nhân ý. Giáo tuy chia Ba, nhưng Đạo Lý là một vậy.

Nho giáo thánh nhân dậy: An nhữ chỉ, Khâm quyết chỉ, Cấn kỳ chỉ, Chỉ kỳ sở, Tập hi kính chỉ, Tại chỉ chí thiện; Hoàng Trung thông lý, Chính vị cư thể, Tư bất xuất vị; Lập bất dịch phương; Cư Thiên Hạ chi quảng cư; Lập Thiên hạ chi chính vị; Hành thiên hạ chi đại đạo, Hồn nhiên tại Trung; Túy nhiên chí thiện; Thành tận xứ xoang tử lý; Lạc xứ phương thốn; Thần Minh chi xá; Đạo nghĩa chi môn; Hoạt bát bát địa, Lạc tại kì trung; Chuân chuân kì Nhân, Uyên uyên kì Uyên; Hạo hạo kì Thiên; Thiên bất quí nhân; Thoái tàng vu mật; Hà tư hà lự chi Thiên; Bất thức bất tri chi địa,…

安汝止,钦厥止,艮其止,止其所,缉熙敬止,在止至善。黄中通理,正位居体, 思不出位,立不易方,居天下之广居,立天下之正位,行天下之大道。浑然在中, 粹然至善。诚尽处腔子里,乐处方寸。神明之舍,道义之门,活泼泼地,乐在其中。肫肫其仁,渊渊其渊,浩浩其天,天下归仁,退藏于密,何思何虑之天,不识不知之地…

Không thể kể xiết, tóm lại chẳng qua là dạy về: Tính Mệnh Chi Đạo .
Huyền giáo dạy: Huyền Tẫn chi môn, Thiên Địa chi căn; Sinh thân xứ; Phục mệnh Quan, Kim Đơn chi mẫu, Huyền Quan chi khiếu, Ngưng kết chi sở, Hô Hấp chi căn, Giáp Ất đàn, Mậu Kỷ môn, Tâm Nguyên, Tính Hải, Linh Phủ, Linh Đài, Bồng Lai đảo, Chu Sa đỉnh, Yển Nguyệt Lô, Thần Thất, Khí Huyệt, Thổ Phủ, Cốc Thần, Linh Căn, Bá Bính, Khảm Ly giao cấu chi hương, Thiên Biến Vạn Hóa chi tổ, Sinh Tử Bất tương quan chi địa, Quỉ Thần khuy bất phá chi cơ, không thể chép hết. Nói tóm lại, vẫn là bàn về Tính Mệnh Chi Đạo .

玄牝之门,天地之根,生身处,复命关,金丹之母,玄关之窍,凝结之所,呼吸之根。甲乙坛,戊己门,心源,性海,灵府,灵台,蓬莱岛。朱砂鼎、偃月炉、神室,气穴、土釜、谷神、灵根、把柄、坎离交媾之乡,千变万化之祖,生死不相关之地,鬼神觑不破之机。

Thiền giáo nói: Bất Nhị Pháp Môn, Thậm Thâm Pháp Giới, Hư Không Tạng, Tịch Diệt Hải, Chân Thật Địa, Tổng Trì Môn, Bỉ Ngạn, Tịnh Thổ, Chân Cảnh Tâm Địa, Cực Lạc Quốc, Như Lai Tạng, Xá Lợi Tử, Bồ Tát Địa, Quang Minh Tạng, Viên Giác Hải, Bát Nhã Ngạn, Pháp Vương Thành, Tây Phương, Thiên Đường, Không Trung, Chân Tế, Giá Cá, Tam Ma Địa, Hoa Tạng Hải, Đà La Ni Môn, Bất Động Đạo Tràng, Ba La Mật Địa…

不二法门、甚深法界、虚空藏、寂灭海、真实地、总持门。彼岸、净土、真境心他,极乐国。如来藏、舍利子、菩萨地、光明藏、圆觉海、般若岸、法王城、西方、天堂、空中、真际、这个、三摩地、华藏海,陀罗尼门、不动道场、波罗蜜地。

Không thể kể hết. Tóm lại cũng bàn về Tính Mệnh Chi Đạo .
Nho nói: Tồn Tâm dưỡng tánh, Đạo nói: Tu Tâm Luyện Tính, Thích nói: Minh Tâm kiến Tính, Tâm Tính chính là bản thể.

TU LÀ THỰC HIỆN HAI CHỮ TRUNG, NHẤT (THỦ TRUNG)

Nho nói: chấp trung 執中 là chấp cái Trung của bản thể. Đạo nói: thủ Trung 守中, là giữ cái Trung của bản thể. Thích nói: không trung 空中, nghĩa là trong bản thể vốn không có gì. Đạo nói Đắc Nhất 得一, là được cái Nhất của bản thể đó; Thích nói Qui Nhất 歸一, là quay về cái Nhất của bản thể đó; Nho nói Nhất Quán 一貫 là quán triệt cái Nhất của bản thể đó.

Chúng ta nhờ đó mà biết: Nếu chẳng Chấp Trung, chẳng Nhất quán, thì làm sao nên thánh được như Khổng Tử. Nếu chẳng Thủ Trung, chẳng Đắc Nhất thì làm sao mà Thông Huyền như Lão Tử; Nếu chẳng Không trung, quy nhất thì làm sao Thiền quán được để thành Như Lai?

Cũng là Một bản thể, nhưng thấy nó Hư Không Vô Trẫm thì cưỡng gọi là Trung; thấy nó hiện ra đầu mối thì cưỡng gọi là Nhất. Trung là kho chứa Nhất, Nhất là Dụng của Trung.

ĐẮC NHẤT

Cho nên Thiên được Nhất mà càng thêm cao đại, Địa được Nhất mà càng thêm rộng dày; Người được Nhất mà càng thêm hoàn mỹ; Hoàng được Nhất mà thêm vinh mỹ; Đế được Nhất mà càng nên thần thánh; Vương được Nhất mà càng nên hiền trí; Hoàng, Đế, Vương chi Đạo đều gốc ở đó. Nho Thánh được Đạo đó càng trở nên Linh chí; Đạo Huyền được đạo đó càng trở nên huyền ảo; Thiền được Đạo đó càng trở nên Tĩnh Tuệ. Thánh Huyền, Thiền chi đạo cũng gốc ở đó.
先 哲云:人身難得今已得,大道難明今已明。此身不向今生度,更向何生度此身?

世人不明此身虛幻,是四大假合之物耳。速如水上之漚,瞬若石中之火。人壽雖曰百年,迨其七十,固亦稀矣。

今以有限易摧之身,日逐 無涯不測之事。一息不來,倏然長往,命未告終,真靈已歿於別殼矣。當斯之時,雖榮居極品,祿享千鐘,家豐無價之珠,室富傾城之美,悉皆拋下,非已有也。所 有與于偕行者,平昔所作罪業而已。故曰:萬般將不去,唯有業隨身。

回光集雲:千年鐵樹開花易,一失人身再複難。

悟真篇雲:試問堆金等山嶽,無常買得不來麼?

呂純陽雲:萬劫千生得個人,須知前世種來因。速覺悟,出迷津,莫使輪回受苦辛。

張紫陽雲:休教燭被風吹滅,六道輪回莫怨天。

三夏斯語,能不恤然失乎?

夫人欲免輪回,而不墮於世綱者,莫 若修煉金丹,為升天之靈梯,超凡之徑路也。其道至簡至易,雖愚昧小人得而行之,亦立躋聖域。奈何世之修真者,志道而不專精,專精而不勤久,是以學者眾而成 者寡也。

尚書曰:知之非艱,行之唯艱。

道經曰:上士聞道,勤而行之。聞而不行,道安能成?

陳泥丸曰:我昔修行得真訣,晝夜功夫無斷絕。一朝行滿人不知,四面皆成夜光闕。

馬丹陽曰:師恩深重終難報,誓死環牆煉至真。

二公念生死事大,無常迅速,發勇猛心,辨精進力,若不立此大志,安能脫樊籠,而超霄漢者哉?

呂祖有雲:辛勤二三年,快活千萬劫。

蓋天有時而傾,地有時而陷,山有時而推,海有時而竭。唯道成之後,乘飛龍,駕紫霧,翱翔天外,逍遙虛空,數不得而限之,命不得而拘 之,真常本體,無有盡時,回顧世間之樂,何樂如之?

嘗稽道德經曰:雖珙壁以先駟馬,不如坐進此道。此予道之所由作也。

NHỮNG NGƯỜI ĐẮC ĐẠO XƯA NAY KHÔNG HIẾM.

Làm Hoàng, làm Đế mà đắc đạo thì có Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế. Ẩn cư mà đắc đạo thì có Lão Tử, Trang Tử, Quan Doãn; làm Vương hầu mà đắc đạo thì có Trương Lương, Hoài Nam; Ẩn cư sơn nham mà đắc đạo thì có Hán Chung Ly, Lữ Động Tân, Trần Đoàn.

Trong trời đất xưa nay, Tiên Phật nhiều vô số kể. Khảo sách vở thấy có hơn mười vạn người “bạch nhật thăng thiên”. Những người thành tiên đem cả gia quyến lên trời cũng có hơn 8 nghìn. Kì diệu hơn nữa: Tử Tấn cưỡi chim loan mà bay; Cầm Cao cưỡi cá chép chơi nơi vực thẳm; có người sống lâu như Lý Thoát hơn 800 tuổi, như An Kì Sinh 3.000 tuổi. Có người sống mãi trong dân gian; có người lịch thế rồi thì giải; có người đạo thành, thân thoái; tự lực cánh sinh, không lưu danh tại thế. Làm sao nói cho hết. Có những người sống trong thâm sơn, hang động. Những người thể ấy, thế gian chẳng có thiếu chi. Họ ẩn hiện khôn lường không sao biết hết được.

ĐỢI KIẾP NÀO MỚI TU?

Xưa nay vương công, đại phu biết khuất thân đãi sĩ. Làm được như vậy, chính vì họ thông hiểu lẽ đạo.
Chu Tử nói: Trong trời đất, chí tôn là Đạo, chí quý là Đức, nan đắc là người. Người sở dĩ khó được là vì phải gồm thâu đạo đức trong mình.

Tiên Triết nói:

Nhân thân nan đắc, kim dĩ đắc, 人身难得今已得,
Đại đạo nan minh, kim dĩ minh. 大道难明今已明。
Thử thân bất hướng kim sinh độ, 此身不向今生度,
Cánh hướng hà sinh độ thử thân? 更向何生度此身?

Thân người khó được, nay đã được,
Đại đạo khó hay, nay đã hay.
Thân này chẳng hướng kiếp này độ,
Đợi đến kiếp nào, mới độ đây?

Người đời không hiểu rõ thân này là hư ảo, đó chỉ là Tứ Đại Giả Hiệp mà thôi. Một kiếp người qua mau như bọt nước, như lửa xẹt trong đá, bừng lên rồi tắt ngay. Con người có thể sống tới trăm tuổi, nhưng sống tới 70 đã thấy hiếm.

Nay mọi người dùng cái thân dễ bị hư hoại của mình, để bôn ba tìm cầu những gì bất trắc. Một khi hết thở là chết mất luôn. Mệnh chưa cáo chung, mà Chân Linh đã đầu thai vào xác khác.

Trong khi đó tuy vinh hoa cực phẩm, lộc hưởng nghìn chung, nhà cửa khang trang mỹ lệ, đầy châu báu, ngọc ngà, cũng đều phải bỏ lại, đâu phải của ta. Chỉ còn có một cái đem theo được đó là tội nghiệp của ta. Cho nên nói: Cái gì cũng không đem theo được, chỉ có Nghiệp theo mình.

Hồi Quang Tập có câu:

Thiên niên thiết trụ hoa khai dị, 千年铁树花开易
Nhất thất nhân thân, tái phục nan. 一失人身再复难

Ngàn năm cây sắt nở hoa dễ,
Một thân đã mất, khó mà tìm.

Ngộ Chân Thiên có câu:

Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc 试问堆金等山岳
Vô thường mãi đắc bất lai ma? 无常买得不来么?

Bạc vàng ví chất cao như núi,
Nhưng quỷ Vô Thường mua nổi không?

Lữ Thuần Dương viết:

Vạn kiếp thiên sinh đắc cá nhân, 万劫千生得个人
Tu tri tiên thế chủng lai nhân. 须知先世种来因
Tức tốc giác ngộ, xuất mê tân, 即速觉悟出迷津
Mạc sử luân hồi thọ khổ tân. 莫使轮回受苦辛。

Muôn kiếp ngàn đời được cá nhân,
Mới hay kiếp trước đã gieo nhân,
Hãy thoát mê tân, mau giác ngộ
Tránh khỏi luân hồi, khỏi khổ tân.

Trương Tử Dương nói:

Hưu giáo chúc bị phong xuy diệt, 休教烛被风吹灭
Lục đạo luân hồi mạc oán thiên. 六道轮回莫怨天

Đuốc kia sao gió đừng thổi tắt,
Sáu nẻo Luân Hồi chớ trách Trời!

Nói đi, nói lại một điều làm cho mọi người, hãi kinh, thất sắc. Người muốn thoát khỏi luân hồi, chẳng rơi vào lưới đời, không gì bằng tu luyện Kim đơn, đó là Thang Linh bắc lên Trời; đó là đường tắt để thoát phàm. Đạo ấy rất là giản dị. Dẫu tiểu nhân ngu muội, biết được mà tu, cũng có thể thành chánh quả.

Nhiều bậc chân tu, tuy để tâm tu đạo nhưng chẳng chuyên tinh, hay chuyên tinh mà không bền vững, cho nên con người tu thì nhiều, mà người thành đạt thì ít.

Kinh Thư viết: “Biết không khó, mà hành mới khó” 非知之艰,行之惟艰.
Đạo đức kinh viết: “Thượng sĩ văn Đạo, Cần nhi hành chi” 上士闻道,勤而行之。Người thượng đẳng khi nghe biết Đạo. Liền ân cần tiết tháo khuôn theo. (ĐĐK, 41).

Chỉ nghe mà không hành, làm sao thành Đạo được.

Trần Nê Hoàn viết:

Ngã tích tu hành đắc chân quyết, 我昔修行得真诀
Trú dạ công phu vô đoạn tuyệt. 昼夜功夫无断绝。
Nhất chiêu hành mãn nhân bất tri, 一朝行满人不知,
Tứ diện giai thành dạ quang quyết. 四面皆成夜光阙。

Ta xưa tu hành được chân quyết,
Đêm ngày công phu, không đoạn tuyệt,
Một hôm hành mãn không ai biết
Chỉ thấy hào quang sáng tứ vi.

Mã Đơn Dương viết:

Sư ân thâm trọng chung nan báo, 师恩深重终难报
Thệ tử hoàn tường luyện Chí Chân. 誓死环墙炼至真。

Ơn thày sâu rộng sao đền đáp
Nguyện xin Diện Bích luyện Chí Chân.

Lữ tổ nói:

Tân cần nhị tam niên 辛勤二三年
Khoái hoạt thiên vạn kiếp 快活千万劫。

Khổ sở một vài năm
Sung sướng muôn vạn kiếp.

Trời có khi cũng bị nghiêng đổ, đất có khi cũng bị sụt tan; núi có khi cũng bị kiệt; biển có khi cũng bị cạn. Chỉ có tu thành đạt Đạo, mới có thể cưỡi gió, cưỡi rồng, cưỡi mây tím, ngao du ngoài trời, tiêu diêu nơi hư không. Vận số không hạn chế được ta. Chân thường bản thể ta sống lâu vô hạn; nhìn lại cái vui trần tục thì có gì gọi là vui?
Đạo Đức Kinh viết:

Cố lập thiên tử dĩ chí tam công, tuy hữu củng bích, dĩ tiên tứ mã, bất như tọa tiến thử Đạo. 故立天子以至三公, 虽有拱壁以先驷马,不如坐进此道

Cho nên đã tiếng vua quan,
Phải đâu rỡn ngọc, đùa vàng trêu ngươi.
Phải đâu tứ mã rong chơi,
Vua quan cốt để tiến Trời vào thân.
——————–

CHÚ GIẢI

[1] Đại cương trong đoạn này, Nho Giáo dạy: Phải biết ngừng nơi Chí Thiện; Đừng lo gì không thuộc phạm vi bổn phận mình. (Xem Đại Học 1; Kinh Dịch quẻ Cấn; Trung Dung, chương 14. v.v…)

Kẻ Trượng phu ở trong đức Nhân là chỗ rộng rãi nhất trong thiên hạ, đứng trên đức Lễ là chỗ đứng chính đáng nhất trong thiên hạ; noi theo đức Nghĩa là là con đường to lớn nhất trong thiên hạ. (Mạnh Tử, Đằng Văn Công Chương cú hạ, Tiết 2)

Hiền nhân thông lý Trung Hoàng,
Tìm nơi chính vị mà an thân mình,
Đẹp từ tâm khảm xuất sinh
Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều.
Phát ra sự nghiệp cao siêu,
Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.

Dịch Kinh, Văn Ngôn, hào Lục Ngũ quẻ Khôn.

Như vậy nghĩa là ta chỉ việc nghĩ đến những gì đẹp đẽ nhất trong con người, tìm cho ra Bản Thể con người, ngừng lại nơi Chí Thiện.

Các Danh Từ trên đều là tên của Huyền Quan Nhất Khiếu hay Nê Hoàn Cung. Tức là chỉ đề cập đến Thái Cực hay Bản Thể trong con người.

Các danh từ trên đều có nghĩa như là Cõi Phật hay Niết Bàn, hay Bản Thể.
Đạo Đức Kinh, ch. 62.
BẢN ĐỒ TU TIÊN–TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ–性 命 圭 旨
性命說

夫學之大,莫大於性命。性命之說,不明於世之久矣。

何謂 之性?元始真如,一靈炯炯是也。

何謂之命?先天至精,一氣 氤氳是也。

然有性,便有命;有命,便有性。性命原 不可分。但以其在天,則謂之命;在人,則謂之性。性命實非有兩。況性無命不立,命無性不存,而性命之理,又渾然合一者哉。

故易曰: 乾道變化,各正性命。中庸曰:天命之謂命。此之謂也。

乃玄門專以氣為命,以修命為宗,以水府求玄立教。故詳言命而略言性,是不知性 也,究亦不知命。

禪家專以神為性,以修性為宗,以離宮修定立教。故詳言性而略言命,是不知命也,究亦不知性。

豈知性命本不相離,道釋原無二致。神氣雖有二用,性命則當雙修也哉。

賢人之學,存心以養性,修身以立命。聖人之學,盡性而至命。

謂性者神之始,神本於性,而性則未始神,神所由以靈。命者氣之始,氣本於命,而命則未始氣,氣所由以生。

身 中之精,寂然不動。蓋剛健中正,純粹精者存,乃性之所寄也,為命之根矣。

心中之神,感而遂通。蓋喜、怒、哀、懼、愛、惡欲者存,乃 命之所寄也,為性之樞矣。

性而心也,而一神之中炯。命而身也,而一氣之周流。故身心,精神之舍也。而精神,性命之根也。

性之造化,系手心。命之造化,系乎身。見解知識,出於心哉。思慮念想,心役性也。舉動應酬,出於身哉。語默視聽,身累命也。

命有 身累,則有生死。性受心役,則有去來。有生死,不能至命也。有去來,不能盡性也。

故盈天地間,皆是生氣,參贊兩間,化育萬物。其命 之流行,而不息者乎?蓋生之理,具於命也。盈天地間,皆是靈覺,明光上下,照臨日月。未始性,而能性我之性者,性之始也。未始命,而能命我之命者,命之始 也。

天竅圓而藏性,地竅方而藏命。稟虛靈以成性,中天地以立命。性成命立,其中有神。命蒂元氣,性根元神。潛神於心,聚氣於身。其 中有道。

性有氣質之性,有天賦之性;命有分定之命,有形氣之命。

君子修天賦之性,克氣質之性;修形氣之命, 付分定之命。分言之,則二;合言之,則一。其中有理。

TÍNH MỆNH THUYẾT
Ở đời, không học gì hơn là học về Tính mệnh. Nay người đời ít ai hiểu về Tính Mệnh

Tính là gì? Tính là NGUYÊN THỦY CHÂN NHƯ. Một điểm minh Linh của Tiên Thiên.

Mệnh là gì? Mệnh là một Khí chí tinh, chí thuần của Tiên Thiên.

Nhưng có Tính là có Mệnh. Có Mệnh là có Tính. Ở nơi Trời thì gọi là Mệnh; ở nơi người thì gọi là Tính. Tính và Mệnh không phải là hai. Thực sự, Tính mà không có Mệnh, thì không thể thành lập. Mệnh mà không có Tính thì không thể tồn tại. Tính Mệnh hỗn nhiên hợp nhất, và quan hệ với nhau.

Kinh Dịch viết:-

Kiền Đạo biến hóa các chính Tính Mệnh.
乾道變化各正性命

Cơ Trời biến hóa vần xoay,
Làm cho vạn vật thêm hay, thêm tình.
Kiện toàn Tính Mệnh của mình,
Giữ gìn toàn vẹn Tính lành Trời cho.
(Quẻ Kiền, Thoán truyện).

Trung Dung viết: Thiên Mệnh chi vị Tính 天命之謂性
Cả hai có cùng một ý nghĩa.

Huyền Môn Đạo gia cho rằng Mệnh là Khí. Lấy Dưỡng Mệnh làm tông chỉ. Thông qua Luyện Dưỡng Đơn Điền để cầu huyền, lập giáo. Cho nên nói rõ về Mệnh mà bàn sơ về Tính. Do đó mà chẳng biết Tính. Cuối cùng cũng không biết Mệnh.

Thiền gia cho rằng Thần là Tính. Lấy Dưỡng Tính làm tông chỉ. Lấy Ly cung để tu luyện lập giáo (dạy dân bài trừ tạp niệm, và tu Định, nhập Tĩnh), nên bàn nhiều về Tính mà nói sơ về Mệnh. Như vậy là không biết về Mệnh, cuối cùng cũng không biết về Tính. Có hay đâu Tính Mệnh không hề rời nhau. Thích – Đạo vốn không hai nẻo. Thần Khí tuy có hai công dụng, nhưng Tính Mệnh cần phải song tu, cần phải tu luyện đồng thời.

Cái học của hiền nhân là: Tồn Tâm để Dưỡng Tính, Tu Thân để lập Mệnh.

Cái học của Thánh nhân là: Tận Tính để Chí Mệnh. Gọi Tính là khai thủy của Thần. Tính là Thần chưa bắt đầu, nên Thần nhờ đó mà Linh. Mệnh là khai thủy của Khí. Khí gốc ở Mệnh. Mệnh là Khí chưa sinh. Khí do đó mà sinh ra. Tính trong thân người tịch nhiên bất động, vốn cương kiện trung chính, thuần túy. Tính này là nơi nương tựa của Khí. Tính cũng nương nhờ vào đó, và là căn bản cho Mệnh.

Thần trong tâm người nhờ cảm ứng mà thông linh. Ai cụ hỉ nộ ái ố dục là thất tình. Mệnh phải y cứ vào đó, và Tính phải lấy đó làm khu cơ.

Khi Tính chuyển hóa thành Tâm, thì Nguyên Thần từ trong tác dụng, khi Mệnh chuyển hóa thành Thân, thì Nguyên Khí từ trong vận động, cho nên Thân Tâm là sở cư của Tinh Thần mà Tinh Thần là căn bản của Tính Mệnh.
Tính mà hóa dục, biến thiên được là theo khẩu quyết của Tâm; Mệnh mà hóa dục biến thiên được là theo khẩu quyết của Thân.

Kiến giải, tri thức do Tâm mà ra. Tư lự niệm tưởng là do Tâm sai khiến Tính.

Cử động, ứng thù, xuất phát từ Thân. Ngữ mặc, thị thính, do Thân lụy Mệnh.

Mệnh bị Thân khiên lụy, nên có sinh tử; Tính bị Tâm sai sử nên không Khứ Lai.
Có sinh tử thì không Chí Mệnh được. Có Khứ Lai thì không Tận Tính được.

Cho nên đầy rẫy trong Trời Đất đều là Sinh Khí. Tham gia phụ giúp hai bên, hóa dục vạn vật. Đó là Mệnh lưu hành không ngừng nghỉ.

Cho nên đầy rẫy trong Trời Đất là Linh Giác. Hai vầng Nhật nguyệt sáng soi, đều là cái Tính rực rỡ đó. Linh giác vốn gốc ở Tính, khi chưa có Tính, thì Tính ta đã có. Đó là Tính bắt đầu. Khi chưa có Mệnh thì Mệnh ta đã có. Đó là Mệnh bắt đầu.

Thiên khiếu tròn mà tăng Tính. Địa khiếu vuông mà tăng Mệnh. Bẩm hư Linh mà thành Tính. Trung thiên địa mà lập Mệnh. Trong đó có Thần.
Thần tàng ở mũi, Mệnh nơi có Đan Điền. Thần tiềm phục ở Tâm, khí tụ kết ở Thân.

Mệnh gốc nơi Nguyên khí, Tính gốc nơi Nguyên Thần.
Tính có Khí Chất chi tính (Tính phàm phu), có Thiên phú chi tính (Tính Trời). (Khí chất chi tính là Hậu Thiên chi Tính, Thiên phú chi Tính là Tiên Thiên chi Tính).
Mệnh có phân định chi Mệnh, Hình khí chi Mệnh.

君子修天賦之性,克氣質之性;修形氣之命, 付分定之命。分言之,則二;合言之,則一。其中有理。

是以神不離氣,氣不離神,吾身之神氣合,而後吾身之性命見矣。性不離命,命不 離性,吾身之性命合,而後吾身未始性之性、未始命之命見矣。未始性之性、未始命之命,是吾之真性命也。我之真性命,即天地之真性命,亦即虛空之真性命也。

故聖賢持戒定慧而虛其心,煉精氣神而保其身。身保則命基永固,心虛則性體常明。性常明則無來無去,命永固則何死何生。況死而去者, 僅僅形骸耳。而我之真性命,則通晝夜、配天地,徹古今者,何嘗少有泯滅也哉。

嘗觀之草木焉,歸根複命,而性在其中矣。性而神也,則 花。花而實也,而命又在其中矣。自形中之神,以入神中之性,此之謂歸根複命。

又嘗譬之男女媾精焉,而一點之善,落於子宮者,氣合之 而為命也,而性即存於其間。其即一陰一陽之相搏,而一點落于黃中之中以成性。乃妙合而凝,不測之神乎?此之謂性命妙合。

奈妙合之道 不明,修世者遺命,且並率性之竅妙,不得而知之,矧能煉之乎?非流於狂蕩,則失於空寂,不知其命,末後何歸。修命者遺性,且並造命之功夫,不得而知之,知 能守之乎?

非執於有作,則失于無為。不知其性,劫運何逃?即二氏之初,亦豈如是乎?

吾聞釋迦生於西方,亦得 金丹之道,是性命兼修,為最上乘法,號曰金仙。

呂祖亦曰:只知性,不知命,此是修行第一病。只修祖性不修丹,萬劫陰靈難入聖。

豈但如今之導引者流,而以形骸為性命焉已哉。又豈但如今煉神煉氣者流,而以神氣為性命焉己哉。又豈但如今修性修命者流,而以性命為性命焉己哉。是皆不唯 無益於性命,而且有害於性命。不得性命之真,良可歎也。

故嘗論之,人在母腹,呼吸相會,是以母之性命為性命,而非自為性命。至於出 胞斷蒂,而後自為性命,然亦非真常之性命也。必於自為性命中,而養成乾元面目,露出一點真靈。

形依形,形不壞;神依性,神不滅。知 性而盡性,盡性而至命。乃所謂虛空本體,無有盡時。天地有壞,這個不壞,而能重立性命,再造乾坤者也。

故道家不知此,則謂之傍門; 釋氏不知此,則謂之外道,又焉能合天地之德,而與太虛同體哉?噫!至此而性命之說,無餘旨矣。

Người quân tử tu Tính Thiên Phú, khắc chế Tính Khí Chất. Tu mệnh Hình Khí mà khắc chế hậu thiên Phân Định chi Mệnh. Phân ra mà nói thì là hai, hợp lại mà nói thì là một. Nghĩa là Thần không lìa Khí. Khí không lìa Thần. Trong thân ta, nếu thần khí tương hợp thì Tính Mệnh trong ta sẽ thấy được.

Tính không lìa Mệnh, Mệnh không lìa Tính: Tính Mệnh trong thân ta mà tương hợp, thì cái Tính Tiên thiên của ta và cái Mệnh Tiên Thiên của ta sẽ thấy đuợc.

Tiên Thiên Tính và Tiên Thiên Mệnh là Chân Tính Chân Mệnh của ta. Chân Tính mệnh của ta là chân tính mệnh của trời đất, là chân tính mệnh của Hư không.

Nên thánh nhân tu trì Giới, Định, Tuệ để Hư Tâm, luyện Tinh, Khí Thần để Bảo thân. Thân bảo thì nền tảng của mệnh sẽ vững vàng, Hư tâm thì tính thể sẽ luôn sáng. Tính mà luôn sáng thì làm gì có Khứ Lai, Mệnh mà vững vàng thì làm gì có sinh tử? Cho nên chết đi là chết cái hình hài. Còn Chân Tính Mệnh của ta thì thông ngày đêm, phối Thiên địa, triệt cổ kim có bao giờ mất mát, tiêu diệt được?

Kìa xem cỏ cây, thấy chúng cũng Qui Căn Phục Mệnh: Tính là thần, cho nên sinh hoa, kết quả và Mệnh cũng ở trong đó. Thần trong Hình, nhập vào Thần trong Tính, nên gọi là Qui Căn Phản Bản.

Lại thường ví như nam nữ cấu tinh: nhất điểm nam tinh, lọt vào tử cung, hợp với Khí mà thành Mệnh, mà Tính của nó cũng ở trong đó. Thế là một âm một dương tương bác, mà một điểm rơi vào Huỳnh Trung (Đan Điền) mà sinh ra Tính, bèn diệu hợp mà ngưng, đó là Bất Trắc chi vị Thần. Đó là Tính Mệnh Diệu hợp.
Bởi người không biết nhẽ Diệu hợp, cho nên tu Tính mà không tu Mệnh. Cái phép Diệu hợp tinh túy thần diệu ấy mà không biết, lại không biết thế nào là Suất Tính khiếu diệu, thì làm sao mà tu luyện? Nếu không trôi theo cuồng đãng, thì cũng mất vào không tịch. Không biết Mệnh, cuối cùng đi về đâu?

Tu Mệnh bỏ Tính, không biết Tạo Mệnh công phu là thế nào thì làm sao mà trì thủ?

Nếu không chấp vào hữu tác, thì cũng mất trong Vô vi. Không biết Tính, không tránh được vận số. Cuối cùng chẳng biết Tính Mệnh mình ra sao.

Ta nghe Đức Thích Ca sinh tại Tây Phương cũng biết Đạo Kim Đơn. Đó là Tính Mệnh song tu. Đó là phương pháp tối thượng thừa. Đó là Kim Tiên.

Lữ Tổ cũng nói: “Chỉ tri Tính, bất tri Mệnh, Thử thị tu hành đệ nhất bệnh. Chỉ tu tổ Tính bất tu Đơn, Vạn kiếp âm Linh nan nhập thánh.” 只知性,不知命,此是修行第一病,只修祖性不修丹,萬劫陰靈難入聖. (Chỉ biết Tính không biết mệnh, đó là tu hành đệ nhất bệnh. Chỉ tu tổ Tính chẳng tu Đơn, vạn kiếp âm hồn khó nhập thánh.)

Đâu phải như bọn Đạo Dẫn chỉ biết vận động thân thể, nên lấy Hình hài làm Tính Mệnh. Đâu phải như nay, có nhóm luyện thần, luyện khí, lấy Thần khí làm Tính Mệnh, cũng có số người tu Tính, tu Mệnh, coi Hậu Thiên Tính mệnh như Tiên Thiên tính mệnh. Những người làm vậy, chẳng những vô ích cho Tính mệnh mà còn làm hại Tính mệnh. Không biết được Chân Tính mệnh, thật đáng thương.

Có kẻ luận rằng: Thai nhi trong bụng mẹ; hô hấp phối hợp với mẹ, cho nên tính mệnh của mẹ là Tính mệnh của mình. Khi ra khỏi bụng mẹ, khi đã cắt rốn mới có Tính Mệnh riêng. Nhưng đó cũng không phải là Tính Mệnh Chân Thường của chúng ta. Chúng ta phải từ trong Tính Mệnh ấy luyện thành Kiền Nguyên Diện Mục của mình, lộ xuất ra được điểm Chân Linh của mình. Nghĩa là Tâm ta phải biết dùng cái Tính Mệnh Vô Vi sẵn có trong mình, luyện dưỡng thành Kim đơn, làm lộ xuất ra được điểm Chân linh chi khí.

Hình y thần, thì Hình không bị hoại, Thần y Tính thì Thần bất hoại. Thể ngộ được Tính, lại biết Tận Tính Chí Mệnh, thì sẽ đạt được Hư Không Bản Thể sẽ vĩnh cửu, trường sinh vô tận. Trời đất có hoại, nếu trùng lập được Tính Mệnh sẽ tái tạo được Kiền Khôn. Đạo gia không biết cái đó là Bàng Môn. Thích gia không biết đạo lý này thì là Ngoại Đạo, làm sao họp được với Thiên địa chi đức, đồng thể được với Thái Hư? Bàn về Tính Mệnh như vậy có thể gọi là đầy đủ.

死 生說

大眾好生惡死,以莫識死生故。生從何來,死從何去。徒在生前,賓士謀作,致大虧生道,不得逍遙。故於死後,渺茫 淪落,不戡破死門,竟墮輪轉。

所以仙佛出世,汲汲以一大事因緣,使人知去來處,徐徐引出生死苦海。易系曰:原 始要終。故知死生之說,蓋無始之始,強名乾元,即本來妙覺;無終之終,強名道岸,即無餘涅槃。

生而生也,而其所以生者,固在於此; 至死而死也,而其所以不死者,亦在於此。此而不知,則未有不隨生而存,隨死而亡者,沉溺惡道,出沒無期。

生則是第八識神阿賴耶主 之,死亦是第八識神阿賴耶主之。投胎則此識先來,捨身則此識後去。故曰:去後來先作主公。經頌曰:善業從下冷,惡業從上冷,二皆至於心,一處同時舍。當此 之際,如生龜解殼,活蟹落湯,地水火風,各自分散。

而神既離形,但看世界,與潑墨相似,東西莫辨,上下不知。只見有緣之處,一點妄 明。見明色,發明見,想成流,愛為種。納想為胎,入母中官,稟氣受質。氣則頓具四大,漸成諸根,心則頓具四蘊,漸成諸識。

十月胎完, 及期而育,地覆天翻,人驚胞破,如行山巔蹶什之狀。頭懸足撐而出。囫圇一聲,天命真元,著于祖竅。晝居二目,而藏於泥丸;夜潛兩腎,而蓄於丹鼎。乳以養其 五臟,氣 則沖乎六腑。骨弱如綿,肉滑如飴,精之至也;視而不瞬,哮而不嘎,和之至也。此乃赤於混沌,純靜無知,屬陰坤卦。

自一歲至 三歲,長元氣 六十四銖,一陽生乎複卦。

至五歲,又長元氣 六十四銖,二陽生乎臨卦。

至八歲,又長元氣 六十四 銖,三陽生手泰卦。

至十歲,又長元氣 六十四銖,四陽生手大壯。

至十三歲,又長元氣 六十四銖,五陽生乎夬卦。

至十六歲,又長元氣 六十四銖,六陽是為乾卦。

盜天地三百六十銖之正氣 ,原父母二十四銖之祖氣 ,共得三百八十 四銖,以全周天之造化,而為一斤之數也。

此時,純陽既備,微陰未萌,精氣 充實,如得師指,修煉性命,立可成功矣。

自此以後,欲情一動,元氣 即泄,不知禁懇,貪戀無已。故由十六至二十四歲,耗元氣 六十四銖,應乎姤卦。一陰初生,品物咸章,淳澆樸散,去本雖未遠,愎霜 之戒,己見於初,又若勤修煉,可謂不遠複者矣。

至三十二歲,耗元氣 六十四銖,應乎遁卦。二陰浸長,陽德漸消,欲慮蜂起,真源流蕩, 然而血氣方剛,志力果敢,若勤修煉,則建立丹基,亦易為力。

至四十歲,又耗元氣 六十四銖,應乎否卦。天地不交,二氣各複其所,陰用 事于內,陽失位於外,若勤修煉,則危者可安,亡者可保。

至四十八歲,又耗元氣 六十四銖,應乎觀卦。二陽在外,而陽德微,重陰上行, 而陰氣盛,若勤修煉,則可抑方盛之陰柔,扶向微之陽德。

至五十六歲,又耗元氣 六十四銖,應乎剝卦。五陰並升乎上,一陽將反乎下,陰 氣橫潰,陽力僅存,若勤修煉,如續火於將窮之木,布雨於垂槁之苗。

至六十四歲,卦氣 已周,所得天地父母之元氣 三百八十四銖、而為一 斤之數者,耗散已盡,複返於坤。純陰用事,陽氣未萌,若勤修煉,時時采藥,時時栽接,則陰極而能生陽,窮上而能反下,革柔為剛,還老為強矣。

於此時不遇至人,汲汲修煉,雖保餘年,皆籍穀精以培後天之精氣,無複有先天之元氣 矣,安能長生不死哉?

TỬ SINH THUYẾT
Đại chúng đều thích sống sợ chết, do đó nên không biết lý do sinh tử. Không biết Sinh từ đâu lại, chết đi về đâu. Trong hiện kiếp thì mải mưu cầu danh lợi, làm suy vi Sinh đạo, không được tiêu diêu. Khi chết rồi tâm hồn mang nhiên luân lạc, hoặc đọa nhập Luân Hồi, không biết chết là thế nào. Cho nên bị luân chuyển.

Vì lẽ đó nên Tiên Phật ra đời, dạy người đại sự nhân duyên, dạy biết chỗ khứ lai, và từ từ dẫn họ ra ngoài Khổ Hải Tử Sinh. Dịch Hệ Từ viết: Nguyên Thủy, Yếu Chung (dò xem đâu là Đầu, Đoán xem đâu là Cuối).

Biết được sinh tử là: Đầu hết khi chưa có Trời đất thì gượng kêu là Kiền Nguyên, đó là Bản Lai Diệu Giác. Đến lúc chung cuộc thì gượng kêu là Đạo Ngạn hay Vô dư Niết bàn.

Sinh là sinh ra và cái Lý phải sinh là do ở đó (Kiền Nguyên). Đến chết là chết, và cái Lý phải chết cũng là do ở đó. (Đạo Ngạn, Vô Dư Niết Bàn).

Như không biết đạo Lý này, thì không thể đạt được vĩnh hằng (hằng cửu), mà chỉ có thể nhân sống mà còn, nhân chết mà mất, trầm nịch vào ác đạo, mất còn không hẹn.

Lúc sinh ra, thì Thức Thần thứ tám là A Lại Gia làm chủ. Khi chết Thức Thần này cũng làm chủ . Cho nên nói: Khứ hậu lai tiên tác Chủ Công.

Kinh phật cho rằng: Kẻ có Thiện nghiệp thì khi chết sẽ lạnh từ dưới lên, kẻ ác nghiệp sẽ lạnh từ trên xuống. Bất kể lạnh từ đâu tới, cũng sẽ kết thúc nơi tim và hình thể sẽ bị diệt.

Lúc bấy giờ như rùa sống cởi mai, như cua bị luộc nước sôi, cái đã sinh thành ra hình thể của ta, là Thổ, Thủy, Phong, Hỏa sẽ phân tán và Thần sẽ ly Hình.

Và Thế giới này cũng tương tự như bức tranh thủy mặc, không biết đâu là Đông, Tây, trên dưới. Hốt nhiên thấy chỗ hữu duyên, một điểm sáng của Hư Vọng bất thực. Từ đó sắc dục sinh ra, sự giao cấu thành hình, tinh dịch trở thành chủng tử, biến ý tượng giao cấu thành thai noãn, mà nhập vào trong tử cung người mẹ. Ở đó hấp thụ được Tiên Thiên Khí Chất của mẹ. Khi đó sớm gồm tứ đại, rồi sinh ra chư căn (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý). Tâm ta cũng sớm gồm đủ bộ Ngũ Uẩn (Sắc uẩn, Thụ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn) và các loại cảm giác, tri giác, ý thức tư duy.

Mười tháng thai hoàn, đến ngày sinh dục, tựa như đất lật, trời nghiêng, người kinh sợ thì bào thai vỡ ra, như người leo núi, trượt chân, đầu xuôi xuống, chân treo lên mà ra đời.

La lên một tiếng, thì Thiên Mệnh Chân Nguyên nhập vào Tổ Khiếu. Ngày thì ở hai mắt và tàng ẩn ở Nê Hoàn. Đêm thì chìm vào giữa hai quả thận, và chứa ở Đơn Đỉnh. Bú sữa để nuôi ngũ tạng, còn khí thì xung khắp lục phủ. Da thịt mềm như lụa, trông mà mắt không nháy, khóc mà tiếng chẳng khan. Thế là hết sức Trung hòa vậy. Đó là Xích Tử hỗn độn, thuần tĩnh vô tri. Thuộc quẻ Khôn thuần Âm.

Từ một tuổi tới ba tuổi, Nguyên khí lớn lên 64 Thù (24 thù là 1 lạng), một Dương sinh nơi quẻ Phục.

Đến 5 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Hai dương sinh nơi quẻ Lâm.

Đến 8 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Ba dương sinh nơi quẻ Thái.

Đến 10 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Bốn dương sinh nơi quẻ Đại Tráng.

Đến 13 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Năm dương sinh nơi quẻ Quải.

Đến 16 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, sáu dương sinh nơi quẻ Kiền.

Trộm Chính Khí của trời đất là 360 thù. Cùng với 24 thù nơi Tổ khí của bố mẹ là 384 thù, để toàn vẹn Chu Thiên của tạo hóa, mà làm đúng một cân.

Đến đây thì khí Thuần Dương đã đủ, khí Vi Âm chưa manh nha, tinh khí sung thực. Nếu như gặp chân sư về phương diện tu tính luyện mệnh thì chắc chắn sẽ thành công.

Từ đó về sau, dục tình nhất động, Nguyên khí phát tán, không biết kiêng kị, tham luyến không ngừng. Cho nên từ 16 đến 24 tuổi, hao tổn Nguyên khí 64 thù, ứng vào quẻ Cấu. Một âm mới sinh, phẩm vật hàm chương, tính thuần hậu phát tán mất. Lúc ấy, lìa gốc chưa xa, như vừa dẵm vào sương của hào sơ. (Lý sương, Kiên băng chí, Khôn, hào sơ lục), nếu siêng năng tu luyện có thể Bất viễn mà trở về (Bất viễn Phục, vô kì hối. Phục, sơ cửu).

Đến 32 tuổi, lại hao thêm Nguyên Khí mất 64 thù nữa, ứng vào quẻ Độn. Hai Âm dần lớn, Dương đức dần tiêu. Dục tình và tư lự như bày ong vỡ tổ, Chân Nguyên bị lưu đãng. Nhưng lúc ấy khí huyết còn phương cương, chí lực còn quả cảm, nếu chuyên cần tu luyện, thì công phu kiến lập Đơn Cơ cũng dễ.

Đến 40 tuổi, Nguyên khí lại hao thêm mất 64 thù, ứng vào quẻ Bĩ. Thiên địa bất giao, Nhị Khí các phục kì sở. Âm dụng sự bên trong, Dương làm khách nên bị đẩy ra bên ngoài. Nếu chịu tu luyện, thì Nguy vẫn trở thành An, Vong cơ vẫn có thể bảo tồn.

Đến 48 tuổi, Nguyên khí lại bị hao tổn thêm mất 64 thù, ứng vào quẻ Quán. Hai hào Âm ở bên ngoài cho nên Dương đức yếu. Âm bay lên trên và Âm khí thịnh. Nếu chịu tu luyện, cũng có thể ức chế được Âm khí mới thịnh mà phò trợ được Dương đức vừa suy vi.

Đến 56 tuổi, lại hao thêm 64 thù vào quẻ Bác. 5 Âm bay lên trên, một Dương muốn trở xuống dưới. Âm khí mạnh như đê muốn vỡ tung. Lúc ấy muốn tu, như tiếp cho lửa sắp tắt, như mưa tưới cho lúa non mới héo.

Đến 64 tuổi, quải khí đã di châu khắp mọi nơi. Nguyên Khí Trời đất cho cha mẹ là 384 thù vừa đúng một cân, hao tán đã tận, ứng vào quẻ khôn. Khôn là thuần Âm dụng sự, Dương khí chưa manh nha. Nếu siêng tu luyện thời thời tái bồi, tiếp ứng, thì Âm cực cũng có thể sinh Dương, lên đến cùng sẽ đi xuống dưới, biến nhu thành cương, biến già thành khỏe trở lại. Lúc ấy mà không gặp bậc Chí Nhân, chăm chăm tu luyện, tuy có thể bảo vệ được cuộc đời tàn, nhưng chỉ có thể bồi bổ Tinh khí hậu thiên, không phục hồi được Tinh Khí Tiên Thiên thì làm sao mà trường sinh bất tử được.

此所以虛化神、神化氣 、氣 化血、血化形、形化嬰、嬰化童、童化少、少化壯、壯化老、老化死、死複化為虛、虛複化為神、神複化為氣、氣複化為物,化化不間,猶環之無窮。

夫方物非欲生,不得不生,萬物非欲死,不得不死。任他塵生塵滅,萬化萬生,不能脫離苦海,劫劫生生,輪回不絕,無終無始,如汲井輪。三界凡夫,無一不遭 此沉溺。

故世人莫知生從何來,蓋參父母未生前;死從何來,知來然後知生處。世人莫問死從何去,蓋參魂遊魄降後;生從何去,知去然後 知死處。死之機由於生,生之機原於死。無死機不死,無生機不生。生死之機兩相關,世人所以有生死,生死之機不相關,至人所以超生死。有生死者,身也;無生 死者,心也。敦複則心生,迷複則心死。則危者可安,亡者可保。

至四十八歲,又耗元氣 六十四銖,應乎觀卦。二陽在外,而陽德微,重陰 上行,而陰氣盛,若勤修煉,則可抑方盛之陰柔,扶向微之陽德。

至五十六歲,又耗元氣 六十四銖,應乎剝卦。五陰並升乎上,一陽將反乎 下,陰氣橫潰,陽力僅存,若勤修煉,如續火於將窮之木,布雨於垂槁之苗。

至六十四歲,卦氣 已周,所得天地父母之元氣 三百八十四銖、 而為一斤之數者,耗散已盡,複返於坤。純陰用事,陽氣未萌,若勤修煉,時時采藥,時時栽接,則陰極而能生陽,窮上而能反下,革柔為剛,還老為強矣。

於此時不遇至人,汲汲修煉,雖保餘年,皆籍穀精以培後天之精氣,無複有先天之元氣 矣,安能長生不死哉?

此所以虛化神、神化氣 、氣 化血、血化形、形化嬰、嬰化童、童化少、少化壯、壯化老、老化死、死複化為虛、虛複化為神、神複化為氣、氣複化為物,化化不間,猶環之無窮。

夫方物非欲生,不得不生,萬物非欲死,不得不死。任他塵生塵滅,萬化萬生,不能脫離苦海,劫劫生生,輪回不絕,無終無始,如汲井輪。三界凡夫,無一不遭 此沉溺。

故世人莫知生從何來,蓋參父母未生前;死從何來,知來然後知生處。世人莫問死從何去,蓋參魂遊魄降後;生從何去,知去然後 知死處。死之機由於生,生之機原於死。無死機不死,無生機不生。生死之機兩相關,世人所以有生死,生死之機不相關,至人所以超生死。有生死者,身也;無生 死者,心也。敦複則心生迷,迷複則心死。

故仙佛湣之,說一切眾生,具有本來一靈真覺,但昏惑不見,使天命之性,浪化遷流,轉轉不悟。 而世世墮落,失身於異類,透靈於別殼,至真性根,不復於人。

我當以聖道,令眾生永離妄想,能致自身如仙家之長生、佛氏之不死去。

Đó chính là Hư hóa Thần, Thần hóa Khí, Khí hóa Huyết, Huyết hóa Hình, Hình hóa Anh Nhi, Anh Nhi hóa Đồng, Đồng hóa Thiếu, Thiếu hóa Tráng, Tráng hóa Lão, Lão hóa Tử, Tử lại hóa thành Hư, Hư lại hóa thành Thần, Thần lại hóa thành Khí, Khí lại hóa thành Vật, hóa hóa không ngừng, như cái vòng vô cùng.

Vạn vật không muốn sinh mà phải sinh, không muốn chết mà phải chết. Mãi bị sinh diệt; vạn tử vạn sinh, không thoát ly được khổ hải. Kiếp kiếp sinh sinh, luân hồi bất tuyệt, vô chung vô thủy, như bánh xe nước. Tam giới phàm phu, không ai thoát sự trầm nịch này.

Vì người đời không biết sinh từ đâu tới, như vậy, sao không tham khảo xem trước khi cha mẹ sinh ra ta, thì đã chết từ đâu tới. Biết Tới là nơi ta sinh ra. Thế nhân cũng không biết chết đi về đâu. Sao không khảo xem khi hồn thăng phách giáng rồi thì Sinh đi đâu. Biết đi là biết nơi ta chết.

Mấu chốt của Tử là Sinh. Mấu chốt của Sinh là Tử. Cái Cơ sinh tử tương quan với nhau, vì thế mà thường nhân có sinh có tử. Cái Cơ sinh tử không tương quan với nhau, vì thế mà Thánh nhân siêu sinh tử.

Thân ta có sinh tử, Tâm ta vô sinh tử. Biết trở lại thì Tâm sinh. Không biết trở lại thì là Tâm tử.

Cho nên Tiên phật thương con người và dạy rằng: Nhất thiết chúng sinh đều có một điểm Bản Lai Nhất Linh Chân Giác, chỉ vì hôn mê nên chẳng thấy, khiến cho Thiên Mệnh chi Tính trôi nổi theo dòng nước. Chuyển qua nhiều kiếp không giác ngộ, đời đời bị đọa lạc, làm mất thân mình trong loài khác, gửi hồn qua loài khác. Cho nên Chí Chân Tính Căn, không thể trở lại làm người.

Ta nay lấy Thánh Đạo, khiến chúng sinh vĩnh ly vọng tưởng, để cho thân mình được Trường Sanh như Tiên gia, hay Bất Tử như Phật gia.

————-
CHÚ GIẢI :-

[1] A lại gia là Tinh thần Bản Nguyên và gồm chủng tử của các hiện tượng, khi đầu thai, thì A Lại Gia đến trứơc, khi chết thì A Lại Gia đi sau.

Xem quẻ Phục, Thoán truyện và hào 5, hào 6 quẻ Phục.
邪 正說

大道生天、生地,天地生人、生物。天、地、人、物一性同體。天有陰陽,地有剛柔,物有牝牡,人有男女。

有陰陽斯有日月星辰,有剛柔斯有山川草木,有牝牡斯有胎卵濕化,有男女斯有配偶生育。

眾生因配偶有淫欲,因生育有恩愛。有淫欲、恩 愛,故有魔障、煩惱。有魔障、煩惱,故有一切苦厄。有一切苦厄,故有生老病死。

是乙太上蘊好生之德,開度世之門,著經立法,教人返 樸還淳。無欲觀妙,有欲觀竅。致虛守靜,歸根複命。早複重積,深根妙蒂。得一守中,虛心實腹。弱志強骨,挫銳解紛,和光同塵。專氣致柔,抱一無離。知雄守 雌,知白守黑。閉門塞兌,被褐懷玉。窅窅冥冥,其精曰生,恍恍惚惚,其精不泄。日生則日長,不泄則不竭。精能化氣,氣能化神,神能還虛。五行不能盜,陰陽 不能制。與道為體,超出天地。此乃老子清靜無名之道也。

至漢魏伯陽真人禮金碧經而作參同契,始有龍鉛虎汞之名。愛及唐宋,諸仙疊 出,丹經燦然。橫說豎說,種種異名,載於丹書,不可勝數。究竟本來,無非吐露同出異名之一物耳。

蓋聖師闡教,敷楊備細詳說,實欲人 人領悟、個個成真,殊不知名愈深而事愈繁,書愈多而道愈晦。況多為庚辭隱語,孔竅其門,使學者無罅縫可入,往往目眩心搖,望溟之歎。

幸吾師尹真人出,欲續大道之一絲,以複無名之古教。於是剪除繁羌,撮其樞要,掃除譬喻,獨露真詮,標摘正理,按圖立象,不可施于筆者,筆之不可發於語 者。語之直指何者是鉛汞,何者是龍虎,何者是鼎爐,何者是藥物,何者謂之採取,何者謂之抽添,何者謂之溫養,何者謂之火候,何者是真種子,何者是真性命, 何者是結胎,何者是了當,歷歷發明,毫髮無隱。後之有志於道者,再不為丹經所惑也。

況丹經子書,汗牛充棟,講理者多,留訣者少。初 無下手入門,次無采藥結胎,末無極則歸著。後人不識次序,如何湊泊得來?不免有攙前越後之差,首顛尾倒之亂。學道一生,不得其門而入者多矣。間有入門者而 不知升階,有升階者而不知登堂,有登堂者而不知入室。是以次第工夫乃修真之首務,豈可缺焉?

CHÍNH TÀ THUYẾT
Đại đạo sinh Thiên địa, Thiên địa sinh Nhân, sinh Vật, Thiên Địa Nhân Vật Nhất Tính Đồng Thể.

Trời có Âm Dương, Đất có Cương Nhu, Vật có trống mái, Người có nam nữ. Có Âm dương mới có Nhật Nguyệt Tinh Thần. Có Cương nhu mới có Sơn Xuyên Thảo Mộc. Có trống mái mới có Thai, Noãn, Thấp, Hóa. Có nam nữ mới có phối ngẫu, sinh dục…

Chúng sinh nhân phối ngẫu nên có dâm dục, nhân sinh dục mà có ân ái. Có sinh dục, ân ái nên có ma chướng, phiền não, và vô số khổ ách. Có vô số khổ ách nên có luân hồi, sinh tử.

Vì thế nên Đức Thái Thượng vì có đức hiếu sinh, nên đã mở cửa độ đời, viết kinh, lập phép, dạy dân phản phác hoàn thuần, vô dục thì quán ở Diệu, hữu dục thì quán ở Kiếu (ĐĐK, 1), chí hư thủ tĩnh (ĐĐK, 16), qui căn phục mệnh (ĐĐK, 16), tảo phục trùng tích, thâm căn cố đế, đắc nhất thủ trung(ĐĐK, 5 và 39), hư tâm thực phúc (ĐĐK, 3) nhược chí cường cốt (ĐĐK, 3), tỏa nhuệ, giải phân (ĐĐK, 56), hòa quang đồng trần (ĐĐK, 4 và 56), chuyên khí trí nhu (ĐĐK, 10), bão nhất vô lý (ĐĐK, 10), tri hùng thủ thư (ĐĐK, 28), tri bạch thủ hắc (ĐĐK, 28), bế môn, tắc đoài (ĐĐK, 52 và 56), bị hạt hoài ngọc (ĐĐK, 70), yểu yểu minh minh. Tinh ngày một tăng, hoảng hoảng hốt hốt, Tinh không bị tiết. Tinh sinh thì càng ngày càng tăng trưởng, tinh không tiết thì không bao giờ kiệt. Tinh có thể hóa Khí, Khí có thể hóa Thần, Thần có thể hoàn Hư, Ngũ hành không trộm mất được, Âm dương không chế phục được. Cùng với Đạo hợp một thể, siêu xuất thiên địa. Đó là cái đạo Thanh Tĩnh Vô Vi của lão Tử.
Đến đời Hán, có Ngụy Bá Dương phỏng theo Kim Bích Kinh để soạn bộ Tham Đồng Khế. Bấy giờ mới có những danh từ Long Hổ, Diên Hống.

Đến đời Đường, nhiều Tiên ra đời, Đơn Kinh cũng được xuất bản, có những danh từ khác lạ ở nơi Đơn Kinh, nhiều không kể xiết. Nhưng xét cho cùng, những danh từ đó cũng chỉ một vật mà thôi.

Vì thánh Nhân phát triển giáo lý, thập phần tế mật, tường tận, chỉ muốn mọi người đều lãnh ngộ mà trở thành Chân. Ai ngờ tên càng nhiều, thì sự càng nhiều. Sách càng nhiều thì đạo càng tối. Lại còn nhiều bí từ, ẩn ngữ làm mất đường vào, khiến học giả cũng đành phải thở dài.

May thầy ta là Doãn Chân Nhân ra đời, tiếp nối hệ thống Đại Đạo, khôi phục lại Vô Danh chi cổ giáo. Sao đính lại cho giản dị, toát lược lại những gì cần yếu, bỏ đi những ẩn dụ tối tăm, để lộ ra Chân Đế, xiển dương Chính Lý, án đồ lập tượng, những gì người xưa không nói ra được thì Thầy nói ra, trực chỉ thế nào là Diên Hống (Nguyên thần, Nguyên khí), thế nào là Long Hổ (cũng là Nguyên thần, Nguyên khí), thế nào là Đỉnh Lô (Đan Điền), thế nào là Dược vật (dạy muốn luyện thành Nội đơn, phải chuẩn bị mọi yếu tố như cho Nguyên Thần, Nguyên Khí tụ họp nơi Đan Điền, rồi Tâm Tĩnh Nhập Định cho thai tức thành hình, v.v…), thế nào là Thái Thủ (đem Nguyên Thần, Nguyên Khí về kết luyện nội đơn), thế nào là Sưu Thiêm (Thân bất động, và Khí định thì là Sưu, Tâm bất động mà Thần định thì gọi là Thiêm), thế nào là Ôn dưỡng (Điều Lý Trung Hòa), thế nào là Hỏa hầu (tức là phải để tâm vào quá trình luyện công và phải biết điều tiết, không chế), thế nào là Chân Chủng Tử (chỉ Nguyên Thần, Nguyên khí kết ở Đơn Điền, chỉ cảm thấy mà không biết hình tượng), thế nào là Chân Tính Mệnh (chỉ kết quả tu luyện khi thành công rồi, lúc ấy Nguyên Thần từ trong ngực có thể ra ngoài, thành Tiên), thế nào là Kết thai (Chỉ khi kết thành nội đơn, người Tu Chân đạt được Tối cao cảnh giới), có thể Trường Sinh bất tử. Lúc ấy, Khí tức định tĩnh, bất xuất, bất nhập; Ý định Thần tĩnh, Tất Tâm không Hư), thế nào là Liễu Đáng (Chỉ Tu luyện Đơn công tối chung hoàn tất). Thảy đều phát minh, mảy lông không giấu. Sau này những người có chí học đạo sẽ không còn bị Đơn Kinh làm mê hoặc.

Lại nữa, Đơn Kinh, và sách của chư tử nay có đầy rẫy; giảng Lý thì nhiều, nhưng ít lưu khẩu quyết, mới đầu không biết đường vào, kế đến không biết thế nào là Thái dược kết thai (đem Nguyên Thần, Nguyên Khí về kết nội đơn); cuối cùng không biết thế nào là Chung Qui bản nguyên. Người học sau này không biết thứ tự tu luyện, thì làm sao mà cuối cùng được Ngưng Kết, Đơn Thành. Cho nên không sao tránh khỏi đảo điên thứ tự, lấy trước làm sau, lấy sau làm trước được.

Học đạo suốt đời, rất nhiều người không biết đường vào cửa Đạo, cũng có người vào được Đạo nhưng không biết đường tiến lên bệ, lên được bệ nhưng không biết vào nhà, vào được nhà nhưng không vào được buồng. Đó là thứ đệ của công phu, đó là việc đầu tiên của Tu Chân. Sao có thể thiếu được.
予最愛藏經中四句偈曰:

眾生無邊誓願度,
煩惱無邊誓願斷,
法門無量誓願學,
佛道 無上誓願成。

世尊亦曰:度盡眾生,然後作佛。區區由是,發一念慈悲,罄將師投秘訣徹底掀番,滿盤托出,籲徠後之有緣,複返天界而不沉溺於苦海中者。此予之 心也。

其一曰:涵養本原,救護命寶。

其二曰:安神祖竅,翕聚先天。

其三曰:蟄藏氣穴,眾妙歸根。

其四曰:天人合發,采藥歸壺。

其五曰:乾坤交媾,去礦留金。

其六曰:靈丹入鼎,長養聖胎。

其七曰:嬰兒現形,出離苦海。

其八曰:移神內院,端拱冥心。

其九曰:本體虛空,超出三界。

於中更有煉形、結胎、火候等諸心法,以全九轉還丹之功。

大道 口訣,至此吐露盡矣。今之道者,峨冠方袍,自足自滿,不肯低情下意,求師指授大道次第,惟只以盲弓盲,趨入旁蹊曲徑。豈知道法三千六百、大丹二十四品皆是 傍門,獨此金丹一道是條修行正路。除此以外,再無別途可以成仙作佛也。

故法華會上,世尊指曰:唯此一事實,餘二即非真。

尹真人曰:九十六種外道,三千六百傍門,任他一切皆幻,只我這些是真。

雲房真人曰:道法三千六百門,人人各執一苗根,誰知些子玄 關竅,不在三千六百門。

蓋玄夫大道,難遇易成而見功遲。傍門小術,易學難成而見效速。是以貪財好色之徒,往往迷而不悟。其中有好爐火 者,有好彼家者,有視頂門者,有守臍蒂者,有運雙睛者,有守印堂者,有摩臍輪者,有搖夾脊者,有兜外腎者,有轉轆轤者,有三峰采戰者,有食乳對爐者,有閉 息行氣者,有屈伸導引者,有三田還返者,有雙提金井者,有哂背臥冰者,有餌芝服術看,有納氣咽津者,有內視存想者,有休糧辟穀者,有忍寒食穢者,有搬精運 氣者,有觀鼻調息者,有離妻入山者,有定觀鑒形者,有熊經鳥伸者,有餐霞服氣者,有長坐不臥者,有打七煉魔者,有禪定不語者,有齋戒斷味者,有夢遊仙境 者,有默朝上帝者,有密咒驅邪者,有見聞轉誦者,有食己精為還元者,有捏尾閭為閉關者,有煉小便為秋食者,有采女經為紅鉛者,有抉陽用胞衣而煉紫河車者, 有開關用黑鉛而鑄雌雄劍者,有閉目冥心而行八段錦者,有吐故納新而行六字氣者,有面壁而志在降龍伏虎者,有輕舉而思以駕風驂者,有吞精咽華以翕日月者,有 步罡愎鬥以窺星辰者,有依卦爻之序而朝屯暮蒙者,有售黃白之術而燒茆弄火者,有希慕長生不死者,有馳志月日飛升者,有著相執而不化者,有著空流而不返者, 有持戒定慧而望解脫者,有祛貪嗔癡而思清靜者,有生而願超西域者,有死而願登天堂者,似此泯泯棼棼,難以悉舉。

Tôi rất thích 4 câu kệ này của Tạng kinh:

Chúng sinh vô tận thệ nguyện độ, 众生无尽誓愿度
Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn, 烦恼无尽誓愿断
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, 法门无量誓愿学
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. 佛道无上誓愿成。

Vô tận chúng sinh, thề nguyện độ,
Vô tận phiền não, thề dẹp hết.
Vô lượng pháp môn, thề nguyện học.
Vô thượng Phật đạo, thề nguyện thành.

Đức Thế Tôn có nói: Độ tận chúng sinh rồi mới thành Phật.

Ta vì thế mà phát một niệm từ bi, đem hết bí quyết của thầy ta truyền dạy phô bày ra không giấu giếm, cho sau này những ai có duyên, sẽ trở lại Thiên Giới mà không sa vào khổ hải nữa. Đó là Tâm Nguyện của ta.

Thứ nhất là: Hàm dưỡng Bản Nguyên, Cứu Bộ Mệnh Bảo (Hàm dưỡng chân vô, cứu hộ bản căn) 涵养本原,救护命宝。

Thứ hai là: An Thần Tổ Khiếu, Hấp tụ Tiên Thiên (Ý Thủ Đơn Điền, ngưng thần tụ khí) 安神祖窍,翕聚先天。

Thứ ba là: Trập tàng Khí Huyệt, Chúng diệu qui căn (Khí tàng Đơn Điền, Chúng diệu qui chi) 蛰藏气穴,众妙归根。

Thứ tư là: Thiên Nhân hợp phát, Thái dược qui hồ (Thiên nhân đồng phát động, Thái Khí qui Đơn điền) 天人合发,采药归壶。

Thứ năm là: Kiền Khôn giao cấu, Khử khoáng lưu Kim (Thượng hạ Đơn Điền giao hợp; Nguyên Thần, Nguyên Khí thành Đơn) 乾坤交媾,去矿留金。

Thứ sáu là: Linh Đơn nhập đỉnh, trường dưỡng thánh thai (Thần Khí ngưng kết nơi Đơn Điền, vĩnh viễn tư dưỡng Linh Tính) 灵丹入鼎,长养圣胎。

Thứ bảy là: Anh Nhi hiện hình, Xuất Ly Khổ Hải (Nội đơn thành, xuất Khổ hải) 婴儿现形, 出离苦海。

Thứ tám là: Di Thần Nội Viện, Đoan củng Minh Tâm (Di Thần thượng đơn điền, Đoan tọa tức kỳ tâm) 移神内院,端拱冥心。

Thứ chín là: Bản Thể Hư Không, Siêu xuất tam giới (Chân Nguyên Hư Tĩnh, Siêu thoát Tam giới) 本体虚空,超出三界。

Trong đó lại có: Luyện hình, Kết thai (kết Đơn), Hỏa hầu để toàn công phu Cửu Chuyển Hoàn Đơn, Đại Đạo khẩu quyết đến đây đã trọn vẹn.

Ngày nay, những người học Đạo, đội mũ cao, mặc bào vuông, tự mãn, tự túc, không chịu hạ mình đến xin thầy ta chỉ cho thứ tự, tu trì, như mù lại giấu mù, chạy vào đường ngang, ngõ tắt, há chẳng biết Đại Pháp có 3.600 thứ, với 24 phẩm Đại Đơn, tất cả đều là Bàng Môn. Chỉ có đạo Kim Đơn này mới là tu hành chính lộ. Trừ đạo này ra, không có đường nào khác để thành Tiên, thành Phật.

Cho nên trong Thượng Hội Pháp Hoa, đức Thế Tôn nói:

Duy thử nhất thực sự, dư nhị tức phi chân.

Doãn Chân Nhân nói: 96 chủng ngoại đạo, 3.600 bàng môn, tất cả đều hư ảo. Chỉ những gì ta nói mới là Chân.

Chung Ly Quyền nói:

Đạo Pháp tam thiên, lục bách môn, 道法三千六百门
Nhân nhân các chấp nhất miêu côn. 人人各执一苗根
Thùy tri tạ tử Huyền Quan khiếu 谁知些子玄关窍
Bất tại Tam Thiên Lục Bách Môn. 不在三千六百门。

Đạo pháp ba nghìn sáu trăm môn
Mỗi người nắm được một miêu côn
Hay đâu là Khiếu Huyền Quan đó,
Không thấy có trong 3.600 môn.

Vì Đại Đạo Huyền Quan khó gặp dễ thành, nhưng kết quả chậm, bàng môn tiểu thuật thì dễ học khó thành, lại kiến hiệu chậm. Cho nên những kẻ tham tài, hiếu sắc thường thường mê muội và chẳng giác ngộ.

Trong đó có số người thích Lô Hỏa (tức luyện Ngoại đơn Hoàng bạch hay Kim Ngọc), có số người lại thích nữ sắc để Thái Âm Hộ Dương, có người chuyên giữ gốc rốn, có người chuyên vận đôi mắt để luyện công, có số người chuyên trì thủ Ấn Đường (Huyệt giữa hai lông mày), có số người chuyên chà xát vành rốn (Hạ Đơn Điền), có người thích lắc Giáp Tích (xương sống lưng), có người thích xoa bóp ngoại thận (Dịch Hoàn) để tồn thần dưỡng khí, có người thích vận chuyển chân khí, có người thích dùng gái trinh để Thái Âm, có người thích bú sữa tại phòng trung, có người thích Bế Tức Hành khí.

Có người ưa co duỗi để hành khí, có người thích vận động Tam đơn điền, có người thích hóp bụng co hậu môn để khỏi mất tinh, có người thích hơ lưng nằm tuyết để tu luyện, có người thích ăn Linh Chi và Bạch Truật, có người thích Thôn Khí Yết Tân (nạp khí, nuốt Tân dịch), có người thích Nội Quan Tồn Tưởng, có người thích Hưu Lương Tịch Cốc, có người chịu lạnh và ăn bẩn, có người thích ban tinh, vận khí, có người nhìn mũi, điều hòa hơi thở, có người bỏ vợ vào núi, có người định quan giám hình (nhập dịch thủ hình), có người hùng kinh, điểu thân (bắt chước gấu trèo, chim xòe cánh đề luyện phép đạo dẫn), có người nuốt sương và thực khí, có người chuyên ngồi, không nằm, có người lo trừ thất tình, tảo trừ tạp niệm, có người thiền định bất ngữ, có người trai giới, đoạn vi, có người thích mộng du tiên cảnh, có người yên lặng chầu về Thượng đế, có người luyện mật chú trừ tà ma, có người luyện kiến văn, chuyển tụng, có người ăn tinh khí mình để hoàn nguyên, có người bế huyệt Vĩ Lư để khép đóng Dương Quan, có người nấu luyện tiểu tiện gọi là Thu Thực, có người thu kinh nguyệt đàn bà mà họ gọi là Hồng Diên, có người luyện chế Nhau người làm Tử Hà Xa để làm thuốc cường dương, có người dùng Chân Khí để thông kinh, hành khí, trợ giúp việc vợ chồng, có người nhắm mắt, minh tâm để luyện Bát Đoạn Cẩm, có người thổ cố, nạp tân, dùng Hư, Ha, Hô, Hi, Suy, Y (lục tự), có người chuyên Diện Bích có chí muốn Hàng Long, Phục Hổ (Đem Nguyên thần xuống hạ đan điền để phát động thận khí), có người tập khinh công để đạp gió cưỡi rồng, có người muốn hấp thụ tinh hoa của Nhật nguyệt, có người ưa đạp Cương, lý Đẩu để xem sao, có người nương theo các quẻ Truân (sáng), Mông (chiều) để luyện Hỏa Hầu, có người luyện thuật Kim Ngân Hoàng Bạch, thiêu mao lộng hỏa, có người mong trường sinh bất tử, có người muốn bạch nhật siêu thăng lên trời, có người chấp sắc tướng không muốn hóa, có người tu trì Hư Tĩnh cho khí tấn không trở lại, có người giữ Giới, Định, Tuệ để mong giải thoát, có người muốn trừ Sân si để cầu Thanh Tịnh, có người khi còn sống mà muốn siêu thăng Tây Vực Phật Giới, có người nguyện lên Thiên Đường khi chết … phân phân loạn loạn như vậy, không sao kể xiết.

道釋者流,執此一術 一訣,便謂金丹大道,止於是矣。籲!此輩如管中窺豹,井底觀天,妄引百端,支離萬狀,碎將至道,破段分門,以迷指迷,盲修瞎煉。不肯自思已錯,更將錯路教 人。

是以王良器作破迷歌,陳泥丸作羅浮吟,鐘離翁作正道歌。曆舉傍門諸術之非,以救錯行邪徑之失也。

於中亦 有數條,可以攻疾病,救老殘,益算延年,住世安樂。間或亦有超脫者,不過成個蓬島仙羅漢果耳。

故傅大土雲:饒經八萬劫,終是落空 亡。此乃小乘功夫,不合大道全體。

故張平叔雲:學仙須是學天仙,唯有金丹最得端。

蓋金丹之道,簡而不繁。以 虛無為體,以清靜為用。有作以成其始,無為以成其終。從首至尾,並無高遠難行之事。奈何世人,道在近而求諸遠,事在易而求諸難,背明投暗,不亦感乎?

夫金者,堅之稱;丹者,圓之喻,是人毗盧性海乾元面目。世尊名之,空不空,如來藏。老君號之:玄又玄,眾妙門。以此而言道,謂之無上至尊之道;以此而言 法,謂之最上一乘之法。三教聖賢皆從此出修行正路。孰有正於此哉?

子之本懷,正欲乘此皇極昭明之世,與群生同種乾元之因,共結龍華 之伴,故作此說而挽邪歸正,並吾師所授諸圖訣竅明明指出,使諸學者印證丹經,一覽而無疑矣。

如此大法,萬神圭旨是也!

人之元氣逐日發生。子時複氣到尾間。丑時臨氣到背堂。寅時泰氣到玄樞。卯時大壯氣到夾脊。辰時書氣到陶道。已時乾氣到玉枕。午時垢氣到泥丸。未時豚氣到 明堂。申時否氣到膻中。酉時觀氣到中浣。戍時剝氣到乾闕。亥時坤氣而歸於氣海矣。

人身有任督二脈,為陰陽之總。任脈者,起於中極 之,下循腹裏,上關元至咽喉,屬陰脈之海。督脈者,起於下極之。腧穿脊裏,上風府,循額至鼻,屬陽脈之海。鹿運屬閭,蓋能通其督脈也。龜納鼻息,蓋能通其 任脈也。人能通此二脈,則百脈皆通而無疾矣。

心者,君主之官,神明出焉。肺者,相傳之官,治節出焉。肝者,將軍之官,謀慮出焉。膽 者,中正之官,決斷出焉。膻中者,臣使之官,喜樂出焉。脾者,倉稟之首,五味出焉。大腸者,傳道之官,變化出焉。小腸者,受盛之官,化物出焉。腎者,作強 之官,技巧出焉。

腦者,髓之海,諸髓皆屬之,故上至泥丸,下至尾骶,俱腎主之。膻中,在兩乳間,為之之海,能分佈陰陽,為生化之 源。故名之曰海膜,在肺下與助腹周圍,相著如幕,以遮濁氣,使不薰蒸上焦。幽門在大小腸之間,津液滲入膀胱。滓穢流入大腸,變化出矣。

Có nhiều người theo Đạo, theo Thích, chỉ theo một thuật, một quyết như vậy, mà cho đó là Kim đơn Đại Đạo, ô hô, họ như bọn Quản Trung Thiết Báo (dùng ống quản mà xem beo), đáy giếng nhìn trời, quấy dẫn trăm mối, chi ly vạn trạng, đem Chí Đạo phá đoạn phân môn, lấy mê dắt mê, manh tu, hạt luyện, dẫn người vào đường tà.

Cho nên Vương Lương Khí làm bài: “Phá Mê Ca”. Trần Nê Hoàn làm bài “La Phù Ngâm”, Chung Ly Quyền làm bài “Chính Đạo Ca”, nêu lên những lỗi lầm của bàng môn, cốt để cứu người bước lầm vào đường tà. Nhưng trong đó cũng có một số điều có thể dùng trừ bệnh tật, cứu lão tàn, tăng tuổi thọ, sống đời an lạc. Nếu có ai siêu thoát thì bất quá chỉ làm được Bồng Đảo Tiên hay đắc quả A La Hán mà thôi.

Cho nên Phó Đại Sĩ viết:

Nhiêu kinh bát vạn kiếp, chung thị lạc không vong. 饶经八万劫, 终是落空亡。

(Trải qua vạn kiếp cuối cùng cũng lạc vào Không Vong).

Trương Bình Thúc cũng viết:

Học Tiên tu thị học Tiên Thiên, 学仙须是学天仙
Duy hữu Kim Đơn tối đắc đoan. 唯有金丹最得端。

Học Tiên là phải học Tiên Thiên
Phải học Kim Đơn mới chính truyền.

Vả lại, Đạo Kim Đơn là đạo giản dị không phiền phức, lấy Hư Vô làm Thể, lấy Thanh Tĩnh làm dụng, lấy Hữu vi để thành công trong bước đầu, lấy Vô Vi để thành công khi tới cuối. Từ đầu đến cuối không có gì là cao viễn, nan hành. Tại sao thế nhân không biết rằng Đạo ở gần mà cứ cầu ở nơi xa, việc thì dễ mà cứ tìm chỗ khó. Bỏ sáng, theo tối, chẳng đáng thương sao?

KIM là cái gì kiên cố, ĐƠN là cái gì trọn vẹn, đó chính là Tì Lô Tính Hải (Thượng đan điền) nơi người, Kiền Nguyên (Đầu) Diện Mục của con người. Đức Thế Tôn xưng là “Không bất Không, Như Lai Tạng”, Lão Tử gọi là “Huyền hựu Huyền”, “Chúng Diệu Môn” (Huyền chi hựu Huyền, Chúng Diệu chi môn).

Nếu gọi đó là Đạo, gọi đó là Vô Thượng chí tôn chi Đạo, nếu gọi đó là Pháp, thì đó là Phép tối thượng nhất thừa.
Hiền thánh Tam Giáo, đều theo đường chính này, còn gì là Chính hơn được đây?

Lòng ta thực muốn theo đời Hoàng Cực Chiêu Minh, với chúng sinh có cùng một nguyên nhân là Kiền Nguyên, cùng nhau kết bạn trong hội Long Hoa, cho nên làm ra thuyết này để đem người về đường chính. Cùng với Đồ thuyết của thầy ta, chỉ rõ từng đồ khiếu, khiến cho học giả ấn chứng Kim Đơn Kinh, khi đã xem qua sẽ không còn nghi hoặc nữa.
<普照圖>
三歲之竅,竅中有妙。妙竅其觀,是為普照。

何思何慮之天, 不識不知之地。色空不二之一,虛靈不昧之神;坎離交媾之鄉,千變萬化之祖;鬼神覷不破之機,生命不相關之地。

神明之舍,道亦之門。活 潑潑地,靈明一竅;天地靈根,元始祖煞。造化泉窟,黑白相符;不動道場,至善之地。宇宙主宰,先天地生;玄牝之門,呼吸之根。既濟鼎器,黃中通理;不二法 門,甚深法界。虛無之谷,凝結之所。朱砂鼎,赤龍精,天玄女,光明藏,自在處,止其所,腔子裏,如來藏,真主人,自然體,蓬萊島,眾妙門。

五芝,真汞,日魂,丹元,神水,方寸,主翁,天君,心源、性海、靈海、靈關、靈山、赤水、守靈、姹女、朱汞、靈府、玉液、丹臺、乾馬、交梨、金鳥。

西南鄉,祖氣穴,極樂國,真一竅,舍利子,戊己門,法王城,守一壇,如意株,歸根竅,復命關,虛空藏,寂寞海,華光藏。玄關、空中、正位、 真土、黃中、把柄、黃庭、規中、西方、這個、黃婆、中黃、淨土、混康、丹扃。

長胎住息之鄉,安身之命之家。

混沌竅,總特門,希夷府,懸胎鼎、多寶塔、造化爐、無盡藏、偃月爐、灝氣間、開辟處、生殺舍、真金鼎。金華,月魂,靈根,橐籥,氣穴、北海、嬰兒、玄冥、 關元,氣海,土釜,玄所,生門、死戶、華池、曲江、河車、蓬壺、育嬰、呆胞、火棗、真鉛。

(普 照圖)

普照圖之上一層者,直指心源性海之竅;中一層者,直指黃中正位之竅;下一層者,直指關元氣海之竅。此謂前三關也。

PHỔ CHIẾU ĐỒ

Tam Tạng chi khiếu, Khiếu trung hữu diệu, Diệu Khiếu tề quan, Thị vi Phổ Chiếu. Thiên Địa Linh căn, Nguyên Thuỷ Tổ Khí, Hắc Bạch tương phù, tạo hoá tuyền quật.

Bất động Đạo Tràng, Chí Thiện chi Địa, Tiên Thiên Địa Sinh, Vũ Trụ chủ tể.

Huyền tẫn chi môn, Hô Hấp chi căn, Huỳnh Trung Thông Lý, Ký Tế Đỉnh Khí.

Bất nhị Pháp Môn, Thậm thâm Pháp Giới, Hư Vô Chi Cốc, Ngưng kết chi sở.

Chân chủ nhân, Tự Nhiên Thể, Bồng Lai Đảo, Chúng diệu môn.

Hà tư hà lự chi Thiên, Bất thức, bất tri chi Địa, Hư Linh bất muội chi Thần, Sắc Không bất nhị chi Nhất.

Thần minh chi xá, Đạo Nghĩa chi môn, Linh Minh nhất khiếu, Hoạt bát bát Địa.

Chu Sa đỉnh, Xích long tinh, Quang Minh Tạng, Thiên Huyền Nữ.

Như Lai Tạng, Xoang tử Lý, Chỉ kỳ sở, Tự Tại Xứ.

Ngũ chi, Chân Hống, Nhật Hồn, Đơn Nguyên, Thần Thuỷ, Phương Thốn, Chủ Ông, Thiên Quân, Tâm Nguyên, Tính Hải, Linh Đài, Linh Quan, Xích Thuỷ, Thủ Linh, Xá Nữ, Chu Hống, Linh Phủ, Ngọc Dịch, Đơn Đài, Kiền Mã, Giao Lê, Kim Ô.

Tây Nam Hương, Tổ Khí Huyệt, Cực Lạc Quốc, Chân Nhất Khiếu, Xá Lợi Tử, Mậu Kỷ Môn, Pháp Vương thành, Huyền Quan, Không Trung, Chính Vị, Chân Thổ, Hoàng Trung, Bá Bính, Huỳnh Đình, Qui Trung, Tây Phương, Giá cá, Huỳnh Bà, Trung Hoàng, Tịnh Thổ, Hỗn Khang, Đơn Kiên, Thủ Nhất Đàn, Như Ý Châu, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan,Hư Không Tạng, Tịch Mịch Hải, Hoa Quang Tạng.

Kim Hoa, Nguyệt Phách, Linh Căn, Thác Thược, Khí Huyệt, Bắc Hải, Anh Nhi, Huyền Minh, Quan Nguyên, Khí Hải, Thổ Phủ, Huyền Khiếu, Sinh Môn, Tử Hộ, Hoa Trì, Khúc Giang, Hà Xa, Bồng Hồ, Dục Anh, Ngốc Bào, Hoả Tải, Chân Diên.

Hỗn Độn Khiếu, Tổng Trì Môn, Hi Di Phủ, Huyền Thai Đỉnh.
Đa Bảo tạng, Tạo Hoá Lô, Vô Tận Tạng, Yển Nguyệt Lô.

Khảm Ly Giao Cấu chi hương, Thiên Biến Vạn Hoá chi tổ, Tử Sinh Bất Tương Quan Chi Địa, Quỉ Thần khuy bất phá chi cơ, Hạo Khí Môn, Hạp Tịch Xứ, Trường Thai trụ Tức chi hương, An Thân Lập Mệnh chi gia, Sinh xát xá, Chân Kim Đỉnh.

Giải thích Phổ Chiếu Đồ:

Tầng thứ Nhất: Trực chỉ cái Khiếu: Tâm Nguyên, Tính Hải.

Tầng giữa: Trực Chỉ Khiếu: Hoàng Trung Chính Vị.

Tầng dưới: Trực Chỉ Khiếu: Nguyên Quan, Khí hải.

Gọi là Tiền Tam Quan.
<反照圖>
崑崙頂,翠微宮,圓覺海,中一宮,陀羅尼門,腦血之瓊房,魂精之王室,天人合發 之祝,十姆分胎之路,九崇鐵鼓太玄關;太澗池,上土釜,威光頂,般若岸,波羅密地,百靈之命宅,津液之山源,任督皆交之處,陰陽變換之鄉,三族金蟾藏金 斗。

清虛府,上天關,交感宮,三摩地,最高峰,崆峒山、紫清宮、玉金山、琉珠宮、紫金城、上丹田、摩尼珠,太微宮、祝融峰。玄室,黃房,天宮、真際、上島、天 根、玄門、彼岸:瑤池、泥丸、天谷、天堂、內院、紫府、寥天,帝乙,甑山、天符、玄都。

尾閭穴,朝天嶺,氣海門,曹溪路,三岔口,平易 穴,生死穴,上天梯,河車路,虎威穴,三岔骨,龍虎穴。咸池,陰端,禁門、會陽,長強、魄門、地融、陰嶠、桃康、人門、鬼路、會陰、谷道。
(反 照圖)

反照圖之下一層者,指出尾閭太玄之竅,中一層者,指出夾脊雙關之竅,上一層者,指出天穀泥丸之竅。此謂後三關也。丹陽雲:前三 三,後三三,收拾起,一擔擔,是此義也。

Côn Lôn Đỉnh, Thanh Hư Phủ, Thượng Thiên Quan, Giao Cảm Cung, Tam Ma Địa, Tối Cao Phong, Không Động Sơn, Huyền Thất, Huỳnh Phòng, Thiên Cung, Chân Tế, Thượng đảo, Thiên Căn, Huyền Môn, Bỉ Ngạn, Dao Trì, Nê Hoàn, Thiên Cốc, Thiên Đường, Nội Viện, Tử Phủ, Liêu Thiên, Đế Ất, Tắng Sơn, Thiên phủ, Huyền Đô, Chúc Dung Phong, Thái Vi Cung, Ma Ni Châu, Thượng Đơn Điền, Tử Kim Thành, Lưu Châu Cung, Ngọc Kinh Sơn, Tử Thanh Cung, Thái Giả trì.

Tuý Vi Cung, Viên Giác Hải, Trung Nhất Cung, Não Huyết chi Quỳnh Phòng, Hồn Tinh Chi Vương Thất, Thiên Nhân Hợp Phát Chi Chúc, Đà La Ni Môn, Thượng Thổ Phủ, Uy Quang Đỉnh, Bát Nhã Ngạn, Ba La Mật Địa, Bách Linh Chi Mệnh Xá, Tân Dịch Chi Sơn Nguyên, Tử Mẫu Phân Thai Chi Lộ, Cửu Trùng Thiết Cổ, Thái Huyền Quan, Vĩ Lư Huyệt, Triều Thiên Lãnh, Khí Hải Môn, Tào Khê Lộ, Tam Ban Khẩu, Bình Dị Huyệt, Hàm Trì, Âm Đoan, Cấm Môn, Hội Dương, Trường Cường, Phách Môn, Địa Trục, Âm Nghiêu, Đào Khang, Nhân Môn, Quỉ Lộ, Hội Âm, Cốc Đạo, Long Hổ Huyệt, Tam Ban Cốt, Hư Nguy Huyệt, Hà Xa Lộ, Thượng Thiên Thê, Sinh Tử Huyệt, Tàng Kim Đẩu, Tam Túc Kim Thiền, Âm Dương Biến Hoá Chi Hương, Nhâm Đốc Giao Tiếp Chi Xứ.

Nguyên Thần, Ngọc Chẩm, Ngọc Lâu, Phong trì, Phong Phủ, Thiên Trụ, Đào Đạo, Thân Trụ, Thần Đạo, Linh Đài, Chí Dương, Cân Tích Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Nguyên Quân, Long Hoả, Hổ Thuỷ, Mệnh Môn, Đốc Phủ, Diệu Quân, Yêu du, Trường Cường.

Giải thích Phản Chiếu đồ:
Tầng dưới cùng: Trực Chỉ Huyệt Vĩ Lư Thái Huyền.

Tầng giữa là Khiếu Giáp Tích Song Quan.

Tầng trên cùng là Khiếu: Thiên Cốc Nê Hoàn.

Đó là Hậu Tam Quan.

Mã Đơn Dương nói:

Tiền Tam Tam, Hậu Tam Tam, thu thập khởi, Nhất đảm đảm. 前 三 三 後 三 三 收
拾 起 一 擔 擔

(Tìền Tam Tam, hậu tam tam, Thu thập thành một gánh.)

<時照圖>
(時 照圖)

時照圖者,發明陽升陽降之機,四象環中之妙。

THỜI CHIẾU ĐỒ

Nguyên Khí vận hành:

Nguyên Khí con người theo thời gian phát sinh:

Giờ Tý Phục khí đến Vĩ Lư (Lúc ấy Nhất Dương chi khí thượng thăng, vào huyệt Vĩ Lư, nơi chót cuối xương sống).

Giờ Sửu, là Quẻ Lâm, khí đáo Thận Đường.

Giờ Dần là Quẻ Thái, khí đến Huyền Khu.

Giờ Mão là Quẻ Đại Tráng, khí đến Giáp Tích.

Giờ Thìn là Quẻ Quải. Khí tới Đào Đạo

Giờ Tị là Quẻ Kiền. Khí tới Ngọc Chẩm.

Giờ Ngọ là Quẻ Cấu. Khí tới Nê Hoàn.

Giờ Mùi là Quẻ Độn. Khí đến Minh Đường (Dưới Họng).

Giờ Thân là Quẻ Bĩ. Khí đến Đản Trung (Giữa 2 vú).

Giờ Dậu là Quẻ Quán. Khí đến Trung Quản.

Giờ Tuất là Quẻ Bác. Khí đến Thần Quyết (Rốn).

Giờ Hợi là Quẻ Khôn, Khí về Khí Hải (Dưới Rốn 1 tấc rưỡi).

Thân người có hai mạch Nhâm Đốc, tổng quản Âm Mạch, Dương Mạch.

Mạch Nhâm khởi từ Trung Cực (Đan Điền hạ huyệt), tuần hoàn trong ruột, tới Quan Nguyên (dưới rốn 3 tấc), đến Yết Hầu, làm chủ Âm mạch.

Đốc Mạch khởi từ Hội Âm, xuyên qua xương sống lên đến Phong Phủ, theo trán xuống mũi, làm chủ Dương Mạch.
Qui tức là thở bằng Nhâm Đốc không thở bằng mũi.

Ai thông được 2 mạch Nhâm Đốc thì các mạch đều thông và không bị bệnh tật.

Giải thích Thời Chiếu đồ:

Phát huy cơ Dương Thăng, Âm Giáng, Tứ tượng hoàn trung chi diệu.
<內 照圖>

(內 照圖)

內照囹者,指示五臟六腑、二十四椎、任督兩脈,使內觀者知有下手處。若人不明竅而言修,猶人未能立而言行也。從古諸仙皆口口相 傳、心心相授,不敢明將此竅示人,是懼泄天機之故耳。吾師尹公開佛之正知見,等眾生如一子,繪此四圖接引後之迷者,意在普度有緣,同出生死苦海。

NỘI CHIẾU ĐỒ
Tâm như Quân Chủ, Thần Minh do đó mà ra.

Phế như quan Phụ Tá. Nó đem lại sự tiết độ.

Gan như Tướng Quân, chủ mưu lự.

Đởm như là quan trung chính. Nó quyết đoán mọi sự.

Đản Trung (giữa 2 vú) là quan đồng thần sứ. Nó sinh ra Hỉ Lạc.

Tì như quan Thương Lẫm. Nó sinh ra ngũ vị.

Đại Trường như quan truyền đạo. Nó sinh biến hóa.

Tiểu Trường như quan Thụ Thịnh. Nó hóa mọi vật.

Thận như quan tác cường. Kỹ xảo do đó mà sinh.
Não như Tủy Hải. Tủy trong người tụ nơi đó. Trên thì tới Nê Hoàn, dưới thì xuống Vĩ Lư, do mạch Đốc làm chủ.

Đản Trung ở giữa hai vú. Đó là nơi Khí tụ, phân bố Âm Dương, cội nguồn sinh hóa. Nên gọi là Bể.

Cách Mô dưới Phổi, cùng với xương sườn, bụng dính nhau. Tựa như tấm màn, khiến cho trọc khí không nung nấu được thượng tiêu.

U Môn ở giữa Tiểu Tràng, Đại Tràng, làm cho Tân dịch thấm nhập Bàng Quang, lọc uế trược cho vào Đại Tràng. Biến hóa xuất phát từ đấy.

Giải thích Nội Chiếu đồ:

Chỉ bày Ngũ tạng, lục phủ, 24 xương chuỳ, Nhâm Đốc nhị Mạch, để người tu trì biết đường hạ thủ công phu.

Nếu người không hiểu rành về Khiếu mà nói tu, khác gì chưa biết đứng mà đòi biết đi.

Xưa nay chư tiên chỉ khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thụ, không dám đem khiếu này chỉ vẽ cho đời, vì sợ tiết lậu Thiên cơ.

Nay Thày ta, công khai Chính tri của Phật, coi chúng sinh nhưng con, lại vẽ bốn đồ hình này để tiếp dẫn người sau chưa biết. Đó là ý muốn phổ độ những người có duyên để cùng ra khỏi khổ hải sinh tử.

—————–

*Giải thích các hình vẽ trên (nhắc lại)
1. Phổ chiếu đồ.

Tầng thứ Nhất: Trực chỉ Khiếu: Tâm Nguyên, Tính Hải.
Tầng giữa: Trực chỉ Khiếu: Hoàng Trung Chính Vị.
Tầng dưới: Trực chỉ Khiếu: Quan Nguyên, Khí Hải.
Gọi là Tiền Tam Quan.

2. Phản Chiếu đồ.

Tầng dưới cùng: Trực chỉ Khiếu Vĩ Lư Thái Huyền.
Tầng dưới là Khiếu Giáp Tích Song Quan.
Tầng trên cùng là Khiếu Thiên Cốc, Nê Hoàn.
Đó là Hậu Tam Quan.

Mã Đơn Dương nói: Tiền Tam Tam, Hậu Tam Tam, thu thập khởi, Nhất đảm đảm. 前三三,后三三,收拾起,一担担 (Tiền Tam Tam, hậu tam tam, Thu thập thành một gánh.)

3. Thời chiếu đồ.

Phát huy cơ Dương Thăng, Âm Giáng, Tứ tượng hoàn trung chi diệu.

4. Nội chiếu đồ.

Chỉ bày Ngũ tạng, lục phủ, 24 xương chùy, Nhâm Đốc nhị Mạch, để người tu trì biết đường mà hạ thủ công phu.
Nếu người không hiểu rành về Khiếu mà nói tu, khác gì chưa biết đứng mà đòi biết đi.

Xưa nay chư tiên chỉ khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thụ, không dám đem khiếu này chỉ vẽ cho đời, vì sợ tiết lậu Thiên cơ.

Nay Thày ta, công khai Chính tri của Phật, coi chúng sinh như con, lại vẽ bốn đồ hình này để tiếp dẫn người sau chưa biết. Đó là ý muốn phổ độ những người có duyên để cùng ra khỏi khổ hải sinh tử.

<太 極圖>

(太 極圖)

此○者,釋曰圓覺,道曰金丹,儒曰太極。所謂無極而太極者,不可極而極之謂也。凡人始生之初,一點靈光而所以主張乎形骸者, 太極也。父母未生以前,一片太虛而所以不屬乎形骸者,無極也。度師曰:欲識本來真面目,未生身處一輪月。

尹公曰:太極有二理,自運 行而言則曰時候。雖天地不外乎一息,自凝結而言則曰真種。雖一黍可包乎天地,宿蟄、歸根、晏息、杳冥是為時侯太極。孕字、結實、交媾、結胎,是為真種太 極。人能保完二極而無失,則可以長生不化,豈止盡年,令終而已哉。

太極發揮

大哉!吾身之太極。生生化化,與天地終。長生不化,超出天地。戒傷生,忌惡化,可以盡年,可以令終。絕其生,斷其化,可以長生,可以不化。盡年令終,與 凡夫異;生長不化,與仙佛同。兩者皆從太極中出,而作用不同。

人皆知太極在未有天地萬物之先,而不知既有天地萬物,各有太極具焉。 太極有時候、有真種。

未有天地萬物之太極,在戌亥二會。有此二會,太極斯有一元造化。每年太極在九月、十月,有此兩月太極,斯有一 年造化。每月太極在二十六至三十,有此五日太極,斯有一月造化。每日太極在戌亥二時。有此二時,太極斯有一日造化。一時太極在窈窈冥冥二候,有此二候太 極,所有一時造化。

動物太極在宿蟄孕字,植物太極在歸根結實,人身太極在晏息、窈冥、交媾、結胎。交媾有時,調養有法,不傷太極, 此盡年令。終斷淫欲,時入窈冥,保完太極,此乃長生不化。盡年令終之道,亦有毀壞。長生不化之道,可以成仙,可以作佛,終無毀壞。豈直異於凡夫,別於草木 禽獸雲乎哉?

THÁI CỰC ĐỒ

Vô Cực 无极, Thái Cực 太极

Dương động 阳动, Âm tĩnh 阴静

Kim 金, Mộc 木, Thủy 水, Hỏa 火, Thổ 土

Khôn đạo sinh Nữ 坤道生女, Càn đạo sinh Nam 乾道生男

Vạn vật hóa sinh万物生化

Vòng tròn này, Phật gia gọi là Giác, Đạo gia gọi là Kim Đơn, Nho gia gọi là Thái Cực.

Gọi Vô Cực (Nguyên Thủy vô vật) mà Thái Cực (Phái Sinh vạn vật chi Bản Nguyên) nghĩa là không thể truy cứu được sự bắt đầu của nó. Khi con người sơ sinh, có một điểm Linh Quang, đó là Nguyên Nhân sinh ra hình tướng, đó là Thái Cực thuyết.

Khi cha mẹ chưa sinh, thì có một khối Thái Hư. Đó là chủ trương: hình tướng ta sinh ra có nơi có chốn. Đó là thuyết Vô Cực.

Độ sư nói: Dục nhận Bản Lai chân diện mục. Vị sinh thân xứ thị Thái Hư.

Doãn Chân Nhân thuyết: Thái Cực có một Lý, tự vận hành gọi là Thời Hầu. Trời đất tuy lớn nhưng cũng không ngoài một hơi thở. Khi ngưng kết bất động thì gọi là Chân Chủng.

Chân Chủng ấy tuy nhỏ như hạt thóc, nhưng tranh thắng được với trời đất, lúc an phục qui căn, tĩnh tức tra minh thì là Thời Hầu Thái Cực (Khi tĩnh), Dựng dục kết thực, giao cấu kết thai thì là Chân Chủng Thái Cực (khi hoạt động). Nếu ta bảo tồn được hai cực đó mà không mất mát, thì sẽ trường sinh bất hóa, há đâu chỉ trọn một kiếp người mà thôi.
THÁI CỰC ĐỒ PHÁT HUY

Lớn thay là Thái Cực trong ta. Nó sinh sinh hóa hóa. Cùng đất trời chung thủy.

Nếu được trường sinh, bất hoá nó sẽ siêu xuất thiên địa. Không làm hại sự sống, không chết oan uổng, sẽ sống trọn một đời.

Nếu đoạn tuyệt được sinh tử, sẽ trường sinh, bất hóa. Sống trọn tuổi đời cũng khác phàm phu.

Nếu trường sinh, bất hóa, có thể đồng Tiên Phật. Hai lẽ đó đều từ Thái Cực phát xuất ra nhưng tác dụng không giống nhau.

Người người đều biết rằng Thái Cực có từ trước trời đất, vạn vật, nhưng không biết rằng sau khi đã có trời đất vạn vật, thì vạn loài vẫn có đủ Thái Cực. Thái Cực có Thời Hầu, có Chân Chủng.

Khi chưa có trời đất vạn vật, thì Thái Cực ở hội Tuất, Hợi. Có hai hội này, Thái cực mới có được Nhất Nguyên Tạo Hóa (Một Nguyên là 129.600 năm, một hội là 10.800 năm).

Mỗi năm Thái Cực ở hai tháng: tháng 9 và tháng 10. Có được hai tháng ấy, Thái Cực mới có được một năm tạo hóa.

Mỗi tháng có 5 ngày Thái Cực, từ 26 tới ngày 30. Nhờ có 5 ngày này, Thái Cực mới có 1 tháng Tạo Hóa.

Mỗi ngày có hai giờ Thái Cực là giờ Tuất và giờ Hợi. Nhờ hai giờ này, Thái Cực mới có 1 ngày Tạo Hóa.

Mỗi giờ Thái Cực tại yểu yểu, minh minh hai Hầu. Nhờ hai Hầu này, Thái Cực mới có một giờ Tạo Hóa.

Ở động vật, thì Thái Cực an phúc, sinh nở vào ban đêm. Ở thực vật, thì Thái Cực quy căn, kết trái. Ở người, thì Thái Cực, yên tức, ảo minh, giao cấu, kết thai.

Giao cấu đúng thời, điều dưỡng đúng phép, sẽ không làm tổn thương Thái Cực, thì sẽ sống một đời bình thường.

Nếu đoạn tuyệt được dâm dục, vào được ảo minh, bảo toàn được Thái Cực, thì có thể trường sinh bất tử.

Sống hết một đời (như phàm nhân) rồi cũng bị hủy hoại, còn thành tiên, tác Phật sẽ trường sinh bất tử, không bao giờ bị hủy hoại.

Như vậy có khác với phàm phu, với cầm thú, cỏ cây không?

<中心圖>
《易》曰:天下何思何慮。《論語》曰: 天下歸人。此天下“下”字,與天地之間“間”字,天地之心“心”字,皆只此中而言,所謂孔顏樂處是也。

天之極上處,至地之極下處,總 八萬四千里。自天之極上處至地之上四萬二千里。自地之上至地之極下處,亦四萬二千里,人身亦然。故曰:天地之間亦曰黃中。黃乃土之正色,而仁在其中矣。故 曰安土敦仁至於義也、禮也、智也,皆根於此。故曰:仁、義、禮、智根於心,渾然在中,粹然至善。故曰在止於至善,知止而後有定。若易之艮其止,書之安汝止 者,止之義一也,亦謂之密。故曰聖人以此喜心退藏於密。其中本虛,原與太虛,渾而為一。故曰聖人與太虛同體。

乾之情性在於坤,坤之情 性在於乾,此坎離之所以交,而天地之所以泰也。若水潤下,而火炎上,此亦其性情然也。若不得乾坤之性情以復其初焉,則水自水,而火自火,不生不降不相為用 矣。先天雖不屬氣,而太和元氣、浩然之氣,皆由此中出,所謂無氣而生氣也。而凡有氣血莫不賴之,以生以長,而配天配地矣。堯舜允執之中,即孔子中心之心 也。心之磨焉。心在其中者,中心也。故中心之中既實,則五行之心自虛矣。所謂聖人無心而有心者此也。
(中 心圖)

此圖專指人心虛靈不昧一竅而說。這個竅原是廓然無際,神妙莫測的,原是渾然大中、不偏倚的,原是粹然至善、純一不雜的。昭昭 乎本是圓明洞徹而無礙。以為有不睹不聞,奚所有也;以為無至靈至神,未嘗無也,本無方所亦無始終。

未有天地萬物之先,這個原是如 此;既有天地萬物之後,這個只是如此,至無至有、至有至無,乃乾坤之靈體,元化之玄樞,人人性命之本原,天下萬物、萬事之大本。太易所謂太極四象、八卦皆 由此出。大舜之謂中,孔子之謂一。帝王之授受,聖賢之相傳。明此便是克明峻德,知此便是知易,見此便是見道,立此便是立天下之大本,通此,性由我盡、命由 我立,造化盡在我矣。

TRUNG TÂM ĐỒ

Kiền Tiên Thiên: Trong Dương có Âm. Ly Hậu Thiên, Trong Hỏa có Thủy. Tinh Tiên Thiên là Vô Cực, là Nhân, Thổ.

Từ chỗ cao nhất của Trời đến chỗ thấp nhất của đất là 84.000 dặm.

Từ chỗ cao nhất của Trời đến chỗ cao nhất của Đất là 42.000 dặm.

Từ chỗ cao nhất của Đất đến chỗ thấp nhất của Đất là 42.000 dặm.

Thân con người cũng vậy, cho nên giữa Trời và Đất gọi là Huỳnh Trung.
Huỳnh là màu chính của Đất, và đức Nhân ở trong đó. Cho nên nói An Thổ đôn Nhân. Cho đến Lễ, Nghĩa và Trí cũng gốc tại đó. Cho nên nói: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí đều gốc ở Tâm, hồn nhiên tại Trung, và Thuần Tuý chí thiện. Cho nên nói: Tại chỉ ư chí thiện. Tri chỉ nhi hậu định.

Dịch nói Cấn kỳ chỉ. Kinh Thư nói: An nhữ chỉ. Các nghĩa của chữ Chỉ đều giống nhau. Chỉ còn gọi là Mật. Cho nên Thánh Nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật. Cái Trung này, vốn hư trống nên cùng với Thái Hư hồn nhiên là Một. Cho nên nói: Thánh Nhân với Thái Hư đồng nhất thể.

Chu Dịch viết: Thiên hạ hà tư hà lự.

Luận Ngữ viết: Thiên hạ quy Nhân.

Gọi là Thiên hạ, hay Thiên Địa chi gian, hay Thiên Địa chi Tâm cũng cùng một nghĩa. Tất cả còn gọi là Trung (Trung là Thái Hư, là Thiên Địa chi Tính).

Gọi là Tâm hay là Trung cũng vậy. Đó chính là chỗ vui của Khổng Tử và Nhan Hồi.

Tính Tình của Kiền ở Khôn. Tính Tình của Khôn ở Kiền. Do đó mà Khảm Ly mới giao nhau, và Trời Đất mới được Thái Khang. (Thiên Địa giao Thái)

Nếu như Thuỷ nhuận hạ và Hoả viêm thượng, thì đó cũng là Tính Tình tự nhiên của chúng. Nếu chúng không được Tính Tình của Kiền Khôn, để “phục kỳ sơ” thì Thuỷ là Thuỷ mà Hoả là Hoả. Hai bên không thăng không giáng, không thể làm cái dụng cho nhau.

Tiên Thiên khí tuy chẳng thuộc về Khí, nhưng Thái Hoà Nguyên Khí, và Hạo Nhiên chi khí cũng từ trong khí Tiên Thiên đó phát sinh. Cho nên nói: Vô Khí nhi sinh Khí.

Giống nào có khí cũng phải nhờ Khí này mà sinh mà trưởng, phối hợp, với Thiên Địa.

Nghiêu Thuấn nói: Doãn chấp quyết Trung. Đó chính là cái Trung Tâm chi Tâm của Khổng Tử. Khổng Tử ở giữa Tâm này. Nếu Trung Tâm này là thật, thì trung tâm ngũ hành sẽ là Hư. Cho nên nói: Thánh Nhân vô tâm mà hữu tâm.

Đồ hình này trực chỉ vào “Nhân Tâm hư linh bất muội”. Khiếu này khuếch nhiên vô tế, thần diệu mạc trắc. Nguyên thuỷ Hồn Nhiên Chính Trung. Biết thiên, bất ỷ, thuần tuý chí thiện, thuần nhất bất tạp, nó vốn viên minh, động triệt và vô ngại, nói rằng có, thì nghe nhìn chẳng thấy, sao gọi nó là có. Nói rằng Không, thì nó Chí Linh, Chí Thần, chưa hề là Không. Nó vốn không nơi, không chốn, không có thuỷ chung.

Khi chưa có Đất Trời, thì nó đã như vậy. Khi đã có trời đất muôn vật, thì nó cũng vẫn như vậy.

Nó thật là “Chí Vô, Chí Hữu, Chí Hữu, Chí Vô”. Nó là Linh Thể của trời đất, là Huyền Khu của mọi biến hoá, là Bản Nguyên Tính Mệnh mỗi người, là đại bản của thiên hạ vạn vật.

Thái Dịch cho rằng: Thái Cực, Tứ Tượng, Bát Quái đều do đó phát sinh.

Vua Thuấn gọi đó là Trung, Khổng Tử gọi đó là Nhân, vạn đại đế vương xưa nay đều truyền cho nhau, Thánh hiền xưa nay cũng đều truyền cho nhau. Hiểu được như vậy là “Khắc minh tuấn đức”. Hiểu lẽ này là hiểu Kinh Dịch, thấy được lẽ này là thấy được Đạo.

Kiến lập được Tâm này, tức là kiến lập được đại bản cho thiên hạ.

Thông suốt được Tính này là do ta. Lập được Mệnh này cũng là do ta, Công trình Tạo Hoá đều do ta.

火龍水虎說
五行顛倒術,龍從火裏出。五行不順行,虎向水中生。
夫黑鉛、水虎者,是天地發生之根,乃有質而有氣也。紅鉛、火龍者,是天地發生之本,乃有氣而無質也。有質者,真鉛也,大陰月之精也,為天地萬物育形之 母。無質者,真汞也,太陽日之光也,為天地萬物發生之父。鉛汞之體,互相孽胤,迴圈不絕,可謂生天、生地,生萬物之祖宗也。

古之至 人,知神物隱於此,假法象而採取太陰之精,設鼎器而誘會大陽之氣,使歸神室,混混相交,交合不已,孽產無窮,而水中生魂,金中生魄,魂魄凝然,化為鄞鄂, 交結百寶,名曰金液還丹。
HOẢ LONG THUỶ HỔ ĐỒ THUYẾT
Hắc diên là Thuỷ Hổ. Đó là gốc sinh vạn vật. (Âm khí) Vừa có Chất vừa có Khí.

Hồng diên là Hoả Long. Đó là căn cội vạn vật. (Dương Khí) Có Khí mà không có Chất.

Hữu Chất là Chân Diên, là Thái Âm, là Tinh Hoa mặt trăng, là Nguyên Thần, đó là Mẹ sinh muôn vật.

Vô Chất là Chân Hống, là Thái Dương, là Tinh Hoa mặt trời, là Nguyên Khí, đó là Cha sinh muôn vật.

Cái thể của Diên Hống (Nguyên Thần, Nguyên Khí) hỗ tương sinh hoá, tuần hoàn bất tuyệt. Có thể nói đó là tổ tông sinh ra Trời đất vạn vật.

Xưa các bậc Chí Nhân biết có Thần Vật ẩn ở đó, nên mới Pháp Tượng (Bắt chước tượng quải), để thái thủ tinh hoa Thái Âm, lập Đỉnh Khí (Đan Điền) để hội tụ khí Thái Dương, khiến chúng quy về Thần Thất và tương giao với nhau.

Giao hợp mãi mãi, sinh hoá vô cùng, và trong Mộc (Gan) sẽ sinh hồn (Nguyên Thần), trong Kim (Phổi) sẽ sinh Phách (Nguyên Khí). Hồn Phách ngưng kết tụ hợp, hoá thành Nội Đơn (Ngân Ngạc), giao kết trăm báu, tên gọi là Kim Dịch Hoàn Đơn.
日烏月兔說

姹女捉烏,以吞玉兔;
嬰兒驅兔,以吸金烏。
日中烏,烏乃神,神是火,火屬心,心為汞,汞在離;
月中兔,兔乃氣,氣是藥,藥屬身,身為鉛,鉛在坎。

身心兩個字是藥也是火,採時謂之藥,藥中有火焉。煉時謂之火,火中有藥焉,以火 煉藥而成丹,即是以神御氣而成道也。
(日烏月兔圖)
日者,陽也。陽內含陰,象砂中有汞也。陽無陰,則不能自耀其魂,故名曰雌火,乃陽中含陰也。日中有烏,卦屬南方,謂之離女。故曰:日居高位反為女。

月者,陰也。陰內含陽,象鉛中有銀也。陰無陽,則不能自瑩其魄,故名曰雄金,乃陰中含陽也。月中有兔,卦屬北方,謂之坎男。故曰:坎配蟾宮卻是男。

無漏雲:鉛求玉兔腦中精,汞取金鳥心內血,只驅二物結成丹,至道不繁無扭捏。

悟真雲:先把乾坤為鼎器,次搏烏免藥來烹,既驅二物 歸黃道,爭得金丹不解生。

二物者,一體也。

NHẬT Ô NGUYỆT THỐ ĐỒ
Xá Nữ trúc Ô, dĩ thôn Ngọc Thố.
姹女捉乌以吞玉兔

Anh Nhi khu Thố, dĩ hấp Kim Ô
婴儿驱兔以吸金乌

Trong Nhật là Ô, Ô là Thần, Thần là Hoả, Hoả thuộc Tâm, Tâm là Hống, Hống là Li.

Trong Nguyệt là Thố, Thố là Khí, Khí là Dược, Dược thuộc Thân, Thân là Diên, Diên là Khảm.

Hai chữ Tâm Thân, là Dược, là Hoả, lúc Thái Thủ thì gọi là Dược, trong Dược có Hoả, lúc luyện thì là Hoả, trong Hoả có Dược. Dùng Hoả luyện Dược để thành Đơn, dĩ Thần ngự Khí sẽ thành Đạo.

NHẬT Ô, NGUYỆT THỐ THUYẾT

Nhật là Dương. Trong Dương hàm chứa Âm, tượng trong Cát có Hống. Dương không có Âm, không làm cho Hồn được sáng. Nên gọi là “Thư Hoả” đó là Dương Trung hàm Âm vậy.

Trong Nhật có Ô, quẻ thuộc Nam Phương, gọi là Ly Nữ. Cho nên nói: Nhật cư Ly vị, phản vi nữ.

Nguyệt là Âm. Trong Âm có hàm chứa Dương, tượng trong Diên có Ngân. Âm không có Dương, không là cho Phách được sáng, cho nên gọi là “Hùng Kim”. Đó là Âm trung hàm Dương vậy.

Trong Nguyệt có Thố, quẻ thuộc Bắc Phương, gọi là Khảm Nam. Cho nên nói: Khảm phối Thiềm cung, khước thị Nam 坎配蟾宫却 是男。

Sách Vô Lậu nói:

Diên cầu Ngọc Thố não trung tinh, 铅求玉兔脑中精,
Hống thủ Kim Ô tâm nội huyết. 汞取金鸟心内血,
Chỉ khu nhị vật kết thành Đơn. 只驱二物结成丹,
Chí Đạo bất phiền vô nữu niết. 至道不繁无扭捏。
Bài thơ trên có thể viết giản dị lại như sau:

Thần tụ Ngọc Thố não trung tinh 神聚玉兔脑中精,
Khí hợp Kim Ô tâm nội huyết 气合金鸟心内血,
Tinh Thần Khí Huyết hợp thành đan 精神气血合成丹,
Đại đạo giản dị hựu trực tiếp 大道简易又直接。

Thần là Ngọc Thố, Tinh trong Não
Khí là Kim Ô, máu trong Tâm
Tinh thần khí huyết thành Đan hợp
Chí Đạo rõ ràng chẳng khó đâu

Ngộ Chân Thiên viết:

Tiên bả Kiền Khôn vi Đỉnh Khí 先把乾坤为鼎器,
Thứ đoàn ô Thố dược lai phanh 次搏乌免药来烹,
Ký khu nhị vật quy Hoàng Đạo 既驱二物归黄道,
Tranh đắc kim đơn bất giải sinh 争得金丹不解生。

Bài thơ trên giản dị hoá như sau:

Tiên bả Kiền Khôn tố luyện lô 先把乾坤做炼炉,
Thứ thủ Thần Khí dược lai phanh 次取神气药来烹,
Hợp vi nhất thể chu kỳ đáo 合为一体周期到,
Tiện hữu Kim Đơn dĩ luyện thành 便有金丹以炼成。

Trước lấy Kiền Khôn là Lô Đỉnh
Sau đem Thần Khí thuốc về đun
Hai bên hợp lại thành Nhất Thể
Như vậy Kim đan đã luyện thành.
大 小 鼎 爐 說

笑汝安名偃月爐,聖人思議費工夫。其中一味長生藥,不與凡人話有無。
笑汝安名偃月爐,金丹只此莫 他圖。愛河風靜外邊看,方見摩尼一顆珠。
汝何形象好懸胎,一朵真鉛花正開。只為金丹好消息,聚歸鼎內結嬰孩。
汝何形象好懸胎,都 把聲名遍九垓。豈但生人生萬物,作仙作佛要他來。
偃月爐中玉蕊生,原硃鼎內水銀平。只因火力調和後,種得黃芽漸長成。
安爐立鼎法 乾坤,煅煉精神制魄魂。鼎內若無真種子,猶將水火煮空鐺。

凡修金液大丹,必先安爐立鼎。鼎之為器,非金非鐵;爐之為具,非玉非石。黃庭為鼎,氣穴為爐。黃庭正在氣穴上,縷絡相連,乃人身百脈交匯之處。鼎卦曰: 正位凝命是也。此謂之小鼎妒也。

乾位為鼎,坤位為爐。鼎中有水銀之陰,即火龍性根也。爐內有玉蕊之陽,即水成命蒂也。虎在下,為發 火之樞機;龍居上,起騰雲之風浪。若爐內陽生陰降無差,則鼎中天魂地魄留戀,青龍與白虎相拘,玉免與金烏相抱。火候調停,煉成至寶。故青霞子曰:鼎鼎非金 鼎,爐爐非玉爐。火從臍下發。水向頂中符。三姓既會合,二物自相拘。固濟胎不泄,變化在須臾。此謂之大鼎爐也。

ĐẠI TIỂU ĐỈNH LÔ ĐỒ
Tiếu nhữ an danh Yển Nguyệt Lô (chỉ Đan Điền)
笑汝安名偃月炉

Thánh Nhân tư nghị phí công phu
圣人思议费工夫

Kỳ trung nhất vị Trường sinh dược (chỉ Nội đan)
其中一味长生药

Bất dữ phàm nhân thoại hữu vô
不与凡人话有无
Cười người tưởng biết Yển Nguyệt Lô,
Lời lẽ Thánh Nhân, nghĩ hiểu ra
Khó thể biết tường Trường sinh dược,
Chuyện ấy phàm phu khó mà dò.
Tiếu nhữ an danh Yển Nguyệt Lô 笑汝安名偃月炉
Kim đơn chỉ thử mạc tha đồ 金丹只此莫他图
Ái hà phong tĩnh ngoại biên khán, 爱河风静外边看
Phương kiến Ma Ni nhất khoả châu. 方见摩尼一颗珠

Cười người tưởng hiểu Yển Nguyệt Lô,
Kim đan tại đó, chẳng có xa.
Nếu thấy dục tình không khởi động,
Châu ngọc Kim đan sẽ sáng loà.
Nhữ hà hình tượng hiệu Huyền Thai 汝何形象号悬胎
Nhất đoá Chân Diên hoa chính Khai 一朵真铅花正开
Chỉ vị Kim Đơn hảo tiêu tức 只为金丹好消息
Thủ qui đỉnh nội kết Anh Hài 聚归鼎内结婴孩

Thánh thai hình tượng đó ra sao, Một đoá Chân Diên hoa vừa nở
Kim Đơn như vậy, chính tin vui. Hãy hái đem về kết Anh Hài.
Nhữ hà hình tượng hiệu Huyền Thai 汝何形象号悬胎
Khước bả thanh danh biến cửu cai 都把声名遍九垓
Khởi đãn sinh nhân, sinh vạn vật, 岂但生人生万物
Tố Tiên tố Phật yếu tha lai. 作仙作佛要他来

Thánh thai hình tượng đó ra sao?
Tên nó vang danh truyền thiên hạ
Sinh trời sinh đất, tạo vạn loài
Tạo Tiên, tạo Phật cũng không ngoài.

Yển Nguyệt Lô trung ngọc nhuỵ sinh, 偃月炉中玉蕊生
Chu Sa đỉnh nội thuỷ ngân bình 原硃鼎内水银平
Chỉ nhân hoả lực điều hoà hậu 只因火力调和後
Chủng đắc Hoàng Nha tiệm trưởng thành 种得黄芽渐长成

Yển Nguyệt lô trung, Ngọc Nhuỵ sinh
Trong đỉnh Chu Sa, Thuỷ ngân bình.
Điều hoà Hoả lực cho đúng cách,
Như vậy Hoàng Nha sẽ trưởng thành

An lô lập đỉnh pháp Kiền Khôn 安炉立鼎法乾坤
Luyện đoạn tinh thần chế phách hồn, 炼煅精神制魄魂
Đỉnh nội nhược vô chân chủng tử 鼎内若无真种子
Do tương Thuỷ Hoả chử không đang 犹将水火煮空铛

An Lô, Lập Đỉnh bắt trước Trời
Đoàn luyện Tinh Thần, chế phách hồn,
Nếu trong đỉnh nội, không Nguyên Khí
Lò không như vậy, đúc hun gì?

ĐẠI TIỂU ĐỈNH LÔ THUYẾT

Phàm tu Kim Dịch Đại Đơn, trước phải An lô, Lập đỉnh.

Đỉnh đây là khí vật, không bằng vàng, không bằng sắt.

Lô là dụng cụ không bằng ngọc hay bằng đá.

Huỳnh Đình là Đỉnh, Khí Huyệt là Lô.
Huỳnh Đình ở trên Khí Huyệt, kinh lạc tương liên với nhau, là chỗ giao hội của trăm mạch trong người.
Quẻ Đỉnh viết: Chính vị ngưng mệnh 正位凝命 (Ngôi vị quân tử có chính đáng, thì dân mới nghe lời). Thế gọi là Tiểu đỉnh lô.

Ngôi vị của Kiền là Đỉnh, ngôi vị của Khôn là Lô.

Trong Đỉnh có Âm Khí của Thuỷ Ngân, hay Hoả Long Tính Căn 火龙性根 (Nguyên Thần chi bản 元神之本). Trong Lư có Dương Khí của Ngọc Nhuỵ, hay Thuỷ Hổ Mệnh Đế 水虎命蒂 (Nguyên Khí chi bản 元气之本). Hổ ở dưới là động cơ phát hoả. Long ở trên gây sóng gió đằng vân.

Nếu trong lò, Dương thăng Âm giáng không sai, thì trong Đỉnh, Thiên Hồn Địa Phách lưu luyến, Thanh Long Bạch Hổ tương câu, Ngọc Thố Kim Ô tương bão, Hoả Hầu điều đình, luyện thành chí bảo.

Nên Thanh Hà Tử nói:

Đỉnh Đỉnh phi Kim Đỉnh,
Lô Lô phi Ngọc Lô,
Hoả tòng Tề hạ phát,
Thuỷ hướng đỉnh trung phù

鼎鼎非金鼎, 炉炉非玉炉。火从脐下发。水向顶中符。

Tam Tinh kỷ hội họp,
Nhị vật tự tương câu,
Cố tế (Tồn Tâm Định ý) thai bất tiết.
Biến hoá (Đại Đạo thành) tại tu du.

Thế gọi là Đại đỉnh lô.

內外二藥說
上藥三品,神與氣精。其體則一,其 用則二。何謂體?本來三寶一體是也。何謂用?內外兩般作用是也。故《悟真篇》云:內藥還同外藥,內通外亦須通。丹頭火熱自然紅,溫養兩作用,此漸教也,權 法也,接中根及下根人。

大藥雖分神、氣、精,三般原是一根生。凡夫生死如輪轉,只因迷卻本來心。心即性也,故即然子曰:本來真性號 金丹,四大為爐煉作圖,此頓教也、實法也。接上根及上上根人。

凡修煉者,先修外藥,後修內藥。若高上之士,夙植靈根,故不煉外藥,便煉內藥。內藥無為無方。為外藥有為有以,為內藥無形無質。而實有外藥,有體有用。 而實無外藥,可以治病,可以長生。久視內藥,可以超越,可以出有入無。外藥外陰陽往來,內藥內坎離輻輳。以外藥言之,交感之精,先要不漏,呼吸之氣,更要 微微,思慮之神,貴在安靜。以內藥言之,煉精者,煉元精,抽坎中之元陽也,元精固,則交感之精自不洩漏;煉氣者,煉元氣,補離中之元陰也,元氣住,則呼吸 之氣自不出入;煉神者,煉元神,坎離合體而複乾元,元神凝則思慮之神自然泰定。

內外兼修,成仙必矣。

NỘI NGOẠI NHỊ DƯỢC ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Thượng dược Tam Phẩm là Thần, Khí, Tinh. Bản thể tuy là ba nhưng công dụng thì chỉ có hai: sao gọi là Thể.
Tam bảo tuy ba, nhưng chỉ có một thể. Còn công dụng thì có trong ngoài.

Cho nên Ngộ Chân Thiên viết:

Nội dược (Nguyên thần) hoàn đồng ngoại dược (Nguyên khí)
内药还同外药
Nội dược thông, Ngoại dược tu thông 内药通外药须通
Đan đầu hoả thục tự nhiên hồng 丹头火热自然红
Ôn dưỡng lưỡng tác dụng. 温养两作用

Đó là Tiệm giáo, là Quyền Giáo, giúp người Trung Căn và Hạ Căn.

Đại Dược tuy phân Thần, Khí, Tinh 大药虽分神气精
Tam ban nguyên thị nhất căn sinh 叁般原是一根生
Phàm phu sinh tử như luân chuyển 凡夫生死如轮转
Chỉ nhân mê khước bản lai tâm 只因迷却本来心

Đại dược tuy phân Thần, Khí, Tinh
Tam ban kỳ nhược một gốc sinh
Con người sở dĩ bị luân chuyển
Chính vì không biết Bản Lai Tâm

Tâm tức là Tinh. Cho nên, Tức Nhiên Tử nói:

Bản Lai Chân Tính hiệu Kim Đơn 本来真性号金丹
Tứ đại vi lô, luyện tác đoàn. 四大为炉炼作团

Bản Lai Chân Tính ấy là Kim Đan
Tứ đại làm lò, luyện thành đoàn.

Đó là Đốn Giáo, đó là Thật Pháp, Giúp người Thượng căn và Thượng Thượng Căn.

NỘI NGOẠI NHỊ DƯỢC THUYẾT
Phàm tu luyện trước phải tu Ngoại Dược (Nguyên Khí), sau tu Nội Dược (Nguyên Thần). Những người cao nhân, thượng sĩ, vì có Linh căn, nên không luyện Ngoại Dược mà chỉ luyện Nội Dược

Nội Dược vô vi vô bất vi, Ngoại Dược hữu vi hữu dĩ vi. Nội Dược vô hình vô chất nhưng thực hữu. Ngoại Dược có thể có dụng nhưng thực vô.

Ngoại Dược khả trị bệnh, khả dĩ Trường Sinh Cửu thị. Nội Dược khả dĩ siêu việt, khả dĩ Xuất Hữu, Nhập Vô.

Ngoại dược: Ngoại Âm Dương vãng lai, Nội dược: Nội Khảm Lý Bức Thấu (Hội họp)

Ngoại Dược (Nguyên Khí) là Giao Cảm Chi Tinh, trước hết không được tiết lậu; là Hô Hấp Chi Khí, cần thở nhè nhẹ; là Tư Lự Chi Thần, cần được an tĩnh.

Nội Dược là Nguyên Thần. Luyện Tinh là luyện Nguyên Tinh, trừu Nguyên Dương của quẻ KHẢM. Nguyên Tinh mà bền, thì Tinh Khí giao cảm sẽ không tiết;

Luyện Khí là luyện Nguyên Khí, Bổ Nguyên Âm của quẻ Ly; Nguyên Khí mà lưu trú, thì Hô Hấp Chi Khí tự nhiên sẽ không ra vào.

Luyện Thần tức là hội tu Khảm Ly Thuỷ Hoả để khôi phục Kiền Nguyên (Dĩ Khảm điền Ly biến Ly thành Kiền). Nguyên Thần ngưng tụ, thì Tư Lự Chi Thần sẽ thái nhiên an định.

Ngoại Dược, Nội Dược (Nguyên Khí, Nguyên Thần) kiêm tu, chắc sẽ thành tiên.
順逆三關說
我法甚深深,妙用人難識。順逆兩 俱忘,空虛鎮長寂。
順:心生於性,意生於心,意轉為情,情生為妄。故靈潤禪師曰:“只因一念忘,現出萬般形。”
逆:檢妄逥情情 返,為意攝意安心,心歸性也。故伯陽真人曰:“金來歸性出,乃得稱還丹。”
道生一、一生二、二生三、三生萬物,此所謂順去生人、生物。今則形化精、精化氣、氣化神、神化虛,此所謂逆來成仙、成佛。初關煉精化氣 者,要識天癸生 時,急急來之。采時須以徘徊之意,引火逼金行,顛倒轉自然,鼎內大丹凝。中關煉氣化神者,乘此火力熾盛,駕動河車,自太玄關逆流,至天穀穴,氣 與神合,然 後下降黃房。所謂乾坤交媾罷,一點落黃庭。上關煉神還虛者,守一抱元,以神歸於毗盧性海。

蓋三關自有為入無為者,漸法也。修上一 關,兼下二關者,頓法也。若徑作煉神還虛者,工夫列虛極靜篤時,精自化氣 ,氣 自化神。即關尹子忘精神而超生之上旨也。

THUẬN NGHỊCH TAM QUAN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Ngã pháp thậm thâm thâm 我法甚深深
Diệu dụng nhân nan thức 妙用人难识
Thuận Nghịch lưỡng câu vong 顺逆两俱忘
Không Hư trấn trường tịch 空虚镇长寂

Phép ta thật thâm trầm; Rất hay, khôn kẻ biết
Thuận, Nghịch mà quên hết; Còn lại độc Hư Không

Thuận:

Tâm sinh ư Tính (Tiên Thiên Nguyên Thần).
Ý sinh ư Tâm.
Ý chuyển vi tình.
Tình sinh thành Vọng.

心生於性,意生於心,意转 为情,情生成妄

Cho nên Linh Nhuận Thiền Sư nói:

Chỉ nhân nhất niệm vọng; 只因一念妄
Hiện xuất vạn ban hình 现出万般形

Chỉ tại một niệm lầm; Nên sinh muôn hiện tượng

Nghịch:

Kiểm vọng hồi tình.
Tình phản vi ý.
Nhiếp ý an tâm.
Tâm quy Tính địa

检妄回情, 情返为意,摄意安心,心归性地

Cho nên Nguỵ Bá Dương Chân Nhân viết:

Kim lai quy Tính sơ, 金来归性初
Nãi đắc xưng hoàn đơn 乃得称还丹

Kim như quay về Tính
Sẽ được gọi Hoàn Đơn.

(Thu Tình qui Tính, Thần Khí giao, Đại đạo nội đơn tài thành liễu)

收情归性神气交, 大道内丹才成了
THUẬN NGHỊCH TAM QUAN THUYẾT

Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật.

Đó gọi là THUẬN KHỨ, để sinh Nhân, sinh Vật.
Còn Hình hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần hoá Hư thì gọi là NGHỊCH LAI, để thành Phật, thành Tiên.

Bước thứ nhất là luyện Tinh hoá Khí, phải biết giờ Thiên Quý sinh (Hoạt Tý, hay Hoạt Tý Thời, là lúc Nhất Dương sơ sinh). Khi Thái Thủ thì Ý phải bồi hồi. Lấy Ý dẫn Khí. Cho nên nói:

Hoả bức Kim hành điên đảo chuyển 火逼金行颠倒转
Tự nhiên đỉnh nội đại đan ngưng 自然鼎内大丹凝。

Bước thứ hai là Luyện Khí hoá Thần. Thừa lúc Hoả lực ngùn ngụt, giá vận Hà Xa (Chân Khí). Từ Thái Huyền Quan (Vĩ Lư) lên tới huyệt Thiên Cốc (Nê Hoàn). Khí hợp với Thần, sau đó xuống tới Huỳnh phòng (Đan Điền), gọi là Kiền Khôn giao cấu, buông một điểm xuống Huỳnh Phòng.

Bước thứ ba là Luyện Thần hoàn Hư: Thủ Nhất bão nguyên (Tu trì định tĩnh, chấp thủ bão nguyên), khiến Thần quy nhập Tì Lô Tính Hải (Đan Điền).

Tam quan tự Hữu vi (Hậu Thiên, từ Hình tới Hư) nhập Vô vi (Tiên Thiên, Tiên Thiên chí Hư) là tiệm pháp. Tu bước thứ ba gồm cả 2 bước trước là Đốn Pháp.

Nếu Luyện Thần hoàn Hư là khi đạt tới: Chí Hư Cực Thủ Tĩnh Đốc, thì Tinh tự hoá Khí, Khí tự hoá Thần. Quan Doãn Tử gọi thế là: Quên tinh thần mà siêu sinh (Vong Tinh Thần nhi siêu sinh).
盡性了命說

性命雙修是的傳,冥冥杳杳 又玄玄。
誰知本體無生命,死死生生孰使然!

人性之善也,此言天命之性;性相近也,此言氣質之性。天命之性,論其 本源;氣質之性,論其稟受。天命之性,無不善;氣質之性,有不善。程子曰:“在天為命,在人為性。故知性然後能盡性,盡性然後能了命。”性命不二,謂之雙 修。

世間萬物本一神也。神本至虛,道本至無,易在其中矣。天位乎上,地位乎下,人物居中,自融自化,氣在其中矣。中天地以立命,稟 虛靈以成性,立性立命,神在其中矣。命系乎氣,性系乎神,潛神於心,聚氣於身,道在其中矣。道者神之主,神者氣之主,氣者形之主,行者生之主。無生則形 住,形者則氣住,氣住則神住,神住則性珠明矣、命實凝矣、元神靈矣、胎仙成矣、性命雙修之道畢矣。
丹田喻日,心中元性喻月。日光自返照月,蓋交會之後實體乃生金也。月受日氣,故初三生一陽者,丹既居鼎,覺一點靈光自心常照而無晝夜。一陽生於月之八日 而二陽產矣。二陽者,丹之金氣少旺,而元性又少現。自二陽生之於望而三陽純矣,三陽純者是所謂元性盡現而如月之圓矣。十六而一陰生,一陰者,性歸於命之始 也。自一陰生至於月之二十三而二陰產矣。二陰者,乃性歸於命三之二也。自二陰生於月之三十日而三陰全矣。三陰金,乃性盡歸於命也。方其始也,以命而取性。 性全矣,又以性而安命。

此是性命雙修大機括處。

TẬN TÍNH LIỄU MỆNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Tính người vốn lành, đó là nói Thiên mệnh chi Tính (Tính Trời). Tính tương cận là Khí Chất chi Tính (Tính Người).

Thiên Mệnh chi tính, là luận về Bản Thể. Khí Chất chi tính là luận về Bẩm Thụ. Thiên mệnh chi Tính bao giờ cũng tốt. Khí Chất chi Tính có tốt, có xấu.

Trình tử nói: Ở Trời là Mệnh, ở người là Tính.

Cho nên, biết được Tính rồi sau mới Tận Tính, và mới hoàn thành Tu Mệnh. Tính Mệnh không hai, gọi là Song Tu.
Tính Mệnh song tu thị đích truyền 性命双修是的传
Yểu yểu, minh minh, hựu huyền huyền. 冥冥杳杳又玄玄
Thuỳ tri bản thể vô sinh tử, 谁知本体无生死
Tử tử, sinh sinh thục sử nhiên. 死死生生孰使然

Chân truyền Tính Mệnh song tu,
Mơ hồ, huyền ảo màng mơ gót đầu
Bản nguyên sinh tử chi đâu?
Ai kia bày vẽ cơ màu tử sinh.

Vạn vật thế gian là một Thần. Thần vốn chí Hư. Đạo vốn chí Vô. Dịch (Biến Hoá) ở trong đó.

Trời ở trên, Đất ở dưới, người ở giữa tự biến thiên, biến hoá. Khí ở trong đó.

Trung hoà Thiên Địa để lập Mệnh, bẩm thụ Hư Linh để thành Tính. Lập Tính, lập Mệnh, Thần tại trong đó.

Mệnh y phụ vào Khí, Tính y phụ vào Thần. Tiềm Thần nơi Tâm, tụ Khí nơi Thân. Đạo ở trong đó. Đạo là chủ của Thần, Thần là Chủ của Khí, Khí là chủ của Hình hài, Hình là chủ của sinh.

Vô sinh thì Hình trú, Hình trú thời Khí trú, Khí trú thì Thần trú, Thần trú thì Ngọc Châu Tính sẽ sáng ngời, và Mệnh sẽ ngưng kết. Nguyên Thần sẽ Linh Minh. Thế là Kim Đơn thành. Tính Mệnh song tu đến đây là hết.

TẬN TÍNH LIỄU MỆNH THUYẾT
Đan Điền ví dụ là Mặt Trời. Nguyên Tính ở Tâm ví dụ là Mặt Trăng. Nhật quang tự phản chiếu vào Nguyệt, vì sau khi giao hội, thì Bửu Thể sinh Kim.

Nguyệt thụ Nhật khí, cho nên Mồng Ba, sinh một Dương. Nhất Chân Linh Khí ở tại Đan Điền, thấy một điểm Linh Quang tự Tâm thường chiếu ra, mà không có ngày đêm.

Đến Mồng Tám, thì hai Dương sinh. Chỉ mới có hai Dương thì Đan chi Kim Khí hãy còn yếu, nên Nguyên Tinh cũng chưa mạnh.

Khi đến ngày Vọng (15), thì Tam Dương đã đủ. Tam Dương đủ thì Nguyên Tinh tận hiện, như Trăng tròn vậy.
Trăng đã tròn thì 16, một Âm Sinh.

Một Âm Sinh thì Tính quy về lúc đầu của Mệnh.

Từ một Âm sinh cho đến ngày 23 thì Nhị Âm sinh. Hai Âm là Tính quy về Mệnh được 2/3.
Đến ngày 30 (hoặc 29) thì Tam Âm đầy đủ.

Tam Âm đầy đủ là Tính quy về Mệnh.

Lúc bắt đầu, thì lấy Mệnh thủ Tính. Sau thì lấy Tính an Mệnh. Đó là đại cơ khái quát về Tính Mệnh song tu.
真土根心說
以物為藥,療身之病;以法為藥,療心之病,即以其人之心還治其人之病。
牝牡 鏌鋣倚太空,威風凜凜忒雄。聖凡不敢抬頭看,兩道神光射斗中。
寶劍雌和雄,雙雙插真土;雄降猙獰龍,雌伏猖狂虎。
心安真土以誠以 默以柔,氣養浩然勿正勿忘勿助。
兩枝慧劍埋真土,萬病錢消出幻軀。

夫天之氣之所從生者,蓋蘊於天地之土中而無盡藏也。人之氣所從生者,蓋蘊於人身之土中而無盡藏也。故仁義禮智之根,根之心;猶草木之根,根於土。草木之 根根于土,自然暢茂,而條達仁義禮智之根根于心,自然生色而啐面。孟子曰:居移氣,養移體。大學曰:心寬體胖。心既廣矣,體複胖矣,而謂病之不去體者,妄 也。至若枝葉之或憔悴而枯槁也,則又如之何?亦唯直從於其根焉。而培之,而溉之,培之溉之而生意有不復息乎?蓋草木之根,病則枝葉病。若人之心猶草木之根 也,心病則身病,心不病則身不病。故身病由於心病。而體胖,數語乃去病之聖藥也。
CHÂN THỔ ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Tâm an Chân Thổ dĩ thành, dĩ mặc, dĩ nhu.
心安真土以诚以默以柔
Khí dưỡng hạo nhiên, vật chính, vật vong, vật trợ.
气养浩然勿正勿忘勿助

(Tâm tồn chính niệm, cần tinh thành, tĩnh mặc, nhu hoà. Luyện dưỡng chính Khí, thì nội tức không chính sẽ trở lại chính, như có như không, vô sinh vô diệt.)

Tẫn Mẫu Mạc Da ỷ Thái Không 牝牡镆铘倚太空
Oai phong lẫm lẫm thắc anh hùng 威风凛凛忒英雄
Thánh phàm bất cảm đái đầu khán, 圣凡不敢抬头看
Lưỡng đạo Thần quang xạ Đẩu trung 两道神光射斗中

Thanh Kiếm Mạc Da giữa Không Trung,
Thư Hùng kiếm ấy rất oai phong
Thế gian ít kẻ dám quay ngó,
Lưỡng đạo Thần Quang chiếu tận Trời.

(Âm Dương tương hợp, thì hiệu dụng hiển minh, Thánh phàm đều được ích lợi. Thật là áo bí, thần diệu vô cùng)

Lấy vật làm thuốc, để trị liệu cho Thân. Lấy Pháp làm thuốc để trị liệu cho Tâm bệnh. Tức là lấy Tâm người bệnh để chữa trị Tâm người Bệnh.

Bảo kiếm thư hoà hùng, song song sáp chân thổ.
宝剑雌和雄,双双插真土
Hùng giáng tranh nanh long, thư phục xương cuồng hổ.
雄降狰狞龙,雌伏猖狂虎

Thư hùng đôi kiếm cắm xuống đất,
Hổ long tuy dữ cũng đầu hàng.

(Khi hai khí Âm Dương đều ở tại Đan Điền, Dương khí trừ mọi hư giao, Âm khí chế ngự mọi niệm dục)

Lưỡng chi tuệ kiếm sáp Chân Thổ, 两枝慧剑插真土
Vạn bệnh tiềm tiêu xuất ảo khu 万病潜消出幻躯

Hai lưỡi kiếm thần cắm xuống đất
Con người hết bệnh, khỏi âu lo.

