CHAN TRUYEN DAN DAO TIEU CHU THIEN CONG 真傳丹道小周天功

CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG

真傳丹道小周天功

真傳丹道小周天功

CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG–真傳丹道小周天功

CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG

CHAN TRUYEN DAN DAO TIEU CHU THIEN CONG

真傳丹道小周天功
CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG–真傳丹道小周天功
CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG:
真傳丹道小周天功

*LGT: – Công phu tu Đạo trải qua bốn bước: –

-Luyện tinh hóa Khí.
-Luyện khí hóa Thần.
-Luyện thần hoàn Hư.
-Luyện Hư hoàn Vô.

Đây là bước đầu của việc tu tập công phu Đạo gia (thuộc về giai đoạn “Thất nhật thể dương tinh” và “Bá nhật trúc cơ”).

Xin giới thiệu cùng quí huynh đệ tham khảo và ứng dụng để tăng trưởng sức khỏe.

Trân trọng.

———————
真傳丹道小周天功

蕭天義老先生

內家「渾元門」一代宗師蕭天義老先生傳下來的正宗內丹功的築基法門,承鐘呂一脈,屬大道功法,易學易練。正確修習十多天后,即可「入靜」,產生元陽真 氣;練功百日後,可打通「小周天」;大約經過三百日,真氣便會凝結成「內丹」,形若彈圓,色同朱橘,永鎮下丹田。至此,可得返老還童、延年益壽之效。
功法在每日子時(晚11︰00~凌晨1︰00)和卯時(凌晨5︰00~7︰00)(如無此條件,早晚練功即可),擇一安靜地方,盤膝而坐,頭正身直, 雙目垂簾,舌抵上顎,全身放鬆,雙掌相疊置於小腹處或撫於雙膝上均可。擺好姿勢後,雙目內視下丹田(臍內一寸三分處),摒棄一切思慮、慾望、雜念,用自然 順腹式呼吸法,以鼻吸氣,要求做到深、緩、勻、細,但不能勉力而行,須順其自然。以意將吸入的氣微微送入下丹田內,與先天而存、潛伏於下丹田處的元陽真氣 相接相合,融為一體。吸氣後,稍作停閉,不用意力;自然地將氣從鼻中輕輕呼出(以耳內無聞其聲為準),呼氣時,意念不要離開下丹田。如此一吸一呼為一息, 息息歸根,反覆習練。開始可先練十多分鐘,以後隨功力進展,逐漸延長。
功法要領在功法鍛鍊中,隨著意、息的高度協調統一,當思緒已完全平息,身心進入完全松靜的狀態時,忽然會覺得下丹田一動,隨之再動又漸溫熱,彷彿一團 模糊之物從中超然而出,身心內外,有一股氤氤氳氳的虛無恍惚氣象。如此情況,即是先天元陽真氣產生,古氣功術語稱作「道自虛無生一氣」。此時,練功者須守 住心神,心不攀緣,亦不著相。具體來說,就是要做到既不歡喜,也不驚疑,更不要用思維去分析這到底是怎麼回事。總之,應保持一種物我兩忘的狀態,無論功中 境界如何玄妙,皆以平常心待之,本來如此,沒什麼好希奇的。可以說,練內丹功,即是一個磨煉心性的過程。練功者要不斷磨去自己的執著心,千萬不要去妄求速 成。須知修習靜功之事,實是半分勉強不得,越是心煩氣躁,越不容易取得功效。所謂「欲速則不達」,誠為至理。
不斷練功,入靜境界日漸穩定,下丹田中的溫熱感,便緩緩瀰漫開來,此時形神合一,彷彿全身都融入虛空之中。如能保持心性不為諸緣所動,意念達到如明 鏡,如止水,淨瑩澄澈,如入恍惚杳冥之中時,習者會感到下丹田氣動,接著感到有一股強而有力的真氣從下丹田開始流注循環,先達會陰,過尾閭,沿督脈上行, 經夾脊,至玉枕,再到百會,順前額下至面頰,過「鵲橋」(指舌),接入任脈,仍然回到下丹田。這就是人們所說的「氣通小周天」。氣通小周天后,真氣可以沿 著任督二脈,週而復始、如環無端地自動運轉,愈煉愈純,久之凝結成丹。
習練丹道小周天功,有一個采「小藥」的過程。精神虛極靜篤後,則元神顯現;元神顯現,則元氣生;元氣生,則元精產。元精,即是煉就內丹的重要「藥 物」。元精產出後,陽氣振作,丹田處會有一種溫熱、舒泰、暢美難言的感覺,同時外腎興起。此時即閉目以意內視下丹田,呼吸的氣息要深入該處,吸氣時加意 念,意隨息而行,與元陽真氣打成一片;呼氣時不管它,隨其自然。如此一吸一呼為一息,息息歸根,意念集中於丹田。值得注意的是,吸氣時意雖隨息而行,但切 不可執著於呼吸。大約十至數十息,外腎即會完全軟縮,恢復常態。元精就被采回,歸還於下丹田之中,復化為氣態。此步功法,道家亦稱為「煉精化氣」。唯真氣 充足至一定程度,才會自動循小周天路線運行,打通三關,完成築基之功。
在氣通小周天的過程中,若真氣充足,循經而行時,神意要隨著真氣走;若真氣不足而停下來時,則神意也要停下來,繼續溫養下丹田,待真氣力量充實了,再 順其自然而行。此種情況,古氣功術語稱作是「彼是主來我為賓」,即讓識神退位,元神主事,虛靜無為,在真氣的自動運行中,體悟自然之理。
打通小周天,對修煉內丹功者來說,是一個至關重要的階段,標誌著本身功力取得了質變性的突破。功至此境,可保身無疾病。祖國傳統醫學理論認為: 陰陽失 調,乃百病之源。而小周天一旦打通,水火既濟,達到高度的「陰平陽秘」,病源消除了,各種沉痾痼疾自會霍然而愈。如筆者自幼因先天不足,患了肺炎、腸胃炎 等多種疾病,體質極弱,動不動就傷風感冒, 數病齊發,苦不堪言。後來,所患肺炎又轉化為肺結核,確診時已是三期重症,名醫束手,藥石無效。絕望之際,幸遇恩師,從之修煉此丹道小周天功,數月後,身 體即全面恢復健康,與以前相比,判若兩人。由此可見,丹道小周天功的祛病強身作用,是十分巨大的。亦正因此,在內丹家看來,只有通過修煉小周天功,才能夠 徹底祛除致病根源,促進身心素質的全面提高,從而奠定進修高層次功法——丹道大周天功的基礎。
功理大道至簡至易。此功練法雖然簡單,但其功理卻十分深邃。內丹家根據丹經中「傚法天地」的思想,並結合自身的修煉實踐,提出了以後天之氣交結先天之 氣,使得氣壯神滿,結成內丹的理論和方法。認為意是性、神,元神為體,真意為用,真意是元神的動態。在練功中,通過調整心神,達到「自然無為」的先天境 地,意氣自然合一,呼吸之氣就可隨著真意的引導,深入到下丹田,與先天而存的元陽真氣相接相合,將其激發出來,再經過「煉精化氣」,不斷補充人體因思慮而 耗散的真元之氣。真氣愈積愈多,經小周天火候烹煉,神氣相抱,便會凝結成內丹。內丹家認為,只有修煉出元陽真氣,使其沿小周天路線運轉,結成內丹,才能真 正保證人體的健康,從而有可能進一步去探索生命的奧秘。

CHÂN TRUYỀN ĐAN ĐẠO TIỂU CHU THIÊN CÔNG

Tiêu Thiên Nghĩa
Nội gia “Hồn Nguyên Môn” là nhất đại tông sư do Tiêu Thiên Nghĩa lão tiên sanh truyền lại cho đời sau chánh tông nội đan công, chính là trúc cơ pháp môn, kế thừa theo đường lối của Chung Lữ. Mong rằng đại đạo công pháp, dễ học dễ luyện.

Nếu tu tập chính xác sau hơn 10 ngày, có thể “nhập tĩnh”, sản sanh nguyên dương chân khí, luyện công sau 100 ngày, có thể đả thông “tiểu chu thiên”, khoảng hơn 300 ngày, chân khí tụ hội ngưng kết thành “nội đan”, hình như viên đạn, màu như quả chu quất, giữ lâu ở hạ đan điền.

Đến đó, có thể được phản lão hoàn đồng, được hiệu nghiệm diên niên ích thọ.

Công pháp tại mỗi ngày vào giờ Tý (sau 23g00 đến 1g00 đêm) và giờ Mão (từ 5g00 đến 7g00 sáng) (nếu như không đủ điều kiện như thế, thì sáng tối luyện công cũng được).

Chọn ở 1 nơi an tĩnh, ngồi xếp bằng (song bàn tất hoặc đơn bàn tất), đầu ngay thân thẳng, hai mắt khép hờ, lưỡi chạm nướu trên, toàn thân thả lỏng, hai bàn tay xếp lại trước bụng hoặc đặt trên hai đầu gối cũng được.

Sau khi ổn định tư thế, hai mắt nhìn vào hạ đan điền (khoảng dưới rốn một thốn ba phân), bỏ hết tất cả tư lự, dục vọng, tạp niệm, dùng cách thở bụng thuận tự nhiên, dùng mũi hít vào, cần yếu là phải sâu, chậm rãi, đều, nhỏ nhẹ, không được ráng sức mà làm, điều chỉnh thuận theo tự nhiên.

Lấy ý cùng theo hơi hít vào đưa vào trong hạ đan điền, cùng giữ với tiên thiên, tiềm phục đến hạ đan điền thì nguyên dương chân khí tương tiếp tương hợp, hoà đều thành một thể.

Hít hơi vào rồi, khéo dừng đóng lại, không dùng ý lực; tự nhiên hơi thở sẽ theo mũi nhẹ nhẹ thở ra (lấy tai “không nghe tiếng hơi thở” làm chuẩn), lúc thở ra như vậy ý niệm phải chẳng rời hạ đan điền.

Như vậy một hấp một hô là một tức, tức tức theo nhau về gốc, lần lượt tập luyện. Lúc bắt đầu có thể trước luyện mỗi lần khoảng hơn mười phút thì dừng, về sau tùy công lực tiến triển, dần dần tập luyện kéo dài thời gian hơn.

Yếu lĩnh của công pháp ở chỗ trong khi rèn luyện, nương nhờ vào ý, tức là bậc cao hiệp điều thống nhất, ngay đó hình dung như là một sợi tơơ nối tiếp không dứt để hơi thở hoàn toàn quân bình, thân tâm bước vào trạng thái hoàn toàn buông lỏng vắng lặng, hốt nhiên cảm thấy được một chuyển động ở hạ đan điền, theo đó lại có động lại dần dần ấm nóng, phảng phất có những biểu hiện như có một vật từ trong siêu nhiên xuất hiện, thân tâm trong ngoài có một khối khí hòa hợp ấm áp hiển bày hư vô hoảng hốt khí tượng.

Tình huống như thế, chính là tiên thiên nguyên dương chân khí sản sanh, thuật ngữ cổ khí công gọi là “đạo tự hư vô sanh nhất khí”.

Lúc đó, cần luyện công tu giữ gìn tâm thần, tâm không buông lung chuyền níu, cũng chẳng bám chấp. Cụ thể mà nói chỉ là yếu tố : đến thì chẳng sanh lòng vui mừng, cũng không nghi ngờ kinh sợ, phải phân biệt được đến chỗ tận cùng vi tế. Tóm lại chỉ phải giữ gìn một trạng thái ta và vật đều quên.

Chẳng kể trong công phu có cảnh giới huyền diệu ra sao cũng đều lấy tâm bình thường mà đối đãi, trước sau đều như thế, không có một chút mong cầu đến các điều tốt đẹp. Có thể nói đây chính là một quá trình rèn luyện tâm tính.

Luyện công cần yếu phải không ngừng bỏ đi tâm bám chấp các việc đã qua, ngàn vạn chẳng mong cầu thành công sớm.

Phải biết công việc tu tập tĩnh công nếu có phân nửa miễn cường cũng không được, quá mong chỉ làm tâm phiền khí táo, quá mong thì chẳng thể dễ dàng thu được công hiệu.

Nói rằng “muốn nhanh thì chẳng thành”, thật đúng lý này vậy.

Luyện công chẳng dừng, cảnh giới nhập tĩnh ngày càng dần dần ổn định, trong hạ đan điền luôn có cảm giác ấm nóng, tỏa ra thong thả trọn đầy càng nhiều thêm ra, lúc đó hình thần hợp nhất, phảng phất toàn thân cùng hòa nhập vào trong hư không.

Vẫn giữ gìn được tâm tính chẳng động theo các vọng duyên, ý niệm được như gương sáng, như nước đứng, rặc ròng thanh tịnh, như nhập vào chốn thăm thẳm mờ mịt bao la mênh mông, người tập cảm nhận có khí động ở hạ đan điền, sau đó cảm thấy có một luồng chân khí từ hạ đan điền bắt đầu phát ra tuôn chảy tuần hoàn, trước đến Hội Âm, qua Vĩ Lư, theo Đốc mạch chạy lên, qua Giáp Tích, đến Ngọc Chẩm, lại đến Bách Hội, thuận theo trước trán xuống đến mặt, qua “Thước Kiều” (chỉ thiệt), rồi vào nhâm mạch, quay về Hạ Đan Điền.

Tiến trình ấy gọi là “khí thông tiểu chu thiên”. Từ khi khí thông tiểu chu thiên về sau, chân khí có thể noi theo Nhâm Đốc hai mạch, quay vòng rồi trở về chỗ ban đầu, như vòng tròn không có đầu mối, cứ như thế mà tự động vận chuyển, càng luyện càng thuần, lâu dần ngưng kết thành đan.

Trong quá trình tập luyện đan đạo tiểu chu thiên công, có một giai đoạn thái “tiểu dược”.

Tinh thần hư cực tĩnh đốc về sau thì nguyên thần hiển hiện, nguyên thần hiển hiện thì nguyên khí sanh, nguyên khí sanh thì nguyên tinh sản. Nguyên tinh chính là luyện tựu nội đan trọng yếu “dược vật”.

Nguyên tinh sản xuất về sau, dương khí lại có chấn động, nơi đan điền ấm nóng, thư thái, sướng đẹp khó nói cho rõ cảm giác, đồng thời ngoại thận hưng khởi.

Lúc đó lập tức nhắm mắt lấy ý nhìn vào hạ đan điền, hơi thở hô hấp cần yếu phải vào sâu trọn vẹn, hít hơi vào thì thêm ý niệm, ý tùy hơi thở mà đi, cùng nguyên dương chân khí hướng thành một khối, thở ra thì chẳng để ý chỉ để thuận theo tự nhiên. Như vậy một hơi vào một hơi ra là một tức, tức tức theo nhau về gốc, ý niệm tập trung nơi đan điền.

Giữ được sự chú ý như vậy, hít vào thì ý noi theo hơi thở mà đi, nhưng cần phải không được bám chấp vào hô hấp. Khoản chừng hơn 10 hơi, ngoại thận sẽ hoàn toàn trở về trạng thái bình thường, nguyên tinh đã thải hồi, về lại trong hạ đan điền mà phục hóa thành khí.

Bộ công pháp này Đạo gia cũng gọi là “luyện tinh hóa khí”.

Riêng chỉ thi hành khi chân khí sung túc. Đến một trình độ nhất định sẽ tự động vận hành theo đường đi của tiểu chu thiên, đả thông tam quan, hoàn thành công phu trúc cơ.

Trong quá trình khí thông tiểu chu thiên, nếu chân khí sung túc, lúc tuần hành theo trên đường, thần ý cần yếu bám theo chân khí chạy, nếu chân khí không đủ mà dừng lại thì thần ý cần phải dừng lại, tiếp tục ôn dưỡng hạ đan điền, đến khi chân khí lực lượng sung thật đã mạnh, lại tiếp tục thuận theo tự nhiên mà đi.

Tình huống này thuật ngữ cổ khí công gọi là “bỉ thị chủ lai ngã vi tân”, tức là thức thần lui khỏi chỗ nhường cho nguyên thần chủ sự, hư tĩnh vô vi, trong khi chân khí tự động vận hành, thể ngộ lí tự nhiên.

Đả thông tiểu chu thiên, đối với tu luyện nội đan công mà nói, chính là một giai đoạn trọng yếu, đạt được chỉ nhờ vào công lực bản thân thủ đắc liễu chất biến tính đột phá. Công phu đến cảnh giới này, có thể giúp cho thân không tật bệnh. Trong truyền thống y học nước nhà, lí luận đã nói: âm dương không điều hòa là nguồn của bệnh.

Mà tiểu chu thiên một khi đả thông, thủy hỏa kí tế, đạt được cao độ của “âm bình dương bí”, nguồn bệnh đã trừ sạch, các chứng trầm kha cố tật tự nhiên sẽ lành.

Như kẻ viết bài này thuở nhỏ do tiên thiên chẳng đủ, mà mắc phải bệnh viêm phổi rất nặng, lại thêm đường ruột mang nhiều bệnh khác nhau, thể chất rất yếu, thời tiết thay đổi hay bị thương phong cảm mạo, nhiều bệnh phát một lượt, khổ không kể siết.

Sau đó chỗ phổi bị viêm lại kết hạch, khám bệnh xác định là bệnh nặng đến thời kỳ thứ ba. Thầy thuốc giỏi bó tay, thuốc thang vô hiệu, tuyệt vọng đúng mức.

May mà gặp được ân sư, theo chỉ dẫn mà tu luyện đan đạo tiểu chu thiên công pháp này, hơn một tháng sau thân thể lập tức khôi phục kiện khang toàn diện, so với khi trước như hai người khác nhau. Qua đó có thể thấy đan đạo tiểu chu thiên công có tác dụng trừ bệnh cường thân chắc chắn cả mười phần.

Cũng nhân đây xem qua trong các nhà nội đan, có thông qua quá trình tu luyện tiểu chu thiên công đều có khả năng triệt để khu trừ tận đến nguồn gốc của bệnh, thay đổi thân tâm tố chất đến toàn diện, theo đó tiến tu lên công pháp bậc cao làm cơ sở cho Đan đạo đại chu thiên công.

Công lí của đại đạo thật là giản dị, mặc dù công pháp giản dị, nhưng công lí thì mười phần thâm thúy.

Các nhà Nội Đan căn cứ trong Đan kinh với tư tưởng “hiệu pháp thiên địa”, đem kết hợp với quá trình tu luyện thật tiễn của tự thân, đề xuất ra lấy khí hậu thiên đem giao kết với khí tiên thiên, mà được khí tráng thần mãn, kết thành lí luận cùng phương pháp nội đan.

Nhận định ý là tính, là thần. Nguyên thần là thể, chân ý là dụng. Chân ý chính là động thái của nguyên thần.
Trong khi luyện công, thông qua điều chỉnh tâm thần, đạt đến “tự nhiên vô vi” chính là cảnh giới của tiên thiên, ý khí tự nhiên hợp nhất, khí hô hấp có thể noi bám theo chân ý dẫn đường, thâm nhập đến hạ đan điền, cùng tồn tại với tiên thiên, chính là nguyên dương chân khí tương tiếp tương hợp cùng nhau kích phát xuất lai, lại trải qua “luyện tinh hóa khí”, không ngừng bổ sung nhân thể đã vì tư lự mà háo tán khí chân nguyên.

Chân khí tích lũy đã nhiều, trải qua tiểu chu thiên hỏa hậu phanh luyện, thần khí nương nhau giúp nhau mà được ngưng kết thành nội đan.

Các nhà nội đan gia nhận định chỉ có tu luyện xuất nguyên dương chân khí, noi theo tiểu chu thiên lộ tuyến mà vận chuyển, kết thành nội đan, sẽ chân chánh bảo chứng thân thể được kiện khang, từ đó có khả năng tiến qua một bước tham tác áo bí của sanh mệnh. (luyện khí hóa thần)

—————–

Nội gia “Hồn Nguyên Môn” là nhất đại tông sư do Tiêu Thiên Nghĩa lão tiên sanh truyền lại cho đời sau chánh tông nội đan công, chính là trúc cơ pháp môn, kế thừa theo đường lối của Chung Lữ. Mong rằng đại đạo công pháp, dễ học dễ luyện. Nếu tu tập chính xác sau hơn 10 ngày, có thể “nhập tĩnh”, sản sanh nguyên dương chân khí, luyện công sau 100 ngày, có thể đả thông “tiểu chu thiên”, khoảng hơn 300 ngày, chân khí tụ hội ngưng kết thành “nội đan”, hình như viên đạn, màu như quả chu quất, giữ lâu ở hạ đan điền. Đến đó, có thể được phản lão hoàn đồng, được hiệu nghiệm diên niên ích thọ.

Công pháp tại mỗi ngày vào giờ Tý (sau 23g00 đến 1g00 đêm) và giờ Mão (từ 5g00 đến 7g00 sáng) (nếu như không đủ điều kiện như thế, thì sáng tối luyện công cũng được ), chọn ở 1 nơi an tĩnh , ngồi xếp bằng (song bàn tất hoặc đơn bàn tất) , đầu ngay thân thẳng, hai mắt khép hờ, lưỡi chạm nướu trên, toàn thân thả lỏng, hai bàn tay xếp lại trước bụng hoặc đặt trên hai đầu gối cũng được. Sau khi ổn định tư thế, hai mắt nhìn vào hạ đan điền (khoảng sau rốn (?) một thốn ba phân), bỏ hết tất cả tư lự, dục vọng, tạp niệm, dùng cách thở bụng thuận tự nhiên, dùng mũi hít vào, cần yếu là phải sâu, chậm rãi, đều, nhỏ nhẹ, không được ráng sức mà làm, điều chỉnh thuận theo tự nhiên. Lấy ý cùng theo hơi hít vào đưa vào trong hạ đan điền, cùng giữ với tiên thiên, tiềm phục đến hạ đan điền thì nguyên dương chân khí tương tiếp tương hợp, hoà đều thành một thể. Hít hơi vào rồi, khéo dừng đóng lại, không dùng ý lực; tự nhiên hơi thở sẽ theo mũi nhẹ nhẹ thở ra (lấy tai không nghe tiếng hơi thở làm chuẩn), lúc thở ra như vậy ý niệm phải chẳng rời hạ đan điền. Như vậy một hấp một hô là một tức, tức tức theo nhau về gốc, lần lược tập luyện. Lúc bắt đầu có thể trước luyện mỗi lần khoảng hơn mười phút thì dừng, về sau tùy công lực tiến triển, dần dần tập luyện kéo dài thời gian hơn.

Yếu lĩnh của công pháp ở chỗ trong khi rèn luyện, nương nhờ vào ý, tức là bậc cao hiệp điều thống nhất, ngay đó hình dung như là một sợi tơ nối tiếp không dứt để hơi thở hoàn toàn quân bình, thân tâm bước vào trạng thái hoàn toàn buông lỏng vắng lặng, hốt nhiên cảm thấy được một chuyển động ở hạ đan điền, theo đó lại có động lại dần dần ấm nóng, phảng phất có những biểu hiện như có một vật từ trong siêu nhiên xuất hiện, thân tâm trong ngoài có một khối khí hòa hợp ấm áp hiển bày hư vô hoảng hốt khí tượng. Tình huống như thế, chính là tiên thiên nguyên dương chân khí sản sanh, thuật ngữ cổ khí công gọi là “đạo tự hư vô sanh nhất khí ”. Lúc đó, cần luyện công tu giữ gìn tâm thần, tâm không buông lung chuyền níu, cũng chẳng bám chấp. Cụ thể mà nói chỉ là yếu tố : đến thì chẳng sanh lòng vui mừng, cũng không nghi ngờ kinh sợ, phải phân biệt được đến chỗ tận cùng vi tế. Tóm lại chỉ phải giữ gìn một trạng thái ta và vật đều quên. Chẳng kể trong công phu có cảnh giới huyền diệu ra sao cũng đều lấy tâm bình thường mà đối đãi, trước sau đều như thế, không có một chút mong cầu đến các điều tốt đẹp. Có thể nói đây chính là một quá trình rèn luyện tâm tính. Luyện công cần yếu phải không ngừng bỏ đi tâm bám chấp các việc đã qua, ngàn vạn chẳng mong cầu thành công sớm. Phải biết công việc tu tập tĩnh công nếu có phân nửa miễn cường cũng không được, quá mong chỉ làm tâm phiền khí táo, quá mong thì chẳng thể dễ dàng thu được công hiệu. Nói rằng “muốn nhanh thì chẳng thành”, thật đúng lý này vậy.
Luyện công chẳng dừng, cảnh giới nhập tĩnh ngày càng dần dần ổn định, trong hạ đan điền luôn có cảm giác ấm nóng, tỏa ra thong thả trọn đầy càng nhiều thêm ra, lúc đó hình thần hợp nhất, phảng phất toàn thân cùng hòa nhập vào trong hư không. Vẫn giữ gìn được tâm tính chẳng động theo các vọng duyên, ý niệm được như gương sáng, như nước đứng, rặc ròng thanh tịnh, như nhập vào chốn thăm thẳm mờ mịt bao la mênh mông, người tập cảm nhận có khí động ở hạ đan điền, sau đó cảm thấy có một luồng chân khí từ hạ đan điền bắt đầu phát ra tuôn chảy tuần hoàn, trước đến Hội Âm, qua Vĩ Lư, theo Đốc mạch chạy lên, qua Giáp Tích, đến Ngọc Chẩm, lại đến Bách Hội, thuận theo trước trán xuống đến mặt, qua “Thước Kiều”(chỉ thiệt ), rồi vào nhâm mạch, quay về Hạ Đan Điền. Tiến trình ấy gọi là “khí thông tiểu chu thiên”. Từ khi khí thông tiểu chu thiên về sau, chân khí có thể noi theo Nhâm Đốc hai mạch, quay vòng rồi trở về chỗ ban đầu, như vòng tròn không có đầu mối, cứ như thế mà tự động vận chuyển, càng luyện càng thuần, lâu dần ngưng kết thành đan.
Trong quá trình tập luyện đan đạo tiểu chu thiên công, có một giai đoạn thái “tiểu dược ”. Tinh thần hư cực tĩnh đốc về sau thì nguyên thần hiển hiện, nguyên thần hiển hiện thì nguyên khí sanh, nguyên khí sanh thì nguyên tinh sản. Nguyên tinh chính là luyện tựu nội đan trọng yếu “dược vật ”. Nguyên tinh sản xuất về sau, dương khí lại có chấn động, nơi đan điền ấm nóng, thư thái, sướng đẹp khó nói cho rõ cảm giác, đồng thời ngoại thận hưng khởi. Lúc đó lập tức nhắm mắt lấy ý nhìn vào hạ đan điền, hơi thở hô hấp cần yếu phải vào sâu trọn vẹn, hít hơi vào thì thêm ý niệm, ý tùy hơi thở mà đi, cùng nguyên dương chân khí hướng thành một khối, thở ra thì chẳng để ý chỉ để thuận theo tự nhiên. Như vậy một hơi vào một hơi ra là một tức, tức tức theo nhau về gốc, ý niệm tập trung nơi đan điền. Giữ được sự chú ý như vậy, hít vào thì ý noi theo hơi thở mà đi, nhưng cần phải không được bám chấp vào hô hấp. Khoản chừng hơn 10 hơi, ngoại thận sẽ hoàn toàn trở về trạng thái bình thường, nguyên tinh đã thải hồi, về lại trong hạ đan điền mà phục hóa thành khí. Bộ công pháp này Đạo gia cũng gọi là “luyện tinh hóa khí ”. Riêng chỉ thi hành khi chân khí sung túc. Đến một trình độ nhất định sẽ tự động vận hành theo đường đi của tiểu chu thiên, đả thông tam quan, hoàn thành công phu trúc cơ.
Trong quá trình khí thông tiểu chu thiên, nếu chân khí sung túc, lúc tuần hành theo trên đường, thần ý cần yếu bám theo chân khí chạy, nếu chân khí không đủ mà dừng lại thì thần ý cần phải dừng lại, tiếp tục ôn dưỡng hạ đan điền, đến khi chân khí lực lượng sung thật đã mạnh, lại tiếp tục thuận theo tự nhiên mà đi. Tình huống này thuật ngữ cổ khí công gọi là “bỉ thị chủ lai ngã vi tân ”, tức là thức thần lui khỏi chỗ nhường cho nguyên thần chủ sự, hư tĩnh vô vi, trong khi chân khí tự động vận hành, thể ngộ lí tự nhiên.
Đả thông tiểu chu thiên, đối với tu luyện nội đan công mà nói, chính là một giai đoạn trọng yếu, đạt được chỉ nhờ vào công lực bản thân thủ đắc liễu chất biến tính đột phá. Công phu đến cảnh giới này, có thể giúp cho thân không tật bệnh. Trong truyền thống y học nước nhà, lí luận đã nói:âm dương không điều hòa là nguồn của bệnh. Mà tiểu chu thiên một khi đả thông, thủy hỏa kí tế, đạt được cao độ của “âm bình dương bí”, nguồn bệnh đã trừ sạch, các chứng trầm kha cố tật tự nhiên sẽ lành . Như kẻ viết bài này thuở nhỏ do tiên thiên chẳng đủ, mà mắc phải bệnh viêm phổi rất nặng, lại thêm đường ruột mang nhiều bệnh khác nhau, thể chất rất yếu, thời tiết thay đổi hay bị thương phong cảm mạo, nhiều bệnh phát một lượt, khổ không kể siết. Sau đó chỗ phổi bị viêm lại kết hạch, khám bệnh xác định là bệnh nặng đến thời kỳ thứ ba. Thầy thuốc giỏi bó tay, thuốc thang vô hiệu, tuyệt vọng đúng mức. May mà gặp được ân sư, theo chỉ dẫn mà tu luyện đan đạo tiểu chu thiên công pháp này, hơn một tháng sau thân thể lập tức khôi phục kiện khang toàn diện, so với khi trước như hai người khác nhau. Qua đó có thể thấy đan đạo tiểu chu thiên công có tác dụng trừ bệnh cường thân chắc chắn cả mười phần. Cũng nhân đây xem qua trong các nhà nội đan, có thông qua quá trình tu luyện tiểu chu thiên công đều có khả năng triệt để khu trừ tận đến nguồn gốc của bệnh, thay đổi thân tâm tố chất đến toàn diện, theo đó tiến tu lên công pháp bậc cao làm cơ sở cho Đan đạo đại chu thiên công.
Công lí của đại đạo thật là giản dị, mặc dù công pháp giản dị, nhưng công lí thì mười phần thâm thúy. Các nhà Nội Đan căn cứ trong Đan kinh với tư tưởng “hiệu pháp thiên địa ”, đem kết hợp với quá trình tu luyện thật tiễn của tự thân, đề xuất ra lấy khí hậu thiên đem giao kết với khí tiên thiên, mà được khí tráng thần mãn, kết thành lí luận cùng phương pháp nội đan. Nhận định ý là tính, là thần. Nguyên thần là thể, chân ý là dụng. Chân ý chính là động thái của nguyên thần. Trong khi luyện công, thông qua điều chỉnh tâm thần, đạt đến “tự nhiên vô vi ” chính là cảnh giới của tiên thiên, ý khí tự nhiên hợp nhất, khí hô hấp có thể noi bám theo chân ý dẫn đường, thâm nhập đến hạ đan điền, cùng tồn tại với tiên thiên, chính là nguyên dương chân khí tương tiếp tương hợp cùng nhau kích phát xuất lai, lại trải qua “luyện tinh hóa khí ”, không ngừng bổ sung nhân thể đã vì tư lự mà háo tán khí chân nguyên. Chân khí tích lũy đã nhiều, trải qua tiểu chu thiên hỏa hậu phanh luyện, thần khí nương nhau giúp nhau mà được ngưng kết thành nội đan. Các nhà nội đan gia nhận định chỉ có tu luyện xuất nguyên dương chân khí, noi theo tiểu chu thiên lộ tuyến mà vận chuyển, kết thành nội đan, sẽ chân chánh bảo chứng thân thể được kiện khang, từ đó có khả năng tiến qua một bước tham tác áo bí của sanh mệnh.

 

 

CON DUONG QUI NGUYEN PHAN BAN THEO NHO GIAO

CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO

CON DUONG QUI NGUYEN PHAN BAN THEO NHO GIAO

 

CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO
*Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ

I.- KHÁI QUÁT: –
Được làm công việc này để tấu khúc hoà ca cùng quý vị đại diện cho nhiều tôn giáo có mặt nơi đây, và cũng là để đóng góp trong muôn một vào công trình chung, đi tìm một chân lý đại đồng, tôi rất hứng khởi và liên tưởng đến mấy lời đức Khổng xưa đã nói trong Hệ từ hạ (chương 5).

Thiên hạ hà tư hà lự 天 下 何 思 何 慮

Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ 天 下 同 歸 而 殊 途

Nhất trí, nhi bách lự 一 致 而 百 慮

Thiên hạ hà tư hà lự! 天 下 何 思 何 慮

* Tạm dịch:

Dạy rằng: muôn sự trên đời

Cần chi lo nghĩ rối bời mà chi

Muôn đường nhưng vẫn đồng qui

Trăm chiều lo lắng rút về một căn

Cần gì mà phải băn khoăn

Cần gì mà phải bận tâm lo lường.
Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ lần lượt trình bày cùng quí vị những đóng góp của Tứ Thư, Ngũ Kinh vào công trình đi tìm Thượng Đế tiềm ẩn đáy lòng, tức là vào công trình xây đắp con đường Qui Nguyên Phản Bản, lý tưởng theo thánh hiền Nho giáo.

Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ dùng TÂM ĐIỂM và vòng TRÒN bên ngoài với hai chiều thuận nghịch để trình bày những tư tưởng then chốt của Tứ Thư, Ngũ kinh, đồng thời cũng để minh định rằng con đường quy nguyên phản bản cuả Nho giáo chính là con đường hồi hướng, con đường quay về Tâm để mà tìm Đạo, tìm Trời hoặc quay về gốc, trở về nguồn.

Nhìn vào đồ hình này, ta sẽ thấy ngay chủ trương chính yếu của Nho giáo có thể tóm tắt như sau:

1. Thái Cực, hay ĐẠO hay TRỜI hay THƯỢNG ĐẾ là bản thể tuyệt đối, là căn nguyên duy nhất, sinh suất ra quần sinh vũ trụ, vừa siêu suất (transcendent), vừa ẩn tàng (immanent) trong lòng sâu, trong TÂM ĐIỂM vạn hữu, nhân quần, để làm trục cốt, căn cơ, âm thầm chỉ huy, hướng dẫn mọi cuộc biến thiên, tiến thoái.

2. Vạn hữu, vạn tượng, vũ trụ, quần sinh, những hình tướng biến thiên, những công dụng biến thiên đa tạp cuả một bản thể tuyệt đối, của một Thái Cực hợp lại thành một vòng biến thiên Sinh Tử. Những Vòng Tròn biến thiên bên ngoài, tuy là biến thiên sinh tử, nhưng vẫn có vinh hạnh mang trong lòng mình một căn cơ, một nguồn sinh HẰNG CỬU, BẤT DIỆT.

3. Thượng Đế hay Thái Cực, ở nơi tâm điểm với vạn tượng, vạn hữu hay giữa các quẻ ở vòng tròn bên ngoài có liên lạc mật thiết với nhau:

– Từ tâm điểm, từ Thượng Đế ra vòng tròn bên ngoài hay ra vạn tượng vạn hữu bên ngoài là chiều suy thoái, phóng phát ly tán, phân kỳ, hướng ngoại. Đó là chiều NHẤT TÁN VẠN, đó là chiều sinh Nhân sinh Vật.

– Từ TÂM ĐIỂM chuyển dịch, biến hoá ra vòng bên ngoài, rồi lại từ vòng bên ngoài chuyển dịch biến hoá quay trở về Tâm Điểm vẽ thành một vòng CHU DỊCH, hay một vòng biến hoá ĐẠI TUẦN HOÀN, hay ĐẠI CHU THIÊN.

Thế tức là VẠN VẬT TUẦN HOÀN CHUNG NHI PHỤC THỦY, để thực hiện điều Đại Huyền Kỳ của Trời Đất là Thủy Chung Như Nhất, mà Âu Châu gọi là Alpha = Omega (Alpha là đầu, là Thủy, vì chữ Alpha là chữ đầu trong mẫu tự Hi Lạp, Omega là chữ cuối cùng.)

– Kinh Dịch gọi là:

Nguyên Thuỷ Yếu Chung 原 始 要 終 (Dịch, Hệ Từ Hạ, chương IX)

Nguyên Thuỷ Phản Chung 原 始 反 終 (Dịch, Hệ Từ Thượng, chương IV)

– Thiệu Khang Tiết viết: «Vạn Vật tòng trung nhi khởi, tòng trung nhi chung.»

– Văn Đạo Tử viết: «Mới đầu từ trong thuận hành mà sinh, cuối cùng lại trở lại để ẩn tàng tại trung điểm tại trung Hoàng Thái Cực tìm lại được Bản Lai Diện Mục của mình. » [1]

– Nguyễn Ấn Trường, tác giả quyển Tạo Hoá Thông cho rằng: «Thái Cực là Một vậy. Vạn vật bắt đầu từ một và kết thúc ở Một. Trang Tử gọi thế là: «Xuất cơ, nhập cơ.» [2]

Cuộc biến dịch, tuần hoàn trong vũ trụ như vậy thực là có nhịp điệu, tiết tấu, chiều hướng, giai trình. Ta có thể theo dõi sự diễn biến ấy từ đầu đến đuôi được. Tất cả chỉ là một Nguồn sinh hoá diễn biến dần dà từ trung tâm ra tới các tầng lớp bên ngoài, rồi lại chuyển hoá, xoay mình băng qua các lớp biến thiên từ ngoài vào trong, cho tới Trung Tâm Nguyên Thủy, tạo thành một vòng biến thiên, một vòng sinh hoá có lớp lang, tiết tấu mạch lạc, có nguyên ủy thủy chung.

Vòng đại tuần hoàn này của vũ trụ chẳng qua cũng như tình non nước lúc tan lúc hợp, mà

Tản Đà đã ngâm vịnh bằng những lời thơ thắm thiết như sau:

“Cho dù sông cạn đá mòn,

Còn non còn nước hãy còn thề xưa.

Non cao đã biết hay chưa

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

Nước non hội ngộ còn luôn

Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

Nước kia dù hãy còn đi

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non, nước nước, chưa nguôi lời thề.”
(hình 1)

4- Trông vào đồ hình trên (tâm điểm và hình tròn), ta thấy về phương diện nhân sinh quan, Nho giáo chủ trương con đường lý tưởng của nhân loại có hai chiều, hai mặt khác nhau:

a. Một chiều hướng ngoại, cốt phục vụ nhân sinh, điểm tô cho ngoại cảnh, cho gia đình, cho quốc gia, xã hội, cho xác thân, cho vấn đề cơm áo, vật chất. Dịch Kinh gọi thế là chiều Âm.

b. Một chiều hướng nội, cốt để tìm cho ra tinh hoa cốt cách con người, tìm cho ra con đường tâm linh, hướng nội để quy căn, phản bản, tìm cho ra Đạo, ra Trời tiềm ẩn nơi lòng mình. Dịch kinh gọi thế là chiều Dương.

Hai chiều hướng Đạo, Đời nói trên rất là quan yếu.

Kinh Dịch nơi chương 5 Hệ Từ Thượng viết:

«Nhất âm, Nhất dương chi vị Đạo. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã.»

一 陰 一 陽 之 謂 道 . 繼 之 者 善 也 , 成 之 者 性 也.

Tạm dịch: Một âm một dương là đạo. Theo được là tốt, thành toàn được là thực hiện được Thiên tính mình.
Dĩ nhiên trong bài thuyết trình này, tôi sẽ không đề cập đến chiều Âm, chiều phục vụ đời sống gian trần, chiều đem lại phú cường thái thịnh cho giang sơn đất nước, vì đó không phaỉ là chủ đề nghiên cứu của chúng ta hiện nay. Tôi sẽ dùng Tứ thư, Ngũ kinh để đề cập đến chiều Dương, đến một vấn đề mà nhiều người tưởng là sở đoản cuả Nho giáo, (tức là nói đạo Khổng không dạy tu thành Tiên , Phật) đó là con đường Đạo đức tâm linh, con đường qui nguyên phản bản.

II.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH DỊCH: –

Kinh Dịch cho rằng:

– Học Dịch cốt là tìm cho ra tâm điểm của bất dịch, ở giữa lòng mọi biến thiên. (Lôi phong hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương. (xem Đại Tượng quẻ Hằng)

– Học Dịch cốt là để tìm cho ra Căn Cơ, Vĩnh Cửu, Tuyệt Đối, tiềm ẩn sẵn trong lòng mình, trở về được CHÍNH VỊ, THIÊN VỊ, sống hạnh phúc, thanh sảng.

Để diễn tả ý ấy:

– Văn ngôn hào lục ngũ, quẻ Khôn có mấy câu bất hủ như sau:

«Quân tử Hoàng Trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã.»

君 子 黃 中 通 理 , 正 位 居 體 , 美 在 其 中 而 暢 於 四 支 , 發 於 事 業 , 美 之 至 也.

* Dịch:

Hiền nhân thông lý Trung Hoàng

Tìm nơi chính vị mà an thân mình,

Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều,

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.
– Học Dịch cốt là CÙNG LÝ, TẬN TÍNH, CHÍ MỆNH. (Thuyết Quái, chương I)

Cùng lý: Là hiểu biết rành rẽ về nguyên lý sự vật.

Tận tính: Là hiểu biết rành rẽ về Bản Tính cao cả của con người.

Chí mệnh: Là thực hiện được định mệnh sang cả của con người, trở thành thánh nhân sáng láng như hai vừng nhật nguyệt, cao xa như trời đất, uyển chuyển tiết tấu như bốn mùa trời.

(Phù Đại nhân giả dữ Thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự, dữ qủi thần hợp kỳ cát hung). (Xem Kiền quái, Văn ngôn, hào cửu ngũ).

Văn Đạo Tử, gần đây cũng chủ trương rằng học Dịch cốt là để tìm cho ra căn cốt tinh hoa của mình, tìm cho ra định mệnh sang cả của mình, tìm cho ra lẽ phản bản hoàn nguyên, chứ không phải vụ chuyện bói toán, sấm vĩ. (xem Văn Đạo Tử, Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, trang 9, quyển I. – Xem Dịch Học Nhập Môn của tác giả).

-Dịch Kinh dạy chúng ta phải “Tẩy Tâm, thoái tàng ư mật”. Hệ Từ Thượng chương XI: «Tẩy rửa tâm hồn, rút lui về nơi tâm linh ẩn náu.»

-Dịch Kinh dạy cho chúng ta biết lẽ đời, lẽ Đạo hết sức là rõ ràng:

Thuận thì sinh nhân, sinh vật,

Nghịch thì sinh Thánh, sinh thần. [3]

Tán thời sinh nhân, sinh vật (THÁI CỰC ―> ÂM + DƯƠNG)

Tụ thì sinh thánh, sinh thần (ÂM + DƯƠNG ―> THÁI CỰC)

KHÍ + THẦN ―> ĐƠN [4]

NHÂN +THIÊN ―> ĐẠO, NHẤT.
Và như vậy: Nương theo dịch lý, Chúng ta có thể khẳng định rằng: Không biết hướùng nội, không biết hướng tâm, không biết thu thần định trí, suốt đời hướng ngoại, để cho tâm thần tản lạc vào những công việc vụn vặt, bên ngoài thì không thể nào thành thánh, hiền, tiên, phật được.

Thái Hư thị cũng đã nói: «Đơn Đạo, thánh công, không ngoài công trình hoàn phản.» [5]

III.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH THƯ: –

Kinh Thư nơi thiên Đại Vũ Mô, tiết 15, cho ta khẩu quyết để thành thánh hiền:

Nhân tâm duy nguy, 人 心 惟 危

Đạo tâm duy vi, 道 心 惟 微

Duy tinh, duy nhất, 惟 精 惟 一

Doãn chấp, quyết trung. 允 執 厥 中

Dịch:

Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngã nghiêng,

Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức, giữ nguyên lòng Trời.

IV.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH THI: –
Nơi thiên Đại Nhã đã cho chúng ta thấy cả một hoạt cảnh của dân chúng Trung Hoa thời cổ sơ, với niềm tín ngưỡng rất lạ lùng.

Thủa xa xăm ấy, dân chúng như dây dưa mọc lan man, chưa có nhà cửa sống trong hang cốc. (Kinh Thi, chương Đại minh, Miên miên qua diệt)

Họ tin sùng Thượng Đế là tin rằng Thượng Đế sống rất gần gũi với con người. Trong cuộc giao tranh quyết liệt vơí binh sĩ vua Trụ ở Mục Dã, Võ Vương muốn gây tinh thần cho quân sĩ mình đã kêu lên: Thượng Đế ở với ba quân, ba quân đừng nghi ngại.

Kinh Thi viết:

Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,

Một rừng người chật cả sa tràng,

Cho ba quân thêm dạ sắt gan vàng,

Võ Vương kêu: Thượng Đế ở cùng ta đó,

Ba quân hãy vững lòng, vững dạ. [6]

Lời kêu gọi đó làm cho binh sĩ nhà Châu, hứng khởi, ào lên đánh tan quân Thương Ân trong có một buổi sáng.

* Kinh Thi viết thêm:

Nơi Mục Dã mênh mang rộng rãi,

Xe bạch đàn chói chói chang chang,

Ngựa tứ nguyên phau phau đẹp rỡ ràng,

Khương thượng phụ trông oai phong lẫm lẫm,

Ngài như chim ưng xoè tung đôi cánh,

Giúp Võ Vương thế mạnh xiết bao,

Cả phá Thương, ba quân tiến ào ào,

Sau một sáng, trời thanh quang trở lại. [7]

Thời buổi thô sơ ấy, nhân loại đã tin rằng Trời từ đáy thẳm lòng sâu tâm hồn, chiếu diệu ánh sáng muôn trùng ra để làm khuôn phép mẫu mực, để ra mệnh lệnh. Các bậc vương giả, hiền nhân thời ấy cố sống sao đức hạnh tuyệt vời, để kết hợp với Trời, để có thể nên vẻ sáng của Trời như Văn Vương. Họ mong muốn được được đức hạnh như Trời (dữ Thiên, đồng đức).

Hễ thấy ai:

Đức sáng quắc sáng choang ở dưới,

Họ liền biết:

Mệnh hiển dương, chói lọi ở trên. [8]

Thời buổi thô sơ ấy, các bậc thánh hiền, vương giả đều tin rằng có Trời ngự trị trong lòng mình. Văn Vương nói:

Chẳng thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm,

Chẳng phải long đong nhưng vẫn giữ được. [9]

Văn Vương lên tới trình độ đức hạnh siêu việt, nên như vẻ sáng của Thượng Đế, vì thế goị là Văn Vương, ý nói Thượng Đế là chất mà ngài là Văn, là vẻ sáng Trời được phát huy ra.

Kinh Thi viết:

Việc Trời chẳng tiếng, chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin. [10]

Kinh Thi viết thêm:

Văn Vương trọn một niềm kính nể,

Làm chói chang Thượng Đế ra ngoài,

Muôn nghìn phúc lộc chiêu lai,

Một lòng nhân đức chẳng phai lòng vàng. [11]

Thời buổi thô sơ ấy, dân chúng quan niệm rằng giữ vẹn đạo Trời, ấy là nối chí tổ tiên, ấy là hiếu kính. Mà giữ vẹn đạo Trời chính là sống một cuộc đời vẹn hảo, phối kết tất giao với Thượng Đế.

Kinh Thi viết:

Muốn nhớ tới tổ tiên khi trước,

Hãy gắng công tích đức tu thân,

Mệnh trời phối hiệp vào thân,

Muôn ngàn phước lộc xa gần chiêu lai,

Thủa nhà Ân còn thời thịnh trị,

Đã từng Thượng Đế tất giao,

Gương nhà Ân hãy soi vào,

Mệnh Trời cao cả lẽ nào dễ đâu. [12]

Kinh Thi viết thêm:

Mệnh Trời ấy há đâu có dễ

Muốn cho ta đừng kể tư thân,

Biểu dương phóng phát thiện chân. [13]

Tóm lại thời buổi ấy, những hiền nhân quân tử đã thông hiểu lẽ «Thiên Nhân tương dữ» 天 人 相 與, tình Trời người cá nước duyên ưa, thiên ý, nhân tâm hoà hợp. Trời người cùng tấu khúc nhạc hoà hài.

Kinh Thi viết:

Trời xanh dẫn dắt chúng dân,

Như là tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,

Trời, Người, đôi ngọc chương khuê,

Bên cho, bên lấy, đề huề, xiết bao,

Tay cầm, tay giắt, khéo sao,

Trời xanh, dẫn dắt dân nào khó chi. [14]

CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO

V.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH LỄ: –

Xuyên qua Kinh Lễ, ta thấy Nho giáo chủ trương:

Thời nào cũng như thời nào, con người sinh ra ở đời, không thể tự do muốn làm gì thì làm, mà phải tuân theo các định luật tự nhiên, các định luật sinh lý, tâm lý, nhân sinh, các định luật giao tế, xã hội. Tuân theo các định luật thiên nhiên ấy, ta mới có thể tạo cho mình một đời sống lý sự, đẹp, tươi vui, tạo cho mọi người và xã hội an vui, hoà hợp.

Đó là điều kiện căn bản để tiến tới Chân, Thiện Mỹ.

Những định luật tự nhiên ấy đã được gắn liền ngay vào cơ cấu, ngay vào bản chất muôn loài, muôn vật, đã được gắn liền vào mọi động tác, mọi hành vi, mọi biến hoá để định thế nào là hay, là phải.

Nhưng, muốn tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy không phải là chuyện dễ.

Ta có thể tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy hoặc bằng trực giác, hoặc bằng phương pháp loại suy, hoặc bằng cách khảo sát lại lịch sử, quan sát hiện tại, hiện tình, hay dùng Dịch Lý mà suy diễn ra.

Thế tức là: Muốn tìm ra những định luật thiên nhiên, phải hiểu vật, hiểu người, biết nay, biết xưa, khảo sát lại hiến chương của đời trước, tham khảo lại sự thành bại đời nay.

(Bác vật, Thông nhân, tri kim, ôn cổ, khảo tiên đại chi hiến chương, tham đương thời chi đắc thất.

博 物 通 人 , 知 今 温 古 , 考 先 代 之 憲 章 , 參 當 時 之 得 失

(Lễ ký chính nghĩa, tựa, tr. I. Xem Tống Bản Thập Tam Kinh, Lễ Ký). [15]

Nhận định trên rất quan trọng về phương diện đạo giáo, về phương diện tu thân, hoàn nguyên phản bản, vì lẽ nó xác định rằng: ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN chính là LUẬT TRỜI. Luật Trời ấy đã được ghi tạc ngay trong LƯƠNG TÂM con người, trong tâm khảm con người.
Những định luật gì không phải là thiên nhiên đều là nhân vi, nhân tạo, và không thể nào đem lại hạnh phúc thật sự cho con người; Chân, Thiện, Mỹ, thật sự cho hoàn vũ.

Chính vì vậy mà nếu ta muốn qui nguyên phản bản mà lại phóng ngọai, mà hưóng ngoại tìm cầu, thì chẳng khác nào mò trăng đáy nước, bắt cá ngọn cây.(duyên mộc cầu ngư)
VI.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH XUÂN THU: –

Kinh Xuân Thu, theo Đổng Trọng Thư, đưa ra hai ý niệm triết lý và đạo giáo sau đây:

– Trời Người có quan hệ mật thiết với nhau,

– Con người đúng với danh nghĩa của nó, phải toàn thiện, hoàn hảo như Trời.

Đổng Trọng Thư cho rằng sách Xuân Thu cốt là để xiển minh cái quan niệm THIÊN NHÂN TƯƠNG DỮ, Nghĩa là Trời và Người có quan hệ mật thiết với nhau. Trời là Tổ của vạn vật, là tổ của con người. (Xem Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển II, tr. 35).

Cho nên, khi ta mới sanh, chưa phải là người, vì con người xứng đáng với danh hiệu nó phải hoàn toàn như Trời. (Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển II, tr. 35.)

Thế tức là, trong con người đã sẵn có Thiên Chân, Thiên tính, và đã sẵn có mầm mống hoàn thiện. Con người có bổn phận làm triển dương mầm mộng hoàn thiện ấy, cho tới tinh vi cao đại.

Chính trị, có bổn phận hướng dẫn, giáo hoá dân, thành toàn sứ mệnh cao cả ấy.

VII.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SÁCH ĐẠI HỌC: –

Nho giáo trước sau vẫn chủ trương rằng: Trời chính là căn bản, là gốc gác con người. Cái gốc gác, căn bản ấy lại tiềm ẩn, sâu xa, trong đáy lòng nhân loại, để làm Bản tính nhân quần.

Bản tính Trời, ấy là Gốc, mọi việc khác như tâm tư, thân xác, gia đình, quốc gia, xã hội, thiên hạ, sự vật, v.v… là thân là cành, là ngọn. Không biết được gốc, làm sao mà trị được ngọn, không hiểu được Trời, làm sao hiểu nổi người.

(Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên.

思 知 人 , 不 可 以 不 知 天 (Trung Dung, chương XX.) [16]

Cho nên Đại Học chủ trương rằng người quân tử phải cố gắng học hỏi, mài miệt suy tư, để tìm cho ra cái khuôn Trời, cái Gốc Trời nơi mình (Cách vật). [17] Đó là cái học cao siêu nhất, rốt ráo nhất (Trí tri) rồi ra mới có thể «chính tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.»

Tất cả chủ trương trên, đã được trình bày ngay ở đầu sách Đại Học.

Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy,

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng,

Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan,

Hết lo, lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng xét suy,

Suy xét rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời, ngành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi,

Muốn Đức, sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa, lo cải hoá dân mình,

Trị dân, trước trị gia đình,

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên,

Dày công học vấn sẽ hay KHUÔN TRỜI. [18]

Hay Khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay ta sẽ hoá hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên,

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình an,

Từ vua cho tới dân gian,

Tu thân, một mực lấy làm căn cơ.

(Đại Học, I).
VIII.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SÁCH LUẬN NGỮ: –

Xuyên qua đời sống đức Khổng, xuyên qua tâm tư, ý nguyện, xuyên qua những lời giảng giáo của đức Khổng trong Luận Ngữ, ta sẽ rút tỉa ra được những bài học sau đây:

1. Con người phải có niềm tin vững mạnh về định mệnh sang cả của mình. Khi bị vây ở đất Khuông, đức Khổng đã nói: «Văn Vương đã thác rồi, vẻ sáng ấy chẳng ở lại nơi ta sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì khi Văn Vương đã thác, chẳng có ban nó cho ta. Bằng Trời chưa muốn mất vẻ sáng ấy, thì người đất Khuông làm được gì ta (Luận Ngữ, IX, 5)

2. Người quân tử phải biết lẽ: Nhất quán Của Trời Đất.

Đức Khổng nói: «Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi.» 吾 道 一 以 貫 之 (Luận Ngữ, IV, 15).

Thế tức là có thể dùng chữ Nhất, mà tổng hợp, mà quán xuyến hết cả đạo Nho.

Nhất, như trên đã trình bày: là căn nguyên muôn loài, muôn vật,

Nhất là nguồn gốc mọi biến hoá.

Nhất là cùng đích muôn loài.

Con người từ Nhất từ Trời mà ra, chung cuộc lại trở về phối hợp với Nhất với Trời.

Đó chính là cái đạo Phối Thiên, đó chính là Trung Đạo (Luận Ngữ, XIII, 21) đó chính là Thiên Đạo, là cái Đạo mà sáng được nghe, chiều chết cũng cam: «Triêu văn Đạo, tịch tử khả hĩ.» 朝 聞 道 , 夕 死 可 矣 (Luận Ngữ, IV, 8)

3. Người đạo hạnh thực sự chỉ cần sống thuận thiên lý. [19]

Nghe, nhìn, nói, làm, luôn luôn phù hợp với định luật tự nhiên của đất trời. [20]

4. Người đạo hạnh thực sự phải biến đời mình thành một bài kinh trường thiên. Đó chính là câu «Khâu chi đảo cửu hĩ» 丘 之 禱 久 矣 của đức Khổng (Luận Ngữ, VII, 34)

5. Người hành đạo thực sự phải sống phối kết với Trời, phải bắt chước Trời mà hành sự.

Đức Khổng nói: «Ta muốn thôi không nói nữa.» Tử Cống nói: «Nếu thày chẳng nói, bọn đệ tử chúng tôi làm sao đem lời dạy của thày mà truyền lại đời sau cho được?» Đức Khổng đáp: «Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn vần xoay, vạn vật luôn sinh hoá. Trời có nói gì đâu?» (Luận Ngữ, XVII, 18).

6. Người đạo hạnh thực sự sẽ đạt tới tứ tuyệt như Khổng tử. (Luận Ngữ, IX, 4).

Vô ý 毋 意: Không còn tình ý riêng tây.

Vô tất 毋 必: Không còn bị ngọai cảnh gò bó.

Vô cố 毋 固: Không cố chấp, mà cởi mở, mà khoan quãng, hoà đồng.

Vô ngã 毋 我: Không còn cái tiểu ngã, không còn cái mình nhỏ nhoi ti tiện, mà hoàn toàn cao minh phối thiên 高 明 配 天, bác hậu phối địa. 博 厚 配 地 (Xem Trung Dung, chương XXVI)

IX.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SÁCH MẠNH TỬ: –

Mạnh Tử là người đóng góp khá nhiều vào công trình khám phá cho ra con đường Qui nguyên phản bản của đạo Nho.

1. Ông dứt khoát chủ trương phải quay về tâm mà tìm đạo, tìm Trời.

Nơi chương Tận tâm thượng ông viết:

Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành.

Kiện toàn, hoàn thiện tinh anh,

Vui nào hơn được vui mình đang vui. [21]

2. Ông cho rằng trong thâm tâm ta đã sẵn có con đường đưa tới Đạo tới Trời, nhưng con đường ấy đã bị lau lách dục tình vùi lấp mất. (Kim mao tắc tử chi tâm hĩ. 今 茅 塞 子 之 心 矣. Mạnh Tử, Tận Tâm Chương Cú Hạ.)

3. Ông khuyên mọi người thu hồi con tim phóng đãng luân lạc nơi ngoại cảnh trở về: «Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ.» 學 問 之 道 無 他 , 求 其 放 心 而 已 矣 (Mạnh Tử, Cáo Tử, chương cú thượng, câu II.)

4. Ông chủ trương rằng: Đi sâu về phía tâm linh, sẽ tìm ra được Thiên tính, sẽ tìm thấy Thượng Đế tiềm ẩn sẵn trong lòng con người. Nơi chương Tận Tâm Thượng ông viết:

Thấu triệt lòng, sẽ hay biết tính,

Hay biết tính, nhất định biết Trời. [22]

(Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã.

Tri kỳ tính, tắc tri thiên hĩ.)

5. Ông cho rằng: Bảo toàn được tinh hoa cốt cách con người, bảo toàn được thiên tính, đó là chân đạo, đó là cách phụng sự thượng đế tốt đẹp nhất.

Ông viết:

Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,

Ấy là giữ đạo, thờ Trời chẳng sai. [23]

«Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã.»

存 其 心 , 養 其 性 , 所 以 事 天 也 .

6. Vì ông trực giác được rằng Bản thể tuyệt đối, đã tiềm ẩn sẵn trong đáy lòng con người, vì ông trực giác được rằng Thượng Đế đã tiềm ẩn trong đáy lòng nhân loại để làm căn cơ gốc gác cho con người để làm khuôn phép, mẫu mực cho con người, nên ông mạnh dạn chủ trương: BẢN TÍNH CON NGƯỜI THÌ HOÀN THIỆN (Mạnh Tử, 1)

7. Mạnh Tử cũng là một trong những triết gia Nho giáo đã phân tách được rằng:

Dưới lớp nhân tâm còn có Thiên tính,

Dưới lớp Nhân dục, còn có Thiên lý làm chủ chốt.

Nhân tâm thời bất toàn,

Thiên tính thời vẹn hảo.

Nhân tâm mới chỉ là mầm mộng cuả sự toàn thiện, mới chỉ gồm có những mối manh hoàn thiện, như lòng trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi.

Thiên tính mới là sự hoàn thiện tuyệt vời, gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (Mạnh Tử, 2) [24]

8. Bồi dưỡng nhân tâm, cho nhân tâm triển dương tới mức độ tuyệt vời của thiên tính, khế hợp được với thiên tính, đó chính là công trình tu thân mà Mạnh Tử chỉ vẽ cho chúng ta. (Mạnh Tử, 3) [25]
X.- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SÁCH TRUNG DUNG: –

Xưa nay ai cũng công nhận rằng Trung Dung là tâm pháp của Nho giáo.
Sách bắt đầu bằng chữ Thiên. Từ đó suy diễn ra Tam Đức (NHÂN, TRÍ, DŨNG), Ngũ Luân (Quân thần, phụ tử, phu phụ, côn đệ, bằng hữu), Cửu kinh (chín phép trị nước) (Xem Trung Dung, chương I, XX). Sau đó lại dùng Cửu kinh, Ngũ luân, Tam đức như là những nấc thang thần giúp cho con người triển dương, tiến hoá đến cùng cực tinh hoa (Trung Dung, 1)[26] đến Trung Dung, Trung Đạo [27] đến chỗ kết hợp với Trời mà Trung Dung gọi là Phối Thiên. [28] Như vậy sách Trung Dung cũng kết thúc bằng chữ Thiên, vô thanh, vô xú.

Sách rất cao siêu, nhưng cũng khó hiểu. Chính vì thế mà chúng ta cũng nên đặc biệt để tâm khai thác những điều huyền nhiệm mà Trung Dung tàng trữ bấy lâu, để đóng góp vào công trình đi tìm con đường Qui nguyên phản bản.

1. Hai chữ Trung Dung:

Chữ Trung, theo từ nguyên, là một mũi tên bắn trúng hồng tâm. Hội ý tiên nho, nhất là Trình Tử và Chu Hi, tôi đã giải hai chữ Trung Dung như sau:

Trung là tâm điểm,

Dung là hằng cửu, bất biến.

Như trên tôi đã trình bày, trong vòng biến thiên ảo hoá của vũ trụ, vạn hữu chỉ một tâm điểm bất biến, hằng cửu, ấy là Bản thể tuyệt đối, là Thái cực, là Đạo, là Trời.

Chính vì thế mà Kinh Dịch đã vẽ Thái cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các quẻ tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên vòng tròn bên ngoài, lên vòng biến dịch bên ngoài.

Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên của vạn hữu, nên không hề nghiêng lệch bên nào. Tâm điểm, vì là cơ cấu, là căn cơ gốc gác muôn loài, nên cũng không dựa nương vào đâu. Chính vì thế mà Trình Tử mới nói: Trung là Bất Thiên, Bất Ỷ.

Muôn loài, muôn vật biến thiên, ắt phải có một căn do bất biến hằng cửu làm chủ chốt. Chính vì thế mà Trình Tử giải: DUNG là Bất Dịch. Thế tức là chỉ với hai chữ TRUNG DUNG, đức Khổng đã vạch ra cho chúng ta cả một chương trình hành động, cả một con đường giải thoát.

* Nghĩa là:-

Sống trong muôn ngàn hiện tượng biến thiên, chúng ta phải tìm cho ra căn cơ bất biến.

Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ làm chủ chốt.

Ở nơi con người ta, có đày dãy mọi hiện tượng biến thiên. Như vậy trong con người chúng ta, phaỉ có một căn cơ bất biến làm chủ chốt.

Mà như trên đã trình bày, chỉ có trời có Đạo, có Thái cực mới bất biến. Suy ra: trong ta, chắc chắn phải có Đạo, có Trời, có một nguồn sống siêu nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt.

Cái gì còn biến thiên thì còn ở trong vòng sanh tử. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên sanh tử. Thế nên, nếu con người muốn thoát vòng sinh tử, Phải đạt cho được tới TÂM ĐIỂM BẤT BIẾN, đạt tới TRUNG DUNG.

Đức Phật cũng đã nói: «Hỡi các tỳ khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao giải thoát được cái sinh, thành, ỷ, tạp.» [29]

Vivekananda cũng đã viết: «Chúng ta trước hết phải đi tìm cho ra một tâm điểm phát sinh ra mọi bình diện sinh hoạt khác. Khi đã tìm ra được tâm điểm rồi, chúng ta mới mong tìm ra được một giải pháp. Đó là chương trình của chúng ta. Tâm điểm ấy ở đâu? Thưa nó ở ngay trong lòng ta. Các hiền triết cổ thời đã tìm sâu mãi vào tâm con người, cho đến khi khám phá ra được rằng TÂM KHẢM CON NGƯỜI CHÍNH LÀ TRUNG TÂM VŨ TRỤ. Tất cả mọi bình diện khác đều xoay quanh tâm điểm duy nhất ấy, và chỉ từ đó, chúng ta mới tìm ra được giải pháp chung cho mọi người.» [30]

Văn Đạo Tử cho rằng: TÂM ĐIỂM chính là Thiên Đạo.

Vào được tâm điểm của lòng người, tức là vào được tâm điểm của vòng Dịch, tức là thoát luân hồi sinh tử, tức là vào được trục pháp luân theo danh từ của Phật giáo.

Ta hãy nghe Văn Đạo Tử trình bày: «Thiên đạo cư trung lập cực, nên vận chuyển muôn loài không sai thất, cũng như trong bánh xe, các vành xe và tai hoa xe vận chuyển không ngừng là nhờ trục xe. Nếu ta giữ vững được Trung điểm, tận dụng được Thái Cực, thì có thể chuyển vận vạn vật và có thể góp phần được với trời đất trong công trình hoá dục. Cho nên người quân tử tu nhân đạo để hợp thiên đạo. Hợp thiên đạo tức là vào được trục của vòng Dịch, thoát ra ngoài vòng kiểm tỏa của hiện tượng, hỗ trợ muôn vật mà không tơ vương dính bén muôn vật, xoay chuyển vòng biến Dịch mà chẳng chuyển dịch với bánh xe biến thiên luân hồi.»

Hoàng Đế nói: «Vũ trụ ở trong tay, vạn hoá sinh trong mình.”

Phật nói: Thu bể khơi vào trong sợi lông, đem núi TU DI lồng vào trong hạt cải, đâu phải là thuật lạ. Bất quá là các ngài đã nắm được trục của pháp luân. Ôi vi diệu thay, trục của pháp luân, hỏi mấy ai đã biết? Chẳng rõ được trục mà chỉ biết nói pháp luân, luôn vận chuyển, thì chóng thì chày cũng bị vận chuyển theo pháp luân, làm sao thoát vòng sinh tử được?» [31]

Như vậy nếu ta hiểu Trung Dung là Tâm Điểm Bất Biến, Nếu ta đặt hai chữ Trung Dung vào Tâm điểm vòng tròn, ta sẽ có ngay một chià khoá thần để mở các chốt then Đạo Giáo, thấu triệt được huyền cơ vũ trụ và con người. Thực vậy, nếu ta nhận định rằng Tuyệt đối hằng cửu bất biến ở tâm điểm vòng biến dịch, ta sẽ định ngay được rằng Tuyệt Đối Hằng Cửu ở ngay tâm điểm, ở ngay Trung Tâm Điểm não bộ ta, vì đầu ta chính là một hình tròn, vì não bộ ta chứa đựng muôn biến hoá. Lão Giáo gọi trung tâm não bộ là HUYỀN QUAN KHIẾU, là CỐC THẦN, là NÊ HOÀN. Phật giáo Tây Tạng với lời chú: Oum Mani Padme Hum đã xác nhận rằng giữa bông hoa sen nghìn cánh, não bộ con người đã có sẵn ngọc châu viên giác.

Học giả Lilian Silburn, trong tác phẩm Instant et Cause đã viết: «Tìm ra được chân tâm tương đương với Brahman Thượng Đế, vừa là tâm điểm của lòng mình, vừa là tâm điểm của vũ trụ, là một khám phá lớn lao của các vị đạo sĩ Bà La Môn, sự khám phá này đã dẫn tới sự hình thành cuả bộ Áo Nghĩa Thư.» [32]

2. Những nét đặc thù của Trung Dung:

a/ Con người với Trời có đồng một bản tính.

Trung Dung với mấy chữ vắn vỏi «Thiên mệnh chi vị Tính» 天 命 之 謂 性 nơi đầu sách đã cho chúng ta thấy rằng: Con người muốn bước vào Thiên đạo, muốn phản bản hoàn nguyên, trước hết phải có một nhận thức nghiêm chỉnh về bản thể mình, về bản tính mình. Trung Dung cho rằng bản tính con người là Thiên tính. Nói nôm na Bản tính con người và bản tính Trời là một.

Thế tức là sau những bộ mặt nạ hoá trang mà sân khấu đời đã bắt ta mang, sau những lớp bùn đất thời gian, ngoại cảnh, của những con nguời thực tại (Le moi empirique), còn đang luân lạc trong chốn hồng trần, còn có bộ mặt vô cùng xinh đẹp của con người lý tưởng (Le moi idéal) ẩn khuất ở bên trong. Bộ mặt đó, người Á Đông thường gọi là Bản Lai Diện Mục.

Từ khi tôi khám phá ra được điều quan trọng này, tôi đã dùng nó như một kim chỉ nam để tìm cho ra Đại Đạo khuất lấp trong những cánh rừng sâu tôn giáo và triết học trên thế giới.
Gần đây, có dịp đọc quyển Lịch Đại Cao Tăng Cố Sự, tôi thấy đại sư Đạo Sinh, sống vào thời đại Nam Bắc triều bên Tàu, đời Lưu Văn Đế (424- 453) Cũng đã có chủ trương y hệt tôi. Đạo Sinh quả quyết rằng: Nhà Nho gọi là Thiên Mệnh, thì nhà Phật gọi là Phật tính, mà Phật tính tức là Thiên tính. [33]

Ba La Môn cũng cho rằng: con người chân thực trong chính ta là Atman, là Brahman, Thượng Đế.

Phật giáo nhất là trong kinh Đại Niết Bàn đã chủ trương rằng: Mọi người đếu có Phật tính.

Thánh Kinh Công giáo cũng có một câu làm tôi hết sức sung sướng đó là: Thượng Đế chính là sự sống của bạn. [34]

Nếu Thượng Đế là sự sống của chúng ta, thì chắc chắn ngài là bản thể của ta vậy.

Hội nghị Thông thiên học quốc tế họp tại Salzbourg nước Áo, năm 1966, cũng có những lời tuyên ngôn hết sức nảy lửa. ví dụ:

– Trong ta có một vô cùng. [35]

– Giác ngộ tâm linh sẽ mặc khải cho thấy yếu tố thần linh duy nhất trong tâm thần mọi người. [36]

– Thời buổi này cần phải nhận chân rằng trong mọi người có một tàn lửa Thiên Chân, và những khả năng vô tận, vô biên. [37]

– Tôn giáo xưa cho rằng Trời và người xa cách nhau, phẩm và chất xa cách nhau. Thông Thiên ngày nay dạy rằng: Trời Người là Một. [38]

b/ Nhân tâm thuận tòng Thiên tính, Thiên lý thế là chân đạo (Suất tính chi vị đạo 率 性 之 謂 道 ).

Theo Trung Dung đạo Trời thật chí giản chí dị. Muốn theo đạo Trời, muốn theo Thiên lý, con người chỉ cần lắng nghe tiếng gọi của lương tâm. Trung Dung gọi thế là Suất Tính.

Lương tâm luôn luôn dạy ta làm điều cao đại minh chính, luôn luôn dạy ta Từ Bi Hỉ Xả, coi người như mình, trọng lễ nghĩa, khinh lợi.

Còn tâm tư chúng ta luôn luôn làm những điều tà ngụy, bất trung, bất chính, ích kỷ, hại nhân, luôn luôn muốn vọng hành, vọng niệm.

Như vậy thuận tòng thiên lý, tức là gạt bỏ những điều tà ngụy, để tiến tới công chính, từ bỏ mọi điều ti tiện cục cằn để vươn lên tới tinh hoa cao đại.

Bà H. P Blavastsky, trong quyển Mật giáo (Doctrine Secrète) đã viết: «Chỉ có nguyên lý tuyệt đối, bất khả tư nghị, căn nguyên vạn hữu mới đáng có đền thờ và bàn thờ trong khu đất thiêng liêng và u tịch của long ta. Nguyên lý ấy mình không thấy, bắt không được, mung lung huyền ảo, nhưng ta vẫn có thể cãm thấy được qua trung gian tiếng nói thầm lặng của lương tâm. Kẻ nào thờ phượng Nguyên lý tuyệt đối ấy, phải thờ trong yên lặng và trong sự u tịch thiêng liêng ấy cuả tâm hồn mình.» [39]

Bà Blavastsky còn viết: «Atman, Đại ngã […] sẽ tỏ quyền năng cho kẻ nào có khả năng nghe được ‘tiếng nói thầm lặng’ của lương tâm. Từ thủa ban sơ cho đến thời hiện đại, không một triết gia chân chính nào mà không mang trong đền đài u tịch của tâm hồn mình chân lý cao đại và huyền diệu đó. Nếu là trường hợp người được điểm đạo, thì sự học biết về lương tâm lại trở thành một khoa học thiêng liêng.» [40]
CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO
c/ Trời, luật trời, Đạo trời chẳng hề rời xa con người một phút giây.

Đọc câu «Đạo dã giả bất khả tu du ly dã» 道 也 者 不 可 須 臾 離 也 nơi đầu sách Trung Dung tôi đã tìm ra được ba nhận định hết sức quan trọng của người xưa về đạo giáo.

① Một là trời chẳng hề xa con người.

② Hai là luật trời chẳng hề có ở ngoài con người, mà đã được ghi tạc ngay trong tâm khảm, thâm tâm conngười.

③ Ba là Chân đạo hay là con đường dẫn người tới trời đã có sẵn ngay trong tâm hồn mỗi một người.

Tôi cho rằng đó là những quan niệm hết sức xác đáng.

① Trời chẳng hề xa con người.

Nếu trời là căn cơ gốc gác con người, thì Trời làm sao mà rời xa con người được?. Chính vì tin rằng Trời chẳng lìa xa mình, nên người quân tử trong đạo Nho luôn luôn e dè kính cẩn, dẫu là khi ở một mình.

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn náo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.

(Trung Dung chương I)

② Luật Trời chẳng lià xa con người.

Chương XII Trung Dung viết:

Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa rời chúng dân,

Hiếu kỳ lập dị là nhầm.
Kinh Thi viết:

Đẽo cán rìu có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn cố dấu cho in.

Ngắm đi, ngắm lại liền liền,

Đẽo lui đẽo tới mắt xem chưa vừa,

Nên người quân tử, khi lo giáo hoá,

Sửa trị người sẵn có khuôn người,

Thấy người giác ngộ thời thôi,

Đã chiều cải hoá liệu bài ta ngưng.

③ Con đường từ người dẫn đến Trời đã có sẵn trong tâm thần con người.

Nhận định này chỉ là một sự suy diễn tự nhiên của quan niệm Trời chẳng xa người đã đề cập ở nơi trên. Thực vậy đạo chẳng qua là sự tìm ra được Trời ngự trị trong lòng mình, tìm lại được bản tính thần minh sang cả cuả mình, bắc được nhịp cầu giữa lòng mình với Thần Trời trong mình, phát quang được gai góc, lách lau của thất tình, lục dục, phá tan được lớp sương mù dày đặc của sự ngu si mê vọng. Cho nên con đường trở về Thiên quốc, con đường quy nguyên phản bản Nho giáo, không thể nào tìm thấy được trên muôn vạn nẽo đường của trần ai ngọai cảnh, của muôn dặm thinh không mà chính là đã có sẵn trong tâm thần chúng ta.

