GIỚI THIỆU SƠN HẢI KINH * 山 海 經

GIỚI THIỆU SƠN HẢI KINH * 山 海 經

GIỚI THIỆU SƠN HẢI KINH

GIỚI THIỆU SƠN HẢI KINH

GIOI THIEU SON HAI KINH * 山 海 經

GIỚI THIỆU SƠN HẢI KINH * 山 海 經

山 海 經

SƠN HẢI KINH

SƠN HẢI KINH

***

SƠN HẢI KINH – Bách Khoa Toàn Thư Thời Cổ Của Trung Quốc

Sơn Hải Kinh là cổ tịch thời Tiên Tần của Trung Quốc, trong đó chủ yếu mô tả các thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng vật, vu thuật, tông giáo, cổ sử, y dược, tập tục, dân tộc thời kỳ cổ đại. Sơn Hải Kinh nguyên bổn có hình vẽ mô tả hẳn hoi, gọi là “Sơn Hải Đồ Kinh”, nhưng bản này đến đời Ngụy Tấn thì thất truyền. Có học giả cho rằng, Sơn Hải Kinh không chỉ đơn thuần là quyển sách ghi lại truyện thần thoại, mà là thứ sách địa lý thời cổ đại, bao quát nhiều loài chim thú khắp núi sông vùng Hoa Hạ lẫn các lãnh thổ hải ngoại. Tác giả và thời gian hoàn thành Sơn Hải Kinh chưa được xác định, trước thì cho rằng do Bá Ích và Đại Vũ làm, nhưng hiện giờ các học giả Trung Quốc cho rằng thời gian để hoàn thành sách này trải qua nhiều kỳ, làm bỡi nhiều tác giả khác nhau, niên đại vào khoảng từ thời Chiến Quốc kéo dài cho đến đầu thời Hán. Sách có thể là do nhiều người ở nước Sở, Sơn Đông, Ba Thục cùng người từ nhiều địa phương khác, đến thời Hán thì được tập hợp lại để làm sách dạy học.
Sơn Hải Kinh chuyển tải nhiều thần thoại cố sự mang màu sắc thần bí với hàng loạt quái thú kỳ dị. Trong sách có rất nhiều chuyện được viết từ lời truyền khẩu, tập hợp thành nhiều bản khác nhau. Bản sách được cho là sớm nhất được hai cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm soạn thành. Thời Tấn có Quách Phác chú thích và khảo chứng Sơn Hải Kinh. Thời Minh có Vương Sùng Khánh làm “Sơn Hải Kinh thích nghĩa”, Dương Thận làm “Sơn Hải Kinh bổ chú”, Ngô Nhâm Thần làm “Sơn Hải Kinh nghiễm chú”. Thời Thanh, Ngô Thừa Chí soạn “Sơn Hải Kinh địa lý kim thích”, Tất Nguyên làm “Sơn Hải Kinh Tân Giáo Chánh”, Hác Ý soạn “Sơn Hải Kinh tiên sơ”. Thời Dân quốc có lưu hành bản “Sơn Hải Kinh giáo chú” của Viên Kha rất đáng quan tâm.
Toàn bộ Sơn Hải Kinh có 18 quyển, trong đó Sơn Kinh có 5 quyển, Hải Kinh có 8 quyển, “Đại hoang kinh” có 4 quyển, “Hải nội kinh” một quyển, cộng lại khoảng 31.000 chữ. Nó mô tả trọn 100 quốc gia (nhỏ, bên trong Trung Quốc thời xưa), 550 núi, 300 thủy đạo, cùng các phong cảnh địa lý, phong thổ, sản vật của các nước. Trong Sơn Kinh còn có một bộ phận mô tả về vu sư, phương sĩ, và từ quan – những lớp người chuyên cầu đảo phong thuật rất thịnh hài thời xưa. Kinh được miêu tả theo lối truyền kỳ, nhưng có có chút ít giá trị khoa học, rất đáng tham khảo cho người nghiên cứu về sử học, văn học, và … dịch thuật. Trong Sơn Kinh có bảo tồn nhiều nghi thức tế lễ thần thánh, có thể làm bản đối chiếu và nghiên cứu “Chu lễ” thời xưa, ví dụ như các bản mối được phát hiện thêm như “Bao sơn sở giản”, “Vọng sơn sở giản”, “Tân Thái sở giản”. Truyền thuyết về Nữ Oa thời cổ đại cũng là từ Sơn Hải Kinh mà ra. Các kiệt tác trứ danh khác bao gồm: “Khoa phụ đuổi theo mặt trời”, “Nữ oa vá trời”, “Hậu nghệ bắn rụng chính mặt trời”, “Hoàng đế đại chiến Xi Vưu”, “Thần Cộng Công giận quá đập đầu vào Chu sơn dẫn đến cơn Đại hồng Thủy”, “Cổn (Cha của vua Hạ Vũ/Đại Vũ) trộm Tức nhưỡng trị thủy thành công”, “Thiên đế lấy lại Tức nhưỡng, giết Cổn, cho đến khi vua Đại Vũ trị thủy thành công.
Ngoài ra, Sơn Hải Kinh còn ghi lại những sự kiện kỳ quái mà hầu hết cho đến nay vẫn còn đang được tranh luận. Sách này án theo đất đai ghi lại sự kiện, chứ không ghi theo thời gian. Trong đó, hầu hết sự vật đều phát sinh từ hướng nam, sau đó mới dần lên hướng Tây, hướng Bắc, rồi tới trung bộ (Cửu Châu) của đại lục. Cửu Châu được vây quanh bởi Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải. Việc thuận theo hướng Nam – Tây – Bắc – Đông này rất khác với thuận hướng Đông Nam Tây Bắc sau này, so với các thư tịch ghi lại chuyện các đại đế thời cổ thường ngồi xoay mặt về hướng nam, rồi quan niệm “thiên nam địa bắc” … nhất định có liên quan. Từ thời cổ đại, Trung Quốc cứ nhất mực lấy Sơn Hải Kinh làm sách tham khảo cho các đại sử gia, ngay cả như Tư Mã Thiên cũng nhận định trong Sử Ký của mình: “Chí Vũ Bổn kỷ, Sơn Hải Kinh sở hữu quái vật, dư bất cảm ngôn chi dã” .

*Sơn Hải Kinh  có 18 quyển, tạm thời phân ra 5 quyển phần Sơn kinh và 13 quyển Hải kinh:-

1/- Sơn Kinh

Quyển 1: Nam Sơn Kinh: Bao gồm Thước Sơn, Chiêu Diêu Sơn, Đường Đình Sơn, Viên Dực Sơn, Nữu Dương Sơn, Để Sơn, Đản Viên Sơn, Cơ Sơn, Thanh Khâu Sơn
Quyển 2: Tây Sơn Kinh
Quyển 3: Bắc Sơn Kinh
Quyển 4: Đông Sơn Kinh
Quyển 5: Trung Sơn Kinh

2/- Hải Kinh

Quyển 1: Hải Ngoại Nam Kinh
Quyển 2: Hải Ngoại Tây Kinh
Quyển 3: Hải Ngoại Bắc Kinh
Quyển 4: Hải Ngoại Đông Kinh
Quyển 5: Hải Nội Nam Kinh
Quyển 6: Hải Nội Tây Kinh
Quyển 7: Hải Nội Bắc Kinh
Quyển 8: Hải Nội Đông Kinh
Quyển 9: Đại Hoang Đông Kinh
Quyển 10: Đại Hoang Nam Kinh

Quyển 11: Đại Hoang Tây Kinh, bao gồm: Bất Chu Sơn, Hàn Thử Tuyền, Thấp Sơn, Mạc Sơn, Vũ Công và Công Quốc Sơn, Thục Sĩ Quốc, Nữ Oa Chi Tràng, Thạch Di, Cuồng Điểu, Bạch Dân Quốc, Trường Hĩnh Quốc, Tây Chu Quốc, Thúc Quân, Xích Quốc, Song Sơn, Phương Sơn, Quỹ Cách Tùng, Tiên Dân Quốc, Bắc Địch Quốc, Mang Sơn, Quế Sơn, Dao Sơn, Thái Tử Trường Cầm, Hoàng Điểu, Loan Điểu, Phượng Điểu, Xa Tự Ngọc Môn Sơn, Linh Sơn, Thập Vu, Tây Vương Mẫu Sơn, Hải Sơn, Hác Sơn, Ốc Quốc, Thanh Điểu, Long Sơn, Tam Náo, Nữ Sửu Thi, Nữ Tử Quốc, Đào Sơn, Kiền Thổ Sơn, Trượng Phu Quốc, Yểm Châu Sơn, Minh Ô, Hiên Viên Quốc, Yểm Tư, Nhật Nguyệt Sơn (Ngô Cơ Thiên Môn Sơn), Hư, Thiên Ngu, Thường Hi, Huyền Đan Sơn, Hoàng Ngao, Mạnh Dực Công, Chuyên Húc Trì, Ao Ngao Cự Sơn, Bình Bồng, Vu Sơn, Hác Sơn, Kim Môn Sơn, Hoàng Cơ Thi, Bỉ Dực Điểu, Bạch Điểu, Thiên Khuyển, Côn Lôn Sơn, Côn Lôn Thần, Nhược Thủy, Viêm Hỏa Sơn, Tây Vương Mẫu, Thường Dương Sơn, Hàn Hoang Quốc, Nữ Tế, Thọ Ma Quốc, Hạ Canh Chi Thi, Ngô Hồi, Cái Sơn Quốc, Chu Mộc, Nhất Tí Dân, Đại Hoang Sơn, Tam Diện Nhất Tí Nhân, Hạ Khải, Hỗ Nhân Quốc, Linh Kiết, Ngư Phụ, Đại Vu Sơn, Kim Sơn…

Quyển 12: Đại Hoang Bắc Kinh O
Quyển 13: Hải Nội Kinh

Trong Sơn Hải Kinh cổ có hình vẽ, bằng chứng là Đào Uyên Minh có bài “Lưu Quan Sơn Hải Đồ”, Tất Nguyên chỉ ra trong bản “Sơn Hải Kinh cổ kim bổn thiên khảo” rằng: “Sơ Hải Kinh có cổ đồ, truyền từ thời Hán Sở, có hình của Lương, Trương, Tăng, Diêu và các người khác nữa.” Nhưng bản vẽ cổ của Sơn Hải Kinh đã thất truyền, chỉ còn lại những bản thời Minh – Thanh như “Sơn Hải kinh đồ hội toàn tượng”, “Sơn Hải kinh đồ”… Năm 2001, Mã Xương Nghi, nghiên cứu viên của Học viện Nghiên cứu Văn học Xã hội Trung quốc đã nghiên cứu, thu thập hơn 1000 bức Sơn Hải đồ kinh, phối hợp cùng với bản văn tự của Sơn hải Kinh, tạo thành “Cổ Bản Sơn Hải kinh đồ thuyết”. Bản này mỗi mục có từ hai đến bốn hình, được giải thích tường tận, là bản đầy đủ nhất về Sơn Hải kinh. Sách được Sơn Đông Họa báo xuất bản xã xuất bản năm 2002 (ISBN 7-80603-521-4). Bản mới xuất bản 2007 (ISBN 978-7-5633-6397-1) có hơn 1500 hình, tuyển lựa từ 16 chủng loại khác nhau.
Trong tinh thần học hỏi là chính, nhằm tạo điều kiện cho việc dịch thuật và sáng tác truyện có phần thuận lợi hơn, Thất Giới Minh xin lần lượt trích dịch và đăng giới thiệu các hình ảnh và thông tin liên quan đến Sơn Hải Kinh trong các số nội san tới. Rất mong các bạn đọc ủng hộ./.
Tài liệu tham khảo
-The Classic of Mountains and Seas, Penguin Classics, 2000, ISBN 0140447199
-Cổ Bản Sơn Hải Kinh đồ thuyết, tiếng Hoa, Sơn Đông Họa báo xuất bản xã xuất bản năm 2002 (ISBN 7-80603-521-4)

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ * 參 同 契 直 指

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ * 參 同 契 直 指

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ * 參 同 契 直 指

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ — 參 同 契 直 指

THAM DONG KHE TRUC CHI

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ * 參 同 契 直 指

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ — 參 同 契 直 指

THAM ĐỒNG KHẾ TRỰC CHỈ

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ khảo luận & bình dịch

MỤC LỤC

Tham Đồng Khế Trực Chỉ Tự

Tham Đồng Khế Tam Tướng Loại của Thuần Vu Chân Nhân
Thượng Thiên

Chương 1: Pháp Tượng — Bắt chước Trời mà hành sự

Chương 2: Thiên Địa — Âm Dương

Chương 3: Thăng Ngao — Hòa hợp Tứ Tượng

Chương 4: Lậu Khắc — Hỏa Hầu

Chương 5: Bản Chi — Âm Dương, Tam Ngũ

Hạ Thiên
Đỉnh Khí Ca — Tóm tắt về phép Luyện Đơn

Tham Đồng Khế Kinh Văn Trực Chỉ của Ngụy Bá Dương

Thượng Thiên
Chương 1: Kiền Cương — Thiên Địa Âm Dương

Chương 2: Quân Tử — Ăn nói phải cho thành khẩn

Chương 3: Dịch Hành — Thuận Thời, Thuận Lý

Chương 4: Cố Suy — Phải biết Suy Tư

Chương 5: Sóc Đán — 12 quải khí: Làm gì cũng phải đúng tiết đúng thời

Chương 6: Hối Sóc — Phải biết lẽ Âm Dương tiến thoái

Chương 7: Hằng Thuận — Thuận theo Thiên Văn Địa Lý

Chương 8: Ngự Chính — Phải thuận theo đường lối Trời

Trung Thiên
Chương 1: Tương Dục — Tính Mệnh song Tu

Chương 2: Khảm Nam — Âm Dương Tương Hòa

Chương 3: Quan Quan — Cô Âm quả Dương

Chương 4: Thượng Đức — Thượng đức, hạ đức

Chương 5: Nội Dĩ — An Tĩnh Hư Vô

Hạ Thiên
Chương 1: Duy Tích — Thất Phản, Cửu Hoàn — Quy Nguyên Phản Bản

Chương 2: Hà Thượng — Dùng Đạo Tâm chế ngự Nhân Tâm

Chương 3: Thái Dương — Chế Phục Hỏa Hầu

Chương 4: Đơn Sa — Hòa Hợp Ngũ Hành

Chương 5: Cương Nhu — Diệu dụng của Âm Dương Hiệp Nhất

Chương 6: Như Thẩm — Đại Đạo Luyện Đơn

Tham Đồng Khế Trực Chỉ Kinh Văn – Du Diễm giải

Chương 1: Cối quốc — Sơ lược về cuộc đời Ngụy Bá Dương

Chương 2: Ca Tự — Tham Đồng Khế là do 3 sách hợp lại: Kinh Dịch, Hoàng Lão, Luyện Đơn
Chương 3: Phi Đồ — Văn chương Tham Đồng Khế

Chương 4: Ủy Thời — Ngụy Bá Dương xưng danh theo lối chơi chữ

Tham Đồng Khế Trực Chỉ Tiên Chú của Từ Cảnh Hưu

Thượng thiên

Chương 1: Kiền Khôn — Kiền Khôn là cửa Dịch, là Lô Đỉnh của đạo Kim Đan

Chương 2: Nguyệt tiết — Khảm Ly là kỷ độ của Động Tĩnh, là Dược Vật

Chương 3: Thiên địa — Tượng Kiền Khôn

Chương 4: Dịch giả — Khảm Ly là Biến Dịch

Chương 5: Ư thị — Âm Dương không hợp, thì không có Sinh Khí

Chương 6: Cố Dịch — Dịch thống Thiên Tâm

Chương 7: Bát Quái — Không biết biến thông, sẽ Chấp Trung, Chấp Nhất

Chương 8: Nhược phù — Tứ Thánh viết sách cốt minh truyền Chân Lý. Tham Đồng Khế cũng vậy

Trung Thiên

Chương 1: Dương Toại — Nếu ta thành khẩn thì cưả Trời sẽ mở ra

Chương 2: Thị phi — Đạo Trời, Đơn Đạo giản dị. Lập dị là sai

Chương 3: Thượng Đức — Bậc Thượng Đức hành Đạo Vô Vi; Bậc Hạ Đức hành Đạo Hữu Vi

Chương 4: Dĩ Kim — Diệu dụng của Hạ Đức: Tinh Hoa Hưũ Vi

Chương 5: Nhĩ mục — Yếu chỉ của Vô Vi

Hạ Thiên

Chương 1: Suy Diễn — Suy Diễn số Ngũ Hành sinh khắc sẽ suy ra Đạo Kim Đơn

Chương 2: Hồ phấn — Phải biết phục thực Hạo Nhiên chi Khí mới thành Đạo

Chương 3: Kim nhập — Luyện Đơn là thực hiện Chân Tính Thiên Lương

Chương 4: Hỏa Ký — Hoả là cái Khí làm cho Âm Dương hòa hợp

Chương 5: Thế nhân — Tiểu thuật không phải là Đại Đạo

Chương 6: Tí Ngọ — Phục thực là Điều hòa, hợp nhất Ngũ Hành

Chương 7: Cự thắng — Kim đơn là chuyện có thật

Bạt 1: Bàn về Luyện Nội Đan

Bạt 2: Nhận Định về Tham Đồng Khế của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Các sách Tham Đồng Khế

NGUYÊN VĂN PHẦN TỰA

Tham Đồng Khế trực chỉ tự.

參 同 契 直 指 序

Thất phản cửu hoàn. Kim dịch đại hoàn đan chi đạo. Vi thiên địa sở bí. Vi quỷ thần sở kỵ. Lịch thánh khẩu khẩu tương truyền. Bất ký văn tự. Sở dĩ học đạo giả như ngưu mao, minh đạo giả như lân giác. Gia chi bàng môn tam thiên lục bách. Khúc kính thất thập nhị gia. Dĩ tà hỗn chính. Dĩ giả loạn chân. Tuy hữu nhất nhị chí sĩ. Ngọc thạch bất phân. Nhược phi phụ thiên túng chi tư. Cao minh chi kiến giả. Kỳ bất vi tà đạo sở cảm dã. Hữu kỷ nhân tai.

七 返 九 還. 金 液 大 還 丹 之 道. 為 天 地 所 秘 . 偽 眇 神 所 忌. 歷 聖 口 口 相 傳. 不 記 文 字 所 以. 道 者 如 牛 毛. 明 道 者 如 麟 角. 加 之 傍 門 三 千 六 百. 曲 徑 七十 二 家. 以 邪 混 正. 以 假 亂 真. 雖 有 一 二 志 士. 玉 石 不 分. 若 非 負 天 縱 舟 姿. 高 明 之 見 者. 其 不 為 邪 道 所 感 也. 有 幾 人 哉.

Đông Hán Ngụy Bá Dương chân nhân, đắc Trường Sinh Âm chân nhân chi truyền, hội ngộ viên thông, liễu khước đại sự, thùy mẫn hậu sinh hiếu đạo chi trác, chuẩn Dịch đạo nhi tác Tham Đồng Khế, phân thượng, trung, hạ tam thiên. Thủ tự ngự chính chi đạo, trung tự dưỡng tính chi lý, mạt tự phục thực chi phương. La liệt tam điều. Quán thông nhất lý. Biệt khai môn hộ. Đa thiết ngụ ngôn. Tiếp dẫn phương lai. Dĩ hữu tượng tỉ vô tượng. Dĩ hữu hình thị vô hình. Kỳ trung dược vật hỏa hầu. Vô nhất bất bị.

東 漢 魏 伯 陽 真 人. 得 長 生 陰 真 人 之 傳. 會 悟 歖 通. 了 卻 大 事. 垂 憫 後 生 好 道 之 涿. 準 易 道 而 作 參 同 契. 分 上 中 下 三 篇. 首 敘 御 政 之 道. 中 敘 養 性 之 理. 末 敘 伏 食 之 方. 羅 列 三 欑. 貫 通 一 理. 別 開 門 戶. 多 設 寓 言. 接 引 諘 來. 以 有 象 比 無 象. 以 有 形 示 無 形. 其 中 蹴 物 火 候. 無 一 不 備 .

Thư thành chi hậu. Chứng chư Thanh Châu tùng sự Cảnh Hưu Từ Công. Từ Công toại tiên chú tam thiên. Phát minh khế trung áo diệu. Ngụy chân nhân hựu truyền đồng quận Thuần Vu Thúc Thông. Thuần Vu thị hựu tác Tam Tướng Loại thượng hạ nhị thiên. Bổ tắc Tham Đồng Khế chi di thoát. Ư thị kim đan chi lý. Tận xuất nhi vô dư uẩn hĩ.

書 成 之 後. 證 諸 青 州 從 事 景 休 徐 公. 徐 公 遂 葮 註 三 篇. 發 明 契 中 奧 妙. 魏 真 人 又 傳 同 郡 淳 于 叔 通. 淳 于 氏 又 作 三 相 類 上 下 二 篇. 補 罻 參 同 契 之 遺 脫. 於 是 金 丹 之 理. 盡 出 而 無 餘 蘊 矣 .

Như tam ông giả giai địch diện tham chứng. Tâm ấn thành thư. Phi tha nhất thiết mô phỏng sai nghi khả tỉ. Thử hựu Tham Đồng trung chi tham đồng. Hậu thế vạn quyển đan kinh. Giai bản ư thử. Sở dĩ nhân giai xưng vi vạn cổ đan kinh chi chủ. Chu Tử tác khảo dị chú giải Tham Đồng. Trình Tử, Tượng Sơn, diệc thường tán mỹ. Khả tri thử thư vi Nho Đạo chi sở cộng thưởng giả dã. Thiết niệm thử thư. Lưu thế dĩ cửu. Thứ tự vặn loạn. Chú sớ gia các xuất kỷ kiến. Hoặc dĩ tiền giả vi hậu. Hậu giả vi tiền. Hoặc dĩ kinh văn dữ chú ngữ tương hỗn. Hoặc tương tự văn dữ chính văn giáp tạp. Bất đãn văn ý bất quán, thứ tự đại thác, thả tịnh bất phân hà giả thị kinh, hà giả thị chú, hà giả thuộc ư Ngụy, hà giả thuộc ư Từ, hà giả thuộc ư Thuần Vu. Cánh tự Ngụy chân nhân nhất nhân chi thư. Cánh hữu vô tri chi bối. Hoặc trác nhi vi thái chiến. Hoặc ngộ nhi vi thiêu luyện hủy báng thánh đạo, mai một chân tông. Đại thất tam ông độ thế chi bà tâm. Kỳ tội thượng khả ngôn hồ.

如 三 翁 者. 皆 覿 面 參 證. 心 印 成 書. 非 他 一 濬 模 倣 猜 疑 可 比. 此 又 參 同 中 之 參 同. 後 世 萬 卷 丹 經. 皆 本 於 此. 所 以 人 皆 稱 為 萬 古 丹 經 之 主. 朱 子 作 考 異 註 解 參 同. 程 子 象 山. 糈 嘗 讚 美. 可 知 此 書 為 儒 道 之 所 共 賞 者 也. 冓 念 此 書. 流 世 已 久. 次 序 紊 亂. 註 疏 家 各 出 己 見. 或 以 前 者 為 後. 後 者 為 前. 或 以 經 文 與 註 語 相 混. 或 將 序 文 與 正 文 夾. 不 但 魡 意 不 貫. 次 序 大 錯. 且 並 不 分 何 者 是 經. 蠉 者 是 註. 何 者 屬 於 魏. 何 者 屬 於 徐. 何 者 嗂 於 淳 于. 竟 似 魏 真 人 一 人 之 書. 更 有 無 知 舟輩. 或 涿 而 為 採 戰. 或 誤 而 為 燒 煉 毀 謗 聖 道. 埋 沒 真 宗. 大 失 三 翁 度 世 之 婆 心. 其 罪 尚 可 言 乎.

Càn Long Nhâm Dần tuế. Ngẫu đắc Vô Danh Thị Ông chân nhân chú. Thượng Dương Tử Trần chân nhân (Trần Chí Hư) chú. Kỳ kinh chú các phân nhất loại. Tiết tự tiền hậu tương quán. Kinh tự kinh, chú tự chú, bổ tắc tự bổ tắc, văn tự văn, tự tự tự. Mễ diêm phân phán. Tạo bạch hiển nhiên. Thiên bách niên chân kinh chi oan khuất chí thử phương thân. Nhị chú Trần giảo ư ông. Vưu vi chỉnh tề. Nhân thủ Trần bản vi cứ. Kỳ chính văn thứ tự. Tự hữu bất quán giả. Lược vi cánh di. Phân tiết chú thích. Kỳ trung nhất thiết tỉ tượng dụ ngôn. Tất giai phá vi phấn túy. Dữ đại chúng tế khán trực chỉ. Hà giả thị lô đỉnh, hà giả thị dược vật, hà giả thị âm dương, hà giả thị ngũ hành, hà giả thị tiên thiên, hà giả thị hậu thiên, hà giả thị hỏa hầu, hà giả thị phanh luyện, hà giả thị nội ngoại, hà giả thị thủy chung. Hạch thực tận lộ. Khẳng khính toàn hiện. Thư thành chi hậu. Danh viết Tham Đồng Khế Trực Chỉ. Thảng hữu đồng chí giả. Kiến nhi duyệt chi. Tắc tri Tham Đồng chi đạo. Nãi lịch thánh khẩu khẩu tương truyền chi bí. Nhi Ngộ Nguyên chi chú, diệc phi dã hồ cát đằng chi ngữ. Chính văn tiết tự. Hoặc hữu bất quán chi xứ, vưu lại hậu chi cao minh giả cải chính yên.

乾 隆 壬 寅 歲. 偶 得 無 名 氏 翁 真 人 註. 上 陽 子 陳 真 人 註. 其 經 註 各 分 一 類. 節 序 前 後 相 貫 . 經 自 經. 註 自 註. 補 塞 自 補 塞. 文 筄 文. 序 自 序. 米 鹽 分 判. 皂 白 顯 然. 千 忕 年 真 經 之冤 屈. 至 此 方 伸. 二 註 陳 較 於 侲尤 為 整 齊. 因 取 陳 本 為 據. 其 正 文 次 序. 似 有 不 貫 者. 略 為 更 移. 分 節 註 釋. 蜬 中 一 切 比 象 喻 言. 悉 皆 為 粉 粹. 與 大 眾 細 看 直 指. 何 者 是 爐 鼎. 何 者 是 藥 物. 何 者 是 陰 陽. 何 者 是 五 行 。何 者 是 先 天. 何 者 是 後 天. 何 者 是 火 候 .

何 者 是 烹 煉. 何 者 是 內 外. 何 者 是 始 終. 淀 實 盡 露. 肯 綮 全 現. 成 書 之 後. 名 曰 參 同 直 指. 倘 有 同 志 者. 見 而 閱 之. 則 知 參 同 之 道. 乃 歷 聖 口 口 相 傳 之 秘. 而 悟 元 之 註. 亦 非 野 狐 葛 藤 之 語. 正 文 節 序. 或 有 不 貫 之 處. 尤 賴 後 之 高 明 者 改 正 焉.

Thời:

Đại Thanh Gia Khánh tứ niên tuế tại Kỷ Mùi xuân chi chính nguyệt nguyên đán nhật Thê Vân Sơn Tố Phác Tản Nhân Ngộ Nguyên Tử Lưu Nhất Minh tự tự ư tự tại oa trung.

大 清 嘉 慶 四 年 歲 在 己 未 春 之 正 月 元 旦 日

棲 雲 山 素 樸 散 人 悟 元 子 劉 一 明 自 序 於 筄 在 窩 中.

Tựa của Tham Đồng Khế trực chỉ:

Thất phản cửu hoàn là Đại Đạo Kim Dịch Hoàn Đơn. Đó là điều bí mật của Trời Đất, đó là điều úy kỵ của quỉ thần. Lịch thánh xưa nay toàn truyền miệng cho nhau, không ghi lại thành văn tự, cho nên học giả thì đông như lông trâu, mà người biết được Đạo này thì hiếm như sừng con lân vậy. Lại còn thêm 3600 bàng môn, 72 khúc kính. Đem tà hỗn với chính, đem giả loạn với chân. Tuy có một hai chí sĩ, nhưng không phân biệt được ngọc với đá, nếu không phải là họ đã phụ ơn Trời, thì họ cũng đã đem cái kiến thức cao minh của mình, để cho tà đạo mê hoặc, những người như vậy hỏi có mấy người.

Ngụy Bá Dương Chân Nhân đời Đông Hán (từ 25 đến 220), được thày là Trường Sinh Âm Chân Nhân truyền dạy. Ông có tư chất thông minh, lại có lòng thương xót hậu thế, nên đã dựa vào Chu Dịch để viết Tham Đồng Khế, chia làm Thượng, Hạ, Trung tam thiên. Tập đầu bàn về Thuật Ngự Chính, tập giữa bàn về Lý Dưỡng Tính, tập cuối bàn về phương pháp Phục Thực (Ăn Uống). Ba vấn đề nhưng qui về một Lý. Mở môn hộ riêng, dùng nhiều ngụ ngôn, đón tiếp moị người. Lấy hữu Tượng sánh với Vô Tượng, lấy hữu hình chỉ vẽ vô hình. Trong đó dược vật, hỏa hầu cái gì cũng đủ.

Khi sách đã in, thì biếu Tùng Sự Thanh Châu, Cảnh Hưu Từ Công. Từ Công chú được 3 thiên. Phát minh những điều vi diệu của Tham Đồng Khế.

Ngụy Chân Nhân lại truyền cho người Đồng Quận (ở Cối Kê) là Thuần Vu Thúc Thông. Thuần Vu Thị cũng làm Tam Tướng Loại tam thiên, bổ sung những điều khuyết điểm của Tham Đồng Khế. Thế là Kim Đơn chi lý, đã phô bày ra hết không còn gì che dấu cả,

Như thế là cả ba ngài đều chính mình tham chứng, tâm ấn viết thành sách. Các ngài không mô phỏng những gì sai trái, như đã thấy. Nên đây là cốt tủy của Tham Đồng. Vạn quyển đơn kinh của hậu thế sau này, đều lấy đây làm gốc. Cho nên ai cũng kêu nó là vạn cổ Đơn Kinh chi chủ 萬 古 丹 經 之 主 . Chu Tử (1130-1200) viết Khảo Dị Chú Giải Tham Đồng, Trình Tử (1033-1107), Tượng Sơn (1139-1192) cũng thường khen sách này. Như vậy thấy rằng Nho gia cũng rất khen thưởng sách này.

Thiết nghĩ sách này, lưu truyền đã lâu, nên thứ tự đã rối loạn. Các người bình giải sách này, đều đưa ra ý kiến riêng của mình, hoặc đem đoạn trước cho ra đoạn sau, hoặc đem sau ra trước, hoặc lẫn Kinh văn với Chú thích, hoặc đem Lời Tựa xếp lầm với Chính Văn. Chẳng những văn ý không ăn khớp với nhau, mà thứ tự cũng sai lạc. Lại cũng không phân đâu là Kinh, đâu là Lời Chú. Cái gì là của Ngụy Bá Dương, cái gì là của Cảnh Hưu Từ Công, cái gì là của Thuần Vu.

Cũng là một sách của Bá Dương, mà những kẻ vô tri, lại bàn về Thái Chiến, hoặc Thiêu Luyện, hủy báng Thánh Đạo, làm mai một Chân Tông, làm mất lòng từ bi độ thế của Ba Ông (Ngụy, Từ, và Thuần Vu).

Năm Càn Long, Nhâm Dần (1782), may được một người Vô Danh là Ông Chân Nhân chú giải, lại được Thượng Dương Tử (Trần Tử Hư) Trần Chân Nhân chú. Kinh phân rõ ràng, tiết tự trước sau ám hợp. Kinh ra kinh, chú ra chú, chỗ nào thêm thì là thêm, văn ra văn, chú ra chú, gạo muối phân biệt, hắc bạch hiển nhiên, Chân kinh bị oan khuất cả nghìn năm nay, đều được minh oan. Hai bài chú của Ông Trần và Ông đem sánh với nhau càng thấy tề chỉnh. Tôi lấy bản Ông Trần làm chính, chính văn và thứ tự thấy có gì không ổn, thì bỏ bớt đi.Phân tiết và chú thích lại, tất cả những Tỉ Tượng, Dụ Ngôn trong đó đều coi là phấn toái (không cần), cùng với đại chúng xem đâu là Chân chỉ. Thế nào là Lô Đỉnh, thế nào là Dược Vật, thế nào là Âm Dương, thế nào là Ngũ hành, thế nào là Tiên Thiên, thế nào là Hậu thiên, thế nào là Hỏa Hầu, thế nào là Phanh Luyện, thế nào là Nội Ngoại, thế nào là Chung Thủy, nhân hạt đều lộ, đầu đuôi toàn hiện.

Sách viết xong gọi là Tham Đồng trực chỉ. Nếu có ai đồng chí, xem và đọc nó, sẽ biết Tham Đồng chi Đạo. Đó chính là bí quyết của thánh hiền xưa nay, Ngộ Nguyên chú thích, không phải nói ngông cuồng. Nếu chính văn, tiết tự, có chỗ không được ổn, mong các bậc cao minh sau này cải chính cho.

Năm Đại Thanh, Gia Khánh tứ tuế (1799), ngày Nguyên Đán, Xuân Kỷ Mùi, Thê Vân Sơn, Tố Phác, Tán Nhân, Ngộ Nguyên Tử Lưu Nhất Minh, viết lời tựa này tại Oa Trung.

Tam Tướng Loại nguyên tự:

三 相 類 原 序

Tham Đồng Khế giả, phô trần[1] ngạnh khái[2] bất năng thuần nhất, phiếm lạm nhi thuyết, tiêm vi vị bị, khoát lược phảng phất. Kim cánh soạn lục, bị tắc di thoát, nhuận sắc u thâm, câu viện tương đãi. Chỉ ý đẳng tề. Sở xu bất bột. Cố phục tác thử. Mệnh Tam Tướng Loại. Đại Dịch tính tình hĩ. Như khởi độ, Hoàng Lão dụng cứu, giảo nhi khả ngự. Lô hỏa chi sự, chân hữu sở cứ. Tam đạo do nhất, câu xuất kính lộ. Chi hành hoa diệp, quả thực thùy bố. Chính tại căn chu, bất thất kỳ tố. Thành tâm sở ngôn, thẩm nhi bất ngộ.

參 同 契 者. 敷 陳 梗 概. 不 能 純 一. 泛 濫 而 說. 纖 微 未 備. 闊 略 髣 拂 . 今 更 撰 錄. 補 罻 遺 脫. 潤 色 幽 深. 鉤 援 相 逮. 旨 意 等 齊. 所 趨 不 悖. 故 復 作 此. 命 三 相 類. 大 易 忕 情 矣. 如 豈 度. 黃 老 用 究. 較 而 可 御. 爐 火 之 事. 真 有 所 據. 三 道 由 一. 俱 出 徑 鶆. 枝 莖 花 葉. 果 實 垂布. 正 在 根 株. 不 素 其 素. 誠 心 所 言. 審 而 不 誤.

Tam Tướng loại Nguyên tự

Tham Đồng Khế mà nói ra cốt yếu, thì khó mà đi đến chỗ thuần nhất. Nếu nói đại khái, thì những điều nhỏ nhặt cũng chưa có đủ, hãy còn khái lược phảng phất. Nay soạn lục lại, bổ sung những gì còn thất thoát, nhuận sắc u thâm, ý chỉ tề chỉnh, không đi ra ngoài đề. Cho nên viết sách này. Gọi là Tam Tướng loại. Sách Đại Dịch thì bàn về Tính Tình. Sách của Hoàng Lão thì để suy cưú. Còn bàn về Lô Đỉnh, thì đều có sở cứ. Ba Đạo là một. Đều có đường lối. Hoa quả lá cành, tất cả đều bày ra, tất cả đều có ngọn ngành, mà vẫn giữ được Tinh Hoa. Thành Tâm nói lời, suy ra không sai.

Tiểu sử Lưu Nhất Minh

Lưu Nhất Minh 劉 一 明 (1734–1821) là truyền nhân của Long Môn Phái đời thứ 11.

Năm 17 tuổi (Càn Long 15, tức 1750), bị bệnh nặng, càng uống thuốc, bệnh càng nặng. May gặp được một Chân Nhân cho thuốc chữa trị. Năm Càn Long 17 đi phỏng đạo mọi nơi. Gặp Kham Cốc Lão Nhân dạy cho bí quyết nội đơn, sau bái Ngài làm thày. Sau đó, để cầu tham chứng, Ông ở kinh sư 4 năm, Hà Nam 2 năm, Nhiễu Đô 1 năm, Tây Tần 3 năm, đi nhiều nơi khác 4 năm. Trong vòng 13 năm, đọc hết Tam Giáo kinh thư. Năm Càn Long 37, ông lên chơi Hán Thượng. Gặp Tiên Ông Lưu Trượng Nhân, được Ông chỉ điểm. Bao điều nghi ngờ trong 13 năm qua đều được giải quyết.

Nửa đời sau, Ông ẩn cư tại Cam Túc, huyện Du Trung, núi Thê Vân, và Hưng Long Sơn tu đạo, lập đàn truyền giáo, viết sách dạy đời. Và đã gây ảnh hưởng khắp vùng Tấn Hiệp, Cam, Ninh. Lúc ấy Ông là Đạo sĩ của Long Môn Phái.

Ông tinh thông Dịch học, giỏi y học. Đã soạn Đạo Thư Thập Nhị Chủng như Ngộ Đạo phá nghi, Tượng Ngôn Phá Nghi, Tu Chân Biện Nạn, Hội Tâm Tập, Chỉ Nam Châm, Huỳnh Đình Kinh, Chu Dịch Xiển Chân, Tham Ngộ Chân Ngôn, Tu Chân Cửu Yếu, Thông Quan Văn, Tham Đồng Trực Chỉ, Ngộ Đạo Lục, Vô Căn Thụ, Âm Phù Kinh, Ngộ Chân Trực Chỉ.

Ông là nhà Đơn Học lớn của Nhà Thanh. Ông chủ trương Tam Giáo quán thông chi lý.

Lấy Trung Chính chi Đạo của Nho Gia làm gốc.

Ông cho rằng Đạo này Nho gia gọi là Trung Dung, Phật gọi là Nhất Thừa, Lão gọi là Kim Đơn.

Về phương diện luyện đơn, Ông chủ trương Tính Mệnh Song Tu, và có nhiều nhận xét rất độc đáo.

Ông là một trong những người đắc đạo mà tôi biết.[3]

CHÚ THÍCH

[1] Phô Trần = Trình bày.

[2] Ngạnh khái = Thô cử, Đại Chương = nói Đại khái.

[3] Tham khảo: Trung Quốc Đạo Giáo, Khanh Hi Thái chủ biên, Đông Phương xuất bản trung tâm, q. I, tr, 396.

*******************

THAM ĐỒNG KHẾ TAM TƯỚNG LOẠI THƯỢNG THIÊN

參 同 契 直 指 三 相 類 上 篇

Đông Hán Thúc Thông, Thuần Vu Chân Nhân soạn

東 漢 叔 通 淳 于 真 人 撰

Thê Vân Sơn, Ngộ Nguyên Tử, Lưu Nhất Minh giải

棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 解

Ảo Thụ Tam Canh, Hạ Đắc Bằng khan tử

媼 樹 三 庚 賀 得 朋 刊 梓

Hậu Học Tiêu Nam Phổ trùng khan

後 學 蕭 南 浦 重 刊

Tam Tướng là

Thứ nhất: Đại Dịch Tính Tình;
Thứ hai: Hoàng Lão chi thuật;
Thứ ba: Lô Hỏa chi sự.

Tam Đạo là một. Cho nên gọi là Tam Tướng loại. Loại có nghĩa là Khế Hợp.

Thượng thiên

上 篇

Chương I

Pháp Tượng

Bắt chước Trời mà hành sự

1. Pháp tượng mạc đại hồ Thiên Địa hề,

2. Huyền Cấu sổ vạn lý.

3. Hà Cổ lâm Tinh Kỷ hề,

4. Nhân dân giai kinh hãi.

5. Quĩ ảnh vọng tiền khước hề,

6. Cửu niên bị hung cữu.

7. Hoàng thượng lãm thị chi hề.

8. Vương giả thoái tự cải.

9. Quan kiện hữu đê ngang hề.

10. Hại khí toại bôn tẩu.

11. Giang hà chi khô kiệt hề,

12. Thủy lưu chú ư hải.

法 象 莫 大 乎 天 地 兮.

玄 溝 數 萬 里.

河 鼓 臨 星 紀 兮.

人 民 皆 驚 駭.

晷 影 妄 前 卻 兮.

九 年 被 凶 咎.

皇 上 覽 視 之 兮.

王 者 退 自 改.

關 楗 有 低 昂 兮.

害 氣 遂 奔 走.

江 河 之 枯 竭 兮.

水 流 注 於 海.

Tạm dịch:

1. Pháp tượng không gì bằng Thiên Địa.

2. Sông Ngân Hà dài mấy vạn dặm.

3. Hà Cổ mà đi vào vị trí của sao Tinh Kỷ,

4. Dân gian đều kinh hãi,

5. Bóng cây nêu mà hướng về phía trước,

6. Chín năm bị tai ách.

7. Vua nhìn thấy thế,

8. Rút về để tự cải.

9. Quan kiện (cửa quan) có then chốt,

10. Nên Hại Khí liền chạy bay.

11. Giang hà mà khô kiệt,

12. Nước rút về biển khơi.

*******************

1. Kim đơn chi đạo thật là Thâm áo, thật là thần diệu. Nó ám hợp Càn Khôn, mặc thông tạo hóa, đem hữu hình nhập vô hình, lấy Vô Tượng sinh Hữu tượng, cho nên cổ lai Tiên chân, trên xem Thiên Phù, dưới xem Địa Lý, trộm Âm Dương, đoạt Tạo hóa, bảo mệnh tòan hình, để hoàn thành Đại đạo.

Tiên Ông dựa vào Trời Đất, gọi là Pháp Tượng. Vì Đại Đạo thời Vô Hình, mà Trời đất thì có tượng, cho nên lấy Hữu đi vào Vô Hình, lấy Thật chỉ cái Không. Nên cái đạo Hư Vô hiện rõ nơi Tượng vậy.

Tượng là Tượng. Lời nói là Vật này, Tượng là Vật kia. Pháp là Bắt Chước. Bắt chước cái Tượng vậy.

Tượng của Trời Đất, thì rất lớn, rất rõ, dễ thấy dễ biết. Ví như trời đất cách nhau, không biết là bao vạn dặm. Hung cát dưới đất chưa hình hiện, mà trên Trời đã thấy có Biến Tượng cho thấy.

Khí trên Trời mà có vận hành hơi sai, thì dưới đất đã thấy được hay hèn, hối lận. Tại sao vậy? Cái này cảm thì cái kia ứng. Tuy hình tương cách, mà khí tương thông vậy.

2. Huyền Cấu là chỗ hư không dưới trời trên đất. Vì nó rộng lớn khôn cùng, huyền miểu nan trắc, cho nên gọi là Huyền Cấu. (Huyền Cấu là sông Ngân Hà)

3. Hà Cổ và Tinh kỷ là tên 2 vì sao. Hà Cổ mà lâm vào địa vị của Tinh Kỷ, thì là sai Độ Số.

4. 5. 6. Bóng cây nêu của mặt trời, nếu mà thấy sai, thì đã đi không hợp Chính Đạo. Cả 2 đều không hợp lẽ thường. Phản lẽ thường sẽ có Thủy Hạn, Tai Sinh, Binh Dịch Họa Hoạn chi hung cữu.

7. 8. Nếu chưa thấy đến, thì là Nhà Vua đã xem thấy hình tượng, Nên đã biết rút lui, ăn năn hối quá, để cứu vãn Thiên Tâm.

Ví như con người vừa sinh ra thì Tính Tình thuần nhất, Âm Dương hòa hợp. Đến khi 16 tuổi có được thuần Dương chi thể, gọi là Thượng Đức chi nhân. Khi ấy, nếu không phải thánh hiền, mà giữ được Nhất Điểm Chân Dương chi thể, hỏi được mấy người?

Nhất thiết thế nhân, đều thuận hành tạo hóa. Dương Cực sinh Âm. Khi một Âm đã sinh thì Tiên Thiên biến thành Hậu Thiên (Cấu). Dương dần dần tiêu, Âm dần dần trưởng, phóng túng theo dục tình, bỏ Chân theo giả.

 Nên nói: Ngũ hành thuận hành, pháp giới hỏa khanh dã. Ngũ hành thuận hành, pháp giới là lò lửa. Lại như sao dời khỏi ngôi, nhật quĩ đi sai đường, thì Hung cữu lập tức sinh ra, chuyện xảy ra sẽ như vậy.Nếu là Thánh Nhân, xa thì lấy nơi vật, gần thì lấy nơi thân.

Theo đường lối Hữu Vi của Kim Đơn, là Phản bản hoàn nguyên. Nên nói: Ngũ Hành Điên đảo, đại Địa Thất Bảo Ngũ hành điên đảo, đại Địa thất bảo. Như các vua xưa chiếm tượng ngự trị. Bỏ cái dở, đổi cái hay, đổi loạn thành trị, cũng giống như vậy

9. Quan là Cửa Sắt bên ngoài. Kiện là cửa gỗ bên trong. Có quan kiện thì đạo tặc và Hại Khí tự nhiên sẽ lánh xa. Đạo cũng có quan kiện nên Âm ma tà quái tự nhiên xa. Quan để phòng bên trong, Kiện là để phòng ngoài. Phòng ngoài là phòng Ngoại Lai chi Khách Khí. Phòng nội là phòng nội sinh chi tư dục. Nội ngoại nghiêm mật thì nội niệm bất xuất, ngoại tà bất nhập.

Âm tiệm thoái, dương tiệm trưởng, Tứ tượng khả hòa, ngũ hành khả toản, như giang hà chúng thủy, triều tông ư hải. Không còn phân dòng nước hoành lưu.

Chí thánh nói: Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân yên. Diệu chỉ của Chính Quan Kiện là giúp con người thoái cải tội khiên vậy.

*******************

Chương 2

Thiên Địa

Âm Dương

Thiên địa chi thư hùng hề,

Bồi hồi Tí dữ Ngọ.

Dần Thân Âm Dương tổ hề

Xuất nhập phục cánh thủy.

Tuần đẩu nhi dao quang hề,

Chấp Hành định Nguyên Kỉ.

天 地 之 雌 雄 兮.

徘 徊 子 與 午.

寅 申 陰 陽 祖 兮.

出 入 復 更 始.

循 斗 而 搖 光 兮.

執 衡 定 元 紀.

 Tạm dịch:

Thiên địa Âm Dương,

Vận chuyển theo vòng Tí Ngọ.

Dần Thân là tổ Âm Dương (Hạ Chí mặt trời mọc ở Dần, Đông Chí mọc ở Thân),

Xuất nhập, thủy chung là ở đó.

Sao Dao Quang (sao thứ bảy) trong bảy ngôi sao Bắc Đẩu,

Chấp theo sao Hành (sao thứ 5 trong 7 ngôi sao Bắc Đẩu) để định Nguyên Kỷ.

Trên nói Pháp Tượng là thủ hồ Thiên Địa. Đó là Kim Đơn chi Đạo, cũng là một với Thiên Địa chi đạo vậy. Thiên Địa chi Đạo là Nhất Âm Nhất Dương chi đạo. Trời là Hùng, là Dương. Địa là Thư là Âm. Dương sinh ư Tí, cực ư Tị, Âm sinh ư Ngọ cực ư hợi. Nhất nhật, nhất dạ, Tí Ngọ vận chuyển. Gọi là Thiên Địa chi thư Hùng, bồi hồi Tí Ngọ vậy.

Hạ chí nhật xuất vu Dần, nhập ư Tuất; Đông chí Nhật xuất vu Thìn, nhập ư Thân. Sau Hạ Chí thì mặt trời đi về phía Nam. Sau Đông chí thì mặt trời đi về hướng Bắc. Chung nhi phục thủy. Cho nên nói: Dần Thân Âm Dương tổ, xuất Phục cánh thủy dã.

Dao quang là Bắc Đẩu chi Tiêu Tinh, lại có tên là Thiên Cang Tinh, hay Phá Quân Tinh. Thiên Cang sở tọa là Hung, sở chỉ là Cát. Nguyệt Kiến ư Tí, tắc tọa Ngọ chỉ Tí, Thủy vượng nhi Hỏa suy. Nguyệt Kiến ư Ngọ, tắc tọa Tí nhi chỉ Ngọ, hỏa vượng nhi thủy suy.

*******************

(Mấy dòng sau đây là của Dịch Giả)

Nguyệt kiến ư Tí là tháng mười một.

Và nhất là chiếc xe trời: Đế Xa 帝 車 gồm 7 vì sao Bắc Đẩu:

(1) Khu Tinh (Tham Lang), (2) Tuyền Tinh (Cự Môn), (3) Kỵ Tinh (Lộc Tồn), (4) Quyền Tinh (Văn Khúc), (5) Hành Tinh (Liêm Trinh), (6) Khai Dương (Vũ Khúc), (7) Giao Quang (Phá Quân).

(Mấy dòng trên đây là của Dịch Giả).

12 tháng, tọa chỉ đều như vậy. 1 năm là 1 vòng chu thiên. Bắc đẩu đệ lục tinh là Hành Tinh. Cang tinh (Phá Quân) ở trước, Hành tinh ở sau. Nó vận tứ thời và hành Tạo Hóa. (Trong hình vẽ trên ta thấy Hành Tinh là sao thứ 5, không phải thứ 6.)

Cho nên nói: Tuần Đẩu nhi Giao Quang hề, chấp Hành định Nguyên Kyû. Các học giả nếu biết được thời gian mà Âm Dương phát sinh từ Thân ta, biết được độ số nó Xuất Nhập, biết nó Nữu Chuyển Cang Tinh, biết nó Cán Hồi Đẩu Bính, thì Thiên Quan ở trong tay, Địa Trục tại Tâm. Tùy thời hái thuốc, cần công phanh luyện, sẽ hồi phục được Ngã tiên Thiên Nguyên Bản, cũng không khó vậy. Vả sao Cang Tinh con người không dễ biết, cũng không dễ thấy. Nếu không được Chân sư truyền dạy, ai dám cho là mình biết? Cho nên nói:

Nhật nguyệt thường gia Tuất,

日 月 常 加 戌 ,

Thời thời kiến Phá Quân,

時 時 見 破 軍.

Phá Quân tiền nhất vị,

破 軍 前 一 位 ,

Thệ Nguyện bất truyền nhân.

誓 願 不 傳 人.

Cang tinh là tên của Phá Quân. Trước Phá Quân 1 vị (là sao Khai Dương), đó là Sở chỉ chi phương. Sở chỉ chi phương là Tiên Thiên Chân Nhất chi khí, đó là Tổ khí sinh muôn vật. Xưa nay các bậc Tiên Chân đều hái Tổ Khí đó, để liễu Tính, liễu Mệnh. Cho nên nói: Đắc kỳ Nhất, Vạn sự tất vậy. Đó là nói tới Khí ấy.

Kim đơn, Tử thư không dám khinh truyền Cang tinh là cái gì, nhất khí là ở nơi đâu. Sợ rằng người không ra gì sẽ được, và sẽ bị Trời quở trách. Ngộ Nguyên Tử xem sao, là do Tổ sư truyền chân tả thần, nếu có tiết lộ đôi chút Thiên cơ, mà có chí sĩ nào biết, thì là do họ Tâm tri mặc hội, đó là do quỉ thần dạy họ chứ không phải là tội của Ngộ Nguyên vậy,

Vả sao Cang chân chính trong ta, không phải là vật xa lạ, mà chính là Đạo Tâm chi Chân Tri của chúng ta vậy.

Chân Tri đó có đủ Tiên Thiên Nhất Dương chi Khí. Khí đó thống Âm Dương, hàm Ngũ hành, là Căn Nguyên của Tính Mệnh, là Căn Nguyên Đạo Đức, lúc cất giấu thì là Chân Tính, lúc phát ra thì là Chân Tình. Có Tính Tình là có Chí Chân chi vật. Phân ra là Tính Tình, là luận giải bằng Động Tĩnh.

Cái khí đó vốn là của nhà ta. Vì sa xuống Hậu Thiên, nên bị cái giả làm hãm mất cái Chân. Cái Chân Tri bị mê muội. Nên thông minh ngoại dụng, vọng niệm nội sinh, hồ bằng cẩu đảng (làm bạn với những người không ra gì), Chân Tri biến thành giả tri, Sinh Khí hóa thành Sát Khí. Tiên Thiên chi Khí không còn thuộc ở ta, y như vật gì của nhà ta, nay chạy sang nhà khác.

Cương Tinh toạ ư Ngã, mà Chỉ lại ở người ta vậy. Nay muốn phản hồi Tiên Thiên, thì phải ăn trộm nó về lại. Phép ăn trộm là từ trong Sát Cơ cầu lại Sinh Cơ, từ trong Vọng tình cầu lại Chân tình. Chân tình thổ nhi Chân tri hiện. Chân tri hiện nên Hồi Quang Phản Chiếu. Cang Tinh chỉ nội chứ không chỉ ngoại, sinh khí thu nội nhi bất tán ngoại, có thể hoà Tứ Tượng, có thể gom Ngũ hành, có thể Liễu Tính Mệnh, có thể toàn Đại Đạo.

Chỉ sợ con người không có Chí Khí, không chịu để tâm suy cưú cho cùng nghĩa lý, không chịu bỏ công phu để Cầu Chân. Cho nên không nhìn thấy sao Thiên Cang vậy. Ôi chỉ có thể bàn về Đạo với người biết, còn đối với người không biết thì thật khó nói.

*******************

Chương 3

Thăng Ngao

Hòa hợp Tứ Tượng

81. Thăng Ngao ư Tắng Sơn hề, [1]

(Tiết này dạy Toản Thốc Ngũ Hành)

Viêm hỏa trương thiết hạ,

Bạch Hổ đạo sướng tiền hề,

Thương dịch hòa ư hậu,

Chu Tước cao tường hí hề,

Phi dương sắc ngũ thái.

Tao ngộ la cương thi hề,

Áp chi bất đắc cử,

Ngao ngao thanh thậm bi hề,

Anh nhi chi mộ mẫu,

Điên đảo tựu thang hoạch hề.

Tồi chiết thương mao vũ.

升 熬 於 甑 山 兮.

炎 火 張 設 下.

白 虎 導 唱 前 兮.

蒼 液 和 於 後.

朱 雀 翱 翔 戲 兮.

飛 揚 色 五 彩.

遭 遇 羅 綱 施 兮.

壓 之 不 得 舉.

嗷 嗷 聲 甚 悲 兮.

嬰 兒 之 慕 母 ,

顛 倒 就 湯 鑊 兮.

摧 折 傷 毛 羽.

Tạm dịch:

Cho nước lên Tắng Sơn. (Đỉnh là đồ chứa nước)

Cho lửa cháy ở dưới. (Thế là Thuỷ Hoả ký tế)

Bạch Hổ xướng trước,

Thương địch hoạ vận sau. (Thế là Tình Tính tương đầu, Hổ Long tương ngộ)

Chu Tước bay lượn trên cao, (Hoả)

Phát ra Ngũ Sắc năm màu.

Nếu mắc lưới, (Phải giữ không cho Hoả vọng động)

Sẽ bị đè ép không vươn lên được.

Kêu lên lời bi thiết,

Như con thương mẹ,

Nếu bị điên đảo mà phải sôi bỏng,

Thì sẽ hư hết lông cánh.

Đã biết Tạo hóa quyền hành, thì phải biết Hòa Tứ Tượng, Ngũ Hành. Tắng là đồ đựng nước. Tắng Sơn là Đỉnh. Viêm hỏa là Lô. Thăng Ngao ư Tắng Sơn là nước ở trên. Viêm hỏa trương thiết hạ là lửa ở dưới. Nước ở trên, lửa ở dưới. Lấy Chân Nhất chi Tinh, dưỡng hư linh chi Thần. Đó là Thủy Hỏa Tương Tế.

Bạch Hổ ở phía Tây là Kim, là Chân Tình, Thanh Long ở phía Đông, là Mộc, là Chân Tính. Thương dịch là tinh hoa của Mộc Tính. Kim tình cương, Mộc tính nhu. Kim vốn khắc Mộc. Mộc vốn sợ Kim. Bạch hổ đạo xướng tiền là Kim tình quyến luyến lòng Từ Nhân của Mộc. Suy Tình thì hợp được Tính. Thương Dịch hoà ư hậu là: Mộc tính thì Ái Kim thuận Nghĩa, thế là Dĩ Tính Cầu Tình vậy. Khu Hổ tựu Long, dĩ Long tựu Hổ. Tính Tình tương đầu, Kim Mộc tương tính.

Chu Tước là tượng của Hỏa. Trong tứ tượng thì Hoả là linh nhất. Tính lửa bay lên. Có gì xúc phạm, thì nó bay lên, năm sắc rực rỡ. Thủy Hỏa Kim Mộc, đều đã bị thương.

Người tu đơn thì phải biết hàng phục lửa cho nó được tuần thuận, thì mới lo được việc.

Tao ngộ la cương thi áp chi bất đắc cử là hết sức luyện kỷ, trừng phẫn trật dục, không khiến cho hỏa bị vọng động.

 Ngao ngao thanh thậm bi, Anh nhi chi mộ Mẫu là hỏa không vọng động. Táo tính tiêu hoá, hỏa sẽ qui nguyên, thần sẽ y ư tính vậy.

Điên đảo tựu thang hoạch, tồi chiết thương mao vũ là luyện cho tới Vô kỷ. Tà hỏa sẽ tự giáng, Chân Thủy sẽ thượng thăng, Thủy Hoả huân chưng, khí chất sẽ biến hóa, tứ tượng sẽ hoà hợp. Cứ thế sẽ luyện được Đại Dược vậy.

[1] Các bài dịch Tham Đồng Khế thường có chua một con số. Đó là số thứ tự theo Bành Hiểu. Bành Hiểu chia TĐK làm 91 chương còn Lưu Nhất Minh không chia thành chương cú và không có thứ tự đúng như thế (xin xem trang 284)

*******************

Chương 4

Lậu Khắc

Hỏa Hầu

81. (tiếp) Lậu khắc vị quá bán hề,

(Tiết này dạy về Hoả Hầu)

Ngư lân áp liệu khởi,

Ngũ sắc tượng huyễn diệu hề.

Biến hoá vô thường chủ,

Nhu nhu đỉnh phí trì hề,

Bạo dũng bất hưu chỉ,

Tiếp liên trùng điệp luỹ hề,

Khuyển nha tương thác cự.

Hình tự trọng đông băng hề,

Lan can thổ chung nhũ.

Thôi ngôi nhi tạp xí hề,

Giao tích tương chi trụ.

82. Âm Dương đắc kỳ phối hề,

Đạm bạc nhi tương thủ,

Thanh long xử phòng lục hề,

Xuân hoa Chấn đông Mão.

Bạch hổ tại Ngang thất hề,

Thu mang Đoài Tây Dậu.

Chu Tước tại Trương nhị hề,

Chính Dương Ly Nam Ngọ.

Tam giả câu lai triều hề,

Gia thuộc vi thân lữ.

漏 刻 未 過 半 兮.

魚 鱗 狎 鬣 起 ,

五 色 象 炫 耀 兮.

變 化 無 常 主.

潏 潏 鼎 沸 馳 兮.

暴 涌 不 休 止.

接 連 重 疊 累 兮.

犬 牙 相 錯 距.

形 似 仲 冬 冰 兮.

蘭 玕 吐 鍾 乳.

交 積 相 支 柱.

崔 嵬 而 雜 廁 兮.

陰 陽 得 其 配 兮.

淡 泊 而 相 守.

青 龍 處 房 六 兮.

春 華 震 東 卯.

白 虎 在 昂 七 兮.

秋 芒 兌 西 酉.

朱 雀 在 張 二 兮.

正 陽 離 南 午.

三 者 俱 來 朝 兮.

家 屬 為 親 侶.

*******************

Tạm dịch:

Thời gian chưa quá nửa,

Mà Tiên Thiên Dương khí đã phát hiện.

Ngũ hành nhất khí,

Biến hoá vô cùng.

Dược khí vừa biến hoá,

Nên còn rất non yếu,

Dược khí từ non, đã tạm ngưng kết.

Do tụ rồi tán lại,

Nay đọng lại thành băng,

Do tạp nhi thuần,

Dược khí phản dương vậy,

Âm Dương đã quân bình,

Và đã hồn nhiên nhất khí,

Đạm bạc tương thủ lẫn nhau,

Thanh Long (Mộc) ở cung sao Phòng (Thuỷ),

Hoa xuân ở cung Chấn Đông Mão.

Bạch hổ (Kim) ở cung sao Ngang (Hoả),

Mùa Thu thì Âm khí vượng tại cung Đoài,

Chu Tước (Hoả) ở nơi sao Trương (Hoả) (Đó là Dương Cực Âm sinh),

Kim, Mộc, Thuỷ lai triều,

Sẽ kết thân với nhau.

*******************

Tiết trên nói về công trình gom góp Dược vật, tiết này chỉ rõ Hỏa hậu Kết Đơn chi dụng.

Đương Tứ Tượng hoà hợp, Ngũ hành toản thốc (hoà hợp), thế là đem dược vật cho vào Càn Đỉnh, kíp đem nhất điểm Chân Hỏa của Khôn Lô mà đoàn luyện nó. Trong khoảnh khắc, Ngũ hành sẽ hỗn hoà, Tiên Thiên chi Khí sẽ từ Hư Vô sinh xuất.

Cho nên nói: Lậu khắc vị quá bán hề, Ngư lân áp liệu khởi.

Ngư là vật trong nước, nói ví dụ là Tiên Thiên Dương Khí phát hiện. Lân áp liệu khởi là Tiên Thiên Dương khí. Được Chân Hoả huân chưng. Tượng cho sự bay nhảy biến hoá. Ngũ sắc huyền dược là Ngũ Hành Nhất Khí. Biến hoá vô thường, là tiềm dược bất túc vậy. Nhu nhu đỉnh phất trì, bạo dũng bất hưu chỉ là Dược khí vừa biến hoá nên còn non yếu vậy. Tiếp liên trùng điệp điệp, khuyển nha tương thố cự là Dược khí từ non đã từ từ ngưng kết vậy.

Hình tự trọng Đông băng, Lan Can thổ chung nhũ là do tán rồi tụ lại, và ngưng kết kiên cố. Thôi ngôi nhi tạp xí, Giao tích tương chi thụ là do tạp nhi thuần. Dược Khí đã phản Dương vậy. Âm Dương đắc kỳ loại, Đạm bạc nhi tương thủ là Âm Dương đã tương đương và đã hồn nhiên nhất khí.

 Dược chính là Hỏa, Hoả chính là Dược. Tự nhiên có Thiên Nhiên Chân Hoả. Lô trung rực rỡ luôn đỏ rực. Không cần phải điều hoà nữa. Chỉ cần Đạm Bạc Tương Thủ, Phòng Nguy, Lự Hiểm, Mộc Dục Ôn Dưỡng, để hành Vô Vi chi công. Thanh Long xứ Phòng lục, Xuân Hoa Chấn Đông Mão là Thanh Long tượng Mộc.

Phòng là Sao Phòng, là sao thuộc Thủy. Số sáu là số của Nước. Mộc cư Thủy địa. Mộc có Thủy nên được dưỡng nuôi. Mùa Xuân thì Dương Khí vượng hành. Bạch Hổ tại Ngang thất, Thu mang Đoài Tây Dậu là Bạch Hổ tượng Kim. Ngang là sao thuộc Hỏa. Thất là số của Hoả. Kim cư Hoả vị, Kim được Lửa nên chiếu sáng.

Thu thì Âm Khí vượng. Chu Tước tại Trương nhị, Dương Ly chính Ngọ là Chu Tước có tượng Hoả. Trương là sao của Hoả. Nhị là Sinh Số của Hỏa. Hoả cư Chính Nam Ngọ, ở giữa Kim và Mộc. Đó là Dương Cực Âm sinh chi xứ. Tượng Hạ Chí, nơi giao tiếp Âm Dương, là nơi luyện độ Hình Đức vậy.

Kim Mộc Thủy tam giả lai triều. Đơn đỉnh kết thành Thân lữ.

Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hỏa sinh Kim, Kim sinh thủy, tuy là Ba nhưng có đủ Khí của Tứ Tượng. Trong đỉnh có đủ Tứ Tượng. Tự phanh, tự luyện, Thánh thai vô chất sẽ sinh Chất, Vô Hình sẽ sinh Hình, biến hoá thật tự nhiên vậy.

Nội dược là Thiên Nhiên Chân Hỏa chi pháp tượng. So với Bạch hổ thương dịch Chu tước không giống nhau.

Trên kia nói bên ngoài, nơi đây nói bên trong. Ngoại là Hậu Thiên phản Tiên Thiên. Nội là đã phản hồi Tiên Thiên nay lại Xuất ư Thiên Nhiên. Thế là Nội Ngoại hỏa hầu có phân biệt nhau. Học giả nên coi chừng điểm này.

*******************

Chương 5

Bản Chi

Âm Dương, Tam Ngũ

82. (tiếp) Bản chi đãn nhị vật hề,

Mạt nhi vi Tam Ngũ,

Tam Ngũ tịnh dữ Nhất hề,

Đô tập qui nhất sở.

Trị chi như thượng khoa hề.

Nhật số diệc thủ phủ,

83. Tiên Bạch nhi hậu Hoàng hề,

Xích hắc đạt Biểu Lý,

Danh viết Đệ Nhất Đỉnh hề.

Thực như Đại Thử Mễ.

Tự nhiên chi sở vi hề,

Phi hữu tà ngụy đạo.

Sơn trạch khí tương chưng hề,

Hưng Vân nhi vi vũ,

Nê kiệt toại thành trần hề,

Hỏa diệt hoá vi thổ,

Như nghiệt nhiễm vi hoàng hề.

Tự lam thành lục tổ,

Bì thảo chử thành giao hề,

Khúc nghiệt hoá vi tửu,

Đồng loại dị thi công hề,

Phi chủng nan vi xảo.

Duy tư chi diệu thuật hề,

Thẩm đế bất cuống ngữ,

Truyền dữ ức hậu thế hề,

Chiếu nhiên tự khả khảo.

Hoán nhược tinh kinh Hán hề.

Bính như thủy tông hải.

Tư chi vụ lịnh thục hề,

Phản phúc thị thượng hạ,

Thiên chu xán bân bân hề,

Vạn biên tương khả đổ,

Thần minh hoặc cáo nhân hề,

Tâm linh sạ tự ngộ.

Thám đoan sách kỳ tự hề,

Tất đắc kỳ môn hộ,

Thiên đạo vô thích mạc hề,

Thường truyền dữ hiền giả.

本 之 但 二 物 兮 ,

末 而 為 三 五 ,

三 五 並 與 一 兮 ,

都 集 歸 一 所 .

治 之 如 上 科 兮 .

日 數 亦 取 甫 ,

先 白 而 後 黃 兮 ,

赤 黑 達 表 裏 ,

名 曰 第 一 鼎 兮 .

食 如 大 黍 米 .

自 然 之 所 為 兮 ,

非 有 邪 偽 道 .

山 澤 氣 相 烝 兮 ,

興 雲 而 為 雨 ,

泥 竭 遂 成 塵 兮 ,

火 滅 化 為 土 ,

如 蘗 染 為 黃 兮 .

似 藍 成 綠 組 ,

皮 草 煮 成 膠 兮 ,

麴 蘗 化 為 酒 ,

同 類 易 施 工 兮 ,

非 種 難 為 巧 .

惟 斯 之 妙 術 兮 ,

審 諦 不 誑 語 ,

傳 與 億 後 世 兮 ,

照 然 自 可 考 .

煥 若 星 經 漢 兮 .

昺 如 水 宗 海 .

思 之 務 令 熟 兮 ,

反 覆 視 上 下 ,

千 周 燦 彬 彬 兮 ,

萬 遍 將 可 睹 ,

神 明 或 告 人 兮 ,

心 靈 乍 自 悟 .

探 端 索 其 緒 兮 ,

必 得 其 門 戶 ,

天 道 無 適 莫 兮 ,

常 傳 與 賢 者 .

Chú thích:

Tịnh dữ nhất: Có bản ghi: Vi nhất. Có bản ghi: Nguy nhất.

Hoặc cáo nhân: Có bản ghi: Hốt cáo nhân.

*******************

Tạm dịch:

Mới đầu chỉ có Hai Vật (Âm Dương),

Sau hoá thành ba (Tam Ngũ),

Tam Ngũ hợp thành Nhất khí,

Đều qui về một nơi.

Mới đầu Trắng, sau thành màu vàng,

Đỏ Đen thấu trong ngoài.

Thế là Đại Nhất Đỉnh,

To như hạt vừng lớn.

Tự nhiên là như vậy,

Không phải Đạo tà ngụy.

Sơn trạch khí tương thông,

Mây nổi nên thành mưa.

Bùn khô thành bui đất,

Lửa tắt hoá thành đất,

Men đổi thành màu vàng,

Màu Lam biến màu lục.

Da nấu lên thành keo,

Men rượu biến thành rượu,

Đồng loại dễ thi công,

Không đồng loại không nên công.

Diệu thuật là như vậy,

Đó là khẩu quyết,

Truyền cho muôn đời.

Rực rỡ dễ kiểm soát,

Sáng láng như nước chảy ra bể.

Hãy suy nghĩ cho chín chắn,

Hãy nhìn kỹ dưới trên,

Sẽ thấy mọi sự dễ dàng,

Khi Thần minh muốn dạy người,

Thì Tâm Linh sẽ tự ngộ,

Hãy tìm cho ra mối manh,

Sẽ thấy rành cửa ngõ.

Thiên Đạo rất vô tư,

Thường truyền cho Hiền Giả.

*******************

Tiết này tổng kết toàn thiên đại ý:

Kim đơn chi đạo là Đạo của Âm Dương, Ngũ Hành. Mới đầu thì hoà hợp Âm Dương để thành hoàn đơn. Cuối cùng là Tam Ngũ qui nhất, để thành Thánh Thai.

Cho nên nói: Bản chi đãn nhị vật hề, Mạt nhi vi Tam Ngũ. Tam ngũ hoà hợp nhau, thành Nhất khí. Thế là Đại Đạo thành vậy.

Nhưng đạo Tu Đơn thì Hái Thuốc có thời, phanh luyện có phép, hoả hầu có số. Công phu chưa tới chưa thể hoàn thành.

Cho nên trước phải Hắc Trung Thủ Bạch để làm Đơn Mẫu. Sau đó phải dùng Trắng chế mầu vàng, để kết Thánh Thai. Đỏ là Lửa, đen là Nước. Đó là Nhị Dược trong ngoài. Kim Đơn chi đạo tuy nói là Thuốc có trong ngoài, nhưng công phu phanh luyện Thủy Hỏa, chưa tới 10 tháng mà thai đã thành, không được hưu kiệt (sao lãng công phu). Mới đầu là Luyện Kỷ, sau là Luyện Dược. Cuối cùng là Ôn Dưỡng. Chung thủy nội ngoại toàn dựa vào Thủy Hỏa để Thu Công. Cho nên nói: Xích hắc đạt biểu lý. Ý nói công phu bất đáo bất phương viên vậy.

Nói là Đệ Nhất Đỉnh là Nhất thừa pháp, cái gì là hai thì không phải là thực vậy. Thực như đại mễ châu là Đơn thành Cửu chuyển thì gọi là Thử Mễ Chi Châu. Người nào ăn được, sẽ thọ cùng trời đất, trường sinh bất lão. Ngọc Châu từ Hư Không kết tựu, khác hẳn mọi vật, đó là Âm Dương tự nhiên giao cảm chi khí mà thành; không phải là Lô Hỏa Thái Chiến tất cả các tà thuật đó. Cưỡng nữu, cưỡng niết, đều vô ích mà thôi.

Đến như Sơn Trạch thông khí nhi vi vũ. Nê thủy kiệt cạn nhi thành trần. Hỏa kiệt sinh Đất, Nghiệt nhiễm thành Hoàng, dĩ Lam thành Lục, do Da thành Keo, do men thành rượu, đều do tự nhiên mà ra. Tại sao vậy? Vì loại của chúng tương đồng nên dễ thi công. Nếu hai bên không ăn ý với nhau, mà muốn trồng đá thành lúa, leo cây bắt cá thì chỉ phí công mà thôi.

Đại để con người sinh ra nếu không có tinh huyết của cha mẹ phàm tục thì ảo thân không thành, nếu không có Âm Dương của Linh Phụ Linh Mẫu thì không có Pháp Thân. Ảo thân, Pháp Thân đều do Âm Dương mà thành tựu. Chẳng qua là vì Thuận Nghịch bất đồng nên mới phân Phàm Thánh. Tất cả thường nhân chỉ biết có lẽ Thuận Hành Âm Dương. Đến như phép Nghịch Dụng, thì vạn người may mới có một người biết.

Tham Đồng chi đạo, thần diệu xiết bao! Nó lập ngôn ở chỗ dùng thuật Âm Dương. Nó lý sự chính đáng, đạo lý nó sâu xa, lập trường nó vững chãi. Nó không phải là cái gì huyền hư, là tà thuyết không thực tế. Nó là con đường tu đạo của vạn thế, là bờ bến của tính mệnh. Học thuyết nó sáng sủa, sáng láng như sao trên giải Ngân Hà, nó toát lược hay như vạn thuỷ triều tông. Học giả nếu chịu suy tư cùng lý, thám đoan sách tự, lâu ngày sẽ được thần minh điểm cáo, tâm linh sẽ được giác ngộ, sẽ tìm ra cửa ngõ, vào được nghĩa lý vậy.

Thiên đạo vô tư, thường truyền cho các bậc hiền tài, vì Đạo là điều quí báu của Trời Đất, không phải người đại trung đại hiêú thời không truyền, không phải đại đức, đại hạnh thời không trao. Nếu quả là người hiền đức thì có bao giờ lại không chịu truyền trao?

Tham Đồng Khế trực chỉ tam tướng loại thượng thiên chung. (hết phần thượng thiên của tam tướng loại)

*******************

THAM ĐỒNG KHẾ TAM TƯỚNG LOẠI — HẠ THIÊN

參 同 契 直 指 三 相 類 下 篇

Đông Hán Thúc Thông, Thuần Vu Chân Nhân soạn

東 漢 叔 通 淳 于 真 人 撰

Thê Vân Sơn, Ngộ Nguyên Tử, Lưu Nhất Minh giải

棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 解

Ảo Thụ Tam Canh, Hạ Đắc Bằng khan tử

媼 樹 三 庚 賀 得 朋 刊 梓

Hậu Học Tiêu Nam Phổ trùng khan

後 學 蕭 南 浦 重 刊

Hạ thiên

下 篇

Đỉnh Khí Ca

鼎 器 歌

Tóm tắt về phép Luyện Đơn:

Viên tam ngũ, thốn nhất phân, Khẩu tứ bát, lưỡng thốn thần.

圓 三 五, 寸 一 分, 口 四 八, 兩 寸 唇.

Tạm dịch: Tròn ba năm, qui về Nhất thốn. Khẩu bốn tám, Môi 2 thốn.

(Tròn là Viên, là Đại Dược. Xem bài thơ 18, trong q. I, Ngộ Chân trực chỉ «Tam ngũ nhất đô tam cá tự»).

(Mồm là Phương là Biến Hoá. 4+ 8+ 2 = 14. 14 là trăng chưa tròn, ý nói tu luyện không nên đi tới Kháng Dương. Xem quẻ Tiểu Súc, hào Thượng)

Bài này tuy có tên là Đỉnh khí ca, nhưng Dược Vật, Hỏa Hầu đều có đủ trong đó.

Viên là Bất Thiên, Bất ỷ, hoạt hoạt bát bát. Còn gọi là Doãn chấp quyết Trung. Tam là sinh số của Mộc, Ngũ là sinh số của Thổ. Nhất là sinh số của Thủy.

Nhất, Tam, Ngũ đều là Dương số. Cho nên gọi là Tròn.

Mồm hình vuông. Phương là biến hoá, tài chế, tùy thời vận dụng chi vị.

Tứ là sinh số của Kim. Bát là thành số của Mộc. Nhị tứ, bát đều là Âm số. Cho nên gọi là Khẩu.

Khẩu là Hô Hấp, xuất nhập chi đạo. Một Hô là Dương là Thân, Chủ sinh, Tượng Bát Mộc. Nhất Hấp, là Âm là Khuất, Chủ Thu. Tượng Tứ Kim. Môi gồm trên dưới 2 miếng, chủ Động. Thần động thì Khí Hư (hà hơi). Tượng nhị sinh Hoả. Nhất, Tam, Ngũ là Dương Hỏa, thuộc Trời. Thiên tượng Tròn, là Kiền Đỉnh. Nhị, Tứ, Bát là Âm Số. Thuộc đất. Đất hình vuông, là Khôn Lư.

Viên chủ Hạp, phương chủ Tịch. Lấy Viên làm thể, lấy phương làm Dụng. Lấy Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, toản thốc nhất khí làm chuẩn tắc, đỉnh Khí do thế mà thành vậy.

*******************

Trường xích nhị, hậu bạc quân.

長 尺 二, 厚 薄 均.

Tạm dịch: Dài tấc hai, hãy quân bằng dày mỏng.

(Tấc 2 là 12 phân tượng trưng 12 tháng)

Trường Xích nhị là 12 thốn. Trong một năm thì là 12 tháng. Trong một tháng thì gọi là 12 hầu. Trong một ngày thì gọi là 12 giờ. Hậu là nhiều, Bạc là ít. Quân là tương đình.

Lấy Niên, Nguyệt, Nhật thời, lục Âm, lục Dương, tiến thoái chi tiết, làm Âm Hỏa Dương Phù điều đình chi độ số vậy.

Phúc tề tam, tọa thùy ôn.

腹 齊 三, 坐 垂 溫.

Tạm dịch: Ở trong bụng 3 ngày, ngồi yên cho ấm tới. (Mồng 3 quẻ Chấn tới sẽ đem lại sức nóng của Dương).

Phúc là đỉnh phúc (ruột đỉnh) để chứa thuốc. Tam là Tinh Khí Thần đại dược. Phúc tề tam là tinh khí thần tam dược tề bị. Cho nên Dịch nói: Đỉnh hữu thật là vì vậy. Thế là ngồi chẳng động chẳng lay vậy. Thùy là trầm tiềm sung mãn. Ôn là Sung hoà. Tọa thùy Ôn là Tinh Khí Thần ngưng tụ nhất xứ, thường trầm tiềm sung hoà, nhất ý bất tán.

Đạo Đức Kinh nói: Đạo xung nhi dụng chi 道 沖 而 用 之.

Vậy:

Âm tại thượng, Dương hạ bôn.

陰 在 上, 陽 下 奔.

Tạm dịch: Âm ở trên, Dương ở dưới.

Âm là Thủy, tượng Khôn. Trong đồ có nước. Dương là hỏa, tượng Kiền. Trong Đỉnh có Lửa. Thủy ở trên, Lửa ở dưới. Thủy hỏa phanh tiễn. Hỏa bất táo, thủy bất hàn, Thuỷ Hỏa Tương tế, Tinh dưỡng Thần nhi Thần cố tinh vậy.

*******************

Thủ Vĩ Vũ, trung gian Văn. Thủy thất thập, chung tam tuần, nhị bách lục. Thiện điều quân.

首 尾 武, 中 間 文. 始 七 十, 終 三 旬, 二 百 六. 善 調 勻.

Tạm dịch: Đầu và cuối dùng Vũ Hoả, giữa thì dùng Văn Hoả, Mới đầu là 70, giữa là 30, còn 260 ở giữa thì điều hoà cho khéo (70+ 30+ 260 = một năm 360 ngày.)

Công phu lúc đầu và lúc cuối thì phải mạnh, giữa chừng thì khoan hoà. (Âm trên dương dưới là Thuỷ Hoả Ký tế, là Âm Dương giao Thái.)

Tu đơn chi công, trước phải luyện Vũ Hoả để Luyện Kỷ. Sau cùng phải dùng Văn hỏa để Ôn Dưỡng. Vì Luyện Kỷ chưa thành thục, thì Hoàn Đơn không ngưng kết; Ôn Dưỡng không đủ thì Thánh Thai bất thành. Còn ở trung gian ngưng kết Thánh Thai, chỉ cần dùng ít nhiều công phu văn hỏa, thì Tạo Hóa sẽ tới tay.

Cho nên nói: Thủ vĩ Vũ, trung gian Văn. Nhưng Vũ Hỏa nơi thủ vĩ, cũng nên phân biệt. Kim Đạo lấy luyện kỷ làm đầu, lấy Ôn Dưỡng làm cuối. Nhân tâm con người từ lâu đã phóng đãng, tính hư tích tập đã dày, thật là cái hại lớn cho công việc tu hành vậy. Rất khó mà hàng phục được. Luyện kỷ phải luyện tới độ Vạn hữu giai không, nếu không Đơn khó mà thành. Vũ hỏa chi công đó thật đa dạng.

Khi đơn đã kết xong, thì phải phòng nguy, lự hiểm, mộc dục ôn dưỡng, nếu có chút biếng lười, thì thánh thai thành rồi cũng hư. Chính vì thế mà cũng dùng Vũ Hỏa. Tuy cũng dùng Vũ Hỏa, nhưng khi sau mười tháng, thai đã hoàn bị, thì phải nghỉ ngay.

So với luyện kỷ chi công thời ít hơn. Ví như 100 ngày, Dùng 70 ngày Vũ Hỏa để Luyện Kỷ, 30 ngày Vũ Hỏa để Ôn Dưỡng. Còn dư 260 ngày, thì cũng phải điều quân hỏa hầu, không được sai sót. Cho nên Tiên Ông theo chu kỳ mặt trời là 360, sánh công dụng của đơn đạo hỏa hầu, chứ không phải lấy 360 ngày làm số ngày của Hỏa Hầu. Các học giả nên tường biện.

Âm hoả bạch, hoàng nha diên. Lưỡng thất tụ, phụ dực nhân.

陰 火 白. 黃 芽 鉛. 兩 七 聚, 輔 翼 人.

Tạm dịch: Âm Hoả trắng, Dương hoả là Hoàng Nha Diên (Âm hoả sinh dược, Dương hảo thành dược.) Hai bảy tụ (2 là sinh số của Hoả, 7 là thành số của Hoả). Đều giúp người.

Âm hoả là Hống Tính chi hỏa. Dương hỏa là Diên Tình chi hỏa. Lưỡng (hai) là Sinh Số của hỏa. Thuộc Âm. Thất là Thành số của Hỏa, thuộc Dương. Khi nội dược hợp với Đơn đầu chi tế, dùng Nhất điểm Hư Linh chi hỏa, để đoàn luyện Diên Tình. Hắc trung sinh Bạch. Hư Thực sinh quang.

Cho nên nói: Âm Hỏa bạch. Hoàng Nha diên bạch là vì còn có Âm Chất. Hoàng là Âm tận Dương thuần vậy. Long Hổ Kinh nói: Khiết bạch kiến bửu, khả tạo Hoàng Dư. Hoàng Bạch chi nghĩa, chính là trong ngoài một lửa, 1 sinh 1 thành, mới đầu là Âm Hỏa sinh Dược, rồi đến Dương Hỏa thành Dược.

Hai khí Âm Dương tương tụ, từ sống đến chín. Chân nhân khí tụ thì thần toàn. Chờ giờ phi thăng. Cho nên nói: Phù dực nhân. Phù dực là phù trợ mà đi vậy. Nhân là Thánh Thai chi Chân Nhân. Ý nói: Dùng Âm Dương nhị khí mà thành toàn thánh thai vậy.

*******************

Thiệm lý não,
định thăng huyền,
tử xứ trung,
đắc an tồn,
lai khứ du,
bất xuất môn,
tiệm thành đại.

Tính tình thuần,
khước qui Nhất.

Hoàn Bản Nguyên.
Thiện ái kính,
như Quân Thần,
chí nhất chu,
thậm tân cần.

Mật phòng hộ,
mạc mê hôn,
lộ đồ viễn,
phục u huyền,
nhược đạt thử,
hội Càn Khôn,
đao khuê chiêm,
tịnh phách hồn,
đắc trường sinh,
cư tiên thôn.

贍 理 腦, 定 昇 玄, 子 處 中, 得 安 存, 來 去 遊, 不 出 門, 漸 成 大. 性 情 純, 卻 歸 一.還 本 元. 善 愛 敬, 如 君 臣, 至 一 周, 甚 辛 勤. 密 防 護, 莫 迷 昏, 路 途 遠, 復 幽 玄. 若 達 此, 會 乾 坤, 刀 圭 霑, 淨 魄 魂, 得 長 生, 居 仙 村.

Tạm dịch:

Hãy dưỡng nuôi óc chất,

Hãy tu tập định tĩnh.

Thánh thai trong người, Sẽ an toàn.

Qua lại ngao du,

Không ra khỏi cửa, dần dần lớn khôn.

Tính tình thuần, sẽ qui nhất,

Trở về bản nguyên.

Sẽ kính yêu nhau, như quân thần.

Hết một vòng, càng cẩn thận,

Phải đề phòng cẩn mật,

Không được hôn mê,

Đường sá xa xôi,

Lại rất u huyền,

Nếu đạt tới đây,

Sẽ khiến Kiền Khôn hợp nhất.

Sẽ thành Đơn.

Hồn phách sạch,

Được trường sinh,

Vào làng Trời.

*******************

Tu Chân chi đạo là đạo Cùng lý, Tận Tính dĩ chí ư Mệnh.

Nếu không tu Mệnh, làm sao có thể Dưỡng Tính.

 Mệnh là những chuyện liên quan đến Sắc Thân.

Tính là những chuyện liên quan đến Pháp Thân.

Tu mệnh chưa xong, thì Sắc Thân khó lìa, tu tính chưa xong thì Pháp Thân khó thoát.

Tiên kinh nói:

Chỉ tu Mệnh, bất tu Tính,
只 修 命 不 修 性

Thử thị tu hành đệ nhất bệnh.
此 是 修 行 第 一 病

Chỉ tu tổ Tính bất tu đơn,
只 修 祖 性 不 修 丹

Vạn kiếp Âm Linh nan nhập thánh.
萬 劫 陰 靈 難 入 聖

Tính mệnh song tu,
性 命 雙 修

Phương vi liễu đáng.
方 為 了 當

Trên đây nói: Lưỡng Thất tụ, phụ dực nhân.

Thánh thai đã ngưng kết, thì Mệnh Cơ kiên cố.

Từ đó cho thấy: Tu tính cốt để thoát Pháp Thân vậy.

Đoạn trên đây nói về Tu Tính. Tu Tính là Công Phu diện bích, xuất thần.

Diện Bích không phải là là Tĩnh Tọa. Đó là Đối Cảnh vong tình, không còn Hữu Vô, Vạn vật đều không. Như quay mặt vào tường, không còn thấy cái chi. Bàng Môn gọi tĩnh tọa là Diện bích, như vậy đâu có hiểu gì là Diện Bích.

Tu tính là diện bích chi lý.

*******************

Thiệm lý não giả. Thiệm là Dưỡng.

Lý là Tính vậy. Óc ở chỗ cao nhất trong con người, ở sau đầu. Ở chỗ tai mắt nghe nhìn không tới được. Thế là Dưỡng tính.

Dưỡng Tính phải tới nơi thanh sắc câu hoá, không vô sở không, tới chỗ chí tĩnh, mới là cùng cực công phu.

Bởi vì Tu Đạo mà không tới được chỗ chí tĩnh, thì chẳng những Dương Thần không hiện ra được, mà Âm Thần cũng không hiện ra nổi.

Nếu mà Dưỡng Tính tới được chỗ Cực Tĩnh, thì Tính Mệnh đều tu xong, hình thần đều hoàn mỹ, tới kỳ sẽ thoát hoá, nhất định sẽ lên tới Huyền Đô, tức như Phật Tổ đã nói: Ta vì ngươi sẽ bảo đảm chuyện này, quyết định sẽ thành tựu.

Nhưng khi chưa tới kỳ thoát hóa, thì không nên vội mà phải ôn dưỡng.

Cho nên nói: Tử Xứ trung, đắc an tồn. Tử là Thánh Thai, là Pháp Thân.
Đương lưỡng thất tụ, phụ Dực Nhân. Thế là Thánh Thai hoàn toàn. Như con trong bụng mẹ, rất là an ổn mà chờ thời vậy. Khi thời cơ đã đến, thì cứ theo tự nhiên mà tới lui.

Nhưng Pháp Thân tuy có thể khứ lai, xuất nhập, thì cũng không được rời xa thân xác mà đi chơi xa. Khi dần dần đã già dặn rồi, khi tính tình đã thuần nhất rồi, khi nguyên bản đã kiên cố rồi, thì mới được đi chơi xa. Không hôn không mê, khoảnh khắc đã đi nghìn dặm.

Tụ thời thành hình, tán thời thành Khí vậy. Ái kính như quân thần hết lòng hộ trì nhau vậy. Tân cần chí nhất chu, sợ bị hôn mê vậy. Như vậy là Đạo đã tới mức thân ngoại hữu thân vậy.

Khi tới được chỗ Bất Sinh, Bất diệt, tuy rằng đường đi u viễn, huyền nhi hựu huyền, không có cùng tận.

Nếu lại an Lô, lập Đỉnh lại, thì Con sẽ sinh Cháu, cháu sẽ sinh Chi. Biến hóa vô cùng, không sao lường được.

Nếu các học giả hiểu được công án trên đây, thì đất trời cũng dễ gặp, Sao khuê có thể ăn được. Khi hồn phách đã Tĩnh, thì sẽ được trường sinh và sẽ ở Tiên Thôn. Chắc là có được như vậy.

*******************

Lạc đạo giả, tầm kỳ căn, Thẩm Ngũ Hành, định thù phân, đế tư chi, dĩ tu luận. Thâm tàng thủ, Mạc truyền văn. Ngự Bạch hạc, Giá Long Lân, Du Thái Hư, yết Tiên Quân, Thụ Đồ Lục, Hiệu Chân Nhân.

樂 道 者, 尋 其 根, 審 五 行, 定 銖 分, 諦 思 之, 不 須 論. 深 藏 守, 莫 傳 文. 御 白 鶴, 駕 龍 麟, 游 太 虛, 謁 仙 君, 受 圖 箓, 號 眞 人.

Tạm dịch:

Người yêu Đạo,

Tìm căn nguyên,

Xem xét Ngũ Hành,

Định cân lượng.

Suy nghĩ kỹ càng,

Không biện luận nhiều,

Hãy giữ kín,

Không viết thành văn,

Cưỡi bạch hạc,

Cưỡi lân rồng,

Chơi nơi Thái Hư,

Yết Thiên Quân,

Ghi tên vào Tiên Tịch,

Và gọi là Chân Nhân.

Thế gian có nhiều kẻ tu mù quáng.

Hoặc là Tịch Diệt Thủ Không.

 Hoặc Khuê Đơn tà hành.

 Hoặc Lô Hỏa Phục Thực,

Hoặc Bàn Tinh, Vận Khí.

Tất cả đều không biết Căn Bản của Tính Mệnh.

Cho nên người tu đạo thì đông như Lông Trâu, thành đạo thì ít như Lân giác.(sừng con lân)

Tiên Ông từ bi, đề xuất ra 2 chữ Tầm Căn, để thức tỉnh con người. Căn là Tiên Thiên Hư Vô chi nhất khí. Nhất thời sinh thiên, sinh địa, sinh vạn vật. Đó là gốc gác của Đạo. Người học Đạo, năng tri kỳ Nhất tắc vạn sự tất. Người tu đạo, năng đắc kỳ Nhất nhi Kim Đơn kết.

*******************

Muốn tìm căn bản, phải mau tìm được thày để cho khẩu quyết, lại phải hiểu thế nào là Ngũ Hành sinh khắc, và toản thốc (gom góp lại) ra sao. Thù Lạng của Đơn vật, phân số của Hỏa Hầu.

Khi đã biết khẩu quyết, sẽ hiểu được Diệu quyết. Khi đã hiểu ý phải quên lời. Người đại trí giống như kẻ ngu si, người thợ giỏi y như người thợ vụng. Cứ thế thi hành.

Khi ba nghìn công đã đầy đủ, tám trăm hành đã toàn vẹn, thì sẽ giá hạc, thừa lân, bạch nhật phi thăng. Gọi là Chân Nhân.

Thuốc men họ ra sao? Tiên Ông đã bổ tắc những gì sai sót. Viết Tam Tướng loại thượng hạ nhị thiên.

Thượng Thiên bàn về Hoàn Đơn Đại Đơn, Nội Ngoại nhị dược, và tầng thứ điều hoà chúng.

Hạ Thiên bàn về Đỉnh Khí vận hỏa, các tầng lớp, từ đầu đến cuối.

Cả 2 thiên lời lẽ hết sức giản dị, lý lẽ hết sức minh bạch, cách dạy hết sức tường tận, sự việc rất là tề chỉnh.

Tổng kết đại ý Tham Đồng, viết thành sách này. Tất cả đều là những gì Tham Đồng chưa từng nói tới. Vì thế gọi là Bổ Tắc Di Thoát. Nghĩa là Thêm những gì Tham Đồng còn thiếu, lấp kín lại những gì còn thất thoát.

Có Tam Tướng loại, mà Tham Đồng mới đầu cũng không có chỗ thất thoát. Tiên Ông không chú Tham Đồng, nhưng thực ra đã thành toàn cho Tham Đồng, đã theo người trước, chỉ cho người sau vậy. Đâu dám nông cạn.

HẾT

PHỤ LỤC

TOÀN VĂN CHỮ HÁN

參同契直指三相類

三相類原序

 參 同契者,敷陳梗概,不能純一,氾濫而說,纖微未備,闕略彷彿。今更撰錄,補塞遺脫。潤色幽深,鉤援相逮,旨意等齊,所趨不悖,故復作此,命三相類。大易性 情,各如其度。黃老用究,較而可御。爐火之事,真有所據。三道由一,俱出徑路。枝莖花葉,果實垂布,正在根株,不失其素。誠心所言,審而不誤。
 
參同契直指三相類上篇

東漢叔通淳于真人撰
棲雲山悟元子劉一明解

 三相者,一相大《易》性情,一相黃老之術,一相爐火之事。三道由一,故名三相類。類者,亦契合之義。

上篇

 法象莫大乎天地兮,玄溝數萬里。河鼓臨星紀兮,人民皆驚駭。昝影妄前卻兮,九年被凶咎。皇上覽視之兮,王者退自改。關鍵有低昂兮,害氣遂奔走。江河之枯竭兮,水流注於海。

 金丹之道,最幽最深,至神至妙,暗合乾坤,默通造化,能以有形入無形,以無象生有像。故古來仙真,上觀天符,下察地理,竊陰陽,奪造化,保命全形,完成大 道也。仙翁首以天地示法象者,蓋以大道無形,而天地有像,即有以形無,即實以示虛。而虛無之道,昭昭乎見於象矣。象者,比象,言此物象彼物也。法者,傚 法。法象者,傚法此象也。天地之象,至大至顯,易見易知。試觀天地懸隔,不知幾萬餘里,地下之吉凶未起,而天上之變像已垂。上天之氣運稍錯,而地下之悔吝 即至。何以故?此感彼應,形相隔而氣相通也。
玄溝者,天下地上中空之處。以其闊大無邊,玄渺難測,故為玄溝。河鼓星紀,皆星名。河鼓臨於星紀之位,是不循度數;日之昝影,妄有前卻,是失其正道。二者 皆反其常。反常,則水旱災生,兵疫禍患之凶咎,未有不至者。故皇王見其象,而退居悔過,以挽天心。比之人生之初,性情純一,陰陽和合,及至二八,養為純陽 之體,是謂上德之人。當此之時,苟非天縱之聖賢,而能保此一點真陽之氣者,有幾人哉!一切世人,俱順行造化,陽極生陰,陰一生而先天變為後天。陽漸消,陰 漸長,恣情縱慾,棄真從假,所謂五行順行,法界火坑也。亦如星移本位,日昝妄行,凶咎立至者同也。若是至人,遠取諸物,近取諸身,行金丹有為之道,返本還 元。所謂五行顛倒,大地七寶,如皇王佔象御治,鼎新革故,變凶為吉,拔亂反治者同也。
關為門外之鐵關,鍵為門內之木鍵。有關鍵,而盜賊害氣自遠。道有關鍵,而陰魔邪怪自滅。何則關以防內,鍵以防外?防外者,防其外來之客氣;防內者,防其內 生之私慾。內外嚴密,則內念不出,外邪不入。陰漸退,陽漸長,四象可和,五行可攢。如江河眾水,朝宗於海,而不分派橫流。至聖云:「一日克己復禮,天下歸 仁焉。」正關鍵之妙旨,退改之效征也。

 天地之雌雄兮,徘徊子與午。寅申陰陽祖兮,出入復更始。循斗而搖光兮,執衡定元紀。
 搖光(一本搖招,搖非斗中之星,不能定元紀,應是搖光,今作搖光解)

 上言法象取乎天地,則是金丹之道、天地之道也。天地之道,一陰一陽之道。天為雄為陽,地為雌為陰。陽生於子,極於巳;陰生於午,極於亥。一日一夜,子午運 轉,是謂天地之雌雄徘徊於子午也。夏至日出於寅,入於戌,冬至日出於辰,入於申。夏至後日漸南,冬至後日漸北,終而復始,是謂寅申陰陽祖,出入復更始也。 搖光,乃北斗之標星,又名天罡星,又名破軍星。天罡所坐者凶,所指者吉。月建於子,則坐午指子,水旺而火衰;月建於午,則坐子指午,火旺而水衰。十二月皆 如是坐指,一歲一週天。北斗第六星為衡星,罡星在前,衡星在後,運四時而行造化,故日循斗而搖光兮,執衡定元紀。
 學者若能知的吾身陰陽發生之時,出入之度,扭轉罡星,斡回斗柄,則天關在手,地軸由心,因時採藥,勤功烹煉,復我先天原本,亦不難也。但此罡星,人不易 知,亦不易見,若非真師指示,誰敢饒舌?所謂「日月常加戌,時時見破軍。破軍前一位,誓願不傳人」。罡星一名破軍,破軍前一位,即所指之方。所指之方,有 先天真一之氣,乃生物之祖氣。古來仙真,皆采此一氣,而了命了性。所謂得其一萬事畢者,即此一氣也。丹經子書,不肯直指罡星為何物,一氣在何處者,恐為匪 人所得,有遭天遣耳。悟元子斗膽,今為祖師傳真寫神,稍露天機。若有志士見之,心知默會,此乃鬼神所示,非悟元之罪也。
 夫吾之真正罡星,不是別物,即道心之真知也。真知具有先天至陽之氣。此氣統陰陽,含五行,為性命之根,道德之源,藏而為真性,發而為真情,性也情也,皆是 至真之物。其分性情者,以動靜論之耳。此氣本來原是我家之物,因落後天,假陷其真。真知有昧,聰明外用,妄念內生,狐朋狗黨,真知變為假知,生氣化為殺 氣。先天之氣,不屬於我。如我家之物,走失他家,罡星坐於我,而指於他矣。今欲返還先天,須要在他家盜來。盜之之法,殺機中求生機,妄情中求真情。真情吐 而真知現,真知現而迴光返照。罡星指內而不指外,生氣收內而不散外,可以和四象,可以攢五行,可以了性命,可以完大道。但恐人無志氣,費不得心思窮理,下 不得功夫尋真,不得親見罡星耳。噫!可與知者道,難與不知者言也。

 升熬於甑山兮,炎火張設下。白虎導唱前兮,蒼液和於後。朱雀翱翔戲兮,飛揚色五彩。遭遇羅網施兮,壓之不得舉。嗷嗷聲甚悲兮,嬰兒之慕母。顛倒就湯鑊兮,摧折傷毛羽。

 既知造化權衡,須合四象五行。甑為藏水之器。甑山者,鼎也。炎火者,爐也。升熬於甑山者,水在上也。炎火張設下者,火在下也。水在上,火在下,以真一之 精,養虛靈之神,水火相濟也。白虎在西為金,為真情;青龍在東為木,為真性。蒼液,即木性之精,金情剛,木性柔,金本克木,木本畏金。白虎導唱前者,金情 戀木慈仁,推情而合性也。蒼液和於後者,木性愛金順義,以性而求情也。驅虎就龍,以龍就虎,性情相投,金木相併。朱雀者,火之象。四象之中,惟火最靈,其 性好飛,稍有觸犯,翱翔騰空,炫耀五彩,水火金木,皆受其傷。修丹者,須先將此一物,降伏馴順,方能濟事。遭遇羅網,施壓之不得舉者,盡煉己之功,懲忿室 欲,不使火之妄動也。嗷嗷聲甚悲,嬰兒之慕母者,火不妄動,燥性消化,火歸於源,神依於性矣。顛倒就湯鑊,摧折傷毛羽者,煉己煉到無己時,邪火下降,真水 上升,水火燻蒸,氣質俱化,四象和合,從此可以煉大藥矣。

 漏刻未過半兮,魚鱗狎鬣起。五色象炫耀兮,變化無常主。潏潏鼎沸馳兮,暴湧不休止。接連重疊累兮,犬牙相錯距。形似仲冬冰兮,瓓玕吐鐘乳。崔嵬而雜廁兮, 交積相支柱。陰陽得其配兮,淡泊而相守。青龍處房六兮,春華震東卯。白虎在昴七兮,秋芒兌西酉;朱雀在張二兮,正陽離南午。三者具來朝兮,家屬為親侶。

 上節言攢簇藥物之功,此節明結丹火候之用。當四象和合,五行攢簇,是已藥物入於乾鼎,急用坤爐中一點真火鍛鍊之。片刻之間,五行混化,先天之氣,自虛無中 生出。故曰漏刻未過半兮,魚鱗狎鬣起。魚為水中之陽物,喻先天陽氣發現。鱗狎鬣起,先天陽氣,得真火燻蒸,騰躍變化之象。五色炫耀者,五行一氣也。變化無 常者,潛躍不定也。潏潏鼎沸馳,暴湧不休止者,藥氣方化而弱嫩也。接連重疊累,犬牙相錯距者,藥氣由嫩而漸凝也。形似仲冬冰,瓓玕吐鐘乳者,由散而聚,凝 結堅固也。崔嵬而雜廁,交積相支柱者,由雜而純,藥氣返陽也。陰陽得其類,淡泊而相守者,陰陽相當,渾然一氣。藥即是火,火即是藥,自有天然真火,爐中赫 赫長紅,無容調和之力,須當淡泊相守,防危慮險,沐浴溫養,以行無為之功矣。青龍處房六,春華震東卯者,青龍,木之象;房者,水之星;六者,水之數。木居 水地,木得水而有養,春旺行陽氣也。白虎在昴七,秋芒兌西酉者,白虎,金之象,昴者,火之星;七者,火之數。金居火位,金得火而生明,秋旺運陰氣也。朱雀 在張二,正陽離南午者,朱雀,火之象;張者,火之星;二者,火之生數。火居正南午,在金木之間,陽極陰生之處。象夏至交接陰陽,煉度刑德者也。金木火三者 來朝,丹鼎結為親侶。水生木,木生火,火生金,金生水。雖三者,而具四象之氣。四象具於鼎中,自烹自煎,聖胎無質生質,無形生形,自然變化矣。此內藥天然 真火之法象,與前之白虎、蒼液、朱雀不同。前言其外,此言其內。外者後天中返先天,出於人力;內者已返回之先天,出於天然。此內外火候之別,學者須於此處 著眼。

 本之但二物兮,末而為三五。三五並與一兮,都集歸一所。治之如上 科兮,日數亦取甫。先白而後黃兮,赤黑達表裡。名曰第一鼎兮,食如大黍米。自然之所為兮,非有邪偽道。山澤氣相蒸兮,興雲而為雨;泥竭遂成塵兮,火滅化為 土;如蘗染為黃兮,似藍成綠組。皮革煮成膠兮,曲蘗化為酒。同類易施功兮,非種難為巧。惟斯之妙術兮,審諦不誑語。傳於億後世兮,昭然自可考。煥若星經漢 兮,昺如水宗海。思之務令熟兮,反覆視上下。千周燦彬彬兮,萬遍將可覩。神明或告人兮,心靈乍自吾。探端索其緒兮,必得其門戶。天道無適莫兮,常傳於賢 者。
 並與一(一本為一;一本危一);或告人(一本忽告人)

 此節總結全篇大意。夫金丹之道,乃陰陽五行之道。始而和合陰陽以成還丹,末而三五歸一,以成聖胎。故曰本之但二物兮,末而為三五。三五和諧,渾然一氣,大 道成矣。然修丹之道,採藥有時,烹煉有法,火候有數,功夫不到,未許完成。故先黑中取白以為丹母,次則以白造黃,以結聖胎。赤者為火,黑者為水。表裡者, 內外二藥也。金丹之道,藥雖有內外之別,而水火烹煉之功,不到十月胎完之後,不得休歇,始而練己,既而煉藥,終而溫養,始終內外,全賴水火收功。故日赤黑 達表裡,所謂功夫不到不方圓也。名曰第一鼎者,只此一乘法,余二皆非真也。食如大黍米者,丹成九轉,號曰黍米之珠,人得食之。壽與天齊,長生不老。此珠從 虛空中結就,離種種法,乃陰陽自然交感之氣而成,非爐火采戰等等邪偽之術,強扭強捏,無益有損者同也。且如山澤通氣而為雨,泥水竭干而成塵,火滅為土,蘗 染為黃,以藍成綠,以皮煮膠,以曲為酒,皆自為之為。此何以故?蓋其類相同,易於施功。若兩不相涉,欲以耕石種稻、緣木求魚,雖巧何用?太抵人生非凡父凡 母之精血,而幻身不成,非靈父聖母之陰陽,而法身難就。法身幻身,皆賴陰陽而成就,是不過順逆不同,聖凡有別耳。一切常人,只知順行陰陽,至於逆用之道, 萬中無一知者。《參同》之道,神矣,妙矣!其神妙者,在乎用陰陽之術以立言。其理切,其道大,乃腳踏實地之功夫,非懸虛不實之邪說,真萬世修道之階梯,性 命之津樑。其說詳明,煥若星之經漢;其理撮要,昺如水之朝宗。學者若能熟思諦審,探端素緒,久則神明默告,心靈乍悟,必得其門戶,而鑽入理窟矣。

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ * 悟 真 直 指

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ * 悟 真 直 指

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ * 悟 真 直 指

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ * 悟 真 直 指

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ — 悟 真 直 指

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ

悟 真 直 指

TỐNG TỬ DƯƠNG TRƯƠNG CHÂN NHÂN trước 宋 紫 陽 真 人 著

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN TỬ, LƯU NHẤT MINH chú 棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 註

CỬU DƯƠNG SƠN, ẤN CHÂN TỬ CHU KIM TỈ hiệu chính 九 陽 山 印 真 子 周 金 璽 校 正

Môn nhân XUNG HOÀ TRƯƠNG DƯƠNG TOÀN hiệu duyệt 門 人 沖 和 張 陽 全 校 閱

Hậu học LÝ TỬ VIÊN trùng khan 後 學 李 紫 垣 重 刊

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch chú

———————————

Quyển I

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ 悟 真 直 指

Ngộ Chân Thiên nguyên tự 悟 真 篇 原 序

Ngộ Chân Thiên hậu tự 悟 真 篇 後 序

TIỂU SỬ TRƯƠNG BÁ ĐOAN

THẤT NGÔN LUẬT THI THẬP LỤC THỦ DĨ BIỂU NHỊ BÁT CHI SỐ

七 言 律 詩 七 十 六 首 以 表 二 八 之 數

***

CHÁNH VĂN CHỮ HÁN

悟真直指

 

悟真直指敘
悟真篇原序
悟真篇後序

《悟真》直指卷一

  其一 其二  其三 其四 其五  其六 其七 其八
  其九 其十  十一 十二 十三  十四 十五 十六

《悟真》直指卷二

  其一:鼎爐   十七:五行   卅三:陰陽歸中 四九:內外二丹
  其二:鼎爐   十八:兩弦   卅四:沐浴   五十:陽精
  其三:偃月爐  十九:調和   卅五:文烹武煉 五一:返本
  其四:偃月爐  二十:調和   卅六:卦意   五二:慧劍
  其五:真鉛   廿一:龍虎   卅七:卦意   五三:調和性情
  其六:真鉛   廿二:煉己   卅八:庚甲   五四:漸頓
  其七:真鉛   廿三:煉己   卅九:元牝   五五:結丹至易
  其八:真鉛   廿四:煉己   四十:元牝   五六:
  其九:用鉛   廿五:金公   四一:性情   五七:盜機
  其十:不用鉛  廿六:姹女   四二:有為   五八:窮理
  十一:鉛汞   廿七:火候   四三:雌雄   五九:求師
  十二:虛無一氣 廿八:兩弦   四四:有無   六十:息機
  十三:坎離   廿九:採藥火候 四五:服丹   六一:止足
  十四:戊己   三十:抽添火候 四六:     六二:生殺
  十五:顛倒坎離 卅一:溫養火候 四七:丹自內結 六三:生殺
  十六:顛倒坎離 卅二:結胎火候 四八:藥自外來 六四:混俗和光

《悟真》直指卷三

  五言四韻一首,以象太乙含真氣
  西江月十二首,以象十二月
    其一 其二 其三 其四 其五 其六 其七 其八 其九 其十 十一 十二
  續添西江月一首,以象潤月
  七言絕句五首,以象金木水火土之五行
    其一 其二 其三 其四 其五

《悟真》性宗直指卷四

  絕句四首:其一 其二 其三 其四
  性地頌  生滅頌   三界惟心頌 見物便見心頌
  齊物頌  即心是佛頌 無心頌   心經頌
  無罪福頌 圓通頌   隨他頌   寶月頌
  採珠歌  禪定指迷歌 讀雪竇禪師祖英集歌
  戒定慧解
  西江月十二首
    其一 其二 其三 其四 其五 其六 其七 其八 其九 其十 十一 十二

附:讀《周易參同契》
附:贈白龍洞劉道人歌
附:石橋歌

悟真直指敘

  修真之道,窮理盡性至命之學也。故欲盡其性,必先窮其性之理;欲至其命,必先窮其命之理。能明其理,則真知確見,而不為假者所惑,可以盡性,可以至命。否則,不窮其理,是非罔辨,邪正不分,入於旁門曲徑,著空執相,非是修真,乃是務假。務假之學,與道日遠,適以自誤其性命,烏能修持其性命?此紫陽仙翁悟真篇之所由作也。其篇探幽索隱,鉤深致遠,遠取物,近取身,比象多端。原欲人人悟真,個個修真耳,無如後世愚迷之徒,不得真傳,執象泥文,妄猜私議,或目為閨丹,或認為燒煉,或疑為空寂,或涉於執相,大失仙翁度世之婆心。以往先覺註疏者,不無佳解,但佳則佳矣,仍是以象說象,以喻比喻,藏頭露尾,秘母言子,不肎分明道破,使學者茫然無知,究不得而悟之。非解悟真,乃述悟真也。噫!注愈多,理愈昧;書益廣,人益惑;正道日衰,邪道日盛;真學日埋,偽學日興,奇奇怪怪,無怪乎儒者目道教為異端也。余自聞龕谷香風,知此書為修道之理窟,成真之天梯,其性命根源、火候次序,無一不備。但為邪說掩蔽已久,如烏雲遮日,光輝不彰。余小子幸近門牆,不忍大道廢墜,爰是細心體貼,再三斟酌,將一切比喻法象,破為粉碎,去膚鞹而示肎綮,削枝條而露根蒂,從亂石堆裡拈出真寶,共諸同志,名曰悟真直指。非敢自謂得真,聊以救真云爾。
  時,大清嘉慶四年歲次己未中秋月望日,棲雲山素樸散人悟元子劉一明自序於自在窩中。    

悟真篇原序

  嗟夫!人身難得,光景易遷,罔測修短,安逃業報?不自及早省悟,惟只甘分待終,若臨歧一念有差,墮於三涂惡趣,則動經塵劫,無有出期。故老釋以性命學,開方便門,教人修煉,以逃生死。釋氏以空寂為宗,若頓悟圓通,則直超彼岸;如其習漏未盡,則尚循於有生。老氏以煉養為真,若得其要樞,則立躋聖位;如其未明本性,則猶滯於幻形。

  其次,《周易》有窮理盡性至命之辭,魯語有毋意必固我之說,此又孔子極臻乎性命之奧也。然其言之常略,而不至於詳者,何也?蓋欲序正人倫,施仁義禮樂之教。故於無為之道,未嘗顯言。但以命術寓諸《易》象,性法混諸微言耳。至於莊子「推窮物累逍遙之性」,孟子「善養浩然之氣」,皆切幾之矣。

  迨夫漢魏伯陽引《易》道陰陽交姤之體,作《參同契》以明大丹之作用,唐忠國師於語錄首敘老莊言,以顯至道之本末如此,豈非教雖分三,道乃歸一。奈何後世緇黃之流,各自專門,互相非是,致使三家宗要迭沒邪歧,不得混一同歸矣!且今人以道門尚於修命,而不知修命之法,理出兩端,有易遇而難成者,有難遇而易成者。如煉五芽之氣,服七耀之光,注想按摩,納清吐濁,唸經持咒,噀水叱符,叩齒集神,休妻絕糧,存神閉息,運眉間之思,補腦還精,習房中之術,以致服煉金石草木之類,皆易遇而難成。已上諸法,於修身之道,率皆滅裂,故施力雖多,而求效莫驗。若勤心苦志,日夕修持,止可以避病,免其非橫。一旦不行,則前功盡棄。此乃遷延歲月,事必難成。慾望一得永得,還嬰返老而變化飛昇,不亦難乎?其中惟閉息一法,如能忘機絕慮,即與二乘坐禪頗同。若勤而行之,可以入定出神。奈何精神屬陰,不免常用遷徒之法。既未得金汞返還之道,又豈能回陽換骨,白日而升天哉?

