性命圭旨
Tính mệnh khuê chỉ
性命圭旨
性命雙修 萬神圭旨
Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ
Tinh menh khue chi * 性命圭旨
Tính mệnh khuê chỉ * 性命圭旨
性命圭旨
Tính mệnh khuê chỉ
性命雙修 萬神圭旨
Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ
性命雙修 萬神圭旨
Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ
LỜI GIỚI THIỆU
Trong các sách viết về phương pháp tu Tiên của Đạo Gia, chỉ có quyển “Tính mệnh song tu vạn thần khuê chỉ–性命雙修 萬神圭旨” (gọi tắt là Tính mệnh khuê chỉ–性命圭旨) nầy được nhà Đạo từ trước nay đánh giá rất cao, được coi là “một bản đồ tu Tiên quí báu nhất” .
Nội dung nó là kết quả của sự tổng hợp lý thuyết của Tam giáo:- Nho, Lão, Thích để làm sáng tỏ hai yếu tố quan trọng “tu tính và tu mệnh” một cách hài hòa, chỉ bày phương pháp cụ thể, rõ ràng, lý giải không thiên lệch, biên kiến.
Ngài Tử Trung Lý (tk 17) cho rằng :-“ Học giả nếu quán thông được Tính Mệnh Khuê Chỉ sẽ có thể Siêu phàm nhập thánh, trở thành Thiên nhân sư, có thể từ Sắc thân mà chứng Pháp thân, từ Sanh Sanh mà đạt Vô Sanh.”
Quyển sách quí giá nầy đã được Thầy chúng tôi, Bác Sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch thuật hết sức công phu và cẩn thận.
Nay chúng tôi xin đăng tải lên đây có kèm theo phần chính văn bằng chữ Hán để quí vị tiện việc đối chiếu, gọi là góp một chút ánh sáng vào vầng hào quang rực rỡ của sách.
Mong rằng, tài liệu nầy sẽ giúp cho những ai có tâm huyết tu theo Đạo gia, có được tấm bản đồ quí báu, chân chính, để rồi khi gặp được bậc Minh sư chỉ bảo thực hành, thì kết quả sẽ vô cùng tốt đẹp. Điều nầy, cũng đồng nghĩa là, nếu không có Thầy trực tiếp chỉ dạy, không nên tùy tiện bắt chước theo đây mà tự tu, hậu quả sẽ vô cùng nguy hiểm.
Kính mong tất cả hết sức lưu tâm cẩn thận cho, chúng tôi vô cùng cảm tạ.
Trân trọng.
*Cuối Hạ năm Canh Dần—2010
——————
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳
(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Tức
TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền
(Các đệ tử ghi chép lại)
* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch
0-1 前 言
0-2 《性 命圭旨》序
0-3 序
0-4 刻 《性命圭旨》緣起
0-5 題 尹真人《性命圭旨》全書
01 性命雙修 萬神圭旨.元集
01-01 三 聖圖
01-02 大 道說
01-03 性 命說
01-04 死 生說
01-05 邪 正說
01-06 普 照圖
01-07 反 照圖
01-08 太 極發揮
01-09 中 心圖
01-10 火 龍水虎說
01-11 日 烏月兔說
01-12 大 小鼎爐說
01-13 內 外二藥說
01-14 順 逆三關說
01-15 盡 性了命說
01-16 真 土根心說
01-17 鬼 魂說
01-18 蟾 光說
01-19 降 龍說
01-20 伏 虎說
01-21 三 家相見說
01-22 和 合四象說
01-23 取 坎填離說
01-24 念 觀音密咒說
01-25 九 鼎煉心說
01-26 八 識歸元說
01-27 五 炁朝元說
01-28 待 詘說
01-29 飛 昇說
02 性 命雙修 萬神圭旨•亨集
02-01 第一節口訣 涵養本源 救護命寶
02-02 第二節口訣 安神祖竅 翕聚先天
02-03 第三節口 訣 蟄藏氣穴 眾妙歸根
03 性 命雙修 萬神圭旨•利集
03-01 第 四節口訣 天人合發 採藥歸壺
03-02 第 五節口訣 乾坤交媾 去礦留金
03-03 第 六節口訣 靈丹入鼎 長養聖胎
04 性 命雙修 萬神圭旨•貞集
04-01 第 七節口訣 嬰兒現形 出離苦海
04-02第 八節口訣 移神內院 端拱冥心
04-03 第 九節口訣 本體虛空 超出三界
MỤC LỤC
DẪN NHẬP
Lời tựa 1
Lời tựa 2
Khắc Tính Mệnh Khuê Chỉ duyên khởi
Đề Doãn Chân Nhân Tính Mệnh Khuê Chỉ toàn thư
Nguyên tập
1. Tam Thánh đồ
2. Đại đạo thuyết
3. Tính Mệnh thuyết
4. Tử sinh thuyết
5. Tà Chính thuyết
6. Phổ chiếu đồ
7. Phản Chiếu đồ
8. Thời chiếu đồ
9. Nội chiếu đồ
10. Thái Cực đồ
11. Thái Cực đồ phát huy
12. Trung tâm đồ
13. Hoả Long Thuỷ Hổ đồ
14. Hoả Long Thuỷ Hổ thuyết
15. Nhật ô, Nguyệt thố đồ
16. Nhật ô, Nguyệt thố thuyết
17. Đại Tiểu Đỉnh Lô đồ
18. Đại Tiểu Đỉnh Lô thuyết
19. Nội Ngoại Nhị Dược đồ
20. Nội Ngoại Nhị Dược thuyết
21. Thuận Nghịch Tam Quan đồ
22. Thuận Nghịch Tam Quan thuyết
23. Tận Tính Chí Mệnh đồ
24. Tận Tính Chí Mệnh thuyết
25. Chân Thổ đồ
26. Chân Thổ Căn Tâm thuyết
27. Hồn Phách đồ
28. Hồn Phách thuyết
29. Thiềm quang đồ
30. Thiềm quang thuyết
31. Hàng Long đồ
32. Hàng long thuyết
33. Phục Hổ đồ
34. Phục Hổ thuyết
35. Tam gia tương kiến đồ
36. Tam gia tương kiến thuyết
37. Hoà hợp tứ tượng đồ
38. Hoà hợp tứ tượng thuyết
39. Thủ Khảm Điền Ly đồ
40. Thủ Khảm Điền Ly thuyết
41. Quan Âm Mật chú đồ
42. Quan Âm Mật chú thuyết
43. Cửu đỉnh luyện tâm đồ
44. Cửu đỉnh luyện tâm thuyết
45. Bát thức qui nguyên đồ
46. Bát thức qui nguyên thuyết
47. Ngũ khí triều nguyên đồ
48. Ngũ khí triều nguyên thuyết
49. Đãi chiếu đồ
50. Đãi chiếu thuyết
51. Phi thăng đồ
52. Phi thăng thuyết
Hanh tập
Hàm Dưỡng Bản Nguyên đồ
KHẨU QUYẾT 1: HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO
Tẩy Tâm Thoái Tàng đồ
Thoái Tàng Mộc Dục Công Phu
Ngọc Dịch Luyện Hình đồ
Ngọc Dịch Luyện Hình Pháp Tắc
An Thần Tổ Khiếu đồ
KHẨU QUYẾT 2: AN THẦN TỔ KHIẾU, HẠP TỤ TIÊN THIÊN
Pháp Luân Tự Chuyển đồ
Pháp Luân Tự Chuyển Công Phu
Long Hổ Giao Cấu đồ
Long Hổ Giao Cấu Pháp Tắc
Trập Tàng Khí Huyệt đồ
KHẨU QUYẾT 3: TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT, CHÚNG DIỆU QUI CĂN
Thai Tức Quyết
Hành Lập Tọa Ngọa Tứ Thiền đồ
———
Lợi tập
Thái Dược Qui Hồ đồ
KHẨU QUYẾT 4: THIÊN NHÂN HỢP PHÁP, THÁI DƯỢC QUI HỒ
Tụ hoả tải Kim đồ
Tụ hoả tải Kim quyết pháp
Kiền khôn giao cấu đồ
KHẨU QUYẾT 5: CÀN KHÔN GIAO CẤU, KHỬ KHOÁNG LƯU KIM
Châu Thiên tuyền ky đồ
Mão Dậu Châu Thiên khẩu quyết
Linh Đơn nhập đỉnh đồ
KHẨU QUYẾT 6: LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH, TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI
Hỏa hầu sùng chính đồ
Hành hỏa hầu pháp
Trường dưỡng thánh thai đồ
————-
Trinh tập
Anh nhi hiện hình đồ
KHẨU QUYẾT 7: ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ HẢI
Chân Không luyện hình
Thoát Ly khổ ải đồ
Đoan củng minh tâm đồ
KHẨU QUYẾT 8: DI THẦN NỘI VIỆN, ĐOAN CỦNG MINH TÂM
Hoá thân ngũ ngũ — Họa giang thành lộ
Khoá hạc lăng tiêu
Dương Thần xuất hiện đồ
KHẨU QUYẾT 9: BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI
Siêu xuất Tam Giới đồ
Tì Lô chứng quả đồ — Tĩnh thất phần hương đồ — Cấu diện bồng đầu đồ
—————-
《性命圭旨》序
余蚤歲暮道。夫海內有《性命圭旨》,稔聞,竊未 見其書也,如何?迨茲庚戌季春,獲輿閒、若濟二兄,見示圖冊,誦讀之暇,乃儀尹真人之高弟手筆。不然者,從何以識其書之所自哉?故嘗論道,每以《中和》、 《金丹》二集,物色真仙,為其玄宗書,污牛充煉,孿乳浸多,獨未見圖書兼該功夫次第,精意超格,炳若昌星,篾有如書雋永,真擬夫《龍虎》、《參同》、《悟 真》諸經合輒。嗟嗟琅函秘帙,學者著鞭,何慮非一超直入,業紹天師種,由色身而證法身,由生生而達無生,則理之相契,固如是疇克曰︰「小補之哉,雖然知而 修之,謂之聖人,知而不修,是謂愚人,此輿閒、若濟二兄之用心若此。而昕斯夕斯,融通妙諦,亟商取以鏤刊之。僅將盡天地人,頂蹤下針,掃除傍門陋習,撤退 三舍矣。」屬余序,聊述數言,應之以此。
康熙上章閹茂寎月谷旦紫中李朴書於 守中堂
DẪN NHẬP
Lời Tựa 1
性 命 圭 旨 序
Ta từ lúc trẻ đã mộ đạo, và đã biết rằng trong nước có bộ TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ. Nghe biết từ lâu, nhưng không biết nội dung sách đó ra sao.
Mãi đến cuối mùa Xuân năm Canh Tuất (1670), mới được hai anh Dư Nhàn và Nhược Tế trao tặng cho quyển sách này. Lúc rảnh đem ra đọc mới nghi là các cao đệ của Doãn Chân Nhân đã viết. Nếu chẳng vậy làm sao biết được xuất xứ của sách.
Trước đây, người ta thường lấy hai tập Trung Hoà và Kim Đơn để luận về cách tu luyện của các bậc Chân Tiên. Còn các sách bàn về Huyền Tông thì tuy chất đầy nhà, nhưng chưa thấy có quyển nào hay bằng quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ. Nó chỉ cho ta thứ tự của công phu tu luyện, cùng tinh nghĩa diệu lýù, sáng tỏ như ánh mặt trời. Những gì tối tăm, khó hiểu của Đơn Đạo đều được giảng giải, phơi bày ra trước mắt. Sách này cùng với sách Long Hổ, Chu Dịch Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Thiên cũng giống nhau. Thật đáng quí.
Học giả nếu quán thông được Tính Mệnh Khuê Chỉ sẽ có thể Siêu Phàm Nhập Thánh, trở thành Thiên Nhân Sư, có thể từ Sắc Thân mà chứng Pháp Thân, từ Sanh Sanh mà đạt Vô Sanh.
Tuy nhiên, biết được mà tu thì là Thánh Nhân, biết mà không tu thì là Phàm Nhân. Đó là dụng ý của hai huynh Dư Nhàn và Nhược Tế.
Hai huynh ngày đêm lo lắng, quyết đem áo diệu, chân đế của sách, in ra cho thiên hạ biết. Sách này bao gồm hết yếu lý trong thiên hạ.
Mong sách này sẽ diệt trừ được bàng môn tả đạo. Hai huynh nhờ tôi đề tựa sách này. Nên tôi viết ít lời để đáp ứng lại.
Tháng 3, Khang Hi năm thứ 9 (1670), nơi am Thượng Chương, Tử Trung Lý đề tựa.
———————–
序
《性命圭旨》不著撰人,相傳為尹真人高弟之手 筆也。向來行本絕少。殷君惟一藏弆有年,曹子若濟見而悅之,攜示周子輿閒,欣然共嘗,重授欹劂,則錢子羽振董其成焉。書竣,而問序於 余,余於斯道,蓋嚮往而來能至,何敢賛一辭,雖然竊有述焉。
自三教鼎立,異說聱牙,隱若敵國,日相撞也。是書獨揭大道而儒釋妙義,發揮旁通,要之以中,合之以 一,而盡性至命之理,殊途同歸,微獨柱下五千,隱括靡遺,並六十四卦,四十二章,無不累若貫珠矣。就道家論之,則有九十六種外道,三千六百旁門。好貨之 徒,喜談爐火,漁色之子,豔語彼家,固蝟鄙無足數已。即雄經鳥申,龍吟虎嘯,總屬形容,無關本體。近一方士,教人伏氣捻訣,頃刻開關,忽笑忽啼,四肢遙 戰,見者駭其風狂,而彼方詡為神術,良可哀矣。
是 書一掃繁蕪,務撮標本,致虛守靜,翕聚先天,其於撥邪返正,誠中流一壺也。至其精要,尤在《真意》一說。蓋人身真意,是為真土。動極而靜,此意屬陰,是為 己土;靜極而動,此意屬陽,次為戊土。煉己土者,得離日之汞,煉戊土者,得坎月之鉛,鉛汞己歸,金丹自結。戊巳者,重土之象也。斯其有取於《圭旨》乎?作 者深思,直與《黃庭》相表 裡。周子修而廣之,鼓聾發昧,功亦句矣。殷、曹二子俱善養生者,而 余雇微豐干饒舌,其亦莊生所云︰「言者不知也夫!」
時康 熙己酉孟夏吳門尤侗撰
Lời Tựa 2
Tính Mệnh Khuê Chỉ không có tác giả. Tương truyền là của Doãn Chân Nhân cao đệ. Xưa nay rất là hiếm thấy.
Ân Duy Nhất có được một bản giữ đã mấy năm. Tào Nhược Tế thấy sách này, yêu thích không lìa tay, đem cho Châu Dư Nhàn xem, thảy đều hân hoan, thưởng thức. Sách này được in khắc ra là do công lao của Tiền Vũ Chấn. Khi đã in xong, nhờ ta đề tựa. Với ta trình độ hiểu Đạo chưa đến nơi, đến chốn, làm sao dám đề lời. Tuy nhiên ta cũng có điều muốn nói.
Xưa nay, Nho Thích, Đạo ở thế chân vạc, đối lập lẫn nhau, công kích lẫn nhau, chỉ duy sách này là đề cao diệu Lý của Đạo gia, lại còn đem tinh ngôn, áo nghĩa của Nho, của Phật, nói rõ gót đầu, lấy Trung Hòa, Hỗn Nhất mà đem dung thông, hòa hợp, chỉ rõ lý: Tận tính, chí mệnh. Chỉ rõ chỗ Đồng qui nhi thù đồ của Tam Giáo. Lấy 5000 chữ Đạo Đức Kinh giải Đại đạo, rất là tinh mật, lại lấy Chu Dịch (Nho), lấy Tứ Thập Nhị Chương Kinh (Phật) mà giải, tất cả đều quán thông diệu lýù, như là xỏ chuỗi ngọc châu.
Xét về Đạo Giáo, nay có 96 thứ ngoại đạo, có 3600 bàng môn. Kẻ thích tiền thì bàn về thuật Luyện Kim, người ham sắc thì nói về bí quyết phòng the. Thật là tục tằn bỉ ổi, khó nói nên lời. Họ bàn về phép Đạo Dẫn (Dẫn Khí trong người) như: Hùng Kinh (gấu leo cây), Điểu thân (Chim xoè cánh) để dẫn khí, điều tức, hoặc Rồng ngâm, Cọp rống. Tất cả chỉ nói chuyện xác thân, hình tướng mà không biết gì về tu luyện bản thể.
Gần đây có vị phương sĩ dạy người Phục Khí, niệm quyết để khai thông Đốc Mạch trong khoảnh khắc, thoạt cười, thoạt khóc, tứ chi múa máy, dao động, trông rất dễ sợ, như kẻ điên cuồng, thế mà họ khoe khoang là Thần Thuật. Thật đáng thương thay.
Sách này muốn quét sạch mọi điều phiền tạp, chủ yếu là dạy: Chí Hư Thủ Tĩnh, Hấp Thụ Tiên Thiên. Chỗ cao nhất là bàn về Chân Ý.
Trong con người CHÂN Ý là CHÂN THỔ. Động cực thì Tĩnh. Ý mà Tĩnh thuộc Chân Âm. Gọi là KỶ THỔ.
Tĩnh cực thời động. Ý mà động thuộc Chân Dương. Gọi là MẬU THỔ.
Luyện KỶ THỔ (chỉ Nguyên Thần) thì sẽ được khí Hống trong quẻ LY. Luyện MẬU THỔ (chỉ Nguyên Khí) sẽ được khí Diên trong quẻ KHẢM.
Diên Hống qui tụ Đan Điền thì Kim Đơn kết. Khi đó con người sẽ được trường sinh.
MẬU KỶ như vậy gồm hai chữ Thổ. Do đó đặt tên sách là Khuê Chỉ. Chữ Khuê 圭 gồm hai chữ THỔ 土 .
Sách này ý nghĩa thâm sâu. Sánh với Huỳnh Đình Kinh như là hai mặt trong ngoài.
Chu Tử đã tu sửa sách này và làm sáng tỏ nghĩa lý ra, công lao thật là lớn lao. Ân, Tào hai vị đều tinh thông y thuật dưỡng sinh. Còn ta chỉ là kẻ nhiều lời.
Trang Tử nói: “Kẻ biết Đạo thì không nói, kẻ nói thì không biết Đạo.” (Tri đạo giả bất ngôn, ngôn giả bất tri Đạo).
Tháng Đầu mùa Hạ, Khang Hi bát niên, năm Kỷ Dậu (1669) nơi nhà họ Ngô, Vưu Đồng cẩn tự.
——————–
刻《性命圭旨》緣起
裡有吳思鳴氏,得《性命圭旨》於新安唐太史家, 蓋尹真人高弟所述也。藏之有年,一日出示豐干居士,居士見而悅之。謂其節次功夫,咸臻玄妙;而繪圖立論,尤見精工,誠玄門之秘典也。因相與公諸同志,欲 余一言為引。余從事聖俢,雅尚圓極一乘,不談此道久矣。以其所操說者,無非為色身許也。色身有限,法性無邊。
夫 安德大修行人,以法界為身者,而與之談性命哉。舍法界無性命,亦無身心,如法圓修,直紹人天師種,彼以七尺為軀,一腔論心者,維有修持,皆結業耳。 於一超直入無當焉。聞之師雲︰「修行法門有兩種︰一從法界歸攝色身;一從色身透出法界。從法界攝色身,《華嚴》尚矣;從色身出法界,《楞嚴》諸經有焉。 《圭旨》所陳,大都從色身而出者,夫果出法界矣,方且粉碎虛空,有甚身心可論?因旨日月,得道忘詮,是在善修者自契。居士流通之意,無亦見及此歟 。
余不負其流通善念,並思鳴氏寶藏初心,遂述緣起,質之有道。
萬曆 乙卯仲夏新安震初子佘永寧常吉書
KHẮC “TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ” DUYÊN KHỞI
Ngô Tư Minh, người đồng hương với tôi, được quan Đường Thái Sử ở Tân An, trao cho quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ, do cao đệ của Doãn Chân Nhân trước thuật. Họ Ngô giữ sách nhiều năm, một hôm đưa cho Cư Sĩ Châu Nguyên Phiêu đọc. Cư sĩ quí nó không rời tay, và cho rằng thứ tự công phu của sách, thật là cao siêu huyền diệu, có thể nói là thượng thừa. Đến như hình vẽ và lập luận, thì có thể xưng là Huyền Môn Bí Điển. Nhân đó đem sách công bố cho thiên hạ và nhờ tôi đề tựa.
Tôi xưa nay tu theo Phật giáo, đã lâu không bàn về Đạo giáo, vì lẽ Đạo giáo toàn bàn về Sắc Thân.
Sắc thân thì có giới hạn, còn Phật Pháp thì vô biên. Người tu hành Phật môn, lấy Phật Pháp làm thân, làm sao có thể bàn về Tính Mệnh với các Đan sĩ được.
Bỏ Phật Pháp thời không có Tính Mệnh, cũng không có Thân Tâm nữa. Phật Pháp mà tu hành đến chỗ viên mãn, thời kế thừa được Pháp Thân.
Huyền Giáo gọi thân là Thất Xích, gọi Tâm là Không Xoang, như vậy vẫn là Thực Hữu chi vật, chứ chưa phải là cái Không Vô của Phật Giáo. Tu trì như thế bất quá là thoát vòng duyên nghiệp chứ không thể vào được Phật Gia cảnh giới.
Thầy tôi nói: Tu hành có hai cách:
Một là: Từ Pháp giới qui nhiếp Sắc Thân.
Hai là: Do Sắc thân siêu xuất Pháp Giới.
Hoa Nghiêm dạy dùng Pháp Giới thu nhiếp sắc thân. Lăng Già Kinh dạy cách cho Sắc Thân siêu xuất Pháp giới.
Tính Mệnh Khuê Chỉ cơ bản dạy người từ Sắc Thân siêu xuất Pháp giới. Nếu thực sự dạy được người Xuất Thoát được cõi hiện tượng này, lên được cõi Hư Đãng, Không Vô, thì cần gì mà bàn tới Thân Tâm nữa? Đó chính là dùng tay chỉ trăng, được Đạo quên lới.
Quan trọng là người tu phải biết Khế hợp với Diệu Đạo.
Châu Cư Sĩ theo Huyền Môn lại nhờ tôi đề tựa, chứng tỏ giao tình của Ông đối với tôi. Đến như Ông Ngô Tư Minh là người chân thành khẩn khẩn, từ bao nhiêu năm đã giữ gìn quyển sách, tôi cũng chẳng dám phụ lòng. Tôi kể đầu đuôi duyên khởi để trình bày cùng người hữu đạo.
Giữa mùa Hạ, năm Ất Mão, đời Vua Vạn Lịch nhà Minh (1615)
Tân An, Chấn sơ Tí, ta Vĩnh Ninh Thường Cát đề.
—————————–
題 尹真人《性命圭旨》全書
是書出尹真人高弟手筆,蓋述其師之 意而全演之。中間所載諸圖說,及修行節次功夫,可謂詳且盡矣。玄家書污牛充煉,而真旨玄妙無逾此編。棲真者倘能藉此而入道,不亦希有事哉!
友人余常吉為明德宗孫,而於玄教不無少涉,抑謂 其所重者,我身即長生久視,終不離壽者相也,其見確已!乃獨於是書而引之諄諄,然指人一超直入,以紹人天師種,豈其無故而漫雲然?
夫有所受之也,則由長生而達生生,以生生而證無 生,奚不可者。殊途同歸,百慮一致,道豈有二乎哉?高皇論三教雲︰「天下無二道,聖人無二心。」大哉─皇言,斯其至矣!
凡為皇之民者,一意憲章,莫敢倍上可也。嗟嗟世人,流浪生死。輒置性命於罔顧,得此為之一警覺焉。其有造於身心者不少矣。書院流通,真人師弟,定必加 特賛嘆。
仁文主人鄒元標書
Đề Doãn Chân Nhân TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ toàn thư
Sách này do cao đệ của Doãn Chân Nhân viết ra. Chép lại và quảng diễn ý thầy. Trong đó trong đó có nhiều hình vẽ dạy thứ tự công phu tu luyện, có thể nói là tường tận. Đơn Kinh của Huyền Gia ngày nay đầy rẫy, nhưng mà trực tiếp nói lên được vi diệu của Đạo thời duy có sách này. Người Tu Chân dùng sách này mà thông đạt được Đại Đạo, thì tốt biết bao.
Bạn tôi Dư Thường Cát, là một minh sư tông tôn. Đối với Huyền Giáo không mấy coi trọng. Vì cho rằng Huyền Giáo chỉ trọng Thân Mình, nghĩa là muốn trường sinh vẫn không lìa được thân mình. Thế là chưa lìa được Hình Tướng. Mà cảnh giới tối cao của Phật Giáo là siêu xuất Hình Tướng để đạt cảnh giới Hư Không. Ông đích xác nói thế. Đối với sách này Ông thành khẩn nói lên điều đó. Tuy nhiên Ông nhận rằng con người có thể vào được cõi Phật Gia Thánh Giới. Nếu không chẳng lẽ người xưa nói vô căn cứ hay sao.
Đạo giáo cho rằng: Có biết trường sinh mới hiểu được Luân Hồi, có biết Luân Hồi mới hiểu được Vô Sinh. (Đạo giáo gọi cách tu luyện và thứ tự tu luyện như vậy là Thuận Tu, nghĩa là từ Hữu nhập Vô, từ Thực tới Hư). Cách tu luyện như vậy có gì không đúng đâu? Thiên hạ vạn vật Thù đồ đồng qui, thiên hạ vạn sự Bách lự nhất trí. Mục đích là một, nhưng thủ đoạn dùng có thể thiên sai vạn biệt. Đạo (tức chân lý) chỉ có thể có một.
Cao Hoàng luận về Tam Giáo, có viết: Thiên hạ vô nhị Đạo, Thánh Nhân vô nhị tâm 天下 無 二 道 聖
人 無 二 心 . Thật là vĩ đại. Thế là toàn bộ Đạo Lý, tinh hoa vi diệu đã nói ra hết. Ai là con Trời thì phải nhất tâm, nhất ý thuận theo Thiên Đạo, không được bao giờ sai.
Than ôi, con người luân lạc trong vòng sinh tử, nên coi thường Thiên Mệnh Nguyên Tính. Đọc được sách này như tiếng chuông cảnh tỉnh rất ích lợi cho thân tâm.
Sách này lưu thông, Doãn Chân Nhân sư đệ ở dưới cửu tuyền có thể niệm tụng và tán thán.
Nhân Văn chủ nhân, Châu Nguyên Phiêu đề.
——————-
性命雙修萬神圭旨
元 集
大道說
金臺玉局繞丹 雲,上有真人稱老君。八十一化長生訣,五千餘言不朽文。
六經刪定古文章,洙泗源深教澤長。繼往開來參造化,大成至聖文宣王。
陀羅門啟真 如出,圓覺海中光慧日。靈山會上說真言,滿舌蓮花古文佛。
(三 聖圖)
NGUYÊN TẬP
1. TAM THÁNH ĐỒ 三 聖 圖
Đồ bản này có một đôi Liễn, và ba bài thơ ca tụng Thích Ca, Lão tử, Khổng tử.
Đôi Liễn viết:
*Câu 1:-
具 大 總 持 門 若 儒 道 釋 之 度 我 度 他 皆 從 這 裡
Cụ đại Tổng trì môn, nhược Nho, Đạo, Thích chi độ ngã, độ tha giai tòng giá lý.
(Gồm Đại Tổng Trì Môn, nếu Nho Lão Thích muốn độ người độ ta, đều dùng cách này.)
*Câu 2:-
能 知 真 實 際 而 天 地 人 之 自 造 自 化 只 在 此 中
Năng tri chân thật tế, nhi thiên địa nhân chi tự tạo, tự hoá, chỉ tại thử trung.
(Có thể biết rõ thực tế và cách trời đất người tự tạo tự hoá, chỉ thấy trong đây.)
Ba bài thơ như sau:
Đà La Môn khải, Chân Như xuất, 陀 羅 門 啟 真 如 出
Viên giác hải trung, quang tuệ nhật. 圓 覺 海 中 光 慧 日
Linh Sơn hội thượng thuyết Chân Ngôn, 靈 山 會 上 說 真 言
Mãn thiệt Liên Hoa cổ văn Phật. 滿 舌 蓮 花古 文 佛
*Dịch:-
Đà La Môn mở Chân Như hiện,
Tuệ Nhật toả ra trong Biển Giác
Trên núi Linh Sơn giảng Chân Ngôn,
Lời ngát hương sen, của cổ Phật.
*
Kim Đài, Ngọc cục nhiễu đồng vân, 金 臺 玉 局 繞 彤 雲
Thượng hữu Chân Nhân xưng Lão Quân. 上 有 真 人 稱 老 君
Bát Thập Nhất hoá Trường Sinh quyết, 八 十 一 化 長 生 訣
Ngũ thập dư ngôn bất hủ văn. 五 十 餘 言不 朽 文
*Dịch:-
Hồng Vân quấn quít lấy Kim Đài.
Chân Nhân trên đó chính Lão quân.
Sách 81 chương truyền bí quyết,
Năm chục nghìn lời chẳng uổng phai.
*
Lục Kinh san định cổ văn chương, 六 經 刪 定 古 文 章
Thù, Tứ nguyên thâm, giáo trạch trường. 洙 泗 源 深 教 澤 長
Kế vãng khai lai tham Tạo Hoá, 繼 往 開 來 參 造 化
Đại thành chí thánh Văn Tuyên Vương. 大 成 至 聖 文 宣 王
*Dịch:-
Lục Kinh san định cổ văn chương,
Hai Sông Thù Tứ chảy miên trường.
Tham đạt Hoá Công, soi vạn Thế,
Đại thành chí thánh Văn Tuyên Vương.
————
大道說
庖羲上聖,畫八卦以示人,使萬世之下,知有養生之道。
廣成子謂黃帝曰:至陰肅肅,至陽赫赫。赫赫發乎 地,肅肅出乎天。我為汝遂於大明之上矣,至彼至陽之原也;為汝入於穹冥之門矣,至彼至陰之原也。
軒轅再拜曰:廣成子之謂天矣。
周公繇易曰:君子終日乾乾。
孔子翼曰:終日乾乾,反復道也。
夫道也者,位天地、育萬物,曰道;揭日月、生 五行,曰道;多於恒河沙數,曰道;孤則獨無一侶,曰道;直入鴻蒙而還歸溟滓,曰道;善集造化而頡超聖凡,曰道;目下機境未兆而突而靈通,曰道;眼前生殺分 明而無能逃避,曰道;處卑污而大尊貴,曰道;居幽暗而極高明,曰道;細人刹塵,曰道;大包天地,日道:從無入有,曰道;作佛成仙,曰道。佛經五千四十八 卷,也說不到了處;中庸三十三章,也說不到窮處;道德五千餘言,也說不到極處。道也者,果何謂也?一言以定之,曰炁也。
原夫一炁蟠 集,溟溟滓滓,窅窅莫測,氤氳活動,含靈至妙,是為太乙,是為未始之始。始也,是為道也,故曰無始。
夫天地之有始也,一炁動盪,虛 無開合,雌雄感召,黑白交凝,有無相射,混混沌沌,沖虛至聖,包元含靈,神明變化,恍惚立報,是為太易,是為有始之始。始也,是謂道生一也,是曰元始。
夫天地之太極也,一炁斯析,真宰自判,交映羅列,萬靈肅護,陰陽判分,是為太極,是謂一生二也,是曰虛黃。
陰陽既判,天地位焉, 人乃育焉,是謂二生三也,是曰混元。
陽之清者,升上而煥麗也,則日月星辰在焉。故天左運,三光右旋。陽之清者,騰上而會于陽也,故 風雲動而雷雨作焉。陰之濁者,重滯而就地也,則海嶽奠峙而五穀草木昌焉。故岩岫出雲,山澤通氣。陰陽之氣閉而不通也,則雪霜結而凍冰焉。陰之濁者,積冱而 下凝也,穴岩幽藏而深邃,故五穀八石以錯雜焉。天地之中,陰陽正氣之所交也,聖人焉,仙佛焉,庶民焉,賢愚壽夭,實所宰焉。胎卵濕化,無所息焉。是為六合 也,是謂三生萬物也。
人稟氤氳之氣而生,而長至於二八之年。則九三之陽乃純。當是時也,豈非上德之大人乎?忽天一朝,謀報渾敦之德 者至,乃日鑿一竅,則九三之陽,蹄驟奔蹶,而去之六二之中矣。由是乾不能純,而破於離;坤有所含,而實於坎。
若夫至聖神人,能知道 體太極之所以判,能知死生根本之所以始,能知乾坤陰陽之所以乘,能知天地玄牡之所以交,是以法乾坤之體,效坎離之用,振陰陽之柄,過生死之關,取坎中之 陽,填離中之陰,離陰既實,則複純白為乾矣。
斯時補足乾元,複全渾敦,以全親之所生,以全天之所賦,是為囫囫圇圇一個完人也。再加 向上功夫,精進不怠,則盆丹成而聖胎圓,聖胎圓而真人現。真人出現,變化無窮,隱顯莫測,而與鐘、呂、王、馬並駕,亦又何難?
ĐẠI ĐẠO THUYẾT
Thượng Thánh Bao Hi (Phục Hi) lập bát quái dạy người đạo Dưỡng Sinh.
Quảng Thành Tử nói với Hoàng đế: “Chí Âm lạnh lẽo, Chí Dương nóng nảy. Hàn lãnh sinh từ đất. Nóng nảy phát từ Trời. Ta giúp Ngài đạt cảnh giới Thái Dương, đạt tới căn nguyên của Chí Dương; giúp Ngài vào nơi tăm tối U Minh, đạt tới Căn nguyên của Chí Âm.” Hiên Viên (Hoàng Đế) tái bái và thưa: “Quảng Thành Tử thật thâm hiểu lẽ tự nhiên, thật là Trời vậy.”
Chu Công viết trong Hệ Từ: Quân Tử chung nhật kiền kiền. 君子終日乾乾
Khổng Tử viết trong Thập Dực:
Chung nhật Kiền kiền, phản phục Đạo dã. 終日乾乾, 反復道也
ĐẠO LÀ GÌ?
Đạo là cái gì Lập Thiên Địa, làm cho Trời đất được chính ngôi chính vị, làm cho muôn vật được dưỡng dục, cho mặt trời mặt trăng sáng láng, cho Ngũ Hành sinh hóa, đó là Đạo.
Nhiều thì vô số như cát sông Hằng, cô đơn thì không có ai làm bạn lữ. Đó là Đạo. Nhập vào Hồng Mông rồi lại trở về Minh Tể, đó là Đạo.
Làm mọi việc của Hóa Công nhưng cũng siêu phàm nhập thánh được. Đó là Đạo.
Trước mắt tình hình chưa rõ, mà đột nhiên Linh thông được. Đó là Đạo. Trước mắt thấy chết, không sao thoát được. Đó là đạo.
Ở nơi thấp hèn, đê tiện nhưng vẫn đại tôn quí, đó là Đạo. Ở nơi u minh, vẫn cực cao minh, đó là Đạo. Nhỏ chui lòng bụi, lớn trùm trời đất, đó là Đạo. Từ Vô nhập Hữu, là Đạo. Tác phật, thành Tiên đó là Đạo.
ĐẠO SINH RA VẠN VẬT CÓ THỨ TỰ, TUẦN TIẾT
Truy tới bản nguyên, do một khí ngưng tập, hỗn hỗn mang mang, thâm thúy khôn lường, tương hỗ tác dụng mà hoạt động, hóa sinh, bao hàm vạn Linh, tận kì thần diệu. Đó là NGUYÊN KHÍ, đó là trạng thái của một vật bắt đầu khởi thủy. Đó là Đạo. Thế gọi là VÔ THỦY.
Khi trời đất bắt đầu, thì một khí động đãng, Hư Vô khai hợp, Sống Mái cảm chiêu, Hắc Bạch ngưng tụ, Hữu Vô hỗ tương tác dụng, hỗ tương chuyển hoán, đạm bạc hư tĩnh, chí thánh, chí thần, ảo diệu, linh thiêng, thần minh biến hóa. Giữa cái mơ màng hoảng hốt đó, sinh ra phép tắc tự nhiên cho vũ trụ. Đó gọi là THÁI DỊCH. Đó là CÁI BẮT ĐẦU. Thế gọi là Đạo sinh Nhất. Thế là NGUYÊN THỦY.
Bản Nguyên Trời – Đất là THÁI CỰC. Một khí chia hai. Thế là thế giới tự nhiên tùy tiện phân hóa. Phân thành ÂM – DƯƠNG. Thế là THÁI CỰC. Thế là Nhất sinh Nhị 一生二 . Thế là HƯ HOÀNG 虛皇.
Âm dương đã tách biệt, thế là có Trời – Đất, có con người. Thế là Nhị sinh Tam 二生三 . Thế là HỖN NGUYÊN 混元.
Khí Dương khinh thanh bay lên, sáng láng, rực rỡ, sinh ra Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần thì xoay phải.
Khí Dương trong sáng bay lên hợp với Trời. Cho nên có Phong, Vân, Lôi, Vũ.
Âm khí trọng trọc, ngưng trệ xuống đất, thành sông biển, thành núi non, thành ngũ cốc, thảo mộc tốt tươi.
Hang núi sinh mây, sơn trạch thông khí. Nếu Âm Dương bế kết không giao nhau thì có sương tuyết, và lạnh đóng thành băng. Âm khí trọng trọc sẽ ngưng đọng và ngưng tụ xuống dưới, sẽ đóng vào hang động, và ta có Ngũ cốc, Bát thạch. (Bát thạch là những chất Liệu Đơn gia dùng luyện đơn. Đó là: Đơn Sa, Hùng Hoàng, Thư Hoàng, Không Thành, Lưu Hoàng, Vân Mẫu, Nhung Diêm, Tiêu Thạch).
Trong cõi trời đất này, chính khí Âm Dương giao hoán sinh ra Thánh, Hiền, Tiên, Phật, thứ dân, hiền ngu, thọ yểu, các loài do Thai Noãn Thấp Hóa (như Người, Thú vật (thai), chim chóc, cá rùa (Noãn), các loài sâu bọ như trùng, yết (Thấp), hay tự nhiên xuất hiện như Chư Thiên, Địa ngục (Hóa)). Thế là tam sinh Vạn vật 三生萬物.
奈何 世人不明此道,盛不知養,衰不知救,日復一日,陽盡陰純,死而為鬼。故紫陽真人曰:嗟夫!人身難得,光陰易遷,罔測修短,安逃業報?不自及早省悟,唯只甘 分待終。若臨期一念有差,立墮三塗惡轍,則動經塵劫,無有出期。當此之時,雖悔何及?
故三教聖人,以性命學開方便門,教人熏修,以 脫生死。
儒家之教,教人順性命以還造化,其道公。
禪宗之教,教人幻性命以超大覺,其義高。
老氏之教,教人修性命而得長生,其旨切。
教雖分三,其道一也。
儒之聖教曰:安汝止,欽厥止,艮其止,止其 方,緝熙敬止,在止至善。黃中通理,正位居體,思不出位,立不易方,居天下之廣居,立天下之正位,行天下之大道。渾然在中,粹然至善。誠盡處腔子,裏樂處 方寸。神明之舍,道義之門,活潑潑地,樂在其中。肫肫其仁,淵淵其淵,浩浩其天,天下歸仁,退藏於密,保思何慮之天,不識不知之地。難以悉紀,要而言之, 無非為此性命之道也。
道之玄教曰:玄牝之門,天地之根,生身處,複命關,金丹之母,玄關之竅,凝結之所,呼吸之根。甲乙壇,戊己 門,心源性海,靈府靈台蓬萊島。朱砂鼎、偃月爐、神室,氣穴、土釜、穀神、靈根、把柄、坎離交媾之鄉,千變萬化之祖,生死不相關之地,鬼神覷不破之機。難 以悉紀,要而言之,無非為此性命之道也。
釋之禪教曰:不二法門、甚深法界、虛空藏、寂滅海、真實地、總持門。彼岸、淨土、真境心他 極樂國。如來藏、舍利子、菩薩地、光明藏、圓覺海、般若岸、法王城、西方、天堂、空中、真際、這個、三摩地、華藏海,陀羅尼門、不動道場、波羅蜜地,難以 悉紀。要而言之,無非為此性命之道也。
儒曰:存心養性。道曰:修心煉性。釋曰:明心見性。心性者,本體也。
懦之執中者,執此本體之中也。道之守中者,守此本體之中也。釋之空中者,本體之中本洞然而空也。
道之得一者,得此本體之一也。釋之 歸一者,歸此本體之一也。儒之一貫者,以此本體之一而貫之也。
餘於是而知:不執中、不一貫,其成聖而孔子乎?不守中,不得一,其能 玄而老子乎?不空中、不歸一,其能禪而釋迦乎?唯此本體。以其虛空無朕,強名曰中;以其霹出端倪,強名曰一。言而中即一之藏也,一即中之用也。
故天得此而天天,地得此而地地,人得此而人人。而天地人之大道,原於此也。
皇得此而皇皇,帝得此而地地,王得此而王王。而皇帝王 之大道,原於此也。
聖得此而聖聖,玄得此而玄玄,禪得此而禪禪。而聖玄禪之大道,原於此也。
帝皇之得道者, 若羲農、黃帝焉。仕隱而得道者,如老、莊、關令焉。侯王而得道者,若子房、淮南焉。山岩而得道者,若鐘、呂、希夷焉。
道之在天地 間,成仙作佛者,歷歷不可以指數也。伏睹總仙之傳,始知自古以來沖舉者十萬餘人,拔宅者八千餘處。奇若子晉之驂鸞、琴高之控鯉,壽若李脫之八百、安期之三 千。或住世而留形,或厭世而屍解。複有道成而隱,但為身謀,不肯遺名於世間者、豈勝道哉?是以深山妙窟,代不乏人,或隱或顯,寧具知乎?
古之王公大人,折節下士,只為有道存爾。周子曰:天地間,至尊者道,至貴者德,至難得者人。人而至難得者,道德有於身而已矣。
SỐNG TRONG ĐỜI, BẢN TÍNH TRỜI CHO ĐÃ MẤT SỰ TINH TOÀN, HOÀN THIỆN, CON NGƯỜI PHẢI BIẾT CÁCH TU SỬA LẠI CHUYỆN ĐÓ BẰNG PHƯƠNG PHÁP “THỦ KHẢM ĐIỀN LY”
Con người nhờ Âm Dương nhị khí hun đúc mà sinh trưởng. Khi tròn 16 tuổi, thì Cửu Tam chi Dương đã thuần, nên cũng sánh được với người Đại Nhân, Thượng Đức. Nhưng một ngày kia, con người càng ngày càng đục đẽo Thiên Chân, Hỗn độn, nên quẻ Kiền không còn tinh thuần, mà biến thành Ly có hào âm ở giữa, và quẻ Khôn cũng biến thành Khảm…
Chí thánh, Thần Nhân, hiểu biết lý do sa đọa của con người: sa đọa vì Kiền đã mất một hào dương và đã biến thành Ly, nên tìm ra cách Thủ Khảm Điền Ly, thay hào Âm quẻ Ly bằng hào Dương quẻ Khảm, cho Ly trở thành Thuần Kiền như cũ.
Thế là bổ túc được Kiền Nguyên, phục hoàn được Hỗn độn, làm toàn vẹn lại được bản tính phú bẩm của Trời, khiến con người trở nên hoàn toàn lại. Cứ thế mà tinh tiến, sẽ được Kim đơn, thành Thánh Thai, và Chân Nhân sẽ hiện, biến hóa vô cùng, ẩn hiện khôn lường, sánh vai cùng Hán Chung Ly, Lữ Động Tân, Vương Trùng Dương, Mã Đơn Dương có khó chi đâu?
Bởi người ta không biết đạo ấy, nên lúc Dương khí còn thịnh tráng thì không biết bảo dưỡng, khi Dương khí đã suy thì không biết cách bổ cứu. Ngày qua tháng lại, Dương khí tận kiệt, Âm khí thịnh mãn, chết đi thành quỷ. Cho nên Tử Dương Chân Nhân nói: “Thương thay! Thân người khó được, thời gian mau qua, không biết tu trì, làm sao thoát nghiệp báo. Nếu không sớm tỉnh ngộ, chỉ cam tâm chờ chết, lúc đó một niệm mà sai, thì sẽ nhập tam đồ, ác triệt (Tam Đồ là: Hỏa đồ, Huyết đồ, Đạo đồ hay Địa ngục đạo, Súc sinh đạo, Quỉ đạo). Giả như có kinh qua vạn thế, cũng không thể siêu thoát. Có hối cũng muộn.”
CON ĐƯỜNG TU TÌM HIỂU TÍNH MỆNH, TÌM HIỂU BẢN THỂ CON NGƯỜI
MÀ BẢN THỂ LÀ THÁI CỰC, LÀ TÂM TÍNH.
Cho nên Tam giáo thánh nhân lấy cái học Tính Mệnh dạy đời. Dạy người tu luyện để siêu xuất sinh tử.
Đạo Nho dạy Thuận Tính Mệnh để trở về với Tạo Hóa. Lý luận thế là đúng công đạo vậy.
Thiền tông dạy coi Tính Mệnh là hư ảo, để đạt Đại giác, Đại ngộ, nghĩa lý đó cũng cao diệu.
Lão Tử dạy: Tu Dưỡng Tính Mệnh để đạt Trường Sinh. Những lời lẽ đó thật thiết tha và hợp Nhân ý. Giáo tuy chia Ba, nhưng Đạo Lý là một vậy.
Nho giáo thánh nhân dậy: An nhữ chỉ, Khâm quyết chỉ, Cấn kỳ chỉ, Chỉ kỳ sở, Tập hi kính chỉ, Tại chỉ chí thiện; Hoàng Trung thông lý, Chính vị cư thể, Tư bất xuất vị; Lập bất dịch phương; Cư Thiên Hạ chi quảng cư; Lập Thiên hạ chi chính vị; Hành thiên hạ chi đại đạo, Hồn nhiên tại Trung; Túy nhiên chí thiện; Thành tận xứ xoang tử lý; Lạc xứ phương thốn; Thần Minh chi xá; Đạo nghĩa chi môn; Hoạt bát bát địa, Lạc tại kì trung; Chuân chuân kì Nhân, Uyên uyên kì Uyên; Hạo hạo kì Thiên; Thiên bất quí nhân; Thoái tàng vu mật; Hà tư hà lự chi Thiên; Bất thức bất tri chi địa,…
安汝止,钦厥止,艮其止,止其所,缉熙敬止,在止至善。黄中通理,正位居体, 思不出位,立不易方,居天下之广居,立天下之正位,行天下之大道。浑然在中, 粹然至善。诚尽处腔子里,乐处方寸。神明之舍,道义之门,活泼泼地,乐在其中。肫肫其仁,渊渊其渊,浩浩其天,天下归仁,退藏于密,何思何虑之天,不识不知之地…
Không thể kể xiết, tóm lại chẳng qua là dạy về: Tính Mệnh Chi Đạo .
Huyền giáo dạy: Huyền Tẫn chi môn, Thiên Địa chi căn; Sinh thân xứ; Phục mệnh Quan, Kim Đơn chi mẫu, Huyền Quan chi khiếu, Ngưng kết chi sở, Hô Hấp chi căn, Giáp Ất đàn, Mậu Kỷ môn, Tâm Nguyên, Tính Hải, Linh Phủ, Linh Đài, Bồng Lai đảo, Chu Sa đỉnh, Yển Nguyệt Lô, Thần Thất, Khí Huyệt, Thổ Phủ, Cốc Thần, Linh Căn, Bá Bính, Khảm Ly giao cấu chi hương, Thiên Biến Vạn Hóa chi tổ, Sinh Tử Bất tương quan chi địa, Quỉ Thần khuy bất phá chi cơ, không thể chép hết. Nói tóm lại, vẫn là bàn về Tính Mệnh Chi Đạo .
玄牝之门,天地之根,生身处,复命关,金丹之母,玄关之窍,凝结之所,呼吸之根。甲乙坛,戊己门,心源,性海,灵府,灵台,蓬莱岛。朱砂鼎、偃月炉、神室,气穴、土釜、谷神、灵根、把柄、坎离交媾之乡,千变万化之祖,生死不相关之地,鬼神觑不破之机。
Thiền giáo nói: Bất Nhị Pháp Môn, Thậm Thâm Pháp Giới, Hư Không Tạng, Tịch Diệt Hải, Chân Thật Địa, Tổng Trì Môn, Bỉ Ngạn, Tịnh Thổ, Chân Cảnh Tâm Địa, Cực Lạc Quốc, Như Lai Tạng, Xá Lợi Tử, Bồ Tát Địa, Quang Minh Tạng, Viên Giác Hải, Bát Nhã Ngạn, Pháp Vương Thành, Tây Phương, Thiên Đường, Không Trung, Chân Tế, Giá Cá, Tam Ma Địa, Hoa Tạng Hải, Đà La Ni Môn, Bất Động Đạo Tràng, Ba La Mật Địa…
不二法门、甚深法界、虚空藏、寂灭海、真实地、总持门。彼岸、净土、真境心他,极乐国。如来藏、舍利子、菩萨地、光明藏、圆觉海、般若岸、法王城、西方、天堂、空中、真际、这个、三摩地、华藏海,陀罗尼门、不动道场、波罗蜜地。
Không thể kể hết. Tóm lại cũng bàn về Tính Mệnh Chi Đạo .
Nho nói: Tồn Tâm dưỡng tánh, Đạo nói: Tu Tâm Luyện Tính, Thích nói: Minh Tâm kiến Tính, Tâm Tính chính là bản thể.
TU LÀ THỰC HIỆN HAI CHỮ TRUNG, NHẤT (THỦ TRUNG)
Nho nói: chấp trung 執中 là chấp cái Trung của bản thể. Đạo nói: thủ Trung 守中, là giữ cái Trung của bản thể. Thích nói: không trung 空中, nghĩa là trong bản thể vốn không có gì. Đạo nói Đắc Nhất 得一, là được cái Nhất của bản thể đó; Thích nói Qui Nhất 歸一, là quay về cái Nhất của bản thể đó; Nho nói Nhất Quán 一貫 là quán triệt cái Nhất của bản thể đó.
Chúng ta nhờ đó mà biết: Nếu chẳng Chấp Trung, chẳng Nhất quán, thì làm sao nên thánh được như Khổng Tử. Nếu chẳng Thủ Trung, chẳng Đắc Nhất thì làm sao mà Thông Huyền như Lão Tử; Nếu chẳng Không trung, quy nhất thì làm sao Thiền quán được để thành Như Lai?
Cũng là Một bản thể, nhưng thấy nó Hư Không Vô Trẫm thì cưỡng gọi là Trung; thấy nó hiện ra đầu mối thì cưỡng gọi là Nhất. Trung là kho chứa Nhất, Nhất là Dụng của Trung.
ĐẮC NHẤT
Cho nên Thiên được Nhất mà càng thêm cao đại, Địa được Nhất mà càng thêm rộng dày; Người được Nhất mà càng thêm hoàn mỹ; Hoàng được Nhất mà thêm vinh mỹ; Đế được Nhất mà càng nên thần thánh; Vương được Nhất mà càng nên hiền trí; Hoàng, Đế, Vương chi Đạo đều gốc ở đó. Nho Thánh được Đạo đó càng trở nên Linh chí; Đạo Huyền được đạo đó càng trở nên huyền ảo; Thiền được Đạo đó càng trở nên Tĩnh Tuệ. Thánh Huyền, Thiền chi đạo cũng gốc ở đó.
先 哲云:人身難得今已得,大道難明今已明。此身不向今生度,更向何生度此身?
世人不明此身虛幻,是四大假合之物耳。速如水上之漚,瞬若石中之火。人壽雖曰百年,迨其七十,固亦稀矣。
今以有限易摧之身,日逐 無涯不測之事。一息不來,倏然長往,命未告終,真靈已歿於別殼矣。當斯之時,雖榮居極品,祿享千鐘,家豐無價之珠,室富傾城之美,悉皆拋下,非已有也。所 有與于偕行者,平昔所作罪業而已。故曰:萬般將不去,唯有業隨身。
回光集雲:千年鐵樹開花易,一失人身再複難。
悟真篇雲:試問堆金等山嶽,無常買得不來麼?
呂純陽雲:萬劫千生得個人,須知前世種來因。速覺悟,出迷津,莫使輪回受苦辛。
張紫陽雲:休教燭被風吹滅,六道輪回莫怨天。
三夏斯語,能不恤然失乎?
夫人欲免輪回,而不墮於世綱者,莫 若修煉金丹,為升天之靈梯,超凡之徑路也。其道至簡至易,雖愚昧小人得而行之,亦立躋聖域。奈何世之修真者,志道而不專精,專精而不勤久,是以學者眾而成 者寡也。
尚書曰:知之非艱,行之唯艱。
道經曰:上士聞道,勤而行之。聞而不行,道安能成?
陳泥丸曰:我昔修行得真訣,晝夜功夫無斷絕。一朝行滿人不知,四面皆成夜光闕。
馬丹陽曰:師恩深重終難報,誓死環牆煉至真。
二公念生死事大,無常迅速,發勇猛心,辨精進力,若不立此大志,安能脫樊籠,而超霄漢者哉?
呂祖有雲:辛勤二三年,快活千萬劫。
蓋天有時而傾,地有時而陷,山有時而推,海有時而竭。唯道成之後,乘飛龍,駕紫霧,翱翔天外,逍遙虛空,數不得而限之,命不得而拘 之,真常本體,無有盡時,回顧世間之樂,何樂如之?
嘗稽道德經曰:雖珙壁以先駟馬,不如坐進此道。此予道之所由作也。
NHỮNG NGƯỜI ĐẮC ĐẠO XƯA NAY KHÔNG HIẾM.
Làm Hoàng, làm Đế mà đắc đạo thì có Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế. Ẩn cư mà đắc đạo thì có Lão Tử, Trang Tử, Quan Doãn; làm Vương hầu mà đắc đạo thì có Trương Lương, Hoài Nam; Ẩn cư sơn nham mà đắc đạo thì có Hán Chung Ly, Lữ Động Tân, Trần Đoàn.
Trong trời đất xưa nay, Tiên Phật nhiều vô số kể. Khảo sách vở thấy có hơn mười vạn người “bạch nhật thăng thiên”. Những người thành tiên đem cả gia quyến lên trời cũng có hơn 8 nghìn. Kì diệu hơn nữa: Tử Tấn cưỡi chim loan mà bay; Cầm Cao cưỡi cá chép chơi nơi vực thẳm; có người sống lâu như Lý Thoát hơn 800 tuổi, như An Kì Sinh 3.000 tuổi. Có người sống mãi trong dân gian; có người lịch thế rồi thì giải; có người đạo thành, thân thoái; tự lực cánh sinh, không lưu danh tại thế. Làm sao nói cho hết. Có những người sống trong thâm sơn, hang động. Những người thể ấy, thế gian chẳng có thiếu chi. Họ ẩn hiện khôn lường không sao biết hết được.
ĐỢI KIẾP NÀO MỚI TU?
Xưa nay vương công, đại phu biết khuất thân đãi sĩ. Làm được như vậy, chính vì họ thông hiểu lẽ đạo.
Chu Tử nói: Trong trời đất, chí tôn là Đạo, chí quý là Đức, nan đắc là người. Người sở dĩ khó được là vì phải gồm thâu đạo đức trong mình.
Tiên Triết nói:
Nhân thân nan đắc, kim dĩ đắc, 人身难得今已得,
Đại đạo nan minh, kim dĩ minh. 大道难明今已明。
Thử thân bất hướng kim sinh độ, 此身不向今生度,
Cánh hướng hà sinh độ thử thân? 更向何生度此身?
Thân người khó được, nay đã được,
Đại đạo khó hay, nay đã hay.
Thân này chẳng hướng kiếp này độ,
Đợi đến kiếp nào, mới độ đây?
Người đời không hiểu rõ thân này là hư ảo, đó chỉ là Tứ Đại Giả Hiệp mà thôi. Một kiếp người qua mau như bọt nước, như lửa xẹt trong đá, bừng lên rồi tắt ngay. Con người có thể sống tới trăm tuổi, nhưng sống tới 70 đã thấy hiếm.
Nay mọi người dùng cái thân dễ bị hư hoại của mình, để bôn ba tìm cầu những gì bất trắc. Một khi hết thở là chết mất luôn. Mệnh chưa cáo chung, mà Chân Linh đã đầu thai vào xác khác.
Trong khi đó tuy vinh hoa cực phẩm, lộc hưởng nghìn chung, nhà cửa khang trang mỹ lệ, đầy châu báu, ngọc ngà, cũng đều phải bỏ lại, đâu phải của ta. Chỉ còn có một cái đem theo được đó là tội nghiệp của ta. Cho nên nói: Cái gì cũng không đem theo được, chỉ có Nghiệp theo mình.
Hồi Quang Tập có câu:
Thiên niên thiết trụ hoa khai dị, 千年铁树花开易
Nhất thất nhân thân, tái phục nan. 一失人身再复难
Ngàn năm cây sắt nở hoa dễ,
Một thân đã mất, khó mà tìm.
Ngộ Chân Thiên có câu:
Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc 试问堆金等山岳
Vô thường mãi đắc bất lai ma? 无常买得不来么?
Bạc vàng ví chất cao như núi,
Nhưng quỷ Vô Thường mua nổi không?
Lữ Thuần Dương viết:
Vạn kiếp thiên sinh đắc cá nhân, 万劫千生得个人
Tu tri tiên thế chủng lai nhân. 须知先世种来因
Tức tốc giác ngộ, xuất mê tân, 即速觉悟出迷津
Mạc sử luân hồi thọ khổ tân. 莫使轮回受苦辛。
Muôn kiếp ngàn đời được cá nhân,
Mới hay kiếp trước đã gieo nhân,
Hãy thoát mê tân, mau giác ngộ
Tránh khỏi luân hồi, khỏi khổ tân.
Trương Tử Dương nói:
Hưu giáo chúc bị phong xuy diệt, 休教烛被风吹灭
Lục đạo luân hồi mạc oán thiên. 六道轮回莫怨天
Đuốc kia sao gió đừng thổi tắt,
Sáu nẻo Luân Hồi chớ trách Trời!
Nói đi, nói lại một điều làm cho mọi người, hãi kinh, thất sắc. Người muốn thoát khỏi luân hồi, chẳng rơi vào lưới đời, không gì bằng tu luyện Kim đơn, đó là Thang Linh bắc lên Trời; đó là đường tắt để thoát phàm. Đạo ấy rất là giản dị. Dẫu tiểu nhân ngu muội, biết được mà tu, cũng có thể thành chánh quả.
Nhiều bậc chân tu, tuy để tâm tu đạo nhưng chẳng chuyên tinh, hay chuyên tinh mà không bền vững, cho nên con người tu thì nhiều, mà người thành đạt thì ít.
Kinh Thư viết: “Biết không khó, mà hành mới khó” 非知之艰,行之惟艰.
Đạo đức kinh viết: “Thượng sĩ văn Đạo, Cần nhi hành chi” 上士闻道,勤而行之。Người thượng đẳng khi nghe biết Đạo. Liền ân cần tiết tháo khuôn theo. (ĐĐK, 41).
Chỉ nghe mà không hành, làm sao thành Đạo được.
Trần Nê Hoàn viết:
Ngã tích tu hành đắc chân quyết, 我昔修行得真诀
Trú dạ công phu vô đoạn tuyệt. 昼夜功夫无断绝。
Nhất chiêu hành mãn nhân bất tri, 一朝行满人不知,
Tứ diện giai thành dạ quang quyết. 四面皆成夜光阙。
Ta xưa tu hành được chân quyết,
Đêm ngày công phu, không đoạn tuyệt,
Một hôm hành mãn không ai biết
Chỉ thấy hào quang sáng tứ vi.
Mã Đơn Dương viết:
Sư ân thâm trọng chung nan báo, 师恩深重终难报
Thệ tử hoàn tường luyện Chí Chân. 誓死环墙炼至真。
Ơn thày sâu rộng sao đền đáp
Nguyện xin Diện Bích luyện Chí Chân.
Lữ tổ nói:
Tân cần nhị tam niên 辛勤二三年
Khoái hoạt thiên vạn kiếp 快活千万劫。
Khổ sở một vài năm
Sung sướng muôn vạn kiếp.
Trời có khi cũng bị nghiêng đổ, đất có khi cũng bị sụt tan; núi có khi cũng bị kiệt; biển có khi cũng bị cạn. Chỉ có tu thành đạt Đạo, mới có thể cưỡi gió, cưỡi rồng, cưỡi mây tím, ngao du ngoài trời, tiêu diêu nơi hư không. Vận số không hạn chế được ta. Chân thường bản thể ta sống lâu vô hạn; nhìn lại cái vui trần tục thì có gì gọi là vui?
Đạo Đức Kinh viết:
Cố lập thiên tử dĩ chí tam công, tuy hữu củng bích, dĩ tiên tứ mã, bất như tọa tiến thử Đạo. 故立天子以至三公, 虽有拱壁以先驷马,不如坐进此道
Cho nên đã tiếng vua quan,
Phải đâu rỡn ngọc, đùa vàng trêu ngươi.
Phải đâu tứ mã rong chơi,
Vua quan cốt để tiến Trời vào thân.
——————–
CHÚ GIẢI
[1] Đại cương trong đoạn này, Nho Giáo dạy: Phải biết ngừng nơi Chí Thiện; Đừng lo gì không thuộc phạm vi bổn phận mình. (Xem Đại Học 1; Kinh Dịch quẻ Cấn; Trung Dung, chương 14. v.v…)
Kẻ Trượng phu ở trong đức Nhân là chỗ rộng rãi nhất trong thiên hạ, đứng trên đức Lễ là chỗ đứng chính đáng nhất trong thiên hạ; noi theo đức Nghĩa là là con đường to lớn nhất trong thiên hạ. (Mạnh Tử, Đằng Văn Công Chương cú hạ, Tiết 2)
Hiền nhân thông lý Trung Hoàng,
Tìm nơi chính vị mà an thân mình,
Đẹp từ tâm khảm xuất sinh
Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều.
Phát ra sự nghiệp cao siêu,
Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.
Dịch Kinh, Văn Ngôn, hào Lục Ngũ quẻ Khôn.
Như vậy nghĩa là ta chỉ việc nghĩ đến những gì đẹp đẽ nhất trong con người, tìm cho ra Bản Thể con người, ngừng lại nơi Chí Thiện.
Các Danh Từ trên đều là tên của Huyền Quan Nhất Khiếu hay Nê Hoàn Cung. Tức là chỉ đề cập đến Thái Cực hay Bản Thể trong con người.
Các danh từ trên đều có nghĩa như là Cõi Phật hay Niết Bàn, hay Bản Thể.
Đạo Đức Kinh, ch. 62.
BẢN ĐỒ TU TIÊN–TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ–性 命 圭 旨
性命說
夫學之大,莫大於性命。性命之說,不明於世之久矣。
何謂 之性?元始真如,一靈炯炯是也。
何謂之命?先天至精,一氣 氤氳是也。
然有性,便有命;有命,便有性。性命原 不可分。但以其在天,則謂之命;在人,則謂之性。性命實非有兩。況性無命不立,命無性不存,而性命之理,又渾然合一者哉。
故易曰: 乾道變化,各正性命。中庸曰:天命之謂命。此之謂也。
乃玄門專以氣為命,以修命為宗,以水府求玄立教。故詳言命而略言性,是不知性 也,究亦不知命。
禪家專以神為性,以修性為宗,以離宮修定立教。故詳言性而略言命,是不知命也,究亦不知性。
豈知性命本不相離,道釋原無二致。神氣雖有二用,性命則當雙修也哉。
賢人之學,存心以養性,修身以立命。聖人之學,盡性而至命。
謂性者神之始,神本於性,而性則未始神,神所由以靈。命者氣之始,氣本於命,而命則未始氣,氣所由以生。
身 中之精,寂然不動。蓋剛健中正,純粹精者存,乃性之所寄也,為命之根矣。
心中之神,感而遂通。蓋喜、怒、哀、懼、愛、惡欲者存,乃 命之所寄也,為性之樞矣。
性而心也,而一神之中炯。命而身也,而一氣之周流。故身心,精神之舍也。而精神,性命之根也。
性之造化,系手心。命之造化,系乎身。見解知識,出於心哉。思慮念想,心役性也。舉動應酬,出於身哉。語默視聽,身累命也。
命有 身累,則有生死。性受心役,則有去來。有生死,不能至命也。有去來,不能盡性也。
故盈天地間,皆是生氣,參贊兩間,化育萬物。其命 之流行,而不息者乎?蓋生之理,具於命也。盈天地間,皆是靈覺,明光上下,照臨日月。未始性,而能性我之性者,性之始也。未始命,而能命我之命者,命之始 也。
天竅圓而藏性,地竅方而藏命。稟虛靈以成性,中天地以立命。性成命立,其中有神。命蒂元氣,性根元神。潛神於心,聚氣於身。其 中有道。
性有氣質之性,有天賦之性;命有分定之命,有形氣之命。
君子修天賦之性,克氣質之性;修形氣之命, 付分定之命。分言之,則二;合言之,則一。其中有理。
TÍNH MỆNH THUYẾT
Ở đời, không học gì hơn là học về Tính mệnh. Nay người đời ít ai hiểu về Tính Mệnh
Tính là gì? Tính là NGUYÊN THỦY CHÂN NHƯ. Một điểm minh Linh của Tiên Thiên.
Mệnh là gì? Mệnh là một Khí chí tinh, chí thuần của Tiên Thiên.
Nhưng có Tính là có Mệnh. Có Mệnh là có Tính. Ở nơi Trời thì gọi là Mệnh; ở nơi người thì gọi là Tính. Tính và Mệnh không phải là hai. Thực sự, Tính mà không có Mệnh, thì không thể thành lập. Mệnh mà không có Tính thì không thể tồn tại. Tính Mệnh hỗn nhiên hợp nhất, và quan hệ với nhau.
Kinh Dịch viết:-
Kiền Đạo biến hóa các chính Tính Mệnh.
乾道變化各正性命
Cơ Trời biến hóa vần xoay,
Làm cho vạn vật thêm hay, thêm tình.
Kiện toàn Tính Mệnh của mình,
Giữ gìn toàn vẹn Tính lành Trời cho.
(Quẻ Kiền, Thoán truyện).
Trung Dung viết: Thiên Mệnh chi vị Tính 天命之謂性
Cả hai có cùng một ý nghĩa.
Huyền Môn Đạo gia cho rằng Mệnh là Khí. Lấy Dưỡng Mệnh làm tông chỉ. Thông qua Luyện Dưỡng Đơn Điền để cầu huyền, lập giáo. Cho nên nói rõ về Mệnh mà bàn sơ về Tính. Do đó mà chẳng biết Tính. Cuối cùng cũng không biết Mệnh.
Thiền gia cho rằng Thần là Tính. Lấy Dưỡng Tính làm tông chỉ. Lấy Ly cung để tu luyện lập giáo (dạy dân bài trừ tạp niệm, và tu Định, nhập Tĩnh), nên bàn nhiều về Tính mà nói sơ về Mệnh. Như vậy là không biết về Mệnh, cuối cùng cũng không biết về Tính. Có hay đâu Tính Mệnh không hề rời nhau. Thích – Đạo vốn không hai nẻo. Thần Khí tuy có hai công dụng, nhưng Tính Mệnh cần phải song tu, cần phải tu luyện đồng thời.
Cái học của hiền nhân là: Tồn Tâm để Dưỡng Tính, Tu Thân để lập Mệnh.
Cái học của Thánh nhân là: Tận Tính để Chí Mệnh. Gọi Tính là khai thủy của Thần. Tính là Thần chưa bắt đầu, nên Thần nhờ đó mà Linh. Mệnh là khai thủy của Khí. Khí gốc ở Mệnh. Mệnh là Khí chưa sinh. Khí do đó mà sinh ra. Tính trong thân người tịch nhiên bất động, vốn cương kiện trung chính, thuần túy. Tính này là nơi nương tựa của Khí. Tính cũng nương nhờ vào đó, và là căn bản cho Mệnh.
Thần trong tâm người nhờ cảm ứng mà thông linh. Ai cụ hỉ nộ ái ố dục là thất tình. Mệnh phải y cứ vào đó, và Tính phải lấy đó làm khu cơ.
Khi Tính chuyển hóa thành Tâm, thì Nguyên Thần từ trong tác dụng, khi Mệnh chuyển hóa thành Thân, thì Nguyên Khí từ trong vận động, cho nên Thân Tâm là sở cư của Tinh Thần mà Tinh Thần là căn bản của Tính Mệnh.
Tính mà hóa dục, biến thiên được là theo khẩu quyết của Tâm; Mệnh mà hóa dục biến thiên được là theo khẩu quyết của Thân.
Kiến giải, tri thức do Tâm mà ra. Tư lự niệm tưởng là do Tâm sai khiến Tính.
Cử động, ứng thù, xuất phát từ Thân. Ngữ mặc, thị thính, do Thân lụy Mệnh.
Mệnh bị Thân khiên lụy, nên có sinh tử; Tính bị Tâm sai sử nên không Khứ Lai.
Có sinh tử thì không Chí Mệnh được. Có Khứ Lai thì không Tận Tính được.
Cho nên đầy rẫy trong Trời Đất đều là Sinh Khí. Tham gia phụ giúp hai bên, hóa dục vạn vật. Đó là Mệnh lưu hành không ngừng nghỉ.
Cho nên đầy rẫy trong Trời Đất là Linh Giác. Hai vầng Nhật nguyệt sáng soi, đều là cái Tính rực rỡ đó. Linh giác vốn gốc ở Tính, khi chưa có Tính, thì Tính ta đã có. Đó là Tính bắt đầu. Khi chưa có Mệnh thì Mệnh ta đã có. Đó là Mệnh bắt đầu.
Thiên khiếu tròn mà tăng Tính. Địa khiếu vuông mà tăng Mệnh. Bẩm hư Linh mà thành Tính. Trung thiên địa mà lập Mệnh. Trong đó có Thần.
Thần tàng ở mũi, Mệnh nơi có Đan Điền. Thần tiềm phục ở Tâm, khí tụ kết ở Thân.
Mệnh gốc nơi Nguyên khí, Tính gốc nơi Nguyên Thần.
Tính có Khí Chất chi tính (Tính phàm phu), có Thiên phú chi tính (Tính Trời). (Khí chất chi tính là Hậu Thiên chi Tính, Thiên phú chi Tính là Tiên Thiên chi Tính).
Mệnh có phân định chi Mệnh, Hình khí chi Mệnh.
君子修天賦之性,克氣質之性;修形氣之命, 付分定之命。分言之,則二;合言之,則一。其中有理。
是以神不離氣,氣不離神,吾身之神氣合,而後吾身之性命見矣。性不離命,命不 離性,吾身之性命合,而後吾身未始性之性、未始命之命見矣。未始性之性、未始命之命,是吾之真性命也。我之真性命,即天地之真性命,亦即虛空之真性命也。
故聖賢持戒定慧而虛其心,煉精氣神而保其身。身保則命基永固,心虛則性體常明。性常明則無來無去,命永固則何死何生。況死而去者, 僅僅形骸耳。而我之真性命,則通晝夜、配天地,徹古今者,何嘗少有泯滅也哉。
嘗觀之草木焉,歸根複命,而性在其中矣。性而神也,則 花。花而實也,而命又在其中矣。自形中之神,以入神中之性,此之謂歸根複命。
又嘗譬之男女媾精焉,而一點之善,落於子宮者,氣合之 而為命也,而性即存於其間。其即一陰一陽之相搏,而一點落于黃中之中以成性。乃妙合而凝,不測之神乎?此之謂性命妙合。
奈妙合之道 不明,修世者遺命,且並率性之竅妙,不得而知之,矧能煉之乎?非流於狂蕩,則失於空寂,不知其命,末後何歸。修命者遺性,且並造命之功夫,不得而知之,知 能守之乎?
非執於有作,則失于無為。不知其性,劫運何逃?即二氏之初,亦豈如是乎?
吾聞釋迦生於西方,亦得 金丹之道,是性命兼修,為最上乘法,號曰金仙。
呂祖亦曰:只知性,不知命,此是修行第一病。只修祖性不修丹,萬劫陰靈難入聖。
豈但如今之導引者流,而以形骸為性命焉已哉。又豈但如今煉神煉氣者流,而以神氣為性命焉己哉。又豈但如今修性修命者流,而以性命為性命焉己哉。是皆不唯 無益於性命,而且有害於性命。不得性命之真,良可歎也。
故嘗論之,人在母腹,呼吸相會,是以母之性命為性命,而非自為性命。至於出 胞斷蒂,而後自為性命,然亦非真常之性命也。必於自為性命中,而養成乾元面目,露出一點真靈。
形依形,形不壞;神依性,神不滅。知 性而盡性,盡性而至命。乃所謂虛空本體,無有盡時。天地有壞,這個不壞,而能重立性命,再造乾坤者也。
故道家不知此,則謂之傍門; 釋氏不知此,則謂之外道,又焉能合天地之德,而與太虛同體哉?噫!至此而性命之說,無餘旨矣。
Người quân tử tu Tính Thiên Phú, khắc chế Tính Khí Chất. Tu mệnh Hình Khí mà khắc chế hậu thiên Phân Định chi Mệnh. Phân ra mà nói thì là hai, hợp lại mà nói thì là một. Nghĩa là Thần không lìa Khí. Khí không lìa Thần. Trong thân ta, nếu thần khí tương hợp thì Tính Mệnh trong ta sẽ thấy được.
Tính không lìa Mệnh, Mệnh không lìa Tính: Tính Mệnh trong thân ta mà tương hợp, thì cái Tính Tiên thiên của ta và cái Mệnh Tiên Thiên của ta sẽ thấy đuợc.
Tiên Thiên Tính và Tiên Thiên Mệnh là Chân Tính Chân Mệnh của ta. Chân Tính mệnh của ta là chân tính mệnh của trời đất, là chân tính mệnh của Hư không.
Nên thánh nhân tu trì Giới, Định, Tuệ để Hư Tâm, luyện Tinh, Khí Thần để Bảo thân. Thân bảo thì nền tảng của mệnh sẽ vững vàng, Hư tâm thì tính thể sẽ luôn sáng. Tính mà luôn sáng thì làm gì có Khứ Lai, Mệnh mà vững vàng thì làm gì có sinh tử? Cho nên chết đi là chết cái hình hài. Còn Chân Tính Mệnh của ta thì thông ngày đêm, phối Thiên địa, triệt cổ kim có bao giờ mất mát, tiêu diệt được?
Kìa xem cỏ cây, thấy chúng cũng Qui Căn Phục Mệnh: Tính là thần, cho nên sinh hoa, kết quả và Mệnh cũng ở trong đó. Thần trong Hình, nhập vào Thần trong Tính, nên gọi là Qui Căn Phản Bản.
Lại thường ví như nam nữ cấu tinh: nhất điểm nam tinh, lọt vào tử cung, hợp với Khí mà thành Mệnh, mà Tính của nó cũng ở trong đó. Thế là một âm một dương tương bác, mà một điểm rơi vào Huỳnh Trung (Đan Điền) mà sinh ra Tính, bèn diệu hợp mà ngưng, đó là Bất Trắc chi vị Thần. Đó là Tính Mệnh Diệu hợp.
Bởi người không biết nhẽ Diệu hợp, cho nên tu Tính mà không tu Mệnh. Cái phép Diệu hợp tinh túy thần diệu ấy mà không biết, lại không biết thế nào là Suất Tính khiếu diệu, thì làm sao mà tu luyện? Nếu không trôi theo cuồng đãng, thì cũng mất vào không tịch. Không biết Mệnh, cuối cùng đi về đâu?
Tu Mệnh bỏ Tính, không biết Tạo Mệnh công phu là thế nào thì làm sao mà trì thủ?
Nếu không chấp vào hữu tác, thì cũng mất trong Vô vi. Không biết Tính, không tránh được vận số. Cuối cùng chẳng biết Tính Mệnh mình ra sao.
Ta nghe Đức Thích Ca sinh tại Tây Phương cũng biết Đạo Kim Đơn. Đó là Tính Mệnh song tu. Đó là phương pháp tối thượng thừa. Đó là Kim Tiên.
Lữ Tổ cũng nói: “Chỉ tri Tính, bất tri Mệnh, Thử thị tu hành đệ nhất bệnh. Chỉ tu tổ Tính bất tu Đơn, Vạn kiếp âm Linh nan nhập thánh.” 只知性,不知命,此是修行第一病,只修祖性不修丹,萬劫陰靈難入聖. (Chỉ biết Tính không biết mệnh, đó là tu hành đệ nhất bệnh. Chỉ tu tổ Tính chẳng tu Đơn, vạn kiếp âm hồn khó nhập thánh.)
Đâu phải như bọn Đạo Dẫn chỉ biết vận động thân thể, nên lấy Hình hài làm Tính Mệnh. Đâu phải như nay, có nhóm luyện thần, luyện khí, lấy Thần khí làm Tính Mệnh, cũng có số người tu Tính, tu Mệnh, coi Hậu Thiên Tính mệnh như Tiên Thiên tính mệnh. Những người làm vậy, chẳng những vô ích cho Tính mệnh mà còn làm hại Tính mệnh. Không biết được Chân Tính mệnh, thật đáng thương.
Có kẻ luận rằng: Thai nhi trong bụng mẹ; hô hấp phối hợp với mẹ, cho nên tính mệnh của mẹ là Tính mệnh của mình. Khi ra khỏi bụng mẹ, khi đã cắt rốn mới có Tính Mệnh riêng. Nhưng đó cũng không phải là Tính Mệnh Chân Thường của chúng ta. Chúng ta phải từ trong Tính Mệnh ấy luyện thành Kiền Nguyên Diện Mục của mình, lộ xuất ra được điểm Chân Linh của mình. Nghĩa là Tâm ta phải biết dùng cái Tính Mệnh Vô Vi sẵn có trong mình, luyện dưỡng thành Kim đơn, làm lộ xuất ra được điểm Chân linh chi khí.
Hình y thần, thì Hình không bị hoại, Thần y Tính thì Thần bất hoại. Thể ngộ được Tính, lại biết Tận Tính Chí Mệnh, thì sẽ đạt được Hư Không Bản Thể sẽ vĩnh cửu, trường sinh vô tận. Trời đất có hoại, nếu trùng lập được Tính Mệnh sẽ tái tạo được Kiền Khôn. Đạo gia không biết cái đó là Bàng Môn. Thích gia không biết đạo lý này thì là Ngoại Đạo, làm sao họp được với Thiên địa chi đức, đồng thể được với Thái Hư? Bàn về Tính Mệnh như vậy có thể gọi là đầy đủ.
死 生說
大眾好生惡死,以莫識死生故。生從何來,死從何去。徒在生前,賓士謀作,致大虧生道,不得逍遙。故於死後,渺茫 淪落,不戡破死門,竟墮輪轉。
所以仙佛出世,汲汲以一大事因緣,使人知去來處,徐徐引出生死苦海。易系曰:原 始要終。故知死生之說,蓋無始之始,強名乾元,即本來妙覺;無終之終,強名道岸,即無餘涅槃。
生而生也,而其所以生者,固在於此; 至死而死也,而其所以不死者,亦在於此。此而不知,則未有不隨生而存,隨死而亡者,沉溺惡道,出沒無期。
生則是第八識神阿賴耶主 之,死亦是第八識神阿賴耶主之。投胎則此識先來,捨身則此識後去。故曰:去後來先作主公。經頌曰:善業從下冷,惡業從上冷,二皆至於心,一處同時舍。當此 之際,如生龜解殼,活蟹落湯,地水火風,各自分散。
而神既離形,但看世界,與潑墨相似,東西莫辨,上下不知。只見有緣之處,一點妄 明。見明色,發明見,想成流,愛為種。納想為胎,入母中官,稟氣受質。氣則頓具四大,漸成諸根,心則頓具四蘊,漸成諸識。
十月胎完, 及期而育,地覆天翻,人驚胞破,如行山巔蹶什之狀。頭懸足撐而出。囫圇一聲,天命真元,著于祖竅。晝居二目,而藏於泥丸;夜潛兩腎,而蓄於丹鼎。乳以養其 五臟,氣 則沖乎六腑。骨弱如綿,肉滑如飴,精之至也;視而不瞬,哮而不嘎,和之至也。此乃赤於混沌,純靜無知,屬陰坤卦。
自一歲至 三歲,長元氣 六十四銖,一陽生乎複卦。
至五歲,又長元氣 六十四銖,二陽生乎臨卦。
至八歲,又長元氣 六十四 銖,三陽生手泰卦。
至十歲,又長元氣 六十四銖,四陽生手大壯。
至十三歲,又長元氣 六十四銖,五陽生乎夬卦。
至十六歲,又長元氣 六十四銖,六陽是為乾卦。
盜天地三百六十銖之正氣 ,原父母二十四銖之祖氣 ,共得三百八十 四銖,以全周天之造化,而為一斤之數也。
此時,純陽既備,微陰未萌,精氣 充實,如得師指,修煉性命,立可成功矣。
自此以後,欲情一動,元氣 即泄,不知禁懇,貪戀無已。故由十六至二十四歲,耗元氣 六十四銖,應乎姤卦。一陰初生,品物咸章,淳澆樸散,去本雖未遠,愎霜 之戒,己見於初,又若勤修煉,可謂不遠複者矣。
至三十二歲,耗元氣 六十四銖,應乎遁卦。二陰浸長,陽德漸消,欲慮蜂起,真源流蕩, 然而血氣方剛,志力果敢,若勤修煉,則建立丹基,亦易為力。
至四十歲,又耗元氣 六十四銖,應乎否卦。天地不交,二氣各複其所,陰用 事于內,陽失位於外,若勤修煉,則危者可安,亡者可保。
至四十八歲,又耗元氣 六十四銖,應乎觀卦。二陽在外,而陽德微,重陰上行, 而陰氣盛,若勤修煉,則可抑方盛之陰柔,扶向微之陽德。
至五十六歲,又耗元氣 六十四銖,應乎剝卦。五陰並升乎上,一陽將反乎下,陰 氣橫潰,陽力僅存,若勤修煉,如續火於將窮之木,布雨於垂槁之苗。
至六十四歲,卦氣 已周,所得天地父母之元氣 三百八十四銖、而為一 斤之數者,耗散已盡,複返於坤。純陰用事,陽氣未萌,若勤修煉,時時采藥,時時栽接,則陰極而能生陽,窮上而能反下,革柔為剛,還老為強矣。
於此時不遇至人,汲汲修煉,雖保餘年,皆籍穀精以培後天之精氣,無複有先天之元氣 矣,安能長生不死哉?
TỬ SINH THUYẾT
Đại chúng đều thích sống sợ chết, do đó nên không biết lý do sinh tử. Không biết Sinh từ đâu lại, chết đi về đâu. Trong hiện kiếp thì mải mưu cầu danh lợi, làm suy vi Sinh đạo, không được tiêu diêu. Khi chết rồi tâm hồn mang nhiên luân lạc, hoặc đọa nhập Luân Hồi, không biết chết là thế nào. Cho nên bị luân chuyển.
Vì lẽ đó nên Tiên Phật ra đời, dạy người đại sự nhân duyên, dạy biết chỗ khứ lai, và từ từ dẫn họ ra ngoài Khổ Hải Tử Sinh. Dịch Hệ Từ viết: Nguyên Thủy, Yếu Chung (dò xem đâu là Đầu, Đoán xem đâu là Cuối).
Biết được sinh tử là: Đầu hết khi chưa có Trời đất thì gượng kêu là Kiền Nguyên, đó là Bản Lai Diệu Giác. Đến lúc chung cuộc thì gượng kêu là Đạo Ngạn hay Vô dư Niết bàn.
Sinh là sinh ra và cái Lý phải sinh là do ở đó (Kiền Nguyên). Đến chết là chết, và cái Lý phải chết cũng là do ở đó. (Đạo Ngạn, Vô Dư Niết Bàn).
Như không biết đạo Lý này, thì không thể đạt được vĩnh hằng (hằng cửu), mà chỉ có thể nhân sống mà còn, nhân chết mà mất, trầm nịch vào ác đạo, mất còn không hẹn.
Lúc sinh ra, thì Thức Thần thứ tám là A Lại Gia làm chủ. Khi chết Thức Thần này cũng làm chủ . Cho nên nói: Khứ hậu lai tiên tác Chủ Công.
Kinh phật cho rằng: Kẻ có Thiện nghiệp thì khi chết sẽ lạnh từ dưới lên, kẻ ác nghiệp sẽ lạnh từ trên xuống. Bất kể lạnh từ đâu tới, cũng sẽ kết thúc nơi tim và hình thể sẽ bị diệt.
Lúc bấy giờ như rùa sống cởi mai, như cua bị luộc nước sôi, cái đã sinh thành ra hình thể của ta, là Thổ, Thủy, Phong, Hỏa sẽ phân tán và Thần sẽ ly Hình.
Và Thế giới này cũng tương tự như bức tranh thủy mặc, không biết đâu là Đông, Tây, trên dưới. Hốt nhiên thấy chỗ hữu duyên, một điểm sáng của Hư Vọng bất thực. Từ đó sắc dục sinh ra, sự giao cấu thành hình, tinh dịch trở thành chủng tử, biến ý tượng giao cấu thành thai noãn, mà nhập vào trong tử cung người mẹ. Ở đó hấp thụ được Tiên Thiên Khí Chất của mẹ. Khi đó sớm gồm tứ đại, rồi sinh ra chư căn (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý). Tâm ta cũng sớm gồm đủ bộ Ngũ Uẩn (Sắc uẩn, Thụ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn) và các loại cảm giác, tri giác, ý thức tư duy.
Mười tháng thai hoàn, đến ngày sinh dục, tựa như đất lật, trời nghiêng, người kinh sợ thì bào thai vỡ ra, như người leo núi, trượt chân, đầu xuôi xuống, chân treo lên mà ra đời.
La lên một tiếng, thì Thiên Mệnh Chân Nguyên nhập vào Tổ Khiếu. Ngày thì ở hai mắt và tàng ẩn ở Nê Hoàn. Đêm thì chìm vào giữa hai quả thận, và chứa ở Đơn Đỉnh. Bú sữa để nuôi ngũ tạng, còn khí thì xung khắp lục phủ. Da thịt mềm như lụa, trông mà mắt không nháy, khóc mà tiếng chẳng khan. Thế là hết sức Trung hòa vậy. Đó là Xích Tử hỗn độn, thuần tĩnh vô tri. Thuộc quẻ Khôn thuần Âm.
Từ một tuổi tới ba tuổi, Nguyên khí lớn lên 64 Thù (24 thù là 1 lạng), một Dương sinh nơi quẻ Phục.
Đến 5 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Hai dương sinh nơi quẻ Lâm.
Đến 8 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Ba dương sinh nơi quẻ Thái.
Đến 10 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Bốn dương sinh nơi quẻ Đại Tráng.
Đến 13 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, Năm dương sinh nơi quẻ Quải.
Đến 16 tuổi, Nguyên Khí lại lớn thêm 64 thù, sáu dương sinh nơi quẻ Kiền.
Trộm Chính Khí của trời đất là 360 thù. Cùng với 24 thù nơi Tổ khí của bố mẹ là 384 thù, để toàn vẹn Chu Thiên của tạo hóa, mà làm đúng một cân.
Đến đây thì khí Thuần Dương đã đủ, khí Vi Âm chưa manh nha, tinh khí sung thực. Nếu như gặp chân sư về phương diện tu tính luyện mệnh thì chắc chắn sẽ thành công.
Từ đó về sau, dục tình nhất động, Nguyên khí phát tán, không biết kiêng kị, tham luyến không ngừng. Cho nên từ 16 đến 24 tuổi, hao tổn Nguyên khí 64 thù, ứng vào quẻ Cấu. Một âm mới sinh, phẩm vật hàm chương, tính thuần hậu phát tán mất. Lúc ấy, lìa gốc chưa xa, như vừa dẵm vào sương của hào sơ. (Lý sương, Kiên băng chí, Khôn, hào sơ lục), nếu siêng năng tu luyện có thể Bất viễn mà trở về (Bất viễn Phục, vô kì hối. Phục, sơ cửu).
Đến 32 tuổi, lại hao thêm Nguyên Khí mất 64 thù nữa, ứng vào quẻ Độn. Hai Âm dần lớn, Dương đức dần tiêu. Dục tình và tư lự như bày ong vỡ tổ, Chân Nguyên bị lưu đãng. Nhưng lúc ấy khí huyết còn phương cương, chí lực còn quả cảm, nếu chuyên cần tu luyện, thì công phu kiến lập Đơn Cơ cũng dễ.
Đến 40 tuổi, Nguyên khí lại hao thêm mất 64 thù, ứng vào quẻ Bĩ. Thiên địa bất giao, Nhị Khí các phục kì sở. Âm dụng sự bên trong, Dương làm khách nên bị đẩy ra bên ngoài. Nếu chịu tu luyện, thì Nguy vẫn trở thành An, Vong cơ vẫn có thể bảo tồn.
Đến 48 tuổi, Nguyên khí lại bị hao tổn thêm mất 64 thù, ứng vào quẻ Quán. Hai hào Âm ở bên ngoài cho nên Dương đức yếu. Âm bay lên trên và Âm khí thịnh. Nếu chịu tu luyện, cũng có thể ức chế được Âm khí mới thịnh mà phò trợ được Dương đức vừa suy vi.
Đến 56 tuổi, lại hao thêm 64 thù vào quẻ Bác. 5 Âm bay lên trên, một Dương muốn trở xuống dưới. Âm khí mạnh như đê muốn vỡ tung. Lúc ấy muốn tu, như tiếp cho lửa sắp tắt, như mưa tưới cho lúa non mới héo.
Đến 64 tuổi, quải khí đã di châu khắp mọi nơi. Nguyên Khí Trời đất cho cha mẹ là 384 thù vừa đúng một cân, hao tán đã tận, ứng vào quẻ khôn. Khôn là thuần Âm dụng sự, Dương khí chưa manh nha. Nếu siêng tu luyện thời thời tái bồi, tiếp ứng, thì Âm cực cũng có thể sinh Dương, lên đến cùng sẽ đi xuống dưới, biến nhu thành cương, biến già thành khỏe trở lại. Lúc ấy mà không gặp bậc Chí Nhân, chăm chăm tu luyện, tuy có thể bảo vệ được cuộc đời tàn, nhưng chỉ có thể bồi bổ Tinh khí hậu thiên, không phục hồi được Tinh Khí Tiên Thiên thì làm sao mà trường sinh bất tử được.
此所以虛化神、神化氣 、氣 化血、血化形、形化嬰、嬰化童、童化少、少化壯、壯化老、老化死、死複化為虛、虛複化為神、神複化為氣、氣複化為物,化化不間,猶環之無窮。
夫方物非欲生,不得不生,萬物非欲死,不得不死。任他塵生塵滅,萬化萬生,不能脫離苦海,劫劫生生,輪回不絕,無終無始,如汲井輪。三界凡夫,無一不遭 此沉溺。
故世人莫知生從何來,蓋參父母未生前;死從何來,知來然後知生處。世人莫問死從何去,蓋參魂遊魄降後;生從何去,知去然後 知死處。死之機由於生,生之機原於死。無死機不死,無生機不生。生死之機兩相關,世人所以有生死,生死之機不相關,至人所以超生死。有生死者,身也;無生 死者,心也。敦複則心生,迷複則心死。則危者可安,亡者可保。
至四十八歲,又耗元氣 六十四銖,應乎觀卦。二陽在外,而陽德微,重陰 上行,而陰氣盛,若勤修煉,則可抑方盛之陰柔,扶向微之陽德。
至五十六歲,又耗元氣 六十四銖,應乎剝卦。五陰並升乎上,一陽將反乎 下,陰氣橫潰,陽力僅存,若勤修煉,如續火於將窮之木,布雨於垂槁之苗。
至六十四歲,卦氣 已周,所得天地父母之元氣 三百八十四銖、 而為一斤之數者,耗散已盡,複返於坤。純陰用事,陽氣未萌,若勤修煉,時時采藥,時時栽接,則陰極而能生陽,窮上而能反下,革柔為剛,還老為強矣。
於此時不遇至人,汲汲修煉,雖保餘年,皆籍穀精以培後天之精氣,無複有先天之元氣 矣,安能長生不死哉?
此所以虛化神、神化氣 、氣 化血、血化形、形化嬰、嬰化童、童化少、少化壯、壯化老、老化死、死複化為虛、虛複化為神、神複化為氣、氣複化為物,化化不間,猶環之無窮。
夫方物非欲生,不得不生,萬物非欲死,不得不死。任他塵生塵滅,萬化萬生,不能脫離苦海,劫劫生生,輪回不絕,無終無始,如汲井輪。三界凡夫,無一不遭 此沉溺。
故世人莫知生從何來,蓋參父母未生前;死從何來,知來然後知生處。世人莫問死從何去,蓋參魂遊魄降後;生從何去,知去然後 知死處。死之機由於生,生之機原於死。無死機不死,無生機不生。生死之機兩相關,世人所以有生死,生死之機不相關,至人所以超生死。有生死者,身也;無生 死者,心也。敦複則心生迷,迷複則心死。
故仙佛湣之,說一切眾生,具有本來一靈真覺,但昏惑不見,使天命之性,浪化遷流,轉轉不悟。 而世世墮落,失身於異類,透靈於別殼,至真性根,不復於人。
我當以聖道,令眾生永離妄想,能致自身如仙家之長生、佛氏之不死去。
Đó chính là Hư hóa Thần, Thần hóa Khí, Khí hóa Huyết, Huyết hóa Hình, Hình hóa Anh Nhi, Anh Nhi hóa Đồng, Đồng hóa Thiếu, Thiếu hóa Tráng, Tráng hóa Lão, Lão hóa Tử, Tử lại hóa thành Hư, Hư lại hóa thành Thần, Thần lại hóa thành Khí, Khí lại hóa thành Vật, hóa hóa không ngừng, như cái vòng vô cùng.
Vạn vật không muốn sinh mà phải sinh, không muốn chết mà phải chết. Mãi bị sinh diệt; vạn tử vạn sinh, không thoát ly được khổ hải. Kiếp kiếp sinh sinh, luân hồi bất tuyệt, vô chung vô thủy, như bánh xe nước. Tam giới phàm phu, không ai thoát sự trầm nịch này.
Vì người đời không biết sinh từ đâu tới, như vậy, sao không tham khảo xem trước khi cha mẹ sinh ra ta, thì đã chết từ đâu tới. Biết Tới là nơi ta sinh ra. Thế nhân cũng không biết chết đi về đâu. Sao không khảo xem khi hồn thăng phách giáng rồi thì Sinh đi đâu. Biết đi là biết nơi ta chết.
Mấu chốt của Tử là Sinh. Mấu chốt của Sinh là Tử. Cái Cơ sinh tử tương quan với nhau, vì thế mà thường nhân có sinh có tử. Cái Cơ sinh tử không tương quan với nhau, vì thế mà Thánh nhân siêu sinh tử.
Thân ta có sinh tử, Tâm ta vô sinh tử. Biết trở lại thì Tâm sinh. Không biết trở lại thì là Tâm tử.
Cho nên Tiên phật thương con người và dạy rằng: Nhất thiết chúng sinh đều có một điểm Bản Lai Nhất Linh Chân Giác, chỉ vì hôn mê nên chẳng thấy, khiến cho Thiên Mệnh chi Tính trôi nổi theo dòng nước. Chuyển qua nhiều kiếp không giác ngộ, đời đời bị đọa lạc, làm mất thân mình trong loài khác, gửi hồn qua loài khác. Cho nên Chí Chân Tính Căn, không thể trở lại làm người.
Ta nay lấy Thánh Đạo, khiến chúng sinh vĩnh ly vọng tưởng, để cho thân mình được Trường Sanh như Tiên gia, hay Bất Tử như Phật gia.
————-
CHÚ GIẢI :-
[1] A lại gia là Tinh thần Bản Nguyên và gồm chủng tử của các hiện tượng, khi đầu thai, thì A Lại Gia đến trứơc, khi chết thì A Lại Gia đi sau.
Xem quẻ Phục, Thoán truyện và hào 5, hào 6 quẻ Phục.
邪 正說
大道生天、生地,天地生人、生物。天、地、人、物一性同體。天有陰陽,地有剛柔,物有牝牡,人有男女。
有陰陽斯有日月星辰,有剛柔斯有山川草木,有牝牡斯有胎卵濕化,有男女斯有配偶生育。
眾生因配偶有淫欲,因生育有恩愛。有淫欲、恩 愛,故有魔障、煩惱。有魔障、煩惱,故有一切苦厄。有一切苦厄,故有生老病死。
是乙太上蘊好生之德,開度世之門,著經立法,教人返 樸還淳。無欲觀妙,有欲觀竅。致虛守靜,歸根複命。早複重積,深根妙蒂。得一守中,虛心實腹。弱志強骨,挫銳解紛,和光同塵。專氣致柔,抱一無離。知雄守 雌,知白守黑。閉門塞兌,被褐懷玉。窅窅冥冥,其精曰生,恍恍惚惚,其精不泄。日生則日長,不泄則不竭。精能化氣,氣能化神,神能還虛。五行不能盜,陰陽 不能制。與道為體,超出天地。此乃老子清靜無名之道也。
至漢魏伯陽真人禮金碧經而作參同契,始有龍鉛虎汞之名。愛及唐宋,諸仙疊 出,丹經燦然。橫說豎說,種種異名,載於丹書,不可勝數。究竟本來,無非吐露同出異名之一物耳。
蓋聖師闡教,敷楊備細詳說,實欲人 人領悟、個個成真,殊不知名愈深而事愈繁,書愈多而道愈晦。況多為庚辭隱語,孔竅其門,使學者無罅縫可入,往往目眩心搖,望溟之歎。
幸吾師尹真人出,欲續大道之一絲,以複無名之古教。於是剪除繁羌,撮其樞要,掃除譬喻,獨露真詮,標摘正理,按圖立象,不可施于筆者,筆之不可發於語 者。語之直指何者是鉛汞,何者是龍虎,何者是鼎爐,何者是藥物,何者謂之採取,何者謂之抽添,何者謂之溫養,何者謂之火候,何者是真種子,何者是真性命, 何者是結胎,何者是了當,歷歷發明,毫髮無隱。後之有志於道者,再不為丹經所惑也。
況丹經子書,汗牛充棟,講理者多,留訣者少。初 無下手入門,次無采藥結胎,末無極則歸著。後人不識次序,如何湊泊得來?不免有攙前越後之差,首顛尾倒之亂。學道一生,不得其門而入者多矣。間有入門者而 不知升階,有升階者而不知登堂,有登堂者而不知入室。是以次第工夫乃修真之首務,豈可缺焉?
CHÍNH TÀ THUYẾT
Đại đạo sinh Thiên địa, Thiên địa sinh Nhân, sinh Vật, Thiên Địa Nhân Vật Nhất Tính Đồng Thể.
Trời có Âm Dương, Đất có Cương Nhu, Vật có trống mái, Người có nam nữ. Có Âm dương mới có Nhật Nguyệt Tinh Thần. Có Cương nhu mới có Sơn Xuyên Thảo Mộc. Có trống mái mới có Thai, Noãn, Thấp, Hóa. Có nam nữ mới có phối ngẫu, sinh dục…
Chúng sinh nhân phối ngẫu nên có dâm dục, nhân sinh dục mà có ân ái. Có sinh dục, ân ái nên có ma chướng, phiền não, và vô số khổ ách. Có vô số khổ ách nên có luân hồi, sinh tử.
Vì thế nên Đức Thái Thượng vì có đức hiếu sinh, nên đã mở cửa độ đời, viết kinh, lập phép, dạy dân phản phác hoàn thuần, vô dục thì quán ở Diệu, hữu dục thì quán ở Kiếu (ĐĐK, 1), chí hư thủ tĩnh (ĐĐK, 16), qui căn phục mệnh (ĐĐK, 16), tảo phục trùng tích, thâm căn cố đế, đắc nhất thủ trung(ĐĐK, 5 và 39), hư tâm thực phúc (ĐĐK, 3) nhược chí cường cốt (ĐĐK, 3), tỏa nhuệ, giải phân (ĐĐK, 56), hòa quang đồng trần (ĐĐK, 4 và 56), chuyên khí trí nhu (ĐĐK, 10), bão nhất vô lý (ĐĐK, 10), tri hùng thủ thư (ĐĐK, 28), tri bạch thủ hắc (ĐĐK, 28), bế môn, tắc đoài (ĐĐK, 52 và 56), bị hạt hoài ngọc (ĐĐK, 70), yểu yểu minh minh. Tinh ngày một tăng, hoảng hoảng hốt hốt, Tinh không bị tiết. Tinh sinh thì càng ngày càng tăng trưởng, tinh không tiết thì không bao giờ kiệt. Tinh có thể hóa Khí, Khí có thể hóa Thần, Thần có thể hoàn Hư, Ngũ hành không trộm mất được, Âm dương không chế phục được. Cùng với Đạo hợp một thể, siêu xuất thiên địa. Đó là cái đạo Thanh Tĩnh Vô Vi của lão Tử.
Đến đời Hán, có Ngụy Bá Dương phỏng theo Kim Bích Kinh để soạn bộ Tham Đồng Khế. Bấy giờ mới có những danh từ Long Hổ, Diên Hống.
Đến đời Đường, nhiều Tiên ra đời, Đơn Kinh cũng được xuất bản, có những danh từ khác lạ ở nơi Đơn Kinh, nhiều không kể xiết. Nhưng xét cho cùng, những danh từ đó cũng chỉ một vật mà thôi.
Vì thánh Nhân phát triển giáo lý, thập phần tế mật, tường tận, chỉ muốn mọi người đều lãnh ngộ mà trở thành Chân. Ai ngờ tên càng nhiều, thì sự càng nhiều. Sách càng nhiều thì đạo càng tối. Lại còn nhiều bí từ, ẩn ngữ làm mất đường vào, khiến học giả cũng đành phải thở dài.
May thầy ta là Doãn Chân Nhân ra đời, tiếp nối hệ thống Đại Đạo, khôi phục lại Vô Danh chi cổ giáo. Sao đính lại cho giản dị, toát lược lại những gì cần yếu, bỏ đi những ẩn dụ tối tăm, để lộ ra Chân Đế, xiển dương Chính Lý, án đồ lập tượng, những gì người xưa không nói ra được thì Thầy nói ra, trực chỉ thế nào là Diên Hống (Nguyên thần, Nguyên khí), thế nào là Long Hổ (cũng là Nguyên thần, Nguyên khí), thế nào là Đỉnh Lô (Đan Điền), thế nào là Dược vật (dạy muốn luyện thành Nội đơn, phải chuẩn bị mọi yếu tố như cho Nguyên Thần, Nguyên Khí tụ họp nơi Đan Điền, rồi Tâm Tĩnh Nhập Định cho thai tức thành hình, v.v…), thế nào là Thái Thủ (đem Nguyên Thần, Nguyên Khí về kết luyện nội đơn), thế nào là Sưu Thiêm (Thân bất động, và Khí định thì là Sưu, Tâm bất động mà Thần định thì gọi là Thiêm), thế nào là Ôn dưỡng (Điều Lý Trung Hòa), thế nào là Hỏa hầu (tức là phải để tâm vào quá trình luyện công và phải biết điều tiết, không chế), thế nào là Chân Chủng Tử (chỉ Nguyên Thần, Nguyên khí kết ở Đơn Điền, chỉ cảm thấy mà không biết hình tượng), thế nào là Chân Tính Mệnh (chỉ kết quả tu luyện khi thành công rồi, lúc ấy Nguyên Thần từ trong ngực có thể ra ngoài, thành Tiên), thế nào là Kết thai (Chỉ khi kết thành nội đơn, người Tu Chân đạt được Tối cao cảnh giới), có thể Trường Sinh bất tử. Lúc ấy, Khí tức định tĩnh, bất xuất, bất nhập; Ý định Thần tĩnh, Tất Tâm không Hư), thế nào là Liễu Đáng (Chỉ Tu luyện Đơn công tối chung hoàn tất). Thảy đều phát minh, mảy lông không giấu. Sau này những người có chí học đạo sẽ không còn bị Đơn Kinh làm mê hoặc.
Lại nữa, Đơn Kinh, và sách của chư tử nay có đầy rẫy; giảng Lý thì nhiều, nhưng ít lưu khẩu quyết, mới đầu không biết đường vào, kế đến không biết thế nào là Thái dược kết thai (đem Nguyên Thần, Nguyên Khí về kết nội đơn); cuối cùng không biết thế nào là Chung Qui bản nguyên. Người học sau này không biết thứ tự tu luyện, thì làm sao mà cuối cùng được Ngưng Kết, Đơn Thành. Cho nên không sao tránh khỏi đảo điên thứ tự, lấy trước làm sau, lấy sau làm trước được.
Học đạo suốt đời, rất nhiều người không biết đường vào cửa Đạo, cũng có người vào được Đạo nhưng không biết đường tiến lên bệ, lên được bệ nhưng không biết vào nhà, vào được nhà nhưng không vào được buồng. Đó là thứ đệ của công phu, đó là việc đầu tiên của Tu Chân. Sao có thể thiếu được.
予最愛藏經中四句偈曰:
眾生無邊誓願度,
煩惱無邊誓願斷,
法門無量誓願學,
佛道 無上誓願成。
世尊亦曰:度盡眾生,然後作佛。區區由是,發一念慈悲,罄將師投秘訣徹底掀番,滿盤托出,籲徠後之有緣,複返天界而不沉溺於苦海中者。此予之 心也。
其一曰:涵養本原,救護命寶。
其二曰:安神祖竅,翕聚先天。
其三曰:蟄藏氣穴,眾妙歸根。
其四曰:天人合發,采藥歸壺。
其五曰:乾坤交媾,去礦留金。
其六曰:靈丹入鼎,長養聖胎。
其七曰:嬰兒現形,出離苦海。
其八曰:移神內院,端拱冥心。
其九曰:本體虛空,超出三界。
於中更有煉形、結胎、火候等諸心法,以全九轉還丹之功。
大道 口訣,至此吐露盡矣。今之道者,峨冠方袍,自足自滿,不肯低情下意,求師指授大道次第,惟只以盲弓盲,趨入旁蹊曲徑。豈知道法三千六百、大丹二十四品皆是 傍門,獨此金丹一道是條修行正路。除此以外,再無別途可以成仙作佛也。
故法華會上,世尊指曰:唯此一事實,餘二即非真。
尹真人曰:九十六種外道,三千六百傍門,任他一切皆幻,只我這些是真。
雲房真人曰:道法三千六百門,人人各執一苗根,誰知些子玄 關竅,不在三千六百門。
蓋玄夫大道,難遇易成而見功遲。傍門小術,易學難成而見效速。是以貪財好色之徒,往往迷而不悟。其中有好爐火 者,有好彼家者,有視頂門者,有守臍蒂者,有運雙睛者,有守印堂者,有摩臍輪者,有搖夾脊者,有兜外腎者,有轉轆轤者,有三峰采戰者,有食乳對爐者,有閉 息行氣者,有屈伸導引者,有三田還返者,有雙提金井者,有哂背臥冰者,有餌芝服術看,有納氣咽津者,有內視存想者,有休糧辟穀者,有忍寒食穢者,有搬精運 氣者,有觀鼻調息者,有離妻入山者,有定觀鑒形者,有熊經鳥伸者,有餐霞服氣者,有長坐不臥者,有打七煉魔者,有禪定不語者,有齋戒斷味者,有夢遊仙境 者,有默朝上帝者,有密咒驅邪者,有見聞轉誦者,有食己精為還元者,有捏尾閭為閉關者,有煉小便為秋食者,有采女經為紅鉛者,有抉陽用胞衣而煉紫河車者, 有開關用黑鉛而鑄雌雄劍者,有閉目冥心而行八段錦者,有吐故納新而行六字氣者,有面壁而志在降龍伏虎者,有輕舉而思以駕風驂者,有吞精咽華以翕日月者,有 步罡愎鬥以窺星辰者,有依卦爻之序而朝屯暮蒙者,有售黃白之術而燒茆弄火者,有希慕長生不死者,有馳志月日飛升者,有著相執而不化者,有著空流而不返者, 有持戒定慧而望解脫者,有祛貪嗔癡而思清靜者,有生而願超西域者,有死而願登天堂者,似此泯泯棼棼,難以悉舉。
Tôi rất thích 4 câu kệ này của Tạng kinh:
Chúng sinh vô tận thệ nguyện độ, 众生无尽誓愿度
Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn, 烦恼无尽誓愿断
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, 法门无量誓愿学
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. 佛道无上誓愿成。
Vô tận chúng sinh, thề nguyện độ,
Vô tận phiền não, thề dẹp hết.
Vô lượng pháp môn, thề nguyện học.
Vô thượng Phật đạo, thề nguyện thành.
Đức Thế Tôn có nói: Độ tận chúng sinh rồi mới thành Phật.
Ta vì thế mà phát một niệm từ bi, đem hết bí quyết của thầy ta truyền dạy phô bày ra không giấu giếm, cho sau này những ai có duyên, sẽ trở lại Thiên Giới mà không sa vào khổ hải nữa. Đó là Tâm Nguyện của ta.
Thứ nhất là: Hàm dưỡng Bản Nguyên, Cứu Bộ Mệnh Bảo (Hàm dưỡng chân vô, cứu hộ bản căn) 涵养本原,救护命宝。
Thứ hai là: An Thần Tổ Khiếu, Hấp tụ Tiên Thiên (Ý Thủ Đơn Điền, ngưng thần tụ khí) 安神祖窍,翕聚先天。
Thứ ba là: Trập tàng Khí Huyệt, Chúng diệu qui căn (Khí tàng Đơn Điền, Chúng diệu qui chi) 蛰藏气穴,众妙归根。
Thứ tư là: Thiên Nhân hợp phát, Thái dược qui hồ (Thiên nhân đồng phát động, Thái Khí qui Đơn điền) 天人合发,采药归壶。
Thứ năm là: Kiền Khôn giao cấu, Khử khoáng lưu Kim (Thượng hạ Đơn Điền giao hợp; Nguyên Thần, Nguyên Khí thành Đơn) 乾坤交媾,去矿留金。
Thứ sáu là: Linh Đơn nhập đỉnh, trường dưỡng thánh thai (Thần Khí ngưng kết nơi Đơn Điền, vĩnh viễn tư dưỡng Linh Tính) 灵丹入鼎,长养圣胎。
Thứ bảy là: Anh Nhi hiện hình, Xuất Ly Khổ Hải (Nội đơn thành, xuất Khổ hải) 婴儿现形, 出离苦海。
Thứ tám là: Di Thần Nội Viện, Đoan củng Minh Tâm (Di Thần thượng đơn điền, Đoan tọa tức kỳ tâm) 移神内院,端拱冥心。
Thứ chín là: Bản Thể Hư Không, Siêu xuất tam giới (Chân Nguyên Hư Tĩnh, Siêu thoát Tam giới) 本体虚空,超出三界。
Trong đó lại có: Luyện hình, Kết thai (kết Đơn), Hỏa hầu để toàn công phu Cửu Chuyển Hoàn Đơn, Đại Đạo khẩu quyết đến đây đã trọn vẹn.
Ngày nay, những người học Đạo, đội mũ cao, mặc bào vuông, tự mãn, tự túc, không chịu hạ mình đến xin thầy ta chỉ cho thứ tự, tu trì, như mù lại giấu mù, chạy vào đường ngang, ngõ tắt, há chẳng biết Đại Pháp có 3.600 thứ, với 24 phẩm Đại Đơn, tất cả đều là Bàng Môn. Chỉ có đạo Kim Đơn này mới là tu hành chính lộ. Trừ đạo này ra, không có đường nào khác để thành Tiên, thành Phật.
Cho nên trong Thượng Hội Pháp Hoa, đức Thế Tôn nói:
Duy thử nhất thực sự, dư nhị tức phi chân.
Doãn Chân Nhân nói: 96 chủng ngoại đạo, 3.600 bàng môn, tất cả đều hư ảo. Chỉ những gì ta nói mới là Chân.
Chung Ly Quyền nói:
Đạo Pháp tam thiên, lục bách môn, 道法三千六百门
Nhân nhân các chấp nhất miêu côn. 人人各执一苗根
Thùy tri tạ tử Huyền Quan khiếu 谁知些子玄关窍
Bất tại Tam Thiên Lục Bách Môn. 不在三千六百门。
Đạo pháp ba nghìn sáu trăm môn
Mỗi người nắm được một miêu côn
Hay đâu là Khiếu Huyền Quan đó,
Không thấy có trong 3.600 môn.
Vì Đại Đạo Huyền Quan khó gặp dễ thành, nhưng kết quả chậm, bàng môn tiểu thuật thì dễ học khó thành, lại kiến hiệu chậm. Cho nên những kẻ tham tài, hiếu sắc thường thường mê muội và chẳng giác ngộ.
Trong đó có số người thích Lô Hỏa (tức luyện Ngoại đơn Hoàng bạch hay Kim Ngọc), có số người lại thích nữ sắc để Thái Âm Hộ Dương, có người chuyên giữ gốc rốn, có người chuyên vận đôi mắt để luyện công, có số người chuyên trì thủ Ấn Đường (Huyệt giữa hai lông mày), có số người chuyên chà xát vành rốn (Hạ Đơn Điền), có người thích lắc Giáp Tích (xương sống lưng), có người thích xoa bóp ngoại thận (Dịch Hoàn) để tồn thần dưỡng khí, có người thích vận chuyển chân khí, có người thích dùng gái trinh để Thái Âm, có người thích bú sữa tại phòng trung, có người thích Bế Tức Hành khí.
Có người ưa co duỗi để hành khí, có người thích vận động Tam đơn điền, có người thích hóp bụng co hậu môn để khỏi mất tinh, có người thích hơ lưng nằm tuyết để tu luyện, có người thích ăn Linh Chi và Bạch Truật, có người thích Thôn Khí Yết Tân (nạp khí, nuốt Tân dịch), có người thích Nội Quan Tồn Tưởng, có người thích Hưu Lương Tịch Cốc, có người chịu lạnh và ăn bẩn, có người thích ban tinh, vận khí, có người nhìn mũi, điều hòa hơi thở, có người bỏ vợ vào núi, có người định quan giám hình (nhập dịch thủ hình), có người hùng kinh, điểu thân (bắt chước gấu trèo, chim xòe cánh đề luyện phép đạo dẫn), có người nuốt sương và thực khí, có người chuyên ngồi, không nằm, có người lo trừ thất tình, tảo trừ tạp niệm, có người thiền định bất ngữ, có người trai giới, đoạn vi, có người thích mộng du tiên cảnh, có người yên lặng chầu về Thượng đế, có người luyện mật chú trừ tà ma, có người luyện kiến văn, chuyển tụng, có người ăn tinh khí mình để hoàn nguyên, có người bế huyệt Vĩ Lư để khép đóng Dương Quan, có người nấu luyện tiểu tiện gọi là Thu Thực, có người thu kinh nguyệt đàn bà mà họ gọi là Hồng Diên, có người luyện chế Nhau người làm Tử Hà Xa để làm thuốc cường dương, có người dùng Chân Khí để thông kinh, hành khí, trợ giúp việc vợ chồng, có người nhắm mắt, minh tâm để luyện Bát Đoạn Cẩm, có người thổ cố, nạp tân, dùng Hư, Ha, Hô, Hi, Suy, Y (lục tự), có người chuyên Diện Bích có chí muốn Hàng Long, Phục Hổ (Đem Nguyên thần xuống hạ đan điền để phát động thận khí), có người tập khinh công để đạp gió cưỡi rồng, có người muốn hấp thụ tinh hoa của Nhật nguyệt, có người ưa đạp Cương, lý Đẩu để xem sao, có người nương theo các quẻ Truân (sáng), Mông (chiều) để luyện Hỏa Hầu, có người luyện thuật Kim Ngân Hoàng Bạch, thiêu mao lộng hỏa, có người mong trường sinh bất tử, có người muốn bạch nhật siêu thăng lên trời, có người chấp sắc tướng không muốn hóa, có người tu trì Hư Tĩnh cho khí tấn không trở lại, có người giữ Giới, Định, Tuệ để mong giải thoát, có người muốn trừ Sân si để cầu Thanh Tịnh, có người khi còn sống mà muốn siêu thăng Tây Vực Phật Giới, có người nguyện lên Thiên Đường khi chết … phân phân loạn loạn như vậy, không sao kể xiết.
道釋者流,執此一術 一訣,便謂金丹大道,止於是矣。籲!此輩如管中窺豹,井底觀天,妄引百端,支離萬狀,碎將至道,破段分門,以迷指迷,盲修瞎煉。不肯自思已錯,更將錯路教 人。
是以王良器作破迷歌,陳泥丸作羅浮吟,鐘離翁作正道歌。曆舉傍門諸術之非,以救錯行邪徑之失也。
於中亦 有數條,可以攻疾病,救老殘,益算延年,住世安樂。間或亦有超脫者,不過成個蓬島仙羅漢果耳。
故傅大土雲:饒經八萬劫,終是落空 亡。此乃小乘功夫,不合大道全體。
故張平叔雲:學仙須是學天仙,唯有金丹最得端。
蓋金丹之道,簡而不繁。以 虛無為體,以清靜為用。有作以成其始,無為以成其終。從首至尾,並無高遠難行之事。奈何世人,道在近而求諸遠,事在易而求諸難,背明投暗,不亦感乎?
夫金者,堅之稱;丹者,圓之喻,是人毗盧性海乾元面目。世尊名之,空不空,如來藏。老君號之:玄又玄,眾妙門。以此而言道,謂之無上至尊之道;以此而言 法,謂之最上一乘之法。三教聖賢皆從此出修行正路。孰有正於此哉?
子之本懷,正欲乘此皇極昭明之世,與群生同種乾元之因,共結龍華 之伴,故作此說而挽邪歸正,並吾師所授諸圖訣竅明明指出,使諸學者印證丹經,一覽而無疑矣。
如此大法,萬神圭旨是也!
人之元氣逐日發生。子時複氣到尾間。丑時臨氣到背堂。寅時泰氣到玄樞。卯時大壯氣到夾脊。辰時書氣到陶道。已時乾氣到玉枕。午時垢氣到泥丸。未時豚氣到 明堂。申時否氣到膻中。酉時觀氣到中浣。戍時剝氣到乾闕。亥時坤氣而歸於氣海矣。
人身有任督二脈,為陰陽之總。任脈者,起於中極 之,下循腹裏,上關元至咽喉,屬陰脈之海。督脈者,起於下極之。腧穿脊裏,上風府,循額至鼻,屬陽脈之海。鹿運屬閭,蓋能通其督脈也。龜納鼻息,蓋能通其 任脈也。人能通此二脈,則百脈皆通而無疾矣。
心者,君主之官,神明出焉。肺者,相傳之官,治節出焉。肝者,將軍之官,謀慮出焉。膽 者,中正之官,決斷出焉。膻中者,臣使之官,喜樂出焉。脾者,倉稟之首,五味出焉。大腸者,傳道之官,變化出焉。小腸者,受盛之官,化物出焉。腎者,作強 之官,技巧出焉。
腦者,髓之海,諸髓皆屬之,故上至泥丸,下至尾骶,俱腎主之。膻中,在兩乳間,為之之海,能分佈陰陽,為生化之 源。故名之曰海膜,在肺下與助腹周圍,相著如幕,以遮濁氣,使不薰蒸上焦。幽門在大小腸之間,津液滲入膀胱。滓穢流入大腸,變化出矣。
Có nhiều người theo Đạo, theo Thích, chỉ theo một thuật, một quyết như vậy, mà cho đó là Kim đơn Đại Đạo, ô hô, họ như bọn Quản Trung Thiết Báo (dùng ống quản mà xem beo), đáy giếng nhìn trời, quấy dẫn trăm mối, chi ly vạn trạng, đem Chí Đạo phá đoạn phân môn, lấy mê dắt mê, manh tu, hạt luyện, dẫn người vào đường tà.
Cho nên Vương Lương Khí làm bài: “Phá Mê Ca”. Trần Nê Hoàn làm bài “La Phù Ngâm”, Chung Ly Quyền làm bài “Chính Đạo Ca”, nêu lên những lỗi lầm của bàng môn, cốt để cứu người bước lầm vào đường tà. Nhưng trong đó cũng có một số điều có thể dùng trừ bệnh tật, cứu lão tàn, tăng tuổi thọ, sống đời an lạc. Nếu có ai siêu thoát thì bất quá chỉ làm được Bồng Đảo Tiên hay đắc quả A La Hán mà thôi.
Cho nên Phó Đại Sĩ viết:
Nhiêu kinh bát vạn kiếp, chung thị lạc không vong. 饶经八万劫, 终是落空亡。
(Trải qua vạn kiếp cuối cùng cũng lạc vào Không Vong).
Trương Bình Thúc cũng viết:
Học Tiên tu thị học Tiên Thiên, 学仙须是学天仙
Duy hữu Kim Đơn tối đắc đoan. 唯有金丹最得端。
Học Tiên là phải học Tiên Thiên
Phải học Kim Đơn mới chính truyền.
Vả lại, Đạo Kim Đơn là đạo giản dị không phiền phức, lấy Hư Vô làm Thể, lấy Thanh Tĩnh làm dụng, lấy Hữu vi để thành công trong bước đầu, lấy Vô Vi để thành công khi tới cuối. Từ đầu đến cuối không có gì là cao viễn, nan hành. Tại sao thế nhân không biết rằng Đạo ở gần mà cứ cầu ở nơi xa, việc thì dễ mà cứ tìm chỗ khó. Bỏ sáng, theo tối, chẳng đáng thương sao?
KIM là cái gì kiên cố, ĐƠN là cái gì trọn vẹn, đó chính là Tì Lô Tính Hải (Thượng đan điền) nơi người, Kiền Nguyên (Đầu) Diện Mục của con người. Đức Thế Tôn xưng là “Không bất Không, Như Lai Tạng”, Lão Tử gọi là “Huyền hựu Huyền”, “Chúng Diệu Môn” (Huyền chi hựu Huyền, Chúng Diệu chi môn).
Nếu gọi đó là Đạo, gọi đó là Vô Thượng chí tôn chi Đạo, nếu gọi đó là Pháp, thì đó là Phép tối thượng nhất thừa.
Hiền thánh Tam Giáo, đều theo đường chính này, còn gì là Chính hơn được đây?
Lòng ta thực muốn theo đời Hoàng Cực Chiêu Minh, với chúng sinh có cùng một nguyên nhân là Kiền Nguyên, cùng nhau kết bạn trong hội Long Hoa, cho nên làm ra thuyết này để đem người về đường chính. Cùng với Đồ thuyết của thầy ta, chỉ rõ từng đồ khiếu, khiến cho học giả ấn chứng Kim Đơn Kinh, khi đã xem qua sẽ không còn nghi hoặc nữa.