Chu Hi khi bình chương nhất Trung Dung viết:

Tử Tư nương ý chân truyền,

Trung Dung hạ bút nói liền duyên do,

Nguồn đạo ấy phát từ Thượng Đế,

Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời,

Hoàn toàn đầy đủ nơi người,

Một giây một phút chẳng rời khỏi ta.

Rồi bàn tiếp chi là cần thiết,

Lẽ Dưỡng, Tồn, Tỉnh, Sát v.v…

Cuối cùng, tác giả luận bàn, sức thiêng biến hoá thánh thần uy linh.

Những học giả muốn tìm đạo ấy,

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai,

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.

(chương nhất, lời bình của Chu Hi).

Thông Thiên học cũng chủ trương phải tìm Đạo, tìm Trời ngay trong lòng mình.

Ông Joy Mills, trong một bài thuyết trình tại đại hội Thông thiên quốc tế ở Salzbourg, có trích dẫn một đoạn Upanishad như sau: «Có một ánh sáng chiếu soi khắp cùng trời đất, đó là ánh sáng chiếu soi trong lòng chúng ta. Có một nhịp cầu nối liền thời gian và vĩnh cưủ, và nhịp cầu ấy là Thần con người. Trên cầu ấy, chẳng có ngày đêm, chẳng có lão tử, chẳng có sầu muộn ưu tư. Một khi đã tìm thấy nhịp cầu ấy, con người sẽ nhìn thấy rõ tương lai và sẽ khỏi hết thương tích, bệnh tật. Đối với ai đã vượt được qua cầu ấy, đêm sẽ trở thành như ngày, vì trong thế giới thần linh, có một ánh sáng vĩnh cửu.» [41]

Đại hội Thông Thiên ở Salzbourg còn nhận định rằng: «Người ta thấy được Thượng Đế trong tạo vật Ngài. Ngay trong lòng mình, con người có thể tìm thấy đời sống Thượng Đế. Về phương diện đạo giáo, sự khám phá này cũng vĩ đại như sự khám phá ra nguyên tử năng. Nó cho con người quyền lực tinh thần không bờ bến, cũng như nguyên tử năng đã cho con người một sức mạnh kỳ diệu.» [42]

d/ Những phương pháp tổng quát để tiến tới Trung Dung, tới tuyệt điểm tinh hoa.

Sau khi đã vạch rõ cho con người thấy rằng mình có một căn cơ hết sức sang cả, đó là Thiên tính, sau khi đã cho con người thấy rằng, Trời và định luật Trời, con đường đưa về Trời dã có sẵn cả trong tâm, Trung Dung đề ra ba phương pháp chính yếu để giúp con người tiến tới hoàn thiện.

① Mở mang trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác. Đó là TRÍ.

② Luôn luôn thực thi những điều hay, để trở nên hoàn thiện. Đó là NHÂN.

③ Cố gắng không ngừng để đi đến chỗ tinh vi cao đại. Đó là DŨNG.

Trung Dung viết:

Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu nhân phải gắng công lao,

Muốn nên hùng dũng, anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.

Trí, Nhân, Dũng, tu thân ấy lý,

Biết tu thân ắt trị nổi người,

Trị người hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa. (Trung Dung, XX)

Muốn phát huy những năng lực nội tại, những đức tính nội tại, con người không cần phải vào thâm sâu cùng cốc, mà chỉ việc vui sống với mọi hoàn cảnh mình gặp trên bước đường đời (Trung Dung, XIV), mà chỉ cần kiên gan bền chí, đừng bán đồ nhi phế (Trung Dung, XI).

e/ Mục đích của con đường phản bản hoàn nguyên là PHỐI THIÊN.

Sau khi đã dùi mài học hỏi, suy tư đến mức khai thông được trí huệ, sau khi đã tha thiết thực thi những điều hay, điều phải đến mức Nhân Dức vẹn toàn, sau khi đã cố gắng phát huy được những năng lực tinh thần, để có thể tiến tới mức tinh vi cao đại, đến chỗ chí cao, chí mỹ, chí thành, chí thiện lúc ấy con người sẽ đạt đích.

Trung Dung gọi sự đắc đạo, đạt đích là đạt tới Trung Dung. Trung Đạo, là «Thung dung Trung Đạo», là PHỐI THIÊN, là sống phối kết, hợp nhất với THƯỢNG ĐẾ.

Trung Dung phác họa bậc thánh nhân ấy như sau:

Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí huệ,

Y như thể có Trời ẩn náo, giáng lâm,

Mới khoan dung, hoà nhã, ôn thuần,

Y như thể có dung nhan Trời phất phưởng,

Phấn phát tự cường, kiên cương, hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng,

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng đôi phân kính cẩn,

Nói năng văn vẻ, rỡ ràng, cẩn thận,

Y như là đã chia được phần thông suốt, tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm ứng dụng phải thì

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực, muôn trùng sâu thăm thẳm,

Thấy bóng Ngài dân một dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động muôn dân đều hoan lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài,

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che, và đất chở,

Đâu còn có nhật nguyệt hai vầng tở mở,

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người.

Ở nơi đó, Ngài vẫn được tôn sùng quý báu,

Thế nên gọi là «CÙNG TRỜI PHỐI NGẪU». (Trung Dung, XXXI)

XI.- TỔNG LUẬN: –

Trên đây tôi đã dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh phác họa lại con đường phản bản, hoàn nguyên. Tôi đã đi vào nhiều chi tiết, viện dẫn nhiều chương cú, để trình bày cho cặn kẽ các khía cạnh, các giai đọan của con đường đó. Trong khi làm công việc đó, tôi sợ đã làm tản mạn tâm tư của quý vị.

Để đền bù lại, tôi xin toát lược thực giản dị lập trường và chủ trương của Nho giáo về vấn đề Qui Nguyên Phản Bản như sau:

Muốn phản bản hoàn nguyên, phải nhận ra được rằng mình có Thiên tính, mình là dòng dõi Trời, là những vì thiên tử, những vì con của Thượng Đế luân lạc xuống cõi hồng trần này, cho nên phải phấn đấu để phục hồi nguyên vị cũ, trở lại quê hương cũ.

Thứ đến phải nhận định được rằng Trời hay Đạo chẳng có ở đâu xa, mà đã tiềm ẩn ngay trong lòng con người. Như vậy liền biết được ngay là muốn tìm Đạo, tìm Trời phải trở về nơi tâm mà tìm kiếm.

Vì trong ta có Trời, có thiên tính, cho nên muốn trở về với Trời phải rũ bỏ phàm tâm, nhân tâm để mặc lấy Thiên tâm, Thiên tính.

Mà nhân tâm là những gì bất toàn, những gì qui ước, những gì nhân vi nhân tạo, những gì phản ảnh lại hoàn cảnh lịch sử, điạ dư, chủng tộc, phong hoá, tập quán bên ngoài.

Mà Thiên tính là những gì toàn hảo, chí công, chí chính, siêu không gian và thời gian, những gì thiên nhiên, thiên tạo.

Rũ bỏ nhân tâm, phàm tâm. Mặc lấy Thiên tâm tức là vượt lên trên những gì biến thiên, để đi vào vĩnh cửu, vượt lên trên sinh tử, để đi vào trường sinh, vượt lên trên những gì ti tiện, để trở về tinh hoa, cao đại, vượt lên trên khiếm khuyết, bất toàn, để thực hiện viên mãn, toàn hảo.

Có làm xong được công trình này mới mong hợp nhất được với Thượng Đế, Phối Thiên, Phối mệnh, Thung dung Trung Đạo, duy Nhất, duy Tinh.

Cách đây hơn hai mươi năm, trong khi soạn thảo Trung Dung, tôi đã đúc kết lại Tinh hoa đạo Nho bằng ít vần thơ lục bát. Những vần thơ ấy đồng thời cũng phác họa lại con đường Phản Bản Hoàn Nguyên của Nho giáo, nay xin đem cống hiến quí vị và cũng là để tổng kết lại đề tài thuyết trình hôm nay:

Luân lạc mãi tới bến bờ xa lắc,

Trong đêm tăm, phiêu dạt biết về đâu,

Lênh đênh sống trên trùng dương thời khắc,

Chẳng buông neo, dừng lại được ngày sao?

Biên khu luân lạc từ bao,

Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung,

Đường Trung Dung linh lung ẩn khuất,

Nẻo Bồng Lai gai dấp, lau che,

Bao giờ mới tỉnh giấc mê,

Bao giờ tâm tư mới hướng về tinh vi?

Bao giờ cái thế nguy mới hết,

Biết bao giờ Nhân hiệp với Thiên?

Bao giờ Thiên mệnh sáng lên,

Trời mây khắp chốn ấm êm, hiệp hoà

Gẫm cho kỹ Tính là thiên mệnh,

Là tinh hoa, là chính đạo Trời,

Vừng trăng minh đứùc sáng ngời,

Mà mây nhân dục lấp vùi mất trăng.

Nhưng trăng sáng muôn năm vẫn sáng,

Mây dù che, chẳng phạm đến trăng,

Chỉn e trần thế tối tăm,

Con đường phiêu lãng muôn phần gian lao.

Trời cao cả lẽ nào chẳng sợ,

Trời chẳng xa, trời ở đáy lòng.

Cho nên nội kính, ngoại cung,

Mắt nhìn chẳng thấy, tưởng chừng kề bên,

Trời tuy thị vô biên, vô tận,

Nhưng mà trời vẫn lẩn trong tâm.

Thật là kỳ ảo khôn cùng,

Không hơi không tiếng vẫn lừng uy danh.

Khuôn phép Trời chí thành chí thiện,

Tiếng của Trời là tiếng lương tâm,

Mới hay trong chốn cát lầm,

Muôn ngàn đã sẵn vô ngần ngọc châu,

Mới hay giữa sông sâu, núi thẳm,

Vẫn có đường bằng phẳng thênh thênh,

Đường Trời rong ruổi mặc tình,

Không xiên, không vẹo, không vênh, không tà,

Đường Trời nọ bao la thảng đãng,

Không quanh co, không vặn, không xiên,

Đường Trời phẳng lặng êm đềm,

Không hề tráo trở, đảo điên vạy vò,

Đường Trời nọ thẳng vo thẳng tắp,

Vút một lèo tới cực cao minh,

Đó là duy Nhất, duy Tinh,

Đó là Thái cực tinh thành xưa nay.

Cuộc phù thế chớ say danh lợi,

Bả lợi danh phất phới, hão huyền,

Chớ mê những cái đảo điên,

Mà quên mất cái vững bền ngàn thu,

Sông thế sự hãy ưa chèo ngược,

Chèo ngược dòng lên tuốt căn nguyên.

Căn nguyên là chính THANH THIÊN,

Vô biên vô tận triền miên không cùng.

Bỏ phù phiếm, tìm tông, tìm tích,

Dương cung thần ngắm đích Thân Tâm,

Bắn vào Trung điểm Tâm Thần,

Ấy là thoát cõi hồng trần lầm than,

Như trăng sáng băng ngàn trần thế,

Rẽ Đẩu Ngưu, đượm vẻ thần tiên.

Ấy là tâm pháp thánh hiền,

Ấy là Trung Đạo tương truyền xưa nay.

Máy tạo hoá phơi bày trước mắt,

Lẽ huyền vi đâu bặt tăm hơi,

Mới hay muôn sự tại người,

Một lòng vàng đó Trời cũng thua.

Hãy học hỏi cho ra gốc ngọn,

Hãy cố công làm trọn mệnh Trời,

Tim kia lạc lõng tả tơi,

Thu về đừng để vãi rơi ngoài đường,

Tính Trời ấy khuôn vàng thước ngọc.

Phải chắt chiu bao bọc ngày đêm.

Tồn tâm dưỡng tính cho chuyên,

Tơ hào nhân dục, chớ hoen gương Trời.

Lòng băng tuyết thảnh thơi, thãng đãng,

Sống đơn sơ, kết bạn vô biên,

Rộng dày cùng đất sánh duyên,

Cao minh kết ngãi thanh thiên muôn nghìn.

Mỗi động tác phải nên gương mẫu,

Mỗi hành vi nên dấu nên khuôn,

Lời lời, ngọc nhả châu phun,

Lưu cho hậu thế muôn ngàn dài lâu.

Gẫm đạo lý có sau có trước,

Lẽ âm dương có ngược có xuôi.

Ngược là gío cuốn bụi đời

Đẩy đưa vào chốn trần ai, cát lầm

Có thử thách mới phân vàng đá,

Có lầm than mới rõ chuyện đời.

Khi xuôi, sấm chớp tơi bời,

Tầng sâu bày giải căn trời nội tâm.

Trông tỏ đức chí nhân chí chính,

Biết mục tiêu sẽ định, sẽ an.

Rồi ra suy xét nguồn cơn,

Con đường Phối Mệnh chu toàn tóc tơ.

Vốn hoàn thiện quang hoa mọi nhẽ,

Ấy tính trời muôn vẻ tinh anh,

Quang minh rồi mới tinh thành,

Ấy nhờ giáo hoá tập tành mà nên.

Đã hoàn thiên tất nhiên thông tuệ,

Thông tuệ rồi ắt sẽ tinh thành.

Việc gì tính trước cũng linh,

Không toan tính trước âu đành dở dang.

Lời xếp trước hoang mang khôn nhẽ,

Việc tính rồi, hồ dễ rối ren,

Hành vi đã sẵn chốt then,

Sẽ không vấp vướng, sẽ nên tinh thành.

Đạo làm người có rành duyên cớ,

Sẽ mênh mang muôn thủa muôn đời.

CON ĐƯỜNG QUI NGUYÊN PHẢN BẢN THEO NHO GIÁO
Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy, cũng đúng chẳng sai,

Thung dung Trung Đạo tháng ngày,

Ấy là vị thánh từ ngay lọt lòng.

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành phải mạnh tay co,

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, mới mang thi hành.

Đã định học chưa thành chưa bỏ,

Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nhôi,

Chưa ra manh mối, chưa rời xét suy.

Biện luận mãi tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua,

Đã làm làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến thân toàn thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh,

Người làm mười bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ ta ganh với người.

Đường lối ấy nếu ai theo được,

Dẫu u mê, sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Rồi ra cũng sẽ ra lòng sắt son.

Đạo quân tử như in lữ thứ,

Muốn đi xa phải tự chỗ gần.

Đạo người như cuộc đăng san,

Muốn lên tới đỉnh, đầu đàng là chân.

Việc trời thực muôn phần huyền ảo,

Thực sâu xa, ẩn náo khôn cùng,

Cho hay đức nhẹ như lông,

Nhưng lông chưa thoát được vòng trọng khinh,

Đức Trời thực uy linh siêu việt,

Không tiếng tăm trác tuyệt vô cùng.

Cho người cái đạo Trung Dung,

THIÊN NHÂN NHẤT QUÁN, thần thông diệu huyền.

Khủng cụ rồi, phối thiên phối mệnh. [43]

Ấy đầu đuôi, động tĩnh phù trầm.

Nguyên lai, bản mạt, thiển thâm,

Hiển vi tụ tán, xa gần, ngược xuôi. [44]

Cái tạm bợ bao ngoài vĩnh cửu,

Áo thô sơ che dịu gấm hoa.

Rồi ra vàng ngọc chói loà,

Trời người định vị, Trung Hoà vô biên.
———————
(xin xem Phần Chú thích)
CHÚ THÍCH

[1] Thuỷ chi tự trung thuận hành nhi sinh, chung nhi phục nghịch tàng, qui ư Trung Hoàng Thái Cực nhưng kiến phụ mẫu vị sinh chi tiền chi diện mục. 始 之 自 中 順 行 而 生 , 終 而 復 逆 藏 歸 於 中 黃 太 極 , 仍 見 父 母 未 生 之 前 之 面 目. – Văn đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 101.

[2] Thái cực thuỷ vu Nhất nhi chung vu Nhất dã. Vạn vật thuỷ vu Nhất nhi chung vu Nhất, tức Trang tử xuất cơ, nhập cơ chi nghĩa. 太 極 始 于 一 而 終 于 一 也 . 萬 物 始 于 一 而 終 于 一 , 即 莊 子 出 機 入 機 之 義 . Nguyễn Ấn Trường, Tạo hoá thông, tr. 52.

[3] Nghịch nhi thành tiên, thuận khứ sinh nhân, sinh vật. 逆 而 成 仙 , 順 去 生 人 , 生 物 . (Đạo Nguyên tinh vi ca, q. hạ, tr. 9b). Xem Trung Dung Tân khảo của tác giả, tr. 251.

[4] Đơn tự nhật đầu nguyệt cước, trung gian nhất hoạch hệ Nhật Nguyệt hợp nhất chi vị dã. Kỳ nội nhất điểm vi tinh khí hỗn hợp dĩ tượng nhất lạp kim đơn hĩ. 丹 字 日 頭 月 腳 中 間 一 劃 係 日 月 合 一 之謂 也 . 其 內 一 點 為 精 氣 混 合 以 象 一 粒 金 丹 矣 . (Tu Chân bất tử phương, tr. 26).

[5] Thái Hư thị viết: Đơn đạo, thánh công bất ngoại hoàn phản. 太 虛 氏 曰: 丹 道 聖 功 不 外 還 返 . (Thượng Phẩm đơn pháp tiết yếu, tr. 7).

[6] Ân Thương chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm. 殷 商 之 旅 , 其 會 如 林 , 矢 于 牧 野 , 維 予 侯 興 . 上 帝 臨 女 , 無 貳 爾 心 . Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương. (James Legge, The She King, tr. 435)

[7] Mục dã dương dương, Đàn xa hoàng hoàng, Tứ nguyên bành bành, Duy sư Thượng phụ, Thời duy ưng dương, Lượng bỉ Võ Vương, Tứ phạt Đại Thương, Hội triêu thanh minh. 牧 野 洋 洋 , 檀 車 煌 煌 , 駟 騵 彭 彭 . 維 師 尚 父 , 時 維 鷹 揚 , 涼 彼 武 王 , 肆 伐 大 商 , 會 朝 清 明. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, bát chương. (James Legge, the She king, p. 436)

[8] Minh minh tại hạ, hách hách tại thượng. 明 明 在 下 , 赫 赫 在 上 . Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh nhất chương. (James Legge, the She King, p. 432)

[9] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo. 不 顯 亦 臨 , 無 射 亦 保 . Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Tư Trai, tam chương. (James Legge, the She King, p. 447)

[10] Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú, nghi hình Văn Vương, Vạn bang tác phu. 上 天 之 載 , 無 聲 無 臭 . 儀 刑 文 王 , 萬 邦 作 孚 . Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Văn vương, thất chương, (James Legge, The She King, p. 431)

[11] Duy thử Văn Vương, Tiểu tâm dực dực, Chiêu sự Thượng Đế, Duật hoài đa phúc, quyết đức bất hồi. 維 此 文 王 , 小 心 翼 翼 . 昭 事 上 帝 , 聿 懷 多 福 . 厥 德 不 回 , 以 受 方 國 . Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại Minh, tam chương, (James Legge, p. 433)

[12] Vô niệm nhĩ tổ, Duật tu quyết đức, Vĩnh ngôn phối mệnh, Tự cầu đa phúc, Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng Đế, Tuấn mệnh bất dị. 無 念 爾 祖 , 聿 脩 厥 德 . 永 言 配 命 , 自 求 多 福 . 殷 之 未 喪 師 , 克 配 上 帝 . 宜 鑒 于 殷 , 駿 命 不 易 (James Legge, p. 431)

Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Văn vương, lục chương.

[13] Mệnh chi bất dị, Vô át nhĩ cung, Tuyên chiêu nghĩa vấn… 命 之 不 易 , 無 遏 爾 躬 . 宣 昭 義 問. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Văn vương, thất chương. (James Legge, the She King, p. 431)

[14] Thiên chi dũ dân, Như huân như trì, Như chương như Khuê, Như thủ như huề, Huề vô viết ích, Dũ dân khổng dịch. 天 之 牖 民 , 如 壎 如 篪 . 如 璋 如 圭 , 如 取 如 攜 . 攜 無 日 益 , 牖 民 孔 易 . 民 之 多 辟 , 無 自 立 辟 . Kinh Thi, Đại Nhã, Sinh Dân, thập chương, Bản, lục chương. (James Legge, tr. 502)

[15] Lễ Ký, Lễ Vận, chương VII, tiết IV, mục 5, 6, 7.

Nguyễn văn Thọ, Chân Dung Khổng tử, chương XI.

Couvreur, Liki I, Introduction, p. IX.

Nho Giáo, Trần Trọng Kim, quyển I, tr. 147 và tiếp theo.

Lễ Ký, Lễ Vận, 7.

Couvreur Liki I, tr. 527, 528 chú thích.

Lễ Ký, Lễ Vận tr. 4.

[16] Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri thiên. Trung Dung chương XX.

Tôi đã dịch thoát câu nàu như sau:

Biết người, trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao?

[17] Hai chữ Cách vật của sách Đại học đã là một đề tài tranh luận của Nho Gia từ trước đến nay.

Ta cũng đã biết có 2 quan niệm khác nhau về vấn đề này: Một là của Chu Hi, hai là của Vương Dương Minh. Riêng tôi, tôi giải Cách Vật là tìm ra Cốt Cách muôn loài, muôn vật, tìm cho ra Khuôn Trời trong muôn loài, muôn vật. Trong bài Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu: «Bình dẫu phá còn lề cốt cách, Gương dù tan vẫn sạch trần ai.» Chữ Hán cũng có câu: «Bình phong tuy phá, cốt cách do tồn, Quân tử tuy bần, lễ nghĩa thường tại.» 屛 風 雖 破 骨 格 猶 存 君 子 雖 貧 禮 儀 常 在 .

[18] Tôi dịch Cách là Khuôn Trời (ở nơi muôn vật) vì hiểu Cách là Cốt cách. Trung Dung cũng cho rằng trời dựng nên muôn loài chỉ có một khuôn: «Thiên địa chi đạo, khả nhất ngôn dĩ tận dã, kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc.» 天 地 之 道 , 可 一 言 而 盡 也 , 其 為 物 不 貳 , 則 其 生 物 不 測 (Trung Dung, chương 26.)

[19] Khắc kỷ phục lễ… Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. 克 己 復 禮 […] 非 禮 勿 視 非 禮 勿 聽 非 禮 勿 言 非 禮 勿 動. (Luận Ngữ XII, 1)

[20] Khắc kỷ phục lễ… Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. 克 己 復 禮 […] 非 禮 勿 視 非 禮 勿 聽 非 禮 勿 言 非 禮 勿 動. (Luận Ngữ XII, 1)

[21] Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành; lạc mạc đại yên. 萬 物 皆 備 於 我 矣 . 反 身 而 誠 樂 莫 大 焉 . (Mạnh Tử, Tận Tâm Chương cú thượng, 4).

[22] Mạnh tử viết: Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ Tính tắc tri Thiên hĩ. 孟 子 曰: 盡 其 心 者 , 知 其 性 也 . 知 其 性 , 則 知 天 矣 . (Mạnh tử, Tận tâm chương cú thượng, 1).

[23] Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự Thiên dã. 存 其 心 , 養 其 性 , 所 以 事 天 也. (Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú thượng, 1).

[24] Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; Tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; Từ nhượng chi tâm, Lễ chi đoan dã; Thị phi chi tâm, trí chi đoan dã… Nhân chi hữu thị tứ đoan, do kỳ tứ thể dã. 惻 隱 之 心 , 仁 之 端 也 ; 羞 惡 之 心 , 義 之 端 也 ; 辭 讓 之 心 , 禮 之 端 也 ; 是 非 之 心 , 智 之 端 也 . 人 之 有 是 四 端 也 猶 其 有 四 體 也 (Mạnh Tử, Công tôn Sửu, chương cú thượng, 6)

… Chu Hi bình giải về chữ Tính của Mạnh tử như sau: «… Tính là Bản thể của Thái Cực, khó dùng lời lẽ mà mô tả được. Tuy Tính hàm súc vạn lý nhưng đại khái có 4 cương lĩnh lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.» (Dịch theo Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19 – Hối Ông học án.)

[25] Phàm hữu tứ đoan ư ngã giả, tri giai khuếch nhi sung chi hĩ, nhược hoả chi thuỷ nhiên, tuyền nhi thuỷ đạt. Cẩu năng sung chi, túc dĩ bảo tứ hải; cẩu bất sung chi, bất túc dĩ sự phụ mẫu. 凡 有 四 端 於 我 者 , 知 皆 擴 而 充 之 矣 . 若 火 之 始 然 , 泉 之 始 達 . 苟 能 充 之 , 足 以 保 四 海 ; 苟 不 充 之 , 不 足 以 事 父 母 . Mạnh tử, Công Tôn Sửu, chương cú thượng, 6

Chu Hi bình: «Nên, theo Mạnh Tử, thì căn cứ vào nhân tình, ta có thể suy ra điều thiện – thiện đây là tính thiện – ý nói đi ngược dòng tình cảm, sẽ hay biết Tính vậy.» (Dịch theo Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19 – Hối Ông học án)

[26] Cố quân tử tôn đức tính, nhi đạo vấn học, trí quảng đại nhi tận tinh vi, cực cao minh nhi đạo Trung Dung. 故 君 子 尊 德 性 而 道 問 學 , 致 廣 大 而 盡 精 微 , 極 高 明 而 道 中 庸 . Trung Dung XXVII.

[27] Cực cao minh nhi đạo Trung Dung. 極 高 明 而 道 中 庸. Trung Dung XXVII.

[28] Cố viết Phối Thiên. 故 曰 配 天. Trung Dung XXXI.

[29] «Ô moines, il y a un état non-né, non- devenu, non-conditionné, non-composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non-né, non-devenu, non-conditionné, non-composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion possible de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composé. » ― Présence du Buddhisme, p. 268- Udanâ, p. 129, Colombo, 1929.

[30] «Nous devons donc trouver, quelque part, un centre d’òu partent pour ainsi dire tous les autres plans de l’existence. Une fois là, nous devons essayer de trouver une solution. Voilà le programme. Où est ce cente? Il est en dedans de nous. Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers ce seul point; il est leur terrain commun et c’est seulement en nous placant là que nous pourrons trouver une solution commune… » ― Vivekananda, Jnana Yoga, p. 138.

[31] Xem Văn Đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 36b.

[32] La découverte du Centre du Soi, qui coincide avec Brahman, et qui correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres qui permettent au sacrificiant d’échapper à l’espace et au temps, est la grande découverte des Brahmanes, celle qui mène à l’orée de l’Upanishad. ― Lilian Silburn, L’Instant et Cause, p. 103.

[33] Sở vị Phật tính, tựu thị Thiên Tính. Dã tựu thị Nhu Gia sở vị Thiên Mệnh, sở vị Đạo Liêu. Nan quái Khổng tử viết: Triêu văn Đạo, tịch tử khả hĩ. 所 謂 佛 性 , 就 是 天 性 . 也 就 是 儒 家 所 謂 天 命 , 所 謂 道 了 . 難 怪 孔 子 曰: 朝 聞 道 , 夕 死 可 矣. ― Lịch đại Cao Tăng cố sự, q. 7, tr. 30.

[34] Dieu, dit l’Ecriture, est la vie de l’homme. Ipse est vita tua. (Deutéronome, XXX, 20. Texte de la Vulgate cité par St Thomas D’Aquin, Summa Theologica, Ia- IIae, q. 110 a. I, obj. 2) et Saint Augustin a souvent affirmé que Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle- même est la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin, Confessions, VII, 1, 2 et X, 6, 10). Cf. Émile Gilson, Théologie et Histoire de la Spiritualité, Paris, Librairie philosophique, J. Vrin. 1943, p. 10.

[35] Il y a un Infini en nous. ― Florilège de la pensée théosophique moderne, Lotus Bleu, 72 Année, no II, Novembre 1967, p. 293.

[36] L’illumination spirituelle révèle l’Élément unique qui est dans l’esprit et dans le coeur de tout être humain. – Florilège de la pensée théosophique moderne, Lotus Bleu, 72 Année, Aout- Septembre 1967, p. 235.

[37] Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine, et des possibilités infinies. (Ibidem, p. 235).

[38] Pour la Religion Dieu et l’ Homme, la Qualité et la Forme étaient séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont un. – Lotus Bleu, 72e Année, Décembre, 1967, p. 326.

[39] Seul l’inconnaissable et incognoscible Karana, La Cause sans Cause de toutes les Causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le terrain sacré et solitaire de notre coeur – invisible, insaississable, indistinct, sauf par la ‘petite voix silencieuse’ de notre conscience spirituelle. Ceux qui l’adorent devraient le faire dans le silence de la solitude sanctifiée de leurs âmes. – Lotus Bleu, Janvier 78, p. 17.

[40] «L’Atman, le Soi… montrait toute sa puissance à celui qui était capable de reconnaitre la ‘petite voix silencieuse’. Depuis les jours de l’homme primitif… jusqu’à notre âge moderne, il n’y a pas eu un philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire silencieux de son coeur, la grande mystérieuse vérité. Si c’était un Initié, il l’apprenait comme une science sacrée.» Doctrine Secrète, vol. 5, p. 67. Lotus Bleu, 75e Année, No I, p. 18.

[41] Il est une lumière qui brille au delà de toutes les terres, sur terre au-delà de nous tous, au- delà des cieux vraiment les plus hauts. C’est une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y a un pont entre le temps et l’éternité et ce pont est l’Esprit dans l’homme. ni le jour ni la nuit ne traversent ce pont; ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin… Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que dans le monde de l’Esprit, il y a une lumiêre que est éternelle. (Lotus Bleu, 72e Année, 4 Avril. 1967, p. 115).

[42] On trouve Dieu dans sa création… Dans le coeur même de l’homme, on peut trouver la vie divine. En religion, cette découverte est aussi révolutionnaire que la découverte atomique. Elle place dans la main de l’homme un pouvoir spirituelle sans limite, comme l’énergie atomique lui a donné un prodigieux pouvoir physique. (Lotus Bleu, 72e Année, Déc. 1967, p. 327.)

[43] Trước thời kính sợ Trời tiềm ẩn đáy lòng. Sau trở nên hoàn thiện phối hợp với Trời. Thế là đầu đuôi của công cuộc tu trì.

[44] Đặt Trời vào Tâm Điểm con người, sẽ hiểu rõ lẽ:

Động (người) ― Tĩnh (Trời)

Phù (nổi: người) ― Trầm (chìm: Trời).

Nguyên (nguồn gốc: Trời) ― Lai (phóng xuất ra: người)

Bản (gốc: Trời) ― Mạt (ngọn: người).

Thiển (nông: người) ― Thâm (sâu: Trời).

Hiển (hiển lộ: người) ― Vi (vi ẩn: Trời).

Tụ (tụ lại: về với Trời) ― Tán (tán ra, lìa xa: Trời). v. v…

HẾT

 

 

CAN HIEU BIET DUNG VE DAO KHONG

CẦN HIỂU BIẾT ĐÚNG VỀ ĐẠO KHỔNG

CAN HIEU BIET DUNG VE DAO KHONG

 

 

CẦN HIỂU BIẾT ĐÚNG VỀ ĐẠO KHỔNG
I.- NHỮNG NHẬN THỨC SAI LẦM VỀ ĐẠO KHỔNG: –
Đạo Khổng là một đạo đã bị nhiều ngộ nhận, mặc dầu nó đã được các triều đại xưa ra công truyền bá vào trong các lớp quần chúng Việt Nam từ hơn 1000 năm nay.

Lý do là vì:

– Nhiều người học Đạo Khổng cốt để được văn hay chữ tốt, mũ cao áo dài.

– Nhiều người khác đã giản dị hóa đạo Khổng đến mức tối đa với những chữ: Hiếu, Trung hoặc Lễ Nghĩa.
Vì thế nên đã từ lâu, đa số người Việt Nam chúng ta thường cho rằng đạo Khổng là một đạo chuyên dấn thân lo đời, chuyên về luân lý, chính trị. Như vậy, đối với họ dĩ nhiên đạo Khổng chỉ là một hình thức đạo giáo thấp kém, nếu đem so sánh nó với đạo khác. Bất quá đạo Khổng chỉ dạy được con người nhơn đạo, tức là dạy con người ăn ở theo đúng luân thường đạo lý, chứ không dạy được con người cách thành Tiên, thành Thánh, thành Thần, thành Phật. Nói cách khác, Khổng Giáo không có Thiên đạo, Thánh đạo.

II.- CẦN HIỂU BIẾT ĐÚNG ĐẮN VỀ DẠO KHỔNG: –
A.- Đạo Khổng chủ trương đủ ba đạo Địa, Nhân, Thiên: –

Nhưng nếu ta chịu tham khảo Tứ Thư, Ngũ Kinh ta sẽ thấy đạo Khổng không đến nỗi thấp kém như vậy; trái lại, nó đã bao quát toàn diện đời sống con người, cũng như cuộc tiến hóa con người. Thực vậy, nếu chúng ta dở:

– Kinh Dịch (Hệ Từ Hạ, ch. 11, Thuyết quái, ch. 2)

– Luận Ngữ (Công Dã Tràng V, 12)

– Trung Dung (chương 20, và 21 nơi chú thích) ta thấy Khổng Giáo đã đề cập đến đủ cả ba thứ đạo:

– Địa đạo

– Nhân đạo

– Thiên đạo

Ý nghĩa như sau: –

– Địa đạo, vật đạo là mưu sinh, là lo ăn, lo mặc, lo tránh bệnh tật, lo thích ứng với hoàn cảnh, lo phú quốc, cường dân.

– Nhân đạo là ăn ở xứng đáng với danh hiệu con người là ăn ở theo đúng nhân luân. Nhân đạo có thể nói được là bao gồm các vấn đề luân lý, chính trị, xã hội.

– Thiên đạo là siêu xuất lên trên bình diện con người, để thành Thánh, Tiên, Phật? Phạm vi của Thiên đạo như vậy là thuần túy tâm thần.

Ba thứ đạo này tương ứng với ba phần trong con người chúng ta.

1/-Vì trong ta có phần Thiên, phần Tính, nến cần phải hoàn thiện mình, để đạt đạo Phối Thiên, trở thành Thánh Thần, sống phối hợp với Trời, với Tuyệt Đối. Đó là Thiên Đạo, bao gồm các phương pháp dạy làm Thánh Thần.

2/- Vì trong chúng ta có phần Nhân, phần tâm, phần Hồn nên cần phải ăn ở cho xứng đáng với danh nghĩa con người. Đó là Nhân đạo bao gồm các phương pháp dạy làm người.

3/- Vì trong ta có phần Địa, phần Vật, phần Xác, nên cần phải lo ăn mặc, lo làm, để có một đời sống thoải mái? Đó là Địa đạo, bao gồm tất cả các phương pháp làm ăn, làm nghề, làm nghiệp.

Khổng Giáo với chủ trương Tam Tài cố hữu, dĩ nhiên gồm đủ ba thứ đạo ấy.

B.- Mục tiêu cao cả cần phải đạt đến: –

Trong ba đạo kể trên, Khổng Giáo đã chủ trương Thiên đạo hết sức là cao siêu, người tầm thường không thể đủ sức đạt được.[1]

Đến như Tử Cống mà còn phải than:

«Văn chương bình luận phán phê,

Văn chương Phu Tử ta nghe thường rồi.

Còn như Tính với Đạo Trời,

Mấy đời thầy giảng, mấy đời ta nghe.» [2]

[Tử Cống viết: Phu Tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu Tử chi ngôn Tính dữ Thiên Đạo, bất khả đắc nhi văn dã. 夫 子 之 文 章, 可 得 而 聞 也. 夫 子 之 言 性 與 天 道, 不 可 得 而 聞 也 (Luận Ngữ, Công Dã Tràng, 12)]

Trung Dung bàn về Thiên đạo, Nhân đạo như sau:

«Thành giả, Thiên chi đạo dã, Thành chi giả, nhân chi đạo dã.» 誠 者 天 之 道 也, 誠 之 者, 人 之 道 也 (Trung Dung, 20)

Tạm dịch:

«Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện: đạo người xưa nay.»
* Như vậy theo Khổng Giáo:

a. Chỉ có sự hoàn toàn, chí thành, chí thiện mới là đạo Trời, mới là đích điểm của con người.

Như vậy, chỉ khi nào con người lên tới tuyệt đỉnh tinh hoa, chí thánh, chí thiện, lúc ấy mới đạt Thiên đạo, mới Phối Thiên, thành Tiên, thành Phật, vì Tiên hay Phật hiểu một cách công bằng, thẳng thắn, cũng chỉ là một con người giác ngộ, hoàn thiện, giải thoát.

Chính Lão Tử xưa cũng cho rằng: «Phối Thiên là cực điểm của người xưa.» 是 謂 配 天, 古 之 極 (Thị vị phối Thiên, cổ chi cực.) (Đạo Đức Kinh, chương 68).

b. Ngược lại, bao lâu con người còn trên đà tiến tới hoàn thiện, thì bấy lâu vẫn còn ở trên đoạn đường Nhân đạo.

Theo đúng định nghĩa nầy, thì chúng ta bất kỳ là theo đạo giáo nào, chúng ta cũng đều còn đang trên các nẻo đường nhân đạo, vì ai trong chúng ta dám vỗ ngực nói rằng mình hiện nay đã hoàn thiện, siêu việt tuyệt vời?
III.- PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH CỦA ĐẠO KHỔNG: –

A. Trước hết, đạo Khổng có Vật đạo, Địa đạo

Khổng Giáo dạy con người:

– Phải thuận thiên thời, thuận thủy thổ mà sống cho vui, cho mạnh.[3]

– Phải sống cho khang kiện.

– Phải sống cho sung túc.[4]

Vì thế cho nên, về phương diện chính trị, xã hội, Khổng Giáo đã hết sức cổ súy:

– Tận dụng khai thác thiên nhiên, khai thác ngũ hành để mà sống cho no ấm.[5]

Vua xưa trị dân, phải lo cho dân:

– có ruộng mà làm,

– có nhà mà ở,

– có miếng mà ăn,

– có đồ mà dùng

lại còn hết sức khuyến khích nông nghiệp, tầm tang, bá công, bá nghệ.[6]

Tóm lại, về phương diện Vật đạo, Địa đạo, Nho giáo đã đặt trọng tâm vào công cuộc phú quốc, cường dân, và đã tỏ ra hết sức là thực tế, với những khẩu hiệu:

– Túc thực 足 食: làm cho dân có đủ ăn.[7]

– Phú chi 富 之: làm cho dân giàu.[8]

B. Kế đến, Khổng giáo hết sức chú trọng đến Nhân đạo

Lo cho dân no ấm không đủ, phải dạy dỗ dân cho biết cách ăn ở xứng đángvới danh nghĩa con người.[9]

Muốn được vậy, Khổng giáo dạy con người phải: Chính Tâm 正 心, Tu Thân 修 身, Tề Gia 齊 家, Trị Quốc 治 國, Bình Thiên Hạ 平 天 下.

Nói cách khác, Khổng giáo đã tha thiết yêu cầu mọi người hãy cố gắng trau dồi tâm thân, cố gắng đem trật tự và hòa bình vào tâm thân mình, vào gia đình mình, vào quốc gia mình, và vào thế giới mình đang ở.

B1.- Khổng giáo ra công cổ súy Ngũ Thường 五 常:

1/- Nhân 仁: hãy trở nên hoàn thiện, hãy thương yêu mọi người.

2/- Nghĩa 義: hãy cư xử cho hẳn hoi với mọi người.

3/- Lễ 禮: hãy ăn ở hợp lẽ tự nhiên. Hãy kính trọng người khác.

4/- Trí 智: hãy trau dồi trí não mình, hãy trở nên minh giác.

5/- Tín 信: hãy thành tín với mọi người.

B2.- Ngoài ra Khổng giáo còn chia xã hội thành năm nhóm có bổn phận đối đãi với nhau cho hẳn hoi, gọi là Ngũ Luân 五 倫. Ngũ Luân là:

1/- Phụ tử có tình thân (Phụ tử hữu thân 父 子 有 親)

2/- Quân thần có nghĩa (Quân thần hữu nghĩa 君 臣 有 義)

3/- Vợ chồng có phân biệt (Phu phụ hữu biệt 夫 婦 有 別)

4/- Lớn nhỏ có trật tự (Trưởng ấu hữu tự 長 幼 有 序)

5/- Bằng hữu có tín thành (Bằng hữu hữu tín 朋 友 有 信)[10]

B3.- Đối đãi trong Ngũ luân: – (Thập nghĩa 十 義)

Năm nhóm nhưng chính là mười thành phần, trong đó ai nấy đều có bổn phận thích ứng với địa vị mình. Khổng giáo đòi hỏi Thập nghĩa 十 義 [11]

1/- – Quân nhân, thần trung 君 仁 臣 忠 (vua hiền, tôi trung),

2/- Phụ từ, tử hiếu 父 慈 子 孝 (cha hiền, con hiếu thảo),

3/- Phu nghĩa, phụ thính 夫 義 婦 聽 (chồng có nghĩa, vợ vâng lời chồng),

4/- Huynh lương, đệ đễ 兄 良 弟 悌 (anh hiền lương, em thương kính anh),

5/- Trưởng huệ, ấu thuận 長 惠 幼 順 (kẻ lớn rộng ban ân huệ, kẻ nhỏ vâng thuận theo).

*Bổn phận người nam: –

Đạo làm trai phải biết Tam Cương, Ngũ Thường. Đức Tính tốt của người con trai theo quan niệm Nho Giáo: –

* Tam Cương (ba mối quan hệ với nhau)

1. Quân Thần – (Vua Tôi)– 2. Phụ Tử – (Cha Con)– 3. Phu Thê – (Vợ Chồng)

-Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung (Vua khiến tôi chết, tôi không chết, tôi không trung)
-Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu (Cha khiến con chết, con không chết, con không hiếu)
-Nhất tự vi sư, Bán tự vi sư (Một chữ là thầy, Nửa chữ cũng là thầy)
-Phu xướng phụ tùy (chồng nói ra, vợ phải theo)

*Bổn phận của người nữ: –

Phẩm hạnh và đức tính tốt của người con gái theo quan niệm Nho Giáo: –

*Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”

1. Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
2. Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
3. Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con”

*Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công – dung – ngôn – hạnh.

1. Công: khéo léo trong việc làm.
2. Dung: hòa nhã trong sắc diện.
3. Ngôn: mềm mại trong lời nói.
4. Hạnh: nhu mì trong tính nết.

B4.- Tôn chỉ rút gọn trong thực hành đạo Khổng: –

Tóm lại, để hướng dẫn mọi người trong công cuộc giao tiếp với nhau hằng ngày, Khổng giáo đã tìm ra được định luật Trung thứ 忠 恕 [12] hay Hiệt Củ 絜 矩 [13] tức là «Suy bụng ta ra bụng người» với khẩu hiệu bất hủ: «Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân.» 己 所 不 欲 勿 施 於 人.[14]

Ngoài ra, Khổng giáo còn đề cao thuyết chính danh 正 名, ước mong cho mọi người có tài đức xứng với địa vị mình.[15]

B5.- Tiểu nhân và quân tử: –

Khổng giáo chê kẻ tiểu nhân, khen người quân tử.

1/- Tiểu nhân là những người:

– chỉ biết lo những phần thấp kém trong con người.[16]

– cầu danh, tranh lợi,[17] mặc tình cho vật dục và ngoại cảnh khiên dẫn, bất chấp mọi chuyện sa đọa.[18] Họ là những người chỉ lo a dua, xu phụ,[19] không có thực tài, thực đức, không biết thanh lọc tu luyện tâm hồn, vì thế nên có một đời sống nội tâm rất là nghèo nàn chất chưởng, lo lắng, băn khoăn.[20]

2/- Quân tử là những người:

– Sống cho những phần cao siêu nơi con người.[21]

– Trọng nghĩa, khinh lợi.[22]

– Có hoài bão cao đẹp, luôn luôn hướng thượng,[23] cố gắng tiến đức tu nghiệp,[24] cố tu đạo, theo đạo,[25] lo hoàn thiện mình.[26]

– Sáng suốt, ham học, biết thức thời.[27]

– Nói ít làm nhiều.[28]

– Thương yêu mọi người.[29]

– Lúc nào cũng ung dung thư thái.[30]

Tóm lại, người quân tử luôn trau dồi tâm thân,[31] “ở thì ở chỗ quảng đại của thiên hạ, đứng thì đứng vào địa vị chính đáng của thiên hạ, đi thì đi trên con đường lớn của thiên hạ, đắc chí thì cùng với nhân dân noi theo đạo nghĩa, không đắc chí thì một mình thực hành đạo nghĩa. Giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo hèn không làm thay đổi lòng, vũ lực không khuất phục được chí lớn. như thế mới là trượng phu (Mạnh tử, Đằng Văn Công hạ, 2).

Đó là người quân tử mà Kinh Thi đã khen bằng những vần thơ:

«Kìa xem bên khuỷu sông Kỳ,

Tre non mới mọc xanh rì vườn ai,

Người sao văn vẻ hỡi người,

Nhường như cắt, đánh, rũa mài bấy nay.

Lẫm liệt thay, rực rỡ thay!

Hỡi người quân tử biết ngày nào quên.» [32]
CẦN HIỂU BIẾT ĐÚNG VỀ ĐẠO KHỔNG

C. Mục đích tối hậu của Khổng giáo vẫn là Thiên đạo

Thiên đạo có mục đích dạy cho con người biết rõ rằng mình có nguồn mạch chí thành, chí thiện ngay trong tâm khảm mình.

Bản tính con người đồng thể với bản tính của Trời. Nói cách khác, căn nguyên gốc gác con người, Tuyệt đối thể, Thượng Đế chẳng có đâu xa, mà đã hiện diện ngay trong bản tâm, bản tính con người. Vì thế con người cần phải kính cẩn nghiêm chỉnh lòng lại, theo gương mẫu khuôn phép hoàn thiện sẵn có trong lòng mình để mà tự tu, tự luyện, để ngày một trở nên khinh khoát trở nên hoàn thiện.

Khổng Giáo cho rằng con người phải cố gắng triển dương mầm mống hoàn thiện sẵn có nơi mình cho tới tầm mức chí cao chí đại, chí thành, chí thiện mới được ngưng nghỉ. Đạt đạo tức là thực hiện được bản tính của mình, thực hiện được định mệnh sang cả của mình, phối kết với Thượng Đế.

Trung Dung gọi thế là Trung Đạo, là Thiên Đạo, hay Đạo Phối Thiên.[33]

Lão Tử cũng coi đó là tuyệt điểm tinh hoa của cổ nhân.[34]

Đó cũng chính là đích điểm mà bộ kinh Vệ Đà và Áo Nghĩa Thư đã chỉ vẽ cho con người.

Cho nên mẫu người lý tưởng trong Khổng Giáo không phải là Quân Tử mà chính là Thánh Nhân.

Thánh Nhân là những người đã thể hiện được sự toàn thiện. Các ngài sống hoàn toàn phù hợp với Thiên Lý, vì thế nên cũng gọi là Chí Thành.

Các Ngài có cái nhìn tinh tế thấu triệt vì lòng không còn bợn tư tà dục vọng, do đó mới thấu đạo được những điều tinh vi huyền diệu. Hơn nữa, chính cũng vì không còn bị dục tình quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung thanh thản Thiên lý, thiên đạo được nhập thể, được thể hiện nơi các Ngài một cách sáng tỏ, để soi đường dẫn lối cho kẻ khác.

*Chu Hi cho rằng: «Thánh nhân là hiện thân của Trời.» [35]

*Dịch kinh từ lâu vẫn coi con người toàn thiện có đức độ sánh với Trời. Dịch Kinh viết:

Đại nhân đức hạnh bao la,

Như Trời như đất cao xa muôn trùng.

Sáng như nhựt nguyệt hai vừng,

Sống đời tiết tấu hợp khung bốn mùa.

Những điều lành dữ ghét ưa,

Quỉ thần đường lối đem so khác nào,

Trước Trời, Trời chẳng trách đâu,

Sau Trời cho hợp cơ màu thời gian.

Trời không trách cứ phàn nàn,

Thời người còn dám than van nỗi gì.

Trời người chẳng trách chẳng chê,

Quỉ thần âu cũng chẳng hề oán than. [36]
*Trung Dung đề cập đến Thánh Thần nhiều nhất, với những lời lẽ đẹp đẽ nhất. Dưới đây xin trích dẫn một trong nhiều đoạn:

Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đủ đầy thông minh trí huệ,

Y như thế có Trời ẩn áo giáng lâm,

Mới khoan dung hòa nhã ôn thuần,

Y như thế có dung nhan Trời phất phưởng.

Phấn phát tự cường, kiên cường hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng.

Trang trọng khiết tinh, trung chính triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn,

Nói năng văn vẻ rõ ràng tường tận,

Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm ứng hiện phải thì,

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn.

Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm,

Thấy bóng Ngài dân một dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài dân tin tưởng trọn niềm.

Ngài hành động muôn dân đều an lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung Quốc,

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui.

Đâu có được Trời che, và đất chở,

Đâu còn nhựt nguyệt hai vừng tở mở

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người.

Ở nơi đó, Ngài vẫn được tôn sùng quí báu.

Thế nên gọi là cùng Trời phối ngẫu. [37]

IV.- KẾT LUẬN: –

Nếu xưa nay người ta có những quan niệm sai lầm về Nho giáo, thì cũng không lạ. Trước hết, muốn hiểu Nho giáo thực ra không phải là chuyện dễ. Đọc và hiểu được toàn bộ Tứ thư, Ngũ kinh, không phải là một công trình vài tháng, vài năm; ấy là chưa kể đến bách gia chư tử. Sau nữa một người dầu giỏi chữ Hán mấy đi nữa, dẫu đọc sách Nho nhiều tháng, nhiều năm mấy đi nữa, nếu người đó chỉ chú trọng đến văn chương, nếu người đó chỉ dùng đạo Nho như là một công cụ để bước vào con đường công danh, hoạn lộ, thì người đó chắc chắn sẽ chẳng nắm được phần nghĩa lý, phần căn cốt chính truyền của Nho giáo.

Cũng vì thế mà xưa nay, có rất nhiều nhận định khác nhau về Nho giáo. Người thì cho rằng Nho giáo là một đạo nhập thế, dấn thân; người thì cho rằng Nho giáo thiên về chính trị; người thì cho rằng Nho giáo chỉ chú trọng đến luân lý, cương thường. Cũng có người chủ trương Nho giáo chỉ biết dạy con người nhân đạo, nghĩa là chỉ biết dạy con người ăn ở xứng đáng với danh nghĩa con người, chứ không dạy con người làm thần, thánh.

Đó chỉ vì, đa số chỉ khảo sát và học tập về phần “Hình nhi hạ” của đạo Khổng. Nếu nghiên cứu thêm nữa về phần “Hình nhi thượng” mới biết được mục tiêu cao cả của người học tập và thực hành đạo Khổng, là rèn luyện, tu dưỡng mình bằng các pháp “thận độc” và “hàm dưỡng” để trở thành Thánh nhân với đặc điểm cốt lõi nhất,Thánh Nhân là những người «Dữ Thiên đồng đức» 與 天 同 德 (đức độ như Trời), và «Kế Thiên lập cực» 繼 天 立 極 (Thay Trời để lập cực điểm tinh hoa cho nhân loại).

Mẫu người lý tưởng ấy dĩ nhiên là ước mơ chung cho nhân loại, như vậy mục tiêu của đạo Khổng há phải chỉ tầm thường thôi sao?

Một giá trị to lớn nữa là tính bao quát, toàn diện của đạo Khổng, có lý thuyết và thực hành đủ cả ba mặt: Địa đạo, Nhân đạo, Thiên đạo ; tức là muốn bao quát mọi đường đi nước bước của con người trên con đường tiến hóa vô biên… Nó có thể giúp ta hiểu rõ về con người, về mọi khía cạnh đạo giáo, về sự tiến hóa của xã hội.

Như vậy, có thể nói, Khổng giáo vạch cho chúng ta con đường tinh tiến để trở nên những mẫu người toàn vẹn và xây dựng một đất nước, một xã hội an bình và hạnh phúc.

—————————-
(xem tiếp phần Chú thích)

CHÚ THÍCH

[1] Xem Trung Dung các chương 2, 3, 4, 5… và Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng, 41.

[2] Tử Cống viết: Phu Tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu Tử chi ngôn Tính dữ Thiên Đạo, bất khả đắc nhi văn dã. 夫 子 之 文 章, 可 得 而 聞 也. 夫 子 之 言 性 與 天 道, 不 可 得 而 聞 也 (Luận Ngữ, Công Dã Tràng, 12)

[3] Trung Dung 30; Kinh Dịch, quẻ Nhu và quẻ Tiết; Luận Ngữ, Hương Đảng 10.

[4] Luận Ngữ, Nhan Uyên 7.

[5] Kinh Thư, Hồng Phạm Cửu Trù; Luận Ngữ, Nhan Uyên 12; Trung Dung 20.

[6] Mạnh tử, Đằng Văn Công, thượng 3,4.-Trung Dung 20.

[7] Luận Ngữ, Nhan Uyên, 9.

[8] Luận Ngữ, Tử Lộ, 9.

[9] Mạnh Tử, Đằng Văn Công, thượng: 3, 4.

[10] Mạnh Tử, Đằng Văn Công, thượng: 4.

[11] Lễ Ký, Lễ vận.

[12] Trung Dung, ch. 13.- Luận Ngữ, Lý Nhân, 15.

[13] Đại Học, 10

[14] Trung Dung 13. – Luận Ngữ, Vệ Linh Công 23.

[15] Luận Ngữ, Nhan Uyên, 11.- Tử Lộ, 3.

[16] Mạnh Tử, Cáo tử, thượng: 15

17] Luận Ngữ, Lý Nhân, 4-16

[18] Luận Ngữ, Hiến Vấn, 14

[19] Luận Ngữ, Tử Lộ, 23

[20] Luận Ngữ, Tử Lộ 8- 26.- Luận Ngữ, Thuật Nhi 7- 36.

[21] Mạnh Tử, Cáo tử, thượng: 15

[22] Luận Ngữ, Lý Nhân, 4-6.

[23] Luận Ngữ, Hiến Vấn, 14-24

[24] Dịch Kinh, quẻ Kiền, Hào Cửu tam, Văn ngôn.

[25] Luận Ngữ, Lý Nhân, 4- 9

[26] Trung Dung, ch. 20 – Luận Ngữ, Vệ Linh Công 15-17,20. Trung Dung, ch. 14.

[27] Luận Ngữ, Ung Dã 6-25; Lý Nhân 4-10.- Trung Dung, ch. 14.

[28] Luận Ngữ, Lý Nhân, 4-23.

[29] Luận Ngữ, Nhan Uyên, 12-15.

[30] Luận Ngữ, Thuật Nhi, 7-36; Vệ Linh Công, 15-1.

[31] Mạnh Tử, Cáo tử, thượng: 15.

[32] Kinh Thi, Tản Đà dịch, tr. 168.- Kinh Thi, Vệ nhất chi ngũ kỳ úc.- Đại Học 3.

[33] Trung Dung, ch. 31.

[34] Đạo Đức kinh, ch. 48: Thị vị phối thiên cổ chi cực.

[35] Xem Nguyễn Văn Thọ, Khổng học tinh hoa, tr. 47.

[36] Kinh Dịch, Quẻ Kiền, Văn ngôn hào Cửu ngũ. Xem thêm Hệ từ thượng, ch. 6.

[37] Trung Dung, ch.31

HẾT

KHAI QUAT VE THIEN THU TRONG THU TICH DAO GIAO

KHÁI QUÁT VỀ THIỆN THƯ TRONG THƯ TỊCH ĐẠO GIÁO

KHAI QUAT VE THIEN THU TRONG THU TICH DAO GIAO

KHÁI QUÁT VỀ THIỆN THƯ TRONG THƯ TỊCH ĐẠO GIÁO

Thiện thư (善書) hay còn gọi là Khuyến thiện thư (勸善書) là những sách dạy dỗ cho tín đồ Đạo Giáo (Lão giáo) nhận thức và thực hành những công việc tạo ra phúc đức, tức làm lợi cho chúng sinh.

Đó là nội dung tu tập cụ thể của Đạo gia về phần “dụng” bên cạnh phần lý thuyết chính gọi là “thể” hay “ lý”. Sau được truyền bá rộng rãi trong nhân dân học hỏi và thực hành theo.

Kinh sách thuần túy khuyến thiện thì phải kể Cảm Ứng Thiên感應篇 là tối cổ, sau đó là Âm Chất Văn 陰騭文 và Công Quá Cách 功過格. (chúng ta sẽ lần lượt phân tích sau)

Ngoài ba sách cổ căn bản trên, sau nầy còn xuất hiện vô số “thiện thư” gọi là “trăm hoa đua nở”, không sao tính đếm cho đầy đủ (vì có những sách chỉ truyền trong dòng tộc, không phổ biến ra ngoài).

Tạm thời, chúng ta chấp nhận cách phân loại của học giả người Nhật là Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治 như sau: –

A.- Phân loại theo Cát Nguyên Chiêu Trị: –

Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治sau khi đi khảo sát một vòng Đông Nam Á (trừ Việt Nam), lấy Đài Loan làm trung tâm của khu vực thực địa, năm 1988 – đã tổng hợp được 259 chủng loại thiện thư và phân chia thành nhóm.

Ông viết trong Đạo Giáo Dữ Bất Lão Trường Thọ Y Học 道教與不老長壽醫學 [nguyên tựa: 道教と不老長壽の醫學), bản dịch ra Hán văn của Dương Vũ 楊宇, Thành Đô Xuất Bản Xã, 1992, tr. 81.] phân chia nhóm các thiện thư khá chi tiết.

Xin kể vài nhóm chính như sau:

1.-Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇, 6 chủng loại.

2.-Quan Thánh Đế Quân Giác Chính Chân Kinh 關聖帝君覺正真經, 6 chủng loại.

3.-Thánh Nguyên Giác Chân Kinh 聖源覺真經, 2 chủng loại.

4.-Quan Thánh Đế Quân Thân Giáng Tế Thế Linh Nghiệm Cứu Kiếp Kinh Văn 關聖帝君親降濟世靈驗救劫經文, 6 chủng loại.

5.-Quan Thánh Đế Quân Giới Dâm Kinh 關聖帝君戒淫經, 4 chủng loại.

6.-Văn Xương Đế Quân Tích Tự Công Quá Luật 文昌帝君惜字功過律, 2 chủng loại.

7.-Vô Cực Thánh Đế Đại Đỗng Chân Kinh 無極聖帝大洞真經, 2 chủng loại.

8.-Liễu Phàm Tứ Huấn 了凡四訓:- tổng cộng 3 chủng loại: –

Gồm có: –
a/- Liễu Phàm Tứ Huấn 了凡四訓 (cổ văn)
b/- Liễu Phàm Tứ Huấn Bạch Thoại Giải 了凡四訓白話解 (bạch thoại)
c/-Liễu Phàm Tứ Huấn Ngữ Giải Tinh Biên 了凡四訓語解精編, nội dung lấy Âm Chất Văn của Viên Liễu Phàm 袁了凡 đời Minh sáng tác (?) làm chính để giải thích.

9.- Nhóm dung hợp Phật và Đạo, tổng cộng 44 loại: –
a/-Quan Âm Đại Sĩ Cứu Kiếp Tiên Phương 觀音大士救劫仙方
b/-Dược Vương Bồ Tát Bản Sự Phẩm 藥王菩薩本事品
c/-Dược Sư Pha Lê Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh 藥師玻璃光如來本願功德經
…………

10.-Thái Dương Thái Âm Chân Kinh 太陽太陰真經, Thái Dương Kinh 太陽經, 6 chủng loại
11.-Lưu Bá Ôn Sấm 劉伯溫讖, 2 chủng loại.
12.- Vi Thiện Tối Lạc 為善最樂, 1 chủng loại.

13.- Vô số thiện thư do cơ bút mà ra, gồm Thiên Đường Du Ký 天堂遊記, Địa Ngục Du Ký 地獄遊記, các toa thuốc trị bệnh, v.v. có 47 chủng loại.

……………
B.-Nội dung của các thiện thư nói chung: –

1.-Mối liên quan mật thiết giữa hành thiện và trường sinh.

2.-Thiện ác báo ứng.

3.-Phương pháp hành thiện.

4.-Phương pháp trị bệnh (ở một số quyển).

5.-Chấn hưng tôn giáo.

* Kết luận: –

Phải thành thật nhận rằng, đời sống văn hóa nói chung hay trong sinh hoạt hàng ngày nói riêng của người dân các nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc (các nước đồng văn) chịu sự chi phối rất lớn trong nhận thức, tư duy và hành động … theo nội dung của những thiện thư nầy, bên cạnh giáo lý nhân quả của Phật giáo và “thưởng thiện phạt ác” của Nho giáo.

Ba tư tưởng nầy ảnh hưởng hỗ tương, đan xen vào nhau. Trải qua nhiều năm tháng, nhiều nơi chốn … khiến chúng ta khó phân biệt rạch ròi, chắc chắn là “chịu ảnh hưởng của đạo nào”. Do đó, nó mang tính tổng hợp, mà nói theo người xưa, đúng đắn nhất vẫn là “Tam giáo đồng nguyên 三教同源” (ba giáo cùng nguồn)

 

 

 

NGAN NGU KHI CONG 氣 功 諺 語

NGẠN NGỮ KHÍ CÔNG
(氣 功 諺 語)

THƯỢNG DƯỢC TAM PHẨM
THẦN DỮ KHÍ TINH
上 藥 三 品 ,神 與 氣 精

NGAN NGU KHI CONG

NGẠN NGỮ KHÍ CÔNG

(氣 功 諺 語)

THƯỢNG DƯỢC TAM PHẨM

THẦN DỮ KHÍ TINH

上 藥 三 品 ,神 與 氣 精

NGẠN NGỮ KHÍ CÔNG
(氣 功 諺 語)

THƯỢNG DƯỢC TAM PHẨM
THẦN DỮ KHÍ TINH
上 藥 三 品 ,神 與 氣 精

Có 3 yếu tố trong quá trình tu luyện Nội Đan – 內丹, đó là : Đỉnh Khí 鼎 器 – Dược Vật 藥 物 – Hỏa Hậu 火 候 , trong đó Thần và Khí là thượng dược tam phẩm , được dùng làm chất thuốc trong việc tu luyện nội đơn , chất thuốc bao gồm : Nguyên Tinh – Nguyên Khí – Nguyên Thần và chỉ trong trạng thái thiền định thâm sâu , hành giả mới có thể cảm nhận được các việc nầy .
Nguyên Tinh 元 精 còn gọi là Tinh của Tiên Thiên , nó không phải là Tinh của Hậu Thiên dùng trong việc duy trì giống nòi ; Nguyên Khí trong khí công học được viết là Khí : , khác với Khí của hậu thiên được viết là : 氣 ; Sau khi ta được sinh ra thì Nguyên Khí 元 nầy , đi xuống nằm tại đan điền , để giúp hậu thiên khí như là khí hô hấp , khí của thủy cốc ……Nguyên Thần 元 神 còn gọi là Thần của Tiên Thiên , có nơi còn gọi là Nguyên Tính 元 性 ; Nguyên Thần 元 神 không phải là những hoạt động tư duy của hậu thiên ý thức 思 慮 之 神 , mà nó là một trạng thái linh động của con người có được từ lúc ta được sinh ra đời .

Nhân Chi Nê Hoàn ,Kì Thiên Hồ
人 之 泥 丸 ,其 天 乎
Nhân Chi Hạ Ñiền , Kì Địa Hồ
人 之 下 田 , 其 地 乎

Nê Hoàn là Thượng đan điền là nơi dùng để tu Tính 修 性 之 所 ; Hạ Điền là Hạ đan điền là nơi để luyện Mạng 煉 命 之 處 ; Thượng, Hạ Đan Điền là Đỉnh Khí 鼎 器 là lò luyện đơn trong Nội Đan Tam Yếu 內丹三要 ; Còn Nê Hoàn là một trong 9 cung nằm ở trung cung chính giữa trong đầu . còn gọi là Huỳnh Đình ….là nơi cư trú của Nguyên Thần 元 神 , chổ nầy trống không như hang sâu , nên xưa gọi là Cốc Thần 谷 神, tức là sàng nảo thất thứ ba của con người .

Sàng nảo thất thứ ba có hình dạng giống như con chim Thiên Nga – Hamsa , còn gọi là hang Brahma – hang Phạm Thiên , nơi đây tiếp thu những rung động cộng hưởng của những trường lực sinh thái vũ trụ, nơi đây chứa dung dịch nảo tủy và nồng độ Ph của nảo tủy sẻ quyết định tần số tiếp thu những rung động của vũ trụ , nên trong Yoga Ấn Độ , cho rằng nơi đây là nơi mà hành giả có thể xuyên qua quá trình tu tập , linh hồn có thể bay ra từ đây …..Có nơi cho rằng Nê Hoàn là tuyến Tùng Quả của con người .

Trong Khoa luyện kim Alchemical Tây Phương gọi Mercury Thủy Tinh như là Sàng nảo thất thứ ba trong nảo bộ.

Còn Hạ Đan Điền còn gọi là Linh Cốc 靈谷 , Quan Nguyên 關元 là nơi chứa Tinh , tàng chứa Nguyên Tinh , Nguyên Khí của con người .

NHƯỢC THỦ NHƯỢC TỒN , VẬT VONG VẬT TRỢ
若 守 若 存 ,勿 亡 勿 助

Câu nầy là nói về Văn Hỏa trong Hỏa Hậu thuộc Nội Đan Tam Yếu 內丹三要 : Đỉnh Khí 鼎 器 , Dược Vật 藥 物 , , Hỏa Hậu 火 候 . Hỏa Hậu tức là hơi thở , và ý niệm …. Hỏa Hậu gồm có Văn Hỏa 文 火 và Võ Hỏa 武 火 .

Trong quá trình luyện đơn , hành giả cần xử dụng Hỏa hầu , tức là hành giả xử dụng ý niệm và điều khiển hơi thở đúng theo trình tự tu luyện nội đơn theo môn phái của mình có chỉ dẩn.
Hỏa là Thần , tức Ý Niệm ,còn có tên biểu tượng học là Hống, thủy ngân 汞 Nhật , mặt trời 日 , Ô là Chim 烏 , Long là Rồng 龍 , Chân Ý 真意 của hành giả.
Văn Hỏa 文 火 là đạo dẩn chỉ hơi thẹ nhẹ nhàng , khi hít hơi vào ngắn mà tự nhiên , khi thở ra thì có ý dẩn đạo và thở ra dài hơi , như vậy làm cho nội khí thong thả giáng trầm , như trong quá trình Thối Âm Phù nội khí đi xuống nhâm mạch trong Tiểu Châu Thiên .
Còn Võ Hỏa 武 火 tức là xử dụng hơi thở nhanh và mạnh , khi hít hơi thì dùng ý mà dẩn khí , hít hơi dài , khi thở ra thì thở tư nhiên và thở ngắn hơi mà thôi , như vậy có thể khiến nội khí chạy gấp mà xông lên trên , như trong quá trình Thăng Dương Hỏa ở đốc mạch của vòng Tiểu Châu Thiên .

Đừng tin hay làm theo nội dung bài viết trên , vì nó chỉ có giá trị tham khảo , tất cả sự tu tập khí công cần có sư hướng dẩn và trông coi của Minh Sư , mọi sự tập luyện theo nội dung trên , hành giả hoàn toàn tự chịu trách nhiệm với bản thân , gia đình và pháp luật sở tại .

ÁNH SÁNG – T2 – ÚC CHÂU Biên soạn

 

 

 

 

 

 

Hoang Thach Cong – Tam Luoc – Binh Phap Tinh Tuy

Hoàng Thạch Công – Tam Lược – Binh Pháp Tinh Tuý

Hoang Thach Cong – Tam Luoc – Binh Phap Tinh Tuy

Hoàng Thạch Công – Tam Lược – Binh Pháp Tinh Tuý
三略
黄石公

01章 上略

夫主将之法,务揽英雄之心,赏禄有功,通志于众。故与众同好,靡①不成;与众同恶,靡不倾。治国安家,得人也;亡国破家,失人也。含气之类,咸愿得其志。

《军谶》②曰:“柔能制刚,弱能制强。”柔者,德也;刚者,贼③也。弱者,人之所助;强者,怨之所攻。柔有所设,刚有所施,弱有所用,强用所加。兼此四者,而制其宜。

端末未见,人莫能知。天地神明,与物推移。变动无常,因敌转化。不为事先,动而辄随。故能图制无疆,扶成天威,匡正八极,密定九夷。如此谋者,为帝王师。

故曰:莫不贪强,鲜能守微;若能守微,乃保其生。圣人存之,动应事机。舒之弥四海,卷之不盈怀,居之不以室宅,守之不以城郭,藏之胸臆,而敌国服。

《军谶》曰:“能柔能刚,其国弥光;能弱能强,其国弥彰。纯柔纯弱,其国必削;纯刚纯强,其国必亡。”

夫为国之道,恃贤与民。信贤如腹心,使民如四肢,则策无遗。所适如支体相随,骨节相救,天道自然,其巧无间。

军国之要,察众心,施百务。

危者安之,惧者欢之,叛者还之,怨者原之,诉者察之,卑者贵之,强者抑之,敌者残之,贪者丰之,欲者使之,畏者隐之,谋者近之,谗者覆之,毁者复之,反者废之,横者挫之,满者损之,归者招之,服者居之,降者脱之。

获固守之,获阨塞之,获难屯之,获城割之,获地裂之,获财散之。

敌动伺之,敌近备之,敌强下之,敌佚去之,敌陵待之,敌暴绥之,敌悖义之,敌睦携之。顺举挫之,因势破之,放言过之,四网罗之。

得而勿有,居而勿守,拔而勿久,立而勿取;为者则己,有者则士,焉知利之所在!彼为诸侯,己在天子,使城自保,令士自取。

世能祖祖,鲜能下下。祖祖为亲,下下为君。下下者,务耕桑不夺其时,薄赋敛不匮其财,罕徭役不使其劳,则国富而家娭,然后选士以司牧之。夫所谓士者,英雄也。故曰:罗其英雄,则敌国穷。英雄者,国之干;庶民者,国之本。得其干,收其本,则政行而无怨。

夫用兵之要,在崇礼而重禄。礼崇则智士至,禄重则义士轻死。故禄贤不爱财,赏功不逾时,则下力并而敌国削。夫用人之道,尊以爵,赡以财,则士自来;接以礼,励以义,则士死之。

夫将帅者,必与士卒同滋味而共安危,敌乃可加,故兵有全胜,敌有全因。昔者良将之用兵,有馈箪醪④者,使投诸河,与士卒同流而饮。夫一箪之醪,不能味一河之水,而三军之士思为致死者,以滋味之及己也。《军谶》曰:“军井未达,将不言渴;军幕未办,将不言倦;军灶未炊,将不言饥。冬不服裘,夏不操扇,雨不张盖。”是谓将礼。与之安,与之危,故其众可合而不可离,可用而不可疲;以其恩素蓄,谋素和也。故蓄恩不倦,以一取万。

《军谶》曰:“将之所以为威者,号令也。战之所以全胜者,军政也。士之所以轻战者,用命也。”故将无还令,赏罚必信,如天如地,乃可御人。士卒用命,乃可越境。

夫统军持势者,将也;制胜破敌者,众也。故乱将不可使保军,乖众不可使伐人。攻城则不拔,图邑则不废,二者无功,则士力疲弊。士力疲弊,则将孤众悖,以守则不固,以战则奔北。是谓老兵。兵老则将威不行,将无威则士卒轻刑,士卒轻刑则军失伍,军失伍则士卒逃亡,士卒逃亡则敌乘利,敌乘利则军必丧。

《军谶》曰:“良将之统军也,恕己而治人,推惠施恩,士力日新,战如风发,攻如河决。”故其众可望而不可当,可下而不可胜。以身先人,故其兵为天下雄。

《军谶》曰:“军以赏为表,以罚为里。”赏罚明,则将威行;官人得,则士卒服;所任贤,则敌国震。

《军谶》曰:“贤者所适,其前无敌。”故士可下而不可骄,将可乐而不可忧,谋可深而不可疑。士骄则下不顺,将忧则内外不相信,谋疑则敌国奋。以此攻伐,则致乱。夫将者,国之命也。将能制胜,则国家安定。

《军谶》曰:“将能清,能净,能平,能整;能受谏,能听讼,能纳人,能采言;能知国俗,能图山川,能表险难,能制军权。”故曰,仁贤之智,圣明之虑,负薪之言,廊庙之语,兴衰之事,将所宜闻。

将者,能思士如渴,则策从焉。夫将拒谏,则英雄散。策不从,则谋士叛。善恶同,则功臣倦。专己,则下归咎。自伐,则下少功。信谗,则众离心。贪财,则奸不禁。内顾,则士卒淫。将有一,则众不服;有二,则军无式;有三,则下奔北;有四,则祸及国。

《军谶》曰:“将谋欲密,士众欲一,攻敌欲疾。”将谋密,则奸心闭;士众一,则军心结;攻敌疾,则备不及设。军有此三者,则计不夺。将谋泄,则军无势;外窥内,则祸不制;财入营,则众奸会。将有此三者,军必败。

将无虑,则谋士去。将无勇,则吏士恐。将妄动,则军不重。将迁怒,则一军惧。《军谶》曰:“虑也,勇也,将之所重;动也,怒也,将之所用。”此四者,将之明诫也。

《军谶》曰:“军无财,士不来。军无赏,士不往。”《军谶》曰:“香饵之下,必有悬鱼;重赏之下,必有死夫。”故礼者,士之所归;赏者,士之所死。招其所归,示其所死,则所求者至。故礼而后悔者,士不止;赏而后悔者,士不使。礼赏不倦,则士争死。

《军谶》曰:“兴师之国,务先隆恩。攻取之国,务先养民。”以寡胜众者,恩也。以弱胜强者民也。故良将之养士,不易于身,故能使三军如一心,则其胜可全。

《军谶》曰:“用兵之要,必先察敌情。视其仓库,度其粮食,卜其强弱,察其天地,伺其空隙。”故国无军旅之难而运粮者,虚也;民菜色者,穷也。千里馈粮,民有饥色。樵苏后窜爨⑤,师不宿饱。夫运粮千里,无一年之食;二千里,无二年之食;千百里,无三年之食,是谓国虚。国虚,则民贫,民贫,则上下不亲。敌攻其外,民盗其内,是谓必溃。

《军谶》曰:“上行虐,则下急刻⑥。赋敛重数,刑罚无极,民相残贼,是谓亡国。”

《军谶》曰:“内贪外廉,诈誉取名,窃公为恩,令上下昏;饰躬正颜,以获高官,是谓盗端。”

《军谶》曰:“群吏朋党,各进所亲;招举奸枉,抑挫仁贤;背公立私,同位相讪;是谓乱源。”

《军谶》曰:“强宗聚奸,无位而尊,威无不震;葛藟相连,种德立恩,夺在位权;侵侮下民,国内哗喧,臣蔽不言;是谓乱根。”

《军谶》曰:“世世作奸,侵盗县官,进退求便,委曲弄文,以危其君,是谓国奸。”

《军谶》曰:“吏多民寡,尊卑相若,强弱相虏,莫适禁御,延及君子,国受其咎。”

《军谶》曰:“善善不进,恶恶不退;贤者隐蔽,不肖在位,国受其害。”

《军谶》曰:“枝叶强大,比周⑦居势,卑贱陵贵,久而益大,上不忍废,国受其败。”

《军谶》曰:“佞臣在上,一军皆讼;引威自与,动违于众;无进无退,苟然取容⑧;专任自己,举措伐功;诽谤盛德,诬述庸庸⑨;无善无恶,皆与己同;稽留行事,命令不通;造作苛政,变古易常。君用佞人,必受祸殃。”

《军谶》曰:“奸雄相称,障蔽主明;毁誉并兴,壅塞主聪;各阿所私,令主失忠。”

故主察异言,乃睹其萌;主聘儒贤,奸雄乃遁;主任旧齿,万事乃理;主聘岩穴,士乃得实;谋及负薪,功乃可述;不失人心,德乃洋溢。

【注释】  ①靡:无,没有。  ②《军谶》:相传为古代兵书,已佚。  ③贼:贼患,祸患。  ④箪醪:古代用以盛酒用的竹制盛器。  ⑤樵苏:砍柴割草。窜爨:烧火煮饭。  ⑥急刻:峻急岢客。  ⑦比周:结党营私。  ⑧苟然:卑屈谄媚之貌。取容:取悦于上。  ⑨庸庸:有功之人。
02章 中略

夫三皇无言而化流四海,故天下无所归功。

帝者,体天则地①,有言有令,而天下太平。群臣让功,四海化行,百姓不知其所以然。故使臣不待礼赏有功,美而无害。

王者,制人以道,降心服志,设矩备衰,四海会同,王职不废。虽有甲兵之备,而无斗战之患。君无疑于臣,臣无疑于主,国定主安,臣以义退②,亦能美而无害。

霸者,制士以权,结士以信,使士以赏。信衰则士疏,赏亏则士不用命。

《军势》③曰:“出军行师,将在自专,进退内御④,则功难成。”

《军势》曰:“使智,使勇,使贪,使愚。智者乐立其功,勇者好行其志,贪者邀趋其利,愚者不顾其死。因其至情而用之,此军之微权也。”

《军势》曰:“无使辩士谈说敌美,为其惑众。无使仁者主财,为其多施而附于下。”

《军势》曰:“禁巫祝,不得为吏士卜问军之吉凶。”

《军势》曰:“使义士不以财。故义者,不为不仁者死;智者,不为暗主谋。”

主,不可以无德,无德则臣叛;不可以无威,无威则失权。臣,不可以无德,无德则无以事君;不可以无威,无威则国弱,威多则身蹶。

故圣王御世,观盛衰,度得失,而为之制。故诸侯二师,方伯三师,天子六师。世乱,则叛逆生。王泽竭,则盟誓相诛伐。德同势敌,无以相倾,乃揽英雄之心,与众同好恶,然后加之以权变。故非计策,无以决嫌定疑;非谲奇,无以破奸息寇;非阴谋,无以成功。

圣人体天,贤者法地,智者师古。是故《三略》为衰世作。“上略”设礼赏,别奸雄,著成败。“中略”差德行,审权变。“下略”陈道德,察安危,明贼贤之咎。故人主深晓“上略”,则能任贤擒敌;深晓“中略”,则能御将统众;深晓“下略”,则能明盛衰之源,审治国之纪。人臣深晓“中略”,则能全功保身。

夫高鸟死,良弓藏;敌国灭,谋臣亡。亡者,非丧其身也,谓夺其威废其权也。封之于朝,极人臣之位,以显其功。中州善国⑤,以富其家;美色珍玩,以说其心。

夫人众一合而不可卒离,威权一与而不可卒移。还师罢军,存亡之阶。故弱之以位,夺之以国,是谓霸者之略。故霸者之作,其论驳⑥也。存社稷罗英雄者,“中略”之势也。故世主秘焉。

【注释】  ①体天则地:取法天地。体,取法。。  ②义退:功成身退。  ③《军势》:相传为古代兵书,已佚。  ④内御:受君王控制。  ⑤中州:古代指我国中原地区。善国:好的分封国领地。  ⑥驳:错杂,混杂.