(Khi 2 khí Âm Dương tụ tại Đan Điền, thì vạn bệnh tiêu trừ và người sẽ khoẻ mạnh).

CHÂN THỔ CĂN TÂM THUYẾT
Con người chịu lấy khí trời đất để sinh, khí này vốn chứa trong Thổ của Trời đất, không bao giờ cùng. Còn Khí để con người được sống cũng tàng chứa trong Thổ nơi Thân con người. Nó cũng vô cùng tận. Cho nên, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí gốc nơi Tâm, như thảo mộc gốc nơi Đất. Rễ thảo mộc bắt xuống đất, nên cây cối rườm rà, xinh tươi.

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí sinh nơi Tâm, cũng làm cho ta nên đẹp đẽ như trẻ con. Mạnh Tử nói: Cư di Khí, dưỡng di Thể 居移气, 养移体。(Nhà cửa biến đổi khí chất con người. Uống ăn biến đổi hình thể con người)

(Lòng mà khinh thoát thảnh thơi, Rồi ra sẽ thấy tốt tươi hình hài)

Đại Học nói: Tâm quảng thể bàn 心广体胖。 Tâm đã rộng, người đã mập, mà lại nói rằng bệnh không lìa xác thì nhầm vậy.

Cây cối mà tiều tuỵ khô héo, thì phải làm sao? Đương nhiên là phải lo trị gốc. Phải thêm đất, phải tưới bón cho nó. Tự nhiên sinh cơ sẽ phục hồi.

Tâm con người cũng như là rễ cây cỏ. Tâm mà bệnh, thì thân sẽ bệnh, Tâm không bệnh thì thần không bệnh.
Cho nên thân bệnh là do Tâm bệnh. Giữ cho tâm không bệnh thì thân sẽ được mập mạp. Ấy là thánh dược trị bệnh.

魂魄說

陽神曰魂;陰神曰魄。魂之與魄,互為室宅。

魂者氣之神,有清有濁。 口鼻之所以呼吸者,呼為陽伸,吸為陰屈也。魄者精之神,有虛有實。耳目之所以視聽,視者為陰明,聽為陰靈也。

生謂之精氣,死謂之魂 魄。天地公共底謂之鬼神也。

鬼雲為魂,鬼白為魄。雲者,風,風者,木;白者,氣;氣者,金。風散故輕清,輕清者,魄從魂升。金風故重濁,重濁者,魂從魄降。故聖人以魂運魄,眾人以 魄攝魂。魂晝寓目,魄夜舍肝。寓目能見,舍肝能夢。夢多者,魄制魂;覺多者,魂勝魄。蓋因魄有精,因精有魂,因魂有神,因神有意,因意有魄。五者運行不 已,所以我之偽心流轉造化幾億萬歲未有窮極。然核芽相生不知其幾萬株。天地雖大,不能芽空中之核;雌卵相生,不知其幾萬禽,陰陽雖妙,不能卵無雄之雌。是 以聖人,萬物之來,對之以性而不對之以心。性者,心未萌也,無心則無意,無意則無魄,無魄則不受生,而輪回永息矣。

HỒN PHÁCH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Hồn là Thần của Khí. Có thanh có trọc. Mũi mồm hô hấp được là nhờ nó. Hô là Khí Dương Thân, Hấp là Khí Âm Khuất. Phách là Thần của Tinh. Có hư có thực. Tai mắt nghe, thấy được là nhờ nó. Thấy được là Dương Minh. Nghe được là Âm Linh. Dương Thần là Hồn. Âm Thần là Phách. Hồn Phách hỗ tương làm nhà cửa cho nhau nương náu. Sống là Tinh Khí. Chết là Hồn Phách. Quỷ Thần là cái gì công cộng của Trời Đất.

HỒN PHÁCH THUYẾT

Quỉ Vân là Hồn. Quỉ Bạch là Phách. Vân là Phong. Phong là Mộc. Bạch là Khí. Khí là Kim. Gió tán phát nên nhẹ nhàng. Khinh Thanh là Phách theo Hồn mà Thăng.

Kim là kiên cố, trọng trọc. Trọng trọc là Hồn theo Phách giáng. Cho nên thánh nhân lấy Hồn vận Phách. Chúng nhân thì lấy Phách nhiếp Hồn.

Hồn ban ngày ở nơi mắt. Phách ban đêm ở nơi Gan. Ban ngày Hồn thấy vật. Phách ở Gan nên nằm mộng. Mộng nhiều thì Phách chế Hồn. Biết nhiều thì Hồn thắng Phách.

Cho nên, nhân có Phách mới có Tinh, nhân có Tinh mới có Hồn. Nhân có Hồn mới có Thần, nhân có Thần mới có Ý, nhân có Ý mới có Phách.

Năm thành phần ấy vận hành không ngừng. Cho nên Tâm tà nguỵ của ta bị lưu chuyển mấy ức vạn năm vô cùng cực.

Mầm hạt tương sinh, không biết mấy vạn châu thiên. Trời đất tuy lớn, nhưng nếu quả mà không hạt, cũng không sinh được cây con.

Con mái và trứng tương sinh, không biết mấy vạn châu thiên. Âm Dương tuy diệu, cũng không làm được trứng mà không có trống mái.

Cho nên Thánh Nhân thấy vạn vật sinh xuất, lấy Tính mà đối với chúng chứ không lấy Tâm. Tính là Tâm khi chưa manh nha. Không Tâm thời không Ý. Vô Ý sẽ không có Phách. Không có Phách sẽ hết thụ sinh, và luân hồi sẽ mãi dứt.
蟾 光 說

太極以此而生三才,父母以此而育我體。 我當以此而成還丹,孕於鴻蒙,生於坤,復圓明閃爍,是為蟾光。玉溪子曰:“剖開太極巴露出天地,心虛空無涯,微月見辜岑。”

西川岸上 抬頭望,一派蟾光蘸碧波。便好下功修二八,殷勤仔細托黃婆。

太虛寥廓,皓月粲然,雪浪翻騰,金蟆吐耀。人見月之所以明而曰:金精盛則月明焉。孰知金之所以生者,自月而產也。人見金之產於月,而不知月之明本出於日 也。月者,喻元性也。水,喻坎宮也。金蟆者,喻一點真陽之竅也。元性,喻月性之用也。性之初見,圓陀陀,光燦燦,狀似流星。蓋氣質之性稍息,而元神真性就 見,如雲開則月現,霧散則陽暉。才見此物,分明便是元氣產矣,速急採取。譬之,見賊便捉,毋令再逸。收歸於鼎器之中,則一點元氣蟾光終,不可得而出矣。

THIỀM QUANG ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Thái Cực từ đó sinh trời đất, người. Cha mẹ từ đó sinh thân ta, Ta phải dùng nó luyện Kim Đơn. Nó thoát thai từ Hỗn Độn nhất Khí, sinh ra từ quẻ Khôn (Đan Điền). Tròn trĩnh, rực rỡ, gọi là Thiềm Quang.

Ngọc Khuê tử nói:

Phẫu khai Thái Cực bao, 剖开太极包
Lộ xuất Thiên Địa tâm 露出天地心
Hư Không khoát vô nhai, 虚空阔无涯
Vi mục hiện Cô Sơn (Đan Điền) 微月见辜岑

Mở được bao Thái Cực, Sẽ thấy THIÊN ĐỊA TÂM.
Hư Không rộng man mác, Nhíu mắt thấy Cô Sầm (Đan Điền)

Tây Xuyên (Đan điền) ngạn thượng đài đầu vọng
西川岸上抬头望
Nhất phái Thiềm quang trám bích ba, (Thận gian vận khí)
一派蟾光蘸碧波
Tiện hảo hạ công tu nhị bát (Nguyên thần, Nguyên khí)
便好下功修二八
Ân cần tử tế thác Hoàng Bà (Đan Điền)
殷勤仔细托黄婆

THIỀM QUANG THUYẾT

Thái Hư trống rỗng, hạo nguyệt sáng soi, sóng tuyết phi đằng. Kim Mô nhả sáng. Con người thấy trăng sáng nên cho rằng Kim Tinh thịnh nên mặt trăng sáng vậy. Có biết đâu rằng Kim sinh ra là do nơi mặt trăng.

Người thấy Kim sinh từ Nguyệt, nhưng không biết rằng trăng sáng là do Mặt Trời.

Nguyệt là Nguyên Tính. Thuỷ là Khảm cung, Kim Mô là Nhất Điểm Chân Dương. Kim Mô (Kim mô cũng là kim Thiềm) là Chân Dương chi Khiếu.

Nguyên Tính ví dụ là Nguyệt. Là Dụng của Tính. Tính vừa phát hiện thì tròn trịa, trong sáng, như ngôi sao chổi.
Khí Chất chi tính vừa đình chỉ, thì Nguyên Dương Chân Tính liền hiện ra. Như mây tan thì trăng hiện, móc tan thì thấy ánh Dương Quang.

Thấy được vật này là Nguyên Khí đã sinh ra, phải Thái Thủ nó ngay. Y như thấy cướp là bắt ngay, đừng để chạy thoát. Thu lấy đem về Đan Điền, thì Nhất điểm Dương Khí Thiềm Quang không thể tẩu tiết ra ngoài.

降 龍 說

降龍未得豈成仙,降得真龍丹可圓。須 信神仙活手段,一毫頭上見龍天。

頭角崢嶸勢莫當,雲收雨霽暗濟藏。從今不許翻潭洞,養顆驪珠夜夜光。
離日為汞,中有己土,強名曰龍。其形獰惡,主生人殺人之權,專成佛成仙之道,威能變化,感而遂通,雲行雨施,品物流行,乾之九二,見龍在田,利見大人。

子曰:龍德而正中也。世人不悟此龍生生之功,每服其害。若人悟而畏之,調而馭之,則能降此獰惡之龍而積至精之汞。降之者,制其心中 真火,火性不飛,則龍可制而有得鉛之時。

故曰:不積汞,何以取其鉛,不降龍,無以伏其虎。且真鉛真汞未易相投,而真虎真龍亦難降 伏。學道者若能了得這個字,其他事皆未務也。
HÀNG LONG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Đầu giác chanh vanh thế mạc đương (Chỉ Long)
头角峥嵘势莫当
Vân thu, vũ tế ám tiềm tàng (Chỉ Hàng Long)
云收雨霁暗潜藏
Tòng Kim bất hứa phiên đàm động,
从今不许翻潭洞
Dưỡng khoả Ly Châu (Đan Điền), dạ dạ quang
养颗骊珠夜夜光

Dầu sừng dữ tợn khó ai đương
Trời quang, mây tạnh, bắt lai hàng,
Không cần bay nhảy trong hồ động
Chỉ muốn đơn thành, phát dạ quang.

Hàng Long vị đắc, khởi thành tiên? 降龙未得岂成仙
Hàng đắc Chân Long, đan khả viên. 降得真龙丹可圆
Tu tín Thần Tiên hoạt thủ đoạn, 须信神仙活手段
Nhất hào đầu thượng kiến Long Thiên 一毫头上见龙天

Hàng Long không nổi khó thành tiên
Hàng được Chân Long, đơn sẽ viên
Nên biết Thần tiên rất thủ đoạn,
Ngước mắt nhìn lên thấy Long Thiên.

HÀNG LONG THUYẾT

Ly Nhật (Tâm và Lửa) là Hống, là Nguyên Thần. Trong đó có Mậu Thổ (Chính niệm), tạm gọi là Long. Hình tướng nó dữ tợn, có thể sinh nhân, có thể sát nhân, lai chuyển giúp người thành Phật, thành Tiên, có sức biến hoá, cảm mà thông suốt, vân hành, vũ thí, phẩm vật lưu hình. Quẻ Kiền nơi hào Cửu Nhị viết: Hiện Long tại Điền. Lợi kiến Đại Nhân 现龙在田,利见大人

Đức Khổng nói: Long đức nhi chính trung dã 龙德而正中也. Người đời không hiểu được công trạng sinh sinh của Long này, cho nên bị nó làm hại.

Nếu hiểu được và biết sợ nó, biết chế ngự được nó, thì có thể hàng phục được tính dữ tợn của con Long này và tích được hết tinh hoa của Hống.

Hàng Long là chế ngự được Chân Hoả trong Tâm. Hoả tính không còn bay, tức là Long đã bị chế ngự, và cũng là lúc thủ đắc được Diên (Nguyên Khí)

Cho nên nói: Bất tích Hống, hà dĩ thủ kỳ Diên. 不积汞,何以 取其铅 (Không tụ Nguyên Thần, thì không sao có được Nguyên Khí)

Không hàng Long, thì không sao mà Phục Hổ. (Không hàng phục được Thần, thì không sao chế ngự được Tính Mệnh).

Vả lại Chân Nguyên Thần (Long), Chân Nguyên Khí (Hổ) không dễ hoà hợp, và Chân Long, Chân Hổ cũng rất khó hàng phục.

Học giả mà hiểu được điều này thì những chuyện khác là ngọn ngành vậy.
伏 虎 說

降龍伏虎也無難,降伏歸來鎖玉關。日月分明烹鼎內,何憂不作大還丹。
採藥尋真到虎溪,溪中虎正作雄威。被我制 服牽歸舍,出入將來當馬騎。
入虎穴尋虎酪酥,其中滋味勝醍醐。自人做到這些處,方是乾坤大丈夫。

坎月為鉛,鉛中有戊土,強名曰虎,其形倡狂,雖能傷人殺人,卻蘊大乘氣象,舉動風威,叩之則應,舍弘光大品物資生文。

王重陽曰: 履虎尾,不咥人。

亨又曰:愎道坦坦,幽人貞吉。

孔子曰:素愎之往,獨行願也。

若人悟 而畏之,馴而調之,則能伏此倡狂之虎,以產先天之鉛。伏之者,伏身中真水,水源至清,則虎可伏而無咥人之害。

故歷代聖師以降龍為煉 已,以伏虎為持心。是以純陽翁雲:七返還丹在人,先須煉己待時。

紫陽翁雲:若要修成九轉,先須煉己持心。皆此義也。

PHỤC HỔ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình

Thái dược tầm chân đáo hổ khê, 采药寻真到虎溪
Khê trung, hổ chính tác hùng uy 溪中虎正作雄威
Bị ngộ chế phục khiên qui xá 被我制伏牵归舍
Xuất nhập tương lai đương mã ki 出入将来当马骑

Hái thuốc tầm chân tới Hổ khê
Trong Khê, chính lúc hổ ra uy
Chế ngự bắt về nơi hàn xá
Dùng làm ngựa cưỡi lúc vô ra.

Hàng Long, phục Hổ dã vô nan 降龙伏虎也无难
Hàng phục qui lai, toả ngọc quan 降伏归来锁玉关
Nhật nguyệt phân minh, phanh đỉnh nội 日月分明烹鼎内
Hà ưu bất tác Đại Hoàn Đan 何忧不作大还丹

Hàng Long, Phục Hổ chẳng khó khăn
Bắt được đem về khoá ngọc ban
Thần Khí phân minh đun trong vạc
Lo chi không luyện được kim đan?

Nhập hổ huyệt tầm hổ lạc hoà 入虎穴寻虎酪酥
Kỳ trung tư vị thắng đề hồ 其中滋味胜醍醐
Tự nhân tố đáo giá ta xứ 自人做到这些处
Phương thị Kiền Khôn đại trượng phu 方是乾坤大丈夫

Vào tới hang hùm tìm sữa Hổ
Mới hay mùi vị chẳng kém bơ,
Con người mà dám vào nơi đó
Mới thực Kiền Khôn đại trượng phu.
PHỤC HỔ THUYẾT

Khảm Nguyệt là Diên. Trong có Mậu Thổ. Gượng gọi là Hổ. Hình tướng nó dữ tợn. Có thể thương nhân, có thể sát nhân. Lại ẩn dấu Khí tượng Đại Thừa. Khi nó cử động thì oai phong lẫm lẫm, kêu nó liền ứng, hàm hằng, quang đại, phẩm vật tư sinh (Kinh Dịch, Quẻ Khôn, Thoán Truyện).

Văn Vương viết trong Kinh Dịch: Lý Hổ vĩ, Bất khiết nhân hanh 履虎尾,不咥人亨。Lý dẫm đuôi hùm, hùm chẳng cắn. Hùm chẳng cắn người, mới hanh thông.

Lại nói: Lý đạo thản thản, u nhân trinh cát (Lý, Cửu Nhị) 履道坦坦, 幽人贞吉。

Cửu nhị, thênh thang trên đường đạo
Âm thầm vui sống thế mà hay

Khổng Tử viết:

Tố Lý chi vãng, độc hành nguyện dã. (Lí, sơ cửu, Tượng) 素履之往,独行愿也。

Tượng rằng:

Vui sống đơn sơ
Đó là thực hiện ước mơ của mình.

Nếu người hiểu được và biết sợ sệt, biết điều chế nó, thì có thể hàng phục được con hổ dữ này, để sinh ra Tiên Thiên chi Diên.

Hàng phục được cái này, là hàng phục được Chân Thuỷ trong thân. Nước vốn rất trong, nên Hổ có thể hàng phục được và không cắn người.

Cho nên thánh hiền xưa nay gọi Hàng Long là Luyện Kỷ (Chế phục Nguyên Thần, luyện dưỡng chính niệm), Phục Hổ là Trì Tâm (Tu Trì bản tâm).

Cho nên Thuần Dương chân nhân nói:

Thất phản hoàn đơn tại nhân, tiên tu luyện kỷ đãi thời. 七返还丹在人,先须炼己待时。
Tử Dương Ông cũng nói:

Nhược yếu tu thành cửu chuyển. Tiên tu luyện kỷ, trì Tâm.
若要修成九转,先须炼己持心。
三家相見說
身、心、意,是誰作三家?精、 氣、神,由我合成一個。
肝青為父,肺白為母,心赤為女,脾黃為祖,腎黑為子,千五行始,三物一家,都歸戊己。
大道玄微見此圖,分 明有象不模糊。先將一二為之用,三四中當共一都。
不用五金并八石,只求三品共一室。煉成一顆如意珠,軟似兜羅紅似日。
身、心、意謂之三家。三家相見者,胎圓也。精、氣、神謂之三元。三元合一者,丹成也。攝三歸一,在乎虛靜。虛其心,則神與性合。靜其身,則精與情寂。意 大定,則三元混一。

情合性謂之金木並,精合神謂之水火交,意大定謂之五行全。

然而精化為氣 者,由身之不動 也。氣 化為神者,由心之不動也。神化為虛者,由意之不動也。心若不動,則東三南二同成五也。身若不動,則北一西方四共之也。意若不動,則戊己還生數五也。

身,心、意合,則三家相見,結嬰兒也。

TAM GIA TƯƠNG KIẾN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Thân Tâm Ý thị thuỳ phân tác tam gia 身心意是谁分作叁家
Tinh Khí Thần do Ngã hợp thành nhất cá. 精气神由我合成一个

Thân, Tâm, Ý ai phân thành ba chốn
Tinh Khí Thần ta đem hiệp một nhà

Đại đạo huyền vi kiến thử đồ
大道玄微见此图
Phân minh hữu tượng bất mô hồ
分明有象不模糊
Tiên tương nhất nhị vi chi dụng (Âm Dương)
先将一二为之用
Tam tứ (Nguyên Thần, Nguyên Khí) trung đương cộng nhất đô
叁四中当共一都

Xem hình sẽ thấy Đạo huyền vi
Có Tượng phân minh, chẳng mơ hồ
Trước đem hai, một làm công dụng,
Sau lấy Khí Thần hiệp nhất đô

Gan xanh làm cha. Phổi trắng làm mẹ. Tim đỏ làm con. Tì vàng làm Tổ. Thận đen làm con. Suy từ ngũ hành mới hay: Thân, Tâm, Ý đều một nhà. Đều quy Tì Mậu Kỷ.
Bất dụng Ngũ Kim tịnh bát thạch 不用五金并八石
Chỉ cầu Tam Phẩm cộng nhất thất 只求叁品共一室
Luyện thành nhất khoả Như Ý Châu 炼成一颗如意珠
Nhuyễn tự đâu la, hồng tự nhật 软似兜罗红似日

Chẳng dụng Ngũ Kim hay bát thạch
Chỉ mong Tam Phẩm (Thân, Tâm, Ý) hợp một nhà
Luyện thành một hạt Như Ý Châu
Mềm tựa lụa là, hồng như Nhật

TAM GIA TƯƠNG KIẾN THUYẾT
Thân, Tâm, Ý gọi là Tam Gia.
Gọi là Tam Gia Tương Kiến là muốn Tam Gia dung hợp thành nhất Thể thì Thai kết.

Tinh, Khí, Thần thì gọi là Tam Nguyên, Tam Nguyên hợp nhất thì Đan Thành. Muốn Tinh, Khí, Thần hợp nhất cốt phải Hư Tĩnh. Hư kỳ Tâm thì Thần hợp với Tinh. Tĩnh kỳ Thân thì Tinh và Tình sẽ tịch định.

Ý đại định, thì Tam Nguyên (Tinh, Khí, Thần) sẽ hợp nhất. Tình hợp Tính, thì Kim Mộc giao. Tinh hợp Thần thì Thuỷ Hoả giao. Ý mà đại định thì Ngũ hành sẽ toàn vẹn. Tinh muốn hoá khí thì Thần không được vọng động. Khí muốn hoá Thần thì Tâm không được vọng động. Thần muốn hoá Hư thì Ý không được vọng động.

Tâm mà bất động thì:

Đông Tam, Nam Nhị đồng thành Ngũ 东三南二同成五

Thân mà bất động thì
Bắc Nhất, Tây Phương tứ cộng chi 北一西方四共之

Ý mà bất động thì:
Mậu Kỷ hoàn tòng sinh số Ngũ 戊己还从生数五

Thân, Tâm, Ý mà hợp thì:
Tam gia tương kiến kết Anh nhi 三家相见结婴儿

(Bài thơ trên rút trong Ngộ Chân Thiên)

和合四象說
金水合處木火為侶,四者混沌列為龍虎。

青龍降方蟠白虎,朱雀下方拔玄武。四象和合入中 宮,化作一靈歸紫府。

天三生木位居東,其象為青龍;地二生火位居南,其象為朱雀;地四生金位居西,其象為白虎;天一生水位居北,其象 為玄武。

眼不視而魂在肝,耳不聞而精在腎,舌不動而神在心、鼻不嗅而魄在肺,四者無漏,則精水、神火、魂木、魄金皆聚於意土之中,而 謂之和合四象也。

合眼光、凝耳韵、調鼻息、緘舌氣四大不動,使金木水火土俱會於中宮,謂之攢簇五行也。故曰:精神魂魄意,攢簇歸坤 位,靜極見天心,自有神明至。
四象者,青龍、白虎、朱雀、玄武也。五行者,金、木、水、火、土也。龍木生火,同矚乎心。心者,象帝之先靈妙,本有中之真無也。心若不動,則龍吟雲起。 朱雀斂翼,而元氣聚矣。虎金生水,同系乎身。身者,曆劫以來清靜,自無中之妙有也。身若不動,則虎嘯風生。玄龜潛伏,而元精凝矣。精凝氣聚,則金木水火混 融於真土之中,而精神魂魄攢簇于真意之內。真意者,乾元也。乃天地之母,陰陽之根,水火之本,日月之宗,三才之源,五行之祖,萬物賴之以生成,千靈承之以 舒慘。意若不動,則二物交、三寶結、四象和合、五行攢簇,俱會八中宮而大丹成矣。故紫陽雲:五行全要八中央。蓋此之謂也。

HOÀ HỢP TỨ TƯỢNG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Kim Thuỷ hợp xứ 金水合处
Mộc Hoả vi lữ 木火为侣
Tứ giả hỗn độn 四者混沌
Liệt vi Long Hổ 列为龙虎

Thiên tam sinh Mộc. Vị cư Đông. Kỳ tượng vi Thanh Long
天三生木位居东其象为青龙

Thiên nhất sinh Thuỷ. Vị cư Bắc. Kỳ Tượng vi Huyền Vũ
天一生水位居北其象为玄武

Địa nhị sinh Hoả. Vị cư Nam. Kỳ tượng vi Chu Tước
地二生火位居南其象为朱雀

Địa tứ sinh Kim. Vị cư Tây. Kỳ tượng vi Bạch Hổ
地四生金位居西其象为白虎

Thanh Long, Huyền Vũ giáng phương bàn 青龙玄武降方蟠
Bạch Hổ, Chu Tước hạ phương viên 白虎朱雀下方援
Tứ tượng hoà hợp nhập Trung Cung 四象和合入中宫
Hoá tác nhất Linh qui Tử Phủ (Đan Điền) 化作一灵归紫府

Thanh Long, Huyền Vũ hợp hoà
Bạch Hổ, Chu Tước một nhà đoàn viên
Trung Cung hoà hợp mọi miền
Kim Đơn thấy tại Đan Điền chẳng sai.

Mắt chẳng xem thì Hồn tại Gan
Tai chẳng nghe thì Tinh tại Thận
Lưỡi bất động thì Thần tại Tâm
Mũi chẳng ngửi thì Phách tại Phế.

Bốn cơ quan đó vô lậu, thì Tinh Thuỷ, Thần Hoả, Hồn Mộc, Phách Kim đều tụ ở trong Ý Thổ, như thế gọi là Hoà hợp Tứ Tượng.

Hợp nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tị tức, giam thiệt khí. Tứ Đại sẽ bất động, để Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ đều hội ở Trung Cung, gọi là toản thốc Ngũ Hành vậy.

Nên nói:

Tinh Thần Hồn Phách Ý, 精神魂魄意
Toản thốc qui Khôn vị 攒簇归坤位
Tĩnh cực kiến Thiên Tâm 静极见天心
Tự hữu Thần Minh chí 自有神明至

Tinh Thần Hồn Phách Ý
Hoà hợp tại Trung Cung,
Tĩnh cực Thiên Tâm hiện
Thần minh tự nhiên đến.

HÒA HỢP TỨ TƯỢNG THUYẾT

Tứ Tượng là: Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ.
Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.

Long Mộc sinh Hoả, đều thuộc về Tâm.
Tâm là tượng Đế chi Tiên (Tâm là gốc của ngũ hành)

Tâm là Chân Vô, Linh Diệu.
Nếu Tâm mà bất động thì Long ngâm, mây khởi, Chu Tước xếp cánh (Nguyên Thần qui phục) và Nguyên Khí ngưng kết.

Hổ Kim sinh Thuỷ, đều thuộc về thân.
Thân này, từ muôn kiếp vốn thanh tịnh, nên là Diệu Hữu của Chân Vô.

Thân mà bất động, thì Nguyên Khí sẽ y phụ và Nguyên Tinh sẽ kết thành. Tinh ngưng, Khí tụ, thì Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả sẽ hồn dung nơi Chân Thổ. Tinh, Thần, Hồn, Phách sẽ hoà hợp tại Chân Ý.

Chân Ý là Kiền Nguyên, là Vạn vật chi thuỷ, thiên địa chi mẫu, âm duơng chi căn, thuỷ hoả chi bản, nhật nguyệt chi tông, tam tài chi nguyên, ngũ hành chi tổ.

Vạn vật nương vào đó để sinh thành, Thiên Linh nhờ đó mà thư thái. Ý mà bất động thì Nguyên Thần, Nguyên Khí tương giao, tinh khí thần tương hội, Tinh thuỷ, Thần Hoả, Hồn mộc, Phách kim (Tứ tượng) sẽ hoà hợp, Ngũ hành sẽ toản thốc nơi Đan Điền.

Tất cả đều hội tụ về Trung cung và Đại Đan thành vậy.
Tử Dương chân nhân nói:

Ngũ hành toàn yếu nhập Trung ương 五行全要入中央。

取坎填離說
坎象來填,離掛成乾。天地定位,返本還元。
取出坎中畫,補離還復乾。純陽命本固,靈砂性珠圓。
克念全天哩,離塵合上禪。採鉛知下手,三叠舞胎仙。
陽單結在陰海中,猶如坎裏一炎堆。擒來離內溫溫養,此即神仙顛倒功。
鉛汞者,太極初分,先天之氣 也。先天氣 者,龍虎初弦之氣 也。虎居北方坎水之中,而坎中陽爻原屬於乾。劫運未交之先,乾因顛蹶馳驟誤陷於坤。乾之中爻損而 成離。離本汞居,故曰,坎內黃男名汞祖也。龍居南方離火之內,而離中陰爻原屬於坤,混沌顛落之後,坤因含受孕育,得配於乾。坤之中爻實而為坎,坎本鉛會, 故曰離中玄女是鉛家也。似此男女異室,鉛汞異爐,陰陽不交,則天地否矣。聖人以意為黃婆,引坎內黃男,配離中玄女。夫妻一媾,即變純乾,謂之取坎填離,複 我先天本體。故悟真篇雲:取將坎內中心實,點化離宮腹內陰,正此義也。

THỦ KHẢM ĐIỀN LY ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Khảm tượng lai điền, Ly quái thành Kiền. 坎象来填离挂成乾
Thiên địa định vị, phản bản hoàn nguyên. 天地定位返本还原

Thủ xuất Khảm trung hoạch. 取出坎中画
Bổ Ly hoàn phục Kiền. 补离还复乾
Thuần Dương mệnh bản cố 纯阳命本固
Linh sa châu tính viên 灵砂珠性圆

Lấy một hào Dương trong quẻ Khảm,
Thay chỗ hào Âm giữa quẻ Ly
Thế là Ly lại biến thành Kiền
Đất Trời định vị, tái hoàn nguyên

Khắc niệm toàn Thiên Lý 克念全天理
Ly trần hợp thượng thiền 离尘合上禅
Thái Diên tri hạ thủ 采铅知下手
Tam diệp vũ thai tiên 叁叠舞胎仙

Muôn niệm phát ra hợp lẽ Trời
Nay Ly biến dạng hoá Kiền rồi
Tu trì như vậy là biết cách
Phật Tiên âu cũng chỉ thế thôi

Dương đan kết tại Âm Hải trung 阳丹结在阴海中
Do như Khảm lý nhất viêm đôi 犹如坎里一炎堆
Cầm lai Ly nội ôn ôn dưỡng 擒来离内温温养
Thử tức Thần Tiên điên đảo công 此即神仙颠倒功

Lấy một hào Dương từ lòng biển
Thay chỗ hào Âm giữa quẻ Ly
Nếu như làm được công chuyện đó
Điên đảo Thần tiên, ta hãy suy
THỦ KHẢM ĐIỀN LY THUYẾT
Diên Hống là Thái Cực sơ phân, là Tiên Thiên chi Khí. Khí Tiên Thiên là Khí Sơ Huyền của Long Hổ vậy. Như vậy Diên Hống là Nguyên Thần Nguyên Khí lúc sơ phân.

Hổ ở phương Bắc trong Khảm Thuỷ. Hào Dương trong quẻ Khảm vốn thuộc Kiền. Trước khi có sinh diệt, Quẻ Kiền bị điên đảo, lọt vào trong quẻ Khôn. Thế là Khôn biến thành Khảm, Kiền biến thành Ly.

Vì thế nên nói:

Khảm nội Hoàng Nam danh Hống tổ 坎内黄男名汞祖
Ly trung Huyền Nữ thị Diên gia. 离中玄女是铅家

Khảm có hào Dương nên kêu Hống tổ, Ly có hào Âm nên gọi Diên gia.
Nếu Nam nữ biệt cư, Diên Hống không chung một lò, thì Âm Dương sẽ không gặp gỡ, nên gọi là: Thiên Địa Bĩ 天地否

Thánh Nhân gọi Chân Ý là Huỳnh Bà, làm mối manh cho Huỳnh Nam của Khảm gặp Huyền Nữ của Ly. Phu thê giao cấu, Ly sẽ biến thành Thuần Kiền, Khảm sẽ biến thành Thuần Khôn. Thế là Thủ Khảm Điền Ly, cho con người chúng ta phục hồi tiên thiên bản thể:
BIẾN NGƯỜI TRỞ LẠI THÀNH TRỜI

Ngộ Chân Thiên viết:-

Thủ tương Khảm nội trung tâm thật, 取将坎内中心实,
Điểm hoá Ly cung phúc nội Âm 点化离宫腹内阴

Quyết mang Khảm quái trung hào thực
Điểm hoá cho Ly hết nội Âm

念觀音咒說

始則自上而下至於臍中,中則自下而上至於喉內。
唵字須要到臍,彌字在臍之下。

此咒是觀音菩薩微妙心印。若人書寫六字大明咒者,即同書寫三藏法寶;若人得念六字大明咒者,則同諷誦七軸靈文。又能開智慧門,能救百難苦,三世業冤,悉 皆清靜,一切罪障,盡得消除,解脫生死,安樂法身。然而念咒亦有密訣。故第一聲中叫唵之,乃以呼吾身毗盧遮那佛也。第二聲東而嘛之,乃以呼吾身不動尊佛 也。第三聲南而呢之,乃以呼吾身寶生佛也。第四聲西而叭之,乃以呼吾身無量壽佛也。第五聲北而咪之,乃以呼吾身不空成就佛也。第六聲複上返於喉而作吽者, 乃以呼吾身大勢至金剛也。久則五氣 歸元,即成就不思議功德而證圓通也。
QUAN ÂM MẬT CHÚ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Chú thích của dịch giả:

Chú này còn được gọi là: Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn, Lục Tự Đại Minh Chú, hay Lục Tự Đại Minh Darani.

Có nhiều cách đọc:-

Án Ma Ni Bát Di Hồng.

Aum Mani Padme Hum

Ốm Ma Ni Bát Mê Hồng.

Án Ma Ni Bát Minh Hồng.

Om Mani Padme Hum.

Om Mani Pê Mê Hung.
Giải thích lời chú:-

Đoàn Trung Còn dịch là:

Aum, Le Joyau dans le Lotus.

Hay, cái quý báu trong Hoa Sen.

Tôi dựa vào Hình vẽ và lời chú nơi trang 200, 201 của sách: Les Fondements de La Mystique Tibétaine (Foundaytion of the Tibetan Mysticism) của Anagarita Govinda và Les Spiritualités vivantes của Jean Herbert, mà dịch là :-

Aum, Ngọc Châu Viên Giác chiếu diệu trong Liên Hoa Tâm,

hay

Tuyệt Đối Thể chiếu diệu trong Trung Tâm não bộ,

và đã sánh đồ hình này với Nê Hoàn cung của Đạo Lão.

Phương Dung, Những điều huyền diệu của Kim Cang thừa, tr.107, cũng giải thích từng chữ rất hay.

***
Mới đầu từ trên xuống dưới chỗ Rốn. Chứ AUM phải đọc nơi Rốn (Đan Điền)

Sau đi từ dưới lên trên cho tới cổ họng. Chữ Di (Mê) phải đọc từ dưới Rốn (Đan Điền).

QUAN ÂM MẬT CHÚ THUYẾT

Chú này là Tâm ấn rất vi diệu của Đức Quan Âm. Ai mà biết chú này thì cũng như viết Tam Tạng Pháp bửu. Ai mà đọc chú này thì cũng như đọc tất cả Kinh Phật, lại mở mang được đầu óc, thoát ly sinh tử, đạt tới Pháp Thân an lạc.

Nhưng niệm chú có mật quyết nên:

Tiếng thứ Nhất là Án 唵 niệm từ Chính Rốn (Đan Điền). Đó là niệm Tì Nô Giá Na Phật trong ta.

Tiếng thứ Hai là Ma 嘛 ở phía Đông. Đó là kêu Bất Động Tôn Phật trong ta.

Tiếng thứ ba là Ni 呢 ở phía Nam. Đó là niệm Phật hộ thân bảo sinh trong ta.

Tiếng thứ tư là Bát 叭 ở phía Tây. Đó là niệm Vô Lượng Phật trong thân ta.

Tiếng thứ Năm là Di 咪 ở phía Bắc, tức là niệm Bất Không Thành Tựu Phật trong ta.

Tiếng thứ Sáu là Hồng 吽 tại yết hầu. Đó là niệm Đại Thế Chí Kim Cương.

Niệm lâu ngày Ngũ Khí sẽ triều Nguyên, tức thành tựu được công đức không cùng và chứng đắc được viên thông.

Lời bàn của dịch giả: Biết rằng trong mình có đủ chư Thần, chư Phật hiện thân thì dĩ nhiên là Đắc Đạo rồi vậy.

九鼎煉心說

第一轉:措摩心地煉金丹,止念當為第一關。
念斷自然情識斷,須知水靜沒波瀾。

第二轉:祖竅開時入杳冥,坎離鉛汞自氤氳。
天然真火知時煉,煉出西乾半月痕。

第三轉:外直中通世罕聞,推求枝葉不求根。
由從此處徐徐進,一點靈光漸漸明。

第四轉:陽烏海底奮神威,正是金丹四轉時。
奪得先天真種子,河車搬運過曹溪

第五轉:時後金晶飛上來,霞光燦爛囟門開。
三花聚鼎烹龍虎,珠落黃庭結聖胎。

第六轉:金烏飛入廣寒宮,白虎張威待赤龍。
赤龍奮力歸金鼎,掌握神珠照眼紅。

第七轉:十月胎靈已躍然,嬰兒法乳要三年。
蟄藏住息溫溫養,猶龍潭底抱珠眠。

第八轉:陽極陰消丹已成,神光赫赫耀金庭。
脫離苦海分胎出,自在崑崙頂上行。

第九轉:無丹無火亦無金,飈卻鉗錢沒處尋。
真我本來真面目,未生身處一輪明。

日也者,天之丹也,黑而蕩之,則日不丹。心也者,人之丹也,物而霾之,則心不丹。故煉丹也者,煉去陰霾之物,以複其心之本體天命之性之自然也。天命之 性,吾之真金也,人人之所必有者。氣質之性,金之濁渣也。上智之所不無者,若以人倫日用之火而日煉之,則氣質之性日除。氣質之性日除,則天命之性自見矣。 故五帝三王君也,而以君道而日煉其心;伊博周召相也,而以相道而日煉其心,孔曾思孟師也,而以師道而日煉其心。無時而不心在於道,無時而不以道而煉其心, 此乃古大聖大賢為學之要法,百煉、煉心、煉性之明訓也。

CỬU ĐỈNH LUYỆN TÂM ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

* Đệ Nhất Chuyển 第一转
Thố ma tâm địa luyện Kim Đan, 措摩心地炼金丹
CHỈ NIỆM đương vi đệ nhất quan. 止念当为第一关
Niệm đoạn tự nhiên tình thức đoạn 念断自然情识断
Tu tri thuỷ tĩnh một ba lan. 须知水静没波澜

Những ai quyết chí luyện Kim Đan
Dẹp trừ niệm lự mới là ngoan.
Tuyệt niệm, tự nhiên Tình Thức tuyệt,
Như mặt nước yên chẳng sóng cồn.

* Đệ Nhị Chuyển 第二转
Tổ Khiếu khai thời, nhập yểu minh, 祖窍开时入杳冥
Khảm Ly Diên Hống tự nhân uân. 坎离铅汞自氤氲
Thiên Nhiên Chân Hoả tri thời luyện, 天然真火知时炼
Luyện xuất Tây Kiền nguyệt bán ngân 炼出西乾月半痕

Thấy được Thiên Tâm lúc màng mơ,
Nguyên Thần, Nguyên Khí tự nhiên hoà
Chân hoả nếu như mà biết luyện
Thuần Kiền vẹn sáng sẽ hiện ra.

* Đệ Tam Chuyển 第叁转
Ngoại trực, trung thông, thế hãn văn 外直中通世罕闻
Suy cầu chi diệp, bất cầu căn 推求枝叶不求根
Do tùng thử xứ, từ từ tiến 由从此处徐徐进
Nhất điểm Linh Quang tiệm tiệm minh 一点灵光渐渐明

Trong thông, ngoài thẳng ít ai nghe,
Chỉ kiếm ngọn ngành không kiếm gốc
Tìm ra được gốc mới khỏi chê,
Thái Cực trong người sẽ phát huy

* Đệ Tứ Chuyển 第四转
Dương ô hải để phấn thần uy 阳乌海底奋神威
Chính thị Kim Đan tứ chuyển thì 正是金丹四转时
Đoạt đắc Tiên Thiên Chân Chủng tử 夺得先天真种子
Hà Xa ban vận quá Tào Khê 河车搬运过曹溪

Luyện đan chính thị luyện Kim Đan,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hợp lưỡng ban
Vận chuyển phải qua NHÂM ĐỐC mạch
Nhâm Đốc đả thông sẽ chu toàn

* Đệ Ngũ Chuyển 第五转
Thời hậu Kim Tinh phi thượng lai 时後金晶飞上来
Hà quang xán lạn, tín môn khai 霞光灿烂囟门开
Tam hoa tụ đỉnh, phanh Long Hổ 叁花聚鼎烹龙虎
Châu lạc Huỳnh Đình kết thánh thai 珠落黄庭结圣胎

Chu Thiên Dương Hoả vận lên đầu
Xán lạn hào quang Huyệt Đạo khai
Tam hoa tụ đỉnh điều Thần Khí
Huỳnh đình châu lạc kết Thánh Thai

* Đệ Lục Chuyển 第六转
Kim Ô phi nhập quảng hàn cung 金乌飞入广寒宫
Bạch Hổ trương uy đãi Xích Long 白虎张威待赤龙
Xích Long phấn lực quy Kim Đỉnh 赤龙奋力归金鼎
Chưởng ốc Thần Châu chiếu nhãn hồng 掌握神珠照眼红

Kim Ô bay thẳng nhập nguyệt cung
Bạch Hổ dương uy đợi Xích Long
Xích Long ra sức về Kim Đỉnh
Nắm chắc Thần Châu chiếu thinh không.

* Đệ Thất Chuyển 第七转
Thập nguyệt Thai Linh dĩ dược nhiên, 十月胎灵已跃然
Anh Nhi pháp nhũ yếu tam niên 婴儿法乳要叁年
Trập tàng trụ tức ôn ôn dưỡng 蛰藏住息温温养
Do Long đàm để bão châu miên 犹龙潭底抱珠眠

Mười tháng hoài thai đã vẹn toàn,
Ba năm trẻ nít cần bú mớm
Tụ khí Tiên Thiên tại đan điền
Như Rồng ôm ngọc, ngủ Long đàm.

* Đệ Bát Chuyển 第八转
Dương cực Âm tiêu, đan dĩ thành, 阳极阴消丹已成
Thần quang hách hách diệu Kim Đình 神光赫赫耀金庭
Thoát Ly khổ hải phân thai xuất 脱离苦海分胎出
Tự tại Côn Lôn đỉnh thượng hành. 自在昆仑顶上行

Dương cực Âm tiêu đã thành đơn
Thần quang rực rỡ rạng Đan Điền
Thoát Ly khổ hải thần tiên hiện
Trên đỉnh Côn Lôn thấy nhãn tiền.

* Đệ Cửu Chuyển 第九转
Vô Đơn, vô Hoả diệc vô Kim 无丹无火亦无金
Phàm khước kiềm tiền một xứ tầm 飚却钳钱没处寻
Chân Ngã Bản Lai Chân Diện Mục 真我本来真面目
Vị sinh thân xứ nhất luân minh 未生身处一轮明

Chẳng Đan, chẳng Hoả cũng chẳng Kim
Những chuyện Linh tinh, khó kiếm tìm
Chân Ngã, Bản Lai Chân Diện Mục
Một vừng trăng sáng trước khi sinh.

CỬU ĐỈNH LUYỆN TÂM THUYẾT
Nhật là Đơn của Trời. Nếu đen và động thì Nhật không phải là Đan nữa.

Tâm là Đơn của Người. Nếu bị vật đóng bụi, thì Tâm không phải là Đan nữa.

Cho nên luyện đan là loại trừ bụi bặm, để cho Tâm phục hồi Bản Thể, phục hồi Thiên Mệnh Chi Tính tự nhiên của mình.

Thiên Mệnh chi Tính là Chân Kim của ta, ai ai cũng có. Khí chất chi tính là cặn bã của Kim. Bậc thượng trí cũng có tính này.

Nếu biết lấy lửa Nhân luân thường dùng, mà tôi luyện nó, thì Khí Chất chi Tính ngày một tiêu trừ. Khí chất chi tính đã trừ, thì Thiên Mệnh chi tính tự hiện.
Ngũ Đế , Tam Vương đều là Vua, nhưng đã biết dùng Quân đạo (đạo làm vua) để hằng ngày tu luyện Tâm mình. Y Doãn, Phó Duyệt, Chu Công, Thiệu Công đều là Tể tướng. Các ngài đã dùng Tướng đạo (đạo làm tướng) để hằng ngày tu luyện Tâm mình.

Khổng Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử đều là thầy dạy học. Các Ngài đã dùng Sư đạo (đạo là thầy) để hằng ngày tu luyện Tâm mình.

Không lúc nào mà các Ngài không để tâm vào Đạo. Không lúc nào mà các Ngài không lấy Đạo luyện Tâm.

Đó là khuôn phép xưa của các bậc đại thánh, đại hiền. Lời minh huấn của các Ngày là chuyên lo luyện Tâm, luyện Tính.

*
* *

Lời bình của dịch giả:-

Bài Cửu Đỉnh luyện đan đồ không có gì đặc sắc. Đại ý thì Luyện Tâm là chùi rửa cho Tâm trở nên trong sáng dần. Cuối cùng là Vòng tròn sáng trắng tinh, nhưng lại không có chữ Tâm. Thứ tự 9 bài thơ không ra đầu đuôi.

Nhưng bài Cửu Chuyển luyện đan thuyết thì rất hay. Gọi Luyện Tâm là Luyện Đan.

Thuyết này phân biệt con người có hai Tính: Thiên Địa chi tính (Tính Trời). Khí Chất chi tính (Tính Người)

Trừ khử Tính Người là Luyện Đan

Trừ được Tính Người, thì Tính Trời sẽ hiện, và Đan sẽ thành.

Cách bàn về Luyện Đan ở đây thật độc đáo. Không bàn đến Diên Hống (Dương Âm) hay Long Hổ mà chỉ bàn về Tính Trời, Tính Người. Rất đáng cho ta chú ý.
八識歸元說

軒轅稱九鼎,如來標八識。太極歸無極。

兄弟八個一人痴,猶有一個最伶俐。五個門前做買 賣,一個家中作主依。伶俐者,即第六意識也。此識為五賊之主司,乃輪迴之種子。三界凡夫無一人不遭此沉溺。故《圓覺經》云:先斷無始輪迴根本者,斷此意識 也。痴者,指第七傳送識而言。主依者,即第八阿賴耶識是也。此識謂之總報,主投胎時是也。先來捨身時是也,後去。故曰去後來先作主公。

境屬風即五識,六識屬波,七識屬浪,八識屬心海,九識屬湛性。八識者,皆屬無明色身已土事外起。九識明曰白淨識,不屬無名,不落因果,不假因果,不假修 證,不受一塵。故宗門謂曰:實際理地離一切相建化門中,不捨一法,具足一切。實而言之,以上八個識屬漸。第九識屬頓。何則?然色身幻化,不假修證,法身無 相,猶虛空,故不假修,以今為圖象,會意揀妄明真,勿令認賊為子。
釋氏謂,人之受生,必從父精母血與前生之識神三相合而後成胎。精氣受之父母,神識不受之父母也。蓋從無始劫流來,亦謂之生滅性。故曰:生滅與不生滅和合 而成八識也。蓋造化間有個萬古不移之真宰,又有個與時推移之氣運。真宰與氣運合是謂天命之性。天命之性者,元神也。氣質之性者,識神也。故儒家有變化氣質 之言,禪宗有返識為智之法。今人妄認方才中有個昭昭靈靈之物,渾然與物同體,便以為元神在。是殊不知此即死死生生之本,非不生不滅之元神也。噫,識識易, 去識難,若不以天命元神戰退無明業識。終在生滅場中,未見有出頭日也。
BÁT THỨC QUY NGUYÊN ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Đệ huynh bát cá nhất nhân si 弟兄八个一人痴
Độc hữu nhất cá tối Linh Li 犹有一个最伶俐
Ngũ cá môn tiền tố mãi mại 五个门前做买卖
Nhất cá gia trung y chủ y 一个家中依主依

Anh em tám kẻ một người si (Mạt Na = Ngã si)
Duy có một chàng rất Linh Li (Đệ Lục Thức = Ý thức)
Năm người buôn bán ngoài cửa ngõ (Ngũ quan)
Một vị trong nhà đứng chỉ huy (Alaya)

Tối Linh Lợi là Đệ Lục Thức, tức ý thức. Thức này làm chủ Ngũ tặc, là chủng tử luân hồi. Tam giới phàm phu ai cũng bị thức này làm đắm chìm. Nên Kinh Viên Giác nói: Tiên đoạn vô thuỷ luân hồi căn bản. Tức là chặt bỏ thức này.
Si là đệ Thất Thức tức Truyền Tống Thức.

Y giả là Đệ bát Thức (Alaya thức). Khi đầu thai, nó đến trước tiên, khi xả thân thì nó đoạn hậu. Cho nên nói: Khứ hậu, lai tiên tác Chủ công.

Bát thức đều thuộc Vô Minh, Sắc Thân là do Kỷ Thổ dấy lên.

Còn đệ Cửu Thức thì được gọi là Bạch Tịnh Thức. Thức này vượt ngoài Vô Minh, không ở trong vòng Nhân Quả, không cần tu chứng, không nhiễm trần ai, cho nên Thiền Môn gọi là “Thực Tế Lý Địa” 实际理地 (Thế giới Bản Thể), Ly nhất thiết thực tướng, ở trong Hư Hoá, Pháp nào cũng có, đầy đủ tất cả Bát cá thức thuộc Tiệm, còn đệ Cửu Thức thì thuộc Đốn.

Tại sao vậy? Sắc thân ảo hoá cần tu chứng. Còn Pháp Thân thì vô tướng y như Hư Không, cho nên không cần tập luyện tu chứng.

Nay vẽ ra đồ hình này để biểu đạt ý kiến trên, bỏ vọng cầu chân, khiến người không nhận giặc làm con. Hiên Viên Hoàng Đế gọi Tâm là Cửu Đỉnh, Như Lai gọi là Bát Thức, Thái cực qui thuộc vu Vô Cực.
Ngũ Thức hay Cảnh thuộc Phong.
Lục thức thuộc Ba,
Đệ Thất Thức là Lãng,
Đệ Bát Thức là Tâm Hải,
đệ Cửu Thức là Tính Lắng Trong (Thanh tĩnh minh triệt, tự nhiên Nguyên Tính).

BÁT THỨC QUI NGUYÊN THUYẾT
Thích gia cho rằng: Con người thụ sinh là do tinh cha, huyết mẹ (Tinh Khí), và Thức Thần kiếp trước mà thành. Ba yếu tố đó hợp lại thành thai. Tinh, Khí là do cha mẹ mà có, thức thần thì không do cha mẹ, nhưng từ vô thủy kiếp mà lưu lại, cho nên nó là Sinh Diệt tính. Cho nên nói: Bát thức là do sinh diệt (Thức Thần) và Bất sinh diệt (Tinh Huyết) mà thành. Cho nên, trong Tạo Hóa, có cái Chân Tể muôn đời không đổi dời, cũng có cái theo thời gian mà suy di, biến hóa, cái đó là: Khí Vận. (Khí Vận là Âm Dương khí hóa, vận động, suy di)

Chân Tể là Khí Vận hợp lại gọi là Thiên Mệnh Chi Tính (Thiên Phú Chi Tính, Bản Nhiên Chi Tính)

Thiên Mệnh Chi Tính gọi là Nguyên Thần, Khí Chất chi Tính gọi là Thức Thần.

Cho nên Nho gia gọi Thức Thần là Biến Hóa Khí Chất (Có thể dùng tu luyện mà cái biến nó).

Thiền Tông có phép: Chuyển Thức thành Trí (chuyển Thức Thần thành Không Tĩnh Tuệ Trí). Làm cho con người nhận lầm rằng trong mình có cái gì Chiêu Minh Linh Hiển, hỗn nhiên dữ vật đồng Thể, rồi tưởng đó là Nguyên Thần. Có biết đâu rằng đó chỉ là gốc của Tử Tử, Sinh Sinh, chứ không phải là Nguyên Thần bất sinh bất diệt.

Ôi, biết được Thức thời dễ, trừ được Thức thời khó!

Nếu chẳng biết lấy Thiên Mạng Nguyên Thần để tiêu trừ Nghiệp Thức (Thức Thần), thì cuối cùng cũng không thoát vòng Sinh diệt, không biết ngày ra khỏi.
*
* *
Lời bàn của Dịch Giả:-

Ta thấy mục đích đạo Lão khá rõ ràng:

Biến con người phàm phu thành con người Siêu Việt, biến Người thành Trời.

Đạo Lão đưa ra nhiều cách:

1. Hợp nhất các yếu tố về Nhất Thể, khiến Âm Dương hợp Nhất thành Thái Cực. Họ gọi Âm là Hổ, là Diên, là Xá Nữ, là Nguyệt; gọi Dương là Long, là Hống, là Anh Nhi, là Nhật v.v. Và gọi đó là Phép Luyện Đơn, mà luyện đơn là vận chân khí qua xương sống, qua hai mạch Nhâm Đốc, và đem Chân Khí đó về Tích Tụ tại Nê Hoàn Cung, hay Thượng Đan Điền.

Khoa học Vận khí qua hai mạch Nhâm Đốc chính là khoa Khí Công của Trung Hoa. Tôi không muốn nói nhiều hơn, chỉ xin giới thiệu bộ sách: Trung Quốc khí công đại thành 中国气功大成, do Phương Xuân Dương 方春阳 chủ biên, 868 trang, Cát Lâm Khoa Học kỹ thuật xuất bản xã, 1999.

2. Chẳng những hợp Âm Dương, mà còn Hòa Hợp Tinh Khí Thần qui tụ về nơi đầu mà họ gọi là Tam Hoa qui đỉnh.

3. Cũng có thể Hòa Hợp Ngũ Hành mà họ gọi là Ngũ Khí Triều Nguyên.

4. Họ coi con người sau khi đã sinh, thì không còn Thuần Thể, Toàn Thể như Trời. Trời khi ấy đã mất vẻ Thuần Khiết và đã biến thành Ly. Cho nên phải biết lấy Hào Dương ở giữa quẻ Khảm thay cho Hào Âm ở giữa quẻ Ly, cho Ly biến trở lại thành Kiền. Đó là Thủ Khảm Điền Ly. Đó là biến Phàm Tâm con người trở thành Thiên Tâm.

5. Họ gọi con người là Khí Chất chi Tính, coi Trời là Thiên Mệnh chi Tính. Diệt Khí chất chi tính, để thay thế bằng Thiên Mệnh chi Tính

Khí Chất chi tính là Nhân Dục, Thiên Mệnh chi tính là Thiên Lý. Cho nên hễ Nhân dục thắng thì Thiên Lý vong. Nhân dục tận thì Thiên Lý hiện. Hai đằng không thể lưỡng lập, mà phải một chết một còn. Đó cũng là Biến Người thành Trời.

6. Họ muốn biến Tinh Khí Thần, và nói: Luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần hoàn hư, phục qui Vô Cực. Đó cũng là Biến Người thành Trời.

7. Họ chủ trương người có Bát Thức. Ngoài Bát thức ra, còn có Cửu Thức, hay Bạch Tịnh Thức. Bát thức phải qui về Bạnh Tịnh Thức thì con người mới trở nên Bất Tử. Đó cũng là cách Biến Người thành Trời theo Phật Giáo. (Phật Giáo xưa nay chỉ biết Bát thức, khi giác ngộ, thì Thức sẽ biến thành Trí, ví dụ Alaya sẽ biến thành Đại Viên Cảnh Trí. Chỉ có Doãn Chân Nhân mới nói con người có Cửu Thức).

8. Họ còn chủ trương Tâm Tử, Thần Hoạt, Tâm con người có chết đi thì Thần Trời Đất mới hiện ra.

9. Cho nên có thể nói rằng đằng sau mỗi con người sinh tử chúng ta, còn có một Chân Nhân bất sinh bất tử. Phải tìm cho ra được Chân Thần bất sinh bất tử ấy, phải hoàn toàn vất bỏ con người cũ của chúng ta, và thay thế chúng ta hoàn toàn bằng con người mới. Như vậy mới là Giác Ngộ hoàn toàn. Tâm ta phải như mặt trời trong sáng. Như vậy giữa Con Người Phàm Phu chúng ta và con người Thiên Chân chúng ta, như có một bức màn, tu là xé bỏ bức màn đó.

10. Như vậy, chúng ta đáng lý là Trong sáng, nhưng ta lại nghĩ ta là Đen đủi.

Chúng ta là Bất tử nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy Sinh Tử, Biến Thiên.

Chúng ta là Chân Như, nhưng vì mang hồn phách, hình hài nên tưởng mình là cái GIẢ HỢP.

Bà La Môn giáo cầu xin:

Xin đưa tôi từ GIẢ về CHÂN.

Xin đưa tôi từ TỐI TĂM trở về ÁNH SÁNG.

Xin đưa tôi từ TỬ VONG trở về BẤT TỬ. (Brih. Upanishad. 1.3.28)

Đó chính là Họ nhìn ta từ Khía Cạnh Thần Tiên, chứ không nhìn ta bằng đôi mắt phàm tục.

五氣朝元說
一氣初判而列二儀,二儀定位而分五常,五常異地而各守一方,五方異氣而各守一子。青帝之子名龍煙,受甲乙木德之三氣。赤帝之子名丹元,受丙丁火德之二 氣。白帝之子名皓華,受庚辛金德之四氣。黑帝之子名玄冥,受壬癸水德之一氣。黃帝之子名常存,受戊己土德之五氣。故金得土則生,木得土則旺,水得土則止, 火得土則息。唯聖人知回幾之道、得還元之理。於是攢五簇、四會、三合、二而歸一也。蓋身不動則精固而水朝元,心不動則氣固而火朝元,真性寂則魂藏而木朝 元,妄情忘則魄伏而金朝元,四大安和則意定而土朝元。此謂五氣朝元,皆聚於頂也。

NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN THUYẾT

Một Khí phân ra thành Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi định vị phân thành Ngũ Thường. Ngũ Thường mỗi kẻ giữ một phương. Mỗi phương đều khác khí lại có một người con giữ,

Tên con Thanh Đế là Long Yên, được Giáp Ất Mộc đức tam khí.

Tên con Xích Đế là Đơn Nguyên, được Bính Đinh Hỏa đức nhị khí.

Tên con Bạch Đế là Hạo Hoa, được Canh Tân Kim đức tứ khí.

Tên con Hắc Đế là Huyền Minh, được Nhâm Quí Thủy đức nhất khí.

Tên con Hoàng Đế là Thường Tồn, được Mậu Kỷ Thổ đức là Ngũ Khí.

Cho nên Kim được Thổ thì Sinh, Mộc được Thổ thì vượng.

Hỏa được Thổ thì ngừng, Thủy được Thổ thì dứt.

Chỉ Thánh Nhân mới biết đạo lý Hồi Kỷ, Hoàn Nguyên.

Đó là Túm Năm, Tụm Bốn, Hội Ba, Hiệp Hai và Qui Nhất.

Nếu Thân bất động thì Tinh bền, mà Thủy triều Nguyên.

Tâm bất động, thì Khí bền, mà Hỏa triều Nguyên.

Chân Tính mà tĩnh tịch, thì Hồn tàng mà Mộc triều Nguyên

Vọng tình mà trừ được thì Phách sẽ ẩn phục mà Kim sẽ triều Nguyên.

Tứ đại an hòa thì Ý định mà Thổ sẽ triều Nguyên.

Đó là Ngũ Khí Triều Nguyên, đều qui tụ tại đỉnh đầu.
*
* *

Lời bàn của Dịch Giả :-

Con người muốn qui nguyên phản bản, thì tất cả phải qui hướng về Trời, về lẽ Một.

Ngũ Khí là: Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý. Tất cả phải hợp lại thành một.

Cho nên mới có những chữ:

– Ngũ Khí Triều Nguyên, Toản Thốc Ngũ Hành.

– Tứ Tổ qui gia.

– Tam gia tương kiến, Tam Hoa tụ đỉnh, Tam vật qui Thổ.

待詔說

形神俱妙道為徒,性命相圓合太虛。寶詔降時騰鶴馭,玉書拜後駕龍車。
龍車冉冉乘雲氣,遍滿六虛廣 無際。九天仙子笑相迎,同詣玄都朝上帝。
九年面壁之後。靈台晶瑩,覺海圓明,性命混融,形神俱妙。與天地合德,與太虛同體,此同丹道已成而積功累行不可缺也。蓋道之與德猶陰之與陽,行之與功猶 日之與足。鐘離翁雲:有功無行如無足,有行無功目不全。功行兩圓足自備,誰雲無分作神仙?是以古仙上聖金丹事成,溫養事畢,遊戲人間,和光混俗,隨力建 功,隨方解縛,扶危拯厄,救劫匡時,普渡群迷,接引後學,道上有功,人間有行。功行滿足,潛伏俟時,只待天書降詔,玉女來迎,駕霧騰雲,直入三清聖境。如 張紫陽翁悟真篇雲:德行修逾八百,陰功積滿三千,寶符降詔去朝天,穩駕瓊輿鳳輦。

ĐÃI CHIẾU ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Hình thần câu diệu, Đạo vi đồ 形神俱妙道为徒
Tính Mệnh tương viên hợp Thái Hư 性命相圆合太虚
Bảo chiếu giáng thời đằng hạc ngự 宝诏降时腾鹤驭
Ngọc thư bái hậu giá Long Xa 玉书拜後驾龙车
Long Xa nhiễm nhiễm thừa vân khí, 龙车冉冉乘云气
Biến mãn Lục Hư quảng vô tế 遍满六虚广无际
Cửu Thiên tiên tử tiếu tương nghinh, 九天仙子笑相迎
Đồng nghệ Huyền đô triều Thượng Đế 同诣玄都朝上帝

Thần hình đẹp đẽ, bạn Trời ư?
Tính Mệnh song tu, hợp Thái Hư
Bảo chiếu giáng thời, lên lưng hạc
Phụng lĩnh Ngọc Thư, ngồi Long Xa.
Long xa, ngồi rồi, thừa vân khí,
Rảo khắp Lục Hư rộng vô bờ
Tiên tử từ Trời vui vẻ đón
Về chầu Thượng Đế tại Huyền Dô.

ĐÃI CHIẾU THUYẾT
Sau chín năm diện bích, Linh Đài rực rỡ, giác hải viên minh, tính mệnh hợp hòa, hình thần câu diệu, hợp đức cùng trời đất, đồng thể với Thái Hư.

Lúc đó Đan Đạo đã thành, công hạnh tích lũy đã đầy đủ. Vì Đạo Đức như Âm với Dương. Hạnh và Công như mắt với chân.

Chung Ly Quyền nói:

Hữu công vô hạnh như vô túc 有功无行如无足,
Hữu hạnh vô công mục bất toàn 有行无功目不全。
Công hạnh lưỡng viên túc mục bị, 功行两圆足自备,
Thùy vân vô phận tác Thần Tiên 谁云无份作神仙?

Có Công, không Hạnh, như thiếu chân,
Có Hạnh, không Công tựa mắt mù
Công Hạnh vẹn toàn chân mắt đủ
Phải có nhân duyên mới nên Tiên.

Cho nên cổ tiên, thượng thánh xưa sau khi đã luyện thành Kim Đơn, khi đã ôn dưỡng hoàn tất, thì đi chơi khắp thế gian, che dấu thân phận, hòa mình với người, tùy sức kiến công, tùy phương cởi trói, phò nguy, giải ách, cứu kiếp, khuông thời, phổ độ quần mê, tiếp dẫn hậu học. Đối với Đạo có công, đối với nhân gian có Hạnh.

Khi Công Hạnh mãn túc, thì yên lặng chờ thời, đợi Thiên Thư giáng triệu. Ngọc Nữ tới đón, cưỡi hạc, đằng vân, bay thẳng về Tam Thanh thánh cảnh.

Trương Tử Dương viết trong Ngộ Chân Thiên:

Đức hạnh tu du bát bách, 德行修逾八百,
Âm công tích mãn tam thiên 阴功积满三千,
Bảo phù giáng chiếu khứ triều thiên 宝符降诏去朝天,
Ổn giá quỳnh dư phụng Liễn 稳驾琼舆凤辇。

Đức hạnh đủ tám trăm,
Âm công đủ ba nghìn
Bảo phong giáng chiếu mời lên Trời
Cưỡi xe loan phụng về nơi Cửu Trùng.

飛 升 說
仙有五等,佛有三乘,修持功行不齊,所以超脫稍異。飛升沖舉者上也,坐化屍解者次也,投胎奪舍者又其次也。乘龍上升者,如黃帝、茅蒙、王玄甫、韋善俊是 也。駕雲上升者,如楊羲、李笈、藍采和、孫不二是也。控鯉上升者,如子英、琴高是也。驂鸞上升者,如子晉、鄧鬱是也。跨鶴上升者,如桓問、屈處靜是也。禦 風上升者,如葛由、武夷君是也。拔宅飛升者,如何候、尹喜、淮南王、許旌陽是也。白日沖舉者,如蔡瓊、馮長、馬成子、浮丘伯是也。嘗考到仙譜傳,始知從古 至今成仙者十萬餘人,拔宅者八千餘處。所以純陽翁于景福寺壁間題一聯雲:莫道神仙無學處,古今多少上升人。

PHI THĂNG THUYẾT
Tiên có Ngũ Đẳng, Phật có Tam Thừa.

Tu trì, công hạnh khác nhau, nên cách siêu thoát cũng khác nhau.

“Phi thăng xung cử” 飞升冲举 (Lên trời toàn gia) là cao nhất.
“Tọa hóa thi giải” 坐化尸解 (Ngồi yên mà chết) là thứ nhì,
“Đầu thai đoạt xá” 投胎夺舍 (Nhập và xác người khác mà hoàn hồn) đó là kém nhất.

Có người cưỡi rồng lên trời như Hoàng Đế, Mao Mông, Vương Huyền Phủ, Vi Thiện Tuấn.

Có người cưỡi mây lên Trời như Dương Hi, Lý Cấp, Lam Thái Hòa, Tôn Bất Nhị.

Có người cưỡi cá lên trời như Tử Anh, Cầm Cao.

Có người cưỡi chim loan lên trời như Tử Tấn, Đặng Úc.

Có người cưỡi hạc bay lên như: Hoàn Khải, Khuất Xử Tính.

Có người cưỡi gió lên trời như Cát Do, Vũ Di Quân.

Có người “Bạt trạch phi thăng” 拔宅飞升 (Lên trời với cả nhà cửa, với toàn gia) như Hà Hầu, Doãn Hỉ, Hoài Nam Vương, Hứa Sinh Dương.

Có người “Bạch Nhật thăng thiên” 白日升天 (Lên trời ban ngày) như Thái Quỳnh, Phùng Trưởng, Mã Thành Tử, Phù Khưu Bá.

Khảo liệt Tiên Phổ Truyện mới biết từ xưa đến nay thành Tiên có hơn vạn người, lên tiên cả gia đình có trên 8.000 người.

Cho nên Thuần Dương Tổ Sư có viết một câu Liễn trên vách tường chùa Cảnh Phúc như sau:

Mạc đạo Thần Tiên vô học xứ, 莫道神仙无学处,
Cổ kim đa thiểu thượng thăng nhân 古今多少上升人。

Đừng nói Thần Tiên không chỗ học,
Xưa nay đã có kẻ lên trời.

*
* *

Lời bàn của Dịch Giả:

Vấn đề Thăng Thiên này của Doãn Chân Nhân không thể nào tin nổi. Xưa nay không ai chứng kiến những cảnh quái dị như vậy. Ta chỉ nên coi đoạn này cho vui mà thôi.

———————————–

HẾT PHẦN NGUYÊN TẬP
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳

(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Tức

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền

(Các đệ tử ghi chép lại)

* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch

性 命雙修 萬神圭旨• 亨集
性命雙修萬神圭旨第一節口訣

涵養本原救護命寶

百千法門,同歸方寸。河沙妙德, 盡在心源。
千聖一心,萬古一道。天君泰然,百體從今。
作如是觀清淨處,照無色界幾千層。
真心一點原於此,無聲無滅無終始。精神合 道自長生,精神真不死。
眾妙應須無以觀,更將有向竅門看。可明物母明明說,兩顆明珠轉三盤。
菩提本性本如如,萬法通兮透太虛。自有靈明開 般若,機緘露處現真如。
默默無言微更微,無言之內有真機。自家竅妙自家會,萬里青天一鶴飛。秘密藏,腔子裏,朱砂鼎,赤龍精,神明之舍,道義之 門,何思何慮之天,不識不知之地;止其所,自在處,光明藏,天玄女,靈明之竅,活潑潑地,虛靈不昧之神,色空不二之物。
真汞,丹元,神水,日魂, 主翁,天君,靈臺,靈關、丹臺;金烏,玉液,靈府,朱汞,姹女,守靈,赤水,靈山,乾馬

(涵 養本原圖)

(內附退藏沐浴、玉液煉形二法)

欲修長生,須識所生之本;欲求不死,當明不死之人。故曰:認得不死人, 方才人不死。那不死的人,道家呼為鐵漢,釋氏喚作金剛,即世人本來妙覺真心是也。

此心靈靈不昧、了了常知,其體不生不滅,其相無去 無來。究之,於先天地之先,莫知其始;窮之,於後天地之後,莫知其終。高而無上,廣不可極;淵而無下,深不可測。乾坤依此而覆載,日月依此而照臨,虛空依 此而寬廣,萬靈依此而變通。

三教大聖,教人修道,是修這個;成仙成佛,也是這個;戴角披毛,也是這個。

PHẦN II

HANH TẬP
HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN ĐỒ – 涵养本原图
(Nội dung trong đồ hình)

Bí mật tạng秘密藏, Xoang tử lý腔子里, Chu Sa đỉnh朱砂鼎, Xích Long tinh赤龙精, Thần Minh chi xá神明之舍, Đạo Nghĩa chi môn道义之门, Hà tư hà lự chi thiên 何思何虑之天, Bất thức bất tri chi địa不识不知之地.
Chỉ kỳ sở止其所, Tự tại xứ自在处, Quang Minh tạng光明藏, Thiên Huyền nữ天玄女, Linh Minh khiếu灵明窍, Hoạt bát bát địa活泼泼地, Hư Linh bất muội chi thần虚灵不昧之神, Sắc không bất nhị chi vật色空不二之物.
Chân hống真汞, Đơn nguyên丹元, Khôn thủy坤水, Nhật hồn日魂, Chủ ông主翁, Thiên quân天君, Linh Đài灵台, Linh Quan灵关, Đơn Đài丹台, Càn Mã乾马, Linh Sơn灵山, Xích Thủy赤水, Thủ Linh守灵, Xá Nữ姹女, Chu Hống朱汞, Linh Phủ灵府, Ngọc Dịch玉液, Kim Ô金乌.

(Lời bàn của Dịch giả: Các danh từ trên đều có nghĩa là Linh Đài, là Chân Tâm, là Bản Nguyên con người)
Bá thiên Pháp môn, 百千法门
Đồng quy Phương Thốn. 同归方寸
Hà sa diệu đức, 河沙妙德
Tận tại Tâm Nguyên. 尽在心源

Trăm vạn Pháp Môn, Đều quy Tâm khảm.
Diệu Đức hằng hà, Đều tại nơi Tâm.

Bồ Đề bản tính bản như như, 菩提本性本如如
Vạn Pháp thông hề thấu Thái Hư. 万法通兮透太虚
Tự hữu Linh Minh khai Bát Nhã, 自有灵明开般若
Cơ giam lộ xứ hiện Chân Như. 机缄露处现真如

Bồ đề bản tính vốn như như,
Suốt thông Vạn Pháp thấu Thái Hư,
Vốn sẵn Linh Minh, khai Bát Nhã,
Bịt bùng phá sạch lộ Chân Như.

Chân Như nhất điểm, nguyên ư thử, 真如一点原於此
Vô sinh, vô diệt, vô chung thủy. 无生无灭无终始
Tinh Thần hợp đạo tự Trường sinh, 精神合道自长生
Đạo ngự Tinh Thần, chân bất tử. 道驭精神真不死

Một điểm Chân Như vốn sẵn đây,
Vô tử, vô sinh, vô chung thủy.
Tinh Thần hợp đạo sẽ trường sinh,
Đạo chế Tinh Thần âu bất tử.

Chúng diệu ưng tu Vô dĩ quan, 众妙应须无以观 (1)
Cảnh tương Hữu hướng Khiếu môn khan, 更将有向窍门看
Khả danh vật mẫu minh minh thuyết, 可名物母明明说
Lưỡng khỏa minh châu, chuyển tam ban. 两颗明珠转三盘

Chúng Diệu muốn hay, khởi tự Vô,
Đã vào trong Hữu, thấy cõi bờ.
Đạo trời bàn luận đâu có dễ,
Diệu Kiến đôi dòng, luận khó ghê!

Mặc mặc vô ngôn, vi cánh vi, 默默无言微更微
Vô Ngôn chi nội hữu Chân Ki. 无言之内有真机
Tự gia khiếu điệu tự gia hội, 自家窍妙自家会
Vạn Lý thanh thiên nhất hạc phi. 万里青天一鹤飞

Yên lặng, không lời, mới khó sao,
Giữa cái không lời, có nẻo vào.
Khiếu Diệu của ai, người ấy biết,
Đường trời muôn dặm cánh hạc lao!

Tam điểm như tinh bố, 三点如精布
Hoành Câu tự Nguyệt tà. 横钩似月斜
Phi mao tòng thử xuất, 披毛从此出
Tác Phật dã do tha. 作佛也由他

Ba chấm tựa ba sao, Móc ngang tựa Nguyệt tà.
Cầm thú do đó sinh, Thần Tiên do đó phát.

TÂM NGUYÊN 心源 = Căn Tâm

TÍNH HẢI 性海 = Bể tính

Tác như thị quán, thanh tĩnh chủng, 作如是观清静种
Chiếu vô sắc giới, kỷ thiên trần. 照无色界几千廛

Trừng tâm tĩnh lự chiếu muôn nơi,
Thấu soi vạn vật ngàn muôn kiếp.

Thiên thánh nhất Tâm, vạn cổ nhất Đạo. 千圣一心万古一道
Thiên quân thái nhiên, bách hài tòng lệnh. 天君泰然百骸从令

Thiên thánh một lòng, muôn đời một Đạo
Óc mà minh tĩnh, Nguyên Thần mà an thái, thì tứ chi bá hài tuân theo mệnh lệnh và cũng được thái khang.
[1] Xem Đạo Đức Kinh, ch. I.

ĐỆ NHẤT TIẾT KHẨU QUYẾT

HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO

第一节口诀: 涵养本原救护命宝

Muốn trường sinh, phải tìm cho được Chân Tâm

Muốn tu Trường sinh, phải biết gốc của sở sinh. Muốn cầu bất tử, phải biết thế nào là con người bất tử. Cho nên nói: Có biết được Bất tử nhân, mới có thể trở nên Bất tử.

Con người bất tử ấy, Đạo gia kêu là “Thiết Hán”, Phật gia gọi là “Kim Cương”. Tức là Chân Tâm, bản lai diệu giác của con người. Tâm này vốn Linh minh bất muội. Thường tri, thường minh, về Thể, vốn dĩ không sinh, không diệt, về Tướng, vốn vô khứ, vô lai. Không biết có tự bao giờ, trước đất trời nó đã có. Cao thì vô thượng, rộng thì vô cùng, thẳm sâu vô đáy.

Trời đất chở che là nhờ nó, nhật nguyệt sáng soi là do nó, hư không nhờ nó mà rộng rãi, bao la, vạn loài nhờ nó mà biến hóa. Tam giáo Thánh Nhân tu Đạo là tu cái đó, thành Tiên, thành phật là do đó, mang lông, đội sừng cũng do đó.

聖凡 二路,由此而分。出生死,再無別途;登涅槃,唯此一法。然世間萬匯,未有一物不被無常所吞,獨有這個,無生滅可縛,無色相可窺,端端正正,停停當當,分分 曉曉的,而人不悟其所本來也。

不悟者何,為有妄心。何為妄心?蓋為一切眾生從無始已來,迷卻真心,不自覺知,故受輪轉,枉入諸趣, 原夫真心無妄,性智本明,妙湛元精。由妄瞥起,俄然晦昧,則失彼元精,枯湛發知,故轉智為識,形中妄心,名之曰識。

心本無知,由識 故知;性本無性,由識故生。生身種子,萌孽於茲,開有漏華,結生死果。今人妄認方寸中,有個昭昭靈靈之物,渾然與物同體,便以為元神在是。殊不知此即死死 生生之識神,劫劫輪回之種子耳。

故景岑雲:學道之人不悟真,只為從前認識神,無量劫來生死本,癡人喚作本來人。

嗟夫!世人以奴為主而不知,認賊為子而不覺。是以世尊教人:先斷無始輪回根本者此也。此根既斷,則諸識無依,複我元初常明本體。

然而大道茫茫,當從何處下手?是以齊襟必舉領,整網要提綱。昔尹師指出:修行正路一條。教人打從源頭上做起。若源頭潔淨,天理時時現前,識念自然污染不 得。譬如昊日當空,魍魎滅跡,此一心地法門,是古今千聖不易之道。

故老子曰:若夫修道,先觀其心。觀心之法,妙在靈關一竅。人自受 生感氣之初,稟天地一點元陽,化生此竅,以藏元神。其中空空洞洞。至虛至明,乃吾人生生主宰。真所謂有之則生,無之則死,生死盛衰,皆由這個。

儒曰:靈台。

道曰:靈關。

釋曰:靈山。

三教同一法門,總不外此靈明一竅。

釋教曰:佛在靈山莫遠求,靈山只在汝心頭,人人有個靈山塔,好向靈山塔下修。論其所也。

玄教曰:大道根莖識者稀,常人日用孰能 知,為君指出神仙窟,一竅彎彎似月眉。論其形也。

Thánh phàm hai nẻo, do nó (Tâm đó) phân ra. Xuất sinh tử cũng do nó, lên Niết bàn cũng chỉ có Phép này (phép tu tâm này). Vạn vật trong thế gian đều bị vô thường thôn tính. Duy có cái đó không sinh, không diệt, duy cái tâm đó không gì trói buộc nổi, nó vô hình tướng, nên không gì thấy được. Nó đoan đoan, chính chính, đình đình, đáng đáng, rất đâu ra đấy, nhưng con người không hiểu được Bản Lai của nó.

Chân tâm và Vọng tâm

Tại sao không giác ngộ? Tại vì có vọng tâm. Vọng tâm là gì? Chúng sinh từ vô thủy dĩ lai, không biết Chân Tâm, chẳng tự hiểu biết, nên bị luân chuyển, uổng nhập các nẻo luân hồi.

Dầu hết Chân Tâm thời vô vọng, tính trí bản minh. Nguyên tinh thời thanh tịnh thâm diệu, nhưng vì vọng tâm đột khởi, nên Chân Tâm bị mờ tối, Nguyên tinh cũng mất bản chất, bị trần ai làm dơ nhớp, và cái Biết phát sinh. Cho nên chuyển Tri Giác thành Thức. Vọng tâm trong ta chính là Thức vậy. Tâm vốn vô tri, nhờ Thức mới biết. Tính vốn vô sinh, nhờ Thức mới sinh. Chủng tử sinh thân này, do đó phát sinh. Nhân đó sinh ra các loại hoa ô nhiễm, và tất nhiên sẽ sinh ra các quả luân hồi sinh tử.

Thức Thần là Vọng Tâm, là Căn Nguyên sinh tử

Ngày nay, người ta nhận lầm rằng trong tâm ta có một vật chiếu chiếu Linh Linh, hồn nhiên cùng vật đồng thể, nên gọi nó là Nguyên Thần. Có biết đâu đó chỉ là Thức Thần sinh sinh tử tử, chỉ là chủng tử kiếp kiếp luân hồi.

Cho nên Cảnh Sầm nói:-

Học Đạo chi nhân bất ngộ chân, 学道之人不悟真,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức Thần. 只为从前认识神,
Vô lượng kiếp lai sinh tử bản, 无量劫来生死本,
Si nhân hoán tác bản lai nhân. 痴人唤作本来人。

Người nay học Đạo chẳng biết Chân,
Chỉ vị xưa nay nhận Thức Thần.
Thức Thần vốn dĩ sinh tử bản,
Người khờ tưởng đấy Bản Lai Nhân.

Than ôi! Người đời nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con (nhận ngọn làm gốc) mà chẳng hay. Cho nên đức Thế Tôn mới dạy: Tiên đoạn vô thủy luân hồi căn bản 先断无始轮回根本 (Trước hết phải chặt đứt căn bản Luân Hồi). Căn này đã chặt, thì các Thức lấy đâu mà nương. Và ta sẽ phục hồi được Bản Thể Nguyên Sơ thường minh của chúng ta.

Nhưng Đại Đạo mênh mang, mù mịt, biết làm sao mà đi vào? Muốn cho áo xống tề chỉnh, phải xốc lại cổ áo, muốn cho lưới cá tề chỉnh, phải xem lại giường mối lưới.

Xưa Doãn Chân Nhân dạy ta con đường tu đạo chân chính, đó là phải bắt đầu cho hay, cho đẹp. Nếu đầu mà tinh khiết, thì Thiên Lý sẽ hiện tiền, Thức niệm không thể ô nhiễm được. Ví như, khi mặt trời sáng láng từng không, thì ma quỷ đều tuyệt tích.

Muốn tu, phải biết đâu là Linh Đài

Cái “Tâm địa pháp môn” này, đó là đạo bất biến của muôn thần, vạn thánh xưa nay. Cho nên Lão Tử nói: “Muốn tu đạo, phải nhìn vào Tâm (nội quan). Muốn nhìn vào tâm, cái hay là phải biết Linh Quan Nhất Khiếu (Nê Hoàn Cung, Linh Đài)”. Con người từ khi thụ sinh, đã bẩm thụ được “một điểm Nguyên Dương”, nên sinh ra khiếu này, để tàng trữ “Nguyên Thần”.

Khiếu này rỗng không, chí hư, chí linh, là chủ tể con người chúng ta. Cho nên có nó thì sống, không có nó thì chết. Sinh tử thịnh suy đều do nó định đoạt.

Nho gọi “Linh Đài”, Đạo gọi “Linh Quan”, Phật gọi “Linh Sơn”. Tam giáo đều có cùng một pháp môn, đó là cái “Khiếu Linh minh” này vậy.

Phật giáo nói:-

Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu, 佛在灵山莫远求,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. 灵山只在汝心头,
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp, 人人有个灵山塔,
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu. 好向灵山塔下修。

Phật tại Linh Sơn, khỏi tìm đâu,
Linh Sơn ở tại nhữ Tâm Đầu.
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp,
Hãy hướng Linh Sơn tháp mà tu.

Đó là luận cho biết Linh Sơn tháp ở đâu.

Lão giáo dạy:-

Đại Đạo căn kinh, thức giả hi, 大道根茎识者稀,
Thường nhân nhật dụng thục năng tri. 常人日用孰能知,
Vi quân chỉ xuất thần tiên quật, 为君指出神仙窟,
Nhất khiếu loan loan tự nguyệt mi. 一窍弯弯似月眉。

Đại Đạo căn cơ ít kẻ hay,
Hằng ngày dùng nó vẫn không hay.
Vì ngươi chỉ rõ “Thần Tiên Quật”,
Cong cong một khiếu tựa lông mày.

Đó là mô tả hình dáng về Huyệt đó.

蓋此竅乃神靈之台,秘密之府。真淨、明妙、虛散、靈通、卓然而獨存者也。眾生之本 原,故曰心地。諸佛之所得,故曰菩提。交徹融融,故曰法界,寂靜常樂,故曰涅槃。不濁不漏,故曰清淨。不妄不變,故曰真如。離過絕非,故曰佛性。護善遮 惡,故曰總持。隱覆含攝,故曰如來藏。超越玄秘,故曰密嚴國。統眾德而大備,爍群昏而獨照,故曰圓覺。其實皆一竅也。背之則凡,順之則聖。迷之則生死始, 悟之則輪回息。

欲息輪回,莫若體乎至道。欲體至道,莫若觀照本心。應須音眼虛鑒,常教朗月輝明,每向定中慧照。時時保得此七情未發 之中,時時全得此八識未染之體。外息諸緣,內絕諸妄。含眼光,凝耳韻,調鼻息,緘舌氣,四肢不動,使眼耳鼻舌身之五識,各返其根,則精神魂魄意之五靈各安 其位。

二六時中,眼常要內觀此竅,耳常要逆聽此竅,至於舌准常要對著此竅,運用施為念念不離此竅,行住坐臥心心常在此竅。不可刹那 忘照,率爾相違,神光一出便收來,造次弗離常在此。即子思所謂不可須臾離者是也。

先存之以虛其心,次忘之以廓其量,隨處隨時,無礙 自在,正合龍虎經雲:至妙之要,先存後忘。此又口訣中之口訣也。

然要進除六識,尤在知所先後。意雖為六識之主帥,眼實為五賊之先 鋒。故古德雲:心是樞機,目為盜賊。欲伏其心,先攝其目。蓋弩之發動在機,心之緣引在目。機不動則弩住,目不動則心住。

陰符經曰: 機在目。

道德經曰:不見可欲,而心不亂。

魯論曰:非禮勿視。

朱子曰:制於外所以養其 中也。

金笥寶籙曰:眼乃神通玄牝門,抑之於眼使歸心。

眼守此竅不離,即如來正法眼,合涅槃心之秘旨,故楞嚴 經雲:作是觀者,名為正觀;若他觀者,名為邪觀。

又觀經觀心品雲:三界之中,以心為主。能觀心者,究竟解脫;不能觀者,畢竟沉淪。

道德首章雲:常有欲以觀其僥者,觀此竅也。常無欲以觀其妙者,觀此竅中之妙也。

昔黃帝三月內觀者,觀此也。

太上亦曰:吾從無量劫來,觀心得道,乃至虛無。

觀心非易,止念尤難。是以念頭起處,系人生死之根。

古仙雲:大道教人先止念,念頭不住亦徒然。

圓覺經雲:居一切時,不起妄念于諸妄心,亦不息滅住妄想境。不加了知於無了知,不辨真 實。

起信論雲:心若馳散,即便攝來,令往正念,念起即覺,覺之即無,修行妙門,唯在於此。

虛靖天師雲:不怕 念起,只怕覺遲,念起是病,不續是藥。

Khiếu này là Đài của Thần Linh, là phủ bí mật. Nó rất thanh tịnh, minh diệu, hư triệt, Linh thông, một mình đứng vững. Nó là Căn bản chúng sinh, nên gọi là Tâm Địa, là Sở đắc của chư Phật cho nên gọi Bồ Đề.

Giao triệt dung dung dung, nên gọi là Pháp Giới (tức vũ trụ hiện tượng giới).
Tịch tĩnh, thường lạc nên gọi Niết Bàn.
Không ô trọc, không tẩu lậu nên gọi Thanh Tịnh.
Chân thật bất biến nên gọi Chân Như.

Không lỗi lầm, không sai quấy nên gọi Phật tính. Giúp lành, lánh dữ nên gọi Tổng Trì.

Ẩn phú, hàm nhiếp (thu tàng mọi sự) nên gọi Như Lai Tạng.

Siêu việt, huyền bí nên gọi Mật Nghiêm Quốc (Tịnh Thổ của Đức Đại Phật Như Lai). Gồm thâu mọi đức, chỉ điểm quần mê, một mình chiếu sáng, nên gọi Viên Giác. Kỳ thật, chỉ là một khiếu. Đi ngược nó sẽ là phàm phu, thuận theo nó là Tiên Thánh. Không biết nó sẽ bị Sinh Tử, Luân Hồi; Hiểu biết nó Luân Hồi sẽ dứt.

Muốn Thể hợp Chí đạo phải biết quán chiếu Bản Tâm

Muốn dứt Luân Hồi, không gì bằng thể hợp Chí Đạo. Muốn thể hợp Chí Đạo, không gì bằng Quán Chiếu Bản Tâm. Muốn Quán Chiếu Bản Tâm, phải biết hư tâm quảng thị, nội quan quán chiếu, lúc nào cũng như vầng nguyệt giữa trời, lúc nào cũng phải định tĩnh tuệ chiếu, lúc nào cũng giữ không để thất tình manh nha (ai, cụ, hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục) (1), lúc nào cũng giữ cho Bát Thức không hoen ố. Ngoài tuyệt chư duyên, trong tuyệt chư vọng. Phải biết phản quan, nội thính, điều hòa hơi thở, ngậm miệng không nói, tứ chi bất động, để cho Ngũ Thức đều phản kỳ căn, cho Ngũ Linh phản an kỳ vị.

Suốt 24 giờ, mắt luôn nhìn vào khiếu đó, tai thường “nghịch thính” khiếu đó, lưỡi thường quy hướng về khiếu đó, vận, dụng, thi, vi, niệm niệm không ngoài khiếu đó. Đi, đứng, nằm, ngồi, tâm thường không rời khiếu đó. Không lúc nào được quên “quan chiếu khiếu đó”. Nếu làm sai nguyên tắc này, thì làm sao thần quang xuất ra lại tự phản hồi được, luôn luôn không lìa xa khiếu này, như Tử Tư nói: Bất khả tu du ly 不可须臾离 (2)vậy.
Trước thời tồn dưỡng để hư cái Tâm, sau phải quên đi để mở lượng cái Tâm. Tùy xứ, tùy thời, luôn luôn tự tại, vô ngại. Đúng như Hổ Long Kinh đã nói: “Chí diệu chi yếu, tiên tồn, hậu vong.” 至妙之要, 先存后忘。(Cái cốt yếu của điều huyền diệu này là Tiên tồn, Hậu vong). Đó là khẩu quyết rốt ráo vậy.

Phải biết giữ đôi mắt

Muốn trừ Lục Thức, cần biết trước sau: Tuy ý là chủ soái Lục Thức, nhưng thật ra đôi mắt là Tiên Phong của Ngũ Tặc. Cho nên Cổ Đức nói: “Tâm thị khu cơ, mục vi đạo tặc, dục phục kỳ Tâm, tiên nhiếp kỳ mục.” 心是枢机,目为盗贼。欲伏其心,先摄其目。(Tâm là then chốt, mắt là giặc trộm, muốn hàng phục Tâm, trước phải nhắm mắt). Cho nên cung muốn bắn, phải động nỏ. Nỏ không động thì cung không bắn, mắt không động thì Tâm đứng yên.
Âm Phù Kinh viết: “Cơ tại mục.” 机在目。(Nỏ ở mắt). Đạo Đức Kinh viết: “Bất kiến khả dục, nhi Tâm bất loạn.” 不见可欲,而心 不乱。(3)

Mọi vẻ đẹp bên ngoài chẳng thiết,
Cho lòng dân cao khiết trong veo.

Luận Ngữ viết: “Phi Lễ vật thị.” 非礼勿视。(Không nhìn điều phi lễ.) (4)

Chu Tử nói: “Chế vu ngoại, sở dĩ dưỡng kỳ trung dã.” 制于外所以 养其中也。(Không nhìn cái dáng mê bên ngoài, để dưỡng cái Tâm)

Sách Kim Tư Bửu Lục nói: “Nhãn nãi thần du Huyền Tẫn Môn, ức chi lệnh nhãn sử qui tâm.” 眼乃神游玄牝门,抑之令眼使归心。(Mắt nhìn là Thần đi chơi nơi Huyền Tẫn Môn, hạn chế để cho Mắt quay về Tâm.)
Mắt thủ khiếu này không rời, tức là Như Lai Tạng Pháp Nhãn, đúng bí chỉ của Kinh Niết Bàn. Cho nên Lăng Già Kinh viết: “Tác thị quán giả, danh vị Chính quán; Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.” 作是观者,名为正观;若他观者,名为邪观。(Có cái nhìn này là cái nhìn đúng, nếu có cái nhìn khác, là cái nhìn sai)

Sách Quán Kinh, phẩm Quân Tâm viết: “Tam giới chi trung, dĩ Tâm vi chủ, Năng quán Tâm giả, cứu cánh giải thoát, bất năng quán giả, tất cảnh trầm luân.” 三界之中,以心为主。能观心者,究竟解脱; 不能观者,毕竟沉沦。(Tâm là chủ Tam Giới, biết quán Tâm [nội quan] sẽ được giải thoát. Không biết quán tâm, cuối cùng sẽ bị trầm luân).
Chương đầu Đạo Đức Kinh viết: Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu. 常有欲以观其徼 (Từ Hữu sẽ thấy đầu đuôi vạn vật.), là thấy được khiếu này. Thường vô dục dĩ quan kỳ Diệu. 常无欲以观其妙 (Từ Vô sẽ thấy được điều ảo diệu của Đạo.), là thấy được vi diệu của khiếu này. Xưa kia Hoàng Đế đã nội quán 3 tháng, là quán chiếu khiếu này.

Phải biết Quán Tâm, Chỉ Niệm

Đức Thái Thượng Lão Quân cũng nói: “Ngô tòng vô lượng kiếp lai, nội quan đắc đạo, nãi chí hư vô.” 吾从无量劫来,内观得道,乃至 虚无。(Ta từ vô lượng kiếp tới nay, dùng nội quan mà đắc đạo, mà tới được Hư Vô.)
Quán Tâm không dễ, Chỉ Niệm khó hơn. Cho nên chỗ niệm khởi đầu là căn cơ sinh tử.

Cổ Tiên viết:-

Đạo Đạo giáo nhân tiên chỉ niệm, 大道教人先止念,
Niệm đầu bất trụ, diệc đồ nhiên. 念头不住亦徒然。

Đại Đạo dạy người tiên chỉ niệm,
Niệm đầu chẳng trụ mới là hay.

Kinh Viên Giác nói:

Tất cả thời gian rảnh rỗi không khởi Vọng Niệm, nếu còn Vọng Tâm, Vọng Niệm sẽ không diệt. Sống trong cảnh Vọng Tưởng, đừng có tìm hiểu. Nếu cứ tìm hiểu, sẽ không biết đâu là chân thật.

Khởi Tín Luận viết:

Nếu Tâm tán loạn, lập tức thu nhiếp lại, khiến cho Tâm được Chính Niệm. Niệm khởi, biết ngay, biết tức là vô (niệm). Tu hành diệu môn, chính tại nơi đây.

Hư Tịnh Thiên Sư viết:

Không sợ niệm khởi, chỉ lo biết muộn. Niệm khởi là bệnh, dứt bệnh là thuốc.

當知妄念起於識根,對境成妄,實非有體。在眾生時,智劣識強,但名為識。當佛地時,智強識 劣,但名為智。只轉其名,不轉其體。初一心源廓然妙湛,由知見立知,妄塵生起,故有妄念。若知見無見,則智性真淨,複還妙湛,洞徹精了,而意念消。

意念既消,自六識而下莫不皆消。即文殊所謂一根既返元,六根成解脫。既無六根,則無六塵 e 既無六塵,則無六識。既無六識,則無輪回種子。既無輪回種子,則我一點真心獨立無依,空空蕩蕩,光光淨淨,而萬劫常存,永不生滅矣。

此法直指人心,一了百當。何等直截,何等簡易。但能培養本原,觀照本竅,久則油然心新,浩然氣暢,凝然不動,寂然無思,豁然知空,了然悟性。此所謂皮膚 剝落盡,一真將次見矣。

工夫至此,自然精神朗發,智慧日生,心性靈通,隱顯自在。自然有一段清靜闔辟之機,自然有一段飛躍活動之 趣。自然有一點元陽真炁從中而出,降黃庭,入土釜,貫尾閭,穿夾脊,上沖天穀,下達曲江,流通百脈,灌溉三田,驅逐一身百竅之陰邪,滌蕩五臟六腑之濁穢。 如服善見王之藥,眾病鹹消。若奏獅子筋之弦,群音頓絕。所以雲:一心療萬病,不假藥方多。

是知一切諸聖,皆從此心方便門入,得成祖 佛,為人天之師。凡夫不能證者,由不識自心故。故曰:海枯終見底,人死不知心。六道群蒙皆此門出,曆千劫而不返,一何痛哉。

所以諸 怫驚入火宅,祖師特地西來,乃至千聖悲嗟,皆為不達唯心出要道耳。

如寶藏論雲:夫天地之內,宇宙之間,中有一寶,秘在形山,識物靈 照,內外空然,寂寞難見,其謂玄玄。巧出於紫微之表,用在於虛無之間。端化不動,獨而無雙。聲出妙響,色吐華容。窮睹無所,寄號空空。唯留其聲,不見其 形。唯留其功,不見其容。幽明朗照,物理虛通。森羅寶印,萬象真宗。其為也形,其寂也冥。本淨非瑩,法爾圓成。光照日月,德越太清。萬物無作,一切無名。 轉變天地,自在縱橫。恒沙妙用,混沌而成。誰聞不喜,誰聞不驚。如何以無價之寶,隱于陰人之坑。哀哉!哀哉!其為自輕。悲哉!悲哉!晦何由明?其寶也煥煥 煌煌,朗照十方,間寂無物,應用堂堂。應聲應色,應陰應陽。奇物無根,妙用常存。瞬目不見,側耳不聞。其本也冥,其化也形。其為也聖,其用也靈。可為大道 之真精,其精甚靈,萬有之因。凝然常住,與道同倫。

Niệm là Vọng Niệm

Nên biết Vọng Niệm khởi lên từ Thức Căn. Đấu tranh thị phi biến thành hư vọng, chứ không có Thực Thể.

Ở nơi chúng sinh, thì Trí liệt, Thức cường. Cho nên gọi là Thức.

Ở nơi chư Phật, thì Trí cường, Thức liệt. Cho nên gọi là Trí.

Chỉ đổi tên, không đổi Bản Thể.

Lúc ban sơ, Tâm Nguyên khuếch nhiên, vi diệu, trừng triệt, nhưng vì tri kiến sinh, vọng trần khởi, nên có Vọng Niệm. Nếu không có Tri Kiến, thí Trí Tính chân tịnh, phục hồi diện trạm, động triệt tinh vi, và ý niệm sẽ tự tiêu.
Ý niệm đã tiêu, thì Lục Thức cũng sẽ tiêu ma.

Cho nên Văn Thù Bồ Tát nói:

Nhất căn (Tâm) ký qui nguyên. Lục căn (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý) thành giải thoát.
Không có Lục Căn, thì không có Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Không có Lục Trần thì không có Lục Thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tị thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức). Không có Lục Thức sẽ không có luân hồi chủng tử. Thì nhất điểm Chân Tâm của ta sẽ độc lập, không y cứ vào đâu, và sẽ Không, Không, Đãng, Đãng, Quang, Quang, Tịnh, Tịnh. VẠN THẾ TRƯỜNG TỒN, KHÔNG CÒN SINH DIỆT NỮA.
Tu là Tu Tâm, là Bồi dưỡng Bản Nguyên

Phép này trực chỉ Nhân Tâm, Tâm mà tu thì vạn sự thành, thật là giản dị, thẳng suốt: Chỉ cần Bồi dưỡng Bản Tâm, quán chiếu Bản Khiếu (Bản Tâm). Lâu ngày Tâm sẽ như đổi mới, khí Hạo Nhiên (Chân Khí) sẽ thông sướng, ngưng nhiên bất động, sẽ tịch nhiên vô tư, biết rõ Cái Không, hiểu được Tính mình. Cho nên nói: “Bì phu bác lạc tận, Nhất Chân tương thứ hiện.” 皮肤剥落尽,一真将次现 (Bì phu khi lóc hết, Chân Linh sẽ hiện ra).

Công phu được như vậy, tự nhiên tinh thần sẽ rạng rỡ, trí tuệ ngày một sinh. Tâm Tính linh thông, cái gì ẩn hiện cũng rõ hết, tùy ý biết được cơ đóng mở của trời đất, tha hồ bay nhảy. Tự nhiên Nguyên Dương Chân Khí từ trong phát ra, từ đầu đi xuống Huỳnh Đình (Trung Đan Điền), xuyên thấu Vĩ Lư, lên tới huyệt Giáp Tích. Trên thì lên tới Thiên Cốc (Nê Hoàn), dưới xuống tới Khúc Giang (Hạ Đan Điền). Làm cho bách mạch lưu thông, Tam Điền khái quán, xua đuổi âm tà ra khỏi trăm khiếu trong thân, rửa sạch uế tạp trong Ngũ Tạng, y như được uống thuốc của Thiện Kiến Vương (của Đế Thích, là vua của thành Thiện Kiến Vương, trên đỉnh núi Tu Di), các bệnh đều tiêu. Như tấu khúc đàn Sư Tử (Sư Tử là vua Bách Lỗ, Phật giáo kêu Như Lai là Sư Tử), mọi thanh âm khác đều đình chỉ. Nên nói:

Nhất Tâm liệu vạn bệnh, 一心疗万病,
Bất giả dược phương đa. 不假药方多。

Một Tâm chữa muôn bệnh,
Đơn thuốc chẳng cần nhiều.

天下最親,莫過心也。百姓之用,而不知心;如魚在海,而不知水。故佛經雲:一切 眾生,從曠劫來,迷列本心,不自覺悟。妄認四大為身、緣慮為心。譬如百千大海不認,但認一小浮漚。以此迷中複迷,妄中起妄,隨境流轉,離目生情。取十萬 端,無時暫暇。至使起惑造業,迴圈六道,密網自圍,不能得出。究竟冥初皆一妄迷真之咎耳。

故靈潤曰:妄情牽引何時了,辜負靈台一點 光。夫靈台一點光者,即真如靈知心也。最玄最妙,通聖通靈。極高明,極廣大。化萬法之王,為群有之體。堅徹三界,橫亙十方。自混飩未辟之前,而已曾有。雖 天地既壞以後,而未嘗無。一切境界,皆是心光。若人識得心,大地無寸土。故曰:三界唯心。

迷人心外求法,至人見境是心。境即是心之 境,心即是境之心。對境不迷,逢緣不動,能所互成,一體無異。若能達境,唯心便是。悟心成道,覺盡無始,妄念攝境歸心,出纏真如,離垢解脫,永合清淨本 然,則不更生山河大地諸有為相。如金出礦,終不更染塵泥;似木成灰,豈有再生枝木。一得永得,盡未來際,永脫樊籠,長居聖域矣。

雖 然,此最上一乘大道,若根器利者,一超直入如來地。若根器鈍者,將如之何?必由下學而上達的功夫,漸次引入法門可也。使之行一步,自有一步效驗,升一級, 自有一級規模。亦是行遠自邇,登高自卑之意。

若不知入門下手功夫,安能遽到了手極則地位?若未能盡心,而安能知性?未能明心,而安 能見性?夫明心盡心之要者,時以善法扶助自心,時以赤水潤澤自心,時以境界淨治自心,時以精進堅固自心,時以忍辱坦蕩自心,時以覺照潔白自心,時以智慧明 利自心,時以佛知見開發自心,時以佛平等廣大自心。

故知明心是生死海中之智楫,盡心是煩惱病中之良醫。若昧此心,則永劫輪回而遺失 真性;若明此心,則頓起生死而圓證涅槃。始終不出此心,離此心別無玄妙矣。後面雖有次第工夫,不過是成就這個而已。

噫!莫看易了, 至人難遇,口訣難聞。故張平叔雲:只為丹經無口訣,教君何處結靈胎?殊不知經中口訣自載,大都秘母言子,不肯分開說破,使人湊泊不來。況多為譬辭隱語,使 學者眩目惑心,以致中途退步。餘甚憫之,今將丹經梵典中之口訣,—一指出,留與後人,為破昏黑的照路燈,辨真偽的試金石。
Mới biết xưa nay, chư thánh đều lấy Tâm này làm phương tiện mà vào cửa, cuối cùng tu thành Tiên, Phật, Thánh, Tổ, thành Thầy dạy đời.

Phàm phu không thành chứng quả, là vì chẳng biết Tâm này. Cho nên có lời nói: “Hải khô chung kiến để. Nhân tử bất tri tâm.” 海枯终见底,人死不知心。(Biển khô còn thấy đáy. Người chết chưa biết Tâm).

Lục Đạo (5)(Thiên đạo, Nhân đạo, A Tu La đạo – Thần, Địa ngục đạo, Ngạ quỷ đạo, Súc sinh đạo) quần mông (mê muội) đều do cửa này mà sinh ra (không biết Tu Tâm).

Băng qua nghìn đời vẫn không biết đàng trở lại. Thật đáng buồn thay!

Cho nên chư Phật mới vào nhà lửa cứu người, Tổ Sư mới dạy Tây lai. Sở dĩ chư thánh phải buồn than, chỉ là vì người không đạt được Cái Duy Tâm Yếu Đạo ấy.

Như sách Bửu Tạng nói:

Trong trời đất, vũ trụ này, có một báu vật (Tâm Chân Như, Linh Tri), dấu tại con người (hình sơn = hình dạng con người), gặp vật thì chói sáng, trong, ngoài trống rỗng, tịch mịch khó thấy, gọi là Huyền Huyền.

Nó hiện ra phía ngoài cung Tử Vi (Thượng Đan Điền). Diệu dụng nó là tại nó Hư Vô, đoan hóa bất động, độc nhất, vô song, thanh có âm hưởng nhiệm màu, sắc nở hoa dung, không thấy sở cư, như là Không Không. Chỉ để lại âm thanh, không thấy hình tượng. Chỉ để lại công phu, không thấy được dung mạo. Nó chói rọi u minh, quán thông mọi sự lý. Nó là Chủ tể muôn loài, là Chân Tông vạn sự. Nó thi công nơi người thì như có hình, lúc nó tĩnh định thì minh minh, hư vô. Bản tính nó vốn tĩnh minh, bắt chước theo nó thì công đức sẽ viên thành. Nó sáng soi nhật nguyệt, đức nó vượt Thiên Không. Vạn vật bất động, nhất thiết vô danh. Chuyển hóa Thiên Địa, tự tại tung hoành. Tinh vi diệu dụng, hỗn độn nhi thành. Có ai thấy mà không mừng, có ai nghe mà không sợ. Sao lại để cho hòn ngọc vô giá đó lọt vào Âm Nhập chi khanh? Thật là đáng buồn. Chỉ vì con không biết Tự Trọng, buồn thay! Buồn thay! Như vậy tối sao thành sáng?

Bảo vật đó, sáng láng rực rỡ, rạng chiếu mười phương. Tịch nhiên như không có gì, nhưng công dụng vô biên.
Ứng thành thanh sắc, thành Âm Dương. Nó không có căn, nhưng diệu dụng thì vô cùng. Mắt nhìn không thấy, tai nghe không ra. Bản Nguyên nó thì mù mịt, biến hóa thành vật, thành thánh thần, công dụng nó thật Linh diệu. Nó là Chân Tinh của Đại Đạo, Chân Tinh này rất Linh diệu, sinh ra vạn vật, ngưng nhiên thường trụ, trường tồn, đồng thể với Đạo.

Vạn sự trong thiên hạ, Tâm là quan trọng nhất.
Bách tính dùng nó hằng ngày, mà không biết nó, như cá trong biển, mà không biết nước. Cho nên kinh Phật nói: Nhất thiết chúng sinh, từ vạn kiếp lai, không biết bản tâm, không tự giác ngộ, nhận lầm tứ đại (đất, nước, gió, lửa) là thân, duyên lự làm Tâm. Ví như trăm nghìn biển cả thì không nhận, chỉ nhận một cái bèo cái bọt. Cứ thế, đã mê, càng mê, đã lầm càng lầm, tâm tùy cảnh đổi, mắt tùy vật sinh tình, thủ xả trăm mối, không lúc nào rảnh, cho nên lầm lạc, tạo nghiệp. Tuần hoàn trong lục đạo, như lưới dày bao vây khắp mình, không sao thoát ra được. Suy cho cùng chỉ tại lúc đầu đã bị vọng niệm làm mê hoặc bản tâm mà thôi.

Cho nên Linh Nhuận Thiền sư nói:

Vọng tình khiên dẫn hà thời liễu, 妄情牵引何时了,
Cô phụ Linh Đài nhất điểm quang. 辜负灵台一点光。

Vọng tình dẫn dắt khi nào hết,
Uổng thay ánh sáng của Linh Đài.

Linh Đài nhất điểm quang chính là Chân Như Linh Tri Tâm vậy. Nó tối huyền, tối diệu, thông thánh, thông linh, cực cao minh, cực quảng đại, nó sinh ra mọi biến hóa, là bản thể quần sinh, vạn hữu, hoành quán vạn phương. Từ khi chưa có trời đất tới nay, nó vốn hằng hữu. Khi trời đất đã hủy hoại, nó vẫn còn đó. Nhất thiết cảnh giới đều là tâm quang. Nếu người ta biết được Tâm, thì Đại Địa không còn một tấc đất. Nên nói: Tam giới duy Tâm.
Người mê cầu Pháp ngoài Tâm, bậc Chí Nhân thấy Cảnh là Tâm. Cảnh là Cảnh của Tâm, Tâm là Tâm của Cảnh. Đối cảnh không mê, gặp duyên không động. Hỗ thành một Thể không khác. Nếu biết cảnh tượng bên ngoài đều do Tâm biến hiện, thì sẽ Ngộ Tâm, thành Đạo.

Thấy được Vọng Niệm từ vô thủy, sẽ thu nhiếp được Cảnh về Tâm, thoát triền phược, đạt tới Chân Như, lìa trần cấu, mà đạt giải thoát, vĩnh viễn hòa hiệp với Thanh Tĩnh, Tự Nhiên, không còn thấy các hướng hữu vi của trần cảnh. Như vàng lìa khoáng, không còn bao giờ bị nhiễm bùn nhơ; như cây đã thành than, không còn bao giờ sinh cành lá. Đã được là được luôn, cùng tận cõi bờ của vị lai, siêu thoát hết mọi gông cùm, sống mãi cùng thần thánh.

Tuy nhiên, cái Đại Đạo tối thượng nhất thừa này, nếu ai có căn cơ linh lợi, thì vào ngay được cõi Như Lai, ai mà có căn cơ cùn nhụt, thì sẽ phải làm sao? Thưa phải đi từ thấp tới cao, dần dà đi vào: Một bước tiến là một bước hiệu nghiệm; lên một cấp là có quy mô một cấp. Lại nữa muốn đi xa là phải tự chỗ gần, muốn lên cao phải từ chỗ thấp. Nếu chẳng biết nhập môn hạ thủ, thì làm sao lên được cảnh giới tối cao? Nếu không tận tâm, làm sao biết tính? Nếu không Minh Tâm, làm sao Kiến Tính? Cái yếu quyết để Minh Tâm, Tu Tâm là phải lấy Thiện Đạo, phù trợ bản tâm, phải luôn lấy máu nhuận trạch kỳ tâm, luôn luôn phải tĩnh trị cõi lòng, luôn luôn phải tinh tiến kiên cố bản tâm, luôn luôn phải lấy nhẫn nhục làm cho thân thản đãng, luôn luôn phải lấy Linh giác minh chiếu khiết tịnh tự tâm, luôn luôn phải lấy trí tuệ mở mang cõi lòng, luôn luôn phải lấy Phật tri kiến khải phát tự tâm, lấy Phật pháp bình đẳng mở rộng Tâm Hồn.

Cho nên, Minh Tâm là cái bơi chèo trí huệ đẩy đưa ta trong biển sinh tử của ta, Tận Tâm là lương y chữa mọi bệnh phiền não. Nếu không biết Tâm này, sẽ vĩnh kiếp luân hồi, đánh mất chân tính. Nếu biết rõ tâm này, thì sẽ thoát vòng sinh tử, chứng đắc Niết Bàn. Sau trước không bao giờ ra khỏi Tâm này. Lìa khỏi Tâm này không còn diệu pháp nào khác, chẳng qua chỉ là thành tựu cái Tâm này mà thôi.

Ôi! Chẳng nên coi thường. Thánh nhân khó gặp. Cho nên Trương Bình Thúc nói:

Chỉ vị Đan Kinh vô khẩu quyết, 只为丹经无口诀,
Giáo quân hà xứ kết Linh Thai. 教君何处结灵胎?

Chỉ vì Đan Kinh không khẩu quyết,
Khiến ông không cách kết Linh Thai.

Có biết đâu rằng:-

Các khẩu quyết Đan Kinh, rất là ẩn áo, rất là khó hiểu. Khiến người không hiểu nổi. Toàn là ẩn ngữ, bí từ, khiến người hoa mắt, loạn tâm, đến nỗi giữa đường phải rút lui.

Ta rất thương họ. Nay đem Đan Kinh, Phạn điển, khẩu quyết nhất nhất nêu ra, cho đời sau biết. Nó sẽ như ngọn đèn phá tan âm tối, chỉ rõ con đường, cho mọi người biết được giả chân, phân rành vàng đá.

太玄真人雲:父母生前一點靈,不靈只為結成形。成形罩卻光明種,放下依然徹底 清。

空照禪師雲:這個分明個個同,能包天地運虛空。我今直指真心地,空寂靈知是本宗。

自然居士雲:心如明鏡 連天淨,性似寒潭止水同。十二時中常覺照,休教昧了主人翁。

智覺禪師雲:菩薩從來不離真,自家昧了不相親。若能靜坐回光照,便見生 前舊主人。

三茅真君雲:靈台湛湛似冰壺,只許元神在裏居。若向此中留一物,豈能證道合清虛?

天然禪師雲:心 本絕塵何用洗,身中無病豈求醫。欲知是佛非身處,明鑒高懸未照時。

主敬道人雲:未發之前心是性,已發之後性是必。心性源頭參不透, 空從往跡費搜尋。

無心其人雲:妄念才興神加遷,神過六賊亂心田。心目既亂身無主,六道輪回在目前。

高僧妙虛 雲:惺惺一個主人翁,寂然不動在靈宮。但將此中無持礙,天然本體自虛空。

太乙真人雲:一點圓明等太虛,只因念起結成軀。若能放下回 光照,依舊清虛一物無。

華嚴經頌雲;有數無數一切劫,菩薩了知即已念。於此善入菩提行,常勤修習不退轉。

海 月禪師雲:六個門頭一個關,五門不必更遮欄。從他世事紛紛亂,堂上家尊鎮日安。

水庵禪師雲:不起一念須彌山,待立當頭著眼看。牛一 縷絲輕絆倒,家家門底透長安。

大溈智頌雲:真佛無為在我身,三呼三應太惺惺。若人不悟原由者,生劫茫茫認識神。

Khẩu quyết
Thái Huyền Chân Nhân nói:-

Phụ mẫu sinh tiền nhất điểm Linh, 父母生前一点灵,
Bất Linh chỉ vị kết thành hình. 不灵只为结成形。
Thành hình tráo khước quang minh chủng, 成形罩却光明种,
Phóng hạ y nhiên triệt để thanh. 放下依然彻底清。

Phụ mẫu sinh tiền một điểm Linh,
Không Linh chỉ tại kết thành hình.
Thành hình, khuất lấp quang minh chủng,
Nếu thoát hình hài triệt để thanh.

Không Chiếu Thiền Sư nói:-

Giá cá phân minh, cá cá đồng, 这个分明个个同,
Năng bao thiên địa, vận hư không. 能包天地运虚空。
Ngã kim trực chỉ Chân Tâm địa, 我今直指真心地,
Không tịch Linh Tri thị Bản Tông. 空寂灵知是本宗。

Chân Như tính ấy thế nhân đồng,
Bao trùm trời đất, chuyển Hư Không.
Nay ta chỉ thẳng Chân Tâm địa,
Vắng lặng Linh Tri, ấy Bản Tông.

Tự Nhiên Cư Sĩ nói:-

Tâm như minh kính Liên thiên tịnh, 心如明镜连天净,
Tính tự hàn đàm chỉ thủy đồng. 性似寒潭止水同。
Thập nhị thời trung thường giác chiếu, 十二时中常觉照,
Hưu giao muội liễu Chủ Nhân Ông. 休教昧了主人翁。

Tâm sáng như gương, trong tựa trời,
Tính như hồ lắng, nước lặng ngôi.
Ngày đêm tĩnh mịch, thường Giác Chiếu,
Chiếu soi tỏ rõ Chủ Nhân soi.

Trí Giác Thiền Sư nói:-

Bồ tát tòng lai bất ly Chân, 菩萨从来不离真,
Tự gia muội Liễu, bất tương thân. 自家昧了不相亲。
Nhược năng tĩnh tọa hồi quang chiếu, 若能静坐回光照,
Tiện kiến sinh tiền cựu chủ nhân. 便见生前旧主人。

Bồ tát từ xưa chẳng lìa Chân,
Tại mình mê muội chẳng thân gần.
Nếu hay tĩnh tọa hồi quang chiếu,
Liền thấy sinh tiền Cựu Chủ Nhân.

Tam Mao Chân Quân viết:-

Linh Đài trạm trạm tự Băng hồ, 灵台湛湛似冰壶,
Chỉ hứa Nguyên Thần tại lý cư. 只许元神在里居。
Nhược hướng thử trung lưu nhất vật, 若向此中留一物,
Khởi năng chứng Đạo hợp Thanh Hư? 岂能证道合清虚?

Linh Đài trong vắt tựa Băng hồ,
Chỉ có Nguyên Thần được ở trong.
Nếu để vật chi vào trong đó,
Sẽ không chứng Đạo, hợp Thanh Hư.

Thiên Nhiên Thiền Sư nói:-

Tâm bản tuyệt trần hà dụng tẩy, 心本绝尘何用洗,
Thân Trung vô bệnh khởi cầu y? 身中无病岂求医。
Dục tri thị Phật, phi thân xứ, 欲知是佛非身处,
Minh giám cao huyền, vị chiếu thời? 明鉴高玄未照时。

Tâm vốn không dơ, cần gì tắm,
Trong mình không bệnh khỏi cầu Thầy.
Mới biết thân ta chính là Phật,
Như đài gương sáng chiếu đó đây.

Chủ Kính Đạo Nhân nói:-

Vị phát chi tiền, Tâm thị Tính, 未发之前心是性,
Dĩ phát chi hậu, Tính thị Tâm. 已发之后性是必。
Tâm, Tính nguyên đầu, tham bất thấu, 心性源头参不透,
Không tòng vãng tích, phí sưu tầm. 空从往迹费搜寻。

Tâm khi chưa phát, Tâm là Tính,
Khi đã phát rồi, Tính là Tâm.
Chỗ Tâm Tính khởi, suy chẳng thấu,
Dấu vết tìm chi, uổng sưu tầm.

Vô Tâm Chân Nhân nói:-

Vọng niệm tài hưng, Thần tức thiên, 妄念才兴神即迁,
Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền. 神迁六贼乱心田。
Tâm điền ký loạn, thân vô chủ, 心田既乱身无主,
Lục đạo luân hồi tại mục tiền. 六道轮回在目前。

Vọng niệm dấy lên, Thần tự thiên,
Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền.
Tâm điền đã loạn, Thân vô chủ,
Sáu nẻo luân hồi thấy nhãn tiền.

Cao tăng Diệu Hư nói:-

Tinh tinh nhất cá Chủ Nhân Ông, 惺惺一个主人翁,
Tịch nhiên bất động tại Linh Cung. 寂然不动在灵宫。
Đãn đắc thử trung vô quải ngại, 但得此中无挂碍,
Thiên Nhiên Bản Thể tự Hư Không. 天然本体自虚空。

Tinh tao một vị Chủ Nhân Ông,
Tịch Nhiên bất động tại Linh Cung.
Chỉ cốt Linh Cung không vướng mắc,
Thiên Nhiên Bản Thể hiện Hư Không.

Thái Ất Chân Nhân nói:-

Nhất điểm viên minh đẳng Thái Hư, 一点圆明等太虚,
Chỉ nhân niệm khởi kết thành khu. 只因念起结成躯。
Nhược năng phóng hạ hồi quang chiếu, 若能放下回光照,
Y cựu thanh hư, nhất vật vô. 依旧清虚一物无。

Một điểm viên minh tựa Thái Hư,
Chỉ vì niệm khởi, kết thành khu.
Nếu biết bỏ thân, hồi quang chiếu,
Sẽ thấy bên trong vẫn thanh hư.

Hoa Nghiêm Kinh viết:-

Hữu số, vô số nhất thiết kiếp, 有数无数一切劫,
Bồ tát liễu tri tức nhất niệm. 菩萨了知即已念。
Vu thử thiện nhân bồ đề hạnh, 于此善人菩提行,
Thường cần tu tập bất thoái chuyển. 常勤修习不退转。

Nhất thiết kiếp nạn con người,
Đều do tạp niệm trong đời nảy sinh.
Bồ tát thấy được rõ ràng,
Cho nên tu luyện liên canh chẳng dời.

Hải Nguyệt Thiền Sư nói:-

Lục cá (lục thức) môn đầu nhất cá quan, 六个门头一个关,
Ngũ môn bất tất tiện già lan. 五门不必更遮栏。
Tòng tha thế sự phân phân loạn, 从他世事纷纷乱,
Đường thượng gia tôn (tâm) trấn nhật an. 堂上家尊镇日安。

Lục thức môn đầu phong tỏa một,
Ngũ quan bất tất phải cài then.
Chỉ do lục thức, nên đời loạn,
Trong nhà gia chủ vẫn bình an.

(Tu là già tỏa, phong bế ý thức. Quan bế đệ lục thức tức ý thức, vì ý thức là đầu đảng ngũ tặc, là chủ soái của lục thức).

Thủy Am Thiền Sư nói:-

Bất khởi nhất niệm, Tu Di Sơn , 不起一念须弥山,
Đãi lập đương đầu, trước nhãn khan. 待立当头着眼看。
Niêm nhất lũ ti, khinh bán đảo, 拈一缕丝轻绊倒,
Gia gia môn để thấu Trường An. 家家门底透长安。

Nê Hoàn vắng lặng không một niệm,
Để ngay trước mặt, mắt ngó xem.
Lòng vốn khinh thanh, không ô nhiễm,
Lòng không vọng niệm, đạt tiên ban.

Đại Sư Trí Tụng nói:-

Chân Phật vô vi tại ngã thân, 真佛无为在我身,
Tam hô, tam ứng, thái tinh tinh. 三呼三应太惺惺。
Nhược nhân bất ngộ nguyên do giả, 若人不悟原由者,
Trần kiếp mang mang, nhận Thức Thần. 生劫茫茫认识神。

Chân Phật vô vi, tại ngã thân,
Hễ gọi là thưa, rất ân cần.
Nếu người không biết sao như vậy,
Chỉ tại xưa nay nhận Thức Thần.

無垢子謁雲:五蘊山頭一段空,同門出入不相逢。無量劫來賃屋住,到頭不識主人翁。

唯寬禪師雲:勸君學道莫貪求,萬事無心道合頭。 無心始體無心道,體得無心道也休。

志公和尚雲:頓悟心原開寶藏,隱顯靈蹤現真象。獨行獨坐常巍巍,百億化身無數量。

呆堂禪師雲:應無所住生其心,廓徹圓明處處真。直下頂門開正眼,大千沙界現全身。

指玄篇雲: 若得心空若便無,有何生死有何拘。一朝脫下胎州襖,作個逍遙大丈夫。

段真人雲: 心內觀心覓本心,心心俱絕見真心。真心明徹通三界,外道天魔不敢侵。

張遠霄雲: 不生不滅本來真,無價夜光人不識。凡夫虛度幾千生,雜在礦中不能出。

薛道光雲: 妙訣五千稱道德,真詮三百頌陰符。但得心中無一字,不參禪亦是工夫。

無垢子雲: 學道先領識自心,自心深處最難尋。若還尋到無尋處,方悟凡心即佛心。

逍遙翁雲: 掃除六賊淨心基,榮辱悲歡事勿追。專炁至柔窺內景,自然神室產牟尼。

弄丸集雲: 天機奧妙難輕吐,顏氏如愚曾氏魯。問渠何處用工夫,只在不聞與不睹。

張三峰雲: 真心浩浩無窮極,無限神仙從裏出。世人耽著小形骸,一顆玄珠迷不識。

解迷歌雲: 若要真精無漏泄,須淨靈台如朗月。靈台不淨神不請,晝夜工夫休斷絕。

北塔祚雲: 切忌隨他不會他,大隨此語播天涯。真淨性中方一念,早是千差與萬差。

橫川拱雲: 洞水無緣會逆流,見他苦切故相救。西來祖意定無意,妄想狂心歇便休。

草堂禪師雲:斷臂覓心心不得,覓心不得始安心。心安後夜雪庭 際,滿目瑤花無處尋。

佛國禪師雲:心心即佛佛心心,佛佛心心即佛心。心佛悟來無一物,將軍止渴望梅林。

華嚴 經偈雲:若人欲識佛境界,當淨其意即虛空。遠離妄想及諸取,令心所向皆無礙。

寶積經頌雲:諸佛從心得解說,心者清淨名無垢。五道鮮 潔不受染,有解此看成大道。

圓悟禪師雲:佛佛道同同互道,心心真契契真心。廓然透出威音外,地久天長海更深。

世奇首座雲:諸法空故我心空,我心空故諸法同。諸法我心無別體,只在而今一念中。

張拙秀才雲:光明寂煦遍河沙,凡聖原來共一家。 一念不生全體現,六根才動被雲遮。

中峰禪師雲:從來至道與心親,學到無心道即真。心道有無俱泯絕,大千世界一閑身。

張無夢雲: 心在靈關身有主,氣歸元海壽無窮。

白沙先生雲:千修千處得,一念一生持。

Vô Cấu Tử kệ nói:-

Ngũ Uẩn sơn đầu nhất đoạn không, 五蕴山头一断空,
Đồng môn xuất nhập bất tương phùng. 同门出入不相逢。
Vô lượng kiếp lai, nhẫm ốc trú, 无量劫来赁屋住,
Đáo đầu bất thức Chủ Nhân Ông. 到头不识主人翁。

Đầu non Ngũ Uẩn một vừng không,
Vào ra cùng cửa, chẳng tương phùng.
Từ bao nhiêu kiếp thuê nhà ở,
Tới nay, nào biết Chủ Nhân Ông.

Duy Khoan Thiền Sư nói:-

Khuyến quân học Đạo mạc tham cầu, 劝君学道莫贪求,
Vạn sự vô tâm Đạo hợp đầu. 万事无心道合头。
Vô Tâm thủy thể Vô Tâm Đạo, 无心始体无心道,
Thể đắc vô tâm, Đạo dã hưu. 体得无心道也休。

Khuyên ai học Đạo chớ tham cầu,
Đem tâm vô sự hợp Đạo mầu.
Vô tâm hợp với Vô Tâm Đạo,
Hợp đạo vô tâm, Đạo mới sâu.

Chí Công Hòa Thượng nói:-

Đốn ngộ Tâm nguyên khai bảo tạng, 顿悟心原开宝藏,
Ẩn hiện Linh Tông, hiện Chân Tượng. 隐现灵踪现真象。
Độc hành, độc tọa, thường nguy nguy, 独行独坐常巍巍,
Bách ức hóa thân, vô số lượng. 百亿化身无数量。

Tâm nguyên đốn ngộ, bảo tạng khai,
Linh Tông ẩn hiện xuất sinh ra.
Một mình đi đứng oai phong quá,
Bách ức hóa thân, vô số mà .

Ngốc Đường Thiền Sư nói:-

Ưng vô sở trụ sinh kỳ Tâm, 应无所住生其心,
Khuếch triệt, viên minh xứ xứ chân. 廓彻圆明处处真。
Trực hạ đỉnh môn, khai Chính Nhãn, 直下顶门开正眼,
Đại thiên sa giới hiện toàn thân. 大千沙界现全身。

Ưng vô sở trụ, sinh kỳ Tâm,
Tâm sẽ viên minh, xứ xứ chân.
Ngay dưới Nê Hoàn, khai Chính Nhãn,
Hằng hà sa số hiện toàn thân .

Sách Chỉ Huyền Thiên viết:-

Nhược đắc Tâm không, khổ tiện vô, 若得心空若便无,
Hữu hà Sinh Tử, hữu hà câu. 有何生死有何拘。
Nhất triêu thoát hạ thai châu áo, 一朝脱下胎州袄,
Tác cá tiêu diêu đại trượng phu. 作个逍遥大丈夫。

Tâm mà không tịch, khổ còn đâu,
Không còn sinh tử, không vướng mắc.
Một ngày nào đó buông áo xác,
Sẽ sống tiêu diêu đời trượng phu.

Đoàn Chân Nhân nói:-

Tâm nội quan tâm, mịch Bản Tâm, 心内观心觅本心,
Tâm Tâm câu tuyệt, kiến Chân Tâm. 心心俱绝见真心。
Chân Tâm minh triệt thông tam giới, 真心明彻通三界,
Ngoại đạo, thiên ma bất cảm xâm. 外道天魔不敢侵。

Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm,
Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm.
Chân Tâm rạng rỡ, thông Tam Giới,
Thiên ma ngoại đạo chẳng dám xâm.

Trương Viễn Tiêu nói:-

Bất sinh, bất diệt bản lai chân, 不生不灭本来真,
Vô giá dạ quang nhân bất thức. 无价夜光人不识。
Phàm phu hư độ kỷ thiên sinh, 凡夫虚度几千生,
Tạp tại khoáng trung bất năng xuất. 杂在矿中不能出。

Chân Tâm nguyên thị vốn là Chân,
Như ngọc dạ quang người không biết.
Phàm phu uổng sống qua nhiều kiếp,
Ngọc nằm trong khoáng chẳng sao ra.

Tiết Đạo Quang nói:-

Diệu quyết ngũ thiên xưng Đạo Đức, 妙诀五千称道德,
Chân thiên tam bách tụng Âm Phù. 真诠三百颂阴符。
Đãn đắc Tâm trung vô nhất tự, 但得心中无一字,
Bất tham thiền diệc thị công phu. 不参禅亦是工夫。

Đạo Đức năm nghìn xưng Diệu Quyết,
Âm Phù tam bách ấy Chân Thiên.
Chỉ cần Tâm Lý không một chữ,
Chẳng cứ tham thiền vẫn công phu.

Vô Cấu Tử nói:-

Học Đạo tiên tu thức tự Tâm, 学道先须识自心,
Tự Tâm thâm xứ, tối nan tầm. 自心深处最难寻。
Nhược hoàn tầm đáo vô tầm xứ, 若还寻到无寻处,
Phương ngộ Phàm Tâm tức Phật Tâm. 方悟凡心即佛心。

Học Đạo trước tiên phải biết Tâm,
Tự Tâm thâm kín khó mà tầm.
Nếu mà tìm tới Vô tầm xứ,
Sẽ thấy Phàm Tâm giống Phật Tâm.

Tiêu Diêu Ông nói:-

Tảo trừ Lục tặc tịnh tâm cơ, 扫除六贼净心基,
Vinh nhục bi hoan sự vật truy. 荣辱悲欢事勿追。
Chuyên khí chí nhu khuy Nội Cảnh, 专炁至柔窥内景,
Tự nhiên thần thất sản Ma Ni. 自然神室产牟尼。

Trừ xong Lục tặc, thấy Tâm Cơ,
Vinh nhục, bi hoan dạ chẳng lo.
Dùng Thần ngự Khí quy Nội Cảnh,
Tự nhiên tâm địa có Ma Ni.

Lộng Phàm Tập nói:-

Thiên cơ áo diệu nan khinh thổ, 天机奥妙难轻吐,
Nhan Thị như ngu, Tăng Thị lỗ. 颜氏如愚曾氏鲁。
Vấn cừ hà xứ dụng công phu, 问渠何处用工夫,
Chỉ tại bất văn, dữ bất đổ. 只在不闻与不睹。

Thiên cơ yếu diệu khó nên lời,
Nhan Hồi, Tăng Tử như si ngốc.
Công phu, hỏi họ dùng sao vậy,
Không nghe, không thấy có thế thôi.

Trương Tam Phong nói:-

Chân Tâm hạo hạo vô cùng cực, 真心浩浩无穷极,
Vô hạn Thần Tiên tòng lý xuất. 无限神仙从里出。
Thế nhân đam chước tiểu hình hài, 世人耽着小形骸,
Nhất khỏa huyền châu, mê bất thức. 一颗玄珠迷不识。

Vô Cực Chân Tâm chẳng bến bờ,
Muôn vàn Thần Thánh phát sinh ra.
Thế nhân mê mẩn hình hài tạm,
Chân Thể ngọc châu lại bỏ lơ.

Giải Mê Ca nói:-

Nhược yếu Chân Tinh vô lậu tiết, 若要真精无漏泄,
Tu tịnh Linh Đài như lãng nguyệt. 须净灵台如朗月。
Linh Đài bất tịnh Thần bất thanh, 灵台不净神不清,
Trú dạ công phu hưu đoạn tuyệt. 昼夜工夫休断绝。

Nếu muốn Chân Tinh không lậu tiết,
Hãy giữ Linh Đài như minh nguyệt.
Linh Đài không sạch, Thần không trong,
Công phu liên tục, đừng đoạn tuyệt.

Bắc Tháp Tộ nói:-

Thiết kỵ tùy tha bất hội tha, 切忌随他不会他,
Đại tùy thử ngữ, bá thiên nhai. 大随此语播天涯。
Chân tịnh Tính trung, tài nhất niệm, 真净性中才一念,
Tảo thị thiên sai dữ vạn sai. 早是千差与万差。

Tối kị tùy Tâm chẳng biết Tâm,
Chỉ một chữ Tùy bao thế giới.
Chân Tâm thanh tịnh mà khởi niệm,
Sẽ thấy nghìn sai với vạn lầm.

Hoành Xuyên Củng nói:-

Duyên thủy vô duyên hội nghịch lưu, 沿水无缘会逆流,
Kiến tha khổ thiết cố tương thù. 见他苦切故相酬。
Tây lai tổ ý, thực vô ý, 西来祖意实无意,
Vọng niệm cuồng tâm, hiết tiện hưu. 妄想狂心歇便休。

Dòng nước nương theo, bị ngược dòng,
Thấy người khổ cực cũng thương tâm.
Đạt Ma, Trung thổ vô ý tới,
Vọng niệm, cuồng tâm hãy bỏ dần.

Thảo Đường Thiền Sư nói:-

Đoạn tí mịch Tâm, Tâm bất đắc, 断臂觅心心不得,
Mịch Tâm vô đắc, thủy an tâm. 觅心不得始安心。
An tâm hậu dạ, tuyết đình tế, 心安后夜雪庭际,
Mãn mục diêu hoa, vô xứ tầm. 满目瑶花无处寻。

Tuệ Khả cắt tay để tìm Tâm,
Tìm Tâm không được mới an Tâm.
An tâm trong một sân đầy tuyết,
Vọng niệm triệt tiêu khỏi phải tầm.

Phật Quốc Thiền Sư:-

Tâm Tâm tức Phật, Phật Tâm Tâm, 心心即佛佛心心,
Phật Phật Tâm Tâm, tức Phật Tâm. 佛佛心心即佛心。
Tâm Phật ngộ lai, vô nhất vật, 心佛悟来无一物,
Tướng quân chỉ khát vọng mai lâm. 将军止渴望梅林。

Tâm Tâm là Phật, Phật là Tâm,
Phật Phật, Tâm Tâm tức Phật Tâm.
Tâm Phật hiểu rồi không gì cả,
Tướng quân đang khát chỉ mai lâm.

Hoa Nghiêm Kinh kệ nói:-

Nhược nhân dục thức Phật cảnh giới, 若人欲识佛境界,
Đương tịnh kỳ ý như hư không. 当净其意如虚空。
Viễn ly vọng tưởng, cập chư vật, 远离妄想及诸物,
Lệnh tâm sở hướng giai vô ngại. 令心所向皆无碍。

Con người như muốn tìm cảnh Phật,
Phải tĩnh kỳ ý, như hư không.
Viễn ly vọng tưởng cùng vạn sự,
Cho tâm sở hướng được thong dong.

Bảo Tích Kinh kệ nói:-

Chư Phật tòng tâm đắc giải thoát, 诸佛从心得解脱,
Tâm giả thanh tịnh danh vô cấu. 心者清净名无垢。
Ngũ Đạo tiên khiết bất thụ nhiễm, 五道鲜洁不受染,
Hữu giải thử giả thành Đại Đạo. 有解此者成大道。

Chư Phật Tâm không nên giải thoát,
Tâm mà thanh tịnh là Vô Cấu.
Ngũ Đạo tịnh khiết không ô nhiễm,
Người hiểu biết ra thành Đại Đạo .

Viên Ngộ Thiền Sư nói:-

Phật Phật Đạo đồng, đồng chí đạo, 佛佛道同同至道,
Tâm Tâm chân khế, khế Chân Tâm. 心心真契契真心。
Khuếch nhiên thấu xuất Uy Âm ngoại, 廓然透出威音外,
Địa cửu thiên trường hải cánh thâm. 地久天长海更深。

Phật Phật Đạo đồng, đồng chí đạo,
Tâm Tâm chân khế, khế Chân Tâm.
Chân tâm siêu xuất Uy Âm ngoại,
Địa cửu, Thiên trường biển càng thâm.

Thế Kỳ Thủ Tọa nói:-

Chư Pháp không, cố ngã tâm không, 诸法空故我心空,
Ngã Tâm không, cố chư pháp đồng. 我心空故诸法同。
Chư Pháp, ngã Tâm vô biệt thể, 诸法我心无别体,
Chỉ tại nhi kim, nhất niệm trung. 只在而今一念中。

Chư Pháp không, nên tâm ta không,
Tâm ta không, nên với Chư Pháp đồng.
Chư Pháp, Ngã Tâm cùng một thể,
Một Thể vì đều: Chính Niệm chung.

Trương Chuyết Tú Tài nói:-

Quang minh tịch chiếu biến hà sa, 光明寂煦遍河沙,
Phàm thánh nguyên lai cộng nhất gia. 凡圣原来共一家。
Nhất niệm bất sinh, toàn thể hiện, 一念不生全体现,
Lục căn tài động, bị vân già. 六根才动被云遮。

Phật quang lặng chiếu khắp trần ai,
Phàm Thánh xưa nay vốn không hai.
Một niệm chẳng sinh, toàn thể hiện,
Lục căn vừa động bị vân già.

Trung Phong Thiền Sư nói:-

Tòng lai chí Đạo dữ Tâm thân, 从来至道与心亲,
Học đáo vô tâm Đạo tức chân. 学到无心道即真。
Tâm đạo hữu vô câu dẫn tuyệt, 心道有无俱泯绝,
Đại thiên thế giới nhất nhàn thân. 大千世界一闲身。

Xưa nay Chí Đạo với Tâm gần,
Học tới vô tâm Đạo mới chân.
Tâm Đạo hữu vô đều mất hết,
Đại Thiên thế giới một thân nhàn.

Trương Vô Mộng nói:-

Tâm tại Linh Quan thân hữu chủ, 心在灵关身有主,
Khí quy Nguyên Hải thọ vô cùng. 气归元海寿无穷。
Tâm ở Linh Quan, thân có chủ,
Khí về Nguyên Hải, thọ vô cùng.

Bạch Sa Tiên Sinh nói:-

Thiên hưu thiên xứ đắc, 千休千处得,
Nhất niệm nhất sinh trì. 一念一生持。
Vọng niệm không sinh thiên xứ đắc,
Suốt đời chính niệm phải tu trì.

彭鶴林雲: 神室即是此靈合,中有長生不死胎。

永明延壽雲:有念即生死,無念即泥洹。

胡敬齋雲: 無事時不教心空,有事時不教心亂。

道玄居士雲:一出便收來,既歸須放下。

羅念庵雲: 毋以妄念伐其心,母以客氣傷元氣。

莎衣道人雲:心若在腔子裏,念不出總持門。

白樂天雲: 自從苦學空門法,消盡平生種種心。

海業禪師雲:動不忘於觀照,靜不忘於止息。

韜光集雲: 心在是念亦在是,動如斯靜也如斯。

沖妙雲: 身不動而心自安,心不動而神自守。

徐無極雲: 性從偏處克將去,心自放時收拾來。

佛印雲: 一念動時皆是火,萬緣寂處即生春。

陶宏景雲: 修心要作長生客,煉性當如活死人。

無著禪師雲:明即明心空寂,見即見性無生。

華嚴經雲: 若能諦觀心不二,方見毗盧清淨身。

華嚴頌雲: 始從一念終成劫,悉依眾生心想生。

馬丹陽雲: 若能長守彎彎竅,神自靈明氣自充。

丘長春雲: 當時一句師邊得,默默垂簾仔細看。

慧日禪師雲:一念照了一 念之善提也,一念晏息一會之涅槃也。

以上數語,皆成仙作聖之要、八道八德之門也。首阿難多聞總持積歲不登聖果,息緣返照,暫時即證 無生。蓋凡夫之心,終日趨外,愈遠愈背。唯返照者,檢清攝念,攝念安心,安心養神,養神歸性。即魏伯陽所謂金來歸性初,乃得稱還丹是也。咦!煉礦成金得寶 珍,煉情歸性合天真。相逢此理,交談者千萬人中無一人。
Bành Hạc Lâm nói:-

Thần Thất tức thị thử Linh Đài, 神室即是此灵合,
Trung hữu trường sinh bất tử thai. 中有长生不死胎

Linh Đài, Thần Thất vốn in nhau,
Trong có Kim Đơn, bất tử thai.