  夫煉金液還丹者,則難遇而易成,要湏洞曉陰陽,深達造化,方能追二氣於黃道,會三性於元宮,攢簇五行,和合四象,龍吟虎嘯,夫唱婦隨,玉鼎湯煎,金爐火熾,始得元珠有像,太乙歸真。都來片餉工夫,永保無窮逸樂。至於防危慮險,慎於運用抽添,養正持盈,要在守雌抱一,自然復陽生之氣,剝陰殺之形。節氣既交,脫胎神化,名題仙籍,位號真人,此乃大丈夫功成名遂之時也。近世修行之徒,妄有執著,不悟妙法之真,卻怨神仙謾語,殊不知成道者,皆因煉金丹而得,聖人恐洩天機,遂托數事為名。今之學者,有取鉛汞為二氣,指臟腑為五行,分心腎為坎離,以肝肺為龍虎,以神氣為子母,執津液為鉛汞,不識浮沉,寧分主賓,何異認他財為己物,呼別姓為親兒,又豈知金木相剋之幽微,陰陽互用之奧妙?是皆日月失道,鉛汞異爐,慾望結成還丹,不亦遠乎?僕幼親善道,涉躐三教經書,以至刑法書算、醫卜戰陣、天文地理、吉凶死生之術,靡不留心詳究。惟金丹一法,閱盡群經及諸家歌詩論契,皆云日魂月魄、庚虎甲龍、水銀丹砂、白金黑錫、坎男離女,能成金液還丹。終不言真鉛、真汞是何物色。不說火候法度、溫養指歸。加以後世迷徒恣其臆說,將先聖典教妄行箋注,乖訛萬狀,不惟紊亂仙經,抑亦惑誤後學。

  僕以至人未遇,口訣難逢,遂至寢食不安,精神疲勞。雖詢求遍於海岳,請益盡於賢愚,皆莫能通曉真宗,開照心腑。後至熙寧己酉歲,因隨龍圖陸公入成都,以夙志不回,初誠愈恪,遂感真人,授金丹藥物火候之訣。其言甚簡,其要不繁,可謂指流知源,語一悟百,霧開日瑩,塵盡鑑明,校之仙經,若合符契。因念世之學仙者,十有八九;而達其真要者,未聞一二。

  僕既遇真詮,安敢隱然,罄其所得,成詩九九八十一首,號曰《悟真篇》。內有七言四韻一十六首,以表二八之數;絕句六十四首,按《周易》諸卦;五言一首,以象太乙;續添西江月一十二首,以週歲律。其如鼎器尊卑、藥物斤兩、火候進退、主客後先、存亡有無、吉凶悔吝,悉備其中矣。於本源真覺之性有所未盡,又作為歌頌樂府及雜言等,附之於卷末,庶幾達本明性之道盡於此矣。所期同志者覽之,則見末而悟本,舍妄以從真。  

  時,熙寧乙卯歲旦,天台張伯端平叔序。

悟真篇後序

  竊以人之生也,皆緣妄情而有其身。有其身則有患;若無其身,患從何有!夫欲免夫患者,莫若體夫至道;欲體夫至道,莫若明夫本心。故心者道之體也,道者心之用也。人能察心觀性,則圓明之體自現,無為之用自成。不假施功,頓超彼岸。此非心鏡朗然,神珠廓明,則何以使諸相頓離,纖塵不染,心源自在,決定無生者哉!然其明心體道之士,身不能累其性,境不能亂其真,則刀兵烏能傷,虎兕烏能害,巨焚大浸烏足為虞?達人心若明境,鑑而不納,隨機應物,和而不唱,故能勝物而無傷也。此所謂無上至真之妙道也。

  原其道本無名,聖人強名;道本無言,聖人強言耳。然則名言若寂,則時流無以識其體而歸其真。是以聖人設教立言以顯其道,故道因言而後顯,言因道而返忘。奈何此道至妙至微,世人根性迷鈍,執其有身而惡死悅生,故卒難了悟。黃老悲其貪著,乃以修生之術,順其所欲,漸次導之。以修生之要在金丹,金丹之要在神水華池,故《道德》、《陰符》之教得以盛行於世矣,蓋人悅其生也。然其言隱而理奧,學者雖諷誦其文,皆莫曉其意,若不遇至人授之口訣,縱揣量百種,終莫能著其功而成其事,豈非學者紛如牛毛,而達者乃如麟角耶!

  伯端向己酉歲於成都遇師授丹法,自後三傳與人,三遭禍患,皆不癒兩旬,近憶師之所戒云:”異日有與汝解韁脫鎖者,當宜授之,余皆不許。”爾後欲解名籍,而患此道人不知信,遂撰此《悟真篇》,敘丹法本末。既出,而求學者湊然而來,觀其意勤,心不忍拒,乃擇而授之。然所授者,皆非有巨勢強力能持危拯溺、慷慨特達、能仁明道之士。初再罹禍患,心猶未知,竟至於三,乃省前過。故知大丹之法至簡至易,雖愚昧小人得而行之,則立超聖地,是以天意秘惜,不許輕傳於匪人也。而伯端不遵師語,屢洩天機,以其有身,故每膺譴患,此天之深戒如此之神且速;敢不恐懼克責。自今以往,當箝口結舌,雖鼎鑊居前,刀劍加項,亦無復敢言矣。

  此《悟真篇》中所歌詠大丹、藥物、火候細微之旨,無不備悉。倘好事者夙有仙骨,觀之則智慮自明,可以尋文解義,豈須伯端區區之口授。如此,乃天之所賜,非伯端之輒傳也。如其篇末歌頌,談見性之事,即上之所謂無上妙覺之道也。然無為之道,齊物為先,雖顯秘要,終無過咎。奈何凡夫,緣業有厚薄,性根有利鈍,縱聞一音,紛成異見,故釋迦、文殊所演法寶,無非一乘,而聽學者隨量會解,自然成三乘之差。此後若有根性猛利之士,見聞此篇,則知伯端得聞達摩、六祖最上一乘之妙旨,可因一言而悟萬法也;如其習氣尚餘,則歸中下之見,亦非伯端之咎矣。

  時,元豐改元戊午歲仲夏月戊寅日,張伯端平叔再序。

《悟真》直指卷一

宋張紫陽真人著

棲雲山悟元子劉一明解註

門人沖和張陽全校閱

九陽山印真子周金璽校正

後學李紫垣重刊

 

七言律詩十六首以表二八之數

  二八者,十六之數。按一月上弦,水中之金八兩,下弦,金中之水八兩,二八合為一斤。金水勻和,光輝不偏不倚,至中至正,丹法取此兩弦之象。修持大道者,蓋以陰中之陽為真陽,即上弦也;陽中之陰為真陰,即下弦也。陰中之陽,陽與陰和;陽中之陰,陰與陽和。真陰真陽相合,合而為一,是謂二八一斤,金丹成象。律詩十六首,表二八者,即表此也。

其一
不求大道出迷途,縱負賢才豈丈夫?
百歲光陰石火爍,一生身世水泡浮。
只貪利祿求榮顯,不顧形容暗悴枯。
試問堆金如岱岳,無常買得不來無?

不顧:一本不覺;一本不管。

如岱岳:一本等山嶽。

  塵寰儘是聲色之界,名利之鄉,以苦為樂,以假為真,損精耗氣,鑿喪性命,有死而已。悟之而能超出者,至人也;不知而陷於內者,迷人也。故古來成道仙真,幼而家庭孝友,所以全人倫;至四十而行不動心之道,所以保性命。蓋百年歲月,倏忽間耳,一生榮辱,轉眼時也。若不知返本還元,歸根覆命,一時大限到來,縱有黃金堆積,只落的空手而去。仙翁曰:「試問堆金如岱岳,無常買得不來無?」真是金鐘法鼓,驚醒一切矣。

其二
人生雖有百年期,夭壽窮通莫預知。
昨日街頭猶走馬,今朝棺內已眠屍。
妻財拋下非君有,罪業將行難自欺。
大藥不求爭得遇,遇之不煉是愚痴。

街頭猶走馬:一本庭前方宴樂。

棺內已眠屍:一本室內已傷悲。

非君有:一本非身有。

遇之不煉:一本遇而不煉。

  世人爭名奪利,日夜不休,自謂壽數無窮,可以長享安樂。怎曉夭壽長短,窮通得失,非人所能預知。勿謂世希百歲之人,即壽至百歲,終久難免荒郊一葬。常見世人忽在忽亡,竟至行路之間,說笑之際,猛然暴死者,不可勝數。噫!睜眼時妻財屬我,貪戀不休;閉眼時諸物一空,帶不去些子,只落的萬般罪業,滿載而歸。何若早早看破世事,急訪明師,以求大藥。倘機緣相逢,大藥得遇,便是大福分,大根基。直下猛力修煉,即可出死入生,以了無常。若既遇而不下肯心修煉者,便是自暴自棄,痴愚之人,亦與看不破世事者相等,終亦必亡而已,何貴於知哉。

其三
學仙須是學天仙,惟有金丹最的端。
二物會時情性合,五行全處龍虎蟠。
本因戊己為媒聘,遂使夫妻鎮合歡。
只候功成朝北闕,九霞光裡駕翔鸞。

  上二詩,是教人看破世事,急求大藥,以脫生死矣。夫脫生死之道,學仙之道也。但仙有數等,了性而出陰神者,鬼仙也;了命而留形住世者,地仙也;性命俱了,身外有身,形神俱妙,與道合真者,天仙也。鬼仙雖能陰神出入自便,然而宅室不固,猶有拋身入身之患。地仙雖能留形住世,然而法身難脫,猶有幻身委物之累。二者一落於有死,一落於有生,均未能了脫其生死。惟天仙脫幻身而成法身,超出造化之外,無生無死,能脫生死,與天齊壽,永久不壞也。學者欲脫生死,須學天仙。欲學天仙,非金丹大道不能。金者,堅剛不壞之物;丹者,混成無礙之象。堅剛不壞,混成無礙,渾然一氣,如天之虛圓不測,無物不包,無物能傷。故道成之後,號曰天仙。因其永久不壞,又曰金仙。因其隱顯不測,又曰神仙。其實金仙、神仙,總是天仙。欲修天仙,舍金丹之道,余無他術矣。這個金丹,即人秉受於天,至善無惡,良知良能,圓成無虧之靈根,乃先天至陽之氣凝結而成者。其中含陰陽,藏五行,有其氣而無其質,非一身後天有形有像,滓濁之物可比。若經陰符陽火,鍛鍊成熟,永久不壞,名曰七返九還金液大還丹。金丹者,混成本性之別名,非本性之外又有一金丹。這個丹人人具足,個個圓成,處聖不增,處凡不減,乃仙佛之種子,聖賢之根本。但未經火鍛鍊則陽極必陰,圓極必虧,落於後天。知識開而私慾雜,氣質發而天真昧,良知良能,俱變不良,無復純白之體,故古聖人設金丹返還之道,使人人歸家認祖,復我本來原有之物事耳。

  如何謂之返還?返者,我已去而復來之說,還者,我已失而又得之謂。夫本性靈根有昧者,皆因陰陽不和,五行相傷之故。若果陰陽合一,五行攢簇,仍是當年囫囫圇圇,圓成故物矣。二物者一剛一柔,一健一順,一真知,一靈知,一真情,一靈性。真知具於道心,主剛健,發而為真情;靈知藏於人心,主柔順,含而為靈性。真知靈知分離,則健非所健,順非所順,剛柔失節,真情靈性變而為假情假性矣。真知靈知相合,則健所當健,順所當順,剛柔隨時。假情假性,變而為真情靈性矣。仙翁曰: “二物會時情性合,豈不太煞分明乎?

  五行者,金、木、水、火、土之五氣。此五氣在先天,則為元性、元情、元精、元神、元氣之五元。在後天,則為遊魂、鬼魄、陰精、識神、妄意之五物。五元具有仁、義、 禮、智、信之五德;五物具有喜、怒、哀、樂、欲之五賊。五行全者,先天后天,混合攢簇,以五元而統五物也。龍為陽,主生機,屬東方木,在人為性;虎為陰,主殺機,屬西方金,在人為情。五行不和,則各一其性,五元變為五物,五德化為五賊,龍東虎西,性亂情迷,則為氣性妄情,殺氣而削生氣矣。五行若全,則同歸一性,五物變為五元,五賊化為五德。龍蟠虎踞,性定情忘,則為真情真性,殺氣亦成生氣矣。

  修丹之道,不過調和剛柔,使其健順相當,性情相合而已。性情相合,陰陽會、五行全,仍是渾然天理,至善無惡,良知良能,原本之物事,而金丹復還矣。但先天原本失散以後,性東情西,剛柔不應,若無調和之物,來往通信,彼此隔絕,終不相知。調和之物,即戊己二土也。戊土主動,屬陽,己土主靜,屬陰。寂然不動者,己土也;感而遂通者,戊土也。戊己二土,在五德為真信。真信在中而性定,真信用外而情和。性定情和,性情歸根,如夫妻合歡,仁義禮智,歸於一信,性情精神,會於一氣。三家相見,五氣朝元,還元返本,金丹凝結,一名聖胎,再加向上功夫,從有為而入無為。十月溫養,固濟牢封,抽其健情之太過,添其順性之不及。用天然真火,朝屯暮蒙,鍛盡後天陰氣。無質生質,從微而顯,氣足神全,霹靂一聲,金蟬脫殼,身外有身,功成名遂,朝北闕而駕翔鸞,白日飛昇,為純陽不死之天仙,豈不快哉!

  噫!本來真性號金丹,四大為爐煉作團。悟之者立躋聖位,迷之者萬劫沉淪。有志者可不勉諸。

其四
此法真中妙更真,都緣我獨異於人。
自知顛倒由離坎,誰識浮沉定主賓。
金鼎欲留朱裡汞,玉池先下水中銀。
神功運火非終旦,現出深潭日一輪。

  上詩言修煉金丹,須要性情相合,五行皆全,方能成功。然藥物易知,火候最難。火候者,修煉之法程也。呂祖云:”上德者,以道全其形,是其純陽之未破;下德者,以術延其命,乃因坎體之已成。”蓋以下德者,必須假法以追攝之。法者,術也。若無法無術,不能返本還元,命基不固,大道難成。故仙翁曰:”此法真中妙更真,都緣我獨異於人。”法而曰真曰妙,則為至真至妙之法。法至於真,則能竊陰陽,奪造化,轉生殺,逆氣機。法至於妙,神鬼不能測,蓍龜不能卜,先天而天弗違,後天而奉天時,乃為聖為賢之道,非一切旁門小法,所能窺其涯涘也。修煉真法之妙,妙在何處?妙在乎顛倒耳。顛倒者,顛倒陰陽,逆施造化也。離坎者,離為火,外雄而內雌。其內之雌為真陰,在人為靈知藏於人心,人心動而靈知飛,如火之上炎也;坎為水,外暗而內明。其內之明為真陽,在人為真知,具於道心,道心昧而真知藏,如水之下流也。用顛倒者,生道心,定人心也。道心生,則真知剛健,而精一之水上升;人心定,則靈知柔順,而亢燥之火下降。水上火下,而水火相濟矣。靈知為性,性屬木,木性柔,易浮。真知為情,情屬金;金情剛,易沉。靈知浮而用事為主,真中有假;真知沉而不彰為賓,假陷其真,此順行也。定主賓者,以真知之情為主,使沉下者而浮上:以靈知之性為賓,使浮上者而沉下。主賓反覆,而金木相併矣。水火交,金木並,道心健,人心順,真知靈知,兩而合一,性情相投,金丹焉得不結?但此等真著妙法,非色非空,要在人所不知,而己獨知之處做出,故曰自知,又曰誰識。人不識而自知之,其盜機也。天下莫能見,莫能知矣。是道也,有先後,有急緩,若不知先後急緩之妙用,縱能識得藥物,則顛倒難施,主賓不定。故緊接曰”金鼎欲留珠裡汞,玉池先下水中銀”。

  金者,堅剛之物;玉者,溫柔之物;鼎者,煉藥之物;池者,養火之物。金鼎玉池,喻修真之道,以剛柔為體也。人心屬離,離本乾體,即金鼎也。具地二之火為靈知,乃坤宮柔順中正之物,即本來之良能也。人心本來空空洞洞,虛靈不昧,因交後天,識神借靈生妄,見景起塵,隨風揚波,無有一時停息。如朱裡之汞,遇火則飛,最難存留。《參同》所謂太陽流珠,常欲去人者是也。道心屬坎,坎本坤體,即玉池也。內藏天一之水為真知,乃乾宮剛健中正之物,即本來之良知也。因落後天,客氣用事,正氣退位,陽陷陰中,真為假蔽,沉溺慾海,良知有昧,如水中之銀,絕無而僅有矣。銀為金類,水中銀,即水中所藏之金。此金在先天為本性之良知,在後天為道心之真知。因其真知,至剛至健,喻之曰真鉛;因其真知,成仙成道,又喻之曰真種。古來聖賢,皆采此一味大藥而了性命。人心靈知,雖是易動,若得道心之真知制之,則靈歸於真,自不飛走,《參同》所謂卒得金華,轉而相因者是也。黃鶴賦云:”離內七般硃砂,無真種則時刻難留。”七般硃砂乃涕、唾、精、津、氣、血、液。七般硃砂不定,皆由人心之靈不定。然人心之靈不定,皆因道心有失,而不定之。若欲留人心之靈知,須先下此道心之真知。真知真種之下,內有主宰,不為雜氣所惑,人心之靈知,自然凝結不散。借道心制人心,以人心順道心,以真知統靈知,以靈知養真知。剛柔相當,健順如一,性情和合,不出半個時辰,結為一粒圓明寶珠,靈光朗照,一切陰邪之氣,不得而傷,故曰神功運火非終旦,現出深潭日一輪。

  神功者,即神明默運,慎獨之功。火者,即真知靈知,剛柔合一之和氣。運火者,戒慎乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。運此真知靈知,剛柔合一,不使有一點滓質,留於方寸之間耳。這個神功之火,如立竿見影,呼谷傳聲。若下肯心,不待終日,即能陰中返陽,如深潭日出,陰氣自退也。 詩中最要處,是”欲留””先下”四字。其中有先發制人,義不及賓之旨。識得此旨,則顛倒陰陽,和合四象,反掌之易,此外丹法象也。外丹即還丹之別名,因其已去而復來,已失而仍得,從外而還於內,故謂外丹,又謂還丹。若已還後,即是內丹,此內外之分別也。

其五
虎躍龍騰風浪粗,中央正位產玄珠。
果生枝上終期熟,子在腹中豈有殊?
南北宗源翻卦象,晨昏火候合天樞。
須知大隱居廛市,何必深山守靜孤。
 

腹中:一名胞中。

  上詩言還丹之事。此詩言大丹之道。大丹之道,乃一時之功。此一時與天地合其德,與日月合其明,與四時合其序,與鬼神合其吉凶。難遇易錯,稍有不謹,先天真一之氣,得而復失。先天真一之氣,即還丹也。因其還丹,乃剛柔二氣交合而成。故謂真一之氣,非還丹之外別有真一之氣也。當還丹到手,道心剛健,人心柔順,真知靈知,混而成一,圓陀陀、光灼灼,仍是有生之初,良知良能,寂然不動,感而遂通,本來面目之物事。此個物事,因其性剛,號曰真鉛;因其氣壯,又曰雄虎。真鉛雄虎,總是一個浩然正氣,至善無惡,秉彝良知良能之天真耳。既得復此天真,須要將此天真,復於父母未生以前,五行不到之處,方能成得一個永久不壞之天真。故當天真復還,溫之養之,謹封牢藏,虛極靜篤,陽氣充足,靜極又動,靈苗發現,呂祖所謂中霄漏永,溫溫鉛鼎,光透簾幃之時。當此之時,陽光出窟,如虎雄壯,其勢不可遏止,急用真性中一點虛靈之火迎之。虛靈之火,謂之牝龍。虎躍龍騰者,陰陽搏聚之象。風浪粗者,虎出窟而風生,龍出潭而浪起,陰陽相爭之義。龍虎交會,性情相投,合而為一,入於中央。先天之氣,自虛無中來,凝而為一粒黍珠,聖胎有像。聖胎者,穀神也;穀神者,即玄牝交而合一之神。陽玄即虎情,陰牝即龍性。性情合而聖胎結,元牝立而穀神生,到此地位,有為事畢,無為事彰,不必再為造作,聽其自然。如果生枝上,終有成熟之日。子在腹中,終有產生之時。但聖胎凝結,雖要無為,還有防危慮險之功,不可不知。南北宗源翻卦象者,南為火,北為水,聖胎凝結,和氣燻蒸,水火歸於宗源,自相烹煎,任其天然,勿忘勿助之功也。晨昏火候合天樞者,晨為一日之首,陽氣用事;昏為一夜之首,陰氣用事。天樞者,陰陽之氣機,當陽而用陽,當陰而用陰,火候進退,暗合晨昏之機,日乾夕惕之功也。勿忘勿助,日乾夕惕,溫養十月,換去後天爻卦,脫出先天法身,我命由我不由天矣。是道也,在人類中而修,在市廛中而作,大機大用,真著實行之功,非空空無為寂滅之學。故曰須知大隱居廛市,何必深山守靜孤。

其六
人人自有長生藥,自是迷徒枉擺拋。
甘露降時天地合,黃芽生處坎離交。
井蛙應謂無龍窟,籬鷃安知有鳳巢。
丹熟自然金滿屋,何須尋草學燒茅。

安知:一本爭知。

  上三詩還丹大丹,藥物火候,詳明且備矣。但恐學人,誤認金丹為燒煉凡物而成,故此詩緊接上詩以提醒之。

  金丹者,即人秉受良知良能之本性。此性人人具足,個個圓成,處聖不增,處凡不減,不待他求,自己本有。若下肯心,直登聖域,性定命凝,永久不壞,是良知良能之本性,即長生之大藥也。一切迷徒,不究聖賢實理,不推性命根源,捨近求遠,棄真認假,空空一世,到老無成,枉自擺拋,豈不可嘆可悲哉!

  人生本來良知之健德,秉之於天,即天也,本來良能之順德,受之於地,即地也;本來虛靈不昧之神為靈性,乃地二之氣所化,即火也,本來純粹不雜之精為真情,乃天一之氣所化,即水也。人能健順如一,則身中天地相合,如甘露灑心,而煩惱頓脫。人能精神不耗,則身中坎離相交,如黃芽自生,而元氣乃復。甘露降者,心清也。黃芽生者,意靜也。心清意靜,良知良能,一靈真性,懸於虛空之中,寂然不動,感而遂通,常應常靜,造化難移,萬物難屈,我命由我不由天。長生之道在是,彼井中之蛙,怎知有此龍窟?籬內之鷃,安知有此鳳巢?聞藥物火候之說,疑為茅法燒煉之術,奇奇怪怪,無所不為。殊不知修煉大丹,成熟之日,金玉滿堂,保命全形,富貴無比。一切世間滓質之物,何足戀乎?

其七
要知產藥川源處,只在西南是本鄉。
鉛遇癸生須急采,金逢望後不堪嘗。
送歸土釜牢封固,次入流珠廝配當。
藥重一斤須二八,調停火候托陰陽。

望後:一本望還。

  上詩言人人有長生之藥,而未言藥生之處、藥生之時,故此詩發明藥生端的;使學者隨時用功,謹慎火候耳。

  西南者坤方,為月晦極復甦,陰極生陽之地,在人為靜極初動之時,這個靜極之動,即是大藥發現之時。但動非外來客氣情慾之動,亦非內裡心意念頭之動,乃天心良知之動,道心真知之動。這個天心良知,道心真知,因其能超凡入聖,起死回生,故取象為藥物;因其靜極之時,萬緣俱息,天心良知,道心真知,有一點光輝露其端倪,故取象為產藥之處;因其天心良知,道心真知,為黑中之白,虛無中來,動從靜生,如川之有源,故取象為藥生川源之處。這個藥,在先天為天心之良知,在後天為道心之真知。道心者,即天心之影子;真知者,即良知之影子。因其天心陷於後天,不能常存,有時發現,別名為道心;因其良知沉於慾海,光氣晦暗,亦間或不昧,別名為真知。若到返還以後,道心仍是天心,真知仍是良知,有時發現,間或不昧,即是道心真知之本鄉。蓋有時發現,間或不昧處,有一點先天真一之生機存焉。借此一點生機,逆而修之,何難由道心真知,而復還於天心良知耶。但復還不難,總要知的靜極而動,川源之處.老子云:致虛極、守靜篤,萬物並作,吾以觀其復。《易》曰: 反覆其道,七日來復。皆指此道心真知所生之川源耳。

  既知藥生川源,須明下手時候。修丹妙用,只是取道心一味為丹母,因其道心剛健,具有真知之情,取象為真鉛,鉛中有銀,外黑內白。道心中有真知,外暗而內明,故仙真皆以道心真知比真鉛。不肯直指說破者,鄭之重之,恐為匪人所竊盜也。這個道心真知,為情慾掩埋,陷溺已深,不能自出,既知川源,可以漸采復還。復還之法,仍要在情慾中尋來。真知乃天一所生,為精粹至清之陽水,壬水也。情慾乃地六所生,為滓質至濁之陰水,癸水也。壬水藏於癸水之中,非癸水生,而壬水不現,真鉛不見。鉛遇癸生者,正陰陽二氣交接,癸方生而猶未用事。壬水未散,真知未昧,急須採取歸於懸胎鼎內,則情慾無施,亦自消滅。張三丰所謂要采他出牆花兒朵朵鮮者是也。金逢望後者,既得真知來復,借此一點真知之真情,增而又增,進於剛健中正,純粹之精。如鉛中煉出白金,色足明亮。到此地位,良知良能,炯炯不昧,曲直而能應物,潛躍無不隨心。信步走去,頭頭是道,猶如一輪明月當空,照見三千大千世界,通幽達冥,可以不用增添之功,棄有為而入無為矣。若不知火候,持盈未已,圓極必虧,明極反暗,如望後之月.陽中生陰。真知有傷,真者昧而假者來,所有者後天之滓質,何堪嘗之乎?

  故當真知復圓之時,急送中央土釜,封鎖堅牢,不使些子滲漏,復以本性中一點虛靈流珠配合,借陰濟陽,以虛養實,防危慮險。期必至於剛柔如一,陰陽相當。二八數足,不多不少,進於礦盡金純,無一點氣質而後已。然欲二八數足,全憑調停火候,明老嫩,知止足,辨吉凶,識急緩。時當進陽即進陽,時當運陰即運陰。大小無傷,兩國俱全。自然先天真一之氣,從虛無中來,凝結不散,聖胎成象矣。調停火候,正以剛柔不停而調之。藥重一斤,剛柔俱歸中正,二八相當,陰中有陽,陽中有陰,陰陽混成,剛柔悉化,寂然不動,感而遂通;感而遂通、寂然不動,永為不壞之物矣。噫!月至圓,存乎口訣;時至子,妙在心傳。藥物本自難知,火候亦不易曉,學者可不急求真師乎?此詩藥物火候,還丹大丹妙用,無不包括在內,為十六詩中著緊之處。讀者須要細心窮究,不可輕放一字過去。果有所悟,就證真師,可因一言而知萬法矣。

其八
休煉三黃及四神,若尋眾草更非真。
陰陽得類歸交感,二八相當自合親。
潭底日紅陰怪滅,山頭月白藥苗新。
時人要識真鉛汞,不是凡砂及水銀。

自合親:一本「是合親」。

  上詩言真鉛真汞,二藥配合,方能成就金丹。然或人疑金丹係世間有形之物,燒煉而成,故此詩緊接曰:”休煉三黃及四神,若尋眾草更非真。”三黃者,琉黃、雄黃、雌黃也;四神者,硃砂、水銀、鉛、硝也。三黃四神眾草,與我非類,焉能接命?焉能了性?不能接命了性,儘是空事,非真道也。《三相類》曰:”同類易施功兮,非種難為巧。”人秉天地陰陽二氣而生身,身中即具陰陽之氣,陰陽之德。陽者剛也,陰者柔也。剛之德主命,柔之德主性。是陽剛陰柔者,即性命之源也。同類者,陽以陰為類,陰以陽為類。陰陽得類,則剛柔相應,如夫妻久別,忽然相會,未有不交感者也。二八者,陰中之陽為真陽,剛健中正也;陽中之陰為真陰,柔順中正也。剛柔俱歸中正,陰陽相當,不偏不倚,自然相合相親,渾然一氣,凝結而不散矣。

  陰陽得類,二八相當,後天中返出先天,道心剛健,人心柔順,真知靈知,兩而相合,本來一點良知良能之靈根,從虛無中露出,如潭底紅日上升,陰怪自滅;似山頭偃月高掛,藥苗新鮮。蓋以正氣生而邪氣自退,真者復而假者即消矣。潭底日紅,山頭月白,皆狀真陽發現,天心復見之象。天心復見,知能俱良,是謂金丹。這個金丹,是我本來所具,真陰真陽,剛柔配合而成,乃盡性至命之真寶,豈是凡砂水銀燒練而成乎?

其九
陽裡陰精質不剛,獨修一物轉羸尫。
勞形按影皆非道,服氣餐霞總是狂。
舉世漫求鉛汞伏,何時得見虎龍降?
勸君窮取生身處,返本還元是藥王。

舉世:一本「畢世」。

  上詩言金丹藥物,不是外之三黃四神、眾草凡物,則修道者必於一身而修矣。殊不知人自先天真陽失陷之後,一身所有者,乃陽裡之陰精耳。陰精不僅是交感之精。凡涕、唾、津、液、血、氣,皆是陰精。其質不剛,身存則存,身亡則亡,隨幻身而有無之。若修此陽裡陰精之一物,而欲保命全形,轉覺嬴尫,事終難成。彼世之勞形按影,服氣餐霞,與夫千門萬戶,不是煉陰精,便是補陰精,與道相隔,愈修愈遠。安能伏真鉛真汞,而歸於一氣;驅真龍真虎而合為一家耶?夫金丹之道,生身之道也;生身之道,陰陽兩而合一之道,陰陽合一,其中有生機存焉。生人之道,借凡父凡母而生幻身;生仙之道,借靈父聖母而成真身。靈父即剛健之真知,聖母即柔順之靈知。生人生仙,俱不外乎陰陽。但不過有聖凡之分,逆順之別耳。若人窮究生身之理,大悟大徹,知的父母如何能會,如何能交.如何受胎,如何保胎,如何胎全,如何生產,如何乳哺,如何能行,如何能長。則修道始終,明明朗朗,可以一往直前,返本還元,起死回生,保命全形,而為大藥王矣。蓋修真大道。只是一個生身之理,再無別法。彼一切旁門,孤陰寡陽,著空執相,獨修一物之徒,豈知有此乎?

其十
好把真鉛著意尋,莫教容易度光陰。
但將地魄擒朱汞,自有天魂制水金。
可謂道高龍虎伏,堪言德重鬼神欽。
已知壽永齊天地,煩惱無由更上心。

  上詩教人窮取生身之處,返本還元。然返本還元,須要識得真鉛一味大藥。識得真鉛,則「識得一,萬事畢」,其他皆易事耳。真鉛不是別物,即前所云道心之真知是也。真知又名真種,識不得真種,修道無本,萬般作用,徒勞功力,故曰好把真鉛著意尋,著意尋三字,有格物致知,窮理功夫在內。學人欲修大道,莫若先窮實理:實理通徹,下手修為,立桿見影。若不窮理,妄冀天寶,便是懸虛不實,空度光陰矣。

  地魄水金,陰中之陽,皆真知之法象,天魂朱汞,陽中之陰,皆靈知之法象。「但將地魄擒朱汞」者,借真知而制靈知也;「自有天魂制水金」者,以靈知而養真知也。真知剛,屬陽,為夫;靈知柔,屬陰,為妻。以夫制妻,妻自順夫,妻順夫而夫亦戀妻,夫妻相得,生機常存。《參同契》所謂”太陽流珠,常欲去人;卒得金華,轉而相因”者是也。真知靈知,兩而合一,剛柔歸中,變為良知良能,寂然不動,感而遂通,聖胎有像。到此地位,道高而龍虎伏,德重而鬼神欽,方且壽永齊於天地,更何有煩惱上心乎?

十一
黃芽白雪不難尋,達者須憑德行深。
四象五行全藉土,三元八卦豈離壬。
煉成靈質人難識,消盡陰魔鬼莫侵。
欲向人間留秘訣,未逢一個是知音。

  上詩言道高德重,龍虎鬼神,俱皆馴順,則是有道不可無德,有德不可無道也。夫至道不繁,大藥不遠,白雪近在眼前,黃芽卻生家內。若有肯心,順手可得,故曰不難尋。但此道為超凡入聖,起死回生,天下希有之事,雖不難尋,非大德大行者不能知,故又曰達者須憑德行深。果是德行之君子丈夫,自不難尋也。
  四象者,金、木、水、火之四氣,並土而為五行。三元者,天元、地元、人元。又上元、中元、下元,亦為三元。八卦者,即四象五行之陰陽。乾陽金,兌陰金;坎陽水,艮陰水;震陽木,巽陰木;離陽火,坤陰火。八卦雖配四象陰陽,而坤艮又具戊己二土。坤為陰土,艮為陽土,五行之氣,亦在其中。五行在人為性、情、精、神、氣之五元,發而為:仁、義、禮、智、信之五德。三元在人為元精、元氣、元神,八卦在人即五元五德、剛柔之性。總之四像三元八卦,皆是五行所變,非五行之外別有四像三元八卦也。四象五行全借土者,即仁、義、禮、智,全借信成也。三元八卦豈離壬者,即性、情、神、氣,不離精一也。黃芽者,土之生機,信在於中也。白雪者,水之輕清,精至於一也。仁、義、禮、智歸於信,允執厥中,而黃芽漸長;性、情、神、氣歸於一,惟精惟一。而白雪飛空,精一執中,修之煉之,愈久愈力,道心常振,人心安靜,真知靈知,兩而合一,一粒圓明寶珠,懸於虛空之中。常應常靜,色空不拘,顯晦隨時,先天而天弗違,後天而奉天時。天且弗違,而況於人乎?況於鬼神乎?人難識,鬼莫侵,豈虛語哉?此道也,至簡至易,約而不繁,知之者立躋聖位,不待三年九載。但世間少德行丈夫,無真正男子,多執柯伐柯,猶以為遠。仙翁云:欲向人間留秘訣,未逢一個是知音。豈不可悲哉?

十二
草木陰陽亦兩齊,若還缺一不芳菲。
初開綠葉陽先倡,次發紅花陰後隨。
常道即斯為日用,真源返此有誰知?
報言學道諸君子,不識陰陽莫亂為。

  上詩言德之不可不修。此詩言道之不可不明。《易》曰:一陰一陽之謂道。又曰:天地氤氳,萬物化醇,男女媾精,萬物化生。”金丹之道,全以陽健陰順為運用,陰陽合一,則生丹而延命;陰陽相違,則乖戾而喪命。 試觀草木無情之物,始而綠葉陽先倡,次而紅花陰後隨,陰陽兩不相離,類而推之,一切有情常道,未有外乎陰陽而成者,不過常道順而仙道逆。順者順行陰陽也,逆者逆運陰陽也。世人只知順行之道,不知逆運之道,所以逐於假境,迷其真源,陽極而陰,陰極而死矣。學者第一著先要識得陰陽二物。識得陰陽,即知的真源。真源者,即玄牝之門,生陰在此,生陽在此,順亦在此,逆亦在此。知常返本,立登聖域。但陰陽不一,有先天陰陽,有後天陰陽,有命中陰陽,有性中陰陽,有真陰陽,有假陰陽;有外陰陽,有內陰陽。這些陰陽,俱要追究個瞭然,方敢下手。若不識真陰真陽,亂作亂為,棄真入假,自送性命耳。

十三
不識玄中顛倒顛,爭知火裡好栽蓮。
牽將白虎歸家養,產個明珠似月圓。
謾守藥爐看火候,但安神息任天然。
群陰剝盡丹成熟,跳出凡籠壽萬年。

凡籠:一本「樊籠」。

  上詩教人認識陰陽,此詩教人究明功用。功用者,顛倒陰陽之法也。不識陰陽顛倒之法,怎知火裡栽蓮之妙?顛者何顛,倒者何倒,白虎屬金,即乾宮一點剛健中正之氣,名曰道心,發而為真知之情。因交後天,人心用事,道心不彰,真情昧而妄情生,如白虎自我家出外,走於他家而傷人矣。顛倒者,仍於妄情中返回真情,與真性配合,如牽白虎,由他家而復歸我家養矣。真情既返,真性即現,性情相戀,先天真一之氣,自虛無中來,結成一粒寶珠,如圓滿之月,光輝照耀,山河大地,如在掌上,金丹有像,《參同契》所謂「金來歸性初,乃得稱還丹」者是也。還丹既結,良知良能,靜則無為,動則自然,從容中道。藥即是火,火即是藥,採取之功無用,但安神息,任其天然,以造化爐中,陰陽和氣,真火鍛盡後天群陰,化為純陽,是謂丹熟。吞而服之,脫胎換骨,跳出凡籠,與天齊壽,長生不死矣。

十四
三五一都三個字,古今明者實然稀。
東三南二同成五,北一西方四共之。
戊己自居生數五,三家相見結嬰兒。
嬰兒是一含真氣,十月胎圓入聖基。

  上詩言顛倒陰陽之理,此詩言攢簇五行之功。人生之初,所具五行之性,本是一氣渾然。因交後天,各一其性:金木不併,水火不交,真土埋藏,假土張狂。性亂命搖,陽氣盡而陰氣純,不死豈能乎?仙翁提出三五一三字,教人攢簇五行,歸於一家,還我本來良知良能、渾然天理之面目耳。但三五一三字,古今來不知迷了多少英雄。其間明得者,可數而知。
  夫所謂三五者,即河圖五行之生數。東三木,南二火。火生於木,木火為一家,一五也。西四金,北一水,水生於金,金水為一家,一五也。中央土自成一家,一五也。修道者能明的三五,逆而修之,合和四象,攢簇五行,則性、情、精、氣、神凝結,仁、義、禮、智、信同氣,是雲三家相見,在儒名曰”太極”,又曰”天理”,又曰”至善”,又曰”至誠”;在道名曰”嬰兒”,又曰”先天一氣”,又曰”聖胎”,又曰”金丹”;在釋名曰”圓覺”,又曰”真空”,又曰”法身”,又曰”舍利”,又曰”摩尼珠”,等等名字,總而言之曰”天良本性”。道複本性,良知良能還元返本,溫養十月,氣足神全,脫離苦海,身外有身,入於不生不滅之聖基矣。

十五
不識真鉛正祖宗,萬般作用枉施功。
休妻謾遣陰陽隔,絕粒徒教腸胃空。
草木金銀皆滓質,雲霞日月屬朦朧。
更饒吐納並存想,總與金丹事不同。

  上詩言攢簇五行,歸於一氣,方入聖基。但攢簇五行,須要識得先天真一之氣,方可下手。坎中一陽,乃乾家剛健中正之氣,為道心真知,取象為真鉛,乃天一所生。具有先天真一之氣,為生物之祖氣,成聖成賢在他,作佛作仙在他,乃聖賢之根本,仙佛之種子,為金丹之正祖宗。所渭”知其一,萬事畢”者即此。若不識真鉛,是無祖宗,則修丹無本。一切休妻絕糧,燒煉草木金銀,吞飱雲霞日月,吐納濁氣,存想景象,萬般作用,不是著空,便是執相,皆是枉施功力,與金丹之事,有何干涉乎?

十六
萬卷仙經語總同,金丹只是此根宗。
依他坤位生成體,種向乾家交感宮。
莫怪天機具露洩,都緣學者自迷濛。
若人了得詩中意,立見三清太上翁。

露洩:一本「漏洩」。

  以上十五詩,或言順,或言逆,或分說,或合說;或指藥物,或示火候,辨別真假是非,條陳細微層次,散而未整,恐人疑惑,其事繁多,難以進步,故此詩總結十五詩之意,示人以至簡至易之道耳。

  古來仙真,丹經道書,千譬百喻,設象立言,極力形容,發明道髓,雖立言有異,而其理總同,凡皆明金丹之根宗也。無如後世書愈多而人愈惑,各執己見,趨入旁門,彼豈知金丹根宗,是取坎填離,依坤歸乾之一著乎?

  坤位生成體者,即坎中一陽也;乾家交感宮者,即離中一陰也。坎本坤體,故曰坤位;離本乾體,故曰乾家。乾以易知,坤以簡能;乾剛健也,坤柔順也。因其剛健,故易知而不犯難,因其柔順,故簡能而無勉強。易知簡能,在人即本來良知良能之本性也。人生之初,健順如一,剛柔混成,不識不知,順帝之則,圓陀陀,光灼灼,淨裸裸,赤灑灑,只有一個良知良能之本性,並無些子滓質。及其二八之年,陽極生陰,交於後天,陰氣用事,理欲交雜,健順不當,剛柔失節,於是陽為陰陷,天真有昧,如乾交坤,乾中一陽,入於坤宮,坤卦實而成坎矣。陰竊陽位,知識漸開,如坤交乾,坤中一陰,入於乾宮,乾卦虛而成離矣。天真昧,則道心藏而惟微;知識開,則人心生而惟危。微者,絕無而僅有,陽不勝陰也;危者,見景而生情,陰勝於陽也。然雖道心惟微,人心惟危,道心猶未全滅,人心猶未全盛。道心未全滅者,以其有時而或黑中生白,是謂真知,但不過旋有旋失耳。人心未全盛者,以其遇事而能隨機應變,是謂靈知,但不過借靈生妄耳。

  修丹之道,陰中返陽,取出道心之真知,點化人心之靈知。靈知歸真,真知至靈,道心剛健,人心柔順;陰陽交感,剛柔相應;健順相當,真靈不散;仍還當年良知良能乾元面目,是謂取坎填離,又謂依坤種乾。其實依他坤位生成體,種向乾家交感宮,即是取坎填離之義。取坎則坎中所陷之陽出,坎仍成坤;填離則離中所雜之陰化,離仍成乾。乾坤體成,元牝立而穀神存,金丹凝結,性命到手,不為後天造化所拘矣。此乃萬劫一傳之天機。上古仙真,不肯分明說破。仙翁大慈大悲,十六詩中,發古人所未發,可謂拔天根而鑿理窟。結尾又直指出金丹根宗,天機露洩大盡,若人了悟的詩中妙意,直登聖域,立見三清太上,豈虛語哉!

************       

《悟真》直指卷二

宋張紫陽真人著

棲雲山悟元子劉一明解註

門人沖和張陽全校閱

九陽山印真子周金璽校正

後學李紫垣重刊
 

  七言絕句六十四首按《周易》六十四卦

  言鼎爐二首:

其一
先把乾坤為鼎器,次搏烏兔藥來烹。
既驅二物歸黃道,爭得金丹不解生?

  乾,健也,取象為天;坤,順也,取象為地。在人為剛柔之性。日中有烏,為陽中之陰,在卦為離,離外陽而內陰,其內一陰為真陰,在人為人心所藏之靈知。月中有兔,為陰中之陽,在卦為坎,坎外陰而內陽,其內一陽為真陽,在人為道心所具之真知。

  先把乾坤為鼎器者,以剛健柔順為造丹之體也。次搏烏兔藥來烹者,以真知靈知為造丹之用也。烹煉真知,而無一不真,則剛歸中正,烹煉靈知,而無一有昧,則柔歸中正。剛柔俱歸中正,則道心健,人心順,真知靈知兩而合一,如驅烏兔歸於黃道矣。黃道者,中道,乃日行之道。蓋日行中道,月行九道。九道者,青朱白黑四道皆二,出黃道外,內外共八道。月與日會,日月相交而行,共成九道。日月相交處,是謂二物歸黃道。人生之初,只有一個良知良能真靈之性,並無人心,亦無道心。交於後天,方有人心道心之分,真知靈知之別。

  人心者,一切知覺運動者是也,知覺即是靈知;道心者,一切境遇不迷者是也,不迷即是真知。人心只能靈知,而不能真知,其性柔,故謂陰。道心既具真知,兼能靈知,其氣剛,故謂陽。雖聖人亦有人心,雖凡人亦有道心。聖人有人心者,以其不能滅知覺也;凡人有道心者,以其間有不昧處也。聖人之所以異於凡人者,真靈如一,有知有覺,能常不昧耳。凡人之所以異予聖人者,真靈相隔,有知有覺,不能不昧耳。蓋人心有識神藏焉,識神借靈生妄,見景生情,隨風揚波,靈歸於假,而人心惟危矣。

  人心惟危,邪氣盛而正氣弱,道心不彰,而道心惟微矣。修道而煉道心真知之剛,歸於中正;鍛人心靈知之柔歸於中正,是剛柔相合,健順相當,惟精惟一,允執厥中;良知良能,渾然天理,一氣流行矣。金丹怎得不生乎?金丹乃剛柔二氣凝結而成,真知靈知歸於中正,天人混合,如一粒寶珠,懸於虛空,無處不照.金丹有像,由微而著,由生而熟,焉有不解脫者乎?

其二
安爐立鼎法乾坤,鍛鍊精華制魄魂。
聚散氤氳成變化,敢將玄妙等閒論。

成變化:一本「為變化」。

  爐所以運火,鼎所以鍛藥。金丹之道,法坤之柔順以為爐,循序漸進;效乾之剛健以為鼎,猛烹急煉。能剛能柔,能健能順;志念堅固,愈久愈力;鼎爐穩定,不動不搖;可以採藥運火矣。人心靈知,外陽而內陰,如日之精,日精射外也;道心真知,如月之華,月華藏內也。靈知外陽,屬魂,真知外陰,屬魄。靈知精魂,所謂神而神者,真知華魄,所謂不神而神者。神而神,真中有假,不神而神,假中含真。鍛鍊精華者,鍛去人心靈知真中之假,煉出道心假中之真。假靈去而真靈定,則魂不飛而魂制矣,真知現而假知滅,則魄不散而魄制矣。魂魄既制,則真知靈知,情性相投,凝為一氣,氤氳沖和,聚散變化,寂然不動,感而遂通,一步一趨,皆是天機。此中神妙,非可以言語形容者也。

  言偃月爐二首:

其三
休泥丹灶費工夫,煉藥須尋偃月爐。
自有天然真火候,不須柴炭及吹噓。

真火候:一本「真火育」;一本「真火養」。

  偃月者每月初三,現一鉤之光於坤方;其光偃仰,故謂偃月。在人為至靜之中,有一點陽光透露,有像於偃月;在卦為震,所謂”初三日震出庚,曲江岸上月華瑩”者是也。這一點陽光,不是別物,即是道心之光。丹道之所難得者,道心。道心一現,天理昭彰,剛氣漸振,山河大地,盡皆靈藥,信手拈來,頭頭是道。藥即是火,火即是藥,自有天然造化之爐,真正之火,何須丹灶柴炭吹噓之功乎?

其四
偃月爐中玉蕊生,硃砂鼎內水銀平。
只因火力調和後,種得黃芽漸長成。

  偃月爐,即前所謂道心。玉蕊者,玉為溫柔之物,屬陰,蕊為光華之物,屬陽。玉蕊即陰中之陽,喻道心之真知。硃砂鼎,即人心。水銀者,流動不定之物,屬陰,即陽中之陰,喻人心之靈知。道心常現,真知不昧,人心之靈知自然平靜,不能飛揚;再用調和之功,以道心所具之真火,鍛盡人心中之假靈,而歸於虛靈。天人合發,真知靈知如一,知至而意誠,是名黃芽。黃芽即真靈之所種,真靈得土溫養,如草在地,方芽而色黃,故名黃芽。真知靈知二物,火力調和以後,歸於中正,已入中央土釜,再加真意溫養之功,十月氣足,自然成熟脫化矣。

言真鉛四首:

其五
咽津納氣是人行,有物方能造化生。
鼎內若無真種子,猶將水火煮空鐺。

  道心真知,具有先天真一之氣.取象為鉛,乃成聖成賢,作佛作仙之真種子。若欲修煉大丹,舍此真種,再無別物矣。世間痴迷漢,徒修一身有形有像之物;咽津納氣,自謂修道,殊不知一身所產者,乃後天滓質之物,安能生先天至靈至聖之丹?此乃鼎中無有真種,猶將水火煮空鐺耳。

其六
調合鉛汞要成丹,大小無傷兩國全。
若問真鉛是何物,蟾光終日照西川。

  金丹,乃道心真知之真鉛,人心靈知之真汞而成。欲修金丹,先調鉛汞。道心剛,屬陽,為大;人心柔,屬陰,為小。人心無道心,借靈生妄,能以敗道。若以道心制之,靈明不昧,能以助道。道心固不可少,人心亦不可滅,但不使人心妄用其靈耳。古人教人死人心者,死其人心之假靈,非死人心之真靈。若不分真假,一概死盡,則入於頑空寂滅之學。傷其小,即害其大,陰陽偏孤,生機氣息,將何而成金丹大道乎?故曰大小無傷兩國全。兩國全者,人心靈知、道心真知,兩而合一,以真知而統靈知,以靈知而順真知,真靈不散,依然良知良能,渾然天理,圓明本性,金丹成矣。

  蓋真知靈知,乃良知良能之繼體,在先天則謂良知良能,在後天則謂真知靈知。後天中返出先天,則真知即是良知,靈知即是良能。真知靈知,本來原是一家,無有兩樣。因交後天,一點良知之天真,迷失於外,為他家所有;我家所存良能之靈,亦雜而不純,遷移不定。若要返本還元,仍要在假知中討出個真知下落,引回我家,方能靈知不昧。這個真知,為至剛至健之物,故取象為真鉛。真知具有先天真一之氣,又取象為水中金,又取象為月中光,水中金,月中光,皆陰中有陽之義。但這真知,未經復還,猶在他家,不為我有,故曰蟾光終日照西川。月中有金蟾,蟾光即月中之光,喻真知外暗而內明也。終日照西而不照東,分明光耀在彼矣。仙翁後詩云:”金公本是東家子,送在西鄰寄體生。”正是蟾光終日照西川之旨。學人果能知的蟾光終日照西川,是實實知的真知下落,即可以照東,與靈知相會矣。噫!順去死,逆來活,往往教君尋不著,真知豈易知哉?

其七
未煉還丹莫入山,山中內外盡非鉛。
此般至寶家家有,自是愚人識不全。

  避世離塵,入山養靜,乃丹還以後之事。不知者入山養靜,以為可以長生。夫長生之道,須要得真鉛一味,方能取效。但真鉛須要在塵世中尋出。若入山修道,山中內外,儘是陰氣,何有真鉛至陽之物?真鉛是先天靈根,又曰天根,又曰真一之精,又曰真一之氣,又曰水鄉鉛,又曰水中金,又曰黑中白,又曰魄中魂,又曰黑虎,又曰金公,又曰他家不死方。古人取象多端,歸到實處,總是形容道心之一物耳。

  這個道心,發而為真知之妙有,藏而為精一之真空,人人具足,個個圓成,處聖不增,處凡不減,家家有之。然家家有之,而非自家所有,蓋其見之不可用,用之不可見也。因其家家有,而非自家有,所以愚人遇之不識,當面錯過了也。明末彭好古不達此理,認家家有的字句,直指為女鼎,近來知幾子,又以三峰采戰註疏。如此惛愚迷誤後學,罪莫大焉!

其八
竹破須將竹補宜,抱雞當用卵為之。
萬般非類徒勞力,爭似真鉛合聖機。

  竹破竹補,抱雞用卵,以類求也。《三相類》曰:”同類易施功兮,非種難為巧。”若非其類,不是真種,萬般作用徒勞力耳。蓋金丹大道者,聖人之事也。欲學聖人,需求聖人之種。聖人之種,即真鉛之真知。以此真知,修持大道,未有不合聖人之機者。聖人之機,渾然天理而已,真知而無一不知,無一不真,能以復天理,故雲合聖機。既合聖機,即是聖人,奈何學人不下肯心者,何哉?

言用鉛:

其九
虛心實腹義俱深,只為虛心要識心。
不若煉鉛先實腹,且教收取滿堂金。

收取:一本「守取」。

  金丹之道,虛心實腹,兩般事業。虛心者,虛人心,修性之事;實腹者,實道心,修命之事。虛心實腹兩件,性命所關,其義俱深。若欲虛心,須要識得心。蓋心有人心,有道心。人心宜虛不宜實,道心宜實不宜虛。若不分心之真假是非,一概虛之,不但不能了命,而並不能了性。若識其心,不須虛人心,先須煉真鉛之道心以實其腹。腹實則集義而生,客氣自消,人心自虛。四象和,五行攢,金玉滿堂,命寶到手,可以虛人心而養道心,了其性宗,歸於無何有之鄉矣。

言不用鉛:

其十
用鉛不得用凡鉛,用了真鉛也棄捐。
此是用鉛真妙訣,用鉛不用是誠言。

  修丹之法,惟采真鉛為要著。但鉛亦不同,有凡鉛,有真鉛。凡鉛者,山中所出,乃有形之濁物,與我無情;真鉛者,家園所產,乃無形之道心,與我同類。自古上仙,能以超凡入聖者.皆賴其真鉛道心之功,故曰用鉛不得用凡鉛。但道心雖是先天真寶,乃自後天中產出,有用之時,有不用之時。當其未結丹也,必借道心之真知,以制人心之靈知。人心已定,靈知不昧,道心人心,動靜如一,真知靈知,虛實相應,聖胎已結,急當抽去道心之剛,溫養胎息矣。夫用道心者,所以制人心,人心已靜,識神已滅,良知良能,寂然不動,感而遂通,真靈獨存,炯炯不昧。道心無所用,可以有無俱不立,物我悉歸空。陸子野云:”用鉛之法,如捕魚兔之筌蹄。”魚兔賴筌蹄而得。既得魚兔,則筌蹄無用。用鉛妙訣,實在於此。倘不知用鉛之訣,當丹已結,而猶以道心為事,未免用道心而又起人心。真靈又散,金丹得而復失,故曰用了真鉛也棄捐。用鉛不用之訣,於此可以知矣。

言鉛汞:

十一
夢謁西華到九天,真人授我指元篇。
其中簡易無多語,只是教人煉汞鉛。

  金丹大道,至簡至易,無有多語,不過煉道心中之真知,人心中之靈知耳。道心剛健,歸於中正,則道心常存,以真知而制靈知;人心柔順,歸於中正,則人心常靜,以靈知而戀真知。剛柔相當,真靈合一,是謂鉛汞相投,金丹凝結矣。其法至簡至易,約而不繁,雖凡夫俗子,得之立躋聖位。但人多無大德行,無大福分,輕易不得。若有大德行大福分者,得遇真人,指示簡易神妙之法,猶如睡夢初醒,始知大藥即在當人,不從他得,隨手揀用,無不如意,仙翁以夢謁西華有授,良有深意,不是設言,且西者,真金所產之處。華者,真金精明之光。九天者,純陽無陰之境。真金者,真知之法象。陰暗之中,忽來真知,陽光發現,揀此真知,歸於我家,與靈知相合,以火鍛鍊,至於純陽無陰之地,號曰七返九還,金液大丹,豈果夢也哉。

言虛無一氣:

十二
道自虛無生一氣,便從一氣產陰陽;
陰陽再合成三體,三體重生萬物張。

  性命之道,造化之道。造化之道,生生不息之道。推其道源,蓋自虛無中而生一氣;自一氣而生天生地,產陰陽;陰陽再合其中,又含一氣而成三體。三體既成,一氣運動,陰而陽,陽而陰,於是萬物生矣。即如草木之生,始而地中生一芽,是自虛無生一氣也;既而出地開兩瓣,是從一氣產陰陽也;又既而兩瓣之中抽一莖;是陰陽再合成三體也;從此而分枝生葉,是三體重生萬物張也。天地間一切有情無情之物,皆從此虛無一氣而生出,然皆順行造化之道。修道者若知的順行造化,逆而修之,歸萬而三,歸三而二,歸二而一,歸一於虛無,則無聲無臭至矣。

言坎離:

十三
坎電烹轟金水方,火發崑崙陰與陽。
二物若還和合了,自然丹熟遍身香。

  坎電者,水中起火之象,比道心真知,在至暗中發現,發現之處,正吾身中活子時也。烹轟者,恍惚不定之象。金水方者,道心真知,為精一之真情,具有金水二氣也。崑崙在西方,為萬山之祖脈,真金所產之處。當道心真知,在至暗中發出,如電光閃灼,忽明忽暗,恍惚不定,難得易失,急用離中虛靈之火以迎之,則真知靈知,性情相戀,陰陽相合。其中產出先天靈藥,復運天然真火,鍛去後天濁氣,礦盡金純,金丹成熟,吞而服之,脫胎換骨,現出清淨法身,方且香風遍滿塵寰,豈第遍身香而已哉。

言戊己:

十四
離坎若還無戊己,雖含四象不成丹。
只緣彼此懷真土,遂使金丹有返還。

  坎為水,在人為元精,發而為智;水中藏金,在人為真情,發而為義。離為火,在人為元神,發而為禮,火生於木,在人為元性,發而為仁。道心有坎之象,人心有離之象,道心人心,即具金、木、水、火之四性。但四性各別,若欲一氣相生,全賴戊己之功。戊為陽土,為元氣,發而為信;己為陰土,為意念,發而為欲。坎納戊,在道心為信;離納己,在人心為意。欲正其心,先誠其意。意誠則己土定而人心靜;欲行其道,先立其信,信立則戊土現而道心彰。若道心無信,人心不誠,雖有仁、義、禮、智,各不相顧,所藏性情精神,亦皆相背,何能結至靈至聖之神丹乎?故修道者,必以誠意立信為主;意誠信立則道心彰,人心正。彼此和合,陰陽相應,先天之氣,自虛無中來,凝而為一粒黍珠。散者復聚,去者仍還,故曰只緣彼此懷真土.遂使金丹有返還,戊己之功大矣哉。

言顛倒坎離:

十五
日居離位翻為女,坎配蟾宮卻是男;
不會個中顛倒意,休將管見事高談。

日居離位:一本「離居日位」。

  靈知本陽也,然外明內暗,每招客氣。如日居離位,外陽內陰,而翻為女也。真知本陰也,然外暗內明,具有正氣。如坎配蟾宮,外陰內陽,而卻是男也。後天人心,借靈生妄,道心天真埋藏,亦如女子當家,男子退位矣。

  修丹之道,以真知之道心,制靈知之人心;以靈知之人心,順真知之道心。男剛女柔,男子主事,女子聽命,大業未有不成者。若不會此個中顛倒之意,是識不得道心真知,認不得人心靈知,乃亂乃萃,儘是以假為真,休將管見高談,而欺己欺人也。

十六
取將坎內心中實,點化離宮腹內陰;
從此變成乾健體,潛藏飛躍盡由心。

盡由:一本「總由」,一本「更由」。

  坎位心中實,即道心之真知,離宮腹內陰,即人心之靈知。取出坎陷真知之道心,點化離宮靈知之人心。一霎時中,陰氣消而陽氣復,復見本來乾元面目,還我良知良能本性。寂然不動,感而遂通;感而遂通,寂然不動。故曰從此變成乾健體,潛藏飛躍盡由心也。體非幻身之形體,乃法身之真體。法身者,本性也。人生之初,一點真靈本性,圓明不昧,剛健中正,純粹無些兒滓質。如乾卦三奇,純陽無陰之象,及交後天,天良有昧,靈氣有假,如乾卦中虛成離,坤卦中實成坎矣。中虛者,真者離去也,中實者,真者坎陷也。取坎填離者,返還天真,仍復成當年真靈本性,如離卦而又變成乾卦矣。真靈一復,主宰在手,常應常淨,左之右之,無不宜之,潛藏飛躍,何不盡由心乎?後世迷人,不達此理,以取坎填離,認為取腎中之氣以交於心。又有取腎氣後升前降而落於絳宮者。噫!別有些兒奇又奇,心腎原來非坎離。以坎離為心腎者,愚之甚矣。

言五行:

十七
震龍汞出自離鄉,兌虎鉛生在坎方。
二物總因兒產母,五行全要入中央。

自出:一本「出自」。

  震為龍,為木汞;兌為虎,為金鉛。離為火,坎為水。龍汞出自離鄉,火中出木也,虎鉛生在坎方,水中生金也。火中生出之木,永為不朽之木;水中生出之金,永為不壞之金。木本生火,而火反生木,金本生水,而水反生金,是謂兒產母。古經云:”五行不順行,龍以火裡出;五行顛倒運,虎向水中生”者,即是此意。人之氣性易動,如木汞之性浮,若以元神之火,鍛去滓質,則氣性化而真性現,永為不動之性矣。人之妄情至重,如金鉛之性沉,若以精一之水,滌淨塵垢,則妄情消而真情凝,永為無情之情矣。不但此也,氣質化則無性火,識神滅而元神常生;情慾消則無淫念,濁精化而元精無漏。真性現,真情凝,元神生,元精固。性情精神,歸於一氣,仁義禮智,歸於一信,是謂五行全。五行既全,渾然一中,是謂五行入中央。五行入於中央,不偏不倚,陰陽混合,是謂金丹結。倘少東沒西,丟南遺北,別尋藥料,而欲修成金丹,難矣。詩中關切處,是五行全要入中央一句。五行不入中央,則五行分散,金丹不結。五行若入中央,則五行一氣,金丹自成,學者可不先明五行乎?

言兩弦:

十八
月才天際半輪明,早有龍吟虎嘯聲。
便好用功修二八,一時辰內管丹成。

  金丹,乃龍性虎情,兩弦之氣,交合而成。先取上弦之金八兩,以為丹母;次取下弦之水半斤,以結聖胎。何為兩弦?月自初三一陽生,至初八陰中陽半(圖),其平如繩,有似弓弦(圖),因其陽光在上,故謂上弦。十五圓滿(圖),十六一陰胎,十八一陰現,至二十三,陽中陰半(圖),其平如繩,有似弓弦(圖),因其陽光在下,故謂下弦。月之陽光,從西而生,虎屬金,金在西,故以初八之月,謂虎之弦氣;月之陰體,自東而出,龍屬木,木在東,故以二十三之月謂龍之弦氣。真知之情剛,象虎,如月之陽光也;靈知之性柔,象龍,如月之陰體也。真知剛情,進至於中正,如月上弦生出之陽光,是金八兩也,靈知柔性,退至於中正,如月下弦退出之陰體,是水八兩也。月才天際半輪明,正是真知剛情,進於中正之時。真知進於中正,柔中有剛,靈知為真知所制,已不能飛揚,陽統陰而陰順陽,即有龍吟虎嘯,同聲相應,同氣相求之效。當斯時也,正好用功修持,借陽濟陰,使靈知柔性,亦歸於中正。靈知歸於中正,剛中有柔,真知靈知,俱歸中正,二八兩弦之氣,分數已足,陰陽相當,剛柔如一,一時辰內管丹成矣。然不到二八數足,或陽多而陰少,或陽少而陰多,俱不能成丹。惟陰陽相當,不偏不倚之謂中,始能一時辰內管丹成。一時之功,豈易能哉?苟不下數十年死功夫,不能遽然到此境界也。

言調和二首:

十九
華岳山頭雄虎嘯,扶桑海底牝龍吟。
黃婆自解相媒合,遣作夫妻共一心。

  華岳在西,扶桑在東,虎為金情,龍為木性,有生之初,性情相合,金木相併,一交後天,假者來而真者昧,性情分為兩處,如龍東而虎西矣。虎稱雄者,金情剛也;龍稱牝者,木性柔也。然雖真情為假情所隔,真性為假性所掩,真情真性,未嘗不欲相會也。山頭雄虎嘯,海底牝龍吟,陰陽隔礙,潛通之象,隔礙潛通,即能相會,但其間無調和之物,故不能會耳。黃婆者,一名真土,一名真意,一名真信。真信一現,則意誠而心正,假者去而真者來,情歸於性,霎時性情相合,如媒妁通信於兩家,遣作夫妻而共一心矣。

二十
赤龍黑虎各西東,四象交加戊己中。
復姤自此能運用,金丹誰道不成功。

  木能生火,木火一家,故謂赤龍;金能生水,金水一家,故謂黑虎。金木水火為四象,戊己為土,土能和合四象,四象加土而為五行。但五行順行,法界火坑;五行顛倒,大地七寶,是在人運用如何耳。道心真知之情動,是謂復,法當進陽火以造丹;人心靈知之性靜,是謂姤,法當運陰符以溫養。時當用陽即用陽,時當用陰即用陰。陽健陰順,用九用六,各隨其時,真知靈知,兩而合一,入於中央,五行攢簇,金丹成就,自然而然也。

言龍虎:

二十一
西山白虎正猖狂,東海青龍不可當。
兩手捉來令死鬥,化成一塊紫金霜。

兩手:一本「兩獸」。

  真知之情,靈知之性,雖是先天之物,然落於後天,理欲交雜;真假相混,相隔已久,不能遽然馴順,故曰西山白虎正猖狂,東海青龍不可當也。但金丹之道,有借假修真,以真化假之法。其法順其所欲,漸次導之,下一層死功夫,不合而必至於合,不和而必至於和,愈久愈力,妄情自去,真情自生,氣性自消,真性自現,假者永滅,真者常存。無情之情,方謂真情;無性之性,方謂真性。真情真性,兩而合一,心死神活,不識不知,順帝之則,化為一塊紫金霜矣。金者,堅剛不壞之物。金至於紫,從大火爐中鍛鍊而出,為足色之金。紫金而化成霜,形質俱消,渾然一氣,超出乎陰陽之外矣。

言煉己三首:

二十二
先且觀天明五賊,次須察地以安民。
民安國富當求戰,戰罷方能見聖人。

  觀天者,觀吾之天性也;明五賊者,明金木水火土五行之相剋也。察地者,察吾之心地也,安民者,安精神魂魄意,各居其所也。修丹之道,莫先於煉己;煉己之要,先須觀天性。天性不昧,則五賊難瞞。次須察心地;心地清淨,則五物皆安;五物皆安,則精固、神全、魂定、魄靜。意誠是謂國富,於是戰五賊而退群陰。陰氣化而為陽氣,殺機變而為生機,可以見聖人矣。聖人者,即良知良能本來之面目,又曰聖胎。五賊降伏,變而為五元,發而為五德,寂然不動,感而遂通,不識不知,順帝之則,非聖胎乎?詩中戰字,大有深意,蓋五賊在心,施行於天,非有與天爭權之大法力,不能降伏。戰之正所以奮大用,發大機,勇猛精進,愈久愈力,不使半途而廢也。古仙云:”一毫陽氣不盡不死,一毫陰氣不盡不仙。”煉己必煉至於無一毫陰氣,五行混化,礦盡金純而後已也。

二十三
用將須分左右軍,饒他為主我為賓。
勸君臨陣休輕敵,恐喪吾家無價珍。

  煉己之道,不能遽然成功,須要順其所欲,漸次導之。蓋人真靈之竅,錮閉已久,積習已深,五賊作禍,非一朝一夕,最難剿滅。用將須分左右軍,饒他為主我為賓者,將欲取之,必先固之也。勸君臨陣休輕敵,恐喪吾家無價珍者,欲取於人,不失其己也。內而防危慮險,外而勤功鍛鍊,則假者可去,真者可保,何愁大道不成乎?

二十四
火生於木本藏鋒,不會鑽研莫強攻。
禍發總因斯害己,要須制伏覓金公。

  人自後天用事,識神當權,身中所具後天五行之氣,歷劫所帶煩惱根塵,與夫現在習染穢污,一時俱發。若無大法力,大手段,何能攻伐得盡?倘不會鑽研實理,而即冒然下手,以心制心,攻之太猛,有時君火相火俱發,不但不能攻賊,而且為賊所攻,非徒無益,而又害之。如火生於木,禍發必克,木反為火所焚,自傷其生。《參同》云:”太陽流珠.常欲去人,卒得金華,轉而相因。”金華者,即道心也。道心者,非心之心,本於天真身所出,具真知之情,有剛正之氣,萬物難瞞。道心光輝一現,群邪退避,其果決剛斷,如金之利。故以道心名金公,鑽研實理,即鑽研以金製木之實理耳。蓋大丹以金公為主人公,若舍金公而欲煉己,徒取其禍。故張三丰云:”煉己時須用真鉛。”真鉛金公,皆道心之別名耳。

言金公:

二十五
金公本是東家子,送在西鄰寄體生。
認得呼來歸舍養,配將姹女結親情。

呼來:一本「喚來」。

作親:一本「結親」。

  金公者,即前所云道心真知也。真知為真情。人生本來性情一家,不分彼此,以體言為性;以用言為情。情即性,性即情,同出異名,非有二也。交於後天,性情遷移,真情昧而妄情生。剛正之氣,為客氣所蔽,不由於我。如東家之子,而寄生於西鄰矣。雖寄生於西鄰,非我永不相見者,但見之認不得耳。果是志士,窮理通徹,認得真實,一呼即來,如空谷傳聲,絕不費力;更能養於密室,常加護持,與姹女真性配合,陰陽一氣,結作親情,仍是東家之物矣。姹女者,宅中之女,即靈知之性。性本陽而謂女者,性主柔,象木,故謂姹女;情本陰而謂男者,情主剛,象金,故謂金公。金公久已出外,一旦還家,與姹女相會,分外情親,未有不生丹者。故《參同》云:”金來歸性初,乃得稱還丹。”金木相併,情性相合,即是還丹,此外別無還丹。

言姹女:

二十六
姹女遊行自有方,前行須短後須長。
歸來卻入黃婆舍,嫁個金公作老郎。

  姹女,即前詩所解靈知之性是也。因其入於後天,人心中有識神居之,未免真中有假,因靈生妄,見火則飛,遊行不定,所謂出入無時,莫知其鄉者是也。欲修金丹,必先使此一點靈性,遊行於所當行之方,虛其靈而不昧其靈,則靈歸真靈矣。前行須短者,以性求情也;後行須長者,以靈養真也。以性求情,一時結丹之妙,故謂短;以靈養真,十月溫養之功,故謂長。宜短即短,宜長即長,是謂自有方。依其方而行之,金丹有望。但須先黜聰毀智,迴光返照。將此一點靈性,安於中央正位,是謂歸來卻入黃婆舍。黃婆舍即不偏不倚、中正之舍。靈性中正,心正而意誠,意誠而信真,信真而不遊行於外。由是以性求情,情來歸性,性情相戀,合為一氣,是謂嫁個金公作老郎。作老郎不是尋常語,大有深意。蓋修丹之道,始而以靈性招真情,真情復而靈性不動不搖,靈性亦自歸真。既而以靈性鈐真情,必須養真情於純陽無陰之地而後已。如郎老妻老,夫妻偕老,不使中途反目破鏡也。此正後須長之意,學者須要深究。 言火候二首:

二十七
縱識硃砂與黑鉛,不知火候也如閒。
大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。

  還丹之道,惟取硃砂黑鉛二物藥料,鍛鍊成寶,以延性命。硃砂者,離中一點虛靈之氣,即靈知也,屬於人心;黑鉛者,坎中一點剛正之氣,即真知也,屬於道心。因其人心靈知,外明內暗,明屬火,火色赤,取象為硃砂;因其道心真知,外暗內明,暗屬水,水色黑,故取象為黑鉛。此無形無象之砂鉛,而非世間有形有像之砂鉛。既識真知靈知之砂鉛,即可以隨手採取而無難矣。然采之必須煉之,若識藥而不知煉藥之法,亦與不識者相等。故曰縱識硃砂與黑鉛,不知火候也如閒。 蓋金丹全賴火侯修持而成。火者修持之功力,候者修持之次序。採藥須知老嫩,練藥須知時節。有文烹之火候,有武煉之火候,有下手之火候,有止歇之火候,有進陽之火候,有退陰之火候,有還丹之火候,有大丹之火候,有增減之火候,有溫養之火候。火候居多,須要大徹大悟,知始知終,方能成功。倘差之毫髮,失之千里,而欲成丹,難矣。

二十八
契論經歌講至真,不將火候著於文。
要知口訣通玄處,須共神仙仔細論。

  古來仙真,契論經歌,所言修真藥物火候,最詳最切,至真不假。雖論之而論不及,雖言之而言不盡,何嘗不將火候著於文哉?但契論經歌,其意深奧,或言性,或言命,或言藥,或言火,或言修命火候,或言修性火候,或言外火候,或言內火候,非不言火候也。但言之散亂不整,若不遇明師,整網提綱,疊衣提領,不能知耳。故曰不將火候著於文。又曰須共神仙仔細論。此是教人參究契論經歌,又求明師印證,不得置契論經歌於不讀,專求於師;亦不可以契論經歌為自悟,而不求師。如果契論經歌無火候,何以雲契論經歌講至真乎?大抵學人,契論經歌亦要讀,明師亦要求。讀契論經歌,所以辯邪正真假,擴充識見,訪求明師,所以印證其所辨所見之理耳。自參求師,缺一不可。

言采陽火候:

二十九
八月十五玩蟾輝,正是金精壯盛時。
若到一陽才動處,便宜進火莫延遲。

才動:一本「才起」。

  月到中秋之時,金精壯盛,道至剛健中正,本性圓明。圓明之功,全在道心耳。一陽才動處,即道心一點真知之陽光,才動而未大動,天根方露端倪。當此之時,急須下手進火,采入造化爐中,漸采漸煉,由微而著;自一陽而必至六陽純全,亦如中秋之月,分外光輝,照徹宇宙。莫延遲三字,乃吃緊語,蓋道心真知之光,難得而易失,若稍延遲,光氣又散,當面錯過也。

言抽添火候:

三十
一陽才動作丹時,鉛鼎溫溫照幌帷。
受氣之初容易得,抽添運用切防危。

  此詩緊接上詩而言。一陽才動,收歸鼎內,心平氣和,虛室生白,光輝內聚,暗中出明,如照幌幃矣。崔公云:”受氣吉,防成凶。”蓋一陽來復容易,而純全最難,必須防危慮險,用抽添增減之功,方能濟事。抽者,減去人心靈知之有餘;添者,增其道心真知之不足。抽之又抽、添之又添,直到無可抽添處,人心不起,道心常存,真知靈知相合,內外光明,方無半夜風雷之患。特以道心初復,陽氣微弱,陰氣正盛,若無抽添之功,稍有懈怠,得而復失,故抽添之功為貴,抽添之功,即是防危之功,非抽添之外,又有一防危。抽添不在防危之外,防危即在抽添之中,兩者一事,學者須要著眼。

言溫養火候:

三十一
玄珠有像逐陽生,陽極陰消漸剝形。
十月霜飛丹始熟,此時神鬼也須驚。

  元(系”玄”字之誤)珠者,至陽之珠,為圓明不昧之物,乃金丹之別名,即人當初良知良能之本性,這個本性,寂然不動,感而遂通,象乎玄珠。此珠是道心一點剛健真知,集義所生而成象,生而又生,浩氣充塞,光輝圓滿,陽之極矣。陽極須當以陰接之。陰消剝形,借陰養陽,化去陽剛之燥氣。漸剝者,必用十月之功也。十月溫養,礦盡金純,化為靈霜,真空而含妙有,妙有而藏真空,不識不知,順帝之則,如霜飛虛空,不落有無之象,而丹始熟矣。到此地位,造化不能拘,萬物不能移;功成人間,名錄天上,神鬼怎得不驚乎?

言結胎火候:

三十二
前弦之後後弦前,藥味平平氣象全。
采得歸來爐裡鍛,煉成溫養自烹煎。

  前弦者,陰中之陽,真知歸於中正也,後弦者,陽中之陰,靈知歸於中正也。真知靈知,俱歸中正,剛柔相當,其相當處,是謂前弦之後,後弦之前。當此之時,真知靈知,大小無傷,兩國俱全。其中生出先天一點靈苗,藥味平平,陰陽混成,急當採取,收入造化爐中,鍛鍊成真,結為聖胎。到此地位,藥即是火,火即是藥,用十月溫養之功,自有天然真火烹煎,由微而著,無形生形矣。

言陰陽歸中:

三十三
長男乍飲西方酒,少女初開北地花。
若使青娥相見後,一時關鎖在黃家。

  長男為震。西方酒者,金水也。初三月現庚方,至陰之下,一陽下生,在卦象震,故曰長男乍飲西方酒。少女為兌。北地花者,水中生金花也。月華之生,自兌至坤,陰中陽現,故曰少女初開北地花,二句皆肖一陽發生之象。曰乍飲,是生平未飲,而今忽飲。曰初開,是前次未開,而今方開。乍飲初開,俱寫道心真知易失而難尋之意。蓋道心埋沒已久,真知有昧,忽於至靜之中,偶然發現,如乍飲酒初開花。此便是返還之機,良宵佳逢,不可錯過,須當乘時採取,與靈知配合,關鎖於中央黃庭室內,夫妻相見,自然生丹。靈知為性,陽中之陰,屬木,木色青,故以靈知取象為青娥。真知靈知相見,同心一氣,自然歸於中央。但歸則歸矣,若不知關鎖,恐有合而復離之患。既關之,又鎖之,門戶緊封,不合者而必合,既合者而常合。張三丰所謂”東家女,西舍郎,配作夫妻入洞房;黃婆勸飲醍醐酒,一日掀開醉一場”者是也。關鎖二字有防危慮險之功,蓋陰陽初會,性情猶未純一,必須勿忘勿助,嚴密防護,方能無滲無漏,金丹自虛無中凝結矣。此乃天機,非師罔知。

言沐浴:

三十四
兔雞之月及其時,刑得臨門藥象之。
到此金丹宜沐浴,若還加火必傾危。

金丹:一本「金砂」。

  卯兔之月為春分,陽氣升於天地之中,酉雞之月為秋分,陰氣升於天地之中。春分屬木,生氣也,為德;秋分屬金,殺氣也,為刑。德所以生物,刑所以成物。非刑不成德,非德不全刑。有刑有德,而天地造化,得以一氣流行,循環不已矣。修道者,真知之剛,歸於中正,如秋分也;靈知之柔,歸於中正,如春分也;真知靈知,俱歸中正,如春分之德,秋分之刑也。真知之剛健,所以制人心之邪氣,靈知之柔順,所以養道心之正氣。宜剛即剛,宜柔即柔,不失其時,則剛柔中正,如春分秋分,各有其時。故曰兔雞之月及其時也。剛中有柔,柔中有剛,剛柔如一,則真靈不散,如春德秋刑,兩者迭運,故曰刑德臨門,藥象之也。道至剛柔中正,道心常存,人心至靜;真知至靈,靈知至真。真靈合一,良知良能,金丹有像,可以沐浴溫養而灶底抽薪也。否則,不知止足,而猶加火鍛鍊,則剛而太過,柔而不及,剛柔仍不中正,藥枯丹傷,傾危豈能免乎?

言文烹武煉:

三十五
日月三旬一遇逢,以時易日法神功。
守城野戰知凶吉,增得靈砂滿鼎紅。

  月本無光,借日生光。一歲與日十二會;一月三十日;晦朔之間一會。人之真知埋藏,純陰無陽,如月之無光也,必借靈知而後生光。當靈知真知相會之時,亦如日月三十日遇逢也。至人效日月相會之象,以三十日移於一日之中,又以一日移於一時之中。一時振發剛氣,借人心生道心,以道心制人心;依靈知生真知,以真知點靈知。采鴻濛未判之始氣以為丹母,准陰陽變化之神機以為火候。是道也,有文烹,有武煉。守城者,文烹也;野戰者,武煉也。當文而文,當武而武,為吉,當文而武,當武而文,為凶。文火者,迴光返照,黜聰毀智,專心而養正氣,如守城也。武火者,懲忿窒慾,去妄存誠,猛力以除客氣,如野戰也。知的文武,明的凶吉,有事則用武火,無事則用文火。文烹武煉,陰氣盡而陽氣純,真知靈知相合,化為良知良能,妙覺本性;圓陀陀、光灼灼,淨裸裸、赤灑灑;寂然不動,感而遂通,感而遂通,寂然不動,渾然天理,絕無人欲。猶如靈砂滿鼎紅矣。砂至於靈,氣質盡化,非色非空,非有非無,純是清陽之氣,服之可以卻病延年,消災免難,還複本性,虛靈不昧,真空妙有,造化不能限,陰陽不能拘,萬物不能傷;亦猶是耳。然世間亦有知凶吉,而不下肯心用神功者,何哉?

言卦意二首:

三十六
否泰才交萬物盈,屯蒙二卦稟生成。
此中得意休求象,若究群爻謾役情。

  乾上坤下(),天氣自上而下降,地氣自下而上升,陰陽不交而為否。坤上乾下(),地氣自上而下降,天氣自下而上升,陰陽相交而為泰。否極泰來,陰陽才交,萬物即於此而盡皆發生,盈滿宇內矣。屯者()坎上震下,水中有雷,陰中陽生,所以散陰而生物。蒙者()艮上坎下,山下有水,陽陷陰中,所以養陽而成物。否泰者,萬物之通塞;屯蒙者,萬物之生成。通塞生成,總是一陰一陽來往運用之。陰陽來往,萬物通塞生成,皆自然而然,非有強作也。修真之道,剛柔未合,即否也;剛柔相合,即泰也。當剛而即進剛以修真,即屯也;當柔而即運柔以養真,即蒙也。知通知塞,能修能養,剛柔隨時而用,變化裁成六十四卦,即在吾方寸之中矣。
  大抵卦象所以出意,得意可以忘象。若不知卦之意,僅執其卦之象,必欲一陽二陽三陽而行泰,必欲一陰二陰三陰而御否。生三陽行泰,其說猶近於理。至於生三陰御否,不亦難乎?更有以天之子時,謂陽氣在坎而動,遇子而守腎,為朝屯。以天之午時,謂陽氣有限而止,遇午而守心,為暮蒙。噫!以此而謂否泰屯蒙,六十四卦群爻焉能行的盡合?倘究群爻而欲盡合之,豈不枉役情乎?古仙云:”不必天邊尋子午,身中自有一陽生。”可為行卦爻者之明證,學者須當三思。

三十七
卦中設象本儀形,得意忘言意自明。
舉世迷徒惟執象,卻行卦氣望飛昇。

得像:一本「得意」。

執象:一本「泥像」。

  《周易》六十四卦,三百八十四爻,不過明陽儀陰儀、中正不中正之形象耳。若得其陰陽中正不中正之意,可以調和陰陽,自合卦象矣。奈何世之迷徒,不究其意,卻執其象,必欲朝而行屯,暮而行蒙,始於屯蒙,終於既未,而行卦氣,希望成道飛昇,愚之甚矣。

  殊不知古來仙真,所謂朝屯暮蒙者,是教人知陽生即屯,陽陷即蒙也。陽生如晝之朝,陽陷如夜之昏。當陽生之時,而即進陽火以采陽,是謂朝屯;當陽陷之時,而即運陰符以養陽,是謂暮蒙。所謂既濟、未濟者,是教人知陰陽已合即既濟,陰陽未合即未濟。陰陽已合,金丹凝結,陽火事畢,既濟須防不濟,陰符之功,所必用也。陰陽不合,金丹不結,陰符無用,未濟急須致濟,陽火之功,所必行也。此卦中所藏之意,即此四卦之意,以推之,其餘六十卦,無非一陰一陽之變化,故曰得像忘言意自明。苟明其卦象之意,天關在手,地軸由心,信步走去,頭頭是道,不必執卦象而自合卦象。噫!金蝦蟆,玉老鴉,認得真的是作家。

言庚甲:

三十八
天地盈虛自有時,審能消息始知機。
由來庚甲申明令,殺盡三屍道可期。

  天地之道,一盈一虛之道。盈極則虛,虛極則盈,自有其時,修道者,能審明盈虛之實理,而能克消其陰,生息其陽,始謂知盈虛消息之機矣。夫克消其陰者,即虛之機也,生息其陽者,即盈之機也。然消之息之,總不離真知之情、靈知之性。真知之情剛,屬於庚金;靈知之性柔,屬於甲木。剛以御外,而制伏客氣;柔以處內,而靜養天真。剛柔兩用,內外兼修,是謂庚甲申明令。令明則剛柔得宜,消息隨時,正氣充而邪氣化;內念不出,外物不入;無眼耳鼻舌身意,無聲色聲香味觸法,淨裸裸,赤灑灑,是謂殺盡三屍。三屍殺盡,群陰悉化,大道可冀。此詩著重處,全在審能消息始知機一句。審者,詳細熟究,無微不入,功深日久,方能見真。能見其真,得心應手,方能消息。能消息方是知機;若不能消息,猶不得謂知機。不知機,是理未曾審辨透徹,如何申明令而殺三屍?故正心誠意之學,全在格物致知也。

言元牝二首:

三十九
要得穀神長不死,須憑玄牝立根基。
真精即返黃金室,一顆靈光永不離。

  穀神者,先天虛無之一氣,所謂聖胎者是也。此氣非色非空,即色即空,在恍惚杳冥之中,視之不見,聽之不聞,搏之不得,乃道心人心之界,真知靈知之根,剛情柔性之本,生天生地生人。儒所謂”太極”,又謂”至善”,又謂”至誠”;釋所謂”圓覺”,又謂”法身”,又謂”舍利”;道所謂”金丹”,又謂”聖胎”,又謂”穀神”。其實是人生本來良知良能,空谷虛靈之神耳。這個穀神,落於後天,陰陽分判,假者用事,真者退位,穀神埋藏如死矣。
  欲修金丹,必須活此穀神;欲活穀神,先須調和陰陽;陰陽不和,穀神不結。元為陽,剛健之情是也,牝為陰,柔順之性是也。有剛有柔,則穀神長生,不死之根基立矣。蓋穀神是剛柔中正,兩弦之氣,交合而成。兩弦交合,恍惚杳冥,其中有物,是曰真一之精。真一之精,即穀神之別名,未經鍛鍊,忽存忽亡,是謂真精;已經鍛鍊,凝結不散,是謂穀神。真精既返黃金室,則精一歸中,而穀神凝結矣。穀神凝結,道心常存,人心馴順,真知靈知合一;良知良能,渾然天理,寂然不動,感而遂通;感而遂通,寂然不動,常應常靜,一顆靈光永不離矣。靈光永不離,即是穀神長不死。穀神不死,即仙翁所云”一粒金丹吞入腹,始知我命不由天”也。穀神真精靈光,仍是一個物事,不過就已成未成分別言之,非有三樣,學者須知。

四十
玄牝之門世罕知,休將口鼻妄施為。
饒君吐納經多載,爭得金烏搦兔兒。

多載:一本「千載」。

  老子云:「穀神不死,是謂元牝。」元牝之門,是謂天地根。元者,乾陽,剛健之德;牝者,坤陰,柔順之德。陽主動,陰主靜,穀神之動靜,即元牝之門也。這個門,生天生地生人物,至無而含至有,至虛而含至實,在人身為四大不著之處。天地之正中,虛懸一穴,開闔有時,動靜自然,本無定位,亦無形象,又號之曰元關竅。元關者,至虛至靈,有無不立也,又號之曰眾妙之門。眾妙者,無理不具,無德不備也。若以口鼻為玄牝,吐納濁氣,安能驅金烏玉兔歸於黃道,凝而為至靈之丹乎?金烏者,日之象,陽中有陰,在人為柔順中正之德,即靈知之靈性也。玉兔者,月之象,陰中有陽,在人為剛健中正之德,即真知之真情也。靈知真知,中正之德,即陽元陰牝,兩弦之氣。穀神乃兩弦之氣凝結而成。不知元牝,安知烏兔?不知烏兔,安能穀神不死而長生耶?噫!是門為何門,順去死,逆來活,往往教君尋不著,元牝豈易知哉!

言性情:

四十一
異名同出少人知,兩者玄玄是要機。
保命全形明損益,紫金丹藥最靈奇。

  金丹之道,只是一剛一柔,兩味藥料,別無他物。剛屬於真知之情,柔屬於靈知之性。一性一情,兩者雖名有異,而實同出於先天虛無真一之氣。真一之氣,即前詩所謂穀神,性情即前詩所謂元牝。這元牝兩者,元之又元,為不死穀神之要機。蓋先天自然之道,穀神而生元牝,後天返還之道,元牝而成穀神。元牝不交,穀神不結。元牝為要機者,正所以結穀神耳。元牝立,穀神結,可以保命,可以全形,更明進陽之益,退陰之損。益陽而至於無可益,損陰而至於無可損。陰盡陽純,穀神長生,渾然一氣,絕無滓質,圓陀陀,光灼灼,淨裸裸,赤灑灑,造化不能拘,萬物不能傷。如火候煉成紫金丹藥,起死回生,最靈最奇也。

言有為:

四十二
始於有作人難見,及至無為眾始知。
但見無為為要妙,豈知有作是根基。

  古真雲「性命必須雙修,功夫還要兩段」。蓋金丹之道,一修命、一修性之道。修命之道,有作之道,修性之道,無為之道。有作之道,以術延命也;無為之道,以道全形也。始於有作者,有作之道,以造命也。造命之學,全以法運。盜鴻濛未判之始氣,扭天地造化之樞機,返二十四氣之節口,回七十二候之要道。天地不能知,鬼神不能測,蓍龜不能佔。雖天地鬼神蓍龜,且不能知,人焉得而能見之乎?終而無為者,用無為之道,以修性也。修性之道,抱元守一,萬物皆空,如雞抱卵,如蚌含珠。功夫到日,至誠前知,慧心大開,聲入心通,吉凶先知,禍福預曉,誰不知之。但人只知無為之道為要妙,而不知有作之道是根基。不知有作,而只無為;不但不能修命,而亦不能修性。縱有所修,亦不過修後天氣質之性,豈能修先天根本之性乎?根本之性,天命之性也。本來性命一家,並無兩事,因交後天,陰陽相離,一而成兩,性命各別矣。性命各別,於是性不能顧命,命不能顧性。命為物奪,不能自主,性亦由是而亂。性亂命搖,邪正相混,理欲交雜,假者用事,真者退位,日復一日,年復一年,陰氣剝陽於盡,性命未有不傾喪者。故金丹之道,必先有為,於後天中返先天,還我原來命寶。命寶到手,主宰由我,不為造化所移。於是抱元守一,行無為之道,以了真空本性,直超最上一乘之妙道矣。奈何一切頑空寂滅之徒,只知無為,不知有作者,何哉!

言雌雄:

四十三
黑中有白為丹母,雄裡懷雌是聖胎。
太乙在爐宜慎守,三田聚寶應三台。

  黑中有白者,道心所發之真知,為剛健中正之德,故謂丹母。雄裡懷雌者,人心本來之靈知,為柔順中正之德,故謂聖胎。健順合一,剛柔同氣,人心亦化為道心,靈知亦歸於真知,是名太乙含真氣。太乙即陰陽混合精一之神,乃金丹之別名。將此太乙真氣,入於造化爐中,溫之養之,謹封牢藏,守而勿失。則精全氣全神全,三田聚寶,如三台輔極,而造化在手矣。三田非關元、黃庭、泥丸之說,亦非丹田、絳宮、天谷之說,亦非尾閭、夾脊、玉枕之說;乃先天精、氣、神三品大藥所生之處,無形無象,亦無方所。以其是精氣神所生之處,故謂田;以其精氣神三者分言,故謂三田。其實三田總是一田,三寶總是一寶。因其有煉精化氣,煉氣化神,煉神化虛三層功夫,故以三田分言之。若到煉神化虛時,只有一虛,而精、氣、神亦歸於無跡,更何有三田之說乎?

言有無:

四十四
恍惚之中尋有像,杳冥之內覓真精。
有無從此自相入,未見如何想得成。

  恍惚者,非色非空,不定之象;杳冥者,至寂至靜,不睹之處。恍惚中有像,靈知也,杳冥內真精,真知也。靈知外陽而內陰,為有中之無:真知外陰而內陽,為無中之有。修道者欲成金丹,須在恍惚中尋靈知,杳冥內覓真知。果能心會神悟,認得真實,是謂已見。既已見的,以真知而制靈知,以靈知而養真知,則有無從此眷戀,自相入而交感,金丹立成。否則,不知恍惚中象,杳冥內精,是未見金丹藥料是何物色,而欲妄想結丹,如何想得成乎?

言服丹二首:

四十五
四象會時玄體就,五行全處紫金明。
脫胎入口身通聖,無限龍神盡失驚。

紫金:一本「紫光」。

  金丹之道,全是攢簇五行,和合四象。若四象會,則性情精神相合,而元體已就,更能允執厥中,用天然真火鍛鍊,是謂五行全。五行既全,仁、義、禮、智,皆歸一信;性、情、精、神,皆化一氣。健順混合,剛柔無跡,真知靈知,亦變而為良知良能,至善無惡,混然天理,圓通無礙,虛靈不昧,具眾理而應萬事,如黃金鍛為紫金,光明外射;吞而服之,化盡後天群陰,露出先天法身,入於聖人之基,我命由我不由天,龍神焉得不驚乎?入口之義,乃頓悟之謂,非服食之說。先天之氣,鍛鍊成熟,忽的由漸而頓,自明而誠,如丹藥入口,萬病俱消,所以身能通聖。學者須要會的言外意,不得泥文執象。若以入口視為口中吞服,試思先天之氣,無形無象,吞個甚麼?服個甚麼?於此可以曉然矣。

四十六
華池宴罷月澄輝,跨個金龍訪紫微。
從此眾仙相見後,海潮陵谷任遷移。

海潮:一本「海田」。

  華池宴罷者,取坎中真陽,入於造化爐中,道心穩定而實其腹也。月澄輝者,道心常存,真知慧光朗照,不隱不瞞也。跨個金龍者,乾為金,為龍。取坎中道心真知之一陽,填離中人心靈知之一陰,靈知亦化為真知,離復成乾,本來面目全現,渾然天理,圓陀陀,光灼灼,純陽無陰矣。訪紫微者,紫微大帝,乃造化之主宰,列星之樞紐。修道而至復成乾體,主宰在我,天關在手,地軸由心,造化不能拘,萬物不能移,訪紫微而與天為徒,功成人間,名標天上。從此眾仙相見,任他海水潮泛,陵谷遷移,而法身永久不壞矣。

言丹自內結:

四十七
要知金液還丹法,須向家園下種栽。
不假吹噓並著力,自然丹熟脫真胎。

  金液還丹之法,大藥至近不遙,功夫約而不繁,家園自有藥物,可以隨時栽種,不須外邊爐鼎吹噓運火之力,而自然成熟脫化。
  夫丹者,先天虛無真一之氣,系混沌初分之靈根,為生物之祖氣,含而為真空,發而為妙有,用而為道心,養而為穀神;至無而含至有,至虛而含至實,內有五行之氣,而無五行之質;藏於五行之中,而不落於五行。為聖為賢,作佛作仙,皆由這個。這個不是別物,即吾本來非色非空,秉彝之良。只緣交於後天,識神用事,埋沒不見,若遇真師點破,始知的家園自有,不從他得,一種即生,由微而著,自然成熟。仙翁曰:”須向家園下種栽。”一切旁門外道,向身外搜求者,可以醒悟回頭矣。

言藥自外來:

四十八
休施巧偽為功力,認取他家不死方。
壺內旋添延命酒,鼎中收取返魂漿。

  上詩言家園下種栽,恐人執一身而修,故此緊接曰:「休施巧偽為功力,認取他家不死方。」所謂家園下種栽者,特以金丹藥物,處聖不增,處凡不減,人人具足,個個圓成,不待他求,家園自有也。所謂他家不死方者,特以先天之氣,交於後天,識神用事,陽為陰陷,如我家之物,而為他家所有矣。若欲返本還元,必用追攝之法,方能先天真陽,已去者而復來,既來仍是我家之物矣。蓋未來屬他,已來屬我。因有未來已來之時,即有他家我家之別。故當未來之時,須要腳踏實地,漸采漸煉,旋添旋收,以行有為之功。雖曰有為,其實無為。曰有為者,竊陰陽,奪造化,非他一切巧偽之術,皆自然之運用。旋添延命酒者,增道心之真知,以固命也。收取返魂漿者,虛人心之靈知,以養性也。延命酒者,金汁也;返魂漿者,木液也。添其金,收其木,金木相併,情性合一,真知靈知凝結,丹元有像。旋添收取四字,最有深意,蓋陰陽散渙已久,若不旋添收取,漸次而進,金木不能相併,性情不能相合。惟旋添收取,日乾夕惕, 勿忘勿助,日久功深,金木自然相併,性情自然和合,方能延得命,返得魂,而入於長生不死之地也。

言內外二丹:

四十九
雪山一味好醍醐,傾入東陽造化爐。
若過崑崙西北去,張騫始得見麻姑。

  雪山在西,為金,象元情;醍醐為水,象元精;東陽為木,象元性;造化爐為火,象元神。取元情元精之金水,傾入於元性元神之木火。以木火而煉金水,以金水而製木火。刑以成德,德以全刑,刑德兩用,則金木相併,水火相濟,四象和合而丹還矣。此外丹法象也。崑崙山在大地之西北,為萬山之祖脈,比之先天真一之氣,為生物之祖氣。西北屬乾,在地至高之處,高者為陽。張騫陽也,麻姑陰也。當還丹已結,化為真一之氣,由微而著,陽氣充足,大藥發生,渾然天理,剛健中正,脫出一粒至陽之丹。以此丹而點一身後天之陰,如貓捕鼠,假陰化而真陰現,陰陽混合,結為聖胎,故曰「若過崑崙西北去,張騫始得見麻姑。」「始得見」三字,內包功夫層次,言還丹未到陽極之時,張騫未許見麻姑;若養到陽極之時,張騫始得見麻姑。真陰真陽相見,道心人心俱化而為良心;真知靈知,盡變而為良知,一粒黍米之珠,懸於虛無之中,非色非空,照見三千大千世界,絕無遮礙,此內丹法象也。外丹者,已失而復得,從外而還於內,還丹是也;內丹者,已還而鍛去陰氣,從內而發現真白,大丹是也。外丹成,內丹就,功成名遂。逍遙於無何有之鄉矣。

言陽精:

五十
不識陽精及主賓,知他那個是疏親。
房中空閉尾閭穴,誤殺閻浮多少人!

  緣督子曰:”一點陽精,秘在形山,不在心腎,而在乎元關一竅。所謂陽精者,以其至陽至精,而無一毫陰濁之氣也。即本來剛健中正,純粹之精,藏之則為真空,發之則為妙有,所謂秉彝之良心,又謂道心,非後天至陰至濁之精可比,夫陽精在人身中,主宰造化,卻除諸邪。古人名之曰真一之精,又曰真一之水,又曰真一之氣,其實皆道心陽精之一物耳。陽精者,先天地所生,為主;陰精者,後天地所生,為賓。主者與我相親,賓者與我相疏。錯認陰精為陽精,行房中御女之術,閉尾閭,勒陰精,妄想結丹,焉能成之?陽精雖是房中得之,而非房屋之房,乃是一身之房。如仙翁所謂家家有,家圓種,同一寓意,豈得認為房屋之房乎?學人欲識陽精,先覓元關。知的元關,陽精在是矣。

言返本:

五十一
萬物芸芸各返根,返根覆命即長存。
知常返本人難會,妄作招凶往往聞。

  萬物春生夏長,秋斂冬藏,此常道也。既生長之而又斂藏之,是謂返根。返之於根,是謂覆命。覆命者,復其天命之生氣也。生氣即復,自根而又發,故得以常存而不死矣。人能知萬物常存之天機,而能返根覆命,則亦常存而仙矣。
  但知常返本之道,其理幽深,其功細微,有藥物之老嫩,有火候之急緩,有內藥物,有外藥物;有內火候,有外火候;有文火候,有武火候;有採藥火候,有鍛鍊火候;有結丹火候,有脫丹火候;有修命火候,有修性火候。這些層次,須要真師一一傳授,方可行持。否則,不知求詢於人,依自己聰明識見,臆度私猜,以為會悟,而便冒然下手。殊不知差之毫髮,失之千里,妄作招凶,理有可決!