03章 下略

夫能扶天下之危者,则据天下之安。能除天下之忧者,则享天下之乐。能救天下之祸者,则获天下之福。故泽及于民,则贤人归之;泽及昆虫,则圣人归之。贤人所归,则其国强;圣人所归,则六合同。求贤以德,致圣以道。贤去,则国微;圣去,则国乖①。微者,危之阶;乖者,亡之徴。

贤人之政,降人以体。圣人之政,降人以心。体降可以图始,心降可以保终。降体以礼,降心以乐。所谓乐者,非金石丝竹也,谓人乐其家,谓人乐其族,谓人乐其业,谓人乐其都邑,谓人乐其政令,谓人乐其道德。如此君人者,乃作乐以节之,使不失其和。故有德之君,以乐乐人;无德之君,以乐乐身。乐人者,久而长;乐身者,不久而亡。

释近谋远者,劳而无功。释远谋近者,佚而有终。佚②政多忠臣,劳政多怨民。故曰,务广地者荒,务广德者强。能有其有者安,贪人之有者残。残灭之政,累世受患。造作过制,虽成必败。

舍己而教人者逆,正己而化人者顺。逆者乱之招,顺者治之要。

道、德、仁、义、礼,五者一体也。道者,人之所蹈;德者,人之所得;仁者,人之所亲;义者,人之所宜;礼者,人之所体,不可无一焉。故夙兴夜寐,礼之制也。讨贼报仇,义之决也。恻隐之心,仁之发也。得己得人③,德之路也。使人均平,不失其所,道之化也。

出君下臣名曰命,施于竹帛名曰令,奉而行之名曰政。夫命失,则令不行;令不行,则政不正;政不正,则道不通;道不通,则邪臣胜;邪臣胜,则主威伤。

千里迎贤,其路远;致不肖,其路近。是以明王舍近而取远,故能全功尚人,而下尽力。

废一善,则众善衰;赏一恶,则众恶归。善者得其祐,恶者受其诛,则国安而众善至。

众疑无定国,众惑无治民。疑定惑还,国乃可安。

一令逆则百令失,一恶施则百恶结。故善施于顺民,恶加于凶民,则令行而无怨。使怨治怨,是谓逆天;使仇治仇,其祸不救。治民使平,致平以清,则民得其所而天下宁。

犯上者尊,贪鄙者富,虽有圣王,不能致其治。犯上者诛,贪鄙者拘,则化行而众恶消。清白之士,不可以爵禄得。节义之士,不可以威刑胁。故明君求贤,必观其所以而致焉。致清白之士,修其礼;致节义之士,修其道。而后士可致,而名可保。

夫圣人君子,明盛衰之源,通成败之端,审治乱之机,知去就之节。虽穷不处亡国之位,虽贫不食乱邦之禄。潜名抱道者,时至而动,则极人臣之位。德合于己,则建殊绝之功。故其道高而名扬于后世。

圣王之用兵,非乐之也,将以诛暴讨乱也。夫以义诛不义,若决江河而溉爝火④,临不测而挤欲堕,其克必矣。所以优游恬淡而不进者,重伤人物也。夫兵者,不祥之器,天道恶之;不得已而用之,是天道也。夫人之在道,若鱼之在水,得水而生,失水而死。故君子者,常畏惧而不敢失道。

豪杰秉职,国威乃弱。杀生在豪杰,国势乃竭。豪杰低首,国乃可久。杀生在君,国乃可安。四民用虚,国乃无储;四民用足,国乃安乐。

贤臣内,则邪臣外。邪臣内,则贤臣毙。内外失宜,祸乱传世。

大臣疑⑤主,众奸集聚。臣当君尊,上下乃昏;君当臣处,上下失序。

伤贤者,殃及三世;蔽贤者,身受其害;嫉贤者,其名不全;进贤者,福流子孙。故君子急于进贤,而美名彰焉。

利一害百,民去城郭;利一害万,国乃思散。去一利百,人乃慕泽;去一利万,政乃不乱。

【注释】  ①乖:乖乱,混乱。。  ②佚:同“逸”,安逸,安乐。  ③得己得人:正人(先)正己。  ④爝火:小火。  ⑤疑:比拟。

********
HẾT
Phiên âm Hán Việt:

三略

Tam lược

黄石公

Hoàng thạch công

01章 上略

01 Chương thượng lược

夫主将之法,务揽英雄之心,赏禄有功,通志于众。故与众同好,靡①不成;与众同恶,靡不倾。治国安家,得人也;亡国破家,失人也。含气之类,咸愿得其志。

Phu chủ tương chi pháp , vụ lãm anh hùng chi tâm , thưởng lộc hữu công , thông chí vu chúng . Cố dữ chúng đồng hảo , mĩ ? bất thành ; dữ chúng đồng ác , mĩ bất khuynh . Trì quốc an gia , đắc nhân dã ; vong quốc phá gia , thất nhân dã . Hàm khí chi loại , hàm nguyện đắc kỳ chí .

《军谶》②曰:“柔能制刚,弱能制强。”柔者,德也;刚者,贼③也。弱者,人之所助;强者,怨之所攻。柔有所设,刚有所施,弱有所用,强用所加。兼此四者,而制其宜。

” Quân sấm “? viết : ” nhu năng chế cương , nhược năng chế cường . ” Nhu giả , đức dã ; cương giả , tặc ? dã . Nhược giả , nhân chi sở trợ ; cường giả , oán chi sở công . Nhu hữu sở thiết , cương hữu sở thi , nhược hữu sở dụng , cường dụng sở gia . Kiêm thử tứ giả , nhi chế kỳ nghi .

端末未见,人莫能知。天地神明,与物推移。变动无常,因敌转化。不为事先,动而辄随。故能图制无疆,扶成天威,匡正八极,密定九夷。如此谋者,为帝王师。

Đoan mạt vị kiến , nhân mạc năng tri . Thiên địa thần minh , dữ vật thôi di . Biến động vô thường , nhân địch chuyển hóa . Bất vi sự tiên , động nhi triếp tùy . Cố năng đồ chế vô cương , phù thành thiên uy , khuông chánh bát cực , mật định cửu di . Như thử mưu giả , vi đế vương sư .

故曰:莫不贪强,鲜能守微;若能守微,乃保其生。圣人存之,动应事机。舒之弥四海,卷之不盈怀,居之不以室宅,守之不以城郭,藏之胸臆,而敌国服。

Cố viết : mạc bất tham cường , tiên năng thủ vi ; nhược năng thủ vi , nãi bảo kỳ sanh . Thánh nhân tồn chi , động ứng sự cơ . Thư chi di tứ hải , quyển chi bất doanh hoài , cư chi bất dĩ thất trạch , thủ chi bất dĩ thành quách , tàng chi hung ức , nhi địch quốc phục .

《军谶》曰:“能柔能刚,其国弥光;能弱能强,其国弥彰。纯柔纯弱,其国必削;纯刚纯强,其国必亡。”

” Quân sấm ” viết : ” năng nhu năng cương , kỳ quốc di quang ; năng nhược năng cường , kỳ quốc di chương . Thuần nhu thuần nhược , kỳ quốc tất tước ; thuần cương thuần cường , kỳ quốc tất vong . ”

夫为国之道,恃贤与民。信贤如腹心,使民如四肢,则策无遗。所适如支体相随,骨节相救,天道自然,其巧无间。

Phu vi quốc chi đạo , thị hiền dữ dân . Tín hiền như phúc tâm , sử dân như tứ chi , tắc sách vô di . Sở quát như chi thể tương tùy , cô tiết tương cứu , thiên đạo tự nhiên , kỳ xảo vô giản .

军国之要,察众心,施百务。

Quân quốc chi yếu , sát chúng tâm , thi bách vụ .

危者安之,惧者欢之,叛者还之,怨者原之,诉者察之,卑者贵之,强者抑之,敌者残之,贪者丰之,欲者使之,畏者隐之,谋者近之,谗者覆之,毁者复之,反者废之,横者挫之,满者损之,归者招之,服者居之,降者脱之。

Nguy giả an chi , cụ giả hoan chi , bạn giả hoàn chi , oán giả nguyên chi , tố giả sát chi , ti giả quý chi , cường giả ức chi , địch giả tàn chi , tham giả phong chi , dục giả sử chi , úy giả ẩn chi , mưu giả cận chi , sàm giả phúc chi , hủy giả phục chi , phản giả phế chi , hoành giả tỏa chi , mãn giả tổn chi , quy giả chiêu chi , phục giả cư chi , hàng giả thoát chi .

获固守之,获阨塞之,获难屯之,获城割之,获地裂之,获财散之。

Hoạch cố thủ chi , hoạch ách tắc chi , hoạch nan đồn chi , hoạch thành cát chi , hoạch địa liệt chi , hoạch tài tán chi .

敌动伺之,敌近备之,敌强下之,敌佚去之,敌陵待之,敌暴绥之,敌悖义之,敌睦携之。顺举挫之,因势破之,放言过之,四网罗之。

Địch động tý chi , địch cận bị chi , địch cường hạ chi , địch dật khứ chi , địch lăng đãi chi , địch bạo tuy chi , địch bội nghĩa chi , địch mục huề chi . Thuận cử tỏa chi , nhân thế phá chi , phóng ngôn quá chi , tứ võng la chi .

得而勿有,居而勿守,拔而勿久,立而勿取;为者则己,有者则士,焉知利之所在!彼为诸侯,己在天子,使城自保,令士自取。

Đắc nhi vật hữu , cư nhi vật thủ , bạt nhi vật cửu , lập nhi vật thủ ; vi giả tắc kỷ , hữu giả tắc sĩ , yên tri lợi chi sở tại ! Bỉ vi chư hầu , kỷ tại thiên tử , sử thành tự bảo , lệnh sĩ tự thủ .

世能祖祖,鲜能下下。祖祖为亲,下下为君。下下者,务耕桑不夺其时,薄赋敛不匮其财,罕徭役不使其劳,则国富而家娭,然后选士以司牧之。夫所谓士者,英雄也。故曰:罗其英雄,则敌国穷。英雄者,国之干;庶民者,国之本。得其干,收其本,则政行而无怨。

Thế năng tổ tổ , tiên năng hạ hạ . Tổ tổ vi thân , hạ hạ vi quân . Hạ hạ giả , vụ canh tang bất đoạt kỳ thời , bạc phú liễm bất quỹ kỳ tài , hãn dao dịch bất sử kỳ lao , tắc quốc phú nhi gia ? , nhiên hậu tuyển sĩ dĩ ti mục chi . Phu sở vị sĩ giả , anh hùng dã . Cố viết : la kỳ anh hùng , tắc địch quốc cùng . Anh hùng giả , quốc chi can ; thứ dân giả , quốc chi bổn . Đắc kỳ can , thu kỳ bổn , tắc chánh hành nhi vô oán .

夫用兵之要,在崇礼而重禄。礼崇则智士至,禄重则义士轻死。故禄贤不爱财,赏功不逾时,则下力并而敌国削。夫用人之道,尊以爵,赡以财,则士自来;接以礼,励以义,则士死之。

Phu dụng binh chi yếu , tại sùng lễ nhi trọng lộc . Lễ sùng tắc trí sĩ chí , lộc trọng tắc nghĩa sĩ khinh tử . Cố lộc hiền bất ái tài , thưởng công bất du thời , tắc hạ lực tịnh nhi địch quốc tước . Phu dụng nhân chi đạo , tôn dĩ tước , thiệm dĩ tài , tắc sĩ tự lai ; tiếp dĩ lễ , lệ dĩ nghĩa , tắc sĩ tử chi .

夫将帅者,必与士卒同滋味而共安危,敌乃可加,故兵有全胜,敌有全因。昔者良将之用兵,有馈箪醪④者,使投诸河,与士卒同流而饮。夫一箪之醪,不能味一河之水,而三军之士思为致死者,以滋味之及己也。《军谶》曰:“军井未达,将不言渴;军幕未办,将不言倦;军灶未炊,将不言饥。冬不服裘,夏不操扇,雨不张盖。”是谓将礼。与之安,与之危,故其众可合而不可离,可用而不可疲;以其恩素蓄,谋素和也。故蓄恩不倦,以一取万。

Phu tướng súy giả , tất dữ sĩ tốt đồng tư vị nhi cộng an nguy , địch nãi khả gia , cố binh hữu toàn thắng , địch hữu toàn nhân . Tích giả lương tương chi dụng binh , hữu quỹ đan lao ? giả , sử đầu chư hà , dữ sĩ tốt đồng lưu nhi ẩm . Phu nhất đan chi lao , bất năng vị nhất hà chi thủy , nhi tam quân chi sĩ tư vi trí tử giả , dĩ tư vị chi cập kỷ dã . ” Quân sấm ” viết : ” quân tỉnh vị đạt , tương bất ngôn khát ; quân mạc vị bạn , tương bất ngôn quyện ; quân táo vị xuy , tương bất ngôn cơ . Đông bất phục cừu , hạ bất thao phiến , vũ bất trương cái . ” Thị vị tương lễ . Dữ chi an , dữ chi nguy , cố kỳ chúng khả hiệp nhi bất khả ly , khả dụng nhi bất khả bì ; dĩ kỳ ân tố súc , mưu tố hòa dã . Cố súc ân bất quyện , dĩ nhất thủ vạn .

《军谶》曰:“将之所以为威者,号令也。战之所以全胜者,军政也。士之所以轻战者,用命也。”故将无还令,赏罚必信,如天如地,乃可御人。士卒用命,乃可越境。

” Quân sấm ” viết : ” tương chi sở dĩ vi uy giả , hiệu lệnh dã . Chiến chi sở dĩ toàn thắng giả , quân chánh dã . Sĩ chi sở dĩ khinh chiến giả , dụng mệnh dã . ” Cố tương vô hoàn lệnh , thưởng phạt tất tín , như thiên như địa , nãi khả ngự nhân . Sĩ tốt dụng mệnh , nãi khả việt cảnh .

夫统军持势者,将也;制胜破敌者,众也。故乱将不可使保军,乖众不可使伐人。攻城则不拔,图邑则不废,二者无功,则士力疲弊。士力疲弊,则将孤众悖,以守则不固,以战则奔北。是谓老兵。兵老则将威不行,将无威则士卒轻刑,士卒轻刑则军失伍,军失伍则士卒逃亡,士卒逃亡则敌乘利,敌乘利则军必丧。

Phu thống quân trì thế giả , tương dã ; chế thắng phá địch giả , chúng dã . Cố loạn tương bất khả sử bảo quân , quai chúng bất khả sử phạt nhân . Công thành tắc bất bạt , đồ ấp tắc bất phế , nhị giả vô công , tắc sĩ lực bì tệ . Sĩ lực bì tệ , tắc tương cô chúng bội , dĩ thủ tắc bất cố , dĩ chiến tắc bôn bắc . Thị vị lão binh . Binh lão tắc tương uy bất hành , tương vô uy tắc sĩ tốt khinh hình , sĩ tốt khinh hình tắc quân thất ngũ , quân thất ngũ tắc sĩ tốt đào vong , sĩ tốt đào vong tắc địch thừa lợi , địch thừa lợi tắc quân tất tang .

《军谶》曰:“良将之统军也,恕己而治人,推惠施恩,士力日新,战如风发,攻如河决。”故其众可望而不可当,可下而不可胜。以身先人,故其兵为天下雄。

” Quân sấm ” viết : ” lương tương chi thống quân dã , thứ kỷ nhi trì nhân , thôi huệ thi ân , sĩ lực nhật tân , chiến như phong phát , công như hà quyết . ” Cố kỳ chúng khả vọng nhi bất khả đương , khả hạ nhi bất khả thắng . Dĩ thân tiên nhân , cố kỳ binh vi thiên hạ hùng .

《军谶》曰:“军以赏为表,以罚为里。”赏罚明,则将威行;官人得,则士卒服;所任贤,则敌国震。

” Quân sấm ” viết : ” quân dĩ thưởng vi biểu , dĩ phạt vi lý . ” Thưởng phạt minh , tắc tương uy hành ; quan nhân đắc , tắc sĩ tốt phục ; sở nhiệm hiền , tắc địch quốc chấn .

《军谶》曰:“贤者所适,其前无敌。”故士可下而不可骄,将可乐而不可忧,谋可深而不可疑。士骄则下不顺,将忧则内外不相信,谋疑则敌国奋。以此攻伐,则致乱。夫将者,国之命也。将能制胜,则国家安定。

” Quân sấm ” viết : ” hiền giả sở quát , kỳ tiền vô địch . ” Cố sĩ khả hạ nhi bất khả kiêu , tương khả nhạc nhi bất khả ưu , mưu khả thâm nhi bất khả nghi . Sĩ kiêu tắc hạ bất thuận , tương ưu tắc nội ngoại bất tương tín , mưu nghi tắc địch quốc phấn . Dĩ thử công phạt , tắc trí loạn . Phu tương giả , quốc chi mệnh dã . Tương năng chế thắng , tắc quốc gia an định .

《军谶》曰:“将能清,能净,能平,能整;能受谏,能听讼,能纳人,能采言;能知国俗,能图山川,能表险难,能制军权。”故曰,仁贤之智,圣明之虑,负薪之言,廊庙之语,兴衰之事,将所宜闻。

” Quân sấm ” viết : ” tương năng thanh , năng tịnh , năng bình , năng chỉnh ; năng thụ gián , năng thính tụng , năng nạp nhân , năng thải ngôn ; năng tri quốc tục , năng đồ san xuyên , năng biểu hiểm nan , năng chế quân quyền . ” Cố viết , nhân hiền chi trí , thánh minh chi lự , phụ tân chi ngôn , lang miếu chi ngữ , hưng suy chi sự , tương sở nghi văn .

将者,能思士如渴,则策从焉。夫将拒谏,则英雄散。策不从,则谋士叛。善恶同,则功臣倦。专己,则下归咎。自伐,则下少功。信谗,则众离心。贪财,则奸不禁。内顾,则士卒淫。将有一,则众不服;有二,则军无式;有三,则下奔北;有四,则祸及国。

Tương giả , năng tư sĩ như khát , tắc sách tòng yên . Phu tương cự gián , tắc anh hùng tán . Sách bất tòng , tắc mưu sĩ bạn . Thiện ác đồng , tắc công thần quyện . Chuyên kỷ , tắc hạ quy cữu . Tự phạt , tắc hạ thiểu công . Tín sàm , tắc chúng ly tâm . Tham tài , tắc gian bất cấm . Nội cố , tắc sĩ tốt dâm . Tương hữu nhất , tắc chúng bất phục ; hữu nhị , tắc quân vô thức ; hữu tam , tắc hạ bôn bắc ; hữu tứ , tắc họa cập quốc .

《军谶》曰:“将谋欲密,士众欲一,攻敌欲疾。”将谋密,则奸心闭;士众一,则军心结;攻敌疾,则备不及设。军有此三者,则计不夺。将谋泄,则军无势;外窥内,则祸不制;财入营,则众奸会。将有此三者,军必败。

” Quân sấm ” viết : ” tương mưu dục mật , sĩ chúng dục nhất , công địch dục tật . ” Tương mưu mật , tắc gian tâm bế ; sĩ chúng nhất , tắc quân tâm kết ; công địch tật , tắc bị bất cập thiết . Quân hữu thử tam giả , tắc kế bất đoạt . Tương mưu tiết , tắc quân vô thế ; ngoại khuy nội , tắc họa bất chế ; tài nhập doanh , tắc chúng gian hội . Tương hữu thử tam giả , quân tất bại .

将无虑,则谋士去。将无勇,则吏士恐。将妄动,则军不重。将迁怒,则一军惧。《军谶》曰:“虑也,勇也,将之所重;动也,怒也,将之所用。”此四者,将之明诫也。

Tương vô lự , tắc mưu sĩ khứ . Tương vô dũng , tắc lại sĩ khủng . Tương vọng động , tắc quân bất trọng . Tương thiên nộ , tắc nhất quân cụ . ” Quân sấm ” viết : ” lự dã , dũng dã , tương chi sở trọng ; động dã , nộ dã , tương chi sở dụng . ” Thử tứ giả , tương chi minh giới dã .

《军谶》曰:“军无财,士不来。军无赏,士不往。”《军谶》曰:“香饵之下,必有悬鱼;重赏之下,必有死夫。”故礼者,士之所归;赏者,士之所死。招其所归,示其所死,则所求者至。故礼而后悔者,士不止;赏而后悔者,士不使。礼赏不倦,则士争死。

” Quân sấm ” viết : ” quân vô tài , sĩ bất lai . Quân vô thưởng , sĩ bất vãng . ” ” Quân sấm ” viết : ” hương nhị chi hạ , tất hữu huyền ngư ; trọng thưởng chi hạ , tất hữu tử phu . ” Cố lễ giả , sĩ chi sở quy ; thưởng giả , sĩ chi sở tử . Chiêu kỳ sở quy , thị kỳ sở tử , tắc sở cầu giả chí . Cố lễ nhi hậu hối giả , sĩ bất chỉ ; thưởng nhi hậu hối giả , sĩ bất sử . Lễ thưởng bất quyện , tắc sĩ tranh tử .

《军谶》曰:“兴师之国,务先隆恩。攻取之国,务先养民。”以寡胜众者,恩也。以弱胜强者民也。故良将之养士,不易于身,故能使三军如一心,则其胜可全。

” Quân sấm ” viết : ” hưng sư chi quốc , vụ tiên long ân . Công thủ chi quốc , vụ tiên dưỡng dân . ” Dĩ quả thắng chúng giả , ân dã . Dĩ nhược thắng cường giả dân dã . Cố lương tương chi dưỡng sĩ , bất dịch vu thân , cố năng sử tam quân như nhất tâm , tắc kỳ thắng khả toàn .

《军谶》曰:“用兵之要,必先察敌情。视其仓库,度其粮食,卜其强弱,察其天地,伺其空隙。”故国无军旅之难而运粮者,虚也;民菜色者,穷也。千里馈粮,民有饥色。樵苏后窜爨⑤,师不宿饱。夫运粮千里,无一年之食;二千里,无二年之食;千百里,无三年之食,是谓国虚。国虚,则民贫,民贫,则上下不亲。敌攻其外,民盗其内,是谓必溃。

” Quân sấm ” viết : ” dụng binh chi yếu , tất tiên sát địch tình . Thị kỳ thương khố , độ kỳ lương thực , bốc kỳ cường nhược , sát kỳ thiên địa , tý kỳ khống khích . ” Cố quốc vô quân lữ chi nan nhi vận lương giả , hư dã ; dân thái sắc giả , cùng dã . Thiên lý quỹ lương , dân hữu cơ sắc . Tiều tô hậu thoán thoán ? , sư bất túc bão . Phu vận lương thiên lý , vô nhất niên chi thực ; nhị thiên lý , vô nhị niên chi thực ; thiên bách lý , vô tam niên chi thực , thị vị quốc hư . Quốc hư , tắc dân bần , dân bần , tắc thượng hạ bất thân . Địch công kỳ ngoại , dân đạo kỳ nội , thị vị tất hội .

《军谶》曰:“上行虐,则下急刻⑥。赋敛重数,刑罚无极,民相残贼,是谓亡国。”

” Quân sấm ” viết : ” thượng hành ngược , tắc hạ cấp khắc ? . Phú liễm trọng sổ , hình phạt vô cực , dân tương tàn tặc , thị vị vong quốc . ”

《军谶》曰:“内贪外廉,诈誉取名,窃公为恩,令上下昏;饰躬正颜,以获高官,是谓盗端。”

” Quân sấm ” viết : ” nội tham ngoại liêm , trá dự thủ danh , thiết công vi ân , lệnh thượng hạ hôn ; sức cung chánh nhan , dĩ hoạch cao quan , thị vị đạo đoan . ”

《军谶》曰:“群吏朋党,各进所亲;招举奸枉,抑挫仁贤;背公立私,同位相讪;是谓乱源。”

” Quân sấm ” viết : ” quần lại bằng đảng , các tiến sở thân ; chiêu cử gian uổng , ức tỏa nhân hiền ; bối công lập tư , đồng vị tương san ; thị vị loạn nguyên . ”

《军谶》曰:“强宗聚奸,无位而尊,威无不震;葛藟相连,种德立恩,夺在位权;侵侮下民,国内哗喧,臣蔽不言;是谓乱根。”

” Quân sấm ” viết : ” cường tông tụ gian , vô vị nhi tôn , uy vô bất chấn ; cát lũy tương liên , chủng đức lập ân , đoạt tại vị quyền ; xâm vũ hạ dân , quốc nội hoa huyên , thần tế bất ngôn ; thị vị loạn căn . ”

《军谶》曰:“世世作奸,侵盗县官,进退求便,委曲弄文,以危其君,是谓国奸。”

” Quân sấm ” viết : ” thế thế tác gian , xâm đạo huyền quan , tiến thối cầu tiện , ủy khúc lộng văn , dĩ nguy kỳ quân , thị vị quốc gian . ”

《军谶》曰:“吏多民寡,尊卑相若,强弱相虏,莫适禁御,延及君子,国受其咎。”

” Quân sấm ” viết : ” lại đa dân quả , tôn ti tương nhược , cường nhược tương lỗ , mạc quát cấm ngự , diên cập quân tử , quốc thụ kỳ cữu . ”

《军谶》曰:“善善不进,恶恶不退;贤者隐蔽,不肖在位,国受其害。”

” Quân sấm ” viết : ” thiện thiện bất tiến , ố ác bất thối ; hiền giả ẩn tế , bất tiếu tại vị , quốc thụ kỳ hại . ”

《军谶》曰:“枝叶强大,比周⑦居势,卑贱陵贵,久而益大,上不忍废,国受其败。”

” Quân sấm ” viết : ” chi hiệp cường đại , bỉ chu ? cư thế , ti tiện lăng quý , cửu nhi ích đại , thượng bất nhẫn phế , quốc thụ kỳ bại . ”

《军谶》曰:“佞臣在上,一军皆讼;引威自与,动违于众;无进无退,苟然取容⑧;专任自己,举措伐功;诽谤盛德,诬述庸庸⑨;无善无恶,皆与己同;稽留行事,命令不通;造作苛政,变古易常。君用佞人,必受祸殃。”

” Quân sấm ” viết : ” nịnh thần tại thượng , nhất quân giai tụng ; dẫn uy tự dữ , động vi vu chúng ; vô tiến vô thối , cẩu nhiên thủ dung ? ; chuyên nhiệm tự kỷ , cử thố phạt công ; phỉ báng thịnh đức , vu thuật dong dong ? ; vô thiện vô ác , giai dữ kỷ đồng ; kê lưu hành sự , mệnh lệnh bất thông ; tạo tác hà chánh , biến cổ dịch thường . Quân dụng nịnh nhân , tất thụ họa ương . ”

《军谶》曰:“奸雄相称,障蔽主明;毁誉并兴,壅塞主聪;各阿所私,令主失忠。”

” Quân sấm ” viết : ” gian hùng tương xứng , chướng tế chủ minh ; hủy dự tịnh hưng , ủng tắc chủ thông ; các a sở tư , lệnh chủ thất trung . ”

故主察异言,乃睹其萌;主聘儒贤,奸雄乃遁;主任旧齿,万事乃理;主聘岩穴,士乃得实;谋及负薪,功乃可述;不失人心,德乃洋溢。

Cố chủ sát di ngôn , nãi đổ kỳ manh ; chủ sính nho hiền , gian hùng nãi độn ; chủ nhiệm cựu , vạn sự nãi lý ; chủ sính nham huyệt , sĩ nãi đắc thật ; mưu cập phụ tân , công nãi khả thuật ; bất thất nhân tâm , đức nãi dương dật .

【注释】  ①靡:无,没有。  ②《军谶》:相传为古代兵书,已佚。  ③贼:贼患,祸患。  ④箪醪:古代用以盛酒用的竹制盛器。  ⑤樵苏:砍柴割草。窜爨:烧火煮饭。  ⑥急刻:峻急岢客。  ⑦比周:结党营私。  ⑧苟然:卑屈谄媚之貌。取容:取悦于上。  ⑨庸庸:有功之人。

[ Chú thích ]1 mĩ : vô , một hữu .2 ” Quân sấm ” : tương truyền vi cổ đại binh thư , dĩ dật .3 Tặc : tặc hoạn , họa hoạn .4 Đan lao : cổ đại dụng dĩ thịnh tửu dụng đích trúc chế thịnh khí .5 Tiều tô : khảm sài cát thảo . Thoán thoán : thiêu hỏa chử phạn .6 Cấp khắc : tuấn cấp khả khách .7 Bỉ chu : kết đảng doanh tư .8 Cẩu nhiên : ti khuất siểm mị chi mạo . Thủ dung : thủ duyệt vu thượng .9 Dong dong : hữu công chi nhân .

02章 中略

02 Chương trung lược

夫三皇无言而化流四海,故天下无所归功。

Phu tam hoàng vô ngôn nhi hóa lưu tứ hải , cố thiên hạ vô sở quy công .

帝者,体天则地①,有言有令,而天下太平。群臣让功,四海化行,百姓不知其所以然。故使臣不待礼赏有功,美而无害。

Đế giả , thể thiên tắc địa ? , hữu ngôn hữu lệnh , nhi thiên hạ thái bình . Quần thần nhượng công , tứ hải hóa hành , bách tính bất tri kỳ sở dĩ nhiên . Cố sử thần bất đãi lễ thưởng hữu công , mỹ nhi vô hại .

王者,制人以道,降心服志,设矩备衰,四海会同,王职不废。虽有甲兵之备,而无斗战之患。君无疑于臣,臣无疑于主,国定主安,臣以义退②,亦能美而无害。

Vương giả , chế nhân dĩ đạo , hàng tâm phục chí , thiết củ bị suy , tứ hải hội đồng , vương chức bất phế . Tuy hữu giáp binh chi bị , nhi vô đẩu chiến chi hoạn . Quân vô nghi vu thần , thần vô nghi vu chủ , quốc định chủ an , thần dĩ nghĩa thối ? , diệc năng mỹ nhi vô hại .

霸者,制士以权,结士以信,使士以赏。信衰则士疏,赏亏则士不用命。

Phách giả , chế sĩ dĩ quyền , kết sĩ dĩ tín , sử sĩ dĩ thưởng . Tín suy tắc sĩ sơ , thưởng khuy tắc sĩ bất dụng mệnh .

《军势》③曰:“出军行师,将在自专,进退内御④,则功难成。”

” Quân thế “? viết : ” xuất quân hành sư , tương tại tự chuyên , tiến thối nội ngự ? , tắc công nan thành . ”

《军势》曰:“使智,使勇,使贪,使愚。智者乐立其功,勇者好行其志,贪者邀趋其利,愚者不顾其死。因其至情而用之,此军之微权也。”

” Quân thế ” viết : ” sử trí , sử dũng , sử tham , sử ngu . Trí giả nhạc lập kỳ công , dũng giả hảo hành kỳ chí , tham giả yêu xu kỳ lợi , ngu giả bất cố kỳ tử . Nhân kỳ chí tình nhi dụng chi , thử quân chi vi quyền dã . ”

《军势》曰:“无使辩士谈说敌美,为其惑众。无使仁者主财,为其多施而附于下。”

” Quân thế ” viết : ” vô sử biện sĩ đàm thuyết địch mỹ , vi kỳ hoặc chúng . Vô sử nhân giả chủ tài , vi kỳ đa thi nhi phụ vu hạ . ”

《军势》曰:“禁巫祝,不得为吏士卜问军之吉凶。”

” Quân thế ” viết : ” cấm vu chúc , bất đắc vi lại sĩ bốc vấn quân chi cát hung . ”

《军势》曰:“使义士不以财。故义者,不为不仁者死;智者,不为暗主谋。”

” Quân thế ” viết : ” sử nghĩa sĩ bất dĩ tài . Cố nghĩa giả , bất vi bất nhân giả tử ; trí giả , bất vi ám chủ mưu . ”

主,不可以无德,无德则臣叛;不可以无威,无威则失权。臣,不可以无德,无德则无以事君;不可以无威,无威则国弱,威多则身蹶。

Chủ , bất khả dĩ vô đức , vô đức tắc thần bạn ; bất khả dĩ vô uy , vô uy tắc thất quyền . Thần , bất khả dĩ vô đức , vô đức tắc vô dĩ sự quân ; bất khả dĩ vô uy , vô uy tắc quốc nhược , uy đa tắc thân quyết .

故圣王御世,观盛衰,度得失,而为之制。故诸侯二师,方伯三师,天子六师。世乱,则叛逆生。王泽竭,则盟誓相诛伐。德同势敌,无以相倾,乃揽英雄之心,与众同好恶,然后加之以权变。故非计策,无以决嫌定疑;非谲奇,无以破奸息寇;非阴谋,无以成功。

Cố thánh vương ngự thế , quan thịnh suy , độ đắc thất , nhi vi chi chế . Cố chư hầu nhị sư , phương bá tam sư , thiên tử lục sư . Thế loạn , tắc bạn nghịch sanh . Vương trạch kiệt , tắc minh thệ tương tru phạt . Đức đồng thế địch , vô dĩ tương khuynh , nãi lãm anh hùng chi tâm , dữ chúng đồng hảo ác , nhiên hậu gia chi dĩ quyền biến . Cố phi kế sách , vô dĩ quyết hiềm định nghi ; phi quyệt kì , vô dĩ phá gian tức khấu ; phi âm mưu , vô dĩ thành công .

圣人体天,贤者法地,智者师古。是故《三略》为衰世作。“上略”设礼赏,别奸雄,著成败。“中略”差德行,审权变。 “下略”陈道德,察安危,明贼贤之咎。故人主深晓“上略”,则能任贤擒敌;深晓“中略”,则能御将统众;深晓“下略”,则能明盛衰之源,审治国之纪。人臣深晓“中略”,则能全功保身。

Thánh nhân thể thiên , hiền giả pháp địa , trí giả sư cổ . Thị cố ” tam lược ” vi suy thế tác . ” Thượng lược ” thiết lễ thưởng , biệt gian hùng , trứ thành bại . ” Trung lược ” soa đức hành , thẩm quyền biến . ” Hạ lược ” trần đạo đức , sát an nguy , minh tặc hiền chi cữu . Cố nhân chủ thâm hiểu ” thượng lược ” , tắc năng nhiệm hiền cầm địch ; thâm hiểu ” trung lược ” , tắc năng ngự tương thống chúng ; thâm hiểu ” hạ lược ” , tắc năng minh thịnh suy chi nguyên , thẩm trì quốc chi kỉ . Nhân thần thâm hiểu ” trung lược ” , tắc năng toàn công bảo thân .

夫高鸟死,良弓藏;敌国灭,谋臣亡。亡者,非丧其身也,谓夺其威废其权也。封之于朝,极人臣之位,以显其功。中州善国⑤,以富其家;美色珍玩,以说其心。

Phu cao điểu tử , lương cung tàng ; địch quốc diệt , mưu thần vong . Vong giả , phi tang kỳ thân dã , vị đoạt kỳ uy phế kỳ quyền dã . Phong chi vu triều , cực nhân thần chi vị , dĩ hiển kỳ công . Trung châu thiện quốc ? , dĩ phú kỳ gia ; mỹ sắc trân ngoạn , dĩ thuyết kỳ tâm .

夫人众一合而不可卒离,威权一与而不可卒移。还师罢军,存亡之阶。故弱之以位,夺之以国,是谓霸者之略。故霸者之作,其论驳⑥也。存社稷罗英雄者,“中略”之势也。故世主秘焉。

Phu nhân chúng nhất hiệp nhi bất khả tốt ly , uy quyền nhất dữ nhi bất khả tốt di . Hoàn sư bãi quân , tồn vong chi giai . Cố nhược chi dĩ vị , đoạt chi dĩ quốc , thị vị phách giả chi lược . Cố phách giả chi tác , kỳ luận bác ? dã . Tồn xã tắc la anh hùng giả , ” trung lược ” chi thế dã . Cố thế chủ bí yên .

【注释】  ①体天则地:取法天地。体,取法。。  ②义退:功成身退。  ③《军势》:相传为古代兵书,已佚。  ④内御:受君王控制。  ⑤中州:古代指我国中原地区。善国:好的分封国领地。  ⑥驳:错杂,混杂.

[ Chú thích ]
1 thể thiên tắc địa : thủ pháp thiên địa . Thể , thủ pháp .
2 Nghĩa thối : công thành thân thối .
3 ” Quân thế ” : tương truyền vi cổ đại binh thư , dĩ dật .
4 Nội ngự : thụ quân vương khống chế .
5 Trung châu : cổ đại chỉ ngã quốc Trung nguyên địa khu . Thiện quốc : hảo đích phân phong quốc lĩnh địa .
6 Bác : thác tạp , hỗn tạp ?
Hoàng Thạch Công – Tam Lược – Binh Pháp Tinh Tuý

phần 3:

03章 下略

03 Chương hạ lược

夫能扶天下之危者,则据天下之安。能除天下之忧者,则享天下之乐。能救天下之祸者,则获天下之福。故泽及于民,则贤人归之;泽及昆虫,则圣人归之。贤人所归,则其国强;圣人所归,则六合同。求贤以德,致圣以道。贤去,则国微;圣去,则国乖①。微者,危之阶;乖者,亡之徴。

Phu năng phù thiên hạ chi nguy giả , tắc cư thiên hạ chi an . Năng trừ thiên hạ chi ưu giả , tắc hưởng thiên hạ chi nhạc . Năng cứu thiên hạ chi họa giả , tắc hoạch thiên hạ chi phúc . Cố trạch cập vu dân , tắc hiền nhân quy chi ; trạch cập côn trùng , tắc thánh nhân quy chi . Hiền nhân sở quy , tắc kỳ quốc cường ; thánh nhân sở quy , tắc lục hợp đồng . Cầu hiền dĩ đức , trí thánh dĩ đạo . Hiền khứ , tắc quốc vi ; thánh khứ , tắc quốc quai ? . Vi giả , nguy chi giai ; quai giả , vong chi ? .

贤人之政,降人以体。圣人之政,降人以心。体降可以图始,心降可以保终。降体以礼,降心以乐。所谓乐者,非金石丝竹也,谓人乐其家,谓人乐其族,谓人乐其业,谓人乐其都邑,谓人乐其政令,谓人乐其道德。如此君人者,乃作乐以节之,使不失其和。故有德之君,以乐乐人;无德之君,以乐乐身。乐人者,久而长;乐身者,不久而亡。

Hiền nhân chi chánh , hàng nhân dĩ thể . Thánh nhân chi chánh , hàng nhân dĩ tâm . Thể hàng khả dĩ đồ thủy , tâm hàng khả dĩ bảo chung . Hàng thể dĩ lễ , hàng tâm dĩ nhạc . Sở vị nhạc giả , phi kim thạch ti trúc dã , vị nhân nhạc kỳ gia , vị nhân nhạc kỳ tộc , vị nhân nhạc kỳ nghiệp , vị nhân nhạc kỳ đô ấp , vị nhân nhạc kỳ chánh lệnh , vị nhân nhạc kỳ đạo đức . Như thử quân nhân giả , nãi tác nhạc dĩ tiết chi , sử bất thất kỳ hòa . Cố hữu đức chi quân , dĩ nhạc nhạc nhân ; vô đức chi quân , dĩ nhạc nhạc thân . Nhạc nhân giả , cửu nhi trường ; nhạc thân giả , bất cửu nhi vong .

释近谋远者,劳而无功。释远谋近者,佚而有终。佚②政多忠臣,劳政多怨民。故曰,务广地者荒,务广德者强。能有其有者安,贪人之有者残。残灭之政,累世受患。造作过制,虽成必败。

Thích cận mưu viễn giả , lao nhi vô công . Thích viễn mưu cận giả , dật nhi hữu chung . Dật ? chánh đa trung thần , lao chánh đa oán dân . Cố viết , vụ quảng địa giả hoang , vụ quảng đức giả cường . Năng hữu kỳ hữu giả an , tham nhân chi hữu giả tàn . Tàn diệt chi chánh , lũy thế thụ hoạn . Tạo tác quá chế , tuy thành tất bại .

舍己而教人者逆,正己而化人者顺。逆者乱之招,顺者治之要。

Xá kỷ nhi giáo nhân giả nghịch , chính kỷ nhi hóa nhân giả thuận . Nghịch giả loạn chi chiêu , thuận giả trì chi yếu .

道、德、仁、义、礼,五者一体也。道者,人之所蹈;德者,人之所得;仁者,人之所亲;义者,人之所宜;礼者,人之所体,不可无一焉。故夙兴夜寐,礼之制也。讨贼报仇,义之决也。恻隐之心,仁之发也。得己得人③,德之路也。使人均平,不失其所,道之化也。

Đạo , đức , nhân , nghĩa , lễ , ngũ giả nhất thể dã . Đạo giả , nhân chi sở đạo ; đức giả , nhân chi sở đắc ; nhân giả , nhân chi sở thân ; nghĩa giả , nhân chi sở nghi ; lễ giả , nhân chi sở thể , bất khả vô nhất yên . Cố túc hưng dạ mị , lễ chi chế dã . Thảo tặc báo cừu , nghĩa chi quyết dã . Trắc ẩn chi tâm , nhân chi phát dã . Đắc kỷ đắc nhân ? , đức chi lộ dã . Sử nhân quân bình , bất thất kỳ sở , đạo chi hóa dã .

出君下臣名曰命,施于竹帛名曰令,奉而行之名曰政。夫命失,则令不行;令不行,则政不正;政不正,则道不通;道不通,则邪臣胜;邪臣胜,则主威伤。

Xuất quân hạ thần danh viết mệnh , thi vu trúc bạch danh viết lệnh , phụng nhi hành chi danh viết chánh . Phu mệnh thất , tắc lệnh bất hành ; lệnh bất hành , tắc chánh bất chánh ; chánh bất chánh , tắc đạo bất thông ; đạo bất thông , tắc tà thần thắng ; tà thần thắng , tắc chủ uy thương .

千里迎贤,其路远;致不肖,其路近。是以明王舍近而取远,故能全功尚人,而下尽力。

Thiên lý nghênh hiền , kỳ lộ viễn ; trí bất tiếu , kỳ lộ cận . Thị dĩ minh vương xá cận nhi thủ viễn , cố năng toàn công thượng nhân , nhi hạ tận lực .

废一善,则众善衰;赏一恶,则众恶归。善者得其祐,恶者受其诛,则国安而众善至。

Phế nhất thiện , tắc chúng thiện suy ; thưởng nhất ác , tắc chúng ác quy . Thiện giả đắc kỳ hữu , ác giả thụ kỳ tru , tắc quốc an nhi chúng thiện chí .

众疑无定国,众惑无治民。疑定惑还,国乃可安。

Chúng nghi vô định quốc , chúng hoặc vô trì dân . Nghi định hoặc hoàn , quốc nãi khả an .

一令逆则百令失,一恶施则百恶结。故善施于顺民,恶加于凶民,则令行而无怨。使怨治怨,是谓逆天;使仇治仇,其祸不救。治民使平,致平以清,则民得其所而天下宁。

Nhất lệnh nghịch tắc bách lệnh thất , nhất ác thi tắc bách ác kết . Cố thiện thi vu thuận dân , ác gia vu hung dân , tắc lệnh hành nhi vô oán . Sử oán trì oán , thị vị nghịch thiên ; sử cừu trì cừu , kỳ họa bất cứu . Trì dân sử bình , trí bình dĩ thanh , tắc dân đắc kỳ sở nhi thiên hạ trữ .

犯上者尊,贪鄙者富,虽有圣王,不能致其治。犯上者诛,贪鄙者拘,则化行而众恶消。清白之士,不可以爵禄得。节义之士,不可以威刑胁。故明君求贤,必观其所以而致焉。致清白之士,修其礼;致节义之士,修其道。而后士可致,而名可保。

Phạm thượng giả tôn , tham bỉ giả phú , tuy hữu thánh vương , bất năng trí kỳ trì . Phạm thượng giả tru , tham bỉ giả câu , tắc hóa hành nhi chúng ác tiêu . Thanh bạch chi sĩ , bất khả dĩ tước lộc đắc . Tiết nghĩa chi sĩ , bất khả dĩ uy hình hiếp . Cố minh quân cầu hiền , tất quan kỳ sở dĩ nhi trí yên . Trí thanh bạch chi sĩ , tu kỳ lễ ; trí tiết nghĩa chi sĩ , tu kỳ đạo . Nhi hậu sĩ khả trí , nhi danh khả bảo .

夫圣人君子,明盛衰之源,通成败之端,审治乱之机,知去就之节。虽穷不处亡国之位,虽贫不食乱邦之禄。潜名抱道者,时至而动,则极人臣之位。德合于己,则建殊绝之功。故其道高而名扬于后世。

Phu thánh nhân quân tử , minh thịnh suy chi nguyên , thông thành bại chi đoan , thẩm trì loạn chi cơ , tri khứ tựu chi tiết . Tuy cùng bất xứ vong quốc chi vị , tuy bần bất thực loạn bang chi lộc . Tiềm danh bão đạo giả , thời chí nhi động , tắc cực nhân thần chi vị . Đức hợp vu kỷ , tắc kiến thù tuyệt chi công . Cố kỳ đạo cao nhi danh dương vu hậu thế .

圣王之用兵,非乐之也,将以诛暴讨乱也。夫以义诛不义,若决江河而溉爝火④,临不测而挤欲堕,其克必矣。所以优游恬淡而不进者,重伤人物也。夫兵者,不祥之器,天道恶之;不得已而用之,是天道也。夫人之在道,若鱼之在水,得水而生,失水而死。故君子者,常畏惧而不敢失道。

Thánh vương chi dụng binh , phi nhạc chi dã , tương dĩ tru bạo thảo loạn dã . Phu dĩ nghĩa tru bất nghĩa , nhược quyết giang hà nhi cái tước hỏa ? , lâm bất trắc nhi tễ dục đọa , kỳ khắc tất hĩ . Sở dĩ ưu du điềm đạm nhi bất tiến giả , trọng thương nhân vật dã . Phu binh giả , bất tường chi khí , thiên đạo ác chi ; bất đắc dĩ nhi dụng chi , thị thiên đạo dã . Phu nhân chi tại đạo , nhược ngư chi tại thủy , đắc thủy nhi sanh , thất thủy nhi tử . Cố quân tử giả , thường úy cụ nhi bất cảm thất đạo .

豪杰秉职,国威乃弱。杀生在豪杰,国势乃竭。豪杰低首,国乃可久。杀生在君,国乃可安。四民用虚,国乃无储;四民用足,国乃安乐。

Hào kiệt bỉnh chức , quốc uy nãi nhược . Sát sanh tại hào kiệt , quốc thế nãi kiệt . Hào kiệt đê thủ , quốc nãi khả cửu . Sát sanh tại quân , quốc nãi khả an . Tứ dân dụng hư , quốc nãi vô trữ ; tứ dân dụng túc , quốc nãi an nhạc .

贤臣内,则邪臣外。邪臣内,则贤臣毙。内外失宜,祸乱传世。

Hiền thần nội , tắc tà thần ngoại . Tà thần nội , tắc hiền thần tễ . Nội ngoại thất nghi , họa loạn truyền thế .

大臣疑⑤主,众奸集聚。臣当君尊,上下乃昏;君当臣处,上下失序。

Đại thần nghi ? chủ , chúng gian tập tụ . Thần đương quân tôn , thượng hạ nãi hôn ; quân đương thần xứ , thượng hạ thất tự .

伤贤者,殃及三世;蔽贤者,身受其害;嫉贤者,其名不全;进贤者,福流子孙。故君子急于进贤,而美名彰焉。

Thương hiền giả , ương cập tam thế ; tế hiền giả , thân thụ kỳ hại ; tật hiền giả , kỳ danh bất toàn ; tiến hiền giả , phúc lưu tử tôn . Cố quân tử cấp vu tiến hiền , nhi mỹ danh chương yên .

利一害百,民去城郭;利一害万,国乃思散。去一利百,人乃慕泽;去一利万,政乃不乱。

Lợi nhất hại bách , dân khứ thành quách ; lợi nhất hại vạn , quốc nãi tư tán . Khứ nhất lợi bách , nhân nãi mộ trạch ; khứ nhất lợi vạn , chánh nãi bất loạn .

【注释】  ①乖:乖乱,混乱。。  ②佚:同“逸”,安逸,安乐。  ③得己得人:正人(先)正己。  ④爝火:小火。  ⑤疑:比拟。

[ Chú thích ]
1 quai : quai loạn , hỗn loạn .
2 Dật : đồng ” dật ” , an dật , an nhạc .
3 Đắc kỷ đắc nhân : chính nhân ( tiên ) chính kỷ .
4 Tước hỏa : tiểu hỏa .
5 Nghi : bỉ nghĩ .

********
HẾT

Ngoai ra con co:
– Hoàng Thạch Công – Tam Lược
– Hoàng Thạch Công – Tố Thư
– Khương Tử Nha – Lục Thao
– Tôn Tử – Tôn Tử Binh Pháp
– Tôn Tẫn – Tôn Tẫn Binh Pháp
– Gia Cát Lượng – Gia Cát Lượng Binh Pháp
– Lưu Bá Ôn – Bách Chiến Kỳ Lược

 

 

 

Hoi thao quoc te ve Nho giao Viet Nam

Hội thảo quốc tế về Nho giáo Việt Nam

Hoi thao quoc te ve Nho giao Viet Nam

Hội thảo quốc tế về Nho giáo Việt Nam

“Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành” là chủ đề Hội thảo quốc tế do Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Harvard – Yenching (Hoa Kỳ) đồng tổ chức, diễn ra từ ngày 9 – 10/11/2007 tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Tham dự Hội thảo có GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam; GS. Tu Weiming, Giám đốc Viện Harvard – Yenching; Ngài Peter Kelly, Giám đốc điều hành Viện Harvard – Yenching; PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm và 150 học giả đến từ các nước, khu vực, như Hoa kì, Nga, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Autralia, Singapore, Đài Loan và Việt Nam.
Trong diễn văn khai mạc Hội thảo, GS.TS. Đỗ Hoài Nam khẳng định: Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá Việt Nam kế thừa và phát huy tinh hoa văn hoá truyền thống, trong đó có di sản Hán Nôm và Nho giáo Việt Nam. Vấn đề Nho giáo trong xã hội hiện đại, không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là câu hỏi đặt chung cho khu vực và thế giới.
Hội thảo lần này mang tính quốc tế và tính liên ngành cao, tạo ra hướng tiếp cận mới và đa chiều trong nghiên cứu Nho giáo Việt Nam, đồng thời cũng tạo không khí trao đổi khoa học thực sự giữa các học giả Việt Nam với các học giả nước ngoài. Ban tổ chức Hội thảo đã tuyển chọn được 45 tham luận của các học giả, các tham luận đã tập trung vào 4 chủ đề chính:
Chủ đề thứ nhất, Tiến trình lịch sử Nho giáo ở Việt Nam, có 11 tham luận. Các tham luận đã tập trung nghiên cứu lịch sử các giai đoạn phát triển của Nho giáo Việt Nam, mối quan hệ của Nho giáo Việt Nam với các nước đồng văn. Như tham luận của PGS. Trần Nghĩa (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã khái quát về lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam, tác giả đã chia Nho học Việt Nam từ lúc mới du nhập vào đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 làm 3 thời kỳ phát triển và 7 loại hình Nho học khác nhau.
Chủ đề thứ hai, Nho điển Việt Nam, với 12 tham luận. Các tham luận đã quan tâm nghiên cứu Nho điển Việt Nam ở nhiều góc độ khác nhau, từ giới thiệu đặc điểm tình hình đến đi sâu phân tích nội dung, và đem đến cho Hội thảo cái nhìn toàn diện và sâu hơn về Nho điển Việt Nam. GS. Lâm Khánh Chương và Lưu Xuân Ngân (Đài Loan) đã giới thiệu và phân tích 349 tài liệu Nho giáo Việt Nam, góp phần xây dựng bộ thư mục Nho giáo Việt Nam bằng tiếng Trung Quốc. Ngoài ra, các tham luận cũng đề cập đến việc luận giải Nho điển Việt Nam trong mối quan hệ ảnh hưởng của Nho điển Trung Quốc, bản sắc truyền thống của Nho điển Việt Nam. Đây là những tài liệu hết sức có giá trị trong nền văn hoá việt Nam.
Chủ đề thứ ba, Nghiên cứu Nho giáo ở Việt nam theo hướng tiếp cận liên ngành, có 11 tham luận. Chủ đề này là diễn đàn cho các học giả nghiên cứu Nho giáo từ nhiều góc độ khác nhau. Nho giáo Việt Nam từ sau khi đạt tới độ cực thịnh dưới thời Lê sơ, đã chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, về tư tưởng chính trị xã hội, về văn học nghệ thuật, về một số vấn đề khác, như hoạt động kinh tế xã hội, đạo đức tín ngưỡng, dân tộc, tôn giáo…
Chủ đề thứ tư, Nho giáo trong thời đại ngày nay, có 11 tham luận. Chủ đề này nhằm nghiên cứu Nho giáo Việt Nam đã thâm nhập sâu rộng trong mọi tầng lớp xã hội, làm phong phú đời sống văn hoá cộng đồng người Việt; mà ngày nay Nho giáo vẫn có vai trò nhất định trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Một số tham luận đi sâu đánh giá vai trò của Nho giáo Việt Nam trong lịch sử với nhãn quan của người nghiên cứu hiện nay. Một số tham luận đi sâu phân tích vấn đề truyền thống gia đình và làng xã của người Việt trong sự vận động của xã hội, với sự chi phối của triết lý Nho giáo, nhấn mạnh truyền thống của người Việt là coi trọng gia đình, coi trọng nhân phẩm và lối sống, và cũng rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, tang ma, hiếu, hỉ.

Phát biểu tại hội thảo PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh cho rằng: Hội thảo đánh dấu bước phát triển mới về phương pháp nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam, đồng thời cũng tập trung nghiên cứu khai thác giá trị của tư liệu Hán Nôm liên quan đến Nho giáo. Việc đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo việt Nam trong từng giai đoạn và từng lĩnh vực, tìm ra những nét chung của Nho giáo Việt trong từng thời kỳ lịch sử tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về diện mạo Nho giáo Việt Nam.
Những nhận thức, thông tin, khuyến nghị thiết thực từ Hội thảo sẽ góp phần thúc đẩy quá trình nghiên cứu Nho giáo Việt Nam. Đây cũng là dịp để các nhà khoa học trao đổi và thảo luận để có thêm thông tin, tư liệu phục vụ cho nghiên cứu của mình. Các nhà khoa học đều đánh giá cao chất lượng và hiệu quả khoa học của Hội thảo lần này.

*Doãn Thu Tơ

 

 

 

 

KINH THI — THO CUA TRUNG HOA CO DAI

KINH THI — THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI

KINH THI — THO CUA TRUNG HOA CO DAI

KINH THI — THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI

KINH THI

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI

KINH THI

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

*****
MỤC LỤC

1. TRỊNH NHẤT CHI THẤT 鄭 一 之 七 :-

TRI Y 緇 衣 (Trịnh phong 鄭 風 1)

TƯƠNG TRỌNG TỬ 將 仲 子 (Trịnh phong 鄭 風 2)

THÚC VU ĐIỀN 叔 于 田 (Trịnh phong 鄭 風 3)

THÁI THÚC VU ĐIỀN 大 叔 于 田 (Trịnh phong 鄭 風 4)

THANH NHÂN 清 人 (Trịnh phong 鄭 風 5)

CAO CẦU 羔 裘 (Trịnh phong 鄭 風 6)

TUÂN ĐẠI LỘ 遵 大 路 (Trịnh phong 鄭 風 7)

NỮ VIẾT KÊ MINH 女 曰 雞 鳴 (Trịnh phong 鄭 風 8)

HỮU NỮ ĐỒNG XA 有 女 同 車 (Trịnh phong 鄭 風 9)

SƠN HỮU PHÙ TÔ 山 有 扶 蘇 (Trịnh phong 鄭 風 10)

THÁC HỀ 籜 兮 (Trịnh phong 鄭 風 11)

GIẢO ĐỒNG 狡 童 (Trịnh phong 鄭 風 12)

KIỂN THƯỜNG 褰 裳 (Trịnh phong 鄭 風 13)

PHONG 丰 (Trịnh phong 鄭 風 14)

ĐÔNG MÔN CHI THIỆN 東 門 之 墠 (Trịnh phong 鄭 風 15)

PHONG VŨ 風 雨 (Trịnh phong 鄭 風 16)

TỬ KHÂM 子 衿 (Trịnh phong 鄭 風 17)

DƯƠNG CHI THỦY 揚 之 水 (Trịnh phong 鄭 風 18)

XUẤT KỲ ĐÔNG MÔN 出 其 東 門 (Trịnh phong 鄭 風 19)

DÃ HỮU MAN THẢO 野 有 蔓 草 (Trịnh phong 鄭 風 20)

TRĂN VĨ 溱 洧 (Trịnh phong 鄭 風 21)

2. TỀ NHẤT CHI BÁT 齊 一 之 八 :-

KÊ MINH 雞 鳴 (Tề phong 齊 風 1)

TUYỀN 還 (Tề phong 齊 風 ­• 2)

TRỮ 著 (Tề phong 齊 風 ­• 3)

ĐÔNG PHƯƠNG CHI NHẬT 東 方 之 日 (Tề phong 齊 風 4)

ĐÔNG PHƯƠNG VỊ MINH 東 方 未 明 (Tề phong 齊 風 5)

NAM SƠN 南 山 (Tề phong 齊 風 6)

PHỦ ĐIỀN 甫 田 (Tề phong 齊 風 7)

LÔ LINH 盧 令 (Tề phong 齊 風 8)

TỆ CẨU 敝 笱 (Tề phong 齊 風 9)

TẢI KHU 載 驅 (Tề phong 齊 風 10)

Y TA 猗 嗟 (Tề phong 齊 風 11)

3. NGỤY NHẤT CHI CỬU 魏 一 之 九 :-

CÁT LƯ 葛 屨 (Ngụy phong 魏 風 1)

PHẦN THỨ NHU 汾 沮 洳 (Ngụy phong 魏 風 2)

VIÊN HỮU ĐÀO 園 有 桃 (Ngụy phong 魏 風 3)

TRẮC HỘ 陟 岵 (Ngụy phong 魏 風 4)

THẬP MẪU CHI GIAN 十 畝 之 閒 (Ngụy phong 魏 風 5)

PHẠT ĐÀN 伐 檀 (Ngụy phong 魏 風 6)

THẠC THỬ 碩 鼠 (Ngụy phong 魏 風 7)

4. ĐƯỜNG NHẤT CHI THẬP 唐 一 之 十

TẤT SUẤT 蟋 蟀 (Đường phong 唐 風 1)

SƠN HỮU XU 山 有 樞 (Đường phong 唐 風 2)

DƯƠNG CHI THỦY 揚 之 水 (Đường phong 唐 風 3)

TIÊU LIÊU 椒 聊 (Đường phong 唐 風 4)

TRÙ MÂU 綢 繆 (Đường phong 唐 風 5)

ĐỆ ĐỖ 杕 杜 (Đường phong 唐 風 6)

CAO CẦU 羔 裘 (Đường phong 唐 風 7)

BẢO VŨ 鴇 羽 (Đường phong 唐 風 8)

VÔ Y 無 衣 (Đường phong 唐 風 9)

HỮU ĐỆ CHI ĐỖ 有 杕 之 杜 (Đường phong 唐 風 10)

CÁT SINH 葛 生 (Đường phong 唐 風 11)

THÁI LINH 采 苓 (Đường phong 唐 風 12)

5. TÀO NHẤT CHI THẬP TỨ 曹 一 之 十 四

PHÙ DU 蜉 蝣 (Tào phong 曹 風 1)

HẦU NHÂN 候 人 (Tào phong 曹 風 2)

THI CƯU 鳲 鳩 (Tào phong 曹 風 3)

HẠ TUYỀN 下 泉 (Tào phong 曹 風 4)

6. BÂN NHẤT CHI THẬP NGŨ 豳 一 之 十 五

THẤT NGUYỆT 七 月 (Bân phong 豳 風 1)

SUY HÀO 鴟 鴞 (Bân phong 豳 風 2)

ĐÔNG SƠN 東 山 (Bân phong 豳 風 3)

PHÁ PHỦ 破 斧 (Bân phong 豳 風 4)

PHẠT KHA 伐 柯 (Bân phong 豳 風 5)

CỬU VỰC 九 罭 (Bân phong 豳 風 6)

LANG BẠT 狼 跋 (Bân phong 豳 風 7)

7. TIỂU NHÃ 小 雅

LỘC MINH 鹿 鳴 (Lộc minh 鹿 鳴 1)

TỨ MẪU 四 牡 (Lộc minh 鹿 鳴 2)

HOÀNG HOÀNG GIẢ HOA 皇 皇 者 華 (Lộc minh 鹿 鳴 3)

THƯỜNG LỆ 裳 棣 (Lộc minh 鹿 鳴 4)

PHẠT MỘC 伐 木 (Lộc minh 鹿 鳴 5)

THIÊN BẢO 天 保 (Lộc minh 鹿 鳴 6)

THÁI VI 采 薇 (Lộc minh 鹿 鳴 7)

XUẤT XA 出 車 (Lộc minh 鹿 鳴 8)

ĐỆ ĐỖ 杕 杜 (Lộc minh 鹿 鳴 9)

8. BẠCH HOA 白 華

NGƯ LI 魚 麗 (Bạch hoa 白 華 3)

NAM HỮU GIA NGƯ 南 有 嘉 魚 (Bạch hoa 白 華 4)

NAM SƠN HỮU ĐÀI 南 山 有 臺 (Bạch hoa 白 華 7)

LỤC TIÊU 蓼 蕭 (Bạch hoa 白 華 9)

TRẨM LỘ 湛 露 (Bạch hoa 白 華 10)

9. TẦN NHẤT CHI THẬP NHẤT 秦 一 之 十 一

XA LÂN 車 轔 (Tần phong 秦 風 1)

TỨ THIẾT 駟 驖 (Tần phong 秦 風 2)

TIỂU NHUNG 小 戎 (Tần phong 秦 風 ­• 3)

LIÊM HÀ 蒹 葭 (Tần phong 秦 風 4)

CHUNG NAM 終 南 (Tần phong 秦 風 5)

HUỲNH ĐIỂU 黃 鳥 (Tần phong 秦 風 6)

THẦN PHONG 晨 風 (Tần phong 秦 風 7)

VÔ Y 無 衣 (Tần phong 秦 風 8)

VỊ DƯƠNG 渭 陽 (Tần phong 秦 風 9)

QUYỀN DƯ 權 輿 (Tần phong 秦 風 10)

10. TRẦN NHẤT CHI THẬP NHỊ 陳 一 之 十 二

UYỂN KHÂU 宛 丘 (Trần phong 陳 風1)

ĐÔNG MÔN CHI PHẦN 東 門 之 枌 (Trần phong 陳 風 2)

HÀNH MÔN 衡 門 (Trần phong 陳 風 3)

ĐÔNG MÔN CHI TRÌ 東 門 之 池 (Trần phong 陳 風 4)

ĐÔNG MÔN CHI DƯƠNG 東 門 之 楊 (Trần phong 陳 風 5)

MỘ MÔN 墓 門 (Trần phong 陳 風 6)

PHÒNG HỮU THƯỚC SÀO 防 有 鵲 巢 (Trần phong 陳 風 7)

NGUYỆT XUẤT 月 出 (Trần phong 陳 風 8)

CHU LÂM 株 林 (Trần phong 陳 風 9)

TRẠCH BA 澤 陂 (Trần phong 陳 風 10)

11. CỐI NHẤT CHI THẬP TAM 檜 一 之 十 三

CAO CẦU 羔 裘 (Cối phong 檜 風 1)

TỐ QUAN 素 冠 (Cối phong 檜 風 2)

THẤP HỮU TRƯỜNG SỞ 隰 有 萇 楚 (Cối phong 檜 風 3)

PHỈ PHONG 匪風 (Cối phong 檜 風 4)

CHƯƠNG I

1. TRỊNH NHẤT CHI THẤT 鄭 一 之 七

TRI Y 緇 衣 (Trịnh phong 鄭 風 1)

TƯƠNG TRỌNG TỬ 將 仲 子 (Trịnh phong 鄭 風 2)

THÚC VU ĐIỀN 叔 于 田 (Trịnh phong 鄭 風 3)

THÁI THÚC VU ĐIỀN 大 叔 于 田 (Trịnh phong 鄭 風 4)

THANH NHÂN 清 人 (Trịnh phong 鄭 風 5)

CAO CẦU 羔 裘 (Trịnh phong 鄭 風 6)

TUÂN ĐẠI LỘ 遵 大 路 (Trịnh phong 鄭 風 7)

NỮ VIẾT KÊ MINH 女 曰 雞 鳴 (Trịnh phong 鄭 風 8)

HỮU NỮ ĐỒNG XA 有 女 同 車 (Trịnh phong 鄭 風 9)

SƠN HỮU PHÙ TÔ 山 有 扶 蘇 (Trịnh phong 鄭 風 10)

THÁC HỀ 籜 兮 (Trịnh phong 鄭 風 11)

GIẢO ĐỒNG 狡 童 (Trịnh phong 鄭 風 12)

KIỂN THƯỜNG 褰 裳 (Trịnh phong 鄭 風 13)

PHONG 丰 (Trịnh phong 鄭 風 14)

ĐÔNG MÔN CHI THIỆN 東 門 之 墠 (Trịnh phong 鄭 風 15)

PHONG VŨ 風 雨 (Trịnh phong 鄭 風 16)

TỬ KHÂM 子 衿 (Trịnh phong 鄭 風 17)

DƯƠNG CHI THỦY 揚 之 水 (Trịnh phong 鄭 風 18)

XUẤT KỲ ĐÔNG MÔN 出 其 東 門 (Trịnh phong 鄭 風 19)

DÃ HỮU MAN THẢO 野 有 蔓 草 (Trịnh phong 鄭 風 20)

TRĂN VĨ 溱 洧 (Trịnh phong 鄭 風 21)

TRI Y (Trịnh phong 1)

緇 衣 (鄭 風 第 一 )

Tri y chi nghi hề, 緇 衣 之 宜 兮

Tệ dư hựu cải vi hề; 敝 予 又 改 為 兮

Thích tử chi quán hề, 適 子 之 館 兮

Hoàn dư thụ tử chi xán hề. 還 予 授 子 之 粲 兮

(Phú dã) 賦 也

Áo đen người xứng sao xứng thế,

Nhỡ rách đi ta sẽ vá cho;

Rồi đây ta sẽ qua nhà,

Ta đưa gạo trắng làm quà người xơi.

Tri y chi hảo hề, 緇 衣 之 好 兮

Tệ dư hựu cải tạo hề, 敝 予 又 改 造 兮

Thích tử chi quán hề, 適 子 之 館 兮

Hoàn dư thụ tử chi xán hề. 還 予 授 子 之 粲 兮

(Phú dã) 賦 也

Áo đen người đẹp sao đẹp thế,

Nhỡ rách đi ta sẽ thay cho;

Rồi đây ta sẽ qua nhà,

Ta đem gạo trắng làm quà người xơi.

Tri y chi tược hề, 緇 衣 之 席 兮

Tệ dư hựu cải tác hề, 敝 予 又 改 作 兮

Thích tử chi quán hề, 適 子 之 館 兮

Hoàn dư thụ tử chi xán hề. 還 予 授 子 之 粲 兮

(Phú dã) 賦 也

Áo đen người rộng sao rộng thế,

Nhỡ rách đi ta sẽ may cho;

Rồi ra ta sẽ qua nhà,

a đem gạo trắng làm quà người xơi.

TƯƠNG TRỌNG TỬ (Trịnh phong 2)

賦 也 將 仲 子 (鄭 風 第 二 )

Tương Trọng Tử hề, 將 仲 子 兮

Vô du ngã lý, 無 踰 我 里

Vô chiết ngã thụ kỷ, 無 折 我 樹 杞

Khởi cảm ái chi, 豈 敢 愛 之

Úy ngã phụ mẫu, 畏 我 父 母

Trọng khả hoài dã, 仲 可 懷 也

Phụ mẫu chi ngôn, 父 母 之 言

Diệc khả úy dã. 亦 可 畏 也

(Phú dã) 賦 也

Xin chàng Trọng đừng sang xóm thiếp,

Đừng bẻ cây kỷ diệp thiếp đi,

Cây kia thiếp chẳng tiếc chi,

E song thân thiếp biết thì làm sao?

Lòng riêng tuy những xuyến xao,

Mẹ cha mang nặng đẻ đau khác nhiều.

(Xin chàng Trọng đừng sang xóm thiếp,

Đừng bẻ cây kỷ diệp thiếp đi,

Cây kia thiếp chẳng tiếc gì,

Chỉn e cha mẹ biết thì làm sao?

Lòng riêng riêng nỗi xuyến xao,

Nhưng lời cha mẹ lẽ nào chẳng e.)

Tương Trọng Tử hề, 將 仲 子 兮

Vô du ngã tường, 無 踰 我 牆

Vô chiết ngã thụ tang, 無 折 我 樹 桑

Khởi cảm ái chi, 豈 敢 愛 之

Úy ngã chư huynh, 畏 我 諸 兄

Trọng khả hoài dã, 仲 可 懷 也

Chư huynh chi ngôn, 諸 兄 之 言

Diệc khả úy dã. 亦 可 畏 也

(Phú dã) 賦 也

Xin chàng chớ lắt leo vách nọ,

Chớ bẻ cây tang thọ của em,

Dám đâu thương trộm nhớ thầm,

Sợ anh em biết nói cùng mẹ cha.

Lòng riêng riêng những xuyến xao,

Nhưng lời huynh đệ lẽ nào chẳng e.

Tương Trọng Tử hề, 將 仲 子 兮

Vô du ngã viên, 無 踰 我 園

Vô chiết ngã thụ đàn, 無 折 我 樹 檀

Khởi cảm ái chi, 豈 敢 愛 之

Úy nhân chi đa ngôn, 畏 人 之 多 言

Trọng khả hoài dã, 仲 可 懷 也

Nhân chi đa ngôn, 人 之 多 言

Diệc khả úy dã. 亦 可 畏 也

Xin chàng Trọng chớ qua vườn thiếp,

Cây thọ đàn chớ chiết bẻ đi,

Thấy chàng há dám yêu vì,

Sợ nhiều người nói ắt thì khó khăn,

Chàng thì dũng dáng tình nhân,

Sợ nhiều người nói dở gần thẹn xa.

(Tương Trọng Tử: 3 bài, mỗi bài 8 câu)

THÚC VU ĐIỀN (Trịnh phong 3)

叔 于 田 (鄭 風 第 三)

Thúc vu điền: Thơ này chỉ Trang Công vì em ông là Thúc Đoan lo săn bắn,

sắm áo giáp mũi nhọn mà trai gái với người.

Thúc vu điền, 叔 于 田

Hạng vô cư nhân; 巷 無 居 人

Khởi vô cư nhân? 豈 無 居 人

Bất như Thúc dã, 不 如 叔 也

Tuấn mỹ thả nhân. 洵 美 且 仁

(Phú dã) 賦 也

Chàng Thúc Đoan khi qua săn bắn,

Làng quê này dường chẳng có người;

Song le chẳng phải không người,

Vì chàng tốt đẹp nói cười có nhân.