Vĩnh Minh Diên Thọ nói:-

Hữu niệm tức Sinh Tử, 有念即生死,
Vô niệm tức Niết Bàn. 无念即涅槃。

Có niệm là Sinh Tử,
Không niệm là Niết Bàn.

Hồ Kính Trai nói:-

Vô sự thời bất giáo Tâm không, 无事时不教心空,
Hữu sự thời bất giáo Tâm loạn. 有事时不教心乱。

Khi vô sự đừng để Tâm không,
Khi hữu sự đừng khiến Tâm loạn.

Đạo Huyền Cư Sĩ nói:-

Nhất xuất tiện thu lai, 一出便收来,
Ký quy tu phóng hạ. 既归须放下。

Nguyên Thần vừa xuất khiếu,
Lập tức phải thu hồi.
Đã về, phải phóng hạ,
Cho nó tĩnh định thôi.

La Niệm Am nói:-

Vô dĩ vọng niệm tường Kỳ Tâm, 毋以妄念戕其心,
Vô dĩ Khách Khí thương Nguyên Khí. 毋以客气伤元气。

Đừng cho Vọng Niệm diệt Chân Tâm,
Đừng cho Khách Khí thương Nguyên Khí.

Sa Y Đạo Nhân nói:-

Tâm nhược tại Xoang Tử Lý, 心若在腔子里,
Niệm bất xuất Tổng Trì Môn. 念不出总持门。

Tâm chớ ra ngoài Xoang Tử Lý (Đan Điền),
Niệm không nên xuất Tổng Trì Môn (Đan Điền).

Bạch Lạc Thiên nói:
Tự tòng khổ học Không Môn pháp, 自从苦学空门法,
Tiêu tận bình sinh chủng chủng Tâm. 消尽平生种种心。

Vất vả học theo Phật Pháp Môn,
Lục thức trong người tiêu tận hết.

Tịnh Nghiệp Thiền Sư nói:
Động bất vong vu quan chiếu, 动不忘于观照,
Tĩnh bất vong vu chỉ tức. 静不忘于止息。

Hành động không quên quán chiếu Tâm,
Nhàn tĩnh không quên ngưng chỉ tức (ngừng thở).

Thao Quang Tập nói:

Tâm tại thị, niệm diệc tại thị, 心在是念亦在是,
Động như tư, tĩnh diệc như tư. 动如斯静亦如斯。

Tâm ở đó, niệm cũng ở đó,
Động như đây, tĩnh cũng như đây. (Chỉ Không tịnh Bản Tâm)

Xung Diệu nói:
Thân bất động, nhi tâm tự an, 身不动而心自安,
Tâm bất động, nhi thần tự thủ. 心不动而神自守。

Thân bất động, Tâm sẽ tự an,
Tâm bất động, Thần sẽ tự thủ.

Từ Vô Cực nói:
Tính tùng thiên xứ khắc tương khứ, 性从偏处克将去,
Tâm tự phóng thời thu thập lai. 心自放时收拾来。

Tính từ Thiên vọng, thắng Bản Chân,
Tâm do tĩnh định, thu thập lại.

Phật Ấn nói:

Nhất niệm động thời giai thị hỏa, 一念动时皆是火,
Vạn duyên tịch xứ, tức sinh Xuân. 万缘寂处即生春。

Một niệm vừa sinh như lửa cháy ,
Vạn duyên khi lặng sẽ sinh Xuân (Bản Tâm).

Đào Hoằng Cảnh nói:
Tu Tâm yêu tác Trường Sinh Khách, 修心要作长生客,
Luyện Tính đương như Hoạt Tử Nhân. 炼性当如活死人。

Tu Tâm cốt làm Khách Sống Lâu,
Luyện Tính phải như Kẻ Chết Rồi.

Vô Chước Thiền Sư nói:-
Minh tức Minh Tâm không tịch, 明即明心空寂,
Kiến tức Kiến Tính vô sinh. 见即见性无生。

Minh là giữ được Tâm không tịch,
Kiến là thấy Tính tựa Hư Vô.

Hoa Nghiêm Kinh viết:-

Nhược năng đế quan tâm bất nhị, 若能谛观心不二,
Phương Kiến Tì Lô thanh tĩnh tâm. 方见毗卢清静心。

Nếu nhìn rõ được Tâm Bất Nhị,
Sẽ thấy Tì Lô Thanh Tĩnh Tâm.

Hoa Nghiêm Kinh tụng viết:-

Thủy tòng nhất niệm chung thành kiếp, 始从一念终成劫,
Tất y chúng sinh tâm tưởng sinh. 悉依众生心想生。

Đầu là một niệm sau thành kiếp,
Luân hồi bất quá hư tưởng sinh.

Mã Đơn Dương nói:-

Nhược năng thường thủ loan loan khiếu, 若能常守弯弯窍,
Thần tự linh minh, Khí tự sung. 神自灵明气自充。

Nếu ai luôn giữ Linh Đài huyệt,
Thần sẽ Linh minh, Khí sẽ đầy.

Khưu Trường Xuân nói:-

Đương thời nhất cú sư biên đắc, 当时一句师边得,
Mặc mặc thùy liêm tử tế khan. 默默垂帘仔细看。

Câu xưa nghe được bên thầy,
Nay ngồi hư tĩnh suy ngay tận tường.

Tuệ Nhật Thiền Sư nói:-

Nhất niệm chiếu liễu, nhất niệm chi Bồ Đề dã,
一念照了一念之善提也,
Nhất niệm yến tức, nhất niệm chi Niết Bàn dã,
一念晏息一念之涅槃也。

Một niệm chiếu minh là một niệm Bồ Đề giác ngộ,
Một niệm ngưng hưu, là một niệm Niết Bàn.

Những lời nói trên, đều dạy người thành Tiên, tác Thánh, vào cửa Đạo Đức.

Xưa A Nan chỉ nghe lời Phật mà nhiều năm cũng không thành chính quả. Sau biết tức tâm nội quan quán chiếu, mới hay vạn vật vẫn vô sinh, vô diệt, vô hữu, vô vô, mà đắc thành chính quả.
Cái Tâm của kẻ phàm phu, suốt ngày phóng ngoại, càng xa càng xoay lưng lại với Thiên Chân. Chỉ có kẻ biết hồi quang quán chiếu, mới biết kiểm tình, nhiếp niệm.

Thu nhiếp được niệm mới an tâm. An tâm, thần mới dưỡng. Thần dưỡng, Tính mới quy.

Nên Ngụy Bá Dương nói: Kim lai qui Tính sơ, Nãi đắc xưng hoàn đơn . Ôi!

Luyện khoáng thành kim đắc bảo trân. 炼矿成金得宝珍,
Luyện Tình quy Tính hợp Thiên Chân. 炼情归性合天真。
Tương phùng thử lý giao đàm giả, 相逢此理交谈者,
Thiên vạn nhân trung vô nhất nhân. 千万人中无一人。

Luyện khoáng thành kim được bửu châu,
Luyện Tình qui Tính được Thiên Chân.
Gặp người đồng điệu mà bàn bạc,
Trăm vạn con người cũng khó tầm.

CHÚ THÍCH

CHƯƠNG KHẨU QUYẾT

[1] Xem Trung Dung, chương I.

[2] Xem Trung Dung, Chương I.

[3] Đạo Đức Kinh, chương 3.

[4] Luận Ngữ, XII, 1.

[5] Thiên Đạo, Nhân Đạo, A Tu La đạo (Thần), Địa Ngục Đạo, Ngạ Quỉ Đạo, Súc Sinh Đạo.

[6] Đất, nước, gió, lửa.

[7] Đạo Đức Kinh, ch. 63, 64. Kinh Thư, Thái Giáp hạ.

[8] Trung Dung chương I.

[9] Quan bế đệ lục thức tức ý thức, vì ý thức là đầu đảng ngũ tặc, là chủ soái của lục thức.

[10] Diệu Quang, Diệu Cao, Nê Hoàn Cung.

[11] Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức.

[12] Nhận thức được rằng trong ta có Phật tính, rồi lo tiêu trừ vọng niệm, sẽ đạt Phật quả.

[13] Bất kỳ lúc nào cũng lo tu dưỡng bản thân, sẽ hợp cùng Đại Thể vũ trụ, thấy mình là Tất Cả.

[14] Địa Ngục đạo, Ngạ quỉ đạo, Súc sinh đạo, Nhân đạo, Thiên Đạo.

[15] Chư Phật nhờ Tâm Không nên giải thoát, Tâm mà thanh tịnh là Vô Cấu, Ngũ Đạo nhờ Ngũ Quan [Nhãn, Thính, Xú, Vị, Xúc] thanh tịnh nên được giải thoát. Hiểu được sẽ thành Đại Đạo.

[16] Thiêu huỷ bản chân.

[17] Khi đã nhiếp tình, qui Tính được rồi, khi Thần Khí đã dung hợp rồi, sẽ sinh hoàn đơn, hay Kim Đơn, Nội đơn.

(Xin xem tiếp TẨY TÂM THỐI TÀNG ĐỒ)
退藏沐浴工夫

道乃天地心,愚痴不解尋。破衣要縫補,須用水磨針。

紅紅白白水中蓮,出污泥中色轉鮮。莖 直藕空蓬有實,修行妙理恰如然。

一條直路少尋人,尋道山根使入門。坐定更知行氣生,真人之息自深深。

不是玄門消 息深,高山流水少知音。若能尋著來時路,赤子依然混沌心。

時時溉灌,常教玉樹氣逥根;日日栽培,不使金花精脫蒂。

艮其背,不獲其身,聖人以此洗心,退藏於密;行其庭,不見其人,聖人以此齋戒,神明其德。

(洗 心退藏圖)

易之洗心退藏於密這句話頭,唐宋神仙謂之沐浴,近代諸人標為艮背,總只是這個道理,這個竅妙。原夫心屬乎火,而藏之以背之 水者,洗之之義也,心居乎前,而藏之以背之後者,退之之義也。

故初機之士,降伏其心,束之太緊,未免有煩燥火炎之患,是以暫將心火 之南而藏背水之北,水火自然交養,自然念慮不生。即白玉蟾所謂洗心滌慮為沐浴是也。

然沐浴雖為洗心之法,艮背雖有止念之功,二理是 則是矣,皆未到實際之地。此向上一著,千聖秘而不傳後世。學徒所以罕聞、罕遇。人若明得此竅,真可以奪神功,改天命。

TẨY TÂM THOÁI TÀNG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Cấn kỳ bối bất hoạch kỳ thân,
艮其背不获其身

Thánh nhân dĩ thử tẩy Tâm thoái tàng ư mật.
圣人以此洗心退藏於密

Cấn là dừng lại sau lưng,
Dừng nơi chí thiện, quên thân, quên người.
Thánh Nhân cố giữ lòng thanh,
Lui về ẩn đáy lòng mình mới thôi.
Hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân,

行其庭不见其人
Thánh nhân dĩ thử trai giới, thần minh kỳ đức.
圣人以此斋戒神明其德

Bản thân mà đã quên rồi,
Trong sân đi lại, quên người, lỗi chi.
Thánh nhân, trai giới, thảnh thơi,
Cho lòng chiếu diệu, sáng ngời Thần Minh.

Hồng hồng bạch bạch, thủy trung liên, 红红白白水中莲
Xuất ô nê trung, sắc chuyển tiên. 出污泥中色转鲜
Hành trực, ngẫu không, bồng hựu thiệt, 茎直藕空蓬又实
Tu hành diệu lý hấp như nhiên. 修行妙理恰如然

Hồng hồng, bạch bạch, sen trong nước,
Mọc tự bùn nhơ, sắc chuyển tươi.
Thân thẳng, ngẫu không, hạt lại chắc,
Tu hành diệu lý cũng thế thôi.

Nhất điều trực lộ, thiểu nhân tầm, 一条直路少人寻
Tầm đáo sơn căn thủy nhập môn. 寻到山根始入门
Tọa định cánh tri hành khí sinh, 坐定更知行气生
Chân nhân chi tức tự thâm thâm, 真人之息自深深

Một con đường nhỏ ít người tìm,
Tìm tới sơn căn mới nhập môn.
Tọa định, lại hay hành Khí nữa.
Hơi thở thánh nhân rất nhẹ nhàng.

Đạo nãi Thiên Địa tâm, 道乃天地心
Ngu si bất giải tầm. 愚痴不解寻
Phá yêu yêu phùng bổ, 破腰要缝补
Tu dụng thủy ma châm. 须用水魔针

Đạo ấy Thiên Địa tâm, Người ngu không biết tầm.
Áo rách cần vá lại, Vá dùng Chính Niệm tâm.
Thời thời khái quán (tu luyện), thường giáo ngọc thụ (thân), Khí hồi căn (qui đan điền).

时时溉灌常教玉树气归根
Nhật nhật tài bồi (tu luyện), bất sử Kim Hoa (nguyên thần) tinh thoát đế (chạy ra khỏi Đan điền).
日日栽培不使金华精脱蒂
Thường xuyên tu luyện, khiến cho Nguyên khí quy căn.

Ngày ngày tu luyện, khiến cho Nguyên Thần không lìa cội.

Bất thị Huyền Môn tiêu tức thâm, 不是玄门消息深
Cao sơn, lưu thủy thiểu tri âm. 高山流水少知音
Nhược năng tầm trước lai thời lộ , 若能寻著来时路
Xích tử y nhiên hỗn độn tâm . 赤子依然混沌心

Không phải đường tu khó tìm vào,
Cao sơn, lưu thủy vắng tri giao.
Nếu biết Khí Thần khi sơ phát,
Bản Tâm sẽ thấy khó chi nào.

Các chữ ghi trong hình vẽ: Tề 脐 (rốn), Sinh môn 生门 (đan điền), Mệnh môn 命门 (ngay dưới rốn), Ngọc đường quan 玉堂关 (phế), Mật hộ 密户 (thận), U môn 幽门 (lưỡng thận chi gian – tức đan điền).
Phép Tẩy tâm thoái tàng ư mật liên quan nhiều với các huyệt, các cơ quan trên.

————–

CHÚ THÍCH

[1] Dịch kinh, Quẻ Cấn, Thoán từ.
[2] Hệ Từ Thượng Chương XI, Tiết 2.
[3] Dịch Kinh, Quẻ Cấn, Thoán Từ.
[4] Hệ Từ Thượng, Chương XI, tiết 3.
[5] Tu đạo chi môn.
[6] Chỉ Khí Thần bản sơ trạng thái.
[7] Tâm Thần.
[8] Tức nguyên sơ đích bản tâm.

古仙有言曰: 夾脊雙關透頂門,修行徑路此為尊。以其上通天穀,下達尾閭,中通心腎,召攝靈陽,救護命寶。此非修行徑路而何?吾人未有此身,先有此息,此身未滅,此息先 滅,此又非修行正路而何?

原人受生之初,在胞胎內隨母呼吸,受氣而成此縷,與母聯屬,漸吹漸開,中空如管,通氣在來,前通於臍,後 通於腎,上通夾脊泥丸,至山根而生雙竅,由雙竅下至準頭,而成鼻之兩孔,是以名曰鼻祖。

斯時,我之氣通母之氣,母之氣通天地之氣, 天地之氣通太虛之氣,竅竅相通,無有隔閡。幾乎氣數滿足,裂胞而出,剪斷臍帶,囚地一聲,一點元陽落於立命之處。自此後天用事,雖有呼吸往來,不得與元始 祖氣相通。人生自幼至老,未有一息駐於其中。凡夫塵生塵滅,萬死萬生,只為尋不著來時舊路耳。

太上教人修煉而長生者,由其能奪天地 之正氣。人之所以能奪天地之正氣者,由其有兩孔之呼吸也。所呼者自己之元氣從中而出,所吸者天地之正氣從外而入。人若根源牢固,呼吸之間,亦可以奪天地之 正氣而壽綿長久。若根源不固,精竭氣弱,所吸天地之正氣隨呼而出,身中元氣不為己之所有,反為天地所奪。何也?蓋為呼吸不得其門而入耳。

一切常人,時吸皆隨咽喉而下,至中脘而回,不能與祖氣相連,如魚飲水而口進腮出,即莊子所謂,眾人之息以喉是也。

若是至人,呼吸 直貫明堂,而上至夾脊,而流入命門,得與祖氣相連,如磁吸鐵,而同類相親。即莊子所謂,真人之後以踵是也。踵者,其息深深之義。既得深深,則我命在我,而 不為大冶陶鑄矣。

今之人,有調息、數息、抑息、閉息,皆是隔靴止癢,不得到于玄竅。

THOÁI TÀNG MỘC DỤC CÔNG PHU

Dịch kinh có câu: Tẩy tâm thoái tàng ư mật. Các vị Thần Tiên đời Đường, đời Tống gọi là phép Mộc Dục (tắm rửa). Trong thời cận đại gọi là phép Cấn Bối. Tất cả đều là Đạo lý này, là diệu Khiếu này.
Nguyên là vì: Tâm thuộc Hỏa mà ẩn tàng trong Thủy của Lưng (Đốc mạch). Đó là ý nghĩa của Tẩy (rửa). Tâm ở phía trước mà ẩn tàng nơi sau lưng đó là nghĩa của Thoái (lui).

Cho nên kẻ sĩ sơ cơ, phải hàng phục cái Tâm, và câu thúc nó hết sức cẩn thận, để tránh cái nạn Hỏa viêm phiền táo. Cho nên tạm thời đem Tâm Hỏa từ phương Nam mà tàng trữ ở Bối Thủy phương Bắc.

Thủy Hỏa hỗ tương giao dưỡng, tự nhiên niệm lự bất sinh. Tức như Bạch Ngọc Thiềm nói: Tẩy Tâm địch lự vi mộc dục 洗心涤虑为沐浴 (Mộc dục là Tẩy Tâm, là rửa sạch niệm lự)

Nhưng Mộc Dục tuy là phép tẩy Tâm, Cấn Bối tuy là công phu Chỉ Niệm, hai lý đó đều là đúng, nhưng chưa đạt đến thực tế.

Công phu hướng thượng đó, ngàn thánh cho là bí mật, nên chẳng truyền. Do đó hậu thế ít người gặp, ít kẻ nghe. Ai hiểu được khiếu này, có thể đoạt Thần công, cải Thiên mệnh.

Cổ tiên nói:-

Giáp Tích song quan, thấu Đỉnh Môn 夹脊双关透顶门,
Tu hành kính lộ, thử vi tôn. 修行径路此为尊。

Xương sống hai đường tới Vĩ Lư,
Tu hành đường tắt ấy nên ghi.

Đường đó trên thông Thiên Cốc (Nê Hoàn cung), dưới đạt Vĩ Lư, giữa thông Tâm Thận. Nó thu nhiếp Linh Dương, cứu hộ Mệnh Bảo, đó chẳng phải là đường tắt để tu hành sao?

Con người ta khi chưa có Thân, đã có Hơi Thở. Thân này chưa diệt, thì Hơi Thở đã bị diệt rồi. Đó chẳng phải là Tu Hành Chính Lộ sao?

Nguyên lúc ban đầu, con người ở trong bào thai, theo sự hô hấp của mẹ, rồi thụ khí mà thành. Sự hô hấp đó liên quan đến cơ thể người mẹ, lần lần thổi, lần lần mở. Trong rỗng như ống quản, thông khí qua lại. Trực thông với rốn, sau thông với Thận. Trên thông với Giáp Tích đến Nê Hoàn. Đến Sơn Căn thì sinh ra hai khiếu. Từ hai khiếu đó đến Chuẩn Đầu (cuối mũi) thì sinh ra hai lỗ mũi, gọi là Tị Tổ.

Lúc này Khí của con thông với Khí của mẹ. Khí của mẹ thông với Khí của Trời Đất. Khí Trời Đất thông với Khí Thái Hư. Khiếu khiếu thông nhau, mà không cách ngại.

Cho đến khi Khí Số mãn túc, xé bào thai mà ra, cắt đứt cuống rốn, la lên một tiếng, một điểm nguyên dương rơi xuống nơi Lập Mệnh. Từ đó là Hậu Thiên dụng sự, tuy vẫn hô hấp vãng lai, nhưng vẫn tương thông với Nguyên Thủy Tổ Khí. Con người từ trẻ đến già, không một hơi thở nào ngừng trong đó. Tam giới phàm phu, đều bị trần sinh trần diệt, vạn tử vạn sinh, chỉ vì không tìm ra được con đường trở về mà thôi.

Đức Thái Thượng lập phép, dạy người tu luyện trường sinh, tức là dạy cách đoạt Thiên Địa chi Chính Khí. Con người sở dĩ đoạt được Thiên Địa Chính Khí, chính là nhờ có hai lỗ mũi để hô hấp. Hô là Nguyên Khí trong người thở ra, hấp là Chính Khí Thiên Địa từ ngoài mà vào. Con người nếu có căn nguyên kiên cố, trong khi hô hấp có thể đoạt được Thiên Địa Chính Khí để mà trường thọ. Nếu mà con người có căn nguyên không vững chắc, thì khi Hô, Chính Khí cuả Trời Đất đã hít vào, sẽ theo Hô mà ra. Nguyên Khí trong thân ta, chẳng phải là của ta, mà ngược lại sẽ bị trời đất cướp đi.

Tại sao vậy? Vì hô hấp không có cửa mà vào.

Đã là thường nhân, thì hô hấp đều từ Yết Hầu xuống đến huyệt Trung Quản, rồi lại quay lại, không liên lạc được với Tổ Khí. Y như con cá khi uống nước, thì phùng mang há miệng. Tức như Trang Tử nói: Chúng nhân chi tức dĩ hầu 众人之息以喉 (Chúng nhân thở bằng yết hầu).

Còn thánh nhân, chí nhân hô hấp thì trên thông Minh Đường (giữa trán), dưới thông Giáp Tích, vào tới Mệnh Môn, thông với Tổ Khí, như nam châm hút sắt, đồng loại tương thân, tức như Trang Tử nói: Chân nhân chi tức dĩ chủng 真人之息以踵. Chủng ở đây nghĩa là hơi thở thâm thâm. Khi hơi thở đã thâm thâm, thì Mệnh là ở ta, không bị lò trời nung nấu.

Con người ngày nay, có phép Điều Tức, Sổ Tức, Ức Tức, Bế Tức, toàn là chuyện gãi ngứa ngoài giày, không vào được Huyền Khiếu. Khi Khiếu này ngưng hoạt động; thì sinh ra lưỡng thận, rồi sinh ra tim. Thận như Ngẫu Sen, Tâm như Hương Sen. Cành sen thì rỗng giữa, bên ngoài thì Trụ Địa, Chưởng Thiên.

此竅初凝,就生兩腎,次 生其心。其腎如藕,其心如蓮,其梗中通外直,拄地撐天。心腎相去八寸四分,中餘一寸二分,謂之腔子裏是也,乃心腎往來之路,水火既濟之鄉。

欲通此竅,先要存想山根,則呼吸之氣漸次通夾脊,透混元,而直達於命府,方才子母會合,破鏡重圓,漸漸擴充,則根本完固,救住命寶,始可言其修煉。按了 真了曰:欲點常明燈,當用添油法。尹師曰:涵養本原為先,救護命寶為急。又曰:一息尚存,皆可複命。人若知添油之法,續盡燈而複光明,即如得返魂之香,點 枯荄而重茂盛。所以雲:油千燈滅,氣絕身亡。然非此竅則不能添油,非添油則不能接命,命不接則留性不住,性不住忽一旦無常到來,則懵懵然而去矣。故呂公 曰:嗇精宜及早,接命莫教遲。果然是接之則長生,不接則夭死。

蓋人稟天地氣數有限,不知保養,自暴自棄,如劉海蟾雲:朝傷暮損迷不 知,喪亂精神無所據;細細消磨漸漸衰,耗竭元和神乃去。闔辟之機一停,呼吸之氣立斷。嗚呼!生死機關,其速如此,世人何事而不肯回心向道耶?

況此著工夫最是簡易,不拘行住坐臥,常損此心,退藏夾脊之竅,則天地之正氣可扯而進,與己混元真精凝結丹田,以為起生之本。蓋以天地無涯之元炁,而續我 有限之形軀,不亦易乎?

學者只要認定此竅,守而不離,久久純熟,則裏面皎皎明明,如月在水,相似自然,散其邪火,銷其雜慮,降其動 心,止其妄念。妄念既上,真息自現,真念無念,真息無息。息無則命根永固,念無則性體恒存。性存命固、懸念俱銷,此性命雙修之第一步也。

嗟乎!人生如無根之樹,全憑氣息以為根株,一息不來,命非己有。故欲修長生者,必固其氣。氣固則身中之元氣不隨呼而出,天地之真氣恒隨吸而入。久之,胎 息定,鄞鄂成,而長生有路矣。

此段當與第三節蟄伏藏氣穴同看。

Tâm thận cách nhau 8 tấc 4 phân, ở giữa thừa 1 tấc 2 phân, gọi là Xoang Tử Lý. Đó là đường Vãng Lai của Tâm Thận, là làng của Thủy Hỏa ký tế.

Muốn thông Khiếu này, phải chú ý vào Sơn Căn (chỗ mũi giữa hai lông mày), thì khí Hô Hấp sẽ thổi qua Giáp Tích, thấu đến Hỗn Nguyên, và vào thẳng Mệnh Phủ, lúc ấy mẹ con mới sum họp lại, gương vỡ lại lành, lần lần khuếch sung, và căn bản sẽ được kiên cố, lúc ấy mới nói chuyện tu luyện được.

Bàn: Liễu Chân Tử nói: Dục điểm thường minh đăng (trường sinh bất lão), Đương dụng Thiêm Du Pháp (phép Mộc Dục) 欲点常明灯, 当用添油法。(Muốn đốt sáng đèn trường thọ, phải dùng phép Tẩy Tâm.)

Doãn Chân Nhân nói: Hàm dưỡng bản nguyên vi tiên, cứu hộ Mệnh Bảo vi cấp. 涵养本原为先,救护命宝为急。(Trước hết, phải lo hàm dưỡng bản nguyên, phải cấp bách lo cứu hộ Mệnh Bảo)

Lại nói: Nhất tức thượng tồn, giai khả phục Mệnh. 一息尚存,皆可 复命。(Còn một hơi thở vẫn phục mệnh được.)
Nếu người biết phép Thiêm Du, để tiếp nối cho đèn gần hết dầu được sáng lại, tức là làm cho hồn sống lại, ví như làm cho cây khô trở nên thịnh mậu. Cho nên nói: Du can đăng diệt, khí tuyệt thân vong. 油千灯灭,气绝身亡。(Dầu khan thì lửa tắt, khí tuyệt thì người chết).

Nếu không có Khiếu này, thì không thể Thiêm Du, nếu không Thiêm Du, thì lấy gì tiếp Mạng. Mạng chẳng tiếp, thì Tính không trụ. Tính không trụ, mà hốt nhiên Quỷ Vô Thường đến, thì Hồn ríu rít đi theo. Cho nên Lữ Công nói: Sắc tinh, nghi cập tảo, Tiếp Mệnh, mạc giáo trì. 啬精宜及早,接命莫教迟。(Phải luyến tiếc Tinh Khí từ sớm; công phu tiếp Mệnh, không nên trễ.).

Quả nhiên, tiếp được mạng thì trường sinh, không tiếp được mạng thì yểu tử. Vì con người bẩm thụ khí số có hạn, nếu không biết bảo dưỡng, tức là tự bạo, tự khí. Bạch Ngọc Thiềm nói:

Chiêu thương mộ tổn, mê bất tri, 朝伤暮损迷不知,
Tán loạn tinh thần vô sở cứ. 丧乱精神无所据;
Tế tế tiêu ma, tiệm tiệm suy, 细细消磨渐渐衰,
Hao kiệt Nguyên Hòa, thần nãi khứ. 耗竭元和神乃去。

Hao tổn Nguyên Tinh mê không biết,
Tinh thần tán loạn mà chẳng hay.
Tiêu ma, suy kiệt dần dần mãi,
Nguyên Hòa hao kiệt, Thần sẽ đi.

Cơ mở đóng mà đình, thì khí hô hấp cũng đoạn. Ô hô! Sinh tử mau như vậy, sao người không sớm hồi tâm, hồi đạo?

Huống chi, công phu này rất giản dị: Bất kỳ là Đi, Đứng, Nằm, Ngồi, lúc nào cũng có thể tu luyện. Nếu lúc nào cũng tu luyện bản tâm, đem nó về giấu ở xương sống lưng (Giáp Tích), thì Thiên Địa Chính Khí có thể tiến lên giao tiếp với Hỗn Nguyên Chân Tinh con người ngưng kết tại Đan Điền, để siêu sinh. Vả chăng Thiên Địa Chính Khí thì vô nhai, để nối tiếp cho cái hình hài hữu hạn của con người. Như vậy chẳng phải dễ sao?

Học giả chỉ cần nhận định khiếu đó, giữ kỹ không lìa, lâu dần sẽ thuần thục, thì bên trong sẽ rực rỡ sáng láng, như trăng dưới nước, tự nhiên tà hỏa sẽ tiêu tan, tạp lự cũng biến mất. Tâm động sẽ bị hàng phục, vọng niệm sẽ dứt. Vọng niệm đã dứt, thì Chân tức tự hiện. Chân niệm vốn vô niệm. Tức vô, thời Mệnh căn vững chắc, Niệm vô thời Tính thể hằng tồn. Tính tồn, Mệnh cố thời Thức, Mệnh đều tiêu. Đó là bước đầu của Tính Mệnh song tu vậy.

Ôi! Con người như cây không rễ, toàn nương khí tức làm gốc rễ. Một hơi thở không trở lại, thì Mạng chẳng còn phải của ta. Cho nên muốn tu trường sinh, phải biết cố khí. Khí mà bền thì Nguyên Khí trong con người không tùy Hô mà ra, Thiên Địa Chân Khí luôn tùy Hấp mà vào. Lâu ngày, Thai tức sẽ định, Ngân Ngạc thành, thế là trường sinh có lối vậy.

Đoạn này với Tiết ba: Trập tàng khí huyệt phải xem chung với nhau

*
* *
Lời bàn của Dịch giả:
Chương này bàn về cách Hô Hấp. Doãn Chân Nhân phân biệt hai thứ hô hấp thánh phàm. Thường Nhân thở thì gọi là Phàm Tức, Thánh Nhân thở thì gọi là Chân Tức. Doãn Chân Nhân nhắc lại sự phân biệt của Trang Tử: Chân nhân chi tức dĩ chủng, chúng nhân chi tức dĩ hầu. Chúng nhân thở nông cạn; thánh nhân thở thâm sâu. Chúng nhân thở nặng nề. Thánh nhân thở nhẹ nhàng.

Chương này thật là khó hiểu, ta phải bỏ ra một đời mới hiểu được cách thở của Thánh Nhân . Có thể nói, Thánh Nhân thở qua Nhâm Đốc, Âm Kiều, Nê Hoàn. Thường nhân thở qua phổi. Đạo Lão xưa có nói: Phàm Tức đình, nhi Chân Tức hiện.

Tác giả Tính Mệnh Khuê Chỉ, người dịch sách này ra Bạch Thoại tỏ ra cũng rành về Phép Hít Thở xưa, và câu: Hậu thiên đích khẩu tị chi hô hấp dĩ đình chỉ, nó cũng giống câu của Huỳnh Nguyên Cát: Phàm tức đình nhi Chân tức hiện. Tôi không bàn thêm.

Chủng tức: Hô hấp đắc thần vi chủ tể thời, kỳ tức vị chi chủng tức (Chủng tức là hô hấp có thần). Hàm Hư Từ nói: Chung dã giả, tương tiếp bất đoạn, miên miên nhược tồn dã (Chúng tức là thở đều đặn, liên tục).

Tính Mệnh Khuê Chỉ giải Chủng tức là: Hô hấp cực thâm (Xem tr.167).
——————–

CHÚ THÍCH

[1] Hệ từ thượng, chương XI, tiết 2.

[2] Thượng đan điền

[3] Tâm thận vãng lai chi lộ, thủy hỏa ký tế chi hương.

[4] Nam Hoa Kinh, chương VI, Đại tông Sư.

[5] Theo tôi đoạn này dạy về Hô Hấp cũng chưa rõ ràng. Tôi xin giới thiệu mấy tài liệu nên đọc:

– Trung Quốc khí công đại thành, Phương Xuân Dương, Cát Lâm khoa học xuất bản xã, 1999.
– Lạc Dục Đường ngữ lục, Huỳnh Nguyên Cát, Chân Thiện Mỹ xuất bản, Trung Hoa Dân Quốc năm 25.
– Huỳnh Đình Kinh, Nguyễn văn Thọ, chương 20, luận về Hô Hấp Chân Khí.

Bản thân tôi về Khí Công không có giỏi, nên không dám bàn thêm nhiều. Quí vị học giả sau này nên bỏ ra chừng ít năm để học về khoa này. Có thể Khí Công hay Luyện Đan ngày nay đã thất truyền. Tôi chưa thấy ai trình bày cho rõ ràng mạch lạc. Bài tôi đóng góp trong Huỳnh Đình kể là khá rõ, nhưng chưa đầy đủ. Mong sau này có ai sẽ đóng góp vấn đề khó khăn này cho nhân loại.

[6] Xem trang 153, khi bàn về Công Phu: Lục Diệu Môn của Phật giáo

[7] Tính Mệnh Khuê Chỉ, tr. 171.

[8] Xem: Lạc dục Đường ngữ lục, tr. 84.

[9] Tiên Học từ điển, tr. 160.

玉液煉形 法則
妙用如江河,周流無窮已。長養玄谷芝,灌溉瑤池水。

小小壺中別有天,鐵牛耕地種金蓮。這般寶物家家有,因甚時人不學仙?

煉液如泉曾有訣,安心是藥更無方。積氣關開通大道,一渠流轉入 瓊漿。
(玉 液煉形圖)

初學之人,平素勞碌,乍入圜中,一旦安逸。逸則四肢不運動,安則百節不流通。以致脈絡壅塞,氣血凝滯,此通關蕩穢之法不能 無也。

此法先用行氣主宰,照在玄膺一竅。此竅可通氣管,即黃庭經所謂,玄膺氣管受精符是也。少傾,則津液滿口,如井水然,微漱數 遍,徐徐以意引以重樓,漸達膻中、尻尾、中脘、神闕,至氣海而止。就從氣海分開兩路,至左右大腿,從膝至三裏,下腳背及大拇指,又轉入湧泉,由腳跟腳彎循 大腿而上至尾閭,合作一處,過腎堂、夾脊、雙關,分送兩肩、兩膀、兩臂至手背,由中指轉手掌,一齊旋回過手腕,由胸旁曆腮後,從腦灌頂,複下明堂、上齶, 以舌迎之,至玄膺而止。此為一轉畢。稍停又眼前行功,則壅滯之處浙次疏通,不唯貫穿諸經,亦能通達諸竅。即心印經所謂,七竅相通,竅竅光明是也。

蓋吾人靈明,一竅六合而內,六合而外,本無不周,本無不照,其不能然者,為形所礙耳。直要煉到形神俱妙,方才與道合真。

夫行氣用 眼者何也?故施肩吾曰:氣是添年藥,心為使氣神;若知行氣主,便是得仙人。普人謂,目之所至,心亦至焉。心之所至,氣亦至焉。斯言確之矣。

NGỌC DỊCH LUYỆN HÌNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Tiểu Tiểu hồ trung (1) biệt hữu Thiên, 小小壶中别有天
Thiết ngưu canh địa chủng kim liên (2). 铁牛耕地种金莲
Giá ban bảo vật gia gia hữu, 这般宝物家家有
Nhân thậm thời nhân bất học Tiên. 因甚时人不学仙

Tại Tiểu hồ trung có trời riêng,
Ruộng dùng trâu sắt, trồng Kim Liên.
Kim Liên giống ấy, nhà nhà có,
Con người sao chẳng học làm Tiên?

Diệu dụng như giang hà, 妙用如江河
Chu lưu vô cùng dĩ. 周流无穷已
Trường dưỡng Huyền Cốc (3)chi, 长养玄谷芝
Quán khái Dao Trì (4) thủy. 灌溉瑶池水

Diệu dụng như giang hà,
Chảy trôi vô cùng dĩ.
Dưỡng nuôi Huyền Cốc chi,
Tưới tắm nước Giao Trì?

Luyện dịch (5) như tuyền, tằng hữu quyết, 炼液如泉曾有诀
An tâm, thị dược cánh vô phương. 安心是药更无方
Tích khí khai quan (6)thông Đại Đạo, 积气开关通大道
Nhất cừ lưu chuyển, nhập Quỳnh Tương (7). 一渠流转入琼浆

Nước bọt tuôn trào vốn đã nghe,
An tâm là thuốc, không chi khác.
Tích khí sẽ thông tuông Mạch Đốc,
Ngòi lạch thông rồi nhập Quỳnh Tương?

—————

CHÚ THÍCH

[1] Nê Hoàn cung, đan điền.
[2] Nguyên Khí.
[3] Đan Điền.
[4] Nê Hoàn Cung.
[5] Giảo thiệt, yết tân.
[6] Khí thông Đốc mạch.
[7] Tân Dịch trong miệng.

—————

NGỌC DỊCH LUYỆN HÌNH PHÁP TẮC
Người sơ học làm việc vất vả, bỗng nhiên vào được nơi Tĩnh Định Hư Không, tự nhiên cơ thể được nghỉ ngơi, cho nên tứ chi không vận động. Không vận động nên cốt tiết không được thông sướng, đến điều mạch lạc bị úng tắc, khí huyết bị ngưng trệ. Vì thế cần phải đề cập đến phép Thông Quan, Lọc Uế.

Phép này sử dụng đến Hành Khí Chủ Tể, là khiếu Huyền Ưng , khiếu này thông khí quản. Vì thế Huỳnh Đình kinh nói: Huyền Ưng khí quản thụ tinh phù 玄膺气管受精符。

Giây phút thì tinh dịch ra đầy miệng, như nước giếng. Nhẹ nhàng súc miệng vài lần, rồi từ từ dùng Chân Khí dẫn xuống Trùng Lâu (cổ họng), rồi tới Đản Trung (giữa hai vú), Cửu Vĩ, Trung Quản, Thần Khuyết (rốn), đến huyệt Khí Hải thì thời ngừng.

Rồi từ Khí Hải chia làm hai đường, đi xuống hai vế đùi. Rồi từ đầu gối xuống huyệt Túc Tam Lý, xuống phía sau bắp chân, tới ngón chân cái. Rồi chuyển nhập vào huyệt Dũng Tuyền, theo gót chân trở lên đùi rồi tới huyệt Vĩ Lư, hợp làm một chỗ. Qua Thận Đường, Giáp Tích, phân tống ra hai vai, hai cánh tay, đến lưng bàn tay. Rồi từ ngón tay giữa chuyển vào lòng bàn tay, và cùng một lượt triển hồi qua cùi tay, rồi từ bên trong cánh tay dẫn lên đỉnh đầu. Rồi lần xuống Minh Đường, xuống cửa, lấy lưỡi mà đón, đến khiếu Huyền Ưng thì ngừng. Đó là đủ một vòng.

Dừng nơi đó một chút, rồi lại làm như cũ. Như vậy sẽ thông suốt kinh mạch, và các khiếu cũng sẽ thông. Tâm Ấn Kinh có nói: Thất khiếu tương thông, khiếu khiếu quang minh 七窍相通,窍窍光明 (Thất khiếu tương thông, khiếu khiếu sáng láng).

Trong thân người có một khiếu Linh minh (Tâm, đan điền), trong trời đất, hay ngoài trời đất trước sau vẫn là một, luôn luôn sáng soi. Sáng soi không được là vì có hình hài. Nếu tu luyện mà Hình Thần câu diệu, thì sẽ trở lại Dữ Đạo Hợp Chân.

Hành Khí phải dùng mắt. Tại sao? Vì Thi Kiên Ngô nói:

Khí thị thiêm niên dược, 气是添年药,
Tâm vi sử Khí Thần, 心为使气神;
Nhược tri hành khí chủ, 若知行气主,
Tiện thị đắc tiên nhân. 便是得仙人。

Khí là thuốc tăng thọ,
Tâm điều khiển Khí Thần,
Nếu ai biết Hành Khí,
Người đó chính Tiên Nhân.

Người xưa nói: Mục chi sở chí, tâm diệc chí yên, Tâm chi sở chí, khí diệc chí yên 目之所至,心亦至焉。心之所至,气亦至焉。(Mắt đến đâu thì Tâm đến đó. Tâm đến đâu thì Khí đến đó.)
煉形用液者何也?道家謂之藥滌玉液是津,玉池是口。黃庭內景雲:口為玉池太和官,漱咽靈液災不幹,體生光華炁香蘭,卻滅百邪玉銖顏。審能修之登廣塞。蓋 液中有氣,氣中有液,液氣相生,日充月盛,為金液之基,作潤身之寶。況能穿關透節,無處不到。古歌曰:華池神水頻吞咽,紫府元君直上奔,常使氣通關節透, 自然精滿穀神存。

夫玄膺一竅,乃是津液之海,生化之源,灌溉一身,皆本於此。故太上雲:舌下玄膺生死岸,子若遇之升天漢。法華經頌 雲:白玉齒邊流舍利,紅蓮香上放毫光,喉中甘露涓涓潤,心內醍醐滴滴涼。此乃小玉液煉形法也。

人之孔竅所以通乎其虛,達乎其氣,而 周流於一身之內焉,一或有所蔽塞則為瘀痰、為壅血,而一身脈絡不能相通使生疾病今以此法日行三、五次,但得氣血流通,百脈和暢,病即去矣。止而勿行。此與 退藏救護是為表裏二段並行而不相悖。

夫涵養本原雖是去情識,實除生滅心。心無生滅,身無生滅定矣。欲除生滅心,必自無念始,無念之 積習純熟足,可致無夢。無念之靜定熟足,可致無生。無夢乃現在之大事也,無念乃末後之大事也。無生則不造,無夢則不化,不造不化,即不生不滅也。

夫學道之士,不患不成,唯患不勤。苟能專精而勤,未有學而不得也。設使立志不堅,通道不篤,朝為而夕改,始勤而中輟,悅於須臾,厭于持久,欲望與天齊 壽,不亦難乎?

內觀經雲:知道易,通道難;通道易,行道難;行道易,得道難,得道易,守道難。若使不難,則滿市皆神仙矣。安足為異 耶?

蓋修道者,如農夫之去草一般,務拔其根,則吾心天真種子自然發生矣。況此一字法門,徹頭徹尾,甚易行,甚有驗。小而試之,可以 卻病延年,大而用之,可以超凡入聖,在學者用功深淺何如耳。

Luyện hình phải dùng tân dịch. Tại sao? Đạo gia gọi là: Đãng uế. Ngọc dịch là Tân, Ngọc trì là Khẩu. Huỳnh Đình nội cảnh viết:

Khẩu vi Ngọc Trì, Thái Hòa quan. 口为玉池太和官,
Thấu yết linh dịch, tai bất can, 漱咽灵液灾不干,
Thể sinh quang hoa, khí hương lan, 体生光华炁香蘭,
Kiếp diệt bách tà, ngọc dịch nhan, 却灭百邪玉液颜。
Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn. 审能修之登广塞。

Miệng là Ngọc Trì, Thái Hòa quan,
Biết nuốt Linh dịch, bệnh tai an,
Thân thể quang hoa, hơi thơm phức,
Trừ diệt bách tà, diệt dung nhan,
Biết tu phép này, lên Quảng Hàn.

Bởi vì trong Dịch (nước bọt) có Khí, trong Khí có Dịch. Dịch Khí sinh ra lẫn nhau, càng ngày càng thịnh.

Cơ sở Tân Dịch là thuốc báu cho thân thể. Huống chi Tân Dịch, có thể Xuyên Quan, Thấu Tiết, không nơi nào mà không đến. Xưa có bài ca:

Hoa trì thần thủy, tần thôn yết,
华池神水频吞咽,
Tử Phủ Nguyên Quân trực thượng bôn,
紫府元君直上奔,
Thường sử khí thông quan tiết thấu,
常使气通关节透,
Tự nhiên tinh mãn Cốc Thần tồn.
自然精满谷神存。

Nếu mà nước bọt thường hay nuốt,
Tử Phủ Nguyên Quân sẽ đi lên.
Sao cho cốt tiết được thông thấu,
Tự nhiên tinh mãn, Cốc Thần tồn.

Và Huyền Quan nhất khiếu là biển Tinh Dịch, là nguồn sinh hóa, tầm rưới khắp thân, đều gốc ở đó.

Cho nên đức Thái Thượng nói:

Thiệt hạ Huyền Ưng sinh tử ngạn, 舌下玄膺生死岸,
Tử nhược ngộ chi thăng thiên hán. 子若遇之升天汉。
Huyền Ưng dưới lưỡi, sinh tử ngạn,
Nếu hiểu biết ra, thăng thiên hán.

Pháp Hoa Kinh luận nói:

Bạch Ngọc xỉ biên lưu Xá Lợi (tân dịch)
白玉齿边流舍利,
Hồng Liên thiệt thượng phóng hào quang.
红莲舌上放毫光,
Hầu trung Cam Lộ quyên quyên nhuận,
喉中甘露涓涓润,
Tâm nội đề hồ (nước bọt) trích trích lương.
心内醍醐滴滴凉。

Bên răng Bạch Ngọc, lưu tân dịch,
Trên lưỡi, sen hồng phóng hào quang.
Trong hầu, Cam Lộ từng nhỏ giọt,
Tâm nội Đề Hồ trích trích lương.

Đó là Phép Tiểu Ngọc Dịch luyện hình.

Khổng khiếu trong người là cốt để thông Hư Không, làm cho Khí thông sướng, chu lưu trong thân thể. Nếu bị bế tắc, sẽ bị ứ đàm, bị úng huyết, làm cho kinh mạch trong người chẳng lưu thông, sinh ra bệnh tật. Nếu dùng phép này, ngày bốn năm lần, thì khí huyết sẽ lưu thông, bách mạch sẽ hòa sướng, và bệnh sẽ hết. Nó cùng với phép Thoái tàng cứu hộ là hai mặt trong ngoài, không tương phản lẫn nhau.

Hàm Dưỡng Bản Nguyên tuy là khử Tình Thức, nhưng thật ra là trừ Sinh Diệt Tâm. Tâm mà không sinh diệt, thì Thân cũng không sinh diệt, chắc là như vậy.

Muốn trừ Sinh Diệt Tâm, phải bắt đầu bằng Vô Niệm. Khi đã tập được Vô Niệm cho thuần thục, tức là sẽ không còn Mộng.

Khi đã Tĩnh Định, đã Vô Niệm, thì sẽ đạt tới Vô Sinh. Vô Mộng là đại sự bây giờ, Vô Niệm là đại sự về sau. Vô Sinh sẽ Vô Tạo, Vô Mộng sẽ Bất Hóa. Bất Tạo, Bất Hóa tức Bất Sinh, Bất Diệt.

Người học Đạo, không sợ không thành, mà sợ không chuyên cần. Nếu lập chí không kiên, tin đạo không vững, sáng làm, chiều đổi. Mới thì chuyên cần mà cuối thì chểnh mảng, mới đầu thì thích, nhưng lâu sau lại chán nản. Thế mà muốn thọ cùng trời đất, thì chẳng khó hay sao?

Sách Nội Quan viết: Biết Đạo thì dễ, tin Đạo thì khó. Tin Đạo thì dễ nhưng hành Đạo khó.

Hành Đạo dễ, đắc Đạo khó. Đắc Đạo dễ, trì thủ được Đạo khó. Nếu không khó, thì Thần Tiên đầy chợ, có gì lạ đâu?
Bởi vì tu Đạo, y như nông phu diệt cỏ. Phải diệt tận gốc thì Thiên Chân chủng tử trong ta tự nhiên phát sinh vậy. Huống chi một chữ Pháp Môn này, từ đầu đến cuối thật dễ làm, thật dễ nghiệm. Dùng nó sơ sơ, có thể tăng tuổi, trừ bệnh, dùng nó đến nơi, đến chốn, sẽ Siêu Phàm, Nhập Thánh. Tùy ở chỗ người tu sĩ dụng công nhiều ít mà thôi.
性命雙修萬神圭旨

第二節口訣

安 神祖竅翕聚先天
(安 神祖竅圖)
(內附法輪自轉、龍虎交媾二法)
祖竅真際,舉世罕知,不得師傳,儼似暗中射垛。

蓋祖竅者,乃老子所謂玄牝之門也。悟道篇雲:要得穀神長不死,須憑玄牝立根基。所以紫陽言:修煉金丹,全在玄牝。於四百字序雲:玄牝一竅,而採取在此, 交媾在此,烹煉在此,沐浴在此,溫養在此,結胎在此,至於脫胎神化,無不在此。修煉之士,誠能知此一竅,則金丹之道盡矣,所謂得一而萬事畢者是也。

然而丹經大都喻言,使學者無所歸著。前輩指為先天主人、萬象主宰、太極之蒂、混沌之根、至善之地、凝結之所、虛無之穀、造化之源、不二法門、甚深法界、 歸根竅、複命關、中黃宮、希夷府、總持門、極樂國、虛空藏、西南鄉、戊己門、真一處、黃婆舍、守一壇、淨土、西方、黃中、正位、這個、神室、真土、黃庭, 種種異名,難以悉舉。

然此竅在身中求之,非口、非鼻、非心、非腎、非肝,非肺、非脾胃、非臍輪、非尾閭、非膀胱、非穀道、非兩腎中 間一穴、非臍下一寸三分、非明堂泥丸、非關元氣海,然則果何處耶?

AN THẦN TỔ KHIẾU ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Nho nhi Thánh, Đạo nhi Huyền, Thích nhi Thiền, nhi Diệu Dụng tổng trì đô quy Nhất quán.
儒而圣道而玄, 释而禅而妙用总持都归一贯

Nho mà Thánh, Đạo mà Huyền, Thích mà Thiền, cái diệu dụng ấy chung qui đều là Nhất Trí.

Thượng nhi Thiên, Trung nhi Nhân, Hạ nhi Địa, nhi hóa cơ tham lưỡng, khởi ngoại Trung Hư.
上而天中而人下而地而化机参两岂外中虚

Trên mà Trời, Giữa mà Người, Dưới mà Đất, cái hóa cơ đại trí ấy, không ngoài hai chữ Trung Hư.

Như như bất động không trung trụ, 如如不动空中住
Vô sinh, vô diệt, vô lai khứ. 无生无灭无来去
Thánh sư tằng hướng ngã khả ninh, 圣师曾向我可宁
Thử thị Khổng, Nhan chân lạc xứ. 此是孔颜真乐处

Một điểm Như Như giữa Không Trung,
Không sinh, không diệt, không lai khứ.
Tiên thánh dạy ta, rất rõ ràng,
Ấy nơi an lạc của Khổng, Nhan.

Tính tế uyên nguyên học thất chân, 性蔽渊源学失真
Dị đoan đầu khích, hại di thâm. 异端投隙害弥深
Suy nguyên khí bẩm do Vô Cực, 摧原气禀由无极
Chỉ thử nhất đồ truyền Thánh Tâm. 只此一图传圣心

Tính bị dấu che, học thất truyền,
Dị đoan vào lọt, hại càng sâu.
Suy ra Khí bẩm từ Vô Cực,
Lấy họa bản này, truyền Thánh Tâm.

Nhất Linh diệu hữu Pháp Giới viên thông, 一灵妙有法界圆通
Ly chủng chủng biên, doãn chấp quyết Trung. 离种种边允执厥中
Tàng Tâm ư uyên, mỹ quyết Linh Căn, 藏心於渊美厥灵根
Trung lý ngũ khí, hỗn hợp bách thần. 中理五气混合百神

Biết được Nguyên Thần sẽ thông Phật pháp,
Chớ ở biên khu, hãy trở về Trung.
Tâm trở về Nguồn, Căn Cơ đẹp đẽ,
Trung điều Ngũ Khí, Hỗn hợp Bách Thần.

Giá cá Khiếu , Tuyệt Trung Biên, 这个窍绝中边
Vô nội ngoại, thượng hạ viên. 无内外上下园
Đông Tây hợp, Nam Bắc toàn, 东西合南北全
Hội thử ý, tiện thành Tiên. 会此意便成仙

Cái khiếu ấy, không Trung Biên,
Không trong ngoài, trên dưới tròn.
Hợp Đông Tây, kiêm Nam Bắc,
Hiểu ý đó, sẽ thành Tiên.
Các tên khác của Chân Tâm
Thiên địa Linh Căn 天地灵根
Nguyên Thủy Tổ Khí 元始祖气
Bất động Đạo tràng 不动道场
Chí Thiện chi địa 至善之地
Huyền Tẫn chi môn 玄牝之门
Hô Hấp chi căn 呼吸之根
Bất Nhị Pháp Môn 不二法门
Thậm thâm Pháp Giới 甚深法界
Chân Chủ Nhân 真主人
Tự Nhiên Thể 自然体
Xá Lợi Tử 舍利子
Cực Lạc Quốc 极乐国
Chân Nhất xứ 真一处
Mậu Kỷ môn 戊己门
Tổ Khí huyệt 祖气穴
Tây Nam hương 西南乡
Hỗn độn khiếu 混沌窍
Tổng Trì môn 总持门
Hắc Bạch tương phù 黑白相符
Tạo Hóa tuyền quật 造化泉窟
Tiên Thiên Địa sinh 先天地生
Vũ trụ chủ tể 宇宙主宰
Hoàng Trung thông lý 黄中通理
Ký Tế đỉnh khí 既济鼎器
Hư Vô chi cốc 虚无之谷
Ngưng kết chi sở 凝结之所
Bồng Lai đảo 蓬莱岛
Chúng diệu môn 众妙门
Quy Căn khiếu 归根窍
Phục Mệnh quan 复命关
Thủ Nhất đàn 守一坛
Hi Di phủ 希夷府
Như Ý châu 如意珠
Huyền Thai đỉnh 悬胎鼎
Hư Không tạng 虚空藏
Tịch Diệt hải 寂灭海
Pháp Vương thành 法王城
Huyền Quan 玄关
Không Trung 空中
Chân Thổ 真土
Bá Bính 把柄
Huỳnh Đình 黄庭
Tây Phương 西方
Giá Cá 这个
Hoàng Bà 黄婆
Trung Hoàng 中黄
Tịnh Thổ 净土
Hoa quang tạng 华光藏
Khảm Ly giao cấu chi hương 坎离交媾之乡
Thiên biến vạn hóa chi tổ 千变万化之祖
Sinh tử bất tương quan chi địa 生子不相关之地
Quỷ Thần khuy bất phá chi cơ 鬼神窥不破之机
Quy Trung 规中
Hoàng Trung 黄中
Vô Cực 无极
Đơn quynh (cục) 丹局
Chính vị 正位

Chú: Đồ bản này có các danh xưng khác nhau để gọi Huyệt Đan Điền, hay Nê Hoàn Cung. Rất quan trọng, ta nên đọc cho kỹ.
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Khẩu quyết Tiết thứ hai:
AN THẦN TỔ KHIẾU HẤP TỤ TIÊN THIÊN
Nội phụ Pháp Luân tự chuyển, Long Hổ giao cấu nhị pháp

(内附法轮自转、龙虎交媾二法)

Tổ Khiếu xưa nay ít ai biết được. Không được Thầy truyền, thì như bắn bia ban đêm.

Tổ Khiếu, đức Lão Tử gọi là Huyền Tẫn chi môn.
Ngộ Chân Thiên nói:

Yêu đắc Cốc Thần trường bất tử, 要得谷神长不死,
Tu bằng Huyền Tẫn lập căn cơ 须凭玄牝立根基。
Nếu muốn Cốc Thần trường bất tử,
Phải lập căn cơ trên Huyền Tẫn.

Chính vì vậy mà Tử Dương Chân Nhân nói: Tu luyện Kim Đơn toàn tại Huyền Tẫn.

Trong bài tựa sách Tứ Bách Tự có viết: Huyền Tẫn Nhất Khiếu, thái thủ tại đó, giao cấu tại đó, phanh luyện tại đó, mộc dục tại đó, ôn dưỡng tại đó, kết thai tại đó, ngay cả đến chuyện Thoát Thai, Thần Hóa , cũng không ngoài khiếu đó.

Người tu sĩ muốn tu luyện, phải biết khiếu này. Đạo Kim Đơn chỉ có vậy thôi. Cho nên mới nói: Đắc Nhất, vạn sự tất 得一万事毕.

Nhưng Đan Kinh thường nói bằng ví dụ, làm cho học giả không biết đường vào. Tiền bối chỉ là: Tiên Thiên chủ nhân, Vạn tượng chủ tể, Thái Cực chi đế, Hỗn Độn chi căn, Chí Thiện chi địa, Ngưng kết chi sở, Hư Vô chi cốc, Tạo Hóa chi nguyên, Bất Nhị Pháp Môn, Thậm thâm Pháp Giới, Quy Căn khiếu, Phục Mệnh quan, Trung Hoàng cung, Hi Di phủ, Tổng Trì môn, Cực Lạc Quốc, Hư Không tạng, Tây Nam hương, Mậu Kỷ môn, Chân Nhất xứ, Huỳnh Bà xá, Thủ Nhất đàn, Tịnh Thổ, Tây Phương, Hoàng Trung, Chính Vị, Giá Cá, Thần Thất, Chân Thổ, Huỳnh Đình, trăm nghìn tên khác nhau, khó mà ghi ra hết được.

Cái Khiếu này, phải cầu nơi thân. Không phải mồm, không phải mũi, không phải Tâm, không phải thận, không phải gan, không phải phổi, không phải tì vị, không phải rốn, không phải Vĩ Lư, không phải bàng quang, không phải Cốc Đạo, không phải huyệt giữa hai thận, không phải huyệt dưới rốn một tấc ba phân, không phải Minh Đường, Nê Hoàn, không phải Quan Nguyên, Khí Hải.
Như vậy nó thực sự nằm ở đâu?
純陽祖師雲:玄牝玄牝真玄牝,不在心兮不在腎,窮取生身受氣初, 莫怪天機都泄盡。且以生身之理言之,父母一念將媾之際,而圓陀陀、光燦燦,先天一點靈光撞於母胞,如此○而已。懦謂之仁,亦曰無極。釋謂之珠,亦曰圓明。 道謂之丹,亦曰靈光。皆指此先天一氣、混元至精而言,實生身之原、受氣之初、性命之基、萬化之祖也。及父母交罷,精血包羅於外,如此◎而已,即吾儒所謂太 極是也。由是而五臟,由是而六腑,由是而四肢,由是而百骸,由是而能視、能聽、能持、能行,由是而能仁、能義、能禮、能智,由是而能聖、能神、能文、能 武,究竟生身本原,皆從太極中那一些兒發出來耳。

參同契雲:人所稟軀體,本一無。元精雲布,因炁托。初炁一疑定,玄牝立焉。上結靈 關,下結氣海。靈關藏覺靈性,氣海藏生氣命。性命雖分龍虎二弦,而性命之根則總持于祖竅之內。

故老子曰:玄牝之門,是謂天地根。何 以謂之玄牝之門而曰天地根也?豈非吾身之天地、吾身是玄牝耶?吾身天地之根、吾身玄牝之根耶?吾身玄牝之門、吾身天地之門耶?而天地之門之所從出者,獨不 有所謂先天地生而為天地之根乎?故天氣之根,乃天地之所由以分天而分地也,而玄牝之門之所從出者,獨不有所謂先玄牝生而為玄牝之根乎?故玄牝之根,乃玄牝 之所由以分玄而分牝也。

何以謂之玄也?豈非從有各之母中發出來也?何以謂之玄之又玄 7 豈非從無名之始中發山來也?

無名之始,釋氏指為不二法門;子思曰其為物不二,則其生物不測;莊子曰昭昭生於冥冥,有倫生於無形。而欲悟性以見性者,其將來之昭昭而有倫乎?抑亦求之 冥冥而無形乎?

孔子曰:後天而奉天時。

老子曰:有名,萬物之母。

即道家所謂,露出端倪,一點靈光是也。

然而河圖中矣,中而未始不一。洛書一矣,一而未始不中。中包乎一,一主乎中,豈非精微之妙 理、無為之神機耶?

道德經曰:多言數窮,不如守中。

洞玄經曰:丹書萬卷,不如守一。一者,生生不息之仁也。

中庸曰:修道以仁。

論語曰:天下歸仁。

禮記曰:中心安仁。

周 易曰:安土敦仁。

予常譬之果實之仁,中有一點者,太極也。而抱之兩者,一陰一陽也。

易曰:易有太極,是生兩 儀。故易也者,兩而化也。太極也者,一而神也。以此一點之神而含養于祖竅之中,不得勤,不得怠,謂之安神。祖竅非所以複吾身之乾元乎?以此一點之仁,而敦 養於坤土之中,而勿忘,而勿助,謂之安土。敦仁非所以立吾身之太極乎?

又若蓮子之屬中,有一條而抱之兩片者,非所謂一以貫之邪?一 而二、二而三、三生萬物。故張紫陽雲:道是虛無生一炁,便從一炁產陰陽,陰陽再合成三體,三體重生萬物昌。

昔文始先生問于老子曰: 修身至妙至要,載于何章?老子曰:在於深根固蒂,守中抱一而已。

何謂守中?曰:勤守中,莫放逸,外不入,內不出,還本源,萬事畢。 故老子所謂守中者,守此本體之中也。儒之執中者,執此本體之中。釋之空中者,本體之中,本洞然而空也。

老子所謂抱一者,抱此本體之 一也。釋之歸一者,歸此本體之一也。儒之一貫者,以此本體之一而貫之也。

Thuần Dương Tổ Sư Lữ Đồng Tân nói:

Huyền Tẫn, Huyền Tẫn, chân Huyền Tẫn 玄牝玄牝真玄牝,
Bất tại Tâm hề, bất tại Thận. 不在心兮不在肾,
Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ, 穷取生身受气初,
Mạc quái Thiên cơ đô tiết tận. 莫怪天机都泄尽。

Huyền Tẫn, Huyền Tẫn, chân Huyền Tẫn,
Không phải ở Tâm, không ở Thận.
Ở tại chỗ người vừa thụ khí,
Không sợ Thiên Cơ đã tiết lộ.

Vả lấy cái lý sinh thân mà nói, khi cha mẹ vừa có một niệm giao cấu, có một vật tròn tròn, sáng rỡ rỡ, là Tiên Thiên một điểm Linh Quang, gieo vào bào thai của mẹ.
Nó như một vòng tròn. Nho gia gọi là Nhân, là Vô Cực; Phật gia gọi là Châu, là Viên Minh; Đạo gia gọi là Đan, là Quang Minh. Tất cả đều chỉ cái Tiên Thiên Nhất Khí đó, cái Hỗn Nguyên Chi Tinh đó. Nó thật là Căn Nguyên sinh ra thân người, là chỗ Bắt Đầu Thụ Khí của con người, là Căn Bản Tính Mệnh, là Ông Tổ sinh ra mọi biến hóa.
Khi cha mẹ giao cấu xong, tinh huyết bao bọc nó bên ngoài, nó vẫn là cái vòng tròn ấy. Nho gia gọi đó là Thái Cực. Do đó mà ngũ tạng, lục phủ sinh, do đó mà có Tứ Chi Bá Hài, do đó mà có thể Thấy, Nghe, Cầm, Đi. Do đó mà có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Do đó mà có thể thành Thánh, Thần, Văn, Võ. Tất cả đều do từ Một Điểm trong Thái Cực phát xuất ra.

Chu Dịch Tham Đồng Khế nói: Con người được phú bẩm là đồ Bản Thể Nhất Vô, Nguyên Tinh phân bá, bắt đầu thu khí, khí đã ngưng định, thì Huyền Tẫn lập thành. Trên kết Linh Quan, dưới kết Khí Hải. Linh Quan tàng giác Linh Tính; Khí Hải tàng sinh Khí Mệnh. Tính Mệnh tuy phân Long Hổ nhị huyền, nhưng căn cốt vẫn do Tổ Khiếu tổng trì. Cho nên Lão Tử nói: Huyền Tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa Căn. Sao lại gọi Huyền Tẫn chi môn là Thiên Địa Căn? Đó há chẳng phải nói về Trời Đất trong ta hay sao? Há chẳng phải nói về Huyền Tẫn trong ta hay sao? Con người ta là gốc đất trời, là gốc sinh Huyền Tẫn hay sao? Nơi mà cửa Trời Đất sinh ra, chẳng phải là Cái sinh trước đất trời, và là Gốc của đất trời hay sao? Cho nên nói Thiên Địa chi căn, đó chính là chỗ sinh ra Đất, ra Trời, và cửa Huyền Tẫn cũng do đó mà sinh ra. Há chẳng phải cái gì sinh ra trước Huyền Tẫn là cái sinh ra gốc Huyền Tẫn hay sao? Cho nên gốc sinh ra Huyền Tẫn chính là nơi sinh ra Huyền Tẫn và chia nó thành Huyền thành Tẫn .

Tại sao lại gọi là Huyền? Đó là Cái sinh ra từ cái Hữu Danh trong lòng mẹ. Thế nào là Huyền chi hựu Huyền? Đó là cái sinh ra từ Vô Danh vậy.
Cái Vô Danh ấy, Thích gọi là Bất Nhị pháp môn, Tử Tư gọi là: Kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc 其为物不二,则其生物不测

Đạo Trời Đất một câu tóm hết,
Làm muôn loài không biết hai khuôn.
Nhưng mà sinh hóa khôn lường.

Trang Tử nói: Chiêu chiêu sinh vu minh minh, Hữu luân sinh vu Vô Hình 昭昭生于冥冥, 有伦生于无形。(Cái sáng sinh ra từ Cái tối, Cái Hữu hình sinh ra từ Cái Vô hình)
Nay muốn kiến tính, muốn giác ngộ, thì phải cầu Cái Chiêu Chiêu và Hữu Luân, hay cầu Cái Minh Minh và Vô Hình? Minh Minh Vô Hình, không nhìn thấy đầu đuôi, không biết hình dung, Nho gia gọi là Vô Thanh, Vô Xứ; Thích gia gọi là Uy Âm Vương. Tại sao lại gọi là Vương? Vì Uy Âm chính ra cũng là Thái Cực, cho nên gọi là Vương .
Do đó ta biết rằng, muốn học Tiên, học Phật, thì phải tìm xem Vua mình ở đâu, mà tôn sùng, đó là Tôn Vương vậy. Tôn Vương như vậy là đi ngược dòng mà tìm ra Thái Cực, và Vô Cực vậy.

Vô Cực là CHÂN TRUNG vậy.

Cho nên Thánh Thánh tương truyền cho nhau cái Trung này. Nghiêu Thuấn gọi thế là: Doãn chấp quyết Trung 允执厥中. Khổng Tử: Thời trung chi trung 时中之中. Tử Tư gọi thế là: Vị phát chi trung 未发之中. Dịch kinh gọi thế là: Hoàng trung thông lý 黄中通理. Độ Nhân Kinh gọi là: Trung lý ngũ khí 中理五炁. Thích gia gọi là: Không trung 空中. Lão Tử gọi là: Thủ trung 守中.

Chữ Trung có hai nghĩa: Nếu nói Trung là một vị trí cố định, thì là Trung này. Nếu nói Trung là một vị trí vô định, thì đó là CHÂN TRUNG của Càn Khôn, nơi Càn Khôn hợp nhất. Nói rằng có thể Cầm Giữ (Doãn Chấp) được, là nói về Cái Tâm có vị trí cố định.

Nhưng cái Trung này đâu phải chỉ trong thân ta mới có. Nó cũng ở ngoài thân ta, ở cùng khắp trời đất. Đâu đâu cũng là trung tâm con người ta.
Cái Trung Tâm này vừa ở trong trời đất, vừa ở ngoài trời đất. Nó tràn đầy khắp vũ trụ, Hư Không, đâu dâu cũng là Trung Tâm con người.

Dịch Kinh viết: Chu lưu lục Hư 周流六虚。(Ruổi rong khắp sáu phương trời). Nhưng chu lưu ngoài Lục Hư cũng chưa vừa, còn phải ẩn tàng nơi khiếu (Tâm) trong người mà vẫn đủ. Cho nên Khiếu đó tàng nạp Hư Vô không trung.
Đạo Kinh nói: Chỗ Trời cao nhất cách chỗ Đất thấp nhất la 8.400 dặm. Cho nên Thiên Địa chính trung là 4.200 dặm.

Nếu con người là Tiểu Thiên Địa thì từ từ Đầu đến Rốn đúng là 8 tấc 4 phân, thì Trung tâm con người phải ở chỗ 4 tấc 2 phân.

Khiếu này ở dưới Kiền, trên Khôn, ở phía Tây quẻ Chấn, phía Đông quẻ Đoài, bát mạch , cửu khiếu kinh mạch liên lạc với nhau. Nơi đây chính là Đan Điền (Hư nhàn nhất huyệt, Không Huyền thử châu). Đó chính là Tâm Điểm Trời Đất, là Nguyên Thủy Tổ Khiếu (Tiên Thiên khí) vậy.

Nếu biết Khiếu này mà không biết cái diệu dụng của nó, thì cũng như biết Trung mà chưa biết Nhất. Người xưa nói: Tâm là Đất mà Tính là Vương. Khiếu là Trung mà Diệu là Nhất

Nhất có nhiều loại: Có Nhất của Đạo, có Nhất của Thần, có Nhất của Khí, có Nhất của Nước, có Nhất của Số, có Nhất của Nhất Quán, có Nhất của Hiệp Nhất, có Nhất của Tinh Nhất, có Nhất của Duy Nhất, có Nhất của Thủ Nhất, có Nhất của Qui Nhất.

Qui Nhất là từ Nhất về Trung; Thủ Nhất là từ Nhất mà nắm giữ cái Trung. Có Trung là có Nhất.
Nhất mà không phải là Trung thì không phải là cái Nhất của Thánh Hiền. Có Nhất thời có Trung. Trung mà không phải Nhất thì không phải là Trung của Thánh Hiền.

Cho nên cái Nhất của Khổng Tử là từ cái Trung mà tìm ra lẽ Nhất Quán vậy, còn cái Trung của Nghiêu Thuấn là từ cái Nhất mà tìm ra lẽ Chấp Trung vậy

Phục Hi vẽ Hà Đồ để trống giữa, đó là Tiên Thiên vậy. Đó là Tổ Khiếu trong thân ta vậy.

Khổng Tử nói: Tiên Thiên nhi Thiên phất vi 先天而天弗违。Lão Tử nói: Vô danh, vạn vật chi thủy 无名万物之始。(Vô danh, đó là cái bắt đầu của vạn vật.). Thích Ca nói: Mang hồ vô trẫm, nhất phiến Thái Hư 茫乎无联一片太虚 (Mang mang không dấu vết đó là Thái Hư.)

Lạc Thư của Đại Võ thì trong đặc. Đó là Hậu Thiên. Đó cũng là một Tổ Khiếu vậy.
Khổng Tử nói: Hậu Thiên, nhi phụng Thiên Thời 后天而奉天 时。Lão Tử nói: Hữu danh, vạn vật chi mẫu 有名万物之母。(Hữu danh là mẹ của vạn vật)

Đạo gia nói thế là: Lộ xuất đoan nghê, nhất điểm Linh Quang 露出 端倪一点灵光 (Lộ ra đầu mối, đó là nhất điểm Linh Quang vậy) .

Nhưng Trung trong Hà Đồ trước tiên vẫn là Nhất. Nhất trong Lạc Thư trước tiên vẫn là Trung. Trung ôm lấy Nhất, Nhất làm chủ cái Trung. Há chẳng phải là cái Tinh Vi của Diệu Lí, cái Thần Cơ của Vô Vi hay sao?

Đạo Đức Kinh viết: Đa ngôn số cùng, Bất như thủ Trung 多言数穷,不如守中。

Đồng Huyền Kinh viết: Đan thư vạn quyển, bất như thủ Nhất. Nhất giả sinh sinh bất tức chi Nhân dã 丹书万卷,不如守一。一者,生 生不息之仁也。(Kinh thư vạn quyển, bất như thủ Nhất. Nhất là đức Nhân của Trời sinh hóa không lường.)
Trung Dung nói: Tu Đạo dĩ Nhân 修道以仁. Luận Ngữ viết: Thiên Hạ qui Nhân 天下归仁. Lễ Ký viết: Trung Tâm an nhân 中心安仁. Chu Dịch viết: An thổ đôn Nhân 安土敦仁.

Ta thường ví Nhân là hột trái cây. Trong có một điểm là Thái Cực. Có Hai cái ôm bên ngoài là Lưỡng Nghi.
Dịch viết: Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi 易有太极,是 生两仪. Cho nên Dịch là hai, mà luôn biến hóa. Thái Cực là Một, là Thần. Lấy một điểm Thần này đem hàm dưỡng trong Tổ Khiếu, không siêng không lười, thế chẳng phải là An Thần Tổ Khiếu, hồi phục lại vị trí của quẻ Kiền thì là gì.

Đem một điểm Nhân ấy, đôn dưỡng trong giữa quẻ Khôn, không quên, không giúp, thì gọi là An Thổ Đôn Nhân, thế chẳng phải là trở về với Thái Cực trong ta hay sao?

Lại ví như hột sen, trong đó có một mầm nhỏ, lại có hai mảng bao, thế chẳng phải là Nhất dĩ quán chi hay sao?
Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật.

Cho nên Trương Tử Dương nói:

Đạo thị Hư Vô sinh nhất khí, 道是虚无生一炁,
Tiện tòng Nhất Khí sản Âm Dương. 便从一炁产阴阳,
Âm Dương giả hợp thành tam thể, 阴阳者合成三体,
Tam Thể trùng sinh vạn vật xương. 三体重生万物昌。

Đạo tự Hư Vô sinh một khí,
Một Khí sinh ra được Âm Dương.
Âm Dương hợp lại thành Tam Thể,
Tam Thể trùng sinh vạn vật xương.

Xưa Văn Thủy tiên sinh hỏi Lão Tử: “Bí quyết Tu Thân nằm tại chương nào?”
Lão Tử nói: “Tại giữ cho gốc rễ bền chặt, tại thủ Trung bão Nhất mà thôi.”
Thế nào là Thủ Trung? Đó là: Cần thủ Trung, mạc phóng dật, ngoại bất nhập, nội bất xuất. Hoàn Bản Nguyên, Vạn sự tất 勤守中,莫放逸, 外不入,内不出,还本源,万事毕 (Giữ cái Trung không trễ nải, ngoài không vào, trong không ra, trở về Bản Nguyên, thế là xong.)

Lão Tử gọi là Thủ Trung, là giữ cái Trung của Bản Thể. Khổng Tử gọi là Chấp Trung, là giữ lấy cái Trung của Bản Thể. Nhà Phật gọi là Không Trung, là giữ cho cái Bản Thể ấy được trống rỗng vậy.
Lão Tử gọi là Bão Nhất, là giữ lấy cái Nhất của Bản Thể. Khổng Tử gọi là Nhất Quán, là quán xuyến lấy cái Nhất của Bản Thể. Nhà Phật gọi là Qui Nhất, là trở về với cái Nhất của Bản Thể vậy.

Duy Tinh duy Nhất 唯精唯一 chính là Tinh Nghĩa nhập thần 精义入神. Doãn chấp quyết Trung 允执厥中 là Vương trung tâm Vô Vi 王中心无为. Đó là Mầm trong Tâm, đó là Thiên Quân (Thái Cực) trong ta vậy.
唯精唯一者,易之所謂精義入神者是也。久執厥中者,記之所 謂王、中心、無為、以守至正者是也。曰王、中心者,蓋以一點之仁主此中心之中而命之曰王,所謂天君者是也。夫何為哉?以守至正而已矣。命由此立,性由此 存,此兩者同出異名,原是竅中舊物。如今複返竅中,則蒙莊所謂南海之倏,北海之忽,相遇於混沌之地矣。

修丹之士,不明祖竅,則真息 不住而神化無基,藥物不全而大丹不結。蓋此竅是總持之門、萬法之都,亦無邊傍,更無內外,不可以有心守,不可以無心求。求以有心,守之,則著相。以無心求 之,則落空。若何可也?受師訣曰:空洞無涯是玄竅,知而不守是工夫。常將真我安止其中,如如不動、寂寂惺惺、內外兩忘、渾然無事,則神戀氣而凝,命戀性而 住,不歸一而一自歸,不守中而中自守。中心之心既實,五行之心自虛,此老子抱一守中、虛心實腹之本旨也。
張紫陽雲: 虛心實腹義俱深,只為虛心要識心。

劉海蟾雲: 中央神室本虛閑,自有先天真氣到。

呂純陽雲: 守中絕學方知奧,抱一無言始見佳。

徐佐卿雲: 倏忽遨遊歸混沌,龍虎蟠距入中黃。

正陽翁雲: 要識金丹端的處,未生身處下功夫。

如如居士雲:  坤之上,乾之下,中間一寶難酬價。

李清庵中和集雲: 兩含儀肇判分三極,乾以直專坤辟翕。天地中間玄牝門,其動愈出靜愈入。
Thế nghĩa là gì? Ta chỉ cần giữ cho ta được Chí Chính thì Mệnh sẽ lập, thì Tính sẽ nguyên vẹn. Tính Mệnh tuy là hai tên, nhưng cùng một gốc. Trang Tử gọi là Thúc và Hốt. Thúc ở Bể Nam, Hốt ở Bể Bắc. Hai bên gặp nhau ở đất Hỗn Độn.

Tu sĩ luyện đơn nếu chẳng biết Tổ Khiếu này, thì Chân Tức không có chỗ trú, Thần hóa sẽ không có cơ sở, dược vật không đủ và đơn không kết thành.

Khiếu này là Tổng Trì Môn, là kinh đô Vạn Pháp. Nó không có biên cương, không trong ngoài. Không dùng Hữu Tâm mà giữ được, không dùng Vô Tâm mà cầu được.

Lấy Hữu Tâm mà cầu, sẽ sa vào hình tướng. Lấy Vô Tâm mà cầu, sẽ lạc không. Như vậy phải làm sao? Thầy có khẩu quyết là:

Không Động vô nhai thị Huyền Khiếu, 空洞无涯是玄窍,
Tri nhi bất thủ thị công phu. 知而不守是工夫。

Khiếu này trống rỗng không bờ bến,
Biết mà không giữ ấy công phu.

Nếu đem Chân Ngã an chỉ vào giữa, như như bất động, tịch tịch tĩnh tĩnh, trong ngoài đều quên, hồn nhiên vô sự, thời Thần sẽ luyến Khí mà ngưng, Mệnh sẽ luyến Tính mà trú. Không Qui Nhất mà Nhất sẽ tự Qui, không Thủ Trung mà Trung tự Thủ. Trung tâm mà thực, trung tâm ngũ hành sẽ hư. Đó chính là Thủ Trung Bão Nhất của Lão Tử nói, đó chính là Bản Chỉ cuả Hư Tâm, Thực Phúc vậy.

Trương Tử Dương nói:

Hư tâm, thực phúc nghĩa câu thâm, 虚心实腹义俱深,
Chỉ vị Hư Tâm yếu thức Tâm. 只为虚心要识心。

Hư Tâm Thực Phúc nghĩa đều thâm,
Muốn nhận ra Tâm phải Hư Tâm.

Bạch Ngọc Thiềm nói:

Trung Ương Thần Thất bản hư nhàn, 中央神室本虚闲,
Tự hữu Tiên Thiên Chân Khí đáo. 自有先天真气到。

Trung Ương Thần Thất vốn hư vô,
Tiên Thiên Chân Khí tự nhiên đến.

Lữ Thuần Dương nói:

Thủ Trung, Tuyệt Học phương tri áo, 守中绝学方知奥,
Bão Nhất, Vô Ngôn thủy kiến giai. 抱一无言始见佳。
Thủ Trung, Tuyệt Học mới thấy kỳ,
Bão Nhất, Vô Ngôn mới thấy hay.

Trần Tử Khanh nói:

Thúc Hốt ngao du qui Hỗn Độn , 倏忽遨游归混沌,
Hổ Long bàn cứ nhập Trung Hoàng . 虎龙蟠距入中黄。
Thúc Nam, Hốt Bắc qui Hỗn Độn ,
Hổ Tây, Long Đông nhập Trung Hoàng.

Chính Dương Ông nói:

Yêu thức Kim Đan đoan đích xứ, 要识金丹端的处,
Vị sinh thân xứ hạ công phu. 未生身处下功夫。
Kim Đan phải biết nơi sinh xứ,
Trước lúc ta sinh hạ công phu.

Như Như Cư Sĩ nói:

Khôn chi thượng, Kiền chi hạ, 坤之上,乾之下,
Trung gian nhất bảo, nan thù giá. 中间一宝难酬价。

Khôn trên, Kiền dưới: huyệt Trung Cung,
Đấy có bảo châu quí vô giá.

Lý Thanh Am (Trung Hòa tập) nói:

Lưỡng Nghi triệu phán phân tam cực, 两仪肇判分三极,
Kiền dĩ trực chuyên, Khôn tịch hấp. 乾以直专坤辟翕。
Thiên Địa trung gian, Huyền Tẫn môn. 天地中间玄牝门,
Kỳ động dũ xuất, tĩnh dũ nhập. 其动愈出静愈入。

Lưỡng Nghi phân cực hóa ra Ba,
Kiền để sinh sôi, Khôn mở đóng.
Trung Ương chính thị Huyền Tẫn môn,
Càng động càng ra, tĩnh càng vào.

王玉陽雲光集雲: 穀神從此立天根,上聖強名玄牝門。點破世人生死穴,真仙於此定乾坤。

譚處端水雲集雲: 陰居於上陽居下,陽氣先升陰氣隨。配合虎龍交媾處,此時如過小橋時。

河上公過明集雲: 杳杳冥冥開眾妙,恍恍惚惚葆真竅。斂之潛藏一粒中,放之彌散六合表。

張紫陽悟真篇雲: 震龍汞自出離鄉,兌虎金生在坎方。二物總因兒產母,五行生要入中央。

張景和枕中記雲: 混元一竅是先天,內面虛無理自然。若向未生前見得,明知必是大羅仙。

葛仙翁玄玄歌雲: 乾坤合處乃真中,中在虛無甚空闊。簇將龍虎竅中藏,造化樞機歸掌握。

羅公遠弄九集雲: 一竅虛無天地中,纏綿秘密不通風。恍惚杳冥無色象,真人現在寶珠中。

天來子白虎歌雲: 玄牝之門鎮日開,中間一竅混靈台。無關無鎖無人守,日月東西自往來。

張鴻蒙還元篇雲: 天地之根始玄牝,呼日吸月持把柄。隱顯俱空空不空,尋之不見呼之應。

高象先金丹歌雲: 其一之道何所雲,莫若先敲戊己門。戊己門中有真水,真水便是黃芽根。

丁野鶴逍遙遊雲: 三教一元這個圓,生在無為象帝先。悟得此中真妙理,始知大道祖根源。

蕭祖虛大丹訣雲: 學人若要覓黃芽,兩處根源共一家。七返九還須識主,工夫毫髮不容差。

李靈陽祖竅歌雲: 個個無生無盡藏,人人本體本虛空。莫道瞿曇名極樂,孔顏樂亦在其中。

陳致虛轉語偈雲: 一者名為不二門,得門入去便安身。當年曾子一聲唯,誤了閻浮多少人。

薛紫賢虛中詩雲: 天地之間猶橐籥,橐籥須知鼓者誰。動靜根宗由此得,君看放手有風無。

呂祖純陽文集雲: 陰陽二物隱中微,只為愚徒自不知。實實認為男女是,真真說做坎離非。

李道純無一歌雲: 道本虛無生太極,太極變而先有一。一分為二二生三,四象五行從此出。

壽涯禪師語錄雲: 陀羅門啟妙難窮,佛佛相傳只此中。不識西來真實義,空穿鐵履走西東。

馬丹陽醉中吟雲: 老子金丹釋氏珠,圓明無欠亦無餘。死戶生門宗此竅,此竅猶能納太虛。

曹文逸大道歌雲: 借問真人何處來,從前原只在靈台。昔年雲霧深遮蔽,今日相逢道眼開。

劉長生仙藥集雲: 一竅虛空玄牝門,調停節候要常溫。仙人鼎內無他藥,雜礦銷成百煉金。

李道純中和集雲: 乾坤闔辟無休息,離坎升降有合離。我為諸君明指出,念頭是外立丹基。

劉海蟾見道歌雲: 函谷關當天地中,往來日月自西東。試將寸管窺玄竅,虎踞龍蟠氣象雄。

Vương Ngọc Dương (Vân Quang tập) nói:

Cốc Thần tòng thử lập Thiên Căn, 谷神从此立天根
Thượng thánh cưỡng danh Huyền Tẫn Môn. 上圣强名玄牝门
Điểm phá thế nhân “Sinh Tử Huyệt”, 点破世人生死穴
Chân tiên vu thử định Kiền Khôn. 真仙于此定乾坤

Cốc Thần do đó lập Thiên Môn,
Thượng Thánh gượng kêu Huyền Tẫn Môn.
Chỉ cho nhân thế Sinh Tử Huyệt,
Chân tiên do đó định Kiền Khôn.

Đàm Xứ Đoan (Thủy Vân tập) nói:

Âm cư ư thượng, Dương cư hạ, 阴居于上阳居下,
Dương khí tiên thăng, Âm khí tùy. 阳气先升阴气随。
Phối hợp Long Hổ, giao cấu xứ, 配合虎龙交媾处,
Thử thì như quá tiểu kiều thì. 此时如过小桥时。

Âm ở bên trên, Dương ở dưới,
Dương khí sinh thăng, Âm khí tùy.
Biết chỗ Hổ Long giao hợp xứ,
Lúc này như lúc vượt cầu đi.

Hà Thượng Công (Quá Minh tập) nói:

Yểu yểu, minh minh khai chúng diệu, 杳杳冥冥开众妙,
Hoảng hoảng, hốt hốt bao Chân Khiếu. 恍恍惚惚葆真窍。
Liễm chi tiềm tàng nhất lạp trung. 敛之潜藏一粒中,
Phóng chi di man Lục Hợp biểu. 放之弥漫六合表。

Chúng diệu sinh ra từ một điểm,
Chân Khiếu trong ta nhớ kiếm ra.
Thu nhỏ lọt vừa trong hạt thóc,
Tung ra trùm khắp sáu phương trời.

Trương Tử Dương (Ngộ Chân Thiên) nói:

Chấn Long Mộc tự xuất Ly hương, 震龙木自出离乡,
Đoài Hổ Kim sinh tại Khảm phương. 兑虎金生在坎方。
Nhị vật tổng nhân nhi Sản Mẫu. 二物总因儿产母,
Ngũ hành toàn yếu nhập Trung Ương. 五行全要入中央。

Chấn Long sinh xuất tự Ly Hương,
Đoài Hổ thì sinh tại Khảm phương.
Hai vật đều do con sinh mẹ,
Ngũ Hành vốn phải nhập Trung Ương.

Trương Cảnh Hòa (Chẩm Trung Ký) nói:

Hỗn Độn nhất khiếu thị Tiên Thiên, 混沌一窍是先天,
Nội diện Hư Vô lý tự nhiên. 内面虚无理自然。
Nhược hướng vị sinh tiền kiến đắc. 若向未生前见得,
Minh tri tất thị Đại La Tiên. 明知必是大罗仙。

Hỗn Độn khiếu kia gọi Tiên Thiên,
Trong thấy Hư Vô hợp tự nhiên.
Từ trước khi sinh, tìm ra được,
Biết ra chắc phải Đại La Tiên.

Cát Tiên Ông (Huyền Huyền Ca) nói:

Kiền Khôn hợp xứ nãi Chân Trung, 乾坤合处乃真中,
Trung tại Hư Vô thậm không khoát. 中在虚无甚空阔。
Thốc tương Long Hổ Khiếu trung tàng. 簇将龙虎窍中藏,
Tạo Hóa khu cơ qui chưởng ốc. 造化枢机归掌握。

Kiền Khôn hợp xứ gọi Chân Trung,
Ở giữa Hư Vô, rộng mênh mông.
Rồng Cọp bắt về tàng trong đó,
Chốt then Tạo Hóa nắm như không.

La Công Viễn (Mộng Cửu tập) nói:

Nhất khiếu Hư Vô thiên địa trung, 一窍虚无天地中,
Triền miên bí mật bất thông phong. 缠绵秘密不通风。
Hoảng hốt yểu minh vô sắc tượng. 恍惚杳冥无色象,
Chân Nhân hiện tại bảo châu trung. 真人现在宝珠中。

Một Khiếu Hư Vô giữa đất trời,
Triền miên bí mật, gió không chui.
Khiếu đó sắc trần không có bợn,
Chân Nhân coi như ngọc châu thôi.

Thiên Lai Tử (Bạch Hồ ca) nói:

Huyền Tẫn chi môn trấn nhật khai, 玄牝之门镇日开,
Trung Gian nhất khiếu hỗn Linh Đài. 中间一窍混灵台。
Vô quan vô tỏa vô nhân thủ. 无关无锁无人守,
Nhật Nguyệt đông tây tự vãng lai. 日月东西自往来。

Huyền Tẫn chi môn một khiếu khai,
Khiếu này có thể gọi Linh Đài.
Khóa then hờ hững không ai giữ,
Nhật Nguyệt đông tây mặc tới lui.

Trương Hồng Mông (Hoàn Nguyên Thiên) nói:

Thiên Địa chi căn thủy Huyền Tẫn, 天地之根始玄牝,
Hô Nhật Hấp Nguyệt trì bá bính. 呼日吸月持把柄。
Ẩn hiện câu không, không bất không, 隐显俱空空不空,
Tầm chi bất kiến hô chi ứng. 寻之不见呼之应。

Thiên Địa căn cơ là Huyền Tẫn,
Hô hấp trời trăng, cầm cân mực.
Ẩn hiện vào ra chẳng có gì,
Tìm chẳng thấy tông, hô thời ứng.

Cao Tượng Tiên (Kim Đơn ca) nói:

Chân Nhất chi Đạo hà sở vân? 其一之道何所云,
Mạc nhược tiên sao Mậu Kỷ môn. 莫若先敲戊己门。
Mậu Kỷ môn trung hữu Chân Thủy. 戊己门中有真水,
Chân Thủy tiện thị Hoàng Nha côn. 真水便是黄芽根。
Đạo Trời, Chân Nhất đâu xa,

Cánh cửa Hoàng Trung cố mở ra.
Chân Thủy, Hoàng Nha đều ở đó,
Lòng Trời, lòng Đất, cũng lòng Ta.

Đinh Dã Hạc (Tiêu Diêu Du) nói:

Tam giáo nhất nguyên giá cá viên, 三教一元这个圆,
Sinh tại Vô Vi, tượng đế tiên. 生在无为象帝先。
Ngộ đắc thử Trung Chân Diệu Lý, 悟得此中真妙理,
Thủy tri Đại Đạo tổ căn nguyên. 始知大道祖根源。

Tam giáo Hư Vô vẽ một vòng,
Sinh tại Vô Vi, vạn tượng tông.
Có hiểu Trung Hoàng chân diệu lý,
Rồi ra nguồn đạo sẽ khai thông.

Tiêu Tổ Hư (Đại Đơn quyết) nói:

Học nhân nhược yếu mịch Hoàng Nha , 学人若要觅黄芽,
Lưỡng xứ căn nguyên, cộng nhất gia. 两处根源共一家。
Thất phản, cửu hoàn tu thức chủ, 七返九还须识主,
Công phu hào phát bất dung sai. 工夫毫发不容差。

Người đời nếu muốn kiếm Hoàng Nha,
Hai ngả Âm Dương hợp một nhà.
Thần Khí hiệp hòa, cần biết chủ,
Công phu hào phát chẳng sai ngoa.

Lý Linh Dương (Tổ Khiếu Ca) nói:

Cá cá vô sinh, vô tận tạng, 个个无生无尽藏,
Nhân nhân bản thể, bản hư không. 人人本体本虚空。
Mạc đạo Cù Đàm, danh Cực Lạc. 莫道瞿昙名极乐,
Khổng Nhan lạc diệc tại kỳ trung. 孔颜乐亦在其中。

Nguồn sinh vô tận tỏa đôi nơi,
Vô Cực, Hư Không, Bản Thể người.
Chớ nói Cù Đàm kêu Cực Lạc,
Khổng Nhan vui cũng ở trong thôi.

Trần Trí Hư (Chuyển Ngữ Kệ) viết:

Nhất giả danh vị Bất Nhị Môn, 一者名为不二门
Đắc môn nhập khứ tiện an thân. 得门入去便安身
Đương niên Tăng tử nhất thanh Duy. 当年曾子一声唯
Ngộ liễu Diêm Phù (thế gian) đa thiểu nhân. 误了阎浮多少人

Nhất còn được gọi Bất Nhị Môn,
Vào được cửa này, thân sẽ an.
Tăng Tử xưa kia kêu tiếng Dạ
Thế gian vài kẻ hiểu nguồn cơn.

Tiết Tử Hiền (Hư Trung thi) viết:

Thiên địa chi gian do thác thược 天地之间犹橐籥,
Thác thược tu tri cổ giả thùy 橐籥须知鼓者谁。
Động tĩnh căn tông do thử đắc 动静根宗由此得,
Quần khan phóng thủ đắc phong vô 君看放手得风无。

Thiên địa không trung như lò bễ
Thổi được bễ này sẽ là ai
Căn nguyên động tĩnh là do đó
Bạn muốn thử xen hãy giơ tay

Lữ Tổ (Thuần Dương vân tập) viết:

Âm dương nhị vật ẩn trung vi 阴阳二物隐中微,
Chỉ vị ngu nhân tự bất tri 只为愚人自不知。
Thật thật nhận vi nam nữ thị 实实认为男女是,
Chân chân thuyết tố khảm ly phi 真真说做坎离非。

Âm dương hai vật ẩn bên trong
Chỉ vì người ngu nên không biết
Nam nữ bên trong là có thật
Nói đúng mà nghe tự khảm ly

Lý Đạo Thuần (vô nhất ca) viết:

Đạo bản hư vô sinh Thái Cực 道本虚无生太极,
Thái Cực biến nhi tiên hữu nhất 太极变而先有一。
Nhất phân vi nhị, nhị sinh tam 一分为二二生三,
Tứ tượng ngũ hành tòng thử xuất 四象五行从此出。

Đạo vốn hư vô sinh thái cực
Thái cực biến rồi, trước sinh nhất
Nhất chia ra nhị, nhị sinh tam
Tứ tượng ngũ hành do đó xuất

Thọ Nhai thiền sư ngữ lục viết:

Đà La Môn khải diệu nan cùng 陀罗门启妙难穷,
Phật phật tương truyền chỉ thử trung 佛佛相传只此中。
Bất thức tây lai chân thật nghĩa 不识西来真实义,
Không xuyên thiết sỉ tẩu tây đông 空穿铁屣走西东。

Đà La rộng mở tạ vô cùng
Phật phật tương truyền một chữ trung
Ảo ngữ chân thuyên bằng chẳng hiểu
Như mang giày sắt ruổi tây đông

Mã Đơn Dương (Túy trung ngâm) viết:

Lão tử kim đan thích thị châu 老子金丹释氏珠,
Viên minh vô khiếm, diệc vô dư 圆明无欠亦无余。
Tử hộ, sinh môn tông thử khiếu 死户生门宗此窍,
Thử khiếu do năng nạp thái hư 此窍犹能纳太虚。

Lão gọi Kim Đơn, Thích gọi Châu,
Dáng tròn vành vạnh, chẳng thiếu thừa.
Tử Hộ, Sinh Môn cùng khiếu ấy,
Nó cũng đủ to, nạp Thái Hư.

Tào Văn Dật (Đại đạo ca) viết:

Tá vấn chân nhân hà xứ lai 借问真人何处来,
Tòng tiền nguyên chỉ tại linh đài 从前原只在灵台。
Tích niên vân vụ thâm già tế 昔年云雾深遮蔽,
Kim nhật tương phùng, đạo nhãn khai 今日相逢道眼开。

Chân nhân ướm hỏi tới từ đâu
Tâm khảm tiềm tàng sẵn đáy sâu
Thủa trước Linh Đài vân vụ phủ
Ngày nay gặp gỡ hết xa nhau

Lưu Trường Sinh (Tiên dược tập) viết:

Nhất khiếu hư không huyền tẫn môn 一窍虚空玄牝门,
Điều đình tiết hậu yếu thường ôn 调停节候要常温。
Tiên nhân đỉnh nội vô tha dược 仙人鼎内无他药,
Tạp khoáng tiêu thành, bách luyện côn 杂矿销成百炼金。

Nhất khiếu hư không Huyền Tẫn môn
Giữ sao chốn ấy được thường ôn
Tiên nhân trong đỉnh không thuốc khác
Tạp khoáng tiêu rồi, độc hoàng côn (kim)

Lý Đạo Thuần (Trung hoà tập) có bài

Càn khôn hạp tịch vô hưu tức 乾坤阖辟无休息,
Ly Khảm thăng trầm hữu hợp ly 离坎升沉有合离。
Ngã vị chư quân minh chỉ xuất 我为诸君明指出,
Niệm đầu phục xứ lập Đan Ki 念头复处立丹基。

Kiền khôn mở đóng chẳng suy vi
Ly Khảm xuống lên có hợp lý
Ta vì chư vị nên chỉ rõ
Nơi ấy là nơi lập Đan Ki

Lưu Hải Thiềm (Kiến đạo ca) viết:

Hàm cốc quan đương thiên địa trung 函谷关当天地中,
Vãng lai nhật nguyệt tự tây đông 往来日月自西东。
Thí tương thốn quản khuy huyền khiếu 试将寸管窥玄窍,
Hổ cứ, long bàn khí tượng hùng 虎踞龙蟠气象雄。

Hàm Cốc vương cao ngất trời mây
Nhật Nguyệt lại qua tự đông tây
Nếu có ống nhòm, nhòm tổ khiếu
Sẽ thấy Hổ Long núp nơi đây
無心昌老秘訣雲: 自曉穀神通此道,誰能理性欲修真。明明說向中黃路,霹靂聲中自得神。

玉蟾白真人雲: 性之根,命之蒂,同出異名分兩類。合歸一處結成丹,還為元始先天炁。

緣督趙真人雲: 虛無一竅正當中,無生無滅自無窮。昭昭靈靈相非相,杳杳冥冥空不空。

紫陽張真人金丹序雲:  此竅非凡竅,乾坤共合成。名為神氣 穴,內有坎離精。

瑩蟾李真人道德頌雲:  闔辟應乾坤,斯為玄牝門。自從無出入,三界獨稱尊。

司馬子微雲:   虛無一竅號玄關,正在人身天地間。八萬四千分上下,九三六五列迴圈。

大包法界渾無跡,細入塵埃不見顏。這個名 為祖炁穴,黍珠一粒正中懸。

以上口訣,皆發明祖竅之妙。老子曰:天地之間,其猶橐籥乎。

莊子曰:樞得其環 中,以應無窮坤。

曰:正位居體鼎。

曰:正位凝命根。

曰:君子思不出其位。

而孟子亦曰:立天下之正位,惟此正位也。以言乎其大,則足以包羅乎。天地而無外。故謂之廣居而大道從此出矣。

毛詩曰:秉心寒淵。

太玄經曰:藏心於淵,美厥靈根。

參同契曰:真人潛深淵,浮游守規中。曰塞、曰藏,潛而守之之義也。然而浮游 二字不可不知也。浮游者,優遊也。即孟子之所謂勿忘勿助也,釋氏所謂應如是住、如是降伏其心,亦此義也。
Vô Tâm Xương Lão bí quyết viết:

Tự hiểu Cốc Thần thông thử đạo 自晓谷神通此道,
Thùy năng lý tính dục tu chân 谁能理性欲修真。
Minh minh thuyết hướng trung hoàng lộ 明明说向中黄路,
Tích lịch thanh trung tự đắc thần 霹雳声中自得神。

Cốc Thần khuất nẻo mấy ai hay
Tinh lý tu chân lẽ khó bày
Ta cố chỉ bày Trung Hoàng lộ
Ầm ầm sấm chớp thấy thần ngay

Bạch Ngọc Thiềm chân nhân viết:

Tính chi căn, mệnh chi đế 性之根,命之蒂,
Đồng xứ, dị danh, phân lưỡng loại 同处异名分两类。
Hợp qui nhất xứ kết thành đơn 合归一处结成丹,
Hoàn vi nguyên thủy, tiên thiên khí 还为元始先天气。

Tính căn, mệnh đế vốn chung nơi
Khác tên nên mới biến thành hai
Nếu mà sum hợp thành một lại
Tiên thiên nhất khí đã thành rồi

Lục Đốc Triệu chân nhân viết:

Hư vô nhất khiếu chính đương trung 虚无一窍正当中,
Vô sinh, vô diệt tự vô cùng 无生无灭自无穷。
Chiêu chiêu, linh linh, tướng phi tướng 昭昭灵灵相非相,
Yểu yểu, minh minh, không bất không 杳杳冥冥空不空。

Hư vô nhất khiếu giữa không trung
Vô sinh, vô diệt, vốn vô cùng
Chiêu chiêu, linh linh, vốn không tướng
Yểu yểu, minh minh, không chẳng không

Tử Dương Trương chân nhân (Kim Đơn) viết:

Thử khiếu phi phàm khiếu 此窍非凡窍,
Kiền khôn cộng hợp thành 乾坤共合成。
Danh vi Thần khí huyệt, 名为神气穴,
Nội hữu khảm ly tinh 内有坎离精。

Khiếu này chẳng phải khiếu phàm
Kiền khôn cộng lại mới toan hợp thành
Thần khí huyệt, bảng đề danh
Bên trong chứa đựng tinh huỳnh khảm ly

Huỳnh Thiềm Lý chân nhân (Đạo đức tụng) nói:

Hạp tịch ứng kiền khôn, 阖辟应乾坤,
Tư vi huyền tẫn môn. 斯为玄牝门。
Tự tòng vô xuất nhập , 自从无出入,
Tam giới diệc xưng tôn. 三界亦称尊。

Mở đóng tựa kiền khôn
Tên gọi Huyền Tẫn môn
Trong ngoài không chi lọt
Tam giới đều sùng tôn

Tư Mã Tử Vi nói:

Hư vô nhất khiếu hiệu Huyền Quan 虚无一窍号玄关,
Chính tại nhân thân thiên địa gian 正在人身天地间。
Bát vạn tứ thiên, phân thượng hạ 八万四千分上下,
Cửu, tam, ngũ, lục liệt tuần hoàn 九三五六列循环
Đại bao pháp giới hồn vô tích 大包法界浑无迹,
Tế nhập trần ai, bất kiến nhan 细入尘埃不见颜。
Giá cá danh vi tổ khí huyệt 这个名为祖炁穴,
Thử châu nhất lạp chính trung huyền 黍珠一粒正中玄

Hư vô một khiếu gọi Huyền Quan
Giữa lòng trời đất với nhân gian
Tám vạn bốn nghìn phân thượng hạ
9,3,5,6 liệt tuần hoàn
Lớn trùm pháp giới không lưu vết
Nhỏ nhập trần ai, chẳng thấy nhan
Cái đó gọi là chân tổ khiếu
Trường sinh, linh bảo vốn hàm tàng

Những khẩu quyết trên đầu xiển minh cái ảo diệu của tổ khiếu, Lão Tử nói: Thiên địa chi gian, kỳ do thác thước hồ 天地之间,其犹橐 籥乎。Trang Tử nói: Khu đắc nhược kỳ trung, dĩ ứng vô cùng. 枢得 若其中,以应无穷。Quẻ Khôn nói: Chính vị cư thể 正位居体。

Quẻ Đỉnh viết: Chính vị, ngưng mệnh 正位凝命。

Quẻ Cấn nói: Quân tử tư bất xuất kỳ vị 君子思不出其位。Mạnh Tử cũng nói: Lập thiên hạ chi chính vị. 立天下之正位。
Cũng chỉ là cái chính vị này mà thôi. Nói lớn ra, thì nó bao trùm thiên hạ, cho nên nói: ở vào chỗ rộng rãi thiên hạ, và đại đạo do đó phát sinh.

Kinh Thi viết: Bỉnh tâm tắc uyên, 秉心塞渊。Thái Huyền Kinh viết: Tàng tâm vu uyên, mỹ quyết linh căn. 藏心于渊,美厥灵 根。Tham Đồng Khế viết: Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ quy trung. 真人潜深渊,浮游守规中。(Chân nhân sống rất thâm trầm, nhởn nhơ, khinh khoát, ôm cầm khuôn thiêng).

Nói Tắc, nói Tàng là Tiềm nhi thủ chi. Còn hai chữ phù du không thể không biết. Phù Du ưu du là thung dung, như Mạnh Tử nói: Vật vong, vật trợ 勿忘勿助。

Phật gia nói: “Ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm” cũng là nghĩa này. 应如是住、如是降伏其心。
法輪自轉工夫
旋斗歷箕,逥度五常。法天之樞,仙 壽萬億。

撥動法輪旋日月,須臾海嶠起雲雷。風濤洶涌波澄後,散作甘泉潤九垓。

法水能朝有祕關,逍遙日夜遣輪環。 於中壅滯生諸病,才決通流便駐顏。

接三陰之正氣於風輪,其專精之名曰太玄;栖三陽之正氣於水樞,其專精之名曰太乙。太乙,正陽也;太 玄,正陰也。

陽之正氣其色赤,陰之正氣其色嘿。水,陽也,而其伏為陰;風,陰也,而其發為陽。上赤下嘿,左青右白,黃潛於中宮,而五 運流轉,固有輪樞之象焉。

水涵太乙之中精,故能潤澤百物,而行乎地中,風涵太玄之中精,故動化百物,而行乎天上。上赤之象,其宮成 離;下黑之象,其宮成坎。夫兩端之所以平者,以中存乎其間故也。
(法 輪自轉圖)

三教法門,同途異轍,跡雖分三,理則一也。如此看工夫,釋家謂之法輪,道家謂之周天,儒家謂之行庭。

易曰:艮其背不獲其身,行其庭不見其人。無咎行庭者,天行健之之行也。天之行也,日一周天,何其健歟。若吾身亦一小天地者,周天之行健也。

易曰:天行健,君子以自強不息。然吾身中之黃庭太極立焉,而天則旋乎其外而在來之不窮矣。艮曰時止則止,太極立焉。時行則行,周天行焉。

又不觀之系辭乎,系辭曰:日月相推而明生焉。又曰:寒暑相推而歲成焉。又曰:屈仰相感而利生焉。此行庭之心法也。

PHÁP LUÂN TỰ CHUYỂN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Tiếp tam âm chi chính khí ư phong luân, kỳ chuyên tinh chi danh viết Thái huyền
接三阴之正气於风轮其专精之名曰太玄
Thê tam dương chi chính khí ư thủy khu, kỳ chuyên tinh chi danh viết Thái ất
栖三阳之正气於水枢其专精之名曰太乙
Thái ất chính dương dã 太乙正阳也
Thái huyền chính âm dã 太玄正阴也
Dương chi chính khí kỳ sắc xích. Âm chi chính khí kỳ sắc hắc
阳之正气其色赤阴之正气其色黑
Thủy dương dã, nhi kỳ phục vi âm 水阳也而其伏为阴
Phong âm dã, nhi kỳ phát vi dương 风阴也而其发为阳
Thượng xích, hạ hắc, tả thanh, hữu bạch, hoàng tiềm ư trung cung, nhi ngũ vận lưu chuyển, cố hữu luân khu chi tượng yên
上赤下黑左青右白黄潜於中宫而五运流转故有轮枢之象焉

Tiếp chính khí của tam âm ở phong luân, danh của chuyên tinh là Thái huyền
Nương chính khí của tam dương ở thủy khu, danh của chuyên tinh là Thái ất
Thái ất là chính dương. Thái huyền là chính âm
Dương của chính khí thì màu đỏ
Âm của chính khí thì màu đen
Thủy là dương, khi ẩn phục thì là âm
Phong là âm, khi phát động thì là dương

Trên đỏ, dưới đen, tả xanh hữu bạch, trung ương thì vàng, ngũ vận lưu chuyển, nên mới có tượng luân khu vậy
Thủy hàm Thái ất chi trung tinh, cố năng nhuận trạch bách vật, nhi hành hồ địa trung
水涵太乙之中精故能润泽百物而行乎地中
Phong hàm Thái cổ chi trung tinh, cố năng động hóa bách vật, nhi hành hồ thiên thượng
风涵太古之中精故能动化百物而行乎天上
Thượng xích chi tượng, kỳ cung thành ly 上赤之象其宫成离
Hạ hắc chi tượng, kỳ cung thành khảm 下黑之象其宫成坎
Phù lưỡng đoan chi sở dĩ bình giả, dĩ trung tồn hồ kỳ gian cố dã
夫两端之所以平者以中存乎其间故也

Nước hàm chứa tinh hoa của Thái ất, nên có sức nhuận trạch vạn vật, và lưu hành trên mặt đất.
Phong hàm chứa tinh hoa của Thái cổ, nên có sức động hoá vạn vật và lưu hành trên trời.
Trên có tượng màu đỏ nên cung nó là Ly.
Dưới có tượng màu đen nên cung nó là Khảm.
Và hai bên được quân bình là nhờ có trung cung ở giữa vậy.

Bát động pháp luân tuyền nhật nguyệt 拨动法轮旋日月
Tu du hải kiệu khởi vân lôi 须臾海峤起云雷
Phong đào hung dũng ba trừng hậu 风涛汹涌波澄後
Tán tác cam tuyền nhuận cửu cai 散作甘泉润九垓

Chu thiên chuyển vận xoay nhật nguyệt
Phút chốc thần sơn khởi vân lôi
Gió làm sóng cuộn đùng đùng nổi
Sau hóa cam tuyền khắp chốn nơi

Pháp thủy năng triều hữu bí quan 法水能朝有秘关
Tiêu dao nhật dạ chuyển luân hoàn 逍遥日夜转轮环
Ư trung ứ trệ sinh chư bệnh 於中壅滞生诸病
Tài quyết thông lưu tiện trụ nhan 才决通流便驻颜

Chân khí muốn dùng có quyết chiêu
Tổ khiếu là nơi nó vãng lai
Nếu nó úng trệ sinh mọi bệnh
Nếu giữ nó thông sẽ trẻ hoài

Tuyền đẩu, lịch ky 旋斗历箕
Hồi độ ngũ thường 回度五常
Pháp thiên chi khu 法天之枢
Tiên thọ vạn ức 仙寿万亿

Chuyển vần tinh đẩu
Xoay chuyển ngũ hành
Pháp thiên chuyển vận
Thọ sẽ vô cùng

Nơi bụng của hình người có viết những chữ :-

Ở chính giữa là Cực 极

Trên viết: Bạch hổ ẩn ư Đông phương 白虎隐於东方

Dưới viết: Thanh long tàng ư tây vị 青龙藏於西位

PHÁP LUÂN TỰ CHUYỂN CÔNG PHU
Pháp môn của tam giáo tuy cùng một đường nhưng khác vết, tuy chia ba nhưng lý là một. Công phu này nhà Phật gọi là Pháp luân 法轮, Đạo gia gọi là Chu thiên 周天, Đạo nho gọi là hành đình 行庭.

Dịch kinh viết: Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân, 艮其背不获其身,行其庭不见其人。
Cấn là dừng lại sau lưng, Dừng nơi chí thiện, quên thân, quên người.

Bản thân mà đã quên rồi, Trong sân đi lại, quên người, lỗi chi.

Đi trong sân là thiên hành kiện vậy. Trời đi mỗi ngày một vòng trời, còn gì mạnh hơn? Thân ta cũng là một tiểu thiên địa, đi được một vòng tiểu chu thiên cũng là hành kiện vậy. Dịch kinh viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức 天行健,君子以自强不息。
Tượng rằng:
Trời cao mạnh mẽ xoay vần, Nên người quân tử quyết tâm tự cường
Trong thân ta, thì trung tâm là Huỳnh đình, là Thái cực, còn trời đất thì vận chuyển bên ngoài, và qua lại vô cùng.
Quẻ Cấn viết: Thời chỉ tắc chỉ 时止则止, là Thái Cực định vị; Thời hành tắc hành 时行则行 là Chu thiên vận chuyển, sao chẳng xem nơi hệ từ? Hệ từ viết: Nhật nguyệt tương thôi, nhi minh sinh yên 日月相推而明生焉。
Mặt trời cùng với mặt trăng, Luân phiên đắp đổi nên hằng sáng soi

Lại viết: Hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên 寒暑相推而岁 成焉。
Hàn ôn đắp đổi thường xuyên, Cho nên năm tháng miên triền sinh ra

Lại viết: Khuất thân tương cảm nhi lợi sinh yên 屈伸相感而 利生焉。
Khuất thân lai vãng thời thường, Đôi bên cảm ứng mở đường lợi sinh

Đó là Tâm Pháp của hành đình 行庭 vậy.
何為立極?即前 所謂心中之仁安於中心之中,而為土中者,以敦養之,自有消息真機。而身心性命相為混合矣。

一屈一伸,一往一來,真有若日月之代明, 寒暑之錯行,其殆天運之自然,是亦吾身之一天地也。

始而有意,終於無意。起初用意引氣旋轉由中而達外,由小而至大,口中默念十二字 訣曰:白虎隱於東方,青龍潛於酉位。一句一圈,數至三十六遍而止。及至收回,從外而旋內,從大而至小,亦念訣曰:青龍潛于酉位,白虎隱於東方。亦數三十六 遍,複歸太極而止,是為一周天也。久則不必用意,自然璿機不停,法輪自轉,真個有歇手不得處。

全陽子雲:與日月而周回,同天河而輪 轉。輪轉無窮,壽命無窮。

鳴道集雲:安閒自得長生道,晝夜無聲轉法輪。

韓逍遙雲:法輪要轉常須轉,只在身中 人不見,駕動之時似日輪,日輪向我身中轉。

又雲:法輪轉得莫停留,念念不離輪自轉。

當其轉也,翁然如雲霧之 四塞,颯然如風雨之暴至,恍然如晝夢之初覺,渙然如沉屙之脫體。精神冥和,如夫婦之交接;骨肉融和,如澡浴之方起。

易曰:黃中通 理,正位居體,美在其中,而暢於四肢。斯言信矣。

Thế nào là Lập Cực 立极?

Như trên đã nói: Lập Cực là đem chữ Nhân 仁 để vào chính giữa, chỗ đó gọi là Trung Thổ, để mà Đôn Dưỡng nó, và sẽ thấy Chân Cơ tiêu tức của nó là Tính Mệnh hồn dung ở trong

Một co, một duỗi, một đi, một lại, giống như mặt trời mặt trăng sáng soi, như nóng lạnh vận hành, theo đúng sự vận hành tự nhiên của trời đất. Thế là trong ta cũng có một đất trời vậy.

Lúc mới đầu thì Có Ý, sau sẽ Vô Ý.

Thoạt đầu dùng ý dẫn khí, từ nhỏ đến lớn, miệng niệm khẩu quyết 12 chữ: Bạch hổ ẩn vu đông phương. Thanh long tiềm vu tây phương 白虎隐于东方,青龙潜于酉方。Mỗi câu như vậy là dẫn khí đi một vòng chu thiên, đến 36 lần sẽ nghỉ.

Rồi đến thâu hồi, từ ngoài quay vào trong, từ lớn đến nhỏ, cũng dùng khẩu quyết: Thanh long tiềm vu tây phương, Bạch hổ ẩn vu đông phương 青龙潜于酉方,白虎隐于东方。 Cũng tính đủ 36 lần, trở về tới thái cực thì ngừng.

Như vậy là đủ một chu thiên vậy. Lâu ngày sẽ không phải chú ý tới nữa. Tự nhiên tuyền ky sẽ không ngừng và pháp luân sẽ tự chuyển.

Toàn Dương Tử nói:

Dữ nhật nguyệt nhi chu hồi, 与日月而周回,
Đồng thiên hà nhi luân chuyển, 同天河而轮转。
Luân chuyển vô cùng, 轮转无穷,
Thọ mệnh vô cùng 寿命无穷。

Vãng lai cùng nhật nguyệt
Xoay chuyển với thiên hà
Luân chuyển vô cùng
Thọ mệnh vô cùng

Minh Đạo tập nói:

An nhàn tự đắc trường sinh đạo, 安闲自得长生道,
Trú dạ vô thanh chuyển pháp luân. 昼夜无声转法轮。

An nhàn sẽ được trường sinh đạo,
Ngày đêm chuyển Pháp chẳng tăm hơi.

Hàn Tiêu Diêu nói:

Pháp luân yếu chuyển thường tu chuyển, 法轮要转常须转,
Chỉ tại thân trung nhân bất kiến. 只在身中人不见,
Giá động chi thời tự nhật luân, 驾动之时似日轮,
Nhật luân hướng ngã thân trung chuyển. 日轮向我身中转。

Pháp luân cần chuyển thường đã chuyển
Chuyển vận trong thân, người chẳng thấy
Khi nó chuyển vận tựa mặt trời
Mặt trời chuyển vận cũng trong ta

Lại nói:

Pháp luân chuyển đắc mạc đình lưu, 法轮转得莫停留,
Niệm niệm bất ly, luân tự chuyển. 念念不离轮自转。

Pháp luân chuyển vận chẳng lưu đình,
Chẳng lìa thân ý nó xoay quanh.

Trong lúc vận chuyển phơi phới như vân vụ phủ trùm bốn bên, táp nhiên như gió mưa cùng đến, hoảng nhiên như vừa tỉnh mộng lúc ban ngày, thư thái như bệnh lâu ngày mới thoát. Tinh thần mờ hiệp, như nam nữ lúc giao hoan, thịt xương gắn bó, y như vừa tắm rửa xong

Dịch kinh viết:

Hoàng trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung, nhi sướng ư tứ chi
黄中通理,正位居体,美在其中,而畅于四肢。
Hiền nhân thông lý trung hoàng

Tìm nơi chính vị mà sa thân mình
Dẹp từ tâm khảm xuất sinh
Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều
Phát ra sự nghiệp cao siêu
Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi

Lời đó thật đáng tin

*
* *

Lời bàn của dịch giả
Chương này là một chương khó hiểu. Chúng ta nắm được ý chính là phải giữ cho huyết mạch lưu thông thì mới tránh được bệnh tật. Còn như vận chuyển thế nào thì lời dạy thật mơ hồ. Có lẽ phải vận chuyển theo hình vẽ.
龍虎交媾法則

龍呼於虎,虎吸龍精。兩相飲食,俱相貪并。

男女相須,含吐以玆。雌雄錯雜,以類 相求。

白面郎君騎百虎,青衣女子跨青龍。鉛汞鼎邊相見後,一時關鎖在其中。

虎在西兮龍在東,東龍西虎各爭雄。若 解相吞歸一處,神仙頃刻不勞功。

嬰兒姹女齊齊出,卻被黃婆引入室。雲騰雨施片時間,不覺東方紅白。

(龍 虎交媾圖)

夫人也,坎離交則生,分則死,此理之必然,無一人不如此者。

蓋離三為陽,而居南,外陽而內陰也, 謂之真汞。坎三為陰,而居北,外陰而內陽也,謂之真鉛。故紫陽真人雲:日居離位反為女,坎配蟾宮卻是男。此言坎之男、離之女,猶父之精、母之血也;日之 鳥、月之兔也;砂之汞、鉛之銀也;天之玄、地之黃也。此數者,皆指示龍虎二氣也。

參同契曰:離已日光,坎戊月精。故離之已象龍之弦 氣也,坎之戊象虎之弦氣也。夫戊與己是黃庭真土之體,因太極一判,分居龍虎二體之中。修丹之士,若欲返其本,複其初,使龍虎歸於鼎中,情性歸於竅內,當用 龍從火裏出、虎向水中生之二訣。則炎烈火中出飛龍之矯矯,泓澄水底躍走虎以耽耽,始得龍虎相交,向鴻蒙而潛歸混沌。繼則夫妻合體,從恍惚而竟入虛無、共至 黃房,互相吞啖,兩情留戀,二氣交加,有如天地之媾精、日月之交光,盤旅于祖竅之間,自然複此先天未判之氣而成混元真一之精。為大藥之根原,作還丹之基本 也。

原夫龍之情性常在於戊,虎之精性常在於已。只緣彼此各有土氣,二土合併而成刀圭,是以坎離交而地天泰,龍虎交而戊合己也。戊己 合為一體,則四象會合而產大藥也。

LONG HỔ GIAO CẤU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Long hô ư hổ, hổ hấp long tinh, 龙呼於虎虎吸龙精
Lưỡng tương ẩm thực, câu tương tham tính. 两相饮食俱相贪并

Nguyên thần (long) nguyên khí giáng thăng.
Đôi bên tương thực, cầm bằng xe tơ.

Nam nữ tương tu, hàm thổ dĩ tư. 男女相修含吐以滋
Thư hùng thác tạp, dĩ loại tương cầu. 雌雄错杂以类相求

Âm duơng nam nữ tương cầu.
Thư hùng hòa hợp gót đầu chẳng phân.

Hổ tại tây hề, long tại đông. 虎在西兮龙在东
Đông long tây hổ các tranh hùng. 东龙西虎各争雄
Nhược giải tương thôn, qui nhất xứ. 若解相吞归一处
Thần tiên đỉnh khắc bất lao công. 神仙顶刻不劳功

Hổ long phân biệt tây đông.
Hai bên hùng cứ muốn tranh hùng.
Nếu như long hổ qui nhất lại.
Lập tức thành tiên chẳng phí công.

Anh nhi Xá nữ tề tề xuất, 婴儿姹女齐齐出
Khước bị Hoàng bà dẫn nhập thất. 却被黄婆引入室
Vân đằng vũ thí phiến thời gian, 云腾雨施片时间
Bất giác đông phương hồng nhật xuất. 不觉东方红日出

Nguyên thần nguyên khí đôi bên,
Huỳnh bà mai mối đưa liền vào cung.
Mây mưa một trận chập chùng,
Trông ra đã thấy vừng đông sáng lòa.

Bạch diện lang quân kỵ bạch hổ, 白面郎君骑白虎
Thanh y nữ tử khóa thanh long. 青衣女子跨青龙
Diên hống đỉnh biên tương kiến hậu, 铅汞鼎边相见後
Nhất thời quan tỏa tại kỳ trung. 一时关锁在其中

Bạch diện lang quân cưỡi Bạch hổ,
Thanh y xá nữ cưỡi Thanh long.
Nam nữ gặp nhau bên lò thuốc,
Chỉ cần ít phút tiến vào trong.

————————-

LONG HỔ GIAO CẤU PHÁP TẮC
Con người do Khảm Ly giao cấu mà sinh ra, Khảm Ly mà phân chia thời chết, lý này là tất nhiên, ai cũng biết điểm này.

Ly ở về phương Nam, ngoài Dương trong Âm, nên là Chân Hống.

Khảm ở về phương Bắc, trong Dương ngoài Âm, nên là Chân Diên, cho nên Tử Dương chân nhân nói:

Nhật cư Ly vị phản vi nữ, Khảm phối thiềm cung khước thị nam.
日居离位反为女,坎配蟾宫却是男。

(Ly cư Nhật mà lại thành Nữ, Khảm ở thiềm cung biến thành Nam)

Nói thế nghĩa là Khảm là Nam, Ly là Nữ. Nói Khảm Ly cũng như là nói tinh cha huyết mẹ, nói Nhật Ô Nguyệt Thố, nói Hống nói Diên, nói Thiên Huyền, Địa Hoàng, nói Long Hổ vậy.

Tham Đồng Khế nói:

Ly Kỷ Nhật Quang, Khảm Mậu Nguyệt Tinh.
离已日光,坎戊月精。

Cho nên Ly Kỷ tượng trưng cho Huyền Khí của Long, Khảm Mậu tượng trưng cho Huyền Khí của Hổ, mà Mậu với Kỷ là bản thể của Huỳnh Đình Chân Thổ. Khi Thái Cực đã chia, thì ở sang hai bên Long Hổ.

Người tu luyện Đan, nếu biết phản bản, phục sơ, biết đem Long Hổ trở về Đỉnh hợp nhất với nhau, đem tính tình hợp nơi tổ khiếu, thì phải dùng hai khẩu quyết: Long tòng Hỏa (Ly) lý xuất, Hổ hướng Thủy (Khảm) trung sinh 龙从火里出、虎向水中生 (Long từ trong lửa ra, hổ từ trong nước sinh). Như vậy lửa sẽ phừng phực bốc lên, rồng sẽ bay vút lên cao, và từ đáy nước trong veo, hổ sẽ nhảy lên đăm đăm nhìn.

Long Hổ sẽ tương giao và sẽ trở về Hồng Mông hỗn độn. Vợ chồng sẽ hợp thể, và sẽ nhập vào Hư Vô, sẽ cũng vào Huỳnh Phòng (đan điền) cùng nhau âu yếm. Nhị khí (Âm, Dương) tương giao, như Thiên Địa cấu tinh, Nhật Nguyệt giao quang, nhập vào tổ khiếu, trở lại cái Nguyên Khí chưa chia lúc ban đầu, thành ra cái Hỗn Nguyên Chân Nhất chi tinh. Thành ra căn nguyên của Đại Dược, thành ra cơ bản của Hoàn Đơn vậy.

Vả tính tình của Long thường ở Mậu, tình tính của Hổ thường ở Kỷ. Chỉ tại hai bên đều có thổ khí, hai thổ hợp lại sẽ thành Đao Khuê.

Chỉ vì Khảm Ly giao mà thành Thiên Địa thái. Long Hổ giao mà thành Mậu Kỷ Thổ. Mậu Kỷ hợp thành nhất thể, thế là Tứ Tượng hội hợp mà thành Đại Đơn vậy.

易曰:天地氤氳,萬物化醇;男女媾精,萬物化生。天地以陰陽交媾而生物,丹法以陰陽交媾而生藥。 蓋未有不交媾而用以成造化者也。

玉芝書雲:玄黃若也無交媾,爭得陽從坎下飛。是乃作丹之大端,修仙之第一義也。若天地之氣不氤氳, 則甘露不降,坎離之體不災並,則黃芽不生。龍虎二弦之氣不會合,則真一種子不產。真一種子不產,則將何者為把柄而凝成金液大丹耶?

然交媾之理有二,有內交者,有外交者。坎離、龍虎交,內交也,產藥也。乾坤子午交,外交也,結丹也。此二法天淵不同,學者有細辨之。

張紫陽雲:既驅二物歸黃道,爭得金丹不解生。是此義也。

呂純職雲:二物會時為道本,五行全處得丹名。是此義也。

陳抱一雲:戊已乍交情性合,坎離才媾龍虎降。是此義也。

張用成雲:虎躍龍騰鳳浪粗,中央正位產玄珠。是此義也。

張平叔金丹四百字雲:龍從東海來,虎向西山起,兩獸戰一場,化作一泓水。亦此義也。

夫龍虎交媾者乃三元合一之法也,所以會乾坤、 交坎離、簇陰陽、合性命,使二者複變而為一。以至九宮、八卦、七政、六位、五行,四象、三才之生於二者,莫不皆歸於二矣。一者,有物混成、先天地生是也。 大哉!一乎!以其流行謂之炁,以其凝聚謂之精,以其妙用謂之神。

始因太極一判分居二體之中,日遠目疏,卒至危殆。是以聖人,則天地 之要,知變化之源,取精于水府,召神于靈關。使歸玄牝竅中,得與祖炁聚會,三家相見,合為一體。先則凝神於混沌,次則寂照含虛空。抱一無離,是為返本還原 之妙道也。

書曰:人心惟危,道心惟微,唯精惟一,允執厥中。蓋言心與精而為一,而會歸於黃中之中。而允執之者,此堯舜之所以開道統之傳,而為萬古聖學之宗也。

Dịch viết:

Thiên Địa nhân uân, vạn vật hóa thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh.
天地氤氲,万物化醇;男女媾精,万物化生。

Đất trời quấn quít hợp đôi,
Rồi ra vạn vật sinh sôi thành hình.
Những từ trai gái cấu tinh,
Rồi ra vạn vật hóa sinh dưới trời.

Đất Trời dùng Âm Dương giao cấu mà sinh vật, Đơn gia dùng Âm Dương giao cấu mà sinh dược, vì không bao giờ không có giao cấu mà sinh ra được cái gì.

Sách Ngọc Chi viết:

Huyền hoàng nhược dã vô giao cấu, 玄黄若也无交媾,
Tranh đắc dương tòng khảm hạ phi. 争得阳从坎下飞。
Đất Trời nếu chẳng giao nhau,
Thế thì Dương Khảm biết đâu mà về.

Đó chính là đầu mối của đơn đạo, là ý nghĩa thứ nhất của việc tu tiên. Nếu Đất Trời không hòa hài, thì sương trên trời không rơi xuống. Nếu Khảm Ly không phối hợp thì Huỳnh Nha không sinh, Long Hổ nếu không phối ngẫu thì Chân Nhất Chủng Tử không sinh. Chân Nhất Chủng Tử không sinh thì lấy đâu ra then chốt để kết thành đại đơn?
Nhưng cái lý giao cấu có hai: nội giao và ngoại giao. Khảm Ly, Long Hổ là nội giao là sản dược. Kiền Khôn, Tý Ngọ là ngoại giao, là kết đơn. Hai bên cách nhau trời vực, học giả nên phân biệt cho kỹ.

Trương Tử Dương nói:

Ký khu nhị vật qui hoàng đạo, 既驱二物归黄道,
Tranh đắc kim đơn bất giải sinh. 争得金丹不解生。

Đã đem thần khí về hoàng đạo,
Kim đơn như vậy ắt sẽ sinh.

Lã Thuần Dương nói:

Nhị vật hội thời vi đạo bản, 二物会时为道本,
Ngũ hành toàn thể đắc đơn danh. 五行全体得丹名。

Thần khí hoà hài là gốc đạo,
Ngũ hành toàn thể gọi là đan.

Trần Bão Nhất nói:

Mậu kỷ sạ giao, tình tính hợp, 戊已乍交情性合,
Khảm ly tài cấu hổ long hàng. 坎离才媾龙虎降。
Mậu kỷ hoà hài tình tính hợp,
Khảm ly vừa kết hổ long hàng.
Trương Dung Thành nói:

Hổ dược, long đằng phong lãng thô, 虎跃龙腾凤浪粗,
Trung ương chính vị sản huyền châu. 中央正位产玄珠。
Hổ nhảy, rồng bay gây sóng gió.
Trung ương chính vị sản huyền châu.

Trương Bình Thúc (Kim đơn tứ bách tự) nói:

Long tòng đông hải lai, 龙从东海来,
Hổ hướng tây sơn khởi. 虎向西山起,
Lưỡng thú chiến nhất tràng, 两兽战一场,
Hoá tác nhất hoằng thủy. 化作一泓水。

Rồng từ đông hải tới,
Hổ tự tây sơn lại.
Hai bên đánh một trận,
Biến thành dòng nước trôi.

Long Hổ giao cấu là Tam Nguyên hợp nhất, cốt là hợp Kiền Khôn, giao Khảm Ly, thốc Âm Dương, hợp Tính Mệnh, để cái gì là Hai thì hợp thành Một. Cả đến Cửu Cung, Bát Quái, Thất Chính , Lục Vị (lục hào), Ngũ Hành, Tứ Tượng, Tam Tài, những cái đó đều sinh ra từ hai, tất cả đếu phải qui về một vậy.

Nhất là: Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh.
有物混成、先天地生

Có một đấng an nhiên tự hữu.
Trước đất trời vĩnh cửu tự thành.

Lớn thay là Ngôi Nhất, khi nó lưu hành nên gọi là Khí. Khi nó ngưng tụ, thì gọi là Tinh. Khi nó tác dụng thì gọi là Thần. Thoạt đầu là Thái Cực vừa phân, sau phân hai thành Lưỡng Nghi, rồi ngày lại một ngày càng lúc càng suy thoái. Cho nên Thánh Nhân hiểu điều cốt yếu của Trời Đất, hiểu nguồn mạch biến hoá, nên mới thu Tính từ Thủy Phủ (Hạ đơn điền), chiêu Thần từ Linh Quan, đem về khiếu Huyền Tẫn (Nê Hoàn Cung) để cùng tổ khí hội hợp, Tam Gia (Nguyên Thần, Nguyên Khí, Nguyên Tinh) tương kiến, hợp thành nhất thể.

Trước là ngưng thần qui hỗn độn, sau là Tịch Chiếu hàm Hư Không, bão nhất vô ly, thế gọi là cái Diệu Đạo hoàn nguyên phản bản vậy.

Kinh Thư nói:

Nhân tâm duy nguy, 人心唯危,
Đạo tâm duy vi. 道心唯微,
Duy tinh duy nhất, 唯精惟一,
Doãn chấp quyết trung. 允执厥中。

Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,
Lòng con người điên đảo ngã nghiêng.
Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,
Ta càng ra sức giữ nguyên lòng trời.

Thế là nói Thần và Tính hợp nhất lại, ở nơi Huỳnh trung, và giữ chắc lấy nó. Cái đó chính là đạo thống chân truyền của Thuấn, Nghiêu, cái học vấn tông chỉ của vạn thánh xưa nay.
性命雙修萬神圭旨
第三節口訣
蟄藏氣穴眾妙歸根

(蟄 藏氣穴圖)

(內附行、住、坐、臥四法)
前節言翕聚乃守中抱一之工夫,此節言蟄藏則深根固蒂之口訣。翕 聚、蟄藏相為表裡,非翕聚則不能發散,非蟄藏

亦不能發生,是此二節一貫而下,兩不相離者也。

此決無他,只是將祖竅 中凝聚那點陽神下藏於氣穴之內,謂之送歸土釜,牢封固。又謂之凝神入氣穴。此穴有內外

兩竅,外竅喻桃杏之核,內竅譬核中之仁。古仙有曰: 混沌生前混沌圓,個中消息不容傳,劈開竅內竅中竅,踏破天中天外天。

此竅中之竅,釋尊標為空不空,如來藏。老君名 之玄又玄。眾妙門海蟾亦曰無底,曰橐有孔,曰籥中間一竅。無人摸著,此指竅中之竅而言也。是竅也,為陰陽之源,神氣之宅,胎息之根,呼吸 之祖。

胎者,藏神之府。息者,化胎之源。胎因息生,息因胎住。而竅中之竅,乃神仙長胎住息之真去處也。然天地之大辦 一胎也。而日月之往來,斗柄之旋轉者,真息也。又不觀三氏之書乎?易經曰:成性存存,道義之門。道德經曰:玄之又玄,眾妙之門。遺教經 曰:制之一處,無事不辨。皆直指我上真人呼吸處言之。

然則真人呼吸處果何處耶?吾昔聞之經曰:藏元精之窅冥府,結胎息之丹元宮,上 赤下黑,左黑右白,中央黃暈之間,乃真人呼吸之處。正當臍輪之後,腎堂之前,黃庭之下,關元之上,即黃庭經所謂上有黃庭下關元,後有幽闕 前命門是也。

TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Thủy hương diên 水乡铅
Hắc hổ tủy 黑虎髓
Đa bảo tạng 多宝藏
Tạo hóa lô造化炉
Hạo khí môn 灏气门
Tịch hạp xứ 辟阖处
Yểu minh phủ 窅冥府
Địa hoàng nam 地黄男
Vô tận tạng 无尽藏
Yển nguyệt lô 偃月炉
Sinh sát xá 生杀舍
Chân kim đỉnh 真金鼎

Hỗn độn sinh tiền hỗn độn viên, 混沌生前混沌圆
Cá trung tiêu tức bất dung truyền. 个中消息不容传
Phách khai khiếu huyệt, khiếu trung khiếu, 劈开窍穴窍中窍
Lộ phá thiên trung, thiên ngoại thiên. 路破天中天外天

Khiếu này vốn có tự xa xưa,
Tin tức bên trong chẳng lộ ra.
Mở rộng khiếu này vào trong tận,
Bên trong sẽ thấy đất trời xa.

Đẩu bính nghịch tuyền phương hữu tượng, 斗柄逆旋方有象
Đài quan phản chiếu thủy thành tiên. 台光返照始成仙
Nhất chiêu lao đắc đàm tâm nguyệt, 一朝捞得潭心月
Thứ phá Hồ Tăng diện bích thiền. 觑破胡僧面壁禅

Đẩu bính ngược xoay có bốn mùa,
Linh Đài phản chiếu sẽ thành tiên.
Ngày nào mà được trăng trong nước,
Sẽ thấy Đạt Ma diện bích thiền.

Bất tư thiện hề, bất tư ác, 不思善兮不思恶
Cá lý chi nhân hoạt bát bát. 个里至人活泼泼
Sát na diệc phá hồng mông xác, 刹那裂破鸿蒙壳
Tiến xuất nhất linh chân đại dược. 进出一灵真大约

Không nghĩ thiện hề, không nghĩ ác,
Chí nhân do đó sống phây phây.
Đan điền nếu đã vào trong được,
Sẽ có đại đan lấy đem ra.

Đại dược xuất hề quang thước thước, 大约出兮光烁烁
Đốn ngộ đốn tu thành diệu giác. 顿悟顿修成妙觉
Giác diệu huyền thông khóa hạc qui, 觉妙玄通跨鹤归
Thắng Liên Hoa giới tiêu diêu lạc. 胜莲花界逍遥乐

Đại dược sinh rồi sáng sáng ghê,
Đốn ngộ đốn tu thành diệu giác.
Biết lẽ diệu huyền, cưỡi hạc qui,
Niết bàn hạnh phúc tiêu diêu hưởng.

Đắc hạo khí chi môn, 得灏气之门
Sở dĩ thu kỳ căn . 所以收其根
Tri nguyên thần chi nang, 知元神之囊
Sở dĩ thao kỳ quang. 所以蹈其光
Nhược loa nội thủ, 若螺内守
Nhược thạch trung tàng, 若石中藏
Sở dĩ vi châu ngọc chi phòng. 所以为珠玉之房

Biết cửa vào hạo khí,
Cho nên biết thu căn.
Biết túi nguyên thần đựng,
Cho nên biết thao quang.
Như ốc biết nội thủ,
Như đá có ngọc tàng,
Thế là biết phòng châu ngọc.

Hư tĩnh phi khô tịch, 虚静非枯寂
Trung hữu vị phát trung. 中有未发中
Trung hữu diệc hà hữu, 中有亦何有
Vô chi tức ngoan không. 无之即顽空

Hư tĩnh không phải ngồi khô héo,
Nói trung là vị phải chi trung.
Trung trung nếu có, hỏi có gì,
Trung mà không có, sẽ ngoan không.

Thường tịch nhi thường chiếu, 常寂而常照
Bất khởi tịch chiếu tưởng. 不起寂照相
Dương minh nhi đương giác, 当明而当觉
Bất khởi minh giác tưởng. 不起明觉想

Biết ngồi tĩnh định tâm thường chiếu,
Thường chiếu nhưng mà chẳng để tâm.
Dương thời minh giác biết mọi lẽ,
Nhưng đừng vì thế tưởng sai lầm.

Chí tâm vô niệm, 至心无念
Chí thành vô tức. 至诚无息
Tức niệm khước tiêu, 息念却消
Tính mệnh hợp nhất. 性命合一

Người toàn thiện không còn niệm lự,
Bậc chí nhân, hô hấp cũng quên.
Không hít thở, chẳng tần phiền,
Rồi ra tính mệnh tự nhiên hiệp hòa.

Khí Hải 气海, Thổ Phủ 土府, Quan Nguyên关元, Kim Hoa 金花, Nguyệt Phách 月魄, Linh Căn 灵根, Thác Thược 橐龠, Khí Huyệt 气穴, Bắc Hải 北海, Anh Nhi 婴儿, Huyền Minh 玄冥, Khúc Giang 曲江, Huyền Khiếu 玄窍, Sinh Môn 生门, Tử Hộ 死户, Hoa Trì 花池, Ngọc Thố 玉兔, Bồng Hồ 蓬壶, Dục Anh 育婴, Ngốc Bào 呆胞, Chân Diên 真铅.

Thần ngự khí, khí lưu thần, 神御气气留神
Bất khả tu du ly dã. 不可须臾离也
Tâm y tức, tức quy tâm, 心依息息归心
Khởi dung hào phát thù tai. 岂容毫发殊哉

Thần đưa Khí, Khí lại ngưng Thần,
Thần Khí đôi bên phải tương thân.
Tâm y tức, tức lại qui tâm,
Tâm tức đôi bên phải thân gần.