<普照圖>
三歲之竅,竅中有妙。妙竅其觀,是為普照。
何思何慮之天, 不識不知之地。色空不二之一,虛靈不昧之神;坎離交媾之鄉,千變萬化之祖;鬼神覷不破之機,生命不相關之地。
神明之舍,道亦之門。活 潑潑地,靈明一竅;天地靈根,元始祖煞。造化泉窟,黑白相符;不動道場,至善之地。宇宙主宰,先天地生;玄牝之門,呼吸之根。既濟鼎器,黃中通理;不二法 門,甚深法界。虛無之谷,凝結之所。朱砂鼎,赤龍精,天玄女,光明藏,自在處,止其所,腔子裏,如來藏,真主人,自然體,蓬萊島,眾妙門。
五芝,真汞,日魂,丹元,神水,方寸,主翁,天君,心源、性海、靈海、靈關、靈山、赤水、守靈、姹女、朱汞、靈府、玉液、丹臺、乾馬、交梨、金鳥。
西南鄉,祖氣穴,極樂國,真一竅,舍利子,戊己門,法王城,守一壇,如意株,歸根竅,復命關,虛空藏,寂寞海,華光藏。玄關、空中、正位、 真土、黃中、把柄、黃庭、規中、西方、這個、黃婆、中黃、淨土、混康、丹扃。
長胎住息之鄉,安身之命之家。
混沌竅,總特門,希夷府,懸胎鼎、多寶塔、造化爐、無盡藏、偃月爐、灝氣間、開辟處、生殺舍、真金鼎。金華,月魂,靈根,橐籥,氣穴、北海、嬰兒、玄冥、 關元,氣海,土釜,玄所,生門、死戶、華池、曲江、河車、蓬壺、育嬰、呆胞、火棗、真鉛。
(普 照圖)
普照圖之上一層者,直指心源性海之竅;中一層者,直指黃中正位之竅;下一層者,直指關元氣海之竅。此謂前三關也。
PHỔ CHIẾU ĐỒ
Tam Tạng chi khiếu, Khiếu trung hữu diệu, Diệu Khiếu tề quan, Thị vi Phổ Chiếu. Thiên Địa Linh căn, Nguyên Thuỷ Tổ Khí, Hắc Bạch tương phù, tạo hoá tuyền quật.
Bất động Đạo Tràng, Chí Thiện chi Địa, Tiên Thiên Địa Sinh, Vũ Trụ chủ tể.
Huyền tẫn chi môn, Hô Hấp chi căn, Huỳnh Trung Thông Lý, Ký Tế Đỉnh Khí.
Bất nhị Pháp Môn, Thậm thâm Pháp Giới, Hư Vô Chi Cốc, Ngưng kết chi sở.
Chân chủ nhân, Tự Nhiên Thể, Bồng Lai Đảo, Chúng diệu môn.
Hà tư hà lự chi Thiên, Bất thức, bất tri chi Địa, Hư Linh bất muội chi Thần, Sắc Không bất nhị chi Nhất.
Thần minh chi xá, Đạo Nghĩa chi môn, Linh Minh nhất khiếu, Hoạt bát bát Địa.
Chu Sa đỉnh, Xích long tinh, Quang Minh Tạng, Thiên Huyền Nữ.
Như Lai Tạng, Xoang tử Lý, Chỉ kỳ sở, Tự Tại Xứ.
Ngũ chi, Chân Hống, Nhật Hồn, Đơn Nguyên, Thần Thuỷ, Phương Thốn, Chủ Ông, Thiên Quân, Tâm Nguyên, Tính Hải, Linh Đài, Linh Quan, Xích Thuỷ, Thủ Linh, Xá Nữ, Chu Hống, Linh Phủ, Ngọc Dịch, Đơn Đài, Kiền Mã, Giao Lê, Kim Ô.
Tây Nam Hương, Tổ Khí Huyệt, Cực Lạc Quốc, Chân Nhất Khiếu, Xá Lợi Tử, Mậu Kỷ Môn, Pháp Vương thành, Huyền Quan, Không Trung, Chính Vị, Chân Thổ, Hoàng Trung, Bá Bính, Huỳnh Đình, Qui Trung, Tây Phương, Giá cá, Huỳnh Bà, Trung Hoàng, Tịnh Thổ, Hỗn Khang, Đơn Kiên, Thủ Nhất Đàn, Như Ý Châu, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan,Hư Không Tạng, Tịch Mịch Hải, Hoa Quang Tạng.
Kim Hoa, Nguyệt Phách, Linh Căn, Thác Thược, Khí Huyệt, Bắc Hải, Anh Nhi, Huyền Minh, Quan Nguyên, Khí Hải, Thổ Phủ, Huyền Khiếu, Sinh Môn, Tử Hộ, Hoa Trì, Khúc Giang, Hà Xa, Bồng Hồ, Dục Anh, Ngốc Bào, Hoả Tải, Chân Diên.
Hỗn Độn Khiếu, Tổng Trì Môn, Hi Di Phủ, Huyền Thai Đỉnh.
Đa Bảo tạng, Tạo Hoá Lô, Vô Tận Tạng, Yển Nguyệt Lô.
Khảm Ly Giao Cấu chi hương, Thiên Biến Vạn Hoá chi tổ, Tử Sinh Bất Tương Quan Chi Địa, Quỉ Thần khuy bất phá chi cơ, Hạo Khí Môn, Hạp Tịch Xứ, Trường Thai trụ Tức chi hương, An Thân Lập Mệnh chi gia, Sinh xát xá, Chân Kim Đỉnh.
Giải thích Phổ Chiếu Đồ:
Tầng thứ Nhất: Trực chỉ cái Khiếu: Tâm Nguyên, Tính Hải.
Tầng giữa: Trực Chỉ Khiếu: Hoàng Trung Chính Vị.
Tầng dưới: Trực Chỉ Khiếu: Nguyên Quan, Khí hải.
Gọi là Tiền Tam Quan.
<反照圖>
崑崙頂,翠微宮,圓覺海,中一宮,陀羅尼門,腦血之瓊房,魂精之王室,天人合發 之祝,十姆分胎之路,九崇鐵鼓太玄關;太澗池,上土釜,威光頂,般若岸,波羅密地,百靈之命宅,津液之山源,任督皆交之處,陰陽變換之鄉,三族金蟾藏金 斗。
清虛府,上天關,交感宮,三摩地,最高峰,崆峒山、紫清宮、玉金山、琉珠宮、紫金城、上丹田、摩尼珠,太微宮、祝融峰。玄室,黃房,天宮、真際、上島、天 根、玄門、彼岸:瑤池、泥丸、天谷、天堂、內院、紫府、寥天,帝乙,甑山、天符、玄都。
尾閭穴,朝天嶺,氣海門,曹溪路,三岔口,平易 穴,生死穴,上天梯,河車路,虎威穴,三岔骨,龍虎穴。咸池,陰端,禁門、會陽,長強、魄門、地融、陰嶠、桃康、人門、鬼路、會陰、谷道。
(反 照圖)
反照圖之下一層者,指出尾閭太玄之竅,中一層者,指出夾脊雙關之竅,上一層者,指出天穀泥丸之竅。此謂後三關也。丹陽雲:前三 三,後三三,收拾起,一擔擔,是此義也。
Côn Lôn Đỉnh, Thanh Hư Phủ, Thượng Thiên Quan, Giao Cảm Cung, Tam Ma Địa, Tối Cao Phong, Không Động Sơn, Huyền Thất, Huỳnh Phòng, Thiên Cung, Chân Tế, Thượng đảo, Thiên Căn, Huyền Môn, Bỉ Ngạn, Dao Trì, Nê Hoàn, Thiên Cốc, Thiên Đường, Nội Viện, Tử Phủ, Liêu Thiên, Đế Ất, Tắng Sơn, Thiên phủ, Huyền Đô, Chúc Dung Phong, Thái Vi Cung, Ma Ni Châu, Thượng Đơn Điền, Tử Kim Thành, Lưu Châu Cung, Ngọc Kinh Sơn, Tử Thanh Cung, Thái Giả trì.
Tuý Vi Cung, Viên Giác Hải, Trung Nhất Cung, Não Huyết chi Quỳnh Phòng, Hồn Tinh Chi Vương Thất, Thiên Nhân Hợp Phát Chi Chúc, Đà La Ni Môn, Thượng Thổ Phủ, Uy Quang Đỉnh, Bát Nhã Ngạn, Ba La Mật Địa, Bách Linh Chi Mệnh Xá, Tân Dịch Chi Sơn Nguyên, Tử Mẫu Phân Thai Chi Lộ, Cửu Trùng Thiết Cổ, Thái Huyền Quan, Vĩ Lư Huyệt, Triều Thiên Lãnh, Khí Hải Môn, Tào Khê Lộ, Tam Ban Khẩu, Bình Dị Huyệt, Hàm Trì, Âm Đoan, Cấm Môn, Hội Dương, Trường Cường, Phách Môn, Địa Trục, Âm Nghiêu, Đào Khang, Nhân Môn, Quỉ Lộ, Hội Âm, Cốc Đạo, Long Hổ Huyệt, Tam Ban Cốt, Hư Nguy Huyệt, Hà Xa Lộ, Thượng Thiên Thê, Sinh Tử Huyệt, Tàng Kim Đẩu, Tam Túc Kim Thiền, Âm Dương Biến Hoá Chi Hương, Nhâm Đốc Giao Tiếp Chi Xứ.
Nguyên Thần, Ngọc Chẩm, Ngọc Lâu, Phong trì, Phong Phủ, Thiên Trụ, Đào Đạo, Thân Trụ, Thần Đạo, Linh Đài, Chí Dương, Cân Tích Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Nguyên Quân, Long Hoả, Hổ Thuỷ, Mệnh Môn, Đốc Phủ, Diệu Quân, Yêu du, Trường Cường.
Giải thích Phản Chiếu đồ:
Tầng dưới cùng: Trực Chỉ Huyệt Vĩ Lư Thái Huyền.
Tầng giữa là Khiếu Giáp Tích Song Quan.
Tầng trên cùng là Khiếu: Thiên Cốc Nê Hoàn.
Đó là Hậu Tam Quan.
Mã Đơn Dương nói:
Tiền Tam Tam, Hậu Tam Tam, thu thập khởi, Nhất đảm đảm. 前 三 三 後 三 三 收
拾 起 一 擔 擔
(Tìền Tam Tam, hậu tam tam, Thu thập thành một gánh.)
<時照圖>
(時 照圖)
時照圖者,發明陽升陽降之機,四象環中之妙。
THỜI CHIẾU ĐỒ
Nguyên Khí vận hành:
Nguyên Khí con người theo thời gian phát sinh:
Giờ Tý Phục khí đến Vĩ Lư (Lúc ấy Nhất Dương chi khí thượng thăng, vào huyệt Vĩ Lư, nơi chót cuối xương sống).
Giờ Sửu, là Quẻ Lâm, khí đáo Thận Đường.
Giờ Dần là Quẻ Thái, khí đến Huyền Khu.
Giờ Mão là Quẻ Đại Tráng, khí đến Giáp Tích.
Giờ Thìn là Quẻ Quải. Khí tới Đào Đạo
Giờ Tị là Quẻ Kiền. Khí tới Ngọc Chẩm.
Giờ Ngọ là Quẻ Cấu. Khí tới Nê Hoàn.
Giờ Mùi là Quẻ Độn. Khí đến Minh Đường (Dưới Họng).
Giờ Thân là Quẻ Bĩ. Khí đến Đản Trung (Giữa 2 vú).
Giờ Dậu là Quẻ Quán. Khí đến Trung Quản.
Giờ Tuất là Quẻ Bác. Khí đến Thần Quyết (Rốn).
Giờ Hợi là Quẻ Khôn, Khí về Khí Hải (Dưới Rốn 1 tấc rưỡi).
Thân người có hai mạch Nhâm Đốc, tổng quản Âm Mạch, Dương Mạch.
Mạch Nhâm khởi từ Trung Cực (Đan Điền hạ huyệt), tuần hoàn trong ruột, tới Quan Nguyên (dưới rốn 3 tấc), đến Yết Hầu, làm chủ Âm mạch.
Đốc Mạch khởi từ Hội Âm, xuyên qua xương sống lên đến Phong Phủ, theo trán xuống mũi, làm chủ Dương Mạch.
Qui tức là thở bằng Nhâm Đốc không thở bằng mũi.
Ai thông được 2 mạch Nhâm Đốc thì các mạch đều thông và không bị bệnh tật.
Giải thích Thời Chiếu đồ:
Phát huy cơ Dương Thăng, Âm Giáng, Tứ tượng hoàn trung chi diệu.
<內 照圖>
(內 照圖)
內照囹者,指示五臟六腑、二十四椎、任督兩脈,使內觀者知有下手處。若人不明竅而言修,猶人未能立而言行也。從古諸仙皆口口相 傳、心心相授,不敢明將此竅示人,是懼泄天機之故耳。吾師尹公開佛之正知見,等眾生如一子,繪此四圖接引後之迷者,意在普度有緣,同出生死苦海。
NỘI CHIẾU ĐỒ
Tâm như Quân Chủ, Thần Minh do đó mà ra.
Phế như quan Phụ Tá. Nó đem lại sự tiết độ.
Gan như Tướng Quân, chủ mưu lự.
Đởm như là quan trung chính. Nó quyết đoán mọi sự.
Đản Trung (giữa 2 vú) là quan đồng thần sứ. Nó sinh ra Hỉ Lạc.
Tì như quan Thương Lẫm. Nó sinh ra ngũ vị.
Đại Trường như quan truyền đạo. Nó sinh biến hóa.
Tiểu Trường như quan Thụ Thịnh. Nó hóa mọi vật.
Thận như quan tác cường. Kỹ xảo do đó mà sinh.
Não như Tủy Hải. Tủy trong người tụ nơi đó. Trên thì tới Nê Hoàn, dưới thì xuống Vĩ Lư, do mạch Đốc làm chủ.
Đản Trung ở giữa hai vú. Đó là nơi Khí tụ, phân bố Âm Dương, cội nguồn sinh hóa. Nên gọi là Bể.
Cách Mô dưới Phổi, cùng với xương sườn, bụng dính nhau. Tựa như tấm màn, khiến cho trọc khí không nung nấu được thượng tiêu.
U Môn ở giữa Tiểu Tràng, Đại Tràng, làm cho Tân dịch thấm nhập Bàng Quang, lọc uế trược cho vào Đại Tràng. Biến hóa xuất phát từ đấy.
Giải thích Nội Chiếu đồ:
Chỉ bày Ngũ tạng, lục phủ, 24 xương chuỳ, Nhâm Đốc nhị Mạch, để người tu trì biết đường hạ thủ công phu.
Nếu người không hiểu rành về Khiếu mà nói tu, khác gì chưa biết đứng mà đòi biết đi.
Xưa nay chư tiên chỉ khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thụ, không dám đem khiếu này chỉ vẽ cho đời, vì sợ tiết lậu Thiên cơ.
Nay Thày ta, công khai Chính tri của Phật, coi chúng sinh nhưng con, lại vẽ bốn đồ hình này để tiếp dẫn người sau chưa biết. Đó là ý muốn phổ độ những người có duyên để cùng ra khỏi khổ hải sinh tử.
—————–
*Giải thích các hình vẽ trên (nhắc lại)
1. Phổ chiếu đồ.
Tầng thứ Nhất: Trực chỉ Khiếu: Tâm Nguyên, Tính Hải.
Tầng giữa: Trực chỉ Khiếu: Hoàng Trung Chính Vị.
Tầng dưới: Trực chỉ Khiếu: Quan Nguyên, Khí Hải.
Gọi là Tiền Tam Quan.
2. Phản Chiếu đồ.
Tầng dưới cùng: Trực chỉ Khiếu Vĩ Lư Thái Huyền.
Tầng dưới là Khiếu Giáp Tích Song Quan.
Tầng trên cùng là Khiếu Thiên Cốc, Nê Hoàn.
Đó là Hậu Tam Quan.
Mã Đơn Dương nói: Tiền Tam Tam, Hậu Tam Tam, thu thập khởi, Nhất đảm đảm. 前三三,后三三,收拾起,一担担 (Tiền Tam Tam, hậu tam tam, Thu thập thành một gánh.)
3. Thời chiếu đồ.
Phát huy cơ Dương Thăng, Âm Giáng, Tứ tượng hoàn trung chi diệu.
4. Nội chiếu đồ.
Chỉ bày Ngũ tạng, lục phủ, 24 xương chùy, Nhâm Đốc nhị Mạch, để người tu trì biết đường mà hạ thủ công phu.
Nếu người không hiểu rành về Khiếu mà nói tu, khác gì chưa biết đứng mà đòi biết đi.
Xưa nay chư tiên chỉ khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thụ, không dám đem khiếu này chỉ vẽ cho đời, vì sợ tiết lậu Thiên cơ.
Nay Thày ta, công khai Chính tri của Phật, coi chúng sinh như con, lại vẽ bốn đồ hình này để tiếp dẫn người sau chưa biết. Đó là ý muốn phổ độ những người có duyên để cùng ra khỏi khổ hải sinh tử.
<太 極圖>
(太 極圖)
此○者,釋曰圓覺,道曰金丹,儒曰太極。所謂無極而太極者,不可極而極之謂也。凡人始生之初,一點靈光而所以主張乎形骸者, 太極也。父母未生以前,一片太虛而所以不屬乎形骸者,無極也。度師曰:欲識本來真面目,未生身處一輪月。
尹公曰:太極有二理,自運 行而言則曰時候。雖天地不外乎一息,自凝結而言則曰真種。雖一黍可包乎天地,宿蟄、歸根、晏息、杳冥是為時侯太極。孕字、結實、交媾、結胎,是為真種太 極。人能保完二極而無失,則可以長生不化,豈止盡年,令終而已哉。
太極發揮
大哉!吾身之太極。生生化化,與天地終。長生不化,超出天地。戒傷生,忌惡化,可以盡年,可以令終。絕其生,斷其化,可以長生,可以不化。盡年令終,與 凡夫異;生長不化,與仙佛同。兩者皆從太極中出,而作用不同。
人皆知太極在未有天地萬物之先,而不知既有天地萬物,各有太極具焉。 太極有時候、有真種。
未有天地萬物之太極,在戌亥二會。有此二會,太極斯有一元造化。每年太極在九月、十月,有此兩月太極,斯有一 年造化。每月太極在二十六至三十,有此五日太極,斯有一月造化。每日太極在戌亥二時。有此二時,太極斯有一日造化。一時太極在窈窈冥冥二候,有此二候太 極,所有一時造化。
動物太極在宿蟄孕字,植物太極在歸根結實,人身太極在晏息、窈冥、交媾、結胎。交媾有時,調養有法,不傷太極, 此盡年令。終斷淫欲,時入窈冥,保完太極,此乃長生不化。盡年令終之道,亦有毀壞。長生不化之道,可以成仙,可以作佛,終無毀壞。豈直異於凡夫,別於草木 禽獸雲乎哉?
THÁI CỰC ĐỒ
Vô Cực 无极, Thái Cực 太极
Dương động 阳动, Âm tĩnh 阴静
Kim 金, Mộc 木, Thủy 水, Hỏa 火, Thổ 土
Khôn đạo sinh Nữ 坤道生女, Càn đạo sinh Nam 乾道生男
Vạn vật hóa sinh万物生化
Vòng tròn này, Phật gia gọi là Giác, Đạo gia gọi là Kim Đơn, Nho gia gọi là Thái Cực.
Gọi Vô Cực (Nguyên Thủy vô vật) mà Thái Cực (Phái Sinh vạn vật chi Bản Nguyên) nghĩa là không thể truy cứu được sự bắt đầu của nó. Khi con người sơ sinh, có một điểm Linh Quang, đó là Nguyên Nhân sinh ra hình tướng, đó là Thái Cực thuyết.
Khi cha mẹ chưa sinh, thì có một khối Thái Hư. Đó là chủ trương: hình tướng ta sinh ra có nơi có chốn. Đó là thuyết Vô Cực.
Độ sư nói: Dục nhận Bản Lai chân diện mục. Vị sinh thân xứ thị Thái Hư.
Doãn Chân Nhân thuyết: Thái Cực có một Lý, tự vận hành gọi là Thời Hầu. Trời đất tuy lớn nhưng cũng không ngoài một hơi thở. Khi ngưng kết bất động thì gọi là Chân Chủng.
Chân Chủng ấy tuy nhỏ như hạt thóc, nhưng tranh thắng được với trời đất, lúc an phục qui căn, tĩnh tức tra minh thì là Thời Hầu Thái Cực (Khi tĩnh), Dựng dục kết thực, giao cấu kết thai thì là Chân Chủng Thái Cực (khi hoạt động). Nếu ta bảo tồn được hai cực đó mà không mất mát, thì sẽ trường sinh bất hóa, há đâu chỉ trọn một kiếp người mà thôi.
THÁI CỰC ĐỒ PHÁT HUY
Lớn thay là Thái Cực trong ta. Nó sinh sinh hóa hóa. Cùng đất trời chung thủy.
Nếu được trường sinh, bất hoá nó sẽ siêu xuất thiên địa. Không làm hại sự sống, không chết oan uổng, sẽ sống trọn một đời.
Nếu đoạn tuyệt được sinh tử, sẽ trường sinh, bất hóa. Sống trọn tuổi đời cũng khác phàm phu.
Nếu trường sinh, bất hóa, có thể đồng Tiên Phật. Hai lẽ đó đều từ Thái Cực phát xuất ra nhưng tác dụng không giống nhau.
Người người đều biết rằng Thái Cực có từ trước trời đất, vạn vật, nhưng không biết rằng sau khi đã có trời đất vạn vật, thì vạn loài vẫn có đủ Thái Cực. Thái Cực có Thời Hầu, có Chân Chủng.
Khi chưa có trời đất vạn vật, thì Thái Cực ở hội Tuất, Hợi. Có hai hội này, Thái cực mới có được Nhất Nguyên Tạo Hóa (Một Nguyên là 129.600 năm, một hội là 10.800 năm).
Mỗi năm Thái Cực ở hai tháng: tháng 9 và tháng 10. Có được hai tháng ấy, Thái Cực mới có được một năm tạo hóa.
Mỗi tháng có 5 ngày Thái Cực, từ 26 tới ngày 30. Nhờ có 5 ngày này, Thái Cực mới có 1 tháng Tạo Hóa.
Mỗi ngày có hai giờ Thái Cực là giờ Tuất và giờ Hợi. Nhờ hai giờ này, Thái Cực mới có 1 ngày Tạo Hóa.
Mỗi giờ Thái Cực tại yểu yểu, minh minh hai Hầu. Nhờ hai Hầu này, Thái Cực mới có một giờ Tạo Hóa.
Ở động vật, thì Thái Cực an phúc, sinh nở vào ban đêm. Ở thực vật, thì Thái Cực quy căn, kết trái. Ở người, thì Thái Cực, yên tức, ảo minh, giao cấu, kết thai.
Giao cấu đúng thời, điều dưỡng đúng phép, sẽ không làm tổn thương Thái Cực, thì sẽ sống một đời bình thường.
Nếu đoạn tuyệt được dâm dục, vào được ảo minh, bảo toàn được Thái Cực, thì có thể trường sinh bất tử.
Sống hết một đời (như phàm nhân) rồi cũng bị hủy hoại, còn thành tiên, tác Phật sẽ trường sinh bất tử, không bao giờ bị hủy hoại.
Như vậy có khác với phàm phu, với cầm thú, cỏ cây không?
<中心圖>
《易》曰:天下何思何慮。《論語》曰: 天下歸人。此天下“下”字,與天地之間“間”字,天地之心“心”字,皆只此中而言,所謂孔顏樂處是也。
天之極上處,至地之極下處,總 八萬四千里。自天之極上處至地之上四萬二千里。自地之上至地之極下處,亦四萬二千里,人身亦然。故曰:天地之間亦曰黃中。黃乃土之正色,而仁在其中矣。故 曰安土敦仁至於義也、禮也、智也,皆根於此。故曰:仁、義、禮、智根於心,渾然在中,粹然至善。故曰在止於至善,知止而後有定。若易之艮其止,書之安汝止 者,止之義一也,亦謂之密。故曰聖人以此喜心退藏於密。其中本虛,原與太虛,渾而為一。故曰聖人與太虛同體。
乾之情性在於坤,坤之情 性在於乾,此坎離之所以交,而天地之所以泰也。若水潤下,而火炎上,此亦其性情然也。若不得乾坤之性情以復其初焉,則水自水,而火自火,不生不降不相為用 矣。先天雖不屬氣,而太和元氣、浩然之氣,皆由此中出,所謂無氣而生氣也。而凡有氣血莫不賴之,以生以長,而配天配地矣。堯舜允執之中,即孔子中心之心 也。心之磨焉。心在其中者,中心也。故中心之中既實,則五行之心自虛矣。所謂聖人無心而有心者此也。
(中 心圖)
此圖專指人心虛靈不昧一竅而說。這個竅原是廓然無際,神妙莫測的,原是渾然大中、不偏倚的,原是粹然至善、純一不雜的。昭昭 乎本是圓明洞徹而無礙。以為有不睹不聞,奚所有也;以為無至靈至神,未嘗無也,本無方所亦無始終。
未有天地萬物之先,這個原是如 此;既有天地萬物之後,這個只是如此,至無至有、至有至無,乃乾坤之靈體,元化之玄樞,人人性命之本原,天下萬物、萬事之大本。太易所謂太極四象、八卦皆 由此出。大舜之謂中,孔子之謂一。帝王之授受,聖賢之相傳。明此便是克明峻德,知此便是知易,見此便是見道,立此便是立天下之大本,通此,性由我盡、命由 我立,造化盡在我矣。
TRUNG TÂM ĐỒ
Kiền Tiên Thiên: Trong Dương có Âm. Ly Hậu Thiên, Trong Hỏa có Thủy. Tinh Tiên Thiên là Vô Cực, là Nhân, Thổ.
Từ chỗ cao nhất của Trời đến chỗ thấp nhất của đất là 84.000 dặm.
Từ chỗ cao nhất của Trời đến chỗ cao nhất của Đất là 42.000 dặm.
Từ chỗ cao nhất của Đất đến chỗ thấp nhất của Đất là 42.000 dặm.
Thân con người cũng vậy, cho nên giữa Trời và Đất gọi là Huỳnh Trung.
Huỳnh là màu chính của Đất, và đức Nhân ở trong đó. Cho nên nói An Thổ đôn Nhân. Cho đến Lễ, Nghĩa và Trí cũng gốc tại đó. Cho nên nói: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí đều gốc ở Tâm, hồn nhiên tại Trung, và Thuần Tuý chí thiện. Cho nên nói: Tại chỉ ư chí thiện. Tri chỉ nhi hậu định.
Dịch nói Cấn kỳ chỉ. Kinh Thư nói: An nhữ chỉ. Các nghĩa của chữ Chỉ đều giống nhau. Chỉ còn gọi là Mật. Cho nên Thánh Nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật. Cái Trung này, vốn hư trống nên cùng với Thái Hư hồn nhiên là Một. Cho nên nói: Thánh Nhân với Thái Hư đồng nhất thể.
Chu Dịch viết: Thiên hạ hà tư hà lự.
Luận Ngữ viết: Thiên hạ quy Nhân.
Gọi là Thiên hạ, hay Thiên Địa chi gian, hay Thiên Địa chi Tâm cũng cùng một nghĩa. Tất cả còn gọi là Trung (Trung là Thái Hư, là Thiên Địa chi Tính).
Gọi là Tâm hay là Trung cũng vậy. Đó chính là chỗ vui của Khổng Tử và Nhan Hồi.
Tính Tình của Kiền ở Khôn. Tính Tình của Khôn ở Kiền. Do đó mà Khảm Ly mới giao nhau, và Trời Đất mới được Thái Khang. (Thiên Địa giao Thái)
Nếu như Thuỷ nhuận hạ và Hoả viêm thượng, thì đó cũng là Tính Tình tự nhiên của chúng. Nếu chúng không được Tính Tình của Kiền Khôn, để “phục kỳ sơ” thì Thuỷ là Thuỷ mà Hoả là Hoả. Hai bên không thăng không giáng, không thể làm cái dụng cho nhau.
Tiên Thiên khí tuy chẳng thuộc về Khí, nhưng Thái Hoà Nguyên Khí, và Hạo Nhiên chi khí cũng từ trong khí Tiên Thiên đó phát sinh. Cho nên nói: Vô Khí nhi sinh Khí.
Giống nào có khí cũng phải nhờ Khí này mà sinh mà trưởng, phối hợp, với Thiên Địa.
Nghiêu Thuấn nói: Doãn chấp quyết Trung. Đó chính là cái Trung Tâm chi Tâm của Khổng Tử. Khổng Tử ở giữa Tâm này. Nếu Trung Tâm này là thật, thì trung tâm ngũ hành sẽ là Hư. Cho nên nói: Thánh Nhân vô tâm mà hữu tâm.
Đồ hình này trực chỉ vào “Nhân Tâm hư linh bất muội”. Khiếu này khuếch nhiên vô tế, thần diệu mạc trắc. Nguyên thuỷ Hồn Nhiên Chính Trung. Biết thiên, bất ỷ, thuần tuý chí thiện, thuần nhất bất tạp, nó vốn viên minh, động triệt và vô ngại, nói rằng có, thì nghe nhìn chẳng thấy, sao gọi nó là có. Nói rằng Không, thì nó Chí Linh, Chí Thần, chưa hề là Không. Nó vốn không nơi, không chốn, không có thuỷ chung.
Khi chưa có Đất Trời, thì nó đã như vậy. Khi đã có trời đất muôn vật, thì nó cũng vẫn như vậy.
Nó thật là “Chí Vô, Chí Hữu, Chí Hữu, Chí Vô”. Nó là Linh Thể của trời đất, là Huyền Khu của mọi biến hoá, là Bản Nguyên Tính Mệnh mỗi người, là đại bản của thiên hạ vạn vật.
Thái Dịch cho rằng: Thái Cực, Tứ Tượng, Bát Quái đều do đó phát sinh.
Vua Thuấn gọi đó là Trung, Khổng Tử gọi đó là Nhân, vạn đại đế vương xưa nay đều truyền cho nhau, Thánh hiền xưa nay cũng đều truyền cho nhau. Hiểu được như vậy là “Khắc minh tuấn đức”. Hiểu lẽ này là hiểu Kinh Dịch, thấy được lẽ này là thấy được Đạo.
Kiến lập được Tâm này, tức là kiến lập được đại bản cho thiên hạ.
Thông suốt được Tính này là do ta. Lập được Mệnh này cũng là do ta, Công trình Tạo Hoá đều do ta.
火龍水虎說
五行顛倒術,龍從火裏出。五行不順行,虎向水中生。
夫黑鉛、水虎者,是天地發生之根,乃有質而有氣也。紅鉛、火龍者,是天地發生之本,乃有氣而無質也。有質者,真鉛也,大陰月之精也,為天地萬物育形之 母。無質者,真汞也,太陽日之光也,為天地萬物發生之父。鉛汞之體,互相孽胤,迴圈不絕,可謂生天、生地,生萬物之祖宗也。
古之至 人,知神物隱於此,假法象而採取太陰之精,設鼎器而誘會大陽之氣,使歸神室,混混相交,交合不已,孽產無窮,而水中生魂,金中生魄,魂魄凝然,化為鄞鄂, 交結百寶,名曰金液還丹。
HOẢ LONG THUỶ HỔ ĐỒ THUYẾT
Hắc diên là Thuỷ Hổ. Đó là gốc sinh vạn vật. (Âm khí) Vừa có Chất vừa có Khí.
Hồng diên là Hoả Long. Đó là căn cội vạn vật. (Dương Khí) Có Khí mà không có Chất.
Hữu Chất là Chân Diên, là Thái Âm, là Tinh Hoa mặt trăng, là Nguyên Thần, đó là Mẹ sinh muôn vật.
Vô Chất là Chân Hống, là Thái Dương, là Tinh Hoa mặt trời, là Nguyên Khí, đó là Cha sinh muôn vật.
Cái thể của Diên Hống (Nguyên Thần, Nguyên Khí) hỗ tương sinh hoá, tuần hoàn bất tuyệt. Có thể nói đó là tổ tông sinh ra Trời đất vạn vật.
Xưa các bậc Chí Nhân biết có Thần Vật ẩn ở đó, nên mới Pháp Tượng (Bắt chước tượng quải), để thái thủ tinh hoa Thái Âm, lập Đỉnh Khí (Đan Điền) để hội tụ khí Thái Dương, khiến chúng quy về Thần Thất và tương giao với nhau.
Giao hợp mãi mãi, sinh hoá vô cùng, và trong Mộc (Gan) sẽ sinh hồn (Nguyên Thần), trong Kim (Phổi) sẽ sinh Phách (Nguyên Khí). Hồn Phách ngưng kết tụ hợp, hoá thành Nội Đơn (Ngân Ngạc), giao kết trăm báu, tên gọi là Kim Dịch Hoàn Đơn.
日烏月兔說
姹女捉烏,以吞玉兔;
嬰兒驅兔,以吸金烏。
日中烏,烏乃神,神是火,火屬心,心為汞,汞在離;
月中兔,兔乃氣,氣是藥,藥屬身,身為鉛,鉛在坎。
身心兩個字是藥也是火,採時謂之藥,藥中有火焉。煉時謂之火,火中有藥焉,以火 煉藥而成丹,即是以神御氣而成道也。
(日烏月兔圖)
日者,陽也。陽內含陰,象砂中有汞也。陽無陰,則不能自耀其魂,故名曰雌火,乃陽中含陰也。日中有烏,卦屬南方,謂之離女。故曰:日居高位反為女。
月者,陰也。陰內含陽,象鉛中有銀也。陰無陽,則不能自瑩其魄,故名曰雄金,乃陰中含陽也。月中有兔,卦屬北方,謂之坎男。故曰:坎配蟾宮卻是男。
無漏雲:鉛求玉兔腦中精,汞取金鳥心內血,只驅二物結成丹,至道不繁無扭捏。
悟真雲:先把乾坤為鼎器,次搏烏免藥來烹,既驅二物 歸黃道,爭得金丹不解生。
二物者,一體也。
NHẬT Ô NGUYỆT THỐ ĐỒ
Xá Nữ trúc Ô, dĩ thôn Ngọc Thố.
姹女捉乌以吞玉兔
Anh Nhi khu Thố, dĩ hấp Kim Ô
婴儿驱兔以吸金乌
Trong Nhật là Ô, Ô là Thần, Thần là Hoả, Hoả thuộc Tâm, Tâm là Hống, Hống là Li.
Trong Nguyệt là Thố, Thố là Khí, Khí là Dược, Dược thuộc Thân, Thân là Diên, Diên là Khảm.
Hai chữ Tâm Thân, là Dược, là Hoả, lúc Thái Thủ thì gọi là Dược, trong Dược có Hoả, lúc luyện thì là Hoả, trong Hoả có Dược. Dùng Hoả luyện Dược để thành Đơn, dĩ Thần ngự Khí sẽ thành Đạo.
NHẬT Ô, NGUYỆT THỐ THUYẾT
Nhật là Dương. Trong Dương hàm chứa Âm, tượng trong Cát có Hống. Dương không có Âm, không làm cho Hồn được sáng. Nên gọi là “Thư Hoả” đó là Dương Trung hàm Âm vậy.
Trong Nhật có Ô, quẻ thuộc Nam Phương, gọi là Ly Nữ. Cho nên nói: Nhật cư Ly vị, phản vi nữ.
Nguyệt là Âm. Trong Âm có hàm chứa Dương, tượng trong Diên có Ngân. Âm không có Dương, không là cho Phách được sáng, cho nên gọi là “Hùng Kim”. Đó là Âm trung hàm Dương vậy.
Trong Nguyệt có Thố, quẻ thuộc Bắc Phương, gọi là Khảm Nam. Cho nên nói: Khảm phối Thiềm cung, khước thị Nam 坎配蟾宫却 是男。
Sách Vô Lậu nói:
Diên cầu Ngọc Thố não trung tinh, 铅求玉兔脑中精,
Hống thủ Kim Ô tâm nội huyết. 汞取金鸟心内血,
Chỉ khu nhị vật kết thành Đơn. 只驱二物结成丹,
Chí Đạo bất phiền vô nữu niết. 至道不繁无扭捏。
Bài thơ trên có thể viết giản dị lại như sau:
Thần tụ Ngọc Thố não trung tinh 神聚玉兔脑中精,
Khí hợp Kim Ô tâm nội huyết 气合金鸟心内血,
Tinh Thần Khí Huyết hợp thành đan 精神气血合成丹,
Đại đạo giản dị hựu trực tiếp 大道简易又直接。
Thần là Ngọc Thố, Tinh trong Não
Khí là Kim Ô, máu trong Tâm
Tinh thần khí huyết thành Đan hợp
Chí Đạo rõ ràng chẳng khó đâu
Ngộ Chân Thiên viết:
Tiên bả Kiền Khôn vi Đỉnh Khí 先把乾坤为鼎器,
Thứ đoàn ô Thố dược lai phanh 次搏乌免药来烹,
Ký khu nhị vật quy Hoàng Đạo 既驱二物归黄道,
Tranh đắc kim đơn bất giải sinh 争得金丹不解生。
Bài thơ trên giản dị hoá như sau:
Tiên bả Kiền Khôn tố luyện lô 先把乾坤做炼炉,
Thứ thủ Thần Khí dược lai phanh 次取神气药来烹,
Hợp vi nhất thể chu kỳ đáo 合为一体周期到,
Tiện hữu Kim Đơn dĩ luyện thành 便有金丹以炼成。
Trước lấy Kiền Khôn là Lô Đỉnh
Sau đem Thần Khí thuốc về đun
Hai bên hợp lại thành Nhất Thể
Như vậy Kim đan đã luyện thành.
大 小 鼎 爐 說
笑汝安名偃月爐,聖人思議費工夫。其中一味長生藥,不與凡人話有無。
笑汝安名偃月爐,金丹只此莫 他圖。愛河風靜外邊看,方見摩尼一顆珠。
汝何形象好懸胎,一朵真鉛花正開。只為金丹好消息,聚歸鼎內結嬰孩。
汝何形象好懸胎,都 把聲名遍九垓。豈但生人生萬物,作仙作佛要他來。
偃月爐中玉蕊生,原硃鼎內水銀平。只因火力調和後,種得黃芽漸長成。
安爐立鼎法 乾坤,煅煉精神制魄魂。鼎內若無真種子,猶將水火煮空鐺。
凡修金液大丹,必先安爐立鼎。鼎之為器,非金非鐵;爐之為具,非玉非石。黃庭為鼎,氣穴為爐。黃庭正在氣穴上,縷絡相連,乃人身百脈交匯之處。鼎卦曰: 正位凝命是也。此謂之小鼎妒也。
乾位為鼎,坤位為爐。鼎中有水銀之陰,即火龍性根也。爐內有玉蕊之陽,即水成命蒂也。虎在下,為發 火之樞機;龍居上,起騰雲之風浪。若爐內陽生陰降無差,則鼎中天魂地魄留戀,青龍與白虎相拘,玉免與金烏相抱。火候調停,煉成至寶。故青霞子曰:鼎鼎非金 鼎,爐爐非玉爐。火從臍下發。水向頂中符。三姓既會合,二物自相拘。固濟胎不泄,變化在須臾。此謂之大鼎爐也。
ĐẠI TIỂU ĐỈNH LÔ ĐỒ
Tiếu nhữ an danh Yển Nguyệt Lô (chỉ Đan Điền)
笑汝安名偃月炉
Thánh Nhân tư nghị phí công phu
圣人思议费工夫
Kỳ trung nhất vị Trường sinh dược (chỉ Nội đan)
其中一味长生药
Bất dữ phàm nhân thoại hữu vô
不与凡人话有无
Cười người tưởng biết Yển Nguyệt Lô,
Lời lẽ Thánh Nhân, nghĩ hiểu ra
Khó thể biết tường Trường sinh dược,
Chuyện ấy phàm phu khó mà dò.
Tiếu nhữ an danh Yển Nguyệt Lô 笑汝安名偃月炉
Kim đơn chỉ thử mạc tha đồ 金丹只此莫他图
Ái hà phong tĩnh ngoại biên khán, 爱河风静外边看
Phương kiến Ma Ni nhất khoả châu. 方见摩尼一颗珠
Cười người tưởng hiểu Yển Nguyệt Lô,
Kim đan tại đó, chẳng có xa.
Nếu thấy dục tình không khởi động,
Châu ngọc Kim đan sẽ sáng loà.
Nhữ hà hình tượng hiệu Huyền Thai 汝何形象号悬胎
Nhất đoá Chân Diên hoa chính Khai 一朵真铅花正开
Chỉ vị Kim Đơn hảo tiêu tức 只为金丹好消息
Thủ qui đỉnh nội kết Anh Hài 聚归鼎内结婴孩
Thánh thai hình tượng đó ra sao, Một đoá Chân Diên hoa vừa nở
Kim Đơn như vậy, chính tin vui. Hãy hái đem về kết Anh Hài.
Nhữ hà hình tượng hiệu Huyền Thai 汝何形象号悬胎
Khước bả thanh danh biến cửu cai 都把声名遍九垓
Khởi đãn sinh nhân, sinh vạn vật, 岂但生人生万物
Tố Tiên tố Phật yếu tha lai. 作仙作佛要他来
Thánh thai hình tượng đó ra sao?
Tên nó vang danh truyền thiên hạ
Sinh trời sinh đất, tạo vạn loài
Tạo Tiên, tạo Phật cũng không ngoài.
Yển Nguyệt Lô trung ngọc nhuỵ sinh, 偃月炉中玉蕊生
Chu Sa đỉnh nội thuỷ ngân bình 原硃鼎内水银平
Chỉ nhân hoả lực điều hoà hậu 只因火力调和後
Chủng đắc Hoàng Nha tiệm trưởng thành 种得黄芽渐长成
Yển Nguyệt lô trung, Ngọc Nhuỵ sinh
Trong đỉnh Chu Sa, Thuỷ ngân bình.
Điều hoà Hoả lực cho đúng cách,
Như vậy Hoàng Nha sẽ trưởng thành
An lô lập đỉnh pháp Kiền Khôn 安炉立鼎法乾坤
Luyện đoạn tinh thần chế phách hồn, 炼煅精神制魄魂
Đỉnh nội nhược vô chân chủng tử 鼎内若无真种子
Do tương Thuỷ Hoả chử không đang 犹将水火煮空铛
An Lô, Lập Đỉnh bắt trước Trời
Đoàn luyện Tinh Thần, chế phách hồn,
Nếu trong đỉnh nội, không Nguyên Khí
Lò không như vậy, đúc hun gì?
ĐẠI TIỂU ĐỈNH LÔ THUYẾT
Phàm tu Kim Dịch Đại Đơn, trước phải An lô, Lập đỉnh.
Đỉnh đây là khí vật, không bằng vàng, không bằng sắt.
Lô là dụng cụ không bằng ngọc hay bằng đá.
Huỳnh Đình là Đỉnh, Khí Huyệt là Lô.
Huỳnh Đình ở trên Khí Huyệt, kinh lạc tương liên với nhau, là chỗ giao hội của trăm mạch trong người.
Quẻ Đỉnh viết: Chính vị ngưng mệnh 正位凝命 (Ngôi vị quân tử có chính đáng, thì dân mới nghe lời). Thế gọi là Tiểu đỉnh lô.
Ngôi vị của Kiền là Đỉnh, ngôi vị của Khôn là Lô.
Trong Đỉnh có Âm Khí của Thuỷ Ngân, hay Hoả Long Tính Căn 火龙性根 (Nguyên Thần chi bản 元神之本). Trong Lư có Dương Khí của Ngọc Nhuỵ, hay Thuỷ Hổ Mệnh Đế 水虎命蒂 (Nguyên Khí chi bản 元气之本). Hổ ở dưới là động cơ phát hoả. Long ở trên gây sóng gió đằng vân.
Nếu trong lò, Dương thăng Âm giáng không sai, thì trong Đỉnh, Thiên Hồn Địa Phách lưu luyến, Thanh Long Bạch Hổ tương câu, Ngọc Thố Kim Ô tương bão, Hoả Hầu điều đình, luyện thành chí bảo.
Nên Thanh Hà Tử nói:
Đỉnh Đỉnh phi Kim Đỉnh,
Lô Lô phi Ngọc Lô,
Hoả tòng Tề hạ phát,
Thuỷ hướng đỉnh trung phù
鼎鼎非金鼎, 炉炉非玉炉。火从脐下发。水向顶中符。
Tam Tinh kỷ hội họp,
Nhị vật tự tương câu,
Cố tế (Tồn Tâm Định ý) thai bất tiết.
Biến hoá (Đại Đạo thành) tại tu du.
Thế gọi là Đại đỉnh lô.
內外二藥說
上藥三品,神與氣精。其體則一,其 用則二。何謂體?本來三寶一體是也。何謂用?內外兩般作用是也。故《悟真篇》云:內藥還同外藥,內通外亦須通。丹頭火熱自然紅,溫養兩作用,此漸教也,權 法也,接中根及下根人。
大藥雖分神、氣、精,三般原是一根生。凡夫生死如輪轉,只因迷卻本來心。心即性也,故即然子曰:本來真性號 金丹,四大為爐煉作圖,此頓教也、實法也。接上根及上上根人。
凡修煉者,先修外藥,後修內藥。若高上之士,夙植靈根,故不煉外藥,便煉內藥。內藥無為無方。為外藥有為有以,為內藥無形無質。而實有外藥,有體有用。 而實無外藥,可以治病,可以長生。久視內藥,可以超越,可以出有入無。外藥外陰陽往來,內藥內坎離輻輳。以外藥言之,交感之精,先要不漏,呼吸之氣,更要 微微,思慮之神,貴在安靜。以內藥言之,煉精者,煉元精,抽坎中之元陽也,元精固,則交感之精自不洩漏;煉氣者,煉元氣,補離中之元陰也,元氣住,則呼吸 之氣自不出入;煉神者,煉元神,坎離合體而複乾元,元神凝則思慮之神自然泰定。
內外兼修,成仙必矣。
NỘI NGOẠI NHỊ DƯỢC ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thượng dược Tam Phẩm là Thần, Khí, Tinh. Bản thể tuy là ba nhưng công dụng thì chỉ có hai: sao gọi là Thể.
Tam bảo tuy ba, nhưng chỉ có một thể. Còn công dụng thì có trong ngoài.
Cho nên Ngộ Chân Thiên viết:
Nội dược (Nguyên thần) hoàn đồng ngoại dược (Nguyên khí)
内药还同外药
Nội dược thông, Ngoại dược tu thông 内药通外药须通
Đan đầu hoả thục tự nhiên hồng 丹头火热自然红
Ôn dưỡng lưỡng tác dụng. 温养两作用
Đó là Tiệm giáo, là Quyền Giáo, giúp người Trung Căn và Hạ Căn.
Đại Dược tuy phân Thần, Khí, Tinh 大药虽分神气精
Tam ban nguyên thị nhất căn sinh 叁般原是一根生
Phàm phu sinh tử như luân chuyển 凡夫生死如轮转
Chỉ nhân mê khước bản lai tâm 只因迷却本来心
Đại dược tuy phân Thần, Khí, Tinh
Tam ban kỳ nhược một gốc sinh
Con người sở dĩ bị luân chuyển
Chính vì không biết Bản Lai Tâm
Tâm tức là Tinh. Cho nên, Tức Nhiên Tử nói:
Bản Lai Chân Tính hiệu Kim Đơn 本来真性号金丹
Tứ đại vi lô, luyện tác đoàn. 四大为炉炼作团
Bản Lai Chân Tính ấy là Kim Đan
Tứ đại làm lò, luyện thành đoàn.
Đó là Đốn Giáo, đó là Thật Pháp, Giúp người Thượng căn và Thượng Thượng Căn.
NỘI NGOẠI NHỊ DƯỢC THUYẾT
Phàm tu luyện trước phải tu Ngoại Dược (Nguyên Khí), sau tu Nội Dược (Nguyên Thần). Những người cao nhân, thượng sĩ, vì có Linh căn, nên không luyện Ngoại Dược mà chỉ luyện Nội Dược
Nội Dược vô vi vô bất vi, Ngoại Dược hữu vi hữu dĩ vi. Nội Dược vô hình vô chất nhưng thực hữu. Ngoại Dược có thể có dụng nhưng thực vô.
Ngoại Dược khả trị bệnh, khả dĩ Trường Sinh Cửu thị. Nội Dược khả dĩ siêu việt, khả dĩ Xuất Hữu, Nhập Vô.
Ngoại dược: Ngoại Âm Dương vãng lai, Nội dược: Nội Khảm Lý Bức Thấu (Hội họp)
Ngoại Dược (Nguyên Khí) là Giao Cảm Chi Tinh, trước hết không được tiết lậu; là Hô Hấp Chi Khí, cần thở nhè nhẹ; là Tư Lự Chi Thần, cần được an tĩnh.
Nội Dược là Nguyên Thần. Luyện Tinh là luyện Nguyên Tinh, trừu Nguyên Dương của quẻ KHẢM. Nguyên Tinh mà bền, thì Tinh Khí giao cảm sẽ không tiết;
Luyện Khí là luyện Nguyên Khí, Bổ Nguyên Âm của quẻ Ly; Nguyên Khí mà lưu trú, thì Hô Hấp Chi Khí tự nhiên sẽ không ra vào.
Luyện Thần tức là hội tu Khảm Ly Thuỷ Hoả để khôi phục Kiền Nguyên (Dĩ Khảm điền Ly biến Ly thành Kiền). Nguyên Thần ngưng tụ, thì Tư Lự Chi Thần sẽ thái nhiên an định.
Ngoại Dược, Nội Dược (Nguyên Khí, Nguyên Thần) kiêm tu, chắc sẽ thành tiên.
順逆三關說
我法甚深深,妙用人難識。順逆兩 俱忘,空虛鎮長寂。
順:心生於性,意生於心,意轉為情,情生為妄。故靈潤禪師曰:“只因一念忘,現出萬般形。”
逆:檢妄逥情情 返,為意攝意安心,心歸性也。故伯陽真人曰:“金來歸性出,乃得稱還丹。”
道生一、一生二、二生三、三生萬物,此所謂順去生人、生物。今則形化精、精化氣、氣化神、神化虛,此所謂逆來成仙、成佛。初關煉精化氣 者,要識天癸生 時,急急來之。采時須以徘徊之意,引火逼金行,顛倒轉自然,鼎內大丹凝。中關煉氣化神者,乘此火力熾盛,駕動河車,自太玄關逆流,至天穀穴,氣 與神合,然 後下降黃房。所謂乾坤交媾罷,一點落黃庭。上關煉神還虛者,守一抱元,以神歸於毗盧性海。
蓋三關自有為入無為者,漸法也。修上一 關,兼下二關者,頓法也。若徑作煉神還虛者,工夫列虛極靜篤時,精自化氣 ,氣 自化神。即關尹子忘精神而超生之上旨也。
THUẬN NGHỊCH TAM QUAN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Ngã pháp thậm thâm thâm 我法甚深深
Diệu dụng nhân nan thức 妙用人难识
Thuận Nghịch lưỡng câu vong 顺逆两俱忘
Không Hư trấn trường tịch 空虚镇长寂
Phép ta thật thâm trầm; Rất hay, khôn kẻ biết
Thuận, Nghịch mà quên hết; Còn lại độc Hư Không
Thuận:
Tâm sinh ư Tính (Tiên Thiên Nguyên Thần).
Ý sinh ư Tâm.
Ý chuyển vi tình.
Tình sinh thành Vọng.
心生於性,意生於心,意转 为情,情生成妄
Cho nên Linh Nhuận Thiền Sư nói:
Chỉ nhân nhất niệm vọng; 只因一念妄
Hiện xuất vạn ban hình 现出万般形
Chỉ tại một niệm lầm; Nên sinh muôn hiện tượng
Nghịch:
Kiểm vọng hồi tình.
Tình phản vi ý.
Nhiếp ý an tâm.
Tâm quy Tính địa
检妄回情, 情返为意,摄意安心,心归性地
Cho nên Nguỵ Bá Dương Chân Nhân viết:
Kim lai quy Tính sơ, 金来归性初
Nãi đắc xưng hoàn đơn 乃得称还丹
Kim như quay về Tính
Sẽ được gọi Hoàn Đơn.
(Thu Tình qui Tính, Thần Khí giao, Đại đạo nội đơn tài thành liễu)
收情归性神气交, 大道内丹才成了
THUẬN NGHỊCH TAM QUAN THUYẾT
Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật.
Đó gọi là THUẬN KHỨ, để sinh Nhân, sinh Vật.
Còn Hình hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần hoá Hư thì gọi là NGHỊCH LAI, để thành Phật, thành Tiên.
Bước thứ nhất là luyện Tinh hoá Khí, phải biết giờ Thiên Quý sinh (Hoạt Tý, hay Hoạt Tý Thời, là lúc Nhất Dương sơ sinh). Khi Thái Thủ thì Ý phải bồi hồi. Lấy Ý dẫn Khí. Cho nên nói:
Hoả bức Kim hành điên đảo chuyển 火逼金行颠倒转
Tự nhiên đỉnh nội đại đan ngưng 自然鼎内大丹凝。
Bước thứ hai là Luyện Khí hoá Thần. Thừa lúc Hoả lực ngùn ngụt, giá vận Hà Xa (Chân Khí). Từ Thái Huyền Quan (Vĩ Lư) lên tới huyệt Thiên Cốc (Nê Hoàn). Khí hợp với Thần, sau đó xuống tới Huỳnh phòng (Đan Điền), gọi là Kiền Khôn giao cấu, buông một điểm xuống Huỳnh Phòng.
Bước thứ ba là Luyện Thần hoàn Hư: Thủ Nhất bão nguyên (Tu trì định tĩnh, chấp thủ bão nguyên), khiến Thần quy nhập Tì Lô Tính Hải (Đan Điền).
Tam quan tự Hữu vi (Hậu Thiên, từ Hình tới Hư) nhập Vô vi (Tiên Thiên, Tiên Thiên chí Hư) là tiệm pháp. Tu bước thứ ba gồm cả 2 bước trước là Đốn Pháp.
Nếu Luyện Thần hoàn Hư là khi đạt tới: Chí Hư Cực Thủ Tĩnh Đốc, thì Tinh tự hoá Khí, Khí tự hoá Thần. Quan Doãn Tử gọi thế là: Quên tinh thần mà siêu sinh (Vong Tinh Thần nhi siêu sinh).
盡性了命說
性命雙修是的傳,冥冥杳杳 又玄玄。
誰知本體無生命,死死生生孰使然!
人性之善也,此言天命之性;性相近也,此言氣質之性。天命之性,論其 本源;氣質之性,論其稟受。天命之性,無不善;氣質之性,有不善。程子曰:“在天為命,在人為性。故知性然後能盡性,盡性然後能了命。”性命不二,謂之雙 修。
世間萬物本一神也。神本至虛,道本至無,易在其中矣。天位乎上,地位乎下,人物居中,自融自化,氣在其中矣。中天地以立命,稟 虛靈以成性,立性立命,神在其中矣。命系乎氣,性系乎神,潛神於心,聚氣於身,道在其中矣。道者神之主,神者氣之主,氣者形之主,行者生之主。無生則形 住,形者則氣住,氣住則神住,神住則性珠明矣、命實凝矣、元神靈矣、胎仙成矣、性命雙修之道畢矣。
丹田喻日,心中元性喻月。日光自返照月,蓋交會之後實體乃生金也。月受日氣,故初三生一陽者,丹既居鼎,覺一點靈光自心常照而無晝夜。一陽生於月之八日 而二陽產矣。二陽者,丹之金氣少旺,而元性又少現。自二陽生之於望而三陽純矣,三陽純者是所謂元性盡現而如月之圓矣。十六而一陰生,一陰者,性歸於命之始 也。自一陰生至於月之二十三而二陰產矣。二陰者,乃性歸於命三之二也。自二陰生於月之三十日而三陰全矣。三陰金,乃性盡歸於命也。方其始也,以命而取性。 性全矣,又以性而安命。
此是性命雙修大機括處。
TẬN TÍNH LIỄU MỆNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tính người vốn lành, đó là nói Thiên mệnh chi Tính (Tính Trời). Tính tương cận là Khí Chất chi Tính (Tính Người).
Thiên Mệnh chi tính, là luận về Bản Thể. Khí Chất chi tính là luận về Bẩm Thụ. Thiên mệnh chi Tính bao giờ cũng tốt. Khí Chất chi Tính có tốt, có xấu.
Trình tử nói: Ở Trời là Mệnh, ở người là Tính.
Cho nên, biết được Tính rồi sau mới Tận Tính, và mới hoàn thành Tu Mệnh. Tính Mệnh không hai, gọi là Song Tu.
Tính Mệnh song tu thị đích truyền 性命双修是的传
Yểu yểu, minh minh, hựu huyền huyền. 冥冥杳杳又玄玄
Thuỳ tri bản thể vô sinh tử, 谁知本体无生死
Tử tử, sinh sinh thục sử nhiên. 死死生生孰使然
Chân truyền Tính Mệnh song tu,
Mơ hồ, huyền ảo màng mơ gót đầu
Bản nguyên sinh tử chi đâu?
Ai kia bày vẽ cơ màu tử sinh.
Vạn vật thế gian là một Thần. Thần vốn chí Hư. Đạo vốn chí Vô. Dịch (Biến Hoá) ở trong đó.
Trời ở trên, Đất ở dưới, người ở giữa tự biến thiên, biến hoá. Khí ở trong đó.
Trung hoà Thiên Địa để lập Mệnh, bẩm thụ Hư Linh để thành Tính. Lập Tính, lập Mệnh, Thần tại trong đó.
Mệnh y phụ vào Khí, Tính y phụ vào Thần. Tiềm Thần nơi Tâm, tụ Khí nơi Thân. Đạo ở trong đó. Đạo là chủ của Thần, Thần là Chủ của Khí, Khí là chủ của Hình hài, Hình là chủ của sinh.
Vô sinh thì Hình trú, Hình trú thời Khí trú, Khí trú thì Thần trú, Thần trú thì Ngọc Châu Tính sẽ sáng ngời, và Mệnh sẽ ngưng kết. Nguyên Thần sẽ Linh Minh. Thế là Kim Đơn thành. Tính Mệnh song tu đến đây là hết.
TẬN TÍNH LIỄU MỆNH THUYẾT
Đan Điền ví dụ là Mặt Trời. Nguyên Tính ở Tâm ví dụ là Mặt Trăng. Nhật quang tự phản chiếu vào Nguyệt, vì sau khi giao hội, thì Bửu Thể sinh Kim.
Nguyệt thụ Nhật khí, cho nên Mồng Ba, sinh một Dương. Nhất Chân Linh Khí ở tại Đan Điền, thấy một điểm Linh Quang tự Tâm thường chiếu ra, mà không có ngày đêm.
Đến Mồng Tám, thì hai Dương sinh. Chỉ mới có hai Dương thì Đan chi Kim Khí hãy còn yếu, nên Nguyên Tinh cũng chưa mạnh.
Khi đến ngày Vọng (15), thì Tam Dương đã đủ. Tam Dương đủ thì Nguyên Tinh tận hiện, như Trăng tròn vậy.
Trăng đã tròn thì 16, một Âm Sinh.
Một Âm Sinh thì Tính quy về lúc đầu của Mệnh.
Từ một Âm sinh cho đến ngày 23 thì Nhị Âm sinh. Hai Âm là Tính quy về Mệnh được 2/3.
Đến ngày 30 (hoặc 29) thì Tam Âm đầy đủ.
Tam Âm đầy đủ là Tính quy về Mệnh.
Lúc bắt đầu, thì lấy Mệnh thủ Tính. Sau thì lấy Tính an Mệnh. Đó là đại cơ khái quát về Tính Mệnh song tu.
真土根心說
以物為藥,療身之病;以法為藥,療心之病,即以其人之心還治其人之病。
牝牡 鏌鋣倚太空,威風凜凜忒雄。聖凡不敢抬頭看,兩道神光射斗中。
寶劍雌和雄,雙雙插真土;雄降猙獰龍,雌伏猖狂虎。
心安真土以誠以 默以柔,氣養浩然勿正勿忘勿助。
兩枝慧劍埋真土,萬病錢消出幻軀。
夫天之氣之所從生者,蓋蘊於天地之土中而無盡藏也。人之氣所從生者,蓋蘊於人身之土中而無盡藏也。故仁義禮智之根,根之心;猶草木之根,根於土。草木之 根根于土,自然暢茂,而條達仁義禮智之根根于心,自然生色而啐面。孟子曰:居移氣,養移體。大學曰:心寬體胖。心既廣矣,體複胖矣,而謂病之不去體者,妄 也。至若枝葉之或憔悴而枯槁也,則又如之何?亦唯直從於其根焉。而培之,而溉之,培之溉之而生意有不復息乎?蓋草木之根,病則枝葉病。若人之心猶草木之根 也,心病則身病,心不病則身不病。故身病由於心病。而體胖,數語乃去病之聖藥也。
CHÂN THỔ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tâm an Chân Thổ dĩ thành, dĩ mặc, dĩ nhu.
心安真土以诚以默以柔
Khí dưỡng hạo nhiên, vật chính, vật vong, vật trợ.
气养浩然勿正勿忘勿助
(Tâm tồn chính niệm, cần tinh thành, tĩnh mặc, nhu hoà. Luyện dưỡng chính Khí, thì nội tức không chính sẽ trở lại chính, như có như không, vô sinh vô diệt.)
Tẫn Mẫu Mạc Da ỷ Thái Không 牝牡镆铘倚太空
Oai phong lẫm lẫm thắc anh hùng 威风凛凛忒英雄
Thánh phàm bất cảm đái đầu khán, 圣凡不敢抬头看
Lưỡng đạo Thần quang xạ Đẩu trung 两道神光射斗中
Thanh Kiếm Mạc Da giữa Không Trung,
Thư Hùng kiếm ấy rất oai phong
Thế gian ít kẻ dám quay ngó,
Lưỡng đạo Thần Quang chiếu tận Trời.
(Âm Dương tương hợp, thì hiệu dụng hiển minh, Thánh phàm đều được ích lợi. Thật là áo bí, thần diệu vô cùng)
Lấy vật làm thuốc, để trị liệu cho Thân. Lấy Pháp làm thuốc để trị liệu cho Tâm bệnh. Tức là lấy Tâm người bệnh để chữa trị Tâm người Bệnh.
Bảo kiếm thư hoà hùng, song song sáp chân thổ.
宝剑雌和雄,双双插真土
Hùng giáng tranh nanh long, thư phục xương cuồng hổ.
雄降狰狞龙,雌伏猖狂虎
Thư hùng đôi kiếm cắm xuống đất,
Hổ long tuy dữ cũng đầu hàng.
(Khi hai khí Âm Dương đều ở tại Đan Điền, Dương khí trừ mọi hư giao, Âm khí chế ngự mọi niệm dục)
Lưỡng chi tuệ kiếm sáp Chân Thổ, 两枝慧剑插真土
Vạn bệnh tiềm tiêu xuất ảo khu 万病潜消出幻躯
Hai lưỡi kiếm thần cắm xuống đất
Con người hết bệnh, khỏi âu lo.
(Khi 2 khí Âm Dương tụ tại Đan Điền, thì vạn bệnh tiêu trừ và người sẽ khoẻ mạnh).
CHÂN THỔ CĂN TÂM THUYẾT
Con người chịu lấy khí trời đất để sinh, khí này vốn chứa trong Thổ của Trời đất, không bao giờ cùng. Còn Khí để con người được sống cũng tàng chứa trong Thổ nơi Thân con người. Nó cũng vô cùng tận. Cho nên, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí gốc nơi Tâm, như thảo mộc gốc nơi Đất. Rễ thảo mộc bắt xuống đất, nên cây cối rườm rà, xinh tươi.
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí sinh nơi Tâm, cũng làm cho ta nên đẹp đẽ như trẻ con. Mạnh Tử nói: Cư di Khí, dưỡng di Thể 居移气, 养移体。(Nhà cửa biến đổi khí chất con người. Uống ăn biến đổi hình thể con người)
(Lòng mà khinh thoát thảnh thơi, Rồi ra sẽ thấy tốt tươi hình hài)
Đại Học nói: Tâm quảng thể bàn 心广体胖。 Tâm đã rộng, người đã mập, mà lại nói rằng bệnh không lìa xác thì nhầm vậy.
Cây cối mà tiều tuỵ khô héo, thì phải làm sao? Đương nhiên là phải lo trị gốc. Phải thêm đất, phải tưới bón cho nó. Tự nhiên sinh cơ sẽ phục hồi.
Tâm con người cũng như là rễ cây cỏ. Tâm mà bệnh, thì thân sẽ bệnh, Tâm không bệnh thì thần không bệnh.
Cho nên thân bệnh là do Tâm bệnh. Giữ cho tâm không bệnh thì thân sẽ được mập mạp. Ấy là thánh dược trị bệnh.
魂魄說
陽神曰魂;陰神曰魄。魂之與魄,互為室宅。
魂者氣之神,有清有濁。 口鼻之所以呼吸者,呼為陽伸,吸為陰屈也。魄者精之神,有虛有實。耳目之所以視聽,視者為陰明,聽為陰靈也。
生謂之精氣,死謂之魂 魄。天地公共底謂之鬼神也。
鬼雲為魂,鬼白為魄。雲者,風,風者,木;白者,氣;氣者,金。風散故輕清,輕清者,魄從魂升。金風故重濁,重濁者,魂從魄降。故聖人以魂運魄,眾人以 魄攝魂。魂晝寓目,魄夜舍肝。寓目能見,舍肝能夢。夢多者,魄制魂;覺多者,魂勝魄。蓋因魄有精,因精有魂,因魂有神,因神有意,因意有魄。五者運行不 已,所以我之偽心流轉造化幾億萬歲未有窮極。然核芽相生不知其幾萬株。天地雖大,不能芽空中之核;雌卵相生,不知其幾萬禽,陰陽雖妙,不能卵無雄之雌。是 以聖人,萬物之來,對之以性而不對之以心。性者,心未萌也,無心則無意,無意則無魄,無魄則不受生,而輪回永息矣。
HỒN PHÁCH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Hồn là Thần của Khí. Có thanh có trọc. Mũi mồm hô hấp được là nhờ nó. Hô là Khí Dương Thân, Hấp là Khí Âm Khuất. Phách là Thần của Tinh. Có hư có thực. Tai mắt nghe, thấy được là nhờ nó. Thấy được là Dương Minh. Nghe được là Âm Linh. Dương Thần là Hồn. Âm Thần là Phách. Hồn Phách hỗ tương làm nhà cửa cho nhau nương náu. Sống là Tinh Khí. Chết là Hồn Phách. Quỷ Thần là cái gì công cộng của Trời Đất.
HỒN PHÁCH THUYẾT
Quỉ Vân là Hồn. Quỉ Bạch là Phách. Vân là Phong. Phong là Mộc. Bạch là Khí. Khí là Kim. Gió tán phát nên nhẹ nhàng. Khinh Thanh là Phách theo Hồn mà Thăng.
Kim là kiên cố, trọng trọc. Trọng trọc là Hồn theo Phách giáng. Cho nên thánh nhân lấy Hồn vận Phách. Chúng nhân thì lấy Phách nhiếp Hồn.
Hồn ban ngày ở nơi mắt. Phách ban đêm ở nơi Gan. Ban ngày Hồn thấy vật. Phách ở Gan nên nằm mộng. Mộng nhiều thì Phách chế Hồn. Biết nhiều thì Hồn thắng Phách.
Cho nên, nhân có Phách mới có Tinh, nhân có Tinh mới có Hồn. Nhân có Hồn mới có Thần, nhân có Thần mới có Ý, nhân có Ý mới có Phách.
Năm thành phần ấy vận hành không ngừng. Cho nên Tâm tà nguỵ của ta bị lưu chuyển mấy ức vạn năm vô cùng cực.
Mầm hạt tương sinh, không biết mấy vạn châu thiên. Trời đất tuy lớn, nhưng nếu quả mà không hạt, cũng không sinh được cây con.
Con mái và trứng tương sinh, không biết mấy vạn châu thiên. Âm Dương tuy diệu, cũng không làm được trứng mà không có trống mái.
Cho nên Thánh Nhân thấy vạn vật sinh xuất, lấy Tính mà đối với chúng chứ không lấy Tâm. Tính là Tâm khi chưa manh nha. Không Tâm thời không Ý. Vô Ý sẽ không có Phách. Không có Phách sẽ hết thụ sinh, và luân hồi sẽ mãi dứt.
蟾 光 說
太極以此而生三才,父母以此而育我體。 我當以此而成還丹,孕於鴻蒙,生於坤,復圓明閃爍,是為蟾光。玉溪子曰:“剖開太極巴露出天地,心虛空無涯,微月見辜岑。”
西川岸上 抬頭望,一派蟾光蘸碧波。便好下功修二八,殷勤仔細托黃婆。
太虛寥廓,皓月粲然,雪浪翻騰,金蟆吐耀。人見月之所以明而曰:金精盛則月明焉。孰知金之所以生者,自月而產也。人見金之產於月,而不知月之明本出於日 也。月者,喻元性也。水,喻坎宮也。金蟆者,喻一點真陽之竅也。元性,喻月性之用也。性之初見,圓陀陀,光燦燦,狀似流星。蓋氣質之性稍息,而元神真性就 見,如雲開則月現,霧散則陽暉。才見此物,分明便是元氣產矣,速急採取。譬之,見賊便捉,毋令再逸。收歸於鼎器之中,則一點元氣蟾光終,不可得而出矣。
THIỀM QUANG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thái Cực từ đó sinh trời đất, người. Cha mẹ từ đó sinh thân ta, Ta phải dùng nó luyện Kim Đơn. Nó thoát thai từ Hỗn Độn nhất Khí, sinh ra từ quẻ Khôn (Đan Điền). Tròn trĩnh, rực rỡ, gọi là Thiềm Quang.
Ngọc Khuê tử nói:
Phẫu khai Thái Cực bao, 剖开太极包
Lộ xuất Thiên Địa tâm 露出天地心
Hư Không khoát vô nhai, 虚空阔无涯
Vi mục hiện Cô Sơn (Đan Điền) 微月见辜岑
Mở được bao Thái Cực, Sẽ thấy THIÊN ĐỊA TÂM.
Hư Không rộng man mác, Nhíu mắt thấy Cô Sầm (Đan Điền)
Tây Xuyên (Đan điền) ngạn thượng đài đầu vọng
西川岸上抬头望
Nhất phái Thiềm quang trám bích ba, (Thận gian vận khí)
一派蟾光蘸碧波
Tiện hảo hạ công tu nhị bát (Nguyên thần, Nguyên khí)
便好下功修二八
Ân cần tử tế thác Hoàng Bà (Đan Điền)
殷勤仔细托黄婆
THIỀM QUANG THUYẾT
Thái Hư trống rỗng, hạo nguyệt sáng soi, sóng tuyết phi đằng. Kim Mô nhả sáng. Con người thấy trăng sáng nên cho rằng Kim Tinh thịnh nên mặt trăng sáng vậy. Có biết đâu rằng Kim sinh ra là do nơi mặt trăng.
Người thấy Kim sinh từ Nguyệt, nhưng không biết rằng trăng sáng là do Mặt Trời.
Nguyệt là Nguyên Tính. Thuỷ là Khảm cung, Kim Mô là Nhất Điểm Chân Dương. Kim Mô (Kim mô cũng là kim Thiềm) là Chân Dương chi Khiếu.
Nguyên Tính ví dụ là Nguyệt. Là Dụng của Tính. Tính vừa phát hiện thì tròn trịa, trong sáng, như ngôi sao chổi.
Khí Chất chi tính vừa đình chỉ, thì Nguyên Dương Chân Tính liền hiện ra. Như mây tan thì trăng hiện, móc tan thì thấy ánh Dương Quang.
Thấy được vật này là Nguyên Khí đã sinh ra, phải Thái Thủ nó ngay. Y như thấy cướp là bắt ngay, đừng để chạy thoát. Thu lấy đem về Đan Điền, thì Nhất điểm Dương Khí Thiềm Quang không thể tẩu tiết ra ngoài.
降 龍 說
降龍未得豈成仙,降得真龍丹可圓。須 信神仙活手段,一毫頭上見龍天。
頭角崢嶸勢莫當,雲收雨霽暗濟藏。從今不許翻潭洞,養顆驪珠夜夜光。
離日為汞,中有己土,強名曰龍。其形獰惡,主生人殺人之權,專成佛成仙之道,威能變化,感而遂通,雲行雨施,品物流行,乾之九二,見龍在田,利見大人。
子曰:龍德而正中也。世人不悟此龍生生之功,每服其害。若人悟而畏之,調而馭之,則能降此獰惡之龍而積至精之汞。降之者,制其心中 真火,火性不飛,則龍可制而有得鉛之時。
故曰:不積汞,何以取其鉛,不降龍,無以伏其虎。且真鉛真汞未易相投,而真虎真龍亦難降 伏。學道者若能了得這個字,其他事皆未務也。
HÀNG LONG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Đầu giác chanh vanh thế mạc đương (Chỉ Long)
头角峥嵘势莫当
Vân thu, vũ tế ám tiềm tàng (Chỉ Hàng Long)
云收雨霁暗潜藏
Tòng Kim bất hứa phiên đàm động,
从今不许翻潭洞
Dưỡng khoả Ly Châu (Đan Điền), dạ dạ quang
养颗骊珠夜夜光
Dầu sừng dữ tợn khó ai đương
Trời quang, mây tạnh, bắt lai hàng,
Không cần bay nhảy trong hồ động
Chỉ muốn đơn thành, phát dạ quang.
Hàng Long vị đắc, khởi thành tiên? 降龙未得岂成仙
Hàng đắc Chân Long, đan khả viên. 降得真龙丹可圆
Tu tín Thần Tiên hoạt thủ đoạn, 须信神仙活手段
Nhất hào đầu thượng kiến Long Thiên 一毫头上见龙天
Hàng Long không nổi khó thành tiên
Hàng được Chân Long, đơn sẽ viên
Nên biết Thần tiên rất thủ đoạn,
Ngước mắt nhìn lên thấy Long Thiên.
HÀNG LONG THUYẾT
Ly Nhật (Tâm và Lửa) là Hống, là Nguyên Thần. Trong đó có Mậu Thổ (Chính niệm), tạm gọi là Long. Hình tướng nó dữ tợn, có thể sinh nhân, có thể sát nhân, lai chuyển giúp người thành Phật, thành Tiên, có sức biến hoá, cảm mà thông suốt, vân hành, vũ thí, phẩm vật lưu hình. Quẻ Kiền nơi hào Cửu Nhị viết: Hiện Long tại Điền. Lợi kiến Đại Nhân 现龙在田,利见大人
Đức Khổng nói: Long đức nhi chính trung dã 龙德而正中也. Người đời không hiểu được công trạng sinh sinh của Long này, cho nên bị nó làm hại.
Nếu hiểu được và biết sợ nó, biết chế ngự được nó, thì có thể hàng phục được tính dữ tợn của con Long này và tích được hết tinh hoa của Hống.
Hàng Long là chế ngự được Chân Hoả trong Tâm. Hoả tính không còn bay, tức là Long đã bị chế ngự, và cũng là lúc thủ đắc được Diên (Nguyên Khí)
Cho nên nói: Bất tích Hống, hà dĩ thủ kỳ Diên. 不积汞,何以 取其铅 (Không tụ Nguyên Thần, thì không sao có được Nguyên Khí)
Không hàng Long, thì không sao mà Phục Hổ. (Không hàng phục được Thần, thì không sao chế ngự được Tính Mệnh).
Vả lại Chân Nguyên Thần (Long), Chân Nguyên Khí (Hổ) không dễ hoà hợp, và Chân Long, Chân Hổ cũng rất khó hàng phục.
Học giả mà hiểu được điều này thì những chuyện khác là ngọn ngành vậy.
伏 虎 說
降龍伏虎也無難,降伏歸來鎖玉關。日月分明烹鼎內,何憂不作大還丹。
採藥尋真到虎溪,溪中虎正作雄威。被我制 服牽歸舍,出入將來當馬騎。
入虎穴尋虎酪酥,其中滋味勝醍醐。自人做到這些處,方是乾坤大丈夫。
坎月為鉛,鉛中有戊土,強名曰虎,其形倡狂,雖能傷人殺人,卻蘊大乘氣象,舉動風威,叩之則應,舍弘光大品物資生文。
王重陽曰: 履虎尾,不咥人。
亨又曰:愎道坦坦,幽人貞吉。
孔子曰:素愎之往,獨行願也。
若人悟 而畏之,馴而調之,則能伏此倡狂之虎,以產先天之鉛。伏之者,伏身中真水,水源至清,則虎可伏而無咥人之害。
故歷代聖師以降龍為煉 已,以伏虎為持心。是以純陽翁雲:七返還丹在人,先須煉己待時。
紫陽翁雲:若要修成九轉,先須煉己持心。皆此義也。
PHỤC HỔ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình
Thái dược tầm chân đáo hổ khê, 采药寻真到虎溪
Khê trung, hổ chính tác hùng uy 溪中虎正作雄威
Bị ngộ chế phục khiên qui xá 被我制伏牵归舍
Xuất nhập tương lai đương mã ki 出入将来当马骑
Hái thuốc tầm chân tới Hổ khê
Trong Khê, chính lúc hổ ra uy
Chế ngự bắt về nơi hàn xá
Dùng làm ngựa cưỡi lúc vô ra.
Hàng Long, phục Hổ dã vô nan 降龙伏虎也无难
Hàng phục qui lai, toả ngọc quan 降伏归来锁玉关
Nhật nguyệt phân minh, phanh đỉnh nội 日月分明烹鼎内
Hà ưu bất tác Đại Hoàn Đan 何忧不作大还丹
Hàng Long, Phục Hổ chẳng khó khăn
Bắt được đem về khoá ngọc ban
Thần Khí phân minh đun trong vạc
Lo chi không luyện được kim đan?
Nhập hổ huyệt tầm hổ lạc hoà 入虎穴寻虎酪酥
Kỳ trung tư vị thắng đề hồ 其中滋味胜醍醐
Tự nhân tố đáo giá ta xứ 自人做到这些处
Phương thị Kiền Khôn đại trượng phu 方是乾坤大丈夫
Vào tới hang hùm tìm sữa Hổ
Mới hay mùi vị chẳng kém bơ,
Con người mà dám vào nơi đó
Mới thực Kiền Khôn đại trượng phu.
PHỤC HỔ THUYẾT
Khảm Nguyệt là Diên. Trong có Mậu Thổ. Gượng gọi là Hổ. Hình tướng nó dữ tợn. Có thể thương nhân, có thể sát nhân. Lại ẩn dấu Khí tượng Đại Thừa. Khi nó cử động thì oai phong lẫm lẫm, kêu nó liền ứng, hàm hằng, quang đại, phẩm vật tư sinh (Kinh Dịch, Quẻ Khôn, Thoán Truyện).
Văn Vương viết trong Kinh Dịch: Lý Hổ vĩ, Bất khiết nhân hanh 履虎尾,不咥人亨。Lý dẫm đuôi hùm, hùm chẳng cắn. Hùm chẳng cắn người, mới hanh thông.
Lại nói: Lý đạo thản thản, u nhân trinh cát (Lý, Cửu Nhị) 履道坦坦, 幽人贞吉。
Cửu nhị, thênh thang trên đường đạo
Âm thầm vui sống thế mà hay
Khổng Tử viết:
Tố Lý chi vãng, độc hành nguyện dã. (Lí, sơ cửu, Tượng) 素履之往,独行愿也。
Tượng rằng:
Vui sống đơn sơ
Đó là thực hiện ước mơ của mình.
Nếu người hiểu được và biết sợ sệt, biết điều chế nó, thì có thể hàng phục được con hổ dữ này, để sinh ra Tiên Thiên chi Diên.
Hàng phục được cái này, là hàng phục được Chân Thuỷ trong thân. Nước vốn rất trong, nên Hổ có thể hàng phục được và không cắn người.
Cho nên thánh hiền xưa nay gọi Hàng Long là Luyện Kỷ (Chế phục Nguyên Thần, luyện dưỡng chính niệm), Phục Hổ là Trì Tâm (Tu Trì bản tâm).
Cho nên Thuần Dương chân nhân nói:
Thất phản hoàn đơn tại nhân, tiên tu luyện kỷ đãi thời. 七返还丹在人,先须炼己待时。
Tử Dương Ông cũng nói:
Nhược yếu tu thành cửu chuyển. Tiên tu luyện kỷ, trì Tâm.
若要修成九转,先须炼己持心。
三家相見說
身、心、意,是誰作三家?精、 氣、神,由我合成一個。
肝青為父,肺白為母,心赤為女,脾黃為祖,腎黑為子,千五行始,三物一家,都歸戊己。
大道玄微見此圖,分 明有象不模糊。先將一二為之用,三四中當共一都。
不用五金并八石,只求三品共一室。煉成一顆如意珠,軟似兜羅紅似日。
身、心、意謂之三家。三家相見者,胎圓也。精、氣、神謂之三元。三元合一者,丹成也。攝三歸一,在乎虛靜。虛其心,則神與性合。靜其身,則精與情寂。意 大定,則三元混一。
情合性謂之金木並,精合神謂之水火交,意大定謂之五行全。
然而精化為氣 者,由身之不動 也。氣 化為神者,由心之不動也。神化為虛者,由意之不動也。心若不動,則東三南二同成五也。身若不動,則北一西方四共之也。意若不動,則戊己還生數五也。
身,心、意合,則三家相見,結嬰兒也。
TAM GIA TƯƠNG KIẾN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thân Tâm Ý thị thuỳ phân tác tam gia 身心意是谁分作叁家
Tinh Khí Thần do Ngã hợp thành nhất cá. 精气神由我合成一个
Thân, Tâm, Ý ai phân thành ba chốn
Tinh Khí Thần ta đem hiệp một nhà
Đại đạo huyền vi kiến thử đồ
大道玄微见此图
Phân minh hữu tượng bất mô hồ
分明有象不模糊
Tiên tương nhất nhị vi chi dụng (Âm Dương)
先将一二为之用
Tam tứ (Nguyên Thần, Nguyên Khí) trung đương cộng nhất đô
叁四中当共一都
Xem hình sẽ thấy Đạo huyền vi
Có Tượng phân minh, chẳng mơ hồ
Trước đem hai, một làm công dụng,
Sau lấy Khí Thần hiệp nhất đô
Gan xanh làm cha. Phổi trắng làm mẹ. Tim đỏ làm con. Tì vàng làm Tổ. Thận đen làm con. Suy từ ngũ hành mới hay: Thân, Tâm, Ý đều một nhà. Đều quy Tì Mậu Kỷ.
Bất dụng Ngũ Kim tịnh bát thạch 不用五金并八石
Chỉ cầu Tam Phẩm cộng nhất thất 只求叁品共一室
Luyện thành nhất khoả Như Ý Châu 炼成一颗如意珠
Nhuyễn tự đâu la, hồng tự nhật 软似兜罗红似日
Chẳng dụng Ngũ Kim hay bát thạch
Chỉ mong Tam Phẩm (Thân, Tâm, Ý) hợp một nhà
Luyện thành một hạt Như Ý Châu
Mềm tựa lụa là, hồng như Nhật
TAM GIA TƯƠNG KIẾN THUYẾT
Thân, Tâm, Ý gọi là Tam Gia.
Gọi là Tam Gia Tương Kiến là muốn Tam Gia dung hợp thành nhất Thể thì Thai kết.
Tinh, Khí, Thần thì gọi là Tam Nguyên, Tam Nguyên hợp nhất thì Đan Thành. Muốn Tinh, Khí, Thần hợp nhất cốt phải Hư Tĩnh. Hư kỳ Tâm thì Thần hợp với Tinh. Tĩnh kỳ Thân thì Tinh và Tình sẽ tịch định.
Ý đại định, thì Tam Nguyên (Tinh, Khí, Thần) sẽ hợp nhất. Tình hợp Tính, thì Kim Mộc giao. Tinh hợp Thần thì Thuỷ Hoả giao. Ý mà đại định thì Ngũ hành sẽ toàn vẹn. Tinh muốn hoá khí thì Thần không được vọng động. Khí muốn hoá Thần thì Tâm không được vọng động. Thần muốn hoá Hư thì Ý không được vọng động.
Tâm mà bất động thì:
Đông Tam, Nam Nhị đồng thành Ngũ 东三南二同成五
Thân mà bất động thì
Bắc Nhất, Tây Phương tứ cộng chi 北一西方四共之
Ý mà bất động thì:
Mậu Kỷ hoàn tòng sinh số Ngũ 戊己还从生数五
Thân, Tâm, Ý mà hợp thì:
Tam gia tương kiến kết Anh nhi 三家相见结婴儿
(Bài thơ trên rút trong Ngộ Chân Thiên)
和合四象說
金水合處木火為侶,四者混沌列為龍虎。
青龍降方蟠白虎,朱雀下方拔玄武。四象和合入中 宮,化作一靈歸紫府。
天三生木位居東,其象為青龍;地二生火位居南,其象為朱雀;地四生金位居西,其象為白虎;天一生水位居北,其象 為玄武。
眼不視而魂在肝,耳不聞而精在腎,舌不動而神在心、鼻不嗅而魄在肺,四者無漏,則精水、神火、魂木、魄金皆聚於意土之中,而 謂之和合四象也。
合眼光、凝耳韵、調鼻息、緘舌氣四大不動,使金木水火土俱會於中宮,謂之攢簇五行也。故曰:精神魂魄意,攢簇歸坤 位,靜極見天心,自有神明至。
四象者,青龍、白虎、朱雀、玄武也。五行者,金、木、水、火、土也。龍木生火,同矚乎心。心者,象帝之先靈妙,本有中之真無也。心若不動,則龍吟雲起。 朱雀斂翼,而元氣聚矣。虎金生水,同系乎身。身者,曆劫以來清靜,自無中之妙有也。身若不動,則虎嘯風生。玄龜潛伏,而元精凝矣。精凝氣聚,則金木水火混 融於真土之中,而精神魂魄攢簇于真意之內。真意者,乾元也。乃天地之母,陰陽之根,水火之本,日月之宗,三才之源,五行之祖,萬物賴之以生成,千靈承之以 舒慘。意若不動,則二物交、三寶結、四象和合、五行攢簇,俱會八中宮而大丹成矣。故紫陽雲:五行全要八中央。蓋此之謂也。
HOÀ HỢP TỨ TƯỢNG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Kim Thuỷ hợp xứ 金水合处
Mộc Hoả vi lữ 木火为侣
Tứ giả hỗn độn 四者混沌
Liệt vi Long Hổ 列为龙虎
Thiên tam sinh Mộc. Vị cư Đông. Kỳ tượng vi Thanh Long
天三生木位居东其象为青龙
Thiên nhất sinh Thuỷ. Vị cư Bắc. Kỳ Tượng vi Huyền Vũ
天一生水位居北其象为玄武
Địa nhị sinh Hoả. Vị cư Nam. Kỳ tượng vi Chu Tước
地二生火位居南其象为朱雀
Địa tứ sinh Kim. Vị cư Tây. Kỳ tượng vi Bạch Hổ
地四生金位居西其象为白虎
Thanh Long, Huyền Vũ giáng phương bàn 青龙玄武降方蟠
Bạch Hổ, Chu Tước hạ phương viên 白虎朱雀下方援
Tứ tượng hoà hợp nhập Trung Cung 四象和合入中宫
Hoá tác nhất Linh qui Tử Phủ (Đan Điền) 化作一灵归紫府
Thanh Long, Huyền Vũ hợp hoà
Bạch Hổ, Chu Tước một nhà đoàn viên
Trung Cung hoà hợp mọi miền
Kim Đơn thấy tại Đan Điền chẳng sai.
Mắt chẳng xem thì Hồn tại Gan
Tai chẳng nghe thì Tinh tại Thận
Lưỡi bất động thì Thần tại Tâm
Mũi chẳng ngửi thì Phách tại Phế.
Bốn cơ quan đó vô lậu, thì Tinh Thuỷ, Thần Hoả, Hồn Mộc, Phách Kim đều tụ ở trong Ý Thổ, như thế gọi là Hoà hợp Tứ Tượng.
Hợp nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tị tức, giam thiệt khí. Tứ Đại sẽ bất động, để Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ đều hội ở Trung Cung, gọi là toản thốc Ngũ Hành vậy.
Nên nói:
Tinh Thần Hồn Phách Ý, 精神魂魄意
Toản thốc qui Khôn vị 攒簇归坤位
Tĩnh cực kiến Thiên Tâm 静极见天心
Tự hữu Thần Minh chí 自有神明至
Tinh Thần Hồn Phách Ý
Hoà hợp tại Trung Cung,
Tĩnh cực Thiên Tâm hiện
Thần minh tự nhiên đến.
HÒA HỢP TỨ TƯỢNG THUYẾT
Tứ Tượng là: Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ.
Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
Long Mộc sinh Hoả, đều thuộc về Tâm.
Tâm là tượng Đế chi Tiên (Tâm là gốc của ngũ hành)
Tâm là Chân Vô, Linh Diệu.
Nếu Tâm mà bất động thì Long ngâm, mây khởi, Chu Tước xếp cánh (Nguyên Thần qui phục) và Nguyên Khí ngưng kết.
Hổ Kim sinh Thuỷ, đều thuộc về thân.
Thân này, từ muôn kiếp vốn thanh tịnh, nên là Diệu Hữu của Chân Vô.
Thân mà bất động, thì Nguyên Khí sẽ y phụ và Nguyên Tinh sẽ kết thành. Tinh ngưng, Khí tụ, thì Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả sẽ hồn dung nơi Chân Thổ. Tinh, Thần, Hồn, Phách sẽ hoà hợp tại Chân Ý.
Chân Ý là Kiền Nguyên, là Vạn vật chi thuỷ, thiên địa chi mẫu, âm duơng chi căn, thuỷ hoả chi bản, nhật nguyệt chi tông, tam tài chi nguyên, ngũ hành chi tổ.
Vạn vật nương vào đó để sinh thành, Thiên Linh nhờ đó mà thư thái. Ý mà bất động thì Nguyên Thần, Nguyên Khí tương giao, tinh khí thần tương hội, Tinh thuỷ, Thần Hoả, Hồn mộc, Phách kim (Tứ tượng) sẽ hoà hợp, Ngũ hành sẽ toản thốc nơi Đan Điền.
Tất cả đều hội tụ về Trung cung và Đại Đan thành vậy.
Tử Dương chân nhân nói:
Ngũ hành toàn yếu nhập Trung ương 五行全要入中央。
取坎填離說
坎象來填,離掛成乾。天地定位,返本還元。
取出坎中畫,補離還復乾。純陽命本固,靈砂性珠圓。
克念全天哩,離塵合上禪。採鉛知下手,三叠舞胎仙。
陽單結在陰海中,猶如坎裏一炎堆。擒來離內溫溫養,此即神仙顛倒功。
鉛汞者,太極初分,先天之氣 也。先天氣 者,龍虎初弦之氣 也。虎居北方坎水之中,而坎中陽爻原屬於乾。劫運未交之先,乾因顛蹶馳驟誤陷於坤。乾之中爻損而 成離。離本汞居,故曰,坎內黃男名汞祖也。龍居南方離火之內,而離中陰爻原屬於坤,混沌顛落之後,坤因含受孕育,得配於乾。坤之中爻實而為坎,坎本鉛會, 故曰離中玄女是鉛家也。似此男女異室,鉛汞異爐,陰陽不交,則天地否矣。聖人以意為黃婆,引坎內黃男,配離中玄女。夫妻一媾,即變純乾,謂之取坎填離,複 我先天本體。故悟真篇雲:取將坎內中心實,點化離宮腹內陰,正此義也。
THỦ KHẢM ĐIỀN LY ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Khảm tượng lai điền, Ly quái thành Kiền. 坎象来填离挂成乾
Thiên địa định vị, phản bản hoàn nguyên. 天地定位返本还原
Thủ xuất Khảm trung hoạch. 取出坎中画
Bổ Ly hoàn phục Kiền. 补离还复乾
Thuần Dương mệnh bản cố 纯阳命本固
Linh sa châu tính viên 灵砂珠性圆
Lấy một hào Dương trong quẻ Khảm,
Thay chỗ hào Âm giữa quẻ Ly
Thế là Ly lại biến thành Kiền
Đất Trời định vị, tái hoàn nguyên
Khắc niệm toàn Thiên Lý 克念全天理
Ly trần hợp thượng thiền 离尘合上禅
Thái Diên tri hạ thủ 采铅知下手
Tam diệp vũ thai tiên 叁叠舞胎仙
Muôn niệm phát ra hợp lẽ Trời
Nay Ly biến dạng hoá Kiền rồi
Tu trì như vậy là biết cách
Phật Tiên âu cũng chỉ thế thôi
Dương đan kết tại Âm Hải trung 阳丹结在阴海中
Do như Khảm lý nhất viêm đôi 犹如坎里一炎堆
Cầm lai Ly nội ôn ôn dưỡng 擒来离内温温养
Thử tức Thần Tiên điên đảo công 此即神仙颠倒功
Lấy một hào Dương từ lòng biển
Thay chỗ hào Âm giữa quẻ Ly
Nếu như làm được công chuyện đó
Điên đảo Thần tiên, ta hãy suy
THỦ KHẢM ĐIỀN LY THUYẾT
Diên Hống là Thái Cực sơ phân, là Tiên Thiên chi Khí. Khí Tiên Thiên là Khí Sơ Huyền của Long Hổ vậy. Như vậy Diên Hống là Nguyên Thần Nguyên Khí lúc sơ phân.
Hổ ở phương Bắc trong Khảm Thuỷ. Hào Dương trong quẻ Khảm vốn thuộc Kiền. Trước khi có sinh diệt, Quẻ Kiền bị điên đảo, lọt vào trong quẻ Khôn. Thế là Khôn biến thành Khảm, Kiền biến thành Ly.
Vì thế nên nói:
Khảm nội Hoàng Nam danh Hống tổ 坎内黄男名汞祖
Ly trung Huyền Nữ thị Diên gia. 离中玄女是铅家
Khảm có hào Dương nên kêu Hống tổ, Ly có hào Âm nên gọi Diên gia.
Nếu Nam nữ biệt cư, Diên Hống không chung một lò, thì Âm Dương sẽ không gặp gỡ, nên gọi là: Thiên Địa Bĩ 天地否
Thánh Nhân gọi Chân Ý là Huỳnh Bà, làm mối manh cho Huỳnh Nam của Khảm gặp Huyền Nữ của Ly. Phu thê giao cấu, Ly sẽ biến thành Thuần Kiền, Khảm sẽ biến thành Thuần Khôn. Thế là Thủ Khảm Điền Ly, cho con người chúng ta phục hồi tiên thiên bản thể:
BIẾN NGƯỜI TRỞ LẠI THÀNH TRỜI
Ngộ Chân Thiên viết:-
Thủ tương Khảm nội trung tâm thật, 取将坎内中心实,
Điểm hoá Ly cung phúc nội Âm 点化离宫腹内阴
Quyết mang Khảm quái trung hào thực
Điểm hoá cho Ly hết nội Âm
念觀音咒說
始則自上而下至於臍中,中則自下而上至於喉內。
唵字須要到臍,彌字在臍之下。
此咒是觀音菩薩微妙心印。若人書寫六字大明咒者,即同書寫三藏法寶;若人得念六字大明咒者,則同諷誦七軸靈文。又能開智慧門,能救百難苦,三世業冤,悉 皆清靜,一切罪障,盡得消除,解脫生死,安樂法身。然而念咒亦有密訣。故第一聲中叫唵之,乃以呼吾身毗盧遮那佛也。第二聲東而嘛之,乃以呼吾身不動尊佛 也。第三聲南而呢之,乃以呼吾身寶生佛也。第四聲西而叭之,乃以呼吾身無量壽佛也。第五聲北而咪之,乃以呼吾身不空成就佛也。第六聲複上返於喉而作吽者, 乃以呼吾身大勢至金剛也。久則五氣 歸元,即成就不思議功德而證圓通也。
QUAN ÂM MẬT CHÚ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Chú thích của dịch giả:
Chú này còn được gọi là: Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn, Lục Tự Đại Minh Chú, hay Lục Tự Đại Minh Darani.
Có nhiều cách đọc:-
Án Ma Ni Bát Di Hồng.
Aum Mani Padme Hum
Ốm Ma Ni Bát Mê Hồng.
Án Ma Ni Bát Minh Hồng.
Om Mani Padme Hum.
Om Mani Pê Mê Hung.
Giải thích lời chú:-
Đoàn Trung Còn dịch là:
Aum, Le Joyau dans le Lotus.
Hay, cái quý báu trong Hoa Sen.
Tôi dựa vào Hình vẽ và lời chú nơi trang 200, 201 của sách: Les Fondements de La Mystique Tibétaine (Foundaytion of the Tibetan Mysticism) của Anagarita Govinda và Les Spiritualités vivantes của Jean Herbert, mà dịch là :-
Aum, Ngọc Châu Viên Giác chiếu diệu trong Liên Hoa Tâm,
hay
Tuyệt Đối Thể chiếu diệu trong Trung Tâm não bộ,
và đã sánh đồ hình này với Nê Hoàn cung của Đạo Lão.
Phương Dung, Những điều huyền diệu của Kim Cang thừa, tr.107, cũng giải thích từng chữ rất hay.
***
Mới đầu từ trên xuống dưới chỗ Rốn. Chứ AUM phải đọc nơi Rốn (Đan Điền)
Sau đi từ dưới lên trên cho tới cổ họng. Chữ Di (Mê) phải đọc từ dưới Rốn (Đan Điền).
QUAN ÂM MẬT CHÚ THUYẾT
Chú này là Tâm ấn rất vi diệu của Đức Quan Âm. Ai mà biết chú này thì cũng như viết Tam Tạng Pháp bửu. Ai mà đọc chú này thì cũng như đọc tất cả Kinh Phật, lại mở mang được đầu óc, thoát ly sinh tử, đạt tới Pháp Thân an lạc.
Nhưng niệm chú có mật quyết nên:
Tiếng thứ Nhất là Án 唵 niệm từ Chính Rốn (Đan Điền). Đó là niệm Tì Nô Giá Na Phật trong ta.
Tiếng thứ Hai là Ma 嘛 ở phía Đông. Đó là kêu Bất Động Tôn Phật trong ta.
Tiếng thứ ba là Ni 呢 ở phía Nam. Đó là niệm Phật hộ thân bảo sinh trong ta.
Tiếng thứ tư là Bát 叭 ở phía Tây. Đó là niệm Vô Lượng Phật trong thân ta.
Tiếng thứ Năm là Di 咪 ở phía Bắc, tức là niệm Bất Không Thành Tựu Phật trong ta.
Tiếng thứ Sáu là Hồng 吽 tại yết hầu. Đó là niệm Đại Thế Chí Kim Cương.
Niệm lâu ngày Ngũ Khí sẽ triều Nguyên, tức thành tựu được công đức không cùng và chứng đắc được viên thông.
Lời bàn của dịch giả: Biết rằng trong mình có đủ chư Thần, chư Phật hiện thân thì dĩ nhiên là Đắc Đạo rồi vậy.
九鼎煉心說
第一轉:措摩心地煉金丹,止念當為第一關。
念斷自然情識斷,須知水靜沒波瀾。
第二轉:祖竅開時入杳冥,坎離鉛汞自氤氳。
天然真火知時煉,煉出西乾半月痕。
第三轉:外直中通世罕聞,推求枝葉不求根。
由從此處徐徐進,一點靈光漸漸明。
第四轉:陽烏海底奮神威,正是金丹四轉時。
奪得先天真種子,河車搬運過曹溪
第五轉:時後金晶飛上來,霞光燦爛囟門開。
三花聚鼎烹龍虎,珠落黃庭結聖胎。
第六轉:金烏飛入廣寒宮,白虎張威待赤龍。
赤龍奮力歸金鼎,掌握神珠照眼紅。
第七轉:十月胎靈已躍然,嬰兒法乳要三年。
蟄藏住息溫溫養,猶龍潭底抱珠眠。
第八轉:陽極陰消丹已成,神光赫赫耀金庭。
脫離苦海分胎出,自在崑崙頂上行。
第九轉:無丹無火亦無金,飈卻鉗錢沒處尋。
真我本來真面目,未生身處一輪明。
日也者,天之丹也,黑而蕩之,則日不丹。心也者,人之丹也,物而霾之,則心不丹。故煉丹也者,煉去陰霾之物,以複其心之本體天命之性之自然也。天命之 性,吾之真金也,人人之所必有者。氣質之性,金之濁渣也。上智之所不無者,若以人倫日用之火而日煉之,則氣質之性日除。氣質之性日除,則天命之性自見矣。 故五帝三王君也,而以君道而日煉其心;伊博周召相也,而以相道而日煉其心,孔曾思孟師也,而以師道而日煉其心。無時而不心在於道,無時而不以道而煉其心, 此乃古大聖大賢為學之要法,百煉、煉心、煉性之明訓也。
CỬU ĐỈNH LUYỆN TÂM ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
* Đệ Nhất Chuyển 第一转
Thố ma tâm địa luyện Kim Đan, 措摩心地炼金丹
CHỈ NIỆM đương vi đệ nhất quan. 止念当为第一关
Niệm đoạn tự nhiên tình thức đoạn 念断自然情识断
Tu tri thuỷ tĩnh một ba lan. 须知水静没波澜
Những ai quyết chí luyện Kim Đan
Dẹp trừ niệm lự mới là ngoan.
Tuyệt niệm, tự nhiên Tình Thức tuyệt,
Như mặt nước yên chẳng sóng cồn.
* Đệ Nhị Chuyển 第二转
Tổ Khiếu khai thời, nhập yểu minh, 祖窍开时入杳冥
Khảm Ly Diên Hống tự nhân uân. 坎离铅汞自氤氲
Thiên Nhiên Chân Hoả tri thời luyện, 天然真火知时炼
Luyện xuất Tây Kiền nguyệt bán ngân 炼出西乾月半痕
Thấy được Thiên Tâm lúc màng mơ,
Nguyên Thần, Nguyên Khí tự nhiên hoà
Chân hoả nếu như mà biết luyện
Thuần Kiền vẹn sáng sẽ hiện ra.
* Đệ Tam Chuyển 第叁转
Ngoại trực, trung thông, thế hãn văn 外直中通世罕闻
Suy cầu chi diệp, bất cầu căn 推求枝叶不求根
Do tùng thử xứ, từ từ tiến 由从此处徐徐进
Nhất điểm Linh Quang tiệm tiệm minh 一点灵光渐渐明
Trong thông, ngoài thẳng ít ai nghe,
Chỉ kiếm ngọn ngành không kiếm gốc
Tìm ra được gốc mới khỏi chê,
Thái Cực trong người sẽ phát huy
* Đệ Tứ Chuyển 第四转
Dương ô hải để phấn thần uy 阳乌海底奋神威
Chính thị Kim Đan tứ chuyển thì 正是金丹四转时
Đoạt đắc Tiên Thiên Chân Chủng tử 夺得先天真种子
Hà Xa ban vận quá Tào Khê 河车搬运过曹溪
Luyện đan chính thị luyện Kim Đan,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hợp lưỡng ban
Vận chuyển phải qua NHÂM ĐỐC mạch
Nhâm Đốc đả thông sẽ chu toàn
* Đệ Ngũ Chuyển 第五转
Thời hậu Kim Tinh phi thượng lai 时後金晶飞上来
Hà quang xán lạn, tín môn khai 霞光灿烂囟门开
Tam hoa tụ đỉnh, phanh Long Hổ 叁花聚鼎烹龙虎
Châu lạc Huỳnh Đình kết thánh thai 珠落黄庭结圣胎
Chu Thiên Dương Hoả vận lên đầu
Xán lạn hào quang Huyệt Đạo khai
Tam hoa tụ đỉnh điều Thần Khí
Huỳnh đình châu lạc kết Thánh Thai
* Đệ Lục Chuyển 第六转
Kim Ô phi nhập quảng hàn cung 金乌飞入广寒宫
Bạch Hổ trương uy đãi Xích Long 白虎张威待赤龙
Xích Long phấn lực quy Kim Đỉnh 赤龙奋力归金鼎
Chưởng ốc Thần Châu chiếu nhãn hồng 掌握神珠照眼红
Kim Ô bay thẳng nhập nguyệt cung
Bạch Hổ dương uy đợi Xích Long
Xích Long ra sức về Kim Đỉnh
Nắm chắc Thần Châu chiếu thinh không.
* Đệ Thất Chuyển 第七转
Thập nguyệt Thai Linh dĩ dược nhiên, 十月胎灵已跃然
Anh Nhi pháp nhũ yếu tam niên 婴儿法乳要叁年
Trập tàng trụ tức ôn ôn dưỡng 蛰藏住息温温养
Do Long đàm để bão châu miên 犹龙潭底抱珠眠
Mười tháng hoài thai đã vẹn toàn,
Ba năm trẻ nít cần bú mớm
Tụ khí Tiên Thiên tại đan điền
Như Rồng ôm ngọc, ngủ Long đàm.
* Đệ Bát Chuyển 第八转
Dương cực Âm tiêu, đan dĩ thành, 阳极阴消丹已成
Thần quang hách hách diệu Kim Đình 神光赫赫耀金庭
Thoát Ly khổ hải phân thai xuất 脱离苦海分胎出
Tự tại Côn Lôn đỉnh thượng hành. 自在昆仑顶上行
Dương cực Âm tiêu đã thành đơn
Thần quang rực rỡ rạng Đan Điền
Thoát Ly khổ hải thần tiên hiện
Trên đỉnh Côn Lôn thấy nhãn tiền.
* Đệ Cửu Chuyển 第九转
Vô Đơn, vô Hoả diệc vô Kim 无丹无火亦无金
Phàm khước kiềm tiền một xứ tầm 飚却钳钱没处寻
Chân Ngã Bản Lai Chân Diện Mục 真我本来真面目
Vị sinh thân xứ nhất luân minh 未生身处一轮明
Chẳng Đan, chẳng Hoả cũng chẳng Kim
Những chuyện Linh tinh, khó kiếm tìm
Chân Ngã, Bản Lai Chân Diện Mục
Một vừng trăng sáng trước khi sinh.
CỬU ĐỈNH LUYỆN TÂM THUYẾT
Nhật là Đơn của Trời. Nếu đen và động thì Nhật không phải là Đan nữa.
Tâm là Đơn của Người. Nếu bị vật đóng bụi, thì Tâm không phải là Đan nữa.
Cho nên luyện đan là loại trừ bụi bặm, để cho Tâm phục hồi Bản Thể, phục hồi Thiên Mệnh Chi Tính tự nhiên của mình.
Thiên Mệnh chi Tính là Chân Kim của ta, ai ai cũng có. Khí chất chi tính là cặn bã của Kim. Bậc thượng trí cũng có tính này.
Nếu biết lấy lửa Nhân luân thường dùng, mà tôi luyện nó, thì Khí Chất chi Tính ngày một tiêu trừ. Khí chất chi tính đã trừ, thì Thiên Mệnh chi tính tự hiện.
Ngũ Đế , Tam Vương đều là Vua, nhưng đã biết dùng Quân đạo (đạo làm vua) để hằng ngày tu luyện Tâm mình. Y Doãn, Phó Duyệt, Chu Công, Thiệu Công đều là Tể tướng. Các ngài đã dùng Tướng đạo (đạo làm tướng) để hằng ngày tu luyện Tâm mình.
Khổng Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử đều là thầy dạy học. Các Ngài đã dùng Sư đạo (đạo là thầy) để hằng ngày tu luyện Tâm mình.
Không lúc nào mà các Ngài không để tâm vào Đạo. Không lúc nào mà các Ngài không lấy Đạo luyện Tâm.
Đó là khuôn phép xưa của các bậc đại thánh, đại hiền. Lời minh huấn của các Ngày là chuyên lo luyện Tâm, luyện Tính.
*
* *
Lời bình của dịch giả:-
Bài Cửu Đỉnh luyện đan đồ không có gì đặc sắc. Đại ý thì Luyện Tâm là chùi rửa cho Tâm trở nên trong sáng dần. Cuối cùng là Vòng tròn sáng trắng tinh, nhưng lại không có chữ Tâm. Thứ tự 9 bài thơ không ra đầu đuôi.
Nhưng bài Cửu Chuyển luyện đan thuyết thì rất hay. Gọi Luyện Tâm là Luyện Đan.
Thuyết này phân biệt con người có hai Tính: Thiên Địa chi tính (Tính Trời). Khí Chất chi tính (Tính Người)
Trừ khử Tính Người là Luyện Đan
Trừ được Tính Người, thì Tính Trời sẽ hiện, và Đan sẽ thành.
Cách bàn về Luyện Đan ở đây thật độc đáo. Không bàn đến Diên Hống (Dương Âm) hay Long Hổ mà chỉ bàn về Tính Trời, Tính Người. Rất đáng cho ta chú ý.
八識歸元說
軒轅稱九鼎,如來標八識。太極歸無極。
兄弟八個一人痴,猶有一個最伶俐。五個門前做買 賣,一個家中作主依。伶俐者,即第六意識也。此識為五賊之主司,乃輪迴之種子。三界凡夫無一人不遭此沉溺。故《圓覺經》云:先斷無始輪迴根本者,斷此意識 也。痴者,指第七傳送識而言。主依者,即第八阿賴耶識是也。此識謂之總報,主投胎時是也。先來捨身時是也,後去。故曰去後來先作主公。
境屬風即五識,六識屬波,七識屬浪,八識屬心海,九識屬湛性。八識者,皆屬無明色身已土事外起。九識明曰白淨識,不屬無名,不落因果,不假因果,不假修 證,不受一塵。故宗門謂曰:實際理地離一切相建化門中,不捨一法,具足一切。實而言之,以上八個識屬漸。第九識屬頓。何則?然色身幻化,不假修證,法身無 相,猶虛空,故不假修,以今為圖象,會意揀妄明真,勿令認賊為子。
釋氏謂,人之受生,必從父精母血與前生之識神三相合而後成胎。精氣受之父母,神識不受之父母也。蓋從無始劫流來,亦謂之生滅性。故曰:生滅與不生滅和合 而成八識也。蓋造化間有個萬古不移之真宰,又有個與時推移之氣運。真宰與氣運合是謂天命之性。天命之性者,元神也。氣質之性者,識神也。故儒家有變化氣質 之言,禪宗有返識為智之法。今人妄認方才中有個昭昭靈靈之物,渾然與物同體,便以為元神在。是殊不知此即死死生生之本,非不生不滅之元神也。噫,識識易, 去識難,若不以天命元神戰退無明業識。終在生滅場中,未見有出頭日也。
BÁT THỨC QUY NGUYÊN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Đệ huynh bát cá nhất nhân si 弟兄八个一人痴
Độc hữu nhất cá tối Linh Li 犹有一个最伶俐
Ngũ cá môn tiền tố mãi mại 五个门前做买卖
Nhất cá gia trung y chủ y 一个家中依主依
Anh em tám kẻ một người si (Mạt Na = Ngã si)
Duy có một chàng rất Linh Li (Đệ Lục Thức = Ý thức)
Năm người buôn bán ngoài cửa ngõ (Ngũ quan)
Một vị trong nhà đứng chỉ huy (Alaya)
Tối Linh Lợi là Đệ Lục Thức, tức ý thức. Thức này làm chủ Ngũ tặc, là chủng tử luân hồi. Tam giới phàm phu ai cũng bị thức này làm đắm chìm. Nên Kinh Viên Giác nói: Tiên đoạn vô thuỷ luân hồi căn bản. Tức là chặt bỏ thức này.
Si là đệ Thất Thức tức Truyền Tống Thức.
Y giả là Đệ bát Thức (Alaya thức). Khi đầu thai, nó đến trước tiên, khi xả thân thì nó đoạn hậu. Cho nên nói: Khứ hậu, lai tiên tác Chủ công.
Bát thức đều thuộc Vô Minh, Sắc Thân là do Kỷ Thổ dấy lên.
Còn đệ Cửu Thức thì được gọi là Bạch Tịnh Thức. Thức này vượt ngoài Vô Minh, không ở trong vòng Nhân Quả, không cần tu chứng, không nhiễm trần ai, cho nên Thiền Môn gọi là “Thực Tế Lý Địa” 实际理地 (Thế giới Bản Thể), Ly nhất thiết thực tướng, ở trong Hư Hoá, Pháp nào cũng có, đầy đủ tất cả Bát cá thức thuộc Tiệm, còn đệ Cửu Thức thì thuộc Đốn.
Tại sao vậy? Sắc thân ảo hoá cần tu chứng. Còn Pháp Thân thì vô tướng y như Hư Không, cho nên không cần tập luyện tu chứng.
Nay vẽ ra đồ hình này để biểu đạt ý kiến trên, bỏ vọng cầu chân, khiến người không nhận giặc làm con. Hiên Viên Hoàng Đế gọi Tâm là Cửu Đỉnh, Như Lai gọi là Bát Thức, Thái cực qui thuộc vu Vô Cực.
Ngũ Thức hay Cảnh thuộc Phong.
Lục thức thuộc Ba,
Đệ Thất Thức là Lãng,
Đệ Bát Thức là Tâm Hải,
đệ Cửu Thức là Tính Lắng Trong (Thanh tĩnh minh triệt, tự nhiên Nguyên Tính).
BÁT THỨC QUI NGUYÊN THUYẾT
Thích gia cho rằng: Con người thụ sinh là do tinh cha, huyết mẹ (Tinh Khí), và Thức Thần kiếp trước mà thành. Ba yếu tố đó hợp lại thành thai. Tinh, Khí là do cha mẹ mà có, thức thần thì không do cha mẹ, nhưng từ vô thủy kiếp mà lưu lại, cho nên nó là Sinh Diệt tính. Cho nên nói: Bát thức là do sinh diệt (Thức Thần) và Bất sinh diệt (Tinh Huyết) mà thành. Cho nên, trong Tạo Hóa, có cái Chân Tể muôn đời không đổi dời, cũng có cái theo thời gian mà suy di, biến hóa, cái đó là: Khí Vận. (Khí Vận là Âm Dương khí hóa, vận động, suy di)
Chân Tể là Khí Vận hợp lại gọi là Thiên Mệnh Chi Tính (Thiên Phú Chi Tính, Bản Nhiên Chi Tính)
Thiên Mệnh Chi Tính gọi là Nguyên Thần, Khí Chất chi Tính gọi là Thức Thần.
Cho nên Nho gia gọi Thức Thần là Biến Hóa Khí Chất (Có thể dùng tu luyện mà cái biến nó).
Thiền Tông có phép: Chuyển Thức thành Trí (chuyển Thức Thần thành Không Tĩnh Tuệ Trí). Làm cho con người nhận lầm rằng trong mình có cái gì Chiêu Minh Linh Hiển, hỗn nhiên dữ vật đồng Thể, rồi tưởng đó là Nguyên Thần. Có biết đâu rằng đó chỉ là gốc của Tử Tử, Sinh Sinh, chứ không phải là Nguyên Thần bất sinh bất diệt.
Ôi, biết được Thức thời dễ, trừ được Thức thời khó!
Nếu chẳng biết lấy Thiên Mạng Nguyên Thần để tiêu trừ Nghiệp Thức (Thức Thần), thì cuối cùng cũng không thoát vòng Sinh diệt, không biết ngày ra khỏi.
*
* *
Lời bàn của Dịch Giả:-
Ta thấy mục đích đạo Lão khá rõ ràng:
Biến con người phàm phu thành con người Siêu Việt, biến Người thành Trời.
Đạo Lão đưa ra nhiều cách:
1. Hợp nhất các yếu tố về Nhất Thể, khiến Âm Dương hợp Nhất thành Thái Cực. Họ gọi Âm là Hổ, là Diên, là Xá Nữ, là Nguyệt; gọi Dương là Long, là Hống, là Anh Nhi, là Nhật v.v. Và gọi đó là Phép Luyện Đơn, mà luyện đơn là vận chân khí qua xương sống, qua hai mạch Nhâm Đốc, và đem Chân Khí đó về Tích Tụ tại Nê Hoàn Cung, hay Thượng Đan Điền.
Khoa học Vận khí qua hai mạch Nhâm Đốc chính là khoa Khí Công của Trung Hoa. Tôi không muốn nói nhiều hơn, chỉ xin giới thiệu bộ sách: Trung Quốc khí công đại thành 中国气功大成, do Phương Xuân Dương 方春阳 chủ biên, 868 trang, Cát Lâm Khoa Học kỹ thuật xuất bản xã, 1999.
2. Chẳng những hợp Âm Dương, mà còn Hòa Hợp Tinh Khí Thần qui tụ về nơi đầu mà họ gọi là Tam Hoa qui đỉnh.
3. Cũng có thể Hòa Hợp Ngũ Hành mà họ gọi là Ngũ Khí Triều Nguyên.
4. Họ coi con người sau khi đã sinh, thì không còn Thuần Thể, Toàn Thể như Trời. Trời khi ấy đã mất vẻ Thuần Khiết và đã biến thành Ly. Cho nên phải biết lấy Hào Dương ở giữa quẻ Khảm thay cho Hào Âm ở giữa quẻ Ly, cho Ly biến trở lại thành Kiền. Đó là Thủ Khảm Điền Ly. Đó là biến Phàm Tâm con người trở thành Thiên Tâm.
5. Họ gọi con người là Khí Chất chi Tính, coi Trời là Thiên Mệnh chi Tính. Diệt Khí chất chi tính, để thay thế bằng Thiên Mệnh chi Tính
Khí Chất chi tính là Nhân Dục, Thiên Mệnh chi tính là Thiên Lý. Cho nên hễ Nhân dục thắng thì Thiên Lý vong. Nhân dục tận thì Thiên Lý hiện. Hai đằng không thể lưỡng lập, mà phải một chết một còn. Đó cũng là Biến Người thành Trời.
6. Họ muốn biến Tinh Khí Thần, và nói: Luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần hoàn hư, phục qui Vô Cực. Đó cũng là Biến Người thành Trời.
7. Họ chủ trương người có Bát Thức. Ngoài Bát thức ra, còn có Cửu Thức, hay Bạch Tịnh Thức. Bát thức phải qui về Bạnh Tịnh Thức thì con người mới trở nên Bất Tử. Đó cũng là cách Biến Người thành Trời theo Phật Giáo. (Phật Giáo xưa nay chỉ biết Bát thức, khi giác ngộ, thì Thức sẽ biến thành Trí, ví dụ Alaya sẽ biến thành Đại Viên Cảnh Trí. Chỉ có Doãn Chân Nhân mới nói con người có Cửu Thức).
8. Họ còn chủ trương Tâm Tử, Thần Hoạt, Tâm con người có chết đi thì Thần Trời Đất mới hiện ra.
9. Cho nên có thể nói rằng đằng sau mỗi con người sinh tử chúng ta, còn có một Chân Nhân bất sinh bất tử. Phải tìm cho ra được Chân Thần bất sinh bất tử ấy, phải hoàn toàn vất bỏ con người cũ của chúng ta, và thay thế chúng ta hoàn toàn bằng con người mới. Như vậy mới là Giác Ngộ hoàn toàn. Tâm ta phải như mặt trời trong sáng. Như vậy giữa Con Người Phàm Phu chúng ta và con người Thiên Chân chúng ta, như có một bức màn, tu là xé bỏ bức màn đó.
10. Như vậy, chúng ta đáng lý là Trong sáng, nhưng ta lại nghĩ ta là Đen đủi.
Chúng ta là Bất tử nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy Sinh Tử, Biến Thiên.
Chúng ta là Chân Như, nhưng vì mang hồn phách, hình hài nên tưởng mình là cái GIẢ HỢP.
Bà La Môn giáo cầu xin:
Xin đưa tôi từ GIẢ về CHÂN.
Xin đưa tôi từ TỐI TĂM trở về ÁNH SÁNG.
Xin đưa tôi từ TỬ VONG trở về BẤT TỬ. (Brih. Upanishad. 1.3.28)
Đó chính là Họ nhìn ta từ Khía Cạnh Thần Tiên, chứ không nhìn ta bằng đôi mắt phàm tục.
五氣朝元說
一氣初判而列二儀,二儀定位而分五常,五常異地而各守一方,五方異氣而各守一子。青帝之子名龍煙,受甲乙木德之三氣。赤帝之子名丹元,受丙丁火德之二 氣。白帝之子名皓華,受庚辛金德之四氣。黑帝之子名玄冥,受壬癸水德之一氣。黃帝之子名常存,受戊己土德之五氣。故金得土則生,木得土則旺,水得土則止, 火得土則息。唯聖人知回幾之道、得還元之理。於是攢五簇、四會、三合、二而歸一也。蓋身不動則精固而水朝元,心不動則氣固而火朝元,真性寂則魂藏而木朝 元,妄情忘則魄伏而金朝元,四大安和則意定而土朝元。此謂五氣朝元,皆聚於頂也。
NGŨ KHÍ TRIỀU NGUYÊN THUYẾT
Một Khí phân ra thành Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi định vị phân thành Ngũ Thường. Ngũ Thường mỗi kẻ giữ một phương. Mỗi phương đều khác khí lại có một người con giữ,
Tên con Thanh Đế là Long Yên, được Giáp Ất Mộc đức tam khí.
Tên con Xích Đế là Đơn Nguyên, được Bính Đinh Hỏa đức nhị khí.
Tên con Bạch Đế là Hạo Hoa, được Canh Tân Kim đức tứ khí.
Tên con Hắc Đế là Huyền Minh, được Nhâm Quí Thủy đức nhất khí.
Tên con Hoàng Đế là Thường Tồn, được Mậu Kỷ Thổ đức là Ngũ Khí.
Cho nên Kim được Thổ thì Sinh, Mộc được Thổ thì vượng.
Hỏa được Thổ thì ngừng, Thủy được Thổ thì dứt.
Chỉ Thánh Nhân mới biết đạo lý Hồi Kỷ, Hoàn Nguyên.
Đó là Túm Năm, Tụm Bốn, Hội Ba, Hiệp Hai và Qui Nhất.
Nếu Thân bất động thì Tinh bền, mà Thủy triều Nguyên.
Tâm bất động, thì Khí bền, mà Hỏa triều Nguyên.
Chân Tính mà tĩnh tịch, thì Hồn tàng mà Mộc triều Nguyên
Vọng tình mà trừ được thì Phách sẽ ẩn phục mà Kim sẽ triều Nguyên.
Tứ đại an hòa thì Ý định mà Thổ sẽ triều Nguyên.
Đó là Ngũ Khí Triều Nguyên, đều qui tụ tại đỉnh đầu.
*
* *
Lời bàn của Dịch Giả :-
Con người muốn qui nguyên phản bản, thì tất cả phải qui hướng về Trời, về lẽ Một.
Ngũ Khí là: Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý. Tất cả phải hợp lại thành một.
Cho nên mới có những chữ:
– Ngũ Khí Triều Nguyên, Toản Thốc Ngũ Hành.
– Tứ Tổ qui gia.
– Tam gia tương kiến, Tam Hoa tụ đỉnh, Tam vật qui Thổ.