Thúc vu thiểu, 叔 于 狩

Hạng vô ẩm tửu; 巷 無 飲 酒

Khởi vô ẩm tửu? 豈 無 飲 酒

Bất như Thúc dã, 不 如 叔 也

Tuấn mũ thả hầu. 洵 美 且 好

(Phú dã) 賦 也

Chàng qua săn làng em không rượu,

Há không ai uống rượu bao giờ;

Song vì uống cũng đơn sơ,

Chẳng như chàng đẹp lại vừa tốt thay.

Thúc thích thư, 叔 適 舒

Hạng vô phục mã; 巷 無 服 馬

Khởi vô phục mã? 豈 無 服 馬

Bất như Thúc dã, 不 如 叔 也

Tuấn mỹ thả vũ. 洵 美 且 武

(Phú dã) 賦 也

Chàng qua nội không ai cưỡi ngựa,

Há không người biết ngựa đâu mà;

Nhưng mà chàng Thúc khác xa,

Chàng vừa tốt đẹp lại là mạnh hơn.

(Thúc vu điền: 3 bài, mỗi bài 5 câu)

THÁI THÚC VU ĐIỀN (Trịnh phong 4)

大 叔 于 田 (鄭 風 第 四)

(Thơ này cũng chê Trang Công.)

Thúc vu điền, 叔 于 田

Thừa thặng mã; 乘 乘 馬

Chấp lái như tổ, 執 轡 如 組

Lưỡng tham như vũ. 兩 驂 如 舞

Thúc tại tẩu, 叔 在 藪

Hỏa liệt cụ cử; 火 烈 具 舉

Đãn tích bạo hổ, 襢 裼 暴 虎

Hiến vu công sở. 獻 于 公 所

Tương Thúc vô nưu, 將 叔 無 狃

Giới kỳ thương nữ. 戒 其 傷 女

(Phú dã) 賦 也

Chàng qua săn cưỡi xe tứ mã,

Tay dong cương ruổi ngựa dịu dàng;

Ngựa băm như múa nhịp nhàng,

Đó đây lửa táp cháy lan bầng bầng,

Chàng hùng dũng tay không bắt cọp,

Bắt cọp rừng, tiến nạp quan công;

Lần sau chàng hãy coi chừng,

Nanh hùm vuốt cọp chàng đừng tưởng chơi.

Thúc vu điền, 叔 于 田

Thừa thặng hoàng; 乘 乘 黃

Lưỡng phục thượng tương, 兩 服 上 襄

Lưỡng tham nhạn hàng. 兩 驂 雁 行

Thúc tại tẩu, 叔 在 藪

Hỏa liệt cụ dương; 火 烈 具 揚

Thúc thiện xạ ký, 叔 善 射 忌

Hựu lương ngự ký. 又 良 御 忌

Ức khánh khống ký, 抑 磬 控 忌

Ức tung tống ký. 抑 縱 送 忌

(Phú dã) 賦 也

Chàng qua săn cưỡi xe tứ mã,

Bốn ngựa vàng óng ả như tơ;

Cặp trong đẹp đẽ phởn phơ,

Cặp ngoài như nhạn nhởn nhơ ruổi đều.

Chàng bắn hay, thạo luật dong xe,

Khi buông, mặc sức ngựa phi;

Đến khi kiềm hãm như ghì vó câu,

Khi rong ruổi, rõ đâu ra đó,

Khi dừng cương, lồ lộ trang nghiêm.

Thúc vu điền, 叔 于 田

Thừa thặng bão; 乘 乘 鴇

Lưỡng phục tề thủ, 兩 服 齊 首

Lưỡng tham như thủ. 兩 驂 如 手

Thúc tại tẩu, 叔 在 藪

Hỏa liệt cư phụ; 火 烈 居 阜

Thúc mã mạn ký, 叔 馬 慢 忌

Thúc phát hãn ký. 叔 發 罕 忌

Ức thích bàng ký, 抑 釋 掤 忌

Ức sướng cung ký. 抑 鬯 弓 忌

(Phú dã) 賦 也

Chàng qua săn cưỡi xe tứ mã,

Bốn ngựa chàng lông ngả màu tro,

Đôi trong bằng bặn như đo,

Đôi ngoài ăn nịp nhưng ngờ vang tay.

Lửa hồng cháy đó đây hừng hực,

Ngựa chàng bon trông thật khoan thai,

Tên chàng chàng bắn ít thay,

Tên kia bỏ ống, cung này bỏ bao.

(Thái Thúc vu điền: 3 bài, mỗi bài 10 câu)

THANH NHÂN (Trịnh phong 5)

清 人 (鄭 風 第 五)

Thanh nhân tại bành, 清 人 在 彭

Tứ giới bàng bàng; 駟 介 旁 旁

Nhị mâu trùng anh, 二 矛 重 英

Hà thượng hồ ngao tường. 河 上 乎 翱 翔

(Phú dã) 賦 也

Quân Thanh tới đất Bành án ngữ,

Ngựa cùng xe luôn giữ giáp binh;

So le đôi giáo rung rinh,

Rung rinh gù đỏ, lượn vành bên sông.

Thanh nhân tại Tiêu, 清 人 在 消

Tứ giới tiêu tiêu; 駟 介 麃 麃

Nhị mâu trùng kiều, 二 矛 重 喬

Hà thượng hồ tiêu diêu. 河 上 乎 逍 遙

(Phú dã) 賦 也

Quân Thanh tới đất Tiêu án ngữ,

Ngựa cùng xe, tở mở giáp binh;

So le đôi giáo rung rinh,

Rung rinh đôi ngọn, lượn vành bên sông.

Thanh nhân tại Trụ, 清 人 在 軸

Tứ giới đậu đậu; 駟 介 陶 陶

Tả tuyền hữu trứu, 左 旋 右 抽

Trung quân tác hảo. 中 軍 作 好

(Phú dã) 賦 也

Quân Thanh án ngữ nơi đất Trụ,

Ngựa cùng xe trông thú vị ghê;

Tả binh điều khiển cỗ xe,

Hữu binh múa giáo như đe mọi người.

Tướng quân ngự giữa thảnh thơi,

Thảnh thơi ông tướng ta ngồi giữa xe.

(Thanh nhân: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

CAO CẦU (Trịnh phong 6)

羔 裘 (鄭 風 第 六)

Cao cầu như nhu, 羔 裘 如 濡

Tuân trực thả hầu. 洵 直 且 侯

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Xá mệnh bất du. 舍 命 不 渝

(Phú dã) 賦 也

Áo lông chàng mỡ màng óng ả,

Dáng dấp chàng phong nhã hiên ngang.

Số chàng trời đã cho sang,

Một đời sang cả, số chàng chẳng thay.

Cao cầu báo sức, 羔 裘 豹 飾

Khổng vũ hữu lực. 孔 武 有 力

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Bang chi tư trực. 邦 之 司 直

(Phú dã) 賦 也

Áo chàng lông điểm thêm da báo,

Dáng dấp chàng mạnh bạo oai phong.

Số chàng sang cả vốn giòng,

Đáng nên nền nếp, non sông cậy nhờ.

Cao cầu yến hề, 羔 裘 宴 兮

Tam anh xán hề. 三 英 粲 兮

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Bang chi ngạn hề. 邦 之 彥 兮

(Phú dã) 賦 也

Áo lông chàng rỡ ràng óng ả,

Điểm thêm hoa ba đóa uy nghi.

Số chàng sang cả ai bì,

Nước non âu cũng đáng vì tao nhân.

(Cao cầu: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)
TUÂN ĐẠI LỘ (Trịnh phong 7)

遵 大 路 (鄭 風 第 七)

Tuân đại lộ hề, 遵 大 路 兮

Thảm chấp tử chi khư hề, 摻 執 子 之 袪 兮

Vô ngã ố hề, 無 我 惡 兮

Bất cựu cố dã. 不 寁 故 也]

(Phú dã) 賦 也

Đường quan em tiễn đưa chàng,

Em cầm tay áo em than đôi lời.

Xin đừng ruồng rẫy chàng ơi,

Tình xưa nghĩa cũ, vội rời chi nhau.

Tuân đại lộ hề, 遵 大 路 兮

Thảm chấp tử chi thủ hề, 摻 執 子 之 手 兮

Vô ngã thù hề, 無 我 醜 兮

Bất cựu hảo dã. 不 寁 好 也

(Phú dã) 賦 也

Đường quan em tiễn đưa chàng,

Tay chàng em níu, em van đôi lời.

Xin đừng rẻ rúng chàng ơi,

Tình kia đẹp đẽ vội rời chi nhau.

(Tuân đại lộ: 2 bài, mỗi bài 4 câu)

NỮ VIẾT KÊ MINH (Trịnh phong 8)

女 曰 雞 鳴 (鄭 風 第 八)

Nữ viết: «Kê minh.» 女 曰 雞 鳴

Sĩ viết: «Muội đán.» 士 曰 昧 旦

Tử hưng thị dạ, 子 興 視 夜

Minh tinh hữu lạn. 明 星 有 爛

Tương ngao tương tường, 將 翱 將 翔

Dặc phù dự nhạn. 弋 鳧 與 鴈

(Phú dã) 賦 也

Nàng rằng: «Gà đã gáy ran.»

Chàng rằng: «Đêm đã gần tàn còn chi.»

Chàng ơi chàng hãy dậy đi,

Ngó trời xem có thấy vì sao mai.

Hãy đi quanh quất chàng ơi.

Hãy đi bắn lấy vài đôi chim mòng.

Dặc ngôn gia chi, 弋 言 加 之

Dữ tử nghi chi. 與 子 宜 之

Nghi ngôn ẩm tửu, 宜 言 飲 酒

Dữ tử giai lão. 與 子 偕 老

Cầm sắt tại ngự, 琴 瑟 在 御

Mạc bất tĩnh hảo. 莫 不 靜 好

(Phú dã) 賦 也

Được mòng chàng hãy đưa em,

Em nấu em nướng em đem dâng chàng.

Đôi ta chuốc chén hân hoan,

Trăm năm em muốn chu toàn tình ta.

Đôi ta cầm sắt hiệp hòa,

Đời ta thắm thiết, tình ta êm đềm.

Tri tử chi lai chi, 知 子 之 來 之

Tạp bội dĩ tặng chi. 雜 佩 以 贈 之

Tri tử chi thuận chi, 知 子 之 順 之

Tạp bội dĩ vấn chi. 雜 佩 以 問 之

Tri tử chi hiếu chi, 知 子 之 好 之

Tạp bội dĩ báo chi. 雜 佩 以 報 之

(Phú dã) 賦 也

Ai mà giao thiệp với chàng,

Đồ em trang sức, em mang tặng người.

Chàng mà ưa thích những ai,

Đồ em trang sức, em nài em dâng,

Ai mà chàng quý chàng cưng,

Đồ em trang sức, em dùng em cho.

(Nữ viết kê minh: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

HỮU NỮ ĐỒNG XA (Trịnh phong 9)

有 女 同 車 (鄭 風 第 九)

Hữu nữ đồng xa, 有 女 同 車

Nhan như thuấn hoa; 顏 如 舜 華

Tương cao tương tường, 將 翱 將 翔

Bội ngọc quỳnh cư, 佩 玉 瓊 琚

Bỉ mỹ mạnh Khương, 彼 美 孟 姜

Tuân mỹ thả đô. 洵 美 且 都

(Phú dã) 賦 也

Chung xe chàng có cô em gái,

Mặt như hoa, xinh hỡi là xinh.

Dáng nàng uyển chuyển hữu tình,

Hoa cài ngọc dắt, rung rinh bên người.

Nàng Khương xuân sắc xinh tươi,

Trên đời hồ dễ mấy ai như nàng.

Hữu nữ đồng hành, 有 女 同 行

Nhan như thuấn anh; 顏 如 舜 英

Tương cao tương tường, 將 翱 將 翔

Bội ngọc tương tương, 佩 玉 將 將

Bỉ mỹ Mạnh Khương, 彼 美 孟 姜

Đức âm bất vương. 德 音 不 忘

(Phú dã) 賦 也

Đi cùng chàng có cô em gái,

Mặt như hoa, phơi phới tươi xinh.

Dáng nàng uyển chuyển hữu tình,

Hoa kia ngọc nọ, rung rinh rộn ràng.

Đẹp thay cô gái Mạnh Khương,

Nết na đức hạnh chi nhường cho ai.

(Hữu nữ đồng xa: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

SƠN HỮU PHÙ TÔ (Trịnh phong 10)

山 有 扶 蘇 (鄭 風 第 十)

Sơn hữu phù tô, 山 有 扶 蘇

Thấp hữu hà hoa. 隰 有 荷 華

Bất kiến tử đô, 不 見 子 都

Nãi kiến cuồng thư. 乃 見 狂 且

(Phú dã) 賦 也

Núi kia rực rỡ phù dung,

Đầm kia sen nở nước lồng bóng hoa.

Anh hùng sao chẳng gặp cho,

Gặp toàn một lũ khù khờ ngán thay.

Sơn hữu kiều tùng, 山 有 橋 松

Thấp hữu du long. 隰 有 游 龍

Bất kiến tử sung, 不 見 子 充

Nãi kiến giảo đồng. 乃 見 狡 童

(Phú dã) 賦 也

Núi kia cao vút hàng tùng,

Đầm kia sen nở tưng bừng cài hoa.

Anh hùng sao chẳng gặp cho,

Gặp toàn quỷ quái, lỡm lờ ngán thay.

(Sơn hữu phù tô: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

THÁC HỀ (Trịnh phong 11)

籜 兮 (鄭 風 第 十 一)

Thác hề, thác hề, 籜 兮 籜 兮

Phong kỳ xuy nhữ. 風 其 吹 女

Thúc hề, bá hề, 叔 兮 伯 兮

Xướng dư họa nhữ. 倡 予 和 女

(Phú dã) 賦 也

Cây kia khi nó khô cả lá,

Gió nó lay, lay đã chưa thôi.

Đôi bên chú bác ai ơi,

Xướng lên ta sẽ họa lời hát theo.

Thác hề, thác hề, 籜 兮 籜 兮

Phong kỳ phiêu nhữ. 風 其 漂 女

Thúc hề, bá hề, 叔 兮 伯 兮

Xướng dư yêu nhữ. 倡 予 要 女

(Phú dã) 賦 也

Cây kia khô, nó khô cả lá,

Gió thổi cây, gió vả lá bay.

Đôi bên chú bác đó đây,

Xướng lên ta sẽ họa ngay một bài.

(Thác hề: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

GIẢO ĐỒNG (Trịnh phong 12)

狡 童 (鄭 風 第 十 二)

Bỉ giảo đồng hề, 彼 狡 童 兮

Bất dữ ngã ngôn hề, 不 與 我 言 兮

Duy tử chi cố, 維 子 之 故

Sử ngã bất năng xan hề. 使 我 不 能 餐 兮

(Phú dã) 賦 也

Nhãi con quá quắt kia ơi,

Sao ngươi chẳng nói chẳng cười với ta.

Dẫu ngươi quỷ quái tinh ma,

Ta đây cũng chẳng có mà nhịn cơm.

Bỉ giảo đồng hề, 彼 狡 童 兮

Bất dữ ngã thực hề, 不 與 我 食 兮

Duy tử chi cố, 維 子 之 故

Sử ngã bất năng tức hề. 使 我 不 能 息 兮

(Phú dã) 賦 也

Nhãi con quá quắt kia ơi,

Sao cơm ta dọn ta mời chẳng ăn?

Dẫu ngươi quỷ quái lố lăng,

Ta đây cũng chẳng nóng xằng tốn hơi.

(Giảo đồng: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

KIỂN THƯỜNG (Trịnh phong 13)

褰 裳 (鄭 風 第 十 三)

Tử huệ tư ngã, 子 惠 思 我

Kiển thường thiệp trăn. 褰 裳 涉 溱

Tử bất ngã tư, 子 不 我 思

Khởi vô tha nhân, 豈 無 他 人

Cuồng đồng chi cuồng dã thư. 狂 童 之 狂 也 且

(Phú dã) 賦 也

Anh nhớ em, vén xiêm em lội,

Qua sông Trăn em vội em sang.

Như anh chẳng khứng ngó ngàng,

Trên đời khối kẻ hoàn toàn hơn anh !

Sao anh vẫn thói trẻ ranh?

Tử huệ tư ngã, 子 惠 思 我

Kiển thường thiệp vĩ. 褰 裳 涉 洧

Tử bất ngã tư, 子 不 我 思

Khởi vô tha sĩ, 豈 無 他 士

Cuồng đồng chi cuồng dã thư. 狂 童 之 狂 也 且

(Phú dã) 賦 也

Anh nhớ em, vén xiêm em lội,

Sông Vĩ kia em lội băng sang.

Như anh chẳng khứng ngó ngàng,

Trên trời chán kẻ đường hoàng hơn anh !

Sao anh vẫn thói trẻ ranh?

(Kiển thường: 2 bài, mỗi bài 5 câu.)

PHONG (Trịnh phong 14)

賦 也 丰 (鄭 風 第 十 四)

Tử chi phong hề, 子 之 丰 兮

Sĩ ngã hồ hạng hề, 俟 我 乎 巷 兮

Hối dư bất tống hề. 悔 予 不 送 兮

(Phú dã) 賦 也

Chàng ấy thực hào hoa phong nhã,

Đứng đón em ở ngã đường kia.

Tiếc thay em đã chẳng đi…

Tử chi xương hề, 子 之 昌 兮

Sĩ ngã hồ đường hề, 俟 我 乎 堂 兮

Hối dư bất tương hề. 悔 予 不 將 兮

(Phú dã) 賦 也

Chàng ấy thực hào hoa trang nhã,

Đứng đón em ở ngã nhà kia.

Tiếc thay em đã chẳng đi…

Ý cẩm quýnh y, 衣 錦 褧 衣

Thường cẩm quýnh thường, 裳 錦 褧 裳

Thúc hề bá hề, 叔 兮 伯 兮

Giá dư dự hàng. 駕 予 與 行

(Phú dã) 賦 也

Ngoài áo gấm em mang áo vải,

Xiêm gấm em lồng cái xiêm thường,

Xe anh anh hãy sẵn sàng,

Cho em bầu bạn lên đàng cùng anh.

Thường cẩm quýnh thường, 裳 錦 褧 裳

Ý cẩm quýnh y, 衣 錦 褧 衣

Thúc hề bá hề, 叔 兮 伯 兮

Giá dư dự quy. 駕 予 與 歸

(Phú dã) 賦 也

Ngoài xiêm gấm em mang xiêm vải,

Áo gấm em lồng cái áo thường,

Xe anh anh hãy sẵn sàng,

Theo anh, em sẽ lên đàng về theo.

(Phong: 4 bài; hai bài 3 câu, hai bài 4 câu.)
ĐÔNG MÔN CHI THIỆN (Trịnh phong 15)

東 門 之 墠 (鄭 風 第 十 五)

Đông môn chi thiện, 東 門 之 墠

Như lư tại phản, 茹 藘 在 坂

Kỳ thất tắc nhĩ, 其 室 則 邇

Kỳ nhân thậm viễn. 其 人 甚 遠

(Phú dã) 賦 也

Cửa đông có khoảng đất hoang,

Cỏ lau chen chúc miên man bên lề.

Nhà tuy gang tấc gần kề,

Người sao cách trở sơn khê ngàn tầm?

Đông môn chi lật, 東 門 之 栗

Hữu tiễn gia thất, 有 踐 家 室

Khởi bất nhĩ tư, 豈 不 爾 思

Tử bất ngã tuất. 子 不 我 即

(Phú dã) 賦 也

Dẻ kia mà mọc cửa đông,

Nhà ai vài dãy mơ màng khói sương.

Nhớ anh lòng dạ vấn vương,

Sao anh chẳng chịu tìm đường đến em.

(Đông môn chi thiện: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

PHONG VŨ (Trịnh phong 16)

賦 也 風 雨 (鄭 風 第 十 六)

Phong vũ thê thê, 風 雨 淒 淒

Kê minh nhuê nhuê; 雞 鳴 喈 喈

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vân hồ bất di. 云 胡 不 夷

(Phú dã) 賦 也

Mưa bay gió thổi lạnh lùng,

Tiếng gà eo óc, dặm chừng đìu hiu.

Thấy chàng quân tử mến yêu,

Lòng em thoắt đã muôn chiều thảnh thơi.

Phong vũ tiêu tiêu, 風 雨 瀟 瀟

Kê minh diêu diêu; 雞 鳴 膠 膠

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vân hồ bất liêu. 云 胡 不 瘳

(Phú dã) 賦 也

Mưa bay gió táp phũ phàng,

Tiếng gà eo óc, xóm làng đìu hiu.

Thấy chàng quân tử mến yêu,

Tấm lòng thương nhớ thoắt tiêu sạch lầu.

Phong vũ như hối, 風 雨 如 晦

Kê minh bất dĩ, 雞 鳴 不 已

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vân hồ bất hi. 云 胡 不 喜

(Phú dã) 賦 也

Gió mưa tối sẫm cả trời,

Tiếng gà eo óc mấy lời đìu hiu.

Thấy chàng quân tử mến yêu,

Lòng em hoan lạc khinh phiêu khôn cùng.

(Phong vũ: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

TỬ KHÂM (Trịnh phong 17)

子 衿 (鄭 風 第 十 七)

Thanh thanh tử khâm, 青 青 子 衿

Du du ngã tâm; 悠 悠 我 心

Túng ngã bất vãng, 縱 我 不 往

Tử ninh bất tự âm. 子 甯 不 嗣 音

(Phú dã) 賦 也

Chàng kia cổ áo xanh xanh,

Để em vương mối tơ mành bấy nay.

Đành em cách trở gió mây,

Sao anh cũng nỡ bặt ngay tin hồng.

Thanh thanh tử bội, 青 青 子 佩

Du du ngã tư; 悠 悠 我 思

Túng ngã bất vãng, 縱 我 不 往

Tử ninh bất lai. 子 甯 不 來

(Phú dã) 賦 也

Chàng kia ngọc dắt lung linh,

Để em xao xuyến tâm tình bấy nay.

Đành em cách trở gió mây,

Sao anh cũng nỡ bặt ngay đi về.

Khiêu hề thát hề, 挑 兮 達 兮

Tại thành khuyết hề; 在 城 闕 兮

Nhất nhật bất kiến, 一 日 不 見

Như tam nguyệt hề. 如 三 月 兮

(Phú dã) 賦 也

Nhớ khi nhảy múa nhởn nhơ,

Cùng nhau nhảy múa phởn phơ bên thành.

Một này vắng bóng người tình,

Dài bằng ba tháng, dài kinh là dài.

(Tử khâm: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

DƯƠNG CHI THỦY (Trịnh phong 18)

揚 之 水 (鄭 風 第 十 八)

Dương chi thủy, 揚 之 水

Bất lưu thúc sở; 不 流 束 楚

Chung tiển huynh đệ, 終 鮮 兄 弟

Duy dư dữ nhữ. 維 予 與 女

Vô tín nhân chi ngôn, 無 信 人 之 言

Nhân thực cuống nhữ. 人 實 迋 女

(Hứng dã) 興 也

Sông kia cuồn cuộn chảy xuôi,

Nào cho gai góc được trôi theo giòng.

Đôi ta cốt nhục đều không,

Quanh đi quẩn lại người cùng với ta.

Đừng nghe miệng thế dèm pha,

Người đời đâu có thực thà với anh.

Dương chi thủy, 揚 之 水

Bất lưu thúc tân; 不 流 束 薪

Chung tiển huynh đệ, 終 鮮 兄 弟

Duy dư nhị nhân, 維 予 二 人

Vô tín nhân chi ngôn, 無 信 人 之 言

Nhân thực bất tín. 人 實 不 信

(Hứng dã) 興 也

Nước kia cuồn cuộn chảy xuôi,

Nào cho củi rác được trôi theo giòng.

Đôi ta cốt nhục đều không,

Đôi ta quanh quẩn người cùng với ta.

Đừng nghe miệng thế sai ngoa,

Người đời đâu có thực thà mà tin.

(Dương chi thủy: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

XUẤT KỲ ĐÔNG MÔN (Trịnh phong 19)

出 其 東 門 (鄭 風 第 十 九)

Xuất kỳ đông môn, 出 其 東 門

Hữu nữ như vân; 有 女 如 雲

Tuy tắc như vân, 雖 則 如 雲

Phỉ ngã tư tồn. 匪 我 思 存

Kiểu y ky cân, 縞 衣 綦 巾

Liêu lạc ngã vân. 聊 樂 我 員

(Phú dã) 賦 也

Vui chân ra phía cửa đông,

Gái đâu óng ả mơ màng như mây.

Gái đâu uyển chuyển mây bay,

Dẫu như mây đẹp ta đây chẳng màng.

Vợ ta áo trắng khăn lam,

Khăn lam áo trắng vẫn làm ta vui.

Xuất kỳ nhân đồ, 出 其 闉 闍

Hữu nữ như đồ; 有 女 如 荼

Tuy tắc như đồ, 雖 則 如 荼

Phỉ ngã tư thả, 匪 我 思 且

Kiểu y như lư, 縞 衣 茹 藘

Liêu lạc dự ngu. 聊 可 與 娛

(Phú dã) 賦 也

Vui chân ra phía địch lâu,

Mặt hoa da phấn gái đâu thế này.

Mặt hoa ta cũng chẳng say,

Vợ ta mộc mạc, ta đây vừa lòng.

(Xuất kỳ đông môn: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

DÃ HỮU MAN THẢO (Trịnh phong 20)

野 有 蔓 草 (鄭 風 第 二 十)

Dã hữu man thảo, 野 有 蔓 草

Linh lộ chuyển hề. 零 露 溥 兮

Hữu mỹ nhất nhân, 有 美 一 人

Thanh dương uyển hề. 清 揚 婉 兮

Giải cấu tương ngộ, 邂 逅 相 遇

Thích ngã nguyện hề. 適 我 願 兮

(Phú nhi hứng dã) 賦 而 興 也

Ngoài đồng cỏ mọc lan man,

Linh lung óng ánh dưới làn sương thưa.

Người đâu đẹp đẽ như thơ,

Mặt mày sáng sủa dễ ưa lạ lùng.

May thay giải cấu tương phùng,

Ba sinh âu cũng thỏa lòng ước mơ.

Dã hữu man thảo, 野 有 蔓 草

Linh lộ dương dương, 零 露 瀼 瀼

Hữu mỹ nhất nhân, 有 美 一 人

Uyển như thanh dương. 婉 如 清 揚

Giải cấu tương ngộ, 邂 逅 相 遇

Dữ tử giai tàng. 與 子 偕 臧

(Phú nhi hứng dã) 賦 而 興 也

Ngoài đồng cỏ mọc lan man,

Sương cài móc điểm rỡ ràng đẹp tươi.

Người đâu xinh đẹp hỡi người,

Dung quang sánh sủa rụng rời oai phong.

May thay giải cấu tương phùng,

Cùng chàng nguyện kết giải đồng từ đây.

(Dã hữu man thảo: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

TRĂN VĨ (Trịnh phong 21)

溱 洧 (鄭 風 第 二 十 一)

Trăn dữ Vĩ, 溱 與 洧

Phương hoán hoán hề. 方 渙 渙 兮

Sĩ dữ nữ, 士 與 女

Phương bỉnh lan hề. 方 秉 蕑 兮

Nữ viết quan hồ? 女 曰 觀 乎

Sĩ viết ký thư. 士 曰 既 且

Thả vãng quan hồ? 且 往 觀 乎

Vĩ chi ngoại, 洧 之 外

Tuân vu thả lạc; 洵 訏 且 樂

Duy sĩ dữ nữ, 維 士 與 女

Y kỳ tương hước, 伊 其 相 謔

Tặng chi dĩ thược dược. 贈 之 以 勺 藥

(Phú nhi hứng dã) 賦 而 興 也

Con sông Trăn với con sông Vĩ,

Nước mênh mông lồng vẻ xinh tươi.

Trai thanh gái lịch đua chơi,

Hoa lan mấy đóa kẻ cài người mang.

Nàng ướm hỏi: Anh sang xem thử,

Chàng vội thưa: Xem đủ lắm rồi.

Nàng rằng sang nữa mà coi,

Bên kia sông Vĩ có nơi rỡn đùa.

Đem hoa thược dược tặng cho,

Đem hoa thược dược hẹn hò cùng nhau.

Trăn dữ Vĩ, 溱 與 洧

Lưu kỳ thanh hĩ. 瀏 其 清 矣

Sĩ dữ nữ, 士 與 女

Ân kỳ doanh hĩ. 殷 其 盈 矣

Nữ viết quan hồ? 女 曰 觀 乎

Sĩ viết ký thư. 士 曰 既 且

Thả vãng quan hồ? 且 往 觀 乎

Vĩ chi ngoại, 洧 之 外

Tuân vu thả lạc; 洵 訏 且 樂

Duy sĩ dữ nữ, 維 士 與 女

Y kỳ tương hước, 伊 其 相 謔

Tặng chi dĩ thược dược. 贈 之 以 勺 藥

(Phú nhi hứng dã) 賦 而 興 也

Con sông Trăn với con sông Vĩ,

Nước trong veo, lồng vẻ xuân tươi.

Trai thanh gái lịch đua chơi,

Từng đoàn lũ lượt, tươi cười thênh thang.

Nàng ướm hỏi: Anh sang xem thử,

Chàng vội thưa: Xem đủ lắm rồi.

Nàng rằng sang nữa mà coi,

Bên kia sông Vĩ có nơi rỡn đùa.

Gái sang, trai cũng đua sang với,

Gái cùng trai thỏa mãn vui đùa.

Đem hoa thược dược tặng cho,

Đem hoa thược dược hẹn hò cùng nhau.

(Trăn Vĩ: 2 bài, mỗi bài 12 câu.

Trịnh quốc: 21 thiên, 53 bài, 283 câu.)

鄭 國 二 十 一 篇. 五 十 三 章. 二 百 八 十 三 句.
CHƯƠNG II

2. TỀ NHẤT CHI BÁT 齊 一 之 八

KÊ MINH 雞 鳴 (Tề phong 齊 風 1)

TUYỀN 還 (Tề phong 齊 風 ­• 2)

TRỮ 著 (Tề phong 齊 風 ­• 3)

ĐÔNG PHƯƠNG CHI NHẬT 東 方 之 日 (Tề phong 齊 風 4)

ĐÔNG PHƯƠNG VỊ MINH 東 方 未 明 (Tề phong 齊 風 5)

NAM SƠN 南 山 (Tề phong 齊 風 6)

PHỦ ĐIỀN 甫 田 (Tề phong 齊 風 7)

LÔ LINH 盧 令 (Tề phong 齊 風 8)

TỆ CẨU 敝 笱 (Tề phong 齊 風 9)

TẢI KHU 載 驅 (Tề phong 齊 風 10)

Y TA 猗 嗟 (Tề phong 齊 風 11)

KÊ MINH (Tề phong 1)

雞 鳴 (齊 風 第 一)

Kê ký minh hĩ. 雞 既 鳴 矣

Triều ký doanh hĩ. 朝 既 盈 矣

Phỉ kê tắc minh, 匪 雞 則 鳴

Thương nhăng chi thanh. 蒼 蠅 之 聲

(Phú dã) 賦 也

Tiếng gà đã giục canh tàn,

Triều đình đã đủ bá quan trong ngoài.

Nhưng không, gà chửa gáy mai,

Đó là tiếng cánh của loài ruồi xanh.

Đông phương minh hĩ. 東 方 鳴 矣

Triều ký xương hĩ. 朝 既 昌 矣

Phỉ đông phương tắc minh, 匪 東 方 則 明

Nguyệt xuất chi quang. 月 出 之 光

(Phú dã) 賦 也

Phương đông đã hửng bình minh,

Bá quan đã chật triều đình còn chi.

Nhưng không, trời chửa sáng gì,

Quang huy ấy chính quang huy ả Hằng.

Trùng phi hoăng hoăng, 蟲 飛 薨 薨

Cam dữ tử đồng mộng; 甘 與 子 同 夢

Hội thư quy hĩ, 會 且 歸 矣

Vô thứ dư tử tăng. 無 庶 予 子 憎

(Phú dã) 賦 也

Côn trùng bay lượn rộn ràng,

Ước gì đầy giấc mộng vàng bên ai.

Chỉn e văn võ trở hài,

Sinh lòng oán hận cả hai chúng mình.

(Kê minh: 3 bài, mỗi bài 3 câu.)

TUYỀN (Tề phong 2)

還 (齊 風 第 二)

Tử chi tuyền hề. 子 之 還 兮

Tao ngã hồ náo chi gian hề. 遭 我 乎 峱 之 閒 兮

Tịnh khu tòng lưỡng kiên hề. 並 驅 從 兩 肩 兮

Ấp ngã vị ngã hoàn hề. 揖 我 謂 我 儇 兮

(Phú dã) 賦 也

Khen ai nhanh nhẹn khác là,

Dưới chân núi Náo cùng ta tương phùng.

Cùng nhau đuổi cặp heo rừng,

Chào ta, rồi lại khen rằng ta nhanh.

Tử chi mậu hề. 子 之 茂 兮

Tao ngã hồ náo chi đạo hề. 遭 我 乎 峱 之 道 兮

Tịnh khu tòng lưỡng mẫu hề. 並 驅 從 兩 牡 兮

Ấp ngã vị ngã hảo hề. 揖 我 謂 我 好 兮

(Phú dã) 賦 也

Khen ai đương độ xuân xanh,

Cùng ta sườn Náo chênh vênh tương phùng.

Đuổi đôi heo đực quanh rừng,

Chào ta, rồi lại khen rằng trẻ trung.

Tử chi xương hề. 子 之 昌 兮

Tao ngã hồ náo chi dương hề. 遭 我 乎 峱 之 陽 兮

Tịnh khu tòng lưỡng lang hề. 並 驅 從 兩 狼 兮

Ấp ngã vị ngã tàng hề. 揖 我 謂 我 臧 兮

(Phú dã) 賦 也

Khen ai tài giỏi quá chừng,

Sườn nam núi Náo đã từng gặp ta.

Đuổi theo cặp sói oan gia,

Chào ta rồi lại khen ta tài tình.

(Tuyền: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

TRỮ (Tề phong 3)

著 (齊 風 第 三)

Sĩ ngã ư trữ hồ nhi? 俟 我 於 著 乎 而

Sung nhĩ dĩ tố hồ nhi? 充 耳 以 素 乎 而

Thượng chi dĩ quỳnh hoa hồ nhi? 尚 之 以 瓊 華 乎 而

(Phú dã) 賦 也

Chàng đón em trước bình phong cửa,

Đôi giây tua bằng lụa trắng tinh.

Đầu giây rực rỡ lung linh,

Quỳnh hoa đôi ngọc lung linh rạng ngời.

Sĩ ngã ư đình hồ nhi? 俟 我 於 庭 乎 而

Sung nhĩ dĩ thanh hồ nhi? 充 耳 以 青 乎 而

Thượng chi dĩ quỳnh oanh hồ nhi? 尚 之 以 瓊 瑩 乎 而

(Phú dã) 賦 也

Đón chờ em ngoài sân chàng đón,

Đôi giây tua chàng nhuộm màu xanh.

Đầu giây rực rỡ lung linh,

Quỳnh hoa đôi ngọc rung rinh rạng ngời.

Sĩ ngã ư đường hồ nhi? 俟 我 於 堂 乎 而

Sung nhĩ dĩ tố hồ nhi? 充 耳 以 黃 乎 而

Thượng chi dĩ quỳnh anh hồ nhi? 尚 之 以 瓊 英 乎 而

(Phú dã) 賦 也

Chờ đợi em, ngồi nhà chàng đợi,

Đôi giây tua phới phới ánh vàng.

Đầu giây đôi ngọc rỡ ràng,

Quỳnh anh đôi ngọc mơ màng đầu giây.

(Trữ: 3 bài, mỗi bài 3 câu.)

ĐÔNG PHƯƠNG CHI NHẬT (Tề phong 4)

東 方 之 日 (齊 風 第 四)

MẶT TRỜI ĐÔNG

Đông phương chi nhật hề. 東 方 之 日 兮

Bỉ thù giả tử, 彼 姝 者 子

Tại ngã thất hề. 在 我 室 兮

Tại ngã thất hề, 在 我 室 兮

Lý ngã tức hề. 履 我 即 兮

(Hứng dã) 興 也

Vầng dương vừa rạng trời đông,

Nàng kia sớm đã tới phòng của ta.

Phòng ta nàng đã lân la,

Theo ta bén gót, nàng đà tới đây.

Đông phương chi nguyệt hề. 東 方 之 月 兮

Bỉ thù giả tử, 彼 姝 者 子

Tại ngã thát hề. 在 我 闥 兮

Tại ngã thát hề, 在 我 闥 兮

Lý ngã phát hề. 履 我 發 兮

(Hứng dã) 興 也

Trăng vàng lấp ló trời đông,

Nàng kia vẫn hãy còn trong cửa sài.

Thềm hoa nàng vội trở hài,

Theo ta bén gót, ra ngoài chia tay.

(Đông phương chi nhật: 2 bài, mỗi bài 5 câu.)

ĐÔNG PHƯƠNG VỊ MINH (Tề phong 5)

東 方 未 明 (齊 風 第 五)

TRỜI ĐÔNG CHƯA SÁNG

Đông phương vị minh, 東 方 未 明

Điên đảo y thường. 顛 倒 衣 裳

Điên chi đảo chi, 顛 之 倒 之

Tự công triệu chi. 自 公 召 之

(Phú dã) 賦 也

Trời đông kia sáng chưa tỏ bạch,

Áo xiêm ta lếch thếch lôi thôi.

Lôi thôi lếch thếch vì ai,

Vì ai cho gọi cho vời sáng nay.

Đông phương vị hi, 東 方 未 晞

Điên đảo y thường. 顛 倒 衣 裳

Điên chi đảo chi, 顛 之 倒 之

Tự công lệnh chi. 自 公 令 之

(Phú dã) 賦 也

Trời đông kia, ánh dương chưa nhuộm,

Áo xiêm ta luộm thuộm lôi thôi.

Lôi thôi luộm thuộm vì ai,

Vì ai cho triệu cho đòi sớm nay.

Chiết liễu phân phí, 折 柳 樊 圃

Cuồng phu cú cú. 狂 夫 瞿 瞿

Bất năng thần dạ, 不 能 辰 夜

Bất bội tắc mộ. 不 夙 則 莫

(Phú dã) 賦 也

Bẻ cành liễu chàng rào vườn tược,

Bọn cuồng phu đủ mướt mồ hôi.

Ban đêm giờ giấc lôi thôi,

Biết điều dậy sớm, không thời muộn ngay.

(Đông phương vị minh: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI
NAM SƠN (Tề phong 6)

南 山 (齊 風 第 六)

Nam sơn thôi thôi, 南 山 崔 崔

Hùng hồ tuy tuy. 雄 狐 綏 綏

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử do quy. 齊 子 由 歸

Ký viết quy chỉ, 既 曰 歸 止

Hạt hựu hoài chỉ. 曷 又 懷 止

(Tỉ dã) 比 也

Hòn Nam sơn vươn cao lừng lững,

Hồ đực kia vơ vẩn tìm đôi.

Dặm đàng nước Lỗ xa xôi,

Gái Tề thôi đã sớm xuôi nhà chồng.

Nhà chồng xuôi thế là xong,

Xong rồi, còn nhớ với mong làm gì.

Cát lũ ngũ lưỡng, 葛 屨 五 兩

Quan uy song chỉ. 冠 綏 雙 止

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử dung chỉ; 齊 子 庸 止

Ký viết dung chỉ; 既 曰 庸 止

Hạt hựu tòng chỉ. 曷 又 從 止

(Tỉ dã) 比 也

Giếp sắn giây, năm đôi năm loại,

Giải mũ kia cũng phải có đôi.

Dặm đường nước Lỗ êm xuôi,

Êm xuôi nàng đã về nơi nhà chồng.

Thôi thôi thôi thế là xong,

Còn theo, còn dõi, còn mong nỗi gì.

Nghệ ma như chi hà? 褻 麻 如 之 何

Hành tòng kỳ mẫu. 衡 從 其 畝

Thú thê như chi hà? 取 妻 如 之 何

Tất cáo phụ mẫu. 必 告 父 母

Ký viết cáo chỉ, 既 曰 告 止

Hạt hựu cúc chỉ? 曷 又 鞫 止

(Hứng dã) 興 也

Cây gai kia trồng sao cho phải,

Ruộng trồng gai, cần xới dọc ngang.

Làm sao kết ngải uyên ương,

Muốn nên duyên kiếp, phải tường mẹ cha.

Nay đà theo đúng phép nhà,

Cớ sao để vợ hóa ra luông tuồng.

Tích tân như chi hà? 析 薪 如 之 何

Phỉ phủ bất khắc. 匪 斧 不 克

Thú thê như chi hà? 取 妻 如 之 何

Phỉ môi bất đắc. 匪 媒 不 得

Ký viết đắc chỉ, 既 曰 得 止

Hạt hựu cực chỉ. 曷 又 極 止

(Hứng dã) 興 也

Củi đen kia làm sao mà chẻ,

Không búa rìu, thẳng tẻ cho ra.

Vợ kia muốn lấy sao là?

Muốn xe duyên thắm phải nhờ mối manh.

Như nay muôn việc đã thành,

Cớ sao để vợ đành hanh luông tuồng.

(Nam sơn: 4 bài, mỗi bài 6 câu.)

PHỦ ĐIỀN (Tề phong 7)

甫 田 (齊 風 第 七)

RUỘNG CẢ

Vô điền phủ điền, 無 田 甫 田

Duy dậu kiểu kiểu (cao cao); 維 莠 驕 驕

Vô tư viễn nhân, 無 思 遠 人

Lao tâm điêu điêu (đao đao). 勞 心 忉 忉

(Tỉ dã) 比 也

Khi cày cấy chớ tham ruộng cả,

Tham ruộng nhiều cỏ rả mau lan.

Người dưng xa cách quan san,

Việc chi mà phải lo toan đèo bòng.

Vô điền phủ điền, 無 田 甫 田

Duy dậu kiệt kiệt; 維 莠 桀 桀

Vô tư viễn nhân, 無 思 遠 人

Lao tâm đát đát. 勞 心 怛 怛

(Tỉ dã) 比 也

Khi cày cấy chớ tham ruộng cả,

Tham ruộng nhiều cỏ rả tung tung.

Người dưng xa cách dặm trùng,

Tội chi mà phải nhọc lòng nhớ thương.

Uyển hề tuyên hề, 婉 兮 孌 兮

Tổng giác quán hề, 總 角 丱 兮

Vị kỷ kiến hề, 未 幾 見 兮

Đột nhi biền hề. 突 而 弁 兮

(Tỉ dã) 比 也

Trẻ thơ kia tơ non óng ả,

Hai trái đào lỏa tỏa rung rinh.

Quang âm mấy độ phiêu linh,

Mũ biền nay đã đình huỳnh bảnh bao.

(Phủ điền: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

LÔ LINH (Tề phong 8)

盧 令 (齊 風 第 八)

Lô linh linh, 盧 令 令

Kỳ nhân mỹ thả nhân. 其 人 美 且 仁

(Phú dã) 賦 也

Chó săn nó chạy nhong nhong,

Chủ nhân chúng thật oai phong hiền từ.

Lô trùng hoàn, 盧 重 環

Kỳ nhân mỹ thả quyền. 其 人 美 且 鬈

(Phú dã) 賦 也

Chó săn đeo nhạc bộ đôi,

Chủ nhân chúng thật là người hào hoa.

Lô trùng mai, 盧 重 鋂

Kỳ nhân mỹ thả tai. 其 人 美 且 偲

(Phú dã) 賦 也

Chó săn đeo nhạc bộ ba,

Chủ nhân chúng thật tài hoa hào hùng.

(Lô linh: 3 bài, mỗi bài 2 câu.)

TỆ CẨU (Tề phong 9)

敝 笱 (齊 風 第 九)

Tệ cẩu (cú) tại lương, 敝 笱 在 梁

Kỳ ngư phường quan. 其 魚 魴 鰥

Tề tử quy chỉ, 齊 子 歸 止

Kỳ tòng như vân. 其 從 如 雲

(Tỉ dã) 比 也

Áo rách mà để bờ ngòi,

Con mè con trắm đua bơi mặc tình.

Gái Tề được buổi quy ninh,

Kẻ đưa người rước rập rình như mây.

Tệ cẩu (cú) tại lương, 敝 笱 在 梁

Kỳ ngư phường dự. 其 魚 魴 鱮

Tề tử quy chỉ, 齊 子 歸 止

Kỳ tòng như cư. 其 從 如 雨

(Tỉ dã) 比 也

Áo rách mà để bờ ngòi,

Con mè con diếc nó bơi mặc tình.

Gái Tề được buổi quy ninh,

Kẻ đưa người rước rập rình như mưa.

Tệ cẩu (cú) tại lương, 敝 笱 在 梁

Kỳ ngư duy duy. 其 魚 唯 唯

Tề tử quy chỉ, 齊 子 歸 止

Kỳ tòng như thủy. 其 從 如 水

(Tỉ dã) 比 也

Áo rách mà đặt bờ ngòi,

Con kia nó lội nó bơi phỉ tình.

Gái Tề được buổi quy ninh,

Một đoàn như nước rập rình trước sau.

(Tệ cẩu: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

TẢI KHU (Tề phong 10)

載 驅 (齊 風 第 十)

Tải khu bạc bạc, 載 驅 薄 薄

Đàm phất chu khoách. 簟 茀 朱 鞹

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử phát tịch. 齊 子 發 夕

(Phú dã) 賦 也

Dặm trường nàng ruổi xe mây,

Rèm buông kín cửa da may đệm hồng.

Con đường nước Lỗ thong dong,

Chiều buông nàng mới ruổi dong dặm hòe.

Tứ ly tể tể, 四 驪 濟 濟

Thùy bí nễ nễ. 垂 轡 濔 濔

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử khởi đệ. 齊 子 豈 弟

(Phú dã) 賦 也

Ngựa ô hai cặp giòn ghê,

Giây cương mềm mại đề huề lỏng buông.

Con đường nước Lỗ thênh thang,

Nàng Văn hớn hở nhẹ nhàng biết bao.

Vấn thủy thang thang, 汶 水 湯 湯

Hành nhân bang bang. 行 仁 彭 彭

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử cao tường. 齊 子 翱 翔

(Phú dã) 賦 也

Giòng sông Vấn thủy nao nao,

Khách du rong ruổi biết bao là người.

Con đường nước Lỗ êm xuôi,

Nàng Văn hớn hở tươi cười như không.

Vấn thủy thang thang, 汶 水 湯 湯

Hành nhân bang bang. 行 仁 彭 彭

Lỗ đạo hữu đãng, 魯 道 有 蕩

Tề tử du ngao. 齊 子 遊 敖

(Phú dã) 賦 也

Ào ào sông Vấn xuôi giòng,

Khách du tấp nập ruổi rong bao người.

Con đường nước Lỗ êm xuôi,

Nàng Văn hớn hở tươi cười ngao du.

(Tải khu: 4bài, mỗi bài 4 câu.)

Y TA (Tề phong 11)

猗 嗟 (齊 風 第 十 一)

Y ta xương hề. 猗 嗟 昌 兮

Kỳ nhi trường hề. 頎 而 長 兮

Ức nhược dương hề. 抑 若 揚 兮

Mỹ mục dương hề. 美 目 揚 兮

Xảo xu thương hề. 巧 趨 蹌 兮

Xạ tắc tàng hề. 射 則 臧 兮

(Phú dã) 賦 也

Tiếc thay công tử phong lưu,

Vóc người cao lớn mỹ miều biết bao.

Người cao vầng trán cũng cao,

Long lanh đôi mắt như sao rạng ngời.

Bước đi nhẹ gót hán hài,

Cung tên thôi ắt chẳng ai sánh tày.

Y ta danh hề. 猗 嗟 名 兮

Mỹ mục thanh hề. 美 目 清 兮

Nghi ký thành hề. 儀 既 成 兮

Chung nhật xạ hầu. 終 日 射 侯

Bất xuất chính hề. 不 出 正 兮

Triển ngã sinh hề. 展 我 甥 兮

(Phú dã) 賦 也

Tiếc thay danh tiếng bấy nay,

Sáng trong đôi mắt mặt mày phương phi.

Dáng đi điệu đứng uy nghi,

Suốt ngày luyện tập bắn bia thật nhiều.

Bắn bia luôn trúng hồng tâm,

Cháu nhà thật chẳng còn lầm với ai.

Y ta luyến hề. 猗 嗟 孌 兮

Thanh dương uyển hề. 清 揚 婉 兮

Vũ tắc tuyển hề. 舞 則 選 兮

Xạ tắc quán hề. 射 則 貫 兮

Tứ thỉ phản hề. 四 矢 反 兮

Dĩ ngự loạn hề. 以 禦 亂 兮

(Phú dã) 賦 也

Tiếc thay chàng rất bảnh trai,

Trán cao mắt sáng vẻ ngoài hào hoa.

Đẹp trai múa lại tài ba,

Đến nghề như bắn lại là nghề riêng.

Hồng tâm ngập bốn mũi tên,

Tài này chắc sẽ dẹp yên phản loàn.

(Y ta: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

Tề quốc có 11 thiên, 34 bài, 143 câu.

齊 國 十 二 篇. 三 十 四 章. 百 四 十 三 句.
CHƯƠNG III

3. NGỤY NHẤT CHI CỬU 魏 一 之 九

CÁT LƯ 葛 屨 (Ngụy phong 魏 風 1)

PHẦN THỨ NHU 汾 沮 洳 (Ngụy phong 魏 風 2)

VIÊN HỮU ĐÀO 園 有 桃 (Ngụy phong 魏 風 3)

TRẮC HỘ 陟 岵 (Ngụy phong 魏 風 4)

THẬP MẪU CHI GIAN 十 畝 之 閒 (Ngụy phong 魏 風 5)

PHẠT ĐÀN 伐 檀 (Ngụy phong 魏 風 6)

THẠC THỬ 碩 鼠 (Ngụy phong 魏 風 7)

CÁT LƯ (Ngụy phong 1)

葛 屨 (魏 風 第 一)

DÉP SẮN

Cư cư cát lư, 糾 糾 葛 屨

Khả dĩ lý sương; 可 以 履 霜

Tiêm tiêm nữ thủ, 摻 摻 女 手

Khả dĩ phùng thường. 可 以 縫 裳

Yếu chi cức chi, 要 之 襋 之

Hảo nhân phục chi. 好 人 服 之

(Hứng dã) 興 也

Lạnh lùng dép sắn vẫn mang,

Quản chi dép sắn dầm sương lạnh lùng.

Cô dâu tuy nõn búp măng,

Y thường nàng đã quen chừng vá may.

Sửa sang bâu cổ cho ngay,

Cho chồng nàng tiện đổi thay mặc dùng.

Hảo nhân đề đề, 好 人 提 提

Uyển nhiên tả tị; 宛 然 左 辟@

Bội kỳ tượng đế. 佩 其 象 揥

Duy thị biến tâm, 維 是 褊 心

Thị dĩ vi thích. 是 以 為 刺

(Phú dã) 賦 也

Chồng nàng đi đứng ung dung,

Đứng bên tư khách chàng không ngại ngùng.

Châu ngà chàng giắt bên lưng,

Hiềm chàng hẹp lượng nên lòng dân chê.

(Cát lư: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

PHẦN THỨ NHU (Ngụy phong 2)

汾 沮 洳 (魏 風 第 二)

Bỉ phần thứ nhu, 彼 汾 沮 洳

Ngôn thái kỳ mộ. 言 釆 其 莫

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Mỹ vô độ. 美 無 度

Mỹ vô độ. 美 無 度

Thù dị hồ công lộ. 殊 異 乎 公 路

(Hứng dã) 興 也

Sông Phần lội lặm đôi bờ,

Bóng ai lác đác lững lờ hái me.

Chàng kia đẹp đẽ như huê,

Nhưng chưa ra dáng ruổi xe vương hầu.

Bỉ phần nhất phương, 彼 汾 一 方

Ngôn thái kỳ tang. 言 釆 其 桑

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Mỹ như ương. 美 如 英

Mỹ như ương. 美 如 英

Thù dị hồ công hành. 殊 異 乎 公 行

(Hứng dã) 興 也

Sông Phần tít tắp đôi bờ,

Bóng ai thấp thoáng lững lờ hái dâu.

Mặt chàng hoa thắm phơi mầu

Nhưng xem tư cách phải đâu con nhà.

Bỉ phần nhất khúc, 彼 汾 一 曲

Ngôn thái kỳ túc. 言 釆 其 藚

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Mỹ như ngọc. 美 如 玉

Mỹ như ngọc. 美 如 玉

Thù dị hồ công tộc. 殊 異 乎 公 族

(Hứng dã) 興 也

Sông Phần uốn khúc lững lờ,

Hái dâu rau má, thẩn thơ ai người..

Mặt chàng như ngọc tốt tươi,

Nhưng xem phong thái chẳng nòi công tôn.

(Phần thứ nhu: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

VIÊN HỮU ĐÀO (Ngụy phong 3)

園 有 桃 (魏 風 第 三)

Viên hữu đào, 園 有 桃

Kỳ thực chi hào; 其 實 之 殽

Tâm chi ưu hĩ, 心 之 憂 矣

Ngã ca thả dao. 我 歌 且 謠

Bất tri ngã giả, 不 知 我 者

Vị ngã sĩ dã kiêu. 謂 我 士 也 驕

Bỉ nhân thị tai, 彼 人 是 哉

Tử viết hà kỳ; 子 曰 何 其

Tâm chi ưu hĩ, 心 之 憂 矣

Kỳ thùy tri chi? 其 誰 知 之

Kỳ thùy tri chi, 其 誰 知 之

Cái diệc vật ti. 蓋 亦 勿 思

(Hứng dã) 興 也

Trong vườn đào mọc đôi cây,

Trái đào kia đã tới ngày được ăn.

Lòng ta lo vụng buồn thầm,

Ngoài môi ta vẫn ca ngâm sá nào.

Người đời chẳng rõ tiêu hao,

Tưởng ta ngạo nghễ làm cao với đời.

Người đời đoán cũng không sai,

Ngẫm xem cớ sự vắn dài ra sao?

Nay ta ruột rối như bào,

Ta buồn não nuột ai nào thấu cho.

Ta buồn nào có ai ngờ,

Người không suy nghĩ sao dò nổi ta.

Viên hữu tảo, 園 有 棘

Kỳ thực chi thực; 其 實 之 食

Tâm chi ưu hĩ, 心 之 憂 矣

Liêu dĩ hành quốc. 聊 以 行 國

Bất tri ngã giả, 不 知 我 者

Vị ngã sĩ dã võng cực. 謂 我 士 也 罔 極

Bỉ nhân thị tai, 彼 人 是 哉

Tử viết hà kỳ; 子 曰 何 其

Tâm chi ưu hĩ, 心 之 憂 矣

Kỳ thùy tri chi? 其 誰 知 之

Kỳ thùy tri chi, 其 誰 知 之

Cái diệc vật ti. 蓋 亦 勿 思

(Hứng dã) 興 也

Trong vườn táo mọc đôi cây,

Táo kia quả đã tới ngày được ăn.

Lòng ta lo vụng buồn thầm,

Nước non trăng gió mấy lần tiêu dao.

Người đời chẳng rõ thấp cao,

Tưởng ta là hạng tầm phào đơn sai.

Người đời đoán đúng một hai,

Thử xem cơ sự vắn dài ra sao?

Người ta ruột rối như bào,

Ta buồn nẫu ruột ai nào thấu cho.

Ta buồn nào có ai ngờ,

Người không suy nghĩ sao dò nổi ta.

(Viên hữu đào: 2 bài, mỗi bài 12 câu.)
TRẮC HỘ (Ngụy phong 4)

陟 岵 (魏 風 第 四)

Trắc bỉ hộ hề. 陟 彼 岵 兮

Chiêm vọng phụ hề. 瞻 望 父 兮

Phụ viết: Ta ! 父 曰 嗟

Dư tử hành dịch, 予 子 行 役

Túc dạ vô dĩ, 夙 夜 無 已

Thượng thận chiên tai. 上 慎 旃 哉

Do lai vô chỉ. 猶 來 無 止

(Phú dã) 賦 也

Trèo lên núi trụi cỏ cây,

Nhớ cha cách trở cỏ cây nhìn về.

Cha rằng số phận éo le,

Con đi việc nước éo le ngàn tầm.

Biết bao vất vả gian truân,

Ngày đêm hồ dễ mấy lần nghỉ ngơi.

Gìn vàng giữ ngọc con ơi,

Chờ ngày tái ngộ lạc loài mãi sao !

Trắc bỉ khỉ hề. 陟 彼 屺 兮

Chiêm vọng mẫu hề. 瞻 望 母 兮

Mẫu viết: Ta ! 母 曰 嗟

Dư quý hành dịch, 予 季 行 役

Túc dạ vô mị, 夙 夜 無 寐

Thượng thận chiên tai. 上 慎 旃 哉

Do lai vô khí. 猶 來 無 棄

(Phú dã) 賦 也

Trèo lên núi rậm cỏ cây,

Mẹ già cách trở nước mây nhìn về.

Mẹ rằng số phận éo le,

Con đi việc nước sơn khê ngàn tầm.

Biết bao vất vả gian truân,

Ngày đêm hồ dễ mấy lần nghỉ ngơi.

Khuyên con giữ một gìn hai,

Hẹn ngày tái ngộ, chớ loài tấm thân !

Trắc bỉ cương hề. 陟 彼 岡 兮

Chiêm vọng huynh hề. 瞻 望 兄 兮

Huynh viết: Ta ! 兄 曰 嗟

Dư đệ hành dịch, 予 弟 行 役

Túc dạ tất kỷ. 夙 夜 必 借

Thượng thận chiên tai. 上 慎 旃 哉

Do lai vô tử. 猶 來 無 死

(Phú dã) 賦 也

Sườn non chen chúc cỏ cây,

Nhớ anh cách trở nước may nhìn về.

Anh rằng: số phận éo le,

Em đi việc nước sơn khê ngàn tầm.

Biết bao vất vả gian truân,

Đêm ngày thôi cũng cát lầm như ai.

Khuyên em giữ một gìn hai,

Hẹn ngày tái ngộ, chớ hoài thân em !

(Trắc hộ: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

THẬP MẪU CHI GIAN (Ngụy phong 5)

十 畝 之 閒 (魏 風 第 五)

Thập mẫu chi gian hề. 十 畝 之 閒 兮

Tang giả nhàn nhàn hề. 桑 者 閑 閑 兮

Hành dữ tử tuyền hề. 行 與 子 還 兮

(Phú dã) 賦 也

Kìa trông mười mẫu ruộng dâu,

Dâu lên đây đó một mầu tốt tươi.

Cùng nhau trở gót ai ơi,

Cùng nhau tôi bác, ta lui về nhà.

Thập mẫu chi ngoại hề. 十 畝 之 外 兮

Tang giả tiết tiết hề. 桑 者 泄 泄 兮

Hành dữ tử thệ hề. 行 與 子 逝 兮

(Phú dã) 賦 也

Kìa ngoài mười mẫu ruộng dâu,

Dâu lên đây đó đượm mầu tốt tươi.

Cùng nhau cất bước ai ơi,

Cùng nhau tôi bác, ta vui giang hồ.

PHẠT ĐÀN (Ngụy phong 6)

伐 檀 (魏 風 第 六)

Khảm khảm phạt đàn hề. 坎 坎 伐 檀 兮

Trí chi hà chi can hề. 寘 之 河 之 干 兮

Hà thủy thanh thả liên y. 河 水 清 且 漣 猗

Bất giá bất tường, 不 稼 不 穡

Hồ thủ hòa tam bách triền hề. 胡 取 禾 三 百 廛 兮

Bất thú bất lạp, 不 狩 不 獵

Hồ chiêm nhĩ đình 胡 瞻 爾 庭

Hữu huyền huyên hề. 有 縣 貆 兮

Bỉ quân tử hề. 彼 君 子 兮

Bất tố xan hề. 不 素 餐 兮

(Phú dã) 賦 也

Choang choang đốn gỗ bạch đàn,

Đốn rồi còn để ngổn ngang bên bờ.

Nước sông trong trẻo nhấp nhô,

Giòng sông trong vắt lững lờ trôi xuôi.

Cấy không mà gặt cũng lơi,

Lúa ba trăm đụn vậy thời đâu ra.

Ngại săn bắn cũng chẳng ưa,

Sao treo cầy cáo lửng lơ sân nhà.

Chàng kia quân tử tài hoa,

Lẽ đâu ngồi tỉnh với là ăn không.

Khảm khảm phạt bức hề. 坎 坎 伐 幅 兮

Trí chi hà chi trắc hề. 寘 之 河 之 側 兮

Hà thủy thanh thả trực y. 河 水 清 且 直

Bất giá bất tường, 猗 不 稼 不 穡

Hồ thủ hòa tam bách ức hề. 胡 取 禾 三 百 億 兮

Bất thú bất lạp, 不 狩 不 獵

Hồ chiêm nhĩ đình 胡 瞻 爾 庭

Hữu huyền đặc hề. 有 縣 特 兮

Bỉ quân tử hề. 彼 君 子 兮

Bất tố thực hề. 不 素 食 兮

(Phú dã) 賦 也

Choang choang mà đẽo trục xe,

Đẽo rồi để sát để kề bên sông.

Sông kia nước chảy trong trong,

Sông kia trong trẻo thuận giòng chảy xuôi.

Cấy không mà gặt cũng lơi,

Cớ sao thóc lúa đến vài trăm muôn.

Săn không bắn cũng không luôn,

Sao sân có thịt thú non treo hoài.

Chàng kia quân tử anh tài,

Lẽ đâu ngồi tỉnh suốt đời ăn không.

Khảm khảm phạt luân hề. 坎 坎 伐 輪 兮

Trí chi hà chi thần hề. 寘 之 河 之 漘 兮

Hà thủy thanh thả luân y. 河 水 清 且 淪 猗

Bất giá bất tường, 不 稼 不 穡

Hồ thủ hòa tam bách khuông hề. 胡 取 禾 三 百 囷 兮

Bất thú bất lạp, 不 狩 不 獵

Hồ chiêm nhĩ đình 胡 瞻 爾 庭

Hữu huyền thuần hề. 有 縣 鶉 兮

Bỉ quân tử hề. 彼 君 子 兮

Bất tố san hề. 不 素 飧 兮

(Phú dã) 賦 也

Choang choang đẽo bánh xe,

Đẽo rồi đem để rõ kề mép sông.

Sông kia nước chảy trong trong,

Lăn tăn làn nước thuận giòng chảy xuôi.

Cấy không mà gặt cũng lơi,

Cớ sao vựa thóc đến vài ba trăm.

Bắn không mà cũng chẳng săn,

Cớ sao cun cút trong sân treo đầy.

Chàng kia quân tử bấy nay,

Lẽ đâu suốt tháng suốt ngày ăn không.

(Phạt đàn: 3 bài, mỗi bài 9 câu.)

THẠC THỬ (Ngụy phong 7)

碩 鼠 (魏 風 第 七)

Thạc thử thạc thử, 碩 鼠 碩 鼠

Vô thực ngã thử; 無 食 我 黍

Tam tuế quán nhữ, 三 歲 貫 女

Mạc ngã khẳng cố. 莫 我 肯 顧

Thệ tương khứ nhữ, 逝 將 去 女

Thích bỉ lạc thổ; 適 彼 樂 土

Lạc thổ lạc thổ, 樂 土 樂 土

Viên đắc ngã sở. 爰 得 我 所

(Tỉ dã) 比 也

Chuột cống hỡi, hỡi bầy chuột cống,

Thôi thôi đừng ăn đống kê ta.

Ba thu cố nhịn cho qua,

Nhưng bây nào đoái tưởng ta đâu nào.

Bây đã thế, ta sao cũng bỏ,

Bỏ chúng bây đi ở đất người,

Đất người hoan lạc đẹp tươi,

Ung dung ta sẽ thảnh thơi xem vầy.

Thạc thử thạc thử, 碩 鼠 碩 鼠

Vô thực ngã mạch; 無 食 我 麥

Tam tuế quán nhữ, 三 歲 貫 女

Mạc ngã khẳng đức. 莫 我 肯 德

Thệ tương khứ nhữ, 逝 將 去 女

Thích bỉ lạc quốc; 適 彼 樂 國

Lạc quốc lạc quốc, 樂 國 樂 國

Viên đắc ngã trực. 爰 得 我 直

(Tỉ dã) 比 也

Chuột cống hỡi, hỡi bầy chuột cống,

Thôi thôi đừng ăn đống mạch ta.

Ba thu cố chịu cho qua,

Nhưng bây xử sự chẳng ra nghĩa gì.

Bây đã thế, ta đi cho khuất,

Bỏ chúng bây tìm đất thảnh thơi.

Đi tìm chốn ở an vui,

Ung dung ta sẽ vui tươi tháng ngày.

Thạc thử thạc thử, 碩 鼠 碩 鼠

Vô thực ngã miêu; 無 食 我 苗

Tam tuế quán nhữ, 三 歲 貫 女

Mạc ngã khẳng lao. 莫 我 肯 勞

Thệ tương khứ nhữ, 逝 將 去 女

Thích bỉ lạc giao; 適 彼 樂 郊

Lạc giao lạc giao, 樂 郊 樂 郊

Thùy chi vĩnh hào. 誰 之 永 號

(Tỉ dã) 比 也

Chuột cống hỡi, hỡi bầy chuột cống,

Thôi thôi đừng ăn lúa giống của ta.

Ba thu cố nhịn cho qua,

Nhưng bây nào biết ai là gian lao.

Bây đã thế, ta sao cũng bỏ,

Bỏ chúng bây đi ở chốn xa.

Chốn xa vui thú chan hòa,

Cũng là thở vắn với là than dài.

(Thạc thử: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

Ngụy phong có 7 thiên, 18 bài, 128 câu.

魏 風 七 篇.十 八 章.一 百 二 十 八 句.

CHƯƠNG 4

4. ĐƯỜNG NHẤT CHI THẬP 唐 一 之 十

TẤT SUẤT 蟋 蟀 (Đường phong 唐 風 1)

SƠN HỮU XU 山 有 樞 (Đường phong 唐 風 2)

DƯƠNG CHI THỦY 揚 之 水 (Đường phong 唐 風 3)

TIÊU LIÊU 椒 聊 (Đường phong 唐 風 4)

TRÙ MÂU 綢 繆 (Đường phong 唐 風 5)

ĐỆ ĐỖ 杕 杜 (Đường phong 唐 風 6)

CAO CẦU 羔 裘 (Đường phong 唐 風 7)

BẢO VŨ 鴇 羽 (Đường phong 唐 風 8)

VÔ Y 無 衣 (Đường phong 唐 風 9)

HỮU ĐỆ CHI ĐỖ 有 杕 之 杜 (Đường phong 唐 風 10)

CÁT SINH 葛 生 (Đường phong 唐 風 11)

THÁI LINH 采 苓 (Đường phong 唐 風 12)

TẤT SUẤT (Đường phong 1)

蟋 蟀 (唐 風 第 一)

Tất suất tại đường, 蟋 蟀 在 堂

Tuế duật kỳ mộ; 歲 聿 其 莫

Kim ngã bất lạc, 今 我 不 樂

Nhật nguyệt kỳ trừ. 日 月 其 除

Vô dĩ thái khang, 無 已 大 康

Chức tư kỳ cư; 職 思 其 居

Hiếu lạc vô hoang, 好 樂 無 荒

Lương sĩ cú cú. 良 士 瞿 瞿

(Phú dã) 賦 也

Con dế mà ở trong nhà,

Tháng ngày vùn vụt há ra được nào.

Nhưng dù hoan lạc tiêu dao,

Phần riêng trách nhiệm chớ xao lãng lòng.

Vui chơi nhưng chớ buông lung,

Người ngoan phải biết dè chừng mới ngoan.

Tất suất tại đường, 蟋 蟀 在 堂

Tuế duật kỳ thê; 歲 聿 其 逝

Kim ngã bất lạc, 今 我 不 樂

Nhật nguyệt kỳ lệ. 日 月 其 邁

Vô dĩ thái khang, 無 已 大 康

Chức tư kỳ ngoại; 職 思 其 外

Hiếu lạc vô hoang, 好 樂 無 荒

Lương sĩ khuể khuể. 良 士 蹶 蹶

(Phú dã) 賦 也

Con dế mà chạy vào nhà,

Triền năm theo ánh quang hoa hầu tàn.

Giờ đây mà chẳng hân hoan,

Quang âm trôi chảy há van được nào.

Nhưng dù hoan lạc tiêu dao,

Tương lai còn đó chớ xao lãng lòng.

Vui chơi nhưng chớ buông lung,

Người ngoan phải biết cố công mới là.

Tất suất tại đường, 蟋 蟀 在 堂

Dịch xa kỳ hưu; 役 車 其 休

Kim ngã bất lạc, 今 我 不 樂

Nhật nguyệt kỳ đầu. 日 月 其 慆

Vô dĩ thái khang, 無 已 大 康

Chức tư kỳ ưu; 職 思 其 憂

Hiếu lạc vô hoang, 好 樂 無 荒

Lương sĩ hưu hưu. 良 士 休 休

(Phú dã) 賦 也

Con dế mà ở trong nhà,

Rảnh rang công việc xe ta cũng nhàn.

Giờ đây mà chẳng hân hoan,

Quang âm trôi chảy há van được nào.

Nhưng dù hoan lạc tiêu dao,

Nỗi niềm lo lắng chớ xao lãng lòng.

Vui chơi nhưng chớ buông lung,

Người ngoan tư cách thung dung mới là.

(Tất suất: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

SƠN HỮU XU (Đường phong 2)

山 有 樞 (唐 風 第 二)

Sơn hữu xu, 山 有 樞

Thấp hữu du. 隰 有 榆

Tử hữu y thường, 子 有 衣 裳

Phất dực phất lâu; 弗 曳 弗 婁

Tử hữu xa mã, 子 有 車 馬

Phất trì phất khâu. 弗 馳 弗 驅

Uyển kỳ tử hĩ, 宛 其 死 矣

Tha nhân thị du. 他 人 是 愉

(Hứng dã) 興 也

Núi cao êm ả bóng xu,

Dưới đồng thấp thoáng hàng du xanh rờn.

Ấy ai thừa thãi y thường,

Mà sao chẳng mặc chẳng mang mới kỳ.

Ngựa xe nào có thiếu chi,

Mà sao chẳng cưỡi chẳng đi nực cười.

Rồi ra cũng một kiếp người,

Của mình mang trả lại đời tiếc thay !

Sơn hữu khảo, 山 有 栲

Thấp hữu nựu. 隰 有 杻

Tử hữu đình nội, 子 有 廷 內

Phất sái phất tảo; 弗 洒 弗 掃

Tử hữu chung cổ, 子 有 鐘 鼓

Phất cổ phất khảo. 弗 鼓 弗 考

Uyển kỳ tử hĩ, 宛 其 死 矣

Tha nhân thị bảo. 他 人 是 保

(Hứng dã) 興 也

Đầu non bóng khảo xanh om,

Dưới đồng nữu mọc mấy chòm tốt tươi.

Ấy ai nhà cửa trong ngoài,

Mà sao chẳng quét chẳng chùi bấy nay.

Ấy ai chuông trống có đầy,

Trống kia chẳng đánh chuông này chẳng rung.

Phù sinh mấy chốc mà xong,

Của mình mang để người dùng tiếc thay !

Sơn hữu tất, 山 有 漆

Thấp hữu lật. 隰 有 栗

Tử hữu tửu thực, 子 有 酒 食

Há bất nhật cổ sắt; 何 不 日 鼓 瑟

Thả dĩ hỉ lạc, 且 以 喜 樂

Thả dĩ vĩnh nhật. 且 以 永 日

Uyển kỳ tử hĩ, 宛 其 死 矣

Tha nhân nhập thất. 他 人 入 室

(Hứng dã) 興 也

Đầu non sơn rủ xanh om,

Dưới đồng lật mọc mấy chòm tốt tươi.

Ấy ai rượu thịt hơn người,

Mà sao đàn định bỏ lơi chẳng màng.

Tội gì mà chẳng ca xang,

Kéo dài dài giấc mộng vàng trần duyên?

Để khi nhẹ gót cửu tuyền,

Nhà mình nó chuyển nó chuyên tay người.

(Sơn hữu xu: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

DƯƠNG CHI THỦY (Đường phong 3)

揚 之 水 (唐 風 第 三)

Dương chi thủy, 揚 之 水

Bạch thạch tác tác; 白 石 鑿 鑿

Tố y chu bác, 素 衣 朱 襮

Tòng tử vu ốc. 從 子 于 沃

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vân hà bất lạc? 云 何 不 樂

(Tỉ dã) 比 也

Sông kia cuồn cuộn chảy xuôi,

Đá kia trắng xóa lưng trời cao vươn.

Kìa người áo trắng bâu son,

Nẻo đường khuê ốc bon bon đăng trình.

Những từ gặp đấng anh minh,

Lòng riêng riêng đã phỉ tình khát khao.

Dương chi thủy, 揚 之 水

Bạch thạch hạo hạo; 白 石 皓 皓

Tố y chu tú, 素 衣 朱 繡

Tòng tử vu hộc. 從 子 于 鵠

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vân hà kỳ nhiêu? 云 何 其 憂

(Tỉ dã) 比 也

Sông kia cuồn cuộn chảy xuôi,

Đá kia trắng xóa ngất trời óng vươn.

Kìa người áo trắng bâu son,

Nẻo đường về hộc mỏi mòn theo ai.

Những từ gặp đấng anh tài,

Nỗi niềm u uất cũng phai mờ dần.

Dương chi thủy, 揚 之 水

Bạch thạch lân lân; 白 石 粼 粼

Ngã văn hữu mệnh, 我 聞 有 命

Bất cảm dĩ cáo nhân. 不 敢 以 告 人

(Tỉ dã) 比 也

Sông kia cuồn cuộn chảy xuôi,

Đá kia trắng xóa lưng trời giăng ngang.

Trộm nghe có mạng cao sang,

Lòng riêng riêng để, há bàn cùng ai.

(Dương chi thủy: 3 bài; 2 bài 6 câu; 1 bài 4 câu.)

TIÊU LIÊU (Đường phong 4)

椒 聊 (唐 風 第 四)

Tiêu liêu chi thực, 椒 聊 之 實

Phiền diễn doanh thăng; 蕃 衍 盈 升

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Thạc đại vô bằng. 碩 大 無 朋

Tiêu liêu thư, 椒 聊 且

Viễn điều thư. 遠 條 且

(Hứng nhi tỉ dã) 興 而 比 也

Hồ kia núc níu xum xuê,

Hái tiêu chốc lát đầy phè một thăng.

Chàng kia uy dũng ai bằng,

Như cây tiêu nọ, băng băng lớn đều.

Tiêu liêu chi thực, 椒 聊 之 實

Phiền diễn doanh khúc; 蕃 衍 盈 菊

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Thạc đại thả đốc. 碩 大 且 篤

Tiêu liêu thư, 椒 聊 且

Viễn điều thư. 遠 條 且

(Hứng nhi tỉ dã) 興 而 比 也

Hồ tiêu núc níu xum xuê,

Hái tiêu chốc lát đầy phè vốc tay.

Chàng kia uy dũng ai tày,

Như cây tiêu nọ, phây phây lớn đều.