Trưởng thai thụ tức chi hương. 长胎住息之乡
An thân lập mệnh chi khiếu. 安身立命之窍

————————-

TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT CHÚNG DIỆU QUI CĂN

Tiết trước nói về Hấp Tụ, nói về công phu Thủ Trung Bão Nhất, tiết này nói về Trập Tàng, tức là nói về khẩu quyết Thâm Căn Cố Đế.

Hấp Tụ, Trập Tàng là hai phương tiện trong ngoài. Không có Hấp Tụ thì không thể phát tán, không Trập Tàng cũng không thể phát sinh, hai tiết này nhất quán làm một, không thể chia lìa nhau.

Khẩu quyết chỉ là đem một điểm Dương Thần nơi Tổ Khiếu xuống tàng nạp vào khí huyệt, gọi là Tống qui Thổ Phủ lao phong cố 送归土釜,牢封固。(Đem về Thổ Phủ giam cho kỹ) hay còn gọi là Ngưng thần nhập khí huyệt 凝神入气穴。

Huyệt này trong ngoài có hai khiếu. Ngoại Khiếu như là quả đào, quả hạnh. Nội Khiếu như là Nhân trong Quả. Cổ tiên có nói:

Hỗn độn sinh tiền hỗn độn viên, 混沌生前混沌圆,
Cá trung tiêu tức bất dung truyền. 个中消息不容传,
Phách khai khiếu nội, khiếu trung khiếu, 劈开窍内窍中窍,
Đạp phá thiên trung, thiên ngoại thiên. 踏破天中天外天。

Khiếu này vồn có tự xa xưa,
Tin tức bên trong chẳng lộ ra.
Mở rộng khiếu này vào trong tận,
Bên trong sẽ thấy đất trời xa.

Cái khiếu trong đây, Phật tôn xưng là Không bất Không, là Như Lai Tạng. Lão xưng là Huyền hựu Huyền, Chúng Diệu Môn.

Bạch Hải Thiềm cũng nói:
Vô để viết thác, 无底曰橐
Hữu khổng viết thược. 有孔曰籥
Trung gian nhất khiếu, 中间一窍
Vô nhân mô trước. 无人摸着

Không đáy là thác. Có lỗ là thược.
Trong có một khiếu. Không ai mò được.

Tất cả nói về cái Khiếu trong Khiếu này.

Khiếu này là nguồn của Âm Dương, là nhà của Thần Khí, là căn của Thai Tức, là Tổ của Hô Hấp.
Thai là phủ để tàng Thần, Tức là nguồn của Hóa Thai, Thai sinh Tức (hơi thở), Tức nương Thai mà trụ.
Cái khiếu này chính là cơ sở của thần tiên dùng làm nơi Trường Thai, Trụ Tức.

Trời Đất tuy lớn nhưng cũng chỉ có một cái thai. Nhật Nguyệt vãng lai, Đẩu Bính tuyền chuyển, chính là Chân Tức vậy. Sao chẳng xem kinh sách của Tam Giáo?

Dịch kinh viết: Thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chỉ môn. 成性存存, 道义之门。
Tính trời cố giữ chính trung,
Mở đường Đạo Nghĩa, dặm chừng vân du.

Đạo Đức Kinh viết: Huyền chi hựu huyền, Chúng diệu chi môn. 玄之又玄,众妙之门。

Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường.
Ấy là Chúng Diệu môn.

———–

Xưa ta nghe Thầy nói:

Dấu Chân Tinh trong Phủ yểu minh. Kết Thai Tức trong Đơn Nguyên Cung.

Trên Đỏ, dưới Đen, tả Xanh, hữu Bạch. Trung ương là Huỳnh Đình. Đó chính là Chân Nhân Hô Hấp chi xứ. Nó nằm sau Rốn, trước Thận, dưới Huỳnh Đình, trên Quan Nguyên.

Tức như Huỳnh Đình kinh viết:

Thượng hữu huỳnh đình, hạ Quan Nguyên. 上有黄庭下关元
Hậu hữu u khuyết, tiền mệnh môn. 后有幽阙前命门

Đó là như vậy.

廖蟾暉云:前對臍輪後對腎,中間有個真金鼎是也。即識此處,即將向來所凝之神而安於竅中之竅,如龜之 藏,如蛇之蟄,如蚌之含光,如蟾之納息,綿綿續續,勿忘勿助,若存而非存,若無而非無,引而收之。於無何鄉,運而藏之, 於闔辟處少焉。呼吸相含,神氣相抱,結為丹母,鎮在下田。外則感召天地靈陽之正氣,內則擒制一身鉛汞之英華。

如北辰所居,眾星皆拱。久則 神氣歸根,性命合一,而大藥孕於其中也。

然凝神調息皆有口訣,不然恐思慮之神妄交於呼吸之氣,結成幻丹,而反害藥物矣。所以仙翁 云:調息要調真息息,煉神須煉不神神。

黃帝陰符經曰:人知其神之神,不知不神之所以神。不神者,性也。蓋性者,神 之根也。神本於性,而性則未始神。神中炯炯而不昧者,乃是真性也。

仙姑大道歌曰:我為諸君說端的,命蒂從來在真 息。真息者,命也。蓋命者,氣之蒂也。蒂本於命,而命則未始氣。氣中氤氳而不息者,乃是真命也。

這個不神之神,與 那個真息之息,他兩個方才是真夫妻、真陰陽、真龍虎、真性命。紐結做一團,混合為一處,打成作一片,段煉在一爐,或名之曰牛女相逢、又曰 牝牡相從、又曰烏免同穴、又曰日月同宮、又曰魂魄相投、又曰金火混融,究而言之,不過凝神合氣之法耳。

是以神不離 氣,氣不離神,吾身之神氣合,而後吾身之性命見矣。性不離命,命不離性,吾身之性命合,而後吾身未始性之性、未始命之命見矣。崔公入藥鏡 曰:是性命,非神氣,權而言之則二,實而言之則一。神氣固非二物,性命則當雙修。而雙修之旨,久失其傳,以至玄禪二門,五爭高下。

劉海蟾云:真個佛法便是道,一個孩兒兩個抱。

Liêu Thiềm Huy viết:

Tiền đối tề luân, hậu đối thận. 前对脐轮后对肾,
Trung gian hữu cá chân kim đỉnh. 中间有个真金鼎

Phía trước là rốn, phía sau thận.
Trung gian sẽ có chân kim đỉnh.

Khi đã biết được nơi đó, sẽ An Thần nơi Khiếu đó. Như rùa ẩn mình, như rắn đi núp, như trai ngậm ngọc, như cóc nhịn thở, miên miên, liên tục, hết sức tự nhiên, như không xen vào, tưởng có mà không có, tưởng không mà không không. Thu dẫn đến làng Vô Hà Hữu, vận tàng đến chốn Hạp Tịch Xứ.

Sau đó ít lâu, hô hấp sẽ hòa hài, Thần Khí sẽ ôm nhau, kết thành Đơn Mẫu, ở tại Đan Điền. Ngoài sẽ cảm chiêu được Thiên Địa Linh Dương chính khí, trong sẽ cầm chế được anh hoa của Diên Hống trong người.
Nếu Bắc Thần đã cư kỳ sở, thì chúng tinh sẽ chầu về. Lâu dần, Thần Khí sẽ qui căn, tính mệnh sẽ hợp nhất, và đại dược đã thai dựng bên trong.

Nhưng ngưng Thần, điều Tức đều có khẩu quyết, nếu không, sợ Tư Lự chi Thần sẽ giao nhầm với Khí Hô Hấp, mà kết thành Ảo Đơn, phản hại Dược Vật. Cho nên Tiên Ông nói:

Điều tức yếu điều chân tức tức. 调息要调真息息,
Luyện thần tu luyện bất thần thần. 炼神须炼不神神。

Điều tức phải điều chân tức tức.
Luyện thần phải luyện bất thần thần.
Hoàng Đế Âm Phù kinh viết:

Nhân tri kỳ Thần chi Thần, 人知其神之神,
Bất tri Bất Thần chi sở dĩ Thần. 不知不神之所以神。

Bất Thần là Tính, vì Tính là Căn của Thần. Thần gốc nơi Tính, Tính là Thần chưa sinh. Thần mà trong sáng, Hư Linh bất muội là Chân Tính vậy.

Tiên Cô (Đại Đạo ca) viết:

Ngã vị chư quân thuyết đoan đích, 我为诸君说端的,
Mệnh đế tòng lai tại chân tức. 命蒂从来在真息。

Ta vì chư quân nói đầu đuôi,
Gốc gác mệnh kia là chân tức.

Chân Tức là Mệnh. Vì Mệnh là gốc của Khí, Khí gốc nơi Mệnh. Mệnh là Khí chưa sinh. Nhân uân trong Khí, không hề ngừng nghỉ, là Chân Mệnh vậy .

Cái Thần không phải Thần ấy, với cái Chân Tức chi Tức, hai cái đó chính là Chân Phu Thê, Chân Âm Dương, Chân Long Hổ, Chân Tính Mệnh, hữu kết thành một vật, dung hợp ở một nơi, đả thành nhất phiến, đem về đoàn luyện tại một lò, hay gọi là Ngưu Nữ tương phùng, Huyền Tẫn tương hợp, Ô Thố đồng huyệt, Nhật Nguyệt đồng cung, Hồn Phách tương đầu, Kim Hỏa hồn dung. Tóm lại, chỉ là phép Ngưng Thần Nhập khí mà thôi.

Chỉ vì Thần không li Khí, Khí không li Thần, Thần Khí trong thân ta kết hợp, thì Tính Mệnh trong ta sẽ thấy vậy. Tính không ly Mệnh, Mệnh không ly Tính. Tính Mệnh trong thân ta mà hợp, thì cái Vị Thủy Tính chi Tính, và cái Vị Thủy Mệnh chi Mệnh đã hiện ra.

Thôi Công (Nhập Dược kính) viết:

Thị tính mệnh, phi thần khí, quyền nhi ngôn chi tắc nhị, thật nhi ngôn chi tắc nhất 是性命,非神气, 权而言之则二,实而言之则一。 (Tính Mệnh hay Thần Khí tưởng là hai, nhưng kỳ thật là một).

Thần Khí đã không phải nhị vật, thì Tính Mệnh cũng phải song tu. Nhưng tôn chỉ của phép Song Tu, từ lâu đã thất truyền. Hai phái Huyền (Đạo gia), Thiền (Phật gia) lại còn tranh nhau cao thấp.

Lưu Hải Thiềm nói:

Chân cá Phật pháp tiện thị Đạo, 真个佛法便是道,
Nhất cá hài nhi, lưỡng cá bão. 一个孩儿两个抱。

Phật pháp chân truyền chính là Đạo,
Y như một trẻ có hai áo.

清和翁曰:性命雙修教外傳,其中玄妙妙而玄。簇將元始歸無始,逆轉先天作後夭。

此端奧妙,非師罔通,口訣玄微,詳載於後。今姑就諸仙所證者而言之,便於初機而易得悟入也。

按白玉蟾云:昔日遇師親口訣,只要凝 神入氣穴。氣穴者,內竅也。蟄神於中,藏氣於內,以如來空空之心,合真人深深之息,則心息相依,息調心淨。蓋蘊一點真心於氣中,便是凝神 入氣穴之法。神既凝定氣穴,常要回光內照。照顧不離,則自然旋轉,真息一降一升,而水火木金相為進退矣。

仙諺曰: 欲得長生,先須久視。久視於上丹田,則神長生;久視於中丹田,則氣長生;久視於下丹田,則形長生。

夫日月之照於天地間,蚌吸之則生 珠,頑石蓄之則產玉,何況人身自有日月,豈不能回光內照,結自己之珍珠。產自已之美玉哉?

然而神即火也,氣即水 也。水多則火滅,火多則水干。中年之人,大抵水不勝火者多矣。所以,命宜早接,油要早添。添油之法已載前教護命寶之下。今復進言,則天人 一氣之旨盡露矣。

夫天人之際,唯一氣之相為闔辟,相為聯屬已爾,而非有二也。故我而呼也,則天地之氣於焉,而發而散。我而吸也, 則天地之氣於焉,而翕而聚。此天人相與之微,一氣之感通者然也。故天地所以能長且久者,以其呼吸於其內也。

人能效天地呼吸於其內,亦可與 天地同其長久。

Thanh Hòa Ông viết:

Tính mệnh song tu giáo ngoại truyền, 性命双修教外传,
Kỳ trung huyền diệu, diệu nhi huyền. 其中玄妙妙而玄。
Thốc tương nguyên thủy qui vô thủy, 簇将元始归无始,
Nghịch chuyển tiên thiên tác hậu thiên. 逆转先天作后夭。

Tính Mệnh Song Tu khó mà truyền,
Thật là huyền diệu, lại diệu huyền.
Quyết đem Nguyên Thủy về Vô Thủy,
Nghịch chuyển Tiên Thiên hóa Hậu Thiên.

Đầu mối này ảo diệu, không Thầy không hiểu. Khẩu quyết lại huyền vi, xin trình bày ra sau đây. Và đem lời chư tiên ấn chứng để nói ra, để những người sơ cơ hiểu được mà vào Đạo.

Chú: Bạch Ngọc Thiềm nói:

Tích nhật ngộ sư thân khẩu quyết. 昔日遇师亲口诀,
Chỉ yếu ngưng thần nhập khí huyệt. 只要凝神入气穴。

Ngày trước gặp Thầy truyền Khẩu Quyết.
Muốn nhập khí huyệt phải ngưng thần.

Khí huyệt là Nội Khiếu. Đem Thần Khí giấu vào nơi đó. Dùng Tâm không không của Như Lai, hợp với hơi thở sâu của Chân Nhân, thì Tâm Tức sẽ tương y, tức đều và Tâm tịnh, đem một điểm Chân Tâm giấu vào trong Khí, như vậy là phép Ngưng Thần nhập khí huyệt vậy.

Thần đã ngưng định nơi Khí Huyệt, thì phải thường Hồi Quang Nội Chiếu, chiếu cố không rời, thì Chân Khí tự nhiên sẽ vần xoay. Chân Tức sẽ lên lên, xuống xuống, Thủy, Hỏa, Mộc, Kim sẽ tự nhiên tiến thoái vậy.

Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.

Di Giáo kinh nhà Phật viết: Chế chi nhất xứ, vô sự bất biện 制之一 处,无事不辨。(Tâm chế hiện mọi sự, mọi sự sẽ nên công).

Tất cả đều chỉ về cái cơ hô hấp của các bậc Chân Nhân. Nhưng cơ hô hấp của Chân Nhân là ở chỗ nào?
Lời ngạn ngữ của tiên xưa nói: Dục đắc trường sinh, tiên tu cửu thị 欲得长生,先须久视。(muốn được trường sinh, trước phải nhìn lâu).

Nếu nhìn lâu vào Thượng Đan Điền, thì Thần sẽ trường sinh, nếu nhìn lâu vào Trung Đan Điền thì Khí sẽ trường sinh, nếu nhìn lâu vào Hạ Đan Điền thì Hình sẽ trường sinh.
Kia Nhật Nguyệt chiếu soi giữa khung trời, trai ốc hấp thụ mà có châu, ngoan thạch tàng chi mà có ngọc; huống chi Con Người, trong thân có sẵn nhật nguyệt, sao không biết hồi quang phản chiếu, để kết thành trân châu, mỹ ngọc hay sao?

Vả Thần là lửa, Khí là nuớc, nuớc nhiều thì lửa tắt, lửa nhiều thì nước cạn. Một nguời trung niên, đa số là Nuớc không thắng Lửa, chính vì vậy mà Mệnh phải sớm tiếp, dầu phải sớm thêm.
Phép Thiêm Du đã chép nơi cuối bài Cứu Hộ Mệnh Bảo trên đây, nay lại chép lại để làm tỏ rõ ra cái phép Thiên Nhân Nhất Khí.

Trong khoảng Trời Người, chỉ có một khí đóng, mở, quen thuộc với nhau, chứ không phải có hai. Khi ta hít vào, thì thiên địa chi khí từ đó phát tán, khi ta thở ra thì thiên địa chi khí từ đó thu tụ. Cái vi diệu của trời đất chính là cái cảm thông của một khí vậy.

Trời đất có thể trường cửu, chính vì trong có Hô Hấp, con người mà bắt chước được trời đất mà có hô hấp bên trong, thì có thể trường cửu như trời đất vậy.
曹仙姑云:元和內運即成真,呼吸外施終未了。以口鼻之氣往來者,外呼吸也。乾坤之氣闔辟者,內呼吸也。

蕭了真云:老子明開眾妙門,一開一闔應乾坤。果於罔象無形處,有個長生不死相。此指內呼吸也。

張平叔云:玄牝之門世罕知,休將口 鼻妄施為。饒君吐納經千載,爭得金烏搦兔兒。此斥外呼吸也。

外呼吸乃色身上事,接濟後天以養形體。內呼吸以法身上事,栽培先天以養 谷神。

蓋內呼吸之息,原從天命中來,非同類之物不能相親。是以聖人用伏氣之法,奪先天地之沖和,逆上雙關。前返乎後, 以達本根。使母之氣伏子之氣,子母眷戀於其間,則息息歸根,而為金丹之母矣。

前輩云:伏氣不服氣,服氣須伏氣。服氣不長生,長生須 伏氣。氣之積於下者,無地可透,自然升之而上至髓海。積於上者,無處可奔。自然降之而下至海氣。二氣相接,循環無端。古先達人得濟長生 者,良由有此逆用之法也。

此法自始至終丟他不得。起手時有救護補益之功;第二節有流戊就己之功;第三節有添油接命之功;第四節有助 火載金之功;第五節火熾而有接濟之功;第六節胎成而有沐浴之功;第七節溫養而有乳哺之功。嬰兒救出於苦海,此時到岸不須 船,這著功夫才無用矣。

且人始生也,一剪肚臍而幾希性命即落在我之真人呼吸處矣;既之而在於天地之間;又既之而在於肉團之心;又既之 而散於耳目口鼻四肢百骸。日復一日,神馳氣散,乃死之途也。

故神仙以歸伏法度人,必先教之返本。返本者何?以其散之於耳目口鼻四肢 百骸者而復返於肉團之心,謂之涵養本原。又將以肉團心之所涵養者而復返之於天地之間,謂之安神祖竅。又將以天地間之所翕聚者而復返之於真 人呼吸處,謂之蟄藏氣穴。日復一日,神凝氣聚,乃生之途也。

古仙曰:屋破修容易,藥枯生不難。但知歸伏法,金寶積 如山。此時補完乾體,接續氣數,以全親之所生,以全天之所賦,真汞才有八兩,真鉛始足半斤,若嬰兒心同赤子,陰陽吻合,混沌不分,出息微 微,入息綿綿,漸漸入而漸漸柔,漸漸和而漸漸定,久則竅中動息兀然自住,內氣不出,外氣反進,此是胎息還元之初,眾妙歸根之始也。

Tào Tiên Cô nói:

Nguyên hòa nội vận, tức thành chân . 元和内运即成真,
Hô hấp ngoại thí, chung vị liễu. 呼吸外施终未了。

Biết thở bên trong sẽ thành tiên.
Hô hấp bên ngoài chẳng đến đâu.

Cái đó là Nội Hô Hấp .

Tiên Liễu Chân viết:

Lão Tử minh khai chúng diệu môn, 老子明开众妙门,
Nhất khai, nhất hạp ứng kiền khôn. 一开一阖应乾坤。
Quả vu võng tượng vô hình trú, 果于罔象无形住,
Hữu cá trường sinh bất tử côn. 有个长生不死根。

Lão Tử chỉ bày Chúng Diệu Môn,
Mở ra, đóng lại ứng Kiền Khôn.
Quả thật từ trong vô hình xứ,
Đã có Trường Sinh Bất Tử Côn.
Cái đó chỉ Nội Hô Hấp vậy.
Trương Bình Thúc viết:

Huyền Tẫn chi môn, thế hãn tri, 玄牝之门世罕知,
Hưu tương khẩu tị vọng thi vi. 休将口鼻妄施为。
Nhiêu quân thổ nạp kinh thiên tải, 饶君吐纳经千载,
Tranh đắc kim ô, nạch thố nhi. 争得金乌搦兔儿。

Đan điền Huyền Tẫn ít ai hay,
Đừng đem mặt mũi để phô bày.
Dẫu anh hít thở ngàn muôn kiếp,
Kim ô, ngọc thố chẳng cùng quay.
Đó là chỉ Nội Hô Hấp vậy.

Ngoại Hô Hấp là chuyện của Sắc Thân, tiếp tế Hậu Thiên để dưỡng hình; Nội Hô Hấp là chuyện của Pháp Thân, nó tài bồi Tiên Thiên để dưỡng Cốc Thần.

Hơi thở Nội Hô Hấp là do Thiên Mệnh (Tiên Thiên) mà tới, không là đồng loại không thể tương thân, cho nên thánh nhân dùng phép Phục Khí (Phục Khí là Tụ Khí tại Đan Điền) đoạt khí Trung Hoà của trời đất, nghịch thượng Song Quan, trước đổi thành sau, đạt tới Bản Căn (Đan Điền) khiến Mẫu Khí (Tiên Thiên Khí, Tổ Khí) hội hợp Tử Khí (Hậu Thiên Khí), hai khí Tử Mẫu quyến luyến nhau, và tức tức qui căn, để thành mẹ Kim Đơn.

Người xưa nói:

Phục khí bất phục khí, 伏气不服气,
Phục khí tu phục khí. 服气须伏气。
Phục khí bất trường sinh, 服气不长生,
Trường sinh tu phục khí. 长生须伏气。

Tụ khí không thực khí,
Thực khí phải tụ khí.
Thực khí không trường sinh,
Trường sinh cần tụ khí.

Khí tích tụ ở dưới, không có lối để thoát, tự nhiên sẽ đi lên tới Tủy Hải (Óc); khí tích tụ ở trên không, không biết đi đến đâu, tự nhiên sẽ đi xuống Khí Hải (Hạ Đan Điền). Nhị khí tiếp nhau, tuần hoàn vô đoan, tiên thánh xưa nay sở dĩ được trường sinh, chính là nhờ vào phép Nghịch Dụng này.

Phép này từ đấu tới cuối đều không thể bỏ.

– Truớc hết là có công dụng Cứu Hộ Bổ Ích.
– Thứ hai là công phu đưa Mậu tới Kỷ .
– Thứ ba là công phu Thiêm Du Tiếp Mệnh .
– Thứ bốn là công phu Trợ Hỏa Tải Kim .
– Thứ năm là tuy lửa cháy rực nhưng có công phu Thủy Hỏa Ký Tế .
– Thứ sáu là thai thành và có công phu Mộc Dục .
– Thứ bảy là Ôn Dưỡng và công phu Nhũ Bộ .

Thế là cứu Anh Nhi ra khỏi khổ hải. Lúc này là lúc đã đến bờ chẳng còn cần thuyền. Lúc ấy không còn cần Phục Khí (Tụ Khí) nữa.

Vả khi con người mới sinh, ít ai có được Tính Mệnh (Nguyên Thần, Nguyên Khí) trụ ngay vào Nê Hoàn Tổ Khiếu, nhưng lại trụ vào trong trời đất, trong tâm huyết nhục, rồi tán ra ngũ quan, tứ chi bá hài. Rồi thần khí càng ngày càng hao tán, và con người sẽ chết.
Cho nên thần tiên đem phép Qui Phục dạy người Phản Bản, thế nào là Phản Bản?
Phản bản là đem cái gì đã phát tán ra ngũ quan, tứ chi, bá hài, thu nhiếp về Tim . Cái đó gọi là Hàm Dưỡng Bản Nguyên.

Sau lại đem chúng thu nạp về giữa Đất Trời. Cái đó gọi là An Thần Tổ Khiếu.
Sau lại đem những gì đã hấp tụ được từ giữa Trời Đất đem vào Chân Nhân Hô Hấp Xứ. Cái đó gọi là Trập Tàng Khí Huyệt.

Ngày lại một ngày, Thần Ngưng Khí Tụ. Và con người sẽ sống.

Cổ Tiên viết:

Ốc phá tu dung dị , 屋破修容易,
Dược khô sinh bất nan. 药枯生不难。
Đãn tri qui phục pháp, 但知归伏法,
Kim bảo tích như sơn. 金宝积如山。

Nhà nát dễ dàng sửa,
Thuốc hết, có lại thuờng.
Cần biết Qui Phục Pháp,
Châu báu tựa núi non.

Lúc ấy, Kiền Thể sẽ bồi hoàn, Khí Số sẽ tiếp tục, sẽ chu toàn được cái gì cha mẹ đã cho, cái gì Trời Đất đã phú, và Chân Hống sẽ được tám lạng, Chân Diên sẽ vừa nửa cân, Khí như trẻ nít, Tâm như trẻ con. Âm Dương sẽ hợp nhất, bất tương phân.

Hơi thở ra sẽ nhè nhẹ, hơi thở vào sẽ dài dài, càng ngày càng đều, càng ngày càng định. Lâu sau hơi thở tự nhiên sẽ dừng. Nội khí không ra, ngoại khí phản tiến. Thế là Thai Tức qui nguyên, thế là Chúng Diệu Qui Căn vậy.

呂知常曰:一息暫停,方可奪天地造化。

程伊川曰:若非竊造化之機,安能長生?

翁葆光曰:一刻之工夫,可在 天地一年之氣數。

此三老者豈虛語哉?益胎息妙凝之時,入無積聚,出無分散,體相虛空,泯然入定。定久,內外合一,動靜俱無,璇 機停輪,日月合壁,萬里陰沉春氣合,九霄清澈露華凝。妙矣哉!其陰陽交感之真景象於斯時也。元精吐華,而乾金出礦矣。此系重開混沌,再入 胞胎,開無漏花,結菩提果,非夙有仙骨者,不能知此道之妙也。

後有密戶前生門,出日入月呼吸存。此老氏黃庭外景經之口訣也。

只就真人呼吸處,放教奼女往來飛。此李長源混元寶章之口訣也。

內交真氣存呼吸,自然造化返童顏。此許旌陽醉思仙歌之口訣也。

西方金母最堅剛,走入壬家水裡藏。此石杏林還元篇中之口訣也。

要知大道希夷理,太陽移在月明中。此薛紫賢覆命篇中之口決也。

先賢明露丹台旨,幾度靈鳥宿桂柯。此劉海蟾還金篇中之口訣也。

兩般靈物天然和,些子神機這裡求。此陳默然崇正篇中之口訣也。

古佛之音超動靜,真人之息自游絲。此釋鑒源青蓮經中之口訣也。

一息漸隨無念窅,半醒微覺有身浮。此羅念庵胎息篇中之口訣也。

出息不隨萬緣,人息不居蘊界。此般若尊者答東印度國王口訣也。

水銀實滿葫蘆裡,封固其口置深水。此萼綠華氣穴圖中之口訣也。

萬物生皆死,元神死復生。以神歸氣穴,丹道自然成。此石杏林之口訣也。

歸根自有歸根竅,覆命寧無覆命關。踏破兩重消息子,超凡入 聖譬如閒。此李清庵之口訣也。

心思妙,意思玄,臍間元氣結成丹。谷神不死因胎息,長生門戶要綿綿。此群仙珠玉口訣也。

專氣致榮神久留,往來真息自悠悠。綿綿迤邐歸元命,不汲靈泉常自流。此海蟾翁口訣也。

一條直路少人尋,風虎雲龍自嘯吟。坐定更知 行氣主,真人之息又深深。此陳致虛口訣也。

圓不圓來方不方,森羅天地暗包藏。如今內外兩層白,體在中央一點黃。此大成集口訣也。

息調心淨守黃庭,一部渾全圓覺經。悟劫此身猶是幻,蒲團坐上要惺惺。此抱朴子口訣也。

經營鄞鄂體虛無,便把元神裡面居。息往息來 無間斷,聖胎成就合元初。此陳虛白口訣也。

諦觀三教聖人書,息之一字最簡直。若於息上做功夫,為佛為仙不勞力。思緣達本禪之機,息 心明理儒之極,息氣凝神道之玄。三息相須無不克。此李道純中和集中之口訣也。
Lã Tri Thường nói: Nhất tức tạm đình, phương khả đoạt thiên địa tạo hoá 一息暂停,方可夺天地造化。(Hơi thở mà ngưng, mới có thể đoạt Thiên Địa Tạo Hóa).

Trình Y Xuyên nói: Nhược phi khuy tạo hóa chi cơ, an năng trường sinh? 若非窃造化之机,安能长生?(Nếu không thấy được cơ vi ảo diệu của hóa công, thì làm sao mà trường sinh?).

Ông Bảo Quang nói: Nhất khắc chi Công Phu, khả đoạt thiên địa nhất niên chi khí số 一刻之工夫,可夺天地一年之气数。(Biết công phu một khắc, là lấy được khí số một năm của trời đất).

Lời ba lão trượng trên chẳng lẽ sai sao?

Vì lúc Chân Tức vừa ngưng, hít vào không Tích Tụ, thở ra không Phân Tán, thể như Hư Không, tự nhiên nhập định. Khi đã nhập định, trong ngoài sẽ hợp nhất, động tĩnh sẽ không còn, tuyền ky dừng bánh, nhật nguyệt hợp bích.

Vạn lý âm trầm xuân khí hợp, 万里阴沉春气合,
Cửu tiêu thanh triệt lộ hoa ngưng. 九霄清彻露华凝。

Thật là vi diệu thay! Đó là Chân Cảnh của Âm Dương Giao Cảm. Lúc ấy Nguyên Tinh sẽ trổ hoa, Kiền Kim sẽ lìa tạp khoáng vậy.

Lúc ấy Hỗn Độn sẽ trùng tân khai mở, nhập lại vào bào thai, sẽ nở ra hoa Vô Lậu, sẽ sinh ra quả Bồ Đề, nếu không phải là những người vốn có Tiên Cốt, thì sẽ không hiểu được vi diệu của Đạo Lý này.
Đó cũng là khẩu quyết trong Huỳnh Đình Nội Cảnh.

Hậu hữu mật hộ, tiền sinh môn, 后有密户前生门,
Xuất Nhật nhập Nguyệt hô hấp tồn. 出日入月呼吸存。

Đó là khẩu quyết của Lý Trường Nguyên (Hỗn Nguyên Bảo Chương).

Chỉ tựu Chân Nhân hô hấp xứ, 只就真人呼吸处,
Phong giao Xá Nữ vãng lai phi. 放教姹女往来飞。

Chỉ tại Chân Nhân hô hấp xứ.
Mới để Chân Thần được vãng lai.

Đó là khẩu quyết của Hứa Tinh Nhật (Túy Tự Tiên Ca).

Nội giao chân khí tồn hô hấp, 内交真炁存呼吸,
Tự nhiên tạo hoá phản đồng nhan. 自然造化返童颜。

Thần Khí nội giao ngừng hô hấp,
Tự nhiên trẻ lại tựa trẻ con.

Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm (Hoàn Nguyên thiên).

Tây phương kim mẫu tối kiên cương, 西方金母最坚刚,
Tẩu nhập Nhâm gia Thủy lý tàng. 走入壬家水里藏。
Phế khí nhập Đan Điền, cùng với Tổ Khí giao.

Đó là khẩu quyết của Tiết Tử Hiền (Thục Mệnh thiên).

Yếu tri đại đạo Hi Di lý, 要知大道希夷理,
Thái Dương di tại Nguyệt Minh trung. 太阳移在月明中。

Nên biết huyền vi của đại đạo,
Nhật nguyệt kề vai tại trung cung.

Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm (Hoàn Kim thiên).

Tiên hiền minh lộ đan điền chỉ, 先贤明露丹田旨,
Kỷ độ Linh Ô túc Quế Kha. 几度灵鸟宿桂柯。

Hiền thánh chỉ bày đan điền rõ,
Mấy độ nguyên thần trợ quế gia.

Đó là khẩu quyết của Trần Mặc Nhiên (Sùng Chính thiên).

Lưỡng ban linh vật thiên nhiên hợp, 两般灵物天然合,
Ta tử thần cơ giá lý cầu. 些子神机这里求。

Nguyên Thần, Tổ Khí thiên nhiên hợp,
Thiên cơ diệu lý chính là đây.

Đó là khẩu quyết của Thích Giám Nhiên (Thanh Liên kinh).

Cổ phật chi âm siêu động tĩnh, 古佛之音超动静,
Chân nhân chi tức tự du ti. 真人之息自游丝。

Cổ phật âm thanh siêu động tĩnh,
Chân nhân thai tức nhẹ như không.

Đó là khẩu quyết của La Niêm An (Thai Tức thiên).

Nhất tức tiệm tùy vô niệm yểu, 一息渐随无念窅,
Bán tỉnh vi giác hữu thân phù. 半醒微觉有身浮。

Niệm lự không còn, thở cũng không,
Chập chờn thân xác nhẹ như không.

Đó là khẩu quyết của Bát Nhã tôn giả để đáp Đông Ấn Độ Quốc Vương.

Xuất tức bất tùy vạn duyên, 出息不随万缘,
Nhập tức bất cư uẩn giới. 入息不居蕴界。

Xuất tức bất tùy thân ngoại sự,
Nhập tức không nương ngũ uẩn trung.

Đó là khẩu quyết của Ngạc Duyên Hoa (Khí Huyệt đồ).

Thủy ngân thật mãn hồ lô lý, 水银实满葫芦里,
Phong cố kỳ khẩu trí thâm thủy. 封固其口置深水。

Nguyên thần tổ khí tụ đan điền,
Cẩn thận ngậm miệng để gây rượu.

Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm:

Vạn vật sinh giai tử, 万物生皆死,
Nguyên thần tử phục sinh. 元神死复生。
Dĩ thần qui khí huyệt, 以神归气穴,
Đơn đạo tự nhiên thành. 丹道自然成。

Vạn vật sinh đều chết,
Nguyên thần chết lại sống.
Để thần về khí huyệt,
Đan đạo tự nhiên thành.

Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am.

Qui căn tự hữu qui căn khiếu, 归根自有归根窍,
Phục mệnh ninh vô phục mệnh quan. 复命宁无复命关。
Đạp phá lưỡng trùng tiêu tức tử, 踏破两重消息子,
Siêu phàm nhập thánh thí như nhàn. 超凡入圣譬如闲。

Qui căn đã có qui căn khiếu,
Phục mệnh sao không phục mệnh quan.
Nếu ai nhận rõ hai lẽ ấy,
Siêu phàm nhập thánh chẳng khó khăn.

Đó là khẩu quyết trong Quần Tiên Châu Ngọc.

Tâm tư diệu, ý tư huyền, 心思妙,意思玄,
Tề gian nguyên khí kết thành đan. 脐间元气结成丹。
Cốc thần bất tử nhân thai tức, 谷神不死因胎息,
Trường sinh môn hộ yếu miên miên. 长生门户要绵绵。

Tâm ý suy tư lẽ diệu huyền.
Nơi rốn nguyên thần kết thành đan.
Cốc Thần bất tử nhờ thai tức.
Cách cửa trường sinh mở rộng luôn.

Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm.

Chuyên khí chí nhu thần cửu lưu, 专气致柔神久留,
Vãng lai chân tức tự du du. 往来真息自悠悠。
Miên miên di lị qui nguyên mệnh, 绵绵迤逦归元命,
Bất cấp linh tuyền thường tự lưu. 不汲灵泉常自流。

Dùng thần ngự khí, thần cửu lưu,
Chân tức qua lại nhẹ như tơ.
Quanh co lui tới lưu tổ khiếu,
Kết thành thai tức thường tự lưu.

Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.

Nhất thân thượng hạ định trung ương, 一身上下定中央,
Thận tiền tề hậu hiệu huỳnh phòng. 肾前脐後号黄房。
Lưu mậu tác môi tương tựu kỷ, 流戊昨媒将就己,
Kim lai qui tính hạ tân lang. 金来归性贺新郎。

Con người trên dưới định Trung Ương,
Rốn sau thận trước ấy đan điền.
Nguyên thần, nguyên khí đan điền hạ,
Thần khí giao bôi nhạc êm êm.

Đó là khẩu quyết của Trần Chí Hư.

Nhất điều trực lộ thiểu nhân tầm, 一条直路少人寻,
Phong hổ, vân long tự khiếu ngâm. 风虎云龙自啸吟。
Tọa định cánh tri hành khí chủ, 坐定更知行气主,
Chân nhân chi tức hựu thâm thâm. 真人之息又深深。

Một con đường thẳng ít người tầm,
Nguyên thần, nguyên khí giao phối thân.
Tu thiền nhập định cần chính niệm,
Thai tức miên miên lại thâm thâm.

Đó là khẩu quyết của Đại Thành tập.

Viên bất viên lai, phương bất phương, 圆不圆来方不方,
Sâm la thiên địa ám bao tàng. 森罗天地暗包藏。
Như kim nội ngoại lưỡng tầng bạch, 如今内外两层白,
Thể tại trung ương nhất điểm hoàng. 体在中央一点黄。

Tròn chẳng ra tròn, vuông chẳng vuông,
Trời đất bao la vốn thâu gồm.
Nội ngoại đôi bên hai tầng trắng,
Thể tại trung ương một điểm vàng.

Đó là khẩu quyết của Bão Phác Tử.

Tức điều tâm tịnh thủ huỳnh đình, 息调心净守黄庭,
Nhất bộ hồn toàn viên giác kinh. 一部浑全圆觉经。
Ngộ khước thử thân do thị ảo, 悟劫此身犹是幻,
Bồ đoàn tọa thượng yếu tinh tinh. 蒲团坐上要惺惺。

Điều tức tịnh tâm giữ huỳnh đình,
Khiến cho linh giác được mãn viên.
Biết được thân này là ảo ảnh,
Bồ đoàn ngồi vững ấy tu thiền.

Đó là khẩu quyết của Trần Hư Bạch.

Kinh doanh Ngân Ngạc thể hư vô, 经营鄞鄂体虚无,
Tiện bả nguyên thần lý diện cư. 便把元神里面居。
Tức vãng tức lai, vô gián đoạn, 息往息来无间断,
Thánh thai thành tựu hợp nguyên sơ . 圣胎成就合元初。

Luyện chế nội đơn, hiểu hư vô,
Nguyên thần tự tại đan điền cư.
Tức vãng tức lai, vô gián đoạn,
Kim đơn thành tựu hợp nguyên sơ.

Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thành (Trung Hòa tập).

Đế quan Tam Giáo thánh nhân thư, 谛观三教圣人书,
Tức chi nhất tự tối giản trực. 息之一字最简直。
Nhược vu Tức thượng tố công phu, 若于息上做功夫,
Vi phật vi tiên bất lao lực. 为佛为仙不劳力。
Tức duyên đạt bản THIỀN chi cơ, 思缘达本禅之机,
Tức Tâm minh lý, NHO chi cực. 息心明理儒之极,
Tức Khí ngưng Thần ĐẠO chi huyền, 息气凝神道之玄。
Tam Tức tương tu vô bất khắc. 三息相须无不克。

Đọc kỹ tam giáo thánh nhân sách,
Chỉ một chữ Tức rất giản trực.
Nếu trên chữ Tức biết công phu,
Thành Phật, thành Tiên không phí sức.
Tức Duyên Đạt Bản là THIỀN cơ,
Tức Tâm Minh Lý, là NHO tột.
Tức Khí Ngưng Thần là ĐẠO huyền,
Biết hợp tam gia đạo sẽ thành

*
* *
胎息訣
袁 天綱胎息訣

夫元氣者,大道之根,天地之母,一陰一陽,生育萬物。在人為呼吸之氣,在天為寒暑之氣。能改移四時之氣者,戊 己也。

春在巽,能發生萬物。夏在坤,能長養萬物。秋在乾,能成熟萬物。冬在艮,能含養萬物。

故學道者,當取 四時正氣,納人胎中,是為真種,積久自得,心定,神定,息定,龍親虎會,結就聖胎,謂之真人胎息。太始民胎息訣

夫 道,太虛而已矣。天地、日月皆從太虛中來。故天地者,太虛之真胎也。日月者,太虛之真息也。

人能與太虛同體,則天地即我之胎,日月 即我之息,太虛之包羅即我之包羅。豈非所謂超出天地、日月之外而為混虛。氏其入歟。

達摩祖師胎息經

胎從伏氣中結,氣從有胎中息。氣入身中為 之生,神去離形為之死。知神氣可以長生。固守虛無以養神氣。神行則氣行,神住而氣住。若欲長生,神氣相注,心不動念,無來無去,不出不入,自然常住。勤而 行之,是真道路。

張景和胎息訣

真玄真牝,自呼自吸,似春沼魚,如百蟲蟄,灝氣融融,靈風習習,不濁不清,非 口非鼻,無去無來,無出無入,返本還原,是真胎息。

王子喬胎息訣

奉道之土,須審子午卯酉四時,乃是陰陽出入 之門戶。定心不動,謂之曰禪。神通萬遍,謂之曰靈。智周萬事,謂之曰慧。道元合氣,謂之曰修。真氣歸元,謂之曰煉。龍虎相交,謂之曰丹。三丹同契。謂之曰 了。

有志於道者,知此根源,依法修行,自可入於長生大道矣。

THAI TỨC QUYẾT
Viên Thiên Cương thai tức quyết:-

Nguyên Khí là căn cơ Đại Đạo, là phụ mẫu của Thiên Địa. Một Âm, một Dương sinh dưỡng vạn vật. Nơi con người là Khí Hô Hấp. Trên trời là Khí Hàn Thử. Đó là Khí thay đổi được bốn mùa. Mùa Xuân ở quẻ Tốn (Đông Nam), có thể sinh vạn vật; mùa Hạ ở quẻ Khôn (Tây Nam) có thể trưởng dưỡng vạn vật; mùa Thu tại Kiền (Tây Bắc) làm cho vạn vật chín mùi, thành tựu; mùa Đông tại Cấn (Đông Bắc) có thể hàm dưỡng vạn vật.

Cho nên học giả cần nắm giữ được Chính Khí bốn mùa, nạp vào thai trung, đó là Chân Chủng. Tích tụ Khí đó lâu ngày, thì Tâm sẽ định, Thần sẽ định, Tức sẽ định, Long Hổ tương hội kết thành thánh thai, gọi là Chân Nhân Thai Tức.

Thái Thủy Thị thai tức quyết:-
Đạo là Thái Hư, Thiên Địa nhật nguyệt đều sinh từ Thái Hư. Cho nên Thiên Địa là Chân Thai, Nhật Nguyệt là Chân Tức vậy.

Con người có thể cùng Thái Hư đồng thể, thì Thiên Địa là Thai ta, Nhật Nguyệt là Hơi Thở ta. Thái Hư bao la, thì ta cũng bao la. Như vậy con người có thể siêu xuất Thiên Địa, Nhật Nguyệt, mà hòa hợp với Thái Hư, trở thành con người có Hỗn Độn Nhất Khí vậy.

Đạt Ma Tổ Sư thai tức kinh:-

Thai vì phục khí (tụ khí) mà kết. Khí là do hơi thở của thai. Khí nhập vào Thân thì sinh, Thần mà ly Hình thì gọi là tử. Biết nhờ thần khí nên mới trường sinh, thì phải lấy hư vô mà dưỡng thần khí. Thần hành thì Khí hành, Thần trụ thì Khí trụ. Muốn được trường sinh Thần Khí phải quán trú, tâm bất động niệm, vô lai, vô khứ, bất xuất, bất nhập, tự nhiên thường trụ, cú siêng năng thực hành, thì đó là Chân đạo lộ.

Trương Cảnh Hòa thai tức quyết:-
Chân Huyền, Chân Tẫn, tự hô, tự hấp, như cá trong hồ xuân, như trăm loại trùng núp trong đất (cá trong hồ, trùng trong đất phải nhờ ngoại khí mời sống) hạo khí dung dung, Linh phong tập tập , không đục không trong , không phải mồm, không phải mũi , không lại, không đi, phản bản, hoàn nguyên, ấy là Chân Thai Tức .

Vương Tử Kiều thai tức quyết:-

Người tu sĩ phải hiểu 4 thời Tý, Ngọ, Mão, Dậu vì đó là cửa ra vào của Âm Dương .
Nhập định, ngừng tạp niệm thì gọi là thiền.
Nguyên Thần thông hòa, biến thân mọi sự, đó gọi là linh.
Trí biết phán đoán vạn vật, đó gọi là tuệ.
Đạo và Khí hòa hài, tương hợp đó gọi là tu.
Chân Khí qui nhập đan điền đó gọi là luyện.
Nguyên Thần, Nguyên Khí hòa hài, đó gọi là đơn thành.
Liên lạc, dung thân được Tam Đan Điền thì gọi là Liễu (Thành công).
Cứ theo phép này mà tinh tiến tu luyện dần dần, thì sẽ đạt trường sinh bất lão vậy.
許棲嚴胎息訣

凡修道者, 常行內觀,遺去三屍,驅除六賊,納氣於丹田,定心於覺海。心定則神寧,神定則氣住,氣住則胎長矣。胎之長者,由於息之住地,無息不胎,無胎不息,住息長 胎,聖母神孩。故曰:胎息定而金木交,心意寧而龍虎會也。

王方平胎息訣

凡所修行,先定心氣。心氣定則神凝, 神凝則心安,心安則氣升,氣升則境忘,境忘則清靜,清靜則無物,無物則命全,命全則道生,道生則絕相,絕相則覺明,覺明則神通。

經 曰:心通萬法皆通,心靜方法皆滅。此我佛如來真定法門者也。學者果能定心氣,凝胎息,則還丹不遠,金液非遙。

赤松子胎息訣

氣穴之問,昔人名之為生門死戶,又謂之天地之根。凝神於此,久之,元氣日充,元神日旺。神旺則氣暢,氣暢則血融,血融則骨強,骨強則髓滿,髓滿則腹盈, 腹盈則下實,下實則行步輕健,動作不疲,四肢康健,顏色如桃,去仙不遠矣。

性空子胎息訣

我之本體本自圓明, 圓明者是我身中天地之真胎也。我之本體本自空寂。空寂者,是我身中日月之息也。唯吾身之天地有真胎矣,而後天地之胎與我之胎相為混合而胎我之胎,唯吾身之 日月有真息矣。而後日月之息與我之息相為混合而息我之息,唯吾身之本體既虛空矣。而後虛空之虛空與我之虛空相為混合而虛空我之虛空。

幻真先生胎息銘

三十六,一咽為先,吐唯細細,納唯綿綿,坐臥亦爾,行立坦然,戒於喧雜,忌以腥膻,假名胎息,實曰內丹,非只治 病,決定延年,久久行之,名列上仙。

以上口訣,舉其大略,餘者載於丹經,不可得而盡述。此蟄藏工夫其用大矣。謂人之元神,藏於氣 穴,猶萬物藏於坤土。神入也,中天氣降而至於地氣,與神合,猶地道之承於天。

參同契曰:恆順地理,承天布宣。

易曰:至哉!萬物資生。

蓋亥月純坤用事之時,時當草木歸根,蟄蟲入戶,閉塞成冬,冬雖主藏,然次年發育之功實胚胎於此。

蓋一陽不生於復而生於坤,坤雖至陰,然陰裡含陽,大藥之生實根只於此。藥將產時,就與孕婦懷胎相似,保完真種,不敢放肆。慎起居,節飲食,忌酒色,戒惱 怒。外不役其形骸,內不勞其心志。至於行、住、坐、臥,各各有方,行則措足於坦途,住則凝神於太虛,坐則調丹田之息,臥則抱臍下之珠。故曰行、住、坐、臥 不離這個。

Hứa Thê Nham thai tức quyết:-
Phàm người tu đạo phải biết Nội Quan, để diệt Tam Thi , và khu trừ Lục Tặc .
Phải biết tụ khí về Đan Điền, định tâm ở Giác Hải, Tâm định Thần sẽ an, Thần an Khí sẽ trụ, Khí trụ Thai sẽ trưởng. Thai trưởng là do khí trụ. Không biết thở không thành được Thai, không thai sẽ không thở. Biết thở sẽ trưởng dưỡng được thai. Trụ tức trưởng thai là Thánh Mẫu, Thần Hài. Cho nên nói: Thai tức định, nhi Kim Mộc giao, Tâm ý ninh, nhi Long Hổ hội (Thai tức định, thì Kim Mộc hợp , tâm ý có ninh tĩnh, thì Thần, Khí mới hòa hài).

Vương Phương Bình thai tức quyết:-
Phàm muốn tu hành, trước hết phải định tâm, khí. Tâm khí mà định thì thần sẽ ngưng. Thần ngưng tâm sẽ an. Tâm an khí sẽ thăng. Khí thăng sẽ quên cảnh. Quên cảnh sẽ thanh tĩnh. Thanh tĩnh sẽ vô vật. Vô vật thời mệnh toàn, thời đạo sẽ sinh. Đạo sinh tướng sẽ tuyệt. Tướng tuyệt sẽ giác minh. Giác minh sẽ thần thông.
Kinh viết: tâm thông, vạn pháp thông. Tâm tĩnh, vạn pháp diệt.

Xích Độ Tử thai tức quyết:-
Khí Huyệt, người xưa gọi là Sinh Môn, Tử Hộ, hoặc là Thiên Địa chi Căn. Nếu Thần ngưng ở đó, lây ngày, Thần Khí sẽ sung vượng. Thần sung vượng, Khí sẽ thư sướng. Khí thư sướng, Huyết Khí sẽ sung mãn. Khí Huyết sung mãn, gân cốt sẽ mạnh mẽ. Gân cốt mạnh mẽ, xương tủy sẽ thịnh mãn. Xương tủy thịnh mãn, ruột gan sẽ no đầy, hạ thể sẽ khinh kiện, đi đứng sẽ nhẹ nhàng. Hoạt động không mệt, tứ chi sẽ khang kiện mặt mũi sẽ trẻ đẹp, con người sẽ sống gần thần tiên.
Tính Không Tử thai tức quyết:-
Bản thể của ta vốn tự viên minh. Viên Minh là Chân Thai của Trời Đất trong thân ta.
Bản thể của ta vốn không tịch. Không Tịch là Chân Tức của Nhật Nguyệt trong thân ta. Chỉ có trời đất trong thân ta mới có Chân Thai (kim đơn) mà thôi. Vì kim đơn trong trời đất và kim đơn trong ta có thể hỗn hợp mà thành kim đơn trong ta. Nhân vì Nhật Nguyệt trong ta có Thai Tức, cho nên Thai Tức của Nhật Nguyệt và Thai Tức trong ta có thể hỗn hợp mà thành Thai Tức trong ta. Vì Bản Thể của ta vốn là Hư Vô, cho nên cái Hư Không của Thái Hư với cái Hư Không của Bản Thể ta có thể dung hợp để thành cái Hư Không trong ta vậy.

Ảo Chân tiên sinh thai tức quyết:-
36 lần nuốt. Trước mỗi lần nuốt phải nhả. Nhả phải nhè nhẹ, nạp phải miên miên. Nằm ngồi cũng vậy, đi đứng cũng thế. Không được thâu hút tạp khí, kỵ hôi tanh. Tạm gọi là Thai Tức, thực ra là Nội Đơn. Có thể trị bệnh, có thể diên niên; lâu ngày tên sẽ nêu trên bảng Thượng Tiên.
Các khẩu quyết trên về Thai Tức. Chỉ là nói đại lược, tất cả đều ghi trong đan kinh không thể kể hết.
Trập tàng công phu (Đem Thần Khí phục ẩn, hàm tàng tại Đan Điền Khí Huyệt), cũng như vạn vật tàng ẩn trong lòng đất, cũng như thiên khí giáng xuống đất. Thần Khí giao hợp, cũng như Địa Đạo thuận thừa Thiên Đạo.

Tham Đồng Khế nói:

Hằng thuận Địa lý; thừa Thiên bố tuyên (luôn theo địa lý, hưởng sương móc của trời). Dịch kinh viết: Chí tại Khôn Nguyên, vạn vật tư sinh.
Khôn Nguyên cao trọng biết bao.
Muôn loài đều phải nuơng vào cầu sinh.

Vào tháng 10 thuần Khôn, thì vạn vật sẽ qui căn, côn trùng sẽ chui vào hang ổ, thu hình nép bóng, vạn vật sẽ bế tắc thành Đông. Mùa Đông tuy chủ Bế Tàng, nhưng đến năm sau, thì công trình phát dục lại từ đó nảy sinh, thế chính là vạn vật đã phôi thai lại từ đó.

Thực ra Nhất Dương không phải sinh ra từ quẻ Phục, mà sinh từ quẻ Khôn. Khôn tuy là Âm, nhưng trong Âm có Dương, và Đại Dược cũng sinh từ đấy. Lúc Đại Dược sinh, cũng như đàn bà khi mới hoài thai, phải bảo toàn Chân Chủng, không được phóng dật. Đi đứng phải hẳn hoi, ẩm thực phải tiết dục, tránh phiền não, giận hờn, ngoài không được làm lụng vất vả, trong không được lao tâm khổ tứ. Đi đứng nằm ngồi nhất nhất phảo có qui củ. Đi phải đi trên đường bằng phẳng, phải ngưng thần vào Thái Hư, ngồi phải thở cho hẳn hoi, nằm phải chắt chiu viên ngọc ở nơi Hạ Đan Điền. Hành, trụ, tọa, ngọa lúc nào cũng để ý tới nó.
————-
Lời bàn của dịch giả
I. Bàn về Thai Tức:
Chương này nói nhiều về Thai Tức, nhưng không định nghĩa Thai Tức là gì?
Tôi tìm hiểu và định nghĩa thai tức.

1. Thai Tức còn được gọi là “Tề hô hấp”, “Đan điền hô hấp”, nghĩa là không dùng mũi mồm để thở, nhưng lại hô hấp tựa như bằng rốn, kiểu như thai nhi. Vì thế gọi là thai tức. Bảo Phác Tử nói: “Đuợc thai tức là không hô hấp bằng mũi mồm, mà như là bào thai” (Đắc thai tức giả, năng bất dĩ khẩu tị hô hấp, như tại bào thai chi trung).

“Hô hấp chân khí”, không dùng cách hô hấp bằng mũi mồm. Mũi mồm chỉ là môn hộ để hô hấp. Còn đan điền mới là bản nguyên của khí, là nơi thánh nhân hạ thủ, để “thu tàng chân nhất”. Đó là cách thở bằng bụng rất khó.

Thai tức kinh gọi thai tức như là phép luyện nội đơn (Giả danh thai tức, thật viết nội đan).

2. Thai tức lấy điều tức làm chủ, khiến sao cho hô hấp thổ nạp miên miên, không dùng khẩu tị, thủ thần bên trong, như anh nhi tại mẫu phúc trung, cho nên gọi là thai tức.

3. Người tu đạo thường phục khí ở dưới rốn, giữ Thần ở trong thân, Thần Khí Tương Hợp mới sinh Huyền Thai, […. . ] thế là nội đơn bất tử chi đạo vậy.

4. Thai tức chi Pháp là Thần Khí Tương Hội.

5. Người xưa còn cho rằng Thai Tức là Điều Khí, Yết Tân.

Ngoài những khẩu quyết về thai tức trên, sách “Trung quốc khí công đại thành” còn có một chương ghi lại nhiều khẩu quyết khác về Thai Tức.
II. Bàn về tam đan điền
Tính Mệnh Khuê Chỉ thường xuyên nói về Thượng, Trung, Hạ Đan Điền nhưng vị trí của chúng hết sức là mơ hồ. Sách thường xuyên bàn về Hạ Đan Điền, nhất là khi bàn về Thai Tức, và cho rằng Thai Tức là tụ Thần Khí vào Hạ Đan Điền.

Tôi xin dùng tài liệu rút từ Trung hoa đạo giáo đại từ điển và Trung quốc khí công đại thành để trình bày về tam đan điền.

1. Trước hết, Trung quốc khí công đại thành -tr. 190, xác định như sau:

Tam Đan Điền là nơi cư ngụ của Tinh, Khí, Thần.

Hạ Đan Điền hay Quan Nguyên là nơi cư ngụ của Tinh. Trung Đan Điền hay Giáng Cung là nơi cư ngụ của Khí. Thượng Đan Điền hay Nê Hoàn là nơi cư ngụ của Thần.

Sách lại nói Khí Hải có hai: một là Khí Hải ở dưới rốn, hai là Khí Hải, theo sách Tố Vấn, thì lại là huyệt Đản Trung, ở giữa hai vú.

Sách cho rằng nói Khí Hải ở dưới rốn mà lại là nơi cư ngụ của Khí là sai, nó phải là nơi cư ngụ của tinh, mà Khí Hải thật sự phải ở Trung Đan Điền, và nơi cư ngụ của Thần thì phải là Thượng Đan Điền. Đó là ý kiến của Lý Dã (1192- 1279) tự Nhân Khanh, hiệu Kinh Trai đời nhà Nguyên.

2. Bây giờ bàn về Tam Đan Điền theo Trung hoa đạo giáo đại từ điển.

Thượng Đan Điền:

Có nhiều tên: Tổ Khiếu, Nê Hoàn Cung, Kiền Cung, Kiền Gia, Côn Lôn Sơn, Thanh Hư Phủ, Thượng Thiên Quan, Giao Cảm Cung, Tam Ma Địa, Tối Cao Phong, Không Động Sơn, Huyền Thất, Huỳnh Phòng, Thiên Cung, Chân Tế, Thiên Căn, Huyền Môn, Bỉ Ngạn, Dao Trì, Thiên Cốc, Nội Viện, Tử Phủ, Liêu Thiên, Đế Ất, Tắng Sơn, Thiên Phù, Huyền Đô, Chúc Dung Phong, Thái Vi Cung, Ma Ni Châu, Tủy Hải, Tử Kim Thành, Lưu Châu Cung, Ngọc Kinh Sơn, Tử Tĩnh Cung, Thái Hàn Trì v. v.

Thượng Đan Điền ở trên đầu, là nơi các Dương mạch chầu về, nó có địa vị cao hơn cả trong Tam Đan Điền, vì thế gọi là Thượng Đan Điền. Nó là nơi tàng Thần.

Ngộ Chân Thiên viết:

Vạn quyển tiên kinh ngữ tổng đồng,
Kim đơn chỉ tại thử căn tông.
Y tha Khôn vị sinh thành thể,
Chủng hướng Kiền Gia Giao Cảm Cung.

Vạn quyển tiên kinh nói giống nhau,
Kim đơn căn để vốn nơi đây.
Lấy Khôn chính vị sinh thành thể,
Đem về gia kết với Kiền Gia.

Về vị trí của Thượng Đan Điền, Bảo Phác Tử viết: Hoặc tại nhân lưỡng mi gian, khước hành nhất thốn vi Minh Đường, nhị thốn vi Động Phòng, tam thốn vi Thượng Đan Điền (Từ giữa hai làn mi, đi vào một thốn là Minh Đường, 2 thốn là Động Phòng, 3 thốn là Thượng Đan Điền).

Trung Đan Điền:-

Còn được gọi là Huỳnh Đình, Chí Trung, Huyền Quan, Đơn Quynh, Chân Thổ, Mậu Kỷ Môn, Tây Nam Hương, Tổ Khí huyệt, Nguyên Cung.

Vị trí:
1. Ở giữa hai vú, nơi huyệt Đản Trung, gọi là Giáng Cung. Tiên kinh viết: Giáng Cung vi Trung Đan Điền, tàng khí chi dã.

2. Giữa tim và rốn, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Phổ Chiếu Đồ nói Trung Đan Điền ở dưới Tâm Nguyên, Tính Hải Khiếu và ở trên Quan Nguyên, Khí Hải, Thổ Phủ khiếu huyệt.

3. Trung Đan Điền là nơi luyện Khí hóa Thần, kết thai, luyện thai, dưỡng thai,

Trương Bá Đoan viết:

Thử khiếu phi phàm khiếu.
Kiền khôn cộng hiệp thành.
Danh vi Thần Khí huyệt.
Nội hữu Khảm Ly Tinh.

Hạ Đan Điền:-

Còn gọi là Chính Đan Điền, Nguyên Quan, Khí Hải, Khí Huyệt, Kim Lô, Tính Mệnh Chi Tổ, Sinh Khí Chi Nguyên, Âm Dương Chi Hội, Hô Hấp Chi Môn, Ngũ Tạng Lục Phủ Chi Bản v. v.
Hạ Đan Điền là Bách Mạch chi khu nữu, Tính Mệnh chi căn nguyên, đó cũng là chỗ kết đan. Thường nói dưới rốn là Hạ Đan Điền.
Vị trí không đồng nhất.

Bão Phác Tử nói: Hai tấc dưới rốn là Hạ Đan Điền. Tiên Kinh nhận rằng: Ba tấc dưới rốn là Hạ Đan Điền mà Hạ Đan Điền là tàng Tinh chi Phủ.

Sách Kim Đan Đại Yếu Đỉnh Lô Diệu Dụng nói: Hạ Đan Điền tại tề chi trung, tề hậu thận tiền, hữu đạo chi sĩ, chỉ yếu nhận thủ Hạ Đan Điền hư cực chi chuẩn (Hạ Đan Điền ở ngang rốn, sau rốn trước thận. Người tu đạo chỉ cần nhận Hạ Đan Điền là nơi Hư Cực).

Tưởng Duy Kiều gọi Hạ Đan Điền là Trùng Tâm. Nho gia Thủ Tĩnh, Lão gia Bão Nhất, Phật gia Thiền Quan, đều tìm Trùng Tâm để mà an định. Vị trí là sau rốn, trước thận ở một điểm khoảng 3/7.
(xin xem tiếp về các phương pháp Thiền)
<行禪圖>

萬法歸一,一歸何處?有者個在,又恁么去!

《維摩經》云:舉足下足,皆從道場來;《法藏集》云:晝心夜心,常游法苑去。

<立禪圖>

心無所住,湛然見性。體用如如,廓然無聖。
隨時隨處,消遙於莊子無何有之鄉;不識不知,游戲 於如來大寂滅之海。

HÀNH THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Hành diệc năng thiền, tọa diệc thiền, 行亦能禅坐亦禅
Thánh khả như tư, phàm bất nhiên. 圣可如斯凡不然

Hành cũng là thiền, tọa cũng thiền,
Thánh nhân như vậy, phàm chẳng vậy.

Bước đi của người hành thiền, không nên vội vã. Vội vã sẽ Động Tức, Thương Thai, phải đi chậm. Nếu đi chậm chạp, sẽ tâm bình khí hòa, lúc đi, lúc lại, lúc đứng lúc đi, mắt nhìn xuống dưới, tâm tàng nơi vực.

Vương Trùng Dương nói:

Lưỡng cước nhiệm tòng hành xứ khứ, 两脚任从行处去
Nhất linh thường dữ khí tương tùy. 一灵常与气相随
Hữu thời tứ đại huân huân túy, 有时四大醺醺醉
Tá vấn thanh thiên ngã thị thùy? 借问青天我是谁

Đi đâu, hai chân cứ việc tiến,
Còn thần với khí sẽ tương tùy.
Con người ngây ngất như say rượu,
Dám hỏi trời cao: ta ấy ai?

Vạn Pháp qui Nhất, 万法归一
Nhất qui hà xứ? 一归何处
Hữu giả cá tại, 有者个在
Hựu nhẫm ma khứ. 又恁麽去
Vạn Pháp qui Nhất,
Nhất qui về đâu?
Có Đan Điền đây,
Há phải đi đâu?

Bạch Lạc Thiên (Bạch Cư Dị) nói:

Tâm bất trạch thời thích, 心不择时适
Túc bất trạch địa an. 足不择地安
Cùng thông dữ viễn cận, 穷通与远近
Nhất quán vô lưỡng đoan. 一贯无两端

Tâm ý tùy thời đều an thích,
Hai chân, tùy xứ rất an nhiên.
Chẳng ngại cùng thông hay viễn cận,
Chỉ việc trừng tâm, trú đan điền.

Bảo Chí Công nói:

Nhược năng phóng hạ không vô vật. 若能放下空无物
Tiện thị Như Lai tạng lý hành. 便是如来藏里行
Trần ai nếu biết không vật nhiễm,
Thế là Đơn Đạo ắt đã thành.

Duy Ma Cật kinh thuyết: Cử túc hạ túc, giai tòng đạo trường lai 举足下足皆从道场来 (Bước xuống, bước lên đều do kim đơn chỉ đạo).

Pháp Tạng Tập nói: Trú tâm, dạ tâm thường du pháp uyển khứ 昼心夜心常游法苑去 (Tâm địa ngày đêm, chỉ lo tu thiền, nhập tĩnh)
LẬP THIỀN ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Tùy thời, tùy xứ, thung dung tự tại, tiêu diêu nơi lành Vô Hà Hữu (Đem khí nạp Đan Điền).

Không quan tâm gì đến ngoại cảnh, luôn sống trong Đại Tịch Diệt cảnh giới của Như Lai (Đem khí nạp Đan Điền).
Nếu gặp lúc trời quang mây tạnh, sẽ dùng phép Lập Thiền nạp khí, để tăng tuổi thọ.

Phép đó là :-

Cước cân trước địa, tị liêu thiên, 脚跟著地鼻辽天
Lưỡng thủ tương huyền, tại huyệt biên. 两手相悬在穴边
Nhất khí dẫn tòng thiên thượng giáng, 一气引从天上降
Thôn thời mịch mịch, đáo Đan Điền. 吞时汨汨到丹田

Hai chân đứng vững, mũi hướng Trời,
Hai tay buông thõng xuống thân người.
Một Khí dẫn từ thinh không tới,
Từ từ nuốt xuống thấu Đan Điền.

Tâm vô sở trụ, 心无所住
Trạm nhiên Kiến Tính. 湛然见性
Thể dụng như như, 体用如如
Khuếch nhiên vô thánh. 廓然无圣

Tâm không vướng mắc,
Tự nhiên Kiến Tính.
Thần Khí tương giao,
Chẳng cần trí tuệ.

Lập Thiền chủ yếu là mắt phải trinh, Tâm phải trong, biết quản thúc tình tự và ý niệm, đình chỉ ngôn ngữ, tư tưởng, hành động để dưỡng Thần.

Việc dĩ vãng chẳng nhớ đến, việc tương lai chẳng tưởng trông, việc hiện tại không để ý. Muốn có Bảo Thân Đạo Quyết, thì phải quả dục, an tĩnh, liêm khiết. Muốn có Xuất Thế Thiền Công, phải biết thu thần, ngưng thần.
Xưa Quảng Thành Tử nói với Hoàng Đế:

Mắt không thấy gì, tai không nghe gì, tâm không nghĩ gì, dùng Nguyên Thần bảo hộ hình thể, sẽ được trường sinh. Ý cũng như vậy, và thật là thắm thiết vậy
<坐禪圖>

帝堯之安安,文王之雍雍,孔子之申 申,莊周之止止。
坐久忘所知,忽覺月在地,冷冷天風來,驀然到肝肺。
俯視一泓水,澄湛無物蔽,中有纖鱗游,默默自相契。
無事此靜坐,一日如兩日,若活七十年,便是百四十。

靜坐少思寡慾,冥心養氣存神,此是修真要訣,學者可以書紳。

(坐 禪圖)

坐不必跌跏,當如常坐。夫坐雖與常人同,而能持孔門心法則與常人異矣。所謂孔門心法者,只要存心在真去處是也。

蓋耳目之竅,吾身之門也。方寸之地,吾身之堂也。立命之竅,吾身之室也。故眾人心處於方寸之地,猶人之處於堂也,則聲色得以從門而搖其中。至人心藏於立 命之竅,猶人之處於室也,則聲色無所從入而窺其際,故善事心者,潛室以頤晦而耳目為虛矣。御堂以聽政,而耳目為用矣。若坐時不持孔門心法,便是坐馳,便是 放心。

壇經曰:心念不起名為坐,自性不動名為禪坐,禪妙義端不外此。
古人有言,修道易,煉魔難,誠 哉是言也。然色魔、食魔易於制伏,獨有睡魔難煉,是以禪家有長坐不臥之法。蓋人之真元常在夜間走失,苟睡眠不謹,則精自下漏,氣從上洩,元神無依亦棄軀而 出,三寶各自驅散,人身安得而久存哉?

至人睡時,收神下藏丹窟,與氣合交,水火互相拘鈐,則神不外馳而氣自安定矣。

今以常人言之,神則寄於目矣。而夜寐既熟,則藏之於腎,至夙興之時,而目之神有不爽然清乎?藉其不夜而腎神豈能清?

今又以天道言 之,日則麗之於天矣,而夜淪地中則藏之於海,至啟明之侯,而天之氣有不爽然乎?藉其不夜而海氣豈能清?

此則崔公入藥鏡所謂水火交, 永不老是也。

TỌA THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Tọa cửu vong sở tri, 坐久忘所知
Hốt giác nguyệt tại địa. 忽觉月在地
Lãnh lãnh thiên phong lai, 冷冷天风来
Mạch nhiên liệt can phế. 蓦然列肝肺
Phủ thị nhất hoằng thủy, 俯视一泓水
Trừng trạm vô vật tế. 澄湛无物蔽
Trung hữu tiêm lân du, 中有掺鳞游
Mặc mặc tự tương khế. 默默自相契

Ngồi lâu, biết quên hết,
Bỗng thấy trăng trên đất.
Lành lạnh gió trời thổi,
Lạnh buốt thấu gan phổi.
Cúi xuống, nước mênh mang,
Trong vắt không vật che.
Trong có cá tung tăng,
Cùng ta tâm đầu khế.

Đế Nghiêu chi an an, 帝尧之安安
Văn Vương chi ung ung. 文王之雍雍
Khổng Tử chi thân thân. 孔子之申申
Trang Chu chi chỉ chỉ. 庄周之止止

Đế Nghiêu dạy ôn hòa,
Văn Vương chủ hòa hài.
Khổng Tử xưng thư sướng.
Trang Chu muốn tĩnh chỉ.

Vô sự thử tĩnh tọa, 无事此静坐
Nhất nhật như lưỡng nhật. 一日如两日
Nhược hoạt thất thập niên, 若活七十年
Cánh thị bách tứ tập. 更视白四十

Tĩnh tọa là vô sự,
Một ngày tưởng chừng hai.
Nếu sống bảy muơi tuổi,
Sẽ như trăm bốn mươi.

Tĩnh tọa, thiểu tư, quả dục, 静坐少思寡欲
Minh tâm, dưỡng khí, tồn thần. 明心养气存神
Thử thị tu chân yếu quyết, 此是修真要诀
Học giả khả dĩ thư thân. 学者可以书绅

Tĩnh tọa, thiểu tư, quả dục.
Minh Tâm, dưỡng Khí, tồn Thần.
Đó là Tu Chân yếu quyết.
Mong học giả sẽ ghi lòng.

Tọa thiền không cần phải ngối kiết già, cứ ngồi như thường. Tuy ngồi như thường, nhưng giữ Khổng Môn Tâm Pháp, là vẫn khác người vậy.

Khổng Môn Tâm Pháp là chỉ cần giữ cho tâm thần ở vị trí chân chính nhất. Khiếu của tai mắt là cửa ngõ thân ta, Tâm Linh Phương Thốn là nhà của ta. Lập Mạng Chi Khiếu là buồng của ta.

Vì tâm con người là ở nơi Phương Thốn, cũng như người ở trong nhà. Cho nên thanh sắc có cửa mà vào quấy động bên trong.

Còn bậc chí nhân thì tâm tàng ư Lập Mệnh Chi Khiếu, cũng như con người ở tận trong buồng. Cho nên thanh sắc không biết nẻo vào, để mà dòm ngó trong đó.

Cho nên người khéo giữ Tâm, sẽ ở trong mật thất nên tai mắt như không nghe thấy gì.
Bao giờ ra ngoài để xử sự thì tai mắt sẽ như là công cụ vậy. Nếu mà lúc ngồi không theo Khổng Môn Tâm Pháp thì sẽ gọi là “Tọa Trì”, là “Phóng Tâm”. Đàn Kinh nói: Không khởi niệm là Tọa, Tự tính bất động gọi là Thiền.

<臥禪圖>
開心中之性,示不動之體,悟夢覺之真, 入聞思之寂。

掃石焚香任意眠,醒來時有客談玄。松風不用蒲葵扇,坐對青崖百丈泉。
古洞幽深絕世人,石床風細不生塵。日長 一覺羲皇睡,又見峰頭上月輪。
人間白日醒猶睡,老子山中睡卻醒。醒睡兩非還兩是,溪雲漠漠水冷冷。
元神夜夜宿丹田,雲滿黃庭月滿 天。兩個鴛鴦浮綠水,水心一朵紫金蓮。

覺悟時切不可妄想,則心便虛明;紛擾時亦只如處常,則事自順遂。
(臥 禪圖)

NGỌA THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Giác ngộ thời, thiết bất khả vọng tưởng, tắc Tâm tiện hư minh.
觉悟时切不可妄想则心便虚明

Khi giác ngộ, thời không thể vọng tưởng, như vậy Tâm sẽ hư minh.

Phấn nhiễu thời diệc chỉ như thử, thường tắc sự tự thuận toại.
纷扰时亦只如此常则事自顺遂

Khi gặp rắc rối, thì cứ làm việc như thường, chắc mọi sự sẽ thuận lợi.

Tảo thạch, phàn hương tại ý miên, 扫石焚香在意眠
Tỉnh lai thời, hữu khách đàm huyền. 醒来时有客谈玄
Tùng phong, bất dụng Bồ Quì phiến, 松风不用蒲葵扇
Tọa đối thanh nhai, bách trượng tuyền. 坐对青崖百丈泉

Quét đá, đốt hương ngủ giấc say,
Tỉnh thời khách lại nói chuyện huyền.
Gió tùng, không dụng Bồ Quì Phiến,
Ngồi trông vách đá, suối cao tuôn.

Cổ động u thâm tuyệt thế nhân, 古洞幽深绝世人
Thạch sàng, phong tế, bất sinh trần. 石床风细不生尘
Nhật trường, nhất giác, Hi Hoàng thụy, 日长一觉羲黄睡
Hựu kiến phong đầu, thượng nguyệt luân. 又见风头上月轮

Động vắng thâm u chẳng tiếp ai,
Gió vờn giường đá, bụi chẳng lai.
Ngày dài, chợt tỉnh Hi Hoàng giấc,
Lại thấy đầu non, bóng nguyệt cài.
Khai tâm tông chi tính, 开心宗之性
Thị bất động chi thể. 示不动之体
Ngộ mộng giác chi nhân, 悟梦觉之真
Nhập văn tư chi tịch. 入闻思之寂

Khai thiền tông bản tính,
Thấy bản thể an nhiên.
Hiểu hai bề mộng tĩnh,
Vào cảnh giới không huyền.

Nhân gian bạch nhật, tỉnh do thụy, 人间白日醒犹睡
Lão Tử sơn trung, thụy khước tỉnh. 老子山中睡却醒
Tỉnh thụy luỡng phi, toại lưỡng thị, 醒睡两非遂两是
Khê vân mịch mịch, thủy Linh Linh. 溪云漠漠水冷冷

Với người động tĩnh cũng một vành,
Lão Tử trong rừng, ngủ vẫn tỉnh.
Mộng tỉnh không này, không thế nọ,
Mờ mịt mây khe, nước long lanh.

Nguyên Thần dạ dạ túc Đan Điền, 元神夜夜宿丹田
Vân mãn Huỳnh Đình, Nguyệt mãn Thiên. 云满黄庭月满天
Lưỡng cá uyên ương phù lục thủy, 两个鸳鸯浮绿水
Thủy tâm nhất đóa Tử Kim Liên. 水心一朵紫金莲

Nguyên Thần đêm tới, trú Đan Điền,
Huỳnh Đình mây tỏa, Nguyệt đầy trời.
Uyên ương một cặp, trôi nước biếc,
Trong lòng nuớc hiện Tử Kim Liên.

今之人懵而睡,忽然而醒,是何物主之而使之覺也?夫魂與神並則覺,魄與屍合則昏。昏者,死之根。覺者,生之兆。魂屬陽 而喜清虛,魄屬陰而好馳騁。魄者,鬼也。魂者,神也。

神則日接之於物,夜形之於夢。黃粱未熟,南柯未寤,一生之榮辱富貴,百歲之悲 憂悅樂,備嘗於一夢之間。使其去而不還游,而不返則生死路隔,幽冥之途絕矣。

由是觀之,人不能自生而其所以生者,夢中之人為之也, 不能自死而其所以死者,夢中之人為之也。然不知所以夢,則亦不知所以死,不知所以覺,則亦不知所以生。夢中之有覺者,以夢之中而自有真覺者在焉。死中之有 生者,以死之中而自有長生者在焉。是故,因覺知生,因夢知死,知斯二者,可以入道矣。

夫人之覺也,耳其有不能聽乎,目其有不能視 乎,手其有不能持乎,足其有不能行乎,心其有不能喜、不能怒乎。

而人之睡也,耳固在也,何其不能聽乎?目固在也,何其不能視乎?手固在 也,何其不能持乎?足固在也,何其不能行乎?心固在也,何其不能喜、不能怒乎?由此觀之,則其死也,似為無知而無覺矣。

而人之睡而 夢也,而夢之時,亦有耳能聽矣,而其聽也,何其不屬於人之耳乎?亦有目能視矣,而其視也,何其不屬於人之目乎?亦有用能持矣,而其持也,何其不屬於人之手 乎?亦有足能行矣,而其行也,何其不屬於人之足乎?亦有心能喜、能怒矣,而其喜也、怒也,何其不屬於人之心乎?由此觀之,則其死也,似為有知而有覺矣。

然死生通乎晝夜之道、夢覺之常者乎?古之真人,其覺也,無憂;其寐也,無夢。故無夢地位,非道成之後不能到也。然初機之士,煉心未純,昏多覺少,才一合 眼,元神離腔,睡魔入捨,以致魂夢紛飛,無所不至,不惟神出氣移,恐有漏爐迸鼎之患。

若欲敵此睡魔,須用五龍盤體之法。訣曰:東首 而寢,側身而臥,如龍之蟠,如犬之曲,一手曲肱枕頭,一手直摩臍腹,一隻腳伸,一隻腳縮,未睡心,先睡目,致虛極,守靜篤,神氣自然歸根,呼吸自然含育, 不調息而息自調,不伏氣而氣自伏。依此修行,七祖有福。陳希夷己留形於華山,蔣青霞曾脫殼於王屋。此乃臥禪的旨,與那導引之法不同。功夫到時,自然寢寐神 相抱,覺悟候存亡,亦能遠離顛倒夢想。即漆園公所謂,古之真人,其覺也,無憂;其寢也,無夢是矣。

然雖睡熟,常要惺惺,及至醒來, 慢慢展轉,此時心地湛然,良知自在,如佛境界。正白樂天所云:前後際斷處,一念未生時,此際若放大,靜一場效驗。真有不可形容著。昔尹師靜室中有一聯云: 覺悟時切不可妄想,則心便虛明。紛擾中亦只如處常,則事自順遂。

李真人滿江紅詞云:好睡家風,別有個睡眠三昧。但睡裡心誠,睡中澄 意,睡法既能知旨趣,便於睡裡調神氣。這睡功,消息睡,安禪少人會。

又敵魔詩云:坐中昏睡怎禁它,鬼面神頭見也麼。昏散皆因由氣 濁,念緣未斷屬陰多。漸來水面侵堤岸,風定江心絕浪波。性寂情空心不動,坐無昏散睡無魔。

上古之人,有息無睡。故曰:向晦入晏,息 若一覺。睡熟陽光盡為陰濁所陷,就如死人一般,若知晏息之法,當向晦時。耳無聞,目無見,口無言,心無累,鼻息無喘,四肢無動。那一點元神真氣相依相戀, 如爐中種火相似。久久純熟,自然神滿不思睡,氣滿不思食,精滿不思欲,元氣自聚,真精自凝,胎嬰自棲,三屍向滅,九蟲自出,所謂睡魔不知從何而去矣。其身 自覺安而輕,其心自覺虛而靈,其氣自覺和而清,其神自覺圓而明。若此便入長生路,休問道之成不成。

Người xưa có nói: Tu Đạo dễ, luyện Ma khó. Lời đó thật chí lý. Nhưng ma sắc dục, ma ăn uống thì dễ trị, còm ma ngủ thì khó luyện, nên Thiền gia có phép Trường Tọa Bất Ngọa.

Vì Chân Nguyên con người thường tẩu thất ban đêm, nên nếu ngủ nghỉ không cẩn thận, thì Tinh xuất phía dưới, Khí mất bên trên. Nguyên Thần không nơi nương tựa, cũng sẽ bỏ thân mà ra. Tam Bảo trì tán, con người làm sao trường tồn.

Bậc chí nhân ngủ sẽ thu Thần về Đan Điền, hòa hợp với khí. Thủy Hoả (Thần, Khí) sẽ kiềm chế nhau, nên Thần không ra ngoài, và Khí sẽ an tịnh.

Nay nói theo người thường, thì ban ngày Thần gửi tại đôi mắt. Ban đêm khi ngủ say, thì Thần tàng tại Thận. Sáng ra, mà Thần nơi mắt không được sảng khoái là tại sao? Thưa vì ban đêm không an định, nên Thần đã không thanh sảng.
Nói theo Thiên Đạo, thì ban ngày, mặt trời nương vào Trời, đến đêm thì như lặn xuống biển. Sáng ra, mà Thiên Khí không thanh sảng là tại làm sao? Thưa là vì ban đêm không an định, nên Hải Khí đã không thanh sảng.
Chính vì vậy mà Thôi Công (Nhập Dược Kính) nói: Thủy Hỏa giao, vĩnh bất lão (Thần Khí giao, mãi không già).
Ngày nay, người ta buồn ngủ thì ngủ, tự nhiên lại tỉnh dậy, thì cái gì làm chủ khiến người ta tỉnh dậy?
Vả Thần, Hồn mà hợp thì tỉnh, Phách với Thi Thể mà hợp sẽ hôn mê. Hôn mê là gốc của sự chết. Tỉnh giác là triệu chứng sống. Hồn thuộc Dương, nên thích Thanh Hư. Phách thuộc Âm nên thích ruổi rong. Phách là Quỉ, Hồn là Thần.

Thần thì ngày tiếp vật, đêm về dệt mộng, một giấc Huỳnh Lương chưa chín, một giấc Nam Kha chưa tỉnh, một đời phú quí, vinh nhục, trăm năm buồn vui, thích, sướng, chẳng qua chỉ như một giấc mộng, khiến người trong mộng chẳng biết đi về. Đi sai một bước, là sẽ đi vào con đường u ám vậy.

Do đó mà xem, con người không thể tự mình sống, mà sống như là ở trong mộng. Con người không thể tự mình chết, mà chết như là ở trong mộng. Đã không biết tại sao mình mộng, thì cũng không biết tại sao mình chết. Đã không biết tại sao mình tỉnh, thì cũng không biết tại sao mình sống. Trong mộng mà có tỉnh, thế là Chân Giác, trong chết mà có sống, đó là trong chết vẫm có trường sinh. Thế là biết rằng, Tỉnh là Sống, Mộng là Chết. Hiểu được hai điều đó là có thể Nhập Đạo vậy.

Con người lúc tỉnh, tai há chẳng nghe thấy sao? Mắt há chẳng nhìn thấy sao? Tay há chẳng cầm được sao? Chân há chẳng đi được sao? Tâm há chẳng biết hỉ nộ sao?

Còn khi con người ngủ, thì tai vẫn còn đó, sao không nghe được? Mắt vẫn còn đó, sao không thấy được? Tay vẫn còn đó, sao không cầm được? Chân vẫn còn đó, sao không đi được? Tim vẫn còn đó, sao không biết hỉ nộ?
Do đó suy ra, thì đây cũng là một thứ chết, tuy vẫn còn hữu tri, hữu giác vậy.

Vả sống chết liên quan đến ngày và đêm, đến Mộng và Tỉnh. Các bậc Chân Nhân lúc tỉnh thì không lo, lúc ngủ không mộng. Ngủ mà không mộng thì phải thành đạo rồi mới được như vậy.

Sơ cơ chi sĩ, luyện Tâm chưa thuần, nên mê nhiều, tỉnh ít. Mắt vừa nhắm thì Nguyên Thần đã lìa xác, và Ma Ngủ đã nhập vào, làm cho Hồn mộng phân phân đâu cũng đến được. Chẳng những Thần xuất, Khí lìa, mà đỉnh lô cũng bị nghiêng ngả.

Nếu muốn chống lại Ma Ngủ, phải dùng phép Ngũ Long Bàn Thể. Khẩu quyết là:

Đông nhi thủ tẩm, 东首而寝,
Trắc thân nhi ngọa. 侧身而卧,
Như Long chi bàn, 如龙之蟠,
Như khuyển chi khúc. 如犬之曲,
Nhất thủ trực ma tề phúc, 一手直摩脐腹,
Nhất thủ khúc quăng chẩm đầu. 一手曲肱枕头,
Nhất chỉ cước thân, 一只脚伸,
Nhất chỉ cước súc. 一只脚缩

Ngủ đầu hướng Đông.
Người phải nằm nghiêng.
Như rồng cuộn khúc.
Như chó thu mình.
Một tay xoa rốn bụng.
Một tay co gối đầu.
Một chân duỗi ra.
Một chân co lại (xem hình vẽ).

Tâm không ngủ trước, mắt phải ngủ trước.
Phải: Trí hư cực, Thủ tĩnh đốc. 致虚极,守静笃

Thần Khí tự nhiên qui căn, hô hấp tự nhiên sẽ hàm dục. Không điều tức mà tức tự điều, không phục khí mà khí tự phục. Y như thế mà tu hành, thì thất tổ cũng được phúc.

Trần Hi Di đã lưu hình tại núi Hoa Sơn, Tưởng Thanh Hà đã thoát xác nơi vương thất. Đó là cách chỉ dẫn về phép ngọa thiền. Nó khác với phương pháp đạo dẫn. Công phu mà thành tựu, thì tự nhiên Thần thức ngủ sẽ quấn quýt nhau, lúc tỉnh sẽ biết giữ được tồn vong, sẽ thoát được điên đảo mộng tưởng. Như Tất Viên Công đã nói: Cổ chi chân nhân, kỳ giác dã, vô ưu, kỳ tẩm dã, vô mộng 古之真人其觉也无忧其寝也无梦 (Chân nhân xưa, lúc tỉnh không lo, lúc ngủ không mộng) chính là vì vậy.

Nhưng tuy ngủ say, mà vẫn tỉnh táo (sáng suốt) đến khi tỉnh lại, sẽ từ từ trở mình, tâm địa lặng không, lương tri tự tại, như cảnh giới Phật. Bạch Cư Dị (Bạch Lạc Thiên) đã nói: Tiền hậu tế đoạn xứ, nhất niệm vị sinh thời 前后际断处,一念未生时 (Đó là chính lúc một niệm chưa sinh). Trong lúc đó, mà giữ được cho lòng Đại Tĩnh, thì công hiệu sẽ vô tả.

Xưa Doãn sư có một đôi liễn:

Giác ngụ thời, thiết bất khả vọng tưởng, tắc tâm tiện hư minh 觉寤时切不可妄想,则心便虚明 (Khi tỉnh thức, không được cho tâm nghĩ nhảm, tâm sẽ hư minh).

Phân nhiễu trung, diệc chỉ như xử thường, tắc sự tự thuận toại 纷扰中亦只如处常,则事自顺遂 (Lúc bị phiền, phải xử sự như thường, mọi sự sẽ đâu ra đấy).

Lý Chân Nhân (Mãn Giang Hồng) có bài từ:

Hảo thụy gia phong, 好睡家风 ,
Biệt hữu cá thụy miên tam mị. 别有个睡眠三寐 。
Đãn thụy lý tâm thành, 但睡里心诚 ,
Thụy trung trừng ý. 睡中澄意 ,
Thụy pháp ký năng tri chỉ thú, 睡法既能知旨趣 ,
Tiện vu thụy lý điều Thần Khí. 便于睡里调神气 。
Giá thụy công tiêu tức, 这睡功消息 ,
Thụy an thiền, thiểu nhân hội. 睡安禅,少人会。

Gia phong có dạy về cách ngủ,
Ngủ nghỉ có khẩu quyết.
Ngủ sao cho tâm thành,
Ý sao cho trong sáng,
Ngủ nghỉ đã có chỉ thú.
Thì lúc ngủ phải biết điều thần khí,
Công phu khi ngủ này.
Ngủ mà vẫn thiền định,
Điều đó ít người hay.
Địch Ma Thi có thơ:

Toạ trung hôn thụy chẩm cấm đà, 坐中昏睡怎禁它,
Quỉ diện, thần đầu, kiến dã ma. 鬼面神头见也魔。
Hôn tán giai nhân do khí trọc, 昏散皆因由气浊,
Niệm duyên vị đoạn, thuộc âm đa. 念缘未断属阴多。
Triều lai thủy diện xâm đề ngạn, 潮来水面侵堤岸,
Phong định giang tâm tuyệt lãng ba. 风定江心绝浪波。
Tính tịch, tình không, tâm bất động, 性寂情空心不动,
Tọa vô hôn tán, thụy vô ma. 坐无昏散睡无魔。

Làm sao tĩnh tọa, không ngủ mê.
Lúc mộng quỉ ma hay xuất hiện.
Ngủ mê khí tán, do khí trọc.
Niệm không đoạn, tại âm khí đa.
Suy tư thủy triều xâm nhập bờ.
Gió ngưng, lòng sẽ hết sóng gió.
Tính tịch, tình không, tâm bất động.
Tọa không tán loạn, ngủ không ma.

Người thời thượng cổ, chỉ nghỉ ngơi nhưng không ngủ. Cho nên nói Hướng hối nhập yến tức 向晦入晏息 (Tối đến nghỉ ngơi). Nếu ngủ say, thời Dương Quang tận, và Âm Trọc vây hãm, cũng như chết vậy.

Nếu biết phép Yến Tức, khi đã tối, thì tai không nghe, mắt không thấy, miệng không nói, tâm không dao động, mũi thở nhẹ nhàng, tứ chi bất động. Lúc ấy, Chân Thần, Chân Khí sẽ quấn quýt nhau. Ngày càng thuần thục, tự nhiên Thần đầy sẽ không ngủ, Khí đầy sẽ không ăn, Tinh đầy sẽ hết dục. Nguyên Khí tự nhiên tụ lại, Chân Tinh cũng tự ngưng, Nội Đan sẽ kết, Tam Thi sẽ tự diệt, Cửu Trùng (Tà Khí) sẽ tự xuất.

Cái gọi là Ma Ngủ sẽ không biết đi đâu. Thân thể tự nhiên thấy nhẹ nhàng, tâm trí sẽ được Hư Linh. Khí trong người sẽ điều hoà, thanh tĩnh. Như vậy sẽ được trường sinh, không cần biết đạo thành hay không thành.

紫中道人答問
客問:坐禪一事如何?

予答曰:咽津納氣,是人行有藥,方能坐化生鼎內。若無真種子,猶將熱火煮空鐺。釋氏云:此是守屍鬼魔磚作鏡的 工夫。其言相是而不相非,粵自晉之伯陽、宋之紫陽,絕唱斯道,厥後纘其緒也,即海瓊、紫瓊、黃房、緣督、上陽諸真疊繼,則金丹之草一絲之脈,至今不斷,代 不乏人,以接紹三教一源之道統。若言守靜兀坐,乃最下小乘之法,外道惑人之邪徑耳。

客復問:然則畢竟如何?

予曰:子肯大施法財,告天萌願,即當為汝言。

客跽而請曰:弟子歷劫難遇,今生遭逢,原師慈悲,恩莫大焉乎。

曰:子來,吾語汝。子今信誓旦旦,予將妄言之,子勿妄聽之;予以實言之,子勿妄信之,當告汝言。夫精、氣、神三寶,則撐持宇宙,總括陰陽。天地得之而含蓋 乾坤,人心得之則修仙做佛。唯有內有外,知之者可以兼而修之,不知者獨修一物。獨修者,乃頑冥之漢也;兼修者,能證仙佛之果也。緣其亂統,則說到此地,未 有不望洋而退捨者矣乎。果無疑,當以告子,凡言內外兼修者,其精在沓冥恍惚之中。此精姓金,喚九三郎,諱元晶,號曰金華商夫君,居玉池之西,出入跨虎,乳 名嬰兒,晚則喚為金公。凡到鄰家,便稱主人,其情嗜交梨。此乃先天地之精,卻為人之至寶。其氣乃虛無中來,此氣姓白,喚太乙郎,名元氣,號曰:宇宙主宰素 練郎君。寄居西川,出入騎白虎,乳名喚真種子,晚則呼白頭老子。到鄰家,便稱父母,好食烏龜而多情。此為先天地之真氣,即是人之至寶。故上陽子曰:既自虛 無中來,卻非天之所降,地之所出,又非我身所有,亦非精、亦非血、非草木、非金石,是皆非也。誰得而知之乎?然以先天地之神而言,其神號無位真人,佛雲紇 利陀耶。佛若認得此神,卻有妙用。此神專主殺人、專主生人。修仙作佛者,必要此神主之,方得。而內經故曰:人身中殆有兩精者,一魂一魄是也。夫隨精往來 者,神即是也。白祖云:唯人,頭有九宮,中一宮名曰谷神。神常居其谷,日則接於物,夜則接於夢,神不能安其居也。南柯未斷,黃粱未熟,一生之榮辱富貴,百 歲之優悲悅樂,備嘗於一夢之間,使之遊而不返,去而不還,則幽冥之途、隔生死之路絕矣。由是觀之,人不能自生而神生之,人不能自死而神死之。若神長居其 谷,人烏得而死乎?紫陽曰:煉神須煉不神神。蓋謂此耳。天穎子曰:雖久學定身,心無五時七候者,促齡穢質,色謝歸空。自云:慧覺復,稱道成,實所失。然可 謂謬矣。若言坐禪之士,予所厭聞,故上古聖仙之貴,當於人類中修之,如或未然,乞勿開口,未當醒悟。
Tử Trung đạo nhân vấn đáp

Khách hỏi: Tọa thiền là thế nào?

Ta đáp:

Yết tân nạp khí thị nhân thành, 咽津纳气是人行,
Hữu dược phương năng tọa hóa sinh. 有药方能坐化生。
Đỉnh nội nhược vô Chân Chủng Tử, 鼎内若无真种子,
Do tương nhiệt hỏa chử không đang. 犹将热火煮空铛

Yết tân nạp khí, chuyện người làm,
Tinh tọa thuốc không, sao hóa được?
Như nếu trong lò không có thuốc,
Thì như nhóm lửa đốt nồi không.

Thích gia gọi thế là Thủ Thi Quỉ, mài gạch mà mong thành gương soi (tu luyện như vậy mà đòi vào cảnh giới vô vi hay sao?) Lời nói đó như đúng, như sai.

Cơ áo bí ấy khởi từ Bá Duơng đời Tấn, đến Tử Dương đời Tống, khởi xướng ra đạo này. Kế sau, tiếp mới có Hải Quỳnh, Tử Quỳnh, Huỳnh Phòng, Duyên Đốc, Thượng Dương chư vị Chân Nhân. Các vị đó sáng lập ra phương pháp Kim Đan. Hệ thống tương thừa cho đến nay. Đời nào cũng có người nắm giữ được đạo thống của Tam Giáo. Còn như nói: Thủ Tĩnh, Đột Tọa, đó là phương pháp của kẻ tối hạ thừa, là lối ngoại đạo dụ người, là con đường sai lạc .

Khách hỏi: Vậy cuối cùng là thế nào?

Ta nói: Ngươi có chịu đại thí pháp tài, thề cùng trời đất thì ta sẽ nói cùng ngươi.

Khách liền quỳ mà xin: Đệ tử suốt đời không gặp thày. Nay may được gặp, xin thày từ bi, ân thày thật lớn.

Ta nói: Lại đây, con. Ta dạy ngươi. Ngươi nay đã lập thệ cùng trời đất, ta nói có chi sai, ngươi chớ nghe lời nói nhảm. Ta nói lời thật, ngươi chớ tin nhầm.

Nay ta dạy ngươi: Tinh, Khí, Thần là Tam Bảo, là rường cột vũ trụ, là tổng quát Âm Dương. Trời Đất được chúng nên bao dung, phúc cái Kiền Khôn. Con người được chúng, nên thành Tiên, thành Phật.

Nó có trong, ngoài. Người biết sẽ tu cả hai bên. Người không biết chỉ tu một phía. Người tu một phía là người ngoan cố ngu xuẩn. Người tu hai chiều sẽ chứng Tiên, Phật quả.

Người không đi theo chính thống, nói tới đây thì như người chưa nhìn thấy Đại Dương đã lui gót. Nếu ngươi không nghi ngờ, thì ta sẽ bảo cho.

Nói Nội Ngoại Kiêm Tu, là nói cái Tinh còn ở trong trạng thái yểu minh hoảng hốt. Tinh này họ Kim, gọi là Cửu Tam Lang, húy là Nguyên Xương, hiệu là Kim Hoa Thương Phu Quân, ở phía tây ao Ngọc Trì, ra vào đều cưỡi hổ, nhũ danh là Anh Nhi, sau gọi là Kim Công. Khi đến hàng xóm (Đan Điền) thì xưng là Chân Nhân. Nó thích ăn trái giao lê (Nguyên Thần). Nó là Tiên Thiên Địa chi Tinh, cũng là vật chí bảo của con người.

Còn Khí là từ Hư Vô trung lại. Khí đó họ Bạch, gọi là Đại Ất Lang (Thái Nhất Nguyên Khí) tên là Nguyên Khí, hiệu là Vũ Trụ Chủ Tể Tố Luyện Lang Quân. Ở Tây Xuyên, ra vào cưỡi Bạch Hổ, nhũ danh là Chân Chủng Tử, sau gọi là Bạch Đầu Lão tử. Tới hàng xóm (Đan Điền) thì gọi là Phụ Mẫu. Thích ăn Rùa Đen, và Đa Tình. Đó chính là Tiên Thiên Địa chi Chính Khí, tức cũng là vật chí bảo trong con người

Cho nên Thượng Dương Tử nói:

Nếu đã là từ hư không tới, thì không phải từ Trời xuống, không phải từ dưới Đất ra, không phải cái mà thân ta có, không phải là Tinh, không phải là Huyết, không phải cỏ cây, không phải kim thạch, tất cả đều không phải. Ai là người đã được nó và biết nó?

Nói đến Thần, là Tiên Thiên Địa chi Thần, là nói tới cái Thần tên là Vô Vị Chân Nhân. Phật gọi là Ngật Lợi Đà Gia Phật. Nhận biết Thần này, sẽ biết cái diệu dụng của nó. Thần này có thể giết người, có thể sinh người. Muốn thành Tiên thành Phật, thì phải để nó chủ trì mới được. Nên Nội Kinh có nói: Thân người có hai loại Tinh, là Hồn và Phách. Phàm tùy tinh vãng lai là Thần vậy.

Bạch Tổ nói: Chỉ nơi con người, thì đầu mới có Cửu Cung. Cung chính giữa trong đó gọi là Cốc Thần. Thần thường cư trong Cốc. Ngày tiếp muôn Vật, đêm tiếp với Mộng. Như thế là Thần không ở yên trong Cốc. Sau một giấc Nam Kha chưa hết, một giấc Hoàng Lương chưa vẹn, thì một đời vinh nhục, trăm năm ưu bi, duyệt lạc cũng nằm trọn trong một giấc mộng. Khiến mình đi chơi mà không biết trở về. Như vậy là sống trong u minh xa cách người phàm, và con Đường Sinh Tử cũng đã tuyệt vậy.

Do đó mới hay: Con người không tự sống, mà Thần cho sống. Con người không tự chết mà Thần cho chết. Nếu Thần ở yên trong Cốc, thì con người làm sao chết được?
Tử Dương nói: Luyện Thần tu luyện bất Thần Thần 炼神须炼不神神 。Chính là muốn nói thế vậy.

Thiên Dĩnh Tử nói: Tuy tu hành đã lâu, nhưng không biết thế nào là ngũ thời 五时 , thất hầu 七候 , đến nỗi tuổi thọ bị giảm, cơ thể bị tỳ vết, dung nhan tiều tụy rồi chết, thế mà dám cho mình là thông minh, giác ngộ, cho mình là thành đạo, thì thật là quá nhầm vậy.

Còn như nói đến tọa thiền, ta cũng đã chán không muốn nghe. Dẫu là thượng phẩm thánh tiên tôn quí, thì cũng do người biết tu luyện mà nên. Nếu không đạt được như vậy, thì xin đừng nói, vì ngươi chưa tỉnh ngộ vậy.
——————
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳

(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Tức

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền

(Các đệ tử ghi chép lại)

* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch
性 命雙修 萬神圭旨• 利集
PHẦN III

LỢI TẬP

***

性命雙修萬神圭旨

第四節口訣

天人合發採藥歸壺

<採藥歸壺圖>

天人合發之機,子母分胎之路;仁督接交之處,陰陽變化之鄉。

有像之後,陽分陰也;無像之前,陰含陽也。

慾達未達意方開,似悟未悟機正密。存存匪懈養靈根,一掬圓明自家覓。

真鉛出水少人知,半是無為半有微。乍見西方一點月,純陽疾走報 鐘離。

聞於不聞好溫存,玄竅開時竅竅開。收拾蟾光歸月窟,從此有路到蓬萊。

九靈鐵鼓,太玄關,尾閭穴,朝天嶺, 氣海門,曹溪路,三岔口,平易穴,咸池,陰踹,禁門,會陽,長強,魄門;

三足金蟾,藏金斗,生死穴,上天梯,河車路,虛危穴,三岔 骨,龍虎穴,穀道,會陰,鬼路,人門,桃康,陰矯,地軸。
(採 藥歸壺圖)
(內附閉任開督,聚火載金二訣)
聞之師曰:人受天地中氣以生原有真種,可以生生無窮,可以不 生不滅,但人不能保守,日日消耗,卒至於亡。間知保守,又不知鍛鍊火法,終不堅固,易為造化所奪。苟能保守無虧,又能以火鍛鍊,至於凝結成丹,如金如玉, 可以長生,可以不化。

蓋欲煉此丹,雖以藥物為主,欲採藥物,當在根本用功。何謂根本,吾身中太極是也。
TÍNH MỆNH SONG TU
VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Lợi tập
Mục lục
Thái dược quy hồ đồ
Khẩu quyết tiết thứ tư:
THIÊN NHÂN HỢP PHÁT
THÁI DƯỢC QUY CĂN
Tụ Hỏa tải Kim đồ
Tụ Hỏa tải Kim quyết pháp
Càn Khôn giao cấu đồ
Khẩu quyết tiết thứ năm:
CÀN KHÔN GIAO CẤU
KHỬ KHOÁNG LƯU KIM
Chu Thiên tuyền ki đồ
Mão Dậu Chu Thiên khẩu quyết
Linh Đơn nhập đỉnh đồ
Khẩu quyết tiết thứ sáu:
LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH
TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI
Hỏa hầu sùng chính đồ
Hành hỏa hầu pháp
Trường dưỡng thánh thai đồ

THÁI DƯỢC QUY HỒ ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Thiên Nhân hợp phát chi cơ 天人合发之机
Tử Mẫu phân thai chi lộ 子母分胎之路
Cửu Linh thiết cổ 九灵铁鼓
Thái Huyền quan 太玄关
Vĩ Lư huyệt 尾闾穴
Nhâm Đốc tiếp giao chi xứ 任督接交之处
Âm Dương biến hóa chi hương 阴阳变化之乡
Tam túc Kim Thiềm 三足金蟾
Tàng Kim Đẩu 藏金斗
Sinh Tử huyệt 生死穴
Dục đạt vị đạt ý phương khai, 欲达未达意方开
Tự ngộ vị ngộ cơ chính mật. 似悟未悟机正密
Tồn tồn phỉ giải dưỡng Linh căn, 存存匪懈养灵根
Nhất cúc viên minh tự gia mịch. 一掬圆明自家觅
Chân diên xuất mộc thiểu nhân tri, 真铅出木少人知
Bán thị vô vi, bán hữu vi. 半是无为半有为
Sạ kiến Tây phương nhất điểm nguyệt, 乍见西方一点月
Thuần dương tật tẩu báo Chung Ly. 纯阳疾走报钟离
Đạt điều chưa đạt ý mới mở
Hiểu điều chưa ngộ mới là hay
Luôn giữ Linh Căn cho chuyên nhất
Nội Đan tròn trặn mình tự kiếm
Nguyên khí trong người ít ai biết
Nguyên khí nửa Vô nửa Hữu Vi,
Hốt thấy nội đơn tại Tây Phương.
Thuần Dương vội chạy báo Chung Ly .
Văn ư bất văn hảo ôn tồn, 闻於不闻好温存
Kiến ư bất kiến hưu kinh phạ. 见於不见休惊怕
Chỉ tại vật vong, vật trợ gian, 只在勿忘勿助间
Ưu nhi du chi sử tự hoá. 优而游之使自化
Nhất vẫn động xứ chúng Dương lai. 一吻动处众阳来
Huyền khiếu khai thời khiếu khiếu khai. 玄窍开时窍窍开
Thu thập thiềm quang, qui Nguyệt Quật. 收拾蟾光归月窟
Tòng tư hữu lộ đáo Bồng Lai. 从丝有路到蓬莱
Nghe cái chưa nghe mới là hay,
Thấy điều chắng thấy, sợ chi đây,
Cứ để tự nhiên, đừng vọng động,
Cứ sống an nhiên, biến hoá lai.
Nhất Dương vừa động, chúng Dương tụ (quẻ Phục)
Huyền Khiếu khai thời, khiếu khiếu khai,
Thu thập ánh trăng về Nguyệt Quật,
Từ đó có đường đến Bồng Lai.
Hữu tượng chi hậu, Dương phân Âm dã,
有象之後阳分阴也
Vô tượng chi tiền, Âm hợp Dương Dã,
无象之前阴合阳也

Triều Thiên Lĩnh 朝天岭 , Khí Hải môn 气海门 , Tào Khê lộ 曹溪路 , Tam xoá khẩu 三岔口 , Bình dị huyệt 平易穴 , Hàm Trì 咸池 , Âm Đoan 阴端 , Cấm môn 禁门 , Hội Dương 会阳, Trường Cường 长强, Phách Môn 魄门 .
PHỤC TÍ (PHỤC TỬ) 复子, KHÔN NỮ 坤女
Địa Trục 地轴, Âm Khiêu 阴跷, Đào Khang 桃康 , Nhân Môn 人门 , Quỉ Lộ 鬼路, Hội Âm 会阴 , Cốc Đạo 谷道, Long Hổ huyệt 龙虎穴 , Tam xoá cốt 三岔骨 , Hư Nguy huyệt 虚危穴, Hà Xa lộ 河车路, Hà Xa cốt 河车骨 , Thượng thiên thê 上天梯 .

**********

ĐỆ TỨ TIẾT KHẨU QUYẾT

THIÊN NHÂN HỢP PHÁT THÁI DƯỢC QUY HỒ
Nội phụ Bế Nhâm, Khai Đốc, Tụ Hoả Tải Kim nhị quyết

Thầy nói: Con người nhận được Trung Khí của Trời Đất mới sinh, nên vốn có Chân Chủng (chỉ Dược Vật). Chân Chủng ấy, có thể sinh sôi vô cùng, có thể bất sinh, bất diệt. nhưng nếu con người không biết bảo thủ nó, thì nó sẽ ngày một tiêu hao, cuối cùng sẽ chết. Biết bảo thủ mà không biết đoàn luyện, cuối cùng sẽ không kiên cố, dễ bị Tạo Hoá đoạt mất.

Nhưng nếu biết gìn giữ hẳn hoi, lại biết đoàn luyện, thì nó sẽ ngưng kết thành đơn, giống như Kim Ngọc, có thể Trường sinh, có thể bất hoá.
天地 以混混沌沌為太極,吾身以窈窈冥冥為太極。天地以此陰陽交媾而生萬物,吾身以此陰陽交媾而生大藥。大藥之生於身,與天地生物不異,總只是陰陽二氣。二施一 化而玄黃相交,一稟一受而上下相接,混而為一。故曰:混沌。混沌,乃天地之郛郭窈冥,亦是大藥之胞胎也。

南華經云:至道之精,窈窈 冥冥。

道德經云:窈兮冥兮,其中有精。

其精甚真,唯此真精,乃吾身中之真種子是也。以其入於混沌,故名太 極,以其為一身造化之始,故名先天,以其陰陽未分,故名一氣;又名黃芽;又名玄珠;又名真鉛;又名陽精。

此精若凝結於天地之間。或 為金,或為石,歷千百年而不朽。人能反身而求之,於自己陽精凝結成寶,則與天地相,為無窮金石。奚足比哉。

然此陽精不容易得。蓋人 之一身徹上徹下,凡屬有形者,無非陰邪渣濁之物。故雲房真人曰:四大一身皆屬陰,不知何物是陽精。

緣督子曰:一點陽精,秘在形山, 不在心腎,而在乎玄關一竅。

趙中一曰:一身內外盡皆陰,莫把陽精裡面尋。

丘長春曰:陽中雖是房中得之,而非 御女之術。內非父母所生之軀,外非山林所產之寶。但著在形體上摸索皆不是,亦不可離形體而向外尋求。

若此等語何異水中撈月,鏡裡攀 花,真正智過顏閔,實難強猜,是以祖師罕言之,而世人罕知之。不獨今之為然,然古人亦有難知之語。

如玉鼎真人云:五行四象坎和離, 詩談分明說與伊。藥生下手功夫處,幾人會得幾人知。

Như muốn luyện Đan này, thì phải lấy dược vật làm chủ nhưng muốn hái thuốc này, thì phải dùng công phu tại căn bản, thế nào là căn bản?

Thưa đó là Thái Cực trong ta. Trời đất lấy hỗn hỗn, độn độn làm Thái Cực. Thân ta lấy yểu yểu, minh minh làm Thái Cực. Thiên địa do Âm Dương giao cấu cho nên sinh Vạn Vật. Thân ta nhờ Âm Dương giao cấu nên sinh Đại Dược. Đại Dược sinh trong thân ta, với Thiên Địa sinh vật không khác, cũng chỉ là Âm Dương nhị khí, cái thi, cái hoá mà Huyền Hoàng tương giao, nhất bẩm, nhất thụ, mà dưới trên tương tiếp, hỗn hoá thành một, cho nên nói hỗn độn. Hỗn độn là phu quách (cảnh giới) của Trời Đất, yểu minh là bào thai của Đại Dược (Nội Đơn).

Nam Hoa Kinh nói: Chí Đạo chi tinh, Yểu yểu minh minh 至道之精,窈窈冥冥。(Tinh hoa của Chí Đạo là yểu yểu, Minh Minh).

Đạo Đức Kinh nói:

Yểu hề, Minh hề, kỳ trung hữu tinh, tinh thậm chân. 窈兮冥兮其中有精精甚真

Tưởng muôn loài tối tăm u uẩn,
Tinh quang Trời vẫn lẩn bên trong,
Tinh quang ấy thực Thiên Chân

Chân tinh đó, chính là Chân Chủng Tử trong thân ta. Vì nó nhập vào Hỗn Độn nên gọi là Thái Cực, vì nó là Nguồn Gốc sinh hoá, nên gọi là Tiên Thiên, vì nó là Âm Dương chưa phân, nên gọi là Nhất Khí, cũng còn gọi là Hoàng Nha, là Huyền Châu, là Chân Diên, là Dương Tinh. Cái Tinh Hoa đó nếu ngưng kết bên ngoài vũ trụ, thì là Kim, Thạch, qua vạn năm không hư.

Nếu con người biết Phản Thân (biết Hồi Quang, Quán Chiếu) là tìm ra được Dương Tinh ấy trong mình, mà ngưng kết lại thành châu bửu, thì cũng sẽ vô cùng như trời đất, Kim, Thạch làm sao mà sánh được?

Nhưng Dương Tinh này không dễ có được. Vì trong thân ta, từ trên xuống dưới, cái gì là hữu hình thì cũng đều thuộc Âm, cho nên Vân Phong Chân Nhân nói: Cái thân tứ đại của ta, tất cả đều thuộc Âm, không biết cái gì là Dương Tinh.

Duyên Đốc Tử nói: Cái Nhất điểm Dương Tinh trong người ta, không ở Tâm, Thận mà ở Huyền Quan Nhất Khiếu. Nhận đắc Huyền Quan tiện thị Tiên, có biết Huyền Quan, thì các chữ Đỉnh Lô, Dược Vật, Hoả Hầu mới hiểu được hẳn hoi, Huyền Quan là từ bỏ Thức Thần, là phát huy NGUYÊN THẦN.

Lưu Nhất Minh gọi Huyền Quan là Huyền Tẫn hay Huyền Tẫn Môn.

Liễu Hoa Dương gọi Huyền Quan là Trung Cung, là Thiên Tâm.

Có người còn gọi đó là Quân Hoả, Chân Hoả, Chân Tính, Nguyên Thần.

Nó thông qua Đốc Mạch, Nhâm Mạch, Xung Mạch, Đới Mạch, trên thông với Tâm, dưới thông với Quan Nguyên, đằng sau thông với Thận, đằng trước thông với Rốn, tán ra châu thân, là Tổng Căn của Bách Mạch, nên gọi là Tiên Thiên. Cổ nhân gọi khiếu này là Khiếu trung Khiếu. Mà Khiếu là Đan Điền. Trên thì gọi là Kim Đỉnh, trên chút nữa thì gọi là Huỳnh Đình, phía dưới Khiếu gọi là Quan Nguyên. Gọi là Huỳnh Đình, là Kim Đỉnh, là Khí Hải, là Quan Nguyên tất cả đều Vô Hình. Ta không nên chấp nhất, câu nệ. Thánh Nhân còn gọi Quan Nguyên là Trung. Cái Trung này Tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông gồm đủ cả hai bề Thể Dụng, v.v.

Luyện Thục Tử nói: Nhất điểm dương tinh, mật tại hình sơn, bất tại tâm thận, nhi tại hồ Huyền Quan nhất khiếu 一点阳精,秘在形山,不在心肾,而在乎玄关一窍。(Một điểm nguyên tinh, ẩn mật tại Hình Sơn, không ở tim, không ở thận, mà tại Huyền Quan nhất Khiếu).

Triệu Trung Nhất nói: Nhất thân nội ngoại tận giai Âm, Mạc bả Dương tinh lý diện tầm 一身内外尽皆阴,莫把阳精里面寻。(Thân ta nội ngoại thảy là Âm, Đừng tìm Dương tinh ấy trong ta).

Khưu Trường Xuân nói:

Dương Tinh tuy thị có được trong khi giao hợp, nhưng không phải là Ngự Nữ chi thuật, trong không phải là thân xác do cha mẹ sinh ra. Ngoài không phải là Châu báu của núi rừng, Tìm tòi Dương Tinh trong ta, chắc là sai. Nhưng tìm cầu nó bên ngoài cũng chẳng đúng.

Những lời như vậy có khác gì mò trăng đáy nước, hái hoa trong gương đâu? Những người thiệt thông minh như Nhan Hồi, Mẫn Tử cũng khó hiểu nổi.

Chính vì Thầy ta ít nói tới nên thế nhân cũng ít người biết, không phải người bây giờ mới thấy thế mà cổ nhân trước cũng không hiểu nổi.

Ngọc Đỉnh Chân Nhân viết:

Ngũ Hành, Tứ Tượng Khảm hoà Ly, 五行四象坎和离,
Thi quyết phân minh thuyết dữ y, 诗诀分明说与伊。
Dược sinh, hạ thủ công phu xứ, 药生下手功夫处,
Kỷ nhân hội đắc, kỷ nhân tri, 几人会得几人知。

Ngũ Hành, Tứ Tượng, Khảm với ly,
Khẩu quyết phân minh nói cho nghe,
Thuốc sinh, và cách ra tay xử,
Ít người hiểu nổi ít người hay,

紫陽真人云:此個事,世間稀,豈是等閒人得知?

杏林真人 云:神氣歸根處,身心覆命時,這些真孔竅,料得少人知。

伯陽真人云:一者,以掩蔽世人莫知之。一者何物也,就是那末發之中,不二之 一,即前所謂先天一氣是也。

翠虛篇云:大藥須憑神氣精,採來一處結交成。丹頭只是先天氣,煉作黃芽發玉英。

覆命篇云:采二儀未判之氣,奪龍虎始媾之精。閃入黃房,段成至寶。

崇正篇云:寒淵萬丈睡驪龍,頷下藏珠炯炯紅。謹密不驚方採得,更 依時日法神功。

蓋采者,以不採而采之,取者以不取而取之,在於靜定中有非動作可為也。昔黃帝遺其玄珠,使知索,使離珠索,使吃詬 索,索之皆不得,乃使罔象,罔象得之。罔象者,忘形之謂也。必忘形罔象,然後先天一氣可得。

擊琅集先天吟云:一片先天號太虛,當其 無事見真腴。

又云:若問先天一字無,後天方要著工夫。

何謂先天?寂然不動,窈窈冥冥,太極未判之時是也。何 謂後天?感而遂通,恍恍惚惚,太極已判之時是也。

混元寶章云:寂然不動感而通,窺見陰陽造化功。信乎,寂然不動,則心與天通而造化 可奪也。

Tử Dương Chân Nhân nói: Thử cá sự, thế gian hi, Khởi thị đẳng nhàn nhân đắc tri 此个事,世间稀,岂是等闲人得知?(Cái chuyện này, thế gian hiếm, Thường nhân làm sao mà biết).

Hạnh Lâm Chân Nhân nói:

Thần Khí quy căn xứ, 神气归根处,
Thân Tâm phục Mệnh thì, 身心复命时,
Giá ta Chân Khổng Khiếu, 这些真孔窍,
Liệu đắc thiểu nhân tri, 料得少人知。

Thần Khí quy Căn xứ,
Thân Tâm Phục Mệnh Thì,
Chính Chân Khổng Khiếu ấy,
Mấy ai hiểu được đây?
Bá Dương Chân Nhân nói:

Nhất giả dĩ yếm tế, Thế nhân mạc tri chi.
一者以掩蔽世人莫知之。
Chữ Nhất sâu kín vậy; Thế nhân ít kẻ hay.

Nhất là gì? Nó là Cái Trung chưa phát, là Bất Nhị chi Nhất, mà trước đây gọi là Tiên Thiên Nhất Khí vậy.

Thúy Hư Thiên viết:

Đại dược tu bằng Thần Khí Tinh, 大药须凭神气精,
Thái lai nhất xứ kết giao thành, 采来一处结交成。
Đơn đầu chỉ thị Tiên Thiên Khí, 丹头只是先天气,
Luyện tác Hoàng Nha, phát Ngọc Anh, 炼作黄芽发玉英。

Đại Dược chẳng qua Thần, Khí, Tinh,
Hái cất đem về giao kết thành.
Đan dược chính là Tiên Thiên khí.
Cũng gọi Hoàng Nha hay Ngọc Anh,

Phục Mệnh Thiên viết:

Thái nhị nghi vị phán chi khí. 采二仪未判之气,
Đoạt Long Hổ thủy cấu chi tinh. 夺龙虎始媾之精。
Thiểm nhập Huỳnh Phòng, 闪入黄房,
Đoạn thành chí bửu. 锻成至宝。

Lấy hỗn độn vị phân chi Khí.
Lấy Nguyên Thần, Nguyên Khí, Nguyên Tinh,
Đem về Huỳnh Phòng,
Luyện thành chí bửu.

Sùng Chính Thiên có bài:

Hàn nguyên vạn trượng thụy ly long, 寒源万丈睡骊龙,
Hàm hạ tàng châu quýnh quýnh hồng, 颔下藏珠炯炯红。
Cẩn mật bất kinh, phương thái đắc. 谨密不惊方采得,
Tiện y thời nhật pháp thần công, 更依时日法神功。

Hàn Tuyền muôn trượng ngủ rồng đen,
Trong mồm có ngọc đỏ hây hây,
Cẩn thận, chẳng kinh sẽ lấy được,
Đem về tu luyện đúng tháng ngày.

Muốn Thái Dược, phải không hái mới hái được,
Muốn thủ Dược phải không thủ mới thủ được .
Phải tĩnh định, không dùng động tác mới được.

Xưa Hoàng Đế mất Huyền Châu mới bảo Tri, Ly, Chu, và Khiết Cấu đi tìm, nhưng không tìm được. Liền sai Võng Tượng. Võng Tượng tìm được. Võng Tượng chính là quên hình hài. Phải Vong Hình, Võng Tượng, thì mới tìm ra được Tiên Thiên Nhất Khí.
Hệ Hoại Tập (Tiên Thiên ngâm) viết:

Nhất phiến Tiên Thiên hiệu Thái Hư, 一片先天号太虚,
Đương kỳ vô sự kiến Chân Du. 当其无事见真腴。
Nhất phiến Tiên Thiên gọi Thái Hư,
Chính trong vô sự thấy Thái Du .

Lại nói:

Nhược vấn Tiên Thiên nhất tự Vô, 若问先天一字无,
Hậu Thiên phương yếu khán công phu, 后天方要看工夫。

Muốn hỏi Tiên Thiên nhất tự Vô,
Hậu Thiên cần phải rõ công phu.

Tiên Thiên là gì? Là tịch nhiên bất động, là yểu yểu, minh minh, là Thái Cực khi chưa phân chia.

Hậu Thiên là gì? Là Cảm nhi toại thông, là hoảng hoảng, hốt hốt, là khi Thái cực đã phân chia vậy.
Hỗn Nguyên Bửu Chương có câu:

Tịch nhiên bất động cảm nhi thông, 寂然不动感而通,
Khuy kiến Âm Dương tạo hóa công . 窥见阴阳造化功。

Tịch nhiên bất động (Tiên Thiên), Cảm nhi thông (Hậu Thiên).
Nhìn thấy Âm Dương Tạo Hóa công.

Tin ở Tịch Nhiên Bất động, là tâm con người thông được với trời, và có thể đoạt cơ tạo hóa.
翠虛篇云:莫向腎中求造化,卻煩心裡覓先天。

當其喜怒未發之時,睹聞不及之地,河海默然,山嶽藏 煙,日月停景,璇璣不行,八脈歸源,呼吸俱泯,既深入於窈冥之中,竟不知天之為蓋,地之為輿,亦不知世之有人,己之有軀。少焉,三宮氣滿,機動簌鳴,則一 劍鑿開混沌,兩手擘裂鴻蒙,是謂無中生有。

寧玄子詩云:不在塵勞不在山,直需求到穹冥端。何謂穹冥端?虛極靜篤之時也。心中無物為 虛,念頭不起為靜。致虛而至於極,守靜而至於篤,陰陽自然交媾。陰陽一交,而陽精產矣。

故陳圖南曰:留得陽精,神仙現成。蓋陽梢日 日發生,但世人不知翕聚,以致錯而為週身之氣。至人以法追攝,聚而結一黍之珠。釋氏呼為菩提,仙家名曰真種。修性者若不識這個善提子,即圓覺經所謂種性外 道是也。修命者若不識這個真種子,即玉華經所謂枯坐旁門是也。

張紫陽曰:大道修之有易難也,知由我,也由天。人若不知藥生,不知採 取,不知烹煉,但見其難,不見其易。誠知藥生時候,採取口訣,烹煉功夫,但見其易,不見其難。此兩者在人遇師與不遇師耳。故曰:月之圓存乎口訣,時之子妙 在心傳。然時之子,卻有兩說,有個活子時,有個正子時。

昔聞尹師曰:欲求大藥為丹本,須認身中活子時。

又偈 云:

因讀金丹序,方知玄牝竅。因讀入藥鏡,只知意所到。

大道有陰陽,陰陽隨動靜。靜則入窈冥,動則恍惚應。

真土分戊己,戊已不同時。已到但自然,成到有作為。

烹煉坎中鉛,配合離中汞。鉛汞結丹砂,身心方入定。

曰動靜,曰窈冥,曰真土,皆是發明活子時之口訣也雲。

Thúy Hư Thiên nói:

Mạc hướng Thận trung cầu Tạo Hóa, 莫向肾中求造化,
Khước tu Tâm lý mịch Tiên Thiên. 却须心里觅先天。

Dừng tìm tạo hóa nơi quả Thận,
Muốn thấy Tiên Thiên phải do Tâm.

Trong khi Hỉ Nộ còn chưa phát, nghe nhìn tất cả còn chưa tới, lúc sông núi còn yên tĩnh, núi non còn chưa bốc khói, Nhật Nguyệt còn chưa vận hành, Tuyền Ki còn chưa chuyển động, bát mạch còn qui nguyên, hô hấp còn chưa có, hãy còn thâm nhập vào trong yểu minh, còn chưa biết có trời che và đất chở, chưa biết rằng thế giới còn có người, mình còn có thân. Phút chốc Tam Cung (Tam Đan Điền) sung mãn Nguyên Khí.

Cơ tạo hóa máy Động, âm thanh bắt đầu có, nên:

Nhất kiếm tạc khai Hỗn Độn. 一剑凿开混沌,
Lưỡng thủ phách Liệt Hồng Mông, 两手擘裂鸿蒙

Một kiếm tạc khai Hỗn Độn,
Hai tay banh bửa Hồng Mông,
Thế là từ Vô sinh ra hữu.
Ninh Huyền Tử có thơ:
Bất tại trần lao bất tại sơn, 不在尘劳不在山,
Trực tu cầu đáo yểu minh đoan. 直须求到窈冥端。

Chẳng ở trần ai, chẳng núi non,
Vào sâu Thiên Lý, mới thấy chàng (Dương Tinh).
Yểu minh là gì? Đó là lúc Hư Cực Tĩnh Dốc.

Trong tâm rảnh rang vô vật là Hư. Niệm đầu chưa khởi là Tĩnh. Chí Hư cho đến cùng cực. Thủ Tĩnh cho đến thuần nhất, thì Âm Dương tự nhiên sẽ kết hợp, Âm Dương kết hợp thì Dương Tinh sẽ sinh ra .
Cho nên Trần Nê Hoàn nói: Lưu đắc Dương Tinh, thần Tiên hiện thành, 留得阳精,神仙现成。(Lưu được Dương Tinh, Thần Tiên hiện hành).
Vả Dương Tinh là do nhật nguyệt phát sinh, nhưng thế nhân không biết cách hấp thụ, cho nên nó tán ra thành khí chu lưu trong thân.

Chí Nhân biết phép truy nhiếp nó lại, tụ nó lại thành Nhất Thử Chi Châu 一黍之珠 (hạt Châu to bằng hạt gạo). Thích Gia gọi là Bồ Đề, Tiên Gia gọi là Chân Chủng.

Người Tu Tính mà không biết Bồ Đề tử ấy, thì kinh Viên Giác gọi là “Chủng Tính ngoại đạo”. Người Tu Mệnh mà không biết Chân Chủng tử ấy thì kinh Ngọc Hoa gọi họ là “Khô tọa bàng môn” vậy.

Trương Tử Dương nói:

Đại Đạo tu chi hữu dị nan dã, 大道修之有易难也,
Tri do ngã, dã do thiên, 知由我也由天。

Tu Đại Đạo vừa khó, vừa dễ,
Chuyện đó do ta cũng do trời.

Nếu con người không biết Dược sinh ra sao, Thái Thủ thế nào, Phanh Luyện thế nào, thì không thấy chỗ dễ của nó.
Nếu biết rõ giờ Thuốc sinh, biết khẩu quyết để Thái Thủ, biết công phu phanh luyện, thì không thấy chỗ khó của nó. Tuỳ như gặp hay không gặp được thầy vậy.

Cho nên nói:

Nguyệt chi viên, tồn hồ khẩu quyết, 月之圆存乎口诀,
Thời chi Tí, diệu tại tâm truyền, 时之子妙在心传。

Trăng mà tròn được, nhờ khẩu quyết,
Giờ Tí hay ho, tại tâm truyền,
Lời bàn của Dịch giả

1. Dược Vật là Thần, Khí, Tinh.
Bạch Ngọc Thiềm nói:

Tinh này không phải là Tinh Khí khi giao cảm.

(Theo tôi: Trong tuỷ xương sống vốn có Nước, Nước này trong vắt. Trong tuỷ sống cũng có Khí. Mỗi khi lấy nước trong tuỷ sống ra mấy phân khối, thì y sĩ thường bơm vào một số phân khối khí trời tương đương, đề phòng cho bệnh nhân khỏi chóng mặt. Và trong tuỷ sống chắc có Thần, vì Thần là Khí tinh luyện.)

Khí này không phải là Khí Hô hấp, Thần đây không phải là Thần Tư Lự mà là Nguyên Thần.

Đó chính là Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần.

Tinh là cơ sở, Khí là Động lực, Thần là Chủ Tể.

Du Diễm nói: Tâm hư thì Thần ngưng, Thần ngưng thời Khí tụ, Khí tụ thời Tinh sinh.

Cho nên Thái Dược cốt là Tâm không có tạp niệm và Hư Tĩnh, như vậy mới có thể ngưng thần nhập Khí huyệt.

Đan gia cho rằng: Luyện Tinh hoá Khí là Ngoại Dược, Luyện Khí hoàn thành (hoá Thần) là Nội Dược.

Lục Tây Tinh gọi: Dương Tinh là Dược Vương, là Chân Diên.

Dược chính là Nhân Đơn, làm tăng khí lực, làm cho thân thể khinh khoát, kiên cường, khiến tà khí không thể xâm nhập. Nó làm cho con người trở thành Thần Tiên vậy.

Dược vật cũng còn gọi là Đại Dược, Thượng Dược.

Tính Mệnh Khuê Chỉ, Tập 1 có nói:

Đại Dược tuy phân Thần, Khí, Tinh,
Tam ban nguyên thị nhất căn sinh,
Phàm phu sinh tử như luân chuyển,
Chỉ nhân mê khước Bản Lai Tâm.

Đại dược tuy phân Thần, Khí, Tinh,
Tam Ban cũng vẫn một gốc sinh.
Phàm nhân luân chuyển trong sinh tử,
Chẳng qua không biết Bản Lai Tâm.

Đại Dược cũng còn gọi là Đơn mẫu, hay Chân Diên, hay Kim Dịch Hoàn Đơn, hay Kim Đơn Đại Dược. Nó cũng gắn liền với Chữ Thất Nhật Lai Phục của Kinh Dịch.

2. Thái Dược hay Thái Thủ.

Thái Dược là lúc tĩnh toạ sẽ thấy Nguyên Tinh phát sinh, vừa thấy cảm giác, liền tức tốc phải Thượng Vận. Và phải dùng Chính Niệm thu nhiếp Nguyên Tinh về Đan Điền. Thái Dược có hai thứ: Thái Tiểu Dược, và Thái Đại Dược.
Thái Tiểu Dược là Luyện Tinh hoá Khí.

Thái Đại Dược là Luyện Khí Hoá Thần. Nguyên khí, Nguyên Tinh là Dược. Dùng Vi Ý đem Nguyên Tinh về Đan Điền là Tiểu Thái Dược.

Dùng bốn chữ Hấp=Hít vào, Để=Đưa lưỡi lên để khoá mồm, Toát=Khép kín Hậu Môn, Bế=Nhắm mắt, ngậm miệng, để luyện Nguyên Khí cho thành Đại Dược (Đan mẫu).

Muốn Thái Dược phải có thời. Phải Thái Thủ vào lúc giờ Tí, hay Hoạt Tí (Tí là từ 11 giờ đến 1 giờ đêm). Hoạt Tí là giờ Tí Linh Động. Lấy kiến nghiệm làm chuẩn. Hoạt Tí là lúc Nhất Dương lai phục, đó là giờ Tí trong Thân ta. Đạo Quang nói: Tu luyện bất dụng tầm Đông Chí, Thân trung tự hữu nhất Dương sinh.
Trần Trí Hư nói: Phù Thái thủ giả, thái Tiên Thiên chi khí, thủ Chân Nhất chi diên.

何謂之動靜?曰寂然不動,返本復靜坤之時也,吾則靜以待之。靜極而動,陽氣 潛萌復之時也,菩則動以應之。當動而或雜之以靜,當靜而或間之以動,或助長於其先,或忘失於其後,則皆非動靜之常矣。

夫古之至人, 其動也,天行其靜也。淵默當動則動,當靜則靜,自有常法。今之學者,不知丹法之動靜有常。或專主乎動,或專主乎靜。其所謂動者,乃行氣之動;其所謂靜者, 乃禪定之靜。二者胥失之矣。

指玄篇不云乎:人人氣血本通流,榮衛陰陽百刻周,豈在閉門學行氣,正如頭上又安頭。曷嘗以行氣為動哉。

翠虛篇不云乎:唯此乾坤真運用,不必兀兀徒無言,無心無念頭已昏,安得凝聚成胎仙?豈以禪定為靜哉。

凡人動 極而靜,自然入於窈冥。竊冥即是寐時,雖入於無天、無地、無我、無人境界,卻不涉於夢境。若一涉夢境,即有喜怒、驚恐、煩惱、悲歡、愛慾種種情況,與晝間 無異,且與穹冥時無天、無地、無人、無我景絕不相似。似窈窈冥冥,唯晝間動極思靜,有此景象,若夜間睡熟,必生夢境。安得有此?晝間每有窈冥時候,人多以 紛華念慮害之而求其時入窈冥者,蓋亦鮮矣。

崔公入藥鏡云:一日內,十二時,意所到,皆可為。一日之內,意到不止一次,來藥亦不止一 次。張平叔所謂一粒復一粒,從微而至著是也。

Xưa nghe Doãn Sư nói:

Dục cầu Đại Dược vi đơn bản, 欲求大药为丹本,
Tu nhận thân trung Hoạt Tí thời, 须认身中活子时。

Muốn dùng Đại Dược làm Đơn Bản,
Phải biết thân trung Hoạt Tí Thời.

Lại có kệ:

Nhân độc “Kim Đơn tự”, 因读金丹序,
Phương tri Huyền Tẫn Khiếu, 方知玄牝窍。
Nhân độc Nhập Dược Kính, 因读入药镜,
Hựu tri ý sở đáo, 只知意所到。
Đại Đạo hữu Âm Dương, 大道有阴阳,
Âm Dương tuỳ động tĩnh, 阴阳随动静。
Tĩnh tắc nhập yểu minh, 静则入窈冥,
Động tắc ứng hoảng hốt, 动则恍惚应
Chân Thổ phân Mậu Kỷ, 真土分戊己,
Mậu kỷ bất đồng thời, 戊已不同时。
Kỷ đáo đãn tự nhiên, 已到但自然,
Mậu đáo hữu tác vi, 成到有作为。
Phanh luyện Khảm trung Diên, 烹炼坎中铅,
Phối hợp Ly trung Hống, 配合离中汞。
Diên Hống kết Đơn sa, 铅汞结丹砂,
Thân Tâm phương nhập định, 身心方入定。
Nhân đọc tựa Kim Đơn,
Mới hay Huyền tẫn Khiếu,
Nhân đọc Nhập Dược Kính,
Mới biết nơi Ý đến,
Đại Đạo có Âm Dương,
Âm Dương là Động Tĩnh,
Tĩnh thời nhập yểu minh,
Động thời hoảng hốt ứng,
Mậu Kỷ khác giờ nhau,
Kỷ đến do Tự Nhiên,
Mậu lai có tác vi,
Phanh luyện Khảm trung Diên,
Phối hợp Ly trung Hống,
Diên Hống kết Đơn sa,
Thân Tâm mới nhập định,

Nói Động tĩnh, nói Yểu Minh, nói Chân Thổ đều nói về khẩu quyết của Hoạt Tí Thời.

Thế nào là Động Tĩnh?

Thưa: Tịch nhiên bất động, phản bản, phục tĩnh, đó là của giờ Khôn. Ta lấy Tĩnh mà đợi nó. Tĩnh cực rồi động, Dương khí manh nha, đó là giờ của Phục. Ta lấy động mà ứng với nó.

Đáng Động mà pha Tĩnh vào, đáng Tĩnh mà pha Động vào. Hoặc khi chưa lớn mà lại nâng cho lớn lên, hoặc khi đã hết mà còn thêm, đều không phải là lẽ thường tình của Động Tĩnh.

Bậc Chí nhân xưa nói: Động là Thiên Hành, Tĩnh là Uyên Mặc (lặng như vực sâu). Đáng động thì động, đáng tĩnh thì tĩnh, đó là lẽ thường.

Học giả ngày nay, không biết rằng Động Tĩnh trong Đan pháp có qui luật, nên người chuyên về Động, người lại chuyên về Tĩnh. Đối với họ, Động là Hành khí, Tĩnh là Thiền Định, Như vậy là sai.

Chỉ Huyền Thiên há chẳng nói:

Nhân nhân khí huyết bản thông lưu, 人人气血本通流,
Doanh vệ Âm Dương bách khắc chu, 荣卫阴阳百刻周,
Khởi tại bế môn, học hành khí, 岂在闭门学行气,
Chính như đầu thượng hựu an đầu. 正如头上又安头。

Ai ai khí huyết cũng lưu thông,
Chảy quanh Doanh vệ, suốt ngày ròng,
Đâu lại bế môn học hành khí,
Như đã có đầu lắp thêm đầu.

Đâu phải Hành Khí là động?

Thuý Hư Thiên cũng nói:

Duy thử Kiền Khôn chân vận dụng, 唯此乾坤真运用,
Bất tất ngột ngột, đồ vô ngôn, 不必兀兀徒无言,
Vô tâm, vô niệm, Thần dĩ hôn, 无心无念神已昏,
An đắc ngưng tụ thành thai tiên. 安得凝聚成胎仙?

Đất trời vận dụng có qui mô,
Đâu phải ngồi ngây, miệng lặng tờ,
Tâm không, không niệm, Thần hồn mất,
Sao mà ngưng tụ kết Thai Tiên?

Đâu phải Thần Định là Tĩnh.

Con người Động cực thì Tĩnh, tự nhiên sẽ nhập vào yểu minh, yểu minh là khi ngủ. Tuy nhập vào cảnh giới không trời, không đất, không người, nhưng chưa đi vào mộng cảnh.

Nhưng khi vào mộng cảnh, thì sẽ có Vui, Giận, Kinh, Khủng, Phiền, Não, Bi, Hoan, Ái, Dục đủ mọi tình huống không khác lúc ban ngày.

Nhưng lại khác với cảnh giới yểu minh không trời, không đất, không người.

Yểu Yểu, Minh Minh chỉ thấy ban ngày lúc Động Cực mong Tĩnh, mới có cảnh tượng đó. Còn như đêm khi ngủ say, tất lại có mộng, thì làm sao mà có cảnh tượng Yểu Minh này được?

Lúc ban ngày, mỗi khi có lúc Yểu Minh, thì con người lại suy nghĩ tứ tung làm mất giây phút ấy. Còn như cầu để mà vào tình trạng Yểu Minh, thì thật là hiếm vậy.

Thôi Công (Nhập Dược Kính) nói:

Nhất nhật nội, Thập nhị thời, Ý sở đáo, Giai khả vi 一日内,十二时,意所到,皆可为。(Trong mỗi ngày có 12 giờ, Ý mà đến, Đều làm được)

大抵藥物,當以真意求之,故曰:好把真鉛著意尋。又日:恆向華池著意尋。蓋人身真意, 是為真土。真土之生有時,不由感觸,自然發生,雖與中馬上一切喧鬧之地不能禁止,故曰真土。具土有二,戊已是也。土既有二,則意亦有二必矣。所謂二者,一 陽一陰是也。謂之真者,無一毫強偽,若有一毫強與偽,即是用心揆度謀慮,便屬虛假,非真意也。

有此真意,真鉛方生。何謂有此真意? 真鉛方生?蓋動極而靜,真意一到,則人窈冥,此意屬陰,是謂己土。陰陽交媾,正當一陽爻動之時,自覺心花發現,暖氣沖融,陰陽年交,真精自生,真精即是真 鉛,所謂水鄉鉛,只一味是也。

陰陽交媾,將判未判,恍恍惚惚,乃是靜極而動,此意屬陽,是為戊土。此時真鉛微露,藥苗新嫩,此乃有 物有像之時,與平旦幾希一般。撥動關戶,急忙用功採取,則窈冥所生真精方無走失。

所謂採取功夫,即達摩祖師形解訣,海蟾祖初乘訣。 二訣大略相同,不外乎吸舐撮閉四宇。純陽祖師云:窈窈冥冥生恍惚,恍恍惚惚結成團。正是此訣。雖則是有為之法,然非真土,一生何以施功?是非采鉛。由於真 土生也,故曰真土擒真鉛。鉛升與汞配合,汞得鉛自不飛走,故曰真鉛制真汞。鉛汞既即真土,則身心自爾寂然不動,而金丹大藥結矣。

是 以一時之內,自有一陽來復之機。是機也,不在冬至,不在朔旦,亦不在子時,非深達天地陰陽、而曉身中造化者,莫如活子時如是其秘也。既曰一日十二時,凡相 媾處皆可為,而古仙必用半夜子陽初動之時者,何也?其時太陽正在北方,而人身氣到尾閭關,蓋與天地相應,乃可以盜天地之機,奪陰陽之妙,煉魂魄而為一,合 性命而雙修。唯此時乃坤復之間,天地開闢於此時,日月合壁於此時,草木萌孽於此時,人身之陰陽交會於此時,神仙於此時而採藥,則內真外應,若合符節,乃天 人合發之機,至妙至妙者也。

Trong một ngày, ý đến không phải một lần, nên Thái Thủ cũng không phải chỉ có một lần.