言慧劍:

五十二
歐冶親傳鑄劍方,莫耶金水配柔剛。
煉成便會知人意,萬里誅妖一電光。

  劍者,護身之物,乃作佛成仙之慧器,為聖為賢之把柄,即所謂還丹也。非還丹之外,別有一劍。所謂還丹者,即還本來良知良能,剛柔合一之真靈。鑄劍即鑄此良知良能,剛柔合一之慧器。以體言則為丹,以用言則為劍。其實劍也,丹也,總是一個,無有兩件。古有歐冶鑄劍,屢次不成,其妻莫耶,跳入爐中,一火成功。世稱莫耶寶劍,其鋒利無比。修真之道,鑄劍為先,取剛柔中正之氣,用水火鍛鍊成寶,名曰慧劍,佩帶身旁,隨心使用,萬里誅妖一電光耳。仙翁以歐冶、莫耶,喻剛柔相合之義,良有妙旨,修道者須要知的剛柔,俱要歸於中正,方能點化後天之陰。若宜剛而或柔,宜柔而或剛,或剛而過躁,或柔而太懦,不中不正,便是鑄劍不成。鑄劍不成,內無把柄,步步阻滯,將何而完大道乎?然鑄劍之方不易知,剛柔配合最難曉。倘不遇真師親傳口授,枉自猜量耳。

言調和性情:

五十三
敲竹喚龜吞玉芝,鼓琴招鳳飲刀圭。
邇來透體金光現,不與凡人話此規。

  竹為虛心之物,敲之則應。琴為有音之物,調之則和;龜為養氣之物;鳳為文明之物;玉芝為柔嫩長壽之物,刀圭為精粹不雜之物。龜、刀、圭皆屬陽,鳳、玉、芝皆屬陰。金丹之道,虛心實腹兩件事,其外再無別法。人心虛,則道心生,而腹實,如敲竹喚龜也。腹既實,以道心之剛,制人心之柔,如龜吞玉芝也。真知現,則靈知靜而心明,如鼓琴招鳳也。心既明,以靈知之性,養真知之情,如鳳飲刀圭也。道心真知,人心靈知,虛實相應,剛柔如一,常應常靜,圓陀陀、光灼灼、淨裸裸,赤灑灑,透體玲瓏,內外光明,入於從容中道聖人之域。此系竊陰陽,奪造化,轉乾坤,扭氣機,先天而天弗違之道,安可與凡人話之乎

言漸頓:

五十四
藥逢氣類方成象,道在希夷合自然。
一粒靈丹吞入腹,始知我命不由天。

  同氣同類之藥,真知之真陽、靈知之真陰是也。真陰真陽,兩而交合,方能自無象而凝結成象矣。聽之不聞,名曰希;視之不見,名曰夷。不聞不見,道歸於虛,一氣渾然,活活潑潑的,無思也,無為也,寂然不動,感而遂通,天下之故,無待勉強,合於自然。始而陰陽凝結,既而陰陽渾化,一粒靈丹,懸於虛空之中,大地山河,無處不照,吞而服之,光生五內,消盡群陰,換過後天爻象,始知我命由我不由天矣。上二句由勉強而歸於自然,三句由自然而歸於頓悟。靈丹入腹,即頓悟之義。修道至於頓悟,有無俱不立,天地悉歸空,跳出陰陽之外,不為陰陽所拘,命由自主,不由天主。若未到頓悟之時,猶在陰陽中出入,而命尚由於天,玩一始字可知矣。

言結丹至易:

五十五
赫赫金丹一日成,古仙垂語實堪聽。
若言九載三年者,儘是遷延款日辰。

  金丹大藥,人人具足,家家現成。若能窮究實理,訪拜明師,知的真知靈知二藥,認得元關一竅,果下肯心,直登彼岸,一日之功,即可成赫赫至陽之丹,何用三年九載!此古仙垂語,真實不妄。但結丹在一時,溫養須十月。苟無溫養之功,金丹不固,必至得而復失。所言一日成者,特以陰陽交合言之,非金丹成熟之謂。成熟必須陰符陽火抽添增損之功,增之又增,損之又損,直至增無可增,損無可損,方才全的一個赫赫至陽之丹。若果是成熟之丹,豈有一日成熟之理?仙翁前詩云:”縱識硃砂與黑鉛,不知火候也如閒;大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。”後詞云:”若要修成九轉,先須煉己持心。”於此可以知金丹一日成之意矣。

言德行:

五十六
大藥修之有易難,也知由我亦由天。
若非修行積陰德,動有群魔作障緣。

  上詩言一日成丹,是不難矣。但恐學者輕慢大道,不修德行,妄冀仙道,故此詩以德行曉之。天之所命於人者,德也;人之所以報天者,亦德也。有德則天喜,修命甚易而由我;無德則天怒,修道甚難而由天。此何以故?蓋無德無行,鬼神不容。動有魔障阻擋,患難疾病,半途而廢,勢所必有。故修道者必以修德為先。德重,則以之學道而道易學,以之修道而道易修,特以天喜而魔障自化也。

言盜機:

五十七
三才相盜及其時,道德神仙隱此機。
萬化既安諸慮息,百骸俱理證無為。

  三才相盜者,天地為萬物之盜,萬物為人之盜,人為萬物之盜。及時者,萬物盜天地之氣而榮旺,天地即因萬物榮旺而及時收斂之,是天地者,即萬物之盜也。人見萬物而生貪痴,萬物即因人貪痴,而及時奪人之精神,是萬物者,即人之盜也。萬物得人栽培而成實,人因萬物成實而及時取用之,是人者又萬物之盜也。及時之盜,有先與後取之機,亙古神仙隱而不露。其隱者以其及時而盜之機,竊陰陽,奪造化,轉生殺,扭氣機,消客氣,扶正氣。故萬化安,諸慮息,百骸理,證於無為自然之道也。此詩著重處在及時二字。及時而盜,則天地萬物之氣為我得;失時而盜,則我之氣早為天地萬物奪。及時即盜也,不及時非盜也。時之一字微矣哉。

言窮理:

五十八
陰符寶字愈三百,道德靈文滿五千。
今古上仙無限數,盡於此處達真詮。

  《陰符》、《道德》二書,乃修真之祖書。洩天地造化之機,露陰陽生殺之竅。自古及今,上士至人,皆於二經窮究實理,得達真詮,以了性命。即如仙翁《悟真》一書,亦本《陰符》、《道德》而作,學者若能明悟真,則《陰符》、《道德》之義,亦可了了。

言求師:

五十九
饒君聰慧過顏閔,不遇真師莫強猜。
只為金丹無口訣,教君何處結靈胎。

  上經言《陰符》、《道德》,為寶字靈文,學者宜向其中窮究矣。但恐學人執著丹經,自以為是,而不求人,故此詩教人急訪真師耳。
  丹經子書,藥物火候,無一不備,其中譬喻多端,無非使人人明此理,個個知此道也。但性命之學,幽隱深奧,未易辨真。如有所見所悟,必須求師印證。若不求師,自負聰明,強猜私議,豈不耽誤性命乎?故曰饒君聰慧過顏閔,不遇真師莫強猜。夫性命之道,惟采先天之氣為要著。但先天之氣,無形無象,視之不見,聽之不聞,搏之不得,如之何而修煉?如之何而返還?丹經子書,未嘗不言此氣也,未嘗不言修練也,未嘗不言返還也。但極力言之而言不像,極力論之而論不及。必借真師口傳心授,方能認得藥物,明得火候,一往直前,無阻無擋。否則,不求師訣,徒依丹經話頭,稍分枝葉,自謂大徹大悟,而即任意做作,不著於空,即執於相,將在何處而結靈胎乎?此真師口訣不可不急求也。

言息機:

六十
了了心猿方寸機,三千功行與天齊。
自然有鼎烹龍虎,何必擔家戀子妻。

  學人不能明道成道者,皆由心之不定,腳根不實之故。若果萬緣皆空,俯視一切,損之又損,以至於無為,方寸清靜,則內功成矣。更加積德修行,苦己利人,處處方便,富貴不能淫,貧賤不能移,威武不能屈,死心踏地,隨緣度日,煩惱盡除,則外功就矣。內功成,外功就,三千功滿,德與天配,即可壽與天齊。所謂有大德者,必得其壽也。夫人心方寸之中,絲毫塵埃容不得,稍有塵埃,性情不合,龍虎張狂,有等等凶險之事生出。若果心機去盡,空空洞洞,不必別尋鼎器,即此便是鼎器。鼎器既立,則一動一靜,不識不知,順帝之則,性情合一,和氣燻蒸,即此便是烹龍虎,不必再問烹龍虎。是道也,藥物現成,鼎器自有。知之者,雖庸愚小人,勤而行之,可登聖位。但世人看不破世事,認不真性命,貪戀子妻,牽纏不斷,費盡心機,油涸燈滅,髓竭人亡,哀哉!

言止足:

六十一
未煉還丹即速煉,煉了還須知止足。
若也持盈未已心,不免一朝遭殆辱。

  還丹者,還其人生之初,良知良能,剛柔合一,真靈之本性也。夫人自陽極生陰,先天入於後天,良知變為假知,良能變為假能。剛柔不當,真靈有昧,如我家之物遺失於外矣。還者,還其所本有,如物已失而復得,已去而仍還也。蓋還丹之道,有進退急緩,修養止足之火候,須要隨時運用,因事制宜,不可太過,不可不及。故丹未還之時,勇猛精進,漸采漸煉,急求其還。若丹已還,仍是良知良能,剛柔合一,真靈不昧之物。功力已到,藥氣已足,有為事畢,無為事彰,速當住火停輪,釜底抽薪,用溫養之功,防危慮險,保此一點真靈,在造化爐中。天然真火,自烹自煎,化盡群陰,脫出一個金剛不壞之物,方為全吉。否則,當丹已還,不知止足,持盈未已,而猶加火鍛鍊,陽氣亢燥,藥物枯老,真者去而假者生,得而復失,一朝殆辱,烏能免諸。昔純陽翁三次還丹不成,紫清翁半夜風雷之患,皆因於此。蓋文烹武煉,各有其時;陽火陰符,各有妙用。差之毫髮,失之千里,修道者可不慎乎?

言生殺二首:

六十二
須將死戶為生戶,莫執生門號死門;
若會殺機明反覆,始知害裡卻生恩。

  生門死戶,原是一個。即元關一竅之門戶也。這個門戶,內藏五行之氣,順之則五行相傷,各自一家,五德變為五賊,生戶即是死戶,生門即是死門;逆之則五行相生,同歸一氣,五賊化為五德,死戶即是生戶,死門即是生門。生死之機,只在順逆之間耳。若會的殺機中求生機,反覆用之,則害裡生恩,死門死戶,可變而為生門生戶,即長生不死矣。戶數奇,門數偶,死戶變生戶,假陽去而真陽生;死門變生門,假陰退而真陰生。真陰真陽生,兩而合一,仍是當年至善無惡之本面。至善無惡,渾然天理,流行不息,生機常存,豈有不延年益壽者哉!

六十三
禍福由來互倚伏,還如影響相隨逐。
若能轉此生殺機,反掌之間災變福。

  世間感應之道,福去則禍來,禍去則福來。禍福互相倚伏,如影隨形,如響逐聲。修道者知禍福倚伏,即可知吾身生殺倚伏。若能轉此生殺之機,殺裡求生,則反掌之間,災即變幅,絕不費力也。生殺之機,即吾身所具五行之氣。五行之氣,順之則德中有刑,而為殺機,逆之則刑中有德,而為生機。生機者存,殺機者亡。經云:”五行順行,法界火坑;五行顛倒,大地七寶。”順逆之間,生殺系之。轉之一字,大有力量,非有與天地合德,與日月合明者不能轉;非有與四時合序,與鬼神合吉凶者不能轉;非有俯視一切,萬物皆空,以道為己任者不能轉。噫!非知之艱,行之惟艱,生殺之機,豈易轉哉?

言混俗和光:

六十四
修行混俗且和光,圓即圓兮方即方。
顯晦逆從人莫測,教人爭得見行藏。

  金丹大道,光明正大。在塵世中而修,在市朝中而作,非孤寂守靜,避世離俗之小道。須要混俗和光,方圓應世,顯晦逆從,行藏虛實,使人莫測,方是大作為,大機關。彼索隱行怪之輩,或參禪打坐,或觀空定心,或運氣存想,或搬精弄髓,與夫爐火閨丹,等等旁門,安敢在光天化日之下,眾人觸目之地做作也?不敢在觸目之地做作,必是喪行,不是修行,焉能了的性命?昔達摩觀見東土神州,有大乘氣象,遂入中國,以了大事;慧能既得五祖之傳,隱於四會獵人之中,以成正果;紫賢既得杏林之傳,往通邑大都,依有力者以了性命。如三聖者,皆混俗和光,依世法而修道法,故能成仙作佛。若舍世法,便無道法。既無道法,將何所修而返本還元,保命全形乎?噫!混俗和光之天機,可與知者道,難與不知者言也。

************       

《悟真》直指卷三

宋張紫陽真人著

棲雲山悟元子劉一明解

門人沖和張陽全校閱

 

  五言律詩一首 以象太乙含真氣   

女子著青衣,郎君披素練。
見之不可用,用之不可見。
恍惚裡相逢,杳冥中有變。
一霎火焰飛,真人自出現。

  靈知為陽中之陰,具有柔性。性主生,屬木,木色青,故曰女子著青衣。真知為陰中之陽,具有剛情。情主殺,屬金,金色白,故曰郎君披素練。但性情有先天后天之分。後天者,氣性妄情,乃氣質之性情,有形有像,可見之物,不可用也。先天者,本性真情,乃真空之性情,無形無象,所用之物,不可見也。因其不可見,故在恍惚杳冥之中。曰恍惚、曰杳冥,是有其氣而無其質,視之不見,聽之不聞,搏之不得,如之何凝結而成丹乎?然雖不可見、不可聞、不可搏,而靈知之性,真知之情,有時在恍惚裡相逢,杳冥中變化。於此相逢變化之際,神明默運,收入造化爐中,加火鍛鍊,一霎時間,先天之氣自虛無中來,凝結成象,而真人在暗室中出現矣。此還丹法象,所謂一時辰內管丹成也。此真人出現,乃真陰真陽交合,其中一點生機出現,即所謂聖胎,非十月胎完身外有身之出現。若是身外有身之出現,豈能一霎時間,即能脫胎換骨,身外有身乎?仙翁此詩一首,象太乙含真氣。若有人問真人出現之義,吾則曰:即太乙含真氣也。    

西江月十二首,以象十二月。仙翁曰:”西者金之方,江者水之體,月者丹之用。”

其一
內藥還同外藥,內通外亦須通。丹頭和合類相同,溫養兩般作用。
內有天然真火,爐中赫赫長紅。外爐增減要勤功,妙絕無過真種。

  內藥者,靈知之靈性,外藥者,真知之真情.以其靈知藏於人心,人心用事,借靈生妄,故謂內藥。以其真知具於道心,道心退位,真知不彰,故謂外藥。真知靈知,本來一家,同出異名,故曰內藥還同外藥。內藥者,所以修性,固須通曉;外藥者,所以修命,亦須通曉。古經云:”修命不修性,此是修行第一病,修性不修命,萬劫陰靈難入聖。”故曰內通外亦須通。性為陰,命為陽。金液大丹,乃取真陰真陽同類,兩弦之氣,和合而戊。若修命而不修性,或修性而不修命,是孤陰寡陽,大丹不結,所謂性命必須雙修也。但性有性之作用,命有命之作用;性為法身上事,命為幻身上事。溫養兩般作用,大有不同,所謂功夫還要兩段也。修性之道,乃無為之道,無為主靜,不假施為,守中抱一,內爐自有真火,赫赫長紅,此用文火以溫養也。至於修命之道,乃有為之道;有為主動,須要外爐增減,勤功鍛鍊,此用武火以烹煎也。增者增其真知之不足,擇善固執是也;減者減其靈知之有餘,黜聰毀智是也。增至於無可增,減至於無可減,性定命凝,真種到手,方為妙絕。此性命兩般作用,及其外丹成就,收歸鼎內,即是內丹。蓋未來為外,已來為內,所謂金來歸性初,乃得稱還丹也。

其二
此道至神至聖,憂君分薄難消。調和鉛汞不終朝,早睹元珠形兆。
志士若能修煉,何妨在市居朝。工夫容易藥非遙,說破人須失笑。

  上詞提明內外二藥,此詞言外丹行持之功。金丹之道,至神至聖,修之者立竿見影,直躋聖位,但恐人福分淺薄,難以消受耳。金丹之所難得者,真知之真鉛,靈知之真汞。若識真知靈知而調和之,則剛柔相當,性情如一。不待終朝,而良知良能之形兆早見,亦如元珠暗中生明矣。蓋良知良能之靈根,埋沒已久,不能自出。今得真知靈知,兩而合一,良知良能之靈根,雖不能遽然純全,而其一點生機,已在恍惚杳冥之中有像。既有一點生機,由微而著,漸次可復於純全。形兆者,純全之先見者也。果有志士,勤而修之,不必避世離塵,何妨在市居朝。特以金丹之道,藥物現成,功夫簡易,不待外求,即在當人。若還說破,令人失笑耳。失笑者凡聖同途:天人一理,只在順逆之間耳。

其三
白虎首經至寶,華池神水真金。故知上善利源深,不比尋常藥品。
若要修成九轉,先須煉己持心。依時採取定浮沉,進火須防危甚。

  上詞言調和鉛汞,即能成丹。然欲調和鉛汞,先要識得真鉛之真知一味大藥,方可下手。真知者,真情也;在法象為白虎首經,又為華池神水,真情隱於妄情之中。情屬金,故謂白虎。真情雖隱於妄情之中,而亦有時現露,天地之心復見,生機萌芽,故謂首經。首者,初也,經者,常道也。經道之初,無中生有,陰中含陽,為萬物之母,即是生機。這一點生機,即為聖為賢之根,成佛成仙之本,故謂之至寶。這個生機,又謂華池神水。華池者,即元關一竅,眾妙之門。因其內藏生機,故謂華池;因其生機條理百骸.滌盪五臟,故謂神水;因其生機經火鍛鍊,凝結不散,堅久不壞,又謂真金。首經也、神水也、真金也,總是生機一物;又謂上善之性,上善者,至善也。至善無惡,具眾理而應萬事,如水之有本,源遠流長,利萬物而不窮。此保命全形,至真之藥品,不比尋常草木金石之藥品也。但此藥品,藏於後天,偶或一現,旋得旋失,不能久留。若欲修成九轉,永遠不壞,必先煉己持心,消去客氣塵情,依時採取,以定浮沉。靈知藏於人心,人心動而靈知飛,易浮;真知具於道心,道心昧而真知藏,易沉。煉己持心,即煉去人心靈知,浮者而使沉。依時採取,即採取道心真知,沉者而使浮。浮沉顛倒,以道心而制人心,以人心而順道心,以真知而統靈知,以靈知而養真知。人心靜,道心存,真知靈知,同氣連枝,金丹有望。然藥物易知,火候最難。進火功夫須要知藥物老嫩,急緩吉凶。若冒然下手,非徒無益,而又害之矣,故曰進火須防危甚。

其四
若要真鉛留汞,親中不離家臣。木金間隔會無因,全仗媒人勾引。
木性愛金順義,金情戀木慈仁。相吞相啖卻相親,始覺男兒有孕。

  上詞言採藥須憑煉己之功。夫煉己者,欲其三家相見也。金丹之道,只是剛柔二字。剛之中正為真知,取象為真鉛,柔之中正為靈知,取象為真汞。取此二物,合而成丹。但真知不彰,則靈知易飛,是真知為制靈知之物也。然真知固能制靈知,而靈知又能養真知,是靈知為真知之家臣也。若先不定靈知,則真知不現,故曰若要真鉛留汞,親中不離家臣。親者,真知靈知,剛柔相合之謂。真知者,主君;靈知者,家臣。家臣不順,則主君難以施為。蓋真知靈知,所爭者毫髮之間。靈知盡則真知現,真知存則靈知順;真知存則剛健,靈知靜則柔順。剛健柔順,性情相合。故丹道取真鉛真汞兩味藥料耳。真知之鉛情屬金,靈知之汞性屬木,後天用事,情西性東。如金木間隔,各自一家,而不能相會矣。若非有真信相通,則真情真性不現,真知靈知不合。真信者,真意也,又名真土。真土一現,則金木自並;真信一通,則性情自合,是真信為真情真性之媒人也。真性為木,主順主仁;真情為金,主剛主義。性情得信,於中調和,則木性愛金情而順義,金情戀木性之慈仁。性情合一,剛柔相應,仁義兼全,真知靈知同氣。相吞相啗,性定情忘,先天之氣自虛無中來,凝而為一粒黍珠,聖胎有像,所謂男兒有孕也。

其五
二八誰家姹女,九三何處郎君?自稱木液與金精,遇土卻成三姓。
更假丁公鍛鍊,夫妻始結歡情。河車不敢暫留停,運入崑崙峰頂。

  上詞言,三家相見即結聖胎。但三家相見,非真火鍛鍊,而聖胎不成也。二為陰火之數,八為陰木之數,故謂姹女。九為陽金之數,三為陽水之數,故謂郎君。木之液為火,木生火為一姓;金之精為水;金生水為一姓;土居中央自為一姓,此五行而分為三姓。三姓相會合為一姓,是謂五行全。比之修道者,元性元神為木火一姓,元情元精為金水一姓,元氣為土一姓,此三姓為內三姓。仁禮屬木火為一姓,義智屬金水為一姓,信屬土為一姓,此三家謂外三姓。
  修道者以內三姓而統外三姓,以外三姓而全內三姓,總以三姓成一姓為歸結。但此三姓,須要勇猛修持,專心致志,下一番死功夫,方能歸於一姓。丁公鍛鍊,即勇猛修持之功。勇猛修持,不仁而必至於仁,不義而必至於義,不禮而必至於禮,不智而必至於智,不信而必至於信。仁義禮智皆歸一信。而性情精神,亦化為一氣。三姓和合,剛柔相應,性情如一,而夫妻始結歡情矣。既得夫妻結歡,愈久愈力,火功不缺,一氣成功,期必至於純陽無聲無臭而後已。故曰河車不敢暫留停,運入崑崙峰頂。河車者,北方正氣,非功家運腎氣自尾閭夾脊上升頭頂之說。乃是一氣成功,以水濟火,水火烹煎,無有間斷之意。如河中水車,載水上升下降,晝夜運轉而不停息也。崑崙為萬山之祖,運入崑崙峰頂,是三花聚頂,五氣朝元,入於真空妙有,不識不知,順帝之則地位矣。

其六
七返硃砂返本,九還金液還真。休將寅子數坤申,但要五行成准。
本是水銀一味,周流遍歷諸辰。陰陽數足自通神,出入豈離玄牝。

  上詞言,五行攢簇,運火鍛鍊,即可成功。然鍛鍊須要知的七返九還之實理。七者火之陽數,九者金之陽數。靈知之性柔,內藏邪火,邪火消而真火生,如靈汞結成硃砂,永為不飛不揚之物,火返於本矣。真知之情剛,內有燥金,燥金化而真金純,如濁金化為液汁,永為至淨至明之金,金還其真矣。此丹經七返九還之義。彼世之旁門,以子數至申為九還,以寅數至坤為七返者,豈知七返九還之義乎?不知七返九還之義,焉知五行成准乎?五行成准者,火返本則火中出木而神靈。神靈則靈知不昧,金還真則水中生金而精一。精一則真知常存。靈知不昧,真知常存。真知即是靈知,靈知即是真知。金木水火,四象和合,歸於中央,五行一氣,不偏不倚,渾然天理,五行成准矣。然五行成准之功,總是水中金一味大藥運用之。水銀者,水中銀,即是水中金,仍是一點真知之真情。真知內含先天真一之氣,為五行之根,為四象之本。動而生陽,靜而生陰,周流於四象五行諸辰之位。
  返還之道,時當陽而即進陽火,以采此真知;時當陰而即運陰符,以養此真知。陽火陰符數足,五行混化,良知良能,寂然不動,感而遂通,自然通神。神者,陰陽不測之謂。陰陽不測,聖胎凝結,號曰穀神;穀神不死,是謂元牝;元牝之門,是謂天地根。陰陽數足,是元牝已立;元牝立而穀神出入於元牝之門,長生不死,返還之道盡矣。所謂「要得穀神長不死,須憑元牝立根基」也。

其七
雄裡內含雌質,負陰卻抱陽精。兩般和合藥方成,點化魂纖魄勝。
信道金丹一粒,蛇吞立變成龍,雞餐亦乃化鸞鵬,飛入真陽清境。

卻抱:一本「抱卻」。

魄纖魂勝:一本「魄仙魂聖」。

亦乃:一本「亦可」。

  上詞言,七返九還須要陰陽數足。然運陰運陽,須要識得真陰真陽耳。雄裡內含雌質者,在卦為離中虛,在人為人心所藏之靈知。負陰卻抱陽精者,在卦為坎中滿,在人為道心所具之真知。真知靈知兩般藥物,和合方能成丹。魄者,陰中有陽,即真知之神;魂者,陽中有陰,即靈知之神。魄纖者陽少也,魂勝者陰多也。陽少陰多,偏而不中,金丹不成,惟真知靈知相合,而魂魄亦歸於中正,化而為真性真情,陰陽混一,天理昭彰,人欲消滅。良知良能,圓陀陀,光灼灼,淨裸裸,赤灑灑,一粒金丹懸於太虛之中,照見三千大千世界,縱橫逆順莫遮欄矣。
  是丹也,人吞一粒,立地成仙;蛇吞一粒,亦變成龍;雞飱一粒,亦化鸞鵬,直飛入真陽清境矣。但蛇吞雞飱,亦寓丹法。蛇屬火,在南為離;龍屬木,在東為震,雞在酉屬金為兌,鸞鵬近水,在北為坎。蛇吞成龍,火中出木;雞飱成鸞鵬,水中有金。火中出木,水裡生金,金木交並,水火相濟,一氣混然,有無不立,物我歸空,形神俱妙,入於聖而不可知之之謂神矣。脫離凡世,居於清陽之境,豈虛語哉?

其八
天地才交否泰,朝昏好識屯蒙。輻來輳轂水朝東,妙在抽添運用。
得一萬般皆畢,休分南北西東。損之又損慎前功,命寶不宜輕弄。

  金丹之道,造化之道也。造化之道,一陰一陽之道也。一歲之中,當寅之月,天氣上升,地氣下降而為泰();當申之月,地氣上升,天氣下降而為否()。一日之中,子時為朝之首,當子而陽氣內動,陰氣出外為屯();午時為昏之首,當午而陽氣外止,陰氣內生為蒙()。否泰者,一歲春秋,陰陽之升降;屯蒙者,一日朝昏,陰陽之來往。觀天地方才交否交泰之通塞,即識一日朝屯暮蒙之消息。蓋一日陰陽消息,即如一歲陰陽消息。然一歲陰陽,一日陰陽,總是一氣來往運用之。修道者,法天地否泰之節,准朝昏屯蒙之機,當陽而即進陽火,當陰而即運陰符。陽剛陰柔,不失其時,集義而生,攢簇五行,和合四象,如三十輻輳一轂而成輪,如千派水共朝宗而入海,渾然一氣,金丹凝結。雖然金丹凝結之妙,總在於抽添運用耳。抽者,抽其假陰假陽也;添者,添其真陰真陽也。假陰去而真陽現,假陽消而真陽生。真陰真陽,歸於中正,兩而合一,真知靈知,性情相投,復見良知良能本來面目。抽添之功妙矣哉!
  大抵修丹須要識得真陰真陽,又要識得先天真一之氣。此氣在鴻蒙未判之時,陰陽未分之際。含之則為真空,發之則為妙有。取象為水中金,取體為秉彝之天良,取用為精一之道心。丹法只取道心一味大藥,這個道心,雖是一味,而統五行之氣,具五行之德。蓋道心乃真一之水所化,一者數之始,一而含五,五而歸一。其實到歸一處,亦不得謂道心,只可謂渾然天理而已。故儒以渾然天理謂太極,道以渾然天理謂金丹,釋以渾然天理謂圓覺。古經所云”得其一,萬事畢”者即此也。如得其一,是命寶已經到手,再不必分南北西東,用攢簇之法。但只以道心而防人心,損之又損。必使人心所有客氣,盡皆化去,純是柔順之靈知,則人心亦變為道心矣。
  蓋人心有識神居之,識神有帶歷劫根塵,與現世積習之氣,並一身氣質之邪。若不將此等禍根件件損去,稍有絲毫不盡,一時乘間而發,命寶有漏,前功俱廢,故曰慎前功,又曰命寶不宜輕弄。古仙云:”一毫陽氣不盡不死,一毫陰氣不盡不仙。”故得丹以後,須要將無始劫來生死輪迴種子,連根拔去,方能命寶為我所有,永久不壞矣。

其九
冬至一陽來復,三旬增一陽爻。月中復卦朔晨潮,望罷乾終姤兆。
日又別為寒暑,陽生復起中宵。午時姤像一陰朝,煉藥須知昏曉。

  上詞言,抽添運用之功,是教人傚法天地昏曉之造化也。一歲之昏曉,十一月冬至一陽生,每三十日增一陽爻。如十一月子一陽生,為復();十二月丑二陽生,為臨();正月寅三陽生,為泰();二月卯四陽生,為大壯();三月辰五陽生,為夬();四月巳六陽生,為乾();此六陽卦也。至五月午一陰生為姤(),每月三十日增一陰爻;六月未二陰生,為遁();七月申三陰生,為否();八月酉四陰生,為觀(),九月戌五陰生,為剝();十月亥六陰生,為坤(),此六陰卦也。六陽月為曉,六陰月為昏,此一歲之昏曉也。
  一月之中,晦朔之間,日月交會,月受日光,三日陽光始吐,海水潮汐應之,為復;每兩日半增一陽爻,至十五,日月相望,光輝圓滿,為乾。自初一至十五,六陽卦也。望罷乾終,十六至十八,一陰生,陽光有虧,姤即兆始,每兩日半增一陰爻。至三十月晦,陽光盡消,獨有黑體,為坤。自十六至三十,六陰卦也。兩日半一候,十二候行六陽六陰之卦,此一月之昏曉也。
  一日之中,又別為寒署。每日中宵子時,一陽生為復,一時增一陽爻。至巳時六陽生為乾。至午一陰生為姤,一時增一陰爻,至亥六陰生為坤。十二時行六陰六陽十二卦,此一日之昏曉也。
  聖人移一歲陰陽昏曉於一月,移一月陰陽昏曉於一日,又移一日陰陽昏曉於一時。一時八刻,一刻十五分,八刻共一百二十分。上四刻六十分為六陽,下四刻六十分為六陰。又以一時陰陽昏曉移於一刻之中,分為十五分。以上七分半為陽,下七分半為陰,於片刻之中,採取大藥,歸於造化鼎爐,運陽火陰符,鍛鍊成丹,所謂不刻時中分子午,無爻卦內別乾坤。但須要識得陰生陽生之昏曉耳。知的昏曉,則一日一月一歲之造化,即在一時一刻之中。彼世間盲漢,或以一日子午坐功,或以一月朔望行氣,或以冬至夏至修養者,豈知昏曉之理乎?

其十
不辨五行四象,那分朱汞鉛銀。修丹火候未曾聞,早便稱呼居隱。
不肯自思己錯,更將錯路教人,誤他永劫在迷津,似恁欺心安忍?

  上詞言煉藥須知陰陽昏曉,此詞緊接上文,為不知陰陽昏曉者而發。夫神仙之道,原欲成己之後而成物,修道之後而修德。世之迷途,不辨五行四象之實理,不明朱汞鉛銀之寓言;藥物未曉,火候不問,學些旁門小法乘,自負有道,便稱居隱。不肯自思己錯,更將錯路教人,以一盲而引眾盲,誤人入於迷津,永劫不得超脫。似這欺心忍心,當入無間地獄,永無出頭之日,尚望成道乎?

十一
德行修逾八百,陰功積滿三千。均齊物我與親冤,始合神仙本願。
虎兕刀兵不傷,無常火宅難牽。寶符降後去朝天,穩駕鸞車鳳輦。

  上詞言,旁門外道,不明道而只有傷德,不能修德。此詞言修道之後,而必修德也。
  修道者為己之事,修德者為人之事。修道有盡,而修德無盡。故神仙道成之後,必三千功滿,八百行完,物我兩忘,親冤一等;量同天地,包羅萬物,道德兼該,始合本願。到此地位,內外皆空,有無不立,形神俱妙,虎兕不能傷,刀兵不能加,無常火宅不能牽。寶符下召,穩駕鸞車鳳輦,白日飛昇,大丈夫功成名遂,豈不快哉!

十二
牛女情緣道合,龜蛇類稟天然。蟾烏遇朔合嬋娟,二氣相資運轉。
本是乾坤妙用,誰能達此真詮?陰陽否隔卻成愆,怎得天長地遠!

真詮:一本「真淵」。

  以上十一詞,皆言修煉金丹大道,須要真陰真陽同類之藥配合,方能成丹。然或人疑為強作而成,實非強作,皆自然之運用。故此詞總結上文之意,使學者窮究實理耳。比如牛女七夕相會,龜蛇以類相交,蟾烏晦朔相合,皆陰陽二氣,一感一應,自然之交合,即乾坤造化之妙用也。蓋乾坤造化之道,一陰一陽之道。陰陽相資,一氣流行,陰而陽,陽而陰,陰陽往來,四時行而百物生,生機不息,所以古今常存也。修道者,若不達此真詮,舍陰陽造化之理,著空執相,強作強為,反致陰陽否隔,不但無補於性命,而且有傷於性命。愆尤且不能免,尚欲天長地久,為不死之仙,能乎否耶?
  夫天長地久之道,乃真陰真陽配合之道。真陰真陽配合,其中生機勃勃,凝結聖胎。從無而有,從有而無,脫幻身而出真身,方能與天地同長久。修道者,若欲求天長地久之事,舍真陰真陽,余無他術矣。

續添西江月一首 以象潤月

    此一詞與下絕句五首,據仙翁前序,俱不在《悟真篇》正集之數,系外集者。玩其辭意,是先修命而後修性之道。薛、陸、陳三注,因其有修命之說,故提於正集之中,今從之。

丹是色身至寶,煉成變化無窮。更能性上究真宗,決了無生妙用。
不待他身後世,眼前獲佛神通。自從龍女著斯功,爾後誰能繼踵?

  緣督子曰:”一點陽精,秘在形山,不在心腎,而在乎元關一竅。”一點陽精,即丹也。秘在形山,即為色身至寶也。丹非別物,即先天一點至陽之精,又謂先天真一之氣,又謂浩然正氣;藏之為真空,發之為妙有;其體為天良,其用為道心,是人色身中之至寶,非心腎所有之物,乃在元關中藏之。元關一竅,無方無所,無形無象。此丹亦無方無所,無形無象,動靜自如,色空不拘,活活潑潑的,若運火鍛成堅實之物,常應常靜,常靜常應,變化無窮,神妙不測。雖天地神明,不可得而測度;居於色身之中,而能點化色身,所謂法身者是也。故古仙雲,”命之造化繫乎身。”
  繫乎身者,繫乎法身也。法身成就,聖胎完全,命基堅牢,有為事畢,無為事彰,可以修性矣。性之真宗,無生之妙用也。修命者,所以長生,修性者,所以無生,無生則無死。無生無死,與太虛同體,形神俱妙,永脫輪迴,超出乎天地之外,不待他身後世,眼前獲佛神通。蓋無生之道,頓悟圓通,萬有皆空,直超彼岸;昔靈山會上,世尊說法,有一七歲龍女,自地湧出,獻一寶珠,立地成佛。仙翁引龍女獻珠一宗公案,以證修持真空之性。修真空之性,即是龍女獻寶珠。悟的真空,不生不滅,即是獲佛神通。但命理未修,而性理難了。難了者,總能頓悟圓通,於真性能養,未免在後天中出入,未曾經大火鍛鍊,稍有滲漏,難免拋身入身之患。修命之後,更修性,是已從大火爐中鍛鍊出來,滓質盡化,從此行無為之道以修性,由漸而頓,直登最上一乘妙覺之地,焉能拋身入身乎?故曰不待他身後世,眼前獲佛神通。可知金丹大道,未修性而先修命也。

七言絕句五首,以象金、木、水、火、土之五行

饒君了悟真如性,未免拋身卻入身。
何以更兼修大藥,頓超無漏作真人。

  真如之性乃天真自如,絕無勉強,非色非空之性,所謂不識不知,順帝之則者是也。欲修此性,須要了悟此性;既悟此性,須要將此性煉成一個金剛不壞之物,方能得濟。若已悟而不知修煉,命不由我尚由天,大限到來,無所支持,拋身入身,烏能免諸?頓悟之後,不廢漸修之功,用陽火陰符烹煉大藥,點化群陰,脫去委物,現出真身。則入水不溺,入火不焚,虎兕不能傷,刀兵不能加,而為無漏真人矣。
  昔六祖既得五祖之傳,隱於四會獵人之中,混俗和光,而成正果。紫賢頓悟圓通,自知非向上事,必得杏林之傳而後大成,凡以為修大藥計耳。果了悟真如,即是成道。六祖既悟本來無一物,五祖半夜所傳者又何事?紫賢頓悟圓通,又求杏林者何故?可知頓悟漸修,缺一不可,或先頓悟而後漸修,或先漸修而至頓悟。性命必須雙修,功夫還要兩段。此詞乃由性以及命,自頓以行漸也。

其二
投胎奪舍及移居,舊住名為四果徒。
若會降龍並伏虎,真金起屋幾時枯?

  投胎者,預察富貴之家孕婦,而於臨產之時投胎者也。奪舍者,凡孕婦臨產之時,必有一陰魂等候入竅,不待彼入而預先入之,奪其舍者也。移居者,身體衰敗,揀精壯生人身體,而暗中移換者也。舊住者有精壯之人暴死,借彼熱屍入竅,而住舊舍者也。投胎奪舍二事,大同小異;移居舊住二事,大同小異。四者皆煉陰神出入自便,釋家名為四果徒,又名外道,系二乘之法所出,非佛法悟真如之上乘也。異於常人者,不過來去分明耳。若夫金丹大道,降東家真性之龍,伏西家真情之虎,以情歸性,以性養情,性情相合,龍虎相會,產出丈六法身,如真金起屋,與天地並長久,永為不枯之物,何有遷此移彼之事乎?

其三
鑑形閉息思神法,初學艱難後坦途。
倏忽總能游萬國,奈何屋舊卻移居。

  鑑形者,懸鏡於壁,存神於內,日久陰神出外者也。閉息者,始而一息二息不出,既而十息百息不出,漸至永久不出,氣自內行者也。思神者,或默朝上帝,或雲梯顯聖,或思神自顖門而出,或思神自明堂而出者也,如此之類極多。初學艱難,後行坦途,年遠日久,亦能出陰神而外游,但孤陰耳。氣血衰敗,拋此身而入彼身,何益於性命乎?

其四
釋氏教人修極樂,只緣極樂是金方。
大都色相惟茲實,余二非真謾度量。

  極樂在西,西為金方;在人為剛健真知之情。此情堅貞精粹,萬物難移,如金性至堅,經久不壞,修極樂即修此真知之真金也。真金煉成,有剛有柔,滓質悉化,體具光明,成為至寶。昔燃燈修之,而成玲瓏寶塔,釋迦修之,而成丈六金身,大都色相之中。惟煉此剛健真知之情為真寶。除此之外,余二非真,謾度量矣。

其五
俗語常言合聖道,宜向其中細尋討。
若將日用顛倒求,大地塵沙盡成寶。

  道不遠人,人之為道而遠人。蓋性命之道,常道也。常道者,日用之道,特百姓日用而不知耳。欲修性命,須窮常道之理。果能細心窮理,不必讀千經萬典,即俗語常言中,有大露天機處。如稱好人曰:”老實人,正經人,有良心,有天理,有體面,知止足,知進退,顧前後,四通八達,腳踏實地。”稱歹人曰:”不是人,沒良心,沒天理,損人利己,瞞心昧己,傷天害理,以苦為樂,以假作真,丟三遺四,拿東忘西,不知死活,不知好歹,只知其一、不知其二,只知有己、不知有人。”此等語,說之無意,玩之有味,何妨於此俗語常言中拈出一二,鑽研出個孔竅。即在日用常行處,逆而求之,則大地塵沙儘是真寶,頭頭是道,左之右之,無不宜之矣。世之學者,皆謂道無可言,不肯下實落功夫窮究性命之理;又不能低心下氣,請益師友;即或請益,亦不老實認真,自無一物,白手討寶。如此舉止,雖出家一生,天涯走遍,何濟於事哉!

************       

《悟真》性宗直指卷四

宋 紫陽張真人著

棲雲山悟元子劉一明解

武街門人沖和張陽全校閱

後進學人夏復恆重刊

 

  性宗乃《悟真篇》外集。仙翁著《悟真篇》之後,尚恐本源真覺之性,有所未究,又作為歌頌樂府及雜言等,附之卷末,以備性命雙修之道也。

絕句四首

其一
如來妙體遍河沙,萬象森羅無礙遮。
會的圓通真法眼,始知三界是吾家。

  如來者,無所從來,亦無所去,真空之性也。真空不空,故其體至妙。真空之性本無體,因其內含妙有,以妙為體耳。若空而不妙,即是寂滅頑空,非如來真性,如何能遍河沙?如何萬象無礙無遮?因其妙而不空,所以體遍河沙,而無處不通;因其空而能真,所以萬象森羅,不能礙遮;因其遍河沙無礙遮,又謂圓通法眼。圓者,無頭無尾,無背無面,無前無後,無上無下,無內無外,即如來也。通者,無處不在,無時不現,大則充滿天地,小則細如毫毛,即妙體也。惟圓能通,惟通故圓,光輝朗照,一切境遇皆傷他不得,故謂法眼,即正法眼藏者是也。會的這圓通法眼,便是親自見得如來妙體,則非色非空,即色即空,天堂地獄一概掃去,三界即是吾家,十方即是全身也。

其二
視之不可見其形,及至呼之又卻應。
莫道此聲如谷響,若還無谷有何聲?

  視之不見形,空也;呼之又卻應,有也。因空而有,如谷應響;空而不空,似是如來妙體矣。然如來妙體,常空常有,常有常空,何須呼而後應?因呼而應者,猶有空在。有空在,猶為空所拘。空而不通,算不得如來妙體,不如將這個空的東西,一棒子打個粉碎。空無所空,聲自何有?既無有聲,自亦無空,無空無聲,大解大脫,活潑潑的。所謂百尺竿頭不動人,雖然得入未為真;百尺竿頭更進步,十方世界是全身也。

其三
一物含聞見覺知,蓋諸塵境顯其機。
靈常一物尚非有,四者憑何作所依。

  聞見覺知四者,皆昭昭靈靈識神一物所出。因其一物常靈,所以在諸塵中,四者朋黨互發,無有片刻寧靜也。若能將此靈常一物除卻,則四者無所憑依而自消滅。一切迷人,識不得如來本性是真空妙有的物事,直以昭昭靈靈之識神以為真實,或空此一物,或守此一物。殊不知此物為生生死死之根蒂,歷劫輪迴之種子。若不將此一物連根挖去,如何認得如來本性?所謂無量劫來生死本,痴人喚作本來人者是也。

其四
不移一步到西天,端坐諸方在眼前。
項後有光猶是幻,雲生足下未為仙。

  如來本性,無頭無尾,無背無面,迎之不見其首,隨之不見其後;以言其有,又似無;以言其無,又卻有。不落於有無之象,其光通幽達明,能照三千大千世界,乃自然之妙覺,原不是坐出的。一切參禪打坐之客,專弄識神之流,見些幻景假象,或夢遊西天,或項後生光,或杳冥而眼見諸物,或恍惚而雲生足下,自以為正果成佛,差之多矣。有志於道者,須要先將一切旁門外道,盡皆掃去,再在無形無色處,追究出個真實妙覺本性,方能得濟。

性地頌

佛性非同異,千燈共一光。
增之寧解益,減著且無傷。
取捨俱無過,焚漂總不妨。
見聞知覺法,無一可猜量。

  頌名性地,蓋以真性本體,如地之不動不搖,同之異之。雖境遇事物萬殊,而總以平等之心應之,如千燈之照,無非一光照之,燈不一而光則一。這個性無所增,無所減,無所取,無所舍,火焚水漂,俱皆不能妨礙;亦如地之山,重也能載的,水沖也能受的,萬物傷損,俱皆容的。地如是,性即如是。聞見知覺,一無所有,強而名之,惟空而已。空非寂滅之謂,乃因物付物,隨方就圓,以無心應之也。

生滅頌

求生本自無生,畏滅何曾暫滅。
眼見不如耳見,口說爭似鼻說。

  如來本性,原是無生無滅的,強求生而畏滅者,何嘗生而不滅乎?有生即有滅,無生方無滅。因其本性無生無滅,故不可眼見,只可耳見;不可口說,只可鼻說。眼見口說者,有生有滅之性,耳見鼻說者,無生無滅之性。眼見口說的,皆不是性;耳見鼻說的,方才是性。不見之見,方是真見;不說之說,勝於有說。蓋這個無生無滅的性,無頭無尾,無背無面;非有非無,不空不色,見個甚麼?說個甚麼?若能見能說,便不是真空本性了也。

三界惟心頌

三界惟心妙理,萬物非此非彼。
無一物非我心,無一物是我己。

  三界者,色界、欲界、無色界。色慾二界,有心之界。無色界,無心之界。有心無心,皆非佛性。頌名三界惟心,非有非無,有無俱不立,物我悉歸空。無心之心,始謂真心;真心之心,萬物一體,無分彼此。無一物非我心者,不著於空也;無一物是我己者,不著於色也。不著於空,不著於色,一心而已。一心即是一性,即心即佛,即佛即心也。

見物便見心頌

見物便見心,無物心不現。
十方通塞中,真心無不遍。
若生知識解,卻成顛倒見。
睹境能無心,始見菩提面。

  見物便見心,無物心不現者,有識有知之人心也。十方通塞中,真心無不遍者,無識無知之真心也。人心因物有無而生滅,真心靈光常朗,有物也是這個,無物也是這個,十方通塞,無處不是這個。也不生,也不滅,非有識有知之人心可比。若以有識有知解真心者,便是認賊為子,顛倒之見,錯了多矣。蓋真心是圓陀陀、光灼灼,淨裸裸,赤灑灑的,不離於諸境,不著於諸境。人能睹境無心,便是真心,便是菩提本面,不必別處再尋菩提本面。要之無人心,始能見真心。真心一見,立證菩提,頓超彼岸矣。

齊物頌

我不異人,人心自異。
人有親疏,我無彼此。
水陸飛行,等觀一體。
貴踐尊卑,手足同己。
我尚非我,何嘗有你。
彼此俱無,眾泡歸水。

  頌名齊物,人我親疏,水陸飛行,尊卑貴賤,一體等觀而已。此頌重在我尚非我一句。世人不能齊物者,皆由有我在。若能無我,何知有你,你我兩忘,萬物皆空,不齊而自齊矣。

即心是佛頌

佛即心兮心即佛,心佛從來皆妄物。
若知無佛復無心,始是真如法身佛。

法身佛,沒模樣,一顆圓光含萬象。
無體之體即真體,無相之相即實相。

非色非空非不空,不動不靜不來往。
無異無同無有無,難取難捨難聽望。

內外圓明到處通,一佛國在一沙中。
一粒沙含大千界,一個身心萬個同。

知之須會無心法,不染不滯為淨業。
善惡千般無所為,即是南無及迦葉。

  此頌重在知之須會無心法一句。無心,非蠢然無心之謂。若是蠢然無心,如同木雕泥塑之物,何得謂心即是佛也?大抵無心之義,是不著於色,不著於空耳。真心無體無相,原無一物,有何色乎?真心光含萬象,圓通無礙,有何空乎?不色不空,圓陀陀,光灼灼,淨裸裸,赤灑灑,即心是佛,即佛是心,非心非佛。故曰佛即心兮心即佛,又曰心佛從來皆妄物。識得即心即佛,又知非心非佛,而無心之法得,不落於寂滅之學矣。

無心頌

堪笑我心,如頑如鄙。兀兀騰騰,任物安委。
不解修行,亦不造罪。不曾利人,亦不私己。
不持戒律,不徇忌諱。不知禮樂,不行仁義。
人間所能,百無一會。飢來吃飯,渴來飲水。
困則打睡,覺則行履。熱則單衣,寒則蓋被。
無思無慮,何憂何喜。不悔不謀,無念無意。
凡生榮辱,逆旅而已。林木棲鳥,亦可為比。
來且不禁,去亦不止。不避不求,無贊無毀。
不厭醜惡,不羨善美。不趨靜室,不遠鬧市。
不說人非,不誇己是。不厚尊崇,不薄賤稚。
親愛冤讎,大小內外。哀樂得喪,欽侮險易。
心無兩視,坦然一揆。不為福先,不為禍始。
感而後應,迫則復起。不畏鋒刃,焉怕虎兒。
隨物稱呼,豈拘名字。眼不就色,聲不入耳。
凡有所相,皆屬妄偽。男女形聲,悉非定體。
體相無心,不染不滯。自在逍遙,物莫能累。
妙覺光圓,映徹表裡。包裹六極,無有遐邇。
光兮非光,如月在水。取捨既難,復何比擬。
了此妙用,迥然超彼。或問所宗,此而已矣。

  頌中數十言,說來說去,總是發明無心二字妙用。一無心,而在塵能以出塵,居世能以出世,自在逍遙,物莫能累矣。夫人方寸之中,絲毫塵埃容不得,稍有塵埃在內,便有無窮人心生出。人心一生,忽此忽彼,身不由主,便自不在,自己不在,以奴為主。以主為奴,如何能逍遙?若能一切無心,拄杖不動不搖,便是自在。自既能在,自由自主,萬慮俱息,萬緣不生,妙覺光圓,映徹表裡,包裹六極,無有遐邇。真得逍遙,無心之用妙矣哉。

心經頌

蘊諦根塵空色,都無一法堪言。
顛倒之見已盡,寂靜之體攸然。

  蘊者,五蘊,色、受、行、想、識是也;諦者,四諦,苦、寂、滅、道是也;根者,六根,眼、耳、鼻、舌、身、意是也;塵者,六塵,色、聲、香、味、觸、法是也;空者,寂滅;色者,著相。蘊、諦、根、塵、空、色六者,皆心所出之法,俱系顛倒之見,若能一概掃去,則心體寂靜,即是觀自在菩薩,即是舍利子不生不滅。若六者之中,稍有些子法未盡,即有生滅,即不得自在。若到無生滅常自在處,方是六者乾乾淨淨的也。

無罪福頌

終日行不曾行,終日坐何曾坐。
修善不成功德,作惡原無罪過。
時人若未明心,莫執此言亂作。
死後須見閻王,難免鑊湯碓磨。

  頌名「無罪福」,何謂哉?罪福皆由心生。有心作惡,即是有心造罪;有心行善,即是有心求福。善惡罪福,由心而有。若到無心地位,行坐且不知,何知善惡?何知罪福?故曰修善不成功德,作惡原無罪過。比如赤子,無識無知,喜笑怒罵,皆出無心,有何功德罪過乎?夫無心者,無人心也。無人心,自有真心,真心量同天地,包羅萬有,不思善、不思惡、不造罪、不求福,功德罪過,皆所不計。時人若未明的真心,而一任頑心擺弄,作孽百端,自謂無罪過,死後鑊湯碓磨之報,烏能免諸?

圓通頌

見了真空空不空,圓明何處不圓通。
根塵心法都無物,妙用方知與物同。

  真空之性,圓通無礙,光輝無處不照,無物能瞞。不空而自空,空而又不空,只是常應常靜,常靜常應而已。

隨他頌

萬物縱橫在目前,隨他動靜任他權。
圓明定慧終無染,似水出蓮蓮自乾。

  此頌雖是四句,其實是圓明定慧終無染一句之意。圓明者,妙有也;定慧者,真空也。真空自然,在萬物而不染於萬物;妙有自然,遇萬物而能應乎萬物。常應常靜,隨地而安,如出水之蓮,生於污泥而不染也。

寶月頌

一輪明月當虛空,萬國清光無障礙。
收之不聚撥不開,前之不進後不退。
彼非遠兮此非進,表非外兮裡非內。
同中有異異中同,問你傀儡會不會。

  如來真空之性,妙覺圓通,光照一切,如一輪明月當空,萬國九州均有光輝。收之不見其光聚,撥之不見其光開;前不見其光進,後不見其光退;照彼不見遠,照此不見近;照表光非外,照裡光非內。收撥前後進退,彼此遠近,表裡內外,雖照有異,而光則同。同中有異,異中有同,一本散而為萬殊,萬殊歸而為一本。放之則彌六合,卷之則退藏於密,活活潑潑,猶如耍傀儡而已。

採珠歌

貧子衣中珠,本自圓明好。不會自尋求,卻數他人寶。

數他寶,終無益,只是教君空費力。爭如認得自家珍,價值黃金千萬億。
此寶珠,光最大,遍照三千大千界。從來不解少分毫,剛被浮云為障礙。
自從認得此摩尼,泡體空花誰更愛。佛珠還與我珠同,我性即歸佛性海。
珠非珠,海非海,坦然心量包法界。任你囂塵滿眼前,定慧圓明常自在。
不是空,不是色,內外皎然無壅塞。六通神明妙無窮,自利利他寧解極。
見即了,萬事畢,絕學無為度終日。泊兮如未兆嬰兒,動止隨緣無固必。
不斷妄,不修真,真妄之心總屬塵。從來萬法皆無相,無相之中有法身。
法身即是天真佛,亦非人兮亦非物。浩然充塞天地間,只是希夷並恍惚。
垢不染,光自明,無法不從心裡生。心若不生法自滅,即知罪福本無形。
無佛修,無法說,丈夫智見自然別。出言便作獅子鳴,不似野子論生滅。

  此歌重在”心若不生法自滅”一句。法非佛法之法,乃心中等等思慮妄想之法。心若不生,萬法皆空,性珠常朗,定慧圓明,內外皎然,泡體空花,何足戀之?囂塵滿眼,自不能礙,絕學無為,如未兆之嬰兒,動止隨緣,無真妄之幻相。法身常露,天真佛現,方且充塞天地,光照大千,更何有浮雲之障礙乎?

禪定指迷歌

如來禪性如水,體靜風波自止。
興居湛然常清,不獨坐時方是。
今人靜坐取證,不道全在見性。
性與見裡若明,見向性中自定。
定成慧用無窮,是名諸佛神通。
幾欲究其體用,但見十方虛空。
空中了無一物,亦無希夷恍惚。
希恍既不可尋,尋之卻成乖失。
只此乖失兩字,不可執為憑據。
本心尚且虛空,豈有得失能豫。
但將萬法遣除,遣令淨盡無餘。
豁然圓明自現,便與諸佛無殊。
色身為我桎梏,且憑和光混俗。
舉動一切無心,爭甚是非榮辱。
生身只是寄居,逆旅主號毘盧。
毘盧不來不去,乃知生滅無餘。
或問毘盧何似,只為有相不是。
眼前業業塵塵,塵業非同非異。
見此塵塵業業,個個釋迦迦葉。
異則萬籟皆鳴,同則一風都攝。
若要認得摩尼,莫道得法方知。
有病用他藥療,病差藥更何施。
心迷即假法照,心悟法更不要。
又如昏鏡得磨,痕垢自然滅了。
本為諸法皆妄,故令離盡諸相。
諸相離了何如,是名至真無上。
若要莊嚴佛土,平等行慈救苦。
菩提本願雖深,切莫相中有取。
此為福慧雙圓,當來授記居先。
斷常纖塵有染,卻與諸佛無緣。
翻念凡夫迷執,盡被塵愛染習。
只為貪著情多,常生胎卵化濕。
學道須教猛烈,無情心剛似鐵。
直饒兒女妻妾,又與他人何別。
常守一顆圓光,不見可欲思量。
萬法一時無著,說甚地獄天堂。
然後我命在我,空中無升無墮。
出沒諸佛土中,不離菩提本坐。
觀音三十二應,我亦當從中證。
化現不可思議,盡出逍遙之性。
我是無心禪客,凡事不會揀擇。
昔時一個黑牛,今日渾身是白。
有時自歌自笑,旁人道我神少。
爭知被褐之形,內懷無價之寶。
更若見我談空,恰似渾淪吞棗。
此法惟佛能知,凡愚豈解相表。
兼有修禪上人,只學鬥口合唇。
誇我問答敏急,卻原不識主人。
蓋是尋枝摘葉,不解窮究本根。
得根枝葉自茂,無根枝葉難存。
更逞己握靈珠,轉於人我難除。
與我靈源妙覺,遠隔千里之殊。
此輩可傷可笑,空說積年學道。
心高不肯問人,枉使一生虛老。
乃是愚迷鈍根,邪見業重為因。
若向此生不悟,後世爭免沉淪。

  此歌百餘言,只是”如來禪性如水,體淨風波自止,興居湛然常清,不獨坐時方是”四句之義。蓋如來禪性,其體至淨,其清如水,不起風波,不染塵垢,或興或居,皆是這個,不獨坐時方定。若以坐為禪,不是真禪,乃是寂滅頑空之禪,算不得如來禪性。夫真禪之禪,定慧兼該,妙用無窮,心法兩忘,離盡諸相,莊嚴佛土,平等行慈,和光混俗,在塵出塵,處世離世,不禪而禪,不定而定。彼一切靜坐取證,與夫鬥口合唇,不識主人之野狐禪,昧了惺惺使糊塗,豈知有靈源妙覺真禪之性乎?

讀雪竇禪師祖英集歌

漕溪一水分千派,照古澄今無滯礙。
近來學者不窮源,妄指蹄窪為大海。
雪竇老師達真趣,大震雷音椎法鼓。
獅王哮吼出窟來,百獸千邪皆恐懼。
或歌詩,或語句,叮嚀指引迷人路。
言辭磊落意尚深,撃玉敲金響千古。
爭奈迷人逐境留,卻作言相尋名數。
真如實相本無言,無下無高無有邊。
非色非空非二體,十方塵剎一輪圓。
正定何曾分語默,取不得兮捨不得。
但於諸相不留心,即是如來真軌則。
為除妄想將真對,妄若不生真亦晦。
能知真妄兩俱非,方得真心無罣礙。
無罣礙兮能自在,一悟頓消歷劫罪。
不施功力證菩提,從此永離生死海。
吾師近而言語暢,留在世間為榜樣。
昨宵被我喚將來,把鼻孔穿放杖上。
問他第一義何如,卻道有言皆是謗。

  此歌雖是讚美祖英集,其實傳說真如相。其中所云,”但於諸相不留心,即是如來真軌則。”二句已該集中大意。夫不留心即無心,無心則真妄不生。真妄不生則無罣礙,無罣礙則得自在,得自在則真實相常存,永離生死之海矣。”昨宵被我喚將來,把鼻孔穿放杖上”之句,此又仙翁言外之意。學者試思喚將來,喚的何物?穿鼻孔又是何事?所謂喚將來者,即喚真如實相之性也。穿鼻孔者,即穿非色非空之心也。悟的此性,知的此心,拄杖在手,上拄天,下拄地,無背無面,圓陀陀,光灼灼,淨裸裸,赤灑灑,即是西來第一義,再說甚的?

戒定慧解

  夫戒定慧者,乃法中之妙用也。佛祖雖嘗有言,而未達者有所執。今略而言之,庶資開悟。然其心境兩忘,一念不動曰戒;覺性圓明,內外塋澈曰定;隨緣應物,妙用無窮曰慧。此三者相須而成,互為體用。三者未嘗斯須相離也。猶如日假光而能照,光假照以能明。非光則不能照,非照則不能明。原其戒定慧者,本乎一性;光照明者,本乎一日;一尚非一,三復何三?三一俱忘,湛然清淨。

  仙翁此解,已入戒定慧三昧,其言簡,其意顯。學者若能行持,可以直登彼岸。然仙翁語意雖顯,猶恐學人識見不大,力量不及,未能趨行。悟元今再下一註腳,為仙翁接引方來,使其由淺及深,自卑登高,庶乎能之。
  夫戒者,對景忘情,諸塵不染之謂也。定者,至誠無妄,不動不移之謂也。慧者,隨事變通,不偏不倚之謂也。能戒能定能慧,三者相須,由勉強而歸自然,渾然而成一性,歸於不識不知清淨地位矣。其實到清淨時,一性且不是,何有戒定慧之三事?故曰三二俱忘,湛然清淨。若未到清淨之時,三者之所必用,已到清淨之時,三者亦自渾化。三一不忘,猶不是清淨禪定。頌中所云:「心迷須假法照,心悟法更不要。本為心法皆忘,故今離盡諸相。」即此三一俱忘,湛然清淨之意歟。

西江月十二首

其一
妄想不復強滅,真如何必希求。本源自性佛齊修,迷悟豈拘前後。
悟即剎那成佛,迷兮萬劫淪流。若能一念契真修,滅盡恆沙罪垢。

  本源自性,即是佛性。佛性,也無妄想,也無真如。只因世人有迷有悟,所以有妄想真如之名。迷自性,即生妄想;悟自性,即歸真如。悟真如而剎那成佛,生妄想而萬劫淪流。妄想真如,只在迷悟之間。若不悟而強滅妄想,希求真如,如何得見真如?落句曰”若能一念契真修,滅盡恆沙罪垢”,可以了了。

其二
本是無生無滅,強求生滅區分。只如罪福亦無根,妙體何曾增損?
我有一輪明鏡,從來只為蒙昏。今朝磨瑩照乾坤,萬象昭然難隱。

  本來真如佛性,無生無滅,亦無可增,亦無可損。因其諸塵染著,有生有滅,猶如明鏡蒙昏耳。若能一朝磨去積垢舊染,仍是圓明無虧之物。以之照乾坤,萬象昭然難隱,有何生之滅之乎?

其三
我性入諸佛性,諸方佛性皆然。亭亭寒影照寒泉,一月千潭普現。
小即毫毛莫識,大時遍滿三千。高低不約信方圓,說甚長短深淺。

  我性佛性,萬國九州諸方人類之性,無有兩樣,處聖不增,處凡不減,如一輪明月,千潭普現。此性也,可小可大,可高可低,可方可圓,可淺可深,可長可短。不落大小高低方圓長短深淺之跡。但百姓日用而不知之耳。

其四
法法法原無法,空空空亦非空。靜喧語默本來同,夢裡何勞說夢。
有用用中無用,無功功裡施功。還如果熟自然紅,莫問如何修種。

  如來說法,實無法也;如來談空,實非空也。無法之法,是謂真法;不空之空,是謂真空。真法真空,靜喧語默,不識不知,順帝之則而已。有何法可說、何空可談乎?若強說法,強談空者,猶如夢裡說夢,豈知真法真空之性,寂然不動,感而遂通;感而遂通,寂然不動,是”有用用中無用,無功功裡施功”乎?有用用中無用,法本於空也;無功功裡施功,空中有法也。法本空,空有法,不實不虛,不有不無,圓明不昧,久自脫化,如果生枝上,終有成熟之日。即此便是修佛性真種,再不必問如何修種也。

其五
善惡一時忘念,榮枯都不關心。晦明隱顯任浮沉,隨分飢餐渴飲。
神靜湛然常寂,不妨坐臥歌吟。一池秋水碧仍深,風動莫驚盡恁。

  詞中大意,只是「神靜湛然常寂,不妨坐臥歌吟」二句可以了了。蓋神一靜,而善惡榮枯,晦明隱顯浮沉,皆不入心。隨緣度日,坐臥歌吟,逍遙自在,無思無慮,如一池秋水,碧而且深。雖有風吹,而無波浪,有何煩恐驚恐乎?

其六
對境不須強滅,假名權立菩提。色空明暗本來齊,真妄休分兩體。
悟即便明淨土,更無天竺漕溪。誰言極樂在天西,了即彌陀出世。

  如來本性,原是圓陀陀、光灼灼、淨裸裸、赤灑灑的。不色不空,不明不暗,不真不妄。悟之者立地成佛,何須對鏡強滅塵情乎?因其人多不悟,諸佛菩薩,假名權立菩提,使人由漸歸頓,以證佛果耳。菩提者:華言正道,言返邪歸正,漸次有悟也。

其七
人我眾生壽者,寧分彼此高低。法自通照沒吾伊,唸唸不須尋覓。
見是何嘗見是,聞非未必聞非。從來諸用不相知,生死誰能礙你。

  人我眾生壽者,彼此高低,吾伊見聞是非,皆是假相。能於此等處一概通照,看的破了,付於不知,生也如是,死也如是,生可也,死可也,生死無礙.自然了卻生死矣。

其八
住相修行佈施,果報不離天人。恰如仰箭射浮雲,墜落只緣力盡。
爭似無為實相,還元返朴歸淳。境忘情盡任天真,以證無生法忍。

  無相之相,即是實相。實相不從住相、修行、佈施、果報中成,乃從返朴歸淳、境忘情盡中生。識得實相,一動一靜,俱是天真,自獲無生法忍矣。《楞嚴經》曰:”是人即獲無生法忍。”疏云:真如實相,名無生法;無漏真智,名忍。

其九
魚兔若還入手,自然忘卻筌蹄。渡河筏子上天梯,到彼悉皆遺棄。
未悟須憑言說,悟來言語成非。雖然四句屬無為,此等仍須脫離。

  筌所以捕魚,得魚可以忘筌;蹄所以捕兔,得兔可以忘蹄。筏所以渡河,過河可以棄筏;梯所以上高,已上可以棄梯。比之言語,所以辨理,理悟可以忘言。然忘筌蹄棄筏梯四句,雖是教人悟的真性本屬無為,亦不可以空空無為即便了事。若只空空無為,如何得到真如妙覺之地。必須將此無為脫離,方能深造自得。

其十
悟了莫求寂滅,隨緣且接群迷。斷常知見及提攜,方便指歸實際。
五眼三身四智,六度萬行修齊。圓光一顆好摩尼。利物兼能自濟。

  佛法以悟性為先,非悟了便空空無事。須要將這個空性,歸於實處,方是真正佛性。故曰”悟了莫求寂滅,隨緣且接群迷。接群迷正所以行方便立功行耳。五眼者,天眼、慧眼、法眼、佛眼、肉眼是也。三身者,清淨法身、圓滿報身、千百億化身是也。四智者,大圓鏡智、平等性智、妙觀察智、成所作智是也。六度者,佈施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧是也。萬行者,一切方便功德是也。五眼三身四智六度萬行,內外兼修,真如本性,愈煉愈明。如一顆摩尼寶珠,光輝照耀,通幽達明,利物利己,永為有用之物,豈僅一空而已乎?

十一
我見時人說性,只誇口急酬機。及逢境界轉痴迷,又與愚人何異?
說的便須行的,方名言行無虧。能將慧劍斬摩尼,此號如來正智。

  此詞重在”能將慧劍斬摩尼,此號如來正智”二句。如來正智,無處不通,即慧劍也。因其正智能以除妄歸誠,故號慧劍;因其正智圓明不昧,無時不在,故號摩尼。斬摩尼非斷絕之謂,乃採取之義,不使光輝外用耳。以體言則為摩尼,以用言則為慧劍。慧劍摩尼正智,總是一個,不是三物。這個正智,不是口說成的,須要身體力行,度煉出來,方為得真。若身不能行,只圖口說,機鋒應便,以為見性,及至逢境遇事,即便昏迷,濟得甚事?故曰:”能將慧劍斬摩尼,此號如來正智”,言言行無虧者,方是正智;口急酬應者,不是正智也。

十二
欲了無生妙道,莫非自見真心。真身無相亦無音,清淨法身只恁。
此道非無非有,非中亦莫求尋。二邊俱遣棄中心,見了名為上品。

  見了真心,即是妙道,再不必別處尋妙道。夫真心,不染不著,不動不搖,無相無音,又名清淨法身,是心也,是身也。非有非無,即有即無,不可於有中尋,不可於無中求,亦不可於非有非無中取。三者既非,試想是個什麼物事?見得此物事者,頓超無生,名為最上一乘之妙道。真身真心,原是一個。以體言謂真身,以用言謂真心。體用如一,身心渾望,形神俱妙,與道合真,非無生之道乎?

附:

讀《周易參同契》

  大丹妙用法乾坤,乾坤運兮五行分;五行順兮常道有生有滅,五行逆兮丹體常靈常存。一自虛無質兆,兩儀因一開根,四象不離二體,八卦互為子孫。萬象生乎變動,吉凶悔吝茲分。百姓日用不知,聖人能究本源。顧易道妙盡乾坤之理,遂托象於斯文。否泰交,則陰陽或升或降;屯蒙作,則動靜在朝在昏。坎離為男女水火,震兌乃龍虎魄魂。守中則黃裳元吉,遇亢則無位無尊。既未慎萬物之終始,復姤昭二氣之歸奔。月虧盈,應精神之衰旺;日出沒,合榮衛之寒溫。本立言以明象,既得像以忘言。猶設象以指意,悟真意則像捐。達者惟簡惟易,迷者愈惑愈繁。故之修真之士,讀《參同契》者不在乎泥像執文。

贈白龍洞劉道人歌

玉走金飛兩曜忙,始聞花發又秋霜。
徒誇篯壽千來歲,也似雲中一電光。
一電光,何太速,百年都來三萬日,
其間寒暑互煎熬,不覺童顏暗中失。
縱有兒孫滿眼前,卻成恩愛轉牽纏。
及乎精竭身枯朽,誰解教君暫駐延。
暫駐延,既無計,不免將身歸逝水。
但看古往聖賢人,幾個解留身在世?
身在世,也有方,只為時人沒度量。
競向山中尋草木,伏鉛制汞點丹陽。
點丹陽,事迥別,須向坎中求赤血。
捉來離位制陰精,配合調和有時節。
時節正,用媒人,金公姹女結親姻,
金公偏好騎白虎,姹女常駕赤龍身,
虎來靜坐秋山裡,龍向潭中奮身起。
兩獸相逢戰一場,波浪奔騰如鼎沸。
黃婆丁老助威靈,撼動乾坤走神鬼。
須臾戰罷雲雨收,種個玄珠在泥底,
從此根芽漸長成,隨時灌溉抱真精。
十月脫胎吞入口,不覺凡身已有靈。
此個事,世間稀,不是等閒人得知。
夙世若無仙骨分,容易如何得遇之。
得遇之,宜便煉,都緣光景急如箭。
要取魚時須結罾,莫只臨川空歎羨。
聞君知藥已多年,何不收心煉汞鉛。
莫教燭被風吹滅,六道輪迴莫怨天。
近來世上人多詐,盡著布衣稱道者。
問他金木是何般,噤口不言如害啞。
卻雲伏氣與休糧,別有門庭道路長。
君不見,破迷歌裡說,太一含真法最良,
莫怪言辭多狂劣,只教時人難鑑別,
惟君心與我心同,方敢傾懷向君說。

石橋歌

吾家本住石橋北,山鎮水關森古木,
橋下澗水徹崑崙,山下飲泉香馥郁。
吾居山內實堪誇,遍地均栽不榭花。
山北穴中藏猛虎,出窟哮吼生風霞。
山南潭底藏蛟龍,騰雲降雨山濛濛。
二獸相逢鬥一場,元珠隱伏是禎祥。
景堪羨,吾暗喜,自斟自酌燻燻醉。
醉彈一曲無絃琴,琴裡聲聲教仔細。
可煞醉後沒人知,昏昏默默恰如痴。
仰觀造化工夫妙,日還西出月東歸。
天是地,地是天,反覆陰陽合自然。
識得五行顛倒處,指日昇霞歸洞天。
黃金屋,白玉掾,玉女金童日侍前。
南辰北斗分明布,森羅萬像現無邊。
無晝夜,要綿綿,聚散抽添火候全。
若問金丹端的處,尋師指破水中鉛。
木生火,金生水,水火須分前後隊。
要辨浮沉識主賓,鉛銀砂汞方交會。
有剛柔,莫逸意,知足常足歸本位。
萬神齊賀太平年,恁時國富民歡喜。
此個事,好推理,同道之人知此義。
後來一輩學修真,只說存養並行氣。
在眼前,甚容易,得服之人妙難比。
先且去病更延年,用火烹煎變陽體。
學道人,去思己,休問旁門小法制。
只知目下哄得人,不覺自身暗憔悴。
勸後學,須猛鷙,莫徒拋家住他地。
妙道不離自家身,豈在千山並萬水。
莫因循,自貪鄙,火急尋師覓元旨。
在生若不學修行,未知來生甚胎裡。
既有心,要終始,人生大事惟生死,
皇天若負道心人,令我三途為下鬼。

—————-
****************       

PHẦN  DỊCH

Ngộ Chân Thiên nguyên tự

悟 真 篇 原 序

1. Ta phù! Nhân thân nan đắc, quang cảnh dị thiên, võng trắc đoản tu, an đào nghiệp báo. Bất tự cập tảo tỉnh ngộ, duy chỉ cam phận đãi chung. Nhược lâm kỳ, nhất niệm hữu sai, đoạ ư tam đồ, ác thú.

嗟 夫, 人 身 難 得. 光 景 易 遷. 罔 測 短 修, 安 逃 業 報. 不 自 及 早 省 悟, 惟 只 甘 分 待 終. 若 臨 期, 一 念 有 差, 墮 於 三 涂 惡 趣.

Ôi! con người khó được, quang âm qua mau, nếu không sớm tu đạo, khi giờ chết tới, thì chỉ có việc cam phận mà thôi. Khi giờ chết tới, một niệm mà sai, Đoạ vào tam đồ ác thú, thì muôn kiếp khó ra, khi ấy có hối cũng không kịp.

Tắc động kinh trần kiếp, vô hữu xuất kỳ. Đương thử chi thời, tuy hối hà cập. Cố Lão Thích dĩ Tính Mệnh học khai phương tiện môn, giáo nhân tu chủng, dĩ đào sinh tử. Thích thị dĩ không tịch vi tông, nhược đốn ngộ viên thông, tắc trực siêu bỉ ngạn. Như hữu tập lậu vị tận, tắc thượng tuẫn vu hữu sinh.

則 動 經 塵 劫, 無 有 出 期. 當 此 之 時, 雖 悔 何 及 ? 故 老 釋 以 性 命 學 開 方 便 門. 教 人 修 種, 以 逃 生 死. 釋 氏 以 空 寂 為 宗, 若 頓 悟 圓 通, 則 直 超 彼 岸. 如 有 習 漏 未 盡, 則 尚 徇 于 有 生.

Cho nên Lão, Thích đem đạo Tính Mệnh dạy người phải ăn ngay ở lành, để thoát sinh tử. Thích thị lấy không tịch làm tôn chỉ,[1] nếu con người đốn ngộ, viên thông,[2] thì sẽ sang bờ bên kia. Nếu tu luyện chưa tới nơi, thì vẫn còn ở trong vòng sinh tử.

Lão tử dĩ luyện dưỡng vi chân, nhược đắc kỳ yếu khu, tắc lập tễ thánh vị, như kỳ vị minh bản tính, tắc do trệ vu ảo hình. Kỳ thứ Chu Dịch hữu Cùng Lý Tận Tính trí mệnh chi từ. Lỗ ngữ [3] hữu Vô ý, tất, cố, ngã[4] chi thuyết. Thử hựu Trọng Ni cực trăn hồ Tính Mệnh chi áo dã. Nhiên kỳ ngôn chi thường lược nhi bất chí vu tường giả, hà dã? Cái dục tự chính nhân luân, thi Nhân, Nghĩa. Lễ, Nhạc chi giáo, cố vu Vô Vi chi đạo vị thường hiển ngôn, đản dĩ Mệnh thuật ngụ chư Dịch Tượng, Tính pháp hỗn chư vi ngôn cố nhĩ.

老子 以 煉 養 為 真, 若 得 其 要 樞, 則 立 躋 聖位, 如 其 未 明 本 性, 則 猶 滯 于 幻 形. 其 次 周 易 有 窮 理 盡 性 致 命 之 詞. 魯 語 有 毋 意 必 固 我 之 說. 此 又 仲 尼 極 臻 乎 性 命 之 奧 也. 然 其 言 之 常 略, 而 不 至 于詳 者. 何 也 ? 蓋 欲 序 正 人 倫, 施 仁 義 禮 樂 之 教. 故 于 無 為 之 道 未 嘗 顯 言. 但 以 命 術 寓 諸 易 象, 性 法 混 諸 微 言 故 耳.

Lão tử dạy cách luyện dưỡng, nếu biết được cốt yếu, sẽ lập tức đạt thánh vị, nếu chưa biết bản tính, thì còn trệ trong vòng hữu hình. Còn như Kinh Dịch thì dạy người Cùng Lý, Tận Tính dĩ chí Mệnh.[5] Luận Ngữ dạy: «Tứ tuyệt: Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.» Như vậy cho thấy Đức Khổng cũng đã vươn lên chỗ cao diệu của Tính Mệnh. Nhưng mà lời lẽ thường sơ lược không rõ ràng, là tại làm sao? Nếu muốn tự chính nhân luân, thi nhân nghĩa lễ nhạc, cho nên không dạy rõ vô vi, dạy về Mệnh thì dùng Dịch Tượng, dạy về Tính thì nói rất ẩn ước, nhẹ nhàng.

Chí vu Trang tử, suy cùng vật loại, tiêu diêu chi tính. Mạnh tử thiện dưỡng hạo nhiên chi khí, giai thiết kỷ chi.[6] Đãi phù Hán Nguỵ Bá Dương dẫn Dịch Đạo giao cấu chi thể, tác Tham Đồng Khế dĩ minh đại đơn chi tác dụng. Đường Trung Quốc Sư vu ngữ lục thủ tự Lão Trang ngôn, dĩ hiển chí đạo chi bản mạt. Như thử, khởi phi giáo tuy phân tam, đạo nãi qui nhất.

至 于 莊 子 推 窮 物 類, 逍 遙 之 性. 孟 子 善 養浩 然 之 氣, 皆 切 幾 之. 迨 夫 漢 魏 伯 陽 引 易 道 交 媾 之 體, 作 參 同 契 以 明 大 丹 之 作 用. 唐 忠 國 師 于 語 錄 首 敘 老 莊 言, 以 顯 至 道 之 本 末. 如 此 豈 非 教 雖 分 三, 道 乃 歸 一.

Đến như Trang Tử nói về tính Tiêu Diêu của muôn vật.[7] Mạnh tử bàn về Khí Hạo Nhiên đều nói rất tha thiết. Đến thời Hán, Nguỵ Bá Dương, đem lẽ Giao Cấu trong kinh Dịch mà viết bộ Tham Đồng Khế, dạy về phép Đại Đơn. Đường Trung quốc sư trong Ngữ Lục của Ông có đề cao Lão, Trang, để cho thấy đâu là đầu đuôi của Chí Đạo, như vậy Giáo tuy chia ba, nhưng Đạo thì chỉ qui về một mối.

2. Nại hà, hậu thế Hoàng Duy[8] chi lưu, các tự chuyên môn, hỗ tương phi thị, trí sử tam giáo tông yếu, mê một tà kỳ, bất năng hỗn nhất nhi đồng qui hĩ.

奈 何 後 世 黃 緇 之 流, 各 自 專 門, 互 相 非 是, 致 使 三 家 宗 要, 迷 沒 邪 歧, 不 能 混 一 而 同 歸 矣.

Tại sao người tu đạo Lão sau này tự lập chuyên môn, cho thế này là đúng, thế kia là sai, làm cho Tam Giáo đi vào lầm lạc, không còn đồng qui hỗn nhất nữa.

Thả kim nhân dĩ Đạo môn thượng vu Tu Mệnh, nhi bất tri Tu Mệnh chi pháp, lý xuất lưỡng đoan, hữu dị ngộ nhi nan thành giả, hữu nan ngộ nhi dị thành giả, như luyện Ngũ Nha chi khí,[9] phục Thất Diệu chi quang,[10] chú tưởng Án Ma, nạp Thanh, thổ Trọc, niệm Kinh, trì Chú, tốn thuỷ, sất phù,[11] khấu xỉ, tập thần, hưu thê tuyệt lương, tồn thần bế tức, vận mi gian chi tư, bổ não hoàn tinh, tập phòng trung chi thuật, dĩ chí luyện Kim, Thạch, Thảo, Mộc chi loại, giai dị ngộ nhi nan thành giả.

且 今 人 以 道 門 尚 于 修 命 而 不 知 修 命 之 法. 理 出 兩 端, 有 易 遇 而 難 成 者, 有 難 遇 而 易 成 者, 如 煉 五 芽 之 氣, 服 七 耀 之 光, 注 想 按 摩, 納 清 吐 濁, 念 經, 持 咒, 噀 水, 叱 符, 叩 齒, 集 神, 休 妻 絕 糧, 存 神 閉 息, 運 眉 間 之思, 補 腦 還 精,習 房 中之 術, 以 至 煉 金 石 草 木之 類, 皆易 遇 而 難 成 者.

Vả ngày nay, người ta thường đề cao tu Mệnh, nhưng không biết rằng tu Mệnh có hai loại: một là dễ gặp nhưng nan thành, hai là khó gặp nhưng dễ thành. Như luyện Khí Ngũ Nha, luyện quang huy của Nhật Nguyệt, Tinh Thần, luyện xoa bóp, nạp thanh, thổ trọc, niệm kinh trì chú, phun nước, vẽ bùa, nghiến răng tập thần. Bỏ vợ, nhịn ăn, tồn thần bế tức, vận tư tưởng giữa 2 làn mi, bổ não hoàn tinh, tập phòng trung chi thuật, đến nỗi còn phục luyện Kim Thạch Thảo Mộc, tất cả những chuyện đó đều dễ gặp nhưng khó thành.

Dĩ thượng chư pháp, vu tu thân chi đạo, suất đa diệt liệt, cố thi lực tuy đa, nhi cầu hiệu mạc nghiệm. Nhược cần tâm, khổ chí, nhật tịch tu trì, chỉ khả dĩ tị bệnh, miễn kỳ phi hoành,[12] nhất đán bất hành, tắc tiền công tiệm khí, thử nãi thiên diên tuế nguyệt, sự tất nan thành, dục vọng nhất đắc vĩnh đắc, hoàn anh, phản lão, biến hoá phi thăng, bất diệc nan hồ? Thâm khả thống thương.

以 上 諸 法, 于 修 身 之 道, 率 多 滅 裂, 故 施 力 雖 多, 而 求 效 莫 驗. 若 勤 心, 苦 志, 日 夕 修 持, 止 可 以 避 病, 免 其 非 橫, 一 旦 不 行, 則 前 功 漸 棄 此 乃 遷 延 歲 月, 事 必 難 成, 欲 望 一 得 永 得, 還 嬰, 返 老, 變 化 飛 昇, 不 亦 難 乎 ? 深 可 痛 傷.

Các phép trên đây rất là chi ly, phiền toái, cho nên tuy dùng sức nhiều nhưng mà không có hiệu nghiệm. Nếu vất vả ngày đêm tu trì, thì có thể phòng bệnh, khỏi tai hoạ. Nếu một ngày ngưng tu, thì công lao trước đó đều mất. Muốn kéo dài thời gian, muốn sống lâu, thì chắc không được. Muốn Nhất đắc vĩnh đắc, cải lão hoàn đồng, biến hoá phi thăng, thì không khó hay sao? Thật là đáng thương.

Cái cận thế tu hành chi đồ, vọng hữu chấp trước, bất ngộ diệu pháp chi chân, khước oán thần tiên man ngữ. Thù bất tri thành đạo giả giai nhân luyện kim đơn nhi đắc. Khủng tiết thiên cơ, toại thác số sự vi danh, kỳ trung gian duy bế tức nhất pháp, như năng vong cơ tức lự, tức dữ nhị thừa[13] toạ thiền tương đồng, nhược cần nhi hành chi, khả dĩ nhập định, xuất thần. Nại hà tinh thần thuộc Âm, trạch xá[14] nan cố, bất miễn thường dụng thiên đồ chi pháp, ký vị đắc Kim Hống phản hoàn chi đạo, hựu khởi năng hồi dương hoán cốt, bạch nhật nhi thăng thiên tai?

蓋 近 世 修 行 之 徒, 妄 有 執 著, 不 遇 妙 法 之 真, 卻 怨 神 仙 謾 語, 殊 不 知 成 道 者 皆 因 煉 金 丹 而 得. 恐 泄 天 機, 遂 托 數 事 為 名, 其 中 間 惟 閉 息 一 法, 如 能 忘 機 息 慮, 即 與 二 乘 坐 禪 相 同, 若 勤 而 行 之, 可 以 入 定 出 神. 奈 何 精 神 屬 陰, 宅 舍 難 固, 不 免 常 用 遷 徒 之 法, 既 未 得 金 汞 返 還 之 道, 又 豈 能 回 陽 換 骨, 白 日 而 升 天 哉 ?

Vì gần đây những kẻ tu hành, chấp trước sai lầm, nên không ngộ được diệu pháp, lại còn oán thần tiên là nói sai. Có biết đâu Thành Đạo là do luyện đan mà được. Sợ tiết lộ thiên cơ mới mượn tiếng Số Sự. Trong đó có phép nín thở, nếu có thể vong cơ tuyệt lự, là giống với nhị thừa (Âm thanh thừa, Duyên giác thừa). Nếu cần cù mà hành động, thì có thể nhập định xuất thần. Tinh thần thuộc âm, cơ thể không vững chắc, thì không thể cầu sống lâu. Đã chưa có được Kim hống phản hoàn chi đạo, thì làm sao mà hồi dương hoán cốt, bạch nhật thăng thiên được?

3. Phù luyện kim dịch hoàn đan giả, tắc nan ngộ nhi dị thành, tu yếu động hiểu âm dương, thâm đạt tạo hoá, phương năng truy nhị khí[15] vu Hoàng Đạo,[16] hội Tam Tính[17] vu Nguyên Cung[18], toản thốc ngũ hành,[19] hoà hợp tứ tượng, Long Ngâm Hổ Khiếu, Phu xướng phụ tuỳ,[20] ngọc đỉnh[21] thang tiễn, kim lô[22] hoả sí, thuỷ đắc huyền châu[23] thành tượng, Thái Ất[24] qui chân, đô lai phiến hướng[25] công phu, vĩnh bảo vô cùng dật lạc.

夫 煉 金 液 還 丹 者, 則 難 遇 易 成, 須 要 洞 曉 陰 陽 深 達 造 化, 方 能 追 二 氣 于 黃 道, 會 三 性 于 元 宮 攢 簇 五 行, 和 合 四 象, 龍 吟 虎 嘯, 夫 唱 婦 隨, 玉 鼎 湯 煎, 金 爐 火 熾, 始 得 玄 珠 成 象, 太 乙 歸 真 都 來 片 餉 工 夫, 永 保 無 窮 逸 樂.

Còn luyện Kim Dịch hoàn đơn thì khó gặp dễ thành, chỉ cần thâm hiểu Âm Dương, thông đạt Tạo Hoá, đem được Nhị Khí (Nguyên Tinh, Nguyên Thần) vào hai mạch Nhâm Đốc, Hội Tam Tính (Mộc Dịch, Kim Tinh, Thổ Ý) về Đơn Điền, toản thốc được Ngũ Hành, Hoà Hợp được Tứ tượng, Long ngâm, Hổ khiếu, phu xướng phụ tuỳ, Ngọc Đỉnh (Nê Hoàn cung) nước sôi, Kim Lô (Hạ Đơn điền) lửa bốc, thì sẽ được Huyền Châu. Nguyên khí Thái Ất sẽ trở về trong chốc lát, sẽ đem lại vô cùng dật lạc.

Chí nhược phòng nguy, lự hiểm, thận vu vận dụng trừu thiêm.[26] Dưỡng chính trì doanh,[27] yếu tại thủ thư bão nhất,[28] tự nhiên phục Dương sinh chi khí, bác Âm sát chi hình, tiết khí ký chu,[29] thoát thai thần hoá, danh đề tiên tịch, vị hiệu Chân Nhân, thử nãi đại trượng phu công thành danh toại chi thời dã.

至 若 防 危 慮 險 慎 于 運 用 抽 添. 養 正 持 盈. 要 在 守 雌 抱 一, 自 然 復 陽 生 之 氣, 剝 陰 殺 之 形, 節 氣 既 周, 脫 胎 神 化, 名 題 仙 籍, 位 號 真 人, 此 乃 大 丈 夫 功 成 名 遂 之 時 也.

Còn như Phòng Nguy, Lự Hiểm, Trừu Thiêm, Dưỡng Chính, Trì Doanh, Thủ Thư Bão Nhất, Dương khí phục lai (Xem quẻ Phục), Âm chất tiêu tận (Xem quẻ Bác), tiết khí hết vòng, thoát thai thần hoá, danh đề Tiên Tịch, vị hiệu Chân nhân, thế là lúc trượng phu công thành danh toại vậy.[30]

Kim chi học giả tắc thủ Diên Hống vi nhị khí, chỉ tạng phủ vi Ngũ hành, phân Tâm Thận vi Khảm Ly, dĩ Can Phế vi Long Hổ, dụng Thần khí vi tử mẩu, chấp Tân Dịch vi Diên Hống, bất thức phù trầm,[31] ninh phân chủ khách,[32] hà dị nhận tha tài vi kỷ vật, hô biệt tính vi thân nhi, hựu khởi tri Kim Mộc tương Khắc chi u vi,[33] Âm Dương hỗ dụng vi áo diệu. Thị giai Nhật Nguyệt thất đạo, Diên Hống dị lô, dục vọng kết thành hoàn đơn, bất diệc viễn hồ.

今 之 學 者 則 取 鉛 汞 二 氣 指 臟 腑 為 五 行, 分 心 腎 為 坎 離, 以 肝 肺 為 龍 虎, 用 神 氣 為 子 母, 執 津 液 為 鉛 汞, 不 識 浮 沉, 寧 分 主 客, 何 異 認 他 財 為 己 物, 呼 別 姓 為 親 兒 ; 又 豈 知 金 木 相 克 之 幽 微, 陰 陽 互 用 之 奧 妙. 是 皆 日 月 失 道 鉛 汞 異 爐, 欲 望 結 成 還 丹, 不 亦 遠 乎.

Học giả ngày nay, lấy Diên Hống nhị khí, coi Ngũ tạng là Ngũ Hành, phân Tâm Thận là Khảm Ly, lấy Can Phế làm Long Hổ, coi Thần Khí là Tử Mẫu, coi Tân Dịch là Diên Hống, không hiểu phù trầm, không phân chủ khách, coi tài vật của người là của mình, gọi con khác hộ là con mình, thì làm sao hiểu được lẽ Kim Mộc tương khắc, hiểu được lẽ Âm Dương hỗ dụng huyền vi, thế là đi trái đường lối Nhật Nguyệt, Thế là Diên Hống khác lò, thì làm sao mà luyện thành Đơn được, còn xa vời lắm.

Bộc ấu thân thiện Đạo, thiệp liệp Tam Giáo kinh thư, dĩ chí hình pháp, thư toán, y bốc, chiến trận, thiên văn, địa lý, cát hung, tử sinh chi thuật, mỹ bất lưu tâm tường cứu. Duy Kim Đơn nhất pháp, duyệt tận quần kinh cập chư gia, ca thi luận khế, giai vân Nhật hồn Nguyệt phách,[34] Canh Hổ Giáp Long, Thuỷ Ngân Châu Sa, Bạch Kim Hắc Tích, Khảm Nam Ly Nữ năng thành Kim Dịch Hoàn Đơn, chung bất ngôn Chân Diên, Chân Hống thị hà vật sắc, bất thuyết hoả hầu pháp độ, ôn dưỡng chỉ qui, gia dĩ hậu thế mê đồ tứ kỳ ức thuyết, tương tiên thánh điển giáo vọng hành tiên chú, quai ngoa vạn trạng, bất duy vặn loạn tiên kinh, ức diệc cảm ngộ hậu học. Bộc dĩ chí nhân vị ngộ, khẩu quyết nan phùng, toại chí tẩm thực bất an, tinh thần bì tuỵ, tuy tuân cầu biến vu hải nhạc, thỉnh ích tận vu hiền ngu, giai mạc năng thông hiểu chân tông, khai chiếu tâm phủ. Hậu chí Hi Ninh nhị niên (1069), Kỷ Dậu tuế, nhân tuỳ Long Đồ Lục Công,[35] nhập Thành Đô,[36] dĩ túc chí bất hồi, sơ thành dũ khác, toại cảm Chân Nhân, thụ Kim Đơn dược vật, hoả hầu chi quyết, kỳ ngôn thậm giản, kỳ yếu bất phiền, khả vị chỉ lưu tri nguyên, ngữ nhất ngộ bách, vụ khai nhật oánh, trần tận giám minh, hiệu chi đơn kinh, nhược hợp phù khế.

仆 幼 親 善 道 涉 獵 三 教 經 書 以 至 刑 法 書 算 醫 卜 戰 陣 天 文 地 理 吉 凶 死 生 之 術, 靡 不 留 心 詳 究. 唯 金 丹 一 法 閱 盡 群 經 及 諸 家 歌 詩 論 契, 皆 云 日魂月 魄, 庚 虎 甲 龍, 水 銀 朱 砂, 白 金 黑 錫, 坎 男 離 女, 能 成 金 液 還 丹, 終 不 言 真 鉛 真 汞 是 何 物 色 不 說 火 候 法 度, 溫 養 指 歸 ;加 以 後 世 迷 徒 恣 其 臆 說, 將 先 聖 典 教 妄 行 箋 注, 乖 訛 萬 狀, 不 惟 紊 亂 仙 經, 抑 亦 感 誤 後 學. 仆 以 至 人 未 遇 口 訣 難 逢, 遂 至 寢 食 不 安, 精 神 疲 悴, 雖 詢 求 遍 于 海 岳, 請 益 盡 于 賢 愚, 皆 莫 能 通 曉 真 宗, 開 照 心 腑. 後 至 熙 寧 二 年 己 酉 歲, 因 隨 龍 圖 陸 公 入 成 都 以 夙 志 不 回 初 誠 愈 恪, 遂 感 真 人 授 金 丹 藥 物, 火 候 之 訣 其 言 甚 簡, 其 要 不 繁, 可 謂 指 流 知 源, 語 一 悟 百, 霧 開 日 瑩, 塵 盡 鑒 明, 校 之 丹 經, 若 合 符 契.

Kẻ hèn này, từ nhỏ đã học Tam Giáo kinh thư, ngoài ra còn lưu tâm đọc các sách về hình pháp, thư toán, y bốc, chiến trận, thiên văn, địa lý, cát hung sinh tử chi thuật. Duy về sách Kim Đan, thì đã đọc quần kinh, lại đọc ca thi, luận khế của chư gia, đều nói về Nhật hồn Nguyệt phách (Can Mộc chi Hồn, là Ly trung hư; Nguyệt phách là Khảm trung mãn, là Phế Kim chi phách), Canh Hổ, Giáp Long (Canh ở phía Tây, Hổ là Bạch Hổ, chỉ Phế Kim chi Hồn. Giáp ở phía Đông, Long là Thanh Long chỉ Can Mộc chi Hồn), Thuỷ Ngân, Chu Sa, Bạch Kim, Hắc tích, Khảm Nam. Ly Nữ (Khảm dụ Thận, Ly chủ Tâm, Khảm là Trung Nam, Ly là Trung Nữ), có thề thành Kim Dịch Hoàn Đan, cuối cùng không nói Chân Hống, Chân Diên màu sắc ra sao, không nói về hoả hầu pháp độ, không dạy Ôn Dưỡng ra sao, rồi ra sau này kẻ mê loạn nghĩ quàng xiên, chú thích lung tung lời tiên thánh, sai ngoa trăm điều, làm cho kinh thư bị vấn loạn, làm cho kẻ hậu học bị sai lầm. Kẻ hèn này chưa gặp Chí Nhân, chưa biết khẩu quyết, cho nên ăn uống không yên, thân hình tiều tuỵ. Tuy tôi đã hỏi han cầu khẩn khắp mọi nơi non cao bể thẳm, tìm xin lời dạy bổ ích nơi các bậc hiền minh, cũng không hiểu được chân tông, phế phủ cũng chưa được khai chiếu. Mãi đến năm Kỷ Dậu, Hi Ninh thứ 2, nhân theo Long Đồ Học Sĩ Lục Sằn (1012-1070) thoái chuyển, mới đầu thành tâm, ngày càng kính cẩn, nên cảm được Chân Nhân,[37] được Hải Thiềm truyền cho Kim Đơn dược vật, bí quyết hoả hầu. Lời nói thật giản dị, không phiền toái, y như chỉ sông rồi tìm ra nguồn. Nói một hiểu trăm, mây mù vẹt di, lộ ra trời quang sáng, bụi bặm hết, gương sáng choang. So vào đan kinh, thấy đúng không sai.

Nhân niệm thế chi học Tiên giả thập hữu bát cửu, nhi đạt chân yếu giả vị văn nhất nhị. Bộc ký ngộ chân thuyên, an cảm ẩn mặc, khánh sở đắc thành luật thi Cửu Cửu Bát Thập Nhất Thủ, hiệu viết Ngộ Chân Thiên, nội thất ngôn tứ vận Nhất Thập Lục Thủ, dĩ biểu Nhị Bát chi số, Tuyệt cú Lục Thập Tư Thủ, án Chu chư quái, Ngũ Ngôn Nhất Thủ, tượng vi Thái Ất, tục thiêm Tây Giang Nguyệt Nhất Thập Nhị Thủ, dĩ chu Tuế luật. Kỳ như Đỉnh Khí tôn ti, dược vật cân lạng, hoả hầu tiến thoái, chủ khách hậu tiên, tồn vong hữu vô, cát hung hối lận, tất bị kỳ trung hĩ. Vu Bản Nguyên Chân Giác chi Tính hữu sở vị tận, hựu tác vi ca tụng nhạc phủ cập tạp ngôn đẳng, phụ chi quyển mạt, thứ kỷ đạt Bản Minh Tính chi Đạo, tận vu thử hĩ. Sở kỳ đồng chí giả lãm chi, tắc kiến Mạt nhi ngộ Bản, xả vọng dĩ tòng chân.

因 念 世 之 學 仙 者 十 有 八 九, 而 達 真 要 者 未 聞 一 二. 仆 既 遇 真 詮, 安 感 隱 默, 罄 所 得 成 律 詩 九 九 八 十 一 首, 號 曰 悟 真 篇, 內 七 言 四 韻 一 十 六 首, 以 表 二 八 之 數, 絕 句 六 十 四 首, 按 周 諸 卦 ;五 言 一 首, 以 象 太 乙 ; 續 添 西 江 月 一 十 二 首, 以 周 歲 律. 其 如 鼎 器 尊 卑, 藥 物 斤 兩, 火 候 進 退, 主 客 後 先, 存 亡 有 無, 吉 凶 悔 吝, 悉 備 其 中 矣. 于 本 源 真 覺 之 性 有 所 未 盡, 又 作 為 歌 頌 樂 府 及 雜 言 等. 附 之 卷 末, 庶 幾 達 本 明 性 之 道 盡 于 此 矣. 所 期 同 志 覽 之, 則 見 末 而 悟 本, 舍 妄 以 從 真.

Nhân nghĩ rằng ngày nay người học Tiên Đạo mười người may ra được vài người nắm được yếu quyết. Kẻ hèn này nắm được Chân Thuyên, Chân Lý, nên không dám dấu diếm, tận hết sở đắc để viết ra 81 bài thơ, gọi là Ngộ Chân Thiên. Trong đó, Thất Ngôn tứ tuyệt có 16 bài, tượng trưng cho hai số: Nhị Bát. Tuyệt cú có 64 bài, theo như 64 quẻ Dịch. Ngũ ngôn có 1 bài, tượng trưng Thái Cực. Thêm vào đó lại có Tây Giang Nguyệt 12 bài cho đủ 12 tháng, Còn như Đỉnh khí tôn ti, Dược vật cân lạng, hoả hầu tiến thoái, chủ khách trước sau, tồn vong hữu vô, cát hung hối lận, đều đủ bên trong. Còn về Tính Bản Nguyên Chân Thường sợ nói chưa hết lời, nên lại làm thêm ca tụng nhạc phủ, phụ thêm nơi cuối sách, để có thể biết Đạo Đạt Bản, Minh Tính, nói cả ở trong. Mong rằng các đồng chí sau đọc sách này, Thấy Ngọn sẽ biết Gốc, bỏ Vọng mà Cầu Chân vậy.

Thời Hi Ninh Ất Mão tuế đán (1075), Thiên Thai Trương Bá Đoan, Bình Thúc tự.

時 熙 寧 乙 卯 歲 旦. 天 台 張 伯 端 平 叔 序.

Hi Ninh Ất Mão, sáng Mồng Một đầu năm, Thiên Thai Trương Bá Đoan Bình Thúc đề tựa.

****************       

NGỘ CHÂN THIÊN–Hậu tự

Ngộ Chân Thiên – hậu tự

悟 真 篇 – 後 序

Thiết dĩ nhân chi sinh dã, giai duyên vọng tình[38] nhi hữu kỳ thân, hữu kỳ thân tắc hữu hoạn.[39] Nhược vô kỳ thân, hoạn tòng hà hữu?

竊 以 人 之 生 也, 皆 緣 妄 情 而 有 其 身, 有 其 身 則 有 患. 若 無 其 身, 患 從 何 有 ?

Xem đời sống con người, đều do vọng tình nên mới có thân, có thân là có nguy hiểm, nếu không có thân, thì làm gì có hoạ hoạn.

Phù dục miễn phù hoạn giả, mạc nhược thể (lĩnh hội) phù Chí Đạo.[40] Dục thể phù chí đạo, mạc nhược minh phù bản tâm. Cố tâm giả, Đạo chi thể dã, Đạo giả tâm chi dụng dã. Nhân năng sát tâm, quan tính, tắc viên minh[41] chi thể tự hiện, Vô Vi chi dụng tự thành. Bất giả thi công, đốn siêu bỉ ngạn. Thử phi tâm kính lãng nhiên, thần châu khuếch minh, tắc hà dĩ sử chư tướng đốn ly, tiêm trần bất nhiễm, tâm nguyên tự tại, quyết định vô sinh giả tai.

夫 欲 免 夫 患 者, 莫 若 體 夫 至 道. 欲 體 夫 至 道 莫 若 明 夫 本 心. 故 心 者 道 之 體 也. 道 者 心 之 用 也. 人 能 察 心 觀 性, 則 圓 明 之 體 自 現, 無 為 之 用 自 成, 不 假 施 功, 頓 超 彼 岸. 此 非 心 鏡 朗 然, 神 珠 廓 明, 則 何 以 使 諸 相 頓 離 纖 塵 不 染, 心 源 自 在 決 定 無 生 者 哉.

Muốn hết hoạ hoạn thì thì phải hiểu chí Đạo (hiểu biết lẽ thâm sâu của Đạo). Muốn hiểu chí Đạo thì phải biết rõ Bản Tâm. Cho nên Tâm là Thể của Đạo, Đạo là dụng của tâm. Người biết sát Tâm quan Tính, thì sẽ thấy thể tính viên minh của mình, sẽ thấy cái Dụng của Đạo Vô Vi (thấy mình với vạn hữu là một), không phí sức dụng công, và lập tức bước sang bỉ ngạn, không nhiễm trần ai, tâm linh tự tại, sẽ đạt được vô sinh.

Nhiên kỳ Minh Tâm Thể Đạo chi sĩ, thân bất năng luỵ kỳ Tính, cảnh bất năng loạn kỳ chân, tắc đao binh ô năng thương, hổ huỷ ô năng hại,[42] cự phần đại tẩm, ô túc vi ngu. Đại nhân tâm nhược minh kính, giám nhi bất nạp, tùy cơ ứng vật, hoà nhi bất xướng, cố năng thắng vật nhi vô thương dã, thử sở vị Vô Thượng chí chân chi diệu Đạo dã.

然 其 明 心 體 道 之 士 身 不 能 累 其 性 境 不 能 亂 其 真, 則 刀 兵 烏 能 傷, 虎 兕 烏 能 害,巨 焚 大 浸 烏 足 為 虞. 大 人 心 若 明 鏡, 鑑 而 不 納, 隨 機 應 物, 和 而 不 唱, 故 能 勝 物 而 亡 傷 也, 此 所 謂 無 上 至 真 之 妙 道 也.

Những người minh tâm thể đạo, thì thân không luỵ được Tính, cảnh không loạn được Tâm, đao binh không thể thương hại, tê hổ không thể hại được mình, không lo bị nước lửa. Bậc chí nhân Tâm như minh kính, soi vạn sự mà không chấp trước, tuỳ cơ ứng vật, hoà mà không đề xướng, nên thắng vật mà không bị thương tổn. Đó là Đạo Vô Thượng chí chân chí diệu vậy.

Nguyên kỳ Đạo bản vô danh, thánh nhân cưỡng danh. Đạo bản vô ngôn, thánh nhân cưỡng ngôn nhĩ. Nhiên tắc Danh, Ngôn nhược tịch, tắc thời lưu vô dĩ thức kỳ thể nhi qui kỳ chân, thị dĩ thánh nhân thiết giáo lập ngôn dĩ hiển kỳ đạo. Cố Đạo nhân Ngôn nhi hậu hiển, ngôn nhân Đạo nhi phản vong, nại hà? Thử Đạo chí diệu chí vi, thế nhân căn tính mê độn, chấp kỳ hữu thân nhi ố tử duyệt sinh, cố tốt nan liễu ngộ. Hoàng Lão bi kỳ tham trước nãi dĩ tu sinh chi thuật thuận kỳ sở dục, tiệm thứ đạo chi, dĩ tu sinh chi yếu tại Kim Đơn. Kim Đơn chi yếu tại hồ Thần Thuỷ,[43] Hoa Trì.[44] Cố Đạo Đức, Âm Phù chi giáo đắc dĩ thịnh hành vu thế hĩ.

原 其 道 本 無 名 聖 人 強 名. 道 本 無 言 聖 人 強 言 耳. 然 則 名 言 若 寂. 則 時 流 無 以 識 其 體 而 歸 其 真, 是 以 聖 人 設 教 立 言 以 顯 其 道. 故 道 因 言 而 後 顯, 言 因 道 而 反 忘. 奈 何. 此 道 至 妙 至 微. 世 人 根 性 迷 鈍, 執 有 其 身 而 惡 死 悅 生. 故 卒 難 了 悟. 黃 老 悲 其 貪 著 乃 以 修 生 之 術 順 其 所 欲, 漸 次 導 之. 以 修 生 之 要 在 金 丹. 金 丹 之 要 在 乎 神 水 華 池. 故 導 德 陰 符 之 教 得 以 盛 行 于 世 矣.

Đạo vốn vô danh, thánh nhân gượng đặt tên. Đạo vốn không lời, thánh nhân gượng đặt lời. Nếu như không tên, không lời, thì người đời làm sao biết được bản thể mình, làm sao trở về được chân lý. Cho nên thánh nhân thiết giáo, lập ngôn để hiển Đạo, cho nên Đạo có lời mới sáng tỏ. Lời vì Đạo là sau mất, làm sao cái Đạo chí diệu, chí vi, thế nhân căn tính cùn nhụt, chấp trước thân mình tham sống, sợ chết, đến chết cũng không giác ngộ. Hoàng Đế, Lão Tử thương họ tham luyến, chấp trước, cho nên nương theo sở dục của họ, mà từ từ dẫn đưa họ, và cho rằng tu sinh cần biết luyện đan. Kim Đơn chi yếu cốt tại Thần Thủy, Hoa Trì, cho nên Đạo Đức Kinh và Âm Phù thịnh hành trên đời.

Cái nhân duyệt kỳ sinh dã, nhiên kỳ ngôn ẩn nhi lý áo, học giả tuy phúng tụng kỳ văn, giai mạc hiểu kỳ nghĩa. Nhược bất ngộ chí nhân thụ chi khẩu quyết, túng sủy lượng bách chủng, chung mạc năng trợ kỳ công nhi thành kỳ sự, khởi phi học giả phân như ngưu mao, nhi đạt giả nãi như lân giác da.

蓋 人 悅 其 生 也, 然 其 言 隱 而 理 奧. 學 者 雖 諷 誦 其 文 皆 莫 曉 其 義. 若 不 遇 至 人 授 之 口 訣 縱 揣 量 百 種, 終 莫 能 助 其 功 而 成 其 事. 豈 非 學 者 紛 如 牛 毛 而 達 者 乃 如 麟 角 耶.

Vì người ham sống, nên lời kinh ẩn mà lý thì sâu, học giả tuy đọc được lời văn, nhưng không rõ ý nghĩa. Nếu không gặp chí nhân truyền khẩu quyết, thì sẽ tán vụn sách ra làm trăm loại, cuối cùng công chẳng thành, sự chảng nên, thảo nào người bước vào đường tu thì đông như lông trâu, mà người đạt đạo ít như sừng lân vậy.

Bá Đoan hướng Kỷ Dậu tuế,[45] vu Thành Đô ngộ sư truyền thụ Đơn Pháp, tự hậu tam truyền phi nhân tam tao hoạ hoạn, giai bất du lưỡng tuần, cận phương truy ức tiên sư chi sở giới vân: Dị nhật hữu nhữ giải cương thoát toả giả, đương nghi thụ chi, dư giai bất hứa, nhĩ hậu dục giải danh tịch, nhi hoạn thử đạo nhân bất tri tín, toại soạn thử «Ngộ Chân Thiên», tự đơn pháp bản mạt, ký thành nhi cầu học giả thấu nhiên nhi lai, quan kỳ ý cần cừ, tâm bất nhẫn lận, nãi trạch nhi thụ chi, nhiên nhi sở thụ giả giai phi hữu cự thế cường lực, năng trì nguy chửng nịch, khẳng khái đặc đạt, năng nhân minh Đạo chi sĩ, sơ tái li hoạ hoạn, tâm do vị tri, cánh trí vu tam, nãi tỉnh tiền quá.