(Tiêu liêu: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)
TRÙ MÂU (Đường phong 5)

綢 繆 (唐 風 第 五)

Trù mâu thúc tân, 綢 繆 束 薪

Tam tinh tại thân; 三 星 在 天

Kim tịch hà tịch, 今 夕 何 夕

Kiến thử lương nhân? 見 此 良 人

Tử hề tử hề ! 子 兮 子 兮

Như thử lương nhân hà? 如 此 良 人 何

(Hứng dã) 興 也

Củi kia bó đã thong dong,

Trên trời sao sáng ba ông lập lòe.

Đêm nay là cái đêm gì?

Gặp người, ta chuốc ta vì bấy nay.

May thay, may thật là may,

Phượng loan hòa hợp, nước mây trùng phùng.

Trù mâu thúc trâu, 綢 繆 束 芻

Tam tinh tại ngẫu; 三 星 在 隅

Kim tịch hà tịch, 今 夕 何 夕

Kiến thử giải cấu? 見 此 邂 逅

Tử hề tử hề ! 子 兮 子 兮

Như thử giải cấu hà? 如 此 邂 逅 何

(Hứng dã) 興 也

Cỏ kia bó đã thong dong,

Đông nam sao sáng ba ông lập lòe.

Đêm nay là cái đêm gì?

Nên duyên giải cấu chuốc vì bấy nay.

May thay, may thật là may,

Đôi ta giải cấu, nước mây tương phùng.

Trù mâu thúc sở, 綢 繆 束 楚

Tam tinh tại hộ; 三 星 在 戶

Kim tịch hà tịch, 今 夕 何 夕

Kiến thử xán giả ? 見 此 粲 者

Tử hề tử hề ! 子 兮 子 兮

Như thử xán giả hà? 如 此 粲 者 何

(Hứng dã) 興 也

Gai kia bó đã thong dong,

Trước thềm sao sáng ba ông lập lòe.

Đêm nay là cái đêm gì?

Gặp người xinh đẹp chuốc vì bấy nay.

May thay, may thật là may,

Phượng loan hòa hợp, nước mây trùng phùng.

(Trù mâu: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

ĐỆ ĐỖ (Đường phong 6)

杕 杜 (唐 風 第 六)

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Kỳ diệp tử tử; 其 葉 湑 湑

Độc hành củ củ, 獨 行 踽 踽

Khởi vô tha nhân? 豈 無 它 人

Bất như ngã đồng phụ. 不 如 我 同 父

Ta hành chi nhân, 嗟 行 之 人

Hồ bất tỉ yên? 胡 不 比 焉

Nhân vô huynh đệ, 人 無 兄 弟

Hồ bất thứ yên? 胡 不 佽 焉

(Hứng dã) 興 也

Cây lê mà mọc một mình,

Xum xuê tán lá trên cành tốt tươi.

Ta đây chiếc bóng ngậm ngùi,

Nắng mưa thui thủi đường đời một thân.

Mới hay cốt nhục tình thâm,

Nào ai là bạn đường trần cùng ta !

Ai ơi có thấu chăng là,

Ai ơi sao chẳng thương ta lạc loài.

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Kỳ diệp thanh thanh; 其 葉 菁 菁

Độc hành quỳnh quỳnh, 獨 行 瞏 瞏

Khởi vô tha nhân? 豈 無 它 人

Bất như ngã đồng tính. 不 如 我 同 姓

Ta hành chi nhân, 嗟 行 之 人

Hồ bất tỉ yên? 胡 不 比 焉

Nhân vô huynh đệ, 人 無 兄 弟

Hồ bất thứ yên? 胡 不 佽 焉

(Hứng dã) 興 也

Cây lê mà mọc một mình,

Xanh xanh tán lá trên cành tốt tươi.

Ta đây chiếc bóng u hoài,

Nắng mưa thui thủi đường đời một thân.

Mới hay họ mạc tình thâm,

Nào ai là bạn đường trần cùng ta !

Ai ơi có thấu chăng là,

Ai ơi sao chẳng thương ta lạc loài.

(Đệ đỗ: 2 bài, mỗi bài 9 câu.)

CAO CẦU (Đường phong 7)

羔 裘 (唐 風 第 七)

Cao cầu báo khư, 羔 裘 豹 袪

Tự ngã nhân cư cư. 自 我 人 居 居

Khởi vô tha nhân ? 豈 無 它 人

Duy tử chi cố. 維 子 之 故

(Phú dã) 賦 也

Áo lông cừu tay viền da báo,

Người trị dân tàn bạo phủ phàng.

Bỏ đi thì quá dễ dàng,

Xót vì tình nghĩa cũ càng từ xưa.

Cao cầu báo tự, 羔 裘 豹 褎

Tự ngã nhân cứu cứu. 自 我 人 究 究

Khởi vô tha nhân ? 豈 無 它 人

Duy tử chi hiếu. 維 子 之 好

(Phú dã) 賦 也

Áo lông cừu tay viền da báo,

Người trị dân tàn bạo dã man.

Bỏ đi thì quá dễ dàng,

Ngặt vì còn chút nể nang trong người.

(Cao cầu: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

BẢO VŨ (Đường phong 8)

鴇 羽 (唐 風 第 八)

Túc túc bảo vũ, 肅 肅 鴇 羽

Tập vu bao hứa. 集 于 苞 栩

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất năng nghệ tắc thử. 不 能 藝 稷 黍

Phụ mẫu hà hỗ? 父 母 何 怙

Du du thương thiên, 悠 悠 蒼 天

Hạt kỳ hữu sở. 曷 其 有 所

(Tỉ dã) 比 也

Bảo kia phành phạch lông bay,

Nó bay đến đậu lùm cây gỗ sồi.

Việc vua việc chúa bời bời,

Kê kia tắc nọ ai thời trồng cho.

Thung huyên đâu chỗ nương nhờ,

Xanh kia thăm thẳm bao giờ mới yên.

Túc túc bảo dực, 肅 肅 鴇 翼

Tập vu bao cức. 集 于 苞 棘

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất năng nghệ thử tắc. 不 能 藝 黍 稷

Phụ mẫu hà thực? 父 母 何 食

Du du thương thiên, 悠 悠 蒼 天

Hạt kỳ hữu cực. 曷 其 有 極

(Tỉ dã) 比 也

Bảo kia phành phạch cánh bay,

Nó bay đến đậu lùm cây gai rừng.

Việc vua việc chúa lung tung,

Kê kia tắc nọ ai trồng cho ta.

Lấy gì phụng dưỡng mẹ cha,

Xanh kia thăm thẳm nước nhà bao yên.

Túc túc bảo hàng, 肅 肅 鴇 行

Tập vu bao tang. 集 于 苞 桑

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất năng nghệ đạo lương. 不 能 藝 稻 梁

Phụ mẫu hà thường? 父 母 何 嘗

Du du thương thiên, 悠 悠 蒼 天

Hạt kỳ hữu thường. 曷 其 有 常

(Tỉ dã) 比 也

Bảo kia phành phạch đua bay,

Chúng bay, bay đến đỗ đầy lùm dâu.

Việc vua làm rối cả đầu,

Kê kia lúa nọ giờ đâu mà trồng?

Mẹ cha khuya sớm ai trông,

Xanh kia thăm thẳm, bao hòng bình yên.

(Bảo vũ: 3 bài, mỗi bài 7 câu.)

VÔ Y (Đường phong 9)

無 衣 (唐 風 第 九)

Khởi viết vô y? Thất hề! 豈 曰 無 衣 七 兮

Bất như tử chi y, 不 如 子 之 衣

An thả cát hề! 安 且 吉 兮

(Phú dã) 賦 也

Ta đâu thiếu áo thất chương,

Nhưng mà lĩnh áo trào đường vẫn hơn.

Khởi viết vô y? Lục hề! 豈 曰 無 衣 六 兮

Bất như tử chi y, 不 如 子 之 衣

An thả úc hề! 安 且 燠 兮

(Phú dã) 賦 也

Ta đâu thiếu áo lục chương,

Nhưng mà lĩnh áo trào đường vẫn hơn.

(Vô y: 2 bài, mỗi bài 3 câu.)

HỮU ĐỆ CHI ĐỖ (Đường phong 10)

有 杕 之 杜 (唐 風 第 十)

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Sinh vu đạo tả. 生 于 道 左

Bỉ quân tử hề! 彼 君 子 兮

Thệ khẳng thích ngã; 噬 肯 適 我

Trung tâm hiếu chi, 中 心 好 之

Hạt ẩm tự chi? 曷 飲 食 之

(Tỉ dã) 比 也

Cây lê nó mọc một mình,

Phía đông đường cái nó giành nó lên.

Chàng kia quân tử đáng khen,

Cùng ta chàng muốn nên quen ít nhiều.

Lòng riêng riêng những kính yêu,

Nhưng mà cơm nước sao chiều được đây!

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Sinh vu đạo chu. 生 于 道 周

Bỉ quân tử hề! 彼 君 子 兮

Thệ khẳng lai du; 噬 肯 來 遊

Trung tâm hiếu chi, 中 心 好 之

Hạt ẩm tự chi? 曷 飲 食 之

(Tỉ dã) 比 也

Cây lê nó mọc một mình,

Khúc quanh đường cái nó giành nó lên.

Chàng kia quân tử khá khen,

Cùng ta những muốn làm quen đi về.

Lòng riêng riêng những yêu vì,

Nhưng còn cơm nước khó mà ta kham !

(Hữu đệ chi đỗ: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

CÁT SINH (Đường phong 11)

葛 生 (唐 風 第 十)

Cát sinh mông sở, 葛 生 蒙 楚

Liêm man vu dã; 蘞 蔓 于 野

Dư mỹ vong thử, 予 美 亡 此

Thùy dữ độc xứ? 誰 與 獨 處

(Hứng dã) 興也

Sắn dây leo lấp cây gai,

Bìm bìm mặc sức lan ngoài đồng hoang.

Lang quân nay đã cách ngàn,

Để ta chiếc bóng thở than một mình.

Cát sinh mông cức, 葛 生 蒙 棘

Liêm man vu vực; 蘞 蔓 于 域

Dư mỹ vong thử, 予 美 亡 此

Thùy dữ độc tức? 誰 與 獨 息

(Hứng dã) 興也

Sắn dây leo lấp cây gai,

Bìm bìm mặc sức lan ngoài mồ hoang.

Lang quân nay đã cách ngàn,

Để ta chiếc bóng thở than canh dài.

Giác chẩm xán hề! 角 枕 粲 兮

Cẩm khâm lạn hề! 錦 衾 爛 兮

Dư mỹ vong thử, 予 美 亡 此

Thùy dữ độc đán? 誰 與 獨 旦

(Phú dã) 賦 也

Gối sừng đẹp đẽ còn kia,

Còn kia chăn gấm như khoe sắc mầu.

Chàng nay thiên cổ còn đâu,

Để ta trằn trọc đêm thâu một mình.

Hạ chi nhật, 夏 之 日

Đông chi dạ, 冬 之 夜

Bách tuế chi hậu, 百 歲 之 後

Quy vu kỳ cư. 歸 于 其 居

(Phú dã) 賦 也

Ngày dài tựa những ngày hè,

Đêm dài như những đêm về mùa đông.

Trăm năm son sắt một lòng,

Tuyền đài xin nguyện trùng phùng cùng ai.

Đông chi dạ, 冬 之 夜

Hạ chi nhật, 夏 之 日

Bách tuế chi hậu, 百 歲 之 後

Quy vu kỳ thất. 歸 于 其 室

(Phú dã) 賦 也

Đêm dài tựa những đêm đông,

Ngày dài tựa những ngày trong mùa hè.

Trăm năm khép cửa phòng the,

Tuyền đài xin nguyện trở về cùng ai.

(Cát sinh: 5 bài, mỗi bài 4 câu.)

THÁI LINH (Đường phong 12)

采 苓 (唐 風 第 十 二)

Thái linh thái linh! 采 苓 采 苓

Thủ Dương chi điên. 首 陽 之 巔

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Cẩu diệc vô tin; 苟 亦 無 信

Xả chiên xả chiên! 舍 旃 舍 旃

Cẩu diệc vô nhiên. 苟 亦 無 然

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Hồ đắc yên? 胡 得 焉

(Tỉ dã) 比 也

Hái rau linh, hái rau linh,

Thủ Dương đỉnh ấy, lên nhanh hái về.

Miệng người chớ có vội nghe,

Ngoài tai gác bỏ, chán chê không màng.

Những người nói nhảm nói nhàm,

Làm sao còn có đường làm cho tin?

Thái khổ thái khổ! 采 苦 采 苦

Thủ Dương chi hạ. 首 陽 之 下

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Cẩu diệc vô dữ; 苟 亦 無 與

Xả chiên xả chiên! 舍 旃 舍 旃

Cẩu diệc vô nhiên. 苟 亦 無 然

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Hồ đắc yên? 胡 得 焉

(Tỉ dã) 比 也

Muốn ăn rau khổ cho ngon,

Hãy ra chân núi Thủ Dương hái về.

Miệng người chớ có vội nghe,

Ngoài tai gác bỏ, chán chê không màng.

Những người nói nhảm nói nhàm,

Làm sao còn có đường làm cho tin?

Thái phong Thái phong! 采 葑 采 葑

Thủ Dương chi đông. 首 陽 之 東

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Cẩu diệc vô tòng; 苟 亦 無 從

Xả chiên xả chiên! 舍 旃 舍 旃

Cẩu diệc vô nhiên. 苟 亦 無 然

Nhân chi vi ngôn, 人 之 為 言

Hồ đắc yên? 胡 得 焉

(Tỉ dã) 比 也

Hái rau phong, hái rau phong,

Thủ Dương hãy tới sườn đông hái về.

Miệng người chớ có vội nghe,

Ngoài tai gác bỏ, chán chê không màng.

Những người nói nhảm nói nhàm,

Làm sao còn có đường làm cho tin?

(Thái linh: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

Đường quốc có 12 thiên, 33 bài, 203 câu.

唐 國 十二 篇.三 十 三 章.二 百 三 句.

KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI

CHƯƠNG 5

5. TÀO NHẤT CHI THẬP TỨ 曹 一 之 十 四

PHÙ DU 蜉 蝣 (Tào phong 曹 風 1)

HẦU NHÂN 候 人 (Tào phong 曹 風 2)

THI CƯU 鳲 鳩 (Tào phong 曹 風 3)

HẠ TUYỀN 下 泉 (Tào phong 曹 風 4)

PHÙ DU (Tào phong 1)

蜉 蝣 (曹 風 第 一)

Phù du chi vũ, 蜉 蝣 之 羽

Y thường sở sở; 衣 裳 楚 楚

Tâm chi ưu hĩ! 心 之 憂 矣

Ư ngã quy xứ. 於 我 歸 處

(Tỉ dã) 比 也

Mong manh đôi cánh phù du,

Khác gì xiêm áo phất phơ rỡ ràng.

Lòng ta sầu muộn chứa chan,

Nào ai người biết tìm đàng về ta.

Phù du chi dực, 蜉 蝣 之 翼

Thái thái y phục; 采 采 衣 服

Tâm chi ưu hĩ! 心 之 憂 矣

Ư ngã quy tức. 於 我 歸 息

(Tỉ dã) 比 也

Mong manh đôi cánh phù du,

Mơ màng xiêm áo lững lờ gió mây.

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Nào ai tới nhỉ nơi này cùng ta.

Phù du quật duyệt, 蜉 蝣 掘 閱

Ma y như tuyết; 麻 衣 如 雪

Tâm chi ưu hĩ! 心 之 憂 矣

Ư ngã quy thuế. 於 我 歸 說

(Tỉ dã) 比 也

Cửa hang lấp ló phù du,

Mong manh cánh lụa như là tuyết in.

Lòng sầu chất ngất muôn nghìn,

Nào ai người biết đàng tìm về ta.

(Phù du: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

HẦU NHÂN (Tào phong 2)

候 人 (曹 風 第 二)

Bỉ hầu nhân hề! 彼 候 人 兮

Hà qua dữ đoại; 何 戈 與 祋

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Tam bách xích phất. 三 百 赤 芾

(Hứng dã) 興也

Quan hầu hà có nghênh ngang,

Qua qua kích kích đàng hoàng đôi phen.

Sao phường tục tử ngu hèn,

Lại mang xích phất đua chen đứng chầu.

Duy đề tại lương, 維 鵜 在 梁

Bất nhu kỳ dực; 不 濡 其 翼

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Bất xứng kỳ phục. 不 稱 其 服

(Hứng dã) 興也

Bồ nông mà đậu đê cao,

Nó khô đôi cánh, cánh nào cũng khô.

Phường kia tục tử tầm phô,

Tủi cho mũ mãng, nhuốc cho hán hài.

Duy đề tại lương, 維 鵜 在 梁

Bất nhu kỳ túc; 不 濡 其 咮

Bỉ kỳ chi tử, 彼 其 之 子

Bất toại kỳ cấu. 不 遂 其 媾

(Hứng dã) 興 也

Bồ nông mà đậu bờ ngòi,

Nó khô cái mỏ, rõ nòi phất phơ.

Phường kia tục tử lờ phờ,

Tủi cho chức tước, nhuốc cho phẩm hàm.

Uế hề úy hề! 薈 兮 蔚 兮

Nam sơn triều tê; 南 山 朝 隮

Uyển hề luyến hề, 婉 兮 孌 兮

Quý nữ kỳ ky. 季 女 斯 饑

(Hứng dã) 興 也

Cỏ cây muôn khóm miên man,

Núi Nam phảng phất sau làn sương thưa.

Nàng kia duyên dáng như thơ,

Tiếc thay không được ấm no những ngày.

(Hầu nhân: 4 bài, mỗi bài 4 câu.)
THI CƯU (Tào phong 3)

鳲 鳩 (曹 風 第 三)

Thi cưu tại tang, 鳲 鳩 在 桑

Kỳ tử thất hề; 其 子 七 兮

Thục nhân quân tử, 淑 人 君 子

Kỳ nghi nhất hề! 其 儀 一 兮

Kỳ nghi nhất hề, 其 儀 一 兮

Tâm như kết hề. 心 如 結 兮

(Hứng dã) 興也

Chim cú nó đậu cành dâu,

Thêm đàn cu nhỏ đếm đầu bảy con.

Thục nhân quân tử sắt son,

Trước sau như một há mòn mỏi vay!

Trước sau một dạ chẳng thay,

Như gắn như bó, lòng này thủy chung.

Thi cưu tại tang, 鳲 鳩 在 桑

Kỳ tử tại mai; 其 子 在 梅

Thục nhân quân tử, 淑 人 君 子

Kỳ đái y ty! 其 帶 伊 絲

Kỳ đái y ty, 其 帶 伊 絲

Kỳ biền y kỳ. 其 弁 伊 騏

(Hứng dã) 興 也

Chim cú nó đỗ cành dâu,

Thêm đàn cu nhỏ giỡn đầu cành mai.

Thục nhân quân tử khoan thai,

Đai tơ quan trọng mang ngoài thiều y.

Đai lưng óng ả tầm ty,

Mũ biền thôi cũng chuốc bì hươu sao.

Thi cưu tại tang, 鳲 鳩 在 桑

Kỳ tử tại cức; 其 子 在 棘

Thục nhân quân tử, 淑 人 君 子

Kỳ nghi bất thắc! 其 儀 不 忒

Kỳ nghi bất thắc, 其 儀 不 忒

Chính thị tứ quốc. 正 是 四 國

(Hứng dã) 興 也

Chim cú nó đỗ cành dâu,

Thêm đàn cu nhỏ đậu đầu cành gai.

Thục nhân quân tử khoan thai,

Dáng đi tao nhã vẻ người phong lưu.

Phong lưu tao nhã trăm chiều,

Cho nên bốn cõi sẽ theo lệnh người.

Thi cưu tại tang, 鳲 鳩 在 桑

Kỳ tử tại trăn; 其 子 在 榛

Thục nhân quân tử, 淑 人 君 子

Chính thị quốc nhân! 正 是 國 人

Chính thị quốc nhân, 正 是 國 人

Hồ bất vạn niên. 胡 不 萬 年

(Hứng dã) 興 也

Chim cú nó đỗ cành dâu,

Thêm đàn cu nhỏ đậu đầu cành trăn.

Đường hoàng quân tử chính nhân,

Sẽ cầm vận nước trị dân lâu dài.

An dân trị quốc ra tài,

Ước gì trường cửu muôn đời mới nên.

(Thi cưu: 4 bài, mỗi bài 6 câu.)

HẠ TUYỀN (Tào phong 4)

下 泉 (曹 風 第 四)

Liệt bỉ hạ tuyền, 冽 彼 下 泉

Tẩm bỉ bao lang; 浸 彼 苞 稂

Khải ngã ngụ thán, 愾 我 寤 歎

Niệm bỉ Chu cương. 念 彼 周 京

(Tỉ nhi hứng dã) 比 而 興 也

Suối tuôn lạnh ngắt giòng xanh,

Dập vùi làm tội làm tình cỏ lang.

Ta đây thức ngủ thở than,

Đêm ngày luống những mơ màng triều Châu.

Liệt bỉ hạ tuyền, 冽 彼 下 泉

Tẩm bỉ bao tiêu; 浸 彼 苞 蕭

Khải ngã ngụ thán, 愾 我 寤 歎

Niệm bỉ Kinh Châu. 念 彼 京 周

(Tỉ nhi hứng dã) 比 而 興 也

Suối tuôn lạnh ngắt giòng sâu,

Cho đắm, cho đuối, cho rầu cơ tiêu.

Ta đây đau xót trăm chiều,

Thả hồn mơ tới Châu triều xa xưa.

Liệt bỉ hạ tuyền, 冽 彼 下 泉

Tẩm bỉ bao thi; 浸 彼 苞 蓍

Khải ngã ngụ thán, 愾 我 寤 歎

Niệm bỉ kinh sư. 念 彼 京 師

(Tỉ nhi hứng dã) 比 而 興 也

Suối tuôn lạnh ngắt giòng mơ,

Làm cho đắm đuối vật vờ cơ chi.

Đêm ngày ra những não nề,

Lòng buồn hồn mộng đi về triều Châu.

Bồng bồng thử miêu, 芃 芃 黍 苗

Âm vũ cao chi; 陰 雨 膏 之

Tứ quốc hữu vương, 四 國 有 王

Tuân Bá lao chi. 郇 伯 勞 之

(Tỉ nhi hứng dã) 比 而 興 也

Kê non tươi tốt xum xuê,

Mưa phùn nhuần đượm thêm bề phởn phơ.

Chư hầu bốn cõi lặng tờ,

Còn ông Tuân Bá chuyên lo tác thành.

(Hạ tuyền: 4 bài, mỗi bài 4 câu.)

(Tào quốc có 4 thiên, 15 bài, 68 câu.)

曹 國 四 篇. 十 五 章. 六 十 八 句.

CHƯƠNG 6

6. BÂN NHẤT CHI THẬP NGŨ 豳 一 之 十 五

THẤT NGUYỆT 七 月 (Bân phong 豳 風 1)

SUY HÀO 鴟 鴞 (Bân phong 豳 風 2)

ĐÔNG SƠN 東 山 (Bân phong 豳 風 3)

PHÁ PHỦ 破 斧 (Bân phong 豳 風 4)

PHẠT KHA 伐 柯 (Bân phong 豳 風 5)

CỬU VỰC 九 罭 (Bân phong 豳 風 6)

LANG BẠT 狼 跋 (Bân phong 豳 風 7)

THẤT NGUYỆT (Bân phong 1)

七 月 (豳 風 第 一)

Thất nguyệt lưu hỏa, 七 月 流 火

Cửu nguyệt thụ ý; 九 月 授 衣

Nhất chi nhật tất phát, 一 之 日 觱 發

Nhị chi nhật lật lệ. 二 之 日 栗 烈

Vô y vô hạt, 無 衣 無 褐

Hà dĩ tốt tuế ? 何 以 卒 歲

Tam chi nhật vu di, 三 之 日 于 耜

Tứ chi nhật cử chỉ; 四 之 日 舉 趾

Đồng ngã phụ tử, 同 我 婦 子

Diệp bỉ nam mẫu, 饁 彼 南 畝

Điền tuấn chí hỉ. 田 畯 至 喜

(Phú dã) 賦 也

Sao tâm tháng bảy xế đoài,

Áo quần tháng chín liệu bày theo phân.

Tháng giêng gió lạnh căm căm,

Tháng hai rét mướt thêm phần giá băng.

Hàn y nếu chẳng sẵn sàng,

Làm sao sống được chu toàn suốt năm.

Tháng ba cày cuốc sửa sang,

Tháng tư ta sẽ tính toan ra đồng.

Ta cùng thê tử tùy tòng,

Cơm cơm nước nước kẻ gồng người mang.

Mang cơm ra phía đồng nam,

Điền quan tới thấy nở nang mặt mày.

Thất nguyệt lưu hỏa, 七 月 流 火

Cửu nguyệt thụ ý; 九 月 授 衣

Xuân nhật tải dương, 春 日 載 陽

Hữu minh thương cảng, 有 鳴 倉 庚

Nữ chấp ý khuông, 女 執 懿 筐

Tuân bỉ vi hạng, 遵 彼 微 行

Viên cầu nhu tang, 爰 求 柔 桑

Xuân nhật trì trì, 春 日 遲 遲

Thái phiền kỳ kỳ; 采 蘩 祁 祁

Nữ tâm thương bi, 女 心 傷 悲

Đãi cập công tử đồng quy. 殆 及 公 子 同 歸

(Phú dã) 賦 也

Sao tâm tháng bảy xế đoài,

Áo quần tháng chín liệu bày quân phân.

Ngày xuân trời ấm áp dần,

Con oanh kia đã mấy lần líu lo.

Mấy cô đẹp rõ nhởn nhơ,

Tung tăng nẻo hẹp đi mò dâu non.

Ngày xuân dùng dắng gót son,

Bao cô lũ lượt đi bòn bạch hao.

Một cô ủ dột má đào,

Vì duyên công tử, sắp vào cung môn.

Thất nguyệt lưu hỏa, 七 月 流 火

Bát nguyệt hoàn vỹ; 八 月 萑 葦

Tam nguyệt thiêu tang, 三 月 條 桑

Thủ bỉ phủ thương, 取 彼 斧 斨

Dĩ phạt viễn dương, 以 伐 遠 揚

Y bỉ nữ tang, 猗 彼 女 桑

Thất nguyệt minh quyết, 七 月 鳴 鵙

Bát nguyệt tài tích 八 月 載 績

Tải huyền tải hoàng, 載 玄 載 黃

Ngã chu khổng dương, 我 朱 孔 揚

Vi công tử thường. 為 公 子 裳

(Phú dã) 賦 也

Sao tâm tháng bảy xế đoài,

Sậy lau tháng tám là thời trỗi sinh.

Tháng tằm, dâu phải tuốt cành,

Búa rìu ta phạt những ngành xa vươn.

Lá dâu hãy tuốt sạch trơn,

Quyết kia tháng bảy véo von trên cành.

Tháng tám lo việc cửi canh,

Dệt rồi lại nhuộm tơ thành vàng đen.

Tơ ta son rực màu lên,

Để cho công tử ta đem may thường.

Tứ nguyệt tú yêu, 四 月 莠 葽

Ngũ nguyệt minh điều; 五 月 鳴 蜩

Bát nguyệt kỳ hoạch, 八 月 其 穫

Thập nguyệt vẫn thác, 十 月 隕 蘀

Nhất chi nhật vu lạc, 一 之 日 于 貉

Thủ bỉ hồ ly, 取 彼 狐 狸

Vi công tử cừu, 為 公 子 裘

Nhị chi nhật kỳ đồng, 二 之 日 其 同

Tài toản vũ công, 載 纘 武 功

Ngôn tư kỳ tông, 言 私 其 豵

Hiến kiên vu công. 獻 豜 于 公

(Phú dã) 賦 也

Tú yêu cỏ mọc tháng tư,

Tháng năm ra rả ve dư tiếng sầu.

Tháng tám mùa gặt bắt đầu,

Tháng mười lá rụng theo nhau tơi bời.

Tháng giêng săn bắt cầu chơi,

Bắt chồn, bắt cáo, bắt thôi cho nhiều.

Làm cho công tử áo cừu

Săn to săn lớn lựa chiều tháng hai.

Rồi ra luyện võ cho tài,

Heo non giữ lấy, heo nhoai dâng người.

Ngũ nguyệt tư chung động cổ, 五 月 斯 螽 動 股

Lục nguyệt sa kê chấn vũ; 六 月 莎 雞 振 羽

Thất nguyệt tại dã, 七 月 在 野

Bát nguyệt tại vũ, 八 月 在 宇

Cửu nguyệt tại hộ, 九 月 在 戶

Thập nguyệt tất suất, 十 月 蟋 蟀

Nhập ngã sàng hạ, 入 我 床 下

Khung trất huân thử, 穹 窒 薰 鼠

Tắc hướng cẩn hộ, 塞 向 墐 戶

Ta ngã phụ tử, 嗟 我 婦 子

Viết vi cải tuế, 曰 為 改 歲

Nhập thử thất xứ. 入 此 室 處

(Phú dã) 賦 也

Tháng năm châu chấu động chân,

Tháng sáu con dế rần rần cánh bay.

Tháng bảy nó ra ruộng cày,

Tháng tám nó quẩn ở ngay hiên nhà.

Tháng chín nó đậu cửa ra,

Tháng mười nó rét nó xa gầm gường.

Kẽ thời lấp, chuột thời hun,

Song hồ bít lại, liếp sờn bồi thêm.

Vợ con ơi, lại mà xem,

Năm cùng nên phải lo liền sửa sang.

Vào đây ta sống bình an…

Lục nguyệt thực uất cập úc, 六 月 食 鬱 及 薁

Thất nguyệt phanh quỳ cập thúc, 七 月 亨 葵 及 菽

Bát nguyệt bác tảo, 八 月 剝 棗

Thập nguyệt hoạch đạo, 十 月 穫 稻

Vi thử xuân tửu, 為 此 春 酒

Dĩ giới mi thọ, 以 介 眉 壽

Thất nguyệt tự cô, 七 月 食 瓜

Bát nguyệt đoạn hồ, 八 月 斷 壺

Cửu nguyệt thúc thư, 九 月 叔 苴

Thái đồ tân vu, 采 荼 薪 樗

Tự ngã nông phu. 食 我 農 夫

(Phú dã) 賦 也

Tháng sáu ăn mận cùng nho,

Tháng bảy luộc đậu vả lo luộc quỳ.

Táo kia tháng tám trẩy đi,

Tháng mười gặt lúa đem về ta ăn.

Rồi ta cất rượu thưởng xuân,

Uống cho mày mặt thêm phần phởn phơ.

Tháng bảy ta sẽ ăn dưa,

Tháng tám sau trước, nhớ lo cắt bầu.

Hạt gai tháng chín ta thu,

Rau đồ hái nấu, củi vu đóm lò.

Nhà nông ăn uống khỏi lo.

Cửu nguyệt trúc trường phố, 九 月 筑 場 圃

Thập nguyệt nạp hòa giá; 十 月 納 禾 稼

Thử tắc trùng lục, 黍 稷 重 穋

Hòa ma thúc mạch. 禾 麻 菽 麥

Ta ngã nông phu, 嗟 我 農 夫

Ngã giá ký đồng, 我 稼 既 同

Thượng nhập chấp cung công; 上 入 執 宮 功

Trú nhĩ vu mao, 晝 爾 于 茅

Tiêu nhĩ sách đáo, 宵 爾 索 綯

Cức kỳ thừa ốc, 亟 其 乘 屋

Kỳ thủy bá bách cốc. 其 始 播 百 穀

(Phú dã) 賦 也

Tháng chín vườn nên thành sân,

Tháng mười lúa má ta khuân về nhà.

Thêm kê sớm muộn non già,

Lúa mì đậu hạt với là đay gai.

Nông phu này các bạn ơi,

Nay đà gặt hái xong xuôi mùa màng.

Ta về ta ở trên làng,

Ban ngày ta cắt ta làm cỏ tranh.

Đến đêm ta đánh thành tranh,

Ta trèo lên mái lợp nhanh cho rồi.

Loay hoay nông vụ đến nơi,

Cả trăm thứ giống nó đòi ta gieo.

Nhị chi nhật tạc băng xung xung, 二 之 日 鑿 冰 沖 沖

Tam chi nhật nạp vu lăng âm; 三 之 日 納 于 凌 陰

Tứ chi nhật kỳ tao, 四 之 日 其 蚤

Hiến cao tế cửu, 獻 羔 祭 韭

Cửu nguyệt túc sương, 九 月 肅 霜

Thập nguyệt định trường; 十 月 滌 場

Bằng tửu tư hưởng, 朋 酒 斯 饗

Viết sát cao dương, 曰 殺 羔 羊

Tê bỉ công đường, 躋 彼 公 堂

Xưng bỉ hủy quang, 稱 彼 兕 觥

Vạn thọ vô cương. 萬 壽 無 彊

(Phú dã) 賦 也

Tháng hai nước đá ta phăng,

Đem về băng thất trong tuần tháng ba.

Tháng tư ban sớm mở ra,

Sau khi đã lễ cừu và hẹ thơm.

Tháng chín vừa lạnh vừa sương,

Tháng mười quét dọn sạch trơn sân nhà.

Rượu ngon ta lễ hai vò,

Chiên cừu ta dọn cỗ cho chững chàng.

Rồi ta đi tới cung đường,

Sừng tê nâng chén, thọ khương chúc người.

(Thất nguyệt: 8 bài, mỗi bài 11 câu.)

SUY HÀO (Bân phong 2)

鴟 鴞 (豳 風 第 二)

Suy hào, suy hào! 鴟 鴞 鴟 鴞

Ký thủ ngã tử, 既 取 我 子

Vô hủy ngã thất; 無 毀 我 室

Ân tư cần tư, 恩 斯 勤 斯

Dục tử chi mân tư. 鬻 子 之 閔 斯

(Tỉ dã) 比 也

Hỡi con cú vọ kia ơi,

Thôi thôi mày đã hại đời con ta.

Tổ ta xin hãy buông tha,

Thương ta khó nhọc để mà nuôi con.

Đãi thiên chi vị âm vũ, 迨 天 之 未 陰 雨

Triệt bỉ tang thổ, 徹 彼 桑 土

Trù mâu dũ hộ; 綢 繆 牖 戶

Kim nữ hạ dân, 今 女 下 民

Dục tử chi mân tư. 鬻 子 之 閔 斯

(Tỉ dã) 比 也

Trước khi trời nổi cơn mưa,

Rễ dâu ta bứng ta tha nó về.

Đem về cặm cửa cặm khe,

Chúng mi ở dưới còn chê nỗi gì.

Dư thật cát cư, 予 手 拮 据

Dư sở bạt đồ, 予 所 捋 荼

Dư sở súc tô; 予 所 蓄 租

Dư khẩu tốt đồ, 予 口 卒 瘏

Viết dư vị hữu thất cồ. 曰 予 未 有 室 家

(Tỉ dã) 比 也

Ta đây chân quắp mỏ tha,

Tha rau tha cỏ biết là bao nhiêu.

Mỏ đau hàm sái đã nhiều,

Cửa nhà vẫn hãy trăm chiều ngổn ngang.

Dư vũ tiều tiều, 予 羽 譙 譙

Dư vĩ tiếu tiếu, 予 尾 翛 翛

Dư thất kiều kiều; 予 室 翹 翹

Phong vũ sở phiêu diêu, 風 雨 所 飄 搖

Dư duy âm hiêu hiêu. 予 維 音 曉 曉

(Tỉ dã) 比 也

Ta nay cánh xác đuôi xơ,

Nhà ta biết mấy nguy cơ hiểm nghèo.

Mưa bay gió giật đến điều,

Xót xa ta bật tiếng kêu não nùng.

(Suy hào: 4 bài, mỗi bài 5 câu.)

ĐÔNG SƠN (Bân phong 3)

東 山 (豳 風 第 三)

Ngã tồ đông sơn, 我 徂 東 山

Thao thao bất quy; 慆 慆 不 歸

Ngã lai tự đông, 我 來 自 東

Linh vũ kỳ mông. 零 雨 其 濛

Ngã đông viết quy, 我 東 曰 歸

Ngã tâm tây bi! 我 心 西 悲

Chế bỉ thường ý, 制 彼 裳 衣

Vật sĩ hàng mi. 勿 士 行 枚

Quyên quyên giả thục, 蜎 蜎 者 蠋

Chửng tại tang dã; 烝 在 桑 野

Đôn bỉ độc túc, 敦 彼 獨 宿

Diệc tại xa hạ. 亦 在 車 下

(Phú dã) 賦 也

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Ngày qua tháng lại triền miên chẳng về.

Ngày ta nhẹ bước hồi quy,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Ngàn đông từ dáng quân lui,

Sầu dâng lòng thét, non đoài nhớ quê.

Y thường đã sẵn mọi bề,

Rồi đây hết chuyện đi về ngậm tăm.

Sâu dâu lổn nhổn nó nằm

Ngàn dâu bát ngát lăng xăng nó bò.

Canh khuya chiếc bóng co ro,

Canh khuya hồn mộng thẫn thờ bên xe.

Ngã tồ đông sơn, 我 徂 東 山

Thao thao bất quy; 慆 慆 不 歸

Ngã lai tự đông, 我 來 自 東

Linh vũ kỳ mông. 零 雨 其 濛

Quả lõa chi thực, 果 臝 之 實

Diệc thí vu vũ; 亦 施 于 宇

Y uy tại thất, 伊 威 在 室

Tiêu tiêu tại hộ. 蠨 蛸 在 戶

Đình thoản lộc trường, 町 畽 鹿 場

Dục diệu tiêu hàng. 熠 燿 宵 行

Diệc khả úy dã, 亦 可 畏 也

Y khả hoài dã. 伊 可 懷 也

(Phú dã) 賦 也

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Ngày qua tháng lại triền miên chẳng về.

Ngày ta nhẹ bước hồi quy,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Bầu kia chắc đã sinh sôi,

Quả thòng, lủng lẳng lôi thôi đầu nhà.

Bọ mát chắc khắp buồng ta,

Nhện kia trước cửa chắc đà giăng tơ.

Vườn ta hươu chắc nhởn nhơ,

Lập lòe đom đóm nó đùa nó bay.

Nghĩ càng sợ hãi lắm thay,

Nỗi lòng canh cánh, niềm tây thẫn thờ.

Ngã tồ đông sơn, 我 徂 東 山

Thao thao bất quy; 慆 慆 不 歸

Ngã lai tự đông, 我 來 自 東

Linh vũ kỳ mông. 零 雨 其 濛

Hoan minh vu điệt, 鸛 鳴 于 垤

Phụ thán vu thất! 婦 歎 于 室

Sái tảo khung trất, 洒 掃 穹 窒

Ngã chinh duật chí, 我 征 聿 至

Hữu đôn qua khổ, 有 敦 瓜 苦

Chưng tại lật tân; 烝 在 栗 薪

Tự ngã bất kiến, 自 我 不 見

Vu kim tam niên. 于 今 三 年

(Phú dã) 賦 也

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Ngày qua tháng lại triền miên chẳng về.

Những từ trở ngọn chinh kỳ

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Cò trên tổ kiến kêu chơi,

Phòng khuê chinh phụ bồi hồi thở than.

Cửa nhà kìa đã sửa sang,

Ta nay phút đã lai hoàn nhà ta.

Khổ qua cành lật la đà,

Kể từ xa cách tính vừa ba năm.

Ngã tồ đông sơn, 我 徂 東 山

Thao thao bất quy; 慆 慆 不 歸

Ngã lai tự đông, 我 來 自 東

Linh vũ kỳ mông. 零 雨 其 濛

Thương canh vu phi, 倉 庚 于 飛

Dục diệu kỳ vũ, 熠 燿 其 羽

Chi tử vu quy, 之 子 于 歸

Hoàng bác kỳ mã. 皇 駁 其 馬

Thân kết kỳ ly, 親 結 其 縭

Cửu thập kỳ nghi; 九 十 其 儀

Kỳ tân khổng gia, 其 新 孔 嘉

Kỳ cựu như chi hà? 其 舊 如 之 何

(Phú dã) 賦 也

Ta từ nhẹ bước chinh yên,

Năm qua tháng lại triền miên chẳng về.

Những từ trở bóng chinh kỳ,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Con oanh bay lượn rong chơi,

Lấp loa lấp loáng như phơi cánh vàng.

Vu quy óng ả mấy nàng,

Ngựa vàng ngựa đỏ đàng hoàng đón đưa.

Ân cần mẹ thắt khăn tua,

Chín mười thôi thế đã vừa tiện nghi.

Tình nay nếu đáng chuốc vì,

Duyên xưa thắm thiết nói chi cho cùng.

(Đông sơn: 4 bài, mỗi bài 12 câu.)
PHÁ PHỦ (Bân phong 4)

破 斧 (豳 風 第 四)

Ký phá ngã phủ, 既 破 我 斧

Hựu khuyết ngã sang; 又 缺 我 斨

Chu Công đông chinh, 周 公 東 征

Tứ quốc thị hoàng. 四 國 是 皇

Ai ngã nhân tư, 哀 我 人 斯

Diệc khổng chi tường. 亦 孔 之 將

(Phú dã) 賦 也

Phủ thương ta đã mẻ mòn,

Chu Công đông phạt nước non an bình.

Lòng ngài thương xót sinh linh,

Thật là cao cả mông mênh khôn lường.

Ký phá ngã phủ, 既 破 我 斧

Hựu khuyết ngã ca; 又 缺 我 錡

Chu Công đông chinh, 周 公 東 征

Tứ quốc thị nga. 四 國 是吪

Ai ngã nhân tư, 哀 我 人 斯

Diệc khổng chi gia. 亦 孔 之 嘉

(Phú dã) 賦 也

Phủ kỳ ta đã mẻ mòn,

Chu Công đông phạt nước non trị bình.

Lòng ngài thương xót sinh linh,

Làm cho cảm phục mông mênh khôn lường.

Ký phá ngã phủ, 既 破 我 斧

Hựu khuy ngã cầu; 又 缺 我 銶

Chu Công đông chinh, 周 公 東 征

Tứ quốc thị tù. 四 國 是 遒

Ai ngã nhân tư, 哀 我 人 斯

Diệc khổng chi hưu. 亦 孔 之 休

(Phú dã) 賦 也

Phủ cầu ta đã mẻ mòn,

Chu Công đông phạt nước non hòa bình.

Lòng ngài thương xót sinh linh,

Thật là cao đẹp mông mênh khôn lường.

(Phá phủ: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

PHẠT KHA (Bân phong 5)

伐 柯 (豳 風 第 五)

Phạt kha như hà? 伐 柯 如 何

Phỉ phủ bất khắc; 匪 斧 不 克

Thủ thê như hà? 取 妻 如 何

Phỉ mưu bất đắc. 匪 媒 不 得

(Tỉ dã) 比 也

Cán rìu phải đẽo làm sao?

Không rìu đẽo cán, cán nào đẽo xong.

Lấy vợ có cách lấy không?

Nếu không mối lái, chớ hòng vợ theo.

Phạt kha phạt kha! 伐 柯 伐 柯

Kỳ tắc bất viễn. 其 則 不 遠

Ngã cấu chi tử, 我 覯 之 子

Biên đậu hữu tiễn. 籩 豆 有 踐

(Tỉ dã) 比 也

Cán rìu ta đẽo cán rìu,

Muốn tìm cán mẫu chi điều xa xăm..

Ta mà gặp gỡ Chu Lang,

Cái biên, cái đậu hàng hàng bày ngay..

(Phạt kha: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

CỬU VỰC (Bân phong 6)

九 罭 (豳 風 第 六)

Cửu vực chi ngư, tôn phường; 九 罭 之 魚 鱒 魴

Ngã cấu chi tử, 我 覯 之 子

Cổn y tú thường. 袞 衣 繡 裳

(Hứng dã) 興 也

Lưới chín túi những mè cùng tổn,

Ta gặp ngài áo cổn quần thêu.

Lưới quăng đầy nhóc tổn mè,

Quần thêu áo cổn chỉnh tề kìa ai.

Hồng phi tuân chử, 鴻 飛 遵 渚

Công quy vô sở, 公 歸 無 所

Ư nhữ tín xứ. 於 女 信 處

(Hứng dã) 興 也

Cánh hồng vút thẳng bãi ngoài,

Ngài về ắt phải liệu bài dừng chân.

Nơi ta dừng gót phong trần,

Nơi ta ngàu đã mấy lần nghỉ đêm.

Hồng phi tuân lục, 鴻 飛 遵 陸

Công quy bất phục, 公 歸 不 復

Ư nhữ tín túc. 於 女 信 宿

(Hứng dã) 興 也

Cánh hồng vút nẻo đất liền,

Ngài về về mãi, hết phen tái hồi.

Nơi ta ngài đã nghỉ ngơi,

Nơi ta ngài nghỉ đã đôi ba lần.

Thị dĩ hữu cổn y hề! 是 以 有 袞 衣 兮

Vô dĩ ngã công quy hề! 無 以 我 公 歸 兮

Vô sử ngã tâm bi hề! 無 使 我 心 悲 兮

(Hứng dã) 興 也

Cổn y ta thấy đã gần,

Xin ngài thôi chớ dừng chân ra về.

Ngài về ta sẽ thảm thê,

Ngài về ta sẽ trăm bề sầu thương.

(Cửu vực: 4 bài, mỗi bài 3 câu.)

LANG BẠT (Bân phong 7)

狼 跋 (豳 風 第 七)

Lang bạt kỳ hồ, 狼 跋 其 胡

Tải trí kỳ vĩ; 載 疐 其 尾

Công tôn thạc phu, 公 孫 碩 膚

Xích tích kỷ kỷ. 赤 舄 几 几

(Hứng dã) 興 也

Lang nhảy trước, lôi thôi vướng yếm,

Lang lùi sau bất tiện vướng đuôi.

Chu Công trang nhã thảnh thơi,

Thảnh thơi trang nhã, đi đôi hán hài.

Lang trí kỳ vĩ, 狼 疐 其 尾

Tải bạt kỳ hồ 載 跋 其 胡

Công tôn thạc phu, 公 孫 碩 膚

Đức âm bất hà. 德 音 不 瑕

(Hứng dã) 興 也

Lang muốn lùi, cái đuôi nó án,

Lang muốn tiến cái yếm nó ngăn.

Chu Công nức tiếng khoan nhân,

Tiếng đồn đức hạnh thập phần thanh cao.

(Lang bạt: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

Bân quốc có 7 thiên, 27 bài, 203 câu.

豳 國 七 篇. 二 十 七 章. 二 百 三 句.

CHƯƠNG 7

7. TIỂU NHÃ 小 雅

LỘC MINH 鹿 鳴 (Lộc minh 鹿 鳴 1)

TỨ MẪU 四 牡 (Lộc minh 鹿 鳴 2)

HOÀNG HOÀNG GIẢ HOA 皇 皇 者 華 (Lộc minh 鹿 鳴 3)

THƯỜNG LỆ 裳 棣 (Lộc minh 鹿 鳴 4)

PHẠT MỘC 伐 木 (Lộc minh 鹿 鳴 5)

THIÊN BẢO 天 保 (Lộc minh 鹿 鳴 6)

THÁI VI 采 薇 (Lộc minh 鹿 鳴 7)

XUẤT XA 出 車 (Lộc minh 鹿 鳴 8)

ĐỆ ĐỖ 杕 杜 (Lộc minh 鹿 鳴 9)

LỘC MINH (Lộc minh 1)

鹿 鳴 (鹿 鳴 第 一)

U u lộc mang, 呦 呦 鹿 鳴

Thực dã chi bàng. 食 野 之 苹

Ngã hữu gia tân, 我 有 嘉 賓

Cổ sắt xuy sang; 鼓 瑟 吹 笙

Xuy sang cổ hoàng, 吹 笙 鼓 簧

Thừa khuông thị tương, 承 筐 是 將

Nhân chi hiếu ngã, 人 之 好 我

Thị ngã chu hàng. 示 我 周 行

(Hứng dã) 興 也

Con hươu hí hí gọi đàn,

Thanh hao nó gặm lan man ngoài đồng.

Ta nay tân khách đến đông,

Tiếng đàn tiếng sáo bừng bừng trỗi lên.

Sênh vang vẻ cũng vang rền,

Lăng đầy vải vải trước thềm tiếng dân.

Đã cùng thanh khí lẽ hằng,

Rồi đây đạo cả sẽ phân tỏ tường.

U u lộc mang, 呦 呦 鹿 鳴

Thực dã chi cao. 食 野 之 蒿

Ngã hữu gia tân, 我 有 嘉 賓

Đức âm khổng trào; 德 音 孔 昭

Thị dân bất thiêu, 視 民 不 恌

Quân tử thị tắc thị hào, 君 子 是 則 是 傚

Ngã hữu chỉ tửu, 我 有 旨 酒

Gia tân thức yến dĩ ngao. 嘉 賓 式 燕 以 敖

(Hứng dã) 興 也

Con hươu hí hí gọi đàn,

Thanh hao nó gặm lan man ngoài đồng.

Nhà ta quý khách đến đông,

Khách là đức hạnh tioếng lừng gần xa.

Dạy dân bỏ thói gian tà,

Người hay khuôn phép chẳng qua ở mình.

Ta đây sẵn rượu ngon lành,

Để cho tân khách mặc tình chuốc vui.

U u lộc mang, 呦 呦 鹿 鳴

Thực dã chi cầm. 食 野 之 芩

Ngã hữu gia tân, 我 有 嘉 賓

Cổ sắt cổ cầm; 鼓 瑟 鼓 琴

Cổ sắt cổ cầm; 鼓 瑟 鼓 琴

Hòa lạc thả thầm, 和 樂 且 湛

Ngã hữu chỉ tửu, 我 有 旨 酒

Dĩ yến lạc gia tân chi tâm, 以 燕 樂 嘉 賓 之 心

(Hứng dã) 興 也

Con hươu hí hí gọi đàn,

Cỏ cầm nó gặm lan man ngoài đồng.

Ta này quý khách đến đông,

Đàn cầm đàn sắt vang lừng tiếng tơ.

Sắt cầm tiết tấu hiệp hòa,

Cùng vui cùng hưởng chúng ta vui vầy.

Rượu ngon ta sẵn có đây,

Để cho tân khách vui say thỏa lòng.

(Lộc minh: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

TỨ MẪU (Lộc minh 2)

四 牡 (鹿 鳴 第 二)

Tứ mẫu phi phi, 四 牡 騑 騑

Chu đạo uy trì; 周 道 倭 遲

Khởi bất hoài quy? 豈 不 懷 歸

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Ngã tâm thương bi. 我 心 傷 悲

(Phú dã) 賦 也

Bốn chiến mã bon bon rong ruổi,

Đường gió sương rắc rối nhiêu khê.

Ta đây há chẳng muốn về,

Việc vua bận rộn bỏ bê dễ nào.

Lòng ta buồn bã xiết bao!

Tứ mẫu phi phi, 四 牡 騑 騑

Than than lạc mã; 嘽 嘽 駱 馬

Khởi bất hoài quy? 豈 不 懷 歸

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất hoàng khải xứ. 不 遑 我 處

(Phú dã) 賦 也

Bốn ngựa lạc bon bon rong ruổi,

Thở phì phò phất phới bờm đen.

Chuyện về ta cũng thấy thèm,

Việc vua bận rộn, dễ quên được nào.

Dứng ngồi ngơi nghỉ làm sao?

Biên biên giả chuy, 翩 翩 者 鵻

Tải phi tải hạ, 載 飛 載 下

Tập vu bao hứa; 集 于 苞 栩

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất hoàng tương phụ. 不 遑 將 父

(Hứng dã) 興 也

Con chim cu nó bay nó lượn,

Lúc bay cao lúc xuống thấp dần.

Xà vào bụi hứa nghỉ chân,

Việc vua vương vấn khó lần cho ra.

Giờ đâu còn nghĩ nuôi cha.

Biên biên giả chuy, 翩 翩 者 鵻

Tải phi tải chì, 載 飛 載 止

Tập vu bao kỷ; 集 于 苞 杞

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất hoàng tương mỹ. 不 遑 將 母

(Hứng dã) 興 也

Con chim cu nó bay nó lượn,

Lúc nó bay, lúc xuống nó ngơi.

Xà vào bụi hứa đậu chơi,

Việc vua vương vấn tơi bời bao xong.

Giờ đâu nuôi mẹ mà mong.

Giá bỉ tứ lạc, 駕 彼 四 駱

Tải sậu sâm sâm, 載 驟 駸 駸

Khởi bất hoài quy; 豈 不 懷 歸

Thị dụng tác ca, 是 用 作 歌

Tương mẫu lai thâm. 將 母 來 諗

(Phú dã) 賦 也

Bốn ngựa lạc một tay rong ruổi,

Ngựa ruổi mau như đuổi cuồng phong.

Quay về ai chẳng chờ mong,

Chạnh lòng ta bật tiếng lòng thành ta.

Tỏ niềm thương nhớ mẹ già…

(Tứ mẫu: 5 bài, mỗi bài 5 câu.)

HOÀNG HOÀNG GIẢ HOA (Lộc minh 3)

皇 皇 者 華 (鹿 鳴 第 三)

Hoàng hoàng giả hoa, 皇 皇 者 華

Vu bỉ nguyên thấp; 于 彼 原 隰

Tuy tuy chinh phu, 駪 駪 征 夫

Mỗi hoài mỹ cập. 每 懷 靡 及

(Hứng dã) 興 也

Hoa kia muôn khóm đua tươi,

Trên cao dưới thấp như phơi sắc màu.

Dập dìu kẻ trước người sau,

Kìa ông sứ giả lo âu việc mình.

Ngã mã duy cu, 我 馬 維 駒

Lục bí như nhu; 六 轡 如 濡

Tải trì tải khu, 載 馳 載 驅

Chu viên tư tưu. 周 爰 咨 諏

(Phú dã) 賦 也

Ngựa câu ta khỏe lại nhanh,

Giây cương sáu giải rung rinh mở màng.

Ngựa ta phi sải nhẹ nhàng,

Đến đâu ta cũng hỏi han vài lời.

Ngã mã duy kỳ, 我 馬 維 騏

Lục bí như ti; 六 轡 如 絲

Tải trì tải khu, 載 馳 載 驅

Chu viên tư mưu. 周 爰 咨 謀

(Phú dã) 賦 也

Ngựa kỳ ta đẹp mấy mươi,

Sáu cương óng ả rạng ngời như tơ.

Ngựa phi như gió cuốn cờ,

Đến đâu ta cũng thăm dò hỏi han.

Ngã mã duy lạc, 我 馬 維 駱

Lục bí ốc nhược; 六 轡 沃 若

Tải trì tải khu, 載 馳 載 驅

Chu viên tư đê. 周 爰 咨 度

(Phú dã) 賦 也

Ngựa ta lông trắng bờm đen,

Sáu giây cương ngựa màu lên mỡ màng.

Ngựa ta phi sải nhẹ nhàng,

Đến đâu ta cũng hỏi han thăm dò.

Ngã mã duy nhân, 我 馬 維 駰

Lục bí ký quân; 六 轡 既 均

Tải trì tải khu, 載 馳 載 驅

Chu viên tư tuân. 周 爰 咨 詢

(Phú dã) 賦 也

Ngựa ta lông xám màu tro,

Sáu giây cương ngựa nắm cho thăng bằng.

Ngựa ta phi sải băng băng,

Đến đâu ta cũng ân cần hỏi han.

(Hoàng hoàng giả hoa: 5 bài, mỗi bài 4 câu.)
KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI
THƯỜNG LỆ (Lộc minh 4)

裳 棣 (鹿 鳴 第 四)

Thường lệ chi hoa, 裳 棣 之 華

Ngạc bất vĩ vĩ? 鄂 不 韡 韡

Phàm kim chi nhân, 凡 今 之 人

Mạc như huynh đệ. 莫 如 兄 弟

(Hứng dã) 興 也

Kìa xem thường lệ đơm hoa,

Hoa đơm rực rỡ biết là mấy mươi.

Đem gương nhân sự ra soi,

Mối tình huynh đệ trên đời vẫn hơn.

Tử táng chi uy, 死 喪 之 威

Huynh đệ khổng huy; 兄 弟 孔 懷

Nguyên thấp bầu hĩ, 原 隰 裒 矣

Huynh đệ cầu hĩ! 兄 弟 求 矣

(Phú dã) 賦 也

Tang ma những buổi u buồn,

Anh em thân thích lệ tuôn giòng sầu.

Xác phơi sơn dã đòi nau,

Kiếm tìm thôi cũng dễ dầu anh em.

Tích lịnh tại nguyên, 脊 令 在 原

Huynh đệ cấp nuyên; 兄 弟 急 難

Mỗi hữu lương bằng, 每 有 良 朋

Huống dã vĩnh thuyên. 況 也 永 歎

(Hứng dã) 興 也

Chìa vôi nó đậu cao nguyên,

Anh em gặp lúc truân chuyên nguy nàn.

Bạn bè thắm thiết huệ lan,

Chẳng qua thở vắn dài than đưa đà.

Huynh đệ huých vu tường, 兄 弟 鬩 于 牆

Ngoại ngự kỳ vụ; 外 禦 其 務

Mỗi hữu lương bằng, 每 有 良 朋

Chửng dã vô như. 烝 也 無 戎

(Phú dã) 興 也

Anh em trong cửa bất hòa,

Người ngoài chạy tới vẫn là anh em.

Bạn bè dẫu mấy trung kiên,

Mấy hồi giúp được cho nên công trình.

Táng loạn ký bình, 喪 亂 既 平

Ký an thả ninh, 既 安 且 寧

Tuy hữu huynh đệ, 雖 有 兄 弟

Bất như hữu sinh. 不 如 友 生

(Phú dã) 賦 也

Tóc tang loạn lạc đã bình,

Gần xa đâu đấy an ninh đã hồi.

Anh em sao nỡ buông lơi,

Coi tình bằng hữu hơn người đồng thân.

Tân nhĩ biên đậu, 儐 爾 籩 豆

Ẩm tửu chi ự, 飲 酒 之 飫

Huynh đệ ký cụ, 兄 弟 既 具

Hòa lạc thả nhu. 和 樂 且 孺

(Phú dã) 賦 也

Dẫu ta la liệt cỗ bàn,

Rượu nồng dẫu uống lan man say mềm.

Anh em có dự dưới trên,

Lòng ta mới thấy ấm êm no đầy.

Thê tử hảo hợp, 妻 子 好 合

Như cổ sắt cầm, 如 鼓 瑟 琴

Huynh đệ ký hấp, 兄 弟 既 翕

Hòa lạc thả thầm. 和 樂 且 湛

(Phú dã) 賦 也

Gia đình thê tử vui vầy,

Đàn cầm đàn sắt so dây êm đềm.

Anh em trong ấm ngoài êm,

Thuận hòa vui vẻ dưới trên sum vầy.

Nghi nhĩ thất gia, 宜 爾 室 家

Lạc nhĩ thê noa; 樂 爾 妻 孥

Thị cứu thị đồ, 是 究 是 圖

Đán kỳ nhiên hồ. 亶 其 然 乎

(Phú dã) 賦 也

Nhà ta ta cố an bài,

Vợ con ta cố hòa hài ấm êm.

Nghĩ cho tường tận thử xem,

Thử xem có phải có nên chăng là.

(Thường lệ: 8 bài, mỗi bài 4 câu.)

PHẠT MỘC (Lộc minh 5)

伐 木 (鹿 鳴 第 五)

Phạt mộc đinh đinh, 伐 木 丁 丁

Điểu minh anh anh; 鳥 鳴 嚶 嚶

Xuất tự u cốc, 出 自 幽 谷

Thiên vu kiều mộc. 遷 于 喬 木

Anh kỳ minh hĩ, 嚶 其 鳴 矣

Cầu kỳ hữu thanh. 求 其 友 聲

Tương bỉ điểu hĩ, 相 彼 鳥 矣

Do cầu hữu thanh; 猶 求 友 聲

Thân y nhân hĩ, 矧 伊 人 矣

Bất cầu hữu sanh? 不 求 友 生

Thần chi thính chi, 神 之 聽 之

Chung hòa thả bình. 終 和 且 平

(Hứng dã) 興 也

Gỗ kia ai đốn choang choang,

Chim kia róng rả hót vang cánh rừng,

Nó từ hang tối bay tung,

Ngọn cây cao vút nó lùng đậu chơi.

Véo von róng rả mấy hồi,

Véo von như đón như mời bạn chim.

Kìa xem nó kiếm nó tìm,

Tìm chim bầu bạn nó rền tiếng ca.

Chứ người sao cứ lơ là,

Sao không tìm bạn để mà kết giao.

Thần minh cũng chẳng phụ nào,

Trước sau người sẽ dồi dào bình an.

Phạt mộc hỗ hỗ, 伐 木 許 許

Sư tửu hữu tự; 釃 酒 有 藇

Ký hữu phì trữ, 既 有 肥 羜

Dĩ tốc chư phụ, 以 速 諸 父

Ninh thích bất lai, 寧 適 不 來

Vi ngã phất cũ, 微 我 弗 顧

Ô xán sái tảo, 於 粲 洒 掃

Trần quý bát dữu; 陳 饋 八 簋

Ký hữu phì mẫu, 既 有 肥 牡

Dĩ tốc chư cữu, 以 速 諸 舅

Ninh thích bất lai, 寧 適 不 來

Vi ngã hữu cữu. 微 我 有 咎

(Hứng dã) 興 也

Hò lơ ai đốn gỗ rừng,

Rượu ta ta lọc đến chừng thật ngon.

Ta đà có sẵn cừu non,

Ta mời chú bác chớ còn mời ai.

Thà rằng trái gió trở trời,

Chớ đừng đổ tại ta mời chẳng hay.

Sân ta quét dọn từ ngày,

Cỗ bàn bát dĩa đã bày hẳn hoi.

Lại thêm có sẵn cừu choai,

Ta mời cô cậu chớ ai bây giờ.

Thà rằng tại gió tại mưa,

Chớ đừng đổ tại ta chưa hết lòng.

Phạt mộc vu phiến, 伐 木 于 阪

Sư tửu hữu diễn; 釃 酒 有 藇

Biên đậu hữu tiễn, 籩 豆 有 踐

Huynh đệ vô viễn. 兄 弟 無 遠

Dân chi thất đức, 民 之 失 德

Can hầu dĩ khiên; 乾 餱 以 愆

Hữu tửu tử ngã, 有 酒 湑 我

Vô tửu cổ ngã, 無 酒 酤 我

Khảm khảm cổ ngã, 坎 坎 鼓 我

Tôn tôn vũ ngã, 蹲 蹲 舞 我

Đãi ngã hủ hĩ, 迨 我 暇 矣

Ẩm thử tư hĩ. 飲 此 湑 矣

(Hứng dã) 興 也

Cây kia ai đốn sườn non,

Rượu ta ta lọc cho ngon thật nhiều.

Đĩa bát ta sắp thật đều,

Anh em đủ mặt chẳng neo người nào.

Khách tân ai kẻ xôn xao,

Vì ăn chẳng được rồi rào để khô?

Có rượu ta lọc đầy vò,

Nếu không đủ rượu ta mua lo gì.

Thùng thình cho gióng trống đi,

Ta nhảy ta múa, múa vì ta vui.

Mỗi khi ta được thảnh thơi,

Cùng nhau ta hãy giao bôi vui vầy.

(Phạt mộc: 3 bài, mỗi bài 12 câu.)

THIÊN BẢO (Lộc minh 6)

天 保 (鹿 鳴 第 六)

Thiên bảo định nhĩ, 天 保 定 爾

Diệc khổng chi cố; 亦 孔 之 固

Tỏ nhĩ đơn hậu, 俾 爾 單 厚

Hà phúc bất trừ? 何 福 不 除

Tỏ nhĩ đa ích, 俾 爾 多 益

Dĩ mạc bất thứ. 以 莫 不 庶

(Phú dã) 賦 也

Trời cao xin hãy giữ gìn,

Cho người bền vững chu tuyền trước sau.

Cho người lượng cả đức cao,

Cho người hạnh phúc dồi dào miên man.

Cho người của cải tràn lan,

Cho người mọi sự chứa chan no đầy.

Thiên bảo định nhĩ, 天 保 定 爾

Tỏ nhĩ tiên cốc; 俾 爾 戩 穀

Khánh vô bất nghi, 罄 無 不 宜

Thụ thiên bách lộc. 受 天 百 祿

Giáng nhĩ hà phúc, 降 爾 遐 福

Duy nhật bất túc. 維 日 不 足

(Phú dã) 賦 也

Xin trời phù hộ đêm ngày,

Cho người mọi sự mọi hay mới là.

Cho người mọi sự mọi ưa,

Cho người phúc lộc dư thừa chứa chan.

Cho người hạnh phúc muôn vàn,

Cho người ngày tháng đầy tràn thiên ân.

Thiên bảo định nhĩ, 天 保 定 爾

Dĩ mạc bất hưng; 以 莫 不 興

Như sơn như phụ, 如 山 如 阜

Như cương như lăng, 如 岡 如 陵

Như xuyên chi phương chí. 如 川 之 方 至

Dĩ mạc bất tăng. 以 莫 不 增

(Phú dã) 賦 也

Xin trời phù hộ minh quân,

Cho người hưởng cảnh muôn phần thịnh xương.

Thịnh xương như núi như non,

Như gò như đống, khó mòn khó lay.

Như sông cuồn cuộn đêm ngày,

Phúc người ngày một cứ dầy cứ tăng.

Cát quyên vi xí, 吉 蠲 為 饎

Thị dụng hiếu hưởng; 是 用 孝 享

Dược từ chương thường, 禴 祠 烝 嘗

Vu công tiên vương, 于 公 先 王

Quân viết bốc nhĩ, 君 曰 卜 爾

Vạn thọ vô cương. 萬 壽 無 疆

(Phú dã) 賦 也

Đồ ăn đồ uống ngon lành,

Bao đồ thanh khiết người dành hiến dâng.

Tấc thành xuân hạ thu đông,

Tiên vương cùng với tiên công thưởng miền.

Tổ rằng hãy hưởng bình yên,

Sống lâu muôn tuổi vô biên vô lường.

Thần chi điếu hĩ, 神 之 弔 矣

Di nhĩ đa phúc; 詒 爾 多 福

Dân chi chất hĩ, 民 之 質 矣

Nhật dụng ẩm thực, 日 用 飲 食

Quần lê bách tính, 群 黎 百 姓

Biến vi nhĩ đức. 徧 為 爾 德

(Phú dã) 賦 也

Vong linh tôn tổ tôn đường,

Trăm nghìn phúc lộc vẫn thường ban cho.

Dân con chất phác ngây thơ,

Tháng ngày ăn uống nhởn nhơ vui vầy.

Dân con trăm họ đó đây,

Đức người, cố gắng đêm ngày vin theo.

Như nguyệt chi hằng, 如 月 之 恆

Như nhật chi thăng; 如 日 之 升

Như nam sơn chi thọ, 如 南 山 之 壽

Bất khiên bất băng, 不 騫 不 崩

Như tùng bách chi mậu, 如 松 柏 之 茂

Vô bất dĩ hoặc thừa. 無 不 爾 或 承

(Phú dã) 賦 也

Như trăng muôn thuở yêu kiều,

Như vầng dương sáng phiêu diêu khung trời.

Như nam sơn thọ với đời,

Không xây không xát không rời không băng.

Tốt tươi như bách như tùng,

Con con cháu cháu vô cùng kế theo.

(Thiên bảo: 6 bài, mỗi bài 6 câu.)

THÁI VI (Lộc minh 7)

采 薇 (鹿 鳴 第 七)

Thái vi thái vi! 采 薇 采 薇

Vi diệc tố chỉ; 薇 亦 作 止

Viết quy viết quy; 曰 歸 曰 歸

Tuế diệc mộ chỉ, 歲 亦 莫 止

Mỹ thất mỹ cồ, 靡 室 靡 家

Hiềm doãn chi cố; 玁 狁 之 故

Bất hoàng khải cư, 不 遑 啟 居

Hiềm doãn chi cố. 玁 狁 之 故

(Hứng dã) 興 也

Hái rau vi, hái rau vi,

Rau vi mới mọc hái đi kẻo hoài.

Ngày về ta biết hỏi ai,

Nhanh ra cũng phải một hai năm trường.

Vợ chồng cách trở đôi đường,

Tại quân hiềm doãn nhiễu nhương tao loàn.

Từ nay chất chưởng bất an,

Vì quân hiềm doãn ta mang vạ này.

Thái vi thái vi! 采 薇 采 薇

Vi diệc nhu chỉ; 薇 亦 柔 止

Viết quy viết quy; 曰 歸 曰 歸

Tuế diệc ưu chỉ, 歲 亦 憂 止

Ưu tâm liệt liệt, 憂 心 烈 烈

Tài cơ tài kiệt; 載 饑 載 渴

Ngã thú vị định, 我 戌 未 定

Mỹ sứ quy sính. 靡 使 歸 聘

(Hứng dã) 興 也

Hái rau vi, hái rau vi,

Rau vi óng ả, hái đi kẻo hoài.

Ngày về ta biết hỏi ai?

Lòng ta trăm nỗi rối bời như tơ.

Lòng ta buồn bã thẫn thờ,

Rồi đây đói khát sẽ chờ đợi ta.

Cái thân lính thú nẻo xa,

Cậy ai cho biết tin nhà được đây.

Thái vi thái vi! 采 薇 采 薇

Vi diệc cương chỉ; 薇 亦 剛 止

Viết quy viết quy; 曰 歸 曰 歸

Tuế diệc dương chỉ, 歲 亦 陽 止

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Bất hoàng khải xứ 不 遑 啟 處

Ưu tâm khổng ngực, 憂 心 孔 疚

Ngã hành bất lực, 我 行 不 來

(Hứng dã) 興 也

Hái rau vi, hái rau vi,

Rau vi đã cứng, hái đi nữa hoài.

Ngày về ta biết hỏi ai?

Ngày về có lẽ tháng mười năm nay.

Việc vua bề bộn suốt ngày,

Làm sao có thể rảnh tay được nào.

Lòng ta đau xót như bào,

Ta đi đi mãi chẳng bao giờ về.

Bỉ nhĩ duy hà? 彼 爾 維 何

Duy thường chi hoa; 維 常 之 華

Bỉ lộ tư hà? 彼 路 斯 何

Quân tử chi xa. 君 子 之 車

Nhung xa ký giá, 戎 車 既 駕

Tứ mẫu nghiệp nghiệp, 四 牡 業 業

Khởi cảm định cư, 豈 敢 定 居

Nhất nguyệt tam tiệp. 一 月 三 捷

(Hứng dã) 興 也

Cái gì đẹp đẽ thế kia,

Ấy hoa thường lệ muôn bề tốt tươi.

Xe kia là của ấy ai?

Ấy xe tướng soái đại tài của ta.

Nhung xa sẵn thắng khéo là,

Bốn con ngựa đực đẫy đà làm sao!

Ta đây nào dám yên nào,

Một trăng ba trận ghi vào chiến công.

Giá bỉ tứ mẫu, 駕 彼 四 牡

Tứ mẫu ky ky; 四 牡 騤 騤

Quân tử sở y, 君 子 所 依

Tiểu nhân sở phì. 小 人 所 腓

Tứ mẫu dực dực, 四 牡 翼 翼

Tượng mễ ngư bắc, 象 弭 魚 服

Khởi bất nhật ngực, 豈 不 日 戒

Hiềm doãn khổng cức. 玁 狁 孔 棘

(Hứng dã) 興 也

Bốn ngựa đã thắng giây cương,

Bốn con ngựa đực sức đương phừng phừng.

Tướng quân lẫm liệt oai hùng,

Ba quân tin tưởng băng chừng dặm sương.

Ngựa phi đều đặn nhịp nhàng,

Đốc cung ngà nạm, bao mang ngũ bì.

Ngày nào cũng nhớ cũng ghi,

Chiến tranh Hiểm Doãn hiểm nguy khôn lường.

Tích ngã vãng hĩ! 昔 我 往 矣

Dương liễu y y; 楊 柳 依 依

Kim ngã lai ty, 今 我 來 思

Vũ tuyết phi phi, 雨 雪 霏 霏

Hành đạo trì trì, 行 道 遲 遲

Tải khát tải ky; 載 渴 載 饑

Ngã tâm thương bi, 我 心 傷 悲

Mạc tri ngã y. 莫 知 我 哀

(Hứng dã) 興 也

Khi đi tha thướt cành dương,

Khi về mưa tuyết phũ phàng tuôn rơi.

Thấp cao dặm thẳng xa xôi,

Biết bao đói khát, khúc nhôi cơ cầu.

Lòng ta buồn bã thương đau,

Ta buồn ai biết, ta rầu ai hay.

(Thái vi: 6 bài, mỗi bài 8 câu.)

XUẤT XA (Lộc minh 8)

出 車 (鹿 鳴 第 八)

Ngã xuất ngã xa, 我 出 我 車

Vu bỉ mịch hĩ! 于 彼 牧 矣

Tự thiên tử sở, 自 天 子 所

Vị ngã lai hĩ! 謂 我 來 矣

Chiêu bỉ bộc phu, 召 彼 僕 夫

Vị chi tải hĩ! 謂 之 載 矣

Vương sự đa nan, 王 事 多 難

Duy kỳ cức hĩ! 維 其 棘 矣

(Phú dã) 賦 也

Chiến xa ta đã dẫn ra,

Ra nơi đồng cỏ cách xa kinh thành.

Lệnh ban từ chốn đế kinh,

Truyền ta kíp phải đăng trình cho mau.

Truyền cho quân tướng trước sau,

Sẵn sàng xe cộ ngõ hầu ruổi giong.

Việc vua giao thực khó lòng,

Phải lo cấp tốc mới mong chu toàn.

Ngã xuất ngã xa, 我 出 我 車

Vu bỉ giao hĩ! 于 彼 郊 矣

Thiết thử triệu hĩ, 設 此 旐 矣

Kiến bỉ mao hĩ! 建 彼 旄 矣

Bỉ dư triệu tư, 彼 旟 旐 斯

Hồ bất bị bị! 胡 不 旆 旆

Ưu tâm tiểu tiểu, 憂 心 悄 悄

Bộc phu huống tụy! 僕 夫 況 瘁

(Phú dã) 賦 也

Chiến xa ta đã dẫn ra,

Ra năm mươi dặm cách xa kinh thành.

Cờ triệu phấp phới rung rinh,

Cờ mao nó cũng tung hoành nó bay.

Cờ dư cờ triệu gió lay,

Cờ dư cờ triệu đó đây la đà.

Tướng quân buồn bã âu lo,

Tùng tùng có vẻ thẫn thờ chẳng vui.

Vương mệnh Nam Trọng, 王 命 南 仲

Vãng thành vu phương; 往 城 于 方

Xuất xa phang phang, 出 車 彭 彭

Cân triệu ương ương. 旂 旐 央 央

Thiên tử mệnh ngã, 天 子 命 我

Thành bỉ sóc phương. 城 彼 朔 方

Hách hách Nam Trọng, 赫 赫 南 仲

Hiểm Doãn vu tương. 玁 狁 于 襄

(Phú dã) 賦 也

Đích danh Nam Trọng vua sai,

Xây thành đắp lũy tại nơi tao loàn.

Xe xe cộ cộ rộn ràng,

Cờ cân cờ triệu ngang tàng tung bay.

Ta vâng thánh chỉ ra đây,

Ra nơi đất Bắc đắp xây thành trì.