Trương Bình Thúc gọi thế là: Một hột rồi lại một hột, từ ít tới nhiều vậy.

Tóm lại Đại Dược cần lấy Chân Ý mà cầu. Cho nên nói: Hiếu bả Chân Diên, chước ý tầm 好把真铅着意寻。(Phải chú ý mới tìm được Chân Diên).

Lại còn nói: Hằng hướng Hoa Trì chước ý tầm 恒向华池着意寻。(Luôn phải hướng về Đơn Điền chú ý tìm cầu)
Cho nên, Chân Ý trong con người chính là Chân Thổ. Chân Thổ sinh ra có khi không phải do cảm xúc mà cũng do tự nhiên. Dù khi ngồi xe hay cưỡi ngựa, dù là trong khi huyên náo nó cũng phát sinh được. Không gì cấm chỉ được nó, cho nên gọi là Chân Thổ.

Chân Thổ có hai loại: Mậu và Kỷ. Thổ đã có hai, thì Ý cũng có hai. Gọi là hai vì có đủ Âm Dương. Gọi là chân vì không chút cưỡng cầu, tà ngụy, thì đã có mưu lự. Mưu lự là thuộc hư giả, không phải là Chân ý vậy.

Có Chân Ý này rồi, thì Chân Diên mới sinh. Sao lại nói rằng: Có Chân Ý rồi, Chân Diên mới sinh?

Vì Động cực rồi tĩnh, Chân Ý vừa đến sẽ nhập Yểu Minh, Ý này Thuộc Âm, gọi là Kỷ Thổ. Âm Dương giao cấu, chính đáng là Khi Dương Hào vừa động, tự cảm thấy như hoa lòng vừa nở ra, khí ấm đầy mình, Âm Dương giao nhau nên Chân Tinh tự sinh. Mà Chân Tinh tức là Chân Hống. cho nên nói: Thuỷ Hương Diên , chỉ nhất vị 水乡铅,只一味 (Thuỷ Hương Diên có một mùi vị) chính là vì vậy.

Âm Dương giao cấu, giữa lúc Âm Dương chưa chia và sẽ chia, còn hoảng hoảng, hốt hốt, đó chính là lúc Âm cực sẽ Động. Cái Ý này thuộc Dương, đó là Mậu Thổ. Lúc ấy Chân Diên vừa lộ, Dược Vật hãy còn non yếu. Lúc ấy đã có hình có tượng, chẳng khác gì lúc mới bình minh, vừa thấy phát động quan kiện, tức tốc phải thái thủ lấy ngay, thì Chân Tinh vừa sinh ấy mới không bị mất mát.

Gọi là Thái Thủ Công Phu, chính là Hình giải quyết 形解诀, của Đạt Ma, chính là Sơ Thừa Quyết 初乘诀của Hải Thiềm.
Cả hai khẩu quyết đại khái giống nhau, và không ngoài bốn chữ: Hấp吸, Để 舐, Toát撮, Bế闭.

Thuần Dương Tổ Sư nói:

Yểu Yểu, Minh Minh sinh Hoảng Hốt. 窈窈冥冥生恍惚,
Hoảng Hoảng, Hốt Hốt kết thành Đoàn, 恍恍惚惚结成团。

Đó chính là Khẩu quyết này.

Tuy hãy còn là phép Hữu Vi, chưa phải là Chân Thổ, nếu vậy làm sao thi triển công phu?

Cho nên nói: Chân Thổ cầm Chân Diên 真土擒真铅 (Dùng Chân Ý thái thủ Chân Khí).

Chân Diên (Chân Khí) thượng thăng sẽ phối hợp với Chân Hống (Nguyên thần). Nguyên thần gặp Chân Khí sẽ không bay đi mất, Vì thế nói: Chân Diên chế Chân Hống 真铅制真汞 (Chân Khí khống chế Nguyên Thần).

Chân Khí, Nguyên Thần đã qui về Chân Thổ (Đan Điền), thì thân tâm sẽ tự nhiên bất động và Kim Đơn Đại Dược sẽ thành vậy.

Trong một giờ, cũng có cơ vi Nhất Dương lai phục, cái cơ vi này không ở ngày Đông Chí, không ở ngày mồng một, không ở tại giờ Tí (nửa đêm). Nếu không thâm đạt Âm Dương, không thấu hiểu được tạo hoá trong ta, thì không sao hiểu được HOẠT TÍ THỜI. Đó là điều bí ẩn vậy.

Trong 12 giờ một ngày, lúc nào Âm Dương cũng giao cấu được, mà sao thánh nhân lại chọn giờ Tí, nhất Dương sơ động, là tại sao?

Thưa lúc ấy Thái Dương ở Chính Bắc, mà trong con người là ở Huyệt Vĩ lư, thế là tương ứng với trời đất.

Cho nên lúc ấy có thể ăn trộm cơ vi của trời đất, đoạt được chỗ huyền diệu của Âm Dương, luyện được hồn phách làm một, hợp được Tính Mệnh song tu.

Lúc ấy là giữa quẻ Khôn và quẻ Phục, lúc ấy là lúc Trời Đất đóng mở, là lúc Nhật Nguyệt hợp bích, là lúc Thảo Mộc manh nha, là lúc Âm Dương giao hội trong thân, Thần Tiên thái dược vào lúc ấy, lúc ấy là lúc Nội Chân, Ngoại Ứng, tương phù, tương hợp như hai miếng ấn tín chẻ đôi. Đó chính là lẽ THIÊN NHÂN HỢP PHÁT CHI CƠ, THẬT LÀ CHÍ DIỆU, CHÍ DIỆU VẬY.
陳泥丸云:每當天地交合時,盜取陰陽造化機。

陰符經雲;食其時,百骸埋;盜其 機,萬化安。何者謂之機?天根理極,微今年初盡處時,日起頭時,此際易得,意其間難下詞。人能知此意,何事不能知?此際正是造化真機妙處。盡真機之妙者, 周易也。盡周易之妙者,復卦也。盡復卦之妙者,初爻也。故曰復其見天地之心乎?

蓋此時,天地一陽來復,而吾身之天地亦然,內以採取 吾身之陽,外以盜取天地之陽,則天地之陽有不悉歸於我之身中而為我之藥物乎?然而天地雖大,造化雖妙,亦不能越此發機之外矣,此感彼應理之自然。

人若知此天人合發之機,遂於中夜靜坐,凝神聚氣,收視返聽,閉塞其兌,築固靈株,一念不生,萬緣頓息。渾渾淪淪,如太極之未分;溟溟沁沁,如兩儀之未 兆。湛兮!獨存如清淵之印月,寂然不動;如止水之無波,內不覺,其一身外不知其宇宙。夫亥之末,子之初,天地之陽氣至則急采之,未至則虛以待之,不敢為之 先也。

屈原遠遊篇雲;

道可受兮,不可傳。

其小無外兮,其大無限。母滑而魂兮,彼將自 然。

一氣孔神兮,於中夜存。虛以待之兮,無為之先。

許旌陽三藥歌云:存心絕慮候晶凝。

指玄篇云:塞兌垂簾默默窺。皆是藏器待時之謂也。嗚呼!時辰若至不勞心,內自相交自結凝。八室按時須等著,一輪曦馭自騰升。豈可為之先也哉。

Trần Nê Hoàn nói:

Mỗi đương Thiên Địa giao hợp thời. 每当天地交合时,
Đạo thủ Âm Dương tạo hoá cơ, 盗取阴阳造化机。

Mối khi Thiên Địa giao hội thời,
Trộm lấy Âm Dương Tạo hoá cơ.

Âm Phù Kinh viết: Thực kỳ thời, bách hài lý, Đạo kỳ cơ, Vạn hoá an, 食其时,百骸埋;盗其机,万化安。(Mỗi khi ta uống ăn, cơ thể được điều lý, Ăn trộm được Huyền cơ, Vạn biến sẽ an toàn).

Thế nào là Huyền Cơ?

Thiên căn Lý cực vi. 天根理极微
Kim niên sơ tận xứ. 今年初尽处
Thời nhật khởi đầu thì, 时日起头时
Thử tế dị đắc ý, 此际易得意
Kỳ gian nan hạ từ, 其间难下词
Nhân năng tri thử ý, 人能知此意,
Hà sự bất năng tri? 何事不能知?

Thiên căn Lý rất sâu,
Năm nay vừa sơ động.
Năm tới đã bắt đầu,
Biên tế ấy rất dễ hiểu,
Nhưng khó nói nên lời,
Nếu ai hiểu ý đó,
Thì gì mà không hiểu?

Biên tế ấy chính là Chân Cơ, diệu xứ vậy.

Kinh Chu Dịch đã hiểu rõ Chân Cơ vi diệu ấy, mà hiểu rõ Chân Cơ vi diệu của Chu Dịch là quẻ PHỤC. Hiểu rõ Vi Diệu quẻ PHỤC chính là hào sơ.

Cho nên mới nói: Phục kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ? 复其见天地之心乎?Phục rồi, được thấy Thiên Tâm (Vì lòng Trời Đất cũng trong lòng trời).

Vì trong giờ phút ấy, một Dương trở lại trong Trời Đất, mà Trời Đất trong ta cũng như vậy, trong thì ta sẽ Thái Thủ được Dương Khí trong thân ta, thế là ăn trộm được Dương Khí trời đất, thì Dương Khí đó há chẳng hoàn nạp vào trong thân ta, để trở thành Dược Vật hay sao?

Thiên Địa tuy lớn, tạo hoá tuy thần diệu, nhưng cũng không vượt ra ngoài cái Phát cơ này, đó là lẽ tự nhiên vậy.
Nếu con người biết lẽ Thiên Nhân Hợp Phát này, mà nửa đêm tĩnh toạ, ngưng Thần tụ Khí , thu thị, phản thính (tức là biết Nội Quan), ngậm miệng không nói, trúc cố Đan Điền, một niệm không sinh, vạn duyên đốn tức. Hỗn hỗn, độn độn, như Thái cực chưa phân, minh minh, chỉ chỉ như Lưỡng Nghi chưa manh nha, lặng lẽ riêng còn, như vực sâu lồng bóng nguyệt. Tịch nhiên bất động, như nước trong không sóng. Trong chẳng biết có thân, ngoài không biết có vũ trụ. Đợi cuối giờ Hợi, đầu giờ Tí, Dương khí Trời Đất sẽ đến, thì phải cấp tốc Thái Thủ. Nếu nó chưa đến thì cứ Hư Tâm mà chờ, không được ra tay trước.

Khuất Nguyên (Viễn Du Thiên) nói:-

Đạo khả thụ hề, bất khả truyền.
道可受兮不可传。
Kỳ tiểu vô nội hề, kỳ đại vô ngân,
其小无内兮其大无限。
Vô hoạt nhi hồn hề, bỉ tương tự nhiên,
毋滑而魂兮彼将自然。
Nhất khí khổng thần hề, vu trung dạ tồn,
一气孔神兮于中夜存。
Hư dĩ đãi chi hề, vô vi chi tiên,
虚以待之兮无为之先。

Đạo chỉ cảm thấy, không thể truyền,
Nhỏ thì nhỏ xíu, lớn vô biên,
Nó không phải hồn linh, tự nhiên tới,
Nó là Khí thần kỳ, sinh lúc nửa đêm,
Phải Hư Tâm chờ, không được tranh tiên,

Hứa Dinh Dương (Tam Dược Ca) nói: Tồn Tâm, tuyệt lự, hầu tinh ngưng, 存心绝虑候晶凝 (Chính niệm, tuyệt lự, chờ Dương Tinh ngưng).

夫金丹大藥,孕於先天,產於後天,其妙在乎太極將判未判之間。靜已極而未至於動,陽將復而未離乎陰。斯時也,冥冥兮,如煙嵐之罩山,濛濛兮,如霧氣之籠 水,霏霏兮,如冬雪之漸凝漸聚;沉沉兮,如漿水之漸碇漸清。俄頃,癢生毫竅,肢體如綿,心覺恍惚,而陽物勃然舉矣。此時陽氣通天,信至則瓊鐘一扣,玉洞雙 開,時至氣化,藥產神知,地雷震動巽門開,龍向東潭踴躍來。此時玄關透露而精金出礦之時矣。

邵康節云:恍惚陰陽初變化,氤氳天地三 迴旋。中間些子好光景,安得功夫入語言。

白玉蟾云:因看斗柄運周天,頓悟神仙妙訣。一點真陽生坎位,補卻離宮之缺。自古神仙,這些 離坎日日無休歇。

今年冬至,梅花依舊凝雪。

先聖此日閉關,不通來往,皆為群生設物。物總含生育意,正在子初亥末, 造物無聲,水中火起,妙在虛危穴。如今識破,金鳥飛人蟾窟。所謂虛危穴者,即地戶禁門是也。其穴在於任督二脈中間,上通天谷,下達湧泉。故先聖有言:天門 當開,地戶永閉。蓋精氣聚散常在此處,水火發端也在此處,陰陽變化也在此處,有無入也在此處,子母分胎也在此處。

翠虛篇云:有一子 母分胎路,妙在尾箕鬥牛女。此穴千涉最大,系人生死岸頭,故仙家名為生死窟。

參同契云:築固靈采者此也,拘束禁門者此也。

黃庭經云:閉塞命門保玉都者,此也,閉了精路可長活者此也。

Chỉ Huyền Thiên viết: Tắc Đoài, thuỳ Liêm, mặc mặc khuy 塞兑垂帘默默窥 (Ngậm miệng, buông rèm, lặng lẽ trông)
Ô hô!

Thời thìn nhược chí bất lao tâm, 时辰若至不劳心,
Nội tự tương giao, tự kết ngưng, 内自相交自结凝。
Nhập thất án thời, tu đẳng chước, 入室按时须等着,
Nhất luân Hi Ngự tự đằng thăng, 一轮曦驭自腾升。

Thời thìn, khí tới khỏi lao tâm,
Trong tự tương giao, tự kết ngưng,
Nhập thất án thời, nên biết đợi.
Tự nhiên vừng Nhật sẽ đằng thăng!

Há dám tranh tiên sao?

Kim Đơn Đại Dược kết thai ở tiên thiên, sinh ra ở hậu thiên. Cái vi diệu là lúc Thái Cực sắp phân hay chưa phân. Tĩnh đã cực nhưng chưa tới Động. Dương sắp về nhưng chưa rời Âm. Lúc ấy, như có làn khói nhạt che mờ núi non, như có làn sương nhẹ che mờ sông nước, là tà như tuyết mùa đông lúc ngưng, lúc tụ, trầm trầm như nước đang lắng lại.

Trong khoảnh khắc ấy, một khiếu nhỏ phát sinh, cơ thể mềm như tơ, tim thấy hoảng hốt, dương vật tự nhiên cử phát, lúc ấy Dương khí lưu thông tới Thượng Đan Điền, thời cơ đã tới, Đó chính là Hoạt Tí Thời, hai lỗ mũi sẽ trương nở. Đó là lúc Thời Chí Thần Hoá, lúc Đại Dược sản sinh. Trong bụng sôi như sấm, và Đan Điền cũng trương khai, Nguyên Khí hùng dũng xung tiến vào Đan Điền Lúc ấy là lúc Huyền Quan lộ xuất và là lúc Nội Đan xuất Khoáng.

Thiệu Khang Tiết viết:

Hoảng hốt Âm Dương sơ biến hóa, 恍惚阴阳初变化,
Nhân uân Thiên Địa sạ hồi tuyền, 氤氲天地乍回旋。
Trung gian ta tử hảo quang cảnh, 中间些子好光景,
An đắc công phu nhập ngữ ngôn, 安得功夫入语言。

Hoảng hốt Âm Dương vừa biến hoá,
Thiên địa chuyển vần mới phân khai,
Thời gian mỹ hảo, cảm được đó,
Làm sao mô tả được nên lời,

Bạch Ngọc Thiềm viết:

Nhân khan Đẩu Bính vận Chu Thiên, 因看斗柄运周天,
Đốn ngộ Thần tiên chân Diệu Quyết, 顿悟神仙真妙诀。
Nhất điểm Chân Dương sinh Khảm vị, 一点真阳生坎位,
Bổ khước Ly cung chi sở khuyết. 补却离宫之所缺。

Nhân trông Bắc Đẩu vận chu thiên.
Liền hiểu thần Tiên Chân Diệu Quyết.
Một Điểm Chân Dương sinh Khảm vị.
Xung vào chỗ khuyết của Ly cung.

Trời Đất xưa nay, với Khảm Ly, Nhật Nguyệt, vận chuyển không ngừng nghỉ, Đông chí năm nay, mai hoa vẫn ngưng tuyết như cũ (Thế là Tuyết Lý Hoa Khai). Ngày đó, tiên thánh đóng cửa quan không cho ai lai vãng. Cốt là phục vụ chúng sinh . Vạn vật đều hàm dưỡng ý nghĩa sinh dục. Đó chính là lúc Tí Sơ, Hợi Mạt, Tạo Vật im lìm, hoả sinh từ nước. Ảo diệu sinh từ Hư Nguy Huyệt. Nay đã hiểu, thì Kim Ô (Nguyên Thần) sẽ nhập Thiềm Huyệt (Đan Điền).

Nói Hư Nguy huyệt, cũng chính là Địa Hộ, Cấm Môn vậy . Huyệt này nằm giữa hai mạch Nhâm Đốc. Trên thông Thiên Cốc (Nê Hoàn), dưới đạt Dũng Tuyền. Cho nên Thánh xưa nói: Thiên môn thường khai, Địa hộ vĩnh bế.
Vả Âm Dương tụ tán vốn tại đó, Thuỷ hoả phát sinh vốn tại đó. Âm Dương biến hoá vốn tại đó, Hữu Vô xuất nhập vốn tại đó, Tử mẫu phân Thai vốn tại đó.

Tuý Hư Thiên viết:

Hữu nhất tử mẫu phân thai lộ, 有一子母分胎路,
Diệu tại Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ. 妙在尾箕斗牛女。

Con đường tử mẫu phân thai Lộ,
Diệu tại Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ,

Huyệt này hết sức quan trọng. Nó chính là đầu bờ Sinh Tử của con người, nên Tiên Gia gọi là Sinh Tử Quật.
Tham Đồng Khế viết: Trúc cố Linh Chu 筑固灵株 (Xây chắc Khí căn). Chính là thế. Hay Câu Thúc Cấm Môn 拘束禁门cũng chính là thế.

Huỳnh Đình Kinh viết: Bế tắc Mệnh môn bảo Ngọc Đô 闭塞命门保玉都 (Bế tắc Mệnh Môn để bảo tinh¬), cũng là vậy, hay: Bế Tử Tinh Lộ Khả Trường Hoạt闭子精路可长活 (Bế tắc Tinh Lộ sẽ sống lâu) cũng là như vậy.

Cho nên lúc Âm Dương sơ sinh, hình như Liệt Hoả, như Viêm Phong, thấu lộ cửa quan mà ra, chắc phải qua huyệt này, vì trong đã đóng kỹ, nên nó không công kích để mở ra được, nên phải trở về huyệt Vĩ Lư, xung lên Thiên Cù (Đốc Mạch), cứ thế tiến lên, vượt Tam Quan (Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm), lên đến đỉnh đầu, phối hợp với Chân Hống (Nguyên Thần), kết thành Đan Sa, nếu không phải do công phu Câu Thúc Cấm Môn (Khẩn bế Hậu môn) thì là do cái gì?

益真陽初生之時,形如烈火,狀似炎風,斬關透路而出,必由此穴經過。 因閉塞緊密,攻擊不開,只得驅回尾閭,連空焰起人天衢,望上奔,一撞三關,直透頂門,得與真汞配合,結成丹砂。非拘束禁門之功而誰歟。

呂組純陽文集中之口訣:

無中出有還丹象,陰裡生陽大道基。

李清庵火候歌之口訣:

極 致清虛守靜篤,靜中一動陽來復。

鐘離權破迷正道歌口訣:

一點最初真種子,入得丹田萬古春。

白玉蟾方法歸一歌口訣:

一陽方動大丹成,片晌工夫造化靈。

瑩蟾子煉虛歌口訣:

虛極 只虛元氣凝,靜之又靜陽來復。

劉海蟾還金篇口訣:

渺邈但撈水裡月,分明只採鏡中花。

許旌陽石涵篇記口訣:

恍惚穹冥二氣精,能生萬象合乾坤。

Cho nên lúc Âm Dương sơ sinh, hình như Liệt Hoả, như Viêm Phong, thấu lộ cửa quan mà ra, chắc phải qua huyệt này, vì trong đã đóng kỹ, nên nó không công kích để mở ra được, nên phải trở về huyệt Vĩ Lư, xung lên Thiên Cù (Đốc Mạch), cứ thế tiến lên, vượt Tam Quan (Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm), lên đến đỉnh đầu, phối hợp với Chân Hống (Nguyên Thần), kết thành Đan Sa, nếu không phải do công phu Câu Thúc Cấm Môn (Khẩn bế Hậu môn) thì là do cái gì?

Đó là khẩu quyết của Lã Đồng Tân (Thuần Dương Văn tập).

Vô trung xuất hữu hoàn đơn tượng 无中出有还丹象,
Âm Lý sinh Dương, Đại Đạo cơ. 阴里生阳大道基。

Từ Vô sinh Hữu, tượng hoàn đơn,
Trong Âm sinh Dương, nền đại đạo,

Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Hoả Hầu Ca

Chí cực thanh hư thủ tĩnh đốc, 致极清虚守静笃,
Tĩnh trung nhất động Dương lai phục, 静中一动阳来复。

Chí cực thanh hư, thủ tĩnh đốc,
Tĩnh đốc động thời, Dương lai phục.

Đó là khẩu quyết của Hán Chung Ly trong Phá Mê Chính Đạo Ca.

Nhất điểm tối sơ Chân Chủng Tử. 一点最初真种子,
Nhập đắc Đơn Điền vạn cổ xuân, 入得丹田万古春。

Một điểm tối sơ Chân Chủng Tử,
Vào được Đơn Điền, Vạn cổ Xuân,

Đó là khẩu quyết của Bạch Ngọc Thiềm (Vạn Pháp Qui Nhất ca).

Nhất Dương tài động Đại Đơn thành, 一阳才动大丹成,
Phiến hướng công phu, Tạo Hoá Linh, 片饷工夫造化灵。

Nhất Dương vừa động, Đại Đơn thành,
Phút giây, thấy công phu Tạo Hoá,

Đó là khẩu quyết Huỳnh Thiềm Tử (Luyện Hư Ca).

Hư cực hựu hư, nguyên khí ngưng, 虚极只虚元气凝,
Tĩnh chi hựu tĩnh, Dương lai phục. 静之又静阳来复。

Hư cực tĩnh đốc, Nguyên Khí ngưng,
Tĩnh tới cùng Cực, Dương lai phục.

Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm (Hoàn Kim Thiên).

Miểu mạc đãn lao Thuỷ lý nguyệt, 渺邈但捞水里月,
Phân minh chỉ thái kính trung hoa. 分明只采镜中花。

Xa xôi, muốn mò trăng đáy nước,
Phân minh cũng chỉ hái hoa gương,

Đó là khẩu quyết của Hứa Tinh Dương (Thạch Hàm Ký).

Hoảng hốt yểu minh nhị khí tinh, 恍惚窈冥二气精,
Năng sinh vạn vật hợp Kiền Khôn. 能生万象合乾坤。

Tinh hoa của Âm Dương nhị khí,
Đã sinh thành vạn vật Kiền Khôn,

Đó là khẩu quyết của Trương Tử Dương (Ngộ Chân Thiên).

張紫陽悟真篇口訣:

恍惚之中 尋有像,穹冥之內覓真精。

還陽子見性篇口訣:

日精若與月華合,自有真鉛出世來。

張用 成悟真篇口訣:

若問其鉛何物是,蟾光終日照西川。

諸真玄奧廣集口訣:

真鉛不產五金 內,生在穹冥天地先。

李道純原道歌口訣:

坎水中間一點真,急須取向離中輳。

李清庵中 和集口訣:

三物混融三性合,一陽來復一陰消。

劉奉真白龍洞中之口訣:

些兒須問天根 處,亥子中間得最真。

梅志仙採藥歌口訣:

陰蹺泥丸,一氣循環。下穿地戶,上撥天關。

石杏林口訣:

萬籟風初起,千山月三圓。急須行政生,便可運周天。

瑩蟾子口訣:

可道非 常道,行動是外功。些兒真造化,恍惚穹冥中。

石得之口訣:

藥取失天氣,火尋太陽精。能知藥取火,定裡見丹 成。

呂純陽口訣:

要覓長生路,除非認本元。都來一味藥,剛道數千般。

Hoảng hốt chi trung tầm Hữu Tượng, 恍惚之中寻有象,
Yểu minh chi nội, mịch Chân Tinh, 窈冥之内觅真精。

Từ trong hoảng hốt tìm chân Tượng.
Từ chốn yểu minh thấy Chân Tinh.

Đó là khẩu quyết của Hoàng Dương Tử (Kiến Tính Thiên)

Nhật Tinh nhược dữ Nguyệt hoa hợp, 日精若与月华合,
Tự hữu Chân Diên xuất thế lai, 自有真铅出世来。

Nhật tinh mà hợp với Nguyệt hoa,
Sẽ có Chân Diên sinh tại thế,

Đó là khẩu quyết của Trương Dụng Thành (Ngộ Thiên Chân).

Nhược vấn Chân Diên hà vật thị, 若问真铅何物是
Thiềm Quang chung nhật chiếu Tây Xuyên, 蟾光终日照西川

Nếu hỏi Chân Diên ấy vật chi?
Suốt bưổi trăng soi, chiếu Tây Xuyên.

Đó là khẩu quyết của sách Chư Chân Huyền Áo quảng tập.

Chân Diên bất sản Ngũ Kim nội, 真铅不产五金内,
Sinh tại Yểu minh Thiên Địa gian, 生在窈冥天地间。

Chân Diên không thấy trong kim loại,
Nó vốn sinh từ Thiên Địa Gian,

Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thuần (Nguyên Đạo Ca).

Khảm thuỷ trung gian nhất điểm Chân, 坎水中间一点真,
Cấp tu thủ hướng Ly trung thấu, 急须取向离中辏。

Một điểm Chân Dương Khảm thuỷ gian,
Mau lấy đem về Ly trung thấu.

Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Trung Hoà Tập).

Tam vật hỗn dung, tam tính hiệp, 三物混融三性合,
Nhất Dương lai phục, nhất Âm tiêu, 一阳来复一阴消。

Tinh, Khí, Thần, tự nhiên hợp nhất,
Chính là lúc Nhất Dương lai phục.

Đó là khẩu quyết của Lưu Phụng Chân (trong Bạch Long Đông).

Ta nhi dục vấn Thiên Căn xứ, 些儿欲问天根处,
Hợi Tí trung gian đắc Tối Chân, 亥子中间得最真。

Muốn tường Thiên căn xứ ở đâu?
Phải biết trung gian giữa Hợi Tí.

Đó là khẩu quyết của Mai Chí Tiên (Thái Dược ca).

Âm Kiều, Nê Hoàn nhất khí tuần hoàn, 阴桥泥丸一气循环
Hạ Xuyên Địa Hộ, thượng bạt Thiên Quan, 下穿地户上拨天关

Một khí tuần hoàn từ Âm Kiều đến Nê Hoàn,
Dưới xuyên Địa Hộ, thượng thấu Thiên Quan,

Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm.

Vạn lại phong suy khởi, 万籁风吹起,
Thiên san nguyệt sạ viên. 千山月乍圆。
Cấp tu hành chính lệnh, 急须行政令,
Tiện khả vận Chu Thiên, 便可运周天。

Gió vừa loạn khởi lai,
Âm thanh muôn vạn phát,
Đỉnh núi trăng vừa tròn ,
Lập tức hành chính lệnh,
Mới vận được chu thiên .

Đó là khẩu quyết của Huỳnh Thiềm Tử.

Khả đạo phi thường Đạo, 可道非常道,
Hành Công thị Ngoại Công, 行动是外功。
Ta nhi Chân Tạo Hoá, 些儿真造化,
Hoảng hốt yểu minh trung, 恍惚窈冥中。

Chân Đạo đâu nói được,
Hành Công ấy Ngoại Công,
Bí quyết Chân Tạo Hoá,
Ở tại Yểu Minh trung.

Đó là khẩu quyết của Thạch Đắc Chi.

Dược thủ Tiên Thiên Khí, 药取先天气,
Hoả tầm Thái Dương tinh 火寻太阳精。
Năng tri dược thủ hoả, 能知药取火,
Định lý kiến Đơn thành, 定里见丹成。

Tiên Thiên Khí là Dược,
Còn hoả ấy Nguyên Thần
Biết dược và biết hoả,
Trong định Đơn sẽ thành,

Đó là khẩu quyết của Lữ Thuần Dương (Lữ Đồng Tân).

金碧經口訣:

元君始煉汞,神室含洞虛。玄白生金公,巍巍 建始初。

彭鶴林口訣:

得訣歸來試煉看,龍爭虎戰片時間。九華天上人知得,一夜風雷撼萬山。

上陽子口訣:

虎之為物最難言,尋得歸來玄又玄。一陽初動癸生處,此際因名大際先。

陳泥丸口訣:

半斤真汞半斤鉛,隱在靈源太極先。須趁子時當採取,煉成金液入丹田。

呂純陽口訣:

捉得金精固定基,日魂東 畔月華西。於中煉就長生藥,服了還同天地齊。

徐神翁口訣:

燦燦金華日月精,溶溶玉液乾坤髓。夜深天宇間無 塵,唯有蟾光照神水。

陳默然口訣:

兌金萬寶正西成,桂魄中秋倍樣明。便好用功施採取,虛中以待一陽生。

玄奧集口訣:

一泓神水滿華池,夜夜池邊白雪飛。雪裡有人擒玉兔,趕教明月上寒枝。

Yếu mịch Trường Sinh lộ, 要觅长生路,
Trừ phi nhận Bản Nguyên, 除非认本元。
Đô lai nhất vị dược, 都来一味药,
Cương đạo số thiên ban, 刚道数千般。

Muốn tìm nẻo Trường Sinh,
Phải biết Bản Nguyên mình,
Dược vị vốn chỉ một,
Người nói thành trăm nghìn.

Đó là khẩu quyết Kim Bích Kinh.

Nguyên Quân thuỷ luyện Hống, 元君始炼汞,
Thần thất hàm Động Hư, 神室含洞虚。
Huyền bạch sinh Kim Công, 玄白生金公,
Nguy nguy kiến Thuỷ Sơ, 巍巍见始初。

Nguyên thần thoạt luyện Hống,
Đơn điền đầy hư không,
Nguyên khí sinh Kim Công,
Sùng cao khai Nguyên Thuỷ,

Đó là khẩu quyết của Bành Hạc Lâm.

Đắc quyết qui lai thí luyện đan, 得诀归来试炼丹,
Long tranh, hổ chiến phiến thời gian, 龙争虎战片时间。
Cửa hoa thiên thượng nhân tri đắc, 九华天上人知得,
Nhất dạ phong lôi hám vạn san, 一夜风雷撼万山。

Biết khẩu quyết rồi thử luyện đan,
Long tranh, Hổ chiến một thời gian,
Một trời bừng sáng, người đều biết,
Một đêm sấm chớp chuyển vạn san.

Đó là Khẩu quyết của Thượng Dương Tử.

Hổ chi vi vật tối nan ngôn, 虎之为物最难言,
Tầm đắc qui lai huyền hựu huyền, 寻得归来玄又玄。
Nhất dương sơ động Quí sinh xứ, 一阳初动癸生处,
Thử tế nhân danh Đại Dịch tiên, 此际因名大易先。

Hổ (Chân Khí) là con vật khó tả sao,
Bắt được đem về lạ biết bao,
Nhất dương vừa động, thời gian ấy,
Là lúc Dịch kinh gọi là Vô.

Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.

Bán cân Chân Hống, Bán cân Diên, 半斤真汞半斤铅,
Ẩn tại Linh Nguyên Thái Cực tiên, 隐在灵源太极先。
Tu sấn Tí thời đương thái thủ, 须趁子时当采取,
Luyện thành Kim Dịch nhập Đan Điền. 炼成金液入丹田。

Nửa cân Chân Hống, nửa cân Diên,
Ẩn tại Linh nguyên, Thái Cực tiền,
Phải nhân giờ Tí mà Thái Thủ.
Luyện thành Kim Dịch nhập Đan Điền.

Đó là khẩu quyết của Lữ Thuần Dương.

Tróc đắc Kim Tinh cố mệnh cơ, 捉得金精固命基,
Nhật hồn Đông bạn, nguyệt hoa Tây, 日魂东畔月华西。
Vu trung luyện tựu Trường Sinh dược, 于中炼就长生药,
Phục liễu hoàn đồng thiên địa tề. 服了还同天地齐。

Biết dùng Nguyên Khí cố mệnh cơ,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hai bề đủ,
Đem về tu luyện thuốc Trường sinh.
Sẽ được sống lâu cùng trời đất,

Đó là khẩu quyết của Từ Thần Ông.

Xán xán kim hoa nhật nguyệt tinh, 灿灿金华日月精,
Dung dung ngọc dịch Kiền Khôn tuỷ. 溶溶玉液乾坤髓。
Dạ thâm thiên vũ hồi vô trần 夜深天宇回无尘,
Duy hữu thiềm quang chiếu thần thuỷ. 唯有蟾光照神水。

Xán lạn Kim Hoa Nhật nguyệt tinh,
Ngọc Dịch tinh hoa, Kiền Khôn tuỷ,
Đêm khuya Thiên Không quýnh vô trần,
Chỉ có Nguyên Thần chiếu Nguyên khí.

Đó là khẩu quyết của Trần Mặc Mặc.

Đoài Kim vạn bửu chính Tây Thành, 兑金万宝正西成,
Quế phách Trung Thu, bội dạng minh, 桂魄中秋倍样明。
Tiện hảo dụng công thi thái thủ, 便好用功施采取,
Hư trung dĩ đãi Nhất Dương Sinh. 虚中以待一阳生。

Đoài Kim Chính thực ở Tây Phương.
Nguyệt chiếu Trung Thu, rực rỡ thêm,
Lúc đó là khi cần thái thủ,
Hư trung chỉ đợi Nhất Dương sinh,

Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.
陳圖南口訣:

窈冥才露一端倪,恍惚未曾分彼此。中間主宰這些兒,便是世人真種子。

陳翠虛口訣:

只取一味水中金,收拾虛 無造化窟。促將百脈盡歸根,脈住氣停丹始結。

龍盲子口訣:

先天一氣號其鉛,莫信迷徒妄指傳。南北滋張緣朕 兆,一靈飛走賴拘鈐。

鐘離權口訣:

塞兌垂簾寂默窺,滿空白雪亂參差。慇勤收拾無令失,貯看孤輪月上時。

薛道光口訣:

無不為之有以為,坎中有白要歸離。水源初到極清處,一點靈光人不知。

呂洞賓口訣;

奠怪瑤池消息稀,只緣人事隔天機。若人尋得水中火,有一黃童上太微。

瑩蟾子李翁口訣:

玄關欲透作工夫,妙 在一陽來復。天癸方生忙下手,采處切須虔篤。

邵康節口訣:

忽然夜半一聲雷,萬戶千門次第開。若識無中含有 像,許君親見伏羲來。

上陽子口訣:

元來一味坎中金,未得師傳枉用心。忽爾打開多寶藏,木非土也不成林。

Nhất hoằng Thần Thuỷ mãn Hoa Trì, 一泓神水满华池,
Dạ dạ trì biên bạch tuyết phi, 夜夜池边白雪飞。
Tuyết lý hữu nhân cầm Ngọc Thố, 雪里有人擒玉兔,
Cản giáo minh nguyệt thượng hàn chi, 赶教明月上寒枝。

Nguyên Thần, Nguyên Khí mãn Hoa Trì,
Bên nước đêm đêm tuyết phân phi,
Trong tuyết có người bắt Ngọc Thố,
Giúp cho trăng sáng nhập Đan Điền.

Đó là khẩu quyết của Trần Đồ Nam.

Yểu minh tài lộ nhất đoan nghê, 窈冥才露一端倪,
Hoảng hốt vị tằng phân bỉ thử, 恍惚未曾分彼此。
Trung gian chủ tể giá ta nhi, 中间主宰这些儿,
Tiện thị thế nhân Chân Chủng tử, 便是世人真种子。

Yểu minh vừa lộ nhất đoan nghê (Đầu mối).
Hoảng hốt không ngoài Âm lẫn Dương,
Trung gian chủ tể là Thái Cực,
Cái đó chính là Chân chủng tử,

Đó là Khẩu quyết của Trần Thuý Hư.

Chỉ thủ nhất vị Thuỷ trung Kim, 只取一味水中金,
Thu thập Hư Vô tạo Hoá Quật, 收拾虚无造化窟。
Tróc tương bách mạch tận qui căn, 捉将百脉尽归根,
Mạch trụ, Khí đình, Đơn thuỷ kết, 脉住气停丹始结。

Chỉ đem Chân Khí Thuỷ trung Kim,
Thu thập đem về Tạo hoá Quật,
Lại đem bách mạch tận qui căn,
Mạch trụ, Khí đình, Đan sẽ kết.

Đó là khẩu quyết của Long Mi Tử.

Tiên Thiên Nhất khí hiệu Chân Diên, 先天一气号真铅,
Mạc tín mê đồ vọng chỉ truyền, 莫信迷徒妄指传。
Vạn hoá tư trương, duyên trẫm triệu, 南化滋张缘朕兆,
Nhất linh phi tẩu lại câu kiềm. 一灵飞走赖拘钤。

Tiên Thiên nhất khí ấy Chân Diên,
Chớ tin bọn dốt chỉ huyên thuyên,
Vạn hoá chỉ sinh từ một gốc,
Nhất linh bay nhảy, phải giữ gìn.

Đó là khẩu quyết của Chung Ly Quyền.

Tắc Đoài thuỳ liêm tịch mặc Khuy, 塞兑垂帘寂默窥,
Mãn không bạch tuyết loạn sâm si, 满空白雪乱参差。
Ân cần thu thập vô lệnh thất, 殷勤收拾无令失,
Trữ khán cô luân Nguyệt thượng thời, 贮看孤轮月上时。

Ngậm miêng, lim dim cố ngắm xem.
Đầy trời mưa tuyết, trắng Đan Điền,
Ân cần đem Nguyên Khí về Đan Điền,
Đợi Nguyên Thần xuất hiện (nữa) là xong.

Đó là khẩu quyết của Tiết Đạo Quang.

Vô bất vi chi, hữu dĩ vi, 无不为之有以为,
Khảm trung hữu bạch yếu qui Ly. 坎中有白要归离。
Thủy nguyên sơ đáo cực thanh xứ, 水源初到极清处,
Nhất điểm Linh Quang nhân bất tri, 一点灵光人不知。

Nhân chẳng làm chi, có làm chi,
Khảm trung Dương điểm phải qui Ly,
Ý niệm phải sao thanh hư cực,
Linh quang mới hiện, ít người hay.

Đó là khẩu quyết của Lữ Đồng Tân.

Mạc quái Dao Trì tiêu tức hi. 奠怪瑶池消息稀,
Chỉ duyên nhân sự cách thiên ki, 只缘人事隔天机。
Nhược nhân tầm đắc Thuỷ trung Hoả 若人寻得水中火,
Hữu nhất Huỳnh Đồng thượng Thái Vi, 有一黄童上太微。

Dao Trì tin tức ít kẻ hay,
Chỉ tại con người quá cách trời,
Khảm trung Chân Hoả mà tìm được,
Sẽ có Tiểu Tiên nhập Thái Vi.

Đó là khẩu quyết của Huỳnh Thiềm tử, Lý Ông.

Huyền Quan dục thấu tố công phu, 玄关欲透作工夫,
Diệu tại Nhất Dương lai phục sơ, 妙在一阳来复初。
Thiên Quí tài sinh, mang hạ thủ, 天癸才生忙下手,
Thái xứ thiết tu kiền đốc đồ. 采处切须虔笃图。

Muốn vào công tác tại Huyền Quan,
Nhất Dương lai phục, mới dễ bàn,
Thiên Quí vừa sinh, mau bắt lấy,
Hái thuốc dĩ nhiên phải bền gan.
Đó là khẩu quyết của Thiệu Khang Tiết.

Hốt nhiên dạ bán nhất thanh lôi, 忽然夜半一声雷,
Vạn hộ thiên môn thứ đệ khai 万户千门次第开。
Nhược thức vô trung hàm hữu tượng, 若识无中含有象,
Hứa quân thân kiến Phục Hi lai. 许君亲见伏羲来。

Nửa đêm bỗng thấy sấm rền trời,
Cửa rả muôn nghìn lớp lớp khai,
Hiểu được trong không dày dẫy có,
Khác nào thấy được Phục Hi Lai.

Bài thơ trên là của Chu Hi.

Bài thơ của Thiệu Khang Tiết là:

Đông chí Tí chi bán, Thiên Tâm vô cải di,
东至子之半, 天心无改移
Nhất Dương sơ động xứ, Vạn vật vị sinh thì.
一阳初动处, 万物未生时
Huyền tửu vị phương đạm, Thái Âm thanh chính hi,
玄酒味方淡, 太阴声正稀
Thử ngôn như bất tín, Cánh thỉnh vấn Bao Hi.
此言如不信, 更请问庖羲

Đông chí hàn băng khí phục quy, Cơ trời vốn dĩ chẳng sai di,
Nhất Dương vừa thoạt manh nha động, Vạn vật còn trong bão dựng thì,
Tiên tửu nếm qua thường nhạt nhẽo, Thái Âm nghe thoạt tưởng li ti,
Ví thử lời ấy chưa tin đủ, Xin hãy tiềm tâm hỏi Phục Hi.

(Xem Chu Dịch bản nghĩa, Nguyễn Duy Tinh, Tr. 209).

Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.

陳翠虛口訣:

父精母血結胎成,尚自他形似我形。身內認吾真父母,方才捉得五行精。

陳泥丸口訣:

西南路上月華明,大藥還從此處生。記得古人詩一句,曲江之上鵲橋橫。

玄奧集中口訣:

煉丹仔細辨功夫,晝夜 慇勤在藥爐。若遇一陽才起復,覺時須採老時枯。

張三峰口訣:

佛印指出虛而覺,丹陽訣破無中有。捉住元初那點 真,萬古千秋身不朽。

珠玉集中口訣:

水鄉鉛,只一味,不是精神不是氣。元來即是性命根,隱在先天心坎內。

上陽子口訣:

恰恰相當絕妙奇,中秋天上月圓時。陽生急采無今緩,進火功夫要慮危。

陳泥丸口訣:

寓坎名為水火精,本是乾坤二卦成。但取坎宮點離穴,純乾便可攝飛瓊。

玄奧集口訣:

憂惚之中有至精,龍吟虎 嘯最堪聽。玄珠飛趁崑崙去,晝夜河車不暫停。

薛紫賢口訣:

軋軋相從響發時,不從他得豁然知。橘槔說盡無生 曲,井底泥蛇舞柘枝。

許宜平口訣:

返本還原已到乾,能升能降號飛仙。一陽生是興功日,九轉周為得道年。

陳翠虛口訣:

日烏月兔兩輪圓,根在先天採取難。月在望中能採取,天魂地魄結靈丹。

金丹撮要口訣:

一氣團成五物真,五物團成一物靈。奪得乾坤真種子,子生孫兮又生孫。

回穀子口訣:

精神氣血歸三要,南北東 西其一家。天地變通飛白雪,陰陽和合產金華。

王果齋口訣:

精神氣,藥最親,以此修丹尚未真。修丹只要乾坤 髓,乾坤髓即坎離仁。

陳泥丸口訣:

鉛汞相傳世所稀,硃砂為質雪為衣。朦朧只在君家捨,日日君看君不知。

Nguyên lai nhất vị Khảm Trung Kim, 元来一味坎中金,
Vị Đắc sư truyền uổng dụng tâm, 未得师传枉用心。
Hốt nhĩ đả khai đa bảo tạng, 忽尔打开多宝藏,
Mộc phi thổ dã bất thành lâm, 木非土也不成林。

Dương trung nhất vị Khảm Trung Kim
Không được sư truyền, phí sức tìm,
Tìm ra mở được nhiều kho báu,
Không nó cây sao mọc thành non?

Đó là khẩu quyết của Trần Thuý Hư.

Phụ tinh mẫu huyết, kết thai thành, 父精母血结胎成,
Thượng tự tha hình, tự ngã hình, 尚自他形似我形。
Thân nội nhận ngô chân phụ mẫu, 身内认吾真父母,
Phương tài tróc đắc Ngũ hành tinh. 方才捉得五行精

Phụ tinh mẫu huyết kết thành thai,
Trông tưởng khác mình, lại giống mình.
Trong thân nhận được chân Phụ mẫu
Rồi ra bắt được Ngũ hành Tinh (Nội Đơn).

Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.

Tây Nam lộ thượng nguyệt hoa minh, 西南路上月华明,
Đại Dược hoàn tòng thử xứ sinh, 大药还从此处生。
Ký đắc cổ nhân thi nhất cú, 记得古人诗一句,
Khúc Giang chi thượng Thước Kiều hoành. 曲江之上鹊桥横。

Đường tới tây nam trăng sáng quắc,
Đại Dược cũng do thử xứ sinh,
Thi phú người xưa được nhất cú,
Khúc Giang sông ấy, Thước Kiều ngang.

Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.

Luyện đơn tử tế biện công phu, 炼丹仔细辨功夫,
Trú dạ ân cần thủ dược lô, 昼夜殷勤守药炉。
Nhược ngộ nhất dương tài khởi phục, 若遇一阳才起复,
Nộn thời tu thái, lão thời khô. 嫩时须采老时枯。

Luyện đơn khéo khéo biện công phu.
Đêm ngày cần mẫn thủ Dược Lô.
Nếu thấy Nhất Dương vừa sinh lại,
Non thời mới hái, kẻo già khô.

Đó là khẩu quyết của Trương Tam Phong.

Phật Ấn chỉ xuất hư nhi giác, 佛印指出虚而觉,
Đơn Dương quyết phá Vô trung Hữu, 丹阳诀破无中有。
Tróc trụ nguyên sơ na điểm Chân, 捉住元初那点真,
Vạn cổ thiên thu thân bất hủ, 万古千秋身不朽。

Phật Ấn chỉ xuất Hư nhi Giác,
Đơn Dương quyết phá Hữu trong Vô,
Nhất Dương lai phục tìm ra được,
Sẽ có Thiên Thu bất hủ thân.

Đó là khẩu quyết của Châu Ngọc Tập.

Thủy hương Diên trung chỉ nhất vị, 水乡铅中只一味,
Bất thị Tinh Thần, bất thị Khí, 不是精神不是气。
Nguyên thần tức thị Tính Mệnh Căn. 元神即是性命根,
Ẩn tại Tiên Thiên Tâm Khảm Nội, 隐在先天心坎内。

Thuỷ trung Kim kia chỉ một vị,
Không phải Tinh, Thần, không phải Khí,
Nguyên Thần ấy chính là Tính Mệnh Căn.
Ẩn tại Tiên Thiên Tâm Khảm Nội.

Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.

Kháp kháp tương đương tuyệt diệu kỳ, 恰恰相当绝妙奇,
Trung Thu thiên thượng nguyệt viên thì, 中秋天上月圆时。
Dương sinh cấp thái vô lệnh hoãn, 阳生急采无今缓,
Tiến Hoả công phu yếu lự nguy. 进火功夫要虑危。

Hoả hậu luyện đơn thật diệu kỳ.
Trung thu tháng tám trăng tròn trặn,
Nhất Dương mà tới chớ diên trì,
Tiến Hoả công phu phải phòng nguy.

Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.
李清庵口訣:

先天至理妙難窮,鉛產西方汞產東。水火二途分上下,玄關一竅在當中。

王陽明口訣:

閒觀物態皆生意,靜悟天機入穹冥。道在險夷隨地樂,心忘魚鳥自流行。

邵康書口訣:

天心復處是無心,心到無 時無處尋。若謂無心便無事,水中何故卻生金。

李清庵中和集中之口訣:

煉汞烹鉛本沒時,學人當向定中推。客塵 欲染心無著,天癸才生神自知。

性寂金來歸性本,精凝坎去補南離。兩般靈物交並後,陰盡陽純道可期。

李道純中 和集中之口訣:

火將容易藥非遙,天癸生如大海潮。兩種汞鉛知採取,一齊物慾盡捐消。

掀翻萬有三元合,煉盡諸 陰五氣朝。十月脫胎丹道畢,嬰兒形兆渴神霄。

陳楠口訣:

奪取天機妙,夜半看辰杓,一些殊露。阿誰運列稻花 頭,便向此中採取。

宛如碧蓮含蕊,滴破玉池秋萬籟。風初起,明月一沙歐。

以上皆諸真得藥口義,各引數言,以 便印證者。

Ly Khảm danh vi Thuỷ Hoả Tinh, 离坎名为水火精,
Bản thị Kiền Khôn nhị quái thành, 本是乾坤二卦成。
Đãn thủ Khảm Tinh điểm Ly huyệt, 但取坎精点离穴,
Thuần Kiền tiện khả nhiếp phi quỳnh. 纯乾便可摄飞琼。

Ly Khảm có tên Thuỷ Hoả Tinh,
Chúng chính Kiền Khôn biến hoá thành,
Đem được Khảm Dương về Ly vị,
Thuần Kiền âu sẽ phục hồi linh.

Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.

Hoảng hốt chi trung hữu chí Tinh, 忧惚之中有至精,
Long ngâm hổ khiếu tối kham thinh, 龙吟虎啸最堪听。
Huyền Châu phi sấn Côn Lôn khứ, 玄珠飞趁昆仑去,
Trú dạ Hà Xa bất tạm đình, 昼夜河车不暂停。

Hoảng hốt chi trung hữu chí tinh,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hiệp hoà thanh,
Huyền châu bay thẳng Côn Lôn đỉnh,
Vận Khí Hà Xa chẳng được đình,

Đó là khẩu quyết của Tiết Tử Hiền.

Yết yết tương tòng hưởng phát thì, 轧轧相从响发时,
Bất tòng tha đắc khoát nhiên tri, 不从他得豁然知。
Kết cao thuyết tận vô sinh khúc, 桔槔说尽无生曲,
Tỉnh để Nê Xà vũ chá chi . 井底泥蛇舞柘枝。

Yết yết vừa nghe trục nước quay,
Hốt nhiên minh giác chẳng nhờ ai,
Tiếng gầu vận nước nêu ý tứ,
Cho thấy giếng sâu khúc Chá Chi .

Đó là Khẩu quyết của Hứa Tuyên Bình.

Phản bản hoàn nguyên dĩ đáo Kiền, 返本还原已到乾,
Năng thăng, năng giáng hiệu phi tiên, 能升能降号飞仙。
Nhất Dương sinh thị hưng công nhật, 一阳生是兴功日,
Cửu chuyển chu vi đắc đạo niên, 九转周为得道年。

Khảm dạy hồi nguyên tới quẻ Kiền,
Biết hô biết hấp sẽ thành tiên,
Nhất Dương lai phục, công thành khắc,
Cửu chuyển đơn thành, đắc đạo niên,

Đó là khẩu quyết của Trần Thuý Hư.

Nhật ô, Nguyệt thố lưỡng luân viên, 日乌月兔两轮圆,
Căn tại Tiên Thiên thái thủ nan, 根在先天采取难。
Nguyệt dạ vọng trung năng thái thủ, 月夜望中能采取,
Thiên Hồn Địa Phách kết Linh Đan, 天魂地魄结灵丹。

Nguyên Thần, Nguyên khí lưỡng luân viên,
Gốc lại Tiên Thiên, thái thủ nan,
Chỉ lúc trăng tròn, mới hái được,
Tinh Hoa Trời đất kết Linh Đan.

Đó là khẩu quyết của Kim Đơn toát Yếu.

Nhất khí đoàn thành ngũ vật chân. 一气团成五物真,
Ngũ vật đoàn thành nhất vật linh, 五物团成一物灵。
Đoạt đắc Kiền Khôn Chân Chủng Tử, 夺得乾坤真种子,
Tử sinh tôn hề hựu sinh tôn, 子生孙兮又生孙。

Nhất Khí xuất sinh ra vũ trụ.
Ngũ hành lại tạo được Đan Linh,
Biết được Kiền Khôn Chân Chủng Tử,
Con con cháu cháu sẽ trường tồn.

Đó là Khẩu quyết của Hồi Cốc Tử.

Tinh thần khí huyết qui tam yếu, 精神气血归三要,
Nam bắc Đông Tây cộng nhất gia, 南北东西共一家。
Thiên Địa biến thông phi bạch tuyết, 天地变通飞白雪,
Âm Dương hoà hợp sản Kim Hoa, 阴阳和合产金华。

Tinh Thần Khí Huyết qui Tam yếu,
Nam Bắc Đông Tây cộng một nhà,
Trời đất biến thông, phi bạch tuyết,
Âm Dương hoà hợp sản Kim hoa.

Đó là khẩu quyết của Vương Quả Trai.

Tinh Thần Khí thị dược tối thân, 精神气是药最亲,
Dĩ thử tu đơn thượng vị chân, 以此修丹尚未真。
Tu Đơn chỉ yếu Kiền Khôn tuỷ, 修丹只要乾坤髓,
Kiền Khôn tuỷ tức Khảm Ly nhân, 乾坤髓即坎离仁。

Tinh Khí Thần ba vật tương thân,
Luyện đơn dùng nó, chửa chắc chân,
Tu Đơn cần nhất Kiền Khôn Tuỷ,
Mà Tuỷ Kiền Khôn: Khảm Ly nhân

Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.

Diên Hống tương truyền thế sở hi, 铅汞相传世所稀,
Chu Sa vi chất, tuyết vi y. 朱砂为质雪为衣。
Mung lung chỉ tại quân gia xá. 朦胧只在君家舍,
Nhật nhật quân khan, quân bất tri, 日日君看君不知。

Diên Hống tương truyền rất hiếm thay,
Trong gọi Kim Đơn, ngoài như tuyết,
Nó vốn trong Ông, Ông không biết,
Biết ra thời thấy thật liền tay.

Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am.

Tiên Thiên chí lý diệu nan cùng, 先天至理妙难穷,
Diên sản Tây Phương, Hống sản Đông, 铅产西方汞产东。
Thuỷ Hoả nhị đồ phân thượng hạ, 水火二途分上下,
Huyền Quan Nhất Khiếu tại đương trung, 玄关一窍在当中。

Chân lý Tiên Thiên kỳ diệu khôn cùng,
Diên sinh ở Tây, Hống ở Đông,
Thuỷ Hoả đôi đường phân trên dưới,
Huyền Quan nhất khiếu ở giữa lòng,

Đó là khẩu quyết của Vương Dương Minh.

Nhàn quan vật năng giai sinh ý, 闲观物能皆生意,
Tĩnh ngộ Thiên cơ nhập yểu minh 静悟天机入窈冥。
Đạo tại hiểm di, tuỳ địa lạc, 道在险夷随地乐,
Tâm vong ngư điểu tự lưu hành, 心忘鱼鸟自流行。

Nhìn xem muôn vật đều sống động,
Như vậy là sẽ biết Thiên cơ,
Đường đời dễ khó ta vui bước,
Tâm mà quên cảnh, sẽ thành công,

Đó là khẩu quyết của Thiệu Khang Tiết.

Thiên Tâm phục xứ thị vô tâm, 天心复处是无心,
Tâm đáo vô thời, vô xứ tầm. 心到无时无处寻。
Nhược vị vô tâm tiện vô sự, 若谓无心便无事,
Thủy trung hà cố khước sinh kim? 水中何故却生金。

Nhất Dương lai phục lẽ tự nhiên,
Tâm mà vô niệm khó mà tầm,
Nếu bảo vô tâm là vô sự,
Tại sao trong nước xuất hoàn cân (kim)?

Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Trung Hoà Tập).

Luyện Hống, phanh Diên bản một thời. 炼汞烹铅本没时,
Học nhân đương hướng định trung thôi. 学人当向定中推。
Khách trần dục nhiễm tâm vô trước, 客尘欲染心无着,
Thiên quý tài sinh thần tự tri. 天癸才生神自知。
Tính tịch Kim lai qui tính bản. 性寂金来归性本,
Tinh ngưng Khảm khứ bổ Nam Ly. 精凝坎去补南离。
Lưỡng ban Linh Vật giao tịnh hậu. 两般灵物交并后,
Âm tận, Dương thuần, đạo khả kỳ. 阴尽阳纯道可期。

Luyện Hống phanh Diên vốn không thời.
Người tu, định tĩnh, mới đáng tài.
Khách trần phải học Vô Tâm trước,
Thiên Quý (Dương Tinh) sinh ra là thần biết,
Tinh muốn qui căn, phải tĩnh lặng.
Khảm Dương phải biết lấy điền Ly.
Khảm Ly hòa hợp mà biết được,
Âm tận, Dương thuần, Đạo khả kỳ.

Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thuần (Trung Hoà Tập).

Hoả phù dung dị, dược phi dao, 火符容易药非遥,
Thiên Quí sinh như đại hải trào, 天癸生如大海潮。
Lưỡng chủng Hống Diên tri thái thủ, 两种汞铅知采取,
Nhất tề vật dục tận thuyên tiêu, 一齐物欲尽捐消。
Hân phiên vạn hữu tam nguyên hợp. 掀翻万有三元合,
Luyện tận Chư Âm, Ngũ Khí triều. 炼尽诸阴五气朝。
Thập nguyệt thoát thai đan đạo tất, 十月脱胎丹道毕,
Anh Nhi hình triệu yết Thần Tiêu. 婴儿形兆谒神霄。

Hỏa phù không khó, Dược không xa,
Thiên Quí sinh như Đại Hải Trào.
Hống Diên hai vật mà hái được,
Vật Dục nhất tề sẽ hao tiêu.
Vạn hữu cố đem hoà hợp lại,
Luyện tận Chư Âm, Ngũ Khí triều.
Mười tháng thoát thai, Đan Đạo tất,
Anh Nhi hình hiện yết Thần Tiêu.

Đó là khẩu quyết của Trần Nam.

Đoạt thủ Thiên Cơ diệu, 夺取天机妙,
Dạ bán khan Thần Tiêu. 夜半看神霄,
Nhất ta châu lộ. 一些殊露。
A thuỳ vận đáo đạo hoa đầu. 阿谁运到稻花头,
Tiện hướng Bắc trung thái thủ. 便向北中采取。
Uyển như bích liên hàm nhị, 宛如碧莲含蕊,
Trích phá Ngọc Trì thu. 滴破玉池秋
Vạn lại phong sơ khởi, 万籁风初起,
Minh nguyệt nhất sa âu. 明月一沙欧。

Bí quyết Thiên cơ đoạt, Nửa đêm nhìn Chuôi Đẩu,
Như thấy Thần Châu Lộ. Ai đem nước đó rải trên hoa?
Thủ Khảm điền Ly cần phải biết. Liên hoa sẽ nở ao Ngọc trì.
Nhạc trời trong gió vang lừng trổi, Chỉ thấy bóng trăng chiếu sa âu.
(xin xem tiếp TỤ HỎA TẢI KIM ĐỒ)
聚火載金訣法
<聚火載金圖>

北方正氣,號約河車。載金上升,度我還家。

陰陽之始,玄含黃芽。五金之主,北方河車。

金滿三車奪聖機,衝開九竅過曹溪。迢迢運入崑崙頂,萬道霞光射紫微。

三車載寶上崑崙,無漏須拴濟筏門。電掣雷轟龍虎鬥,急收甘雨潤 乾坤。

羊車、鹿車、馬車、白牛車,皆載金華而高昇彼岸;下乘、中乘、上乘、最上乘,鹹度法寶而直入涅槃。
(聚 火載金圖)
起先運南方離宮之火,以煉北方水中之金,是為以紅投黑,則凝神入坤臍而生藥。如今運北方水中之金,以制南方火中之木,是 為以黑見紅,則凝神入乾頂而成丹。

故紫陽悟真篇云:

依他坤位生成體,種在乾家交感宮。

崔公入藥鏡云:產在坤,種在乾。乾居上為鼎,坤居下為爐。非猛烹極段則藥不能出爐,非倒行逆旋則藥不能升鼎。鉛者,其性沉重之物也,若不得火,何由而 飛?汞者,其性飛揚之物也,若不得鉛,何由而結?是以聚火之法最為緊要也。

何謂聚火之法?此法即達摩、海蟾二祖師吸、舐,撮、閉四 字訣是也。吸者,鼻中吸氣以接先天也。舐者,舌拄上顎以迎甘露也。撮者,緊攝穀道內中提,明月輝輝頂上飛也。閉者,塞兌垂簾兼逆聽,久而神水落黃庭也。

TỤ HOẢ TẢI KIM ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Dương xa, lộc xa, ngưu xa, bạch ngưu xa, giai tải Kim Hoa nhi cao thăng Bỉ Ngạn.
羊车鹿车牛车白牛车皆载金华而高升彼岸
Xe dê (Vận Khí), xe hươu (Vận Tinh), xe bò (Vận Thần), Xe bò trắng (Chở Thượng Thừa Công Pháp), đều tải Đan Kinh sang Bỉ Ngạn.
Hạ Thừa, Trung Thừa, Thượng Thừa, Tối Thượng Thừa, hàm độ Pháp Bảo nhi trực nhập Niết Bàn.
下乘中乘上乘最上乘咸度法宝而直入涅盘
Hạ Thừa, Trung Thừa, Thượng Thừa, Tối Thượng Thừa đều mang Pháp Bảo (Nội Đan) tới Niết Bàn.

Kim mãn tam xa đoạt Thánh Ki, 金满三车夺圣机
Xung khai cửu khiếu quá Tào Khê, 冲开九窍过曹溪
Điều điều vận nhập Côn Lôn Đỉnh, 迢迢运入昆仑顶
Vạn đạo hà quang xạ Tử Vi, 万道霞光射紫微

Ba xe đầy ắp chở Thánh Ki,
Mở toang chín khiếu, vượt Tào Khê (Đốc Mạch),
Xa xăm vận tới Côn Lôn Đỉnh,
Hào quang rực rỡ chiếu Tử Vi.

Tam xa tải bảo thượng Côn Lôn, 三车载宝上昆仑
Vô lậu tu thuyên tế phiệt môn, 无漏须拴济筏门
Điện xiết lôi oanh Long Hổ đấu, 电掣雷轰龙虎斗
Cấp thu cam vũ nhuận Kiền Khôn, 急收甘雨润乾坤

Ba xe chở báu đến Côn Lôn,
Muốn không lậu tiết bế Đan Điền,
Nguyên Thần Nguyên khí mau hoà hợp,
Cam Lộ rồi ra nhuận Kiền Khôn,
Bắc phương chính khí, 北方正气
Hiệu viết Hà Xa, 号曰河车
Tải Kim thượng thăng, 载金上升
Độ Ngã hoàn gia, 度我还家

Bắc phương Chính Khí, Tên gọi Hà Xa.
Tải Dương Quang lên đầu, Đưa ta về Tiên Cảnh,
Âm Dương chi thuỷ, 阴阳之始
Huyền xá Hoàng Nha. 玄舍黄芽
Ngũ Kim chi chủ, 五金之主
Bắc Phương Hà Xa, 北方河车
Âm Dương khởi thuỷ,
Nhất điểm Hoàng Nha,
Chủ tể Ngũ Kim,
Bắc phương Hà Xa.

—————–

TỤ HOẢ TẢI KIM QUYẾT PHÁP
Trước hết đem lửa của Nam Phương Ly Cung để luyện nước của Bắc Phương Khảm Cung, đem Hồng gieo vào trong Hắc. Rồi ngưng thần nhập Rốn (Khôn Cung) mà sinh Dược. Rồi nay lại dùng nước của Bắc Phương Kim mà chế lửa của Nam Phương Mộc. Thế là cho Hắc gặp Hồng. Thế là ngưng Thần nhập Đỉnh Đầu (Kiền Đỉnh) để thành Đan.

Nên Tử Dương (Ngộ Chân Thiên) nói:

Y tha Khôn vị sinh thành thể, 依他坤位生成体,
Chủng tại Kiền Gia giao cảm cung, 种在乾家交感宫。

Dựa vào Khôn Vị, sinh thành thể,
Trồng tại Kiền gia, Giao Cảm Cung.

Thôi Công (Nhập Dược Kính) viết:

Sản tại Khôn, chủng tại Kiền. 产在坤,种在乾。(Sinh ở Khôn, trồng ở Kiền).

Kiền ở trên gọi là Đỉnh, Khôn ở dưới là Lô.

Nếu không nấu nung mãnh liệt, thì Thuốc không thể ra lò. Nếu không Đảo hành, nghịch triền, thì thuốc không thể lên Đỉnh. Diên là cái gì trầm trọng; nếu Diên không gặp lửa, thì làm sao mà bay được? Hống là cái gì nhẹ bay, nếu không gặp Diên thì làm sao mà ngưng kết? Vì thế nên Phương Pháp Tụ Hoả là rất cần yếu vậy.

Phương pháp Tụ Hoả như thế nào?

Phép này do nhị vị Tổ Sư là Đạt Ma và Bạch Hải Thiềm lập ra, lấy bốn chữ Hấp, Để, Toát, Bế làm khẩu quyết.
Hấp 吸 là hít khí vào để tiếp dẫn Tiên Thiên Khí; Để 舐 là đưa lưỡi lên cúa (Trong miệng, ngay dưới chân mũi) để hứng nước Cam Lồ. Toát 撮 là khép kín Hậu môn, đem Thần Khí lên Đỉnh đầu; Bế 闭 là ngậm miệng, lim dim đôi mắt, nghe ngược bên trong. Lâu ngày Thần Thuỷ sẽ rơi xuống Huỳnh Đình.

胡翠湖云:下不閉則火不聚而金不升,上不閉則藥不凝而丹不結。是以聚火之法,乃採取烹煉之先務也。其恍恍惚惚是採取時候,猛烹極煉是採取功夫,吸、舐、 撮、閉又是烹煉之的旨也。

夫採取之法,貴乎知時,不可太早,太早則藥嫩易升。亦不可太遲,太遲則藥老成質。必鉛華吐白,玄珠成象, 方是採取時節。

張紫陽云:鉛遇癸生須急采,金逢望遠不堪嘗。

張三峰云:電光煉處尋真種,風信來時覓本宗。

電光煉處,則穹冥之後,恍惚之間,一陽爻動之時,珠落畢池之際。此時節用參同契拘束禁門訣,緊塞太玄,閉任開督。即忙鼓之以橐籥,吹之以巽風,段之以猛 火。火熾則水沸,水沸則駕動河車,載金上升,泥丸與真汞配合,汞得鉛降,亦不飛走。如此漸漸抽添,漸漸凝結,自然鉛日減,汞日添。久之鉛盡汞自乾,陰盡陽 自純,至此則金丹大藥成矣。

煉此大藥,別無他術,只是採取先天一點祖氣,以為金丹之母耳。受之師曰:煉大梵之祖氣,飛時後之金晶, 存帝一之妙相,返三素於黃庭。此是口訣中之口訣也。

Chính vì thế mà Thúy Hồ nói:

Dưới mà không Bế, thì Hoả không tụ, mà Kim không thăng, trên mà không Bế thì Dương sẽ không thăng mà đan cũng không kết. Cho nên phép Tụ Hoả, là công việc trước tiên của công phu Thái Thủ và Phanh Luyện.
Hoảng hoảng, hốt hốt là lúc phải Thái Thủ; Mãnh phanh, cực luyện là công phu Thái thủ: Hấp, Để, Toát, Bế là yếu chỉ Phanh luyện.

Vả phép Thái Thủ hay nhất là phải biết Thời cơ. Không được quá sớm. Quá sớm thuốc sẽ non và dễ bay mất, quá muộn thuốc sẽ già và thành chất. Tất phải chờ khi nào Chân Diên hoa nhả bạch, Huyền Châu thành Tượng, khi ấy mới là lúc Thái Thủ.

Trương Tử Dương nói:

Diên ngộ Quí sinh, tu cấp thái 铅遇癸生须急采,
Kim phùng Vọng viễn bất kham đang. 金逢望远不堪当。

Diên cần Thái Thủ giờ Hoạt Tí.
Kim gặp hôm rằm ắt chẳng nên.

Trương Tam Phong viết:

Điện quang thước xứ tầm Chân Chủng, 电光烁处寻真种,
Phong tín lai thời mịch bản tông, 风信来时觅本宗。

Điện quang rực sáng tìm Chân Chủng,
Gió động là khi kiếm Bản Tông.

Chỗ Điện quang rực sáng là sau thời kỳ Yểu Yểu, Minh Minh, Hoảng Hốt là lúc Một Dương hào phát động, là lúc châu rơi xuống Hoa Trì.

Lúc này nên dùng khẩu quyết:

Câu Thúc Cấm Môn của Tham Đồng Khế. Khẩn bế Thái Huyền (Chính Âm), Bế Nhâm, Khai Đốc. Tức phải dùng cơ Thác Thược để cổ vũ suy vận. Dùng mãnh Hoả mà đốt, thì nước sẽ bốc thành hơi. Nước bốc thành hơi, sẽ giá động Hà Xa, sẽ chở Kim lên Nê Hoàn, cùng Chân Diên phối hợp, Hống gặp Diên thì sẽ giáng xuống, sẽ không còn thượng đằng. Cứ vậy mà sưu thiêm (thêm bớt), cứ thế mà ngưng kết, tự nhiên Diên (Hồn, Âm) sẽ dần tiêu, Hống (Thần, Dương) sẽ dần tăng.

Lâu ngày, Diên sẽ tận mà Hống sẽ khô. Thế là Kim Đơn Đại Dược thành vậy.

Luyện Đại Dược vốn không thuật khác, chỉ thấy một điểm Tiên Thiên Tổ khí, làm mẹ Kim Đan. Thầy tôi dạy rằng.
Luyện Đại Phạn chi Tổ Khí, 炼大梵之祖炁,
Phi trửu hậu chi Kim Tinh. 飞肘后之金晶,
Tồn Đế Nhất chi diệu tướng, 存帝一之妙相,
Phản Tam Tố vu Huỳnh Đình. 返三素于黄庭。

Luyện Thiên Thần Tổ khí,
Đem thận gian động khí.
Về cất giữ tại Đan Điền,
Phản Tam Tố (Tinh, Khí, Thần) về Huỳnh Đình.

Học giả chỉ biết là Diên Hống kết thành Đan, mà không biết rằng Thái Thủ, Sưu Thiêm, Phanh Luyện, Hoả Hầu đều có thứ tự, pháp độ. Thái Thủ là động tác đầu tiên, Sưu Thiêm là công trình về sau, ở giữa là công phu điều đình, hoả hầu.

Cho nên Tử Dương nói:

Túng nhận Chu Sa cập Hắc Diên. 纵认朱砂及黑铅,
Bất tri Hoả Hậu dã như nhàn. 不知火候也如闲。

Chỉ biết Chu Sa với Hắc Diên,
Hoả hầu không biết cũng vô duyên,

Chu Hối Ông nói:

Thần Tiên bất tác Tham Đồng Khế, 神仙不作参同契,
Hoả hậu công phu, na đắc tri? 火候工夫哪得知。

Thần Tiên không soạn Tham Đồng Khế?
Ai làm sao biết Hoả Hầu Công?

Tiết Đạo Quang viết:

Thánh Nhân truyền Dược bất truyền Hoả. 圣人传药不传火,
Tòng lai Hoả Hậu thiểu nhân tri. 从来火候少人知。
Mạc tương Đại Đạo vi nhi hí. 莫将大道为儿戏,
Tu cộng Thần Tiên tử tế suy. 须其神仙仔细推。

Thánh Nhân truyền Dược, không truyền Hoả,
Vì thế Hoả Hầu ít ai hay,
Đừng đem Đại Đạo làm trò trẻ,
Phải với Thần Tiên tử tế suy.

Hoả Hầu có Văn, có Võ, không thể nhất tề giống nhau.

Tĩnh trung Dương Động, Kim Ly khoáng, 静中阳动金离矿
Địa hạ Lôi oanh, Hoả bức Kim. 地下雷轰火逼金
Trong Tĩnh Động Dương, Kim lìa Khoáng,
Đất vang sấm chớp, Hoả bức Kim,

Đó là tiết thứ tư của Hoả hầu.

Mạn thủ Dược Lô khan hoả hậu, 谩守药炉看火候,
Đãn an thần tức nhiệm thiên nhiên, 但安神息任天然

Hãy giữ Đan Điền xem hoả hậu,
Hô Hấp điều hoà, pháp Tự Nhiên.

Đó là tiết thứ sáu của Hoả Hậu.

Dương văn, Âm vũ, vô lệnh thất, 阳文阴武无令失,
Tiến Thoái, sưu thiêm, hữu ngự thời, 进退抽添有驭持
Dương Văn, Âm Vũ không sai thác,
Tiến thoái, Sưu Thiêm phải có thời,

Đó là tiết thứ năm của Hoả Hầu.

Thành tính tồn tồn. 成性存存

Tính Trời cố giữ Chính Trung. Mở đường Đạo Nghĩa, dặm chừng vân du.

Đó là Hoả Hầu của Nho Gia.

Miên miên nhược tồn. 绵绵若存
Miên man muôn kiếp vẫn còn,
Muôn nghìn biến ảo, mà tuồng trơ trơ.

Đó là Hoả Hầu của Đạo Gia.

Bất đắc cần, bất đắc đãi. 不得勤、不得怠 (Không quá siêng, không quá lười).

Đó là Hoả Hầu của Thích Gia.
學者徒知以鉛汞交結為丹,而不知採取、抽添、烹煉、火候各有次序法度。蓋採取以 作其始,抽添以成其終,於中調停,全仗火候。

所以紫陽云:

縱識硃砂及黑鉛,不知火候也如閒。

朱晦翁云:

神仙不作參同契,火候工夫哪得知。

薛道光云:

聖人傳藥不傳火,從來火候 少人知。莫將大道為兒戲,須其神仙仔細推。

火候之法,有文有武,不可一律齊也。靜中陽動,金離礦地,下雷轟,火逼金。此第四節之火 候也。謾守藥爐看火候,但安神息任天然。此第六節之火候也。陽文陰武無令失,進退抽添有馭持。此第五節之火候也。成性存存者,儒家之火候也。綿綿若存者, 道家之火候也。不得勤、不得怠者,釋家之火候也。三月不違者,顏子之火候也。吾日三省者,曾子之火候也。日知其所亡,月無忘其所能者,夏之火候也。戒慎 乎,其所不睹;恐懼乎,其所不聞子思之火候也。必有事焉而無正心,勿忘而勿助長者,孟子之火候也。發憤忘食,孔子之武火也。樂以忘憂,孔子之文火也。不知 老之將至云爾者,至誠無息而火候純也。火候純,大丹成,而作聖之功畢也。

Tam nguyệt bất vi Nhân. 三月不违仁 (Trong ba tháng lòng chẳng lìa điều Nhân). x

Đó là khẩu quyết của Nhan Uyên.

Ngô nhật tam tỉnh 吾日三省 (Ta một ngày xét mình 3 lần)

Đó là Hoả Hầu của Tăng Tử.

Nhật tri kỳ sở vong; Nguyệt vô vong kỳ sở năng. 日知其所亡,月无忘其所能
(Mỗi ngày biết đã làm gì sai sót, mỗi tháng không quên đã làm được những gì).

Đó là khẩu quyết của Tự Hạ.

Giới thận hồ kỳ sở bất đổ, 戒慎乎其所不睹;
Khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. 恐惧乎其所不闻

E dè cái mắt không nhìn,
Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Đó là Hoả Hầu của Tử Tư.

Tất hữu sự yên nhi vật chính, tâm vật vong nhi vật trợ trưởng. 必有事焉而勿正心勿忘而勿助长 (Muốn bồi dưỡng khí hạo nhiên, đối với việc phải mình đừng hấp tấp mà cầu cho mau xong, đừng có xao lãng, và đừng có mong sức trưởng thành của công việc).

Đó là khẩu quyết của Mạnh Tử.

Phát phẫn vong thực 发愤忘食 (Thích học đến quên ăn).

Đó là vô hỏa khẩu quyết của Khổng Tử.

Lạc dĩ vong ưu 乐以忘忧 (Khi biết thêm được điều gì hay, thì vui đến quên lo).

Đó là Văn Hoả khẩu quyết của Khổng Tử.

Bất tri lão chi tương chí 不知老之将至 (Không biết tuổi già đã đến).

Đó là Chí Thành, không ngừng nghỉ, và Hoả Hầu thuần vậy.

Hoả Hầu thần, là Đan thành vậy. Thế là Công phu làm thánh hoàn tất vậy.
性命雙修萬神圭旨

第五節口訣

乾坤交媾去礦留金
(乾 坤交媾圖)
(內附卯酉周天口訣)
予前以性命之統乎其中者而言之,乃上乘法也。予今以性命之歸乎其根者而言 之,乃最上乘法也。

夫以性命之統乎其中者,此道寥寥,自鐘呂而下世鮮知矣。況乎性命之歸乎其根者耶,而世之知之者為尤鮮矣。似此竅 妙之奧、性命之微,若不復語重言,則學者難於悟入。

原人自父母之生以前,本體太虛而已矣。其餘之所謂無極者乎?既而父母媾精,而後 一點靈光而已矣。其餘之所謂太極者乎?而一點靈光,原從太極中來者,我之元神也。由是而氣,由是而形,唯知有此形氣已爾。美衣美食以奉養此身也,功名富貴 以尊崇此身也。如此而生,如此而死,自以為得矣。而子思之所謂天命之性者,非唯不能知,亦且不願知也。而其所以不願知者,豈非孟子所謂不可以已而失其本心 者乎?

CÀN KHÔN GIAO CẤU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Côn Lôn đỉnh, 昆仑顶
Thanh Hư phủ, 清虚府
Thượng Thiên quan, 上天关
Giao Cảm cung, 交感宫
Tam Ma Địa, 三摩地
Tối Cao phong, 最高峰
Không Động sơn, 崆峒山
Huyền thất, 玄室
Huỳnh phòng, 黄房
Thiên cung, 天宫
Chân Tế, 真际
Thổ Đảo, 土岛
Thiên căn, 天根
Huyền môn, 玄门
Bỉ ngạn, 彼岸
Dao Trì, 瑶池
Nê Hoàn, 泥丸
Thiên cốc, 天谷
Thiên Đường, 天堂
Nội viện, 内院
Tử Phủ, 紫府
Liêu Thiên, 寥天
Đế Ất, 帝乙
Tắng Sơn, 甑山
Thiên Phù, 天符
Huyền Đô, 玄都
Chúc Dung Phong, 祝融峰
Thái Vi Cung, 太微宫
Ma Ni Châu, 摩尼珠
Thượng Đan Điền, 上丹田
Tử Kim Thành, 紫金成
Lưu Chân Cung, 流珠宫
Ngọc Kinh Sơn, 玉京山
Tử Thanh cung, 紫清宫
Thái Uyên Trì, 太渊池
Thuý Vi cung, 翠微宫
Viên giác hải, 圆觉海
Trung nhất cung, 中一宫
Đà La Ni Môn, 陀罗尼门
Não Huyết chi Quỳnh Phòng, 脑血之琼房
Hồn Tinh chi Ngọc Đường, 魂精之玉堂
Thượng phủ Thổ, 上釜土
Nguyệt quang Đỉnh, 月光鼎
Bát Nhã Ngạn, 般若岸
Ba La Mật địa, 波罗蜜地
Bách Linh chi Mệnh Trạch, 百灵之命宅
Tân Dịch chi sơn nguyên, 津液之山源

Phiến hướng công phu luyện Hống Diên, 片饷功夫炼汞铅
Nhất lô mãnh hoả dạ thiêu thiên, 一炉猛火夜烧天
Hốt nhiên Thần Thuỷ lạc Kim Tỉnh, 忽然神水落金井
Đả hợp Linh Sa, nguyệt dạng viên, 打合灵砂月样圆

Để tâm đoàn luyện Hống với Diên,
Lò đốt thâu đêm luyện Kim Đan,
Tự nhiên Chân khí rơi Kim Đỉnh,
Hợp luyện Linh Sa, tựa Nguyệt viên.

Khảm Ly tương giao, 坎离相交
Thuỷ hoả Ký Tế, 水火既济
Diên Hống nhập đỉnh, 铅汞入鼎
Nãi sinh căn đế. 乃生根蒂

Khảm Ly tương giao,
Thuỷ Hoả Ký Tế,
Diên Hống vào lò,
Sẽ sinh căn đế.

Địa Phách, Thiên Hồn nhật nguyệt tinh, 地魄天魂日月精
Đoạt lai đỉnh nội cập thời phanh, 夺来鼎内及时烹
Chỉ hành Qui đấu, Xà tranh pháp, 只行龟斗蛇争法
Tảo thị Long ngâm, Hổ khiếu thanh, 早是龙吟虎啸声
Thần Thuỷ, Hoa Trì sơ thất phối, 神水华池初匹配
Hoàng nha, Bạch tuyết tiện phân minh. 黄芽白雪便分明
Giá ta thị ẩm Đao Khuê xứ, 这些是饮刀圭处
Tiệm tiệm sưu thiêm, tiệm tiệm thành. 渐渐抽添渐渐成

Thiên hồn, địa phách lấy Tinh Hoa,
Lấy được đem về cấp luyện phanh,
Nguyên Thần, Nguyên Khí mong hoà hợp,
Như Rồng như Hổ góp âm thanh,
Nội Đan vừa kết, màu vàng trắng,
Thần thủy, Hoa Trì rất phân minh,
Uống được Đao Khuê là thành Đạo,
Thêm bớt từ từ, Thuốc sẽ sinh.

————————–

CÀN KHÔN GIAO CẤU KHỨ KHOÁNG LƯU KIM
(Nội phụ Mão Dậu Chu thiên khẩu quyết)

Ta trước đây, đã hệ thống hai chữ Tính Mệnh bằng chữ Nhất, để giảng luận. Đó là phương pháp Thượng Thừa.
Nay lại đem hai chữ Tính Mệnh qui căn lại, bằng chữ Trung Nhi phi Nhất 中而非一, để lập luận. Đó là phương pháp Tối Thượng Thừa.

Giảng Tính Mệnh bằng chữ Nhất, cái đạo này tịch liêu, từ Chung Ly tới nay, ít người biết. Đừng nói chi là qui căn hai chữ lại mà nói. Như vậy người biết lại càng ít vậy. Cái kỳ bí của khiếu diệu này, cái vi diệu của Tính Mệnh, nếu không nói đi, nói lại, thì học giả không giác ngộ được.

Con người trước khi cha mẹ sinh ra, thì Bản Thể chính là Thái Hư, đó chẳng phải là Vô Cực sao? Con người sau khi đã được cha mẹ cấu tinh, thì là Nhất Điểm Linh Quang, đó chẳng phải là Thái Cực sao?

Một điểm Linh Quang, vốn từ Thái Hư lại, là Nguyên Thần của ta. Từ đó sinh ra Khí, rồi Khí lại thành Hình. Con người chỉ biết có Hình, Khí. Chỉ biết ăn ngon, mặc đẹp nuôi dưỡng cái thân này, chỉ biết đem vinh hoa phú quý tô điểm cho thân này. Cứ thế rồi sinh tử, cho thế là được vậy, và cái điều mà Tử Tư gọi là Thiên Mệnh chi vị Tính, thì không biết hay không muốn biết. Mà kẻ đã không muốn biết thì Mạnh Tử há chẳng nói: Không nên vì mình mà quên mất Bản Tâm hay sao?

若能知所以,反而求之,以復還我太虛一氣之本初,一點靈光之舊物者,非此金丹大道不可也。

然而金丹大 道之秘密在性命兩字。性者,天也,常潛於鼎,故頂者,性之根也。命者,海也,常潛於臍,故臍者,命之帶也。經云:性在天邊,命在海底是也。

蓋天中之竅圓而藏性,能通於地中之竅。故其貫也則自上而下,直養而無害也。地中之竅方而藏命,能通於天中之竅,故其貫也則自下而上,直養而無害也。

孔子曰:智者,動天圓之象也。仁者,靜地方之象也。天圓者何?圓陀之義也。乃性之所寄,為命之根矣。地方者何?方寸之義也。乃命之所繫,為性之根也。性 命混成,實非有兩,潛天而天,潛地而地,優優洋洋,無體無方。在眼日見,在耳日聞,在鼻辨香,在口談論,在手執捉,在足運奔。悟者知是佛性,迷者喚作精 魂。

蓋怫性者,本性也。而所謂本性者,豈非是我本來之所自有之真性歟。真性者,天命之性也。以其不落邊際,故謂之中。以其一直無 妄,故謂之誠。以其與物同體,故謂之仁。以其至尊無對,故謂之獨。混淪一個,無欠無餘。及乎太極一判,兩儀始分,則輕清者騰而在上,重濁者碇而在下。於是 坎宮有鉛,離官有汞,而向之所謂一物分為二,能知二者名。

這二者之名,丹經不敢漏洩,巧喻多端,萬字千名,不可勝計。如論頂中之性 者,喻之曰汞也、龍也、火也、根也、日也、魂也、離也、乾也、己也、天也、君也、虛也、兔也、無也、主也、浮也、硃砂也、扶桑也、奼女也、崑崙也;如論臍 中之命者,喻之曰鉛也、虎也、水也、蒂也、月也、魄也、坎也、坤也、戊也、地也、臣也、實也、烏也、有也、賓也、沉也、水銀也、華岳也、嬰兒也、曲江也。 至於陰中含陽,陽中藏陰,千言萬論,不過引喻二者之名耳。

故元皇訣曰:鉛汞鼎中居,煉成無價珠。都來兩個字,了盡萬家書。

鐘離翁曰:除卻汞鉛兩味藥,其他都是誑愚迷。

高象先曰:夢謁西華到九天,真人授我指玄篇。其中簡易無多子,只要教人煉汞鉛。

馬丹陽曰:鉛汞是水火,水火是龍虎,龍虎是神氣,神氣是性命。

Còn như nếu biết ra, thì sẽ quay về mình mà tìm kiếm, ắt sẽ hồi phục lại được, cái Nhất Khí Thái Hư lúc bản sơ, cái trạng thái cũ của Nhất Điểm Linh Quang. Những chuyện đó nếu không nhờ Kim Đan Đại Đạo thì không thể được.
Cái bí ẩn của Kim Đan Đại Đạo là ở nơi hai chữ Tính Mệnh. Tính là Trời, thường ẩn nơi đỉnh đầu. Cho nên đỉnh đầu là Căn Nguyên của Tính.

Mệnh là Bể, thường ẩn nơi Rốn, cho nên Rốn là gốc gác của Mệnh. Cho nên Kinh nói: Tính tại thiên biên, Mệnh trầm hải để 性在天边,命在海底 (Tính ở ven Trời, Mệnh chìm đáy Bể) chính là vậy.

Vả cái Khiếu Trời thì tròn và tàng Tính. Nó thông với Khiếu Đất, và quán thông từ trên xuống dưới, trực tiếp dưỡng dục và không làm hại. Còn cái Khiếu Đất thì vong và tàng Mệnh. Nó thông với Khiếu Trời và quán thông từ dưới lên trên, trực tiếp dưỡng dục và không làm hại.

Khổng tử nói: Trí giả động, Thiên viên chi tượng dã; Nhân giả tĩnh, Địa phương chi tượng dã. 智者动天圆之象也。仁者静地方之象也。(Người Trí thời ưa hoạt động, đó là tròn tượng Trời; Người Nhân thời ưa an tĩnh, đó là Vuông tượng Đất).

Thế nào là trời tròn? Trong là tròn trĩnh. Đó là nơi Tính dựa nương, đó là nguồn gốc Mệnh vậy. Thế nào là đất vuông? Phương là Phương Thốn (Tấc vuông) là nơi Mệnh hệ thuộc, là khu nữu của Tính.

Tính Mệnh hợp nhất, thì không còn là hai. Tiềm tàng nơi Trời là Trời. Tiềm tàng dưới Đất là Đất.

Ưu Ưu, Dương Dương, không hình thể, không phương sở. Hiện nơi mắt thì thấy, hiện nơi tai thì nghe, hiện nơi mũi thì ngửi, hiện nơi lưỡi thì biết đàm luận, hiện nơi tay thì cầm nắm, hiện nơi chân thì chạy nhảy, người ngộ thì biết đó là Phật Tính, người mê thì cho đó là Tinh Hồn.

Mà Phật Tính là Bản Tính con người. Gọi là Bản Tính, vì há chẳng phải là ta vốn có Chân Tính đó hay sao? Chân Tính đó, chính là Thiên Mệnh chi vị Tính.

Vì nó không thiên lệch, nên gọi là TRUNG vì nó là Nhất Chân vô vọng, nên gọi là THÀNH; vì nó cùng Vạn Vật đồng thể nên gọi là Nhân; vì nó Chí Tôn vô đối nên gọi là Độc, hồn luân một khối, không thiếu, không thừa.

Khi Thái Cực đã chia, khi đã có Lưỡng Nghi thì khinh thanh bay lên trên, trọng trọc đi xuống dưới. Vì thế mà Khảm Cung có Diên, Ly cung có Hống, Thế là trước kia chỉ có một vật, đến nay đã chia thành hai.

Cho nên Tiết Tử Hiền (Phục Mệnh Thiên) nói: Nhất vật phân vi nhị, Năng tri Nhị giả danh. 物分为二,能知二者名 (Một vật chia thành hai, mới biết tên Hai đó).

Tên của Hai, Đan kinh không dám nói hết, ví dụ có nhiều, vạn tự thiên danh, không sao kể xiết.

Như luận về Tính trên đầu, thì ví dụ rằng: Hống (Dương), Long, Hoả, Căn, Nhật, Hồn, Ly, Kiền, Kỷ, Thiên, Quân, Hư, Thố, Chủ, Vô, Phù, Chu Sa, Phù Tang, Xá Nữ, Côn Lôn.

Như luận về Mệnh, nơi rốn, thì ví dụ rằng: Diên (Âm), Hổ, Thuỷ, Đế, Nguyệt, Phách, Khảm, Khôn, Mậu, Địa, Thần, Thật, Ô, Hữu, Tân, Trần, Thuỷ Ngân, Hoa Nhạc, Anh Nhi, Khúc Giang.

Đến như trong Âm và Dương, trong Dương tàng Âm, thiên ngôn vạn luận, bất quá là nói về hai tên này mà thôi, cho nên Nguyên Hoàng quyết có câu:

Diên, Hống đỉnh trung cư, 铅汞鼎中居,
Luyện thành vô giá châu, 炼成无价珠。
Đô Lai lưỡng cá tự, 都来两个字,
Liễu tận vạn gia thư, 了尽万家书。

Diên, Hống ở trong Đỉnh,
Luyện thành vô giá châu,
Chỉ có hai chữ đó,
Đã đủ vạn gia thư.

Chung Ly Ông nói:

Trừ khước Hống Diên lưỡng vị dược, 除却汞铅两味药,
Kỳ tha đô thị cuống ngu mê, 其他都是诳愚迷。

Ngoại trừ Hống, Diên hai vị dược,
Còn toàn bịp bợm kẻ ngu mê.

Cao Tượng Tiên viết:

Mộng yết Tây Hoa đáo cửu thiên, 梦谒西华到九天,
Chân nhân thụ ngã “Chỉ Huyền Thiên” 真人授我指玄篇。
Kỳ trung giản dị vô đa tự, 其中简易无多字,
Chỉ yếu giáo nhân luyện Hống Diên. 只要教人炼汞铅。

Mộng tới Tây Hoa đến Cửu thiên,
Chân nhân truyền thụ Chỉ Huyền Thiên,
Sách thời giản dị không nhiều chữ,
Chỉ cốt dạy người luyện Hống Diên.

Mã Đơn Dương viết:

Diên Hống thị Thuỷ Hoả, 铅汞是水火,
Thuỷ Hoả thị Long Hổ. 水火是龙虎,
Long Hổ thị Thần Khí, 龙虎是神气,
Thần Khí thị Tính Mệnh. 神气是性命。

Diên Hống là Thuỷ Hỏa, Thuỷ Hoả là Long Hổ,
Long Hổ là Thần Khí, Thần Khí là Tính Mệnh.

總來只是這兩個字,兩個字只是一個理。故盲修者岐而二之,若真修者 合而一之。合一者,煉氣而凝神,盡性而至命,烹鉛而干汞,取坎而填離。

蓋離中靈物號曰流珠,寓神則營營而亂,寓精則持盈而難保。所 以葛仙翁作流珠歌歎其難馭而易失也。豈不觀魏伯陽雲乎:太陽流珠,常欲去人,卒得金華,轉而相因。又曰:河上奼女,靈而最神,將欲制之,黃芽為根。曰金 華,曰黃芽,皆指真鉛而言,真鉛者,乃太陰之精也。曰流珠,曰奼女,皆指靈汞而言,靈汞者,太陽之氣也。

然此靈汞,其唯猛烈,見火 則飛走無蹤,不得真鉛,何以制伏?故紫陽曰:要者須制伏覓金公。金公者,鉛字也。蓋鉛自曲江而來,穿夾脊、徹玉京,斡旋沂流直上泥丸。雖名抽鉛添汞,實是 還精補腦。

翠虛篇云:

天有七星地七寶,人有七竅權歸腦。

太古集云:

金丹運至泥丸穴,名姓先將記玉都。

法寶遺珠云:

識得本來真面目,始知生死在泥丸。

黃庭經云:

泥丸百節皆有神。

又云:

腦神精根字泥丸。

又云:

一面之神宗泥丸,泥丸九真皆有房。方圓一寸處此中,但思一部壽無窮。

Rút cuộc chỉ có hai chữ; hai chữ chỉ có một lý, tu mù thì mới chia hai; tu Chân hợp hai thành một. Người biết hợp Nhất, sẽ luyện Khí ngưng Thần, Tận Tính Chí Mệnh, nấu Diên làm khô Hống, Thủ Khảm Điền Ly.

Vì trong quẻ Ly có Linh Vật gọi là Lưu Châu. Ngụ nơi Thần thì Sinh Tư Lự; Ngự nơi Tinh cũng khó bảo toàn, nên Cát Tiên Ông (Lưu Châu Ca) nói:

Thán kỳ nan ngự nhi dị thất. 叹其难驭而易失 (Tiếc rằng nó khó giữ và dễ mất).

Nguỵ Bá Dương cũng nói:

Thái Dương Lưu Châu, 太阳流珠,
Thường dục khứ nhân, 常欲去人,
Tốt đắc Kim Hoa, 卒得金华,
Chuyển nhi tương nhân. 转而相因。

Thái Dương Lưu Châu,
Rất là dễ mất,
Biết luyện thành Đan,
Mới mong giữ được.

Lại nói

Hà Thượng Xá Nữ, 河上姹女,
Linh nhi tối Thần, 灵而最神,
Tương dục chế chi, 将欲制之,
Hoàng Nha vi căn. 黄芽为根。

Xá Nữ trên song
Rất linh, rất Thần.
Muốn giữ được nó,
Phải luyện thành Đan.

Nói Kim Hoa, nói Hoàng Nha là nói Chân Diên, Chân Diên là Thái Âm chi Tinh. Nói Lưu Châu, nói Xá Nữ là nói Linh Hống. Linh Hống là Thái Dương chi Khí.

Nhưng Linh Hống, tính vốn mãnh Liệt, gặp lửa sẽ bay mất tích, phải gặp Chân Diên, mới bị chế phục. Cho nên Tử Dương nói: Yếu tu chế phục mịch Kim Công 要须制伏觅金公。(Muốn chế phục Hống, phải tìm Diên).

Kim Công là tên tự của Diên. Diên từ Khúc Giang (Ruột non) tới. Xuyên qua Giáp tích, tới Ngọc Kinh, oát toàn nghịch lưu, vào thẳng Nê Hoàn.

Tuy gọi là Sưu Diên, Thiêm Hống nhưng thực ra là HOÀN TINH, BỔ NÃO. Kim Đan viết: Cố dục bất lão, hoàn tinh bổ não 故欲不老还精补脑 (Nếu không muốn già, phải hoàn tinh bổ não).

Thuý Hư Thiên viết:

Thiên hữu Thất Tinh, địa Thất Bảo, 天有七星地七宝,
Nhân hữu Thất Khiếu, quyền quy Não, 人有七窍权归脑。

Trời có Thất Tinh, đất Thất Bảo,
Người có Thất Khiếu, cực là Não,

Thái Cổ tập viết:

Kim Đan vận chí Nê Hoàn Huyệt, 金丹运至泥丸穴,
Danh tính tiên tương ký Ngọc Đô. 名姓先将记玉都。

Kim Đơn vận đến Nê Hoàn Huyệt,
Danh tính đã ghi tại sổ trời.
Pháp Bảo Di Châu viết:

Nhận đắc bản lai chân diện mục. 认得本来真面目,
Thuỷ tri sinh tử tại Nê Hoàn. 始知生死在泥丸。

Biết được Bản Lai Chân Diên Mục.
Mới hay sinh tử tại Nê Hoàn.

Huỳnh Đình Kinh viết: Nê Hoàn bách tiết giai hữu Thần 泥丸百节皆有神。(Nê Hoàn bách tiết đều có Thần).

Lại nói: Não trung tinh căn tự Nê Hoàn 脑神精根字泥丸。(Não Thần tinh căn tự Nê Hoàn).

Lại nói:

Nhất diện chi Thần thông Nê Hoàn, 一面之神通泥丸,
Nê Hoàn cửu Chân giai hữu phòng, 泥丸九真皆有房。
Phương viên nhất thốn xứ thử trung, 方圆一寸处此中,
Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng. 但思一部寿无穷。

Chư thần nơi mặt trời thuộc Nê Hoàn,
Nê Hoàn Cửu Chân đều có phòng,
Vuông tròn một tấc tại não trung,
Tồn tư Cửu Chân thọ vô cương.
所謂方圓一寸者,即釋迦摩頂受記之處也。此處乃玄中之玄,天 中之天。郁羅蕭台,玉山上京。腦血之瓊房,魂精之玉室,百靈之命宅,津液之山源。此正在兩耳交通之穴,前明堂後,玉枕上,華蓋下,絳宮北極太淵之中,乃真 一元神所居之室也。

昔黃帝上峨嵋山,見天真皇人於玉堂,請問真一之道。皇人曰:此道家之至重其經,上帝秘在崑崙五城之內。藏以玉 函,刻以金扎,封以紫泥,印以中章。吾聞之精云:在北極太淵之中,前有明堂,後有玉枕。上有華蓋,下有絳宮。巍巍華蓋,金樓穹窿。左罡右魁,激波揚空。紫 芝被崖,朱草朦朧。白玉嵯峨,日月垂光。歷火過水,經玄涉黃。城門交錯,帷帳琳琅。龍虎烈衛,神人在旁。不施不與,一安其所。不遲不疾,一安其室。能暇能 預,一乃不去。守一存真,一乃通神。少欲約食,一乃留息。白刃臨頭,思一得生。知一不難,難在於終。守之不失,可以無窮。此真一秘旨之略也。

故道德經曰:天得一以清,地得一以寧,神得一以靈,谷得一以盈,萬物得一以生,王侯得—以為天下。貞所謂神以知來,知以藏往也。所謂大而化之之謂聖,聖 而不可知之之謂神也。分之為二,陰陽之根底也。分之為五,五行之樞紐也。又分為八,八八六十四而為河圖之數也。又分為九,九九八十一而為洛書之數也。又散 之為萬,生生化化萬物之綱維也。

羲文得其一,而周易興焉;禹箕得其一,而洪範疇焉;周茂叔得其一,而太極圖焉;邵堯夫得其一,而經 世作焉;老子得其一,而萬事畢焉;釋迦得其一,而萬法歸焉。歸根者,歸此也。覆命者,復此也。

西升經曰:人能守一,一亦守人。思一 至饑,一與之糧。思一至渴,一與之漿。

靈樞經曰:天谷元神,守之自真。

又曰:子欲長生,抱一當明。

又曰:抱一守真,神自通靈。

Phương Viên Nhất Thốn là nơi đức Thích Ca xoa đầu để thụ ký.

Đó là Huyền trung chi huyền, là Thiên trung chi Thiên, là Uất La Tú Đài, Ngọc Sơn, Thổ Kinh, Não huyết chi Quỳnh Phòng, Hồn Tinh chi Ngọc Thất, Bách Linh chi Mệnh Xá, Tân Dịch chi Sơn Nguyên, đó là huyệt giao thông giữa hai tai, trước là Minh Đường, sau là Ngọc Chẩm, trên là Hoa Cái, dưới là Giáng Cung, ở giữa là Thái Uyên Bắc Cực, là chỗ Nguyên Thần sở cư.

Xưa vua Hoàng Đế lên núi Nga Mi, yết kiến Thiên Chân Hoàng Nhân để hỏi về đạo Chân Nhất.

Hoàng Nhân nói: Đó là điều quí trọng của Đạo gia. Kinh này Thượng Đế giấu trong năm thành của núi Côn Lôn, để trong hòm ngọc, chữ khắc vào thẻ Kim Trát, bôi bằng bùn tía, đóng ấn Trung Chương .

Ta nghe kinh sách nói: Chân Nhất ở tại Bắc Cực Thái Uyên, trước có Minh Đường, sau có Ngọc Chẩm, trên có Hoa Cái, dưới có Giáng Cung. Nguy nga Hoa Cái, lầu vàng mái cong (chỉ Não môn).

Tả Cang, hữu Khôi (chỉ 2 mắt), Sóng vỗ ngang trời (sóng mắt), cỏ tử chi mọc quanh hồ, cỏ chu thảo mung lung (chỉ lông mi), ngọc trắng tha nga (chỉ lòng mắt trắng), nhật nguyệt rãi sáng (chỉ 2 mắt), băng qua Hỏa Thủy (Khảm Ly), thấu suốt huyền hoàng (trời đất, Âm Dương). Thành quyết tương giao, màn che trướng rủ, châu cài ngọc dắt, Long Hổ bảo vệ, thần nhân đứng bên, không cho không lấy, ở yên tại chỗ. Không chậm không nhanh, ở yên trong buồng. Được rảnh, được vui, NHẤT ở không đi; THỦ NHẤT TỒN CHÂN, Nhất sẽ thông Thần. Bớt muốn, bớt ăn. Nhất sẽ lưu tức. Khi dao kề cổ, nghĩ đến Nhất sẽ được sống. Biết Nhất không khó, khó là lúc chung cuộc.

Giữ Nhất không rời, sẽ được vô cùng.
Đó là đại lược về bí quyết Chân Nhất.

Cho nên, Đạo Đức Kinh viết:

Thiên đắc Nhất dĩ thanh 天得一以清
Địa đắc Nhất dĩ ninh 地得一以寧
Thần đắc Nhất dĩ linh 神得一以靈
Cốc đắc Nhất dĩ doanh 谷得一以盈
Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh 萬物得一以生
Vương hầu đắc Nhất dĩ vi thiên hạ trinh. 王侯得一以爲天下貞

Trời có Ngài nên hóa trong xanh
Nhờ Ngài nên đất an ninh
Chư Thần nhờ thế uy linh, nhiệm mầu
Có Hóa Công hang sâu hóa đặc
Nhờ có Ngài muôn vật tốt tươi
Vương hầu cũng nhờ công đức Người,
Trị vì thiên hạ thảnh thơi an bình

Còn nói rằng: Thần dĩ tri lai, Tri dĩ tàng vãng. 神以知来,知以藏往 (Dùng Thần trông tỏ tương lai, tiềm tàng trong Trí muôn đời xa xưa).

Còn nói rằng: Lớn mà cảm hóa thì gọi là Thánh. Thánh mà không hiểu nổi thì là Thần. Chia ra làm hai thì gọi là Âm Dương. Chia làm năm thì là Ngũ Hành. Lại chia làm tám, Tám lần tám sáu mươi tư là số của Hà Đồ. Lại chia làm chín. Chín chín tám mươi mốt là số Lạc Thư. Rồi chia thành Vạn Vật. Sinh Sinh Hóa Hóa là cương duy của Vạn Vật.
Phục Hy Văn Vương được chữ Nhất mà Chu Dịch hưng khởi. Đại Võ, Cơ Tử được chữ Nhất mà Hồng Phạm Cửu Trù sinh; Chu Mậu Thúc (Chu Liêm Khê) được chữ nhất mà có Thái Cực Đồ; Thiệu Nghiêu Phu (Thiệu Khang Tiết) đắc Nhất mà viết Hoàng Cực Kinh Thư; Lão Tử được chữ Nhất mà vạn sự tất; Thích Ca được chữ Nhất mà Vạn Pháp qui; Qui Căn là Qui Nhất, Phục Mệnh là Phục Nhất vậy.

Tây Thăng Kinh viết:

Nhân năng thủ nhất 人能守一
Nhất diệc thủ nhân 一亦守人
Tư Nhất chí cơ 思一至飢
Nhất dữ chi lương 一與之粮
Tư Nhất chí khát 思一至渴
Nhất dữ chi tương 一與之浆

Người giữ được Nhất
Nhất sẽ giữ người
Nghĩ Nhất mà đói
Nhất sẽ cho ăn
Nghĩ Nhất mà khát,
Nhất sẽ cho uống.

Linh Khu Kinh viết: Thiên Cốc, Nguyên Thần, Thủ chi tự chân 天谷元神守之自眞 (Giữ được Nguyên Thần trong Thiên Cốc, sẽ đạt cảnh giới Thiên Chân).

Lại viết: Tử dục trường sinh, Bão Nhất đương minh 子欲長生抱一當明 (Người muốn trường sinh, ôm Nhất sẽ rõ)

Lại viết: Bão Nhất thủ Chân, Thần tự thông Linh 抱一守眞神自通靈 (Ôm nhất thủ Chân, Thần sẽ thông linh)
人能握神守一於本宮,則真氣自升、真息自定、真精自朝、靈苗自長、天門自開、元神自現。頂竅開而竅竅 齊開,元神居而神神聽命。神既居其竅而不散,則人安得而死乎?即黃庭經所謂,子欲不死,修崑崙是也。

故丘處機云:

久視崑崙守真一,守得摩尼圓又赤。清虛浩曠陀羅門,萬佛千仙從此出。

還元篇云:

悟道顯然明廓落,閒閒端坐 運天關。

此是根本功夫,頭腦學間,撥天關之手段,脫死籍之靈章。此道上蒼所秘,古今仙佛皆不敢明言。真所謂千人萬人中一人兩人知者 也。玄哉!玄哉!更有言不盡的口訣。

再一叮嚀,當其真鉛入鼎之時,須要驅除雜念,奮速精神,口視頂門,用志不分,霎時龍虎交戰,造 化爭弛,雷轟電掣,撼動乾坤,百脈悚然,九宮透徹,金晶灌頂,銀浪沖天。

紫陽所謂:以黑而變紅,一鼎雲氣濃。少頃玉鼎湯溫,金爐火 散,黃芽遍地,白雪漫天,夫唱妻隨,龍吟虎嘯,陰戀陽魂,陽抱陰魄,鉛精汞髓,凝結如珠。

玉蟾所謂:夫婦老相逢,恩情自留戀,此際 玄珠成,像礦去金存。而一點金液復落於黃庭舊處矣。

斯時也,溶溶然如山雲之騰太虛,霏霏然似膏雨之遍原野,淫淫然若春雨之滿澤,液 液然像河水之將釋。百脈衝和而暢乎四體,真個是拍拍滿懷都是春也。見此效驗,急行卯酉周天,進陽火,退陰符,使東西會合,南北混融,則四象五行攢族一鼎, 混有靈於天谷,理五氣於泥丸也。

Nếu con người Ác thần thủ Nhất 握神守一 được ở nơi Bản Cung (Nê Hoàn Cung) thì Chân Khí tự nhiên sẽ bay lên; Chân Tức sẽ tự định; Chân Tinh sẽ tự triều; Linh Miêu sẽ lớn lên; Thiên Môn sẽ mở; Nguyên Thần sẽ tự hiện; Khiếu trên đỉnh đầu sẽ mở và các khiếu khác cũng sẽ mở. Nguyên Thần cư tại vị và các Thần khác đều nghe lệnh. Thần đã ở trong Khiếu và đã không phát tán thì con người làm sao chết được?

Cho nên Huỳnh Đình Kinh nói:

Tử dục bất tử, tu Côn Lôn (Bạn muốn trường sinh, tu Côn Lôn – Côn Lôn là đầu con người), chính là vậy.

Cho nên Khâu Xử Cơ nói:

Cửu thị Côn Lôn thủ Chân Nhất, 久視崑崙守眞一
Thủ đắc Ma Ni viên hựu xích 守得摩尼圓又赤
Thanh Hư hạo khoáng Đà La Môn 清虛浩曠陀覼門
Vạn Phật Thiên Tiên tòng thử xuất 萬佛千仙從此出

Nhìn lâu Đan Điền, giữ Chân Nhất
Được Ngọc Ma Ni, tròn lại đỏ
Đà La Môn (Nê Hoàn Cung) ấy thực thanh hư,
Vạn Phật, Thiên Tiên do đó xuất.

Hoàn Nguyên Thiên viết:

Ngộ Đạo hiển nhiên minh lang lạc 悟道顯然明廊洛
Nhàn nhàn đoan tọa vận Thiên Quan 閑閑端坐運天關
Biết Đạo âu rành Thanh Tĩnh lý
Ngồi thẳng yên người giữ Nê Hoàn

Đó là căn bản công phu, đó là học vấn đầu não, đó là thủ đoạn mở cửa Trời, đó là Linh Chương để thoát Tử Tịch. Đạo lý này là bí mật của Thượng Thiên, xưa nay Tiên Phật không dám nói rõ. Cho nên trong ngàn vạn người may ra mới được một hai người biết. Thật là huyền diệu. Lại có những khẩu quyết nói không hết lời.

Người xưa đinh ninh dặn dò rằng: Khi Chân Diên nhập đỉnh, phải khu trừ tạp niệm, đem hết tinh thần, mắt hướng đỉnh đầu, dụng hết tâm trí, trong chớp nhoáng đó, Nguyên Thần, Nguyên Khí sẽ giao hợp, tạo hóa sẽ vận chuyển, sấm vang, điện giật, cảm động Kiền Khôn, bách mạch khai thông, Cửu cung thấu triệt, Kim tinh quán đỉnh, Chân khí bốc lên trời.

Tử Dương gọi thế là: Dĩ hắc nhi biến hồng, Nhất đỉnh vận khí nùng 以黑而變紅一鼎運氣濃 (Lấy đen biến thành hồng, Chính khí sẽ đầy Nê Hoàn)

Trong khoảnh khắc, nhiệt độ nơi Thượng Hạ Đan Điền sẽ giảm, đó là triệu chứng Đan thành, Hoàng Nha, Bạch Tuyết sẽ xuất hiện. Nguyên Thần, Nguyên Khí, Âm Dương, Hồn Phách, như đôi vợ chồng hòa hợp với nhau, phát ra tiếng Long Ngâm, Cọp Hú, Dương Tinh Hống Tủy ngưng kết như châu.

Bạch Ngọc Thiềm viết: Phu phụ lão tương phùng, Ân tình tự lưu luyến 夫婦老相逢恩情自留恋 (Vợ chồng già gặp nhau, ân tình tự lưu luyến).

Lúc đó, Huyền Châu thành tượng, quặng mất, vàng còn, và một điểm Kim Dịch sẽ rơi xuống chốn Huỳnh Đình vậy.
Lúc đó, mây núi an nhiên bay lên Thái Hư, mưa xuân lã tã rơi xuống thấm nhuần đất đai, tràn ngập giang trạch, băng hà bắt đầu tan chảy, bách mạch không hư, hòa hoạt, làm tứ chi thư sướng, như mùa Xuân đến muôn nơi.

Thấy hiệu nghiệm đó, lập tức hành Mão Dậu chu thiên (vận nội khí chu lưu khắp người), tòng tả thượng, tòng hữu hạ là Tiến Dương Hỏa, tòng hữu thượng, tòng tả hạ là Thoái Âm Phù; khiến cho nội khí thượng hạ, tả hữu toàn thân được hội hợp hỗn dung, cho ngũ hành hợp nhất trong một Đỉnh, dung hợp Ngũ Linh nơi Thiên Cốc, Lý Ngũ Khí về Nê Hoàn vậy.
高象先云:

玄珠飛到崑崙上,子若求之憑罔象。

河東歌 云:

兩物擒來共一爐,一泓神水結真酥。

指玄篇云:

必知會合東西路,切在沖和上下田。

陳泥丸云:

白虎自茲相見後,流珠哪肯不相從。

段真人云:

四象 五行攢族處,乾坤日月自然歸。

漸悟集云:

因燒丹藥火焰下,故使黃河水逆流。

純粹吟 云:

子午爐前分進退,乾坤鼎內列浮沉。

玄奧集云:

金消木性相交合,黑汞結鉛自感通。

Cao Tượng Tiên nói:

Huyền Châu phi đáo Côn Lôn thượng 玄珠飛到崑崙上
Tử nhược cầu chi bằng Võng Tượng 子若求之凭罔象

Huyền Châu bay tới đỉnh Côn Lôn
Muốn được Huyền Châu phải Võng Tượng

Hà Xa Ca viết:

Lưỡng vật cầm lai cộng nhất lô 兩物擒來共一爐
Nhất hoằng Thần Thủy kết Chân Tô 一泓神水結眞穌

Nguyên Thần Nguyên Khí bỏ một lò
Thần Thủy đem về kết Chân Tô

Chỉ Huyền Thiên viết:

Tất tri hội hợp Đông Tây lộ 必知會合東西路
Thiết tại xung hòa thượng Đan Điền 切在沖和上丹田

Đông Tây, Tả Hữu đôi đường cách
Phải biết đem về Thượng Đan Điền.

Trần Nê Hoàn nói:

Bạch Hổ tự tư tương kiến hậu 白虎自茲相見後
Lưu Châu na khẳng bất tương tòng 流珠那肯不相從

Bạch Hổ (Nguyên Khí) từ khi mà gặp được
Nguyên Thần hồ dễ chẳng nghe theo?

Doãn Chân Nhân nói:

Tứ Tượng, Ngũ Hành toàn thốc xứ
四象五行攢簇處
Kiền Khôn, nhật nguyệt tự nhiên qui
乾坤日月自然归

Tứ Tượng, Ngũ Hành mà hòa hợp
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt cũng về theo

Tiệm Ngộ tập viết:

Nhân thiêu Đan Dược hỏa viêm hạ 因 烧 丹 藥 火 炎 下
Cố sử Hoàng Hà thuỷ nghịch lưu 故 使 黄 河 水 逆 流

Đã biết tiến Dương Hỏa
Phải biết thoái Âm Phù

Thuần Túy Ngâm viết:
Tí Ngọ lô tiền phân tiến thoái 子 午 爐 前 分 進 退
Kiền Khôn đỉnh nội liệt phù trầm 乾 坤 鼎 内 列 浮 沉

Luyện thuốc phải rành đường tiến thoái
Biết lẽ thăng trầm nữa mới hay

Huyền Áo tập viết:

Kim Tinh Mộc Tính tương giao hội 金 精 木 性 相 交 會
Hắc Diên, Hồng Hống tự cảm thông 黑 鉛 紅 汞 自 感 通

Nguyên Thần (Mộc), Nguyên Khí (Kim) đà giao hợp
Hắc Diên, Hồng Hống tự cảm thông

雲房真人云:

驅回斗柄玄關理,斡轉天關萬象通。片響龍虎頻斗罷,二物相交頃刻中。

指 玄篇云:

奔歸氣海名朱驥,飛入泥丸是白鴉。昨夜虎龍爭戰罷,雪中微見月鉤斜。

醒眼詩云:

木金間隔各西東,雲起龍吟虎嘯風。二物寥寥天地回,幸因戊己會雌雄。

陳泥丸云:

子時氣到尾閭關,夾脊河東 透甑山。一顆水晶入爐內,赤龍捨汞上泥丸。

翠虛篇云:

醉倒酣眠夢熟時,滿船載寶進曹溪。一方識破丹基後,放 去收來總是伊。

古仙歌云:

水銀一味是仙藥,從上傳流伏火難。若遇河東成紫粉,粉霜一吐化金丹。

玄奧集云:

移將北斗過南辰,兩手雙擎日月輪。飛赴崑崙山上出,須臾化作一天雲。

陰長生云:

夜深龍吟虎嘯時,急駕河東無暫歇。飛精運上崑崙頂,進火玉爐烹似雪。

張元化云:

沂流一直上蓬萊,散在甘泉 潤九垓。從此丹田沾潤澤,黃芽遍地一齊開。

原道歌云:

妙運丹田須上下,須知一體合西東。幾回笑指昆山上,夾 脊分明有路通。

玄奧集云:

獨步崑崙望穹冥,龍吟虎嘯甚分明。玉池常滴陰陽髓,金帛時烹日月精。

群仙珠玉云:

一點丹陽事回別,須向坎中求赤血。捉來離位制陰精,配合調和有時節。

金丹集云:

河東搬運上昆山,不動纖毫到玉關。妙在八門牢閉鎖,陰陽一氣自循環。

Vân Phòng chân nhân nói:

Khu hồi đẩu bính Huyền Quan Lý 彄 回 斗 柄 玄 關 理
Oát chuyển Thiên Quan vạn tượng thông 斡 轉 天 關 萬 象 通
Phiến hướng Hổ Long tần đẩu bãi, 片 餉 虎 龍 頻 斗 罷
Nhị vật tương giao khoảnh khắc trung 二 物 相 交 頃 刻 中

Nhìn chuôi Bắc Đẩu vận Huyền Quan
Thiên Quan xoay chuyển vạn tượng thông
Hổ Long vừa thấy so hơn kém
Đã thấy hòa hài, khoảnh khắc trung

Chỉ Huyền Thiên Viết:-

Bôn qui Khí Hải danh Châu Ký 奔 歸 氣 海 名 珠 既
Phi nhập Nê Hoàn thị Bạch Nha 飛 入 泥 丸 是 白 鴉
Tạc dạ Hổ Long tranh đấu bãi, 昨夜 虎 龍 爭 鬥 罷
Tuyết trung vi hiện nguyệt câu tà 雪 中 微 現 月 鉤 斜

Nguyên Thần (Châu Ký) băng Khí Hải
Bạch Nha đà thấy nhập Nê Hoàn
Đêm qua Long Hổ vừa tranh đấu
Trong tuyết hiện ra mảnh trăng tà

Tỉnh Nhãn Thi rằng:

Mộc Kim gián cách các Tây Đông 木 金 閒 隔 各 西 東
Vân khởi, Long ngâm, Hổ khiếu phong 雲 起 龍 吟 虎 啸 風
Nhị vật liêu liêu Thiên địa hồi 二 物 寥 寥 天 地 回
Hạnh nhân Mậu Kỷ hội thư hùng 幸 因 戊 己 會 雌 雄

Mộc Kim cách trở tại Đông Tây
Gió thổi mây tuôn Rồng Cọp hú
Thần khí xa nhau cả đất Trời
May nhờ Mậu Kỷ thành trống mái

Trần Nê Hoàn viết:

Tí thời khí đáo Vĩ Lư Quan 子 時 氣 到 尾 闾 關
Giáp Tích, Hà Xa vận Tắng San 夾 脊 何 車 運 甑 山
Nhất lõa thủy tinh nhập lô nội 一 颗 水 晶 入 爐 内
Xích Long hàm Hống thượng Nê Hoàn 赤 龍 含 汞 上 泥 丸

Khí vào giờ Tí tới Vĩ Lư
Theo đường Giáp Tích truyền lên đỉnh,
Nhất lõa kim đan nhập Đan Điền
Nguyên Thần, Nguyên Khí thượng Nê Hoàn

Túy Hư Thiên viết:

Tuý đảo hàm miên mộng thục thời 醉 倒 酣 眠 夢 熟 時
Mãn thuyền tải bảo quá Tào Khê 滿 船 載 寶 過 曹 溪
Nhất tài thức phá đan cơ hậu 一 才 識 破 丹 基 後
Phóng khứ thu lai tổng thị y 放 去 收 來 總 是 伊

Quá chén, ngủ say, dệt mộng thời,
Một thuyền châu báu qua Đốc mạch.
Từ khi biết được phép luyện Đơn,
Phóng khứ, thu lai thật dễ dàng.

Cổ Tiên Ca vân:

Thủy Ngân nhất vị thị Tiên Dược 水 銀 一 味 是 仙 藥
Tòng thượng truyền lưu phục hỏa nan 從 上 傳 流 伏 火 難
Nhược ngộ Hà Xa thành tử phấn 若 遇 何 車 成 紫 粉
Phấn sương nhất thổ hóa Kim Đơn 粉 霜 一 吐 化 金 丹

Nguyên Thần nhất vị là Tiên Dược
Xưa nay kết tụ rất khó khăn
May ra gặp được Chân Nguyên Khí
Phấn sương lan tỏa hiện Kim Đan

Huyền Áo Tập nói:

Di tương Bắc Đẩu quá Nam Thần 移 將 北 斗 過 南 辰
Lưỡng thủ song kình Nhật Nguyệt luân 兩 手 雙 擎 日 月 輪
Phi sấn Côn Lôn sơn thượng xuất 飛 趁 崑崙 山 上 出
Tu du hóa tác nhất thiên vân 須 臾 化 作 一 天 雲

Đem sao Bắc Đẩu (Khảm) xuống Nam Thần (Ly)
Nhật Nguyệt hai vầng nắm trong tay
Bay tới Côn Lôn liền xuất hiện
Tự nhiên hóa tác đám tường vân

Âm Trường Sinh nói:

Thâm dạ Long ngâm Hổ khiếu thì 深 夜 龍 吟 虎 啸 時
Cấp giá Hà Xa vô tạm hiết 急 駕 何 車 無 暫 歇
Phi tinh vận thượng Côn Lôn đỉnh 飛 精 運 上 崑崙 鼎
Tiến hỏa Ngọc Lô phanh tự tuyết 進 火 玉 鑪 烹 似 雪

Long ngâm, Hổ khiếu trong đêm vắng
Hãy chuyển Hà Xa chớ có lơi
Phi tinh hãy vận Côn Lôn đỉnh
Đem lửa đốt lò trắng như tuyết

Trương Nguyên Hóa viết:

Nghi lưu nhất trực thượng Bồng Lai 宜 流 一 直 上 蓬萊
Tán tại Cam Tuyền nhuận cửu hài 散 在 甘 泉 潤 九 骸
Tòng thử Đan Điền triêm nhuận trạch 從 此 丹 田 沾 潤 澤
Hoàng Nha biến địa nhất tề khai 黄 芽 遍 地 一 齊 開

Sông nghi chảy thẳng tới Bồng Lai
Tán thành Tân Dịch nhuận cửu hài
Đơn Điền nhờ vậy nên nhuận trạch
Hoàng Nha khắp đất nở tung khai

Nguyên Đạo Ca vân:

Diệu vận Đan Điền tu thượng hạ 妙 運 丹 田 須 上 下
Tu tri nhất thể hợp Tây Đông 須 知 一 體 合 西 東
Kỷ hồi tiếu chỉ Côn Lôn thượng 幾 回 笑 指 崑崙上
Giáp Tích phân minh hữu lộ thông 夾 脊 分 明 有 路 通

Phải vận khí qua Thượng Hạ Đan Điền
Biết phải trái Tây Đông trong người
Mới hay từ Giáp Tích lên Côn Lôn
Phân minh vốn đã có đường lối.

Áo Bí Tập viết:

Độc bộ Côn Lôn vọng yểu minh 独 步 崑崙 望 窈 冥
Long ngâm Hổ khiếu thậm phân minh 龍 吟 虎 啸 甚 分 明
Ngọc Trì thường trích Âm Dương tủy 玉 池 常 滴 陰陽 髓
Kim Đỉnh thời phanh Nhật Nguyệt Tinh 金 鼎 時 烹 日 月 精

Bước tới Côn Lôn học huyền vi
Long ngâm Hổ khiếu rõ ràng nghe
Trong miệng Cam Lồ thường nhỏ xuống
Đơn Điền thường luyện Nhật Nguyệt Tinh

Quần Tiên Châu Ngọc viết:

Nhất Điểm Đan Dương sự quýnh biệt 一 點 丹 陽 事 迥 別
Tu hướng Khảm trung cầu xích huyết 須 向 坎 中 求 赤 血
Tróc lai Ly vị chế Âm Tinh 捉 來 離 位 制 陰 精
Phối hợp điều hòa hữu thời tiết 配 合 調 和 有 時 節

Muốn luyện Nội Đơn phải hiểu rành
Phải từ quẻ Khảm lấy Dương Tinh
Thay thế quẻ Ly hào chính giữa
Phối hợp điều hòa có thời tiết

Kim Đan Tập viết:

Hà Xa ban vận thượng Côn sơn 何 車 搬 運 上 崑 山
Bất động khiên hào đáo Ngọc Quan 不 動 纤 毫 到 玉 關
Diệu tại nhập môn lao bế tỏa 妙 在 入 門 牢 閉 鎖
Âm Dương nhất khí tự tuần hoàn 陰 陽 一 气 自 循 還

Hà Xa vận chuyển tới Côn Lôn
Không cần vất vả thấu Ngọc Quan
Hay là biết giữ đầu óc sáng
Âm Dương nhất khí tự tuần hoàn
無一歌云:

此到一復忘一可,可與元化 同出沒。設若執一不能忘,大似癡貓守空窟。

白玉蟾云:

汞心煉神赤龍性,鉛身凝氣白虎命。內外渾無一點陰,萬 象光中玉清鏡。

純陽文集云:

盜得乾坤祖,陰陽是本宗。天魂生白虎,地魄產青龍。

運寶 泥丸住,搬精入上宮。有人明此法,萬載貌如童。

抱一子顯道圖云:

造道原來本不難,工夫只在定中間。陰陽上下 常升降,金水周流自返還。

紫府青龍交白虎,玄宮地軸合天關。雲收雨散神胎就,男子生兒不等閒。

玄奧集云:

要識玄關端的處,兒女笑指最高峰。

最高峰,秀且奇,彼岸濛濛生紫芝。

只此便是長生藥,無限修行人不知。

許宣平玄珠歌云:

天上日頭地下轉,海底蟬娟天上飛。乾坤日月本不運,皆因斗柄轉其機。

人心若與天心合,顛 倒陰陽只片時。龍虎戰罷三田靜,拾起玄珠種在泥。

群仙珠玉歌云:

鉛思汞,汞思鉛,奪得乾坤造化權。性命都來 兩個字,隱在丹經千萬篇。

Nguyên Nhất Ca viết:

Đáo thử đắc Nhất phục vong Nhất 到 此 得 一 復 忘 一
Khả dữ Nguyên Hóa đồng xuất một 可 與 元 化 同 出 沒
Thiết nhược chấp nhất bất năng vong 设 若 執 一 不 能 忘
Đại tự si miêu thủ không quật 大 似 痴 貓 守 空 窟

Đạt được Nhất rồi lại quên Nhất , Sẽ cùng Tạo Hóa đồng xuất một
Nếu như chấp nhận không quên được, Sẽ giống mèo ngu giữ hang không

Bạch Ngọc Thiềm viết:

Hống Tâm luyện Thần Xích Long Tính 汞 心 煉 神 赤 龍 性
Diên Thân ngưng Khí Bạch Hổ Mệnh 沿 身 凝 氣 白 虎 命
Nội ngoại hỗn vô nhất điểm âm 內 外 混 無 一 點 陰
Vạn tượng quang trung ngọc kính thanh 萬 象 光 中 玉 鏡 清

Trong Hống luyện phanh Xích Long Tinh
Diên thời ngưng khí Bạch Hổ Mệnh
Thần Khí trong ngoài sạch hết Âm
Đại Đan trong sáng ắt mau thành

Thuần Dương Tập viết:

Đạo đắc Kiền Khôn tổ 盜 得 乾 坤 祖
Âm Dương thị bản tông 陰 陽 是 本 宗
Thiên Hồn sinh Bạch Hổ 天 魂 生 白 虎
Địa Phách sản Thanh Long 地 魄 產 青 龍
Vận bửu Nê Hoàn trụ 運 寶 泥 丸 住
Ban Tinh nhập Thổ cung 般 精 入 土 宮
Hữu nhân minh thử pháp 有 人 明 此 法
Vạn tải mạo như đồng 萬 載 貌 如 童

Trộm được Kiền Khôn tổ, Thấy căn bản Âm Dương
Thiên Hồn sinh Nguyên Khí, Địa Phách hóa Nguyên Thần
Nê Hoàn đem báu lại, Tinh Hoa tới Thổ Cung
Ai mà biết phép đó, Muôn năm trẻ như đồng

Bão Nhất Tử (Hiển Đạo đồ) viết:

Tạo đạo nguyên lai bổn bất nan 造道原來本不難
Công phu chỉ tại định trung gian 工夫只在定中間
Âm Dương thượng hạ thường thăng giáng 陰陽上下常升絳
Kim Thủy chu lưu tự phản hoàn 金水周流自返還
Tử Phủ, Thanh Long giao Bạch Hổ 紫府青龍交白虎
Huyền Cung, Địa Trục hợp Thiên Quan 玄宮地軸合天關
Vân thu vũ tán Thần Thai tựu 雲收雨散神胎就
Nam tử sinh nhi bất đẳng nhàn 男子生兒不等閑

Nguồn đạo tìm ra chẳng khó khăn
Công phu chỉ tại định trung gian
Âm Dương thượng hạ thường thăng giáng
Nguyên Khí trong ta mặc phản hoàn
Tử Phủ, Thanh Long giao Bạch Hổ
Huyền Cung, Địa Trục hợp Thiên Quan
Kim Đan ngưng kết Thánh Thai hiện
Nam tử sinh con chuyện phi thường

Huyền Áo Tập vân:

Yếu thức Huyền Quan đoan đích xứ 要 識 玄 關 端 的 處
Nhi nữ tiếu chỉ Tối Cao Phong 兒 女 笑 指 最 高 峰
Thượng tối Cao Phong tú thả kỳ 上 最 高 峰 秀 且 奇
Bỉ ngạn mông mông sinh tử chi 彼 岸 蒙 蒙 生 紫 芝
Chỉ thử tiện thị Trường Sinh dược 只 此 便 是 長 生 藥
Vô hạn tu hành nhân bất tri 無 限 修 行 人 不 知

Muốn biết Huyền Quan ở chốn nào,
Người chỉ vẽ cho tại đỉnh đầu
Đỉnh đầu chốn ấy ôi sao đẹp,
Bên bờ còn có cỏ Linh Chi
Linh Chi là chính Trường Sinh dược,
Chuyện ấy xưa nay ít ai hay

Hứa Tuyên Bình (Huyền Châu Ca) viết:

Thiên thượng nhật đầu địa hạ chuyển 天 上 日 頭 地 下 轉
Hải để thuyền quyên thiên thượng phi 海 底 嬋 娟 天 上 飛
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt bản bất vận 乾 坤 日 月 本 不 運
Giai nhân đẩu bính chuyển kỳ ki 皆 因 斗 柄 轉 其 機
Nhân Tâm nhược dữ Thiên Tâm hợp 人 心 若 與 天 心 合
Điên đảo Âm Dương chỉ phiến thì 顛 倒 陰 陽 止 片 時
Hổ Long chiến bãi Tam Điền tĩnh 虎 龍 戰 罷 三 田 静
Thập thủ Đan Kinh chủng tại Nê 拾 取 丹 經 種 在 泥

Vừng Nhật trên Trời, dưới đất quay
Vừng Trăng đáy biển thượng thiên phi
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt vốn không chuyển
Chuyển vận là do Đẩu Bính xoay
Nhân Tâm nếu với Thiên Tâm hợp
Âm Dương điên đảo chỉ phút giây
Nguyên Thần, Nguyên Khí đà kết hợp
Đem đến Đan Kinh, chủng tại Nê (Nê Hoàn)

Quần Tiên Châu Ngọc Ca viết:

Diên tư Hống, Hống tư Diên 鉛 思 汞, 汞 思 鉛
Đoạt đắc Kiền Khôn Tạo Hóa quyền 奪 得 乾 坤 造 化 權
Tính Mệnh đô lai lưỡng cá tự 性 命 都 來 兩 個 字
Ẩn tại Đan Kinh thiên vạn thiên 隱 在 丹 經 千 萬 篇

Diên mơ Hống, Hống mơ Diên,
Đoạt được Kiền Khôn, Tạo Hóa quyền
Tính Mệnh xưa nay chỉ hai chữ,
Ẩn tại Đan Kinh thiên vạn thiên.

(xin xem tiếp MÃO DẬU CHU THIÊN KHẨU QUYẾT)
卯酉周天口訣
< 周天璇璣圖>
虎西龍東,建緯卯酉,刑徳并會,相見歡喜。

河魁臨 卯,天罡據酉,子南午北,互為綱紀。

北斗南辰下,眉毛眼底穿,灰心行水火,定意採真鉛。

陰向鼻端滅,陽從眼裏 生,這般平易法,因甚沒人行!

大道分明見此圓,璇璣卯酉法天然。由中道外中全外,自後推前後即前。

陽火進來從左 轉,陰符退去往西旋。霎時火候周天畢,煉顆明珠似月圓。

復、臨、泰、壯、訣、乾兮,六陽從左而上下;垢、遁、否、觀、剝、坤兮,六陰 往右而迴旋。

(周 天璇璣圖)

前段乾坤交媾,收外藥也。此段卯酉周天,收內藥也。外交媾者,後上前下,一升一降也。內交媾者,左旋右轉,一起一伏也。兩 者循環,狀似璇璣。

故魏伯陽云:循據璇璣,升降上下,周流六爻,難以察睹。世人只知有乾坤交媾,而不知卯酉周天,是猶有車而無輪, 有舟而無舵,慾望遠載,其可得乎?

故還元篇云:輪迴玉兔與金烏,道在人身人自迷,滿目盡知調水火,到頭幾個識東西。東者,水性也。 西者,金情也。一物分二,間隔東西。今得斗柄之機干旋,則木性愛金,金情戀木,兩相交結,而金木交並矣。金本交並,方成水火全功。丹經謂之和合四象者此 也。

MÃO DẬU CHU THIÊN KHẨU QUYẾT
tức
CHÂU THIÊN TUYỀN KI ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Phục, Lâm, Thái, Tráng, Quải, Kiền hề 復 臨 泰 壯 卦 乾 兮
Lục Dương tòng tả nhi thượng hạ 六 陽 從 左 而 上 下
Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn hề 姤 遁 否 觀 剝 坤 兮
Lục Âm vãng hữu nhi hồi tuyền 六 陰 往 右 而 回 旋

Phục, Lâm, Thái, Tráng, Quải, Kiền hề
Sáu Dương lên xuống phía bên tả
Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn hề
Sáu Âm tuần hoàn phía bên hữu

Hổ Tây, Long Đông, kiến vĩ Mão Dậu
虎 西 龍 東 見 纬 卯 酉
Hình, Đức tịnh hợp tương kiến hoan hỉ
刑 德 並 合 相 見 懽 喜
Hà Khôi lâm Mão, Thiên Cang cứ Dậu
河魁臨卯天罡據酉
Tí Nam, Ngọ Bắc hỗ vi cương kỷ
子 南 午 北 互 為 綱 紀

Hổ Tây, Long Đông hình thành Mão Dậu kinh tuyến
Âm Hình, Dương Đức tính dụng mọi người hoan hỉ
Hà Khôi Tinh tại Đông, Mão, Thiên Cang Tinh tại Tây, Dậu
Nam Bắc Tí Ngọ tuyến thị cương yếu

Bắc Đẩu Nam Thần hạ 北 斗 南 辰 下
Mi Mao nhỡn để xuyên 眉 毛 眼 抵 穿
Khôi tâm hành Thủy Hỏa 灰 心 行 水 火
Định Ý thái Chân Diên 定 意 埰 甄 沿
Âm hướng Tị Doan diệt 陰 向 鼻 端 灭
Dương tòng nhãn lý sinh 陽 從 眼 里 生
Giá ban bình dị pháp 這 般 平 易 法
Nhân thậm một nhân hành 因 甚 没 人 行

Bắc Đẩu (Khảm), Nam Thần (Ly) hợp nơi lông mi và mắt (Thượng Đan Điền)
Tâm yên hành Thủy Hỏa ,
Ý định, Đơn sẽ viên
Âm tới đầu mũi diệt,
Dương từ trong mắt sinh
Phép tu dễ như thế,
Sao chẳng mấy người hành

*Lời bàn của dịch giả về Tuyền Ki

Hình vẽ trên đây không phải là Tuyền Ki mà là Huyền Nghi (Armillaires)

1. Tuyền Ki (Tablette de consicllation circumpolaire; Circumpolar Consicllation template) là một Ống Đồng cổ kính nhất để quan sát sao Bắc Thần và định vị trí Bắc Cực.

Michale giải Tuyền Ki là một miếng ngọc dẹt chung quanh có một số khía. Miếng ngọc này có thể xoay quanh một cái ống để nhòm. Nếu quay đúng vị trí, các sao Bắc Đẩu và hàng sao Tả Khu, Thượng Tể, Thượng Phụ, Thượng Thừa v.v. sẽ lọt đúng vào chỗ khía đã làm sẵn của Tuyền Ki, còn sao Bắc Thần sẽ hiện ra nơi Tâm Điểm của Tuyền Ki. Như vậy Tuyền Ki sẽ định được chính Bắc Cực

2. Hồn Nghi là một dụng cụ để xem xét sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và sự mọc lặn của các vì sao. Hồn Nghi có nhiều loại tùy theo có nhiều hay ít vòng. Nó thường có vòng Hoàng Đạo, vòng Xích Đạo, vòng Kinh Tuyến và vòng Nhẫn Giới. Nó cũng còn có nhiều bộ phận hay máy móc khác mà ta không cần biết.

Dịch giả Tham Đồng Khế, nơi tr.381 mô tả đại khái Hồn Nghi như sau:

“Đó là một Nghi Khí cho ta biết về Đại Đạo. Nó cho ta biết về Kinh Tuyến Mão Dậu hoàn toàn lấy tự nhiên làm chuẩn đích. Nó quay từ trong ra ngoài. Khi đã biết tâm điểm của nó, thì sẽ quay nó từ sau ra trước. Nội khí trong người cũng vận chuyển như vậy. Dương Hỏa chuyển phía trái; Âm Phù chuyển phía phải; trong khoảnh khắc, nội khí sẽ vận chuyển toàn thân; Hỏa Hầu đã tới và đan đạo cũng đã thành.”
————————-

MÃO DẬU CHU THIÊN ĐỒ QUYẾT
Đoạn trước nói về Kiền Khôn giao cấu, là nói về Ngoại Dược. Đoạn này nói về Mão Dậu chu thiên. Nói về Nội Dược.
Ngoại giao cấu là Sau lên Trước xuống. Một thăng, một giáng. Nội giao cấu là Tả Tuyền Hữu Chuyển, nhất Khởi, nhất Phục.

Đôi đằng vận chuyển, giống như Tuyền Ki, cho nên Ngụy Bá Dương nói:

Tuần Hoàn tuyền ki, thăng giáng thượng hạ, chu lưu lục hào, nan dĩ sát đổ
循還璇玑升降上下周流六爻難以察睹

Tuyền Ki tuần hoàn, lên xuống, dưới trên, chu lưu sáu hào, khó mà lường được

Người đời chỉ biết Kiền Khôn giao cấu mà không biết Mão Dậu Chu Thiên, như có xe không bánh, như thuyền không lái. Nếu muốn chở xa, làm sao mà được?