伯 端 向 己 酉 歲 于 成 都 遇 師 傳 授 丹 法. 自 後 三 傳 非 人 三 遭 禍 患, 皆 不 逾 兩 旬. 近 方 追 憶 先 師 之 所 戒 云 :異 日 有 汝 解 韁 脫 鎖 者. 當 宜 授 之余 皆 不 許. 爾 後 欲 解 名 籍, 而 患 此 導 人 不 知 信 遂 撰 此 悟 真 篇 敘 丹 法 本 末, 既 成, 而 求 學 者 輳 然 而 來, 觀 其 意 勤 渠, 心 不 忍 吝. 乃 擇 而 授 之, 然 而 所 授 者皆 非 有 巨 勢 強 力 能 池 危 拯 溺, 慷 慨 特 達, 能 明 道 之 士, 初 再 罹 禍 患, 心 猶 未 知 竟 至 于 三, 乃 省 前 過.

Bá Đoan vào năm Kỷ Dậu (1069) vào Thành Đô, gặp được Chân Sư truyền Đơn Pháp. Sau đó 3 lần truyền cho những người không ra gì, ba lần bị hoạ hoạn, đều không quá 2 tuần. Năm nay, tôi bị nhọt sinh sau lưng, mới nhớ lời thày răn dạy rằng: Sau này sẽ có người giúp con thoát vòng cương toả lợi danh, thì phải truyền đạo cho hắn, ngoài ra không truyền cho ai. Sau này nếu ngươi muốn thoát vòng hoạn lộ, nhưng lại sợ đạo sĩ đó không tin, thì hãy viết quyển «Ngộ Chân Thiên», dạy đầu đuôi Đan Kinh. Sau khi viết xong sẽ có nhiều người đến xin cầu học. Xem xét nếu họ thành khẩn, thì chọn mà truyền. Tuy nhiên những người được truyền thụ không phải là những kẻ có thế, có sức, có thể phò nguy trợ nịch, khẳng khái đặc đạt, có thể là những người hiểu biết đạo. Phạm lần thứ 2 lại gặp hoạ hoạn, tâm còn chưa biết, tới lần thứ ba, mới hối lỗi lầm xưa.

Cố tri Đại Đơn chi pháp chí giản chí dị, tuy ngu muội tiểu nhân đắc nhi hành chi, tắc lập siêu thánh địa. Thị dĩ Thiên Ý bí tích, bất hứa khinh truyền ư phỉ nhân dã. Nhi Bá Đoan bất tuân sư ngữ, lũ tiết thiên cơ, dĩ hữu kỳ thân cố mỗi ưng khiển hoạn, thử thiên chi thâm giới như thử chi thần thả tốc, cảm bất khủng cụ khắc trách. Tự kim dĩ vãng, đương kiềm khẩu, kết thiệt, tuy dĩnh hoạch cư tiền, đạo kiếm gia hạng, diệc vô phục cảm ngôn hỉ. Thử «Ngộ Chân Thiên» trung sở ca vịnh Đại Đơn, dược vật, hoả hầu tế vi chi chỉ, vô bất bị tất.

故 知 大 丹 之 法 至 簡 至 易, 雖 愚 昧 小 人 得 之 行 之, 則 立 超 聖 地. 是 以 天 意 秘 惜, 不 許 輕 傳 於 匪 人 也. 而 伯 端 不 遵 師 語, 屢 泄 天 機, 以 有 其 身 故 每 膺 遣 患,此 天 之 深 誡 如 此 之 神 且 速 敢 不 恐 懼 克 責, 自 今 以 往, 當 鉗 口 結 舌, 雖 鼎 鑊 居 前刀劍 加 項,亦 無 復 敢 言 矣. 此 悟 真 篇 中 所 歌 詠 大 丹 藥 物 火 候 細 微 之 旨, 無 不 備 悉.

Vì biết rằng Phép luyện Đại Đơn chí giản, chí dị, cho nên dù ngu phu biết mà thi hành cũng lập tức siêu xuất thánh vị. Vì Thiên ý muốn giữ những điều huyền bí nên không muốn khinh truyền cho những kẻ không ra gì. Vì Bá Đoan không tuân lời thày, tiết lộ Thiên Cơ, nên đã bị khiển trách và hoạ hoạn. Trời cấm đoán nghiêm ngặt và trừng phạt rất thần tốc, không thể không sợ hãi. Từ nay về sau, tôi ngậm miệng khoá lưỡi, dẫu là vạc dầu trước mặt, dao kiếm kề cổ cũng không dám nói nữa. Quyển «Ngộ Chân Thiên» này trong đó các bài ca vịnh về Đại Đơn, Dược Vật, Hoả Hầu đã mô tả rất chi tiết, đầy đủ.

Hảo sự giả túc hữu tiên cốt, quan chi tắc trí lự tự minh, khả dĩ tầm văn giải nghĩa, khởi tu Bá Đoan khu khu chi khẩu thụ hĩ? Như thử, nãi Thiên chi sở tứ, phi Bá Đoan chi triếp truyền dã. Như kỳ thiên mạt ca tụng, đàm kiến tính chi Pháp chi pháp, tức thượng chi sở vị Vô Thượng Diệu Giác chi Đạo dã, Nhiên Vô Vi chi Đạo, tề vật vi Tâm, tuy hiển bí yếu, chung vô quá cữu. Nại hà phàm phu Duyên nghiệp hữu hậu bạc, tính căn hữu lợi độn, túng văn nhất âm, phân thành dị kiến, cố Thích Ca, Văn Thù sở diễn pháp bảo, vô phi nhất thừa, nhi thính giả tuỳ lượng hội giải, tự nhiên thành tam thừa chi sai.[46] Thử hậu nhược hữu tính căn mãnh lợi chi sĩ kiến văn thử thiên, tắc tri Bá Đoan đắc Đạt Ma, Lục Tổ tối thượng nhất thừa chi diệu chỉ, khả nhân nhất ngôn nhi ngộ vạn pháp dã. Như kỳ tập khí thượng dư, tắc qui Trung Tiểu chi kiến, diệc phi Bá Đoan chi cữu hĩ.

好 事 者 夙 有 仙 骨, 觀 之 則 智 慮 自 明 可 以 尋 文 解 義,豈 須 伯 端 區 區 之 口 授 矣. 如 此 乃 天 之 所 賜, 非 伯 端 之 輒 傳 也. 如 其 篇 末 歌 頌, 談 見 性 之法, 即 上 之 所 謂 無 上 妙 覺 之 道 也. 然 無 為 之 道,齊 物 為心, 雖 顯 秘 要, 終 無 過 咎. 奈 何 凡 夫 緣 業 有 厚 薄, 性 根 有 利 鈍, 縱 聞 一 音, 紛 成 異 見. 故 釋 迦 文 殊 所 演 法 寶, 無 非 一 乘, 而 聽 者 隨 量 會 解 自 然 成 三 乘 之 差. 此 後 若 有 性 根 猛 利 之 士 見 聞 此 篇 則 知 伯 端 得 達 摩, 六 祖 最 上 一 乘 之 妙 旨 可 因 一 言 而 悟 萬 法 也. 如 其 習 氣 尚 餘, 則 歸 中 小 之 見, 亦 非 伯 端 之 咎 矣.

Những người có Tiên Cốt, đọc lên sẽ tự nhiên thấy sáng tỏ, theo lời sẽ hiểu nghĩa, cần chi phải có Bá Đoan chỉ vẽ từng lời đâu? Như vậy là Trời cho, không phải Bá Đoan truyền. Còn như nơi cuối Thiên bàn về Kiến Tánh chi Pháp, mà như trên đã gọi là Vô Vi Diệu Pháp chi Đạo. Mà Vô Vi Diệu Pháp là tâm Tề Vật (coi muôn vật là bình đẳng), tuy nói lên mọi điều bí yếu, nhưng không có lầm sai.

Vì chúng sinh Duyên nghiệp có dày mỏng, căn cơ, bản tính có bén nhọn, cùn nhụt khác nhau, như nghe một lời, lại có nhiều dị kiến. Cho nên Đức Thích Ca, Đức Văn Thù đem đạo dạy người, chỉ truyền Nhất Thừa, nhưng học giả cứ hiểu thành Tam Thừa.

Như sau này có những độc giả có căn tính mãnh liệt sẽ thấy Bá Đoan đã theo được Tối Thượng Thừa diệu chỉ của Ngài Đạt Ma và Ngài Huệ Năng, từ một lời của các Ngài mà ngộ cả Vạn Pháp. Còn những kẻ hạ căn đầy tập khí chỉ thấy bàn về Trung Thừa, Tiểu Thừa, như vậy đâu phải lỗi của Bá Đoan?

Thời Nguyên Phong cải nguyên Mậu Ngọ tuế (1078) trọng Hạ nguyệt, Mậu Dần Nhật, Trương Bá Đoan Bình Thúc tái tự.

時 元 豐 改 元 戊 午 歲 仲 夏 月 戊 寅 日, 張 伯 端 平 叔 再 序.

Năm Khai Phong cải nguyên năm Mậu Ngọ (1069), tháng Trọng Hạ (tháng 5), ngày Mậu Dần, Trương Bá Đoan, Bình Thúc tái tự.

——————-
*******************       

TIỂU SỬ TRƯƠNG BÁ ĐOAN.

Trương Bá Đoan (987-1082) sinh vào đời vua Thái Tông nhà Tống (Ung Hi 4), mất vào đời Tống Thần Tông Nguyên Phong 5), 97 tuổi.

Ông người Bắc Tống, ở Thiên Thai (là Lâm Hải Tỉnh Chiết Giang), tự Bình Thúc, hiệu Tử Dương, Tử Dương tiên nhân, sau đổi là Dụng Thành. Ông hiếu học từ bé, tham bác Tam Giáo quần kinh. Đỗ tiến sĩ, năm Hi Ninh 2 (1069) ông từ Quế Lâm về Thành Đô, theo truyền thuyết đã gặp Lưu Hải Thiềm, và đã được truyền cho khẩu quyết Kim Dịch Hoàn Đan. Năm Hi Ninh 8 (1075) ông viết Ngộ Chân Thiên, xiển minh phương pháp tu luyện Nội đan.

Ông chủ trương Tam Giáo Nhất Lý, viện Nho dẫn Phật, lấy Tính Mệnh Song Tu làm đại chỉ, lấy thân thể làm đỉnh lô, lấy Tinh Khí làm dược vật, lấy Thần làm hoả hầu, khiến Tinh Khí ngưng tụ bất tán, kết thành Kim Đơn, đồng thời kế thừa phương pháp luyện nội Đan của Trần Đoàn chia công phu Luyện Dưỡng thành 4 giai đoạn: Trúc cơ, luyện Tinh hoá khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần hoàn hư.

Ông chủ trương tiên tu Mệnh, hậu Tu Tính, thâm cứu Bản Nguyên Chân Giác chi tính. Ông là tổ sư Tử Dương Phái của Nam Tông. Ngoài ra ông còn viết: Kim Đan Tứ Bách Tự, toát lược phương pháp Tu Luyện Nội Đan, giải thích nội đan thuật ngữ, nghiên cứu Phật Kinh Thiền Thoại và viết Thiền Tông Thi kệ, 32 bài thơ.

 Học trò ông là Vương Bang Thúc cũng có viết quyển: Ngọc Thanh Kim Tư thanh hoa bí văn kim bảo nội đơn thư quyết (1 bộ 3 quyển). Sau thời Nam Tống ông được xưng là Nam Tông tổ sư.[47]

Trương Bá Đoan đề cao Minh Tính. Ông nhận ra rằng: Phật, Lão, Dịch chủ trương minh tính (minh tâm kiến tính (Phật), Tính Mệnh song tu (Lão), Cùng Lý, tận Tính (Dịch), cho nên tuy Giáo thì có 3, mà Đạo chỉ có một. Sau khi viết Ngộ Chân Thiên xong, Ông thấy cần thâm cứu về Tính Bản Nguyên Chân Thường, nên ông đọc Truyền Đăng Lục, và viết: Tôi nhờ đọc tối thượng nhất thừa của Đạt Ma và Lục tổ nên có thể nhân một lời mà ngộ được Vạn Pháp.

Ông chủ trương Tu Tính trước Tu Mệnh sau. Ông còn cho rằng: Đạo tự Hư Vô sinh Vạn Vật đó là quá trình thuận sinh, còn đạo Kim Đơn thì ngược lại, nghĩa là phải Phục Qui Hư Vô, dữ Đạo hợp nhất.

Đại đạo diệu dụng pháp Kiền Khôn,

Kiền Khôn vận hề, ngũ hành phân.

Ngũ hành thuận hề: Thường Đạo hữu sinh, hữu tử,

Ngũ hành nghịch hề, Đơn thể thường linh, thường tồn.

Ông cho rằng: Đạo giáo dạy tu luyện hình khí là Tu Mệnh. Thiền Tông dạy Minh Tâm Kiến Tính chính là Luyện Thần Hoàn Hư của Đơn Đạo. Đó là Tu Tính.[48]

****************       

THẤT NGÔN LUẬT THI THẬP LỤC THỦ DĨ BIỂU NHỊ BÁT CHI SỐ

七 言 律 詩 七 十 六 首 以 表 二 八 之 數

Nhị bát là 16. Một tháng có Thượng Huyền là Thuỷ Trung Chi Kim 8 lạng. Hạ huyền là Kim trung chi Thuỷ 8 lạng. Cộng lại là 1 cân.

Kim Thuỷ bằng nhau, Ánh sáng không thiên lệch bên nào, thật là Chí Trung, Chí Chính. Đơn pháp phỏng theo tượng Nhị huyền. Người tu Đại Đạo lấy Âm trung chi Dương là Chân Dương, tức là Thượng Huyền. Lấy Dương trung chi Âm là Chân Âm, tức Hạ Huyền. Âm trung chi Dương, Dương với Âm hoà. Dương trung chi Âm, Âm với Dương hoà. Chân Âm Chân Dương tương hoà, hợp nhau thành Một. Thế là Nhị Bát nhất cân, Kim Đơn thành tượng.

16 bài thơ Đường luật, cốt nói lên chuyện này.

Bài 1

Bất cầu Đại Đạo xuất mê đồ,

不 求 大 道 出 迷 途

Túng phụ hiền tài khởi trượng phu.

縱 負 賢 才 豈 丈 夫

Bách tuế quang âm thạch hoả thước,

百 歲 光 陰 石 火 爍

Nhất sinh nhân thế thủy bào phù.

一 生 人 世 水 泡 浮

Chỉ tham lợi lộc cầu vinh hiển,

只 貪 利 祿 求 榮 顯

Bất cố hình dung ám tuỵ khô.

不 顧 形 容 暗 悴 枯

Thí vấn đôi kim như Đại Nhạc,

試 問 堆 金 如 岱 嶽

Vô thường mãi đắc bất lai vô?[49]

無 常 買 得 不 來 無

Tạm dịch:

Không cầu Đại Đạo thoát mê đồ,

Phụ lòng hiền thánh, há trượng phu.

Chớp mắt, trăm năm, lửa trong đá,

Một đời thấm thoát tựa bào phù.

Chỉ tham lợi lộc cầu vinh hiển,

Chẳng quản hình dung cứ teo khô.

Ví như vàng bạc nhiều như núi,

Cấm nổi Vô Thường chẳng xông vô?

Bài 2

Nhân sinh tuy hữu bách niên kỳ,

 人 生 雖 有 百 年 期

Yểu thọ cùng thông mạc dự tri,

 夭 壽 窮 通 莫 預 知

Tạc nhật nhai đầu do tẩu mã,

 昨 日 街 頭 猶 走 馬

Kim triêu quan nội dĩ miên thi.

 今 朝 棺 內 已 眠 屍

Thê tài phao hạ phi quân hữu,

 妻 財 拋 下 非 君 有

Tội nghiệp tương hành nan tự khi.

 罪 業 將 行 難 自 欺

Đại dược bất cầu chân đắc ngộ,

 大 藥 不 求 真 得 遇

Ngộ chi bất luyện thị ngu si.[50]

遇 之 不 煉 是 愚 痴

Tạm dịch:

Nhân sinh tuy tuổi có trăm năm,

Thọ yểu, cùng thông khó hiểu phăng.

Hôm qua còn giỡn như ngựa chạy,

Sáng nay, thi thể đã nhập quan.

Tiền bạc vợ con đâu của bạn,

Tội nghiệp mang theo, bỏ được chăng?

Đại dược nếu may mà gặp được,

Gặp mà không luyện, thật điên khùng.

Thế nhân tranh danh đoạt lợi, ngày đêm không ngừng, cho rằng mình sẽ sống lâu, có thể hưởng thụ, an lạc lâu dài. Họ có biết đâu là tuổi thọ của trời, rủi may, được mất, con người không dự tri được. Đừng nói ít người sống được trăm tuổi. Có sống 100 tuổi rồi cũng chết chôn trong hoang dã. Thường thấy con người còn mất vô thường. Có người đang đi trên đường, đang nói cười thế mà bị bạo bệnh chết. Thật là vô số.

Ôi! Khi mở mắt thì vợ con là của ta, tiền tài là của ta, khi nhắm mắt lại thì vạn sự đều không. Tất cả đều không mang đi được. Chỉ thấy rơi vào vạn ban tội lệ, tất cả đều gánh lấy mang đi. Chi bằng sớm tỉnh ngộ. Mau tìm chân sư, mau tìm chân dược. Thảng hoặc mà có cơ duyên gặp được Đại Dược, thì thật là đại phúc, thật là có đại căn cơ, hãy mãnh lực tu luyện, tức là có thể xuất tử, nhập sinh, thoát khỏi vô thường. Nếu đã gặp thày hay mà không hạ quyết tâm tu luyện, thì như vậy là tự huỷ hoại mình, là người ngu si, và cũng y thực như những người chưa tỉnh ngộ. Cuối cùng cũng là táng vong mà thôi. Có gì hay đâu là phải biết?

****************       

Bài 3

Học tiên Tu thị học Thiên Tiên,

 學 仙 須 是 學 天 仙

Duy hữu Kim Đan tối đích đoan.

 惟 有 金 丹 最 的 端

Nhị vật hội thời Tình Tính hợp[51]

 二 物 會 時 情 性 合

Ngũ hành toàn xứ Hổ Long bàn,

 五 行 全 處 虎 龍 蟠

Bản nhân Mậu Kỷ vi mưu sính,

 本 因 戊 己 為 媒 娉

Toại sử phu thê trấn hợp hoan.

 遂 使 夫 妻 鎮 合 歡

Chỉ hậu công thành triêu Bắc khuyết,

 只 候 功 成 朝 北 闕

Cửu hà quang lý giá tường loan.

 九 霞 光 里 駕 翔 鸞

Tạm dịch:

Học Tiên thời phải học Thiên Tiên,

Chỉ có Kim Đơn ấy Đích đoan.

Âm Dương tương phối: Tính Tình hợp,

Ngũ Hành hợp nhất: Hổ Long ban.

Toàn nhờ Mậu Kỷ làm mai mối,

Rồi ra chồng vợ sẽ hợp hoan.

Sau sẽ công thành chầu Thượng đế,

Cửu Hà quang lý, giá tường loan.

***

Hai bài thơ trên dạy người nhìn rõ thế sự, phải mau tìm Đại Dược, để thoát sinh tử. Đạo thoát sinh tử là Tiên Đạo vậy, nhưng Tiên có nhiều đẳng cấp:

1. Có Liễu Tính nhi xuất Âm Thần hay Quỉ Tiên.

2. Có Liễu Mệnh nhi lưu hình trú thế hay Địa Tiên.

3. Có Tính Mệnh câu liễu, hình thần câu diệu, Thân ngoài hữu thân, dữ Đạo hợp Chân hay Thiên Tiên.

Quỉ Tiên tuy là Âm Thần, có thể ra vào tự tại, nhưng mà nhà cửa không bền, vẫn còn bị cái hoạn «phao thân, nhập thân» .

Địa Tiên tuy có thể «lưu hình trú thế», nhưng chưa thoát được Pháp thân, còn có cái luỵ Ảo thân. Cả hai một đằng thì đoạ lạc vào hữu tử, một đằng thì đoạ lạc vào cõi sinh, nên vẫn chưa thoát sinh tử. Chỉ có Thiên tiên là thoát Ảo Thân mà thành Pháp Thân, siêu xuất Tạo Hoá chi ngoại, vô sinh vô tử, có thể thoát sinh tử, Dữ Thiên Tề Thọ, vĩnh cửu bất hoại. Các bậc học giả muốn thoát sinh tử, nên học Thiên Tiên. Muốn học Thiên Tiên, ngoài Kim Đơn ra không có phép nào khác. Kim là vật Kiên Cương bất hoại, Đơn là vật đã hợp thành một vô ngại.

Kiên cương bất hoại, hỗn thành vô ngại, hồn nhiên nhất Khí, bất trắc như Thiên chi Hư Viên, bao trùm mọi vật, không vật nào có thể gây thương tích. Cho nên khi đã Thành Đạo thì gọi là Thiên Tiên. Nhân kỳ vĩnh cửu bất hoại, nên còn gọi là Kim Tiên, nhân vì ẩn hiện bất trắc, còn gọi là Thần Tiên. Kỳ thật Kim Tiên, Thần Tiên, cũng là Thiên Tiên. Muốn tu Thiên Tiên, xả Kim Đơn chi đạo, thì không có thuật nào khác. Kim Đơn đó tức là cái mà con người nhận được từ Trời, chí thiện vô ác, lương tri, lương năng, là Linh Căn tròn vẹn, là Tiên Thiên chí Dương chi khí, ngưng kết mà thành. Kỳ trung hàm Âm Dương, tàng Ngũ Hành, có Khí mà không có Chất, không phải là chiếc thân hậu thiên, hữu hình, hữu tượng, là một vật vẩn đục. Nếu qua được sự đoàn luyện thành thục của Âm phù, Dương hoả, thì sẽ vĩnh viễn bất hoại, còn gọi là Thất Phản Cữu Hoàn, Kim Dịch Đại Hoàn Đơn.

Kim Đơn là Bản Tính Hỗn Thành. Không phải là Bản Tính, thì không làm gì có Kim Đơn. Kim Đơn này ai ai cũng có, và đều viên thành. Ở nơi Thánh thì không tăng, ở nơi người phàm thì không giảm, là chủng tử của chư Phật, là Căn bản của Thánh Hiền.

Nhưng nếu chưa từng được hoả đoàn luyện (tu luyện), thì Dương cực tất Âm, tròn rồi sẽ khuyết, lạc vào Hậu Thiên, trí thức khai và tư dục nổi, khí chất phát và lương tri tối. Lương tri, lương năng đều biến thành bất lương, không thể trở lại thể Thuần Bạch.

Cho nên thánh xưa lập ra đạo Kim Đơn phản hoàn, để khiến mọi người qui gia nhận tổ, phục Ngã bản lai Nguyên Hữu chi sự vật.

Thế nào gọi là Phản Hoàn? Phản là trở lại con đường cũ mình đã đi, Hoàn là được lại những gì mình đã mất. Vả Bản Tính Linh Căn của mình mà bị mờ, chính là vì Âm Dương bất hoà, ngũ hành bị thương tổn. Nếu Âm Dương hợp nhất, Ngũ hành hợp nhất, thì sẽ trở về cái Bản Tính viên minh thuần nhất mà mình đã mất.

Nhị vật là: Nhất Cương, nhất Nhu; nhất kiện, nhất thuận; nhất Chân Tri, nhất Linh Tri; nhất Chân Tình, nhất Linh Tính.

Chân tri có đủ trong Đạo Tâm, chủ Cương Kiện, phát ra thì gọi là Chân Tình.

Linh Tri tàng ư Nhân Tâm, chủ Nhu Thuận. Hợp lại thì là Linh Tính Chân Tri, Linh Tri mà phân ly, thì Kiện không phải là Kiện, Thuận không phải là Thuận. Cương Nhu thất tiết. Chân Tình, Chân Tính, biến thành Giả Tình, Giả Tính

Chân Tri, Linh Tri mà tương hợp, thì đáng Kiện thời kiện, đáng Thuận thời Thuận, cương Nhu tuỳ thời, Giả Tình, giả Tính biến vi Chân Tình, Linh Tính.

Tiên Ông nói: Nhị vật hội thời, Tình Tính hợp, há chẳng phân minh lắm sao?

Ngũ Hành là: Ngũ Khí của Kim Mộc thuỷ hoả thổ. Ngũ khí này ở Tiên Thiên thì là Ngũ Nguyên: Nguyên Tính, Nguyên Tình, Nguyên Tinh, Nguyên Thần, Nguyên Khí.

Tại Hậu Thiên thì là Ngũ Vật: Du Hồn, Quỉ Phách, Âm Tinh, Thức Thần, Vọng Ý.

Ngũ nguyên gồm đủ Ngũ Đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Còn Ngũ Vật gồm đủ Ngũ Tặc: Hỉ Nộ Ai Lạc Dục.

Ngũ hành mà toàn vẹn thì Tiên Thiên, Hậu Thiên hỗn hợp, nhất như, lấy Ngũ Nguyên thống Ngũ Vật.

Long là Dương, chủ sinh cơ, thuộc Đông Phương Mộc, ở nơi người là TÍNH.

Hổ là Âm, chủ sát cơ, thuộc Tây Phương Kim, ỏ nơi người là TÌNH.

Ngũ Hành mà bất hoà thì Tính nào giữ Tính đó, Ngũ Nguyên biến thành Ngũ Vật, Ngũ Đức hoá vi Ngũ Tặc. Long Đông, Hổ Tây, Tính loạn, Tình Mê, đó là Khí Tính, Vọng Tình, Sát Khí tước đoạt Sinh Khí vậy.

Ngũ Hành mà toàn, thì sẽ Đồng Qui Nhất Tính, Ngũ Vật biến thành Ngũ Nguyên, Ngũ Vật hoá vi Ngũ Đức, Long bàn, Hổ Cứ, Tính Tình tương hợp. Âm Dương hội, Ngũ hành toàn, đó chính là Hồn Nhiên Thiên Lý, Chí Thiện, Vô Ác, Lương Tri, Lương Năng, là vật sự Nguyên Bản và Kim Đơn phục hoàn vậy.

Vả Tiên Thiên bản Nguyên khi đã thất tán, Tính Đông Tình Tây, cương nhu thất ứng, nếu không có vật chi để điều hoà, qua lại để thông tin, thì đôi bên sẽ cách tuyệt, vĩnh viễn sẽ không biết nhau.

Cái vật điều hoà đó, chính là Mậu Kỷ nhị thổ vậy. Mậu thổ chủ động, thuộc Dương, Kỷ Thổ chủ tĩnh, thuộc Âm, tịch nhiên bất động là Kỷ Thổ, cảm nhi toại thông là Mậu Thổ vậy. Mậu Kỷ nhị thổ ở Ngũ Đức thì là Chân Tín. Chân Tín ở trong thì Tính định, Chân định mà dùng ngoài thì Tình sẽ hoà. Tính định, Tình hoà, thì Tính Tình sẽ qui căn, như phu thê hợp hoan. Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí qui ư nhất Tín. Tính, Tình, Tinh Thần qui ư nhất Khí. Tam Gia tương kiến, Ngũ Khí triều Nguyên, hoàn Nguyên phản Bản, Kim Đơn ngưng kết. Một tên là Thánh Thai. Thêm vào đó còn có Hướng Thượng công phu, tòng Hữu Vi nhi nhập Vô Vi. Thập nguyệt ôn dưỡng, cố tế lao phong, sưu kỳ Kiện Tình chi thái quá, thiêm kỳ Thuận Tính chi bất cập. Dùng Thiên Nhiên Chân Hoả, chiêu Truân, mộ Mông, đoàn tận hậu thiên Âm Khí. Vô chất sinh chất từ Vi đến Hiển, Khí túc, Thần toàn, phích lịch nhất thanh, Kim Thuyền thoát xác, thân ngoại hữu thân, công thành danh toại, triêu Bắc khuyết mà tường loan bay lượn, bạch nhật phi thăng, thành Thuần Dương bất tử chi Tiên Thiên. Chẳng phải vui sao? Ôi!

Bản lai chân tính hiệu Kim Đơn,

本 來 真 性 號 金 丹

Tứ đại vi lô luyện tác đoàn.

四 大 為 爐 煉 作 團

Ngộ chi giả lập tễ thánh vị,

悟 之 者 立 躋 聖 位

Mê chi giả vạn kiếp trầm luân.

 迷 之 者 萬 劫 沉 淪

Chí giả khả bất miễn chư?

志 者 可 不 勉 諸

Tạm dịch:

Bản Lai Chân Tính ấy KIM ĐƠN.

Tứ tượng làm lò luyện thành đoàn,[52]

Hiểu ra lập tức siêu thánh vị,

Mê thời vạn kiếp sẽ luân hồi.

Người giỏi giang há không gắng công sao?

****************       

Bài 4

Thử pháp chân trung diệu cánh chân,

此 法 真 中 妙 更 真

Đô Duyên ngã độc dị ư nhân.

 都 緣 我 獨 異 於 人

Tự tri điên đảo do Ly Khảm,

 自 知 顛 倒 由 離 坎

Thuỳ thức phù trầm định chủ tân.

 誰 識 浮 沉 定 主 賓

Kim đỉnh dục lưu châu lý hống,

 金 鼎 欲 留 朱 里 汞

Ngọc trì tiên hạ thuỷ trung ngân.

玉 池 先 下 水 中 銀

Thần công vận hoả phi chung đán,

 神 功 運 火 非 終 旦

Hiện xuất thâm đàm nhật nhất luân.

 現 出 深 潭 日 一 輪

Tạm dịch:

Phép này vừa Diệu lại vừa Chân,

Đều vì ta khác với thế nhân.

Tự hay Điên Đảo do Ly Khảm,

Ai biết phù trầm, định Chủ Tân.

Kim Đỉnh muốn gìn Nhân Tâm vẹn,

Ngọc Trì phải biết có Đạo Tâm.

Thần công vận hoả chưa nửa buổi,

Thâm Đàm đã hiện Nhật nhất luân.

Thơ trên nói muốn tu luyện Đơn Đạo, thì Tính Tình phải hợp nhất, Ngũ hành phải toàn vẹn, mới có thể thành công. Nhưng dược vật thì dễ biết, mà Hoả Hầu thì rất khó. Hoả Hầu là pháp trình tu luyện vậy. Lữ tổ nói: Người Thượng Đức lấy Đạo toàn hình, đó là vì Thuần Dương chưa bị phá. Người Hạ Đức dùng thuật để Duyên Mệnh, đó chính là nhân Khảm Ly đã thành. Người Hạ Đức thời nên dùng giả pháp để truy nhiếp.

Pháp là thuật vậy. Nếu không pháp, không thuật, thì không thể phản bản hoàn nguyên. Mệnh cơ không vững chắc, thì Đại Đạo khó thành. Cho nên tiên ông viết: Thử pháp chân trung diệu cánh chân, đô Duyên ngã độc dị ư nhân, Pháp mà đã gọi là Chân là Diệu. thì là pháp chí chân, chí diệu. Pháp mà đã chí ư Chân, thì có thể trộm Âm Dương, đoạt Tạo Hoá, chuyển sinh sát, đoạt khí cơ. Pháp mà đã chí ư diệu, quỉ thần khôn lường được, thi qui không bói được, trước Trời Trời không trách, sau Trời để thuận Thiên Thời, đó là đạo làm thánh, làm hiền, chứ không phải là bàng môn tiểu pháp, mà có thể thấy được bến bờ. Tu luyện Chân Pháp chi diệu, thì diệu tại cái gì? Diệu là có thể Điên Đảo. Điên Đảo là điên đảo Âm Dương, nghịch thi Tạo Hoá.

Ly Khảm là Ly là Hoả, ngòai trống, trong mái. Mái bên trong là Chân Âm, ở nơi con người là Linh Tri, tàng trong Nhân Tâm. Nhân Tâm mà động thì Linh Tri bay mất, như lửa bay lên vậy.

Khảm là Thuỷ, ngoài tối, trong sáng, Sáng bên trong là Chân Dương, ở nơi con người là Chân Tri, có đầy đủ Đạo Tâm. Đạo Tâm mà tối thì Chân Tri sẽ tàng ẩn. Như nước chảy xuống dưới vậy.

Dùng điên đảo là Sinh Đạo Tâm, mà định Nhân tâm.

Đạo Tâm mà sinh, thì Chân Tri sẽ cương kiện, và Tinh Nhất chi thuỷ sẽ đi lên. Nhân tâm mà định thì Linh Tri sẽ nhu thuận. Và Lửa kháng táo (cháy mạnh) sẽ hạ xuống. Thuỷ thượng hoả hạ, thì Thuỷ Hoả sẽ tương tế.

 Linh Tri là Tính mà Tính thuộc Mộc. Mộc tính Nhu, dễ nổi.

Chân Tri là Tình mà Tình thuộc Kim. Kim tình Cương, dễ chìm.

Linh Tri phù (nổi) mà lấy dụng sự làm chủ, trong Chân có Giả, Chân tri phù (nổi) mà bất trương là Khách. Giả lại hãm Chân, thế là Thuận Hành vậy.

Định Chủ Tân là lấy Tình của Chân Tri làm Chủ, làm cho cái gì Chìm ở dưới lại nổi lên trên, lấy Tính của Chân Tri làm Tân, làm cho cái gì Nổi bên trên lại Chìm xuống dưới, Chủ Tân phản phúc, và Kim Mộc tương hợp vậy. Thuỷ Hoả giao, Kim Mộc hợp,

Đạo Tâm kiện, Nhân Tâm thuận, Chân Tri, Lương Tri hợp nhất, Tính Tình tương đầu, Kim Đơn làm sao mà không ngưng kết. Cái thứ Chân Chước Diệu Pháp này, chẳng có chẳng không. Cái mà người không biết, mà chỉ có một mình biết ra, cho nên gọi là Tự Tri, còn gọi là Ai biết. Người không biết mà tự mình biết, thì là Đạo cơ (Ăn cắp cơ trời) thiên hạ chẳng biết, chẳng hay, đó là Đạo. Có Tiên Hậu, có Nhanh Chậm. Nếu không biết cái diệu dụng của Trước Sau Nhanh Chậm. Nếu có biết Dược Vật, thì Điên Đảo nan thi, chủ khách bất định, cho nên sau tiếp thêm: Kim đỉnh dục lưu châu lý hống, Ngọc trì tiên hạ thuỷ chung ngân.

Kim là Kim Cương chi vật, Ngọc là Ôn Nhu chi vật, Đỉnh là đồ luyện thuốc, Trì là đồ Dưỡng Hoả. Kim Đỉnh Ngọc Trì là dụ Tu Chân chi Đạo, lấy Cương Nhu làm thể.

Nhân Tâm thuộc Ly. Ly vốn là có Kiền Thể, tức là Kim Đỉnh vậy. Có đủ Địa Nhị Hoả đó là Linh Tri. Đó là Khôn Gia Nhu Thuận trung chính chi vật, đó chính là Bản Lai chi Lương Năng vậy. Nhân tâm vốn dĩ là không không, động động, hư linh bất muội. Nhân vì giao với Hậu Thiên thức thần, tá Linh sinh Vọng, kiến cảnh khởi trần, tuỳ gió nổi sóng, không có khi nào ngưng nghỉ, như Châu lý chi Hống, gặp lửa thời bay, rất khó giữ lại. Tham Đồng Khế vì thế gọi là Thái Dương Lưu Châu, thường muốn lìa xa người,

Đạo Tâm thuộc Khảm. Khảm vốn là thể của quẻ Khôn, là Ngọc Trì vậy. Trong chứa Thiên Nhất chi Thuỷ nên gọi là Chân Tri. Đó là Kiền Cung Cương Kiện Trung Chính chi vật, đó là Bản Lai chi Lương Tri vậy. Nhân vì rơi vào Hậu Thiên, khách khí dụng sự, Chính khí thoái vị, Dương hãm Âm trung, Chân bị Giả che, đắm chìm trong Dục Hải. Lương tri mà đã bị mờ, như Bạc ở trong nước, không còn Vô mà chỉ có chút hữu.

Bạc là Kim loại, là Thuỷ trung Ngân, tức là Vàng mà tàng trong nước.

Cái vàng này ở Tiên Thiên thì là Bản tính chi Lương Tri, ở Hậu Thiên thì là Đạo Tâm chi Chân Tri. Vì là Chân Tri, Chí Cương Chí Kiện, nên ví dụ là Chân Diên. Vì là Chân Tri, có thể thành Tiên, thành Đạo nên gọi là Chân Chủng. Xưa nay thánh hiền đều hái Đại Dược này mà Tu Tính Mệnh.

Nhân Tâm Linh Tri, tuy là dễ động. nếu được Đạo Tâm chân tri chế phục, thì Linh sẽ qui Chân, không còn bay nhảy nữa. Tham Đồng Khế gọi thế là: Cuối cùng được Kim Hoa, sẽ được chuyển hoá. Hoàng Hạc Phú nói: Ly nội thất ban Châu sa, Vô chân chủng tắc thời khắc nan lưu, Thất ban châu sa là: Nước mắt, nước bọt, tinh, tân (nước rãi), khí huyết, dịch.

Thất ban Châu Sa mà bất định, là do Nhân Tâm chi Linh bất định, mà Nhân Tâm chi Linh bất định là do Đạo Tâm bị tổn thất, nên mới bất định. Muốn giữ Nhân Tâm chi Linh Tri, thì phải giữ được Đạo Tâm chi Chân Tri. Chân Tri là Chân Chủng đã giữ được, thì trong có Chủ Tể, không còn bị Tạp Khí đánh lừa, mà Nhân Tâm chi Linh Tri tự nhiên sẽ ngưng kết, không còn tán loạn.

Dùng Đạo Tâm chế Nhân Tâm, dùng Nhân Tâm thuận Đạo Tâm, dùng Chân Tri thống Linh Tri, dùng Linh Tri dưỡng Chân Tri. Cương Nhu tương đáng, Kiện Thuận như nhất, Tính Tình Hoà hợp. Không quá một thời thần, kết thành nhất lạp Viên Minh Bảo Châu, linh quang lãng chiếu. Nhất thiết Âm Tà chi khí, không làm thương tổn được. Cho nên nói: Thần công vận hoả phi chung đán, Hiện xuất thâm đàm Nhật nhất luân.

Thần công là: Thần minh mặc vận, thận độc chi công. Hoả là Chân tri, Linh Tri hợp nhất chi hoá khí. Vận Hoả là: Giới Thận hồ kỳ sở bất đổ, Khủng cụ hồ kỳ sở bất văn: E dè cái mắt không nhìn, Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Vận thử Linh Tri Chân Tri, Cương Nhu hợp nhất, không để cho còn một chút bụi bặm vật chất vướng vấn trong tâm khảm mình.

Cái lửa Thần Công đó, như trồng cây nêu xem bóng, như tiếng vang trong núi. Nếu hạ được quyết tâm như vậy, thì không cần đợi đến hết ngày, thì có thể từ Âm Trung phản hồi về Dương, và Âm Khí sẽ tự thoái. Trong bài thơ trên quan trọng nhất là bốn chữ: Dục lưu Tiên hạ. Trong đó mới đầu thì con người bị khống chế, Nghĩa không kịp Khách. Biết vậy sẽ Điên Đảo Âm Dương, Hoà hợp tứ tượng, dễ như trở bàn tay,

Đó là phép Pháp Tượng của Ngoại Đơn, hay Hoàn Đơn. Vì đã đi rồi nay trở lại, đã mất nay trở về, từ ngoài trở lại vào trong, nên gọi là Ngoại Đơn, hay Hoàn Đơn, thế là Nội Đơn. Thế là phân biệt Nội Ngoại Đơn vậy.

****************       

Bài 5

Hổ dược, long đằng [53] phong lãng [54] thô,

虎 躍 龍 騰 風 浪 粗

Trung ương chính vị [55] sản Huyền Châu.

中 央 正 位 產 玄 珠

Quả sinh, chi thượng [56] chung kỳ thục.

果 生 枝 尚 終 期 熟

Tử tại phúc trung [57] khởi hữu thù,

子 在 腹 中 豈 有 殊

Nam Bắc tông nguyên [58] phiên quái tượng, [59]

南 北 宗 源 翻 卦 象

Thần hôn hoả hậu [60] hợp thiên khu,[61]

晨 昏 火 候 合 天 樞

Tu tri đại ẩn [62] cư triền thị,

 須 知 大 隱 居 廛 市

Hà tất thâm sơn thủ tĩnh cô.

何 必 深 山 守 靜 孤

 Tạm dịch:

Tính, thần dũng dược, Khí tinh thô,

Trung Ương chính vị sản Huyền Châu.

Trên cành có quả sau sẽ chín,
Con trong bụng mẹ sẽ chào đời,

Bắc Nam, Tí Ngọ theo tượng quẻ,

Sớm tối Hoả Hầu, hợp Thiên Khu,

Nên hay Đại Ẩn tu thành thị,

Cần chi lên núi để tĩnh cô.

Thơ trước bàn về Hoàn Đơn chi sự, bài thơ này nói về đạo Đại Đơn. Đó là công phu trong một giờ. Một giờ này hợp đức với Đất Trời, sáng láng như Nhật Nguyệt, cát hung giống quỉ thần, khó gặp, dễ mất. Nếu mà bất cẩn, thì Tiên Thiên Chân Nhất chi khí, được rồi vẫn có thể mất.

Tiên Thiên Chân Nhất chi khí chính là Hoàn Đơn. Vì là Hoàn Đơn nên cương nhu nhị khí giao hợp mà thành, nên gọi là Chân Nhất chi khí. Ngoài hoàn đơn ra không có Chân Nhất chi khí. Khi hoàn đơn đã đến tay, Thì Đạo Tâm cương kiện, Nhân Tâm nhu thuận, Chân Tri, Linh Tri sẽ hỗn thành nhất khí. Tròn vành vạnh, sáng chói lói, như lúc vừa sinh, lương tri, lương năng, tự nhiên bất động, thành nhi toại thông, đó chính là Bản Lai Diện Mục.

Cái vật sự này, vì Tính nó cương, nên gọi là Chân Diên, vì Tính nó Mạnh, nên gọi là Hổ đực. Chân Diên, hùng hổ chẳng qua chỉ là Hạo Nhiên chính khí, chí thiện vô ác, nắm giữ được Thiên Chân Lương Tri, Lương Năng vậy. Cái Thiên Chân này một khi đã trở về, thì phải đem nó vào nơi Cha Mẹ chưa sinh, nơi Ngũ Hành không thể tới được, thì mới có thể thành được Thiên Chân vĩnh cửu, bất hoại. Cho nên khi Thiên Chân đã phục hoàn, thì phải ôn dưỡng nó, cẩn phong, lao tàng nó, phải Hư Cực Tĩnh Đốc, thì Dương Khí mới sung túc.

Tĩnh cực rồi lại động, thì Linh Miêu (cỏ Linh) sẽ phát hiện. Lữ Tổ nói: Trung tiêu lậu vĩnh, ôn dưỡng Duyên Đỉnh, ánh sáng sẽ lọt qua màn che, mành rủ. Lúc ấy, ánh sáng bừng lên, như hổ hùng tráng, thế khí rất mạnh. Mau phải dùng Một điểm Lửa của Linh Tri có sẵn trong Chân Tính để đón nó, cái Hư Linh chi Hoả ấy, gọi là Tẫn Long, Hổ dược Long đằng là Âm Dương đoàn tụ. Phong tác thô là Hổ mà ra khỏi hang thì phong sinh, rồng mà lên khỏi đầm thì sóng dậy, thế là Âm Dương tương tranh. Long Hổ giao hội, Tính Tình tương đầu, mà hợp làm một, nhập vào Trung Huyệt, Tiên Thiên chi khí sẽ từ Hư Vô tới, ngưng kết sẽ thành 1 hạt châu nhỏ, có tượng Thánh Thai.

Thánh Thai là Cốc Thần, đó chính là thần Huyền Tẫn hợp nhất. Dương Huyền là Hổ tình, Âm Tẫn là Long Tính. Tính Tình hợp là Thánh Thai kết, Huyền Tẫn hợp là Cốc Thần sinh. Tới giai đoạn này thì Hữu Vi sự đã xong, Vô vi sự bắt đầu. Không cần phải tái vi, tạo tác nữa. Cứ theo tự nhiên. Như quả sinh trên cành có ngày sẽ chín, như con trong bụng mẹ có ngày sẽ sinh. Nhưng Thánh Thai ngưng kết tuy cần hữu vi, nhưng phải ra công phòng nguy, lự hiểm. Nam Tông Bắc Nguyên phiên quải tượng là Nam là Hoả, Bắc là Thuỷ, Thánh Thai ngưng kết, Hoà khí huân chưng, thuỷ Hoả qui về Nguồn cội, tự mình nấu sôi, phải vật vong, vật trợ (để mặc tự nhiên).

Thần Hôn hoả hậu hợp Thiên Khu. Thần (buổi sáng) là đầu mỗi ngày, lúc ấy Dương Khí dụng sự. Buổi chiều là đầu mỗi đêm, là Âm dụng sự. Thiên Khu là Âm Dương chi khí cơ. Đáng Dương thời dụng Dương, đáng Âm thời dụng Âm. Hoả Hậu tiến thoái, ám hợp thần hôn chi khí cơ, nhật Kiền, tịch Dịch (nghĩa làsuốt ngày, phải biết lo lắng, quan phòng). Vật vong, vật trợ, nhật Kiền tịch Dịch, 10 tháng Ôn Dưỡng, đổi hào quái Hậu Thiên, thoát khứ Tiên Thiên Pháp Thân, Mệnh là do ta chứ không do Trời, đó là Đạo vậy.

Tu ngay giữa những người trần thế, tu ngay giữa chốn thị thành, Đại Cơ, Đại Dụng, thực hành cho thật đứng đắn. Thế không phải là Không Không Vô Vi Tịch Nhiên chi học, cho nên mới nói: Tu Tri đại Ẩn cư triền thị, Hà tất thâm sơn thủ tĩnh cô.

****************       

Bài 6

Nhân nhân bản hữu trường sinh dược,

人 人 本 有 長 生 藥

Tự thị mê đồ uổng bãi phao.

 自 是 迷 徒 枉 擺 拋

Cam lộ giáng thời thiên địa hợp,

甘 露 降 時 天 地 合

Hoàng Nha sinh xứ Khảm Ly giao.

黃 芽 生 處 坎 離 交

Tỉnh oa ưng vị vô Long quật,

井 蛙 應 謂 無 龍 窟

Li yến an tri [63] hữu phụng sào.

籬 鴳 安 知 有 鳳 巢

Đan thục tự nhiên kim mãn thất,

丹 熟 自 然 金 滿 室

Hà tu tầm thảo học thiêu mao?

何 須 尋 草 學 燒 茅

Tạm dịch:

Người ai cũng có trường sinh dược,

Chỉ tại u mê, uổng phí phao.

Khi Cam Lồ giáng thiên địa hợp,

Hoàng Nha sinh xứ, Khảm Ly giao.

Ếch giếng nào hay Long Nguyệt quật,

Yến giậu biết đâu có Phụng Sào.

Đan thành, sẽ thấy vàng đầy cửa,

Cần chi tìm cỏ với thiêu mao? [64]

Baì thơ trên nói về Hoàn Đơn, Dược Vật, Hoả Hầu. Nói đã rất rõ ràng. Sợ rằng học giả nhậm nhầm Hoàn Đơn là đoàn luyện một vật gì tầm thường, cho nên thơ này cảnh tỉnh mọi người.

Hoàn Đan chính là cái mà mọi người vốn có, đó chính là Bản Tính, là Lương Tri, Lương Năng của chúng ta. Cái Tính này ai ai cũng có, toàn vẹn. Ở nơi thánh hiền thì không tăng, ở nơi phàm nhân thì chẳng giảm, không phải tìm nơi người khác, mà ai cũng sẵn có nơi mình. Nếu hạ quyết tâm, sẽ lập tức đăng thánh vị. Tính định, Mệnh ngưng, không bao giờ hư hoại. Bản tính của Lương Tri, Lương Năng chính là Đại Dược sinh ra Trường Sinh vậy. Những kẻ u mê, không nghiên cứu thực lý của Thánh Hiền, không hiểu Tính Mệnh Căn Nguyên, bỏ gần tìm xa, bỏ chân cầu giả, suốt đời không không, tới già cũng không thành công, chỉ vì tại mình phao phí nó đi. Thật đáng buồn đáng than vậy.

Cái đức Cương Kiện của bản Lai Lương Tri mà ta vốn có, và ta tiếp thu được ở nơi Trời. Đó chính là Trời vậy. Còn đức nhu thuận của Bản Lai Lương Năng mà ta tiếp thu được ở đất, đó là Đất vậy. Bản Lai hư linh bất muội chi Thần là Linh Tính, đó là Địa nhi chi khí sở hoá. Đó là Hoả vậy. Bản Lai thuần tuý bất tạp chi tinh là Chân Tinh, Đó là Thiên nhất chi khí sở hoá, đó là Thuỷ vậy. Người mà có thể khiến cho Kiện Thuận hợp nhất, thì Thiên Địa sẽ tương hợp trong người, như nước Cam Lồ rải vào Tim, làm tiêu tan hết phiền não.

 Nếu người mà giữ được tinh thần không bị hao tổn, thì Khảm Ly trong người sẽ tương giao, như Hoàng Nha tự sinh, và Nguyên Khí cũng phục hồi. Cam Lồ giáng xuống là Tâm Thanh, Hoàng Nha sinh là Ý Tĩnh, Tâm thanh, Ý tĩnh, Lương Tri, Lương Năng, Nhất Linh Chân Tính, treo ở Hư Không, tịch nhiên bất động cảm nhi toại thông, thường ứng, thường tĩnh, Tạo Hoá khó dời, vạn vật khó khuất phục, Mệnh ta là do ta, không do Trời, trường sinh chi Đạo ở đó. Ếch trong giếng kia làm sao biết được trong đó có hang rồng. Yến trên giậu kia làm sao biết rằng có tổ phượng.

Nghe nói đến Dược Vật, Hoả Hầu, nghi là phép luyện cỏ Mao, kỳ kỳ, quái quái, không chi không làm. Có biết đâu rằng Tu Luyện Đại Đan, khi mà đan thành, thì vàng sẽ đầy nhà. Con người sẽ Bảo Mệnh, toàn Hình, giàu có không ai bằng, những vật cặn bã nơi thế gian này có gì mà đáng luyến?

****************       

Bài 7

Yêu tri sản dược xuyên nguyên xứ,

 要 知 產 藥 川 源 處

Chỉ tại Tây Nam thị bản hương.

只 在 西 南 是 本 鄉

Duyên ngộ quí sinh tu cấp thái,

緣 遇 癸 生 須 急 採

Kim phùng Vọng hậu [65] bất kham thường.

金 逢 望 後 不 堪 嘗

Tống qui thổ phủ lao phong cố,

送 歸 土 釜 牢 封 固

Thứ nhập lưu châu, tư phối đương.

次 入 流 珠 斯 配 當

Dược trọng nhất cân tu nhị bát,

藥 重 一 斤 須 二 八

Điều đình hỏa hậu thoát âm dương.

調 停 火 候 脫 陰 陽

Tạm dịch:

Phải biết ngọn nguồn sinh dược vật,

Chỉ tại Tây Phượng thị Bản Hương.

Duyên mà gặp Quí thời mau hái.

Kim gặp sau Rằm chớ coi thường,

Đem về Thổ Phủ phong kín lại,

Sau gặp Lưu Châu sẽ phối đang,

Thuốc nặng một cân vừa đôi tám,

Hỏa hậu điều đình tại Âm Dương.

Thơ trên nói ai ai cũng có trường sinh dược, nhưng chưa cho biết Dược sinh nơi nào, lúc nào. Nên thơ này nói chỗ Dược sinh, để học giả tùy thới Dụng Công, và cẩn thận hỏa hầu. Tây Nam là Khôn phương. Chỗ mặt trăng thật tối lại sinh lại, tức là Chỗ Âm Cực sinh Dương (quẻ Phục). Nơi người là chỗ tĩnh cực rồi động lại. Nơi Tĩnh cực rồi động lại, chính là cái động của Thiên Tâm, Lương Tri, là cái động của Đạo Tâm Chân Tri.

Cái Thiên Tâm Lương Tri, cái Đạo Tâm chân Tri ấy có thể siêu phàm, nhập thánh khởi tử hồi sinh, cho nên theo tượng gọi là Dược Vật.

Vạn Duyên ngừng bặt, Thiên Tâm, Lương Tri, Đạo Tâm Chân Tri, có một điểm sáng lộ ra đầu mối, nên thủ tượng gọi là nơi Sản Dược.

Nhân vì Thiên Tâm, Lương Tri, Đạo Tâm, Chân tri, là Hắc trung chi Bạch, hư vô trung lai, Động do Tĩnh sinh, Như nước có Nguồn, cho nên thủ tượng gọi là cội Nguồn của sông sinh Dược.

Thuốc này tại Tiên Thiên là Lương Tri của Thiên Tâm. Tại Hậu Thiên là Chân tri của Đạo Tâm. Đạo Tâm tức là bóng hình của Thiên Tâm, Chân Tri là Bóng Hình của Lương Tri, vì Thiên Tâm hãm ư Hậu Thiên, không thể Thường Tồn, chỉ hiện ra có lúc cho nên gọi là Đạo Tâm. Vì Lương Tri trầm ư Dục Hải, nên ánh sáng bị mất nhưng cũng có lúc tỏa sáng nên gọi là Chân Tri. Nhưng từ khi đã phản hoàn về sau, thì Đạo Tâm là Thiên Tâm, Chân Tri là Lương Tri. Có lúc phát hiện, hay có lúc sáng tỏ thì đó chính là cố hương của Đạo Tâm Chân tri. Vì có thời phát hiện, hoặc có lúc sáng tỏ, vì vẫn có một điểm Tiên Thiên Chân Nhất chi linh cơ còn tồn tại. Nhờ vào Nhất Điểm Linh Cơ đó, nếu biết nghịch hành tu luyện, thì từ Đạo Tâm Chân Tri mà phục hoàn Thiên Tâm chi Lương Tri nào có khó gì đâu?

Vả phục hoàn không khó, chỉ cần là biết Tĩnh Cực rồi lại Động, là tìm ra được ngọn nguồn, mạch sông. Lão Tử nói: Trí Hư cực, thủ Tĩnh Đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục.

Kinh Dịch viết: Phản phục chi đạo, thất nhật lai phục. Phục đều chỉ ngọn nguồn của Đạo Tâm Chân Tri. (Như vậy quẻ Phục chính là lúc Nhất Dương sinh, hay là lúc Đạo Tâm sinh, lúc Lương Tri sinh, lúc Sản Dược).

Đã biết chỗ sản Dược, thì phải biết lúc nào ra tay. Cái hay cái khéo của Kim Đơn chỉ cốt là lấy Đạo Tâm làm Đơn Mẫu. Vì Đạo Tâm vốn cương kiện, có đủ Chân Tri chi Tình, nên thủ tượng gọi là Chân Diên. Trong Duyên có Bạc, ngoài đen trong trắng, trong Đạo Tâm có Chân Tri, ngoài tối trong sáng, cho nên Tiên Chân đều lấy Đạo Tâm Chân Tri mà sánh với Chân Diên. Không dám nói trắng ra thật là trịnh trọng, sợ kẻ không ra gì lấy trộm đi mất.

Cái Đạo Tâm, Chân Tri này, bị tình dục che khuất, bị nhận chìm thật sâu, không thể thoát được. Khi đã biết ngọn nguồn, thì có thể dần dần hái lấy đem về hoàn phản.

Phép Phục hoàn là phải tìm cầu trong tình dục.

Chân tri là Thiên Nhất sở sinh, là Thuần Nhất Trí Tinh chi Dương Thủy. Đó là Nhâm Thủy. Tình Dục sinh ra từ Địa Lục. Đó là thứ Âm Thủy vẩn đục, là Quí Thủy. Nhâm Thủy ẩn tàng trong Quí Thủy. Quí Thủy mà không sinh, thì Nhâm Thủy không hiện. Chân Diên sẽ không hiện.

Duyên ngộ Quí sinh là Chính Âm Dương nhị khí giao tiếp. Quí vừa sinh nhưng chưa biết dùng sự. Nhâm thủy chưa tan, Chân Tri chưa tối, phải hái đem về cho vào Huyền Thai Đỉnh ngay, thì tình dục chưa thi triển, và sẽ tiêu diệt. Trương Tam Phong nói: Yêu thái tha xuất tường hoa nhi, đóa đóa tiên, Hãy hái hoa tươi từng đóa mọc bên tường hoa là vậy.

Kim phùng vọng hậu là Khi Chân Tri đã trở về, thì hãy dùng Chân Tình của Chân Tri, tăng tăng lên mãi, tiến vào Cương Kiện, Trung Chính, thuần túy chi tinh, như trong Duyên luyện ra Bạch Kim, màu sắc sáng láng. Tới giai đoạn này, thì lương tri, lương năng, sáng láng rực rỡ, có thể khúc trực ứng vật, bay lên, chìm xuống, nhất nhất tùy tâm, đâu đâu cũng đều thấy Đạo, như vầng nguyệt trên không trung, chiếu kiến Tam Thiên Đại Thiên thế giới, thông u đạt minh, mà không phải dùng đến công phu tăng thiêm, bỏ hữu vi mà vào vô vi. Nếu không biết Hỏa Hầu, thì tròn rồi sẽ khuyết, sáng rồi sẽ tối, như Trăng sau rằm, Dương trung sẽ sinh Âm, Chân Tri bị thương. Chân sẽ mờ mà giả sẽ tới. Cái cặn bã của Hậu Thiên, làm sao mà bền vững được.

Cho nên khi Chân Tri mà tròn trở lại. Phải cho ngay vào Trung Ương thổ phủ, phong tỏa kỹ lưỡng, không cho nó bị Thẩm Lậu, và phối hợp nó với Nhất điểm Hư Linh Lưu Châu trong Bản Tính. Mượn Âm giúp Dương, dùng Hư nuôi Thực, phòng nguy lự hiểm, cho Cương Nhu được hợp nhất. Âm Dương cân bằng, 2, 8 số đủ, không thừa, không thiếu, tiến đến chỗ Khoáng Tận, Kim thuần, không còn chút Khí Chất nào nữa mới được.

Muốn cho 2, 8 số đủ, toàn nhờ vào cách điều đình Hỏa Hậu. Biết Non Già, biết khi nào đủ thời ngừng, biết Cát, Hung, biết Nhanh Chậm, khi đáng tiến Dương thời tiến Dương, khi đáng vận Âm thời vận Âm, thì lớn nhỏ sẽ không bị thương tích, 2 nước sẽ chu toàn, và tự nhiên Chân Nhất chi khí, sẽ từ Hư Vô trung lại, ngưng kết không tan, và thánh thai sẽ thành tượng vậy.

Điều Đình hòa hậu, là Điều hòa Cương Nhu, cho thuốc được đúng một cân, và Cương Nhu sẽ trở về Trung Chính, nhị Bát sẽ tương đương. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Âm Dương hỗn thành, thì Cương Nhu sẽ hóa, sẽ tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông. Cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động, sẽ không bao giờ bị hư hoại.

Ôi! khẩu quyết: Trăng quá tròn. Tâm Truyền vi diệu là Giờ Tí. Dược Vật thời khó biết, Hỏa Hậu cũng khó tường. Sao học giả không mau chịu đi tìm chân sư.

Bài thơ này bao quát Dược Vật Hỏa Hầu, và Diệu dụng của Hoàn Đơn, Đại Đơn, và cả bài thơ thứ 16 nữa, độc giả hãy đọc cho kỹ, không nên bỏ qua một chữ. Nếu như hiểu được, và có sư truyền, thì nghe một chữ mà tường vạn pháp vậy.

****************       

Bài 8

Hưu luyện Tam Hoàng [66] cập tứ thần, [67]

休 煉 三 黃 及 四 神

Nhược tầm chúng thảo cánh phi chân.

若 尋 眾 草 更 非 真

Âm Dương đắc loại qui giao cảm,

 陰 陽 得 類 歸 交 感

Nhị Bát tương đương tự hợp thân.

二 八 相 當 自 合 親

Đàm để nhật hồng âm quái diệt,

潭 底 日 紅 陰 卦 滅

Sơn đầu nguyệt bạch Dược miêu tân.

山 頭 月 白 藥 苗 新

Thời nhân yêu thức Chân Diên Hống,

時 人 要 識 真 鉛 汞

Bất thị phàm sa cập thủy ngân.

不 是 凡 砂 及 水 銀

Tạm dịch:

Khỏi luyện Tam Hoàng với tứ thần,

Nếu tìm thuốc cỏ thảy phi chân.

Âm Dương đắc loại nên giao cảm,

Nhị Bát tương đương sẽ hợp thân.

Đáy vực Nhật hồng, âm quái diệt,

Đầu non, Nguyệt bạch Dược nảy mầm.

Người nay phải biết Chân Diên Hống,

Không phải phàm sa với thủy ngân.

Thơ trên nói về Chân Diên, Chân Hống. Đôi bên phối hợp mới thành Kim Đơn. Nhưng có người nghi là Kim Đơn chỉ là thế gian hữu hình chi vật, thiêu luyện mà thành. Cho nên thơ này vội nói: Hưu luyện Tam Hoàng cập Tứ Thần, Nhược tầm chúng thảo cánh phi chân. Tam hoàng là Lưu Hoàng, Hùng Hoàng, Thư Hoàng, Tứ Thần là Chu Sa, Thủy Ngân, Duyên Tiêu. Tam Hoàng, Tứ Thần, Chúng Thảo, đều không là đồng loại với ta, làm sao có thể Tiếp Mệnh cho ta, làm sao Liễu Tính cho ta?

Không Tiếp Mệnh, Liễu Tính được thì chỉ là đồ bỏ, không phải là Chân Đạo.

Sách Tam Tướng Loại viết: Đồng loại dị thi công hề, phi chủng nan vi công,

Con người được trời đất phú cho Âm Đương nhị khí mới sinh ra. Cho nên trong thân có đủ khí Âm Dương, có đủ đức Âm Dương. Dương là Cương, Âm là Nhu. Đức của Cương chủ Mệnh, Đức của Âm chủ Tính. Cái Dương Cương Âm Nhu ấy, đó là cội nguồn của Tính Mệnh vậy. Đồng loại là: Dương với Âm là đồng loại, Âm với Dương là đồng loại. Âm Dương đúng loại thì cương nhu sẽ tương ứng, như vợ chồng xa cách nhau lâu ngày mà bỗng nhiên gặp nhau, thì sẽ giao cảm với nhau. Nhị Bát là Âm trung chi Dương thì là Chân Dương, đó là Cương Kiện Trung Chính; Dương trung chi Âm là Chân Âm, là Nhu Thuận Trung Chính vậy. Cương Nhu cùng qui về Trung Chính, thì là Âm Dương tương đáng, bất thiên bất ỷ, tự nhiên sẽ tương hợp tương thân, hỗn nhiên nhất khí, ngưng kết không tan.

 Âm Dương đắc loại, nhị bát tương đáng, thì từ Hậu Thiên sẽ phản xuất Tiên Thiên, Đạo Tâm cương kiện, nhân tâm nhu thuận, Chân Tri, Linh Tri, đôi đằng tương hợp, thì bản lai nhất điểm Linh Căn của Lương tri, Lương Năng, sẽ từ trong Hư Vô hiển lộ ra, như mặt trời hồng từ đaý đầm hiện lên, những gì quá quắt của khí Âm sẽ tiêu hết, và vầng trăng lưỡi liềm sẽ vắt vẻo đầu non. Mầm dược sẽ mọc non tươi. Chính khí sinh thì tà khí sẽ thoái, Chân mà phục hồi thì giả sẽ tiêu mất. Đàm để nhật hồng, Sơn đầu Nguyệt bạch đều mô tả Chân Dương phát hiện, hay hình ảnh của Thiên Tâm phục hiện. Thiên tâm phục hiện thì Lương Tri Lương năng đều hay. Đó là Kim Đơn.

Kim Đơn này chính là cái tính Bản Lai đầy đủ Chân Âm, Chân Dương, phối hợp Cương Nhu mà thành. Đó là tận Tính trí Mệnh chi Chân Bảo. Há đâu phải là Phàm Sa Thủy Ngân do người điêu luyện mà thành đâu? (Như vậy Kim Đơn sinh là quẻ Phục, Kim Đơn thành là quẻ Kiền).

****************       

Bài 9

Dương lý Âm Tinh chất bất cương,

陽 里 陰 精 質 不 剛

Độc tu nhất vật chuyển luy uông.

獨 修 一 物 轉 羸

Lao hình án ảnh giai phi Đạo,

尪 勞 形 按 影 皆 非 道

Phục thực san hà tổng thị cuồng.

服 食 餐 霞 總 是 狂

Cử thế mạn cầu Diên Hống phục,

舉 世 漫 求 鉛 汞 伏

Hà thời đắc kiến long hổ hàng.

何 時 得 見 龍 虎 降

Khuyến quân cùng thủ sinh thân xứ,

勸 君 窮 取 生 身 處

Phản bản hoàn nguyên thị dược vương.

返 本 還 元 是 藥 王

Tạm dịch:

Dương lý Âm tinh chất bất cương,

Tại tu Nhất Vật chuyển luy uông,

Lao hình Án Ảnh không phải Đạo,

Phục khí, nuốt mây chính thị cuồng.

Thế gian những muốn Diên Hống hợp.

Bao giờ mới thấy Hổ Lonh hàng.

Khuyên ông cùng thủ sinh thân xứ,[68]

Phản bản hoàn nguyên ấy dược vương.[69]

Thơ trước bàn về Kim Đơn, Dược Vật, không phải là Tam Hoàng,Tứ Thần. không phải cỏ cây phàm vật. Người tu phải thấy nó nơi mình. Có biết đâu rằng con người từ khi Chân Dương bị thất hãm, Trong con người chỉ còn có Dương trung chi Âm Tinh mà thôi.Phàm nước mắt, nước miếng, phàm tân dịch, khí huyết, đều là Âm Tinh. Khí Chất nó không cương, còn thân thì nó còn, mất thân thì nó chết, sự tồn vong của nó tùy thuộc vào ẢO Thân của ta. Nếu chỉ tu cái Dương Lý Âm Tinh nhất vật đó, mà muốn bảo mệnh toàn hình, làm cho hết gầy ốm, thì cuối cùng sẽ không nên chuyện. Người thế gian chỉ lo Lao Hình, Án Ảnh, phục khí nuốt mây, cùng trăm nghìn phép khác, nếu không phải là luyện Âm Tinh, thì là bổ Âm Tinh, khác xa Chân Đạo. Càng tu càng xa Đạo, làm sao mà phục hồi được Chân Diên, Chân Hống, trở về được với Nhất Khí, bắt Chân Long Chân Hổ về hợp lại một nhà.

Kim Đơn chi Đạo, là Đạo sinh thân vậy. Sinh thân chi đạo là Đạo Âm Dương hợp nhất. Âm Dương hợp nhất thì sinh cơ mới còn.

Đạo sinh ra người, là mượn phàm phụ, phàm mẫu mà sinh ra Ảo Thân.

Đạo sinh ra tiên, là mượn Linh Phụ, Linh Mẫu để thành Chân Thân.

Linh Phụ tức là Cương Kiện chi Chân Tri.Thánh Mẫu là Nhu Thuận chi Linh Tri.

Sinh Nhân, sinh Tiên, đều không ngoài Âm Dương.

Bất quá có chuyện phân biệt Thánh Phàm, là vì Thuận Nghịch mà phân ra.

Nếu con người chịu suy về Lý sinh ra con người, thì sẽ đại giác, đại ngộ.

Hãy suy xem tại sao cha mẹ gặp nhau, tại sao lại giao cảm với nhau, tại sao lại thụ thai, tại sao lại bảo thai, tại sao thai lại toàn, tại sao sinh ra, tại sao lại bú mớm, tại sao biết đi, tại sao khôn lớn, thì đầu đuôi của chuyện tu đạo, sẽ minh minh bạch bạch. Cứ thế mà tiến, mà phản bản hoàn nguyên, mà khởi tử hồi sinh, mà bảo mệnh toàn hình, mà trở thành Đại Dược Vương. Tu Đại Đạo chẳng qua là lý Sinh Thân, không có phép khác.

Bàng môn tả đạo chỉ biết Cô Âm Quả Dương, trước không, chấp tướng, chỉ tu có một vật, thì làm sao biết được chuyện này.

(Mới hay, khi chưa vào được quẻ Phục, thì trong người mới chỉ có Âm Tinh, mà chưa có Chân Dương.)

****************       

Bài 10

Hảo bả Chân Diên trước ý tầm,

好 把 真 鉛 著 意 尋

Mạc giao dung dị độ quang âm.

莫 教 容 易 度 光 陰

Đãn tương địa phách cầm chu Hống,

但 將 地 魄 擒 朱 汞

Tự hữu Thiên hồn chế thủy câm (kim).

自 有 天 魂 制 水 金

Khả vị Đạo cao Long Hổ phục,

可 謂 道 高 龍 虎 伏

Kham ngôn Đức trọng quỉ thần khâm.

堪 言 德 重 鬼 神 欽

Dĩ tri thọ vĩnh tề Thiên Địa,

已 知 壽 永 齊 天 地

Phiền não vô do cánh thượng tâm.

煩 惱 無 由 更 上 心

Tạm dịch:

Chỉ việc Chân Diên quyết ý tầm,

Không để tiêu hao hết quang âm.

Hãy lấy Chân Tri[70] cầm Chu Hống,

Sẽ có Thiên Hồn[71] chế Thủy Câm.

Nên nói Đạo cao Long Hổ phục,

Mình mà đức trọng, quỉ thần khâm.

Đã rằng trường thọ cùng trời đất,

Còn đâu phiền não vướng bận tâm?

Thơ trên dạy người Cùng Thủ sinh thân chi xứ, phản bản hoàn nguyên. Mà phản bản hoàn nguyên là phải biết Chân Diên nhất vị đại dược, biết được Chân Diên tức là biết Đắc Nhất, Vạn sự tất. Ngoài ra đều là chuyện dễ. Chân Diên không phải là chi khác mà chính là Chân Tri của Đạo Tâm mà thôi. Chân tri còn có tên là Chân Chủng. Không biết được Chân chủng, thì Tu đạo sẽ vô bản, làm chi cũng là uổng phí công phu.

Cho nên nói:

Chỉ cần để ý tìm Chân Diên, ba chữ Chước ý tầm có nghĩa như là: Cách vật trí tri, cùng lý tận tính vậy. Người muốn tu Đại Đạo. Nếu biết được Thật Lý, thì hạ thủ công phu nào có khó gì, có khác gì trồng cây nêu sẽ thấy bóng. Nếu không biết được Thật Lý, thì chẳng qua là ước mơ Thiên Bảo. Khiến như treo trên không mà không có thật, đó là uổng phí quang âm vậy. Địa phách, thủy câm, là Âm trung chi Dương, đó là Chân Tri nói theo Pháp Tượng. Thiên hồn Chu Hống, là Dương trung chi Âm, là Chân Tri nói theo Pháp Tượng. Và nếu muốn «Tương Địa hồn cầm chu hống», là dùng Chân Tri mà chế Linh Tri vậy. Tự hữu «Thiên Hồn chế Thủy Kim» là dùng Linh Tri để nuôi dưỡng Chân Tri.

Chân Tri thì Cương, thuộc Dương nên là Chồng, Linh Tri thuộc Âm nên là Vợ. Dùng chồng chế vợ, vợ sẽ thuận chồng, Vợ thuận chồng và chồng cũng yêu vợ, phu thê tương đắc, nên sinh cơ luôn còn.

Cho nên Tham Đồng Khế nói:

Thái Dương lưu châu thường muốn xa người, sau gặp Kim Hoa nên chuyển thành Tương Nhân vậy. Chân tri, Linh tri hai bên hợp nhất, Cương Nhu qui Trung, biến thàng Lương Tri, Lương Năng, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, thánh thai có tượng.

Tới giai đoạn này, thì: Đạo cao nhi Long Hổ phục, Đức trọng nhi quỉ thần khâm, Phương thả thọ vĩnh tề Thiên Địa, làm sao mà lòng còn phiền não được?

****************       

 Bài 11

Hoàng Nha, [72] Bạch Tuyết [73] bất nan tầm,

黃 芽 白 雪 不 難 尋

Đạt giả tu bằng đức hạnh thâm.

達 者 須 憑 得 行 深

Tứ tượng ngũ hành toàn tạ thổ,

四 象 五 行 全 藉 土

Tam nguyên [74] bát quái khởi ly nhâm? [75]

三 元 八 卦 豈 離 壬

Luyện thành linh chất [76] nhân nan thức,

煉 成 靈 質 人 難 識

Tiêu tận âm ma, quỉ mạc xâm.

銷 盡 陰 魔 鬼 莫 侵

Dục hướng nhân gian lưu bí quyết,

欲 向 人 間 留 秘 訣

Vị phùng nhất cá thị tri âm.

未 逢 一 箇 是 知 音

Tạm dịch:

Chân Hống, Chân Diên chẳng khó tầm,
Những ai được nó Đạo ắt thâm.

Tứ tượng, Ngũ hành đều nhờ Thổ,
Tam Nguyên bát quái phải nhờ Nhâm.
Luyện thành Đại Dược nào ai biết,

Tiêu tận Âm Ma, quỉ khó sâm.

Bí quyết muốn lưu cho trần thế,

Nhìn quanh chẳng thấy có tri âm.

Thơ trên nói người Đạo cao Đức cả, thì Long Hổ đều thuần thuận. Cho nên có Đạo không thể vô Đức, có Đức không thể vô Đạo vậy.

Vả chí Đạo không phiền, Đạo Dược chẳng xa, Bạch Tuyết ở ngay trước mắt, Hoàng Nha cũng ở trong nhà. Chỉ cần quyết tâm, là có trong tay. Cho nên nói: Bất nan tầm.

Vả Đạo này làm ta siêu phàm, nhập thánh, Siêu tử Hồi sinh, đó là thiên hạ hi hữu chi sự. Tuy chẳng khó tìm, nhưng nếu không phải người đại hạnh, đại đức thì cũng không biết, cho nên mới nói: Đạt giả tu bằng đức hạnh thâm. Mà quả thật người quân tử, phu phụ đức hạnh, thì tìm ra không khó.

Tứ tượng là: Tứ khí Kim Mộc Thủy Hỏa. Cùng với Thổ là Ngũ Hành.

Tam Nguyên là: Thiên Nguyên, Địa Nguyên, Nhân Nguyên hay Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên.

Bát quái là: Âm Dương của Tứ Tượng, Ngũ hành. Kiền là Dương Kim, Đoài là Âm Kim, Khảm là Dương Thủy, Cấn là Âm Thủy, Chấn là Dương Mộc, Tốn là Âm Mộc, Ly là Dương Hỏa, Khôn là Âm Hỏa.

Bát quái tuy phối Tứ Tượng Âm Dương, nhưng Khôn Cấn cũng gồm đủ Mậu Kỷ nhị Thổ. Khôn là Âm Thổ, Cấn là Dương Thổ. Khí Ngũ hành, gồm đủ bên trong.

Ngũ Hành ở nơi người là Ngũ Nguyên: Tính, Tình, Tinh, Thần, Khí. Phát ra thành Ngũ Đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Tam Nguyên ở nơi người là Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần.

Bát quái ở nơi người là Ngũ Nguyên, Ngũ Đức cương nhu chi Tính.

Tổng chi, thì Tứ tượng, Tam Nguyên, Bát Quái đều là Ngũ Hành biến hóa ra. Chứ không phải ngoài Ngũ Hành còn có Tứ Tượng, Tam Nguyên, Bát quái vậy.

Tứ tượng, Ngũ Hành toàn tạ thổ là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí đều nhờ vào Tín mà có.

Tam Nguyên, Bát quái khởi ly Nhâm là Tính Tình Thần Khí không sao rời Tinh Nhất vậy.

Hoàng Nha là sinh cơ của Thổ. Trong đó có Tín.

Bạch Vân là Thủy chi khinh thanh, là Tinh chí ư Nhất vậy.

Nhân Nghĩa Lễ Trí mà qui ư Tín, mà doãn chấp quyết trung, thì Hoàng Nha sẽ lớn dần.

Tính tình Thần Khí qui ư Nhất trung, duy tinh, duy nhất, và Bạch Tuyết sẽ bay lên không trung, tinh nhất chấp trung, cứ tu luyện như vậy, càng ngày càng mạnh, Đạo Tâm ngày một mạnh, Nhân tâm ngày một tĩnh, Chân Tri, Linh Tri hai bên hợp nhất. Một hạt bảo châu sáng láng, tròn trĩnh hiện ra trên không trung, thường ứng, thường tĩnh, sắc không không bợn, sáng tối tùy thời, trước Trời mà Trời không trách, sau Trời cho đúng thời Trời, huống chi là con người, huống chi là thần minh? Người không hay, thần không sâm, đâu phải là lời nói suông.

Đạo này, thật là giản dị, tóm tắt lại không phiền tạp, biết ra thì lập tức bước lên thánh vị, Chẳng đợi ba năm, chín năm. Chỉ tại thế gian không có người trượng phu, đức hạnh, không có chân chính nam tử, nhiều người đẽo rìu đã có cán mẫu kề bên mà vẫn cho là xa. Tiên Ông nói: Bí quyết muốn lưu cho trần thế, Nhìn quanh chẳng thấy có tri âm. Thật đang buồn vậy.

****************       

Bài 12

Thảo mộc, Âm Dương diệc lưỡng tề,

草 木 陰 陽 亦 兩 齊

Nhược hoàn khuyết nhất, bất phương phi.

若 還 缺 一 不 芳 菲

Sơ khai lục diệp, Dương tiên xướng,

初 開 綠 葉 陽 先 倡

Thứ phát hồng hoa, Âm hậu tùy,

次 發 紅 花 陰 後 隨

Thường Đạo tức tư vi nhật dụng,

常 道 即 斯 為 日 用

Chân nguyên phản thử hữu thùy tri.

真 源 反 此 有 誰 知

Báo ngôn học Đạo chư quân tử,

報 言 學 道 諸 君 子

Bất thức Âm Dương mạc loạn vi.

不 識 陰 陽 莫 亂 為

Tạm dịch:

Thảo Mộc Âm Dương vốn đủ đôi,

Nếu như thiếu một, chẳng đẹp tươi.

Lá xanh nảy trước, Dương tiên xướng,

Hoa đỏ sinh sau, Âm hậu tùy.

Thường đạo y theo mà biến hóa,

Chân Nguyên đi ngược biết sao suy?

Đôi lời cảnh cáo chư quân tử,

Không hiểu Âm Dương chớ loạn vi.

Thơ trước nói Đức không thể không tu, Thơ này nói Đạo không thể không biết. Dịch viết: Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo. Đạo nói: Thiên Địa nhân uân, vạn vật hóa thuần (Trời đất un đúc, vạn vật hóa thuần). Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh (nam nữ giao cảm, vạn vật hóa sinh).

Đạo Kim Đơn luôn vận dụng lẽ Dương Kiện, Âm Thuận. Âm Dương mà hợp nhất thì sẽ Sinh Đơn, Duyên Mệnh, Âm Dương mà chống nhau, thì sinh rắc rối và sẽ đoản mệnh.

Thử nhìn xem thảo mộc vô tình, sẽ thấy chúng bắt đầu sinh lá xanh, thế là Dương tiên xướng, sau đó nở hoa đỏ, thế là Âm hậu tùy. Âm Dương không hề lìa xa nhau. Suy rộng ra, thì tất cả mọi vật hữu tình, cũng đều nhờ Âm Dương mà thành. Bất quá là Thường Đạo đi theo chiều Thuận, Tiên Đạo đi theo chiều nghịch. Thuận là Thuận hành Âm Dương, Nghịch là nghịch vận Âm Dương.

Thế nhân chỉ biết đạo Thuận hành, mà không biết Đạo Nghịch hành, cho nên chỉ chạy theo giả cảnh mà không biết Nguồn gốc chân thật của mình. Dương cực thời sinh Âm, Âm cực thời sẽ chết.

Người học Đạo, phải biết Âm Dương. Biết được Âm Dương là biết được Nguồn Gốc thật của mình (Chân Nguyên). Chân Nguyên chính là Huyền Tẫn chi Môn. Sinh Âm ở đó, sinh Dương ở đó. Thuận cũng ở đó, Nghịch cũng ở đó.Tri thường, phản bản, sẽ lập tức đăng thánh vức.

Nhưng Âm Dương không phải có một thứ. Có Tiên Thiên Âm Dương, có Hậu Thiên Âm Dương, có Mệnh trung Âm Dương, có Tính trung Âm Dương, có Chân Âm Dương, có giả Âm Dương, có ngoại Âm Dương, có nội Âm Dương, những thứ Âm Dương đó phải truy cứu cho tường tận. Sau đó mới dám hạ thủ. Nếu không biết Chân ÂM, Chân Dương mà loạn tác, loạn vi, mà bỏ Chân vào Giả, thì sẽ làm tiêu Tính Mệnh vậy.

———————————

 Bài 13

Bất thức huyền trung điên đảo điên,

不 識 玄 中 顛 倒 顛

Tranh tri hỏa lý hảo tài liên.

爭 知 火 里 好 栽 蓮

Khiên tương Bạch Hổ qui gia dưỡng,

牽 將 白 虎 歸 家 養

Sản cá minh châu tự nguyệt viên,

產 箇 明 珠 似 月 圓

Mạn thủ dược lô khan hỏa hậu,

謾 守 藥 爐 看 火 候

Đãn an thần tức nhiệm thiên nhiên,

但 安 神 息 任 天 然

Quần Âm bác tận Đan thành thục,

群 陰 剝 盡 丹 成 熟

Đào xuất phàm lung[77] thọ vạn niên.

逃 出 凡 籠 壽 萬 年

Tạm dịch:

Không biết Huyền Trung Điên Đảo Điên,

Làm sao trong lửa biết trồng sen,

Dẫn con Hổ Trắng về nhà dạy,

Sinh được Minh Châu tựa nguyệt viên.

Lò thuốc giữ gìn, xem hỏa hậu,

Mới hay Thần tức rất tự nhiên.

Quần âm quét sạch đan thành thục,

Thoát khỏi cũi lồng, thọ vạn niên.

Thơ trước dạy người nhận thức Âm Dương, thơ này dạy người phải cứu xét kỹ càng công dụng. Công Dụng chính là phép điên đảo Âm Dương vậy. Không biết cách Điên Đảo Âm Dương, làm sao biết được vi diệu của chuyện trồng sen trong lửa. Cái gì là Điên, cái gì là Đảo. Bạch Hổ thuộc Kim, tức là một khí Cương Kiện Trung Chính của cung Kiền, tên là Đạo Tâm, phát thành Chân Tri chi Tình. Nhân giao vào Hậu Thiên cho Nhân Tâm dụng sự, cho nên Đạo Tâm không sáng ra, chân tình muội và vọng tình sinh. Như con Bạch Hổ từ nhà ta ra đi, chạy đến nhà khác làm bị thương người. Điên đảo là từ vọng tình phản lại chân tình, phối hợp lại với Chân Tính, như dẫn con Bạch Hổ từ nhà người trở về nhà cho ta chăm sóc lại. Chân tình đã hồi, Chân tính đã hiện, tính tình tương luyến, tiên thiên Chân Nhất chi khí, từ Hư Vô trung trở lại, kết thành một viên ngọc quí, như mặt trăng tròn vạnh, chiếu diệu quang huy, sơn hà đại địa nằm gọn trong tay. Kim Đơn có tượng.

Tham Đồng Khế viết: Sở vị Kim lai qui Tính sơ, nãi đắc xưng Hoàn Đơn. Hoàn Đơn đã kết, Lương Tri, Lương Năng, tĩnh thời Vô Vi, động tắc tự nhiên, thung dung Trung Đạo, Dược tức là Hỏa, Hỏa tức là Dược. Sức Thái Thủ lúc đó vô dụng. Chỉ cần an thần tức, nhiệm thiên nhiên, để Âm Dương hòa khí trong lò, Chân Hỏa luyện sạch hết quần Âm, hóa thành thuần Dương. Thế là thuốc chín, nuốt nó vào, sẽ thoát thai, hoán cốt, nhảy ra khỏi cũi lồng, cùng Trời đồng thọ, trường sinh bất tử vậy.

Giải thích:

 Nhìn kỹ đồ bản này sẽ hiểu rõ lẽ Âm Dương điên đảo, Thuận sinh nhân, nghịch sinh tiên.

– Sáu quẻ Âm bên phải: Cấu, Độn ,Bĩ ,Quan, Bác, Khôn là Thuận sinh Nhân.

– Sáu quẻ Dương bên trái là Nghịch sinh Tiên.

– Sáu quẻ Âm bên phải thì Âm làm chủ, Âm càng ngày càng tăng.

– Sáu quẻ Dương bên trái thì Dương làm chủ, Dương càng ngày càng tăng.

Phải trái hai bên ngược nhau như vậy là Âm Dương điên đảo.[78]

****************       

 Bài 14

Tam ngũ nhất đô tam cá tự,

三 五 一 都 三 箇 字

Cổ kim minh giả thật nhiên hi.

古 今 明 者 實 然 稀

Đông tam, nam nhị đồng thành ngũ,

東 三 南 二 同 成 五

Bắc nhất, Tây phương Tứ cộng chi.

北 一 西 方 四 共 之

Mậu kỷ tự cư sinh số ngũ,

戊 己 自 居 生 數 五

Tam gia tương kiến kết Anh Nhi.

三 家 相 見 結 嬰 兒

Anh Nhi thị Nhất hàm Chân Khí,

嬰 兒 是 一 含 真 氣

Thập nguyệt thai viên nhập Thánh Ki.

十 月 胎 圓 入 聖 基

Tạm dịch:

Ba số Ba, Năm, Một xưa nay,

Những người hiểu nó thật hiếm hoi.

Đông Tam, Nam nhị đều là Ngũ,

Bắc Nhất, Tây phương Tứ cộng hài.

Mậu kỷ tự cư sinh số Ngũ,

Tam gia tương khiến kết Anh Hài.

Anh Hài là Nhất hàm chân khí,

Thập nguyệt hoài thai hợp Thánh Ki.

Thơ trước nói về lẽ Âm Dương điên đảo, thơ này nói về lẽ Toản thốc Ngũ hành. Con người khi vừa sinh ra thì đã có đủ tính Ngũ Hành. Mà Ngũ Hành lúc ấy là một khí hồn nhiên, nhưng khi giao vào Hậu Thiên mỗi hành đều giữ một Tính. Kim Mộc không giao nhau, Thủy Hỏa không hợp nhau, Chân Thổ bị mai tàng, Giả thổ bị trương cuồng. Tính loạn, Mệnh giao (động), Dương khí tận, nhi Âm khí thuần, như vậy thì không chết làm sao được? Tiên Ông đề xuất ra ba chữ: Tam, Ngũ, Nhất. Dạy người toản thốc (hợp nhất) ngũ hành, đem chúng về một nhà, trả lại cho ta cái bản lai Lương Tri, Lương Năng của chúng ta, trả lại cho ta cái Thiên Lý, hồn nhiên diện mục của chúng ta. Nhưng Ba chữ Tam, Ngũ, Nhất, xưa nay đã làm cho nhiều anh hùng không hiểu biết nó, trong số đó chỉ có vài người hiểu được mà thôi.

Cái gọi là Tam Ngũ là: là các Sinh Số trong Hà Đồ Ngũ hành. Đông Tam Mộc, Nam Nhị Hỏa, Hỏa sinh ư Mộc, Mộc Hỏa là Một Nhà. Là một Ngũ. Tây Tứ Kim, Bắc Nhất Thủy, Thủy sinh ư Kim, Kim Thủy là Một Nhà. Là một Ngũ nữa. Trung ương Thổ làm thành một nhà. Là một Ngũ nữa.

Người tu đạo biết được Tam Ngũ này. Nghịch nhi tu chi, hợp hòa tứ tượng, toản thốc ngũ hành, thì Tính Tình Tinh Khí Thần sẽ ngưng kết. Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín sẽ đồng Khí, thế là Tam Gia tương kiến. Nho gia gọi thế là Thái Cực, là Thiên Lý, là Chí Thiện, là Chí Thành. Đạo gia gọi thế là Anh Nhi là Tiên Thiên nhất khí, là Thánh Thai, là Kim Đơn. Phật gia gọi thế là Viên Giác, là Chân Không, là Pháp Thân, là Xá Lợi, là Ma Ni Châu, vô số danh tự. Nói chung lại, đó là Thiên Lương bản tính của chúng ta. Đạo phục bản tính, Lương Tri, Lương Năng hoàn nguyên, phản bản.

Ôn dưỡng 10 tháng, thì sẽ được khí túc, thần toàn, thoát ly khổ hải, thân ngoại hữu thân, nhập vào thánh vức, bất sinh bất diệt vậy.

****************       

 Bài 15

Bất thức Chân Diên chính tổ tông,

不 識 真 鉛 正 祖 宗

Vạn ban tác dụng uổng thi công.

萬 般 作 用 枉 施 功

Hưu thê mạn khiển Âm Dương cách,

休 妻 謾 遣 陰 陽 隔

Tuyệt lạp đồ giao trường vị không.

絕 粒 徒 教 腸 胃 空

Thảo mộc kim ngân giai tể chất,

草 木 金 銀 皆 滓 質

Vân hà nhật nguyệt thuộc mung lung.

雲 霞 日 月 屬 朦 朧

Cánh nhiêu thổ nạp tịnh tồn tưởng,

更 饒 吐 納 並 存 想

Tổng dữ Kim đơn sự bất đồng.

總 與 金 丹 事 不 同

Tạm dịch:

Không biết Chân Diên chính tổ tông,

Tác dụng, thi vi, uổng thi công.

Bỏ vợ khiến cho Âm Dương cách,

Không ăn nên khiến vị trường không.

Thảo mộc kim ngân đều cặn bã,

Vân hà nhật nguyệt thuộc mung lung.

Xin đừng thổ nạp cùng tồn tưởng,

Cùng với Kim Đơn sự chẳng đồng.

Thơ trên nói về Toản Thốc Ngũ hành (hòa hợp Ngũ hành) qui về Một khí, mới lên thánh vị.

Nhưng Toản Thốc Ngũ Hành, cần phải được Nhất Khí Tiên Thiên, thì mới nên hạ thủ.

 Một hào Dương nơi quẻ Khảm, là khí Cương Kiện trung Chính của quẻ Kiền.

Đó là Đạo Tâm Chân tri, thủ Tượng là Chân Diên, sở sinh của Thiên Nhất, có đủ Tiên Thiên Chân Nhất chi Khí, đó là Tổ Khí của sinh vật. Thành Thánh thành Hiền tại đó, thành Phật, thành Tiên cũng tại đó. Nó là Căn Bản sinh ra Thánh Hiền, là Chủng tử của Tiên Phật, là Tông tổ của Kim Đơn.

Cho nên nói: Tri kỳ Nhất, vạn sự tất chính là vậy.

Nếu không biết Chân Diên thì Tu không có Tông Tổ, Tu đơn không có căn bản. Và các chuyện bỏ vợ, nhịn ăn, thiêu luyện thảo mộc kim ngân, thực sôn vân hà, nhật nguyệt, thổ nạp trọc khí, các cảnh tượng Tồn Tưởng, vạn ban tác dụng như vậy, nếu không Trước Không, thì cũng là Chấp tướng. Đều là chuyện phí phao công lực. Không hề có quan hệ gì với Đạo Kim Đơn.

****************       

 Bài 16

Vạn quyển tiên kinh ngữ tổng đồng,

萬 卷 仙 經 語 總 同

Kim Đơn chỉ thử thị căn tông.

金 丹 只 此 是 根 宗

Y tha Khôn vị sinh thành thể,

依 他 坤 位 生 成 體

Chủng hướng Càn gia giao cảm cung.

種 向 乾 家 交 感 宮

Mạc quái thiên cơ câu lộ tiết,[79]

莫 怪 天 機 俱 露 泄

Đô Duyên học giả tự mê mông.

都 緣 學 者 自 迷 蒙

Nhược nhân liễu đắc thi trung ý,

若 人 了 得 詩 中 意

Lập kiến Tam Thanh Thái Thượng ông.

立 見 三 清 太 上 翁

Tạm dịch:

Vạn quyển tiên kinh nghĩa giống nhau,

Kim Đơn lấy đó làm gốc đầu.

Hào Dương quẻ Khảm là Khôn thể,

Hào giữa Âm Ly ấy Càn cung

Đừng nói Thiên Cơ chưa tiết lộ

Đều vì học giả, dạ rối tung.

Nếu người hiều rõ thi trung ý,

Ắt sẽ thành tiên, chẳng khó khăn.

***

Mười lăm bài thơ trên, học nói Thuận hoặc nói Nghịch hoặc nói Chia, hoặc nói Hợp, hoặc chỉ Dược Vật, hoặc nói Hỏa hậu, biện biệt Chân Giả, điều trần Thị Phi, tế vi, tằng thứ, nói phân tán ra chưa có hoàn chỉnh, sợ người nghi ngờ là chuyện rất phiền đa, khó mà tiến bộ. Cho nên thơ này tổng kết ý 15 thơ trên, dạy người rằng Đạo thật là Chí Giản, Chí Dị.

Tiên Chân từ xưa đến nay, viết Đan Kinh, Đạo thơ, trăm nghìn lời bóng bảy, dựa vào Tượng quẻ để nói lên lời, cực lực hình dung, phát minh Đạo tủy, tuy cách nói khác nhau, nhưng lý lẽ chỉ có một, đều là muốn chỉ vẽ Căn Tông của Kim Đơn. Không giống như các đời sau, sách càng nhiều, thì người càng loạn, mỗi người mỗi ý, đi vào bàng môn. Họ đâu có biết Căn Tông của Kim Đơn, là Thủ Khảm Điền Ly, từ Khôn trở về Kiền mà thôi.

Khôn vị sinh thành thể là Khảm trung nhất dương vậy. Càn gia giao cảm cung là Ly trung Nhất Âm vậy. Khảm vốn là thể Khôn, nên nói Khôn vị. Ly vốn là thể Kiền nên nói Càn gia.

Kiền thời dị tri, Khôn thời Giản năng. Kiền là Cương Kiện, Khôn là Nhu Thuận, vì Cương Kiện cho nên dị tri mà không phạm nạn, Vì Nhu Thuận cho nên giản năng mà không miễn cưỡng. Dị tri giản năng ở nơi con người là bản Lai bản tính Lương tri, Lương Năng.

Khi sinh ra, thì Kiền Thuận là một, Cương Nhu hỗn thành, bất thức, bất tri, thuận Đế chi tắc, viên đa đà, quang chước chước, tĩnh khỏa khỏa, xích sái sái, chỉ là một bản tính Lương Tri, Lương Năng mà thôi, không có chút chi là cặn bã.

Khi 16 tuổi, Dương Cực sinh Âm, giao ư Hậu Thiên, Âm Khí dụng sự, Lý Dục giao tạp, Kiện Thuận bất đáng, Cương Nhu thất tiết, vì thế nên Dương bị Âm hãm, Thiên Chân bị lu mờ, y thức như Kiền giao Khôn, một hào Dương của quẻ Kiền, nhập vào Khôn Cung, quẻ Khôn như vậy sẽ chắc ở giữa và biến thành quẻ Khảm.

Thế là Dương trộm Âm vị, tri thức dần dần khai, như Khôn giao Kiền. Một Âm của Khôn nhập vào Kiền. Kiền trung Hư biến thành quẻ Ly. Thiên Tâm mờ thì Đạo Tâm cũng tàng, nhi duy vi, tri thức khai thời Nhân Tâm sinh, nhi duy nguy. Vi là tuyệt vô nhi cận hữu, Dương không thắng Âm vậy. Nguy là Kiến cảnh sinh tình, Âm thắng Dương vậy.

Nhưng tuy Đạo Tâm duy vi, nhân tâm duy nguy, Đạo tâm chưa bị toàn diệt, nhân tâm chưa toàn thịnh. Đạo Tâm chưa bị toàn diệt là có lúc sẽ Hắc trung sinh bạch, đó là Chân Tri. Nhân tâm là gặp chuyện biết tùy cơ ứng biến, nên gọi là Linh tri.

Tu đơn chi đạo, là Âm trung phản dương (tu chiều Dương), lấy Chân Tri của Đạo Tâm điểm xuyết cho Linh tri của Nhân Tâm. Linh tri qui chân, Chân tri chí linh, Đạo tâm cương kiện, Nhân Tâm nhu thuận, Âm Dương giao cảm, cương nhu tương ứng, nhu thuận tương đương, Chân Linh bất tán, trở về Lương Tri Lương Năng, trở về Kiền Nguyên Diện Mục, thế gọi là Thủ Khảm Điền Li, thế gọi là Y Khôn Chủng Kiền. Kỳ thật là Y tha Khôn vị sinh thành thể, chủng hướng Kiền gia giao cảm cung. Thế chính là Nghĩa câu Thủ Khảm Điền Ly. Thủ Khảm là làm cho hào Dương của quẻ Khảm được thoát ra. Khảm trở lại thành Khôn. Điền Ly là làm cho hào Âm tạp loạn của quẻ Li biến thành Kiền. Kiền Khôn thể thành, thì Huyền Tẫn lập và Cốc Thần tồn, Kim Đơn ngưng kết, Tính Mệnh tới tay, không còn bị Hậu Thiên Tạo Hóa câu thúc.

Thế là Thiên cơ muôn kiếp mới truyền, đó là Thượng cổ Tiên Chân, không nên nói rõ ra. Tiên ông đại từ đại bi làm 16 bài thơ trên phát hiện những gì người xưa chưa từng nói, thực là bạt thiên căn, tạc lý quật, trực chỉ cho thấy tông chỉ của Kim Đơn.

Như vậy đã tiết lộ Thiên cơ rất nhiều. Nếu ai ngộ được nghĩa lý của các bài thơ sẽ bước lên thánh vị, và sẽ gặp được Tam Thanh Thái Thượng tiên Ông. Đâu phải là nói suông.

——————–
********************       

CHÚ THÍCH

[1] Phật giáo coi vạn hữu là giả tướng, không có đầu đuôi.

[2] Minh ngộ chân lý, tâm và Chân lý khế hợp làm một.

[3] Luận Ngữ.

[4] Luận Ngữ, Tử Hãn, IX, 4.

[5] Xem Thuyết quái I, tiết ba.

[6] Mạnh Tử, Công tôn Sửu thượng, câu 2.

[7] Xem Nam Hoa Kinh, Tiêu Diêu du.

[8] Mũ vàng, áo đen = người theo đạo Lão.

[9] Là Tiêu Đình Chi [cỏ linh chi Tiêu Đình], hay là Ngũ Tạng chi chân khí.

[10] Nhật, Nguyệt và năm hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.

[11] Phun nước, vẽ bùa để đuổi ma quỉ.

[12] Phi Mệnh, hoành hoạ.

[13] Thanh văn thừa, Duyên giác thừa.

[14] Thân thể.

[15] Nguyên Tinh, Nguyên Thần.

[16] Hoàng Đạo là 2 mạch Nhâm Đốc hợp xưng.

[17] Mộc Dịch, Kim tinh, Ý thổ tam gia.

[18] Đơn điền.

[19] Ngũ hành kết hợp tại Trung cung.

[20] Phu= Nguyên thần, Phụ= Nguyên tinh.

[21] Nê Hoàn cung.

[22] Hạ đơn điền.

[23] Kim Đơn.

[24] Thái Nhất hay Đại Nhất= nguyên khí vị phân.

[25] Phiến khắc 片 刻.

[26] Trừu Diên, thiêm Hống = hoá Âm tinh vi nguyên dương dĩ đạt thuần dương kim đơn. 化 陰精 為 元 陽 以 達 純 陽 金 丹.

[27] Dưỡng chính = Xem quẻ Mông, thoán truyện; Trì doanh xem ĐĐK 9: Trì nhi doanh chi bất nhược kỳ dĩ.

[28] Bão nhất, ĐĐK, 22; Thủ Thư ĐĐK 28. Tinh thần nội thủ, ninh tĩnh bất động.

[29] Hoả hầu tiến thoái, hữu như tiết khí biến hoá, như sơ tiến Dương Hoả, sơ tiến Âm Phù tượng Đông Chí, Hạ Chí, Ôn Dưỡng mộc dục tượng Xuân Phân, Thu Phân.

[30] Đoạn này nói về chuyện Nan ngộ nhi dị thành của khoa Luyện Đơn.

[31] Diên nặng nên trầm, Hống nhẹ nên phù, thế là Nguyên Tinh dễ hạ tiết, Nguyên Thần dễ thượng loạn. khi nội luyện phải khiến Nguyên Thần hạ giáng, khiến Nguyên Tinh thượng thăng.

[32] Đổng Đức Ninh chia chủ khách làm ba loại: (1) Mộc hữu phù trầm vi chủ tân. Mộc Hoả là Khách từ ngoài, trầm vu hạ, Kim Thuỷ là Chủ bên trong, phù vu thượng. (2) Lấy tả hữu, thăng giáng làm Chủ Tân. (3) Lấy Thần Khí, thân sơ làm chủ khách. Khi hành Hoả Hầu thì lấy Nguyên Thần làm chủ, Nguyên tinh làm khách (Xem Ngộ Chân Thiên Giảng giải, Minh Thánh, Tự tự, tr. 311, Trung Quốc Khí Công Tứ Đại kinh điển, giảng giải, Chiết giang, Cổ tịch xuất bản xã).

[33] Kim Thuỷ là Chân Hống, Mộc hoả là Chân Diên. Tương khắc là Chế Ngự lẫn nhau.

[34] Nhật hồn = Thận thuỷ trung Âm Dịch, Ly Nhật = Hoả. Ly trung Âm Hào ngụ ký Can Mộc chi hồn.

[35] Long đồ các học sĩ, Lục Công.

[36] Khi ấy Ông đã 82 tuổi.

[37] Lưu Thao: Lưu hải Thiềm, đệ tử của Lữ Động Tân.

[38] Nam nữ tình dục.

[39] Xem ĐĐK, chương 13.

[40] Tối cao thâm đích đạo lý.

[41] Biết mình với vạn vật là một.

[42] ĐĐK, 50.

[43] Nước ở trong mồm.

[44] Tinh khí trong Thận.

[45] Tống Hi Tông Hi Ninh 2, 1069.

[46] 1. Tiểu thừa hay Thanh Văn Thừa, tu chứng được A La Hán quả 2. Trung Thừa hay Duyên Giác Thừa, tu chứng được Bích Chi Phật quả 3. Đại Thừa hay Bồ Tát Thừa chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề quả.

[47] Xem Trung Hoa Đạo giáo đại từ điển, tr. 116.

[48] Xem Trung Quốc Đạo Giáo, Khanh Hi Thái chủ biên, tr. 304-306.

[49] Bất cố có bản viết bất giác 不 覺, có bản viết Bất quản 不 管. Như Đại Nhạc có bản viết Đẳng sơn nhạc 等 山岳.

[50] Nhai đầu do tẩu mã có bản viết Đình tiền phương yến lạc. – Quan nội dĩ miên thi có bản viết Thất nội dĩ thương bi. – Phi quân hữu có bản viết: phi thân hữu. – Ngộ chi bất luyện có bản viết: Ngộ nhi bất luyện.

[51] Nhị vật= Khảm Ly.

[52] Hợp nhất Tứ Tượng thành vòng tròn.

[53] Hổ Long: Nguyên tinh, Nguyên Thần.

[54] Phong Lãng: Vũ hoả thô hơn Văn Hoả.

[55] Trung ương chính vị: Đơn điền.

[56] Quả sinh chi thượng: quá trình Thái Dược.

[57] Tử tại phúc trung = chỉ dược vật trong đơn điền.

[58] Nam Bắc tông nguyên: Kiền Nam, Khôn Bắc.

[59] Phiên quái tượng: Tiến Dương Hoả, Thoái Âm Phù, phỏng theo sự Biến Hoá của các quẻ. nơi con người thì Lưng là Dương, Phúc là Âm, 6 quẻ Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quái, Kiền là Dương, là Tiến Dương Hoả; 6 quẻ sau là Cấu Quải Bĩ, Quan, Bác, Khôn là 6 quẻ Âm, là thoái Âm Phù.

[60] Thần Hôn Hoả Hậu: Theo Chu Dịch Tham Đồng Khế thì Càn Khôn là Đỉnh Khí, Khảm Ly là Thuỷ Hoả, là Diên Hống, còn 64 quẻ là Hoả Hầu. Cứ hai quẻ là một ngày, Truân là buổi sáng, Mông là Hoàng Hôn, Nhu là sáng hôm sau, Tụng là chiều hôm sau, v.v. Như vậy Truân là Động, Mông là Tĩnh.

[61] Hợp Thiên Khu (cũng đọc là Thiên Xu) là Bắc Đẩu đệ nhất tinh. Bắc Đẩu tinh suy di theo mỗi tháng, một năm hết 1 vòng.

[62] Đại Ẩn = Xưa có thơ: Tiểu Ẩn ẩn lăng tẩu, Đại Ẩn ẩn triền thị, Bá Di thoán Thủ Dương, Lão Đam phục Trụ sử. 小 隱 隱 陵 藪 大 隱 隱 廛 市 伯 夷 竄 首 陽 老 聃 伏 柱 史. Phúc trung có bản viết: Bào trung 胞 中.

[63] An tri: có bản viết Tranh tri 爭 知.

[64] Thiêu mao: đốt cỏ mao.

[65] Vọng hậu có bản viết: Vọng hoàn.

[66] Tam hoàng là Lưu Hoàng, Hùng Hoàng, Thư Hoàng.

[67] Tứ Thần là Chu Sa, Thủy Ngân, Diên, Tiêu.

[68] Cùng thủ sinh thân xứ là tìm ra được Bản Lai Diện Mục của mình.

[69] Dược Vương là Chân Dương là Chân Diên. Dương tinh và Dương khí kết thành Chân Diên, dưa nó về Nê Hoàn để cầm Chân Hống, nên gọi là Chân Tinh.

[70] Âm trung chi Dương.

[71] Chu Hống = Dương trung chi Âm.

[72] Hoàng Nha = Chân Diên.

[73] Bạch Tuyết = Chân Hống.

[74] Tam Nguyên = Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần.

[75] Nhâm = Tiên Thiên chi thủy, chí tinh chí linh.

[76] Linh Chất = Đại dược.

[77] Phàm Lung có bản viết Phàn Lung 樊 籠.

[78] Hình vẽ và lời bàn trên là của dịch giả Nguyễn văn Thọ.

[79] Lộ tiết: có bản viết Lậu tiết.

—————
*************** 

QUYỂN   II 
 

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ

悟 真 直 指

TỐNG, TỬ DƯƠNG TRƯƠNG CHÂN NHÂN trước 宋 紫 陽 真 人 著

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN TỬ, LƯU NHẤT MINH chú 棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 註

CỬU DƯƠNG SƠN, ẤN CHÂN TỬ CHU KIM TỈ hiệu chính 九 陽 山 印 真 子 周 金 璽 校 正

Môn nhân XUNG HOÀ TRƯƠNG DƯƠNG TOÀN hiệu duyệt  門 人 沖 和 張 陽 全 校 閱

Hậu học LÝ TỬ VIÊN trùng khan 後 學 李 紫 垣 重 刊

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch chú

——————————

Thất ngôn tuyệt cú lục thập tứ thủ án Chu Dịch lục thập tứ quái

七 言絕 句 六 十 四 首 按 周 易 六 十 四 卦

 ********************** 

Bài 1

(Bàn về Đỉnh Lô)

Tiên bả Kiền Khôn vi đỉnh khí,

先 把 乾 坤 為 鼎 器

Thứ bác ô thố dược lai phanh.