待詔說
形神俱妙道為徒,性命相圓合太虛。寶詔降時騰鶴馭,玉書拜後駕龍車。
龍車冉冉乘雲氣,遍滿六虛廣 無際。九天仙子笑相迎,同詣玄都朝上帝。
九年面壁之後。靈台晶瑩,覺海圓明,性命混融,形神俱妙。與天地合德,與太虛同體,此同丹道已成而積功累行不可缺也。蓋道之與德猶陰之與陽,行之與功猶 日之與足。鐘離翁雲:有功無行如無足,有行無功目不全。功行兩圓足自備,誰雲無分作神仙?是以古仙上聖金丹事成,溫養事畢,遊戲人間,和光混俗,隨力建 功,隨方解縛,扶危拯厄,救劫匡時,普渡群迷,接引後學,道上有功,人間有行。功行滿足,潛伏俟時,只待天書降詔,玉女來迎,駕霧騰雲,直入三清聖境。如 張紫陽翁悟真篇雲:德行修逾八百,陰功積滿三千,寶符降詔去朝天,穩駕瓊輿鳳輦。
ĐÃI CHIẾU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Hình thần câu diệu, Đạo vi đồ 形神俱妙道为徒
Tính Mệnh tương viên hợp Thái Hư 性命相圆合太虚
Bảo chiếu giáng thời đằng hạc ngự 宝诏降时腾鹤驭
Ngọc thư bái hậu giá Long Xa 玉书拜後驾龙车
Long Xa nhiễm nhiễm thừa vân khí, 龙车冉冉乘云气
Biến mãn Lục Hư quảng vô tế 遍满六虚广无际
Cửu Thiên tiên tử tiếu tương nghinh, 九天仙子笑相迎
Đồng nghệ Huyền đô triều Thượng Đế 同诣玄都朝上帝
Thần hình đẹp đẽ, bạn Trời ư?
Tính Mệnh song tu, hợp Thái Hư
Bảo chiếu giáng thời, lên lưng hạc
Phụng lĩnh Ngọc Thư, ngồi Long Xa.
Long xa, ngồi rồi, thừa vân khí,
Rảo khắp Lục Hư rộng vô bờ
Tiên tử từ Trời vui vẻ đón
Về chầu Thượng Đế tại Huyền Dô.
ĐÃI CHIẾU THUYẾT
Sau chín năm diện bích, Linh Đài rực rỡ, giác hải viên minh, tính mệnh hợp hòa, hình thần câu diệu, hợp đức cùng trời đất, đồng thể với Thái Hư.
Lúc đó Đan Đạo đã thành, công hạnh tích lũy đã đầy đủ. Vì Đạo Đức như Âm với Dương. Hạnh và Công như mắt với chân.
Chung Ly Quyền nói:
Hữu công vô hạnh như vô túc 有功无行如无足,
Hữu hạnh vô công mục bất toàn 有行无功目不全。
Công hạnh lưỡng viên túc mục bị, 功行两圆足自备,
Thùy vân vô phận tác Thần Tiên 谁云无份作神仙?
Có Công, không Hạnh, như thiếu chân,
Có Hạnh, không Công tựa mắt mù
Công Hạnh vẹn toàn chân mắt đủ
Phải có nhân duyên mới nên Tiên.
Cho nên cổ tiên, thượng thánh xưa sau khi đã luyện thành Kim Đơn, khi đã ôn dưỡng hoàn tất, thì đi chơi khắp thế gian, che dấu thân phận, hòa mình với người, tùy sức kiến công, tùy phương cởi trói, phò nguy, giải ách, cứu kiếp, khuông thời, phổ độ quần mê, tiếp dẫn hậu học. Đối với Đạo có công, đối với nhân gian có Hạnh.
Khi Công Hạnh mãn túc, thì yên lặng chờ thời, đợi Thiên Thư giáng triệu. Ngọc Nữ tới đón, cưỡi hạc, đằng vân, bay thẳng về Tam Thanh thánh cảnh.
Trương Tử Dương viết trong Ngộ Chân Thiên:
Đức hạnh tu du bát bách, 德行修逾八百,
Âm công tích mãn tam thiên 阴功积满三千,
Bảo phù giáng chiếu khứ triều thiên 宝符降诏去朝天,
Ổn giá quỳnh dư phụng Liễn 稳驾琼舆凤辇。
Đức hạnh đủ tám trăm,
Âm công đủ ba nghìn
Bảo phong giáng chiếu mời lên Trời
Cưỡi xe loan phụng về nơi Cửu Trùng.
飛 升 說
仙有五等,佛有三乘,修持功行不齊,所以超脫稍異。飛升沖舉者上也,坐化屍解者次也,投胎奪舍者又其次也。乘龍上升者,如黃帝、茅蒙、王玄甫、韋善俊是 也。駕雲上升者,如楊羲、李笈、藍采和、孫不二是也。控鯉上升者,如子英、琴高是也。驂鸞上升者,如子晉、鄧鬱是也。跨鶴上升者,如桓問、屈處靜是也。禦 風上升者,如葛由、武夷君是也。拔宅飛升者,如何候、尹喜、淮南王、許旌陽是也。白日沖舉者,如蔡瓊、馮長、馬成子、浮丘伯是也。嘗考到仙譜傳,始知從古 至今成仙者十萬餘人,拔宅者八千餘處。所以純陽翁于景福寺壁間題一聯雲:莫道神仙無學處,古今多少上升人。
PHI THĂNG THUYẾT
Tiên có Ngũ Đẳng, Phật có Tam Thừa.
Tu trì, công hạnh khác nhau, nên cách siêu thoát cũng khác nhau.
“Phi thăng xung cử” 飞升冲举 (Lên trời toàn gia) là cao nhất.
“Tọa hóa thi giải” 坐化尸解 (Ngồi yên mà chết) là thứ nhì,
“Đầu thai đoạt xá” 投胎夺舍 (Nhập và xác người khác mà hoàn hồn) đó là kém nhất.
Có người cưỡi rồng lên trời như Hoàng Đế, Mao Mông, Vương Huyền Phủ, Vi Thiện Tuấn.
Có người cưỡi mây lên Trời như Dương Hi, Lý Cấp, Lam Thái Hòa, Tôn Bất Nhị.
Có người cưỡi cá lên trời như Tử Anh, Cầm Cao.
Có người cưỡi chim loan lên trời như Tử Tấn, Đặng Úc.
Có người cưỡi hạc bay lên như: Hoàn Khải, Khuất Xử Tính.
Có người cưỡi gió lên trời như Cát Do, Vũ Di Quân.
Có người “Bạt trạch phi thăng” 拔宅飞升 (Lên trời với cả nhà cửa, với toàn gia) như Hà Hầu, Doãn Hỉ, Hoài Nam Vương, Hứa Sinh Dương.
Có người “Bạch Nhật thăng thiên” 白日升天 (Lên trời ban ngày) như Thái Quỳnh, Phùng Trưởng, Mã Thành Tử, Phù Khưu Bá.
Khảo liệt Tiên Phổ Truyện mới biết từ xưa đến nay thành Tiên có hơn vạn người, lên tiên cả gia đình có trên 8.000 người.
Cho nên Thuần Dương Tổ Sư có viết một câu Liễn trên vách tường chùa Cảnh Phúc như sau:
Mạc đạo Thần Tiên vô học xứ, 莫道神仙无学处,
Cổ kim đa thiểu thượng thăng nhân 古今多少上升人。
Đừng nói Thần Tiên không chỗ học,
Xưa nay đã có kẻ lên trời.
*
* *
Lời bàn của Dịch Giả:
Vấn đề Thăng Thiên này của Doãn Chân Nhân không thể nào tin nổi. Xưa nay không ai chứng kiến những cảnh quái dị như vậy. Ta chỉ nên coi đoạn này cho vui mà thôi.
———————————–
HẾT PHẦN NGUYÊN TẬP
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳
(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Tức
TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền
(Các đệ tử ghi chép lại)
* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch
性 命雙修 萬神圭旨• 亨集
性命雙修萬神圭旨第一節口訣
涵養本原救護命寶
百千法門,同歸方寸。河沙妙德, 盡在心源。
千聖一心,萬古一道。天君泰然,百體從今。
作如是觀清淨處,照無色界幾千層。
真心一點原於此,無聲無滅無終始。精神合 道自長生,精神真不死。
眾妙應須無以觀,更將有向竅門看。可明物母明明說,兩顆明珠轉三盤。
菩提本性本如如,萬法通兮透太虛。自有靈明開 般若,機緘露處現真如。
默默無言微更微,無言之內有真機。自家竅妙自家會,萬里青天一鶴飛。秘密藏,腔子裏,朱砂鼎,赤龍精,神明之舍,道義之 門,何思何慮之天,不識不知之地;止其所,自在處,光明藏,天玄女,靈明之竅,活潑潑地,虛靈不昧之神,色空不二之物。
真汞,丹元,神水,日魂, 主翁,天君,靈臺,靈關、丹臺;金烏,玉液,靈府,朱汞,姹女,守靈,赤水,靈山,乾馬
(涵 養本原圖)
(內附退藏沐浴、玉液煉形二法)
欲修長生,須識所生之本;欲求不死,當明不死之人。故曰:認得不死人, 方才人不死。那不死的人,道家呼為鐵漢,釋氏喚作金剛,即世人本來妙覺真心是也。
此心靈靈不昧、了了常知,其體不生不滅,其相無去 無來。究之,於先天地之先,莫知其始;窮之,於後天地之後,莫知其終。高而無上,廣不可極;淵而無下,深不可測。乾坤依此而覆載,日月依此而照臨,虛空依 此而寬廣,萬靈依此而變通。
三教大聖,教人修道,是修這個;成仙成佛,也是這個;戴角披毛,也是這個。
PHẦN II
HANH TẬP
HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN ĐỒ – 涵养本原图
(Nội dung trong đồ hình)
Bí mật tạng秘密藏, Xoang tử lý腔子里, Chu Sa đỉnh朱砂鼎, Xích Long tinh赤龙精, Thần Minh chi xá神明之舍, Đạo Nghĩa chi môn道义之门, Hà tư hà lự chi thiên 何思何虑之天, Bất thức bất tri chi địa不识不知之地.
Chỉ kỳ sở止其所, Tự tại xứ自在处, Quang Minh tạng光明藏, Thiên Huyền nữ天玄女, Linh Minh khiếu灵明窍, Hoạt bát bát địa活泼泼地, Hư Linh bất muội chi thần虚灵不昧之神, Sắc không bất nhị chi vật色空不二之物.
Chân hống真汞, Đơn nguyên丹元, Khôn thủy坤水, Nhật hồn日魂, Chủ ông主翁, Thiên quân天君, Linh Đài灵台, Linh Quan灵关, Đơn Đài丹台, Càn Mã乾马, Linh Sơn灵山, Xích Thủy赤水, Thủ Linh守灵, Xá Nữ姹女, Chu Hống朱汞, Linh Phủ灵府, Ngọc Dịch玉液, Kim Ô金乌.
(Lời bàn của Dịch giả: Các danh từ trên đều có nghĩa là Linh Đài, là Chân Tâm, là Bản Nguyên con người)
Bá thiên Pháp môn, 百千法门
Đồng quy Phương Thốn. 同归方寸
Hà sa diệu đức, 河沙妙德
Tận tại Tâm Nguyên. 尽在心源
Trăm vạn Pháp Môn, Đều quy Tâm khảm.
Diệu Đức hằng hà, Đều tại nơi Tâm.
Bồ Đề bản tính bản như như, 菩提本性本如如
Vạn Pháp thông hề thấu Thái Hư. 万法通兮透太虚
Tự hữu Linh Minh khai Bát Nhã, 自有灵明开般若
Cơ giam lộ xứ hiện Chân Như. 机缄露处现真如
Bồ đề bản tính vốn như như,
Suốt thông Vạn Pháp thấu Thái Hư,
Vốn sẵn Linh Minh, khai Bát Nhã,
Bịt bùng phá sạch lộ Chân Như.
Chân Như nhất điểm, nguyên ư thử, 真如一点原於此
Vô sinh, vô diệt, vô chung thủy. 无生无灭无终始
Tinh Thần hợp đạo tự Trường sinh, 精神合道自长生
Đạo ngự Tinh Thần, chân bất tử. 道驭精神真不死
Một điểm Chân Như vốn sẵn đây,
Vô tử, vô sinh, vô chung thủy.
Tinh Thần hợp đạo sẽ trường sinh,
Đạo chế Tinh Thần âu bất tử.
Chúng diệu ưng tu Vô dĩ quan, 众妙应须无以观 (1)
Cảnh tương Hữu hướng Khiếu môn khan, 更将有向窍门看
Khả danh vật mẫu minh minh thuyết, 可名物母明明说
Lưỡng khỏa minh châu, chuyển tam ban. 两颗明珠转三盘
Chúng Diệu muốn hay, khởi tự Vô,
Đã vào trong Hữu, thấy cõi bờ.
Đạo trời bàn luận đâu có dễ,
Diệu Kiến đôi dòng, luận khó ghê!
Mặc mặc vô ngôn, vi cánh vi, 默默无言微更微
Vô Ngôn chi nội hữu Chân Ki. 无言之内有真机
Tự gia khiếu điệu tự gia hội, 自家窍妙自家会
Vạn Lý thanh thiên nhất hạc phi. 万里青天一鹤飞
Yên lặng, không lời, mới khó sao,
Giữa cái không lời, có nẻo vào.
Khiếu Diệu của ai, người ấy biết,
Đường trời muôn dặm cánh hạc lao!
Tam điểm như tinh bố, 三点如精布
Hoành Câu tự Nguyệt tà. 横钩似月斜
Phi mao tòng thử xuất, 披毛从此出
Tác Phật dã do tha. 作佛也由他
Ba chấm tựa ba sao, Móc ngang tựa Nguyệt tà.
Cầm thú do đó sinh, Thần Tiên do đó phát.
TÂM NGUYÊN 心源 = Căn Tâm
TÍNH HẢI 性海 = Bể tính
Tác như thị quán, thanh tĩnh chủng, 作如是观清静种
Chiếu vô sắc giới, kỷ thiên trần. 照无色界几千廛
Trừng tâm tĩnh lự chiếu muôn nơi,
Thấu soi vạn vật ngàn muôn kiếp.
Thiên thánh nhất Tâm, vạn cổ nhất Đạo. 千圣一心万古一道
Thiên quân thái nhiên, bách hài tòng lệnh. 天君泰然百骸从令
Thiên thánh một lòng, muôn đời một Đạo
Óc mà minh tĩnh, Nguyên Thần mà an thái, thì tứ chi bá hài tuân theo mệnh lệnh và cũng được thái khang.
[1] Xem Đạo Đức Kinh, ch. I.
ĐỆ NHẤT TIẾT KHẨU QUYẾT
HÀM DƯỠNG BẢN NGUYÊN, CỨU HỘ MỆNH BẢO
第一节口诀: 涵养本原救护命宝
Muốn trường sinh, phải tìm cho được Chân Tâm
Muốn tu Trường sinh, phải biết gốc của sở sinh. Muốn cầu bất tử, phải biết thế nào là con người bất tử. Cho nên nói: Có biết được Bất tử nhân, mới có thể trở nên Bất tử.
Con người bất tử ấy, Đạo gia kêu là “Thiết Hán”, Phật gia gọi là “Kim Cương”. Tức là Chân Tâm, bản lai diệu giác của con người. Tâm này vốn Linh minh bất muội. Thường tri, thường minh, về Thể, vốn dĩ không sinh, không diệt, về Tướng, vốn vô khứ, vô lai. Không biết có tự bao giờ, trước đất trời nó đã có. Cao thì vô thượng, rộng thì vô cùng, thẳm sâu vô đáy.
Trời đất chở che là nhờ nó, nhật nguyệt sáng soi là do nó, hư không nhờ nó mà rộng rãi, bao la, vạn loài nhờ nó mà biến hóa. Tam giáo Thánh Nhân tu Đạo là tu cái đó, thành Tiên, thành phật là do đó, mang lông, đội sừng cũng do đó.
聖凡 二路,由此而分。出生死,再無別途;登涅槃,唯此一法。然世間萬匯,未有一物不被無常所吞,獨有這個,無生滅可縛,無色相可窺,端端正正,停停當當,分分 曉曉的,而人不悟其所本來也。
不悟者何,為有妄心。何為妄心?蓋為一切眾生從無始已來,迷卻真心,不自覺知,故受輪轉,枉入諸趣, 原夫真心無妄,性智本明,妙湛元精。由妄瞥起,俄然晦昧,則失彼元精,枯湛發知,故轉智為識,形中妄心,名之曰識。
心本無知,由識 故知;性本無性,由識故生。生身種子,萌孽於茲,開有漏華,結生死果。今人妄認方寸中,有個昭昭靈靈之物,渾然與物同體,便以為元神在是。殊不知此即死死 生生之識神,劫劫輪回之種子耳。
故景岑雲:學道之人不悟真,只為從前認識神,無量劫來生死本,癡人喚作本來人。
嗟夫!世人以奴為主而不知,認賊為子而不覺。是以世尊教人:先斷無始輪回根本者此也。此根既斷,則諸識無依,複我元初常明本體。
然而大道茫茫,當從何處下手?是以齊襟必舉領,整網要提綱。昔尹師指出:修行正路一條。教人打從源頭上做起。若源頭潔淨,天理時時現前,識念自然污染不 得。譬如昊日當空,魍魎滅跡,此一心地法門,是古今千聖不易之道。
故老子曰:若夫修道,先觀其心。觀心之法,妙在靈關一竅。人自受 生感氣之初,稟天地一點元陽,化生此竅,以藏元神。其中空空洞洞。至虛至明,乃吾人生生主宰。真所謂有之則生,無之則死,生死盛衰,皆由這個。
儒曰:靈台。
道曰:靈關。
釋曰:靈山。
三教同一法門,總不外此靈明一竅。
釋教曰:佛在靈山莫遠求,靈山只在汝心頭,人人有個靈山塔,好向靈山塔下修。論其所也。
玄教曰:大道根莖識者稀,常人日用孰能 知,為君指出神仙窟,一竅彎彎似月眉。論其形也。
Thánh phàm hai nẻo, do nó (Tâm đó) phân ra. Xuất sinh tử cũng do nó, lên Niết bàn cũng chỉ có Phép này (phép tu tâm này). Vạn vật trong thế gian đều bị vô thường thôn tính. Duy có cái đó không sinh, không diệt, duy cái tâm đó không gì trói buộc nổi, nó vô hình tướng, nên không gì thấy được. Nó đoan đoan, chính chính, đình đình, đáng đáng, rất đâu ra đấy, nhưng con người không hiểu được Bản Lai của nó.
Chân tâm và Vọng tâm
Tại sao không giác ngộ? Tại vì có vọng tâm. Vọng tâm là gì? Chúng sinh từ vô thủy dĩ lai, không biết Chân Tâm, chẳng tự hiểu biết, nên bị luân chuyển, uổng nhập các nẻo luân hồi.
Dầu hết Chân Tâm thời vô vọng, tính trí bản minh. Nguyên tinh thời thanh tịnh thâm diệu, nhưng vì vọng tâm đột khởi, nên Chân Tâm bị mờ tối, Nguyên tinh cũng mất bản chất, bị trần ai làm dơ nhớp, và cái Biết phát sinh. Cho nên chuyển Tri Giác thành Thức. Vọng tâm trong ta chính là Thức vậy. Tâm vốn vô tri, nhờ Thức mới biết. Tính vốn vô sinh, nhờ Thức mới sinh. Chủng tử sinh thân này, do đó phát sinh. Nhân đó sinh ra các loại hoa ô nhiễm, và tất nhiên sẽ sinh ra các quả luân hồi sinh tử.
Thức Thần là Vọng Tâm, là Căn Nguyên sinh tử
Ngày nay, người ta nhận lầm rằng trong tâm ta có một vật chiếu chiếu Linh Linh, hồn nhiên cùng vật đồng thể, nên gọi nó là Nguyên Thần. Có biết đâu đó chỉ là Thức Thần sinh sinh tử tử, chỉ là chủng tử kiếp kiếp luân hồi.
Cho nên Cảnh Sầm nói:-
Học Đạo chi nhân bất ngộ chân, 学道之人不悟真,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức Thần. 只为从前认识神,
Vô lượng kiếp lai sinh tử bản, 无量劫来生死本,
Si nhân hoán tác bản lai nhân. 痴人唤作本来人。
Người nay học Đạo chẳng biết Chân,
Chỉ vị xưa nay nhận Thức Thần.
Thức Thần vốn dĩ sinh tử bản,
Người khờ tưởng đấy Bản Lai Nhân.
Than ôi! Người đời nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con (nhận ngọn làm gốc) mà chẳng hay. Cho nên đức Thế Tôn mới dạy: Tiên đoạn vô thủy luân hồi căn bản 先断无始轮回根本 (Trước hết phải chặt đứt căn bản Luân Hồi). Căn này đã chặt, thì các Thức lấy đâu mà nương. Và ta sẽ phục hồi được Bản Thể Nguyên Sơ thường minh của chúng ta.
Nhưng Đại Đạo mênh mang, mù mịt, biết làm sao mà đi vào? Muốn cho áo xống tề chỉnh, phải xốc lại cổ áo, muốn cho lưới cá tề chỉnh, phải xem lại giường mối lưới.
Xưa Doãn Chân Nhân dạy ta con đường tu đạo chân chính, đó là phải bắt đầu cho hay, cho đẹp. Nếu đầu mà tinh khiết, thì Thiên Lý sẽ hiện tiền, Thức niệm không thể ô nhiễm được. Ví như, khi mặt trời sáng láng từng không, thì ma quỷ đều tuyệt tích.
Muốn tu, phải biết đâu là Linh Đài
Cái “Tâm địa pháp môn” này, đó là đạo bất biến của muôn thần, vạn thánh xưa nay. Cho nên Lão Tử nói: “Muốn tu đạo, phải nhìn vào Tâm (nội quan). Muốn nhìn vào tâm, cái hay là phải biết Linh Quan Nhất Khiếu (Nê Hoàn Cung, Linh Đài)”. Con người từ khi thụ sinh, đã bẩm thụ được “một điểm Nguyên Dương”, nên sinh ra khiếu này, để tàng trữ “Nguyên Thần”.
Khiếu này rỗng không, chí hư, chí linh, là chủ tể con người chúng ta. Cho nên có nó thì sống, không có nó thì chết. Sinh tử thịnh suy đều do nó định đoạt.
Nho gọi “Linh Đài”, Đạo gọi “Linh Quan”, Phật gọi “Linh Sơn”. Tam giáo đều có cùng một pháp môn, đó là cái “Khiếu Linh minh” này vậy.
Phật giáo nói:-
Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu, 佛在灵山莫远求,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. 灵山只在汝心头,
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp, 人人有个灵山塔,
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu. 好向灵山塔下修。
Phật tại Linh Sơn, khỏi tìm đâu,
Linh Sơn ở tại nhữ Tâm Đầu.
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp,
Hãy hướng Linh Sơn tháp mà tu.
Đó là luận cho biết Linh Sơn tháp ở đâu.
Lão giáo dạy:-
Đại Đạo căn kinh, thức giả hi, 大道根茎识者稀,
Thường nhân nhật dụng thục năng tri. 常人日用孰能知,
Vi quân chỉ xuất thần tiên quật, 为君指出神仙窟,
Nhất khiếu loan loan tự nguyệt mi. 一窍弯弯似月眉。
Đại Đạo căn cơ ít kẻ hay,
Hằng ngày dùng nó vẫn không hay.
Vì ngươi chỉ rõ “Thần Tiên Quật”,
Cong cong một khiếu tựa lông mày.
Đó là mô tả hình dáng về Huyệt đó.
蓋此竅乃神靈之台,秘密之府。真淨、明妙、虛散、靈通、卓然而獨存者也。眾生之本 原,故曰心地。諸佛之所得,故曰菩提。交徹融融,故曰法界,寂靜常樂,故曰涅槃。不濁不漏,故曰清淨。不妄不變,故曰真如。離過絕非,故曰佛性。護善遮 惡,故曰總持。隱覆含攝,故曰如來藏。超越玄秘,故曰密嚴國。統眾德而大備,爍群昏而獨照,故曰圓覺。其實皆一竅也。背之則凡,順之則聖。迷之則生死始, 悟之則輪回息。
欲息輪回,莫若體乎至道。欲體至道,莫若觀照本心。應須音眼虛鑒,常教朗月輝明,每向定中慧照。時時保得此七情未發 之中,時時全得此八識未染之體。外息諸緣,內絕諸妄。含眼光,凝耳韻,調鼻息,緘舌氣,四肢不動,使眼耳鼻舌身之五識,各返其根,則精神魂魄意之五靈各安 其位。
二六時中,眼常要內觀此竅,耳常要逆聽此竅,至於舌准常要對著此竅,運用施為念念不離此竅,行住坐臥心心常在此竅。不可刹那 忘照,率爾相違,神光一出便收來,造次弗離常在此。即子思所謂不可須臾離者是也。
先存之以虛其心,次忘之以廓其量,隨處隨時,無礙 自在,正合龍虎經雲:至妙之要,先存後忘。此又口訣中之口訣也。
然要進除六識,尤在知所先後。意雖為六識之主帥,眼實為五賊之先 鋒。故古德雲:心是樞機,目為盜賊。欲伏其心,先攝其目。蓋弩之發動在機,心之緣引在目。機不動則弩住,目不動則心住。
陰符經曰: 機在目。
道德經曰:不見可欲,而心不亂。
魯論曰:非禮勿視。
朱子曰:制於外所以養其 中也。
金笥寶籙曰:眼乃神通玄牝門,抑之於眼使歸心。
眼守此竅不離,即如來正法眼,合涅槃心之秘旨,故楞嚴 經雲:作是觀者,名為正觀;若他觀者,名為邪觀。
又觀經觀心品雲:三界之中,以心為主。能觀心者,究竟解脫;不能觀者,畢竟沉淪。
道德首章雲:常有欲以觀其僥者,觀此竅也。常無欲以觀其妙者,觀此竅中之妙也。
昔黃帝三月內觀者,觀此也。
太上亦曰:吾從無量劫來,觀心得道,乃至虛無。
觀心非易,止念尤難。是以念頭起處,系人生死之根。
古仙雲:大道教人先止念,念頭不住亦徒然。
圓覺經雲:居一切時,不起妄念于諸妄心,亦不息滅住妄想境。不加了知於無了知,不辨真 實。
起信論雲:心若馳散,即便攝來,令往正念,念起即覺,覺之即無,修行妙門,唯在於此。
虛靖天師雲:不怕 念起,只怕覺遲,念起是病,不續是藥。
Khiếu này là Đài của Thần Linh, là phủ bí mật. Nó rất thanh tịnh, minh diệu, hư triệt, Linh thông, một mình đứng vững. Nó là Căn bản chúng sinh, nên gọi là Tâm Địa, là Sở đắc của chư Phật cho nên gọi Bồ Đề.
Giao triệt dung dung dung, nên gọi là Pháp Giới (tức vũ trụ hiện tượng giới).
Tịch tĩnh, thường lạc nên gọi Niết Bàn.
Không ô trọc, không tẩu lậu nên gọi Thanh Tịnh.
Chân thật bất biến nên gọi Chân Như.
Không lỗi lầm, không sai quấy nên gọi Phật tính. Giúp lành, lánh dữ nên gọi Tổng Trì.
Ẩn phú, hàm nhiếp (thu tàng mọi sự) nên gọi Như Lai Tạng.
Siêu việt, huyền bí nên gọi Mật Nghiêm Quốc (Tịnh Thổ của Đức Đại Phật Như Lai). Gồm thâu mọi đức, chỉ điểm quần mê, một mình chiếu sáng, nên gọi Viên Giác. Kỳ thật, chỉ là một khiếu. Đi ngược nó sẽ là phàm phu, thuận theo nó là Tiên Thánh. Không biết nó sẽ bị Sinh Tử, Luân Hồi; Hiểu biết nó Luân Hồi sẽ dứt.
Muốn Thể hợp Chí đạo phải biết quán chiếu Bản Tâm
Muốn dứt Luân Hồi, không gì bằng thể hợp Chí Đạo. Muốn thể hợp Chí Đạo, không gì bằng Quán Chiếu Bản Tâm. Muốn Quán Chiếu Bản Tâm, phải biết hư tâm quảng thị, nội quan quán chiếu, lúc nào cũng như vầng nguyệt giữa trời, lúc nào cũng phải định tĩnh tuệ chiếu, lúc nào cũng giữ không để thất tình manh nha (ai, cụ, hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục) (1), lúc nào cũng giữ cho Bát Thức không hoen ố. Ngoài tuyệt chư duyên, trong tuyệt chư vọng. Phải biết phản quan, nội thính, điều hòa hơi thở, ngậm miệng không nói, tứ chi bất động, để cho Ngũ Thức đều phản kỳ căn, cho Ngũ Linh phản an kỳ vị.
Suốt 24 giờ, mắt luôn nhìn vào khiếu đó, tai thường “nghịch thính” khiếu đó, lưỡi thường quy hướng về khiếu đó, vận, dụng, thi, vi, niệm niệm không ngoài khiếu đó. Đi, đứng, nằm, ngồi, tâm thường không rời khiếu đó. Không lúc nào được quên “quan chiếu khiếu đó”. Nếu làm sai nguyên tắc này, thì làm sao thần quang xuất ra lại tự phản hồi được, luôn luôn không lìa xa khiếu này, như Tử Tư nói: Bất khả tu du ly 不可须臾离 (2)vậy.
Trước thời tồn dưỡng để hư cái Tâm, sau phải quên đi để mở lượng cái Tâm. Tùy xứ, tùy thời, luôn luôn tự tại, vô ngại. Đúng như Hổ Long Kinh đã nói: “Chí diệu chi yếu, tiên tồn, hậu vong.” 至妙之要, 先存后忘。(Cái cốt yếu của điều huyền diệu này là Tiên tồn, Hậu vong). Đó là khẩu quyết rốt ráo vậy.
Phải biết giữ đôi mắt
Muốn trừ Lục Thức, cần biết trước sau: Tuy ý là chủ soái Lục Thức, nhưng thật ra đôi mắt là Tiên Phong của Ngũ Tặc. Cho nên Cổ Đức nói: “Tâm thị khu cơ, mục vi đạo tặc, dục phục kỳ Tâm, tiên nhiếp kỳ mục.” 心是枢机,目为盗贼。欲伏其心,先摄其目。(Tâm là then chốt, mắt là giặc trộm, muốn hàng phục Tâm, trước phải nhắm mắt). Cho nên cung muốn bắn, phải động nỏ. Nỏ không động thì cung không bắn, mắt không động thì Tâm đứng yên.
Âm Phù Kinh viết: “Cơ tại mục.” 机在目。(Nỏ ở mắt). Đạo Đức Kinh viết: “Bất kiến khả dục, nhi Tâm bất loạn.” 不见可欲,而心 不乱。(3)
Mọi vẻ đẹp bên ngoài chẳng thiết,
Cho lòng dân cao khiết trong veo.
Luận Ngữ viết: “Phi Lễ vật thị.” 非礼勿视。(Không nhìn điều phi lễ.) (4)
Chu Tử nói: “Chế vu ngoại, sở dĩ dưỡng kỳ trung dã.” 制于外所以 养其中也。(Không nhìn cái dáng mê bên ngoài, để dưỡng cái Tâm)
Sách Kim Tư Bửu Lục nói: “Nhãn nãi thần du Huyền Tẫn Môn, ức chi lệnh nhãn sử qui tâm.” 眼乃神游玄牝门,抑之令眼使归心。(Mắt nhìn là Thần đi chơi nơi Huyền Tẫn Môn, hạn chế để cho Mắt quay về Tâm.)
Mắt thủ khiếu này không rời, tức là Như Lai Tạng Pháp Nhãn, đúng bí chỉ của Kinh Niết Bàn. Cho nên Lăng Già Kinh viết: “Tác thị quán giả, danh vị Chính quán; Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.” 作是观者,名为正观;若他观者,名为邪观。(Có cái nhìn này là cái nhìn đúng, nếu có cái nhìn khác, là cái nhìn sai)
Sách Quán Kinh, phẩm Quân Tâm viết: “Tam giới chi trung, dĩ Tâm vi chủ, Năng quán Tâm giả, cứu cánh giải thoát, bất năng quán giả, tất cảnh trầm luân.” 三界之中,以心为主。能观心者,究竟解脱; 不能观者,毕竟沉沦。(Tâm là chủ Tam Giới, biết quán Tâm [nội quan] sẽ được giải thoát. Không biết quán tâm, cuối cùng sẽ bị trầm luân).
Chương đầu Đạo Đức Kinh viết: Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu. 常有欲以观其徼 (Từ Hữu sẽ thấy đầu đuôi vạn vật.), là thấy được khiếu này. Thường vô dục dĩ quan kỳ Diệu. 常无欲以观其妙 (Từ Vô sẽ thấy được điều ảo diệu của Đạo.), là thấy được vi diệu của khiếu này. Xưa kia Hoàng Đế đã nội quán 3 tháng, là quán chiếu khiếu này.
Phải biết Quán Tâm, Chỉ Niệm
Đức Thái Thượng Lão Quân cũng nói: “Ngô tòng vô lượng kiếp lai, nội quan đắc đạo, nãi chí hư vô.” 吾从无量劫来,内观得道,乃至 虚无。(Ta từ vô lượng kiếp tới nay, dùng nội quan mà đắc đạo, mà tới được Hư Vô.)
Quán Tâm không dễ, Chỉ Niệm khó hơn. Cho nên chỗ niệm khởi đầu là căn cơ sinh tử.
Cổ Tiên viết:-
Đạo Đạo giáo nhân tiên chỉ niệm, 大道教人先止念,
Niệm đầu bất trụ, diệc đồ nhiên. 念头不住亦徒然。
Đại Đạo dạy người tiên chỉ niệm,
Niệm đầu chẳng trụ mới là hay.
Kinh Viên Giác nói:
Tất cả thời gian rảnh rỗi không khởi Vọng Niệm, nếu còn Vọng Tâm, Vọng Niệm sẽ không diệt. Sống trong cảnh Vọng Tưởng, đừng có tìm hiểu. Nếu cứ tìm hiểu, sẽ không biết đâu là chân thật.
Khởi Tín Luận viết:
Nếu Tâm tán loạn, lập tức thu nhiếp lại, khiến cho Tâm được Chính Niệm. Niệm khởi, biết ngay, biết tức là vô (niệm). Tu hành diệu môn, chính tại nơi đây.
Hư Tịnh Thiên Sư viết:
Không sợ niệm khởi, chỉ lo biết muộn. Niệm khởi là bệnh, dứt bệnh là thuốc.
當知妄念起於識根,對境成妄,實非有體。在眾生時,智劣識強,但名為識。當佛地時,智強識 劣,但名為智。只轉其名,不轉其體。初一心源廓然妙湛,由知見立知,妄塵生起,故有妄念。若知見無見,則智性真淨,複還妙湛,洞徹精了,而意念消。
意念既消,自六識而下莫不皆消。即文殊所謂一根既返元,六根成解脫。既無六根,則無六塵 e 既無六塵,則無六識。既無六識,則無輪回種子。既無輪回種子,則我一點真心獨立無依,空空蕩蕩,光光淨淨,而萬劫常存,永不生滅矣。
此法直指人心,一了百當。何等直截,何等簡易。但能培養本原,觀照本竅,久則油然心新,浩然氣暢,凝然不動,寂然無思,豁然知空,了然悟性。此所謂皮膚 剝落盡,一真將次見矣。
工夫至此,自然精神朗發,智慧日生,心性靈通,隱顯自在。自然有一段清靜闔辟之機,自然有一段飛躍活動之 趣。自然有一點元陽真炁從中而出,降黃庭,入土釜,貫尾閭,穿夾脊,上沖天穀,下達曲江,流通百脈,灌溉三田,驅逐一身百竅之陰邪,滌蕩五臟六腑之濁穢。 如服善見王之藥,眾病鹹消。若奏獅子筋之弦,群音頓絕。所以雲:一心療萬病,不假藥方多。
是知一切諸聖,皆從此心方便門入,得成祖 佛,為人天之師。凡夫不能證者,由不識自心故。故曰:海枯終見底,人死不知心。六道群蒙皆此門出,曆千劫而不返,一何痛哉。
所以諸 怫驚入火宅,祖師特地西來,乃至千聖悲嗟,皆為不達唯心出要道耳。
如寶藏論雲:夫天地之內,宇宙之間,中有一寶,秘在形山,識物靈 照,內外空然,寂寞難見,其謂玄玄。巧出於紫微之表,用在於虛無之間。端化不動,獨而無雙。聲出妙響,色吐華容。窮睹無所,寄號空空。唯留其聲,不見其 形。唯留其功,不見其容。幽明朗照,物理虛通。森羅寶印,萬象真宗。其為也形,其寂也冥。本淨非瑩,法爾圓成。光照日月,德越太清。萬物無作,一切無名。 轉變天地,自在縱橫。恒沙妙用,混沌而成。誰聞不喜,誰聞不驚。如何以無價之寶,隱于陰人之坑。哀哉!哀哉!其為自輕。悲哉!悲哉!晦何由明?其寶也煥煥 煌煌,朗照十方,間寂無物,應用堂堂。應聲應色,應陰應陽。奇物無根,妙用常存。瞬目不見,側耳不聞。其本也冥,其化也形。其為也聖,其用也靈。可為大道 之真精,其精甚靈,萬有之因。凝然常住,與道同倫。
Niệm là Vọng Niệm
Nên biết Vọng Niệm khởi lên từ Thức Căn. Đấu tranh thị phi biến thành hư vọng, chứ không có Thực Thể.
Ở nơi chúng sinh, thì Trí liệt, Thức cường. Cho nên gọi là Thức.
Ở nơi chư Phật, thì Trí cường, Thức liệt. Cho nên gọi là Trí.
Chỉ đổi tên, không đổi Bản Thể.
Lúc ban sơ, Tâm Nguyên khuếch nhiên, vi diệu, trừng triệt, nhưng vì tri kiến sinh, vọng trần khởi, nên có Vọng Niệm. Nếu không có Tri Kiến, thí Trí Tính chân tịnh, phục hồi diện trạm, động triệt tinh vi, và ý niệm sẽ tự tiêu.
Ý niệm đã tiêu, thì Lục Thức cũng sẽ tiêu ma.
Cho nên Văn Thù Bồ Tát nói:
Nhất căn (Tâm) ký qui nguyên. Lục căn (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý) thành giải thoát.
Không có Lục Căn, thì không có Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Không có Lục Trần thì không có Lục Thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tị thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức). Không có Lục Thức sẽ không có luân hồi chủng tử. Thì nhất điểm Chân Tâm của ta sẽ độc lập, không y cứ vào đâu, và sẽ Không, Không, Đãng, Đãng, Quang, Quang, Tịnh, Tịnh. VẠN THẾ TRƯỜNG TỒN, KHÔNG CÒN SINH DIỆT NỮA.
Tu là Tu Tâm, là Bồi dưỡng Bản Nguyên
Phép này trực chỉ Nhân Tâm, Tâm mà tu thì vạn sự thành, thật là giản dị, thẳng suốt: Chỉ cần Bồi dưỡng Bản Tâm, quán chiếu Bản Khiếu (Bản Tâm). Lâu ngày Tâm sẽ như đổi mới, khí Hạo Nhiên (Chân Khí) sẽ thông sướng, ngưng nhiên bất động, sẽ tịch nhiên vô tư, biết rõ Cái Không, hiểu được Tính mình. Cho nên nói: “Bì phu bác lạc tận, Nhất Chân tương thứ hiện.” 皮肤剥落尽,一真将次现 (Bì phu khi lóc hết, Chân Linh sẽ hiện ra).
Công phu được như vậy, tự nhiên tinh thần sẽ rạng rỡ, trí tuệ ngày một sinh. Tâm Tính linh thông, cái gì ẩn hiện cũng rõ hết, tùy ý biết được cơ đóng mở của trời đất, tha hồ bay nhảy. Tự nhiên Nguyên Dương Chân Khí từ trong phát ra, từ đầu đi xuống Huỳnh Đình (Trung Đan Điền), xuyên thấu Vĩ Lư, lên tới huyệt Giáp Tích. Trên thì lên tới Thiên Cốc (Nê Hoàn), dưới xuống tới Khúc Giang (Hạ Đan Điền). Làm cho bách mạch lưu thông, Tam Điền khái quán, xua đuổi âm tà ra khỏi trăm khiếu trong thân, rửa sạch uế tạp trong Ngũ Tạng, y như được uống thuốc của Thiện Kiến Vương (của Đế Thích, là vua của thành Thiện Kiến Vương, trên đỉnh núi Tu Di), các bệnh đều tiêu. Như tấu khúc đàn Sư Tử (Sư Tử là vua Bách Lỗ, Phật giáo kêu Như Lai là Sư Tử), mọi thanh âm khác đều đình chỉ. Nên nói:
Nhất Tâm liệu vạn bệnh, 一心疗万病,
Bất giả dược phương đa. 不假药方多。
Một Tâm chữa muôn bệnh,
Đơn thuốc chẳng cần nhiều.
天下最親,莫過心也。百姓之用,而不知心;如魚在海,而不知水。故佛經雲:一切 眾生,從曠劫來,迷列本心,不自覺悟。妄認四大為身、緣慮為心。譬如百千大海不認,但認一小浮漚。以此迷中複迷,妄中起妄,隨境流轉,離目生情。取十萬 端,無時暫暇。至使起惑造業,迴圈六道,密網自圍,不能得出。究竟冥初皆一妄迷真之咎耳。
故靈潤曰:妄情牽引何時了,辜負靈台一點 光。夫靈台一點光者,即真如靈知心也。最玄最妙,通聖通靈。極高明,極廣大。化萬法之王,為群有之體。堅徹三界,橫亙十方。自混飩未辟之前,而已曾有。雖 天地既壞以後,而未嘗無。一切境界,皆是心光。若人識得心,大地無寸土。故曰:三界唯心。
迷人心外求法,至人見境是心。境即是心之 境,心即是境之心。對境不迷,逢緣不動,能所互成,一體無異。若能達境,唯心便是。悟心成道,覺盡無始,妄念攝境歸心,出纏真如,離垢解脫,永合清淨本 然,則不更生山河大地諸有為相。如金出礦,終不更染塵泥;似木成灰,豈有再生枝木。一得永得,盡未來際,永脫樊籠,長居聖域矣。
雖 然,此最上一乘大道,若根器利者,一超直入如來地。若根器鈍者,將如之何?必由下學而上達的功夫,漸次引入法門可也。使之行一步,自有一步效驗,升一級, 自有一級規模。亦是行遠自邇,登高自卑之意。
若不知入門下手功夫,安能遽到了手極則地位?若未能盡心,而安能知性?未能明心,而安 能見性?夫明心盡心之要者,時以善法扶助自心,時以赤水潤澤自心,時以境界淨治自心,時以精進堅固自心,時以忍辱坦蕩自心,時以覺照潔白自心,時以智慧明 利自心,時以佛知見開發自心,時以佛平等廣大自心。
故知明心是生死海中之智楫,盡心是煩惱病中之良醫。若昧此心,則永劫輪回而遺失 真性;若明此心,則頓起生死而圓證涅槃。始終不出此心,離此心別無玄妙矣。後面雖有次第工夫,不過是成就這個而已。
噫!莫看易了, 至人難遇,口訣難聞。故張平叔雲:只為丹經無口訣,教君何處結靈胎?殊不知經中口訣自載,大都秘母言子,不肯分開說破,使人湊泊不來。況多為譬辭隱語,使 學者眩目惑心,以致中途退步。餘甚憫之,今將丹經梵典中之口訣,—一指出,留與後人,為破昏黑的照路燈,辨真偽的試金石。
Mới biết xưa nay, chư thánh đều lấy Tâm này làm phương tiện mà vào cửa, cuối cùng tu thành Tiên, Phật, Thánh, Tổ, thành Thầy dạy đời.
Phàm phu không thành chứng quả, là vì chẳng biết Tâm này. Cho nên có lời nói: “Hải khô chung kiến để. Nhân tử bất tri tâm.” 海枯终见底,人死不知心。(Biển khô còn thấy đáy. Người chết chưa biết Tâm).
Lục Đạo (5)(Thiên đạo, Nhân đạo, A Tu La đạo – Thần, Địa ngục đạo, Ngạ quỷ đạo, Súc sinh đạo) quần mông (mê muội) đều do cửa này mà sinh ra (không biết Tu Tâm).
Băng qua nghìn đời vẫn không biết đàng trở lại. Thật đáng buồn thay!
Cho nên chư Phật mới vào nhà lửa cứu người, Tổ Sư mới dạy Tây lai. Sở dĩ chư thánh phải buồn than, chỉ là vì người không đạt được Cái Duy Tâm Yếu Đạo ấy.
Như sách Bửu Tạng nói:
Trong trời đất, vũ trụ này, có một báu vật (Tâm Chân Như, Linh Tri), dấu tại con người (hình sơn = hình dạng con người), gặp vật thì chói sáng, trong, ngoài trống rỗng, tịch mịch khó thấy, gọi là Huyền Huyền.
Nó hiện ra phía ngoài cung Tử Vi (Thượng Đan Điền). Diệu dụng nó là tại nó Hư Vô, đoan hóa bất động, độc nhất, vô song, thanh có âm hưởng nhiệm màu, sắc nở hoa dung, không thấy sở cư, như là Không Không. Chỉ để lại âm thanh, không thấy hình tượng. Chỉ để lại công phu, không thấy được dung mạo. Nó chói rọi u minh, quán thông mọi sự lý. Nó là Chủ tể muôn loài, là Chân Tông vạn sự. Nó thi công nơi người thì như có hình, lúc nó tĩnh định thì minh minh, hư vô. Bản tính nó vốn tĩnh minh, bắt chước theo nó thì công đức sẽ viên thành. Nó sáng soi nhật nguyệt, đức nó vượt Thiên Không. Vạn vật bất động, nhất thiết vô danh. Chuyển hóa Thiên Địa, tự tại tung hoành. Tinh vi diệu dụng, hỗn độn nhi thành. Có ai thấy mà không mừng, có ai nghe mà không sợ. Sao lại để cho hòn ngọc vô giá đó lọt vào Âm Nhập chi khanh? Thật là đáng buồn. Chỉ vì con không biết Tự Trọng, buồn thay! Buồn thay! Như vậy tối sao thành sáng?
Bảo vật đó, sáng láng rực rỡ, rạng chiếu mười phương. Tịch nhiên như không có gì, nhưng công dụng vô biên.
Ứng thành thanh sắc, thành Âm Dương. Nó không có căn, nhưng diệu dụng thì vô cùng. Mắt nhìn không thấy, tai nghe không ra. Bản Nguyên nó thì mù mịt, biến hóa thành vật, thành thánh thần, công dụng nó thật Linh diệu. Nó là Chân Tinh của Đại Đạo, Chân Tinh này rất Linh diệu, sinh ra vạn vật, ngưng nhiên thường trụ, trường tồn, đồng thể với Đạo.
Vạn sự trong thiên hạ, Tâm là quan trọng nhất.
Bách tính dùng nó hằng ngày, mà không biết nó, như cá trong biển, mà không biết nước. Cho nên kinh Phật nói: Nhất thiết chúng sinh, từ vạn kiếp lai, không biết bản tâm, không tự giác ngộ, nhận lầm tứ đại (đất, nước, gió, lửa) là thân, duyên lự làm Tâm. Ví như trăm nghìn biển cả thì không nhận, chỉ nhận một cái bèo cái bọt. Cứ thế, đã mê, càng mê, đã lầm càng lầm, tâm tùy cảnh đổi, mắt tùy vật sinh tình, thủ xả trăm mối, không lúc nào rảnh, cho nên lầm lạc, tạo nghiệp. Tuần hoàn trong lục đạo, như lưới dày bao vây khắp mình, không sao thoát ra được. Suy cho cùng chỉ tại lúc đầu đã bị vọng niệm làm mê hoặc bản tâm mà thôi.
Cho nên Linh Nhuận Thiền sư nói:
Vọng tình khiên dẫn hà thời liễu, 妄情牵引何时了,
Cô phụ Linh Đài nhất điểm quang. 辜负灵台一点光。
Vọng tình dẫn dắt khi nào hết,
Uổng thay ánh sáng của Linh Đài.
Linh Đài nhất điểm quang chính là Chân Như Linh Tri Tâm vậy. Nó tối huyền, tối diệu, thông thánh, thông linh, cực cao minh, cực quảng đại, nó sinh ra mọi biến hóa, là bản thể quần sinh, vạn hữu, hoành quán vạn phương. Từ khi chưa có trời đất tới nay, nó vốn hằng hữu. Khi trời đất đã hủy hoại, nó vẫn còn đó. Nhất thiết cảnh giới đều là tâm quang. Nếu người ta biết được Tâm, thì Đại Địa không còn một tấc đất. Nên nói: Tam giới duy Tâm.
Người mê cầu Pháp ngoài Tâm, bậc Chí Nhân thấy Cảnh là Tâm. Cảnh là Cảnh của Tâm, Tâm là Tâm của Cảnh. Đối cảnh không mê, gặp duyên không động. Hỗ thành một Thể không khác. Nếu biết cảnh tượng bên ngoài đều do Tâm biến hiện, thì sẽ Ngộ Tâm, thành Đạo.
Thấy được Vọng Niệm từ vô thủy, sẽ thu nhiếp được Cảnh về Tâm, thoát triền phược, đạt tới Chân Như, lìa trần cấu, mà đạt giải thoát, vĩnh viễn hòa hiệp với Thanh Tĩnh, Tự Nhiên, không còn thấy các hướng hữu vi của trần cảnh. Như vàng lìa khoáng, không còn bao giờ bị nhiễm bùn nhơ; như cây đã thành than, không còn bao giờ sinh cành lá. Đã được là được luôn, cùng tận cõi bờ của vị lai, siêu thoát hết mọi gông cùm, sống mãi cùng thần thánh.
Tuy nhiên, cái Đại Đạo tối thượng nhất thừa này, nếu ai có căn cơ linh lợi, thì vào ngay được cõi Như Lai, ai mà có căn cơ cùn nhụt, thì sẽ phải làm sao? Thưa phải đi từ thấp tới cao, dần dà đi vào: Một bước tiến là một bước hiệu nghiệm; lên một cấp là có quy mô một cấp. Lại nữa muốn đi xa là phải tự chỗ gần, muốn lên cao phải từ chỗ thấp. Nếu chẳng biết nhập môn hạ thủ, thì làm sao lên được cảnh giới tối cao? Nếu không tận tâm, làm sao biết tính? Nếu không Minh Tâm, làm sao Kiến Tính? Cái yếu quyết để Minh Tâm, Tu Tâm là phải lấy Thiện Đạo, phù trợ bản tâm, phải luôn lấy máu nhuận trạch kỳ tâm, luôn luôn phải tĩnh trị cõi lòng, luôn luôn phải tinh tiến kiên cố bản tâm, luôn luôn phải lấy nhẫn nhục làm cho thân thản đãng, luôn luôn phải lấy Linh giác minh chiếu khiết tịnh tự tâm, luôn luôn phải lấy trí tuệ mở mang cõi lòng, luôn luôn phải lấy Phật tri kiến khải phát tự tâm, lấy Phật pháp bình đẳng mở rộng Tâm Hồn.
Cho nên, Minh Tâm là cái bơi chèo trí huệ đẩy đưa ta trong biển sinh tử của ta, Tận Tâm là lương y chữa mọi bệnh phiền não. Nếu không biết Tâm này, sẽ vĩnh kiếp luân hồi, đánh mất chân tính. Nếu biết rõ tâm này, thì sẽ thoát vòng sinh tử, chứng đắc Niết Bàn. Sau trước không bao giờ ra khỏi Tâm này. Lìa khỏi Tâm này không còn diệu pháp nào khác, chẳng qua chỉ là thành tựu cái Tâm này mà thôi.
Ôi! Chẳng nên coi thường. Thánh nhân khó gặp. Cho nên Trương Bình Thúc nói:
Chỉ vị Đan Kinh vô khẩu quyết, 只为丹经无口诀,
Giáo quân hà xứ kết Linh Thai. 教君何处结灵胎?
Chỉ vì Đan Kinh không khẩu quyết,
Khiến ông không cách kết Linh Thai.
Có biết đâu rằng:-
Các khẩu quyết Đan Kinh, rất là ẩn áo, rất là khó hiểu. Khiến người không hiểu nổi. Toàn là ẩn ngữ, bí từ, khiến người hoa mắt, loạn tâm, đến nỗi giữa đường phải rút lui.
Ta rất thương họ. Nay đem Đan Kinh, Phạn điển, khẩu quyết nhất nhất nêu ra, cho đời sau biết. Nó sẽ như ngọn đèn phá tan âm tối, chỉ rõ con đường, cho mọi người biết được giả chân, phân rành vàng đá.
太玄真人雲:父母生前一點靈,不靈只為結成形。成形罩卻光明種,放下依然徹底 清。
空照禪師雲:這個分明個個同,能包天地運虛空。我今直指真心地,空寂靈知是本宗。
自然居士雲:心如明鏡 連天淨,性似寒潭止水同。十二時中常覺照,休教昧了主人翁。
智覺禪師雲:菩薩從來不離真,自家昧了不相親。若能靜坐回光照,便見生 前舊主人。
三茅真君雲:靈台湛湛似冰壺,只許元神在裏居。若向此中留一物,豈能證道合清虛?
天然禪師雲:心 本絕塵何用洗,身中無病豈求醫。欲知是佛非身處,明鑒高懸未照時。
主敬道人雲:未發之前心是性,已發之後性是必。心性源頭參不透, 空從往跡費搜尋。
無心其人雲:妄念才興神加遷,神過六賊亂心田。心目既亂身無主,六道輪回在目前。
高僧妙虛 雲:惺惺一個主人翁,寂然不動在靈宮。但將此中無持礙,天然本體自虛空。
太乙真人雲:一點圓明等太虛,只因念起結成軀。若能放下回 光照,依舊清虛一物無。
華嚴經頌雲;有數無數一切劫,菩薩了知即已念。於此善入菩提行,常勤修習不退轉。
海 月禪師雲:六個門頭一個關,五門不必更遮欄。從他世事紛紛亂,堂上家尊鎮日安。
水庵禪師雲:不起一念須彌山,待立當頭著眼看。牛一 縷絲輕絆倒,家家門底透長安。
大溈智頌雲:真佛無為在我身,三呼三應太惺惺。若人不悟原由者,生劫茫茫認識神。
Khẩu quyết
Thái Huyền Chân Nhân nói:-
Phụ mẫu sinh tiền nhất điểm Linh, 父母生前一点灵,
Bất Linh chỉ vị kết thành hình. 不灵只为结成形。
Thành hình tráo khước quang minh chủng, 成形罩却光明种,
Phóng hạ y nhiên triệt để thanh. 放下依然彻底清。
Phụ mẫu sinh tiền một điểm Linh,
Không Linh chỉ tại kết thành hình.
Thành hình, khuất lấp quang minh chủng,
Nếu thoát hình hài triệt để thanh.
Không Chiếu Thiền Sư nói:-
Giá cá phân minh, cá cá đồng, 这个分明个个同,
Năng bao thiên địa, vận hư không. 能包天地运虚空。
Ngã kim trực chỉ Chân Tâm địa, 我今直指真心地,
Không tịch Linh Tri thị Bản Tông. 空寂灵知是本宗。
Chân Như tính ấy thế nhân đồng,
Bao trùm trời đất, chuyển Hư Không.
Nay ta chỉ thẳng Chân Tâm địa,
Vắng lặng Linh Tri, ấy Bản Tông.
Tự Nhiên Cư Sĩ nói:-
Tâm như minh kính Liên thiên tịnh, 心如明镜连天净,
Tính tự hàn đàm chỉ thủy đồng. 性似寒潭止水同。
Thập nhị thời trung thường giác chiếu, 十二时中常觉照,
Hưu giao muội liễu Chủ Nhân Ông. 休教昧了主人翁。
Tâm sáng như gương, trong tựa trời,
Tính như hồ lắng, nước lặng ngôi.
Ngày đêm tĩnh mịch, thường Giác Chiếu,
Chiếu soi tỏ rõ Chủ Nhân soi.
Trí Giác Thiền Sư nói:-
Bồ tát tòng lai bất ly Chân, 菩萨从来不离真,
Tự gia muội Liễu, bất tương thân. 自家昧了不相亲。
Nhược năng tĩnh tọa hồi quang chiếu, 若能静坐回光照,
Tiện kiến sinh tiền cựu chủ nhân. 便见生前旧主人。
Bồ tát từ xưa chẳng lìa Chân,
Tại mình mê muội chẳng thân gần.
Nếu hay tĩnh tọa hồi quang chiếu,
Liền thấy sinh tiền Cựu Chủ Nhân.
Tam Mao Chân Quân viết:-
Linh Đài trạm trạm tự Băng hồ, 灵台湛湛似冰壶,
Chỉ hứa Nguyên Thần tại lý cư. 只许元神在里居。
Nhược hướng thử trung lưu nhất vật, 若向此中留一物,
Khởi năng chứng Đạo hợp Thanh Hư? 岂能证道合清虚?
Linh Đài trong vắt tựa Băng hồ,
Chỉ có Nguyên Thần được ở trong.
Nếu để vật chi vào trong đó,
Sẽ không chứng Đạo, hợp Thanh Hư.
Thiên Nhiên Thiền Sư nói:-
Tâm bản tuyệt trần hà dụng tẩy, 心本绝尘何用洗,
Thân Trung vô bệnh khởi cầu y? 身中无病岂求医。
Dục tri thị Phật, phi thân xứ, 欲知是佛非身处,
Minh giám cao huyền, vị chiếu thời? 明鉴高玄未照时。
Tâm vốn không dơ, cần gì tắm,
Trong mình không bệnh khỏi cầu Thầy.
Mới biết thân ta chính là Phật,
Như đài gương sáng chiếu đó đây.
Chủ Kính Đạo Nhân nói:-
Vị phát chi tiền, Tâm thị Tính, 未发之前心是性,
Dĩ phát chi hậu, Tính thị Tâm. 已发之后性是必。
Tâm, Tính nguyên đầu, tham bất thấu, 心性源头参不透,
Không tòng vãng tích, phí sưu tầm. 空从往迹费搜寻。
Tâm khi chưa phát, Tâm là Tính,
Khi đã phát rồi, Tính là Tâm.
Chỗ Tâm Tính khởi, suy chẳng thấu,
Dấu vết tìm chi, uổng sưu tầm.
Vô Tâm Chân Nhân nói:-
Vọng niệm tài hưng, Thần tức thiên, 妄念才兴神即迁,
Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền. 神迁六贼乱心田。
Tâm điền ký loạn, thân vô chủ, 心田既乱身无主,
Lục đạo luân hồi tại mục tiền. 六道轮回在目前。
Vọng niệm dấy lên, Thần tự thiên,
Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền.
Tâm điền đã loạn, Thân vô chủ,
Sáu nẻo luân hồi thấy nhãn tiền.
Cao tăng Diệu Hư nói:-
Tinh tinh nhất cá Chủ Nhân Ông, 惺惺一个主人翁,
Tịch nhiên bất động tại Linh Cung. 寂然不动在灵宫。
Đãn đắc thử trung vô quải ngại, 但得此中无挂碍,
Thiên Nhiên Bản Thể tự Hư Không. 天然本体自虚空。
Tinh tao một vị Chủ Nhân Ông,
Tịch Nhiên bất động tại Linh Cung.
Chỉ cốt Linh Cung không vướng mắc,
Thiên Nhiên Bản Thể hiện Hư Không.
Thái Ất Chân Nhân nói:-
Nhất điểm viên minh đẳng Thái Hư, 一点圆明等太虚,
Chỉ nhân niệm khởi kết thành khu. 只因念起结成躯。
Nhược năng phóng hạ hồi quang chiếu, 若能放下回光照,
Y cựu thanh hư, nhất vật vô. 依旧清虚一物无。
Một điểm viên minh tựa Thái Hư,
Chỉ vì niệm khởi, kết thành khu.
Nếu biết bỏ thân, hồi quang chiếu,
Sẽ thấy bên trong vẫn thanh hư.
Hoa Nghiêm Kinh viết:-
Hữu số, vô số nhất thiết kiếp, 有数无数一切劫,
Bồ tát liễu tri tức nhất niệm. 菩萨了知即已念。
Vu thử thiện nhân bồ đề hạnh, 于此善人菩提行,
Thường cần tu tập bất thoái chuyển. 常勤修习不退转。
Nhất thiết kiếp nạn con người,
Đều do tạp niệm trong đời nảy sinh.
Bồ tát thấy được rõ ràng,
Cho nên tu luyện liên canh chẳng dời.
Hải Nguyệt Thiền Sư nói:-
Lục cá (lục thức) môn đầu nhất cá quan, 六个门头一个关,
Ngũ môn bất tất tiện già lan. 五门不必更遮栏。
Tòng tha thế sự phân phân loạn, 从他世事纷纷乱,
Đường thượng gia tôn (tâm) trấn nhật an. 堂上家尊镇日安。
Lục thức môn đầu phong tỏa một,
Ngũ quan bất tất phải cài then.
Chỉ do lục thức, nên đời loạn,
Trong nhà gia chủ vẫn bình an.
(Tu là già tỏa, phong bế ý thức. Quan bế đệ lục thức tức ý thức, vì ý thức là đầu đảng ngũ tặc, là chủ soái của lục thức).
Thủy Am Thiền Sư nói:-
Bất khởi nhất niệm, Tu Di Sơn , 不起一念须弥山,
Đãi lập đương đầu, trước nhãn khan. 待立当头着眼看。
Niêm nhất lũ ti, khinh bán đảo, 拈一缕丝轻绊倒,
Gia gia môn để thấu Trường An. 家家门底透长安。
Nê Hoàn vắng lặng không một niệm,
Để ngay trước mặt, mắt ngó xem.
Lòng vốn khinh thanh, không ô nhiễm,
Lòng không vọng niệm, đạt tiên ban.
Đại Sư Trí Tụng nói:-
Chân Phật vô vi tại ngã thân, 真佛无为在我身,
Tam hô, tam ứng, thái tinh tinh. 三呼三应太惺惺。
Nhược nhân bất ngộ nguyên do giả, 若人不悟原由者,
Trần kiếp mang mang, nhận Thức Thần. 生劫茫茫认识神。
Chân Phật vô vi, tại ngã thân,
Hễ gọi là thưa, rất ân cần.
Nếu người không biết sao như vậy,
Chỉ tại xưa nay nhận Thức Thần.
無垢子謁雲:五蘊山頭一段空,同門出入不相逢。無量劫來賃屋住,到頭不識主人翁。
唯寬禪師雲:勸君學道莫貪求,萬事無心道合頭。 無心始體無心道,體得無心道也休。
志公和尚雲:頓悟心原開寶藏,隱顯靈蹤現真象。獨行獨坐常巍巍,百億化身無數量。
呆堂禪師雲:應無所住生其心,廓徹圓明處處真。直下頂門開正眼,大千沙界現全身。
指玄篇雲: 若得心空若便無,有何生死有何拘。一朝脫下胎州襖,作個逍遙大丈夫。
段真人雲: 心內觀心覓本心,心心俱絕見真心。真心明徹通三界,外道天魔不敢侵。
張遠霄雲: 不生不滅本來真,無價夜光人不識。凡夫虛度幾千生,雜在礦中不能出。
薛道光雲: 妙訣五千稱道德,真詮三百頌陰符。但得心中無一字,不參禪亦是工夫。
無垢子雲: 學道先領識自心,自心深處最難尋。若還尋到無尋處,方悟凡心即佛心。
逍遙翁雲: 掃除六賊淨心基,榮辱悲歡事勿追。專炁至柔窺內景,自然神室產牟尼。
弄丸集雲: 天機奧妙難輕吐,顏氏如愚曾氏魯。問渠何處用工夫,只在不聞與不睹。
張三峰雲: 真心浩浩無窮極,無限神仙從裏出。世人耽著小形骸,一顆玄珠迷不識。
解迷歌雲: 若要真精無漏泄,須淨靈台如朗月。靈台不淨神不請,晝夜工夫休斷絕。
北塔祚雲: 切忌隨他不會他,大隨此語播天涯。真淨性中方一念,早是千差與萬差。
橫川拱雲: 洞水無緣會逆流,見他苦切故相救。西來祖意定無意,妄想狂心歇便休。
草堂禪師雲:斷臂覓心心不得,覓心不得始安心。心安後夜雪庭 際,滿目瑤花無處尋。
佛國禪師雲:心心即佛佛心心,佛佛心心即佛心。心佛悟來無一物,將軍止渴望梅林。
華嚴 經偈雲:若人欲識佛境界,當淨其意即虛空。遠離妄想及諸取,令心所向皆無礙。
寶積經頌雲:諸佛從心得解說,心者清淨名無垢。五道鮮 潔不受染,有解此看成大道。
圓悟禪師雲:佛佛道同同互道,心心真契契真心。廓然透出威音外,地久天長海更深。
世奇首座雲:諸法空故我心空,我心空故諸法同。諸法我心無別體,只在而今一念中。
張拙秀才雲:光明寂煦遍河沙,凡聖原來共一家。 一念不生全體現,六根才動被雲遮。
中峰禪師雲:從來至道與心親,學到無心道即真。心道有無俱泯絕,大千世界一閑身。
張無夢雲: 心在靈關身有主,氣歸元海壽無窮。
白沙先生雲:千修千處得,一念一生持。
Vô Cấu Tử kệ nói:-
Ngũ Uẩn sơn đầu nhất đoạn không, 五蕴山头一断空,
Đồng môn xuất nhập bất tương phùng. 同门出入不相逢。
Vô lượng kiếp lai, nhẫm ốc trú, 无量劫来赁屋住,
Đáo đầu bất thức Chủ Nhân Ông. 到头不识主人翁。
Đầu non Ngũ Uẩn một vừng không,
Vào ra cùng cửa, chẳng tương phùng.
Từ bao nhiêu kiếp thuê nhà ở,
Tới nay, nào biết Chủ Nhân Ông.
Duy Khoan Thiền Sư nói:-
Khuyến quân học Đạo mạc tham cầu, 劝君学道莫贪求,
Vạn sự vô tâm Đạo hợp đầu. 万事无心道合头。
Vô Tâm thủy thể Vô Tâm Đạo, 无心始体无心道,
Thể đắc vô tâm, Đạo dã hưu. 体得无心道也休。
Khuyên ai học Đạo chớ tham cầu,
Đem tâm vô sự hợp Đạo mầu.
Vô tâm hợp với Vô Tâm Đạo,
Hợp đạo vô tâm, Đạo mới sâu.
Chí Công Hòa Thượng nói:-
Đốn ngộ Tâm nguyên khai bảo tạng, 顿悟心原开宝藏,
Ẩn hiện Linh Tông, hiện Chân Tượng. 隐现灵踪现真象。
Độc hành, độc tọa, thường nguy nguy, 独行独坐常巍巍,
Bách ức hóa thân, vô số lượng. 百亿化身无数量。
Tâm nguyên đốn ngộ, bảo tạng khai,
Linh Tông ẩn hiện xuất sinh ra.
Một mình đi đứng oai phong quá,
Bách ức hóa thân, vô số mà .
Ngốc Đường Thiền Sư nói:-
Ưng vô sở trụ sinh kỳ Tâm, 应无所住生其心,
Khuếch triệt, viên minh xứ xứ chân. 廓彻圆明处处真。
Trực hạ đỉnh môn, khai Chính Nhãn, 直下顶门开正眼,
Đại thiên sa giới hiện toàn thân. 大千沙界现全身。
Ưng vô sở trụ, sinh kỳ Tâm,
Tâm sẽ viên minh, xứ xứ chân.
Ngay dưới Nê Hoàn, khai Chính Nhãn,
Hằng hà sa số hiện toàn thân .
Sách Chỉ Huyền Thiên viết:-
Nhược đắc Tâm không, khổ tiện vô, 若得心空若便无,
Hữu hà Sinh Tử, hữu hà câu. 有何生死有何拘。
Nhất triêu thoát hạ thai châu áo, 一朝脱下胎州袄,
Tác cá tiêu diêu đại trượng phu. 作个逍遥大丈夫。
Tâm mà không tịch, khổ còn đâu,
Không còn sinh tử, không vướng mắc.
Một ngày nào đó buông áo xác,
Sẽ sống tiêu diêu đời trượng phu.
Đoàn Chân Nhân nói:-
Tâm nội quan tâm, mịch Bản Tâm, 心内观心觅本心,
Tâm Tâm câu tuyệt, kiến Chân Tâm. 心心俱绝见真心。
Chân Tâm minh triệt thông tam giới, 真心明彻通三界,
Ngoại đạo, thiên ma bất cảm xâm. 外道天魔不敢侵。
Quán chiếu nội tâm, tìm Bản Tâm,
Vọng Tâm mà biến, hiện Chân Tâm.
Chân Tâm rạng rỡ, thông Tam Giới,
Thiên ma ngoại đạo chẳng dám xâm.
Trương Viễn Tiêu nói:-
Bất sinh, bất diệt bản lai chân, 不生不灭本来真,
Vô giá dạ quang nhân bất thức. 无价夜光人不识。
Phàm phu hư độ kỷ thiên sinh, 凡夫虚度几千生,
Tạp tại khoáng trung bất năng xuất. 杂在矿中不能出。
Chân Tâm nguyên thị vốn là Chân,
Như ngọc dạ quang người không biết.
Phàm phu uổng sống qua nhiều kiếp,
Ngọc nằm trong khoáng chẳng sao ra.
Tiết Đạo Quang nói:-
Diệu quyết ngũ thiên xưng Đạo Đức, 妙诀五千称道德,
Chân thiên tam bách tụng Âm Phù. 真诠三百颂阴符。
Đãn đắc Tâm trung vô nhất tự, 但得心中无一字,
Bất tham thiền diệc thị công phu. 不参禅亦是工夫。
Đạo Đức năm nghìn xưng Diệu Quyết,
Âm Phù tam bách ấy Chân Thiên.
Chỉ cần Tâm Lý không một chữ,
Chẳng cứ tham thiền vẫn công phu.
Vô Cấu Tử nói:-
Học Đạo tiên tu thức tự Tâm, 学道先须识自心,
Tự Tâm thâm xứ, tối nan tầm. 自心深处最难寻。
Nhược hoàn tầm đáo vô tầm xứ, 若还寻到无寻处,
Phương ngộ Phàm Tâm tức Phật Tâm. 方悟凡心即佛心。
Học Đạo trước tiên phải biết Tâm,
Tự Tâm thâm kín khó mà tầm.
Nếu mà tìm tới Vô tầm xứ,
Sẽ thấy Phàm Tâm giống Phật Tâm.
Tiêu Diêu Ông nói:-
Tảo trừ Lục tặc tịnh tâm cơ, 扫除六贼净心基,
Vinh nhục bi hoan sự vật truy. 荣辱悲欢事勿追。
Chuyên khí chí nhu khuy Nội Cảnh, 专炁至柔窥内景,
Tự nhiên thần thất sản Ma Ni. 自然神室产牟尼。
Trừ xong Lục tặc, thấy Tâm Cơ,
Vinh nhục, bi hoan dạ chẳng lo.
Dùng Thần ngự Khí quy Nội Cảnh,
Tự nhiên tâm địa có Ma Ni.
Lộng Phàm Tập nói:-
Thiên cơ áo diệu nan khinh thổ, 天机奥妙难轻吐,
Nhan Thị như ngu, Tăng Thị lỗ. 颜氏如愚曾氏鲁。
Vấn cừ hà xứ dụng công phu, 问渠何处用工夫,
Chỉ tại bất văn, dữ bất đổ. 只在不闻与不睹。
Thiên cơ yếu diệu khó nên lời,
Nhan Hồi, Tăng Tử như si ngốc.
Công phu, hỏi họ dùng sao vậy,
Không nghe, không thấy có thế thôi.
Trương Tam Phong nói:-
Chân Tâm hạo hạo vô cùng cực, 真心浩浩无穷极,
Vô hạn Thần Tiên tòng lý xuất. 无限神仙从里出。
Thế nhân đam chước tiểu hình hài, 世人耽着小形骸,
Nhất khỏa huyền châu, mê bất thức. 一颗玄珠迷不识。
Vô Cực Chân Tâm chẳng bến bờ,
Muôn vàn Thần Thánh phát sinh ra.
Thế nhân mê mẩn hình hài tạm,
Chân Thể ngọc châu lại bỏ lơ.
Giải Mê Ca nói:-
Nhược yếu Chân Tinh vô lậu tiết, 若要真精无漏泄,
Tu tịnh Linh Đài như lãng nguyệt. 须净灵台如朗月。
Linh Đài bất tịnh Thần bất thanh, 灵台不净神不清,
Trú dạ công phu hưu đoạn tuyệt. 昼夜工夫休断绝。
Nếu muốn Chân Tinh không lậu tiết,
Hãy giữ Linh Đài như minh nguyệt.
Linh Đài không sạch, Thần không trong,
Công phu liên tục, đừng đoạn tuyệt.
Bắc Tháp Tộ nói:-
Thiết kỵ tùy tha bất hội tha, 切忌随他不会他,
Đại tùy thử ngữ, bá thiên nhai. 大随此语播天涯。
Chân tịnh Tính trung, tài nhất niệm, 真净性中才一念,
Tảo thị thiên sai dữ vạn sai. 早是千差与万差。
Tối kị tùy Tâm chẳng biết Tâm,
Chỉ một chữ Tùy bao thế giới.
Chân Tâm thanh tịnh mà khởi niệm,
Sẽ thấy nghìn sai với vạn lầm.
Hoành Xuyên Củng nói:-
Duyên thủy vô duyên hội nghịch lưu, 沿水无缘会逆流,
Kiến tha khổ thiết cố tương thù. 见他苦切故相酬。
Tây lai tổ ý, thực vô ý, 西来祖意实无意,
Vọng niệm cuồng tâm, hiết tiện hưu. 妄想狂心歇便休。
Dòng nước nương theo, bị ngược dòng,
Thấy người khổ cực cũng thương tâm.
Đạt Ma, Trung thổ vô ý tới,
Vọng niệm, cuồng tâm hãy bỏ dần.
Thảo Đường Thiền Sư nói:-
Đoạn tí mịch Tâm, Tâm bất đắc, 断臂觅心心不得,
Mịch Tâm vô đắc, thủy an tâm. 觅心不得始安心。
An tâm hậu dạ, tuyết đình tế, 心安后夜雪庭际,
Mãn mục diêu hoa, vô xứ tầm. 满目瑶花无处寻。
Tuệ Khả cắt tay để tìm Tâm,
Tìm Tâm không được mới an Tâm.
An tâm trong một sân đầy tuyết,
Vọng niệm triệt tiêu khỏi phải tầm.
Phật Quốc Thiền Sư:-
Tâm Tâm tức Phật, Phật Tâm Tâm, 心心即佛佛心心,
Phật Phật Tâm Tâm, tức Phật Tâm. 佛佛心心即佛心。
Tâm Phật ngộ lai, vô nhất vật, 心佛悟来无一物,
Tướng quân chỉ khát vọng mai lâm. 将军止渴望梅林。
Tâm Tâm là Phật, Phật là Tâm,
Phật Phật, Tâm Tâm tức Phật Tâm.
Tâm Phật hiểu rồi không gì cả,
Tướng quân đang khát chỉ mai lâm.
Hoa Nghiêm Kinh kệ nói:-
Nhược nhân dục thức Phật cảnh giới, 若人欲识佛境界,
Đương tịnh kỳ ý như hư không. 当净其意如虚空。
Viễn ly vọng tưởng, cập chư vật, 远离妄想及诸物,
Lệnh tâm sở hướng giai vô ngại. 令心所向皆无碍。
Con người như muốn tìm cảnh Phật,
Phải tĩnh kỳ ý, như hư không.
Viễn ly vọng tưởng cùng vạn sự,
Cho tâm sở hướng được thong dong.
Bảo Tích Kinh kệ nói:-
Chư Phật tòng tâm đắc giải thoát, 诸佛从心得解脱,
Tâm giả thanh tịnh danh vô cấu. 心者清净名无垢。
Ngũ Đạo tiên khiết bất thụ nhiễm, 五道鲜洁不受染,
Hữu giải thử giả thành Đại Đạo. 有解此者成大道。
Chư Phật Tâm không nên giải thoát,
Tâm mà thanh tịnh là Vô Cấu.
Ngũ Đạo tịnh khiết không ô nhiễm,
Người hiểu biết ra thành Đại Đạo .
Viên Ngộ Thiền Sư nói:-
Phật Phật Đạo đồng, đồng chí đạo, 佛佛道同同至道,
Tâm Tâm chân khế, khế Chân Tâm. 心心真契契真心。
Khuếch nhiên thấu xuất Uy Âm ngoại, 廓然透出威音外,
Địa cửu thiên trường hải cánh thâm. 地久天长海更深。
Phật Phật Đạo đồng, đồng chí đạo,
Tâm Tâm chân khế, khế Chân Tâm.
Chân tâm siêu xuất Uy Âm ngoại,
Địa cửu, Thiên trường biển càng thâm.
Thế Kỳ Thủ Tọa nói:-
Chư Pháp không, cố ngã tâm không, 诸法空故我心空,
Ngã Tâm không, cố chư pháp đồng. 我心空故诸法同。
Chư Pháp, ngã Tâm vô biệt thể, 诸法我心无别体,
Chỉ tại nhi kim, nhất niệm trung. 只在而今一念中。
Chư Pháp không, nên tâm ta không,
Tâm ta không, nên với Chư Pháp đồng.
Chư Pháp, Ngã Tâm cùng một thể,
Một Thể vì đều: Chính Niệm chung.
Trương Chuyết Tú Tài nói:-
Quang minh tịch chiếu biến hà sa, 光明寂煦遍河沙,
Phàm thánh nguyên lai cộng nhất gia. 凡圣原来共一家。
Nhất niệm bất sinh, toàn thể hiện, 一念不生全体现,
Lục căn tài động, bị vân già. 六根才动被云遮。
Phật quang lặng chiếu khắp trần ai,
Phàm Thánh xưa nay vốn không hai.
Một niệm chẳng sinh, toàn thể hiện,
Lục căn vừa động bị vân già.
Trung Phong Thiền Sư nói:-
Tòng lai chí Đạo dữ Tâm thân, 从来至道与心亲,
Học đáo vô tâm Đạo tức chân. 学到无心道即真。
Tâm đạo hữu vô câu dẫn tuyệt, 心道有无俱泯绝,
Đại thiên thế giới nhất nhàn thân. 大千世界一闲身。
Xưa nay Chí Đạo với Tâm gần,
Học tới vô tâm Đạo mới chân.
Tâm Đạo hữu vô đều mất hết,
Đại Thiên thế giới một thân nhàn.
Trương Vô Mộng nói:-
Tâm tại Linh Quan thân hữu chủ, 心在灵关身有主,
Khí quy Nguyên Hải thọ vô cùng. 气归元海寿无穷。
Tâm ở Linh Quan, thân có chủ,
Khí về Nguyên Hải, thọ vô cùng.
Bạch Sa Tiên Sinh nói:-
Thiên hưu thiên xứ đắc, 千休千处得,
Nhất niệm nhất sinh trì. 一念一生持。
Vọng niệm không sinh thiên xứ đắc,
Suốt đời chính niệm phải tu trì.
彭鶴林雲: 神室即是此靈合,中有長生不死胎。
永明延壽雲:有念即生死,無念即泥洹。
胡敬齋雲: 無事時不教心空,有事時不教心亂。
道玄居士雲:一出便收來,既歸須放下。
羅念庵雲: 毋以妄念伐其心,母以客氣傷元氣。
莎衣道人雲:心若在腔子裏,念不出總持門。
白樂天雲: 自從苦學空門法,消盡平生種種心。
海業禪師雲:動不忘於觀照,靜不忘於止息。
韜光集雲: 心在是念亦在是,動如斯靜也如斯。
沖妙雲: 身不動而心自安,心不動而神自守。
徐無極雲: 性從偏處克將去,心自放時收拾來。
佛印雲: 一念動時皆是火,萬緣寂處即生春。
陶宏景雲: 修心要作長生客,煉性當如活死人。
無著禪師雲:明即明心空寂,見即見性無生。
華嚴經雲: 若能諦觀心不二,方見毗盧清淨身。
華嚴頌雲: 始從一念終成劫,悉依眾生心想生。
馬丹陽雲: 若能長守彎彎竅,神自靈明氣自充。
丘長春雲: 當時一句師邊得,默默垂簾仔細看。
慧日禪師雲:一念照了一 念之善提也,一念晏息一會之涅槃也。
以上數語,皆成仙作聖之要、八道八德之門也。首阿難多聞總持積歲不登聖果,息緣返照,暫時即證 無生。蓋凡夫之心,終日趨外,愈遠愈背。唯返照者,檢清攝念,攝念安心,安心養神,養神歸性。即魏伯陽所謂金來歸性初,乃得稱還丹是也。咦!煉礦成金得寶 珍,煉情歸性合天真。相逢此理,交談者千萬人中無一人。
Bành Hạc Lâm nói:-
Thần Thất tức thị thử Linh Đài, 神室即是此灵合,
Trung hữu trường sinh bất tử thai. 中有长生不死胎
。
Linh Đài, Thần Thất vốn in nhau,
Trong có Kim Đơn, bất tử thai.
Vĩnh Minh Diên Thọ nói:-
Hữu niệm tức Sinh Tử, 有念即生死,
Vô niệm tức Niết Bàn. 无念即涅槃。
Có niệm là Sinh Tử,
Không niệm là Niết Bàn.
Hồ Kính Trai nói:-
Vô sự thời bất giáo Tâm không, 无事时不教心空,
Hữu sự thời bất giáo Tâm loạn. 有事时不教心乱。
Khi vô sự đừng để Tâm không,
Khi hữu sự đừng khiến Tâm loạn.
Đạo Huyền Cư Sĩ nói:-
Nhất xuất tiện thu lai, 一出便收来,
Ký quy tu phóng hạ. 既归须放下。
Nguyên Thần vừa xuất khiếu,
Lập tức phải thu hồi.
Đã về, phải phóng hạ,
Cho nó tĩnh định thôi.
La Niệm Am nói:-
Vô dĩ vọng niệm tường Kỳ Tâm, 毋以妄念戕其心,
Vô dĩ Khách Khí thương Nguyên Khí. 毋以客气伤元气。
Đừng cho Vọng Niệm diệt Chân Tâm,
Đừng cho Khách Khí thương Nguyên Khí.
Sa Y Đạo Nhân nói:-
Tâm nhược tại Xoang Tử Lý, 心若在腔子里,
Niệm bất xuất Tổng Trì Môn. 念不出总持门。
Tâm chớ ra ngoài Xoang Tử Lý (Đan Điền),
Niệm không nên xuất Tổng Trì Môn (Đan Điền).
Bạch Lạc Thiên nói:
Tự tòng khổ học Không Môn pháp, 自从苦学空门法,
Tiêu tận bình sinh chủng chủng Tâm. 消尽平生种种心。
Vất vả học theo Phật Pháp Môn,
Lục thức trong người tiêu tận hết.
Tịnh Nghiệp Thiền Sư nói:
Động bất vong vu quan chiếu, 动不忘于观照,
Tĩnh bất vong vu chỉ tức. 静不忘于止息。
Hành động không quên quán chiếu Tâm,
Nhàn tĩnh không quên ngưng chỉ tức (ngừng thở).
Thao Quang Tập nói:
Tâm tại thị, niệm diệc tại thị, 心在是念亦在是,
Động như tư, tĩnh diệc như tư. 动如斯静亦如斯。
Tâm ở đó, niệm cũng ở đó,
Động như đây, tĩnh cũng như đây. (Chỉ Không tịnh Bản Tâm)
Xung Diệu nói:
Thân bất động, nhi tâm tự an, 身不动而心自安,
Tâm bất động, nhi thần tự thủ. 心不动而神自守。
Thân bất động, Tâm sẽ tự an,
Tâm bất động, Thần sẽ tự thủ.
Từ Vô Cực nói:
Tính tùng thiên xứ khắc tương khứ, 性从偏处克将去,
Tâm tự phóng thời thu thập lai. 心自放时收拾来。
Tính từ Thiên vọng, thắng Bản Chân,
Tâm do tĩnh định, thu thập lại.
Phật Ấn nói:
Nhất niệm động thời giai thị hỏa, 一念动时皆是火,
Vạn duyên tịch xứ, tức sinh Xuân. 万缘寂处即生春。
Một niệm vừa sinh như lửa cháy ,
Vạn duyên khi lặng sẽ sinh Xuân (Bản Tâm).
Đào Hoằng Cảnh nói:
Tu Tâm yêu tác Trường Sinh Khách, 修心要作长生客,
Luyện Tính đương như Hoạt Tử Nhân. 炼性当如活死人。
Tu Tâm cốt làm Khách Sống Lâu,
Luyện Tính phải như Kẻ Chết Rồi.
Vô Chước Thiền Sư nói:-
Minh tức Minh Tâm không tịch, 明即明心空寂,
Kiến tức Kiến Tính vô sinh. 见即见性无生。
Minh là giữ được Tâm không tịch,
Kiến là thấy Tính tựa Hư Vô.
Hoa Nghiêm Kinh viết:-
Nhược năng đế quan tâm bất nhị, 若能谛观心不二,
Phương Kiến Tì Lô thanh tĩnh tâm. 方见毗卢清静心。
Nếu nhìn rõ được Tâm Bất Nhị,
Sẽ thấy Tì Lô Thanh Tĩnh Tâm.
Hoa Nghiêm Kinh tụng viết:-
Thủy tòng nhất niệm chung thành kiếp, 始从一念终成劫,
Tất y chúng sinh tâm tưởng sinh. 悉依众生心想生。
Đầu là một niệm sau thành kiếp,
Luân hồi bất quá hư tưởng sinh.
Mã Đơn Dương nói:-
Nhược năng thường thủ loan loan khiếu, 若能常守弯弯窍,
Thần tự linh minh, Khí tự sung. 神自灵明气自充。
Nếu ai luôn giữ Linh Đài huyệt,
Thần sẽ Linh minh, Khí sẽ đầy.
Khưu Trường Xuân nói:-
Đương thời nhất cú sư biên đắc, 当时一句师边得,
Mặc mặc thùy liêm tử tế khan. 默默垂帘仔细看。
Câu xưa nghe được bên thầy,
Nay ngồi hư tĩnh suy ngay tận tường.
Tuệ Nhật Thiền Sư nói:-
Nhất niệm chiếu liễu, nhất niệm chi Bồ Đề dã,
一念照了一念之善提也,
Nhất niệm yến tức, nhất niệm chi Niết Bàn dã,
一念晏息一念之涅槃也。
Một niệm chiếu minh là một niệm Bồ Đề giác ngộ,
Một niệm ngưng hưu, là một niệm Niết Bàn.
Những lời nói trên, đều dạy người thành Tiên, tác Thánh, vào cửa Đạo Đức.
Xưa A Nan chỉ nghe lời Phật mà nhiều năm cũng không thành chính quả. Sau biết tức tâm nội quan quán chiếu, mới hay vạn vật vẫn vô sinh, vô diệt, vô hữu, vô vô, mà đắc thành chính quả.
Cái Tâm của kẻ phàm phu, suốt ngày phóng ngoại, càng xa càng xoay lưng lại với Thiên Chân. Chỉ có kẻ biết hồi quang quán chiếu, mới biết kiểm tình, nhiếp niệm.
Thu nhiếp được niệm mới an tâm. An tâm, thần mới dưỡng. Thần dưỡng, Tính mới quy.
Nên Ngụy Bá Dương nói: Kim lai qui Tính sơ, Nãi đắc xưng hoàn đơn . Ôi!
Luyện khoáng thành kim đắc bảo trân. 炼矿成金得宝珍,
Luyện Tình quy Tính hợp Thiên Chân. 炼情归性合天真。
Tương phùng thử lý giao đàm giả, 相逢此理交谈者,
Thiên vạn nhân trung vô nhất nhân. 千万人中无一人。
Luyện khoáng thành kim được bửu châu,
Luyện Tình qui Tính được Thiên Chân.
Gặp người đồng điệu mà bàn bạc,
Trăm vạn con người cũng khó tầm.
CHÚ THÍCH
CHƯƠNG KHẨU QUYẾT
[1] Xem Trung Dung, chương I.
[2] Xem Trung Dung, Chương I.
[3] Đạo Đức Kinh, chương 3.
[4] Luận Ngữ, XII, 1.
[5] Thiên Đạo, Nhân Đạo, A Tu La đạo (Thần), Địa Ngục Đạo, Ngạ Quỉ Đạo, Súc Sinh Đạo.
[6] Đất, nước, gió, lửa.
[7] Đạo Đức Kinh, ch. 63, 64. Kinh Thư, Thái Giáp hạ.
[8] Trung Dung chương I.
[9] Quan bế đệ lục thức tức ý thức, vì ý thức là đầu đảng ngũ tặc, là chủ soái của lục thức.
[10] Diệu Quang, Diệu Cao, Nê Hoàn Cung.
[11] Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức.
[12] Nhận thức được rằng trong ta có Phật tính, rồi lo tiêu trừ vọng niệm, sẽ đạt Phật quả.
[13] Bất kỳ lúc nào cũng lo tu dưỡng bản thân, sẽ hợp cùng Đại Thể vũ trụ, thấy mình là Tất Cả.
[14] Địa Ngục đạo, Ngạ quỉ đạo, Súc sinh đạo, Nhân đạo, Thiên Đạo.
[15] Chư Phật nhờ Tâm Không nên giải thoát, Tâm mà thanh tịnh là Vô Cấu, Ngũ Đạo nhờ Ngũ Quan [Nhãn, Thính, Xú, Vị, Xúc] thanh tịnh nên được giải thoát. Hiểu được sẽ thành Đại Đạo.
[16] Thiêu huỷ bản chân.
[17] Khi đã nhiếp tình, qui Tính được rồi, khi Thần Khí đã dung hợp rồi, sẽ sinh hoàn đơn, hay Kim Đơn, Nội đơn.
(Xin xem tiếp TẨY TÂM THỐI TÀNG ĐỒ)
退藏沐浴工夫
道乃天地心,愚痴不解尋。破衣要縫補,須用水磨針。
紅紅白白水中蓮,出污泥中色轉鮮。莖 直藕空蓬有實,修行妙理恰如然。
一條直路少尋人,尋道山根使入門。坐定更知行氣生,真人之息自深深。
不是玄門消 息深,高山流水少知音。若能尋著來時路,赤子依然混沌心。
時時溉灌,常教玉樹氣逥根;日日栽培,不使金花精脫蒂。
艮其背,不獲其身,聖人以此洗心,退藏於密;行其庭,不見其人,聖人以此齋戒,神明其德。
(洗 心退藏圖)
易之洗心退藏於密這句話頭,唐宋神仙謂之沐浴,近代諸人標為艮背,總只是這個道理,這個竅妙。原夫心屬乎火,而藏之以背之 水者,洗之之義也,心居乎前,而藏之以背之後者,退之之義也。
故初機之士,降伏其心,束之太緊,未免有煩燥火炎之患,是以暫將心火 之南而藏背水之北,水火自然交養,自然念慮不生。即白玉蟾所謂洗心滌慮為沐浴是也。
然沐浴雖為洗心之法,艮背雖有止念之功,二理是 則是矣,皆未到實際之地。此向上一著,千聖秘而不傳後世。學徒所以罕聞、罕遇。人若明得此竅,真可以奪神功,改天命。
TẨY TÂM THOÁI TÀNG ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Cấn kỳ bối bất hoạch kỳ thân,
艮其背不获其身
Thánh nhân dĩ thử tẩy Tâm thoái tàng ư mật.
圣人以此洗心退藏於密
Cấn là dừng lại sau lưng,
Dừng nơi chí thiện, quên thân, quên người.
Thánh Nhân cố giữ lòng thanh,
Lui về ẩn đáy lòng mình mới thôi.
Hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân,
行其庭不见其人
Thánh nhân dĩ thử trai giới, thần minh kỳ đức.
圣人以此斋戒神明其德
Bản thân mà đã quên rồi,
Trong sân đi lại, quên người, lỗi chi.
Thánh nhân, trai giới, thảnh thơi,
Cho lòng chiếu diệu, sáng ngời Thần Minh.
Hồng hồng bạch bạch, thủy trung liên, 红红白白水中莲
Xuất ô nê trung, sắc chuyển tiên. 出污泥中色转鲜
Hành trực, ngẫu không, bồng hựu thiệt, 茎直藕空蓬又实
Tu hành diệu lý hấp như nhiên. 修行妙理恰如然
Hồng hồng, bạch bạch, sen trong nước,
Mọc tự bùn nhơ, sắc chuyển tươi.
Thân thẳng, ngẫu không, hạt lại chắc,
Tu hành diệu lý cũng thế thôi.
Nhất điều trực lộ, thiểu nhân tầm, 一条直路少人寻
Tầm đáo sơn căn thủy nhập môn. 寻到山根始入门
Tọa định cánh tri hành khí sinh, 坐定更知行气生
Chân nhân chi tức tự thâm thâm, 真人之息自深深
Một con đường nhỏ ít người tìm,
Tìm tới sơn căn mới nhập môn.
Tọa định, lại hay hành Khí nữa.
Hơi thở thánh nhân rất nhẹ nhàng.
Đạo nãi Thiên Địa tâm, 道乃天地心
Ngu si bất giải tầm. 愚痴不解寻
Phá yêu yêu phùng bổ, 破腰要缝补
Tu dụng thủy ma châm. 须用水魔针
Đạo ấy Thiên Địa tâm, Người ngu không biết tầm.
Áo rách cần vá lại, Vá dùng Chính Niệm tâm.
Thời thời khái quán (tu luyện), thường giáo ngọc thụ (thân), Khí hồi căn (qui đan điền).
时时溉灌常教玉树气归根
Nhật nhật tài bồi (tu luyện), bất sử Kim Hoa (nguyên thần) tinh thoát đế (chạy ra khỏi Đan điền).
日日栽培不使金华精脱蒂
Thường xuyên tu luyện, khiến cho Nguyên khí quy căn.
Ngày ngày tu luyện, khiến cho Nguyên Thần không lìa cội.
Bất thị Huyền Môn tiêu tức thâm, 不是玄门消息深
Cao sơn, lưu thủy thiểu tri âm. 高山流水少知音
Nhược năng tầm trước lai thời lộ , 若能寻著来时路
Xích tử y nhiên hỗn độn tâm . 赤子依然混沌心
Không phải đường tu khó tìm vào,
Cao sơn, lưu thủy vắng tri giao.
Nếu biết Khí Thần khi sơ phát,
Bản Tâm sẽ thấy khó chi nào.
Các chữ ghi trong hình vẽ: Tề 脐 (rốn), Sinh môn 生门 (đan điền), Mệnh môn 命门 (ngay dưới rốn), Ngọc đường quan 玉堂关 (phế), Mật hộ 密户 (thận), U môn 幽门 (lưỡng thận chi gian – tức đan điền).
Phép Tẩy tâm thoái tàng ư mật liên quan nhiều với các huyệt, các cơ quan trên.
————–
CHÚ THÍCH
[1] Dịch kinh, Quẻ Cấn, Thoán từ.
[2] Hệ Từ Thượng Chương XI, Tiết 2.
[3] Dịch Kinh, Quẻ Cấn, Thoán Từ.
[4] Hệ Từ Thượng, Chương XI, tiết 3.
[5] Tu đạo chi môn.
[6] Chỉ Khí Thần bản sơ trạng thái.
[7] Tâm Thần.
[8] Tức nguyên sơ đích bản tâm.
古仙有言曰: 夾脊雙關透頂門,修行徑路此為尊。以其上通天穀,下達尾閭,中通心腎,召攝靈陽,救護命寶。此非修行徑路而何?吾人未有此身,先有此息,此身未滅,此息先 滅,此又非修行正路而何?
原人受生之初,在胞胎內隨母呼吸,受氣而成此縷,與母聯屬,漸吹漸開,中空如管,通氣在來,前通於臍,後 通於腎,上通夾脊泥丸,至山根而生雙竅,由雙竅下至準頭,而成鼻之兩孔,是以名曰鼻祖。
斯時,我之氣通母之氣,母之氣通天地之氣, 天地之氣通太虛之氣,竅竅相通,無有隔閡。幾乎氣數滿足,裂胞而出,剪斷臍帶,囚地一聲,一點元陽落於立命之處。自此後天用事,雖有呼吸往來,不得與元始 祖氣相通。人生自幼至老,未有一息駐於其中。凡夫塵生塵滅,萬死萬生,只為尋不著來時舊路耳。
太上教人修煉而長生者,由其能奪天地 之正氣。人之所以能奪天地之正氣者,由其有兩孔之呼吸也。所呼者自己之元氣從中而出,所吸者天地之正氣從外而入。人若根源牢固,呼吸之間,亦可以奪天地之 正氣而壽綿長久。若根源不固,精竭氣弱,所吸天地之正氣隨呼而出,身中元氣不為己之所有,反為天地所奪。何也?蓋為呼吸不得其門而入耳。
一切常人,時吸皆隨咽喉而下,至中脘而回,不能與祖氣相連,如魚飲水而口進腮出,即莊子所謂,眾人之息以喉是也。
若是至人,呼吸 直貫明堂,而上至夾脊,而流入命門,得與祖氣相連,如磁吸鐵,而同類相親。即莊子所謂,真人之後以踵是也。踵者,其息深深之義。既得深深,則我命在我,而 不為大冶陶鑄矣。
今之人,有調息、數息、抑息、閉息,皆是隔靴止癢,不得到于玄竅。
THOÁI TÀNG MỘC DỤC CÔNG PHU
Dịch kinh có câu: Tẩy tâm thoái tàng ư mật. Các vị Thần Tiên đời Đường, đời Tống gọi là phép Mộc Dục (tắm rửa). Trong thời cận đại gọi là phép Cấn Bối. Tất cả đều là Đạo lý này, là diệu Khiếu này.
Nguyên là vì: Tâm thuộc Hỏa mà ẩn tàng trong Thủy của Lưng (Đốc mạch). Đó là ý nghĩa của Tẩy (rửa). Tâm ở phía trước mà ẩn tàng nơi sau lưng đó là nghĩa của Thoái (lui).
Cho nên kẻ sĩ sơ cơ, phải hàng phục cái Tâm, và câu thúc nó hết sức cẩn thận, để tránh cái nạn Hỏa viêm phiền táo. Cho nên tạm thời đem Tâm Hỏa từ phương Nam mà tàng trữ ở Bối Thủy phương Bắc.
Thủy Hỏa hỗ tương giao dưỡng, tự nhiên niệm lự bất sinh. Tức như Bạch Ngọc Thiềm nói: Tẩy Tâm địch lự vi mộc dục 洗心涤虑为沐浴 (Mộc dục là Tẩy Tâm, là rửa sạch niệm lự)
Nhưng Mộc Dục tuy là phép tẩy Tâm, Cấn Bối tuy là công phu Chỉ Niệm, hai lý đó đều là đúng, nhưng chưa đạt đến thực tế.
Công phu hướng thượng đó, ngàn thánh cho là bí mật, nên chẳng truyền. Do đó hậu thế ít người gặp, ít kẻ nghe. Ai hiểu được khiếu này, có thể đoạt Thần công, cải Thiên mệnh.
Cổ tiên nói:-
Giáp Tích song quan, thấu Đỉnh Môn 夹脊双关透顶门,
Tu hành kính lộ, thử vi tôn. 修行径路此为尊。
Xương sống hai đường tới Vĩ Lư,
Tu hành đường tắt ấy nên ghi.
Đường đó trên thông Thiên Cốc (Nê Hoàn cung), dưới đạt Vĩ Lư, giữa thông Tâm Thận. Nó thu nhiếp Linh Dương, cứu hộ Mệnh Bảo, đó chẳng phải là đường tắt để tu hành sao?
Con người ta khi chưa có Thân, đã có Hơi Thở. Thân này chưa diệt, thì Hơi Thở đã bị diệt rồi. Đó chẳng phải là Tu Hành Chính Lộ sao?
Nguyên lúc ban đầu, con người ở trong bào thai, theo sự hô hấp của mẹ, rồi thụ khí mà thành. Sự hô hấp đó liên quan đến cơ thể người mẹ, lần lần thổi, lần lần mở. Trong rỗng như ống quản, thông khí qua lại. Trực thông với rốn, sau thông với Thận. Trên thông với Giáp Tích đến Nê Hoàn. Đến Sơn Căn thì sinh ra hai khiếu. Từ hai khiếu đó đến Chuẩn Đầu (cuối mũi) thì sinh ra hai lỗ mũi, gọi là Tị Tổ.
Lúc này Khí của con thông với Khí của mẹ. Khí của mẹ thông với Khí của Trời Đất. Khí Trời Đất thông với Khí Thái Hư. Khiếu khiếu thông nhau, mà không cách ngại.
Cho đến khi Khí Số mãn túc, xé bào thai mà ra, cắt đứt cuống rốn, la lên một tiếng, một điểm nguyên dương rơi xuống nơi Lập Mệnh. Từ đó là Hậu Thiên dụng sự, tuy vẫn hô hấp vãng lai, nhưng vẫn tương thông với Nguyên Thủy Tổ Khí. Con người từ trẻ đến già, không một hơi thở nào ngừng trong đó. Tam giới phàm phu, đều bị trần sinh trần diệt, vạn tử vạn sinh, chỉ vì không tìm ra được con đường trở về mà thôi.
Đức Thái Thượng lập phép, dạy người tu luyện trường sinh, tức là dạy cách đoạt Thiên Địa chi Chính Khí. Con người sở dĩ đoạt được Thiên Địa Chính Khí, chính là nhờ có hai lỗ mũi để hô hấp. Hô là Nguyên Khí trong người thở ra, hấp là Chính Khí Thiên Địa từ ngoài mà vào. Con người nếu có căn nguyên kiên cố, trong khi hô hấp có thể đoạt được Thiên Địa Chính Khí để mà trường thọ. Nếu mà con người có căn nguyên không vững chắc, thì khi Hô, Chính Khí cuả Trời Đất đã hít vào, sẽ theo Hô mà ra. Nguyên Khí trong thân ta, chẳng phải là của ta, mà ngược lại sẽ bị trời đất cướp đi.
Tại sao vậy? Vì hô hấp không có cửa mà vào.
Đã là thường nhân, thì hô hấp đều từ Yết Hầu xuống đến huyệt Trung Quản, rồi lại quay lại, không liên lạc được với Tổ Khí. Y như con cá khi uống nước, thì phùng mang há miệng. Tức như Trang Tử nói: Chúng nhân chi tức dĩ hầu 众人之息以喉 (Chúng nhân thở bằng yết hầu).
Còn thánh nhân, chí nhân hô hấp thì trên thông Minh Đường (giữa trán), dưới thông Giáp Tích, vào tới Mệnh Môn, thông với Tổ Khí, như nam châm hút sắt, đồng loại tương thân, tức như Trang Tử nói: Chân nhân chi tức dĩ chủng 真人之息以踵. Chủng ở đây nghĩa là hơi thở thâm thâm. Khi hơi thở đã thâm thâm, thì Mệnh là ở ta, không bị lò trời nung nấu.
Con người ngày nay, có phép Điều Tức, Sổ Tức, Ức Tức, Bế Tức, toàn là chuyện gãi ngứa ngoài giày, không vào được Huyền Khiếu. Khi Khiếu này ngưng hoạt động; thì sinh ra lưỡng thận, rồi sinh ra tim. Thận như Ngẫu Sen, Tâm như Hương Sen. Cành sen thì rỗng giữa, bên ngoài thì Trụ Địa, Chưởng Thiên.
此竅初凝,就生兩腎,次 生其心。其腎如藕,其心如蓮,其梗中通外直,拄地撐天。心腎相去八寸四分,中餘一寸二分,謂之腔子裏是也,乃心腎往來之路,水火既濟之鄉。
欲通此竅,先要存想山根,則呼吸之氣漸次通夾脊,透混元,而直達於命府,方才子母會合,破鏡重圓,漸漸擴充,則根本完固,救住命寶,始可言其修煉。按了 真了曰:欲點常明燈,當用添油法。尹師曰:涵養本原為先,救護命寶為急。又曰:一息尚存,皆可複命。人若知添油之法,續盡燈而複光明,即如得返魂之香,點 枯荄而重茂盛。所以雲:油千燈滅,氣絕身亡。然非此竅則不能添油,非添油則不能接命,命不接則留性不住,性不住忽一旦無常到來,則懵懵然而去矣。故呂公 曰:嗇精宜及早,接命莫教遲。果然是接之則長生,不接則夭死。
蓋人稟天地氣數有限,不知保養,自暴自棄,如劉海蟾雲:朝傷暮損迷不 知,喪亂精神無所據;細細消磨漸漸衰,耗竭元和神乃去。闔辟之機一停,呼吸之氣立斷。嗚呼!生死機關,其速如此,世人何事而不肯回心向道耶?
況此著工夫最是簡易,不拘行住坐臥,常損此心,退藏夾脊之竅,則天地之正氣可扯而進,與己混元真精凝結丹田,以為起生之本。蓋以天地無涯之元炁,而續我 有限之形軀,不亦易乎?
學者只要認定此竅,守而不離,久久純熟,則裏面皎皎明明,如月在水,相似自然,散其邪火,銷其雜慮,降其動 心,止其妄念。妄念既上,真息自現,真念無念,真息無息。息無則命根永固,念無則性體恒存。性存命固、懸念俱銷,此性命雙修之第一步也。
嗟乎!人生如無根之樹,全憑氣息以為根株,一息不來,命非己有。故欲修長生者,必固其氣。氣固則身中之元氣不隨呼而出,天地之真氣恒隨吸而入。久之,胎 息定,鄞鄂成,而長生有路矣。
此段當與第三節蟄伏藏氣穴同看。
Tâm thận cách nhau 8 tấc 4 phân, ở giữa thừa 1 tấc 2 phân, gọi là Xoang Tử Lý. Đó là đường Vãng Lai của Tâm Thận, là làng của Thủy Hỏa ký tế.
Muốn thông Khiếu này, phải chú ý vào Sơn Căn (chỗ mũi giữa hai lông mày), thì khí Hô Hấp sẽ thổi qua Giáp Tích, thấu đến Hỗn Nguyên, và vào thẳng Mệnh Phủ, lúc ấy mẹ con mới sum họp lại, gương vỡ lại lành, lần lần khuếch sung, và căn bản sẽ được kiên cố, lúc ấy mới nói chuyện tu luyện được.
Bàn: Liễu Chân Tử nói: Dục điểm thường minh đăng (trường sinh bất lão), Đương dụng Thiêm Du Pháp (phép Mộc Dục) 欲点常明灯, 当用添油法。(Muốn đốt sáng đèn trường thọ, phải dùng phép Tẩy Tâm.)
Doãn Chân Nhân nói: Hàm dưỡng bản nguyên vi tiên, cứu hộ Mệnh Bảo vi cấp. 涵养本原为先,救护命宝为急。(Trước hết, phải lo hàm dưỡng bản nguyên, phải cấp bách lo cứu hộ Mệnh Bảo)
Lại nói: Nhất tức thượng tồn, giai khả phục Mệnh. 一息尚存,皆可 复命。(Còn một hơi thở vẫn phục mệnh được.)
Nếu người biết phép Thiêm Du, để tiếp nối cho đèn gần hết dầu được sáng lại, tức là làm cho hồn sống lại, ví như làm cho cây khô trở nên thịnh mậu. Cho nên nói: Du can đăng diệt, khí tuyệt thân vong. 油千灯灭,气绝身亡。(Dầu khan thì lửa tắt, khí tuyệt thì người chết).
Nếu không có Khiếu này, thì không thể Thiêm Du, nếu không Thiêm Du, thì lấy gì tiếp Mạng. Mạng chẳng tiếp, thì Tính không trụ. Tính không trụ, mà hốt nhiên Quỷ Vô Thường đến, thì Hồn ríu rít đi theo. Cho nên Lữ Công nói: Sắc tinh, nghi cập tảo, Tiếp Mệnh, mạc giáo trì. 啬精宜及早,接命莫教迟。(Phải luyến tiếc Tinh Khí từ sớm; công phu tiếp Mệnh, không nên trễ.).
Quả nhiên, tiếp được mạng thì trường sinh, không tiếp được mạng thì yểu tử. Vì con người bẩm thụ khí số có hạn, nếu không biết bảo dưỡng, tức là tự bạo, tự khí. Bạch Ngọc Thiềm nói:
Chiêu thương mộ tổn, mê bất tri, 朝伤暮损迷不知,
Tán loạn tinh thần vô sở cứ. 丧乱精神无所据;
Tế tế tiêu ma, tiệm tiệm suy, 细细消磨渐渐衰,
Hao kiệt Nguyên Hòa, thần nãi khứ. 耗竭元和神乃去。
Hao tổn Nguyên Tinh mê không biết,
Tinh thần tán loạn mà chẳng hay.
Tiêu ma, suy kiệt dần dần mãi,
Nguyên Hòa hao kiệt, Thần sẽ đi.
Cơ mở đóng mà đình, thì khí hô hấp cũng đoạn. Ô hô! Sinh tử mau như vậy, sao người không sớm hồi tâm, hồi đạo?
Huống chi, công phu này rất giản dị: Bất kỳ là Đi, Đứng, Nằm, Ngồi, lúc nào cũng có thể tu luyện. Nếu lúc nào cũng tu luyện bản tâm, đem nó về giấu ở xương sống lưng (Giáp Tích), thì Thiên Địa Chính Khí có thể tiến lên giao tiếp với Hỗn Nguyên Chân Tinh con người ngưng kết tại Đan Điền, để siêu sinh. Vả chăng Thiên Địa Chính Khí thì vô nhai, để nối tiếp cho cái hình hài hữu hạn của con người. Như vậy chẳng phải dễ sao?
Học giả chỉ cần nhận định khiếu đó, giữ kỹ không lìa, lâu dần sẽ thuần thục, thì bên trong sẽ rực rỡ sáng láng, như trăng dưới nước, tự nhiên tà hỏa sẽ tiêu tan, tạp lự cũng biến mất. Tâm động sẽ bị hàng phục, vọng niệm sẽ dứt. Vọng niệm đã dứt, thì Chân tức tự hiện. Chân niệm vốn vô niệm. Tức vô, thời Mệnh căn vững chắc, Niệm vô thời Tính thể hằng tồn. Tính tồn, Mệnh cố thời Thức, Mệnh đều tiêu. Đó là bước đầu của Tính Mệnh song tu vậy.
Ôi! Con người như cây không rễ, toàn nương khí tức làm gốc rễ. Một hơi thở không trở lại, thì Mạng chẳng còn phải của ta. Cho nên muốn tu trường sinh, phải biết cố khí. Khí mà bền thì Nguyên Khí trong con người không tùy Hô mà ra, Thiên Địa Chân Khí luôn tùy Hấp mà vào. Lâu ngày, Thai tức sẽ định, Ngân Ngạc thành, thế là trường sinh có lối vậy.
Đoạn này với Tiết ba: Trập tàng khí huyệt phải xem chung với nhau
*
* *
Lời bàn của Dịch giả:
Chương này bàn về cách Hô Hấp. Doãn Chân Nhân phân biệt hai thứ hô hấp thánh phàm. Thường Nhân thở thì gọi là Phàm Tức, Thánh Nhân thở thì gọi là Chân Tức. Doãn Chân Nhân nhắc lại sự phân biệt của Trang Tử: Chân nhân chi tức dĩ chủng, chúng nhân chi tức dĩ hầu. Chúng nhân thở nông cạn; thánh nhân thở thâm sâu. Chúng nhân thở nặng nề. Thánh nhân thở nhẹ nhàng.
Chương này thật là khó hiểu, ta phải bỏ ra một đời mới hiểu được cách thở của Thánh Nhân . Có thể nói, Thánh Nhân thở qua Nhâm Đốc, Âm Kiều, Nê Hoàn. Thường nhân thở qua phổi. Đạo Lão xưa có nói: Phàm Tức đình, nhi Chân Tức hiện.
Tác giả Tính Mệnh Khuê Chỉ, người dịch sách này ra Bạch Thoại tỏ ra cũng rành về Phép Hít Thở xưa, và câu: Hậu thiên đích khẩu tị chi hô hấp dĩ đình chỉ, nó cũng giống câu của Huỳnh Nguyên Cát: Phàm tức đình nhi Chân tức hiện. Tôi không bàn thêm.
Chủng tức: Hô hấp đắc thần vi chủ tể thời, kỳ tức vị chi chủng tức (Chủng tức là hô hấp có thần). Hàm Hư Từ nói: Chung dã giả, tương tiếp bất đoạn, miên miên nhược tồn dã (Chúng tức là thở đều đặn, liên tục).
Tính Mệnh Khuê Chỉ giải Chủng tức là: Hô hấp cực thâm (Xem tr.167).
——————–
CHÚ THÍCH
[1] Hệ từ thượng, chương XI, tiết 2.
[2] Thượng đan điền
[3] Tâm thận vãng lai chi lộ, thủy hỏa ký tế chi hương.
[4] Nam Hoa Kinh, chương VI, Đại tông Sư.
[5] Theo tôi đoạn này dạy về Hô Hấp cũng chưa rõ ràng. Tôi xin giới thiệu mấy tài liệu nên đọc:
– Trung Quốc khí công đại thành, Phương Xuân Dương, Cát Lâm khoa học xuất bản xã, 1999.
– Lạc Dục Đường ngữ lục, Huỳnh Nguyên Cát, Chân Thiện Mỹ xuất bản, Trung Hoa Dân Quốc năm 25.
– Huỳnh Đình Kinh, Nguyễn văn Thọ, chương 20, luận về Hô Hấp Chân Khí.
Bản thân tôi về Khí Công không có giỏi, nên không dám bàn thêm nhiều. Quí vị học giả sau này nên bỏ ra chừng ít năm để học về khoa này. Có thể Khí Công hay Luyện Đan ngày nay đã thất truyền. Tôi chưa thấy ai trình bày cho rõ ràng mạch lạc. Bài tôi đóng góp trong Huỳnh Đình kể là khá rõ, nhưng chưa đầy đủ. Mong sau này có ai sẽ đóng góp vấn đề khó khăn này cho nhân loại.
[6] Xem trang 153, khi bàn về Công Phu: Lục Diệu Môn của Phật giáo
[7] Tính Mệnh Khuê Chỉ, tr. 171.
[8] Xem: Lạc dục Đường ngữ lục, tr. 84.
[9] Tiên Học từ điển, tr. 160.
玉液煉形 法則
妙用如江河,周流無窮已。長養玄谷芝,灌溉瑤池水。
小小壺中別有天,鐵牛耕地種金蓮。這般寶物家家有,因甚時人不學仙?
煉液如泉曾有訣,安心是藥更無方。積氣關開通大道,一渠流轉入 瓊漿。
(玉 液煉形圖)
初學之人,平素勞碌,乍入圜中,一旦安逸。逸則四肢不運動,安則百節不流通。以致脈絡壅塞,氣血凝滯,此通關蕩穢之法不能 無也。
此法先用行氣主宰,照在玄膺一竅。此竅可通氣管,即黃庭經所謂,玄膺氣管受精符是也。少傾,則津液滿口,如井水然,微漱數 遍,徐徐以意引以重樓,漸達膻中、尻尾、中脘、神闕,至氣海而止。就從氣海分開兩路,至左右大腿,從膝至三裏,下腳背及大拇指,又轉入湧泉,由腳跟腳彎循 大腿而上至尾閭,合作一處,過腎堂、夾脊、雙關,分送兩肩、兩膀、兩臂至手背,由中指轉手掌,一齊旋回過手腕,由胸旁曆腮後,從腦灌頂,複下明堂、上齶, 以舌迎之,至玄膺而止。此為一轉畢。稍停又眼前行功,則壅滯之處浙次疏通,不唯貫穿諸經,亦能通達諸竅。即心印經所謂,七竅相通,竅竅光明是也。
蓋吾人靈明,一竅六合而內,六合而外,本無不周,本無不照,其不能然者,為形所礙耳。直要煉到形神俱妙,方才與道合真。
夫行氣用 眼者何也?故施肩吾曰:氣是添年藥,心為使氣神;若知行氣主,便是得仙人。普人謂,目之所至,心亦至焉。心之所至,氣亦至焉。斯言確之矣。
NGỌC DỊCH LUYỆN HÌNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tiểu Tiểu hồ trung (1) biệt hữu Thiên, 小小壶中别有天
Thiết ngưu canh địa chủng kim liên (2). 铁牛耕地种金莲
Giá ban bảo vật gia gia hữu, 这般宝物家家有
Nhân thậm thời nhân bất học Tiên. 因甚时人不学仙
Tại Tiểu hồ trung có trời riêng,
Ruộng dùng trâu sắt, trồng Kim Liên.
Kim Liên giống ấy, nhà nhà có,
Con người sao chẳng học làm Tiên?
Diệu dụng như giang hà, 妙用如江河
Chu lưu vô cùng dĩ. 周流无穷已
Trường dưỡng Huyền Cốc (3)chi, 长养玄谷芝
Quán khái Dao Trì (4) thủy. 灌溉瑶池水
Diệu dụng như giang hà,
Chảy trôi vô cùng dĩ.
Dưỡng nuôi Huyền Cốc chi,
Tưới tắm nước Giao Trì?
Luyện dịch (5) như tuyền, tằng hữu quyết, 炼液如泉曾有诀
An tâm, thị dược cánh vô phương. 安心是药更无方
Tích khí khai quan (6)thông Đại Đạo, 积气开关通大道
Nhất cừ lưu chuyển, nhập Quỳnh Tương (7). 一渠流转入琼浆
Nước bọt tuôn trào vốn đã nghe,
An tâm là thuốc, không chi khác.
Tích khí sẽ thông tuông Mạch Đốc,
Ngòi lạch thông rồi nhập Quỳnh Tương?
—————
CHÚ THÍCH
[1] Nê Hoàn cung, đan điền.
[2] Nguyên Khí.
[3] Đan Điền.
[4] Nê Hoàn Cung.
[5] Giảo thiệt, yết tân.
[6] Khí thông Đốc mạch.
[7] Tân Dịch trong miệng.
—————
NGỌC DỊCH LUYỆN HÌNH PHÁP TẮC
Người sơ học làm việc vất vả, bỗng nhiên vào được nơi Tĩnh Định Hư Không, tự nhiên cơ thể được nghỉ ngơi, cho nên tứ chi không vận động. Không vận động nên cốt tiết không được thông sướng, đến điều mạch lạc bị úng tắc, khí huyết bị ngưng trệ. Vì thế cần phải đề cập đến phép Thông Quan, Lọc Uế.
Phép này sử dụng đến Hành Khí Chủ Tể, là khiếu Huyền Ưng , khiếu này thông khí quản. Vì thế Huỳnh Đình kinh nói: Huyền Ưng khí quản thụ tinh phù 玄膺气管受精符。
Giây phút thì tinh dịch ra đầy miệng, như nước giếng. Nhẹ nhàng súc miệng vài lần, rồi từ từ dùng Chân Khí dẫn xuống Trùng Lâu (cổ họng), rồi tới Đản Trung (giữa hai vú), Cửu Vĩ, Trung Quản, Thần Khuyết (rốn), đến huyệt Khí Hải thì thời ngừng.
Rồi từ Khí Hải chia làm hai đường, đi xuống hai vế đùi. Rồi từ đầu gối xuống huyệt Túc Tam Lý, xuống phía sau bắp chân, tới ngón chân cái. Rồi chuyển nhập vào huyệt Dũng Tuyền, theo gót chân trở lên đùi rồi tới huyệt Vĩ Lư, hợp làm một chỗ. Qua Thận Đường, Giáp Tích, phân tống ra hai vai, hai cánh tay, đến lưng bàn tay. Rồi từ ngón tay giữa chuyển vào lòng bàn tay, và cùng một lượt triển hồi qua cùi tay, rồi từ bên trong cánh tay dẫn lên đỉnh đầu. Rồi lần xuống Minh Đường, xuống cửa, lấy lưỡi mà đón, đến khiếu Huyền Ưng thì ngừng. Đó là đủ một vòng.
Dừng nơi đó một chút, rồi lại làm như cũ. Như vậy sẽ thông suốt kinh mạch, và các khiếu cũng sẽ thông. Tâm Ấn Kinh có nói: Thất khiếu tương thông, khiếu khiếu quang minh 七窍相通,窍窍光明 (Thất khiếu tương thông, khiếu khiếu sáng láng).
Trong thân người có một khiếu Linh minh (Tâm, đan điền), trong trời đất, hay ngoài trời đất trước sau vẫn là một, luôn luôn sáng soi. Sáng soi không được là vì có hình hài. Nếu tu luyện mà Hình Thần câu diệu, thì sẽ trở lại Dữ Đạo Hợp Chân.
Hành Khí phải dùng mắt. Tại sao? Vì Thi Kiên Ngô nói:
Khí thị thiêm niên dược, 气是添年药,
Tâm vi sử Khí Thần, 心为使气神;
Nhược tri hành khí chủ, 若知行气主,
Tiện thị đắc tiên nhân. 便是得仙人。
Khí là thuốc tăng thọ,
Tâm điều khiển Khí Thần,
Nếu ai biết Hành Khí,
Người đó chính Tiên Nhân.
Người xưa nói: Mục chi sở chí, tâm diệc chí yên, Tâm chi sở chí, khí diệc chí yên 目之所至,心亦至焉。心之所至,气亦至焉。(Mắt đến đâu thì Tâm đến đó. Tâm đến đâu thì Khí đến đó.)
煉形用液者何也?道家謂之藥滌玉液是津,玉池是口。黃庭內景雲:口為玉池太和官,漱咽靈液災不幹,體生光華炁香蘭,卻滅百邪玉銖顏。審能修之登廣塞。蓋 液中有氣,氣中有液,液氣相生,日充月盛,為金液之基,作潤身之寶。況能穿關透節,無處不到。古歌曰:華池神水頻吞咽,紫府元君直上奔,常使氣通關節透, 自然精滿穀神存。
夫玄膺一竅,乃是津液之海,生化之源,灌溉一身,皆本於此。故太上雲:舌下玄膺生死岸,子若遇之升天漢。法華經頌 雲:白玉齒邊流舍利,紅蓮香上放毫光,喉中甘露涓涓潤,心內醍醐滴滴涼。此乃小玉液煉形法也。
人之孔竅所以通乎其虛,達乎其氣,而 周流於一身之內焉,一或有所蔽塞則為瘀痰、為壅血,而一身脈絡不能相通使生疾病今以此法日行三、五次,但得氣血流通,百脈和暢,病即去矣。止而勿行。此與 退藏救護是為表裏二段並行而不相悖。
夫涵養本原雖是去情識,實除生滅心。心無生滅,身無生滅定矣。欲除生滅心,必自無念始,無念之 積習純熟足,可致無夢。無念之靜定熟足,可致無生。無夢乃現在之大事也,無念乃末後之大事也。無生則不造,無夢則不化,不造不化,即不生不滅也。
夫學道之士,不患不成,唯患不勤。苟能專精而勤,未有學而不得也。設使立志不堅,通道不篤,朝為而夕改,始勤而中輟,悅於須臾,厭于持久,欲望與天齊 壽,不亦難乎?
內觀經雲:知道易,通道難;通道易,行道難;行道易,得道難,得道易,守道難。若使不難,則滿市皆神仙矣。安足為異 耶?