Cho nên Hoàn Nguyên Thiên viết:

Luân Hồi, Ngọc Thố dữ kim kê 輪 回 玉 兔 與 金 雞
Đạo tại nhân thân nhân tự mê 道 在 人 身 人 自 迷
Mãn mục tận tri điều Thủy Hỏa 滿 目 盡 知 調 水 火
Đáo đầu kỷ cá thức Đông Tây 到 頭 幾 個 識 東 西

Nhật Nguyệt hai vầng luôn thăng giáng
Đạo tại nơi người, người chẳng biết
Suốt ngày chỉ học điều Thủy Hỏa
Đông Tây tuần hoàn lại chẳng hay

Đông là Mộc (Tính), Tây là Kim (Tình). Một vật phân đôi nên mới Đông Tây gián cách.
Nay nhờ Đẩu Bính Tuyền Ki oát chuyển nên Mộc Tính ái Kim, Kim Tình luyến Mộc, hai bên giao kết, nên Kim Mộc tương giao, Thủy Hỏa tương tế, nên Đan Kinh gọi là Hòa Hợp Tứ Tượng .
故張全一鉛火秘訣云:

大藥之生有時節,亥末子初正半夜。精神相媾合光華,恍恍惚惚生明月。

媾罷流下噴泡然,一陽來復休輕洩。急須閉在太玄關,火逼藥過尾閭穴。

采時用目守泥丸,垂下左上且凝歇。謂之瞻理腦升玄,右邊放下 復起折。

六六數畢藥生乾,陽極陰生往右遷。須開關門以退火,目光下矚守坤田。

右上左下方凝住,三八數了一周 天。此是天然真火候,自然升降自抽添。

也無弦望與晦朔,也無沐浴共長篇。異各剪除譬喻掃,只斯兩句是真詮。

其法在乾坤交媾後行之,則所結金丹不致耗散也。先以法器頂住太玄關口,次以行氣主宰下照坤臍。良久,徐徐從左上照乾頂。少停,從右降下坤臍。是為一度。又 從坤臍而升上乾頂,又從乾頂而降下坤臍。如此三十六轉,是為進陽火。三十六度畢,並關以退火,亦用下照坤臍,從右上至乾頂,左邊放下坤臍,是為一度。如此 二十四轉,是為退陰符。二十四度畢。

故張紫陽云:

斗極建四時,八節無不煩。斗極實兀然,魁杓自移動。

只要兩眼皎,上下交相送。須向靜中行,莫向忙裡送。

所以用兩眼皎者,何也?蓋眼者,陽竅也。人之一身皆屬陰,唯有這點陽耳。我以 這一點之陽,從下至上,從左至右,轉而又轉,戰退群陰,則陽道日長,****日消。

Cho nên, Trương Toàn Nhất (Diên Hỏa bí quyết) nói:

Đại dược chi sinh hữu thời tiết, 大 藥 芝 生 有 時 節
Hợi mạt, Tí sơ, chính bán dạ 亥 末 子 初 正 半 夜
Tinh thần tương cấu hợp quang hoa 精 神 相 媾 合 光 華
Hoảng hoảng hốt hốt sinh minh nguyệt 恍 恍 忽 忽 生 明 月
Cấu bãi lưu hạ phún bào nhiên 媾 擺 流 下 噴 泡 然
Nhất Dương lai phục hưu khinh tiết 一 陽 來 復 休 輕 泄
Cấp tu bế tại Thái Huyền Quan 急 須 閉 在 太 玄 關
Thủy bức Dược quá Vĩ Lư huyệt 水 逼 藥 過 尾 閭 穴
Thái thời dụng mục thủ Nê Hoàn 采 時 用 目 守 泥 丸
Thùy hạ tả thượng thả ngưng yết 垂 下 左 上 且 凝 歇
Vị chi chiêm lý não thăng huyền 謂 之 瞻 理 腦 升 玄
Hữu biên phóng hạ phục khởi triết 右 邊 放 下 復 起 折
Lục lục số hoa dược thăng Kiền 六 六 數 華 藥 升 乾
Dương cực Âm sinh vãng hữu thiên 陽 極 陰 生 往 右 遷
Tu khai quan môn dĩ thoái Hỏa 須 開 關 門 以 退 火
Mục quang hạ chúc thủ Khôn điền 目 光 下 瞩 守 坤 田
Hữu thượng tả hạ phương ngưng trụ 右 上 左 下 方 凝 住
Tam bát số liễu nhất chu thiên 三 八 數 了 一 周 天
Thử thị thiên nhiên chân hỏa hậu 此 是 天 然 真 火 候
Tự nhiên thăng giáng, tự sưu thiêm 自 然 升 降 自 抽 添
Dã vô Huyền Vọng dữ Hối Sóc 也 無 炫 望 與 賄 朔
Dã vô Mộc Dục cộng Trường Thiên 也 無 沐 浴 共 長 篇
Dị danh tiễn trừ thí dụ tảo 異 名 剪 除 譬 谕 掃
Chỉ tư lưỡng cú thị Chân Thuyên 只 私 兩 句 是 真 詮

Đại dược sinh ra có thời tiết
Cuối Hợi, đầu Tí lúc nửa đêm
Nguyên Tinh, Nguyên Thần đồng kết hợp
Quang hoa rực rỡ như Minh Nguyệt
Kết hợp xong rồi lưu Phún Bào
Nhất Dương lai phục không khinh tiết
Mau đem về dấu tại Huyền Quan
Nước bức Dược qua Vĩ Lư huyệt
Hái thuốc mắt hướng về Nê Hoàn
Lim dim tả vãng, thượng ngưng kết
Dùng công lực mắt vận chuyển óc
Đem thẳng Nội Đan về Nê Hoàn
Hữu biên phóng hạ phục khởi triết
Lên xuống tuần hoàn ba sáu (36) lần
Dương cực Âm sinh rồi Hữu chuyển
Rồi phải mở cửa để Thoái Hỏa
Mắt đưa xuống dưới giữ Khôn Điền
Tòng Hữu biên thượng, Tả biên hạ
Ba tám: hăm bốn một Chu Thiên
Lúc ấy Tự Nhiên Chân Hỏa Hậu
Tự nhiên thăng giáng, tự sưu thiêm
Hết còn Huyền Vọng, còn Hối Sóc
Hết còn Mộc Dục, hết Trường Thiên
Dị danh tiễu trừ, thí dụ bỏ
Chỉ còn hai chữ ấy Chân Thuyên
Phép này dùng sau phép Kiền Khôn Giao Cấu, thì Kim Đơn sẽ không hao tán. Trước hết đem Pháp Khí trụ Thái Huyền Quan (Vĩ Lư), rồi hành khí tới Khôn Tề (Rốn). Lâu sau sẽ từ phía tả đưa lên Kiền Đình (Đỉnh Đầu). Ngưng lại một chút rồi từ phía Hữu giáng xuống Đan Điền (Rốn). Thế là một độ. Rồi lại từ Rốn lên Đỉnh Đầu, rồi lại từ Đỉnh Đầu xuống Rốn. Làm như vậy 36 lần, thế là tiến Dương Hỏa. Sau 36 lần đó, sẽ khai quan để Thoái Âm Hỏa. Lại khởi từ Rốn, tòng Hữu mà đi lên đỉnh đầu. Rồi lại theo tả biên mà về Rốn. Xoay vòng như vậy 24 lần. Đó là Thoái Âm Phù, 24 vòng là xong.

Trương Tử Dương nói:

Đẩu cực kiến tứ thời 斗 極 建 四 時
Bát tiết vô bất thuận 八 節 無 不 順
Đẩu cực thiệt ngột nhiên 斗 極 实 兀 然
Khôi Tiêu tự di động 魁 杓 自 移 動
Chỉ yếu lưỡng nhãn kiểu 只 要 兩 眼 皎
Thượng hạ giao tương tống 上 下 交 相 送
Tu hướng tĩnh trung hành 須 向 靜 中 行
Mạc hướng mang lý tống 莫 向 忙 里 綜

Bắc Đẩu định tứ thời
Bát tiết không sai thác
Bắc Đẩu vốn không động
Đuôi sao Khuê xoay vần
Chỉ cần tinh đôi mắt
Trên dưới trông cho rành
Xem sao cần tĩnh lãng
Lòng phải thật quang minh

Tại sao phải dùng mắt sáng suốt? Thưa vì mắt là Dương Khiếu. Toàn thân con người là Âm, chỉ có một điểm Dương ấy mà thôi. Ta dùng một điểm Dương ấy, từ dưới lên trên, từ trái sang phải, chuyển vận vô cùng, để chiến thoái quần Âm. Như vậy Dương Đạo ngày một trưởng, Âm Đạo ngày một tiêu.
故易曰:龍戰於野,其血玄黃。又能使真氣上下循 環,如天河之流轉,其眼之功可謂大矣。

蓋人初結胎時,天一生水,先生黑睛,而有瞳仁屬腎,地二生火,而有兩皆屬心。天三生木,而有 黑珠屬肝;地四生金,而有白珠屬肺;天五生土,而有上下胞胎屬脾。由此觀之,則五臟精華皆發於目也。

因師指竅之後,見婦人小產,半 馬落胎,並抱雞之蛋,俱先生雙目而臟腑皆未成形。予始知目乃先天之靈,元神所游之宅也。

皇極經世書云:天之神,棲於日;人之神,發 於目。大矣哉!人之神發於目也。生身處,此物先天地生;沒身處,此物先天地沒。水、火,木、金、上之五行,攢簇於此,肝、心、脾、肺、腎之五臟,鐘靈於 此,唾、涕、精、津、氣、血、液之七物,結秀於此。其大也,天地可容,其小也,纖毫不納。茲非吾一身中之大寶也歟。

內指通玄訣云:

含光便是生長藥,變骨成金上品仙。

上陽子云:

玄微妙訣無多吉,只在眼前人不顧。

崇正篇云:

搬運有功連晝夜,斡旋至妙體璇璣。

火候歌云:

欲透玄玄須謹獨,謹獨工夫 機在目。

Cho nên Dịch Kinh nói:

Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng 龍戰于野其血玄黃 (Ngoài đồng Rồng đánh lộn nhau, Máu phun chan chứa pha màu vàng đen).

Lại có thể khiến cho một khí lưu hành, tuần hoàn trên dưới nên công năng của mắt thật là lớn vậy.

Vả khi con người vừa mới kết thai, Thiên Nhất sinh Thủy thì Tròng Đen sinh trước. Đồng Tử sinh sau, thuộc Thận; Địa Nhị sinh Hỏa, mà có hai vành mắt; thuộc Tâm. Thiên Tam sinh mộc, mà có tròng đen, thuộc Gan; Địa Tứ sinh Kim, mà có tròng trắng, thuộc Phổi; Thiên Ngũ sinh Thổ, mà có da trên dưới mắt, thuộc Tì.

Cứ xem như thế, thì tinh hoa ngũ tạng đều phát nơi mắt. Sau khi Thầy ta chỉ Khiếu cho ta, ta quan sát thai những người bị tiểu sản, hay thai trâu bò, hay xem trứng khi chưa thành con, thì bao giờ cũng thấy đôi mắt sinh trước khi tạng phủ thành hình, cho nên ta biết đôi mắt là “Tiên Thiên Chi Linh”, quán xá của Nguyên Thần đến đó du chơi.

Hoàng Cực Kinh Thế viết:

Thiên chi Thần, Thê vu Mục 天 之 神 棲 于 目
Nhân chi Thần, Phát vu Mục 人 之 神 發 于 目

Thần của Trời, Ngự đôi mắt
Thần con người, Phát tại mắt

Lớn thay là câu nói: Nhân chi Thần, phát vu mục
Khi sinh thân, thì vật đó sinh ra trước; khi thân diệt, thì vật đó mất đi trước. Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết hợp tại đấy. Linh khí của Tâm, Can, Tì, Phế, Thận tập trung tại đó. Nước dãi, nước mắt, Tinh, Tân, Khí, Huyết, Dịch bảy thứ đó đều tụ tại đó. Nó lớn thì thiên địa không chỗ chứa, nó nhỏ thì hào mao cũng không nạp. Đó há chẳng phải là báu vật trong thân ta hay sao?

Nội chỉ Thông Huyền Quyết viết:

Hàm quang tiện thị Trường sinh dược 含光便是長生藥
Biến cốt thành Kim Thượng Phẩm Tiên 變骨成金上品仙

Nhãn tình chính thật Trường Sinh dược
Biến cốt thành Kim, Thượng Phẩm Tiên

Thượng Dương Tử viết:

Huyền vi diệu quyết vô đa ngôn 玄 微 妙 訣 無 多 言
Chỉ tại nhãn tiền nhân bất cố 只 在 眼 前 人 不 顾

Huyền vi diệu quyết chẳng nhiều lời
Rành rành trước mắt người chẳng ngó

Sùng Chính Thiên viết:

Ban vận hữu công liên trú dạ, 搬 運 右 功 連 晝 夜
Oát tuyền chí diệu thể Tuyền Ki 斡 旋 至 妙 體 璇 玑

Nội khí vận hành Liên trú dạ
Mắt xoay kỳ diệu giống Tuyền Ki

Hỏa Hầu Ca nói:

Dục thấu Huyền Huyền tu cẩn độc 欲 透 玄 玄 須 謹 獨
Cẩn độc công phu cơ tại mục 謹 獨 工 夫 機 在 目

Chuyên tâm cẩn thận thấu Huyền Cơ
Cẩn Thận công phu do mắt đó

陳泥丸云:

真陰真陽是其道,只在眼前何遠詞。

薛道光云:

分明只在眼睛前,自是時人不見天。

劉海蟾云:

下降上升循殼軸,左旋右復合樞機。

王 子真云:

昨宵奼女啟靈扉,窺見神仙會紫微。北斗南辰前後布,兩輪日月往來飛。

蕭紫虛云:

如龍養珠常自顧,如雞孵卵常自抱。金液還丹在眼前,迷者多而悟者少。

陳翠虛云:

不是燈光日月星,藥靈自有 異常明。垂簾久視光明處,一顆堂堂現本真。

翠虛篇云:

莫謂金丹事等閒,切須勤若力攢研。慇勤好與師資論,不 在他途在目前。

玄坤集云:

青牛人去幾多年,此道分明在目前。欲識目前真的處,一堂風冷月蟬娟。

陳泥丸云:

大道分明在眼前,時人不會娛歸泉。黃芽本是乾坤氣,神水根基與汞連。

玄學統宗云:

幾回抖搜上崑崙,運動璇璣造化分。晝夜周而還復始,嬰兒從此命常存。

Trần Nê Hoàn nói:

Chân Âm Chân Dương thị Chân Đạo 真 陰 真 陽 是 真 道
Chỉ tại nhỡn tiền hà viễn thảo 只 在 眼 前 何 遠 討

Chân Âm Chân Dương là Chân Đạo
Nó ngay trước mặt chớ tìm xa

Tiết Đạo Quang nói:

Phân minh chỉ tại nhỡn tình tiền 分 明 只 在 眼 睛 前
Tự thị thời nhân bất kiến Thiên 自 是 時人 不 見 天

Phân minh trước mắt chẳng xa vời
Chỉ tại con người chẳng thấy Trời

Lưu Hải Thiềm viết:

Hạ giáng thượng thăng tuần cốc trục 下 降 上 升 循 穀 軸
Tả toàn hữu phục hợp Khu Cơ 左 旋 右 覆 合 抠 機

Hạ giáng thượng thăng theo cột sống
Tả toàn hữu chuyển hợp Khu Cơ

Vương Tử Chân nói:

Tạc tiêu Xá Nữ khải Linh phi 昨 宵 奼 女 啟 靈 痱
Khuy kiến thần tiên hội Tử Vi 窺 見 神 仙 會 紫 微
Bắc Đẩu, Nam Thần tiền hậu bố 北 斗 南 神 前 後 布
Lưỡng luân Nhật Nguyệt vãng lai phi 兩 輪 日 月 往 來 飛

Đêm qua Xá Nữ (Nguyên Thần) mở cửa ra
Nhìn thấy Thần Tiên họp đỉnh đầu
Nam Tào, Bắc Đẩu sau trước bố
Nhật Nguyệt hai vầng bay lại qua

Tiêu Tử Hư nói:

Như Long dưỡng châu thường tự cố 如 龍 養 珠 常 自 顧
Như Kê phục noãn thường tự bão 如 雞 伏 卵 常 自 抱
Kim Dịch Hoàn Đơn tại nhãn tiền 金 液 还 丹 在 眼 前
Mê giả đa nhi ngộ giả thiểu 迷 者 多 而 悟 者 少

Như Rồng có ngọc thường lưu ý
Như Gà ấp trứng cũng như y
Kim Dịch Hoàn Đan trước mắt có
Biết ra thì ít mê lại nhiều

Trần Túy Hư nói:

Bất thị đăng quang Nhật Nguyệt Tinh 不 是 燈 光 日 月 星
Dược Linh tự hữu dị thường minh 藥 靈 自 有 異 常 明
Thùy Liêm cửu thị quang minh xứ 垂 帘 久 視 光 明 處
Nhất lõa đường đường hiện Bản Chân 一 颗 堂 堂 現 本 眞

Không đèn mà độc ánh trăng sao
Nội Dược trong người sáng biết bao
Chỉ cần nhắm mắt nhìn trong dạ
Đan Điền sẽ rạng ánh Bản Chân

Thúy Hư Thiên viết:

Mạc vị Kim Đơn sự đẳng nhàn 莫 謂 金 丹 事 等 閑
Thiết tu cần khổ lực toàn nghiên 切 須 勤 苦 力 鑽 研
Ân cần hảo dữ sư tư luận 殷 勤 好 與 師 資 論
Bất tại tha đồ tại mục tiền 不 在 他 途 在 目 前

Đừng nói luyện Đơn là chuyện dễ
Ắt phải khổ công phải điều nghiên
Cần thầy chỉ dẫn cần tha thiết
Đạo Trời trước mắt chớ nhọc tìm

Huyền Áo Tập viết:

Thanh Ngưu nhân khứ kỷ đa niên 青牛人去幾多年
Thử Đạo phân minh tại mục tiền 此道分明在目前
Dục thức mục tiền Chân Đích xứ 欲識目前真的處
Nhất đường phong lãnh, nguyệt Thuyền quyên 一堂風冷月嬋娟

Thanh Ngưu (Nguyên Thần) tìm kiếm mất nhiều năm
Kỳ thật Nguyên Thần lại mục tiền
Hiểu được Đôi Ngươi (2 tròng mắt) chân tác dụng
Nhất Dương lai phục nội đan thành

Trần Nê Hoàn nói:

Đại Đạo phân minh tại nhãn tiền 大 道 分 明 在 眼 前
Thời nhân bất hội ngộ qui tiền 時 人 不 會 误 歸 前
Hoàng Nha bản thị Kiền Khôn khí 黃 牙 本 是 乾 坤 氣
Thần Thủy căn cơ dữ Hống liên 神 水 根 機 與 汞 連

Đại Đạo (chân lý) phân minh tại mục tiền
Thế nhân không biết tường Qui Tuyền
Nội Đan chính thực Kiền Khôn Khí
Thần Thủy với Hống vốn tương Liên

Huyền Học Thống Tông viết:

Kỷ hồi đẩu sưu thượng Côn Lôn 幾 回 抖 搜 上 崑 崙
Vận động Tuyền Ki tạo hóa phân 運 動 璇 玑 造 化 分
Trú dạ chu nhi hoàn phục thủy 晝 夜 周 而 還 復 始
Anh Nhi tòng thử trường tồn 嬰 兒 從 此 長 存

Mấy lần vận dụng thấu Nê Hoàn
Bắt chước Tuyền Ki chuyển Tuần Hoàn
Ngày đêm phản phục xoay vần chuyển
Nội đơn nhờ thế sẽ trường tồn
觀吾判感歌云:

這骨董,大奧妙,妙在 常有觀其竅。此竅分明在目前,下士聞之即大笑。

金丹賦云:

呼龍虎吸,魂吞魄吐。南北交媾於水火,卯酉輪還於 子午。

總括乾坤之策,優遊變化之主。母子包羅於匡廊,育養因依於鼎釜。

郡仙珠玉山云:

覺中覺了悟中悟,一點靈光無遮護。放開烈焰照娑婆,法界縱橫獨顯露。

這些消息甚幽微,木人遙指白雲歸。此個玄關口難說,目前見得 便忘機。

南谷子云:

至道不遠兮,恆在目前竅。竊天地之機兮,修成仙胎。

純陽子云:

有人問我修行法,遙指天邊日月輪。

以上諸仙雅言,皆發明行氣主宰之義也。

Quan Ngô (Phàn Hoặc Ca) viết:

Giá cốt đổng, đại áo diệu 這 骨 董 大 奥 妙
Diệu tại thường hữu quan kỳ khiếu 妙 在 常 有 觀 其 竅
Thử khiếu phân minh tại mục tiền 此 竅 光 明 在 目 前
Hạ sĩ văn chi tắc đại tiếu 下 士 聞 之 則 大 笑

Điều tạp nhạp này thật ảo diệu
Ảo diệu tại chỗ quan kỳ khiếu
Khiếu này thật sự trước mắt thôi
Hạ sĩ nghe qua phá lên cười

Kim Đơn Phú viết:

Long hô, Hổ hấp 龍 呼 虎 吸
Hồn thôn, Phách thổ 魂 吞 魄 吐
Nam Bắc giao cấu vu Thuỷ Hỏa 南 北 交 媾 于 水 火
Mão Dậu luân hoàn vu Tí Ngọ 卯 酉 輪 還 于 子 午
Tổng quát Kiền Khôn chi sách 總 括 乾 坤 之 策
Ưu du biến hóa chi chủ 優 游 變 化 之 主
Tử Mẫu bao la vu khuông quách 子 母 包 羅 于 匡 郭
Dục dưỡng nhân y vu đỉnh phủ 育 養 因 依 于 鼎 釜

Nguyên Thần, Nguyên Khí tương hô hấp
Hồn Phách thôn thổ tương y
Nam Bắc giao cấu vu Thủy Hỏa
Mão Dậu xoay vần qua Tí Ngọ
Tóm lại luyện đan chi kế sách
Đều lấy an nhàn làm pháp thuật
Đôi mắt hàm tàng đủ Thần Khí
Dưỡng dục chung quy tại Đan Điền

Quần Tiên Châu Ngọc nói:

Giác trung, giác liễu ngộ trung ngộ 覺 中 覺 了 悟 中 悟
Nhất điểm Linh Quang vô già hộ 一 點 靈 光 無 遮 護
Phóng khai liệt diệm chiếu Ta Bà 放 開 烈 焰 照 娑 婆
Pháp giới tung hoành độc hiển lộ 法 界 縱 橫 獨 顯 露
Giá ta tiêu tức thậm u vi 這 些 消 息 甚 幽 微
Mộc nhân diêu chỉ bạch vân qui 木 人 遙 指 白 雲 歸
Thử cá Huyền Quan khẩu nan thuyết 此 個 玄 關 口 難 說
Mục tiền kiến đắc tiện vong ki 目 前 見 得 便 忘 機

Giác ngộ chung qui giác ngộ rồi
Ánh sáng Đan Điền chẳng dấu ai
Phóng khai lửa rực chiếu Ta Bà
Pháp giới tung hoành độc hiển lộ
Tin tức này xem thật u vi
Mộc nhân chỉ nẻo bạch vân qui
Điều huyền diệu ấy khó nói rõ
Mắt thấy qua rồi sẽ quên Ki (Cơ sảo)

Nam Cốc Tử nói:

Chí đạo bất viễn hề 至 道 不 遠 兮
Hằng tại mục tiền 恒 在 目 前
Thiết thiên địa chi cơ hề 竊 天 地 之 機 兮
Tu thành thai tiên 修 成 胎 仙

Chí đạo chẳng có xa
Luôn ở trước mắt ta
Trộm được bí quyết Trời
Tu sẽ thành Đại Tiên

Thuần Dương Tử vân:

Hữu nhân vấn ngã tu hành pháp 有 人 問 我 修 行 法
Dao chỉ thiên biên nhật nguyệt luân 遙 指 天 邊 日 月 輪

Có kẻ hỏi ta phép tu hành
Ta chỉ trời cao Nhật Nguyệt luân

Các lời trên là của chư tiên. Tất cả đều luận về phép Hành Khí. Tiết bàn về công phu này với tiết bốn là cùng một Lý. Trên dưới tương ứng nhau, như một chuỗi ngọc. Thái thủ dược vật thì từ Khúc Giang (Hạ Đan Điền). Tụ Hỏa mà đem nó về Đỉnh Đầu. Nguyên Thần, Nguyên Khí kết hợp với nhau ở Thượng Đan Điền. Tuần hoàn vận chuyển lên kết hợp tại Thượng Đan Điền.

蓋此節工夫與第四節同是一理,承 上接下,端如貫珠,採取藥物於曲江之下,聚火開之而上升於乾,乾坤交媾於九宮之上,周天運之而凝結於鼎。

張紫陽云:

都來片餉工夫,永保無窮逸樂。

輕清者凝於泥丸,重濁者流歸氣穴。逐日如此此抽添,如此交媾,汞漸多,鉛漸少,久則鉛將盡,汞亦 干,結成一顆摩尼,是為金液大還丹也。

故馬宜甫云:

收得水中金,採得菩提子。運得崑崙風,長壽無生死。

蓋坎中之鉛,原是父之真精;離中之汞,原是母之真血。始因乾體一破,二物遂分兩弦。是以常人日離日分,分盡而死。所以至人法乾坤之體,效坎離之用,奪神 功,改天命,求坎中之鉛,制離中之汞,取坎中之陽,填離中之汞。陰盡陽純,復成乾元本體。

故張紫陽云:

取將 坎位中心實,點化離官腹內陰。自此變成乾健體,潛藏飛躍盡由心。

Trương Tử Dương nói:

Đô lai phiến hướng Công Phu 都 來 片 餉 工 夫
Vĩnh bảo vô cùng dật lạc 永 保 無 穷 逸 樂

Chỉ mất chút công phu
Có vô cùng an lạc

Khinh thanh thời ngưng tụ Nê Hoàn, trọng trọc thời xuống Khí Hải. Ngày đêm có thế mà thêm bớt, cứ thế mà hòa hợp. Hống ngày một nhiều, Diên ngày một ít. Lâu ngày Diên sẽ cạn, Hống sẽ khô. Kết thành một viên ngọc Ma Ni. Đó là Kim Dịch đại hoàn đơn vậy.

Cho nên Mã Nghi Thủ viết:

Thu đắc Thủy trung Kim 收 得 水 中 金
Thái đắc Bồ Đề Tử 采 得 菩 提 子
Vận đắc Côn Lôn phong, 運 得 昆 侖 風
Trường thọ vô sinh tử 長 壽 無 生 死

Thu được Chân Nguyên Khí
Hải dược hạt Bồ Đề
Đem được lên Nê Hoàn
Là được Trường Sinh mãi

Cho nên, Diên ở trong Khảm, vốn là chân tinh của cha. Hống ở trong Ly, vốn là chân huyết của mẹ. Khi Kiền Thể bị phá, thì hai vật chia thành hai. Cho nên thường nhân thì ngày một đi vào con đường ly cách, ly cách mãi cho đến chết. Còn các bậc chí nhân, thì phòng theo cái thể của hai quẻ Kiền Khôn; và cái dụng của quẻ Khảm, Ly; đoạt thần công; cải thiên mệnh, đem Diên của quẻ Khảm, chế Hồng quẻ Ly; đem hào dương của quẻ Khảm, thay hào âm quẻ Ly. Như vậy Âm sẽ tận, Dương sẽ thuần, trở lại Thuần Kiền.

Cho nên Trương Dương Tử nói:

Thủ tương Khảm vị tâm trung thật 取 將 坎 位 心 中 實
Điểm hóa Ly cung phúc nội Âm 點 化 離 宮 腹 內 陰
Tự thử biến thành Kiền kiện thể 自 此 變 成 乾 健 體
Tiềm tàng phi dược tận do Tâm 潛 藏 飛 躍 盡 由 心

Hãy lấy hào dương nơi quẻ Khảm
Điểm hóa quẻ Ly hào giữa Âm
Do đó biến thành Kiền kiện thể
Tiềm tàng thăng giáng sẽ do Tâm

*
* *

Lời bình của dịch giả:

Như vậy bí quyết luyện đơn chỉ là:

Thủ Khảm điền Ly, biến Ly Thành Kiền. Nghĩa là làm sao vứt bỏ hết những gì nhơ nhớp xấu xa trong con người, chỉ còn lại những gì trong sáng, tinh hoa nhất của con người.

Ý thức như Nho gia nói:

Khử nhân dục, tồn Thiên Lý,

Bỏ nhân dục, còn Thiên Lý, hay Nhân dục tận, Thiên Lý hiện.

性命雙修萬神圭旨

第六節口訣

靈丹入鼎長養聖胎

<靈丹入鼎圖>
一顆金丹何赫赤,大似彈丸黃似橘。人人分上本圓明,夜夜靈光照神室。

攢簇乾坤造化來,手摶日月煉成灰。金公無言姹女死,黃婆不老猶懷胎。

流珠爍爍照昆巔,九轉丹成只自然。一粒自從吞入口,始知世有活神仙。

悠悠覺萬有之空,似天雲變滅;了了見一真之體,如掌上圓珠。

(靈 丹入鼎圖)

(內附火侯)
原初那點精金渾然在礦,因火所逼,遂上乾宮,漸采漸積,以烹以熔,損之又損,煉 之又煉,直至煙消火滅,礦盡金純,方才成此一粒龍虎金丹。圓陀陀,活潑潑,如露如電,非霧非煙,輝煌閃爍,光耀崑崙。放則迸開天地竅,歸兮隱人翠微宮。

此時藥也不生,輪也不轉,液也不降,火也不炎。五氣皆朝於上陽,三華俱聚於乾頂。陽純陰剝,丹熟珠靈。

LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Du du giác vạn hữu chi không, tự thiên vân biến diệt
悠 悠 覺 萬 有 之 空 似 天 雲 變 滅
Liễu liễu kiến nhất chân chi thể, như chưởng thượng viên châu
了 了 見 一 真 之 體 如 掌 上 園 珠

Nhìn ra vạn hữu chính là không, y như mây trời tùy sinh diệt
Thấy được Chân Nhất chi thể, khác nào Hạt Châu nắm trong tay.

Toàn thốc Kiền Khôn tạo hóa lai 攢 簇 乾 坤 造 化 來
Thủ bác Nhật Nguyệt luyện thành khôi 手 博 日 月 煉 成 灰
Kim Công vô ngôn Xá Nữ tử 金 公 無 言 奼 女 子
Huỳnh Bà bất lão do hoài thai 黃 婆 不 老 猶 懷 胎

Hòa hợp Kiền Khôn Tạo Hóa lai
Nguyên Thần, Nguyên Khí luyện thành tro
Nguyên Khí chẳng còn, Nguyên Thần chết
Đan Điền bất lão kết Thánh Thai

Nhất lõa Kim Đơn hà hích xích, 一 颗 金 丹 何 赫 赤
Đại tự đạn hoàn, hoàng tự quất 大 似 彈 丸 黃 似 橘
Nhân nhân phân thượng bản viên minh 人 人 分 上 本 圓 明
Dạ dạ linh quang chiếu Thần Thất 夜 夜 靈 光 照 神 室

Một dạ Kim Đơn sắc đỏ hồng
To như viên đạn vàng như quất
Những kẻ có duyên thấy nó sáng
Đêm đêm chiếu rạng Thượng Đan Điền

Lưu Châu thước thước chiếu Côn Điên 流 珠 爍 爍 照 崑 巔
Cửu chuyển Đan thành chỉ tự nhiên 九 轉 丹 成 只 自 然
Nhất lạp tự tòng thôn nhập khẩu 一 粒 自 從 吞 入 口
Thủy tri thế hữu hoạt Thần Tiên 始 知 世 有 活 神 仙

Nguyên Thần rãi sáng Thượng Đan Điền
Cửu chuyển Đan thành thuận tự nhiên
Từ lúc nếm qua mùi vị Thuốc
Mới hay trần thế có Thần Tiên

———————

TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
ĐỆ LỤC TIẾT KHẨU QUYẾT
LINH ĐAN NHẬP ĐỈNH TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI

Nội phụ hỏa hầu

Nguyên sơ có một điểm Tinh Kim còn nằm trong khoáng, vì bị lửa bức bách, nên bay lên cung Kiền. Dần dần thái thủ, dần dần tích tụ, để nấu, để nung, luyện rồi lại luyện.

Cho đến khi khói tan, lửa tắt, khoáng tàn, kim thuần. Bấy giờ được một hạt Long Hổ Kim Đơn, tròn tròn, sáng rực rỡ, như sương, như điện, không phải sương mù, không phải khói, huy hoàng rực rỡ, chói lọi Côn Lôn. Phóng ra thì khai thông Thiên Địa huyệt, thu lại thì ẩn tại Thúy Vi Cung (Thượng Đan Điền)

Lúc này Dược không sinh, cũng chẳng chuyển, tán dịch không đi xuống, lửa chẳng bốc lên. Ngũ Khí đều chầu về Thượng Dương, Tam Hoa đều qui tụ về đỉnh đầu. Lúc ấy Âm tận, Dương thuần, Đơn thục, Châu Linh.

紫陽翁曰:

群陰剝盡丹成熟,跳出樊籠壽萬年。

是以唐宋屍解諸仙多於此處分路,隨意生身,出沒自由,不肯於百尺竿頭而再進一步。故有七趣之 譏,落空之誚。蓋為不知重立我之性命,再造我之乾坤,變種性為佛性,化識神為元神,自造自化之妙也。

若命宗人不知所以自為造化,就 是枯坐旁門,而道非其道也。若性宗人不知所以自為造化,就是頑空外道,而釋非其釋也。

此法乃仙真佛祖之所深秘,即自從金元以來而學 道之人少有知之者。獨吾師尹公曰:鼎中有寶非真寶,重結靈胎是聖胎。

然而珠在崑崙,何由得下而結聖胎?必假神廬,竊靈陽真氣以催 之。太陽真火以逼之,催逼既久,則靈丹應時脫落,吞入口中,化為金液,而直射於丹房之內,霎時雲騰雨施,電掣雷轟,鏖戰片餉之間,銷盡一身陰渣,則百靈如 輻之輳殼,七寶若水之朝宗,皆聚於此矣。

昔無上元君謂老子曰:

神丹入口壽無窮也。

故 老子修之是為道祖。

許宣平曰:

神居竅而千智生,丹入鼎而萬種化。

Tử Dương Ông viết:

Quần Âm bác tận, Đan thành thục 群 陰 剝 盡 丹 成 熟
Khiêu xuất phàn lung, thọ vạn niên 跳 出 樊 籠 壽 萬 年

Quần Âm tiêu tận, Đan thành thục
Chuồng lồng thoát khỏi, thọ muôn năm.

Cho nên Đường Tống chư tiên chủ trương thoát xác (Nguyên Thần xuất khiếu, bỏ lại nhục thể) có đường lối hẳn hoi, có thể tùy ý hóa thân, tự do xuất hiện tiêu thất, không cần phải “Bách xích can đầu tái tiến nhất bộ”.

Nhưng bị chê cười là “lạc không”, là hoang tưởng, vì họ không hiểu rằng ta phải tự tạo Tính Mệnh cho ta, tạo lại Kiền Khôn cho ta, biến hóa cái tính chúng sinh của chúng ta thành Phật tính, biến hóa Thức Thần chúng ta thành Nguyên Thần, biết cái nhiệm màu, cái cơ vi ảo diệu Tự Tạo Tự Hóa chúng ta.

Những người theo Mệnh Tông không biết cách trở thành Tạo Hóa của chính mình thì chỉ là những kẻ bàng môn, ngồi trơ như khúc gỗ, còn những người theo Tính Tông mà không biết trở thành Tạo Hóa của chính mình thì chỉ là những kẻ Ngoan Không, ngoại Đạo, Thích mà chẳng phải là Thích (Phật).

Phép này là phép bí truyền của Tiên Phật, từ đời Kim, Nguyên đến nay ít người biết đến, chỉ có thầy ta là Doãn Chân Nhân mới nói:

Đỉnh trung hữu bảo phi chân bảo 鼎 中 有 寶 非 真 寶
Trùng kết Linh Thai thị Thánh Thai 重 結 靈 胎 是 聖 胎

Đỉnh trung bảo bối, không là Chân Bảo
Luyện lại Linh Thai ấy Thánh Thai

Nhưng Châu ở Côn Lôn (đỉnh đầu) làm sao xuống dưới được để kết thành Thánh Thai? Nhất định phải nhờ mũi, rồi trộm Linh Dương Chân Khí để đẩy nó xuống. Dùng Thái Dương Chân Hỏa để ép nó xuống. Thúc ép lâu dần, Linh Đan sẽ chịu rơi xuống, sẽ chui xuống miệng, hóa thành Kim Dịch, trực xạ xuống Đan Điền.

Khoảnh khắc mây tuôn mưa rải, sấm chớp rền vang, đánh tan hết Âm Khí và Bách Linh sẽ qui tụ cả về, y thức như tai hoa xe đều gom về trục xe và thất bửu trong con người (tinh, huyết, khí, tủy, não, thận, tâm) cũng đều qui tụ nơi đó vậy.

Xưa kia đức Vô Thượng Nguyên Quân dạy Lão Tử:

Thần đan nhập khẩu, thọ vô cùng dã 神丹入口壽無穷野 (Thần đan lọt khẩu, sẽ thọ vô cùng).

Lão Tử tu luyện theo đó mà thành Đạo Tổ.

Hứa Tuyên Bình nói:

Thần cư khiếu nhi thiên trí sinh 神 居 竅 而 千 智 生
Đan nhập đỉnh nhi vạn chủng hóa 丹 入 鼎 而 萬 種 化

Thần cư khiếu nên vạn trí sinh
Đan nhập đỉnh nên muôn biến hóa.
陳虛白曰:

我初凝結聖胎時,百脈俱停氣不馳。

施肩吾曰:

天人同一氣,彼此感而通。

陽自空中 來,抱我主人翁。

然我既得靈丹入鼎矣,而內外交修,煉之而復煉之,而必至於天地合德,則太虛中自然有一點真陽以與我之靈丹合而為 一。蓋吾身之靈感天地之靈,則內真外應,渾然混合。

金碧經云:磁石吸鐵,隔礙潛通。大同此意。這段功夫全以至靜為主。

老子云:人能常清靜,天地悉皆歸。當其兩陽乍合,聖胎初凝,必須常常覺照,緊緊護持。如小龍之乍養珠,似幼女之初懷孕。牢關神室,不可使之滲漏。

故太白真人曰:固濟能不洩,變化在須臾。更於一切時中,四威儀內,時時照顧,唸唸在茲,混混沌沌,如在母胞,終日如愚而不違,不久須臾間斷也。

葛仙翁云:

息息歸中無間斷,天真胎裡自凝堅。

張用成云:

一粒靈丹吞入腹,始知我命 不由天。

石得之云:

將來掌上霞光燦,吞入腹中宮殿新。

Trần Hư Bạch nói:

Ngã sơ ngưng kết thánh thai thời 我 初 凝 結 聖 胎 時
Bách mạch câu đình, khí bất trì 百 脈 俱 停 氣 不 馳

Khi xưa ta thành được Thánh Thai
Bách mạch đều ngưng khí chẳng đi

Thi Kiên Ngô nói:

Thiên Nhân đồng nhất khí 天人同一氣
Bỉ thử cảm nhi thông 彼此感而通
Dương tự không trung lai 陽自空中來
Bão ngã chủ nhân Ông 抱我主人翁

Trời Người chung một khí
Hai bên Cảm sẽ Thông
Khí Dương từ Trời xuống
Với Nguyên Khí ta đồng.

Khi Linh Đơn trong ta đã nhập đỉnh, nếu ta biết nội ngoại giao tu, luyện đi luyện lại thì sẽ Thiên Địa hợp đức, và từ Thái Hư sẽ thấy một điểm Chân Dương xuống hợp nhất với Linh Đan trong ta. Bởi vì cái Linh trong ta cảm với cái Linh trong trời đất, trong ngoài sẽ ứng hợp với nhau và trở nên một.

Kim Bích Kinh viết:

Từ thạch hấp thiết, cách ngại tiềm thông 磁石吸鐵隔礙潛通 (Từ thạch hút sắt, thì không còn trở ngại gì).

Đoạn công phu này đều lấy Chí Tĩnh làm chủ. Lão Tử nói: Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên hạ tất giai qui 人能常清静天下悉皆歸 (Nếu con người luôn luôn thanh tĩnh, thì thiên hạ sẽ qui về).

Khi mà hai Dương trong ngoài kết hợp, khi Thánh Thai vừa kết, thì phải thường thường quan tâm, cẩn cẩn hộ trì, như rồng con dưỡng ngọc, như thiếu nữ mới có thai, phải đóng chặt Đan Điền, không được cho nó thấm lậu ra ngoài. Cho nên, Thái Bạch chân nhân nói: Cố tế thai bất tiết, Biến hóa tại tu du 固濟胎不泄變化在須臾 (Giữ gìn cho cẩn trọng, Thánh Thai không khinh tiết. Biến hóa xảy ra ngay).

Lại trong mọi thời khắc, phải cẩn thận đi, đứng, nằm, ngồi, lúc nào cũng lưu tâm chú ý như vậy, như tại mẫu thai, phải như si ngốc không biến cải, không được gián đoạn khi nào.

Cát Tiên Ông nói:

Tức tức qui trung vô gián đoạn
息 息 歸 中 無 間 斷
Thiên Chân thai lý tự ngưng kiên
天 真 胎 里 自 凝 坚

Hít thở từng giây không gián đoạn
Tiên Thiên Thai Lý sẽ chắc bền

Trương Dụng Thành nói:

Nhất lạp Linh Đơn thôn nhập phúc 一 粒 靈 丹 吞 入 腹
Thủy tri Ngã mệnh bất do Thiên 始 知 我 命 不 由 天

Nuốt được Linh Đơn vào trong dạ
Mới hay Ngã Mệnh chẳng tại trời

Thạch Đắc Chi nói:

Tương lai chưởng thượng hà quang xán 將來掌上瘕光燦
Thôn nhập phúc trung cung điện tân 吞入腹中宮殿新

Kim đơn xán lạn trong tay có
Nuốt vào trong dạ ngũ tạng thay

趙緣督云:

神丹飛落黃金室,嬰兒降生極樂國。

呂純陽云:

刀主餌了丹書降,跳出塵籠上九天。

朱 文公云:

刀圭一入口,白日生羽翰。

李清庵云:

一顆寶珠吞入腹,作個全真仙眷屬。

陳希夷云:

邈無蹤跡歸丹房,潛有機關結聖胎。

薛紫賢云:

四象包含歸戊己,辛勤十月 產嬰孩。

悟真篇云:

果生枝上終期熟,子在胞中豈有殊。

醉中吟云:

寶珠笑舞辭天谷,才脫胞胎又入胎。

張紫陽云:

嬰兒是一含真氣,十月胎圓入聖基。

Triệu Duyên Đốc nói:

Thần đan phi lạc Huỳnh Kim Thất 神 丹 飛 落 黃 金 室
Anh Nhi giáng sinh Cực Lạc Quốc 嬰 兒 降 生 極 樂 國

Nội đan phi giáng Thượng Đan Điền
Anh Nhi sinh tại Hạ Đan Điền

Lữ Thuần Dương nói:

Đao khuê nhĩ liễu Đan Thư giáng 刀圭饵了丹書降
Khiêu xuất trần lung thượng Cửu Thiên 跳出塵籠上九天

Đao Khuê bụng đã nuốt vào
Bẫy trần đà thoát, bay vào Cửu Thiên

Chu Văn Công viết:

Đao khuê nhất nhập khẩu 刀 圭 一 入 口
Bạch nhật sinh vũ hàn 白 日 生 羽 翰

Đao Khuê miệng đã nuốt vào
Người như mọc cách bay cao lên Trời

Lý Thanh Am nói:

Nhất lõa bảo châu thôn nhập phúc 一 颗 寶 珠 吞 入 腹
Tác cá toàn chân tiên quyến thuộc 作 個 全 真 仙 眷 屬

Một hạt minh châu đã nuốt vào
Quyến thuộc với Tiên tự thủa nào

Trần Hi Di nói:

Mạc vô tông tích qui đan quýnh 邈 無 蹤 跡 歸 丹 局
Tiềm hữu cơ quan kết thánh thai 潛 有 機 關 結 聖 胎

Tung tích Kim Đan lọt quýnh phòng
Ắt có cơ quan giúp thành Đan

Tiết Tử Hiền nói:

Tứ Tượng bao hàm qui Mậu Kỷ 四 象 包 含 歸 戊 己
Tân cần thập nguyệt sản Anh Nhi 辛 勤 十 月 產 嬰 兒

Tứ tượng bao hàm qui Mậu Kỷ
Mười tháng cưu mang sinh Thánh Thai

Ngộ Châu Thiên viết:

Quả sinh chi thượng chung kỳ thục 果 生 枝 上 終 期 熟
Tử tại bào trung khởi hữu thù? 子 在 胞 中 豈 有 殊

Quả ở trên cành rồi cũng chín
Thai nhi trong bụng có khác chi?

Túy Trung Ngâm viết:

Bảo châu tiếu vũ từ Thiên Cốc 寶 珠 笑 舞 辭 天 谷
Tài thoát bào thai hựu nhập thai 才 脫 胞 胎 又 入 胎

Bảo châu múa nhảy từ Thiên Cốc
Vừa thoát Bào Thai lại nhập thai

Trương Tử Dương nói:

Anh Nhi thị Nhất hàm chân khí 嬰 兒 是 一 含 真 氣
Thập nguyệt thai viên nhập thánh ki 十 月 胎 圆 入 聖 基

Anh Nhi là Nhất hàm chân khí
Kinh qua mười tháng thành Thánh Thai
呂 純陽云:

天生一物變三才,交感陰陽結聖胎。

白玉蟾云:

雞能抱卵心常聽,蟬到成形殼始 分。

俞石澗云:

虎嘯一聲龍出窟,鸞飛鳳舞入金城。

群仙珠玉云:

一粒餐兮天地壽,死生生死不相干。

張紫陽云:

相吞相咽卻相親,始覺男兒有孕身。

鐘 離翁云:

胎內嬰兒就,勤加溫養功。時時照丹房,刻刻守黃中。

陳泥丸云:

男兒懷孕是胎 仙,只為蟾光夜夜圓。奪得天機真造化,身中自有玉清天。

陳抱一云:

大道無私感即來,神仙此語豈虛哉。苟非著 意求鉛汞,爭悟天機結聖胎。

玄奧集云:

閬苑蟠桃自熟時,摘來服餌莫教遲。幾回下手潛偷處,無限神仙總不知。

龍眉子云:

形如雀卵團團大,間似驪珠珠珠圓。龍子脫胎吞入口,此身已證陸行仙。

紫虛 真人云:

初煉還丹須入室,婦人懷孕更無殊。聖胎凝結圓成後,出入行藏豈有拘。

Lữ Thuần Dương nói:

Thiên sinh Nhất Vật biến Tam Tài 天生一物变三才
Giao cảm Âm Dương kết Thánh Thai 交感陰陽結聖胎

Trời sinh một vật biến Tam Tài (Tinh Khí Thần)
Giao cảm Âm Dương kết Thánh Thai

Bạch Ngọc Thiềm nói:

Kê năng bão noãn tâm thường thính 雞能抱卵心常聽
Thiền đáo thành hình, xác thủy phân 蟬到成形殼始分

Gà kia ấp trứng tâm thường thính
Ve lúc thành hình, thoát xác ve

Du Thạch Giản nói:

Hổ khiếu nhất thanh, Long xuất quật 虎嘯一聲龍出窟
Loan phi, Phượng vũ nhập Kim Thành 鸞飛鳳舞入金城

Hổ gầm một tiếng, Rồng rời ổ
Loan Phi, Phượng Vũ nhập Đan Điền

Quần Tiên Châu Ngọc viết:

Nhất lạp xan hề Thiên Địa thọ 一粒餐兮天地壽
Tử sinh, sinh tử bất tương can 死生生死不相干

Nuốt hạt kim đan thọ vô cùng
Từ nay sinh tử đã thoát vòng

Trương Tử Dương nói:

Tương thôn, tương tước khước tương thân 相吞相嚼卻相親
Thủy giác nam nhi hữu dựng 始覺男兒有孕

Thần Thủy nuốt vào, Thần Khí giao hợp
Mới hay Nam Tử cũng hoài thai

Chung Ly Ông nói:

Thai nội Anh Nhi tựu 胎 內 嬰 兒 就
Cần gia ôn dưỡng công 勤 加 溫 養 功
Thời thời chiếu Đan Quýnh 時 時 照 丹 局
Khắc khắc thủ Hoàng Trung 刻 刻 守 黃 中

Thai nội Anh Nhi đà lớn mạnh
Công phu ôn dưỡng phải gia tăng
Thời thời soi rọi vào Đan Quýnh
Khắc khắc lưu ý tới Hoàng Trung

Trần Nê Hoàn nói:

Nam nhi hoài dựng thị thai tiên 男兒懷孕是胎仙
Chỉ vị Thiềm Quang dạ dạ viên 仙為蟾光夜夜圓
Đoạt đắc Thiên Cơ chân tạo hóa 奪得天機真造化
Thân trung tự hữu Ngọc Thanh Thiên 身中自有玉清天

Nam giới hoài thai chính thai tiên
Như ánh trăng trong chiếu ban đêm
Đoạt được Thiên Cơ chân Tạo Hóa
Trong người sẽ có Ngọc Thanh Thiên

Trần Bão Nhất nói:

Đại Đạo vô tư cảm tức lai 大 道 無 私 感 即 來
Thần tiên thử ngữ khởi hư tai? 神 仙 此 語 豈 虛 哉
Cẩu phi trước ý cầu diên hống 苟 非 著 意 求 鉛 汞
Tranh ngộ Thiên Cơ kết thánh thai? 爭 悟 天 機 結 聖 胎

Đại Đạo vô tư cảm tức lai
Thần tiên nói thế há sai lời?
Nếu không nhất ý cầu Diên Hống,
Sao đoạt Thiên Cơ kết Thánh Thai

Huyền Áo tập nói:

Lãng Uyển, Bàn Đào tự thục thời 閬 苑 蟠 桃 自 熟 時
Trích lai phục nhĩ mạc giao trì 摘 來 服 餌 莫 敎 遲
Kỷ hồi hạ thủ tiềm thâu xứ 幾 回 下 手 潛 偷 處
Vô hạn thần tiên tổng bất tri 無 限 神 仙 總 不 知

Bàn đào thượng uyển đã chín rồi
Vội vàng hái xuống hãy ăn ngay
Thiếu gì kẻ trộm ra tay hái
Cả đến thượng tiên chẳng biết gì

Long Mi Tử nói:

Hình như tước noãn đoàn đoàn đại 形 如 雀 卵 團 團 大
Gian tự ly châu, lõa lõa viên 間 自 驪 珠 颗 颗 圓
Long tử thoát thai thôn nhập khẩu 龍 子 脫 胎 吞 入 口
Thử thân dĩ chứng Lục Hành Tiên 此 身 以 證 陸 行 仙

Tròn tròn to tựa trái trứng chim
Ấy chính Ly châu cũng tròn xem
Long nhi vừa nở, nuốt vào bụng
Sẽ nhận ra mình chính Đại Tiên

Tử Hư Chân Nhân nói:

Sơ luyện hoàn đơn tu nhập thất 初煉還丹須入室
Phụ nhân hoài dựng cánh vô châu 婦人懷孕更無珠
Thánh Thai ngưng kết viên thành hậu 聖胎凝結圓成後
Xuất nhập hành tàng khởi hữu câu? 出入行藏豈有拘

Mới luyện hoàn đơn cần nhập thất
Phụ Nhân thai nghén khác chi đâu?
Thánh Thai khi đã viên thành thục
Xuất xứ hành tàng ai cản đâu?
白紫清云:

和將戊己作丹妒,煉得紅丸化玉酥。慢守火符三百日,產成一顆夜明珠。

張真人贈白龍洞主歌云:

從此根苗漸長 成,隨時灌溉抱真精。十月脫胎存入口,不覺凡身已有靈。

白玉蟾云:

怪事教人笑幾回,男兒今也會懷胎。自家精 血自交媾,身裡夫妻是妙哉。

黃元吉云:

鼎內金丹燦爛光,無由摘爾到黃房。忽然夜半天風便,吹送靈兒歸故鄉。

陳翠虛云:

道要無中養就兒,個中別有真端的。都緣簡易妙天機,散在丹書不肯洩。

王重 陽云:

閒中偶爾到天台。忽見霞光五色開。想是金丹初變化,取歸鼎內結嬰孩。

上陽子云:

玉皇若也問丹材,偃月爐中取下來。馳騁英雄吞一粒,男兒懷了一年胎。

陳致虛云:

饑餐渴飲困來眠,一道分明 體自然。十月聖胎完就了,一聲霹靂出丹山。

Bạch Tử Thanh viết:

Hòa tương Mậu Kỷ tác đan lô 和 將 戊 己 作 丹 爐
Luyện đắc hồng hoàn hóa ngọc tô, 炼 得 紅 丸 化 玉 穌
Mạn thủ hỏa phù tam bách nhật 慢 守 火 浮 三 百 日
Sản thành nhất lõa dạ minh châu 產 成 一 颗 夜 明 珠

Mậu Kỷ hòa hài tác Đan Lô
Hồng Hoàn luyện dược hóa Ngọc Tô
Ba trăm ngày giữ được hỏa phù
Sinh ra một hạt dạ minh châu

Trương Chân Nhân (Tặng Bạch Long Duyên Chủ ca) nói:
Tùng thử căn miêu tiệm trưởng thành 從此根苗漸長成
Tùy thời quán khái bão Chân Tinh 隨時灌溉抱真精
Thập nguyệt thoát thai thôn nhập khẩu 十月脫胎吞入口
Bất giác phàm thân dĩ hữu linh 不覺凡身已右靈

Từ đấy căn miêu cứ lớn dần
Tùy thời tưới tắm giữ chân tinh
Mười tháng linh đơn cho vào bụng
Tự thấy toàn thân hóa thành Linh.

Bạch Ngọc Thiềm nói:

Quái sự khiếu nhân tiếu kỷ hồi 怪 事 叫 人 笑 幾 回
Nam nhi kim dã hội hoài thai 男 兒 今 也 會 懷 胎
Tự gia tinh huyết tự giao cấu 自 家 精 血 自 交 媾
Thân lý phu thê thị hảo tai 身 里 夫 妻 是 好 哉

Sự lạ khiến người cười mấy trận
Nam nhi nay cũng đã mang thai
Tinh huyết hợp hoan trong mình sẵn
Lại sẵn phu thê chuyện mới kỳ

Huỳnh Nguyên Kiết nói:

Đỉnh nội Kim Đơn xán lạn quang 鼎 內 金 丹 燦 爛 光
Vô do trích nhĩ đáo huỳnh phòng 無 由 摘 爾 到 黃 房
Hốt nhiên dạ bán thiên phong tiện 忽 然 夜 半 天 風 便
Xuy tống Linh Nhi qui cố hương 吹 送 靈 兒 歸 故 鄉

Đỉnh nội Kim Đơn phóng thần quang
Không người đưa nó tới Huỳnh phòng
Gió đâu một trận giữa đêm thổi
Đem được Linh Nhi tới cố hương

Trần Túy Hư nói:

Đạo yếu vô trung dưỡng tựu nhi 道 要 無 中 養 就 兒
Cá trung biệt hữu Chân Đoan Đích 個 中 別 有 真 端 的
Đô duyên giản dị diệu Thiên Cơ 都 緣 簡 易 妙 天 機
Tán tại Đan Thư bất khẳng tiết 散 在 丹 書 不 肯 绁

Đạo tự Vô trung dưỡng thánh thai
Kỳ trung đã hẳn có đầu đuôi
Lẽ Trời giản dị nào ai biết
Chính tại Đan Thư chẳng lộ lời

Vương Trùng Dương nói:

Nhàn trung ngẫu nhĩ đáo Thiên Thai 閑 中 偶 爾 到 天 台
Hốt kiến hà quang ngũ sắc khai 忽 見 霞 光 五 色 開
Tưởng thị Kim Đơn sơ biến hóa, 想 是 金 丹 初 變 化
Thủ qui đỉnh nội kết anh nhi 取 歸 鼎 內 結 嬰 兒

Thư nhàn bất chợt tới Thiên Thai
Bỗng thấy mây trời năm sắc hiện
Tưởng rằng Kim Dịch vừa biến hóa
Thu về Kim Đỉnh kết thánh thai

Thượng Dương Tử nói:

Ngọc Hoàng nhược dã vấn đơn tài 玉 皇 若 也 問 丹 材
Yển Nguyệt lô trung, thủ hạ lai 偃 月 爐 中 取 下 來
Trì sính anh hùng thôn nhất lạp 馳 騁 英 雄 吞 一 粒
Nam nhi hoài liễu nhất niên thai 男 兒 懷 了 一 年 胎

Trời rằng Dược vật lấy từ đâu?
Thưa rằng đã lấy tự Linh Đài (Đan Điền)
Anh hùng rong ruổi nuốt một hạt
Trần Chí Hư nói:

Cơ xan, khát ẩm, khốn lai miên 飢飱渴飲困来眠
Đại đạo phân minh thể tự nhiên 大道分明體自然
Thập nguyệt Thánh Thai hoàn tựu liễu 十月聖胎完就了
Nhất thanh tích lịch xuất Đan Điền 一聲霹靂出丹田

Đói ăn, khát uống, mệt ngủ quên
Đại đạo chẳng qua giống tự nhiên
Mười tháng thánh thai đà thành tựu
Một tiếng sấm vang, xuất Đan Điền
至於釋教教人亦不外此。如楞嚴經曰:行如佛同受佛氣,分如中陰身自求。父母陰信 冥通入,如來種名生貴住。既游道胎,親奉覺乳,如胎已成人相。

不缺名方,便具足住。容貌如佛,心相亦同。

名正心住,身心合成,日益增長,名不退住,十身靈 相,一時具足,名童真住。

形成出胎,親為佛子,名法王子住。表以成人,如國大王,以諸國事分委太子,彼剎利王。

世子長成,陳列灌頂,名灌頂住。夫入如來種 者,以種性而為如來之種子,以自造化如來也。

故曰道胎,又曰覺乳,其與婦人之乳兒,玄門之胎仙,亦何以異?及至形成出貽,親為佛子,豈不是真人出現,大神 通從此,天仙可相賀耶?

蓋丹書梵典,皆有次序口訣,但人不知。而驀直看過去了正,是珠在路旁人不拾。惜哉!予今略摘此數條表而出 之,以引古之是而證今之非也。

Ngay Đạo Phật dạy người cũng không ngoài pháp này.

Như kinh Lăng Nghiêm viết:

“Hành động giống như Phật, lại tiếp thụ được khí chất của Phật, ví như thai nhi, tự nhiên sinh ra do phụ mẫu, sinh mệnh tương thông với cha mẹ và trở nên con cái Phật, nên gọi là Sinh Quí. Thai Nhi vào được Phật đạo, nghĩa là khi con người đã giác ngộ, thì cũng như thai nhi đã trưởng thành, đã đủ hết tướng người, nên gọi là Phương Tiện Cụ Túc.

Dung mạo y như Phật, cả tâm tướng cũng vậy, nên gọi là Chính Tâm. Khi Thân và Tâm đều đã trưởng thành, một ngày một lớn thì gọi là Bất Thoái, có đủ Thập Thân, Linh Tướng. Khi mọi sự đã đầy đủ thì gọi là Chủng Chân.

Hình Thể đã trưởng thành mà ra khỏi bào thai thì gọi là Phật Tử hay Pháp Vương Tử. Hình mạo, cử động đều đã như người. Y như một vị quốc vương, lo mọi chuyện quốc gia đại sự, rồi truyền cho Thái Tử. Thế tử của Sát Lợi Vương ấy nay đã trưởng thành, cùng với các bạn đồng môn, làm lễ Quán Đỉnh, nhập vào Phật môn gọi là Quán Đỉnh.

Gọi là có giống Như Lai, nghĩa là biết biến đổi cái Tiên Thiên chủng Tánh của mình thành Như Lai chúng tử, biến hóa cái Tự Kỷ sáng tạo của mình thành Phật Tử nên gọi là Đạo Thai, là Giác Dân, như vậy cũng giống như người đàn bà mang thai.

Đạo gia gọi là Thai Tiên có gì khác đâu? Đợi cho đến khi hình thể trưởng thành, ra khỏi bào thai gọi là Phật Tử.”

Cái đó có khác gì:

Chân nhân xuất hiện đại Thần Thông, tòng thử Thiên Tiên khả tương hạ
真人出現大神通從此天仙可相賀

Chân Tiên hiển lộ đại thần thông, từ đó có thể cùng chư tiên chúc tụng lẫn nhau.

Sách Đan thư hay Phật điển đều có thứ tự khẩu quyết, nhưng con người nào có hay, như vừa nhìn đã bỏ qua, y như gặp châu ngọc bên đường mà người không lượm, thật đáng tiếc.

Ta nay lược dẫn ít đoạn kinh sách, nói lại cho rõ ràng, đem Chân Lý của người xưa để chỉ chỗ lầm lẫn của người nay.
火候
<火侯崇正 圖>
元始天尊霜,太上老君櫻。
余爐煉就長生藥,金鼎燒成不死丹。
真橐籥,真鼎爐,無中有,有中無;火候足,莫傷丹,天地靈,造化慳。
從來真火本天然,何事迷徒妄指傳。若將方木投圓竅,丑姥爭教得少年。
玉爐靄靄騰雲氣,金鼎濛濛長紫芝。神水時時勤溉灌,留連毋使火龍飛。
氣論經歌講至真,不將火候著於文。要知口訣通玄處,須共神仙仔細論。
神仙不作《參同契》,火後功夫那得知!千載晦翁拈一語,可憐無及魏君時。
有象有爻皆是妄,無盈無昃亦成空。試且為君通一綫,看看日出嶺東紅。

(火 候崇正圖)
故參同契曰:候視加 謹慎,審察辨寒溫。審其火之未燃也,須藉巽風以吹之。察其火之既燃也,須資神水以活之。若太過,則損之;若不及,則益之,俾得中和而無火燥、火寒之病矣。

蓋火之寒燥,全在意念上發端。

陳虛白曰:念不可起,念起則火燥;意不可散,意散則火冷。唯只要一念不起,一 意不散,含光默然,真息綿綿,圓明覺照,常自惺惺,此長養聖胎之真火候也。

故白玉蟾曰:

採藥物於不動之中, 行火候於無為之內。

張三峰曰:

以默以柔存火性,勿忘勿助養靈胎。

劉海蟾曰:

兀兀無為融至寶,微微文文養潛龍。

張紫陽曰:

自有天然真火育,不須柴炭及吹噓。

又 曰:

謾守藥爐著火候,但安神息任天然。

此四翁乃列仙中之錚錚者,皆以天然真火、自然妙用而成無上至真之道。 又何嘗用卦爻斤兩,年月日時哉?

今時之人,錯會仙師本意,泥像執文,認指為月,而必欲推算卦體之策數,求合卦書之陰陽。吾恐終身役 役,而不見其成功,倏然疲斃,而不知其歸處。

豈不見張平敘云:

此中得意須忘象,若究群爻謾役情。

高象先云:

晝夜屯蒙法自然,焉用孜孜看火侯。

陳沖素云:

火雖有侯不須時,些子機關 我自知。

彭真一云:

從來真火無形象,不得師傳亦大難。

蕭子虛云:

藥物調和,悟者甚易。火候消息,行之恐難。

一十月功夫存杳杳綿綿之息,三萬年氣數在來來往往之間。所以養丹田之寶,此寶常在在丹 鼎之珠。此珠復還,駕動河車。離塵世尾閭之海,移居天谷上崑崙蓬島之山。前數句謂成丹之時脫胎而入日,末一句謂功成之後脫胎而出殼,中間兩句謂溫養子珠, 長養聖胎。

張三峰曰:

年月日時空有著,卦爻斤兩亦支離。若存會得綿綿意,正是勿忘勿助時。

白紫清曰:流俗淺識。未學凡夫豈知元始天尊與天仙地仙,日日採藥物而不停,藥物愈采而無窮也。又豈知山河大地與蠢動含靈,時時行火候而無暫助,火候愈行 而不歇也。神凝則精氣聚而百寶結者,結胎之藥物也。真息往來而未嘗少有間斷者,溫養之火候也。

陳虛白曰:火候之要,尤當以真息求 之。

丘長春曰:一念不離方寸是真空。此養胎之真火也。夫真火者,我之神也,而與天地之神、虛空之神同其神也。真候者,我之息也,而 與天地之息、虛空之息同其息也。

左元放曰:

火候無為合自然,自然真火養胎仙。但存神息居丹扃,調變先天接後 天。

王重陽曰:

聖胎既凝,養以文火。安神定息,任其自如。

此以神感,彼以神應。天機 妙用,自然而然。

予於是而知神息者,火候也。而孟子之所謂勿忘勿助、老氏之所謂綿綿若存、釋氏之所謂不得勤不得怠者,是皆神息之自 然火候之微旨也。

故曰:

神仙不肯分明說,說得分明笑殺人。

HỎA HẦU SÙNG CHÍNH ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

***

Tòng lai Chân Hỏa bản Thiên Nhiên 從 來 真 火 本 天 然
Hà sự mê đồ vọng chỉ truyền 何 事 迷 途 妄 指 傳
Nhược tương phương mộc đầu viên khiếu 若 將 方 木 投 圓 竅
Xú lão tranh giáo đắc thiếu niên 醜 老 爭 教 得 少 年

Chân Hỏa xưa nay vốn tự nhiên
Bị bọn ngu si loạn chỉ truyền
Đem được Chân Dương về Đan Đỉnh
Rồi ra bà lão biến thiếu niên
Ngọc lô yết yết đằng vân khí 玉 爐 霭 霭 騰 雲 氣
Kim Đỉnh mông mông trưởng Tử Chi 金 鼎 朦 朦 長 紫 芝
Thần thủy thời thời cần khái quán 神 水 時 時 勤 慨 灌
Lưu Liên mẫu sử Hỏa Long phi 留 連 母 使 火 龍 飛

Ngọc Lô (Đan Điền), mây khói tỏa mù khơi
Kim đỉnh mơ màng mọc Tử Chi (Nội Đơn)
Thần thủy nếu hay năng tưới tắm
Nguyên Thần sớm muộn cũng cao phi.
Khế luận, kinh ca giảng Chí Nhân 契 論 經 歌 講 至 人
Bất tương Hỏa Hậu trước ư văn 不 將 火 候 著 於 文
Yếu tri khẩu quyết thông huyền xứ 要 知 口 訣 通 玄 處
Tu cộng Thần Tiên tử tế luân 須 共 神 仙 仔 細 论

Kinh sách xưa nay giảng Lý Chân
Không đem Hỏa Hậu viết thành văn
Nhưng mà khẩu quyết bàn chuyện đó
Hãy gặp Chân Tiên để luận bàn
Chân thác thược 真 橐 籥
Chân đỉnh lô 真 鼎 爐
Vô trung hữu 無 中 有
Hữu trung vô 有 中 無
Nguyên Thủy Thiên Tôn sương 元 始 天 尊 霜
Thái Thượng Lão Quân anh 太 上 老 君 櫻
Hỏa hầu túc 火 候 足
Mạc thương đơn 莫 傷 丹
Thiên Địa Linh 天 地 靈
Tạo hóa kiên 造 化 悭

Chân thác thược
Chân đỉnh Lô
Vô trung Hữu
Hữu trung Vô
Sương của Nguyên Thủy Thiên Tôn (Nội Đan)
Anh Đào của Thái Thượng Lão Quân
Hỏa hầu không được thiếu
Nhưng không được hại Đan
Điều Linh diệu Tạo Hóa
Trời ban rất sẻn so.

Thần tiên bất tác Tham Đồng Khế 神 仙 不 作 參 同 契
Hỏa hậu công phu na đắc tri? 火 候 功 夫 那 得 知
Thiên tải Hối Ông niêm nhất ngữ 千 載 晦 翁 拈 一 語
Khả lân vô cập Nguỵ Quân thì 可 燐 無 及 魏 君 時
Ngọc Lô luyện tựu Trường Sinh Dược 玉 爐 煉 就 長 生 藥
Kim Đỉnh thiêu thành Bất Tử Đan 金 鼎 燒 成 不 死 丹
Hữu tượng, hữu hào bất thị vọng 有 象 有 爻 不 是 妄
Vô doanh vô trắc diệc thành không 無 盈 無 仄 亦 成 空
Thí thả vi quân thông nhất tuyến 試 且 為 君 通 一 線
Khan khan nhật xuất lĩnh đông hồng 看 看 日 出 嶺 東 紅

Thần tiên không soạn Tham Đồng Khế
Nhân loại làm sao biết Hỏa Hầu?
Nghìn năm sau, Hối Ông cũng bàn truyện đó
Nhưng tiếc không bằng Ngụy Bá Dương
Đan Điền chế được Trường Sinh Dược
Nê Hoàn thiêu xuất Bất Tử Đan
Có đủ tượng hào không giả dối
Không khuyết, không tròn ắt là Không
Đạo lý Hỏa Hầu xin chỉ lối
Hãy nhìn đỉnh núi một vừng hồng.
HỎA HẦU
Hỏa hầu là điều bí mật, thánh nhân không truyền nay xin nói lộ ra.

Thuốc không có lửa, không sinh. Thuốc chín, lửa sẽ hết. Lửa không thuốc sẽ không sinh. Lửa mà đủ, đan sẽ thành. Vả cái kỳ bí của lửa, không thể nhất khái nói xong.

Khi chưa được đơn thì phải dùng Vũ Hỏa mà ngưng kết. Khi đã được đơn, thì phải dùng Văn Hỏa mà nuôi dưỡng. Văn Hỏa là lửa Kết Bửu (Kết Bửu: kết đan). Cách dưỡng nó thì phải biết tiết chế nó bằng Hàn Ôn, Tiêu Tức vậy.
Tham Đồng Khế nói: Hầu thị gia cẩn thận, thẩm sát biện hàn ôn 候視加謹慎,審察辨寒溫

Thấy lửa cháy, phải dùng gió Tốn (Tốn – gió) thổi vào. Thấy lửa đã cháy, phải dùng Thần Hỏa làm cho nó đượm. Lửa quá mạnh, sẽ giảm đi; lửa không đủ, sẽ tăng lên. Làm sao cho trung hòa, không bị Hỏa Táo hay Hỏa Hàn vậy.

Vả lửa mạnh hay yếu là do ý niệm mà ra.

Cho nên, Trần Hư Bạch nói:

Niệm bất khả khởi, niệm khởi tắc hỏa táo 念不可起念起則火燥
Ý bất khả tán, ý tán tắc hỏa lãnh 意不可散意散則火冷

Vọng niệm không nên khởi, Niệm khởi lửa bốc to
Ý không nên phân tán, Ý tán lửa sẽ yếu

Chỉ cần một niệm không sinh, một ý không tán, thu liễm mục quang, trầm tĩnh tự nhiên, chân tức điều hòa liên tục, lúc nào cũng tỉnh thức, đó là Chân Hỏa hầu để trường dưỡng thánh thai

Cho nên Bạch Ngọc Thiềm nói:

Thái Dược Vật vu bất động chi trung 采 藥 物 于 不 動 之 中
Hành Hỏa Hầu vu Vô Vi chi nội 行 火 候 于 無 為 之 內

Hái thuốc là khi an tĩnh nhất,
Hành Hỏa Hầu chỉ cốt thật tự nhiên

Trương Tam Phong nói:

Dĩ mặc, dĩ nhu tồn Hỏa Tính 以 默 以 柔 存 火 性
Vật vong vật trợ dưỡng Linh Thai 勿 忘 勿 助 養 靈 胎

Yên lặng, nhu hòa gìn giữ lửa
Vật vong, vật trợ dưỡng Linh Thai

Lưu Hải Thiềm nói:

Ngột ngột Vô Vi dung chí bảo 兀 兀 無 為 融 至 寶
Vi vi Văn Hỏa dưỡng Tiềm Long 微 為 文 火 養 潛 龍

Tĩnh tĩnh Vô Vi dung dưỡng Nội Đan
Lửa Văn nhè nhẹ nuôi Rồng nhỏ

Trương Tử Dương nói:

Tự hữu Thiên Nhiên chân hỏa dục 自 有 天 然 真 火 育
Bất tu sài thán cập xuy hư 不 須 柴 炭 及 吹 噓

Đã sẵn Thiên Nhiên Chân Hỏa ấy
Khỏi cần than củi, khỏi cần thổi gió

Lại thêm:

Mạn thủ dược lô, khán hỏa hầu 慢 守 藥 爐 看 火 候
Đãn an Thần Tức nhiệm thiên nhiên 但 安 神 息 任 天 然

Khỏi cần Dược Đỉnh với Hỏa Hầu
Chỉ cần Thần Tức hợp Thiên Nhiên

Bốn vị Cao Tiên trên đây đều dùng cái diệu dụng của Thiên Nhiên Chân Hỏa mà thành Đạo Vô Thượng Chí Tôn chứ đâu phải dùng quái hào, cân lượng, năm, tháng, ngày, giờ đâu?

Người bây giờ, hiểu sai Chân Ý của Tiên Sư, nên nệ tượng, chấp văn, nhận ngón tay làm mặt trăng, chỉ muốn suy đoán hào quái bằng cỏ thi, chỉ muốn tính âm dương cho phù hợp với nét quẻ, ta chỉ sợ những người như vậy, sẽ chung thân vất vả mà chẳng nên công trạng gì. Đến chết cũng chẳng biết đâu là Chân Lý.

Chính vì thế mà Trương Bình Thúc mới nói:

Thử trung đắc ý tu vong tượng 此 中 得 意 須 忘 象
Nhược cứu quần hào, mạn dịch tình 若 究 群 爻 慢 役 情

Ý khi đã hiểu cần quên tượng
Muốn khảo quái hào chớ bận tâm

Cao Thượng Tiên nói:

Trú dạ Truân Mông pháp tự nhiên 晝 夜 屯 蒙 法 自 然
Yên dụng tư tư khan hỏa hậu 焉 用 孜 孜 看 火 候

Sáng tối Truân Mông pháp tự nhiên
Cần chi vất vả ngó hỏa hầu.

Trần Trọng Tố nói:

Hỏa tuy hữu hậu, hữu tu thời, 火 雖 有 候 有 須 時
Ta tử cơ quan ngã tự tri 些 子 機 關 我 自 知

Lửa tuy hơn kém có khác nhau
Về vấn đề này ta tự biết

Bàng Chân Nhất nói:

Dược vật điều hòa 藥 勿 調 和
Ngộ giả thậm dị 悟 者 甚 易
Hỏa Hầu tiêu tức 火 候 消 息
Hành chi khủng nan 行 之 恐 難

Dược vật điều hòa
Biết ra cũng dễ
Hỏa hậu mối manh
Thực hành rất khó.

Thập nguyệt công phu, bí quyết là do biết nhớ hẳn hoi, vạn niên khí số, bí quyết là sự vãng lai (ý nói Nội Khí tuần hoàn là do Nội Đơn lên xuống)

Muốn dưỡng Bửu Châu của Đan Điền, thì Bửu Châu đó thường tại. Muốn đoạt Bửu Châu của Thượng Đan Điền thì Bửu Châu đó lại hoàn phục. Vận chuyển Hà Xa, từ Vĩ Lư lên tới Thiến Cốc, lên đến Côn Lôn, Bồng Đảo.

Mấy câu đầu là nói chuyện lúc luyện đan, lúc đan thoát thai nhập khẩu. Mấy câu sau nói về luyện đơn khi đã thành, thoát thai, xuất xác. Mấy câu thơ giữa bàn về ôn dưỡng Bửu Châu, Trường dưỡng Thánh Thai.

Trương Tam Phong nói:

Niên, nguyệt, nhật thời không hữu chước 年月日時空有著
Quải, Hào, Cân, Lượng diệc chi li 卦爻斤兩亦支離
Nhược tồn hội đắc miên miên ý 若存會得綿綿意
Chính thị vật vong vật trợ thì 正是勿忘勿助時

Niên, Nguyệt, Nhật, Thời xá kể chi
Quải, Hào, Phân, Lượng cũng bỏ đi
Chỉ cần biết thở cho đúng đắn
Lại biết Không Quên, Không Giúp chi.

Bạch Tử Thanh nói:-

Lưu tục, thiển thức, chưa học luyện Đơn thì làm sao biết rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn và các vị Thiên Tiên, Địa Tiên tháng ngày đều hái thuốc không ngừng. Thuốc càng hái càng trở nên vô cùng. Lại há không biết rằng núi non, đất nước, người vật cũng luôn luôn hành hỏa hầu, không bao giờ ngừng, mà Hỏa càng vận thì càng không ngừng nghỉ. Thần mà ngưng thì tinh khí sẽ kết tụ và chân bửu cũng ngưng kết. Chân Tức vãng lai không hề gián đoạn thì đó là Hoả Hầu để ôn dưỡng vậy.

Trần Hư Bạch nói:

Hỏa Hầu chi yếu, Vưu đương vu Chân Tức cầu chi 火候之要尤當于真息求之
(Yếu quyết Hỏa Hầu, phải tìm kiếm nơi Chân Tức)

Khưu Trường Xuân nói: Nhất niệm bất ly phương thốn thị Chân Không. Thử dưỡng thai chi Chân Hỏa dã. Phù Chân Hỏa giả, ngã chi Thần ngã, nhi dữ Thiên Địa chi Thần, Hư Không chi Thần, đồng kỳ Thần dã. Chân Hậu giả, ngã chi Tức dã. Nhi dữ Thiên Địa chi Tức, Không Hư chi tức đồng kỳ Tức dã.

一念不離方寸是真空。此養胎之真火也。
夫真火者, 我之神也。而與天地之神,
虛空之神, 同其神也。真候者我之息也,
而與天地之息, 空虛之息同其息也。

Một niệm không lìa khỏi Đan Điền, thì là Chân Không (Đại Định). Đó là Chân Hỏa để dưỡng Thai. Mà Chân Hỏa là Thần của ta, nó cùng với Thần Trời Đất và Thần Hư Không là một. Còn Chân Hầu là hơi thở của ta. Nó và Hơi Thở của Trời Đất và của Hư Không là một hơi thở vậy.

Tả Nguyên Phóng nói:

Hỏa hậu vô vi hợp tự nhiên 火 候 無 為 合 自 然
Tự nhiên Chân Hỏa dưỡng Thai Tiên 自 然 真 火 養 胎 仙
Đãn tồn Thần Tức cư đan quýnh 但 存 神 息 居 丹 局
Điều tiếp Tiên Thiên tiếp Hậu Thiên 調 燮 先 天 接 後 天

Hỏa hậu vô vi hợp tự nhiên
Tự nhiên Chân Hỏa dưỡng Thai Tiên
Thần Tức chỉ cần cư đan quýnh
Là khiến Tiên Thiên hợp Hậu Thiên

Vương Trùng Dương nói:

Thánh Thai ký ngưng 聖 胎 既 凝
Dưỡng dĩ Văn Hỏa 養 以 文 火
An Thần định tức 安 神 定 息
Nhiệm kỳ tự như 任 其 自 如
Thử dĩ Thần cảm 此 以 神 感
Bỉ dĩ Thần ứng 彼 以 神 應
Thiên cơ diệu dụng 天 機 妙 用
Cố tự nhiên nhi nhiên 故 自 然 而 然

Thánh thai đã thành, Dưỡng bằng Văn Hỏa
An Thần định tức, Hết sức tự nhiên
Thần cảm bên này, Thần ứng phía kia
Thiên cơ diệu dụng, Nên rất tự nhiên
Ta nhờ đó mà biết Thần Tức, Hỏa Hầu.

Mạnh Tử nói:
Vật vong vật trợ 勿忘勿助 Không quên không giúp, cứ để tự nhiên
Lão Tử nói: Miên miên nhược tồn 綿綿若存 (Miên man muôn kiếp vẫn còn)
Thích thị nói: Bất đắc cần bất đắc đãi 不得勤不得怠 (Không chăm không lười)

Tất cả đều muốn nói về vi chỉ của Hỏa Hầu, của Thần Tức.

Cho nên nói:

Thần minh bất khẳng phân minh thuyết 神 仙 不 肯 分 明 說
Thuyết đắc phân minh, tiếu sát nhân 說 得 分 明 笑 殺 人

Thần minh không được nói rõ ràng
Nói là rõ ràng, người cười chết

*
* *

Lời bàn của dịch giả về Hỏa Hầu:
Hỏa Hầu là Chân Tức, chứ không phải là Phàm Tức

(Hỏa Hầu chỉ thị Hô Hấp nhị tức, chỉ thị chân tức. Chân tức giả, nãi Chân Nhân tri hô hấp, nhi phi khẩu tị tri hô hấp).

Xem Long Hỏa Kinh đệ tứ, Trung Quốc Khí công Đại Thành, tập 2, Phương Xuân Dương chủ biên, tr.796
<長養聖胎圖>
小小房兒藏舍利,些些芥子納須彌。
邇來煉個無生體,後去知渠有所歸。

(長 養聖胎圖)

火候最秘,聖人不傳,令則露之。藥非火不產,藥熟則火化矣。火非藥不生,火到則丹成矣。且火候之奧,非可一概而論。

故未得丹時,須借武火以凝之,既得丹時,須藉文火以養之。文火者。結實之火也。其養之法,節其寒溫消息是也。

TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Người muốn tu Tính Mệnh, phải hiểu thế nào là Hỗn Độn. Phải tái lập bào thai, mà tự tạo, tự hóa Tính Mệnh mình. Tính Mệnh được Tạo Hóa nghĩa là từ bào thai của cha mẹ, tự nhiên dưỡng xuất ra được một điểm Tính Mệnh, như ở trong bụng mẹ, và chính là Tính Mệnh của ta vậy.

Nếu đã là Tính Mệnh của ta, thì tự nhiên ta sẽ trở về Vô và trở thành Thái Hư vậy. Nếu đã là Thái Hư thì tự nhiên trong cái hư không ấy của ta, ta sẽ tái tạo được Kiền Khôn, đó là Chân Tính Mệnh ta vậy. Nếu đã là Chân Tính Mệnh của ta thì tự nhiên trong Chân Tính Mệnh ấy, sẽ lộ xuất đoan nghê, và đó chính là Bản Lai Nguyên Thần ta vậy.

Tiểu tiểu phòng nhi tàng Xá Lợi 小 小 房 兒 藏 舍 利
Ta ta giới tử nạp Tu Di 些 些 芥 子 納 須 彌
Nhĩ lai luyện cá Vô Sinh Thể 邇 來 煉 個 無 生 體
Hậu khứ tri cừ hữu sở qui 後 去 知 渠 有 所 歸

Phòng nhỏ xinh xinh tàng Xá Lợi
Trong lòng hạt cải chứa Tu Di
Ta nay đang luyện Vô Sinh Thể
Sau đó mới hay có chốn về

Kinh Viên Giác có kệ: Kim Cương tàng chứa Như Lai Tịch Diệt tính, tính này không có đầu đuôi.

Nếu lấy tâm Luân Hồi mà suy luận, thì sẽ quanh quẩn mãi trong vòng Luân Hồi, không vào được Biển Phật, cũng y như vàng nằm trong quặng. Vàng không phải quặng, nhưng quặng thiêu lên sẽ biến thành vàng. Khi ấy, vàng không còn là khoáng nữa. Cũng vậy, khoáng không phải là vàng, nhưng thiêu đúc xong, sẽ thành vàng, vì khoáng vốn có Tính vàng.

Tính con người tuy không phải là Phật, nhưng tu luyện rồi sẽ thành Phật, vì tính con người vốn có Tính Phật.

*
* *

Lời bàn của Dịch giả

Tôi nghĩ rằng những lời vắn gọn trên đây thật là sâu sắc. Đại khái rằng:

Khi ta sinh ra làm người thì chưa biết mình có Tính Trời, Tính Phật. Nhưng trong bào thai mẹ chúng ta đã tiềm ẩn sẵn cái Tính Trời, Tính Phật ấy rồi. Chúng ta chịu suy sẽ luận ra điều này. Là trong ta sẵn có Tính Trời, Tính Phật mà chúng ta chẳng biết, chẳng hay. Nếu biết ra thì ta sẽ thấy ta cũng là vị Hóa Công có thể tái tạo lại cho mình Tính Trời, Tính Phật, tạo lại cho mình một bầu trời mới.

Chúng ta là khoáng có vàng bên trong mà ta không biết. Biết ra sẽ hun đúc cho khoáng nơi mình chảy ra thì sẽ thành vàng.

Chúng ta vốn là Phật, là Trời nhưng chúng ta phải tốn công tu luyện mới được.

Như vậy, ta phải hiểu Thánh Thai là Con Người Phàm nay đã sinh lại thành Tiên Phật.

Chúa Giêsu cũng đã nói: Nếu con người không sinh lại sẽ không thấy được Nước Trời (John 3.3.3.5.7)

Kinh Dịch gọi Sinh lại là quẻ Phục. Phục là Nhất Dương sinh, nên Dịch dạy: Tiềm long vật dụng (Rồng còn tiềm ẩn chớ dùng)

——————————–
HẾT LỢI TẬP–XEM TIẾP TRINH TẬP
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳

(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ

Tức

TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền

(Các đệ tử ghi chép lại)

* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch

性命雙修  萬神圭旨.元集
性 命雙修 萬神圭旨• 亨集
性 命雙修 萬神圭旨• 利集
性 命雙修 萬神圭旨• 貞集

PHẦN IV
TRINH TẬP
貞 集

性命雙修萬神圭旨

第七節口訣
嬰兒現身出離苦海
<嬰兒現形圖>

行往坐臥,抱雄守雌,綿綿若存,念茲在茲。
神火溶液,溉灌根珠,內外無塵,長養聖軀。
夫蝟蠐之蟲,孕螟蛉之子。傳其情,交其精,混其氣,和其神。隨物大小,俱得其真。
氣穴法名無盡藏,藏包於竅竅包空。我問空中誰氏子,他云是你主人翁。
潜龍今已化飛龍,變現神通不可窮。一朝跳出珠光外,涌身直到紫微宮。
此時丹熟,更須慈母惜嬰兒;他日雲飛,方見真人朝上帝。

(嬰 兒現形圖)

TRINH TẬP

TÍNH MỆNH SONG TU
VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Mục lục

Khẩu quyết tiết thứ bảy

ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ HẢI
婴儿现身出离苦海

Anh nhi hiện hình
Chân Không luyện hình
Thoát Ly khổ ải

Khẩu quyết tiết thứ tám

DI THẦN NỘI VIỆN, ĐOAN CỦNG MINH TÂM
移神内院端拱冥心

Đoan củng minh tâm
Hóa thân ngũ ngũ
Khóa hạc lăng tiêu
Dương Thần xuất hiện

Khẩu quyết tiết thứ chín

BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI
本体虚空超出三界

Siêu xuất Tam Giới
Tì Lô chứng quả

—————————-

ANH NHI HIỆN HÌNH ĐỒ

(Nội dung trong đồ hình)

Thử thời đan thục, cánh tu từ mẫu tích Anh Nhi 此 時 丹 熟 更 須 慈 母 惜 嬰 兒
(Bấy giờ đan thành, phải như mẹ hiền thương con nhỏ)

Tha nhật vân phi, phương kiến chân nhân triều Thượng Đế 他 日 雲 飛 方 見 真 人 朝 上 帝
(Ngày kia cưỡi mây mới thấy Chân Nhân chầu Thượng Đế)

Khí huyệt pháp danh Vô Tận Tạng 氣 穴 法 名 無 盡 藏
Tạng bao ư khiếu, khiếu bao không 藏 包 於 竅 竅 包 空
Ngã vấn Không Trung thùy thị tử? 我问空中谁是子
Tha vân thị nhĩ Chủ Nhân Ông. 他云是你主人翁

Khí huyệt pháp danh Vô Tận Tạng,
Tạng bao ngoài Khiếu, Khiếu bao không,
Ta hỏi trong Không là ai đó?
Của anh chính thực Chủ Nhân Ông.

Phù Vị Ông chi trùng, 夫蛴嗡之虫
Dựng Minh Linh chi tử. 孕螟蛉之子
Truyền kỳ Tình, giao kỳ Tinh, 传其情交其精
Hỗn kỳ Khí, hòa kỳ Thần, 混其气和其神
Tùy vật đại tiểu, câu đắc kỳ chân. 随物大小俱得其真

Con trùng của Vị Ông, Sinh ra con tò vò.
Truyền Tình, giao Tinh, Trộn lộn Khí Thần,
Tùy vật to nhỏ, Đều hợp kỳ Chân.

Tiềm Long kim dĩ hóa phi long, 潜龙今已化飞龙
Biến hiện thần thông bất khả cùng. 变现神通不可穷
Nhất triều khiêu xuất Châu Quang ngoại, 一朝跳出珠光外
Dũng thân trực đáo Tử Vi Cung 涌身直到紫微宫

Rồng ẩn nay đã hóa Rồng bay,
Biến hiện thần thông khó nói lời.
Một sớm tung mình qua Trần Cấu
Ngang nhiên tới thẳng Tử Vi Cung.

Hành, trụ, tọa, ngọa, 行住坐卧
Bão hùng, thủ thư. 抱雄守雌
Miên miên nhược tồn, 绵绵若存
Niệm tư tại tư. 念兹在兹

Đi đứng nằm ngồi,
Nhu hòa như con mái
Hơi thở điều hòa,
Nhẹ nhàng bình ổn.

Thần thủy dung dịch, 神水溶液
Khái quán căn châu. 溉灌根珠
Nội ngoại vô trần, 内外无尘
Trường dưỡng thánh khu. 长养圣躯

Ý thủ Đan Điền
Dùng Thần Thủy tưới bón Nội Đan
Trong ngoài thanh tĩnh
Trường dưỡng Thánh Khu (Thánh Thể)
(出 離苦海圖)

(內附真空煉形法則)
前面火候已足,聖胎已圓,若果之必熟,兒之必生,彌歷十月,脫出其胞。

釋氏以此謂之法身,又曰實相。玄門以此謂之赤子,又曰嬰兒。嬰兒當移胎換鼎之時,躍然而出,潛居氣穴之間,又重開一混沌也。

蓋此穴原是神仙長胎住息之鄉,赤子安身立命之處。因是熟境,順路而歸。嬰兒既宴坐靜室,安處道場,須藏以玄玄,守以默默。始則藉坤母黃芽以育之,繼則聚 天地生意以哺之。此願彼應,發邇見遠。其中自呼自息,自闔自開,自動自靜,自由自在,若神仙逍遙於無何鄉,似如來禪定於寂滅海。

到 此大安樂處,仍須密守關元,無令外緣六塵魔賊所侵,內結煩惱,奸臣所亂。若坐若臥,常施瑩淨之功。時止時行,廣運修持之力。遂得六門不漏,一道常通,真體 如如,永固丹基者矣。日夕如此衛護,如此保顧,如龍養珠,如母育子,不可頃刻暫忘,剎那失照。

ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ ẢI

Trước đây, hỏa hầu đã đủ, Thánh Thai đã tròn. Nếu trái chưa chín, Anh Nhi mới sinh, phải trải mười tháng, mới xuất bào thai. Thích thị gọi là Pháp Thân, hay thực tưởng: đạo Lão gọi là Xích Tử hay Anh Nhi.

Anh Nhi thoát bào thai, liền nhảy ra ngoài. Ẩn thân tại Khí Huyệt, và tạo lại một Hỗn Độn mới. Huyệt này chính là nơi Thần Tiên trường thai, trú tức, là nơi Xích Tử an thân, lập mệnh. Vì thế rành đường lối, biết thuận chiều trở về.

Anh Nhi đã ở yên trong tĩnh thất, trong đạo trường, thì phải bảo tàng nó cho kỹ lưỡng, phải yên lặng gìn giữ nó. Trước hết phải dùng Khôn Mẫu Huỳnh Nha mà nuôi nó (tức là dùng Nguyên Khí, Nguyên Thần), sau đó phải tích tụ sinh khí của đất trời mà bú mớm nó. Cái này cảm thì cái kia ứng, khi phát xuất thì gần, mà khi trông thấy thì xa. Trong đó, tự hô, tự hấp, tự hợp, tự khai, tự động, tự tĩnh, tự do, tự tại, như thần tiên tiêu giao nơi Vô Hà Hữu chi hương, y như Như Lai thiền định nơi bể tịch diệt.

Khi đã đạt được đại an lạc rồi, thì cần bảo hộ Đan Điền (Quan Nguyên), không cho Lục Trần xâm nhập, không thể để phiền não nhiễu loạn. Hoặc ngồi, hoặc nằm, phải luôn luôn thanh tĩnh. Hoặc đứng, hoặc đi, lúc nào cũng gia công tu trì, sao cho sáu cửa (lục căn, lục trần) kín đáo vô lậu, con đường vận chuyển, tuần hoàn luôn thông suốt. Chân thể mà được vậy, thế là đan cơ bền vững vậy.

Sáng chiều hộ trì, bảo thủ như vậy, như Rồng dưỡng châu, như mẹ nuôi con, không giây phút nào được lãng quên, không một sát na nào quên chiếu rọi.

鐘離翁曰:

孩 兒幼小未成人,須藉坤娘養育恩。

又曰:

已證無為自在心,更須溫養保全真。

李清庵曰:

丹從不煉煉中煉,道向無為為處為。息念息緣調祖氣,忘聞忘見養嬰兒。

呂純陽曰:

腹內 嬰兒養已成,且居塵世暫娛情。無端措大剛饒舌,卻入白雲深處行。

蓋溫養育嬰乃作仙之一大事,若養育失調,嬰兒就有棄殼離巢之變。此 時著實提防,不可輕縱出去,則一出而迷途,遂失捨而無歸。

故白玉蟾有重整釣魚桿,再斫秋筠節之歎。

上陽子 云:

既達返還九與七,此即木金三五一。氣全神壯換胎時,照護嬰兒休遠出。

防護之訣,密固三要為緊。

參同契曰:

耳目口三寶,閉塞勿發通。真人潛深淵,浮游守規中。

Chung Ly Ông viết:

Hài nhi ấu tiểu, vị thành nhân, 孩儿幼小未成人,
Tu tạ Khôn nương dưỡng dục ân. 须藉坤娘养育恩。

Anh nhi còn bé chửa thành người,
Phải biết ơn nhờ mẹ đất nuôi.

Lại viết:

Dĩ chứng Vô Vi, Tự Tại tâm, 已证无为自在心,
Cánh tu ôn dưỡng bảo toàn chân 更须温养保全真。

Đã chứnng Vô Vi, Tự Tại tâm
Phải tu ôn dưỡng, bảo toàn thân.
Lý Thanh Am viết:

Đan tòng bất luyện, luyện trung luyện, 丹从不炼炼中炼,
Đạo hướng Vô Vi vi xứ vi. 道向无为为处为。
Tức niệm, tức duyên điều tổ khí, 息念息缘调祖炁,
Vong văn, vong kiến dưỡng Anh Nhi. 忘闻忘见养婴儿。

Đan luyện tự nhiên, không gắng sức,
Đạo cũng Vô Vi chẳng thiên vì.
Xả niệm, xả duyên điều hô hấp,
Chẳng nghe, chẳng thấy dưỡng Anh Nhi.

Lữ Thuần Dương viết:

Phúc nội Anh Nhi dưỡng dĩ thành, 腹内婴儿养已成,
Thả cư triền thị tạm ngu tình. 且居尘市暂娱情。
Vô đoan thố đại cương nhiêu thiệt 无端措大刚饶舌,
Khước nhập bạch vân thâm xứ hành. 却入白云深处行。

Anh Nhi trong dạ đã dưỡng thành,
Tạm thời vui sống chốn thị thành.
Tự nhiên có kẻ mong cãi lộn,
Ta đạp cưỡi mây viễn xứ hành.

Ôn dưỡng Anh Nhi là đại sự của Thần Tiên, nếu dưỡng dục không đúng cách, Anh Nhi có thể chết, vì thế phải đề phòng, không được khinh suất làm bậy, vì một khi đã đi vào mê đồ, thì không biết đàng trở lại.

Vì thế Bạch Ngọc Thiềm than: Trùng chỉnh điếu ngư can, tái chước thu quân tiết 重整钓鱼杆,再斫秋筠节 (Làm lại cần câu, chặt lại cánh trúc mùa thu – nghĩa là phải bắt đầu tu lại)

Thượng Dương Tử viết:

Ký đạt phản hoàn cửu dữ thất, 既达返还九与七,
Thử tức Mộc Kim tam ngũ nhất. 此即木金三五一。
Khí toàn thần tráng hoán thai thời, 炁全神壮换胎时,
Chiếu hoạch Anh Nhi hưu viễn xuất. 照获婴儿休远出。

Nguyên Thần, Nguyên Khí đã phản hoàn,
Thế là Thần Khí đã hợp nhất.
Anh Nhi khi mới định thoát thai,
Phải lo bảo hộ đừng để mất.

Khẩu quyết phòng ngừa: Mật cố tam yếu vi cẩn 密固三要为謹。

Tham Đồng Khế viết:

Nhĩ, mục, khẩu tam bảo, 耳目口三宝,
Bế tắc vật phát thông. 闭塞勿发通。
Chân nhân tiềm thâm uyên, 真人潜深渊,
Phù Du thủ qui trung. 浮游守规中。

Tai, miệng, mắt là tam bảo,
Giữ kín chẳng phát thông.
Thánh Nhân ẩn đáy vực,
Bơi lội trong Đan Điền.
其法是以眼觀眼,以耳聽耳,以鼻調鼻,以口 緘口,潛藏飛躍,在正一心。則外無聲色臭味之牽,內無意必固我之累。自然方寸虛明,萬緣澄寂,而我本來赤子怡怡然安處其中矣。

雖然 外固三要,尤要內遣三害。三害者,邪念、煩惱、嗔恚是也。故道覺禪師曰:修此戒定慧,斷彼嗅貪癡。蓋貪癡易於制伏,唯有嗔毒難降。

聖胎訣云:嗔恚之火一燃,胎真去如奔馬。直待火滅煙消,方才歸於廬舍。

宋儒亦曰:忿火不懲,必有燎原之患,欲水不窒,豈無潰川之 災?

圓覺道場修證儀云:一念嗔起,具八方障門,今欲去嗔之法,唯宗老子之日損、周易之懲忿、世尊之覺照。

高 憎妙普曰:嗔火正燃時,我以覺照之。猶如湯消冰,了了無分別。緣此嗔火非實有體,皆從無名而來。

猶寶積經偈云:如鑽木出火,要假眾 緣力。若緣不和合,火終不得生。是不悅意生,畢竟無所有。知聲性空故,嗔也不復生。嗔不在於聲,亦不身中住。因緣和合起,離緣緣不生。如因乳等緣,和合生 酥酪。嗔目性無起,因於粗惡事

。愚者不能了,熱惱自燒燃。應當如是知,究竟無所有。嗔性本寂靜,但有於假名,嗔恚即實際。以依真如起,了 知如法界。是名嗔三昧。

寶積經又云:求自然智破無名殼,則無名變成慧炬,而嗔火化作心燈,嗔之一毒既消,八萬四千煩惱亦滅。

Phép đó chỉ là: lấy mắt nhìn mắt, lấy tai nghe tai, lấy mũi điều mũi, lấy mồm khóa mồm, tiềm tàng, phi được tại Chánh Nhất Tâm. Ngoài thì không để cho Thanh, Sắc, Xú, Vị đẩy đưa, trong thì phải vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.

Có vậy lòng ta mới hư minh, vạn duyên mới trừng triệt, và Xích Tử trong ta mới an nhiên tự tại.

Tuy nhiên, ngoài việc giữ gìn tai, mắt, miệng (tam yếu), còn phải trừ Tam Hại bên trong. Tam Hại là: Tà niệm, phiền não, và sân nhuế vậy.

Vì thế, Đạo Giác thiền sư nói: Tu thử giới, định, tuệ; Đoạn bỉ Sân, Tham, Si 修此戒定慧,断彼嗔贪痴。 (Tu Giới, Định, Tuệ; Trừ diệt Sân, Tham, Si).

Tham Si còn dễ trị, Tức Giận khó phục hàng.

Thánh Thai Quyết nói:

Sân khuể chi hỏa nhất nhiên, 嗔恚之火一燃,
Thai chân khứ như bôn mã. 胎真去如奔马。
Trực đãi hỏa diệt, yên tiêu, 直待火灭烟消,
Phương tài qui vu lô xá. 方才归于庐舍。

Sân khuể chi hỏa vừa cháy,
Chân Thai như ngựa bôn phi.
Đợi cho lửa tắt, khói tiêu,
Đơn sẽ qui về Lô Xá.

Tống Nho cũng nói:

Dục hỏa bất trừng, 欲火不澄,
Tất hữu Liêu nguyên chi hoạn. 必有燎原之患,
Dục thủy bất trất, 欲水不窒,
Khởi vô hội xuyên chi tai. 岂无溃川之灾?

Lửa giận không trừ,
Chắc sẽ có nạn cháy rừng.
Nước tham không khống chế,
Sẽ có chuyện vỡ đê điều.

Viên Giác Đáo Tràng Tu Chứng Nghi có nói:

Nhất niệm sân khởi, 一念嗔起,
Cụ bát vạn chướng môn. 具八万障门,
Kim dục khứ sân chi pháp, 今欲去嗔之法,
Duy tông Lão Tử chi nhật tổn, 唯宗老子之日损、
Chu Dịch chỉ trừng phẫn, 周易之惩忿、
Thế tôn chi giác chiếu. 世尊之觉照。

Cơn giận vừa nổi,
Trăm vạn chướng ngại sinh.
Muốn trừ được lửa giận,
Phải Giảm hoài theo Lão Tử,
Phải Trừng Phẫn theo Chu Dịch,
Phải Giác Chiếu theo Thế Tôn.

Cao Tăng Diêu Phổ viết:

Sân Hỏa chính nhiên thời, 嗔火正燃时,
Ngã dĩ Giác chiếu chi. 我以觉照之。
Do như thang tiêu băng, 犹如汤消冰,
Liễu Liễu vô phân biệt. 了了无分别。

Lửa giận khi vừa cháy,
Ta dùng Tuệ Giác soi.
Như nước soi tan băng tuyết,
Chắc chắn không hề sai.

Sân hỏa không có thực thể, đều sinh ra từ Vô Danh.

Bảo Tích Kinh có kệ: “Như dùi gỗ lấy lửa, đều phải nhờ vào nhân duyên. Nếu nhân duyên mà không hòa hợp, thì lửa sẽ không sinh. Như vậy sẽ không vừa ý. Thực tế thì tất cả đều không có y cứ. Nên biết Thanh Tính đều là Không. Nên cơn giận không còn sinh. Giận không do nơi Thanh, càng không có chỗ trú trong người. Có đủ duyên thời sinh, không đủ duyên thời không sinh. Như sữa mà đủ nhân duyên sẽ sinh ra tô lạc (kem). Giận là vì mất bản tính, hay là vì làm những chuyện xấu xa, người ngu không biết đạo lý, nên lửa phiền não sẽ bốc cháy. Nếu biết được như vậy, thì mọi sự đều không có gì. Và sân hận sẽ thành tịch tĩnh (không còn). Nó chỉ còn cái tên suông. Sân hận thực tế chỉ là Chân Như. Nếu hiểu được như vậy, thì là giác ngộ vậy.”
Ngọc Tích Kinh còn nói:

“Biết được lẽ tự nhiên này, sẽ phá được cái xác Vô Danh đó. Và Vô Danh sẽ biến thành ngọn đuốc trí huệ, và lửa giận sẽ biến thành chiếc Đèn Lòng. Sân hận đã trừ thì 84.000 phiền não cũng tiêu.”

佛經云:諸魔平等,煩惱為先。

又云:現住菩薩魔,煩惱無所有。

文云:智者於苦樂,不動如虛空。善觀察煩 惱,我我所俱離。

又云:無障大悲,觀諸眾生,所有煩惱皆從虛假妄想而失。知諸煩惱,體性自離。如是隨覺,即是菩提。煩惱之性,即菩 提性。

又云:煩惱境是佛境界,觀煩惱性空是正修行。

又云:欲除煩惱,當行正念。

四祖 亦云:一切煩惱業障,本來空寂。

細觀佛祖經旨大概,謂煩惱性空勿為窒礙,觀如夢幻,不用介懷。設使觸景情動,如響應聲,既應即止。 若此,則煩惱塵勞不待斷而自滅,胎真赤子弗假修而自靈。

又有經云:

以智慧劍破煩惱賊,以智慧刀裂煩惱綱,以 智慧火燒煩惱薪。

僧圓照云:

對治煩惱魔,清淨常歡喜。

龐居士云:

諦現四大本空,煩惱何處安腳。

晁文元云:

身同夢幻非真有,事比風雲不久留。既能洞達須剛斷,煩惱魔空過即 休。

張紫陽云:

可謂道高龍虎伏,堪言德重鬼神飲。已知壽永齊天地,煩惱無由更上心。

Phật Kinh cũng nói:

Chư ma bình đẳng, phiền não vi tiên 诸魔平等,烦恼为先。 (Tất cả yêu ma quỉ quái, thì phiền não đứng đầu).

Lại nói: Hiện trú Bồ Tát ma, phiền não diệc vô hữu 现住菩萨魔,烦恼亦无有。(Trong các ma quấy Bồ Tát, không có phiền não trong đó).

Lại nói: Trí giả vu khổ lạc, bất động như hư không. Thiện quan sát phiền não, ngã ngã sở câu ly 智者于苦乐,不动如虚空。善观察烦恼,我我所俱离。(Người khôn ngoan coi sướng khổ đều như là hư không, quan sát kỹ phiền não, thấy ta không dính bén).

Lại nói: “Bồ tát đại bi, không nhiễm phiền não, nhân thấy rằng phiền não của chúng sinh, đều là hư giả, đều do vọng tưởng sinh ra. Nếu biết rằng tất cả phiền não, đều lìa xa bản tính. Hiểu được như vậy, thế là bồ đề. Tính của phiền não, là tính bồ đề, đều là Đạo Tính, là Giác Ngộ tính.”
Lại nói: “Phiền não cảnh là cảnh Phật, thấy tính của Phiền Não là Không, đó là Tu Hành đúng đường lối”.
Lại nói: Dục trừ Phiền Não, đương hành Chánh Niệm 欲除烦恼,当行正念。(Muốn diệt trừ phiền não, phải hành Chánh niệm ).

Tứ Tổ cũng nói: Nhất thiết phiền não nghiệp chướng; bản lai không tịch 一切烦恼业障,本来空寂。(Nhất thiết phiền não, nghiệp chướng, thật ra là không).

Xét kỹ kinh sách Phật, đều nói là Phiền Não tính vốn không, không gây trở ngại, y như mộng ảo, không đáng để tâm. Nếu nó xúc phạm ngoại cảnh, thì chẳng qua như tiếng vang, sinh ra sau tiếng nói, xong rồi hết liền. Nếu vậy, phiền não, trần lao không đợi cho đến khi ta chết đã tự tiêu trước rồi. Thai Chân Xích Tử không nhờ vào chuyện tu luyện giả tạo mà vẫn Linh hoạt được.

Kinh còn nói:

Dĩ Trí Tuệ Kiếm, phá phiền não tặc, 以智慧剑破烦恼贼,
Dĩ Trí Tuệ Đao, liệt phiền não cương, 以智慧刀裂烦恼纲,
Dĩ Trí Tuệ Hỏa, thiêu phiền não tân. 以智慧火烧烦恼薪。

Dùng Gươm Trí Tuệ, phá giặc phiền não ,
Dùng Dao Trí Tuệ, cắt lưới phiền não,
Dùng Lửa Trí Tuệ, đốt củi phiền não.
Tăng Viên Chiếu nói:

Đối trị phiền não ma, 对治烦恼魔,
Thanh tĩnh thường hoan hỉ 清净常欢喜。

Muốn trừ ma Phiền Não,
Thanh Tĩnh thường hoan hỉ.

Bàng Cư Sĩ viết:

Đế quan Tứ Đại bản không, 谛观四大本空,
Phiền não hà xứ an cước? 烦恼何处安脚。

Nhìn xem Tứ Đại vốn không
Phiền não đặt chân chỗ nào?

Triều Văn Nguyên nói:

Thân đồng mộng ảo phi chân hữu, 身同梦幻非真有,
Sự tỉ phong vân bất cửu lưu. 事比风云不久留。
Ký năng động đạt tu cương đoạn, 既能洞达须刚断,
Phiền não ma không quá tức hưu. 烦恼魔空过即休。

Thân như mộng ảo không có thật,
Sự như phong vân không bền lâu.
Hiểu được điều này, phải cắt đứt mọi sự,
Phiền não ma vốn là không, thế là xong.

Trương Tử Dương nói:

Khả vị Đạo cao Long Hổ phục, 可谓道高龙虎伏,
Kham ngôn đức trọng quỉ thần khâm. 堪言德重鬼神饮。
Dĩ tri thọ vĩnh tề Thiên Địa, 已知寿永齐天地,
Phiền não vô do cánh thượng tâm. 烦恼无由更上心。

Nếu Đạo cao, khiến Rồng, Hổ phục,
Nếu Đức trọng khiến Quỉ Thần nể.
Nếu biết mình thọ cùng Trời Đất,
Thì đâu còn để tâm đến phiền não?

六祖壇經云:凡夫即佛,煩惱即菩提。前念迷即凡夫,後念悟即佛。前念著境即煩惱,後念離境即菩提。

故纓珞經云:佛言我從本來不得一 法,究竟定意,始知所謂無念。若得無念者,觀一切法,悉皆無形,因此得成無上正真之道。

又云:世人不能成道而脫生死者,良由妄念為 輪迴種子耳。

蓋妄念起處,即是生災。妄念息處,即是真元。故玄門以止念為本,釋教以無念為宗。

無念者,為無 邪念,非無正念。念有念無即名邪念,不念有無助名正念。念善念惡即名邪念,不念善惡即名正念。

乃至苦樂、生滅、取捨、冤親、憎愛,井名邪 念,不念苦樂等是名正念。但事來不受一切處,無心即是無念也。無念之念,謂之正念。

佛經云:善男子我等住於無念法中,得如是金色三 十二相,放大光明,照無餘世界。

高峰禪師云:

慈氏受一生成佛之功,不出一念無生性海。

智常禪師云:

真如無念。非念法能階實相,無生豈生心。能至無唸唸者,即念真如;無生生者,生乎實相。

李之 才云:

念之天理則明月之當空,念之人欲則浮雲之蔽日。

寒山子云:

旋乾倒岳鎮常靜,一 念萬年永不移。

Lục Tổ Đàn Kinh viết:

Phàm phu tức Phật, 凡夫即佛,
Phiền não tức Bồ Đề. 烦恼即菩提。
Tiền niệm mê tức phàm phu, 前念迷即凡夫,
Hậu niệm ngộ tức Phật. 后念悟即佛。
Tiền niệm trước cảnh tức Phiền Não, 前念着境即烦恼,
Hậu niệm ly cảnh tức Bồ Đề, 后念离境即菩提。

Phàm phu tức là Phật,
Phiền não tức Bồ Đề.
Niệm trước còn mê là phàm phu,
Niệm sau đã ngộ tức phật,
Niệm trước còn vướng cảnh là Phàm Phu,
Niệm sau thoát cảnh là Bồ Đề (Đắc Đạo).

Sách Anh Lạc Kinh nói:

“Phật nói: Ta từ trước đến nay, không được phép nào, chỉ cần Định Ý. Bắt đầu biết thế nào là Vô Niệm. Người biết Vô Niệm, sẽ thấy tất cả là vô hình. Do đó ta thành Chánh Chân chi Đạo.”

Lại nói: “Thế gian không thể thành đạo, không thoát sinh tử, chính là vì có vọng niệm, nên suy bậy, nghĩ bạ, thành ra bị Luân Hồi.”

Khi vọng niệm khởi, thì đó là Sinh Diệt, khi vọng niệm ngừng, thì đó là Chân Nguyên. Cho nên đạo Lão lấy Chỉ Niệm làm căn bản, đạo Phật lấy Vô Niệm làm tông chỉ. Vô Niệm là không có Tà Niệm, chứ không phải là không có Chánh Niệm. Niệm có hữu vô, thì là Tà Niệm. Không nghĩ tới hữu vô là Chính Niệm. Niệm mà có Thiện Ác thì là Tà Niệm, không nghĩ đến Thiện Ác thì là Chính Niệm.

Đến như khổ lạc, sinh diệt, oan nghiệp, tắng ái, v.v. tất cả là Tà Niệm. Không nghĩ đến Khổ Lạc thì gọi là Chính Niệm. Việc đến mà không đón chờ, tất cả đều Vô Tâm, thì là Vô Niệm. Niệm mà Vô Niệm thì là Chính Niệm.

Phật Kinh nói: “Thiện nam tử, khi các ngươi ở trong cảnh giới Vô Niệm. Được như vậy, thì 32 tưởng Kim sắc, sẽ phóng đại quang minh, chiếu trong Vô Dư Thế giới.”

Cao Phong Thiền Sư nói:

Tư thị thụ nhất sinh thành Phật chi công,
慈氏受一生成佛之功,
Bất xuất nhất niệm vô sinh tính hải.
不出一念无生性海。

Thọ nhận một kiếp người là công của Phật,
Không siêu xuất Nhất niệm Bất sinh của Tính Hải.

Trí Thường Thiền Sư nói:

Chân Như vô niệm, 真如无念。
Phi niệm Pháp năng giai. 非念法能阶
Thật tướng vô sinh, 实相无生
Khởi sinh tâm năng chí. 岂生心能至
Vô niệm niệm giả, 无念念者,
Tức niệm Chân Như. 即念真如;
Vô sinh sinh giả, 无生生者,
Sinh hồ thực tướng. 生乎实相。

Chân như là Vô Niệm, Niệm Pháp không giới hạn được nó.
Thật Tướng không sinh, Tâm sinh sao đạt tới,
Vô niệm là Chân Như, Vô sinh là Thực Tướng.

Lý Chí Tài nói:

Niệm chi Thiên Lý tắc minh nguyệt chi đương không.
念之天理则明月之当空,
Niệm chi Nhân dục tắc phù vân chi tế nhật.
念之人欲则浮云之蔽日。

Niệm về Thiên Lý, thì như trăng sáng giữa trời,
Niệm về Nhân Dục, thì như mây che mặt trời.

Hàn Sơn Tử nói:

Tuyền Kiền, đảo Nhạc, trấn thường tĩnh, 旋乾倒岳镇常静,
Nhất niệm vạn niên vĩnh bất di. 一念万年永不移。

Xoay Trời, chuyển Núi, ngăn tà niệm,
Giữ lòng tĩnh lặng, muôn năm chẳng thay.

天隱子云:

不睹不聞存覺性,無思無念養胎仙。

寶積經中所說菩薩安住無 所住之念,非憶非忘所安住念,即名法界。是知從上若佛、若祖、若聖、若仙,皆因冥心息念而得妙道。

故尚書曰:唯狂克念作聖,然克念 之功須要躬行實踐,方有進步。不然,一片太虛,途路甚遠,少一步定是到不得。

昔人所謂工夫不到不方圓,工夫若做到極,則處自然入於 無念。既得無念真常,則玄竅嬰兒寂寂然而無撓擾之患矣。

劉虛谷云:

大功欲就三千日,妙用無虧十二時。

陳朝元云:

含養胞胎須十月,育嬰乳哺要千朝。

泥丸翁云:

片響工夫修便現,老成須是 過三年。

三年功夫已完,溫養事畢。即悟真所謂,一霎火焰飛,真人自出現。真人既現,必出太玄而升天谷,再加冥心滅盡之功,則有通靈 變化之妙。

劉海蟾曰:

卦行火侯周天畢,孕個嬰兒鎮下田。霹靂一聲從地起,乾戶肇開光萬里。翻身推出太玄關, 這回方是真仙子。

Thiên Ẩn Tử nói:

Bất đổ, bất văn tồn giác tính, 不睹不闻存觉性,
Vô tư, vô niệm, dưỡng thai tiên. 无思无念养胎仙。

Chẳng nhìn, chẳng nghe, giữ nguyên Giác Tính,
Không nghĩ, không suy, dưỡng thai tiên.

Báo Tích Kinh viết:

Bồ tát an trụ trong niệm Vô Sở Trụ. Chẳng nghĩ, chẳng quên, thế là Niệm An Trụ. Đó là Pháp Giới.

Cái biết đó, là do Phật, Tổ, Thánh Tiên biết Tức Tâm. Chỉ Niệm mà được diệu Đạo.

Cho nên sách Thượng Thư nói: Duy cuồng khắc niệm tác thánh 唯狂克念作圣 (Chỉ có khắc chế được tạp niệm là thành Thánh Hiền).

Và khắc chế tạp niệm là một công trình hết sức thực tiễn, chính bản thân mình phải ra công đóng góp mới có tiến bộ. Nếu không thì Vừng Thái Hư kia, con đường tới nó rất xa, thiếu một bước là không thể tới được. Người xưa nói: Công phu như vậy, là chưa đến đến chốn.

Công phu mà đạt tới cực điểm, thì sẽ nhập vào Vô Niệm. Khi vào được Chân Thường Vô Niệm, thì Huyền Khung Anh Nhi sẽ tịch nhiên không còn sợ bị nhiễu loạn nữa.
Lưu Hư Cốc nói:

Đại Công nhược tựu tam thiên nhật, 大功若就三千日,
Diệu dụng vô khuy thập nhị thời. 妙用无亏十二时。

Công phu tuy là 3.000 ngày,
Nhưng diệu dụng không qua 12 giờ.

Trần Triêu Nguyên nói:

Hàm dưỡng bào thai tu thập nguyệt, 含养胞胎须十月,
Dục anh nhũ bộ yếu thiên triêu. 育婴乳哺要千朝。

Nuôi nấng Anh Nhi cần mười tháng,
Anh Nhi bú mớm mất nghìn ngày.

Nê Hoàn Ông nói:

Phiến hướng công phu tu tiện hiện, 片响工夫修便现,
Lão thành tu thị quá tam niên. 老成须是过三年。

Muốn cho công phu được thực hiện,
Lão thành cũng mất quá ba năm.

Ba năm công phu đã hoàn thành, ôn dưỡng cũng đã xong, chính vì thế sách Ngộ Chân nói:

Nhất sát hỏa diệm phi, 一霎火焰飞,
Chân Nhân tự xuất hiện. 真人自出现。

Phút chốc lửa phừng bay,
Chân Nhân liền xuất hiện.

Chân Nhân đã hiện, do tự Thái Huyền (Đơn Điền) lên tới Thiên Cốc (Thượng Đơn Điền), thế là công phu Minh Tâm Hỏa Diệt, thế là sẽ thông linh biến hóa. Lưu Hải Thiềm nói:

Quái hành, Hỏa hậu Chu thiên tất, 卦行火侯周天毕,
Dựng cá Anh Nhi trấn Hạ Điền, 孕个婴儿镇下田。
Tích lịch nhất thanh tòng Địa khởi, 霹雳一声从地起,
Kiền hộ phách khai quang vạn lý, 乾户肇开光万里。
Phiên thân tràng xuất Thái Huyền quang, 翻身推出太玄光,
Giá hồi phương thị Chân Tiên tử. 这回方是真仙子。

Dùng quẻ để vận chuyển tuần hoàn chân khí,
Nuôi nấng Anh Nhi dưới Đơn điền,
Một tiếng nổ vang từ đất phát,
Cửa Trời rộng mở phóng hào quang,
Chuyển mình thấy được huyền quang hiện,
Như vậy là nhìn thấy Chân Tiên.

真空煉形法則
<真空煉形圖>

真空煉形法,五蘊空非空,非以空五蘊,五蘊悉皆空。
天人一 氣相呼吸,以法追來煉形質。竅竅玲瓏五蘊空,霞光萬道連天碧。

(真 空煉形圖)
普照怫心曰:

異端有白我其觀,卻歎人從甕裡盤。最上一乘含蓄遠,好從玄竅覓天寬。

蓋真空煉形之法,譬喻運甕相似。若處甕內,焉能運之,必也處於甕外。身處甕外者,即釋氏所謂外其身而虛空之是也。

CHÂN KHÔNG LUYỆN HÌNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Tiếu Nhân nhất khí tương hô hấp, 笑人一气相呼吸
Dĩ pháp truy lai luyện hình chất. 以法追来炼形质
Khiếu khiếu linh lung ngũ uẩn không, 窍窍玲珑五蕴空
Hà quang vạn đạo liên Thiên bích. 霞光万道连天碧

Trời người hô hấp giống in nhau,
Chỉ dùng một phép dùng hình chất.
Suy ra ngũ uẩn vốn là không.
Ánh sáng muôn trùng soi Trời Đất.

Chân không luyện hình pháp, 真空炼形法
Ngũ uẩn không phi không, 五蕴空非空
Phi dĩ không ngũ uẩn, 非以空五蕴
Ngũ uẩn tất giai không. 五蕴悉皆空

Chân không phép luyện hình,
Ngũ uẩn vốn chẳng không.
Tu cho ngũ uẩn không còn vết,
Ngũ uẩn rồi ra cũng là không.

*
* *

LUYỆN HÌNH
***

Sách Phổ Chiến Phật tâm nói:

Tị đoan hữu bạch ngã kì quan, 异端有白我其观,
Khước thán nhân tùng ung lý bàn. 却叹人从瓮里盘。
Tối thượng nhất thừa hàm súc viễn, 最上一乘含蓄远,
Hảo tùng huyền khiếu mịch thiên khoan. 好从玄窍觅天宽。

Ta quan sát điểm trắng nơi đầu mũi
Khen kẻ trong lu khiến lu quay.
Tối thượng nhất thừa cao siêu thế,
Nên theo Huyền Khiếu kiếm trời cao.

Cho nên phép luyện hình theo Chân Không cũng giống như người vần lu nước. Nếu vần từ bên trong thì làm sao lu chuyển được cho nên phải vần từ bên ngoài. Cho nên vần lu từ bên ngoài thì nhà Phật gọi là Hư Không ngoài thân ta vậy.
故老子曰:

外其身而身修,忘其形而形存。

薛道光曰:

若人空此幻化身,親授聖師真規則。

張全一 曰:

太虛是我,先空其身。其身既空,天地亦空。

天地既空,太空亦空。空無所空,乃是真空。

清靜經曰:內觀其心,心無其心。外視其形,形無其形。形無其形者,身空也;心無其心者,心空也。心空無礙,則神愈煉而愈靈;身空無礙,則形愈煉而愈清。 直煉到形與神而相涵,身與心而為一,方才是形神俱妙、與道合真者也。

古仙曰:形以道全,命以術延。此術是竅無涯之元氣,續有限之形 軀。無涯之元氣,是天地陰陽長生真精靈父聖母之氣也。有限之形軀,是陰陽短促濁亂凡父凡母之氣也。故以真父母之氣變化凡父母之身為純陽真精之形,則與天地 同壽也。

按孫陀羅尊者云:世尊教我觀鼻端白,我初諦觀,經三七日,見鼻中氣出入如煙,身心內明,圓洞世界,遍成虛淨,猶如硫璃煙相 漸消,鼻息成白,心開漏盡,諸出入息化為光照,照十方界,得阿羅漢。

Lão Tử thì gọi là:

Ngoại kỳ thân nhi thân tu, 外其身而身修,
Vong kỳ hình nhi hình tồn. 忘其形而形存。

Ở ngoài thân nên thân tu,
Quên mất hình nên hình còn.

Tiết Đạo Quang nói:

Nhược nhân không thử ảo hóa thân 若人空此幻化身,
Thân thụ thánh sư chân quỹ tắc. 亲授圣师真轨则。

Nếu người coi được cái thân ảo hóa mình là Không,
Thì đã biết được đường lối chính xác của thánh nhân.

Trương Toàn Nhất nói:

Thái hư thị ngã, Tiên không kỳ thân, kỳ thân ký không, Thiên địa diệc không. Thiên địa ký không, Thái Không diệc không, Không vô sở không, nãi thị chân không.

太虚是我,先空其身。其身既空,天地亦空。
天地既空,太空亦空。空无所空,乃是真空。

Thái hư là ta, cần coi mình là không. Thân này đã không, thì thiên địa cũng không. Thiên địa đã không, thì Thái không cũng là không, không vô sở không, đó là Chân Không.

Thanh Tĩnh Kinh viết:

Nội quan kỳ tâm, 内观其心,
Tâm vô kỳ tâm, 心无其心。
Ngoại quan kỳ hình 外观其形,
Hình vô kỳ hình. 形无其形。

Nhìn vào trong tâm,
Tâm không có tâm.
Nhìn ra ngoài hình,
Hình không có hình.

Hình không có hình là Thần Không vậy. Tâm Không có tâm là tâm không vậy. Tâm Không vô ngại thì thần càng luyện càng linh. Thần Không vô ngại thì hình càng luyện càng thanh. Luyện cho tới hình và thần dung hợp với nhau, thân và tâm hợp nhất, thì mới gọi là Hình Thần Câu Diệu và Dữ Đạo Hợp Chân vậy.

Cổ tiên nói: Hình dĩ Đạo toàn, Mệnh dĩ thuật diên 形以道全,命以术延。(Hình nhờ Đạo mới nên toàn vẹn, Mệnh nhờ Thuật mới sống lâu).

Thuật đó là ăn trộm Nguyên Khí vô cùng, để bổ sung cho cái thân hình hữu hạn.

Vô Nhai chi Nguyên Khí, đó là Âm Dương trường sinh Chân Tinh của Trời Đất, là Khí của Linh Phụ, Thánh Mẫu.

Hữu hạn chi hình khu, đó là Âm Dương đoản súc trọc loạn của Cha Mẹ phàm phu.

Cho nên dùng khí của Linh Phụ Linh Mẫu để biến cái phàm thân của cha mẹ phàm tục, thành cái thân Thuần Dương Chân Tinh, thế là Thọ cùng Trời Đất vậy.

Tôn Đà La tôn giả nói:

“Đức Thế Tôn dạy ta phải nhìn thấy đầu mũi trắng, ta bắt đầu nhìn, qua 21 ngày. Thấy khí trong mũi, vào ra như khói. Trong lòng trong sáng, hết sức Hư Tĩnh, y như lưu ly. Khói dần dần tiêu, hơi thở thành trắng, tâm được mở ra, hết còn phiền não. Hơi thở vào ra, trở nên trong sáng, chiếu soi mười phương, thành A La Hán.”
朱元晦云:

鼻端有白,我其觀之。

莫認真云:

平生姿韻愛風流,幾笑時人向外求。萬別千差無覓處,得來原在鼻尖頭。

夫人未生之先,一呼一吸, 氣通於母。人之既生之後,一呼一吸,氣通於天。天人一氣,聯屬流通,相吞相吐,如扯鋸焉。天與之我,能取之得其氣,氣盛而生也。天與之天,復取之失其氣, 氣絕而死也。

故聖人觀天之道,抉天之行,每於義馭未升,腸谷之時,凝神靜坐,虛以待之,內含意念,外捨萬緣,頓忘天地,粉碎形骸。 自然太虛中有一點如露如電之陽,勃勃然,入玄門,透長谷,而境上泥丸,化為甘霖而降於五內。我即鼓動巽風以應之,使其驅逐三關九竅之邪,掃蕩五臟六腑之 垢,焚身煉質,段滓銷霾,抽盡穢濁之軀,變換純陽之體。累積長久,化形而仙。

陳翠虛曰:

透體金光骨髓香,金 筋玉骨盡純陽。煉教赤血流為白,陰氣消磨身自康。

丘長春曰:

但能息息常相顧,換盡形骸玉液流。

張紫瓊曰:

天人一氣本來同,為有形骸礙不通。煉到形神冥合處,方知色相即真空。

薛覆命曰:

不知將謂氣,得後自然真。

Chu Nguyên Hối nói:

Tị đoan hữu bạch, ngã kì quán chi. 鼻端有白,我其观之。
“Mũi thở hơi trắng, ta đã nhìn thấy.”

Mạc Nhận Chân Nhân nói:

Bình sinh tư vận, ái phong lưu, 平生姿韵爱风流,
Kỷ tiếu thời nhân hướng ngoại cầu 几笑时人向外求。
Vạn biệt Thiên sai, vô mịch xứ 万别千差无觅处,
Đắc lai nguyên tại tỵ đoan đầu. 得来原在鼻端头。

Phong thái bình sinh thích phong lưu,
Cười người chỉ biết Hướng Ngoại cầu.
Thiên sai vạn biệt cầu đâu thấy,
Muốn thấy chung qui tại tỵ đầu.

Phàm con người trước khi sinh, thở ra, thở vào, thông khí với mẹ. Con người khi đã sinh ra, thở ra, thở vào, thông khí với trời. Trời, Người cùng một khí, lưu thông với nhau, tương thôn, tương thổ, như thể kéo cưa. Trời cho, ta lấy. Dược khí, làm cho khí thịnh là sống. Trời cho rồi lại lấy lại. Mất khí rồi tuyệt khí là chết.

Cho nên thánh nhân, xem xét đạo Trời, xem Trời vận hành. Khi mặt Trời chưa lên khỏi Dương Cốc, thì ngưng thần, tọa tĩnh, hư tâm mà chờ. Trong buông mọi niệm, ngoài xả vạn duyên, quên Trời, quên Đất, nghiền nát hình hài. Tự nhiên từ trong Thái Hư có một điểm Chân Dương, như móc, như điện, ùn ùn nhập vào Huyền Môn, xuống Trường Cốc rồi lên thẳng Nê Hoàn, hóa thành Cam Lộ nhập vào ngũ tạng. Ta phải dùng Tốn Phong (Vũ Hỏa) mà tiếp ứng nó, để nó trừ diệt khí tà nơi Tam Quan , Cửu Khiếu, quét sạch trần cấu nơi ngũ tạng, luyện khí chất, đốt sạch trược thể, đuổi sạch uế khí trong thân, biến hóa thân mình thành Thuần Dương chi thể. Lũy tích trường cửu sẽ hóa hình thành Tiên.
Trần Túy Hư nói:

Thấu thể Kim Quang, tủy cốt hương. 透体金光髓骨香,
Kim cân, ngọc cốt tận thuần dương, 金筋玉骨尽纯阳。
Luyện giao xích huyết lưu vi bạch, 炼教赤血流为白,
Âm khí tiêu ma thân tự khang, 阴气消磨身自康。

Toàn thân rực rỡ, cốt tủy thơm,
Cốt ngọc, gân vàng, biến thuần dương.
Luyện cho máu đỏ nên màu trắng
Âm khí tiêu trừ, thân an khang.

Khưu Trường Xuân nói:

Đãn năng tức tức thường tương cố, 但能息息常相顾,
Hoán tận hình hài, ngọc dịch lưu. 换尽形骸玉液流。

Chỉ cần để ý từng hơi thở,
Thay đổi hình hài, ngọc dịch lưu.

Trương Tử Dương nói:

Thiên Nhân nhất khí bản tương đồng, 天人一气本相同,
Vi hữu hình hài ngại bất thông. 为有形骸碍不通。
Luyện đáo thần hình minh hợp xứ, 炼到形神冥合处,
Phương tri sắc căn tức Chân Không. 方知色根即真空。

Thiên nhân nhất khí vốn tương đồng,
Chỉ vị hình hài, ngăn chẳng thông.
Luyện tới thần hình hòa hợp lại,
Mới hay Căn Sắc tức Chân Không.

Tiết Hạ Mệnh nói:

Bất tri tương vị khí, 不知将谓气,
Đắc hậu tự nhiên Chân. 得后自然真。

Không hiểu Khí ra sao,
Sau biết tự nhiên Chân.

董漢醇曰:金用礦消,形由氣煉。煉形之法,總有六門。其一曰玉液煉形,其二曰金液煉形,其三曰太陰煉 形,其四曰太陽煉形,其五曰內觀煉形。若此者總非虛無大道,終不能與太虛同體。唯此一訣,乃曰真空煉形。雖曰有作,其實無為,雖曰煉形,其實煉神,是修外 而兼修內也。

依法煉之,百日則七魄亡形,三屍絕跡,六賊潛藏,而十魔遠遁矣。煉之千日,則四大一身,儼如水晶塔干,表裡玲瓏,內外 洞徹,心華燦然,靈光顯現。靈光者,慧光也,故曰惹光生處覺花開。蓋慧覺花開非煉形入微與道冥一者不能有此。

故生神經曰:身神並 一,則為真身;身與神合,形隨道通。隱則形固於神,顯則神合於氣。所以蹈水火而無礙,對日月而無影。吾亡在己,出入無間。或留形住世,或脫質升仙。有白日 而飛肉屍者,黃帝之謂也。有留形在世者,彭祖之謂也。有受命而居天職者,張天師之謂也。有拔宅而上升者,許施陽之謂也。有示疾而終者,王重陽之謂也。有入 仕而臣者,東方朔之謂也。至於老子為柱史,辛鈃為大夫,尹喜為關令,伯姬為卿上,唐典隱昆陵,孑休治漆園,帝者師四,皓輔漢惠,仇生仕殷,輔光仕漢,馬舟 仕晉,海蟾仕燕,正陽棄官,純陽應舉,常有執鞭,琴高執笏。若此者,多不可以枚數。

噫!神仙之隱顯去留,豈世之凡夫所能測度者哉。 更若憑虛御風之,列子折蘆過江之,達摩非若淘質煉形之功,又安能如此輕舉之身乎?此形神俱妙之道,非坐脫立亡者之所能知。所以不免有拋身入身之失爾。
Đổng Hán Thuần nói:

Kim dụng khoáng tiêu 金用矿消,
Hình do khí luyện. 形由炁炼。

Kim thuần khoáng hết,
Hình đổi do Khí luyện.

Luyện Hình có 6 môn:

1. Ngọc Dịch luyện hình 玉液炼形,
2. Kim Dịch luyện hình 金液炼形
3. Thái Dương luyện hình 太阳炼形
4. Thái Âm luyện hình 太阴炼形
5. Nội quan luyện hình 内观炼形。

Năm môn trên chưa phải là Hư Vô đại đạo, không thể giúp ta Dữ Thái Hư Đồng Thể. Chỉ có khẩu quyết sau đây gọi là:

6. Chân không luyện hình 真空炼形

Tuy là Hữu tác, nhưng chính thật Vô Vi, tuy là luyện Hình, nhưng chính là luyện Thần. Thế là vừa Tu ngoại vừa kiêm Tu nội vậy.

Theo thế mà tu luyện, sau 100 ngày thì Thất Phách sẽ vong hình, Tam Thi sẽ tuyệt tích, lục tặc (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sẽ tiềm tàng, thập ma (như phiền não ma, tâm ma, tử ma v.v… Đạo gia gọi thế là ảo giác như Mỹ cảnh, phú quí, Ân ái v.v…) sẽ ẩn trốn xa.

Tu 1.000 ngày, thân tứ đại sẽ sáng như thủy tinh, trong ngoài sẽ linh lung, nội ngoại sẽ động triệt, tâm hoa xán lạn, Linh Quang hiện hiện.

Linh Quang là Tuệ Quang vậy. Nên nói: Tuệ quang sinh xứ, giác hoa khai 慧光生处觉花开 (Nơi Tuệ Quang sinh, giác hoa sẽ nở ra). Có Tuệ Quang Giác Hoa, nếu không nhờ Luyện Hình nhập vi, dữ Đạo minh Nhất, thì không được như vậy.

Cho nên Sinh Thần Kinh viết:

“Thân hình hợp nhất, thì gọi là Chân Thân. Thân cùng Thần hợp, hình sẽ tùy Đạo thông. Lúc ẩn thì hình vững cùng Thần, lúc hiển thì Thần hợp với Khí. Cho nên vào nước lửa như không, ra mặt trời mặt trăng, không thấy bóng. Quên được mình, nên ra vào không chi ngăn trở. Hoặc sống tại thế, hoặc thoát chất thành tiên.
Có người ban ngày bỏ xác, như Hoàng Đế, có người trú thân nơi trần thế như Bành Tổ. Có người thụ được Mệnh Trời, sống tại thế gian với một Thiên Chức, như Trương Thiên Sư, có người không bệnh mà chết, như Vương Trùng Dương; có người làm quan như Đông Phương Sóc. Đến như Lão Tử làm quan Trụ Sử, Tân Biền làm Đại Phu, Doãn Hỉ làm Quan Lệnh, Bá Cơ làm Khanh Sĩ, Dương Điển ẩn cư trên núi Tỉ, Tử Hưu quản lý Tất Viên, Trương Lương giúp Hán Cao Tổ, Tứ Hạo giúp Huệ Đế, Cửu Sinh phò nhà Ân, Phụ Quang giúp nhà Hán, Mã Đơn giúp nhà Tấn, Hải Thiềm giúp Yên, Chính Dương từ quan, Thuần Dương ứng cử, Thường Hữu cầm roi, Cầm Cao cầm hốt, thật là nhiều vô số kể.”

Ôi! Các vị Thần Tiên trên ẩn hiện, khứ lưu, phàm phu sao mà đoán định được? Như Liệt Tử cưỡi gió, như Đạt Ma vượt sông trên ngọn vi lô, nếu thân xác không luyện đến mức tinh vi, thì làm sao người nhẹ được như vậy?

Cái thuật Hình Thần câu diệu như vậy, nếu không biết phép Tọa Thoát Lập Vong, Trạm Trước Tử Vong (Thi Giải, Nguyên Thần thoát xác), thì con người không hiểu nổi, và sẽ đi vào lỗi lầm Phao Thân Nhập Thân mà thôi.

故學仙佛之流,若獨以煉神為妙,不知煉形為要者,所謂清靈善化之鬼,何可與高仙為比哉?大抵溫養煉形,無分彼此,雖然在兩處發明,其實是一個道理。內外 兼修,不相違背。若十日功夫無間,乃懸崖撒手時也。自然言語道斷,心思路絕。能所兩亡,色空俱泯,無滯無礙,不染不著,身似翔鴻不可籠,心如蓮華不著水。 火光淨淨,瀟瀟灑灑,騰騰任運,任運騰騰,做一個無事無為、自在消逼之散漢也。此際嬰兒漸露其形,與人無異,愈要含華隱曜,鎮靜心田,若起歡忻,就要廣 境。

如陳泥丸云:

我昔功夫行一年,六脈已息氣歸根。有個嬰兒在丹田,與我形貌亦如然。

嬰兒既長,穴不能居,自然裂竅而出、貫頂而升。此之謂出離苦海而起彼岸也。

永明壽禪師云:

身在苦海中,賴 此鐵羅漢。苦海既脫離,捨筏登彼岸。

觀吾陳真人云:

此岸波濤已脫離,到彼方知壽可躋。一得歸來宜永得,渡河 筏子上天梯。

Cho nên học Tiên Phật không phải là chuyên lo luyện Thần không, mà còn phải luyện hình, nếu không sẽ trở thành một loại ma quỉ biết Thanh Linh Thiện Hóa mà thôi, không thể sánh được với các vị Cao Tiên vậy.
Đại để phép Luyện Hình là không phân bỉ thử, tuy tại hai nơi phát minh, nhưng đạo lý chỉ có một:

Nội ngoại kiêm tu, Bất tương vi bối内外兼修,不相违背。
(Nội ngoại song tu, không trái ngược nhau).

Công phu mười tháng, sẽ ly khai được Nhân Thế, tự nhiên Ngôn Ngữ, và Tâm Tư mình sẽ khác với người. Năng Sở sẽ cùng quên, Sắc Không sẽ cùng mất, sẽ hết chướng ngại, hết bợn nhơ. Thân sẽ như chim Hồng, bay bổng lên không còn bị giam giữ. Lòng sẽ như bông sen, không nhuốm nước, rạng rạng, rỡ rỡ, tiêu tiêu, sái sái, thành một con người Vô Sự, Vô Vi, tiêu dao tự tại.
Lúc này Anh Nhi đã lộ nguyên hình, với người không khác. Càng ngày càng phải :Hàm Hoa Ẩn Dược. Trấn Tĩnh Tâm Điền. Nếu thấy vui mừng đó là Ma Cảnh.
Như Trần Nê Hoàn nói:

Ngã tích công phu, hành nhất niên, 我昔功夫行一年,
Lục mạch dĩ tức khí qui nguyên. 六脉已息气归源。
Hữu cá Anh Nhi tại Đan Điền, 有个婴儿在丹田,
Dữ ngã hình mạo diệc như nhiên. 与我形貌亦如然。

Ta luyện công phu đã một năm,
Lục mạch đều hòa Khí qui nguyên.
Có một Anh Nhi tại Đan Điền,
Hình dạng như ta cũng y nhiên.

Anh Nhi đã lớn, không ở trong Huyệt nữa tự nhiên sẽ bay lên đầu, phá huyệt mà ra. Thế gọi là Thoát Ly Khổ Hải mà vào Bỉ Ngạn vậy.