Tướng quân Nam Trọng uy nghi,

Đoàn quân Hiểm Doãn lo gì chẳng tan.

Tích ngã vãng hĩ, 昔 我 往 矣

Thử tắc phương hoa; 黍 稷 方 華

Kim ngã lai tư, 今 我 來 思

Vũ tuyết tải đồ. 雨 雪 載 塗

Vương sự đa nan, 王 事 多 難

Bất hoàng khả cư. 不 遑 可 居

Khởi bất hoài quy? 豈 不 懷 歸

Úy thử giản thư. 畏 此 簡 書

(Phú dã) 賦 也

Khi đi kê mới đơm hoa,

Khi về tuyết phủ mưa sa lội lầy.

Việc vua vất vả bấy chầy,

Làm gì mà có được ngày thảnh thơi.

Những mong về quách cho rồi,

Chỉn e thẻ trúc lệnh người còn ghi.

Yêu yêu thảo trùng, 喓 喓 草 蟲

Dịch dịch phụ chung; 趯 趯 阜 螽

Vị kiến quân tử, 未 見 君 子

Ưu tâm xung xung! 憂 心 忡 忡

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Ngã tâm tắc hồng. 我 心 則 降

Hách hách Nam Trọng, 赫 赫 南 仲

Bạc phạt Tây Nhung. 薄 伐 西 戎

(Phú dã) 賦 也

Lào xào con dế nó bay,

Cào cào xao xác đó đây nhảy càn.

Bao lâu chưa giáp mặt chàng,

Lòng còn thấp thoáng muôn vàn âu lo.

Bao giờ mới thấy mặt cho,

Lòng ta lúc ấy cơ hồ mới yên.

Tướng quân Nam Trọng oai nghiêm,

Hãy còn chém giặc ở miền Tây Nhung.

Xuân nhật trì trì, 春 日 遲 遲

Huy mộc thê thê; 卉 木 萋 萋

Thương canh kề kề, 倉 庚 喈 喈

Thái phiền kỳ kỳ. 采 蘩 祁 祁

Chấp tín hoạch xú, 執 訊 獲 醜

Bạc ngôn hoàn quy, 薄 言 還 歸

Hách hách Nam Trọng, 赫 赫 南 仲

Hiểm Doãn vu di. 玁 狁 于 夷

(Phú dã) 賦 也

Ngày xuân dùng dắng chân đi,

Thanh bông thảo mộc xanh rì tốt tươi.

Con oanh ríu rít hót chơi,

Kìa ai tới tấp hái mùi đồng quê.

Ta về dẫn cả tù về,

Tù binh ta bắt liệu bề hỏi cung.

Tướng quân Nam Trọng oai hùng,

Bầy quân Hiểm Doãn dẹp xong cả rồi.

(Xuất xa: 6 bài, mỗi bài 8 câu.)

ĐỆ ĐỖ (Lộc minh 9)

杕 杜 (鹿 鳴 第 九)

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Hữu hoàn kỳ thực; 有 睆 其 實

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Kế tự ngã nhật. 繼 嗣 我 日

Nhật nguyệt dương chỉ, 日 月 陽 止

Nữ tâm thương chỉ, 女 心 傷 止

Chinh phu hoàng chỉ! 征 夫 遑 止

(Phú dã) 賦 也

Lê kia mà mọc một mình,

Quả lê trông mới hữu tình làm sao.

Việc vua há dám tào lao,

Ngày qua ngày lại, biết bao cho rồi.

Triền năm đã tới tháng mười,

Tấm lòng nhi nữ bồi hồi sầu thương.

Mong chàng sớm được rảnh rang.

Hữu đệ chi đỗ, 有 杕 之 杜

Kỳ diệp thê thê; 其 葉 萋 萋

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Ngã tâm thương bi. 我 心 傷 悲

Hủy mộc thê chỉ, 卉 木 萋 止

Nữ tâm bi chỉ, 女 心 悲 止

Chinh phu quy chỉ! 征 夫 歸 止

(Phú dã) 賦 也

Lê kia mà mọc một mình,

Lá lê tươi tốt hữu tình lắm sao.

Việc vua há dám tào lao,

Tình thương nỗi nhớ như bào tấc son.

Cỏ cây muôn khóm xanh om,

Tấm lòng nhi nữ mỏi mòn sầu thương.

Mong chàng trở lại cố hương.

Trắc bỉ Bắc Sơn, 陟 彼 北 山

Ngôn thái kỳ kỷ; 言 采 其 杞

Vương sự mỹ cổ, 王 事 靡 盬

Ưu ngã phụ mẫu. 憂 我 父 母

Đàn xa xiền xiền, 檀 車 幝 幝

Tứ mẫu quyển quyển, 四 牡 痯 痯

Chinh phu bất viễn. 征 夫 不 遠

(Phú dã) 賦 也

Ta trèo lên ngọn Bắc Sơn,

Ta hái kỷ tử ta mang về nhà.

Việc vua há dám lơ là,

Thương cha xót mẹ vào ra ưu phiền.

Đàn xa đã mấy truân chuyên,

Bốn con ngựa cũng hom hem dật dờ.

Chinh phu chắc chẳng còn xa.

Phỉ tài phỉ lai, 匪 載 匪 來

Ưu tâm khổng ngức; 憂 心 孔 疚

Kỳ thệ bất chí, 期 逝 不 至

Nhi đa vi tuất. 而 多 為 恤

Bốc phệ kỷ chỉ, 卜 筮 偕 止

Hội ngôn cận chỉ, 會 言 近 止

Chinh phu nhĩ chỉ! 征 夫 邇 止

(Phú dã) 賦 也

Dọn về đã đã đông đâu,

Làm ta buồn bã âu sầu hôm mai.

Ngày qua nào thấy bóng người,

Một buồn thôi lại thêm mười bâng khuâng.

Ta đi xin quẻ xin xăm,

Tin xăm đều nói chàng gần tới nơi.

Chinh phu ta thấy đây rồi!

(Đệ đỗ: 4 bài, mỗi bài 7 câu.)

(Lộc minh có 10 thiên, trong đó có 1 thiên không lời; vậy có 46 bài, 297 câu.)

鹿 鳴 十 篇. 一 篇 無 辭. 凡 四 十 六 章. 二 百 九 十 七 句.
CHƯƠNG 8

8. BẠCH HOA 白 華
NGƯ LI 魚 麗 (Bạch hoa 白 華 3)

NAM HỮU GIA NGƯ 南 有 嘉 魚 (Bạch hoa 白 華 4)

NAM SƠN HỮU ĐÀI 南 山 有 臺 (Bạch hoa 白 華 7)

LỤC TIÊU 蓼 蕭 (Bạch hoa 白 華 9)

TRẨM LỘ 湛 露 (Bạch hoa 白 華 10)

NGƯ LI (Bạch hoa 3) [1]

魚 麗 (白 華 第三)

Ngư li vu dữu, 魚 麗 于 罶

Thường rà; 鱨 鯊

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Chỉ thả đa. 旨 且 多

(Hứng dã) 興 也

Con cá nó đã mắc đăng,

Cá sa nó mắc, cá măng nó vào.

Chủ nhân đã sẵn rượu đào,

Thơm ngon, vả lại rồi vào mới hay.

Ngư li vu dữu, 魚 麗 于 罶

Phường lễ; 魴 鱧

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Đa thả chỉ. 多 且 旨

(Hứng dã) 興 也

Con cá nó đã mắc đăng,

Cá mè cá chuối lăng xăng lọt vòng.

Chủ nhân đã sẵn rượu nồng,

Đã nhiều rồi lại thơm lừng ngon ghê.

Ngư li vu dữu, 魚 麗 于 罶

Yển ly; 鰋 鯉

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Chỉ thả hữu. 旨 且 有

(Hứng dã) 興 也

Con cá nó đã mắc đăng,

Cá măng cá chép lăng xăng lọt vòng.

Chủ nhân đã sẵn rượu nồng,

Đã ngon thôi lại đầy chung đầy vò.

Vật kỳ đa hĩ! 物 其 多 矣

Duy kỳ gia hĩ! 維 其 嘉 矣

(Hứng dã) 興 也

Đồ ăn thức uống tha hồ,

Đã nhiều mà lại thơm tho ngon lành.

Vật kỳ chỉ hĩ! 物 其 旨 矣

Duy kỳ giai hĩ! 維 其 偕 矣

(Hứng dã) 興 也

Của ngon vật lạ phỉ tình,

Sơn hào hải vị đã đành hôm nay.

Vật kỳ hữu hĩ! 物 其 有 矣

Duy kỳ thời hĩ! 維 其 時 矣

(Hứng dã) 興 也

Thời trân thức uống sẵn sàng,

Mùa nào thức ấy mới ngoan mới tình.

(Ngư li: 6 bài, 3 bài 4 câu, 3 bài 2 câu.)

NAM HỮU GIA NGƯ (Bạch hoa 4) [2]

南 有 嘉 魚 (白 華 第四)

Nam hữu gia ngư, 南 有 嘉 魚

Chưng nhiên tráo tráo; 烝 然 罩 罩

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Gia tân thức yến dĩ ngáo. 嘉 賓 式 燕 以 樂

(Hứng dã) 興 也

Miền Nam có giống cá dày,

Kéo đàn kéo lũ lọt ngay vào lờ.

Chủ nhân sẵn rượu mấy vò,

Khách tân chén tạc chén thù chung vai.

Nam hữu gia ngư, 南 有 嘉 魚

Chưng nhiên san san; 烝 然 汕 汕

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Gia tân thức yến dĩ khan. 嘉 賓 式 燕 以 衎

(Hứng dã) 興 也

Miền Nam có giống cá dày,

Nó chui vào đó từng bầy theo nhau.

Chủ nhân có sẵn rượu đào,

Khách tân thù tạc xiết bao vui mừng.

Nam hữu cưu mộc, 南 有 槮 木

Cam lộ lôi chi; 甘 瓠 纍 之

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Gia tân thức yến thỏa chi. 嘉 賓 式 燕 綏 之

(Hứng dã) 興 也

Miền Nam cù mộc rõ cây,

Giây bầu vấn vít quấn ngang cây cù.

Chủ nhân sẵn rượu mấy vò,

Khách tân chén tạc chén thù thỏa thuê.

Phiên phiên giả chung, 翩 翩 者 鵻

Chưng nhiên lục ti; 烝 然 來 思

Quân tử hữu tửu, 君 子 有 酒

Gia tân thức yến hựu ti. 嘉 賓 式 燕 又 思

(Hứng dã) 興 也

Chim chung tới tấp bay về,

Tung bay tới tấp lê thê đầy đàn.

Chủ nhân sẵn có rượu ngon,

Khách tân thù tạc nước non hẹn hò.

(Nam hữu gia ngư: 4 bài, mỗi bài 4 câu.)
NAM SƠN HỮU ĐÀI (Bạch hoa 7) [3]

南 山 有 臺 (白 華 第 七)

Nam sơn hữu đi, 南 山 有 臺

Bắc sơn hữu li; 北 山 有 萊

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Bang gia chi ki, 邦 家 之 基

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Vạn thọ vô kỳ. 萬 壽 無 期

(Hứng dã) 興 也

Nam sơn kìa có rau đài,

Bắc sơn thời có rau lai kém gì.

Thấy người ta những thỏa thuê,

Vì người là nếp là nề giang san.

Thấy người ta những hân hoan,

Chúc người trường thọ muôn vàn trước sau.

Nam sơn hữu tang, 南 山 有 桑

Bắc sơn hữu dương; 北 山 有 楊

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Bang gia chi quang, 邦 家 之 光

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Vạn thọ vô cương. 萬 壽 無 疆

(Hứng dã) 興 也

Nam sơn kìa có cây dâu,

Bắc sơn có liễu há đâu kém gì.

Được người ta những thỏa thuê,

Vì người là sáng dãi dề nước non.

Được người ta những hân hoan,

Chúc người trường thọ muôn vàn vô biên.

Nam sơn hữu kỷ, 南 山 有 杞

Bắc sơn hữu lý; 北 山 有 李

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Dân chi phụ mẫu, 民 之 父 母

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Đức âm bất dĩ. 德 音 不 已

(Hứng dã) 興 也

Nam sơn cây kỷ mọc lên,

Bắc sơn mận mọc như ken kém gì.

Được người ta những thỏa thuê,

Người như cha mẹ vỗ về dân con.

Được người ta những hân hoan,

Mong người đức hạnh đồn vang không ngừng.

Nam sơn hữu khảo, 南 山 有 栲

Bắc sơn hữu nữu; 北 山 有 杻

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Hà bất mi thâu, 遐 不 眉 壽

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Đức âm thị mẫu. 德 音 是 茂

(Hứng dã) 興 也

Nam sơn khảo mọc tưng bừng,

Bắc sơn nữu mọc tứ tung kém gì.

Được người ta những thỏa thuê,

Ước gì người có làn mi thọ trường.

Được người sung sướng khôn lường,

Mong người nhân đức đồn vang xa gần.

Nam sơn hữu củ, 南 山 有 枸

Bắc sơn hữu du; 北 山 有 楰

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Hà bất hoàng cư, 遐 不 黃 耇

Lạc chỉ quân tử, 樂 只 君 子

Bảo ngải nhĩ hậu. 保 艾 以 後

(Hứng dã) 興 也

Nam sơn củ mọc chen chân,

Bắc sơn du cũng sâm sâm đua đòi.

Được người ta cũng sướng đời.

Ước gì người chẳng da mồi tóc sương.

Được người sung sướng khôn lường.

Mong người con cháu nghìn muôn nối dòng.

(Nam sơn hữu đài: 5 bài, mỗi bài 6 câu.)

LỤC TIÊU (Bạch hoa 9) [4]

蓼 蕭 (白 華 第 九)

Lục bỉ tiêu tư, 蓼 彼 蕭 斯

Linh lộ tử hề! 零 露 湑 兮

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Ngã tâm tả hề! 我 心 寫 兮

Yến tiếu ngữ hề, 燕 笑 語 兮

Thị dĩ hữu dự xử hề! 是 以 有 譽 處 兮

(Hứng dã) 興 也

Rau mùi nó mọc cao cao,

Sương sa móc đọng, rạt rào linh lung.

Chư quân gặp gỡ đã xong,

Từ nay ta mới thỏa lòng khát khao.

Yến diên cười nói lao xao,

Những người thế ấy thảo nào chẳng hay.

Lục bỉ tiêu tư, 蓼 彼 蕭 斯

Linh lộ nhương nhương; 零 露 瀼 瀼

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Vi long vi quang, 為 龍 為 光

Kỳ đức bất sảng. 其 德 不 爽

Thọ khảo bất vong. 壽 考 不 忘

(Hứng dã) 興 也

Rau mùi nó mọc cao cao,

Sương sa móc đọng, rạt rào long lanh.

Chư quân gặp gỡ phỉ tình,

Thực là đáng được hiển vinh rỡ ràng.

Đức cao chẳng chút lỡ làng,

Ước gì người được thọ tràng chẳng sai.

Lục bỉ tiêu tư, 蓼 彼 蕭 斯

Linh lộ nê nê; 零 露 泥 泥

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Khổng yến khởi đệ, 孔 燕 豈 弟

Nghi huynh nghi đệ, 宜 兄 宜 弟

Kim đức thọ khể. 今 德 壽 豈

(Hứng dã) 興 也

Rau mùi nó mọc cao cao,

Sương sa móc đọng, rạt rào đôi phen.

Chư quân gặp gỡ đã nên,

Cùng nhau yến ẩm phỉ nguyền thỏa thuê.

Ước gì huynh đệ đề huề,

Sống đời đức hạnh, vinh huê tới già.

Lục bỉ tiêu tư, 蓼 彼 蕭斯

Linh lộ nồng nồng; 零 露 濃 濃

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Điều cách xung xung, 鞗 革 沖 沖

Hòa loan ung ung, 和 鸞 雝 雝

Vạn thọ du đồng. 萬 壽 攸 同

(Hứng dã) 興 也

Rau mùi nó mọc cao cao,

Sương sa móc đọng, rạt rào chứa cahn.

Chư quân gặp gỡ hỉ hoan,

Lõng buông giây khấu, xuênh xoang đề huề.

Nhong nhong nhạc ngựa nhạc xe,

Ước gì người được muôn bề hanh thông.

(Lục tiêu: 4 bài, mỗi bài 6 câu.)

TRẨM LỘ (Bạch hoa 10)

湛 露 (白 華 第 十)

Trẩm trẩm lộ tư, 湛 湛 露 斯

Phỉ dương bất hi, 匪 陽 不 晞

Yêm yêm dạ ẩm, 厭 厭 夜 飲

Bất túy vô quy. 不 醉 無 歸

(Hứng dã) 興 也

Sương sa móc đọng dầm dầm,

Muốn cho khô ráo, ắt cần ánh dương.

Tiệc vui sá kể đêm trường,

Chưa say chưa được kiếm đường cáo lui.

Trẩm trẩm lộ tư, 湛 湛 露 斯

Tại bỉ phong thảo; 在 彼 豐 草

Yêm yêm dạ ẩm, 厭 厭 夜 飲

Tại tông tải khảo. 在 宗 載 考

(Hứng dã) 興 也

Sương sa móc đọng đầm đìa,

Cỏ non mơn mởn, cỏ non bời bời.

Yến diên vui thú canh dài,

Sửa sang cung thất, chúc mời yến diên.

Trẩm trẩm lộ tư, 湛 湛 露 斯

Tại bỉ kỷ cức; 在 彼 杞 棘

Hiển doãn quân tử, 顯 允 君 子

Mạc bất lệnh đức. 莫 不 令 德

(Hứng dã) 興 也

Sương sa móc đọng đầm đìa,

Cỏ non mơn mởn, cỏ non bời bời.

Khách tân phong nhã hào hoa,

Toàn là đức hạnh, toàn là thanh cao.

Kỳ đồng kỳ y, 其 桐 其 椅

Kỳ thật ly ly; 其 實 離 離

Khởi đệ quân tử, 豈 弟 君 子

Mạc bất linh nghi. 莫 不 令 儀

(Hứng dã) 興 也

Ngô đồng cùng với cây y,

Quả sai lúc líu, chít chi đầu cành.

Khách tân toàn bậc tinh anh,

Người nào dáng điệu cũng thanh cũng kỳ.

(Trẩm lộ: 4 bài, mỗi bài 4 câu.)
——————————————————————————–

[1] Hai bài đầu là Bạch hoa 白 華 và Hoa thử 華 黍, không có lời, gọi là «sanh thi»笙 詩. Sau khi hành lễ uống rượu, trước tiên đàn đàn sắt, rồi hát bài Tứ mẫu và Hoàng hoàng giả hoa trong Lộc minh, sau đó thổi ống sanh笙 hai bài Bạch hoa và Hoa thử để nhập điện đường. (Chú thích của Giang Ấm Hương 江 蔭 香, Thi Kinh 詩 經, Quảng Ích Thư Cục, Thượng Hải, 1934.) Do đó bài Ngư li kể là Bạch hoa 3.

[2] Bài Bạch hoa 4 tên là Do canh 由 庚, cũng thuộc loại sanh thi 笙 詩, không có lời. Bài Nam hữu gia ngư 南 有 嘉 魚 vì thế kể là Bạch hoa 5.

[3] Bài Bạch hoa 6 tên là Sùng khâu 崇 丘, cũng thuộc loại sanh thi 笙 詩, không có lời. Bài Nam sơn hữu 南 山 有 臺 vì thế kể là Bạch hoa 7.

[4] Bài Bạch hoa 8 tên là Do nghi 由 儀, cũng thuộc loại sanh thi 笙 詩, không có lời. Bài Lục tiêu 蓼 蕭 vì thế kể là Bạch hoa 9.
CHƯƠNG 9

9. TẦN NHẤT CHI THẬP NHẤT 秦 一 之 十 一
XA LÂN 車 轔 (Tần phong 秦 風 1)

TỨ THIẾT 駟 驖 (Tần phong 秦 風 2)

TIỂU NHUNG 小 戎 (Tần phong 秦 風 ­• 3)

LIÊM HÀ 蒹 葭 (Tần phong 秦 風 4)

CHUNG NAM 終 南 (Tần phong 秦 風 5)

HUỲNH ĐIỂU 黃 鳥 (Tần phong 秦 風 6)

THẦN PHONG 晨 風 (Tần phong 秦 風 7)

VÔ Y 無 衣 (Tần phong 秦 風 8)

VỊ DƯƠNG 渭 陽 (Tần phong 秦 風 9)

QUYỀN DƯ 權 輿 (Tần phong 秦 風 10)

XA LÂN (Tần phong 1)

車 轔 (秦 風 第 一)

Hữu xa lân lân, 有 車 轔 轔

Hữu mã bạch đân. 有 馬 白 顛

Vị kiến quân tử, 未 見 君 子

Tự nhân chi linh. 寺 人 之 令

(Phú dã) 賦 也

Xe xe cộ cộ nghênh ngang,

Lại thêm bầy ngựa trán khoang trắng ngần.

Muốn vào bái yết tôn nhan,

Trước tiên phải thỉnh hoạn quan trình bày.

Phản (bản) hữu tất, 阪 有 漆

Thấp hữu lật. 隰 有 栗

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Tịnh tọa cổ sắt; 並 坐 鼓 瑟

Kim giả bất lạc, 今 者 不 樂

Thệ giả kỳ trất (điệt). 逝 者 其 耋

(Hứng dã) 興 也

Cây sơn kia mọc lưng đồi,

Còn như cây lật ưa nơi đồng lầy.

Công hầu đã giáp mặt này,

Đàn ca trống phách vui vầy cùng nhau.

Hưởng đời nên hưởng cho mau,

Quang âm thấm thoát bạc đầu đến nơi.

Phản (bản) hữu tang, 阪 有 桑

Thấp hữu dương. 隰 有 楊

Ký kiến quân tử, 既 見 君 子

Tịnh tọa cổ hoàng; 並 坐 鼓 簧

Kim giả bất lạc, 今 者 不 樂

Thệ giả kỳ vong. 逝 者 其 亡

(Hứng dã) 興 也

Dâu kia mà mọc lưng đồi,

Còn như dương liễu ưa nơi đồng lầy.

Công hầu đã giáp mặt này,

Trống rung, sáo trỗi, vui vầy cùng nhau.

Hưởng đời nên hưởng cho mau,

Phù sinh như thể bóng câu qua vèo.

(Xa lân: 3 bài; 1 bài 4 câu, 2 bài 6 câu.)

TỨ THIẾT (Tần phong 2)

駟 驖 (秦 風 第 一)

Tứ thiết khổng phụ, 駟 驖 孔 阜

Lục bí tại thủ; 六 轡 在 手

Công chi mị tử, 公 之 媚 子

Tòng công vu thú. 從 公 于 狩

(Phú dã) 賦 也

Bốn ngựa ô vừa cao vừa mập,

Người dong xe tay chắp sau cương.

Sủng thần sau trước đường đường,

Cùng ngài săn bắn xênh xang dập dìu.

Phụng thời thần mẫu, 奉 時 辰 牡

Thần mẫu khổng thược; 辰 牡 孔 碩

Công viết tả chi, 公 曰 左 之

Xả bạt tắc hoạch. 舍 拔 則 獲

(Phú dã) 賦 也

Muông đực đúng mùa chiều xua lại,

Muông đúng mùa to đại là to.

Bắn muông trái cánh mới ưa

Vút tay một mũi tên đưa trúng liền.

Du vu bắc viên, 遊 于 北 園

Tứ mã ký nhân (hiền); 四 馬 既 閑

Du xa loan biều, 輶 車 鸞 鑣

Tải kiểm yết kiêu. 載 獫 歇 驕

(Phú dã) 賦 也

Săn bắn đoạn chơi bên vườn bắc,

Bốn ngựa băm phăm phắp nhởn nhơ.

Nhạc loan xe nhẹ đong đưa,

Chở toàn chó hiếm cùng là yết kiêu.

(Tứ thiết: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

TIỂU NHUNG (Tần phong 3)

小 戎 (秦 風 第 三)

Tiểu nhung tiển thu, 小 戎 俴 收

Ngũ mộc lương chu; 五 楘 梁 輈

Du hoàn hiệp khu, 游 環 脅 驅

Âm dẫn ốc tục, 陰 靷 鋈 續

Văn nhân sướng cốc, 文 茵 暢 轂

Giá ngã kỳ chúc. 駕 我 騏 馵

Ngôn niệm quân tử, 言 念 君 子

Ôn kỳ như ngọc; 溫 其 如 玉

Tại kỳ bản ốc, 在 其 板 屋

Loạn ngã tâm khúc! 亂 我 心 曲

(Phú dã) 賦 也

Chiến xa khổ gọn vừa xinh,

Đòn xe sóng lượn năm vành da bao.

Đai cương lồng xấp cương đào,

Vàng tô khoen thắng, lẫn vào hàm xe.

Trục dài, xe trải hổ bì,

Ngựa kỳ, ngựa chúc, lông khoe sắc mầu.

Chinh phu nhớ tới thêm sầu,

Chinh phu mỹ mạo ta đâu bây giờ?

Chàng thời ván liếp thô sơ,

Em thời thương nhớ tơ vò niềm tây.

Tứ mẫu khổng phụ, 四 牡 孔 阜

Lục bí tại thủ; 六 轡 在 手

Kỳ lưu thị trung, 騏 騮 是 中

Qua ly thị tham. 騧 驪 是 驂

Long thuẫn chi hiệp, 龍 盾 之 合

Ốc dĩ quyết nạp. 鋈 以 觼 軜

Ngôn niệm quân tử, 言 念 君 子

Ôn kỳ tại ấp; 溫 其 在 邑

Phương hà vị kỳ? 方 何 為 期

Hồ nhiên ngã niệm chi! 胡 然 我 念 之

(Phú dã) 賦 也

Xe chàng bốn ngựa phây phây,

Sáu dây cương ngựa một tay chàng dòng.

Kỳ, lưu, hai ngựa bên trong,

Qua, ly, hai ngựa song song bên ngoài.

Thuẫn rồng đã ghép thành đôi,

Vòng khoen dây thắng chưa phôi ánh vàng.

Nhớ chàng dạ những bàng hoàng,

Nhớ ai mỹ mạo bạt ngàn thành xa.

Khi nào chàng trở lại nhà?

Nhớ chàng thắm thiết biết là mấy mươi?

Tiển tứ khổng quần, 俴 駟 孔 群

Cầu mâu ốc chuân; 厹 矛 鋈 錞

Mông phạt hữu uyển, 蒙 伐 有 苑

Hổ xướng lậu ưng, 虎 韔 鏤 膺

Giao xướng nhị cung, 交 韔 二 弓

Trúc bế cổn đằng. 竹 閉 緄 縢

Ngôn niệm quân tử, 言 念 君 子

Tải tẩm tải hưng; 載 寢 載 興

Yêm yêm lương nhân, 厭 厭 良 人

Trật trật đức âm. 秩 秩 德 音

(Phú dã) 賦 也

Ngựa chàng giáp thắng hẳn hoi,

Cầu mâu ba chẽ sáng ngời vàng tô.

Khiên chàng lông vẽ nên hoa,

Bao cung da hổ bạc tra phía ngoài.

Trong bao cung chập một đôi,

Lồng trong kẹp trúc, cánh gài sẵn dây.

Nhớ chàng lòng dạ khôn khuây,

Nhớ đêm khi ngủ, nhớ ngày khi chong.

Nhớ ai đi mấy thong dong,

Nết na thuần cẩn, tiếng lừng gần xa.

(Tiểu nhung: 3 bài, mỗi bài 10 câu.)

KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI
LIÊM HÀ (Tần phong 4)

蒹 葭 (秦 風 第 四)

Liêm hà thương thương, 蒹 葭 蒼 蒼

Bạch lộ vị sương; 白 露 為 霜

Sở vị y nhân, 所 謂 伊 人

Tại thủy nhất phương. 在 水 一 方

Tố hồi tùng chi, 溯 洄 從 之

Đạo trở thả trường; 道 阻 且 長

Tố du tòng chi, 溯 游 從 之

Uyển tại thủy trung ương. 宛 在 水 中 央

(Phú dã) 賦 也

Bờ lau bụi lách xanh xanh,

La đà mọc trắng, đã thành giá sương.

Người đi sông nước mênh mang,

Ngược dòng nước biếc tìm đàng ta theo.

Sông sâu nước xiết khó chèo,

Tìm chàng ta lại tính chiều bơi xuôi.

Ngược xuôi ta chẳng kịp người,

Giữa dòng thanh thả kìa ai một chèo.

Liêm hà thê thê, 蒹 葭 淒 淒

Bạch lộ vị hi; 白 露 未 晞

Sở vị y nhân, 所 謂 伊 人

Tại thủy chi mi. 在 水 之 湄

Tố hồi tùng chi, 溯 洄 從 之

Đạo trở thả tê; 道 阻 且 躋

Tố du tòng chi, 溯 游 從 之

Uyển tại thủy trung chi. 宛 在 水 中 坻

(Phú dã) 賦 也

Bờ lau bụi lách tốt tươi,

La đà móc trắng chưa vơi giọt sầu.

Người đi ven dải sông sâu,

Ta chèo ngược nước ngõ hầu tìm ai.

Sông sâu nước xiết khó bơi,

Tìm chàng ta lại tính xuôi theo dòng.

Ngược xuôi nào thấy vân mòng,

Bóng ai trên bãi, giữa dòng thảnh thơi.

Liêm hà thê thê, 蒹 葭 采 采

Bạch lộ vị dĩ; 白 露 未 已

Sở vị y nhân, 所 謂 伊 人

Tại thủy chi thủy. 在 水 之 涘

Tố hồi tùng chi, 溯 洄 從 之

Đạo trở thả hữu; 道 阻 且 右

Tố du tòng chi, 溯 游 從 之

Uyển tại thủy trung chỉ. 宛 在 水 中 沚

(Phú dã) 賦 也

Bờ lau bụi lách xanh tươi,

Đầu cành móc trắng bời bời chưa tan.

Người đi bến nước mênh mang,

Ngược dòng nước biếc, tìm đàng ta theo.

Dòng sông quanh quất khó chèo,

Tìm chàng ta lại liệu chiều bơi xuôi.

Ngược xuôi chẳng kịp được người,

Bóng ai trên bãi chơi vơi giữa dòng.

(Liêm hà: 3 bài, mỗi bài 8 câu.)

CHUNG NAM (Tần phong 5)

終 南 (秦 風 第 五)

Chung Nam hà hữu? 終 南 何 有

Hữu điều, hữu mai. 有 條 有 梅

Quân tử chí chỉ, 君 子 至 止

Cẩm y hồ cừu; 錦 衣 狐 裘

Nhan như ốc đan, 顏 如 渥 丹

Kỳ quân dã tai! 其 君 也 哉

(Hứng dã) 興 也

Chung Nam cao ngất những gì?

Điều, mai phơi phới có bề xanh tươi.

Vui chân quân tử qua chơi,

Trang nghiêm áo gấm phủ ngoài áo lông.

Mặt người mơn mởn ánh hồng,

Rõ ràng đáng mặt mây rồng vậy vay?

Chung Nam hà hữu? 終 南 何 有

Hữu kỷ, hữu đương. 有 杞 有 堂

Quân tử chí chỉ, 君 子 至 止

Phất y tú thường; 黻 衣 繡 裳

Bội ngọc tương tương, 佩 玉 將 將

Thọ khảo bất vong! 壽 考 不 亡

(Hứng dã) 興 也

Chung Nam trên ấy có gì?

Nơi thì lởm chởm, nơi thì phẳng phiu.

Quân vương nghìn dặm đìu hiu,

Uy nghi lễ phục tơ thêu rỡ ràng.

Châu cài ngọc giắt rền vang,

Ước gì người được thọ tràng muôn năm.

(Chung nam: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

HUỲNH ĐIỂU (Tần phong 6)

黃 鳥 (秦 風 第 六)

Giao giao huỳnh điểu, 交 交 黃 鳥

Chỉ vu cức. 止 于 棘

Thùy tòng Mục Công? 誰 從 穆 公

Tử Xa Yêm Tức. 子 車 奄 息

Duy thử Yêm Tức, 維 此 奄 息

Bách phu chi đặc. 百 夫 之 特

Lâm kỳ huyệt, 臨 其 穴

Chúy chúy kỳ lật; 惴 惴 其 慄

Bỉ thương giả thiên, 彼 蒼 者 天

Triêm ngã lương nhân! 殲 我 良 人

Như khả thục hề, 如 可 贖 兮

Nhân bách kỳ thân! 人 百 其 身

(Hứng dã) 興 也

Nhởn nhơ huỳnh điểu lượn bay,

Nó bay nó đỗ trên cây gai rừng.

Kìa ai đưa đám Mục Công?

Ấy chàng Yêm Tức vốn giòng Tử Xa.

Ấy người xuất chúng hiền hòa,

Con người xuất chúng tài hoa khác vời.

Tới mồ chàng bỗng rụng rời,

Xanh kia sao nỡ hại đời hiền nhân.

Lấy gì đem chuộc cho cân,

Nếu như cho đổi, đổi trăm mạng người.

Giao giao huỳnh điểu, 交 交 黃 鳥

Chỉ vu tang. 止 于 桑

Thùy tòng Mục Công? 誰 從 穆 公

Tử Xa Trọng Hàng. 子 車 仲 行

Duy thử Trọng Hàng, 維 此 仲 行

Bách phu chi phường. 百 夫 之 防

Lâm kỳ huyệt, 臨 其 穴

Chúy chúy kỳ lật; 惴 惴 其 慄

Bỉ thương giả thiên, 彼 蒼 者 天

Triêm ngã lương nhân! 殲 我 良 人

Như khả thục hề, 如 可 贖 兮

Nhân bách kỳ thân! 人 百 其 身

(Hứng dã) 興 也

Nhởn nhơ huỳnh điểu nó bay,

Nó bay nó đậu chòm cây dâu rừng.

Kìa ai đưa đám Mục Công,

Trọng Hàng chàng ấy vốn dòng Tử Xa.

Trọng Hàng thực đáng con nhà,

Trăm nghìn hồ dễ mấy là ai hơn.

Tới mồ chàng bỗng sợ run,

Xanh kia sao nỡ oán hờn hiền nhân.

Lấy gì mà chuộc cho cân,

Một chàng đổi được đổi trăm mạng người.

Giao giao huỳnh điểu, 交 交 黃 鳥

Chỉ vu sở. 止 于 楚

Thùy tòng Mục Công? 誰 從 穆 公

Tử Xa Châm Hổ. 子 車 鍼 虎

Duy thử Châm Hổ, 維 此 鍼 虎

Bách phu chi ngự. 百 夫 之 禦

Lâm kỳ huyệt, 臨 其 穴

Chúy chúy kỳ lật; 惴 惴 其 慄

Bỉ thương giả thiên, 彼 蒼 者 天

Triêm ngã lương nhân! 殲 我 良 人

Như hà thục hề, 如 何 贖 兮

Nhân bách kỳ thân! 人 百 其 身

(Hứng dã) 興 也

Nhởn nhơ huỳnh điểu nó bay,

Nó bay đậu đến trên cây gai rừng.

Kìa ai đưa đám Mục Công?

Ấy chàng Châm Hổ vốn dòng Tử Xa.

Ấy chàng Châm Hổ con nhà,

Trăm người khôn địch, tài hoa khác vời.

Tới mồ chàng bỗng rụng rời,

Xanh kia sao nỡ hại đời hiền nhân.

Lấy gì đem chuộc cho cân,

Một chàng mà đổi, đổi trăm mạng người.

(Huỳnh điểu: 3 bài, mỗi bài 12 câu.)
THẦN PHONG (Tần phong 7)

晨 風 (秦 風 第 七)

Duật bỉ thần phâm, 鴥 彼 晨 風

Uất bỉ bắc lâm; 鬱 彼 北 林

Vị kiến quân tử, 未 見 君 子

Ưu tâm khâm khâm. 憂 心 欽 欽

Như hà như hà? 如 何 如 何

Vong ngã thật đa! 忘 我 實 多

(Hứng dã) 興 也

Thần phong vun vút nó bay,

Nó về rừng bắc ngàn cây um tùm.

Chàng từ xa cách nước non,

Lòng em thương nhớ mỏi mòn gầy hao.

Trời ơi, trời hỡi, vì sao?

Chàng ơi chàng nỡ lòng nào quên em?

Sơn hữu bào lạc, 山 有 苞 櫟

Thấp hữu lục bác; 隰 有 六 駁

Vị kiến quân tử, 未 見 君 子

Ưu tâm mỵ lạc. 憂 心 靡 樂

Như hà như hà? 如 何 如 何

Vong ngã thật đa! 忘 我 實 多

(Hứng dã) 興 也

Núi cao bào lạc như nêm,

Dưới đồng lục bác lá ken rườm rà.

Chàng từ chiếc bóng phương xa,

Lòng em sầu tủi xót xa bấy chầy.

Vì đâu nên nỗi nước nầy,

Sao chàng đằng đẵng tháng ngày quên em!

Sơn hữu bào đệ 山 有 苞 棣

Thấp hữu thụ toại; 隰 有 樹 檖

Vị kiến quân tử, 未 見 君 子

Ưu tâm như tuy. 憂 心如 醉

Như hà như hà? 如 何 如 何

Vong ngã thật đa! 忘 我 實 多

(Hứng dã) 興 也

Núi cao bào đệ như nêm,

Dưới đồng thu toại lá ken rườm rà.

Chàng từ non nước phương xa,

Lòng em thương nhớ la đà bấy nay.

Vì đâu nên nỗi nước nầy,

Sao chàng đằng đẵng tháng ngày quên em!

(Thần phong: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

VÔ Y (Tần phong 8)

無 衣 (秦 風 第 八)

Khởi viết vô y? 豈 曰 無 衣

Dữ tử đồng bào. 與 子 同 袍

Vương vô hưng sư, 王 于 興 師

Tu ngã qua mâu, 修 我 戈 矛

Dữ tử đồng cừu. 與 子 同 仇

(Phú dã) 賦 也

Phải chăng bạn thiếu áo dùng,

Áo tôi xin sẻ san cùng với anh.

Nay vua tuyển tướng hưng binh,

Qua mâu tôi đã sắm sanh sẵn rồi.

Cùng nhau ta sẽ sánh đôi,

Cùng nhau ta sẽ ra nơi sa trường.

Khởi viết vô y? 豈 曰 無 衣

Dữ tử đồng trạch. 與 子 同 澤

Vương vô hưng sư, 王 于 興 師

Tu ngã qua kích, 修 我 戈 戟

Dữ tử giai tác. 與 子 偕 作

(Phú dã) 賦 也

Phải chăng bạn thiếu áo dùng,

Áo trong xin sẻ san cùng với anh.

Nay vua tuyển tướng hưng binh,

Này qua này kích sắm sanh sẵn rồi.

Cùng nhau ta sẽ sánh đôi,

Cùng nhau ta sẽ ra nơi sa trường.

Khởi viết vô y? 豈 曰 無 衣

Dữ tử đồng thường. 與 子 同 裳

Vương vô hưng sư, 王 于 興 師

Tu ngã giáp binh, 修 我 甲 兵

Dữ tử giai hành. 與 子 偕 行

(Phú dã) 賦 也

Phải chăng bạn thiếu áo dùng,

Quần tôi xin sẻ san cùng với anh.

Nay vua tuyển tướng hưng binh,

Này binh này giáp sắm sanh sẵn rồi.

Cùng nhau ta sẽ sánh đôi,

Cùng nhau ta sẽ vui tươi lên đường.

(Vô y: 3 bài, mỗi bài 5 câu.)

VỊ DƯƠNG (Tần phong 9)

渭 陽 (秦 風 第 九)

Ngã tống cữu thị, 我 送 舅 氏

Viết chí Vị Dương. 曰 至 渭 陽

Hà dĩ tặng chi? 何 以 贈 之

Lộ xa thặng hoàng. 路 車 乘 簧

(Phú dã) 賦 也

Cậu đi quyến luyến ta đưa,

Tiễn đưa mãi đến bên bờ Vị Dương.

Lấy chi làm chút lễ thường,

Cỗ xe với bốn ngựa vàng xin dâng.

Ngã tống cữu thị, 我 送 舅 氏

Du du ngã tư. 悠 悠 我 思

Hà dĩ tặng chi? 何 以 贈 之

Quỳnh khôi ngọc bội. 瓊 瑰 玉 佩

(Phú dã) 賦 也

Cậu đi quyến luyến ta đưa,

Nỗi riêng riêng những ngẩn ngơ bùi ngùi.

Lấy gì kỷ niệm chia phôi,

Xin đem ngọc bội, quỳnh khôi tặng người.

(Vị Dương: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

QUYỀN DƯ (Tần phong 10)

權 輿 (秦 風 第 十)

Ư ngã hồ! 於 我 乎

Hạ ốc cừ cừ; 夏 屋 渠 渠

Kim dã, mỗi thực vô dư. 今 也 每 食 無 餘

Vu ta hồ, 于 嗟 乎

Bất thừa quyền dư! 不 承 權 輿

(Phú dã) 賦 也

Nhớ hồi nào nhà cao cửa rộng,

Thế mà nay ăn cũng chẳng thừa.

Chuyện đời đã cám cảnh chưa,

Ngày nay đâu có như xưa mà hòng!

Ư ngã hồ! 於 我 乎

Mỗi thực tứ quỹ; 每 食 四 簋

Kim dã, mỗi thực bất bão. 今 也 每 食 不 飽

Vu ta hồ, 于 嗟 乎

Bất thừa quyền dư! 不 承 權 輿

(Phú dã) 賦 也

Nhớ hồi nào bữa đong tứ quỹ,

Thế mà nay ăn chỉ lửng lòng.

Tình đời có cám cảnh không,

Ngày nay đâu dễ mà hòng như xưa!

(Quyền dư: 2 bài, mỗi bài 5 câu.)

(Tần quốc có 10 thiên, 27 bài, 181 câu.)

秦 國 十 篇. 二 十 七 章. 一 百 八 十 一 句.
CHƯƠNG 10

10. TRẦN NHẤT CHI THẬP NHỊ 陳 一 之 十 二
UYỂN KHÂU 宛 丘 (Trần phong 陳 風1)

ĐÔNG MÔN CHI PHẦN 東 門 之 枌 (Trần phong 陳 風 2)

HÀNH MÔN 衡 門 (Trần phong 陳 風 3)

ĐÔNG MÔN CHI TRÌ 東 門 之 池 (Trần phong 陳 風 4)

ĐÔNG MÔN CHI DƯƠNG 東 門 之 楊 (Trần phong 陳 風 5)

MỘ MÔN 墓 門 (Trần phong 陳 風 6)

PHÒNG HỮU THƯỚC SÀO 防 有 鵲 巢 (Trần phong 陳 風 7)

NGUYỆT XUẤT 月 出 (Trần phong 陳 風 8)

CHU LÂM 株 林 (Trần phong 陳 風 9)

TRẠCH BA 澤 陂 (Trần phong 陳 風 10)

UYỂN KHÂU (Trần phong 1)

宛 丘 (陳 風 第 一)

Tử chi đãng hề, 子 之 湯 兮

Uyển Khâu chi thượng hề! 宛 丘 之 上 兮

Tuân hữu tình hề! 洵 有 情 兮

Nhi vô vọng hề! 而 無 望 兮

(Phú dã) 賦 也

Chàng quen thói phong lưu vui thú,

Đỉnh Uyển Khâu mấy độ nhởn nhơ.

Đời chàng đẹp đẽ như thơ,

Nhưng nào ai có trông nhờ được chi.

Khảm kỳ kích cổ, 坎 其 擊 鼓

Uyển Khâu chi hạ; 宛 丘 之 下

Vô đông vô hạ, 無 冬 無 夏

Trị kỳ lộ vũ. 值 其 鷺 羽

(Phú dã) 賦 也

Ầm tiếng trống điểm khi múa hát,

Dưới Uyển Khâu bát ngát rong chơi.

Trời đông trời hạ mặc trời,

Lông cò cầm múa, múa trôi tháng ngày.

Khảm kỳ kích phẫu, 坎 其 擊 缶

Uyển Khâu chi đạo; 宛 丘 之 上 兮

Vô đông vô hạ, 無 冬 無 夏

Trị kỳ lộ đạo. 值 其 鷺 翿

(Phú dã) 賦 也

Tiếng phẫu gõ đó đây rổn rảng,

Đường Uyển Khâu bảng lảng xa đưa.

Trời đông trời hạ chẳng lo,

Nhởn nhơ múa quạt lông cò cứ vui.

(Uyển Khâu: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

ĐÔNG MÔN CHI PHẦN (Trần phong 2)

東 門 之 枌 (陳 風 第 二)

Đông môn chi phần, 東 門 之 枌

Uyển Khâu chi hứa; 宛 丘 之 栩

Tử Trọng chi tử, 子 仲 之 子

Bà sa kỳ hạ. 婆 娑 其 下

(Phú dã) 賦 也

Cửa đông êm ả bóng văn,

Uyển Khâu hứa mọc mấy tầm xanh xanh.

Nàng con Tử Trọng tươi xinh,

Yêu kiều múa nhảy lượn vành dưới cây.

Cốc đán vu sa, 穀 旦 于 差

Nam phương chi nguyên; 南 方 之 原

Bất tích kỳ ma, 不 績 其 麻

Thị dã bà sa. 市 也 婆 娑

(Phú dã) 賦 也

Bình minh chọn buổi vắng mây,

Đồng Nam trai gái vui vầy giỡn chơi.

Nàng thời xếp việc se gai,

Múa băng qua chô, tới nơi họp đoàn.

Cốc đán vu thệ, 穀 旦 于 逝

Việt dĩ tông mại; 越 以 鬷 邁

Thị nhĩ như kiếu, 視 爾 如 荍

Di ngã ốc tiêu. 貽 我 握 椒

(Phú dã) 賦 也

Chọn ngày trời đẹp lên đàng,

Trai thanh gái lịch rộn ràng ra đi.

Nàng xinh trông tựa cẩm quỳ,

Nắm tiêu gọi chút ân nghì gửi ta.

(Đông môn chi phần: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

HÀNH MÔN (Trần phong 3)

衡 門 (陳 風 第 三)

Hành môn chi hạ, 衡 門 之 下

Khả dĩ thê trì; 可 以 棲 遲

Bí chi dương dương, 泌 之 洋 洋

Khả dĩ lạc ki. 可 以 樂 飢

(Phú dã) 賦 也

Cửa sài mấy mảnh gỗ ngang,

Khó nghèo ta vẫn thư nhàn thảnh thơi.

Suối trong róc rách chơi vơi,

Đói no ta vẫn vui tươi tháng ngày.

Khởi kỳ thực ngư, 豈 其 食 魚

Tất hà chi phường? 必 河 之 魴

Khởi kỳ thú thê, 豈 其 娶 妻

Tất Tề chi Khương. 必 齊 之 姜

(Phú dã) 賦 也

Cá mè nào thiếu chi đây,

Cần chi chuốc tận trời mây sông Hà.

Toan bề nghi thất nghi gia,

cần chi mơ ước những là Tề Khương.

Khởi kỳ thực ngư, 豈 其 食 魚

Tất hà chi lý? 必 河 之 鯉

Khởi kỳ thú thê, 豈 其 娶 妻

Tất Tống chi tử. 必 宋 之 子

(Phú dã) 賦 也

Ở đây cá chép vô vàn,

Sông hà ăn chép dặm ngàn làm chi?

Toan bề cầm sắt xướng tùy,

Đàn bà đất Tống hơn gì mà mơ.

(Hành môn: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)
ĐÔNG MÔN CHI TRÌ (Trần phong 4)

東 門 之 池 (陳 風 第 四)

Đông môn chi trì, 東 門 之 池

Khả dĩ âu ma; 可 以 漚 麻

Bỉ mỹ thục ki, 彼 美 淑 姬

Khả dữ ngộ ca. 可 與 晤 歌

(Hứng dã) 興 也

Cửa đông có một cái ao,

Ngâm gai thôi cứ bỏ vào đấy ngâm.

Nàng kia đẹp đẽ trẻ măng,

Cùng anh có thể đãi đằng xướng ca.

Đông môn chi trì, 東 門 之 池

Khả dĩ âu trữ; 可 以 漚 紵

Bỉ mỹ thục ki, 彼 美 淑 姬

Khả dữ ngộ ngữ. 可 與 晤 語

(Hứng dã) 興 也

Cửa đông có một cái ao,

Ngâm gai thôi cứ đem vào đấy ngâm.

Nàng kia đẹp đẽ trẻ măng,

Cùng anh có thể nói năng chuyện trò.

Đông môn chi trì, 東 門 之 池

Khả dĩ âu gian; 可 以 漚 菅

Bỉ mỹ thục ki, 彼 美 淑 姬

Khả dữ ngộ ngôn. 可 與 晤 言

(Hứng dã) 興 也

Cửa đông có một cái ao,

Cỏ may thôi cứ đem vào đấy ngâm.

Nàng kia đẹp đẽ trẻ măng,

Cùng anh có thể nói năng tự tình.

(Đông môn chi trì: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

ĐÔNG MÔN CHI DƯƠNG (Trần phong 5)

東 門 之 楊 (陳 風 第 五)

Đông môn chi dương, 東 門 之 楊

Kỳ diệp tàng tàng; 其 葉 牂 牂

Hôn dĩ vi kỳ, 昏 以 為 期

Minh tinh hoàng hoàng. 明 星 煌 煌

(Hứng dã) 興 也

Cửa đông tha thướt cành dương,

Lá tơ mơn mởn chiều vương bóng tà.

Hẹn nhau sẩm tối la đà,

Sao mai nay đã sáng lòa còn chi.

Đông môn chi dương, 東 門 之 楊

Kỳ diệp phế phế; 其 葉 肺 肺

Hôn dĩ vi kỳ, 昏 以 為 期

Minh tinh chế chế. 明 星 晢 晢

(Hứng dã) 興 也

Cửa đông tha thướt cành dương,

Lá tơ óng ả chiều vương bóng tà.

Hẹn nhau sẩm tối la đà,

Sao mai nay đã sáng lòa còn chi.

(Đông môn chi dương: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

MỘ MÔN (Trần phong 6)

墓 門 (陳 風 第 六)

Mộ môn hữu cức, 墓 門 有 棘

Phủ dĩ tư chi. 斧 以 斯 之

Phù dã bất lương, 夫 也 不 良

Quốc nhân tri chi; 國 人 知 之

Tri nhi bất dĩ, 知 而 不 已

Thùy tích nhiên hĩ? 誰 昔 然 矣

(Hứng dã) 興 也

Cổng mồ có mọc cây gai,

Búa rìu đáng lẽ một hai chặt rồi.

Chàng kia gian ác mấy mươi,

Nơi nơi đều biết, người người đều hay.

Nhưng chàng nào chịu đổi thay,

Gian ngoan luống trải tháng ngày từ bao.

Mộ môn hữu mai, 墓 門 有 梅

Hữu hào tụy chỉ. 有 鴞 萃 止

Phù dã bất lương, 夫 也 不 良

Ca dĩ tấn chi; 歌 以 訊 之

Tấn dư bất cố, 訊 予 不 顧

Điên đảo tư dư. 顛 倒 思 予

(Hứng dã) 興 也

Cổng mồ có mọc cây gai,

Đầu cành cú vọ một hai dập dìu.

Chàng kia gian ác trăm chiều,

Nên ta ca khúc nhắn điều thiệt hơn.

Nhưng chàng nào chịu khuyên lơn,

Sa cơ lúc đó mới buồn nhớ ta.

(Mộ môn: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)

PHÒNG HỮU THƯỚC SÀO (Trần phong 7)

防 有 鵲 巢 (陳 風 第 七)

Phòng hữu thước sào, 防 有 鵲 巢

Cùng hữu chỉ đào; 邛 有 旨 苕

Thùy chu dư mỹ? 誰 侜 予 美

Tâm yên đao đao! 心 焉 忉 忉

(Hứng dã) 興 也

Yến kia làm tổ bờ đê,

Đậu chiều chen chúc sum xuê đống gò.

Ấy ai gàng quải nhỏ to,

Để ta khắc khoải những lo cùng phiền.

Trung đường hữu tịch, 中 堂 有 甓

Cùng hữu chỉ nghịch; 邛 有 旨 鷸

Thùy chu dư mỹ? 誰 侜 予 美

Tâm yên dịch dịch! 心 焉 惕 惕

(Hứng dã) 興 也

Gạch hoa lát vỉa đường đền,

Mỡ màng cây nghịch lá ken đống gò.

Ấy ai gàng quải nhỏ to,

Để ta thấp thỏm âu lo đêm ngày.

(Phòng hữu thước sào: 2 bài, mỗi bài 6 câu.)
NGUYỆT XUẤT (Trần phong 8)

月 出 (陳 風 第 八)

Nguyệt xuất hạo hề! 月 出 皎 兮

Giao nhân liễu hề! 佼 人 僚 兮

Thư yểu kiểu hề! 舒 窈 糾 兮

Lao tâm kiểu hề! 勞 心 悄 兮

(Hứng dã) 興 也

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

Người đâu nhan sắc rạng ngời ánh hoa.

Sầu vương ai gỡ cho ra,

Nỗi lòng khắc khoải bao giờ mới khuây.

Nguyệt xuất hạo hề! 月 出 皎 兮

Giao nhân lão hề! 佼 人 懰 兮

Thư yêu thác hề! 舒 懮 受 兮

Lao tâm thảo hề! 勞 心 慅 兮

(Hứng dã) 興 也

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

Người đâu ngọc nói hoa cười trớ trêu.

Nỗi buồn càng dập càng khêu,

Tình thương nỗi nhớ trăm chiều vò tơ.

Nguyệt xuất chiếu hề! 月 出 照 兮

Giao nhân liệu hề! 佼 人 燎 兮

Thư yểu thiệu hề! 舒 夭 紹 兮

Lao tâm thiếu hề! 勞 心 慘 兮

(Hứng dã) 興 也

Vầng trăng sáng quắc đều trời,

Người đâu rực rỡ rạng ngời ánh hoa.

Sầu này ai gỡ cho ra,

Trăm thương nghìn nhớ, lòng ta tơ vò.

(Nguyệt xuất: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

CHU LÂM (Trần phong 9)

株 林 (陳 風 第 九)

Hồ vi hồ Chu Lâm? 胡 為 乎 株 林

Tòng Hạ Nam. 從 夏 南

Phỉ thích Chu Lâm, 匪 適 株 林

Tòng Hạ Nam. 從 夏 南

(Phú dã) 賦 也

Vì đâu cứ Chu Lâm ngài tới,

Ngài tới lui vui với Hạ Nam,

Ngài đâu có tới Chu Lâm,

Hạ Nam ngài cố ngài tầm cho ra.

Giá ngã thặng mã, 駕 我 乘 馬

Thuyết vu Chu Dã. 說 于 株 野

Thặng ngã thừa câu, 乘 我 乘 駒

Triều thực vu Chu. 朝 食 于 株

(Phú dã) 賦 也

Hãy chuẩn bị cho ta xa mã,

Để ta sang Chu Dã nghỉ ngơi.

Ngựa câu ta sẽ rong chơi,

Điểm tâm ta sẽ ăn ngoài ấp Chu.

(Chu Lâm: 2 bài, mỗi bài 4 câu.)

TRẠCH BA (Trần phong 10)

澤 陂 (陳 風 第 十)

Bỉ trạch chi ba, 彼 澤 之 陂

Hữu bồ dữ hà, 有 蒲 與 荷

Hữu mỹ nhất nhân, 有 美 一 人

Thương như chi hà! 傷 如 之 何

Ngụ mị vô vi, 寤 寐 無 為

Thế tứ bàng đà. 涕 泗 滂 沱

(Hứng dã) 興 也

Bên bờ đầm, lác chen sen mọc,

Nàng nào kia như ngọc như hoa.

Vì ai ngơ ngẩn vào ra,

Nhãng xao công việc, lơ là ngày đêm.

Cớ sao mắt mũi chảy nhèm?

Bỉ trạch chi ba, 彼 澤 之 陂

Hữu bồ dữ lan, 有 蒲 與 蘭

Hữu mỹ nhất nhân, 有 美 一 人

Thạc đại thả quyển! 碩 大 且 卷

Ngụ mị vô vi, 寤 寐 無 為

Trung tâm quyên quyên. 中 心 悁 悁

(Hứng dã) 興 也

Bên bờ đầm, lác chen lan mọc,

Nàng nào kia như ngọc như hoa.

Người đâu duyên dáng đẫy đà,

Để ta ra ngẩn vào ngơ đêm ngày.

Nỗi buồn biết sẻ cùng ai.

Bỉ trạch chi ba, 彼 澤 之 陂

Hữu bồ hàm diễm, 有 蒲 菡 萏

Hữu mỹ nhất nhân, 有 美 一 人

Thạc đại thả nghiễm. 碩 大 且 儼

Ngụ mị vô vi, 寤 寐 無 為

Triền chuyển phục chẩm. 輾 轉 伏 枕

(Hứng dã) 興 也

Bên bờ đầm, hoa sen chen lác,

Nàng nào kia nhan sắc như hoa.

Người đâu bệ vệ đẫy đà,

Để ta ra ngẩn vào ngơ đêm ngày.

Một mình trằn trọc canh chày.

(Trạch ba: 3 bài, mỗi bài 6 câu.)

(Trần quốc có 10 thiên, 26 bài, 114 câu.)

陳 國 十 篇. 二 十 六 章. 一 百 一 十 四 句.
KINH THI–THƠ CỦA TRUNG HOA CỔ ĐẠI
(chương 11–chót)

CHƯƠNG 11

11. CỐI NHẤT CHI THẬP TAM 檜 一 之 十 三
CAO CẦU 羔 裘 (Cối phong 檜 風 1)

TỐ QUAN 素 冠 (Cối phong 檜 風 2)

THẤP HỮU TRƯỜNG SỞ 隰 有 萇 楚 (Cối phong 檜 風 3)

PHỈ PHONG 匪風 (Cối phong 檜 風 4)


CAO CẦU (Cối phong 1)

羔 裘 (檜 風 第 一)

Cao cầu tiêu dao, 羔 裘 逍 遙

Hồ cầu dĩ triều. 狐 裘 以 朝

Khởi bất nhĩ tư? 豈 不 爾 思

Lao tâm đao đao. 勞 心 忉 忉

(Phú dã) 賦 也

Áo cừu mặc áo tiêu dao,

Áo hồ mặc lúc thiết trào uy nghi.

Há đâu chẳng nhớ chẳng vì,

Nhưng lòng ta những não nề chẳng vui.

Cao cầu cao tường, 羔 裘 翱 翔

Hồ cầu tại đường. 狐 裘 在 堂

Khởi bất nhĩ tư? 豈 不 爾 思

Lao tâm ưu thương. 勞 心 憂 傷

(Phú dã) 賦 也

Áo cừu mặc lúc rong chơi,

Áo hồ mặc lúc ra nơi sảnh đường.

Há đâu chẳng nhớ chẳng thương,

Nhưng lòng ta luống đoạn trường vì ai.

Cao cầu như cao, 羔 裘 如 膏

Nhật xuất hữu diệu. 日 出 有 曜

Khởi bất nhĩ tư? 豈 不 爾 思

Lao tâm thị điêu. 勞 心 是 悼

(Phú dã) 賦 也

Áo cừu óng ả mỹ miều,

Dương quang lóng lánh như thêu ánh vàng.

Những là một nhớ mười thương,

Nhưng lòng ta luống tơ vương mối sầu.

(Cao cầu: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

TỐ QUAN (Cối phong 2)

素 冠 (檜 風 第 二)

Thứ kiến tố quan hề! 庶 見 素 冠 兮

Cức nhân loan loan hề! 棘 人 欒 欒 兮

Lao tâm đoàn đoàn hề! 勞 心 慱 慱 兮

(Phú dã) 賦 也

Ước gì ta thấy khăn tang,

Với người để trở võ vàng mảnh mai.

Lòng riêng chua xót vì ai,

Xót xa vì thấy tình đời nhố nhăng.

Thứ kiến tố y hề! 庶 見 素 衣 兮

Ngã tâm thương bi hề! 我 心 傷 悲 兮

Liêu dữ tử đồng quy hề! 聊 與 子 同 歸 兮

(Phú dã) 賦 也

Ước gì ta thấy áo tang,

Ta hay thổn thức gan vàng chưa thôi.

Nào ai tang chế hẳn hoi,

Lòng ta ta nguyện ta xuôi về cùng.

Thứ kiến tố tất hề! 庶 見 素 韡 兮

Ngã tâm uẩn kết hề! 我 心 蘊 結 兮

Liêu dữ tử như nhất hề! 與 子 如 一 兮

(Phú dã) 賦 也

Ước gì ta thấy tất tang,

Mối sầu như thắt gan vàng bấy lâu.

Nào ai trọn hiếu trước sau,

Cho ta ý hiệp tâm đầu từ nay.

(Tố quan: 3 bài, mỗi bài 3 câu.)

THẤP HỮU TRƯỜNG SỞ (Cối phong 3)

隰 有 萇 楚 (檜 風 第 三)

Thấp hữu trường sở, 隰 有 萇 楚

Kha na kỳ chi; 猗 儺 其 枝

Yêu chi ốc ốc, 夭 之 沃 沃

Lạc tử chi vô tri. 樂 子 之 無 知

(Phú dã) 賦 也

Trong đồng tha thướt dương đào,

Cành tơ gió lượn, rạt rào màng mơ.

Linh lung duyên dáng nên thơ,

Ước gì ta sống hững hờ như cây.

Thấp hữu trường sở, 隰 有 萇 楚

Kha na kỳ hoa; 猗 儺 其 華

Yêu chi ốc ốc, 夭 之 沃 沃

Lạc tử chi vô gia. 樂 子 之 無 家

(Phú dã) 賦 也

Trong đồng tha thướt dương đào,

Hoa đua sắc thắm rạt rào màng mơ.

Linh lung duyên dáng nên thơ,

Ước gì ta sống không nhà như cây.

Thấp hữu trường sở, 隰 有 萇 楚

Kha na kỳ thật; 猗 儺 其 實

Yêu chi ốc ốc, 夭 之 沃 沃

Lạc tử chi vô thất. 樂 子 之 無 室

(Phú dã) 賦 也

Trong đồng tha thướt dương đào,

Quả sai núc ních rạt rào màng mơ,

Linh lung duyên dáng nên thơ,

Ước gì ta sống không nhà như cây.

(Thấp hữu trường sở: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)

PHỈ PHONG (Cối phong 4)

匪 風 (檜 風 第 四)

Phỉ phong phát hề! 匪 風 發 兮

Phỉ xa kiệt hề! 匪 車 偈 兮

Cố chiêm Chu đạo, 顧 瞻 周 道

Trung tâm đát hề! 中 心 怛 兮

(Phú dã) 賦 也

Chẳng phải gió ào ào thổi dậy,

Chẳng phải xe vút chạy lướt mau.

Ngoái nhìn đường dẫn sang Châu,

Trong lòng luống những sầu đau ngùi ngùi.

Phỉ phong phiêu hề! 匪 風 飄 兮

Phỉ xa phiếu hề! 匪 車 嘌 兮

Cố chiêm Chu đạo, 顧 瞻 周 道

Trung tâm điếu hề! 中 心 弔 兮

(Phú dã) 賦 也

Chẳng phải gió cuộn tròn vút thổi,

Chẳng phải xe lướt tới chuyển rung.

Đường sang Châu, chợt ngoái trông,

Ngùi ngùi luống những động lòng bi thương.

Thùy năng phanh ngư? 誰 能 亨 魚

Cái chi phủ tầm; 溉 之 釜 鬵

Thùy tương tây quy? 誰 將 西 歸

Hoài chi hảo âm. 懷 之 好 音

(Hứng dã) 興 也

Nấu cá hỏi rằng ai nấu đặng,

Thì cái nồi tôi hẳn rửa ngay.

Ai về Châu, bước sang tây.

Tôi xin an ủi tin may cho người.

(Phỉ phong: 3 bài, mỗi bài 4 câu.)
(Cối quốc có 4 thiên, 12 bài, 45 câu.)

檜 國 四 篇. 十 二 章. 四 十 五 句.

CHUNG

———————————-

*Hết phần Kinh Thi.
-Cám ơn quí vị đã theo dõi.

 

 

 

DANH NGON KHONG TU–MANH TU * 孔子名言

DANH NGÔN KHỔNG TỬ

孔子名言

DANH NGON KHONG TU–MANH TU

DANH NGÔN KHỔNG TỬ

DANH NGON KHONG TU–MANH TU * 孔子名言

孔子名言

DANH NGON KHONG TU–MANH TU
——————

DANH NGÔN KHỔNG TỬ

孔子名言
(1)學而時習之,不亦說乎 !
(2)巧言令色,鮮矣仁!
(3)道千乘之國,敬事而信,節用而愛人,使民以時。
(4)為政以德,誓如北辰,居其所而眾星共之。
(5)道之以政,齊之以刑,民免而無恥;道之以德,齊之以禮,有恥且格。
(6)溫故而知新,可以為師矣。
(7)學而不思則罔,思而不學則殆。
(8)知之為知之,不知為不知,是知也。
(9)人而無信,不知其可也。
(10)朝聞道,夕死可矣。
(11)父母在,不遠游,游必有方。
(12)始吾于人也,听其言而信其行;今吾于人也,听其言而觀其行。
(13)敏而好學,不恥下問,是謂之“文”也。
(14)中人以上,可以語上也;中人以下,不可以語上也。
(15)知者樂水,仁者樂山。知者動,仁者靜。知者樂,仁者壽。
(16)民可使由之,不可使知之。
(17)篤信好學,死守善道。危邦不人,亂邦不居,天下有道則見,無道則隱。
(18)不在其位,不謀其政。
(19)后生可畏,焉知來者之不如今也㊣四十五十而無聞焉,廝亦不足畏也已!
(20)三軍可奪帥也,匹伕不可奪志也。
(21)知者不惑;仁者不憂;勇者不懼。
(20)寢不尸,居不容。
(21)過猶不及。
(22)克己复禮,為仁。
(23)非禮勿視,非禮勿听,非禮勿言,非禮勿動。
(24)己所不慾,勿施于人;在邦無怨,在傢無怨。
(25)君,君;臣,臣;父,父;子,子。
(26)片言可以折獄者,其由也与!
(27)听訟,吾猶人也。必也,使無訟乎!
(28)其身正,不令而行;其身不正,雖令不從。
(29)無慾速;無見小利。慾速則不躂;見小利則大事不成。
(30)剛、毅、木訥,近仁。
(31)何以報德㊣以直報怨,以德報德。
(32)工慾善其事,必先利其器。
(33)人無遠慮,必有近憂。
(34)群居終日,言不及義,好行小慧;難矣哉!
(35)不以言舉人;不以人廢言。
(36)巧言亂德。小不忍,則亂大謀。
(37)過而不改,是謂過矣!
(38)生而知之者,上也;學而知之者,佽也;困而學之,又其佽也。困而不學,民廝為下矣!
(39)見得思義。
(40)性相近也,習相遠也。
(41)唯上知与下愚,不移。
(42)恭、寬、信、敏、惠:恭則不侮,寬則得眾,信則人任焉,敏則有功,惠則足以使人。
(43)色厲而內荏,譬諸小人,其猶穿窬之盜也与!
(44)道听而塗說,德之棄也!
(45)飽食終日,無所用心,難矣哉!不有博弈者乎㊣為之猶賢乎已!
(46)年四十而見惡焉,其終也已!
(47)德不孤,必有鄰。
(48)知之者不如好之者,好之者不如樂之者。
(49)不怨天,不尤人,下學而上躂。

Khổng Tử Danh Ngôn

(1)học nhi thời tập chi , bất diệc thuyết hồ !
(2)xảo ngôn lệnh sắc , tiên hĩ nhân !
(3)đạo thiên thừa chi quốc , kính sự nhi tín , tiết dụng nhi ái nhân , sử dân dĩ thời .
(4)vi chính dĩ đức , thệ như bắc thần , cư kỳ sở nhi chúng tinh cộng chi .
(5)đạo chi dĩ chính , tề chi dĩ hình , dân miễn nhi vô sỉ ;đạo chi dĩ đức , tề chi dĩ lễ , hữu sỉ thả cách .
(6)ôn cố nhi tri tân , khả dĩ vi sư hĩ .
(7)học nhi bất tư tắc võng , tư nhi bất học tắc đãi .
(8)tri chi vi tri chi , bất tri vi bất tri , thị tri dã .
(9)nhân nhi vô tín , bất tri kỳ khả dã .
(10)triêu văn đạo , tịch tử khả hĩ .
(11)phụ mẫu tại , bất viễn du , du tất hữu phương .
(12)thuỷ ngô vu nhân dã , thính kỳ ngôn nhi tín kỳ hành ;kim ngô vu nhân dã , thính kỳ ngôn nhi quán kỳ hành .
(13)mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn , thị vị chi “văn ”dã .
(14)trung nhân dĩ thượng , khả dĩ ngữ thượng dã ;trung nhân dĩ hạ , bất khả dĩ ngữ thượng dã .
(15)tri giả lạc thuỷ , nhân giả lạc sơn . tri giả động , nhân giả tĩnh . tri giả lạc , nhân giả thọ .
(16)dân khả sử do chi , bất khả sử tri chi .
(17)đốc tín hiếu học , tử thủ thiện đạo . nguy bang bất nhân , loạn bang bất cư , thiên hạ hữu đạo tắc kiến , vô đạo tắc ẩn .
(18)bất tại kỳ vị , bất mưu kỳ chính .
(19)hậu sinh khả uý , yên tri lai giả chi bất như kim dã chính tứ thập ngũ thập nhi vô văn yên , tư diệc bất túc uý dã dĩ !
(20)tam quân khả đoạt soái dã , thất phu bất khả đoạt chí dã .
(21)tri giả bất hoặc ;nhân giả bất ưu ;dũng giả bất cụ .
(20)tẩm bất thi , cư bất dung .
(21)quá do bất cập .
(22)khắc kỷ phúc lễ , vi nhân .
(23)phi lễ vật thị , phi lễ vật thính , phi lễ vật ngôn , phi lễ vật động .
(24)kỷ sở bất dục , vật thi vu nhân ;tại bang vô oán , tại gia vô oán .
(25)quân , quân ;thần , thần ;phụ , phụ ;tử , tử .
(26)phiến ngôn khả dĩ chiết ngục giả , kỳ do dã dư !
(27)thính tụng , ngô do nhân dã . tất dã , sử vô tụng hồ !
(28)kỳ thân chính , bất lệnh nhi hành ;kỳ thân bất chính , tuy lệnh nhi bất tùng .
(29)vô dục tốc ;vô kiến tiểu lợi . dục tốc tắc bất đạt ;kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành .
(30)cương 、nghị 、mộc nột , cận nhân .
(31)hà dĩ báo đức chính dĩ trực báo oán , dĩ đức báo đức .
(32)công dục thiện kỳ sự , tất tiên lợi kỳ khí .
(33)nhân vô viễn lự , tất hữu cận ưu .
(34)quần cư chung nhật , ngôn bất cập nghĩa , hảo hành tiểu huệ ;nan hĩ tai !
(35)bất dĩ ngôn cử nhân ;bất dĩ nhân phế ngôn .
(36)xảo ngôn loạn đức . tiểu bất nhẫn , tắc loạn đại mưu .
(37)quá nhi bất cải , thị vị quá hĩ !
(38)sinh nhi tri chi giả , thượng dã ;học nhi tri chi giả , thứ dã ;khốn nhi học chi , hựu kỳ thứ dã . khốn nhi bất học , dân tư vi hạ hĩ !
(39)kiến đắc tư nghĩa .
(40)tính tương cận dã , tập tương viễn dã .
(41)duy thượng tri dữ hạ ngu , bất di .
(42)cung 、khoan 、tín 、mẫn 、huệ :cung tắc bất vụ , khoan tắc đắc chúng , tín tắc nhân nhậm yên , mẫn tắc hữu công , huệ tắc túc dĩ sử nhân .
(43)sắc lệ nhi nội nhiệm , thí chư tiểu nhân , kỳ do xuyên du chi đạo dã dư !
(44)đạo thính nhi đồ thuyết , đức chi khí dã !
(45)bão thực chung nhật , vô sở dụng tâm , nan hĩ tai !bất hữu bác dịch giả hồ chính vi chi do hiền hồ dĩ !
(46)niên tứ thập nhi kiến ác yên , kỳ chung dã dĩ !
(47)đức bất cô , tất hữu lân .
(48)tri chi giả bất như hiếu chi giả , hiếu chi giả bất như lạc chi giả .
(49)bất oán thiên , bất vưu nhân , hạ học nhi thượng đạt .
Khổng Tử Danh Ngôn

(1)học nhi thời tập chi , bất diệc thuyết hồ chính
(2)xảo ngôn lệnh sắc , tiên hĩ nhân !
(3)đạo thiên thừa chi quốc , kính sự nhi tín , tiết dụng nhi ái nhân , sử dân dĩ thời .
(4)vi chính dĩ đức , thệ như bắc thần , cư kỳ sở nhi chúng tinh cộng chi .
(5)đạo chi dĩ chính , tề chi dĩ hình , dân miễn nhi vô sỉ ;đạo chi dĩ đức , tề chi dĩ lễ , hữu sỉ thả cách .
(6)ôn cố nhi tri tân , khả dĩ vi sư hĩ .
(7)học nhi bất tư tắc võng , tư nhi bất học tắc đãi .
(8)tri chi vi tri chi , bất tri vi bất tri , thị tri dã .
(9)nhân nhi vô tín , bất tri kỳ khả dã .
(10)triêu văn đạo , tịch tử khả hĩ .
(11)phụ mẫu tại , bất viễn du , du tất hữu phương .
(12)thuỷ ngô vu nhân dã , thính kỳ ngôn nhi tín kỳ hành ;kim ngô vu nhân dã , thính kỳ ngôn nhi quán kỳ hành .
(13)mẫn nhi hiếu học , bất sỉ hạ vấn , thị vị chi “văn ”dã .
(14)trung nhân dĩ thượng , khả dĩ ngữ thượng dã ;trung nhân dĩ hạ , bất khả dĩ ngữ thượng dã .
(15)tri giả lạc thuỷ , nhân giả lạc sơn . tri giả động , nhân giả tĩnh . tri giả lạc , nhân giả thọ .
(16)dân khả sử do chi , bất khả sử tri chi .
(17)đốc tín hiếu học , tử thủ thiện đạo . nguy bang bất nhân , loạn bang bất cư , thiên hạ hữu đạo tắc kiến , vô đạo tắc ẩn .
(18)bất tại kỳ vị , bất mưu kỳ chính .
(19)hậu sinh khả uý , yên tri lai giả chi bất như kim dã chính tứ thập ngũ thập nhi vô văn yên , tư diệc bất túc uý dã dĩ !
(20)tam quân khả đoạt soái dã , thất phu bất khả đoạt chí dã .
(21)tri giả bất hoặc ;nhân giả bất ưu ;dũng giả bất cụ .
(20)tẩm bất thi , cư bất dung .
(21)quá do bất cập .
(22)khắc kỷ phúc lễ , vi nhân .
(23)phi lễ vật thị , phi lễ vật thính , phi lễ vật ngôn , phi lễ vật động .
(24)kỷ sở bất dục , vật thi vu nhân ;tại bang vô oán , tại gia vô oán .
(25)quân , quân ;thần , thần ;phụ , phụ ;tử , tử .
(26)phiến ngôn khả dĩ chiết ngục giả , kỳ do dã dư !
(27)thính tụng , ngô do nhân dã . tất dã , sử vô tụng hồ !
(28)kỳ thân chính , bất lệnh nhi hành ;kỳ thân bất chính , tuy lệnh nhi bất tùng .
(29)vô dục tốc ;vô kiến tiểu lợi . dục tốc tắc bất đạt ;kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành .
(30)cương 、nghị 、mộc nột , cận nhân .
(31)hà dĩ báo đức chính dĩ trực báo oán , dĩ đức báo đức .
(32)công dục thiện kỳ sự , tất tiên lợi kỳ khí .
(33)nhân vô viễn lự , tất hữu cận ưu .
(34)quần cư chung nhật , ngôn bất cập nghĩa , hảo hành tiểu huệ ;nan hĩ tai !
(35)bất dĩ ngôn cử nhân ;bất dĩ nhân phế ngôn .
(36)xảo ngôn loạn đức . tiểu bất nhẫn , tắc loạn đại mưu .
(37)quá nhi bất cải , thị vị quá hĩ !
(38)sinh nhi tri chi giả , thượng dã ;học nhi tri chi giả , thứ dã ;khốn nhi học chi , hựu kỳ thứ dã . khốn nhi bất học , dân tư vi hạ hĩ !
(39)kiến đắc tư nghĩa .
(40)tính tương cận dã , tập tương viễn dã .
(41)duy thượng tri dữ hạ ngu , bất di .
(42)cung 、khoan 、tín 、mẫn 、huệ :cung tắc bất vụ , khoan tắc đắc chúng , tín tắc nhân nhậm yên , mẫn tắc hữu công , huệ tắc túc dĩ sử nhân .
(43)sắc lệ nhi nội nhiệm , thí chư tiểu nhân , kỳ do xuyên du chi đạo dã dư !
(44)đạo thính nhi đồ thuyết , đức chi khí dã !
(45)bão thực chung nhật , vô sở dụng tâm , nan hĩ tai !bất hữu bác dịch giả hồ chính vi chi do hiền hồ dĩ !
(46)niên tứ thập nhi kiến ác yên , kỳ chung dã dĩ !
(47)đức bất cô , tất hữu lân .
(48)tri chi giả bất như hiếu chi giả , hiếu chi giả bất như lạc chi giả .
(49)bất oán thiên , bất vưu nhân , hạ học nhi thượng đạt .
————-
(1)學而時習之,不亦說乎.
(1)học nhi thời tập chi , bất diệc thuyết hồ !
*Nghĩa:- học rồi thì phải thực hành, đừng nên chỉ nói suông !
(29)無慾速;無見小利。慾速則不躂;見小利則大事不成。
(29)vô dục tốc ;vô kiến tiểu lợi . dục tốc tắc bất đạt ;kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành .
*Nghĩa:- Đừng muốn gấp, đừng ham lợi nhỏ. Muốn gấp thì chẳng đạt, ham lợi nhỏ thì việc lớn không thành.