蓋修道者,如農夫之去草一般,務拔其根,則吾心天真種子自然發生矣。況此一字法門,徹頭徹尾,甚易行,甚有驗。小而試之,可以 卻病延年,大而用之,可以超凡入聖,在學者用功深淺何如耳。
Luyện hình phải dùng tân dịch. Tại sao? Đạo gia gọi là: Đãng uế. Ngọc dịch là Tân, Ngọc trì là Khẩu. Huỳnh Đình nội cảnh viết:
Khẩu vi Ngọc Trì, Thái Hòa quan. 口为玉池太和官,
Thấu yết linh dịch, tai bất can, 漱咽灵液灾不干,
Thể sinh quang hoa, khí hương lan, 体生光华炁香蘭,
Kiếp diệt bách tà, ngọc dịch nhan, 却灭百邪玉液颜。
Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn. 审能修之登广塞。
Miệng là Ngọc Trì, Thái Hòa quan,
Biết nuốt Linh dịch, bệnh tai an,
Thân thể quang hoa, hơi thơm phức,
Trừ diệt bách tà, diệt dung nhan,
Biết tu phép này, lên Quảng Hàn.
Bởi vì trong Dịch (nước bọt) có Khí, trong Khí có Dịch. Dịch Khí sinh ra lẫn nhau, càng ngày càng thịnh.
Cơ sở Tân Dịch là thuốc báu cho thân thể. Huống chi Tân Dịch, có thể Xuyên Quan, Thấu Tiết, không nơi nào mà không đến. Xưa có bài ca:
Hoa trì thần thủy, tần thôn yết,
华池神水频吞咽,
Tử Phủ Nguyên Quân trực thượng bôn,
紫府元君直上奔,
Thường sử khí thông quan tiết thấu,
常使气通关节透,
Tự nhiên tinh mãn Cốc Thần tồn.
自然精满谷神存。
Nếu mà nước bọt thường hay nuốt,
Tử Phủ Nguyên Quân sẽ đi lên.
Sao cho cốt tiết được thông thấu,
Tự nhiên tinh mãn, Cốc Thần tồn.
Và Huyền Quan nhất khiếu là biển Tinh Dịch, là nguồn sinh hóa, tầm rưới khắp thân, đều gốc ở đó.
Cho nên đức Thái Thượng nói:
Thiệt hạ Huyền Ưng sinh tử ngạn, 舌下玄膺生死岸,
Tử nhược ngộ chi thăng thiên hán. 子若遇之升天汉。
Huyền Ưng dưới lưỡi, sinh tử ngạn,
Nếu hiểu biết ra, thăng thiên hán.
Pháp Hoa Kinh luận nói:
Bạch Ngọc xỉ biên lưu Xá Lợi (tân dịch)
白玉齿边流舍利,
Hồng Liên thiệt thượng phóng hào quang.
红莲舌上放毫光,
Hầu trung Cam Lộ quyên quyên nhuận,
喉中甘露涓涓润,
Tâm nội đề hồ (nước bọt) trích trích lương.
心内醍醐滴滴凉。
Bên răng Bạch Ngọc, lưu tân dịch,
Trên lưỡi, sen hồng phóng hào quang.
Trong hầu, Cam Lộ từng nhỏ giọt,
Tâm nội Đề Hồ trích trích lương.
Đó là Phép Tiểu Ngọc Dịch luyện hình.
Khổng khiếu trong người là cốt để thông Hư Không, làm cho Khí thông sướng, chu lưu trong thân thể. Nếu bị bế tắc, sẽ bị ứ đàm, bị úng huyết, làm cho kinh mạch trong người chẳng lưu thông, sinh ra bệnh tật. Nếu dùng phép này, ngày bốn năm lần, thì khí huyết sẽ lưu thông, bách mạch sẽ hòa sướng, và bệnh sẽ hết. Nó cùng với phép Thoái tàng cứu hộ là hai mặt trong ngoài, không tương phản lẫn nhau.
Hàm Dưỡng Bản Nguyên tuy là khử Tình Thức, nhưng thật ra là trừ Sinh Diệt Tâm. Tâm mà không sinh diệt, thì Thân cũng không sinh diệt, chắc là như vậy.
Muốn trừ Sinh Diệt Tâm, phải bắt đầu bằng Vô Niệm. Khi đã tập được Vô Niệm cho thuần thục, tức là sẽ không còn Mộng.
Khi đã Tĩnh Định, đã Vô Niệm, thì sẽ đạt tới Vô Sinh. Vô Mộng là đại sự bây giờ, Vô Niệm là đại sự về sau. Vô Sinh sẽ Vô Tạo, Vô Mộng sẽ Bất Hóa. Bất Tạo, Bất Hóa tức Bất Sinh, Bất Diệt.
Người học Đạo, không sợ không thành, mà sợ không chuyên cần. Nếu lập chí không kiên, tin đạo không vững, sáng làm, chiều đổi. Mới thì chuyên cần mà cuối thì chểnh mảng, mới đầu thì thích, nhưng lâu sau lại chán nản. Thế mà muốn thọ cùng trời đất, thì chẳng khó hay sao?
Sách Nội Quan viết: Biết Đạo thì dễ, tin Đạo thì khó. Tin Đạo thì dễ nhưng hành Đạo khó.
Hành Đạo dễ, đắc Đạo khó. Đắc Đạo dễ, trì thủ được Đạo khó. Nếu không khó, thì Thần Tiên đầy chợ, có gì lạ đâu?
Bởi vì tu Đạo, y như nông phu diệt cỏ. Phải diệt tận gốc thì Thiên Chân chủng tử trong ta tự nhiên phát sinh vậy. Huống chi một chữ Pháp Môn này, từ đầu đến cuối thật dễ làm, thật dễ nghiệm. Dùng nó sơ sơ, có thể tăng tuổi, trừ bệnh, dùng nó đến nơi, đến chốn, sẽ Siêu Phàm, Nhập Thánh. Tùy ở chỗ người tu sĩ dụng công nhiều ít mà thôi.
性命雙修萬神圭旨
第二節口訣
安 神祖竅翕聚先天
(安 神祖竅圖)
(內附法輪自轉、龍虎交媾二法)
祖竅真際,舉世罕知,不得師傳,儼似暗中射垛。
蓋祖竅者,乃老子所謂玄牝之門也。悟道篇雲:要得穀神長不死,須憑玄牝立根基。所以紫陽言:修煉金丹,全在玄牝。於四百字序雲:玄牝一竅,而採取在此, 交媾在此,烹煉在此,沐浴在此,溫養在此,結胎在此,至於脫胎神化,無不在此。修煉之士,誠能知此一竅,則金丹之道盡矣,所謂得一而萬事畢者是也。
然而丹經大都喻言,使學者無所歸著。前輩指為先天主人、萬象主宰、太極之蒂、混沌之根、至善之地、凝結之所、虛無之穀、造化之源、不二法門、甚深法界、 歸根竅、複命關、中黃宮、希夷府、總持門、極樂國、虛空藏、西南鄉、戊己門、真一處、黃婆舍、守一壇、淨土、西方、黃中、正位、這個、神室、真土、黃庭, 種種異名,難以悉舉。
然此竅在身中求之,非口、非鼻、非心、非腎、非肝,非肺、非脾胃、非臍輪、非尾閭、非膀胱、非穀道、非兩腎中 間一穴、非臍下一寸三分、非明堂泥丸、非關元氣海,然則果何處耶?
AN THẦN TỔ KHIẾU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Nho nhi Thánh, Đạo nhi Huyền, Thích nhi Thiền, nhi Diệu Dụng tổng trì đô quy Nhất quán.
儒而圣道而玄, 释而禅而妙用总持都归一贯
Nho mà Thánh, Đạo mà Huyền, Thích mà Thiền, cái diệu dụng ấy chung qui đều là Nhất Trí.
Thượng nhi Thiên, Trung nhi Nhân, Hạ nhi Địa, nhi hóa cơ tham lưỡng, khởi ngoại Trung Hư.
上而天中而人下而地而化机参两岂外中虚
Trên mà Trời, Giữa mà Người, Dưới mà Đất, cái hóa cơ đại trí ấy, không ngoài hai chữ Trung Hư.
Như như bất động không trung trụ, 如如不动空中住
Vô sinh, vô diệt, vô lai khứ. 无生无灭无来去
Thánh sư tằng hướng ngã khả ninh, 圣师曾向我可宁
Thử thị Khổng, Nhan chân lạc xứ. 此是孔颜真乐处
Một điểm Như Như giữa Không Trung,
Không sinh, không diệt, không lai khứ.
Tiên thánh dạy ta, rất rõ ràng,
Ấy nơi an lạc của Khổng, Nhan.
Tính tế uyên nguyên học thất chân, 性蔽渊源学失真
Dị đoan đầu khích, hại di thâm. 异端投隙害弥深
Suy nguyên khí bẩm do Vô Cực, 摧原气禀由无极
Chỉ thử nhất đồ truyền Thánh Tâm. 只此一图传圣心
Tính bị dấu che, học thất truyền,
Dị đoan vào lọt, hại càng sâu.
Suy ra Khí bẩm từ Vô Cực,
Lấy họa bản này, truyền Thánh Tâm.
Nhất Linh diệu hữu Pháp Giới viên thông, 一灵妙有法界圆通
Ly chủng chủng biên, doãn chấp quyết Trung. 离种种边允执厥中
Tàng Tâm ư uyên, mỹ quyết Linh Căn, 藏心於渊美厥灵根
Trung lý ngũ khí, hỗn hợp bách thần. 中理五气混合百神
Biết được Nguyên Thần sẽ thông Phật pháp,
Chớ ở biên khu, hãy trở về Trung.
Tâm trở về Nguồn, Căn Cơ đẹp đẽ,
Trung điều Ngũ Khí, Hỗn hợp Bách Thần.
Giá cá Khiếu , Tuyệt Trung Biên, 这个窍绝中边
Vô nội ngoại, thượng hạ viên. 无内外上下园
Đông Tây hợp, Nam Bắc toàn, 东西合南北全
Hội thử ý, tiện thành Tiên. 会此意便成仙
Cái khiếu ấy, không Trung Biên,
Không trong ngoài, trên dưới tròn.
Hợp Đông Tây, kiêm Nam Bắc,
Hiểu ý đó, sẽ thành Tiên.
Các tên khác của Chân Tâm
Thiên địa Linh Căn 天地灵根
Nguyên Thủy Tổ Khí 元始祖气
Bất động Đạo tràng 不动道场
Chí Thiện chi địa 至善之地
Huyền Tẫn chi môn 玄牝之门
Hô Hấp chi căn 呼吸之根
Bất Nhị Pháp Môn 不二法门
Thậm thâm Pháp Giới 甚深法界
Chân Chủ Nhân 真主人
Tự Nhiên Thể 自然体
Xá Lợi Tử 舍利子
Cực Lạc Quốc 极乐国
Chân Nhất xứ 真一处
Mậu Kỷ môn 戊己门
Tổ Khí huyệt 祖气穴
Tây Nam hương 西南乡
Hỗn độn khiếu 混沌窍
Tổng Trì môn 总持门
Hắc Bạch tương phù 黑白相符
Tạo Hóa tuyền quật 造化泉窟
Tiên Thiên Địa sinh 先天地生
Vũ trụ chủ tể 宇宙主宰
Hoàng Trung thông lý 黄中通理
Ký Tế đỉnh khí 既济鼎器
Hư Vô chi cốc 虚无之谷
Ngưng kết chi sở 凝结之所
Bồng Lai đảo 蓬莱岛
Chúng diệu môn 众妙门
Quy Căn khiếu 归根窍
Phục Mệnh quan 复命关
Thủ Nhất đàn 守一坛
Hi Di phủ 希夷府
Như Ý châu 如意珠
Huyền Thai đỉnh 悬胎鼎
Hư Không tạng 虚空藏
Tịch Diệt hải 寂灭海
Pháp Vương thành 法王城
Huyền Quan 玄关
Không Trung 空中
Chân Thổ 真土
Bá Bính 把柄
Huỳnh Đình 黄庭
Tây Phương 西方
Giá Cá 这个
Hoàng Bà 黄婆
Trung Hoàng 中黄
Tịnh Thổ 净土
Hoa quang tạng 华光藏
Khảm Ly giao cấu chi hương 坎离交媾之乡
Thiên biến vạn hóa chi tổ 千变万化之祖
Sinh tử bất tương quan chi địa 生子不相关之地
Quỷ Thần khuy bất phá chi cơ 鬼神窥不破之机
Quy Trung 规中
Hoàng Trung 黄中
Vô Cực 无极
Đơn quynh (cục) 丹局
Chính vị 正位
Chú: Đồ bản này có các danh xưng khác nhau để gọi Huyệt Đan Điền, hay Nê Hoàn Cung. Rất quan trọng, ta nên đọc cho kỹ.
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Khẩu quyết Tiết thứ hai:
AN THẦN TỔ KHIẾU HẤP TỤ TIÊN THIÊN
Nội phụ Pháp Luân tự chuyển, Long Hổ giao cấu nhị pháp
(内附法轮自转、龙虎交媾二法)
Tổ Khiếu xưa nay ít ai biết được. Không được Thầy truyền, thì như bắn bia ban đêm.
Tổ Khiếu, đức Lão Tử gọi là Huyền Tẫn chi môn.
Ngộ Chân Thiên nói:
Yêu đắc Cốc Thần trường bất tử, 要得谷神长不死,
Tu bằng Huyền Tẫn lập căn cơ 须凭玄牝立根基。
Nếu muốn Cốc Thần trường bất tử,
Phải lập căn cơ trên Huyền Tẫn.
Chính vì vậy mà Tử Dương Chân Nhân nói: Tu luyện Kim Đơn toàn tại Huyền Tẫn.
Trong bài tựa sách Tứ Bách Tự có viết: Huyền Tẫn Nhất Khiếu, thái thủ tại đó, giao cấu tại đó, phanh luyện tại đó, mộc dục tại đó, ôn dưỡng tại đó, kết thai tại đó, ngay cả đến chuyện Thoát Thai, Thần Hóa , cũng không ngoài khiếu đó.
Người tu sĩ muốn tu luyện, phải biết khiếu này. Đạo Kim Đơn chỉ có vậy thôi. Cho nên mới nói: Đắc Nhất, vạn sự tất 得一万事毕.
Nhưng Đan Kinh thường nói bằng ví dụ, làm cho học giả không biết đường vào. Tiền bối chỉ là: Tiên Thiên chủ nhân, Vạn tượng chủ tể, Thái Cực chi đế, Hỗn Độn chi căn, Chí Thiện chi địa, Ngưng kết chi sở, Hư Vô chi cốc, Tạo Hóa chi nguyên, Bất Nhị Pháp Môn, Thậm thâm Pháp Giới, Quy Căn khiếu, Phục Mệnh quan, Trung Hoàng cung, Hi Di phủ, Tổng Trì môn, Cực Lạc Quốc, Hư Không tạng, Tây Nam hương, Mậu Kỷ môn, Chân Nhất xứ, Huỳnh Bà xá, Thủ Nhất đàn, Tịnh Thổ, Tây Phương, Hoàng Trung, Chính Vị, Giá Cá, Thần Thất, Chân Thổ, Huỳnh Đình, trăm nghìn tên khác nhau, khó mà ghi ra hết được.
Cái Khiếu này, phải cầu nơi thân. Không phải mồm, không phải mũi, không phải Tâm, không phải thận, không phải gan, không phải phổi, không phải tì vị, không phải rốn, không phải Vĩ Lư, không phải bàng quang, không phải Cốc Đạo, không phải huyệt giữa hai thận, không phải huyệt dưới rốn một tấc ba phân, không phải Minh Đường, Nê Hoàn, không phải Quan Nguyên, Khí Hải.
Như vậy nó thực sự nằm ở đâu?
純陽祖師雲:玄牝玄牝真玄牝,不在心兮不在腎,窮取生身受氣初, 莫怪天機都泄盡。且以生身之理言之,父母一念將媾之際,而圓陀陀、光燦燦,先天一點靈光撞於母胞,如此○而已。懦謂之仁,亦曰無極。釋謂之珠,亦曰圓明。 道謂之丹,亦曰靈光。皆指此先天一氣、混元至精而言,實生身之原、受氣之初、性命之基、萬化之祖也。及父母交罷,精血包羅於外,如此◎而已,即吾儒所謂太 極是也。由是而五臟,由是而六腑,由是而四肢,由是而百骸,由是而能視、能聽、能持、能行,由是而能仁、能義、能禮、能智,由是而能聖、能神、能文、能 武,究竟生身本原,皆從太極中那一些兒發出來耳。
參同契雲:人所稟軀體,本一無。元精雲布,因炁托。初炁一疑定,玄牝立焉。上結靈 關,下結氣海。靈關藏覺靈性,氣海藏生氣命。性命雖分龍虎二弦,而性命之根則總持于祖竅之內。
故老子曰:玄牝之門,是謂天地根。何 以謂之玄牝之門而曰天地根也?豈非吾身之天地、吾身是玄牝耶?吾身天地之根、吾身玄牝之根耶?吾身玄牝之門、吾身天地之門耶?而天地之門之所從出者,獨不 有所謂先天地生而為天地之根乎?故天氣之根,乃天地之所由以分天而分地也,而玄牝之門之所從出者,獨不有所謂先玄牝生而為玄牝之根乎?故玄牝之根,乃玄牝 之所由以分玄而分牝也。
何以謂之玄也?豈非從有各之母中發出來也?何以謂之玄之又玄 7 豈非從無名之始中發山來也?
無名之始,釋氏指為不二法門;子思曰其為物不二,則其生物不測;莊子曰昭昭生於冥冥,有倫生於無形。而欲悟性以見性者,其將來之昭昭而有倫乎?抑亦求之 冥冥而無形乎?
孔子曰:後天而奉天時。
老子曰:有名,萬物之母。
即道家所謂,露出端倪,一點靈光是也。
然而河圖中矣,中而未始不一。洛書一矣,一而未始不中。中包乎一,一主乎中,豈非精微之妙 理、無為之神機耶?
道德經曰:多言數窮,不如守中。
洞玄經曰:丹書萬卷,不如守一。一者,生生不息之仁也。
中庸曰:修道以仁。
論語曰:天下歸仁。
禮記曰:中心安仁。
周 易曰:安土敦仁。
予常譬之果實之仁,中有一點者,太極也。而抱之兩者,一陰一陽也。
易曰:易有太極,是生兩 儀。故易也者,兩而化也。太極也者,一而神也。以此一點之神而含養于祖竅之中,不得勤,不得怠,謂之安神。祖竅非所以複吾身之乾元乎?以此一點之仁,而敦 養於坤土之中,而勿忘,而勿助,謂之安土。敦仁非所以立吾身之太極乎?
又若蓮子之屬中,有一條而抱之兩片者,非所謂一以貫之邪?一 而二、二而三、三生萬物。故張紫陽雲:道是虛無生一炁,便從一炁產陰陽,陰陽再合成三體,三體重生萬物昌。
昔文始先生問于老子曰: 修身至妙至要,載于何章?老子曰:在於深根固蒂,守中抱一而已。
何謂守中?曰:勤守中,莫放逸,外不入,內不出,還本源,萬事畢。 故老子所謂守中者,守此本體之中也。儒之執中者,執此本體之中。釋之空中者,本體之中,本洞然而空也。
老子所謂抱一者,抱此本體之 一也。釋之歸一者,歸此本體之一也。儒之一貫者,以此本體之一而貫之也。
Thuần Dương Tổ Sư Lữ Đồng Tân nói:
Huyền Tẫn, Huyền Tẫn, chân Huyền Tẫn 玄牝玄牝真玄牝,
Bất tại Tâm hề, bất tại Thận. 不在心兮不在肾,
Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ, 穷取生身受气初,
Mạc quái Thiên cơ đô tiết tận. 莫怪天机都泄尽。
Huyền Tẫn, Huyền Tẫn, chân Huyền Tẫn,
Không phải ở Tâm, không ở Thận.
Ở tại chỗ người vừa thụ khí,
Không sợ Thiên Cơ đã tiết lộ.
Vả lấy cái lý sinh thân mà nói, khi cha mẹ vừa có một niệm giao cấu, có một vật tròn tròn, sáng rỡ rỡ, là Tiên Thiên một điểm Linh Quang, gieo vào bào thai của mẹ.
Nó như một vòng tròn. Nho gia gọi là Nhân, là Vô Cực; Phật gia gọi là Châu, là Viên Minh; Đạo gia gọi là Đan, là Quang Minh. Tất cả đều chỉ cái Tiên Thiên Nhất Khí đó, cái Hỗn Nguyên Chi Tinh đó. Nó thật là Căn Nguyên sinh ra thân người, là chỗ Bắt Đầu Thụ Khí của con người, là Căn Bản Tính Mệnh, là Ông Tổ sinh ra mọi biến hóa.
Khi cha mẹ giao cấu xong, tinh huyết bao bọc nó bên ngoài, nó vẫn là cái vòng tròn ấy. Nho gia gọi đó là Thái Cực. Do đó mà ngũ tạng, lục phủ sinh, do đó mà có Tứ Chi Bá Hài, do đó mà có thể Thấy, Nghe, Cầm, Đi. Do đó mà có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Do đó mà có thể thành Thánh, Thần, Văn, Võ. Tất cả đều do từ Một Điểm trong Thái Cực phát xuất ra.
Chu Dịch Tham Đồng Khế nói: Con người được phú bẩm là đồ Bản Thể Nhất Vô, Nguyên Tinh phân bá, bắt đầu thu khí, khí đã ngưng định, thì Huyền Tẫn lập thành. Trên kết Linh Quan, dưới kết Khí Hải. Linh Quan tàng giác Linh Tính; Khí Hải tàng sinh Khí Mệnh. Tính Mệnh tuy phân Long Hổ nhị huyền, nhưng căn cốt vẫn do Tổ Khiếu tổng trì. Cho nên Lão Tử nói: Huyền Tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa Căn. Sao lại gọi Huyền Tẫn chi môn là Thiên Địa Căn? Đó há chẳng phải nói về Trời Đất trong ta hay sao? Há chẳng phải nói về Huyền Tẫn trong ta hay sao? Con người ta là gốc đất trời, là gốc sinh Huyền Tẫn hay sao? Nơi mà cửa Trời Đất sinh ra, chẳng phải là Cái sinh trước đất trời, và là Gốc của đất trời hay sao? Cho nên nói Thiên Địa chi căn, đó chính là chỗ sinh ra Đất, ra Trời, và cửa Huyền Tẫn cũng do đó mà sinh ra. Há chẳng phải cái gì sinh ra trước Huyền Tẫn là cái sinh ra gốc Huyền Tẫn hay sao? Cho nên gốc sinh ra Huyền Tẫn chính là nơi sinh ra Huyền Tẫn và chia nó thành Huyền thành Tẫn .
Tại sao lại gọi là Huyền? Đó là Cái sinh ra từ cái Hữu Danh trong lòng mẹ. Thế nào là Huyền chi hựu Huyền? Đó là cái sinh ra từ Vô Danh vậy.
Cái Vô Danh ấy, Thích gọi là Bất Nhị pháp môn, Tử Tư gọi là: Kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc 其为物不二,则其生物不测
Đạo Trời Đất một câu tóm hết,
Làm muôn loài không biết hai khuôn.
Nhưng mà sinh hóa khôn lường.
Trang Tử nói: Chiêu chiêu sinh vu minh minh, Hữu luân sinh vu Vô Hình 昭昭生于冥冥, 有伦生于无形。(Cái sáng sinh ra từ Cái tối, Cái Hữu hình sinh ra từ Cái Vô hình)
Nay muốn kiến tính, muốn giác ngộ, thì phải cầu Cái Chiêu Chiêu và Hữu Luân, hay cầu Cái Minh Minh và Vô Hình? Minh Minh Vô Hình, không nhìn thấy đầu đuôi, không biết hình dung, Nho gia gọi là Vô Thanh, Vô Xứ; Thích gia gọi là Uy Âm Vương. Tại sao lại gọi là Vương? Vì Uy Âm chính ra cũng là Thái Cực, cho nên gọi là Vương .
Do đó ta biết rằng, muốn học Tiên, học Phật, thì phải tìm xem Vua mình ở đâu, mà tôn sùng, đó là Tôn Vương vậy. Tôn Vương như vậy là đi ngược dòng mà tìm ra Thái Cực, và Vô Cực vậy.
Vô Cực là CHÂN TRUNG vậy.
Cho nên Thánh Thánh tương truyền cho nhau cái Trung này. Nghiêu Thuấn gọi thế là: Doãn chấp quyết Trung 允执厥中. Khổng Tử: Thời trung chi trung 时中之中. Tử Tư gọi thế là: Vị phát chi trung 未发之中. Dịch kinh gọi thế là: Hoàng trung thông lý 黄中通理. Độ Nhân Kinh gọi là: Trung lý ngũ khí 中理五炁. Thích gia gọi là: Không trung 空中. Lão Tử gọi là: Thủ trung 守中.
Chữ Trung có hai nghĩa: Nếu nói Trung là một vị trí cố định, thì là Trung này. Nếu nói Trung là một vị trí vô định, thì đó là CHÂN TRUNG của Càn Khôn, nơi Càn Khôn hợp nhất. Nói rằng có thể Cầm Giữ (Doãn Chấp) được, là nói về Cái Tâm có vị trí cố định.
Nhưng cái Trung này đâu phải chỉ trong thân ta mới có. Nó cũng ở ngoài thân ta, ở cùng khắp trời đất. Đâu đâu cũng là trung tâm con người ta.
Cái Trung Tâm này vừa ở trong trời đất, vừa ở ngoài trời đất. Nó tràn đầy khắp vũ trụ, Hư Không, đâu dâu cũng là Trung Tâm con người.
Dịch Kinh viết: Chu lưu lục Hư 周流六虚。(Ruổi rong khắp sáu phương trời). Nhưng chu lưu ngoài Lục Hư cũng chưa vừa, còn phải ẩn tàng nơi khiếu (Tâm) trong người mà vẫn đủ. Cho nên Khiếu đó tàng nạp Hư Vô không trung.
Đạo Kinh nói: Chỗ Trời cao nhất cách chỗ Đất thấp nhất la 8.400 dặm. Cho nên Thiên Địa chính trung là 4.200 dặm.
Nếu con người là Tiểu Thiên Địa thì từ từ Đầu đến Rốn đúng là 8 tấc 4 phân, thì Trung tâm con người phải ở chỗ 4 tấc 2 phân.
Khiếu này ở dưới Kiền, trên Khôn, ở phía Tây quẻ Chấn, phía Đông quẻ Đoài, bát mạch , cửu khiếu kinh mạch liên lạc với nhau. Nơi đây chính là Đan Điền (Hư nhàn nhất huyệt, Không Huyền thử châu). Đó chính là Tâm Điểm Trời Đất, là Nguyên Thủy Tổ Khiếu (Tiên Thiên khí) vậy.
Nếu biết Khiếu này mà không biết cái diệu dụng của nó, thì cũng như biết Trung mà chưa biết Nhất. Người xưa nói: Tâm là Đất mà Tính là Vương. Khiếu là Trung mà Diệu là Nhất
Nhất có nhiều loại: Có Nhất của Đạo, có Nhất của Thần, có Nhất của Khí, có Nhất của Nước, có Nhất của Số, có Nhất của Nhất Quán, có Nhất của Hiệp Nhất, có Nhất của Tinh Nhất, có Nhất của Duy Nhất, có Nhất của Thủ Nhất, có Nhất của Qui Nhất.
Qui Nhất là từ Nhất về Trung; Thủ Nhất là từ Nhất mà nắm giữ cái Trung. Có Trung là có Nhất.
Nhất mà không phải là Trung thì không phải là cái Nhất của Thánh Hiền. Có Nhất thời có Trung. Trung mà không phải Nhất thì không phải là Trung của Thánh Hiền.
Cho nên cái Nhất của Khổng Tử là từ cái Trung mà tìm ra lẽ Nhất Quán vậy, còn cái Trung của Nghiêu Thuấn là từ cái Nhất mà tìm ra lẽ Chấp Trung vậy
Phục Hi vẽ Hà Đồ để trống giữa, đó là Tiên Thiên vậy. Đó là Tổ Khiếu trong thân ta vậy.
Khổng Tử nói: Tiên Thiên nhi Thiên phất vi 先天而天弗违。Lão Tử nói: Vô danh, vạn vật chi thủy 无名万物之始。(Vô danh, đó là cái bắt đầu của vạn vật.). Thích Ca nói: Mang hồ vô trẫm, nhất phiến Thái Hư 茫乎无联一片太虚 (Mang mang không dấu vết đó là Thái Hư.)
Lạc Thư của Đại Võ thì trong đặc. Đó là Hậu Thiên. Đó cũng là một Tổ Khiếu vậy.
Khổng Tử nói: Hậu Thiên, nhi phụng Thiên Thời 后天而奉天 时。Lão Tử nói: Hữu danh, vạn vật chi mẫu 有名万物之母。(Hữu danh là mẹ của vạn vật)
Đạo gia nói thế là: Lộ xuất đoan nghê, nhất điểm Linh Quang 露出 端倪一点灵光 (Lộ ra đầu mối, đó là nhất điểm Linh Quang vậy) .
Nhưng Trung trong Hà Đồ trước tiên vẫn là Nhất. Nhất trong Lạc Thư trước tiên vẫn là Trung. Trung ôm lấy Nhất, Nhất làm chủ cái Trung. Há chẳng phải là cái Tinh Vi của Diệu Lí, cái Thần Cơ của Vô Vi hay sao?
Đạo Đức Kinh viết: Đa ngôn số cùng, Bất như thủ Trung 多言数穷,不如守中。
Đồng Huyền Kinh viết: Đan thư vạn quyển, bất như thủ Nhất. Nhất giả sinh sinh bất tức chi Nhân dã 丹书万卷,不如守一。一者,生 生不息之仁也。(Kinh thư vạn quyển, bất như thủ Nhất. Nhất là đức Nhân của Trời sinh hóa không lường.)
Trung Dung nói: Tu Đạo dĩ Nhân 修道以仁. Luận Ngữ viết: Thiên Hạ qui Nhân 天下归仁. Lễ Ký viết: Trung Tâm an nhân 中心安仁. Chu Dịch viết: An thổ đôn Nhân 安土敦仁.
Ta thường ví Nhân là hột trái cây. Trong có một điểm là Thái Cực. Có Hai cái ôm bên ngoài là Lưỡng Nghi.
Dịch viết: Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi 易有太极,是 生两仪. Cho nên Dịch là hai, mà luôn biến hóa. Thái Cực là Một, là Thần. Lấy một điểm Thần này đem hàm dưỡng trong Tổ Khiếu, không siêng không lười, thế chẳng phải là An Thần Tổ Khiếu, hồi phục lại vị trí của quẻ Kiền thì là gì.
Đem một điểm Nhân ấy, đôn dưỡng trong giữa quẻ Khôn, không quên, không giúp, thì gọi là An Thổ Đôn Nhân, thế chẳng phải là trở về với Thái Cực trong ta hay sao?
Lại ví như hột sen, trong đó có một mầm nhỏ, lại có hai mảng bao, thế chẳng phải là Nhất dĩ quán chi hay sao?
Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật.
Cho nên Trương Tử Dương nói:
Đạo thị Hư Vô sinh nhất khí, 道是虚无生一炁,
Tiện tòng Nhất Khí sản Âm Dương. 便从一炁产阴阳,
Âm Dương giả hợp thành tam thể, 阴阳者合成三体,
Tam Thể trùng sinh vạn vật xương. 三体重生万物昌。
Đạo tự Hư Vô sinh một khí,
Một Khí sinh ra được Âm Dương.
Âm Dương hợp lại thành Tam Thể,
Tam Thể trùng sinh vạn vật xương.
Xưa Văn Thủy tiên sinh hỏi Lão Tử: “Bí quyết Tu Thân nằm tại chương nào?”
Lão Tử nói: “Tại giữ cho gốc rễ bền chặt, tại thủ Trung bão Nhất mà thôi.”
Thế nào là Thủ Trung? Đó là: Cần thủ Trung, mạc phóng dật, ngoại bất nhập, nội bất xuất. Hoàn Bản Nguyên, Vạn sự tất 勤守中,莫放逸, 外不入,内不出,还本源,万事毕 (Giữ cái Trung không trễ nải, ngoài không vào, trong không ra, trở về Bản Nguyên, thế là xong.)
Lão Tử gọi là Thủ Trung, là giữ cái Trung của Bản Thể. Khổng Tử gọi là Chấp Trung, là giữ lấy cái Trung của Bản Thể. Nhà Phật gọi là Không Trung, là giữ cho cái Bản Thể ấy được trống rỗng vậy.
Lão Tử gọi là Bão Nhất, là giữ lấy cái Nhất của Bản Thể. Khổng Tử gọi là Nhất Quán, là quán xuyến lấy cái Nhất của Bản Thể. Nhà Phật gọi là Qui Nhất, là trở về với cái Nhất của Bản Thể vậy.
Duy Tinh duy Nhất 唯精唯一 chính là Tinh Nghĩa nhập thần 精义入神. Doãn chấp quyết Trung 允执厥中 là Vương trung tâm Vô Vi 王中心无为. Đó là Mầm trong Tâm, đó là Thiên Quân (Thái Cực) trong ta vậy.
唯精唯一者,易之所謂精義入神者是也。久執厥中者,記之所 謂王、中心、無為、以守至正者是也。曰王、中心者,蓋以一點之仁主此中心之中而命之曰王,所謂天君者是也。夫何為哉?以守至正而已矣。命由此立,性由此 存,此兩者同出異名,原是竅中舊物。如今複返竅中,則蒙莊所謂南海之倏,北海之忽,相遇於混沌之地矣。
修丹之士,不明祖竅,則真息 不住而神化無基,藥物不全而大丹不結。蓋此竅是總持之門、萬法之都,亦無邊傍,更無內外,不可以有心守,不可以無心求。求以有心,守之,則著相。以無心求 之,則落空。若何可也?受師訣曰:空洞無涯是玄竅,知而不守是工夫。常將真我安止其中,如如不動、寂寂惺惺、內外兩忘、渾然無事,則神戀氣而凝,命戀性而 住,不歸一而一自歸,不守中而中自守。中心之心既實,五行之心自虛,此老子抱一守中、虛心實腹之本旨也。
張紫陽雲: 虛心實腹義俱深,只為虛心要識心。
劉海蟾雲: 中央神室本虛閑,自有先天真氣到。
呂純陽雲: 守中絕學方知奧,抱一無言始見佳。
徐佐卿雲: 倏忽遨遊歸混沌,龍虎蟠距入中黃。
正陽翁雲: 要識金丹端的處,未生身處下功夫。
如如居士雲: 坤之上,乾之下,中間一寶難酬價。
李清庵中和集雲: 兩含儀肇判分三極,乾以直專坤辟翕。天地中間玄牝門,其動愈出靜愈入。
Thế nghĩa là gì? Ta chỉ cần giữ cho ta được Chí Chính thì Mệnh sẽ lập, thì Tính sẽ nguyên vẹn. Tính Mệnh tuy là hai tên, nhưng cùng một gốc. Trang Tử gọi là Thúc và Hốt. Thúc ở Bể Nam, Hốt ở Bể Bắc. Hai bên gặp nhau ở đất Hỗn Độn.
Tu sĩ luyện đơn nếu chẳng biết Tổ Khiếu này, thì Chân Tức không có chỗ trú, Thần hóa sẽ không có cơ sở, dược vật không đủ và đơn không kết thành.
Khiếu này là Tổng Trì Môn, là kinh đô Vạn Pháp. Nó không có biên cương, không trong ngoài. Không dùng Hữu Tâm mà giữ được, không dùng Vô Tâm mà cầu được.
Lấy Hữu Tâm mà cầu, sẽ sa vào hình tướng. Lấy Vô Tâm mà cầu, sẽ lạc không. Như vậy phải làm sao? Thầy có khẩu quyết là:
Không Động vô nhai thị Huyền Khiếu, 空洞无涯是玄窍,
Tri nhi bất thủ thị công phu. 知而不守是工夫。
Khiếu này trống rỗng không bờ bến,
Biết mà không giữ ấy công phu.
Nếu đem Chân Ngã an chỉ vào giữa, như như bất động, tịch tịch tĩnh tĩnh, trong ngoài đều quên, hồn nhiên vô sự, thời Thần sẽ luyến Khí mà ngưng, Mệnh sẽ luyến Tính mà trú. Không Qui Nhất mà Nhất sẽ tự Qui, không Thủ Trung mà Trung tự Thủ. Trung tâm mà thực, trung tâm ngũ hành sẽ hư. Đó chính là Thủ Trung Bão Nhất của Lão Tử nói, đó chính là Bản Chỉ cuả Hư Tâm, Thực Phúc vậy.
Trương Tử Dương nói:
Hư tâm, thực phúc nghĩa câu thâm, 虚心实腹义俱深,
Chỉ vị Hư Tâm yếu thức Tâm. 只为虚心要识心。
Hư Tâm Thực Phúc nghĩa đều thâm,
Muốn nhận ra Tâm phải Hư Tâm.
Bạch Ngọc Thiềm nói:
Trung Ương Thần Thất bản hư nhàn, 中央神室本虚闲,
Tự hữu Tiên Thiên Chân Khí đáo. 自有先天真气到。
Trung Ương Thần Thất vốn hư vô,
Tiên Thiên Chân Khí tự nhiên đến.
Lữ Thuần Dương nói:
Thủ Trung, Tuyệt Học phương tri áo, 守中绝学方知奥,
Bão Nhất, Vô Ngôn thủy kiến giai. 抱一无言始见佳。
Thủ Trung, Tuyệt Học mới thấy kỳ,
Bão Nhất, Vô Ngôn mới thấy hay.
Trần Tử Khanh nói:
Thúc Hốt ngao du qui Hỗn Độn , 倏忽遨游归混沌,
Hổ Long bàn cứ nhập Trung Hoàng . 虎龙蟠距入中黄。
Thúc Nam, Hốt Bắc qui Hỗn Độn ,
Hổ Tây, Long Đông nhập Trung Hoàng.
Chính Dương Ông nói:
Yêu thức Kim Đan đoan đích xứ, 要识金丹端的处,
Vị sinh thân xứ hạ công phu. 未生身处下功夫。
Kim Đan phải biết nơi sinh xứ,
Trước lúc ta sinh hạ công phu.
Như Như Cư Sĩ nói:
Khôn chi thượng, Kiền chi hạ, 坤之上,乾之下,
Trung gian nhất bảo, nan thù giá. 中间一宝难酬价。
Khôn trên, Kiền dưới: huyệt Trung Cung,
Đấy có bảo châu quí vô giá.
Lý Thanh Am (Trung Hòa tập) nói:
Lưỡng Nghi triệu phán phân tam cực, 两仪肇判分三极,
Kiền dĩ trực chuyên, Khôn tịch hấp. 乾以直专坤辟翕。
Thiên Địa trung gian, Huyền Tẫn môn. 天地中间玄牝门,
Kỳ động dũ xuất, tĩnh dũ nhập. 其动愈出静愈入。
Lưỡng Nghi phân cực hóa ra Ba,
Kiền để sinh sôi, Khôn mở đóng.
Trung Ương chính thị Huyền Tẫn môn,
Càng động càng ra, tĩnh càng vào.
王玉陽雲光集雲: 穀神從此立天根,上聖強名玄牝門。點破世人生死穴,真仙於此定乾坤。
譚處端水雲集雲: 陰居於上陽居下,陽氣先升陰氣隨。配合虎龍交媾處,此時如過小橋時。
河上公過明集雲: 杳杳冥冥開眾妙,恍恍惚惚葆真竅。斂之潛藏一粒中,放之彌散六合表。
張紫陽悟真篇雲: 震龍汞自出離鄉,兌虎金生在坎方。二物總因兒產母,五行生要入中央。
張景和枕中記雲: 混元一竅是先天,內面虛無理自然。若向未生前見得,明知必是大羅仙。
葛仙翁玄玄歌雲: 乾坤合處乃真中,中在虛無甚空闊。簇將龍虎竅中藏,造化樞機歸掌握。
羅公遠弄九集雲: 一竅虛無天地中,纏綿秘密不通風。恍惚杳冥無色象,真人現在寶珠中。
天來子白虎歌雲: 玄牝之門鎮日開,中間一竅混靈台。無關無鎖無人守,日月東西自往來。
張鴻蒙還元篇雲: 天地之根始玄牝,呼日吸月持把柄。隱顯俱空空不空,尋之不見呼之應。
高象先金丹歌雲: 其一之道何所雲,莫若先敲戊己門。戊己門中有真水,真水便是黃芽根。
丁野鶴逍遙遊雲: 三教一元這個圓,生在無為象帝先。悟得此中真妙理,始知大道祖根源。
蕭祖虛大丹訣雲: 學人若要覓黃芽,兩處根源共一家。七返九還須識主,工夫毫髮不容差。
李靈陽祖竅歌雲: 個個無生無盡藏,人人本體本虛空。莫道瞿曇名極樂,孔顏樂亦在其中。
陳致虛轉語偈雲: 一者名為不二門,得門入去便安身。當年曾子一聲唯,誤了閻浮多少人。
薛紫賢虛中詩雲: 天地之間猶橐籥,橐籥須知鼓者誰。動靜根宗由此得,君看放手有風無。
呂祖純陽文集雲: 陰陽二物隱中微,只為愚徒自不知。實實認為男女是,真真說做坎離非。
李道純無一歌雲: 道本虛無生太極,太極變而先有一。一分為二二生三,四象五行從此出。
壽涯禪師語錄雲: 陀羅門啟妙難窮,佛佛相傳只此中。不識西來真實義,空穿鐵履走西東。
馬丹陽醉中吟雲: 老子金丹釋氏珠,圓明無欠亦無餘。死戶生門宗此竅,此竅猶能納太虛。
曹文逸大道歌雲: 借問真人何處來,從前原只在靈台。昔年雲霧深遮蔽,今日相逢道眼開。
劉長生仙藥集雲: 一竅虛空玄牝門,調停節候要常溫。仙人鼎內無他藥,雜礦銷成百煉金。
李道純中和集雲: 乾坤闔辟無休息,離坎升降有合離。我為諸君明指出,念頭是外立丹基。
劉海蟾見道歌雲: 函谷關當天地中,往來日月自西東。試將寸管窺玄竅,虎踞龍蟠氣象雄。
Vương Ngọc Dương (Vân Quang tập) nói:
Cốc Thần tòng thử lập Thiên Căn, 谷神从此立天根
Thượng thánh cưỡng danh Huyền Tẫn Môn. 上圣强名玄牝门
Điểm phá thế nhân “Sinh Tử Huyệt”, 点破世人生死穴
Chân tiên vu thử định Kiền Khôn. 真仙于此定乾坤
Cốc Thần do đó lập Thiên Môn,
Thượng Thánh gượng kêu Huyền Tẫn Môn.
Chỉ cho nhân thế Sinh Tử Huyệt,
Chân tiên do đó định Kiền Khôn.
Đàm Xứ Đoan (Thủy Vân tập) nói:
Âm cư ư thượng, Dương cư hạ, 阴居于上阳居下,
Dương khí tiên thăng, Âm khí tùy. 阳气先升阴气随。
Phối hợp Long Hổ, giao cấu xứ, 配合虎龙交媾处,
Thử thì như quá tiểu kiều thì. 此时如过小桥时。
Âm ở bên trên, Dương ở dưới,
Dương khí sinh thăng, Âm khí tùy.
Biết chỗ Hổ Long giao hợp xứ,
Lúc này như lúc vượt cầu đi.
Hà Thượng Công (Quá Minh tập) nói:
Yểu yểu, minh minh khai chúng diệu, 杳杳冥冥开众妙,
Hoảng hoảng, hốt hốt bao Chân Khiếu. 恍恍惚惚葆真窍。
Liễm chi tiềm tàng nhất lạp trung. 敛之潜藏一粒中,
Phóng chi di man Lục Hợp biểu. 放之弥漫六合表。
Chúng diệu sinh ra từ một điểm,
Chân Khiếu trong ta nhớ kiếm ra.
Thu nhỏ lọt vừa trong hạt thóc,
Tung ra trùm khắp sáu phương trời.
Trương Tử Dương (Ngộ Chân Thiên) nói:
Chấn Long Mộc tự xuất Ly hương, 震龙木自出离乡,
Đoài Hổ Kim sinh tại Khảm phương. 兑虎金生在坎方。
Nhị vật tổng nhân nhi Sản Mẫu. 二物总因儿产母,
Ngũ hành toàn yếu nhập Trung Ương. 五行全要入中央。
Chấn Long sinh xuất tự Ly Hương,
Đoài Hổ thì sinh tại Khảm phương.
Hai vật đều do con sinh mẹ,
Ngũ Hành vốn phải nhập Trung Ương.
Trương Cảnh Hòa (Chẩm Trung Ký) nói:
Hỗn Độn nhất khiếu thị Tiên Thiên, 混沌一窍是先天,
Nội diện Hư Vô lý tự nhiên. 内面虚无理自然。
Nhược hướng vị sinh tiền kiến đắc. 若向未生前见得,
Minh tri tất thị Đại La Tiên. 明知必是大罗仙。
Hỗn Độn khiếu kia gọi Tiên Thiên,
Trong thấy Hư Vô hợp tự nhiên.
Từ trước khi sinh, tìm ra được,
Biết ra chắc phải Đại La Tiên.
Cát Tiên Ông (Huyền Huyền Ca) nói:
Kiền Khôn hợp xứ nãi Chân Trung, 乾坤合处乃真中,
Trung tại Hư Vô thậm không khoát. 中在虚无甚空阔。
Thốc tương Long Hổ Khiếu trung tàng. 簇将龙虎窍中藏,
Tạo Hóa khu cơ qui chưởng ốc. 造化枢机归掌握。
Kiền Khôn hợp xứ gọi Chân Trung,
Ở giữa Hư Vô, rộng mênh mông.
Rồng Cọp bắt về tàng trong đó,
Chốt then Tạo Hóa nắm như không.
La Công Viễn (Mộng Cửu tập) nói:
Nhất khiếu Hư Vô thiên địa trung, 一窍虚无天地中,
Triền miên bí mật bất thông phong. 缠绵秘密不通风。
Hoảng hốt yểu minh vô sắc tượng. 恍惚杳冥无色象,
Chân Nhân hiện tại bảo châu trung. 真人现在宝珠中。
Một Khiếu Hư Vô giữa đất trời,
Triền miên bí mật, gió không chui.
Khiếu đó sắc trần không có bợn,
Chân Nhân coi như ngọc châu thôi.
Thiên Lai Tử (Bạch Hồ ca) nói:
Huyền Tẫn chi môn trấn nhật khai, 玄牝之门镇日开,
Trung Gian nhất khiếu hỗn Linh Đài. 中间一窍混灵台。
Vô quan vô tỏa vô nhân thủ. 无关无锁无人守,
Nhật Nguyệt đông tây tự vãng lai. 日月东西自往来。
Huyền Tẫn chi môn một khiếu khai,
Khiếu này có thể gọi Linh Đài.
Khóa then hờ hững không ai giữ,
Nhật Nguyệt đông tây mặc tới lui.
Trương Hồng Mông (Hoàn Nguyên Thiên) nói:
Thiên Địa chi căn thủy Huyền Tẫn, 天地之根始玄牝,
Hô Nhật Hấp Nguyệt trì bá bính. 呼日吸月持把柄。
Ẩn hiện câu không, không bất không, 隐显俱空空不空,
Tầm chi bất kiến hô chi ứng. 寻之不见呼之应。
Thiên Địa căn cơ là Huyền Tẫn,
Hô hấp trời trăng, cầm cân mực.
Ẩn hiện vào ra chẳng có gì,
Tìm chẳng thấy tông, hô thời ứng.
Cao Tượng Tiên (Kim Đơn ca) nói:
Chân Nhất chi Đạo hà sở vân? 其一之道何所云,
Mạc nhược tiên sao Mậu Kỷ môn. 莫若先敲戊己门。
Mậu Kỷ môn trung hữu Chân Thủy. 戊己门中有真水,
Chân Thủy tiện thị Hoàng Nha côn. 真水便是黄芽根。
Đạo Trời, Chân Nhất đâu xa,
Cánh cửa Hoàng Trung cố mở ra.
Chân Thủy, Hoàng Nha đều ở đó,
Lòng Trời, lòng Đất, cũng lòng Ta.
Đinh Dã Hạc (Tiêu Diêu Du) nói:
Tam giáo nhất nguyên giá cá viên, 三教一元这个圆,
Sinh tại Vô Vi, tượng đế tiên. 生在无为象帝先。
Ngộ đắc thử Trung Chân Diệu Lý, 悟得此中真妙理,
Thủy tri Đại Đạo tổ căn nguyên. 始知大道祖根源。
Tam giáo Hư Vô vẽ một vòng,
Sinh tại Vô Vi, vạn tượng tông.
Có hiểu Trung Hoàng chân diệu lý,
Rồi ra nguồn đạo sẽ khai thông.
Tiêu Tổ Hư (Đại Đơn quyết) nói:
Học nhân nhược yếu mịch Hoàng Nha , 学人若要觅黄芽,
Lưỡng xứ căn nguyên, cộng nhất gia. 两处根源共一家。
Thất phản, cửu hoàn tu thức chủ, 七返九还须识主,
Công phu hào phát bất dung sai. 工夫毫发不容差。
Người đời nếu muốn kiếm Hoàng Nha,
Hai ngả Âm Dương hợp một nhà.
Thần Khí hiệp hòa, cần biết chủ,
Công phu hào phát chẳng sai ngoa.
Lý Linh Dương (Tổ Khiếu Ca) nói:
Cá cá vô sinh, vô tận tạng, 个个无生无尽藏,
Nhân nhân bản thể, bản hư không. 人人本体本虚空。
Mạc đạo Cù Đàm, danh Cực Lạc. 莫道瞿昙名极乐,
Khổng Nhan lạc diệc tại kỳ trung. 孔颜乐亦在其中。
Nguồn sinh vô tận tỏa đôi nơi,
Vô Cực, Hư Không, Bản Thể người.
Chớ nói Cù Đàm kêu Cực Lạc,
Khổng Nhan vui cũng ở trong thôi.
Trần Trí Hư (Chuyển Ngữ Kệ) viết:
Nhất giả danh vị Bất Nhị Môn, 一者名为不二门
Đắc môn nhập khứ tiện an thân. 得门入去便安身
Đương niên Tăng tử nhất thanh Duy. 当年曾子一声唯
Ngộ liễu Diêm Phù (thế gian) đa thiểu nhân. 误了阎浮多少人
Nhất còn được gọi Bất Nhị Môn,
Vào được cửa này, thân sẽ an.
Tăng Tử xưa kia kêu tiếng Dạ
Thế gian vài kẻ hiểu nguồn cơn.
Tiết Tử Hiền (Hư Trung thi) viết:
Thiên địa chi gian do thác thược 天地之间犹橐籥,
Thác thược tu tri cổ giả thùy 橐籥须知鼓者谁。
Động tĩnh căn tông do thử đắc 动静根宗由此得,
Quần khan phóng thủ đắc phong vô 君看放手得风无。
Thiên địa không trung như lò bễ
Thổi được bễ này sẽ là ai
Căn nguyên động tĩnh là do đó
Bạn muốn thử xen hãy giơ tay
Lữ Tổ (Thuần Dương vân tập) viết:
Âm dương nhị vật ẩn trung vi 阴阳二物隐中微,
Chỉ vị ngu nhân tự bất tri 只为愚人自不知。
Thật thật nhận vi nam nữ thị 实实认为男女是,
Chân chân thuyết tố khảm ly phi 真真说做坎离非。
Âm dương hai vật ẩn bên trong
Chỉ vì người ngu nên không biết
Nam nữ bên trong là có thật
Nói đúng mà nghe tự khảm ly
Lý Đạo Thuần (vô nhất ca) viết:
Đạo bản hư vô sinh Thái Cực 道本虚无生太极,
Thái Cực biến nhi tiên hữu nhất 太极变而先有一。
Nhất phân vi nhị, nhị sinh tam 一分为二二生三,
Tứ tượng ngũ hành tòng thử xuất 四象五行从此出。
Đạo vốn hư vô sinh thái cực
Thái cực biến rồi, trước sinh nhất
Nhất chia ra nhị, nhị sinh tam
Tứ tượng ngũ hành do đó xuất
Thọ Nhai thiền sư ngữ lục viết:
Đà La Môn khải diệu nan cùng 陀罗门启妙难穷,
Phật phật tương truyền chỉ thử trung 佛佛相传只此中。
Bất thức tây lai chân thật nghĩa 不识西来真实义,
Không xuyên thiết sỉ tẩu tây đông 空穿铁屣走西东。
Đà La rộng mở tạ vô cùng
Phật phật tương truyền một chữ trung
Ảo ngữ chân thuyên bằng chẳng hiểu
Như mang giày sắt ruổi tây đông
Mã Đơn Dương (Túy trung ngâm) viết:
Lão tử kim đan thích thị châu 老子金丹释氏珠,
Viên minh vô khiếm, diệc vô dư 圆明无欠亦无余。
Tử hộ, sinh môn tông thử khiếu 死户生门宗此窍,
Thử khiếu do năng nạp thái hư 此窍犹能纳太虚。
Lão gọi Kim Đơn, Thích gọi Châu,
Dáng tròn vành vạnh, chẳng thiếu thừa.
Tử Hộ, Sinh Môn cùng khiếu ấy,
Nó cũng đủ to, nạp Thái Hư.
Tào Văn Dật (Đại đạo ca) viết:
Tá vấn chân nhân hà xứ lai 借问真人何处来,
Tòng tiền nguyên chỉ tại linh đài 从前原只在灵台。
Tích niên vân vụ thâm già tế 昔年云雾深遮蔽,
Kim nhật tương phùng, đạo nhãn khai 今日相逢道眼开。
Chân nhân ướm hỏi tới từ đâu
Tâm khảm tiềm tàng sẵn đáy sâu
Thủa trước Linh Đài vân vụ phủ
Ngày nay gặp gỡ hết xa nhau
Lưu Trường Sinh (Tiên dược tập) viết:
Nhất khiếu hư không huyền tẫn môn 一窍虚空玄牝门,
Điều đình tiết hậu yếu thường ôn 调停节候要常温。
Tiên nhân đỉnh nội vô tha dược 仙人鼎内无他药,
Tạp khoáng tiêu thành, bách luyện côn 杂矿销成百炼金。
Nhất khiếu hư không Huyền Tẫn môn
Giữ sao chốn ấy được thường ôn
Tiên nhân trong đỉnh không thuốc khác
Tạp khoáng tiêu rồi, độc hoàng côn (kim)
Lý Đạo Thuần (Trung hoà tập) có bài
Càn khôn hạp tịch vô hưu tức 乾坤阖辟无休息,
Ly Khảm thăng trầm hữu hợp ly 离坎升沉有合离。
Ngã vị chư quân minh chỉ xuất 我为诸君明指出,
Niệm đầu phục xứ lập Đan Ki 念头复处立丹基。
Kiền khôn mở đóng chẳng suy vi
Ly Khảm xuống lên có hợp lý
Ta vì chư vị nên chỉ rõ
Nơi ấy là nơi lập Đan Ki
Lưu Hải Thiềm (Kiến đạo ca) viết:
Hàm cốc quan đương thiên địa trung 函谷关当天地中,
Vãng lai nhật nguyệt tự tây đông 往来日月自西东。
Thí tương thốn quản khuy huyền khiếu 试将寸管窥玄窍,
Hổ cứ, long bàn khí tượng hùng 虎踞龙蟠气象雄。
Hàm Cốc vương cao ngất trời mây
Nhật Nguyệt lại qua tự đông tây
Nếu có ống nhòm, nhòm tổ khiếu
Sẽ thấy Hổ Long núp nơi đây
無心昌老秘訣雲: 自曉穀神通此道,誰能理性欲修真。明明說向中黃路,霹靂聲中自得神。
玉蟾白真人雲: 性之根,命之蒂,同出異名分兩類。合歸一處結成丹,還為元始先天炁。
緣督趙真人雲: 虛無一竅正當中,無生無滅自無窮。昭昭靈靈相非相,杳杳冥冥空不空。
紫陽張真人金丹序雲: 此竅非凡竅,乾坤共合成。名為神氣 穴,內有坎離精。
瑩蟾李真人道德頌雲: 闔辟應乾坤,斯為玄牝門。自從無出入,三界獨稱尊。
司馬子微雲: 虛無一竅號玄關,正在人身天地間。八萬四千分上下,九三六五列迴圈。
大包法界渾無跡,細入塵埃不見顏。這個名 為祖炁穴,黍珠一粒正中懸。
以上口訣,皆發明祖竅之妙。老子曰:天地之間,其猶橐籥乎。
莊子曰:樞得其環 中,以應無窮坤。
曰:正位居體鼎。
曰:正位凝命根。
曰:君子思不出其位。
而孟子亦曰:立天下之正位,惟此正位也。以言乎其大,則足以包羅乎。天地而無外。故謂之廣居而大道從此出矣。
毛詩曰:秉心寒淵。
太玄經曰:藏心於淵,美厥靈根。
參同契曰:真人潛深淵,浮游守規中。曰塞、曰藏,潛而守之之義也。然而浮游 二字不可不知也。浮游者,優遊也。即孟子之所謂勿忘勿助也,釋氏所謂應如是住、如是降伏其心,亦此義也。
Vô Tâm Xương Lão bí quyết viết:
Tự hiểu Cốc Thần thông thử đạo 自晓谷神通此道,
Thùy năng lý tính dục tu chân 谁能理性欲修真。
Minh minh thuyết hướng trung hoàng lộ 明明说向中黄路,
Tích lịch thanh trung tự đắc thần 霹雳声中自得神。
Cốc Thần khuất nẻo mấy ai hay
Tinh lý tu chân lẽ khó bày
Ta cố chỉ bày Trung Hoàng lộ
Ầm ầm sấm chớp thấy thần ngay
Bạch Ngọc Thiềm chân nhân viết:
Tính chi căn, mệnh chi đế 性之根,命之蒂,
Đồng xứ, dị danh, phân lưỡng loại 同处异名分两类。
Hợp qui nhất xứ kết thành đơn 合归一处结成丹,
Hoàn vi nguyên thủy, tiên thiên khí 还为元始先天气。
Tính căn, mệnh đế vốn chung nơi
Khác tên nên mới biến thành hai
Nếu mà sum hợp thành một lại
Tiên thiên nhất khí đã thành rồi
Lục Đốc Triệu chân nhân viết:
Hư vô nhất khiếu chính đương trung 虚无一窍正当中,
Vô sinh, vô diệt tự vô cùng 无生无灭自无穷。
Chiêu chiêu, linh linh, tướng phi tướng 昭昭灵灵相非相,
Yểu yểu, minh minh, không bất không 杳杳冥冥空不空。
Hư vô nhất khiếu giữa không trung
Vô sinh, vô diệt, vốn vô cùng
Chiêu chiêu, linh linh, vốn không tướng
Yểu yểu, minh minh, không chẳng không
Tử Dương Trương chân nhân (Kim Đơn) viết:
Thử khiếu phi phàm khiếu 此窍非凡窍,
Kiền khôn cộng hợp thành 乾坤共合成。
Danh vi Thần khí huyệt, 名为神气穴,
Nội hữu khảm ly tinh 内有坎离精。
Khiếu này chẳng phải khiếu phàm
Kiền khôn cộng lại mới toan hợp thành
Thần khí huyệt, bảng đề danh
Bên trong chứa đựng tinh huỳnh khảm ly
Huỳnh Thiềm Lý chân nhân (Đạo đức tụng) nói:
Hạp tịch ứng kiền khôn, 阖辟应乾坤,
Tư vi huyền tẫn môn. 斯为玄牝门。
Tự tòng vô xuất nhập , 自从无出入,
Tam giới diệc xưng tôn. 三界亦称尊。
Mở đóng tựa kiền khôn
Tên gọi Huyền Tẫn môn
Trong ngoài không chi lọt
Tam giới đều sùng tôn
Tư Mã Tử Vi nói:
Hư vô nhất khiếu hiệu Huyền Quan 虚无一窍号玄关,
Chính tại nhân thân thiên địa gian 正在人身天地间。
Bát vạn tứ thiên, phân thượng hạ 八万四千分上下,
Cửu, tam, ngũ, lục liệt tuần hoàn 九三五六列循环
Đại bao pháp giới hồn vô tích 大包法界浑无迹,
Tế nhập trần ai, bất kiến nhan 细入尘埃不见颜。
Giá cá danh vi tổ khí huyệt 这个名为祖炁穴,
Thử châu nhất lạp chính trung huyền 黍珠一粒正中玄
Hư vô một khiếu gọi Huyền Quan
Giữa lòng trời đất với nhân gian
Tám vạn bốn nghìn phân thượng hạ
9,3,5,6 liệt tuần hoàn
Lớn trùm pháp giới không lưu vết
Nhỏ nhập trần ai, chẳng thấy nhan
Cái đó gọi là chân tổ khiếu
Trường sinh, linh bảo vốn hàm tàng
Những khẩu quyết trên đầu xiển minh cái ảo diệu của tổ khiếu, Lão Tử nói: Thiên địa chi gian, kỳ do thác thước hồ 天地之间,其犹橐 籥乎。Trang Tử nói: Khu đắc nhược kỳ trung, dĩ ứng vô cùng. 枢得 若其中,以应无穷。Quẻ Khôn nói: Chính vị cư thể 正位居体。
Quẻ Đỉnh viết: Chính vị, ngưng mệnh 正位凝命。
Quẻ Cấn nói: Quân tử tư bất xuất kỳ vị 君子思不出其位。Mạnh Tử cũng nói: Lập thiên hạ chi chính vị. 立天下之正位。
Cũng chỉ là cái chính vị này mà thôi. Nói lớn ra, thì nó bao trùm thiên hạ, cho nên nói: ở vào chỗ rộng rãi thiên hạ, và đại đạo do đó phát sinh.
Kinh Thi viết: Bỉnh tâm tắc uyên, 秉心塞渊。Thái Huyền Kinh viết: Tàng tâm vu uyên, mỹ quyết linh căn. 藏心于渊,美厥灵 根。Tham Đồng Khế viết: Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ quy trung. 真人潜深渊,浮游守规中。(Chân nhân sống rất thâm trầm, nhởn nhơ, khinh khoát, ôm cầm khuôn thiêng).
Nói Tắc, nói Tàng là Tiềm nhi thủ chi. Còn hai chữ phù du không thể không biết. Phù Du ưu du là thung dung, như Mạnh Tử nói: Vật vong, vật trợ 勿忘勿助。
Phật gia nói: “Ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm” cũng là nghĩa này. 应如是住、如是降伏其心。
法輪自轉工夫
旋斗歷箕,逥度五常。法天之樞,仙 壽萬億。
撥動法輪旋日月,須臾海嶠起雲雷。風濤洶涌波澄後,散作甘泉潤九垓。
法水能朝有祕關,逍遙日夜遣輪環。 於中壅滯生諸病,才決通流便駐顏。
接三陰之正氣於風輪,其專精之名曰太玄;栖三陽之正氣於水樞,其專精之名曰太乙。太乙,正陽也;太 玄,正陰也。
陽之正氣其色赤,陰之正氣其色嘿。水,陽也,而其伏為陰;風,陰也,而其發為陽。上赤下嘿,左青右白,黃潛於中宮,而五 運流轉,固有輪樞之象焉。
水涵太乙之中精,故能潤澤百物,而行乎地中,風涵太玄之中精,故動化百物,而行乎天上。上赤之象,其宮成 離;下黑之象,其宮成坎。夫兩端之所以平者,以中存乎其間故也。
(法 輪自轉圖)
三教法門,同途異轍,跡雖分三,理則一也。如此看工夫,釋家謂之法輪,道家謂之周天,儒家謂之行庭。
易曰:艮其背不獲其身,行其庭不見其人。無咎行庭者,天行健之之行也。天之行也,日一周天,何其健歟。若吾身亦一小天地者,周天之行健也。
易曰:天行健,君子以自強不息。然吾身中之黃庭太極立焉,而天則旋乎其外而在來之不窮矣。艮曰時止則止,太極立焉。時行則行,周天行焉。
又不觀之系辭乎,系辭曰:日月相推而明生焉。又曰:寒暑相推而歲成焉。又曰:屈仰相感而利生焉。此行庭之心法也。
PHÁP LUÂN TỰ CHUYỂN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tiếp tam âm chi chính khí ư phong luân, kỳ chuyên tinh chi danh viết Thái huyền
接三阴之正气於风轮其专精之名曰太玄
Thê tam dương chi chính khí ư thủy khu, kỳ chuyên tinh chi danh viết Thái ất
栖三阳之正气於水枢其专精之名曰太乙
Thái ất chính dương dã 太乙正阳也
Thái huyền chính âm dã 太玄正阴也
Dương chi chính khí kỳ sắc xích. Âm chi chính khí kỳ sắc hắc
阳之正气其色赤阴之正气其色黑
Thủy dương dã, nhi kỳ phục vi âm 水阳也而其伏为阴
Phong âm dã, nhi kỳ phát vi dương 风阴也而其发为阳
Thượng xích, hạ hắc, tả thanh, hữu bạch, hoàng tiềm ư trung cung, nhi ngũ vận lưu chuyển, cố hữu luân khu chi tượng yên
上赤下黑左青右白黄潜於中宫而五运流转故有轮枢之象焉
Tiếp chính khí của tam âm ở phong luân, danh của chuyên tinh là Thái huyền
Nương chính khí của tam dương ở thủy khu, danh của chuyên tinh là Thái ất
Thái ất là chính dương. Thái huyền là chính âm
Dương của chính khí thì màu đỏ
Âm của chính khí thì màu đen
Thủy là dương, khi ẩn phục thì là âm
Phong là âm, khi phát động thì là dương
Trên đỏ, dưới đen, tả xanh hữu bạch, trung ương thì vàng, ngũ vận lưu chuyển, nên mới có tượng luân khu vậy
Thủy hàm Thái ất chi trung tinh, cố năng nhuận trạch bách vật, nhi hành hồ địa trung
水涵太乙之中精故能润泽百物而行乎地中
Phong hàm Thái cổ chi trung tinh, cố năng động hóa bách vật, nhi hành hồ thiên thượng
风涵太古之中精故能动化百物而行乎天上
Thượng xích chi tượng, kỳ cung thành ly 上赤之象其宫成离
Hạ hắc chi tượng, kỳ cung thành khảm 下黑之象其宫成坎
Phù lưỡng đoan chi sở dĩ bình giả, dĩ trung tồn hồ kỳ gian cố dã
夫两端之所以平者以中存乎其间故也
Nước hàm chứa tinh hoa của Thái ất, nên có sức nhuận trạch vạn vật, và lưu hành trên mặt đất.
Phong hàm chứa tinh hoa của Thái cổ, nên có sức động hoá vạn vật và lưu hành trên trời.
Trên có tượng màu đỏ nên cung nó là Ly.
Dưới có tượng màu đen nên cung nó là Khảm.
Và hai bên được quân bình là nhờ có trung cung ở giữa vậy.
Bát động pháp luân tuyền nhật nguyệt 拨动法轮旋日月
Tu du hải kiệu khởi vân lôi 须臾海峤起云雷
Phong đào hung dũng ba trừng hậu 风涛汹涌波澄後
Tán tác cam tuyền nhuận cửu cai 散作甘泉润九垓
Chu thiên chuyển vận xoay nhật nguyệt
Phút chốc thần sơn khởi vân lôi
Gió làm sóng cuộn đùng đùng nổi
Sau hóa cam tuyền khắp chốn nơi
Pháp thủy năng triều hữu bí quan 法水能朝有秘关
Tiêu dao nhật dạ chuyển luân hoàn 逍遥日夜转轮环
Ư trung ứ trệ sinh chư bệnh 於中壅滞生诸病
Tài quyết thông lưu tiện trụ nhan 才决通流便驻颜
Chân khí muốn dùng có quyết chiêu
Tổ khiếu là nơi nó vãng lai
Nếu nó úng trệ sinh mọi bệnh
Nếu giữ nó thông sẽ trẻ hoài
Tuyền đẩu, lịch ky 旋斗历箕
Hồi độ ngũ thường 回度五常
Pháp thiên chi khu 法天之枢
Tiên thọ vạn ức 仙寿万亿
Chuyển vần tinh đẩu
Xoay chuyển ngũ hành
Pháp thiên chuyển vận
Thọ sẽ vô cùng
Nơi bụng của hình người có viết những chữ :-
Ở chính giữa là Cực 极
Trên viết: Bạch hổ ẩn ư Đông phương 白虎隐於东方
Dưới viết: Thanh long tàng ư tây vị 青龙藏於西位
PHÁP LUÂN TỰ CHUYỂN CÔNG PHU
Pháp môn của tam giáo tuy cùng một đường nhưng khác vết, tuy chia ba nhưng lý là một. Công phu này nhà Phật gọi là Pháp luân 法轮, Đạo gia gọi là Chu thiên 周天, Đạo nho gọi là hành đình 行庭.
Dịch kinh viết: Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân, 艮其背不获其身,行其庭不见其人。
Cấn là dừng lại sau lưng, Dừng nơi chí thiện, quên thân, quên người.
Bản thân mà đã quên rồi, Trong sân đi lại, quên người, lỗi chi.
Đi trong sân là thiên hành kiện vậy. Trời đi mỗi ngày một vòng trời, còn gì mạnh hơn? Thân ta cũng là một tiểu thiên địa, đi được một vòng tiểu chu thiên cũng là hành kiện vậy. Dịch kinh viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức 天行健,君子以自强不息。
Tượng rằng:
Trời cao mạnh mẽ xoay vần, Nên người quân tử quyết tâm tự cường
Trong thân ta, thì trung tâm là Huỳnh đình, là Thái cực, còn trời đất thì vận chuyển bên ngoài, và qua lại vô cùng.
Quẻ Cấn viết: Thời chỉ tắc chỉ 时止则止, là Thái Cực định vị; Thời hành tắc hành 时行则行 là Chu thiên vận chuyển, sao chẳng xem nơi hệ từ? Hệ từ viết: Nhật nguyệt tương thôi, nhi minh sinh yên 日月相推而明生焉。
Mặt trời cùng với mặt trăng, Luân phiên đắp đổi nên hằng sáng soi
Lại viết: Hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên 寒暑相推而岁 成焉。
Hàn ôn đắp đổi thường xuyên, Cho nên năm tháng miên triền sinh ra
Lại viết: Khuất thân tương cảm nhi lợi sinh yên 屈伸相感而 利生焉。
Khuất thân lai vãng thời thường, Đôi bên cảm ứng mở đường lợi sinh
Đó là Tâm Pháp của hành đình 行庭 vậy.
何為立極?即前 所謂心中之仁安於中心之中,而為土中者,以敦養之,自有消息真機。而身心性命相為混合矣。
一屈一伸,一往一來,真有若日月之代明, 寒暑之錯行,其殆天運之自然,是亦吾身之一天地也。
始而有意,終於無意。起初用意引氣旋轉由中而達外,由小而至大,口中默念十二字 訣曰:白虎隱於東方,青龍潛於酉位。一句一圈,數至三十六遍而止。及至收回,從外而旋內,從大而至小,亦念訣曰:青龍潛于酉位,白虎隱於東方。亦數三十六 遍,複歸太極而止,是為一周天也。久則不必用意,自然璿機不停,法輪自轉,真個有歇手不得處。
全陽子雲:與日月而周回,同天河而輪 轉。輪轉無窮,壽命無窮。
鳴道集雲:安閒自得長生道,晝夜無聲轉法輪。
韓逍遙雲:法輪要轉常須轉,只在身中 人不見,駕動之時似日輪,日輪向我身中轉。
又雲:法輪轉得莫停留,念念不離輪自轉。
當其轉也,翁然如雲霧之 四塞,颯然如風雨之暴至,恍然如晝夢之初覺,渙然如沉屙之脫體。精神冥和,如夫婦之交接;骨肉融和,如澡浴之方起。
易曰:黃中通 理,正位居體,美在其中,而暢於四肢。斯言信矣。
Thế nào là Lập Cực 立极?
Như trên đã nói: Lập Cực là đem chữ Nhân 仁 để vào chính giữa, chỗ đó gọi là Trung Thổ, để mà Đôn Dưỡng nó, và sẽ thấy Chân Cơ tiêu tức của nó là Tính Mệnh hồn dung ở trong
Một co, một duỗi, một đi, một lại, giống như mặt trời mặt trăng sáng soi, như nóng lạnh vận hành, theo đúng sự vận hành tự nhiên của trời đất. Thế là trong ta cũng có một đất trời vậy.
Lúc mới đầu thì Có Ý, sau sẽ Vô Ý.
Thoạt đầu dùng ý dẫn khí, từ nhỏ đến lớn, miệng niệm khẩu quyết 12 chữ: Bạch hổ ẩn vu đông phương. Thanh long tiềm vu tây phương 白虎隐于东方,青龙潜于酉方。Mỗi câu như vậy là dẫn khí đi một vòng chu thiên, đến 36 lần sẽ nghỉ.
Rồi đến thâu hồi, từ ngoài quay vào trong, từ lớn đến nhỏ, cũng dùng khẩu quyết: Thanh long tiềm vu tây phương, Bạch hổ ẩn vu đông phương 青龙潜于酉方,白虎隐于东方。 Cũng tính đủ 36 lần, trở về tới thái cực thì ngừng.
Như vậy là đủ một chu thiên vậy. Lâu ngày sẽ không phải chú ý tới nữa. Tự nhiên tuyền ky sẽ không ngừng và pháp luân sẽ tự chuyển.
Toàn Dương Tử nói:
Dữ nhật nguyệt nhi chu hồi, 与日月而周回,
Đồng thiên hà nhi luân chuyển, 同天河而轮转。
Luân chuyển vô cùng, 轮转无穷,
Thọ mệnh vô cùng 寿命无穷。
Vãng lai cùng nhật nguyệt
Xoay chuyển với thiên hà
Luân chuyển vô cùng
Thọ mệnh vô cùng
Minh Đạo tập nói:
An nhàn tự đắc trường sinh đạo, 安闲自得长生道,
Trú dạ vô thanh chuyển pháp luân. 昼夜无声转法轮。
An nhàn sẽ được trường sinh đạo,
Ngày đêm chuyển Pháp chẳng tăm hơi.
Hàn Tiêu Diêu nói:
Pháp luân yếu chuyển thường tu chuyển, 法轮要转常须转,
Chỉ tại thân trung nhân bất kiến. 只在身中人不见,
Giá động chi thời tự nhật luân, 驾动之时似日轮,
Nhật luân hướng ngã thân trung chuyển. 日轮向我身中转。
Pháp luân cần chuyển thường đã chuyển
Chuyển vận trong thân, người chẳng thấy
Khi nó chuyển vận tựa mặt trời
Mặt trời chuyển vận cũng trong ta
Lại nói:
Pháp luân chuyển đắc mạc đình lưu, 法轮转得莫停留,
Niệm niệm bất ly, luân tự chuyển. 念念不离轮自转。
Pháp luân chuyển vận chẳng lưu đình,
Chẳng lìa thân ý nó xoay quanh.
Trong lúc vận chuyển phơi phới như vân vụ phủ trùm bốn bên, táp nhiên như gió mưa cùng đến, hoảng nhiên như vừa tỉnh mộng lúc ban ngày, thư thái như bệnh lâu ngày mới thoát. Tinh thần mờ hiệp, như nam nữ lúc giao hoan, thịt xương gắn bó, y như vừa tắm rửa xong
Dịch kinh viết:
Hoàng trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung, nhi sướng ư tứ chi
黄中通理,正位居体,美在其中,而畅于四肢。
Hiền nhân thông lý trung hoàng
Tìm nơi chính vị mà sa thân mình
Dẹp từ tâm khảm xuất sinh
Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều
Phát ra sự nghiệp cao siêu
Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi
Lời đó thật đáng tin
*
* *
Lời bàn của dịch giả
Chương này là một chương khó hiểu. Chúng ta nắm được ý chính là phải giữ cho huyết mạch lưu thông thì mới tránh được bệnh tật. Còn như vận chuyển thế nào thì lời dạy thật mơ hồ. Có lẽ phải vận chuyển theo hình vẽ.
龍虎交媾法則
龍呼於虎,虎吸龍精。兩相飲食,俱相貪并。
男女相須,含吐以玆。雌雄錯雜,以類 相求。
白面郎君騎百虎,青衣女子跨青龍。鉛汞鼎邊相見後,一時關鎖在其中。
虎在西兮龍在東,東龍西虎各爭雄。若 解相吞歸一處,神仙頃刻不勞功。
嬰兒姹女齊齊出,卻被黃婆引入室。雲騰雨施片時間,不覺東方紅白。
(龍 虎交媾圖)
夫人也,坎離交則生,分則死,此理之必然,無一人不如此者。
蓋離三為陽,而居南,外陽而內陰也, 謂之真汞。坎三為陰,而居北,外陰而內陽也,謂之真鉛。故紫陽真人雲:日居離位反為女,坎配蟾宮卻是男。此言坎之男、離之女,猶父之精、母之血也;日之 鳥、月之兔也;砂之汞、鉛之銀也;天之玄、地之黃也。此數者,皆指示龍虎二氣也。
參同契曰:離已日光,坎戊月精。故離之已象龍之弦 氣也,坎之戊象虎之弦氣也。夫戊與己是黃庭真土之體,因太極一判,分居龍虎二體之中。修丹之士,若欲返其本,複其初,使龍虎歸於鼎中,情性歸於竅內,當用 龍從火裏出、虎向水中生之二訣。則炎烈火中出飛龍之矯矯,泓澄水底躍走虎以耽耽,始得龍虎相交,向鴻蒙而潛歸混沌。繼則夫妻合體,從恍惚而竟入虛無、共至 黃房,互相吞啖,兩情留戀,二氣交加,有如天地之媾精、日月之交光,盤旅于祖竅之間,自然複此先天未判之氣而成混元真一之精。為大藥之根原,作還丹之基本 也。
原夫龍之情性常在於戊,虎之精性常在於已。只緣彼此各有土氣,二土合併而成刀圭,是以坎離交而地天泰,龍虎交而戊合己也。戊己 合為一體,則四象會合而產大藥也。
LONG HỔ GIAO CẤU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Long hô ư hổ, hổ hấp long tinh, 龙呼於虎虎吸龙精
Lưỡng tương ẩm thực, câu tương tham tính. 两相饮食俱相贪并
Nguyên thần (long) nguyên khí giáng thăng.
Đôi bên tương thực, cầm bằng xe tơ.
Nam nữ tương tu, hàm thổ dĩ tư. 男女相修含吐以滋
Thư hùng thác tạp, dĩ loại tương cầu. 雌雄错杂以类相求
Âm duơng nam nữ tương cầu.
Thư hùng hòa hợp gót đầu chẳng phân.
Hổ tại tây hề, long tại đông. 虎在西兮龙在东
Đông long tây hổ các tranh hùng. 东龙西虎各争雄
Nhược giải tương thôn, qui nhất xứ. 若解相吞归一处
Thần tiên đỉnh khắc bất lao công. 神仙顶刻不劳功
Hổ long phân biệt tây đông.
Hai bên hùng cứ muốn tranh hùng.
Nếu như long hổ qui nhất lại.
Lập tức thành tiên chẳng phí công.
Anh nhi Xá nữ tề tề xuất, 婴儿姹女齐齐出
Khước bị Hoàng bà dẫn nhập thất. 却被黄婆引入室
Vân đằng vũ thí phiến thời gian, 云腾雨施片时间
Bất giác đông phương hồng nhật xuất. 不觉东方红日出
Nguyên thần nguyên khí đôi bên,
Huỳnh bà mai mối đưa liền vào cung.
Mây mưa một trận chập chùng,
Trông ra đã thấy vừng đông sáng lòa.
Bạch diện lang quân kỵ bạch hổ, 白面郎君骑白虎
Thanh y nữ tử khóa thanh long. 青衣女子跨青龙
Diên hống đỉnh biên tương kiến hậu, 铅汞鼎边相见後
Nhất thời quan tỏa tại kỳ trung. 一时关锁在其中
Bạch diện lang quân cưỡi Bạch hổ,
Thanh y xá nữ cưỡi Thanh long.
Nam nữ gặp nhau bên lò thuốc,
Chỉ cần ít phút tiến vào trong.
————————-
LONG HỔ GIAO CẤU PHÁP TẮC
Con người do Khảm Ly giao cấu mà sinh ra, Khảm Ly mà phân chia thời chết, lý này là tất nhiên, ai cũng biết điểm này.
Ly ở về phương Nam, ngoài Dương trong Âm, nên là Chân Hống.
Khảm ở về phương Bắc, trong Dương ngoài Âm, nên là Chân Diên, cho nên Tử Dương chân nhân nói:
Nhật cư Ly vị phản vi nữ, Khảm phối thiềm cung khước thị nam.
日居离位反为女,坎配蟾宫却是男。
(Ly cư Nhật mà lại thành Nữ, Khảm ở thiềm cung biến thành Nam)
Nói thế nghĩa là Khảm là Nam, Ly là Nữ. Nói Khảm Ly cũng như là nói tinh cha huyết mẹ, nói Nhật Ô Nguyệt Thố, nói Hống nói Diên, nói Thiên Huyền, Địa Hoàng, nói Long Hổ vậy.
Tham Đồng Khế nói:
Ly Kỷ Nhật Quang, Khảm Mậu Nguyệt Tinh.
离已日光,坎戊月精。
Cho nên Ly Kỷ tượng trưng cho Huyền Khí của Long, Khảm Mậu tượng trưng cho Huyền Khí của Hổ, mà Mậu với Kỷ là bản thể của Huỳnh Đình Chân Thổ. Khi Thái Cực đã chia, thì ở sang hai bên Long Hổ.
Người tu luyện Đan, nếu biết phản bản, phục sơ, biết đem Long Hổ trở về Đỉnh hợp nhất với nhau, đem tính tình hợp nơi tổ khiếu, thì phải dùng hai khẩu quyết: Long tòng Hỏa (Ly) lý xuất, Hổ hướng Thủy (Khảm) trung sinh 龙从火里出、虎向水中生 (Long từ trong lửa ra, hổ từ trong nước sinh). Như vậy lửa sẽ phừng phực bốc lên, rồng sẽ bay vút lên cao, và từ đáy nước trong veo, hổ sẽ nhảy lên đăm đăm nhìn.
Long Hổ sẽ tương giao và sẽ trở về Hồng Mông hỗn độn. Vợ chồng sẽ hợp thể, và sẽ nhập vào Hư Vô, sẽ cũng vào Huỳnh Phòng (đan điền) cùng nhau âu yếm. Nhị khí (Âm, Dương) tương giao, như Thiên Địa cấu tinh, Nhật Nguyệt giao quang, nhập vào tổ khiếu, trở lại cái Nguyên Khí chưa chia lúc ban đầu, thành ra cái Hỗn Nguyên Chân Nhất chi tinh. Thành ra căn nguyên của Đại Dược, thành ra cơ bản của Hoàn Đơn vậy.
Vả tính tình của Long thường ở Mậu, tình tính của Hổ thường ở Kỷ. Chỉ tại hai bên đều có thổ khí, hai thổ hợp lại sẽ thành Đao Khuê.
Chỉ vì Khảm Ly giao mà thành Thiên Địa thái. Long Hổ giao mà thành Mậu Kỷ Thổ. Mậu Kỷ hợp thành nhất thể, thế là Tứ Tượng hội hợp mà thành Đại Đơn vậy.
易曰:天地氤氳,萬物化醇;男女媾精,萬物化生。天地以陰陽交媾而生物,丹法以陰陽交媾而生藥。 蓋未有不交媾而用以成造化者也。
玉芝書雲:玄黃若也無交媾,爭得陽從坎下飛。是乃作丹之大端,修仙之第一義也。若天地之氣不氤氳, 則甘露不降,坎離之體不災並,則黃芽不生。龍虎二弦之氣不會合,則真一種子不產。真一種子不產,則將何者為把柄而凝成金液大丹耶?
然交媾之理有二,有內交者,有外交者。坎離、龍虎交,內交也,產藥也。乾坤子午交,外交也,結丹也。此二法天淵不同,學者有細辨之。
張紫陽雲:既驅二物歸黃道,爭得金丹不解生。是此義也。
呂純職雲:二物會時為道本,五行全處得丹名。是此義也。
陳抱一雲:戊已乍交情性合,坎離才媾龍虎降。是此義也。
張用成雲:虎躍龍騰鳳浪粗,中央正位產玄珠。是此義也。
張平叔金丹四百字雲:龍從東海來,虎向西山起,兩獸戰一場,化作一泓水。亦此義也。
夫龍虎交媾者乃三元合一之法也,所以會乾坤、 交坎離、簇陰陽、合性命,使二者複變而為一。以至九宮、八卦、七政、六位、五行,四象、三才之生於二者,莫不皆歸於二矣。一者,有物混成、先天地生是也。 大哉!一乎!以其流行謂之炁,以其凝聚謂之精,以其妙用謂之神。
始因太極一判分居二體之中,日遠目疏,卒至危殆。是以聖人,則天地 之要,知變化之源,取精于水府,召神于靈關。使歸玄牝竅中,得與祖炁聚會,三家相見,合為一體。先則凝神於混沌,次則寂照含虛空。抱一無離,是為返本還原 之妙道也。
書曰:人心惟危,道心惟微,唯精惟一,允執厥中。蓋言心與精而為一,而會歸於黃中之中。而允執之者,此堯舜之所以開道統之傳,而為萬古聖學之宗也。
Dịch viết:
Thiên Địa nhân uân, vạn vật hóa thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh.
天地氤氲,万物化醇;男女媾精,万物化生。
Đất trời quấn quít hợp đôi,
Rồi ra vạn vật sinh sôi thành hình.
Những từ trai gái cấu tinh,
Rồi ra vạn vật hóa sinh dưới trời.
Đất Trời dùng Âm Dương giao cấu mà sinh vật, Đơn gia dùng Âm Dương giao cấu mà sinh dược, vì không bao giờ không có giao cấu mà sinh ra được cái gì.
Sách Ngọc Chi viết:
Huyền hoàng nhược dã vô giao cấu, 玄黄若也无交媾,
Tranh đắc dương tòng khảm hạ phi. 争得阳从坎下飞。
Đất Trời nếu chẳng giao nhau,
Thế thì Dương Khảm biết đâu mà về.
Đó chính là đầu mối của đơn đạo, là ý nghĩa thứ nhất của việc tu tiên. Nếu Đất Trời không hòa hài, thì sương trên trời không rơi xuống. Nếu Khảm Ly không phối hợp thì Huỳnh Nha không sinh, Long Hổ nếu không phối ngẫu thì Chân Nhất Chủng Tử không sinh. Chân Nhất Chủng Tử không sinh thì lấy đâu ra then chốt để kết thành đại đơn?
Nhưng cái lý giao cấu có hai: nội giao và ngoại giao. Khảm Ly, Long Hổ là nội giao là sản dược. Kiền Khôn, Tý Ngọ là ngoại giao, là kết đơn. Hai bên cách nhau trời vực, học giả nên phân biệt cho kỹ.
Trương Tử Dương nói:
Ký khu nhị vật qui hoàng đạo, 既驱二物归黄道,
Tranh đắc kim đơn bất giải sinh. 争得金丹不解生。
Đã đem thần khí về hoàng đạo,
Kim đơn như vậy ắt sẽ sinh.
Lã Thuần Dương nói:
Nhị vật hội thời vi đạo bản, 二物会时为道本,
Ngũ hành toàn thể đắc đơn danh. 五行全体得丹名。
Thần khí hoà hài là gốc đạo,
Ngũ hành toàn thể gọi là đan.
Trần Bão Nhất nói:
Mậu kỷ sạ giao, tình tính hợp, 戊已乍交情性合,
Khảm ly tài cấu hổ long hàng. 坎离才媾龙虎降。
Mậu kỷ hoà hài tình tính hợp,
Khảm ly vừa kết hổ long hàng.
Trương Dung Thành nói:
Hổ dược, long đằng phong lãng thô, 虎跃龙腾凤浪粗,
Trung ương chính vị sản huyền châu. 中央正位产玄珠。
Hổ nhảy, rồng bay gây sóng gió.
Trung ương chính vị sản huyền châu.
Trương Bình Thúc (Kim đơn tứ bách tự) nói:
Long tòng đông hải lai, 龙从东海来,
Hổ hướng tây sơn khởi. 虎向西山起,
Lưỡng thú chiến nhất tràng, 两兽战一场,
Hoá tác nhất hoằng thủy. 化作一泓水。
Rồng từ đông hải tới,
Hổ tự tây sơn lại.
Hai bên đánh một trận,
Biến thành dòng nước trôi.
Long Hổ giao cấu là Tam Nguyên hợp nhất, cốt là hợp Kiền Khôn, giao Khảm Ly, thốc Âm Dương, hợp Tính Mệnh, để cái gì là Hai thì hợp thành Một. Cả đến Cửu Cung, Bát Quái, Thất Chính , Lục Vị (lục hào), Ngũ Hành, Tứ Tượng, Tam Tài, những cái đó đều sinh ra từ hai, tất cả đếu phải qui về một vậy.
Nhất là: Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh.
有物混成、先天地生
Có một đấng an nhiên tự hữu.
Trước đất trời vĩnh cửu tự thành.
Lớn thay là Ngôi Nhất, khi nó lưu hành nên gọi là Khí. Khi nó ngưng tụ, thì gọi là Tinh. Khi nó tác dụng thì gọi là Thần. Thoạt đầu là Thái Cực vừa phân, sau phân hai thành Lưỡng Nghi, rồi ngày lại một ngày càng lúc càng suy thoái. Cho nên Thánh Nhân hiểu điều cốt yếu của Trời Đất, hiểu nguồn mạch biến hoá, nên mới thu Tính từ Thủy Phủ (Hạ đơn điền), chiêu Thần từ Linh Quan, đem về khiếu Huyền Tẫn (Nê Hoàn Cung) để cùng tổ khí hội hợp, Tam Gia (Nguyên Thần, Nguyên Khí, Nguyên Tinh) tương kiến, hợp thành nhất thể.
Trước là ngưng thần qui hỗn độn, sau là Tịch Chiếu hàm Hư Không, bão nhất vô ly, thế gọi là cái Diệu Đạo hoàn nguyên phản bản vậy.
Kinh Thư nói:
Nhân tâm duy nguy, 人心唯危,
Đạo tâm duy vi. 道心唯微,
Duy tinh duy nhất, 唯精惟一,
Doãn chấp quyết trung. 允执厥中。
Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,
Lòng con người điên đảo ngã nghiêng.
Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,
Ta càng ra sức giữ nguyên lòng trời.
Thế là nói Thần và Tính hợp nhất lại, ở nơi Huỳnh trung, và giữ chắc lấy nó. Cái đó chính là đạo thống chân truyền của Thuấn, Nghiêu, cái học vấn tông chỉ của vạn thánh xưa nay.
性命雙修萬神圭旨
第三節口訣
蟄藏氣穴眾妙歸根
(蟄 藏氣穴圖)
(內附行、住、坐、臥四法)
前節言翕聚乃守中抱一之工夫,此節言蟄藏則深根固蒂之口訣。翕 聚、蟄藏相為表裡,非翕聚則不能發散,非蟄藏
亦不能發生,是此二節一貫而下,兩不相離者也。
此決無他,只是將祖竅 中凝聚那點陽神下藏於氣穴之內,謂之送歸土釜,牢封固。又謂之凝神入氣穴。此穴有內外
兩竅,外竅喻桃杏之核,內竅譬核中之仁。古仙有曰: 混沌生前混沌圓,個中消息不容傳,劈開竅內竅中竅,踏破天中天外天。
此竅中之竅,釋尊標為空不空,如來藏。老君名 之玄又玄。眾妙門海蟾亦曰無底,曰橐有孔,曰籥中間一竅。無人摸著,此指竅中之竅而言也。是竅也,為陰陽之源,神氣之宅,胎息之根,呼吸 之祖。
胎者,藏神之府。息者,化胎之源。胎因息生,息因胎住。而竅中之竅,乃神仙長胎住息之真去處也。然天地之大辦 一胎也。而日月之往來,斗柄之旋轉者,真息也。又不觀三氏之書乎?易經曰:成性存存,道義之門。道德經曰:玄之又玄,眾妙之門。遺教經 曰:制之一處,無事不辨。皆直指我上真人呼吸處言之。
然則真人呼吸處果何處耶?吾昔聞之經曰:藏元精之窅冥府,結胎息之丹元宮,上 赤下黑,左黑右白,中央黃暈之間,乃真人呼吸之處。正當臍輪之後,腎堂之前,黃庭之下,關元之上,即黃庭經所謂上有黃庭下關元,後有幽闕 前命門是也。
TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thủy hương diên 水乡铅
Hắc hổ tủy 黑虎髓
Đa bảo tạng 多宝藏
Tạo hóa lô造化炉
Hạo khí môn 灏气门
Tịch hạp xứ 辟阖处
Yểu minh phủ 窅冥府
Địa hoàng nam 地黄男
Vô tận tạng 无尽藏
Yển nguyệt lô 偃月炉
Sinh sát xá 生杀舍
Chân kim đỉnh 真金鼎
Hỗn độn sinh tiền hỗn độn viên, 混沌生前混沌圆
Cá trung tiêu tức bất dung truyền. 个中消息不容传
Phách khai khiếu huyệt, khiếu trung khiếu, 劈开窍穴窍中窍
Lộ phá thiên trung, thiên ngoại thiên. 路破天中天外天
Khiếu này vốn có tự xa xưa,
Tin tức bên trong chẳng lộ ra.
Mở rộng khiếu này vào trong tận,
Bên trong sẽ thấy đất trời xa.
Đẩu bính nghịch tuyền phương hữu tượng, 斗柄逆旋方有象
Đài quan phản chiếu thủy thành tiên. 台光返照始成仙
Nhất chiêu lao đắc đàm tâm nguyệt, 一朝捞得潭心月
Thứ phá Hồ Tăng diện bích thiền. 觑破胡僧面壁禅
Đẩu bính ngược xoay có bốn mùa,
Linh Đài phản chiếu sẽ thành tiên.
Ngày nào mà được trăng trong nước,
Sẽ thấy Đạt Ma diện bích thiền.
Bất tư thiện hề, bất tư ác, 不思善兮不思恶
Cá lý chi nhân hoạt bát bát. 个里至人活泼泼
Sát na diệc phá hồng mông xác, 刹那裂破鸿蒙壳
Tiến xuất nhất linh chân đại dược. 进出一灵真大约
Không nghĩ thiện hề, không nghĩ ác,
Chí nhân do đó sống phây phây.
Đan điền nếu đã vào trong được,
Sẽ có đại đan lấy đem ra.
Đại dược xuất hề quang thước thước, 大约出兮光烁烁
Đốn ngộ đốn tu thành diệu giác. 顿悟顿修成妙觉
Giác diệu huyền thông khóa hạc qui, 觉妙玄通跨鹤归
Thắng Liên Hoa giới tiêu diêu lạc. 胜莲花界逍遥乐
Đại dược sinh rồi sáng sáng ghê,
Đốn ngộ đốn tu thành diệu giác.
Biết lẽ diệu huyền, cưỡi hạc qui,
Niết bàn hạnh phúc tiêu diêu hưởng.
Đắc hạo khí chi môn, 得灏气之门
Sở dĩ thu kỳ căn . 所以收其根
Tri nguyên thần chi nang, 知元神之囊
Sở dĩ thao kỳ quang. 所以蹈其光
Nhược loa nội thủ, 若螺内守
Nhược thạch trung tàng, 若石中藏
Sở dĩ vi châu ngọc chi phòng. 所以为珠玉之房
Biết cửa vào hạo khí,
Cho nên biết thu căn.
Biết túi nguyên thần đựng,
Cho nên biết thao quang.
Như ốc biết nội thủ,
Như đá có ngọc tàng,
Thế là biết phòng châu ngọc.
Hư tĩnh phi khô tịch, 虚静非枯寂
Trung hữu vị phát trung. 中有未发中
Trung hữu diệc hà hữu, 中有亦何有
Vô chi tức ngoan không. 无之即顽空
Hư tĩnh không phải ngồi khô héo,
Nói trung là vị phải chi trung.
Trung trung nếu có, hỏi có gì,
Trung mà không có, sẽ ngoan không.
Thường tịch nhi thường chiếu, 常寂而常照
Bất khởi tịch chiếu tưởng. 不起寂照相
Dương minh nhi đương giác, 当明而当觉
Bất khởi minh giác tưởng. 不起明觉想
Biết ngồi tĩnh định tâm thường chiếu,
Thường chiếu nhưng mà chẳng để tâm.
Dương thời minh giác biết mọi lẽ,
Nhưng đừng vì thế tưởng sai lầm.
Chí tâm vô niệm, 至心无念
Chí thành vô tức. 至诚无息
Tức niệm khước tiêu, 息念却消
Tính mệnh hợp nhất. 性命合一
Người toàn thiện không còn niệm lự,
Bậc chí nhân, hô hấp cũng quên.
Không hít thở, chẳng tần phiền,
Rồi ra tính mệnh tự nhiên hiệp hòa.
Khí Hải 气海, Thổ Phủ 土府, Quan Nguyên关元, Kim Hoa 金花, Nguyệt Phách 月魄, Linh Căn 灵根, Thác Thược 橐龠, Khí Huyệt 气穴, Bắc Hải 北海, Anh Nhi 婴儿, Huyền Minh 玄冥, Khúc Giang 曲江, Huyền Khiếu 玄窍, Sinh Môn 生门, Tử Hộ 死户, Hoa Trì 花池, Ngọc Thố 玉兔, Bồng Hồ 蓬壶, Dục Anh 育婴, Ngốc Bào 呆胞, Chân Diên 真铅.
Thần ngự khí, khí lưu thần, 神御气气留神
Bất khả tu du ly dã. 不可须臾离也
Tâm y tức, tức quy tâm, 心依息息归心
Khởi dung hào phát thù tai. 岂容毫发殊哉
Thần đưa Khí, Khí lại ngưng Thần,
Thần Khí đôi bên phải tương thân.
Tâm y tức, tức lại qui tâm,
Tâm tức đôi bên phải thân gần.
Trưởng thai thụ tức chi hương. 长胎住息之乡
An thân lập mệnh chi khiếu. 安身立命之窍
————————-
TRẬP TÀNG KHÍ HUYỆT CHÚNG DIỆU QUI CĂN
Tiết trước nói về Hấp Tụ, nói về công phu Thủ Trung Bão Nhất, tiết này nói về Trập Tàng, tức là nói về khẩu quyết Thâm Căn Cố Đế.
Hấp Tụ, Trập Tàng là hai phương tiện trong ngoài. Không có Hấp Tụ thì không thể phát tán, không Trập Tàng cũng không thể phát sinh, hai tiết này nhất quán làm một, không thể chia lìa nhau.
Khẩu quyết chỉ là đem một điểm Dương Thần nơi Tổ Khiếu xuống tàng nạp vào khí huyệt, gọi là Tống qui Thổ Phủ lao phong cố 送归土釜,牢封固。(Đem về Thổ Phủ giam cho kỹ) hay còn gọi là Ngưng thần nhập khí huyệt 凝神入气穴。
Huyệt này trong ngoài có hai khiếu. Ngoại Khiếu như là quả đào, quả hạnh. Nội Khiếu như là Nhân trong Quả. Cổ tiên có nói:
Hỗn độn sinh tiền hỗn độn viên, 混沌生前混沌圆,
Cá trung tiêu tức bất dung truyền. 个中消息不容传,
Phách khai khiếu nội, khiếu trung khiếu, 劈开窍内窍中窍,
Đạp phá thiên trung, thiên ngoại thiên. 踏破天中天外天。
Khiếu này vồn có tự xa xưa,
Tin tức bên trong chẳng lộ ra.
Mở rộng khiếu này vào trong tận,
Bên trong sẽ thấy đất trời xa.
Cái khiếu trong đây, Phật tôn xưng là Không bất Không, là Như Lai Tạng. Lão xưng là Huyền hựu Huyền, Chúng Diệu Môn.
Bạch Hải Thiềm cũng nói:
Vô để viết thác, 无底曰橐
Hữu khổng viết thược. 有孔曰籥
Trung gian nhất khiếu, 中间一窍
Vô nhân mô trước. 无人摸着
Không đáy là thác. Có lỗ là thược.
Trong có một khiếu. Không ai mò được.
Tất cả nói về cái Khiếu trong Khiếu này.
Khiếu này là nguồn của Âm Dương, là nhà của Thần Khí, là căn của Thai Tức, là Tổ của Hô Hấp.
Thai là phủ để tàng Thần, Tức là nguồn của Hóa Thai, Thai sinh Tức (hơi thở), Tức nương Thai mà trụ.
Cái khiếu này chính là cơ sở của thần tiên dùng làm nơi Trường Thai, Trụ Tức.
Trời Đất tuy lớn nhưng cũng chỉ có một cái thai. Nhật Nguyệt vãng lai, Đẩu Bính tuyền chuyển, chính là Chân Tức vậy. Sao chẳng xem kinh sách của Tam Giáo?
Dịch kinh viết: Thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chỉ môn. 成性存存, 道义之门。
Tính trời cố giữ chính trung,
Mở đường Đạo Nghĩa, dặm chừng vân du.
Đạo Đức Kinh viết: Huyền chi hựu huyền, Chúng diệu chi môn. 玄之又玄,众妙之门。
Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường.
Ấy là Chúng Diệu môn.
———–
Xưa ta nghe Thầy nói:
Dấu Chân Tinh trong Phủ yểu minh. Kết Thai Tức trong Đơn Nguyên Cung.
Trên Đỏ, dưới Đen, tả Xanh, hữu Bạch. Trung ương là Huỳnh Đình. Đó chính là Chân Nhân Hô Hấp chi xứ. Nó nằm sau Rốn, trước Thận, dưới Huỳnh Đình, trên Quan Nguyên.
Tức như Huỳnh Đình kinh viết:
Thượng hữu huỳnh đình, hạ Quan Nguyên. 上有黄庭下关元
Hậu hữu u khuyết, tiền mệnh môn. 后有幽阙前命门
Đó là như vậy.
廖蟾暉云:前對臍輪後對腎,中間有個真金鼎是也。即識此處,即將向來所凝之神而安於竅中之竅,如龜之 藏,如蛇之蟄,如蚌之含光,如蟾之納息,綿綿續續,勿忘勿助,若存而非存,若無而非無,引而收之。於無何鄉,運而藏之, 於闔辟處少焉。呼吸相含,神氣相抱,結為丹母,鎮在下田。外則感召天地靈陽之正氣,內則擒制一身鉛汞之英華。
如北辰所居,眾星皆拱。久則 神氣歸根,性命合一,而大藥孕於其中也。
然凝神調息皆有口訣,不然恐思慮之神妄交於呼吸之氣,結成幻丹,而反害藥物矣。所以仙翁 云:調息要調真息息,煉神須煉不神神。
黃帝陰符經曰:人知其神之神,不知不神之所以神。不神者,性也。蓋性者,神 之根也。神本於性,而性則未始神。神中炯炯而不昧者,乃是真性也。
仙姑大道歌曰:我為諸君說端的,命蒂從來在真 息。真息者,命也。蓋命者,氣之蒂也。蒂本於命,而命則未始氣。氣中氤氳而不息者,乃是真命也。
這個不神之神,與 那個真息之息,他兩個方才是真夫妻、真陰陽、真龍虎、真性命。紐結做一團,混合為一處,打成作一片,段煉在一爐,或名之曰牛女相逢、又曰 牝牡相從、又曰烏免同穴、又曰日月同宮、又曰魂魄相投、又曰金火混融,究而言之,不過凝神合氣之法耳。
是以神不離 氣,氣不離神,吾身之神氣合,而後吾身之性命見矣。性不離命,命不離性,吾身之性命合,而後吾身未始性之性、未始命之命見矣。崔公入藥鏡 曰:是性命,非神氣,權而言之則二,實而言之則一。神氣固非二物,性命則當雙修。而雙修之旨,久失其傳,以至玄禪二門,五爭高下。
劉海蟾云:真個佛法便是道,一個孩兒兩個抱。
Liêu Thiềm Huy viết:
Tiền đối tề luân, hậu đối thận. 前对脐轮后对肾,
Trung gian hữu cá chân kim đỉnh. 中间有个真金鼎
Phía trước là rốn, phía sau thận.
Trung gian sẽ có chân kim đỉnh.
Khi đã biết được nơi đó, sẽ An Thần nơi Khiếu đó. Như rùa ẩn mình, như rắn đi núp, như trai ngậm ngọc, như cóc nhịn thở, miên miên, liên tục, hết sức tự nhiên, như không xen vào, tưởng có mà không có, tưởng không mà không không. Thu dẫn đến làng Vô Hà Hữu, vận tàng đến chốn Hạp Tịch Xứ.
Sau đó ít lâu, hô hấp sẽ hòa hài, Thần Khí sẽ ôm nhau, kết thành Đơn Mẫu, ở tại Đan Điền. Ngoài sẽ cảm chiêu được Thiên Địa Linh Dương chính khí, trong sẽ cầm chế được anh hoa của Diên Hống trong người.
Nếu Bắc Thần đã cư kỳ sở, thì chúng tinh sẽ chầu về. Lâu dần, Thần Khí sẽ qui căn, tính mệnh sẽ hợp nhất, và đại dược đã thai dựng bên trong.
Nhưng ngưng Thần, điều Tức đều có khẩu quyết, nếu không, sợ Tư Lự chi Thần sẽ giao nhầm với Khí Hô Hấp, mà kết thành Ảo Đơn, phản hại Dược Vật. Cho nên Tiên Ông nói:
Điều tức yếu điều chân tức tức. 调息要调真息息,
Luyện thần tu luyện bất thần thần. 炼神须炼不神神。
Điều tức phải điều chân tức tức.
Luyện thần phải luyện bất thần thần.
Hoàng Đế Âm Phù kinh viết:
Nhân tri kỳ Thần chi Thần, 人知其神之神,
Bất tri Bất Thần chi sở dĩ Thần. 不知不神之所以神。
Bất Thần là Tính, vì Tính là Căn của Thần. Thần gốc nơi Tính, Tính là Thần chưa sinh. Thần mà trong sáng, Hư Linh bất muội là Chân Tính vậy.
Tiên Cô (Đại Đạo ca) viết:
Ngã vị chư quân thuyết đoan đích, 我为诸君说端的,
Mệnh đế tòng lai tại chân tức. 命蒂从来在真息。
Ta vì chư quân nói đầu đuôi,
Gốc gác mệnh kia là chân tức.
Chân Tức là Mệnh. Vì Mệnh là gốc của Khí, Khí gốc nơi Mệnh. Mệnh là Khí chưa sinh. Nhân uân trong Khí, không hề ngừng nghỉ, là Chân Mệnh vậy .
Cái Thần không phải Thần ấy, với cái Chân Tức chi Tức, hai cái đó chính là Chân Phu Thê, Chân Âm Dương, Chân Long Hổ, Chân Tính Mệnh, hữu kết thành một vật, dung hợp ở một nơi, đả thành nhất phiến, đem về đoàn luyện tại một lò, hay gọi là Ngưu Nữ tương phùng, Huyền Tẫn tương hợp, Ô Thố đồng huyệt, Nhật Nguyệt đồng cung, Hồn Phách tương đầu, Kim Hỏa hồn dung. Tóm lại, chỉ là phép Ngưng Thần Nhập khí mà thôi.
Chỉ vì Thần không li Khí, Khí không li Thần, Thần Khí trong thân ta kết hợp, thì Tính Mệnh trong ta sẽ thấy vậy. Tính không ly Mệnh, Mệnh không ly Tính. Tính Mệnh trong thân ta mà hợp, thì cái Vị Thủy Tính chi Tính, và cái Vị Thủy Mệnh chi Mệnh đã hiện ra.
Thôi Công (Nhập Dược kính) viết:
Thị tính mệnh, phi thần khí, quyền nhi ngôn chi tắc nhị, thật nhi ngôn chi tắc nhất 是性命,非神气, 权而言之则二,实而言之则一。 (Tính Mệnh hay Thần Khí tưởng là hai, nhưng kỳ thật là một).
Thần Khí đã không phải nhị vật, thì Tính Mệnh cũng phải song tu. Nhưng tôn chỉ của phép Song Tu, từ lâu đã thất truyền. Hai phái Huyền (Đạo gia), Thiền (Phật gia) lại còn tranh nhau cao thấp.
Lưu Hải Thiềm nói:
Chân cá Phật pháp tiện thị Đạo, 真个佛法便是道,
Nhất cá hài nhi, lưỡng cá bão. 一个孩儿两个抱。
Phật pháp chân truyền chính là Đạo,
Y như một trẻ có hai áo.
清和翁曰:性命雙修教外傳,其中玄妙妙而玄。簇將元始歸無始,逆轉先天作後夭。
此端奧妙,非師罔通,口訣玄微,詳載於後。今姑就諸仙所證者而言之,便於初機而易得悟入也。
按白玉蟾云:昔日遇師親口訣,只要凝 神入氣穴。氣穴者,內竅也。蟄神於中,藏氣於內,以如來空空之心,合真人深深之息,則心息相依,息調心淨。蓋蘊一點真心於氣中,便是凝神 入氣穴之法。神既凝定氣穴,常要回光內照。照顧不離,則自然旋轉,真息一降一升,而水火木金相為進退矣。
仙諺曰: 欲得長生,先須久視。久視於上丹田,則神長生;久視於中丹田,則氣長生;久視於下丹田,則形長生。
夫日月之照於天地間,蚌吸之則生 珠,頑石蓄之則產玉,何況人身自有日月,豈不能回光內照,結自己之珍珠。產自已之美玉哉?
然而神即火也,氣即水 也。水多則火滅,火多則水干。中年之人,大抵水不勝火者多矣。所以,命宜早接,油要早添。添油之法已載前教護命寶之下。今復進言,則天人 一氣之旨盡露矣。
夫天人之際,唯一氣之相為闔辟,相為聯屬已爾,而非有二也。故我而呼也,則天地之氣於焉,而發而散。我而吸也, 則天地之氣於焉,而翕而聚。此天人相與之微,一氣之感通者然也。故天地所以能長且久者,以其呼吸於其內也。
人能效天地呼吸於其內,亦可與 天地同其長久。
Thanh Hòa Ông viết:
Tính mệnh song tu giáo ngoại truyền, 性命双修教外传,
Kỳ trung huyền diệu, diệu nhi huyền. 其中玄妙妙而玄。
Thốc tương nguyên thủy qui vô thủy, 簇将元始归无始,
Nghịch chuyển tiên thiên tác hậu thiên. 逆转先天作后夭。
Tính Mệnh Song Tu khó mà truyền,
Thật là huyền diệu, lại diệu huyền.
Quyết đem Nguyên Thủy về Vô Thủy,
Nghịch chuyển Tiên Thiên hóa Hậu Thiên.
Đầu mối này ảo diệu, không Thầy không hiểu. Khẩu quyết lại huyền vi, xin trình bày ra sau đây. Và đem lời chư tiên ấn chứng để nói ra, để những người sơ cơ hiểu được mà vào Đạo.
Chú: Bạch Ngọc Thiềm nói:
Tích nhật ngộ sư thân khẩu quyết. 昔日遇师亲口诀,
Chỉ yếu ngưng thần nhập khí huyệt. 只要凝神入气穴。
Ngày trước gặp Thầy truyền Khẩu Quyết.
Muốn nhập khí huyệt phải ngưng thần.
Khí huyệt là Nội Khiếu. Đem Thần Khí giấu vào nơi đó. Dùng Tâm không không của Như Lai, hợp với hơi thở sâu của Chân Nhân, thì Tâm Tức sẽ tương y, tức đều và Tâm tịnh, đem một điểm Chân Tâm giấu vào trong Khí, như vậy là phép Ngưng Thần nhập khí huyệt vậy.
Thần đã ngưng định nơi Khí Huyệt, thì phải thường Hồi Quang Nội Chiếu, chiếu cố không rời, thì Chân Khí tự nhiên sẽ vần xoay. Chân Tức sẽ lên lên, xuống xuống, Thủy, Hỏa, Mộc, Kim sẽ tự nhiên tiến thoái vậy.
Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.
Di Giáo kinh nhà Phật viết: Chế chi nhất xứ, vô sự bất biện 制之一 处,无事不辨。(Tâm chế hiện mọi sự, mọi sự sẽ nên công).
Tất cả đều chỉ về cái cơ hô hấp của các bậc Chân Nhân. Nhưng cơ hô hấp của Chân Nhân là ở chỗ nào?
Lời ngạn ngữ của tiên xưa nói: Dục đắc trường sinh, tiên tu cửu thị 欲得长生,先须久视。(muốn được trường sinh, trước phải nhìn lâu).
Nếu nhìn lâu vào Thượng Đan Điền, thì Thần sẽ trường sinh, nếu nhìn lâu vào Trung Đan Điền thì Khí sẽ trường sinh, nếu nhìn lâu vào Hạ Đan Điền thì Hình sẽ trường sinh.
Kia Nhật Nguyệt chiếu soi giữa khung trời, trai ốc hấp thụ mà có châu, ngoan thạch tàng chi mà có ngọc; huống chi Con Người, trong thân có sẵn nhật nguyệt, sao không biết hồi quang phản chiếu, để kết thành trân châu, mỹ ngọc hay sao?
Vả Thần là lửa, Khí là nuớc, nuớc nhiều thì lửa tắt, lửa nhiều thì nước cạn. Một nguời trung niên, đa số là Nuớc không thắng Lửa, chính vì vậy mà Mệnh phải sớm tiếp, dầu phải sớm thêm.
Phép Thiêm Du đã chép nơi cuối bài Cứu Hộ Mệnh Bảo trên đây, nay lại chép lại để làm tỏ rõ ra cái phép Thiên Nhân Nhất Khí.
Trong khoảng Trời Người, chỉ có một khí đóng, mở, quen thuộc với nhau, chứ không phải có hai. Khi ta hít vào, thì thiên địa chi khí từ đó phát tán, khi ta thở ra thì thiên địa chi khí từ đó thu tụ. Cái vi diệu của trời đất chính là cái cảm thông của một khí vậy.
Trời đất có thể trường cửu, chính vì trong có Hô Hấp, con người mà bắt chước được trời đất mà có hô hấp bên trong, thì có thể trường cửu như trời đất vậy.
曹仙姑云:元和內運即成真,呼吸外施終未了。以口鼻之氣往來者,外呼吸也。乾坤之氣闔辟者,內呼吸也。
蕭了真云:老子明開眾妙門,一開一闔應乾坤。果於罔象無形處,有個長生不死相。此指內呼吸也。
張平叔云:玄牝之門世罕知,休將口 鼻妄施為。饒君吐納經千載,爭得金烏搦兔兒。此斥外呼吸也。
外呼吸乃色身上事,接濟後天以養形體。內呼吸以法身上事,栽培先天以養 谷神。
蓋內呼吸之息,原從天命中來,非同類之物不能相親。是以聖人用伏氣之法,奪先天地之沖和,逆上雙關。前返乎後, 以達本根。使母之氣伏子之氣,子母眷戀於其間,則息息歸根,而為金丹之母矣。
前輩云:伏氣不服氣,服氣須伏氣。服氣不長生,長生須 伏氣。氣之積於下者,無地可透,自然升之而上至髓海。積於上者,無處可奔。自然降之而下至海氣。二氣相接,循環無端。古先達人得濟長生 者,良由有此逆用之法也。
此法自始至終丟他不得。起手時有救護補益之功;第二節有流戊就己之功;第三節有添油接命之功;第四節有助 火載金之功;第五節火熾而有接濟之功;第六節胎成而有沐浴之功;第七節溫養而有乳哺之功。嬰兒救出於苦海,此時到岸不須 船,這著功夫才無用矣。
且人始生也,一剪肚臍而幾希性命即落在我之真人呼吸處矣;既之而在於天地之間;又既之而在於肉團之心;又既之 而散於耳目口鼻四肢百骸。日復一日,神馳氣散,乃死之途也。
故神仙以歸伏法度人,必先教之返本。返本者何?以其散之於耳目口鼻四肢 百骸者而復返於肉團之心,謂之涵養本原。又將以肉團心之所涵養者而復返之於天地之間,謂之安神祖竅。又將以天地間之所翕聚者而復返之於真 人呼吸處,謂之蟄藏氣穴。日復一日,神凝氣聚,乃生之途也。
古仙曰:屋破修容易,藥枯生不難。但知歸伏法,金寶積 如山。此時補完乾體,接續氣數,以全親之所生,以全天之所賦,真汞才有八兩,真鉛始足半斤,若嬰兒心同赤子,陰陽吻合,混沌不分,出息微 微,入息綿綿,漸漸入而漸漸柔,漸漸和而漸漸定,久則竅中動息兀然自住,內氣不出,外氣反進,此是胎息還元之初,眾妙歸根之始也。
Tào Tiên Cô nói:
Nguyên hòa nội vận, tức thành chân . 元和内运即成真,
Hô hấp ngoại thí, chung vị liễu. 呼吸外施终未了。
Biết thở bên trong sẽ thành tiên.
Hô hấp bên ngoài chẳng đến đâu.
Cái đó là Nội Hô Hấp .
Tiên Liễu Chân viết:
Lão Tử minh khai chúng diệu môn, 老子明开众妙门,
Nhất khai, nhất hạp ứng kiền khôn. 一开一阖应乾坤。
Quả vu võng tượng vô hình trú, 果于罔象无形住,
Hữu cá trường sinh bất tử côn. 有个长生不死根。
Lão Tử chỉ bày Chúng Diệu Môn,
Mở ra, đóng lại ứng Kiền Khôn.
Quả thật từ trong vô hình xứ,
Đã có Trường Sinh Bất Tử Côn.
Cái đó chỉ Nội Hô Hấp vậy.
Trương Bình Thúc viết:
Huyền Tẫn chi môn, thế hãn tri, 玄牝之门世罕知,
Hưu tương khẩu tị vọng thi vi. 休将口鼻妄施为。
Nhiêu quân thổ nạp kinh thiên tải, 饶君吐纳经千载,
Tranh đắc kim ô, nạch thố nhi. 争得金乌搦兔儿。
Đan điền Huyền Tẫn ít ai hay,
Đừng đem mặt mũi để phô bày.
Dẫu anh hít thở ngàn muôn kiếp,
Kim ô, ngọc thố chẳng cùng quay.
Đó là chỉ Nội Hô Hấp vậy.
Ngoại Hô Hấp là chuyện của Sắc Thân, tiếp tế Hậu Thiên để dưỡng hình; Nội Hô Hấp là chuyện của Pháp Thân, nó tài bồi Tiên Thiên để dưỡng Cốc Thần.
Hơi thở Nội Hô Hấp là do Thiên Mệnh (Tiên Thiên) mà tới, không là đồng loại không thể tương thân, cho nên thánh nhân dùng phép Phục Khí (Phục Khí là Tụ Khí tại Đan Điền) đoạt khí Trung Hoà của trời đất, nghịch thượng Song Quan, trước đổi thành sau, đạt tới Bản Căn (Đan Điền) khiến Mẫu Khí (Tiên Thiên Khí, Tổ Khí) hội hợp Tử Khí (Hậu Thiên Khí), hai khí Tử Mẫu quyến luyến nhau, và tức tức qui căn, để thành mẹ Kim Đơn.
Người xưa nói:
Phục khí bất phục khí, 伏气不服气,
Phục khí tu phục khí. 服气须伏气。
Phục khí bất trường sinh, 服气不长生,
Trường sinh tu phục khí. 长生须伏气。
Tụ khí không thực khí,
Thực khí phải tụ khí.
Thực khí không trường sinh,
Trường sinh cần tụ khí.
Khí tích tụ ở dưới, không có lối để thoát, tự nhiên sẽ đi lên tới Tủy Hải (Óc); khí tích tụ ở trên không, không biết đi đến đâu, tự nhiên sẽ đi xuống Khí Hải (Hạ Đan Điền). Nhị khí tiếp nhau, tuần hoàn vô đoan, tiên thánh xưa nay sở dĩ được trường sinh, chính là nhờ vào phép Nghịch Dụng này.
Phép này từ đấu tới cuối đều không thể bỏ.
– Truớc hết là có công dụng Cứu Hộ Bổ Ích.
– Thứ hai là công phu đưa Mậu tới Kỷ .
– Thứ ba là công phu Thiêm Du Tiếp Mệnh .
– Thứ bốn là công phu Trợ Hỏa Tải Kim .
– Thứ năm là tuy lửa cháy rực nhưng có công phu Thủy Hỏa Ký Tế .
– Thứ sáu là thai thành và có công phu Mộc Dục .
– Thứ bảy là Ôn Dưỡng và công phu Nhũ Bộ .
Thế là cứu Anh Nhi ra khỏi khổ hải. Lúc này là lúc đã đến bờ chẳng còn cần thuyền. Lúc ấy không còn cần Phục Khí (Tụ Khí) nữa.
Vả khi con người mới sinh, ít ai có được Tính Mệnh (Nguyên Thần, Nguyên Khí) trụ ngay vào Nê Hoàn Tổ Khiếu, nhưng lại trụ vào trong trời đất, trong tâm huyết nhục, rồi tán ra ngũ quan, tứ chi bá hài. Rồi thần khí càng ngày càng hao tán, và con người sẽ chết.
Cho nên thần tiên đem phép Qui Phục dạy người Phản Bản, thế nào là Phản Bản?
Phản bản là đem cái gì đã phát tán ra ngũ quan, tứ chi, bá hài, thu nhiếp về Tim . Cái đó gọi là Hàm Dưỡng Bản Nguyên.
Sau lại đem chúng thu nạp về giữa Đất Trời. Cái đó gọi là An Thần Tổ Khiếu.
Sau lại đem những gì đã hấp tụ được từ giữa Trời Đất đem vào Chân Nhân Hô Hấp Xứ. Cái đó gọi là Trập Tàng Khí Huyệt.
Ngày lại một ngày, Thần Ngưng Khí Tụ. Và con người sẽ sống.
Cổ Tiên viết:
Ốc phá tu dung dị , 屋破修容易,
Dược khô sinh bất nan. 药枯生不难。
Đãn tri qui phục pháp, 但知归伏法,
Kim bảo tích như sơn. 金宝积如山。
Nhà nát dễ dàng sửa,
Thuốc hết, có lại thuờng.
Cần biết Qui Phục Pháp,
Châu báu tựa núi non.
Lúc ấy, Kiền Thể sẽ bồi hoàn, Khí Số sẽ tiếp tục, sẽ chu toàn được cái gì cha mẹ đã cho, cái gì Trời Đất đã phú, và Chân Hống sẽ được tám lạng, Chân Diên sẽ vừa nửa cân, Khí như trẻ nít, Tâm như trẻ con. Âm Dương sẽ hợp nhất, bất tương phân.
Hơi thở ra sẽ nhè nhẹ, hơi thở vào sẽ dài dài, càng ngày càng đều, càng ngày càng định. Lâu sau hơi thở tự nhiên sẽ dừng. Nội khí không ra, ngoại khí phản tiến. Thế là Thai Tức qui nguyên, thế là Chúng Diệu Qui Căn vậy.