Vĩnh Minh Thọ Thiền sư nói:

Thân tại khổ Hải Trung, 身在苦海中,
Lại thử Thiết La Hán. 赖此铁罗汉。
Khổ hải ký thoát ly, 苦海既脱离,
Xá phiệt đăng bỉ ngạn. 舍筏登彼岸。

Thân còn trong khổ hải, Phải nương cái Thân này.
Khổ Hải đà thoát ly, Bỏ bè sang Bỉ Ngạn.

Ngô Trần Chân Nhân nói:

Thử ngạn Ba Đào dĩ thoát ly, 此岸波涛已脱离,
Đáo Bỉ phương tri thọ khả tê. 到彼方知寿可跻。
Nhất đắc qui lai, nghi vĩnh đắc, 一得归来宜永得,
Độ hà phiệt tử Thượng Thiên Thê 渡河筏子上天梯。

Bờ nọ ba đào đã thoát ly
Bờ kia đã tới, thọ khả qui
Một khi đã được là được mãi,
Cưỡi bè ấy chính lên Trời vậy.
性命雙修萬神圭旨
第八節口訣

(脱离苦海图 )
THOÁT LY KHỔ HẢI ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Khổ Hải trung nghiệp thân tế mang,
苦海中业身济茫

Ái hà gian hắc mang mang dạng.
爱河间黑忙忙漾

Thùy thi na từ bi Tuệ Quang,
谁施那慈悲慧光

Tế trầm luân vô biên, vô lượng.
济沉沦无边无量

Hiển từ hàng chiếu linh huống hiện,
显慈航昭灵贶现

Tân cừ tất thoát chúng sinh chư nghiệp chướng.
津渠悉脱众生诸业障

Tâm dương dương, ý hoảng hoảng,
心飚飚意恍恍

Nhiếp nhập Như Lai tạng.
摄入如来藏
Trong biển khổ, thủy nghiệp mang mang,

Sông Ái Hà nước cũng đen đen.

Ai đem từ bi Tuệ Quang,

Cứu độ trầm luân vô biên, vô lượng.

Thuyền Từ chiếu ánh sáng thần linh khắp mọi nơi,

Bến đó cứu thoát chúng sinh chư nghiệp chướng.

Lòng khinh phiêu. Ý đãng đãng,

Bị hút vào Như Lai tạng.

移神內院端拱冥心

<端拱冥心圖>

元君端拱坐玄都,三叠胎仙舞八隅。變化純楊天地合,長生因此妙工夫。

遺照於外,宅神於內。冥心至趣,而 與吉會;無心於事,無事於心。超出萬幻,確然一靈。

未到彼岸不能無法,既至彼岸又焉用法?頂中常放白毫光,痴人猶待問菩薩。
(端 拱冥心圖)

ĐOAN CỦNG MINH TÂM ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Vị đáo bỉ ngạn bất năng vô pháp, 未到彼岸不能无法
Ký chí bỉ ngạn hựu yên dụng pháp. 既至彼岸又焉用法
Đỉnh trung thường phóng bạch hào quang, 顶中常放白毫光
Si nhân do đãi vấn Bồ Tát. 痴人犹待问菩萨

Chưa sang Bỉ Ngạn cần thủ thuật,
Tới Bỉ Ngạn rồi, pháp cần chi.
Trên đầu thường phóng bạch Hào Quang,
Người ngu còn đợi hỏi Bồ Tát.

Nguyên quân đoan củng tọa huyền đô, 元君端拱坐玄都
Tam điệp thai tiên vũ bát ngung. 三叠胎仙舞八隅
Biến Hóa thuần dương thiên địa hợp. 变化纯阳天地合
Trường sinh nhân thử diệu công phu. 长生因此妙工夫

Nguyên Thần ngay ngắn ngự Cốc Thần,
Chư tiên múa hát đứng chầu quanh.
Chân Thể thuần dương thiên địa hợp,
Trường sinh nhờ thế trọn công phu.

Di chiếu ư ngoại, 遗照於外
Trạch thần ư nội, 宅神於内
Minh Tâm chí thú, 冥心至趣
Nhi dữ cát hội. 而与吉会

Quên hình bên ngoài,
Thần cư Tâm nội,
Tiềm Tâm diệu cảnh,
Hợp với Cát tường.

Vô tâm ư sự, 无心於事
Vô sự ư tâm. 无事於心
Siêu xuất vạn ảo, 超出万幻
Xác nhiên nhất linh. 确然一灵

Tâm không vương sự,
Sự chẳng bận tâm,
Siêu xuất vọng tưởng,
Ấy thật Thần Linh.

始則有作有為者,採藥結丹以了命也;終則無作無為者,抱一冥心以了性也。

悟真篇云:

始則有作人爭覺,及至無為眾始知。但見無為為道妙,不知有作是根基。

證道歌云:

到無為處不無為,方知吾道 是希夷。

今之在象凡夫、出家外道,只知有這邊道理,不知有那邊境界,只知有此間之妙,不知有彼岸之玄;只知無事,而不知希有之事; 只知無為,而不知有為之法。此乃知其一不知其二。修其性不修其命者也。

故丹道未成之先,若不知下學之有為,而著於空焉,則謂之落空 漢。丹道已成之後,若不知上達之無為,而著於相焉,則謂之守屍鬼。

石杏林曰:

有物非無物,無為合有為。

陳泥丸曰:

我聞前代諸聖師,無為之中無不為。

DI THẦN NỘI VIỆN ĐOAN CỦNG MINH TÂM
移神内院端拱冥心

Mới đầu thì dùng hữu vi, hữu tác, thái dược kết đơn để Liễu Mệnh. Sau thì dùng Vô tác, Vô vi, bão nhất minh tâm để Liễu Tính.

Ngộ Chân Thiên nói:

Thủy vu hữu tác, nhân chẩm giác, 始于有作人怎觉,
Cập chí Vô Vi chúng thủy tri. 及至无为众始知。
Đãn kiến Vô Vi vi diệu Đạo, 但见无为为妙道,
Bất tri hữu tác thị căn ki. 不知有作是根基。

Thoạt đầu hữu tác người không biết,
Khi tới Vô Vi chúng mới hay.
Chỉ biết Vô Vi là diệu đạo,
Nào hay Hữu tác ấy căn ki.

Chứng Đạo Ca viết:

Đáo Vô Vi xứ, bất Vô Vi, 到无为处不无为,
Phương tri ngô đạo thị Hi Di. 方知吾道是希夷。

Đến được Vô Vi, chẳng Vô Vi,
Mới hiểu Đạo Ta thật Diệu Vi.

Nay kẻ phàm phu tu tại gia, hay kẻ ngoại đạo xuất gia, chỉ biết đạo lý phía này, mà không biết cảnh giới bên kia, chỉ biết cái hay phía này, mà không biết điều huyền diệu của bờ kia, chỉ biết Vô sự mà không biết những sự hi hữu. Chỉ biết Vô Vi mà không biết Hữu Vi, thế là chỉ biết một mà chẳng biết hai, chỉ biết Tu Tính mà không biết Tu Mệnh.
Cho nên, khi chưa thành Đạo, nếu không biết Hữu Vi Hạ Học, thì sẽ rơi vào không, thế là Người lạc vào Không. Khi Đạo đã thành, mà không lên tới được Vô Vi mà vẫn chấp Tướng, thì gọi là Thủ Thi Quỉ 守尸鬼.(quỷ giữ thây ma)
Thạch Hạnh Lâm nói:

Hữu vật phi vô vật. 有物非无物,
Vô vi hợp hữu vi. 无为合有为。

Hữu vật khôngVô Vật.
Vô Vi hợp Hữu Vi.
Trần Nê Hoàn nói:

Ngã văn tiền đại chư thánh sư. 我闻前代诸圣师,
Vô vi chi trung Vô Bất Vi. 无为之中无不为。

Ta nghe chư thánh các đời trước.
Sinh cả Vô Vi lẫn Hữu Vi.

陰長生曰:

無為真人居上界,空寂更無 塵可礙。有為功就又無為,無為也有功夫在。

所謂真人居上界者,即嬰兒出離苦海、移居天谷之時也。空寂冥心者,即呂祖向晦冥息真心合 道之法也。

施肩吾曰:達摩面壁九年,方超內院世尊。冥心六載,始脫樊籠。

夫冥心者,深居靜室,端拱默然,一 塵不染,萬慮俱忘,無思無為,任運自如;無視無聽,抱神以靜,無內無外,無將無應,離相離空,離迷離妄,體含虛寂,常覺常明,但冥此心,萬法歸一,則嬰兒 安居於清靈之境、棲止於不動之場。色不得而礙之,空不得而縛之,體若虛空,安然自在矣。

故達觀禪師云:

色不 縛兮空不礙,曇息冥心觀自在。大千萬有總歸無,世界壞時渠不壞。

譚長真云:

嬰兒移在上丹田,端拱冥心合自 然。修到三千功行滿,憑他作佛與升仙。

此處是純一不雜的工夫,豈能空纖毫情想,但起希仙作佛之心,便直生死竅中,不能得出。

所以關尹子云:若有厭生死心,超生死心,只名為妖,不名為道。

益清靜體中,空空蕩蕩,晃晃朗朗,一無所有,一切無住。

Âm Trường Sinh nói:

Vô vi Chân Nhân cư thượng giới, 无为真人居上界,
Không tịch cánh vô trần khả ngại, 空寂更无尘可碍。
Hữu vi công tựu hựu Vô Vi, 有为功就又无为,
Vô vi dã hữu công phu tại. 无为也有功夫在。

Vô Vi Chân Nhân sống trên Trời (Nê Hoàn),
Hư vô, không tịch, thoát trần ai,
Trước khi thành đạo đã Hữu Vi,
Thành đạo xong rồi mới Vô Vi.

Nói rằng Chân Nhân cư tại thượng, tức là nói Anh Nhi đã Xuất Ly Khổ Hải, lên được đỉnh đầu, không tịch minh tâm, tức như Lữ Tổ nói: Hướng Hối An Tức, Minh Tâm Hợp Đạo vậy.

Thi Kiên Ngô nói:

Đạt Ma diện bích cửu niên, 达摩面壁九年,
Phương siêu nội viện. 方超内院。
Thế Tôn minh tâm lục tải, 世尊冥心六载,
Thủy thoát phàn lung. 始脱樊笼。

Đạt Ma nhìn vách chín năm,
Anh Nhi mới lên được Nê Hoàn.
Phật Tổ tĩnh định sáu năm,
Mới thoát vòng kiềm tỏa vật chất.

Minh Tâm là: Thâm cư tĩnh thất, đoan củng mặc nhiên. Không bợn trần ai, không còn lo lắng, vi tư vô vi, nhiệm vận tự như, không thấy, không nghe, bão thần dĩ tĩnh, không trong không ngoài, ly tướng, ly không, ly mê, ly vọng, thể hàm hư tịch, thường giác, thường minh.

Chỉ cần minh tâm, vạn pháp sẽ qui nhất. Anh Nhi sẽ an cư trong cảnh Thanh Linh, đậu nơi Bất động chi trường. Sắc không là nó trở ngại, Không không trói buộc được nó. Nó trở thành Không Hư anh nhiên tự tại.

Cho nên Đạt Quan Đại Sư nói:

Sắc bất phược hề, không bất ngại, 色不缚兮空不碍,
Yến tức minh tâm quan tự tại. 宴息冥心观自在。
Đại thiên, vạn hựu tông quy vô, 大千万有总归无,
Thế giới hoại thời, cừ bất hoại. 世界坏时渠不坏。

Sắc không làm vướng, Không không trở ngại.
Lặng lẽ tâm yên quan tự tại.
Vạn Hữu trăm nghìn, điều qui Vô,
Thế giới tan đi, nó chẳng tan.

Đàm Tường Chân Nhân nói:

Anh Nhi di tại Thượng Đan Điền, 婴儿移在上丹田,
Đoan củng minh tâm hợp tự nhiên, 端拱冥心合自然。
Tu đáo tam thiên công hành mãn, 修到三千功行满,
Bằng tha tác Phật dữ thăng tiên. 凭他作佛与升仙。

Anh Nhi lên ở Thượng Đan Điền,
Sẽ ngồi ngay ngắn hợp tự nhiên,
Tu tới 3.000 công hành mãn,
Tùy nghi làm Phật hoặc làm Tiên.

Khi công phu đã đạt đến chỗ Thuần Nhất Bất Nhiệm, sẽ không được vương chút ti hào tạp niệm. Ví như chỉ muốn thành Tiên, thành Phật, thì sẽ sa vào vòng sinh tử, không ra khỏi nổi.

Quan Doãn Tử nói:

Nhược hữu yếm sinh tử tâm, 若有厌生死心,
Siêu sinh tử tâm, 超生死心,
Chỉ danh vi yêu, 止名为妖,
Bất danh vi Đạo 不名为道。

Nếu sinh Tâm chán sinh tử,
Muốn thoát sinh tử,
Thế gọi là Yêu (Yêu ma),
Không gọi là đạo.

Vốn trong thể Thanh Tịnh, thời Không Không, Đãng Đãng, rực rỡ, chói chang, không có cái gì, không trụ vào đâu.

故心要訣云:

冥心本乎無住無,住心體圓融不測。

如金剛經云:不應住色生心,不應住聲、香、味、觸法,生心 應生無所住心。

金剛齊菩薩云:我不依有住而住,不依無住而住,如是而住。

憎肇云:聖人之心,住無所住,其住 坐忘。

論云:不依一法,而心常住。

了心經云:心無所住,住無所心,了無執著,無住轉真。

淨名經云:一切法以無住為本,安住無為,名之為住,住無方所,故名無住。無住心者,是為真心。

禪源集云:言心者是心之名,言知者 是心之體。

菏澤云:心體能知,知即是心,心本空寂,至虛至靈。由空寂虛靈而知者,先知也。由空寂虛靈而覺者,先覺也。不慮而覺者, 謂之正覺。不思而知者,謂之真知。

故祖師云:空寂體上,自有本智能知,即此空寂之知,便是達摩所傳清淨心也。心常寂是自性體,心常 知是自性用。

所以六祖云:一切萬法,不離自性,自性自知,自性自見,自性自悟,自悟自度。悟性還易,了心甚難。故了心也者,了此心 也。了心,則心無其心矣。無心之心,是謂真心。真心是性,真性是心。

太上云:了心真性,了性真心,空無空處,無處了真。此謂真空不 空,空無所空,即是了見本心也。

Cho nên sách Tâm Yếu Quyết nói:

Minh Tâm bản hồ Vô Trụ, 冥心本乎无住
Vô Trụ Tâm Thể, 无住心体
Viên Dung bất trắc. 圆融不测。

Minh Tâm vốn không dựa vào đâu,
Tâm không dựa vào đâu,
Sẽ viên dung khôn lường.

Kinh Kim Cương cũng nói: Bất ưng trụ sắc sinh tâm, Bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc pháp sinh tâm. Ưng Sinh Vô Sở Trụ tâm. 不应住色生心,不应住声、香、味、触法生, 心应生无所住心。(Không nên trụ vào sắc mà sinh tâm. Không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm. Phải sinh Tâm không dựa vào đâu)

Kim Cang Tề Bồ Tát nói:

Ngã bất y hữu trụ nhi trụ, 我不依有住而住,
Bất y vô trụ nhi trụ, 不依无住而住,
Như thị nhi trụ 如是而住。

Ta không tìm nơi có chỗ dựa nương mà dựa,
Không tìm nơi không chỗ dựa nương mà dựa.
Cứ thế mà Trụ.

Tăng Triệu nói:

Thánh Nhân chi tâm trụ, 圣人之心住
Vô sở trụ kỳ trụ. 无所住其住

Tâm của Thánh Nhân Trụ,
Là không trụ vào đâu.

Sinh Vong Luận viết: Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ. 不依一法,而心常住。(Không dựa vào pháp nào, nên Tâm mới thường trụ)

Liêu Tâm kinh nói:

Tâm vô sở trụ, 心无所住,
Trụ vô sở tâm, 住无所心,
Liêu vô chấp trước, 了无执着,
Vô trụ chuyển Chân. 无住转真。

Nhất thiết pháp dĩ vô trụ vi bản.
Dựa chẳng có Tâm.
Không còn chấp trước,
Vô trụ chuyển thành Chân.

Tịnh Danh Kinh nói:

Nhất thiết pháp dĩ vô trụ vi bản, 一切法以无住为本,
An trụ Vô Vi, 安住无为,
Danh chi vi trụ, 名之为住,
Trụ vô phương sở, 住无方所,
Cố danh vô trụ, 故名无住。
Vô trụ tâm giả, 无住心者,
Thị vi Chân Tâm. 是为真心。

Nhất thiết pháp lấy Vô Trụ làm gốc,
An trụ trong Vô Vi.
Thế gọi là Trụ,
Chẳng dựa vào đâu,
Nên gọi là Vô Trụ.
Tâm mà Vô Trụ,
Thì gọi Chân Tâm

Thiền Nguyên Tập viết:

Ngôn Tâm giả, Thị Tâm chi danh, 言心者是心之名,
Ngôn Tri giả, Thị tâm chi thể. 言知者是心之体。
Lời là tên của Tâm.
Biết là bản thể của Tâm.

Hà Trạch nói:

Tâm thể năng tri, 心体能知,
Tri tức thị Tâm. 知即是心,
Tâm không bản tịch, 心空本寂,
Chí Hư chí Linh, 至虚至灵。
Do không tịch hư linh nhi tri giả, 由空寂虚灵而知者,
Tiên tri dã, 先知也
Do không tịch hư linh nhi giác giả, 由空寂虚灵而觉者,
Tiên giác dã, 先觉也。
Bất lự nhi giác giả, 不虑而觉者,
Vị chi chính giác, 谓之正觉。
Bất tư nhi tri giả, 不思而知者,
Vị chi Chân Tri. 谓之真知。

Tâm thể có thể biết,
Biết chính là Tâm.
Tâm không bản tịch,
Chí Hư, chí Linh,
Từ không tịch, Chí Linh mà biết,
Thì là Tiên Tri
Từ không tịch, Chí Linh mà Giác,
Thì là Tiên Giác.
Không suy mà Giác,
Thì là Chính Giác.
Không nghĩ mà biết,
Gọi là Chân Tri.

Cho nên tổ sư nói:

Không tịch thể thượng,
空寂体上,
Tự hữu bản trí năng tri.
自有本智能知,
Tiện thị Đạt Ma sở truyền Thanh Tịnh tâm dã.
便是达摩所传清净心也。
Tâm thường tịch thị danh tính thể,
心常寂是名性体,
Tâm thường tri thị danh tính dụng.
心常知是名性用。

Không tịch thể thượng,
Đã sẵn có Tri năng tri.
Đó là Thanh Tịnh tâm mà Đạt Ma truyền chúng ta.
Tâm thường tịch, gọi là tính thể,
Tâm thường tri, gọi là tính dụng.

Cho nên Lục Tổ nói:

Nhất thiết vạn pháp, bất ly tự tính, 一切万法不离自性
Tự Tính tự tri, tự Tính tự kiến, 自性自知自性自见
Tự Tính tự ngộ, tự Tính tự độ, 自性自悟自性自度
Ngộ Tính hoàn dị, liễu Tâm thậm nan, 悟性还易了心甚难
Cố Liễu Tâm dã giả, liễu thử Tâm dã, 故了心也者了此心也
Liễu Tâm tắc tâm vô kỳ tâm hĩ. 了心则心无其心矣
Vô tâm chi tâm, thị vị Chân Tâm. 无心之心是谓真心
Chân tâm thị Tính, Chân Tính thị Tâm. 真心是性真性是心

Tất cả Vạn Pháp, không lìa Tự Tính,
Tự Tính tự tri, Tự Tính tự thấy,
Tự Tính tự ngộ, Tự Tính tự độ,
Ngộ Tính còn dễ, liễu tâm thật khó,
Liễu Tâm là liễu cái Tâm này,
Liễu Tâm là Tâm không còn Tâm vậy.
Tâm mà Vô Tâm, thì là Chân Tâm,
Chân Tâm là Tính,
Chân Tính là Tâm.

龐居士云:

十方同聚會,個個學無為。此是選佛場,心空及第歸。

與夫空覺極圓,空所空滅,即是了見本性也。

華嚴經云:

法性本空寂,無取亦無見。性空即是佛,不可得思量。

原夫性體本空,心體本定。無空無無空即名畢竟空,無定無無定即名其如定。雖修空,不以空為證,不作空想,即是真空也。雖得定,不以 定為證,不作定想,即名真定也。空定衡極,通達無礙,一旦天機透露,慧性靈通,乍似蓮花開,恍如睡夢覺,忽然現出天然境界,充滿於上天下地而無盡藏也。此 是心性常明,炯炯不昧,晃朗宇宙,照徹古今,變化無方,神妙莫測。雖具肉眼而開慧眼之光明,非易凡心便同佛心之知見,乃是見性見到徹處,修行修到密處。故 得—性圓明六通頓足。

何謂六通?按玉陽大師曰:坐到靜時,陡然心光發現,內則洞見肺腑,外則自見鬚眉,智神踴躍,日賦萬言,說妙談 玄,無窮無極,此是心境通也。不出廬舍,預知未來事情。身處室中,又能隔牆見物。此是神境通也。正坐之間,剎時迷悶,混沌不分,少頃心竅豁然大開,地理山 河,猶如掌上觀紋,此是天眼通也。能聞十方之音如耳邊音,能憶生前之事如眼前事,此是天耳通也。或晝或夜,入於大定,上是天堂,下見地獄,觀透無數劫來宿 命所更,此是宿信通也。神通變化,出如自如,洞鑒十方眾生,知他心內隱微之事。他雖意念未起,了了先知,他雖意念未萌,了了先覺,此是他心通也。

Thái Thượng nói:

Liễu Tâm chân Tính, 了心真性,
Liễu Tính Chân Tâm, 了性真心,
Không vô không hư, 空无空虚,
Vô xứ Liễu Chân. 无处了真。
Thị vị Chân không bất không, 此谓真空不空,
Không vô sở Không, 空无所空,
Tức thị liễu kiến Bản Tâm dã. 即是了见本心也。

Liễu tâm là thấy Chân Tính,
Liễu Tính là thấy Chân Tâm.
Không không phải Không Hư,
Vô xứ là Liễu Chân.
Nên nói chân không không phải là không
Không không là Không,
Là thấy Bản Tâm vậy.
Bàng Cư Sĩ nói:

Thập phương đồng tụ hội, 十方同聚会,
Cá cá học Vô Vi, 个个学无为。
Thử thị tuyển Phật tràng, 此是选佛场,
Tâm Không cập đệ qui. 心空及第归。

Muôn nơi tụ họp về,
Ai ai cũng học Vô Vi,
Đây là trường thi tuyển Phật,
Tâm không đỗ đầu về.

Khi đã giác ngộ được chữ Không hoàn toàn, thì sẽ thấy được Bản Tính.
Hoa Nghiêm Kinh viết:

Pháp tính bản không tịch, 法性本空寂,
Vô thủ diệc vô kiến, 无取亦无见。
Tính Không tức thị Phật, 性空即是佛,
Bất khả đắc tư lường. 不可得思量。

Pháp tính vốn không tịch,
Bắt thấy đều không được.
Tính Không vốn là Phật,
Suy nghĩ không sao cùng.

Nguyên là Tính Thể bản Không, Tâm Thể bản Định. Vô không, vô vô không là tất cánh không. Vô định, Vô vô định gọi là Chân Như định. Tuy tu không, nhưng không phải để chứng không. Tuy đắc Định, nhưng không phải để chứng Định. Không có Định tưởng, thì là Chân Định. Không Định triệt cực, thì sẽ thông đạt Vô Ngại. Một khi Thiên Cơ đã lộ xuất, Tuệ Tính sẽ thông Linh, y như bông sen hồng nở, y như bừng tỉnh mộng. Bỗng chốc cảnh giới Kiền Nguyên hiện ra. Sung mãn đất trời, và thấy Vô Tận Tạng.
Như vậy Tâm tính luôn sáng ngời, rực rỡ không tối. Sáng soi vũ trụ, soi thấy cổ kim. Biến hóa vô phương, thần diệu mạc trắc. Lúc ấy Tuệ Nhãn sẽ khai, phàm tâm với Phật Tâm tri kiến giống nhau, thế là Kiến Tính tới triệt để, tu hành tới chỗ rốt ráo. Cho nên Nhất Tính sẽ Viên Minh, và lục thông sẽ đầy đủ.
Lục Thông là gì ?

Ngọc Dương Đại Sư nói:

“Tọa Thiền đến lúc cực tĩnh, thì Tâm quang sẽ phát hiện. Trong sẽ thấy phế phủ, ngoài sẽ thấy lông mày. Thần Trí sẽ dũng mãnh, ngày trao vạn lời, thuyết diệu đàm huyền, vô cùng vô cực. Thế là Cảnh Thông – 境通.”

Chẳng ra khỏi lều tranh, mà biết chuyện tương lai. Mình ngồi trong nhà, cách tường nhìn thấy vật, thế là Thần Cảnh Thông – 神境通.

Đang lúc ngồi ngay nhắn, tự nhiên mê bế, không biết gì. Sau đó Tâm Địa khuếch nhiên đại khai, địa lý sơn hà, thấy như nét chỉ tay trong bàn tay. Thế là Thiên Nhãn Thông – 天眼通.

Nghe tiếng thập phương, như ở bên tai. Nhớ việc kiếp trước như việc nhãn tiền, thế là Thiên Nhĩ Thông – 天耳通.

Hoặc ngày hoặc đêm, nhập vào Đại Định, trên thấy Thiên Đường, dưới thấy Địa Ngục, nhìn thấy vô số kiếp trước, túc mạng hiển bày, thế là Túc Tín Thông – 宿信通.

Thần thông biến hóa, xuất nhập tự tại, nhìn thấy tâm mọi chúng sinh, biết chúng suy nghĩ gì. Tuy chúng chưa phát hiện, mà đã biết rành, tuy ý nhiệm chúng chưa manh nha, mà đã biết trước hết, thế là Tha Tâm Thông – 他心通.
子思曰:心之精神之謂聖。故心定而能慧,心寂而能感,心靜而能知,心空而能靈,心誠而能明,心虛而能覺。

四祖道信曰:一切神通作 用,皆是自心感現。

瓔珞經曰:神名天心,通名慧性。天然之慧徹照無得,故名神通。神通具足,愈加默耀,韜光慧而不用,若露圭角,恐 染邪魔。

古云:道高一尺,魔高一丈。正定之時,或聞種種善惡之聲,或現種種違順之境,總是魔障,不可著他。又須反觀一身,四大皆是 假,合如夢幻,全體非身。但在此心,魔自消滅。

古語云:見怪不怪怪自亡,見魔非魔魔自滅。或腦中有霹靂之聲,或眼內有金星燦耀,或 頂下紅霞了繞,或眉間湧出圓光,此皆幻景,心莫受他,但行工夫,休證效驗。

Tử Tư nói:

Tâm chi tinh thần chi vị Thánh, 心之精神之谓圣。
Cố Tâm Định nhi năng tuệ, 故心定而能慧
Tâm tịch nhi năng cảm, 心寂而能感,
Tâm tĩnhh nhi năng tri, 心静而能知,
Tâm không nhi năng linh, 心空而能灵,
Tâm thành nhi năng minh, 心诚而能明,
Tâm hư nhi năng giác. 心虚而能觉。

Tinh thần của tâm thì gọi là Thánh,
Cho nên Tâm định thì phát huệ,
Tâm yên thì năng cảm,
Tâm tĩnh thì sẽ biết,
Tâm không sẽ linh giác,
Tâm thành sẽ sáng suốt,
Tâm hư sẽ giác ngộ.

Tứ Tổ Đạo Tín nói:

Nhất thiết thần thông tác dụng, 一切神通作用,
Giai thị tự tâm cảm hiện. 皆是自心感现。

Thấy có Thần Thông tác dụng,
Đều do tự tâm cảm hiện.

Anh Lạc Kinh nói:

Thần danh Thiên Tâm, 神名天心,
Thông danh Tuệ Tính, 通名慧性。
Thiên Nhiên chi Tuệ, 天然之慧
Triệt chiếu vô ngại, 彻照无碍,
Cố danh Thần Thông. 故名神通。
Thần Thông cụ túc, 神通具足,
Dũ gia mặc diệu thao quang, 愈加默耀韬光
Tuệ nhi bất dụng, 慧而不用,
Nhược lộ khuê giác 若露圭角,
Khủng nhiễm tà ma 恐染邪魔。.

Thần tên Thiên Tâm,
Thông tên Tuệ Tính,
Thiên Nhiên Tuệ Giác,
Chiếu soi vô ngại.
Nên gọi Thần Thông,
Có đủ Thần Thông,
Không lộ Phong mang,
Không khoe Tuệ Giác,
Nếu lộ Khuê Giác,
E bị tà ma.

Người xưa nói:

Đạo cao nhất xích, 道高一尺
Ma cao nhất trượng. 魔高一丈
Chính định chi thời 正定之时
Hoặc văn chủng chủng thiện ác chi thanh, 或闻种种善恶之声
Hoặc hiện chủng chủng vi thuận chi cảnh. 或现种种违顺之境
Tổng thị ma chướng, 总是魔障
Bất khả trước tha, 不可着他
Hựu tu Phản Quan, 又须反观
Nhất thân tứ đại, 一身四大
Câu thị giả hợp. 俱是假合
Như mộng như huyễn, 如梦如幻
Toàn thể phi chân, 全体非真
Đãn chính thử Tâm, 但正此心
Ma tự tiêu tự diệt 魔自消自灭

Đạo cao một thước,
Ma cao một trượng.
Khi ngồi chính định,
Có thể nghe thấy nhiều loại thanh âm thiện ác,
Hay thấy hiện ra vô số cảnh thuận nghịch.
Tất cả đều là ma chướng.
Không thể tin được.
Phải biết Phản Quan,
Thấy thân Tứ Đại,
Đều là giả hợp,
Như mộng, như huyễn,
Toàn thể là sai.
Cứ chính Tâm lại,
Ma sẽ tự tiêu tự diệt.

Cổ Thư nói:

Kiến quái bất quái quái tự vong, 见怪不怪怪自亡,
Kiến ma phi ma ma tự diệt. 见魔非魔魔自灭。

Kiến quái không cho là quái, quái sẽ tự vong,
Thấy ma không cho là ma, ma sẽ tự diệt.

Hoặc nghe tiếng sấm sét trong đầu, hoặc thấy trong mắt có Kim Tinh sáng láng, hoặc trên đầu có ráng hồng cuộn quanh, hoặc dưới chân mày vụt xuất hào quang, tất cả đều là ảo cảnh, không nên bận tâm tới chúng. Chỉ việc hành công phu, đừng mong chứng nghiệm thấy gì.
所以古仙云:項下有光猶是幻,雲生足下未為仙。又於靜中 忽見樓台珠翠、女樂笙簧、異草奇花、觸目如畫,彼人不悟,將謂是到天宮,不知自身內院,認作真境,因循而不出。入此際須用虛空觀而擴充之,則我天谷之神升 入太虛,合而為一也。

其虛空觀者,應觀自心。心本不生,自性成就,本來空寂,光明遍照,猶如虛空瑩徹,清淨廓然,周遍圓明,皎潔成 大月輪,量等虛空,浩然無際。復應觀察自身,則心之虛空而通於身之虛空,身之虛空而通於天地之虛空,天地之虛空而通於太極之虛空,虛虛相通,共成一片,豈 不與太虛混之而為一耶?

始而虛其心也,既而虛其身,又既而虛天地,虛而無虛,無虛而虛,虛也不知,無虛也不知,則我陽神沖虛出入而 無障礙矣。然後方可與天地合德,太虛同體,而為混虛氏之人歟。

此處只言到太虛之階梯,未曾造到太虛之實際。謂之煉神則可,謂之出神 則未也。

欲要高奔帝境,當煉演谷神,常以靈和寂照,為心虛空不住,為觀抱本還原歸太極,由此進進不已,及其無上可上,玄之又玄,無 象可像,不然而然,則一靈之妙有遍法界,而圓通貫雲漢,以高躋與穹冥而俱合,此天谷元神煉到至極至妙之處也。

故章思廉曰:得太極全 體,見本來面目,先天一點真,後天卻是屋。

瑩蟾子曰:煉陽神了出陽神,自色界超無色界。既然證成妙道,須要混俗和光。雖處凡塵,而 不可流俗;雖居濁世,而莫測行藏。日唯銷隱,匿積陰功,開誠心,施法乳,汲引後學,普度眾生,上報佛恩,下資群品。

Cho nên cổ tiên nói:

Đỉnh thượng hữu quang do thị ảo, 项上有光犹是幻,
Vân sinh túc hạ vị vi Tiên, 云生足下未为仙。

Đỉnh đầu phát sáng còn là ảo,
Mây sinh dưới gót chửa là Tiên.

Lại trong khi Thiền Định bỗng thấy Lâu Đài châu túy, nữ nhạc sinh huỳnh, kỳ hoa dị thảo, như là tranh vẽ. Kẻ kia không hiểu, tưởng đã lên trời, biết đâu rằng cái đó là do chính nơi Đan Điền mình, cho ảo cảnh là chân cảnh. Cứ thế đi lên mà không biết đường ra. Lúc này nên dùng hư không mà khuếch sung thêm, thì Thần của ta nơi Thiên Cốc có lẽ thăng nhập Thái Hư, hợp nhất với Thái Hư.

Quán xét hư không là quán xét tự tâm. Tâm vốn chẳng sinh ảo giác, mà ảo giác là do tự tính sinh. Bản lai vốn không tịch, nên mới sáng soi muôn nơi. Y như hư không, quýnh triệt hư tĩnh, biên chiếu khắp nơi, viên minh hạo khiết, như trăng tròn lớn, to như chân không.

Sáng chói không bờ. Trở về quan sát tự thân, thì tâm và thân đều hư không như nhau. Thân hư không thông với hư không trời đất, hư không của trời đất thông với hư không của Thái Hư. Hư không tương thông, thành một miếng. Thế chẳng phải là hợp nhất với Thái Hư sao?
Trước hết là Hư kỳ Tâm, sau đó là Hư kỳ Thân, rồi Hư cả trời đất. Hư chẳng phải là Hư, Hư mà là Vô Hư, Hư mà không biết, Vô Hư mà cũng không biết, nên dương thần của ta xung hư mà ra vào không bị chướng ngại vậy. Sau đó có thể cùng Thiên Địa hợp kỳ đức, đồng thể với Thái Hư. Thế là người đã Hỗn Đồng (Đồng Hóa) với Thái Hư vậy. Thế là mới nói tới giai đoạn lên cùng Thái Hư, chứ chưa vào được Thực Tế của Thái Hư, mới chỉ là luyện Thần chứ chưa phải xuất thần.

Cứ thế tiến lên mãi mãi, cho tới chỗ Vô Tướng khả thương, huyền chi hựu huyền, vô tượng khả tương, bất nhiên nhi nhiên. Thế là đạt tới chỗ Linh Chi Diệu hữu, quán thông khắp Pháp giới, vượt lên trên cõi Vân Hán, hòa hợp với Khung Hạo. Thế là Thiên Cốc Nguyên Thần của ta luyện được tới chỗ chí cực, chí diệu.

Cho nên Chương Tư Khiêm nói:

Đắc Thái Cực toàn thể, 得太极全体,
Kiến Bản Lai diện mục, 见本来面目,
Tiên Thiên nhất điểm chân, 先天一点真,
Hâu thiên tức thị ốc 后天却是屋。

Được Thái Cực toàn thể,
Thấy Bản Lai diện Mục,
Tiên Thiên nhất điểm chân,
Hậu thiên là Nhà vậy.

Huỳnh Thiềm Tử nói:

“Luyện Dương Thần Liễu xuất Dương Thần, từ Sắc Giới siêu lên Vô Sắc Giới. Thế là Chứng Thành Diệu Đạo. Cần phải hòa quang vào với Hỗn Độn. Tuy ở Hồng Trần, nhưng không chung ô nhiễm với thế nhân. Tuy sống trong thế giới ô trọc, nhưng hành tàng mạc trắc. Tuy mỗi ngày đều muốn mai danh ẩn tích, ám trung tích đức, khai thành tâm, giảng Phật pháp như cho người uống sữa, hướng dẫn kẻ hậu học, phổ độ chúng sinh, trên báo Phật ân, dưới giúp mọi người”

Đạo cao một thước,
Ma cao một trượng.
Khi ngồi chính định,
Có thể nghe thấy nhiều loại thanh âm thiện ác,
Hay thấy hiện ra vô số cảnh thuận nghịch.
Tất cả đều là ma chướng.
Không thể tin được.
Phải biết Phản Quan,
Thấy thân Tứ Đại,
Đều là giả hợp,
Như mộng, như huyễn,
Toàn thể là sai.
Cứ chính Tâm lại,
Ma sẽ tự tiêu tự diệt.

Cổ Thư nói:

Kiến quái bất quái quái tự vong, 见怪不怪怪自亡,
Kiến ma phi ma ma tự diệt. 见魔非魔魔自灭。

Kiến quái không cho là quái, quái sẽ tự vong,
Thấy ma không cho là ma, ma sẽ tự diệt.

Hoặc nghe tiếng sấm sét trong đầu, hoặc thấy trong mắt có Kim Tinh sáng láng, hoặc trên đầu có ráng hồng cuộn quanh, hoặc dưới chân mày vụt xuất hào quang, tất cả đều là ảo cảnh, không nên bận tâm tới chúng. Chỉ việc hành công phu, đừng mong chứng nghiệm thấy gì.

Trích dẫn

Đỉnh đầu phát sáng còn là ảo,
Mây sinh dưới gót chửa là Tiên.

Lại trong khi Thiền Định bỗng thấy Lâu Đài châu túy, nữ nhạc sinh huỳnh, kỳ hoa dị thảo, như là tranh vẽ. Kẻ kia không hiểu, tưởng đã lên trời, biết đâu rằng cái đó là do chính nơi Đan Điền mình, cho ảo cảnh là chân cảnh. Cứ thế đi lên mà không biết đường ra. Lúc này nên dùng hư không mà khuếch sung thêm, thì Thần của ta nơi Thiên Cốc có lẽ thăng nhập Thái Hư, hợp nhất với Thái Hư.
Ít ai được hướng dẫn về những điều này, mà ngược lại thường rất tò mò..

Cho SCC hỏi Bác 1 vài điều. Có những lúc mình như ngồi chìm trong nước, hoặc lạc vào giữa 1 rừng sao… mình phải làm sao Bác ạ
chanhnguyen:

Đó là những bệnh của thân, do “tứ đại bất hòa”.

Lạc trong nước, do thủy đại quá mạnh.

Lạc giữa rừng sao, do phong đại dẫn dắt.

Tất cả đều là huyển cảnh, đừng quan tâm tốt xấu, điều chỉnh thân thể bình thường trở lại là được.

Có thể coi đó là vọng, và nên “biết vọng không theo” là đủ.
實無眾生得滅度者。故世尊成道之旦,發普度眾生之悲,乃曰:先度眾生,然後作佛。

肇法師曰:性本無生,故亦無滅,此 實千聖同然之真心。眾生度盡,方入涅槃,此亦千聖同歸之實際。

王方平曰:

鸞鶴來時乘紫霧,玉皇有敕登仙路。 九玄七祖盡升天,度了群生方自度。

噫!試觀古佛高仙何等運心之普,如今人有一法一訣者,秘密珍藏,猶恐漏洩,較之古人,可不愧死。

予之無念也久矣,但未得自度,先要度人,一念存心,不能自釋,今之此作,盡洩天機,唯末後一著,尚未發明。

今再言 之,道書曰:陰神能見人,陽神使人見。蓋獨修一物者,所出乃陰神也。陰神則有影無形,世所謂鬼仙是也。若雙修性命者,所出乃陽神也。陽神則有影有形,世所 謂天仙是也。故曰:道本無相,仙貴有形。然而出神太早,丹經之所深訶既得,其母當返其始。常留神於天谷,復歸如嬰兒,不識不知,唯深唯寂,陽光無漏,則愈 擴愈大,彌遠彌光,自然變化生神。生之再生,則生生而無盡;化之又化,則化化而無窮,又生孫百千萬億。

張紫陽曰:

一載生個兒,個個會騎鶴。

陳泥丸曰:

一載胎生一個兒,子又孫兮孫又枝。

白玉蟾曰:

一體遍多猶朗月,而影分千水多身。

入一著明鏡,而光寓萬形。

仙家謂之分身,佛氏謂之 化身。如世尊之不離菩提樹下,而遍升天宮說法。又如善財之不出莎羅林,歷二百十城而遍參諸友。

東華帝君曰:

法身剛大通天地,真性圓明貫古今。若未頂門開具眼,休教散影與分形。
Kinh Kim Cương nói:

“Nay có các hạng chúng sinh như noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, như hữu sắc, như vô sắc, như hữu tưởng, như vô tưởng, như phi hữu tưởng, như phi vô tưởng, nay ta sẽ giúp cho họ được giải thoát tất cả, giúp họ nhập Vô Dư Niết Bàn. Như vậy sẽ diệt độ Vô số Lượng, Vô Biên chúng sinh. Thật có nhiều chúng sinh đã được diệt độ.”

Cho nên sáng ngày đức Thế Tôn thành đạo, Ngài thương chúng sinh và nói: Tiên độ chúng sinh, nhiên hậu tác Phật. 先度众生,然后作佛。(Trước độ chúng sinh, sau mới thành Phật).

Triệu Pháp Sư nói:

Tính bản vô sinh, Cố diệc vô diệt, Thử thật thiên thánh đồng nhiên chi Chân Tâm. Chúng sinh độ tận, Phương nhập Niết bàn. Thử diệc Thiên Thánh đồng qui chi thực tế. 性本无生,故亦无灭,此实千圣同然之真心。众生度尽,方入涅槃,此亦千圣同归之实际。

Tính vốn Vô sinh, Nên cũng Vô Diệt.
Đó là thiên thánh đồng nhiên nhi Chân Tâm.
Chúng sinh độ tận, Mới Nhập Niết Bàn.
Đó là chỗ Thiên thánh thực tế đồng qui vậy.

Vương Phương Bình nói:

Loan hạc lai thời, thừa tử vụ, 鸾鹤来时乘紫雾,
Ngọc Hoàng hữu sắc đăng tiên lộ. 玉皇有敕登仙路。
Cửu huyền thất tổ tận thăng thiên, 九玄七祖尽升天,
Độ liễu quần sinh phương tự độ. 度了群生方自度。

Loan Hạc tới rồi, nương mây tía,
Ngọc Hoàng có chỉ gọi ta lên Tiên Lộ.
Cửu Huyền Thất Tổ lên tiên cả rồi.
Ta độ chúng sinh trước rồi tự độ.

Ôi! Xưa cổ Phật Cao Tiên có một tấm lòng quảng đại, vô tư! Còn như nay có một hạng người chỉ biết một phép, một khẩu quyết, mà muốn giữ hết sức bí mật. Họ sánh với cổ nhân thì thật xấu hổ chết.

Ta đã Vô Niệm từ lâu. Chỉ vì trước muốn độ người, sau mới độ mình. Tâm còn một niệm, chưa thể nói ra. Nay nếu ta làm sẽ tận tiết lộ Thiên cơ. Tuy còn một điều chưa thể nói ra, nay xin nói nốt.

Đạo thư nói:

Âm thần thấy được người, Dương thần người nhìn thấy. Nếu tu một vật, thì Âm Thần sẽ hiện ra, Âm thần sẽ hữu ảnh, vô hình, đó là Quỷ Tiên vậy. Còn nếu tu Tính Mệnh cả hai bên, thì Dương thần sẽ hiện ra. Dương thần thì Hữu ảnh, hữu hình, đó là Thiên Tiên vậy. Cho nên nói: “Đạo bản vô tướng, tiên quí hữu hình.” Nhưng nếu xuất thần quá sớm, thì Đạo Kinh thương quở trách. Khi đã có Mẹ, thời phải trở về đầu. Thường lưu thần nơi Thiên Cốc, phục qui như Anh Nhi, bất thức bất tri, duy thâm, duy tịch. Dương quang vô lậu, nên càng rộng, càng lớn, càng xa càng sáng. Tự nhiên biến hóa sẽ sinh thần, sinh rồi lại sinh, sinh sinh vô tận, hóa rồi lại hóa, hóa hóa vô cùng. Con lại sinh cháu, bách thiên, vạn ức.

Trương Tử Dương viết:

Nhất tải sinh cá nhi, 一载生个儿,
Cá cá hội kỵ hạc. 个个会骑鹤。

Một đời sinh vài trẻ,
Ai ai cũng cưỡi hạc thành tiên.

Trần Nê Hoàn nói:

Nhất tải thai sinh nhất cá nhi, 一载胎生一个儿,
Tử hựu tôn hề, tôn hựu chi. 子又孙兮孙又枝。

Một đời thai sinh được một con,
Con rồi lại cháu, cháu lại chi.

Bạch Ngọc Thiềm nói:

Nhất thể biến da, 一体遍多,
Do lãng nguyệt nhi ảnh phân thiên thủy. 犹朗月而影分千水
Đa thân nhập nhất, 多身 入一
Nhược minh kính nhi quang ngụ vạn hình. 若明镜而光寓万形

Một thân hóa nhiều,
Như trăng sáng phân thành nghìn ảnh.
Nhiều thân nhập một,
Như gương sáng có thể soi vạn hình.

Tiên gia gọi là Phân Thân, Phật gia gọi là Hóa Thân, như đức Thế Tôn không lìa cây Bồ Đề mà vẫn lên Thiên Cung thuyết pháp, lại như Thiện Tài là rừng Sa La mà vẫn gặp các bạn ở 110 thành khác.

Đông Hoa Đế Quân nói:

Pháp thân cương đại thông thiên địa. 法身刚大通天地,
Chân Tính viên minh quán cổ kim. 真性圆明贯古今。
Nhược vị đỉnh môn khai kỳ nhãn, 若未顶门开其眼,
Hưu giáo tán ảnh dữ phân hình. 休教散影与分形。

Pháp thân cương đại thông Thiên Địa,
Chân Tính viên minh quán cổ kim.
Nếu trên đầu chưa khai được mắt thứ ba,
Thì đừng truyền cho phép Phân thân, tán ảnh.

分形散影非不妙也,奈何還滯幻軀中,尚未超脫,欲千變萬化,豈不反傷於本體耶? 直到九載功完純,亦不宜忽然跳出五行之外,返於無極之初。證實相妙之,更妙得真功全之,又全成金剛不壞之體,作萬年不死之人。自覺覺他紹隆佛種三千功滿, 而白鶴來迎,八百行圓,而丹書宣詔飛昇金閣,返佩帝鄉。

即鐘離翁云:

九載功成人事盡,縱橫天地不由親。

蕭紫虛云:

功成須是出神經,內院繁華無累身。會取古仙超脫法,飄然跨鶴觀三清。

諸仙奔殼,各有不同。有從 寶塔出者,有從紅樓出者,有看月而出者,有對鏡而出者,有沖頂門而出者。

所以玄奧集云:

塞斷黃泉路,衝開紫 府門。如何海蟾子,化鶴出泥丸。

中和集云:

成就頂門開一竅,個中別是一乾坤。

蓋頂門 一竅豈易開哉。先發三昧火透之,不通。次聚太陽火沖之,略啟。二火騰騰,攻擊不已。剎時,紅光滿界,紫焰彌天,霹靂一聲,頂門開也。

故呂純陽曰:

九年火候直經過,忽爾天門頂中破。真人出現大神通,從此天仙可相賀。

Phân thân tán ảnh không phải là kỳ diệu, vì vẫn còn lệ thuộc vào ảo thân, chưa phải là giải thoát. Nếu muốn thiên biến vạn hóa, há không sợ hại Bản Thể mình sao?

Khi đã được chín năm công phu toàn vẹn, hết sức là thuần túy rồi, sẽ thoát ra ngoài vòng cương tỏa của ngũ hành, trở về được với Vô Cực thủa ban đầu, chứng thực được Diệu Tướng cánh Diệu, được Chân Công, toàn vẹn chí cực, có được thân Kim Cương bất hoại, sẽ sống vạn năm, tự giác, giác tha, tiếp nối được quảng đại chủng tử của Phật Tổ. Sẽ được Tam Thiên Đại Công cáo thành, sẽ có Bạch Hạc đến đón. Sẽ được Ngọc Đế đơn thư tuyên triệu, thân bay lên Kim Khuyết, phản quy Đế Hương, như Chung Ly Ông nói:

Cửu tải công thành nhân sự tận, 九载功成人事尽,
Khiên hoành Thiên Địa bất do thân. 纤横天地不由亲。

Chín năm công thành nhân sự tận
Dọc ngang trời đất chẳng do ta.

Tiểu Tử Hư nói:

Công thành tu thị xuất thần kinh, 功成须是出神经,
Nội viện phồn hoa vật lụy thân. 内院繁华勿累身。
Hội thủ thần tiên siêu thoát pháp, 会取神仙超脱法,
Siêu nhiên khóa hạc cận Tam Thanh. 飘然跨鹤觐三清。

Công thành âu phải xuất Kinh Đô,
Đơn Điền tuy đẹp chớ lụy thân.
Hãy học Tiên xưa phép siêu thoát,
Hãy cưỡi hạc bay viếng Tam Thanh.

Chư tiên thoát xác, không giống nhau. Có người phi thăng tụ Bảo Tháp, có người phi thăng từ Hồng Lâu. Có người nhìn trăng mà đi, có người soi gương mà phi thăng, có người thoát ra tự đỉnh đầu, cho nên sách Huyền Ảo Tập nói:

Tắc đoạn Hoàng Tuyền lộ, 塞断黄泉路,
Xung khai Tử Phủ môn. 冲开紫府门。
Như hà Hải Thiềm Tử, 如何海蟾子,
Hóa hạc xuất Nê Hoàn. 化鹤出泥丸。

Bế tắc Sinh tử lộ,
Mở được cửa Đỉnh Đầu.
Làm sao Hải Thiềm Tử,
Hóa Hạc xuất Nê Hoàn

Trung Hòa Tập viết:

Thành Tựu Đỉnh Môn khai nhất khiếu, 成就顶门开一窍,
Cá trung biệt thị nhất Kiền Khôn. 个中别是一乾坤。

Và mở được Đỉnh Môn đâu có dễ? Trước hết phải dùng Tam Muội Hỏa, thông qua không được. Sau đó dùng Thái Dương Hỏa, nó mới mở ra. Hai thứ hỏa đó xung kích luôn luôn. Thoát chốc, một luồng hồng quang tràn thế giới, lửa tím ngang trời, rồi có một tiếng sét lớn, đỉnh môn mở ra.

Cho nên Lữ Thuần Dương nói:

Cửu niên hỏa hậu trực kinh quá, 九年火候直经过,
Hốt nhĩ Thiên Môn đỉnh trung phá. 忽尔天门顶中破。
Chân Nhân xuất hiện đại thần thông, 真人出现大神通,
Tòng thử Thiên Tiên khả tương hạ. 从此天仙可相贺。

Chín năm hỏa hậu vừa mới xong,
Bỗng thấy đỉnh đầu như muốn vỡ.
Chân Nhân xuất hiện Đại Thần Thông,
Từ đó Thiên Tiên có thể đến mừng.
真人出現,乘雲氣,御飛 龍,升玉京,游天闕,飄飄雲際,翱翔太空。鳳篆金書,朝赴九陽之殿;蟋桃玉液,位登萬聖之筵。適意則鸞輿前引,登雲則龍駕前迎。紫府鰲宮欲去,而頂中鶴 舞,丹台瓊苑擬游,而足下雲生。劫火洞燒,我則優遊於真如之境;桑田變海,我則逍遙於極樂之天。聚則成形,散則成氣,隱顯莫測,變化無窮。人水火而不溺不 焚,步日月而無形無影。刀兵不能害,虎兕不能傷。陰陽不能變遷,五行不能陶鑄。閻羅不能制其死,帝釋不能宰其生。縱橫自在,出入自由。信乎!

紫陽云:

一粒靈丹吐入腹,始知我命不由天。

此大丈夫得意之秋,功成名遂之日也。人生到此,寧不快哉?

上陽子云:

總皆凡世播英雄,做盡功名到底空。唯有金丹最靈妙,大羅天上顯神通。
(化 身五五圖)

HÓA THÂN NGŨ NGŨ ĐỒ

Chân Nhân xuất hiện, thừa vân khí, cưỡi phi long, thăng Ngọc Kinh, Du Đế Khuyết, phiêu phiêu vân tế, bay lượn trên trời. Có phượng triện, kim thư, mời đến điện Cửu Dương triều kiến Ngọc Hoàng, dự hội Bàn Đào, yến diện cùng vạn thánh. Dùng xe loan tùy ý rong chơi, lên mây thì có xe rồng chờ đón, có Tử Phủ Ngao Cung. Có hạc múa trên đầu, có đơn đài quỳnh viện. Muốn đi đâu thì mây đã sẵn dưới chân. Con người bị lửa cháy, còn ta đã ưu du vào Chân Như chi Cảnh. Tang điền biến hiện, nhưng ta đã tiêu diêu nơi Cực Lạc chi thiên.
Ta tụ thời thành hình, tán thời thành khí, ẩn hiện khôn lường, biến hóa vô cùng. Nước lửa không làm được cho ta chết đuối hay cháy tan. Ta sáng như nhật nguyệt, không bóng, không hình; Đao binh không hại được ta, hổ lang không làm ta tổn thương. Âm Dương không làm ta thiên biến, Ngũ Hành không nung nấu được ta. Diêm La không bắt được ta chết. Đế Thích không điều khiển được sự sống của ta. Ta ngang dọc tự do, xuất nhập tự tại. Tin chăng?

Tử Dương nói:

Nhất lạp linh đan thôn nhập phúc, 一粒灵丹吞入腹,
Thủy tri ngã mệnh bất do thiên 始知我命不由天。

Một hạt Kim Đơn nuốt xuống bụng,
Mới hay Ngã Mệnh bất do thiên.

Đó là lúc Đại Trượng Phu sống đắc ý, đó là ngày công thành danh toại. Con người được như vậy, không phải sướng lắm thay.

Thượng Dương Tử nói:

Tổng giai phàm thế bá anh hùng, 总皆凡世播英雄,
Tố tận công danh, đáo để không. 做尽功名到底空。
Duy hữu Kim Đơn tối Linh diệu, 唯有金丹最灵妙,
Đại la thiên thượng hiển Thần Thông. 大罗天上显神通。

Nhìn xem trần thế chúng anh hùng
Công danh dẫu mấy cũng là không
Duy có Kim Đơn là Linh Diệu
Trở thành Thượng Tiên, hiển thần thông

画江成路圖

(HỌA GIANG THÀNH LỘ ĐỒ)

HỌA GIANG THÀNH LỘ
(Nội dung trong đồ hình)

Dục độ vô chu tiếp. 欲渡无舟楫
Ba quang vạn lý thu, 波光万里秋
Khinh huy tu vũ phiến, 轻挥修羽扇
Ngư đoạn đại giang lưu. 鱼断大江流

Ta muốn sang sông, chẳng thuyền bè
Nước sáng muôn tầm, chẳng chi che
Quạt lông sẽ vẫy, phân sóng nước
Làm cá đang bơi mất lối về

Ngang Trì ngư phụ tả ư Hải thượng nhất túc phù gia.

昂池渔父写於海上一粟浮家

(Ngư phủ Ngang Trì viết tại cái nhà nhỏ như hạt thóc trôi nổi trên biển cả)
跨鹤凌霄图

(KHÓA HẠC LĂNG TIÊU ĐỒ)

KHÓA HẠC LĂNG TIÊU
(Nội dung trong đồ hình)

Đệ cửu thành truyền Ca Tôn giả, 第九成传迦尊者,
Tụng Kinh trai giới tổng giai không. 诵经斋戒总皆空,
Hà tất tham thiền uổng phí công, 何必参禅枉费工。
Kham tiếu danh sơn bôn tẩu khách, 堪笑名山奔走客,
Bất tri Phật tại kỷ tâm trung. 不知佛在己心中。

Tụng kinh trai giới thảy đều không
Hà tất tham thiền uổng phí công.
Nực cười thiên hạ tìm trong núi
Chẳng hay rằng Phật tại tâm trung.
阳神出现图

(DƯƠNG THẦN XUẤT HIỆN ĐỒ )
DƯƠNG THẦN XUẤT HIỆN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)

Thiểm thiểm bạch hào đoan lý, dũng xuất Vô Tướng Thực Tướng chi kim thân
闪闪白毫端里涌出无相实相之金身
Viêm viêm Xá Lợi quang trung, phổ hiện tam thiên đại thiên chi thế giới
炎炎舍利光中普现三千大天之世界

Trong ánh sáng rực rỡ của hào quang, thấy hiện ra Kim Thân Vô Tướng Thực Tướng,
Hừng hừng trong hào quang Xá Lợi, thấy hiện ra Tam Thiên Đại Thiên chi thế giới.
Tì Lư đỉnh thượng hành, 毗卢顶上行
Tịch diệt hải trung hý. 寂灭海中戏
Kỳ tai thử diệu môn, 奇哉此妙门
Phật tổ tằng thụ ký . 佛祖曾授记

Tì Lư từ đỉnh đầu đi lên,
Ngao du trong biển tịch diệt.
Kỳ thay cánh cửa đó,
Phật tổ cũng thụ ký qua
Dương thần xuất hiện, 阳神出现
Thước thước Kim quang. 烁烁金光
Thừa bỉ bạch vân, 乘彼白云
Tiêu diêu Đế hương. 逍遥帝乡

Dương Thần xuất hiện,
Kim quang rực rỡ.
Cưỡi làn mây trắng,
Bay lên quê Trời.
Phật nhân bán kệ xả toàn thân, 佛因半偈舍全身
Cao chứng nguy nguy vạn đức tôn. 高证巍巍万德尊
Liễu đắc Niết Bàn, Chính Pháp Nhãn, 了得涅槃正法眼
Kim cương bất hoại, thể trường tồn. 金刚不坏体长存

Phật nghe bán kệ, xả toàn thân,
Cao chứng nguy nguy vạn đức tôn.
Biết được Niết Bàn chánh Pháp nhãn,
Thể hiện được Thân Kim Cương Bất Hoại.
Kiến thân vô Phật, thị Phật Thân, 见身无佛是佛身
Liễu tâm như ảo thị Phật ảo. 了心如幻是佛幻
Liễu đắc Thân Tâm bản tính không, 了得身心本性空
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt? 斯人与佛何殊别

Thấy thân không Phật, ấy Phật thân
Coi thân như ảo là quan niệm của Phật
Thấy được Tâm Thân Bản Tính vốn không tịch
Người như vậy có gì khác Phật?
Tâm đồng hư không giới, 心同虚空界
Thị đẳng hư không pháp. 示等虚空法
Chứng đắc hư không thân, 证得虚空身
Vô thị vô phi pháp. 无是无非法
Tâm đồng hư không giới,
Hiểu được đạo lý hư không.
Chứng được thân hư không,
Biết được đạo lý vô thị vô phi.

Hư không vô nội ngoại, 虚空无内外
Tâm pháp diệc như thử. 心法亦如此
Nhược Liễu Không Hư cố, 若了空虚做
Thị đạt Chân Như Lý. 是达真如理

Hư không chẳng trong ngoài,
Tâm pháp cũng y vậy.
Hiểu được lẽ Hư Không,
Là hiểu được Chân Như.

性命雙修萬神圭旨

第九節口訣
本體虛空超出三界
(超 出三界圖)

按梓童化書云:予之在朝也,以聞方外之言,辭榮而歸道。逢隱者指,予以心印授,予以正訣曰,此西方大聖人歸寂法 也。子能念而習之,可度生死,死而不亡,終成正覺。若能中道而廢,則猶能擇地而處,亦可為神仙。予於是歷觀漢、唐諸仙,多在此處超脫而去者,豈非化書所謂 中道而廢耶?

又覽龍牙頌云:學道如鑽火,逢煙未可休。予又歷觀宋、元諸仙,多在此處戶解而去者,豈非龍牙所謂逢煙而休耶?

雖則仙去,然卻缺末後一段工夫,畢竟有些欠穩處。猶傅大士云:僥經八萬劫,終是落空亡。亦不知壽命有限而不及修耶,抑亦不知不得此法而不能修也。

命宗人只知煉精化氣、煉氣化神、煉神還虛而止,竟遺了煉虛合道一段。

是以無上師曰:養得金丹圓似月,未免有圓還有缺。何如煉個太 陽紅,三界十方俱洞徹。

BẢN THỂ HƯ KHÔNG SIÊU XUẤT TAM GIỚI
Sách Tử Đồng Hóa Thư viết:

“Khi ta làm quan trong triều, vì nghe bàn về Phật Pháp, nên ta từ quan tu đạo. Gặp một ẩn sĩ dạy ta Tâm Ấn, dạy ta Khẩu Quyết Chính Đáng rằng: Đó là phương pháp qui tịch của một Đại Thánh Nhân Tây Phương, nếu ông niệm tập theo đó, thì có thể thoát vòng sinh tử, sẽ chết mà chẳng bị quên, chung thân sẽ chính giác. Nếu giữa đường mà bỏ, thì cũng như được đất mà bỏ, cũng giúp mình thành thần tiên. Cho nên ta đã xem thần tiên đời Hán, Đường, đều cũng do nơi này mà siêu thoát, như vậy có phải đã Trung Đồ nhi phế theo như Hóa Thư đã nói hay sao?”
Ta đọc Long Nha Tụng thấy nói:

Học đạo như toản hỏa, 学道如钻火,
Phùng yên vị khả hưu. 逢烟未可休。

Học đạo như khoan lửa
Thấy khói chưa được ngừng.

Ta lại khảo sát chư tiên đời Tống, Nguyên, thường thấy họ thi giải 户解 (thoát xác) mà đi, há phải như Long Nha nói: Mới thấy khói mà đã ngừng sao?

Ngày nay, các vị đã thành tiên mà đi, nhưng còn một đoạn công phu cuối cùng, còn có cái gì bất ổn mà các ngài chưa nói ra, như Phó Đại Sĩ nói: “Dù trải 8 vạn kiếp, cuối cùng vẫn lạc không vong. Lại không biết rằng thọ mệnh hữu hạn, mà không chịu tu sao? Hay không biết rằng: “Không biết phép này, thì cũng không tu được”.

Người theo Mệnh tông chỉ biết Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần hoàn Hư mà thôi, mà quên mất một đoạn là Luyện Hư Hợp Đạo.

Cho nên Vô Thượng Sư nói:

Dưỡng đắc Kim Đơn viên tự Nguyệt, 养得金丹圆似月,
Vị miễn hữu viên hoàn hữu khuyết. 未免有圆还有缺。
Hà như luyện cá Thái Dương hồng, 何如炼个太阳红,
Tam giới thập phương câu động triệt. 三界十方俱洞彻。

Dưỡng được Kim Đơn tròn như Nguyệt,
Tuy tròn mà vẫn có khi bị khuyết.
Sao không bắt chước vầng Dương hồng
Tam giới thập phương đều động triệt.

蓋聖修詣極自是少此一段不得。緣丹經子書皆不曾言及末後一著。唯李清庵曾說到這裡。

如門人問:脫胎後還有造化麼?

清庵曰:有造化在。聖人云,身外有身,未為奇特,虛空粉碎,方露全真。所以脫胎之後,正要腳踏實地, 直待與虛空同體,方為了當。

又云:更有煉虛一著,當於言外求之。其見趣可謂度越諸仙矣。

但不肯說個實際出 來,雲何煉虛,作何歸著,竟自朦朦朧朧虛應過去。亦不知是不會祖師意而不能說耶,抑亦不知是怕洩漏天機而不敢說也。

故水丘子歎曰: 打破虛空消億劫,既登彼岸捨舟楫。閱盡丹書萬萬篇,末後一句無人說。

蓋此秘藏心印,皆佛佛授手、祖祖相承,迄至六祖衣缽止,而不傳 諸佛,秘藏於茲塞矣。自此而下鮮有知者。故曰:七祖如今未有人。

直到吾師尹公,以其夙植靈根,更得教外別傳之旨。忽一日禪關參透, 豁然貫通,而千佛秘藏又復開於今日矣。

故悟道偈云:把個疑團打破時,千佛心華今在茲。下大竿頭取進步,虛空真宰天人師。

我今又承師旨而得此法,如獲無價寶珠。即劍南和尚云:自從說得此明珠,釋梵輪王俱不要。然佛之地步甚高,而必至於虛空本體。本體虛空方成無上正等在覺而 入涅槃。

Tu theo đường Thánh, thiếu điều đó không được, cũng tại Đơn Kinh, Tử thư không nói tới đoạn này, chỉ có Lý Thanh Am đã nói tới mà thôi.

Như có môn nhân hỏi: Sau khi thoát thai còn có Tạo hóa không?

Thanh Am nói:

“Còn có Tạo Hóa. Thánh Nhân nói: Thân ngoại hữu thân, không có gì là kì dị. Hư Không phấn toái, mới lộ ra Chân tướng. Cho nên sau khi thoát thai, chân mới đáp thực địa, bấy giờ mới đồng thể với Hư Không. Kết thúc bấy giờ mới thỏa đáng”. Còn có: Cánh hữu luyện hư nhất trước, đương vu ngôn ngoại cầu chi 更有炼虚一着,当于言外求之。(Còn phải luyện hư nữa, phải cầu nơi Ngôn Ngoại)

Kiến thức trên đây, thú vị siêu việt trên cả chư tiên. Nhưng không nói ra được phương pháp cụ thể. Thế nào là Luyện Hư, quy kết sẽ đi về đâu? Chỉ thấy nói mơ mơ, hồ hồ. Lại cũng không biết rõ ý tổ sư, nên không nói được. Ta há chẳng biết vì không dám tiết lộ thiên cơ, nên không dám nói. Cho nên Thủy Khưu Tử than:

Đả phá Hư không, tiêu ức kiếp, 打破虚空消亿劫,
Ký đăng bỉ ngạn xả chu tiếp. 既登彼岸舍舟楫。
Duyệt tận Đơn kinh vạn vạn thiên, 阅尽丹经万万篇,
Mạt hậu nhất đoạn vô nhân thuyết. 末后一段无人说。

Đả phá Hư Không tiêu ức kiếp,
Đã sang Bỉ Ngạn bỏ thuyền chèo.
Đọc hết đơn kinh vạn vạn quyển.
Duy còn đoạn chót chẳng ai bàn.

Cái tâm ấn bí tàng này, chư Phật truyền cho nhau, Tổ Tổ tương thừa, mãi đến Lục Tổ, y bát không còn truyền nữa mới thôi. Từ đấy chư Phật bí tàng như tắc lối vậy. Từ đấy về sau ít người biết đến. Cho nên mới nói: Thất tổ như kim vị hữu thân 七祖如今未有人。(Cho tới nay, Thất tổ không còn ai!)

Mãi cho đến khi Doãn Chân Nhân xuất hiện, trước là vì ngài có Linh Căn thông tuệ, lại được Giáo Ngoại biệt truyền, có một ngày bỗng chốc Thiền quan tham thấu, ngài khuếch nhiên quán thông và điều bí mật của chư Phật ngày nay lại được phục khai. Cho nên Ngộ Đạo kệ mới viết:

Bả cá nghi đoàn đả phá thời, 把个疑团打破时,
Thiên Phật tâm hoa kim tại tư. 千佛心华今在兹。
Bách xích can đầu thủ tiến bộ, 百尺竿头取进步,
Hư không Chân Tể, thiên nhân sư. 虚空真宰天人师。

Bao cái nghi ngờ nay phá sạch,
Vạn Phật tâm hoa nay tại đây.
Cây cao trăm trượng ta tiến mãi,
Vào tới Hư Không, dạy trời người.

Ta nay vâng lời Thầy dạy, và được phép này, như có được vô giá bảo châu, tức như Kiếm Nam Hòa Thượng nói:

Tự tòng thuyết đắc thử bảo châu, 自从说得此宝珠,
Thích, Phạn, Chuyển Vương câu bất yếu. 释梵轮王俱不要。

Từ khi nghe giảng được Bảo Châu,
Thích, Phạn, Chuyển Vương đều không muốn.

Nhưng cảnh giới Phật thật là cao. Phải vào tới hư không bản thể, Bản Thể hư không mới lên tới Vô Thượng chính đẳng, chính giác và nhập Niết Bàn.
故邵康節曰:聖人與太虛同體,與天地同用。今人求其義而不得,乃噫之曰:體太虛之體以為體,用天地之用以為用。此言大似隔 窗窺日,不過見其光影而已。若言體太虛之體以為體,便是有個太虛在而著於體矣,何以能太虛?若言用天地之用以為用,便是有個天地在而著於用矣,何以能天 地?然而太虛其知有體乎?其不知有體乎?天地其知有用乎?其不知有用乎?太虛不知有體而天地之用在於太虛之體,天地不知有用而太虛之體在於天地之用。體其 所體者體其所用也,用其所用青用其所體也。乃至於粉碎虛空方為了當,何以故?

益本體,本虛空也。若著虛空相,便非本體虛空。本粉碎 也,若有粉碎心,便不虛空。故不知有虛空,然後方可以言太虛天地之本體,不知有粉碎,然後方可以言太虛天地之虛空。究竟到此已會窺破虛空之本體,但未得安 本體於虛空中。

即華嚴經雲;法性如虛空,諸佛於中住。到這裡自知道虛空是本體,本體是虛空。必須再加功而上,上勝進進不已,直到水 盡山窮,轉身百尺竿頭。至必至於不生不滅之根源。終必終於不生不滅之覺岸。於中方是極則處。此處無他,不過是返我於虛,復我於無而已。返復者,回機也。

故曰:一念回機,便同本得。究竟人之本初原自虛無中來,虛化之為神,神化之為氣,氣化之為形,順則生人也。今則形復返之為氣,氣復返之為神,神復返之為 虛,逆則成仙也。

古德云:何物高於天,生天者是。何物大於虛實,運虛空者是。蓋大道乃虛空之父母,虛空乃天地之父母,天地乃人物之 父母。天地廣大,故能生萬物;虛空無際,故能生天地;空中不空,故能生虛空。而曰:生天地、生萬物,是皆空中不空者之有以主之也。以其空中不空,故能深入 萬物之性,以主張萬物而方便之。毋謂空中不空,能深入萬物之性,以主張萬物而方便之也;抑亦能深入天地之地,以主張天地而方便之也。汝毋謂空中不空,能深 入天地之性以主張天地而方便之也,抑亦能深入虛空,以主張虛空而方便之也。

夫空中不空者,真空也。真空者,大道也。今之煉神還虛 者,尤落在第二義,未到老氏無上至真之道也。煉虛合道者,此聖帝第一義,即是釋氏最上一乘之法也。

Thiệu Khang Tiết nói:

Thánh Nhân dữ Thái Hư đồng thể, 圣人与太虚同体,
Dữ thiên địa đồng dụng. 与天地同用。

Thánh Nhân đồng thể với Thái Hư,
Đồng dụng với Thiên địa.

Ngày nay, người ta không hiểu câu đó ra sao, nên than rằng:-

Thể Thái Hư chi thể dĩ vi thể, 体太虚之体以为体,
Dụng Thiên Địa chi Dụng dĩ vi dụng. 用天地之用以为用。

Lấy Bản Thể Thái Hư làm bản thể của mình
Lấy cái dùng của trời đất làm cái dùng của mình.

Câu này cũng như: Cách song khuy nhật 隔窗窥日 (nhìn mặt trời qua cửa sổ), bất quá là nhìn thấy quang ảnh mà thôi.

Nếu nói: Lấy Bản Thể Thái Hư làm bản thể mình, thì y như có vừng Thái Hư riêng rẽ cho ta lấy làm Bản Thể. Cái gì có thể là Thái Hư?

Nếu nói: Lấy cái dùng của Trời Đất làm cái dùng của mình, thì y như có một Thiên Địa riêng biệt và ta lấy đó mà dùng. Cái gì có thể là Thiên Địa?

Cho nên Thái Hư có biết mình có Bản Thể không? Hay là không biết mình có Bản Thể?

Trời Đất có biết mình có cái dụng không? Hay không biết mình có cái dụng ?

Thái Hư không biết mình có Bản Thể mà cái Dụng của Trời Đất lại chính là Bản Thể của Thái Hư. Trời Đất không biết mình hữu dụng, mà Thái Hư chi thể chính là ở tại cái Dụng của Trời Đất. Thể kỳ sở Thể, mà Thể kỳ sở Dụng; Dụng kỳ sở Dụng mà Dụng kỳ sở Thể vậy.

Đến như Phấn Toái Hư Không mới thật là chính đáng. Tại sao vậy? Vì Bản Thể vốn là Hư Không. Nếu nhìn tướng của Hư Không, thì không có Bản Thể.

Hư Không vốn nát vụn. Nếu ta có tâm phấn toái, thì không có Hư Không.

Cho nên không biết có Hư Không, thì sau đó mới nói được Thái Hư là Bản Thể của Trời Đất. Không biết có phấn toái, nên mới nói: Thái Hư Thiên Địa là Hư Không.

Tới được như vậy, thì mới khuy phá được Bản Thể của Hư Không, nhưng cũng chưa an vị được Bản Thể vào trong Hư Không.
華嚴經云:雖盡未來際,遍游諸佛 剎。不求此妙法,終不成菩提。

此法只是復煉陽神,以歸還我毗盧性海耳。所以將前面分形散影之神攝歸本體,又將本體之神銷歸天谷,又 將天谷之神退藏於祖竅之中。如龍養額下之珠、若雞抱巢中之卵,緊緊護持,毋容再出,並前面所修所證者,一齊貶向無先國裡。依滅盡定而寂滅之,似釋迦掩室於 摩竭,如淨名杜口於毗耶。此其所以自然造化而復性命之而復虛空之之不可以已也。而復性命,而復虛空,至此已五變化矣。變不盡變,化不盡化,非通靈變化之至 神也。

故神百煉而愈靈,金百煉而愈精,煉之而復煉之,則一爐火焰煉虛空,化作微塵萬頃冰。壺照世界大如黍米。少焉,神光滿穴,暘焰 騰空,自內竅達於外竅外,大竅九而九竅之中,竅竅皆有神光也。小竅八萬四千,而八萬四千竅之中,竅竅皆有神光也。徹內徹外,透頂透底,在在皆有神光也。如 百千燈照耀一室,燈燈互昭,光光相涉,而人也,物也,莫不照耀於神光之中矣。是則是已尤非其至也。

然不能塞乎天地之間,則未滿東魯 聖人乾元統天之份量也。又斂神韜光,銷歸祖竅之中,一切不染,依滅盡定而寂滅之。寂滅既久,則神光如雲發電,從中竅而貫於上竅,大竅小竅,竅竅皆有神光 也。光明洞耀,照徹十方,上徹天界,下徹地界,中徹人界。三界之內,處處神光。若秦鏡之互照,猶帝珠之相含,重重交光,歷歷齊現。而神也,鬼也,莫不照耀 於神光之中矣。妙則妙已,尤非其至也。

然不能遍入塵沙法界,則未滿西竺聖人毗盧遮那之份量也。再又斂神韜光,銷歸祖竅之中,一切不 染,依滅盡定而寂滅之,寂滅既久,而六龍之變化全,則神光化為舍利光矣。如赫赫日輪,從祖竅之內一湧而出,化為萬萬道毫光,直貫於九天之上。若百千昊日, 放大光明,普照於三十大千世界。而聖也,賢也,及森羅萬象,莫不齊現於舍利光之中矣。

故大覺禪師云:一顆舍利光熠熠,照盡億萬無窮 劫。大千世界總皈依,三十三天鹹統攝。

而舍利光既遍滿於三千大千世界內,尤未盡其份量。又自三千大千世界中復放無量寶光,宜充塞於 極樂世界。既而又升於袈婆幢界,又升於音聲輪界,復直衝於勝蓮華世界,得與賢勝如來相會也。

自從無始分離,今日方才會面。彼此舍利 交光,吻合一體,如如自然,廣無邊際。

Hoa Nghiêm nói:

Pháp Tính như Hư Không, 法性如虚空,
Chư Phật vu trung trú. 诸佛于中住。

Pháp Tính như Hư Không.
Chư Phật ở trong đó.

Khi biết Hư Không là Bản Thể, Bản Thể là Hư Không, phải tu cho tới mức thượng thừa, tiến mãi tiến mãi không ngừng, tiến tới sơn cùng thủy tận, lên cho tới đầu sào trăm trượng, phải tới được chỗ căn nguyên bất sinh bất diệt, cuối cùng lên tới bến bờ bất sinh, bất diệt, lên chỗ trung điểm mới là cực xứ. Cực xứ chính là Hoàn Ngã vu Hư, Phục Ngã vu Vô vậy.

Phản phục là Hồi Cơ vậy. Cho nên Nhất niệm đồng cơ, rất là phù hợp với căn nguyên. Rốt cuộc con người từ Bản Sơ vống từ Hư Vô trung lai, Hư hóa vi Thần, Thần hóa vi Khí, Khí hóa vi Hình, thế là Thuận thời sinh nhân vậy. Nay thì Hình lại hóa thành Khí, Khí lại hóa thành Thần, Thần lại trở về Hư, thế là Nghịch thành tiên vậy.

Cổ Đức nói: “Vật gì cao như Trời, cái đó sinh ra Trời vậy. Cái gì to như Thái Hư? Chính cái đó vận Hư Không vậy. Đại Đạo là mẹ của Hư Không. Hư Không là cha mẹ của Trời Đất.”

Trời đất to lớn nên có thể sinh vạn vật. Hư Không vô biên tế nên sinh ra được Trời Đất. Cái không của Không Trung có thể sinh ra Hư Không. Nên nói: Sinh thiên địa, sinh vạn vật, là đều do cái Không Trung chi Trung đó làm chủ vậy. Vì cái Không Trung không phải là Không, cho nên có thể thâm nhập vào vạn vật chi tính, và làm chủ tể vạn vật và biến hóa vạn vật. Lại cũng thâm nhập vào Thiên Địa chi tính, để làm chủ tể vạn vật và biến hóa vạn vật. Bạn chớ nói Cái Không Trung là không, nó có thể thâm nhập vào Thiên Địa chi Tính để làm chủ tể và biến hóa trời đất, nên chẳng lẽ nó chẳng nhập được vào Hư Không chi tính để làm chủ tể và biến hóa nó hay sao?

Và Không Trung không phải là Không, nó là Chân Không vậy. Chân Không là Đại Đạo. Nay người mới Luyện Thần hoàn Hư, thì mới là vào Nghĩa Thứ Hai, chưa vào được chỗ Vô Thượng chí Chân của Đức Lão Tử. Luyện Hư hợp Đạo mới là Nghĩa Thứ Nhất, tức như Phật dạy, đó mới là Tối Thượng Thừa vậy.

Tuy tận vị lai tế, 虽尽未来际,
Biến du chư Phật sát. 遍游诸佛刹。
Bất cầu thử diệu Pháp, 不求此妙法,
Chung bất thành Bồ Tát. 终不成菩萨。

Tuy đi cùng khắp nơi,
Tuy vãng du được các chùa,
Nếu không được diệu pháp này,
Ắt không thành Bồ Tát.

Phép này chỉ là Phục Luyện Dương Thần, tức là trở về với Tì Lô Tính Hải của chúng ta. Trước đây, ta có nói về phần Phân hình Tán ảnh nhiếp quy về Bản thể. Rồi lại nói về Thần Bản Thể tiêu quy Thiên Cốc, rồi lại nói về Thần Thiên Cốc thoái tàng về Tổ khiếu. Như rồng mang châu dưới cằm, như hạc ấp trứng, hết sức cẩn thận. Không thể cho lọt ra ngoài. Bao nhiêu công trình tu luyện trước đây, bao nhiêu chứng nghiệm trước đây, nhất tề tịch diệt, để vào Niết bàn, tựa như Thích Ca ở yên tại Ma Kiệt, như Tịnh Danh lặng yên tại Tì Gia, đó là theo lẽ Trời phục phản Tính Mệnh, phục Hư Không. Đến đây là 5 lần biến hóa, biến hóa vô tận. Nếu không thông linh biến hóa thì không thể đạt tới chỗ biến hóa như vậy.

Cho nên, Thần càng luyện càng linh, vàng càng luyện càng tinh, luyện đi rồi luyện lại, thì một lò lửa luyện Hư Không sẽ trở thành vi trần. Vạn khoảnh thủ bình chiếu thế giới lớn như hạt gạo. Thoát chốc Thần Quang sẽ mãn huyệt, Liệt Diệm sẽ đằng không. Từ nội khiếu ra đến ngoại khiếu, Đại khiếu bên ngoài có chín, khiếu khiếu đều có Thần Quang; Tiểu khiếu có 8.400, mà trong 8.400 khiếu đó, khiếu nào cũng có Thần Quang; Nội ngoại đều đỉnh để thấu triệt, chỗ nào cũng có Thần Quang. Như trăm nghìn ngọn đèn chiếu soi một nhà. Các đèn phản chiếu lẫn nhau. Ánh sáng rạng ngời, mà người vật nhất nhất đều chiếu diệu trong Thần Quang đó. Thật là thật rồi, không sao hơn được vậy.

Nếu không tắc được cả đất trời, thì làm sao Khổng Tử nói được: Kiền Nguyên thống thiên乾元统天? Rồi lại liễm thần thao quang, tiêu quy Tổ khiếu敛神韬光,销归祖窍. Không vương vấn cái gì, y tịch diệt định mà tịch diệt nó. Tịch diệt lâu lai, thì thần quang như mây sinh điện, từ Trung Khiếu lên Thượng Khiếu, khiếu lớn khiếu nhỏ, khiếu nào cũng có Thần Quang, quang minh động dược, thấu triệt vạn phương, thượng triệt Thiên Giới, hạ tắc Địa Giới, trung triệt Nhân Giới. Trong suốt Tam Giới đều có Thần Quang, như gương soi của họ Tần, như Đế Châu soi rõi trùng trùng giao quang, lịch lịch tề hiện. Dù thần, dù quỷ, đều chiếu diệu bên trong. Thật là kỳ diệu vậy, nhưng cũng chưa phải đã là kỳ diệu nhất.

Tuy nhiên, nếu không biến nhập được vào trần sa pháp giới, thì chưa đạt được đến tầm mức Tì Lư Giá Na của đức Phật. Lại liễm thần thao quang, tiêu quy vào trong Tổ khiếu. Không nhiễm chút chi, y phép Tịch Diệt mà tiêu diệt nó, tịch diệt lâu lai, thì sự biến hóa của 6 rồng đã thành toàn, Thần Quang sẽ biến thành Phật Quang, như Mặt Trời đỏ rực, từ Tổ khiếu nhảy ra bên ngoài, hóa thành vạn vạn hào quang, trực quán cả 9 tầng trời, như trăm nghìn ngày sáng quắc, phóng đại quang minh, tính chiếu cả 3.000 đại thiên thế giới. Cả thánh lẫn thần, và muôn nghìn hiện tượng, tất cả đều hiện ra trong ánh sáng Phật ấy.

Cho nên Đại Giác thiền sư nói:

Nhất cá xá lợi quang tập tập, 一个舍利光熠熠,
Chiếu tận ức vạn vô cùng kiếp. 照尽亿万无穷劫。
Tam thiên thế giới tổng quy y, 三千世界总皈依,
Tam thập tam thiên hàm thống nhiếp. 三十三天含统摄。

Ánh sáng Phật quang trông rực rỡ,
Chiếu soi ức vạn vô cùng kiếp.
Tam thiên thế giới cùng quy y,
Tam thiên đại thiên quy về một.

Ánh sáng Phật soi cùng khắp 3.000 đại thiên thế giới, mà vẫn chưa đủ phân lượng, lại từ trong tam thiên đại thiên thế giới phóng phát ra vô lượng bửu quang, sung tắc cả cực lạc thế giới, rồi lại thăng lên Cà Sa Tràng giới, rồi lại lên Âm Thanh Chuyển giới, rồi lên thẳng Thắng Liên Hoa thế giới, có thể họp dùng Hiền, Thánh, Như Lai vậy.

Tự tòng vô thủy phân ly cho tới nay, nay mới họp mặt lại. Bỉ thử giao quang, vẫn hợp làm một, như như tự nhiên, rộng vô cùng tận.

所以經頌云:諸佛似一大圓鏡,我身猶若摩尼珠。諸佛法身入我體,我身常入諸佛軀。王祖弘忍 云:一佛二佛千萬佛,總是自身無別物。昔年親種善根來,今日依舊得渠力。荷澤禪師云:本來面目是真如,舍利光中認得渠。萬劫迷頭今始悟,方知自性自文殊。

自性清靜,便是無垢佛。自性如如,便是自在佛。自性不昧,便是光明佛。自性堅固,便是不壞佛。各各諸佛,自身俱有。說亦不盡唯一 性,爾性即是心,心即是佛。新佛舊成,曾無二體,以報身就法身,如出模之像,像本舊成,一體無異。新成舊佛,亦無二形,以法身就報身,如金成像,昔未成象 金,故今成像,竟諸佛如已成像之金仙。眾生如未成像之金礦,成與未成,似分前後,則金體始終更無前別。

故圓覺經曰:既已成金,不重 為礦,經無窮時,金性不壞。原此金性,人人本有,個個不無。至於十方眾生,皆我金剛佛性。而天地萬物,鹹囿我如來之法身矣。到此地位,方知天地與我同根, 萬物與我一體。遍法界是個如來藏,盡大地是個法王身。實際無差,與三世佛而一時成道;真空平等,共十類生而同日涅槃。法身其大也,虛空且難籠其體,真心其 妙也,神鬼亦莫測其機。窮未來際為一晝夜,盡微塵海為一剎那。前千古而後乎今,無不是這個總持,上乎天而下乎地,無不是這個充塞。

二祖慧可曰:囫囫圇圇成這個,世世生生不變遷。太上所以云:天地有壞,這個不壞。

Cho nên kinh tụng nói:

Chư Phật tự nhất đại viên kính, 诸佛似一大圆镜,
Ngã thân do nhược Ma Ni Châu. 我身犹若摩尼珠。
Chư Phật pháp thân nhập ngã thể, 诸佛法身入我体,
Ngã thân thường nhập chư Phật khu. 我身常入诸佛躯。

Chư Phật tự hồ tấm gương lớn,
Thân ta giống như Ma Ni Châu.
Chư Phật Pháp Thân nhập vào ta,
Thân ta thường nhập thân chư Phật.

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói:

Nhất Phật, nhị Phật, thiên vạn Phật, 一佛二佛千万佛,
Tổng thị tự Tâm vô biệt vật. 总是自心无别物。
Tích niên thân chủng thiện căn cơ, 昔年亲种善根基,
Kim nhật y nhiên đắc cừ lực. 今日依然得渠力。

Một Phật, hai Phật, thiên vạn Phật,
Đều do tự Tâm, không biệt vật.
Năm trước mình gieo Thiện căn cơ,
Ngày nay tự nhiên được sức đó.

Hà Trạch Thiền Sư viết:

Bản lai diện mục thị Chân Như, 本来面目是真如,
Xá lợi quang trung nhận đắc cừ. 舍利光中认得渠。
Vạn kiếp mê đầu kim thủy ngộ, 万劫迷头今始悟,
Phương tri Tự Tính thị Văn Thù. 方知自性是文殊。

Bản Lai Diện Mục ấy Chân Như,
Tại giữa Phật quang nhận ra mi.
Vạn kiếp mê lầm nay mới ngộ,
Mới hay Tự Tính chính Văn Thù.

Tự Tính mà thanh tịnh, thì là Vô Cấu Phật. Tự Tính mà như như, thì là Tự Tại Phật. Tự Tính mà không lầm, thì là Quang Minh Phật. Tự Tính mà kiên cố, thì là Bất Hoại Phật.

Tất cả Chư Phật, thân ta có đó, nói không hết lời. Chỉ là một tính. Tính chính là Tâm, Tâm chính là Phật. Phật mới Phật cũ, vốn không có hai. Từ Pháp Thân sinh ra Báo Thân, như tượng từ khuôn sinh. Tượng đã sẵn có, chỉ có một hình không khác nhau. Phật mới Phật cũ, không có hai hình. Từ Pháp Thân đến Báo Thân, như vàng thành tượng. Chưa thành tượng thì là vàng. Nay đã thành tượng, thì chư Phật như tượng Kim Tiên đã thành, còn chúng sinh như là Kim Khoáng chưa thành tượng. Thành và chưa thành, tự phân trước sau, nhưng vàng thì trước sau không hề sai biệt.

Cho nên Kinh Viên Giác nói: Khi vàng đã thành, thì không còn là Khoáng nữa. Qua vô cùng thời vàng vẫn Bất Hoại.

Mọi người ai cũng có Tính Vàng đó.

Đến như Vạn Phương hóa sinh, đều là Kim Cương Phật Tính của ta. Và trời đất vạn vật, đều có Như Lai Pháp Thân của ta.

Như vậy mới thấy được rằng: Thiên Địa dữ Ngã đồng căn, vạn vật dữ Ngã nhất thể天地与我同根,万物与我一体。Cùng khắp thế giới này cũng đều là Như Lai Tạng, tận đại địa cũng là Pháp Vương Thân. Thực tế vô sai biệt, cùng với Tam Thế Chư Phật đã thành đạo rồi, đều là Chân Không Bình Đẳng với ta, cùng với Thập Loại Chúng Sinh chỉ có một Niết Bàn. Pháp Thân to lớn như vậy, nên Hư Không không thể đón rào vây ngăn được nó. Chân tâm kỳ diệu như vậy, nên quỷ thần không biết đường lối của nó. Cùng tương lai như là một đêm ngày, tận vi trần hải như trong một sát na, cổ kim đều do nó tổng trì.

Trên là trời, dưới là đất, đều do nó sung tắc (nó tức là Pháp Thân và Chân Tâm).

Nhị tổ Huệ Khả nói:

Hốt hốt luân luân thành giá cá, 囫囫囵囵成这个,
Thế thế sinh sinh bất biến thiên. 世世生生不变迁。

Cái đó xưa nay vốn nguyên lành,
Hóa hóa sinh sinh chẳng đổi thay.

Cho nên Thái Thượng nói:

Thiên Địa hữu hoại, 天地有坏,
Giá cá bất hoại. 这个不坏。

Trời đất có hư,
Cái đó không hư.

這個才是真我,這個才是真如,這個才是真性命,這 個才是真本體,這個才是真虛空,這個才是真實相,這個才是菩提道場,這個才是涅槃實地,這個才是不垢不淨,這個才是非色非空,這個才是自覺聖智,這個才是 無上法輪,這個才是本性虛無、虛無實體,這個才是常住真心、隨心自在,這個才是佛之妙用、快樂無量,這個才是煩惱業淨、本來空寂,這個才是一切因果、皆無 夢幻,這個才是生滅滅己、寂滅為樂,這個才是金剛不變、不壞之真體,這個才是無始不生、不滅之元神,這個方是不可量、不可稱、不可思議、無邊功德,這個才 是清淨法身、圓滿報身、千百億化身、毗盧遮那佛。

偈曰:天上天下無如佛,十方世界亦無比。世界所有我盡見,一切無有如佛者。
(Siêu xuất tam giới đồ)
Cái đó là Chân Ngã; Cái đó là Chân Như; Cái đó là Chân Tính Mệnh; Cái đó là Chân Bản Thể; Cái đó là Chân Hư Không; Cái đó là Chân Thật Tướng; Cái đó là Bồ Đề Đạo Tràng; Cái đó là Niết Bàn Thực Địa; Cái đó là Bất Cấu Bất Tịnh; Cái đó là phi Sắc, phi Không; Cái đó là Tự Giác Thánh Trí; Cái đó là Vô Thượng Pháp Luân; Cái đó là Bản Tính Hư Vô; Cái đó là Hư Vô Thực Thể; Cái đó là Thường Trụ Chân Tâm; Cái đó là Tùy Tâm Tự Tại; Cái đó là Phật chi Diệu Dụng; Cái đó là Khoái Lạc Vô Thượng; Cái đó là Phiền Não Nghiệp Tịnh; Cái đó là Bản Lai Không Tịch; Cái đó là Nhất Thiết Nhân Quả đều như Ảo Mộng; Cái đó là Sinh Diệt, Diệt Dĩ, Tịch Diệt Vi Lạc; Cái đó là Kim Cương Bất Biến, Bất Hoại chi Thân Thể; Cái đó là Vô Thủy Bất Sinh, Bất Diệt chi Nguyên Thần; Cái đó là Bất Khả Lượng, Bất Khả Xưng, Vô Giá Công Đức; Cái đó là Thanh Tịnh Pháp Thân, Viên Mãn Báo Thân, Thiên Bách Ức Hóa Thân, Tì Lô Giá Na Phật.

Kệ rằng:

Thiên thượng, thiên hạ vô như Phật, 天上天下无如佛,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ. 十方世界亦无比。
Thế giới sở hữu ngã tận kiến, 世界所有我尽见,
Nhất thiết vô hữu như Phật giả. 一切无有如佛者。

Thiên thượng, thiên hạ không (gì ) bằng Phật,
Thập phương thế giới không thể sánh.
Khắp trong thế giới ta nhìn hết,
Không gì có thể giống như Phật.

TÌ LƯ CHỨNG QUẢ ĐỒ

TĨNH THẤT PHẦN HƯƠNG ĐỒ

Tĩnh Thất phần hương tọa Bồ Đoàn,
靜 室 焚 香 坐 蒲 團,
Độc đạo kinh huân tu khứ ế,
讀 道 經 薰 脩 袪 翳,
Chướng lưu lãm tận Châm Minh.
障 流 覽 盡 箴 銘

Phòng lặng đốt hương, ngồi Bồ đoàn,
Đọc Đạo kinh, đốt hương trừ uế tạp,
Chướng tan, ngồi đọc hết Châm Minh.

(Hoàn Trung Tử, Mã Sí Chu tả.)
(環 中 子 馬 企 周 寫)
CẤU DIỆN BỒNG ĐẦU ĐỒ
Cấu diện Bồng đầu bả nhất cước,
垢 面 蓬 頭 跛 一 腳,
Biến hành Thiên hạ chân khoái lạc,
遍 行 天 下 真 快 樂,
Thần tiên bản hưũ Trường Sinh Thuật,
神 仙 本 有 長 生 術,
Khởi thức Hồ Lô tàng thậm dược?
豈 識 葫 蘆 藏 甚 藥 ?

(Mã Đài tịnh đề.)
(馬 駘 并 題)

Mặt nhem, đầu rối, một chân què,
Rảo cùng thiên hạ, thật sướng ghê!
Thần tiên sẵn có Trường Sinh Thuật,
Ướm hỏi Hồ Lô giấu thuốc chi?

HẾT
————-

Thành thật cảm ơn quí huynh đệ đã tham khảo hết quyển “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nầy.

Thân chúc quí vị tinh tấn thực hành, sớm đạt kết quả :- “SỐNG VỚI CHÂN NHƯ”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

諸尊佛仙 * Zhu zun fu xian

諸尊佛仙

諸尊佛仙 * Zhu zun fu xian

A tiny doctrines books cabinet in chinese
Zhu fu xian zun
Hoi thien dai dao
回 天 大 道
hui tian da dao
諸尊佛仙 * Zhu zun fu xian 

 

諸尊佛仙 * Zhu zun fu xian

 

 
佛仙
Zhu zun fu xian
佛仙
 
———————                  
天后師尊傳略 

天后師尊傳略

Thiên hậu sư tôn truyền lược. 
Tian hou shi zun chuan lue. 

 

———————                  
師尊楊筠松傳略 

師尊楊筠松傳略

Shi zun Yang Yun Song chuan lue. 
Sư tôn Dương Quân Tùng truyện lược.   
 
———————                  
師尊柳春芳傳略

師尊柳春芳傳略

Shi zun Liu Chun Fang chuan lue. 
Sư tôn Liễu Xuân Phương truyện lược. 
 
———————                  
師尊濟公略傳

師尊濟公略傳

Shi zun Ji Gong lue chuan. 
Sư tôn Tế Công lược truyện  
 
———————                  
師尊玄天上帝

師尊玄天上帝

shi zun Xuan Tian Shang Di. 

Sư tôn Huyền Thiên Thượng Đế.  
 
———————                  
玄旻高上帝玉皇大天尊

玄旻高上帝玉皇大天尊

Xuan min Gao Shang Di Yu Huang da tian zun. 
Huyền mân Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng đại thiên tôn. 
 
———————                  
玄旻高上帝玉皇大天尊
Xuan min Gao Shang Di Yu Huang da tian zun. 
Huyền mân Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng đại thiên tôn. 
 
———————                  
白雲道長張玄同師尊傳略
Bai yun dao zhang zhang xuan tong shi zun chuan lüe. 

白雲道長張玄同師尊傳略

Bạch vân đạo trưởng Trương Huyền Đồng sư tôn truyện lược.   
 
———————                  
德師福德正神

德師福德正神

De shi fu de zheng shen.
Đức sư Phước Đức chánh thần.  
 
———————                  
竭忠王關平少帝傳略

竭忠王關平少帝傳略

Jie zhong wang Guan Ping shao di chuan lue. 
Kiệt trung vương Quan Bình thiếu đế truyện lược.  
 
———————                  
諸佛仙尊誕辰表

諸佛仙尊誕辰表

Zhu fu xian zun dan chen biao. 

Chư phật tiên tôn đản thần biểu.  
 
—————                 
基督教耶穌教主傳略

基督教耶穌教主傳略

Ji du jiao Ye Su jiao zhu chuan lue. 
Cơ đốc giáo Gia Tô giáo chủ truyện lược. 
 
—————                 
回教謨罕默德教主傳略

回教謨罕默德教主傳略

Hui jiao Mo Han Mo De jiao zhu chuan lue. 
Hồi giáo Mô Hãn Mặc Đức giáo chủ truyện lược. 
 
—————                 
藥王孫思邈師尊傳略

藥王孫思邈師尊傳略

Yao wang Sun Si Miao shi zun chuan lue. 
Dược vương Tôn Tư Mạc sư tôn truyện lược. 
 
———————                  
師尊吳夢吾傳略

師尊吳夢吾傳略

Shi zun Wu Meng Wu chuan lue. 
Sư tôn Ngô Mộng Ngô truyện lược. 
 
———————                  
師尊何野雲傳略

師尊何野雲傳略

Shi zun He Ye Yun chuan lüe. 
Sư tôn Hà Dã Vân truyền lược. 
 
———————                  
宋大峰祖師傳略

宋大峰祖師傳略

Song Da Feng zu shi chuan lue
Tống Đại Phong tổ sư truyền lược 
 
———————                  
八仙曹國舅師尊史略

八仙曹國舅師尊史略

ba xian Cao Quo Jiu shi zun shi lue. 
bát tiên Tào Quốc Cữu sư tôn sử lược.  
 
———————                  
八仙師尊韓湘子傳略

八仙師尊韓湘子傳略

ba xian shi zun Han Xiang Zi chuan lue. 
bát tiên sư tôn Hàn Tương Tử truyện lược. 
———————                  
八仙純陽帝君李洞賓傳略

八仙純陽帝君李洞賓傳略

ba xian chun yang di jun Li Dong Bin chuan lue. 
bát tiên thuần dương đế quân Lý Đỗng Tân truyện lược. 
 
———————                  
八仙師尊正陽帝君鍾離權傳略

八仙師尊正陽帝君鍾離權傳略

Ba xian shi zun zheng yang di jun Zhong Li Quan chuan lue. 
Bát tiên sư tôn chánh dương đế quân Chung Ly Quyền truyện lược.  
 
———————                  
八仙師尊張果老傳略

八仙師尊張果老傳略

Ba xian shi zun Zhang Quo Lao chuan lue. 
Bát tiên sư tôn Trương Quả Lão truyện lược.  
 
———————                  
八仙師尊凝陽帝君李道明傳略

八仙師尊凝陽帝君李道明傳略

ba xian shi zun ning yang di jun Li Dao Ming chuan lue
bát tiên sư tôn ngưng dương đế quân Lý Đạo Minh truyện lược 
 
———————                  
八仙師尊 藍采和傳略

八仙師尊 藍采和傳略

ba xian shi zun Lan Cai He chuan lue. 
bát tiên sư tôn Lam Thái Hoà truyện lược.  
 
———————                  
八仙何玉瓊師尊史略

八仙何玉瓊師尊史略

ba xian He Yu Qiong shi zun shi lue. 
bát tiên Hà Ngọc Quỳnh sư tôn sử lược.    
 
———————                  
五教 – 釋迦牟尼佛傳略 

五教 – 釋迦牟尼佛傳略

wu jiao – Shi Jia Mou Ni Fu chuan lue. 
ngũ giáo – Thích Ca Mâu Ni Phật truyền lược. 
 
———————                  
五教-大成至聖先師孔夫子傳略

五教-大成至聖先師孔夫子傳略

wu jiao – Da cheng zhi sheng xian shi Kong Fu Zi chuan lue. 
ngũ giáo – Đại thành chí thánh tiên sư Khổng Phu Tử truyện lược.  
 
———————                  
五教-耶稣基督傳略

五教-耶稣基督傳略

wu jiao – Ye Su ji du chuan lue. 
ngũ giáo – Gia Tô cơ đốc truyện lược. 
 
———————                  
五教-太上老君老子略傳

五教-太上老君老子略傳

wu jiao – tai shang lao jun Lao Zi lue chuan
ngũ giáo – thái thượng lão quân Lão Tử lược truyện 
 
———————                  
五教-先知穆罕默德略傳

五教-先知穆罕默德略傳

wu jiao – xian zhi Mu Han Mo De lue chuan. 
ngũ giáo – tiên tri Mục Hãn Mặc Đức lược truyện. 
(Đức giáo chủ Hồi giáo Mohammed Allah) 
 
 
 
 
 
 
———————
天后媽祖史跡
媽祖史跡
———————
媽祖史跡
天后媽祖史跡
媽祖的故事! 原來是這樣, 全台灣才都在瘋媽祖
媽祖
大甲鎮瀾宮
北港朝天宮
澎湖天后宮
時間:2019-04-18 16:25
新聞引據:撰稿編輯:新聞編輯
媽祖一開始是「海上女神」,可是來到台灣之後,任務愈來愈繁忙,幾乎成為「全能女神」。圖/媽祖遶境畫面簡慶南提供
一手三枝香 枝枝有神明
拜託媽祖婆啊 伊著保庇
平安到淡水
咱的祖先伊 伊唐山過台灣
開山佮造路啊 鹿港到艋舺
—陳明章《唐山過台灣》
民間信仰代代相傳,「媽祖」就是所有信徒的「母親」。漢人傳統觀念「嚴父慈母」也反映在信仰體系,男性神祇「神威難測」,女性神祇「慈祥和善」。父權社會男尊女卑,男神數目成百上千,女神卻屈指可數,「媽祖」能化約成台灣人最主流的信仰也不難理解。
媽祖被奉為「海上女神」,其實一開始只是福建沿海地帶漁民的守護神。在明末清初的「海神」代表是玄天上帝及水仙尊王,漢人大量移民來台之後,感念媽祖庇佑平安渡過黑水溝,才逐漸成為台灣人心目中的海神;而在「篳路藍縷,以啟山林」落地生根之後,媽祖的「轄區」則從海上移至陸地,「任務」也愈加繁忙,不但疾病困苦要求祂,農田缺水也拜託祂……移祀台灣,媽祖幾乎成為「全能女神」。
台灣俗諺「三月瘋媽祖」,可視為台灣的感恩節。全台各地在農曆三月迎請媽祖,就是感謝祂在過去及現在對台灣人的保佑,也祈望祂能在未來繼續看顧這塊土地上的子民。三月媽祖慶典的最高峰當然是廿三日聖母誕辰,舊曆三年一閏,閏月之後的三月與新曆五月相重疊,廿三日這一天就會在母親節前夕,而百年來媽祖生和母親節有五次在同一日。
北港媽祖遶境經過之處,萬人空巷,炮陣如雷。圖/簡慶南提供
大甲鎮瀾宮的媽祖。圖/大甲鎮瀾宮神轎班提供
絕大多數的台灣民間信仰皆是在明鄭及清治時期,隨著漢人移民渡海來台。這些信仰均有濃重的原鄉色彩,如泉州三邑人的龍山寺、同安人的保生大帝、安溪人的清水祖師、漳州人的開漳聖王、粵籍移民的三山國王…;然而媽祖卻是跨越族群與地域,成為漢人移民在台灣最主要的信仰。
為何媽祖信仰會成為多數台灣人的最愛?早期與官方推崇有關。自台灣納入清朝版圖,朝廷不斷加封,由天妃至天后,列入官方春秋祀典,還蔭及先人(父母受封為公及夫人)與部將(千里眼、順風耳封為金柳將軍);在日治前期,統治者也格外禮遇,兩任總督佐久間左馬太及石塚英藏皆曾至當時媽祖信仰的總本山北港朝天宮獻匾。1925年日人中治稔郎融合媽祖信仰與日本神道教,從湄洲迎來媽祖神像,在台北士林街創立「天母教」(現今天母地名的由來)。
海上遇險 信眾該呼「媽祖」而非稱「天妃」
在「君權神授」的封建帝制甚至殖民時期,民間信仰的合法性(神權)來自「君授」,非經官方褒封或許可而私祀,將流於「淫祠」而遭禁絕。漢人的媽祖信仰從宋朝的夫人、妃,元、明升為天妃,到清代則升至與皇帝同級的天后;然而民間仍嫌不足,穿鑿附會出更高的封號「天上聖母」,近年不少學者考證歷代文獻,均確認官方不曾出現此一封號。
相較於「帝王」配偶的「后妃」封號,「聖母」更覺親切,但聖母猶在「天上」,民間有更通俗的暱稱:「媽祖」或「媽祖婆」。若是林家後人,因「姑姪同姓」則稱為「姑仔」、「姑婆」或「姑婆祖」。「媽祖」一詞由來,眾說紛耘,只要懂得台語(閩南語)便不難理解,母親稱「阿母」、祖母稱「阿媽」、曾祖母稱「阿祖」(四代以上面稱不分男女)。從字義上來解釋,「媽祖」等於是女性直系祖先。至於「婆」字在親屬稱謂與「祖母」同輩,如姨婆、妗婆。
日治時期的澎湖天后宮。圖/wiki, 公有領域
清朝著名史學家趙翼曾在《陔餘叢考》寫下一則有趣的媽祖傳說:「台灣往來,神跡尤著。土人呼神為『媽祖』。倘遇風浪危急,呼『媽祖』,則神披髮而來,其效立應;若呼『天妃』,則神必冠帔而至,恐稽時刻。」稱「媽祖」,祂不施脂粉立即救人;若稱「天妃」,媽祖要盛裝打扮,恐怕會延誤時間。所以海上遇上風浪,信眾皆呼「媽祖」,不敢稱「天妃」。
「母親的名叫媽祖」宛如尊敬自己慈悲親切的母親
天妃、天后及媽祖、媽祖婆的官民二元稱號,也反映在廟宇建築。由於朝廷褒封諭祭,官方統一稱為「天妃廟」或「天后宮」,儘管不少媽祖廟後來自取「宮名」(如北港朝天宮、松山慈祐宮),但在官方文書上仍稱「天后宮」。至於民間則一律叫做「媽祖宮」或「媽祖廟」,早期也有人將「媽祖宮」簡稱「媽宮」,澎湖馬公市的地名就是由「媽宮」同音轉為「馬公」。
有一首由貨車司機王文德作詞、蔡振南作曲並演唱的歌曲《母親的名叫台灣》,在1990年代初期的台灣民間傳唱一時,幾百年來在台灣民間信仰當中,「母親的名叫媽祖」。信徒崇拜低眉和藹的媽祖,宛如尊敬自己慈悲親切的母親。在國族認同混淆的台灣社會,許多統派人士常以「中國神」來質疑獨派的媽祖信徒,其實這種論調不堪一擊,所謂「上帝歸上帝,凱撒歸凱撒」神聖與世俗各有各的國度。
2007年新港奉天宮媽祖出巡聯合國。圖/蔡育豪
原鄉媽祖香火奄奄一息 渡海護持台灣成為全能女神
真要論及媽祖國籍,祂的先人是閩國遺民,公元960年出生時福建莆田已由南唐統治,虛歲16那年,祂又變成宋國人。1912年後,媽祖成為「中國神」(中華民國=中國=中華人民共和國),原鄉媽祖香火卻因歷年戰亂及意識型態幾乎奄奄一息,幸好渡台後已土著化成為「台灣神」,雖經日治晚期皇民化運動及國民黨早期限制,但數百年來香火綿延不絕、四時祭祀不輟,讓天上聖母永享「千秋」!
威權解體後的民主台灣,媽祖信仰更為蓬勃發展,連政客都得靠近媽祖來拉攏選票,不少被稱為「媽祖婆」的女性政治人物也引以為榮。而台灣的媽祖熱潮,也影響到對岸共產政權,開始祭出「宗教統戰」法寶,逐漸放寬對傳統信仰的壓制,召喚台灣宮廟及信徒「返鄉謁祖」,甚至還拱媽祖為「海上和平女神」。
太平洋戰爭時期,台灣不少地方皆有媽祖以裙擺攔砲彈的傳說,這應該是人們逃過一劫後的想像誇大之詞。「天助自助者」,我們當然不能期待中共冊封的「和平女神」去攔阻對方發射過來的飛彈,只能祈禱媽祖能像母親一樣,永遠呵護這座美麗寶島與這片自由樂土。
紙風車劇團總監李永豐雙手捧著新港媽祖,難掩喜悅神情。圖/蔡育豪
2007年新港奉天宮媽祖出巡聯合國。圖/蔡育豪
同安寮十二庄迎請媽祖遶境賜福。圖/Afajacky, wiki, cc 4.0
(本文轉載自民報/黃國洲)
——————
柔佛士古来天后宫~天后圣母妈袓史迹
Nhu phật sĩ cổ lai thiên hậu cung ~ Thiên hậu thánh mẫu tổ sử tích.
Rou fu shi gu lai tian hou gong ~ Tian hou sheng mu ma ju shi ji.
媽祖史跡
天后媽祖史跡
媽祖史跡
天后媽祖史跡
点击此柔佛士古来天后宫 (Johor Skudai Tien Hiew Kiong) 以阅览更多庙的照片与资料。
妈袓(天后),原名林默娘(公元九六〇——九八七年),是一千多年前生活在福建莆田湄洲,湾畔的一位民间女子,相传她聪明、勇敢、善良,有预知气象变化、驱邪治病和泅水航海的本领,又常在惊涛骇浪中救助遇难船舶,极受远近人们的敬重和爱戴,被尊为「龙女」、「神姑」。宋雍熙四年(公元九八七年)重阳节,林默娘登上湄洲峰顶后,就再也没有回来了,人们传说她在这一天「升天」成了神仙,就在她升化的地方建祠奉祀,称为「通贤神女」。
北宋时期,湄洲湾一带的海上贸易十分兴旺,航海者终年浮家泛宅,随时都可能遇到海难。妈袓飞渡大海抢险救难的事迹,使她逐渐成为当地船户的海上保护神。传说当时有一位出国贸易的商人三宝,启航前曾到神女祠拜祷立愿,三年的海上往来,不但化险为夷,且获巨利而归,於是捐金重建庙宇;宋仁宗天圣年间(公元一〇二三——一〇三二年),又经信仰者扩建,使湄洲神女祠初具规模。
接着,莆田、仙遊地方的主要通商港口,如宁海、楓亭等地都陆续修起了神女祠。
宋徽宗宣和四年 (公元一一二一年),给事中路允迪奉命出使高丽(今朝鲜)途遇大风浪,船只险些沉没,舟人急忙祝天求庇,空中忽现一道祥光,彷彿有一朱栽女神飞舞於桅端,瞬间,风平浪静,转危为幾,路允迪惊讶万分。询问部下是甚麽神灵相救^船上有一位来自莆田宁海的保义郎李振,平日笃信湄洲神女,便告诉路允迪是自己家乡的神女前来护佑。第二年,路允迪还京奏闻朝廷徽宗逐下诏赐给宁海镇圣墩神女祠以「顺济」庙额。
妈祖信仰得到朝廷的承认之后,又经莆田籍丞相陈俊卿和地方绅的大力提倡,航海者的传扬,使这一信仰逐渐超出莆田地方而在更大的范围普及。
丁伯桂《顺济圣妃庙记》云:绍兴丙子,以郊典封灵惠夫人,逾年,江口又有祠,祠立二年,海寇凭陵,郊灵空中,风擒而去,州上其事,加封昭应。其年白湖章、邵,一夕梦神指为祠处,丞相正献陈公俊卿闻之,乃立地券奉神立祠,这是白湖又有祠。
白湖祠庙在当时的影响,可由陈宓写的《白湖顺济庙重建寝殿上樑文》窥知:
昔称湘水神灵,独擅南方;今仰白湖香火,几半天下。
宋室南渡以后,为抵御金兵进犯,从福建调遣舟师北上抗敌,莆田从军者甚众,且迭立战功,妈祖灵异的神话随莆田军士们的战迹而传播。南宋的偏安局面,中断了西北陆路的对外交通,朝廷为增加财赋收入,极力奖励海外贸易,「舟车所至,香火日严」,「商舶尤借以指南,得吉卜而济」(绍兴二十年廖鹏飞《圣墩祖庙重建顺济庙记》)。地方官员又不断地向上奏闻妈祖在救灾、助战等方面显灵的事迹,得到朝廷多次褒封,妈袓的封号也由「夫人」晋级为「妃」。至南宋后期,对妈祖的信仰范围扩大到了整个江南的沿海沿江地区。刘克胞在《风亭新建妃庙记》中载「妃庙遍於莆,凡大墟市、小聚落皆有之。」又称「某持节至广,广人事妃,无异於莆」。丁伯桂也有「神不独盛於莆,闽、广、江、浙、难甸皆祠也」的记载。
元朝政府继续推行海外通商贸易,加上频繁的南粮北调,「国家以漕运为重事,海漕以神力为司命」(元文宗天历二年(公元一三二九年)祭直沽庙文),为鼓舞官兵与海洋搏斗的勇气,晋封妈袓为「天妃」,并在漕运沿途各大天妃宫举行隆重的祭典,妈袓的香火也因此而传播到北方的山东、天津等地。妈袓作为航海保护神的地位,也后来居上,超越了老资格的四海之神;泉州九日山的通远主、莆田祥应庙的显惠侯等地方性的海神,这时也相形见绌,几乎消声匿迹。
明代因为倭患,实行海禁政策,然而妈祖依然受到朝廷的褒封,这是由於郑和在下西洋途中,多次遇险而能安然度过,向皇帝奏称在海上大得天妃庇佑的事迹,因而在郑和七下西洋过程中,曾多次由朝廷遣官到天妃致祭,给妈袓族贵宝钞,并在南京等地增建天妃宫。
明清两代,琉球奉中国为宗主国,朝廷曾多次遣使前往册封修好。使臣启航之前,例必先到天妃宫举行祭神请香仪式,恭请妈祖神像护航,船上派专人司香,朝夕祈祷。到达琉球之后,由 正、副使奉请神像登岸,接受「鼓乐仪从」的欢迎,隆重地供在天妃宫中,让当地官民瞻拜。
明代中后期,闽人赴日通商频繁,中国船主为「祝愿生理如意,平安往来」、在长崎修建了兴福寺、福济寺,崇福寺,合称「唐三大寺」,奉祀天妃及陪神干里眼、顺风耳等。
曰本,萨南片埔的林家,系自明亡之际,从福建沿海冒险飘洋前往定居的。其先祖当年请去的妈袓像仍被虔诚地供奉在家中。一九八七年,莆田举行妈袓千年祭,片埔林家一行二十人还专程回来参拜湄洲祖庙和林氏袓茔。
东南亚各地是历代华侨移人最多的地方。十六世纪以后,西方殖民者的歧视和压迫,客居异国的艰辛,使华侨更加眷恋故土。因而源自唐山的妈祖信仰,就被当做具体「中华民族文化」的象征。创建于一五六七年的马六甲青云亭、创建于一八二八年的新加坡天福宫等庙宇,至今依旧香火鼎盛。而南洋各地海南籍华侨兴建的琼州会馆,无一例外地都设有妈袓的的庙堂。马来西亚的二十七个兴安会馆,每一座会馆的最高一层均为颇具中国传统建筑风格的天后宫。他们并不因其生活环境的改变而稍减其信仰的虔诚。在世界其他地方,如菲律宾、印尼、泰国、柬浦寨、越南、緬甸、朝鲜、印度、法国、丹麦、美国、巴西、阿根廷等国,也有建於不同年代的许多妈袓庙。还有不少洋信徒,他们按照中国的传统礼仪奉祀妈袓。妈袓的香火已遍及全世界。
妈袓信仰在台湾省更为普遍。早在元至元十八年(公元一二八一年),澎湖就建了一座「娘妈宫」。明代,俞大猷追剿倭寇到达澎湖,於嘉靖四十二年(公元一五六三年)加以扩建。万历三十二年(公元一六〇四年)。荷兰殖民者企图侵占澎湖,明将沈有容率兵交涉,迫使侵略者撤离,至今宫内还存有「沈有容谕退红毛番韦麻郎」刻石。天启四年(公元一六二四年),荷兰海军又入侵澎湖,骚扰福建沿海,福建巡抚南居益等率兵在娘妈宫前大败敌人。南明永历十八年 (公元一六六四年),澎湖娘妈宫曾两遭荷军焚毁,当地居民均立即给予修复。
台湾本岛正式修建妈祖庙大约始於明代的福建移民。他们为求得平安渡海,多奉请妈袓神像(即小型之「船头妈」)随船护佑,登岸后便在家庭内或另行建庙奉祀。妈祖成为他们对付恶劣环境和维持团结精神力量。据台湾地方志 记载,明郑以前,古诸罗县(今嘉义)安定里的东保地方已建有「姑妈庙」,而「姑妈」正是莆田一带林姓对妈袓的一种既亲切而又敬重的称呼。
妈祖信仰在台湾,经历了郑成功时期的进一步传播,清廷的利用,已深入人心。虽经日本占领者半个世纪的压制,也改变不了。特别是近四十多年来的海峡两岸的分离,台湾妈祖庙的数量逐年增加,据统计,全岛现有妈祖庙八百多座,信众占居民总数的三分之二。台湾曾有「拜妈袓,怀故国」的话,这就说明台湾人民信仰妈袓,不仅是为了消灾 祈福,而且包含着强烈的民族感情。台湾各主要妈祖庙还以从湄洲直接分灵为贵,因而有「开其妈」、「开台妈」的称号,标明其「正统」地位。而历史上从湄洲请去的灵宝印、铜钾及进香炉、进香旗等等都被当做镇宫的宝物珍藏陈列。一九八四年,鹿港天后宫高筑祭坛,由黄尊秋先生担任主祭官,面向湄洲举行遥祭大典。前几年,许多台湾信众克服种种困难,或驾船横渡海峡,或绕道其他国家、地区,专程前来湄洲祖庙进香谒祖。在一九八七年湄洲举行妈祖干年祭的日子里,台中县大甲镇澜宫组团到袓庙,迎请新的「分灵妈」回台供奉。「这份虔诚的民间信仰,足以打破四十多年政治隔离后的误解和对立,为海峡两岸的和平带来足堪告慰神明的新契机」(引自台湾人间出版社《千年妈祖一一湄洲到台湾》)。
———————
天后師尊傳略
Thiên hậu sư tôn truyền lược.
Tian hou shi zun chuan lue.

INDEX

天后師尊傳略
媽祖史跡
天后媽祖史跡
天后聖母,亦稱 “天妃”,俗稱 “媽祖”,或稱媽祖婆。姓林,名默娘,生於宋太祖建隆元年庚申(西元960年)三月廿三日酉時,卒於宋太完雍熙四年丁亥(西元989年)九月初九日,係福建興化府莆田縣湄洲嶼人。
林氏宗譜云:“天后,晉安郡王林祿公二十二世孫惟愨公第六女。祖孚公,曾祖總管保吉公,高祖州牧圉公,世居莆之湄洲嶼,母王氏,后生於宋太祖建隆元年庚申三月廿三日酉時。誕時地變紫色,滿室異香,鄰里咸異。始生至彌月,仍未聽到其啼哭之聲,因而取名多 “默娘”。
幼而聰穎,卓賦不凡,且能通悟祕法,預談休咎,靡不奇中,不類諸女,窺井神授符錄,遂靈通變化,驅邪或救世,屢顯神異。及長能乘蓆渡海,駕雲游島嶼之間,父兄經商海上,適遇暴風,師奮勇救父,入海尋兄,孝行傳於閻,嶼眾號曰通元靈女。宋太宗雍熙四年(公元987年),九月初九重阳节,林默娘登上湄州峰顶后,就再也没有回来,传说她在这一天 “升天” 成仙年二十八歲。人们就在她升化的地方建祠奉祀。
後來在宋、元、明、清、屢著靈跡,復嘗衣朱衣,飛翔海上顯聖,護國佑民,里人祠之。宋宣和癸卯年始賜順濟廟額,歷朝累褒封號,明永樂封天妃,清康熙時,又加封為天后,乾隆五十二年敕封天上聖母,御賜恬瀾昭貺匾額。歷朝均列入祀典,可謂信而有徵,春秋致祭載在祀典。
聖母事蹟,據莆田縣志云:“宣和癸卯給事中路允迪使高麗,中流震風,八舟七溺,獨路所乘,神降于檣,安流以濟,使還奏聞,特賜順濟廟號。紹興己卯,江口海寇猖獗,神駕風一掃而去,其年疫,神降于白湖,去潮尺許,堀坎湧泉,飲者輒愈,封昭應崇福……康熙二十年,舟師南征大捷,提督萬正色以妃靈有反風之功,聞於朝,加封昭靈顯仁慈天后,遣官致祭……雍正十一年總督郝玉麟奏請省會神祠照龍神例,督撫主祭並令各省有江海處所,一體葺祠致祭……。”
天后乃航海護法靈神,凡屬航海之士,莫不崇祀惟虔,而水上居民於聖誕日,每年舊曆三月廿三日,為天后聖誕之期,咸視為最隆重,舉行慶祝盛典。
**********************
師尊楊筠松傳略

INDEX

Shi zun Yang Yun Song chuan lue.
Sư tôn Dương Quân Tùng truyện lược.
楊筠松師尊, 唐竇州人, 名益, 字叔茂,別號亦玄,世稱‘救貧先生’。 生於唐文宗太和八年(西元834年), 死于唐光化三年(西元900年)。 唐朝僖宗國師, 官至金紫光祿大夫, 掌靈臺地理事,為唐朝著名地理風水學家, 精堪輿術。
明朝嘉靖 15 年 (西元 1536 年) 董天錫編撰的 《贛州府志》記載:
“竇州楊筠松, 僖宗朝,官至金紫光祿大夫, 掌靈臺地理事。 黃巢破京城, 乃斷發入昆侖山, 過虔州, 以地理術授曾文辿、 劉江東。 卒於虔,葬雩都藥口壩”。
三僚曾氏族譜卻有關於楊救貧的詳細傳略:“楊公仙師祖籍山東竇州府,父名淑賢,剩三子,長曰筠翌,次曰筠殯,三曰筠松。楊公仙師名筠松,字益,號救貧,生於大唐中和甲寅三月初八戌時。幼習詩書,一覽無遺,十七歲登科及第,官拜金紫光祿大夫之職,掌管瓊林禦庫。至四十五歲,因黃巢之亂,志欲歸隱山林,偶遇九天玄女,授以天文地理之術。史書記載,廖、曾兩姓都從甯都徙居興國三僚,“蓋兩家宅,皆筠松所卜而貽之讖云”。(明·嘉靖董天錫編撰《贛州府志·人物志》)。可能是因為這一緣故,三僚人非常願意跟外人介紹楊救貧為三僚卜地開基的傳說。
曾文辿是楊救貧的首座弟子,也是三僚曾氏的開基祖先,自從在黃禪寺偶遇楊救貧之後,便與楊救貧雲遊天下,但是曾文辿一直都想尋找一塊吉壤,世代定居下來。
在甯都的賴村,曾文辿希望在那裡安家,在他看來,那裡的風水可以出大官,楊救貧說那裡的山是禿頭山,只會出大盜。後來在雩都的平頭寨,曾文辿說這裡是“五虎下山,獅象把水口”,將來子孫肯定興旺發達。誰料楊救貧又說他看錯了,這是“五鼠下山,貓兒把水口”。曾文辿發現三僚的風水不錯,子孫可以世代為官,於是告訴楊救貧,他已經找到了一個“前有金盤玉印,後有涼傘遮蔭”的好地方。
楊救貧來到三僚一看,果然是一塊肥沃的盆地,山水環繞,盆地中間有一座長條形的石峰,在遙遠的盆地邊緣有一棵高大的松樹,樹底下臥著一塊圓形的巨石。但是,在這位風水大師的眼裡,看到的卻是一塊適宜風水先生世代居住的地方,整個盆地就是一個碩大的羅盤,盆地中間的長條形石峰酷似羅盤的指針,而松樹和巨石則是風水先生隨身攜帶的雨傘和包裹。他說,住在這裡,子孫後代端著羅盤,背著包裹出門。原來楊救貧擔心死後風水成為絕學,希望徒弟們能夠世代繼承他的風水地理學問。
楊救貧和他的兩個弟子(曾文辿和廖姓開基祖先廖瑀)一起,在盆地中間搭起茅棚住了下來,一人一座茅棚,茅棚為“寮”,故稱“三寮”(現在為“三僚”)。曾文辿將全家遷往三僚村定居時,楊救貧特地為他擇址定向,並作了一份地鉗記流傳至今:
“僚溪山水不易觀,四畔好山巒;甲上羅經山頂起,西北簾幕應;南方天馬水流東,仙客朝拜中;出土蜈蚣艮寅向,十代年中官職旺;今卜此地為爾居,代代拜皇都;初代錢糧不興大,只因丑戌相刑害;中年富貴發如雷,甲木水栽培;兔馬生人多富貴,犬子居翰位;今鉗此記付文辿,三十八代官職顯”。
明清以來,曾氏後裔人文蔚起,出了許多人才。
楊救貧一生致力於風水之術,扶危濟困,晚年卻不幸為政客所害。
在他所處的時代,唐帝國已經衰微,諸侯稱霸。統轄虔州(今江西贛州)的諸侯是盧光稠,他早有獨霸天下的野心,於是自立為王,號稱盧王。盧光稠為了實現自己的夢想,便請楊救貧為其卜天子地,卜得後,將其母改葬。在答謝楊救貧的宴席上,盧光稠問楊救貧還有天子地否?楊救貧答道:一席十八面,面面出天子。
盧光稠不願別人也得到天子地,與他爭奪天下,於是在酒裡下毒。楊救貧察覺後,立刻帶著徒弟回家,可惜船到雩都藥口壩,便毒性發作,楊救貧問弟子曾文辿此處何地,曾文辿說是藥口,楊救貧歎道:藥到口死矣!仇不可不報也。臨死之前告訴曾文辿遊說盧光稠在贛州磨車灣安裝水碓,十字路口開鑿一口水井,則世世代代為天子矣。曾文辿不解,詢問其中的奧妙。楊救貧解釋道,磨車灣安碓,單打盧王背,十字路口開井,盧王自縊頸。在不同的位置上安碓鑿井,在風水上破了贛州的“天子氣”,制煞了盧光稠。後來盧光稠果真背長癰疽,疼痛難忍,自縊身亡。
楊筠松被後人尊稱為楊公,在地理堪輿學上具有極其崇高的地位,著有《撼龍經》、《疑龍經》、《青囊奧語》、《天玉經》、《都天寶照經》、《天元烏兔經》等書,皆為地理風水上的經典著作。明朝李國木撰《地理大全》七卷至十卷為楊筠松所著《撼龍經》、《疑龍經》、《葬法倒杖》。
———————
師尊柳春芳傳略
Shi zun Liu Chun Fang chuan lue.

INDEX

Sư tôn Liễu Xuân Phương truyện lược.
師尊柳春芳傳略
liushi
柳春芳師尊,名渾,字春芳,又名夷曠,唐代人。少時求學甚篤,精通經史,事親至孝,中年登天寶進土第,貞元中為平章事,素性剛直,不阿權貴。時聖上曾與肚蕃會盟,師料夷狄易以兵制,難以信結,勸上勿與之盟,上不聽,卒果被劫盟。
師自拜內閣中書令,身為太傅,得以道德要義,教於宮中,使滿庭盡明四維之義,八德之基,專仙著道學,苦無良帥傳秘。
年七十二,偶思退隱歸里,在七目十一日,天方交亥,五色祥雲現於宮中昭陽院側,忽百人呼渾叫何在,當時一覺,才悟有異人,叩首而問,見形而明,方知呂祖點化。故決意辭職歸林,以修身養性。
后在紫陽之山有寺名曰:“敕賜建國元化寺”修真,日與白鶴為伍,與世隔絕,而得呂祖常賜靈光,并時為開導玄法妙理,日習經典,晚登峰練氣,至性圓周,大功卒告完成,煙霞嘯嗷,靈機恬忘,脫塵證質,自稱“湖山散叟”。呂帝引證玄籙,授為鸞教導師,與楊筠松并稱楊柳兩師。
———————
師尊濟公略傳
Shi zun Ji Gong lue chuan.

INDEX

Sư tôn Tế Công lược truyện
濟公名為李修元,諱琛,字修緣,(1130一1209),天臺永寧村人。《湖隱方圓叟舍利塔銘》說濟公是“天臺臨海都尉李文和遠孫”。李遵勖(988—1038),初名勖,因娶宋真宗趙恒妹萬壽公主,是宋太宗駙馬、鎮國軍節度使,而加“遵”字為“遵勖”,字公武,逝世後諡號和文,為李崇矩孫,濟公高祖。其世系為:李崇炬——李繼昌——李遵勖——李端懿、李端願、李端愨——李評——李涓——李茂春——李修元(修緣)。該家族有三個特點:一是世代仕宦,且為將門;二是為官清正,政績卓著,名列《宋史》;三是曆世積善信佛,家族中不少人是禪宗的著名居士。隨著宋室南遷,李氏子孫流寓其高祖李遵勖封(食)邑浙東天臺,隱居於赤城山南麓、天臺城北的永寧村。濟公之父李茂春和母親王氏住在天臺,目擊朝廷腐敗,棄官隱居經商、念佛,為人淳樸厚重,樂善好施。
少年濟公成長在赭溪畔,讀書於赤城山,由於受天臺山“佛宗道源”和李府世代積善信佛家族文化,受到釋道二教的薰染,潛移默化,萌生了方外之念。弱冠之年,父母雙亡以後,二十七歲出家,皈依佛門,先入國清寺拜法空一本為師,參訪祗園寺道清、觀音寺道淨,後至臨安(今杭州)參師靈隱寺瞎堂,曾經當過國清寺住持的高僧瞎堂慧遠的門下,這位“佛海禪師”為濟公授具足戒,取名”道濟”,嗣其法衣。
道濟系“羅漢轉世”,故不戒酒肉,且佯狂似顛。天性好動,出家後言行一反常態,隨喜念經,不耐打坐,不修邊幅,經常衣衫不整,常帶襤褸,經常和村童一起遊戲,作呼洞猿。
浮沉市井,常行救死扶弱之事,狀類瘋狂,人們稱他為“濟顛僧”。曾經蘸大蒜吃肉,在一般僧俗眼裡,道濟的言行出格,被認為不是正常的人,所以有僧人向方丈告狀,說道濟違犯禪門戒規,應責打並逐出山門。誰知,方丈慧遠一邊口宣:“法律之設原為常人,豈可一概而施”!並在首座呈上的單紙上批了:“佛門廣大,豈不容一顛僧”!此後無人再敢詬逐。瞎堂慧遠圓寂後,道濟去淨慈寺投德輝長老,後來做了書記僧。
他寫詩自述:
“削髮披緇已有年,唯同詩酒是因緣。坐看彌勒空中戲,日向毗盧頂上眠。撒手須能欺十聖,低頭端不讓三賢。茫茫宇宙無人識,只道顛僧繞市廛。”
活脫脫的一幅遊戲人間的自畫像。從外表看,這位號稱“湖隱”、“方圓叟”的窮和尚,破帽破扇破鞋垢衲衣,似丐似氓,非僧非道,實際上卻是禪宗楊岐派第六世得道高僧。
他學識淵博,擅詩善文,出語諧謔,往往超詣。南懷瑾對他的四首《西湖》絕句和臨終偈語尤其讚賞,說“若以詩境而論詩格,他與宋代四大家的范成大、陸放翁相較,並無遜色”; 如以禪學的境界論詩,則已臻禪境之極詣。略舉其一:
“出岸桃花紅錦英,夾堤楊柳綠絲輕,遙看白鷺窺魚處,衝破平湖一點青。”
畫面 色彩鮮明,動靜諧合;情趣內蘊,用筆精細而又不失自然,末句尤有神韻。他每有疏狀新出,臨安城更是爭相哄傳,名聞遐邇。
濟公性狂而疏、介而潔,不同凡響。有與他同時代的詩僧居簡及其詩文選集《北澗集》為其作證。居簡是濟公的師侄,在遊覽赤城山時把山上的一塊摩崖稱作“書記岩”。濟公圓寂後,居簡寫了一篇《湖隱方圓叟舍利塔銘》,這“湖隱”、“方圓叟”都是濟公的別號。
濟公身為禪宗高僧,撰有《鐫峰語錄》10卷,還有很多詩作。他跟唐代隱士寒山、豐幹、拾得(即“三賢”)一樣,既受到佛教禪宗的薰染,也受到了道家隱逸之風的影響。不同的是,他還具有民間遊俠的色彩,從而使他在眾多的佛門弟子中獨樹一幟。這與他從小就在佛道雙修的赤城山攻讀,並受到“台州式硬氣”的民風陶冶有關。
濟公破帽破扇破鞋垢衲衣,貌似瘋顛,實際上卻是一位學問淵博,行善積德的得道高僧,被列為禪宗第五十祖,楊岐派第六祖。他懂醫術,為百姓治癒了不少疑難雜症。他曾經帶著自己撰寫的化緣疏,外出募化,修復被火燒毀的寺院。他經常游方市井,拯危濟困,救死扶弱,彰善懲惡。所以,在人們看來,“濟顛”的“濟”字也包含著扶危濟困的意思。道濟善走圍棋,喜嘻樂,更寫得一手好詩文。他每寫一篇疏狀,臨安滿城爭相哄傳。他徜徉山水, 自得其樂,遊履所至,揮毫題墨,文詞雋永。故今日道濟的鸞文必是好文, 一個得道高僧,萬萬不可猥瑣邋遢化,褻瀆聖人, 缺德罪過。
濟公故鄉天臺一帶流傳的多是他的出世、童年生活、戲佞、懲惡、扶困濟貧的故事,有“濟公出世”、 “小濟公芥菜葉潑水救淨寺”、 “利濟橋”、 “棒打壽聯”、 “赭溪救童”、 “修元出家” , “飛來峰”、“古井運木”、 “戲弄秦相府”等故事最為膾炙人口。直至明末清初, 出現了一部描寫濟公傳奇事蹟的 《濟公傳》。
天臺故僧於道濟帥圓寂四十九日之後,僧遇師顏,後示僧民以師之聖望, 不著不空,無門有宗,佛在方寸,六合彌同, 故餘杭百姓民間,尊為現世活佛。 歷朝贈謚,或以知覺菩薩,或以禪林奇僧輔化羅漢進菩薩尊位,或以道濟渡化天尊,或以救苦救難三界導師加道濟天尊號。 自玄旻高皇登禪掌極, 進位協天輔化三界至大佛願。 萬方菩提境內,引化歸身證性明師。 而師曾留妙偈有云:
有蹤無性  有性無蹤  來去無蹤  亦有亦空
苦難焉頂  孽海焉空  靈臺有物  便是吾宗
其成佛後的尊號:
“大慈大悲大仁大慧紫金羅漢阿那尊者神功廣濟先師三元贊化天尊”,集佛道儒於一身,堪稱神化之極致。
———————
師尊玄天上帝
Shi zun Xuan Tian Shang Di.

INDEX

 

Sư tôn Huyền Thiên Thượng Đế.
《太上說玄天大聖真武本傳神咒妙經》 說,玄天上帝是太上老君第八十二次化身, 托生於大羅境上無慾天宮, 為凈樂國王及善勝皇后之子。 皇后夢而吞日, 覺而懷孕, 經一十四月及四百餘辰, 降誕於王宮。後既長成,遂捨家辭父母, 入武當山修道, 歷42年功成果滿, 白日昇天。 玉皇大帝有詔, 封為太玄, 鎮於北方。
《洞冥寶記引真武報恩經》 及 《神仙通鑒》, 則謂: 玄武帝乃淨樂國王之嫡子, 其母善勝天后, 入懷而有娠, 誕降之期, 正應虛危之宿, 生有奇表, 穎慧非常。 國王后僅生帝一人, 正位青宮, 備極鍾愛。 帝於問寢侍膳之餘, 每念父母深恩, 非常常服勞所能報答, 遂捨青宮之貴, 而入武當之山, 踐形鍊氣。
幾四十載, 大道將成, 值國王年邁, 日夜繫思,特遣五百壯軍, 邀迎太子還朝嗣統。帝知力不能卻, 劃地成澗, 隔絕道途, 五百壯軍,一齊感悟,解兵卸甲,願同入山,修真養性。後又數年,帝於九九之辰,功完行滿,向日飛昇,五龍捧聖,上朝天闕,敕授真武,永鎮玄天,生身父母,榮享褒封,五百壯軍,亦授靈官之職。證果以後,帝追思往事,自明得道之由,作報恩經以訓世。
玄天上帝全名為 “武當山北極玄天真武大帝蕩魔大天尊”, 又有“玉虛師相”、 “真武大帝” 等等稱號。 而民間皆以“ 上帝公”、 “帝爺公” 來稱謂, 以表尊奉之意。 玄天上帝的造型相當奇特, 乃以手持七星寶劍, 腳踏龜蛇型像最為普遍; 其手持七星劍, 表示掌管北方七宿之意。 相傳, 玄帝所持的七星劍乃豐乾大天帝所贈, 此劍原名為 “北方黑馳袞角斷魔雄劍”; 劍長七尺二寸, 重廿四斤, 以應七十二侯、 廿四節氣, 闊四寸八分,以應四時八節之意。另有一說: ﹝七星劍﹞原名為 《九星群魔斬妖劍》》, 係孚佑帝君偕玄帝前往崑崙山萬劍崖頂取出, 正當取出之時,因玄帝力大, 不意拔掉二星, 致使二星留於崖頂, 遂成 《七星斬妖劍》。 左手印訣,一指向天,係玄武圓道之姿態;足踏龜蛇, 展露出收伏二將的事蹟。而據傳龜蛇二怪,乃是商紂王時,六天魔王以坎離二熙所化,來殘害生靈,後玄帝奉元始天尊之命,下凡收伏而為兩將。
玄帝於上天開皇初劫(下世黃帝紫雲元年)(啟聖錄記載:下世適值隨文帝開皇元年)三月三日午時,應運臨凡,出生在印度淨樂國帝王家,自幼天資聰穎,年僅十歲,即對古籍典冊了然於心,天文地理無所不通。此後不慕富貴,惟務修行,立志救護天下蒼生,誓佐玉皇,以斷天下妖魔。其貞志上感 玉清聖祖紫虛元君,下凡親授無極上道,奠下了真武修行的根基。爾後奉師命,前往武當山修煉,才能歸根復位得道。
玄帝的傳聞典故相當多,但最膾炙人口,為人津津樂道的事,乃“鐵杵磨成針”。相傳;上帝公於武當山修煉時,因山中氣候多變,且物糧不足等因素,致使意志難以堅定,心生還俗的念頭。有日,玄帝退志欲出山,返回故鄉時,途經一井,看見一名老嫗手拿鐵杵,在石頭上研磨,玄帝甚感疑惑,向前揖禮詢問磨杵的原因,只見老婦笑答:“我欲將鐵杵磨成針”,玄帝聞言笑曰:“以鐵杵磨成針,何時日方成針?”只見老嫗不慍不火地答曰:“日夜功夫深,何怕不成針!“玄帝聞言後,立即頓悟,即刻返回山中精修道業。而這名老嫗正是玄帝聖師紫虛元君所化,特來點化玄帝。
真武於返巖途中,折下一株梅枝置於榔樹上,且仰天立誓曰:“我道業若有所成,此樹當開花結果。”四十二年後,玄天上帝得上道,昇騰天闕時,此樹果真開花結果。而因榔樹上開梅花,印證了只要有心,世事皆沒有不可能的事,最怕的是,自己心志不堅,而白白喪失許多機會。
玄天上帝是掃除邪魔、消災改厄的守護神,聖誕日期:農曆三月初三日。昇天日期:農曆九月初九日。
———————
玄旻高上帝玉皇大天尊
Xuan min Gao Shang Di Yu Huang da tian zun.