Xảo ngôn lệnh sắc tiễn hỉ nhân:
bề ngoài thơn thớt nói cười
mà trong nham hiểm giết người không dao.

“Lời nói chẳng mất tiền mua,
Liệu lời mà nói ,cho vừa lòng nhau”.

Quá nhi bất cải , thị vị quá hĩ.

“Những kẻ nên khôn đều có dại,
Làm người có dại mới nên khôn”

[Tử Cống hỏi: “ Tại sao, thầy than rằng: Chẳng ai biết Thầy.”
Đức Khổng đáp: “Ta không oán Trời, ta không trách Người. Còn về đạo lý, thì ta khởi học từ mức thấp, để đạt lên mức cao. Biết ta chăng, chỉ có Trời.” (Luận Ngữ, XIV, 37).]

“(35)bất dĩ ngôn cử nhân; bất dĩ nhân phế ngôn.”
Một lời nói phải, chưa chắc làm chứng cho người ấy là người tốt; và người có xấu chăng nữa nhưng lời nói phải của họ cũng có ích.

(35)不以言舉人; 不以人廢言。
(35)bất dĩ ngôn cử nhân; bất dĩ nhân phế ngôn.

***
1.- Nói về câu (25)君,君;臣,臣;父,父;子,子。
(25)quân , quân ;thần , thần ;phụ , phụ ;tử , tử .
*Nghĩa chính:- Vua cho ra vua, bề tôi đáng bề tôi. Cha xứng đáng là cha, con làm tròn bổn phận của con.
-Nghĩa là :- Vua phải là “minh quân”
-Bề tôi là “trung thần” và “hiền thần”
-Người cha phải là “từ phụ” (nuôi nấng dạy dỗ con nên người)
-Người con phải là “hiếu tử” (vâng lời, làm rạng danh giá gia đình, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, lo hậu sự cho cha mẹ hoàn tất …)

*Giai thoại về Cao Bá Quát:-

[ Một hôm vua Tự Đức đọc lên câu đối, bảo là mới làm xong:-

臣可報君恩—Thần khả báo quân ân
子能承父業—Tử năng thừa phụ nghiệp
(Bề tôi phải rán báo đáp ơn vua—Con phải gắng kế thừa và phát huy sự nghiệp của cha mẹ)

(*Chú thích:- Ngày xưa chữ Hán viết từ trên xuống dưới, phải qua trái)
Các quan đều khen hay (dĩ nhiên rồi !) . Chỉ riêng Cao Bá Quát cười tủm tỉm:-
“Hảo hề ! Hảo hề ! Phụ tử quân thần điên đảo—Vui thay ! Vui thay ! Cha con vua tôi đảo lộn ) . Vua hỏi lý do. Quát tâu:- “Bề tôi đứng trên vua, Con đứng trên cha, chẳng phải là đảo lộn trật tự sao ?”. Vua bảo sửa. Quát đọc ngay:-

君恩臣可報—Quân ân, thần khả báo ,
父業子能承—Phụ nghiệp, tử năng thừa .
(Ơn vua , bề tôi rán báo đáp—Sự nghiệp cha, con rán phát huy)

Vua Tự Đức thưởng cho một chun ngự tửu. ]
***
2.- Câu 36:-
(36)巧言亂德。小不忍,則亂大謀。
(36)xảo ngôn loạn đức . tiểu bất nhẫn , tắc loạn đại mưu .

*Chữ Xảo 巧 có các nghĩa sau:-
1 : Khéo.
2 : Tươi, như “xảo tiếu” 巧笑 cười tươi.
3 : Dối trá giả mạo , như “xảo ngôn” 巧言 nói dối giả.
4 : Vừa hay, như “thấu xảo” 湊巧 không hẹn mà gặp.
5 : Tục quen cứ đến ngày 7 tháng 7 làm cỗ bàn cầu cúng hai ngôi sao Khiên-ngưu Chức-nữ để xin ban tài khéo cho đàn bà con gái gọi là “khất xảo” 乞巧. Tục gọi tháng 7 là “xảo nguyệt” 巧月 là bởi đó.
Ở đây dùng nghĩa thứ ba 3 : Dối trá giả mạo , như “xảo ngôn” 巧言 nói dối giả.
*Các thí dụ:- nịnh thần, nữ sắc làm mất ngôi vua …
*Chữ Nhẫn 忍 có các nghĩa sau:-
1 : Nhịn, như làm việc khó khăn cũng cố làm cho được gọi là “kiên nhẫn” 堅忍, khoan dong cho người không vội trách gọi là “dong nhẫn” 容忍, v.v.
2 : Nỡ, làm sự bất nhân mà tự lấy làm yên lòng gọi là “nhẫn”. Như “nhẫn tâm hại lý” 忍心害理 nỡ lòng làm hại lẽ trời.
-Ở đây dùng nghĩa thứ nhất , ý 1 :- kiên nhẫn.
Nhẫn có hai yếu tố:- a/- Nhận:- 刃con dao, mũi tên, nhỏ, nhọn bén.
b/- Tâm 心 có các nghĩa:-
1 : Tim, đời xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái gì thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như “tâm cảnh” 心境, “tâm địa” 心地, v.v. Nghiên cứu về chỗ hiện tượng của ý thức người gọi là “tâm lý học” 心理學. Phật học cho muôn sự muôn lẽ đều do tâm người tạo ra gọi là phái “duy tâm” 唯心. Nhà Phật chia ra làm nhiều thứ, nhưng rút lại có hai thứ tâm trọng yếu nhất : 1) “vọng tâm” 妄心 cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy, 2) “chân tâm” 真心 cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng linh thông, đầy đủ mầu nhiệm không cần phải nghĩ mới biết, cũng như tấm gương trong suốt, vật gì qua nó là soi tỏ ngay, khác hẳn với cái tâm phải suy nghĩ mới biết, phải học hỏi mới hay. Nếu người ta biết rõ cái chân tâm (“minh tâm” 明心) mình như thế mà xếp bỏ sạch hết cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy đi thì tức thì thành đạo ngay.
2 : Giữa, phàm nói về phần giữa đều gọi là “tâm”. Như “viên tâm” 圓心 giữa vòng tròn, “trọng tâm” 重心 cốt nặng, v.v.
3 : Sao “tâm” 心, một ngôi sao trong nhị thập bát tú.
4 : Cái gai.
-Ở đây dùng nghĩa 1, ý 1
-“Nhẫn” 忍 nghĩa đen là mũi nhọn đâm vào tim mà vẫn chịu đựng nổi. Nghĩa bóng
“Nhịn, như làm việc khó khăn cũng cố làm cho được gọi là “kiên nhẫn” 堅忍”
-Thí dụ:- các chuyện Hàn Tín, Phạm Lãi vv…

*Chữ Mưu 謀có các nghĩa:-
1 : Toan tính, toan tính trước rồi mới làm gọi là “mưu”. Như “tham mưu” 參謀 cùng dự vào việc mưu toan ấy, “mưu sinh” 謀生 toan mưu sự sinh nhai, nay gọi sự gặp mặt nhau là “mưu diện” 謀面 nghĩa là mưu toan cho được gặp mặt nhau một lần vậy.
2 : Mưu kế.
3 : Mưu cầu.
-Ở đây dùng nghĩa thứ ba (mưu cầu) . Đại mưu :- mưu cầu việc lớn lao.
***
-Phần lý giải , byphuong đã nói đúng. Xin biểu dương em.
(Câu kế (37)過而不改,是謂過矣!(37)quá nhi bất cải , thị vị quá hĩ !
*Gợi ý:- Quá- 過 sự, hành động lầm lỗi . Hĩ 矣 :- từ đệm, nghĩa là “vậy”
Câu nầy cũng dễ, byphuong giảng tiếp nhé !
1.- Ôn cố:- để
a/- biết cái sai, xấu mà tránh, cách khắc phục
b/- biết cái đúng, hay mà theo, làm cho hay hơn.

2.-Tri tân:-biết cái mới , mà:-
a/- Vẫn dựa trên nền tảng cái cũ (không mất gốc, nhất là về văn hóa)
b/- Cái mới phải hay hơn cái cũ
c/- phải làm mới liên tục (nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân)

3.- Vi sư :- theo quan điểm “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả, tùng chi. Kỳ bất thiện giả, cải chi” (Ba người cùng đi chung, ắt phải có thầy của ta. Chọn lựa cái hay tốt mà theo, biết cái dỡ xấu mà tránh, sửa ).
Vế trước dạy về quá khứ, tương lai. Vế sau dạy về hiện tại.

Làm thầy phải :-
a/- chịu khó học tập , rèn luyện không ngừng, không tự mãn, tự cao.
b/- thực tâm giúp người khác được tiến bộ
c/- thực hành câu :-“Học trò hơn thầy là xã hội tiến bộ” và “Con hơn cha là nhà có phúc”.

 

 

 

 

Lam Chu Van Menh

Lam Chu Van Menh

Lam Chu Van Menh

Làm Chủ Vận Mệnh

Lam Chu Van Menh

Thích Minh Quang biên dịch

Làm Chủ Vận Mệnh.
—o0o—

Làm Chủ Vận Mệnh

Thích Minh Quang biên dịch

Ban Ấn Tống Giác Nguyên
129F/186/2 Bến Vân Đồn, P.4, Q.4, T.P. HCM (GP.117-88/XB/01.2001)
—o0o—
Mục Lục

Lời đầu sách

Chương một: Môn học lập mệnh

Chương hai: Sửa đổi lỗi lầm

Chương ba: Tích chứa phước thiện

Chương bốn: Học đức khiêm tốn

—o0o—

LỜI ĐẦU SÁCH

Làm Chủ Vận Mệnh là sách ghi lại lời gia huấn của Viên Liễu Phàm đời Minh Trung Quốc, mục đích dạy cho con ông là Viên Thiên Khải biết được chân tướng vận mệnh, phân biệt tiêu chuẩn thiện ác, nắm vững phương pháp cải ác làm lành, cho đến những ứng nghiệm của việc hành thiện, tích đức, khiêm tốn, v.v… Câu chuyện này đều là người thật việc thật, và đạo lý nói đến được nghiệm chứng bằng chính kinh nghiệm cải đổi vận mệnh của tác giả Viên Liễu Phàm. Đây thật là một quyển sách quý, có ích cho thế đạo nhân tâm, chuyển hóa lòng người, xây dựng xã hội an lạc.

Song nguyên tác được viết bằng Hán cổ, không dễ gì cho người hiện nay đọc hiểu. Cho nên vào năm đầu Dân Quốc, có Hoàng Trí Hải tiên sinh đã không ngại khó, dùng tiếng Bạch Thoại chú giải tường tận, mục đích đại chúng hóa sách này, khiến mọi người thấm nhuần pháp ích. Có thể nói, đây là việc làm khổ nhọc với hoài bảo to lớn, công đức thật vô lượng. Bản chú giải của Hoàng Trí Hải được truyền bá rộng rãi trong dân gian, với ưu điểm là nội dung phong phú, tường tận. Song đó cũng là chỗ khuyết điểm của nó. Vì người hiện nay không đủ kiên nhẫn và thời gian để đọc dài dòng, e rằng vì lý do này sẽ ảnh huởng đến hứng thú đọc quyển sách quý, thì thật là điều đáng tiếc.

Học Hội Hoằng Pháp Liễu Phàm và Ban Ấn Tống Giác Nguyên nhận thức được điểm này, nên đã phát tâm chỉnh lý, biên tập, phiên dịch và cho in ra, để giúp mọi người dễ đọc dễ hiểu, sinh tâm hoan hỉ. Lại do các vị thiện tâm cùng góp phần công đức, đọc thu thành băng ghi âm. Quyển sách này chính là bản căn cứ cho phần ghi âm. Hy vọng rằng những ai được đọc, được nghe, sẽ học theo tinh thần làm chủ vận mệnh của Liễu Phàm tiên sinh, cải đổi những điều không tốt, và sáng tạo một tương lai xán lạn cho mình, cho quốc gia xã hội, cho đến toàn thể nhân loại.
CHƯƠNG MỘT

MÔN HỌC LẬP MỆNH

Lập mệnh chính là sáng tạo ra vận mệnh, không để bị vận mệnh trói buộc. Chương Lập Mệnh này, chính là bàn đến cái học lập mệnh, giải giải đạo lý an thân. Viên Liễu Phàm tiên sinh đã đem kinh nghiệm bản thân, cùng nhiều nghiệm chứng trong việc cải đổi vận mệnh để dạy cho con trai. Ông muốn con trai mình là Viên Thiên Khải không nên bó tay trước vận mệnh, mà phải gắng hết sức cải đổi vận mệnh, bằng cách hành thiện, đoạn ác, như người xưa nói: Đừng chê điều thiện nhỏ mà không làm, đừng khinh điều ác nhỏ mà làm. Nếu làm được như vậy, nhất định sẽ cải đổi vận mệnh, như người xưa từng nói: Đoạn ác tu thiện, dứt trừ tai ương, phước thọ miên trường. Đây chính là nguyên lý cải đổi vận mệnh.

Ngàn người ngàn số mệnh, mỗi mệnh mỗi khác nhau. Viên Liễu Phàm đời Minh, vận mệnh vốn bình thường, gặp được Khổng tiên sinh, đoán số đều trúng cả. Chết yểu lại tuyệt hậu, công danh chẳng có đâu, do đời trước nghiệp sâu. Suốt hai mươi năm dài, sống theo dòng nghiệp xoáy, đúng số mệnh chẳng sai. Gặp thiền sư Vân Cốc, khai thị cho pháp lành, Viên Liễu Phàm cư sĩ, mới chuyển đổi mệnh mình, mới chuyển đổi mệnh mình.

Cha thuở nhỏ mất cha sớm. Bà nội bảo cha bỏ học, không nên đi thi đeo đuổi công danh, mà đổi học ngành y làm thầy trị bệnh. Bà nội bảo: “Học nghề thuốc vừa có thể kiếm tiền nuôi thân, vừa có thể cứu giúp người khác. Nếu y thuật đến mức cao minh, cũng có thể trở thành y sư danh tiếng. Đây chính là tâm nguyện của cha con khi còn sinh tiền”.

Về sau cha ở chùa Từ Vân tình cờ gặp được một ông lão tướng mạo phi phàm, râu dài phất phới, có vẻ tiên phong đạo cốt. Cha do đó cung kính vái chào. Ông lão bảo: “Ngươi là người trong chốn quan trường năm sau có thể đi thi, bước vào hàng trí thức cao, thế tại sao không chịu đi học?”

Cha trả lời vì ý của bà nội muốn cha bỏ học để đeo đuổi ngành y. Kế đó cha lại hỏi tính danh, nơi cư trú của cụ, cụ đáp: “Ta họ Khổng, người Vân Nam, được chân truyền của Triệu Khương Tiết tiên sinh, người tinh thông về dịch số Hoàng Cực. Tính theo số định, ta phải tuyền môn dịch số này cho ngươi”.

Do đó, cha đưa vị tiên sinh này về nhà, thưa lại mọi việc với bà nội. Bà nội bảo cha phải tiếp đãi cụ chu đáo. Lại còn dạy rằng: “Vi tiên sinh này tinh thông dịch số vận mệnh. Vậy con thử nhờ cụ tính cho một quẻ xem sao. Thử coi có linh nghiệm hay không”.

Kết quả thật không ngờ, Khổng tiên sinh tính số mệnh cha, dù là việc nhỏ cũng vô cùng chính xác. Cha nghe theo lời cụ, có ý định đi học lại, nên bàn với người anh họ tên là Thẩm Xưng. Anh họ bảo: “Tôi có một người bạn thân tên là Úc Hải Cốc mở lớp dạy học ở nhà Úc Hữu Phu. Tôi đưa cậu đến đó ở trọ theo học, rất tiện”.

Từ đó cha bắt đầu theo tiên sinh Úc Hải Cốc học tập. Một lần Khổng tiên sinh tính số cho cha bảo: “Lúc ngươi chưa có công danh, còn là học sinh, thi Huyện đứng hạng mười bốn, thi Phủ đứng hạng bảy mươi mốt, thi Đề Học đứng hạng chín”.

Đến năm sau, cha đi thi ba nơi, thứ hạng quả nhiên đúng như lời Không tiên sinh nói. Khổng tiên sinh lại tính cho cha một quẻ kiết hung họa phúc suốt đời. Cụ bảo: “Ngươi vào năm nào đó sẽ thi đậu hạng mấy, vào năm nào đó sẽ bổ chức Lẫm sinh, vào năm nào đó lên chức Cống sinh, và năm nào đó được chọn làm Huyện truởng một huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Làm chức Huyện truởng được ba năm rưỡi, bèn từ quan về quê. Vào giờ sửu ngày mười bốn tháng năm năm mươi ba tuổi, ngươi sẽ từ trần tại nhà. Tiếc rằng số của ngươi không có con trai”.

Những lời này cha đều ghi lại, và nhớ kỹ trong lòng. Từ đó về sau mỗi khi thi cử, thứ hạng đều đúng như lời Khổng tiên sinh đã đoán. Chỉ có điều cụ đoán số thóc mà cha lãnh khi làm chức Lẫm sinh là chín mươi mốt thạch năm đấu, sau đó mới thăng chức. Không ngờ khi mới nhận được bảy mươi mốt thạch thóc, quan Học Đài là Đồ tông sư phê chuẩn cha được bổ chức Cống sinh. Cha nghĩ thầm trong bụng: Khổng tiên sinh đoán số cũng có chỗ không linh nghiệm.

Không ngờ sau đó giấy phê chuẩn thăng chức của cha bị quan Học Đài thay thế là Dương tông sư bác bỏ, không cho làm chức Cống sinh. Mãi đến năm Đinh Mão, Ân Thu Minh tông sư xem thấy bài dự thi tuyển của cha, thấy không được chấm đậu, nên lấy làm tiếc, than rằng: “Năm bài văn sách làm trong quyển thì nàykhác nào tấu điệp dâng lên cho vua. Người có học thức như thế này lẽ nào lại để cho mai một đến già?”

Do đó ông dặn quan huyện đưa hồ sơ của cha lên chỗ ông, phê chuẩn cha bổ chức

Cống sinh. Trải qua sự trắc trở này, cha huởng thêm một số thóc của chức Lẫm sinh, cộng với bảy mươi mốt thạch thóc đã ăn khi trước, vừa đúng chín mươi mốt thạch năm đấu. Sau khi xảy ra sự việc này, cha càng tin tuởng: Công danh tiến thoái thăng trầm của một đời người đều do số mạng định sẵn. Sự thành đạt đến sớm hay muộn, đều có thời gian nhất định. Do đó cha xem mọi thứ bình thường, không còn có lòng tranh cầu gì nữa.

Khi được tuyển làm chức Cống sinh, theo quy định phải đến trường Quốc Tử Giám ở Bắc Kinh để học. Cho nên cha ở kinh thành một năm, suốt ngày ngồi yên, không nói chuyện, cũng không khởi tư tuởng. Tất cả sách vở đều không xem đến. Đến năm Kỷ Tỵ, cha trở về học ở trường Quốc Tử Giám tại Nam Kinh, tranh thủ thời gian trước khi nhập học, đến núi Thê Hà bái kiến thiền sư Vân Cốc. Ngài là một vị cao tăng đắc đạo.

Cha ngồi đối diện với thiền sư trong một gian thiền phòng suốt ba ngày ba đêm, không hề chợp mắt. Vân Cốc thiền sư hỏi: “Người ta sở dĩ không thể trở nên thánh nhân chỉ vì vọng niệm trong tâm khởi lên không ngừng. Ngươi tịnh tọa ba ngày, ta chưa từng thấy ngươi khởi lên một niệm vọng tuởng, đó là vì sao?”

Cha đáp: “Số mệnh của tôi đã được Khổng tiên sinh xem rõ rồi. Lúc nào sinh, lúc nào chết, lúc nào đắc ý, lúc nào thất ý đều có số định sẵn, không cách gì thay đổi được. Vậy cho dù có nghĩ tuởng mong ước cái gì đi nữa cũng vô ích. Cho nên tôi chẳng thèm nghĩ tuởng, do đó trong tâm cũng không có vọng niệm.”

Vân Cốc thiền sư cười bảo: “Ta vốn cho rằng ông là bậc trượng phu xuất chúng, nào ngờ chỉ là kẻ phàm tu tục tử tầm thường!”

Cha nghe xong không hiểu, bèn thỉnh giáo tại sao lại như thế. Vân Cốc thiền sử bảo: “Một người bình thường không sao tránh khỏi tâm ý thức vọng tuởng xáo trộn. Đã có tâm vọng tuởng không dừng, thì phải bị âm dương khí số trói buộc. Đã bị âm dương khí số trói buộc, sao có thể bảo là không có số mệnh được? Tuy nói rằng có số, song chỉ người bình thường mới bị số mệnh trói buộc. nếu là một người cực thiện, thì số mệnh không sao ảnh huởng được đến anh ta.

Bởi vì người cực thiện, cho dù số mệnh vốn có chú định phải chịu khổ sở, nhưng nhờ làm được điều thiện cực lớn, sức mạnh của việc thiện lớn này, có thể chuyển khổ thành vui, nghèo hèn đoản mệnh thành phú quý trường thọ.

Còn người cực ác, số cũng không ảnh huởng được họ. Vì cho dù số mệnh họ chú định được huởng phước, song vì họ gây tạo việc ác lớn, chính sức mạnh của việc ác này khiến phước trở thành họa, giàu sang trường thọ trở nên nghèo hèn chết yểu.

Số mệnh của ông trong hai mươi năm được Khổng tiên sinh đoán trước, không từng biết cải đổi một chút, trái lại còn bị số mệnh buộc chặt. Một người bị số mệnh buộc chặt chính là phàm phu tục tử. Vậy ông không phải là kẻ phàm phu tục tử hay sao?”

Cha hỏi Vân Cốc thiền sừ rằng: “Theo như thiền sư nói, thì số mệnh có thể cải đổi được chăng?”

Thiền sư trả lời: “Mệnh do tự mình tạo, phước do chính mình tìm. Ta làm ác tự nhiên bị tổn phước; Ta tu thiện tự nhiên được phước báo. Sách vở mà cổ nhân để lại xưa nay, đã chứng minh tính chính xác của đạo lý này. Trong kinh Phật nói: Muốn cầu phú quý được phú quý, muốn cầu con trai con gái được con trai con gái, muốn cầu trường thọ được trường thọ.

Chỉ cần tu tạo việc lành, thì số mệnh không sao trói buộc được chúng ta. Nói vọng ngữ là đại giới của nhà Phật, chẳng lẽ Phật và Bồ tát lại lừa dối chúng ta sao?”

Cha nghe xong trong lòng vẫn chưa hoàn toàn minh bạch, mới hỏi thêm rằng: “Mạnh tử từng nói: Bảo rằng cầu mà có thể được, là chỉ những gì ở trong lòng ta có thể làm được. Nếu không phải là những gì ở trong lòng, thì làm sao có thể nhất định cầu được? Ví như nói đạo đức nhân nghĩa, toàn là những thứ ở trong tâm chúng ta, ta lập chí làm một người nhân nghĩa đạo đức, thì tự nhiên trở thành người nhân nghĩa đạo đức. Đây là cái mà ta có thể tận lực để cầu. Còn như công danh phú quý, là cái không ở trong tâm, vốn ngoài thân chúng ta, nếu người khác chịu cho, ta mới có thể được. Còn như người ta không chịu cho, ta không cách nào có được, vậy ta làm sao có thể cầu?”

Vân Cốc thien sư bảo: “Lời nói của Mạnh tử không sai, song ông giải thích lại sai! Ông không thấy Lục Tổ Huệ Năng nói sao: Tất cả các loại phước điền đều quyết định trong tâm chúng ta. Phước không lìa tâm, ngoài tâm không có phước để cầu. Cho nên trồng phước hay gieo họa, đều do nơi tâm chúng ta. Chỉ cần từ tâm mình đi cầu phước, không có gì mà không cảm ứng ra.

Nếu biết từ tâm mình mà cầu, thì không những cầu được nhân nghĩa đạo đức trong lòng, mà công danh phú quý bên ngoài cũng cầu được. Đó gọi là trong ngoài đều được. Nói cách khác, dùng cách gieo trồng ruộng phước để cầu, thì nhân nghĩa, phước lộc chắc chắn sẽ được.”

Một người số mệnh có công danh phú quý, cho dù không cầu cũng có; còn như số mệnh không có công danh phú quý, cho dù có cầu cũng vô ích. Cho nên chúng ta nếu không biết kiểm điểm xét lại mình, chỉ hướng ngoại tìm cầu công danh phú quý một cách mù quáng, thì không chắc chắn có được, vì nó còn lệ thuộc vào phước báo sẵn có của mình. Đó là khế hợp với ý hai câu nói của Mạnh tử: “Cầu phải có đạo lý, còn được hay không là do số mệnh”.

Phải biết rằng, cho dù chúng ta cầu mà được, thì đó cũng là phước báo sẵn có của chính chúng ta, mà không phải chỉ do cầu mà có hiệu nghiệm! Cho nên cái gì đáng cầu mới cầu, mà không nên cầu một cách vô nguyên tắc, không có đạo lý!

Nếu như phước báo không có mà khăng khăng muốn cầu, thì không những công danh phú quý cầu không được, mà còn do vì tâm tham cầu quá đáng, không có mức độ, bất chấp thủ đoạn, nên đánh mất cả nhân nghĩa đạo đức trong tâm. Như vậy chẳng phải trong ngoài đều mất cả sao? Vì vậy cầu mà không có đạo lý là vô ích.

Cầu phú quý, được phú quý; cầu trường thọ, được trường thọ; Cầu gái trai, được gái trai. Điều gì nguyện ước tất xong ngay; điều gì nguyện ước tất xong ngay. Chỉ cần làm việc thiện, cầu ngay tại tâm mình, tâm chính là ruộng phước, đó đạo lý nguyện cầu; tâm chính là ruộng phước, đó đạo lý nguyện cầu!

Vân Cốc thiền sư tiếp đó hỏi: “Khổng tiên sinh đoán số mệnh cả đời của ông như thế nào?”

Cha thuật lại tường tận những gì Khổng tiên sinh đã tính, vào năm nào thi đậu hạng mấy, năm nào làm quan, bao nhiêu tuổi mất v.v… Vân Cốc thiền sư bảo: “Ông tự suy xét sem, mình có thể thi đậu được công danh không? Có thể có con trai hay không?”

Cha xét lại những việc làm của mình đã qua, suy nghĩ rất lâu mới trả lời: “Tôi không có phước tướng, nên biết phước báo không có bao nhiêu; lại không biết tích công đức, làm việc thiện để vun bồi phước báo. Lại thêm tôi không biết nhẫn nại, chịu gánh vác những việc phức tạp, nặng nề. Tôi lại có tánh hẹp hòi, nóng nảy, ai làm gì sai không thể bao dung. Có lúc tôi còn tự cao tự đại, đem tài năng, trí thức của mình ra lấn lướt người khác. Tôi muốn làm gì thì làm, nói năng tùy tiện. Những biểu hiện trên là tướng bạc phước, làm sao có thể thi đậu được công danh?

Sạch sẽ là một đức tính tốt, song nếu quá mức sẽ trở thành tánh khí khó chịu. Nên người xưa bảo: Chỗ nào nhiều phân rác, cây cối lại tốt tươi; nơi nào nước quá sạch, tôm cá không thể sống. Tánh tôi thẳng thắn, trong sạch quá mức, thành ra bất cận nhân tình. Đây là nguyên nhân thứ nhất tôi không có con trai.

Vạn vật phải nhờ vào ánh dương quang ấm áp, gió mưa mát mẻ thấm nhuần mới sinh truởng được. Tánh tôi lại nóng nảy giận hờn, không có hòa khí tươi mát làm sao có thể sinh được con trai? Đây là nguyên nhân thứ hai.

Nhân ái là cội rễ của sự sống. Nếu tâm tàn nhẫn, không có từ bi thì khác nào như trái cây không hạt, làm sao nảy mầm mọc thành cây khác? Cho nên người xưa bảo: Tàn nhẫn là gốc của tuyệt tự. Tôi chỉ biết yêu tiếc danh tiết của mình, không chịu hy sinh bản thân để thành toàn cho người khác, làm điều thiện, tích công đức. Đó là nguyên nhân thứ ba tôi không có con trai.

Nói nhiều dễ dàng hại đến khí. Tôi lại nhiều lời, nên thân thể không được khỏe mạnh, làm sao mà có được con trai? Đây là nguyên nhân thứ tư tôi không có con trai.

Người ta sống là nhờ tinh, khí, thần. Tôi thích uống rượu. Rượu làm tiêu tấn tinh thần. Một người tinh lực không đầy đủ, cho dù sinh ra con trai cũng không được trường thọ. Đây là nguyên nhân thứ năm tôi không có con trai.

Người ta ban ngày không nên ngủ, ban đêm không nên thức. Tôi thường ngồi suốt đêm, không chịu ngủ sớm. Đó là không biết bảo dưỡng nguyên khí tinh thần. Đây là nguyên nhân thứ sáu tôi không có con trai. Ngoài ra còn có nhiều sai lầm, không sao nói hết.

Vân Cốc thiền sư bảo: “Ông như vậy không những không có được công danh, mà nhiều thứ khác cũng không có được. Nên biết có phước hay không phước, đều do tâm ta tạo. Người có trí tuệ biết rằng đó là tự mình làm, tự mình nhận lấy kết quả. Người không hiểu biết, lại đổ thừa cho vận mệnh.

Ví dụ như trên thế gian có người giàu sang, sản nghiệp ngàn lượng vàng, đó là họ có phước báo ngàn lạng vàng. Người có sản nghiệp trăm lạng vàng, đó là họ có phước báo trăm lạng vàng. Còn người nghèo cùng chết đói, là họ có quả báo chết đói. Ví dụ như người lành tích đức, trời sẽ cho họ huởng phần phước báo tương ứng; kẻ ác tạo tội, trời sẽ bắt họ chịu tai họa tương ứng. Nói trời, là chỉ thiên lý, tức luật nhân quả tự nhiên, mà không phải có ai ban phước hay giáng họa.”

Tiếp theo là Vân Cốc thiền sư mượn cái thấy của người thế tục để khuyên cha tích đức hành thiện: “Còn việc sinh con trai, giống như chúng ta gieo hạt vậy. Nhân tốt sẽ gặt quả tốt, nhân xấu sẽ có quả xấu. Một người tích chứa công đức được một trăm đời, thì có con cháu trong một trăm đời gìn giữ phước báo của họ. Một người tích chứa công đức được mười đời, thì có con cháu trong mười đời gìn giữ phước báo của họ. Tích chứa công đức được hai ba đời, thì có con cháu trong hai ba đời giữ gìn phước báo của họ. Còn người chỉ huởng phước trong một đời, đến đời sau lại tuyệt hậu, đó là vì công đức tích chứa chỉ bấy nhiêu. Song tội nghiệp của người đó có lẽ lại không ít!

Ông đã tự biết khuyết điểm của mình, thì phải hết lòng hết sức cải đổi những tính xấu, biểu hiện bạc phước khiến không được công danh và con trai đó. Ông nhất định phải làm lành tích đức, đối với người hòa khí từ bi, bao dung độ lượng và quý tiếc gìn giữ tinh thần của mình.

Hãy coi tất cả những việc trước kia như hôm qua đã chết đi; còn những việc về sau như hôm nay mới sinh ra. Biết sống trong hiện tại. Làm được việc này là ông đã có một sinh mệnh mới. Đó là sinh mệnh nhân nghĩa đạo đức. Thân huyết nhục của chúng ta còn có khí số nhất định; song còn sinh mệnh nhân nghĩa đạo đức không bị số mệnh trói buộc, có thể cảm đến thiên lý. Thiên Thái Giáp trong Kinh thư nói: Trời giáng xuống tai họa còn có thể tránh; tự mình gây ra tai họa thì không thể tránh, ắt phải chịu khổ.

Kinh thi cũng nói: Người ta phải thường xét nghĩ đến hành vi của mình có hợp với đạo trời hay không? Nếu hợp đạo trời, thì phước báo không cầu cũng tự nhiên đến. Cho nên phước hay họa đều là do mình.

Kinh Thư nói: Trời giáng họa tránh được; Mình gây hoạ, khó tránh. Kinh thi nói: Thường phản tỉnh, xét lại mình, hợp hay trái với đạo trời. Gặp phước hay gặp họa, tất cả là do ta. Tất cả là do ta.

Khổng tiên sinh tính số cho ông bảo không có công danh, lại thêm không con thừa tự. Tuy là bảo số trời định sẵn, song vẫn có thể cải đổi. Ông chỉ cần mở rộng lòng đạo đức nhân nghĩa sẵn có, gắng sức làm lành, tích chứa âm đức. Đó là ông tự mình tạo ra phước báo cho mình, người khác muốn cướp giật cũng không được, làm sao mà không huởng được phước?

Kinh Dịch cũng vì những người giữ lòng nhân đức mà tính trước nên đi hướng nào sẽ kiết tường, tránh được những việc hung hiểm, những người hung hiểm, những chổ hung hiểm.

Nếu nói vận mệnh nhất định không thể thay đổi, thì làm sao có thể đến chỗ kiết tường, tránh nơi hung hiểm? Chương mở đầu của Kinh Dịch đã nói: Gia đình nào hành thiện, ắt sẽ dư nhiều phước báo, để lại cho con cháu. Đạo lý này ông thực sự có tin không?”

Cha tin lời Vân Cốc thiền sư, đảnh lễ tạ ơn và theo lời chỉ giáo. Cha đồng thời đem những việc sai lầm tội lỗi lúc trước, không luận là lớn nhỏ nặng nhẹ, ra trước Đức Phật phát lộ sám hối. Cha cũng làm một bài văn, trước hết tỏ lòng nguyện cầu có được công danh, kế đó phát thệ nguyện làm ba ngàn việc thiện, để đền đáp đại ân, đại đức của trời đất tổ tiên cha mẹ đã sinh thành ra cha.

Vân Cốc thiền sư nghe cha lập thệ làm ba ngàn việc thiện, liền đưa cho xem quyển sổ ghi lại việc tội hay phước. Ngài dạy phải làm theo những lời dặn trong đó. Phàm những việc làm của mình, không luận là thiện hay ác, mỗi ngày đều phải ghi vào quyển sổ đó. Việc thiện thì ghi vào phần phước, còn việc ác ghi vào phần tội.

Song việc ác phải xem là lớn hay nhỏ, có thể dùng phần việc thiện đã ghi để giảm trừ. Ngài còn dạy phải trì chú Chuẩn Đề, nhờ sức gia trì của chư Phật để giúp nguyện ước sớm thành tựu.

Do đó vận mệnh là tự mình tạo lấy. Nếu phân tách một cách tỉ mỉ để giảng, thì dù giàu hay nghèo cũng không khác, đều phải làm theo đạo lý lập mệnh này. Khi giàu không thể cậy tiền cậy thế hống hách, hiếp đáp người khác; mà phải khiêm cung, chia sẻ giúp đở mọi người. Như vậy vận mệnh phú quý càng thêm phú quý và có thể bảo tồn lâu dài. Khi nghèo vẫn giữ khí tiết, không làm việc trái với lương tâm. Dù nghèo vẫn an phận thủ thường, làm một người lương thiện. Như vậy mới có thể chuyển đổi vận mệnh bần cùng thành vận mệnh phú quý. Cho nên, dù giàu hay nghèo đều phải bỏ ác làm lành, gieo trồng ruộng phước.

Đoản mệnh hay trường thọ cũng vậy. Không nên cho rằng mình vắn số, sống chẳng bao lâu mà tranh thủ huởng thụ, mặc tình làm ác, vào đường đọa lạc. Nên biết, vì nghiệp báo mình phải đoản mệnh, nên gắng sức làm lành, hy vọng đời sau sẽ được trường thọ. Như vậy có thể đời này được sống lâu thêm.

Còn người trường thọ cũng không nên ỷ lại mà mặc sức tạo ác, gian dối phạm pháp, đắm mê tửu sắc. Nên biết trường thọ có được không dễ, nên biết phải trân trọng, làm thêm điều lành để giữ gìn phước báo trường thọ này. Hiểu được đạo lý này, mới có thể cải đổi đoản mệnh thành trường thọ; mệnh trường thọ càng thêm lâu dài, càng thêm khỏe mạnh. Người ta sống trên đời, việc hệ trọng nhất là sống và chết. Nếu có thể xem đoản mệnh và trường thọ không khác, thì tất cả thuận cảnh, nghịch cảnh, giàu sang nghèo hèn, đều bao quát trong đó.

Mạnh Tử nói đến cái học về lập mệnh chỉ bàn đến đoản mệnh và trường thọ, mà không nói đến giàu và nghèo, thành đạt và khốn cùng, cũng chính vì lý do này.

Vân Cốc thiền sư lại bảo: “Mạnh Tử có câu “Tu thân để đợi đó”, là bảo: Tự mình phải luôn luôn tu dưỡng đức hạnh, không nên làm ác gây tội dù là mảy may. Còn như vận mệnh có cải đổi được hay không, đó là tùy thuộc việc tích đức nhiều ít, hợp hay không hợp đạo trời.

Nói đến chữ “tu thân”, là bảo sửa đổi những sai lầm, tội ác của chúng ta, như uống thuốc trị bệnh. Còn bảo “đợi”, là chỉ phải đợi đến công phu tu thân sâu dày, phước báo vun đắp đầy đủ, tội nghiệp tương ứng tiêu trừ, thì vận mệnh sẽ tự nhiên chuyển đổi, trở nên tốt đẹp. Không nên có tư tuởng mong muốn những gì vượt quá phận mình, để cho vọng tâm, dục tuởng làm mờ ám tâm trí, mà phải giữ tâm bình thường, buông xuống mọi vọng niệm sinh diệt. Đến trình độ này, đã đạt đến cảnh giới tâm như như bất động. Công phu này là cái học chân chánh mà thế gian thọ dụng”.

Vân Cốc thiền sư nói tiếp: “Hành vi của người bình thường tùy thuộc vào ý niệm. Phàm việc gì còn khởi tâm phân biệt để làm thì không phải là tự nhiên, còn có dấu vết. Ông hiện nay chưa thể đạt đến trình độ không động tâm. Khi ông trì chú Chuẩn Đề không cần dụng tâm ghi nhớ, hay đếm bao nhiêu biến, cứ niệm liên tục, không cho gián đoạn. Niệm đến lúc cực kỳ thuần thục, tự nhiên miệng niệm mà tâm không cảm thấy niệm. Đó gọi là niệm mà không niệm. Khi không niệm, trong tâm vẫn tự nhiên niệm. Đó gọi là không niệm mà niệm. Niệm chú đạt đến trình độ đó, thì cả ba: người, chú và niệm đều hợp thành một khối, không còn tạp niệm xen vào, như vậy không chú nào mà chẳng linh nghiệm. Song công phu này, phải kinh qua thực hành, mới lãnh hội được.

Cha ban đầu tên hiệu là Học Hải, song từ ngày đó trở đi đổi hiệu là Liễu Phàm. Bởi vì sau khi hiểu rõ đạo lý lập mệnh, cha không muốn sống như kẻ phàm phu, mà phát nguyện quét sạch kiến giải phàm phu, nên gọi là Liễu Phàm.

Từ đó về sau, cả ngày cha đều chánh niệm tỉnh giác, cẩn thận từ lời nói, việc làm cho đến ý nghĩ. Cha cảm thấy mình như thay đổi hẳn, trở thành con người khác.

Lúc trước cha sống tùy tiện, hồ đồ, không có kiềm thúc; đến nay trở nên cẩn thận, cung kính, cảnh giác những điều bất thiện.

Cho dù trong nhà, buổi tối không có ai đi nữa, cha cũng không dám tùy tiện, vì biết có trời đất quỷ thần xét soi. Gặp người ganh ghét, hủy báng, cha vẫn an nhiên, không chấp nhất, tranh luận với họ.

Năm thứ hai sau khi tham kiến Vân Cốc thiền sư, cha đến bộ Lễ thi cử. Khổng tiên sinh đoán số cha sẽ đậu hạng ba, không ngờ lại đậu được hạng nhất. Lời của Khổng tiên sinh bắt đầu hết linh nghiệm. Khổng tiên sinh không nói cha sẽ đậu cử nhân, song trong kỳ thi Hương mùa thu, cha lại thi đậu cử nhân. Đây là do làm phước tích đức khiến số mệnh thay đổi. Vân Cốc thiền sư bảo: “Vận mệnh có thể thay đổi”. Lời nói này đến nay đã được chứng nghiệm, khiến cha càng thêm tin tuởng.

Cha tuy sửa đổi lỗi lầm khá nhiều, song khi gặp việc nên làm, vẫn không thể chuyên tâm nhất ý làm. Cho dù làm, vẫn còn miễn cưỡng, không được tự nhiên. Cha phản tỉnh kiểm điểm, thấy lỗi lầm vẫn còn rất nhiều.

Ví dụ như thấy việc thiện, tuy chịu làm, song không mạnh dạn nổ lực làm. Hoặc là gặp lúc cứu người, trong lòng vẫn còn chần chờ, do dự, không kiến quyết thực hiện. Việc thiện tuy tôi có thể miễn cưỡng làm được, song lại hay nói những lời lầm lỗi. Khi tỉnh táo còn có thể tự chủ, song khi say rượu lại phóng túng, làm càn. Cho nên cha tuy làm lành có tích chứa chút công đức, song lỗi lầm vẫn còn rất nhiễu. Nếu lấy công đức để trừ đi lỗi lầm e còn chưa đủ. Thời giờ chỉ luống uổng đi qua.

Từ năm Kỷ Tỵ nghe lời khai thị của Vân Cốc thiền sư, cha phát nguyện làm ba ngàn việc thiện, đến năm Kỷ Mão, đã hơn mười mấy năm mới hoàn thành ba ngàn việc thiện này.

Lúc đó, cha vừa cùng với Lý Tiệm Am tiên sinh từ Quan ngoại trở về Quan nội, chưa kịp đem ba ngàn việc lành này ra hồi hướng. Đến năm Canh Thìn, cha trở về phương Nam, mới thỉnh hai vị đại lão Hòa thượng đức độ là ngài Tánh Không và Tuệ Không, mượn thiền đường Đông Tháp để hoàn thành tâm nguyện hồi hướng này. Lúc đó, cha lại khởi lên tâm nguyện cầu sinh con trai, và phát đại nguyện làm ba ngàn việc lành lớn. Đến năm Canh Tỵ sinh ra con, đặt tên là Thiên Khải.

Cha mỗi khi làm được một điều thiện đều ghi lại. Mẹ con không biết viết chữ, mỗi khi làm được một việc lành, như cho người nghèo cơm ăn, hay phóng sinh v.v… đễu lấy bút lông ngỗng, in một khuyên tròn màu đỏ lên lịch. Có lúc một ngày in cả mười mấy dấu đỏ lên lịch, đại biểu cho ngày đó làm được mười mấy việc thiện.

Như thế mãi đến tháng tám năm Quý Mùi, mới hoàn thành ba ngàn điều thiện đúng như nguyện. Cha lại thỉnh các vị như Hòa thượng Tánh Không v.v… về nhà làm lễ hồi hướng. Đến tháng chín năm đó, cha lại khởi lên lời nguyện thi đậu Tiến sĩ, và phát nguyện làm một vạn điều thiện để hồi hướng. Đến năm Bính Tuất, lại thi đậu Tiến sĩ. Bộ Lại bổ cho cha làm chức Huyện truởng huyện Bảo Để đương khuyết. Lúc cha làm huyện truởng huyện Bảo Để, có chuẩn bị một quyển sổ kẻ ô để trống. Quyển sổ này cha gọi nó là Sổ Tay Trị Tâm. Nói Trị Tâm là e tâm mình khởi lên tà niệm hay ác niệm, dùng phương tiện này để đối trị.

Mỗi ngày thức dậy vào lúc sáng sớm, lúc thăng đường xét xử, cha đều cho người để quyển sổ trị tầm này trên bàn làm việc. Mỗi ngày, việc lành hay việc ác dù là rất nhỏ cũng ghi vào đó. Bà nội thấy cha làm việc thiện không nhiều, thường chau mày bảo: “Mẹ lúc trước ở nhà giúp con làm việc thiện, cho nên lời nguyện ba ngàn việc thiện có thể hoàn thành. Nay con phát nguyện làm mười ngàn việc thiện, trong nha môn thực khó mà thực hiện được, biết đến bao giờ mới làm xong đây?”

Sau đó, vào một đêm cha bỗng nằm mơ thấy một vị thiên thần xuất hiện. Cha bèn đem việc khó mà hoàn tất mười ngàn việc thiện này thưa lại với thiên thần. Thiên thần bảo: “Chỉ một việc ông làm Huyện truởng giảm thuế ruộng đất cho dân là đủ để bù vào mười ngàn việc thiện”.

Thì ra lúc trước, ruộng của huyện Bảo Để mỗi mẫu đáng lẽ phải thu thuế là hai đồng ba hào bảy xu. Cha cảm thấy nhân dân chịu thuế quá nặng, nên thanh lý hết tất cả số ruộng trong huye6.n, mỗi mẫu chỉ đóng thuế một đồng bốn hào sáu xu. Cha cảm thấy thật là lạ, tại sao việc này thiên thần lại biết được. Vả lại cũng nghi ngờ, sao việc này có thể đủ bù vào mười ngàn việc thiện?

Đúng lúc đó có thiền sư Huyễn Dư từ núi Ngũ Đại đến huyện Bảo Để. Cha thưa lại chuyện trong mộng với thiền sư, và hỏi có tin được chuyện này không? Huyễn Dư thiền sư đáp: “Làm việc thiện phải có tâm chân thành khẩn thiết, không thể giả dối qua loa, có tâm cầu báo đáp. Như vậy cho dù một việc thiện cũng có thể bằng mười ngàn việc thiện. Huống chi ông giảm thuế cho toàn huyện, nông dân toàn huyện đều huởng được ân huệ này. Cả ngàn vạn người nhờ đó mà giảm đi nỗi khổ vì thuế má nặng nề, đó thực là phước báo to lớn”.

Cha nghe xong lời dạy của thiền sư, liền đem tiền bạc bổng lộc của mình ra, nhờ thiền sư cúng trai tăng mười ngàn vị trên núi Ngũ Đài và hồi hướng công đức.

Khổng tiên sinh tính số mạng cho cha bảo năm năm mươi ba tuổi phải gặp tai nạn. Cha tuy không có cầu trời cho sống thọ, song năm năm mươi ba tuổi lại không có chút đau bịnh gì. Năm nay cha đã sáu mươi chín tuổi rồi. Kinh Thư nói: Thiên đạo là điều người ta khó mà tin được, mệnh của con người không có nhất định. Lại nói: Mệnh con người không có nhất định, đều do tự mình tạo.

Những lời này không sai chút nào. Cha do đó mới biết, phàm nói đến họa phúc, đều do tự mình tạo ra. Đó là lời của Thánh Hiền. Còn như bảo họa phúc do trời chú định, đó là lời nói của kẻ dung tục trên đời.

Đạo trời khó thể tin, mệnh người không nhất định, mệnh người không nhất định, họa phước vốn do mình. Nếu bảo trời chú định, là lời kẻ phàm dung, Thánh Hiền đâu có dùng, Thánh Hiền đâu có dùng.

Vận mệnh của Viên Thiên Khải con không biết rồi sẽ như thế nào. Song cho dù là vinh hoa phú quý, con cũng phải giữ tâm như lúc thất chí nghèo hèn. Cho dù gặp may mắn tốt đẹp, con cũng phải giữ lòng như lúc trắc trở khó khăn. Cho dù trước mắt có dư ăn dư mặc, con cũng phải cần kiệm như lúc thiếu thốn nghèo hèn. Cho dù được người ta yêu thích, kính trọng, con phải luôn khiêm tốn, cẩn trọng. Cho dù gia thế có danh vọng đến đâu, con cũng phải thấy mình thấp kém. Cho dù học vấn có cao thâm bao nhiêu, con phải thấy mình còn thô thiển.

Sáu cách suy tuởng này, là từ phản diện để nhìn vấn đề. Nếu biết khiêm cung như vậy, đạo đức dần dần nâng cao, phước báo cũng tự nhiên tăng trưởng.

Xa thì con nên truyền nối và mở rộng đức khí của tổ tiên; còn gần thì phải biết hiếu kính cha mẹ. Trên thì con nên báo đáp ân huệ của đất nước; còn dưới thì phải tạo dựng hạnh phúc cho gia đình. Ngoài thì con nên cứu tế cấp nạn cho người khác; trong thì con phải luôn đề phòng niệm tuởng tà ác.

Sáu cách trên là từ chánh diện để khẳng định vấn đề. Nếu con thường phản tỉnh, suy xét như vậy, nhất định sẽ trở thành bậc chánh nhân quân tử.

Người ta mỗi ngày cần phải biết được lỗi lầm của mình, mới có thể sửa đổi mỗi ngày. Bằng không, cứ ngỡ là mình không có lỗi lầm, không chịu tu sửa, không làm sao tiến bộ được. Người xinh đẹp thông minh trên thế gian không ít, song phần lớn lại không biết dụng công tu dưỡng đạo đức, không biết dụng công xây dựng sự nghiệp, đều chỉ vì thói lần lữa qua ngày, đến đâu hay đến đó, không có chí phấn đấu cầu tiến, mới làm lỡ cả một đời của họ.

Những lời Vân Cốc thiền sư dạy về đạo lý lập mệnh, thật là tinh thâm nhất, chân chánh nhất. Cha mong con đọc và suy nghĩ kỹ, lại phải tận tâm tận lực thực hành, quyết không để ngày tháng quý báu luống qua vô ích!

—o0o—

CHƯƠNG HAI

SỬA ĐỔI LỖI LẦM

Người ta không phải mới sinh ra đã là Thánh Hiền, nên làm sao tránh được gây tạo lỗi lầm? Khổng tử nói: Có lỗi lầm không sợ sửa đổi, là việc lành không gì lớn hơn. Cho nên, Liễu Phàm tiên sinh sau khi giảng đạo lý lập mệnh xong, lại bàn đến phương pháp sửa lỗi. Ông trình bày một cách tường tận để dạy con mình là Viên Thiên Khải. Lỗi lầm nhỏ còn phải sửa đổi, huống chi là tội ác lớn, đương nhiên quyết không thể phạm.

Vào thời Xuân Thu, các quan cao cấp của các nước thường đoán việc kiết hung họa phúc của một người nào đó thông qua ngôn ngữ hành vi của họ, và kết quả rất là linh nghiệm. Điều này có thể thấy được qua sách Tả Truyện và Quốc Ngữ. Phàm những điềm báo kiết tường hay hung hiểm đều do mầm mống trong tâm phản ứng ra ngoài. Những điềm kiết hung này còn thể hiện qua cử chỉ của người đó nữa. Nếu một người nhân hậu, cử chỉ của họ sẽ chững chạc; còn kẻ bạc bẽo, thì cử chỉ sẽ tùy tiện.

Người sống nhân hậu thì thường được phước; kẻ bạc bẽo nhất định sẽ gặp họa. Người bình thường thiếu hiểu biết, không đủ trí tuệ để xét thấy việc này, nên bảo họa phước không nhất định, không sao biết trước được.

Một người có thể sống hết sức thành thực, không một chút giả dối, thì tâm họ khế hợp đạo lý. Do đó, nếu đem tâm chân thành ra đối đãi với người, thì phước báo tự nhiên sẽ đến. Cho nên, xét một người nào đó, chỉ cần nhìn thấy họ toàn làm việc thiện, thì biết trước rằng phước của họ sắp đến.

Trái lại, xét một người mà thấy hành vi của họ toàn làm điều ác, thì biết rằng họ sắp gặp họa. Người ta muốn tránh họa được phước, phải tự mình cải đổi lỗi lầm trước khi làm thiện.

Phương pháp cải đổi lỗi lầm, trước hết là phải phát khởi tâm hổ nhục.

Chúng ta nên suy nghĩ: Thánh Hiền đời xưa như ta không khác, đều là nam tử hán, đại trượng phu. Thế tại sao các vị ấy có thể lưu lại tiếng thơm muôn đời, làm gương sáng cho hậu thế; còn chúng ta lại luống qua một đời, hay thân bại danh liệt?

Đó là vì chúng ta quá đam mê huởng thụ, bị hoàn cảnh vật dục bên ngoài ô nhiễm, lén làm những việc không nên làm. Càng ngày chúng ta càng trầm luân trong bể dục, không khác gì cầm thú, mà tự mình chẳng biết chẳng biết chẳng hay.

Cái hổ nhục trên đời không có gì lớn hơn như vậy. Mạnh tử nói: “Việc lớn nhất,quan trọng nhất của một người không gì hơn chữ nhục”. Vì sao? Vì hiểu được chữ “nhục” này, ta có thể sửa đổi được tất cả lỗi lầm, trở nên Hiền Thánh. Nếu không hiểu được chữ “nhục” này, thì sẽ phóng túng làm càn, đánh mất nhân cách, không khác gì cầm thú. Những lời trên chính là bí quyết chân chánh để sửa đổi.

Phương phát thứ hai để sửa lỗi là phải khởi tâm lo sợ thận trọng.

Chúng ta phải biết Chư Thiên Hộ Pháp luôn ở bên cạnh chúng ta. Chư Thiên Hộ Pháp thấy được tất cả những hành vi của mình, nên ta không thể lừa dối họ được. Chúng ta có thể giấu được mọi người làm điều sai trái, qua mặt pháp luật, nhưng không sao qua mắt được Chư Thiên Hộ Pháp. Việc ác của chúng ta đối với họ như soi kính, đều hiện ra rõ ràng không sót. Chúng ta cho dù dấu kín được tội, song Chư Thiên Hộ Pháp nhìn thấy rõ tâm can phế phủ của mình. Chúng ta khởi tâm động niệm như thế nào, các vị ấy đều biết rõ. Cho nên, mình biết rõ tâm niệm hành vi của mình như thế nào, Chư Thiên cũng biết rõ như vậy.

Nếu chẳng may hành vi xấu xa của chúng ta bị người khác biết được, thì chẳng phải mình mất hết giá trị, bị người ta xem thường phỉ nhổ hay sao? Cho nên, ta lúc nào cũng phải có tâm lo sợ, thận trọng.

Cho nên, gây tạo tội nặng sẽ rước lấy tai họa, gây tạo tội nhẹ sẽ tổn phước giảm đức. Tội lỗi đối với thần minh, long thiên Hộ Pháp không sao che giấu được, như vậy ta lẽ nào không biết sợ hay sao?

Chúng ta chỉ cần còn một hơi thở, cho dù phạm tội lớn đến đâu, đều có thể sám hối. Thuở xưa có người cả đời làm ác, đến khi lâm chung tỉnh ngộ ăn năn, khởi lên niệm lành rất lớn, liền được an ổn vãng sinh.

Nói như vậy có nghĩa, nếu người ta khi đối diện cửa ải tử sinh, chỉ cần thống thiết, dũng mãnh khởi lên niệm thiện, ăn năn tỉnh ngộ, thì có thể rửa sạch nghiệp tội tích chứa trong suốt trăm năm. Ví như hang tối ngàn năm, chỉ cần thắp lên một ngọn đèn sáng, thì lập tức sẽ quét sạch bóng đen, chỉ còn ánh sáng rỡ ràng. Cho nên, không luận làm ác bao lâu, nhiều ít như thế nào, chỉ cần thống thiết ăn năn, sửa đổi lỗi lầm, nhất định sẽ được thanh tịnh.

Tuy nói có lỗi chỉ cần biết ăn năn cải đổi là được, song tuyệt đối không được vì thế mà ỷ lại, cho rằng thường phạm lỗi không sao. Người như thế có tâm phạm lỗi, tội càng sâu nặng hơn.

Trong thế gian bất tịnh này, vạn vật đều huyễn hóa vô thường, tấm thân huyết nhục này nay còn mai mất không sao liệu trước được. Chẳng phải một hơi thở ra mà không hít vào là đã qua đời khác sao? Đến lúc đó có muốn sửa đổi lỗi lầm cũng không sao kịp nữa. Khi cái chết đến mọi thứ đều bỏ lại, chỉ có nghiệp tội đi theo chúng ta mà thôi.

Do đó, kẻ làm ác báo ứng ở dương gian là phải chịu tiếng xấu trăm ngàn năm, cho dù có con hiếu cháu hiền cũng không sao rửa sạch được vết nhơ này. Còn quả báo đời sau là phải trầm luân trong địa ngục, chịu vô lượng vô biên khổ não, đọa đày trong ngàn muôn ức kiếp. Lúc đó dù gặp được Phật, Bồ tát, Thánh nhân, cũng không cách nào cứu chúng ta được. Như vậy há không đáng sợ sao?

Thứ ba là phát khởi tâm dũng mãnh tiến lên.

Người ta sở dĩ làm lỗi mà không sửa đổi được là do tâm dễ duôi, lần lữa qua ngày mà không chịu lập chí tiến thủ, dũng mãnh kiên quyết. Đây chính là nguyên cớ đọa lạc, thối lui.

Phải biết nếu muốn sửa đổi lỗi lầm nhất định phải lập chí kiên quyết, lập tức cải đổi, quyết không nên chần chừ, do dự. Không nên ngày nay lại hẹn đến mai, mai lại hẹn đến mốt, cứ thế kéo dài, lần lữa đến chết. Lỗi lầm nhỏ hãy xem như gai đâm vào xương thịt, để lâu một ngày là nhức nhối một ngày, nên phải gấp rút nhổ ra. Lỗi lầm lớn hãy xem như rắn độc cắn phải, để chậm môt giây là nguy hiểm đến tánh mạng một giây. Như quẻ Ích trong Kinh Dịch nói: Gió thổi sấm nổ, vạn vật sinh truởng, lợi ích lớn lao như vậy. Đây là dụ cho người đổi ác làm lành, được ích lợi lớn như vạn vật nhờ mưa thuận gió hòa mà sinh truởng tốt tươi.

Sửa lỗi phải phát tâm, phát tâm là tâm gì? Một, tâm biết hổ nhục, hai, tâm biết sợ tội, ba là tâm dõng mãnh. Đầy đủ ba tâm này, sẽ sửa được lỗi ngay, sẽ sửa được lỗi ngay!

Một người lập chí sửa đổi lỗi lầm, nếu có đầy đủ ba tâm hổ nhục, sợ tội và dũng mãnh, thì có thể lập tức sửa được lỗi lầm; như lớp băng mỏng mùa Xuân gặp phải ánh dương quang, lo gì không tan rã? Song sửa đổi lỗi lầm có ba góc độ dụng công. Một là từ trên thực tế để sửa đổi. Hai là từ trên đạo lý để sửa đổi. Ba là từ trên tâm niệm để sửa đổi. Do ba cách dụng công khác nhau, nên kết quả cũng bất đồng. Trước hết, nói về từ trên thực tế sửa đổi lỗi lầm.

Ví dụ như hôm qua sát sinh, hôm nay chấm dứt không sát sinh nữa. Hôm trước nổi giận mắng người, hôm nay bỏ qua không giận nữa. Đây là phương pháp chấm dứt lỗi lầm không tái phạm, bằng cách sửa đổi lỗi lầm khi sự việc đã phát sinh. Song sửa lỗi như vậy là miễn cưỡng dằn lòng, tuy qua được một lúc song mầm mống lỗi lầm vẫn còn trong tâm. Chỉ cần có cơ hội thích hợp là nó lại tái phát, đôi khi còn mãnh liệt hơn nữa. Người ta bảo tức nước vỡ bờ là vậy. Nên đây không phải là phương pháp sửa lỗi lầm một cách triệt để.

Thế nào là dựa trên đạo lý cải đổi lỗi lầm?

Một người lập chí sửa đổi lỗi lầm, trước khi ngăn giữ không làm một điều sai quấy nào đó, phải hiểu rõ đạo lý tại sao ta không nên làm. Ví dụ như một người đối với lỗi lầm của việc sát sinh, trước hết anh ta phải nghĩ rằng: Đức hiếu sinh là đạo lý tự nhiên. Phàm là loài só sinh mệnh ai lại chẳng tham sống sợ chết? Thế mà ta lại giết loài vật để nuôi thân mình, thử hỏi trong tâm có yên ổn không? Những con vật mà ta cắt cổ, nhổ lông, lột da, xào nấu v.v…, chúng phải chịu bao đau đớn khổ sở lúc lâm chung, như vậy có phải tội lỗi lắm không? Ăn uống trên sự tướt đoạt sinh mệnh, gây tạo khổ đau cho chúng sinh, song miếng ngon khi qua khỏi miệng lập tức trở thành đồ dơ mà ai cũng nhờm, cũng gớm! Như Vậy có đang cho chúng ta vì thế mà gây tạo sát nghiệp, chàđạp trên quyền được sống còn của sinh vật, khiến phải chịu tội báo, tổn giảm phước đức không? Ăn chay đạm bạc, thực ra cũng đủ no và dinh dưỡng.

Lại suy nghĩ rằng: Phàm loài có sinh mệnh huyết khí đều có tri giác tánh linh. Đã có tri giác tánh linh, thì có khác gì chúng ta đâu? Ngày xưa bậc Thánh như vua Thuấn, nhờ đạo đức cao thượng mà được voi cày ruộng giúp, chim nhổ cỏ giùm. Ta nay tuy chưa thể tu dưỡng được như người xưa, khiến loài vật đến tôn trọng, thân cận, song cũng không thể tàn hại sinh mệnh của chúng, khiến kết nên nhân duyên oán thù. Mối hận này đeo đuổi chúng ta đến lúc nào mới hết?

Người biết suy nghĩ như thế, không thể nào nuốt trôi những cá thịt trên bàn.

Ví dụ như tánh tình của ta của ta trước kia hay nổi sân, nên suy nghĩ rằng: Ai cũng có điều tốt, ai cũng có chỗ xấu. Khi gặp chỗ xấu của người, xét về tình lý, nên thương cho họ, mà tha thứ chỗ xấu đó, vì chính họ cũng là nạn nhân, chịu khổ não bởi thói xấu bản thân. Nếu có người ngang ngược, vô lý mạo phạm đến ta, thì lỗi đó ở họ có dính dáng gì đến ta, vậy tại sao ta phải nổi giận?

Lại nghĩ rằng: Trên đời này không có ai dám tự cho rằng mình là hoàn hảo, không chút lỗi lầm. Một người cho rằng mình là hoàn hảo, mới chính là kẻ ngu nhất. Trên đời cũng không có đạo lý nào dạy chúng ta oán hận người xung quanh. Người càng có học vấn thì càng phải khiêm tốn, nghiêm khắc với mình, khoan dung với người, sao lại oán hận người khác?

Cho nên, một người làm việc không được vừa lòng đắc ý, đều do đạo đức của mình không tu dưỡng tốt, còn thiếu công đức, không đủ sức cảm động lòng người. Vì vậy phải phản tỉnh, kiểm điểm lại mình, xem có chỗ nào có lỗi với người không?

Người có thể suy xét được như vậy, dụng công sửa mình, thì người khác phỉ báng sẽ trở thành sự trui rèn, thành tựu phẩm cách cho ta, bằng những bài học phản diện. Ta nên hoan hỉ tiếp nhận sự giáo huấn, phê bình của người khác, còn oán hận điều gì?

Lại nữa, nghe người khác nói xấu mà ta không nổi giận, dầu lời nói đó ác độc đến đâu; khác nào như đem lửa đốt trời, hư không vẫn rỗng rang, không có gì để cháy, lửa cuối cùng cũng tắt. Nếu người ta nghe người khác hủy báng mà tìm cách biện hộ, thì khác nào như tằm nhả tơ, tự trói buộc lấy mình. Đó là tự mình chuốc lấy khổ. Cho nên, nổi giận không những vô ích mà còn có hại.

Đó là nói về hậu quả của nóng giận. Còn như những lỗi lầm và tội ác khác, cũng nên y theo đạo lý này mà suy xét, thì tự nhiên sẽ không phạm phải lỗi lầm.

Thế nào là cải đổi lỗi lầm từ tâm niệm?

Người ta gây tạo lỗi lầm vốn nhiều vô số, song tất cả đều từ tâm niệm mà ra. Nếu tâm ta không động niệm, thì không có tạo ra bất cứ nghiệp gì. Như vậy lỗi lầm từ đâu mà sinh? Phàm người ta thường có nhiều lỗi lầm như tham đắm nữ sắc, danh tiếng, tiền của, hoặc hay nóng giận, v.v… Chúng ta không cần tìm hiểu phương pháp để cải đổi từng lỗi lầm một, mà chỉ cần nhất tâm nhất ý khởi niệm lành, làm việc thiện, lúc nào cũng chánh niệm hiện tiền, thì không có ý niệm tà ác nào xen khởi, làm ô nhiễm tâm ta được.

Ví như mặt trời soi sáng giữa từng không, tất cả những hắc ám đều không chỗ dung thân. Đây chính là yếu quyết tu tâm, sửa lỗi chân chánh duy nhất. Phải biết tất cả lầm lỗi tội ác đều do một tâm này gây tạo, nên chỉ cần ngay nơi tâm này sửa đỗi lỗi lầm. Đây giống như trừ cây độc, phải đốn tận gốc, trốc tân rễ, mới không sợ mọc trở lại, mà đâu cần phải chặt từng nhánh, bẻ từng lá!

Phương pháp cải đổi lỗi lầm cao minh nhất vẫn là tu tâm. Nếu biết tu tâm thì sẽ lập tức khiến tâm thanh tịnh. Vì tất cả sai lầm đều do tâm khởi niệm bất chánh mà ra. Nếu biết tu tâm, chánh niệm tỉnh giác, khi khi tà niệm vừa khởi liền phát giác. Tà niệm ngay đó sẽ không còn, tâm trở lại thanh tịnh bất động. Nếu ta không làm được như vậy, khi tà niệm khởi lên phát giác muộn màng , và không đủ sức giác chiếu để khiến nó tiêu diệt, thì phải dùng đạo lý để suy xét, thống trách, thì sẽ hóa giải được tà niệm đó. Còn như không biết dùng đạo lý để suy xét thống trách, thì cố gắng dằn lòng, tránh xa duyên phạm lỗi.

Cả ba phương pháp này tuy có cao có thấp khác nhau, song đều có giá trị riêng, và bổ túc cho nhau. Ta cần phải biết rõ mình, để có thể tùy cơ, tùy lúc vận dụng cả ba phương phá một cách thích đáng tu sửa lỗi lầm, ắt sẽ công hiệu. Song phương pháp tu tâm, chánh niệm tỉnh giác vẫn là chánh yếu, không nên bỏ qua.

Lập chí sửa đổi lỗi lầm cũng cần có trợ duyên để dễ thành tựu. Về phương diện thấy được, đó chính là bạn tốt, khuyên bảo, nhắc nhở ta lúc hồ đồ, nông nổi. Về phương diện không thấy được, đó là đối trước Phật, Bồ tát, chư thiên, v.v… cầu chứng minh gia hộ, thành tâm sám hối, từ sáng đến tối không dám buông lung. Như tôi đã từng sám hối bảy ngày, mười bốn ngày, cho đến một tháng, ba tháng. Cứ sám hối như vậy nhất định sẽ có chứng nghiệm.

Sửa lỗi phải phát nguyện, lại phải nhờ trợ duyên. Một mặt nhờ bạn lành, mặt khác nhờ Bồ tát, để chứng minh gia trì. Phải một lòng một ý, sám hối mọi lỗi lầm, sám hối mọi lỗi lầm.

Nói chứng nghiệm của sự sám hối lỗi lầm là gì? Ví dụ như ta bỗng cảm thấy tinh thần rất thư thới, trong lòng an vui, hay cảm thấy trước đây tối dạ, giờ bỗng mở mang trí tuệ; hay dù là trong hoàn cảnh rộn ràng phiền phức, mà tâm mình vẫn sáng suốt, tất cả đều thông tỏ. Hay lúc gặp phải kẻ oan gia thù địch, có thể an ổn hoan hỉ, hóa giải cơn giận nỗi hận trong lòng. Hoặc khi nằm mộng, mơ thấy ói ra thứ màu đen. Đây chính là những tư niệm tà, tích chứa thành uế khí, trong mơ ói ra, thì tâm địa trở nên thanh tịnh. Hay trong mơ trông thấy Phật, Bồ tát đến nâng đỡ, dắt dìu ta; hoặc thấy mình bay lên không trung, tiêu dao tự tại. Hay mơ thấy các loại phan lọng được trang sức bằng các loại châu báu nhiều màu. Những việc ít thấy ít nghe như vậy, đều là những điềm tiêu trừ tội chướng trong quá khứ. Song cũng không nên vì gặp được những điềm lành này, liền tự cho rằng mình có sở đắc, tu hành hơn người mà khởi tâm ngã mạn, không chịu vươn lên, tiếp tục nỗ lực.

Vào thời Xuân Thu trước đây, quan đại phu nước Vệ là Cừ Bá Ngọc vào năm hai mươi tuổi đã biết xét lại những lỗi lầm trong quá khứ của mình để kiểm điểm, cải đổi. Đến năm hai mươi mốt tuổi, lại cảm thấy trước đây sửa đổi lỗi lầm vẫn chưa triệt để. Đến năm hai mươi hai tuổi, nhìn lại năm hai mươi mốt tuổi, vẫn giống như ở trong mộng. Cứ như vậy mỗi năm trôi qua, mỗi năm lại sửa đổi lỗi lầm. Cho đến năm năm mươi tuổi, vẫn cảm thấy bốn mươi chín năm qua mình vẫn lỗi lầm! Người xưa đối với việc sửa đổi lỗi lầm cẩn thận coi trọng đến mức như vậy.

Đại phu Cừ Bá Ngọc, người tài đức khiêm cung, hai mươi tuổi xét lỗi, mỗi năm đều kiểm điểm, đến lúc tuổi năm mươi, vẫn thấy còn lầm lỗi. Sửa lỗi quan trọng thay! Quan trọng thay!

Chúng ta đều là kẻ phàm phu, lỗi lầm dẫy đầy, như lông trên mình nhím. Song ta lại cảm thấy dường như mình không có lầm lỗi gì lắm. Đó là do ta hời hợt, không biết phản tỉnh tự xét. Giống như con mắt có bịnh, không nhìn thấy mình mỗi ngày đang tạo tội. Song một người làm lỗi tạo ác, đến một mức nào đó sẽ có triệu chứng hiện ra. Như tâm tư hỗn loạn trệ ngăn, tinh thần suy sụp, hay quên; hoặc việc không đáng phiền não lại cảm thấy vô cùng phiền não; hoặc thấy người phẩm hạnh cao quý, cảm thấy hổ thẹn không vui; hay nghe được những lời đạo đức quang minh chính đại, lại không thích; hoặc đem ân huệ cho người, đối phương không nhận còn trở lại oán hận; hoặc tối ngủ thấy những giấc mơ xấu đáng sợ; hoặc nói năng không thứ lớp, không bình thường. Những hiện tượng bất bình thường như vậy, đều là biểu hiện của việc làm ác.

Giả sử có những hiện tượng như trên, ta phải đề khởi tinh thần, phấn phát hướng thượng, sửa đổi những sai lầm cũ, mở ra con đường nhân sinh sáng tỏ cho mình. Hy vọng mọi người không nên tự làm lỡ mình!

—o0o—

CHƯƠNG BA

TÍCH CHỨA PHƯỚC THIỆN

Chương trên đã giảng những phương pháp của đổi lỗi lầm. Nếu làm được như vậy, tự nhiên có thể bảo đảm mệnh vận tốt đẹp không biến thành xấu, song vẫn chưa đủ để cải đổi mệnh vận xấu trở nên tốt đẹp. BởI vì đờI này tuy ta không phạm lỗi tạo ác, song đời trước ta có gây tạo tội ác hay không làm sao biết được? Nếu đời trước phạm tội, đời này tuy không phạm, vẫn phải trả báo của đời trước, vẫn gặp mệnh vận xấu ác. Vậy ta phải làm sao mới có thể cải đổi vận mệnh xấu đây? Đó là không những phải cải đổi lỗi lầm, mà còn phải tích chứa phước thiện, công đức, mới có thể khiến nghiệp tội đời trước tiêu đi. Việc lành tích chứa nhiều, tự nhiên có thể chuyển đổi mệnh xấu thành mệnh tốt, đồng thời cũng có thể nghiệm chứng được hiệu quả của nó.

Khổng tử tỉnh Sơn Đông, tích chứa phước thiện lớn, con cháu nhiều đời sau, vẫn thịnh vượng không suy. Khổng Đức Thành tiên sinh, đời thứ bảy mươi ba! Đòi thứ bảy mươi ba!