呂知常曰:一息暫停,方可奪天地造化。
程伊川曰:若非竊造化之機,安能長生?
翁葆光曰:一刻之工夫,可在 天地一年之氣數。
此三老者豈虛語哉?益胎息妙凝之時,入無積聚,出無分散,體相虛空,泯然入定。定久,內外合一,動靜俱無,璇 機停輪,日月合壁,萬里陰沉春氣合,九霄清澈露華凝。妙矣哉!其陰陽交感之真景象於斯時也。元精吐華,而乾金出礦矣。此系重開混沌,再入 胞胎,開無漏花,結菩提果,非夙有仙骨者,不能知此道之妙也。
後有密戶前生門,出日入月呼吸存。此老氏黃庭外景經之口訣也。
只就真人呼吸處,放教奼女往來飛。此李長源混元寶章之口訣也。
內交真氣存呼吸,自然造化返童顏。此許旌陽醉思仙歌之口訣也。
西方金母最堅剛,走入壬家水裡藏。此石杏林還元篇中之口訣也。
要知大道希夷理,太陽移在月明中。此薛紫賢覆命篇中之口決也。
先賢明露丹台旨,幾度靈鳥宿桂柯。此劉海蟾還金篇中之口訣也。
兩般靈物天然和,些子神機這裡求。此陳默然崇正篇中之口訣也。
古佛之音超動靜,真人之息自游絲。此釋鑒源青蓮經中之口訣也。
一息漸隨無念窅,半醒微覺有身浮。此羅念庵胎息篇中之口訣也。
出息不隨萬緣,人息不居蘊界。此般若尊者答東印度國王口訣也。
水銀實滿葫蘆裡,封固其口置深水。此萼綠華氣穴圖中之口訣也。
萬物生皆死,元神死復生。以神歸氣穴,丹道自然成。此石杏林之口訣也。
歸根自有歸根竅,覆命寧無覆命關。踏破兩重消息子,超凡入 聖譬如閒。此李清庵之口訣也。
心思妙,意思玄,臍間元氣結成丹。谷神不死因胎息,長生門戶要綿綿。此群仙珠玉口訣也。
專氣致榮神久留,往來真息自悠悠。綿綿迤邐歸元命,不汲靈泉常自流。此海蟾翁口訣也。
一條直路少人尋,風虎雲龍自嘯吟。坐定更知 行氣主,真人之息又深深。此陳致虛口訣也。
圓不圓來方不方,森羅天地暗包藏。如今內外兩層白,體在中央一點黃。此大成集口訣也。
息調心淨守黃庭,一部渾全圓覺經。悟劫此身猶是幻,蒲團坐上要惺惺。此抱朴子口訣也。
經營鄞鄂體虛無,便把元神裡面居。息往息來 無間斷,聖胎成就合元初。此陳虛白口訣也。
諦觀三教聖人書,息之一字最簡直。若於息上做功夫,為佛為仙不勞力。思緣達本禪之機,息 心明理儒之極,息氣凝神道之玄。三息相須無不克。此李道純中和集中之口訣也。
Lã Tri Thường nói: Nhất tức tạm đình, phương khả đoạt thiên địa tạo hoá 一息暂停,方可夺天地造化。(Hơi thở mà ngưng, mới có thể đoạt Thiên Địa Tạo Hóa).
Trình Y Xuyên nói: Nhược phi khuy tạo hóa chi cơ, an năng trường sinh? 若非窃造化之机,安能长生?(Nếu không thấy được cơ vi ảo diệu của hóa công, thì làm sao mà trường sinh?).
Ông Bảo Quang nói: Nhất khắc chi Công Phu, khả đoạt thiên địa nhất niên chi khí số 一刻之工夫,可夺天地一年之气数。(Biết công phu một khắc, là lấy được khí số một năm của trời đất).
Lời ba lão trượng trên chẳng lẽ sai sao?
Vì lúc Chân Tức vừa ngưng, hít vào không Tích Tụ, thở ra không Phân Tán, thể như Hư Không, tự nhiên nhập định. Khi đã nhập định, trong ngoài sẽ hợp nhất, động tĩnh sẽ không còn, tuyền ky dừng bánh, nhật nguyệt hợp bích.
Vạn lý âm trầm xuân khí hợp, 万里阴沉春气合,
Cửu tiêu thanh triệt lộ hoa ngưng. 九霄清彻露华凝。
Thật là vi diệu thay! Đó là Chân Cảnh của Âm Dương Giao Cảm. Lúc ấy Nguyên Tinh sẽ trổ hoa, Kiền Kim sẽ lìa tạp khoáng vậy.
Lúc ấy Hỗn Độn sẽ trùng tân khai mở, nhập lại vào bào thai, sẽ nở ra hoa Vô Lậu, sẽ sinh ra quả Bồ Đề, nếu không phải là những người vốn có Tiên Cốt, thì sẽ không hiểu được vi diệu của Đạo Lý này.
Đó cũng là khẩu quyết trong Huỳnh Đình Nội Cảnh.
Hậu hữu mật hộ, tiền sinh môn, 后有密户前生门,
Xuất Nhật nhập Nguyệt hô hấp tồn. 出日入月呼吸存。
Đó là khẩu quyết của Lý Trường Nguyên (Hỗn Nguyên Bảo Chương).
Chỉ tựu Chân Nhân hô hấp xứ, 只就真人呼吸处,
Phong giao Xá Nữ vãng lai phi. 放教姹女往来飞。
Chỉ tại Chân Nhân hô hấp xứ.
Mới để Chân Thần được vãng lai.
Đó là khẩu quyết của Hứa Tinh Nhật (Túy Tự Tiên Ca).
Nội giao chân khí tồn hô hấp, 内交真炁存呼吸,
Tự nhiên tạo hoá phản đồng nhan. 自然造化返童颜。
Thần Khí nội giao ngừng hô hấp,
Tự nhiên trẻ lại tựa trẻ con.
Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm (Hoàn Nguyên thiên).
Tây phương kim mẫu tối kiên cương, 西方金母最坚刚,
Tẩu nhập Nhâm gia Thủy lý tàng. 走入壬家水里藏。
Phế khí nhập Đan Điền, cùng với Tổ Khí giao.
Đó là khẩu quyết của Tiết Tử Hiền (Thục Mệnh thiên).
Yếu tri đại đạo Hi Di lý, 要知大道希夷理,
Thái Dương di tại Nguyệt Minh trung. 太阳移在月明中。
Nên biết huyền vi của đại đạo,
Nhật nguyệt kề vai tại trung cung.
Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm (Hoàn Kim thiên).
Tiên hiền minh lộ đan điền chỉ, 先贤明露丹田旨,
Kỷ độ Linh Ô túc Quế Kha. 几度灵鸟宿桂柯。
Hiền thánh chỉ bày đan điền rõ,
Mấy độ nguyên thần trợ quế gia.
Đó là khẩu quyết của Trần Mặc Nhiên (Sùng Chính thiên).
Lưỡng ban linh vật thiên nhiên hợp, 两般灵物天然合,
Ta tử thần cơ giá lý cầu. 些子神机这里求。
Nguyên Thần, Tổ Khí thiên nhiên hợp,
Thiên cơ diệu lý chính là đây.
Đó là khẩu quyết của Thích Giám Nhiên (Thanh Liên kinh).
Cổ phật chi âm siêu động tĩnh, 古佛之音超动静,
Chân nhân chi tức tự du ti. 真人之息自游丝。
Cổ phật âm thanh siêu động tĩnh,
Chân nhân thai tức nhẹ như không.
Đó là khẩu quyết của La Niêm An (Thai Tức thiên).
Nhất tức tiệm tùy vô niệm yểu, 一息渐随无念窅,
Bán tỉnh vi giác hữu thân phù. 半醒微觉有身浮。
Niệm lự không còn, thở cũng không,
Chập chờn thân xác nhẹ như không.
Đó là khẩu quyết của Bát Nhã tôn giả để đáp Đông Ấn Độ Quốc Vương.
Xuất tức bất tùy vạn duyên, 出息不随万缘,
Nhập tức bất cư uẩn giới. 入息不居蕴界。
Xuất tức bất tùy thân ngoại sự,
Nhập tức không nương ngũ uẩn trung.
Đó là khẩu quyết của Ngạc Duyên Hoa (Khí Huyệt đồ).
Thủy ngân thật mãn hồ lô lý, 水银实满葫芦里,
Phong cố kỳ khẩu trí thâm thủy. 封固其口置深水。
Nguyên thần tổ khí tụ đan điền,
Cẩn thận ngậm miệng để gây rượu.
Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm:
Vạn vật sinh giai tử, 万物生皆死,
Nguyên thần tử phục sinh. 元神死复生。
Dĩ thần qui khí huyệt, 以神归气穴,
Đơn đạo tự nhiên thành. 丹道自然成。
Vạn vật sinh đều chết,
Nguyên thần chết lại sống.
Để thần về khí huyệt,
Đan đạo tự nhiên thành.
Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am.
Qui căn tự hữu qui căn khiếu, 归根自有归根窍,
Phục mệnh ninh vô phục mệnh quan. 复命宁无复命关。
Đạp phá lưỡng trùng tiêu tức tử, 踏破两重消息子,
Siêu phàm nhập thánh thí như nhàn. 超凡入圣譬如闲。
Qui căn đã có qui căn khiếu,
Phục mệnh sao không phục mệnh quan.
Nếu ai nhận rõ hai lẽ ấy,
Siêu phàm nhập thánh chẳng khó khăn.
Đó là khẩu quyết trong Quần Tiên Châu Ngọc.
Tâm tư diệu, ý tư huyền, 心思妙,意思玄,
Tề gian nguyên khí kết thành đan. 脐间元气结成丹。
Cốc thần bất tử nhân thai tức, 谷神不死因胎息,
Trường sinh môn hộ yếu miên miên. 长生门户要绵绵。
Tâm ý suy tư lẽ diệu huyền.
Nơi rốn nguyên thần kết thành đan.
Cốc Thần bất tử nhờ thai tức.
Cách cửa trường sinh mở rộng luôn.
Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm.
Chuyên khí chí nhu thần cửu lưu, 专气致柔神久留,
Vãng lai chân tức tự du du. 往来真息自悠悠。
Miên miên di lị qui nguyên mệnh, 绵绵迤逦归元命,
Bất cấp linh tuyền thường tự lưu. 不汲灵泉常自流。
Dùng thần ngự khí, thần cửu lưu,
Chân tức qua lại nhẹ như tơ.
Quanh co lui tới lưu tổ khiếu,
Kết thành thai tức thường tự lưu.
Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.
Nhất thân thượng hạ định trung ương, 一身上下定中央,
Thận tiền tề hậu hiệu huỳnh phòng. 肾前脐後号黄房。
Lưu mậu tác môi tương tựu kỷ, 流戊昨媒将就己,
Kim lai qui tính hạ tân lang. 金来归性贺新郎。
Con người trên dưới định Trung Ương,
Rốn sau thận trước ấy đan điền.
Nguyên thần, nguyên khí đan điền hạ,
Thần khí giao bôi nhạc êm êm.
Đó là khẩu quyết của Trần Chí Hư.
Nhất điều trực lộ thiểu nhân tầm, 一条直路少人寻,
Phong hổ, vân long tự khiếu ngâm. 风虎云龙自啸吟。
Tọa định cánh tri hành khí chủ, 坐定更知行气主,
Chân nhân chi tức hựu thâm thâm. 真人之息又深深。
Một con đường thẳng ít người tầm,
Nguyên thần, nguyên khí giao phối thân.
Tu thiền nhập định cần chính niệm,
Thai tức miên miên lại thâm thâm.
Đó là khẩu quyết của Đại Thành tập.
Viên bất viên lai, phương bất phương, 圆不圆来方不方,
Sâm la thiên địa ám bao tàng. 森罗天地暗包藏。
Như kim nội ngoại lưỡng tầng bạch, 如今内外两层白,
Thể tại trung ương nhất điểm hoàng. 体在中央一点黄。
Tròn chẳng ra tròn, vuông chẳng vuông,
Trời đất bao la vốn thâu gồm.
Nội ngoại đôi bên hai tầng trắng,
Thể tại trung ương một điểm vàng.
Đó là khẩu quyết của Bão Phác Tử.
Tức điều tâm tịnh thủ huỳnh đình, 息调心净守黄庭,
Nhất bộ hồn toàn viên giác kinh. 一部浑全圆觉经。
Ngộ khước thử thân do thị ảo, 悟劫此身犹是幻,
Bồ đoàn tọa thượng yếu tinh tinh. 蒲团坐上要惺惺。
Điều tức tịnh tâm giữ huỳnh đình,
Khiến cho linh giác được mãn viên.
Biết được thân này là ảo ảnh,
Bồ đoàn ngồi vững ấy tu thiền.
Đó là khẩu quyết của Trần Hư Bạch.
Kinh doanh Ngân Ngạc thể hư vô, 经营鄞鄂体虚无,
Tiện bả nguyên thần lý diện cư. 便把元神里面居。
Tức vãng tức lai, vô gián đoạn, 息往息来无间断,
Thánh thai thành tựu hợp nguyên sơ . 圣胎成就合元初。
Luyện chế nội đơn, hiểu hư vô,
Nguyên thần tự tại đan điền cư.
Tức vãng tức lai, vô gián đoạn,
Kim đơn thành tựu hợp nguyên sơ.
Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thành (Trung Hòa tập).
Đế quan Tam Giáo thánh nhân thư, 谛观三教圣人书,
Tức chi nhất tự tối giản trực. 息之一字最简直。
Nhược vu Tức thượng tố công phu, 若于息上做功夫,
Vi phật vi tiên bất lao lực. 为佛为仙不劳力。
Tức duyên đạt bản THIỀN chi cơ, 思缘达本禅之机,
Tức Tâm minh lý, NHO chi cực. 息心明理儒之极,
Tức Khí ngưng Thần ĐẠO chi huyền, 息气凝神道之玄。
Tam Tức tương tu vô bất khắc. 三息相须无不克。
Đọc kỹ tam giáo thánh nhân sách,
Chỉ một chữ Tức rất giản trực.
Nếu trên chữ Tức biết công phu,
Thành Phật, thành Tiên không phí sức.
Tức Duyên Đạt Bản là THIỀN cơ,
Tức Tâm Minh Lý, là NHO tột.
Tức Khí Ngưng Thần là ĐẠO huyền,
Biết hợp tam gia đạo sẽ thành
*
* *
胎息訣
袁 天綱胎息訣
夫元氣者,大道之根,天地之母,一陰一陽,生育萬物。在人為呼吸之氣,在天為寒暑之氣。能改移四時之氣者,戊 己也。
春在巽,能發生萬物。夏在坤,能長養萬物。秋在乾,能成熟萬物。冬在艮,能含養萬物。
故學道者,當取 四時正氣,納人胎中,是為真種,積久自得,心定,神定,息定,龍親虎會,結就聖胎,謂之真人胎息。太始民胎息訣
夫 道,太虛而已矣。天地、日月皆從太虛中來。故天地者,太虛之真胎也。日月者,太虛之真息也。
人能與太虛同體,則天地即我之胎,日月 即我之息,太虛之包羅即我之包羅。豈非所謂超出天地、日月之外而為混虛。氏其入歟。
達摩祖師胎息經
胎從伏氣中結,氣從有胎中息。氣入身中為 之生,神去離形為之死。知神氣可以長生。固守虛無以養神氣。神行則氣行,神住而氣住。若欲長生,神氣相注,心不動念,無來無去,不出不入,自然常住。勤而 行之,是真道路。
張景和胎息訣
真玄真牝,自呼自吸,似春沼魚,如百蟲蟄,灝氣融融,靈風習習,不濁不清,非 口非鼻,無去無來,無出無入,返本還原,是真胎息。
王子喬胎息訣
奉道之土,須審子午卯酉四時,乃是陰陽出入 之門戶。定心不動,謂之曰禪。神通萬遍,謂之曰靈。智周萬事,謂之曰慧。道元合氣,謂之曰修。真氣歸元,謂之曰煉。龍虎相交,謂之曰丹。三丹同契。謂之曰 了。
有志於道者,知此根源,依法修行,自可入於長生大道矣。
THAI TỨC QUYẾT
Viên Thiên Cương thai tức quyết:-
Nguyên Khí là căn cơ Đại Đạo, là phụ mẫu của Thiên Địa. Một Âm, một Dương sinh dưỡng vạn vật. Nơi con người là Khí Hô Hấp. Trên trời là Khí Hàn Thử. Đó là Khí thay đổi được bốn mùa. Mùa Xuân ở quẻ Tốn (Đông Nam), có thể sinh vạn vật; mùa Hạ ở quẻ Khôn (Tây Nam) có thể trưởng dưỡng vạn vật; mùa Thu tại Kiền (Tây Bắc) làm cho vạn vật chín mùi, thành tựu; mùa Đông tại Cấn (Đông Bắc) có thể hàm dưỡng vạn vật.
Cho nên học giả cần nắm giữ được Chính Khí bốn mùa, nạp vào thai trung, đó là Chân Chủng. Tích tụ Khí đó lâu ngày, thì Tâm sẽ định, Thần sẽ định, Tức sẽ định, Long Hổ tương hội kết thành thánh thai, gọi là Chân Nhân Thai Tức.
Thái Thủy Thị thai tức quyết:-
Đạo là Thái Hư, Thiên Địa nhật nguyệt đều sinh từ Thái Hư. Cho nên Thiên Địa là Chân Thai, Nhật Nguyệt là Chân Tức vậy.
Con người có thể cùng Thái Hư đồng thể, thì Thiên Địa là Thai ta, Nhật Nguyệt là Hơi Thở ta. Thái Hư bao la, thì ta cũng bao la. Như vậy con người có thể siêu xuất Thiên Địa, Nhật Nguyệt, mà hòa hợp với Thái Hư, trở thành con người có Hỗn Độn Nhất Khí vậy.
Đạt Ma Tổ Sư thai tức kinh:-
Thai vì phục khí (tụ khí) mà kết. Khí là do hơi thở của thai. Khí nhập vào Thân thì sinh, Thần mà ly Hình thì gọi là tử. Biết nhờ thần khí nên mới trường sinh, thì phải lấy hư vô mà dưỡng thần khí. Thần hành thì Khí hành, Thần trụ thì Khí trụ. Muốn được trường sinh Thần Khí phải quán trú, tâm bất động niệm, vô lai, vô khứ, bất xuất, bất nhập, tự nhiên thường trụ, cú siêng năng thực hành, thì đó là Chân đạo lộ.
Trương Cảnh Hòa thai tức quyết:-
Chân Huyền, Chân Tẫn, tự hô, tự hấp, như cá trong hồ xuân, như trăm loại trùng núp trong đất (cá trong hồ, trùng trong đất phải nhờ ngoại khí mời sống) hạo khí dung dung, Linh phong tập tập , không đục không trong , không phải mồm, không phải mũi , không lại, không đi, phản bản, hoàn nguyên, ấy là Chân Thai Tức .
Vương Tử Kiều thai tức quyết:-
Người tu sĩ phải hiểu 4 thời Tý, Ngọ, Mão, Dậu vì đó là cửa ra vào của Âm Dương .
Nhập định, ngừng tạp niệm thì gọi là thiền.
Nguyên Thần thông hòa, biến thân mọi sự, đó gọi là linh.
Trí biết phán đoán vạn vật, đó gọi là tuệ.
Đạo và Khí hòa hài, tương hợp đó gọi là tu.
Chân Khí qui nhập đan điền đó gọi là luyện.
Nguyên Thần, Nguyên Khí hòa hài, đó gọi là đơn thành.
Liên lạc, dung thân được Tam Đan Điền thì gọi là Liễu (Thành công).
Cứ theo phép này mà tinh tiến tu luyện dần dần, thì sẽ đạt trường sinh bất lão vậy.
許棲嚴胎息訣
凡修道者, 常行內觀,遺去三屍,驅除六賊,納氣於丹田,定心於覺海。心定則神寧,神定則氣住,氣住則胎長矣。胎之長者,由於息之住地,無息不胎,無胎不息,住息長 胎,聖母神孩。故曰:胎息定而金木交,心意寧而龍虎會也。
王方平胎息訣
凡所修行,先定心氣。心氣定則神凝, 神凝則心安,心安則氣升,氣升則境忘,境忘則清靜,清靜則無物,無物則命全,命全則道生,道生則絕相,絕相則覺明,覺明則神通。
經 曰:心通萬法皆通,心靜方法皆滅。此我佛如來真定法門者也。學者果能定心氣,凝胎息,則還丹不遠,金液非遙。
赤松子胎息訣
氣穴之問,昔人名之為生門死戶,又謂之天地之根。凝神於此,久之,元氣日充,元神日旺。神旺則氣暢,氣暢則血融,血融則骨強,骨強則髓滿,髓滿則腹盈, 腹盈則下實,下實則行步輕健,動作不疲,四肢康健,顏色如桃,去仙不遠矣。
性空子胎息訣
我之本體本自圓明, 圓明者是我身中天地之真胎也。我之本體本自空寂。空寂者,是我身中日月之息也。唯吾身之天地有真胎矣,而後天地之胎與我之胎相為混合而胎我之胎,唯吾身之 日月有真息矣。而後日月之息與我之息相為混合而息我之息,唯吾身之本體既虛空矣。而後虛空之虛空與我之虛空相為混合而虛空我之虛空。
幻真先生胎息銘
三十六,一咽為先,吐唯細細,納唯綿綿,坐臥亦爾,行立坦然,戒於喧雜,忌以腥膻,假名胎息,實曰內丹,非只治 病,決定延年,久久行之,名列上仙。
以上口訣,舉其大略,餘者載於丹經,不可得而盡述。此蟄藏工夫其用大矣。謂人之元神,藏於氣 穴,猶萬物藏於坤土。神入也,中天氣降而至於地氣,與神合,猶地道之承於天。
參同契曰:恆順地理,承天布宣。
易曰:至哉!萬物資生。
蓋亥月純坤用事之時,時當草木歸根,蟄蟲入戶,閉塞成冬,冬雖主藏,然次年發育之功實胚胎於此。
蓋一陽不生於復而生於坤,坤雖至陰,然陰裡含陽,大藥之生實根只於此。藥將產時,就與孕婦懷胎相似,保完真種,不敢放肆。慎起居,節飲食,忌酒色,戒惱 怒。外不役其形骸,內不勞其心志。至於行、住、坐、臥,各各有方,行則措足於坦途,住則凝神於太虛,坐則調丹田之息,臥則抱臍下之珠。故曰行、住、坐、臥 不離這個。
Hứa Thê Nham thai tức quyết:-
Phàm người tu đạo phải biết Nội Quan, để diệt Tam Thi , và khu trừ Lục Tặc .
Phải biết tụ khí về Đan Điền, định tâm ở Giác Hải, Tâm định Thần sẽ an, Thần an Khí sẽ trụ, Khí trụ Thai sẽ trưởng. Thai trưởng là do khí trụ. Không biết thở không thành được Thai, không thai sẽ không thở. Biết thở sẽ trưởng dưỡng được thai. Trụ tức trưởng thai là Thánh Mẫu, Thần Hài. Cho nên nói: Thai tức định, nhi Kim Mộc giao, Tâm ý ninh, nhi Long Hổ hội (Thai tức định, thì Kim Mộc hợp , tâm ý có ninh tĩnh, thì Thần, Khí mới hòa hài).
Vương Phương Bình thai tức quyết:-
Phàm muốn tu hành, trước hết phải định tâm, khí. Tâm khí mà định thì thần sẽ ngưng. Thần ngưng tâm sẽ an. Tâm an khí sẽ thăng. Khí thăng sẽ quên cảnh. Quên cảnh sẽ thanh tĩnh. Thanh tĩnh sẽ vô vật. Vô vật thời mệnh toàn, thời đạo sẽ sinh. Đạo sinh tướng sẽ tuyệt. Tướng tuyệt sẽ giác minh. Giác minh sẽ thần thông.
Kinh viết: tâm thông, vạn pháp thông. Tâm tĩnh, vạn pháp diệt.
Xích Độ Tử thai tức quyết:-
Khí Huyệt, người xưa gọi là Sinh Môn, Tử Hộ, hoặc là Thiên Địa chi Căn. Nếu Thần ngưng ở đó, lây ngày, Thần Khí sẽ sung vượng. Thần sung vượng, Khí sẽ thư sướng. Khí thư sướng, Huyết Khí sẽ sung mãn. Khí Huyết sung mãn, gân cốt sẽ mạnh mẽ. Gân cốt mạnh mẽ, xương tủy sẽ thịnh mãn. Xương tủy thịnh mãn, ruột gan sẽ no đầy, hạ thể sẽ khinh kiện, đi đứng sẽ nhẹ nhàng. Hoạt động không mệt, tứ chi sẽ khang kiện mặt mũi sẽ trẻ đẹp, con người sẽ sống gần thần tiên.
Tính Không Tử thai tức quyết:-
Bản thể của ta vốn tự viên minh. Viên Minh là Chân Thai của Trời Đất trong thân ta.
Bản thể của ta vốn không tịch. Không Tịch là Chân Tức của Nhật Nguyệt trong thân ta. Chỉ có trời đất trong thân ta mới có Chân Thai (kim đơn) mà thôi. Vì kim đơn trong trời đất và kim đơn trong ta có thể hỗn hợp mà thành kim đơn trong ta. Nhân vì Nhật Nguyệt trong ta có Thai Tức, cho nên Thai Tức của Nhật Nguyệt và Thai Tức trong ta có thể hỗn hợp mà thành Thai Tức trong ta. Vì Bản Thể của ta vốn là Hư Vô, cho nên cái Hư Không của Thái Hư với cái Hư Không của Bản Thể ta có thể dung hợp để thành cái Hư Không trong ta vậy.
Ảo Chân tiên sinh thai tức quyết:-
36 lần nuốt. Trước mỗi lần nuốt phải nhả. Nhả phải nhè nhẹ, nạp phải miên miên. Nằm ngồi cũng vậy, đi đứng cũng thế. Không được thâu hút tạp khí, kỵ hôi tanh. Tạm gọi là Thai Tức, thực ra là Nội Đơn. Có thể trị bệnh, có thể diên niên; lâu ngày tên sẽ nêu trên bảng Thượng Tiên.
Các khẩu quyết trên về Thai Tức. Chỉ là nói đại lược, tất cả đều ghi trong đan kinh không thể kể hết.
Trập tàng công phu (Đem Thần Khí phục ẩn, hàm tàng tại Đan Điền Khí Huyệt), cũng như vạn vật tàng ẩn trong lòng đất, cũng như thiên khí giáng xuống đất. Thần Khí giao hợp, cũng như Địa Đạo thuận thừa Thiên Đạo.
Tham Đồng Khế nói:
Hằng thuận Địa lý; thừa Thiên bố tuyên (luôn theo địa lý, hưởng sương móc của trời). Dịch kinh viết: Chí tại Khôn Nguyên, vạn vật tư sinh.
Khôn Nguyên cao trọng biết bao.
Muôn loài đều phải nuơng vào cầu sinh.
Vào tháng 10 thuần Khôn, thì vạn vật sẽ qui căn, côn trùng sẽ chui vào hang ổ, thu hình nép bóng, vạn vật sẽ bế tắc thành Đông. Mùa Đông tuy chủ Bế Tàng, nhưng đến năm sau, thì công trình phát dục lại từ đó nảy sinh, thế chính là vạn vật đã phôi thai lại từ đó.
Thực ra Nhất Dương không phải sinh ra từ quẻ Phục, mà sinh từ quẻ Khôn. Khôn tuy là Âm, nhưng trong Âm có Dương, và Đại Dược cũng sinh từ đấy. Lúc Đại Dược sinh, cũng như đàn bà khi mới hoài thai, phải bảo toàn Chân Chủng, không được phóng dật. Đi đứng phải hẳn hoi, ẩm thực phải tiết dục, tránh phiền não, giận hờn, ngoài không được làm lụng vất vả, trong không được lao tâm khổ tứ. Đi đứng nằm ngồi nhất nhất phảo có qui củ. Đi phải đi trên đường bằng phẳng, phải ngưng thần vào Thái Hư, ngồi phải thở cho hẳn hoi, nằm phải chắt chiu viên ngọc ở nơi Hạ Đan Điền. Hành, trụ, tọa, ngọa lúc nào cũng để ý tới nó.
————-
Lời bàn của dịch giả
I. Bàn về Thai Tức:
Chương này nói nhiều về Thai Tức, nhưng không định nghĩa Thai Tức là gì?
Tôi tìm hiểu và định nghĩa thai tức.
1. Thai Tức còn được gọi là “Tề hô hấp”, “Đan điền hô hấp”, nghĩa là không dùng mũi mồm để thở, nhưng lại hô hấp tựa như bằng rốn, kiểu như thai nhi. Vì thế gọi là thai tức. Bảo Phác Tử nói: “Đuợc thai tức là không hô hấp bằng mũi mồm, mà như là bào thai” (Đắc thai tức giả, năng bất dĩ khẩu tị hô hấp, như tại bào thai chi trung).
“Hô hấp chân khí”, không dùng cách hô hấp bằng mũi mồm. Mũi mồm chỉ là môn hộ để hô hấp. Còn đan điền mới là bản nguyên của khí, là nơi thánh nhân hạ thủ, để “thu tàng chân nhất”. Đó là cách thở bằng bụng rất khó.
Thai tức kinh gọi thai tức như là phép luyện nội đơn (Giả danh thai tức, thật viết nội đan).
2. Thai tức lấy điều tức làm chủ, khiến sao cho hô hấp thổ nạp miên miên, không dùng khẩu tị, thủ thần bên trong, như anh nhi tại mẫu phúc trung, cho nên gọi là thai tức.
3. Người tu đạo thường phục khí ở dưới rốn, giữ Thần ở trong thân, Thần Khí Tương Hợp mới sinh Huyền Thai, […. . ] thế là nội đơn bất tử chi đạo vậy.
4. Thai tức chi Pháp là Thần Khí Tương Hội.
5. Người xưa còn cho rằng Thai Tức là Điều Khí, Yết Tân.
Ngoài những khẩu quyết về thai tức trên, sách “Trung quốc khí công đại thành” còn có một chương ghi lại nhiều khẩu quyết khác về Thai Tức.
II. Bàn về tam đan điền
Tính Mệnh Khuê Chỉ thường xuyên nói về Thượng, Trung, Hạ Đan Điền nhưng vị trí của chúng hết sức là mơ hồ. Sách thường xuyên bàn về Hạ Đan Điền, nhất là khi bàn về Thai Tức, và cho rằng Thai Tức là tụ Thần Khí vào Hạ Đan Điền.
Tôi xin dùng tài liệu rút từ Trung hoa đạo giáo đại từ điển và Trung quốc khí công đại thành để trình bày về tam đan điền.
1. Trước hết, Trung quốc khí công đại thành -tr. 190, xác định như sau:
Tam Đan Điền là nơi cư ngụ của Tinh, Khí, Thần.
Hạ Đan Điền hay Quan Nguyên là nơi cư ngụ của Tinh. Trung Đan Điền hay Giáng Cung là nơi cư ngụ của Khí. Thượng Đan Điền hay Nê Hoàn là nơi cư ngụ của Thần.
Sách lại nói Khí Hải có hai: một là Khí Hải ở dưới rốn, hai là Khí Hải, theo sách Tố Vấn, thì lại là huyệt Đản Trung, ở giữa hai vú.
Sách cho rằng nói Khí Hải ở dưới rốn mà lại là nơi cư ngụ của Khí là sai, nó phải là nơi cư ngụ của tinh, mà Khí Hải thật sự phải ở Trung Đan Điền, và nơi cư ngụ của Thần thì phải là Thượng Đan Điền. Đó là ý kiến của Lý Dã (1192- 1279) tự Nhân Khanh, hiệu Kinh Trai đời nhà Nguyên.
2. Bây giờ bàn về Tam Đan Điền theo Trung hoa đạo giáo đại từ điển.
Thượng Đan Điền:
Có nhiều tên: Tổ Khiếu, Nê Hoàn Cung, Kiền Cung, Kiền Gia, Côn Lôn Sơn, Thanh Hư Phủ, Thượng Thiên Quan, Giao Cảm Cung, Tam Ma Địa, Tối Cao Phong, Không Động Sơn, Huyền Thất, Huỳnh Phòng, Thiên Cung, Chân Tế, Thiên Căn, Huyền Môn, Bỉ Ngạn, Dao Trì, Thiên Cốc, Nội Viện, Tử Phủ, Liêu Thiên, Đế Ất, Tắng Sơn, Thiên Phù, Huyền Đô, Chúc Dung Phong, Thái Vi Cung, Ma Ni Châu, Tủy Hải, Tử Kim Thành, Lưu Châu Cung, Ngọc Kinh Sơn, Tử Tĩnh Cung, Thái Hàn Trì v. v.
Thượng Đan Điền ở trên đầu, là nơi các Dương mạch chầu về, nó có địa vị cao hơn cả trong Tam Đan Điền, vì thế gọi là Thượng Đan Điền. Nó là nơi tàng Thần.
Ngộ Chân Thiên viết:
Vạn quyển tiên kinh ngữ tổng đồng,
Kim đơn chỉ tại thử căn tông.
Y tha Khôn vị sinh thành thể,
Chủng hướng Kiền Gia Giao Cảm Cung.
Vạn quyển tiên kinh nói giống nhau,
Kim đơn căn để vốn nơi đây.
Lấy Khôn chính vị sinh thành thể,
Đem về gia kết với Kiền Gia.
Về vị trí của Thượng Đan Điền, Bảo Phác Tử viết: Hoặc tại nhân lưỡng mi gian, khước hành nhất thốn vi Minh Đường, nhị thốn vi Động Phòng, tam thốn vi Thượng Đan Điền (Từ giữa hai làn mi, đi vào một thốn là Minh Đường, 2 thốn là Động Phòng, 3 thốn là Thượng Đan Điền).
Trung Đan Điền:-
Còn được gọi là Huỳnh Đình, Chí Trung, Huyền Quan, Đơn Quynh, Chân Thổ, Mậu Kỷ Môn, Tây Nam Hương, Tổ Khí huyệt, Nguyên Cung.
Vị trí:
1. Ở giữa hai vú, nơi huyệt Đản Trung, gọi là Giáng Cung. Tiên kinh viết: Giáng Cung vi Trung Đan Điền, tàng khí chi dã.
2. Giữa tim và rốn, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Phổ Chiếu Đồ nói Trung Đan Điền ở dưới Tâm Nguyên, Tính Hải Khiếu và ở trên Quan Nguyên, Khí Hải, Thổ Phủ khiếu huyệt.
3. Trung Đan Điền là nơi luyện Khí hóa Thần, kết thai, luyện thai, dưỡng thai,
Trương Bá Đoan viết:
Thử khiếu phi phàm khiếu.
Kiền khôn cộng hiệp thành.
Danh vi Thần Khí huyệt.
Nội hữu Khảm Ly Tinh.
Hạ Đan Điền:-
Còn gọi là Chính Đan Điền, Nguyên Quan, Khí Hải, Khí Huyệt, Kim Lô, Tính Mệnh Chi Tổ, Sinh Khí Chi Nguyên, Âm Dương Chi Hội, Hô Hấp Chi Môn, Ngũ Tạng Lục Phủ Chi Bản v. v.
Hạ Đan Điền là Bách Mạch chi khu nữu, Tính Mệnh chi căn nguyên, đó cũng là chỗ kết đan. Thường nói dưới rốn là Hạ Đan Điền.
Vị trí không đồng nhất.
Bão Phác Tử nói: Hai tấc dưới rốn là Hạ Đan Điền. Tiên Kinh nhận rằng: Ba tấc dưới rốn là Hạ Đan Điền mà Hạ Đan Điền là tàng Tinh chi Phủ.
Sách Kim Đan Đại Yếu Đỉnh Lô Diệu Dụng nói: Hạ Đan Điền tại tề chi trung, tề hậu thận tiền, hữu đạo chi sĩ, chỉ yếu nhận thủ Hạ Đan Điền hư cực chi chuẩn (Hạ Đan Điền ở ngang rốn, sau rốn trước thận. Người tu đạo chỉ cần nhận Hạ Đan Điền là nơi Hư Cực).
Tưởng Duy Kiều gọi Hạ Đan Điền là Trùng Tâm. Nho gia Thủ Tĩnh, Lão gia Bão Nhất, Phật gia Thiền Quan, đều tìm Trùng Tâm để mà an định. Vị trí là sau rốn, trước thận ở một điểm khoảng 3/7.
(xin xem tiếp về các phương pháp Thiền)
<行禪圖>
萬法歸一,一歸何處?有者個在,又恁么去!
《維摩經》云:舉足下足,皆從道場來;《法藏集》云:晝心夜心,常游法苑去。
<立禪圖>
心無所住,湛然見性。體用如如,廓然無聖。
隨時隨處,消遙於莊子無何有之鄉;不識不知,游戲 於如來大寂滅之海。
HÀNH THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Hành diệc năng thiền, tọa diệc thiền, 行亦能禅坐亦禅
Thánh khả như tư, phàm bất nhiên. 圣可如斯凡不然
Hành cũng là thiền, tọa cũng thiền,
Thánh nhân như vậy, phàm chẳng vậy.
Bước đi của người hành thiền, không nên vội vã. Vội vã sẽ Động Tức, Thương Thai, phải đi chậm. Nếu đi chậm chạp, sẽ tâm bình khí hòa, lúc đi, lúc lại, lúc đứng lúc đi, mắt nhìn xuống dưới, tâm tàng nơi vực.
Vương Trùng Dương nói:
Lưỡng cước nhiệm tòng hành xứ khứ, 两脚任从行处去
Nhất linh thường dữ khí tương tùy. 一灵常与气相随
Hữu thời tứ đại huân huân túy, 有时四大醺醺醉
Tá vấn thanh thiên ngã thị thùy? 借问青天我是谁
Đi đâu, hai chân cứ việc tiến,
Còn thần với khí sẽ tương tùy.
Con người ngây ngất như say rượu,
Dám hỏi trời cao: ta ấy ai?
Vạn Pháp qui Nhất, 万法归一
Nhất qui hà xứ? 一归何处
Hữu giả cá tại, 有者个在
Hựu nhẫm ma khứ. 又恁麽去
Vạn Pháp qui Nhất,
Nhất qui về đâu?
Có Đan Điền đây,
Há phải đi đâu?
Bạch Lạc Thiên (Bạch Cư Dị) nói:
Tâm bất trạch thời thích, 心不择时适
Túc bất trạch địa an. 足不择地安
Cùng thông dữ viễn cận, 穷通与远近
Nhất quán vô lưỡng đoan. 一贯无两端
Tâm ý tùy thời đều an thích,
Hai chân, tùy xứ rất an nhiên.
Chẳng ngại cùng thông hay viễn cận,
Chỉ việc trừng tâm, trú đan điền.
Bảo Chí Công nói:
Nhược năng phóng hạ không vô vật. 若能放下空无物
Tiện thị Như Lai tạng lý hành. 便是如来藏里行
Trần ai nếu biết không vật nhiễm,
Thế là Đơn Đạo ắt đã thành.
Duy Ma Cật kinh thuyết: Cử túc hạ túc, giai tòng đạo trường lai 举足下足皆从道场来 (Bước xuống, bước lên đều do kim đơn chỉ đạo).
Pháp Tạng Tập nói: Trú tâm, dạ tâm thường du pháp uyển khứ 昼心夜心常游法苑去 (Tâm địa ngày đêm, chỉ lo tu thiền, nhập tĩnh)
LẬP THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tùy thời, tùy xứ, thung dung tự tại, tiêu diêu nơi lành Vô Hà Hữu (Đem khí nạp Đan Điền).
Không quan tâm gì đến ngoại cảnh, luôn sống trong Đại Tịch Diệt cảnh giới của Như Lai (Đem khí nạp Đan Điền).
Nếu gặp lúc trời quang mây tạnh, sẽ dùng phép Lập Thiền nạp khí, để tăng tuổi thọ.
Phép đó là :-
Cước cân trước địa, tị liêu thiên, 脚跟著地鼻辽天
Lưỡng thủ tương huyền, tại huyệt biên. 两手相悬在穴边
Nhất khí dẫn tòng thiên thượng giáng, 一气引从天上降
Thôn thời mịch mịch, đáo Đan Điền. 吞时汨汨到丹田
Hai chân đứng vững, mũi hướng Trời,
Hai tay buông thõng xuống thân người.
Một Khí dẫn từ thinh không tới,
Từ từ nuốt xuống thấu Đan Điền.
Tâm vô sở trụ, 心无所住
Trạm nhiên Kiến Tính. 湛然见性
Thể dụng như như, 体用如如
Khuếch nhiên vô thánh. 廓然无圣
Tâm không vướng mắc,
Tự nhiên Kiến Tính.
Thần Khí tương giao,
Chẳng cần trí tuệ.
Lập Thiền chủ yếu là mắt phải trinh, Tâm phải trong, biết quản thúc tình tự và ý niệm, đình chỉ ngôn ngữ, tư tưởng, hành động để dưỡng Thần.
Việc dĩ vãng chẳng nhớ đến, việc tương lai chẳng tưởng trông, việc hiện tại không để ý. Muốn có Bảo Thân Đạo Quyết, thì phải quả dục, an tĩnh, liêm khiết. Muốn có Xuất Thế Thiền Công, phải biết thu thần, ngưng thần.
Xưa Quảng Thành Tử nói với Hoàng Đế:
Mắt không thấy gì, tai không nghe gì, tâm không nghĩ gì, dùng Nguyên Thần bảo hộ hình thể, sẽ được trường sinh. Ý cũng như vậy, và thật là thắm thiết vậy
<坐禪圖>
帝堯之安安,文王之雍雍,孔子之申 申,莊周之止止。
坐久忘所知,忽覺月在地,冷冷天風來,驀然到肝肺。
俯視一泓水,澄湛無物蔽,中有纖鱗游,默默自相契。
無事此靜坐,一日如兩日,若活七十年,便是百四十。
靜坐少思寡慾,冥心養氣存神,此是修真要訣,學者可以書紳。
(坐 禪圖)
坐不必跌跏,當如常坐。夫坐雖與常人同,而能持孔門心法則與常人異矣。所謂孔門心法者,只要存心在真去處是也。
蓋耳目之竅,吾身之門也。方寸之地,吾身之堂也。立命之竅,吾身之室也。故眾人心處於方寸之地,猶人之處於堂也,則聲色得以從門而搖其中。至人心藏於立 命之竅,猶人之處於室也,則聲色無所從入而窺其際,故善事心者,潛室以頤晦而耳目為虛矣。御堂以聽政,而耳目為用矣。若坐時不持孔門心法,便是坐馳,便是 放心。
壇經曰:心念不起名為坐,自性不動名為禪坐,禪妙義端不外此。
古人有言,修道易,煉魔難,誠 哉是言也。然色魔、食魔易於制伏,獨有睡魔難煉,是以禪家有長坐不臥之法。蓋人之真元常在夜間走失,苟睡眠不謹,則精自下漏,氣從上洩,元神無依亦棄軀而 出,三寶各自驅散,人身安得而久存哉?
至人睡時,收神下藏丹窟,與氣合交,水火互相拘鈐,則神不外馳而氣自安定矣。
今以常人言之,神則寄於目矣。而夜寐既熟,則藏之於腎,至夙興之時,而目之神有不爽然清乎?藉其不夜而腎神豈能清?
今又以天道言 之,日則麗之於天矣,而夜淪地中則藏之於海,至啟明之侯,而天之氣有不爽然乎?藉其不夜而海氣豈能清?
此則崔公入藥鏡所謂水火交, 永不老是也。
TỌA THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tọa cửu vong sở tri, 坐久忘所知
Hốt giác nguyệt tại địa. 忽觉月在地
Lãnh lãnh thiên phong lai, 冷冷天风来
Mạch nhiên liệt can phế. 蓦然列肝肺
Phủ thị nhất hoằng thủy, 俯视一泓水
Trừng trạm vô vật tế. 澄湛无物蔽
Trung hữu tiêm lân du, 中有掺鳞游
Mặc mặc tự tương khế. 默默自相契
Ngồi lâu, biết quên hết,
Bỗng thấy trăng trên đất.
Lành lạnh gió trời thổi,
Lạnh buốt thấu gan phổi.
Cúi xuống, nước mênh mang,
Trong vắt không vật che.
Trong có cá tung tăng,
Cùng ta tâm đầu khế.
Đế Nghiêu chi an an, 帝尧之安安
Văn Vương chi ung ung. 文王之雍雍
Khổng Tử chi thân thân. 孔子之申申
Trang Chu chi chỉ chỉ. 庄周之止止
Đế Nghiêu dạy ôn hòa,
Văn Vương chủ hòa hài.
Khổng Tử xưng thư sướng.
Trang Chu muốn tĩnh chỉ.
Vô sự thử tĩnh tọa, 无事此静坐
Nhất nhật như lưỡng nhật. 一日如两日
Nhược hoạt thất thập niên, 若活七十年
Cánh thị bách tứ tập. 更视白四十
Tĩnh tọa là vô sự,
Một ngày tưởng chừng hai.
Nếu sống bảy muơi tuổi,
Sẽ như trăm bốn mươi.
Tĩnh tọa, thiểu tư, quả dục, 静坐少思寡欲
Minh tâm, dưỡng khí, tồn thần. 明心养气存神
Thử thị tu chân yếu quyết, 此是修真要诀
Học giả khả dĩ thư thân. 学者可以书绅
Tĩnh tọa, thiểu tư, quả dục.
Minh Tâm, dưỡng Khí, tồn Thần.
Đó là Tu Chân yếu quyết.
Mong học giả sẽ ghi lòng.
Tọa thiền không cần phải ngối kiết già, cứ ngồi như thường. Tuy ngồi như thường, nhưng giữ Khổng Môn Tâm Pháp, là vẫn khác người vậy.
Khổng Môn Tâm Pháp là chỉ cần giữ cho tâm thần ở vị trí chân chính nhất. Khiếu của tai mắt là cửa ngõ thân ta, Tâm Linh Phương Thốn là nhà của ta. Lập Mạng Chi Khiếu là buồng của ta.
Vì tâm con người là ở nơi Phương Thốn, cũng như người ở trong nhà. Cho nên thanh sắc có cửa mà vào quấy động bên trong.
Còn bậc chí nhân thì tâm tàng ư Lập Mệnh Chi Khiếu, cũng như con người ở tận trong buồng. Cho nên thanh sắc không biết nẻo vào, để mà dòm ngó trong đó.
Cho nên người khéo giữ Tâm, sẽ ở trong mật thất nên tai mắt như không nghe thấy gì.
Bao giờ ra ngoài để xử sự thì tai mắt sẽ như là công cụ vậy. Nếu mà lúc ngồi không theo Khổng Môn Tâm Pháp thì sẽ gọi là “Tọa Trì”, là “Phóng Tâm”. Đàn Kinh nói: Không khởi niệm là Tọa, Tự tính bất động gọi là Thiền.
<臥禪圖>
開心中之性,示不動之體,悟夢覺之真, 入聞思之寂。
掃石焚香任意眠,醒來時有客談玄。松風不用蒲葵扇,坐對青崖百丈泉。
古洞幽深絕世人,石床風細不生塵。日長 一覺羲皇睡,又見峰頭上月輪。
人間白日醒猶睡,老子山中睡卻醒。醒睡兩非還兩是,溪雲漠漠水冷冷。
元神夜夜宿丹田,雲滿黃庭月滿 天。兩個鴛鴦浮綠水,水心一朵紫金蓮。
覺悟時切不可妄想,則心便虛明;紛擾時亦只如處常,則事自順遂。
(臥 禪圖)
NGỌA THIỀN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Giác ngộ thời, thiết bất khả vọng tưởng, tắc Tâm tiện hư minh.
觉悟时切不可妄想则心便虚明
Khi giác ngộ, thời không thể vọng tưởng, như vậy Tâm sẽ hư minh.
Phấn nhiễu thời diệc chỉ như thử, thường tắc sự tự thuận toại.
纷扰时亦只如此常则事自顺遂
Khi gặp rắc rối, thì cứ làm việc như thường, chắc mọi sự sẽ thuận lợi.
Tảo thạch, phàn hương tại ý miên, 扫石焚香在意眠
Tỉnh lai thời, hữu khách đàm huyền. 醒来时有客谈玄
Tùng phong, bất dụng Bồ Quì phiến, 松风不用蒲葵扇
Tọa đối thanh nhai, bách trượng tuyền. 坐对青崖百丈泉
Quét đá, đốt hương ngủ giấc say,
Tỉnh thời khách lại nói chuyện huyền.
Gió tùng, không dụng Bồ Quì Phiến,
Ngồi trông vách đá, suối cao tuôn.
Cổ động u thâm tuyệt thế nhân, 古洞幽深绝世人
Thạch sàng, phong tế, bất sinh trần. 石床风细不生尘
Nhật trường, nhất giác, Hi Hoàng thụy, 日长一觉羲黄睡
Hựu kiến phong đầu, thượng nguyệt luân. 又见风头上月轮
Động vắng thâm u chẳng tiếp ai,
Gió vờn giường đá, bụi chẳng lai.
Ngày dài, chợt tỉnh Hi Hoàng giấc,
Lại thấy đầu non, bóng nguyệt cài.
Khai tâm tông chi tính, 开心宗之性
Thị bất động chi thể. 示不动之体
Ngộ mộng giác chi nhân, 悟梦觉之真
Nhập văn tư chi tịch. 入闻思之寂
Khai thiền tông bản tính,
Thấy bản thể an nhiên.
Hiểu hai bề mộng tĩnh,
Vào cảnh giới không huyền.
Nhân gian bạch nhật, tỉnh do thụy, 人间白日醒犹睡
Lão Tử sơn trung, thụy khước tỉnh. 老子山中睡却醒
Tỉnh thụy luỡng phi, toại lưỡng thị, 醒睡两非遂两是
Khê vân mịch mịch, thủy Linh Linh. 溪云漠漠水冷冷
Với người động tĩnh cũng một vành,
Lão Tử trong rừng, ngủ vẫn tỉnh.
Mộng tỉnh không này, không thế nọ,
Mờ mịt mây khe, nước long lanh.
Nguyên Thần dạ dạ túc Đan Điền, 元神夜夜宿丹田
Vân mãn Huỳnh Đình, Nguyệt mãn Thiên. 云满黄庭月满天
Lưỡng cá uyên ương phù lục thủy, 两个鸳鸯浮绿水
Thủy tâm nhất đóa Tử Kim Liên. 水心一朵紫金莲
Nguyên Thần đêm tới, trú Đan Điền,
Huỳnh Đình mây tỏa, Nguyệt đầy trời.
Uyên ương một cặp, trôi nước biếc,
Trong lòng nuớc hiện Tử Kim Liên.
今之人懵而睡,忽然而醒,是何物主之而使之覺也?夫魂與神並則覺,魄與屍合則昏。昏者,死之根。覺者,生之兆。魂屬陽 而喜清虛,魄屬陰而好馳騁。魄者,鬼也。魂者,神也。
神則日接之於物,夜形之於夢。黃粱未熟,南柯未寤,一生之榮辱富貴,百歲之悲 憂悅樂,備嘗於一夢之間。使其去而不還游,而不返則生死路隔,幽冥之途絕矣。
由是觀之,人不能自生而其所以生者,夢中之人為之也, 不能自死而其所以死者,夢中之人為之也。然不知所以夢,則亦不知所以死,不知所以覺,則亦不知所以生。夢中之有覺者,以夢之中而自有真覺者在焉。死中之有 生者,以死之中而自有長生者在焉。是故,因覺知生,因夢知死,知斯二者,可以入道矣。
夫人之覺也,耳其有不能聽乎,目其有不能視 乎,手其有不能持乎,足其有不能行乎,心其有不能喜、不能怒乎。
而人之睡也,耳固在也,何其不能聽乎?目固在也,何其不能視乎?手固在 也,何其不能持乎?足固在也,何其不能行乎?心固在也,何其不能喜、不能怒乎?由此觀之,則其死也,似為無知而無覺矣。
而人之睡而 夢也,而夢之時,亦有耳能聽矣,而其聽也,何其不屬於人之耳乎?亦有目能視矣,而其視也,何其不屬於人之目乎?亦有用能持矣,而其持也,何其不屬於人之手 乎?亦有足能行矣,而其行也,何其不屬於人之足乎?亦有心能喜、能怒矣,而其喜也、怒也,何其不屬於人之心乎?由此觀之,則其死也,似為有知而有覺矣。
然死生通乎晝夜之道、夢覺之常者乎?古之真人,其覺也,無憂;其寐也,無夢。故無夢地位,非道成之後不能到也。然初機之士,煉心未純,昏多覺少,才一合 眼,元神離腔,睡魔入捨,以致魂夢紛飛,無所不至,不惟神出氣移,恐有漏爐迸鼎之患。
若欲敵此睡魔,須用五龍盤體之法。訣曰:東首 而寢,側身而臥,如龍之蟠,如犬之曲,一手曲肱枕頭,一手直摩臍腹,一隻腳伸,一隻腳縮,未睡心,先睡目,致虛極,守靜篤,神氣自然歸根,呼吸自然含育, 不調息而息自調,不伏氣而氣自伏。依此修行,七祖有福。陳希夷己留形於華山,蔣青霞曾脫殼於王屋。此乃臥禪的旨,與那導引之法不同。功夫到時,自然寢寐神 相抱,覺悟候存亡,亦能遠離顛倒夢想。即漆園公所謂,古之真人,其覺也,無憂;其寢也,無夢是矣。
然雖睡熟,常要惺惺,及至醒來, 慢慢展轉,此時心地湛然,良知自在,如佛境界。正白樂天所云:前後際斷處,一念未生時,此際若放大,靜一場效驗。真有不可形容著。昔尹師靜室中有一聯云: 覺悟時切不可妄想,則心便虛明。紛擾中亦只如處常,則事自順遂。
李真人滿江紅詞云:好睡家風,別有個睡眠三昧。但睡裡心誠,睡中澄 意,睡法既能知旨趣,便於睡裡調神氣。這睡功,消息睡,安禪少人會。
又敵魔詩云:坐中昏睡怎禁它,鬼面神頭見也麼。昏散皆因由氣 濁,念緣未斷屬陰多。漸來水面侵堤岸,風定江心絕浪波。性寂情空心不動,坐無昏散睡無魔。
上古之人,有息無睡。故曰:向晦入晏,息 若一覺。睡熟陽光盡為陰濁所陷,就如死人一般,若知晏息之法,當向晦時。耳無聞,目無見,口無言,心無累,鼻息無喘,四肢無動。那一點元神真氣相依相戀, 如爐中種火相似。久久純熟,自然神滿不思睡,氣滿不思食,精滿不思欲,元氣自聚,真精自凝,胎嬰自棲,三屍向滅,九蟲自出,所謂睡魔不知從何而去矣。其身 自覺安而輕,其心自覺虛而靈,其氣自覺和而清,其神自覺圓而明。若此便入長生路,休問道之成不成。
Người xưa có nói: Tu Đạo dễ, luyện Ma khó. Lời đó thật chí lý. Nhưng ma sắc dục, ma ăn uống thì dễ trị, còm ma ngủ thì khó luyện, nên Thiền gia có phép Trường Tọa Bất Ngọa.
Vì Chân Nguyên con người thường tẩu thất ban đêm, nên nếu ngủ nghỉ không cẩn thận, thì Tinh xuất phía dưới, Khí mất bên trên. Nguyên Thần không nơi nương tựa, cũng sẽ bỏ thân mà ra. Tam Bảo trì tán, con người làm sao trường tồn.
Bậc chí nhân ngủ sẽ thu Thần về Đan Điền, hòa hợp với khí. Thủy Hoả (Thần, Khí) sẽ kiềm chế nhau, nên Thần không ra ngoài, và Khí sẽ an tịnh.
Nay nói theo người thường, thì ban ngày Thần gửi tại đôi mắt. Ban đêm khi ngủ say, thì Thần tàng tại Thận. Sáng ra, mà Thần nơi mắt không được sảng khoái là tại sao? Thưa vì ban đêm không an định, nên Thần đã không thanh sảng.
Nói theo Thiên Đạo, thì ban ngày, mặt trời nương vào Trời, đến đêm thì như lặn xuống biển. Sáng ra, mà Thiên Khí không thanh sảng là tại làm sao? Thưa là vì ban đêm không an định, nên Hải Khí đã không thanh sảng.
Chính vì vậy mà Thôi Công (Nhập Dược Kính) nói: Thủy Hỏa giao, vĩnh bất lão (Thần Khí giao, mãi không già).
Ngày nay, người ta buồn ngủ thì ngủ, tự nhiên lại tỉnh dậy, thì cái gì làm chủ khiến người ta tỉnh dậy?
Vả Thần, Hồn mà hợp thì tỉnh, Phách với Thi Thể mà hợp sẽ hôn mê. Hôn mê là gốc của sự chết. Tỉnh giác là triệu chứng sống. Hồn thuộc Dương, nên thích Thanh Hư. Phách thuộc Âm nên thích ruổi rong. Phách là Quỉ, Hồn là Thần.
Thần thì ngày tiếp vật, đêm về dệt mộng, một giấc Huỳnh Lương chưa chín, một giấc Nam Kha chưa tỉnh, một đời phú quí, vinh nhục, trăm năm buồn vui, thích, sướng, chẳng qua chỉ như một giấc mộng, khiến người trong mộng chẳng biết đi về. Đi sai một bước, là sẽ đi vào con đường u ám vậy.
Do đó mà xem, con người không thể tự mình sống, mà sống như là ở trong mộng. Con người không thể tự mình chết, mà chết như là ở trong mộng. Đã không biết tại sao mình mộng, thì cũng không biết tại sao mình chết. Đã không biết tại sao mình tỉnh, thì cũng không biết tại sao mình sống. Trong mộng mà có tỉnh, thế là Chân Giác, trong chết mà có sống, đó là trong chết vẫm có trường sinh. Thế là biết rằng, Tỉnh là Sống, Mộng là Chết. Hiểu được hai điều đó là có thể Nhập Đạo vậy.
Con người lúc tỉnh, tai há chẳng nghe thấy sao? Mắt há chẳng nhìn thấy sao? Tay há chẳng cầm được sao? Chân há chẳng đi được sao? Tâm há chẳng biết hỉ nộ sao?
Còn khi con người ngủ, thì tai vẫn còn đó, sao không nghe được? Mắt vẫn còn đó, sao không thấy được? Tay vẫn còn đó, sao không cầm được? Chân vẫn còn đó, sao không đi được? Tim vẫn còn đó, sao không biết hỉ nộ?
Do đó suy ra, thì đây cũng là một thứ chết, tuy vẫn còn hữu tri, hữu giác vậy.
Vả sống chết liên quan đến ngày và đêm, đến Mộng và Tỉnh. Các bậc Chân Nhân lúc tỉnh thì không lo, lúc ngủ không mộng. Ngủ mà không mộng thì phải thành đạo rồi mới được như vậy.
Sơ cơ chi sĩ, luyện Tâm chưa thuần, nên mê nhiều, tỉnh ít. Mắt vừa nhắm thì Nguyên Thần đã lìa xác, và Ma Ngủ đã nhập vào, làm cho Hồn mộng phân phân đâu cũng đến được. Chẳng những Thần xuất, Khí lìa, mà đỉnh lô cũng bị nghiêng ngả.
Nếu muốn chống lại Ma Ngủ, phải dùng phép Ngũ Long Bàn Thể. Khẩu quyết là:
Đông nhi thủ tẩm, 东首而寝,
Trắc thân nhi ngọa. 侧身而卧,
Như Long chi bàn, 如龙之蟠,
Như khuyển chi khúc. 如犬之曲,
Nhất thủ trực ma tề phúc, 一手直摩脐腹,
Nhất thủ khúc quăng chẩm đầu. 一手曲肱枕头,
Nhất chỉ cước thân, 一只脚伸,
Nhất chỉ cước súc. 一只脚缩
Ngủ đầu hướng Đông.
Người phải nằm nghiêng.
Như rồng cuộn khúc.
Như chó thu mình.
Một tay xoa rốn bụng.
Một tay co gối đầu.
Một chân duỗi ra.
Một chân co lại (xem hình vẽ).
Tâm không ngủ trước, mắt phải ngủ trước.
Phải: Trí hư cực, Thủ tĩnh đốc. 致虚极,守静笃
Thần Khí tự nhiên qui căn, hô hấp tự nhiên sẽ hàm dục. Không điều tức mà tức tự điều, không phục khí mà khí tự phục. Y như thế mà tu hành, thì thất tổ cũng được phúc.
Trần Hi Di đã lưu hình tại núi Hoa Sơn, Tưởng Thanh Hà đã thoát xác nơi vương thất. Đó là cách chỉ dẫn về phép ngọa thiền. Nó khác với phương pháp đạo dẫn. Công phu mà thành tựu, thì tự nhiên Thần thức ngủ sẽ quấn quýt nhau, lúc tỉnh sẽ biết giữ được tồn vong, sẽ thoát được điên đảo mộng tưởng. Như Tất Viên Công đã nói: Cổ chi chân nhân, kỳ giác dã, vô ưu, kỳ tẩm dã, vô mộng 古之真人其觉也无忧其寝也无梦 (Chân nhân xưa, lúc tỉnh không lo, lúc ngủ không mộng) chính là vì vậy.
Nhưng tuy ngủ say, mà vẫn tỉnh táo (sáng suốt) đến khi tỉnh lại, sẽ từ từ trở mình, tâm địa lặng không, lương tri tự tại, như cảnh giới Phật. Bạch Cư Dị (Bạch Lạc Thiên) đã nói: Tiền hậu tế đoạn xứ, nhất niệm vị sinh thời 前后际断处,一念未生时 (Đó là chính lúc một niệm chưa sinh). Trong lúc đó, mà giữ được cho lòng Đại Tĩnh, thì công hiệu sẽ vô tả.
Xưa Doãn sư có một đôi liễn:
Giác ngụ thời, thiết bất khả vọng tưởng, tắc tâm tiện hư minh 觉寤时切不可妄想,则心便虚明 (Khi tỉnh thức, không được cho tâm nghĩ nhảm, tâm sẽ hư minh).
Phân nhiễu trung, diệc chỉ như xử thường, tắc sự tự thuận toại 纷扰中亦只如处常,则事自顺遂 (Lúc bị phiền, phải xử sự như thường, mọi sự sẽ đâu ra đấy).
Lý Chân Nhân (Mãn Giang Hồng) có bài từ:
Hảo thụy gia phong, 好睡家风 ,
Biệt hữu cá thụy miên tam mị. 别有个睡眠三寐 。
Đãn thụy lý tâm thành, 但睡里心诚 ,
Thụy trung trừng ý. 睡中澄意 ,
Thụy pháp ký năng tri chỉ thú, 睡法既能知旨趣 ,
Tiện vu thụy lý điều Thần Khí. 便于睡里调神气 。
Giá thụy công tiêu tức, 这睡功消息 ,
Thụy an thiền, thiểu nhân hội. 睡安禅,少人会。
Gia phong có dạy về cách ngủ,
Ngủ nghỉ có khẩu quyết.
Ngủ sao cho tâm thành,
Ý sao cho trong sáng,
Ngủ nghỉ đã có chỉ thú.
Thì lúc ngủ phải biết điều thần khí,
Công phu khi ngủ này.
Ngủ mà vẫn thiền định,
Điều đó ít người hay.
Địch Ma Thi có thơ:
Toạ trung hôn thụy chẩm cấm đà, 坐中昏睡怎禁它,
Quỉ diện, thần đầu, kiến dã ma. 鬼面神头见也魔。
Hôn tán giai nhân do khí trọc, 昏散皆因由气浊,
Niệm duyên vị đoạn, thuộc âm đa. 念缘未断属阴多。
Triều lai thủy diện xâm đề ngạn, 潮来水面侵堤岸,
Phong định giang tâm tuyệt lãng ba. 风定江心绝浪波。
Tính tịch, tình không, tâm bất động, 性寂情空心不动,
Tọa vô hôn tán, thụy vô ma. 坐无昏散睡无魔。
Làm sao tĩnh tọa, không ngủ mê.
Lúc mộng quỉ ma hay xuất hiện.
Ngủ mê khí tán, do khí trọc.
Niệm không đoạn, tại âm khí đa.
Suy tư thủy triều xâm nhập bờ.
Gió ngưng, lòng sẽ hết sóng gió.
Tính tịch, tình không, tâm bất động.
Tọa không tán loạn, ngủ không ma.
Người thời thượng cổ, chỉ nghỉ ngơi nhưng không ngủ. Cho nên nói Hướng hối nhập yến tức 向晦入晏息 (Tối đến nghỉ ngơi). Nếu ngủ say, thời Dương Quang tận, và Âm Trọc vây hãm, cũng như chết vậy.
Nếu biết phép Yến Tức, khi đã tối, thì tai không nghe, mắt không thấy, miệng không nói, tâm không dao động, mũi thở nhẹ nhàng, tứ chi bất động. Lúc ấy, Chân Thần, Chân Khí sẽ quấn quýt nhau. Ngày càng thuần thục, tự nhiên Thần đầy sẽ không ngủ, Khí đầy sẽ không ăn, Tinh đầy sẽ hết dục. Nguyên Khí tự nhiên tụ lại, Chân Tinh cũng tự ngưng, Nội Đan sẽ kết, Tam Thi sẽ tự diệt, Cửu Trùng (Tà Khí) sẽ tự xuất.
Cái gọi là Ma Ngủ sẽ không biết đi đâu. Thân thể tự nhiên thấy nhẹ nhàng, tâm trí sẽ được Hư Linh. Khí trong người sẽ điều hoà, thanh tĩnh. Như vậy sẽ được trường sinh, không cần biết đạo thành hay không thành.
紫中道人答問
客問:坐禪一事如何?
予答曰:咽津納氣,是人行有藥,方能坐化生鼎內。若無真種子,猶將熱火煮空鐺。釋氏云:此是守屍鬼魔磚作鏡的 工夫。其言相是而不相非,粵自晉之伯陽、宋之紫陽,絕唱斯道,厥後纘其緒也,即海瓊、紫瓊、黃房、緣督、上陽諸真疊繼,則金丹之草一絲之脈,至今不斷,代 不乏人,以接紹三教一源之道統。若言守靜兀坐,乃最下小乘之法,外道惑人之邪徑耳。
客復問:然則畢竟如何?
予曰:子肯大施法財,告天萌願,即當為汝言。
客跽而請曰:弟子歷劫難遇,今生遭逢,原師慈悲,恩莫大焉乎。
曰:子來,吾語汝。子今信誓旦旦,予將妄言之,子勿妄聽之;予以實言之,子勿妄信之,當告汝言。夫精、氣、神三寶,則撐持宇宙,總括陰陽。天地得之而含蓋 乾坤,人心得之則修仙做佛。唯有內有外,知之者可以兼而修之,不知者獨修一物。獨修者,乃頑冥之漢也;兼修者,能證仙佛之果也。緣其亂統,則說到此地,未 有不望洋而退捨者矣乎。果無疑,當以告子,凡言內外兼修者,其精在沓冥恍惚之中。此精姓金,喚九三郎,諱元晶,號曰金華商夫君,居玉池之西,出入跨虎,乳 名嬰兒,晚則喚為金公。凡到鄰家,便稱主人,其情嗜交梨。此乃先天地之精,卻為人之至寶。其氣乃虛無中來,此氣姓白,喚太乙郎,名元氣,號曰:宇宙主宰素 練郎君。寄居西川,出入騎白虎,乳名喚真種子,晚則呼白頭老子。到鄰家,便稱父母,好食烏龜而多情。此為先天地之真氣,即是人之至寶。故上陽子曰:既自虛 無中來,卻非天之所降,地之所出,又非我身所有,亦非精、亦非血、非草木、非金石,是皆非也。誰得而知之乎?然以先天地之神而言,其神號無位真人,佛雲紇 利陀耶。佛若認得此神,卻有妙用。此神專主殺人、專主生人。修仙作佛者,必要此神主之,方得。而內經故曰:人身中殆有兩精者,一魂一魄是也。夫隨精往來 者,神即是也。白祖云:唯人,頭有九宮,中一宮名曰谷神。神常居其谷,日則接於物,夜則接於夢,神不能安其居也。南柯未斷,黃粱未熟,一生之榮辱富貴,百 歲之優悲悅樂,備嘗於一夢之間,使之遊而不返,去而不還,則幽冥之途、隔生死之路絕矣。由是觀之,人不能自生而神生之,人不能自死而神死之。若神長居其 谷,人烏得而死乎?紫陽曰:煉神須煉不神神。蓋謂此耳。天穎子曰:雖久學定身,心無五時七候者,促齡穢質,色謝歸空。自云:慧覺復,稱道成,實所失。然可 謂謬矣。若言坐禪之士,予所厭聞,故上古聖仙之貴,當於人類中修之,如或未然,乞勿開口,未當醒悟。
Tử Trung đạo nhân vấn đáp
Khách hỏi: Tọa thiền là thế nào?
Ta đáp:
Yết tân nạp khí thị nhân thành, 咽津纳气是人行,
Hữu dược phương năng tọa hóa sinh. 有药方能坐化生。
Đỉnh nội nhược vô Chân Chủng Tử, 鼎内若无真种子,
Do tương nhiệt hỏa chử không đang. 犹将热火煮空铛
Yết tân nạp khí, chuyện người làm,
Tinh tọa thuốc không, sao hóa được?
Như nếu trong lò không có thuốc,
Thì như nhóm lửa đốt nồi không.
Thích gia gọi thế là Thủ Thi Quỉ, mài gạch mà mong thành gương soi (tu luyện như vậy mà đòi vào cảnh giới vô vi hay sao?) Lời nói đó như đúng, như sai.
Cơ áo bí ấy khởi từ Bá Duơng đời Tấn, đến Tử Dương đời Tống, khởi xướng ra đạo này. Kế sau, tiếp mới có Hải Quỳnh, Tử Quỳnh, Huỳnh Phòng, Duyên Đốc, Thượng Dương chư vị Chân Nhân. Các vị đó sáng lập ra phương pháp Kim Đan. Hệ thống tương thừa cho đến nay. Đời nào cũng có người nắm giữ được đạo thống của Tam Giáo. Còn như nói: Thủ Tĩnh, Đột Tọa, đó là phương pháp của kẻ tối hạ thừa, là lối ngoại đạo dụ người, là con đường sai lạc .
Khách hỏi: Vậy cuối cùng là thế nào?
Ta nói: Ngươi có chịu đại thí pháp tài, thề cùng trời đất thì ta sẽ nói cùng ngươi.
Khách liền quỳ mà xin: Đệ tử suốt đời không gặp thày. Nay may được gặp, xin thày từ bi, ân thày thật lớn.
Ta nói: Lại đây, con. Ta dạy ngươi. Ngươi nay đã lập thệ cùng trời đất, ta nói có chi sai, ngươi chớ nghe lời nói nhảm. Ta nói lời thật, ngươi chớ tin nhầm.
Nay ta dạy ngươi: Tinh, Khí, Thần là Tam Bảo, là rường cột vũ trụ, là tổng quát Âm Dương. Trời Đất được chúng nên bao dung, phúc cái Kiền Khôn. Con người được chúng, nên thành Tiên, thành Phật.
Nó có trong, ngoài. Người biết sẽ tu cả hai bên. Người không biết chỉ tu một phía. Người tu một phía là người ngoan cố ngu xuẩn. Người tu hai chiều sẽ chứng Tiên, Phật quả.
Người không đi theo chính thống, nói tới đây thì như người chưa nhìn thấy Đại Dương đã lui gót. Nếu ngươi không nghi ngờ, thì ta sẽ bảo cho.
Nói Nội Ngoại Kiêm Tu, là nói cái Tinh còn ở trong trạng thái yểu minh hoảng hốt. Tinh này họ Kim, gọi là Cửu Tam Lang, húy là Nguyên Xương, hiệu là Kim Hoa Thương Phu Quân, ở phía tây ao Ngọc Trì, ra vào đều cưỡi hổ, nhũ danh là Anh Nhi, sau gọi là Kim Công. Khi đến hàng xóm (Đan Điền) thì xưng là Chân Nhân. Nó thích ăn trái giao lê (Nguyên Thần). Nó là Tiên Thiên Địa chi Tinh, cũng là vật chí bảo của con người.
Còn Khí là từ Hư Vô trung lại. Khí đó họ Bạch, gọi là Đại Ất Lang (Thái Nhất Nguyên Khí) tên là Nguyên Khí, hiệu là Vũ Trụ Chủ Tể Tố Luyện Lang Quân. Ở Tây Xuyên, ra vào cưỡi Bạch Hổ, nhũ danh là Chân Chủng Tử, sau gọi là Bạch Đầu Lão tử. Tới hàng xóm (Đan Điền) thì gọi là Phụ Mẫu. Thích ăn Rùa Đen, và Đa Tình. Đó chính là Tiên Thiên Địa chi Chính Khí, tức cũng là vật chí bảo trong con người
Cho nên Thượng Dương Tử nói:
Nếu đã là từ hư không tới, thì không phải từ Trời xuống, không phải từ dưới Đất ra, không phải cái mà thân ta có, không phải là Tinh, không phải là Huyết, không phải cỏ cây, không phải kim thạch, tất cả đều không phải. Ai là người đã được nó và biết nó?
Nói đến Thần, là Tiên Thiên Địa chi Thần, là nói tới cái Thần tên là Vô Vị Chân Nhân. Phật gọi là Ngật Lợi Đà Gia Phật. Nhận biết Thần này, sẽ biết cái diệu dụng của nó. Thần này có thể giết người, có thể sinh người. Muốn thành Tiên thành Phật, thì phải để nó chủ trì mới được. Nên Nội Kinh có nói: Thân người có hai loại Tinh, là Hồn và Phách. Phàm tùy tinh vãng lai là Thần vậy.
Bạch Tổ nói: Chỉ nơi con người, thì đầu mới có Cửu Cung. Cung chính giữa trong đó gọi là Cốc Thần. Thần thường cư trong Cốc. Ngày tiếp muôn Vật, đêm tiếp với Mộng. Như thế là Thần không ở yên trong Cốc. Sau một giấc Nam Kha chưa hết, một giấc Hoàng Lương chưa vẹn, thì một đời vinh nhục, trăm năm ưu bi, duyệt lạc cũng nằm trọn trong một giấc mộng. Khiến mình đi chơi mà không biết trở về. Như vậy là sống trong u minh xa cách người phàm, và con Đường Sinh Tử cũng đã tuyệt vậy.
Do đó mới hay: Con người không tự sống, mà Thần cho sống. Con người không tự chết mà Thần cho chết. Nếu Thần ở yên trong Cốc, thì con người làm sao chết được?
Tử Dương nói: Luyện Thần tu luyện bất Thần Thần 炼神须炼不神神 。Chính là muốn nói thế vậy.
Thiên Dĩnh Tử nói: Tuy tu hành đã lâu, nhưng không biết thế nào là ngũ thời 五时 , thất hầu 七候 , đến nỗi tuổi thọ bị giảm, cơ thể bị tỳ vết, dung nhan tiều tụy rồi chết, thế mà dám cho mình là thông minh, giác ngộ, cho mình là thành đạo, thì thật là quá nhầm vậy.
Còn như nói đến tọa thiền, ta cũng đã chán không muốn nghe. Dẫu là thượng phẩm thánh tiên tôn quí, thì cũng do người biết tu luyện mà nên. Nếu không đạt được như vậy, thì xin đừng nói, vì ngươi chưa tỉnh ngộ vậy.
——————
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳
(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Tức
TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền
(Các đệ tử ghi chép lại)
* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch
性 命雙修 萬神圭旨• 利集
PHẦN III
LỢI TẬP
***
性命雙修萬神圭旨
第四節口訣
天人合發採藥歸壺
<採藥歸壺圖>
天人合發之機,子母分胎之路;仁督接交之處,陰陽變化之鄉。
有像之後,陽分陰也;無像之前,陰含陽也。
慾達未達意方開,似悟未悟機正密。存存匪懈養靈根,一掬圓明自家覓。
真鉛出水少人知,半是無為半有微。乍見西方一點月,純陽疾走報 鐘離。
聞於不聞好溫存,玄竅開時竅竅開。收拾蟾光歸月窟,從此有路到蓬萊。
九靈鐵鼓,太玄關,尾閭穴,朝天嶺, 氣海門,曹溪路,三岔口,平易穴,咸池,陰踹,禁門,會陽,長強,魄門;
三足金蟾,藏金斗,生死穴,上天梯,河車路,虛危穴,三岔 骨,龍虎穴,穀道,會陰,鬼路,人門,桃康,陰矯,地軸。
(採 藥歸壺圖)
(內附閉任開督,聚火載金二訣)
聞之師曰:人受天地中氣以生原有真種,可以生生無窮,可以不 生不滅,但人不能保守,日日消耗,卒至於亡。間知保守,又不知鍛鍊火法,終不堅固,易為造化所奪。苟能保守無虧,又能以火鍛鍊,至於凝結成丹,如金如玉, 可以長生,可以不化。
蓋欲煉此丹,雖以藥物為主,欲採藥物,當在根本用功。何謂根本,吾身中太極是也。
TÍNH MỆNH SONG TU
VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Lợi tập
Mục lục
Thái dược quy hồ đồ
Khẩu quyết tiết thứ tư:
THIÊN NHÂN HỢP PHÁT
THÁI DƯỢC QUY CĂN
Tụ Hỏa tải Kim đồ
Tụ Hỏa tải Kim quyết pháp
Càn Khôn giao cấu đồ
Khẩu quyết tiết thứ năm:
CÀN KHÔN GIAO CẤU
KHỬ KHOÁNG LƯU KIM
Chu Thiên tuyền ki đồ
Mão Dậu Chu Thiên khẩu quyết
Linh Đơn nhập đỉnh đồ
Khẩu quyết tiết thứ sáu:
LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH
TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI
Hỏa hầu sùng chính đồ
Hành hỏa hầu pháp
Trường dưỡng thánh thai đồ
THÁI DƯỢC QUY HỒ ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thiên Nhân hợp phát chi cơ 天人合发之机
Tử Mẫu phân thai chi lộ 子母分胎之路
Cửu Linh thiết cổ 九灵铁鼓
Thái Huyền quan 太玄关
Vĩ Lư huyệt 尾闾穴
Nhâm Đốc tiếp giao chi xứ 任督接交之处
Âm Dương biến hóa chi hương 阴阳变化之乡
Tam túc Kim Thiềm 三足金蟾
Tàng Kim Đẩu 藏金斗
Sinh Tử huyệt 生死穴
Dục đạt vị đạt ý phương khai, 欲达未达意方开
Tự ngộ vị ngộ cơ chính mật. 似悟未悟机正密
Tồn tồn phỉ giải dưỡng Linh căn, 存存匪懈养灵根
Nhất cúc viên minh tự gia mịch. 一掬圆明自家觅
Chân diên xuất mộc thiểu nhân tri, 真铅出木少人知
Bán thị vô vi, bán hữu vi. 半是无为半有为
Sạ kiến Tây phương nhất điểm nguyệt, 乍见西方一点月
Thuần dương tật tẩu báo Chung Ly. 纯阳疾走报钟离
Đạt điều chưa đạt ý mới mở
Hiểu điều chưa ngộ mới là hay
Luôn giữ Linh Căn cho chuyên nhất
Nội Đan tròn trặn mình tự kiếm
Nguyên khí trong người ít ai biết
Nguyên khí nửa Vô nửa Hữu Vi,
Hốt thấy nội đơn tại Tây Phương.
Thuần Dương vội chạy báo Chung Ly .
Văn ư bất văn hảo ôn tồn, 闻於不闻好温存
Kiến ư bất kiến hưu kinh phạ. 见於不见休惊怕
Chỉ tại vật vong, vật trợ gian, 只在勿忘勿助间
Ưu nhi du chi sử tự hoá. 优而游之使自化
Nhất vẫn động xứ chúng Dương lai. 一吻动处众阳来
Huyền khiếu khai thời khiếu khiếu khai. 玄窍开时窍窍开
Thu thập thiềm quang, qui Nguyệt Quật. 收拾蟾光归月窟
Tòng tư hữu lộ đáo Bồng Lai. 从丝有路到蓬莱
Nghe cái chưa nghe mới là hay,
Thấy điều chắng thấy, sợ chi đây,
Cứ để tự nhiên, đừng vọng động,
Cứ sống an nhiên, biến hoá lai.
Nhất Dương vừa động, chúng Dương tụ (quẻ Phục)
Huyền Khiếu khai thời, khiếu khiếu khai,
Thu thập ánh trăng về Nguyệt Quật,
Từ đó có đường đến Bồng Lai.
Hữu tượng chi hậu, Dương phân Âm dã,
有象之後阳分阴也
Vô tượng chi tiền, Âm hợp Dương Dã,
无象之前阴合阳也
Triều Thiên Lĩnh 朝天岭 , Khí Hải môn 气海门 , Tào Khê lộ 曹溪路 , Tam xoá khẩu 三岔口 , Bình dị huyệt 平易穴 , Hàm Trì 咸池 , Âm Đoan 阴端 , Cấm môn 禁门 , Hội Dương 会阳, Trường Cường 长强, Phách Môn 魄门 .
PHỤC TÍ (PHỤC TỬ) 复子, KHÔN NỮ 坤女
Địa Trục 地轴, Âm Khiêu 阴跷, Đào Khang 桃康 , Nhân Môn 人门 , Quỉ Lộ 鬼路, Hội Âm 会阴 , Cốc Đạo 谷道, Long Hổ huyệt 龙虎穴 , Tam xoá cốt 三岔骨 , Hư Nguy huyệt 虚危穴, Hà Xa lộ 河车路, Hà Xa cốt 河车骨 , Thượng thiên thê 上天梯 .
**********
ĐỆ TỨ TIẾT KHẨU QUYẾT
THIÊN NHÂN HỢP PHÁT THÁI DƯỢC QUY HỒ
Nội phụ Bế Nhâm, Khai Đốc, Tụ Hoả Tải Kim nhị quyết
Thầy nói: Con người nhận được Trung Khí của Trời Đất mới sinh, nên vốn có Chân Chủng (chỉ Dược Vật). Chân Chủng ấy, có thể sinh sôi vô cùng, có thể bất sinh, bất diệt. nhưng nếu con người không biết bảo thủ nó, thì nó sẽ ngày một tiêu hao, cuối cùng sẽ chết. Biết bảo thủ mà không biết đoàn luyện, cuối cùng sẽ không kiên cố, dễ bị Tạo Hoá đoạt mất.
Nhưng nếu biết gìn giữ hẳn hoi, lại biết đoàn luyện, thì nó sẽ ngưng kết thành đơn, giống như Kim Ngọc, có thể Trường sinh, có thể bất hoá.
天地 以混混沌沌為太極,吾身以窈窈冥冥為太極。天地以此陰陽交媾而生萬物,吾身以此陰陽交媾而生大藥。大藥之生於身,與天地生物不異,總只是陰陽二氣。二施一 化而玄黃相交,一稟一受而上下相接,混而為一。故曰:混沌。混沌,乃天地之郛郭窈冥,亦是大藥之胞胎也。
南華經云:至道之精,窈窈 冥冥。
道德經云:窈兮冥兮,其中有精。
其精甚真,唯此真精,乃吾身中之真種子是也。以其入於混沌,故名太 極,以其為一身造化之始,故名先天,以其陰陽未分,故名一氣;又名黃芽;又名玄珠;又名真鉛;又名陽精。
此精若凝結於天地之間。或 為金,或為石,歷千百年而不朽。人能反身而求之,於自己陽精凝結成寶,則與天地相,為無窮金石。奚足比哉。
然此陽精不容易得。蓋人 之一身徹上徹下,凡屬有形者,無非陰邪渣濁之物。故雲房真人曰:四大一身皆屬陰,不知何物是陽精。
緣督子曰:一點陽精,秘在形山, 不在心腎,而在乎玄關一竅。
趙中一曰:一身內外盡皆陰,莫把陽精裡面尋。
丘長春曰:陽中雖是房中得之,而非 御女之術。內非父母所生之軀,外非山林所產之寶。但著在形體上摸索皆不是,亦不可離形體而向外尋求。
若此等語何異水中撈月,鏡裡攀 花,真正智過顏閔,實難強猜,是以祖師罕言之,而世人罕知之。不獨今之為然,然古人亦有難知之語。
如玉鼎真人云:五行四象坎和離, 詩談分明說與伊。藥生下手功夫處,幾人會得幾人知。
Như muốn luyện Đan này, thì phải lấy dược vật làm chủ nhưng muốn hái thuốc này, thì phải dùng công phu tại căn bản, thế nào là căn bản?
Thưa đó là Thái Cực trong ta. Trời đất lấy hỗn hỗn, độn độn làm Thái Cực. Thân ta lấy yểu yểu, minh minh làm Thái Cực. Thiên địa do Âm Dương giao cấu cho nên sinh Vạn Vật. Thân ta nhờ Âm Dương giao cấu nên sinh Đại Dược. Đại Dược sinh trong thân ta, với Thiên Địa sinh vật không khác, cũng chỉ là Âm Dương nhị khí, cái thi, cái hoá mà Huyền Hoàng tương giao, nhất bẩm, nhất thụ, mà dưới trên tương tiếp, hỗn hoá thành một, cho nên nói hỗn độn. Hỗn độn là phu quách (cảnh giới) của Trời Đất, yểu minh là bào thai của Đại Dược (Nội Đơn).
Nam Hoa Kinh nói: Chí Đạo chi tinh, Yểu yểu minh minh 至道之精,窈窈冥冥。(Tinh hoa của Chí Đạo là yểu yểu, Minh Minh).
Đạo Đức Kinh nói:
Yểu hề, Minh hề, kỳ trung hữu tinh, tinh thậm chân. 窈兮冥兮其中有精精甚真
Tưởng muôn loài tối tăm u uẩn,
Tinh quang Trời vẫn lẩn bên trong,
Tinh quang ấy thực Thiên Chân
Chân tinh đó, chính là Chân Chủng Tử trong thân ta. Vì nó nhập vào Hỗn Độn nên gọi là Thái Cực, vì nó là Nguồn Gốc sinh hoá, nên gọi là Tiên Thiên, vì nó là Âm Dương chưa phân, nên gọi là Nhất Khí, cũng còn gọi là Hoàng Nha, là Huyền Châu, là Chân Diên, là Dương Tinh. Cái Tinh Hoa đó nếu ngưng kết bên ngoài vũ trụ, thì là Kim, Thạch, qua vạn năm không hư.
Nếu con người biết Phản Thân (biết Hồi Quang, Quán Chiếu) là tìm ra được Dương Tinh ấy trong mình, mà ngưng kết lại thành châu bửu, thì cũng sẽ vô cùng như trời đất, Kim, Thạch làm sao mà sánh được?
Nhưng Dương Tinh này không dễ có được. Vì trong thân ta, từ trên xuống dưới, cái gì là hữu hình thì cũng đều thuộc Âm, cho nên Vân Phong Chân Nhân nói: Cái thân tứ đại của ta, tất cả đều thuộc Âm, không biết cái gì là Dương Tinh.
Duyên Đốc Tử nói: Cái Nhất điểm Dương Tinh trong người ta, không ở Tâm, Thận mà ở Huyền Quan Nhất Khiếu. Nhận đắc Huyền Quan tiện thị Tiên, có biết Huyền Quan, thì các chữ Đỉnh Lô, Dược Vật, Hoả Hầu mới hiểu được hẳn hoi, Huyền Quan là từ bỏ Thức Thần, là phát huy NGUYÊN THẦN.
Lưu Nhất Minh gọi Huyền Quan là Huyền Tẫn hay Huyền Tẫn Môn.
Liễu Hoa Dương gọi Huyền Quan là Trung Cung, là Thiên Tâm.
Có người còn gọi đó là Quân Hoả, Chân Hoả, Chân Tính, Nguyên Thần.
Nó thông qua Đốc Mạch, Nhâm Mạch, Xung Mạch, Đới Mạch, trên thông với Tâm, dưới thông với Quan Nguyên, đằng sau thông với Thận, đằng trước thông với Rốn, tán ra châu thân, là Tổng Căn của Bách Mạch, nên gọi là Tiên Thiên. Cổ nhân gọi khiếu này là Khiếu trung Khiếu. Mà Khiếu là Đan Điền. Trên thì gọi là Kim Đỉnh, trên chút nữa thì gọi là Huỳnh Đình, phía dưới Khiếu gọi là Quan Nguyên. Gọi là Huỳnh Đình, là Kim Đỉnh, là Khí Hải, là Quan Nguyên tất cả đều Vô Hình. Ta không nên chấp nhất, câu nệ. Thánh Nhân còn gọi Quan Nguyên là Trung. Cái Trung này Tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông gồm đủ cả hai bề Thể Dụng, v.v.
Luyện Thục Tử nói: Nhất điểm dương tinh, mật tại hình sơn, bất tại tâm thận, nhi tại hồ Huyền Quan nhất khiếu 一点阳精,秘在形山,不在心肾,而在乎玄关一窍。(Một điểm nguyên tinh, ẩn mật tại Hình Sơn, không ở tim, không ở thận, mà tại Huyền Quan nhất Khiếu).
Triệu Trung Nhất nói: Nhất thân nội ngoại tận giai Âm, Mạc bả Dương tinh lý diện tầm 一身内外尽皆阴,莫把阳精里面寻。(Thân ta nội ngoại thảy là Âm, Đừng tìm Dương tinh ấy trong ta).
Khưu Trường Xuân nói:
Dương Tinh tuy thị có được trong khi giao hợp, nhưng không phải là Ngự Nữ chi thuật, trong không phải là thân xác do cha mẹ sinh ra. Ngoài không phải là Châu báu của núi rừng, Tìm tòi Dương Tinh trong ta, chắc là sai. Nhưng tìm cầu nó bên ngoài cũng chẳng đúng.
Những lời như vậy có khác gì mò trăng đáy nước, hái hoa trong gương đâu? Những người thiệt thông minh như Nhan Hồi, Mẫn Tử cũng khó hiểu nổi.
Chính vì Thầy ta ít nói tới nên thế nhân cũng ít người biết, không phải người bây giờ mới thấy thế mà cổ nhân trước cũng không hiểu nổi.
Ngọc Đỉnh Chân Nhân viết:
Ngũ Hành, Tứ Tượng Khảm hoà Ly, 五行四象坎和离,
Thi quyết phân minh thuyết dữ y, 诗诀分明说与伊。
Dược sinh, hạ thủ công phu xứ, 药生下手功夫处,
Kỷ nhân hội đắc, kỷ nhân tri, 几人会得几人知。
Ngũ Hành, Tứ Tượng, Khảm với ly,
Khẩu quyết phân minh nói cho nghe,
Thuốc sinh, và cách ra tay xử,
Ít người hiểu nổi ít người hay,
紫陽真人云:此個事,世間稀,豈是等閒人得知?
杏林真人 云:神氣歸根處,身心覆命時,這些真孔竅,料得少人知。
伯陽真人云:一者,以掩蔽世人莫知之。一者何物也,就是那末發之中,不二之 一,即前所謂先天一氣是也。
翠虛篇云:大藥須憑神氣精,採來一處結交成。丹頭只是先天氣,煉作黃芽發玉英。
覆命篇云:采二儀未判之氣,奪龍虎始媾之精。閃入黃房,段成至寶。
崇正篇云:寒淵萬丈睡驪龍,頷下藏珠炯炯紅。謹密不驚方採得,更 依時日法神功。
蓋采者,以不採而采之,取者以不取而取之,在於靜定中有非動作可為也。昔黃帝遺其玄珠,使知索,使離珠索,使吃詬 索,索之皆不得,乃使罔象,罔象得之。罔象者,忘形之謂也。必忘形罔象,然後先天一氣可得。
擊琅集先天吟云:一片先天號太虛,當其 無事見真腴。
又云:若問先天一字無,後天方要著工夫。
何謂先天?寂然不動,窈窈冥冥,太極未判之時是也。何 謂後天?感而遂通,恍恍惚惚,太極已判之時是也。
混元寶章云:寂然不動感而通,窺見陰陽造化功。信乎,寂然不動,則心與天通而造化 可奪也。
Tử Dương Chân Nhân nói: Thử cá sự, thế gian hi, Khởi thị đẳng nhàn nhân đắc tri 此个事,世间稀,岂是等闲人得知?(Cái chuyện này, thế gian hiếm, Thường nhân làm sao mà biết).
Hạnh Lâm Chân Nhân nói:
Thần Khí quy căn xứ, 神气归根处,
Thân Tâm phục Mệnh thì, 身心复命时,
Giá ta Chân Khổng Khiếu, 这些真孔窍,
Liệu đắc thiểu nhân tri, 料得少人知。
Thần Khí quy Căn xứ,
Thân Tâm Phục Mệnh Thì,
Chính Chân Khổng Khiếu ấy,
Mấy ai hiểu được đây?
Bá Dương Chân Nhân nói:
Nhất giả dĩ yếm tế, Thế nhân mạc tri chi.
一者以掩蔽世人莫知之。
Chữ Nhất sâu kín vậy; Thế nhân ít kẻ hay.
Nhất là gì? Nó là Cái Trung chưa phát, là Bất Nhị chi Nhất, mà trước đây gọi là Tiên Thiên Nhất Khí vậy.
Thúy Hư Thiên viết:
Đại dược tu bằng Thần Khí Tinh, 大药须凭神气精,
Thái lai nhất xứ kết giao thành, 采来一处结交成。
Đơn đầu chỉ thị Tiên Thiên Khí, 丹头只是先天气,
Luyện tác Hoàng Nha, phát Ngọc Anh, 炼作黄芽发玉英。
Đại Dược chẳng qua Thần, Khí, Tinh,
Hái cất đem về giao kết thành.
Đan dược chính là Tiên Thiên khí.
Cũng gọi Hoàng Nha hay Ngọc Anh,
Phục Mệnh Thiên viết:
Thái nhị nghi vị phán chi khí. 采二仪未判之气,
Đoạt Long Hổ thủy cấu chi tinh. 夺龙虎始媾之精。
Thiểm nhập Huỳnh Phòng, 闪入黄房,
Đoạn thành chí bửu. 锻成至宝。
Lấy hỗn độn vị phân chi Khí.
Lấy Nguyên Thần, Nguyên Khí, Nguyên Tinh,
Đem về Huỳnh Phòng,
Luyện thành chí bửu.
Sùng Chính Thiên có bài:
Hàn nguyên vạn trượng thụy ly long, 寒源万丈睡骊龙,
Hàm hạ tàng châu quýnh quýnh hồng, 颔下藏珠炯炯红。
Cẩn mật bất kinh, phương thái đắc. 谨密不惊方采得,
Tiện y thời nhật pháp thần công, 更依时日法神功。
Hàn Tuyền muôn trượng ngủ rồng đen,
Trong mồm có ngọc đỏ hây hây,
Cẩn thận, chẳng kinh sẽ lấy được,
Đem về tu luyện đúng tháng ngày.
Muốn Thái Dược, phải không hái mới hái được,
Muốn thủ Dược phải không thủ mới thủ được .
Phải tĩnh định, không dùng động tác mới được.
Xưa Hoàng Đế mất Huyền Châu mới bảo Tri, Ly, Chu, và Khiết Cấu đi tìm, nhưng không tìm được. Liền sai Võng Tượng. Võng Tượng tìm được. Võng Tượng chính là quên hình hài. Phải Vong Hình, Võng Tượng, thì mới tìm ra được Tiên Thiên Nhất Khí.
Hệ Hoại Tập (Tiên Thiên ngâm) viết:
Nhất phiến Tiên Thiên hiệu Thái Hư, 一片先天号太虚,
Đương kỳ vô sự kiến Chân Du. 当其无事见真腴。
Nhất phiến Tiên Thiên gọi Thái Hư,
Chính trong vô sự thấy Thái Du .
Lại nói:
Nhược vấn Tiên Thiên nhất tự Vô, 若问先天一字无,
Hậu Thiên phương yếu khán công phu, 后天方要看工夫。
Muốn hỏi Tiên Thiên nhất tự Vô,
Hậu Thiên cần phải rõ công phu.
Tiên Thiên là gì? Là tịch nhiên bất động, là yểu yểu, minh minh, là Thái Cực khi chưa phân chia.
Hậu Thiên là gì? Là Cảm nhi toại thông, là hoảng hoảng, hốt hốt, là khi Thái cực đã phân chia vậy.
Hỗn Nguyên Bửu Chương có câu:
Tịch nhiên bất động cảm nhi thông, 寂然不动感而通,
Khuy kiến Âm Dương tạo hóa công . 窥见阴阳造化功。
Tịch nhiên bất động (Tiên Thiên), Cảm nhi thông (Hậu Thiên).
Nhìn thấy Âm Dương Tạo Hóa công.
Tin ở Tịch Nhiên Bất động, là tâm con người thông được với trời, và có thể đoạt cơ tạo hóa.
翠虛篇云:莫向腎中求造化,卻煩心裡覓先天。
當其喜怒未發之時,睹聞不及之地,河海默然,山嶽藏 煙,日月停景,璇璣不行,八脈歸源,呼吸俱泯,既深入於窈冥之中,竟不知天之為蓋,地之為輿,亦不知世之有人,己之有軀。少焉,三宮氣滿,機動簌鳴,則一 劍鑿開混沌,兩手擘裂鴻蒙,是謂無中生有。
寧玄子詩云:不在塵勞不在山,直需求到穹冥端。何謂穹冥端?虛極靜篤之時也。心中無物為 虛,念頭不起為靜。致虛而至於極,守靜而至於篤,陰陽自然交媾。陰陽一交,而陽精產矣。
故陳圖南曰:留得陽精,神仙現成。蓋陽梢日 日發生,但世人不知翕聚,以致錯而為週身之氣。至人以法追攝,聚而結一黍之珠。釋氏呼為菩提,仙家名曰真種。修性者若不識這個善提子,即圓覺經所謂種性外 道是也。修命者若不識這個真種子,即玉華經所謂枯坐旁門是也。
張紫陽曰:大道修之有易難也,知由我,也由天。人若不知藥生,不知採 取,不知烹煉,但見其難,不見其易。誠知藥生時候,採取口訣,烹煉功夫,但見其易,不見其難。此兩者在人遇師與不遇師耳。故曰:月之圓存乎口訣,時之子妙 在心傳。然時之子,卻有兩說,有個活子時,有個正子時。
昔聞尹師曰:欲求大藥為丹本,須認身中活子時。
又偈 云:
因讀金丹序,方知玄牝竅。因讀入藥鏡,只知意所到。
大道有陰陽,陰陽隨動靜。靜則入窈冥,動則恍惚應。
真土分戊己,戊已不同時。已到但自然,成到有作為。
烹煉坎中鉛,配合離中汞。鉛汞結丹砂,身心方入定。
曰動靜,曰窈冥,曰真土,皆是發明活子時之口訣也雲。
Thúy Hư Thiên nói:
Mạc hướng Thận trung cầu Tạo Hóa, 莫向肾中求造化,
Khước tu Tâm lý mịch Tiên Thiên. 却须心里觅先天。
Dừng tìm tạo hóa nơi quả Thận,
Muốn thấy Tiên Thiên phải do Tâm.
Trong khi Hỉ Nộ còn chưa phát, nghe nhìn tất cả còn chưa tới, lúc sông núi còn yên tĩnh, núi non còn chưa bốc khói, Nhật Nguyệt còn chưa vận hành, Tuyền Ki còn chưa chuyển động, bát mạch còn qui nguyên, hô hấp còn chưa có, hãy còn thâm nhập vào trong yểu minh, còn chưa biết có trời che và đất chở, chưa biết rằng thế giới còn có người, mình còn có thân. Phút chốc Tam Cung (Tam Đan Điền) sung mãn Nguyên Khí.
Cơ tạo hóa máy Động, âm thanh bắt đầu có, nên:
Nhất kiếm tạc khai Hỗn Độn. 一剑凿开混沌,
Lưỡng thủ phách Liệt Hồng Mông, 两手擘裂鸿蒙
Một kiếm tạc khai Hỗn Độn,
Hai tay banh bửa Hồng Mông,
Thế là từ Vô sinh ra hữu.
Ninh Huyền Tử có thơ:
Bất tại trần lao bất tại sơn, 不在尘劳不在山,
Trực tu cầu đáo yểu minh đoan. 直须求到窈冥端。
Chẳng ở trần ai, chẳng núi non,
Vào sâu Thiên Lý, mới thấy chàng (Dương Tinh).
Yểu minh là gì? Đó là lúc Hư Cực Tĩnh Dốc.
Trong tâm rảnh rang vô vật là Hư. Niệm đầu chưa khởi là Tĩnh. Chí Hư cho đến cùng cực. Thủ Tĩnh cho đến thuần nhất, thì Âm Dương tự nhiên sẽ kết hợp, Âm Dương kết hợp thì Dương Tinh sẽ sinh ra .
Cho nên Trần Nê Hoàn nói: Lưu đắc Dương Tinh, thần Tiên hiện thành, 留得阳精,神仙现成。(Lưu được Dương Tinh, Thần Tiên hiện hành).
Vả Dương Tinh là do nhật nguyệt phát sinh, nhưng thế nhân không biết cách hấp thụ, cho nên nó tán ra thành khí chu lưu trong thân.
Chí Nhân biết phép truy nhiếp nó lại, tụ nó lại thành Nhất Thử Chi Châu 一黍之珠 (hạt Châu to bằng hạt gạo). Thích Gia gọi là Bồ Đề, Tiên Gia gọi là Chân Chủng.
Người Tu Tính mà không biết Bồ Đề tử ấy, thì kinh Viên Giác gọi là “Chủng Tính ngoại đạo”. Người Tu Mệnh mà không biết Chân Chủng tử ấy thì kinh Ngọc Hoa gọi họ là “Khô tọa bàng môn” vậy.
Trương Tử Dương nói:
Đại Đạo tu chi hữu dị nan dã, 大道修之有易难也,
Tri do ngã, dã do thiên, 知由我也由天。
Tu Đại Đạo vừa khó, vừa dễ,
Chuyện đó do ta cũng do trời.
Nếu con người không biết Dược sinh ra sao, Thái Thủ thế nào, Phanh Luyện thế nào, thì không thấy chỗ dễ của nó.
Nếu biết rõ giờ Thuốc sinh, biết khẩu quyết để Thái Thủ, biết công phu phanh luyện, thì không thấy chỗ khó của nó. Tuỳ như gặp hay không gặp được thầy vậy.
Cho nên nói:
Nguyệt chi viên, tồn hồ khẩu quyết, 月之圆存乎口诀,
Thời chi Tí, diệu tại tâm truyền, 时之子妙在心传。
Trăng mà tròn được, nhờ khẩu quyết,
Giờ Tí hay ho, tại tâm truyền,
Lời bàn của Dịch giả
1. Dược Vật là Thần, Khí, Tinh.
Bạch Ngọc Thiềm nói:
Tinh này không phải là Tinh Khí khi giao cảm.
(Theo tôi: Trong tuỷ xương sống vốn có Nước, Nước này trong vắt. Trong tuỷ sống cũng có Khí. Mỗi khi lấy nước trong tuỷ sống ra mấy phân khối, thì y sĩ thường bơm vào một số phân khối khí trời tương đương, đề phòng cho bệnh nhân khỏi chóng mặt. Và trong tuỷ sống chắc có Thần, vì Thần là Khí tinh luyện.)
Khí này không phải là Khí Hô hấp, Thần đây không phải là Thần Tư Lự mà là Nguyên Thần.
Đó chính là Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần.
Tinh là cơ sở, Khí là Động lực, Thần là Chủ Tể.
Du Diễm nói: Tâm hư thì Thần ngưng, Thần ngưng thời Khí tụ, Khí tụ thời Tinh sinh.
Cho nên Thái Dược cốt là Tâm không có tạp niệm và Hư Tĩnh, như vậy mới có thể ngưng thần nhập Khí huyệt.
Đan gia cho rằng: Luyện Tinh hoá Khí là Ngoại Dược, Luyện Khí hoàn thành (hoá Thần) là Nội Dược.
Lục Tây Tinh gọi: Dương Tinh là Dược Vương, là Chân Diên.
Dược chính là Nhân Đơn, làm tăng khí lực, làm cho thân thể khinh khoát, kiên cường, khiến tà khí không thể xâm nhập. Nó làm cho con người trở thành Thần Tiên vậy.
Dược vật cũng còn gọi là Đại Dược, Thượng Dược.
Tính Mệnh Khuê Chỉ, Tập 1 có nói:
Đại Dược tuy phân Thần, Khí, Tinh,
Tam ban nguyên thị nhất căn sinh,
Phàm phu sinh tử như luân chuyển,
Chỉ nhân mê khước Bản Lai Tâm.
Đại dược tuy phân Thần, Khí, Tinh,
Tam Ban cũng vẫn một gốc sinh.
Phàm nhân luân chuyển trong sinh tử,
Chẳng qua không biết Bản Lai Tâm.
Đại Dược cũng còn gọi là Đơn mẫu, hay Chân Diên, hay Kim Dịch Hoàn Đơn, hay Kim Đơn Đại Dược. Nó cũng gắn liền với Chữ Thất Nhật Lai Phục của Kinh Dịch.
2. Thái Dược hay Thái Thủ.
Thái Dược là lúc tĩnh toạ sẽ thấy Nguyên Tinh phát sinh, vừa thấy cảm giác, liền tức tốc phải Thượng Vận. Và phải dùng Chính Niệm thu nhiếp Nguyên Tinh về Đan Điền. Thái Dược có hai thứ: Thái Tiểu Dược, và Thái Đại Dược.
Thái Tiểu Dược là Luyện Tinh hoá Khí.
Thái Đại Dược là Luyện Khí Hoá Thần. Nguyên khí, Nguyên Tinh là Dược. Dùng Vi Ý đem Nguyên Tinh về Đan Điền là Tiểu Thái Dược.
Dùng bốn chữ Hấp=Hít vào, Để=Đưa lưỡi lên để khoá mồm, Toát=Khép kín Hậu Môn, Bế=Nhắm mắt, ngậm miệng, để luyện Nguyên Khí cho thành Đại Dược (Đan mẫu).
Muốn Thái Dược phải có thời. Phải Thái Thủ vào lúc giờ Tí, hay Hoạt Tí (Tí là từ 11 giờ đến 1 giờ đêm). Hoạt Tí là giờ Tí Linh Động. Lấy kiến nghiệm làm chuẩn. Hoạt Tí là lúc Nhất Dương lai phục, đó là giờ Tí trong Thân ta. Đạo Quang nói: Tu luyện bất dụng tầm Đông Chí, Thân trung tự hữu nhất Dương sinh.
Trần Trí Hư nói: Phù Thái thủ giả, thái Tiên Thiên chi khí, thủ Chân Nhất chi diên.
何謂之動靜?曰寂然不動,返本復靜坤之時也,吾則靜以待之。靜極而動,陽氣 潛萌復之時也,菩則動以應之。當動而或雜之以靜,當靜而或間之以動,或助長於其先,或忘失於其後,則皆非動靜之常矣。
夫古之至人, 其動也,天行其靜也。淵默當動則動,當靜則靜,自有常法。今之學者,不知丹法之動靜有常。或專主乎動,或專主乎靜。其所謂動者,乃行氣之動;其所謂靜者, 乃禪定之靜。二者胥失之矣。
指玄篇不云乎:人人氣血本通流,榮衛陰陽百刻周,豈在閉門學行氣,正如頭上又安頭。曷嘗以行氣為動哉。
翠虛篇不云乎:唯此乾坤真運用,不必兀兀徒無言,無心無念頭已昏,安得凝聚成胎仙?豈以禪定為靜哉。
凡人動 極而靜,自然入於窈冥。竊冥即是寐時,雖入於無天、無地、無我、無人境界,卻不涉於夢境。若一涉夢境,即有喜怒、驚恐、煩惱、悲歡、愛慾種種情況,與晝間 無異,且與穹冥時無天、無地、無人、無我景絕不相似。似窈窈冥冥,唯晝間動極思靜,有此景象,若夜間睡熟,必生夢境。安得有此?晝間每有窈冥時候,人多以 紛華念慮害之而求其時入窈冥者,蓋亦鮮矣。
崔公入藥鏡云:一日內,十二時,意所到,皆可為。一日之內,意到不止一次,來藥亦不止一 次。張平叔所謂一粒復一粒,從微而至著是也。
Xưa nghe Doãn Sư nói:
Dục cầu Đại Dược vi đơn bản, 欲求大药为丹本,
Tu nhận thân trung Hoạt Tí thời, 须认身中活子时。
Muốn dùng Đại Dược làm Đơn Bản,
Phải biết thân trung Hoạt Tí Thời.
Lại có kệ:
Nhân độc “Kim Đơn tự”, 因读金丹序,
Phương tri Huyền Tẫn Khiếu, 方知玄牝窍。
Nhân độc Nhập Dược Kính, 因读入药镜,
Hựu tri ý sở đáo, 只知意所到。
Đại Đạo hữu Âm Dương, 大道有阴阳,
Âm Dương tuỳ động tĩnh, 阴阳随动静。
Tĩnh tắc nhập yểu minh, 静则入窈冥,
Động tắc ứng hoảng hốt, 动则恍惚应
Chân Thổ phân Mậu Kỷ, 真土分戊己,
Mậu kỷ bất đồng thời, 戊已不同时。
Kỷ đáo đãn tự nhiên, 已到但自然,
Mậu đáo hữu tác vi, 成到有作为。
Phanh luyện Khảm trung Diên, 烹炼坎中铅,
Phối hợp Ly trung Hống, 配合离中汞。
Diên Hống kết Đơn sa, 铅汞结丹砂,
Thân Tâm phương nhập định, 身心方入定。
Nhân đọc tựa Kim Đơn,
Mới hay Huyền tẫn Khiếu,
Nhân đọc Nhập Dược Kính,
Mới biết nơi Ý đến,
Đại Đạo có Âm Dương,
Âm Dương là Động Tĩnh,
Tĩnh thời nhập yểu minh,
Động thời hoảng hốt ứng,
Mậu Kỷ khác giờ nhau,
Kỷ đến do Tự Nhiên,
Mậu lai có tác vi,
Phanh luyện Khảm trung Diên,
Phối hợp Ly trung Hống,
Diên Hống kết Đơn sa,
Thân Tâm mới nhập định,
Nói Động tĩnh, nói Yểu Minh, nói Chân Thổ đều nói về khẩu quyết của Hoạt Tí Thời.
Thế nào là Động Tĩnh?
Thưa: Tịch nhiên bất động, phản bản, phục tĩnh, đó là của giờ Khôn. Ta lấy Tĩnh mà đợi nó. Tĩnh cực rồi động, Dương khí manh nha, đó là giờ của Phục. Ta lấy động mà ứng với nó.
Đáng Động mà pha Tĩnh vào, đáng Tĩnh mà pha Động vào. Hoặc khi chưa lớn mà lại nâng cho lớn lên, hoặc khi đã hết mà còn thêm, đều không phải là lẽ thường tình của Động Tĩnh.
Bậc Chí nhân xưa nói: Động là Thiên Hành, Tĩnh là Uyên Mặc (lặng như vực sâu). Đáng động thì động, đáng tĩnh thì tĩnh, đó là lẽ thường.
Học giả ngày nay, không biết rằng Động Tĩnh trong Đan pháp có qui luật, nên người chuyên về Động, người lại chuyên về Tĩnh. Đối với họ, Động là Hành khí, Tĩnh là Thiền Định, Như vậy là sai.
Chỉ Huyền Thiên há chẳng nói:
Nhân nhân khí huyết bản thông lưu, 人人气血本通流,
Doanh vệ Âm Dương bách khắc chu, 荣卫阴阳百刻周,
Khởi tại bế môn, học hành khí, 岂在闭门学行气,
Chính như đầu thượng hựu an đầu. 正如头上又安头。
Ai ai khí huyết cũng lưu thông,
Chảy quanh Doanh vệ, suốt ngày ròng,
Đâu lại bế môn học hành khí,
Như đã có đầu lắp thêm đầu.
Đâu phải Hành Khí là động?
Thuý Hư Thiên cũng nói:
Duy thử Kiền Khôn chân vận dụng, 唯此乾坤真运用,
Bất tất ngột ngột, đồ vô ngôn, 不必兀兀徒无言,
Vô tâm, vô niệm, Thần dĩ hôn, 无心无念神已昏,
An đắc ngưng tụ thành thai tiên. 安得凝聚成胎仙?
Đất trời vận dụng có qui mô,
Đâu phải ngồi ngây, miệng lặng tờ,
Tâm không, không niệm, Thần hồn mất,
Sao mà ngưng tụ kết Thai Tiên?
Đâu phải Thần Định là Tĩnh.
Con người Động cực thì Tĩnh, tự nhiên sẽ nhập vào yểu minh, yểu minh là khi ngủ. Tuy nhập vào cảnh giới không trời, không đất, không người, nhưng chưa đi vào mộng cảnh.
Nhưng khi vào mộng cảnh, thì sẽ có Vui, Giận, Kinh, Khủng, Phiền, Não, Bi, Hoan, Ái, Dục đủ mọi tình huống không khác lúc ban ngày.
Nhưng lại khác với cảnh giới yểu minh không trời, không đất, không người.
Yểu Yểu, Minh Minh chỉ thấy ban ngày lúc Động Cực mong Tĩnh, mới có cảnh tượng đó. Còn như đêm khi ngủ say, tất lại có mộng, thì làm sao mà có cảnh tượng Yểu Minh này được?
Lúc ban ngày, mỗi khi có lúc Yểu Minh, thì con người lại suy nghĩ tứ tung làm mất giây phút ấy. Còn như cầu để mà vào tình trạng Yểu Minh, thì thật là hiếm vậy.
Thôi Công (Nhập Dược Kính) nói:
Nhất nhật nội, Thập nhị thời, Ý sở đáo, Giai khả vi 一日内,十二时,意所到,皆可为。(Trong mỗi ngày có 12 giờ, Ý mà đến, Đều làm được)
大抵藥物,當以真意求之,故曰:好把真鉛著意尋。又日:恆向華池著意尋。蓋人身真意, 是為真土。真土之生有時,不由感觸,自然發生,雖與中馬上一切喧鬧之地不能禁止,故曰真土。具土有二,戊已是也。土既有二,則意亦有二必矣。所謂二者,一 陽一陰是也。謂之真者,無一毫強偽,若有一毫強與偽,即是用心揆度謀慮,便屬虛假,非真意也。
有此真意,真鉛方生。何謂有此真意? 真鉛方生?蓋動極而靜,真意一到,則人窈冥,此意屬陰,是謂己土。陰陽交媾,正當一陽爻動之時,自覺心花發現,暖氣沖融,陰陽年交,真精自生,真精即是真 鉛,所謂水鄉鉛,只一味是也。
陰陽交媾,將判未判,恍恍惚惚,乃是靜極而動,此意屬陽,是為戊土。此時真鉛微露,藥苗新嫩,此乃有 物有像之時,與平旦幾希一般。撥動關戶,急忙用功採取,則窈冥所生真精方無走失。
所謂採取功夫,即達摩祖師形解訣,海蟾祖初乘訣。 二訣大略相同,不外乎吸舐撮閉四宇。純陽祖師云:窈窈冥冥生恍惚,恍恍惚惚結成團。正是此訣。雖則是有為之法,然非真土,一生何以施功?是非采鉛。由於真 土生也,故曰真土擒真鉛。鉛升與汞配合,汞得鉛自不飛走,故曰真鉛制真汞。鉛汞既即真土,則身心自爾寂然不動,而金丹大藥結矣。
是 以一時之內,自有一陽來復之機。是機也,不在冬至,不在朔旦,亦不在子時,非深達天地陰陽、而曉身中造化者,莫如活子時如是其秘也。既曰一日十二時,凡相 媾處皆可為,而古仙必用半夜子陽初動之時者,何也?其時太陽正在北方,而人身氣到尾閭關,蓋與天地相應,乃可以盜天地之機,奪陰陽之妙,煉魂魄而為一,合 性命而雙修。唯此時乃坤復之間,天地開闢於此時,日月合壁於此時,草木萌孽於此時,人身之陰陽交會於此時,神仙於此時而採藥,則內真外應,若合符節,乃天 人合發之機,至妙至妙者也。
Trong một ngày, ý đến không phải một lần, nên Thái Thủ cũng không phải chỉ có một lần.
Trương Bình Thúc gọi thế là: Một hột rồi lại một hột, từ ít tới nhiều vậy.
Tóm lại Đại Dược cần lấy Chân Ý mà cầu. Cho nên nói: Hiếu bả Chân Diên, chước ý tầm 好把真铅着意寻。(Phải chú ý mới tìm được Chân Diên).
Lại còn nói: Hằng hướng Hoa Trì chước ý tầm 恒向华池着意寻。(Luôn phải hướng về Đơn Điền chú ý tìm cầu)
Cho nên, Chân Ý trong con người chính là Chân Thổ. Chân Thổ sinh ra có khi không phải do cảm xúc mà cũng do tự nhiên. Dù khi ngồi xe hay cưỡi ngựa, dù là trong khi huyên náo nó cũng phát sinh được. Không gì cấm chỉ được nó, cho nên gọi là Chân Thổ.
Chân Thổ có hai loại: Mậu và Kỷ. Thổ đã có hai, thì Ý cũng có hai. Gọi là hai vì có đủ Âm Dương. Gọi là chân vì không chút cưỡng cầu, tà ngụy, thì đã có mưu lự. Mưu lự là thuộc hư giả, không phải là Chân ý vậy.
Có Chân Ý này rồi, thì Chân Diên mới sinh. Sao lại nói rằng: Có Chân Ý rồi, Chân Diên mới sinh?
Vì Động cực rồi tĩnh, Chân Ý vừa đến sẽ nhập Yểu Minh, Ý này Thuộc Âm, gọi là Kỷ Thổ. Âm Dương giao cấu, chính đáng là Khi Dương Hào vừa động, tự cảm thấy như hoa lòng vừa nở ra, khí ấm đầy mình, Âm Dương giao nhau nên Chân Tinh tự sinh. Mà Chân Tinh tức là Chân Hống. cho nên nói: Thuỷ Hương Diên , chỉ nhất vị 水乡铅,只一味 (Thuỷ Hương Diên có một mùi vị) chính là vì vậy.
Âm Dương giao cấu, giữa lúc Âm Dương chưa chia và sẽ chia, còn hoảng hoảng, hốt hốt, đó chính là lúc Âm cực sẽ Động. Cái Ý này thuộc Dương, đó là Mậu Thổ. Lúc ấy Chân Diên vừa lộ, Dược Vật hãy còn non yếu. Lúc ấy đã có hình có tượng, chẳng khác gì lúc mới bình minh, vừa thấy phát động quan kiện, tức tốc phải thái thủ lấy ngay, thì Chân Tinh vừa sinh ấy mới không bị mất mát.
Gọi là Thái Thủ Công Phu, chính là Hình giải quyết 形解诀, của Đạt Ma, chính là Sơ Thừa Quyết 初乘诀của Hải Thiềm.
Cả hai khẩu quyết đại khái giống nhau, và không ngoài bốn chữ: Hấp吸, Để 舐, Toát撮, Bế闭.
Thuần Dương Tổ Sư nói:
Yểu Yểu, Minh Minh sinh Hoảng Hốt. 窈窈冥冥生恍惚,
Hoảng Hoảng, Hốt Hốt kết thành Đoàn, 恍恍惚惚结成团。
Đó chính là Khẩu quyết này.
Tuy hãy còn là phép Hữu Vi, chưa phải là Chân Thổ, nếu vậy làm sao thi triển công phu?
Cho nên nói: Chân Thổ cầm Chân Diên 真土擒真铅 (Dùng Chân Ý thái thủ Chân Khí).
Chân Diên (Chân Khí) thượng thăng sẽ phối hợp với Chân Hống (Nguyên thần). Nguyên thần gặp Chân Khí sẽ không bay đi mất, Vì thế nói: Chân Diên chế Chân Hống 真铅制真汞 (Chân Khí khống chế Nguyên Thần).
Chân Khí, Nguyên Thần đã qui về Chân Thổ (Đan Điền), thì thân tâm sẽ tự nhiên bất động và Kim Đơn Đại Dược sẽ thành vậy.
Trong một giờ, cũng có cơ vi Nhất Dương lai phục, cái cơ vi này không ở ngày Đông Chí, không ở ngày mồng một, không ở tại giờ Tí (nửa đêm). Nếu không thâm đạt Âm Dương, không thấu hiểu được tạo hoá trong ta, thì không sao hiểu được HOẠT TÍ THỜI. Đó là điều bí ẩn vậy.
Trong 12 giờ một ngày, lúc nào Âm Dương cũng giao cấu được, mà sao thánh nhân lại chọn giờ Tí, nhất Dương sơ động, là tại sao?
Thưa lúc ấy Thái Dương ở Chính Bắc, mà trong con người là ở Huyệt Vĩ lư, thế là tương ứng với trời đất.
Cho nên lúc ấy có thể ăn trộm cơ vi của trời đất, đoạt được chỗ huyền diệu của Âm Dương, luyện được hồn phách làm một, hợp được Tính Mệnh song tu.
Lúc ấy là giữa quẻ Khôn và quẻ Phục, lúc ấy là lúc Trời Đất đóng mở, là lúc Nhật Nguyệt hợp bích, là lúc Thảo Mộc manh nha, là lúc Âm Dương giao hội trong thân, Thần Tiên thái dược vào lúc ấy, lúc ấy là lúc Nội Chân, Ngoại Ứng, tương phù, tương hợp như hai miếng ấn tín chẻ đôi. Đó chính là lẽ THIÊN NHÂN HỢP PHÁT CHI CƠ, THẬT LÀ CHÍ DIỆU, CHÍ DIỆU VẬY.
陳泥丸云:每當天地交合時,盜取陰陽造化機。
陰符經雲;食其時,百骸埋;盜其 機,萬化安。何者謂之機?天根理極,微今年初盡處時,日起頭時,此際易得,意其間難下詞。人能知此意,何事不能知?此際正是造化真機妙處。盡真機之妙者, 周易也。盡周易之妙者,復卦也。盡復卦之妙者,初爻也。故曰復其見天地之心乎?
蓋此時,天地一陽來復,而吾身之天地亦然,內以採取 吾身之陽,外以盜取天地之陽,則天地之陽有不悉歸於我之身中而為我之藥物乎?然而天地雖大,造化雖妙,亦不能越此發機之外矣,此感彼應理之自然。
人若知此天人合發之機,遂於中夜靜坐,凝神聚氣,收視返聽,閉塞其兌,築固靈株,一念不生,萬緣頓息。渾渾淪淪,如太極之未分;溟溟沁沁,如兩儀之未 兆。湛兮!獨存如清淵之印月,寂然不動;如止水之無波,內不覺,其一身外不知其宇宙。夫亥之末,子之初,天地之陽氣至則急采之,未至則虛以待之,不敢為之 先也。
屈原遠遊篇雲;
道可受兮,不可傳。
其小無外兮,其大無限。母滑而魂兮,彼將自 然。
一氣孔神兮,於中夜存。虛以待之兮,無為之先。
許旌陽三藥歌云:存心絕慮候晶凝。
指玄篇云:塞兌垂簾默默窺。皆是藏器待時之謂也。嗚呼!時辰若至不勞心,內自相交自結凝。八室按時須等著,一輪曦馭自騰升。豈可為之先也哉。
Trần Nê Hoàn nói:
Mỗi đương Thiên Địa giao hợp thời. 每当天地交合时,
Đạo thủ Âm Dương tạo hoá cơ, 盗取阴阳造化机。
Mối khi Thiên Địa giao hội thời,
Trộm lấy Âm Dương Tạo hoá cơ.