INDEX

Huyền mân Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng đại thiên tôn.
關羽略傳
關羽(公元163?—219年),約生於東漢桓帝年間,字雲長,本字長生,河東解良人(今山西運城市)。三國時期蜀漢著名將領。棄身之後最受民間推崇,歷代朝廷褒封,儒教崇祀為“武聖”與“文聖”孔子齊名,道家奉為關聖帝君、佛教稱為伽藍菩薩,關羽為儒、道、佛三大中國宗教派的義神。是德教會神首、協天當元掌印,號  玄旻高上帝 玉皇大天尊,為師尊殿一定要供奉的師尊。
關羽少年時勇武有力,嫉惡如仇,19歲到解州城求見郡守述求滿報國之志,被拒不接見。當晚因遇上欺民辱女之事,一時氣不過殺了惡霸呂熊財,他連夜逃離,途中路過潼關,遭到守關軍官盤問,情急之中他手指關口說姓“關”,自此就再未改變。
關羽到涿郡(今河北涿縣),正動員鎮壓黃巾起義,遇上劉備(劉備是西漢景帝子中山靖王劉勝的後代)和張飛,三人志同道合,因此桃園結義兄弟,誓曰:“雖然異姓,既結為兄弟,則同心協力,救困扶危;上報國家,下安黎庶,不求同年同月同日生,只願同年同月同日死。”三人參與起義,關羽從此戎馬生涯,從中平元年(184年)一直到捨身,關羽始終忠心耿耿追隨劉備,“隨其周旋,不避艱險”( 三國誌·蜀書·關羽傳》)。
劉備起兵,關羽、張飛始終左右。中平元年(184年)投奔涿郡校尉鄒靖抵抗黃巾軍,首戰告捷。接著投奔中郎將盧植,在廣宗後,因盧植遭誣陷被押回京師,他們重返涿郡,歸途遇到黃巾軍天公將軍張角追擊董卓,關羽和張飛領軍救了董卓。劉備後來投奔幽州軍閥公孫瓚,屢立戰功,關羽和張飛任別部司馬分統部曲。
建安元年(196年),曹操奉迎漢獻帝遷都許昌(今河南許昌東)後,獨掌軍政大權,總攬朝政。建安三年(公元198年)劉備被呂布打敗,投靠了曹操。曹操表舉他為左將軍,拜關羽為中郎將(次於將軍的武官)。時車騎將軍董承接受皇帝衣帶詔,與劉備及長水校尉種輯、將軍吳子蘭、王服等,密謀除掉曹操。
建安四年(199年),劉備恐曹操猜忌,欲伺機脫離曹操控制而求去。曹操謀士程昱、郭嘉、董昭等認為不該放走劉備,但已不及。十二月,劉備除去徐州刺史車冑,自屯兵小沛,招兵買馬,與朝中反曹勢力遙相呼應,周圍郡縣紛紛歸附劉備,與袁紹媾結聯盟,軍力發展至數萬人,擊敗前來討伐的司馬長史劉岱和中郎將王忠,取得徐州、下邳地區。
建安五年(200年)正月,曹操親自征討,劉備倉猝應戰,被曹軍擊潰,逃到鄴城(今河北臨漳西南)投奔了袁紹。劉備妻子被俘。關羽留下不走。曹操讚賞關羽為人,拜其為偏將軍,禮遇甚厚。關羽是“吾極知曹公待我厚,然吾受劉將軍厚恩,誓以共死,不可背之。吾終不留,吾要當立效以報曹公乃去”,曹操不但沒有怨恨關羽,反而認為他有仁有義,更加器重。
建安五年(200年)官渡之戰,二月,冀州牧袁紹十多萬軍進黎陽(今河南滑縣東北)討曹操,派大將顏良圍白馬,攻東郡太守劉延,劉延告急請援。曹操用計假攻渡河,袁紹分兵挺進延津,曹操派張遼、關羽為先鋒,率部進擊。關羽在萬軍中“莫能當者”斬首顏良,袁軍大敗,遂解白馬之圍。
曹操備贊關羽,對他重加賞賜,封他為漢壽亭侯,遂重加賞賜。關羽把曹操屢次給他的賞賜都封存妥當,把漢壽亭侯的印綬掛在堂上,給曹操寫了封告辭信,保護著劉備的家小,離開曹營,到袁紹軍中尋找劉備。曹操將士聞後,要去追趕,曹操勸阻說:“彼各為其主,勿追也”。關羽被擒到他立功報曹、重奔劉備、降漢不降曹、禮待二嫂、得知劉備下落,便當辭去、千里走單騎,過五關斬六將、古城兄弟相會…等,皆為義行。
關羽重然諾,守信用,忠誠。他與劉備同甘共苦許多年,恪守信義,始終不渝。即使白馬被擒,身在曹營,也仍不忘舊恩,終於復歸劉備,忠義一時無兩。
關羽勇武異常,溫酒斬華雄、三英戰呂布、斬車冑、斬顏良、誅文丑、掛印封金、千里走單騎、過五關斬六將、華容道、單刀赴會、水淹七軍等,雖有違史實之處,卻也突出了他的武勇和神韻。刮骨療毒,更是盡人皆知。
關羽為“忠義”化身,尊為“武聖人”。唐建中三年(782年)被列為古今六十四名將之一,進武廟,配享姜太公。宋代,宋徽宗封“忠惠公”,“崇寧真君”, “昭烈武安王”和“義勇武安王”。元文宗封為“壯繆義勇武安顯靈英濟王”,明神宗封“三界伏魔大帝神威遠震天尊關聖帝君”,武廟與文廟並列。清代封“忠義神武仁勇威顯護國保民精誠綏靖翊贊宣德關聖大帝”(《清史稿·禮樂志》),在北京修建了關帝廟,通令全國普建關廟。武聖關公廟數量之多,超過了文聖孔廟。清代僅北京關廟有116座。關羽的里山西省運城市解州城西關帝廟堪稱天下第一關廟。
台灣二千餘萬人口,關公信徒多達800萬眾,各家各戶都為關公設香案。美國的“龍崗總會”是拜關公為祖的民間組織,分會有140多個,遍佈華人居住的世界各地。南亞各國關廟,最盛者當數泰國。日本清代就有關帝廟。
關公後人,長子關平跟隨關羽征戰,與關羽一同被斬於臨沮。次子關興深得諸葛亮器重,弱冠後擔任侍中、中監軍,數年後死去。孫子關統為關興長子,妻為公主,官至虎賁中郎將,卒,無子。關興次子關彝,關統死後承襲其位。
朝代 皇帝 時間 封號
北宋 宋徽宗 崇寧元年(1102年) 忠惠公
北宋 宋徽宗 崇寧三年(1104年) 崇寧真君
北宋 宋徽宗 大觀二年(1107年) 武安王
北宋 宋徽宗 宣和五年(1123年) 義勇武安王
南宋 宋高宗 建炎二年(1128年) 壯繆義勇武安王
南宋 宋孝宗 淳熙十四年(1187年) 壯繆義勇武安英濟王
元 元泰定帝 天歷八年(1335年) 顯靈義勇武安英濟王
明 明神宗 萬曆四十二年(1613年) 單刀伏魔、神威遠鎮天尊關聖帝君
明 明思宗 崇禎三年(1630年) 真元顯應昭明翼漢天尊
清 清世祖 順治九年(1652年) 忠義神武關聖大帝
清 清世宗 雍正三年(1725年) 三代公爵、聖曾祖、光昭公、聖祖、裕昌公、聖考、成忠公
清 清高宗 乾隆元年(1736年) 山西關夫子
清 清高宗 乾隆三十一年(1767年) 靈佑二字
清 清仁宗 嘉慶十八年(1813年) 仁勇二字
清 清宣宗 道光八年(1828年) 忠義神武靈佑仁勇威顯關聖大帝
古代武廟祭祀的戰神是“兵主”蚩尤,唐朝武廟主祀是周朝姜子牙,關羽則為從祀。宋朝民供奉手持青龍偃月刀的關羽祠廟遍佈各地,“郡國州縣、鄉邑間井皆有」(郝經《陵川集》)。元朝廷崇信喇嘛教,但未箝制人民信仰,因此民間對關羽的崇信有增無減,元朝皇帝且曾遣使致祭。明清以降,供奉關羽的廟宇不僅遍佈中國內地,且延伸至蒙古、西藏、朝鮮半島乃至海外。今日僅在老北京城裡,就有一百多座專供關公或兼供關公的廟宇。
民國十三年,歲次甲子,成都通儒壇降諭,忠義聖武關聖大帝受禪登極,號萬世人極,三界聖官,玄旻高上帝,玉皇赦罪大天尊。公元一九二四年甲子,玄穹高上帝玉皇大天尊,以三期普渡,天數應開,最后之末劫,應當完結,而開七白載之太平,惟是在此結束末劫之秋,去惡留善,被戳太大,慘不忍睹,玄穹上皇退居三十三天,禪讓皇位予關聖帝君,尊號玄旻高上帝玉皇赦罪大天尊,於甲子元旦,正式受禪。
———————
白雲道長張玄同師尊傳略

INDEX

Bai yun dao zhang Zhang Xuan Tong shi zun chuan lue.
Bạch vân đạo trưởng Trương Huyền Đồng sư tôn truyện lược.
白雲道長,姓張名玄同,湖北人氏,明代嘉靖生於湘濱,故又名濱雁。
幼有異聰,過目不遺,博覽諸子百家,十四入泮,十九入翰苑,明帝嘉其聰慧及耿正,廿二授任惟縣命三年,奉召入京為禮部侍中,廿八歲奉旨任大名府府君,一任三年,一連四任,自問案無積牘,一府之民易治。
因秉性不阿,出任江淮之後為權臣所阻,鬱鬱難舒懷志,任命四年,敢懷棄塵之念,後在五臺山之麓,得遇火煒真人及了空禪師,一夕竟談,立願參修玄理而遠塵囂。免卻苦海虛華所役,超然宦海之外,故拾心從道,初至盧山靜修,號稱川陵道人。苦修十年,再受了空禪師之引,至白雲山寺閉關禪定四載,後於自雲山之北閑遊,見峰石有光,登而視之,見石有“白雲在此了凡”之誌,迨後乃悟了空禪師之言有意。
改號白雲道人,坐化於嘉靖末年六月十八日。明代之後,虛山居民暨江淮白姓,常沐道長顯跡施化,道長仁胸可見一般。德德社創立,授命為普化引進為末期導師。“鸞教有幸,多承道長開機示化,爰以懇述略要耳。”
———————
德師福德正神
De shi fu de zheng shen.

INDEX

Đức sư Phước Đức chánh thần.
福德正神即為“社神”,又稱土地神、土地公、伯公、福神、社公、福德爺、老土地,后土等。“社神”是一自然神,自皇帝到平民都得對“土”立社,以祈福報功。祈祀之神叫“社”,祀神之所亦叫“社” 。在《白虎通》云:“人非土不立,非殼不食,故封土社,示有土地也”,就因為“土”能生萬物,其功德厚大,封土立社,祀五土之神,以為祈福(春社)報功(秋社)。示與土合而成“社」,是“社」之由來。
《公羊傳》文中所載:“社神者,土地之主也”。由此可知,土地公原是自然神祇,因大地孕育萬物,人們生活與土地又息息相關,密不可分,而將其人格化虔誠奉祀。更因此緣故,使得土地公無論是在士、農、工、商各行業中,皆受到人們殷勤奉祀。土地乃創造萬物的溫床,擁有土地公即擁有財富,正是“有土斯有財”,
福德正神的生平:周朝有一總稅官,姓張名福德字濂輝;生於周武王二年二月二日。自幼即聰穎至孝,性情和善,為官期間,深體民生疾苦,為降低百姓壓力,極力推行減租賦稅,百姓皆受益良多,至周穆王三年辭世,享年一零二歲。死後三日竟容貌不變,人們皆嘖嘖稱奇。有一貧戶為感念張公生前德澤,遂以四顆大石圍成石屋奉祀,事隔不久,即由貧轉富,百姓相信乃張公福德神靈庇佑,隨既合資興建﹝福德堂﹞,並塑金身膜拜。其後周穆王賜封“后土”,又蒙瑤池金母冊封為“南天門都土地神”一職。
福德正神塑像為白髮圓滿、白鬚,笑容可掬,左手拿元寶,右手執如意或枴杖,慈祥和藹的風範,一副慈善可親的福德老人, “如意聚財” 的員外打扮。土地公也是“庄頭庄尾土地公”、“田頭田尾土地公” 的田頭田尾守護神。
農曆二月初二日土地公聖誕日,此日亦稱“頭牙”,而商家在農曆十二月十六日俗稱“尾牙”,宴請員工,焚香祭拜土地公,感謝一年來的幫助、庇佑。每逢農曆初二、十六,祭祀土地公。
———————
竭忠王關平少帝傳略
Jie zhong wang Guan Ping shao di chuan lue.

INDEX

Kiệt trung vương Quan Bình thiếu đế truyện lược.
德德社協天闕主裁
De de she xie tian que zhu cai.
Đức đức xã hiệp thiên khuyết chủ tài.
關平少帝,三國時,山西省,解州常平村,寶池里人氏,姓關諱平,字坦之。少帝祖父道遠公,性靖至孝,的的父歿,盧墓三年,才免喪。祖父娶胡氏為妻,於桓帝延熹三年庚子六月廿四日生聖帝關雲長(即當今玄是高上帝玉皇大天尊),關羽於漢朝靈帝光和元年(公元178年)歲次戊午五月十三日生少帝。
少帝幼小時便具有神威,禮義巍巍,年未及弱冠,酷愛弓箭騎術,文經武緯。年少時即輔佐聖帝匡王護國,隨父親關羽征戰沙場。少帝躬親矢石,事親至孝,臨陣不離其父左右;大孝大忠,至仁至勇,補造化之不足,對武聖關帝之功勳助益極大,父子為蜀國立下無數的汗馬功勞,奇勛早建於西蜀。異略素著於北魏。
東漢獻帝建安廿四年(公元219年)十二月初七日,關公誤中呂蒙之計,被東吳兵伏於臨沮,關平聞訊,情急之下,孤軍馳往救父,力盡被俘,十二月初七日,關公父子二人雙雙遇害,關平太子時年四十二歲。聖帝英靈飛升,少帝亦同時就義。
宋太祖趙匡胤為仕於后周時候,曾經隨從世宗征討淮南、楊州等地,為敵蔻所圍陷,在危急中,忽然有一天神降臨解圍,並說:“我某將軍也,奉漢朝壽亭候之命,解二君之危。”太祖趙匡胤既受奉殿前都檢點,歸德節度使,不久,太祖受后周禪讓,改國號為宋。郊外祭祀上帝,并配少帝, 崇封“輔國天尊”; 封聖帝為“協天神武大帝”, 以崇其德,并配祀少帝周將軍於 “協天神廟”。
宋崇寧元年封少帝為 “武靈侯”, 世稱“靈侯太子”。
明萬曆二十四年,聖帝於宮中顯化,單刀伏魔,神宗皇帝敕封為“三界伏魔大帝神威遠鎮天尊關聖帝君”, 而少帝亦追封為“竭忠王”, 鸞門尊稱為“九天威靈顯化天尊”。 周倉將軍為“威靈忠勇公”。 人們感佩其忠孝無雙, 特將其和周倉將軍配祀於關聖帝君廟中奉為左右侍神, 關平太子立於帝君身後左側, 手掌“漢壽亭侯印”; 周倉將軍立於帝君身後右側, 手持“青龍偃月刀”。
乾隆三十三年,改追封為謹封,敕封為敕奉,以代表尊崇。嘉慶二十五年,七月十五日,定致祭,用雙台寫。
雍正三年,封聖帝三代。雍正十年定少帝哲嗣關樾,為裔世襲五經博士。即。關氏族譜言:少帝妻子趙氏,聽聞麥城被攻破,立刻攜帶八歲孩子關樾避難於安鄉氏家,改姓為門,至到普平了吳國,才攜帶兒子出來,恢復關姓,今關裔皆為竭忠王關平之后也。
高皇禪極,召集九界佛聖仙賢,發大悲心,不辭凡塵苦勞,及眾生迷失性元之厄,以德德社為上界,宰執化機。少帝授命偏協天闕之主裁,勵督德化祚運之淵源也。德德社協天關主裁,乃少帝神壇顯化,降筆於清葉及民初之史寶,而為今后德教復興之端緒耳。
註:(雙台寫何解:古時以功略之君臣。配祀儀節。雙台寫“左台當朝君主敕修臣下上文追溯功勛并虔謹進禮”。“右台各州郡凡有神跡顯化,郡主,縣令,率同庶民之呈文也”。)
農曆五月十三日為竭忠王關少帝聖誕
———————
諸佛仙尊誕辰表
Zhu fu xian zun dan chen biao.

INDEX

Chư phật tiên tôn đản thần biểu.
農曆正月初一日      玄旻高上帝玉皇大天尊誕辰
                                  文昌帝君誕辰
                                  齊天大聖誕辰
                                  包拯師尊誕辰
農曆正月初三日      藥王孫思邈真人誕辰
農曆正月初九日      玄穹高上帝玉皇大天尊誕辰
農曆二月初二日      亞聖孟子崇儒隆道天尊誕辰
農曆二月十五日      道祖太上老君誕辰
                                  嶽飛聖帝誕辰
農曆二月廿五日      何野雲師尊誕辰
農曆三月初三日      玄天上帝誕辰
農曆三月廿三日      天后聖母誕辰
農曆三月廿九日      木德星君誕辰
                                  福德正神誕辰
農曆四月十五日      釋迦如來佛組誕辰
農曆四月十四日      孚佑大帝玉清內相呂純陽師尊誕辰
農曆四月十五日      正陽帝君鐘離權師尊誕辰
農曆四月十八日      華佗師尊(即華元化師尊)誕辰
                                  李紫乙師尊誕辰
農曆五月十三日      協天閣關平主裁誕辰
農曆六月十八日      白雲道長張玄同師尊誕辰
農曆六月十九日      觀世音菩薩誕辰
農曆七月卅日          地藏王菩薩誕辰
農曆八月初八日      八仙慶遊盛會
農曆八月廿七日      大成至聖先師孔夫子誕辰
農曆八月廿九日      柳元陽師尊誕辰
農曆九月十五日      道祖太上老君飛升紀念日
農曆九月廿日          柳春芳師尊誕辰
農曆十月十四日      道濟佛祖(即濟公活佛)誕辰
                                  李修緣師尊誕辰
農曆十月廿九日      宋大峰祖師誕辰
農曆十一月初九日      李時珍師尊誕辰
西曆十二月廿五日      耶穌教主誕節
農曆十二月初九日      楊筠松師尊(即楊益師尊)誕辰
—————
基督教耶穌教主傳略
Ji du jiao Ye Su jiao zhu chuan lue.

INDEX

Cơ đốc giáo Gia Tô giáo chủ truyện lược.
基督教耶稣教主传略
耶教主名耶穌,為亞伯拉罕之後,其二十八代祖,乃猶太王大衛是也,聖母日瑪利亞,父日約瑟,然耶主非由情欲所生,乃聖母為童女時,聖靈結胎,與太上老君,釋迦如來之降世,若合符節,生而穎異,智慧俱足,十二歲時,於耶路撒冷聖殿中,即與大祭司談道,極為在座者歎為稀有,三十歲於約但河受洗於先知,施洗約翰得極充之靈光,禁食於曠野,四十晝夜,得大神通魔王撒但,三次試探之,皆為耶主摧伏,自後講道無定所,後以神通作醫人病苦之慈行,使瞽聾癱跛,均得見聞行走,嘗以五餅二魚,飽五千聽眾,其教人之法語,多用比喻而歸諸內心,其要點有三,日信,日愛,日望,信為獨一真宰,愛則博愛至於仇敵,望則以純潔之心靈,崇拜上帝,而得超生於上帝之堂也,其後為法利賽人撒都,該人生寸在羅馬諮害之,臨刑於十字架時,尚作懇切之祈禱,為仇人祈赦免,其博愛之教,所以日昌,是為耶教之宗。
—————
回教謨罕默德教主傳略
Hui jiao Mo Han Mo De jiao zhu chuan lue.

INDEX

Hồi giáo Mô Hãn Mặc Đức giáo chủ truyện lược.
回教谟罕默德教主传略
回教主,曰謨罕默德,姓哈申氏,誕於亞刺比亞之墨克都城,父名亞伯達,母曰額美媯,生時右手掩目,左手遮羞,落地作叩頭狀,自言曰,此為大神,吾為神之先知,後乳於乳母哈娌默氏,三歲與群兒游,忽群兒驚奔,乳母急出視之,見其郊立,仰視天空,問其故曰,適有二白衣神,捧金盆,貯雪水,剖吾腹,取臟腑洗之,出黑血數塊,自覺身心愉快,及長有聖名,塞爾渡古來氏族等人均忌之,欲加害,其祖引往他避,迨其祖歿,遂由其叔額卜他立部教養,愛如己子,二十三烕從叔賈於沙漠,有名補白克爾者,年十八,亦同行,將至圃宿裡地,謨祖坐樹下,遇天主教徒卜海喇問曰,坐此樹下者何人,補白克爾曰,謨罕默德,蔔驚曰,此末世聖人也,此樹名息得爾,乃昔時耶穌所植,嘗言自我坐此樹後,無人能坐得坐者,其惟末世聖人乎,今六百年矣,此子坐此,聖人之應也,補白克爾聞言,發心信仰皈依,後謨祖四十三烕,為受天命,稱聖之始,其妻赫底澈氏,與其僕人,暨一富人名亞標比結,以及補白克爾歐墨爾,歐思茫爾,裏墨加祖杯等,皆佐其成立新教者,其教崇拜獨一真神,排斥偶像,故人皆反對,甚至聚排擊之,謨祖避難於米地拿,歸化者益眾,自率信徒,以武力擴充其教,遂征服其他敵族,自為阿刺伯王教,遂大著所著之經名阿蘭經,亦名古蘭經,是為回教之宗。
—————
藥王孫思邈師尊傳略
Yao wang Sun Si Miao shi zun chuan lue.

INDEX

Dược vương Tôn Tư Mạc sư tôn truyện lược.
药王孙思邈师尊传略
藥王孫思邈師尊,唐朝陝西省耀縣孫家原村人。七歲讀圭曰,聰敏勤學,日能背誦千餘字。弱冠學成,擅醫術,精針炙,對許多疑難雜症,均能藥到回春,為人樸實,不慕榮華富貴。唐太宗與高宗。先後邀他為官,均予拒絕,寧隱鄉間,行醫度日,為貧病者服務,過淡薄之布衣生活。他對人們之疾病,密切關懷,嘗設病床於家中俾病人隨時受到治理,一生行醫,活人無數,單就麻風病人受其治癒者,即達數十人,其中且有外國人士,其處方所列藥物,極富科學價值,歐洲醫生首位發表討論關於醫治腳氣病之文獻者為荷人蓬提斯氏,時在西元一九四二年,而孫思邈師尊早於七世紀時已有治療與預防此種疾病之方法。所著「千金要方」與「千金翼方」。二書凡六十卷總結各醫家之精華,加上本身之治療經驗而成,為中國醫學史上,千秋不朽的巨獻。孫師百歲而終,鄉人築碑立廟以紀念其功績,並尊為藥王。
———————
師尊吳夢吾傳略
Shi zun Wu Meng Wu chuan lue.

INDEX

Sư tôn Ngô Mộng Ngô truyện lược.
師尊吳夢吾傳略
Sư tôn Ngô Mộng Ngô truyền  lược
        吳夢吾師尊生於周宣景五年三月十七日,年廿二登翰射僕,廿八任司空兼理都騎射,三十四出守關西,為討虜大尉將軍。四十九之六月,受皇恩内朝,為大司徒兼内宮侍教。五十七太子登位,即封為護國太左丞兼理天下都騎尉大將軍,自此在朝不外守。
        年六十二得黃庭之經,終日以閒時崇拜老祖之遺義,專心修養。治六八之年,皇退位又為一朝之托,七十辭官歸林。於薊縣清陽觀為道,得禪空長老之指,而悟靜坐之法,同年八月削髮爲和尚,取名 “空空”。圓寂年八旬有八。
———————
師尊何野雲傳略
Shi zun He Ye Yun chuan lüe.

INDEX

sư tôn Hà Dã Vân truyền lược.
師尊何野雲傳略
heyeyun
    宏德覆蒼生
    恩教渡善人
    道濟三途苦
    士陽窺明燈
本宏恩道土是
何野雲師尊,乃元末時人,生於山西棘縣。幼而好學,長從清元道人窮習玄理,尤精堪輿學理。遨游華夏,遇陳友諒而奇其有豪杰之風,述陳計略,與明太祖朱元璋共爭天下不果。
入山參修玄籙,終悟妙法,升化逍遙。因自明后清季,屢現玄跡於江南七郡,以化有緣。鸞壇設帳,多承仙駕不吝,頻有示機,而不泄示生平事端,敢后來無從克究。主裁邀歸德社,為鸞庭化世之導師。
———————
宋大峰祖師傳略
Song Da Feng zu shi chuan lue

INDEX

Tống Đại Phong tổ sư truyền lược
宋大峰祖師傳略
dafeng
宋大峰祖師者,閩地人,俗姓林,名靈噩,字通叟。宋寶元二年(1039年)誕於豪門,幼性聰穎,才思敏捷,勤研詩文。至長終成大器,金榜題名,位列進士。公憑學識而人仕途,授浙江紹興縣令,為官數載。因目睹朝政腐敗,遂棄官削髮皈依佛門,自福建至潮陽之北山修寺以居之。然非因此循入空門而清閒,乃發願普渡眾生。公為僧後,周遊四方,博覽廣采,終成一代高僧,嗣後卓錫于潮陽縣西和平里之綿安觀。
宋宣和二年(西元1120年),公從福建遊緣至潮陽之蠔坪鄉(今和平),時逢酷暑,久旱無雨,莊稼失收,餓殍遍野,瘟疫流行,滿目瘡痍。為救民眾於厄難之中,公遂結廬於裡之橋尾出“後靈豁”(今靈泉寺),設壇祭拜上蒼,祈求為民消災,同時研製良藥,施捨於民間,終使病民解厄,公之大德,深得當地鄉民崇敬,後遂於“後靈豁”客居。
時“後靈豁”與里間有一大川(今練江)相阻,常年水流湍急,屢有渡江者履舟葬身江底。公不忍生靈遭殃,善念萌生,宏發願建橋渡來往。
公為建橋瀝盡心血,四方奔走,動眾捐資,親臨江邊,詳計造橋事宜。此善舉深得民心,一時群情鼎沸。富者捐資獻物,貧者勤出勞力,由於人心所向,集腋成裘。一座跨越練江兩岸的大橋歷時五載,橋築十六洞時,而大峰祖師圓寂。里人無不悲傷,遂立廟祀之,顏其堂曰“報德”,至宋朝末年,元番人主中原,廟宇幾為年代湮沒。
祖師圓寂後,邑人蔡貢元感大峰恩師而不負眾望,負起建橋大任成大峰祖師夙願,以告慰祖師在天之靈。是年歲末,全長三十余丈,高一丈許,寬九尺,留有十八孔的木石結構大橋終告竣工,從此渡江無虞。
宋大峰祖師公德無量,千古流芳。他動眾捐資,化緣儉節,斥資造橋,為民醫治疾病,贈送良藥。是繼唐代大巔禪師之後的又一代德高望重的高僧。人們念念不忘。歷史民間紛紛組織善堂會,以弘揚大峰祖師的功德,義務為當地群眾辦理喪事,收埋荒野白骨,海上浮屍,客死他鄉者。
至明末清初,天災橫行,祖師再曇花現身東嚮說法,法理極為玄妙。鼓勵信眾應提倡拾修骷髏,掩埋路屍,敬惜字紙,贈醫施藥等舉,利人濟物。祖師善行可謂盡善盡美,如遜清庚申之災,壬寅之難。有求必應,民眾益感祖師慈悲,威靈昭著,自此粵東潮屬,先後崇奉者凡五百餘處,咸沾恩澤矣。
———————
八仙曹國舅師尊史略

INDEX

ba xian Cao Quo Jiu shi zun shi lue.
bát tiên Tào Quốc Cữu sư tôn sử lược.
曹国舅师尊传略
Tào quốc Cữu sư tôn truyện lược
立理作根基    行修當百儀
積參微妙奧    德苑此歸依
曹仙名友,字穆和。生於宋仁宗天聖二年甲子歲 (西元1024年) 五月二十二日。曹仙性清靜,幼而靈聰,授習書理,多能貫悟奧諦。貌相清奇,不奢浮氣。宋帝以其賦氣奇逸,必能為國邦盡責寄,詔授諫議重職,勸其出就功名,曹友上表曰:“吾不就朝市,願就崖谷”。
因此改名谷就,於是盡散家貲,周濟貧乏之人,隻身隱跡山巖,矢志修身,數載之間,心與道合。一日,鍾離老祖與呂仙祖遊至其處,
問曰:“聞子修養,所養何物?”
穀就對曰:“其他無所 為,欲修大道耳!”
二祖曰:“道何在?”
穀就指天曰:“天」。
二祖曰:“天何在?」
穀就指心。
二祖笑曰:“心即天,天即道,子直見本來面目矣!”
遂授以還真秘旨,“三三歸一之法”,令其精煉大道金丹,未幾丹成,道號溫成子。二祖引之入仙班,完成八仙之數。
曹谷就每手持大拍板,度世唱道情曰:“嘆人生,多忙亂,火宅塵緣 (人間眾苦充滿,甚可怖畏,如是等火,熾然不息,故曰火宅) ,日日相縈絆 (日日被旋繞綑住) ,驀地喉中三寸斷 (人死後) ,三魂七魄自此俱消散,任妻兒哀切,喚萬句千聲,更不回頭看,任憑你在生多計算,落在荒郊,失了惺惺漢” 。
謹習真如妙旨,素性練達,貝促儒家恕旨,更秉道門清氣,朝野俱重其行。世人以國舅稱謂,而不名耳。 六十有二,蒙正陽暨孚尊引登仙籙,而列大羅八天仙之位。隨緣而現玄蹤。
———————
八仙師尊韓湘子傳略

INDEX

ba xian shi zun Han Xiang Zi chuan lue.
bát tiên sư tôn Hàn Tương Tử truyện lược.
韩湘子师尊传略
Hàn Tương Tử sư tôn truyện lược
韓仙名仲卿,號湘,唐朝時人,父名會。呂祖全書引道緣匯錄雲: “昌黎 (韓愈) 從姪孫有韓柏者,真元未年 (唐德宗乙酉年,即西元805年) 九月初三日生,幼而奇異,未入名場”。韓仙幼承庭訓,頗多異聰,湘自少學道,尤嗜於佛道理說,慎獨行修,不慕仕達。立心觀性,突悟五蘊之幻,淡泊自得。恬然而恰妙機,正陽帝君授玄籙,終覺真機,外遊證性,並積善衷,飄然來去。五代後唐,曾現仙蹤,代脫兵戈所起疾病,民間自是溯仰仙意。呂尊引證仙籙,並為末塵消劫之導師,共擎德縣耳。
(湘生平也另有記:“湘在功名中,未嘗學仙,韓湘登第於唐穆宗長慶三年癸卯歲 (西元823年),官至大理丞 (掌刑法之官) 。長慶三年 (唐穆宗癸卯年,即西元823年) ,韓湘及第,韓愈教韓柏讀書應舉,似乃兄 (韓湘) 榮。柏對曰,姪孫與公所好相異” 。 言志詩雲: (各書皆同,故略記), 韓愈知其不可強也,柏自言能造頃刻花, 愈令試之, 柏乃取一盆, 實以土, 須臾出牡丹一叢, 花瓣中有金字詩一聯曰: ‘雲橫秦嶺,家何在?雪擁藍關,馬不前’。 愈問此何意?對曰: “久自知之。” 後愈貶潮州, 道過藍關, 大雪不能前進, 而韓柏適至, 為掃除其雪, 愈方悟花中詩意。)
———————
八仙純陽帝君李洞賓傳略

INDEX

ba xian chun yang di jun Li Dong Bin chuan lue.
bát tiên thuần dương đế quân Lý Đỗng Tân truyện lược.
玉清內相孚佑帝君
Yu qing nei xiang fu you di jun.
Ngọc thanh nội tướng phù hựu đế quân.
孚佑帝君聖誕於農曆四月十四日
純陽至聖顯道德於唐朝留傳太教儒道釋倍以欽崇
應化真人隱古今於塵世密降丹書貴賤賢愚而皈仰
孚佑帝君俗姓呂,名喦,字洞賓,號純陽,唐朝關西浦州河東道河中府永樂縣〈今山西永樂縣人〉。父名讓熄唐代太子右庶子之官,母王氏夫人,呂洞賓生於唐德宗貞元十四年〈西元798年〉農曆四月十四日巳時,生時異香盈室,天樂浮空,一白鶴自天而下,飛入帳中不見 (呂祖乃三清道祖前,玉虛仙鶴真仙投胎轉世,才會有此異兆)。
呂仙祖相貌堂堂,道骨仙風、生而金形木質、鶴頂龜背,虎體龍腮,翠眉鳳眼,頸長觀高,額廣身圓,鼻聳口巧,左眉角一黑子筋頭大,兩足紋隱如龜折。仙祖尚在繈褓中時,禪宗六祖“慧能大師”徒孫“馬祖禪師”路過呂府時,見呂祖相貌非凡,乃對聖父呂公曰:“此兒骨相不凡,自是世外之人,他日若遇盧則居,見鐘則扣,留心記取!”呂祖及長,訪遊廬山,果遇“火龍真人” ,傳以天遁劍法,因此緣故,呂祖行腳四海,常配劍於身,故世人稱其為“劍仙’。亦印證禪師所言:“遇盧則居’一語。
呂祖少時聰敏,日記萬言,矢口成文。二十飽覽經文,與及玄經芨辛。可惜兩度會試皆未金榜題名。
唐武宗會昌年間,呂祖時年四十六,遊長安城酒樓飲酒時,忽見一位身著青巾白袍、腰懸酒瓢、長鬢秀目之道人立於旁,二人一見如故,一同飲酒作詩。此位道人正是八仙“正陽帝君”鍾離權(漢鍾離)所化身,旨在點化呂祖向道修行。漢鍾離為試探呂祖道心為何?乃吟詩一首曰:
“坐臥常攜酒一壺,不教雙眼識皇都,乾坤許大無名姓,疏散人中一丈夫。”
呂祖遂答曰:
“生在儒家遇太平,懸纓重滯布衣輕;誰能世上爭名利,臣事玉皇歸上清。”
吟畢,呂祖揖問姓氏,道人曰:“吾乃雲房先生,身居終南鶴頂!”言罷,兩人相約翌日於祖師道庵歡敘。
次日,呂祖依照約定前往道庵,看見雲房先生正在炊煮黃梁,不敢驚擾,而於旁坐候,不久,呂祖睡意頗濃,則瞌眼小睡片刻:夢中見自己狀元及第,且青雲直上,官居一品,娶嬌妻美妾,子嗣昌盛且顯貴,然好景不常,受人牽連而獲罪,摘官抄族,妻離子散,榮華富貴盡成過眼雲煙,立於風雪中,更感悲悽。呂祖因而驚醒,此時看見雲房先生仍在炊煮黃梁,不禁嘆息,鍾離權見狀對呂祖笑曰:“黃梁猶未熟,一夢到華胥!”
洞賓驚而言:“先生知我剛才夢境之事?’雲房曰:“你在夢中浮沉不定,變化萬千,眨眼間人生五十寒暑,得之固則以喜,失之又何以悲,白駒過隙,人生恰似南柯一場,何以留戀爭奪,最要緊是自己要徹悟” 。言畢,呂祖頓然開悟,知宦遂不足戀,再而拜曰:願求度世之術。
鍾祖試授以點石成金之術,以作救世之本,而呂祖問之三千年後,金其復石乎?曰:“然也”。呂祖以為遺害千年之後,不之可也。
追隨鍾離仙翁同往鶴嶺洞天修道,習得吐納修真秘訣暨金鍊汞之術,同修七載,繼又雲遊黃龍山,觀紫雲成蓋,如有異人,晉謁遇黃龍真人,授以遁劍之法。於是密隱華峰,羽谷晦跡。
仙祖體悟大道之後,立志度人度世,廣度眾生脫離苦海,自稱回道人,遊歷五湖四海,行化度人,呂仙祖度人,是以講“道”理,來感化世間人。向世人直接說明,人要依靠修養修行,才能解救自己;人神感通,才能得到神明保佑。引化玄真之士,點醒迷夢之人。玄跡盛於華夏,威靈顯於四時,民間沐德崇奉,歷朝均有剌封。至旻皇登極欽授玉清內相,輔弼德教之揚行耳。
呂祖由於志在濟渡眾生,經常雲遊四海,隨緣渡化,因而民間關於呂祖的軼聞與聖蹟便應運而生。流傳於民間軼聞最廣,且讓人津津樂道的則以“呂祖為明太祖理髮”、“呂祖三戲白牡丹”當屬之。相傳,明太祖因頭生腫皰,在理髮時,時常痛苦難堪,使得京城中理髮師人人自危,深怕一不小心,而招來殺身之禍。呂祖聞知此況,遂化身理髮師,毛遂自薦,進宮為洪武帝理髮,並治癒腫皰,洪武帝大喜,賞賜金銀珠寶,但被呂祖婉拒,明太祖即問欲要何物?洞賓曰:“只要求聖賜一面紅旗,插於理髮店前” ,洪武帝准允;而百姓為感激呂祖,仁心濟人之德,遂尊奉為理髮業之守護神。
於七十三歲時終於功德圓滿,於登北醫無閭山,化三級紅綾,白日乘鶴飛昇,而歸仙位,登上大羅之天,至今中國遼寧省北鎮縣西,有座仙人巖,相傳為仙祖白日飛昇之處。
宋徵宗宜和元年,西元1119年,7月28日下詔封,呂仙祖為“妙通真人’,這是其祂七位仙人所沒有的官方褒揚。呂祖得道後,受玉皇上帝敕封為“昊天金闕內相─孚佑帝君文尼真佛”。
生平著有多部經典:如“陰符八品真經”、“呂祖真經十四章”等,部部皆為勸化世人修持的根基,且詩語中蘊藏大道奧妙,值得深深體悟筒中含義。
註:孚佑帝君呂洞賓為鸞門三恩主之一,又稱呂仙祖,另外又稱純陽祖師、純陽子、仙公、呂仙公、呂祖仙師等。儒教稱孚佑帝君之外,也稱純陽夫子;道教稱妙道天尊;佛教稱文尼真佛,係菩薩之一,除一般民間仰之外,呂祖仙師是理髮師的祀神,其誕辰是農曆四月十四日,香火跨越儒、道、佛三界。
———————
八仙師傳略
bát tiên sư truyện lược.
———————
八仙師尊正陽帝君鍾離權傳略

INDEX

Ba xian shi zun zheng yang di jun Zhong Li Quan chuan lue.
Bát tiên sư tôn chánh dương đế quân Chung Ly Quyền truyện lược.
锺离权师尊传略
    恢宏德理唯善修    布恩教苑啟因由
    莫道靈沙空跡影    仁士稽首窺玄獻
鍾離師,漢初燕臺人氏。諱權,字雲房,幼習武略與及諸經,長涉玄理,有賢聲,遠仕進,時以高士目之。逾冠不娶,敖遊名山勝地,了徹靈氣所鍾,華領窺奧,遇慈航道人,授真陽默諦,賜號“正陽子”。
五十證課,錄入大羅仙位,拐仙屢為導參至道,具足風範,降跡塵世,頻頻引化後來仙友,與及顯勝屢朝,歷有皇封,或贈謚“正陽帝君”,或加“靈佑正陽帝君”。呂帝暨何仙,均鍾離師引渡也。德教創組之先,旻皇欽受為德德社引化之導師。
———————
八仙師尊張果老傳略

INDEX

Ba xian shi zun Zhang Quo Lao chuan lue.
Bát tiên sư tôn Trương Quả Lão truyện lược.
张果老师尊传略
張果老師尊,俗姓張,名果,字登元,世稱果老者。名加多“老”字,是很尊敬之意,故歷來稱師為張果老。張果老是李唐真宗時人,唐時代的方士 (為醫卜星相之士)。
幼而靈異,壯年不求仕途騰達,而好習玄理,輕世道之功名利祿,究修先天循化氣機。樵不自足,每登峰巒有曠懷寧胸之舒泰,海心自娛,隱修於中條山 (在山西省永濟縣東,山狹而長,東太行山,西太華山,此山居中,故名中條山) 。
後來得到華陽帝君李鐵枴授以箴密而達致覺性,悟證妙理,鐵拐師引進大羅仙位。張果老常乘一白驢,每倒騎之,往來長安 (李唐之帝都,即今之陝西省長安縣) ,高歌作意,惜乎世人,未能探窺體體果師背騎所寄寓的規勸教化:“豈獨奮逐於眼前,宜作後顧之完整” ;。
果師悟道之後,觀世情之不足,炎涼屢見,均只眼前之虛華幻景,勞勞碌碌不息,故作“倒騎以致寧遠之機,只求後來證實,栓心格意,修蓄至理,莫逐身前是非,寓意在此耳”。明蓄知悟,果師每作後示妙諦。
不涉足風塵,不有違入世本念,雖然仙蹤屢現,但以飄渺無方,故歷朝封謚亦鮮,至旻皇登極,孚尊攝統化運,敕受龍華引化導師,共同輔弼德教之興展耳。
相傳唐堯之時,渾忘甲子,其顏貌若六七十許,父老雲:自為兒童時見之,其貌不變。”唐高宗徵之不至,武后強召之,乃出山佯死於妒女廟前,時方炎熱,須臾臭爛生蟲,一時人皆信其死,後有人於山中復見,纔知其未死也。
———————
八仙師尊凝陽帝君李道明傳略

INDEX

Ba xian shi zun ning yang di jun Li Dao Ming chuan lue.
Bát tiên sư tôn ngưng dương đế quân Lý Đạo Minh truyện lược.
聖如天律不易移    師生俗世啟愚癡
傳之伯陽東華詔    授發性真聖母機
李拐原來人不識    明裘大道可質疑
千秋古跡沛都隱    德恩庥被覆蒼黎
李道明師尊,名誠,字玄甫,即王玄甫(?—345),漢代東海 (今山東兗州)人, 生於湖南沛都,原出覺門,父考姓李,宗於李氏,聖胎育於高陽,奉旨西聖母,故生異慧,碩德超人。道長明裘, 兩度降生初唐, 乃伯陽父之異出高足。
凡間俗稱鐵拐李,名號頗多:“鐵拐先生”, “李凝陽”、“李孔目”、“李洪水”,為道教八仙中資歷最老的神仙,號凝陽帝君、東華帝君、紫府少陽君,專輔助呂純陽師尊傳道,在道教中地位崇高,現今天庭封號為“輔法天尊”。
李道明師尊玄質非凡,相貌魁梧,學有根源,年方弱冠不善家務,仰慕真風大道,喜讀老氏之書,悟妙徼之精奧至理,以為天地皆空,人生皆幻,富貴功名皆迷心之鴆毒,縱貴為天子,富有四海,亦身外之浮雲。於是立志修真,遂別親友,尋清幽之谷,依深穴之岩,壘石為門,拔芧為蓆,澄心淨慮,服氣煉形,寢食每忘,數載不輟,乃不能開悟,自想自用師心,終非實際。
後來得伯陽父之靈異,召入東華之嶽,夢授道德經,遂參修華山,棄俗從道。白雲上真引之入道,遂居於昆侖山煙霞洞,韜光晦跡,又徙居代州五臺山紫府洞天。後授度門人鐘離權,嗣弘法教,從此隱現市塵,入世救苦,萬民仰戴厚德,多呼李大活仙。得以從容救世之旨耳。李道明師尊被全真道尊為北宗第一祖。
李鐵拐應時而化,《續文獻通考》曰:“李鐵拐,或雲隋時陜人,名洪水,小字拐兒,又名鐵拐,常行丐於市,人皆賤之。後以鐵杖擲空,化為龍,乘龍而去。”
《集書詮真》引《通考全書》稱:李鐵拐又化名李孔目,有足疾,西王母點化其升仙,授以鐵拐,前往京師度漢大將軍鐘離權。得王母封紫府少明君。
《歷代神仙通鑒》卷五與《列仙全傳》卷一等道經多稱其為得道隱士,形貌魁偉,遁隱於碭山洞中。一日受太上老君之約,欲赴老君華山(在陝西省華陰縣)仙會,臨行前對弟子說:“我欲以魂至華山赴老君聖會,遊魂七日當返,若不返,請將吾魄焚化。”相傳他魂藏於肝,魄藏於肺,元神出遊時魂即跟隨,只留下魄守護屍殼,即“元神出殼”。吩咐完以後,他即出元神赴華山從老君遊,弟子則日夜守護著師父軀殼。不料第六天,弟子家人來報,老母病危,急欲歸視,連坐立不安,好不容易敖到第二天中午,也不見其元魂歸來,無奈之下,弟子將其肉體火化,回家盡孝道去了。
不久他的元神趕回碭山洞,見失其軀殼,無形魄可依,好似孤鬼遊魂。忽然他發現林中有一餓殍,奄奄一息,靈機一動,心道:“何不藉以還身!”立即從餓殍囟門而入,站起來以後,發覺茅頭不對,急忙跑到河邊一照,只見水中映出一人:蓬頭虯髯,巨眼坦腹踱足,模樣十分醜惡。他大吃一驚,急忙從葫蘆裡倒出老君所贈仙丹,一口吞下,仍不變其形。
突然身後有人說道:“草脊茅簷,毀窗折柱,此室陋甚,何堪寄寓!”回頭一看,原來是太上老君。聞此言,他頓覺所得之殼實在醜陋,欲將元神跳出,老君急止之道:“道形不在於外表,你這副模樣挺好。我贈你金箍束你亂發,鐵拐拄你踱足。只要功夫圓滿,便是異相真仙。”於是他按照老君所言,以手捫兩眼如環,守住魂魄,並自號李孔目。(另一說:遇化子長安枕路,求師超脫,蓋化子乃天譴貶凡,設身罹疾,師明其蘊,乃舍形體代贖。化子化鶴升天,而師得化人而自解脫,蓋以遮蔽本真),
這便是世稱鐵拐先生的來歷。故世傳玄之形跛惡者,蓋附餓殍之體,非其本來真面目也。自此玄能辟榖變化,將手中竹杖以水噀之,即可成鐵,世人乃以“鐵枴先生”呼之,非其真實名姓也。
嶽百川著有《目洞賓度鐵拐李嶽》說鐵拐姓李名嶽。另外還有《鐵拐李度金童玉女》等。鐵拐李的形象常背一藥葫蘆,浪跡江湖,行醫治病,後功行圓滿,被玉皇大帝封為上仙。
元世祖時敕封“東華紫府少陽帝君”。元武宗時加封為“東華紫府輔元立極大帝君”。道教北五祖之一。
李師生月圓元宵,飛升月圓中秋。晉穆帝永和元年(西元345)白日升舉,後稱“中嶽真人”。農曆六月十五生,十月十六(一說正月十五)上升。
———————
八仙師尊 藍采和傳略

INDEX

ba xian shi zun Lan Cai He chuan lue.
bát tiên sư tôn Lam Thái Hoà truyện lược.
蓝采和师尊传略
藍仙唐代下桓人氏,諱儀,字采何,為上古黃帝時樂師伶倫高真。藍仙的高祖為戰國逸士桓圓,從介崔習禮操,不求聞達,屢代清隱藍溪之濱,時人每以藍溪先生稱謂,久而引以為姓。祖曾入士晉朝為州牧,秉性不阿,終以辭世,累至藍仙,從居躬耕,不滿朝廷營植權謀,隱誦究歧黃,冀能消除民間厄疾,入山研求藥品草植,於岩縫內,得真善籙,恆心采證。藍仙得拐仙點開慧竅,三載朝花觀頂。具神聰,入世齊人,呂尊引登天藉,共列仙班。乘願消劫,仙蹤飄渺,應緣而現。孚尊攝宰玉闕化機,共同輔助其用,
師尊藍采和謫於塵世,周遊歌詠,覺世盲聾,常衣破襴衫,黑水腰帶闊三寸餘,一腳著靴,一腳跣足,夏則破襴衫而不汗,冬則露胸而玩雪,氣出如蒸,人問其所得。答曰: “誰雲男子無孕?偏我十月懷胎。” “每於長安 (唐之帝都,即今之陝西省長安縣) 乞索,一手攜籃,一手持大拍板,長尺餘,醉而唱踏踏歌,老幼皆隨之。” 歌曰:
踏踏歌,藍采和,世界能幾何?紅顏三春樹,流光一擲梭,古人混混不復返,今人紛紛來更多。朝騎鸞鳳遊碧落,暮見桑田起白波,長景明暉在空際,金銀宮闕高巍峨。
歌詞頗多,不及具載,似狂非狂,歌則隨口而作,歌詞多神仙意,人莫之測。
得錢則用繩穿拖行,散失不顧,或贈貧者,或典酒家,無拘無束,周遊天下。人自兒童見之, 及白髮之時復見之,其形貌如故,衣履如故。後得鐵枴、鐘離之引度,於玄宗開元八年歲次庚申 (西元720年),一日忽來濠梁酒樓飲酒,聞空中有簫笙之音,仙鶴下降,采和乘之,軒舉於雲端,擲下靴衫帶板,冉冉而去,人視其服乃玉也。有刺史 (唐時,刺史即太守也) 目擊之,乃將其事呈奏玄宗皇帝,遂在故址立祠祀之。
———————
八仙何玉瓊師尊史略

INDEX

ba xian He Yu Qiong shi zun shi lue.
bát tiên Hà Ngọc Quỳnh sư tôn sử lược.
ba xian He Yu Qiong shi zun shi lue.
何玉琼师尊传略
何仙姑五代後唐人,名玉瓊,別號素女,乳號蓮香,永州零陵人也 (今之湖南省零陵縣)。 父諱英延光員外郎, 易居長安, 兄弟皆第。 母鍾氏,喜清淨佈施, 一夕夢遊瀟湘之濱  (在零陵縣西) ,見水面有縞衣女子,足踏大白蓮花,浮波而至曰:“吾瀟湘神女也,將寄汝家一遊人世。”母注目久之,覺而有娠,以憲宗元和三年戊子歲 (西元808年) 十一月初一日生,師誕生時,蓮香盈宅,東天朝瑞,紫氣溢然。
素女生而不食乳,母攪蓮粉飼之,少聰慧,有異質,純然有式,多表露,似有名師所授,嚴默甚有成人之氣度。年八、九歲延師學習詩禮,書經瀏覽,獨好恬靜,姿容端麗,喜入女道觀遊,諸道姑教以經書文字,心馳山川人澤,修靜妙玄諦,陶然貫寄,梓裡皆稱淑德。
何帥玄奧具胸,精研天地徼行之律理。種植消長之數,慧性日足,父母訝其行止,屢為作言以伸倫義,帷師貫行如常。
十三歲父母俱失,素女與老蒼頭守己幽居,姓甘茹素,有求佈施者,亦如父母在時,皆樂助焉!後有南嶽觀老道姑,募素女改注生真君像,時在神像臟腑中忽得黃庭經兩卷,有跋 (文體的一種題在書後) 雲:“何人有緣?何人有福,若得此經,瑤池快樂。”素女見而喜之,以為兩“何”字,雖無定詞,而今則明,明合我也,請以他經易歸,老道姑慨然相與,自此居家長誦《黃庭經》。
年十八,守貞不字,出家上女冠,焚香掃地,拜禮東華帝君。
久之有青衣童子奉東華命,降於其家,授以紫芝丸餌之,並為講“黃庭琴心三疊漱咽靈液法”,素女受之,自此則體上生光,華氣香蘭。
零陵有求聘於素女者,素女乃佯狂作癲,出入零陵市上,汙體穢形,人乃目為瘋癲而不之顧。亦有強稱為仙姑者,素女乃益加韜晦,年六十,鄉裡人多物故,而素女仍如二十許人,
鍾、呂二祖,通過其裡,見彩雲罩頂中天不散,見素女於市上,知為上根道器,以一桃與之,僅食其半,自是不飢。
後適呂祖南遊,呂祖乃度其入終南,拜見鍾離老祖,教以三三歸一法,引授脫塵大法,參化明仙,超列羅天。
呂祖曰: “功夫至此,以臻大乘。”乃引見東華帝君、瑤池金母。 金母攜回閬風苑,命掃蟠桃落花,積功已深,陞東海青霞洞真大元君,道號“一陽”。
世稱背丹仙長,以藥救世,且精丹璜之妙,屢拔貧病。神蹟仙蹤,漫及八方,曾結善緣。生民沐德,圖像敬奉,眾口鑠金,建祠為祀,歷紀以來,仙蹤常露。尊師下塵救苦之天仙,願心不減。受皇欽委為德德社之導師,慈懷悲志,可見其一般耳。
時植秋月倍光,蓮丹成實。時八月十八日戍正化騰。
———————
五教 – 釋迦牟尼佛傳略

INDEX

wu jiao – Shi Jia Mou Ni Fu chuan lue.
ngũ giáo – Thích Ca Mâu Ni Phật truyền lược.
佛教的啟教者是釋迦牟尼 (Sākyamuni), “釋迦” 是出身部族的名稱,有 “能”、 “勇” 的意思, “牟尼” 是聖人之意, 而釋迦牟尼意為 “釋迦族的聖人”, 又被後世尊稱為 佛陀 (Buddha), 意指“已經覺悟的人”。 佛陀原名為悉達多 (巴利文:Siddhattha, 梵文:Siddhartha), 意思是 “吉財”、 “吉祥”、 “一切功德成就”, 又被稱為悉達多•瞿曇(巴利文:Siddhattha Gotama)。 傳統上認為 “瞿曇” 或 “喬達摩”  (Gautama) 是釋迦牟尼的氏族名稱, 即釋迦族祖先的姓氏, 但這應不是他的氏族姓氏,  而是依照當時印度貴族的習慣, 將《梨俱吠陀》讚歌作者的太古仙人 Gotama (仙人子孫稱為 Gautama), 尊為氏族血統的傳承, 所以釋迦才是族性, 悉達多是真正的名字。
出生與家族
悉達多為古印度釋迦族人,出生於喜馬拉雅山麓的釋迦國首府迦毘羅衛城,位於今天印度-尼泊爾交界處,父親為淨飯王,自稱是仙人的後裔(Gautama 日種),為印度剎帝利(武士)階級,母親為摩耶夫人,在出生七日後母親即過世,由姨母瞿曇彌 (後出家為大愛道,音譯摩訶波闍波提)撫養成人。他從八歲開始,向毘奢婆蜜多羅學習文化,向羼提提婆學習武藝,從小過著優渥舒適的生活。先後娶了三個妃子為妻,第一是善覺王之女,即他的表妹耶輸陀羅妃,第二是摩奴陀羅妃,第三是瞿多彌妃,當中以耶輸陀羅為正妃,並與她生有一子羅睺羅。
釋迦牟尼佛陀之生卒年代的探究,根據出於公元前一世紀的《阿育王傳》(公元後290〜306年漢譯出)的記載,佛滅後百年華氏城有轉輪王號阿恕伽(Asoka 阿育王)出世,而公元前一世紀世友論師著的《部執異論》(真諦譯),又說佛滅116年華氏城有王號阿輸迦。國際史學界考證印度”阿育王刻文”及周邊諸國史料,阿育王約在公元前271〜268年間即位。若據此推算佛滅的時代,約為公元前387〜384年,出生於公元前約466〜463年,正覺於公元前約432〜429年。
大出離
29歲時的悉達多,面對在當時印度部族交相爭戰的環境下,釋迦族受到強勢部族逼迫的困境,思及人生不免於老、病、死的結局,深深感到生命的無奈與苦痛,進而尋覓出離之道。當兒子出生時,即取名為羅睺羅(意為障礙),意為障礙其離家尋覓出苦之道。不久之後,悉達多即於夜晚乘馬離家,開始遍訪各地名師的尋道生涯,此為悉達多一生的轉捩點。
覓道及苦行
當時印度流傳的信仰與學說,主要是雅利安人的婆羅門教,以及印度本土的奧義書思想、沙門文化。婆羅門教為一神信仰,主張一切為梵神的生化,唯有神才能救贖,但救贖的對象只限於雅利安血統,並不包括印度本地土著,是一種狹隘的種族宗教。奧義書思潮下的苦行沙門,並不相信吠陀、梵書中記載的神祗及升天信仰,而認為過去所做所為(稱為業),會決定今世的好壞,這是一種“宿業決定”,並且主張任何生命都有“永恆不變的神我”,會依“宿業”而輪迴轉世。苦行沙門的修行重於流浪、獨居,以苦行來“消除宿業”,遠離男女、守持梵行,以守戒、冥想來進入禪定,並觀想神我與宇宙(大梵)合而為一,達到“梵我一如”的永恒境界,此即苦行沙門追尋的解脫。悉達多最先以苦行沙門作為學習對象,為了習得精深的禪定,先向王舍城附近的阿羅邏迦藍(意為自生,巴 Āḷāra-kālāma)沙門學習“無所有處定”,再向優陀羅羅摩子(意為雄傑,巴 Uddaka-rāma-putta)沙門學習“非想非非想處定”,這兩位是當時正統婆羅門教以外享有盛名的修定主義者。悉達多不僅認真的修習禪定,傳說甚至一天只食一顆麻麥,努力的尋求“梵性獨存、永恆的解脫境界”。
中道及正覺
35歲時,悉達多在苦行的修習中,已經歷了六年,發現苦行無法達到真正的解脫,開始對苦行產生懷疑。當時因為聽到路過之調琴師的調琴要訣,謂“琴弦太鬆音不成調,琴弦太緊音不優美,不緊、不鬆則音聲優美”。悉達多於此有所領悟,即捨棄無益的苦行,改以“不放逸安樂、不無益自苦的中道”作為修行的準則,並且不再堅守“神我”的信仰,另外採取探尋“老病死苦如何生起”的方法,因而開啟了通向正覺的大門。悉達多在畢缽羅樹(後稱菩提樹)下,經四十九日的禪定與觀察, 洞見了生死輪迴之真相的“十二因緣法”而成就正覺,並且依“十二因緣法”,發現了“滅苦之八正道”,確立了“四聖諦”為正覺的次第。依此,悉達多以“緣生、緣滅”之正覺,攝導離貪之正見等“八正道”的修證,達到了貪愛、瞋恚、愚癡的斷盡,完成生死的解脫,不受後有。至此,悉達多依次的完成正覺、離貪及解脫,圓滿四聖諦之三轉、十二行,自證成就阿耨多羅三藐三菩提(無上等正覺)。因為此時的悉達多已經徹底的覺悟、解脫,所以自稱為 Buddha 佛陀(意為已經覺悟的人)。
轉法輪
佛陀正覺、離貪、解脫證菩提之後,因為年紀尚輕,不易得到一般大眾的信任,所以到鹿野苑,先為未正覺時的五位跟隨者,即憍陳如(Ājñāta-kauṇḍinya)等五人宣說“四聖諦”,此稱之為“初轉法輪”。緊接著又度化了富家子耶舍,以及其親朋好友等共五十四位比丘,而成為六十位比丘的僧團。 往後在六年間,陸續度化了著名的有舍利弗、摩訶目犍連、大迦葉。
佛陀住世說法共四十五年,為了宣揚正覺、解脫的教法,走遍了恆河兩岸,以憍薩羅國(Kosāla)、 摩揭陀國(Magadha) 和毗舍離國(Vaiśālī) 為主要的宣法中心, 曾在憍薩羅舍衛城的祇園精舍說法約25年。 佛陀一生度化了許多弟子, 其中傑出的弟子有舍利弗(智慧第一)、 目犍連(神通第一)、 富樓那(說法第一)、 大迦葉(頭陀第一)、 阿難陀(多聞第一)、 優婆離(持律第一)、 迦旃延(議論第一)、 阿尼律陀(天眼第一)等。
入滅
佛陀80歲時,在毗舍離城患重病,當年雨季過後,偕弟子向西北行,打算為一生行化過的地方,做最後的開示及尋禮。佛陀在路途中,食用了銅匠純陀(Cunda)供養的“栴檀樹菌茸”(Sukara-maddava)之後,似乎是因為食物不潔或中毒,忽然得了嚴重的血痢(可能是現代的赤痢 dysentery),腹瀉劇痛幾乎瀕臨於死,但 佛陀攝持於心,忍受無有怨言。此後,佛陀勉強走到拘尸那羅(Kusināra,末羅國之一邑)附近的樹林,已無法再支撐,阿難在兩棵娑羅樹之間鋪下臥具,佛陀頭部朝北躺下,向右側偃臥,告知弟子們即將入涅槃。此時,阿難守候在 佛陀身邊,聆聽最後的教誨。當夜,傳說年紀已有百二十歲的婆羅門須跋陀羅(Subhadda)請佛開示,當晚須跋陀羅即見法、證道,成為 佛陀的最後度化的弟子。
根據南傳銅鍱部覺音論師著作之《善見律毘婆沙》’序品’的說法,佛陀是在二月十五日平旦(凌晨)時,在拘尸那羅附近的娑羅雙樹間入滅。火化後的舍利(遺骨),由釋迦族相近血緣的東方八個氏族帶回建塔供養。據’長阿含遊行經’的記載,這八個氏族各為末羅族的波婆國、跋離族的遮羅頗國、拘利族的羅摩伽國、婆羅門族的毘留提國、釋種族的迦毘羅衛、離車族的毘舍離國、阿闍世王族的摩竭陀國、末羅族的拘尸那羅國。除了由八族興建的舍利塔以外,再加上主持分舍利的香姓 Droṇa 婆羅門建於戰主國的瓶塔(供奉分佛舍利的瓶),以及畢缽羅 Pipphalavana 聚落的末利 Moliya 族人,建了供奉火化殘餘碳灰的炭塔,總共有十塔。
結集法教
佛陀住世時諸大弟子中,輔助 佛陀教化最有力者是舍利弗、目犍連,兩位聖弟子被後世尊稱為雙賢弟子,但二大聖弟子在佛入滅前,即已入滅。佛入滅當時,僧團的大長老摩訶迦葉 (Mahā-kāśyapa) 為了見 佛陀,正從瞻波國前往拘尸那羅,途中聞佛已入滅,而趕往拘尸那羅,並代表僧團為佛舉火荼毘。二個月後,大迦葉在摩竭陀國阿闍世王支持下,召集了五百名阿羅漢,在王舍城的七葉窟安居三個月,並共同結集出 佛陀的教法,史稱“五百結集”,又稱為“第一次結集”。
「第一次結集」集成的教法,內容包括經說 Sutta 與律戒 Vināya。 原始結集的經說,是目前漢譯 《雜阿含經》 與南傳巴利 《相應部》當中的『因緣相應』、『聖諦相應』、 『食相應(南傳《相應部》編於『因緣相應』中)』、  『界相應』、『陰(蘊)相應』、『六處相應』,還有『道品誦(南傳稱為『大聖道篇』)』當中四念處等諸相應教。據近代印順法師的研究,初始結集時律戒的內容,是包含
一.  四波羅夷法 pārājikā-dharma(pārājika-dhamma);
二.  十三僧伽婆尸沙法 saṃghāvaśeṣā-dharma(saṅghādisesā-dhamma);
三.  逸提法 pātayantikā-dharma(pācittiyā-dhamma):包含現今之
1. 三十尼薩耆波逸提法 niḥsargikā-pātayantika-dharma(nissaggiya-pācittiyā-dhamma),即捨墮法;
2. 九十二逸提法 pātayantikā-dharma(pācittiyā-dhamma),即單墮法;
四.  四波羅提提舍尼法 pratideśanīyā-dharma(pāṭidesaniyā-dhamma);
五.  眾學法 saṁbahulāḥ-śaikṣa-dharma(sekhiyā-dhamma)。
此時關於欲事的二不定法 aniyata-dharma(aniyata-dhamma),是作為律戒的補充條款,而七滅諍法 adhikaraṇaśamathā-dharma(adhikaraṇasamathā-dhamma),則是附於布薩儀軌之末,兩者都尚未正式列入『戒經』當中。由於初始結集時的眾學法,還在發展當中,所以學處 śikṣāpada 的總數還未能確定共有多少。
釋迦佛陀之教法當中的修多羅 (相應教,又稱為“經”), 是由弟子阿難陀(Ānanda)代表僧團誦出,而律戒則是優婆離 (Upali) 代表僧團誦出。
選自 Ven. Bhikkhu Vūpasama 隨佛尊者著
———————
五教-大成至聖先師孔夫子傳略

INDEX

wu jiao – Da cheng zhi sheng xian shi Kong Fu Zi chuan lue.
ngũ giáo – Đại thành chí thánh tiên sư Khổng Phu Tử truyện lược.
孔子生於公元前551,卒於前479,傳統的祭孔日期是在農曆八月二十七日,今人採用格里曆推算法把孔子誕辰換算為西曆9月28日。
孔子名丘,字仲尼,魯國人。魯國為周公旦之子伯禽封地,對周代文物典籍保存完好,素有“禮樂之邦”之稱。魯國文化傳統與當時學術下移的形勢對孔子思想有很大影響。孔子是中國春秋末期偉大的思想家和教育家,儒家學派的創始人。
孔子的遠祖是宋國殷王室的后裔。周武王滅殷後,封殷宗室微子開啟於宋。由微子經微仲衍、宋公稽、丁公申,四傳至泯公共。泯公長子弗父何讓國位於弟弟鮒祀。弗父何是 “卿”。孔子先祖自此由諸候家轉為公卿之家。弗父何的曾孫正考父,連續輔佐宋戴公、武公、宣公,久任上卿,以謙恭著稱於世。孔子六祖孔父嘉繼任宋國大司馬,按周禮制,大夫不能承續先祖的諸候,“五世親盡,別為公候”,故其后代以孔為姓氏。后來宋國太宰華父督作亂,弒宋殤公,殺孔父嘉,造成他們的后代避難到魯,自此卿位不再延續,下降為士。
孔子曾祖父防叔曾經擔任魯防邑宰。祖父伯夏的事蹟無從考據。父親名紇,字叔,又稱叔梁紇,以勇力著稱。叔梁紇先娶施氏,沒有兒子,其妾生男,卻有病足不良於行,晚年再娶顏氏徵在,才生孔子。孔子三歲時老父逝世,由母親撫育長大。他曾說過:“吾少也賤,故多能鄙事。”年輕時曾做過“委吏”(管理倉廩)與“乘田”(管放牧牛羊)。雖然生活貧苦,孔子十五歲即“志于學”。
孔子“三十而立”,并開始授徒講學。去齊國求仕之前約七、八年時間,他的門徒還不多,如顏路、曾點、子路、伯牛、冉有、子貢、顏淵等,是較早的一批弟子,連魯大夫孟僖子其子孟懿子和南宮敬叔也來學禮。私學的創設,打破了“學在官府”的傳統,促進了學術文化的普及。孔子辦學很成功,名聞遐邇。
魯國自宣公以后,政權操在以季氏為首的三桓手中,昭公初年,魯君的兵符軍權旁落。昭公二十五年(前517年)魯國內亂,孔子離開魯國到齊國去。孔子在齊國得不到重用,遂又回返魯國,自魯昭公二十七年(公元前515年,孔子37歲)從齊國返回魯國 (魯定公十三年,公元前497年,孔子55歲) ,在周游列國之前十八年的時間,孔子雖然有四年多的時間在做官事政,但并沒有停上授徒教學。這一段時間裹,孔子教育事業發展很大,弟子眾多,從遠方來求學的,几乎遍及各諸候國,除了魯國的學生之外,還有來自齊、楚、衛、晉、秦、陳、吳、宋等國的求學者。很有成就的弟子,如顏回、子貢、冉求、仲弓等,大都是這一時期進入孔門的。這些弟子中的一部分人后來跟隨他周游了列國,一部分從了政。
魯定公九年(前501年)陽貨被逐,孔子才見用于魯,被任為中都宰,是年孔子五十一歲,遂由中都宰遷司空,再升為大司 寇。魯定公十年(前500年)齊魯夾谷之會,魯由孔子相禮。
孔子在魯國當官時,齊國人有顧慮,擔心魯國強大後會并吞自己,所以派遣美女樂人給魯定公與季桓子。季桓子接受齊國的女樂,竟然沉迷,三日不上朝聽政。從此孔子政治抱負難以施展,只好帶領顏回、子路、子 貢、冉有等十餘弟子離開,開始了長達十四年的周游列國,步上顛沛流離的生涯。是年孔子已經五十五歲,他們先到衛國,開始時還受到衛靈公禮遇,後來又受到監視,因為怕會獲 罪,決定去陳國。過匡地,被圍困五天,解圍后,原要通過蒲至晉國,因晉國內亂而未成行,只好又回返衛國。衛靈公怠于政事,不用孔子,不久衛國內亂,孔子只好再次離開,經由曹國至宋國。宋國司馬桓魁欲殺孔子,孔子只好微服通過宋國、鄭國至陳國,是年孔子六十歲。其後孔子往返陳蔡多次,曾“厄于陳蔡之間”。
魯哀公十一年(前484年)冉有歸魯國,率軍在郎戰勝齊國軍隊。季康子派人迎回孔子。孔子重新回到魯國,已經是六十八歲 (魯哀公十一年。公元前484年) 。周游列國結束回到魯國,至到去世的五年時間,他把精力集中在教育,和整理古代典籍,;“退而修詩、書、禮、樂,弟子彌眾” 。
孔子一生貢獻於教育,有弟子三 千,賢弟子七十二人,在德行突出的有顏淵、閔子騫、冉伯牛、仲弓;口才出色的有宰我、子貢;強於政事的有冉有、子路;文學方面的有子游、子夏、子張、曾參…等。在孔子的弟子中,有不少人都有大成就,對於當時政治影想、學術傳播、儒家初創和發展,起到了重大的作用。孔子歸魯後,魯人尊以“國老”,魯哀公與季康子雖常以政事相詢,但終沒受到重用。
孔子於魯哀公十六年四月(前479年) 與世長辭,享年七十三歲。逝世後葬在魯城(曲阜)北泗水之上。弟子們以父親之禮儀對待孔子,為其服喪三年,子貢在孔子的墳前蓋了一間小屋,為孔子守墳六年,魯人到墓旁定居的也有一百多家,因此把這個地方叫做孔里。魯國世代相傳,每年都定時到孔子墓前祭拜。後來又把孔子的住址改成孔廟,後歷代漸形成三孔,孔廟、孔府、孔林,供人瞻仰,歷二千五百多年。
———————
五教-耶稣基督傳略

INDEX

wu jiao – Ye Su ji du chuan lue.
ngũ giáo – Gia Tô cơ đốc truyện lược.
耶穌生於伯利恆的馬槽(西元前4年-30年或前5年-29年)全名 Jeshua ben Joseph, 成長於拿撒勒小鎮,當時人口僅約 300 人,與父親約瑟學作工匠,被稱為“拿撒勒人耶穌”、“聖子”或“耶穌基督”。耶穌是《新約》中所預言的救世主(彌賽亞),是上帝耶和華的兒子,是基督創始人。新生兒耶穌的生母瑪利亞、養父約瑟、那些牧羊人和東方博學之士都宣稱耶穌就是那位彌賽亞。這種傳聞引起當時的猶太統治者大希律王的恐慌。繈褓中的耶穌成了他的暗殺目標,約瑟得到天使警告,帶著瑪利亞和耶穌逃往埃及。
《舊約•以賽亞》和《舊約•但以理書》等多部先知書中,“彌賽亞” 是先知所預言的解救萬民的救主。到了兩約之間的時間(約西元前二世紀),猶太教的文獻中顯示, 猶太人極渴望彌賽亞的來臨。 很多猶太人期盼彌賽亞來拯救他們脫離羅馬人的統治。 但耶穌在世上所做的, 並不是像猶太人期待的那樣帶領他們推翻羅馬統治。 自從耶穌從死裡復活後, 一些追隨耶穌的猶太人(耶穌的門徒)才明白, 上帝差派下來的彌賽亞不單要拯救猶太人, 而且要拯救全世界的人,使凡信他的人得享永生, 於是宣告耶穌是真正的彌賽亞,是基督,故稱他為耶穌基督 (Jesus Christ)。 中文譯名方面,東正教和天主教文言經文根據希臘文譯作 “基利斯督”, 新約預言耶穌是是彌賽亞救世主, 是上帝耶和華的兒子, 記載, 耶穌後遭猶太教士誣陷控告, 而被釘死在苦行柱上。 第三天耶穌從死裡復活, 將自己活活的顯給使徒看, 達四十天之久。 之後被接升天, 坐在天父上帝的右邊。
耶穌生平見於基督教新約的四大福音書。 據《聖經》記載, 耶穌後遭猶太教士誣陷控告, 而被釘死在苦行柱上。 第三天耶穌從死裡復活, 將自己活活的顯給使徒看, 達四十天之久。 之後被接升天, 坐在天父上帝的右邊。
◆   耶穌的出生應驗許多舊約的預言, 如伯利恆、 以法他啊, 你在猶大諸城中為小, 將來必有一位從你那裡出來, 在以色列中為我作掌權的; 他的根源從亙古, 從太初就有。 (彌迦書 5:2)
必有童女懷孕生子, 給他起名叫以馬內利(就是神與我們同在的意思)。 (以賽亞書7:14)
道 (希臘文logos, 可譯為“話語」;又與老子所描述的「道」極為神似:有物混成,先天地生,寂兮寥兮,獨立不改,周行而不殆,可以為天下母。無不知其 名,字之曰“道”。) 成了肉身, 住在我們中間, 充充滿滿的有恩典有真理。 我們也見過他的榮光, 正是父獨生子的榮光。 (約翰福音1:14)
◆   當時已達眾先知預言“彌賽亞”將臨之時(如但以理書曾預言,彌賽亞被殺的年份為出令重建耶路撒冷後的 69×7=483年), 在羅馬強權統治下, 整個猶太社會熱切期盼這位彌賽亞能領導他們推翻羅馬強權, 雙方對立緊張。
耶穌降生的目的
耶穌,他的名字在希伯來文意思是救主,他來是要將自己的百姓從罪惡裡救出來。
◆  主的使者向他(約瑟)夢中顯現,說:你要給他起名叫耶穌,因他要將自己的百姓從罪惡裡救出來。(馬太福音 1:20-21)
◆  約翰看見耶穌來到他那裡,就說: “看哪,神的羔羊,除去(或譯:背負)世人罪孽的!” (約翰福音 1:29)—唯有耶穌的出生目的是為著死亡! 從來沒有人看見神,只有在父懷裡的獨生子將他表明出來。(約翰福音 1:18)
◆  神愛世人,甚至將他的獨生子賜給他們,叫一切信他的,不至滅亡,反得永生。因為神差他的兒子降世,不是要定世人的罪,乃是要叫世人因他得救。(約翰福音 3:16-17)
耶穌的事工
耶穌三十歲時開始,以三年半時間周遊猶大地傳道。主要有十二門徒,隨同者亦有許多其他門徒和婦女。
◆  耶穌常與窮人、罪人、甚至妓女在一起, 柔和謙卑地接納、鼓勵他們,又行許多神蹟,醫治需要的人。耶穌接納這些被輕視的人們與婦女,乃驚世駭俗之舉,完全違背當代人對“彌賽亞”期待的君王般形 象。但耶穌普遍受到低層人們的愛戴。耶穌來到拿撒勒⋯在安息日,照他平常的規矩進了會堂⋯。
有人把先知以賽亞的書交給他,他就打開,找到一處寫著 說:“主的靈在我身上,因為他用膏膏我,叫我傳福音給貧窮的人;差遣我報告:被擄的得釋放,瞎眼的得看見,叫那受壓制的得自由,報告神悅納人的禧年。”⋯會堂裡的人都定睛看他。耶穌對他們說:今天這經應驗在你們耳中了。(路加福音 4:16-21)
◆  耶穌走遍各城各鄉,在會堂裡教訓人,宣講天國的福音,又醫治各樣的病症。他看見許多的人,就憐憫他們;因為他們困苦流離,如同羊沒有牧人一般。(馬太福音9:35-36)散了眾人以後,他就獨自上山去禱告。(馬太福音 14:23)
◆  法利賽人和文士就向耶穌的門徒發怨言說:你們為甚麼和稅吏並罪人一同吃喝呢?耶穌對他們說:無病的人用不著醫生;有病的人才用得著。我來本不是召義人悔改,乃是召罪人悔改。(路加福音5:30-32)
◆  耶穌常指責大多的宗教人士(如法利賽人、文士、祭司)假冒偽善,內心卻充滿汙穢。
註:法利賽人—猶太教派之一,強調嚴格遵守宗教規條,厭惡耶穌和罪人相處,卻被耶穌指為徒有外表的敬虔,沒有內心的謙卑和愛心文士—教導聖經與律法的教師祭司長—主管宗教祭祀事物,與羅馬人勾結,利用祭祀規定牟刑。亦常指責耶穌的行為,也被耶穌指為破壞神祭祀的真義。
耶穌的教導
◆  耶穌說:你們拜父,也不在這山上,也不在耶路撒冷。⋯時候將到,如今就是了,那真正拜父的,要用心靈和誠實拜他,因為父要這樣的人拜。(約翰福音 4:21-23)
◆  我賜給你們一條新命令,乃是叫你們彼此相愛;我怎樣愛你們,你們也要怎樣相愛。你們若有彼此相愛的心,眾人因此就認出你們是我的門徒了。 (約翰福音 23:33-35)
◆  耶穌說:你們知道外邦人有君王為主治理他們,有大臣操權管束他們。只是在你們中間,不可這樣;你們中間誰願為大,就必作你們的用人;誰願為首,就必作你們的 僕人。正如人子來,不是要受人的服事,乃是要服事人,並且要捨命,作多人的贖價。⋯凡自高的,必降為卑;自卑的,必升為高。(馬太福音 20:25-28; 23:12)
◆  門徒進前來,問耶穌說:天國裡誰是最大的?耶穌便叫一個小孩子來,使他站在他們當中,說:我實在告訴你們,你們若不回轉,變成小孩子 的樣式,斷不得進天國。所以,凡自己謙卑像這小孩子的,他在天國裡就是最大的。凡為我的名接待一個像這小孩子的,就是接待我。(馬太福音 18:1-5)
有人帶著小孩子來見耶穌,要耶穌給他們按手禱告,門徒就責備那些人。耶穌說:讓小孩子到我這裡來,不要禁止他們;因為在天國的,正是這樣的人。(馬太福音 19:13)
◆  你們饒恕人的過犯,你們的天父也必饒恕你們的過犯;你們不饒恕人的過犯,你們的天父也必不饒恕你們的過犯。(馬太福音 6:14-15)
我將這些事告訴你們,是要叫你們在我裡面有平安。在世上,你們有苦難;但你們可以放心,我已經勝了世界。(約翰福音 17:33)
到了一個地方,名叫髑髏地,就在那裡把耶穌釘在十字架上,又釘了兩個犯人:一個在左,一個在右邊。當下耶穌說:父阿!赦免他們;因為他們所做的,他們不曉得。百姓站在那裡觀看,官府也嗤笑他。(路加福音 23:33-35)
註:早期來華傳教的西方傳教士在下工夫學習了漢語之後,把 “Jesus” 翻譯成“耶穌[2]”,其中的“耶”同“爺”,指父親,對應音節 “Je”; “穌”指“復活”,對應音節 “su”。 耶穌(西元前6年—西元30年) (Jesus) 字音譯自希臘文 “ησου”, 景教稱為移鼠,英文譯為 “Jesus”, 是希臘文 “ησου (Iēsous)” 英語化後的寫法,而 “ησου” 本身則是由希伯來語 “(Yahushua)” 或希伯來亞拉姆語(亞蘭語;阿拉米語;阿拉美語) “(Yashua)” 希臘語化後而來。 “雅威拯救世人”, 音譯為“亞胡書阿或亞書阿”。  “基督”二字源自希臘文 Χριστ (拉丁化的寫法是 Christós), 源自音譯為 “彌賽亞” 的希伯來文(阿拉米語是, 阿拉伯語聖經是, 古蘭經記載是, 伊斯蘭教漢譯為 “麥西哈”), 意思是 “擦油淨身的人”, 或譯“受膏者”、 “受傅油者”、 “受傅者”, 也就是“被膏油澆灌的人”。
———————
五教-太上老君老子略傳

INDEX

wu jiao – tai shang lao jun Lao Zi lue chuan.
ngũ giáo – thái thượng lão quân Lão Tử lược truyện.
老子姓李名耳, 字伯陽,謐聃。 是楚國苦縣厲鄉曲仁里,今河南省鹿邑縣。生卒年不詳,有說約出生於公元前 600年左右,卒於公元前 470年左右,春秋時代。
《史記正義》: “老子,楚國苦縣厲鄉曲仁里人也。姓李,名耳,字伯陽。一名重耳,外字聃。身長八尺八寸,黃色美眉,長耳大目,廣額疏齒,方口厚唇,日月角懸,鼻有雙柱。周時人,李母懷胎八十一年而生。”  誕生而白首,故以“老” 稱。
曾擔任周朝守藏吏,洛陽管理周朝的國家藏書,通禮樂, 盛德猶龍。
孔子曾和他談道,《史記•老子韓非列傳》:孔子適周,將問禮於老子。老子曰:“子所言者,其人與骨皆已朽矣,獨其言在耳。且君子得其時則駕,不得其時則蓬累而行。吾聞之,良賈深藏若虛,君子盛德容貌若愚。去子之驕氣與多欲,態色與淫志,是皆無益於子之身。吾所以告子,若是而已。”在現在洛陽仍然有“孔子入周問禮碑”。
漢桓帝延熹九年(166年)襄楷所上奏章中有“或言老子入夷狄為浮屠”的說法。《三國志•魏書》:“浮屠所載,與中國老子經相出入,蓋以老子西出關,過西域,至天竺教胡,及浮屠弟子合二十有九。”西晉天師道祭酒王浮沒偽造《老子化胡經》,稱老子攜尹喜西入天竺,化為佛陀,立浮屠教。書成之後,在道教引起強烈反響,同時被佛教徒指為偽經,雙方爭論持續近千年。到唐朝被禁,寺院免掛老子像。直至元代,由於全真教舊事重提,朝廷舉行辯論,道教失勢,被徹底焚毀,禁止流傳。
東漢成都人王阜《老子聖母碑》稱:老子是道合為一,化生天地的神靈神仙,為道祖。漢桓帝祭祀老子為仙道之祖,稱名“道德天尊”,道教三清道祖“太上老君”。唐武宗時,老子定為三清尊神之一太上老君的第十八個化身。唐高宗在乾封元年(666年),追尊為“太上玄元皇帝”。唐玄宗又分別追尊,天寶二年(743年)追尊廟號“大聖祖”,諡號“玄元皇帝”;天寶八載(749年)追尊為“聖祖大道玄元皇帝”;天寶十三載(754年)上尊號為“大聖祖高上大廣道金闕玄元天皇大帝”。
老子著有《道德經》,是道教經典著作。周昭王二十三年,西出函谷關,為關令尹喜求留勸說,終於在函關住鹵,寫下五千言德《道德經》,倒騎青牛而去。”子將隱矣,强為我著書,于是著道德经上下篇八十一篇,共五千餘言,乃去,莫知其所终”,於狄道府,今甘肅臨洮飛升。自東漢張道陵重註《道德經》,乃為道教教民之立的重要經本,奉老聃為教祖。
《老子》之哲義含蓋了後來儒釋之精髓,而道者,乃苴;所稱謂一定之理,猶道路為人所由也,其旨惟“抱一”,抱一者何,即德念德化德行之“德”耳,其道非他,仍道本於德, 非德則非道,無德即無道,故《道德德》經上下二篇,為後世宣揚德教者之楷模,唐德宗時,柳師渾倡明德教,尊崇老聃為教祖,而奉行教化,普及人間。
———————
五教-先知穆罕默德略傳

INDEX

wu jiao – xian zhi mu han mo de lue chuan.
ngũ giáo – tiên tri Mục Hãn Mặc Đức lược truyện.
(Đức giáo chủ Hồi giáo Mohammed Allah)
穆罕默德 (阿拉伯語:محمّد‎ Muḥammad; 一他的全名是艾布•嘠西木•穆罕默德•本•阿卜杜拉•本•阿卜杜勒-穆塔利卜•本•哈希姆 (محمد بن عبد الله بن عبد المطلب‎ Abū al-Qāsim Muḥammad ibn ʿAbd Allāh ibn ʿAbd al-Muṭṭalib ibn Hāshim), 出生時於約571年4月19日, 賴比爾‧敖外魯月12日或17日,卒於約632年6月8日。 他是是伊斯蘭教先知, 最後一位及最偉大的先知, 是最接近完美的凡人, 集所有美德於一身, 伊斯蘭教復興者奠基者, 他成功地使阿拉伯半島的各部落統一在伊斯蘭教下, 奠定了後來阿拉伯帝國的基礎。 中國的穆斯林普遍尊稱之為穆聖。
他出生時,父親阿卜杜拉就已經逝世,根據當地傳統,母親阿米娜將他託付給一個牧游部落,使他在沙漠中長大。六歲時母親阿米娜逝世,八歲時他的祖父也逝世了,所以他的叔叔艾布•塔里布照顧他。
他的童年替人放牧,十二歲就隨叔父外出經商,曾到過敘利亞、巴勒斯坦等地,根據伊本‧希夏姆、泰伯里等穆斯林史學家的記載,基督教僧侶巴希拉認出了他,並預言他將成為先知。在二十五歲時受雇於麥加富孀赫蒂徹,為其經商,不久與其結婚。
麥加當時是一個城市國家,它的中心是克爾白,被認為易卜拉欣(亞伯拉罕)及其子易斯馬儀(以實瑪利)一同建造的。當時大多數麥加人崇拜偶像。雖然麥加沒有自己的資源,但它是一個重要的交通商業中心,許多遠方的部落來此交換貨物。由於他在處理紛爭時非常公正,因此讓他獲得了「可靠者」(Al-Ameen)的美名。
25歲的穆罕默德認識了當時40歲寡婦海迪徹(赫蒂徹,Khadijiah)。穆罕默德的才能給海迪徹印象深刻,因此她問穆罕默德是否願意娶她為婦。這個婚姻是穆罕默德一生的一個重要轉折點。按當時的規矩非長子無法獲得任何遺產,因此穆罕默德既沒有從他父親那裡又沒有從他祖父那裡獲得任何遺產。但海迪徹為他帶來了很大的財富。阿拉伯傳記記錄說海迪徹和穆罕默德共有三個男孩及四個女孩,分別是:扎伊納布、露卡依亞(二女兒,第三任哈里發奧斯曼妻子)、烏姆庫勒蘇姆及法蒂瑪(四女兒,第四任哈里發阿里妻子,但男的卻先後夭折,其血脈只有從其四女法蒂瑪一脈繼承)。海迪徹和穆罕默德的叔叔阿布塔里布均逝世於619年,因此穆斯林稱這一年為“悲痛年”。穆罕默德與他後來的妻子都沒有孩子,除了後來與來自埃及的科普特妻子瑪利亞有一子早夭。
復興伊斯蘭。穆罕默德是一個善於思考的人,40歲那年(610年),他如常在麥加的希拉山洞裡徹夜沉思。據《聖訓》和穆斯林文獻,在沉思時先知穆罕默德聽到大天使吉卜利里(加百列)對他說:「你是真主的使者﹐祝你平安。」先知穆罕默德的妻子海迪徹是第一個相信他是先知的人,同時海迪徹的堂兄,一位基督教僧侶瓦拉格‧本‧腦法爾也相信穆罕默德是耶穌預言的先知。從約613年起他開始公開佈道。40歲以後人生最後的23年裡,穆罕默德發佈真主的啓示,這些啓示的內容被他的記錄下來,成為《古蘭經》。穆斯林開始發展。
穆罕默德向麥加的群眾講道,懇求他們摒棄多神教信仰。部分人改信伊斯蘭教,麥加的權貴們認為伊斯蘭教的一神信仰威脅到了自己的統治和牟利。這是因為當時克爾白天房內有三百六十個偶像,多數阿拉伯人崇拜這些偶像,麥加的貴族可以藉此謀取大額財富。穆斯林一再受到人身攻擊和財產掠奪。當穆斯林越來越多時,麥加的貴族開始殘酷迫害入教的穆斯林,典型的例子如:來自衣索比亞的黑人比拉勒被迫躺在熾熱的沙上,胸部被壓上一塊巨石,紅滾的鐵被焦在身上。許多人因而死亡,但沒有一個人背叛或反悔。這些迫害暫時並未針對先知穆罕默德本人,因為他背後的叔叔阿布塔里布仍是有影響力的
迫害。麥加的貴族試圖用金錢和名利利誘先知穆罕默德,如給他更多的利潤,或者讓他與一些最富有的家庭通婚,以為這樣就可以讓先知穆罕默德放棄他的信仰解散他的信徒、改變他的宗教。這都被先知穆罕默德嚴詞拒絕了。最後麥加人要求艾布•塔里布將他交出處死,但被艾布•塔里布拒絕了。後來甚至有多神教徒試圖刺殺他。當情況越來越危險時,穆罕默德勸一部分穆斯林到阿比西尼亞去避難,因為那裡有位出以公正、善良聞名的基督徒國王,和穆斯林崇拜同一個真主(上帝)。最後當他的叔叔和海迪徹死後,他的家族不再保護他。
夜行登霄。根據《古蘭經》的記載,在621年7月27日(回曆前1年7月17日)的夜晚,真主命令天仙哲伯勒依來帶著神獸布拉克來麥加迎接先知穆罕默德。穆罕默德遂在哲伯勒依來的陪伴下,瞬間即乘布拉克趕到了遠寺(相傳是耶路撒冷)。
遷徙。在經過13年的講道後,先知穆罕默德和他的追隨者所受到的迫害越來越大,穆罕默德首先嘗試到附近的塔伊夫宣傳伊斯蘭,然而他被當地人毆打、石擊、被用荊棘和棍棒抽打。當麥加貴族們決定謀殺他時,麥地那的穆斯林邀請先知前往麥地那。「遷徙」標誌著伊斯蘭曆的開始。在622年進行希吉拉(遷移),前往麥地那。622年至623年間穆罕默德與追隨者和麥地那附近的部落簽定了一項和平友好協議,這個文件簽署後麥地那和它的郊區成為了一個聯盟,麥地那是首都,穆罕默德是其領袖。 為了擴大這個和平和安全的區域, 先知與他的國家周圍的部落簽署類似的條約, 最為著名的是先知與猶太人簽署了和平協議, 即 《麥地那憲章》。 穆罕默德在麥地那與麥地那的皈依者及麥加的追隨者建立了神權統治。 在此後的幾年內, 他們與麥加的軍隊爆發了兩次戰爭:624年的白德爾戰役 (Battle of Badr), 穆斯林在是役取得勝利; 625年非決定性的伍侯德戰役 (Battle of Uhud)。 與反對穆斯林的麥地那猶太人的衝突導致猶太人被放逐、奴役或死亡, 猶太人的飛地海拜爾亦被征服。 與此同時, 穆罕默德控制了鄰近的沙漠部族, 切斷了麥加的貿易路線。 629年, 穆罕默德兵不血刃地征服麥加, 在632年他逝世的時候, 他統治著阿拉伯半島。
統一阿拉伯半島。先知穆罕默德的遷徙結束後他開始聯盟游牧部落。許多人看到穆罕默德是當時阿拉伯半島最強的人,許多部落派代表去麥加要求加入同盟。在他去世前雖然有部落發生過幾次叛亂,但這時的新生的穆斯林政權已經足夠強大來應付它們了。穆罕默德回到麥地那來調停當地兩個部落之間的爭執。他依伊斯蘭教原則建立福利設施、收取稅收(天課)將它們分給很可憐的貧困老弱、簽署了眾多和平協議、修建了許多清真寺,建立了一個所有宗教族群和平相處的寬容環境。
逝世。先知穆罕默德逝世後,根據他的遺囑,葬於麥地那的先知清真寺的原來的住所內。
在伊斯蘭教裡, 穆罕默德規範化的生活例子被稱為聖行, 被記錄在聖訓裡,聖訓敍述了他的言行及個性。 古典穆斯林法學家穆罕默德•伊本•伊德里斯•沙斐儀 (Muhammad ibn Idris ash-Shafi`i) 強調聖訓在伊斯蘭法律裡的重要性。 穆斯林被鼓勵在日常生活裡去效法穆罕默德的言行。 聖行對輔助解說古蘭經至關重要。
**********************
~ 福建省泉州 天后宮 ~
Phước Kiến tỉnh tuyền châu  thiên hậu cung.
5111 靈山聖地
5111 Linh sơn thánh địa.
~ 淨空在多年前前往湄洲祖廟時,也專程到「泉州天后宮 」參拜,因同行的友人當中有位師姊的宮廟跟「天后宮 」有極深的淵源及交情,因為「泉州天后宮 」的開基 媽祖金身〔土塑〕,多年前由師姊恭迎回台灣,現在就供奉在桃園大溪 該宮廟正殿之上 ~
泉州天后宮 位於泉州市區南門天后路一號,始建來慶元二年(公元1196年),地處城南晉江之濱,“蕃舶客航聚集之地”。
泉州天后宮 初建即以來微宗賜額“順濟”為廟名,即“濟以順風”之意。宗元時代,泉州成為世界貿易港之一,元政府為了發展海上貿易,於至元十五年(公元1278年),下詔“制封泉州神女護國明著靈惠協正善慶顯濟天妃。”明永樂五年(公元1405年)出使西洋太監鄭和,奏令福建鎮守官重新其廟。此后朝廷節遣內宦(太監)及給事中行人(對外使節)等官,出使琉球、爪哇、滿刺加等國,率以到廟祭告祈禱為常,永樂十三年(公元1415年),少監張謙出使渤泥(今加里曼丹島、汶萊一帶),從泉州浯江(順濟橋一帶稱浯江)啟航,“實仗神庥”, 歸奏於朝,鼎新之,改宮號為“天妃宮”。 清康熙十九年(公元1680年)施琅征海,師次於此, “神涌潮濟師”、“有助順功”。敕封“護國庇民妙靈昭應宏仁普濟天后”,後易宮名為“天后宮 ”。康熙二十四年,欽差禮部郎中雅虎來宮致祭。雍正元年(1723年)御書匾額“神昭海表”, 今懸掛於殿中,乾隆後歷代有重修。 現在建築群還保存宋代構件和明清時代木構建築, 是海內外同類建築中規模最大規格最高、 年代最早著稱於世的古跡, 1987年由國家公布為全國重點文物保護單位。
原山門馬戲台因築公路被拆毀,1990年3月由台灣鹿港 天后宮 暨諸委員捐資重建。今移清代晉江縣學橫星門為山門、 面闊五開間,牌樓式造型, 雕花漆繪木構斗拱,青石龍柱, 兩側石雕麒麟,螭虎窗,屋頂重檐四坡面,屋脊反翹瓷雕八龍二鱷, 角脊呈鳳尾伸展而卷曲,線條柔和優美,整體結構華麗壯觀。
~  台灣基隆天顯宮贈的匾額  ~
~  石碑標示「天后宮 」於1983年泉州市政府公布為市級文物保護 ~
~  廣場大樹下的土地公廟,很特別喔!  ~
~   土地公為石頭打造之神像 ~
天后正殿,雖歷經滄桑,但明清木構建築至今依舊保存完好,而且保留來代構件。正殿佔地面積635.5平方米 ﹔築於台基座,高出地面1米 ,採用花崗岩石砌築的須彌座,束腰處浮雕“鯉魚化龍”、雄獅、文房 四寶“八駿雲火”、仙家法器、鶴舞雲中、寶蓋蓮花等圖為二度空間動態藝術造型、雕刻刀法熟練,生動活潑,表現其神職至高無上與教屬。
~  正殿前的天公爐 ,此爐也最後來由淨空友人捐獻更新安座的 ~
~  正殿石桌恭立皇帝敕的「聖旨」石碑,顯示「天上聖母」為歷代皇帝所尊崇 ~
~  正殿前的「聖旨」石碑  ~
~  正殿內的「天上聖母」神像也是後來重新雕刻安座的  ~
殿內木樑骨架, 立於圓形花崗岩石柱, 柱頭浮雕仰蓮連珠斗, 挑出斗拱承托梁架作九架梁, 建築結構比較特別, 空間變化很豐富, 門窗彎枋雀替, 雕花精致細密, 紋飾豐富多彩既有幾何圖案,又有花卉水族,鳥獸人物, 托木部位有鳳凰戲牡丹 ,壽梁中作如意訪心, 表現女性神廟。 殿內油漆用朱地畫 “暖八仙” 之一的鐘離及如意相間圖案, 其綠地雕彩西番蓮及喜鵲登梅圖案, 有吉祥的象征, 有的圖案作異獸, 寓意“益壽”。
殿內礎浮雕,更是琳琅滿目,八駿、八寶、傅古鳥龍及各種花卉,表現著水族魚龍騰空翻浪,與百花爭妍,這都是表現道教主題的圖案,以福祿壽吉祥物作襯托,呈現仙家的非凡境界。殿頂築九脊重檐四面落水的歇山式,正脊是天后殿至高點,兩端五彩瓷型雙龍 戲珠,造型精美,光澤鮮艷,表現整個大脊龍的至高題材,四岔脊頭組合鳳凰圖案,對應大脊成龍鳳呈祥,背面作人物故事,配以龍鳳、麒麟,玄武、雙虎、體現了吉祥如意,慶賀長壽的象徵,為閩南建築藝術之一絕。
殿中天后神像儀態端莊,兩旁列清代鸞駕;東西牆陳列閩台媽祖史跡圖片。
~  這是每個天后宮 必備的匾額  ~
~  這塊是嘉義新港奉天宮 和泉州天后宮 締結為姐妹廟的紀念匾額  ~
~  這座石獸歷經歲月等風化,巳經無法確定是何種神獸 ~
~  這座應該是石龜沒錯吧!只是石碑巳經不見了 ~
~  正殿後面中庭有多座石碑及二座方型水池 ~
~  這些石碑可不是什麼古績,而是新建的捐獻名單,當然是台灣的企業、宮廟、信徒居多嘍!~
寢殿又稱后殿,地勢比正殿高出1米 多,兩側突出部位設為翼享,左右齋館。整座殿字系明代大木構建築,屋蓋為兩坡面的懸山楔,面闊七間,35.1米 ,進深19.8米 ,高8米 許,木質梁架粗大古朴,大木柱置於浮雕仰蓮瓣花崗岩的圓形石礎之上,殿前檐柱保存一對十六面青石雕的元代印度教寺石柱。估計是明代翻修時稱置。柱上接木柱,刻有楹聯“神功護海國,水德配乾坤”。正面原有懸挂明代大書法家張瑞圖書“后德配天”的橫匾,目前正在修建中,屬國家木構建築之瑰寶。
東西兩廊及兩軒和寢殿,均由國家文物局立案撥出專款依舊規制復原修繕。東西兩廊原置配神二十四司,現改為閩台關系史博物館陳列室。
寢殿又稱后殿,地勢比正殿高出1米 多,兩側突出部位設為翼享,左右齋館。整座殿字系明代大木構建築,屋蓋為兩坡面的懸山楔,面闊七間,35.1米 ,進深19.8米 ,高8米 許,木質梁架粗大古朴,大木柱置於浮雕仰蓮瓣花崗岩的圓形石礎之上,殿前檐柱保存一對十六面青石雕的元代印度教寺石柱。估計是明代翻修時稱置。柱上接木柱,刻有楹聯“神功護海國,水德配乾坤”。正面原有懸挂明代大書法家張瑞圖書“后德配天”的橫匾,目前正在修建中,屬國家木構建築之瑰寶。
梳妝樓是天后宮 建築群的重要組成部分,用女性世俗方式修建,是該建築群比較特殊的規制,後因歷史原因而被占為他用。2001年奠基重修。重建後的梳妝樓位於天后宮 建築群的主軸線上,占地400多平方米,面闊五間,高二層,單檐硬山頂。
~  梳妝樓上下二層的景觀 ~
~ 「 添一塊磚瓦,保全家平安」,不知道這一招是向台灣取經的,還是台灣的宮廟去考察回來的方法  ~
~  認捐瓦片每片定價 20 元人民幣,便宜啦!不到台幣一百元,台灣的宮廟可要 300 元才能捐一片 ~
~  世界各地信徒所簽名的平安瓦片,看起來還是台灣的居多  ~
以下是泉州歷史網裡關於泉州天后宮 與湄洲廟從祀諸神的比較:
媽祖既成為天后,湄洲廟與泉州廟均有從祀諸神。兩廟除千里眼、順風耳等神相同之外,其他則大有差異。湄洲所從祀的泉州不祀,泉州所從祀的湄洲不祀。在湄洲廟中,晏公、嘉應嘉佑二神及水闕仙班一十八位神將皆塑象奉祀; 但泉州廟則另祀二十四司。
晏公:《敕封天后志》卷下載:“時有負海怪物曰晏公,每於水中趁江豚以噓風,鼓水妖以擊浪,翻溺舟輯,深為水途大患。”經媽祖大施法力, “始懼而伏罪,後囑之曰,東溟阻險,汝今統領水闕仙班,護民危厄。由是永依法力,為部下總管。 ”《湄洲嶼志略·卷一》: “有晏公者,浮海為怪,神以法制之。……命為部下總管。”
嘉應、嘉佑二神及水闕仙班一十八位神將《敕封天后志·卷下·收伏二怪》條:“時有嘉應、嘉佑,或於荒丘中攝魄迷魂,或於巨浪中沉舟破艇。……並收之,列水闕仙班,共有一十八位,凡舟人值危,披髮虔請求救,悉得其默佑。 ”《湄洲嶼志略·卷一》 稱:“時有二魔,一曰嘉應,一曰嘉佑……並錄為將。”
對照湄洲的晏公、十八神將與泉州的廿四司,都同樣從祀媽祖,但差別太大,名止完全不同。
從宗教學的觀點來看:
一是湄洲之神皆為媽祖生前所收的妖魔,地區限於莆田附近;泉州之神則皆早於媽祖,相當大部分不是莆田地區的信奉神,大都史有其人,事實上是把道教中有關航海的神和泉州一帶信奉的有關海上航行、海外移民的地方的神祗及忠臣義士納入廿四司,包羅萬象,收錄全國了。
二是湄洲層次較低,湄洲諸神信仰較為原始,迷信性較強,還未衍化成一個民間信仰的系統。泉州層次較高,較為完整,帶有濃厚的泉州特點,形成了泉州海神的主從神祗系統,通通歸入媽祖派下的神系,有較強的教化性與政治性。
**********************
莫三比克華人張飛帆:在鄭和故鄉追尋媽祖史跡
Mạc tam tỷ khắc hoa nhân trương phi phàm : tại trịnh hoà cố hương truy tầm mụ tổ sử tích.
2018-07-04 由 中國僑網 發表于文化
Kiều võng phát biểu vu văn hoá.
中國僑網7月4日電 莫三比克和平統一促進會副會長、雲南省僑聯海外顧問張飛帆,根據自己的親身經歷,撰寫文章,講述了媽祖文化與鄭和精神的歷史淵源與現代情緣,以及兩者在雲南傳承發揚的故事。
文章摘編如下:
我出生在媽祖故鄉福建莆田,十多年前來到印度洋上的明珠國家莫三比克經商辦企業。關於中莫關係,中國駐莫三比克大使日前在接受新華社記者專訪時說:「中莫雖相距遙遠,但兩國人民的友誼源遠流長。明代著名航海家鄭和曾抵達莫三比克海岸,書寫了中莫交往的一段佳話」。前些年,有兩位葡萄牙學者分別將葡萄牙文和阿拉伯文歷史資料以及《明史》關於鄭和下西洋時期的中文史料進行對照,得出權威結論:鄭和遠航最遠到達地點為非洲東海岸,即莫三比克第二大港口城市索法拉一帶。
鄭和的故鄉在雲南省。因我在莫三比克經商的同時也服務於華社僑團,雲南省僑聯聘請我為省僑聯第十屆委員會海外顧問,在我出席雲南省南亞東南亞國家商品暨投資貿易洽談會的一場旅遊投資推介會上,雲南省一位領導介紹說:明代大航海家鄭和出生在孕育了古滇文化的滇池邊上,從小就受到滇池航運事業的薰陶與啟迪,是寬闊的滇池水面激發了鄭和的航海夢,滇池這片母親之水的良好人文環境孕育造就了鄭和的探索精神。
此番介紹引發了我的深思,想起了故鄉媽祖與鄭和的緣。鄭和在長達28年間七下西洋的航海活動中,一直將媽祖奉為全體航海人員的精神力量,依靠對海神媽祖的虔誠崇拜凝聚起將士心力,戰勝了各種艱難險阻。江蘇太倉和福建長樂的兩處天后宮現存有鄭和撰立的碑記《番事運之記》和《天妃靈應之記》,其中述說下西洋是「承蒙朝廷威福之致,尤賴天妃之神佑之德」,充分闡明鄭和精神和媽祖文化是同根同源、密切關聯。會後,我懷著崇敬的心情,迫不及待去探尋鄭和出生和成長的蹤跡,追尋媽祖信俗在鄭和家鄉的史跡。
首先,我來到距離昆明主城區約六十公里的鄭和出生地、位於滇池邊的晉寧區和代村,這是一個回民聚居的小村子,鄭和的故居和已建成的鄭和公園位於村裡的月山上。鄭和的祖父與父親都到過伊斯蘭教聖地麥加,使鄭和自小就對外洋情況有所聞。世居滇池了解外界的鄭和,第一個老師就是家鄉的滇池,滇池教會了他理解大海,是他作為偉大航海家的根源,一代偉人由滇池成長也由此延伸。鄭和公園裡建有亭、閣、樓、紀念館及故居遺址、廣場上的鄭和大型塑像、航海事跡石碑林、鄭和父親的墓等,拾階而上是一座三層琉璃屋檐、四柱三門的牌坊形山門。凝眸遠眺,西山滇池盡收眼前,屹立在廣場的鄭和塑像高大威猛、器宇軒昂,「開放先驅」的大型下西洋浮雕氣勢恢弘。鄭和航海紀念館形如寶船,宏偉厚重、氣勢莊嚴,館內有鄭和寶船的模型,陳列有鄭和親立於福建長樂天后宮的《天妃靈應記》石碑拓片。公園內蒼松翠柏與果林交映,花木草坪,鳥語花香。只是偌大的公園裡遊客不多,公園的知名度可能還是有限。
隨後,我走訪了雲南博物館,館內也陳列有《天妃靈應記》石碑拓片,我查詢了一些關於鄭和的史記地方志。從雲南通志看到,在清代昆明市至少有兩處供奉媽祖(府城南門外天后宮和昆明福建會館),其他地區會澤縣、蒙自縣、昭通縣、馬關縣、騰衝,也分布有天后宮或福建會館供奉媽祖。其中烏蒙山會澤天后宮是全國文物保護單位,也是西南現存較有影響力的清代媽祖廟。媽祖原本只是東南沿海居民的保護神,因緣際會,相繼南下傳入兩廣至海外、北入江浙魯遼、西入雲貴川等省。被尊為上庇國家社稷,下護黎民百姓的神祇。終至於「香火布天下,與國家祚運相無窮」(宋代文學家劉克莊語)。雲南歷史上還有一位偉人,與媽祖林默同宗系出莆田九牧林之後,尊稱媽祖為「祖姑」的林則徐,曾兩度為官雲南。林公不管在哪為官都會祀拜修建媽祖廟,把「媽祖」的精神作為他為官禁菸的精神之一。在林則徐接任江蘇巡撫到劉家港天后宮朝祀時,看到對漕運和鄭和下西洋都具有重大意義的劉家港天后宮頹破不堪,便倡議重修,現門前還懸掛有林公撰寫的對聯。
鄭和及家鄉雲南和媽祖既有歷史淵緣也有現代情緣。在福建莆田湄洲媽祖廟大殿中立有鄭和像,長樂南山的天后宮媽祖與鄭和也是同殿共祀,在江蘇太倉的鄭和紀念館就在媽祖天后宮中。2016年,雲南省政府作為內地唯一受邀省份協辦了第14屆澳門媽祖文化旅遊節。澳門媽祖文化旅遊節是澳門特區一年一度的重要文化旅遊盛事,成為傳播媽祖文化、聯結海內海外華夏兒女、促進各地經貿文化交流的重要平台。
望著滇池的碧波萬頃,對於生長在海邊的我沒有一點違和感。幾天的尋訪使我萌生一個願望,如滇池邊也能像天津、青島、廈門、海南等沿海城市一樣,建有一座媽祖文化園,讓一尊萬眾景仰、恩澤四海的天后媽祖神像踏浪而來,與南岸月山上器宇軒昂的鄭和塑像遙相呼應,將是體現鄭和航海與媽祖信仰的「海權」與「神權」完美結合。媽祖文化園的建立,可為春城昆明增添一處新的人文景觀,成為昆明的又一文化品牌,提升作為昆明之子的鄭和故里及鄭和公園的知名度,引來更多國內外的客商及遊客。
在雲南短短的幾天,發現雲南人對大海的嚮往情有獨鍾,雲南的很多江河湖泊稱之為海, 如:洱海、納帕海、拉市海、陽宗海、程海、碧塔海、清水海、江川海、亮海、文海,滇池也叫滇海。 媽祖和鄭和是海絲歷史上的兩個重要圖騰文化,復興也稱為「江海女神」的媽祖信俗,可拉近雲南人和大海距離,激發滇商曾經在歷史上非常輝煌過的冒險精神和奮鬥精神,讓雲南在「一帶一路」建設中海陸對接,讓雲南的大山高原精神與媽神鄭和的海洋精神實現互通、互動、互補、互融。弘揚媽祖「立德、行善、大愛」的精神對於提升人們心性、凈化社會道德,具有積極的意義。人們之所以會信仰媽祖,是因為「善」與「奉獻」是媽祖的精神內核。憑藉海內外信眾的民間團體擁有較多的人力、財務、物力,以及具有集合包括台港澳閩粵的全球海內外華人信眾和海絲路沿線國家的民眾信眾的力量特點,以踐行媽祖精神來推動雲南省的慈善公益事業,以媽祖廟(文化園)作為實施單位,開展對貧民救濟、救災救難、獎助學金、體育、文化交流等,將媽祖信仰重要的服務社會慈善公益事業的功能以實際行動展現。
「政府搭台,民間唱戲」。雲南是閩台商人及企業的投資重地,媽祖文化園的建設經費,由政府出台相應政策,台商、閩商、僑商及信仰媽祖的粵港澳商人和兩岸媽祖機構共建共商共築。媽祖文化園將承載兩岸及海外華人華僑對平安及和平的共同期盼,亦是對中華傳統文化一脈相承的生動詮釋。在成立媽祖文化交流協會及建設媽祖文化園的基礎上,雲南省可主辦媽祖鄭和相結合的文化旅遊節,促進經貿、投資、科技、文化、旅遊等方面的合作與交流,迎合「一帶一路」倡導的需要,推動媽祖信仰和鄭和文化的傳播。這是21世紀海上絲綢之路不可或缺的重要文化資源,也是海上絲綢之路沿線國家和地區的共同文化記憶。 (張飛帆)
**********************
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
trào  sán nhân bất tri đạo đích 18 cá mụ tổ hiển linh cố sự ……
triều sán nhân bất tri đạo đích 18 cá mụ tổ hiển linh cố sự ……
2019-09-02
潮俗
triều tục
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
triều sán nhân bất tri đạo đích 18 cá mụ tổ hiển linh cố sự ……
媽祖顯靈傳說 之一:甘泉濟師
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
據記載康熙二十一年十月,清軍水師提督施琅奉旨率三萬水兵駐紮平海,等待乘風東渡台灣。當時正遇到乾旱,軍中缺水。平海天后宮旁有一被填廢井,施琅命令挖掘,並暗向媽祖祈禱,井挖好後泉水甘口,解了老百姓、兵士用水之難,泉水從此不竭。施琅以為這是神賜甘泉濟師,親書「師泉」二字,此井至今仍存。
媽祖顯靈傳說 之二:佑助收艇
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說康熙二十一年十二月二十六日夜,施琅第一次率兵渡海攻打台澎,因缺風船行很慢,施琅下令回航平海。不久,忽起大風,戰艦上小艇被風刮下海,不知去向。第二天風停息後,命令出海尋找小艇,均安然停在湄洲灣中,艇上人報告說:昨夜波浪中見船頭有燈光,似人攬艇,是天妃默佑之功。施琅大為感動,命令整修平海天后宮,重塑媽祖神像,捐重金建梳妝樓、朝天閣,並請回媽祖神像一尊奉祀在船上。
媽祖顯靈傳說 之三:澎湖助戰
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說康熙二十二年六月,施琅第二次率兵東渡攻打澎湖, 軍中士兵感到神妃在左右助戰,個個英勇向前,千總劉春夢天妃告之二十一日必克澎湖,七月必克台灣。 後來清兵強攻澎湖七晝夜,並台灣統一。 當時清兵出戰攻澎之日,媽祖派千里眼、順風耳二神將助戰,即媽祖「澎湖助戰」的神話故事。
媽祖顯靈傳說 之四:託夢建廟
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說宋紹興二十七年秋(1157年), 莆田城東五里處的白湖這個地方,有章氏、邵氏二族人共夢神指地立廟,隨後驗其地果然是吉地,於是建廟,第二年廟建成。 宋紹興三十年, 海寇侵擾,百姓到廟裡祈禱, 忽然狂風大作,海浪滔天,敵畏懼而退。後來又來侵犯, 再次顯靈威,很多敵寇被官軍擒獲。
媽祖顯靈傳說 之五:聖泉救疫
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說宋紹興二十五年(1155年),興化一帶發生瘟疫,無藥可治,媽祖託夢給白湖一村民,說離海邊不遠的地下有甘泉,喝了可以療愈疫病。第二天群眾前去控掘並取水飲用,果然靈驗。消息傳開後,遠近人都來取水,絡繹不絕,染疫的人全都得救了,這口井被譽為「聖泉」。
媽祖顯靈傳說 之六:神女搭救
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說北宋宣和初年,莆田人洪伯通有一次航行在海上,突然遇到颶風,帆船差一點覆沒,急忙呼神女搭救,喊聲剛剛結束,大海突然風平浪靜起來,洪氏躲過了滅頂之災。
媽祖顯靈傳說 之七:神女救船
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說北宋宣和五年,宋朝派使者率船隊出使高麗(今朝鮮),在東海上遇到大風浪,其中八條船沉了七條,只剩下使者所乘的船還在風浪中掙扎,忽然船桅頂上閃現一道紅光,一朱衣女神端坐在上面,隨即風平浪靜,使者所乘的船轉危為安。使者驚奇,船上一位莆田人告說是湄洲神女搭救。
媽祖顯靈傳說 之八:保護使節
據記載,鄭和七次下西洋中,3次是船隊遇到海寇掠奪和受到錫蘭山國王亞烈苦奈兒陷害;1次是船隊為蘇門答刺國生擒;3次是船隊在海上遇到颶風和險情。每次都說得到媽祖神靈庇護而脫險。
媽祖顯靈傳說 之九:天妃神助
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
據記載,永樂七年,欽差尹璋出使,同年欽差陳慶等往西洋;永樂十三年,欽差內官送甘泉於榜葛剌國,同年太監王貴等又奉命往西洋;洪熙元年(1425年)乙未,欽差內官柴山往琉球;嘉靖十一年(1532年),欽差給事中陳侃等人往琉球冊封;嘉靖三十七年,復遣郭汝霖等出使;均得天妃神助而安全往返。
媽祖顯靈傳說 之十:庇佑漕運
據記載,道光六年(1826年),江南有一隻千餘艘的漕運船隊,一日船隊抵達黑洋,遭到風暴,得到媽祖神靈護助,整個船隊二、三萬人安然無恙。
媽祖顯靈傳說之十一:官員脫險
據記載,康熙四十二年(1703年),御史孟劭前往台灣巡視,在海上遇到颶風,得媽祖神佑而脫險;乾隆二十五年(1760年),漳州鎮總兵奉命南巡時,河流橫急,遇到險情,得媽祖顯應而平安無事。
媽祖顯靈傳說之十二:庇佑致勝
1)康熙十九年(1680年),水師提督萬正色駐守崇武,夜夢神妃佐風,於是進兵,迫鄭軍舍廈門入台灣;
2)乾隆五十二年(1787年),欽差大臣福康安等赴台,返回至大擔時迷失航向,得神火引導而順返;
3)乾隆五十二年,張均等率水兵剿海賊,遇風得神助,脫險並擒賊五十餘名;
4)嘉慶十一年(1806年),官軍在鹿耳門賴媽祖佑助,擊敗蔡牽;
5)道光二十一年(1841年),侵華英軍駐進上海潮州會館,*臥天后神前,夜裡夢見受到棍擊,個個驚喊救命。
媽祖顯靈傳說之十三:使節脫險
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
據有關資料,康熙二年(1663年),張學禮等往琉球國,歸舶過姑米山遇風暴;康熙二十二年(1683年),冊使汪輯等出使,歸舟遇颶風;康熙五十八年(1719年),冊使海寶等奉命赴琉球冊封存,歸舟遇旋風;乾隆二十年(1755年),冊使全魁於姑米山遇颱風;道光十九年(1839年),冊使林鴻年等赴琉球途中兩次遇風暴。均得媽祖顯靈庇佑而脫險。
媽祖顯靈傳說之十四:旱情解難
據記載:1192年夏,閩地乾旱嚴重,瘟疫蔓延,群眾向媽祖祈求保佑,禱天即下雨;嘉定十年(1217年),興化大旱,百姓祈求於媽祖,神示夢下雨之時,果然靈驗;寶祜元年(1253年),莆、泉大旱,兩地共禱於神,旱情即除。
媽祖顯靈傳說之十五:神助修堤
據記載,1239年,錢塘江決堤,江水漫到艮山天妃宮時,水勢倒流不前,百姓借勢築堤,大家都說是神力扞禦;寶祜四年(1256年),又得媽祖神助建築浙江錢塘江堤。
媽祖顯靈傳說之十六:神助擒寇
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
據記載,乾道三年,海寇侵擾,官兵數次圍殲都無法得手,後憑媽祖神助獲勝。嘉定十年,海寇再次犯境,官兵又得媽祖神助,擒蔻首而勝。景定三年(1262年),海寇作亂於興、泉、漳之間海域,官兵得到媽祖神助,在莆田湄洲一帶海域擒獲海寇。
媽祖顯靈傳說之十七:神助宋師
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說嘉定元年(1208年),金兵聚集在淮甸一帶,宋廷興師北伐,向媽祖祈禱神助,宋朝軍隊三戰三捷,解了合肥之圍。
媽祖顯靈傳說之十八:護助剿寇
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
傳說淳熙十一年(1184年),福建都巡檢姜特立奉命征剿溫州、台州一帶海寇,臨戰前官兵乞媽祖神靈護助。戰時隱約看見神在雲端之上,於是乘風進兵,擒獲賊首,大獲全勝。
潮汕人不知道的18個媽祖顯靈故事……
天后媽祖是我國古代的女海神。她流傳歷史悠久,自宋以來,史跡跟隨航海家們的足印,遍及我國的沿江沿海和東南亞、東北亞各國,範圍廣泛,具有世界性的影響。天后宮及其遺存不僅是研究我國古代航海史,而且也是研究華僑史和對外交通史的重要文物資料。
———————
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

天后師尊傳略 * 柔佛士古来天后宫 * Tian hou shi zun chuan lue

天后師尊傳略 * 柔佛士古来天后宫

Tian hou shi zun chuan lue
天后師尊傳略

天后師尊傳略 * Tian hou shi zun chuan lue

天后師尊傳略 * 柔佛士古来天后宫 * Tian hou shi zun chuan lue

天后師尊傳略

Tian hou shi zun chuan lue

Thiên hậu sư tôn truyền lược

Tian hou mu zu shi ji

天后媽祖史跡 

天后師尊傳略 

Thiên hậu sư tôn truyền lược 
Tian hou shi zun chuan lue 
天后師尊傳略
媽祖史跡
天后媽祖史跡
天后聖母,亦稱 “天妃”,俗稱 “媽祖”,或稱媽祖婆。姓林,名默娘,生於宋太祖建隆元年庚申(西元960年)三月廿三日酉時,卒於宋太完雍熙四年丁亥(西元989年)九月初九日,係福建興化府莆田縣湄洲嶼人。
林氏宗譜云:“天后,晉安郡王林祿公二十二世孫惟愨公第六女。祖孚公,曾祖總管保吉公,高祖州牧圉公,世居莆之湄洲嶼,母王氏,后生於宋太祖建隆元年庚申三月廿三日酉時。誕時地變紫色,滿室異香,鄰里咸異。始生至彌月,仍未聽到其啼哭之聲,因而取名多 “默娘”。
幼而聰穎,卓賦不凡,且能通悟祕法,預談休咎,靡不奇中,不類諸女,窺井神授符錄,遂靈通變化,驅邪或救世,屢顯神異。及長能乘蓆渡海,駕雲游島嶼之間,父兄經商海上,適遇暴風,師奮勇救父,入海尋兄,孝行傳於閻,嶼眾號曰通元靈女。宋太宗雍熙四年(公元987年),九月初九重阳节,林默娘登上湄州峰顶后,就再也没有回来,传说她在这一天 “升天” 成仙年二十八歲。人们就在她升化的地方建祠奉祀。
後來在宋、元、明、清、屢著靈跡,復嘗衣朱衣,飛翔海上顯聖,護國佑民,里人祠之。宋宣和癸卯年始賜順濟廟額,歷朝累褒封號,明永樂封天妃,清康熙時,又加封為天后,乾隆五十二年敕封天上聖母,御賜恬瀾昭貺匾額。歷朝均列入祀典,可謂信而有徵,春秋致祭載在祀典。
聖母事蹟,據莆田縣志云:“宣和癸卯給事中路允迪使高麗,中流震風,八舟七溺,獨路所乘,神降于檣,安流以濟,使還奏聞,特賜順濟廟號。紹興己卯,江口海寇猖獗,神駕風一掃而去,其年疫,神降于白湖,去潮尺許,堀坎湧泉,飲者輒愈,封昭應崇福……康熙二十年,舟師南征大捷,提督萬正色以妃靈有反風之功,聞於朝,加封昭靈顯仁慈天后,遣官致祭……雍正十一年總督郝玉麟奏請省會神祠照龍神例,督撫主祭並令各省有江海處所,一體葺祠致祭……。”
天后乃航海護法靈神,凡屬航海之士,莫不崇祀惟虔,而水上居民於聖誕日,每年舊曆三月廿三日,為天后聖誕之期,咸視為最隆重,舉行慶祝盛典。
———————
 
 
 
 
 
 
 
 
 

柔佛士古来天后宫 * 天后圣母妈袓史迹

柔佛士古来天后宫~天后圣母妈袓史迹

Rou fu shi gu lai tian hou gong ~ Tian hou sheng mu ma ju shi ji

Nhu phật sĩ cổ lai thiên hậu cung ~ Thiên hậu thánh mẫu tổ sử tích

Tian hou mu zu shi ji

点击此柔佛士古来天后宫 (Johor Skudai Tien Hiew Kiong) 以阅览更多庙的照片与资料。

妈袓(天后),原名林默娘(公元九六〇——九八七年),是一千多年前生活在福建莆田湄洲,湾畔的一位民间女子,相传她聪明、勇敢、善良,有预知气象变化、驱邪治病和泅水航海的本领,又常在惊涛骇浪中救助遇难船舶,极受远近人们的敬重和爱戴,被尊为「龙女」、「神姑」。宋雍熙四年(公元九八七年)重阳节,林默娘登上湄洲峰顶后,就再也没有回来了,人们传说她在这一天「升天」成了神仙,就在她升化的地方建祠奉祀,称为「通贤神女」。

北宋时期,湄洲湾一带的海上贸易十分兴旺,航海者终年浮家泛宅,随时都可能遇到海难。妈袓飞渡大海抢险救难的事迹,使她逐渐成为当地船户的海上保护神。传说当时有一位出国贸易的商人三宝,启航前曾到神女祠拜祷立愿,三年的海上往来,不但化险为夷,且获巨利而归,於是捐金重建庙宇;宋仁宗天圣年间(公元一〇二三——一〇三二年),又经信仰者扩建,使湄洲神女祠初具规模。

接着,莆田、仙遊地方的主要通商港口,如宁海、楓亭等地都陆续修起了神女祠。

宋徽宗宣和四年 (公元一一二一年),给事中路允迪奉命出使高丽(今朝鲜)途遇大风浪,船只险些沉没,舟人急忙祝天求庇,空中忽现一道祥光,彷彿有一朱栽女神飞舞於桅端,瞬间,风平浪静,转危为幾,路允迪惊讶万分。询问部下是甚麽神灵相救^船上有一位来自莆田宁海的保义郎李振,平日笃信湄洲神女,便告诉路允迪是自己家乡的神女前来护佑。第二年,路允迪还京奏闻朝廷徽宗逐下诏赐给宁海镇圣墩神女祠以「顺济」庙额。

妈祖信仰得到朝廷的承认之后,又经莆田籍丞相陈俊卿和地方绅的大力提倡,航海者的传扬,使这一信仰逐渐超出莆田地方而在更大的范围普及。

丁伯桂《顺济圣妃庙记》云:绍兴丙子,以郊典封灵惠夫人,逾年,江口又有祠,祠立二年,海寇凭陵,郊灵空中,风擒而去,州上其事,加封昭应。其年白湖章、邵,一夕梦神指为祠处,丞相正献陈公俊卿闻之,乃立地券奉神立祠,这是白湖又有祠。

白湖祠庙在当时的影响,可由陈宓写的《白湖顺济庙重建寝殿上樑文》窥知:

昔称湘水神灵,独擅南方;今仰白湖香火,几半天下。

宋室南渡以后,为抵御金兵进犯,从福建调遣舟师北上抗敌,莆田从军者甚众,且迭立战功,妈祖灵异的神话随莆田军士们的战迹而传播。南宋的偏安局面,中断了西北陆路的对外交通,朝廷为增加财赋收入,极力奖励海外贸易,「舟车所至,香火日严」,「商舶尤借以指南,得吉卜而济」(绍兴二十年廖鹏飞《圣墩祖庙重建顺济庙记》)。地方官员又不断地向上奏闻妈祖在救灾、助战等方面显灵的事迹,得到朝廷多次褒封,妈袓的封号也由「夫人」晋级为「妃」。至南宋后期,对妈祖的信仰范围扩大到了整个江南的沿海沿江地区。刘克胞在《风亭新建妃庙记》中载「妃庙遍於莆,凡大墟市、小聚落皆有之。」又称「某持节至广,广人事妃,无异於莆」。丁伯桂也有「神不独盛於莆,闽、广、江、浙、难甸皆祠也」的记载。

元朝政府继续推行海外通商贸易,加上频繁的南粮北调,「国家以漕运为重事,海漕以神力为司命」(元文宗天历二年(公元一三二九年)祭直沽庙文),为鼓舞官兵与海洋搏斗的勇气,晋封妈袓为「天妃」,并在漕运沿途各大天妃宫举行隆重的祭典,妈袓的香火也因此而传播到北方的山东、天津等地。妈袓作为航海保护神的地位,也后来居上,超越了老资格的四海之神;泉州九日山的通远主、莆田祥应庙的显惠侯等地方性的海神,这时也相形见绌,几乎消声匿迹。

明代因为倭患,实行海禁政策,然而妈祖依然受到朝廷的褒封,这是由於郑和在下西洋途中,多次遇险而能安然度过,向皇帝奏称在海上大得天妃庇佑的事迹,因而在郑和七下西洋过程中,曾多次由朝廷遣官到天妃致祭,给妈袓族贵宝钞,并在南京等地增建天妃宫。

明清两代,琉球奉中国为宗主国,朝廷曾多次遣使前往册封修好。使臣启航之前,例必先到天妃宫举行祭神请香仪式,恭请妈祖神像护航,船上派专人司香,朝夕祈祷。到达琉球之后,由 正、副使奉请神像登岸,接受「鼓乐仪从」的欢迎,隆重地供在天妃宫中,让当地官民瞻拜。

明代中后期,闽人赴日通商频繁,中国船主为「祝愿生理如意,平安往来」、在长崎修建了兴福寺、福济寺,崇福寺,合称「唐三大寺」,奉祀天妃及陪神干里眼、顺风耳等。

曰本,萨南片埔的林家,系自明亡之际,从福建沿海冒险飘洋前往定居的。其先祖当年请去的妈袓像仍被虔诚地供奉在家中。一九八七年,莆田举行妈袓千年祭,片埔林家一行二十人还专程回来参拜湄洲祖庙和林氏袓茔。

东南亚各地是历代华侨移人最多的地方。十六世纪以后,西方殖民者的歧视和压迫,客居异国的艰辛,使华侨更加眷恋故土。因而源自唐山的妈祖信仰,就被当做具体「中华民族文化」的象征。创建于一五六七年的马六甲青云亭、创建于一八二八年的新加坡天福宫等庙宇,至今依旧香火鼎盛。而南洋各地海南籍华侨兴建的琼州会馆,无一例外地都设有妈袓的的庙堂。马来西亚的二十七个兴安会馆,每一座会馆的最高一层均为颇具中国传统建筑风格的天后宫。他们并不因其生活环境的改变而稍减其信仰的虔诚。在世界其他地方,如菲律宾、印尼、泰国、柬浦寨、越南、緬甸、朝鲜、印度、法国、丹麦、美国、巴西、阿根廷等国,也有建於不同年代的许多妈袓庙。还有不少洋信徒,他们按照中国的传统礼仪奉祀妈袓。妈袓的香火已遍及全世界。

妈袓信仰在台湾省更为普遍。早在元至元十八年(公元一二八一年),澎湖就建了一座「娘妈宫」。明代,俞大猷追剿倭寇到达澎湖,於嘉靖四十二年(公元一五六三年)加以扩建。万历三十二年(公元一六〇四年)。荷兰殖民者企图侵占澎湖,明将沈有容率兵交涉,迫使侵略者撤离,至今宫内还存有「沈有容谕退红毛番韦麻郎」刻石。天启四年(公元一六二四年),荷兰海军又入侵澎湖,骚扰福建沿海,福建巡抚南居益等率兵在娘妈宫前大败敌人。南明永历十八年 (公元一六六四年),澎湖娘妈宫曾两遭荷军焚毁,当地居民均立即给予修复。

台湾本岛正式修建妈祖庙大约始於明代的福建移民。他们为求得平安渡海,多奉请妈袓神像(即小型之「船头妈」)随船护佑,登岸后便在家庭内或另行建庙奉祀。妈祖成为他们对付恶劣环境和维持团结精神力量。据台湾地方志 记载,明郑以前,古诸罗县(今嘉义)安定里的东保地方已建有「姑妈庙」,而「姑妈」正是莆田一带林姓对妈袓的一种既亲切而又敬重的称呼。

妈祖信仰在台湾,经历了郑成功时期的进一步传播,清廷的利用,已深入人心。虽经日本占领者半个世纪的压制,也改变不了。特别是近四十多年来的海峡两岸的分离,台湾妈祖庙的数量逐年增加,据统计,全岛现有妈祖庙八百多座,信众占居民总数的三分之二。台湾曾有「拜妈袓,怀故国」的话,这就说明台湾人民信仰妈袓,不仅是为了消灾 祈福,而且包含着强烈的民族感情。台湾各主要妈祖庙还以从湄洲直接分灵为贵,因而有「开其妈」、「开台妈」的称号,标明其「正统」地位。而历史上从湄洲请去的灵宝印、铜钾及进香炉、进香旗等等都被当做镇宫的宝物珍藏陈列。一九八四年,鹿港天后宫高筑祭坛,由黄尊秋先生担任主祭官,面向湄洲举行遥祭大典。前几年,许多台湾信众克服种种困难,或驾船横渡海峡,或绕道其他国家、地区,专程前来湄洲祖庙进香谒祖。在一九八七年湄洲举行妈祖干年祭的日子里,台中县大甲镇澜宫组团到袓庙,迎请新的「分灵妈」回台供奉。「这份虔诚的民间信仰,足以打破四十多年政治隔离后的误解和对立,为海峡两岸的和平带来足堪告慰神明的新契机」(引自台湾人间出版社《千年妈祖一一湄洲到台湾》)。

———————

 

天后媽祖史跡 * Tian hou mu zu shi ji

祖史跡

天后祖史跡

Tian hou mu zu shi ji

媽祖史跡
 
天后媽祖史跡
媽祖的故事!原來是這樣,全台灣才都在瘋媽祖
媽祖
大甲鎮瀾宮
北港朝天宮
澎湖天后宮
時間:2019-04-18 16:25
新聞引據:
撰稿編輯:新聞編輯
媽祖一開始是「海上女神」,可是來到台灣之後,任務愈來愈繁忙,幾乎成為「全能女神」。圖/媽祖遶境畫面簡慶南提供
一手三枝香 枝枝有神明
拜託媽祖婆啊 伊著保庇
平安到淡水
咱的祖先伊 伊唐山過台灣
開山佮造路啊 鹿港到艋舺
—陳明章《唐山過台灣》
民間信仰代代相傳,「媽祖」就是所有信徒的「母親」。漢人傳統觀念「嚴父慈母」也反映在信仰體系,男性神祇「神威難測」,女性神祇「慈祥和善」。父權社會男尊女卑,男神數目成百上千,女神卻屈指可數,「媽祖」能化約成台灣人最主流的信仰也不難理解。
媽祖被奉為「海上女神」,其實一開始只是福建沿海地帶漁民的守護神。在明末清初的「海神」代表是玄天上帝及水仙尊王,漢人大量移民來台之後,感念媽祖庇佑平安渡過黑水溝,才逐漸成為台灣人心目中的海神;而在「篳路藍縷,以啟山林」落地生根之後,媽祖的「轄區」則從海上移至陸地,「任務」也愈加繁忙,不但疾病困苦要求祂,農田缺水也拜託祂……移祀台灣,媽祖幾乎成為「全能女神」。
台灣俗諺「三月瘋媽祖」,可視為台灣的感恩節。全台各地在農曆三月迎請媽祖,就是感謝祂在過去及現在對台灣人的保佑,也祈望祂能在未來繼續看顧這塊土地上的子民。三月媽祖慶典的最高峰當然是廿三日聖母誕辰,舊曆三年一閏,閏月之後的三月與新曆五月相重疊,廿三日這一天就會在母親節前夕,而百年來媽祖生和母親節有五次在同一日。
北港媽祖遶境經過之處,萬人空巷,炮陣如雷。圖/簡慶南提供
大甲鎮瀾宮的媽祖。圖/大甲鎮瀾宮神轎班提供
絕大多數的台灣民間信仰皆是在明鄭及清治時期,隨著漢人移民渡海來台。這些信仰均有濃重的原鄉色彩,如泉州三邑人的龍山寺、同安人的保生大帝、安溪人的清水祖師、漳州人的開漳聖王、粵籍移民的三山國王…;然而媽祖卻是跨越族群與地域,成為漢人移民在台灣最主要的信仰。
為何媽祖信仰會成為多數台灣人的最愛?早期與官方推崇有關。自台灣納入清朝版圖,朝廷不斷加封,由天妃至天后,列入官方春秋祀典,還蔭及先人(父母受封為公及夫人)與部將(千里眼、順風耳封為金柳將軍);在日治前期,統治者也格外禮遇,兩任總督佐久間左馬太及石塚英藏皆曾至當時媽祖信仰的總本山北港朝天宮獻匾。1925年日人中治稔郎融合媽祖信仰與日本神道教,從湄洲迎來媽祖神像,在台北士林街創立「天母教」(現今天母地名的由來)。
海上遇險 信眾該呼「媽祖」而非稱「天妃」
在「君權神授」的封建帝制甚至殖民時期,民間信仰的合法性(神權)來自「君授」,非經官方褒封或許可而私祀,將流於「淫祠」而遭禁絕。漢人的媽祖信仰從宋朝的夫人、妃,元、明升為天妃,到清代則升至與皇帝同級的天后;然而民間仍嫌不足,穿鑿附會出更高的封號「天上聖母」,近年不少學者考證歷代文獻,均確認官方不曾出現此一封號。
相較於「帝王」配偶的「后妃」封號,「聖母」更覺親切,但聖母猶在「天上」,民間有更通俗的暱稱:「媽祖」或「媽祖婆」。若是林家後人,因「姑姪同姓」則稱為「姑仔」、「姑婆」或「姑婆祖」。「媽祖」一詞由來,眾說紛耘,只要懂得台語(閩南語)便不難理解,母親稱「阿母」、祖母稱「阿媽」、曾祖母稱「阿祖」(四代以上面稱不分男女)。從字義上來解釋,「媽祖」等於是女性直系祖先。至於「婆」字在親屬稱謂與「祖母」同輩,如姨婆、妗婆。
日治時期的澎湖天后宮。圖/wiki, 公有領域
清朝著名史學家趙翼曾在《陔餘叢考》寫下一則有趣的媽祖傳說:「台灣往來,神跡尤著。土人呼神為『媽祖』。倘遇風浪危急,呼『媽祖』,則神披髮而來,其效立應;若呼『天妃』,則神必冠帔而至,恐稽時刻。」稱「媽祖」,祂不施脂粉立即救人;若稱「天妃」,媽祖要盛裝打扮,恐怕會延誤時間。所以海上遇上風浪,信眾皆呼「媽祖」,不敢稱「天妃」。
「母親的名叫媽祖」宛如尊敬自己慈悲親切的母親
天妃、天后及媽祖、媽祖婆的官民二元稱號,也反映在廟宇建築。由於朝廷褒封諭祭,官方統一稱為「天妃廟」或「天后宮」,儘管不少媽祖廟後來自取「宮名」(如北港朝天宮、松山慈祐宮),但在官方文書上仍稱「天后宮」。至於民間則一律叫做「媽祖宮」或「媽祖廟」,早期也有人將「媽祖宮」簡稱「媽宮」,澎湖馬公市的地名就是由「媽宮」同音轉為「馬公」。
有一首由貨車司機王文德作詞、蔡振南作曲並演唱的歌曲《母親的名叫台灣》,在1990年代初期的台灣民間傳唱一時,幾百年來在台灣民間信仰當中,「母親的名叫媽祖」。信徒崇拜低眉和藹的媽祖,宛如尊敬自己慈悲親切的母親。在國族認同混淆的台灣社會,許多統派人士常以「中國神」來質疑獨派的媽祖信徒,其實這種論調不堪一擊,所謂「上帝歸上帝,凱撒歸凱撒」神聖與世俗各有各的國度。
2007年新港奉天宮媽祖出巡聯合國。圖/蔡育豪
原鄉媽祖香火奄奄一息 渡海護持台灣成為全能女神
真要論及媽祖國籍,祂的先人是閩國遺民,公元960年出生時福建莆田已由南唐統治,虛歲16那年,祂又變成宋國人。1912年後,媽祖成為「中國神」(中華民國=中國=中華人民共和國),原鄉媽祖香火卻因歷年戰亂及意識型態幾乎奄奄一息,幸好渡台後已土著化成為「台灣神」,雖經日治晚期皇民化運動及國民黨早期限制,但數百年來香火綿延不絕、四時祭祀不輟,讓天上聖母永享「千秋」!
威權解體後的民主台灣,媽祖信仰更為蓬勃發展,連政客都得靠近媽祖來拉攏選票,不少被稱為「媽祖婆」的女性政治人物也引以為榮。而台灣的媽祖熱潮,也影響到對岸共產政權,開始祭出「宗教統戰」法寶,逐漸放寬對傳統信仰的壓制,召喚台灣宮廟及信徒「返鄉謁祖」,甚至還拱媽祖為「海上和平女神」。
太平洋戰爭時期,台灣不少地方皆有媽祖以裙擺攔砲彈的傳說,這應該是人們逃過一劫後的想像誇大之詞。「天助自助者」,我們當然不能期待中共冊封的「和平女神」去攔阻對方發射過來的飛彈,只能祈禱媽祖能像母親一樣,永遠呵護這座美麗寶島與這片自由樂土。
紙風車劇團總監李永豐雙手捧著新港媽祖,難掩喜悅神情。圖/蔡育豪
2007年新港奉天宮媽祖出巡聯合國。圖/蔡育豪
同安寮十二庄迎請媽祖遶境賜福。圖/Afajacky, wiki, cc 4.0
(本文轉載自民報/黃國洲)
——————
Design a site like this with WordPress.com
Get started