次 搏 烏 兔 藥 來 烹

Ký khu nhị vật qui Hoàng Đạo,

既 驅 二 物 歸 黃 道

Tranh đắc Kim Đơn bất giải sinh.

爭 得 金 丹 不 解 生

Tạm dịch:

Trước lấy Kiền Khôn làm đỉnh khí,

Sau đem ô, thố (Ly, Khảm) dược lại phanh.

Đã đem hai vật vào Hoàng Đạo,

Mới được Kim Đơn bất giải sinh.

Kiền là Kiện, tượng là Thiên; Khôn là Thuận, tượng là Đất. Ở nơỉ con người là Cương Nhu chi tính. Trong mặt trời có Kim Ô (quạ), là trong Dương có Âm, tại quẻ là Ly. Ly là ngoại Dương, nội Âm, cái Âm ấy là Chân Âm. Ở nơi người thì là Linh tri, tàng ẩn trong Nhân Tâm.

Trong mặt trăng có Thỏ, là trong Âm có Dương, tại quẻ là Khảm. Khảm là Ngoại Âm nội Dương, cái Dương ấy là Chân Dương. Ở nơi người thì là Chân Tri sẵn có trong Đạo Tâm.

Bả Kiền Khôn vi đỉnh khí là lấy Cương Kiện, Nhu Thuận là chất liệu để Luyện Đơn, thứ bác ô thố dược lai phanh là lấy Chân Tri Linh Tri làm vật dụng để tạo Đơn.

Phanh luyện Chân Tri sao cho tất cả đều thành Chân Thực, thế là Cương qui Trung Chính.

Phanh Luyện Linh Tri sao cho tất cả trở nên sáng láng, thì Nhu sẽ qui Trung Chính, như vậy thì Đạo Tâm sẽ Kiện và Nhân Tâm sẽ Thuận. Chân Tri, Linh Tri đôi bên sẽ hợp nhất. Như bắt Ô, Thố đi vào con đường Hoàng Đạo vậy.

Hoàng Đạo là Trung Đạo, đó là đường đi của mặt trời.

Mặt trời đi Trung Đạo, Mặt trăng đi cửu đạo. Cửu Đạo là Thanh, Chu, Hắc, Bạch. Bốn đường đó nhân đôi lên, ra ngoài vòng Hoàng Đạo. Trong Ngoài cộng lại thành Bát Đạo . Mặt trời, mặt trăng gặp nhau, Nhật Nguyệt tương giao nhi hành, cộng lại là Cửu Đạo.

Chỗ mặt trời, mặt trăng gặp nhau, thì gọi là Nhị vật qui Hoàng Đạo.

Khi con người vừa mới sinh ra, thì chỉ có Lương Tri, Lương Năng, Chân Linh chi tính, không hề có phân biệt Nhân Tâm, Đạo Tâm.

Khi vào Hậu Thiên thì mới phân Đạo Tâm, Nhân Tâm, hay Chân Tri, Linh Tri mà thôi.

Nhân Tâm là Nhất Thiết tri giác vận động vậy. Tri giác là Linh Tri. Đạo Tâm là Nhất Thiết cảnh ngộ giả bất mê vậy. Không mê thì là Chân Tri.

Nhân tâm chỉ có thể Linh Tri, chứ không thể Chân Tri, tính nó Nhu nên gọi là Âm. Đạo Tâm có đủ Chân Tri, lại kiêm Linh Tri, nó khí Cương, nên gọi là Dương.

Tuy thánh nhân cũng có Nhân Tâm, tuy phàm nhân cũng có Đạo Tâm. Thánh Nhân mà có Nhân Tâm, vì không diệt nổi nó vậy. Phàm Nhân mà có Đạo Tâm, vì có khi vẫn thấy Ánh Sáng.

Thánh nhân khác phàm nhân là vì Chân, Linh như nhất, hữu tri, hữu giác, mà vẫn thường sáng láng. Phàm nhân khác thánh nhân vì Chân, linh khác nhau, hữu tri, hữu giác, nhưng vẫn bị tối tăm.

Vì trong Nhân Tâm có Thức Thần. Thức thần đó mượn cái Linh mà sinh ra cái Vọng, kiến cảnh sinh tình, tùy gió, nổi sóng, Linh qui ư giả, cho nên Nhân Tâm mới Duy Nguy vậy. Nhân tâm duy nguy là Tà Khí thịnh mà Chính Khí thì yếu. Đạo tâm không hiện lên được cho nên Đạo Tâm duy vi vậy.

Tu Đạo là luyện cái Cương của Chân Tri, Đạo Tâm cho nó trở về Trung Chính, luyện cái Nhu của Nhân Tâm Linh Tri cho nó trở về Trung Chính. Thế là Cương Nhu tương hợp, Kiện Thuận tương đương, duy tinh, duy nhất, doãn chấp quyết trung, Lương Tri, Lương Năng, hỗn nhiên Thiên Lý, nhất khí lưu hành vậy. Như vậy, thì làm sao, Kim Đơn không sinh ra. Kim Đơn là Cương Nhu nhị khí ngưng kết nhi thành. Chân Tri, Linh Tri qui ư Trung Chính. Thiên nhân hỗn hợp, như một viên bảo châu, treo nơi Hư Không, chiếu khắp mọi nơi, thế là Kim Đơn có Tượng từ Bé đến Lớn, từ sống đến chín, làm sao mà không được giải thoát?

*************** 

Bài 2

An lô, lập đỉnh pháp Kiền Khôn,

安 爐 立 鼎 法 乾 坤

Đoàn luyện tinh hoa chế phách hồn.

鍛 煉 精 華 制 魄 魂

Tụ tán, nhân huân thành biến hóa,[1]

聚 散 氤 氳 成 變 化

Cảm tương huyền diệu đẳng gian luân.

敢 將 元 妙 等 間 論

Tạm dịch:

An lô lập đỉnh pháp Kiền Khôn,

Đoàn luyện tinh hoa chế phách hồn,

Tụ tán, hợp hòa thành biến hóa.

Đem điều huyền diệu nói ra luôn.

Lô để luyện hỏa, đỉnh để luyện dược. Đạo Kim Đơn, bắt chước sự nhu thuận của Khôn để làm lò, tuần tự tiệm tiến, bắt chước sự Cương Kiện của Kiền để làm Đỉnh.

Mãnh phanh, cấp luyện (đốt mạnh, luyện mau), năng Cương năng Nhu, năng Kiện, năng Thuận, chí niệm kiên cố, càng lâu, càng mạnh, đỉnh lô ổn định, bất động, bất giao, có thể thái Dược vận Hỏa vậy.

Nhân Tâm Linh Tri, nội Âm, ngoại Dương (quẻ Ly), như Nhật chi Tinh, Nhật tinh bắn tia sáng ra bên ngoài.

Đạo Tâm là Chân Tri, như Nguyệt chi Hoa, Nguyệt Hoa tàng ở bên trong vậy (Khảm)

Linh Tri, ngoại Dương thuộc Hồn. Chân Tri ngoại Âm thuộc Phách.

Linh Tri, Tinh, Hồn gọi là Thần nhi Thần vậy. Chân Tri Hoa Phách, cho nên nói không Thần mà là Thần vậy. Trong Chân có giả, không Thần mà Thần. Trong giả có Chân, Đoàn luyện Tinh Hoa là Đoàn khứ Nhân Tâm Linh Tri, cái Giả trong cái Chân. Luyện xuất Đạo Tâm, Giả trung chi Chân. Gỉa Linh khứ nhi Chân Linh định. Tức là Hồn không phi, mà Hồn bị chế vậy.

Chân tri hiện, nhi giả tri diệt, thì phách không tán mà Phách bị chế vậy. Thế là Chân Tri, Linh Tri Tình Tính tương đầu, nhân huân trung hòa, tụ tán, biến hóa, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, nhất bộ nhất xu, đều là Thiên Cơ, cái thần diệu đó không thể dùng ngôn ngữ mà mô tả được.

*************** 

Bài 3

Hưu nê đan táo phí công phu,

休 泥 丹 灶 費 工 夫

Luyện Dược tu tầm Yển Nguyệt lô.

煉 藥 須 尋 偃 月 爐

Tự hữu Thiên Nhiên Chân Hỏa Hậu,[2]

自 有 天 然 真 火 候

Bất tu sài thán cập suy hư.

不 須 柴 炭 及 吹 噓

Tạm dịch:

Khỏi cần xây bếp tốn công phu,

Luyện dược phải tìm Yển Nguyệt Lô (Đạo Tâm).

Mới hay thiên địa Chân Hỏa Hậu,

Chẳng cần than củi với bếp lò.

Yển Nguyệt là Trăng Mồng Ba, hiện ra như một vầng sáng tại Phương Khôn. Ánh sáng nó vểnh lên nên gọi là Yển Nguyệt. Ở nơi người là lúc Chí Tĩnh, có một tia Ánh Sáng thấu lộ, có tượng như Yển Nguyệt, ở nơi quẻ thì là quẻ Chấn. Cho nên nói Sơ Tam Chấn xuất Canh. Khúc Giang ngạn thượng Nguyệt lô oánh, là vì vậy.

Cái điểm sáng ấy, không phải là vật chi khác, mà chính là Ánh Sáng của Đạo Tâm. Cái mà Đơn Đạo khó có được chính là Đạo Tâm. Một khi Đạo Tâm đã hiện, thì Thiên Lý cũng sáng ngời.

Cương Khí ngày một mạnh, thì Sơn Hà Đại Địa đều là Linh Dược, giơ tay hái lấy, thì đâu đâu cũng đều là Đạo, Dược là Hỏa, mà Hỏa là Dược, thì tự nhiên cái lò Thiên Nhiên của Tạo Hóa, và cái lửa chân chính đâu có cần bếp lò than củi mà làm chi.

 ————————

Bài 4

Yển nguyệt lô trung, ngọc nhụy sinh,

偃 月 爐 中 玉 蕊 生

Chu Sa Đỉnh nội Thủy Ngân bình,

朱 砂 鼎 內 水 銀 平

Chỉ nhân Hỏa Lực điều hòa hậu,

只 因 火 力 調 和 後

Chủng đắc Hoàng Nha tiệm trường thành.

種 得 黃 芽 漸 長 成

Tạm dịch:

Yển Nguyệt lô trung, Ngọc Nhụy sinh,[3]

Chu Sa đỉnh nội, Thủy Ngân bình.[4]

Đoàn luyện Linh Tri cho hết giả,

Linh, Chân hợp nhất Hoàng Nha thành.[5]

Yển Nguyệt Lô tức là Đạo tâm nói trong thơ trước.

Ngọc Nhụy là Ngọc là Ôn Nhu chi vật thuộc Âm, Nhụy là Quang Hoa chi vật thuộc Dương. Ngọc Nhụy là Âm Trung chi Dương chỉ Chân Tri của Đạo Tâm.

Chu Sa Đỉnh là Nhân Tâm, Thủy ngân là một vật lưu động, bất định, tức Dương Trung Chi Âm, chỉ Linh Tri của Nhân Tâm.

Đạo Tâm thường hiện, Chân Tri bất muội, thì Nhân Tâm chi Linh Tri tự nhiên bình tĩnh, không bay đi mất. Nếu biết điều hòa nó, lấy lửa Chân Hỏa vốn có của Đạo Tâm, đoàn tận Nhân Tâm chi giả Linh, và trở về Hư Linh, thì Thiên Nhân sẽ hợp phát. Chân Tri, Linh Tri như Nhất.

Tri chí và Ý thành, thì gọi là Hoàng Nha. Hoàng Nha chính là mầm mống của Chân Linh.

Chân Linh được đất ôn dưỡng, như cỏ trong đất, mới mọc và có màu vàng. Cho nên gọi là Hoàng Nha.

Chân Tri, Linh Tri sau khi được sức lửa điều hòa, sẽ qui về Trung Chính. Đã vào được Trung Ương Thổ Phủ, lại được công phu ôn dưỡng, mười tháng khí lực đày đủ, tự nhiên sẽ thoát hóa vậy.

*************** 

(Bốn bài sau đây bàn về Chân Diên)

Bài 5

Yết tân, nạp khí thị nhân hành,

咽 津 納 氣 是 人 行

Hữu dược phương năng tạo hóa sinh.

有 藥 方 能 造 化 生

Đỉnh nội nhược vô Chân Chủng Tử,

鼎 內 若 無 真 種 子

Do tương Thủy Hỏa chử không xanh.

猶 將 水 火 煮 空 鐺

Tạm dịch:

Yết tân, nạp khí chuyện con người,

Phải có Chân Diên mới tạo thai.

Trong Đỉnh nếu không Chân Chủng Tử,

Thì là không thuốc ở trong nồi.

Đạo Tâm Chân Tri vốn có đủ Tiên Thiên Chân Nhất chi khí, thủ tượng là Duyên, đó là Chân Chủng tử để thành Thánh, thành Hiền, nên Tiên, nên Phật. Nếu muốn tu luyện Đại Đơn mà bỏ Chân Chủng tử này, thì không có vật chi khác vậy.

Thế gian có nhiều kẻ si mê, chỉ lo tu luyện cái thân hữu hình, hữu tượng này, chỉ lo chuyện yết tân, nạp khí (nuốt nước bọt, thổ khí trời, thế mà gọi là tu đạo. Có biết đâu rằng thân xác này sinh ra đều là do cặn bã vật chất của hậu thiên, thì làm sao có thể sinh ra được Kim Đơn chí Linh chí Thánh của Tiên Thiên. Thế tức là nếu trong Đỉnh không có Chân Chủng Tử, thì có khác gì đun nấu mà không có Thuốc ở trong vạc vậy.

 ——————–

Bài 6

Điều hòa Diên Hống yếu thành Đơn,

調 和 鉛 汞 要 成 丹

Đại tiểu vô thương, lưỡng quốc toàn.

大 小 無 傷 兩 國 全

Nhược vấn Chân Diên thị hà vật,

若 問 真 鉛 是 何 物

Thiềm quang chung nhật chiếu Tây Xuyên.

蟾 光 終 日 照 西 川

Tạm dịch:

Điều hòa Diên Hống cốt thành Đơn,

Nhân Tâm, Đạo Tâm cốt vẹn toàn.

Muốn biết Chân Diên là chi vậy,

Thiềm quang suốt buổi chiếu Tây Xuyên.

Kim Đơn gồm Chân Diên tức là Đạo Tâm, Chân Tri, và Chân Hống là Nhân Tâm, Linh Tri. Hai thứ đó hợp thành Kim Đơn.

Muốn tu Kim Đơn thì phải điều hòa Diên Hống.

Đạo Tâm Cương thuộc Dương, là Đại; Nhân Tâm Nhu, thuộc Âm là Tiểu.

Nhân Tâm mà không có Đạo Tâm, thì sẽ mượn Linh thành Vọng, có thể làm hư cái Đạo. Nếu dùng Đạo Tâm chế Nhân Tâm, thì nó sẽ Linh Minh bất muội, và có thể giúp Đạo.

Không thể thiếu Đạo Tâm, không thể diệt Nhân Tâm, mà chỉ là không cho nó dùng nhầm cái Linh của nó mà thôi.

Người xưa dạy phải làm cho Nhân Tâm chết đi, tức là làm chết cái gì là Giả Linh của Nhân Tâm, chứ không phải là làm chết cái Chân Linh.

Nếu không phân Chân Giả, muốn cho chết cả, thì sẽ sa vào Ngoan Không, tịch diệt.

Làm tổn thương cái Nhỏ tức là làm hại cái Lớn. Âm Dương sẽ mất quân bằng, và cái khí Sinh Cơ cũng chết, thì làm sao thành Kim Đơn Đại Đạo được?

Cho nên nói: Đại Tiểu vô thương, lưỡng quốc toàn.

Lưỡng quốc toàn là: Nhân Tâm Linh Tri, Đạo Tâm Chân Tri, đôi đàng hợp một. Dùng Chân Tri thống Linh Tri, bắt Linh Tri phải thuận phục Chân Tri.

Chân Linh không tan, thì Lương Tri, Lương Năng, sẽ hồn nhiên Thiên Lý, và cái bản Tính viên minh của Kim Đơn sẽ thành vậy. Vì Chân Tri, Linh Tri là Kế Thể của Lương Tri, Lương Năng. Ở Tiên Thiên thì gọi là Lương Tri, Lương Năng, tại Hậu Thiên thì gọi là Chân Tri, Linh Tri. Từ Hậu Thiên phản hồi Tiên Thiên, thì Chân Tri tức là Lương Tri, Linh Tri tức là Lương Năng. Chân Tri, Linh Tri bản lai vốn là một nhà, không phải là hai dạng. Nhân giao vào Hậu Thiên mà Nhất Điểm Thiên Chân của Lương Tri, mê thất ra bên ngoài, thành ra là sở hữu của nhà khác. Trong nhà ta chỉ còn cái Linh của Lương Năng, nhưng nó cũng bị bác tạp, bất thuần, thiên di bất định.

Nếu muốn phản bản hoàn nguyên, thì phải từ trong cái Giả Tri, mà tìm ra được Chữ Chân trong đó, dẫn nó về nhà thì nó mới là cái Linh Tri bất muội. Cái Chân Tri đó là cái gì Chí Cương, Chí Kiện, cho nên thủ tượng là Chân Diên. Chân Tri đã có sẵn Tiên Thiên Chân Nhất chi khí nên cũng thủ tượng là Thủy trung Kim, hay Nguyệt trung Quang. Thủy trung Kim, Nguyệt trung Quang, đều là Âm Trung hữu Dương. Nhưng cái Chân Tri này, vẫn chưa phục hoàn còn ở Nhà Người, chưa phải là của sở hữu của Nhà Ta. Cho nên nói: Thiềm quang chung nhật chiếu Tây Xuyên.

Trong trăng có Kim Thiềm, Thiềm quang là Nguyệt trung chi quang, chỉ Chân Tri ngoài thì tối nhưng trong thì sáng. Chung nhật chiếu Tây mà không chiếu Đông, thì rõ ràng là quang huy tại bỉ vậy.

Thơ sau Tiên Ông nói:

Kim Công bản thị Đông Gia tử,

金 公 本 是 東 家 子

Tống tại Tây lân ký thể sinh.

送 在 西 鄰 寄 體 生

Đó chính là ý chỉ: Thiềm quang chung nhật chiếu Tây xuyên vậy. Nếu học giả quả biết rằng: Thiềm quang Chung Nhật chiếu Tây Xuyên, thì thật là đã biết Chân Tri ở đâu, cho nên cũng có thể chiếu Đông, cùng với Linh Tri tương hội.

Ôi! chiều thuận là chiều Chết, chiều Nghịch là chiều Sống. Luôn luôn dạy ta phải tìm kiếm, mới thấy Chân Tri thực khó kiếm vậy.

*************** 

Bài 7

Vị luyện hoàn đơn mạc nhập sơn,

未 煉 還 丹 莫 入 山

Sơn trung nội ngoại tổng giai Diên.

山 中 內 外 總 皆 鉛

Thử ban chí bảo gia gia hữu,

此 般 至 寶 家 家 有

Tự thị ngu nhân thức bất toàn.

自 是 愚 人 識 不 全

Tạm dịch:

Chưa luyện hoàn đơn chớ nhập sơn,

Trong núi không hề có Chân Diên.

Quí ấy xưa nay ai cũng có,

Chỉ tại ngu si, hiểu chẳng toàn.

Trốn đời, lánh tục, vào núi tu tĩnh, là chuyện về sau của Luyện Đơn. Người không biết vào rừng tu tĩnh, để cầu trường sinh. Nhưng muốn được trường sinh, thì cần phải có Chân Diên, mới thấy công hiệu. Nhưng Chân Diên phải kiếm thấy ngay trong trần thế. Nếu vào núi tu đạo, thì trong ngoài chỉ có Âm khí, làm gì có Chân Diên?

Chân Diên là Chí Dương chi vật, là tiên thiên linh căn, là Chân Nhất chi tinh, là Chân Nhất chi khí, còn gọi là Thủy Hương Duyên, là Thủy Chung Kim, là Hắc Trung Bạch, là Phách Trung Hồn, là Hắc Hổ, là Kim Công, là Tha Gia Bất tử phương. Cổ nhân thủ tượng đa đoan, nhưng nói cho cùng thì chỉ là Đạo Tâm mà thôi.

Cái Đạo tâm này phát ra thì thành Chân Tri Chi Diệu Hữu, khi tàng ẩn thì là Tinh Nhất chi Chân Không. Ai ai cũng có, vốn đã viên mãn, tại Thánh không tăng, tại phàm không giảm, nhà nhà đều có. Nhưng tuy nhà nào cũng có, nhưng không phải là vật sở hữu của nhà nào. Thấy nó mà không dùng được nó, dùng được nó mà không thấy nó. Vì mọi nhà đều có, nhưng không là sở hữu của mình, nên người ngu gặp mà không biết. Trước mắt mà vẫn lầm vậy.

Bành Hiếu Cổ cuối đời Minh không đạt được lý này, và giải Nhà Nhà là Nữ Đỉnh, gần đây Tri Cơ Tử lại giải là Tam Phong Thái Chiến, như vậy là làm cho hậu học sai lầm, tội thật là lớn vậy.

 ——————

Bài 8

Trúc phá tu tương trúc bổ nghi,

竹 破 須 將 竹 補 宜

Bão kê đương dụng noãn vi chi.

抱 雞 當 用 卵 為 之

Vạn ban phi loại đồ lao lực,

萬 般 非 類 徒 勞 力

Tranh tự Chân Diên hợp Thánh Ki.

爭 似 真 鉛 合 聖 機

 Tạm dịch:

Đồ tre, muốn sửa phải dùng tre,

Muốn gà cần trứng, mới nên nghe!

Đồng loại chẳng dùng, hao phí sức,

Phải có Chân Diên mới hành nghề.

Trúc phá, trúc bổ, bão kê, dụng noãn, thế là phải dùng Đồng loại. Tam Tướng Loại viết: Đồng loại dị thi công hề, phi loại nan vi công. Nếu không đồng loại, nếu không là đồng chủng, thì không thể nói khéo được. Không đồng loại, đồng chủng, thì làm gì cũng hỏng. Vả Kim Đơn Đại Đạo là việc của Thánh Nhân. Muốn học thánh nhân, phải có chủng tử của Thánh Nhân. Chủng tử của Thánh Nhân là Chân tri của Chân Diên. Dùng chân tri đó để tu Đại Đạo, thì không khi nào mà không hợp đường lối của Thánh Nhân. Mà đường lối của Thánh Nhân là theo đúng Thiên Lý vậy.

Chân Tri là không gì mà không biết, không gì mà không Chân (tức không đúng), như vậy mới phục hồi Thiên Lý.

 Cho nên nói là hợp Thánh Cơ, Đã hợp Thánh Cơ tức là Thánh Nhân, làm sao mà học giả không chịu hạ quyết tâm vậy?

*************** 

Bài 9

(Nói về Dụng Diên)

Hư tâm, thực phúc nghĩa câu thâm,

虛 心 實 腹 義 俱 深

Chỉ vị Hư Tâm yếu thức Tâm.

只 未 虛 心 要 識 心

Bất nhược luyện Diên tiên thực phúc,

不 若 煉 鉛 先 實 腹

Thả giao thu thủ[6] mãn đường (câm) kim.

且 教 收 取 滿 堂 金

Tạm dịch:

Hư Tâm, Thực Phúc nghĩa thật thâm

Vì muốn Hư Tâm phải biết Tâm.

Thà hãy luyện Duyên Thực Phúc trước

Rồi ra vàng bạc sẽ đầy mâm.

Kim Đơn chi đạo là Hư Tâm Thực Phúc.

Hư Tâm là Hư Nhân Tâm, là Tu Tính; Thực Phúc là Thực Đạo Tâm là Tu Mệnh.

Hai điều Hư Tâm Thực Phúc, có quan hệ đến Tính Mệnh, nghĩa rất sâu xa.

Muốn Hư Tâm phải biết được Tâm, vì Tâm có Nhân Tâm lại có Đạo Tâm. Nhân Tâm nên Hư không nên Thực, Đạo Tâm nên Thực không nên Hư. Nếu không phân biệt được Tâm Chân Giả, Thị Phi, mà chỉ một mực Hư Tâm, thì chẳng những không tu được Mệnh mà cũng không tu được Tính.

Nếu biết được Tâm, thì không cần Hư Nhân Tâm, mà trước hết phải tu luyện Chân Diên chi Đạo Tâm để cho đầy cái bụng, đầy bụng thì Chính Khí sẽ sinh mà khách khí sẽ tiêu, nhân tâm cũng sẽ tự Hư. Tứ tượng sẽ Hòa, Ngũ hành sẽ Hợp. Vàng ngọc sẽ đầy nhà, Mệnh Bảo tới tay, sẽ Hư được Nhân Tâm và Dưỡng được Đạo Tâm, sẽ liễu được Tính và sẽ trở về được Vô Hà Hữu chi Hương vậy (Thái Cực)

 —————————

Bài 10

(Nói không dùng Diên)

Dụng Diên bất đắc dụng Phàm Diên,

用 鉛 不 得 用 凡 鉛

Dụng liễu Chân Diên dã khí quyên.

用 了 真 鉛 也 棄 捐

Thử thị dụng Diên chân diệu quyết,

此 是 用 鉛 真 妙 訣

Dụng Diên bất dụng thị thành ngôn.

用 鉛 不 用 是 成 言

Tạm dịch:

Dùng Diên không được dụng Phàm Diên,

Dùng Diên không đúng, khí sẽ thiên,

Đó chính Dụng Diên chân diệu quyết,

Dùng mà không Dụng mới là nên.

Phép tu đơn là phải biết hái Chân Diên. Nhưng Duyên có Chân Diên, có phàm Diên. phàm Diên thời sinh trong núi, đó là Duyên hữu hình, là cái gì thô trọc. Nó không có tình với ta. Chân Diên là cái gì sinh ra trong vườn ta, nhà ta. Đó chính là Đạo Tâm vô hình. Nó đồng loại với ta. Từ xưa đến nay, các bậc thượng tiên siêu phàm, nhập thánh được đều là nhỡ công lao của Chân Diên, Đạo Tâm. Cho nên nói: Dụng Diên bất khả dụng phàm Diên.

Nhưng tuy Đạo Tâm là vật Tiên Thiên Chân Bảo, nhưng cũng sản xuất từ Hậu Thiên.

Có lúc cần dùng, có lúc không cần dùng. Khi đơn chưa kết thì phải mượn Đạo Tâm chi Chân Tri để mà chế Nhân Tâm chi Linh Tri. Nhân Tâm đã định, Linh Tri đã sáng láng,

Đạo Tâm, Nhân Tâm, động tĩnh như nhất, Chân Tri, Linh Tri, hư thực tương ứng, thánh thai đã kết, thì lập tức phải giảm cho hết cái Cương Khí của Đạo Tâm, thế là ôn dưỡng Thai Tức vậy.

Vả dùng Đạo Tâm, cốt là để chế Nhân Tâm, khi Nhân Tâm đã tĩnh, khi Thức Thần đã diệt, khi Lươn g Tri, Lương Năng đã tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, khi Chân Linh đã độc tồn, sáng láng rực rỡ, thì Đạo Tâm lúc ấy hết chỗ dùng, vì không còn Hữu Vô nữa, ta và Vật đã qui Không rồi.

Lục Tử Dã nói: Phép dùng Duyên là như lờ đó để bắt cá, bắt thỏ. Khi cá thỏ bị bắt rồi, thì lờ đó đều vô dụng,

Diệu quyết chính là ở chỗ đó. Nếu không biết cách dùng Chân Diên, khi đơn đã kết ma còn dùng Đạo Tâm, thì chẳng những Đạo Tâm không được dùng, mà Nhân Tâm sẽ khởi, mà Chân Linh (Chân Tri + Linh Tri) sẽ tán. Kim đơn đã thành lại mất lại.

Cho nên nói: Dụng liễu Chân Diên dã khí quyên, Dụng Diên bất dụng chi quyết.

Nói thế để mà biết vậy.

*************** 

Bài 11

(nói về Diên Hống)

Mộng yết Tây Hoa đáo Cửu Thiên,

夢 謁 西 華 到 九 天

Chân nhân thụ ngã Chỉ Huyền Thiên.

真 人 授 我 指 元 篇

Kỳ trung giản dị vô đa ngữ,

其 中 簡 易 無 多 語

Chỉ thị giáo nhân luyện Hống Diên.

只 是 教 人 煉 汞 鉛

Tạm dịch:

Mơ gặp Tây Hoa chốn Cửu Thiên,

Tiên Ông tặng ta cuốn Chỉ Huyền.

Sách này giản dị lời rất ít,

Chỉ cốt dạy người luyện Hống Diên.

Đạo Kim Đơn Đại Đạo thật là giản dị, không có nhiều lời. Chẳng qua là là dạy luyện Chân Tri trong Đạo Tâm, và Linh Tri trong Nhân Tâm mà thôi.

Khi Đạo Tâm Cương Kiện đã qui về Trung Chính, thì Đạo Tâm sẽ Thường Tồn. Lấy Chân Tri để chế phục Linh Tri, thì Nhân Tâm nhu thuận qui về Trung Chính, và Nhân Tâm sẽ thường Tĩnh. Dùng Linh Tri để yêu Chân Tri thì Cương Nhu sẽ tương đáng, Chân Linh sẽ hợp nhất, thế gọi là Diên Hống tương đầu, Kim Đơn ngưng kết vậy,

Phép này chí giản chí dị, ngắn gọn không phiền toái. Dù là phàm phu, tục tử mà được nó cũng lập tức bước lên Thánh Vị. Nhưng con người thường không có đức hạnh, không có phúc phận lớn, nên khinh thường mà không biết Đạo. Nếu là người đại đức hạnh, đại phúc phận, mà được Chân Nhân chỉ cho phép Thần Diệu giản dị này, thì như người nằm mê chợt tỉnh, mới biết là Đại Dược ở ngay nơi con người, không thể có được ở đâu khác. Nên sẽ lập tức luyện nó dùng nó, và sẽ luôn được như ý.

Tiên Ông nói là đã nằm mộng gặp Tây Hoa và đã được ban cho sách, thật là có Thâm Ý. Không phải nói chơi. Vả Tây Hoa là nơi sản xuất ra Chân Kim, Hoa là quang huy của Chân Kim. Cửu Thiên là cảnh giới

Thuần Dương vô Âm. Chân Kim là Chân Tri nói theo kiểu Pháp Tượng.

Trong khi Âm đang hôn ám, tự nhiên đươc ánh sáng của Chân tri soi tới, thế là Chân Tri qui ư Ngã Gia, và sẽ hợp với Linh Tri. Dùng lửa đoàn luyện, cho tới khi Thuần Dương vô Âm, thì gọi là Thất phản Cửu Hoàn, Kim Dịch Đại Đơn.

Như vậy đâu phải là mộng?

*************** 

Bài 12

(Nói về Hư Vô Nhất Khí)

Đạo tự Hư Vô Sinh Nhất Khí,

道 自 虛 無 生 一 氣

Tiện tòng nhất Khí sản Âm Dương.

便 從 一 氣 產 陰 陽

Âm Dương tái hợp thành tam thể,

陰 陽 再 合 成 三 體

Tam Thể trùng sinh vạn vật trương.

三 體 重 生 萬 物 張

Tạm dịch:

Đạo tự Hư Vô sinh Nhất Khí,

Lại từ Nhất Khí sản Âm Dương.

Âm Dương tái hợp thành Tam Thể,

Tam thể trùng sinh vạn vật trương.

Tính Mệnh chi Đạo là Tạo Hóa chi Đạo.

 Mà Tạo Hóa chi Đạo là Sinh Sinh bất tức chi Đạo.

Suy ra cái Nguyên Thủy của. Âm Dương lại hợp lại với nhau, mà trong lại có Nhất Khí nhi thành Tam Thể (Nghĩa là khi sinh Âm Dương rồi thì vẫn còn Thái Cực). Tam thể đã thành, Nhất khí vận động. Âm nhi Dương mà Dương nhi Âm, cứ như vậy mà Vạn Vật sinh vậy. Cũng như Thảo Mộc khi sinh, thì từ lòng đất sinh ra một mầm, thế là tự Hư Vô sinh nhất khí vậy. Khi đã ra khỏi đất, thì sinh ra hai lá. Thế là tòng nhất khí sản Âm Dương vậy. Thế rồi từ giữa 2 lá lại sinh ra một giò, thế là Âm Dương tái hợp thành Tam Thể vậy. Từ đó sinh cành sinh lá, thế là Tam Thể trùng sinh vạn vật trương vậy.

Trong thế gian này các vật vô tình, hay hữu tình đều từ một Khí Hư Vô đó mà sinh ra. Nhưng đều là Thuận hành Tạo Hóa tự nhiên chi đạo.

Người tu đạo nếu biết từ thuận hành tự nhiên chi đạo mà tu nghịch hành lại, từ Vạn trở về Tam, từ Tam trở về Nhị, từ Nhị qui Nhất, từ Nhất qui Hư Vô, thế là Vô Thanh Vô Xú chí hĩ (Trung Dung Chương 33).

*************** 

Bài 13

(Nói về Khảm Ly)

Khảm điện, phanh oanh Kim Thủy phương,

坎 甸 烹 轟 金 水 方

Hỏa phát Côn Lôn Âm dữ Dương.

火 發 崑 崙 陰 與 陽

Nhị vật nhược hoàn hòa hợp liễu,

二 物 若 還 和 合 了

Tự nhiên đơn thục biến thân hương.

自 然 丹 熟 遍 身 香

Tạm dịch:

Khảm Điện phát sinh Kim Thủy Phương,

Lửa bốc Côn Lôn Âm với Dương.

Âm Dương nhị khí mà hòa hợp,

Tự nhiên Đơn kết tỏa ngát hương.

Khảm Điện là tượng Lửa phát sinh ra từ trong nước. Ví như Đạo Tâm, Chân Tri, từ nơi tối tăm nhất phát sinh. Chỗ nó phát hiện làchính tại nơi thân ta, lúc giờ Hoạt Tí (Phục kỳ kiến Thiên địa chi tâm hồ). Phanh oanh là tượng hoảng hốt bất định. Kim Thủy phương là Chân Tri của Đạo Tâm, là Chân Tình Tinh Nhất, có đủ Kim Thủy nhị Khí.

Côn Lôn tại Tây Phương là tổ mạch của mọi ngọn núi, là nơi sản xuất ra Chân Kim. Đang khi mà Đạo Tâm, Chân Tri từ nơi tối tăm nhất phát sinh, như điện quang xẹt sáng, lúc sáng, lúc tối, hoảng hốt bất định, khó được, dễ mất, thì phải dùng ngay Hư Linh chi Hỏa của quẻ Ly mà chế phục nó, thì Chân Tri, Linh Tri, Tính Tình sẽ tương luyến, Âm Dương sẽ tương hợp. trong đó sẽ sản sinh ra Tiên Thiên Linh Dược, phục vận Thiên Nhiên Chân Hỏa, làm biến hết Hậu Thiên Trọc Khí, Khoáng sẽ tận và Kim sẽ thuần, Kim Đơn sẽ thành thục, nuốt vào trong người sẽ thoát thai, hoán cốt, và Pháp Thân Thanh Tịnh sẽ hiện ra, như vậy gió sẽ đưa hương ngát cả trần hoàn, chứ đâu phải chỉ thơm ngát mình ta.

——————-

Bài 14

(Bàn về Mậu Kỷ)

Ly Khảm nhược hoàn vô Mậu Kỷ,

離 坎 若 還 無 戊 己

Tuy hàm Tứ Tượng bất thành Đơn.

雖 含 四 象 不 成 丹

Chỉ Duyên Bỉ Thử hoài Chân Thổ,

只 緣 彼 此 懷 真 土

Tọai sử Kim Đơn hữu Phản Hoàn.

遂 使 金 丹 有 返 還

Tạm dịch:

Ly Khảm nếu như không Mậu Kỷ,

Tuy gồm Tứ Tượng chửa thành Đơn.

Nếu như Bỉ Thử qui Chân Thổ,

Sẽ khiến Kim Đơn được phản hoàn.

Khảm là Thủy, nơi con người là Nguyên Tinh, phát ra thành Trí. Trong Nước tàng Kim nơi con người là Chân Tình, phát ra thành Nghĩa. Ly là Hỏa, nơi con người là Nguyên Thần, phát ra thành Lễ. Hỏa sinh ư Mộc, nơi con người là Nguyên Tính, phát ra là Nhân.

Đạo Tâm thủ tượng là Khảm, Nhân Tâm thủ tượng là Ly. Đạo Tâm, Nhân Tâm có đủ Tứ Tính Kim Mộc Thủy Hỏa. Nhưng Tứ Tính còn cách biệt, nếu muốn được thành Nhất Khí tương sinh, thì phải nhờ vào công lao của Mậu Kỷ.

Mậu là Dương Thổ, là Nguyên Khí, phát ra thành Tín. Kỷ là Âm Thổ, là Ý Niệm, phát ra thành Dục. Khảm nạp Mậu, tại Đạo Tâm là Tín. Ly nạp Kỷ tại Nhân Tâm là Ý.

Nếu muốn Chính Tâm, thì trước hết phải Thành Ý. Ý thành thì Kỷ Thổ định và Nhân Tâm sẽ Tĩnh. Muốn hành Đạo, thì trước hết phải lập Tín. Tín lập thì Mậu Thổ hiện và Đạo Tâm sẽ sáng ra rực rỡ.

Nếu Đạo Tâm không có Tín, nếu Nhân Tâm không Thành, thì dù có Nhân Nghĩa Lễ Trí, chúng vẫn xa lìa nhau, cái Tính Tình Tình Thần đã sở tàng được nhưng vẫn xa cách nhau, quay lưng lại với nhau, thì làm sao kết thành Thần Đơn chí Linh chí Thánh được.

Cho nên người tu đạo, thì trước hết phải lấy Thành Ý Lập Tín làm đầu. Ý thành tín lập thì Đạo Tâm sẽ sáng ra, và Nhân Tâm sẽ Chính. Bỉ Thử hòa hợp, Âm Dương tương ứng, Tiên Thiên chi Khí, từ Hư Vô trung tới, Ngưng lại thành một viên ngọc Thử Châu. Cái gì tán nay hồi phục lại, cái gì đi rồi nay trở lại. Cho nên nói: Chỉ Duyên Bỉ Thử hoài Chân Thổ, Toại sử Kim Đơn hữu phản hoàn.

Công lao của Mậu Kỷ quả là lớn vậy.

*************** 

Bài 15

(Bàn về Điên Đảo Khảm Ly)

Nhật cư Ly vị [7] phiên vi Nữ,

日 居 離 位 翻 為 女

Khảm phối Thiềm Cung khước thị Nam.

坎 配 蟾 宮 卻 是 男

Bất hội cá trung điên đảo ý,

不 會 箇 中 顛 倒 意

Hưu tương quản kiến sự cao đàm.

休 將 管 見 事 高 談

Tạm dịch:

Nhật tại Ly cung thành ra Nữ,

Khảm sánh Thiềm Cung lại là Nam.

Nếu không biết được Điên Đảo ý,

Những người thiển cận khỏi Cao Đàm.

Linh Tri vốn là Dương. Nhưng ngoài Sáng mà Trong Tối, lại chiêu Khách Khí, như mặt trời ở quẻ Ly, ngoại Dương nội Âm, nên đổi thành Nữ.

Chân Tri bản vốn là Âm, vì có Chính Khí, như quẻ Khảm phối Thiềm Cung, ngoại Âm Nội Dương, nên lại là Nam. Hậu Thiên Nhân Tâm mượn Linh sinh Vọng, Đạo Tâm Thiên Chân bị mai tàng, y như Nữ tử lo việc nhà mà Nam Tử thoái vị vậy.

Đạo Tu Đơn là dùng Đạo Tâm Chân Tri chế phục cái Linh Tri của Nhân Tâm, dùng Nhân Tâm Linh Tri thuận theo Chân Tri của Đạo Tâm. Nam Cương Nữ Nhu, Nam Tư Chủ sự, Nữ tử thính mệnh. Như vậy Đại Nghiệp chắc sẽ thành.

Nếu không hiểu được cái ý điên đảo đó, thế là không biết được Đạo Tâm Chân Tri, và Nhân Tâm Linh Tri, thế là loạn xạ, rối mù, đều là lấy Giả làm Chân, những người thiển cận thế ấy khỏi nói chuyện cao siêu với họ, như vậy chỉ là lừa mình, lừa người mà thôi.

—————–

Bài 16

Thủ tương Khảm vị tâm trung Thật,

取 將 坎 位 中 心 實

Điểm hóa Ly Cung phúc nội Âm.

點 化 離 宮 腹 內 陰

Tòng thử biến thành Kiền kiện thể,

從 此 變 成 乾 健 體

Tiềm tàng phi dược tận do[8] tâm.

潛 藏 飛 躍 盡 由 心

Tạm dịch:

Phải đem quẻ Khảm Tâm Trung Thật,

Điểm hóa Ly Cung dạ toàn Âm.

Sau đó biến thành Kiền kiện thể,

Tiềm tàng, phi dược thảy do Tâm.[9]

Quẻ Khảm Trung Tâm thực, tức là Chân Tri của Đạo Tâm, quẻ Ly trung tâm Hư, tức Linh Tri của Nhân Tâm. Đem cái Chân Tri của Đạo Tâm bị hãm trong quẻ Khảm, điểm hóa cho cái Linh Tri của Nhân Tâm nằm trong quẻ Ly. Chỉ trong giây lát, Âm Khí tiêu và Dương Khí phục, thấy lại được cái Bản Lai Kiền Nguyên diện mục, trả lại cho mình cái Bản Tính Lương Tri, Lương Năng, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông. (Hệ Từ thượng, Chương X, tiết 4).

Cảm nhi toại Thông, tịch nhiên bất động cho nên nói: Tòng thử hậu biến thành Kiền kiện thể, Tiềm tàng, phi dược tận do tâm.

Thể đây không phải là cái hình thể của Ảo Thân bên ngoài, mà chính là Chân Thể của Pháp Thân. Pháp Thân chính là Bản Tính vậy,

Con người khi vừa sinh thì có một điểm Nhất Linh bản tính, tròn trặn sáng láng, cương kiện trung chính, thuần túy không có chút gì là thể chất cặn bã, như quẻ Kiền có ba vạch Dương, đó là tượng Thuần Dương vô Âm. Khi giao vào Hậu Thiên, thì cái Thiên Lương ấy bị mờ đi, cái Linh khí ấy bị giả chen vào. Như quẻ Kiền bị lủng ở giữa và biến thành quẻ Ly, và quẻ Khôn bị đặc giữa và biến thành quẻ Khảm vậy. Trung Hư là cái Chân bị mất đi. Trung Thực là cái Chân nơi quẻ Khảm bị hãm vậy. Thủ Khảm Điền Ly là phản hoàn Thiên Chân, phục hồi lại cái bản tính Chân Linh xưa kia, như quẻ Ly lại biến lại thành quẻ Kiền vậy. Chân Linh một khi đã phục hồi, thì Chủ Tể lại trở về, thường ứng, thường tĩnh, tả chi hữu chi, vô bất nghi chi, tiềm tàng phi dược, tất cả hoàn toàn là do tâm.

Con người sau này, không biết lý đó, nên cho rằng Thủ Khảm Điền Ly là đem khí nơi Thận giao lên với Tâm, lại cho rằng dùng cái Khảm Khí hậu thăng, tiền giáng và rơi xuống Giáng Cung (Trung Đơn Điền) vậy.

Y ! biệt hữu ta nhi kỳ hựu kỳ, Tâm Thận nguyên lai phi Khảm Ly (Ôi! Kỳ diệu thay, Tâm Thận đâu phải là Khảm Ly.) Ai nói Thủ Khảm điền Ly là Tâm Thận, thì là chí ngu vậy.

*************** 

Bài 17

(Nói về Ngũ Hành)

Chấn Long Hống tự xuất[10] Ly Hương,

震 龍 汞 自 出 離 鄉

Đoài Hổ Diên sinh tại Khảm Phương.

兌 虎 鉛 生 在 坎 方

Nhị vật tổng nhân Nhi sản Mẫu,

二 物 總 因 兒 產 母

Ngũ Hành toàn yếu nhập Trung ương.

五 行 全 要 入 中 央

Tạm dịch:

Chấn Long Hống xuất tự Ly Hương,

Đoài Hổ Duyên sinh tại Khảm Phương.

Hai vật vốn là Con sinh Mẹ,

Ngũ Hành cần phải nhập Trung Ương.

 Chấn là Long, là Mộc Hống. Đoài là Hỏa là Kim Duyên. Ly là Hỏa, Khảm là Thủy. Long Hống xuất tự Ly hương, thế là Hỏa trung sinh Mộc. Hổ Duyên sinh tại Khảm Phương là Thủy trung sinh Kim.

Hỏa trung sinh xuất chi Mộc, Hống là Bất hủ chi mộc, Thủy chung sinh xuất chi Kim, Duyên vi bất hoại chi Kim.

Mộc vốn sinh Hỏa, thế mà Hỏa sinh ngược lại Mộc. Kim vốn sinh Thủy mà Thủy sinh ngược lại Kim, thế là Nhi Sinh Mẫu (con sinh Mẹ).

Cổ kinh viết: Ngũ hành bất thuận hành, Long tòng hỏa lý xuất, Ngũ hành điên đảo vận, Hổ hướng thủy chung sinh. Ý là như vậy.

Khí Tính con người dễ động, như Mộc Hống thời nổi, nếu lấy Hỏa của Nguyên Thần, đoàn luyện cho hết cặn bã, thì Khí Tính sẽ hóa, và Chân Tính sẽ hiện, sẽ là Cái Tính bất động,

Vọng Tình nơi con người rất nặng, như Kim Duyên chi Tính trầm. Nếu lấy Tinh Nhất chi thủy, tẩy sạch trần cấu, thì Vọng tình tiêu mà Chân Tình ngưng, sẽ mãi mãi là cái Vô Tình chi tình.

Chẳng những thế, khí chất mà hóa thì Vô Tính Hỏa sinh, Thức Thần mà Diệt thì Nguyên Thần thường tồn. Tình Dục tiêu thì Vô Dâm niệm, Trọc Tinh hóa thì Nguyên Tinh vô lậu. Chân Tính hiện, Chân Tình ngưng, Nguyên Thần sinh, Nguyên Tinh cố. Tính Tình Tinh Thần qui ư nhất Khí, Nhân Nghĩa Lễ Trí qui ư nhất Tín. Thế là Ngũ Hành Toàn.

Ngũ hành mà toàn, hồn nhiên Nhất Trung, thế là Ngũ Hành nhập Trung Ương.

Ngũ Hành mà nhập Trung Ương sẽ Bất Thiên, Bất Ỷ. Âm Dương tương hợp, thế là Kim đơn kết.

Nếu mà Nhỏ ở Đông, mất ở Tây, rơi mất ở Nam Bắc, đi tìm Dược Liệu khác mà muốn tu thành Kim Đơn thì rất khó.

Câu thơ quan trọng chính là Ngũ Hành toàn yếu nhập Trung Ương. Nếu Ngũ Hành không vào Trung Ương, thì Ngũ hành sẽ bị phân tán, không kết được Kim Đơn.

Nếu Ngũ Hành vào được Trung Ương, thì Ngũ Hành sẽ là Nhất Khí, kim đơn sẽ tự thành. Học giả không thể không biết rõ Ngũ Hành vậy.

*************** 

Bài 18

(Bàn về Lưỡng Huyền)

Nguyệt tài thiên tế bán luân minh,

月 才 天 際 半 輪 明

Tảo hữu Long Ngâm Hổ Khiếu thanh.

早 有 龍 吟 虎 嘯 聲

Tiện hảo dụng công tu nhị bát,

便 好 用 功 修 二 八

Nhất thời thần nội quản đơn thành.

一 時 辰 內 管 丹 成

Tạm dịch:

Trên trời Trăng sáng cứ tròn dần,

Sớm thấy Long ngâm, Hồ khiếu thanh.

Bỏ hết công phu tu nhị bát,

Trong một phút giây thấy Đơn thành.

Kim Đơn có Long Tính Hổ Tình, là Khí của Lưỡng Huyền, giao hợp mà thành.

Trước tiên lấy Thượng Huyền Chi Kim, Nhị Bát (nửa Cân) làm Đơn Mẫu, sau lấy Hạ Huyền Chi Mộc nửa cân, để kết thành thai.

Thế nào là Lưỡng Huyền? Mặt trăng mồng Ba là Nhất Dương sinh, đến mồng Tám là 1/2 Âm, 1/2 Dương. Vầng trăng chia thành 2 nửa đen, nửa trắng thẳng như sợi dây, trông tựa dây Cung. Nửa trắng phía phải, vì ánh sáng ở trên, nên gọi Thượng Huyền. Đến ngày 15 thì trăng tròn.

Ngày 16 thì Nhất Âm thai, ngày 18 thì Nhất Âm hiện. Đến ngày 23, thì Dương Trung Âm Bán; hai nửa trắng đen thẳng như sợi dây, trông tựa Dây Cung.1/2 trắng phía trái, vì ánh sánh sinh ra ở phía dưới nên gọi là Hạ Huyền.

Ánh sáng trăng từ Tây Nam sinh Hổ, thuộc Kim. Nên gọi trăng ngày mồng tám là Hổ chi Huyền khí. (Thượng Huyền). Nguyệt chi Âm Thể từ Đông Nam sinh ra Long. Long thuộc Mộc, Mộc tại Đông, nên gọi ngày 23 là Long Chi Huyền Khí (Hạ Huyền).

Chân Tri chi Tình thời Cương, tượng Hổ, như là Ánh Dương Quang của mặt trăng vậy. Linh Tri chi Tính thời Nhu, tượng Long, như là Nguyệt chi Âm Thể vậy. Chân Tri Cương Tình tiến tới Trung Chính, như là Ánh Dương Quang sinh xuất từ Thượng Huyền, đó là Kim Tám Lạng vậy. Linh Tri Nhu Tính, thoái tới Trung Chính, như là Nguyệt Hạ Huyền sinh ra từ Âm Thể, đó là Mộc Tám Lạng vậy.

Nguyệt tài Thiên tế Bán Luân Minh. Đó chính là Chân Tri Cương Tình tiến tới Trung Chính.

Chân Tri tiến tới Trung Chính. Trong Nhu có cương, Linh Tri bị Chân Tri chế ngự, nên không bay bổng. Dương thống Âm và Âm thuận Dương. Thế tức là Long Ngâm, Hổ khiếu, thế là Đồng Khí tương cầu.

Lúc đó, chính là lúc khéo dụng công tu trì, mượn Dương giúp Âm, làm cho Nhu Tính của Linh Tri, cũng qui về Trung Chính. Linh Tri qui về Trung Chính, trong Cương có Nhu. Chân Tri, Linh Tri đều qui về Trung Chính. Nhị Bát Lưỡng Huyền chi khí, phân số đã đủ, Âm Dương tương đáng, cương nhu như nhất, thế là Nhất thời thần nội quản Đơn thành. Nhất thời chi công, đâu phải là dễ nếu không bỏ ra 10 năm công phu vất vả, thì không sao tới được cảnh giới này được.

*************** 

Bài 19

(Bàn về Điều Hòa)

Hoa Nhạc sơn đầu hùng Hổ khiếu,

華 岳 山 頭 雄 虎 嘯

Phù Tang hải để tẫn Long ngâm.

扶 桑 海 底 牝 龍 吟

Huỳnh Bà tự giải tương mưu hợp,

黃 婆 自 解 相 媒 合

Khiển tác phu thê cộng nhất tâm.

遣 作 夫 妻 共 一 心

Tạm dịch:

Đầu non Hoa Nhạc Hổ đực rống,

Đáy bể Phù Tang Rồng cái kêu

Huỳnh Bà ở giữa lo mối lái,

Khiến cho chồng vợ hợp một nhau.

———————

Bài 20

Xích Long Hắc Hổ các Tây Đông,

赤 龍 黑 虎 各 西 東

Tứ tượng giao gia Mậu Kỷ trung.

四 象 交 加 戊 己 中

Phục Cấu tự thử năng vận dụng,

復 姤 自 此 能 運 用

Kim Đơn thùy đạo bất thành công.

金 聃 誰 道 不 成 功

Tạm dịch:

Xích Long, Hắc hổ các Tây Đông,

Tứ tượng giao hòa Mậu Kỷ trung,

Phục, Cấu từ nay tùy vận dụng,

Ai nói Kim Đơn chẳng thành công?[11]

Hoa Nhạc ở phía Tây, Phù Tang ở phía Đông. Hổ là Kim Tình, Long là Mộc Tính. Loài hữu sinh, khi sơ sinh, Tính Tình tương hợp, Kim Mộc tương giao.

Khi xuống hậu thiên, cái Giả hiện ra và cái Chân mờ tối, Tính Tình phân thành hai nơi. Như Long phía Đông và Hổ phía Tây vậy. Hổ xưng là Đực, vì là Kim tình Cương. Long xưng là Cái vì là Mộc Tính Nhu.

Nhưng tuy Chân Tình bị Giả tình làm cho cách trở, Chân Tính bị giả Tính làm cho ếm nhẹm, Chân Tình Chân Tính vẫn muốn được tương hội. Sơn đầu Hùng Hổ Khiếu, Hải để tẫn Long ngâm. Âm Dương cách trở, nhưng vẫn tiềm thông với nhau. Cách ngại, tiềm thông, nghĩa là vẫn có thể Tương Hội. Nhưng chưa có vật gì làm môi giới, nên chưa gặp được nhau. Huỳnh Bà còn có tên là Chân Thổ, hay Chân Ý, hay Chân Tín.

Khi Chân Tín hiện thì sẽ Ý thành, Tâm Chính. Cái Giả biến đi, và cái Chân hiện ra. Tình sẽ qui ư Tính, trong phút giây Tình Tính sẽ tương hợp, như mối lái qua lại giữa hai nhà, khiến cho vợ chồng hợp một lòng vậy.

*************** 

Bài 21

(Bàn về Long, Hổ)

Tây Sơn Bạch Hổ chính xương cuồng,

西 山 白 虎 正 猖 狂

Đông Hải, Thanh Long bất khả đương.

東 海 青 龍 不 可 當

Lưỡng thủ tróc lai, lệnh tử khuyết,

兩 手 捉 來 令 死 闕

Hóa thành nhất khối Tử Kim Sương.

化 成 一 塊 紫 金 霜

Tạm dịch:

Tây Sơn Bạch Hổ tính xương cuồng,

Đông Hải Thanh Long mấy ai đương,

Hai tay bắt lấy, về giam lại,

Biến thành nhất khối Tử Kim Sương.

Chân Tri chi tình, Linh Tri chi Tính, tuy vốn là Tiên Thiên nhất khí, nhưng đã rớt xuống Hậu Thiên, thì Lý và Dục giao tạp, Chân Giả hỗn độn, xa cách nhau lâu, không thể bỗng chốc trở nên thuần thục.

Cho nên nói: Tây Sơn Bạch Hổ chính xương cuồng, Đông Hải Thanh Long bất khả đương.

Nhưng đạo Kim Đơn có phép Tá Giả Tu Chân, Dĩ Chân Hóa Giả. Phép này cứ Thuận Kỳ Sở Dục, hướng dẫn từ từ, rồi cuối cùng hạ tử công phu, làm cho cái không hợp rồi cũng đi đến chỗ hợp, cái không Hòa rồi cũng đi tới chỗ Hòa. Càng ngày càng mạnh, Vọng tình sẽ tự nhiên mất, Chân Tình sẽ tự nhiên sinh, Khí Tính tự tiêu, Chân Tình tự Hiện, Cái Giả vĩnh viễn tiêu diệt, Cái Chân vĩnh viễn thường tồn. Vô tình chi tình mới thật là Chân Tình, Vô Tính chi Tính mới thật là Chân Tính, hai bên hợp Nhất, Tâm Tử Thần Hoạt, bất thức bất tri, thuận Đế chi tắc, hóa thành Nhất Khối Tử Kim Sương vậy.

Kim là Kiên Cương bất hoại chi vật. Kim mà trở nên Tía, từ trong lửa lớn đào luyện ra, là Kim có Túc Sắc. Tử Kim mà hóa thành Sương, là hình chất biến hết, chỉ còn Hồn Nhiên Nhất Khí, siêu xuất lên trên Âm Dương vậy.

 ————————-

Bài 22

(ba bài bàn về Luyện Kỷ)

Tiên thả quan Thiên minh Ngũ Tặc,

先 且 觀 天 明 五 賊

Thứ tu sát địa dĩ an dân.

次 須 察 地 以 安 民

Dân an quốc phú đương cầu chiến,

民 安 國 富 當 求 戰

Chiến bãi phương năng kiến Thánh Nhân.

戰 罷 方 能 見 聖 人

Tạm dịch:

Trước phải xem Trời, hiểu Ngũ Tặc,

Sau phải Sát Địa để an dân.

Dân an, quốc phú cần cầu chiến,

Chiến ngưng sẽ thấy hiện Thánh Nhân.

Quan Thiên là quan ngô thân chi Thiên Tính vậy. Minh Ngũ Tặc là biết Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, Ngũ Hành tương khắc vậy.

Sát địa là Sát Ngô thân chi Tâm Địa vậy. An Dân là an Tinh Thần Hồn Phách Ý, mỗi thứ ở một nơi.

Tu Thân chi đạo, việc trước tiên là Luyện Kỷ. Tinh yếu của Luyện Kỷ là phải Quan Thiên Tính trước hết, Thiên Tính mà sáng láng thì Ngũ Tặc không thể man trá được.

Sau đó phải Sát Tâm Địa. Tâm Địa mà thanh tĩnh, thì Ngũ Hành đều an, thì Tinh chắc, Thần toàn, Hồn định, Phách tĩnh, Ý Thành. Thế là Quốc phú, sẽ Chiến thắng được Ngũ Tặc, và chế phục được quần Âm. Âm Khí hóa thành Dương Khí, Sát Cơ biến thành Sinh Cơ, thế là khả dĩ kiến Thánh Nhân vậy.

Thánh Nhân chính là Lương Tri, Lương Năng, bản lai Diện Mục. Còn gọi là Thánh Thai.

Ngũ Hành hàng phục, biến thành Ngũ Nguyên, phát ra thành Ngũ Đức. Tịch nhiên bất động, Cảm Nhi Toại Thông, bất thức bất tri, thuận Đế chi tắc, không phải là Thánh Thai thì là gì?

 Chữ Chiến trong Thơ, ý nghĩa thật sâu. Vì Ngũ Tặc trong Tâm ta, ảnh hưởng tới Trời, muốn tranh quyền với Trời, phải hàng phục được nó. Chiến đây là đoạt Đại Dụng, phát Đại Cơ, dũng mãnh tinh tiến, càng ngày càng mạnh, không chịu giữa đường đứt gánh.

Cổ tiên xưa nói: Nhất hào Dương khí, bất tận bất tử, nhất hào Âm khí bất tận bất Tiên. Luyện Kỷ là luyện cho đến chỗ không còn chút nào là Âm Khí nữa, Ngũ hành hỗn hóa, khoáng tận, Kim thuần, sau đó mới thôi.

*************** 

Bài 23

Dụng Tướng tu phân Tả Hữu Quân,

用 將 須 分 左 右 軍

Nhiêu tha vi Chủ ngã vi Tân.

饒 他 為 主 我 為 賓

Khuyến quân lâm trận hưu khinh địch,

勸 君 臨 陣 休 輕 敵

Khủng táng Ngô Gia vô giá Trân.

恐 喪 吾 家 無 價 珍

Tạm dịch:

Dụng tướng, phải phân tả hữu quân,

Nhường y làm Chủ, tớ làm Tân,

Khuyến quân lâm trận đừng khinh địch,

Kẻo mất của nhà vô giá Trân.

Luyện Kỷ chi Đạo, không mong thành công ngay, phải thuận theo sở Dục, mà hướng dẫn nó, vì cái Khiếu Chân Linh của chúng ta đã bị phong bế lâu ngày, bị tích tập đã dầy, ngũ tặc tác họa, không phải một sớm một chiều, mà có thể tiêu diệt được.

Dụng Tướng tu phân tả hữu quân, Nhiêu tha vi Chủ, ngã vi Tân, muốn bắt trước hết phải thuận theo. Khuyến quân lâm trận hưu khinh địch, Khủng táng Ngô Gia vô giá Trân là muốn bắt người trước hết phải không mất mình. Trong phải phòng nguy. lự hiểm, ngoài phải cần công tu luyện, thì cái Giả sẽ biến đi, mà cái Thật sẽ giữ được. Lo chi mà Đại Đạo không thành?

 ———————-

Bài 24

Hỏa sinh ư Mộc, bản tàng phong,

火 生 於 木 本 藏 鋒

Bất hội toản nghiên, mạc cưỡng công.

不 會 鑽 研 莫 強 攻

Họa phát tổng nhân tư hại kỷ,

禍 發 總 因 斯 害 己

Yếu tu chế phục mịch Kim công.

要 須 制 伏 覓 金 公

Tạm dịch:

Lửa sinh từ Mộc, vốn tàng phong (bén nhọn),

Chẳng vội giũa mài, chẳng cưỡng công.

Họa sinh chính tại mình tự hại,

Muốn chế phục Mộc, tìm Kim Công.

Con người từ Hậu Thiên dụng sự, Thức Thần nắm quyền, trong người có đủ Khí Hậu Thiên Ngũ Hành, có phiền não căn trần từ nhiều kiếp mang lại, cộng với những tập nhiễm ô uế hiện tại, nếu không có đại pháp lực, đại thủ đoạn, làm sao công phạt cho hết được. Nếu không nắm được cái lý của phép Giũa Mài (Toản Khiên), mà hạ thủ công phu, tức là Dĩ Tâm Chế Tâm, hết sức mãnh liệt, có lúc Quân Hỏa. Tướng Hỏa đều phát, chẳng những không phá được giặc, mà còn bị giặc tấn công lại, chẳng những vô ích mà còn bị hại. Như Lửa sinh từ Mộc, họa phát ắt chế phục được, Mộc ngược lại bị Lửa đốt, và làm hại chính mình. Tham đồng khế viết: Thái Dương lưu Châu thường dục khứ nhân, Tốt đắc Kim Hoa chuyển nhi tương nhân.

Kim Hoa tức là Đạo Tâm. Đạo Tâm không phải là Tâm của Tâm. Mà vốn là Thiên Chân Thân sinh ra, có đủ Tình của Chân Tri, có Khí Cương Chính, vạn vật không lừa dối được. Một khi ánh sáng của Đạo Tâm đã hiện ra, thì Quần Tà sẽ chốn ẩn. Nó cương đoán và quả quyết, sắc bén như Vàng, Cho nên gọi Kim Công là Đạo Tâm. Cái Chân Lý của phép Giũa Mài (Toản Nghiên) chính là dùng Kim mà khắc chế Mộc vậy.

Phép Đại Đơn lấy Kim Công làm chủ nhân, nếu bỏ Kim Công mà muốn luyện Kỷ thì chỉ là chuốc lấy tai họa. Trương Tam Phong viết: Luyện Kỷ thời tu dụng Chân Diên. Chân Diên, Kim Công đều là những danh xưng khác của Đạo Tâm vậy.

*************** 

Bài 25

(Nói về Kim Công)

Kim Công bản thị Đông gia tử,

金 公 本 是 東 家 子

Tống tại Tây lân ký thể sinh.

送 在 西 鄰 寄 體 生

Nhận đắc hô lai [12] qui xá dưỡng,

認 得 呼 來 歸 舍 養

Phối tương Xá Nữ tác thân[13] tình.

配 將 奼 女 作 親 情

Tạm dịch:

Kim Công bản thị Đông Gia Tử,

Lối xóm bên Tây mượn thể sinh.

Nhận ra gọi lại về nuôi dưỡng,

Hợp cùng Xá Nữ tác thân tình.

Kim Công như trước đã nói là Đạo Tâm, Chân Tri. Chân Tri là Chân Tình. Khi con người sinh ra, Tính Tình cùng ở một nhà, không phân Bỉ, Thử, Tính là Thể, Tình là Dụng, Tình là Tính, Tính là Tình, đồng xuất, dị danh, không phải là hai.

Khi vào Hậu Thiên, thì Tính Tình biến rời, Chân Tình tối đi mà Vọng Tình sinh. Cương Chính chi khí bị Khách khí che lấp, không còn tùy thuộc ta. Như Đông gia chi tử mà sinh nhờ nơi Tây Lân vậy. Không phải sẽ không bao giờ gặp lại ta. Nhưng thấy mà nhận không ra thôi.

Nếu là Chí sĩ, cùng lý thông triệt, nhận biết Chân Thật, kêu một tiếng, lập tức sẽ trở lại, như tiếng vang trong hang, không hề mất sức lực. Lại có thể nuôi trong mật thất, thường gia công hộ trì. Phối hợp với Chân Tính Xá Nữ, thành Âm Dương nhất khí, kết tác thân tình, như là Đông Gia chi tử vậy. Xá Nữ là con gái trong nhà, tức là Tính Linh Tri.

Tính vốn Dương mà gọi là Nữ vậy. Tính chủ Nhu tượng Mộc, cho nên gọi là Xá Nữ.

Tình vốn Âm mà lại gọi là Nam.Tình chủ Cương tượng Kim, cho nên gọi là Kim Công.

Kim Công từ lâu đã ra ngoài, bỗng nay trở về, gặp lại Xá Nữ, tình rất thân thiết thế nào cũng sinh Đơn vậy. Cho nên Tham Đồng Khế nói: Kim lai qui Tính sơ, nãi đắc xưng Hoàn Đơn.

Kim Mộc tương tính, Tình Tính tương hợp. Thế là Hoàn Đơn. Ngoài ra không có hoàn đơn nào khác.

 ——————–

Bài 26

(Bàn về Xá Nữ)

Xá nữ du hành tự hữu phương,

奼 女 游 行 自 有 方

Tiền hành tu đoản, hậu tu trường.

前 行須 短 後 須 長

Qui lai khước nhập Huỳnh Bà Xá,

歸 來 卻 入 黃 婆 舍

Giá cá Kim Công tác lão lang.

嫁 箇 金 公 作 老 郎

Tạm dịch:

Xá nữ đi chơi phải có phương,

Mới đầu đi vắn sau thời trường.

Trở lại về ngay Huỳnh Bà Xá,

Cùng với Kim Công vẹn Xích Thằng.

Xá Nữ như trong thơ trước đã nói là Linh Tri chi tính vây. Vì nhâp vào Hâu Thiên, mà trong Nhân Tâm đã sẵn có Thức Thân cư ngụ, nên không thê nào thoát trong Chân có giả, nhân Linh sinh Vọng. Thây Lưả là bay.

Du hành không định cho nên nói xuât nhâp vô thời, không biêt ở đâu.

Muôn tu kim đơn thì trước hết phải đem Nhất điểm Linh Tính cho nó du hành nơi phương hướng đáng đi mà thôi. Làm cho Linh ấy Hư đi chứ không làm cho nó tối đi thế là Linh qui về Chân Linh vậy.

Hành tiền tu đoản là Tính cầu Tình vậy. Hậu hành tu trường là dùng Linh dưỡng Chân vậy. Dĩ Tính cầu Tình là cái ảo diệu của lúc kết đơn, cho nên nói Vắn. Dĩ Linh dưỡng Chân là 10 tháng ôn dưỡng, cho nên nói Dài. Đáng vắn thì vắn, đáng dài thì dài, thế là Hữu Phương. Cứ theo hướng ấy mà đi, thì có triển vọng thành Kim Đơn. Muốn vậy phải Chuyết Thông Hủy Trí, Hồi Quang Phản Chiếu, đem Nhất Điểm Linh Tri đó, đặt vào Trung Ương chính vị, thế là Qui lai khước nhập Huỳnh Bà Xá.

Huỳnh bà Xá là Bất Thiên, Bất Ỷ, là Trung Chính chi Xá. Linh Tính Trung Chính, Tâm Chính Ý Thành, Ý thành rồi Tín Chân, Tín Chân rồi sẽ không du hành bên ngoài.

Nhờ thế mà Tính cầu Tình, Tình lai qui Tính, Tính Tình tương luyến, hợp thành Nhất Khí, thế là Giá cá Kim Công tác lão lang.

Tác lão lang không phải là lời Tầm Thường, mà ý nghĩa sâu xa.

Đạo Tu Đơn, trước hết là dùng Linh Tính chiêu Chân Tình. Chân tình phục hồi, thì Linh Tính sẽ bất động, bất giao. Linh tính sẽ qui chân. Sau đó dùng Linh Tính khóa Chân Tình, cốt tu dưỡng Chân Tình cho thành Thuần Âm, Vô Dương mới thôi, như đôi vợ chồng già, không để giữa đường vỡ gương, lườm nguýt nhau. Thế là lại trở lại ý nghĩa của chữ Trường vậy. Học giả nên lưu tâm thâm cứu.

*************** 

Bài 27

(hai bài nói về Hỏa Hậu)

Túng thức Chu Sa dữ Hắc Diên,

縱 識 朱 砂 與 黑 鉛

Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn.

不 知 火 候 也 如 閑

Đại đô toàn tạ tu trì lực,

大 都 全 藉 修 持 力

Hào phát sai thù bất kết đơn.

毫 髮 差 殊 不 結 丹

Tạm dịch:

Nếu biết Chu Sa với Hắc Đơn,

Hỏa hầu không biết cũng như không.

Chung qui toàn dụng tu trì lực,

Nếu sai tơ tóc, sẽ hỏng Đơn.

Kim đơn chi đạo chỉ dùng 2 dược liệu Chu Sa và Hắc Đơn, đoàn luyện thành bảo, để kéo dài đời sống. Chu Sa là Ly trung nhất điểm Hư Linh chi khí, tức là Linh Tri vậy, thuộc Nhân Tâm. Hắc Diên là Khảm trung nhất điểm Cương Chính chi khí, tức là Chân Tri, thuộc Đạo Tâm.

Vì Nhân Tâm Linh Tri, thì Ngoại Minh Nội Ám. Minh thuộc Hỏa, Hỏa màu đỏ, thủ tượng là Chu Sa. Vì Đạo Tâm Chân Tri, thì Ngoại Ám, Nội Minh. Ám thuộc Thủy, Thủy màu đen, thủ tượng là Hắc Diên.

Cái này là Vô Hình Vô Tượng chi Sa Duyên, chứ không phải là thế gian hữu hình, hữu tượng chi Sa Duyên. Khi đã biết Chân Tri Linh Tri chi Sa Duyên, thì sẽ tùy ý hái thuốc mà không khó khăn gì.

Nhưng hái rồi phải tu luyện, nên biết Dược mà không biết phép luyện Dược, thì cũng giống như là không biết. Cho nên nói: Túng Thức Chu Sa dữ Hắc Duyên, Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn. Vả Kim Đơn nhờ có Hỏa Hầu luyện trì nên mới thành. Hỏa là Tu trì chi công lực, Hậu là Tu Trì chi thứ tự.

Hái thuốc phải biết non già, luyện dược phải biết thời tiết. Có hỏa hầu Văn phanh, có Hỏa hầu Võ luyện, có Hỏa Hậu hạ thủ, có Hỏa Hậu kết thúc, có Hỏa Hậu Tiến Dương, có Hỏa Hậu thoái Âm, có Hỏa Hậu hoàn đơn, có Hỏa Hậu đại đơn, có Hỏa Hậu tăng giảm, có Hỏa Hậu Ôn Dưỡng. Thật là mhiều loại, phải biết cho rõ ràng, phải biết đầu đuôi, mới có thể thành công, nếu sai một ly, là đi nghìn dặm, như vậy mà muốn thành công thật là khó vậy.

(Hỏa hậu chung qui là cách thở: Khí tức miên miên, ý niệm cường liệt thì gọi là Vũ Hỏa, Vũ Hỏa dùng để Thái Dược, Phong Lô, khi tuần hành qua mạch Đốc. Khí tức nhược Hữu, nhược Vô thì là Văn Hỏa, dùng để Luyện Dược Ôn Dưỡng và khi thở qua Nhâm Mạch.) [14]

 ——————–

Bài 28

Khế, Luận, Kinh, Ca giảng chí chân,

契 論 經 歌 講 至 真

Bất tương Hỏa Hậu trước thành Văn.

不 將 火 候 著 成 文

Yếu tri khẩu quyết thông huyền xứ,

要 知 口 訣 通 玄 處

Tu cộng Thần Tiên tế tử luân.

須 共 神 仙 細 仔 論

Tạm dịch:

Khế, Luận, Kinh, Ca giảng lẽ Chân,

Không đem hỏa hậu viết thành văn.

Phải hay khẩu quyết, thông huyền diệu,

Nên gặp thần tiên, cặn kẽ bàn.

Xưa nay thần tiên, viết Tham Đồng khế, viết Âm Phù Kinh, Đạo Đức Kinh, viết Luận, viết Ca, bàn về Tu Chân, Dược Vật, Hỏa Hậu, rất là khẩn thiết, tường tận. Rất thành khẩn, không hề giả mạo. Tuy luận nhưng chưa luận đến nơi, tuy nói nhưng nói chưa thấu đáo, lại không đem Hỏa Hậu viết thành văn.

Nhưng Khế, Luận, Kinh (Âm Phù Kinh, Đạo đức Kinh), Ca (thi văn) viết rất sâu xa, bí áo: Hoặc nói về Tính, hoặc nói về Mệnh, hoặc nói về Dược, hoặc nói về Hỏa, hoặc nói Tu Tính Hỏa Hậu, hoặc nói Tu Mệnh Hỏa Hậu, hoặc nói Ngoại Hỏa Hậu, hoặc nói Nội Hỏa Hậu, đều nói về Hỏa Hậu. Tuy nhiên lời nói tán loạn không tề chỉnh, nếu không gặp thày giỏi, nói cho tề chỉnh đâu ra đấy, thì không sao hiểu biết nổi.

 Cho nên nói: Bất tương hỏa hậu trước thành văn, lại còn thêm: Tu cộng thần tiên tử tế luân. Như vậy cốt là dạy người vưà phải đọc kỹ lưỡng Khế Luận, Kinh Ca, vừa phải có Minh Sư ấn chứng. Không thể không đọc Khế, Luận, Kinh, Ca, mà chỉ chuyên lo cầu thày, cũng như không thể coi rằng mình đã có Khế, Luận, Kinh, Ca để mà tự ngộ, nên không phải cầu thày nữa. Nếu quả thật Khế Luận Kinh Ca chưa có Hỏa Hậu, thì làm sao nói Khế Luận, Kinh Ca là chí chân được.

Đại cương, học giả phải vừa đọc kỹ Lưỡng Khế Luận Kinh Ca, vừa phải cầu Thày. Đọc Khế Luận Kinh Ca để đoán định tà chính, chân giả, để quảng sung kiến thức. Phỏng cầu Minh sư để ấn chứng cho những điều mình đã biện giải. Tự học và cầu sư không thể thiếu một.

*************** 

Bài 29

(Bàn về Thái Dược Hỏa Hầu)

Bát nguyệt thập ngũ ngoạn thiềm huy,

八 月 十 五 玩 蟾 輝

Chính thị Kim Tinh tráng thịnh thì.

正 是 金 精 壯 盛 時

Nhược đáo nhất Dương tài động[15] xứ,

若 到 一 陽 才 動 處

Tiện nghi tiến hỏa mạc diên trì.

便 宜 進 火 莫 延 遲

Tạm dịch:

Tháng tám hôm rằm xem bóng nguyệt,

Kim tinh ấy lúc tráng thịnh thì.

Nếu thấy Nhất Dương sơ động xứ,

Phải lo tiến hỏa chớ Diên trì.

Trăng ngày Trung Thu, là lúc Kim Tinh tráng thịnh, là lúc Đạo tới Cương kiện Trung Chính, là lúc Bản Tính Viên Minh. Công phu viên minh, toàn nhờ Đạo Tâm vậy.

Nhất Dương tài động xứ tức là Nhất Điểm Chân tri chi Dương quang của Đạo Tâm. Nó vừa bắt đầu động chứ chưa động mạnh. Lúc ấy Thiên Căn lộ xuất Đoan Nghê. Phải lập tức lo Tiến Hỏa, hái thuốc cho vào lò Tạo Hóa. Vừa hái vừa luyện. Từ tế vi đến hiển lộ rõ ràng. Tự Nhất Dương tất nhiên sẽ tới Lục Dương thuần toàn. Cũng như Trăng ngày Trung Thu, ánh quang huy chiếu rải ra ngoài, soi cùng vũ trụ. Mạc Diên trì là không chậm trễ. Ánh sáng Đạo Tâm, khó được, dễ mất. Nếu có chút chậm trễ, thì ánh sáng sẽ mất.

 ————————–

Bài 30

(Nói về Sưu Thiêm Hỏa Hậu)

Nhất Dương tài động tác đơn thì,

一 陽 才 動 作 丹 時

Diên đỉnh ôn ôn chiếu hoảng vi.

鉛 鼎 溫 溫 照 幌 幃

Thụ khí chi sơ dung dị đắc,

受 氣 之 初 容 易 得

Sưu thiêm vận dụng thiết phòng nguy.

抽 添 運 用 切 防 危

Tạm dịch:

Nhất Dương sơ động: tác đan thì,

Lò Duyên âm ấm chiếu la vi.

Thụ khí chi sơ, dễ được nhất,

Sưu Thiêm quan trọng phải phòng nguy.

Thơ này tiếp lời theo thơ trước. Một Dương vừa động, phải thu ngay vào lò.

Tâm bình khí hòa, hư thất sinh bạch, quang huy tụ lại bên trong. Từ trong tối sinh xuất ánh sáng, như chiếu qua màn trướng vậy. Thôi công viết: Thụ khí cát, phòng thành hung. Vì Nhất Dương lai phục thì tối dung dị, nhưng thành toàn thì rất khó. Phải phòng nguy, lự hiểm, Phải dùng công phu sưu thiêm, tăng giảm, mới nên việc. Sưu là giảm khứ Nhân Tâm Linh Tri chi hữu dư. Thiêm là tăng Đạo Tâm Chân Tri nhi bất túc.

Sưu rồi lại Sưu, Thiêm rồi lại Thiêm, cho tới khi không còn Sưu Thiêm, Tăng Giảm được nữa. Nhân tâm bất khởi, ĐạoTâm thường tồn, Chân Tri, Linh Tri tương hợp, nội ngoại quang minh, không còn sợ giữa đêm bị nạn phong lôi. Đặc biệt là khi Đạo Tâm vừa sơ phục, Dương khí còn non yếu, Âm Khí còn mạnh mẽ, nếu không có công phu sưu thiêm, nếu có chút chi biếng nhác, thì được rồi cũng mất đi.

Cho nên phải quí trọng công phu Sưu Thiêm. Công phu sưu thiêm, tức là công phu phòng nguy, lự hiểm, ngoài Sưu Thiêm không làm gì có phòng nguy. Sưu thiêm không ở ngoài vấn đề phòng nguy. Phòng nguy nằm trong Sưu Thiêm, hai đằng là một. Học giả nên lưu tâm.

*************** 

Bài 31

(nói về Ôn Dưỡng Hỏa Hầu)

Huyền Châu hữu tượng trục Dương sinh,

玄 珠 有 象 逐 陽 生

Dương cực Âm tiêu tiệm bác hình.

陽 極 陰 消 漸 剝 形

Thập nguyệt sương phi đan thủy thục,

十 月 霜 飛 丹 始 熟

Thử thời thần quỉ dã tu kinh.

此 時 神 鬼 也 須 驚

Tạm dịch:

Huyền Châu thành tượng lúc Cực Dương,

Dương Cực Âm sinh, tiệm bác hình.

Mười tháng mây bay, đan vừa chín,

Làm cho Quỉ khốc với Thần kinh.

Huyền Châu là chí Dương chi châu, là một vật tròn vẹn, trong sáng. Huyền Châu là tên khác của Kim Đan. Đó chính là Bản Tính Lương Tri, Lương Năng thủa sơ sinh. Cái bản tính đó, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, tượng là Huyền Châu. Châu này chính là Nhất Điểm Cương Kiện, Linh Tri của Đạo Tâm. Sinh ra nên thành tượng. Sinh rồi lại sinh, Hạo Khí sung tắc, quang huy viên mãn, đó là Dương Cực vậy. Dương Cực thì phải có Âm tiếp theo. Âm tiêu bác hình, mượn Âm dưỡng Dương, làm tiêu Dương Cương chi táo khí. Tiệm Bác là phải dùng công phu 10 tháng. 10 tháng ôn dưỡng. Khoáng tận, kim thuần, trở thành Linh Sương. Chân Không mà là Diệu Hữu, Diệu Hữu mà trong tàng Chân Không, bất thức bất tri, thuận đế chi tắc, như sương bay lên không trung, không rơi vào cảnh hữu vô, và Đan bắt đầu chín vậy. Tới khi ấy, thì Tạo Hóa không câu thúc được, vạn vật không lay chuyển nổi, công thành nơi nhân gian, tên ghi sổ trời, làm sao quỉ thần không kinh sợ nổi?

 ——————–

Bài 32

(bàn về Kết Đơn Hỏa Hầu)

Tiền Huyền chi hậu, Hậu Huyền tiền,

前 弦 之 後 後 弦 前

Dược vị bình bình khí tượng tuyền.

藥 味 平 平 氣 象 全

Thái đắc qui lai lô lý luyện,

太 得 歸 來 爐 里 煉

Luyện thành ôn dưỡng tự phanh tiên.

煉 成 溫 養 自 烹 煎

Tạm dịch:

Sau Thượng Huyền va trước Hạ Huyền,

Linh Miêu sinh, dược vị bình bình.

Lúc ấy Âm Dương hỗn thành phải hái ngay về,

Đó là thánh thai cần ôn dưỡng.

Tiền Huyền là Âm trung chi Dương: Chân Tri qui về Trung Chính vậy. Hậu Huyền là Âm trung chi Dương, Linh tri qui về Trung Chính vậy. Chân Tri, Linh Tri đều qui về Trung Chính. Cương Nhu tương đáng,Cương Nhu tương đáng là thời gian, sau Thượng Huyền và trước Hạ Huyền.

 Vào lúc ấy, Chân Tri, Linh Tri lớn nhỏ không bị thương tổn, 2 nước vô sự, lúc ấy sinh ra Thiên Tiên một điểm Linh Miêu, dược vị bình bình, Âm Dương hỗn thành, phải nhanh tay hái về, chân kết thành Thánh Thai. Đến khi ấy, Dược là Hỏa, Hỏa là Dược, dùng 10 tháng công phu ôn dưỡng, tự nhiên có Tiên Thiên Chân Hỏa phanh chiên, từ nhỏ tới lớn, vô hình sinh hình vậy.

*************** 

Bài 33

(Âm Dương qui trung)

Trưởng Nam sạ ẩm Tây Phương Tửu,

長 男 乍 飲 西 方 酒

Thiếu Nữ sơ khai Bắc địa hoa.

少 女 初 開 北 地 花

Nhược sử thanh nga tương kiến hậu,

若 使 青 娥 相 見 後

Nhất thời quan tỏa tại Hoàng Gia.

一 時 關 鎖 在 黃 家

Tạm dịch:

Trưởng Nam vừa mọc tại cung Canh,

Thiếu nữ nở hoa Bắc Địa thành.

Sau khi đã gặp Thanh Nga đọan,

Đem về khóa lại ở Huỳnh Đình.

Trưởng Nam là quẻ Chấn. Tây phương tửu là Kim Thủy. Mồng 3, trăng mọc phương Canh, dưới Chí Âm có một Dương sinh. Nơi quẻ là quẻ Chấn. Cho nên nói: Trưởng Nam sạ ẩm Tây Phương tửu.

Thiếu Nữ là quẻ Đoài, Bắc địa hoa khai là trong nước sinh ra Kim Hoa. Nguyệt hoa chi sinh từ Đoài tới Khôn. Trong Âm hiện Dương, cho nên nói Thiếu Nữ sơ khai Bắc địa hoa. Hai câu đều mô tả tượng Nhất Dương sinh. Nói Sạ Ẩm nghĩa là chưa ăn bao giờ, nay tự nhiên ăn nên nói Sơ khai, nghĩa là trước đây chưa hề mở nay mở ra.

Sạ Ẩm, Sơ Khai đều mô tả Đạo Tâm Chân Tri, dễ mất và khó tìm. Vì Đạo Tâm mai một từ lâu, Chân tri đã tối, nay từ Chí Tĩnh chi trung, ngẫu nhiên phát hiện ra, như rượu vừa uống, như hoa vừa nở, đó tức là cơ hội phản hoàn, lương tiêu giai phùng, không thể bỏ qua. Phải thừa cơ hái về, cho phối hợp với Linh Tri, khóa chặt lại trong trung cung Huỳnh Bà Thất, vợ chồng gặp nhau, Đan tự nhiên sinh. Linh Tri là Tính, là Dương trung chi Âm, thuộc Mộc, Mộc có màu xanh. Cho nên Linh Tri thủ tượng là Thanh Nga. Chân Tri, Linh Tri gặp nhau, đồng tâm nhất khí, tự nhiên qui ư trung ương.

Nếu không biết đâu là khóa then, thì sợ là hợp rồi sẽ ly, nếu biết khóa lại. cửa dả đóng kín, thì không hợp rồi cũng hợp, đã hợp rồi thì mãi mãi hợp, như Trương Tam Phong nói: Đông gia nữ, Tây Xá Lang, phối tác phu thê nhập động phòng, Huỳnh Bà khuyến ẩm đề hồ tửu, nhất nhật suy khai túy nhất tràng là vậy đó. Hai chữ Quan Tỏa bao gồm công phu phòng nguy lự hiểm, vì Âm Dương vừa giao hội, tính tình chưa thuần nhất, nên phải vật vong vật trợ, phải nghiêm mật phòng hộ, mới không bị thẩm lậu, và Kim Đơn tự hư vô trung kết thành vậy. Đó là Thiên Cơ, không thày không biết vậy.

—————-

 Bài 34

 (bàn về Mộc Dục)

Thố Kê chi nguyệt cập kỳ thì,

兔 雞 之 月 及 其 時

Hình Đức lâm môn, Dược tượng chi.

刑 德 臨 門 藥 象 之

Chí thử, Kim Đơn[16] nghi mộc dục,

至 此 金 丹 宜 沐 浴

Nhược hoàn gia hỏa tất khuynh nguy.

若 還 加 火 必 傾 危

Tạm dịch:

Tháng Ba, tháng Chín: Xuân Thu Phân,

Hình Đức lâm môn, phải ân cần.

Lúc ấy Kim Đơn lo Mộc Dục,

Nếu đun to lửa sẽ hư công.

Tháng Mão Thố (Thỏ) là Xuân Phân. Dương khí đất bốc lên từ lòng trời đất. Tháng Dậu Kê (Gà) là Thu Phân. Âm khí bốc lên từ lòng trời đất.

Xuân Phân thuộc Mộc là Sinh Khí, là Đức. Thu Phân thuộc Kim là Sát Khí, là Hình.

Đức để sinh Vật. Hình để thành Vật. Không Hình không có Đức, không Đức không toàn Hình. Có Hình, có Đức, thì Thiên Địa tạo hóa, mới được một khí lưu hành, và tuần hoàn vậy.

Người tu đạo nếu không biết rằng cái Cương của Chân Tri sẽ qui về Trung Chính, như là Thu Phân. Cái Nhu của Linh Tri sẽ qui về Trung Chính như là Xuân Phân. Chân Tri, Linh Tri đều qui về Trung Chính, như Xuân Phân chi đức, Thu Phân chi hình vậy.

Chân tri chi Cương Kiện dùng để chế ngự Nhân Tâm chi tà khí. Linh Tri chi Nhu Thuận cốt đề nuôi dưỡng Đạo Tâm chi Chính Khí.

Đáng Cương thời Cương, đáng Nhu thời Nhu, không sai thời tiết, thì Cương Nhu sẽ Trung Chính, như Xuân Phân, Thu Phân, đều có lúc có thời của nó. Cho nên nói Thố Kê chi nguyệt cập kỳ thì vậy.

Trong Cương có Nhu, trong Nhu có Cương. Cương Nhu hợp nhất, thì Chân Linh không tán, Như Xuân Đức, Thu Hình, hai bên thay đổi vận dụng, cho nên nói: Hình Đức lâm môn, dược tượng chi. Khi Đạo đã Cương Nhu Trung Chính, khi Đạo Tâm Thường Tồn, Nhân Tâm thường Tĩnh, Chân Tri chí Linh, Linh Tri chí Chân, Chân Linh hợp nhất. Lương Tri, Lương Năng, Kim Đơm có Tượng, có thể Mộc Dục, Ôn Dưỡng, như là thêm củi vào lò, nếu không thì không sao biết chỗ dừng chân, và thêm lửa đào luyện, thì Cương sẽ thái quá, Nhu sẽ bất cập, Cương Nhu sẽ không Trung Chính. Dược khô và Đơn sẽ tổn thương, làm sao thoát khỏi bị khuynh loát.

*************** 

Bài 35

(Nói về Văn Phanh Vũ Luyện)

Nhật Nguyệt tam tuần nhất ngộ phùng,

日 月 三 旬 一 遇 逢

Dĩ thời dịch nhật, pháp thần công,

以 時 易 日 法 神 功

Thủ thành, dã chiến, tri hung cát,

守 城 野 戰 知 凶 吉

Tăng đắc Linh Sa mãn đỉnh hồng.

增 得 靈 砂 滿 鼎 紅

Tạm dịch:

Nhật nguyệt gặp nhau, tháng một lần,

Thu rút thời gian, học thần công.

Thủ thành, dã chiến, phân hay dở,

Sẽ được Linh Sa mãn đỉnh hồng.

Trăng vốn không sáng, nhờ mặt trời mới sáng. Một năm gặp Mặt Trời 12 lần. Một tháng 30 ngày, gặp mặt Trời giữa ngày Hối (30) và Sóc (mồng một). Lúc ấy Chân tri con người mai tàng, thuần Âm vô Dương, như mặt trăng không có ánh sáng, phải nhờ Linh Tri sau đó mới sáng. Khi Chân Tri, Linh Tri gặp nhau, cũng như mặt trời, mặt trăng gặp nhau 30 ngày một lần. Bậc Chí Nhân bắt chước mặt trời, mặt trăng gặp nhau, 30 ngày thu lại còn 1 ngày, một ngày thu lại còn một giờ. Trong một giờ chấn phát Cương Khí, nhờ Nhân Tâm sinh Đạo Tâm, dùng Đạo Tâm chế Nhân Tâm, y Linh Tri sinh Chân Tri, dùng Chân Tri điểm xuyết Linh Tri, lấy Khí Hồng Mông chưa phân làm Đơn Mẫu, dùng Thần Cơ biến hóa Âm Dương làm hỏa hầu. Đó là Đạo vậy.

Có Văn Phanh, có Hỏa Luyện. Thủ Thành là Văn Phanh, Dã Chiến là Hỏa Hầu. Đáng Văn thời Văn, đáng Võ thời Võ, thế là Cát. Đáng Văn mà Võ, đáng Võ mà Văn, thế là Hung.

Văn Hỏa là Hồi Quang Phản Chiếu, chuyết thông hủy trí (giấu bớt thông minh), chuyên tâm dưỡng Chính Khí, như là thủ thành. Vũ hỏa là trừng phẫn, trật dục, khử Vọng tồn Thành, mãnh lực trừ Khách Khí, như Dã Chiến vậy.

Hiểu được Văn Võ, biết được Cát Hung. Hữu sự thì dùng Võ Hỏa, Vô Sự thì dùng Văn hỏa. Văn Hỏa, Võ luyện, Âm Khí tận và Dương Khí thuần. Chân Tri, Linh Tri tương hợp hóa thành Lương Tri, Lương Năng, Diệu Giác Bản Tính. Viên đà đà, quang chước chước, tịnh khỏa khỏa, xích sái sái, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông.

Cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động, hồn nhiên Thiên Lý, không còn nhân dục, y như là Linh Sa mãn đỉnh hồng vậy.

Sa mà đã linh, khí chất đã tận hóa, phi sắc, phi không, phi hữu, phi vô, toàn thuần là thanh dương chi khí, ăn vào khả dĩ khước bệnh Duyên niên, tiêu tai miễn nạn, hoàn phục bản tính, hư linh bất muội, chân không, diệu hữu, tạo hóa không thể hạn chế, Âm Dương không thể câu thúc, vạn vật bất năng thương, đều là do vậy.

Thế gian tuy có người biết thế nào là hung cát, nhưng lại không dám hạ quyết tâm, không dám dùng thần công là làm sao?

 ———————-

 Bài 36

(Hai bài nói về quái khí)

Bĩ Thái tài giao vạn vật doanh,

否 太 才 交 萬 物 盈

Truân, Mông nhị quái bẩm sinh thành.

屯 蒙 二 卦 稟 生 成

Thử trung đắc ý hưu cầu tượng,

此 中 得 意 休 求 象

Nhược cứu quần hào mạn dịch tình.

若 究 群 爻 謾 役 情

Tạm dịch:

Bĩ Thái giao nhau, vạn vật doanh,

Truân Mông hai quẻ tả sinh thành.

Ý khi đã được quên cầu tượng,

Khỏi cần vất vả phí công trình.

Kiền trên, Khôn dười là quẻ Bĩ. Thiên khí từ Trời giáng xuống, Địa khí từ dưới bốc lên, Âm Dương không giao nhau nên thành Bĩ.

Khôn trên, Kiền dưới là quẻ Thái. Địa khí từ trên giáng xuống, Thiên khí từ dưới bốc lên, Âm Dương tương giao nên gọi là Thái. Bĩ cực Thái lai, Âm Dương vừa giao, lúc ấy vạn vật phát sinh, tràn đầy vũ trụ vậy.

Truân là Khảm trên, Chấn dưới, trong nước có mây, Dương sinh trong Âm, cốt là tán Âm để sinh vật.

Mông là Cấn trên, Khảm dưới. Dưới núi có nước, cốt để dưỡng Dương thành vật. Bĩ Thái là vạn vật thông tắc. Truân Mông là vạn vật sinh thành.

Thông tắc, sinh thành đều là do Âm Dương vãng lai vận dụng. Âm Dương vãng lai, vạn vật thông tắc, sinh thành đều là tự nhiên nhi nhiên. không có chút chi là gượng ép.

Trong Đạo Tu Chân, nếu Cương Nhu chưa hợp, thì là Bĩ, cương nhu tương hợp thì là Thái, đáng Cương mà tiến Cương để tu chân, thì là Truân, đáng Nhu mà vận nhu để Dưỡng Chân, thì là Mông.

Biết thông, biết tắc, biết Tu biết Dưỡng. Cương Nhu tùy thời mà dùng, biến hóa tài thành thì 64 quẻ ờ trong tâm ta vậy.

Đại khái quải tượng cốt để gợi ý, đã biết ý phải quên tượng. Nếu không biết nghĩa quẻ mà cứ chấp tượng quẻ, tất muốn dùng Tam Dương để Hành Thái, thì cũng phải dùng Tam Âm để Ngự Bĩ. Sinh Tam Dương hành Thái, cái thuyết này còn dễ hiểu. Còn như sinh Tam Âm ngự Bĩ, thì cũng không là khó.

 Đến chuyện Thiên chi Tí thời, là nói Dương Khí ở quẻ Khảm phát động, gặp Tí thời giữ Thận, là quẻ Truân buổi sáng.

Lấy Thiên chi Ngọ thời, là Dương Khí hữu hạn nhi chỉ, gặp Ngọ thời giữ Tâm, đó là quẻ Mông buổi chiều.

Ôi dùng thế để nói Bĩ Thái, Truân Mông. 64 quẻ các hào có thể hành mà tận hợp. Nếu muốn cứu xét quần Hào mà tận hợp, thì chẳng phí công sức sao?

Tiên xưa nói: Bất tất thiên biên tầm Tí, Ngọ, Thân trung tự hữu nhất dương sinh.

Đó là minh chứng phải hành Quải Hào ra sao. Học giả nên suy cho kỹ.

*************** 

Bài 37

Quái trung thiết tượng bản nghi hình,

卦 中 設 象 本 儀 形

Đắc tượng vong ngôn ý tự minh.

得 象 忘 言 意 自 明

Cử thế mê đồ duy chấp tượng,

舉 世 迷 途 惟 執 象

Khước hành quái khí vọng phi thăng.

卻 行 卦 氣 望 飛 昇

Tạm dịch:

Từ quải vẽ nên tượng, ý, hình,

Biết tượng quên lời, ý tự minh.

Thế gian mê muội chuyên chấp tượng,

Mong hành quải khí với phi thăng.

Chu Dịch 64 quẻ, 384 hào cốt là để nói rõ ra hình tượng Âm Nghi, Dương Nghi, trung chính và Bất Trung Chính mà thôi. Khi đã biết ý Âm Dương Trung Chính và Bất Trung chính rồi, thì có thể điều hòa Âm Dương cho ứng hợp với quải tượng. Tại sao những người u mê trong đời, không tìm ra được ý mà cứ phải chấp tượng, chỉ muốn sáng thời làm theo quẻ Truân, chiều thời làm theo quẻ Mông, bắt đầu bằng Truân Mông, tận cùng bằng Ký Tế, Vị Tế, mà vận hành Quải Khí, hi vọng sẽ thành Đạo, sẽ bay lên trời. Có biết đâu là Cổ Tiên xưa dạy sáng Truân, chiều Mông, là dạy người rằng Dương sinh là Truân, Dương hãm là Mông. Dương sinh như là buổi sáng của một ngày, Dương hãm như là buổi tối, buổi hoàng hôn.

Khi Dương sinh, thì phải Tiến Dương Hoả để Thái Dương, thế là Chiêu Truân.

Khi Dương Hãm, thì phải Vận Âm Phù để Dưỡng Dương, thế là Mộ Truân.

Nói Ký Tế, Vị Tế, là dạy người biết rằng khi Âm Dương đã hợp thì gọi là Ký Tế. Âm Dương chưa hợp thì gọi là Vị Tế. Âm Dương đã hợp là Kim Đơn đã thành, không cần Dương Hỏa nữa.

Ký Tế phải đề phòng Bất Tế, phải dùng Âm Phù chi công. Âm Dương chưa hợp, Kim Đơn chưa kết, thì Âm Phù vô dụng, Vị Tế phải đi cho tới Chí Tế, và phải dùng Dương Hỏa. Đó là ý nghĩa dấu trong các quẻ, cứ theo ý nghĩa của 4 quẻ đó (Truân Mông, Ký Tế, Vị Tế) mà suy. Còn lại 60 quẻ kia thì cũng chỉ là biến hóa của Âm Dương. Cho nên nói Đắc tượng vong ngôn ý tự minh.

Nếu hiểu được ý nghĩa của quải tượng, thì thiên quan (cửa Trời) trong tay, địa trục trong tâm, cứ thế mà đi, sẽ thấy đâu đâu cũng là Đạo, không nệ quải tượng mà vẫn hợp với quải tượng, ôi Kim Hà Mô (Con Ếch, con Cóc, Âm), Ngọc Lão Nha (Con Quạ Lửa, Dương), nhận đắc chân đích thị tác gia.

 ———————–

Bài 38

 (Bàn về Canh Giáp)

Thiên địa doanh hư tự hữu thì,

天 地 盈 虛 自 有 時

Thẩm năng tiêu tức thủy tri ky.

審 能 消 息 始 知 機

Do lai Canh Giáp thân minh lệnh,

由 來 庚 甲 申 明 令

Sát tận Tam Thi Đạo khả kỳ.

殺 盡 三 尸 道 可 期

Tạm dịch:

Trời đất đầy vơi có thời kỳ,

Hiểu lẽ doanh hư, biết cơ vi.

Tùy thuận Giáp Canh ra mệnh lệnh,

Quần Âm tiêu sạch, Đạo khả kỳ.

Đạo Trời là Đầy Vơi. Đầy rồi sẽ Hư, Hư rồi sẽ Đầy, Đầy Vơi có lúc. Người tu Đạo nếu biết xét được nhẽ Đầy Vơi, nếu có thể tiêu được Âm, sinh được Dương, thì mới nói được là biết guồng máy của Doanh Hư, Tiêu Tức vậy.

Vả khắc tiêu được Âm, đó là guồng máy của Hư. Sinh tức được Dương là là guồng máy của Doanh. Tiêu (Giảm), Tức (Tăng), vẫn không ngoài Tình của Chân Tri, và Tính của Linh Tri.

Chân Tri chi Tình thì Cương, thuộc Canh Kim, Linh Tri chi Tính Nhu, thuộc Giáp Mộc.

Cương cốt để phòng Ngoại, để chế phục khách khí. Nhu cốt để Xử nội, để Tĩnh Dưỡng Thiên Chân. Dùng cả Cương Nhu, nội ngoại kiêm tu, thế là Canh Giáp thân minh lệnh. Lệnh mà Minh, thì cương Nhu đắc nghi, tiêu tức đúng thời, Chính khí tăng mà Khách khí hóa, nội niệm không ra ngoài, ngoại vật không vào nổi.

Không Nhãn Nhĩ Tị Thiệt Thân Ý, không Sắc Thanh Hương Vị Súc Pháp, tĩnh khỏa khỏa, Xich sái sái. Thế là Sát tận Tam Thi. Tam Thi sát tận, quần Âm sẽ tiêu, Đại Đạo có hi vọng thành. Bài thơ này chú trọng nhất là câu: Thẩm năng tiêu tức thủy tri cơ. Thẩm là suy xét tường tận, nhỏ mấy cũng vào, công phu ngày một cao, mới thấy Chân Lý. Tâm lĩnh hội được, sẽ truyền ra tay, mới có thể Tăng Giảm, mới biết được máy móc Tiêu Tức. Biết Tăng Giảm là biết máy móc. Không biết tăng giảm là không biết máy móc. Cái lý này mà chưa biết được thấu triệt, thì làm sao có thể Thân minh lệnh nhi sát Tam Thi, vì cái học Chính Tâm, Thành Ý là cốt tại Cách Vật Trí Tri vậy.

*************** 

 Bài 39

(Bàn về Huyền Tẫn hai bài)

Yếu đắc Cốc Thần thường bất tử,

要 得 谷 神 常 不 死

Tu bằng Huyền Tẫn lập căn ki.

須 憑 玄 牝 立 根 基

Chân tinh ký phản Hoàng Kim thất,

真 精 既 返 黃 金 室

Nhất khỏa linh quang vĩnh bất ly.

一 顆 靈 光 永 不 離

Tạm dịch:

Muốn được Cốc Thần thường Bất Tử,

Huyền Tẫn phải lo lập căn ki.

Chân tinh về được Huỳnh Kim thất,

Một hạt Minh Châu chẳng hề ly.

Cốc Thần là tiên thiên hư vô nhất khí, cũng còn gọi là Thánh Thai. Khí này phi sắc, phi không, tức sắc, tức không, nó ở trong yểu minh, hoảng hốt, nhìn không thấy, nghe không ra, sờ không được. Đó là giới hạn giữa Đạo Tâm và Nhân Tâm, căn cơ của Chân Tri, Linh Tri, gốc rễ của Cương Tình, Nhu Tính. Nó sinh Thiên, sinh Địa, sinh Nhân, nhà Nho gọi là Thái Cực, hay Chí Thiện, hay Chí Thành. Đạo Phật gọi là Viên Giác, hay Pháp Thân, hay Xá lợi. Đạo gia gọi là Kim Đan, hay Thánh Thai, hay Cốc Thần. Thật ra chỉ là Lương Tri, Lương Năng trong con người, là thần Hư Linh trong Không Cốc vậy.

Cái Cốc Thần này khi sa vào Hậu Thiên, khi Âm Dương phân chia, thì cái Giả lên cầm quyền, cái Chân thoái vị, và Cốc Thần bị chôn vùi như chết vậy.

Muốn tu Kim Đơn, thì phải làm sống lại Cốc Thần đó. Muốn cho Cốc Thần sống lại, thì phải điều hòa Âm Dương. Âm Dương bất hòa thì Cốc Thần bất kết.

Huyền là Dương là Tình Cương Kiện vậy. Tẫn là Âm là Tính Nhu Thuận vậy.

Có Cương, có Nhu thì Cốc Thần sẽ trường sinh, và cái căn cơ bất tử được lập vậy. Vả Cốc Thần chính là Cương Nhu, Trung Chính, là khí của Lưỡng Huyền giao hợp mà thành.

Lưỡng huyền giao hợp, hoảng hốt Yểu Minh, ở trong có vật, đó là Chân Nhất chi tinh, và cũng là biệt danh của Cốc Thần. Khi chưa được tôi luyện thì là Chân Tinh. Khi đã được đoàn luyện, thì sẽ ngưng kết không tan, nên gọi là Cốc Thần. Chân Tinh ký trụ Hoàng Nha thất, thì Tinh Nhất qui trung, và Cốc Thần ngưng kết vậy.

Cốc Thần ngưng kết thì Đạo Tâm thường tồn, và Nhân Tâm thuần thuận, Chân Tri, Linh Tri hợp nhất, Lương Tri, Lương Năng sẽ hồn nhiên Thiên Lý, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động, thường ứng thường tĩnh, Nhất Khỏa Linh Quang vĩnh bất ly, thế là Cốc thần trường bất tử.

Cốc thần bất tử thì như Tiên Ông nói: Nhất lạp Kim Đơn thôn nhập phúc, thủy tri ngã mệnh bất do Thiên. Cũng là một vật, bất quá là nói đã thành hay chưa thành mà thôi, chứ không phải là có hai ba loại. Học giả nên biết.

 ——————-

Bài 40

Huyền tẫn chi môn thế hãn tri,

玄 牝 之 門 世 罕 知

Hưu tương khẩu tỵ vọng thi vi,

休 將 口 鼻 妄 施 為

Nhiêu quân thổ nạp kinh đa tải,[17]

饒 君 吐 納 經 多 載

Tranh đắc Kim Ô nạch Thố Nhi.

爭 得 金 烏 搦 兔 兒

Tạm dịch:

Huyền tẫn chi môn ít kẻ hay,

Phải đâu mũi miệng hít thở này.

Cho dù hít thở nhiều năm tháng,

Ô,Thố sao đem được về đây?

Lão tử nói: Cốc thần bất tử, thị vị Huyền Tẩn. Huyền tẫn chi môn thị vị Thiên Địa căn. Huyền là Kiền Dương, có đức Cương Kiện, Tẫn là Khôn Âm, có đức Nhu Thuận

Dương chủ động, Âm chủ tĩnh. Động Tĩnh của Cốc Thần, là Cửa Huyền Tẫn vậy.

Cửa ấy, sinh Thiên, sinh Địa, sinh Nhân Vật. Chí vô nhưng chứa chí hữu, chí Hư nhưng hàm chí bảo, ở nơi con người đó là chỗ mà Tứ Đại không vươn tới. Nó là chỗ chính trung của Trời Đất. Trong đó có chứa một huyệt, mở đóng có thời, động tĩnh tự nhiên, vốn không có chỗ nhất định, lại không hình tượng, lại còn gọi là Huyền Quan Khiếu. Huyền Quan là chí hư chí linh, không phải Hữu cũng chẳng phải Vô, còn gọi là Chúng Diệu chi môn. Chúng Diệu là hàm cụ mọi lý lẽ, đầy đủ mọi đức hạnh.

Nếu gọi Miệng mũi là Huyền Tẫn, để thổ nạp thanh trọc khí, thì làm sao đem được Kim Ô (Dương), Ngọc Thố (Âm) về Hoàng Đạo, và ngưng kết chúng lại thành Linh Đơn được.