Âm Phù Kinh viết: Thực kỳ thời, bách hài lý, Đạo kỳ cơ, Vạn hoá an, 食其时,百骸埋;盗其机,万化安。(Mỗi khi ta uống ăn, cơ thể được điều lý, Ăn trộm được Huyền cơ, Vạn biến sẽ an toàn).
Thế nào là Huyền Cơ?
Thiên căn Lý cực vi. 天根理极微
Kim niên sơ tận xứ. 今年初尽处
Thời nhật khởi đầu thì, 时日起头时
Thử tế dị đắc ý, 此际易得意
Kỳ gian nan hạ từ, 其间难下词
Nhân năng tri thử ý, 人能知此意,
Hà sự bất năng tri? 何事不能知?
Thiên căn Lý rất sâu,
Năm nay vừa sơ động.
Năm tới đã bắt đầu,
Biên tế ấy rất dễ hiểu,
Nhưng khó nói nên lời,
Nếu ai hiểu ý đó,
Thì gì mà không hiểu?
Biên tế ấy chính là Chân Cơ, diệu xứ vậy.
Kinh Chu Dịch đã hiểu rõ Chân Cơ vi diệu ấy, mà hiểu rõ Chân Cơ vi diệu của Chu Dịch là quẻ PHỤC. Hiểu rõ Vi Diệu quẻ PHỤC chính là hào sơ.
Cho nên mới nói: Phục kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ? 复其见天地之心乎?Phục rồi, được thấy Thiên Tâm (Vì lòng Trời Đất cũng trong lòng trời).
Vì trong giờ phút ấy, một Dương trở lại trong Trời Đất, mà Trời Đất trong ta cũng như vậy, trong thì ta sẽ Thái Thủ được Dương Khí trong thân ta, thế là ăn trộm được Dương Khí trời đất, thì Dương Khí đó há chẳng hoàn nạp vào trong thân ta, để trở thành Dược Vật hay sao?
Thiên Địa tuy lớn, tạo hoá tuy thần diệu, nhưng cũng không vượt ra ngoài cái Phát cơ này, đó là lẽ tự nhiên vậy.
Nếu con người biết lẽ Thiên Nhân Hợp Phát này, mà nửa đêm tĩnh toạ, ngưng Thần tụ Khí , thu thị, phản thính (tức là biết Nội Quan), ngậm miệng không nói, trúc cố Đan Điền, một niệm không sinh, vạn duyên đốn tức. Hỗn hỗn, độn độn, như Thái cực chưa phân, minh minh, chỉ chỉ như Lưỡng Nghi chưa manh nha, lặng lẽ riêng còn, như vực sâu lồng bóng nguyệt. Tịch nhiên bất động, như nước trong không sóng. Trong chẳng biết có thân, ngoài không biết có vũ trụ. Đợi cuối giờ Hợi, đầu giờ Tí, Dương khí Trời Đất sẽ đến, thì phải cấp tốc Thái Thủ. Nếu nó chưa đến thì cứ Hư Tâm mà chờ, không được ra tay trước.
Khuất Nguyên (Viễn Du Thiên) nói:-
Đạo khả thụ hề, bất khả truyền.
道可受兮不可传。
Kỳ tiểu vô nội hề, kỳ đại vô ngân,
其小无内兮其大无限。
Vô hoạt nhi hồn hề, bỉ tương tự nhiên,
毋滑而魂兮彼将自然。
Nhất khí khổng thần hề, vu trung dạ tồn,
一气孔神兮于中夜存。
Hư dĩ đãi chi hề, vô vi chi tiên,
虚以待之兮无为之先。
Đạo chỉ cảm thấy, không thể truyền,
Nhỏ thì nhỏ xíu, lớn vô biên,
Nó không phải hồn linh, tự nhiên tới,
Nó là Khí thần kỳ, sinh lúc nửa đêm,
Phải Hư Tâm chờ, không được tranh tiên,
Hứa Dinh Dương (Tam Dược Ca) nói: Tồn Tâm, tuyệt lự, hầu tinh ngưng, 存心绝虑候晶凝 (Chính niệm, tuyệt lự, chờ Dương Tinh ngưng).
夫金丹大藥,孕於先天,產於後天,其妙在乎太極將判未判之間。靜已極而未至於動,陽將復而未離乎陰。斯時也,冥冥兮,如煙嵐之罩山,濛濛兮,如霧氣之籠 水,霏霏兮,如冬雪之漸凝漸聚;沉沉兮,如漿水之漸碇漸清。俄頃,癢生毫竅,肢體如綿,心覺恍惚,而陽物勃然舉矣。此時陽氣通天,信至則瓊鐘一扣,玉洞雙 開,時至氣化,藥產神知,地雷震動巽門開,龍向東潭踴躍來。此時玄關透露而精金出礦之時矣。
邵康節云:恍惚陰陽初變化,氤氳天地三 迴旋。中間些子好光景,安得功夫入語言。
白玉蟾云:因看斗柄運周天,頓悟神仙妙訣。一點真陽生坎位,補卻離宮之缺。自古神仙,這些 離坎日日無休歇。
今年冬至,梅花依舊凝雪。
先聖此日閉關,不通來往,皆為群生設物。物總含生育意,正在子初亥末, 造物無聲,水中火起,妙在虛危穴。如今識破,金鳥飛人蟾窟。所謂虛危穴者,即地戶禁門是也。其穴在於任督二脈中間,上通天谷,下達湧泉。故先聖有言:天門 當開,地戶永閉。蓋精氣聚散常在此處,水火發端也在此處,陰陽變化也在此處,有無入也在此處,子母分胎也在此處。
翠虛篇云:有一子 母分胎路,妙在尾箕鬥牛女。此穴千涉最大,系人生死岸頭,故仙家名為生死窟。
參同契云:築固靈采者此也,拘束禁門者此也。
黃庭經云:閉塞命門保玉都者,此也,閉了精路可長活者此也。
Chỉ Huyền Thiên viết: Tắc Đoài, thuỳ Liêm, mặc mặc khuy 塞兑垂帘默默窥 (Ngậm miệng, buông rèm, lặng lẽ trông)
Ô hô!
Thời thìn nhược chí bất lao tâm, 时辰若至不劳心,
Nội tự tương giao, tự kết ngưng, 内自相交自结凝。
Nhập thất án thời, tu đẳng chước, 入室按时须等着,
Nhất luân Hi Ngự tự đằng thăng, 一轮曦驭自腾升。
Thời thìn, khí tới khỏi lao tâm,
Trong tự tương giao, tự kết ngưng,
Nhập thất án thời, nên biết đợi.
Tự nhiên vừng Nhật sẽ đằng thăng!
Há dám tranh tiên sao?
Kim Đơn Đại Dược kết thai ở tiên thiên, sinh ra ở hậu thiên. Cái vi diệu là lúc Thái Cực sắp phân hay chưa phân. Tĩnh đã cực nhưng chưa tới Động. Dương sắp về nhưng chưa rời Âm. Lúc ấy, như có làn khói nhạt che mờ núi non, như có làn sương nhẹ che mờ sông nước, là tà như tuyết mùa đông lúc ngưng, lúc tụ, trầm trầm như nước đang lắng lại.
Trong khoảnh khắc ấy, một khiếu nhỏ phát sinh, cơ thể mềm như tơ, tim thấy hoảng hốt, dương vật tự nhiên cử phát, lúc ấy Dương khí lưu thông tới Thượng Đan Điền, thời cơ đã tới, Đó chính là Hoạt Tí Thời, hai lỗ mũi sẽ trương nở. Đó là lúc Thời Chí Thần Hoá, lúc Đại Dược sản sinh. Trong bụng sôi như sấm, và Đan Điền cũng trương khai, Nguyên Khí hùng dũng xung tiến vào Đan Điền Lúc ấy là lúc Huyền Quan lộ xuất và là lúc Nội Đan xuất Khoáng.
Thiệu Khang Tiết viết:
Hoảng hốt Âm Dương sơ biến hóa, 恍惚阴阳初变化,
Nhân uân Thiên Địa sạ hồi tuyền, 氤氲天地乍回旋。
Trung gian ta tử hảo quang cảnh, 中间些子好光景,
An đắc công phu nhập ngữ ngôn, 安得功夫入语言。
Hoảng hốt Âm Dương vừa biến hoá,
Thiên địa chuyển vần mới phân khai,
Thời gian mỹ hảo, cảm được đó,
Làm sao mô tả được nên lời,
Bạch Ngọc Thiềm viết:
Nhân khan Đẩu Bính vận Chu Thiên, 因看斗柄运周天,
Đốn ngộ Thần tiên chân Diệu Quyết, 顿悟神仙真妙诀。
Nhất điểm Chân Dương sinh Khảm vị, 一点真阳生坎位,
Bổ khước Ly cung chi sở khuyết. 补却离宫之所缺。
Nhân trông Bắc Đẩu vận chu thiên.
Liền hiểu thần Tiên Chân Diệu Quyết.
Một Điểm Chân Dương sinh Khảm vị.
Xung vào chỗ khuyết của Ly cung.
Trời Đất xưa nay, với Khảm Ly, Nhật Nguyệt, vận chuyển không ngừng nghỉ, Đông chí năm nay, mai hoa vẫn ngưng tuyết như cũ (Thế là Tuyết Lý Hoa Khai). Ngày đó, tiên thánh đóng cửa quan không cho ai lai vãng. Cốt là phục vụ chúng sinh . Vạn vật đều hàm dưỡng ý nghĩa sinh dục. Đó chính là lúc Tí Sơ, Hợi Mạt, Tạo Vật im lìm, hoả sinh từ nước. Ảo diệu sinh từ Hư Nguy Huyệt. Nay đã hiểu, thì Kim Ô (Nguyên Thần) sẽ nhập Thiềm Huyệt (Đan Điền).
Nói Hư Nguy huyệt, cũng chính là Địa Hộ, Cấm Môn vậy . Huyệt này nằm giữa hai mạch Nhâm Đốc. Trên thông Thiên Cốc (Nê Hoàn), dưới đạt Dũng Tuyền. Cho nên Thánh xưa nói: Thiên môn thường khai, Địa hộ vĩnh bế.
Vả Âm Dương tụ tán vốn tại đó, Thuỷ hoả phát sinh vốn tại đó. Âm Dương biến hoá vốn tại đó, Hữu Vô xuất nhập vốn tại đó, Tử mẫu phân Thai vốn tại đó.
Tuý Hư Thiên viết:
Hữu nhất tử mẫu phân thai lộ, 有一子母分胎路,
Diệu tại Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ. 妙在尾箕斗牛女。
Con đường tử mẫu phân thai Lộ,
Diệu tại Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ,
Huyệt này hết sức quan trọng. Nó chính là đầu bờ Sinh Tử của con người, nên Tiên Gia gọi là Sinh Tử Quật.
Tham Đồng Khế viết: Trúc cố Linh Chu 筑固灵株 (Xây chắc Khí căn). Chính là thế. Hay Câu Thúc Cấm Môn 拘束禁门cũng chính là thế.
Huỳnh Đình Kinh viết: Bế tắc Mệnh môn bảo Ngọc Đô 闭塞命门保玉都 (Bế tắc Mệnh Môn để bảo tinh¬), cũng là vậy, hay: Bế Tử Tinh Lộ Khả Trường Hoạt闭子精路可长活 (Bế tắc Tinh Lộ sẽ sống lâu) cũng là như vậy.
Cho nên lúc Âm Dương sơ sinh, hình như Liệt Hoả, như Viêm Phong, thấu lộ cửa quan mà ra, chắc phải qua huyệt này, vì trong đã đóng kỹ, nên nó không công kích để mở ra được, nên phải trở về huyệt Vĩ Lư, xung lên Thiên Cù (Đốc Mạch), cứ thế tiến lên, vượt Tam Quan (Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm), lên đến đỉnh đầu, phối hợp với Chân Hống (Nguyên Thần), kết thành Đan Sa, nếu không phải do công phu Câu Thúc Cấm Môn (Khẩn bế Hậu môn) thì là do cái gì?
益真陽初生之時,形如烈火,狀似炎風,斬關透路而出,必由此穴經過。 因閉塞緊密,攻擊不開,只得驅回尾閭,連空焰起人天衢,望上奔,一撞三關,直透頂門,得與真汞配合,結成丹砂。非拘束禁門之功而誰歟。
呂組純陽文集中之口訣:
無中出有還丹象,陰裡生陽大道基。
李清庵火候歌之口訣:
極 致清虛守靜篤,靜中一動陽來復。
鐘離權破迷正道歌口訣:
一點最初真種子,入得丹田萬古春。
白玉蟾方法歸一歌口訣:
一陽方動大丹成,片晌工夫造化靈。
瑩蟾子煉虛歌口訣:
虛極 只虛元氣凝,靜之又靜陽來復。
劉海蟾還金篇口訣:
渺邈但撈水裡月,分明只採鏡中花。
許旌陽石涵篇記口訣:
恍惚穹冥二氣精,能生萬象合乾坤。
Cho nên lúc Âm Dương sơ sinh, hình như Liệt Hoả, như Viêm Phong, thấu lộ cửa quan mà ra, chắc phải qua huyệt này, vì trong đã đóng kỹ, nên nó không công kích để mở ra được, nên phải trở về huyệt Vĩ Lư, xung lên Thiên Cù (Đốc Mạch), cứ thế tiến lên, vượt Tam Quan (Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm), lên đến đỉnh đầu, phối hợp với Chân Hống (Nguyên Thần), kết thành Đan Sa, nếu không phải do công phu Câu Thúc Cấm Môn (Khẩn bế Hậu môn) thì là do cái gì?
Đó là khẩu quyết của Lã Đồng Tân (Thuần Dương Văn tập).
Vô trung xuất hữu hoàn đơn tượng 无中出有还丹象,
Âm Lý sinh Dương, Đại Đạo cơ. 阴里生阳大道基。
Từ Vô sinh Hữu, tượng hoàn đơn,
Trong Âm sinh Dương, nền đại đạo,
Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Hoả Hầu Ca
Chí cực thanh hư thủ tĩnh đốc, 致极清虚守静笃,
Tĩnh trung nhất động Dương lai phục, 静中一动阳来复。
Chí cực thanh hư, thủ tĩnh đốc,
Tĩnh đốc động thời, Dương lai phục.
Đó là khẩu quyết của Hán Chung Ly trong Phá Mê Chính Đạo Ca.
Nhất điểm tối sơ Chân Chủng Tử. 一点最初真种子,
Nhập đắc Đơn Điền vạn cổ xuân, 入得丹田万古春。
Một điểm tối sơ Chân Chủng Tử,
Vào được Đơn Điền, Vạn cổ Xuân,
Đó là khẩu quyết của Bạch Ngọc Thiềm (Vạn Pháp Qui Nhất ca).
Nhất Dương tài động Đại Đơn thành, 一阳才动大丹成,
Phiến hướng công phu, Tạo Hoá Linh, 片饷工夫造化灵。
Nhất Dương vừa động, Đại Đơn thành,
Phút giây, thấy công phu Tạo Hoá,
Đó là khẩu quyết Huỳnh Thiềm Tử (Luyện Hư Ca).
Hư cực hựu hư, nguyên khí ngưng, 虚极只虚元气凝,
Tĩnh chi hựu tĩnh, Dương lai phục. 静之又静阳来复。
Hư cực tĩnh đốc, Nguyên Khí ngưng,
Tĩnh tới cùng Cực, Dương lai phục.
Đó là khẩu quyết của Lưu Hải Thiềm (Hoàn Kim Thiên).
Miểu mạc đãn lao Thuỷ lý nguyệt, 渺邈但捞水里月,
Phân minh chỉ thái kính trung hoa. 分明只采镜中花。
Xa xôi, muốn mò trăng đáy nước,
Phân minh cũng chỉ hái hoa gương,
Đó là khẩu quyết của Hứa Tinh Dương (Thạch Hàm Ký).
Hoảng hốt yểu minh nhị khí tinh, 恍惚窈冥二气精,
Năng sinh vạn vật hợp Kiền Khôn. 能生万象合乾坤。
Tinh hoa của Âm Dương nhị khí,
Đã sinh thành vạn vật Kiền Khôn,
Đó là khẩu quyết của Trương Tử Dương (Ngộ Chân Thiên).
張紫陽悟真篇口訣:
恍惚之中 尋有像,穹冥之內覓真精。
還陽子見性篇口訣:
日精若與月華合,自有真鉛出世來。
張用 成悟真篇口訣:
若問其鉛何物是,蟾光終日照西川。
諸真玄奧廣集口訣:
真鉛不產五金 內,生在穹冥天地先。
李道純原道歌口訣:
坎水中間一點真,急須取向離中輳。
李清庵中 和集口訣:
三物混融三性合,一陽來復一陰消。
劉奉真白龍洞中之口訣:
些兒須問天根 處,亥子中間得最真。
梅志仙採藥歌口訣:
陰蹺泥丸,一氣循環。下穿地戶,上撥天關。
石杏林口訣:
萬籟風初起,千山月三圓。急須行政生,便可運周天。
瑩蟾子口訣:
可道非 常道,行動是外功。些兒真造化,恍惚穹冥中。
石得之口訣:
藥取失天氣,火尋太陽精。能知藥取火,定裡見丹 成。
呂純陽口訣:
要覓長生路,除非認本元。都來一味藥,剛道數千般。
Hoảng hốt chi trung tầm Hữu Tượng, 恍惚之中寻有象,
Yểu minh chi nội, mịch Chân Tinh, 窈冥之内觅真精。
Từ trong hoảng hốt tìm chân Tượng.
Từ chốn yểu minh thấy Chân Tinh.
Đó là khẩu quyết của Hoàng Dương Tử (Kiến Tính Thiên)
Nhật Tinh nhược dữ Nguyệt hoa hợp, 日精若与月华合,
Tự hữu Chân Diên xuất thế lai, 自有真铅出世来。
Nhật tinh mà hợp với Nguyệt hoa,
Sẽ có Chân Diên sinh tại thế,
Đó là khẩu quyết của Trương Dụng Thành (Ngộ Thiên Chân).
Nhược vấn Chân Diên hà vật thị, 若问真铅何物是
Thiềm Quang chung nhật chiếu Tây Xuyên, 蟾光终日照西川
Nếu hỏi Chân Diên ấy vật chi?
Suốt bưổi trăng soi, chiếu Tây Xuyên.
Đó là khẩu quyết của sách Chư Chân Huyền Áo quảng tập.
Chân Diên bất sản Ngũ Kim nội, 真铅不产五金内,
Sinh tại Yểu minh Thiên Địa gian, 生在窈冥天地间。
Chân Diên không thấy trong kim loại,
Nó vốn sinh từ Thiên Địa Gian,
Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thuần (Nguyên Đạo Ca).
Khảm thuỷ trung gian nhất điểm Chân, 坎水中间一点真,
Cấp tu thủ hướng Ly trung thấu, 急须取向离中辏。
Một điểm Chân Dương Khảm thuỷ gian,
Mau lấy đem về Ly trung thấu.
Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Trung Hoà Tập).
Tam vật hỗn dung, tam tính hiệp, 三物混融三性合,
Nhất Dương lai phục, nhất Âm tiêu, 一阳来复一阴消。
Tinh, Khí, Thần, tự nhiên hợp nhất,
Chính là lúc Nhất Dương lai phục.
Đó là khẩu quyết của Lưu Phụng Chân (trong Bạch Long Đông).
Ta nhi dục vấn Thiên Căn xứ, 些儿欲问天根处,
Hợi Tí trung gian đắc Tối Chân, 亥子中间得最真。
Muốn tường Thiên căn xứ ở đâu?
Phải biết trung gian giữa Hợi Tí.
Đó là khẩu quyết của Mai Chí Tiên (Thái Dược ca).
Âm Kiều, Nê Hoàn nhất khí tuần hoàn, 阴桥泥丸一气循环
Hạ Xuyên Địa Hộ, thượng bạt Thiên Quan, 下穿地户上拨天关
Một khí tuần hoàn từ Âm Kiều đến Nê Hoàn,
Dưới xuyên Địa Hộ, thượng thấu Thiên Quan,
Đó là khẩu quyết của Thạch Hạnh Lâm.
Vạn lại phong suy khởi, 万籁风吹起,
Thiên san nguyệt sạ viên. 千山月乍圆。
Cấp tu hành chính lệnh, 急须行政令,
Tiện khả vận Chu Thiên, 便可运周天。
Gió vừa loạn khởi lai,
Âm thanh muôn vạn phát,
Đỉnh núi trăng vừa tròn ,
Lập tức hành chính lệnh,
Mới vận được chu thiên .
Đó là khẩu quyết của Huỳnh Thiềm Tử.
Khả đạo phi thường Đạo, 可道非常道,
Hành Công thị Ngoại Công, 行动是外功。
Ta nhi Chân Tạo Hoá, 些儿真造化,
Hoảng hốt yểu minh trung, 恍惚窈冥中。
Chân Đạo đâu nói được,
Hành Công ấy Ngoại Công,
Bí quyết Chân Tạo Hoá,
Ở tại Yểu Minh trung.
Đó là khẩu quyết của Thạch Đắc Chi.
Dược thủ Tiên Thiên Khí, 药取先天气,
Hoả tầm Thái Dương tinh 火寻太阳精。
Năng tri dược thủ hoả, 能知药取火,
Định lý kiến Đơn thành, 定里见丹成。
Tiên Thiên Khí là Dược,
Còn hoả ấy Nguyên Thần
Biết dược và biết hoả,
Trong định Đơn sẽ thành,
Đó là khẩu quyết của Lữ Thuần Dương (Lữ Đồng Tân).
金碧經口訣:
元君始煉汞,神室含洞虛。玄白生金公,巍巍 建始初。
彭鶴林口訣:
得訣歸來試煉看,龍爭虎戰片時間。九華天上人知得,一夜風雷撼萬山。
上陽子口訣:
虎之為物最難言,尋得歸來玄又玄。一陽初動癸生處,此際因名大際先。
陳泥丸口訣:
半斤真汞半斤鉛,隱在靈源太極先。須趁子時當採取,煉成金液入丹田。
呂純陽口訣:
捉得金精固定基,日魂東 畔月華西。於中煉就長生藥,服了還同天地齊。
徐神翁口訣:
燦燦金華日月精,溶溶玉液乾坤髓。夜深天宇間無 塵,唯有蟾光照神水。
陳默然口訣:
兌金萬寶正西成,桂魄中秋倍樣明。便好用功施採取,虛中以待一陽生。
玄奧集口訣:
一泓神水滿華池,夜夜池邊白雪飛。雪裡有人擒玉兔,趕教明月上寒枝。
Yếu mịch Trường Sinh lộ, 要觅长生路,
Trừ phi nhận Bản Nguyên, 除非认本元。
Đô lai nhất vị dược, 都来一味药,
Cương đạo số thiên ban, 刚道数千般。
Muốn tìm nẻo Trường Sinh,
Phải biết Bản Nguyên mình,
Dược vị vốn chỉ một,
Người nói thành trăm nghìn.
Đó là khẩu quyết Kim Bích Kinh.
Nguyên Quân thuỷ luyện Hống, 元君始炼汞,
Thần thất hàm Động Hư, 神室含洞虚。
Huyền bạch sinh Kim Công, 玄白生金公,
Nguy nguy kiến Thuỷ Sơ, 巍巍见始初。
Nguyên thần thoạt luyện Hống,
Đơn điền đầy hư không,
Nguyên khí sinh Kim Công,
Sùng cao khai Nguyên Thuỷ,
Đó là khẩu quyết của Bành Hạc Lâm.
Đắc quyết qui lai thí luyện đan, 得诀归来试炼丹,
Long tranh, hổ chiến phiến thời gian, 龙争虎战片时间。
Cửa hoa thiên thượng nhân tri đắc, 九华天上人知得,
Nhất dạ phong lôi hám vạn san, 一夜风雷撼万山。
Biết khẩu quyết rồi thử luyện đan,
Long tranh, Hổ chiến một thời gian,
Một trời bừng sáng, người đều biết,
Một đêm sấm chớp chuyển vạn san.
Đó là Khẩu quyết của Thượng Dương Tử.
Hổ chi vi vật tối nan ngôn, 虎之为物最难言,
Tầm đắc qui lai huyền hựu huyền, 寻得归来玄又玄。
Nhất dương sơ động Quí sinh xứ, 一阳初动癸生处,
Thử tế nhân danh Đại Dịch tiên, 此际因名大易先。
Hổ (Chân Khí) là con vật khó tả sao,
Bắt được đem về lạ biết bao,
Nhất dương vừa động, thời gian ấy,
Là lúc Dịch kinh gọi là Vô.
Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.
Bán cân Chân Hống, Bán cân Diên, 半斤真汞半斤铅,
Ẩn tại Linh Nguyên Thái Cực tiên, 隐在灵源太极先。
Tu sấn Tí thời đương thái thủ, 须趁子时当采取,
Luyện thành Kim Dịch nhập Đan Điền. 炼成金液入丹田。
Nửa cân Chân Hống, nửa cân Diên,
Ẩn tại Linh nguyên, Thái Cực tiền,
Phải nhân giờ Tí mà Thái Thủ.
Luyện thành Kim Dịch nhập Đan Điền.
Đó là khẩu quyết của Lữ Thuần Dương.
Tróc đắc Kim Tinh cố mệnh cơ, 捉得金精固命基,
Nhật hồn Đông bạn, nguyệt hoa Tây, 日魂东畔月华西。
Vu trung luyện tựu Trường Sinh dược, 于中炼就长生药,
Phục liễu hoàn đồng thiên địa tề. 服了还同天地齐。
Biết dùng Nguyên Khí cố mệnh cơ,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hai bề đủ,
Đem về tu luyện thuốc Trường sinh.
Sẽ được sống lâu cùng trời đất,
Đó là khẩu quyết của Từ Thần Ông.
Xán xán kim hoa nhật nguyệt tinh, 灿灿金华日月精,
Dung dung ngọc dịch Kiền Khôn tuỷ. 溶溶玉液乾坤髓。
Dạ thâm thiên vũ hồi vô trần 夜深天宇回无尘,
Duy hữu thiềm quang chiếu thần thuỷ. 唯有蟾光照神水。
Xán lạn Kim Hoa Nhật nguyệt tinh,
Ngọc Dịch tinh hoa, Kiền Khôn tuỷ,
Đêm khuya Thiên Không quýnh vô trần,
Chỉ có Nguyên Thần chiếu Nguyên khí.
Đó là khẩu quyết của Trần Mặc Mặc.
Đoài Kim vạn bửu chính Tây Thành, 兑金万宝正西成,
Quế phách Trung Thu, bội dạng minh, 桂魄中秋倍样明。
Tiện hảo dụng công thi thái thủ, 便好用功施采取,
Hư trung dĩ đãi Nhất Dương Sinh. 虚中以待一阳生。
Đoài Kim Chính thực ở Tây Phương.
Nguyệt chiếu Trung Thu, rực rỡ thêm,
Lúc đó là khi cần thái thủ,
Hư trung chỉ đợi Nhất Dương sinh,
Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.
陳圖南口訣:
窈冥才露一端倪,恍惚未曾分彼此。中間主宰這些兒,便是世人真種子。
陳翠虛口訣:
只取一味水中金,收拾虛 無造化窟。促將百脈盡歸根,脈住氣停丹始結。
龍盲子口訣:
先天一氣號其鉛,莫信迷徒妄指傳。南北滋張緣朕 兆,一靈飛走賴拘鈐。
鐘離權口訣:
塞兌垂簾寂默窺,滿空白雪亂參差。慇勤收拾無令失,貯看孤輪月上時。
薛道光口訣:
無不為之有以為,坎中有白要歸離。水源初到極清處,一點靈光人不知。
呂洞賓口訣;
奠怪瑤池消息稀,只緣人事隔天機。若人尋得水中火,有一黃童上太微。
瑩蟾子李翁口訣:
玄關欲透作工夫,妙 在一陽來復。天癸方生忙下手,采處切須虔篤。
邵康節口訣:
忽然夜半一聲雷,萬戶千門次第開。若識無中含有 像,許君親見伏羲來。
上陽子口訣:
元來一味坎中金,未得師傳枉用心。忽爾打開多寶藏,木非土也不成林。
Nhất hoằng Thần Thuỷ mãn Hoa Trì, 一泓神水满华池,
Dạ dạ trì biên bạch tuyết phi, 夜夜池边白雪飞。
Tuyết lý hữu nhân cầm Ngọc Thố, 雪里有人擒玉兔,
Cản giáo minh nguyệt thượng hàn chi, 赶教明月上寒枝。
Nguyên Thần, Nguyên Khí mãn Hoa Trì,
Bên nước đêm đêm tuyết phân phi,
Trong tuyết có người bắt Ngọc Thố,
Giúp cho trăng sáng nhập Đan Điền.
Đó là khẩu quyết của Trần Đồ Nam.
Yểu minh tài lộ nhất đoan nghê, 窈冥才露一端倪,
Hoảng hốt vị tằng phân bỉ thử, 恍惚未曾分彼此。
Trung gian chủ tể giá ta nhi, 中间主宰这些儿,
Tiện thị thế nhân Chân Chủng tử, 便是世人真种子。
Yểu minh vừa lộ nhất đoan nghê (Đầu mối).
Hoảng hốt không ngoài Âm lẫn Dương,
Trung gian chủ tể là Thái Cực,
Cái đó chính là Chân chủng tử,
Đó là Khẩu quyết của Trần Thuý Hư.
Chỉ thủ nhất vị Thuỷ trung Kim, 只取一味水中金,
Thu thập Hư Vô tạo Hoá Quật, 收拾虚无造化窟。
Tróc tương bách mạch tận qui căn, 捉将百脉尽归根,
Mạch trụ, Khí đình, Đơn thuỷ kết, 脉住气停丹始结。
Chỉ đem Chân Khí Thuỷ trung Kim,
Thu thập đem về Tạo hoá Quật,
Lại đem bách mạch tận qui căn,
Mạch trụ, Khí đình, Đan sẽ kết.
Đó là khẩu quyết của Long Mi Tử.
Tiên Thiên Nhất khí hiệu Chân Diên, 先天一气号真铅,
Mạc tín mê đồ vọng chỉ truyền, 莫信迷徒妄指传。
Vạn hoá tư trương, duyên trẫm triệu, 南化滋张缘朕兆,
Nhất linh phi tẩu lại câu kiềm. 一灵飞走赖拘钤。
Tiên Thiên nhất khí ấy Chân Diên,
Chớ tin bọn dốt chỉ huyên thuyên,
Vạn hoá chỉ sinh từ một gốc,
Nhất linh bay nhảy, phải giữ gìn.
Đó là khẩu quyết của Chung Ly Quyền.
Tắc Đoài thuỳ liêm tịch mặc Khuy, 塞兑垂帘寂默窥,
Mãn không bạch tuyết loạn sâm si, 满空白雪乱参差。
Ân cần thu thập vô lệnh thất, 殷勤收拾无令失,
Trữ khán cô luân Nguyệt thượng thời, 贮看孤轮月上时。
Ngậm miêng, lim dim cố ngắm xem.
Đầy trời mưa tuyết, trắng Đan Điền,
Ân cần đem Nguyên Khí về Đan Điền,
Đợi Nguyên Thần xuất hiện (nữa) là xong.
Đó là khẩu quyết của Tiết Đạo Quang.
Vô bất vi chi, hữu dĩ vi, 无不为之有以为,
Khảm trung hữu bạch yếu qui Ly. 坎中有白要归离。
Thủy nguyên sơ đáo cực thanh xứ, 水源初到极清处,
Nhất điểm Linh Quang nhân bất tri, 一点灵光人不知。
Nhân chẳng làm chi, có làm chi,
Khảm trung Dương điểm phải qui Ly,
Ý niệm phải sao thanh hư cực,
Linh quang mới hiện, ít người hay.
Đó là khẩu quyết của Lữ Đồng Tân.
Mạc quái Dao Trì tiêu tức hi. 奠怪瑶池消息稀,
Chỉ duyên nhân sự cách thiên ki, 只缘人事隔天机。
Nhược nhân tầm đắc Thuỷ trung Hoả 若人寻得水中火,
Hữu nhất Huỳnh Đồng thượng Thái Vi, 有一黄童上太微。
Dao Trì tin tức ít kẻ hay,
Chỉ tại con người quá cách trời,
Khảm trung Chân Hoả mà tìm được,
Sẽ có Tiểu Tiên nhập Thái Vi.
Đó là khẩu quyết của Huỳnh Thiềm tử, Lý Ông.
Huyền Quan dục thấu tố công phu, 玄关欲透作工夫,
Diệu tại Nhất Dương lai phục sơ, 妙在一阳来复初。
Thiên Quí tài sinh, mang hạ thủ, 天癸才生忙下手,
Thái xứ thiết tu kiền đốc đồ. 采处切须虔笃图。
Muốn vào công tác tại Huyền Quan,
Nhất Dương lai phục, mới dễ bàn,
Thiên Quí vừa sinh, mau bắt lấy,
Hái thuốc dĩ nhiên phải bền gan.
Đó là khẩu quyết của Thiệu Khang Tiết.
Hốt nhiên dạ bán nhất thanh lôi, 忽然夜半一声雷,
Vạn hộ thiên môn thứ đệ khai 万户千门次第开。
Nhược thức vô trung hàm hữu tượng, 若识无中含有象,
Hứa quân thân kiến Phục Hi lai. 许君亲见伏羲来。
Nửa đêm bỗng thấy sấm rền trời,
Cửa rả muôn nghìn lớp lớp khai,
Hiểu được trong không dày dẫy có,
Khác nào thấy được Phục Hi Lai.
Bài thơ trên là của Chu Hi.
Bài thơ của Thiệu Khang Tiết là:
Đông chí Tí chi bán, Thiên Tâm vô cải di,
东至子之半, 天心无改移
Nhất Dương sơ động xứ, Vạn vật vị sinh thì.
一阳初动处, 万物未生时
Huyền tửu vị phương đạm, Thái Âm thanh chính hi,
玄酒味方淡, 太阴声正稀
Thử ngôn như bất tín, Cánh thỉnh vấn Bao Hi.
此言如不信, 更请问庖羲
Đông chí hàn băng khí phục quy, Cơ trời vốn dĩ chẳng sai di,
Nhất Dương vừa thoạt manh nha động, Vạn vật còn trong bão dựng thì,
Tiên tửu nếm qua thường nhạt nhẽo, Thái Âm nghe thoạt tưởng li ti,
Ví thử lời ấy chưa tin đủ, Xin hãy tiềm tâm hỏi Phục Hi.
(Xem Chu Dịch bản nghĩa, Nguyễn Duy Tinh, Tr. 209).
Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.
陳翠虛口訣:
父精母血結胎成,尚自他形似我形。身內認吾真父母,方才捉得五行精。
陳泥丸口訣:
西南路上月華明,大藥還從此處生。記得古人詩一句,曲江之上鵲橋橫。
玄奧集中口訣:
煉丹仔細辨功夫,晝夜 慇勤在藥爐。若遇一陽才起復,覺時須採老時枯。
張三峰口訣:
佛印指出虛而覺,丹陽訣破無中有。捉住元初那點 真,萬古千秋身不朽。
珠玉集中口訣:
水鄉鉛,只一味,不是精神不是氣。元來即是性命根,隱在先天心坎內。
上陽子口訣:
恰恰相當絕妙奇,中秋天上月圓時。陽生急采無今緩,進火功夫要慮危。
陳泥丸口訣:
寓坎名為水火精,本是乾坤二卦成。但取坎宮點離穴,純乾便可攝飛瓊。
玄奧集口訣:
憂惚之中有至精,龍吟虎 嘯最堪聽。玄珠飛趁崑崙去,晝夜河車不暫停。
薛紫賢口訣:
軋軋相從響發時,不從他得豁然知。橘槔說盡無生 曲,井底泥蛇舞柘枝。
許宜平口訣:
返本還原已到乾,能升能降號飛仙。一陽生是興功日,九轉周為得道年。
陳翠虛口訣:
日烏月兔兩輪圓,根在先天採取難。月在望中能採取,天魂地魄結靈丹。
金丹撮要口訣:
一氣團成五物真,五物團成一物靈。奪得乾坤真種子,子生孫兮又生孫。
回穀子口訣:
精神氣血歸三要,南北東 西其一家。天地變通飛白雪,陰陽和合產金華。
王果齋口訣:
精神氣,藥最親,以此修丹尚未真。修丹只要乾坤 髓,乾坤髓即坎離仁。
陳泥丸口訣:
鉛汞相傳世所稀,硃砂為質雪為衣。朦朧只在君家捨,日日君看君不知。
Nguyên lai nhất vị Khảm Trung Kim, 元来一味坎中金,
Vị Đắc sư truyền uổng dụng tâm, 未得师传枉用心。
Hốt nhĩ đả khai đa bảo tạng, 忽尔打开多宝藏,
Mộc phi thổ dã bất thành lâm, 木非土也不成林。
Dương trung nhất vị Khảm Trung Kim
Không được sư truyền, phí sức tìm,
Tìm ra mở được nhiều kho báu,
Không nó cây sao mọc thành non?
Đó là khẩu quyết của Trần Thuý Hư.
Phụ tinh mẫu huyết, kết thai thành, 父精母血结胎成,
Thượng tự tha hình, tự ngã hình, 尚自他形似我形。
Thân nội nhận ngô chân phụ mẫu, 身内认吾真父母,
Phương tài tróc đắc Ngũ hành tinh. 方才捉得五行精
Phụ tinh mẫu huyết kết thành thai,
Trông tưởng khác mình, lại giống mình.
Trong thân nhận được chân Phụ mẫu
Rồi ra bắt được Ngũ hành Tinh (Nội Đơn).
Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.
Tây Nam lộ thượng nguyệt hoa minh, 西南路上月华明,
Đại Dược hoàn tòng thử xứ sinh, 大药还从此处生。
Ký đắc cổ nhân thi nhất cú, 记得古人诗一句,
Khúc Giang chi thượng Thước Kiều hoành. 曲江之上鹊桥横。
Đường tới tây nam trăng sáng quắc,
Đại Dược cũng do thử xứ sinh,
Thi phú người xưa được nhất cú,
Khúc Giang sông ấy, Thước Kiều ngang.
Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.
Luyện đơn tử tế biện công phu, 炼丹仔细辨功夫,
Trú dạ ân cần thủ dược lô, 昼夜殷勤守药炉。
Nhược ngộ nhất dương tài khởi phục, 若遇一阳才起复,
Nộn thời tu thái, lão thời khô. 嫩时须采老时枯。
Luyện đơn khéo khéo biện công phu.
Đêm ngày cần mẫn thủ Dược Lô.
Nếu thấy Nhất Dương vừa sinh lại,
Non thời mới hái, kẻo già khô.
Đó là khẩu quyết của Trương Tam Phong.
Phật Ấn chỉ xuất hư nhi giác, 佛印指出虚而觉,
Đơn Dương quyết phá Vô trung Hữu, 丹阳诀破无中有。
Tróc trụ nguyên sơ na điểm Chân, 捉住元初那点真,
Vạn cổ thiên thu thân bất hủ, 万古千秋身不朽。
Phật Ấn chỉ xuất Hư nhi Giác,
Đơn Dương quyết phá Hữu trong Vô,
Nhất Dương lai phục tìm ra được,
Sẽ có Thiên Thu bất hủ thân.
Đó là khẩu quyết của Châu Ngọc Tập.
Thủy hương Diên trung chỉ nhất vị, 水乡铅中只一味,
Bất thị Tinh Thần, bất thị Khí, 不是精神不是气。
Nguyên thần tức thị Tính Mệnh Căn. 元神即是性命根,
Ẩn tại Tiên Thiên Tâm Khảm Nội, 隐在先天心坎内。
Thuỷ trung Kim kia chỉ một vị,
Không phải Tinh, Thần, không phải Khí,
Nguyên Thần ấy chính là Tính Mệnh Căn.
Ẩn tại Tiên Thiên Tâm Khảm Nội.
Đó là khẩu quyết của Thượng Dương Tử.
Kháp kháp tương đương tuyệt diệu kỳ, 恰恰相当绝妙奇,
Trung Thu thiên thượng nguyệt viên thì, 中秋天上月圆时。
Dương sinh cấp thái vô lệnh hoãn, 阳生急采无今缓,
Tiến Hoả công phu yếu lự nguy. 进火功夫要虑危。
Hoả hậu luyện đơn thật diệu kỳ.
Trung thu tháng tám trăng tròn trặn,
Nhất Dương mà tới chớ diên trì,
Tiến Hoả công phu phải phòng nguy.
Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.
李清庵口訣:
先天至理妙難窮,鉛產西方汞產東。水火二途分上下,玄關一竅在當中。
王陽明口訣:
閒觀物態皆生意,靜悟天機入穹冥。道在險夷隨地樂,心忘魚鳥自流行。
邵康書口訣:
天心復處是無心,心到無 時無處尋。若謂無心便無事,水中何故卻生金。
李清庵中和集中之口訣:
煉汞烹鉛本沒時,學人當向定中推。客塵 欲染心無著,天癸才生神自知。
性寂金來歸性本,精凝坎去補南離。兩般靈物交並後,陰盡陽純道可期。
李道純中 和集中之口訣:
火將容易藥非遙,天癸生如大海潮。兩種汞鉛知採取,一齊物慾盡捐消。
掀翻萬有三元合,煉盡諸 陰五氣朝。十月脫胎丹道畢,嬰兒形兆渴神霄。
陳楠口訣:
奪取天機妙,夜半看辰杓,一些殊露。阿誰運列稻花 頭,便向此中採取。
宛如碧蓮含蕊,滴破玉池秋萬籟。風初起,明月一沙歐。
以上皆諸真得藥口義,各引數言,以 便印證者。
Ly Khảm danh vi Thuỷ Hoả Tinh, 离坎名为水火精,
Bản thị Kiền Khôn nhị quái thành, 本是乾坤二卦成。
Đãn thủ Khảm Tinh điểm Ly huyệt, 但取坎精点离穴,
Thuần Kiền tiện khả nhiếp phi quỳnh. 纯乾便可摄飞琼。
Ly Khảm có tên Thuỷ Hoả Tinh,
Chúng chính Kiền Khôn biến hoá thành,
Đem được Khảm Dương về Ly vị,
Thuần Kiền âu sẽ phục hồi linh.
Đó là khẩu quyết của Huyền Áo Tập.
Hoảng hốt chi trung hữu chí Tinh, 忧惚之中有至精,
Long ngâm hổ khiếu tối kham thinh, 龙吟虎啸最堪听。
Huyền Châu phi sấn Côn Lôn khứ, 玄珠飞趁昆仑去,
Trú dạ Hà Xa bất tạm đình, 昼夜河车不暂停。
Hoảng hốt chi trung hữu chí tinh,
Nguyên Thần, Nguyên Khí hiệp hoà thanh,
Huyền châu bay thẳng Côn Lôn đỉnh,
Vận Khí Hà Xa chẳng được đình,
Đó là khẩu quyết của Tiết Tử Hiền.
Yết yết tương tòng hưởng phát thì, 轧轧相从响发时,
Bất tòng tha đắc khoát nhiên tri, 不从他得豁然知。
Kết cao thuyết tận vô sinh khúc, 桔槔说尽无生曲,
Tỉnh để Nê Xà vũ chá chi . 井底泥蛇舞柘枝。
Yết yết vừa nghe trục nước quay,
Hốt nhiên minh giác chẳng nhờ ai,
Tiếng gầu vận nước nêu ý tứ,
Cho thấy giếng sâu khúc Chá Chi .
Đó là Khẩu quyết của Hứa Tuyên Bình.
Phản bản hoàn nguyên dĩ đáo Kiền, 返本还原已到乾,
Năng thăng, năng giáng hiệu phi tiên, 能升能降号飞仙。
Nhất Dương sinh thị hưng công nhật, 一阳生是兴功日,
Cửu chuyển chu vi đắc đạo niên, 九转周为得道年。
Khảm dạy hồi nguyên tới quẻ Kiền,
Biết hô biết hấp sẽ thành tiên,
Nhất Dương lai phục, công thành khắc,
Cửu chuyển đơn thành, đắc đạo niên,
Đó là khẩu quyết của Trần Thuý Hư.
Nhật ô, Nguyệt thố lưỡng luân viên, 日乌月兔两轮圆,
Căn tại Tiên Thiên thái thủ nan, 根在先天采取难。
Nguyệt dạ vọng trung năng thái thủ, 月夜望中能采取,
Thiên Hồn Địa Phách kết Linh Đan, 天魂地魄结灵丹。
Nguyên Thần, Nguyên khí lưỡng luân viên,
Gốc lại Tiên Thiên, thái thủ nan,
Chỉ lúc trăng tròn, mới hái được,
Tinh Hoa Trời đất kết Linh Đan.
Đó là khẩu quyết của Kim Đơn toát Yếu.
Nhất khí đoàn thành ngũ vật chân. 一气团成五物真,
Ngũ vật đoàn thành nhất vật linh, 五物团成一物灵。
Đoạt đắc Kiền Khôn Chân Chủng Tử, 夺得乾坤真种子,
Tử sinh tôn hề hựu sinh tôn, 子生孙兮又生孙。
Nhất Khí xuất sinh ra vũ trụ.
Ngũ hành lại tạo được Đan Linh,
Biết được Kiền Khôn Chân Chủng Tử,
Con con cháu cháu sẽ trường tồn.
Đó là Khẩu quyết của Hồi Cốc Tử.
Tinh thần khí huyết qui tam yếu, 精神气血归三要,
Nam bắc Đông Tây cộng nhất gia, 南北东西共一家。
Thiên Địa biến thông phi bạch tuyết, 天地变通飞白雪,
Âm Dương hoà hợp sản Kim Hoa, 阴阳和合产金华。
Tinh Thần Khí Huyết qui Tam yếu,
Nam Bắc Đông Tây cộng một nhà,
Trời đất biến thông, phi bạch tuyết,
Âm Dương hoà hợp sản Kim hoa.
Đó là khẩu quyết của Vương Quả Trai.
Tinh Thần Khí thị dược tối thân, 精神气是药最亲,
Dĩ thử tu đơn thượng vị chân, 以此修丹尚未真。
Tu Đơn chỉ yếu Kiền Khôn tuỷ, 修丹只要乾坤髓,
Kiền Khôn tuỷ tức Khảm Ly nhân, 乾坤髓即坎离仁。
Tinh Khí Thần ba vật tương thân,
Luyện đơn dùng nó, chửa chắc chân,
Tu Đơn cần nhất Kiền Khôn Tuỷ,
Mà Tuỷ Kiền Khôn: Khảm Ly nhân
Đó là khẩu quyết của Trần Nê Hoàn.
Diên Hống tương truyền thế sở hi, 铅汞相传世所稀,
Chu Sa vi chất, tuyết vi y. 朱砂为质雪为衣。
Mung lung chỉ tại quân gia xá. 朦胧只在君家舍,
Nhật nhật quân khan, quân bất tri, 日日君看君不知。
Diên Hống tương truyền rất hiếm thay,
Trong gọi Kim Đơn, ngoài như tuyết,
Nó vốn trong Ông, Ông không biết,
Biết ra thời thấy thật liền tay.
Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am.
Tiên Thiên chí lý diệu nan cùng, 先天至理妙难穷,
Diên sản Tây Phương, Hống sản Đông, 铅产西方汞产东。
Thuỷ Hoả nhị đồ phân thượng hạ, 水火二途分上下,
Huyền Quan Nhất Khiếu tại đương trung, 玄关一窍在当中。
Chân lý Tiên Thiên kỳ diệu khôn cùng,
Diên sinh ở Tây, Hống ở Đông,
Thuỷ Hoả đôi đường phân trên dưới,
Huyền Quan nhất khiếu ở giữa lòng,
Đó là khẩu quyết của Vương Dương Minh.
Nhàn quan vật năng giai sinh ý, 闲观物能皆生意,
Tĩnh ngộ Thiên cơ nhập yểu minh 静悟天机入窈冥。
Đạo tại hiểm di, tuỳ địa lạc, 道在险夷随地乐,
Tâm vong ngư điểu tự lưu hành, 心忘鱼鸟自流行。
Nhìn xem muôn vật đều sống động,
Như vậy là sẽ biết Thiên cơ,
Đường đời dễ khó ta vui bước,
Tâm mà quên cảnh, sẽ thành công,
Đó là khẩu quyết của Thiệu Khang Tiết.
Thiên Tâm phục xứ thị vô tâm, 天心复处是无心,
Tâm đáo vô thời, vô xứ tầm. 心到无时无处寻。
Nhược vị vô tâm tiện vô sự, 若谓无心便无事,
Thủy trung hà cố khước sinh kim? 水中何故却生金。
Nhất Dương lai phục lẽ tự nhiên,
Tâm mà vô niệm khó mà tầm,
Nếu bảo vô tâm là vô sự,
Tại sao trong nước xuất hoàn cân (kim)?
Đó là khẩu quyết của Lý Thanh Am (Trung Hoà Tập).
Luyện Hống, phanh Diên bản một thời. 炼汞烹铅本没时,
Học nhân đương hướng định trung thôi. 学人当向定中推。
Khách trần dục nhiễm tâm vô trước, 客尘欲染心无着,
Thiên quý tài sinh thần tự tri. 天癸才生神自知。
Tính tịch Kim lai qui tính bản. 性寂金来归性本,
Tinh ngưng Khảm khứ bổ Nam Ly. 精凝坎去补南离。
Lưỡng ban Linh Vật giao tịnh hậu. 两般灵物交并后,
Âm tận, Dương thuần, đạo khả kỳ. 阴尽阳纯道可期。
Luyện Hống phanh Diên vốn không thời.
Người tu, định tĩnh, mới đáng tài.
Khách trần phải học Vô Tâm trước,
Thiên Quý (Dương Tinh) sinh ra là thần biết,
Tinh muốn qui căn, phải tĩnh lặng.
Khảm Dương phải biết lấy điền Ly.
Khảm Ly hòa hợp mà biết được,
Âm tận, Dương thuần, Đạo khả kỳ.
Đó là khẩu quyết của Lý Đạo Thuần (Trung Hoà Tập).
Hoả phù dung dị, dược phi dao, 火符容易药非遥,
Thiên Quí sinh như đại hải trào, 天癸生如大海潮。
Lưỡng chủng Hống Diên tri thái thủ, 两种汞铅知采取,
Nhất tề vật dục tận thuyên tiêu, 一齐物欲尽捐消。
Hân phiên vạn hữu tam nguyên hợp. 掀翻万有三元合,
Luyện tận Chư Âm, Ngũ Khí triều. 炼尽诸阴五气朝。
Thập nguyệt thoát thai đan đạo tất, 十月脱胎丹道毕,
Anh Nhi hình triệu yết Thần Tiêu. 婴儿形兆谒神霄。
Hỏa phù không khó, Dược không xa,
Thiên Quí sinh như Đại Hải Trào.
Hống Diên hai vật mà hái được,
Vật Dục nhất tề sẽ hao tiêu.
Vạn hữu cố đem hoà hợp lại,
Luyện tận Chư Âm, Ngũ Khí triều.
Mười tháng thoát thai, Đan Đạo tất,
Anh Nhi hình hiện yết Thần Tiêu.
Đó là khẩu quyết của Trần Nam.
Đoạt thủ Thiên Cơ diệu, 夺取天机妙,
Dạ bán khan Thần Tiêu. 夜半看神霄,
Nhất ta châu lộ. 一些殊露。
A thuỳ vận đáo đạo hoa đầu. 阿谁运到稻花头,
Tiện hướng Bắc trung thái thủ. 便向北中采取。
Uyển như bích liên hàm nhị, 宛如碧莲含蕊,
Trích phá Ngọc Trì thu. 滴破玉池秋
Vạn lại phong sơ khởi, 万籁风初起,
Minh nguyệt nhất sa âu. 明月一沙欧。
Bí quyết Thiên cơ đoạt, Nửa đêm nhìn Chuôi Đẩu,
Như thấy Thần Châu Lộ. Ai đem nước đó rải trên hoa?
Thủ Khảm điền Ly cần phải biết. Liên hoa sẽ nở ao Ngọc trì.
Nhạc trời trong gió vang lừng trổi, Chỉ thấy bóng trăng chiếu sa âu.
(xin xem tiếp TỤ HỎA TẢI KIM ĐỒ)
聚火載金訣法
<聚火載金圖>
北方正氣,號約河車。載金上升,度我還家。
陰陽之始,玄含黃芽。五金之主,北方河車。
金滿三車奪聖機,衝開九竅過曹溪。迢迢運入崑崙頂,萬道霞光射紫微。
三車載寶上崑崙,無漏須拴濟筏門。電掣雷轟龍虎鬥,急收甘雨潤 乾坤。
羊車、鹿車、馬車、白牛車,皆載金華而高昇彼岸;下乘、中乘、上乘、最上乘,鹹度法寶而直入涅槃。
(聚 火載金圖)
起先運南方離宮之火,以煉北方水中之金,是為以紅投黑,則凝神入坤臍而生藥。如今運北方水中之金,以制南方火中之木,是 為以黑見紅,則凝神入乾頂而成丹。
故紫陽悟真篇云:
依他坤位生成體,種在乾家交感宮。
崔公入藥鏡云:產在坤,種在乾。乾居上為鼎,坤居下為爐。非猛烹極段則藥不能出爐,非倒行逆旋則藥不能升鼎。鉛者,其性沉重之物也,若不得火,何由而 飛?汞者,其性飛揚之物也,若不得鉛,何由而結?是以聚火之法最為緊要也。
何謂聚火之法?此法即達摩、海蟾二祖師吸、舐,撮、閉四 字訣是也。吸者,鼻中吸氣以接先天也。舐者,舌拄上顎以迎甘露也。撮者,緊攝穀道內中提,明月輝輝頂上飛也。閉者,塞兌垂簾兼逆聽,久而神水落黃庭也。
TỤ HOẢ TẢI KIM ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Dương xa, lộc xa, ngưu xa, bạch ngưu xa, giai tải Kim Hoa nhi cao thăng Bỉ Ngạn.
羊车鹿车牛车白牛车皆载金华而高升彼岸
Xe dê (Vận Khí), xe hươu (Vận Tinh), xe bò (Vận Thần), Xe bò trắng (Chở Thượng Thừa Công Pháp), đều tải Đan Kinh sang Bỉ Ngạn.
Hạ Thừa, Trung Thừa, Thượng Thừa, Tối Thượng Thừa, hàm độ Pháp Bảo nhi trực nhập Niết Bàn.
下乘中乘上乘最上乘咸度法宝而直入涅盘
Hạ Thừa, Trung Thừa, Thượng Thừa, Tối Thượng Thừa đều mang Pháp Bảo (Nội Đan) tới Niết Bàn.
Kim mãn tam xa đoạt Thánh Ki, 金满三车夺圣机
Xung khai cửu khiếu quá Tào Khê, 冲开九窍过曹溪
Điều điều vận nhập Côn Lôn Đỉnh, 迢迢运入昆仑顶
Vạn đạo hà quang xạ Tử Vi, 万道霞光射紫微
Ba xe đầy ắp chở Thánh Ki,
Mở toang chín khiếu, vượt Tào Khê (Đốc Mạch),
Xa xăm vận tới Côn Lôn Đỉnh,
Hào quang rực rỡ chiếu Tử Vi.
Tam xa tải bảo thượng Côn Lôn, 三车载宝上昆仑
Vô lậu tu thuyên tế phiệt môn, 无漏须拴济筏门
Điện xiết lôi oanh Long Hổ đấu, 电掣雷轰龙虎斗
Cấp thu cam vũ nhuận Kiền Khôn, 急收甘雨润乾坤
Ba xe chở báu đến Côn Lôn,
Muốn không lậu tiết bế Đan Điền,
Nguyên Thần Nguyên khí mau hoà hợp,
Cam Lộ rồi ra nhuận Kiền Khôn,
Bắc phương chính khí, 北方正气
Hiệu viết Hà Xa, 号曰河车
Tải Kim thượng thăng, 载金上升
Độ Ngã hoàn gia, 度我还家
Bắc phương Chính Khí, Tên gọi Hà Xa.
Tải Dương Quang lên đầu, Đưa ta về Tiên Cảnh,
Âm Dương chi thuỷ, 阴阳之始
Huyền xá Hoàng Nha. 玄舍黄芽
Ngũ Kim chi chủ, 五金之主
Bắc Phương Hà Xa, 北方河车
Âm Dương khởi thuỷ,
Nhất điểm Hoàng Nha,
Chủ tể Ngũ Kim,
Bắc phương Hà Xa.
—————–
TỤ HOẢ TẢI KIM QUYẾT PHÁP
Trước hết đem lửa của Nam Phương Ly Cung để luyện nước của Bắc Phương Khảm Cung, đem Hồng gieo vào trong Hắc. Rồi ngưng thần nhập Rốn (Khôn Cung) mà sinh Dược. Rồi nay lại dùng nước của Bắc Phương Kim mà chế lửa của Nam Phương Mộc. Thế là cho Hắc gặp Hồng. Thế là ngưng Thần nhập Đỉnh Đầu (Kiền Đỉnh) để thành Đan.
Nên Tử Dương (Ngộ Chân Thiên) nói:
Y tha Khôn vị sinh thành thể, 依他坤位生成体,
Chủng tại Kiền Gia giao cảm cung, 种在乾家交感宫。
Dựa vào Khôn Vị, sinh thành thể,
Trồng tại Kiền gia, Giao Cảm Cung.
Thôi Công (Nhập Dược Kính) viết:
Sản tại Khôn, chủng tại Kiền. 产在坤,种在乾。(Sinh ở Khôn, trồng ở Kiền).
Kiền ở trên gọi là Đỉnh, Khôn ở dưới là Lô.
Nếu không nấu nung mãnh liệt, thì Thuốc không thể ra lò. Nếu không Đảo hành, nghịch triền, thì thuốc không thể lên Đỉnh. Diên là cái gì trầm trọng; nếu Diên không gặp lửa, thì làm sao mà bay được? Hống là cái gì nhẹ bay, nếu không gặp Diên thì làm sao mà ngưng kết? Vì thế nên Phương Pháp Tụ Hoả là rất cần yếu vậy.
Phương pháp Tụ Hoả như thế nào?
Phép này do nhị vị Tổ Sư là Đạt Ma và Bạch Hải Thiềm lập ra, lấy bốn chữ Hấp, Để, Toát, Bế làm khẩu quyết.
Hấp 吸 là hít khí vào để tiếp dẫn Tiên Thiên Khí; Để 舐 là đưa lưỡi lên cúa (Trong miệng, ngay dưới chân mũi) để hứng nước Cam Lồ. Toát 撮 là khép kín Hậu môn, đem Thần Khí lên Đỉnh đầu; Bế 闭 là ngậm miệng, lim dim đôi mắt, nghe ngược bên trong. Lâu ngày Thần Thuỷ sẽ rơi xuống Huỳnh Đình.
胡翠湖云:下不閉則火不聚而金不升,上不閉則藥不凝而丹不結。是以聚火之法,乃採取烹煉之先務也。其恍恍惚惚是採取時候,猛烹極煉是採取功夫,吸、舐、 撮、閉又是烹煉之的旨也。
夫採取之法,貴乎知時,不可太早,太早則藥嫩易升。亦不可太遲,太遲則藥老成質。必鉛華吐白,玄珠成象, 方是採取時節。
張紫陽云:鉛遇癸生須急采,金逢望遠不堪嘗。
張三峰云:電光煉處尋真種,風信來時覓本宗。
電光煉處,則穹冥之後,恍惚之間,一陽爻動之時,珠落畢池之際。此時節用參同契拘束禁門訣,緊塞太玄,閉任開督。即忙鼓之以橐籥,吹之以巽風,段之以猛 火。火熾則水沸,水沸則駕動河車,載金上升,泥丸與真汞配合,汞得鉛降,亦不飛走。如此漸漸抽添,漸漸凝結,自然鉛日減,汞日添。久之鉛盡汞自乾,陰盡陽 自純,至此則金丹大藥成矣。
煉此大藥,別無他術,只是採取先天一點祖氣,以為金丹之母耳。受之師曰:煉大梵之祖氣,飛時後之金晶, 存帝一之妙相,返三素於黃庭。此是口訣中之口訣也。
Chính vì thế mà Thúy Hồ nói:
Dưới mà không Bế, thì Hoả không tụ, mà Kim không thăng, trên mà không Bế thì Dương sẽ không thăng mà đan cũng không kết. Cho nên phép Tụ Hoả, là công việc trước tiên của công phu Thái Thủ và Phanh Luyện.
Hoảng hoảng, hốt hốt là lúc phải Thái Thủ; Mãnh phanh, cực luyện là công phu Thái thủ: Hấp, Để, Toát, Bế là yếu chỉ Phanh luyện.
Vả phép Thái Thủ hay nhất là phải biết Thời cơ. Không được quá sớm. Quá sớm thuốc sẽ non và dễ bay mất, quá muộn thuốc sẽ già và thành chất. Tất phải chờ khi nào Chân Diên hoa nhả bạch, Huyền Châu thành Tượng, khi ấy mới là lúc Thái Thủ.
Trương Tử Dương nói:
Diên ngộ Quí sinh, tu cấp thái 铅遇癸生须急采,
Kim phùng Vọng viễn bất kham đang. 金逢望远不堪当。
Diên cần Thái Thủ giờ Hoạt Tí.
Kim gặp hôm rằm ắt chẳng nên.
Trương Tam Phong viết:
Điện quang thước xứ tầm Chân Chủng, 电光烁处寻真种,
Phong tín lai thời mịch bản tông, 风信来时觅本宗。
Điện quang rực sáng tìm Chân Chủng,
Gió động là khi kiếm Bản Tông.
Chỗ Điện quang rực sáng là sau thời kỳ Yểu Yểu, Minh Minh, Hoảng Hốt là lúc Một Dương hào phát động, là lúc châu rơi xuống Hoa Trì.
Lúc này nên dùng khẩu quyết:
Câu Thúc Cấm Môn của Tham Đồng Khế. Khẩn bế Thái Huyền (Chính Âm), Bế Nhâm, Khai Đốc. Tức phải dùng cơ Thác Thược để cổ vũ suy vận. Dùng mãnh Hoả mà đốt, thì nước sẽ bốc thành hơi. Nước bốc thành hơi, sẽ giá động Hà Xa, sẽ chở Kim lên Nê Hoàn, cùng Chân Diên phối hợp, Hống gặp Diên thì sẽ giáng xuống, sẽ không còn thượng đằng. Cứ vậy mà sưu thiêm (thêm bớt), cứ thế mà ngưng kết, tự nhiên Diên (Hồn, Âm) sẽ dần tiêu, Hống (Thần, Dương) sẽ dần tăng.
Lâu ngày, Diên sẽ tận mà Hống sẽ khô. Thế là Kim Đơn Đại Dược thành vậy.
Luyện Đại Dược vốn không thuật khác, chỉ thấy một điểm Tiên Thiên Tổ khí, làm mẹ Kim Đan. Thầy tôi dạy rằng.
Luyện Đại Phạn chi Tổ Khí, 炼大梵之祖炁,
Phi trửu hậu chi Kim Tinh. 飞肘后之金晶,
Tồn Đế Nhất chi diệu tướng, 存帝一之妙相,
Phản Tam Tố vu Huỳnh Đình. 返三素于黄庭。
Luyện Thiên Thần Tổ khí,
Đem thận gian động khí.
Về cất giữ tại Đan Điền,
Phản Tam Tố (Tinh, Khí, Thần) về Huỳnh Đình.
Học giả chỉ biết là Diên Hống kết thành Đan, mà không biết rằng Thái Thủ, Sưu Thiêm, Phanh Luyện, Hoả Hầu đều có thứ tự, pháp độ. Thái Thủ là động tác đầu tiên, Sưu Thiêm là công trình về sau, ở giữa là công phu điều đình, hoả hầu.
Cho nên Tử Dương nói:
Túng nhận Chu Sa cập Hắc Diên. 纵认朱砂及黑铅,
Bất tri Hoả Hậu dã như nhàn. 不知火候也如闲。
Chỉ biết Chu Sa với Hắc Diên,
Hoả hầu không biết cũng vô duyên,
Chu Hối Ông nói:
Thần Tiên bất tác Tham Đồng Khế, 神仙不作参同契,
Hoả hậu công phu, na đắc tri? 火候工夫哪得知。
Thần Tiên không soạn Tham Đồng Khế?
Ai làm sao biết Hoả Hầu Công?
Tiết Đạo Quang viết:
Thánh Nhân truyền Dược bất truyền Hoả. 圣人传药不传火,
Tòng lai Hoả Hậu thiểu nhân tri. 从来火候少人知。
Mạc tương Đại Đạo vi nhi hí. 莫将大道为儿戏,
Tu cộng Thần Tiên tử tế suy. 须其神仙仔细推。
Thánh Nhân truyền Dược, không truyền Hoả,
Vì thế Hoả Hầu ít ai hay,
Đừng đem Đại Đạo làm trò trẻ,
Phải với Thần Tiên tử tế suy.
Hoả Hầu có Văn, có Võ, không thể nhất tề giống nhau.
Tĩnh trung Dương Động, Kim Ly khoáng, 静中阳动金离矿
Địa hạ Lôi oanh, Hoả bức Kim. 地下雷轰火逼金
Trong Tĩnh Động Dương, Kim lìa Khoáng,
Đất vang sấm chớp, Hoả bức Kim,
Đó là tiết thứ tư của Hoả hầu.
Mạn thủ Dược Lô khan hoả hậu, 谩守药炉看火候,
Đãn an thần tức nhiệm thiên nhiên, 但安神息任天然
Hãy giữ Đan Điền xem hoả hậu,
Hô Hấp điều hoà, pháp Tự Nhiên.
Đó là tiết thứ sáu của Hoả Hậu.
Dương văn, Âm vũ, vô lệnh thất, 阳文阴武无令失,
Tiến Thoái, sưu thiêm, hữu ngự thời, 进退抽添有驭持
Dương Văn, Âm Vũ không sai thác,
Tiến thoái, Sưu Thiêm phải có thời,
Đó là tiết thứ năm của Hoả Hầu.
Thành tính tồn tồn. 成性存存
Tính Trời cố giữ Chính Trung. Mở đường Đạo Nghĩa, dặm chừng vân du.
Đó là Hoả Hầu của Nho Gia.
Miên miên nhược tồn. 绵绵若存
Miên man muôn kiếp vẫn còn,
Muôn nghìn biến ảo, mà tuồng trơ trơ.
Đó là Hoả Hầu của Đạo Gia.
Bất đắc cần, bất đắc đãi. 不得勤、不得怠 (Không quá siêng, không quá lười).
Đó là Hoả Hầu của Thích Gia.
學者徒知以鉛汞交結為丹,而不知採取、抽添、烹煉、火候各有次序法度。蓋採取以 作其始,抽添以成其終,於中調停,全仗火候。
所以紫陽云:
縱識硃砂及黑鉛,不知火候也如閒。
朱晦翁云:
神仙不作參同契,火候工夫哪得知。
薛道光云:
聖人傳藥不傳火,從來火候 少人知。莫將大道為兒戲,須其神仙仔細推。
火候之法,有文有武,不可一律齊也。靜中陽動,金離礦地,下雷轟,火逼金。此第四節之火 候也。謾守藥爐看火候,但安神息任天然。此第六節之火候也。陽文陰武無令失,進退抽添有馭持。此第五節之火候也。成性存存者,儒家之火候也。綿綿若存者, 道家之火候也。不得勤、不得怠者,釋家之火候也。三月不違者,顏子之火候也。吾日三省者,曾子之火候也。日知其所亡,月無忘其所能者,夏之火候也。戒慎 乎,其所不睹;恐懼乎,其所不聞子思之火候也。必有事焉而無正心,勿忘而勿助長者,孟子之火候也。發憤忘食,孔子之武火也。樂以忘憂,孔子之文火也。不知 老之將至云爾者,至誠無息而火候純也。火候純,大丹成,而作聖之功畢也。
Tam nguyệt bất vi Nhân. 三月不违仁 (Trong ba tháng lòng chẳng lìa điều Nhân). x
Đó là khẩu quyết của Nhan Uyên.
Ngô nhật tam tỉnh 吾日三省 (Ta một ngày xét mình 3 lần)
Đó là Hoả Hầu của Tăng Tử.
Nhật tri kỳ sở vong; Nguyệt vô vong kỳ sở năng. 日知其所亡,月无忘其所能
(Mỗi ngày biết đã làm gì sai sót, mỗi tháng không quên đã làm được những gì).
Đó là khẩu quyết của Tự Hạ.
Giới thận hồ kỳ sở bất đổ, 戒慎乎其所不睹;
Khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. 恐惧乎其所不闻
E dè cái mắt không nhìn,
Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.
Đó là Hoả Hầu của Tử Tư.
Tất hữu sự yên nhi vật chính, tâm vật vong nhi vật trợ trưởng. 必有事焉而勿正心勿忘而勿助长 (Muốn bồi dưỡng khí hạo nhiên, đối với việc phải mình đừng hấp tấp mà cầu cho mau xong, đừng có xao lãng, và đừng có mong sức trưởng thành của công việc).
Đó là khẩu quyết của Mạnh Tử.
Phát phẫn vong thực 发愤忘食 (Thích học đến quên ăn).
Đó là vô hỏa khẩu quyết của Khổng Tử.
Lạc dĩ vong ưu 乐以忘忧 (Khi biết thêm được điều gì hay, thì vui đến quên lo).
Đó là Văn Hoả khẩu quyết của Khổng Tử.
Bất tri lão chi tương chí 不知老之将至 (Không biết tuổi già đã đến).
Đó là Chí Thành, không ngừng nghỉ, và Hoả Hầu thuần vậy.
Hoả Hầu thần, là Đan thành vậy. Thế là Công phu làm thánh hoàn tất vậy.
性命雙修萬神圭旨
第五節口訣
乾坤交媾去礦留金
(乾 坤交媾圖)
(內附卯酉周天口訣)
予前以性命之統乎其中者而言之,乃上乘法也。予今以性命之歸乎其根者而言 之,乃最上乘法也。
夫以性命之統乎其中者,此道寥寥,自鐘呂而下世鮮知矣。況乎性命之歸乎其根者耶,而世之知之者為尤鮮矣。似此竅 妙之奧、性命之微,若不復語重言,則學者難於悟入。
原人自父母之生以前,本體太虛而已矣。其餘之所謂無極者乎?既而父母媾精,而後 一點靈光而已矣。其餘之所謂太極者乎?而一點靈光,原從太極中來者,我之元神也。由是而氣,由是而形,唯知有此形氣已爾。美衣美食以奉養此身也,功名富貴 以尊崇此身也。如此而生,如此而死,自以為得矣。而子思之所謂天命之性者,非唯不能知,亦且不願知也。而其所以不願知者,豈非孟子所謂不可以已而失其本心 者乎?
CÀN KHÔN GIAO CẤU ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Côn Lôn đỉnh, 昆仑顶
Thanh Hư phủ, 清虚府
Thượng Thiên quan, 上天关
Giao Cảm cung, 交感宫
Tam Ma Địa, 三摩地
Tối Cao phong, 最高峰
Không Động sơn, 崆峒山
Huyền thất, 玄室
Huỳnh phòng, 黄房
Thiên cung, 天宫
Chân Tế, 真际
Thổ Đảo, 土岛
Thiên căn, 天根
Huyền môn, 玄门
Bỉ ngạn, 彼岸
Dao Trì, 瑶池
Nê Hoàn, 泥丸
Thiên cốc, 天谷
Thiên Đường, 天堂
Nội viện, 内院
Tử Phủ, 紫府
Liêu Thiên, 寥天
Đế Ất, 帝乙
Tắng Sơn, 甑山
Thiên Phù, 天符
Huyền Đô, 玄都
Chúc Dung Phong, 祝融峰
Thái Vi Cung, 太微宫
Ma Ni Châu, 摩尼珠
Thượng Đan Điền, 上丹田
Tử Kim Thành, 紫金成
Lưu Chân Cung, 流珠宫
Ngọc Kinh Sơn, 玉京山
Tử Thanh cung, 紫清宫
Thái Uyên Trì, 太渊池
Thuý Vi cung, 翠微宫
Viên giác hải, 圆觉海
Trung nhất cung, 中一宫
Đà La Ni Môn, 陀罗尼门
Não Huyết chi Quỳnh Phòng, 脑血之琼房
Hồn Tinh chi Ngọc Đường, 魂精之玉堂
Thượng phủ Thổ, 上釜土
Nguyệt quang Đỉnh, 月光鼎
Bát Nhã Ngạn, 般若岸
Ba La Mật địa, 波罗蜜地
Bách Linh chi Mệnh Trạch, 百灵之命宅
Tân Dịch chi sơn nguyên, 津液之山源
Phiến hướng công phu luyện Hống Diên, 片饷功夫炼汞铅
Nhất lô mãnh hoả dạ thiêu thiên, 一炉猛火夜烧天
Hốt nhiên Thần Thuỷ lạc Kim Tỉnh, 忽然神水落金井
Đả hợp Linh Sa, nguyệt dạng viên, 打合灵砂月样圆
Để tâm đoàn luyện Hống với Diên,
Lò đốt thâu đêm luyện Kim Đan,
Tự nhiên Chân khí rơi Kim Đỉnh,
Hợp luyện Linh Sa, tựa Nguyệt viên.
Khảm Ly tương giao, 坎离相交
Thuỷ hoả Ký Tế, 水火既济
Diên Hống nhập đỉnh, 铅汞入鼎
Nãi sinh căn đế. 乃生根蒂
Khảm Ly tương giao,
Thuỷ Hoả Ký Tế,
Diên Hống vào lò,
Sẽ sinh căn đế.
Địa Phách, Thiên Hồn nhật nguyệt tinh, 地魄天魂日月精
Đoạt lai đỉnh nội cập thời phanh, 夺来鼎内及时烹
Chỉ hành Qui đấu, Xà tranh pháp, 只行龟斗蛇争法
Tảo thị Long ngâm, Hổ khiếu thanh, 早是龙吟虎啸声
Thần Thuỷ, Hoa Trì sơ thất phối, 神水华池初匹配
Hoàng nha, Bạch tuyết tiện phân minh. 黄芽白雪便分明
Giá ta thị ẩm Đao Khuê xứ, 这些是饮刀圭处
Tiệm tiệm sưu thiêm, tiệm tiệm thành. 渐渐抽添渐渐成
Thiên hồn, địa phách lấy Tinh Hoa,
Lấy được đem về cấp luyện phanh,
Nguyên Thần, Nguyên Khí mong hoà hợp,
Như Rồng như Hổ góp âm thanh,
Nội Đan vừa kết, màu vàng trắng,
Thần thủy, Hoa Trì rất phân minh,
Uống được Đao Khuê là thành Đạo,
Thêm bớt từ từ, Thuốc sẽ sinh.
————————–
CÀN KHÔN GIAO CẤU KHỨ KHOÁNG LƯU KIM
(Nội phụ Mão Dậu Chu thiên khẩu quyết)
Ta trước đây, đã hệ thống hai chữ Tính Mệnh bằng chữ Nhất, để giảng luận. Đó là phương pháp Thượng Thừa.
Nay lại đem hai chữ Tính Mệnh qui căn lại, bằng chữ Trung Nhi phi Nhất 中而非一, để lập luận. Đó là phương pháp Tối Thượng Thừa.
Giảng Tính Mệnh bằng chữ Nhất, cái đạo này tịch liêu, từ Chung Ly tới nay, ít người biết. Đừng nói chi là qui căn hai chữ lại mà nói. Như vậy người biết lại càng ít vậy. Cái kỳ bí của khiếu diệu này, cái vi diệu của Tính Mệnh, nếu không nói đi, nói lại, thì học giả không giác ngộ được.
Con người trước khi cha mẹ sinh ra, thì Bản Thể chính là Thái Hư, đó chẳng phải là Vô Cực sao? Con người sau khi đã được cha mẹ cấu tinh, thì là Nhất Điểm Linh Quang, đó chẳng phải là Thái Cực sao?
Một điểm Linh Quang, vốn từ Thái Hư lại, là Nguyên Thần của ta. Từ đó sinh ra Khí, rồi Khí lại thành Hình. Con người chỉ biết có Hình, Khí. Chỉ biết ăn ngon, mặc đẹp nuôi dưỡng cái thân này, chỉ biết đem vinh hoa phú quý tô điểm cho thân này. Cứ thế rồi sinh tử, cho thế là được vậy, và cái điều mà Tử Tư gọi là Thiên Mệnh chi vị Tính, thì không biết hay không muốn biết. Mà kẻ đã không muốn biết thì Mạnh Tử há chẳng nói: Không nên vì mình mà quên mất Bản Tâm hay sao?
若能知所以,反而求之,以復還我太虛一氣之本初,一點靈光之舊物者,非此金丹大道不可也。
然而金丹大 道之秘密在性命兩字。性者,天也,常潛於鼎,故頂者,性之根也。命者,海也,常潛於臍,故臍者,命之帶也。經云:性在天邊,命在海底是也。
蓋天中之竅圓而藏性,能通於地中之竅。故其貫也則自上而下,直養而無害也。地中之竅方而藏命,能通於天中之竅,故其貫也則自下而上,直養而無害也。
孔子曰:智者,動天圓之象也。仁者,靜地方之象也。天圓者何?圓陀之義也。乃性之所寄,為命之根矣。地方者何?方寸之義也。乃命之所繫,為性之根也。性 命混成,實非有兩,潛天而天,潛地而地,優優洋洋,無體無方。在眼日見,在耳日聞,在鼻辨香,在口談論,在手執捉,在足運奔。悟者知是佛性,迷者喚作精 魂。
蓋怫性者,本性也。而所謂本性者,豈非是我本來之所自有之真性歟。真性者,天命之性也。以其不落邊際,故謂之中。以其一直無 妄,故謂之誠。以其與物同體,故謂之仁。以其至尊無對,故謂之獨。混淪一個,無欠無餘。及乎太極一判,兩儀始分,則輕清者騰而在上,重濁者碇而在下。於是 坎宮有鉛,離官有汞,而向之所謂一物分為二,能知二者名。
這二者之名,丹經不敢漏洩,巧喻多端,萬字千名,不可勝計。如論頂中之性 者,喻之曰汞也、龍也、火也、根也、日也、魂也、離也、乾也、己也、天也、君也、虛也、兔也、無也、主也、浮也、硃砂也、扶桑也、奼女也、崑崙也;如論臍 中之命者,喻之曰鉛也、虎也、水也、蒂也、月也、魄也、坎也、坤也、戊也、地也、臣也、實也、烏也、有也、賓也、沉也、水銀也、華岳也、嬰兒也、曲江也。 至於陰中含陽,陽中藏陰,千言萬論,不過引喻二者之名耳。
故元皇訣曰:鉛汞鼎中居,煉成無價珠。都來兩個字,了盡萬家書。
鐘離翁曰:除卻汞鉛兩味藥,其他都是誑愚迷。
高象先曰:夢謁西華到九天,真人授我指玄篇。其中簡易無多子,只要教人煉汞鉛。
馬丹陽曰:鉛汞是水火,水火是龍虎,龍虎是神氣,神氣是性命。
Còn như nếu biết ra, thì sẽ quay về mình mà tìm kiếm, ắt sẽ hồi phục lại được, cái Nhất Khí Thái Hư lúc bản sơ, cái trạng thái cũ của Nhất Điểm Linh Quang. Những chuyện đó nếu không nhờ Kim Đan Đại Đạo thì không thể được.
Cái bí ẩn của Kim Đan Đại Đạo là ở nơi hai chữ Tính Mệnh. Tính là Trời, thường ẩn nơi đỉnh đầu. Cho nên đỉnh đầu là Căn Nguyên của Tính.
Mệnh là Bể, thường ẩn nơi Rốn, cho nên Rốn là gốc gác của Mệnh. Cho nên Kinh nói: Tính tại thiên biên, Mệnh trầm hải để 性在天边,命在海底 (Tính ở ven Trời, Mệnh chìm đáy Bể) chính là vậy.
Vả cái Khiếu Trời thì tròn và tàng Tính. Nó thông với Khiếu Đất, và quán thông từ trên xuống dưới, trực tiếp dưỡng dục và không làm hại. Còn cái Khiếu Đất thì vong và tàng Mệnh. Nó thông với Khiếu Trời và quán thông từ dưới lên trên, trực tiếp dưỡng dục và không làm hại.
Khổng tử nói: Trí giả động, Thiên viên chi tượng dã; Nhân giả tĩnh, Địa phương chi tượng dã. 智者动天圆之象也。仁者静地方之象也。(Người Trí thời ưa hoạt động, đó là tròn tượng Trời; Người Nhân thời ưa an tĩnh, đó là Vuông tượng Đất).
Thế nào là trời tròn? Trong là tròn trĩnh. Đó là nơi Tính dựa nương, đó là nguồn gốc Mệnh vậy. Thế nào là đất vuông? Phương là Phương Thốn (Tấc vuông) là nơi Mệnh hệ thuộc, là khu nữu của Tính.
Tính Mệnh hợp nhất, thì không còn là hai. Tiềm tàng nơi Trời là Trời. Tiềm tàng dưới Đất là Đất.
Ưu Ưu, Dương Dương, không hình thể, không phương sở. Hiện nơi mắt thì thấy, hiện nơi tai thì nghe, hiện nơi mũi thì ngửi, hiện nơi lưỡi thì biết đàm luận, hiện nơi tay thì cầm nắm, hiện nơi chân thì chạy nhảy, người ngộ thì biết đó là Phật Tính, người mê thì cho đó là Tinh Hồn.
Mà Phật Tính là Bản Tính con người. Gọi là Bản Tính, vì há chẳng phải là ta vốn có Chân Tính đó hay sao? Chân Tính đó, chính là Thiên Mệnh chi vị Tính.
Vì nó không thiên lệch, nên gọi là TRUNG vì nó là Nhất Chân vô vọng, nên gọi là THÀNH; vì nó cùng Vạn Vật đồng thể nên gọi là Nhân; vì nó Chí Tôn vô đối nên gọi là Độc, hồn luân một khối, không thiếu, không thừa.
Khi Thái Cực đã chia, khi đã có Lưỡng Nghi thì khinh thanh bay lên trên, trọng trọc đi xuống dưới. Vì thế mà Khảm Cung có Diên, Ly cung có Hống, Thế là trước kia chỉ có một vật, đến nay đã chia thành hai.
Cho nên Tiết Tử Hiền (Phục Mệnh Thiên) nói: Nhất vật phân vi nhị, Năng tri Nhị giả danh. 物分为二,能知二者名 (Một vật chia thành hai, mới biết tên Hai đó).
Tên của Hai, Đan kinh không dám nói hết, ví dụ có nhiều, vạn tự thiên danh, không sao kể xiết.
Như luận về Tính trên đầu, thì ví dụ rằng: Hống (Dương), Long, Hoả, Căn, Nhật, Hồn, Ly, Kiền, Kỷ, Thiên, Quân, Hư, Thố, Chủ, Vô, Phù, Chu Sa, Phù Tang, Xá Nữ, Côn Lôn.
Như luận về Mệnh, nơi rốn, thì ví dụ rằng: Diên (Âm), Hổ, Thuỷ, Đế, Nguyệt, Phách, Khảm, Khôn, Mậu, Địa, Thần, Thật, Ô, Hữu, Tân, Trần, Thuỷ Ngân, Hoa Nhạc, Anh Nhi, Khúc Giang.
Đến như trong Âm và Dương, trong Dương tàng Âm, thiên ngôn vạn luận, bất quá là nói về hai tên này mà thôi, cho nên Nguyên Hoàng quyết có câu:
Diên, Hống đỉnh trung cư, 铅汞鼎中居,
Luyện thành vô giá châu, 炼成无价珠。
Đô Lai lưỡng cá tự, 都来两个字,
Liễu tận vạn gia thư, 了尽万家书。
Diên, Hống ở trong Đỉnh,
Luyện thành vô giá châu,
Chỉ có hai chữ đó,
Đã đủ vạn gia thư.
Chung Ly Ông nói:
Trừ khước Hống Diên lưỡng vị dược, 除却汞铅两味药,
Kỳ tha đô thị cuống ngu mê, 其他都是诳愚迷。
Ngoại trừ Hống, Diên hai vị dược,
Còn toàn bịp bợm kẻ ngu mê.
Cao Tượng Tiên viết:
Mộng yết Tây Hoa đáo cửu thiên, 梦谒西华到九天,
Chân nhân thụ ngã “Chỉ Huyền Thiên” 真人授我指玄篇。
Kỳ trung giản dị vô đa tự, 其中简易无多字,
Chỉ yếu giáo nhân luyện Hống Diên. 只要教人炼汞铅。
Mộng tới Tây Hoa đến Cửu thiên,
Chân nhân truyền thụ Chỉ Huyền Thiên,
Sách thời giản dị không nhiều chữ,
Chỉ cốt dạy người luyện Hống Diên.
Mã Đơn Dương viết:
Diên Hống thị Thuỷ Hoả, 铅汞是水火,
Thuỷ Hoả thị Long Hổ. 水火是龙虎,
Long Hổ thị Thần Khí, 龙虎是神气,
Thần Khí thị Tính Mệnh. 神气是性命。
Diên Hống là Thuỷ Hỏa, Thuỷ Hoả là Long Hổ,
Long Hổ là Thần Khí, Thần Khí là Tính Mệnh.
總來只是這兩個字,兩個字只是一個理。故盲修者岐而二之,若真修者 合而一之。合一者,煉氣而凝神,盡性而至命,烹鉛而干汞,取坎而填離。
蓋離中靈物號曰流珠,寓神則營營而亂,寓精則持盈而難保。所 以葛仙翁作流珠歌歎其難馭而易失也。豈不觀魏伯陽雲乎:太陽流珠,常欲去人,卒得金華,轉而相因。又曰:河上奼女,靈而最神,將欲制之,黃芽為根。曰金 華,曰黃芽,皆指真鉛而言,真鉛者,乃太陰之精也。曰流珠,曰奼女,皆指靈汞而言,靈汞者,太陽之氣也。
然此靈汞,其唯猛烈,見火 則飛走無蹤,不得真鉛,何以制伏?故紫陽曰:要者須制伏覓金公。金公者,鉛字也。蓋鉛自曲江而來,穿夾脊、徹玉京,斡旋沂流直上泥丸。雖名抽鉛添汞,實是 還精補腦。
翠虛篇云:
天有七星地七寶,人有七竅權歸腦。
太古集云:
金丹運至泥丸穴,名姓先將記玉都。
法寶遺珠云:
識得本來真面目,始知生死在泥丸。
黃庭經云:
泥丸百節皆有神。
又云:
腦神精根字泥丸。
又云:
一面之神宗泥丸,泥丸九真皆有房。方圓一寸處此中,但思一部壽無窮。
Rút cuộc chỉ có hai chữ; hai chữ chỉ có một lý, tu mù thì mới chia hai; tu Chân hợp hai thành một. Người biết hợp Nhất, sẽ luyện Khí ngưng Thần, Tận Tính Chí Mệnh, nấu Diên làm khô Hống, Thủ Khảm Điền Ly.
Vì trong quẻ Ly có Linh Vật gọi là Lưu Châu. Ngụ nơi Thần thì Sinh Tư Lự; Ngự nơi Tinh cũng khó bảo toàn, nên Cát Tiên Ông (Lưu Châu Ca) nói:
Thán kỳ nan ngự nhi dị thất. 叹其难驭而易失 (Tiếc rằng nó khó giữ và dễ mất).
Nguỵ Bá Dương cũng nói:
Thái Dương Lưu Châu, 太阳流珠,
Thường dục khứ nhân, 常欲去人,
Tốt đắc Kim Hoa, 卒得金华,
Chuyển nhi tương nhân. 转而相因。
Thái Dương Lưu Châu,
Rất là dễ mất,
Biết luyện thành Đan,
Mới mong giữ được.
Lại nói
Hà Thượng Xá Nữ, 河上姹女,
Linh nhi tối Thần, 灵而最神,
Tương dục chế chi, 将欲制之,
Hoàng Nha vi căn. 黄芽为根。
Xá Nữ trên song
Rất linh, rất Thần.
Muốn giữ được nó,
Phải luyện thành Đan.
Nói Kim Hoa, nói Hoàng Nha là nói Chân Diên, Chân Diên là Thái Âm chi Tinh. Nói Lưu Châu, nói Xá Nữ là nói Linh Hống. Linh Hống là Thái Dương chi Khí.
Nhưng Linh Hống, tính vốn mãnh Liệt, gặp lửa sẽ bay mất tích, phải gặp Chân Diên, mới bị chế phục. Cho nên Tử Dương nói: Yếu tu chế phục mịch Kim Công 要须制伏觅金公。(Muốn chế phục Hống, phải tìm Diên).
Kim Công là tên tự của Diên. Diên từ Khúc Giang (Ruột non) tới. Xuyên qua Giáp tích, tới Ngọc Kinh, oát toàn nghịch lưu, vào thẳng Nê Hoàn.
Tuy gọi là Sưu Diên, Thiêm Hống nhưng thực ra là HOÀN TINH, BỔ NÃO. Kim Đan viết: Cố dục bất lão, hoàn tinh bổ não 故欲不老还精补脑 (Nếu không muốn già, phải hoàn tinh bổ não).
Thuý Hư Thiên viết:
Thiên hữu Thất Tinh, địa Thất Bảo, 天有七星地七宝,
Nhân hữu Thất Khiếu, quyền quy Não, 人有七窍权归脑。
Trời có Thất Tinh, đất Thất Bảo,
Người có Thất Khiếu, cực là Não,
Thái Cổ tập viết:
Kim Đan vận chí Nê Hoàn Huyệt, 金丹运至泥丸穴,
Danh tính tiên tương ký Ngọc Đô. 名姓先将记玉都。
Kim Đơn vận đến Nê Hoàn Huyệt,
Danh tính đã ghi tại sổ trời.
Pháp Bảo Di Châu viết:
Nhận đắc bản lai chân diện mục. 认得本来真面目,
Thuỷ tri sinh tử tại Nê Hoàn. 始知生死在泥丸。
Biết được Bản Lai Chân Diên Mục.
Mới hay sinh tử tại Nê Hoàn.
Huỳnh Đình Kinh viết: Nê Hoàn bách tiết giai hữu Thần 泥丸百节皆有神。(Nê Hoàn bách tiết đều có Thần).
Lại nói: Não trung tinh căn tự Nê Hoàn 脑神精根字泥丸。(Não Thần tinh căn tự Nê Hoàn).
Lại nói:
Nhất diện chi Thần thông Nê Hoàn, 一面之神通泥丸,
Nê Hoàn cửu Chân giai hữu phòng, 泥丸九真皆有房。
Phương viên nhất thốn xứ thử trung, 方圆一寸处此中,
Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng. 但思一部寿无穷。
Chư thần nơi mặt trời thuộc Nê Hoàn,
Nê Hoàn Cửu Chân đều có phòng,
Vuông tròn một tấc tại não trung,
Tồn tư Cửu Chân thọ vô cương.
所謂方圓一寸者,即釋迦摩頂受記之處也。此處乃玄中之玄,天 中之天。郁羅蕭台,玉山上京。腦血之瓊房,魂精之玉室,百靈之命宅,津液之山源。此正在兩耳交通之穴,前明堂後,玉枕上,華蓋下,絳宮北極太淵之中,乃真 一元神所居之室也。
昔黃帝上峨嵋山,見天真皇人於玉堂,請問真一之道。皇人曰:此道家之至重其經,上帝秘在崑崙五城之內。藏以玉 函,刻以金扎,封以紫泥,印以中章。吾聞之精云:在北極太淵之中,前有明堂,後有玉枕。上有華蓋,下有絳宮。巍巍華蓋,金樓穹窿。左罡右魁,激波揚空。紫 芝被崖,朱草朦朧。白玉嵯峨,日月垂光。歷火過水,經玄涉黃。城門交錯,帷帳琳琅。龍虎烈衛,神人在旁。不施不與,一安其所。不遲不疾,一安其室。能暇能 預,一乃不去。守一存真,一乃通神。少欲約食,一乃留息。白刃臨頭,思一得生。知一不難,難在於終。守之不失,可以無窮。此真一秘旨之略也。
故道德經曰:天得一以清,地得一以寧,神得一以靈,谷得一以盈,萬物得一以生,王侯得—以為天下。貞所謂神以知來,知以藏往也。所謂大而化之之謂聖,聖 而不可知之之謂神也。分之為二,陰陽之根底也。分之為五,五行之樞紐也。又分為八,八八六十四而為河圖之數也。又分為九,九九八十一而為洛書之數也。又散 之為萬,生生化化萬物之綱維也。
羲文得其一,而周易興焉;禹箕得其一,而洪範疇焉;周茂叔得其一,而太極圖焉;邵堯夫得其一,而經 世作焉;老子得其一,而萬事畢焉;釋迦得其一,而萬法歸焉。歸根者,歸此也。覆命者,復此也。
西升經曰:人能守一,一亦守人。思一 至饑,一與之糧。思一至渴,一與之漿。
靈樞經曰:天谷元神,守之自真。
又曰:子欲長生,抱一當明。
又曰:抱一守真,神自通靈。
Phương Viên Nhất Thốn là nơi đức Thích Ca xoa đầu để thụ ký.
Đó là Huyền trung chi huyền, là Thiên trung chi Thiên, là Uất La Tú Đài, Ngọc Sơn, Thổ Kinh, Não huyết chi Quỳnh Phòng, Hồn Tinh chi Ngọc Thất, Bách Linh chi Mệnh Xá, Tân Dịch chi Sơn Nguyên, đó là huyệt giao thông giữa hai tai, trước là Minh Đường, sau là Ngọc Chẩm, trên là Hoa Cái, dưới là Giáng Cung, ở giữa là Thái Uyên Bắc Cực, là chỗ Nguyên Thần sở cư.
Xưa vua Hoàng Đế lên núi Nga Mi, yết kiến Thiên Chân Hoàng Nhân để hỏi về đạo Chân Nhất.
Hoàng Nhân nói: Đó là điều quí trọng của Đạo gia. Kinh này Thượng Đế giấu trong năm thành của núi Côn Lôn, để trong hòm ngọc, chữ khắc vào thẻ Kim Trát, bôi bằng bùn tía, đóng ấn Trung Chương .
Ta nghe kinh sách nói: Chân Nhất ở tại Bắc Cực Thái Uyên, trước có Minh Đường, sau có Ngọc Chẩm, trên có Hoa Cái, dưới có Giáng Cung. Nguy nga Hoa Cái, lầu vàng mái cong (chỉ Não môn).
Tả Cang, hữu Khôi (chỉ 2 mắt), Sóng vỗ ngang trời (sóng mắt), cỏ tử chi mọc quanh hồ, cỏ chu thảo mung lung (chỉ lông mi), ngọc trắng tha nga (chỉ lòng mắt trắng), nhật nguyệt rãi sáng (chỉ 2 mắt), băng qua Hỏa Thủy (Khảm Ly), thấu suốt huyền hoàng (trời đất, Âm Dương). Thành quyết tương giao, màn che trướng rủ, châu cài ngọc dắt, Long Hổ bảo vệ, thần nhân đứng bên, không cho không lấy, ở yên tại chỗ. Không chậm không nhanh, ở yên trong buồng. Được rảnh, được vui, NHẤT ở không đi; THỦ NHẤT TỒN CHÂN, Nhất sẽ thông Thần. Bớt muốn, bớt ăn. Nhất sẽ lưu tức. Khi dao kề cổ, nghĩ đến Nhất sẽ được sống. Biết Nhất không khó, khó là lúc chung cuộc.
Giữ Nhất không rời, sẽ được vô cùng.
Đó là đại lược về bí quyết Chân Nhất.
Cho nên, Đạo Đức Kinh viết:
Thiên đắc Nhất dĩ thanh 天得一以清
Địa đắc Nhất dĩ ninh 地得一以寧
Thần đắc Nhất dĩ linh 神得一以靈
Cốc đắc Nhất dĩ doanh 谷得一以盈
Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh 萬物得一以生
Vương hầu đắc Nhất dĩ vi thiên hạ trinh. 王侯得一以爲天下貞
Trời có Ngài nên hóa trong xanh
Nhờ Ngài nên đất an ninh
Chư Thần nhờ thế uy linh, nhiệm mầu
Có Hóa Công hang sâu hóa đặc
Nhờ có Ngài muôn vật tốt tươi
Vương hầu cũng nhờ công đức Người,
Trị vì thiên hạ thảnh thơi an bình
Còn nói rằng: Thần dĩ tri lai, Tri dĩ tàng vãng. 神以知来,知以藏往 (Dùng Thần trông tỏ tương lai, tiềm tàng trong Trí muôn đời xa xưa).
Còn nói rằng: Lớn mà cảm hóa thì gọi là Thánh. Thánh mà không hiểu nổi thì là Thần. Chia ra làm hai thì gọi là Âm Dương. Chia làm năm thì là Ngũ Hành. Lại chia làm tám, Tám lần tám sáu mươi tư là số của Hà Đồ. Lại chia làm chín. Chín chín tám mươi mốt là số Lạc Thư. Rồi chia thành Vạn Vật. Sinh Sinh Hóa Hóa là cương duy của Vạn Vật.
Phục Hy Văn Vương được chữ Nhất mà Chu Dịch hưng khởi. Đại Võ, Cơ Tử được chữ Nhất mà Hồng Phạm Cửu Trù sinh; Chu Mậu Thúc (Chu Liêm Khê) được chữ nhất mà có Thái Cực Đồ; Thiệu Nghiêu Phu (Thiệu Khang Tiết) đắc Nhất mà viết Hoàng Cực Kinh Thư; Lão Tử được chữ Nhất mà vạn sự tất; Thích Ca được chữ Nhất mà Vạn Pháp qui; Qui Căn là Qui Nhất, Phục Mệnh là Phục Nhất vậy.
Tây Thăng Kinh viết:
Nhân năng thủ nhất 人能守一
Nhất diệc thủ nhân 一亦守人
Tư Nhất chí cơ 思一至飢
Nhất dữ chi lương 一與之粮
Tư Nhất chí khát 思一至渴
Nhất dữ chi tương 一與之浆
Người giữ được Nhất
Nhất sẽ giữ người
Nghĩ Nhất mà đói
Nhất sẽ cho ăn
Nghĩ Nhất mà khát,
Nhất sẽ cho uống.
Linh Khu Kinh viết: Thiên Cốc, Nguyên Thần, Thủ chi tự chân 天谷元神守之自眞 (Giữ được Nguyên Thần trong Thiên Cốc, sẽ đạt cảnh giới Thiên Chân).
Lại viết: Tử dục trường sinh, Bão Nhất đương minh 子欲長生抱一當明 (Người muốn trường sinh, ôm Nhất sẽ rõ)
Lại viết: Bão Nhất thủ Chân, Thần tự thông Linh 抱一守眞神自通靈 (Ôm nhất thủ Chân, Thần sẽ thông linh)
人能握神守一於本宮,則真氣自升、真息自定、真精自朝、靈苗自長、天門自開、元神自現。頂竅開而竅竅 齊開,元神居而神神聽命。神既居其竅而不散,則人安得而死乎?即黃庭經所謂,子欲不死,修崑崙是也。
故丘處機云:
久視崑崙守真一,守得摩尼圓又赤。清虛浩曠陀羅門,萬佛千仙從此出。
還元篇云:
悟道顯然明廓落,閒閒端坐 運天關。
此是根本功夫,頭腦學間,撥天關之手段,脫死籍之靈章。此道上蒼所秘,古今仙佛皆不敢明言。真所謂千人萬人中一人兩人知者 也。玄哉!玄哉!更有言不盡的口訣。
再一叮嚀,當其真鉛入鼎之時,須要驅除雜念,奮速精神,口視頂門,用志不分,霎時龍虎交戰,造 化爭弛,雷轟電掣,撼動乾坤,百脈悚然,九宮透徹,金晶灌頂,銀浪沖天。
紫陽所謂:以黑而變紅,一鼎雲氣濃。少頃玉鼎湯溫,金爐火 散,黃芽遍地,白雪漫天,夫唱妻隨,龍吟虎嘯,陰戀陽魂,陽抱陰魄,鉛精汞髓,凝結如珠。
玉蟾所謂:夫婦老相逢,恩情自留戀,此際 玄珠成,像礦去金存。而一點金液復落於黃庭舊處矣。
斯時也,溶溶然如山雲之騰太虛,霏霏然似膏雨之遍原野,淫淫然若春雨之滿澤,液 液然像河水之將釋。百脈衝和而暢乎四體,真個是拍拍滿懷都是春也。見此效驗,急行卯酉周天,進陽火,退陰符,使東西會合,南北混融,則四象五行攢族一鼎, 混有靈於天谷,理五氣於泥丸也。
Nếu con người Ác thần thủ Nhất 握神守一 được ở nơi Bản Cung (Nê Hoàn Cung) thì Chân Khí tự nhiên sẽ bay lên; Chân Tức sẽ tự định; Chân Tinh sẽ tự triều; Linh Miêu sẽ lớn lên; Thiên Môn sẽ mở; Nguyên Thần sẽ tự hiện; Khiếu trên đỉnh đầu sẽ mở và các khiếu khác cũng sẽ mở. Nguyên Thần cư tại vị và các Thần khác đều nghe lệnh. Thần đã ở trong Khiếu và đã không phát tán thì con người làm sao chết được?
Cho nên Huỳnh Đình Kinh nói:
Tử dục bất tử, tu Côn Lôn (Bạn muốn trường sinh, tu Côn Lôn – Côn Lôn là đầu con người), chính là vậy.
Cho nên Khâu Xử Cơ nói:
Cửu thị Côn Lôn thủ Chân Nhất, 久視崑崙守眞一
Thủ đắc Ma Ni viên hựu xích 守得摩尼圓又赤
Thanh Hư hạo khoáng Đà La Môn 清虛浩曠陀覼門
Vạn Phật Thiên Tiên tòng thử xuất 萬佛千仙從此出
Nhìn lâu Đan Điền, giữ Chân Nhất
Được Ngọc Ma Ni, tròn lại đỏ
Đà La Môn (Nê Hoàn Cung) ấy thực thanh hư,
Vạn Phật, Thiên Tiên do đó xuất.
Hoàn Nguyên Thiên viết:
Ngộ Đạo hiển nhiên minh lang lạc 悟道顯然明廊洛
Nhàn nhàn đoan tọa vận Thiên Quan 閑閑端坐運天關
Biết Đạo âu rành Thanh Tĩnh lý
Ngồi thẳng yên người giữ Nê Hoàn
Đó là căn bản công phu, đó là học vấn đầu não, đó là thủ đoạn mở cửa Trời, đó là Linh Chương để thoát Tử Tịch. Đạo lý này là bí mật của Thượng Thiên, xưa nay Tiên Phật không dám nói rõ. Cho nên trong ngàn vạn người may ra mới được một hai người biết. Thật là huyền diệu. Lại có những khẩu quyết nói không hết lời.
Người xưa đinh ninh dặn dò rằng: Khi Chân Diên nhập đỉnh, phải khu trừ tạp niệm, đem hết tinh thần, mắt hướng đỉnh đầu, dụng hết tâm trí, trong chớp nhoáng đó, Nguyên Thần, Nguyên Khí sẽ giao hợp, tạo hóa sẽ vận chuyển, sấm vang, điện giật, cảm động Kiền Khôn, bách mạch khai thông, Cửu cung thấu triệt, Kim tinh quán đỉnh, Chân khí bốc lên trời.
Tử Dương gọi thế là: Dĩ hắc nhi biến hồng, Nhất đỉnh vận khí nùng 以黑而變紅一鼎運氣濃 (Lấy đen biến thành hồng, Chính khí sẽ đầy Nê Hoàn)
Trong khoảnh khắc, nhiệt độ nơi Thượng Hạ Đan Điền sẽ giảm, đó là triệu chứng Đan thành, Hoàng Nha, Bạch Tuyết sẽ xuất hiện. Nguyên Thần, Nguyên Khí, Âm Dương, Hồn Phách, như đôi vợ chồng hòa hợp với nhau, phát ra tiếng Long Ngâm, Cọp Hú, Dương Tinh Hống Tủy ngưng kết như châu.
Bạch Ngọc Thiềm viết: Phu phụ lão tương phùng, Ân tình tự lưu luyến 夫婦老相逢恩情自留恋 (Vợ chồng già gặp nhau, ân tình tự lưu luyến).
Lúc đó, Huyền Châu thành tượng, quặng mất, vàng còn, và một điểm Kim Dịch sẽ rơi xuống chốn Huỳnh Đình vậy.
Lúc đó, mây núi an nhiên bay lên Thái Hư, mưa xuân lã tã rơi xuống thấm nhuần đất đai, tràn ngập giang trạch, băng hà bắt đầu tan chảy, bách mạch không hư, hòa hoạt, làm tứ chi thư sướng, như mùa Xuân đến muôn nơi.
Thấy hiệu nghiệm đó, lập tức hành Mão Dậu chu thiên (vận nội khí chu lưu khắp người), tòng tả thượng, tòng hữu hạ là Tiến Dương Hỏa, tòng hữu thượng, tòng tả hạ là Thoái Âm Phù; khiến cho nội khí thượng hạ, tả hữu toàn thân được hội hợp hỗn dung, cho ngũ hành hợp nhất trong một Đỉnh, dung hợp Ngũ Linh nơi Thiên Cốc, Lý Ngũ Khí về Nê Hoàn vậy.
高象先云:
玄珠飛到崑崙上,子若求之憑罔象。
河東歌 云:
兩物擒來共一爐,一泓神水結真酥。
指玄篇云:
必知會合東西路,切在沖和上下田。
陳泥丸云:
白虎自茲相見後,流珠哪肯不相從。
段真人云:
四象 五行攢族處,乾坤日月自然歸。
漸悟集云:
因燒丹藥火焰下,故使黃河水逆流。
純粹吟 云:
子午爐前分進退,乾坤鼎內列浮沉。
玄奧集云:
金消木性相交合,黑汞結鉛自感通。
Cao Tượng Tiên nói:
Huyền Châu phi đáo Côn Lôn thượng 玄珠飛到崑崙上
Tử nhược cầu chi bằng Võng Tượng 子若求之凭罔象
Huyền Châu bay tới đỉnh Côn Lôn
Muốn được Huyền Châu phải Võng Tượng
Hà Xa Ca viết:
Lưỡng vật cầm lai cộng nhất lô 兩物擒來共一爐
Nhất hoằng Thần Thủy kết Chân Tô 一泓神水結眞穌
Nguyên Thần Nguyên Khí bỏ một lò
Thần Thủy đem về kết Chân Tô
Chỉ Huyền Thiên viết:
Tất tri hội hợp Đông Tây lộ 必知會合東西路
Thiết tại xung hòa thượng Đan Điền 切在沖和上丹田
Đông Tây, Tả Hữu đôi đường cách
Phải biết đem về Thượng Đan Điền.
Trần Nê Hoàn nói:
Bạch Hổ tự tư tương kiến hậu 白虎自茲相見後
Lưu Châu na khẳng bất tương tòng 流珠那肯不相從
Bạch Hổ (Nguyên Khí) từ khi mà gặp được
Nguyên Thần hồ dễ chẳng nghe theo?
Doãn Chân Nhân nói:
Tứ Tượng, Ngũ Hành toàn thốc xứ
四象五行攢簇處
Kiền Khôn, nhật nguyệt tự nhiên qui
乾坤日月自然归
Tứ Tượng, Ngũ Hành mà hòa hợp
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt cũng về theo
Tiệm Ngộ tập viết:
Nhân thiêu Đan Dược hỏa viêm hạ 因 烧 丹 藥 火 炎 下
Cố sử Hoàng Hà thuỷ nghịch lưu 故 使 黄 河 水 逆 流
Đã biết tiến Dương Hỏa
Phải biết thoái Âm Phù
Thuần Túy Ngâm viết:
Tí Ngọ lô tiền phân tiến thoái 子 午 爐 前 分 進 退
Kiền Khôn đỉnh nội liệt phù trầm 乾 坤 鼎 内 列 浮 沉
Luyện thuốc phải rành đường tiến thoái
Biết lẽ thăng trầm nữa mới hay
Huyền Áo tập viết:
Kim Tinh Mộc Tính tương giao hội 金 精 木 性 相 交 會
Hắc Diên, Hồng Hống tự cảm thông 黑 鉛 紅 汞 自 感 通
Nguyên Thần (Mộc), Nguyên Khí (Kim) đà giao hợp
Hắc Diên, Hồng Hống tự cảm thông
雲房真人云:
驅回斗柄玄關理,斡轉天關萬象通。片響龍虎頻斗罷,二物相交頃刻中。
指 玄篇云:
奔歸氣海名朱驥,飛入泥丸是白鴉。昨夜虎龍爭戰罷,雪中微見月鉤斜。
醒眼詩云:
木金間隔各西東,雲起龍吟虎嘯風。二物寥寥天地回,幸因戊己會雌雄。
陳泥丸云:
子時氣到尾閭關,夾脊河東 透甑山。一顆水晶入爐內,赤龍捨汞上泥丸。
翠虛篇云:
醉倒酣眠夢熟時,滿船載寶進曹溪。一方識破丹基後,放 去收來總是伊。
古仙歌云:
水銀一味是仙藥,從上傳流伏火難。若遇河東成紫粉,粉霜一吐化金丹。
玄奧集云:
移將北斗過南辰,兩手雙擎日月輪。飛赴崑崙山上出,須臾化作一天雲。
陰長生云:
夜深龍吟虎嘯時,急駕河東無暫歇。飛精運上崑崙頂,進火玉爐烹似雪。
張元化云:
沂流一直上蓬萊,散在甘泉 潤九垓。從此丹田沾潤澤,黃芽遍地一齊開。
原道歌云:
妙運丹田須上下,須知一體合西東。幾回笑指昆山上,夾 脊分明有路通。
玄奧集云:
獨步崑崙望穹冥,龍吟虎嘯甚分明。玉池常滴陰陽髓,金帛時烹日月精。
群仙珠玉云:
一點丹陽事回別,須向坎中求赤血。捉來離位制陰精,配合調和有時節。
金丹集云:
河東搬運上昆山,不動纖毫到玉關。妙在八門牢閉鎖,陰陽一氣自循環。
Vân Phòng chân nhân nói:
Khu hồi đẩu bính Huyền Quan Lý 彄 回 斗 柄 玄 關 理
Oát chuyển Thiên Quan vạn tượng thông 斡 轉 天 關 萬 象 通
Phiến hướng Hổ Long tần đẩu bãi, 片 餉 虎 龍 頻 斗 罷
Nhị vật tương giao khoảnh khắc trung 二 物 相 交 頃 刻 中
Nhìn chuôi Bắc Đẩu vận Huyền Quan
Thiên Quan xoay chuyển vạn tượng thông
Hổ Long vừa thấy so hơn kém
Đã thấy hòa hài, khoảnh khắc trung
Chỉ Huyền Thiên Viết:-
Bôn qui Khí Hải danh Châu Ký 奔 歸 氣 海 名 珠 既
Phi nhập Nê Hoàn thị Bạch Nha 飛 入 泥 丸 是 白 鴉
Tạc dạ Hổ Long tranh đấu bãi, 昨夜 虎 龍 爭 鬥 罷
Tuyết trung vi hiện nguyệt câu tà 雪 中 微 現 月 鉤 斜
Nguyên Thần (Châu Ký) băng Khí Hải
Bạch Nha đà thấy nhập Nê Hoàn
Đêm qua Long Hổ vừa tranh đấu
Trong tuyết hiện ra mảnh trăng tà
Tỉnh Nhãn Thi rằng:
Mộc Kim gián cách các Tây Đông 木 金 閒 隔 各 西 東
Vân khởi, Long ngâm, Hổ khiếu phong 雲 起 龍 吟 虎 啸 風
Nhị vật liêu liêu Thiên địa hồi 二 物 寥 寥 天 地 回
Hạnh nhân Mậu Kỷ hội thư hùng 幸 因 戊 己 會 雌 雄
Mộc Kim cách trở tại Đông Tây
Gió thổi mây tuôn Rồng Cọp hú
Thần khí xa nhau cả đất Trời
May nhờ Mậu Kỷ thành trống mái
Trần Nê Hoàn viết:
Tí thời khí đáo Vĩ Lư Quan 子 時 氣 到 尾 闾 關
Giáp Tích, Hà Xa vận Tắng San 夾 脊 何 車 運 甑 山
Nhất lõa thủy tinh nhập lô nội 一 颗 水 晶 入 爐 内
Xích Long hàm Hống thượng Nê Hoàn 赤 龍 含 汞 上 泥 丸
Khí vào giờ Tí tới Vĩ Lư
Theo đường Giáp Tích truyền lên đỉnh,
Nhất lõa kim đan nhập Đan Điền
Nguyên Thần, Nguyên Khí thượng Nê Hoàn
Túy Hư Thiên viết:
Tuý đảo hàm miên mộng thục thời 醉 倒 酣 眠 夢 熟 時
Mãn thuyền tải bảo quá Tào Khê 滿 船 載 寶 過 曹 溪
Nhất tài thức phá đan cơ hậu 一 才 識 破 丹 基 後
Phóng khứ thu lai tổng thị y 放 去 收 來 總 是 伊
Quá chén, ngủ say, dệt mộng thời,
Một thuyền châu báu qua Đốc mạch.
Từ khi biết được phép luyện Đơn,
Phóng khứ, thu lai thật dễ dàng.
Cổ Tiên Ca vân:
Thủy Ngân nhất vị thị Tiên Dược 水 銀 一 味 是 仙 藥
Tòng thượng truyền lưu phục hỏa nan 從 上 傳 流 伏 火 難
Nhược ngộ Hà Xa thành tử phấn 若 遇 何 車 成 紫 粉
Phấn sương nhất thổ hóa Kim Đơn 粉 霜 一 吐 化 金 丹
Nguyên Thần nhất vị là Tiên Dược
Xưa nay kết tụ rất khó khăn
May ra gặp được Chân Nguyên Khí
Phấn sương lan tỏa hiện Kim Đan
Huyền Áo Tập nói:
Di tương Bắc Đẩu quá Nam Thần 移 將 北 斗 過 南 辰
Lưỡng thủ song kình Nhật Nguyệt luân 兩 手 雙 擎 日 月 輪
Phi sấn Côn Lôn sơn thượng xuất 飛 趁 崑崙 山 上 出
Tu du hóa tác nhất thiên vân 須 臾 化 作 一 天 雲
Đem sao Bắc Đẩu (Khảm) xuống Nam Thần (Ly)
Nhật Nguyệt hai vầng nắm trong tay
Bay tới Côn Lôn liền xuất hiện
Tự nhiên hóa tác đám tường vân
Âm Trường Sinh nói:
Thâm dạ Long ngâm Hổ khiếu thì 深 夜 龍 吟 虎 啸 時
Cấp giá Hà Xa vô tạm hiết 急 駕 何 車 無 暫 歇
Phi tinh vận thượng Côn Lôn đỉnh 飛 精 運 上 崑崙 鼎
Tiến hỏa Ngọc Lô phanh tự tuyết 進 火 玉 鑪 烹 似 雪
Long ngâm, Hổ khiếu trong đêm vắng
Hãy chuyển Hà Xa chớ có lơi
Phi tinh hãy vận Côn Lôn đỉnh
Đem lửa đốt lò trắng như tuyết
Trương Nguyên Hóa viết:
Nghi lưu nhất trực thượng Bồng Lai 宜 流 一 直 上 蓬萊
Tán tại Cam Tuyền nhuận cửu hài 散 在 甘 泉 潤 九 骸
Tòng thử Đan Điền triêm nhuận trạch 從 此 丹 田 沾 潤 澤
Hoàng Nha biến địa nhất tề khai 黄 芽 遍 地 一 齊 開
Sông nghi chảy thẳng tới Bồng Lai
Tán thành Tân Dịch nhuận cửu hài
Đơn Điền nhờ vậy nên nhuận trạch
Hoàng Nha khắp đất nở tung khai
Nguyên Đạo Ca vân:
Diệu vận Đan Điền tu thượng hạ 妙 運 丹 田 須 上 下
Tu tri nhất thể hợp Tây Đông 須 知 一 體 合 西 東
Kỷ hồi tiếu chỉ Côn Lôn thượng 幾 回 笑 指 崑崙上
Giáp Tích phân minh hữu lộ thông 夾 脊 分 明 有 路 通
Phải vận khí qua Thượng Hạ Đan Điền
Biết phải trái Tây Đông trong người
Mới hay từ Giáp Tích lên Côn Lôn
Phân minh vốn đã có đường lối.
Áo Bí Tập viết:
Độc bộ Côn Lôn vọng yểu minh 独 步 崑崙 望 窈 冥
Long ngâm Hổ khiếu thậm phân minh 龍 吟 虎 啸 甚 分 明
Ngọc Trì thường trích Âm Dương tủy 玉 池 常 滴 陰陽 髓
Kim Đỉnh thời phanh Nhật Nguyệt Tinh 金 鼎 時 烹 日 月 精
Bước tới Côn Lôn học huyền vi
Long ngâm Hổ khiếu rõ ràng nghe
Trong miệng Cam Lồ thường nhỏ xuống
Đơn Điền thường luyện Nhật Nguyệt Tinh
Quần Tiên Châu Ngọc viết:
Nhất Điểm Đan Dương sự quýnh biệt 一 點 丹 陽 事 迥 別
Tu hướng Khảm trung cầu xích huyết 須 向 坎 中 求 赤 血
Tróc lai Ly vị chế Âm Tinh 捉 來 離 位 制 陰 精
Phối hợp điều hòa hữu thời tiết 配 合 調 和 有 時 節
Muốn luyện Nội Đơn phải hiểu rành
Phải từ quẻ Khảm lấy Dương Tinh
Thay thế quẻ Ly hào chính giữa
Phối hợp điều hòa có thời tiết
Kim Đan Tập viết:
Hà Xa ban vận thượng Côn sơn 何 車 搬 運 上 崑 山
Bất động khiên hào đáo Ngọc Quan 不 動 纤 毫 到 玉 關
Diệu tại nhập môn lao bế tỏa 妙 在 入 門 牢 閉 鎖
Âm Dương nhất khí tự tuần hoàn 陰 陽 一 气 自 循 還
Hà Xa vận chuyển tới Côn Lôn
Không cần vất vả thấu Ngọc Quan
Hay là biết giữ đầu óc sáng
Âm Dương nhất khí tự tuần hoàn
無一歌云:
此到一復忘一可,可與元化 同出沒。設若執一不能忘,大似癡貓守空窟。
白玉蟾云:
汞心煉神赤龍性,鉛身凝氣白虎命。內外渾無一點陰,萬 象光中玉清鏡。
純陽文集云:
盜得乾坤祖,陰陽是本宗。天魂生白虎,地魄產青龍。
運寶 泥丸住,搬精入上宮。有人明此法,萬載貌如童。
抱一子顯道圖云:
造道原來本不難,工夫只在定中間。陰陽上下 常升降,金水周流自返還。
紫府青龍交白虎,玄宮地軸合天關。雲收雨散神胎就,男子生兒不等閒。
玄奧集云:
要識玄關端的處,兒女笑指最高峰。
最高峰,秀且奇,彼岸濛濛生紫芝。
只此便是長生藥,無限修行人不知。
許宣平玄珠歌云:
天上日頭地下轉,海底蟬娟天上飛。乾坤日月本不運,皆因斗柄轉其機。
人心若與天心合,顛 倒陰陽只片時。龍虎戰罷三田靜,拾起玄珠種在泥。
群仙珠玉歌云:
鉛思汞,汞思鉛,奪得乾坤造化權。性命都來 兩個字,隱在丹經千萬篇。
Nguyên Nhất Ca viết:
Đáo thử đắc Nhất phục vong Nhất 到 此 得 一 復 忘 一
Khả dữ Nguyên Hóa đồng xuất một 可 與 元 化 同 出 沒
Thiết nhược chấp nhất bất năng vong 设 若 執 一 不 能 忘
Đại tự si miêu thủ không quật 大 似 痴 貓 守 空 窟
Đạt được Nhất rồi lại quên Nhất , Sẽ cùng Tạo Hóa đồng xuất một
Nếu như chấp nhận không quên được, Sẽ giống mèo ngu giữ hang không
Bạch Ngọc Thiềm viết:
Hống Tâm luyện Thần Xích Long Tính 汞 心 煉 神 赤 龍 性
Diên Thân ngưng Khí Bạch Hổ Mệnh 沿 身 凝 氣 白 虎 命
Nội ngoại hỗn vô nhất điểm âm 內 外 混 無 一 點 陰
Vạn tượng quang trung ngọc kính thanh 萬 象 光 中 玉 鏡 清
Trong Hống luyện phanh Xích Long Tinh
Diên thời ngưng khí Bạch Hổ Mệnh
Thần Khí trong ngoài sạch hết Âm
Đại Đan trong sáng ắt mau thành
Thuần Dương Tập viết:
Đạo đắc Kiền Khôn tổ 盜 得 乾 坤 祖
Âm Dương thị bản tông 陰 陽 是 本 宗
Thiên Hồn sinh Bạch Hổ 天 魂 生 白 虎
Địa Phách sản Thanh Long 地 魄 產 青 龍
Vận bửu Nê Hoàn trụ 運 寶 泥 丸 住
Ban Tinh nhập Thổ cung 般 精 入 土 宮
Hữu nhân minh thử pháp 有 人 明 此 法
Vạn tải mạo như đồng 萬 載 貌 如 童
Trộm được Kiền Khôn tổ, Thấy căn bản Âm Dương
Thiên Hồn sinh Nguyên Khí, Địa Phách hóa Nguyên Thần
Nê Hoàn đem báu lại, Tinh Hoa tới Thổ Cung
Ai mà biết phép đó, Muôn năm trẻ như đồng
Bão Nhất Tử (Hiển Đạo đồ) viết:
Tạo đạo nguyên lai bổn bất nan 造道原來本不難
Công phu chỉ tại định trung gian 工夫只在定中間
Âm Dương thượng hạ thường thăng giáng 陰陽上下常升絳
Kim Thủy chu lưu tự phản hoàn 金水周流自返還
Tử Phủ, Thanh Long giao Bạch Hổ 紫府青龍交白虎
Huyền Cung, Địa Trục hợp Thiên Quan 玄宮地軸合天關
Vân thu vũ tán Thần Thai tựu 雲收雨散神胎就
Nam tử sinh nhi bất đẳng nhàn 男子生兒不等閑
Nguồn đạo tìm ra chẳng khó khăn
Công phu chỉ tại định trung gian
Âm Dương thượng hạ thường thăng giáng
Nguyên Khí trong ta mặc phản hoàn
Tử Phủ, Thanh Long giao Bạch Hổ
Huyền Cung, Địa Trục hợp Thiên Quan
Kim Đan ngưng kết Thánh Thai hiện
Nam tử sinh con chuyện phi thường
Huyền Áo Tập vân:
Yếu thức Huyền Quan đoan đích xứ 要 識 玄 關 端 的 處
Nhi nữ tiếu chỉ Tối Cao Phong 兒 女 笑 指 最 高 峰
Thượng tối Cao Phong tú thả kỳ 上 最 高 峰 秀 且 奇
Bỉ ngạn mông mông sinh tử chi 彼 岸 蒙 蒙 生 紫 芝
Chỉ thử tiện thị Trường Sinh dược 只 此 便 是 長 生 藥
Vô hạn tu hành nhân bất tri 無 限 修 行 人 不 知
Muốn biết Huyền Quan ở chốn nào,
Người chỉ vẽ cho tại đỉnh đầu
Đỉnh đầu chốn ấy ôi sao đẹp,
Bên bờ còn có cỏ Linh Chi
Linh Chi là chính Trường Sinh dược,
Chuyện ấy xưa nay ít ai hay
Hứa Tuyên Bình (Huyền Châu Ca) viết:
Thiên thượng nhật đầu địa hạ chuyển 天 上 日 頭 地 下 轉
Hải để thuyền quyên thiên thượng phi 海 底 嬋 娟 天 上 飛
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt bản bất vận 乾 坤 日 月 本 不 運
Giai nhân đẩu bính chuyển kỳ ki 皆 因 斗 柄 轉 其 機
Nhân Tâm nhược dữ Thiên Tâm hợp 人 心 若 與 天 心 合
Điên đảo Âm Dương chỉ phiến thì 顛 倒 陰 陽 止 片 時
Hổ Long chiến bãi Tam Điền tĩnh 虎 龍 戰 罷 三 田 静
Thập thủ Đan Kinh chủng tại Nê 拾 取 丹 經 種 在 泥
Vừng Nhật trên Trời, dưới đất quay
Vừng Trăng đáy biển thượng thiên phi
Kiền Khôn, Nhật Nguyệt vốn không chuyển
Chuyển vận là do Đẩu Bính xoay
Nhân Tâm nếu với Thiên Tâm hợp
Âm Dương điên đảo chỉ phút giây
Nguyên Thần, Nguyên Khí đà kết hợp
Đem đến Đan Kinh, chủng tại Nê (Nê Hoàn)
Quần Tiên Châu Ngọc Ca viết:
Diên tư Hống, Hống tư Diên 鉛 思 汞, 汞 思 鉛
Đoạt đắc Kiền Khôn Tạo Hóa quyền 奪 得 乾 坤 造 化 權
Tính Mệnh đô lai lưỡng cá tự 性 命 都 來 兩 個 字
Ẩn tại Đan Kinh thiên vạn thiên 隱 在 丹 經 千 萬 篇
Diên mơ Hống, Hống mơ Diên,
Đoạt được Kiền Khôn, Tạo Hóa quyền
Tính Mệnh xưa nay chỉ hai chữ,
Ẩn tại Đan Kinh thiên vạn thiên.