Kinh Dịch nói: Nhà tích chứa điều thiện, tự nhiên phước đức có dư. Trước đây có người họ Nghiêm, định gả con gái của mình cho cha của Khổng tử, việc đầu tiên là kiểm điểm những việc làm của nhà họ Khổng. Ông nhận thấy tổ tiên của họ Khổng tích chứa phước đức rất nhiều và rất lâu, nên biết trước con cháu họ Khổng sau này nhất định sẽ thành đạt lớn. Sau đó, quả nhiên sinh ra Khổng tử. Lại nữa, Khổng tử khen sự hiếu thảo của vua Thuấn vượt hơn việc hiếu bình thường. Khổng tử nói: “Lòng đại hiếu như vua Thuấn, không những tổ tiên nhờ đó được huởng sự cúng tế của ông, mà con cháu nhiều đời cũng giữ được phước lộc của mình, không bị thất bại”.

Nước Trần vào thời Xuân Thu, chính con cháu vua Thuấn truyền lại, đủ chứng minh con cháu đời sau của vua Thuấn thành đạt rất lâu! Cho nên, lời nói của Khổng tử thật vô cùng chính xác.

Nay lại đem những việc thực sự xảy ra trong quá khứ để chứng minh công đức của việc tích chứa phước thiện. Có một người làm đến chức Thiếu sư, tên là Dương Vinh, thuộc huyện Kiến Ninh tỉnh Phúc Kiến. Tổ tiên của ông làm nghề chống thuyền đưa khách sang sông để kiếm sống. Có một lần, mưa xuống rất lâu, sông suối ngập tràn, thế nước ào ạt, cuốn phăng nhà cửa của dân. Rất nhiều người đã bị nước cuốn, số chết, số đang vật vã trong dòng nước xiết. Những thuyền khác đều lo đi vớt của cải trôi theo dòng nước, chỉ ông cố và ông nội của Dương Vinh lo đi cứu những người mắc nạn bị nước cuốn, mà không vớt một món vật nào. Người trong làng đều cười chê, cho họ là ngu. Đến khi cha Dương Vinh ra đời, sinh kế của gia đình lần lần khá giả. Có một vị đạo sĩ nói với cha Dương Vinh rằng: “Cha và ông nội của ông tích chứa được rất nhiều âm đức, con cháu nhất định sẽ thành đạt làm quan lớn. Ông nên đem hài cốt cha mình an táng tại chỗ kia”.

Cha Dương Vinh nghe xong, y lời đạo sĩ, đem hài cốt của cha và ông nội chôn tại chỗ đại sĩ chỉ. Ngôi mộ đó, ngày nay mọi người đều biết là mộ Bạch thố. Sau đó Dương Vinh ra đời, đến năm hai mươi tuổi thi đậu Tiến sĩ. Làm quan mãi đến chức Thiếu sư thuộc hàng Tam công. Hoàng đế còn truy phong cho cha, ông nội, ông cố của Thiếu sư chức tước như ông. Con cháu đời sau của Thiếu sư vô cùng thành đạt, mãi cho đến ngày nay vẫn còn rất nhiều bậc hiền tài.

Dương Thiếu sư! Dương Thiếu sư! Ông cố, ông nội tích âm đức, tích âm đức. Lụt lội chỉ lo cứu vớt người, của cải chẳng quan tâm. Người cười như thế là khờ ngu! Đâu ngờ ngu mà được đại phước, được đại phước.

Dương Tự Trừng người Ninh Ba Triết Giang ban đầu làm chức thư biện ở quan nha, tâm vô cùng nhân hậu, nghiêm giữ pháp luật, làm việc công minh chánh trực. Lúc đó quan huyện là người nghiêm khắc ngay thẳng, có một lần đánh một kẻ tù phạm đến máu chảy đầy đất, mà vẫn chưa nguôi giận. Dương Tự Trừng lúc đó quỳ xuống xin tha cho người phạm tội. Quan huyện bảo: “Ông xin tha tội cho hắn vốn chẳng có gì đáng nói, song tên tù phạm này không tuân thủ pháp luật, làm trái đạo lý, sao mà không giận cho được!”

Dương Tự Trừng vừa dập đầu lạy vừa thưa: “Hiện nay trong triều, thật ra thị phi khó định, quan trường toàn là việc tối tăm, tham ô hủ bại, đánh mất lòng dân đã lâu. Nếu ngài thẩm vấn giả như tìm ra tội của phạm nhân thì cũng nên đau lòng cho họ, thương họ không biết đạo lý, lầm phạm pháp luật, mà không nên vì đó mà vui mừng. Nếu như có tâm vui thích tìm ra tội trạng của phạm nhân, e sẽ dễ đưa đến xử án thiếu sót sai lầm. Nếu như ngài quá nóng giận đánh đập khảo tra, e rằng phạm nhân do chịu không nổi sẽ nhận tội bừa, làm oan uổng người ta. Ngay cả ưa thích tìm ra tội trạng của phạm nhân còn không được, huống chi là nổi giận sao?”

Quan huyện nghe xong lời nói của Dương Tự Trừng, vô cùng cảm động, lập tức dịu sắc mặt, hạ cơn giận xuống.

Dương Tự Trừng gia cảnh rất nghèo, song có người đem biếu cho món gì ông đều không nhận. Gặp khi tù phạm đói khát, ông thường tìm cách kiếm thức ăn biếu cho họ. Một hôm có vài tù nhân mới đến, vì đường xa không có ăn uống nên vô cùng đói khát. Lúc đó nhà ông lại thiếu gạo, nếu đem đến cho tù nhân thì người nhà sẽ phải chịu đói. Nếu chỉ lo cho mình, thì những tù nhân này đói khát thật đáng thương. Không còn cách nào khác, ông bèn bàn cùng vợ. Vợ hỏi: “Những tù nhân này từ chỗ nào giải đến?” Ông trả lời: “Từ Hàng Châu đến. Họ dọc đường chịu đói, trên mặt xám xanh không còn chút máu. Lúc này dù có một chút cơm thừa canh cặn, họ cũng hai tay bưng lấy ăn ngấu nghiến!”

Do đó, hai vợ chồng bèn đem chút ít gạo còn lại trong nhà ra nấu cháo cho họ ăn.

Về sau, hai người sinh được hai đứa con trai, đứa lớn tên Thủ Trần, đứa nhỏ tên Thủ Chỉ, đều làm quan đến chức Nam Bắc Lại Bộ Thị Lang. Cháu nội lớn làm đến chức Hình Bộ Thị Lang. Cháu nội nhỏ cũng làm đến chức Tứ Xuyên Án Sát Sứ. Hai người con, hai người cháu đều là những quan lớn nổi tiếng. Hiện nay có hai danh nhân là Sở Đình và Đức Chánh, đều là dòng dõi con cháu của Dương Tự Trừng.

Tù nhân khổ biết bao, khổ biết bao! Đã bị giam cầm lại thiếu ăn, trong lòng khổ thống có ai hay. Có ai hay? Dương thư biện có lòng nhân hậu, vợ chồng đồng tâm cứu giúp người. Nhà biết tích thiện phước có thừa, phước có thừa.

Vào khoảng năm Chánh Thống vua Anh Tông triều Minh, có một người lãnh đạo thổ phỉ tên là Đặng Mậu Thất làm phản ở tỉnh Phúc Kiến. Kẻ sĩ và dân chúng ở nơi đó đi theo rất đông. Triều Đình bèn sai Trương Khải người huyện Ngân làm chức Đô Ngự Sử đi dẹp loạn. Trương Khải dùng kế bắt được Đặng Mậu Thất. Sau đó họ Trương lại phái Tạ Đô sự làm chức Bố Ty Chánh tỉnh Phúc Kiến đi tróc nả những người tòng đảng. Nếu bắt được liền giết. Nhưng Tạ Đô sự không chịu giết càn, sợ giết lầm người. Ông bèn cho đi tra tìm danh sách đảng giặc, điều tra ra phàm không phải là tòng đảng, trên danh sách không có tên, đều ngầm đưa cho họ một lá cờ trắng và hẹn rằng, khi quan binh đến tra xét thì treo lá cờ trắng đó trước cửa, chứng tỏ mình là lương dân vô tội. Đồng thời ông cũng cấm các quan binh không được giết bừa. Nhờ biện pháp đó, có đến hơn vạn người tránh khỏi bị giết. Về sau con trai của Tạ Đô sự là Tạ Thiên thi đậu trạng nguyên, làm quan đến chức Tể tướng. Cháu nội của ông là Tạ Phi cũng thi đậu Thám Hoa, tức Tiến sĩ hạng ba.

Tướng quân không giết bừa, đời sau con cháu được phát đạt. Tạ Đô sự, tâm từ bi, cứu sống hơn vạn người, con cháu được hưng vượng, được hưng vượng!

Trong huyện Bồ Điền tỉnh Phúc kiến có nhà họ Lâm. Truởng bối của họ có một bà cụ thích làm việc thiện, thường dùng bột mì làm bánh biếu cho người nghèo. Chỉ cần có người mở lời xin, bà liền biếu cho, không chút do dự. Có một vị đạo sĩ mỗi sáng đều đến xin bà sáu bảy cái bánh. Bà lão cho suốt ba năm chưa hề có lời phiền hà. Đạo sĩ biết bà có thành tâm làm việc thiện, nên bảo: “Tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, không biết làm sao để đáp ơn này? Sau nhà có miếng đất trống, nếu sau khi mất, bà có thể an táng tại nơi đó, sau này con cháu nhất định sẽ có quan tước, nhiều như một đấu mè.”

Về sau bà lão qua đời, người con y lời đem chôn mẹ mình ở nơi đạo sĩ nói. Không ngờ một đời nhà họ Lâm thi đậu có đến chín người. Sau này con cháu làm quan nhiều đời, số lượng rất nhiều. Do đó tỉnh Phúc Kiến truyền tụng câu nói: Nếu không có họ Lâm đi thi, thì không có thể có người trúng tuyển! Ý nói, người họ Lâm đi thi nhiều, đậu cũng lắm.

Bà lão nhà họ Lâm, thích làm việc phước thiện, thường làm bánh bột mì, biếu cho người nghèo ăn, biếu cho người nghèo ăn. Tâm bố thí chí thành, thần tiên cũng cảm động, nhân nào quả như vậy, con cháu đều làm quan, đều làm quan.

Cha của quan Thái sử Phùng Trác Am lúc làm Tú tài ở trường Huyện, vào một buổi sáng vô cùng lạnh lẽo, ông đang trên đường đi đến trường, bỗng trông thấy một người nằm ngã trên tuyết, lạnh cóng sắp chết. Phùng tiên sinh liền cởi áo khoác của mình ra mặc cho người đó, và đưa về nhà, cứu tỉnh. Sau đó, Phùng tiên sinh nằm mơ thấy một vị thiện thần bảo: “Ngươi cứu một mạng người hoàn toàn xuất phát từ tâm chí thành, cho nên ta phái Hàn Kỳ đầu thai, làm con trai nhà ông”.

Về sau, Trác Am sinh ra, được đặt tên là Phùng Kỳ. Thì ra Phùng Kỳ vốn là một vị Tể tướng văn võ toàn tài triều Tống tên là Hàn kỳ tái sanh.

Phùng tiên sinh, tâm từ bi, cứu mạng người, công đức lớn. Thành tâm thành ý cứu mạng người, phước hơn xây dựng tháp bảy tầng, tháp bảy tầng.

Ở Đài châu Triết Giang có một vị quan Thượng thư tên là Ứng Đại do. Ông thuở còn trẻ từng ở trong núi tự học. Nơi đây ban đêm thường có loài quỷ tụ tập kêu gào, mọi người đều sợ không dám ở, song Ứng Đại Do lại không sợ. Một đêm nọ ông nghe hai con quỷ nói chuyện. Một con quỷ bảo: “Có một phụ nữ chồng đi xa đã lâu chưa về. Cha mẹ chồng cho là con trai mình đã chết, nên ép người con dâu đi cải giá. Song cô này lại muốn thủ tiết, không chịu, nên định tối mai đến đây thắt cổ tự tử. Như vậy tôi có thể tìm ra người thay thế”.

Ứng Đại Do nghe được lời này, khởi lên tâm cứu người, nên ngầm bán đi miếng ruộng của mình được bốn lạng bạc, vội viết một lá thư giả làm con trai của gia đình đó, cùng với số bạc gởi đến nhà. Gia đình xem xong bức thư, tuy chữ viết không phải của con mình, nhưng số bạc là thật, nên cuối cùng bán tín bán nghi, vẫn hy vọng con mình còn sống, và không ép con dâu đi cải giá nữa. Về sau con trai của họ quả nhiên trở lại, vợ chồng hòa hợp như xưa.

Lại nói Ứng Đại Do sau khi cứu người phụ nữ đó xong, đêm sau ông nghe con quỷ đó nói: “Tôi đáng lẽ có thể đã tìm được người thế thân, không ngờ lại bị gã Tú tài này làm hỏng chuyện!”Con quỷ bên cạnh bảo: “Sao mầy không hại chết tên đó!” Con quỷ đó trả lời: “Thiện thần thấy người này có tâm từ làm việc công đức, nên ngày đêm bảo hộ, làm sao mà hại hắn được!”

Ứng công sau khi nghe hai con quỷ nói, lại càng nổ lực phát tâm lành, công đức cũng ngày một sâu dày. Khi gặp năm mất mùa đói kém, ông đều bố thí cơm gạo cứu người. Gặp khi thân thuộc có nạn gấp, ông nhất định tìm cách giúp người qua cơn khó khăn. Khi gặp kẻ oan gia, hay việc bất như ý, ông đều phản tỉnh xét lại mình, tự trách, tâm bình khí hòa chấp nhận sự thật. Nhờ đó con cháu của Ứng công nhiều người được công danh quan vị, mãi đến ngày nay vẫn còn.

Chỉ cần làm phước đức, cứu giúp cho mọi người, tự nhiên được thiện thần, đêm ngày thường bảo hộ, thường bảo hộ.

Huyện Thường Thục tỉnh Giang Tô có một vị tiên sinh tên là Từ Phụng Trúc, cha của ông vốn rất giàu có. Gặp năm mất mùa đói kém, ông đều không lấy thuế ruộng của tá điền. Điều này đã khiến các địa chủ khác học theo. Ngoài ra ông còn đem lúa gạo cứu giúp người nghèo đói. Một đêm, ông nghe có tiếng quỷ xướng lên trước cửa: “Trăm ngàn lần sự thật, trăm ngàn lần sự thật, Tú tài nhà họ Từ, sắp thi đậu Cử nhân”.

Đêm nào cũng có tiếng như thế vang lên trước cửa. Năm đó Từ Phụng Trúc đi thi Hương, quả nhiên đỗ được Cử nhân. Cha của ông nhân đó rất vui, càng nỗ lực làm các việc thiện, tích chứa công đức. Ông thường làm việc xây cầu, đắp đường, trai Tăng, cúng dường Tam Bảo… Gặp người nghèo khó cơ nhỡ, ông đều ra tay cứu giúp. Sau đó, ban đêm ông lại nghe có tiếng quỷ thần kêu trước cửa: “Trăm ngàn lần thật, trăm ngàn lần sự thật, Cử nhân nhà họ Từ, làm quan đến Khâm sai”. Sau này, Từ Phụng Trúc quả nhiên làm đến chức Khâm sai tuần phủ miền Triết Đông và Triết Nam thuộc tỉnh Triết Giang.

Huyện Gia Hưng tỉnh Triết Giang có một vị họ Đồ, tên là Khang Hi. Ban đầu ông làm chức quan chủ sự ở bộ hình, ban đêm ở trực trong ngục, xét hỏi cặn kẻ phạm nhân. Nhờ vậy ông phát hiện ra nhiều vụ án oan khuất. Nhưng Đồ công không cảm thấy mình có công lao, chỉ âm thầm đem những vụ án oan này tấu trình lên quan truởng thuộc bộ hình xét xử.

Khi phúc thẩm lần cuối trước khi hành hình, quan truởng bộ hình dựa vào những tài liệu Đồ công cung cấp, tra hỏi xét xử đều đúng với sự thật. Do đó, quan truởng mới tha tội cho những người mà trước đây vì chịu không nỗi nhục hình đã khai nhận, song thực chất lại vô tội. Nhờ đó cứu được mười mấy người.

Lúc đó dân chúng trong kinh thành đều khen ngài Thượng thư bộ Hình sáng suốt minh xét. Sau đó Đồ công lại dâng lên một bức tấu trình, thưa rằng: “Dưới chân thiên tử còn có nhiều người bị oan khuất như vậy, huống chi là cả nước rộng lớn, làm sao mà không có người bị oan khuất? Vì vậy, xin kiến nghị mỗi năm phái một vị giảm hình quan đi các tỉnh tra xét kỹ lại sự thật của các vụ án. Nếu quả như có tội, thì định tội cũng phải công bình; còn như oan khuất, nên xét xử lại, giảm nhẹ hay tha bổng”.

Quan Thượng thư bèn thay ông dâng sớ điệp đó lên vua. Vua cũng phê chuẩn cho lời kiến nghị của ông, bèn phái giảm hình quan đến các tỉnh để thẩm tra. Đồ công cũng ở trong đoàn thanh tra đó.

Một hôm họ Đồ nằm mơ trông thấy một vị thần đến bảo: “Mệnh của ông lý ra không có con trai, song nhờ ông nêu ra cách giảm hình án, hợp với lòng trời lòng người, nên ông sẽ có ba người con trai, sau này đều làm quan lớn “.

Không bao lâu vợ của ông liền có mang. Về sau sinh ra Ứng Vẫn, Ứng Khôn, Ứng Tuấn đều làm quan lớn.

Đồ Khang Hi, Đồ Khang Hi! Xét xử án tình rất phân minh, không tham công, giải oan khuất, con cháu nhờ đức được quan chức, được quan chức.

Có một vị người Gia Hưng, tên Bao Bằng, hiệu Tín Chi. Cha của ông từng làm Thái thú của phủ Trì Châu tỉnh An Huy, sinh ra bảy người con trai, Bao Bằng là con út. Ông vào ở rể nhà họ Viên huyện Bình Hồ, thường qua lại với ông nội con, giao tình rất thân. Học vấn của ông uyên bác, tài năng rất cao, nhưng mỗi lần đi thi đều không đỗ. Do đó ông đối với Phật, Lão rất để tâm nghiên cứu.

Một hôm ông đi chơi ở Mão Hồ, tình cờ trông thấy trong ngôi chùa làng vì tường chùa hư hại, nên Thánh tượng Đức Quán Thế Âm trở nên trơ trọi lộ thiên, mặc cho gió táp mưa sa. Lúc đó ông móc túi ra, có tất cả là mười lạng bạc liền đem cúng cho vị trụ trì, nhờ tu sửa gian nhà thờ Đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Trụ trì nói với ông: “Sửa chùa là công trình lớn, tiền ít e không đủ dùng, khó mà hoàn thành”.

Nghe vậy ông lại lấy bốn xấp vải quý sản xuất tại Tùng Giang, và mở rương lấy ra bảy chiếc áo mới đưa hết tất cả cho vị trụ trì. Những người theo hầu thấy vậy khuyên ông không nên cho nữa. Nhưng Bao Bằng bảo: “Chỉ cần Thánh tượng Đức Bồ Tát Quán Thế Âm không bị mưa ướt, thì thân này dù có cởi trần cũng không sao!”

Trụ trì nghe xong rơi lệ bảo: “Cúng dường tiền, vải, áo quần không phải khó. Nhưng thành tâm đến mức này thật là hiếm có!”

Về sau, điện thờ Quán Thế Âm Bồ Tát được sửa xong, Bao Bằng lại đưa cha mình đến nơi đó thăm, và ở lại trong chùa. Đêm đó Bao Bằng nằm mộng, trông thấy Hộ pháp trong chùa đến cám ơn, bảo: “Ông làm được công đức này, con cháu nhiều đời của ông sẽ được quan chức, phú quý!”

Về sau con của ông là Bao Biện, cháu là Bao Thánh Phương đều thi đậu tiến sĩ, làm quan lớn.

Bao Tín Chi, Bao Tín Chi, học vấn tài năng đều xuất chúng, tiếc rằng công danh lại không trúng. Sau nhờ thành tín cúng Quán Âm, tu sửa chùa chiền phụng Thánh tượng, nhờ vậy con cháu phước vô lượng, quan to lại kiết tường, quan to lại kiết tường.

Huyện Gia Thiện tỉnh Triết Giang có một người tên là Chi Lập. Cha của ông làm chức Thư biện trong phòng hình sự huyện nha. Có một phạm nhân bị hại, mắc tội oan, bị phán quyết tử hình. Thư biện họ Chi thấy tội nghiệp, tìm cách xin quan trên giảm tội chết cho người đó. Người đó biết được lòng tốt của ông, bèn bảo với vợ: “Lòng tốt của Chi công tôi cảm thấy rất hổ thẹn, không cách chi báo đáp. Ngày mai bà hãy mời ông ta về nhà, xin làm thiếp hầu ông. Ông ta nếu cảm động trước ân tình này, thì tôi sẽ có cơ hội được sống”.

Vợ của phạm nhân nghe xong, không có cách nào, chỉ đành vừa khóc vừa nhận lời. Đến hôm sau, Chi Thư biện về quê, vợ của phạm nhân ra mời Thư biện uống rượu, và đem ý chồng mình ra nói với ông. Nhưng Thư biện đã kiên quyết từ chối.

Song ông vẫn đem hết khả năng của mình ra tranh biện cho phạm nhân. Cuối cùng vụ án được giải quyết, trả lại công bằng cho người phạm nhân bị oan.

Sau đó phạm nhân ra ngục, vợ chồng hai người đến nhà Thư biện lạy tạ bảo: “Ngài có đức độ sâu dày như vậy, hiện nay thật hiếm có người. Nay ngài không có con trai, tôi xin dâng đứa con gái đến làm thiếp, lo việc hầu hạ trong ngoài. Về tình về lý không có gì quá đáng”.

Chi Thư biện nghe lời của ông xong, chuẩn bị lễ vật, rước người con gái đó về làm thiếp, sau này sinh được một người con trai tên Chi Lập, mới hai mươi tuổi đã đỗ đầu Cử nhân, làm quan đến chức thư ký Hàn Lâm Viện. Sau này con của Chi Lập là Chi Cao, con của Chi Cao là Chi Lộc đều làm chức giáo thọ trường huyện. Con của Chi Lộc là Chi Đại Luân cũng thi đậu tiến sĩ.

Chi Thư biện, Chi Thư biện, nhân từ không nỡ để người oan, không cầu báo đáp giúp cho người, do đó phước tự nhiên, phước tự nhiên.

Mười câu chuyện kể trên, tuy mỗi người mỗi việc khác nhau, song tất cả đều là làm việc thiện. Nếu phân loài kỹ hơn, làm việc thiện có thể phâm làm: thật, giả, ngay thẳng, tà vạy, âm, dương, lớn nhỏ, khó dễ, v.v…

Mỗi loại đều có đạo lý của nó, phải phân biệt rõ. Nếu chỉ lo làm việc thiện mà không biết đạo lý làm việc thiện, dễ đưa đến khoe khoang, tự đắc, nhiều khi lại không phải là làm việc thiện mà là đang tạo tội! Như vậy há không phải cực nhọc

vô ích, oan uổng lắm sao? Nay sẽ thuyết minh về đạo lý làm thiện nói trên.

Sao gọi là làm thiện có thật có giả?

Vào thời Nguyên có mấy vị Nho học đi tham kiến Hòa thượng Trung Phong ở núi Thiên Mục, hỏi rằng: “Nhà Phật nói thiện ác báo ứng như bóng theo hình, vậy sao hiện nay có người làm thiện mà con cháu trái lại không hưng vượng? Có người làm ác mà con cháu lại phát đạt? Vậy lời Phật nói về thiện ác không chứng cứ!”

Hoà thượng Trung Phong đáp: “Người bình thường bị kiến giải thế tục che lấp, tâm sáng suốt chưa từng được tẩy gội. Vì pháp nhãn chưa mở, nên nhiều khi họ cho rằng hành vi làm thiện đó là làm ác; hành vi làm ác lại cho là làm thiện. Ta làm sai, nhiều lúc không biết tự trách mình điên đảo, lại oán trời trách đất, bảo là báo ứng không đúng.

Mọi người lại hỏi: “Thiện là thiện. Ác là ác. Sao lại có chuyện thiện ác trái ngược?”

Hòa thượng Trung Phong nói: “Làm việc lợi ích cho người gọi là thiện; làm chỉ có lợi cho mình gọi là ác. Làm việc lợi ích cho người, dù là mắng chửi, đánh đập, cũng là thiện; còn việc chỉ có lợi cho mình, cho dù cung kính, lễ độ với người cũng gọi là ác. Cho nên, một người làm được việc thiện, khiến người khác có được lợi ích gọi là việc công, cũng tức là việc thiện chân thật; còn chỉ muốn mình được lợi ích, gọi là việc tư, tức là việc thiện giả dối. Lại nữa, việc thiện xuất phát từ lương tâm, từ tâm từ bi của mình gọi là chân thật; còn việc thiện nếu chỉ có hình thức, làm cho người ta thấy mà thôi thì gọi là giả dối. Lại nữa, làm việc thiện không cầu quả báo, không có chấp trước, đó là chân thật; song nếu chấp vào mục đích nào, có tâm mong cầu quả báo để làm việc thiện, đó là giả dối. Những việc làm thiện như vậy, mình phải cẩn thận suy xét mới được.

Sao gọi là ngay thẳng và tà vạy?

Người ta hiện nay trông thấy kẻ cẩn thận, không cứng cỏi phần lớn đều khen người đó là người lương thiện, và rất tôn trọng họ. Song Thánh hiền thời xưa, lại rất quý trọng người có chí khí, quyết hướng đến trước, hoặc kẻ giữ mình trong sạch, không chịu xu thời. Bởi vì hạng người này, mới có ý chí, mới có can đảm gánh vác trách nhiệm, có thể dạy họ, khiến họ tiến bộ.

Còn như những người xem có vẻ là người tốt, cẩn thận lại vô dụng, tuy ở trong làng xóm mọi người ưa thích, song vì cá tính của họ yếu đuối, sống mặc theo thế tục, không có chí khí, cho nên Thánh nhân bảo hạng người đó là tên giặc làm hại đến đạo đức. Như thế mà xét, thì người phàm tục nói đến quan niệm thiện ác, thật ra trái với lời của thánh nhân.

Người phàm tục bảo là thiện, Thánh nhân lại cho nó là ác. Người phàm tục bảo là ác, Thánh nhân lại cho nó là thiện. Từ phương diện này suy ra những việc khác, người phàm tục thích, hay không thích cái gì cũng đều trái với Thánh nhân. Thiện thần gia hộ người thiện, và nhân quả báo ứng đều khế hợp với quan điểm Thánh nhân, song nhiều lúc lại không hợp với quan niệm của người phàm tục. Cho nên phàm làm việc thiện, quyết không thể bị âm thanh, sắc tướng mà mình ưa thích lợi dụng, nhắm mắt đi theo cảm giác. Cần phải sáng suốt tư duy chỗ khởi tâm động niệm của mình, gội sạch những tâm niệm bất chính, cầu danh, giả dối, trở lại tâm chí thành thanh tịnh.

Cho nên, việc thiện nếu xuất phát từ tâm cứu người đó là ngay thẳng; còn như ôm lòng cầu danh, lấy lòng người khác đó gọi là tà vạy; nếu xuất phát từ tâm tôn trọng người khác, thì gọi là ngay thẳng; còn như có chút coi thường, đùa bỡn đó là tà vạy. Những điều này phải suy xét rõ ràng.

Sao gọi là việc thiện có âm có dương?

Phàm người làm việc thiện được người ta biết đến gọi là dương thiện; làm việc thiện mà không người biết đến thì gọi là âm đức. Người có âm đức, Long thần Hộ pháp đều biết và bảo hộ, phước đức tự nhiên cũng đến. Người có dương thiện, mọi người đều biết, khen ngợi, huởng được tiếng thơm trong đời. Song phải chú ý, tiếng khen trong đời dễ khiến lòng người kiêu ngạo, thường gặp những tai nạn bất ngờ. Như một người không có sai lầm gì lại bị oan uổng, vô duyên vô cớ bị người gán cho tiếng ác. Nhưng có khi con cháu của họ lại được thành đạt. Cho nên dương thiện và âm đức có sự sai khác vi tế, không thể không suy xét kỹ.

Sao gọi là việc thiện có đúng có sai?

Vào thời Xuân Thu thuở xưa, nước Lỗ có một luật định, nếu người nước Lỗ bị nước khác bắt đi làm nô lệ, mà có ai dùng tiền chuộc ra, thì người đó có thể đến quan phủ lãnh tiền thuởng. Song học trò của Khổng tử là Tử Cống tuy giúp chuộc nô lệ ra, lại không chịu nhận tiền thuởng. Ông không nhận tiền, chủ ý chỉ vì giúp người mà không phải vì tiền thuởng, vốn rất tốt. Nhưng khi Khổng tử nghe được, không vui bảo: “Việc này Tử Cống đã làm sai. Phàm Thánh Hiền làm việc gì phải nghĩ đến việc làm của mình sau này sẽ ảnh huởng đến phong tục tốt đẹp. Như dạy bảo, dắt dẫn nhân dân trở nên người tốt; mà không nên vì cá nhân mình cảm thấy thích là làm. Hiện nay người trong nước Lỗ phần nhiều là nghèo. Nếu cho nhận tiền thuởng là tham tài, thì người ta sẽ sợ mang tiếng tham tài, và không có tiền, nên không chịu đi chuộc những người nô lệ. Như vậy e rằng sau này sẽ không có ai đi chuộc những người bị bắt làm nô lệ đó!

Tử Lộ thấy một người té xuống sông, liền cứu người đó lên bờ. Người đó đem một con trâu đến biếu tạ Tử Lộ, Tử Lộ liền nhận. Khổng tử biết việc, rất vui bảo: “Từ nay về sau, nước Lỗ sẽ có nhiều người chủ động cứu vớt người rơi xuống sông!”

Qua hai câu chuyện trên chúng ta thấy, nhìn theo con mắt thế tục, Tử Cống không nhận tiền thuởng là tốt; Tử Lộ nhận con trâu là không tốt. Song không ngờ, Khổng tử khen Tử Lộ, mà lại trách Tử Cống! Như vậy xem ra, muốn biết một người làm việc thiện hay ác, không thể chỉ nhìn trên kết quả trước mắt, mà phải xét đến hiệu quả lâu dài; không thể chỉ nghĩ đến ảnh huởng trong hiện tại, mà phải xét đến việc đúng sai ở tương lai. Không thể chỉ luận cá nhân đắc thất, mà phải nghĩ đến quan hệ đại chúng.

Hiện nay làm tuy là thiện, song nếu lưu truyền về sau, có hại cho người, thì đó cũng không phải là thiện. Hiện nay làm tuy không phải là thiện, song nếu lưu truyền sau này, có thể giúp đỡ người khác, thì tuy dường như bất thiện, mà thực ra là thiện. Đây chẳng qua chỉ nêu ra một việc để nói thôi, những việc khác lại rất nhiều. Ví dụ như một người làm việc nên làm gọi là nghĩa, song có lúc, việc nghĩa cũng sai lầm, trở lại là việc ác.

Ví như người xấu ác có thể không cần phải khoan thứ, song nếu có người khoan thứ cho họ, thì cũng không thể bảo đó là việc bất nghĩa. Song nếu khoan thứ cho hắn, lại khiến hắn ta ỷ lại, làm nhiều việc ác hơn nữa, kết quả nhiều người do đó bị hại, ta cũng vì thế mang tội. Chi bằng không khoan thứ, cho họ sự cảnh cáo, khiến hắn không dám phạm tội thì tốt hơn. Không khoan thứ là bất nghĩa; khiến họ không tái phạm là nghĩa. Đó gọi là việc nghĩa mà dường như bất nghĩa.

Lễ độ là một đức tốt, mọi người nên học, nhưng cần có mức độ. Đối đãi người lễ độ là đúng, song nếu quá đáng, trở lại khiến người trở nên kiêu ngạo, hay thành ra nịnh nọt, cúi lòn, thì là phi lễ.

Chữ tín rất quan trọng, song phải xem tình hình. Ví dụ như vì giữ chữ tín nhỏ mà làm lỡ việc lớn, trái lại làm mất đi chữ tín lớn, thì đó không phải là tín.

Yêu thương người vốn là lòng từ, song nếu yêu thương quá đáng, trở lại khiến người ỷ lại, hư hỏng, thì đó không phải là lòng từ. Cho nên phải suy nghĩ kỹ vấn đề này, phán đoán cẩn thận.

Sao gọi là công chánh và thiên lệch?

Tể tướng triều Minh trước đây là Lã Văn Ý khi vừa từ chức Tể tướng về quê, vì ông làm quan thanh liêm, công chánh, toàn quốc đều hết sức kính quý. Song không ngờ có một người nhà quê sau khi uống rượu say, mắng Lã công. Song Lã công không vì thế mà nóng giận, còn nói với người làm của mình: “Tên này uống rượu say, không nên chấp nhất”.

Lã công liền đóng cửa, không để ý đến. Một năm sau, tên này phạm tội chết bị đưa vào ngục. Lã công mới hối hận bảo: “Nếu lúc đó dạy cho hắn một bài học, đưa đến quan phủ trị tội, có thể trị tội nhỏ để ngăn tội lớn, thì đâu đến đỗi có ngày nay hắn bị tử tội! Ta lúc đó chỉ vì không nỡ, mới tha, không ngờ trở lại làm hại hắn!

Tên đó ban đầu ngỡ là ngay cả mắng Tể tướng cũng không sao, nên mới tiếp tục phạm tội, gây nên kết quả xử chết. Đó là ví dụ về người có tâm thiện mà lại làm việc ác.

Cũng có khi, có tâm ác mà làm việc thiện. Ví dụ như có một nhà giàu gặp năm đói kém, người nghèo đói ban ngày cướp gạo ở chợ. Người nhà giàu bèn đi thưa đến quan huyện. Quan huyện lại không chịu xử vụ này. Những người nghèo đó càng lộng hành, ngang nhiên lấy của người. Do đó, người giàu bèn cho người bắt giam tên đó lại. Những người khác thấy vậy không dám cướp giật nữa. Nếu không làm vậy chợ búa sẽ loạn. Cho nên tuy thiện là công chánh, ác là thiên lệch, nhưng cũng có trường hợp động cơ làm thiện mà bên ngoài làm việc ác. Đạo lý này mọi người phải suy nghĩ kỹ.

Sao gọi là việc thiện phân nửa và trọn vẹn?

Kinh Dịch nói: Một người không tích thiện, thì không có danh tiếng tốt; một người không tích ác, thì không có họa sát thân.

Kinh Thư cũng bảo: Tội ác của vua Trụ, đầy giống như xâu tiền đã xỏ đầy, như thùng đồ đã hết chỗ.

Nếu ta cố gắng để dành mỗi ngày thì nhất định sẽ có khi đầy. Nhà Thương từ khi mở nước cho đến vua Trụ, tội ác tích chứa đã đầy, do đó không mấy chốc mất nước. Nếu không chất chứa, thì sẽ không đầy. Cho nên nói tích thiện, tích ác như chứa đồ. Đó là nói làm việc thiện phân nửa và đầy đủ.

Ngày xưa có một cô gái nghèo đến chùa lễ Phật, chỉ có hai đồng tiền đem ra cúng dường hết. Không ngờ vị Hòa thượng trụ trì lại đích thân đến trước Phật hồi hướng công đức, cầu tiêu trừ tội chướng cho cô. Sau này cô ta được cho vời vào cung làm quý phi. Sau khi giàu có, cô mang mấy ngàn lạng bạc đến chùa cúng. Nhưng lần này Hòa thượng trụ trì lại sai đệ tử của mình hồi hướng cho cô. Cô này không hiểu tại sao lần trước bố thí ít lại được Hòa thượng trụ trì coi trọng, còn lần này lại không. Mới hỏi: “Con lần trước chẳng qua chỉ bố thí hai đồng tiền, thầy lại đích thân hồi hướng. Lần này con cúng dường hai ngàn lạng bạc, thầy lại không đích thân hồi hướng cho con, không biết là vì lý do gì?”

Vị trụ trì trả lời: “Trước đây con cúng dường tuy ít, song vô cùng chí thành chí thiết, nên thầy nếu không đích thân hồi hướng e không xứng vớI tâm thành này. Nay con bố thí tuy nhiều, song không chân thiết chí thành như lần trước, cho nên thầy cho người hồi hướng thay cũng đủ!

Vì vậy, hai đồng tiền bố thí vẫn kể là việc thiện trọn vẹn, hai ngàn lạng bạc vẫn coi là việc thiện phân nửa.

Vào triều Hán, đạo sĩ Chung Ly đem phương pháp luyện đơn của mình truyền cho Lã Động Tân, có thể chỉ sắt hóa vàng, đem ra cứu giúp cho người nghèo. Lã Động Tân hỏi Chung Ly: “Sắt biến thành vàng, xin hỏi bao lâu lại biến thành sắt?” Chung Ly đáp: “Sau năm trăm năm, sẽ biến thành sắt”. Lã Động Tân bảo: “Như vậy sẽ hại người năm trăm năm sau. Tôi không muốn làm việc như vậy”.

Chung Ly dạy Lã động Tân điểm sắt hóa vàng chẳng qua là muốn thử tâm của ông mà thôi. Cho nên khi nghe Lã Động Tân nói như vậy, biết là ông có tâm lành chân thật, mới nói: “Tu tiên phải tích chứa đủ ba ngàn việc công đức. Ông nói được một lời như vậy thì ba ngàn công đức đã đủ”. Đây chỉ là một lời nói mà công đức viên mãn.

Lại nữa, làm việc thiện không nên bao giờ cũng nhớ đến, cho là mình làm được việc rất vĩ đại! Nếu tâm được vô chấp như vậy, cho dù chúng ta làm việc thiện gì bất luận lớn nhỏ, đều là công đức viên mãn. Còn như cả đời cố gắng làm việc thiện mà cứ chấp tướng, chấp công, thì vẫn là việc thiện không viên mãn.

Ví như đem tiền ra giúp đỡ người, phải không thấy mình là người cho, đối tượng là người nhận, và vật được cho quý giá như thế nào. Đó gọi là tam luân không tịch. Mình, người, vật đều bất khả đắc, chỉ có nhất tâm thanh tịnh. Nếu làm việc bố thí được như vậy, cho dù bố thí chỉ một đấu gạo, cũng có thể gieo trồng công đức vô biên; cho dù bố thí một đồng, cũng tiêu trừ được vô lượng nghiệp chướng. Còn nếu đem tâm chấp tướng, chấp công ra bố thí, cho dù là bố thí hai mươi vạn lạng vàng cho kẻ nghèo, công đức vẫn không viên mãn.

Sao gọi là việc thiện lớn, việc thiện nhỏ?

Trước đây có một người tên gọi Vệ Trọng Đạt làm quan trong Hàn Lâm học viện. Có một lần bị quỷ dẫn hồn đến địa phủ. Phán quan bảo Thư biện đem quyển sổ ghi công tội của ông khi ở trên dương gian cho xem. Khi quyển sổ ác đem đến, việc ác ghi nhiều đến đỗi chất đầy cả sân, còn ghi việc thiện chẳng qua chỉ là một quyển sách nhỏ. Phán quan lại bảo đem hai loại sổ ghi thiện ác đem cân xem bên nào nặng, bên nào nhẹ. Không ngờ, số lượng sổ ghi việc ác tuy nhiều, song lại nhẹ hơn một quyển sổ ghi việc thiện!

Vệ Trọng Đạt lúc đó hỏi: “Tôi chỉ có bốn mươi tuổi, lẽ nào lại phạm nhiều tội ác như thế sao?”

Trả lời: “Chúng sinh ở cõi trần, khởi tâm động niệm không chi là chẳng phải tội, chẳng phải nghiệp. Đâu cần đợi đến có hành động làm mới gọi là tạo tội?”

Vệ Trọng Đạt lại hỏi quyển sổ ghi việc thiện kia là điều thiện gì? Phán quan trả lời: “Vua từng có lần định xây cầu đá ở Tam Sơn là công trình rất lớn. Người từng tâu sớ lên can ngăn việc này, để tránh làm khổ cho dân”.

Vệ Trọng Đạt bảo: “Tôi có trình lên, song vua lại không nghe lời, vẫn cứ tiến hành. Vậy việc tấu sớ của tôi cũng có giá trị sao?” Phán quan bảo: “Vua tuy không nghe lời can gián, nhưng tâm lành muốn trăm ngàn nhân dân của ông khỏi cảnh khốn cực, cũng đủ đã vô lượng. Nếu vua nghe lời thì công đức đó càng lớn”.

Cho nên lập chí làm việc thiện, mục đích là lợi ích cho nhân dân, đất nước, thì việc thiện dù nhỏ, song công đức lại rất lớn. Giả sử chỉ vì lợi ích riêng mình, thì việc thiện dù nhiều, mà công đức cũng chẳng bao nhiêu.

Sao gọi là việc thiện khó làm và dễ làm?

Bậc tiên triết xưa bảo: “Khắc chế lòng tư dục của mình, phải bắt đầu từ nơi khó trừ nhất ra tay”. Học trò của Khổng tử là Phàn Trì hỏi Khổng tử: “Sao gọi là nhân”? Khổng tử trả lời: “Phải từ nơi khó ra sức”.

Khổng tử nói nơi khó, tức là chỉ trừ đi lòng tư dục. Như Thư tiên sinh ở tỉnh Giang Tây, ông dạy học ở nhà người được hai năm, dùng tất cả tiền lương giúp đỡ cho một gia đình nghèo trả nợ, cứu cho họ khỏi cảnh bán vợ đợ con.

Lại như Trương tiên sinh ở huyện Hàm Đan tỉnh Hà Bắc, ông trông thấy một nghèo đem cầm vợ đợ con, song tiền thì tiêu xài hết cả. Nếu không có tiền đi chuộc vợ con, e rằng họ sống cũng không được. Do đó ông đem hết số tiền mình dành dụm trong mười năm ra chuộc lại vợ con cho người đó. Trương tiên sinh và Thư tiên sinh thật là làm được việc thiện khó làm, những người khác khó làm được như vậy.

Lại như ở huyện Trấn Giang tỉnh Giang Tô có một vị họ Cận, tuy tuổi lớn mà không có con trai. Một người hàng xóm nghèo đồng ý gả con gái của mình cho ông làm thiếp, mong sinh cho ông được một mụn con trai. Song ông họ Cận này không muốn làm lỡ tuổi xuân của cô ta, nên đã từ chối. Trước sắc đẹp mà có thể nhẫn nại được thật là việc khó nhẫn, mà vị họ Cận này lại nhẫn được. Đây là điều thiện khó làm. Những người nêu trên, xét lại cuộc đời của họ và con cháu sau này, đều hạnh phúc, thành đạt mỹ mãn. Thế mới biết nhân quả không có sai chạy.

Phàm là người có tiền, có thế muốn làm công đức so với người bình thường dễ hơn nhiều. Song họ lại không chịu làm. Đó gọi là tự làm lỡ mình, đánh mất cơ hội tốt. Còn người nghèo cùng muốn làm phước thật là rất khó, song nếu họ làm được mới thật sự đáng quý. Chúng ta sống ở đời, nếu gặp phải cơ duyên nên tùy sức tùy phận giúp đỡ người khác. Có điều cứu giúp mọi người cũng không phải là việc dễ dàng, và cách thức lại rất nhiều. Nay lược nêu ra mười điều:

Một, giúp người làm thiện. Khi thấy người có lòng lành, ta phải khuyến khích, giúp đỡ khiến cho tâm lành của họ ngày càng tăng truởng. Người khác làm việc lành, sức không đủ, làm không thành, ta phải trợ giúp khiến việc lành đó thành tựu. Đó là tùy hỉ khuyến trợ việc thiện.

Hai, có lòng thương yêu kính trọng. Chúng ta phải có lòng thương yêu kính trọng không những là người học vấn, tuổi tác, vai vế lớn hơn mình, mà ngay cả người nhỏ tuổi, vai vế thấp, nghèo hèn, mình cũng phải bình đẳng quý trọng.

Ba, là thành tựu cho người. Ví như có một người định làm một việc tốt, song chưa quyết định, thì ta phải khuyên họ nên hết lòng hết sức làm. Lúc người khác làm việc lành, nếu gặp chướng ngại, không thể thành công, thì ta nên tìm cách chỉ dẫn họ, khích lệ họ khiến thành công, mà không được sinh tâm ganh tỵ đi phá hoại họ.

Bốn, khuyên người làm việc thiện. Gặp người làm việc ác, phải nói nhân quả cho họ nghe, làm ác nhất định gặp ác báo. Gặp người không chịu làm việc thiện, hay chỉ làm những việc thiện nhỏ nhoi, thì ta phải khuyên họ, khiến biết được làm việc thiện quyết định có quả báo tốt đẹp, nên không những phải hoan hỉ làm, mà còn phải hết sức làm.

Năm, cứu người khi nguy cấp. Người ta thường thích trên gấm thêm hoa, song lại thiếu tinh thần biếu than mùa tuyết lạnh. Đây là nói người khá giả quyền thế thì lắm người xu phụ, còn kẻ nghèo hèn lại không ai quan tâm. Cho nên, khi chúng ta gặp người đang lúc nguy hiểm khó khăn, khẩn cấp nhất mà kịp thời giúp đỡ, ra tiền ra sức đưa họ vượt khỏi cảnh khó, có thể nói là công đức vô lượng. Song phải cẩn thận đừng để khỏi tâm ngạo mạn.

Sáu, làm việc lợi ích lớn. Việc lợi ích lớn, cần người có năng lực lớn mới làm được. Người có năng lực lớn, cũng nên làm việc lợi ích lớn cho nhân quần xã hội. Ví dụ như: làm hệ thống thủy lợi, cứu giúp khu thiên tai hỏa hoạn. Song có khi không cần phải có năng lực lớn cũng làm được việc lợi ích lớn. Như chỉ cần thấy bờ đê có lỗ mọi nhỏ, nghĩ đến bờ đê có thể vì lỗ mọi này mà đưa đến vỡ lở, làm rất nhiều sinh mạng và tài sản bị đe dọa, nên phát tâm lấp lại. Đây tuy là việc làm nhỏ song lợi ích lại rất lớn.

Bảy, xả tài sản làm việc phước. Tục ngữ nói: Người ta vì tham tiền tài mà chết. Người đời lòng luôn yêu tiếc tiền bạc, tài sản. Tiền của càng nhiều càng tốt, có ai lại bỏ của cải ra giúp cho người khác? Cho nên, có thể bỏ tiền bạc ra cứu giúp người khác, đối với người bình thường đã là việc rất khó, đối với người nghèo cùng còn khó và đáng quý hơn nhiều. Nếu nói theo nhân quả, có xả mới có được, không biết xả bỏ sẽ không được. Làm một phần thiện, thì được một phần phước báo. Cho nên không phải e ngại rằng, mình xả tài vật ra cứu người, sẽ khiến cho đời sống của mình trở nên bần cùng.

Tám, hộ trì Chánh Pháp. Pháp đây là chỉ pháp tắc chân lý, đạo lý làm người. Bất cứ đạo lý gì chúng ta cũng phải suy gẫm xem nó có hợp với chánh đạo hay không? Có làm hại cho thế đạo nhân tâm hay không? Nếu là tà giáo có hại, nhất định phải cấm chỉ. Còn như là Phật pháp chánh tri kiến, khuyến hóa chỉ đạo lòng người trở về nẻo chánh quang minh, xây dựng phong tục tốt đẹp cho xã hội, thì ta phải hết lòng hộ trì. Nếu có ai phá hoại, ta cũng phải dũng cảm đứng ra bảo vệ chân lý, không để chánh pháp suy tàn.

Chín, kính trọng bậc tôn truởng. Phàm là người học vấn sâu, kiến thức rộng, vai vế lớn, tuổi tác cao hay có chức vị đều là bậc tôn truởng. Chúng ta phải kính trọng, không được coi thường hay vô lễ.

Mười, yêu tiếc sinh mệnh của chúng sinh. Phàm là loài có sinh mạng, không luận trùng kiến, chúng đều có tri giác, biết đau khổ, tham sống sợ chết. Cho nên chúng ta phải yêu thương, sao lại có thể tàn sát để ăn? Có người bảo: “Những con vật này sinh ra để cho con người ăn”. Nói như vậy không đúng. Đây chẳng qua là lời của kẻ tham ăn bịa đặt ra.

Mười điều nói ở trên chỉ là đại khái. Sau đây sẽ nêu ra ví dụ giảng rộng.

Sao gọi là giúp ngưòi làm việc thiện?

Ngày xưa, vua Thuấn triều Ngu khi chưa làm vua, ông trông thấy những người đánh cá tuổi trẻ ở bên hồ Lôi Trạch đều chọn nơi nước sâu để đánh bắt; còn những người già sức yếu, thì đánh bắt ở nơi cạn nước chảy xiết.

Nơi cạn nước chảy xiết, cá không tụ tập, nên ít cá hơn nơi nước sâu. Như vậy chỗ cá nhiều đều bị những người tuổi trẻ chiếm cả.

Thuấn trông thấy việc này, trong lòng rất thương những người lớn tuổi sức yếu. Ông mới nghĩ ra một cách giúp đỡ những người già yếu này. Ông cũng đi đánh bắt cá với mọi người, tuy là tuổi trẻ, ông lại không giành chỗ nước sâu cá nhiều, mà lại nhường cho người khác. Đi đâu ông cũng khen ngợi tán thán những người biết nhường. Nhờ đó đã gián tiếp nhắc nhở những người trẻ tuổi biết xét lại, cảm thấy hổ thẹn. Không đầy một năm, mọi người đều biết nhường chỗ có cá nhiều cho người già yếu.

Câu chuyện của vua Thuấn chẳng qua dùng để khuyên người đời biết nhường nhau, mà không phải nói bắt cá là tốt. Thực ra, sát sinh là tội lớn, không thể vi phạm. Vua Thuấn lấy mình làm gương, từ từ cảm hóa người khác, bỏ ra mất một năm mới có kết quả, thật là dụng tâm hết mực.

Chúng ta hiện nay sống trong xã hội có nhiều hiện tượng bại hoại, thói xấu, muốn làm người thật rất khó. Cho nên, người khác có gì không bằng mình, không nên đem sở trường của mình ra lấn lướt người khác. Người khác có gì thua kém mình, cũng đừng đem ra so với người. Mình cho dù có tài ba thông minh, cũng phải giấu đi, như ngu si kém cỏi.

Nhìn thấy lỗi lầm người khác, tạm thời che giấu, cho họ có cơ hội cải đổi, ngoài ra khiến họ biết e ngại không dám làm quấy nữa. Còn nếu ép bức người thái quá, đến bước đường cùng, họ sẽ làm liều, không còn e dè gì nữa.

Nếu thấy người khác có việc gì hay, dù nhỏ cũng phải học hỏi; có việc gì tốt, dù nhỏ cũng phải ghi nhớ. Không nên có thành kiến, tự cho là phải, mà phải biết học hỏi cái hay của người, khen ngợi, tuyên dương những điều tốt đẹp của kẻ khác. Trong cuộc sống hàng ngày, phàm nói ra hay làm việc gì, đều phải vì lợi ích mọi người, mà không nên xuất phát từ ý tuởng tự tư tự lợi. Nếu lập được nguyên tắc sống này, tự mình tuân hành và khiến người cùng tuân hành, thì đó mới là nhân vật vĩ đại, có độ lượng vì tất cả mọi người mà không có chút riêng tư.

Sao gọi là có lòng ái kính?

Quân tử và tiểu nhân chỉ xem bề ngoài rất dễ lầm lẫn. Bởi vì, kẻ tiểu nhân thường giả dạng quân tử, làm bộ nhân nghĩa. Song trong lòng của người quân tử và tiểu nhân lại khác xa trời vực, một đàng là thiện, một đàng là ác, rõ ràng như đen trắng trái nhau. Cho nên Mạnh tử nói: “Quân tử khác với tiểu nhân là ở chỗ tâm niệm”. Tâm niệm của người quân tử là thương yêu, kính trọng người. Người ta có kẻ sang người hèn, kẻ thân người sơ, kẻ thông minh người ngu độn, kẻ đạo đức người hạ lưu, song tất cả đều có sinh mệnh, có máu thịt, có tri giác không khác, nên phải bình đẳng kính yêu. Kính yêu mọi người tức là kính yêu hiền thánh. Vì sao như vậy?

Vì lẽ Hiền Thánh đều hy vọng mọi người trên đời đều có thể an cư lạc nghiệp, sống hạnh phúc an lạc. Cho nên, chúng ta kính yêu mọi người, khiến họ an lạc hạnh phúc, đó là thay thế Hiền Thánh khiến thế giới an lạc hạnh phúc.

Sao gọi là thành tựu cho người?

Ví dụ nói, một khối đá bên trong có ngọc, nếu vứt bỏ lăn lóc thì không khác gì ngói gạch không chút giá trị. Nếu gọt đẽo khối đá đó, khiến ngọc bên trong hiển lộ, sẽ trở nên vật báu hiếm có.

Người ta cũng vậy, đều nhờ sự dạy bảo nhắc nhở mới nên người. Cho nên thấy ai làm được việc gì tốt, biết lập chí hướng thượng, thì ta nên chỉ dẫn, cất nhắc, khen ngợi, khích lệ người đó, khiến họ trở nên nhân tài hữu dụng cho xã hội. Nếu có ai đổ oan, thì phải biện giải oan khúc cho họ, chia sẻ những lời ác ý, hủy báng.

Phải khiến họ có thể lập thân trong xã hội, mới gọi là tận tâm sức của ta. Người lành được người hiền minh yêu mến bao nhiêu, thì kẻ ác thù ghét bấy nhiêu. Cho nên xưa nay tiểu nhân đố kỵ quân tử, kẻ ác thù ghét người lành là việc thường xảy ra.

Trong cùng một làng xóm, người lành thì ít, kẻ ác lại nhiều. Vì vậy người lành thường bị kẻ ác hãm hại, khó mà có được chỗ đứng. Huống chi kẻ hào kiệt đa số tánh tình cương trực, không a dua, lại không chú ý ra vẻ bên ngoài. Những kẻ phàm tục, tầm nhìn cạn cợt, chỉ thấy bên ngoài, liền đặt điều thị phi, tùy tiện phê bình. Cho nên kẻ hào kiệt làm việc thiện dễ thất bại, người lành cũng hay bị người hủy báng.

Gặp những trường hợp đó, chỉ có nhờ vào các bậc truởng thượng đạo đức, mới có thể khiến người ác cải tà quy chánh, bảo vệ giúp đỡ người lành, khiến họ thành công. Công đức phá dẹp tà ác, hiển phát chân chánh như vậy, thật to lớn nhất.

Sao gọi là khuyên người làm lành?

Ai sống ở đời mà không có lương tâm? Song do vì tham cầu danh lợi, đeo đuổi vật dục nên mê mờ đi lương tâm, bất chấp thủ đoạn, trở nên sa đọa. Cho nên qua lại với người, phải chú ý đến tư tuởng hành vi của họ, thấy hơi có biểu hiện sa đọa liền nhắc nhở, cảnh giác, khiến họ thức tỉnh ăn năn. Như đánh thức người trong cơn ác mộng, chúng ta phải thức tỉnh kẻ đang bị trói buộc trong lưới phiền não, khiến họ thoát ra, được an lạc mát mẻ.

Lấy ân huệ để đối đãi với người như vậy thì công đức sẽ vô lượng vô biên. Thuở xưa Hàn Văn Công từng bảo: “Dùng miệng khuyên người chỉ trong nhất thời, nghe qua dễ quên, lại ở nơi khác không thể được nghe. Dùng văn tự khuyên người có thể lưu truyền vạn thế và truyền bá khắp nơi”. Cho nên, làm việc thiện trong đó có lập ngôn khuyên người, là việc làm công đức vô lượng.

Ở đây nói dùng lời nói và văn tự khuyên người làm lành có vẻ như còn vướng mắc vào hình thức. Song thực ra, công năng của nó thực vô cùng to lớn, có thể cải hóa lòng người, thay đổi hoàn cảnh.

Chúng ta khuyên người làm lành phải khuyên cho thích đáng, tùy đối tượng, trường hợp. Nếu gặp kẻ cố chấp không nghe, ta nên tùy duyên, đừng miễn cưỡng vô ích. Nếu ta cố nói, đó gọi là làm lỡ lời, nhiều lúc giáo đa thành oán. Còn người biết lắng nghe, tiếp thu, đáng khuyên mà ta lại không khuyên, đó gọi là làm lỡ người. Không luận là lỡ lời hay lỡ người, đều chứng tỏ ta không đủ trí tuệ phân biệt, phải tự mình cẩn thận kiểm thảo. Như vậy mới tránh khỏi lỡ lời lỡ người.

Sao gọi là cứu người trong cơn nguy cấp?

Người sống ở đời nhiều lúc gặp phải cảnh hoạn nạn khốn khổ. Khi gặp người trong cảnh đó, ta phải xem nỗi khổ của họ là nỗi khổ của mình, tìm cách cứu giúp. Ta xem họ gặp phải cảnh oan khuất thế nào, hoặc dùng lời nói để bênh vực, biện minh lẽ công bằng cho họ, hoặc dùng mọi cách để cứu giúp họ ra khỏi cảnh khổ. Thôi tử ở triều Minh từng bảo: “Ân huệ không phải ở nơi lớn nhỏ, chỉ cần gặp người đang cơn nguy cấp, ra tay cứu giúp là được”. Lời nói này thực xuất phát từ tâm của bậc nhân giả!

Sao gọi là làm việc lợi lớn?

Làm việc lợi lớn là lợi ích cho số đông, ví dụ như đào kinh dẫn nước tưới ruộng, hay đắp đê để đề phòng lũ lụt, xây cầu khiến đường xá lưu thông, tiện việc đi lại, cho cơm cháu cứu giúp người đói khổ, không ai cứu giúp.

Khi gặp cơ hội làm những việc như trên, phải khuyên bảo mọi người đồng lòng góp sức góp tiền để chung sức hoàn thành. Cho dù có người ngấm ngầm phỉ báng, xúc phạm, ta cũng không nên vì sợ những lời đàm tiếu vô cớ đó mà không dám làm. Ta cũng không nên vì sợ hiềm nghi, cực khổ, người khác ghét ganh mà từ chối không làm.

Sao gọi là bỏ tiền bạc làm việc phước?

Trong nhà Phật, bố thí đứng đầu mọi việc thiện. Nói đến bố thí, là nói đến xả bỏ. Nếu có thể xả bỏ được mọi việc, thì sẽ khế hợp được bản tâm của Phật.

Người hiểu rõ được đạo lý sẽ biết xả bỏ được mọi thứ, ngay cả mắt tai mũi lưỡi thân ý. Như Đức Phật Thích Ca trong nhân địa hành Bồ Tát đạo, đã từng xả thân cho cọp đói ăn là một điển hình. Trong sáu căn đã xả, ngoài sáu trần sắc thinh hương vị xúc pháp cũng xả. Làm được như vậy, thì thân tâm thanh tịnh, không có phiền não, không khác chư Phật Bồ tát.

Nếu không xả được như vậy, thì ban đầu tập xả bỏ tiền tài. Người đời thường xem trọng miếng ăn cái mặc như mạng sống. Cho nên bố thí tiền bạc cũng vô cùng quan trọng. Nếu có thể khẳng khái xả bỏ tiền bạc, đối với bản thân có thể dẹp trừ tâm ích kỷ, đối với người có thể cứu giúp qua cơn cấp nạn.

Song không dễ dàng gì coi nhẹ tiền bạc. Lúc ban đầu bố thí khó tránh khỏi có chỗ miễn cưỡng. Song chỉ cần thường làm việc bố thí, trong lòng sẽ tự nhiên cảm thấy an vui, có ý nghĩa, không có việc gì là không thí xả được. Làm được việc bố thí sẽ dễ giúp cho tâm tham lam, tự tư của ta tiêu trừ, cũng như hóa giải được sự chấp trước và keo bẩn tiền bạc.

Sao gọi là hộ trì Chánh Pháp?

Pháp là con mắt trí tuệ hướng dẫn nhân loại trên nẻo đường nhân sinh từ xưa đến nay, cũng là tiêu chuẩn chân lý. Nếu không có Chánh Pháp, làm sao giúp cho con người được trở nên tốt đẹp? Làm sao có thể giúp cho chúng sinh thoát ra rừng rậm u mê, tháo gỡ ràng rịt trói buộc? Làm sao có thể đưa hữu tình giải thoát thế giới uế trược, ra khỏi biển khổ luân hồi sinh tử? Tất cả đều nhờ vào Chánh Pháp, mới có đường sáng để đi.

Cho nên chúng ta đối với chùa chiền, tượng Phật Bồ tát, kinh điển, di huấn đều phải kính trọng. Nếu có hư hỏng phải tu bổ, chỉnh lý. Chánh Pháp của Phật, phải hoằng truyền sâu rộng, khiến mọi người coi trọng, mới có thể báo đền ơn Đức Phật.

Sao gọi là kính trọng bậc tôn truởng?

Cha mẹ, anh chị trong nhà, vua quan trong nước, cho đến

—o0o—

CHƯƠNG BỐN

HỌC ĐỨC KHIÊM TỐN

Ở chương ba đã bàn đến phương pháp tích thiện, chương này sẽ nói đến cách làm người. Sống trong xã hội, ta không thể không qua lại tiếp xử với người khác. Cho nên cách làm người cũng phải hết sức chú ý. Trong cách làm người, điều quan trọng là khiêm tốn. Người khiêm tốn, nhất định sẽ được nhiều người ủng hộ và tín nhiệm. Lại nữa, người biết khiêm tốn, có thể học hỏi để đổi mới mỗi ngày. Không những tiến bộ về mặt học vấn, kiến thức, mà phương diện đạo đức, ứng xử, v.v… cũng không ngừng tiến bộ. Cho nên tất cả lợi ích, đều nhờ đức tính khiêm tốn mà có.

Chương này bàn về những lợi ích của đức khiêm tốn, cũng như những ứng nghiệm mà đức tính này đem lại. Kính mong mọi người suy xét cẩn thận, đừng xem qua loa, nhất định được lợi ích lớn.

Kinh Thư nói: Tự mãn sẽ tổn hại, khiêm tốn được lợi ích. Lời xưa thật đúng thay, lời xưa thật đúng thay.

Quẻ Khiêm trong Kinh Dịch nói: Trong đạo lý của trời, không luận việc gì, nếu tràn đầy sẽ tổn giảm, còn khiêm hư sẽ được lợi ích. Trong đạo lý của đất, không luận vật gì, nếu sung mãn sẽ tổn hại, không thể tốt đẹp mãi; còn nếu khiêm hạ sẽ được thấm nhuần không khô kiệt, giống như chỗ đất thấp sẽ có nước chảy đến, làm đầy nơi khiếm khuyết. Trong đạo lý của quỷ thần, phàm kiêu ngạo tự mãn sẽ khiến bị hại, khiêm tốn sẽ khiến được phước. Còn trong đạo lý của người, ai cũng chán ghét kẻ kiêu ngạo tự mãn, yêu quý người khiêm tốn hạ mình.

Như vậy, trời đất quỷ thần và con người đều coi trọng khiêm hạ. Sáu mươi bốn quẻ trong Kinh Dịch nói đến đạo lý biến hóa trong trời đất âm dương, dạy cho ta phương pháp làm người. Trong mỗi quẻ đều có kiết có hung. Quẻ hung cảnh giác răn người bỏ ác làm lành; quẻ kiết khích lệ người mỗi ngày một tiến bộ; chỉ có quẻ khiêm, hoàn toàn là việc kiết tường. Kinh Thư cũng nói: Tự mãn sẽ gặp tổn hại, khiêm tốn sẽ được lợi ích.

Tôi nhiều lần đi thi cùng với các bạn học, mỗi lần đều nhận thấy những thư sinh nghèo khi sắp thành đạt, trên nét mặt của họ đều hiện ra vẻ khiêm cung, an ổn rõ ràng.

Năm Tân Hợi, tôi đến kinh thành đi thi hội. Quê Gia Hội của tôi số người cùng đi thì có khoảng mười người, trong đó Đinh Kính Vũ là người trẻ tuổi nhất lại vô cùng khiêm cung. Tôi bảo với Phí Cẩm Pha cũng là người cùng đi thi: Đinh Kính Vũ năm nay nhất định thi đậu. Phí Cẩm Pha hỏi: Làm sao mà biết? Tôi bảo: Chỉ có người khiêm tốn mới được huởng phước báo. Ông nhìn xem trong số mười người chúng ta, có ai thành thật trung hậu, khiêm nhường như Kính Vũ không? Có ai cung kính, hòa thuận, cẩn thận như Kính Vũ không? Có ai bị nhục mạ, hủy báng mà vẫn im lặng như Kính Vũ không? Một người làm được như vậy, thì trời đất quỷ thần sẽ bảo hộ cho họ, sao lại không thành đạt?

Sau đó quả nhiên Kính Vũ thi đỗ.

Năm Đinh Sửu tôi ở chung với Phùng Khai Chi tại kinh thành, trông thấy ông ta rất khiêm tốn, nét mặt luôn tỏ ra hòa nhã, không có chút kiêu ngạo, hoàn toàn thay đổi so với tính khí ông ta lúc nhỏ. Ông ta có một người bạn tánh tình chánh trực tên là Lý Tề Nghiêm thường phê bình ông ngay trước mặt. Mỗi khi như vậy, Phùng Khai Chi đều hòa nhã tiếp thu lời phê bình của bạn, không hề phản đối một câu. Tôi bảo với Phùng Khai Chi: “Một người được huởng phước, phước đức đó nhất định có nguyên nhân của nó; một người gặp họa, tai họa đó nhất định có nguyên nhân của nó. Chỉ cần tâm của ta khiêm tốn, trời sẽ gia hộ. Ông năm nay nhất định sẽ thi đỗ”.

Sau đó quả nhiên Phùng Khai Chi có tên trên bảng vàng.

Năm Nhâm Thìn tôi vào kinh ra mắt vua, trông thấy một thư sinh tên Hạ Kiến, khiêm tốn nhúng nhường, không có một chút kiêu ngạo. Khi trở về tôi bảo với bạn bè: “Phàm trời muốn cho người nào được thành đạt, thì trước hết khiến người đó phát trí tuệ. Trí tuệ này khiến họ tự nhiên từ giảo hoạt trở nên thành thật, từ phóng túng tự biết ước thúc. Hạ Kiến ôn hòa đôn hậu đến mức như vậy, chứng tỏ đã phát trí tuệ, trời nhất định sẽ ban phúc cho ông”.

Sau đó quả nhiên Hạ Kiến thi đậu.

Giang Âm có một thư sinh, tên là Trương Úy Nghiêm, học vấn uyên thâm, văn chương xuất sắc, rất nổi tiếng trong giới thư sinh. Trong kỳ thi Hương năm Giáp Ngọ, ông ta ở nhờ trong chùa đợi kết quả thi. Đến khi công bố kết quả, không ngờ lại không có tên ông. Ông không phục, mắng quan giám khảo là không có mắt, không thấy được chỗ hay trong văn của mình. Lúc đó có một vị đạo sĩ đứng bên cạnh mỉm cười. Trương Úy Nghiêm bèn đem cơn giận của mình trút sang đạo sĩ. Đạo sĩ lại nói: “Văn của ông nhất định không hay!”

Trương Úy Nghiêm càng nóng giận bảo: “Ông không có xem văn của tôi, sao lại biết nó không hay?” Đạo sĩ trả lời: “Tôi thường nghe người ta bảo: Làm văn quan trọng nhất là ở chỗ tâm bình, khí hòa. Nay thấy ông nóng giận mắng quan giám khảo, chứng tỏ trong tâm vô cùng bất bình, tánh khí nóng nảy, thử hỏi như vậy văn làm sao mà hay được?”

Trương Úy Nghiêm nghe xong không thể không phục, trở lại thỉnh giáo vị đạo sĩ. Đạo sĩ nói: “Muốn thi đậu công danh, bản thân ông nhất định phải cải đổi”. Trương Úy Nghiêm hỏi: “Số mệnh đã như vậy, làm sao mà thay đổi?”.

Đạo sĩ bảo: “Tạo ra số mệnh tuy rằng ở nơi trời, song quyền thay đổi lại ở nơi ta. Chỉ cần ông chịu khó làm việc thiện, tích âm đức, thì có việc phước gì mà không cầu được?”. Trương Úy Nghiêm bảo: “Tôi là một thư sinh nghèo, biết có thể làm được việc thiện gì đây?” Đạo sĩ nói: “Làm việc thiện, tích âm đức đều xuất phát từ tâm. Chỉ cần tâm ta chí thành làm việc thiện, là công đức vô lượng vô biên. Như khiêm tốn cũng là một việc thiện, mà không phải bỏ tiền ra làm. Ông sao lại không biết phản tỉnh, thấy khả năng của mình còn kém, trở lại mắng giám khảo bất công?”

Trương Úy Nghiêm nghe lời đạo sĩ, từ đó về sau dẹp bỏ tâm kiêu mạn, chú ý ước thúc lấy mình, mỗi ngày đều gắng công làm lành, tích âm đức. Đến năm Dinh Dậu, một hôm ông nằm mơ trông thấy đến một nơi nhà cửa to lớn, nhìn thấy một danh sách thi đậu, trong đó còn nhiều chỗ để khuyết. Ông không hiểu mới hỏi người bên cạnh: “Đây là cái gì?”. Người đó trả lời: “Đây là danh sách thi đậu năm nay”.

Trương Úy Nghiêm lại hỏi: “Sao trong danh sách lại có nhiều chỗ để khuyết?”. Đáp: “Cõi âm đối với những người đi thi ba năm xét duyệt một lần, phải là người không có lỗi lầm, tích chứa âm đức mới có tên trong sổ này. Như phần trước trong danh sách để trống, đó là tên của những người lẽ ra thi đậu, song do vì phạm phải tội lỗi nên bị xóa tên”. Kế đó lại chỉ một hàng trong danh sách nói: “Ông ba năm nay rất chú ý việc ước thúc bản thân, không có phạm lỗi, có lẽ sẽ bổ khuyết vào chỗ này. Hy vọng ông tự biết trân trọng, đừng phạm sai lầm”.

Sau đó trong kỳ thi Hội, quả nhiên họ Trương được trúng tuyển hạng thứ một trăm lẽ năm.

Qua những chuyện đã xảy ra ở trên, chúng ta biết rằng xung quanh đều có quỷ thần giám xét hành vi của mình. Do đó, việc lành lợi ích cho người phải nổ lực làm; việc ác tổn hại đến người phải cố gắng tránh. Cho nên tất cả thiện ác, lành dữ đều do ta quyết định. Lòng mình giữ lương thiện, ước thúc mọi hành vi bất thiện, không đắc tội với quỷ thần trời đất, và khiêm tốn không kiêu ngạo tự mãn, chính là căn bản của phước đức. Còn những người kiêu ngạo, nhất định không phải là bậc khí lượng to lớn dài lâu, cho dù họ có thành đạt cũng chỉ một thời, không cách gì huởng phước lâu dài. Người không khiêm tốn, không chịu học hỏi và cũng không ai thích dạy bảo cho họ.

Khiêm tốn vô cùng quan trọng, có thể giúp ta học hỏi được bao điều hay lẽ phải. Người khác có gì hay, có việc gì thiện liền theo học, được việc lành vô cùng vô tận. Nhất là trong việc tu dưỡng đạo đức, khiêm tốn đóng một vai trò quan trọng hàng đầu.

Long thần hộ pháp ở bên ta, lành dữ ta làm khó dấu qua; khiêm tốn học điều lành lẽ phải, tự nhiên phước đức sẽ hằng sa, tự nhiên phước đức sẽ hằng sa!

Cổ nhân có câu: Cầu công danh được công danh, cầu giàu sang được giàu sang. Người có chí lớn như cây có rễ, sẽ sinh ra cành lá, hoa trái.

Muốn thành tựu được chí lớn, người ta phải tâm tâm niệm niệm khiêm tốn, có việc gì lợi ích cho người, dù nhỏ mảy may, cũng ra sức làm. Như vậy sẽ tự nhiên cảm động đến trời đất.

Làm phước hoàn toàn ở nơi ta. Chỉ cần ta quyết tâm làm là được. Những người mưu cầu công danh hiện nay, thật ra không có quyết tâm, hằng tâm, chân tâm, mà chỉ tùy hứng, tùy tiện trong nhất thời. Mạnh tử nói về Tề Tuyên Vương:

“Đại vương yêu thích âm nhạc, nếu yêu thích đến đúng mức thì có thể khiến vận mệnh nước Tề hưng thịnh. Nhưng đại vương yêu thích âm nhạc chỉ vì tìm cầu niềm vui cho cá nhân mà thôi. Nếu đại vương biết đem tâm tìm cầu niềm vui cho riêng mình, mở rộng ra, khiến có thể cùng nhân dân chia sẻ niềm vui, khiến mọi người được vui, thì lo gì vận mệnh nước Tề không hưng thịnh?”

Tôi nghĩ việc cầu công danh đạo lý cũng như vậy. Phải thực hiện việc cầu công danh này dựa trên tâm tích đức hành thiện; đồng thời phải gắng hết sức mình làm, thì vận mệnh và phước báo đều do ta quyết định.

Thưa các bạn, xem hoặc nghe xong sách Làm Chủ Vận Mệnh này, trong tâm bạn chắc có nhiều xúc cảm, được lợi ích không nhỏ. Đây là một quyển sách cảm động và thanh tịnh hóa lòng người. Về mặt văn chương, quyển sách này tuy bề ngoài dễ hiểu, song thực ra, trong đó chứa đựng biết bao triết lý nhân sinh sâu xa, cần phải dụng tâm thể nhận, mới thấy được giá trị của nó.

Cho nên kính mong các vị, nghe xong hãy nghe đi nghe lại nhiều lần, đọc xong hãy đọc đi đọc lại nhiều lượt, để củng cố, tăng truởng tín tâm, học theo gương của Liễu Phàm tiên sinh, bỏ ác làm lành, tu nhân tích đức, để cải đổi mệnh vận xấu ác, khổ đau, thành mệnh vận tốt đẹp, hạnh phúc cho mình. Tương lai thật ra ở trong tay chúng ta. Không luận về mặt học nghiệp, sự nghiệp, gia đình … cho đến trở thành Thánh Hiền, đều dựa trên căn bản này mà thành tựu mỹ mãn.

Vì lợi ích cho số đông, sách Làm Chủ Vận Mệnh này không giữ bản quyền, cho nên rất mong mọi người cùng phát tâm in ấn, sang băng ghi âm để kết duyên lành cùng đại chúng trong xã hội. Mong rằng nhờ đó sẽ khiến lòng người trở nên lương thiện, mọi người biết sống một nếp sống đạo đức tốt đẹp. Nếu biết học theo đây không làm các việc ác, gắng sức làm điều lành, thanh tịnh tâm ý mình, thì cá nhân sẽ thăng hoa, gia đình sẽ mỹ mãn, xã hội sẽ an định, đất nước sẽ an vui và thế giới sẽ hòa bình.

Hết

Xin cảm niệm công đức đánh máy của đạo hữu Thành Bửu và người trình bày là đạo hữu Nhị Tường.

 

Design a site like this with WordPress.com
Get started