Kim Ô là Tượng Mặt Trời, trong Dương có Âm. Trong con người là đức Nhu Thuận, Trung Chính. Đó chính là Linh Tính của Linh Tri.

Ngọc Thố là Tượng Mặt Trăng, trong Âm có Dương. Trong con người là đức Cương Kiện Trung Chính. Đó chính là Chân Tình của Chân Tri.

Dương Huyền, Âm Tẫn, là Khí của Lưỡng Huyền. Cốc Thần là Khí của Lưỡng Huyền, ngưng kết nhi thành. Không biết Huyền Tẩn, làm sao biết được Ô Thố. Không biết Ô Thố làm sao biết được Cốc Thần trường bất tử.

Ôi! cửa ấy là cửa gì? thuận nó mà đi ra là đi vào cõi chết, nghịch nó mà đi vào là vào cõi sống. Vãng vãng giáo quân tầm bất trước, Huyền Tẫn há dễ biết sao?

*************** 

Bài 41

(bàn về Tính Tình)

Dị danh, đồng xuất thiểu nhân tri,

異 名 同 出 少 人 知

Lưỡng giả Huyền Huyền thị yếu ki.

兩 者 玄 玄 是 要 機

Bảo mệnh toàn hình minh tổn ích,

保 命 全 形 明 損 益

Tử Kim Đơn dược tối linh kỳ.

紫 金 丹 藥 最 靈 奇

Tạm dịch:

Huyền Tẫn xưa nay ít kẻ hay,

Sinh xuất Cốc Thần lý đã bày.

Bảo mệnh toàn hình, minh tổn ích,

Sinh xuất kim đơn, thật mới tài.

Đạo Kim Đơn chỉ là Nhất Cương, Nhất Nhu. Đó là hai thứ Dược Vật, không có chi ngoài. Cương thuộc ư Chân Tri chi Tình, Nhu thuộc ư Linh Tri chi Tính. Một Tính, một Tình, Hai thứ đó tuy khác tên nhau, nhưng cùng sinh ra từ Tiên Thiên, Hư Vô Chân Nhất chi Khí, tức như thơ trước gọi là Cốc Thần. Tính Tình tức như thơ trên gọi là Huyền Tẫn. Hai chữ Huyền Tẫn, thật là Huyền chi hựu huyền, là Cốc Thần bất tử chi cơ. Vả Tiên Thiên Tự Nhiên chi đạo, thì Cốc Thần sinh ra Huyền Tẫn. Hậu Thiên hoàn phản chi đạo, thì Huyền Tẫn rồi mới có Cốc Thần.

Huyền Tẫn không giao, thì Cốc Thần không kết. Cái yếu cơ của Huyền Tẫn chính là để kết thành Cốc Thần. Huyền Tẫn lập, Cốc Thần kết, có thể Bảo Mệnh, có thể Toàn Hình, lại còn cho biết Tiến Dương là Ích, thoái Âm là Tổn. Ích Dương đến cùng cực, không còn Ích thêm chi được, Tổn Âm đến cùng cực, không còn Tổn chi được. Thế là Âm Tận Dương Thuần, là Cốc Thần trường sinh, hỗn thành một Khí, không còn chút cặn bã. Viên đà đà, quang chước chước (tròn vành vạnh, sáng choang choang), tịnh khỏa khỏa, Xích sái sái (trong văn vắt, đỏ hây hây), Tạo Hóa không thể câu thúc, vạn vật không thể thương tổn, như Hỏa Hầu luyện thành Tử Kim Đơn dược. khởi tử hồi sinh, thật là Tối Linh, Tối Kỳ vậy.

 ————————–

Bài 42

(bàn về Hữu Vi)

Thủy ư Hữu Tác nhân nan kiến,

始 於 有 作 人 難 見

Cập chí Vô Vi, chúng thủy tri,

及 至 無 為 眾 始 知

Đãn kiến Vô Vi vi yếu diệu,

但 見 無 為 為 要 妙

Khởi tri Hữu Tác thủy căn ki.

豈 知 有 作 是 根 基

Tạm dịch:

Đầu tu Hữu Tác, người không biết,

Vào tới Vô Vi chúng mới hay.

Chỉ biết Vô Vi là yếu diệu,

Biết đâu Hữu Tác chính căn ki.

Các tiên xưa nói: Tính Mệnh tất tu song tu, công phu hoàn yếu lưỡng đoạn.

Vả Đạo Kim Đơn là vừa Tu Mệnh, vừa Tu Tính. Tu Mệnh là tu Hữu Tác, Tu Tính là tu Vô Vi. Đạo Hữu Tác là thuật Diên Mệnh. Đạo Vô Vi là thuật Dĩ Đạo Toàn Hình.

Mới đầu đi vào Hữu Tác. Hữu tác là để Tạo Mệnh. Đạo Tạo Mệnh là Pháp Vận. Ăn trộm Thủy Khí Hồng Mông còn chưa chia, níu lấy khu cơ của Thiên Địa tạo hóa, phản lại tiết khẩu của 24 khí, phục hồi lại 72 khí. Thiên Địa không biết, quỉ thần không hay, thi qui bói không ra. Thiên địa, quỉ thần còn không biết, thì người làm sao mà thấy được.

Cuối cùng là Vô Vi. Dùng Vô Vi để Tu Tính. Đạo Vô Vi là Bão Nguyên Thủ Nhất, Vạn vật giai không, như gà ấp trứng, như trai ngậm ngọc. Chí thành tiền tri, Tuệ Tâm khai mở, thanh nhập tâm thông, biết trước cát hung, dự hiểu được họa phúc, ai mà không biết. Nhưng con người chỉ biết Vô Vi là đạo cần thiết, chứ không biết Hữu Tác chính là căn cơ.

Không biết Hữu Tác, mà chỉ biết Vô Vi, thì chẳng những không tu được Mệnh, mà cũng không tu được Tính. Nếu có tu luyện thì chẳng qua là tu Tính khí Chất Hậu Thiên mà thôi, làm sao biết tu Tính Tiên Thiên Căn Bản được.

Tính Căn Bản là Thiên Mệnh chi Tính vậy.

Xưa nay Tính Mệnh vốn một nhà, không hề có chia hai. Nhân vì giao xuống Hậu Thiên, Âm Dương tương ly, nên Một thành Hai, mà thành ra Tính Mệnh hai đàng vậy.

Tính Mệnh phân chia, thì Tính không giúp được Mệnh, Mệnh không giúp được Tính. Mệnh bị Vật bên ngoài chiếm đoạt, không thể tự chủ. Tính cũng vì vậy mà sinh loạn.

Tính loạn, Mệnh dao, Tà Chính hỗn tạp, Lý Dục trộn lộn. Cái Giả cầm quyền, cái Chân thoái vị. Ngày tháng qua đi, Âm Khí làm Dương tiêu diệt, và Tính Mệnh bị khuynh táng vậy.

Cho nên Kim Đơn chi đạo, tức là mới đầu từ Hữu Vi ở trong Hậu Thiên, trở về cái Nguyên Lai Mệnh Bảo. Khi Mệnh Bảo đã về tới tay, thì ta là Chủ Tể, Tạo Hóa không lay chuyển được. Từ đó hành Bão Nguyên Thủ Nhất, Vô Vi chi Đạo, để chu toàn Chân Không Tính Mệnh, siêu xuất Tối Thượng Nhất Thừa chi Diệu Đạo. Những kẻ tu Ngoan Không Tịch Diệt, chỉ biết Vô Vi mà không biết Hữu tác, là tại sao?

*************** 

Bài 43

(bàn về Thư Hùng)

Hắc trung hữu bạch vi Đơn mẫu,

黑 中 有 白 為 丹 母

Hùng lý hoài Thư thị Thánh Thai.

雄 里 懷 雌 是 聖 胎

Thái Ất tại lô nghi thận thủ,

太 乙 在 爐 宜 慎 守

Tam điền tụ bảo ứng Tam Thai.

三 田 聚 寶 應 三 台

Tạm dịch:

Chân Tri chính thực là Đơn mẫu, (Đạo tâm)

Hùng lý hoài Thư ấy Thánh Thai. (Nhân Tâm)

Thái Ất (Kim Đơn) trong lò nên bảo trọng

Tam Điền hợp nhất (Hư), tận hòa hài.

Hắc trung hữu bạch là Chân Tri sở phát của Đạo Tâm, là Đạo Cương Kiện Trung Chính, cho nên gọi Đơn Mẫu. Hùng lý hoài Thư là Linh Tri của Nhân Tâm Bản Lai, là Đức của Nhu Thuận Trung Chính, cho nên gọi là Thánh Thai.

Kiện Thuận hợp nhất, Cương Nhu đồng Khí. Nhân Tâm cũng hóa thành Đạo Tâm, Linh Tri cũng qui về Chân Tri. Thế gọi là Thái Ất hợp Chân Khí. Thái Ất chính là Âm Dương hỗn hợp, là Thần Tinh Nhất. Cũng là biệt danh của Kim Đơn.

Đem cái Thái Cực Chân Khí đó mà cho vào lò Tạo Hóa, mà ôn dưỡng nó, giữ gìn nó cẩn thận, thì sẽ được Tinh toàn, Khí toàn, Thần toàn. Tam Điền tụ Bảo, như Tam Thai phụ Cực, và Tạo Hóa sẽ ở trong tay ta. Tam Điền không phải là Quan Nguyên, Huỳnh Đình, Nê Hoàn, cũng không phải là Đơn Điền, Giáng Cung, Thiên Cốc, cũng không phải là Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm, mà chính là nơi sinh ra Tiên Thiên Tinh Khí Thần tam phẩm đại dược,nó vô hình vô tượng, lại không có nơi chốn. Vì nó là nơi sinh ra Tinh Khí Thần nên gọi là Điền. Nói tách ra thành Tinh, Khí, Thần, nên gọi là Tam Điền. Thật ra Tam Điền chỉ là Nhất Điền, Tam Bảo chỉ là Nhất Bảo. Vì có luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần hóa Hư, ba tầng công phu, nên gọi tách ra thành Tam Điền. Nếu khi đã luyện tới mức Thần hóa Hư, thì chỉ còn có Hư mà Tinh Khí Thần cũng qui về vô hình tích. Như vậy thì làm gì có chuyện Tam Điền?

————————–

Bài 44

(bàn về Hữu Vô)

Hoảng hốt chi trung tầm hữu tượng,

恍 惚 之 中 尋 有 象

Yểu minh chi nội mịch Chân Tinh,

杳 冥 之 內 覓 真 精

Hữu Vô tòng thử tự tương nhập,

有 無 從 此 自 相 入

Vị kiến như hà tưởng đắc thành.

未 見 如 何 想 得 成

Tạm dịch:

Linh tri phải tìm trong Hoảng Hốt.

Chân Tri phải thấy, tự Yểu Minh

Hữu Vô từ đó liền tương hợp.

Nếu không biết vậy, luyện sao thành?

Hoảng Hốt là phi sắc, phi không, là tượng của sự bất định. Yểu Minh là Chí Tịch, Chí Tĩnh, là nơi Nhìn không ra. Hoảng Hốt trung hữu tượng là Linh Tri, Yểu Minh nội hữu tinh là Chân Tri. Linh Tri thì Ngoại Dương nội Âm, là Hữu trung chi Vô. Chân Tri là Ngoại Âm Nội Dương, là Vô trung chi Hữu.

Người tu đạo muốn thành Kim Đơn, thì phải tìm Linh Tri trong Hoảng Hốt, tìm Chân Tri trong Yểu Minh. Nếu mà Tâm Hội, Thần Ngộ, nhận ra chân thực thì gọi là Dĩ Kiến.

Nếu mà đã thấy, thì phải lấy Chân Tri chế Linh Tri, lấy Linh Tri dưỡng Chân Tri, như vậy thì Hữu Vô sẽ quyến luyến nhau, và sẽ cùng vào mà giao cảm với nhau, và Kim Đơn sẽ lập thành. Nếu không biết Hoảng Hốt trung tượng, Yểu Minh nội Tinh, thì chưa biết Kim Đơn Dược Liệu màu sắc ra sao, thế mà vọng tưởng kết đơn, thì làm sao mà thành được?

*************** 

Bài 45

(bàn về Phục Đơn, hai bài)

Tứ Tượng hội thời toàn thể tựu,

四 象 會 時 全 體 就

Ngũ hành toàn xứ Tử Kim[18] Minh.

五 行 全 處 紫 金 明

Thoát Thai nhập khẩu, thân thông thánh,

脫 胎 入 口 身 通 聖

Vô hạn Long Thần tận thất kinh.

無 限 龍 神 盡 失 驚

Tạm dịch:

Tứ Tượng hợp rồi tòan thể hiện,

Ngũ hành hợp nhất, tức Đan Thành

Kim đơn nhập khẩu Thân thông Thánh,

Vô hạn Long Thần cũng khiếp kinh.

Đạo Kim Đơn chính là Toản Thốc Ngũ Hành, Hòa Hợp Tứ tượng. Nếu Tứ Tượng hợp thì Tính Tình Tinh Thần cũng tương hợp, như Huyền Thể đă thành, nên có thể Doãn Chấp Quyết Trung, và dùng Thiên Chân Hỏa Hầu để đoàn luyện. Thế là Ngũ Hành toàn. Ngũ hành đã toàn thì Nhân, Nghĩa, Lễ Trí qui về Nhất Tín. Tính Tình Tinh Thần đều hóa thành Nhất Khí, Kiện Thuận hỗn hợp, Cương Nhu không còn dấu vết, Chân Tri, Linh Tri cũng biến thành Lương Tri, Lương Năng, Chí Thiện vô ác, hồn nhiên Thiên Lý, viên dung vô ngại, Hư Linh Bất Muội, cụ chúng Lý nhi ứng vạn sự, như Hoàng Kim luyện thành Tử Kim, sáng chói ra ngoài. Nếu nuốt được vào bụng thì hóa hết được Âm chất Hậu Thiên, là lộ ra Tiên Thiên Pháp Thân. Nhập được vào thánh nhân chi cơ, Mệnh ta là do ta, không do Trời, Long Thần làm sao mà không kinh sợ. Nhập khẩu là Đốn Ngộ, chứ không phải là ăn uống. Tiên Thiên khí khi đã luyện thành thục thì hốt nhiên tự Tiệm biến thành Ngộ, do thông sáng mà Thành tựu vậy. Y như Đan Dược khi đã vào mồm, thì trăm bệnh đều tiêu, cho nên con người có thể thông thánh. Học giả phải biết ý ngoài lời, chú đừng nệ văn chấp tượng, nếu thấy nói Nhập khẩu mà tưởng là ăn uống thì hãy nên suy rằng Tiên Thiên chi Khí là cái gì vô hình vô tượng, thì nuốt cái gì, ăn cái gì, như thế là có thể hiểu rồi vậy.

——————–

Bài 46

Hoa Trì yến bãi nguyệt trừng huy,

華 池 宴 罷 月 澄 輝

Khóa cá Kim Long phỏng Tử Vi,

跨 箇 金 龍 訪 紫 微

Tòng thử chúng tiên tương kiến hậu,

從 此 眾 仙 相 見 後

Hải triều[19] lăng cốc nhiệm thiên di.

海 潮 陵 谷 任 遷 移

Tạm dịch:

Hào Dương trong Khảm đã lấy rồi

Thay chỗ hào Âm trong Ly coi.

Từ đó quần tiên đà gặp gỡ,

Mặc cho hang núi cứ biến rời.

Hoa trì yến bãi là lấy hào Dương trong quẻ Khảm, cho vào trong lò Tạo Hóa, làm cho ổn định Đạo Tâm, thế cũng gọi là Thực Kỳ Phúc. Nguyệt trừng Huy là Đạo Tâm thường tồn, Chân Tri Tuệ Quang minh chiếu, không gì che lấp được nó và dốt trá được nó.Khóa cá kim Long là rút Nhất Dương từ Khảm trung Đạo Tâm, Chân Tri, mà vá vào Ly trung Linh Tri nhất Âm, Linh Tri cũng hóa thành Chân Tri. Ly trở thành Kiền, và Bản lai diện mục toàn hiện, hỗn nhiên Thiên Lý, tròn vành vạnh, sáng chói lói, thuần Dương vô Âm vậy. Phỏng Tử Vi là Tử Vi Đại Đế, đó là Tạo Hóa chủ tể, là khu nữu của quần tinh (Trung Tâm Vũ Trụ).

Người tu Đạo mà trở lại được thành Kiền thể, thì Chủ Tể là ở nơi ta, cửa Trời là ở trong tay ta, Địa trục là Tâm ta. Tạo Hóa không câu thúc được ta, vạn vật không dời đổi được ta. Phỏng Tử Vi và làm môn đệ của Trời. Công thành ở đời, tên ghi Thượng giới. Sau khi đã gặp quần tiên, thì dù thủy triều có lai láng trong biển, hang núi có đổi dời, thì Pháp Thân ta cũng vẫn vĩnh cửu và sẽ không hư hoại.

(Như vậy Tu Trì là biến mình thành Trời.)

*************** 

Bài 47

(Bàn về Đơn tự nội kết)

Yếu tri Kim Dịch Hoàn Đơn pháp,

要 知 金 液 還 丹 法

Tu hướng gia viên hạ chủng tài.

須 向 家 園 下 種 栽

Bất giả Suy, Hư tịnh trước lực,

不 假 吹 噓 并 著 力

Tự nhiên đơn thục thoát Chân Thai.

自 然 丹 熟 脫 真 胎

Tạm dịch:

Muốn hay Kim Dịch Hoàn Đơn pháp,

Nhà ta ta kiếm, chẳng cầu ngoài.

Không cần thổi lửa, không lò bễ,

Tự nhiên Đơn thục, thoát Thánh Thai.

Phép Luyện Đơn có Đại Dược gần ta, không xa, công phu giản dị không phiền toái, trong nhà ta đã sẵn Dược Vật, lúc nào cũng hái lấy được, không cần chi Lô Đỉnh bên ngoài, không cần công phu thổi lửa mà sẽ được tự nhiên thoát hóa.

Đơn là Tiên Thiên Hư Vô Chân Nhất chi Khí, là Linh Căn khi còn hỗn độn sơ phân, là Tổ Khí của sinh vật, chính là Chân Không, phát ra thì là Diệu Hữu, đem dùng thì là Đạo Tâm, đem tu dưỡng thi là Cốc Thần, Chí Vô nhưng hàm Chí Hữu, Chí Hư nhưng hàm Chí Thực, trong có Khí của Ngũ Hành, nhưng lại không có Chất của Ngũ Hành, ẩn trong Ngũ Hành, nhưng không rơi vào Ngũ Hành. Làm Thánh, làm Hiền, làm Tiên, làm Phật, đều là do nó. Cái đó không phải là vật chi lạ, mà chính là Cái gì không sắc, không hình trong thân ta, nó là cái gì Ngay Lành nơi ta, nhưng vì lạc xuống Hậu Thiên, bị Thức Thần dụng sự, bị mai một nên ta không thấy. Nếu được Chân Sư điểm phá, thì mới biết đó là cái gì vốn có trong nhà mình, trong vườn mình. Không do bên ngoài mà được. Giồng xong là mọc ngay, từ nhỏ thành lớn, tự nhiên sẽ thành thục.

Tiên Ông viết: Tu hướng gia viên hạ chủng tài. Bàng môn tả đạo luôn tìm cầu những gì ngoài thân, hãy nên hồi đầu, tỉnh ngộ lại.

———————-

Bài 48

(nói Dược từ ngoài tới)

Hưu thi xảo ngụy vi công lực,

休 施 巧 偽 為 功 力

Nhận thủ tha gia bất tử phương.

認 取 他 家 不 死 方

Hồ nội tuyền thiêm diên mệnh tửu,

壺 內 旋 添 延 命 酒

Đỉnh trung thu thủ phản hồn tương.

鼎 中 收 取 返 魂 漿

Tạm dịch:

Không dùng công lực chi sảo ngụy,

Nhất Khí tiên thiên bất tử phương

Tăng Đạo Tâm ta để Cố Mệnh

Hư Nhân Tâm ta dưỡng Chân tri.

Thơ trên viết: Gia viên hạ chủng tài, là sợ người chấp vào nhất thân mà tu, nên thơ này khẩn tiếp viết: Hưu thi sảo ngụy vi công lực, Nhận thủ tha gia bất tử phương.

Nói: Gia viên hạ chủng tài là nói tới Kim Đơn dược vật, xử thánh bất tăng, xử phàm bất giảm, ai ai cũng có đủ, đều tròn vành vạnh, không cầu bên ngoài. Tha viên bất tử phương, là nói về Tiên Thiên chi khí, giao xuống Hậu Thiên, bị Thức Thần dụng sự, nên Dương bị Âm hãm, đó là chính vật nhà ta, nhưng bị nhà khác chiếm đoạt. Nếu muốn phản bản hoàn nguyên, thì phải dùng phép truy nhiếp, thì Tiên Thiên Chân Dương, trước đã mất nay lại trở về. Đã trở về thì lại là vật của nhà ta. Vì Vị Lai (Chưa về) thì thuộc người. Dĩ lai (đã về) là thuộc ta, vì có lúc Vị Lai, Dĩ Lai, thì là có phân biệt.

Cho nên khi Vị Lai (Chưa Về), thì phải thực tế, tiệm thái, tiệm luyện, toàn thiêm toàn thu, đề làm công phu Hữu Vi, tuy gọi là Hữu Vi, nhưng thực là Vô Vi. Gọi là Hữu Vi chính là Trộm Âm Dương, Đoạt Tạo Hóa, không phải là thuật sảo ngụy, nhưng chính là vận dụng tự nhiên. Toàn thiêm Diên Mệnh tửu là tăng Đạo Tâm Chân Tri, để Cố Mệnh. Thu thủ hoàn hồn tương là Hư Nhân Tâm chi Linh Tri, để dưỡng Tính, Diên Mệnh tửu là Kim Chấp vậy. Phản hồn tương là Mộc Dịch vậy. Thiêm kỳ Kim, thu kỳ Kim Mộc tương tính. Tính Tình hợp nhất, Chân Tri, Linh Tri tương kết. Đơn Nguyên có tượng. Tòan Thiêm thu thủ bốn chữ, rất là có ý nghĩa. Vì Âm Dương tán hoán đã lâu, nếu không tòan thiêm thu thủ, tiệm thứ mà tiến, thì Kim Mộc không thể hợp nhất. Tính Tình không thể tương hợp. Duy Toàn Thiêm Thu Thủ, Nhật Kiền, Tịch Dịch, vật vong vật trợ, nhật cửu công thâm, Kim Mộc tự nhiên hòa hợp, Tính Tình tự nhiên hòa hài, mới có thể Diên Mệnh, phản Hồn, mà nhập vào trường sinh bất tử chi địa.

*************** 

Bài 49

(bàn về Nội Ngoại nhị đơn)

Tuyết Sơn[20] nhất vị hảo Đề Hồ,[21]

雪 山 一 味 好 醍 醐

Khuynh nhập Đông Dương[22] tạo hóa lô.[23]

傾 入 東 陽 造 化 爐

Nhược quá Côn Lôn[24] Tây Bắc khứ,

若 過 崑 崙 西 北 去

Trương Khiên[25] thủy đắc kiến Ma Cô.[26]

張 騫 始 得 見 麻 姑

Tạm dịch:

Luyện Đơn chính thật luyện Ngũ Hành,

Ngũ Hành hợp nhất, sẽ Tinh Anh,

Âm Dương Tinh Túy cần hòa hợp,

Hòa hợp Âm Dương ắt Đơn thành.

Tuyết Sơn ở phía Tây, thuộc Kim, Tượng là Nguyên Tình. Đề Hồ là Nước, Tượng Nguyên Tinh. Đông Dương là Mộc, Tượng là Nguyên Tính. Tạo Hóa Lô là Hỏa, Tượng là Nguyên Thần. Đem Kim Thủy của Nguyên Tình, Nguyên Tinh cho vào Mộc Hỏa của Nguyên Tính, Nguyên Tình để luyện Kim Thủy. Dùng Kim Thủy chế Mộc Hỏa. Hình để thành Đức, Đức để toàn Hình. Hình Đức hai mặt đều dùng, thì Kim Mộc sẽ kết đôi, và Thủy Hỏa sẽ tương tế. Tứ tượng hòa hợp và sẽ có Hoàn đơn. Đó là cách Pháp Tượng Ngoại Đơn.

Côn Lôn sơn ở phía Tây Bắc, và tổ mạch của muôn núi. Nó sánh được với Tiên Thiên Chân Nhất chi khí, là tổ khí của sinh vật. Tây Bắc thuộc Kiền, đó là chỗ cao nhất. Cao là Dương, Trương Khiên là Dương, Ma Cô là Âm. Khi Hoàn Đơn đã kết, sẽ hóa thành Chân Nhất chi khí, từ nhỏ thành lớn, Dương khí sung túc, và Đại Dược phát sinh. Nó Hồn Nhiên Thiên Lý, Cương Kiện trung chính. Sinh ra một viên Chí Dương chi Đơn. Nhờ Kim Đơn này mà toàn thể Âm Khí của Hậu Thiên sẽ tiêu đi như mèo bắt chuột. Giả Âm hóa mà Chân Âm hiện. Âm Dương hỗn hợp với nhau và kết thành Thánh Thai. Vì thế nói: Nhược quá Côn Lôn Tây Bắc khứ, Trương Khiên thủy đắc kiến Ma Cô. Ba chữ Thủy đắc Kiến nói lên các tầng lớp của công phu tu luyện. Khi mà Hoàn Đơn này chưa lên tới Dương Cực, thì Trương Khiên chưa thấy được Ma Cô. Khi mà Hoàn Đơn đã luyện tới Dương Cực, thì Trương Khiên mới bắt đầu gặp được Ma Cô. Khi Chân Âm, Chân Dương đã tương kiến, thì Đạo Tâm, Nhân Tâm đều hóa thành Lương Tâm. Chân Tri, Linh Tri cũng tận biến thành Lương Tri (thế là Người biến thành Trời). Một hạt Thử Mễ chi Châu, sẽ lơ lửng giữa Hư Vô, và phi sắc, phi không, sẽ soi tỏ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, không có chi che đậy. Đó chính là pháp tượng Nội Đơn. Ngoại đơn là cái gì đã mất lại được trở lại. Từ Ngoài trở lại vào trong. Thế là Hoàn Đơn. Nội Đơn là cái gì đã được hoàn trả lại, thì nay đoàn luyện cho hết Âm Khí. Từ trong trở thành Chân Bạch. Đó là Đại Đơn. Ngoại Đơn thành, Nội Đơn tựu, thế là Công Thành, Danh Toại, Đạo đi vào Vô hà Hữu chi hương vậy.

 ————————-

Bài 50

(bàn về Dương Tinh)

Bất thức Dương Tinh cập Chủ, Tân,

不 識 陽 精 及 主 賓

Tri tha na cá thị thân sơ.

知 他 那 箇 是 親 疏

Phòng trung không bế Vĩ Lư Huyệt,

房 中 空 閉 尾 閭 穴

Ngộ sát Diêm Phù đa thiểu nhân.

誤 殺 閻 浮 多 少 人

Tạm dịch:

Không biết Dương Tinh với Chủ Tân,

Thân Sơ không rõ, mới sai lầm.

Đóng khóa Vĩ Lư, mong thành Đạo,

Nhân thế bao người đã hủy thân.

Duyên Đốc Tử nói: Nhật Điểm Dương Tinh bí tại Hình Sơn, bất tại lưỡng Thận nhi tại hồ Huyền Tẫn chi Nhất khiếu.

Gọi là Dương Tinh chính là cái gì Chí Dương Chí Tinh, không có chút chi là Khí Âm trọc. Nó là Bản Lai Cương Kiện Trung Chính, thuần túy chí tinh. Giữ bên trong thì là Chân Không, phát ra ngoài thì là Diệu Hữu. Nó chính là Lương Tâm mà ta vốn có. Cũng còn gọi là Đạo Tâm, nó không phải là cái gì Chí Trọc, Chí Âm của Hậu Thiên.

Dương Tinh trong ta chính là Chủ Tể tạo hóa, nó trừ khử hết tà ngụy. Cổ nhân gọi nó là Chân Nhất chi tinh, hay Chân Nhất chi thủy, hay Chân Nhất chi khí. Kỳ thật chỉ là Đạo Tâm Dương Tinh chi vật vậy.

Dương tinh là Tiên Thiên Địa sở sinh, là Chủ. Âm Tinh là Hậu Thiên địa sở sinh, là Khách. Chủ với ta thì tương thân, Khách với ta thì tương sơ (xa lạ).

Nhận nhầm Âm Tinh là Dương Tinh, hành phòng trung ngự nữ chi thuật, đóng Vĩ Lư, cần Âm Tinh, mà tưởng là Kết Đan, thì làm sao mà thành được.

Dương tinh tuy cũng là do phòng trung mà được, nhưng không phải là cái Phòng thật, mà nó chính là toàn thể con người. Như tiên Ông nói: Gia gia sở hữu Gia Viên Lý, cũng ngụ ý là như vậy, đâu phải là cái Phòng Thất thật.

Học giả muốn biết Dương Tinh, thì phải tìm cho ra Huyền Tẫn (Nê Hoàn Cung). Biết được Huyền Tẫn thì Dương Tinh ở đó vậy.

*************** 

Bài 51

(Bàn về Phản Bản)

Vạn vật vân vân các phản côn,[27]

萬 物 芸 芸 各 返 根

Phản côn, phục mệnh tức thường tồn.

返 根 復 命 即 常 存

Tri thường, phản bản, nhân nan hội,

知 常 返 本 人 難 會

Vọng tác chiêu hung, vãng vãng văn.[28]

妄 作 招 凶 往 往 聞

Tạm dịch:

Vạn vật xưa nay vốn qui căn,

Qui Căn, phục mệnh sẽ thường tồn

Tri thường, phản bản, người khó biết.

Hung họa chiêu vời, sống lăng nhăng.

Vạn vật xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng. Đó là Thường Đạo. Đã sinh trưởng, rồi lại thâu tàng. Thế là Phản Căn. Trở về gốc rễ chính là Phục Mệnh. Phục Mệnh là trở về với Thiên Mệnh chi sinh khí vậy. Sinh khí đã trở về, thì từ cái rễ lại phát sinh ra, cho nên mới Thường Tồn và Bất Tử vậy.

Con người nếu biết lẽ Thiên cơ thường tồn, mà có thể Phản Căn, Phục Mệnh, thì cũng sẽ được thường tồn và thành tiên. Nhưng thường tồn, phản bản, nghĩa lý rất là u thâm, công lao của nó rất tế vi, cũng như Dược Vật có non già, hỏa hầu thì có đoàn luyện hỏa hầu, kết đơn hỏa hầu, thoát đơn hỏa hầu, tu mệnh hỏa hầu, tu tính hỏa hầu, các tầng thứ đó, nhất nhất phải được thày truyền thụ, mới biết cách hành trì. Nếu không biết nhờ người, lại cứ theo thông minh của mình, kiến thức của mình mà phỏng đoán; cho là hội ngộ, dám hạ thủ công phu, có biết đâu là sai một ly, đi một dặm, làm bậy sẽ gặp hung tai, lý đã quyết đoán như vậy.

——————–

Bài 52

(Bàn về Tuệ Kiếm)

Âu Dã thân truyền chú kiếm phương,

歐 冶 親 傳 鑄 劍 方

Mạc Gia kim thủy phối nhu cương.

莫 耶 金 水 配 柔 剛

Luyện thành tiện hội tri nhân ý,

煉 成 便 會 知 人 意

Vạn lý tru yêu nhất điện quang.

萬 里 誅 妖 一 電 光

Tạm dịch:

Âu Dã khai lò đúc kiếm phương,

Mạc Gia sau đó phối nhu cương

Luyện thành, kiếm biết tùy nhân ý,

Yêu ma vạn dặm xẹt kiếm quang.

Kiếm là vật hộ thân. Cũng lại là Tuệ Kiếm tác Phật, thành Tiên, cũng là Bá Bính (cái chuôi) vi thánh, vi thần. Đó chính là Hoàn Đơn vậy. Ngoài Hoàn Đơn không có Kiếm nào khác. Gọi là Hoàn Đơn tức là Hoàn Bản Lai Lương Tri, Lương Năng, là Cương Nhu hợp nhất chi Chân Linh. Đúc kiếm tức là đúc cái Lương Tri, Lương

Năng ấy. Cương Nhu hợp nhất sẽ thành Tuệ Khí. Nói về Thể thì là Đơn, nói về Dụng thì gọi là Kiếm. Kỳ thật Kiếm hay Đơn cũng chỉ là một, không phải hai.

Xưa Âu Dã đúc kiếm mấy bận không thành. Vợ là Mạc Gia nhảy vào lò, một lửa là thành. Người đời gọi là Mạc Gia Bửu Kiếm. Kiếm sắc không gì sánh bằng.

Tu Chân chi Đạo phải lấy đúc kiếm làm đầu. Lấy khí Cương Nhu Trung Chính, dùng Thủy Hỏa đoàn luyện thành Bảo, gọi là Tuệ Kiếm. Đeo nó bên người, tùy Tâm sử dụng, nó có thể giết yêu ma trong vạn dặm, xẹt như điện quang.

Tiên Ông nói Âu Dã, Mạc Gia để ví dụ nghĩa Cương Nhu tương hợp, rất là có Diệu Chỉ.

Người tu Đạo cần phải biết đem Cương Nhu qui về Trung Chính mới có thể điểm hóa quần Âm của Hậu Thiên. Nếu đáng Cương mà Nhu, đáng Nhu mà Cương, hoặc Cương mà quá Táo, hoặc Nhu mà quá Ẩm, Bất Trung, Bất Chính như vậy, thì đúc kiếm sẽ không thành, trong không có chỗ bám víu, luôn gặp trở ngại, làm sao thành Đại Đạo cho được. Nhưng phép đúc kiếm không phải dễ biết, phép phối hợp cương nhu cũng thật là khó hiểu, nếu không gặp được chân sư truyền cho khầu quyết, thì chỉ là đoán mò mà thôi.

*************** 

Bài 53

(Bàn về Điều Hòa Tính Tình)

Sao trúc,[29] hoán qui, [30] thôn ngọc chi,[31]

敲 竹 喚 龜 吞 玉 芝

Cổ cầm,[32] chiêu phụng[33] ẩm Đao Khuê,[34]

鼓 琴 招 鳳 飲 刀 圭

Nhĩ lai thấu thể, Kim Quang hiện,

邇 來 透 體 金 光 現

Bất dữ phàm nhân, thoại thử qui.

不 與 凡 人 話 此 規

Tạm dịch:

Gõ trúc, kêu Rùa, nuốt Ngọc Chi,

Gảy đàn kêu Phượng, uống Đao Khuê.

Chúng mà đến được, Kim Quang hiện

Chuyện ấy không bàn với kẻ si.

Trúc là vật Hư Tâm. Gõ vào thì kêu. Đàn là vật có thanh âm, đánh khéo sẽ hòa âm, Qui là vật dưỡng khí, Phượng là vật văn minh, Ngọc Chi là vật mềm yếu và trường thọ. Đao Khuê là vật tinh túy bất tạp. Qui và Đao Khuê đều thuộc Dương, Phượng và Ngọc Chi đều thuộc Âm.

Đạo Kim Đơn cốt là Hư Tâm, Thực Phúc, không có chi ngoài. Nhân tâm mà Hư thì Đạo Tâm sinh và sẽ Thực Phúc, như là Sao trúc, hoán Qui vậy. Bụng đã thực, dùng Đạo Tâm chi cương, chế nhân tâm chi nhu, như Rùa nuốt Ngọc Chi vậy. Chân tri mà hiện thì Linh Tri sẽ tĩnh và Tâm sẽ minh, như Cổ cầm, chiêu Phụng vậy. Tâm đã minh, dùng Linh Tri chi Tính dưỡng Chân Tri chi Tình như Qui ẩm Đao Khuê vậy.

Đạo Tâm, Chân Tri, Nhân Tâm Linh Tri sẽ Hư Thực Tương Ứng, và Cương Nhu như nhất. Thường ứng, thường tĩnh, viên đà đà, quang chước chước, tịnh khỏa khỏa, Xích sái sái, thấu thể linh lung, nội ngoại quang minh, đi và Thung Dung Trung Đạo, thánh nhân chi vực. Đó chính là trộm Âm Dương, đoạt Tạo hóa, chuyển Càn Khôn, nữu Khí Cơ, đó là Đạo tiên Thiên nhi Thiên phất vi, đâu phải là chuyện thường tình của phàm phu, tục tử?

————————

Bài 54

(Bàn về Tiệm Đốn)

Dược phùng khí loại phương thành tượng,

藥 逢 氣 類 方 成 象

Đạo tại Hi Di hợp tự nhiên.

道 在 希 夷 合 自 然

Nhất lạp Linh Đơn thôn nhập phúc,

一 粒 靈 丹 吞 入 腹

Thủy tri Ngã mệnh bất do Thiên.

始 知 我 命 不 由 天

Tạm dịch:

Dược đồng khí loại nên thành Tượng

Đạo tại Hi Di hợp tự nhiên

Một hạt Linh Đơn ăn vào bụng

Mới hay Ngã Mệnh chẳng do Trời

Đồng khí, đồng loại chi dược, Chân Tri là Chân Dương, Linh Tri là Chân Âm vậy. Chân Tri, Linh Tri đôi đằng giao hợp, mới có thể từ Vô Tượng ngưng kết thành Hữu Hữu Tượng vậy. Nghe không ra gọi là Hi, nhìn không thấy gọi là Di (Đạo Đức Kinh 14), không thấy, không nghe, đạo qui về Hư. Nhất khí Hồn nhiên, hoạt hoạt, bát bát, vô tư, vô vi, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, rõ việc thiên hạ. Không gì miễn cưỡng, hợp với tự nhiên. Mới đầu thì Âm Dương ngưng kết, sau thì Âm Dương hồn hóa. Một hạt Linh Đơn, treo nơi Hư Không, Sơn hà đại địa đâu đâu cũng được chiếu soi. Nuốt được vào bụng rồi, thì ánh sáng sinh ra trong người, tiêu sạch quần âm, thay đổi hậu thiên hào tượng, bấy giờ mới biết Mệnh ta là do ta chứ không do Trời. 2 câu trên đây là do miễn cưỡng trở về tư nhiên, câu 3 là do tự nhiên trở về Đốn Ngộ. Linh Đơn đã vào bụng nghĩa là Đốn Ngộ. Tu Đạo mà được Đốn Ngộ, thì không còn Hữu Vô, Thiên Địa sẽ qui Không, sẽ thoát ra ngoài vòng Âm Dương, không còn bị Âm Dương câu thúc. Mệnh do mình tự chủ, không còn do Thiên chủ. Nếu chưa Đốn Ngộ, thì là còn ra vào trong Âm Dương, mà Mệnh là còn do ở Trời. Cứ suy từ một chữ Thủy là biết vậy.

*************** 

Bài 55

(Bàn Kết Đơn là Chí Dị)

Hách hách Kim Đơn nhất nhật thành,

赫 赫 金 丹 一 日 成

Cổ tiên thùy ngữ [35] thật kham thinh.

古 仙 垂 語 實 堪 聽

Nhược ngôn cửu tải, tam niên giả,

若 言 九 載 三 年 者

Tận thị suy diên khoản nhật thần.

盡 是 推 延 款 日 晨

Tạm dịch:

Kim Đơn sáng quắc một ngày thành,

Lời của tiên xưa thật khó nghe.

Đâu phải là tam niên, cửu tải,

Chung qui vẫn có một ngày.

 Kim Đơn đại dược, ai ai cũng có, nhà nào cũng thành tựu. Nếu có thể biết được đến thật lý. Phỏng bái minh sư, biết được Chân Tri, Linh Tri là hai Đại Dược. Khi biết được một khiếu Huyền Tẫn, nếu hạ quyết tâm sẽ sang bờ bên kia. Một ngày công phu, sẽ được viên Kim Đơn Chí Dương đỏ hây hây, cần gì phải mất Ba Năm Chín Tháng. Đó là lời các vị tiên xưa, chân thật không tà ngụy. Nhưng kết đơn tại nhất thời, mà ôn dưỡng thì mất 10 tháng.

 ————————

Bài 56

Đại dược tu tri hữu dị nan,

大 藥 須 知 有 易 難

Dã tri do ngã, diệc do Thiên.

也 知 由 我 亦 由 天

Nhược phi tu hành tích âm đức,

若 非 修 行 積 陰 德

Động hữu quần ma tác chướng duyên.

動 有 群 魔 作 障 緣

Tạm dịch:

Đại dược muốn tu có dị, nan

Tu vừa do Ngã cũng do Thiên.

Tu hành nếu chẳng tu âm đức,

Làm gì cũng bị ma ám Duyên.

Thơ trên nói một ngày có thể thành đơn. Thế là không khó vậy. Nhưng sợ rằng người tu học coi thường Đại Đạo không chịu tu đức hạnh, vọng cầu Tiên Đạo, cho nên thơ này lấy chữ đức mà giải. Trời muốn con người phải có đức, con người muốn báo thiên cũng phải dùng đức. Người mà có đức thì Trời ưa, và tu Mệnh cũng dễ và do mình. Người không có đức thì Thiên oán, và tu đạo sẽ rất khó và do Trời. Thế là làm sao? Vì kẻ vô hạnh, vô đức, thì quỉ thần không dung, làm gì cũng bị ma chướng, cản trở, bị hoạn nạn bệnh tật, và sẽ bị giữa đường đứt gánh, lý là như vậy. Cho nên tu đạo lấy việc tu đức làm đầu. Nếu đức trọng mà lại chịu học đạo, thì đạo dễ học, dễ tu, và Trời sẽ ưng và ma chướng sẽ hết.

*************** 

Bài 57

(nói về đạo cơ = ăn cắp thời cơ)

Tam tài tương đạo cập kỳ thời,

三 才 相 盜 及 其 時

Đạo Đức thần tiên, ẩn thử cơ.

道 德 神 仙 隱 此 機

Vạn hóa ký an chư lự tức,

萬 化 既 安 諸 慮 息

Bách hài câu lý chứng Vô Vi.

百 骸 俱 理 證 無 為

Tạm dịch:

Tam tài ăn cắp lẫn của nhau,

Ăn cắp đúng thời, mới nhiệm mầu.

Thần tiên giấu biệt cơ vi ấy,

Nhờ vào tài đó, chứng Vô Vi.

Tam tài ăn cắp lẫn nhau. Thiên địa là kẻ cắp của vạn vật. Vạn vật là kẻ cắp của con người. Con người là kẻ cắp của vạn vật. Cập thời là vạn vật ăn cắp khí của trời đất để mà vinh vượng. Thiên địa nhân khi vạn vật vinh vượng và sẽ thu liễm nó, thế là Thiên Địa là kẻ cắp của vạn vật. Người thấy vạn vật nên sinh tham si, vạn vật nhân thấy người tham si, nên muốn kịp thời mà tước đoạt tinh thần con người, thế là vạn vật là kẻ cắp của con người. Vạn vật được con người tài bồi nên thành thục, con người thấy vạn vật thành thục nên kịp thời sử dụng chúng. Như vậy con người là đạo tặc của vạn vật.

Cập thời chi đạo, có tiên và hậu thủ chi cơ. Xưa nay đó là điều mà thần tiên dấu không lộ ra. Cái điều mà thần tiên dấu chính là cơ vi biết ‘kịp thời ăn cắp ‘.

Ăn cắp âm dương, đoạt tạo hóa, chuyển sinh sát, nĩu khí cơ, tiêu khách khí, phù chính khí, cho nên vạn vật an, mọi tư lự sẽ đình chỉ, bách hài sẽ theo đúng đường lối, và sẽ chứng được tự nhiên vô vi chi đạo. Thơ này chú trọng đến hai chữ Cập Thời.

——————–

Bài 58

(Bàn về Cùng Lý)

Âm Phù bảo tự du tam bách,

陰 符 寶 字 逾 三 百

Đạo đức Linh Văn mãn ngũ thiên,

道 德 靈 文 滿 五 千

Kim cổ thượng tiên vô hạn số,

今 古 上 仙 無 限 數

Tận ư thử xứ đạt chân thuyên.

盡 於 此 處 達 真 詮

Tạm dịch:

Âm Phù có hơn ba trăm chữ,

Đạo Đức Linh Văn khoảng năm nghìn,

Thượng tiên vô số trong thiên hạ,

Đều nhờ sách đó, đạt chân thuyên.

Hai sách Âm Phù, Đạo Đức là hai Tổ Thư dạy Đạo Tu Chân. Tiết lộ Thiên Địa Tạo Hóa chi cơ, bày ra cho thấy Âm Dương sinh sát chi khiếu. Từ xưa tới nay, Thượng Sĩ, Chí Nhân, đều từ 2 sách này mà nghiên cứu thực lý, mà được Chân Truyền, mà liễu đạt Tính Mệnh. Quyển Ngộ Chân Thiên của Tiên Ông đây, cũng dựa vào hai quyển Âm Phù Kinh và Đạo Đức Kinh mà viết ra. Các học giả nếu minh ngộ được Chân Lý, thì cứ đọc Âm Phù và Đạo Đức kinh thì sẽ rõ.

*************** 

Bài 59

(Bàn về Cầu Sư)

Nhiêu quân thông tuệ quá Nhan Mẫn,

饒 君 聰 慧 過 顏 閔

Bất ngộ chân sư mạc cưỡng sai.

不 遇 真 師 莫 強 猜

Chỉ vị Kim Đơn vô khẩu quyết,

只 為 金 丹 無 口 訣

Giao quân hà xứ kết Linh Thai.

教 君 何 處 結 靈 胎

Tạm dịch:

Dù bạn thông minh vượt Mẫn, Nhan,[36]

Không gặp minh sư chớ đoán mò.

Đừng nói Kim Đơn không khẩu quyết,

Nếu không, ai kết được Linh Thai.

Trên đây nói Âm Phù và Đạo Đức là Bảo Tự, Linh Văn, và khuyên học giả nên đọc 2 quyển đó để tìm cho ra Chân Lý, nhưng lại sợ học giả chấp nê kinh văn, cho đó là đúng mà không hỏi ai, cho nên thơ này khuyên nên mau tìm thày.

Trong các sách Đơn Kinh tuy đã bàn rõ về Dược Vật Hỏa Hầu, và có nhiều ví dụ, cho mọi người hiểu Chân Lý, và cho mọi người biết Đạo này. Nhưng cái học về Tính Mệnh thật là u uẩn và thâm áo, rất khó tìm ra được chân lý. Nếu thấy gì, hiểu gì thì phải nhờ Minh Sư ấn chứng cho. Nếu không có thày, mà tự phụ là mình thông minh, lý luận sai lạc, thì làm sao hiểu được Tính Mệnh. Cho nên mới nói: Nhiêu quân thông tuệ quá Nhan, Mẫn, Bất ngộ Chân Sư, mạc cưỡng sai.

Tuy Tính Mệnh chi đạo chỉ cốt là thái thủ Tiên Thiên chi Khí. Nhưng Tiên Thiên chi Khí thì vô hình vô tượng, nhìn không ra, nghe không thấy, nắm không được, thì làm sao mà tu luyện, làm sao mà phản hoàn? Các sách đơn kinh, tử thư tuy có nói về Khí đó, tuy có dạy tu luyện, tuy có dạy phản hoàn. Nhưng tuy cực lực luận bàn, nhưng luận bàn không tới cho nên phải nhờ chân sư để được khẩu truyền tâm thụ, biết được Dược Vật, Hỏa Hầu, thẳng đường mà tiến, không chi ngăn ngại. Nếu không gặp thày mà chỉ y cứ vào thoại đầu của Đan Kinh, không phân được lá cành mà tưởng mình đại triệt, đại ngộ, cứ theo ý mình mà hành động, nếu không Trước Không, thì cũng sẽ Chấp Tướng, làm sao mà kết được Linh Thai. Ý nói phải tìm cho được Chân Sư khẩu quyết.

 ————————-

Bài 60

(Bàn về Tức Cơ 息 機 )

Liễu liễu tâm viên phương thốn ki,

了 了 心 猿 方 寸 機

Tam Thiên công hạnh dữ Thiên tề.

三 千 功 行 與 天 齊

Tự nhiên hữu Đỉnh phanh Long Hổ,

自 然 有 鼎 烹 龍 虎

Hà tất đam gia luyến tử thê?

何 必 擔 家 戀 子 妻

Tạm dịch:

Lòng trong, tận diệt hết viên tâm,

Tự nhiên công hạnh dữ thiên đồng,

Lòng thanh ấy Đỉnh phanh Long Hổ,

Đam luyến vợ con chớ hoài công,

Người học Đạo mà không hiểu Đạo, thành Đạo chính là vì không Định được Tâm, chính là vì đứng chưa vững chãi mà thôi. Nếu quả tình mà đựơc vạn Duyên giai không, nhìn lên, trông xuống in nhau, tổn nhi hựu tổn, dĩ chí ư Vô Vi. Nếu Tâm mà thanh tĩnh, thì nội công sẽ thành. Thêm vào lại còn tích đức, tu hành, biết Khổ Kỷ, Lợi Nhân, thì đâu đâu cũng là phương tiện của mình, phú quí không sinh hoang dâm, phóng túng, bần tiện không rời tiết tháo, uy thế võ lực không làm cong vậy ý chí của mình. Tử tâm, đạp địa, tùy Duyên sống qua ngày. Phiền não mà tận trừ, thì ngoại công thành vậy. Nội công thành, ngoại công tựu, 3000 công đức đầy đủ, thì Đức sẽ dữ Thiên phối, và sẽ thọ cùng trời. Cho nên nói người có Đức sẽ được sống lâu. Trong lòng không còn bợn trần ai. Nếu lòng còn bợn chút trần ai, thì Tính Tình chưa hòa hợp, Long Hổ sẽ xương cuồng, và muôn ngàn chuyện hung hiểm sẽ sinh xuất.

Nếu mà tâm cơ đã sạch hết, nếu lòng đã rổn rang trống rỗng, thì không cần phải tìm Đỉnh Khí, mà đó chính là Đỉnh Khí. Đã có Đỉnh Khí, thì Nhất Động, Nhất Tĩnh sẽ bất thức, bất tri, theo đúng luật Trời, Tính Tình sẽ hợp nhất, và Hòa Khí sẽ Huân Chưng. Đó chính là Phanh Long Hổ. Không phải hỏi thế nào là Phanh Long Hổ. Đó là Đạo vậy. Đã có Dược Vật, đã có Đỉnh Khí. Người mà biết vậy, dù là kẻ dung ngu, nếu cứ cần mẫn mà tu hành, thì cũng sẽ bước lên Thánh vị. Chỉ tiếc là con người không nhìn thấy điều này, không nhận ra được Chân Tính Mệnh, vẫn còn tham luyến vợ con, vẫn còn bị triền phược không ngừng, nên đã phí hết Tâm Cơ, như dầu cạn, đèn tắt, tủy kiệt nhân vong vậy. Thương thay.

*************** 

Bài 61

(Bàn về Chỉ túc 止 足 )

Vị luyện hoàn đơn tức tốc luyện,

未 煉 還 丹 即 速 煉

Luyện liễu hoàn tu tri chỉ túc.

煉 了 還 須 知 止 足

Nhược dã trì doanh vị dĩ tâm,

若 也 持 盈 未 已 心

Bất miễn nhất chiêu tao đãi nhục.

不 免 一 朝 遭 殆 辱

Tạm dịch:

Luyện thuốc chưa xong phải luyện nhanh,

Luyện xong phải biết có lúc đình.

Đầy không biết giữ âu không tốt,

Sao khỏi chiêu vời tủi nhục đâu.

Hoàn đơn là trở về với lúc con người vừa sinh (nhân sinh chi sơ), với Lương Tri Lương Năng, với Cương Nhu khi còn hợp nhất, với Bản Tính của Chân Linh.

Con người từ Dương Cực sinh Âm, Tiên Thiên nhập vào Hậu Thiên, Lương Tri biến thành Giả Tri, Lương Năng biến thành Giả Năng, Cương Nhu không chính đáng, Chân Linh bị mờ ám, Cái mà nhà mình co, bị mất ra ngoài. Hoàn là hoàn trả cái gì ta vốn có, như vật gì đã mất nay trở về lại, đã đi mất lại trở về.

Đạo hoàn đơn có tiến thoái, có nhanh chậm. Hỏa hầu tu dưỡng chỉ túc, phải tùy thời vận dụng, phải được chế nghi, không thái quá, không bất cập. Cho nên khi Đơn chưa trở về, thì phải dũng mãnh tinh tiến, từ từ thái thủ và đoàn luyện, cầu cho đơn trở về. Khi đơn đã về, nghĩa là Lương Tri, Lương Năng, và Cương Nhu đã hợp nhất, Chân Linh đã sáng láng, thì công lực đã đày đủ, Dược Khí đã đủ, Hữu Vi đã thành toàn, Vô Vi đã sáng ra, thì phải đình chỉ hỏa hầu, phải rút bớt củi trong bếp, chỉ cần ôn dưỡng, và đề phòng nguy hiểm, gìn giữ cái Nhất Điểm Chân Linh đó trong lò Tạo Hóa. Cứ để cho Thiên Nhiên Chân Hỏa tự chưng, tự tiễn, hóa sạch quần Âm, làm lộ ra cái vật Kim Cương bất hoại ấy. Thế là hay nhất. Nếu không thế mà khi Đơn đã về mà không biết Tri Túc. Đã đầy mà không biết giữ, mà còn thêm lửa đoàn luyện, thì Dương Khí sẽ bị nóng khô, và Dược Vật sẽ bị khô táo. Cái Chân đi mất mà cái giả lại sinh, đã được rồi mà lại mất. Thì có ngày sẽ bị đãi nhục, làm sao mà thoát được. Xưa Thuần Dương Ông luyện đơn 3 lần không thành, Tử Thanh Ông bị nạn nửa đêm nghe tiếng sấm sét, chính do vì vậy. Vì Văn phanh, Vũ luyện đều có thời kỳ, Dương Hỏa, Âm Phù đều có diệu dụng của nó, sai một ly, là đi một dậm, người tu đạo nên phải cẩn thận.

 ——————-

Bài 62

(Bàn về Sinh Sát 2 bài)

Tu tương Tử Hộ vi Sinh Hộ,

須 將 死 戶 為 生 戶

Mạc chấp Sinh Môn hiệu Tử môn.

莫 執 生 門 號 死 門

Nhược hội Sát Cơ minh phản phục,

若 會 殺 機 明 反 復

Thủy tri hại lý khước sinh ân.

始 知 害 里 卻 生 恩

Tạm dịch:

Phải biến Tử Hộ thành Sinh Hộ,

Chớ chấp Sinh Môn gọi Tử Môn.

Gặp phải Sát Cơ, rành phản phục,

Mới hay trong Hại lại sinh Ân.

Sinh Môn Tử Hộ nguyên chỉ có một, tức là Huyền Quan Nhất Khiếu mà thôi. Cái cánh cửa ấy, trong có khí Ngũ Hành. Thuận nó thì Ngũ Hành bị thương tổn, mỗi hành 1 nhà, Ngũ Đức hóa thành Ngũ tặc, Sinh Hộ tức là Tử Hộ, Sinh Môn tức là Tử Môn, nghịch nó thì Ngũ Hành Tương Sinh, đồng qui về Một Khí, Ngũ tặc hóa vi Ngũ Đức, tử Hộ tức thị Sinh Hộ, Tử Môn tức thị Sinh Môn. Sinh Tử chi Cơ, chỉ là do thuận nghịch mà thôi. Nếu biết từ trong Sát Cơ mà cầu Sinh Cơ, phản phục dùng nó thì trong hại sẽ sinh ân, Tử Môn Tử Hộ biến vi Sinh Môn, Sinh Hộ, thế là Trường Sinh Bất Tử vậy. Hộ số lẻ, Môn số chẵn. Tử Hộ biến thành Sinh Hộ. Giả Dương đi mà Chân Dương sinh, Tử Môn biến Sinh Môn, Giả Âm thoái nhi Chân Âm sinh, hai đằng hợp nhất, thì chính là cái Bộ Mặt Chí Thiện Vô Ác của mình.

Chí Thiện Vô Ác, hồn nhiên Thiên Lý sẽ lưu hành bất tức, và cái Sinh Cơ sẽ thường tồn, làm sao mà không Diên Niên Tăng Thọ được!

*************** 

Bài 63

Họa phúc do lai hỗ ỷ phục,

禍 福 由 來 互 倚 伏

Hoàn như ảnh hưởng tương tùy trục.

還 如 影 響 相 隨 逐

Nhược năng chuyển thử Sinh Sát cơ,

若 能 轉 此 生 殺 機

Phản chưởng chi gian tai biến phúc.

反 掌 之 間 災 變 福

Tạm dịch:

Họa phúc xưa nay vốn theo nhau,

Y như ảnh hưởng chuyển trước sau.

Nếu chuyển được Sinh Sát Cơ ấy,

Tai ương biến phúc như trở tay.

Đạo cảm ứng trong thế gian, phúc đi thì họa lại, họa đi thì phúc lại, phúc hoạ tương ứng ỷ phục, như ảnh tùy hình, như hưởng tùy thanh. Người tu đạo biết lẽ họa phúc ỷ phục tương sinh, thì có thể biết thân ta Sinh Sát ỷ phục cũng vậy.Và nếu biết chuyển cái Sinh Sát cơ ấy, để trong Sát cầu Sinh, thì trong cái trở bàn tay, tai sẽ biến thành phúc, không phí sức lực gì. Sinh sát chi cơ là Khí Ngũ hành trong thân ta vốn có. Nếu ta thuận theo cái Khí Ngũ hành, thì trong Đức có Hình, nên là Sát Cơ. Nếu ta đi nghịch Ngũ Hành, thì trong Hình có Đức, và là Sinh Cơ. Sinh Cơ là Còn, Sát Cơ là Vong.

 Lời Kinh viết: Ngũ hành thuận hành, thì thế giới là lò lửa. Ngũ hành mà điên đảo thì trái đất này sẽ là châu báu. Tùy theo Thuận Nghịch mà Sinh Sát chuyển theo. Chỉ một chữ Chuyển, mà công lực rất mạnh. Nếu không được Thiên Địa hợp kỳ đức, nhật nguyệt hợp kỳ minh, thì không thể chuyển Sinh Sát.

Nếu không được Tứ Thời hợp kỳ Tự, Qủi Thần hợp kỳ Cát Hung, thì cũng không thể chuyển Sinh Sát. Nếu không được phủ thị nhất thiết, vạn vật giai không, lấy Đạo làm nhiệm vụ của mình, thì cũng không thể chuyển Sinh Sát. Ôi biết không khó, mà Hành mới khó, Sinh Sát chi cơ đâu dễ chuyển được.

———————–

Bài 64

(Bàn về Hỗn tục hòa quang).

Tu hành hỗn tục thả hòa quang,

修 行 混 俗 且 和 光

Viên tức viên hề, phương tức phương.

圓 即 圓 兮 方 即 方

Hiển hối nghịch tòng nhân mạc trắc,

顯 晦 逆 從 人 莫 測

Giao nhân tranh đắc kiến hành tàng.

教 人 爭 得 見 行 藏

Tạm dịch:

Tu hành Hỗn Tục với Hòa Quang,

Vuông tròn hợp thức xử cho nên.

Sáng tối ngược chiều người không hiểu,

Đường đi nước bước, đoán khó tường.

Kim Đơn Đại Đạo, quang minh chính đại, tu nó ngay trong trần thế, tu nó ngay trong chợ búa, chứ nó không phải là Tiểu Đạo cô tịch thủ tĩnh, hay lánh trần, ly thế. Chỉ cần hỗn tục hòa quang, hòa mình cùng trần thế, phương viên ứng thế, hiển hối nghịch tòng, hành tàng hư thực, làm cho người không hiểu. Thế mới là đại tác vi, đại cơ quan. Những kẻ thích làm điều quái dị, như đả tọa nơi Thiền Đường, hoặc quan không định tâm, hoặc vận khí tồn tưởng, hơặc ban tinh lộng tủy, với Lô Hỏa Khuê Đơn, các chuyện bàng môn tả đạo ấy, làm sao mà có thể thực thi trước mắt mọi người được?

Nếu dám làm những chuyện đó, thì đó là Táng Hành không phải là Tu Hành. Làm sao mà gọi là Liễu Đạt Tính Mệnh được. Xưa Đạt Ma thấy đất Đông Thổ Thần Châu, có tượng khí Đại Thừa, nên đi vào Trung Quốc, và đã lập nên Đại Sự. Xưa Huệ Nang được Ngũ Tổ truyền y bát, đã ẩn thân tại giữa bọn thợ săn, nên đã thành chính quả. Xưa Tử Hiền được Hạnh Lâm truyền đạo, đã đi đến Đại Đô, tỏ ra có sức mạnh mãnh liệt, nên đã liễu đạt Tính Mệnh. Tam vị thánh nhân đó, đều giấu bớt vẻ sáng, hòa mình cùng trần cấu, theo Thế Pháp mà tu Đạo Pháp, nên đã thành tiên, tác Phật. Nếu bỏ Thế Pháp thì không có Đạo Pháp, như vậy sẽ dựa vào đâu, mà tu Hoàn Phản, mà bảo mệnh toàn hình được?

Ôi! cái Thiên cơ Hỗn Tục Hòa Quang ấy, chỉ nói được với người biết chứ không nói được với người không biết.

*************** 

CHÚ THÍCH

[1] Thành biến hóa: có bản viết Vi biến hóa.

[2] Chân hỏa Hậu: có bản viết là Chân Hỏa dục, có bản viết là Chân Hỏa Dưỡng.

[3] Đạo Tâm và Chân Tri toàn vẹn.

[4] Nhân Tâm là Linh tri đầy đủ.

[5] Thiên Nhân hợp phát.

[6] Thu Thủ 收 取: có bản viết Thủ Thủ 守 取.

[7] Nhật cư Ly vị: có bản viết Ly cư nhật vị.

[8] Tận do: có bản chép tiện do.

[9] Xem các Hào quẻ Kiền.

[10] Tự xuất: có bản viết Xuất tự.

[11] PHỤC là Chỗ Đạo Tâm bắt đầu sinh, và Đạo Tâm sẽ thành thục nơi quẻ Kiền. CẤU là nơi Nhân Tâm bắt đầu sinh, và Nhân Tâm sẽ thành toàn nơi quẻ Khôn. Như vậy, nửa phải của 64 quẻ Dịch Tiên Thiên là Chiều Thuận, là Chiều sinh Nhân, sinh Vật. Nửa Trái là Chiều Nghịch, là Chiều sinh Thánh, sinh Thần, sinh Tiên, sinh Phật. Vì thế mới nói: Dịch, nghịch số dã.

[12] Hô Lai: có bản viết Hoán Lai 喚 來.

[13] Tác thân: có bản viết Kết thân.

[14] Ngộ Chân Thiên, trong Trung Quốc Khí Công tứ đại kinh điển giảng giải, tr. 340.

[15] Tài động: có bản viết Tài khởi 才 起.

[16] Kim Đơn: có bản ghi Kim Sa 金 砂.

[17] Đa tải: có bản viết Thiên Tải.

[18] Tử Kim có bản viết: Tử Quang 紫 光.

[19] Hải triều có bản viết Hải điền 海 田.

[20] Tuyết Sơn có màu trắng dụ Tây Phương Kim.

[21] Đề Hồ là Bắc phương thủy.

[22] Đông Dương là Đông Phương Mộc.

[23] Tạo hóa lô là Nam Phương Hỏa.

[24] Côn Lôn là Đầu đỉnh Nê Hoàn Cung.

[25] Trương Kiên là một sứ giả trứ danh xưa sang Tây Vực, đây chỉ Chân Dương.

[26] Ma Cô theo truyền thuyết là một Tiên Nữ trứ danh, đây chỉ Chân Âm.

[27] Đạo Đức Kinh chương 16.

[28] Đạo Đức Kinh chương 16.

[29] Sao trúc là Hư Tâm, vì lòng trúc rỗng.

[30] Qui là Bắc Phương Huyền Vũ.

[31] Ngọc Chi là Chân Hỏa Hống.

[32] Cổ cầm là Hợp Ý.

[33] Phụng là Nam Phương Chu Tước.

[34] Đao Khuê là Dược vật hay Âm Phù.

[35] Cổ tiên thùy ngữ tức là nhắc tới bài thơ của Trương Quả Lão 張 果 老:

«Hách hách kim đơn nhất nhật thành,

赫 赫 金 丹 一 日 成

Hoàng Nha bất ly Thủy ngân khanh.

黃 芽 不 離 水 銀 坑

Công thành tuy vị tam chu biến,

功 成 雖 未 三 周 變

Khai lô dĩ giác phóng quang minh.»

開 爐 已 覺 放 光 明

Câu thơ cuối cùng phỏng theo bài thơ trong quyển Trung Quốc Khí Công tứ đại Kinh Điển, tr. 356.

[36] Mẫn Tử Khiên, Nhan Hồi.

——————-

******************* 

QUYỂN    III
 

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ

悟 真 直 指

TỐNG, TỬ DƯƠNG TRƯƠNG CHÂN NHÂN trước 宋 紫 陽 真 人 著

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN TỬ, LƯU NHẤT MINH chú 棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 註

CỬU DƯƠNG SƠN, ẤN CHÂN TỬ CHU KIM TỈ hiệu chính 九 陽 山 印 真 子 周 金 璽 校 正

Môn nhân XUNG HOÀ TRƯƠNG DƯƠNG TOÀN hiệu duyệt  門 人 沖 和 張 陽 全 校 閱

Hậu học LÝ TỬ VIÊN trùng khan 後 學 李 紫 垣 重 刊

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch chú

—————————-

Ngũ ngôn luật thi nhất thủ (dĩ tượng Thái Ất hàm chân khí)

五 言 律 詩 一 首 以 象 太 乙 含 真 氣

Theo điệu TÂY GIANG NGUYỆT 西 江 月

(Gồm 12 bài thơ tượng trưng cho 12 tháng)

Năm bài thơ Thất Ngôn Tuyệt Cú để tượng Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Ngũ ngôn luật thi nhất thủ (dĩ tượng Thái Ất hàm chân khí)

五 言 律 詩 一 首 以 象 太 乙 含 真 氣

Nữ tử trước thanh y, (Ly)

女 子 著 青 衣

Lang quân phi tố luyện. (Khảm)

郎 君 披 素 練

Kiến chi bất khả dụng,

見 之 不 可 用

Dụng chi bất khả kiến.

用 之 不 可 見

Hoảng hốt lý tương phùng,

恍 惚 里 相 逢

Yểu Minh trung hữu biến.

杳 冥 中 有 變

Nhất siếp hỏa diễm phi,

一 霎 火 焰 飛

Chân nhân [1] tự xuất hiện.

真 人 自 出 現

Tạm dịch:

Cô dâu (Linh Tri) mặc áo xanh.

Chàng rể (Chân Tri) vận lụa trắng.

Nhìn thấy là Vô Dụng,[2]

Không thấy mới nên dùng.[3]

Gặp nhau trong Hoảng Hốt

Biến hóa tại Yểu Minh.

Chốc lát lửa bừng cao,

Chân Nhân liền xuất hiện.

Linh tri là Dương trung chi Âm, có đủ nhu Tính. Tính chủ Sinh thuộc Mộc. Mộc có màu Xanh. Cho nên nói: Nữ tử trước thanh y.

Chân Tri là Âm trung chi Dương, có đủ Cương Tình. Tình chủ Sát thuộc Kim. Kim màu trắng. Cho nên nói: lang quân vi tố luyện.

Nhưng Tính Tình thời có phân Tiên Thiên, Hậu Thiên. Hậu Thiên là Tính Khí Chất và là Vọng Tình. Tính Tình Khí Chất thì có Hình có Tượng, là cái gì nhìn thấy được, nên không dùng được.

Tiên Thiên là Bản Tính là Chân Tình. Đó là Tính Tình Chân Không. Không hình không tượng, đó là cái có thể dùng. Nó không thể nhìn thấy được. Vì không nhìn thấy nó được, nên nó ở trong hoảng hốt Yểu Minh. Nói Hoảng Hốt, nói Yểu Minh, tức là có Khí mà không có Chất. Nhìn không thấy, nghe không ra, sờ không được. Như vậy làm sao mà ngưng kết và thành Đơn?

Nhưng tuy không thấy được, không nghe được, không sờ được, nhưng Tính Linh Tri và Tình Chân Tri, có lúc cũng gặp nhau trong Hoảng Hốt, cũng biến hóa trong Yểu Minh.

Khi gặp nhau và biến hóa như vậy, thì Thần Minh đưa đẩy, sẽ thu nhập được vào trong lò tạo hóa, lại được lửa tu luyện thên, thì trong giây lát, Khí Tiên Thiên từ không trung tới, sẽ ngưng kết thành tượng, và Chân Nhân sẽ xuất hiện trong phòng tối. Đó chính là Hoàn Đơn pháp tượng, Cho nên nói trong khoảnh khắc là Đơn Thành vậy. Nói có Chân Nhân xuất hiện, chính là Chân Âm, Chân Dương giao hợp bên trong. Một Điểm Sinh Cơ xuất hiện. Đó chính là Thánh Thai, Không cần đợi 10 tháng mới có được «Thân Ngoại Hữu Thân». Nếu quả có «Thân Ngoại Hữu Thân» xuất hiện, thì sao trong khoảng thời gian ngắn, lại có thể thoát thai hoán cốt, có «Thân ngoại Hữu Thân»?

Trong bài thơ này. Tiên Ông nói về Thái Ất hàm Chân Khí. Nếu ai hỏi: Chân Nhân xuất hiện nghĩa là gì, thì xin trả lời: Đó là Thái Ất hàm Chân Khí vậy.

******************* 

Theo điệu TÂY GIANG NGUYỆT.

西 江 月

(Gồm 12 bài thơ tượng trưng cho 12 tháng)

Tiên Ông viết: Tây là phương của Kim. Giang là bản thể của nước. Nguyệt là cái Dụng của Đan.

Bài 1

Nội dược[4] hoàn đồng ngoại dược,[5]

內 藥 還 同 外 藥

Nội thông ngoại diệc tu thông.

內 通 外 亦 須 通

Đơn đầu hòa hợp loại tương đồng,

丹 頭 和 合 類 相 同

Ôn Dưỡng lưỡng ban tác dụng.

溫 養 兩 般 作 用

*

Nội hữu Thiên Nhiên Chân Hỏa,

內 有 天 然 真 火

Lô trung hách hách trường hồng.

爐 中 赫 赫 長 紅

Ngoại lô[6] tăng giảm yếu cần công,

外 爐 增 減 要 勤 功

Diệu tuyệt vô quá chân chủng.[7]

妙 絕 無 過 真 種

Tạm dịch:

Nội Dược cũng là Ngoại Dược,

Hiểu Trong tất sẽ hiểu Ngoài.

Đơn đầu hòa hợp, Loại tương đồng.

Ôn Dưỡng có trình tự khác nhau.

*

Trong có Thiên Nhiên Chân Hỏa,

Tự nhiên rực cháy đỏ hồng.

Ngoại Lô biết Tăng Giảm Đoàn Luyện

Công phu ấy thật tuyệt diệu,

Chẳng qua là có được Chân Chủng

Nội dược là Linh Tính của Linh Tri. Ngoại dược là Chân Tình của Chân Tri.

Vì Linh Tri tàng ẩn ở Nhân Tâm, Nhân Tâm dụng sự, mượn Linh sinh Vọng, nên gọi là Nội Dược. Vì Chân Tri đầy đủ ở Đạo Tâm, nay Đạo Tâm thoái vị, nên Chân Tri không hiện ra, nên gọi là Ngoại Dược.

Chân Tri, Linh Tri xưa vốn một nhà, đồng xuất dị danh, cho nên nói: Nội dược hoàn đồng ngoại dược.

Nội dược cốt là để Tu Tính, nên cần thông hiểu. Ngoại dược cốt là để Tu Mệnh, nên cũng cần thông hiểu. Cho nên Kinh nói: Tu Mệnh bất tu Tính, thử thị Tu Hành đệ nhất bệnh. Tu Tính bất tu Mệnh, Vạn kiếp Âm Linh nan nhập thánh. Cho nên nói: Nội Thông ngoại diệc tu thông.

Tính là Âm, Mệnh là Dương. Kim Dịch hoàn Đơn là lấy Chân Âm, Chân Dương đồng loại, lưỡng huyền chi khí, hòa hợp với nhau mà thành. Nếu tu Mệnh mà không tu Tính, hoặc tu Tính mà không tu Mệnh, thế là Cô Âm, Quả Dương, Đại Đơn không kết được. Thế gọi là Tính Mệnh phải song tu là vì vậy. Nhưng Tính thì có tác dụng của Tính, Mệnh có tác dụng của Mệnh. Tính là Pháp Thân thượng sự, Mệnh là Ảo Thân thượng sự. Đôi bên ôn dưỡng đều có sự khác nhau. Cho nên nói công phu có 2 giai đoạn.

Tu Tính chi Đạo, là Đạo Vô Vi. Vô Vi chủ Tĩnh, không có chuyện Thi Vi giả tạo. Phải Thủ Trung Bão Nhất, thì trong lò tự nhiên có Chân Hỏa, lúc nào cũn g cháy đỏ, thế là dùng Văn Hỏa để ôn dưỡng vậy. Đến như Tu Mệnh chi Đạo, đó là Đạo Hữu Vi. Hữu Vi chủ động. Phải tăng giảm ở lò ngoài, cần công đoàn luyện. Thế là dùng Vũ Hỏa để đun sôi vậy.

Tăng là tăng cái Chân Tri còn chưa đủ. Thế là gặp điều lành phải cố giữ vậy (trạch Thiện cố chấp). Giảm là giảm cái Linh Tri có thừa. Đó là che dấu thông minh vậy (Chuyết Thông Hủy Trí).

Tăng tới khi không còn tăng được. Giảm cho tới khi không thể giảm được, thì Tính sẽ Định, Mệnh sẽ Ngưng. Chân chủng sẽ tới tay, thế mới là tuyệt diệu. Thế là Tính Mệnh Lưỡng Ban Tác Dụng. Khi Ngoại Đơn đã thành tựu, thu lấy đem vào trong Đỉnh thì là Nội Đơn. Thế là Kim Lai Qui Tính Sơ, Nãi Đắc Xưng Hoàn Đơn. (Kim trở về Tính lúc ban đầu, nên gọi là Hoàn Đơn).

******************* 

Bài 2

Thử Đạo chí thần, chí thánh,

此 道 至 神 至 聖

Ưu quân phận bạc nan tiêu.

憂 君 分 薄 難 消

Điều hòa Diên Hống bất chung chiêu,

調 和 鉛 汞 不 終 朝

Tảo đổ Nguyên Châu hình triệu.

早 睹 元 珠 形 兆

*

Chí sĩ nhược năng tu luyện,

志 士 若 能 修 煉

Hà phường tại thị cư chiêu.

何 妨 在 市 居 朝

Công Phu dung dị dược phi dao,

工 夫 容 易 藥 非 遙

Thuyết phá nhân tu thất tiếu.

說 破 人 須 失 笑

Tạm dịch:

Đạo này chí thần, chí thánh,

Tiếc vì Ông phước bạc không hiểu,

Đó là Điều Hòa Duyên Cống mà thôi.

Chỉ một sáng, Nguyên Châu đã hình hiện.

*

Nếu chí sĩ biết tu luyện

Xá chi ở chợ hay trong thành.

Công phu dễ, thuốc chẳng xa,

Nói ra thiên hạ sẽ cười xòa.

Bài từ trước nói về hai thứ Nội Ngoại Dược Vật. Bài từ này nói về cách hành trì luyện Ngoại Đơn.

Đạo Kim Đơn thật là Chí Thần, Chí Thánh. Người tu nó, cứ cắm sào là thấy bóng, lập tức bước lên thánh vị. Nhưng sợ người phúc phận bạc nhược, khó tiêu thụ được.

Cái mà Đạo Kim Đơn khó được, đó là Chân Tri chi Chân Diên, Linh Tri chi Chân Hống. Nếu biết được Chân Tri, Linh Tri và Điều Hòa nó, thì Cương Nhu sẽ tương đáng, Tính Tình như Nhất, không đợi phải qua hết buổi sáng, mà Lương Tri Lương Năng đã sớm hình hiện, y như có hạt Nguyên Châu ở trong tối có thể sáng ra vậy. Vì cái Linh Căn của Lương Tri, Lương Năng, từ lâu đã bị mai một, không thể xuất hiện ra được. Nay được Chân Tri, Linh Tri hai đằng hợp nhất, Linh Căn của Lương Tri Lương Năng, tuy chưa hoàn toàn hiện ra, nhưng Một điểm Linh Cơ của nó đã sinh ra từ trong Hoảng Hốt, Yểu Minh. Khi đã có Một Điểm Sinh Cơ, từ bé dần thành lớn, dần dần sẽ thấy thuần toàn. Hình triệu là thấy được cái Thuần Toàn của nó vậy.

Nếu có người chí sĩ nào, cần cù tu luyện, thì không cần phải lìa thế, trốn đời, chẳng cứ là ở triều ở chợ, mà vẫn tu được đạo Kim Đơn, mà Dược vật vẫn thành. Công phu thật là giản dị, không phải cầu bên ngoài. Nghĩa là đối với người bây giờ nếu ta đem chuyện này nói ra, thì họ sẽ cười phá lên. Họ cười chính là vì phàm thánh đều đi cùng đường, Thiên Nhân đều cùng một Lý, khác nhau chăng là tại chỗ Thuận Nghịch mà thôi.

******************* 

Bài 3

Bạch hổ Thủ Kinh chí bảo,

白 虎 首 經 至 寶

Hoa Trì Thần Thủy Chân Kim.

華 池 神 水 真 金

Cố tri Thượng Thiện, lợi nguyên thâm,

故 知 上 善 利 源 深

Bất tỉ tầm thường dược phẩm.

不 比 尋 常 藥 品

*

Nhược yếu tu thành cửu chuyển,

若 要 修 成 九 轉

Tiên tu luyện kỷ, trì tâm.

先 須 煉 己 持 心

Y thời thái thủ, định phù trầm,

衣 時 采 取 定 浮 沉

Tiến Hỏa tu phòng nguy thậm.

進 火 須 防 危 甚

Tạm dịch:

Bạch Hổ là Thủ Kinh chí bảo

Hoa Trì, Thần Thủy chính Chân Kim.

Biết đựợc Chí Thiện trong ta,

Không phải tầm thường Dược Thảo.

*

Muốn tu Cửu Chuyển Hoàn Đơn

Trước phải Trì Tâm Luyện Kỷ

Phải biết Thái Thủ, biết Phù Trầm.

Tiến Hỏa phải đề phòng nguy hiểm.

Bài Từ trên bàn về điều hòa Diên Hống cho thành Đơn. Nhưng muốn điều hòa Diên Hống, thì cần phải biết Đại Dược là Chân Tri của Chân Diên, rồi mới có thể ra tay. Chân Tri chính là Chân Tình. Tại Pháp Tượng thì là Bạch Hổ, hay là Hoa Trì, Thần Thủy. Chân Tình ẩn trong Vọng Tình. Tình thuộc Kim, nên gọi là Bạch Hổ. Chân Tình tuy ẩn trong Vọng Tình, nhưng cũng có lúc nó hiển lộ ra. Thế là Thiên Địa chi Tâm được thấy lại, thế là Sinh Cơ manh nha. Vì thế gọi là Thủ Kinh. Thủ là Bắt đầu.

Kinh là Đạo Thường Hằng Vĩnh Cửu. Khi Đạo vừa mới bắt đầu, thì Vô trung sinh Hữu, Âm trung hàm Dương, đó là Mẹ muôn vật, đó là Sinh Cơ. Cái Chấm Sinh Cơ ấy, chính là Căn Cơ sinh Thánh sinh Hiền, là Căn Bản thành Phật, thành Tiên, cho nên gọi là Chí Bảo. Sinh Cơ ấy gọi là Hoa Trì, Thần Thủy. Hoa Trì là Huyền Quan Nhất Khiếu, là Chúng Diệu Chi Môn.

Vì trong chứa Sinh Cơ, nên gọi là Hoa Trì. Vì Sinh Cơ này điều lý bách hài, dưỡng nuôi ngũ tạng, nên gọi là Thần Thủy. Vì Sinh Cơ này đã được Lửa đoàn luyện, ngưng kết bất tán, kiên cố bất hoại, nên gọi là Chân Kim. Thủ Kinh là Thần Thủy, là Chân Kim. Tất cả đều là Sinh Cơ, hay là Thượng Thiện chi Tính. Thượng Thiện là Chí Thiện vậy. Chí Thiện vô ác, gồm đủ Chúng Lý và ứng vạn sự, y như nước co nguồn. Nguồn nước tuy xa, nhánh sông tuy dài, sinh ra lợi ích vô cùng cho vận vật. Nó bảo Mệnh ta, toàn hình ta, là Dược Phẩm chí chân vậy. Không thể sánh nó với những dược phẩm tầm thường do kim thạch mà có. Nhưng dược vật này dấu trong Hậu Thiên, may ra mới hiện hình, nên được mất dễ dàng, không thể ở lâu. Nếu muốn tu thành Cửu Chuyển, Vĩnh Viễn Bất Hoại, thì trước hết phải Luyện Kỷ, Trì Tâm, tiêu hết khách khí trần tình. Phải biết y thời Thái Thủ, để định Phù Trầm.

Linh Tri thì dấu trong Nhân Tâm. Nhân Tâm mà động, thì Linh Tri bay mất, nên gọi là Dễ Nổi (Dị Phù). Chân Tri thì có đủ trong Đạo Tâm. Đạo Tâm tối thì Chân Tri tàng, nên gọi là Dễ Chìm (Dị Trầm).

Luyện kỷ, trì Tâm là luyện khứ Nhân Tâm Linh Tri, làm cho cái Nổi Chìm xuống,

Y thời Thái Thủ tức là Thái Thủ Đạo Tâm Chân Tri làm cho cái gì bị Chìm được Nổi lên lại.

Phù Trầm Điên Đảo tức là dùng Đạo Tâm mà chế Nhân Tâm. khiến Nhân Tâm phải thuận Đạo Tâm; dùng Linh Tri thống suất Chân Tri, dùng Linh Tri nuôi Dưỡng Chân Tri. Nhân Tâm Tĩnh Đạo Tâm sẽ tồn. Chân Tri Linh Tri sẽ Đồng Khí liên chi. Và Kim Đơn có hi vọng thành tựu.

Nhưng Dược Vật thì dễ biết, Hỏa Hậu thì khó hay. Tiến hỏa công phu phải biết Dược Vật non già, phài biết Nhanh Chậm Cát Hung. Nếu ra tay bừa bãi, thì sẽ vô ích mà còn có hại. Cho nên nói: Tiến Hỏa tu phòng nguy thậm.

******************* 

Bài 4

Nhược yếu Chân Diên Lưu Hống,

若 要 真 鉛 留 汞

Thân trung bất ly gia thần.

親 中 不 離 家 臣

Mộc Kim gián cách hội vô nhân,

木 金 間 隔 會 無 因

Toàn trượng môi nhân câu dẫn.

全 仗 媒 人 勾 引

*

Mộc tính ái Kim thuận Nghĩa,

木 性 愛 金 順 義

Kim tình luyến Mộc từ Nhân.

金 情 戀 木 慈 仁

Tương Thôn Tương Đạm khước Tương Thân,

相 吞 相 啗 卻 相 親

Thuỷ giác Nam Nhi hữu dựng.

始 覺 男 兒 有 孕

Tạm dịch:

Nếu muốn Chân Diên lưu được Hống

Thì Đạo tâm phải thân cận Nhân Tâm,

Đạo Tâm, Nhân Tâm nay gián cách,

Muốn hợp toàn nhờ Thổ mối manh.

*

Mộc tính yêu Kim, thuận Nghĩa,[8]

Kim tình luyến Mộc từ Nhân,[9]

Đôi đằng hợp nhất kết Kim Đan,

Mới biết Nam Nhi cũng mang thai.

Bài từ trước bàn về Thái Thủ cần phải nhờ vào công phu tu luyện. Mà Luyện Kỷ là muốn cho Tam Gia tương kiến vậy. Kim Đơn chi đạo chỉ là hai chữ Cương Nhu. Trung Chính của Cương là Chân Tri. Thủ Tượng là Chân Diên. Trung Chính của Nhu là Linh Tri, Thủ Tượng là Chân Hống. Lấy 2 vật đó, hợp lại thành Đơn. Nhưng nếu Chân Tri không sáng lên, thì Linh Tri sẽ bay mất, vì thế Chân Tri là cái gì chế ngự được Linh Tri. Nhưng tuy Chân tri vốn chế ngự được Linh Tri, nhưng Linh tri lại nuôi dưỡng được Chân Tri. Nên Linh Tri là Gia Thần của Chân Tri. Nếu không Định được Linh Tri, thì Chân Tri sẽ không hiện. Cho nên nói: Nhược yếu Chân Diên lưu Hống, Thân trung bất ly Gia Thần. Thân là Chân Tri Linh Tri, Cương Nhu tương hợp.

Chân Tri là Vua, Linh Tri là Gia Thần. Nếu Gia Thần không thuận thảo thì Vua sẽ khó có cơ hành động. Vả Chân Tri Linh Tri tranh nhau trong kẽ tóc đường tơ. Linh Tri tận, thì Chân Tri hiện. Chân Tri tồn thì Cương Kiện. Linh Tri tĩnh thì Nhu Thuận. Cương Kiện Nhu Thuận, Tính Tình tương hợp. Cho nên Đơn Đạo lấy Chân Diên, Chân Hống, làm 2 dược liệu vậy.Chân Tri chi Duyên Tình thuộc Kim, Linh Tri chi Hống Tính thuộc Mộc.

Hậu Thiên là Dụng Sự, Tình Tây, Tính Đông, như Kim Mộc xa nhau, mỗi thứ một nhà, không tương hội vậy. Nếu Chân tính không tương thông, thì Chân Tình Chân Tính không hiện, Chân Tri Linh Tri không hợp. Chân Tín là Chân Ý vậy. Cũng còn gọi là Chân Thổ. Chân Thổ đã hiện, thì Kim Mộc sẽ hợp nhất. Chân Tín mà thông, thì Tính Tình sẽ tự hợp. Cho nên Chân Tín là người môi giới giữa Chân Tình Chân Tính.

Chân Tính là Mộc, chủ Thuận, chủ Nhân; Chân Tình là Kim, chủ Cương chủ Nghĩa. Tính Tình có Tín ở giữa điều hòa, thì Mộc Tính sẽ yêu Kim Tình và thuận Nghĩa. Kim Tình sẽ luyến Mộc Tính và Từ Nhân. Tính Tình hợp nhất. Tính Tình hợp nhất, cương nhu tương ứng, Nhân Nghĩa kiêm toàn, Chân Tri, Linh Tri đồng Khí. Tương thôn, tương đạo, tính định tình vong. Tiên Thiên chi Khí tự vô trung lai, ngưng kết thành một hạt châu, như hạt vừng (Thủ Châu), tượng là Thánh Thai nên nói Đàn Ông có mang là vì vậy.

******************* 

Bài 5

Nhị Bát [10] thùy gia Xá Nữ, [11]

二 八 誰 家 奼 女

Tam Cửu [12] hà xứ Lang Quân? [13]

三 九 何 處 郎 君

Tự xưng Mộc Dịch [14] dữ Kim Tinh, [15]

自 稱 木 液 與 金 精

Ngộ Thổ khước thành Tam Tính. [16]

遇 土 卻 成 三 性

*

Cánh giả Đinh Công [17] đoàn luyện,

更 假 丁 公 鍛 煉

Phu Thê [18] thủy kết hoan tình.

夫 妻 始 結 歡 情

Hà Xa [19] bất cảm tạm lưu đình,

河 車 不 敢 暫 留 停

Vận nhập Côn Lôn [20] phong đỉnh.

運 入 崑 崙 峰 頂

Tạm dịch:

Nhị Bát Xá Nữ nhà nào?

Tam Cửu Lang Quân nơi đâu?

Mộc Dịch, Kim Tình bồi thêm Thổ

Tam Gia tương Kiến đẹp biết bao?

*

Nhờ lửa Đinh Công đoàn luyện,

Vợ chồng hoan hỉ gặp nhau.

Hà Xa vận chuyển không gián đoạn,

Vận nhập Côn Lôn tối cao phong.

Bài Từ trên bàn về Tam Gia tương kiến, về Kết Thánh Thai. Nhưng Tam Gia tương kiến, mà không có Chân Hỏa đoàn luyện, thì Thánh Thai không kết.

Hai là số Âm Hỏa, Tám là số Âm Mộc. Cho nên gọi là Xá Nữ. Chín là số của Dương Kim, Ba là số Dương Mộc. Cho nên gọi là Lang Quân. Mộc Dịch là Hỏa. Mộc sinh Hỏa là một Họ. Kim Tinh là Thủy. Kim sinh Thủy là một Họ. Thổ ở Trung Ương cũng là một Họ. Ba Họ hợp nhau thành một Họ. Thế là đủ Ngũ Hành.

Đem sánh với người Tu Đạo, thì Nguyên Tính, Nguyên Thần là Mộc Hỏa một Họ. Nguyên Tình, Nguyên Tinh là Kim Thủy một Họ. Nguyên Khí là Thổ là Một Họ. Tam Tính đó là Nội Tam Tính.

Nhân, Lễ thuộc Mộc Hỏa là một Họ. Nghĩa Trí thuộc Kim Thủy là một Họ. Tín thuộc Thổ là một Họ. Cái Tam Gia này gọi là Ngoại Tam Tính. Người tu Đạo dùng Nội Tam Tính thống xuất Ngoại Tam Tính. Dùng Ngoại Tam Tính để thành toàn Nội Tam Tính. Chung qui là làm cho Tam Tính trở thành Nhất Tính. Nhưng Tam Tính đó cần phải dũng mãnh tu trì, chuyên tâm trí chí, phải hạ quyết tâm, hạ tử công phu, mới có thể qui về Nhất Tính.

Đinh Công đoàn luyện chính là công phu dũng mãnh tu trì. Từ bất Nhân trở thành Nhân, từ bất Nghĩa trở thành Nghĩa, từ bất Lễ trở thành Lễ, từ bất Trí trở thành Trí, từ bất Tín trở thành Tín. Nhân Nghĩa Lễ Trí đều trở về Tín. Tính Tình Tinh Thần hòa thành Nhất Khí. Tam Tính hòa hợp, Cương Nhu tương ứng, Tính Tình như Nhất, như vậy phu thê mới giao kết hợp hoan. Khi phu thê đã giao kết hợp hoan, thì càng lâu càng mạnh. Sức lửa không thiếu, và Nhất Khí Thành Công. Thế là tiến tới Thuần Dương, đến chỗ Vô Thanh, Vô Xú vậy. Vì thế viết: Hà Xa bất cảm tạm lưu đình, Vận nhập Côn Lôn phong đỉnh. Hà Xa là Bắc Phương Chính Khí, không phải là vận Thận Khí từ Vĩ Lư, qua Giáp Tích lên tới đỉnh đầu.

Đó chính là Nhất Khí thành công. Dùng nước giúp lửa, thủy hỏa phanh tiễn, không hề gián đoạn, y như nhức trong Hà Xa, vận lên vận xuống, vận chuyển ngày đêm không ngừng vậy. Côn Lôn là tổ sơn của muôn núi. Vận nhập Côn Lôn đỉnh là Tam Hoa qui Đỉnh, Ngũ Khí triều Nguyên, nhập vào Địa Vị «Chân Không Diệu Hữu», chỗ Bất Thức Bất Tri, luôn theo qui luật của Trời

******************* 

Bài 6

Thất phản [21]: Chu Sa [22] phản bản,

七 返 朱 砂 返 本

Cửu Hoàn [23]: Kim Dịch [24] hoàn chân.

九 還 金 液 還 真

Hưu tương Dần Tí số Khôn Thân,

休 將 寅 子 數 坤 申

Đãn yếu Ngũ Hành thành chuẩn.

但 要 五 行 成 準

*

Bản thị Thủy Ngân nhất vị,

本 是 水 銀 一 味

Chu lưu biến lịch chư Thần, [25]

周 流 遍 歷 諸 辰

Âm Dương số túc tự thông thần,

陰 陽 數 足 自 通 神

Xuất nhập khởi ly Huyền Tẫn (Nguyên Tẫn) [26]

出 入 豈 離 元 牝

Tạm dịch:

Thất phản; Chu Sa phản bản,

Cửu hoàn: Kim Dịch hoàn đơn.

Cần chi Dần Tí số Khôn Thân,

Cốt sao Ngũ Hành qui Nhất.

*

Vốn chỉ Thủy Ngân Nhất Vị

Chu lưu biến lịch khắp nơi.

Âm Dương số túc sẽ thông Thần

Xuất Nhập không rời Huyền Tẫn

Bài từ trên bàn về Ngũ Hành Toản Thốc (Ngũ Hành Hợp Nhất). Nếu biết vận hỏa đoàn luyện ắt sẽ thành công. Nhưng muốn đoàn luyện thì phải hiểu nghĩa lý của của Thất Phản, Cửu Hoàn.

Thất là Dương Số của Hỏa. Cửu là Dương Số của Kim. Tính của Linh Tri thời Nhu, trong có chứa Tà Hỏa. Tà Hỏa mà tiêu thì Chân Hỏa mới sinh. Như Linh Hống kết thành Châu Sa, sẽ không bao giờ còn bay đi mất được. Thế là Hỏa phản về Bổn vậy.

Tính của Chân Tri thời Cương, trong tàng Táo Kim. Táo Kim hóa mà Chân Kim thuần. Như trọc Kim hóa thành Dịch Chấp. Hống là thứ Kim chí tĩnh, chí minh. Thế là Kim hoàn kỳ Chân vậy.

Nghĩa của Thất Phản Cửu Hoàn trong Đơn Kinh. Bàng Môn Tả Đạo thì đếm từ Tí đến Khôn là Cửu Hoàn, từ Dần đến Khôn là Thất Phản. Như vậy, đâu có hiểu Thất Phản, Cửu Hoàn? Nếu không hiểu nghĩa Thất Phản Cửu Hoàn, thì là sao hiểu được Ngũ Hành Thành Chuẩn?

Hỏa phản Bản, tức là Hỏa Trung Xuất Mộc và có Thần Linh. Thần Linh tức là Linh Tri bất muội.

Kim hoàn Chân tức là Thủy Trung Sinh Kim và có Tinh Nhất.

Tinh Nhất là Chân Tri thường Tồn, Linh Tri bất muội. Chân Tri thường Tồn, thì Chân Tri là Linh Tri, Linh Tri tức là Chân Tri. Kim Mộc Thủy Hỏa, Tứ tượng Hoà hợp, qui về Trung Ương. Ngũ Hành Nhất Khí, Bất Thiên, Bất Ỷ, Hồn Nhiên Thiên Lý, thế là Ngũ Hành Thành Chuẩn.

Mà công phu Ngũ hành Thành Chuần là Thủy trung Kim, nhất vị Đại Dược vận dụng.

Thủy Ngân là Thủy trung Ngân chính là Thủy trung Kim. Đó chính là một điểm Chân Tình của Chân Tri. Trong Chân Tri có chứa Tiên Thiên chân nhất chi khí. Đó là Căn Cơ của Ngũ Hành, là Căn Bản của Tứ Tượng. Động thì sinh Dương, Tĩnh thì sinh Âm. Chu lưu qua các giờ của Tứ Tượng, Ngũ Hành. Đạo Phản Bản chính là lúc đáng Tiến Dương Hỏa để mà hái lấy Chân Tri, lúc đáng vận Âm thì tiến Âm Phù, để nuôi dưỡng cái Chân Tri đó.

Dương Hỏa, Âm Phù số túc, thì Ngũ Hành Hỗn Hóa, Lương Tri, Lương Năng tịch Nhiên bất động, Cảm Nhi Toại Thông, thì tự nhiên sẽ Thông Thần. Thần là Âm Dương Bất Trắc. Âm Dương Bất Trắc thì Thánh Thai ngưng kết. Hiệu là Cốc Thần. Cốc Thần Bất Tử là Thiên Địa căn. Đó là Huyền Tẫn chi Môn là Thiên Địa Căn. Âm Dương Số túc là Huyền Tẫn đã lập. Huyền Tẫn lập, thì Cốc Thần ra vào nơi Cửa Huyền Tẫn, và sẽ trường Sinh bất tử. Cho nên nói: Yêu đắc Cốc Thần trường bất tử, Tu bằng Huyền Tẫn lập căn cơ.

******************* 

Bài 7

Hùng [27] lý nội hàm Thư [28] chất,[29]

雄 里 內 含 雌 質

Phụ Âm khước bão [30] Dương Tinh. [31]

負 陰 卻 抱 陽 精

Lưỡng ban hòa hợp Dược phương thành,

兩 般 和 合 藥 方 成

Điểm hóa phách tiêm, hồn thắng. [32]

點 化 魄 纖 魂 勝

*

Tín đạo Kim Đơn nhất lạp,

信 道 金 丹 一 粒

Xà thôn lập biến thành Long.

蛇 吞 立 變 成 龍

Kê San diệc nãi [33] Loan Bằng,

雞 餐 亦 乃 鸞 鵬

Phi nhập Chân Dương [34] thanh cảnh.

飛 入 真 陽 清 境

Tạm dịch:

Trong Dương mà lại có Âm,

Trong Âm mà lại có Dương.

Âm Dương Hòa Hợp đơn sẽ thành,

Cái gì Chếch Lệch sẽ san bằng.

*

Đạo Kim Đơn chỉ duy một hạt,

Rắn nuốt dược sẽ thành Rồng.

Gà nuốt được sẽ biến thành Loan Bằng,

Bay thẳng về Chân Dương Thanh Cảnh.

Bài từ trên nói về Thất Phản Cửu Hoàn. Cần phải đủ số Âm Dương. Nhưng vận Âm vận Dương, thì phải biết Chân Âm, Chân Dương. Hùng lý nội hàm Thư Chất là ở nơi quẻ thì Ly Trung Hư, ở nơi người là Nhân Tâm tàng ẩn Linh Tri. Phụ Âm khước bão Dương Tinh là ở nơi quẻ thì là Khảm Trung Mãn, ở nơi người thì là Đạo Tâm đầy đủ Chân Tri.

Chân Tri Linh Tri, hai thứ Dược Vật đó, hòa hợp sẽ thành Đơn. Phách là Âm Trung Chi Dương, là Chân Tri chi Thần. Hồn là Dương Trung chi Âm. Là Linh Tri chi Thần.

Phách Tiêm là Dương Thiếu (Dương ít). Hồn thắng là Âm đa. Dương thiếu, Âm đa, là thiên lệch không đều nên Kim Đơn không thành. Tuy Chân Tri, Linh Tri tương hợp, nhưng Hồn Phách cũng đã qui về Trung Chính, hóa thành Chân Tính, Chân Tình. Âm Dương hỗn hợp, Thiên Lý chiêu chương (sáng tỏ), Nhân Dục tiêu diệt, Lương Tri, Lương Năng, tròn vành vạnh, sánh rờ rỡ, sạch lâng lâng, đỏ hây hây, thành một viên Kim Đơn, treo lơ lửng trong thái không, soi khắp Tam Thiên, Đại Thiên Thế Giới, tung hoành, thuận nghịch, không gì ngăn che.

Đơn này ai đã nuốt vào, lập tức thành tiên, như rắn nuốt được sẽ hóa thành rồng, như gà mà nuốt được, sẽ biến thành chim loan, chim bằng, sẽ lập tức bay về cảnh Chân Dương. Nhưng nói Rắn ăn, gà nuốt là nói theo ẩn dụ Đơn Pháp. Xà thuộc Hỏa, ở phía Nam là quẻ Ly, Long thuộc Mộc, ở phía Đông là quẻ Chấn, Kê tại Dậu, thuộc Kim, là Đoài, Loan Bằng gần nước. ở phía Bắc là Khảm. Xà thôn thành Long, là Hỏa Trung xuất Mộc. Ly san thành Loan Bằng là Thủy trung hữu Kim.

Hỏa trung Xuất Mộc, Thủy lý sinh Kim. Kim Mộc hợp nhất, Thủy Hỏa tương tế, nhất khí hỗn nhiên, hữu vô bất lập, vật ngã qui không, hình thần câu diệu, nhập ư thánh, không biết không hay nên gọi là Thần vậy.

Thoát ly thế giới phàm tục, nhập vào Thanh Dương chi cảnh, thế đâu phải là lời nói bậy?

******************* 

Bài 8

Thiên Địa [35] tài giao Bĩ Thái,

天 地 才 交 否 泰

Chiêu Hôn hảo thức Truân Mông.

朝 昏 好 識 屯 蒙

Phúc [36] lai, Thấu [37] Cốc , [38] Thủy triều tông,

輻 來 輳 轂 水 朝 宗

Diệu tại Sưu Thiêm Vận Dụng.

妙 在 抽 添 運 用

*

Đắc Nhất vạn ban giai tất,

得 一 萬 般 皆 畢

Thể phân Nam Bắc Tây Đông.

體 分 南 北 西 東

Tổn chi hựu Tổn thận tiền công,

損 之 又 損 慎 前 功

Mệnh bảo bất nghi khinh lộng.

命 寶 不 宜 輕 弄

Tạm dịch:

Hiểu lẽ Bĩ Thái, Truân Mông Trời Đất,

Hiểu rằng tai hoa qui về trục Xe

Và muôn nước đều thông ra biển

Thì sẽ biết được cái Vi Diệu của Sưu Thiêm.

*

Hiểu được Một là xong tất cả,

Hết phân Nam Bắc Tây Đông.

Khách khí cố lo trừ cho hết

Đừng đem Mệnh Bảo để rỡn chơi.

Đạo Kim Đơn là Đạo Tạo Hóa. Đạo Tạo Hóa là Đạo Nhất Âm, Nhất Dương. Trong một năm, tháng Dần thì Thiên Khí thượng thăng, Địa khí hạ giáng, gọi là Thái; nơi tháng Thân, thì Địa Khí thượng Thăng, Thiên Khí hạ giáng là Bĩ.

Trong một ngày, giờ Tí là đầu buổi sáng, trong giờ Tí thì Dương Khí nội động, Âm Khí xuất ngoại là Truân. Giờ Ngọ là đầu buổi chiều, trong giờ Ngọ thì Dương Khí ngoại chỉ, Âm khí nội sinh là Mông.

Bĩ Thái là Xuân Thu Âm Dương thăng giáng trong một Năm. Truân Mông là Chiêu Hôn, Âm Dương vãng lai.

Xem Trời Đất mới biết lẽ thông tắc Bĩ Thái, mới biết lẽ Tiêu Tức của (Đày Vơi) Chiêu Truân, Mộ Mông Sáng Truân, Chiều Mông) trong một ngày.

Vả Âm Dương Tiêu tức trong một ngày thì cũng như Âm Dương Tiêu Tức trong một năm. Nhưng Âm Dương trong một năm, thì cũng như Âm Dương trong một ngày. Đôi bên đều là Một Khí.

Người tu Đạo biết vận dụng lai vãng, biết bắt chước thời tiết Bĩ Thái, biết theo lẽ Chiêu Hôn Truân Mông, gặp thời Dương thì tiến Dương Hỏa. Gặp thời Âm thì vận Âm Phù. Dương Cương Âm Nhu không sai thời tiết, cứ theo đúng nghĩa lý mà sinh hóa. Toản Thốc Ngũ Hành, hòa hợp Tứ Tượng, Như 30 tai hoa quay về trục xe và làm xe chạy, như trăm nghìn nhánh sông đều đổ xuống biển, một khí Hồn Nhiên. Cái vi diệu của Kim Đơn ngưng kết chính là nhờ biết Sưu Thiêm vận dụng vậy.

Sưu là vứt bỏ hết cái Giả Âm giả Dương. Thiêm là Thêm được cái gì là Chân Âm, Chân Dương. Giả Âm Khứ thì Chân Âm Hiện, Giả Dương Tiêu thì Chân Dương Sinh. Chân Âm Chân Dương qui ư Trung Chính. Hai bên hợp nhất, Chân Tri, Linh Tri, Tính Tình tương đầu, thấy lại được Lương Tri, Lương Năng, Bản Lai Diện Mục của Mình. Công trình Sưu Thiêm thật là tuyệt vời vậy.

Đại để tu Đơn là biết Chân Âm, Chân Dương, và Tiên Thiên Chân Nhất chi khí. Khí đó có từ khi Hồng Mông vừa chia. Âm Dương vừa phân. Khi chưa phát thì là Chân Không, khi đã Phát ra thì là Diệu Hữu. Thủ Tượng thì là Thủy Trung Kim, thủ Thể thì là Bỉnh Di chi Thiên Lương, thủ Dụng thì là Tinh Nhất chi Đạo Tâm.

Đơn Đạo chỉ thủ Đạo Tâm nhất vị Đại Dược, Cái Đạo Tâm ấy tuy là Nhất vị, nhưng thống suất Khí Ngũ Hành. Vì Đạo Tâm chính là Chân Nhất chi Thủy hóa ra.

Nhất là số đầu các con số, trong Nhất đã có Ngũ. Ngũ quay về Một. Khi mọi sự đã qui về Một, thì không còn thể gọi là Đạo Tâm nữa, mà chỉ là Hồn Nhiên Thiên Lý mà thôi.

Cho nên Nho Gia gọi Hồn Nhiên Thiên Lý là Thái Cực, Đạo Gia gọi Hồn Nhiên Thiên Lý là Kim Đơn, Thích thị gọi Hồn Nhiên Thiên Lý là Viên Giác.

Sách xưa nói: Đắc kỳ Nhất, vạn sự tất. Tức là ý này.

Được Nhất rồi, thì là Mệnh bảo. Nhất đã tới tay, thì không còn phân Đông Tây Nam Bắc.

Phải dùng phép Toản Thốc (Hợp Nhất), và chỉ dùng Đạo Tâm đề phòng Nhân Tâm. Tổn Nhi Hựu Tổn, là bao nhiêu Khách Khí của Nhân Tâm, đều trừ khử hết, chỉ còn thuần có Nhu Thuận chi Linh Tri, thế là Nhân Tâm cũng biến thành Đạo Tâm rồi vậy. Vả trong Nhân Tâm có Thức Thần cư ngụ. Thức Thần có Lịch Kiếp Căn Trần và hiện thế tích tụ chi Khí, và nhất thân Khí Chất chi tà. Nếu tất cả những họa căn đó, mà không tẩy sạch hết, nếu còn chút chi vương vấn, nhất thời lại phát hiện ra, thì cái Mệnh bảo hữu lậu trước kia có được bao nhiêu công phu thì cũng bị phế bỏ hết. Vì thế cho nên nói:Thận Tiền Công, và Mệnh Bảo bất nghi khinh lộng.

Cổ Tiên xưa nói: Nhất hào Dương Khí bất tận bất tử, Nhất hào Âm Khí bất tận bất tiên.

Cho nên khi Đơn đã thành rồi, thì phải lo vứt bỏ Cái Chủng Tử Luân Hồi từ muôn kiếp đó đi ngay, thì cái Mệnh Bảo mới chính thực là của ta, và không hề hư hoại được.

******************* 

Bài 9

Đông Chí nhất Dương lai phục,

冬 至 一 陽 來 復

Tam Tuần tăng nhất Dương hào.

三 旬 增 一 陽 爻

Nguyệt Trung Phục Quái Sóc Thần triều,

月 中 復 卦 朔 晨 潮

Vọng bãi Kiền chung Cấu triệu.

望 罷 乾 終 姤 兆

*

Nhật hựu biệt vi Hàn Thử,

日 又 別 為 寒 暑

Dương sinh Phục khởi trung tiêu.