(xin xem tiếp MÃO DẬU CHU THIÊN KHẨU QUYẾT)
卯酉周天口訣
< 周天璇璣圖>
虎西龍東,建緯卯酉,刑徳并會,相見歡喜。
河魁臨 卯,天罡據酉,子南午北,互為綱紀。
北斗南辰下,眉毛眼底穿,灰心行水火,定意採真鉛。
陰向鼻端滅,陽從眼裏 生,這般平易法,因甚沒人行!
大道分明見此圓,璇璣卯酉法天然。由中道外中全外,自後推前後即前。
陽火進來從左 轉,陰符退去往西旋。霎時火候周天畢,煉顆明珠似月圓。
復、臨、泰、壯、訣、乾兮,六陽從左而上下;垢、遁、否、觀、剝、坤兮,六陰 往右而迴旋。
(周 天璇璣圖)
前段乾坤交媾,收外藥也。此段卯酉周天,收內藥也。外交媾者,後上前下,一升一降也。內交媾者,左旋右轉,一起一伏也。兩 者循環,狀似璇璣。
故魏伯陽云:循據璇璣,升降上下,周流六爻,難以察睹。世人只知有乾坤交媾,而不知卯酉周天,是猶有車而無輪, 有舟而無舵,慾望遠載,其可得乎?
故還元篇云:輪迴玉兔與金烏,道在人身人自迷,滿目盡知調水火,到頭幾個識東西。東者,水性也。 西者,金情也。一物分二,間隔東西。今得斗柄之機干旋,則木性愛金,金情戀木,兩相交結,而金木交並矣。金本交並,方成水火全功。丹經謂之和合四象者此 也。
MÃO DẬU CHU THIÊN KHẨU QUYẾT
tức
CHÂU THIÊN TUYỀN KI ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Phục, Lâm, Thái, Tráng, Quải, Kiền hề 復 臨 泰 壯 卦 乾 兮
Lục Dương tòng tả nhi thượng hạ 六 陽 從 左 而 上 下
Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn hề 姤 遁 否 觀 剝 坤 兮
Lục Âm vãng hữu nhi hồi tuyền 六 陰 往 右 而 回 旋
Phục, Lâm, Thái, Tráng, Quải, Kiền hề
Sáu Dương lên xuống phía bên tả
Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn hề
Sáu Âm tuần hoàn phía bên hữu
Hổ Tây, Long Đông, kiến vĩ Mão Dậu
虎 西 龍 東 見 纬 卯 酉
Hình, Đức tịnh hợp tương kiến hoan hỉ
刑 德 並 合 相 見 懽 喜
Hà Khôi lâm Mão, Thiên Cang cứ Dậu
河魁臨卯天罡據酉
Tí Nam, Ngọ Bắc hỗ vi cương kỷ
子 南 午 北 互 為 綱 紀
Hổ Tây, Long Đông hình thành Mão Dậu kinh tuyến
Âm Hình, Dương Đức tính dụng mọi người hoan hỉ
Hà Khôi Tinh tại Đông, Mão, Thiên Cang Tinh tại Tây, Dậu
Nam Bắc Tí Ngọ tuyến thị cương yếu
Bắc Đẩu Nam Thần hạ 北 斗 南 辰 下
Mi Mao nhỡn để xuyên 眉 毛 眼 抵 穿
Khôi tâm hành Thủy Hỏa 灰 心 行 水 火
Định Ý thái Chân Diên 定 意 埰 甄 沿
Âm hướng Tị Doan diệt 陰 向 鼻 端 灭
Dương tòng nhãn lý sinh 陽 從 眼 里 生
Giá ban bình dị pháp 這 般 平 易 法
Nhân thậm một nhân hành 因 甚 没 人 行
Bắc Đẩu (Khảm), Nam Thần (Ly) hợp nơi lông mi và mắt (Thượng Đan Điền)
Tâm yên hành Thủy Hỏa ,
Ý định, Đơn sẽ viên
Âm tới đầu mũi diệt,
Dương từ trong mắt sinh
Phép tu dễ như thế,
Sao chẳng mấy người hành
*Lời bàn của dịch giả về Tuyền Ki
Hình vẽ trên đây không phải là Tuyền Ki mà là Huyền Nghi (Armillaires)
1. Tuyền Ki (Tablette de consicllation circumpolaire; Circumpolar Consicllation template) là một Ống Đồng cổ kính nhất để quan sát sao Bắc Thần và định vị trí Bắc Cực.
Michale giải Tuyền Ki là một miếng ngọc dẹt chung quanh có một số khía. Miếng ngọc này có thể xoay quanh một cái ống để nhòm. Nếu quay đúng vị trí, các sao Bắc Đẩu và hàng sao Tả Khu, Thượng Tể, Thượng Phụ, Thượng Thừa v.v. sẽ lọt đúng vào chỗ khía đã làm sẵn của Tuyền Ki, còn sao Bắc Thần sẽ hiện ra nơi Tâm Điểm của Tuyền Ki. Như vậy Tuyền Ki sẽ định được chính Bắc Cực
2. Hồn Nghi là một dụng cụ để xem xét sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và sự mọc lặn của các vì sao. Hồn Nghi có nhiều loại tùy theo có nhiều hay ít vòng. Nó thường có vòng Hoàng Đạo, vòng Xích Đạo, vòng Kinh Tuyến và vòng Nhẫn Giới. Nó cũng còn có nhiều bộ phận hay máy móc khác mà ta không cần biết.
Dịch giả Tham Đồng Khế, nơi tr.381 mô tả đại khái Hồn Nghi như sau:
“Đó là một Nghi Khí cho ta biết về Đại Đạo. Nó cho ta biết về Kinh Tuyến Mão Dậu hoàn toàn lấy tự nhiên làm chuẩn đích. Nó quay từ trong ra ngoài. Khi đã biết tâm điểm của nó, thì sẽ quay nó từ sau ra trước. Nội khí trong người cũng vận chuyển như vậy. Dương Hỏa chuyển phía trái; Âm Phù chuyển phía phải; trong khoảnh khắc, nội khí sẽ vận chuyển toàn thân; Hỏa Hầu đã tới và đan đạo cũng đã thành.”
————————-
MÃO DẬU CHU THIÊN ĐỒ QUYẾT
Đoạn trước nói về Kiền Khôn giao cấu, là nói về Ngoại Dược. Đoạn này nói về Mão Dậu chu thiên. Nói về Nội Dược.
Ngoại giao cấu là Sau lên Trước xuống. Một thăng, một giáng. Nội giao cấu là Tả Tuyền Hữu Chuyển, nhất Khởi, nhất Phục.
Đôi đằng vận chuyển, giống như Tuyền Ki, cho nên Ngụy Bá Dương nói:
Tuần Hoàn tuyền ki, thăng giáng thượng hạ, chu lưu lục hào, nan dĩ sát đổ
循還璇玑升降上下周流六爻難以察睹
Tuyền Ki tuần hoàn, lên xuống, dưới trên, chu lưu sáu hào, khó mà lường được
Người đời chỉ biết Kiền Khôn giao cấu mà không biết Mão Dậu Chu Thiên, như có xe không bánh, như thuyền không lái. Nếu muốn chở xa, làm sao mà được?
Cho nên Hoàn Nguyên Thiên viết:
Luân Hồi, Ngọc Thố dữ kim kê 輪 回 玉 兔 與 金 雞
Đạo tại nhân thân nhân tự mê 道 在 人 身 人 自 迷
Mãn mục tận tri điều Thủy Hỏa 滿 目 盡 知 調 水 火
Đáo đầu kỷ cá thức Đông Tây 到 頭 幾 個 識 東 西
Nhật Nguyệt hai vầng luôn thăng giáng
Đạo tại nơi người, người chẳng biết
Suốt ngày chỉ học điều Thủy Hỏa
Đông Tây tuần hoàn lại chẳng hay
Đông là Mộc (Tính), Tây là Kim (Tình). Một vật phân đôi nên mới Đông Tây gián cách.
Nay nhờ Đẩu Bính Tuyền Ki oát chuyển nên Mộc Tính ái Kim, Kim Tình luyến Mộc, hai bên giao kết, nên Kim Mộc tương giao, Thủy Hỏa tương tế, nên Đan Kinh gọi là Hòa Hợp Tứ Tượng .
故張全一鉛火秘訣云:
大藥之生有時節,亥末子初正半夜。精神相媾合光華,恍恍惚惚生明月。
媾罷流下噴泡然,一陽來復休輕洩。急須閉在太玄關,火逼藥過尾閭穴。
采時用目守泥丸,垂下左上且凝歇。謂之瞻理腦升玄,右邊放下 復起折。
六六數畢藥生乾,陽極陰生往右遷。須開關門以退火,目光下矚守坤田。
右上左下方凝住,三八數了一周 天。此是天然真火候,自然升降自抽添。
也無弦望與晦朔,也無沐浴共長篇。異各剪除譬喻掃,只斯兩句是真詮。
其法在乾坤交媾後行之,則所結金丹不致耗散也。先以法器頂住太玄關口,次以行氣主宰下照坤臍。良久,徐徐從左上照乾頂。少停,從右降下坤臍。是為一度。又 從坤臍而升上乾頂,又從乾頂而降下坤臍。如此三十六轉,是為進陽火。三十六度畢,並關以退火,亦用下照坤臍,從右上至乾頂,左邊放下坤臍,是為一度。如此 二十四轉,是為退陰符。二十四度畢。
故張紫陽云:
斗極建四時,八節無不煩。斗極實兀然,魁杓自移動。
只要兩眼皎,上下交相送。須向靜中行,莫向忙裡送。
所以用兩眼皎者,何也?蓋眼者,陽竅也。人之一身皆屬陰,唯有這點陽耳。我以 這一點之陽,從下至上,從左至右,轉而又轉,戰退群陰,則陽道日長,****日消。
Cho nên, Trương Toàn Nhất (Diên Hỏa bí quyết) nói:
Đại dược chi sinh hữu thời tiết, 大 藥 芝 生 有 時 節
Hợi mạt, Tí sơ, chính bán dạ 亥 末 子 初 正 半 夜
Tinh thần tương cấu hợp quang hoa 精 神 相 媾 合 光 華
Hoảng hoảng hốt hốt sinh minh nguyệt 恍 恍 忽 忽 生 明 月
Cấu bãi lưu hạ phún bào nhiên 媾 擺 流 下 噴 泡 然
Nhất Dương lai phục hưu khinh tiết 一 陽 來 復 休 輕 泄
Cấp tu bế tại Thái Huyền Quan 急 須 閉 在 太 玄 關
Thủy bức Dược quá Vĩ Lư huyệt 水 逼 藥 過 尾 閭 穴
Thái thời dụng mục thủ Nê Hoàn 采 時 用 目 守 泥 丸
Thùy hạ tả thượng thả ngưng yết 垂 下 左 上 且 凝 歇
Vị chi chiêm lý não thăng huyền 謂 之 瞻 理 腦 升 玄
Hữu biên phóng hạ phục khởi triết 右 邊 放 下 復 起 折
Lục lục số hoa dược thăng Kiền 六 六 數 華 藥 升 乾
Dương cực Âm sinh vãng hữu thiên 陽 極 陰 生 往 右 遷
Tu khai quan môn dĩ thoái Hỏa 須 開 關 門 以 退 火
Mục quang hạ chúc thủ Khôn điền 目 光 下 瞩 守 坤 田
Hữu thượng tả hạ phương ngưng trụ 右 上 左 下 方 凝 住
Tam bát số liễu nhất chu thiên 三 八 數 了 一 周 天
Thử thị thiên nhiên chân hỏa hậu 此 是 天 然 真 火 候
Tự nhiên thăng giáng, tự sưu thiêm 自 然 升 降 自 抽 添
Dã vô Huyền Vọng dữ Hối Sóc 也 無 炫 望 與 賄 朔
Dã vô Mộc Dục cộng Trường Thiên 也 無 沐 浴 共 長 篇
Dị danh tiễn trừ thí dụ tảo 異 名 剪 除 譬 谕 掃
Chỉ tư lưỡng cú thị Chân Thuyên 只 私 兩 句 是 真 詮
Đại dược sinh ra có thời tiết
Cuối Hợi, đầu Tí lúc nửa đêm
Nguyên Tinh, Nguyên Thần đồng kết hợp
Quang hoa rực rỡ như Minh Nguyệt
Kết hợp xong rồi lưu Phún Bào
Nhất Dương lai phục không khinh tiết
Mau đem về dấu tại Huyền Quan
Nước bức Dược qua Vĩ Lư huyệt
Hái thuốc mắt hướng về Nê Hoàn
Lim dim tả vãng, thượng ngưng kết
Dùng công lực mắt vận chuyển óc
Đem thẳng Nội Đan về Nê Hoàn
Hữu biên phóng hạ phục khởi triết
Lên xuống tuần hoàn ba sáu (36) lần
Dương cực Âm sinh rồi Hữu chuyển
Rồi phải mở cửa để Thoái Hỏa
Mắt đưa xuống dưới giữ Khôn Điền
Tòng Hữu biên thượng, Tả biên hạ
Ba tám: hăm bốn một Chu Thiên
Lúc ấy Tự Nhiên Chân Hỏa Hậu
Tự nhiên thăng giáng, tự sưu thiêm
Hết còn Huyền Vọng, còn Hối Sóc
Hết còn Mộc Dục, hết Trường Thiên
Dị danh tiễu trừ, thí dụ bỏ
Chỉ còn hai chữ ấy Chân Thuyên
Phép này dùng sau phép Kiền Khôn Giao Cấu, thì Kim Đơn sẽ không hao tán. Trước hết đem Pháp Khí trụ Thái Huyền Quan (Vĩ Lư), rồi hành khí tới Khôn Tề (Rốn). Lâu sau sẽ từ phía tả đưa lên Kiền Đình (Đỉnh Đầu). Ngưng lại một chút rồi từ phía Hữu giáng xuống Đan Điền (Rốn). Thế là một độ. Rồi lại từ Rốn lên Đỉnh Đầu, rồi lại từ Đỉnh Đầu xuống Rốn. Làm như vậy 36 lần, thế là tiến Dương Hỏa. Sau 36 lần đó, sẽ khai quan để Thoái Âm Hỏa. Lại khởi từ Rốn, tòng Hữu mà đi lên đỉnh đầu. Rồi lại theo tả biên mà về Rốn. Xoay vòng như vậy 24 lần. Đó là Thoái Âm Phù, 24 vòng là xong.
Trương Tử Dương nói:
Đẩu cực kiến tứ thời 斗 極 建 四 時
Bát tiết vô bất thuận 八 節 無 不 順
Đẩu cực thiệt ngột nhiên 斗 極 实 兀 然
Khôi Tiêu tự di động 魁 杓 自 移 動
Chỉ yếu lưỡng nhãn kiểu 只 要 兩 眼 皎
Thượng hạ giao tương tống 上 下 交 相 送
Tu hướng tĩnh trung hành 須 向 靜 中 行
Mạc hướng mang lý tống 莫 向 忙 里 綜
Bắc Đẩu định tứ thời
Bát tiết không sai thác
Bắc Đẩu vốn không động
Đuôi sao Khuê xoay vần
Chỉ cần tinh đôi mắt
Trên dưới trông cho rành
Xem sao cần tĩnh lãng
Lòng phải thật quang minh
Tại sao phải dùng mắt sáng suốt? Thưa vì mắt là Dương Khiếu. Toàn thân con người là Âm, chỉ có một điểm Dương ấy mà thôi. Ta dùng một điểm Dương ấy, từ dưới lên trên, từ trái sang phải, chuyển vận vô cùng, để chiến thoái quần Âm. Như vậy Dương Đạo ngày một trưởng, Âm Đạo ngày một tiêu.
故易曰:龍戰於野,其血玄黃。又能使真氣上下循 環,如天河之流轉,其眼之功可謂大矣。
蓋人初結胎時,天一生水,先生黑睛,而有瞳仁屬腎,地二生火,而有兩皆屬心。天三生木,而有 黑珠屬肝;地四生金,而有白珠屬肺;天五生土,而有上下胞胎屬脾。由此觀之,則五臟精華皆發於目也。
因師指竅之後,見婦人小產,半 馬落胎,並抱雞之蛋,俱先生雙目而臟腑皆未成形。予始知目乃先天之靈,元神所游之宅也。
皇極經世書云:天之神,棲於日;人之神,發 於目。大矣哉!人之神發於目也。生身處,此物先天地生;沒身處,此物先天地沒。水、火,木、金、上之五行,攢簇於此,肝、心、脾、肺、腎之五臟,鐘靈於 此,唾、涕、精、津、氣、血、液之七物,結秀於此。其大也,天地可容,其小也,纖毫不納。茲非吾一身中之大寶也歟。
內指通玄訣云:
含光便是生長藥,變骨成金上品仙。
上陽子云:
玄微妙訣無多吉,只在眼前人不顧。
崇正篇云:
搬運有功連晝夜,斡旋至妙體璇璣。
火候歌云:
欲透玄玄須謹獨,謹獨工夫 機在目。
Cho nên Dịch Kinh nói:
Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng 龍戰于野其血玄黃 (Ngoài đồng Rồng đánh lộn nhau, Máu phun chan chứa pha màu vàng đen).
Lại có thể khiến cho một khí lưu hành, tuần hoàn trên dưới nên công năng của mắt thật là lớn vậy.
Vả khi con người vừa mới kết thai, Thiên Nhất sinh Thủy thì Tròng Đen sinh trước. Đồng Tử sinh sau, thuộc Thận; Địa Nhị sinh Hỏa, mà có hai vành mắt; thuộc Tâm. Thiên Tam sinh mộc, mà có tròng đen, thuộc Gan; Địa Tứ sinh Kim, mà có tròng trắng, thuộc Phổi; Thiên Ngũ sinh Thổ, mà có da trên dưới mắt, thuộc Tì.
Cứ xem như thế, thì tinh hoa ngũ tạng đều phát nơi mắt. Sau khi Thầy ta chỉ Khiếu cho ta, ta quan sát thai những người bị tiểu sản, hay thai trâu bò, hay xem trứng khi chưa thành con, thì bao giờ cũng thấy đôi mắt sinh trước khi tạng phủ thành hình, cho nên ta biết đôi mắt là “Tiên Thiên Chi Linh”, quán xá của Nguyên Thần đến đó du chơi.
Hoàng Cực Kinh Thế viết:
Thiên chi Thần, Thê vu Mục 天 之 神 棲 于 目
Nhân chi Thần, Phát vu Mục 人 之 神 發 于 目
Thần của Trời, Ngự đôi mắt
Thần con người, Phát tại mắt
Lớn thay là câu nói: Nhân chi Thần, phát vu mục
Khi sinh thân, thì vật đó sinh ra trước; khi thân diệt, thì vật đó mất đi trước. Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết hợp tại đấy. Linh khí của Tâm, Can, Tì, Phế, Thận tập trung tại đó. Nước dãi, nước mắt, Tinh, Tân, Khí, Huyết, Dịch bảy thứ đó đều tụ tại đó. Nó lớn thì thiên địa không chỗ chứa, nó nhỏ thì hào mao cũng không nạp. Đó há chẳng phải là báu vật trong thân ta hay sao?
Nội chỉ Thông Huyền Quyết viết:
Hàm quang tiện thị Trường sinh dược 含光便是長生藥
Biến cốt thành Kim Thượng Phẩm Tiên 變骨成金上品仙
Nhãn tình chính thật Trường Sinh dược
Biến cốt thành Kim, Thượng Phẩm Tiên
Thượng Dương Tử viết:
Huyền vi diệu quyết vô đa ngôn 玄 微 妙 訣 無 多 言
Chỉ tại nhãn tiền nhân bất cố 只 在 眼 前 人 不 顾
Huyền vi diệu quyết chẳng nhiều lời
Rành rành trước mắt người chẳng ngó
Sùng Chính Thiên viết:
Ban vận hữu công liên trú dạ, 搬 運 右 功 連 晝 夜
Oát tuyền chí diệu thể Tuyền Ki 斡 旋 至 妙 體 璇 玑
Nội khí vận hành Liên trú dạ
Mắt xoay kỳ diệu giống Tuyền Ki
Hỏa Hầu Ca nói:
Dục thấu Huyền Huyền tu cẩn độc 欲 透 玄 玄 須 謹 獨
Cẩn độc công phu cơ tại mục 謹 獨 工 夫 機 在 目
Chuyên tâm cẩn thận thấu Huyền Cơ
Cẩn Thận công phu do mắt đó
陳泥丸云:
真陰真陽是其道,只在眼前何遠詞。
薛道光云:
分明只在眼睛前,自是時人不見天。
劉海蟾云:
下降上升循殼軸,左旋右復合樞機。
王 子真云:
昨宵奼女啟靈扉,窺見神仙會紫微。北斗南辰前後布,兩輪日月往來飛。
蕭紫虛云:
如龍養珠常自顧,如雞孵卵常自抱。金液還丹在眼前,迷者多而悟者少。
陳翠虛云:
不是燈光日月星,藥靈自有 異常明。垂簾久視光明處,一顆堂堂現本真。
翠虛篇云:
莫謂金丹事等閒,切須勤若力攢研。慇勤好與師資論,不 在他途在目前。
玄坤集云:
青牛人去幾多年,此道分明在目前。欲識目前真的處,一堂風冷月蟬娟。
陳泥丸云:
大道分明在眼前,時人不會娛歸泉。黃芽本是乾坤氣,神水根基與汞連。
玄學統宗云:
幾回抖搜上崑崙,運動璇璣造化分。晝夜周而還復始,嬰兒從此命常存。
Trần Nê Hoàn nói:
Chân Âm Chân Dương thị Chân Đạo 真 陰 真 陽 是 真 道
Chỉ tại nhỡn tiền hà viễn thảo 只 在 眼 前 何 遠 討
Chân Âm Chân Dương là Chân Đạo
Nó ngay trước mặt chớ tìm xa
Tiết Đạo Quang nói:
Phân minh chỉ tại nhỡn tình tiền 分 明 只 在 眼 睛 前
Tự thị thời nhân bất kiến Thiên 自 是 時人 不 見 天
Phân minh trước mắt chẳng xa vời
Chỉ tại con người chẳng thấy Trời
Lưu Hải Thiềm viết:
Hạ giáng thượng thăng tuần cốc trục 下 降 上 升 循 穀 軸
Tả toàn hữu phục hợp Khu Cơ 左 旋 右 覆 合 抠 機
Hạ giáng thượng thăng theo cột sống
Tả toàn hữu chuyển hợp Khu Cơ
Vương Tử Chân nói:
Tạc tiêu Xá Nữ khải Linh phi 昨 宵 奼 女 啟 靈 痱
Khuy kiến thần tiên hội Tử Vi 窺 見 神 仙 會 紫 微
Bắc Đẩu, Nam Thần tiền hậu bố 北 斗 南 神 前 後 布
Lưỡng luân Nhật Nguyệt vãng lai phi 兩 輪 日 月 往 來 飛
Đêm qua Xá Nữ (Nguyên Thần) mở cửa ra
Nhìn thấy Thần Tiên họp đỉnh đầu
Nam Tào, Bắc Đẩu sau trước bố
Nhật Nguyệt hai vầng bay lại qua
Tiêu Tử Hư nói:
Như Long dưỡng châu thường tự cố 如 龍 養 珠 常 自 顧
Như Kê phục noãn thường tự bão 如 雞 伏 卵 常 自 抱
Kim Dịch Hoàn Đơn tại nhãn tiền 金 液 还 丹 在 眼 前
Mê giả đa nhi ngộ giả thiểu 迷 者 多 而 悟 者 少
Như Rồng có ngọc thường lưu ý
Như Gà ấp trứng cũng như y
Kim Dịch Hoàn Đan trước mắt có
Biết ra thì ít mê lại nhiều
Trần Túy Hư nói:
Bất thị đăng quang Nhật Nguyệt Tinh 不 是 燈 光 日 月 星
Dược Linh tự hữu dị thường minh 藥 靈 自 有 異 常 明
Thùy Liêm cửu thị quang minh xứ 垂 帘 久 視 光 明 處
Nhất lõa đường đường hiện Bản Chân 一 颗 堂 堂 現 本 眞
Không đèn mà độc ánh trăng sao
Nội Dược trong người sáng biết bao
Chỉ cần nhắm mắt nhìn trong dạ
Đan Điền sẽ rạng ánh Bản Chân
Thúy Hư Thiên viết:
Mạc vị Kim Đơn sự đẳng nhàn 莫 謂 金 丹 事 等 閑
Thiết tu cần khổ lực toàn nghiên 切 須 勤 苦 力 鑽 研
Ân cần hảo dữ sư tư luận 殷 勤 好 與 師 資 論
Bất tại tha đồ tại mục tiền 不 在 他 途 在 目 前
Đừng nói luyện Đơn là chuyện dễ
Ắt phải khổ công phải điều nghiên
Cần thầy chỉ dẫn cần tha thiết
Đạo Trời trước mắt chớ nhọc tìm
Huyền Áo Tập viết:
Thanh Ngưu nhân khứ kỷ đa niên 青牛人去幾多年
Thử Đạo phân minh tại mục tiền 此道分明在目前
Dục thức mục tiền Chân Đích xứ 欲識目前真的處
Nhất đường phong lãnh, nguyệt Thuyền quyên 一堂風冷月嬋娟
Thanh Ngưu (Nguyên Thần) tìm kiếm mất nhiều năm
Kỳ thật Nguyên Thần lại mục tiền
Hiểu được Đôi Ngươi (2 tròng mắt) chân tác dụng
Nhất Dương lai phục nội đan thành
Trần Nê Hoàn nói:
Đại Đạo phân minh tại nhãn tiền 大 道 分 明 在 眼 前
Thời nhân bất hội ngộ qui tiền 時 人 不 會 误 歸 前
Hoàng Nha bản thị Kiền Khôn khí 黃 牙 本 是 乾 坤 氣
Thần Thủy căn cơ dữ Hống liên 神 水 根 機 與 汞 連
Đại Đạo (chân lý) phân minh tại mục tiền
Thế nhân không biết tường Qui Tuyền
Nội Đan chính thực Kiền Khôn Khí
Thần Thủy với Hống vốn tương Liên
Huyền Học Thống Tông viết:
Kỷ hồi đẩu sưu thượng Côn Lôn 幾 回 抖 搜 上 崑 崙
Vận động Tuyền Ki tạo hóa phân 運 動 璇 玑 造 化 分
Trú dạ chu nhi hoàn phục thủy 晝 夜 周 而 還 復 始
Anh Nhi tòng thử trường tồn 嬰 兒 從 此 長 存
Mấy lần vận dụng thấu Nê Hoàn
Bắt chước Tuyền Ki chuyển Tuần Hoàn
Ngày đêm phản phục xoay vần chuyển
Nội đơn nhờ thế sẽ trường tồn
觀吾判感歌云:
這骨董,大奧妙,妙在 常有觀其竅。此竅分明在目前,下士聞之即大笑。
金丹賦云:
呼龍虎吸,魂吞魄吐。南北交媾於水火,卯酉輪還於 子午。
總括乾坤之策,優遊變化之主。母子包羅於匡廊,育養因依於鼎釜。
郡仙珠玉山云:
覺中覺了悟中悟,一點靈光無遮護。放開烈焰照娑婆,法界縱橫獨顯露。
這些消息甚幽微,木人遙指白雲歸。此個玄關口難說,目前見得 便忘機。
南谷子云:
至道不遠兮,恆在目前竅。竊天地之機兮,修成仙胎。
純陽子云:
有人問我修行法,遙指天邊日月輪。
以上諸仙雅言,皆發明行氣主宰之義也。
Quan Ngô (Phàn Hoặc Ca) viết:
Giá cốt đổng, đại áo diệu 這 骨 董 大 奥 妙
Diệu tại thường hữu quan kỳ khiếu 妙 在 常 有 觀 其 竅
Thử khiếu phân minh tại mục tiền 此 竅 光 明 在 目 前
Hạ sĩ văn chi tắc đại tiếu 下 士 聞 之 則 大 笑
Điều tạp nhạp này thật ảo diệu
Ảo diệu tại chỗ quan kỳ khiếu
Khiếu này thật sự trước mắt thôi
Hạ sĩ nghe qua phá lên cười
Kim Đơn Phú viết:
Long hô, Hổ hấp 龍 呼 虎 吸
Hồn thôn, Phách thổ 魂 吞 魄 吐
Nam Bắc giao cấu vu Thuỷ Hỏa 南 北 交 媾 于 水 火
Mão Dậu luân hoàn vu Tí Ngọ 卯 酉 輪 還 于 子 午
Tổng quát Kiền Khôn chi sách 總 括 乾 坤 之 策
Ưu du biến hóa chi chủ 優 游 變 化 之 主
Tử Mẫu bao la vu khuông quách 子 母 包 羅 于 匡 郭
Dục dưỡng nhân y vu đỉnh phủ 育 養 因 依 于 鼎 釜
Nguyên Thần, Nguyên Khí tương hô hấp
Hồn Phách thôn thổ tương y
Nam Bắc giao cấu vu Thủy Hỏa
Mão Dậu xoay vần qua Tí Ngọ
Tóm lại luyện đan chi kế sách
Đều lấy an nhàn làm pháp thuật
Đôi mắt hàm tàng đủ Thần Khí
Dưỡng dục chung quy tại Đan Điền
Quần Tiên Châu Ngọc nói:
Giác trung, giác liễu ngộ trung ngộ 覺 中 覺 了 悟 中 悟
Nhất điểm Linh Quang vô già hộ 一 點 靈 光 無 遮 護
Phóng khai liệt diệm chiếu Ta Bà 放 開 烈 焰 照 娑 婆
Pháp giới tung hoành độc hiển lộ 法 界 縱 橫 獨 顯 露
Giá ta tiêu tức thậm u vi 這 些 消 息 甚 幽 微
Mộc nhân diêu chỉ bạch vân qui 木 人 遙 指 白 雲 歸
Thử cá Huyền Quan khẩu nan thuyết 此 個 玄 關 口 難 說
Mục tiền kiến đắc tiện vong ki 目 前 見 得 便 忘 機
Giác ngộ chung qui giác ngộ rồi
Ánh sáng Đan Điền chẳng dấu ai
Phóng khai lửa rực chiếu Ta Bà
Pháp giới tung hoành độc hiển lộ
Tin tức này xem thật u vi
Mộc nhân chỉ nẻo bạch vân qui
Điều huyền diệu ấy khó nói rõ
Mắt thấy qua rồi sẽ quên Ki (Cơ sảo)
Nam Cốc Tử nói:
Chí đạo bất viễn hề 至 道 不 遠 兮
Hằng tại mục tiền 恒 在 目 前
Thiết thiên địa chi cơ hề 竊 天 地 之 機 兮
Tu thành thai tiên 修 成 胎 仙
Chí đạo chẳng có xa
Luôn ở trước mắt ta
Trộm được bí quyết Trời
Tu sẽ thành Đại Tiên
Thuần Dương Tử vân:
Hữu nhân vấn ngã tu hành pháp 有 人 問 我 修 行 法
Dao chỉ thiên biên nhật nguyệt luân 遙 指 天 邊 日 月 輪
Có kẻ hỏi ta phép tu hành
Ta chỉ trời cao Nhật Nguyệt luân
Các lời trên là của chư tiên. Tất cả đều luận về phép Hành Khí. Tiết bàn về công phu này với tiết bốn là cùng một Lý. Trên dưới tương ứng nhau, như một chuỗi ngọc. Thái thủ dược vật thì từ Khúc Giang (Hạ Đan Điền). Tụ Hỏa mà đem nó về Đỉnh Đầu. Nguyên Thần, Nguyên Khí kết hợp với nhau ở Thượng Đan Điền. Tuần hoàn vận chuyển lên kết hợp tại Thượng Đan Điền.
蓋此節工夫與第四節同是一理,承 上接下,端如貫珠,採取藥物於曲江之下,聚火開之而上升於乾,乾坤交媾於九宮之上,周天運之而凝結於鼎。
張紫陽云:
都來片餉工夫,永保無窮逸樂。
輕清者凝於泥丸,重濁者流歸氣穴。逐日如此此抽添,如此交媾,汞漸多,鉛漸少,久則鉛將盡,汞亦 干,結成一顆摩尼,是為金液大還丹也。
故馬宜甫云:
收得水中金,採得菩提子。運得崑崙風,長壽無生死。
蓋坎中之鉛,原是父之真精;離中之汞,原是母之真血。始因乾體一破,二物遂分兩弦。是以常人日離日分,分盡而死。所以至人法乾坤之體,效坎離之用,奪神 功,改天命,求坎中之鉛,制離中之汞,取坎中之陽,填離中之汞。陰盡陽純,復成乾元本體。
故張紫陽云:
取將 坎位中心實,點化離官腹內陰。自此變成乾健體,潛藏飛躍盡由心。
Trương Tử Dương nói:
Đô lai phiến hướng Công Phu 都 來 片 餉 工 夫
Vĩnh bảo vô cùng dật lạc 永 保 無 穷 逸 樂
Chỉ mất chút công phu
Có vô cùng an lạc
Khinh thanh thời ngưng tụ Nê Hoàn, trọng trọc thời xuống Khí Hải. Ngày đêm có thế mà thêm bớt, cứ thế mà hòa hợp. Hống ngày một nhiều, Diên ngày một ít. Lâu ngày Diên sẽ cạn, Hống sẽ khô. Kết thành một viên ngọc Ma Ni. Đó là Kim Dịch đại hoàn đơn vậy.
Cho nên Mã Nghi Thủ viết:
Thu đắc Thủy trung Kim 收 得 水 中 金
Thái đắc Bồ Đề Tử 采 得 菩 提 子
Vận đắc Côn Lôn phong, 運 得 昆 侖 風
Trường thọ vô sinh tử 長 壽 無 生 死
Thu được Chân Nguyên Khí
Hải dược hạt Bồ Đề
Đem được lên Nê Hoàn
Là được Trường Sinh mãi
Cho nên, Diên ở trong Khảm, vốn là chân tinh của cha. Hống ở trong Ly, vốn là chân huyết của mẹ. Khi Kiền Thể bị phá, thì hai vật chia thành hai. Cho nên thường nhân thì ngày một đi vào con đường ly cách, ly cách mãi cho đến chết. Còn các bậc chí nhân, thì phòng theo cái thể của hai quẻ Kiền Khôn; và cái dụng của quẻ Khảm, Ly; đoạt thần công; cải thiên mệnh, đem Diên của quẻ Khảm, chế Hồng quẻ Ly; đem hào dương của quẻ Khảm, thay hào âm quẻ Ly. Như vậy Âm sẽ tận, Dương sẽ thuần, trở lại Thuần Kiền.
Cho nên Trương Dương Tử nói:
Thủ tương Khảm vị tâm trung thật 取 將 坎 位 心 中 實
Điểm hóa Ly cung phúc nội Âm 點 化 離 宮 腹 內 陰
Tự thử biến thành Kiền kiện thể 自 此 變 成 乾 健 體
Tiềm tàng phi dược tận do Tâm 潛 藏 飛 躍 盡 由 心
Hãy lấy hào dương nơi quẻ Khảm
Điểm hóa quẻ Ly hào giữa Âm
Do đó biến thành Kiền kiện thể
Tiềm tàng thăng giáng sẽ do Tâm
*
* *
Lời bình của dịch giả:
Như vậy bí quyết luyện đơn chỉ là:
Thủ Khảm điền Ly, biến Ly Thành Kiền. Nghĩa là làm sao vứt bỏ hết những gì nhơ nhớp xấu xa trong con người, chỉ còn lại những gì trong sáng, tinh hoa nhất của con người.
Ý thức như Nho gia nói:
Khử nhân dục, tồn Thiên Lý,
Bỏ nhân dục, còn Thiên Lý, hay Nhân dục tận, Thiên Lý hiện.
性命雙修萬神圭旨
第六節口訣
靈丹入鼎長養聖胎
<靈丹入鼎圖>
一顆金丹何赫赤,大似彈丸黃似橘。人人分上本圓明,夜夜靈光照神室。
攢簇乾坤造化來,手摶日月煉成灰。金公無言姹女死,黃婆不老猶懷胎。
流珠爍爍照昆巔,九轉丹成只自然。一粒自從吞入口,始知世有活神仙。
悠悠覺萬有之空,似天雲變滅;了了見一真之體,如掌上圓珠。
(靈 丹入鼎圖)
(內附火侯)
原初那點精金渾然在礦,因火所逼,遂上乾宮,漸采漸積,以烹以熔,損之又損,煉 之又煉,直至煙消火滅,礦盡金純,方才成此一粒龍虎金丹。圓陀陀,活潑潑,如露如電,非霧非煙,輝煌閃爍,光耀崑崙。放則迸開天地竅,歸兮隱人翠微宮。
此時藥也不生,輪也不轉,液也不降,火也不炎。五氣皆朝於上陽,三華俱聚於乾頂。陽純陰剝,丹熟珠靈。
LINH ĐƠN NHẬP ĐỈNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Du du giác vạn hữu chi không, tự thiên vân biến diệt
悠 悠 覺 萬 有 之 空 似 天 雲 變 滅
Liễu liễu kiến nhất chân chi thể, như chưởng thượng viên châu
了 了 見 一 真 之 體 如 掌 上 園 珠
Nhìn ra vạn hữu chính là không, y như mây trời tùy sinh diệt
Thấy được Chân Nhất chi thể, khác nào Hạt Châu nắm trong tay.
Toàn thốc Kiền Khôn tạo hóa lai 攢 簇 乾 坤 造 化 來
Thủ bác Nhật Nguyệt luyện thành khôi 手 博 日 月 煉 成 灰
Kim Công vô ngôn Xá Nữ tử 金 公 無 言 奼 女 子
Huỳnh Bà bất lão do hoài thai 黃 婆 不 老 猶 懷 胎
Hòa hợp Kiền Khôn Tạo Hóa lai
Nguyên Thần, Nguyên Khí luyện thành tro
Nguyên Khí chẳng còn, Nguyên Thần chết
Đan Điền bất lão kết Thánh Thai
Nhất lõa Kim Đơn hà hích xích, 一 颗 金 丹 何 赫 赤
Đại tự đạn hoàn, hoàng tự quất 大 似 彈 丸 黃 似 橘
Nhân nhân phân thượng bản viên minh 人 人 分 上 本 圓 明
Dạ dạ linh quang chiếu Thần Thất 夜 夜 靈 光 照 神 室
Một dạ Kim Đơn sắc đỏ hồng
To như viên đạn vàng như quất
Những kẻ có duyên thấy nó sáng
Đêm đêm chiếu rạng Thượng Đan Điền
Lưu Châu thước thước chiếu Côn Điên 流 珠 爍 爍 照 崑 巔
Cửu chuyển Đan thành chỉ tự nhiên 九 轉 丹 成 只 自 然
Nhất lạp tự tòng thôn nhập khẩu 一 粒 自 從 吞 入 口
Thủy tri thế hữu hoạt Thần Tiên 始 知 世 有 活 神 仙
Nguyên Thần rãi sáng Thượng Đan Điền
Cửu chuyển Đan thành thuận tự nhiên
Từ lúc nếm qua mùi vị Thuốc
Mới hay trần thế có Thần Tiên
———————
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
ĐỆ LỤC TIẾT KHẨU QUYẾT
LINH ĐAN NHẬP ĐỈNH TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI
Nội phụ hỏa hầu
Nguyên sơ có một điểm Tinh Kim còn nằm trong khoáng, vì bị lửa bức bách, nên bay lên cung Kiền. Dần dần thái thủ, dần dần tích tụ, để nấu, để nung, luyện rồi lại luyện.
Cho đến khi khói tan, lửa tắt, khoáng tàn, kim thuần. Bấy giờ được một hạt Long Hổ Kim Đơn, tròn tròn, sáng rực rỡ, như sương, như điện, không phải sương mù, không phải khói, huy hoàng rực rỡ, chói lọi Côn Lôn. Phóng ra thì khai thông Thiên Địa huyệt, thu lại thì ẩn tại Thúy Vi Cung (Thượng Đan Điền)
Lúc này Dược không sinh, cũng chẳng chuyển, tán dịch không đi xuống, lửa chẳng bốc lên. Ngũ Khí đều chầu về Thượng Dương, Tam Hoa đều qui tụ về đỉnh đầu. Lúc ấy Âm tận, Dương thuần, Đơn thục, Châu Linh.
紫陽翁曰:
群陰剝盡丹成熟,跳出樊籠壽萬年。
是以唐宋屍解諸仙多於此處分路,隨意生身,出沒自由,不肯於百尺竿頭而再進一步。故有七趣之 譏,落空之誚。蓋為不知重立我之性命,再造我之乾坤,變種性為佛性,化識神為元神,自造自化之妙也。
若命宗人不知所以自為造化,就 是枯坐旁門,而道非其道也。若性宗人不知所以自為造化,就是頑空外道,而釋非其釋也。
此法乃仙真佛祖之所深秘,即自從金元以來而學 道之人少有知之者。獨吾師尹公曰:鼎中有寶非真寶,重結靈胎是聖胎。
然而珠在崑崙,何由得下而結聖胎?必假神廬,竊靈陽真氣以催 之。太陽真火以逼之,催逼既久,則靈丹應時脫落,吞入口中,化為金液,而直射於丹房之內,霎時雲騰雨施,電掣雷轟,鏖戰片餉之間,銷盡一身陰渣,則百靈如 輻之輳殼,七寶若水之朝宗,皆聚於此矣。
昔無上元君謂老子曰:
神丹入口壽無窮也。
故 老子修之是為道祖。
許宣平曰:
神居竅而千智生,丹入鼎而萬種化。
Tử Dương Ông viết:
Quần Âm bác tận, Đan thành thục 群 陰 剝 盡 丹 成 熟
Khiêu xuất phàn lung, thọ vạn niên 跳 出 樊 籠 壽 萬 年
Quần Âm tiêu tận, Đan thành thục
Chuồng lồng thoát khỏi, thọ muôn năm.
Cho nên Đường Tống chư tiên chủ trương thoát xác (Nguyên Thần xuất khiếu, bỏ lại nhục thể) có đường lối hẳn hoi, có thể tùy ý hóa thân, tự do xuất hiện tiêu thất, không cần phải “Bách xích can đầu tái tiến nhất bộ”.
Nhưng bị chê cười là “lạc không”, là hoang tưởng, vì họ không hiểu rằng ta phải tự tạo Tính Mệnh cho ta, tạo lại Kiền Khôn cho ta, biến hóa cái tính chúng sinh của chúng ta thành Phật tính, biến hóa Thức Thần chúng ta thành Nguyên Thần, biết cái nhiệm màu, cái cơ vi ảo diệu Tự Tạo Tự Hóa chúng ta.
Những người theo Mệnh Tông không biết cách trở thành Tạo Hóa của chính mình thì chỉ là những kẻ bàng môn, ngồi trơ như khúc gỗ, còn những người theo Tính Tông mà không biết trở thành Tạo Hóa của chính mình thì chỉ là những kẻ Ngoan Không, ngoại Đạo, Thích mà chẳng phải là Thích (Phật).
Phép này là phép bí truyền của Tiên Phật, từ đời Kim, Nguyên đến nay ít người biết đến, chỉ có thầy ta là Doãn Chân Nhân mới nói:
Đỉnh trung hữu bảo phi chân bảo 鼎 中 有 寶 非 真 寶
Trùng kết Linh Thai thị Thánh Thai 重 結 靈 胎 是 聖 胎
Đỉnh trung bảo bối, không là Chân Bảo
Luyện lại Linh Thai ấy Thánh Thai
Nhưng Châu ở Côn Lôn (đỉnh đầu) làm sao xuống dưới được để kết thành Thánh Thai? Nhất định phải nhờ mũi, rồi trộm Linh Dương Chân Khí để đẩy nó xuống. Dùng Thái Dương Chân Hỏa để ép nó xuống. Thúc ép lâu dần, Linh Đan sẽ chịu rơi xuống, sẽ chui xuống miệng, hóa thành Kim Dịch, trực xạ xuống Đan Điền.
Khoảnh khắc mây tuôn mưa rải, sấm chớp rền vang, đánh tan hết Âm Khí và Bách Linh sẽ qui tụ cả về, y thức như tai hoa xe đều gom về trục xe và thất bửu trong con người (tinh, huyết, khí, tủy, não, thận, tâm) cũng đều qui tụ nơi đó vậy.
Xưa kia đức Vô Thượng Nguyên Quân dạy Lão Tử:
Thần đan nhập khẩu, thọ vô cùng dã 神丹入口壽無穷野 (Thần đan lọt khẩu, sẽ thọ vô cùng).
Lão Tử tu luyện theo đó mà thành Đạo Tổ.
Hứa Tuyên Bình nói:
Thần cư khiếu nhi thiên trí sinh 神 居 竅 而 千 智 生
Đan nhập đỉnh nhi vạn chủng hóa 丹 入 鼎 而 萬 種 化
Thần cư khiếu nên vạn trí sinh
Đan nhập đỉnh nên muôn biến hóa.
陳虛白曰:
我初凝結聖胎時,百脈俱停氣不馳。
施肩吾曰:
天人同一氣,彼此感而通。
陽自空中 來,抱我主人翁。
然我既得靈丹入鼎矣,而內外交修,煉之而復煉之,而必至於天地合德,則太虛中自然有一點真陽以與我之靈丹合而為 一。蓋吾身之靈感天地之靈,則內真外應,渾然混合。
金碧經云:磁石吸鐵,隔礙潛通。大同此意。這段功夫全以至靜為主。
老子云:人能常清靜,天地悉皆歸。當其兩陽乍合,聖胎初凝,必須常常覺照,緊緊護持。如小龍之乍養珠,似幼女之初懷孕。牢關神室,不可使之滲漏。
故太白真人曰:固濟能不洩,變化在須臾。更於一切時中,四威儀內,時時照顧,唸唸在茲,混混沌沌,如在母胞,終日如愚而不違,不久須臾間斷也。
葛仙翁云:
息息歸中無間斷,天真胎裡自凝堅。
張用成云:
一粒靈丹吞入腹,始知我命 不由天。
石得之云:
將來掌上霞光燦,吞入腹中宮殿新。
Trần Hư Bạch nói:
Ngã sơ ngưng kết thánh thai thời 我 初 凝 結 聖 胎 時
Bách mạch câu đình, khí bất trì 百 脈 俱 停 氣 不 馳
Khi xưa ta thành được Thánh Thai
Bách mạch đều ngưng khí chẳng đi
Thi Kiên Ngô nói:
Thiên Nhân đồng nhất khí 天人同一氣
Bỉ thử cảm nhi thông 彼此感而通
Dương tự không trung lai 陽自空中來
Bão ngã chủ nhân Ông 抱我主人翁
Trời Người chung một khí
Hai bên Cảm sẽ Thông
Khí Dương từ Trời xuống
Với Nguyên Khí ta đồng.
Khi Linh Đơn trong ta đã nhập đỉnh, nếu ta biết nội ngoại giao tu, luyện đi luyện lại thì sẽ Thiên Địa hợp đức, và từ Thái Hư sẽ thấy một điểm Chân Dương xuống hợp nhất với Linh Đan trong ta. Bởi vì cái Linh trong ta cảm với cái Linh trong trời đất, trong ngoài sẽ ứng hợp với nhau và trở nên một.
Kim Bích Kinh viết:
Từ thạch hấp thiết, cách ngại tiềm thông 磁石吸鐵隔礙潛通 (Từ thạch hút sắt, thì không còn trở ngại gì).
Đoạn công phu này đều lấy Chí Tĩnh làm chủ. Lão Tử nói: Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên hạ tất giai qui 人能常清静天下悉皆歸 (Nếu con người luôn luôn thanh tĩnh, thì thiên hạ sẽ qui về).
Khi mà hai Dương trong ngoài kết hợp, khi Thánh Thai vừa kết, thì phải thường thường quan tâm, cẩn cẩn hộ trì, như rồng con dưỡng ngọc, như thiếu nữ mới có thai, phải đóng chặt Đan Điền, không được cho nó thấm lậu ra ngoài. Cho nên, Thái Bạch chân nhân nói: Cố tế thai bất tiết, Biến hóa tại tu du 固濟胎不泄變化在須臾 (Giữ gìn cho cẩn trọng, Thánh Thai không khinh tiết. Biến hóa xảy ra ngay).
Lại trong mọi thời khắc, phải cẩn thận đi, đứng, nằm, ngồi, lúc nào cũng lưu tâm chú ý như vậy, như tại mẫu thai, phải như si ngốc không biến cải, không được gián đoạn khi nào.
Cát Tiên Ông nói:
Tức tức qui trung vô gián đoạn
息 息 歸 中 無 間 斷
Thiên Chân thai lý tự ngưng kiên
天 真 胎 里 自 凝 坚
Hít thở từng giây không gián đoạn
Tiên Thiên Thai Lý sẽ chắc bền
Trương Dụng Thành nói:
Nhất lạp Linh Đơn thôn nhập phúc 一 粒 靈 丹 吞 入 腹
Thủy tri Ngã mệnh bất do Thiên 始 知 我 命 不 由 天
Nuốt được Linh Đơn vào trong dạ
Mới hay Ngã Mệnh chẳng tại trời
Thạch Đắc Chi nói:
Tương lai chưởng thượng hà quang xán 將來掌上瘕光燦
Thôn nhập phúc trung cung điện tân 吞入腹中宮殿新
Kim đơn xán lạn trong tay có
Nuốt vào trong dạ ngũ tạng thay
趙緣督云:
神丹飛落黃金室,嬰兒降生極樂國。
呂純陽云:
刀主餌了丹書降,跳出塵籠上九天。
朱 文公云:
刀圭一入口,白日生羽翰。
李清庵云:
一顆寶珠吞入腹,作個全真仙眷屬。
陳希夷云:
邈無蹤跡歸丹房,潛有機關結聖胎。
薛紫賢云:
四象包含歸戊己,辛勤十月 產嬰孩。
悟真篇云:
果生枝上終期熟,子在胞中豈有殊。
醉中吟云:
寶珠笑舞辭天谷,才脫胞胎又入胎。
張紫陽云:
嬰兒是一含真氣,十月胎圓入聖基。
Triệu Duyên Đốc nói:
Thần đan phi lạc Huỳnh Kim Thất 神 丹 飛 落 黃 金 室
Anh Nhi giáng sinh Cực Lạc Quốc 嬰 兒 降 生 極 樂 國
Nội đan phi giáng Thượng Đan Điền
Anh Nhi sinh tại Hạ Đan Điền
Lữ Thuần Dương nói:
Đao khuê nhĩ liễu Đan Thư giáng 刀圭饵了丹書降
Khiêu xuất trần lung thượng Cửu Thiên 跳出塵籠上九天
Đao Khuê bụng đã nuốt vào
Bẫy trần đà thoát, bay vào Cửu Thiên
Chu Văn Công viết:
Đao khuê nhất nhập khẩu 刀 圭 一 入 口
Bạch nhật sinh vũ hàn 白 日 生 羽 翰
Đao Khuê miệng đã nuốt vào
Người như mọc cách bay cao lên Trời
Lý Thanh Am nói:
Nhất lõa bảo châu thôn nhập phúc 一 颗 寶 珠 吞 入 腹
Tác cá toàn chân tiên quyến thuộc 作 個 全 真 仙 眷 屬
Một hạt minh châu đã nuốt vào
Quyến thuộc với Tiên tự thủa nào
Trần Hi Di nói:
Mạc vô tông tích qui đan quýnh 邈 無 蹤 跡 歸 丹 局
Tiềm hữu cơ quan kết thánh thai 潛 有 機 關 結 聖 胎
Tung tích Kim Đan lọt quýnh phòng
Ắt có cơ quan giúp thành Đan
Tiết Tử Hiền nói:
Tứ Tượng bao hàm qui Mậu Kỷ 四 象 包 含 歸 戊 己
Tân cần thập nguyệt sản Anh Nhi 辛 勤 十 月 產 嬰 兒
Tứ tượng bao hàm qui Mậu Kỷ
Mười tháng cưu mang sinh Thánh Thai
Ngộ Châu Thiên viết:
Quả sinh chi thượng chung kỳ thục 果 生 枝 上 終 期 熟
Tử tại bào trung khởi hữu thù? 子 在 胞 中 豈 有 殊
Quả ở trên cành rồi cũng chín
Thai nhi trong bụng có khác chi?
Túy Trung Ngâm viết:
Bảo châu tiếu vũ từ Thiên Cốc 寶 珠 笑 舞 辭 天 谷
Tài thoát bào thai hựu nhập thai 才 脫 胞 胎 又 入 胎
Bảo châu múa nhảy từ Thiên Cốc
Vừa thoát Bào Thai lại nhập thai
Trương Tử Dương nói:
Anh Nhi thị Nhất hàm chân khí 嬰 兒 是 一 含 真 氣
Thập nguyệt thai viên nhập thánh ki 十 月 胎 圆 入 聖 基
Anh Nhi là Nhất hàm chân khí
Kinh qua mười tháng thành Thánh Thai
呂 純陽云:
天生一物變三才,交感陰陽結聖胎。
白玉蟾云:
雞能抱卵心常聽,蟬到成形殼始 分。
俞石澗云:
虎嘯一聲龍出窟,鸞飛鳳舞入金城。
群仙珠玉云:
一粒餐兮天地壽,死生生死不相干。
張紫陽云:
相吞相咽卻相親,始覺男兒有孕身。
鐘 離翁云:
胎內嬰兒就,勤加溫養功。時時照丹房,刻刻守黃中。
陳泥丸云:
男兒懷孕是胎 仙,只為蟾光夜夜圓。奪得天機真造化,身中自有玉清天。
陳抱一云:
大道無私感即來,神仙此語豈虛哉。苟非著 意求鉛汞,爭悟天機結聖胎。
玄奧集云:
閬苑蟠桃自熟時,摘來服餌莫教遲。幾回下手潛偷處,無限神仙總不知。
龍眉子云:
形如雀卵團團大,間似驪珠珠珠圓。龍子脫胎吞入口,此身已證陸行仙。
紫虛 真人云:
初煉還丹須入室,婦人懷孕更無殊。聖胎凝結圓成後,出入行藏豈有拘。
Lữ Thuần Dương nói:
Thiên sinh Nhất Vật biến Tam Tài 天生一物变三才
Giao cảm Âm Dương kết Thánh Thai 交感陰陽結聖胎
Trời sinh một vật biến Tam Tài (Tinh Khí Thần)
Giao cảm Âm Dương kết Thánh Thai
Bạch Ngọc Thiềm nói:
Kê năng bão noãn tâm thường thính 雞能抱卵心常聽
Thiền đáo thành hình, xác thủy phân 蟬到成形殼始分
Gà kia ấp trứng tâm thường thính
Ve lúc thành hình, thoát xác ve
Du Thạch Giản nói:
Hổ khiếu nhất thanh, Long xuất quật 虎嘯一聲龍出窟
Loan phi, Phượng vũ nhập Kim Thành 鸞飛鳳舞入金城
Hổ gầm một tiếng, Rồng rời ổ
Loan Phi, Phượng Vũ nhập Đan Điền
Quần Tiên Châu Ngọc viết:
Nhất lạp xan hề Thiên Địa thọ 一粒餐兮天地壽
Tử sinh, sinh tử bất tương can 死生生死不相干
Nuốt hạt kim đan thọ vô cùng
Từ nay sinh tử đã thoát vòng
Trương Tử Dương nói:
Tương thôn, tương tước khước tương thân 相吞相嚼卻相親
Thủy giác nam nhi hữu dựng 始覺男兒有孕
Thần Thủy nuốt vào, Thần Khí giao hợp
Mới hay Nam Tử cũng hoài thai
Chung Ly Ông nói:
Thai nội Anh Nhi tựu 胎 內 嬰 兒 就
Cần gia ôn dưỡng công 勤 加 溫 養 功
Thời thời chiếu Đan Quýnh 時 時 照 丹 局
Khắc khắc thủ Hoàng Trung 刻 刻 守 黃 中
Thai nội Anh Nhi đà lớn mạnh
Công phu ôn dưỡng phải gia tăng
Thời thời soi rọi vào Đan Quýnh
Khắc khắc lưu ý tới Hoàng Trung
Trần Nê Hoàn nói:
Nam nhi hoài dựng thị thai tiên 男兒懷孕是胎仙
Chỉ vị Thiềm Quang dạ dạ viên 仙為蟾光夜夜圓
Đoạt đắc Thiên Cơ chân tạo hóa 奪得天機真造化
Thân trung tự hữu Ngọc Thanh Thiên 身中自有玉清天
Nam giới hoài thai chính thai tiên
Như ánh trăng trong chiếu ban đêm
Đoạt được Thiên Cơ chân Tạo Hóa
Trong người sẽ có Ngọc Thanh Thiên
Trần Bão Nhất nói:
Đại Đạo vô tư cảm tức lai 大 道 無 私 感 即 來
Thần tiên thử ngữ khởi hư tai? 神 仙 此 語 豈 虛 哉
Cẩu phi trước ý cầu diên hống 苟 非 著 意 求 鉛 汞
Tranh ngộ Thiên Cơ kết thánh thai? 爭 悟 天 機 結 聖 胎
Đại Đạo vô tư cảm tức lai
Thần tiên nói thế há sai lời?
Nếu không nhất ý cầu Diên Hống,
Sao đoạt Thiên Cơ kết Thánh Thai
Huyền Áo tập nói:
Lãng Uyển, Bàn Đào tự thục thời 閬 苑 蟠 桃 自 熟 時
Trích lai phục nhĩ mạc giao trì 摘 來 服 餌 莫 敎 遲
Kỷ hồi hạ thủ tiềm thâu xứ 幾 回 下 手 潛 偷 處
Vô hạn thần tiên tổng bất tri 無 限 神 仙 總 不 知
Bàn đào thượng uyển đã chín rồi
Vội vàng hái xuống hãy ăn ngay
Thiếu gì kẻ trộm ra tay hái
Cả đến thượng tiên chẳng biết gì
Long Mi Tử nói:
Hình như tước noãn đoàn đoàn đại 形 如 雀 卵 團 團 大
Gian tự ly châu, lõa lõa viên 間 自 驪 珠 颗 颗 圓
Long tử thoát thai thôn nhập khẩu 龍 子 脫 胎 吞 入 口
Thử thân dĩ chứng Lục Hành Tiên 此 身 以 證 陸 行 仙
Tròn tròn to tựa trái trứng chim
Ấy chính Ly châu cũng tròn xem
Long nhi vừa nở, nuốt vào bụng
Sẽ nhận ra mình chính Đại Tiên
Tử Hư Chân Nhân nói:
Sơ luyện hoàn đơn tu nhập thất 初煉還丹須入室
Phụ nhân hoài dựng cánh vô châu 婦人懷孕更無珠
Thánh Thai ngưng kết viên thành hậu 聖胎凝結圓成後
Xuất nhập hành tàng khởi hữu câu? 出入行藏豈有拘
Mới luyện hoàn đơn cần nhập thất
Phụ Nhân thai nghén khác chi đâu?
Thánh Thai khi đã viên thành thục
Xuất xứ hành tàng ai cản đâu?
白紫清云:
和將戊己作丹妒,煉得紅丸化玉酥。慢守火符三百日,產成一顆夜明珠。
張真人贈白龍洞主歌云:
從此根苗漸長 成,隨時灌溉抱真精。十月脫胎存入口,不覺凡身已有靈。
白玉蟾云:
怪事教人笑幾回,男兒今也會懷胎。自家精 血自交媾,身裡夫妻是妙哉。
黃元吉云:
鼎內金丹燦爛光,無由摘爾到黃房。忽然夜半天風便,吹送靈兒歸故鄉。
陳翠虛云:
道要無中養就兒,個中別有真端的。都緣簡易妙天機,散在丹書不肯洩。
王重 陽云:
閒中偶爾到天台。忽見霞光五色開。想是金丹初變化,取歸鼎內結嬰孩。
上陽子云:
玉皇若也問丹材,偃月爐中取下來。馳騁英雄吞一粒,男兒懷了一年胎。
陳致虛云:
饑餐渴飲困來眠,一道分明 體自然。十月聖胎完就了,一聲霹靂出丹山。
Bạch Tử Thanh viết:
Hòa tương Mậu Kỷ tác đan lô 和 將 戊 己 作 丹 爐
Luyện đắc hồng hoàn hóa ngọc tô, 炼 得 紅 丸 化 玉 穌
Mạn thủ hỏa phù tam bách nhật 慢 守 火 浮 三 百 日
Sản thành nhất lõa dạ minh châu 產 成 一 颗 夜 明 珠
Mậu Kỷ hòa hài tác Đan Lô
Hồng Hoàn luyện dược hóa Ngọc Tô
Ba trăm ngày giữ được hỏa phù
Sinh ra một hạt dạ minh châu
Trương Chân Nhân (Tặng Bạch Long Duyên Chủ ca) nói:
Tùng thử căn miêu tiệm trưởng thành 從此根苗漸長成
Tùy thời quán khái bão Chân Tinh 隨時灌溉抱真精
Thập nguyệt thoát thai thôn nhập khẩu 十月脫胎吞入口
Bất giác phàm thân dĩ hữu linh 不覺凡身已右靈
Từ đấy căn miêu cứ lớn dần
Tùy thời tưới tắm giữ chân tinh
Mười tháng linh đơn cho vào bụng
Tự thấy toàn thân hóa thành Linh.
Bạch Ngọc Thiềm nói:
Quái sự khiếu nhân tiếu kỷ hồi 怪 事 叫 人 笑 幾 回
Nam nhi kim dã hội hoài thai 男 兒 今 也 會 懷 胎
Tự gia tinh huyết tự giao cấu 自 家 精 血 自 交 媾
Thân lý phu thê thị hảo tai 身 里 夫 妻 是 好 哉
Sự lạ khiến người cười mấy trận
Nam nhi nay cũng đã mang thai
Tinh huyết hợp hoan trong mình sẵn
Lại sẵn phu thê chuyện mới kỳ
Huỳnh Nguyên Kiết nói:
Đỉnh nội Kim Đơn xán lạn quang 鼎 內 金 丹 燦 爛 光
Vô do trích nhĩ đáo huỳnh phòng 無 由 摘 爾 到 黃 房
Hốt nhiên dạ bán thiên phong tiện 忽 然 夜 半 天 風 便
Xuy tống Linh Nhi qui cố hương 吹 送 靈 兒 歸 故 鄉
Đỉnh nội Kim Đơn phóng thần quang
Không người đưa nó tới Huỳnh phòng
Gió đâu một trận giữa đêm thổi
Đem được Linh Nhi tới cố hương
Trần Túy Hư nói:
Đạo yếu vô trung dưỡng tựu nhi 道 要 無 中 養 就 兒
Cá trung biệt hữu Chân Đoan Đích 個 中 別 有 真 端 的
Đô duyên giản dị diệu Thiên Cơ 都 緣 簡 易 妙 天 機
Tán tại Đan Thư bất khẳng tiết 散 在 丹 書 不 肯 绁
Đạo tự Vô trung dưỡng thánh thai
Kỳ trung đã hẳn có đầu đuôi
Lẽ Trời giản dị nào ai biết
Chính tại Đan Thư chẳng lộ lời
Vương Trùng Dương nói:
Nhàn trung ngẫu nhĩ đáo Thiên Thai 閑 中 偶 爾 到 天 台
Hốt kiến hà quang ngũ sắc khai 忽 見 霞 光 五 色 開
Tưởng thị Kim Đơn sơ biến hóa, 想 是 金 丹 初 變 化
Thủ qui đỉnh nội kết anh nhi 取 歸 鼎 內 結 嬰 兒
Thư nhàn bất chợt tới Thiên Thai
Bỗng thấy mây trời năm sắc hiện
Tưởng rằng Kim Dịch vừa biến hóa
Thu về Kim Đỉnh kết thánh thai
Thượng Dương Tử nói:
Ngọc Hoàng nhược dã vấn đơn tài 玉 皇 若 也 問 丹 材
Yển Nguyệt lô trung, thủ hạ lai 偃 月 爐 中 取 下 來
Trì sính anh hùng thôn nhất lạp 馳 騁 英 雄 吞 一 粒
Nam nhi hoài liễu nhất niên thai 男 兒 懷 了 一 年 胎
Trời rằng Dược vật lấy từ đâu?
Thưa rằng đã lấy tự Linh Đài (Đan Điền)
Anh hùng rong ruổi nuốt một hạt
Trần Chí Hư nói:
Cơ xan, khát ẩm, khốn lai miên 飢飱渴飲困来眠
Đại đạo phân minh thể tự nhiên 大道分明體自然
Thập nguyệt Thánh Thai hoàn tựu liễu 十月聖胎完就了
Nhất thanh tích lịch xuất Đan Điền 一聲霹靂出丹田
Đói ăn, khát uống, mệt ngủ quên
Đại đạo chẳng qua giống tự nhiên
Mười tháng thánh thai đà thành tựu
Một tiếng sấm vang, xuất Đan Điền
至於釋教教人亦不外此。如楞嚴經曰:行如佛同受佛氣,分如中陰身自求。父母陰信 冥通入,如來種名生貴住。既游道胎,親奉覺乳,如胎已成人相。
不缺名方,便具足住。容貌如佛,心相亦同。
名正心住,身心合成,日益增長,名不退住,十身靈 相,一時具足,名童真住。
形成出胎,親為佛子,名法王子住。表以成人,如國大王,以諸國事分委太子,彼剎利王。
世子長成,陳列灌頂,名灌頂住。夫入如來種 者,以種性而為如來之種子,以自造化如來也。
故曰道胎,又曰覺乳,其與婦人之乳兒,玄門之胎仙,亦何以異?及至形成出貽,親為佛子,豈不是真人出現,大神 通從此,天仙可相賀耶?
蓋丹書梵典,皆有次序口訣,但人不知。而驀直看過去了正,是珠在路旁人不拾。惜哉!予今略摘此數條表而出 之,以引古之是而證今之非也。
Ngay Đạo Phật dạy người cũng không ngoài pháp này.
Như kinh Lăng Nghiêm viết:
“Hành động giống như Phật, lại tiếp thụ được khí chất của Phật, ví như thai nhi, tự nhiên sinh ra do phụ mẫu, sinh mệnh tương thông với cha mẹ và trở nên con cái Phật, nên gọi là Sinh Quí. Thai Nhi vào được Phật đạo, nghĩa là khi con người đã giác ngộ, thì cũng như thai nhi đã trưởng thành, đã đủ hết tướng người, nên gọi là Phương Tiện Cụ Túc.
Dung mạo y như Phật, cả tâm tướng cũng vậy, nên gọi là Chính Tâm. Khi Thân và Tâm đều đã trưởng thành, một ngày một lớn thì gọi là Bất Thoái, có đủ Thập Thân, Linh Tướng. Khi mọi sự đã đầy đủ thì gọi là Chủng Chân.
Hình Thể đã trưởng thành mà ra khỏi bào thai thì gọi là Phật Tử hay Pháp Vương Tử. Hình mạo, cử động đều đã như người. Y như một vị quốc vương, lo mọi chuyện quốc gia đại sự, rồi truyền cho Thái Tử. Thế tử của Sát Lợi Vương ấy nay đã trưởng thành, cùng với các bạn đồng môn, làm lễ Quán Đỉnh, nhập vào Phật môn gọi là Quán Đỉnh.
Gọi là có giống Như Lai, nghĩa là biết biến đổi cái Tiên Thiên chủng Tánh của mình thành Như Lai chúng tử, biến hóa cái Tự Kỷ sáng tạo của mình thành Phật Tử nên gọi là Đạo Thai, là Giác Dân, như vậy cũng giống như người đàn bà mang thai.
Đạo gia gọi là Thai Tiên có gì khác đâu? Đợi cho đến khi hình thể trưởng thành, ra khỏi bào thai gọi là Phật Tử.”
Cái đó có khác gì:
Chân nhân xuất hiện đại Thần Thông, tòng thử Thiên Tiên khả tương hạ
真人出現大神通從此天仙可相賀
Chân Tiên hiển lộ đại thần thông, từ đó có thể cùng chư tiên chúc tụng lẫn nhau.
Sách Đan thư hay Phật điển đều có thứ tự khẩu quyết, nhưng con người nào có hay, như vừa nhìn đã bỏ qua, y như gặp châu ngọc bên đường mà người không lượm, thật đáng tiếc.
Ta nay lược dẫn ít đoạn kinh sách, nói lại cho rõ ràng, đem Chân Lý của người xưa để chỉ chỗ lầm lẫn của người nay.
火候
<火侯崇正 圖>
元始天尊霜,太上老君櫻。
余爐煉就長生藥,金鼎燒成不死丹。
真橐籥,真鼎爐,無中有,有中無;火候足,莫傷丹,天地靈,造化慳。
從來真火本天然,何事迷徒妄指傳。若將方木投圓竅,丑姥爭教得少年。
玉爐靄靄騰雲氣,金鼎濛濛長紫芝。神水時時勤溉灌,留連毋使火龍飛。
氣論經歌講至真,不將火候著於文。要知口訣通玄處,須共神仙仔細論。
神仙不作《參同契》,火後功夫那得知!千載晦翁拈一語,可憐無及魏君時。
有象有爻皆是妄,無盈無昃亦成空。試且為君通一綫,看看日出嶺東紅。
(火 候崇正圖)
故參同契曰:候視加 謹慎,審察辨寒溫。審其火之未燃也,須藉巽風以吹之。察其火之既燃也,須資神水以活之。若太過,則損之;若不及,則益之,俾得中和而無火燥、火寒之病矣。
蓋火之寒燥,全在意念上發端。
陳虛白曰:念不可起,念起則火燥;意不可散,意散則火冷。唯只要一念不起,一 意不散,含光默然,真息綿綿,圓明覺照,常自惺惺,此長養聖胎之真火候也。
故白玉蟾曰:
採藥物於不動之中, 行火候於無為之內。
張三峰曰:
以默以柔存火性,勿忘勿助養靈胎。
劉海蟾曰:
兀兀無為融至寶,微微文文養潛龍。
張紫陽曰:
自有天然真火育,不須柴炭及吹噓。
又 曰:
謾守藥爐著火候,但安神息任天然。
此四翁乃列仙中之錚錚者,皆以天然真火、自然妙用而成無上至真之道。 又何嘗用卦爻斤兩,年月日時哉?
今時之人,錯會仙師本意,泥像執文,認指為月,而必欲推算卦體之策數,求合卦書之陰陽。吾恐終身役 役,而不見其成功,倏然疲斃,而不知其歸處。
豈不見張平敘云:
此中得意須忘象,若究群爻謾役情。
高象先云:
晝夜屯蒙法自然,焉用孜孜看火侯。
陳沖素云:
火雖有侯不須時,些子機關 我自知。
彭真一云:
從來真火無形象,不得師傳亦大難。
蕭子虛云:
藥物調和,悟者甚易。火候消息,行之恐難。
一十月功夫存杳杳綿綿之息,三萬年氣數在來來往往之間。所以養丹田之寶,此寶常在在丹 鼎之珠。此珠復還,駕動河車。離塵世尾閭之海,移居天谷上崑崙蓬島之山。前數句謂成丹之時脫胎而入日,末一句謂功成之後脫胎而出殼,中間兩句謂溫養子珠, 長養聖胎。
張三峰曰:
年月日時空有著,卦爻斤兩亦支離。若存會得綿綿意,正是勿忘勿助時。
白紫清曰:流俗淺識。未學凡夫豈知元始天尊與天仙地仙,日日採藥物而不停,藥物愈采而無窮也。又豈知山河大地與蠢動含靈,時時行火候而無暫助,火候愈行 而不歇也。神凝則精氣聚而百寶結者,結胎之藥物也。真息往來而未嘗少有間斷者,溫養之火候也。
陳虛白曰:火候之要,尤當以真息求 之。
丘長春曰:一念不離方寸是真空。此養胎之真火也。夫真火者,我之神也,而與天地之神、虛空之神同其神也。真候者,我之息也,而 與天地之息、虛空之息同其息也。
左元放曰:
火候無為合自然,自然真火養胎仙。但存神息居丹扃,調變先天接後 天。
王重陽曰:
聖胎既凝,養以文火。安神定息,任其自如。
此以神感,彼以神應。天機 妙用,自然而然。
予於是而知神息者,火候也。而孟子之所謂勿忘勿助、老氏之所謂綿綿若存、釋氏之所謂不得勤不得怠者,是皆神息之自 然火候之微旨也。
故曰:
神仙不肯分明說,說得分明笑殺人。
HỎA HẦU SÙNG CHÍNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
***
Tòng lai Chân Hỏa bản Thiên Nhiên 從 來 真 火 本 天 然
Hà sự mê đồ vọng chỉ truyền 何 事 迷 途 妄 指 傳
Nhược tương phương mộc đầu viên khiếu 若 將 方 木 投 圓 竅
Xú lão tranh giáo đắc thiếu niên 醜 老 爭 教 得 少 年
Chân Hỏa xưa nay vốn tự nhiên
Bị bọn ngu si loạn chỉ truyền
Đem được Chân Dương về Đan Đỉnh
Rồi ra bà lão biến thiếu niên
Ngọc lô yết yết đằng vân khí 玉 爐 霭 霭 騰 雲 氣
Kim Đỉnh mông mông trưởng Tử Chi 金 鼎 朦 朦 長 紫 芝
Thần thủy thời thời cần khái quán 神 水 時 時 勤 慨 灌
Lưu Liên mẫu sử Hỏa Long phi 留 連 母 使 火 龍 飛
Ngọc Lô (Đan Điền), mây khói tỏa mù khơi
Kim đỉnh mơ màng mọc Tử Chi (Nội Đơn)
Thần thủy nếu hay năng tưới tắm
Nguyên Thần sớm muộn cũng cao phi.
Khế luận, kinh ca giảng Chí Nhân 契 論 經 歌 講 至 人
Bất tương Hỏa Hậu trước ư văn 不 將 火 候 著 於 文
Yếu tri khẩu quyết thông huyền xứ 要 知 口 訣 通 玄 處
Tu cộng Thần Tiên tử tế luân 須 共 神 仙 仔 細 论
Kinh sách xưa nay giảng Lý Chân
Không đem Hỏa Hậu viết thành văn
Nhưng mà khẩu quyết bàn chuyện đó
Hãy gặp Chân Tiên để luận bàn
Chân thác thược 真 橐 籥
Chân đỉnh lô 真 鼎 爐
Vô trung hữu 無 中 有
Hữu trung vô 有 中 無
Nguyên Thủy Thiên Tôn sương 元 始 天 尊 霜
Thái Thượng Lão Quân anh 太 上 老 君 櫻
Hỏa hầu túc 火 候 足
Mạc thương đơn 莫 傷 丹
Thiên Địa Linh 天 地 靈
Tạo hóa kiên 造 化 悭
Chân thác thược
Chân đỉnh Lô
Vô trung Hữu
Hữu trung Vô
Sương của Nguyên Thủy Thiên Tôn (Nội Đan)
Anh Đào của Thái Thượng Lão Quân
Hỏa hầu không được thiếu
Nhưng không được hại Đan
Điều Linh diệu Tạo Hóa
Trời ban rất sẻn so.
Thần tiên bất tác Tham Đồng Khế 神 仙 不 作 參 同 契
Hỏa hậu công phu na đắc tri? 火 候 功 夫 那 得 知
Thiên tải Hối Ông niêm nhất ngữ 千 載 晦 翁 拈 一 語
Khả lân vô cập Nguỵ Quân thì 可 燐 無 及 魏 君 時
Ngọc Lô luyện tựu Trường Sinh Dược 玉 爐 煉 就 長 生 藥
Kim Đỉnh thiêu thành Bất Tử Đan 金 鼎 燒 成 不 死 丹
Hữu tượng, hữu hào bất thị vọng 有 象 有 爻 不 是 妄
Vô doanh vô trắc diệc thành không 無 盈 無 仄 亦 成 空
Thí thả vi quân thông nhất tuyến 試 且 為 君 通 一 線
Khan khan nhật xuất lĩnh đông hồng 看 看 日 出 嶺 東 紅
Thần tiên không soạn Tham Đồng Khế
Nhân loại làm sao biết Hỏa Hầu?
Nghìn năm sau, Hối Ông cũng bàn truyện đó
Nhưng tiếc không bằng Ngụy Bá Dương
Đan Điền chế được Trường Sinh Dược
Nê Hoàn thiêu xuất Bất Tử Đan
Có đủ tượng hào không giả dối
Không khuyết, không tròn ắt là Không
Đạo lý Hỏa Hầu xin chỉ lối
Hãy nhìn đỉnh núi một vừng hồng.
HỎA HẦU
Hỏa hầu là điều bí mật, thánh nhân không truyền nay xin nói lộ ra.
Thuốc không có lửa, không sinh. Thuốc chín, lửa sẽ hết. Lửa không thuốc sẽ không sinh. Lửa mà đủ, đan sẽ thành. Vả cái kỳ bí của lửa, không thể nhất khái nói xong.
Khi chưa được đơn thì phải dùng Vũ Hỏa mà ngưng kết. Khi đã được đơn, thì phải dùng Văn Hỏa mà nuôi dưỡng. Văn Hỏa là lửa Kết Bửu (Kết Bửu: kết đan). Cách dưỡng nó thì phải biết tiết chế nó bằng Hàn Ôn, Tiêu Tức vậy.
Tham Đồng Khế nói: Hầu thị gia cẩn thận, thẩm sát biện hàn ôn 候視加謹慎,審察辨寒溫
Thấy lửa cháy, phải dùng gió Tốn (Tốn – gió) thổi vào. Thấy lửa đã cháy, phải dùng Thần Hỏa làm cho nó đượm. Lửa quá mạnh, sẽ giảm đi; lửa không đủ, sẽ tăng lên. Làm sao cho trung hòa, không bị Hỏa Táo hay Hỏa Hàn vậy.
Vả lửa mạnh hay yếu là do ý niệm mà ra.
Cho nên, Trần Hư Bạch nói:
Niệm bất khả khởi, niệm khởi tắc hỏa táo 念不可起念起則火燥
Ý bất khả tán, ý tán tắc hỏa lãnh 意不可散意散則火冷
Vọng niệm không nên khởi, Niệm khởi lửa bốc to
Ý không nên phân tán, Ý tán lửa sẽ yếu
Chỉ cần một niệm không sinh, một ý không tán, thu liễm mục quang, trầm tĩnh tự nhiên, chân tức điều hòa liên tục, lúc nào cũng tỉnh thức, đó là Chân Hỏa hầu để trường dưỡng thánh thai
Cho nên Bạch Ngọc Thiềm nói:
Thái Dược Vật vu bất động chi trung 采 藥 物 于 不 動 之 中
Hành Hỏa Hầu vu Vô Vi chi nội 行 火 候 于 無 為 之 內
Hái thuốc là khi an tĩnh nhất,
Hành Hỏa Hầu chỉ cốt thật tự nhiên
Trương Tam Phong nói:
Dĩ mặc, dĩ nhu tồn Hỏa Tính 以 默 以 柔 存 火 性
Vật vong vật trợ dưỡng Linh Thai 勿 忘 勿 助 養 靈 胎
Yên lặng, nhu hòa gìn giữ lửa
Vật vong, vật trợ dưỡng Linh Thai
Lưu Hải Thiềm nói:
Ngột ngột Vô Vi dung chí bảo 兀 兀 無 為 融 至 寶
Vi vi Văn Hỏa dưỡng Tiềm Long 微 為 文 火 養 潛 龍
Tĩnh tĩnh Vô Vi dung dưỡng Nội Đan
Lửa Văn nhè nhẹ nuôi Rồng nhỏ
Trương Tử Dương nói:
Tự hữu Thiên Nhiên chân hỏa dục 自 有 天 然 真 火 育
Bất tu sài thán cập xuy hư 不 須 柴 炭 及 吹 噓
Đã sẵn Thiên Nhiên Chân Hỏa ấy
Khỏi cần than củi, khỏi cần thổi gió
Lại thêm:
Mạn thủ dược lô, khán hỏa hầu 慢 守 藥 爐 看 火 候
Đãn an Thần Tức nhiệm thiên nhiên 但 安 神 息 任 天 然
Khỏi cần Dược Đỉnh với Hỏa Hầu
Chỉ cần Thần Tức hợp Thiên Nhiên
Bốn vị Cao Tiên trên đây đều dùng cái diệu dụng của Thiên Nhiên Chân Hỏa mà thành Đạo Vô Thượng Chí Tôn chứ đâu phải dùng quái hào, cân lượng, năm, tháng, ngày, giờ đâu?
Người bây giờ, hiểu sai Chân Ý của Tiên Sư, nên nệ tượng, chấp văn, nhận ngón tay làm mặt trăng, chỉ muốn suy đoán hào quái bằng cỏ thi, chỉ muốn tính âm dương cho phù hợp với nét quẻ, ta chỉ sợ những người như vậy, sẽ chung thân vất vả mà chẳng nên công trạng gì. Đến chết cũng chẳng biết đâu là Chân Lý.
Chính vì thế mà Trương Bình Thúc mới nói:
Thử trung đắc ý tu vong tượng 此 中 得 意 須 忘 象
Nhược cứu quần hào, mạn dịch tình 若 究 群 爻 慢 役 情
Ý khi đã hiểu cần quên tượng
Muốn khảo quái hào chớ bận tâm
Cao Thượng Tiên nói:
Trú dạ Truân Mông pháp tự nhiên 晝 夜 屯 蒙 法 自 然
Yên dụng tư tư khan hỏa hậu 焉 用 孜 孜 看 火 候
Sáng tối Truân Mông pháp tự nhiên
Cần chi vất vả ngó hỏa hầu.
Trần Trọng Tố nói:
Hỏa tuy hữu hậu, hữu tu thời, 火 雖 有 候 有 須 時
Ta tử cơ quan ngã tự tri 些 子 機 關 我 自 知
Lửa tuy hơn kém có khác nhau
Về vấn đề này ta tự biết
Bàng Chân Nhất nói:
Dược vật điều hòa 藥 勿 調 和
Ngộ giả thậm dị 悟 者 甚 易
Hỏa Hầu tiêu tức 火 候 消 息
Hành chi khủng nan 行 之 恐 難
Dược vật điều hòa
Biết ra cũng dễ
Hỏa hậu mối manh
Thực hành rất khó.
Thập nguyệt công phu, bí quyết là do biết nhớ hẳn hoi, vạn niên khí số, bí quyết là sự vãng lai (ý nói Nội Khí tuần hoàn là do Nội Đơn lên xuống)
Muốn dưỡng Bửu Châu của Đan Điền, thì Bửu Châu đó thường tại. Muốn đoạt Bửu Châu của Thượng Đan Điền thì Bửu Châu đó lại hoàn phục. Vận chuyển Hà Xa, từ Vĩ Lư lên tới Thiến Cốc, lên đến Côn Lôn, Bồng Đảo.
Mấy câu đầu là nói chuyện lúc luyện đan, lúc đan thoát thai nhập khẩu. Mấy câu sau nói về luyện đơn khi đã thành, thoát thai, xuất xác. Mấy câu thơ giữa bàn về ôn dưỡng Bửu Châu, Trường dưỡng Thánh Thai.
Trương Tam Phong nói:
Niên, nguyệt, nhật thời không hữu chước 年月日時空有著
Quải, Hào, Cân, Lượng diệc chi li 卦爻斤兩亦支離
Nhược tồn hội đắc miên miên ý 若存會得綿綿意
Chính thị vật vong vật trợ thì 正是勿忘勿助時
Niên, Nguyệt, Nhật, Thời xá kể chi
Quải, Hào, Phân, Lượng cũng bỏ đi
Chỉ cần biết thở cho đúng đắn
Lại biết Không Quên, Không Giúp chi.
Bạch Tử Thanh nói:-
Lưu tục, thiển thức, chưa học luyện Đơn thì làm sao biết rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn và các vị Thiên Tiên, Địa Tiên tháng ngày đều hái thuốc không ngừng. Thuốc càng hái càng trở nên vô cùng. Lại há không biết rằng núi non, đất nước, người vật cũng luôn luôn hành hỏa hầu, không bao giờ ngừng, mà Hỏa càng vận thì càng không ngừng nghỉ. Thần mà ngưng thì tinh khí sẽ kết tụ và chân bửu cũng ngưng kết. Chân Tức vãng lai không hề gián đoạn thì đó là Hoả Hầu để ôn dưỡng vậy.
Trần Hư Bạch nói:
Hỏa Hầu chi yếu, Vưu đương vu Chân Tức cầu chi 火候之要尤當于真息求之
(Yếu quyết Hỏa Hầu, phải tìm kiếm nơi Chân Tức)
Khưu Trường Xuân nói: Nhất niệm bất ly phương thốn thị Chân Không. Thử dưỡng thai chi Chân Hỏa dã. Phù Chân Hỏa giả, ngã chi Thần ngã, nhi dữ Thiên Địa chi Thần, Hư Không chi Thần, đồng kỳ Thần dã. Chân Hậu giả, ngã chi Tức dã. Nhi dữ Thiên Địa chi Tức, Không Hư chi tức đồng kỳ Tức dã.
一念不離方寸是真空。此養胎之真火也。
夫真火者, 我之神也。而與天地之神,
虛空之神, 同其神也。真候者我之息也,
而與天地之息, 空虛之息同其息也。
Một niệm không lìa khỏi Đan Điền, thì là Chân Không (Đại Định). Đó là Chân Hỏa để dưỡng Thai. Mà Chân Hỏa là Thần của ta, nó cùng với Thần Trời Đất và Thần Hư Không là một. Còn Chân Hầu là hơi thở của ta. Nó và Hơi Thở của Trời Đất và của Hư Không là một hơi thở vậy.
Tả Nguyên Phóng nói:
Hỏa hậu vô vi hợp tự nhiên 火 候 無 為 合 自 然
Tự nhiên Chân Hỏa dưỡng Thai Tiên 自 然 真 火 養 胎 仙
Đãn tồn Thần Tức cư đan quýnh 但 存 神 息 居 丹 局
Điều tiếp Tiên Thiên tiếp Hậu Thiên 調 燮 先 天 接 後 天
Hỏa hậu vô vi hợp tự nhiên
Tự nhiên Chân Hỏa dưỡng Thai Tiên
Thần Tức chỉ cần cư đan quýnh
Là khiến Tiên Thiên hợp Hậu Thiên
Vương Trùng Dương nói:
Thánh Thai ký ngưng 聖 胎 既 凝
Dưỡng dĩ Văn Hỏa 養 以 文 火
An Thần định tức 安 神 定 息
Nhiệm kỳ tự như 任 其 自 如
Thử dĩ Thần cảm 此 以 神 感
Bỉ dĩ Thần ứng 彼 以 神 應
Thiên cơ diệu dụng 天 機 妙 用
Cố tự nhiên nhi nhiên 故 自 然 而 然
Thánh thai đã thành, Dưỡng bằng Văn Hỏa
An Thần định tức, Hết sức tự nhiên
Thần cảm bên này, Thần ứng phía kia
Thiên cơ diệu dụng, Nên rất tự nhiên
Ta nhờ đó mà biết Thần Tức, Hỏa Hầu.
Mạnh Tử nói:
Vật vong vật trợ 勿忘勿助 Không quên không giúp, cứ để tự nhiên
Lão Tử nói: Miên miên nhược tồn 綿綿若存 (Miên man muôn kiếp vẫn còn)
Thích thị nói: Bất đắc cần bất đắc đãi 不得勤不得怠 (Không chăm không lười)
Tất cả đều muốn nói về vi chỉ của Hỏa Hầu, của Thần Tức.
Cho nên nói:
Thần minh bất khẳng phân minh thuyết 神 仙 不 肯 分 明 說
Thuyết đắc phân minh, tiếu sát nhân 說 得 分 明 笑 殺 人
Thần minh không được nói rõ ràng
Nói là rõ ràng, người cười chết
*
* *
Lời bàn của dịch giả về Hỏa Hầu:
Hỏa Hầu là Chân Tức, chứ không phải là Phàm Tức
(Hỏa Hầu chỉ thị Hô Hấp nhị tức, chỉ thị chân tức. Chân tức giả, nãi Chân Nhân tri hô hấp, nhi phi khẩu tị tri hô hấp).
Xem Long Hỏa Kinh đệ tứ, Trung Quốc Khí công Đại Thành, tập 2, Phương Xuân Dương chủ biên, tr.796
<長養聖胎圖>
小小房兒藏舍利,些些芥子納須彌。
邇來煉個無生體,後去知渠有所歸。
(長 養聖胎圖)
火候最秘,聖人不傳,令則露之。藥非火不產,藥熟則火化矣。火非藥不生,火到則丹成矣。且火候之奧,非可一概而論。
故未得丹時,須借武火以凝之,既得丹時,須藉文火以養之。文火者。結實之火也。其養之法,節其寒溫消息是也。
TRƯỜNG DƯỠNG THÁNH THAI ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Người muốn tu Tính Mệnh, phải hiểu thế nào là Hỗn Độn. Phải tái lập bào thai, mà tự tạo, tự hóa Tính Mệnh mình. Tính Mệnh được Tạo Hóa nghĩa là từ bào thai của cha mẹ, tự nhiên dưỡng xuất ra được một điểm Tính Mệnh, như ở trong bụng mẹ, và chính là Tính Mệnh của ta vậy.
Nếu đã là Tính Mệnh của ta, thì tự nhiên ta sẽ trở về Vô và trở thành Thái Hư vậy. Nếu đã là Thái Hư thì tự nhiên trong cái hư không ấy của ta, ta sẽ tái tạo được Kiền Khôn, đó là Chân Tính Mệnh ta vậy. Nếu đã là Chân Tính Mệnh của ta thì tự nhiên trong Chân Tính Mệnh ấy, sẽ lộ xuất đoan nghê, và đó chính là Bản Lai Nguyên Thần ta vậy.
Tiểu tiểu phòng nhi tàng Xá Lợi 小 小 房 兒 藏 舍 利
Ta ta giới tử nạp Tu Di 些 些 芥 子 納 須 彌
Nhĩ lai luyện cá Vô Sinh Thể 邇 來 煉 個 無 生 體
Hậu khứ tri cừ hữu sở qui 後 去 知 渠 有 所 歸
Phòng nhỏ xinh xinh tàng Xá Lợi
Trong lòng hạt cải chứa Tu Di
Ta nay đang luyện Vô Sinh Thể
Sau đó mới hay có chốn về
Kinh Viên Giác có kệ: Kim Cương tàng chứa Như Lai Tịch Diệt tính, tính này không có đầu đuôi.
Nếu lấy tâm Luân Hồi mà suy luận, thì sẽ quanh quẩn mãi trong vòng Luân Hồi, không vào được Biển Phật, cũng y như vàng nằm trong quặng. Vàng không phải quặng, nhưng quặng thiêu lên sẽ biến thành vàng. Khi ấy, vàng không còn là khoáng nữa. Cũng vậy, khoáng không phải là vàng, nhưng thiêu đúc xong, sẽ thành vàng, vì khoáng vốn có Tính vàng.
Tính con người tuy không phải là Phật, nhưng tu luyện rồi sẽ thành Phật, vì tính con người vốn có Tính Phật.
*
* *
Lời bàn của Dịch giả
Tôi nghĩ rằng những lời vắn gọn trên đây thật là sâu sắc. Đại khái rằng:
Khi ta sinh ra làm người thì chưa biết mình có Tính Trời, Tính Phật. Nhưng trong bào thai mẹ chúng ta đã tiềm ẩn sẵn cái Tính Trời, Tính Phật ấy rồi. Chúng ta chịu suy sẽ luận ra điều này. Là trong ta sẵn có Tính Trời, Tính Phật mà chúng ta chẳng biết, chẳng hay. Nếu biết ra thì ta sẽ thấy ta cũng là vị Hóa Công có thể tái tạo lại cho mình Tính Trời, Tính Phật, tạo lại cho mình một bầu trời mới.
Chúng ta là khoáng có vàng bên trong mà ta không biết. Biết ra sẽ hun đúc cho khoáng nơi mình chảy ra thì sẽ thành vàng.
Chúng ta vốn là Phật, là Trời nhưng chúng ta phải tốn công tu luyện mới được.
Như vậy, ta phải hiểu Thánh Thai là Con Người Phàm nay đã sinh lại thành Tiên Phật.
Chúa Giêsu cũng đã nói: Nếu con người không sinh lại sẽ không thấy được Nước Trời (John 3.3.3.5.7)
Kinh Dịch gọi Sinh lại là quẻ Phục. Phục là Nhất Dương sinh, nên Dịch dạy: Tiềm long vật dụng (Rồng còn tiềm ẩn chớ dùng)
——————————–
HẾT LỢI TẬP–XEM TIẾP TRINH TẬP
性 命 雙 修 萬 神 圭 旨
(性 命圭 旨全書)
尹 真 人 傳
(相傳為尹真人高弟之手 筆)
TÍNH MỆNH SONG TU VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Tức
TÍNH MỆNH KHUÊ CHỈ TOÀN THƯ
* DOÃN CHÂN NHÂN truyền
(Các đệ tử ghi chép lại)
* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ phiên dịch
性命雙修 萬神圭旨.元集
性 命雙修 萬神圭旨• 亨集
性 命雙修 萬神圭旨• 利集
性 命雙修 萬神圭旨• 貞集
PHẦN IV
TRINH TẬP
貞 集
性命雙修萬神圭旨
第七節口訣
嬰兒現身出離苦海
<嬰兒現形圖>
行往坐臥,抱雄守雌,綿綿若存,念茲在茲。
神火溶液,溉灌根珠,內外無塵,長養聖軀。
夫蝟蠐之蟲,孕螟蛉之子。傳其情,交其精,混其氣,和其神。隨物大小,俱得其真。
氣穴法名無盡藏,藏包於竅竅包空。我問空中誰氏子,他云是你主人翁。
潜龍今已化飛龍,變現神通不可窮。一朝跳出珠光外,涌身直到紫微宮。
此時丹熟,更須慈母惜嬰兒;他日雲飛,方見真人朝上帝。
(嬰 兒現形圖)
TRINH TẬP
TÍNH MỆNH SONG TU
VẠN THẦN KHUÊ CHỈ
Mục lục
Khẩu quyết tiết thứ bảy
ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ HẢI
婴儿现身出离苦海
Anh nhi hiện hình
Chân Không luyện hình
Thoát Ly khổ ải
Khẩu quyết tiết thứ tám
DI THẦN NỘI VIỆN, ĐOAN CỦNG MINH TÂM
移神内院端拱冥心
Đoan củng minh tâm
Hóa thân ngũ ngũ
Khóa hạc lăng tiêu
Dương Thần xuất hiện
Khẩu quyết tiết thứ chín
BẢN THỂ HƯ KHÔNG, SIÊU XUẤT TAM GIỚI
本体虚空超出三界
Siêu xuất Tam Giới
Tì Lô chứng quả
—————————-
ANH NHI HIỆN HÌNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thử thời đan thục, cánh tu từ mẫu tích Anh Nhi 此 時 丹 熟 更 須 慈 母 惜 嬰 兒
(Bấy giờ đan thành, phải như mẹ hiền thương con nhỏ)
Tha nhật vân phi, phương kiến chân nhân triều Thượng Đế 他 日 雲 飛 方 見 真 人 朝 上 帝
(Ngày kia cưỡi mây mới thấy Chân Nhân chầu Thượng Đế)
Khí huyệt pháp danh Vô Tận Tạng 氣 穴 法 名 無 盡 藏
Tạng bao ư khiếu, khiếu bao không 藏 包 於 竅 竅 包 空
Ngã vấn Không Trung thùy thị tử? 我问空中谁是子
Tha vân thị nhĩ Chủ Nhân Ông. 他云是你主人翁
Khí huyệt pháp danh Vô Tận Tạng,
Tạng bao ngoài Khiếu, Khiếu bao không,
Ta hỏi trong Không là ai đó?
Của anh chính thực Chủ Nhân Ông.
Phù Vị Ông chi trùng, 夫蛴嗡之虫
Dựng Minh Linh chi tử. 孕螟蛉之子
Truyền kỳ Tình, giao kỳ Tinh, 传其情交其精
Hỗn kỳ Khí, hòa kỳ Thần, 混其气和其神
Tùy vật đại tiểu, câu đắc kỳ chân. 随物大小俱得其真
Con trùng của Vị Ông, Sinh ra con tò vò.
Truyền Tình, giao Tinh, Trộn lộn Khí Thần,
Tùy vật to nhỏ, Đều hợp kỳ Chân.
Tiềm Long kim dĩ hóa phi long, 潜龙今已化飞龙
Biến hiện thần thông bất khả cùng. 变现神通不可穷
Nhất triều khiêu xuất Châu Quang ngoại, 一朝跳出珠光外
Dũng thân trực đáo Tử Vi Cung 涌身直到紫微宫
Rồng ẩn nay đã hóa Rồng bay,
Biến hiện thần thông khó nói lời.
Một sớm tung mình qua Trần Cấu
Ngang nhiên tới thẳng Tử Vi Cung.
Hành, trụ, tọa, ngọa, 行住坐卧
Bão hùng, thủ thư. 抱雄守雌
Miên miên nhược tồn, 绵绵若存
Niệm tư tại tư. 念兹在兹
Đi đứng nằm ngồi,
Nhu hòa như con mái
Hơi thở điều hòa,
Nhẹ nhàng bình ổn.
Thần thủy dung dịch, 神水溶液
Khái quán căn châu. 溉灌根珠
Nội ngoại vô trần, 内外无尘
Trường dưỡng thánh khu. 长养圣躯
Ý thủ Đan Điền
Dùng Thần Thủy tưới bón Nội Đan
Trong ngoài thanh tĩnh
Trường dưỡng Thánh Khu (Thánh Thể)
(出 離苦海圖)
(內附真空煉形法則)
前面火候已足,聖胎已圓,若果之必熟,兒之必生,彌歷十月,脫出其胞。
釋氏以此謂之法身,又曰實相。玄門以此謂之赤子,又曰嬰兒。嬰兒當移胎換鼎之時,躍然而出,潛居氣穴之間,又重開一混沌也。
蓋此穴原是神仙長胎住息之鄉,赤子安身立命之處。因是熟境,順路而歸。嬰兒既宴坐靜室,安處道場,須藏以玄玄,守以默默。始則藉坤母黃芽以育之,繼則聚 天地生意以哺之。此願彼應,發邇見遠。其中自呼自息,自闔自開,自動自靜,自由自在,若神仙逍遙於無何鄉,似如來禪定於寂滅海。
到 此大安樂處,仍須密守關元,無令外緣六塵魔賊所侵,內結煩惱,奸臣所亂。若坐若臥,常施瑩淨之功。時止時行,廣運修持之力。遂得六門不漏,一道常通,真體 如如,永固丹基者矣。日夕如此衛護,如此保顧,如龍養珠,如母育子,不可頃刻暫忘,剎那失照。
ANH NHI HIỆN HÌNH, XUẤT LY KHỔ ẢI
Trước đây, hỏa hầu đã đủ, Thánh Thai đã tròn. Nếu trái chưa chín, Anh Nhi mới sinh, phải trải mười tháng, mới xuất bào thai. Thích thị gọi là Pháp Thân, hay thực tưởng: đạo Lão gọi là Xích Tử hay Anh Nhi.
Anh Nhi thoát bào thai, liền nhảy ra ngoài. Ẩn thân tại Khí Huyệt, và tạo lại một Hỗn Độn mới. Huyệt này chính là nơi Thần Tiên trường thai, trú tức, là nơi Xích Tử an thân, lập mệnh. Vì thế rành đường lối, biết thuận chiều trở về.
Anh Nhi đã ở yên trong tĩnh thất, trong đạo trường, thì phải bảo tàng nó cho kỹ lưỡng, phải yên lặng gìn giữ nó. Trước hết phải dùng Khôn Mẫu Huỳnh Nha mà nuôi nó (tức là dùng Nguyên Khí, Nguyên Thần), sau đó phải tích tụ sinh khí của đất trời mà bú mớm nó. Cái này cảm thì cái kia ứng, khi phát xuất thì gần, mà khi trông thấy thì xa. Trong đó, tự hô, tự hấp, tự hợp, tự khai, tự động, tự tĩnh, tự do, tự tại, như thần tiên tiêu giao nơi Vô Hà Hữu chi hương, y như Như Lai thiền định nơi bể tịch diệt.
Khi đã đạt được đại an lạc rồi, thì cần bảo hộ Đan Điền (Quan Nguyên), không cho Lục Trần xâm nhập, không thể để phiền não nhiễu loạn. Hoặc ngồi, hoặc nằm, phải luôn luôn thanh tĩnh. Hoặc đứng, hoặc đi, lúc nào cũng gia công tu trì, sao cho sáu cửa (lục căn, lục trần) kín đáo vô lậu, con đường vận chuyển, tuần hoàn luôn thông suốt. Chân thể mà được vậy, thế là đan cơ bền vững vậy.
Sáng chiều hộ trì, bảo thủ như vậy, như Rồng dưỡng châu, như mẹ nuôi con, không giây phút nào được lãng quên, không một sát na nào quên chiếu rọi.
鐘離翁曰:
孩 兒幼小未成人,須藉坤娘養育恩。
又曰:
已證無為自在心,更須溫養保全真。
李清庵曰:
丹從不煉煉中煉,道向無為為處為。息念息緣調祖氣,忘聞忘見養嬰兒。
呂純陽曰:
腹內 嬰兒養已成,且居塵世暫娛情。無端措大剛饒舌,卻入白雲深處行。
蓋溫養育嬰乃作仙之一大事,若養育失調,嬰兒就有棄殼離巢之變。此 時著實提防,不可輕縱出去,則一出而迷途,遂失捨而無歸。
故白玉蟾有重整釣魚桿,再斫秋筠節之歎。
上陽子 云:
既達返還九與七,此即木金三五一。氣全神壯換胎時,照護嬰兒休遠出。
防護之訣,密固三要為緊。
參同契曰:
耳目口三寶,閉塞勿發通。真人潛深淵,浮游守規中。
Chung Ly Ông viết:
Hài nhi ấu tiểu, vị thành nhân, 孩儿幼小未成人,
Tu tạ Khôn nương dưỡng dục ân. 须藉坤娘养育恩。
Anh nhi còn bé chửa thành người,
Phải biết ơn nhờ mẹ đất nuôi.
Lại viết:
Dĩ chứng Vô Vi, Tự Tại tâm, 已证无为自在心,
Cánh tu ôn dưỡng bảo toàn chân 更须温养保全真。
Đã chứnng Vô Vi, Tự Tại tâm
Phải tu ôn dưỡng, bảo toàn thân.
Lý Thanh Am viết:
Đan tòng bất luyện, luyện trung luyện, 丹从不炼炼中炼,
Đạo hướng Vô Vi vi xứ vi. 道向无为为处为。
Tức niệm, tức duyên điều tổ khí, 息念息缘调祖炁,
Vong văn, vong kiến dưỡng Anh Nhi. 忘闻忘见养婴儿。
Đan luyện tự nhiên, không gắng sức,
Đạo cũng Vô Vi chẳng thiên vì.
Xả niệm, xả duyên điều hô hấp,
Chẳng nghe, chẳng thấy dưỡng Anh Nhi.
Lữ Thuần Dương viết:
Phúc nội Anh Nhi dưỡng dĩ thành, 腹内婴儿养已成,
Thả cư triền thị tạm ngu tình. 且居尘市暂娱情。
Vô đoan thố đại cương nhiêu thiệt 无端措大刚饶舌,
Khước nhập bạch vân thâm xứ hành. 却入白云深处行。
Anh Nhi trong dạ đã dưỡng thành,
Tạm thời vui sống chốn thị thành.
Tự nhiên có kẻ mong cãi lộn,
Ta đạp cưỡi mây viễn xứ hành.
Ôn dưỡng Anh Nhi là đại sự của Thần Tiên, nếu dưỡng dục không đúng cách, Anh Nhi có thể chết, vì thế phải đề phòng, không được khinh suất làm bậy, vì một khi đã đi vào mê đồ, thì không biết đàng trở lại.
Vì thế Bạch Ngọc Thiềm than: Trùng chỉnh điếu ngư can, tái chước thu quân tiết 重整钓鱼杆,再斫秋筠节 (Làm lại cần câu, chặt lại cánh trúc mùa thu – nghĩa là phải bắt đầu tu lại)
Thượng Dương Tử viết:
Ký đạt phản hoàn cửu dữ thất, 既达返还九与七,
Thử tức Mộc Kim tam ngũ nhất. 此即木金三五一。
Khí toàn thần tráng hoán thai thời, 炁全神壮换胎时,
Chiếu hoạch Anh Nhi hưu viễn xuất. 照获婴儿休远出。
Nguyên Thần, Nguyên Khí đã phản hoàn,
Thế là Thần Khí đã hợp nhất.
Anh Nhi khi mới định thoát thai,
Phải lo bảo hộ đừng để mất.
Khẩu quyết phòng ngừa: Mật cố tam yếu vi cẩn 密固三要为謹。
Tham Đồng Khế viết:
Nhĩ, mục, khẩu tam bảo, 耳目口三宝,
Bế tắc vật phát thông. 闭塞勿发通。
Chân nhân tiềm thâm uyên, 真人潜深渊,
Phù Du thủ qui trung. 浮游守规中。
Tai, miệng, mắt là tam bảo,
Giữ kín chẳng phát thông.
Thánh Nhân ẩn đáy vực,
Bơi lội trong Đan Điền.
其法是以眼觀眼,以耳聽耳,以鼻調鼻,以口 緘口,潛藏飛躍,在正一心。則外無聲色臭味之牽,內無意必固我之累。自然方寸虛明,萬緣澄寂,而我本來赤子怡怡然安處其中矣。
雖然 外固三要,尤要內遣三害。三害者,邪念、煩惱、嗔恚是也。故道覺禪師曰:修此戒定慧,斷彼嗅貪癡。蓋貪癡易於制伏,唯有嗔毒難降。
聖胎訣云:嗔恚之火一燃,胎真去如奔馬。直待火滅煙消,方才歸於廬舍。
宋儒亦曰:忿火不懲,必有燎原之患,欲水不窒,豈無潰川之 災?
圓覺道場修證儀云:一念嗔起,具八方障門,今欲去嗔之法,唯宗老子之日損、周易之懲忿、世尊之覺照。
高 憎妙普曰:嗔火正燃時,我以覺照之。猶如湯消冰,了了無分別。緣此嗔火非實有體,皆從無名而來。
猶寶積經偈云:如鑽木出火,要假眾 緣力。若緣不和合,火終不得生。是不悅意生,畢竟無所有。知聲性空故,嗔也不復生。嗔不在於聲,亦不身中住。因緣和合起,離緣緣不生。如因乳等緣,和合生 酥酪。嗔目性無起,因於粗惡事
。愚者不能了,熱惱自燒燃。應當如是知,究竟無所有。嗔性本寂靜,但有於假名,嗔恚即實際。以依真如起,了 知如法界。是名嗔三昧。
寶積經又云:求自然智破無名殼,則無名變成慧炬,而嗔火化作心燈,嗔之一毒既消,八萬四千煩惱亦滅。
Phép đó chỉ là: lấy mắt nhìn mắt, lấy tai nghe tai, lấy mũi điều mũi, lấy mồm khóa mồm, tiềm tàng, phi được tại Chánh Nhất Tâm. Ngoài thì không để cho Thanh, Sắc, Xú, Vị đẩy đưa, trong thì phải vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.
Có vậy lòng ta mới hư minh, vạn duyên mới trừng triệt, và Xích Tử trong ta mới an nhiên tự tại.
Tuy nhiên, ngoài việc giữ gìn tai, mắt, miệng (tam yếu), còn phải trừ Tam Hại bên trong. Tam Hại là: Tà niệm, phiền não, và sân nhuế vậy.
Vì thế, Đạo Giác thiền sư nói: Tu thử giới, định, tuệ; Đoạn bỉ Sân, Tham, Si 修此戒定慧,断彼嗔贪痴。 (Tu Giới, Định, Tuệ; Trừ diệt Sân, Tham, Si).
Tham Si còn dễ trị, Tức Giận khó phục hàng.
Thánh Thai Quyết nói:
Sân khuể chi hỏa nhất nhiên, 嗔恚之火一燃,
Thai chân khứ như bôn mã. 胎真去如奔马。
Trực đãi hỏa diệt, yên tiêu, 直待火灭烟消,
Phương tài qui vu lô xá. 方才归于庐舍。
Sân khuể chi hỏa vừa cháy,
Chân Thai như ngựa bôn phi.
Đợi cho lửa tắt, khói tiêu,
Đơn sẽ qui về Lô Xá.
Tống Nho cũng nói:
Dục hỏa bất trừng, 欲火不澄,
Tất hữu Liêu nguyên chi hoạn. 必有燎原之患,
Dục thủy bất trất, 欲水不窒,
Khởi vô hội xuyên chi tai. 岂无溃川之灾?
Lửa giận không trừ,
Chắc sẽ có nạn cháy rừng.
Nước tham không khống chế,
Sẽ có chuyện vỡ đê điều.
Viên Giác Đáo Tràng Tu Chứng Nghi có nói:
Nhất niệm sân khởi, 一念嗔起,
Cụ bát vạn chướng môn. 具八万障门,
Kim dục khứ sân chi pháp, 今欲去嗔之法,
Duy tông Lão Tử chi nhật tổn, 唯宗老子之日损、
Chu Dịch chỉ trừng phẫn, 周易之惩忿、
Thế tôn chi giác chiếu. 世尊之觉照。
Cơn giận vừa nổi,
Trăm vạn chướng ngại sinh.
Muốn trừ được lửa giận,
Phải Giảm hoài theo Lão Tử,
Phải Trừng Phẫn theo Chu Dịch,
Phải Giác Chiếu theo Thế Tôn.
Cao Tăng Diêu Phổ viết:
Sân Hỏa chính nhiên thời, 嗔火正燃时,
Ngã dĩ Giác chiếu chi. 我以觉照之。
Do như thang tiêu băng, 犹如汤消冰,
Liễu Liễu vô phân biệt. 了了无分别。
Lửa giận khi vừa cháy,
Ta dùng Tuệ Giác soi.
Như nước soi tan băng tuyết,
Chắc chắn không hề sai.
Sân hỏa không có thực thể, đều sinh ra từ Vô Danh.
Bảo Tích Kinh có kệ: “Như dùi gỗ lấy lửa, đều phải nhờ vào nhân duyên. Nếu nhân duyên mà không hòa hợp, thì lửa sẽ không sinh. Như vậy sẽ không vừa ý. Thực tế thì tất cả đều không có y cứ. Nên biết Thanh Tính đều là Không. Nên cơn giận không còn sinh. Giận không do nơi Thanh, càng không có chỗ trú trong người. Có đủ duyên thời sinh, không đủ duyên thời không sinh. Như sữa mà đủ nhân duyên sẽ sinh ra tô lạc (kem). Giận là vì mất bản tính, hay là vì làm những chuyện xấu xa, người ngu không biết đạo lý, nên lửa phiền não sẽ bốc cháy. Nếu biết được như vậy, thì mọi sự đều không có gì. Và sân hận sẽ thành tịch tĩnh (không còn). Nó chỉ còn cái tên suông. Sân hận thực tế chỉ là Chân Như. Nếu hiểu được như vậy, thì là giác ngộ vậy.”
Ngọc Tích Kinh còn nói:
“Biết được lẽ tự nhiên này, sẽ phá được cái xác Vô Danh đó. Và Vô Danh sẽ biến thành ngọn đuốc trí huệ, và lửa giận sẽ biến thành chiếc Đèn Lòng. Sân hận đã trừ thì 84.000 phiền não cũng tiêu.”
佛經云:諸魔平等,煩惱為先。
又云:現住菩薩魔,煩惱無所有。
文云:智者於苦樂,不動如虛空。善觀察煩 惱,我我所俱離。
又云:無障大悲,觀諸眾生,所有煩惱皆從虛假妄想而失。知諸煩惱,體性自離。如是隨覺,即是菩提。煩惱之性,即菩 提性。
又云:煩惱境是佛境界,觀煩惱性空是正修行。
又云:欲除煩惱,當行正念。
四祖 亦云:一切煩惱業障,本來空寂。
細觀佛祖經旨大概,謂煩惱性空勿為窒礙,觀如夢幻,不用介懷。設使觸景情動,如響應聲,既應即止。 若此,則煩惱塵勞不待斷而自滅,胎真赤子弗假修而自靈。
又有經云:
以智慧劍破煩惱賊,以智慧刀裂煩惱綱,以 智慧火燒煩惱薪。
僧圓照云:
對治煩惱魔,清淨常歡喜。
龐居士云:
諦現四大本空,煩惱何處安腳。
晁文元云:
身同夢幻非真有,事比風雲不久留。既能洞達須剛斷,煩惱魔空過即 休。
張紫陽云:
可謂道高龍虎伏,堪言德重鬼神飲。已知壽永齊天地,煩惱無由更上心。
Phật Kinh cũng nói:
Chư ma bình đẳng, phiền não vi tiên 诸魔平等,烦恼为先。 (Tất cả yêu ma quỉ quái, thì phiền não đứng đầu).
Lại nói: Hiện trú Bồ Tát ma, phiền não diệc vô hữu 现住菩萨魔,烦恼亦无有。(Trong các ma quấy Bồ Tát, không có phiền não trong đó).
Lại nói: Trí giả vu khổ lạc, bất động như hư không. Thiện quan sát phiền não, ngã ngã sở câu ly 智者于苦乐,不动如虚空。善观察烦恼,我我所俱离。(Người khôn ngoan coi sướng khổ đều như là hư không, quan sát kỹ phiền não, thấy ta không dính bén).
Lại nói: “Bồ tát đại bi, không nhiễm phiền não, nhân thấy rằng phiền não của chúng sinh, đều là hư giả, đều do vọng tưởng sinh ra. Nếu biết rằng tất cả phiền não, đều lìa xa bản tính. Hiểu được như vậy, thế là bồ đề. Tính của phiền não, là tính bồ đề, đều là Đạo Tính, là Giác Ngộ tính.”
Lại nói: “Phiền não cảnh là cảnh Phật, thấy tính của Phiền Não là Không, đó là Tu Hành đúng đường lối”.
Lại nói: Dục trừ Phiền Não, đương hành Chánh Niệm 欲除烦恼,当行正念。(Muốn diệt trừ phiền não, phải hành Chánh niệm ).
Tứ Tổ cũng nói: Nhất thiết phiền não nghiệp chướng; bản lai không tịch 一切烦恼业障,本来空寂。(Nhất thiết phiền não, nghiệp chướng, thật ra là không).
Xét kỹ kinh sách Phật, đều nói là Phiền Não tính vốn không, không gây trở ngại, y như mộng ảo, không đáng để tâm. Nếu nó xúc phạm ngoại cảnh, thì chẳng qua như tiếng vang, sinh ra sau tiếng nói, xong rồi hết liền. Nếu vậy, phiền não, trần lao không đợi cho đến khi ta chết đã tự tiêu trước rồi. Thai Chân Xích Tử không nhờ vào chuyện tu luyện giả tạo mà vẫn Linh hoạt được.
Kinh còn nói:
Dĩ Trí Tuệ Kiếm, phá phiền não tặc, 以智慧剑破烦恼贼,
Dĩ Trí Tuệ Đao, liệt phiền não cương, 以智慧刀裂烦恼纲,
Dĩ Trí Tuệ Hỏa, thiêu phiền não tân. 以智慧火烧烦恼薪。
Dùng Gươm Trí Tuệ, phá giặc phiền não ,
Dùng Dao Trí Tuệ, cắt lưới phiền não,
Dùng Lửa Trí Tuệ, đốt củi phiền não.
Tăng Viên Chiếu nói:
Đối trị phiền não ma, 对治烦恼魔,
Thanh tĩnh thường hoan hỉ 清净常欢喜。
Muốn trừ ma Phiền Não,
Thanh Tĩnh thường hoan hỉ.
Bàng Cư Sĩ viết:
Đế quan Tứ Đại bản không, 谛观四大本空,
Phiền não hà xứ an cước? 烦恼何处安脚。
Nhìn xem Tứ Đại vốn không
Phiền não đặt chân chỗ nào?
Triều Văn Nguyên nói:
Thân đồng mộng ảo phi chân hữu, 身同梦幻非真有,
Sự tỉ phong vân bất cửu lưu. 事比风云不久留。
Ký năng động đạt tu cương đoạn, 既能洞达须刚断,
Phiền não ma không quá tức hưu. 烦恼魔空过即休。
Thân như mộng ảo không có thật,
Sự như phong vân không bền lâu.
Hiểu được điều này, phải cắt đứt mọi sự,
Phiền não ma vốn là không, thế là xong.
Trương Tử Dương nói:
Khả vị Đạo cao Long Hổ phục, 可谓道高龙虎伏,
Kham ngôn đức trọng quỉ thần khâm. 堪言德重鬼神饮。
Dĩ tri thọ vĩnh tề Thiên Địa, 已知寿永齐天地,
Phiền não vô do cánh thượng tâm. 烦恼无由更上心。
Nếu Đạo cao, khiến Rồng, Hổ phục,
Nếu Đức trọng khiến Quỉ Thần nể.
Nếu biết mình thọ cùng Trời Đất,
Thì đâu còn để tâm đến phiền não?
六祖壇經云:凡夫即佛,煩惱即菩提。前念迷即凡夫,後念悟即佛。前念著境即煩惱,後念離境即菩提。
故纓珞經云:佛言我從本來不得一 法,究竟定意,始知所謂無念。若得無念者,觀一切法,悉皆無形,因此得成無上正真之道。
又云:世人不能成道而脫生死者,良由妄念為 輪迴種子耳。
蓋妄念起處,即是生災。妄念息處,即是真元。故玄門以止念為本,釋教以無念為宗。
無念者,為無 邪念,非無正念。念有念無即名邪念,不念有無助名正念。念善念惡即名邪念,不念善惡即名正念。
乃至苦樂、生滅、取捨、冤親、憎愛,井名邪 念,不念苦樂等是名正念。但事來不受一切處,無心即是無念也。無念之念,謂之正念。
佛經云:善男子我等住於無念法中,得如是金色三 十二相,放大光明,照無餘世界。
高峰禪師云:
慈氏受一生成佛之功,不出一念無生性海。
智常禪師云:
真如無念。非念法能階實相,無生豈生心。能至無唸唸者,即念真如;無生生者,生乎實相。
李之 才云:
念之天理則明月之當空,念之人欲則浮雲之蔽日。
寒山子云:
旋乾倒岳鎮常靜,一 念萬年永不移。
Lục Tổ Đàn Kinh viết:
Phàm phu tức Phật, 凡夫即佛,
Phiền não tức Bồ Đề. 烦恼即菩提。
Tiền niệm mê tức phàm phu, 前念迷即凡夫,
Hậu niệm ngộ tức Phật. 后念悟即佛。
Tiền niệm trước cảnh tức Phiền Não, 前念着境即烦恼,
Hậu niệm ly cảnh tức Bồ Đề, 后念离境即菩提。
Phàm phu tức là Phật,
Phiền não tức Bồ Đề.
Niệm trước còn mê là phàm phu,
Niệm sau đã ngộ tức phật,
Niệm trước còn vướng cảnh là Phàm Phu,
Niệm sau thoát cảnh là Bồ Đề (Đắc Đạo).
Sách Anh Lạc Kinh nói:
“Phật nói: Ta từ trước đến nay, không được phép nào, chỉ cần Định Ý. Bắt đầu biết thế nào là Vô Niệm. Người biết Vô Niệm, sẽ thấy tất cả là vô hình. Do đó ta thành Chánh Chân chi Đạo.”
Lại nói: “Thế gian không thể thành đạo, không thoát sinh tử, chính là vì có vọng niệm, nên suy bậy, nghĩ bạ, thành ra bị Luân Hồi.”
Khi vọng niệm khởi, thì đó là Sinh Diệt, khi vọng niệm ngừng, thì đó là Chân Nguyên. Cho nên đạo Lão lấy Chỉ Niệm làm căn bản, đạo Phật lấy Vô Niệm làm tông chỉ. Vô Niệm là không có Tà Niệm, chứ không phải là không có Chánh Niệm. Niệm có hữu vô, thì là Tà Niệm. Không nghĩ tới hữu vô là Chính Niệm. Niệm mà có Thiện Ác thì là Tà Niệm, không nghĩ đến Thiện Ác thì là Chính Niệm.