陽 生 復 起 中 宵

Ngọ thời Cấu tượng nhất Âm triêu,

午 時 姤 象 一 陰 朝

Luyện dược tu tri hôn hiểu.

煉 藥 須 知 昏 曉

Tạm dịch:

Đông Chí Nhất Dương lai phục,

Mỗi tháng tăng một Dương Hào.

Mỗi tháng quẻ Phục sinh sáng ngày 30

Ngày 15 hết Kiền rồi sang Cấu,

*

Mỗi ngày phải phân Nóng Lạnh

Phục Dương sinh lúc nửa đêm

Quẻ Cấu sinh ra khi giờ Ngọ

Luyện thuốc phải tường Sáng Tối.

Bài từ trên bàn về Sưu Thiêm công phu, cốt dạy dân bắt chước Trời mà hành sự. Sáng tối trong Trời Đất là tạo hóa. Sớm Tối trong một năm. Tháng 11 là Đông Chí Nhất Dương sinh: cứ mỗi ba mươi ngày là tăng 1 Dương Hào. Như tháng 11 Tí, thì Một Dương sinh là Phục. Tháng 12 Sửu, nhị Dương sinh là Lâm, thánh Giêng Dần tam Dương sinh là Thái, tháng 2 Mão, tứ Dương sinh là Đại Tráng, tháng 3 Thìn, ngũ Dương sinh là Quải, tháng Tị, lục Dương sinh là Kiền. Đó là 6 quẻ Dương quải.

Đến tháng 5 là Ngọ, nhất Âm sinh là Cấu, mỗi tháng (3 tuần) 30 ngày tăng 1 Âm hào.

Tháng 6 là Mùi tăng 2 Âm là Độn, tháng 7 Thân tăng 3 Âm là Bĩ.

Tháng 7 Dậu tăng 4 Âm là Quan, tháng Chín là Tuất 5 Âm sinh là Bác.

Tháng 10 là Hợi 6 Âm sinh là Khôn. Đó là 6 quẻ Âm Quải.

6 tháng Dương là Buổi Sáng. 6 tháng Âm là Buổi Chiều. Thế là Sáng Tối trong một năm vậy.

Trong mỗi một tháng, giữa ngày 30 và mồng Một, là Mặt Trăng Mặt Trời giao hội, là lúc mặt trăng mượn ánh sáng của mặt Trời.

Mồng ba là bắt đầu có Ánh Sáng, và Thủy Triều ứng theo mà có, thành quẻ Phục. Mỗi hai ngày rưỡi, tăng một Dương Hào. Tới ngày 15 là ngày Nhật Nguyệt Tương Vọng. Ánh sáng đầy đủ nên gọi là Kiền.

Từ mồng Một đến 15, là sáu quẻ Dương (Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng,Quải, Kiền). Hết Rằm là Kiền hết (Vọng bãi, Kiền chung).

Từ 16 đến 18, Một Âm Sinh, Dương Quang đã giảm, quẻ Cấu bắt đầu. Mỗi 2 ngày rưỡi, tăng một Âm hào, đến ngày 30 (Hối), thì Dương Quang tận tiêu. Chỉ còn một vầng đen là quẻ Khôn. Từ 16 đến 30 là 3 quẻ Âm (Cấu, Độn, Bỉ, Quan, Bác, Khôn). Hai ngày rưỡi là một Hầu. 12 Hầu gồm đủ Thề quẻ Âm Dương, thế là Sáng Chiều của một tháng.

Trong một ngày lại có Nóng Lạnh. Cứ mỗi đêm vào giờ Tí, thì Nhất Dương sinh là quẻ Phục, Mỗi thời tăng một Dương hào. Đến giờ Tị thì Lục Dương Sinh là Kiền. Đến Ngọ thì Nhất Âm sinh là Cấu. Mỗi thời tăng một Âm Hào, đến giờ Hợi thì Sáu Âm sinh là Khôn. 12 giờ hành 12 quẻ Lục Dương Lục Âm. Thế là Sáng Chiều của một ngày.

Thánh Nhân xưa đem một năm Âm Dương, sáng chiều vào trong một tháng; đem một tháng Âm Dương sáng chiều vào trong một ngày; đem Âm Dương sáng chiều của một ngày vào trong một giờ. Một giờ có tám khắc. Một khắc có 15 phân. Tám Khắc là 120 phân.

4 khắc trên có 60 phân là Lục Dương.

4 khắc dưới có 60 phân là Lục Âm.

Lại đem Âm Dương Hôn Hiểu của mỗi giờ đem vào trong một khắc.

Mỗi khắc là 15 phân. Bảy phân rưỡi trên là Dương, Bảy phân rưỡi dưới là Âm.

Trong một phiến khắc thái thủ Đại Dược, đem về Tạo Hóa Đỉnh Lô, vận Dương Hỏa Âm Phù đoàn luyện thành Đơn. Cho nên nói: Bất khắc thời trung phân Tí Ngọ, Vô Hào Quải nội biệt Kiền Khôn.

Chỉ cần biết thế nào là Sáng Tối của Âm Sinh Dương Sinh. Hiểu Sáng Tối, thì một ngày, một tháng, một năm của Tạo Hóa sẽ nằm trong một giờ, một khắc.

Những kẻ ngu si trong đời hoặc lo tọa công vào Tí Ngọ, hoặc lo hành Khí vào hai ngày Sóc Vọng, hoặc lo tu dưỡng vào các ngày Đông Chí Hạ Chí, họ có hiểu thế nào là Sáng Chiều đâu?

******************* 

Bài 10

Bất biện Ngũ Hành, Tứ Tượng,

不 辨 五 行 四 象

Na phân Chu Hống Diên Ngân.

那 分 朱 汞 鉛 銀

Tu Đơn hỏa hậu vị tằng văn,

修 丹 火 候 未 曾 聞

Tảo tiện xưng hô cư ẩn.

早 便 稱 呼 居 隱

*

Bất khẳng tự tư kỷ thác,

不 肯 自 思 己 錯

Cánh tương thác lộ giáo nhân.

更 將 錯 路 教 人

Ngộ tha vĩnh kiếp tại mê tân,

誤 他 永 劫 在 迷 津

Tự nhẫm khi tâm an nhẫn.

似 恁 欺 心 安 忍

Tạm dịch:

Không phân Ngũ Hành Tứ Tượng,

Thì sao hiểu Chu Hống, với Duyên Ngân,

Chưa biết gì về Hỏa Hậu,

Mà dám xưng Mình là Cư Ẩn.

*

Không biết mình đã sai,

Còn đem cái sai đó dạy cho người

Dẫn người đi vào Bến Mê,

Mà không biết là đã lừa người,

Sao nhẫn Tâm thế được?

Bài Từ trên dạy muốn luyện dược, phải biết thế nào là Âm Dương, Hôn Hiểu, bài từ này dạy thêm rằng: người không biết Âm Dương Hôn Hiểu mà sao dạy đời được Đạo Thần Tiên. Phải biết Thành Kỷ rồi mới Thành Vật sau, tu Đạo trước rồi mới tu Đức sau.

Những kẻ u mê trong trần thế, không biết thực tế của Tứ Tượng Ngũ Hành, không biết Ngụ Ngôn về Chu Sa, Duyên Ngân, chưa hiểu Dược Vật, chưa rõ Hỏa Hầu, chỉ học được Bàng Môn Tiểu Pháp, mà đã tự phụ cho rằng Mình đã nắm được Đạo, xưng mình là Cư Ẩn. Không nhận là mình đã sai lầm, mà còn đem cái sai lầm đó dạy đời, thì có khác nào một người mù hướng dẫn một bọn mù, dẫn nhầm người vào bến Mê Tân, muôn đời không sao thoát khỏi được. Y như một người đem cái Khi Tâm, Nhẫn Tâm của Mình, nhập và Vô Gián Địa Ngục, không có ngày ra ra khỏi, như vậy mà cầu Thành Đạo làm sao?

******************* 

Bài 11

Đức hạnh tu du bát bách,

德 行 修 逾 八 百

Âm công tích mãn tam thiên.

陰 功 積 滿 三 千

Quân tề vật ngã, dữ thân oan,

均 齊 物 我 與 親 冤

Thủy hợp thần tiên bản nguyện.

始 合 神 仙 本 願

*

Hổ hủy đao binh bất thương,

虎 兕 刀 兵 不 傷

Vô thường hỏa trạch nan khiên.

無 常 火 宅 難 牽

Bảo phù giáng hậu khứ triêu thiên,

寶 符 降 後 去 朝 天

Ổn giá loan xa phượng liễn.

穩 駕 鸞 車 鳳 輦

Tạm dịch:

Đức hạnh phải dư bát bách,

Âm công phài quá tam thiên

Người, ta là một, không có bạn thù,

Như vậy mới dược như nguyền

*

Tê hổ, đao thương không phạm,

Hóa trạch vô thường không thể đốt tan.

Bửu phù ban xuống gọi triêu thiên

Ta sẽ về bằng loan xa, phượng liễn.

Bài từ trên nói về bàng môn, tả đạo vì không hiểu Đạo nên làm tổn thương Đức, không thể tu đức. Bài từ này nói sau khi tu Đạo phải tu đức. Tu Đạo là tu cho mình, tu đức là tu cho người. Tu đạo thì có cùng, tu đức thì vô cùng. Cho nên thần tiên, sau khi thành đạo, thì ba nghìn công đức đày đủ, và 800 hạnh toàn, Mình Người đều quên, không phân thân thù, lượng cả như Trời Đất, bao la vạn vật, gồm thâu Đạo Đức, như vậy mới được như nguyện.

Khi đạt tới được địa vị này, thì trong ngoài đều không, không còn phân Hữu, Vô, hình thần câu diệu. Hổ, Tê không hại được, đao binh không hề hấn được, lò lửa vô thường không thiêu đốt được. Một khi Trời giáng bảo phù gọi về, sẽ cưỡi xe loan phượng về Trời. Đại trượng phu công thành danh mãn, há không sảng khoái sao?

******************* 

Bài 12

Ngưu Nữ tình Duyên Đạo hợp,

牛 女 情 緣 道 合

Qui Xà dĩ bỉnh thiên nhiên.

龜 蛇 以 秉 天 然

Thiềm Ô ngộ Sóc hợp Thiền Quyên,

蟾 烏 遇 朔 合 嬋 娟

Nhị Khí tương tư vận chuyển.

二 氣 相 資 運 轉

Bản thị Kiền Khôn diệu dụng,

本 是 乾 坤 妙 用

Thùy năng vi thử chân thuyên.

誰 能 違 此 真 詮

Âm Dương bĩ cách khước thành khiên,

陰 陽 否 隔 卻 成 愆

Trẩm đắc thiên trường địa viễn.

怎 得 天 長 地 遠

Tạm dịch:

Chức Nữ, Ngưu Lang Duyên hội hợp.

Qui Xà tương hợp cũng tự nhiên

Kim Ô Ngọc Thỏ gặp nhau ngày Sóc

Đều là Âm Dương tương luyến

Đó là Diệu Dụng của Kiền Khôn

Ai mà biết nổi Chân Lý đó?

Âm Dương gàng quải se vô Duyên

Nói chi chuyện Thiên Trường Địa Cửu?

11 bài từ trên đây, đều nói về Đạo luyện Kim Đơn, đều là phối hợp Chân Âm, Chân Dương đồng loại chi dược, có vậy mới thành Đơn, nếu có ai nghi thế là Cưỡng Tác mà thành, thực ra không phải Cưỡng Tác, nhưng mà là vận dụng tự nhiên. Cho nên bài từ này tổng kết ý kinh văn trên, để học giả cùng cứu được Thật lý.

 Ví như hai sao Ngưu, Nữ gặp nhau mồng Bảy tháng Bảy, như Qui Xà giao hợp nhau theo giống loài, Mặt Trăng Mặt Trời giao nhau ngày Hối Sóc (30, Mồng 1), đều là Âm Dương nhị khí, một Cảm, một Ứng, tự nhiên giao hợp, thế là đúng cái diệu dụng của Đất Trời. Đó là Đạo Một Âm, Một Dương, Âm Dương tương tư, nhất khí lưu hành. Âm rồi Dương, Dương rồi Âm, Âm Dương vãng lai, nên bốn mùa xoay vần và Vạn Vật sinh. Cái Sinh Cơ đó không hề ngừng, cho nên xưa nay mới tồn tại được.

Người tu đạo nếu không biết lý lẽ này, mà bỏ đi lẽ Âm Dương tạo hóa, lại chước không chấp tướng, cưỡng tác, cưỡng vi, làm cho Âm Dương chia phôi, thì chẳng những không giúp gì được cho Tính Mệnh, mà còn làm hại Tính Mệnh, mang lỗi không thể tha. Như vậy mà còn muốn được thiên trường địa cửu cùng trời đất, thành tiên nhân bất tử thì làm sao được? Phi lý thay!

Vả Thiên trường, Địa cửu chi đạo, là đạo Chân Âm Chân Dương phối hợp. Chân Âm, chân Dương trong đó có sinh cơ, thánh thai tự nhiên ngưng kết. Từ Vô tới Hữu, từ Hữu tới Vô, thoát Ảo thân, mà xuất hiện Chân Thân, có thể cùng Thiên Địa đồng Trường cửu. Muốn được Trường Cửu như Trời Đất mà bỏ Chân Âm, Chân Dương thì không còn phương pháp nào khác.

******************* 

Thêm một bài từ Tây Giang Nguyệt nữa để tượng trưng tháng Nhuận.

Bài từ này cùng với 5 bài Ngũ Ngôn Tứ tuyệt nữa, cứ theo như Tựa Trước của Tiên Ông, thì không có ghi trong Chính Tập, mà thuộc vào Ngoại Tập. Xem xét ý bài từ thì là bàn về Tu Mệnh trước, tu Tính sau. Tiết Đạo Trần có viết ba bài Chú. Nhân vì Bàn về Tu Mệnh, nên đề vào Chính Tập. Nay tôi cũng theo như vậy.

Đơn thị sắc thân chí bảo,

丹 是 色 身 至 寶

Luyện thành biến hóa vô cùng.

煉 成 變 化 無 窮

Cánh năng Tính thượng cứu Chân Tông,

更 能 性 上 究 真 宗

Quyết liễu vô sinh diệu dụng.

決 了 無 生 妙 用

*

Bất đãi tha thân hậu thế,

不 待 他 身 後 世

Nhỡn tiền hoạch Phật thần thông.

眼 前 獲 佛 神 通

Tự tòng Long Nữ trước tư công,

自 從 龍 女 著 斯 功

Nhĩ hậu thùy năng kế chủng.

爾 後 誰 能 繼 踵

Tạm dịch:

Đơn là vật Chí Bảo của Sắc Thân

Luyện thành biến hóa vô cùng

Tìm hiểu Chân Tông của Tính

Thì nó là Diệu Hữu của Vô Sinh

*

Không cần đợi tới lai sinh,

Cũng đã có thần Thông của Phật.

Nương theo Công Đức của Long Nữ,

Thì còn ai theo nổi gót Ông?

Duyên Đốc Tử nói: Nhất Điểm Dương Tinh, Bí tại Hình Sơn. Không ở Tâm Thận mà ở nơi Huyền Quan Nhất Khiếu. Nhất Điểm Dương Tinh, chánh là Đơn vậy. Bí tại Hình Sơn (Giấu tại trong đầu), là vật chí quý của Sắc Thân vậy. Đơn không là chi khác chính là Tiên Thiên Nhất Điểm chí Dương chi Tinh, còn gọi là Tiên Thiên Chân Nhất chi Khí, hay Hạo Nhiên Chính Khí. Khi ẩn thì là Chân Không, khi phát huy ra thì là Diệu Hữu. Bản thể nó là Thiên Lương, Công Dụng nó là Đạo Tâm.

Đó là cái gì Chí Bảo trong Sắc Thân con người. Nó không phải là vật sở hữu của Tâm Thận, mà tàng ẩn trong Huyền Quan Khiếu. Khiếu này không chốn không nơi, không hình không tượng. Cho nên Đơn này cũng không chốn không nơi, không hình không tượng. Tùy ý động tĩnh, Sắc Không không cầm giữ được. Hoạt hoạt, bát bát, như vận hỏa hầu thành vật kiên thật, thường ứng, thường tĩnh, thường tĩnh thường ứng, biến hóa vô cùng, thần diệu bất trắc.

Dù Thiên Địa Thần minh cũng không có được nó. Thế mà nó ở ngay trong Sắc Thân con người, lại có thể điểm hóa được Sắc Thân, cho nên gọi là Pháp Thân. Cho nên cổ tiên xưa có nói: Tạo Hóa của Mệnh có dính líu đến Thân con người. Dính líu đến thân con người là dính líu tới Pháp Thân. Pháp thân thành tựu, Thánh Thai hoàn toàn, Mệnh cơ vững chãi, hết còn Hữu Vi, Vô Vi bừng sáng. Có thể Tu Tính vậy. Chân Tông của Tính là cái diệu dụng của Vô Sinh.

Tu Mệnh cốt là được trường sinh. Tu Tính là để Vô Sinh. Vô Sinh thời Vô Tử. Vô Sinh, Vô Tử, đồng thể với Thái Hư, sẽ được Hình Thần Câu Diệu, thoát khỏi Luân Hồi, siêu xuất ngoài vòng Trời Đất, không đợi tới lai sinh, ngay bây giờ có được Thần Thông của Phật. Vì Đạo Vô Sinh là Đốn Ngộ Viên Thông, vạn hữu giai không, lên ngay Bờ Bên Kia.

Xưa trong Hội Linh Sơn, đức Phật thuyết pháp, có nàng Long Nữ vừa 7 tuổi, từ đất vọt lên, hiến cho đức Phật một bảo châu và lập tức thành Phật. Tiên Ông đưa ra công án Long Nữ hiến châu, để chứng minh tu trì Tính Chân Không.

Tu trì Tính Chân Không tức là Long Nữ hiến bảo châu, là Hiểu được Chân Không, bất sinh bất diệt, tức là được thần thông của Phật.

Nhưng nếu không tu Mệnh Lý, thì Tính Lý khó mà thực hiện. Chung qui là nếu đốn ngộ viên thông, biết dưỡng Chân Tính, mà vẫn còn ra vào trong Hậu Thiên, mà chưa được Đại Hỏa Đoàn Luyện, nếu còn một chút Thẩm Lậu nào, thì vẫn còn trong nạn Phao Thân nhập thân. Cho nên phải tu Mệnh trước và Tu Tính sau.

Phải đoàn luyện trong lò lửa lớn, là tẩy sạch bợn nhơ vật chất, từ đó hành Vô Vi chi Đạo đề Tu Tính, dần dà sẽ Đốn Ngộ và sẽ đi thẳng lên đến chỗ Thượng Thừa Diệu Giác, thì làm sao còn Phao Thân Nhập Thân được nữa. Cho nên nói: Bất đãi tha thân hậu thế, nhãn tiền hoạch Phật thần thông. Mới hay Kim Đơn Đại Đạo, chưa Tu Tính nhưng tu mệnh trước.

******************* 

Năm bài thơ Thất Ngôn Tuyệt Cú để tượng Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Bài 1

Nhiêu quân liễu ngộ Chân Như Tính,

饒 君 了 悟 真 如 性

Vị miễn phao thân khước nhập thân.

未 免 拋 身 卻 入 身

Hà tự cánh kiêm tu Đại Dược,

何 似 更 兼 修 大 藥

Đốn siêu vô lậu tác Chân Nhân.

頓 超 漏 作 真 人

Tạm dịch:

Dù Anh đã ngộ Chân Như Tính,

Cũng chưa thoát được phao thân với Nhập thân.

Sao không Kiêm Tu đại dược,

Siêu trên vô lậu, thành Chân Nhân?

Tính của Chân Như, là Thiên Chân tự như, không hề có miễn cưỡng, là Tính phi sắc, phi không, nên gọi là không hay, không biết, thuận theo phép tắc Trời. Muốn tu theo Tính này, phải liễu ngộ Tính đó. Khi đã ngộ Tính đó rồi, phải đem Tính đó luyện thành một vật Kim Cương bất hoại, thì mới là hay. Nếu đã ngộ rồi mà không biết luyện, Mệnh do ta mà do Trời, khi đại hạn đến, mà không có gì để nắm giữ, thì phao thân, nhập thân, làm sao mà tránh được.

Sau khi đã đốn ngộ, vẫn không phế bỏ tiệm tu, dùng Dương Hỏa Âm Phù phanh luyện đại dược, điểm hóa quần Âm, thoát vòng vật chất. Chân Thân xuất hiện, như vậy vào nước không chết đuối, vào lửa không cháy, tê hổ không gây thương tích, đao binh không xâm phạm, thế là thành Vô Lậu Chân Nhân rồi vậy. Sau khi Lục Tổ được Ngũ Tổ truyền thụ, ẩn giữa bọn thợ săn, hòa mình với họ mà thành chính quả. Tử Hiền được đốn ngộ viên thông, biết mình không phải tự mình hướng thượng, mà phải nhờ Hạnh Lâm truyền thụ, nên mới được đại thành. Đó đều là cách tu Đại Dược vậy. Nếu quả thực đã liễu ngộ Chân Như thì đã thành Đạo.

Khi Lục Tổ đã nhận thấy: Bản lai vô nhất vật, thì Ngũ Tổ đã để một nửa đêm để dạy ngài cái gì. Tử Hiền đã đốn ngộ viên thông, thì tại sao còn cầu Hạnh Nhân điều gì? Mới hay Đốn Ngộ Tiệm Tu, hai điều không thể thiếu một. Hoặc đốn ngộ trước rồi tiệm tu sau. Hoặc tiệm tu trước rồi đốn ngộ sau, Tính Mệnh phải song tu, công phu phải có 2 giai đoạn. Bài Từ này dạy đi từ Tính đến Mệnh, từ Đốn đến Tiệm vậy.

******************* 

Bài 2

Đầu thai đoạt xá cập di cư,

投 胎 奪 舍 及 移 居

Cựu trú danh vi tứ quả đồ,

舊 住 名 為 四 果 徒

Nhược hội hàng long tịnh phục hổ,

若 會 降 龍 並 伏 虎

Chân kim khởi ốc kỷ thời khô?

真 金 起 屋 幾 時 枯

Tạm dịch:

Những chuyện Đoạt Xá với Di Cư,

Đầu Thai, Cựu Chú, Tứ Quả Đồ.

Sao bằng Hàng Long cùng Phục Hổ,

Nhà bỗng sinh vàng chẳng hề khô.

Đầu thai, là xem biết ai thuộc gia đình giàu có, thì sẽ nhập vào người đàn bà khi họ sinh nở.

Đoạt xá là khi người đàn bà sinh nở thì đã có một âm hồn chờ đầu thai, nay không đợi nó nhập vào, mà mình nhập vào trước, chiếm chỗ của người vậy.

Di cư là thân thể suy bại nay chọn một thân thể cường tráng mà nhập vào.

Cựu trú là có người khỏe mạnh vừa bạo bệnh chết, nên mượn xác mà nhập, thế là mượn nơi cư trú đã sẵn có.

Đầu thai, Đoạt xá là 2 chuyện đại đồng tiểu dị. Di cư, cựu trú cũng thế.

Bốn chuyện này đều là chuyện Âm Thần xuất nhập. Nhà Phật gọi đó là Tứ Quả Đồ, hay là Ngoại Đạo, do hàng Nhị Thừa mà ra, chứ không phải là Phật Pháp thượng thừa Ngộ Chân Như. Khác với thường nhân là ở chỗ đến đi phân minh.

Còn chuyện Kim Đơn Đại Đạo hàng Đông Gia Chân Tính chi Long, phục Tây gia Chân Tình chi Hổ, dĩ Tình qui Tính, dĩ Tính dưỡng Tình, Tính Tình tương hòa, Long Hổ tương hội, sinh ra Pháp Thân một trượng sáu, y như có hoàng kim trong nhà, cùng với Trời Đất trường cữu, đó là vật không khô héo, cần gì phải rời cái này chuyển cái kia.

******************* 

Bài 3

Giám hình bế tức tư thần pháp,

鑒 形 閉 息 思 神 法

Sơ học gian nan hậu thản đồ.

初 學 艱 難 後 坦 途

Điều hốt tổng năng du Vạn Quốc,

倏 忽 總 能 遊 萬 國

Nại hà ốc cựu khước di cư?

奈 何 屋 舊 卻 移 居

Tạm dịch:

Treo gương nhịn thở tư Thần Pháp,

Mới học gian nan, sau dễ dàng

Âm Thần xuất nhập chơi muôn nước,

Cần chi mượn xác với di cư?

Giám Hình là treo gương trên tường, giữ thần bên trong, lâu ngày Âm Thần sẽ xuất ngoại.

Bế Tức là không thở ra mới đầu vài lần, sau thì 10 lần, 100 lần. Dần dần tới mãi mãi không thở ra, Khí hành bên trong.

Tư Thần là Mặc Triều Thượng Đế, hay cưỡi mây hiển thánh. hay Tư Thần từ Thóp mà ra, hoặc tự Minh Đường (giữa 2 làn mi) mà ra. Những chuyện như vậy có rất nhiều. Mới học thì khó, sau đường đi sẽ bằng phẳng. Sau nhiều năm tháng có thể xuất Âm Thần đi chơi. Đó mới là cô âm mà thôi. Khi Khí Huyết đã suy bại, bỏ xác này nhập xác kia, thì nào có ích gì cho Tính Mệnh?

******************* 

Bài 4

Thích thị giáo nhân tu Cực Lạc,

釋 氏 教 人 修 極 樂

Chỉ Duyên Cực Lạc thị Kim Phương.

只 緣 極 樂 是 金 方

Đại đô sắc tướng duy tư bảo,

大 都 色 相 惟 茲 寶

Dư nhị phi chân mạn độ lường.

餘 二 非 真 謾 度 量

Tạm dịch:

Phật dạy con người tu Cực Lạc

Cực Lạc chính là luyện Kim Đơn

Thân ta duy nó là quí nhất,

Ngoài đó không chi để luận bàn.

Cực Lạc ở phương Tây. Tây cũng là Kim Phương. Ở nơi con người là Cương Kiện Chân Tri chi tình. Tình này kiên trinh, tinh túy, không chi dời đổi được. Như vàng ròng kiên cố, không bao giờ bị hủy hoại.

Tu Cực Lạc tức là Tu Cái Chân Tri chi Chân Kim vậy. Chân Kim mà đoàn luyện xong, có cương có nhu, bao nhiêu cặn bã sẽ tiêu sạch. Nó vốn quang minh, và là vật chí bảo. Xưa Phật Nhiên Đăng tu theo nó, nên đã thành đựơc Linh Lung Bảo Tháp. Phật Thích Ca tu theo nó, nên đã thành Trựơng Lục Kim Thân.

Đại khái rằng trong Sắc Thân con người, đều tu theo Cương Kiện Chân Như chi tình và coi nó là vật Chí Bảo. Ngoài nó ra, thì không còn gì là đúng là hay nữa, mà là cái gì sai sót.

******************* 

Bài 5

Tục ngữ thường ngôn hợp thánh đạo,

俗 語 常 言 合 聖 道

Nghi hướng kỳ trung tế tầm thảo.

宜 向 其 中 細 尋 討

Nhược tương nhật dụng điên đảo cầu.

若 將 日 用 顛 倒 求

Đại địa trần sa tận thành bảo.

大 地 塵 沙 盡 成 寶

Tạm dịch:

Tục ngữ xưa nay hợp thánh đạo,

Cứ trong tục ngữ mà suy khảo,

Trong điều nhật dụng biết suy cầu

Suy cho lộn lạo tường tận hết,

Sẽ thấy trần gian toàn bảo châu.

Đạo chẳng xa người. Người ta lập Đạo lại muốn xa người. Đạo Tính Mệnh là Đạo Chân Thường. Đạo Chân Thường là thứ đạo ta dùng hằng ngày. Tuy mọi người dùng nó mà không hay biết.

Muốn tu Tính Mệnh, thì phải biết suy cho kỳ cùng lý Đạo Chân Thường. Nếu quả thật Tế Tâm Cùng Lý, thì chẳng cần đọc thiên kinh, vạn quyển, cứ xem trong thường ngôn, tục ngữ, cũng hiểu được Thiên cơ.

Gọi người tốt là Lão Thật Nhân, là Chính Kinh Nhân, có lương tâm, có Thiên Lý, có thể diện, biết dừng lại, khi đủ dùng, biết tiến thoái, biết trông trước sau, tứ thông bát đạt, chân đi đúng đường.

Gọi Ngạt nhân là Bất thị Nhân, kẻ không có lương tâm, không có thiên lý, chỉ biết tổn người, ích mình, man tâm muội kỷ, thương thiên, hại lý, lấy khổ làm sướng, coi giả làm chân, mất ba, bỏ bốn, theo Đông bỏ Tây, không biết sống chết, không biết hay dở, chỉ biết một mà chẳng biết hai, chỉ biết có mình mà không biết có người.

Những lời nói đó, phát ra tự vô ý, mà suy ra thì rất có ý vị. Biết đâu chẳng nêu ra được từ trong những tục ngôn cổ ngữ đó một hai điều đáng nghiên cứu, thế là trong thực dụng thường hành xứ, biết đi ngược đường mà tìm cầu, thì tất cả thế gian này đều là châu bảo, đâu đâu cũng là Đạo, dù trái dù phải cũng không sai trái.

Học giả trong thế gian đều nói Đạo không thể nói được, nếu không có thật lạc công phu, không cùng cứu được Tính Mệnh, lại nếu không biết đê tâm, hạ khí, cầu học với sư hữu để biết thêm điều mới, thì không thể nhận chân được điều hay. Từ không có vật chi, một mình tay trắng đi tìm cái quí. Có thái độ như vậy, dù là kẻ xuất gia, đi khắp chân trời cũng không ích lợi gì.

Bài này ý nói Đạo ở khắp nơi, đâu đâu cũng có (tại tại xứ xứ đô hữu), nên nó cũng biểu hiện trong tục ngữ thường ngày. Vì thế trong bài thơ số bảy, quyển Trung có nói: Thử ban chí bảo gia gia hữu, Tự thị Ngu Nhân thức bất toàn (Xem sách này, tr. 42), nên nếu ta biết Dụng Tâm Thể Hội, biết nghịch cầu kỳ ý, thì ở đâu cũng thu hoạch được ích lợi.

Người tu đạo trọng lẽ Nghịch Hành. Biết rằng trong ta có Đạo, có Trời. Biết rằng cốt lõi, căn nguyên chúng ta vốn là Đạo là Trời, thì chúng ta sẽ thấy chúng ta luôn sống trong Cực Lạc.

Xem bài Bốn bên trên.

******************* 

CHÚ THÍCH

[1] Chân Nhân = Kim Đơn.

[2] Cái gì thuộc Hậu Thiên không thể dùng.

[3] Cái gì thuộc Tiên Thiên mới đáng dùng.

[4] Nội dược = luyện khí hóa thần chi cơ chất. Gió là Kim Dịch.

[5] Ngoại dược= Luyện tinh hóa khí chi cơ chất.

[6] Ngoại lô = Nê Hoàn.

[7] Chân Chủng = Nội dược.

[8] Chân Tính, Linh Tri, Nhân Tâm.

[9] Chân Tình, Chân Tri, Đạo Tâm.

[10] Nhị Bát = Âm số.

[11] Xá Nữ = Chân Âm.

[12] Tam Cửu = Dương số.

[13] Lang Quân = Chân Dương.

[14] Mộc Dịch = Chân Âm hay Thần Thủy.

[15] Kim Tinh = Chân Dương hay Thần Hỏa.

[16] Tam Tính = Mộc Dịch (Thần Thủy), Kim Tinh (Thần Hỏa), Ý Thổ.

[17] Đinh Công = Trong Thập Can thì Bính Đinh thuộc Hỏa. Bính là Dương Hỏa, Đinh là Âm Hỏa. Chỉ Văn Hỏa, Vũ Hỏa.

[18] Phu Thê = Chân Dương (Chân Diên) + Chân Âm (Chân Hống).

[19] Hà Xa = là Tí Ngọ nơi 2 Mạch Nhâm Đốc.

[20] Côn Lôn = Nê Hoàn.

[21] Thất Phản = Hà Đồ viết: Địa Nhị sinh Hỏa, Thiên Thất Thành Chi. Phản là Mộc Hỏa thượng viêm, lại phản vu thượng.

[22] Chu Sa = Thủy Hỏa hợp Khí = Chân Hống.

[23] Cửu Hoàn = Hà Đồ viết: Địa Tứ sinh Kim, Thiên Cửu Thành Chi. Hoàn = Kim Thủy hạ trầm. lại Hoàn vu hạ.

[24] Kim Dịch = Kim Thủy hợp Khí nên là Chân Diên.

[25] Chư thần = Tam Điền, Ngũ Tạng.

[26] Huyền Tẫn = hay Huyền Quan. Có người cho nó ở giữa 2 làm mi, có người cho nó ở giữa 2 quả thận, có người cho nó là Đan Điền, có người cho nó là Bản Tâm, Bản Thể của Con Người.

[27] Hùng = Ly hỏa.

[28] Thư = Hào Âm trong quẻ Ly = Chu lý Hống.

[29] Trong quẻ Ly, có Chân Âm.

[30] Khước bão có bản viết: Bão phước.

[31] Trong quẻ Khảm có Chân Dương.

[32] Hồn tiêm phách thắng có bản viết: Phách Tiên Hồn thánh.

[33] Diệc nãi có bản viết Diệc khả.

[34] Chân Âm = Khảm thủy.

[35] Thiên Địa = Thuần Dương, Thuần Âm.

[36] Phúc = Tim xe, găm xe.

[37] Thấu = chỗ các tim xe gặp nhau.

[38] Cốc = Chỗ Tim xe gặp nhau trong trục Xe.

——————-
******************* 

QUYỂN  IV

NGỘ CHÂN TRỰC CHỈ

悟 真 直 指

TỐNG, TỬ DƯƠNG TRƯƠNG CHÂN NHÂN trước 宋 紫 陽 真 人 著

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN TỬ, LƯU NHẤT MINH chú 棲 雲 山 悟 元 子 劉 一 明 註

CỬU DƯƠNG SƠN, ẤN CHÂN TỬ CHU KIM TỈ hiệu chính 九 陽 山 印 真 子 周 金 璽 校 正

Môn nhân XUNG HOÀ TRƯƠNG DƯƠNG TOÀN hiệu duyệt  門 人 沖 和 張 陽 全 校 閱

Hậu học LÝ TỬ VIÊN trùng khan 後 學 李 紫 垣 重 刊

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch chú

****

MỤC LỤC

TÍNH ĐỊA TỤNG 性 地 頌

SINH DIỆT TỤNG 生 滅 頌

TAM GIỚI DUY TÂM TỤNG 三 界 惟 心 頌

TỨC VẬT TIỆN KIẾN TÂM TỤNG 即 物 便 見 心 頌

TỀ VẬT TỤNG 齊 物 頌

TỨC TÂM THỊ PHẬT TỤNG 即 心 是 佛 頌

VÔ TÂM TỤNG 無 心 頌

TÂM KINH TỤNG 心 經 頌

VÔ TỘI PHÚC TỤNG 無 罪 福 頌

VIÊN THÔNG TỤNG 圓 通 頌

TÙY THA TỤNG 隨 他 頌

BẢO NGUYỆT TỤNG 寶 月 頌

THÁI CHÂU CA 采 珠 歌

THIỀN ĐỊNH CHỈ MÊ CA 禪 定 指 迷 歌

ĐỘC TUYẾT ĐẬU THIỀN SƯ TỔ ANH TẬP CA 讀 雪 竇 禪 師 祖 英 集 歌

GIỚI ĐỊNH TUỆ GIẢI 戒 定慧 解

TÂY GIANG NGUYỆT THẬP NHỊ THỦ 西 江 月 十 二 首

******************* 

Tính Tông là Ngộ Chân Thiên ngoại tập.
Khi Tiên Ông viết xong quyển Ngộ Chân Thiên, sợ rằng Bản Nguyên Chân Giác chi Tính, chưa được nghiên cứu rành rẽ, nên làm thêm Ca, Tụng, Nhạc Phủ, và Tạp Ngôn, thêm vào cuối sách, để hoàn tất Tính Mệnh Song Tu chi Đạo.

Bốn bài Tuyệt Cú

絕 句 四 首

Bài 1

Như Lai diệu thể biến hà sa,

如 來 妙 體 變 河 沙

Vạn tượng sâm la vô ngại già.

萬 象 森 羅 無 礙 遮

Hội đích viên thông Chân Pháp Nhãn,

會 的 圓 通 真 法 眼

Thủy tri Tam Giới thị ngô gia.

始 知 三 界 是 吾 家

Tạm dịch:

Như Lai dịêu thể ở muôn nơi,

Vạn tượng sâm la không che nổi

Hiểu được Chánh Pháp nhãn tàng,

Sẽ thấy Tam Giới cũng nhà ta.

Như Lai không từ đâu tới cũng chẳng đến đâu. Đó là Tính Chân Không vậy. Chân Không không phải không, mà bản thể nó thật huyền diệu. Chân Không chi tính vốn không có Thể, nhân vì trong hàm chứa Diệu Hữu, nên lấy Diệu Hữu làm Thể vậy.

Nếu Không mà không Diệu, thì là Tịch Diệt Ngoan Không, chứ không phải là Như Lai Chân Tính, như vậy làm sao đi khắp sơn hà, làm sao mà không bị vạn tượng che lấp được.

Vì nó Diệu mà không phải Không, nên thể tính nó ở khắp sơn hà, không chỗ nào mà không thông suốt. Vì  nó Không mà là Thật, nên không bị Vạn Tượng che lấp.

Vì nó ở khắp sơn hà không bị che khuất, nên gọi là Viên Thông Pháp Nhãn.

VIÊN là không đầu đuôi, không lưng mặt, không trước sau, không trên dưới, không trong ngoài, thế là Như Lai vậy.
THÔNG là ở đâu cũng có, lúc nào cũng hiện, lớn thì bao trùm trời đất, nhỏ thì chui vào lông tóc, thế là Diệu Thể vậy.

Chỉ Tròn mới Thông, Chỉ Thông mới Tròn, sáng láng chiếu soi, không cảnh ngộ nào làm thương tổn nó được, nên gọi là Pháp Nhãn. Đó là Chánh Pháp Nhãn tàng vậy.

Hiểu được Pháp Nhãn Viên Thông này, là thấy được Diệu Thể của Như Lai. Nó phi sắc phi không, tức sắc tức không, không còn Thiên Đường Địa Ngục nữa, Tam Giới là một Nhà, mười phương đều là Thân ta vậy.

(Ý nói Pháp Thân ta thời vô cùng cực và ở khắp nơi. Giác Ngộ được điều này sẽ biết ta và Thế giới là Một.)

******************* 

Bài 2

Thị chi bất khả kiến kỳ hình,

視 之 不 可 見 其 形

Cập chí hô chi hựu khước ứng.

及 至 呼 之 又 卻 應

Mạc đạo thử thanh như cốc hưởng,

莫 道 此 聲 如 谷 響

Nhược hoàn vô cốc hữu hà thanh?

若 還 無 谷 有 何 聲

Tạm dịch:

Trông ra thì chẳng thấy hình,

Nhưng hễ Hô là liền có Ứng

Đừng nói tiếng này không hang vang

Không hang thì tiếng ở đâu ra?

Nhìn không thấy, là Không. Hô lên liền thấy ứng là Hữu.

Từ Không mà có, như hang ứng tiếng vang, Không chẳng phải Không, y như là Như Lai diệu hữu vậy.

Nhưng Như Lai diệu Thể, thường Không, thường Có, thường Có, thường Không. Cần chi Hô rồi mới Ứng.

Nhân Hô rồi Ứng, là vì đã sẵn cái không (hang).

Có sẵn cái Không, là còn bị Không câu chấp, Không mà chưa Thông, thế là vẫn chưa được Như Lai Diệu Hữu, chẳng thà đem cái Không ấy, phá nát ra, thế là Không vô sở Không.

 Làm sao còn có tiếng vang? Đã không còn Không, Vô không vô thanh, thì là Đại Giải Thoát.

Cho nên nói:

Bách xích can đầu bất động nhân,

Tuy nhiên đắc nhập vị vi chân,

 Bách trượng can đầu cánh tiến bộ,

Thập phương thế giới thị toàn thân.

(Đầu sào trăm trượng cũng chưa phải là đích, chưa phải là CHÂN ; Phải lên thêm một bước nữa mới thấy được mười phương thế giới là TOÀN THÂN)

******************* 

Bài 3

Nhất vật hàm văn kiến giác tri,

一 物 含 聞 見 覺 知

Cái chư trần cảnh hiển kỳ ki.

蓋 諸 塵 境 顯 其 機

Linh thường nhất vật thượng phi Hữu,

靈 常 一 物 尚 非 有

Tứ giả bằng hà tác sở y?

四 者 憑 何 作 所 依

Tạm dịch:

Trong ta có Thức Thần trần cảnh,

Gồm đủ Văn, Kiến Giác Tri

Nếu bỏ đi được Thức Thần ấy

Thì Văn, Kiến, Giác Tri không còn chỗ dựa.

Văn, Kiến, Giác, Tri 4 thứ đó, thường chiêu chiêu, linh linh, Thức Thần do đó sinh ra, vì nó vốn linh, cho nên trong trần ai, 4 thứ đó kết thành bằng đảng mà bộc phát mãi ra, không bao giờ ngưng.

Nếu ta trừ khử được cái Thức Thần ấy, thì bốn thứ Văn, Kiến, Giác, Tri không còn có chỗ dựa nương, nên sẽ tự tiêu diệt.

Những người u mê, không nhận ra được Như Lai Chân Tính là chính cái Chân Không Diệu Hữu, nên nhận cái Thức Thần chiêu chiêu linh linh là cái gì Chân Thực.

Cho nên chắt chiu ôm ấp nó. Có ngờ đâu rằng Thức Thần chính là Căn Bản Tử Sinh, căn bản Luân Hồi, nếu không vứt bỏ được Thức Thần, thì làm sao nhận ra được Như Lai Chân Tính.

Cho nên nói:

Vô lượng kiếp lai sinh tử bản, Si nhân hoán tác bản lai nhân
(Căn bản tử sinh từ muôn kiếp, Kẻ ngu lại nhận đó là Mình.)

(Trong ta có Nguyên Thần, nguyên Thần chính là Như Lai Chân Tính. Trong ta cũng có Thức Thần. Thức Thần chính là Căn bản sinh tử. Tu là vứt bỏ Thức Thần, như vậy mới có thể có được Tâm Tử Thần Hoạt. Xem Dịch Kinh Đại Toàn, Nguyễn văn Thọ tập I, tr. 306- 307: Cổ Hà Đồ.)

******************* 

Bài 4

Bất di nhất bộ đáo Tây Thiên,

不 移 一 步 到 西 天

Đoan tọa chư phương tại nhãn tiền.

端 坐 諸 方 在 眼 前

Hạng hậu hữu quang do thị ảo,

項 後 有 光 猶 是 幻

Vân sinh túc hạ vị vi tiên.

雲 生 足 下 未 為 仙

Tạm dịch:

Không bước bước nào tới Tây Thiên,

Nhìn thấy muôn phương tại nhãn tiền

Sau ót phát quang còn là ảo,

Mây hiện dưới chân chưa phải tiên.

Như Lai Bản Tính không đầu không chân, không trước không sau, đón gặp không thấy đầu, theo sau không thấy lưng, nên nói tưởng có người mà lại không, tưởng không người mà lại có, không rôi vào giới hạn của Hữu Vô.

Ánh sáng của nó thông U đạt Minh, có thể chiếu soi Tam Thiên Đại Thiên Thế giới. Đó chính là Tự Nhiên Diệu Giác, không phải do ngồi Thiền mà ra.

Tất cả những ai Tham Thiền Đả Tọa, đều là dùng Thức Thần, nên mới thấy các ảo cảnh, hoặc là mộng du Tây Thiên, hoặc là thấy sau ót phát quang, hoặc nhìn thấy cảnh vật trong tối tăm, hoặc là tưởng chừng như mây sinh dưới chân, thế là tưởng mình đã thành chính quả, đã thành Phật, thật là lầm lắm thay.

Những người có chí tu Đạo trước hết phải vất bỏ những gì là Bàng Môn, Tả Đạo, rồi từ trong cái vô Hình vô Tượng truy cứu ra được cái Bản Tính Chân Thật Diệu Giác, như vậy mới là hay.

******************* 

TÍNH ĐỊA TỤNG 性 地 頌.

Phật tính phi đồng dị,

佛 性 非 同 異

Thiên đăng cộng nhất quang.

千 燈 共 一 光

Tăng chi ninh giải ích.

增 之 寧 解 益

Giảm trước thả vô thương,

減 著 且 無 傷

Thủ xả câu vô quá,

取 舍 俱 無 過

Phần phiêu tổng bất phương.

焚 漂 總 不 妨

Kiến văn tri giác pháp,

見 聞 知 覺 法

Vô nhất khả sai lường.

無 一 可 猜 量

Tạm dịch:

Phật tính luôn bình đẳng

Nghìn đèn ánh sáng một

Phật tính không tăng giảm

Còn mất vẫn chưa hề,

Nó không sợ nước lửa.

Kiến văn tri giác kia,

Không sao hiểu nổi nó

Bài Tụng này gọi là Tính Địa vì Chân Tính Bản Thể chúng ta, như Đất đứng nguyên không lay động. Nói đồng nói dị, là tùy sự vật bên ngoài khác nhau, nhưng vẫn có thể dùng Một Tâm Bình Đẳng mà ứng phó, như nghìn ánh đèn cũng chỉ có một ánh sáng chiếu soi. Đèn tuy nhiều nhưng ánh sáng chỉ có một.

Cái Tính đó không hề tăng giảm, không có còn mất. Dù lửa cháy, nước trôi, cũng không làm gì được nó, cũng y như đất núi nặng có thể dung chứa; nước cũng chấp nhận mọi sự. Dù có vật nào bị thương tổn, nó cũng dung chứa được hết.

Đất mà như vậy, thì Tính cũng như vậy. Kiến Văn Tri Giác đều là không có. Gượng ép gọi nó là Không mà thôi. Không đây không phải là Tịch Diệt Ngoan Không. Mà là vật này dựa vào vật kia, từ vuông thành tròn, phải dùng Vô Tâm mà ứng nó.

(Phật Tính, Đạo Tâm trong ta là cái gì không hề thay đổi, không hề tăng giảm, vĩnh cửu trường tồn, bất sinh bất diệt, là Niết Bàn. Tiểu Ngã trong ta, là Thức Thần, là Nhân Tâm, là Luân Hồi sinh diệt. Trong đời ta hãy chọn một trong hai.)

******************* 

SINH DIỆT TỤNG 生 滅 頌.

Cầu sinh bản tự Vô Sinh,

求 生 本 自 無 生

Úy diệt hà thường tạm diệt.

畏 滅 何 嘗 暫 滅

Nhãn kiến bất như nhĩ kiến,

眼 見 不 如 耳 見

Khẩu thuyết tranh tự tị thuyết.

口 說 爭 似 鼻 說

Tạm dịch:

Cái sinh vốn tự cái Vô Sinh,

Sợ Diệt làm sao không Tạm Diệt,

Mắt thấy chẳng bằng tai thấy

Miệng nói không bằng mũi nói.

Như Lai bản tính vốn vô sinh, vô diệt. Cưỡng cầu Sinh mà sợ Diệt, thì làm sao mà Thường Sinh và không Diệt được.

Có Sinh thì có Diệt, không Sinh thì không Diệt. Nhân vì Bản Tính vô sinh vô diệt, cho nên không thấy được mà chỉ nghe thấy được, không thể nói nên lời, mà chỉ nói được bằng mũi.

Cái gì mắt thấy và miệng nói ra được là Tính hữu sinh hữu diệt. Cái gì tai thấy và mũi thấy, là Tính Vô Sinh Vô Diệt. Cái gì mắt nhìn thấy, và miệng nói ra không phải là Tính Thật. Cái gì tai nghe thấy và mũi nói ra mới là Tính Thật. Cái gì nhìn chẳng ra mới là Chân Kiến. Cái gì không thể nói ra mà nói ra được mới thắng được cái có thể nói ra.

Cho nên cái Tính vô sinh vô diệt, không đầu không đuôi, không lưng không mặt, không phải có không, không Không không Sắc. Làm sao nhìn thấy nó, làm sao nói về nó được? Còn cái gì có thể nhìn, có thể nói, thì không phải là Chân Không Bản Tính vậy.

******************* 

TAM GIỚI DUY TÂM TỤNG  三 界 惟 心 頌.

Tam giới duy Tâm diệu lý,

三 界 惟 心 妙 理

Vạn vật phi thử phi bỉ,

萬 物 非 此 非 彼

Vô nhất vật phi ngã tâm,

無 一 物 非 我 心

Vô nhất vật thị ngã kỷ.

無 一 物 是 我 己

Tạm dịch:

Tam giới duy Tâm ý hay sao!

Muôn loài bình đẳng chẳng khác nhau.

Vật gì cũng là Tâm ta,

Vật gì cũng chẳng phải Ta.

Tam giới là Sắc giới, Dục Giới, Vô Sắc Giới. Sắc Dục nhị giới là Hữu Tâm chi giới. Vô Sắc giới là Vô Tâm Chi Giới. Hữu Tâm, Vô Tâm đều không phải Phật Tính.

Bài Tụng này nói Tam Giới duy Tâm, phi Hữu phi Vô. Hữu Vô đều không có, thì Vật Ngã hẳn quay về Không. Vô Tâm chi Tâm mới là Chân Tâm. Lúc ấy Vạn Vật là Nhất Thể, không còn phân biệt Bỉ Thử. Không vật nào không phải là Tâm ta, thế là Bất Trước  Không, không vật nào không phải là Ta, thế là Bất Trước  Sắc.

Chẳng Trước (dính mắc)   Không, Chẳng Trước  Sắc, chỉ có Một Tâm mà thôi. Một Tâm là Một Tính, thế là Tức Tâm tức Phật, tức Phật tức Tâm vậy.

******************* 

TỨC VẬT TIỆN KIẾN TÂM TỤNG   即 物 便 見 心 頌.

Kiến vật tiện kiến Tâm,

見 物 便 見 心

Vô Vật tâm bất hiện.

無 物 心 不 現

Thập phương thông tắc trung,

十 方 通 塞 中

Chân tâm vô bất biến.

真 心 無 不 遍

Nhược sinh Tri Thức giải,

若 生 知 識 解

Khước thành Điên Đảo kiến.

卻 成 顛 倒 見

Đổ cảnh năng Vô Tâm,

睹 境 能 無 心

Thủy kiến Bồ Đề diện.

始 見 菩 提 面

Tạm dịch:

Thấy vật tức thấy Tâm,

Không Vật Tâm không hiện.

Trong cảnh cùng (tắc) thông (thông) của muôn loài,

Chân Tâm hiện khắp nơi.

Nếu dùng tri thức giải,

Cái nhìn sẽ ngược xuôi.

Nhìn cảnh mà Vô Tâm,

Mới thấy mặt Bồ Đề.

Thấy vật là thấy Tâm, không có vật Tâm không hiện, đó là Nhân Tâm, hữu thức, hữu tri. Trong cảnh cùng thông của Trời Đất, đâu đâu cũng thấy Chân Tâm. Đó là Vô Thức Vô Tri chi Chân Tâm.

Nhân Tâm tùy cảnh vật có không bên ngoài mà có sinh diệt. Còn Chân Tâm thì lúc nào cũng Linh Minh Thường Lãng, có vật cũng vẫn thế, không vật cũng vẫn vậy. Trong cảnh cùng thông của Trời Đất, đâu đâu cũng có Chân Tâm như vậy, nó bất sinh bất diệt, Nhân Tâm là Hữu Thức, hữu tri nên không thể sánh với nó được. Nếu dùng Nhân Tâm hữu thức, hữu tri mà cắt nghĩa Chân Tâm, thì là nhận giặc làm con, thế là cái nhìn lộn ngược. Thật là quá sai lầm vậy.

Chân tâm thì Viên đà đà, quang Trước  Trước , tịnh khỏa khỏa, xích sái sái (tròn vành vạnh,sáng rực rỡ, sạch lâng lâng, đỏ hây hây). không lìa chư cảnh. Ai mà dùng không tâm để nhìn cảnh, thì đó là Chân Tâm, hay Bồ Đề Diện mục. Như vậy khỏi tìm Bồ Đề diện mục ở đâu khác. Nên biết rằng không có Nhân Tâm mới thấy được Chân Tâm. Chân Tâm mà hiện, lập tức sẽ chứng Bồ Đề, bước sang Bỉ Ngạn.

(Chương này dạy ta phân biệt Chân Tâm và Nhân Tâm. Chân tâm là Phật Tâm hiện hữu khắp nơi. Nhân Tâm hay Phàm tâm là cái tâm tùy cảnh mà sinh diệt. Chân Tâm là tâm vô phân biệt, Phàm Tâm là Tâm phân biệt. Tu là bỏ Phàm Tâm mà tìm lại Chân Tâm. Thế là làm người trước, làm Thần Phật sau. Thật là lạ lùng và sâu sắc.)

******************* 

TỀ VẬT TỤNG  齊 物 頌.

Ngã bất dị nhân,           
我 不 異 人

Nhân tâm tự dị.             
人 心 自 異

Nhân hữu thân sơ,         
人 有 親 疏

Ngã vô bỉ thử.               
我 無 彼 此

Thủy lục phi hành,         
水 陸 飛 行

Đẳng quan nhất thể.     
等 觀 一 體

Quí tiện tôn ti,               
貴 賤 尊 卑

Thủ túc đồng kỷ.           
手 足 同 己

Ngã thượng phi ngã,     
我 尚 非 我

Hà thường hữu nễ.       
何 嘗 有 你

Bỉ thử câu vô,               
彼 此 俱 無

Chúng bào qui thủy.     
眾 泡 歸 水

Tạm dịch:

Ta chẳng khác người,

Do tâm làm khác,

Người có thân sơ

Ta không mình tớ

Trên đất trong nước,

Đều đồng một thể

Quí tiện tôn ti,

Chân tay là mình

Ta không có ta

Làm sao có ngươi,

Ta mình đều không,

Bọt cũng là nước.

Bài tụng này gọi là Tề Vật. Ta mình thân sơ, muông chim cầm thú, tôn ti quí tiện, đều coi là một.

Bài tụng này quí nhất là câu: Ngã thượng phi Ngã (ta không có ta). Con người sở dĩ không coi được vạn vật là Một chính vì có Cái Ta. Nếu không có Ta, thì làm gì có Anh, Anh Ta đều quên, thì vạn vật đều không. Không bằng nhau cũng phải bằng nhau.

(Tác giả nhìn thấy Vạn Vật Đồng Nhất Thể, và nhìn thấy Hóa Công (Nhất Thể) hoạt động trong lòng sâu vạn hữu.)

******************* 

TỨC TÂM THỊ PHẬT TỤNG   即 心 是 佛 頌.

Phật tức Tâm hề, tâm tức Phật,

佛 即 心 兮 心 即 佛

Tâm Phật tòng lai giai vọng vật.

心 佛 從 來 皆 妄 物

Nhược tri vô Phật diệc vô Tâm,

若 知 無 佛 亦 無 心

Thủy thị Chân Như Pháp Thân Phật.

始 是 真 如 法 身 佛

Pháp Thân Phật, một mô dạng,

法 身 佛 沒 模 樣

Nhất khỏa viên quang hàm vạn tượng.

一 顆 圓 光 含 萬 象

Vô thể chi thể tức Chân Thể,

無 體 之 體 即 真 體

Vô tướng chi tướng tức Thật Tướng.

無 相 之 相 即 實 相

Phi sắc phi không phi bất không,

非 色 非 空 非 不 空

Bất động bất tĩnh bất lai vãng.

不 動 不 靜 不 來 往

Vô dị vô đồng, vô hữu vô,

無 異 無 同 無 有 無

Nan thủ nan xả nan thính vọng.

難 取 難 舍 難 聽 望

Nội ngoại viên minh đáo xứ thông,

內 外 圓 明 到 處 通

Nhất Phật quốc tại nhất sa trung.

一 佛 國 在 一 沙 中

Nhất lạp sa hàm đại thiên giới,

一 粒 沙 含 大 千 界

Nhất cá thân tâm vạn cá đồng.

一 箇 身 心 萬 箇 同

Tri chi tu hội Vô Tâm Pháp,

知 之 須 會 無 心 法

Bất nhiễm bất trệ vi tịnh nghiệp.

不 染 不 滯 為 淨 業

Thiện ác thiên ban vô sở vi,

善 惡 千 般 無 所 為

Tiện thị Nam vô cập Già Diệp. (Ca Diếp)

便 是 南 無 及 迦 葉

Tạm dịch:

Phật chính là Tâm, Tâm là Phật,

Tâm Phật xưa nay vốn nói sàm

Có biết không Tâm và không Phật

Mới chính Chân Như Pháp Thân Phật

Pháp Thân Phật, không hình tướng

Một vầng ánh sáng trùm vạn vật

Vô thể chi thể mới là Chân Thể

Vô tướng chi tướng mới là Thật Tướng

Phi sắc phi không, phi bất không

Bất động, bất tĩnh, không lai vãng

Vô dị, vô đồng, vô Hữu Vô,

Nan thủ, nan xả nghe nhìn khó,

Trong ngoài tròn sáng lọt muôn nơi

Trong một hạt cát có Phật Quốc,

Trong một hạt cát nghìn thế giới

Trong một Thân Tâm vạn thân đồng

Muốn hay cần biết Vô Tâm Pháp

Không vướng trần ai mới là hay,

Thiện ác bất phân không trở Ngại,

Thế là Nam Vô với Ca Diệp.

Bài tụng này trọng nhất câu: Tri chi tu hội vô tâm pháp.

Vô tâm không phải là Vô Tâm xuẩn động (ngu si), không phải chim gỗ, hay tượng bùn, như vậy làm sao gọi được là Tâm tức thị Phật.

Đại để Vô Tâm có nghĩa là, không phải Sắc, không phải Không.

Chân Tâm không Thể không Tướng, không là Vật gì.

Đã là Nguyên Vô Nhất Vật thì đâu phải là Sắc.

Chân tâm là Ánh sáng hàm chứa muôn vật.

Nó tròn chặn và lọt khắp mọi nơi, thì đâu phải là Không? Nó bất sắc, bất không, nó tròn vành vạnh, sáng chói lói, sạch lâng lâng, đỏ hây hây.

Nó là Tâm là Phật, là Vật là Tâm, không phải Tâm, không phải Phật.

Cho nên nói:

Phật tức Tâm hề, Tâm tức Phật, lại nói: Tâm phật tòng lai giai vọng động. Đã biết Tức Tâm Tức Phật, lại biết Phi tâm phi vật, lại biết Vô Tâm chi pháp, thì mới không sa vào cái học Tịch Diệt.

******************* 

VÔ TÂM TỤNG 無 心 頌.

Kham tiếu ngã tâm,         
堪 笑 我 心

Như ngoan như bỉ.         
如 頑 如 鄙

Ngột ngột đằng đằng,     
兀 兀 騰 騰

Nhiệm vật an ủy.             
任 物 安 委

Bất giải tu hành,             
不 解 修 行

Diệc bất tạo tội.               
亦 不 造 罪

Bất tằng lợi nhân,           
不 曾 利 人

Diệc bất lợi kỷ.               
亦 不 私 己

Bất trì giới luật,               
不 持 戒 律

Bất tuần kỵ húy.             
不 徇 忌 諱

Bất tri Lễ Nhạc,             
不 知 禮 樂

Bất hành Nhân Nghĩa.   
不 行 仁 義

Nhân gian sở năng,       
人 間 所 能

Bách vô nhất hội.           
百 無 一 會

Cơ lai khiết phạn,           
飢 來 喫 飯

Khát lai ẩm thủy.           
渴 來 飲 水

Khốn tắc đả thụy,           
困 則 打 睡

Giác tắc hành lý.             
覺 則 行 履

Nhiệt tắc đơn y,               
熱 則 單 衣

Hàn tắc cái bị.                 
寒 則 蓋 被

Vô tư vô lự,                     
無 思 無 慮

Hà ưu hà hỉ.                   
何 憂 何 喜

Bất hối bất mưu,           
不 悔 不 謀

Vô niệm, vô ý.               
無 念 無 意

Tử sinh vinh nhục,         
死 生 榮 辱

Nghịch lữ nhi dĩ.           
逆 旅 而 已

Lâm mộc thê điểu,         
林 木 棲 鳥

Diệc khả vi tỉ.                 
亦 可 為 比

Lai thả bất cấm,             
來 且 不 禁

Khứ diệc bất chỉ.           
去 亦 不 止

Bất tị bất cầu,               
不 避 不 求

Vô tán vô hủy.               
無 讚 無 毀

Bất yếm xú ác,               
不 厭 醜 惡

Bất tiện thiện mỹ.         
不 羨 善 美

Bất thú tĩnh thất,           
不 趣 靜 室

Bất viễn náo thị.             
不 遠 鬧 市

Phùng nhục dã xan,       
逢 肉 也 餐

Ngộ tửu dã túy.             
遇 酒 也 醉

Bất thuyết nhân phi,       
不 說 人 非

Bất khoa kỷ thị.             
不 誇 己 是

Bất hậu tôn sùng,         
不 厚 尊 崇

Bất bạc tiện trĩ.             
不 薄 賤 稚

Thân ái oan thù,             
親 愛 冤 讎

Đại tiểu nội ngoại.         
大 小 內 外

Ai lạc đắc táng,             
哀 樂 得 喪

Khâm vũ hiểm dị.           
欽 侮 險 易

Tâm vô lưỡng thị,           
心 無 兩 視

Thản nhiên nhất quĩ.     
坦 然 一 揆

Bất vi phúc tiên,             
不 為 福 先

Bất vi họa thủy.               
不 為 禍 始

Cảm nhi hậu ứng,           
感 而 後 應

Bách tắc hậu khởi.         
迫 則 後 起

Bất úy phong nhẫn,       
不 畏 鋒 刃

Yên phạ hổ hủy.             
焉 怕 虎 兕

Tùy vật xưng hô,             
隨 物 稱 呼

Khởi câu danh tự.           
豈 拘 名 字

Nhãn bất tựu sắc,           
眼 不 就 色

Thanh bất lai nhĩ.             
聲 不 來 耳

Phàm sở hữu tướng,       
凡 所 有 相

Giai thuộc vọng ngụy.     
皆 屬 妄 偽

Nam nữ hình thanh,         
男 女 形 聲

Tất phi định thể.             
悉 非 定 體

Thể tướng vô tâm,           
體 相 無 心

Bất nhiễm bất ngại.         
不 染 不 礙

Tự tại tiêu dao,               
自 在 逍 遙

Vật mạc năng lụy.           
物 莫 能 累

Diệu giác quang viên,     
妙 覺 光 圓

Ánh triệt biểu lý.             
映 徹 表 里

Bao lý lục cực,                 
包 里 六 極

Vô hữu hà nhĩ.                 
無 有 遐 邇

Quang hề phi quang,     
光 兮 非 光

Như nguyệt tại thủy.       
如 月 在 水

Thủ xả ký nan,                 
取 舍 既 難

Phục hà tỉ nghĩ.               
復 何 比 擬

Liễu tư diệu dụng,           
了 茲 妙 用

Hồi nhiên siêu bỉ.             
迴 然 超 彼

Hoặc hướng sở tông,       
或 向 所 宗

Thử nhi dĩ hĩ.                   
此 而 已 矣

******************* 

Tạm dịch:

Nực cười tâm ta,

Như ngu như dốt

Cao vút đằng đằng

Nhiệm vật an ủy

Không cần tu hành

Cũng không tạo ác

Chưa từng ích người

Chưa từng lợi mình

Không giữ giới luật

Không giữ húy kỵ

Không biết Lễ Nhạc

Không hành Nhân Nghĩa

Mọi người tài giỏi,

Ta không được một

Đói đến thì ăn,

Khát tới thời uống

Buồn ngủ thì ngủ

Thức thì đi lại

Nóng thời áo đơn,

Lạnh thời áo kép

Không lo không nghĩ

Chẳng vui chảng buồn

Không toan không tính

Vô niệm, vô ý,

Tử sinh, vinh nhục

Chẳng tránh chẳng cầu

Như người bộ hành

Như chim trên cây

Y thức như vậy

Đến cũng không sao

Đi cũng tùy ý

Chẳng tránh chẳng cầu

Không khen không chê

Không màng xấu ác

Không mơ Thiện mỹ

Không nệ tĩnh không

Không tránh chợ búa

Gặp thịt thời ăn

Thấy rượu thời say

Không bới xấu người

Không khoe mình phải

Không trọng tôn sùng

Không chê nghèo yếu

Thân ái oan thù

Trong ngoài lớn nhỏ

Ai lạc, đắc táng

Hay hèn khó dễ

Lòng chẳng thấy hai

Vạn vật như một

Không cầu phúc tới,

Không mong họa sinh

Trước cảm sau ứng

Buộc thời mới làm.

Không sợ đao kiếm,

Không sợ hổ tê

Tùy vật xưng hô

Bất chấp danh tự

Mắt không ngó sắc

Tiếng chẳng tới tai

Cái gì sắc tướng

Thảy đều vọng ngụy

Nam nữ hình thanh,

Không có định thể

Thể Tướng vô tâm

Không bợn không ngại

Tự tại tiêu dao,

Muôn vật không lụy

Diệu Giác Quang Viên

Sáng quắc trong ngoài

Bao trùm lục cực

Chảng có xa gần

Sáng chẳng phải sáng

Như trăng trong nước

Thủ xả khó bỏ

Còn bận lòng chi

Hiểu được Diệu Dụng

Sẽ thăng Bỉ Ngạn

Sẽ trở về nguồn

Chuyện là như vậy.

Bài tụng này có mấy chục câu, nói đi nói lại. Chỉ phát minh ra hai chữ Vô Tâm.

Cái kỳ diệu của nó là ở nơi Nhất Tâm. Ở trong hồng trần mà thoát hồng trần, ở trong thế tục mà vẫn xuất thế. Tự tại tiêu dao, vạn vật không lụy.

Lòng con người không sao dung chứa được trần ai. Nếu trong có trần ai, thì nhân tâm sẽ vô cùng sinh xuất ra. Nhân Tâm đã sinh, thì lúc thế này lúc thế kia, thân không tự chủ được, và không tự tại được. Tâm không tự tại sẽ nhận tôi tớ làm chủ nhân, sẽ coi chủ nhân là tôi tớ, thì làm sao mà tiêu dao được.

Nếu hoàn toàn giữ được Vô Tâm không bị lay chuyển, thì sẽ tự tại. Nếu đã tự tại, thì không còn lo lắng gì nữa, và vạn Duyên cũng không sinh. Và cái Diệu Giác sáng sủa tròn đầy sẽ sáng rực trong ngoài, bao trùm lục cực, không còn xa gần. Thế mới là Thực Sự Tiêu Dao. Cái dụng của Vô Tâm thật là kỳ diệu thay.

(Bài tụng này bàn về Vô Tâm, tôi lại thấy toàn khuyên ta sống cho thật tự nhiên, không cưỡng cầu. Không có gì phải vẽ vời, đói thì ăn, khát thì uống, không gây chuyện với ai, hết sức là ung dung tự tại. Tâm ta là vô cùng chúng ta phải mở rộng tầm mức tâm ta cho tới vô cùng. Đừng để lòng ta bợn những gì vẩn đục không thanh cao. Đây không phải là Đạo Lão hay Đạo Phật mà chính là Cái Đạo tự nhiên của con người.)

******************* 

TÂM KINH TỤNG  心 經 頌.

Uẩn đế căn trần không sắc,

蘊 諦 根 塵 空 色

Đô vô nhất pháp kham ngôn.

都 無 一 法 堪 言

Điên đảo chi kiến dĩ tận,

顛 倒 之 見 已 盡

Tịch tĩnh chi thể tiêu nhiên.

寂 靜 之 體 翛 然

Tạm dịch:

Uẩn Đế Căn Trần Không Sắc

Không sao bàn gọn trong vài lời.

Chỉ cần bỏ được cái nhìn điên đảo

Chân Tâm lập tức sẽ hiện ra.

Uẩn là Ngũ Uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành Thức). Đế là Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt Đạo). Căn là Lục Căn (Nhãn nhĩ, Tị Thiệt Thân Ý), Trần là Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp), Không là Tịch Diệt, Sắc là Trước Tướng.

Uẩn, Đế, Căn,Trần, Không, Sắc 6 cái đó là do tâm sinh, nó chính là Điên Đảo Kiến (Cái nhìn lộn ngược). Nếu trừ bỏ được nó, thì sẽ thấy Tâm Thể Tịch Diệt, thế chính là

Quán Tự Tại Bồ Tát, là Xá lợi Tử bất sinh bất diệt. Nếu sáu cái đó mà còn cái gì chưa bị tận diệt, thì vẫn còn ở trong vòng Sinh Diệt, vẫn chưa được tự tại.

Khi đã đạt tới Cảnh Giới Vô Sinh Diệt Thường Tự Tại, thì sáu cái trên mới thật sự được thanh tĩnh.

(Sống trên đời ta luôn bị Ngũ Uẩn che lấp mất Bản Lai Diện Mục của chúng ta, là luôn bị cái Khổ quấy nhiễu, Lục Căn, Lục Trần, Không Sắc cám dỗ, mê hoặc làm chúng ta không nhìn ra được cái Pháp Thân vi diệu của chúng ta. Nếu ta bỏ được cái nhìn điên đảo bên ngoài đó, sẽ thấy được Chân Như Phật Tính, sẽ tìm thấy được cái Tự Tại Chân Thực của con người. Trương Bá Đoan và Lưu Nhất Minh trong những chương đoạn này đã tóm thâu Đạo Phật một cách hết sức khéo léo.)

******************* 

VÔ TỘI PHÚC TỤNG   無 罪 福 頌.

Chung nhật hành, bất tằng hành,

終 日 行 不 曾 行

Chung nhật tọa hà tằng tọa.

終 日 坐 何 曾 坐

Tu thiện bất thành công đức,

修 善 不 成 功 德

Tạo ác nguyên vô tội quá.

造 惡 原 無 罪 過

Thời nhân nhược vị minh tâm,

時 人 若 未 明 心

Mạc chấp thử ngôn loạn tố.

莫 執 此 言 亂 做

Tử hậu tu kiến Diêm Vương,

死 後 須 見 閻 王

Nan miễn hoạch thang đối ma.

難 免 鑊 湯 碓 磨

Tạm dịch:

Suốt ngày đi chẳng hề đi

Suốt ngày ngồi chẳng hề ngồi

Tu Thiện không thành công đức

Tạo ác vốn chẳng căn cơ

Người đời vì không thấy Chân Tâm

Nên tưởng ta nói sai lầm bừa bịt.

Chết đi sẽ gặp Diêm Vương,

Sẽ bị chảo dầu, nước sôi, chày cối.

Tụng này bàn về chuyện tại sao không có Tội Phúc. Tội phúc là do tâm sinh. Có Tâm tác ác là Có Tâm tạo tội. Có Tâm hành thiện tức là Có Tâm cầu phúc, Tất cả đều do tâm mà có.

Nếu như lên tới địa vị Không Tâm, thì đi hay ngồi còn không biết, thì làm sao biết có Thiện Ác, làm sao biết có Tội Phúc. Cho nên nói: Tu thiện chẳng thành công đức, Tác ác vốn không tội quá (tu Thiện bất thành công đức, tác ác nguyên vô tội quá), ví như đứa trẻ con, vô thức vô tri, vui cười giận chửi, đều xuất ra từ Vô Tâm, thì làm gì có công đức, có tội ác.

Vô Tâm là không có Nhân Tâm. Không có Nhân Tâm là có Chân Tâm. Chân Tâm to lớn như Trời Đất, bao la vạn vật, không nghĩ Thiện, không nghĩ Ác, không tạo Tội, không cầu phúc. Công đức tội quá, tất cả đều không đáng kể.

Người bây giờ chưa biết được Chân Tâm, nên cứ do Ngoan Tâm làm mọi điều ác nghiệt, mà vẫn cho mình là vô tội quá. Chết đi sẽ bị cảnh vạc dầu, nước sôi, chày cối ác báo, làm sao thoát được.

(Tụng này phân biệt Hữu Tâm và Vô Tâm. Hữu Tâm là Tâm Người, Vô Tâm là Tâm Phật, Hữu Tâm là Ngoan Tâm, Vô Tâm là Chân Tâm. Tu mà bỏ được Hữu Tâm, vào được Vô Tâm thì mới mong thành Chính Quả)

******************* 

VIÊN THÔNG TỤNG   圓 通 頌.

Kiến liễu Chân Không, Không bất không,

見 了 真 空 空 不 空

Viên minh hà xứ bất viên thông.

圓 明 何 處 不 圓 通

Căn trần tâm pháp đô vô vật,

根 塵 心 法 都 無 物

Diệu dụng phương tri dữ vật đồng.

妙 用 方 知 與 物 同

Tạm dịch:

Thấy được Chân Không, Không Chẳng không,

Chiếu soi khắp chốn lại viên thông,

Căn trần tâm pháp đều vô vật

Diệu dụng mới hay vạn vật đồng.

Cái tính Chân Không, viên thông vô ngại, chiếu soi cùng khắp mọi nơi, không gì lừa dối được.

Không phải Không mà là Tự Nó vốn không, tuy Không mà chẳng phải không.

Nó vốn thường tĩnh thường ứng, chỉ là thường tĩnh thường ứng mà thôi.

(Phật tính nơi ta là tính Chân Không, là Chân Không Diệu Hữu, chiếu soi khắp chốn nơi, nó vốn không bị nhiễm trần ai.)

******************* 

TÙY THA TỤNG   隨 他 頌.

Vạn vật tung hoành tại mục tiền,

萬 物 縱 橫 在 目 前

Tùy tha động tĩnh nhiệm tha quyền.

隨 他 動 靜 任 他 權

Viên minh định tuệ chung vô nhiễm,

圓 明 定 慧 終 無 染

Tự thủy xuất liên, liên tự kiền.

似 水 出 蓮 蓮 自 乾

Tạm dịch:

Vạn vật tung hoành trước mắt ta,

Động tĩnh biến thiên vốn nhởn nhơ

Viên minh định tuệ không nhiễm bẩn

Như sen trong nước sen vẫn khô

Bài tụng này tuy là bốn câu, nhưng hay nhất là câu: Viên Minh định tuệ chung vô nhiễm.

Viên Minh là Diệu Hữu. Định tuệ là Chân Không.

Chân Không vốn sẵn có nơi Vạn Vật, nhưng không dính bén vạn vật. Hay nhất là tự nhiên mà gặp vạn vật, và có thề ứng với vạn vật.

Thường ứng thường tĩnh, tùy địa nhi an, như sen sinh từ nước, từ bùn, mà sen vẫn luôn không nhiễm mùi bùn, luôn khô ráo, thanh tịnh, đẹp tươi.

(Cái Chân không diệu hữu, cái Phật tính luôn ở khắp nơi, nhưng không có gì làm ô nhiễm.)

******************* 

BẢO NGUYỆT TỤNG   寶 月 頌.

Nhất luân minh nguyệt đương hư không,

一 輪 明 月 當 虛 空

Vạn quốc thanh quang vô chướng ngại.

萬 國 清 光 無 障 礙

Thu chi bất tụ bát bất khai,

收 之 不 聚 撥 不 開

Tiền chi bất tiến hậu bất thoái.

前 之 不 進 後 不 退

Bỉ phi viễn hề thử phi cận,

彼 非 遠 兮 此 非 近

Biểu phi ngoại hề, lý phi nội.

表 非 外 兮 里 非 內

Đồng trung hữu dị, dị trung đồng,

同 中 有 異 異 中 同

Vấn nễ quỉ lỗi hội bất hội?

問 你 傀 儡 會 不 會

Tạm dịch:

Một vầng trăng sáng giữa thinh không,

Muôn nước sáng soi chẳng ngại ngùng.

Thu thời không tụ, phát chẳng khai,

Đầu đuôi không có không tiến thoái.

Chảng có xa gần, chẳng trong ngoài,

Trong dồng có dị dị có đồng.

Muôn loài nhất thể chùm trời đất,

Cứ nhìn tượng gỗ sẽ hiểu thông.

Cái Tính Như Lai chân không, viên thông diệu giác, chiếu soi khắp nơi, như vầng trăng giữa Trời. Vạn quốc cửu châu đều nhờ áng sáng nó. Muốn thu nhưng áng sáng không tụ, muốn phát ra cũng không thấy áng sáng tung ra.

Đứng trước không thấy ánh sáng đó tiến, đứng sau không thấy ánh sáng đó thoái, chiếu cái Kia mà chẳng thấy xa, soi cái Này mà chẳng thấy gần.

Soi ngoài, ánh sáng không ngoài, soi trong, ánh sáng không trong. Thu phát, tiền hậu, tiến thoái, bỉ thử, viễn cận, biểu lý nội ngoại, tuy chiếu có khác, nhưng ánh sáng thì đồng.

Trong đồng có dị, trong dị có đồng. Nhất Thể tán vạn thù, vạn thù lại qui nhất Thể. Tung ra thì chùm trời đất, thu tóm lại sẽ Thoái tàng ư mật. Hoạt hoạt bát bát y như tượng gỗ vậy.

(Cái Tính Chân Không Diệu Hữu ở khắp mọi nơi trong Trời đất, nên mới nói Vạn Vật Đồng Nhất Thể. Tượng gỗ tuy chân tay đầu mặt khác nhau, nhưng đâu cũng là gỗ.)

******************* 

THÁI CHÂU CA   采 珠 歌.

Bần tử y trung châu,

貧 子 衣 中 珠

Bản tự viên minh hảo.

本 自 圓 明 好

Bất hội tự tầm cầu,

不 會 自 尋 求

Khước số tha nhân bảo.

卻 數 他 人 寶

Số tha bảo, chung vô ích,

數 他 寶 終 無 益

Chỉ thị giáo quân không phí lực.

只 是 教 君 空 費 力

Tranh như nhận đắc tự gia châu,

爭 如 認 得 自 家 珠

Giá trị hoàng kim thiên vạn ức.

價 值 黃 金 千 萬 億

Thử bảo châu, quang tối đại,

此 寶 珠 光 最 大

Biên chiếu tam thiên đại thiên giới.

遍 照 三 千 大 世 界

Tòng lai bất giải thiếu phân hào,

從 來 不 解 少 分 毫

Cương bị phù vân vi chướng ngại.

剛 被 浮 雲 為 障 礙

Tự tòng nhận đắc thử Ma Ni,

自 從 認 得 此 摩 尼

Bào thể không hoa thùy cánh ái.

泡 體 空 花 誰 更 愛

Phật châu hoàn dữ ngã châu đồng,

佛 珠 還 與 我 珠 同

Ngã tính tức qui Phật Tính hải.

我 性 即 歸 佛 性 海

Châu phi châu, hải phi hải,

珠 非 珠 海 非 海

Thản nhiên tâm lượng bao sa giới.

坦 然 心 量 包 沙 界

Nhiệm nễ hiêu trần mãn nhãn tiền,

任 你 囂 塵 滿 眼 前

Định tuệ viên minh thường tự tại.

定 慧 圓 明 常 自 在

Bất thị không, bất thị sắc,

不 是 空 不 是 色

Nội ngoại kiểu nhiên vô ung tắc.

內 外 皎 然 無 壅 塞

Lục thông thần minh diệu vô cùng,

六 通 神 明 妙 無 窮

Tự lợi lợi tha ninh giải cực.

自 利 利 他 寧 解 極

Kiến tức liễu, vạn sự tất,

見 即 了 萬 事 畢

Tuyệt học vô vi độ chung nhật.

絕 學 無 為 度 終 日

Bạc hề như vị triệu anh nhi,

泊 兮 如 未 兆 嬰 兒

Động chỉ tùy Duyên vô cố tất.

動 止 隨 緣 無 固 必

Bất đoạn vọng bất tu chân,

不 斷 妄 不 修 真

Chân vọng chi tâm tổng thuộc trần.

真 妄 之 心 總 屬 塵

Tòng lai vạn pháp giai vô tướng,

從 來 萬 法 皆 無 相

Vô tướng chi trung hữu Pháp Thân.

無 相 之 中 有 法 身

Pháp Thân tức thị Thiên Chân Phật,

法 身 即 是 天 真 佛

Diệc phi nhân hề diệc phi vật.

亦 非 人 兮 亦 非 物

Hạo nhiên sung tắc thiên địa gian,

浩 然 充 塞 天 地 間

Chỉ thị Hi Di tính hoảng hốt.

只 是 希 夷 并 恍 惚

Cấu bất nhiễm, quang tự minh,

垢 不 染 光 自 明

Vô pháp bất tòng tâm lý sinh.

無 法 不 從 心 里 生

Tâm nhược bất sinh pháp tự diệt,

心 若 不 生 法 自 滅

Tức tri tội phúc bản vô hình.

即 知 罪 福 本 無 形

Vô Phật tu, vô Pháp thuyết,

無 佛 修 無 法 說

Trượng phu tri kiến tự nhiên biệt.

丈 夫 知 見 自 然 別

Xuất ngôn cánh tác sư tử minh,

出 言 更 作 獅 子 鳴

Bất tự dã tử luận sinh diệt.

不 似 野 子 論 生 滅

******************* 

Tạm dịch:

Bần nhân trong áo mang ngọc quí,

Sáng tròn vành vạnh rất là quí.

Nếu không biết tự tìm cầu,

Cứ tưởng người mới có ngọc.

Người dẫu có, chẳng ích cho mình,

Ta chỉ dạy ngươi không phí sức.

Khác chi nhận lại Ngọc của nhà,

Giá trị Hoàng Kim thiên vạn ức.

Bảo châu này, rất sáng láng,

Chiếu rõi tam thiên giới.

Xưa nay chẳng biết nó ra sao,

Mới bị phù vân gây chướng ngại.

Từ khi biết được mình có ngọc,

Cuộc đời bào ảnh đáng chi mê?

Ngọc Phật, Ngọc ta in như đúc,

Tính ta vốn là Phật Tính hải.

Chẳng phải Châu, chẳng phải biển.

Thản nhiên tâm ta bao không giới,

Chỉ tại mắt ngươi đầy trần cấu.

Thông tuệ viên minh thường tự tại,

Không phải không, chẳng phải sắc.

Trong ngoài sáng quắc không ủng tắc,

Lục thông thần dụng diệu vô cùng.

Lợi mình, lợi người không vướng mắc,

Hiểu được thế, mọi sự xong.

Tuyệt học vô vi sống trên đời,

Luôn luôn thanh thản tựa anh nhi,

Mọi sự tùy Duyên, vô cố, tất,

Không trừ Vọng chẳng tu Chân.

Chân vọng do tâm, vốn thuộc trần,

Xưa nay Vạn Pháp đều Vô Tướng.

Trong cái Vô Tướng có Pháp Thân,

Pháp Thân là chính Thiên Chân Phật.

Nó chẳng phải Nhân chẳng phải Vật,

Hạo nhiên sung tắc Thiên Địa gian.

Nó vốn mơ hồ lại hoảng hốt,

Không nhiễm trần, vốn sáng quắc.

Pháp chi chẳng do tâm lý sinh?

Tâm nếu không sinh, Pháp tự Diệt.

Cho nên tội phúc chẳng có căn,

Không tu Phật, không thuyết Pháp.

Tri kiến trượng phu rất khác người,

Nói ra chẳng khác sư tử rống.

Không như tục tử luận sinh diệt.

Bài ca này trọng nhất là câu: Tâm nhược bất sinh, pháp tự diệt. Pháp đây không phải là Phật Pháp chi pháp, mà chính là tâm trung vọng tưởng chi Pháp. Như vậy, nếu Tâm mà không sinh thì vạn pháp đều là không.

Tính châu thường minh, định tuệ viên minh, nội ngoại sáng quắc, sự đời bọt nước, không hoa, có chi mà lưu luyến. Mắt đầy trần ai, cũng không làm trở ngại. Tuyệt học Vô Vi, như Vị Triệu chi Anh nhi, động chỉ tùy Duyên, không có ảo tướng chân vọng.

Pháp thân thường lộ, Thiên Chân Phật Tính, mới sung tắc Thiên Địa. Ánh sáng chiếu soi các cõi, thì làm gì còn lo bị phù vân làm chướng ngại.

(Phải hiển lộ Pháp Thân, phải hiển lộ cái Thân Vô Tướng, cái Phật tính vô biên có sẵn trong ta. Nó như Viên Ngọc Châu dấu sẵn trong tà áo của mọi người chúng ta. Đừng mở miệng kêu chúng ta là Bần Nhân Cùng Tử. Hạt Châu ta có đáng muôn vạn lạng hoàng kim. Hãy phân biệt cái Phàm thân và cái Pháp Thân trong ta. Phàm thân trong ta thì ở trong cái Tâm sinh diệt, trong vòng Duyên nghiệp, tử sinh. Còn Pháp Thân trong ta là Thiên Chân Phật, sáng láng vô biên, bao trùm Pháp Giới. Định mệnh con người hết sức sang cả, chúng ta nên nhận cho ra. Chúng ta có khả năng tiến hóa vô biên tận, chớ nên coi rẻ mình.)

******************* 

THIỀN ĐỊNH CHỈ MÊ CA     禪 定 指 迷 歌.

Như Lai thiền tính như thủy,

如 來 禪 性 如 水

Thể tĩnh phong ba tự chỉ.

體 靜 風 波 自 止

Hưng cư trạm nhiên thường thanh,

興 居 湛 然 常 清

Bất độc tọa thời phương thị.

不 獨 坐 時 方 是

Lệnh nhân tĩnh tọa thủ chứng,

令 人 靜 坐 取 證

Bất đạo toàn tại kiến tính.

不 道 全 在 見 性

Tính vu kiến lý nhược minh,

性 于 見 里 若 明

Kiến hướng tính trung tự định.

見 向 性 中 自 定

Định thành tuệ dụng vô cùng,

定 成 慧 用 無 窮

Thị danh chư phật thần thông.

Tạm dịch:

Thiền Tính Như Lai tựa nước,

Thể Tĩnh phong ba tự lặng.

Đứng ngồi trạm trạm thường thanh,

Không chỉ khi ngồi mới vậy.

Người nay tĩnh tọa mới yên lòng,

Không biết Đạo là Kiến Tính.

Tính mà có Thấy mới minh,

Kiến nhìn vào Tính sẽ tự định.

Định rồi Huệ phát, dụng vô cùng,

Nên gọi là Chư Phật Thần Thông.

******************* 

是 名 諸 佛 神 通

Kỷ dục cứu kỳ thể dụng,

幾 欲 究 其 體 用

Đản kiến thập phương hư không.

但 見 十 方 虛 空

Không trung liễu vô nhất vật,

空 中 了 無 一 物

Diệc vô Hi Di hoảng hốt.

亦 無 希 夷 恍 惚

Hi hoảng ký bất khả tầm,

希 恍 既 不 可 尋

Tầm chi khước thành quải thất.

尋 之 卻 成 乖 失

Chỉ thử quải thất lưỡng tự,

只 此 乖 失 兩 字

Bất khả chấp vi bằng cứ.

不 可 執 為 憑 據

Bản tâm thượng thả như không,

本 心 尚 且 虛 空

Khởi hữu đắc thất năng cùng.

豈 有 得 失 能 窮

Dịch:-

Nếu muốn hiểu rành Thể Dụng,

Phải thấy 10 phương hư không.

Trong không vốn không có vật,

Cũng không mập mờ hoảng hốt.

Hi Hoảng đã không tìm thấy dược,

Tìm nó là đi vào lầm lạc.

Hai chữ Quải Thất đó,

Không thể chấp trước làm căn cứ.

Bản tâm vốn dĩ đã Hư Không,

Thì sao có Cùng Thông Đắc Thất.

******************* 

Đản tương vạn pháp khiển trừ,

但 相 萬 法 遣 除

Khiển lệnh tĩnh tận vô dư.

遣 令 靜 盡 無 餘

Hoát nhiên viên minh tự hiện,

豁 然 圓 明 自 現

Tiện dữ chư Phật vô thù.

便 與 諸 佛 無 殊

Sắc thân vi ngã chất cốc,

色 身 為 我 桎 梏

Thả bằng hòa quang hỗn tục.

且 憑 和 光 混 俗

Cử động nhất thiết vô tâm,

舉 動 一 切 無 心

Tranh thậm thị phi vinh nhục.

爭 甚 是 非 榮 辱

Sinh thân chỉ thị ký cư,

生 身 只 是 寄 居

Nghịch lữ chủ hiệu Tì Lư.

逆 旅 主 號 毗 盧

Dịch:-

Chỉ cần tiêu trừ Vạn Pháp,

Cho lòng thanh tịnh kỳ cùng.

Thì sẽ Viên Minh thấu triệt,

Sánh cùng chư Phật chẳng hai.

Ta đây vốn bị Sắc Thân kiềm tỏa,

Hãy nên Hòa Quang Hỗn Tục.

Cử động nhất thiết phải vô tâm,

Màng chi Thị Phi Vinh Nhục.

Đã coi cuộc đời là Sống Gửi,

Quán Trọ của ta là Tì Lư (Tì Lô Giá Na).

******************* 

Tì Lư bất lai bất khứ,

毗 盧不 來 不 去

Nãi tri sinh diệt vô dư.

乃 知 生 滅 無 餘

Hoặc vấn Tì Lư hà tự,

或 問 毗 盧 何 似

Chỉ vi hữu tướng bất thị.

只 為 有 相 不 是

Nhãn tiền nghiệp nghiệp trần trần,

眼 前 業 業 塵 塵

Trần nghiệp phi đồng phi dị.

塵 業 非 同 非 異

Huống thử trần trần nghiệp nghiệp,

況 此 塵 塵 業 業

Cá cá Thích Ca Ca Diếp.

個 個 釋 迦 迦 葉

Dị tắc vạn lại giai minh,

異 則 萬 籟 皆 鳴

Đồng tắc nhất phong đô nhiếp.

同 則 一 風 都 攝

Dịch:-

Tì Lư không đi không lại,

Sẽ thấy Tử Sinh chẳng ra gì.

Ai hỏi Tì Lư là cái chi,

Chỉ nói nó không là Hữu Tướng.

Nhỡn tiền Nghiệp Nghiệp Trần Trần,

Nghiệp Trần không đồng không dị.

Cho nên Nghiệp Nghiệp Trần Trần,

Chính là Thích Ca Ca Diếp.

Khác thì Vạn Sáo đều kêu,

Đồng thì một tiếng gió thâu tóm hết.

******************* 

Nhược yếu nhận đắc Ma Ni,

若 要 認 得 摩 尼

Mạc đạo đắc Pháp phương tri.

莫 道 得 法 方 知

Hữu bệnh dụng tha dược liệu,

有 病 用 他 藥 療

Bệnh sai dược cánh hà thi.

病 瘥 藥 更 何 施

Tâm mê tu giả pháp chiếu,

心 迷 須 假 法 照

Tâm ngộ pháp cánh bất yếu.

心 悟 法 更 不 要

Hựu như hôn kính đắc ma,

又 如 昏 鏡 得 磨

Ngân cấu tự nhiên diệt liễu.

痕 垢 自 然 滅 了

Bản vi Tâm Pháp giai vọng,

本 為 心 法 皆 妄

Cố lệnh ly tận chư tướng.

故 令 離 盡 諸 相

Dịch:-

Nếu như nhận ra được ngọc báu,

Chớ rằng Đắc Pháp mới biết ra.

Có bệnh dùng thuốc sẽ lành bệnh,

Bệnh thay, thuốc nọ dùng làm sao?

Tâm Mê phải dùng Giả Pháp chiếu,

Tâm Ngộ Pháp chằng còn cần nữa.

Y như gương mờ được chùi rửa,

Các vết nhơ sẽ sạch hết.

Đã nói Tâm Pháp thảy đều Vọng,

Và phải lìa xa mọi hình tướng.

******************* 

Chư tướng ly liễu như hà?

諸 相 離 了 如 何

Thị danh chí chân vô thượng.

是 名 至 真 無 上

Nhược dục trang nghiêm Phật thổ,

若 欲 莊 嚴 佛 土

Bình đẳng hành từ cứu khổ.

平 等 行 慈 救 苦

Bồ đề bản nguyện tuy thâm,

菩 提 本 願 雖 深

Thiết mạc tướng trung hữu thủ.

切 莫 相 中 有 取

Thử vi phúc tuệ song viên,

此 為 福 慧 雙 圓

Đương lai thụ ký cư tiên.

當 來 授 記 居 先

Đoạn thường tiêm trần hữu nhiễm,

斷 常 纖 塵 有 染

Khước dữ chư Phật vô Duyên.

卻 與 諸 佛 無 緣

Dịch:-

Chư Tướng lìa rồi thì sao?

Thế là Chí Chân Vô Thượng,

Nếu muốn được trang nghiêm Phật thổ.

Thì phải bình đẳng từ bi cứu khổ,

Tâm Bồ Đề phải thật sâu xa.

Chớ có lấy gì trong Hữu Tướng,

Thế là Phúc Tuệ Song Viên.

Phải đứng hàng trên Thụ Ký,

Nếu như còn nhiễm trần ai.

Thì sẽ vô Duyên với Chư Phật,

******************* 

Phiên niệm phàm phu mê chấp,

翻 念 凡 夫 迷 執

Tận bị tình ái nhiễm tập.

盡 被 情 愛 染 習

Chỉ vi tham trước tình đa,

只 為 貪 著 情 多

Thường sinh thai noãn hóa thấp.

常 生 胎 卵 化 濕

Học đạo tu giáo mãnh liệt,

學 道 須 教 猛 烈

Vô tình tâm cương tự thiết.

無 情 心 剛 似 鐵

Trực nhiêu nhi nữ thê thiếp,

直 饒 兒 女 妻 妾

Hựu dữ tha nhân hà biệt.

又 與 他 人 何 別

Thường thủ nhất khoả viên quang,

常 守 一 顆 圓 光

Bất kiến khả dục tư lường.

不 見 可 欲 思 量

Dịch:-

Kẻ phàm phu thời luôn mê chấp.

Lại luôn bị tình ái nhiễm tập,

Chỉ tại tham trước tình đa.

Nên mới Sinh Thai Noãn, Hóa Thấp,

Học đạo cần quyết tâm mãnh liệt.

Lòng phải vô tình, cứng như sắt,

Nếu vẫn vợ con đầy đủ.

Thì nào có khác chi ai?

Thường giữ viên ngọc viên quang.

Đừng có ước mơ điều khả dục,

******************* 

Vạn pháp nhất thời vô trước,

萬 法 一 時 無 著

Thuyết thậm địa ngục thiên đường.

說 甚 地 獄 天 堂

Nhiên hậu Ngã mệnh tại Ngã,

然 後 我 命 在 我

Không trung vô thăng vô đọa.

空 中 無 升 無 墮

Xuất một Chư Phật thổ trung,

出 沒 諸 佛 土 中

Bất ly Bồ Đề bản tọa.

不 離 菩 提 本 坐

Quan Âm tam thập nhị ứng,

觀 音 三 十 二 應

Ngã học diệc tòng trung chứng.

我 學 亦 從 中 證

Hóa hiện bất khả tư nghị,

化 現 不 可 思 議

Tận xuất Tiêu Dao chi Tính.

盡 出 逍 遙 之 性

Ngã thị Vô Tâm Thiền Khách,

我 是 無 心 禪 客

Dịch:-

Vạn pháp một khi đà buông xả.

Thì bận tâm chi Địa Ngục Thiên Đường,

Từ nay Ngã Mệnh do Ngã.

Ở giữa không trung vô thăng vô đọa,

Vào ra trong Phật thổ của chư Phật.

Không bỏ tòa ngôi của Bồ Đề,

Quan Âm 32 ứng.

Cái học của ta cũng nằm trong đó,

Biến hóa bất khả tư nghì.

Hiện rõ Tiêu Dao chi Tính,

Ta chính là Vô Tâm Phật Khách.

******************* 

Phàm sự bất hội giản trạch.

凡 事 不 會 揀 擇

Tích thời nhất cá hắc ngưu,

昔 時 一 個 黑 牛

Kim nhật hồn thân thị bạch.

今 日 渾 身 是 白

Hữu thời tự ca tự tiếu,

有 時 自 歌 自 笑

Bàng nhân đạo ngã thần thiếu.

傍 人 道 我 神 少

Tranh tri bị hạt chi hình,

爭 知 被 褐 之 形

Nội hoài vô giá chi bảo.

內 懷 無 價 之 寶

Cánh nhược kiến ngã đàm không,

更 若 見 我 談 空

Kháp tự hồn luân thôn cức.

恰 似 渾 淪 吞 棘

Thử Pháp duy Phật năng tri,

此 法 惟 佛 能 知

Phàm ngu khởi giải tướng biểu.

凡 愚 豈 解 相 表

Dịch:-

Phàm sự không cần chọn lựa,

Khi xưa là một Trâu Đen.

Ngày nay toàn thân lông trắng,

Có lúc tự ca tự tiếu,

Người bên nói ta Thần Diệu.

Sá chi áo quần rách rưới,

Trong ta có sẵn ngọc châu vô giá.

Lại thấy ta bàn chuyện lông bông,

Y như là đã nuốt phải gai.

Phép ta chư Phật mới hiểu nổi.

Phàm phu làm sao mà biết được,

******************* 

Kiêm hữu tu thiền thượng nhân,

兼 有 修 禪 上 人

Chỉ học đấu khẩu hợp thần.

只 學 鬥 口 合 辰

Khoa ngã vấn đáp mẫn cấp,

誇 我 問 答 敏 急

Khước nguyên bất thức chủ nhân.

卻 原 不 識 主 人

Cái thị tầm chi trích diệp,

蓋 是 尋 枝 摘 葉

Bất giải tận cứu bản căn.

不 解 盡 究 本 根

Đắc căn chi diệp tự mậu,

得 根 枝 葉 自 茂

Vô căn chi diệp nan tồn.

無 根 枝 葉 難 存

Cánh trình kỷ ốc linh châu,

更 逞 己 握 靈 珠

Chuyển vu nhân ngã nan trừ.

轉 于 人 我 難 除

Dữ Ngã linh nguyên diệu giác,

與 我 靈 源 妙 覺

Viễn cách thiên lý chi thù.

遠 隔 千 里 之 殊

Dịch:-

Ta lại là Tu Thiền Thượng nhân.

Học cách nín thinh ngậm miệng,

Khoe ta nói năng mẫn tiệp.

Chỉ tại người không biết được chủ nhân,

Nên mới tìm cành kiếm lá.

Không biết tận cứu bản căn,

Thấy được bản căn là cành sẽ tươi tốt.

Không gốc lá cành sao sống nổi,

Ta nay trình ra Chân Bảo Bối.

Ai mà không trừ được Nhân Ngã,

Thì đối với Linh Nguyên Diệu Giác của ta.

Còn cách xa muôn vạn dặm,

******************* 

Thử bối khả thương khả tiếu,

此 輩 可 傷 可 笑

Không thuyết tích niên học đạo.

空 說 積 年 學 道

Tâm cao bất khẳng vấn nhân,

心 高 不 肯 問 人

Uổng sử nhất sinh hư lão.

枉 使 一 生 虛 老

Nãi thị ngu mê độn căn,

乃 是 愚 迷 鈍 根

Tà kiến nghiệp trọng vi nhân.

邪 見 業 重 為 因

Nhược hướng thử sinh bất ngộ,

若 向 此 生 不 悟

Hậu thế tranh miễn trầm luân.

後 世 爭 免 沉 淪

Dịch:-

Những kẻ ấy thật hết sức đáng thương.

Học đạo nhiều năm vẫn không biết,

Kiêu ngạo không chịu học hỏi ai.

Uổng phí một đời khô lão,

Họ vốn u mê lại độn căn.

Lại có tà kiến và nghiệp trọng,

Nếu như kiếp này không ngộ đạo.

Thì kiếp sau sao thoát trầm luân ?

Bài ca này có hơn trăm câu nhưng chỉ tóm tắt trong bốn câu sau:

Như Lai Thiền Tính như thủy,

如 來 禪 性 如 水

Thể tịnh phong ba tự chỉ.

體 淨 風 波 自 止

Hưng cư trạm nhiên thường thanh,

興 居 湛 然 常 清

Bất độc tọa thời phương thị.

不 獨 坐 時 方 是

Tạm dịch:

Thiền Tính Như Lai tựa nước,

Thể Tĩnh phong ba tự lặng.

Đứng ngồi trạm trạm thường thanh,

Không chỉ khi ngồi mới vậy.

Vì Như Lai Thiền Tính, bản thể nó thường chí tĩnh lại trong veo như nước, không dấy phong ba, không nhiễm trần cấu. Khi động khi tĩnh nó vẫn như vậy, chứ không phải chỉ ngồi mới vậy.

Nếu gọi ngồi là Thiền, thì đó không phải là Chân Thiền, mà đó là thứ thiền Tịch Diệt Ngoan Không, nhất định không phải là Như Lai Thiền Tính.

Cái Thiền Chân Chính, phải gồm đủ Tuệ Định, và biến hóa vô cùng. Phải quên cả Tâm lẫn Pháp, phải lìa hết Chư Tướng. Nó là Trang Nghiêm Phật thổ, Bình Đẳng hành từ Hòa quang Hỗn tục, tại trần mà xuất trần, tại thế mà ly thế. Không Thiền mà vẫn là Thiền, không định mà vẫn định.

Những kẻ chuyên môn tĩnh tọa, ngồi yên giữ miệng, thì không biết được chủ nhân. Đã tỉnh giấc Thiền muội nhưng dù đã tỉnh, vẫn còn hồ đồ, làm sao hiểu nổi Chân Tính của Thiền Linh Nguyên diệu giác.

(Bài này dạy tu thiền là phải hiểu Thiền Tính Như Lai, phải hiểu cốt cách sang cả của con người, chứ không phải là ngồi trơ trơ như gỗ đá. Chân tính của Thiền là Tính Nguyên Linh Diệu Giá, Biến hóa vô cùng.)

—————

Dịch cả bài:-

CHỈ RA CHỖ MÊ LẦM CỦA NHẬN THỨC VỀ THIỀN ĐỊNH

Thiền Tính Như Lai tựa nước,

Thể Tĩnh phong ba tự lặng.

Đứng ngồi trạm trạm thường thanh,

Không chỉ khi ngồi mới vậy.

Người nay tĩnh tọa mới yên lòng,

Không biết Đạo là Kiến Tính.

Tính mà có Thấy mới minh,

Kiến nhìn vào Tính sẽ tự định.

Định rồi Huệ phát, dụng vô cùng,

Nên gọi là Chư Phật Thần Thông.

Nếu muốn hiểu rành Thể Dụng,

Phải thấy 10 phương hư không.

Trong không vốn không có vật,

Cũng không mập mờ hoảng hốt.

Hi Hoảng đã không tìm thấy dược,

Tìm nó là đi vào lầm lạc.

Hai chữ Quải Thất đó,

Không thể chấp trước làm căn cứ.

Bản tâm vốn dĩ đã Hư Không,

Thì sao có Cùng Thông Đắc Thất.

Chỉ cần tiêu trừ Vạn Pháp,

Cho lòng thanh tịnh kỳ cùng.

Thì sẽ Viên Minh thấu triệt,

Sánh cùng chư Phật chẳng hai.

Ta đây vốn bị Sắc Thân kiềm tỏa,

Hãy nên Hòa Quang Hỗn Tục.

Cử động nhất thiết phải vô tâm,

Màng chi Thị Phi Vinh Nhục.

Đã coi cuộc đời là Sống Gửi,

Quán Trọ của ta là Tì Lư (Tì Lô Giá Na).

Tì Lư không đi không lại,

Sẽ thấy Tử Sinh chẳng ra gì.

Ai hỏi Tì Lư là cái chi,

Chỉ nói nó không là Hữu Tướng.

Nhỡn tiền Nghiệp Nghiệp Trần Trần,

Nghiệp Trần không đồng không dị.

Cho nên Nghiệp Nghiệp Trần Trần,

Chính là Thích Ca Ca Diếp.

Khác thì Vạn Sáo đều kêu,

Đồng thì một tiếng gió thâu tóm hết.

Nếu như nhận ra được ngọc báu,

Chớ rằng Đắc Pháp mới biết ra.

Có bệnh dùng thuốc sẽ lành bệnh,

Bệnh thay, thuốc nọ dùng làm sao?

Tâm Mê phải dùng Giả Pháp chiếu,

Tâm Ngộ Pháp chằng còn cần nữa.

Y như gương mờ được chùi rửa,

Các vết nhơ sẽ sạch hết.

Đã nói Tâm Pháp thảy đều Vọng,

Và phải lìa xa mọi hình tướng.

Chư Tướng lìa rồi thì sao?

Thế là Chí Chân Vô Thượng,

Nếu muốn được trang nghiêm Phật thổ.

Thì phải bình đẳng từ bi cứu khổ,

Tâm Bồ Đề phải thật sâu xa.

Chớ có lấy gì trong Hữu Tướng,

Thế là Phúc Tuệ Song Viên.

Phải đứng hàng trên Thụ Ký,

Nếu như còn nhiễm trần ai.

Thì sẽ vô Duyên với Chư Phật,

Kẻ phàm phu thời luôn mê chấp.

Lại luôn bị tình ái nhiễm tập,

Chỉ tại tham trước tình đa.

Nên mới Sinh Thai Noãn, Hóa Thấp,

Học đạo cần quyết tâm mãnh liệt.

Lòng phải vô tình, cứng như sắt,

Nếu vẫn vợ con đầy đủ.

Thì nào có khác chi ai?

Thường giữ viên ngọc viên quang.

Đừng có ước mơ điều khả dục,

Vạn pháp một khi đà buông xả.

Thì bận tâm chi Địa Ngục Thiên Đường,

Từ nay Ngã Mệnh do Ngã.

Ở giữa không trung vô thăng vô đọa,

Vào ra trong Phật thổ của chư Phật.

Không bỏ tòa ngôi của Bồ Đề,

Quan Âm 32 ứng.

Cái học của ta cũng nằm trong đó,

Biến hóa bất khả tư nghì.

Hiện rõ Tiêu Dao chi Tính,

Ta chính là Vô Tâm Phật Khách.

Phàm sự không cần chọn lựa,

Khi xưa là một Trâu Đen.

Ngày nay toàn thân lông trắng,

Có lúc tự ca tự tiếu,

Người bên nói ta Thần Diệu.

Sá chi áo quần rách rưới,

Trong ta có sẵn ngọc châu vô giá.

Lại thấy ta bàn chuyện lông bông,

Y như là đã nuốt phải gai.

Phép ta chư Phật mới hiểu nổi.

Phàm phu làm sao mà biết được,

Ta lại là Tu Thiền Thượng nhân.

Học cách nín thinh ngậm miệng,

Khoe ta nói năng mẫn tiệp.

Chỉ tại người không biết được chủ nhân,

Nên mới tìm cành kiếm lá.

Không biết tận cứu bản căn,

Thấy được bản căn là cành sẽ tươi tốt.

Không gốc lá cành sao sống nổi,

Ta nay trình ra Chân Bảo Bối.

Ai mà không trừ được Nhân Ngã,

Thì đối với Linh Nguyên Diệu Giác của ta.

Còn cách xa muôn vạn dặm,

Những kẻ ấy thật hết sức đáng thương.

Học đạo nhiều năm vẫn không biết,

Kiêu ngạo không chịu học hỏi ai.

Uổng phí một đời khô lão,

Họ vốn u mê lại độn căn.

Lại có tà kiến và nghiệp trọng,

Nếu như kiếp này không ngộ đạo.

Thì kiếp sau sao thoát trầm luân.