Đến như khổ lạc, sinh diệt, oan nghiệp, tắng ái, v.v. tất cả là Tà Niệm. Không nghĩ đến Khổ Lạc thì gọi là Chính Niệm. Việc đến mà không đón chờ, tất cả đều Vô Tâm, thì là Vô Niệm. Niệm mà Vô Niệm thì là Chính Niệm.
Phật Kinh nói: “Thiện nam tử, khi các ngươi ở trong cảnh giới Vô Niệm. Được như vậy, thì 32 tưởng Kim sắc, sẽ phóng đại quang minh, chiếu trong Vô Dư Thế giới.”
Cao Phong Thiền Sư nói:
Tư thị thụ nhất sinh thành Phật chi công,
慈氏受一生成佛之功,
Bất xuất nhất niệm vô sinh tính hải.
不出一念无生性海。
Thọ nhận một kiếp người là công của Phật,
Không siêu xuất Nhất niệm Bất sinh của Tính Hải.
Trí Thường Thiền Sư nói:
Chân Như vô niệm, 真如无念。
Phi niệm Pháp năng giai. 非念法能阶
Thật tướng vô sinh, 实相无生
Khởi sinh tâm năng chí. 岂生心能至
Vô niệm niệm giả, 无念念者,
Tức niệm Chân Như. 即念真如;
Vô sinh sinh giả, 无生生者,
Sinh hồ thực tướng. 生乎实相。
Chân như là Vô Niệm, Niệm Pháp không giới hạn được nó.
Thật Tướng không sinh, Tâm sinh sao đạt tới,
Vô niệm là Chân Như, Vô sinh là Thực Tướng.
Lý Chí Tài nói:
Niệm chi Thiên Lý tắc minh nguyệt chi đương không.
念之天理则明月之当空,
Niệm chi Nhân dục tắc phù vân chi tế nhật.
念之人欲则浮云之蔽日。
Niệm về Thiên Lý, thì như trăng sáng giữa trời,
Niệm về Nhân Dục, thì như mây che mặt trời.
Hàn Sơn Tử nói:
Tuyền Kiền, đảo Nhạc, trấn thường tĩnh, 旋乾倒岳镇常静,
Nhất niệm vạn niên vĩnh bất di. 一念万年永不移。
Xoay Trời, chuyển Núi, ngăn tà niệm,
Giữ lòng tĩnh lặng, muôn năm chẳng thay.
天隱子云:
不睹不聞存覺性,無思無念養胎仙。
寶積經中所說菩薩安住無 所住之念,非憶非忘所安住念,即名法界。是知從上若佛、若祖、若聖、若仙,皆因冥心息念而得妙道。
故尚書曰:唯狂克念作聖,然克念 之功須要躬行實踐,方有進步。不然,一片太虛,途路甚遠,少一步定是到不得。
昔人所謂工夫不到不方圓,工夫若做到極,則處自然入於 無念。既得無念真常,則玄竅嬰兒寂寂然而無撓擾之患矣。
劉虛谷云:
大功欲就三千日,妙用無虧十二時。
陳朝元云:
含養胞胎須十月,育嬰乳哺要千朝。
泥丸翁云:
片響工夫修便現,老成須是 過三年。
三年功夫已完,溫養事畢。即悟真所謂,一霎火焰飛,真人自出現。真人既現,必出太玄而升天谷,再加冥心滅盡之功,則有通靈 變化之妙。
劉海蟾曰:
卦行火侯周天畢,孕個嬰兒鎮下田。霹靂一聲從地起,乾戶肇開光萬里。翻身推出太玄關, 這回方是真仙子。
Thiên Ẩn Tử nói:
Bất đổ, bất văn tồn giác tính, 不睹不闻存觉性,
Vô tư, vô niệm, dưỡng thai tiên. 无思无念养胎仙。
Chẳng nhìn, chẳng nghe, giữ nguyên Giác Tính,
Không nghĩ, không suy, dưỡng thai tiên.
Báo Tích Kinh viết:
Bồ tát an trụ trong niệm Vô Sở Trụ. Chẳng nghĩ, chẳng quên, thế là Niệm An Trụ. Đó là Pháp Giới.
Cái biết đó, là do Phật, Tổ, Thánh Tiên biết Tức Tâm. Chỉ Niệm mà được diệu Đạo.
Cho nên sách Thượng Thư nói: Duy cuồng khắc niệm tác thánh 唯狂克念作圣 (Chỉ có khắc chế được tạp niệm là thành Thánh Hiền).
Và khắc chế tạp niệm là một công trình hết sức thực tiễn, chính bản thân mình phải ra công đóng góp mới có tiến bộ. Nếu không thì Vừng Thái Hư kia, con đường tới nó rất xa, thiếu một bước là không thể tới được. Người xưa nói: Công phu như vậy, là chưa đến đến chốn.
Công phu mà đạt tới cực điểm, thì sẽ nhập vào Vô Niệm. Khi vào được Chân Thường Vô Niệm, thì Huyền Khung Anh Nhi sẽ tịch nhiên không còn sợ bị nhiễu loạn nữa.
Lưu Hư Cốc nói:
Đại Công nhược tựu tam thiên nhật, 大功若就三千日,
Diệu dụng vô khuy thập nhị thời. 妙用无亏十二时。
Công phu tuy là 3.000 ngày,
Nhưng diệu dụng không qua 12 giờ.
Trần Triêu Nguyên nói:
Hàm dưỡng bào thai tu thập nguyệt, 含养胞胎须十月,
Dục anh nhũ bộ yếu thiên triêu. 育婴乳哺要千朝。
Nuôi nấng Anh Nhi cần mười tháng,
Anh Nhi bú mớm mất nghìn ngày.
Nê Hoàn Ông nói:
Phiến hướng công phu tu tiện hiện, 片响工夫修便现,
Lão thành tu thị quá tam niên. 老成须是过三年。
Muốn cho công phu được thực hiện,
Lão thành cũng mất quá ba năm.
Ba năm công phu đã hoàn thành, ôn dưỡng cũng đã xong, chính vì thế sách Ngộ Chân nói:
Nhất sát hỏa diệm phi, 一霎火焰飞,
Chân Nhân tự xuất hiện. 真人自出现。
Phút chốc lửa phừng bay,
Chân Nhân liền xuất hiện.
Chân Nhân đã hiện, do tự Thái Huyền (Đơn Điền) lên tới Thiên Cốc (Thượng Đơn Điền), thế là công phu Minh Tâm Hỏa Diệt, thế là sẽ thông linh biến hóa. Lưu Hải Thiềm nói:
Quái hành, Hỏa hậu Chu thiên tất, 卦行火侯周天毕,
Dựng cá Anh Nhi trấn Hạ Điền, 孕个婴儿镇下田。
Tích lịch nhất thanh tòng Địa khởi, 霹雳一声从地起,
Kiền hộ phách khai quang vạn lý, 乾户肇开光万里。
Phiên thân tràng xuất Thái Huyền quang, 翻身推出太玄光,
Giá hồi phương thị Chân Tiên tử. 这回方是真仙子。
Dùng quẻ để vận chuyển tuần hoàn chân khí,
Nuôi nấng Anh Nhi dưới Đơn điền,
Một tiếng nổ vang từ đất phát,
Cửa Trời rộng mở phóng hào quang,
Chuyển mình thấy được huyền quang hiện,
Như vậy là nhìn thấy Chân Tiên.
真空煉形法則
<真空煉形圖>
真空煉形法,五蘊空非空,非以空五蘊,五蘊悉皆空。
天人一 氣相呼吸,以法追來煉形質。竅竅玲瓏五蘊空,霞光萬道連天碧。
(真 空煉形圖)
普照怫心曰:
異端有白我其觀,卻歎人從甕裡盤。最上一乘含蓄遠,好從玄竅覓天寬。
蓋真空煉形之法,譬喻運甕相似。若處甕內,焉能運之,必也處於甕外。身處甕外者,即釋氏所謂外其身而虛空之是也。
CHÂN KHÔNG LUYỆN HÌNH ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Tiếu Nhân nhất khí tương hô hấp, 笑人一气相呼吸
Dĩ pháp truy lai luyện hình chất. 以法追来炼形质
Khiếu khiếu linh lung ngũ uẩn không, 窍窍玲珑五蕴空
Hà quang vạn đạo liên Thiên bích. 霞光万道连天碧
Trời người hô hấp giống in nhau,
Chỉ dùng một phép dùng hình chất.
Suy ra ngũ uẩn vốn là không.
Ánh sáng muôn trùng soi Trời Đất.
Chân không luyện hình pháp, 真空炼形法
Ngũ uẩn không phi không, 五蕴空非空
Phi dĩ không ngũ uẩn, 非以空五蕴
Ngũ uẩn tất giai không. 五蕴悉皆空
Chân không phép luyện hình,
Ngũ uẩn vốn chẳng không.
Tu cho ngũ uẩn không còn vết,
Ngũ uẩn rồi ra cũng là không.
*
* *
LUYỆN HÌNH
***
Sách Phổ Chiến Phật tâm nói:
Tị đoan hữu bạch ngã kì quan, 异端有白我其观,
Khước thán nhân tùng ung lý bàn. 却叹人从瓮里盘。
Tối thượng nhất thừa hàm súc viễn, 最上一乘含蓄远,
Hảo tùng huyền khiếu mịch thiên khoan. 好从玄窍觅天宽。
Ta quan sát điểm trắng nơi đầu mũi
Khen kẻ trong lu khiến lu quay.
Tối thượng nhất thừa cao siêu thế,
Nên theo Huyền Khiếu kiếm trời cao.
Cho nên phép luyện hình theo Chân Không cũng giống như người vần lu nước. Nếu vần từ bên trong thì làm sao lu chuyển được cho nên phải vần từ bên ngoài. Cho nên vần lu từ bên ngoài thì nhà Phật gọi là Hư Không ngoài thân ta vậy.
故老子曰:
外其身而身修,忘其形而形存。
薛道光曰:
若人空此幻化身,親授聖師真規則。
張全一 曰:
太虛是我,先空其身。其身既空,天地亦空。
天地既空,太空亦空。空無所空,乃是真空。
清靜經曰:內觀其心,心無其心。外視其形,形無其形。形無其形者,身空也;心無其心者,心空也。心空無礙,則神愈煉而愈靈;身空無礙,則形愈煉而愈清。 直煉到形與神而相涵,身與心而為一,方才是形神俱妙、與道合真者也。
古仙曰:形以道全,命以術延。此術是竅無涯之元氣,續有限之形 軀。無涯之元氣,是天地陰陽長生真精靈父聖母之氣也。有限之形軀,是陰陽短促濁亂凡父凡母之氣也。故以真父母之氣變化凡父母之身為純陽真精之形,則與天地 同壽也。
按孫陀羅尊者云:世尊教我觀鼻端白,我初諦觀,經三七日,見鼻中氣出入如煙,身心內明,圓洞世界,遍成虛淨,猶如硫璃煙相 漸消,鼻息成白,心開漏盡,諸出入息化為光照,照十方界,得阿羅漢。
Lão Tử thì gọi là:
Ngoại kỳ thân nhi thân tu, 外其身而身修,
Vong kỳ hình nhi hình tồn. 忘其形而形存。
Ở ngoài thân nên thân tu,
Quên mất hình nên hình còn.
Tiết Đạo Quang nói:
Nhược nhân không thử ảo hóa thân 若人空此幻化身,
Thân thụ thánh sư chân quỹ tắc. 亲授圣师真轨则。
Nếu người coi được cái thân ảo hóa mình là Không,
Thì đã biết được đường lối chính xác của thánh nhân.
Trương Toàn Nhất nói:
Thái hư thị ngã, Tiên không kỳ thân, kỳ thân ký không, Thiên địa diệc không. Thiên địa ký không, Thái Không diệc không, Không vô sở không, nãi thị chân không.
太虚是我,先空其身。其身既空,天地亦空。
天地既空,太空亦空。空无所空,乃是真空。
Thái hư là ta, cần coi mình là không. Thân này đã không, thì thiên địa cũng không. Thiên địa đã không, thì Thái không cũng là không, không vô sở không, đó là Chân Không.
Thanh Tĩnh Kinh viết:
Nội quan kỳ tâm, 内观其心,
Tâm vô kỳ tâm, 心无其心。
Ngoại quan kỳ hình 外观其形,
Hình vô kỳ hình. 形无其形。
Nhìn vào trong tâm,
Tâm không có tâm.
Nhìn ra ngoài hình,
Hình không có hình.
Hình không có hình là Thần Không vậy. Tâm Không có tâm là tâm không vậy. Tâm Không vô ngại thì thần càng luyện càng linh. Thần Không vô ngại thì hình càng luyện càng thanh. Luyện cho tới hình và thần dung hợp với nhau, thân và tâm hợp nhất, thì mới gọi là Hình Thần Câu Diệu và Dữ Đạo Hợp Chân vậy.
Cổ tiên nói: Hình dĩ Đạo toàn, Mệnh dĩ thuật diên 形以道全,命以术延。(Hình nhờ Đạo mới nên toàn vẹn, Mệnh nhờ Thuật mới sống lâu).
Thuật đó là ăn trộm Nguyên Khí vô cùng, để bổ sung cho cái thân hình hữu hạn.
Vô Nhai chi Nguyên Khí, đó là Âm Dương trường sinh Chân Tinh của Trời Đất, là Khí của Linh Phụ, Thánh Mẫu.
Hữu hạn chi hình khu, đó là Âm Dương đoản súc trọc loạn của Cha Mẹ phàm phu.
Cho nên dùng khí của Linh Phụ Linh Mẫu để biến cái phàm thân của cha mẹ phàm tục, thành cái thân Thuần Dương Chân Tinh, thế là Thọ cùng Trời Đất vậy.
Tôn Đà La tôn giả nói:
“Đức Thế Tôn dạy ta phải nhìn thấy đầu mũi trắng, ta bắt đầu nhìn, qua 21 ngày. Thấy khí trong mũi, vào ra như khói. Trong lòng trong sáng, hết sức Hư Tĩnh, y như lưu ly. Khói dần dần tiêu, hơi thở thành trắng, tâm được mở ra, hết còn phiền não. Hơi thở vào ra, trở nên trong sáng, chiếu soi mười phương, thành A La Hán.”
朱元晦云:
鼻端有白,我其觀之。
莫認真云:
平生姿韻愛風流,幾笑時人向外求。萬別千差無覓處,得來原在鼻尖頭。
夫人未生之先,一呼一吸, 氣通於母。人之既生之後,一呼一吸,氣通於天。天人一氣,聯屬流通,相吞相吐,如扯鋸焉。天與之我,能取之得其氣,氣盛而生也。天與之天,復取之失其氣, 氣絕而死也。
故聖人觀天之道,抉天之行,每於義馭未升,腸谷之時,凝神靜坐,虛以待之,內含意念,外捨萬緣,頓忘天地,粉碎形骸。 自然太虛中有一點如露如電之陽,勃勃然,入玄門,透長谷,而境上泥丸,化為甘霖而降於五內。我即鼓動巽風以應之,使其驅逐三關九竅之邪,掃蕩五臟六腑之 垢,焚身煉質,段滓銷霾,抽盡穢濁之軀,變換純陽之體。累積長久,化形而仙。
陳翠虛曰:
透體金光骨髓香,金 筋玉骨盡純陽。煉教赤血流為白,陰氣消磨身自康。
丘長春曰:
但能息息常相顧,換盡形骸玉液流。
張紫瓊曰:
天人一氣本來同,為有形骸礙不通。煉到形神冥合處,方知色相即真空。
薛覆命曰:
不知將謂氣,得後自然真。
Chu Nguyên Hối nói:
Tị đoan hữu bạch, ngã kì quán chi. 鼻端有白,我其观之。
“Mũi thở hơi trắng, ta đã nhìn thấy.”
Mạc Nhận Chân Nhân nói:
Bình sinh tư vận, ái phong lưu, 平生姿韵爱风流,
Kỷ tiếu thời nhân hướng ngoại cầu 几笑时人向外求。
Vạn biệt Thiên sai, vô mịch xứ 万别千差无觅处,
Đắc lai nguyên tại tỵ đoan đầu. 得来原在鼻端头。
Phong thái bình sinh thích phong lưu,
Cười người chỉ biết Hướng Ngoại cầu.
Thiên sai vạn biệt cầu đâu thấy,
Muốn thấy chung qui tại tỵ đầu.
Phàm con người trước khi sinh, thở ra, thở vào, thông khí với mẹ. Con người khi đã sinh ra, thở ra, thở vào, thông khí với trời. Trời, Người cùng một khí, lưu thông với nhau, tương thôn, tương thổ, như thể kéo cưa. Trời cho, ta lấy. Dược khí, làm cho khí thịnh là sống. Trời cho rồi lại lấy lại. Mất khí rồi tuyệt khí là chết.
Cho nên thánh nhân, xem xét đạo Trời, xem Trời vận hành. Khi mặt Trời chưa lên khỏi Dương Cốc, thì ngưng thần, tọa tĩnh, hư tâm mà chờ. Trong buông mọi niệm, ngoài xả vạn duyên, quên Trời, quên Đất, nghiền nát hình hài. Tự nhiên từ trong Thái Hư có một điểm Chân Dương, như móc, như điện, ùn ùn nhập vào Huyền Môn, xuống Trường Cốc rồi lên thẳng Nê Hoàn, hóa thành Cam Lộ nhập vào ngũ tạng. Ta phải dùng Tốn Phong (Vũ Hỏa) mà tiếp ứng nó, để nó trừ diệt khí tà nơi Tam Quan , Cửu Khiếu, quét sạch trần cấu nơi ngũ tạng, luyện khí chất, đốt sạch trược thể, đuổi sạch uế khí trong thân, biến hóa thân mình thành Thuần Dương chi thể. Lũy tích trường cửu sẽ hóa hình thành Tiên.
Trần Túy Hư nói:
Thấu thể Kim Quang, tủy cốt hương. 透体金光髓骨香,
Kim cân, ngọc cốt tận thuần dương, 金筋玉骨尽纯阳。
Luyện giao xích huyết lưu vi bạch, 炼教赤血流为白,
Âm khí tiêu ma thân tự khang, 阴气消磨身自康。
Toàn thân rực rỡ, cốt tủy thơm,
Cốt ngọc, gân vàng, biến thuần dương.
Luyện cho máu đỏ nên màu trắng
Âm khí tiêu trừ, thân an khang.
Khưu Trường Xuân nói:
Đãn năng tức tức thường tương cố, 但能息息常相顾,
Hoán tận hình hài, ngọc dịch lưu. 换尽形骸玉液流。
Chỉ cần để ý từng hơi thở,
Thay đổi hình hài, ngọc dịch lưu.
Trương Tử Dương nói:
Thiên Nhân nhất khí bản tương đồng, 天人一气本相同,
Vi hữu hình hài ngại bất thông. 为有形骸碍不通。
Luyện đáo thần hình minh hợp xứ, 炼到形神冥合处,
Phương tri sắc căn tức Chân Không. 方知色根即真空。
Thiên nhân nhất khí vốn tương đồng,
Chỉ vị hình hài, ngăn chẳng thông.
Luyện tới thần hình hòa hợp lại,
Mới hay Căn Sắc tức Chân Không.
Tiết Hạ Mệnh nói:
Bất tri tương vị khí, 不知将谓气,
Đắc hậu tự nhiên Chân. 得后自然真。
Không hiểu Khí ra sao,
Sau biết tự nhiên Chân.
董漢醇曰:金用礦消,形由氣煉。煉形之法,總有六門。其一曰玉液煉形,其二曰金液煉形,其三曰太陰煉 形,其四曰太陽煉形,其五曰內觀煉形。若此者總非虛無大道,終不能與太虛同體。唯此一訣,乃曰真空煉形。雖曰有作,其實無為,雖曰煉形,其實煉神,是修外 而兼修內也。
依法煉之,百日則七魄亡形,三屍絕跡,六賊潛藏,而十魔遠遁矣。煉之千日,則四大一身,儼如水晶塔干,表裡玲瓏,內外 洞徹,心華燦然,靈光顯現。靈光者,慧光也,故曰惹光生處覺花開。蓋慧覺花開非煉形入微與道冥一者不能有此。
故生神經曰:身神並 一,則為真身;身與神合,形隨道通。隱則形固於神,顯則神合於氣。所以蹈水火而無礙,對日月而無影。吾亡在己,出入無間。或留形住世,或脫質升仙。有白日 而飛肉屍者,黃帝之謂也。有留形在世者,彭祖之謂也。有受命而居天職者,張天師之謂也。有拔宅而上升者,許施陽之謂也。有示疾而終者,王重陽之謂也。有入 仕而臣者,東方朔之謂也。至於老子為柱史,辛鈃為大夫,尹喜為關令,伯姬為卿上,唐典隱昆陵,孑休治漆園,帝者師四,皓輔漢惠,仇生仕殷,輔光仕漢,馬舟 仕晉,海蟾仕燕,正陽棄官,純陽應舉,常有執鞭,琴高執笏。若此者,多不可以枚數。
噫!神仙之隱顯去留,豈世之凡夫所能測度者哉。 更若憑虛御風之,列子折蘆過江之,達摩非若淘質煉形之功,又安能如此輕舉之身乎?此形神俱妙之道,非坐脫立亡者之所能知。所以不免有拋身入身之失爾。
Đổng Hán Thuần nói:
Kim dụng khoáng tiêu 金用矿消,
Hình do khí luyện. 形由炁炼。
Kim thuần khoáng hết,
Hình đổi do Khí luyện.
Luyện Hình có 6 môn:
1. Ngọc Dịch luyện hình 玉液炼形,
2. Kim Dịch luyện hình 金液炼形
3. Thái Dương luyện hình 太阳炼形
4. Thái Âm luyện hình 太阴炼形
5. Nội quan luyện hình 内观炼形。
Năm môn trên chưa phải là Hư Vô đại đạo, không thể giúp ta Dữ Thái Hư Đồng Thể. Chỉ có khẩu quyết sau đây gọi là:
6. Chân không luyện hình 真空炼形
Tuy là Hữu tác, nhưng chính thật Vô Vi, tuy là luyện Hình, nhưng chính là luyện Thần. Thế là vừa Tu ngoại vừa kiêm Tu nội vậy.
Theo thế mà tu luyện, sau 100 ngày thì Thất Phách sẽ vong hình, Tam Thi sẽ tuyệt tích, lục tặc (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sẽ tiềm tàng, thập ma (như phiền não ma, tâm ma, tử ma v.v… Đạo gia gọi thế là ảo giác như Mỹ cảnh, phú quí, Ân ái v.v…) sẽ ẩn trốn xa.
Tu 1.000 ngày, thân tứ đại sẽ sáng như thủy tinh, trong ngoài sẽ linh lung, nội ngoại sẽ động triệt, tâm hoa xán lạn, Linh Quang hiện hiện.
Linh Quang là Tuệ Quang vậy. Nên nói: Tuệ quang sinh xứ, giác hoa khai 慧光生处觉花开 (Nơi Tuệ Quang sinh, giác hoa sẽ nở ra). Có Tuệ Quang Giác Hoa, nếu không nhờ Luyện Hình nhập vi, dữ Đạo minh Nhất, thì không được như vậy.
Cho nên Sinh Thần Kinh viết:
“Thân hình hợp nhất, thì gọi là Chân Thân. Thân cùng Thần hợp, hình sẽ tùy Đạo thông. Lúc ẩn thì hình vững cùng Thần, lúc hiển thì Thần hợp với Khí. Cho nên vào nước lửa như không, ra mặt trời mặt trăng, không thấy bóng. Quên được mình, nên ra vào không chi ngăn trở. Hoặc sống tại thế, hoặc thoát chất thành tiên.
Có người ban ngày bỏ xác, như Hoàng Đế, có người trú thân nơi trần thế như Bành Tổ. Có người thụ được Mệnh Trời, sống tại thế gian với một Thiên Chức, như Trương Thiên Sư, có người không bệnh mà chết, như Vương Trùng Dương; có người làm quan như Đông Phương Sóc. Đến như Lão Tử làm quan Trụ Sử, Tân Biền làm Đại Phu, Doãn Hỉ làm Quan Lệnh, Bá Cơ làm Khanh Sĩ, Dương Điển ẩn cư trên núi Tỉ, Tử Hưu quản lý Tất Viên, Trương Lương giúp Hán Cao Tổ, Tứ Hạo giúp Huệ Đế, Cửu Sinh phò nhà Ân, Phụ Quang giúp nhà Hán, Mã Đơn giúp nhà Tấn, Hải Thiềm giúp Yên, Chính Dương từ quan, Thuần Dương ứng cử, Thường Hữu cầm roi, Cầm Cao cầm hốt, thật là nhiều vô số kể.”
Ôi! Các vị Thần Tiên trên ẩn hiện, khứ lưu, phàm phu sao mà đoán định được? Như Liệt Tử cưỡi gió, như Đạt Ma vượt sông trên ngọn vi lô, nếu thân xác không luyện đến mức tinh vi, thì làm sao người nhẹ được như vậy?
Cái thuật Hình Thần câu diệu như vậy, nếu không biết phép Tọa Thoát Lập Vong, Trạm Trước Tử Vong (Thi Giải, Nguyên Thần thoát xác), thì con người không hiểu nổi, và sẽ đi vào lỗi lầm Phao Thân Nhập Thân mà thôi.
故學仙佛之流,若獨以煉神為妙,不知煉形為要者,所謂清靈善化之鬼,何可與高仙為比哉?大抵溫養煉形,無分彼此,雖然在兩處發明,其實是一個道理。內外 兼修,不相違背。若十日功夫無間,乃懸崖撒手時也。自然言語道斷,心思路絕。能所兩亡,色空俱泯,無滯無礙,不染不著,身似翔鴻不可籠,心如蓮華不著水。 火光淨淨,瀟瀟灑灑,騰騰任運,任運騰騰,做一個無事無為、自在消逼之散漢也。此際嬰兒漸露其形,與人無異,愈要含華隱曜,鎮靜心田,若起歡忻,就要廣 境。
如陳泥丸云:
我昔功夫行一年,六脈已息氣歸根。有個嬰兒在丹田,與我形貌亦如然。
嬰兒既長,穴不能居,自然裂竅而出、貫頂而升。此之謂出離苦海而起彼岸也。
永明壽禪師云:
身在苦海中,賴 此鐵羅漢。苦海既脫離,捨筏登彼岸。
觀吾陳真人云:
此岸波濤已脫離,到彼方知壽可躋。一得歸來宜永得,渡河 筏子上天梯。
Cho nên học Tiên Phật không phải là chuyên lo luyện Thần không, mà còn phải luyện hình, nếu không sẽ trở thành một loại ma quỉ biết Thanh Linh Thiện Hóa mà thôi, không thể sánh được với các vị Cao Tiên vậy.
Đại để phép Luyện Hình là không phân bỉ thử, tuy tại hai nơi phát minh, nhưng đạo lý chỉ có một:
Nội ngoại kiêm tu, Bất tương vi bối内外兼修,不相违背。
(Nội ngoại song tu, không trái ngược nhau).
Công phu mười tháng, sẽ ly khai được Nhân Thế, tự nhiên Ngôn Ngữ, và Tâm Tư mình sẽ khác với người. Năng Sở sẽ cùng quên, Sắc Không sẽ cùng mất, sẽ hết chướng ngại, hết bợn nhơ. Thân sẽ như chim Hồng, bay bổng lên không còn bị giam giữ. Lòng sẽ như bông sen, không nhuốm nước, rạng rạng, rỡ rỡ, tiêu tiêu, sái sái, thành một con người Vô Sự, Vô Vi, tiêu dao tự tại.
Lúc này Anh Nhi đã lộ nguyên hình, với người không khác. Càng ngày càng phải :Hàm Hoa Ẩn Dược. Trấn Tĩnh Tâm Điền. Nếu thấy vui mừng đó là Ma Cảnh.
Như Trần Nê Hoàn nói:
Ngã tích công phu, hành nhất niên, 我昔功夫行一年,
Lục mạch dĩ tức khí qui nguyên. 六脉已息气归源。
Hữu cá Anh Nhi tại Đan Điền, 有个婴儿在丹田,
Dữ ngã hình mạo diệc như nhiên. 与我形貌亦如然。
Ta luyện công phu đã một năm,
Lục mạch đều hòa Khí qui nguyên.
Có một Anh Nhi tại Đan Điền,
Hình dạng như ta cũng y nhiên.
Anh Nhi đã lớn, không ở trong Huyệt nữa tự nhiên sẽ bay lên đầu, phá huyệt mà ra. Thế gọi là Thoát Ly Khổ Hải mà vào Bỉ Ngạn vậy.
Vĩnh Minh Thọ Thiền sư nói:
Thân tại khổ Hải Trung, 身在苦海中,
Lại thử Thiết La Hán. 赖此铁罗汉。
Khổ hải ký thoát ly, 苦海既脱离,
Xá phiệt đăng bỉ ngạn. 舍筏登彼岸。
Thân còn trong khổ hải, Phải nương cái Thân này.
Khổ Hải đà thoát ly, Bỏ bè sang Bỉ Ngạn.
Ngô Trần Chân Nhân nói:
Thử ngạn Ba Đào dĩ thoát ly, 此岸波涛已脱离,
Đáo Bỉ phương tri thọ khả tê. 到彼方知寿可跻。
Nhất đắc qui lai, nghi vĩnh đắc, 一得归来宜永得,
Độ hà phiệt tử Thượng Thiên Thê 渡河筏子上天梯。
Bờ nọ ba đào đã thoát ly
Bờ kia đã tới, thọ khả qui
Một khi đã được là được mãi,
Cưỡi bè ấy chính lên Trời vậy.
性命雙修萬神圭旨
第八節口訣
(脱离苦海图 )
THOÁT LY KHỔ HẢI ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Khổ Hải trung nghiệp thân tế mang,
苦海中业身济茫
Ái hà gian hắc mang mang dạng.
爱河间黑忙忙漾
Thùy thi na từ bi Tuệ Quang,
谁施那慈悲慧光
Tế trầm luân vô biên, vô lượng.
济沉沦无边无量
Hiển từ hàng chiếu linh huống hiện,
显慈航昭灵贶现
Tân cừ tất thoát chúng sinh chư nghiệp chướng.
津渠悉脱众生诸业障
Tâm dương dương, ý hoảng hoảng,
心飚飚意恍恍
Nhiếp nhập Như Lai tạng.
摄入如来藏
Trong biển khổ, thủy nghiệp mang mang,
Sông Ái Hà nước cũng đen đen.
Ai đem từ bi Tuệ Quang,
Cứu độ trầm luân vô biên, vô lượng.
Thuyền Từ chiếu ánh sáng thần linh khắp mọi nơi,
Bến đó cứu thoát chúng sinh chư nghiệp chướng.
Lòng khinh phiêu. Ý đãng đãng,
Bị hút vào Như Lai tạng.
移神內院端拱冥心
<端拱冥心圖>
元君端拱坐玄都,三叠胎仙舞八隅。變化純楊天地合,長生因此妙工夫。
遺照於外,宅神於內。冥心至趣,而 與吉會;無心於事,無事於心。超出萬幻,確然一靈。
未到彼岸不能無法,既至彼岸又焉用法?頂中常放白毫光,痴人猶待問菩薩。
(端 拱冥心圖)
ĐOAN CỦNG MINH TÂM ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Vị đáo bỉ ngạn bất năng vô pháp, 未到彼岸不能无法
Ký chí bỉ ngạn hựu yên dụng pháp. 既至彼岸又焉用法
Đỉnh trung thường phóng bạch hào quang, 顶中常放白毫光
Si nhân do đãi vấn Bồ Tát. 痴人犹待问菩萨
Chưa sang Bỉ Ngạn cần thủ thuật,
Tới Bỉ Ngạn rồi, pháp cần chi.
Trên đầu thường phóng bạch Hào Quang,
Người ngu còn đợi hỏi Bồ Tát.
Nguyên quân đoan củng tọa huyền đô, 元君端拱坐玄都
Tam điệp thai tiên vũ bát ngung. 三叠胎仙舞八隅
Biến Hóa thuần dương thiên địa hợp. 变化纯阳天地合
Trường sinh nhân thử diệu công phu. 长生因此妙工夫
Nguyên Thần ngay ngắn ngự Cốc Thần,
Chư tiên múa hát đứng chầu quanh.
Chân Thể thuần dương thiên địa hợp,
Trường sinh nhờ thế trọn công phu.
Di chiếu ư ngoại, 遗照於外
Trạch thần ư nội, 宅神於内
Minh Tâm chí thú, 冥心至趣
Nhi dữ cát hội. 而与吉会
Quên hình bên ngoài,
Thần cư Tâm nội,
Tiềm Tâm diệu cảnh,
Hợp với Cát tường.
Vô tâm ư sự, 无心於事
Vô sự ư tâm. 无事於心
Siêu xuất vạn ảo, 超出万幻
Xác nhiên nhất linh. 确然一灵
Tâm không vương sự,
Sự chẳng bận tâm,
Siêu xuất vọng tưởng,
Ấy thật Thần Linh.
始則有作有為者,採藥結丹以了命也;終則無作無為者,抱一冥心以了性也。
悟真篇云:
始則有作人爭覺,及至無為眾始知。但見無為為道妙,不知有作是根基。
證道歌云:
到無為處不無為,方知吾道 是希夷。
今之在象凡夫、出家外道,只知有這邊道理,不知有那邊境界,只知有此間之妙,不知有彼岸之玄;只知無事,而不知希有之事; 只知無為,而不知有為之法。此乃知其一不知其二。修其性不修其命者也。
故丹道未成之先,若不知下學之有為,而著於空焉,則謂之落空 漢。丹道已成之後,若不知上達之無為,而著於相焉,則謂之守屍鬼。
石杏林曰:
有物非無物,無為合有為。
陳泥丸曰:
我聞前代諸聖師,無為之中無不為。
DI THẦN NỘI VIỆN ĐOAN CỦNG MINH TÂM
移神内院端拱冥心
Mới đầu thì dùng hữu vi, hữu tác, thái dược kết đơn để Liễu Mệnh. Sau thì dùng Vô tác, Vô vi, bão nhất minh tâm để Liễu Tính.
Ngộ Chân Thiên nói:
Thủy vu hữu tác, nhân chẩm giác, 始于有作人怎觉,
Cập chí Vô Vi chúng thủy tri. 及至无为众始知。
Đãn kiến Vô Vi vi diệu Đạo, 但见无为为妙道,
Bất tri hữu tác thị căn ki. 不知有作是根基。
Thoạt đầu hữu tác người không biết,
Khi tới Vô Vi chúng mới hay.
Chỉ biết Vô Vi là diệu đạo,
Nào hay Hữu tác ấy căn ki.
Chứng Đạo Ca viết:
Đáo Vô Vi xứ, bất Vô Vi, 到无为处不无为,
Phương tri ngô đạo thị Hi Di. 方知吾道是希夷。
Đến được Vô Vi, chẳng Vô Vi,
Mới hiểu Đạo Ta thật Diệu Vi.
Nay kẻ phàm phu tu tại gia, hay kẻ ngoại đạo xuất gia, chỉ biết đạo lý phía này, mà không biết cảnh giới bên kia, chỉ biết cái hay phía này, mà không biết điều huyền diệu của bờ kia, chỉ biết Vô sự mà không biết những sự hi hữu. Chỉ biết Vô Vi mà không biết Hữu Vi, thế là chỉ biết một mà chẳng biết hai, chỉ biết Tu Tính mà không biết Tu Mệnh.
Cho nên, khi chưa thành Đạo, nếu không biết Hữu Vi Hạ Học, thì sẽ rơi vào không, thế là Người lạc vào Không. Khi Đạo đã thành, mà không lên tới được Vô Vi mà vẫn chấp Tướng, thì gọi là Thủ Thi Quỉ 守尸鬼.(quỷ giữ thây ma)
Thạch Hạnh Lâm nói:
Hữu vật phi vô vật. 有物非无物,
Vô vi hợp hữu vi. 无为合有为。
Hữu vật khôngVô Vật.
Vô Vi hợp Hữu Vi.
Trần Nê Hoàn nói:
Ngã văn tiền đại chư thánh sư. 我闻前代诸圣师,
Vô vi chi trung Vô Bất Vi. 无为之中无不为。
Ta nghe chư thánh các đời trước.
Sinh cả Vô Vi lẫn Hữu Vi.
陰長生曰:
無為真人居上界,空寂更無 塵可礙。有為功就又無為,無為也有功夫在。
所謂真人居上界者,即嬰兒出離苦海、移居天谷之時也。空寂冥心者,即呂祖向晦冥息真心合 道之法也。
施肩吾曰:達摩面壁九年,方超內院世尊。冥心六載,始脫樊籠。
夫冥心者,深居靜室,端拱默然,一 塵不染,萬慮俱忘,無思無為,任運自如;無視無聽,抱神以靜,無內無外,無將無應,離相離空,離迷離妄,體含虛寂,常覺常明,但冥此心,萬法歸一,則嬰兒 安居於清靈之境、棲止於不動之場。色不得而礙之,空不得而縛之,體若虛空,安然自在矣。
故達觀禪師云:
色不 縛兮空不礙,曇息冥心觀自在。大千萬有總歸無,世界壞時渠不壞。
譚長真云:
嬰兒移在上丹田,端拱冥心合自 然。修到三千功行滿,憑他作佛與升仙。
此處是純一不雜的工夫,豈能空纖毫情想,但起希仙作佛之心,便直生死竅中,不能得出。
所以關尹子云:若有厭生死心,超生死心,只名為妖,不名為道。
益清靜體中,空空蕩蕩,晃晃朗朗,一無所有,一切無住。
Âm Trường Sinh nói:
Vô vi Chân Nhân cư thượng giới, 无为真人居上界,
Không tịch cánh vô trần khả ngại, 空寂更无尘可碍。
Hữu vi công tựu hựu Vô Vi, 有为功就又无为,
Vô vi dã hữu công phu tại. 无为也有功夫在。
Vô Vi Chân Nhân sống trên Trời (Nê Hoàn),
Hư vô, không tịch, thoát trần ai,
Trước khi thành đạo đã Hữu Vi,
Thành đạo xong rồi mới Vô Vi.
Nói rằng Chân Nhân cư tại thượng, tức là nói Anh Nhi đã Xuất Ly Khổ Hải, lên được đỉnh đầu, không tịch minh tâm, tức như Lữ Tổ nói: Hướng Hối An Tức, Minh Tâm Hợp Đạo vậy.
Thi Kiên Ngô nói:
Đạt Ma diện bích cửu niên, 达摩面壁九年,
Phương siêu nội viện. 方超内院。
Thế Tôn minh tâm lục tải, 世尊冥心六载,
Thủy thoát phàn lung. 始脱樊笼。
Đạt Ma nhìn vách chín năm,
Anh Nhi mới lên được Nê Hoàn.
Phật Tổ tĩnh định sáu năm,
Mới thoát vòng kiềm tỏa vật chất.
Minh Tâm là: Thâm cư tĩnh thất, đoan củng mặc nhiên. Không bợn trần ai, không còn lo lắng, vi tư vô vi, nhiệm vận tự như, không thấy, không nghe, bão thần dĩ tĩnh, không trong không ngoài, ly tướng, ly không, ly mê, ly vọng, thể hàm hư tịch, thường giác, thường minh.
Chỉ cần minh tâm, vạn pháp sẽ qui nhất. Anh Nhi sẽ an cư trong cảnh Thanh Linh, đậu nơi Bất động chi trường. Sắc không là nó trở ngại, Không không trói buộc được nó. Nó trở thành Không Hư anh nhiên tự tại.
Cho nên Đạt Quan Đại Sư nói:
Sắc bất phược hề, không bất ngại, 色不缚兮空不碍,
Yến tức minh tâm quan tự tại. 宴息冥心观自在。
Đại thiên, vạn hựu tông quy vô, 大千万有总归无,
Thế giới hoại thời, cừ bất hoại. 世界坏时渠不坏。
Sắc không làm vướng, Không không trở ngại.
Lặng lẽ tâm yên quan tự tại.
Vạn Hữu trăm nghìn, điều qui Vô,
Thế giới tan đi, nó chẳng tan.
Đàm Tường Chân Nhân nói:
Anh Nhi di tại Thượng Đan Điền, 婴儿移在上丹田,
Đoan củng minh tâm hợp tự nhiên, 端拱冥心合自然。
Tu đáo tam thiên công hành mãn, 修到三千功行满,
Bằng tha tác Phật dữ thăng tiên. 凭他作佛与升仙。
Anh Nhi lên ở Thượng Đan Điền,
Sẽ ngồi ngay ngắn hợp tự nhiên,
Tu tới 3.000 công hành mãn,
Tùy nghi làm Phật hoặc làm Tiên.
Khi công phu đã đạt đến chỗ Thuần Nhất Bất Nhiệm, sẽ không được vương chút ti hào tạp niệm. Ví như chỉ muốn thành Tiên, thành Phật, thì sẽ sa vào vòng sinh tử, không ra khỏi nổi.
Quan Doãn Tử nói:
Nhược hữu yếm sinh tử tâm, 若有厌生死心,
Siêu sinh tử tâm, 超生死心,
Chỉ danh vi yêu, 止名为妖,
Bất danh vi Đạo 不名为道。
Nếu sinh Tâm chán sinh tử,
Muốn thoát sinh tử,
Thế gọi là Yêu (Yêu ma),
Không gọi là đạo.
Vốn trong thể Thanh Tịnh, thời Không Không, Đãng Đãng, rực rỡ, chói chang, không có cái gì, không trụ vào đâu.
故心要訣云:
冥心本乎無住無,住心體圓融不測。
如金剛經云:不應住色生心,不應住聲、香、味、觸法,生心 應生無所住心。
金剛齊菩薩云:我不依有住而住,不依無住而住,如是而住。
憎肇云:聖人之心,住無所住,其住 坐忘。
論云:不依一法,而心常住。
了心經云:心無所住,住無所心,了無執著,無住轉真。
淨名經云:一切法以無住為本,安住無為,名之為住,住無方所,故名無住。無住心者,是為真心。
禪源集云:言心者是心之名,言知者 是心之體。
菏澤云:心體能知,知即是心,心本空寂,至虛至靈。由空寂虛靈而知者,先知也。由空寂虛靈而覺者,先覺也。不慮而覺者, 謂之正覺。不思而知者,謂之真知。
故祖師云:空寂體上,自有本智能知,即此空寂之知,便是達摩所傳清淨心也。心常寂是自性體,心常 知是自性用。
所以六祖云:一切萬法,不離自性,自性自知,自性自見,自性自悟,自悟自度。悟性還易,了心甚難。故了心也者,了此心 也。了心,則心無其心矣。無心之心,是謂真心。真心是性,真性是心。
太上云:了心真性,了性真心,空無空處,無處了真。此謂真空不 空,空無所空,即是了見本心也。
Cho nên sách Tâm Yếu Quyết nói:
Minh Tâm bản hồ Vô Trụ, 冥心本乎无住
Vô Trụ Tâm Thể, 无住心体
Viên Dung bất trắc. 圆融不测。
Minh Tâm vốn không dựa vào đâu,
Tâm không dựa vào đâu,
Sẽ viên dung khôn lường.
Kinh Kim Cương cũng nói: Bất ưng trụ sắc sinh tâm, Bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc pháp sinh tâm. Ưng Sinh Vô Sở Trụ tâm. 不应住色生心,不应住声、香、味、触法生, 心应生无所住心。(Không nên trụ vào sắc mà sinh tâm. Không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm. Phải sinh Tâm không dựa vào đâu)
Kim Cang Tề Bồ Tát nói:
Ngã bất y hữu trụ nhi trụ, 我不依有住而住,
Bất y vô trụ nhi trụ, 不依无住而住,
Như thị nhi trụ 如是而住。
Ta không tìm nơi có chỗ dựa nương mà dựa,
Không tìm nơi không chỗ dựa nương mà dựa.
Cứ thế mà Trụ.
Tăng Triệu nói:
Thánh Nhân chi tâm trụ, 圣人之心住
Vô sở trụ kỳ trụ. 无所住其住
Tâm của Thánh Nhân Trụ,
Là không trụ vào đâu.
Sinh Vong Luận viết: Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ. 不依一法,而心常住。(Không dựa vào pháp nào, nên Tâm mới thường trụ)
Liêu Tâm kinh nói:
Tâm vô sở trụ, 心无所住,
Trụ vô sở tâm, 住无所心,
Liêu vô chấp trước, 了无执着,
Vô trụ chuyển Chân. 无住转真。
Nhất thiết pháp dĩ vô trụ vi bản.
Dựa chẳng có Tâm.
Không còn chấp trước,
Vô trụ chuyển thành Chân.
Tịnh Danh Kinh nói:
Nhất thiết pháp dĩ vô trụ vi bản, 一切法以无住为本,
An trụ Vô Vi, 安住无为,
Danh chi vi trụ, 名之为住,
Trụ vô phương sở, 住无方所,
Cố danh vô trụ, 故名无住。
Vô trụ tâm giả, 无住心者,
Thị vi Chân Tâm. 是为真心。
Nhất thiết pháp lấy Vô Trụ làm gốc,
An trụ trong Vô Vi.
Thế gọi là Trụ,
Chẳng dựa vào đâu,
Nên gọi là Vô Trụ.
Tâm mà Vô Trụ,
Thì gọi Chân Tâm
Thiền Nguyên Tập viết:
Ngôn Tâm giả, Thị Tâm chi danh, 言心者是心之名,
Ngôn Tri giả, Thị tâm chi thể. 言知者是心之体。
Lời là tên của Tâm.
Biết là bản thể của Tâm.
Hà Trạch nói:
Tâm thể năng tri, 心体能知,
Tri tức thị Tâm. 知即是心,
Tâm không bản tịch, 心空本寂,
Chí Hư chí Linh, 至虚至灵。
Do không tịch hư linh nhi tri giả, 由空寂虚灵而知者,
Tiên tri dã, 先知也
Do không tịch hư linh nhi giác giả, 由空寂虚灵而觉者,
Tiên giác dã, 先觉也。
Bất lự nhi giác giả, 不虑而觉者,
Vị chi chính giác, 谓之正觉。
Bất tư nhi tri giả, 不思而知者,
Vị chi Chân Tri. 谓之真知。
Tâm thể có thể biết,
Biết chính là Tâm.
Tâm không bản tịch,
Chí Hư, chí Linh,
Từ không tịch, Chí Linh mà biết,
Thì là Tiên Tri
Từ không tịch, Chí Linh mà Giác,
Thì là Tiên Giác.
Không suy mà Giác,
Thì là Chính Giác.
Không nghĩ mà biết,
Gọi là Chân Tri.
Cho nên tổ sư nói:
Không tịch thể thượng,
空寂体上,
Tự hữu bản trí năng tri.
自有本智能知,
Tiện thị Đạt Ma sở truyền Thanh Tịnh tâm dã.
便是达摩所传清净心也。
Tâm thường tịch thị danh tính thể,
心常寂是名性体,
Tâm thường tri thị danh tính dụng.
心常知是名性用。
Không tịch thể thượng,
Đã sẵn có Tri năng tri.
Đó là Thanh Tịnh tâm mà Đạt Ma truyền chúng ta.
Tâm thường tịch, gọi là tính thể,
Tâm thường tri, gọi là tính dụng.
Cho nên Lục Tổ nói:
Nhất thiết vạn pháp, bất ly tự tính, 一切万法不离自性
Tự Tính tự tri, tự Tính tự kiến, 自性自知自性自见
Tự Tính tự ngộ, tự Tính tự độ, 自性自悟自性自度
Ngộ Tính hoàn dị, liễu Tâm thậm nan, 悟性还易了心甚难
Cố Liễu Tâm dã giả, liễu thử Tâm dã, 故了心也者了此心也
Liễu Tâm tắc tâm vô kỳ tâm hĩ. 了心则心无其心矣
Vô tâm chi tâm, thị vị Chân Tâm. 无心之心是谓真心
Chân tâm thị Tính, Chân Tính thị Tâm. 真心是性真性是心
Tất cả Vạn Pháp, không lìa Tự Tính,
Tự Tính tự tri, Tự Tính tự thấy,
Tự Tính tự ngộ, Tự Tính tự độ,
Ngộ Tính còn dễ, liễu tâm thật khó,
Liễu Tâm là liễu cái Tâm này,
Liễu Tâm là Tâm không còn Tâm vậy.
Tâm mà Vô Tâm, thì là Chân Tâm,
Chân Tâm là Tính,
Chân Tính là Tâm.
龐居士云:
十方同聚會,個個學無為。此是選佛場,心空及第歸。
與夫空覺極圓,空所空滅,即是了見本性也。
華嚴經云:
法性本空寂,無取亦無見。性空即是佛,不可得思量。
原夫性體本空,心體本定。無空無無空即名畢竟空,無定無無定即名其如定。雖修空,不以空為證,不作空想,即是真空也。雖得定,不以 定為證,不作定想,即名真定也。空定衡極,通達無礙,一旦天機透露,慧性靈通,乍似蓮花開,恍如睡夢覺,忽然現出天然境界,充滿於上天下地而無盡藏也。此 是心性常明,炯炯不昧,晃朗宇宙,照徹古今,變化無方,神妙莫測。雖具肉眼而開慧眼之光明,非易凡心便同佛心之知見,乃是見性見到徹處,修行修到密處。故 得—性圓明六通頓足。
何謂六通?按玉陽大師曰:坐到靜時,陡然心光發現,內則洞見肺腑,外則自見鬚眉,智神踴躍,日賦萬言,說妙談 玄,無窮無極,此是心境通也。不出廬舍,預知未來事情。身處室中,又能隔牆見物。此是神境通也。正坐之間,剎時迷悶,混沌不分,少頃心竅豁然大開,地理山 河,猶如掌上觀紋,此是天眼通也。能聞十方之音如耳邊音,能憶生前之事如眼前事,此是天耳通也。或晝或夜,入於大定,上是天堂,下見地獄,觀透無數劫來宿 命所更,此是宿信通也。神通變化,出如自如,洞鑒十方眾生,知他心內隱微之事。他雖意念未起,了了先知,他雖意念未萌,了了先覺,此是他心通也。
Thái Thượng nói:
Liễu Tâm chân Tính, 了心真性,
Liễu Tính Chân Tâm, 了性真心,
Không vô không hư, 空无空虚,
Vô xứ Liễu Chân. 无处了真。
Thị vị Chân không bất không, 此谓真空不空,
Không vô sở Không, 空无所空,
Tức thị liễu kiến Bản Tâm dã. 即是了见本心也。
Liễu tâm là thấy Chân Tính,
Liễu Tính là thấy Chân Tâm.
Không không phải Không Hư,
Vô xứ là Liễu Chân.
Nên nói chân không không phải là không
Không không là Không,
Là thấy Bản Tâm vậy.
Bàng Cư Sĩ nói:
Thập phương đồng tụ hội, 十方同聚会,
Cá cá học Vô Vi, 个个学无为。
Thử thị tuyển Phật tràng, 此是选佛场,
Tâm Không cập đệ qui. 心空及第归。
Muôn nơi tụ họp về,
Ai ai cũng học Vô Vi,
Đây là trường thi tuyển Phật,
Tâm không đỗ đầu về.
Khi đã giác ngộ được chữ Không hoàn toàn, thì sẽ thấy được Bản Tính.
Hoa Nghiêm Kinh viết:
Pháp tính bản không tịch, 法性本空寂,
Vô thủ diệc vô kiến, 无取亦无见。
Tính Không tức thị Phật, 性空即是佛,
Bất khả đắc tư lường. 不可得思量。
Pháp tính vốn không tịch,
Bắt thấy đều không được.
Tính Không vốn là Phật,
Suy nghĩ không sao cùng.
Nguyên là Tính Thể bản Không, Tâm Thể bản Định. Vô không, vô vô không là tất cánh không. Vô định, Vô vô định gọi là Chân Như định. Tuy tu không, nhưng không phải để chứng không. Tuy đắc Định, nhưng không phải để chứng Định. Không có Định tưởng, thì là Chân Định. Không Định triệt cực, thì sẽ thông đạt Vô Ngại. Một khi Thiên Cơ đã lộ xuất, Tuệ Tính sẽ thông Linh, y như bông sen hồng nở, y như bừng tỉnh mộng. Bỗng chốc cảnh giới Kiền Nguyên hiện ra. Sung mãn đất trời, và thấy Vô Tận Tạng.
Như vậy Tâm tính luôn sáng ngời, rực rỡ không tối. Sáng soi vũ trụ, soi thấy cổ kim. Biến hóa vô phương, thần diệu mạc trắc. Lúc ấy Tuệ Nhãn sẽ khai, phàm tâm với Phật Tâm tri kiến giống nhau, thế là Kiến Tính tới triệt để, tu hành tới chỗ rốt ráo. Cho nên Nhất Tính sẽ Viên Minh, và lục thông sẽ đầy đủ.
Lục Thông là gì ?
Ngọc Dương Đại Sư nói:
“Tọa Thiền đến lúc cực tĩnh, thì Tâm quang sẽ phát hiện. Trong sẽ thấy phế phủ, ngoài sẽ thấy lông mày. Thần Trí sẽ dũng mãnh, ngày trao vạn lời, thuyết diệu đàm huyền, vô cùng vô cực. Thế là Cảnh Thông – 境通.”
Chẳng ra khỏi lều tranh, mà biết chuyện tương lai. Mình ngồi trong nhà, cách tường nhìn thấy vật, thế là Thần Cảnh Thông – 神境通.
Đang lúc ngồi ngay nhắn, tự nhiên mê bế, không biết gì. Sau đó Tâm Địa khuếch nhiên đại khai, địa lý sơn hà, thấy như nét chỉ tay trong bàn tay. Thế là Thiên Nhãn Thông – 天眼通.
Nghe tiếng thập phương, như ở bên tai. Nhớ việc kiếp trước như việc nhãn tiền, thế là Thiên Nhĩ Thông – 天耳通.
Hoặc ngày hoặc đêm, nhập vào Đại Định, trên thấy Thiên Đường, dưới thấy Địa Ngục, nhìn thấy vô số kiếp trước, túc mạng hiển bày, thế là Túc Tín Thông – 宿信通.
Thần thông biến hóa, xuất nhập tự tại, nhìn thấy tâm mọi chúng sinh, biết chúng suy nghĩ gì. Tuy chúng chưa phát hiện, mà đã biết rành, tuy ý nhiệm chúng chưa manh nha, mà đã biết trước hết, thế là Tha Tâm Thông – 他心通.
子思曰:心之精神之謂聖。故心定而能慧,心寂而能感,心靜而能知,心空而能靈,心誠而能明,心虛而能覺。
四祖道信曰:一切神通作 用,皆是自心感現。
瓔珞經曰:神名天心,通名慧性。天然之慧徹照無得,故名神通。神通具足,愈加默耀,韜光慧而不用,若露圭角,恐 染邪魔。
古云:道高一尺,魔高一丈。正定之時,或聞種種善惡之聲,或現種種違順之境,總是魔障,不可著他。又須反觀一身,四大皆是 假,合如夢幻,全體非身。但在此心,魔自消滅。
古語云:見怪不怪怪自亡,見魔非魔魔自滅。或腦中有霹靂之聲,或眼內有金星燦耀,或 頂下紅霞了繞,或眉間湧出圓光,此皆幻景,心莫受他,但行工夫,休證效驗。
Tử Tư nói:
Tâm chi tinh thần chi vị Thánh, 心之精神之谓圣。
Cố Tâm Định nhi năng tuệ, 故心定而能慧
Tâm tịch nhi năng cảm, 心寂而能感,
Tâm tĩnhh nhi năng tri, 心静而能知,
Tâm không nhi năng linh, 心空而能灵,
Tâm thành nhi năng minh, 心诚而能明,
Tâm hư nhi năng giác. 心虚而能觉。
Tinh thần của tâm thì gọi là Thánh,
Cho nên Tâm định thì phát huệ,
Tâm yên thì năng cảm,
Tâm tĩnh thì sẽ biết,
Tâm không sẽ linh giác,
Tâm thành sẽ sáng suốt,
Tâm hư sẽ giác ngộ.
Tứ Tổ Đạo Tín nói:
Nhất thiết thần thông tác dụng, 一切神通作用,
Giai thị tự tâm cảm hiện. 皆是自心感现。
Thấy có Thần Thông tác dụng,
Đều do tự tâm cảm hiện.
Anh Lạc Kinh nói:
Thần danh Thiên Tâm, 神名天心,
Thông danh Tuệ Tính, 通名慧性。
Thiên Nhiên chi Tuệ, 天然之慧
Triệt chiếu vô ngại, 彻照无碍,
Cố danh Thần Thông. 故名神通。
Thần Thông cụ túc, 神通具足,
Dũ gia mặc diệu thao quang, 愈加默耀韬光
Tuệ nhi bất dụng, 慧而不用,
Nhược lộ khuê giác 若露圭角,
Khủng nhiễm tà ma 恐染邪魔。.
Thần tên Thiên Tâm,
Thông tên Tuệ Tính,
Thiên Nhiên Tuệ Giác,
Chiếu soi vô ngại.
Nên gọi Thần Thông,
Có đủ Thần Thông,
Không lộ Phong mang,
Không khoe Tuệ Giác,
Nếu lộ Khuê Giác,
E bị tà ma.
Người xưa nói:
Đạo cao nhất xích, 道高一尺
Ma cao nhất trượng. 魔高一丈
Chính định chi thời 正定之时
Hoặc văn chủng chủng thiện ác chi thanh, 或闻种种善恶之声
Hoặc hiện chủng chủng vi thuận chi cảnh. 或现种种违顺之境
Tổng thị ma chướng, 总是魔障
Bất khả trước tha, 不可着他
Hựu tu Phản Quan, 又须反观
Nhất thân tứ đại, 一身四大
Câu thị giả hợp. 俱是假合
Như mộng như huyễn, 如梦如幻
Toàn thể phi chân, 全体非真
Đãn chính thử Tâm, 但正此心
Ma tự tiêu tự diệt 魔自消自灭
Đạo cao một thước,
Ma cao một trượng.
Khi ngồi chính định,
Có thể nghe thấy nhiều loại thanh âm thiện ác,
Hay thấy hiện ra vô số cảnh thuận nghịch.
Tất cả đều là ma chướng.
Không thể tin được.
Phải biết Phản Quan,
Thấy thân Tứ Đại,
Đều là giả hợp,
Như mộng, như huyễn,
Toàn thể là sai.
Cứ chính Tâm lại,
Ma sẽ tự tiêu tự diệt.
Cổ Thư nói:
Kiến quái bất quái quái tự vong, 见怪不怪怪自亡,
Kiến ma phi ma ma tự diệt. 见魔非魔魔自灭。
Kiến quái không cho là quái, quái sẽ tự vong,
Thấy ma không cho là ma, ma sẽ tự diệt.
Hoặc nghe tiếng sấm sét trong đầu, hoặc thấy trong mắt có Kim Tinh sáng láng, hoặc trên đầu có ráng hồng cuộn quanh, hoặc dưới chân mày vụt xuất hào quang, tất cả đều là ảo cảnh, không nên bận tâm tới chúng. Chỉ việc hành công phu, đừng mong chứng nghiệm thấy gì.
所以古仙云:項下有光猶是幻,雲生足下未為仙。又於靜中 忽見樓台珠翠、女樂笙簧、異草奇花、觸目如畫,彼人不悟,將謂是到天宮,不知自身內院,認作真境,因循而不出。入此際須用虛空觀而擴充之,則我天谷之神升 入太虛,合而為一也。
其虛空觀者,應觀自心。心本不生,自性成就,本來空寂,光明遍照,猶如虛空瑩徹,清淨廓然,周遍圓明,皎潔成 大月輪,量等虛空,浩然無際。復應觀察自身,則心之虛空而通於身之虛空,身之虛空而通於天地之虛空,天地之虛空而通於太極之虛空,虛虛相通,共成一片,豈 不與太虛混之而為一耶?
始而虛其心也,既而虛其身,又既而虛天地,虛而無虛,無虛而虛,虛也不知,無虛也不知,則我陽神沖虛出入而 無障礙矣。然後方可與天地合德,太虛同體,而為混虛氏之人歟。
此處只言到太虛之階梯,未曾造到太虛之實際。謂之煉神則可,謂之出神 則未也。
欲要高奔帝境,當煉演谷神,常以靈和寂照,為心虛空不住,為觀抱本還原歸太極,由此進進不已,及其無上可上,玄之又玄,無 象可像,不然而然,則一靈之妙有遍法界,而圓通貫雲漢,以高躋與穹冥而俱合,此天谷元神煉到至極至妙之處也。
故章思廉曰:得太極全 體,見本來面目,先天一點真,後天卻是屋。
瑩蟾子曰:煉陽神了出陽神,自色界超無色界。既然證成妙道,須要混俗和光。雖處凡塵,而 不可流俗;雖居濁世,而莫測行藏。日唯銷隱,匿積陰功,開誠心,施法乳,汲引後學,普度眾生,上報佛恩,下資群品。
Cho nên cổ tiên nói:
Đỉnh thượng hữu quang do thị ảo, 项上有光犹是幻,
Vân sinh túc hạ vị vi Tiên, 云生足下未为仙。
Đỉnh đầu phát sáng còn là ảo,
Mây sinh dưới gót chửa là Tiên.
Lại trong khi Thiền Định bỗng thấy Lâu Đài châu túy, nữ nhạc sinh huỳnh, kỳ hoa dị thảo, như là tranh vẽ. Kẻ kia không hiểu, tưởng đã lên trời, biết đâu rằng cái đó là do chính nơi Đan Điền mình, cho ảo cảnh là chân cảnh. Cứ thế đi lên mà không biết đường ra. Lúc này nên dùng hư không mà khuếch sung thêm, thì Thần của ta nơi Thiên Cốc có lẽ thăng nhập Thái Hư, hợp nhất với Thái Hư.
Quán xét hư không là quán xét tự tâm. Tâm vốn chẳng sinh ảo giác, mà ảo giác là do tự tính sinh. Bản lai vốn không tịch, nên mới sáng soi muôn nơi. Y như hư không, quýnh triệt hư tĩnh, biên chiếu khắp nơi, viên minh hạo khiết, như trăng tròn lớn, to như chân không.
Sáng chói không bờ. Trở về quan sát tự thân, thì tâm và thân đều hư không như nhau. Thân hư không thông với hư không trời đất, hư không của trời đất thông với hư không của Thái Hư. Hư không tương thông, thành một miếng. Thế chẳng phải là hợp nhất với Thái Hư sao?
Trước hết là Hư kỳ Tâm, sau đó là Hư kỳ Thân, rồi Hư cả trời đất. Hư chẳng phải là Hư, Hư mà là Vô Hư, Hư mà không biết, Vô Hư mà cũng không biết, nên dương thần của ta xung hư mà ra vào không bị chướng ngại vậy. Sau đó có thể cùng Thiên Địa hợp kỳ đức, đồng thể với Thái Hư. Thế là người đã Hỗn Đồng (Đồng Hóa) với Thái Hư vậy. Thế là mới nói tới giai đoạn lên cùng Thái Hư, chứ chưa vào được Thực Tế của Thái Hư, mới chỉ là luyện Thần chứ chưa phải xuất thần.
Cứ thế tiến lên mãi mãi, cho tới chỗ Vô Tướng khả thương, huyền chi hựu huyền, vô tượng khả tương, bất nhiên nhi nhiên. Thế là đạt tới chỗ Linh Chi Diệu hữu, quán thông khắp Pháp giới, vượt lên trên cõi Vân Hán, hòa hợp với Khung Hạo. Thế là Thiên Cốc Nguyên Thần của ta luyện được tới chỗ chí cực, chí diệu.
Cho nên Chương Tư Khiêm nói:
Đắc Thái Cực toàn thể, 得太极全体,
Kiến Bản Lai diện mục, 见本来面目,
Tiên Thiên nhất điểm chân, 先天一点真,
Hâu thiên tức thị ốc 后天却是屋。
Được Thái Cực toàn thể,
Thấy Bản Lai diện Mục,
Tiên Thiên nhất điểm chân,
Hậu thiên là Nhà vậy.
Huỳnh Thiềm Tử nói:
“Luyện Dương Thần Liễu xuất Dương Thần, từ Sắc Giới siêu lên Vô Sắc Giới. Thế là Chứng Thành Diệu Đạo. Cần phải hòa quang vào với Hỗn Độn. Tuy ở Hồng Trần, nhưng không chung ô nhiễm với thế nhân. Tuy sống trong thế giới ô trọc, nhưng hành tàng mạc trắc. Tuy mỗi ngày đều muốn mai danh ẩn tích, ám trung tích đức, khai thành tâm, giảng Phật pháp như cho người uống sữa, hướng dẫn kẻ hậu học, phổ độ chúng sinh, trên báo Phật ân, dưới giúp mọi người”
Đạo cao một thước,
Ma cao một trượng.
Khi ngồi chính định,
Có thể nghe thấy nhiều loại thanh âm thiện ác,
Hay thấy hiện ra vô số cảnh thuận nghịch.
Tất cả đều là ma chướng.
Không thể tin được.
Phải biết Phản Quan,
Thấy thân Tứ Đại,
Đều là giả hợp,
Như mộng, như huyễn,
Toàn thể là sai.
Cứ chính Tâm lại,
Ma sẽ tự tiêu tự diệt.
Cổ Thư nói:
Kiến quái bất quái quái tự vong, 见怪不怪怪自亡,
Kiến ma phi ma ma tự diệt. 见魔非魔魔自灭。
Kiến quái không cho là quái, quái sẽ tự vong,
Thấy ma không cho là ma, ma sẽ tự diệt.
Hoặc nghe tiếng sấm sét trong đầu, hoặc thấy trong mắt có Kim Tinh sáng láng, hoặc trên đầu có ráng hồng cuộn quanh, hoặc dưới chân mày vụt xuất hào quang, tất cả đều là ảo cảnh, không nên bận tâm tới chúng. Chỉ việc hành công phu, đừng mong chứng nghiệm thấy gì.
Trích dẫn
Đỉnh đầu phát sáng còn là ảo,
Mây sinh dưới gót chửa là Tiên.
Lại trong khi Thiền Định bỗng thấy Lâu Đài châu túy, nữ nhạc sinh huỳnh, kỳ hoa dị thảo, như là tranh vẽ. Kẻ kia không hiểu, tưởng đã lên trời, biết đâu rằng cái đó là do chính nơi Đan Điền mình, cho ảo cảnh là chân cảnh. Cứ thế đi lên mà không biết đường ra. Lúc này nên dùng hư không mà khuếch sung thêm, thì Thần của ta nơi Thiên Cốc có lẽ thăng nhập Thái Hư, hợp nhất với Thái Hư.
Ít ai được hướng dẫn về những điều này, mà ngược lại thường rất tò mò..
Cho SCC hỏi Bác 1 vài điều. Có những lúc mình như ngồi chìm trong nước, hoặc lạc vào giữa 1 rừng sao… mình phải làm sao Bác ạ
chanhnguyen:
Đó là những bệnh của thân, do “tứ đại bất hòa”.
Lạc trong nước, do thủy đại quá mạnh.
Lạc giữa rừng sao, do phong đại dẫn dắt.
Tất cả đều là huyển cảnh, đừng quan tâm tốt xấu, điều chỉnh thân thể bình thường trở lại là được.
Có thể coi đó là vọng, và nên “biết vọng không theo” là đủ.
實無眾生得滅度者。故世尊成道之旦,發普度眾生之悲,乃曰:先度眾生,然後作佛。
肇法師曰:性本無生,故亦無滅,此 實千聖同然之真心。眾生度盡,方入涅槃,此亦千聖同歸之實際。
王方平曰:
鸞鶴來時乘紫霧,玉皇有敕登仙路。 九玄七祖盡升天,度了群生方自度。
噫!試觀古佛高仙何等運心之普,如今人有一法一訣者,秘密珍藏,猶恐漏洩,較之古人,可不愧死。
予之無念也久矣,但未得自度,先要度人,一念存心,不能自釋,今之此作,盡洩天機,唯末後一著,尚未發明。
今再言 之,道書曰:陰神能見人,陽神使人見。蓋獨修一物者,所出乃陰神也。陰神則有影無形,世所謂鬼仙是也。若雙修性命者,所出乃陽神也。陽神則有影有形,世所 謂天仙是也。故曰:道本無相,仙貴有形。然而出神太早,丹經之所深訶既得,其母當返其始。常留神於天谷,復歸如嬰兒,不識不知,唯深唯寂,陽光無漏,則愈 擴愈大,彌遠彌光,自然變化生神。生之再生,則生生而無盡;化之又化,則化化而無窮,又生孫百千萬億。
張紫陽曰:
一載生個兒,個個會騎鶴。
陳泥丸曰:
一載胎生一個兒,子又孫兮孫又枝。
白玉蟾曰:
一體遍多猶朗月,而影分千水多身。
入一著明鏡,而光寓萬形。
仙家謂之分身,佛氏謂之 化身。如世尊之不離菩提樹下,而遍升天宮說法。又如善財之不出莎羅林,歷二百十城而遍參諸友。
東華帝君曰:
法身剛大通天地,真性圓明貫古今。若未頂門開具眼,休教散影與分形。
Kinh Kim Cương nói:
“Nay có các hạng chúng sinh như noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, như hữu sắc, như vô sắc, như hữu tưởng, như vô tưởng, như phi hữu tưởng, như phi vô tưởng, nay ta sẽ giúp cho họ được giải thoát tất cả, giúp họ nhập Vô Dư Niết Bàn. Như vậy sẽ diệt độ Vô số Lượng, Vô Biên chúng sinh. Thật có nhiều chúng sinh đã được diệt độ.”
Cho nên sáng ngày đức Thế Tôn thành đạo, Ngài thương chúng sinh và nói: Tiên độ chúng sinh, nhiên hậu tác Phật. 先度众生,然后作佛。(Trước độ chúng sinh, sau mới thành Phật).
Triệu Pháp Sư nói:
Tính bản vô sinh, Cố diệc vô diệt, Thử thật thiên thánh đồng nhiên chi Chân Tâm. Chúng sinh độ tận, Phương nhập Niết bàn. Thử diệc Thiên Thánh đồng qui chi thực tế. 性本无生,故亦无灭,此实千圣同然之真心。众生度尽,方入涅槃,此亦千圣同归之实际。
Tính vốn Vô sinh, Nên cũng Vô Diệt.
Đó là thiên thánh đồng nhiên nhi Chân Tâm.
Chúng sinh độ tận, Mới Nhập Niết Bàn.
Đó là chỗ Thiên thánh thực tế đồng qui vậy.
Vương Phương Bình nói:
Loan hạc lai thời, thừa tử vụ, 鸾鹤来时乘紫雾,
Ngọc Hoàng hữu sắc đăng tiên lộ. 玉皇有敕登仙路。
Cửu huyền thất tổ tận thăng thiên, 九玄七祖尽升天,
Độ liễu quần sinh phương tự độ. 度了群生方自度。
Loan Hạc tới rồi, nương mây tía,
Ngọc Hoàng có chỉ gọi ta lên Tiên Lộ.
Cửu Huyền Thất Tổ lên tiên cả rồi.
Ta độ chúng sinh trước rồi tự độ.
Ôi! Xưa cổ Phật Cao Tiên có một tấm lòng quảng đại, vô tư! Còn như nay có một hạng người chỉ biết một phép, một khẩu quyết, mà muốn giữ hết sức bí mật. Họ sánh với cổ nhân thì thật xấu hổ chết.
Ta đã Vô Niệm từ lâu. Chỉ vì trước muốn độ người, sau mới độ mình. Tâm còn một niệm, chưa thể nói ra. Nay nếu ta làm sẽ tận tiết lộ Thiên cơ. Tuy còn một điều chưa thể nói ra, nay xin nói nốt.
Đạo thư nói:
Âm thần thấy được người, Dương thần người nhìn thấy. Nếu tu một vật, thì Âm Thần sẽ hiện ra, Âm thần sẽ hữu ảnh, vô hình, đó là Quỷ Tiên vậy. Còn nếu tu Tính Mệnh cả hai bên, thì Dương thần sẽ hiện ra. Dương thần thì Hữu ảnh, hữu hình, đó là Thiên Tiên vậy. Cho nên nói: “Đạo bản vô tướng, tiên quí hữu hình.” Nhưng nếu xuất thần quá sớm, thì Đạo Kinh thương quở trách. Khi đã có Mẹ, thời phải trở về đầu. Thường lưu thần nơi Thiên Cốc, phục qui như Anh Nhi, bất thức bất tri, duy thâm, duy tịch. Dương quang vô lậu, nên càng rộng, càng lớn, càng xa càng sáng. Tự nhiên biến hóa sẽ sinh thần, sinh rồi lại sinh, sinh sinh vô tận, hóa rồi lại hóa, hóa hóa vô cùng. Con lại sinh cháu, bách thiên, vạn ức.
Trương Tử Dương viết:
Nhất tải sinh cá nhi, 一载生个儿,
Cá cá hội kỵ hạc. 个个会骑鹤。
Một đời sinh vài trẻ,
Ai ai cũng cưỡi hạc thành tiên.
Trần Nê Hoàn nói:
Nhất tải thai sinh nhất cá nhi, 一载胎生一个儿,
Tử hựu tôn hề, tôn hựu chi. 子又孙兮孙又枝。
Một đời thai sinh được một con,
Con rồi lại cháu, cháu lại chi.
Bạch Ngọc Thiềm nói:
Nhất thể biến da, 一体遍多,
Do lãng nguyệt nhi ảnh phân thiên thủy. 犹朗月而影分千水
Đa thân nhập nhất, 多身 入一
Nhược minh kính nhi quang ngụ vạn hình. 若明镜而光寓万形
Một thân hóa nhiều,
Như trăng sáng phân thành nghìn ảnh.
Nhiều thân nhập một,
Như gương sáng có thể soi vạn hình.
Tiên gia gọi là Phân Thân, Phật gia gọi là Hóa Thân, như đức Thế Tôn không lìa cây Bồ Đề mà vẫn lên Thiên Cung thuyết pháp, lại như Thiện Tài là rừng Sa La mà vẫn gặp các bạn ở 110 thành khác.
Đông Hoa Đế Quân nói:
Pháp thân cương đại thông thiên địa. 法身刚大通天地,
Chân Tính viên minh quán cổ kim. 真性圆明贯古今。
Nhược vị đỉnh môn khai kỳ nhãn, 若未顶门开其眼,
Hưu giáo tán ảnh dữ phân hình. 休教散影与分形。
Pháp thân cương đại thông Thiên Địa,
Chân Tính viên minh quán cổ kim.
Nếu trên đầu chưa khai được mắt thứ ba,
Thì đừng truyền cho phép Phân thân, tán ảnh.
分形散影非不妙也,奈何還滯幻軀中,尚未超脫,欲千變萬化,豈不反傷於本體耶? 直到九載功完純,亦不宜忽然跳出五行之外,返於無極之初。證實相妙之,更妙得真功全之,又全成金剛不壞之體,作萬年不死之人。自覺覺他紹隆佛種三千功滿, 而白鶴來迎,八百行圓,而丹書宣詔飛昇金閣,返佩帝鄉。
即鐘離翁云:
九載功成人事盡,縱橫天地不由親。
蕭紫虛云:
功成須是出神經,內院繁華無累身。會取古仙超脫法,飄然跨鶴觀三清。
諸仙奔殼,各有不同。有從 寶塔出者,有從紅樓出者,有看月而出者,有對鏡而出者,有沖頂門而出者。
所以玄奧集云:
塞斷黃泉路,衝開紫 府門。如何海蟾子,化鶴出泥丸。
中和集云:
成就頂門開一竅,個中別是一乾坤。
蓋頂門 一竅豈易開哉。先發三昧火透之,不通。次聚太陽火沖之,略啟。二火騰騰,攻擊不已。剎時,紅光滿界,紫焰彌天,霹靂一聲,頂門開也。
故呂純陽曰:
九年火候直經過,忽爾天門頂中破。真人出現大神通,從此天仙可相賀。
Phân thân tán ảnh không phải là kỳ diệu, vì vẫn còn lệ thuộc vào ảo thân, chưa phải là giải thoát. Nếu muốn thiên biến vạn hóa, há không sợ hại Bản Thể mình sao?
Khi đã được chín năm công phu toàn vẹn, hết sức là thuần túy rồi, sẽ thoát ra ngoài vòng cương tỏa của ngũ hành, trở về được với Vô Cực thủa ban đầu, chứng thực được Diệu Tướng cánh Diệu, được Chân Công, toàn vẹn chí cực, có được thân Kim Cương bất hoại, sẽ sống vạn năm, tự giác, giác tha, tiếp nối được quảng đại chủng tử của Phật Tổ. Sẽ được Tam Thiên Đại Công cáo thành, sẽ có Bạch Hạc đến đón. Sẽ được Ngọc Đế đơn thư tuyên triệu, thân bay lên Kim Khuyết, phản quy Đế Hương, như Chung Ly Ông nói:
Cửu tải công thành nhân sự tận, 九载功成人事尽,
Khiên hoành Thiên Địa bất do thân. 纤横天地不由亲。
Chín năm công thành nhân sự tận
Dọc ngang trời đất chẳng do ta.
Tiểu Tử Hư nói:
Công thành tu thị xuất thần kinh, 功成须是出神经,
Nội viện phồn hoa vật lụy thân. 内院繁华勿累身。
Hội thủ thần tiên siêu thoát pháp, 会取神仙超脱法,
Siêu nhiên khóa hạc cận Tam Thanh. 飘然跨鹤觐三清。
Công thành âu phải xuất Kinh Đô,
Đơn Điền tuy đẹp chớ lụy thân.
Hãy học Tiên xưa phép siêu thoát,
Hãy cưỡi hạc bay viếng Tam Thanh.
Chư tiên thoát xác, không giống nhau. Có người phi thăng tụ Bảo Tháp, có người phi thăng từ Hồng Lâu. Có người nhìn trăng mà đi, có người soi gương mà phi thăng, có người thoát ra tự đỉnh đầu, cho nên sách Huyền Ảo Tập nói:
Tắc đoạn Hoàng Tuyền lộ, 塞断黄泉路,
Xung khai Tử Phủ môn. 冲开紫府门。
Như hà Hải Thiềm Tử, 如何海蟾子,
Hóa hạc xuất Nê Hoàn. 化鹤出泥丸。
Bế tắc Sinh tử lộ,
Mở được cửa Đỉnh Đầu.
Làm sao Hải Thiềm Tử,
Hóa Hạc xuất Nê Hoàn
Trung Hòa Tập viết:
Thành Tựu Đỉnh Môn khai nhất khiếu, 成就顶门开一窍,
Cá trung biệt thị nhất Kiền Khôn. 个中别是一乾坤。
Và mở được Đỉnh Môn đâu có dễ? Trước hết phải dùng Tam Muội Hỏa, thông qua không được. Sau đó dùng Thái Dương Hỏa, nó mới mở ra. Hai thứ hỏa đó xung kích luôn luôn. Thoát chốc, một luồng hồng quang tràn thế giới, lửa tím ngang trời, rồi có một tiếng sét lớn, đỉnh môn mở ra.
Cho nên Lữ Thuần Dương nói:
Cửu niên hỏa hậu trực kinh quá, 九年火候直经过,
Hốt nhĩ Thiên Môn đỉnh trung phá. 忽尔天门顶中破。
Chân Nhân xuất hiện đại thần thông, 真人出现大神通,
Tòng thử Thiên Tiên khả tương hạ. 从此天仙可相贺。
Chín năm hỏa hậu vừa mới xong,
Bỗng thấy đỉnh đầu như muốn vỡ.
Chân Nhân xuất hiện Đại Thần Thông,
Từ đó Thiên Tiên có thể đến mừng.
真人出現,乘雲氣,御飛 龍,升玉京,游天闕,飄飄雲際,翱翔太空。鳳篆金書,朝赴九陽之殿;蟋桃玉液,位登萬聖之筵。適意則鸞輿前引,登雲則龍駕前迎。紫府鰲宮欲去,而頂中鶴 舞,丹台瓊苑擬游,而足下雲生。劫火洞燒,我則優遊於真如之境;桑田變海,我則逍遙於極樂之天。聚則成形,散則成氣,隱顯莫測,變化無窮。人水火而不溺不 焚,步日月而無形無影。刀兵不能害,虎兕不能傷。陰陽不能變遷,五行不能陶鑄。閻羅不能制其死,帝釋不能宰其生。縱橫自在,出入自由。信乎!
紫陽云:
一粒靈丹吐入腹,始知我命不由天。
此大丈夫得意之秋,功成名遂之日也。人生到此,寧不快哉?
上陽子云:
總皆凡世播英雄,做盡功名到底空。唯有金丹最靈妙,大羅天上顯神通。
(化 身五五圖)
HÓA THÂN NGŨ NGŨ ĐỒ
Chân Nhân xuất hiện, thừa vân khí, cưỡi phi long, thăng Ngọc Kinh, Du Đế Khuyết, phiêu phiêu vân tế, bay lượn trên trời. Có phượng triện, kim thư, mời đến điện Cửu Dương triều kiến Ngọc Hoàng, dự hội Bàn Đào, yến diện cùng vạn thánh. Dùng xe loan tùy ý rong chơi, lên mây thì có xe rồng chờ đón, có Tử Phủ Ngao Cung. Có hạc múa trên đầu, có đơn đài quỳnh viện. Muốn đi đâu thì mây đã sẵn dưới chân. Con người bị lửa cháy, còn ta đã ưu du vào Chân Như chi Cảnh. Tang điền biến hiện, nhưng ta đã tiêu diêu nơi Cực Lạc chi thiên.
Ta tụ thời thành hình, tán thời thành khí, ẩn hiện khôn lường, biến hóa vô cùng. Nước lửa không làm được cho ta chết đuối hay cháy tan. Ta sáng như nhật nguyệt, không bóng, không hình; Đao binh không hại được ta, hổ lang không làm ta tổn thương. Âm Dương không làm ta thiên biến, Ngũ Hành không nung nấu được ta. Diêm La không bắt được ta chết. Đế Thích không điều khiển được sự sống của ta. Ta ngang dọc tự do, xuất nhập tự tại. Tin chăng?
Tử Dương nói:
Nhất lạp linh đan thôn nhập phúc, 一粒灵丹吞入腹,
Thủy tri ngã mệnh bất do thiên 始知我命不由天。
Một hạt Kim Đơn nuốt xuống bụng,
Mới hay Ngã Mệnh bất do thiên.
Đó là lúc Đại Trượng Phu sống đắc ý, đó là ngày công thành danh toại. Con người được như vậy, không phải sướng lắm thay.
Thượng Dương Tử nói:
Tổng giai phàm thế bá anh hùng, 总皆凡世播英雄,
Tố tận công danh, đáo để không. 做尽功名到底空。
Duy hữu Kim Đơn tối Linh diệu, 唯有金丹最灵妙,
Đại la thiên thượng hiển Thần Thông. 大罗天上显神通。
Nhìn xem trần thế chúng anh hùng
Công danh dẫu mấy cũng là không
Duy có Kim Đơn là Linh Diệu
Trở thành Thượng Tiên, hiển thần thông
画江成路圖
(HỌA GIANG THÀNH LỘ ĐỒ)
HỌA GIANG THÀNH LỘ
(Nội dung trong đồ hình)
Dục độ vô chu tiếp. 欲渡无舟楫
Ba quang vạn lý thu, 波光万里秋
Khinh huy tu vũ phiến, 轻挥修羽扇
Ngư đoạn đại giang lưu. 鱼断大江流
Ta muốn sang sông, chẳng thuyền bè
Nước sáng muôn tầm, chẳng chi che
Quạt lông sẽ vẫy, phân sóng nước
Làm cá đang bơi mất lối về
Ngang Trì ngư phụ tả ư Hải thượng nhất túc phù gia.
昂池渔父写於海上一粟浮家
(Ngư phủ Ngang Trì viết tại cái nhà nhỏ như hạt thóc trôi nổi trên biển cả)
跨鹤凌霄图
(KHÓA HẠC LĂNG TIÊU ĐỒ)
KHÓA HẠC LĂNG TIÊU
(Nội dung trong đồ hình)
Đệ cửu thành truyền Ca Tôn giả, 第九成传迦尊者,
Tụng Kinh trai giới tổng giai không. 诵经斋戒总皆空,
Hà tất tham thiền uổng phí công, 何必参禅枉费工。
Kham tiếu danh sơn bôn tẩu khách, 堪笑名山奔走客,
Bất tri Phật tại kỷ tâm trung. 不知佛在己心中。
Tụng kinh trai giới thảy đều không
Hà tất tham thiền uổng phí công.
Nực cười thiên hạ tìm trong núi
Chẳng hay rằng Phật tại tâm trung.
阳神出现图
(DƯƠNG THẦN XUẤT HIỆN ĐỒ )
DƯƠNG THẦN XUẤT HIỆN ĐỒ
(Nội dung trong đồ hình)
Thiểm thiểm bạch hào đoan lý, dũng xuất Vô Tướng Thực Tướng chi kim thân
闪闪白毫端里涌出无相实相之金身
Viêm viêm Xá Lợi quang trung, phổ hiện tam thiên đại thiên chi thế giới
炎炎舍利光中普现三千大天之世界
Trong ánh sáng rực rỡ của hào quang, thấy hiện ra Kim Thân Vô Tướng Thực Tướng,
Hừng hừng trong hào quang Xá Lợi, thấy hiện ra Tam Thiên Đại Thiên chi thế giới.
Tì Lư đỉnh thượng hành, 毗卢顶上行
Tịch diệt hải trung hý. 寂灭海中戏
Kỳ tai thử diệu môn, 奇哉此妙门
Phật tổ tằng thụ ký . 佛祖曾授记
Tì Lư từ đỉnh đầu đi lên,
Ngao du trong biển tịch diệt.
Kỳ thay cánh cửa đó,
Phật tổ cũng thụ ký qua
Dương thần xuất hiện, 阳神出现
Thước thước Kim quang. 烁烁金光
Thừa bỉ bạch vân, 乘彼白云
Tiêu diêu Đế hương. 逍遥帝乡
Dương Thần xuất hiện,
Kim quang rực rỡ.
Cưỡi làn mây trắng,
Bay lên quê Trời.
Phật nhân bán kệ xả toàn thân, 佛因半偈舍全身
Cao chứng nguy nguy vạn đức tôn. 高证巍巍万德尊
Liễu đắc Niết Bàn, Chính Pháp Nhãn, 了得涅槃正法眼
Kim cương bất hoại, thể trường tồn. 金刚不坏体长存
Phật nghe bán kệ, xả toàn thân,
Cao chứng nguy nguy vạn đức tôn.
Biết được Niết Bàn chánh Pháp nhãn,
Thể hiện được Thân Kim Cương Bất Hoại.
Kiến thân vô Phật, thị Phật Thân, 见身无佛是佛身
Liễu tâm như ảo thị Phật ảo. 了心如幻是佛幻
Liễu đắc Thân Tâm bản tính không, 了得身心本性空
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt? 斯人与佛何殊别
Thấy thân không Phật, ấy Phật thân
Coi thân như ảo là quan niệm của Phật
Thấy được Tâm Thân Bản Tính vốn không tịch
Người như vậy có gì khác Phật?
Tâm đồng hư không giới, 心同虚空界
Thị đẳng hư không pháp. 示等虚空法
Chứng đắc hư không thân, 证得虚空身
Vô thị vô phi pháp. 无是无非法
Tâm đồng hư không giới,
Hiểu được đạo lý hư không.
Chứng được thân hư không,
Biết được đạo lý vô thị vô phi.
Hư không vô nội ngoại, 虚空无内外
Tâm pháp diệc như thử. 心法亦如此
Nhược Liễu Không Hư cố, 若了空虚做
Thị đạt Chân Như Lý. 是达真如理
Hư không chẳng trong ngoài,
Tâm pháp cũng y vậy.
Hiểu được lẽ Hư Không,
Là hiểu được Chân Như.
性命雙修萬神圭旨
第九節口訣
本體虛空超出三界
(超 出三界圖)
按梓童化書云:予之在朝也,以聞方外之言,辭榮而歸道。逢隱者指,予以心印授,予以正訣曰,此西方大聖人歸寂法 也。子能念而習之,可度生死,死而不亡,終成正覺。若能中道而廢,則猶能擇地而處,亦可為神仙。予於是歷觀漢、唐諸仙,多在此處超脫而去者,豈非化書所謂 中道而廢耶?
又覽龍牙頌云:學道如鑽火,逢煙未可休。予又歷觀宋、元諸仙,多在此處戶解而去者,豈非龍牙所謂逢煙而休耶?
雖則仙去,然卻缺末後一段工夫,畢竟有些欠穩處。猶傅大士云:僥經八萬劫,終是落空亡。亦不知壽命有限而不及修耶,抑亦不知不得此法而不能修也。
命宗人只知煉精化氣、煉氣化神、煉神還虛而止,竟遺了煉虛合道一段。
是以無上師曰:養得金丹圓似月,未免有圓還有缺。何如煉個太 陽紅,三界十方俱洞徹。
BẢN THỂ HƯ KHÔNG SIÊU XUẤT TAM GIỚI
Sách Tử Đồng Hóa Thư viết:
“Khi ta làm quan trong triều, vì nghe bàn về Phật Pháp, nên ta từ quan tu đạo. Gặp một ẩn sĩ dạy ta Tâm Ấn, dạy ta Khẩu Quyết Chính Đáng rằng: Đó là phương pháp qui tịch của một Đại Thánh Nhân Tây Phương, nếu ông niệm tập theo đó, thì có thể thoát vòng sinh tử, sẽ chết mà chẳng bị quên, chung thân sẽ chính giác. Nếu giữa đường mà bỏ, thì cũng như được đất mà bỏ, cũng giúp mình thành thần tiên. Cho nên ta đã xem thần tiên đời Hán, Đường, đều cũng do nơi này mà siêu thoát, như vậy có phải đã Trung Đồ nhi phế theo như Hóa Thư đã nói hay sao?”
Ta đọc Long Nha Tụng thấy nói:
Học đạo như toản hỏa, 学道如钻火,
Phùng yên vị khả hưu. 逢烟未可休。
Học đạo như khoan lửa
Thấy khói chưa được ngừng.
Ta lại khảo sát chư tiên đời Tống, Nguyên, thường thấy họ thi giải 户解 (thoát xác) mà đi, há phải như Long Nha nói: Mới thấy khói mà đã ngừng sao?
Ngày nay, các vị đã thành tiên mà đi, nhưng còn một đoạn công phu cuối cùng, còn có cái gì bất ổn mà các ngài chưa nói ra, như Phó Đại Sĩ nói: “Dù trải 8 vạn kiếp, cuối cùng vẫn lạc không vong. Lại không biết rằng thọ mệnh hữu hạn, mà không chịu tu sao? Hay không biết rằng: “Không biết phép này, thì cũng không tu được”.
Người theo Mệnh tông chỉ biết Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần hoàn Hư mà thôi, mà quên mất một đoạn là Luyện Hư Hợp Đạo.
Cho nên Vô Thượng Sư nói:
Dưỡng đắc Kim Đơn viên tự Nguyệt, 养得金丹圆似月,
Vị miễn hữu viên hoàn hữu khuyết. 未免有圆还有缺。
Hà như luyện cá Thái Dương hồng, 何如炼个太阳红,
Tam giới thập phương câu động triệt. 三界十方俱洞彻。
Dưỡng được Kim Đơn tròn như Nguyệt,
Tuy tròn mà vẫn có khi bị khuyết.
Sao không bắt chước vầng Dương hồng
Tam giới thập phương đều động triệt.
蓋聖修詣極自是少此一段不得。緣丹經子書皆不曾言及末後一著。唯李清庵曾說到這裡。
如門人問:脫胎後還有造化麼?
清庵曰:有造化在。聖人云,身外有身,未為奇特,虛空粉碎,方露全真。所以脫胎之後,正要腳踏實地, 直待與虛空同體,方為了當。
又云:更有煉虛一著,當於言外求之。其見趣可謂度越諸仙矣。
但不肯說個實際出 來,雲何煉虛,作何歸著,竟自朦朦朧朧虛應過去。亦不知是不會祖師意而不能說耶,抑亦不知是怕洩漏天機而不敢說也。
故水丘子歎曰: 打破虛空消億劫,既登彼岸捨舟楫。閱盡丹書萬萬篇,末後一句無人說。
蓋此秘藏心印,皆佛佛授手、祖祖相承,迄至六祖衣缽止,而不傳 諸佛,秘藏於茲塞矣。自此而下鮮有知者。故曰:七祖如今未有人。
直到吾師尹公,以其夙植靈根,更得教外別傳之旨。忽一日禪關參透, 豁然貫通,而千佛秘藏又復開於今日矣。
故悟道偈云:把個疑團打破時,千佛心華今在茲。下大竿頭取進步,虛空真宰天人師。
我今又承師旨而得此法,如獲無價寶珠。即劍南和尚云:自從說得此明珠,釋梵輪王俱不要。然佛之地步甚高,而必至於虛空本體。本體虛空方成無上正等在覺而 入涅槃。
Tu theo đường Thánh, thiếu điều đó không được, cũng tại Đơn Kinh, Tử thư không nói tới đoạn này, chỉ có Lý Thanh Am đã nói tới mà thôi.
Như có môn nhân hỏi: Sau khi thoát thai còn có Tạo hóa không?
Thanh Am nói:
“Còn có Tạo Hóa. Thánh Nhân nói: Thân ngoại hữu thân, không có gì là kì dị. Hư Không phấn toái, mới lộ ra Chân tướng. Cho nên sau khi thoát thai, chân mới đáp thực địa, bấy giờ mới đồng thể với Hư Không. Kết thúc bấy giờ mới thỏa đáng”. Còn có: Cánh hữu luyện hư nhất trước, đương vu ngôn ngoại cầu chi 更有炼虚一着,当于言外求之。(Còn phải luyện hư nữa, phải cầu nơi Ngôn Ngoại)
Kiến thức trên đây, thú vị siêu việt trên cả chư tiên. Nhưng không nói ra được phương pháp cụ thể. Thế nào là Luyện Hư, quy kết sẽ đi về đâu? Chỉ thấy nói mơ mơ, hồ hồ. Lại cũng không biết rõ ý tổ sư, nên không nói được. Ta há chẳng biết vì không dám tiết lộ thiên cơ, nên không dám nói. Cho nên Thủy Khưu Tử than:
Đả phá Hư không, tiêu ức kiếp, 打破虚空消亿劫,
Ký đăng bỉ ngạn xả chu tiếp. 既登彼岸舍舟楫。
Duyệt tận Đơn kinh vạn vạn thiên, 阅尽丹经万万篇,
Mạt hậu nhất đoạn vô nhân thuyết. 末后一段无人说。
Đả phá Hư Không tiêu ức kiếp,
Đã sang Bỉ Ngạn bỏ thuyền chèo.
Đọc hết đơn kinh vạn vạn quyển.
Duy còn đoạn chót chẳng ai bàn.
Cái tâm ấn bí tàng này, chư Phật truyền cho nhau, Tổ Tổ tương thừa, mãi đến Lục Tổ, y bát không còn truyền nữa mới thôi. Từ đấy chư Phật bí tàng như tắc lối vậy. Từ đấy về sau ít người biết đến. Cho nên mới nói: Thất tổ như kim vị hữu thân 七祖如今未有人。(Cho tới nay, Thất tổ không còn ai!)
Mãi cho đến khi Doãn Chân Nhân xuất hiện, trước là vì ngài có Linh Căn thông tuệ, lại được Giáo Ngoại biệt truyền, có một ngày bỗng chốc Thiền quan tham thấu, ngài khuếch nhiên quán thông và điều bí mật của chư Phật ngày nay lại được phục khai. Cho nên Ngộ Đạo kệ mới viết:
Bả cá nghi đoàn đả phá thời, 把个疑团打破时,
Thiên Phật tâm hoa kim tại tư. 千佛心华今在兹。
Bách xích can đầu thủ tiến bộ, 百尺竿头取进步,
Hư không Chân Tể, thiên nhân sư. 虚空真宰天人师。
Bao cái nghi ngờ nay phá sạch,
Vạn Phật tâm hoa nay tại đây.
Cây cao trăm trượng ta tiến mãi,
Vào tới Hư Không, dạy trời người.
Ta nay vâng lời Thầy dạy, và được phép này, như có được vô giá bảo châu, tức như Kiếm Nam Hòa Thượng nói:
Tự tòng thuyết đắc thử bảo châu, 自从说得此宝珠,
Thích, Phạn, Chuyển Vương câu bất yếu. 释梵轮王俱不要。
Từ khi nghe giảng được Bảo Châu,
Thích, Phạn, Chuyển Vương đều không muốn.
Nhưng cảnh giới Phật thật là cao. Phải vào tới hư không bản thể, Bản Thể hư không mới lên tới Vô Thượng chính đẳng, chính giác và nhập Niết Bàn.
故邵康節曰:聖人與太虛同體,與天地同用。今人求其義而不得,乃噫之曰:體太虛之體以為體,用天地之用以為用。此言大似隔 窗窺日,不過見其光影而已。若言體太虛之體以為體,便是有個太虛在而著於體矣,何以能太虛?若言用天地之用以為用,便是有個天地在而著於用矣,何以能天 地?然而太虛其知有體乎?其不知有體乎?天地其知有用乎?其不知有用乎?太虛不知有體而天地之用在於太虛之體,天地不知有用而太虛之體在於天地之用。體其 所體者體其所用也,用其所用青用其所體也。乃至於粉碎虛空方為了當,何以故?
益本體,本虛空也。若著虛空相,便非本體虛空。本粉碎 也,若有粉碎心,便不虛空。故不知有虛空,然後方可以言太虛天地之本體,不知有粉碎,然後方可以言太虛天地之虛空。究竟到此已會窺破虛空之本體,但未得安 本體於虛空中。
即華嚴經雲;法性如虛空,諸佛於中住。到這裡自知道虛空是本體,本體是虛空。必須再加功而上,上勝進進不已,直到水 盡山窮,轉身百尺竿頭。至必至於不生不滅之根源。終必終於不生不滅之覺岸。於中方是極則處。此處無他,不過是返我於虛,復我於無而已。返復者,回機也。
故曰:一念回機,便同本得。究竟人之本初原自虛無中來,虛化之為神,神化之為氣,氣化之為形,順則生人也。今則形復返之為氣,氣復返之為神,神復返之為 虛,逆則成仙也。
古德云:何物高於天,生天者是。何物大於虛實,運虛空者是。蓋大道乃虛空之父母,虛空乃天地之父母,天地乃人物之 父母。天地廣大,故能生萬物;虛空無際,故能生天地;空中不空,故能生虛空。而曰:生天地、生萬物,是皆空中不空者之有以主之也。以其空中不空,故能深入 萬物之性,以主張萬物而方便之。毋謂空中不空,能深入萬物之性,以主張萬物而方便之也;抑亦能深入天地之地,以主張天地而方便之也。汝毋謂空中不空,能深 入天地之性以主張天地而方便之也,抑亦能深入虛空,以主張虛空而方便之也。
夫空中不空者,真空也。真空者,大道也。今之煉神還虛 者,尤落在第二義,未到老氏無上至真之道也。煉虛合道者,此聖帝第一義,即是釋氏最上一乘之法也。
Thiệu Khang Tiết nói:
Thánh Nhân dữ Thái Hư đồng thể, 圣人与太虚同体,
Dữ thiên địa đồng dụng. 与天地同用。
Thánh Nhân đồng thể với Thái Hư,
Đồng dụng với Thiên địa.
Ngày nay, người ta không hiểu câu đó ra sao, nên than rằng:-
Thể Thái Hư chi thể dĩ vi thể, 体太虚之体以为体,
Dụng Thiên Địa chi Dụng dĩ vi dụng. 用天地之用以为用。
Lấy Bản Thể Thái Hư làm bản thể của mình
Lấy cái dùng của trời đất làm cái dùng của mình.
Câu này cũng như: Cách song khuy nhật 隔窗窥日 (nhìn mặt trời qua cửa sổ), bất quá là nhìn thấy quang ảnh mà thôi.
Nếu nói: Lấy Bản Thể Thái Hư làm bản thể mình, thì y như có vừng Thái Hư riêng rẽ cho ta lấy làm Bản Thể. Cái gì có thể là Thái Hư?
Nếu nói: Lấy cái dùng của Trời Đất làm cái dùng của mình, thì y như có một Thiên Địa riêng biệt và ta lấy đó mà dùng. Cái gì có thể là Thiên Địa?
Cho nên Thái Hư có biết mình có Bản Thể không? Hay là không biết mình có Bản Thể?
Trời Đất có biết mình có cái dụng không? Hay không biết mình có cái dụng ?
Thái Hư không biết mình có Bản Thể mà cái Dụng của Trời Đất lại chính là Bản Thể của Thái Hư. Trời Đất không biết mình hữu dụng, mà Thái Hư chi thể chính là ở tại cái Dụng của Trời Đất. Thể kỳ sở Thể, mà Thể kỳ sở Dụng; Dụng kỳ sở Dụng mà Dụng kỳ sở Thể vậy.
Đến như Phấn Toái Hư Không mới thật là chính đáng. Tại sao vậy? Vì Bản Thể vốn là Hư Không. Nếu nhìn tướng của Hư Không, thì không có Bản Thể.
Hư Không vốn nát vụn. Nếu ta có tâm phấn toái, thì không có Hư Không.
Cho nên không biết có Hư Không, thì sau đó mới nói được Thái Hư là Bản Thể của Trời Đất. Không biết có phấn toái, nên mới nói: Thái Hư Thiên Địa là Hư Không.
Tới được như vậy, thì mới khuy phá được Bản Thể của Hư Không, nhưng cũng chưa an vị được Bản Thể vào trong Hư Không.
華嚴經云:雖盡未來際,遍游諸佛 剎。不求此妙法,終不成菩提。
此法只是復煉陽神,以歸還我毗盧性海耳。所以將前面分形散影之神攝歸本體,又將本體之神銷歸天谷,又 將天谷之神退藏於祖竅之中。如龍養額下之珠、若雞抱巢中之卵,緊緊護持,毋容再出,並前面所修所證者,一齊貶向無先國裡。依滅盡定而寂滅之,似釋迦掩室於 摩竭,如淨名杜口於毗耶。此其所以自然造化而復性命之而復虛空之之不可以已也。而復性命,而復虛空,至此已五變化矣。變不盡變,化不盡化,非通靈變化之至 神也。
故神百煉而愈靈,金百煉而愈精,煉之而復煉之,則一爐火焰煉虛空,化作微塵萬頃冰。壺照世界大如黍米。少焉,神光滿穴,暘焰 騰空,自內竅達於外竅外,大竅九而九竅之中,竅竅皆有神光也。小竅八萬四千,而八萬四千竅之中,竅竅皆有神光也。徹內徹外,透頂透底,在在皆有神光也。如 百千燈照耀一室,燈燈互昭,光光相涉,而人也,物也,莫不照耀於神光之中矣。是則是已尤非其至也。
然不能塞乎天地之間,則未滿東魯 聖人乾元統天之份量也。又斂神韜光,銷歸祖竅之中,一切不染,依滅盡定而寂滅之。寂滅既久,則神光如雲發電,從中竅而貫於上竅,大竅小竅,竅竅皆有神光 也。光明洞耀,照徹十方,上徹天界,下徹地界,中徹人界。三界之內,處處神光。若秦鏡之互照,猶帝珠之相含,重重交光,歷歷齊現。而神也,鬼也,莫不照耀 於神光之中矣。妙則妙已,尤非其至也。
然不能遍入塵沙法界,則未滿西竺聖人毗盧遮那之份量也。再又斂神韜光,銷歸祖竅之中,一切不 染,依滅盡定而寂滅之,寂滅既久,而六龍之變化全,則神光化為舍利光矣。如赫赫日輪,從祖竅之內一湧而出,化為萬萬道毫光,直貫於九天之上。若百千昊日, 放大光明,普照於三十大千世界。而聖也,賢也,及森羅萬象,莫不齊現於舍利光之中矣。
故大覺禪師云:一顆舍利光熠熠,照盡億萬無窮 劫。大千世界總皈依,三十三天鹹統攝。
而舍利光既遍滿於三千大千世界內,尤未盡其份量。又自三千大千世界中復放無量寶光,宜充塞於 極樂世界。既而又升於袈婆幢界,又升於音聲輪界,復直衝於勝蓮華世界,得與賢勝如來相會也。
自從無始分離,今日方才會面。彼此舍利 交光,吻合一體,如如自然,廣無邊際。
Hoa Nghiêm nói:
Pháp Tính như Hư Không, 法性如虚空,
Chư Phật vu trung trú. 诸佛于中住。
Pháp Tính như Hư Không.
Chư Phật ở trong đó.
Khi biết Hư Không là Bản Thể, Bản Thể là Hư Không, phải tu cho tới mức thượng thừa, tiến mãi tiến mãi không ngừng, tiến tới sơn cùng thủy tận, lên cho tới đầu sào trăm trượng, phải tới được chỗ căn nguyên bất sinh bất diệt, cuối cùng lên tới bến bờ bất sinh, bất diệt, lên chỗ trung điểm mới là cực xứ. Cực xứ chính là Hoàn Ngã vu Hư, Phục Ngã vu Vô vậy.
Phản phục là Hồi Cơ vậy. Cho nên Nhất niệm đồng cơ, rất là phù hợp với căn nguyên. Rốt cuộc con người từ Bản Sơ vống từ Hư Vô trung lai, Hư hóa vi Thần, Thần hóa vi Khí, Khí hóa vi Hình, thế là Thuận thời sinh nhân vậy. Nay thì Hình lại hóa thành Khí, Khí lại hóa thành Thần, Thần lại trở về Hư, thế là Nghịch thành tiên vậy.
Cổ Đức nói: “Vật gì cao như Trời, cái đó sinh ra Trời vậy. Cái gì to như Thái Hư? Chính cái đó vận Hư Không vậy. Đại Đạo là mẹ của Hư Không. Hư Không là cha mẹ của Trời Đất.”
Trời đất to lớn nên có thể sinh vạn vật. Hư Không vô biên tế nên sinh ra được Trời Đất. Cái không của Không Trung có thể sinh ra Hư Không. Nên nói: Sinh thiên địa, sinh vạn vật, là đều do cái Không Trung chi Trung đó làm chủ vậy. Vì cái Không Trung không phải là Không, cho nên có thể thâm nhập vào vạn vật chi tính, và làm chủ tể vạn vật và biến hóa vạn vật. Lại cũng thâm nhập vào Thiên Địa chi tính, để làm chủ tể vạn vật và biến hóa vạn vật. Bạn chớ nói Cái Không Trung là không, nó có thể thâm nhập vào Thiên Địa chi Tính để làm chủ tể và biến hóa trời đất, nên chẳng lẽ nó chẳng nhập được vào Hư Không chi tính để làm chủ tể và biến hóa nó hay sao?
Và Không Trung không phải là Không, nó là Chân Không vậy. Chân Không là Đại Đạo. Nay người mới Luyện Thần hoàn Hư, thì mới là vào Nghĩa Thứ Hai, chưa vào được chỗ Vô Thượng chí Chân của Đức Lão Tử. Luyện Hư hợp Đạo mới là Nghĩa Thứ Nhất, tức như Phật dạy, đó mới là Tối Thượng Thừa vậy.
Tuy tận vị lai tế, 虽尽未来际,
Biến du chư Phật sát. 遍游诸佛刹。
Bất cầu thử diệu Pháp, 不求此妙法,
Chung bất thành Bồ Tát. 终不成菩萨。
Tuy đi cùng khắp nơi,
Tuy vãng du được các chùa,
Nếu không được diệu pháp này,
Ắt không thành Bồ Tát.
Phép này chỉ là Phục Luyện Dương Thần, tức là trở về với Tì Lô Tính Hải của chúng ta. Trước đây, ta có nói về phần Phân hình Tán ảnh nhiếp quy về Bản thể. Rồi lại nói về Thần Bản Thể tiêu quy Thiên Cốc, rồi lại nói về Thần Thiên Cốc thoái tàng về Tổ khiếu. Như rồng mang châu dưới cằm, như hạc ấp trứng, hết sức cẩn thận. Không thể cho lọt ra ngoài. Bao nhiêu công trình tu luyện trước đây, bao nhiêu chứng nghiệm trước đây, nhất tề tịch diệt, để vào Niết bàn, tựa như Thích Ca ở yên tại Ma Kiệt, như Tịnh Danh lặng yên tại Tì Gia, đó là theo lẽ Trời phục phản Tính Mệnh, phục Hư Không. Đến đây là 5 lần biến hóa, biến hóa vô tận. Nếu không thông linh biến hóa thì không thể đạt tới chỗ biến hóa như vậy.
Cho nên, Thần càng luyện càng linh, vàng càng luyện càng tinh, luyện đi rồi luyện lại, thì một lò lửa luyện Hư Không sẽ trở thành vi trần. Vạn khoảnh thủ bình chiếu thế giới lớn như hạt gạo. Thoát chốc Thần Quang sẽ mãn huyệt, Liệt Diệm sẽ đằng không. Từ nội khiếu ra đến ngoại khiếu, Đại khiếu bên ngoài có chín, khiếu khiếu đều có Thần Quang; Tiểu khiếu có 8.400, mà trong 8.400 khiếu đó, khiếu nào cũng có Thần Quang; Nội ngoại đều đỉnh để thấu triệt, chỗ nào cũng có Thần Quang. Như trăm nghìn ngọn đèn chiếu soi một nhà. Các đèn phản chiếu lẫn nhau. Ánh sáng rạng ngời, mà người vật nhất nhất đều chiếu diệu trong Thần Quang đó. Thật là thật rồi, không sao hơn được vậy.
Nếu không tắc được cả đất trời, thì làm sao Khổng Tử nói được: Kiền Nguyên thống thiên乾元统天? Rồi lại liễm thần thao quang, tiêu quy Tổ khiếu敛神韬光,销归祖窍. Không vương vấn cái gì, y tịch diệt định mà tịch diệt nó. Tịch diệt lâu lai, thì thần quang như mây sinh điện, từ Trung Khiếu lên Thượng Khiếu, khiếu lớn khiếu nhỏ, khiếu nào cũng có Thần Quang, quang minh động dược, thấu triệt vạn phương, thượng triệt Thiên Giới, hạ tắc Địa Giới, trung triệt Nhân Giới. Trong suốt Tam Giới đều có Thần Quang, như gương soi của họ Tần, như Đế Châu soi rõi trùng trùng giao quang, lịch lịch tề hiện. Dù thần, dù quỷ, đều chiếu diệu bên trong. Thật là kỳ diệu vậy, nhưng cũng chưa phải đã là kỳ diệu nhất.
Tuy nhiên, nếu không biến nhập được vào trần sa pháp giới, thì chưa đạt được đến tầm mức Tì Lư Giá Na của đức Phật. Lại liễm thần thao quang, tiêu quy vào trong Tổ khiếu. Không nhiễm chút chi, y phép Tịch Diệt mà tiêu diệt nó, tịch diệt lâu lai, thì sự biến hóa của 6 rồng đã thành toàn, Thần Quang sẽ biến thành Phật Quang, như Mặt Trời đỏ rực, từ Tổ khiếu nhảy ra bên ngoài, hóa thành vạn vạn hào quang, trực quán cả 9 tầng trời, như trăm nghìn ngày sáng quắc, phóng đại quang minh, tính chiếu cả 3.000 đại thiên thế giới. Cả thánh lẫn thần, và muôn nghìn hiện tượng, tất cả đều hiện ra trong ánh sáng Phật ấy.
Cho nên Đại Giác thiền sư nói:
Nhất cá xá lợi quang tập tập, 一个舍利光熠熠,
Chiếu tận ức vạn vô cùng kiếp. 照尽亿万无穷劫。
Tam thiên thế giới tổng quy y, 三千世界总皈依,
Tam thập tam thiên hàm thống nhiếp. 三十三天含统摄。
Ánh sáng Phật quang trông rực rỡ,
Chiếu soi ức vạn vô cùng kiếp.
Tam thiên thế giới cùng quy y,
Tam thiên đại thiên quy về một.
Ánh sáng Phật soi cùng khắp 3.000 đại thiên thế giới, mà vẫn chưa đủ phân lượng, lại từ trong tam thiên đại thiên thế giới phóng phát ra vô lượng bửu quang, sung tắc cả cực lạc thế giới, rồi lại thăng lên Cà Sa Tràng giới, rồi lại lên Âm Thanh Chuyển giới, rồi lên thẳng Thắng Liên Hoa thế giới, có thể họp dùng Hiền, Thánh, Như Lai vậy.
Tự tòng vô thủy phân ly cho tới nay, nay mới họp mặt lại. Bỉ thử giao quang, vẫn hợp làm một, như như tự nhiên, rộng vô cùng tận.
所以經頌云:諸佛似一大圓鏡,我身猶若摩尼珠。諸佛法身入我體,我身常入諸佛軀。王祖弘忍 云:一佛二佛千萬佛,總是自身無別物。昔年親種善根來,今日依舊得渠力。荷澤禪師云:本來面目是真如,舍利光中認得渠。萬劫迷頭今始悟,方知自性自文殊。
自性清靜,便是無垢佛。自性如如,便是自在佛。自性不昧,便是光明佛。自性堅固,便是不壞佛。各各諸佛,自身俱有。說亦不盡唯一 性,爾性即是心,心即是佛。新佛舊成,曾無二體,以報身就法身,如出模之像,像本舊成,一體無異。新成舊佛,亦無二形,以法身就報身,如金成像,昔未成象 金,故今成像,竟諸佛如已成像之金仙。眾生如未成像之金礦,成與未成,似分前後,則金體始終更無前別。
故圓覺經曰:既已成金,不重 為礦,經無窮時,金性不壞。原此金性,人人本有,個個不無。至於十方眾生,皆我金剛佛性。而天地萬物,鹹囿我如來之法身矣。到此地位,方知天地與我同根, 萬物與我一體。遍法界是個如來藏,盡大地是個法王身。實際無差,與三世佛而一時成道;真空平等,共十類生而同日涅槃。法身其大也,虛空且難籠其體,真心其 妙也,神鬼亦莫測其機。窮未來際為一晝夜,盡微塵海為一剎那。前千古而後乎今,無不是這個總持,上乎天而下乎地,無不是這個充塞。
二祖慧可曰:囫囫圇圇成這個,世世生生不變遷。太上所以云:天地有壞,這個不壞。
Cho nên kinh tụng nói:
Chư Phật tự nhất đại viên kính, 诸佛似一大圆镜,
Ngã thân do nhược Ma Ni Châu. 我身犹若摩尼珠。
Chư Phật pháp thân nhập ngã thể, 诸佛法身入我体,
Ngã thân thường nhập chư Phật khu. 我身常入诸佛躯。
Chư Phật tự hồ tấm gương lớn,
Thân ta giống như Ma Ni Châu.
Chư Phật Pháp Thân nhập vào ta,
Thân ta thường nhập thân chư Phật.
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói:
Nhất Phật, nhị Phật, thiên vạn Phật, 一佛二佛千万佛,
Tổng thị tự Tâm vô biệt vật. 总是自心无别物。
Tích niên thân chủng thiện căn cơ, 昔年亲种善根基,
Kim nhật y nhiên đắc cừ lực. 今日依然得渠力。
Một Phật, hai Phật, thiên vạn Phật,
Đều do tự Tâm, không biệt vật.
Năm trước mình gieo Thiện căn cơ,
Ngày nay tự nhiên được sức đó.
Hà Trạch Thiền Sư viết:
Bản lai diện mục thị Chân Như, 本来面目是真如,
Xá lợi quang trung nhận đắc cừ. 舍利光中认得渠。
Vạn kiếp mê đầu kim thủy ngộ, 万劫迷头今始悟,
Phương tri Tự Tính thị Văn Thù. 方知自性是文殊。
Bản Lai Diện Mục ấy Chân Như,
Tại giữa Phật quang nhận ra mi.
Vạn kiếp mê lầm nay mới ngộ,
Mới hay Tự Tính chính Văn Thù.
Tự Tính mà thanh tịnh, thì là Vô Cấu Phật. Tự Tính mà như như, thì là Tự Tại Phật. Tự Tính mà không lầm, thì là Quang Minh Phật. Tự Tính mà kiên cố, thì là Bất Hoại Phật.
Tất cả Chư Phật, thân ta có đó, nói không hết lời. Chỉ là một tính. Tính chính là Tâm, Tâm chính là Phật. Phật mới Phật cũ, vốn không có hai. Từ Pháp Thân sinh ra Báo Thân, như tượng từ khuôn sinh. Tượng đã sẵn có, chỉ có một hình không khác nhau. Phật mới Phật cũ, không có hai hình. Từ Pháp Thân đến Báo Thân, như vàng thành tượng. Chưa thành tượng thì là vàng. Nay đã thành tượng, thì chư Phật như tượng Kim Tiên đã thành, còn chúng sinh như là Kim Khoáng chưa thành tượng. Thành và chưa thành, tự phân trước sau, nhưng vàng thì trước sau không hề sai biệt.
Cho nên Kinh Viên Giác nói: Khi vàng đã thành, thì không còn là Khoáng nữa. Qua vô cùng thời vàng vẫn Bất Hoại.
Mọi người ai cũng có Tính Vàng đó.
Đến như Vạn Phương hóa sinh, đều là Kim Cương Phật Tính của ta. Và trời đất vạn vật, đều có Như Lai Pháp Thân của ta.
Như vậy mới thấy được rằng: Thiên Địa dữ Ngã đồng căn, vạn vật dữ Ngã nhất thể天地与我同根,万物与我一体。Cùng khắp thế giới này cũng đều là Như Lai Tạng, tận đại địa cũng là Pháp Vương Thân. Thực tế vô sai biệt, cùng với Tam Thế Chư Phật đã thành đạo rồi, đều là Chân Không Bình Đẳng với ta, cùng với Thập Loại Chúng Sinh chỉ có một Niết Bàn. Pháp Thân to lớn như vậy, nên Hư Không không thể đón rào vây ngăn được nó. Chân tâm kỳ diệu như vậy, nên quỷ thần không biết đường lối của nó. Cùng tương lai như là một đêm ngày, tận vi trần hải như trong một sát na, cổ kim đều do nó tổng trì.
Trên là trời, dưới là đất, đều do nó sung tắc (nó tức là Pháp Thân và Chân Tâm).
Nhị tổ Huệ Khả nói:
Hốt hốt luân luân thành giá cá, 囫囫囵囵成这个,
Thế thế sinh sinh bất biến thiên. 世世生生不变迁。
Cái đó xưa nay vốn nguyên lành,
Hóa hóa sinh sinh chẳng đổi thay.
Cho nên Thái Thượng nói:
Thiên Địa hữu hoại, 天地有坏,
Giá cá bất hoại. 这个不坏。
Trời đất có hư,
Cái đó không hư.
這個才是真我,這個才是真如,這個才是真性命,這 個才是真本體,這個才是真虛空,這個才是真實相,這個才是菩提道場,這個才是涅槃實地,這個才是不垢不淨,這個才是非色非空,這個才是自覺聖智,這個才是 無上法輪,這個才是本性虛無、虛無實體,這個才是常住真心、隨心自在,這個才是佛之妙用、快樂無量,這個才是煩惱業淨、本來空寂,這個才是一切因果、皆無 夢幻,這個才是生滅滅己、寂滅為樂,這個才是金剛不變、不壞之真體,這個才是無始不生、不滅之元神,這個方是不可量、不可稱、不可思議、無邊功德,這個才 是清淨法身、圓滿報身、千百億化身、毗盧遮那佛。
偈曰:天上天下無如佛,十方世界亦無比。世界所有我盡見,一切無有如佛者。
(Siêu xuất tam giới đồ)
Cái đó là Chân Ngã; Cái đó là Chân Như; Cái đó là Chân Tính Mệnh; Cái đó là Chân Bản Thể; Cái đó là Chân Hư Không; Cái đó là Chân Thật Tướng; Cái đó là Bồ Đề Đạo Tràng; Cái đó là Niết Bàn Thực Địa; Cái đó là Bất Cấu Bất Tịnh; Cái đó là phi Sắc, phi Không; Cái đó là Tự Giác Thánh Trí; Cái đó là Vô Thượng Pháp Luân; Cái đó là Bản Tính Hư Vô; Cái đó là Hư Vô Thực Thể; Cái đó là Thường Trụ Chân Tâm; Cái đó là Tùy Tâm Tự Tại; Cái đó là Phật chi Diệu Dụng; Cái đó là Khoái Lạc Vô Thượng; Cái đó là Phiền Não Nghiệp Tịnh; Cái đó là Bản Lai Không Tịch; Cái đó là Nhất Thiết Nhân Quả đều như Ảo Mộng; Cái đó là Sinh Diệt, Diệt Dĩ, Tịch Diệt Vi Lạc; Cái đó là Kim Cương Bất Biến, Bất Hoại chi Thân Thể; Cái đó là Vô Thủy Bất Sinh, Bất Diệt chi Nguyên Thần; Cái đó là Bất Khả Lượng, Bất Khả Xưng, Vô Giá Công Đức; Cái đó là Thanh Tịnh Pháp Thân, Viên Mãn Báo Thân, Thiên Bách Ức Hóa Thân, Tì Lô Giá Na Phật.
Kệ rằng:
Thiên thượng, thiên hạ vô như Phật, 天上天下无如佛,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ. 十方世界亦无比。
Thế giới sở hữu ngã tận kiến, 世界所有我尽见,
Nhất thiết vô hữu như Phật giả. 一切无有如佛者。
Thiên thượng, thiên hạ không (gì ) bằng Phật,
Thập phương thế giới không thể sánh.
Khắp trong thế giới ta nhìn hết,
Không gì có thể giống như Phật.
TÌ LƯ CHỨNG QUẢ ĐỒ
TĨNH THẤT PHẦN HƯƠNG ĐỒ
Tĩnh Thất phần hương tọa Bồ Đoàn,
靜 室 焚 香 坐 蒲 團,
Độc đạo kinh huân tu khứ ế,
讀 道 經 薰 脩 袪 翳,
Chướng lưu lãm tận Châm Minh.
障 流 覽 盡 箴 銘
Phòng lặng đốt hương, ngồi Bồ đoàn,
Đọc Đạo kinh, đốt hương trừ uế tạp,
Chướng tan, ngồi đọc hết Châm Minh.
(Hoàn Trung Tử, Mã Sí Chu tả.)
(環 中 子 馬 企 周 寫)
CẤU DIỆN BỒNG ĐẦU ĐỒ
Cấu diện Bồng đầu bả nhất cước,
垢 面 蓬 頭 跛 一 腳,
Biến hành Thiên hạ chân khoái lạc,
遍 行 天 下 真 快 樂,
Thần tiên bản hưũ Trường Sinh Thuật,
神 仙 本 有 長 生 術,
Khởi thức Hồ Lô tàng thậm dược?
豈 識 葫 蘆 藏 甚 藥 ?
(Mã Đài tịnh đề.)
(馬 駘 并 題)
Mặt nhem, đầu rối, một chân què,
Rảo cùng thiên hạ, thật sướng ghê!
Thần tiên sẵn có Trường Sinh Thuật,
Ướm hỏi Hồ Lô giấu thuốc chi?
HẾT
————-
Thành thật cảm ơn quí huynh đệ đã tham khảo hết quyển “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nầy.
Thân chúc quí vị tinh tấn thực hành, sớm đạt kết quả :- “SỐNG VỚI CHÂN NHƯ”