******************* 

ĐỘC TUYẾT ĐẬU   THIỀN SƯ TỔ ANH TẬP  CA
 讀 雪 竇 禪 師 祖 英 集 歌.

Tào Khê nhất thủy phân thiên phái,

 漕 溪 一 水 分 千 派

Chiếu cổ trừng kim vô trệ ngại.

 照 古 澄 今 無 滯 礙

Cận lai học giả bất cùng nguyên,

 近 來 學 者 不 窮 源

Vọng chỉ đề oa vi đại hải.

 妄 指 蹄 窪 為 大 海

Tuyết Đậu Lão Sư đạt chân thú,

 雪 竇 老 師 達 真 趣

Đại Chấn lôi âm truy Pháp cổ.

 大 震 雷 音 椎 法 鼓

Sư vương hao hống xuất quật lai,

 獅 王 哮 吼 出 窟 來

Bách thú thiên tà giai khủng cụ.

 百 獸 千 邪 皆 恐 懼

Hoặc ca thi, hoặc ngữ cú.

 或 歌 詩 或 語 句

Đinh ninh chỉ dẫn mê nhân lộ,

 叮 嚀 指 引 迷 人 路

Dịch:-

Một dòng Tào Khê phân nghìn nhánh,

Chiếu khắp xưa nay không quải ngại.

Gần đây học giả chẳng tìm nguồn,

Chỉ bậy dấu chân là Biển cả.

Lão sư Tuyết Đậu rõ đầu đuôi,

Như tiếng sấm vang bàn phép cổ.

Chẳng khác mãnh sư ra khỏi ổ,

Muôn loài nghe biết điều kinh sợ.

Hoặc dùng thơ, hoặc nói thường,

Đinh ninh chỉ lối cho kẻ lầm.

******************* 

Ngôn từ lỗi lạc ý thượng thâm.

 言 辭 磊 落 意 尚 深

Kích ngọc sao kim hưởng thiên cổ,

 擊 玉 敲 金 響 千 古

Tranh nại mê nhân trục cảnh lưu.

 爭 奈 迷 人 逐 境 留

Khước tác ngôn tướng tầm danh số,

 卻 作 言 相 尋 名 數

Chân Như thật Tướng bản vô ngôn.

 真 如 實 相 本 無 言

Vô hạ, vô cao, vô hữu biên,

 無 下 無 高 無 有 邊

Phi sắc, phi không, phi nhị thể.

 非 色 非 空 非 二 體

Thập phương trần sát nhất luân viên,

 十 方 塵 剎 一 輪 圓

Chính định hà tằng phân ngữ mặc.

 正 定 何 曾 分 語 默

Dịch:-

Ngôn từ lỗi lạc lại cao thâm,

Dùng lời vàng ngọc của muôn thủa.

Thương hại những ai sống theo cảnh,

Chỉ dùng Ngôn Tướng với Danh Số.

Chân Như Thật Tướng vốn không lời,

Không thấp, không cao, không trái phải.

Phi sắc, phi không, phi nhị thể,

Trong chốn trần ai, một vầng tròn.

Chính Định không phân nói, không nói,

******************* 

Thủ bất đắc hề xả bất đắc,

 取 不 得 兮 舍 不 得

Đãn ư chư tướng bất lưu tâm.

 但 於 諸 相 不 留 心

Tức thị Như Lai chân quĩ tắc,

 即 是 如 來 真 軌 則

Vi trừ vọng tưởng tương chân đối.

 為 除 妄 想 將 真 對

Vọng nhược bất sinh chân diệc hối,

 妄 若 不 生 真 亦 晦

Năng tri chân vọng lưỡng câu phi.

 能 知 真 妄 兩 俱 非

Phương đắc Chân Tâm vô quải ngại,

 方 得 真 心 無 挂 礙

Quải ngại hề, Chân tự tại.

 挂 礙 兮 真 自 在

Nhất ngộ đốn tiêu lịch kiếp tội,

 一 悟 頓 消 歷 劫 罪

Bất thi công lực chứng Bồ Đề.

 不 施 功 力 證 菩 提

Dịch :-

Cũng không Xả Thủ với phân chia.

Chỉ cần thấy Tướng chẳng lưu tâm,

Thế là Đường lối của Như Lai.

Chân Vọng đôi đường không đãi đối,

Nếu Vọng không sinh, Chân không hối.

Nên rõ Vọng Chân thảy đều không,

Mới được Chân Tâm vô quải ngại.

Vô quải ngại hề, sẽ tự tại,

Ngộ rồi muôn kiếp tội đốn tiêu.

Không tốn công phu chứng bồ đề,

******************* 

Tòng thử vĩnh ly Sinh Tử hải,

 從 此 永 離 生 死 海

Ngô sư cận nhi ngôn ngữ sướng.

 吾 師 近 而 言 語 暢

Lưu tại thế gian vi bảng dạng,

 留 在 世 間 為 榜 樣

Tạc tiêu bị ngã hoán tương lai.

 昨 宵 被 我 喚 將 來

Bả tị khổng xuyên phóng trượng thượng,

 把 鼻 孔 穿 放 杖 上

Vấn tha đệ nhất nghĩa hà như.

 問 他 第 一 義 何 如

Khước đạo hữu ngôn giai thị báng.

 卻 道 有 言 皆 是 謗

Dịch:-

Từ nay vĩnh viễn lìa sinh tử hải.

Thày ta Đạo cao, ngôn ngữ sướng,

Lưu tại thế gian vi bảng ngạn.

Đêm qua ta đem Chân Như Thực Tướng,

Xỏ vào lỗ mũi của phàm tâm.

Ấy chính Tây Lai đệ nhất nghĩa,

Mới hay Hữu Ngôn đều sái quấy.

Dịch cả bài :-

Một dòng Tào Khê phân nghìn nhánh,

Chiếu khắp xưa nay không quải ngại.

Gần đây học giả chẳng tìm nguồn,

Chỉ bậy dấu chân là Biển cả.

Lão sư Tuyết Đậu rõ đầu đuôi,

Như tiếng sấm vang bàn phép cổ.

Chẳng khác mãnh sư ra khỏi ổ,

Muôn loài nghe biết điều kinh sợ.

Hoặc dùng thơ, hoặc nói thường,

Đinh ninh chỉ lối cho kẻ lầm.

Ngôn từ lỗi lạc lại cao thâm,

Dùng lời vàng ngọc của muôn thủa.

Thương hại những ai sống theo cảnh,

Chỉ dùng Ngôn Tướng với Danh Số.

Chân Như Thật Tướng vốn không lời,

Không thấp, không cao, không trái phải.

Phi sắc, phi không, phi nhị thể,

Trong chốn trần ai, một vầng tròn.

Chính Định không phân nói, không nói,

Cũng không Xả Thủ với phân chia.

Chỉ cần thấy Tướng chẳng lưu tâm,

Thế là Đường lối của Như Lai.

Chân Vọng đôi đường không đãi đối,

Nếu Vọng không sinh, Chân không hối.

Nên rõ Vọng Chân thảy đều không,

Mới được Chân Tâm vô quải ngại.

Vô quải ngại hề, sẽ tự tại,

Ngộ rồi muôn kiếp tội đốn tiêu.

Không tốn công phu chứng bồ đề,

Từ nay vĩnh viễn lìa sinh tử hải.

Thày ta Đạo cao, ngôn ngữ sướng,

Lưu tại thế gian vi bảng ngạn.

Đêm qua ta đem Chân Như Thực Tướng,

Xỏ vào lỗ mũi của phàm tâm.

Ấy chính Tây Lai đệ nhất nghĩa,

Mới hay Hữu Ngôn đều sái quấy.

Giải:-

Bài ca này tuy khen công  lao Tổ Anh Tập, kỳ thật là bàn về Tướng Chân Như. Trong đó có 2 câu: Đãn ư chư tướng bất lưu tâm, tức thị Như Lai chân quĩ tắc. Hai câu trên toát lược ý của toàn bộ Tổ Anh Tập.

Nói không lưu tâm tức là Vô Tâm. Đã Vô Tâm thì không có Chân Vọng. Đã không có Chân Vọng thì không có qủai ngại. Đã không quải ngại thời luôn thanh thản, tự tại. Đã Tự Tại thời chân thật tướng thường tồn, xa lìa Sinh Tử khổ hải.

Hai câu: Tạc tiêu bị Ngã hoán tương lai, Bả tị khổng xuyên phóng trượng thượng đó chính là Ngôn ngoại chi ý của Tiên Ông. Học giả phải hiểu thế nào Hoán tương lai, thế nào là Xuyên tị khổng.

Hoán Tương Lai là Hoán Chân Như Thật tướng chi Tính.

Xuyên tị khổng khiếu là xuyên Phi sắc phi không chi tâm [Lấy Chân Như chi tướng (Chân Tâm) xỏ mũi phi sắc phi không chi tâm (vọng tâm)]

Hiểu tính đó, biết tâm đó, là cầm gậy trong tay, trên chống trời, dưới chống đất, không lưng không mặt, tròn vành vạnh, sáng chói lói, sạch làu làu, đỏ hây hây, đó chính là Tây Lai đệ Nhất nghĩa, thế là qúa rõ rồi vậy.

(Phải biết Thật Tướng Chân Như, mới được Tự Tại Vô Ngại, mới thoát Sinh Tử luân hồi.)

******************* 

GIỚI ĐỊNH TUỆ GIẢI         戒 定 慧 解.

Phù Giới Định Tuệ giả,

夫 戒 定 慧 者

Nãi Pháp trung chi diệu dụng dã.

乃 法 中 之 妙 用 也

Phật tổ tuy thường hữu ngôn,

佛 祖 雖 嘗 有 言

Nhi vị đạt giả hữu sở chấp.

而 未 達 有 所 執

Kim lược nhi ngôn chi,

今 略 而 言 之

Thứ tư khai ngộ.

庶 資 開 悟

Phù kỳ Tâm Cảnh lưỡng vong,

夫 其 心 境 兩 忘

Nhất niệm bất động viết Giới.

一 念 不 動 曰 戒

Giác tính viên minh, nội ngoại oánh triệt, viết Định

覺 性 圓 明 內 外 瑩 徹 曰 定

Tùy Duyên ứng vật, diệu dụng vô cùng, viết Tuệ

隨 緣 應 物 妙 用 無 窮 曰 慧

Thử tam giả tương tu nhi thành, hỗ vi Thể Dụng.

此 三 者 相 須 而 成 互 為 體 用

Hoặc Giới chi vi Thể giả, tắc Định Tuệ vi kỳ Dụng.

或 戒 之 為 體 者 則 定 慧 為 其 用

Định chi vi Thể giả, tắc Giới Tuệ vi kỳ Dụng.

定 之 為 體 者 則 戒 慧 為 其 用

Tuệ chi vi Thể giả, tắc Giới Định vi kỳ Dụng.

慧 之 為 體 者 則 戒 定 為 其 用

Tam giả vị thường tư tu tương ly dã.

三 者 未 嘗 斯 須 相 離 也

Do như nhật giả quang nhi năng chiếu.

猶 如 日 假 光 而 能 照

Quang giả chiếu nhi năng minh.

光 假 照 而 能 明

Phi quang tắc bất năng chiếu.

非 光 則 不 能 照

Phi chiếu tắc bất năng minh.

非 照 則 不 能 明

Nguyên kỳ Giới Định Tuệ giả bản hồ nhất Tính.

原 其 戒 定 慧 者 本 乎 一 性

Quang Minh Chiếu giả bản hồ nhất Nhật.

光 明 照 者 本 乎 一 日

Nhất thượng phi Nhất.

一 尚 非 一

Tam phục hà tam?

三 復 何 三

Tam nhất câu vong,

三 一 俱 忘

Trạm nhiên thanh tịnh.

湛 然 清 淨

******************* 

*Dịch:

Giới Định Tuệ là diệu dụng của Pháp Phật.

Phật Tổ tuy có nói ra lời,

Nhưng người chưa đạt đạo còn có chỗ chấp trước.

Nay nói sơ lược lại.

Để giúp người khai ngộ.

Khi mà Tâm Cảnh đều quên,

Một niệm không động, thì gọi là Giới,

Khi mà Giác Tính viên minh, trong ngoài sáng tỏ, thì gọi là Định,

Khi mà Tùy Duyên ứng vật, Diệu Dụng vô cùng, thì gọi là Tuệ.

Ba cái đó nhờ nhau mà có, hỗ vi Thể Dụng.

Nếu coi Giới là Thể thì Định Tuệ là Dụng.

Nếu coi Định là Thể thì Giới Tuệ là Dụng.

Nếu coi Tuệ là Thể thì Giới Định sẽ là Dụng.

Ba cái đó không hề rời nhau.

Như mặt trời nhờ áng sáng nên chiếu soi.

Ánh sánh nhờ Chiếu nên mới sáng.

Không có Ánh Sánh, thì không thể Chiếu.

Không có Chiếu thì không có sáng.

Giới Định Tuệ vốn cùng một Tính.

Quang, Minh, Chiếu đều cũng một Mặt trời.

Một mà không là một.

Thì Ba là cái gì.

Ba Một đều quên,

Thì là thanh tịnh thật sự.

Tiên ông giảng thế nào là vào được Giới Định Tuệ. Lời lẽ giản dị, y tứ rõ ràng. Nếu học giả theo đúng như vậy sẽ qua thẳng bỉ ngạn. Lời tiên ông tuy rõ, nhưng e học giả kiến thức không cao, lực lượng chưa đủ, không thể ngộ nguyên, nên lại dặn dò thêm, dạy đi từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, như vậy mới được.

Giới là thấy cảnh quên tình, không nhiễm trần ai.

Định là Chí Thành Vô Vọng, bất động bất di.

Tuệ là Tùy Sự Biến Thông, bất thiên, bất ỷ.

Có thể Giới, có thể Định, có thể Tuệ.

Tam giả tương tu, là do miễn cưỡng mà thành tự nhiên, do hỗn nhiên mà thành Nhất Tính, trở về bất thức, bất tri, thanh tịnh địa vị. Thật ra, khi đã đạt được thanh tịnh nhất tính thì chẳng làm gì còn có 3 chuyện Giới, Định, Tuệ. Cho nên nói: Tam Nhất Câu Vong, trạm nhiên thanh tịnh.

Nếu chưa tới được Thanh Tịnh, thì vẫn còn phải dùng Giới, Định, Tuệ. Nhưng khi đã đạt tới Thanh Tịnh, thì Giới Định Tuệ sẽ hợp nhất,

Khi Tam Nhất còn chưa quên, thì chưa phải là Thanh Tịnh thiền định. Trong bài Tụng có nói: Tâm mê tu giả pháp chiếu, Tâm ngộ Pháp cánh bất yếu.

Thật ra thì phải lìa hết Chư Tướng, Tam Nhất cũng đều quên, thì mới đạt được thanh tịnh thật.

******************* 

TÂY GIANG NGUYỆT THẬP NHỊ THỦ.

(12 bài theo điệu Tây giang nguyệt)

西 江 月 十 二 首

Bài 1

Vọng tưởng bất phục cưỡng diệt,

妄 想 不 復 強 滅

Chân như hà tất hi cầu.

真 如 何 必 希 求

Bản nguyên Tự Tính Phật tề tu,

本 源 自 性 佛 齊 修

Mê ngộ khởi câu tiền hậu.

迷 悟 豈 拘 前 後

 *

Ngộ tức sát na thành Phật,

悟 即 剎 那 成 佛

Mê hề vạn kiếp luân lưu.

迷 兮 萬 劫 淪 流

Nhược năng nhất niệm khế Chân tu,

若 能 一 念 契 真 修

Diệt tận hằng sa tội cấu.

滅 盡 恆 沙 罪 垢

Tạm dịch:

Vọng tưởng không cần cưỡng diệt

Chân Như khỏi phải Hi cầu.

Bản Nguyên tự Tính, Phật tề tu,

Mê Ngộ chẳng lo tiền hậu.

 *

Ngộ thời phút giây thành Phật,

Mê thời vạn kiếp trầm luân.

Nếu biết Nhất Niệm khế Chân tu,

Sẽ diệt hằng sa tội cấu.

Bản Nguyên tự tính là Phật Tính.
Phật tính là Vô vọng tưởng.
Không có Chân Như.

Chỉ vì con người có Mê, có Ngộ, nên mới có Vọng tưởng, Chân Như.
Mê Tự Tính sẽ sinh Vọng Tưởng, Ngộ Tự Tính sẽ qui Chân Như.
Biết Chân Như sẽ thành Phật trong giây phút, sinh Vọng Tưởng sẽ Vạn Kiếp trầm luân.
Vọng tưởng, Chân Như chỉ tại hai đằng Mê Ngộ. Nếu không Ngộ mà cưỡng Diệt, sống trong Vọng Tưởng mà cầu Chân Như, thì làm sao thấy được Chân Như.

Câu cuối viết: Nhược năng nhất niệm khế Chân Tu, Diệt tận hằng sa tội cấu.

Nếu biết Nhất Niệm khế Chân Tu, sẽ dịệt hằng sa tội cấu. Nói thế là ta phải hiểu.

(Tu Phật, phải phân biệt Chân Như và Vọng Tưởng. Chân Như là con đường thành Phật, Vọng tưởng là con đường sinh tử Luân Hồi. Cần phải hiểu như vậy.)

******************* 

Bài 2

Bản thị vô sinh vô diệt,

本 是 無 生 無 滅

Cưỡng cầu sinh diệt khu phân.

強 求 生 滅 區 分

Chỉ như tội phúc diệc vô căn,

只 如 罪 福 亦 無 根

Diệu thể hà tằng tăng tổn.

妙 體 何 曾 增 損

 *

Ngã hữu nhất luân minh kính,

我 有 一 輪 明 鏡

Tòng lai chỉ vị mông hôn.

從 來 只 為 蒙 昏

Kim triêu ma oánh chiếu Kiền Khôn,

今 朝 磨 瑩 照 乾 坤

Vạn tượng chiêu nhiên nan ẩn.

萬 象 昭 然 難 隱

Tạm dịch:

Chân Như vốn dĩ không sinh diệt,

Tuy đem sinh diệt khu phân.

Nhưng mà tội phúc vốn vô căn,

Diệu thể làm sao mà tăng tổn.

 *

Ta đây có tấm gương trong suốt,

Xưa nay sở dĩ tối mờ

Là vì lau chùi không kỹ

Được lau chùi sẽ chiếu soi trời đất,

Vạn Tượng không chi không thấy.

Bản Thể Chân Như Phật Tính, vô sinh, vô diệt, không thể tăng tổn, nhân vì hồng trần nhiễm Trước , nên mới có sinh diệt. Y như tấm gương trong bị che mờ, nếu có hôm nào được lau chùi hết bụi bặm cũ xưa, thì sẽ lại sáng trong không khuy khuyết. Dùng nó chiếu soi trời đất thì sẽ thấy muôn loài rõ ràng, không gì ẩn dấu được, làm gì có sinh có diệt.

(Chân Như phật Tính nơi ta nó vốn sáng ngời. Vì ta bỏ bê không chịu chùi rửa, nên mới tưởng là có Sinh Diệt. Thực ra lau chùi rồi, sẽ hết Sinh Diệt mà còn nguyên có Chân Như trong sáng.)

******************* 

Bài 3

Ngã tính nhập chư Phật Tính,

我 性 入 諸 佛 性

Chư phương Phật Tính giai nhiên.

諸 方 佛 性 皆 然

Đình đình Thiềm ảnh chiếu hàn tuyền,

亭 亭 蟾 影 照 寒 泉

Nhất nguyệt thiên đàm phổ hiện.

一 月 千 潭 普 現

 *

Tiểu tức hào mao mạc thức,

小 即 毫 毛 莫 識

Đại thời biến mãn tam thiên.

大 時 遍 滿 三 千

Cao đê bất ước tín phương viên,

高 低 不 約 信 方 圓

Thuyết thậm trường đoản thâm thiển.

說 甚 長 短 深 淺

Tạm dịch:

Tính ta chính là Tính Phật,

Tính Phật muôn nơi đều là Một.

Y thức bóng trăng soi đáy nước,

Hiện ra trên mọi mặt hồ.

 *

Nhỏ tựa như lông khó nhìn thấy,

To thời trải rộng khắp Tam Thiên.

Cao thấp vuông tròn không phân biệt,

Vắn dài sâu cạn cũng không thêm.

Ngã Tính Phật Tính, chính là Tính con người trong vạn quốc, cửu châu.
Không có 2 tính.
Ở nơi thánh không tăng, ở nơi phàm không giảm, Y như một mặt trăng chiếu soi muôn vạn mặt hồ.

Tính này có thể lớn, có thể nhỏ, có thể cao, có thể thấp, có thể vuông, có thể tròn, có thể cạn, có thể sâu, có thể ngắn, có thể dài, mà không sa vào phạm vi của Đại Tiểu, Cao Đê, Phương Viên, Trường Đoản, Thâm Thiển. Chỉ là cái mà Bách Tính dùng hằng ngày, không biết mà thôi.

(Chung qui, người, Ta, Phật chỉ một tính. Ở khắp muôn nơi không tăng giảm. Không có vắn dài, không cao thấp. Thấy được Phật Tính mới là hay.)

******************* 

Bài 4

Pháp, Pháp, Pháp nguyên vô Pháp,

法 法 法 元 無 法

Không, Không, Không diệc phi Không.

空 空 空 亦 非 空

Tĩnh huyên ngữ mặc bản lai đồng,

靜 喧 語 默 本 來 同

Mộng lý hà lao thuyết mộng.

夢 里 何 勞 說 夢

 *

Hữu dụng dụng trung vô dụng,

有 用 用 中 無 用

Vô công công lý thi công.

無 功 功 里 施 功

Hoàn như quả thục tự nhiên hồng,

還 如 果 熟 自 然 紅

Mạc vấn như hà tu chủng.

莫 問 如 何 修 種

Tạm dịch:

Pháp Pháp Pháp nguyên không Pháp,

Không, Không, Không cũng chẳng Không.

Im hay nói, vốn như nhau,

Trong mộng sao lo nói mộng.

 *

Trong Dụng vốn là không có Dụng,

Vô công công lý để thi công.

Như quả chín cây tự nhiên hồng,

Khỏi hỏi tu bằng giống nào.

Như Lai thuyết Pháp. thực ra không có Pháp gì cả. Như Lai đàm Không, thực ra chẳng phải Không. Không Pháp chính là Chân Pháp, Bất Không chi Không chính là Chân Không. Chân Pháp, Chân Không. Yên lặng hay ồn ào, nói hay im lặng, thì chỉ là không hay không biết, theo phép tắc Trời mà thôi.

Có Pháp gì để nói, có Không gì mà bàn. Nếu như cưỡng nói Pháp, cưỡng bàn Không, thì y như ở trong mộng mà bàn về mộng, làm sao mà biết được Tính của Chân Pháp, Chân Không. Nó vốn tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông (Hệ Từ Thượng, chương X, tiết 4). Đó là Lương Tâm chúng ta. Tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thế là Hữu Dụng Dụng Trung Vô Dụng, Vô Công Công Lý Thi Công. Hữu Dụng Dụng Trung Vô Dụng, Vô Công Công Lý Thi Công là Không Trung Hữu Pháp. Pháp Bản Không, Không Hữu Pháp, chẳng thật chẳng hư; chẳng hữu chẳng vô, tròn sáng không tối, lâu ngày thoát hóa, như quả trên cây, sẽ có ngày chín đỏ, thế là tu Phật Tính chân chủng, khỏi cần hỏi là tu giống gì.

[Pháp Không của Phật chính là Chân Pháp Chân Không, là sống tự nhiên theo đúng luật Trời, sống theo đúng Lương Tâm, là tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, yên lặng như tờ, cảm sẽ thông suốt. Thế là sống như Thần, theo Kinh Dịch (Hệ Từ Thượng, chương X. tiết 4).]

******************* 

Bài 5

Thiện ác nhất thời vong niệm,

善 惡 一 時 忘 念

Vinh khô đô bất quan tâm.

榮 枯 都 不 關 心

Hối minh ẩn hiển nhiệm phù trầm,

晦 明 隱 顯 任 浮 沉

Tùy phân cơ xan khát ẩm.

隨 分 飢 餐 渴 飲

 *

Thần tĩnh trạm nhiên thường tịch,

神 靜 湛 然 常 寂

Bất phương tọa ngọa ca ngâm.

不 妨 坐 臥 歌 吟

Nhất trì thu thủy bích nhưng thâm,

一 池 秋 水 碧 仍 深

Phong động mạc kinh tận nhẫm.

風 動 莫 驚 盡 恁

Tạm dịch:

Thiện ác nhất thời Vọng Niệm,

Vinh khô đều chẳng quan tâm.

Hối minh ẩn hiện phù trầm,

Đói ăn khát uống cứ tùy tâm.

 *

Thần tĩnh trạm nhiên thường tịch,

Tùy nghi tọa ngọa, ca ngâm.

Như một ao thu sâu trong vắt,

Sóng gió có chi mà lo sợ.

Bài từ này đại ý nói Thần tĩnh trạm nhiên thường tịch, dù ta tọa ngọa ca ngâm.

Khi mà Thần tĩnh, thì thiện ác, vinh khô, hối minh, ẩn hiển, phù trầm đều chẳng nhập tâm, tùy Duyên mà sống qua ngày. Ngồi nằm ca hát, tiêu dao tự tại, vô tư vô lự, như nước hồ thu, xanh ngắt, cao thâm, tuy có gió thổi, nhưng không nổi sóng thì có gì phải lo sợ?

(Thần tĩnh trạm nhiên thường tịch là câu hay nhất. Tu mà được vậy còn có gì hơn. Thần tĩnh trạm nhiên chính là Lương tri Lương Năng nơi con người chúng ta. Câu nói: Bất Thức bất tri, Thuận Đế chi tắc chính là áp dụng cho nó.)

******************* 

Bài 6

Đối cảnh bất tu cưỡng diệt,

對 境 不 須 強 滅

Giả danh quyền thả Bồ Đề.

假 名 權 且 菩 提

Sắc không minh ám bản lai tề,

色 空 明 暗 本 來 齊

Chân vọng hưu phân lưỡng thể.

真 妄 休 分 兩 體

 *

Ngộ tức tiện danh Tịnh Độ,

悟 即 便 名 淨 土

Cánh vô Thiên Trúc, Tào Khê.

更 無 天 竺 漕 溪

Thùy ngôn Cực Lạc tại Thiên Tây,

誰 言 極 樂 在 天 西

Liễu tức Di Đà xuất thế.

了 即 彌 陀 出 世

Tạm dịch:

Đối cảnh đừng lo Cưỡng diệt,

Dùng chữ Bồ Đề cũng giả tạo.

Sắc Không Minh Ám chẳng phân chia,

Chân vọng chung qui vẫn là Một.

 *

Ngộ rồi nên gọi Tịnh Độ,

Chẳng cần Thiên Trúc với Tào Khê.

Ai nói Cực Lạc ở Tây Thiên,

Giác Ngộ là Di Đà xuất thế.

Như lai Bản Tính chính là Viên đà đà, quang Trước  Trước , tịnh khỏa khỏa, Xích sái sái. Không sắc không không, không sáng không tối, không chân không vọng. Ngộ thời lập tức thành Phật, cần chi phải đối cảnh cưỡng diệt trần tình?

Vì nhiều người không giác ngộ, nên Chư Phật Bồ Tát giả danh quyền lập Bồ Đề, để con người đi từ Tiệm tới Đốn, để chứng chư Phật Quả. Bồ Đề là chính đạo, là Phản Tà Qui Chính, là dần dần Giác Ngộ.

(Có được Như Lai Bản Tính là Thực Hiện được Tính Trời, mà Tinh Trời là sự Toàn vẹn hoàn toàn nên nói: Tròn vành vạnh, sáng choi lói, sạch lâng lâng, đỏ hây hây. Đó chính là Bản Lai Diện Mục của mình.

Hiểu Như Lai Bản Tính là Tính Trời phú cho ta lúc sơ sinh, thì ta sẽ nhìn thấy rõ ràng hơn.)

******************* 

Bài 7

Nhân Ngã chúng sinh thọ giả,

人 我 眾 生 壽 者

Ninh phân bỉ thử cao đê.

寧 分 彼 此 高 低

Pháp Thân thông chiếu một ngô y,

法 身 通 照 沒 吾 伊

Niệm niệm bất tu tầm mịch.

念 念 不 須 尋 覓

 *

Kiến thị hà thường kiến thị,

見 是 何 嘗 見 是

Văn phi vị tất văn phi.

聞 非 未 必 聞 非

Tòng lai chư dụng bất tương tri,

從 來 諸 用 不 相 知

Sinh tử thùy năng ngại nhĩ?

生 死 誰 能 礙 你

Tạm dịch:

Ta Người, chúng sinh,

Cần chi phân biệt Ta Người cao thấp.

Pháp Thân roị khắp chẳng ta người,

Niệm niệm không cần tìm tòi.

 *

Thấy hay chưa phải là hay,

Nghe trái chắc đâu đã trái.

Vãng lai chư dụng chẳng biết nhau,

Sinh tử có gì là trở ngại.

Nhân ngã chúng sinh thọ giả, bỉ thử cao đê, ngô y (ta, người), kiến văn, thị phi, đều là Giả Tướng, nếu có cái nhìn vô phân biệt như vậy, thì sẽ quán triệt. Coi tất cả như là Không biết. Sống cũng vậy, chết cũng thế, sống cũng được, chết cũng được. Sinh tử vô ngại, thế là hiểu Sinh Tử vậy.

(Có cái nhìn vô phân biệt, mới là Con Người giác ngộ.)

******************* 

Bài 8

Trụ tướng tu hành bố thí,

住 相 修 行 布 施

Quả báo bất li thiên nhân.

果 報 不 離 天 人

Kháp như ngưỡng tiễn xạ phù vân,

恰 如 仰 箭 射 浮 雲

Đọa lạc chỉ duyên lực tận.

墮 落 只 緣 力 盡

 *

Tranh tự vô vi thật tướng,

爭 似 無 為 實 相

Hoàn Nguyên phản phác qui thuần.

還 元 返 樸 歸 淳

Cảnh vong tình tận nhiệm Thiên Chân,

境 忘 情 盡 任 天 真

Dĩ chứng vô sinh pháp nhẫn.

以 證 無 生 法 忍

Tạm dịch:

Trụ tướng với Tu Hành, Bố Thí,

Quả báo không lìa Trời Người.

Y như giương cung bắn phù vân,

Tên rơi là do sức tận.

 *

Có biết Vô vi Thực Tướng,

Sẽ được Hoàn Nguyên, Phản Phác, Qui Thuần.

Cảnh Tình khi hết, Thiên Chân đạt,

Sê chứng Chân Như, pháp Vô Lậu.

Vô tướng chi tướng chính là Thật Tướng. Thật Tướng không dựa vào trụ tướng, vào tu hành, bố thí. Quả báo là do Trời Người, từ Phản phác qui thuần, cảnh vong tình tận mà sinh ra. Biết được Thật Tướng, thì làm gì cũng hợp với Thiên Chân, sẽ được Vô Sinh Công Nhẫn.

Kinh Lăng Nghiêm viết: Thị nhân tức hoạch Vô Sinh Pháp Nhẫn. Lời giải thích: Chân Như là Vô Sinh. Còn Nhẫn là Pháp Vô Lậu, là Chân Trí.

(Tu hành là vào được Thật Tướng. Biết được Thật Tướng sẽ Qui nguyên, làm gì cũng sẽ hợp với Trời. Thế là khế hợp với Chân Như, Chân Trí.)

******************* 

Bài 9

Ngư thố nhược hoàn nhập thủ,

魚 兔 若 還 入 手

Tự nhiên vong khước thuyên đề.

自 然 忘 卻 筌 蹄

Độ hà phiệt tử Thượng Thiên thê,

渡 河 筏 子 上 天 棲

Đáo bỉ tất giai di khí.

到 彼 悉 皆 遺 棄

 *

Vị ngộ tu bằng ngôn thuyết,

未 悟 須 憑 言 說

Ngộ lai ngôn thuyết thành phi.

悟 來 言 說 成 非

Tuy nhiên tứ cú thuộc Vô Vi,

雖 然 四 句 屬 無 為

Thử đẳng nhưng tu thoát ly.

此 等 仍 須 脫 離

Tạm dịch:

Cá thỏ khi đà bắt được,

Tự nhiên có thể quên nơm lưới,

Dùng bè, dùng thang lên trời,

Xong việc tất nhiên quên bỏ.

 *

Chưa ngộ phải dùng ngôn ngữ,

Ngộ rồi ngôn ngữ chỉ là thừa.

Nơm Lưới Bè Thang thuộc vô vi,

Dùng xong tất nhiên cũng phải bỏ.

Cái nơm cốt để bắt cá; Được cá có thể quên nơm. Cái lưới cốt để đánh thỏ; Được thỏ có thể quên lưới. Bè cốt là để qua sông; Sang sông rồi có thể bỏ bè. Thang cốt là để lên cao; Lên cao rồi có thể bỏ thang.

Ngôn ngữ cũng giống thế: Ngôn ngữ dùng để biện lý. Lý ngộ rồi thì phải vong ngôn.

Bốn chữ Vong thuyên đề, khí phiệt thê, tuy thị dạy người hiểu biết Chân Tính, vốn thuộc Vô Vi, nhưng không thể Không Không Vô Vi, là xong chuyện. Nếu chỉ Không Không Vô Vi, thì làm sao vào được Chân Như Diệu Giác? Tất phải Giải Thoát khỏi cái Không Không vô vi đó. Như vậy mới là thâm tháo tự đắc.

(Ta có nhiều phương tiện như nơm, lưới, bè thang, như Ngôn ngữ. Khi đã được việc rồi tất cả không cần nữa.)

******************* 

Bài 10

Ngộ liễu mạc cầu tịch diệt,

悟 了 莫 求 寂 滅

Tùy Duyên khả tiếp quần mê.

隨 緣 可 接 群 迷

Đoạn thường tri kiến cập đề huề,

斷 常 知 見 及 提 攜

Phương tiện chỉ qui thực tế.

方 便 指 歸 實 際

 *

Ngũ nhãn tam thân tứ trí,

五 眼 三 身 四 智

Lục độ vạn hạnh tu tề.

六 度 萬 行 修 齊

Viên quang nhất khỏa hảo Ma Ni,

圓 光 一 顆 好 摩 尼

Lợi vật kiêm năng tự tế.

利 物 兼 能 自 濟

Tạm dịch:

Ngộ rồi chớ mong tịch diệt,

Tùy Duyên tiếp đãi quần mê.

Đoạn thường tri kiến thật đề huề,

Phương tiện cốt qui thực tế.

*

Ngũ Nhãn, Tam Thân, Tứ Trí,

Lục Độ, Vạn Hạnh tu tề.

Viên minh nhất khỏa hảo Ma Ni [1]

Lợi vật kiêm năng tự tế.

Phật pháp lấy giác ngộ làm đầu. Không giác ngộ thì chỉ là Không Không Vô Sự. Lấy cái Không Tính đó đem về Thực Xứ, thì mới làChân Chính Phật Tính. Cho nên mới nói Ngộ Liễu mạc cầu tịch diệt, Tùy Duyên thả tiếp quần mê, thế là hành phương tiện, lập công hạnh vậy,

Ngũ Nhãn là Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn, Phật Nhãn, Nhục Nhãn

Tam Thân là Thanh Tịnh Pháp Thân, Viên mãn Báo Thân, Thiên bách ức Hóa Thân

Tứ trí là Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tính Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí

Lục Độ là Bố thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, Thiền Định, Trí Tuệ.

Vạn Hạnh là Nhất Thiết Phương Tiện Công Đức.

Nếu mà trong ngoài tu được Ngũ Nhãn, Tam Thân, Tứ Trí, Lục Độ, Vạn hạnh, thì là Chân Như Bản Tính, càng luyện, càng sáng, như một viên Bảo Châu Ma ni, quang huy rực rỡ, tối sáng chiếu soi, lợi người lợi mình, thành ra một vật rất là hữu dụng, chứ đâu phải là Không.

******************* 

Bài 11

Ngã kiến thời nhân thuyết Tính,

我 見 時 人 說 性

Chỉ khoa khẩu cấp thù ky.

只 誇 口 急 酬 機

Cập phùng cảnh giới chuyển si mê,

及 逢 境 界 轉 痴 迷

Hựu dữ ngu nhân hà dị.

又 與 愚 人 何 異

*

Thuyết đích tiện tu Hạnh đích,

說 的 便 須 行 的

Phương danh ngôn hạnh vô khuy.

方 名 言 行 無 虧

Năng tương Tuệ Kiếm trảm Ma Ni,

能 將 慧 劍 斬 摩 尼

Thử hiệu Như Lai chính trí.

此 號 如 來 正 智

Tạm dịch:

Ta thấy người nay bàn tính,

Chỉ là lẻo mép khoe tài.

Khi lâm cảnh ngộ cũng si mê,

Sánh với ngu nhân không chi khác.

*

Nói được còn phải hành,

Thế mới là Ngôn hạnh vô khuy.

Nếu như có được Ma Ni Tuệ Kiếm,

Thì âu có Như Lai Chính Trí.

Bài từ này trọng nhất là 2 câu: Năng tương Tuệ Kiếm trảm Ma Ni, Thử hiệu Như Lai chính trí.

Như lai chính trí ở đâu cũng thông, nên là Tuệ Kiếm. Vì nó là Chính Trí nên có thể Trừ Vọng khiến trở lại Chân , cho nên gọi là Tuệ Kiếm. Vì nó là Chánh Trí, viên minh bất muội, ở đâu cũng có, cho nên gọi là Ma Ni, Trảm Ma Ni không phải là Đoạn Tuyệt, nhưng mà là Thái Thủ (chọn lựa) không để ánh sánh dùng ra bên ngoài. Nói theo Thể thì là Ma Ni, nói theo dụng thì là Tuệ Kiếm.

Tuệ Kiếm, Ma Ni, Chánh Trí chỉ là một, không phải là ba. Chính Trí này không phải nói năng mà có, nhưng phải là do Thân Thể lực hành độ luyện mà ra. Thế mới là Đắc Chân. Nếu thân mình không thi hành, chỉ nói bằng miệng, lẻo mép ứng đối mà cho là Kiến Tính, thì khi lâm vào cảnh ngộ sẽ bị hôn mê, làm sao nên việc? Cho nên mới nói:Năng tương Tuệ Kiếm trảm Ma Ni, thử hiệu Như Lai chánh trí. Ngôn hạnh lưỡng toàn mới là Như Lai Chính Trí. Nhanh miệng khéo ứng đối đâu phải là Chính Trí?

(Tu Trì không phải là khéo nói. Cần phải xử sự cho ngay cho đúng. Phải có Chánh Trí, có Tuệ Kiếm có Ma Ni thì mới giải quyết ổn thỏa được mọi sự.)

******************* 

Bài 12

Dục liễu Vô Sinh Diệu Đạo,

欲 了 無 生 妙 道

Mạc phi tự kiến Chân Tâm.

莫 非 自 見 真 心

Chân Thân vô tướng diệc vô nhân,

真 身 無 相 亦 無 因

Thanh Tịnh Pháp Thân chỉ nhẫm.

清 淨 法 身 只 恁

*

Thử Đạo phi vô phi hữu,

此 道 非 無 非 有

Phi Trung diệc mạc cầu tầm.

非 中 亦 莫 求 尋

Nhị biên câu khiển khí Trung Tâm,

二 邊 俱 遣 棄 中 心

Kiến liễu danh vi thượng phẩm.

見 了 名 為 上 品

Tạm dịch:

Nếu muốn có Vô Sinh Diệu Đạo,

Phải làm sao thấy được Chân Tâm.

Chân thân vô tướng lại vô nhân,

Nó chính Thanh Tịnh Pháp Thân diệu đạo.

*

Đạo này vô phi vô hữu,

Chẳng Trung, chẳng phải cầu tầm.

Chẳng ở 2 bên, chẳng Trung Tâm,

Thấy nó chính là thượng thừa Diệu Đạo.

Thấy được Chân Tâm là thấy Diệu Đạo. Vả không nên tìm diệu đạo ở đâu xa, vì nếu Chân Tâm mình mà bất nhiễm, bất trước, bất động bất giao, vô tướng vô âm, thì gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân. Thân ấy, tâm ấy, không phải Hữu, cũng chẳng phải Vô, không thể tìm thấy nó trong Hữu, cũng không thể tìm thấy nó trong phi hữu, phi vô. Cả trong 3 nơi đó đều không có. Nếu vậy, thì nó là cái gì? Nếu thấy được Chân Tâm, thì sẽ siêu xuất lên Vô Sinh, đó là Tối Thượng Thừa Diệu Đạo. Chân Thân, Chân Tâm trước sau là Một. Nói theo Thể thì là Chân Thân, nói theo Dụng thì là Chân Tâm. Thể Dụng là Một, Tâm Thân đều quên, Hình Thần Câu Diệu, dữ Đạo hợp Chân, đó chẳng phải Vô Sinh thì là cái gì.

(Kết thúc của công phu tu luyện chính là tìm ra được Chân Tâm. Chân Tâm ở ngay trong giữa lòng chúng ta. Chân Tâm chính là Vô Cực hay Thái Cực, chính là Đạo Tâm, chính là Bản Thể của chúng ta. Tìm ra được nó ta sẽ được Hình Thần câu diệu, dữ Đạo hợp Chân.)

* Phiên dịch xong: November 3, 2001, 3, 31 PM

CHÚ THÍCH

[1] Chân Như thực tế.

HẾT

******************* 

Mẫu người quân tử — Con người toàn thiện trong Luận Ngữ của Khổng Tử

Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử

Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử

Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử

Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử.

Bốn tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Nho giáo mà bất kỳ người nào nghiên cứu học thuyết này cũng đều biết đến là Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, được nhà triết học nổi tiếng đời Tống là Chu Hy (1130 – 1200) sắp xếp, kế thừa cách chú giải của các nhà tư tưởng Tống Nho đi trước, cũng như chú giải của chính ông thành bộ sách có tên chung là Tứ thư tập chú, trong đó Luận ngữ được xem là một trong những tác phẩm khởi đầu quan trọng cho một nền Nho học Trung Hoa do Khổng Tử sáng lập. Đây là cuốn sách đề cập đến các vấn đề của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức… Có thể nói, những tinh tuý được rút ra từ những vấn đề đó nhằm mục đích xây dựng con người toàn thiện, toàn mỹ cho một xã hội phong kiến lý tưởng theo học thuyết của Không Tử. Trong bài viết này, từ bình diện triết học, chúng tôi muốn làm rõ mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong Luận ngữ của Khổng Tử.

Để làm rõ mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong học thuyết Khổng Tử, chúng ta cần phải lý giải tại sao ông lại chọn đối tượng quan tâm trong học thuyết của mình là con người và các quan hệ của con người. Song, trong khuôn khổ của một bài viết, chúng tôi không thể thực hiện được điều đó mà chỉ muốn nói rằng, bất kỳ ai khi nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử cũng đều thống nhất ở điểm cho rằng, đứng trước một xã hội đang phải hứng chịu sự suy thoái về đạo đức của con người (cái mà Trời phú cho con người khi con người xuất hiện và được đặt nó vào vị trí trung tâm của Vũ trụ), xác định đối tượng quan tâm của mình ở trần thế, Khổng Tử muốn làm cho con người thấy được chính bản thân mình, thấy được sự băng hoại về bản tính đạo đức (tính bản thiện) vốn giống nhau khi nó mới được sinh ra nhưng cũng ngay lập tức bị phân hoá, đồng thời dạy cho con người biết cái căn bản nhất của nó là Nhân tính. Chính vì vậy mà ông không đề cập, hay nói đúng hơn là cố ý tránh đề cập đến những vẫn đề sống – chết, mà chỉ chú ý đến bậc trí giả, đó là người biết “chuyên vào việc nghĩa để giúp dân, kính trọng quỷ thần nhưng tránh xa” (Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi – Luận ngữ, VI, 20).

Khổng Tử cũng không thích nói về những điều kỳ diệu, về sự hiện diện của thần thánh. Điều này chúng ta có thể biết được qua cuộc đối thoại giữa Quý Lộ và Khổng Tử. Quý Lộ hỏi về việc thờ quỷ thần, Khổng Tử nói rằng: “Thờ người còn chưa nổi, làm sao thờ được ma?”. Thưa: Dám hỏi về sự chết. Khổng Tử nói: “Sống còn chưa biết rõ, làm sao biết được sự chết?” (Quý Lộ vấn sự quỷ thần. Tử viết: “Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ”? Viết: “Cảm vẫn tử”. Viết: “Vị tri sinh, yên tri tử?” Luận ngữ, XI, 11). Tuy nhiên, để giữ gìn trật tự xã hội nói riêng, Vũ trụ nói chung, Khổng Tử không phủ nhận sự tồn tại của quỷ thần. Ông kêu gọi phải kính tổ tiên và biết trọng quỷ thần: “Tế tổ tiên coi như tổ tiên đang có mặt, tế thần coi như thần đang có mặt” (Tế như tại, tế thần như thần tại – Luận ngữ, III, 12).

Qua đó, chúng ta thấy, Khổng Tử hạn chế nhiệm vụ của mình ở việc phục vụ mọi người, quan tâm đến công việc quốc gia, nhưng ông vẫn cho rằng, cuộc sống của mọi người, của dân tộc lại phụ thuộc vào đường lối lãnh đạo đúng đắn hay sai lầm của thiên tử và hệ thống quan lại. Đường lối đó là Đạo Khác với quan niệm của Lão Tử – “Đạo khả đạo, phi thường đạo”, đạo mà Khổng Tử đưa ra là đạo của thế giới hiện tượng, là cái cần được nắm bắt để áp dụng vào việc trị nước. Đạo đó có nhiệm vụ uốn nắn những người có nhận thức sai lầm, “cong vậy” thành ngay thẳng. Khi con người trở nên chân thành, ngay thẳng thì mọi quan hệ đều trở nên tất đẹp, bởi vì bản thân con người là linh hồn, là trung tâm của vạn vật trong trời đất.

Vậy ai là người có thể thực hiện sứ mệnh nói trên trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa? Trước hết, chúng ta đọc được trong Đạo đức kinh của Lão Tử: “Đạo lớn… nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ vạn vật. Nó vĩnh viễn là “không”, vô vi, cho nên có thể bảo nó là ẩn vi (vô hình), muôn vật quy về nó mà nó không làm chủ, cho nên có thể bảo nó là lớn. Vì cho tới cùng, nó không tự nhận nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó” . Người nắm được đạo cao và có đức cả là Thánh nhân (Đạo nhân). Đó là người “biết hoà thì gọi là bất biến (thường), biết bất biến thì gọi là sáng”. Còn Khổng Tử thì lại thấy mẫu người (Đức cả) đó là người nắm được đạo Trung, họ thật hiếm trong dân chúng thời bấy giờ: “Trung dung quả là một đức tính, rất mực tất đẹp? Đã lâu dân chúng không theo nổi” (Trung dung chi đức dã, kỳ chí dĩ hồ! Dân tiễn cữu hĩ – Luận ngữ, VI, 27).

Trong Kinh Dịch đã có khái niệm con người toàn thiện hay thiện nhân. Đó là người biết theo đạo trung chính, biết giá trị của hạng cao sĩ. Thế nhưng, Dịch không bỏ qua mẫu người đối lập với con người hoàn thiện như hai thế lực tự nhiên âm và dương. Đó là sự đối lập giữa quân tử và tiểu nhân. Nguyễn Hiến Lê đã nhận định một cách đúng đắn rằng, “Dịch muốn đào tạo hạng người quân tử, khuyến khích tiểu nhân cải tà quy chính (quẻ Bác): “Dịch vị quân tử mưu” là nghĩa vậy, cho nên tôi cho đạo Dịch là: đạo của người quân tử”. Nếu ngay từ đầu, tiểu nhân và quân tử là hai hạng người đối lập nhau và sự đối lập đó là hoàn toàn mang tính tự nhiên thì làm thế nào để tiểu nhân cải tà quy chính được? Khổng Tử là người đã khắc phục vấn đề đó bằng cách vượt khỏi lập luận của Dịch về sự hình thành hai thế lực đối lập. Nhìn thẳng vào cuộc sống xã hội hiện thực, ông đã khẳng định rằng, “Bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau” (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã – Luận ngữ, XII, 2). Nghĩa là, nếu “giáo dục” con người, có thể uốn nắn đạo đức của họ, tẩy đi những tham dục nảy sinh trong cuộc sống của họ, đưa họ về với bản tính (thiện) ban đầu và nâng cao phẩm hạnh của họ bằng “ngũ thường”. Tuy nhiên, với kẻ tiểu nhân thì sự “giáo dục” đó chỉ có hiệu quả khi phát hiện kịp thời sự suy thoái đạo đức “bởi thói quen” của nó và khi sự suy thoái đó chưa đến mức tột cùng của sự hèn hạ. Khổng Tử nói rằng: “Chỉ có hạng thượng trí và hạng trí ngu là không thay đổi (tính tình)” (Duy thượng trí dữ hạ trí ngu bất di Luận ngữ, XVII, 3). Hạng thượng trí ở đây chi thánh nhân, đó là những người nắm được quy luật của trời đất (Cửu trù) để làm ra các phép tắc dạy người. Bậc thấp hơn là quân tử, tức là người giữ đúng phép tắc trong hành xử của mình. Bậc cuối cùng trong sự phân hạng người là tiểu nhân, tức là những kẻ mà trong cuộc sống, bất chấp mọi giá trị đạo đức, sẵn sàng làm bất cử điều gì, miễn là có lợi cho họ.

Mọi điều hay lẽ phải trong phép ứng xử đạo đức đã được các thánh nhân đời xưa vạch ra. Khổng Tử chỉ là người thuật lại và mong muốn học thuyết của mình có người thực hiện. Người đó chính là bậc quân tử, hay còn gọi là con người toàn thiện. Chữ “quân” trong cụm từ “quân tử” thường dùng để chỉ người đàn ông đạo đức, người toàn thiện hoặc “siêu nhân”. Ngoài ra, chữ “quân” đó còn đùng để chỉ các bậc quân vương. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Quân tử động khẩu, tiểu nhân động thủ”, tức là: “Quân tử dùng lời, tiểu nhân dùng tay”.

Mâu thuẫn giữa hai mặt trái ngược nhau của con người đã có từ lâu. Song, đối với Khổng Tử, nó trở nên cực kỳ quan trọng và cấp bách. Lúc nào ông cũng dành sự quan tâm của mình xung quanh vấn đề con người, xem sự xa rời bản tính (Trời sinh) ban đầu như là nguyên nhân dẫn đến sự đảo lộn trật tự thế giới và đó chính là sự xa rời Đạo. Giữ mình theo Đạo, người quân tử bao giờ cũng tỏ ra thư thái như đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc, cám dỗ của đời thường – cái vốn làm mọi người xa nhau. Khổng Tử nói: “Người quân tử thư thái mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái” (Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái – Luận ngữ, XIII, 26). Tuy nhiên, sự thư thái đó chỉ là tương đối, bởi người quân tử bao giờ cũng thấy rõ trách nhiệm của mình trước xã hội, giống như Bồ Tát trong đạo Phật. Khi “làm sạch” mình, làm trong sạch từ bên trong, người quân tử đồng thời làm sạch cái không gian quanh mình, làm cho môi trường sống khỏi bị ô nhiễm bởi những thói đời hèn hạ, giải thoát cho mình đồng thời với giải thoát cho những người khác. Chính vì vậy, Khổng Tử khẳng định, kẻ tiểu nhân không tự giải phóng cho mình (hạ trí ngu bất di). Ông nói: “Đức của người quân tử như gió, đức của kẻ tiểu nhân như cỏ, gió thổi thì cỏ rạp xuống” (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo, thảo thượng chi phong tất yển – Luận ngữ, XII, 18).

Người quân tử có sức mạnh biến cải nhân dân đến chỗ tất hơn. Sức mạnh đó không chỉ là lời nói, mà còn là sức mạnh bên trong, là đạo đức. Người quân tử lấy đạo đức làm động cơ thúc đẩy nhân dân hành thiện. Khổng Tử nói: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giải trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn. Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân biết hổ thẹn mà tiến tới chỗ tất lành” (Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách – Luận ngữ, II, 3).

Ngôn ngữ là biểu hiện của tư duy khi sự biểu hiện đó không phù hợp thì tư duy của người phát ngôn có thể không lành mạnh cũng có khi việc phát ngôn quá chất phác, không đủ sức thuyết phục người nghe cũng bất lợi. Vì vậy, khi nêu ra đặc trưng của người quân tử, Khổng Tử đã xem xét mối tương quan giữa tính chất phác (Trời cho) với học vấn: “Chất phác thắng văn vẻ thì quê mùa, văn vẻ thắng chất phác thì cứng nhắc. Văn vẻ và chất phác đều nhau, mới nên quân tử” (Chất thắng văn tắc đã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân nhiên hậu quân tử – Luận ngữ, VI, 16).

Một trong những đặc điểm nổi bật của con người toàn thiện là mối quan hệ của nó với cộng đồng xã hội. Khổng Tử nói: “Quân tử thân với khắp mọi người mà không tư vị, kẻ tiểu nhân tư vị mà không thân với khắp mọi người”(Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị nhi bất chu – Luận ngữ, II, 14). Câu này được địch theo nhiều cách khác nhau. Nếu xét trên bình diện triết học thì câu này mang ý nghĩa sâu sắc về cấu trúc. Chữ chu ở đây chỉ sự chu tất, chu toàn, có thể hiểu là tính cách của con người toàn thiện và chỉ có con người toàn thiện mới có khả năng thể hiện được chủ ý của Vũ trụ. Vì vậy, theo chúng tôi, dịch chữ chu là thân khắp với mọi người không thể hiện đủ nghĩa của từ.

Con người chu toàn có thể được xem như là tấm gương, là chủ thể của mọi thiện chân, cho nên ai cũng kính nể. Khi được tất cả kính nể thì trong quan hệ không thể thiên lệch với bất kỳ người nào, nhóm nào, bè đảng nào. Tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại. Vì không có tính chu toàn, nên kẻ tiểu nhân chỉ có thể cấu kết với những người đồng tâm, đồng ý với mình, chính vì thế mà xã hội để bị phân chia thành phe nhóm khác nhau, đấu tranh cho quyền lợi của phe nhóm mình và chèn ép các nhóm khác, thậm chí đấy tới mức thù hằn nhau. Như vậy, xét về mặt cấu trúc hệ thống, tiểu nhân có thể được coi là những bộ phận trong một chỉnh thể, luôn nằm trong sự thống nhất biện chứng và bản thân nó không thể đại diện cho một chỉnh thể xác định, tức là luôn bị ràng buộc bởi các mối quan hệ bắt buộc, không tự do, nó được xem như là công cụ để phục vụ cho những mục đích nào đó. Ngược lại, “quân tử không thể là công cự” (quân tử bất khí – Luận ngữ, II, 12).

Bảo tồn được tính thiện cao cả ban đầu là điều kiện để người quân tử trở nên phổ biến. Đã là phổ biến thì người quân tử có thể chi phối cuộc sống một cách toàn vẹn. Mặt khác, chính vì giữ được tính thiện cao cả đó mà người quân tử thể hiện mình như là người hoàn thiện với đầy đủ phẩm cách tất đẹp trong việc thi hành đạo nhân: “Nết hiếu và nết để có phải là gốc của việc thi hành đạo nhân đó chăng?” (Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư – Luận ngữ, 1,2).

Từ việc đề cao đức hiếu, đễ, Khổng Tử đi đến thuyết chính danh. Đối với câu hỏi cái gì cần cho đường lối trị quốc đúng đắn, Khổng Tử trả lời: “Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử – Luận ngữ, XII, 11). Câu trả lời thật là đơn giản, song lại hàm chứa một nội đung khá đầy đủ về chính danh. Khổng Tử nhận thấy, trong một xã hội thịnh trị, có những đẳng cấp xã hội, thì bổn phận của mỗi con người phải được phân định một cách rạch ròi, trình độ tri thức của họ cũng phải tương ứng với công việc mà họ đảm nhận: “Hiểu biết là hiểu biết, không hiểu nhận là không hiểu. Thế cũng là đã hiểu rồi vậy” ( Tri chi vi tri chi,bất tri vi bất tri. Thị tri dã – Luận ngữ, II,17). Đặc biệt, đối với bậc quân tử lại càng phải thận trọng trong cuộc sống. Điều gì chưa nắm chắc, chưa rõ thì không nên cả quyết một cách vội vàng: “Người quân tử đã nêu được tên gọi (danh chính) ắt nói được ra lời, đã nói được ra lời ắt làm được. Đối với lời nói ra, người quân tử không bao giờ cẩu thả vậy” (Quân tử danh chi tất khả ngôn dã, ngôn chi tất khả hành dã. Quân tử ư kỳ ngôn vô sở cầu nhi dĩ hĩ – Luận ngữ, XIII, 3).

Theo Không Tử, con người toàn thiện là người có phẩm chất đạo đức phù hợp với ngũ thường, trong đó nhân tính được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, người quân tử “Có khi còn quyên sinh để giữ trọng đạo nhân” (Hữu sát thân dĩ thành nhân – Luận ngữ, XV, 8), hoặc “Người quân tử lấy đạo nghĩa thành làm căn bản, dùng lễ để thi hành, biểu lộ bằng đức khiên tốn, hoàn thành nhờ chữ tín” (Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi – Luận ngữ, XV, 17).

Vậy Lễ là gì mà có thể làm cho thế giới này trở nên trật tự hài hoà? Lễ trước hết là cái làm cho vạn vật trong thế giới này có được vị thế phù hợp. Do vậy, con người là một trong vạn vật đó cũng phải tuân theo lễ, phải biết “Khắc kỷ phục lễ”, bởi “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân dùng nhạc sao được?” (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà? Luận ngữ, III, 3), hoặc “Cung kính mà thiếu lễ thì khó nhọc, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương dũng mà thiếu lễ thì loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng gắt” (Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ. Dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giáo – Luận ngữ, VIII, 2). Như vậy, lễ là cái đóng vai trò điều chỉnh hành vi con người, làm cho con người ứng xử với nhau tất hơn trên cơ sở lấy “Thứ” làm trọng. Nhờ có “thứ” mà con người biết “Điều gì mình không muốn [người khác làm cho mình], chớ áp dụng cho người” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Luận ngữ, XV, 23).

Như vậy, quân tử chưa phải là người lý tưởng (mặc dù các nhà tư tưởng Tống Nho đã đặt nó ngang hàng với thánh nhân). Bản thân người quân tử cũng tự nhận thấy mình chưa phải là người hoàn thiện, nên họ luôn tự xác định phải thường xuyên hoàn thiện hoá bản thân để trở nên tất hơn. Trong cuộc sống hàng ngày không ai có thể tránh được sai lầm, song người quân tử là người biết sai để sửa và đó cũng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người toàn thiện. Khổng Tử nói: “Có lỗi mà không sửa mới thật là lỗi”, “Quá nhi bất cải, thị ví quá dã” – Luận ngữ, XV, 29). Khác với quân tử, tiểu nhân không nhận thấy lỗi của mình và nếu nhận ra cũng không chịu sửa, thậm chí còn dấu diếm. Người quân tử luôn nghiêm khắc với mình, luôn tự truy tìm nguyên nhân ở mình, ngược lại, tiểu nhân thường đổ lỗi cho người khác: “Người quân tử trông ở mình, kẻ tiểu nhân trông ở người” (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân – Luận ngữ, XV, 20). Đó là quan hệ giữa nghĩa và lợi. Quân tử trọng nghĩa mà luôn sửa mình, còn tiểu nhân vì lợi mà trốn tránh trách nhiệm: “Quân tử rành về điều nghĩa, kẻ tiểu nhân rành về điều lợi” (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi – Luận ngữ, IV,16).

Quân tử là mắt khâu liên kết giữa thánh nhân và người thường, là sợi chỉ nối quá khứ với hiện tại. Quân tử “Sợ ba điều: Sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ, [mà còn] khinh nhờn bậc đại nhân, diễu cợt lời của thánh nhân” (Quân tử hữu tam uý: Uý thiên mệnh, uý đại nhân, uý thánh nhân chi ngôn. Tiểu nhân bất tri thiên mệnh nhi bất uý dã, hiệp đại nhân, vũ thánh nhân chi ngôn – Luận ngữ, XVI, 8). Quả thật, nếu không biết sợ, không cảm nhận được sự hiện diện của trời, sỉ vả quá khứ và coi thường những điều thánh thiện thì tất thảy những cái đó sẽ dẫn tới tai hoạ nghiêm trọng. “Chẳng biết được mệnh trời, không lấy gì để làm người quân tử. Chẳng biết lễ, không lấy gì để lập thân. Chẳng biết phân biệt nổi lời phải trái, không lấy gì để biết người” (Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử đã, bất tri lễ vô dĩ lập dã. Bất tri ngôn, vô dĩ tri nhân dã – Luận ngữ, XX, 3). Quân tử khác với tiểu nhân là ở chỗ biết lễ do đi theo đường chính, nắm được đạo Trung dung, biết được mệnh trời mà “vươn lên” để đạt đến cao thượng, đến trạng thái hoàn thiện và làm cho người khác cùng hoàn thiện thêm. Khổng Tử nói: “Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn” (Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt – Luận ngữ, XIV, 24).

Sự “vươn lên” đến trạng hoàn thiện là một quá trình tự cải tạo của người quân tử Con đường khó khăn của sự nghiệp cải tạo đó xuất phát từ nghiên cứu vạn vật, không ngừng nâng cao hiểu biết về mọi mặt và làm cho ý mình thành thật, tiến tới chính tâm để tu thân, tề gia, trị quốc và cuối cùng là bình thiên hạ. Từ bậc thiên tử cho tới thường dân ai cũng phải lấy sự tu thân làm gốc. Vì vậy, khi Tử Lộ hỏi Quân tử phải làm gì, Khổng Tử đáp: “Sửa mình để nên người kính cẩn”. Lại hỏi: Có vậy thôi ư? Đáp: “Sửa mình kính cẩn để yên mọi người”. Lại hỏi: “Có vậy thôi ư? Đáp: Sửa mình kính cẩn để yên trăm họ. Sửa mình để yên trăm họ, việc đó dẫu vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa làm cho trọn” (Tử Lộ vấn quân tử, Tử viết: “Tu kỷ dĩ kính”. Vấn: “Như tư nhi dĩ hồ?” Viết: “Tu kỷ dĩ an bách tính.Tu kỷ an bách tính, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chu”- Luận ngữ, XIV, 45). Qua đoạn đối thoại trên đây, chúng ta thấy, quan điểm của Khổng Tử về con đường hoàn thiện hoá là vô tận, đến các bậc thánh nhân, như vua Nghiêu, vua Thuấn, vẫn chưa thực hiện được trọn vẹn. Sự vận động để đến với bản thân với tư cách con người toàn thiện đều thông qua sự hoàn thiện hoá bản thân.

Con đường hoàn thiện hoá là con đường giải thoát. Ở các tôn giáo khác nhau, quan niệm về giải thoát cũng khác nhau song mục đích chỉ là một – đó là khắc phục quan niệm coi tự kỷ là trung tâm. Trong tư tưởng của Khổng Tử, đó là sự chiến thắng của con người đối với chính bản thân mình, vượt lên trên mình, là sự phục hồi lễ, khôi phục thiện nhân khởi thuỷ. Con đường giải thoát đó phải do chính người quân tử thực hiện thông qua sự tự hoàn thiện mà phương pháp và mục tiêu của sự tự hoàn thiện đó đã được thánh nhân vạch ra. Khi Nhan Uyên hỏi về Nhân, Khổng Tử giải thích: “Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân. Một ngày dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ, cả thiên hạ [chịu cảm hoá] quay về về với điều nhân vậy” (Khắc kỷ phục lễ vi nhân, nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. Nhân do kỷ nhi do nhân hồ tai? – Luận ngữ, XII, 1).

Giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc của những dục vọng, từng bước nâng cao tri thức của mình về vạn vật (cách vật), về thế giới con người (biết người, yêu thương con người) là con đường hoàn thiện chân chính của Quân tử. Chiến thắng bản thân có nghĩa là chiến thắng những gì trong con người đang cản trở nó quay về với toàn bộ phẩm chất tất đẹp ban đầu mà Trời ban cho. Việc làm đó là phù hợp với Quân tử – con người toàn thiện, vốn chỉ cầu ở mình chứ không bao giờ cầu ở người.

* Nguyễn Thị Kim Chung

(Theo Tạp chí Triết học)

…. Chiến thắng bản thân có nghĩa là chiến thắng những gì trong con người đang cản trở nó quay về với toàn bộ phẩm chất tốt đẹp ban đầu mà Trời ban cho. Việc làm đó là phù hợp với Quân tử – con người toàn thiện, vốn chỉ cầu ở mình chứ không bao giờ cầu ở người….

—————–

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH — 明心寶鑑 選譯

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH

 明心寶鑑 選譯

LGT:- Sách “Minh Tâm Bảo Giám” 《明心寶鑑》 là quyển sách rất có giá trị suốt ngàn năm ở Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc. Là tinh hoa đạo đức của Tam giáo, ứng dụng để “làm người” rất tốt. Người xưa hết sức trân quí bộ sách nầy.

Nguyên tác quá dài nên chúng tôi chọn giới thiệu Phần tuyển dịch của GS Ngô Văn Lại, để nhận thức được một số tinh hoa của sách mà thôi. Trong bản của GS. Lại, không có phần Âm Hán Việt, nên tôi đưa thêm vào, để quí vị tiện việc theo dõi.

Phần nguyên tác quí vị có thể tải ở:-

http://book.qq.com/s/book/0/5/5976/index.shtml

Trân trọng.

——————–

MINH TÂM BẢO GIÁM TUYỂN DỊCH

 明心寶鑑選譯

*秋适 著

*吳文賴老師 選譯

*Tác giả: – Thu Quát.

*Tuyển dịch:- Giáo sư Ngô Văn Lại.

I – Ý nghĩa tác phẩm.

Tên gọi Minh Tâm Bảo Giám 明心寶鑑 có nghĩa là “gương báu” (soi) sáng lòng – gương báu chỉ những lời răn dạy của thánh hiền (những nhân vật trong xã hội và lịch sử có trí tuệ, nhân cách vượt trội mọi người). Lời răn dạy của các nhân vật ấy vốn chịu nhiều ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng chính thống trong xã hội Á Ðông: Nho, Phật, Lão.

Những tư tưởng ấy tồn tại hăm lăm thế kỷ nay và đã góp phần tích cực cho đạo lý làm người. Ngày nay chúng không còn giữ nguyên vẹn giá trị giáo điều như buổi đầu mà phần lớn chỉ còn giá trị tham khảo. Tuy nhiên, chân lý của chúng vốn đã được loài người vận dụng vào cuộc sống suốt một thời gian dài, vì vậy những ai cảm thấy dị ứng với chúng cũng có nghĩa là dị ứng với nhân loại trong quá khứ, tức dị ứng với tiền nhân.

II – Nguồn gốc tác phẩm.

Sách Minh Tâm Bảo Giám xuất hiện ở Triều Tiên (Hàn Quốc) vào cuối thế kỷ XIII do một văn thần triều vua Trung Liệt vương biên soạn. Văn thần ấy là Thu Quát (秋适 1245 – 1317) người Triều Tiên gốc Trung Quốc.

Tổ xa đời của Thu Quát là Thu Khải (秋磕) giữ chức Môn hạ Thị trung (chức quan làm việc cạnh vua) ở Trung Quốc dưới triều Tống Cao Tông (1127 – 1162). Bấy giờ hầu hết lãnh thổ Trung Quốc đã về tay quân Kim (thuộc bộ tộc Nữ Chân, cư dân ở khoảng giữa sông Tùng Hoa và sông Áp Lục, tổ tiên của nhà Thanh sau nầy) lãnh thổ nước Liêu và nhà Tống đang bị thôn tính dần dần theo kiểu tằm ăn dâu (Kim Thái Tổ đã lên ngôi từ năm 1115) Cuối cùng vua tôi nhà Tống di tản về Phúc Kiến, trở thành nhà Nam Tống (1127 – 1179), thần phục nước Kim trong bước đường cùng, chấp nhận nhiều điều kiện cực kỳ nhục nhã.

Trong tình hình ấy, Thu Khái bỏ quan lưu vong sang Triều Tiên, định cư ở Hàm Hưng được khoảng năm đời, đến đời Thu Quát làm đến chức Dân bộ Thượng thư Nghệ văn quán Ðại đề học (hàm nghĩa như Bộ Trưởng Văn Hóa ngày nay).

Trong thời kỳ còn giữ chức Giáo dục Quốc Học, vào năm Trung Liệt 31, Thu Quát tiến hành chọn lọc tinh hoa chư tử biên soạn nên sách Minh Tâm Bảo Giám gồm 260 câu, chia làm 19 thiên. Sách liền được hoan nghênh rộng rãi và được chọn làm tài liệu giảng dạy. Hiện nay tại thư viện Nhân Hưng trong khuôn viên từ đường họ Thu ở thành phố Ðại Khâu, Hàn Quốc còn bảo quản hơn 160 mảnh khắc gỗ sách Minh Tâm Bảo Giám của Thu Quát (tên người, tên đất trên đây được phiên âm theo Trung Quốc).

Ðến năm Cung Du Vương 12, cháu nội Thu Quát là Thu Suyền (秋湍) quay về tổ quốc tham gia nghĩa quân Chu Nguyên Chương (1328 – 1398). Khi nhà Minh thành lập (1368) Thu Suyền trở thành công thần mở nước. Nhân cơ hội ấy, Thu Suyền bèn đưa sách Minh Tâm Bảo Giám của ông nội mình phổ biến vào Trung Quốc. Phạm Lập Bản (范立本) liền dựa theo sách ấy mở rộng thành tác phẩm có 20 thiên, chứa hơn 600 câu. Từ đó sách được biên tập, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần (nhu cầu bắt buộc của một đất nước mênh mông nhưng giao thông hạn chế!) đặc biệt là vào thời Vạn Lịch (Minh Thần Tông 1573 – 1619).

Các sách Minh Tâm Bảo Giám lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam trước đây phần lớn dựa theo bản Vạn Lịch (người ta không nhắc tên người biên soạn nữa có lẽ vì tác giả thực thụ chính là những người phát biểu ý kiến đã được trích dẫn). Người dùng sách ngày nay nên hiểu rằng bản gốc của Thu Quát chỉ còn ý nghĩa lịch sử, còn ý nghĩa văn hóa thì thuộc về bản Vạn Lịch ra đời sau bản Thu Quát ngót hai trăm năm. Bản Vạn Lịch tuy chỉ nhiều hơn 1 thiên nhưng nội dung lại gấp đôi bản Thu Quát và chắc chắn là nó không cộng vào đó toàn văn bản Thu Quát.

III – Tình hình sách Minh Tâm Bảo Giám ở Việt Nam.

Hán học du nhập Việt Nam từ thời nội thuộc nhà Hán (179 trước Công Nguyên). Các triều đại kế tiếp của Trung Quốc đều duy trì ý thức vun đắp cho nền văn hóa và chính trị khu vực bằng tinh thần “đồng văn”. Do đó, sách vở Trung Quốc lưu hành ở Việt Nam không thua kém gì ở Trung Quốc nhờ sự qua lại khá thường xuyên của giới ngoại giao và giới doanh nhân hai nước. Tuy nhiên, sách Minh Tâm Bảo Giám có mặt nhan nhản trong dân gian hầu hết lại là sách chép tay gia truyền của những gia thục chứ các nhà xuất bản địa phương không hề tham gia phát hành, khắc in như đối với các sách khác – Phần lớn các ông Ðồ lại thường dạy theo trí nhớ thành thử thử ít đảm bảo tính chính xác, thống nhất của văn bản. Tựu trung các sách ấy thuộc hai dòng chính:

– Dòng 1: Sách gồm 20 thiên (từ thiên Kế thiện đến thiên Phụ hạnh). Dân gian quen gọi sách nầy là “Minh Tâm mắc”.

– Dòng 2: Sách không chia thiên, chỉ rút những câu dễ hiểu ở cuốn trên, tổng số chữ chỉ còn phân nửa. Dân gian quen gọi sách nầy là “Minh Tâm rẻ”

Cả hai sách ấy đều tập hợp những danh ngôn dạy đạo làm người, rất nhiều câu trong đó đã đi sâu vào cuộc sống đến mức người không hề học chữ Hán cũng vẫn nhắc đúng được nguyên văn.

IV – Tình hình dịch ra Việt ngữ sách Minh Tâm Bảo Giám.

Sách Minh Tâm Bảo Giám đã được Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) dịch ra Việt ngữ từ cuối thế kỷ XIX. Sang thế kỷ XX có thêm các bản dịch của Tạ Thanh Bạch, Ðoàn Mạnh Hy, Nguyễn Quốc Ðoan, vv… dựa vào những văn bản khác nhau nhưng đều có điểm chung là nguyên tác vốn từng được nhiều thế hệ thuộc lòng trước khi nó được giới dịch thuật chiếu cố (trong khi đại đa số dịch phẩm trên thị trường lại thường nhằm ý đồ giới thiệu những danh tác chưa được nhiều người biết đến nguyên bản).

Nay chúng tôi tuyển dịch và diễn ca dựa vào nguyên bản có vẻ nhiều chữ hơn (và có lẽ xưa hơn) từng được Trương Vĩnh Ký chọn dịch cách đây hơn trăm năm để giới thiệu lại bằng văn phong hiện đại.

Trong công việc nầy chúng tôi đã nhận được qua điện thoại và thư tín nhiều khích lệ tinh thần và nhiều giúp đỡ cụ thể của các bạn Hàn Quốc Trung, Châu Quân Vũ, Từ Nguyệt Hoan, Phan Công Tuấn, Quản Bích Liên, cùng một số bạn khác. Nếu vắng họ, có lẽ sức ỳ của tuổi tác đã chận chúng tôi lại giữa quãng đường khá hiểm trở của ngôn ngữ tác phẩm.

Giáo Sư Ngô Văn Lại 吳文賴老師

Trung tuần tháng 4, 2007.

*********

目錄

《明心寶鑑》序

第1篇 繼善篇
第2篇 :天理篇
第3篇 :順命篇
第4篇 :孝行篇
第5篇 :正己篇
第6篇 :安分篇
第7篇 :存心篇
第8篇 :戒性篇
第9篇 :勸學篇
第10篇 :訓子篇
第11篇 :省心篇
第12篇 :立教篇
第13篇 :治政篇
第14篇 :治家篇
第15篇 :安義篇
第16篇 :遵禮篇
第17篇 :存性篇
第18篇 :言語篇
第19篇 : 交友篇
第20篇 :婦行篇

Mục Lục

• GIỚI THIỆU

• Tuyển dịch thiên thứ 01: KẾ THIỆN

• Tuyển dịch thiên thứ 02: THIÊN LÝ

• Tuyển dịch thiên thứ 03: THUẬN MỆNH

• Tuyển dịch thiên thứ 04: HIẾU HẠNH

• Tuyển dịch thiên thứ 05: CHÍNH KỶ

• Tuyển dịch thiên thứ 06: AN PHẬN

• Tuyển dịch thiên thứ 07: TỒN TÂM

• Tuyển dịch thiên thứ 08: GIỚI TÍNH

• Tuyển dịch thiên thứ 09: KHUYẾN HỌC

• Tuyển dịch thiên thứ 10: HUẤN TỬ

• Tuyển dịch thiên thứ 11: TỈNH TÂM

• Tuyển dịch thiên thứ 12: LẬP GIÁO

• Tuyển dịch thiên thứ 13: TRỊ CHÍNH

• Tuyển dịch thiên thứ 14: TRỊ GIA

• Tuyển dịch thiên thứ 15: AN NGHĨA

• Tuyển dịch thiên thứ 16: TUÂN LỄ

• Tuyển dịch thiên thứ 17: TỒN TÍN

• Tuyển dịch thiên thứ 18: NGÔN NGỮ

• Tuyển dịch thiên thứ 19: GIAO HỮU

• Tuyển dịch thiên thứ 20: PHỤ HẠNH

I – Tuyển dịch thiên thứ 1:

 KẾ THIỆN

1A.

Nguyên văn:

善有善報,惡有惡報。

若還不報,時辰未到。

*Âm:-

Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo

Nhược hoàn bất báo, Thời thần vị đáo.

Dịch nghĩa:

Làm điều thiện sẽ có điều thiện đáp lại. Làm điều ác sẽ gặp điều ác đáp lại. Nếu còn thấy không đáp lại (là vì) giờ giấc chưa đến.

Diễn ca:

Làm thiện gặp thiện,
Làm ác gặp ác.
Không gặp lúc nầy,
Thì gặp lúc khác.

2A.

Nguyên văn:

平生行善天加福,若是愚頑受禍殃。
善惡到頭終有報,高飛遠走也難藏。

*Âm:-

Bình sinh hành thiện thiên gia phước, nhược thị ngu ngoan thụ hoạ ương.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan tàng .

Dịch nghĩa:

Bình sinh làm điều thiện thì trời thêm phước cho – Nếu đúng là ngu bướng thì chịu tai ương. Làm thiện làm ác cuối cùng đều nhận báo ứng (dù) cao bay xa chạy cũng khó nấp.

Diễn ca:

Cả đời làm thiện, trời ban phước,
Nếu quen ngu bướng, gánh điều xui.
Thiện ác cuối cùng đều báo ứng,
Cao bay xa chạy lối nào chui?

3A.

Nguyên văn:

行藏虛實自家知,禍福因由更問誰?
善惡到頭終有報,只爭來早與來遲。

閒中檢點平生事,靜裡思量日所為。
常把一心行正道,自然天地不相虧。

*Âm:-

Hành tàng hư thực tự gia tri ,
 Hoạ phúc nhân do cánh vấn thuỳ.
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo ,
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.

Nhàn trung kiểm điểm bình sinh sự,
Tĩnh lý tư lương nhật sở vi.
Thường bả nhất tâm hành chính đạo,
Tự nhiên thiên địa bất tương khuy .

Giải nghĩa:

Làm quan hay ở ẩn, cách nào chắc hay không chắc, là tự mình biết. Họa phước sẽ từ đấy ra, lại còn phải hỏi ai? Thiện ác cuối cùng rồi có báo ứng, chỉ tranh nhau đến sớm với đến muộn thôi. Trong lúc rảnh rang hãy kiểm điểm việc đã làm trong đời. Lúc vắng lặng hãy nghĩ ngợi việc đã làm hằng ngày. Thường đem tinh thần “nhất tâm” (*) đi theo đường chân chính. Tự nhiên trời đất không làm sứt mẻ nhau đâu.

Diễn ca:

Chọn đường chắc lép tự mình hay,
Họa phúc đấy ra chứ hỏi ai?
Thiện ác cuối cùng rồi báo ứng,
Chỉ là xảy đến sớm hay chầy.
Rảnh rang kiểm điểm việc làm cũ,
Yên tĩnh nhớ ra chuyện mọi ngày.
Thường giữ vẹn lòng theo nẻo chính,
Tự nhiên trời đất xử không sai.

*Chú thích:

Nhất tâm: Ðưa cái Tâm theo một hướng duy nhất. (Ðạo gia dạy phải giữ cái Tâm theo ba trạng thái:

1 – Hư.
2 – Nhất.
3 – Tĩnh, để đưa nó về với Ðạo.

4A.

Nguyên văn:

晉國語云:“從善如登,從惡如崩。”

*Âm: –

Tấn quốc ngữ vân :“Tùng thiện như đăng, tùng ác như băng”

Giải nghĩa:

Ngạn ngữ nước Tấn nói: (Làm) theo điều thiện (khó) như lên (chỗ cao). (Làm) theo điều ác (dễ sa ngã) như ở chỗ sụp lở.

Diễn ca:

Làm theo điều thiện nhọc nhằn,
Như ở chỗ bằng, leo ngược lên cao.
Làm theo điều ác dễ sao!
Như đứng chỗ lở, ngã nhào như chơi!

——————-
5A .

Nguyên văn:

太公曰:“善事須貪,惡事莫樂。見善如渴,聞惡如聾。為善最樂,道理最大。”

*Âm: –

Thái công viết :“Thiện sự tu tham, ác sự mạc lạc. Kiến thiện như khát, văn ác như lung. Vi thiện tối lạc, đạo lý tối đại “.

Dịch nghĩa:

Thái Công (*) nói: Phải tham làm việc thiện. Ðừng vui khi làm việc ác. Thấy việc thiện như khát (thấy nước) Nghe điều ác như bị điếc. Làm điều thiện rất vui (đó là) đạo lý lớn nhất.

Diễn ca:

Tham làm điều thiện là hay,
Thấy điều ác, chớ vui tay làm bừa.
Thấy thiện như khát thấy mưa,
Nghe ác giả điếc như chưa nghe gì.
Làm việc thiện, thích lạ kỳ !
Ðó là đạo lý khó bì nổi đâu !

Chú thích:

Thái Công: Cách gọi tôn kính tuyệt đối dành cho Khương Tử Nha. Người ta cũng gọi Khương Thái Công (cụ họ Khương) Thái Công Vọng, Lã Vọng hay Lữ Vọng.

Tương truyền ông đợi thời bằng việc ngồi câu ở sông Vị Thủy mãi đến tuổi 72 mới được Vũ Vương mời làm quân sư, đánh vua Trụ tiêu diệt nhà Thương lập ra nhà Chu rồi cùng Chu Công tổ chức nền thịnh trị ,kết quả kéo dài 866 năm.

6A.
Nguyên văn:

司馬溫公曰:“積金以遺子孫,子孫未必能守;積書以遺子孫,子孫未必能讀;不如積陰德于冥冥之中,以為子孫長久之計。”

*Âm:-

Tư Mã Ôn Công viết :“Tích kim dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ ;Tích thư dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng độc ;Bất như tích âm đức vu minh minh chi trung, dĩ vi tử tôn trường cữu chi kế.”

*Dịch nghĩa: –

Tư Mã Ôn Công (*) nói: Tích lũy vàng để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc giữ nổi, tích lũy sách để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đọc được, không bằng tích lũy âm đức trong mờ mờ để làm kế lâu dài cho con cháu.

*Diễn ca: –

Dành vàng để lại đời sau,
Chắc gì con cháu cùng nhau giữ vàng.
Dành sách hay, dạy khôn ngoan,
Chắc gì con cháu giỏi giang? đọc nhiều?
Âm đức (**) quý biết bao nhiêu!
Ðể lại cho nhiều, con cháu hưởng lâu…

**Chú thích:-

Tư Mã Ôn Công: Tư Mã Quang, được phong Ôn Quốc Công, nhà chính trị và giáo dục lỗi lạc, đỗ tiến sĩ, làm đến Tể tướng, sách Tư trị thống giám của ông rất nổi tiếng.

Âm đức: Thứ ơn đức không nổi bật (xóa nợ, cứu nạn, vv…)

A7.

Nguyên văn:

心好命又好,發躂榮華早。
心好命不好,一生也溫飽。
命好心不好,前程恐難保。
心命都不好,窮楛直到老。

*Âm: –

Tâm hảo mệnh hựu hảo, phát đạt vinh hoa tảo.
Tâm hảo mệnh bất hảo, nhất sinh dã ôn bão.
Mệnh hảo tâm bất hảo, tiền trình khủng nan bảo.
Tâm mệnh đô bất hảo, cùng hộ trực đáo lão.

*Dịch nghĩa: –

Tâm tốt mệnh lại tốt. Phát đạt vinh hoa sớm. Tâm tốt mệnh không tốt. Một đời cũng ấm no. Mệnh tốt tâm không tốt. Ðường phía trước e khó giữ. Tâm, mệnh đều không tốt. Cùng khổ thẳng tới già.

*Diễn ca: –

Tâm tốt, số mệnh tốt,
Sớm phát đạt vinh hoa.
Tâm tốt, số mệnh xấu,
Cũng sống được qua loa.
Số mệnh tốt, tâm xấu,
Ðường đời khó tiến xa.
Tâm xấu, số mệnh xấu,
Nghèo khổ bé đến già.

8A.

Nguyên văn:

景行錄云:“以忠孝遺子孫者昌,以智朮遺子孫者亡。以謙接物者強,以善自衛者良。”

*Âm: –

Cảnh Hạnh Lục vân :“Dĩ trung hiếu di tử tôn giả xương, dĩ trí truật di tử tôn giả vong. Dĩ khiêm tiếp vật giả cường, dĩ thiện tự vệ giả lương. ”

*Dịch nghĩa: –

Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ để lòng trung hiếu lại cho con cháu là để lại cho chúng sự phát đạt. Kẻ để ngón trí xảo lại cho con cháu là để lại cho chúng mầm suy vong. Kẻ đem lòng khiêm nhường giao tiếp mọi việc thì mạnh. Kẻ dùng điều thiện để tự vệ thì tốt lành.

*Diễn ca: –

Dạy con trung hiếu, con vẻ vang,
Dạy con trí xảo, con dở dang.
Cư xử khiêm nhường là sức mạnh,
Giữ lòng lương thiện, đỡ nguy nan.

9A.

Nguyên văn:

恩義广施,人生何處不相逢;仇冤莫結,路逢險處難回避。

*Âm: –

Ân nghĩa nghiễm thi, nhân sinh hà xứ bất tương phùng. Cừu oan mạc kết, lộ phùng hiểm xứ nan hồi tỵ .

*Dịch nghĩa: –

Rộng ban ơn nghĩa, đến đâu lại chẳng gặp người (tử tế). Chớ kết oan gia, gặp họ chỗ đường hẻm khó lùi tránh.

*Diễn ca: –
Rộng gieo ơn nghĩa khắp nơi,
Ði đâu cũng gặp được người mến ta.
Oán thù nếu đã gây ra,
Vô vàn nguy hiểm rình ta đường đời.

10A.

Nguyên văn:

庄子云:“于我善者,我亦善之。于我惡者,我亦善之。我既于人無惡,人能于我有惡哉!”

*Âm: –

Trang Tử vân :“Vu ngã thiện giả, ngã diệc thiện chi. vu ngã ác giả, ngã diệc thiện chi. Ngã kí vu nhân vô ác, nhân năng vu ngã hữu ác tai !”

*Dịch nghĩa: –

Trang Tử nói: Kẻ làm điều thiện cho ta, ta cũng làm điều thiện cho họ. Ta đã không ác, người có thể làm điều ác cho ta sao?

*Diễn ca: –

Kẻ làm điều thiện cho ta,
Ta đáp bằng thiện, thế là đối lưu.
Kẻ gây điều ác hại ta,
Ta đáp bằng thiện, ấy là ta khôn.
Ta không gây ác trả đòn,
Lẽ nào kẻ ác vẫn còn hại thêm?

11A.

Nguyên văn:

東 嶽圣帝垂訓:“天地無私,神明暗察。不為享祭而降福,不為失禮而降禍。凡人有勢不可倚儘,有福不可享儘,貧困不可欺儘。此三者乃天地循環,周而复始。故一 日行善,福雖未絰,禍自遠矣。一日行惡,禍雖未絰,福自遠矣。行善之人,如春園之草,不見其長日有所增。行惡之人,如磨刀之石,不見其損日有所虧。損人益己,切宜戒之!一毫之善,与人方便。一毫之惡,勸人莫作。衣食隨緣,自然快樂。算甚么命問甚么卜欺人是禍,饒人是福。天網恢恢,報應甚速。僅听吾言,神欽鬼伏。”

*Âm: –

Đông Nhạc Thánh Đế thuỳ huấn :“Thiên địa vô tư, thần minh ám sát. Bất vị hưởng tế nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng hoạ. Phàm nhân hữu thế bất khả ỷ tận, hữu phước bất khả hưởng tận, bần khốn bất khả khi tận. Thử tam giả nãi thiên địa tuần hoàn, chu nhi phúc thuỷ. Cố nhất nhật hành thiện, phước tuy vị chí, hoạ tự viễn hĩ. Nhất nhật hành ác, hoạ tuy vị chí, phước tự viễn hĩ. Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo, bất kiến kỳ trưởng nhật hữu sở tăng. Hành ác chi nhân, như ma đao chi thạch, bất kiến kỳ tổn nhật hữu sở khuy. Tổn nhân ích kỷ, thiết nghi giới chi !Nhất hào chi thiện, dữ nhân phương tiện. Nhất hào chi ác, khuyến nhân mạc tác. Y thực tuỳ duyên, tự nhiên khoái lạc. Toán thậm ma mệnh, vấn thậm ma bốc, khi nhân thị hoạ, nhiêu nhân thị phước. Thiên võng khôi khôi, báo ứng thậm tốc. Cận thính ngô ngôn, thần khâm quỷ phục .

*Dịch nghĩa: –

Thánh đế của Ðông Nhạc (*) rũ ban lời dạy rằng: Trời đất không vì tình riêng, thần minh luôn xét, không vì tế lễ thịnh soạn mà gieo phước, không vì thất lễ mà gieo họa.

Người ta ở đời có thế không nên ỷ hết, có phước không nên hưởng hết, thấy kẻ bần cùng không nên khinh khi hết. Ba thứ ấy tuần hoàn trong trời đất giáp vòng rồi trở lại lúc đầu. Thế cho nên một ngày làm điều thiện, phước tuy chưa đến mà họa tự lánh xa, một ngày làm điều ác, họa tuy chưa đến mà phước tự lánh xa.

Người làm điều thiện như cỏ vườn xuân, không thấy sự lớn của nó nhưng mỗi ngày có lớn thêm. Người làm điều ác như viên đá mài dao, không thấy sự hao mòn của nó nhưng mỗi ngày có khuyết bớt.

Làm tổn hại người để thêm ích lợi cho mình nhất định phải nên e dè. Một mảy thiện cũng phải dành thuận lợi cho người, một mảy ác cũng phải khuyên người đừng làm. Ăn mặc tùy cơ may thì tự nhiên được vui sướng, tính toán số mạng làm chi? Coi bói làm chi? Khinh khi người ta là chuốc họa, tha thứ người ta là tạo phước. Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh. Cẩn thận nghe lời ta thì thần kính quỷ phục.

*Diễn ca: –

Trời đất nào có vị tình?
Luôn luôn xét nét, thần linh nào lười?
Lễ to đừng tưởng thần cười,
Lễ nhỏ thần chẳng giận người bỏ bê.
Ở đời, đắc thế phải dè,
Gặp phước thì cũng chớ hề hưởng tham.
Chớ rẻ rúng kẻ nghèo nàn,
Bởi ba điều ấy thế gian xoay vần.
Tự nhiên ai cũng có lần,
Sau cuộc xoay vần, vòng lại đầu tiên.
Một ngày ý thiện dấy lên,
Phước tuy chưa đến, họa liền lánh xa.
Một ngày điều ác gây ra,
Họa tuy chưa đến, phước đà lui chân.
Làm thiện như cỏ vườn xuân,
Phước lớn dần dần, chẳng thể nhận ngay.
Làm ác như khối đá mài,
Phước hao mòn mãi lâu ngày khuyết to.
Phải nên cân nhắc, đắn đo,
Chớ hại người để lợi cho phần mình.
Hãy nên suy xét cho tinh,
Nhận ai chút thiện, tận tình đền ơn.
Thấy ai hành động mất khôn,
Nhúng tay gây ác, ta dồn sức ngăn.
Ở đời, cái mặc cái ăn,
Ðược chăng hay chớ, lăng xăng nhọc người.
Xem số, coi bói khắp nơi,
Ham chuyện đổi đời, nghĩ thật tham lam.
Khinh khi người, họa đến thân,
Tha thứ người, mới hưởng phần phước may.
Lưới trời lồng lộng bủa vây,
Mọi đều báo ứng thấy ngay tức thì.
Khuyên ai cẩn thận nhớ ghi,
Quỷ thần cũng phục, nói chi loài người!

*Chú thích:-

*Thánh đế núi Ðông Nhạc: Vị thần chí tôn cai quản núi Thái Sơn.

******

II – Tuyển dịch thiên thứ hai: THIÊN LÝ

1A.

Nguyên văn:

康節邵先生曰:天听絕無音,蒼蒼何處尋,非鄗亦非遠,都只在人心。人心生一唸,天地悉皆知。善惡若無報,乾坤必有私。

*Âm:-

Khang Tiết Thiệu tiên sinh viết :”Thiên thính tuyệt vô âm, thương thương hà xứ tầm, phi cao diệc phi viễn, đô chỉ tại nhân tâm. Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tất giai tri. Thiện ác nhược vô báo, càn khôn tất hữu tư.”

*Dịch nghĩa: –

Thầy Thiệu Khang Tiết nói: Trời nghe được cả lúc tuyệt nhiên không có tiếng. Xanh xanh biết tìm nơi đâu. Không cao cũng không xa. Ðều chỉ ở nơi lòng người. Lòng người sinh một ý nghĩ. Trời đất đều biết tất cả. Thiện ác nếu không thấy báo ứng. Tất là trời đất có tư vị.

*Diễn ca: –

Trời nghe thầm, chẳng cần lời,
Nhìn lên xanh ngắt, tìm trời ở đâu?
Chẳng xa mà cũng chẳng cao,
Bất cứ lòng nào, trời cũng đều nghe.
Lòng người chỉ mới lăm le,
Ðất trời biết tất, răn đe chẳng từ.
Ðất trời phải thật riêng tư,
Thì mới mặc xác nhân từ, ác ôn!

2A.
Nguyên văn:

昔賢曰:若人作不善得顯名者,人不害,天必誅之。种瓜得瓜,种荳得荳。天網恢恢,疏而不漏。深耕淺种,尚有天災;利己損人,豈無果報.

*Âm: –

Tích hiền viết :” Nhược nhân tác bất thiện đắc hiển danh giả, nhân bất hại, thiên tất tru chi. Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu. Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu. Thâm canh thiển chủng, thượng hữu thiên tai ;lợi kỷ tổn nhân, khởi vô quả báo.”
*Dịch nghĩa: –

Người hiền xưa nói: Nếu người làm điều không thiện mà được nổi tiếng, người không hại thì trời tất giết hắn. Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Cày sâu trồng cạn còn có thiên tai, lợi mình hại người, há không bị quả báo?

*Diễn ca: –

Làm ác mà được rạng danh,
Người tha, trời cũng phải đành giết thôi.
Gieo gì gặt nấy lâu rồi,
Xưa nay ai thoát lưới trời được đâu?
Ngay như trồng cạn, cày sâu,
Thiên tai trừng phạt, trời đâu tha nào?
Hại người kiếm lợi cho cao,
Trời không quả báo làm sao cho đành!

II – Tuyển dịch thiên thứ ba: THUẬN MỆNH

1A.

Nguyên văn:

孟子曰:行或使之,止或尼之,行止非人所能也。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :”Hành hoặc sử chi, chỉ hoặc ni chi, hành chỉ phi nhân sở năng dã.”

*Dịch nghĩa: –

Mạnh Tử nói: Làm hoặc sai người khác làm, thôi hoặc bảo người khác thôi. Làm hay thôi không phải là khả năng của con người vậy.

*Diễn ca: –

Mình làm hoặc bảo người làm,
Mình ngừng, bảo kẻ đang ham cũng ngừng.
Dù hăm hở, dù dửng dưng,
Ðừng tưởng là bởi mình ưng thế mà!
Chính trời điều khiển từ xa,
Xui mình hăm hở hay là dửng dưng.

2A.

Nguyên văn:

昔賢曰:知命之人見利不動,臨死不怨,得一日過一日,得一時過一時。緊行慢行,前程只有許多路。時來風送滕王閣,運去雷轟荐福碑。

*Âm: –

Tích hiền viết :”Tri mệnh chi nhân kiến lợi bất động, lâm tử bất oán, đắc nhất nhật quá nhất nhật, đắc nhất thời quá nhất thời. Khẩn hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu hứa đa lộ. Thời lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến Phước bi.”

*Dịch nghĩa: –

Người hiền xưa nói: Người hiểu biết vận mệnh thấy lợi không động lòng. Gặp cái chết không oán, được một ngày qua một ngày, được một giờ qua một giờ. Ði gấp đi chậm thì đường phía trước cũng chỉ nhiều bấy nhiêu. Thời đến gió đưa tới gác Ðằng Vương (*). Vận bỏ đi sét đánh bia Tiến Phước (**).

*Diễn ca: –

Vận mệnh khi đã rõ rồi,
Thấy lợi cũng chẳng đứng ngồi băn khoăn.
Coi thần chết như khách quen,
Nhưng với cuộc sống vẫn hằng nâng niu.
Một ngày, quả thật đáng yêu,
Một giờ thì cũng trời chiều chuộng ta.
Ðường đời chẳng quản gần xa,
Ði gấp, đi chậm, vẫn là bấy nhiêu.
Gặp thời thì gió thuận chiều,
Vận hết gắng sức càng nhiều càng hư.

*Chú thích:-

*Gác Ðằng Vương: tên một thắng cảnh ở huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây. Ðời Đường, nhân dịp trùng tu, người ta tổ chức cuộc thi văn, qui tụ nhiều văn tài nổi tiếng đương thời. Vương Bột (650 – 675) bấy giờ mới 14 tuổi nên không được mời dự chính thức và được tin quá trễ nhưng nhờ gió thuận nên đến nơi vừa kịp giờ và giật Dịch nhất, trở thành tứ kiệt đời Ðường (về sau, cũng chính “gió đưa” làm ông đắm thuyền trên đường sang thăm bố làm quan đô hộ Giao Châu, tức Việt Nam ngày nay).

*Bia Tiến Phước: tên một bia cổ có giá trị nghệ thuật rất cao, người sành điệu đua nhau thuê rập mẫu. Có anh hàn sĩ lỡ vận nọ nhận được mối đặt hàng lớn, hăm hở gánh giấy đến chân núi, gặp mưa to quá phải ngủ trọ. Khuya hôm ấy sét đánh vỡ bia.

3A.
Nguyên văn:

列子曰:

痴聾瘖痖傢蠔富,
智慧聰明卻受貧。
年月日時皆載定,
算來由命不由人。
命浬有時終須有,
命浬無時莫強求。

*Âm:-

Liệt Tử viết :

“Si lung ám á gia hào phú,
Trí tuệ thông minh khước thụ bần.
Niên nguyệt nhật thời giai tải định ,
 Toán lai do mệnh bất do nhân .
 Mệnh lý hữu thời chung tu hữu,
Mệnh lý vô thời mạc cưỡng cầu.”

*Dịch nghĩa: –

Liệt Tử (*) nói: Kẻ ngây, điếc, ngọng, câm nhà giàu to. Kẻ trí tuệ, thông minh lại chịu nghèo. Năm, tháng, ngày, giờ đều đăng tải ổn định rồi. Tính ra do mệnh (chứ) không do người. Trong mệnh có thời thì rốt cuộc phải có – trong mệnh không có thời thì đừng gượng tìm.

*Diễn ca: –

Ngây, điếc, câm, ngọng, nhà giàu,
Thông minh trí tuệ rớt vào… mồng tơi!
Thì ra số phận xấu chơi,
Kẻ không thời vận, cố bơi cũng chìm!

*Chú thích:-

Liệt Tử: tên thật là Liệt Ngự Khấu, người đời Chu, triết gia chịu ảnh hưởng Ðạo Giáo. Ðệ tử ông chép lời thầy làm nên sách Liệt Tử.

4A.

Nguyên văn:

景行錄云:凡事不可着力處便是命也。會不如命,智不如福。禍不可以倖免,福不可苟求。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :”Phàm sự bất khả trước lực, xứ tiện thị mệnh dã. Hội bất như mệnh, trí bất như phước. Hoạ bất khả dĩ hãnh miễn, phước bất khả cẩu cầu.”

*Dịch nghĩa: –

Sách Cảnh Hạnh chép: Hễ gặp việc gì không thể xử lý bằng sức, tức là do mệnh vậy. Cơ hội không bằng mệnh, trí không bằng phướ Họa không thể nhờ may mà khỏi, phước không thể cầu mong dễ dãi.

*Diễn ca: –

Dốc sức việc chả êm xuôi,
Tức là tại mệnh đấy thôi, đừng buồn!
Cơ hội còn phải chịu nhường,
Trí tuệ chẳng dám coi thường phước may.
Mệnh xui họa gió tai bay,
Dù bậc anh tài, cũng khó vượt qua.
Mệnh không dành phước cho ta,
Dù cố nài nỉ, chỉ là uổng công.

IV – Tuyển dịch thiên thứ tư: HIẾU HẠNH

1A.

Nguyên văn:

子曰:身体發膚,受之父母,不敢毀傷,孝之始也。立身行道,揚名于后世,以顯父母,孝之終也。
孝之事親,居則緻其敬,養則緻其樂,病則緻其憂,喪則緻其偯,祭則緻其嚴。故人不爱其亲而爱他人者,谓之悖德;不敬其亲而敬他人者,谓之悖礼。

君子之事亲孝,故忠可移于君;事兄弟,故顺可移于长;居家理,故治可移于官, 是以行成于内而名立于後世矣。

* Âm: –

Tử viết :”Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm huỷ thương, hiếu chi thuỷ dã. Lập thân hành đạo, dương danh vu hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã.

Hiếu chi sự thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí kỳ ưu, tang tắc trí kỳ y, tế tắc trí kỳ nghiêm. Cố nhân bất ái kỳ thân nhi ái tha nhân giả, vị chi bội đức ;bất kính kỳ thân nhi kính tha nhân giả, vị chi bội lễ.

Quân tử chi sự thân hiếu, cố trung khả di vu quân ;sự huynh đệ, cố thuận khả di vu trưởng ;Cư gia lý, cố trị khả di vu quan, thị dĩ hành thành vu nội nhi danh lập vu hậu thế hĩ .”

Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Thân thể tóc da là thứ nhận của cha mẹ, không dám làm tổn thương, đó là bắt đầu lòng hiếu thảo vậy. Lập thân, làm đều đúng đạo, nêu tiếng tăm cho đời sau để làm vẻ vang cha mẹ là phần cuối của nết hiếu thảo vậy.

Con hiếu thờ cha me, cư xử phải hết mực cung kính, nuôi nấng phải hết mực vui vẻ, bệnh hoạn, phải hết mực lo lắng, lễ tang phải hết mực nghiêm tú

Thế cho nên, kẻ không yêu mến người thân mà yêu mến người khác gọi là phản bội đạo đức, kẻ không tôn kính người thân mà tôn kính người khác gọi là phản bội lễ giáo.

Bậc quân tử phụng sự người thân hiếu thảo nên dời thành lòng trung với vua, phụng sự anh kính nhường nên dời thành lòng hòa thuận với người lớn hơn, ở nhà biết xử lý đúng nên cách quản lý dời đến việc quan, như vậy là lấy cái nết hình thành ở trong nhà mà tiếng tăm lập nên ở đời sau vậy.

*Diễn ca: –

Thân thể tóc da,
Cha mẹ cho ta.
Giữ sao lành lặn,
Hiếu thảo đấy mà!
Lớn lên giữa đời,
Danh tiếng vang xa.
Vẻ vang cha mẹ,
Cư xử nết na.
Phụng dưỡng vui vẻ,
Ốm đau xót xa.
Cúng tế nghiêm túc,
Bi ai tang ma…
Nếu yêu thiên hạ,
Hơn yêu mẹ cha.
Ấy là lỗi đạo,
Bất hiếu tối đa.
Nếu kính thiên hạ,
Hơn kính mẹ cha.
Ấy là trái lễ,
Rất đáng rầy la.
Làm con có hiếu,
Thờ vua mới trung.
Làm em nhường kính,
Mới trọng bề trên.
Việc nhà đúng đạo,
Việc quan mới nên.
Cư xử trọn vẹn,
Danh tiếng vang rền…

2A.

Nguyên văn:

父母在,不遠游,游必有方。
父母之年不可不知也。一則以喜,一則以懼。
父在觀其志,父沒觀其行。三年無改于父之道,可謂孝矣。

*Âm: –

Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương.
Phụ mẫu chi niên bất khả bất tri dã. Nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ.
Phụ tại quán kỳ chí, phụ một quán kỳ hành. Tam niên vô cải vu phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ .

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Cha mẹ còn sống, con không nên đi chơi xa, nếu đi chơi phải có hướng cụ thể.

Tuổi của cha mẹ, con không thể không biết, một là để mừng, một là để sợ.

Cha còn sống, xem chí cha, cha mất, xem đức hạnh cha, ba năm không đổi đường lối của cha, có thể gọi là hiếu vậy.

*Diễn ca: –

Cha mẹ còn sống trên đời,
Phận con chớ có đi chơi mọi miền.
Nếu đi chơi có việc riêng,
Phải lưu địa chỉ, đỡ phiền mẹ cha.
Biết tuổi tác cha mẹ già,
Một là mừng rỡ, một là lo âu.
Cha còn, xem chí cao sâu,
Cha mất, xem nết bấy lâu cho tường.
Cư tang vẫn nhớ luôn luôn,
Thế là hiếu thảo, vẹn đường làm con.

——————
3A.

Nguyên văn:

太公曰:孝于親,子亦孝之。身既不孝,子何孝焉? 孝順還生孝順子,忤逆還生忤逆儿。不信但看檐頭水,點點滴滴不差移。

*Âm:-

Thái Công viết :Hiếu vu thân, tử diệc hiếu chi. Thân kí bất hiếu, tử hà hiếu yên?

Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đản khan thiềm đầu thuỷ,
Điểm điểm trích trích bất sai di.

Dịch nghĩa:

Thái Công nói: Hiếu thảo với song thân, con cũng hiếu thảo với mình. Bản thân mình đã không hiếu thảo, con làm sao hiếu thảo cho được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận, ngỗ nghịch lại sinh đứa ngỗ nghịch. Không tin hãy xem nước đầu thềm, nhỏ giọt, nhỏ giọt chẳng sai chệch.

*Diễn ca: –

Cha mẹ hiếu với ông bà,
Ắt con hiếu với mẹ cha sau nầy.
Cha mẹ bất hiếu thì gay,
Mong gì con cháu sau này hiếu cho?
Ðời này ăn ở so đo,
Ðời sau y hệt, chẳng lo sai lề.
Nước đầu thềm nhỏ một bề,
Giọt sau giọt trước chẳng hề chệch nhau.

4A.

Nguyên văn:

孟子曰:世俗所謂不孝者五:惰其四支,不顧父母之養,一不孝也;博弈好飲酒,不顧父母之養,二不孝也;好貨財,私妻子,不顧父母之養,三不孝也;從耳目之慾,以為父母戮,四不孝也;好勇斗狠,以危父母,五不孝也。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Thế tục sở vị bất hiếu giả ngũ :đoạ kỳ tứ chi, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhất bất hiếu dã ;Bác dịch hảo ẩm tửu, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, nhị bất hiếu dã ;Hảo hoá tài, tư thê tử, bất cố phụ mẫu chi dưỡng, tam bất hiếu dã ;Tùng nhĩ mục chi dục, dĩ vi phụ mẫu lục, tứ bất hiếu dã ;Hảo dũng đẩu ngận, dĩ nguy phụ mẫu, ngũ bất hiếu dã.

*Dịch nghĩa: –

Mạnh Tử nói: Cái mà thế tục gọi là bất hiếu có năm điều:
 Biếng lười tứ chi, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ nhất.
Ham cờ bạc, thích uống rượu không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ hai.
 Ham của cải, chỉ nghĩ đến vợ con, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ ba.
Buông thả cho sự ham muốn của tai mắt làm cho cha mẹ bị giết (*) đó là tội bất hiếu thứ tư.
Thích to khỏe, đấu đấm đá làm nguy lây cha mẹ, đó là tội bất hiếu thứ năm.

*Diễn ca: –

Năm điều bất hiếu trên đời,
Một là lười nhác, không nuôi sinh thành.
Hai là hưởng thụ một mình,
Bỏ bê cha mẹ mặc tình đói no.
Ba là nhiều vợ lắm kho,
Mặc cho cha mẹ ốm o, nghèo nàn.
Bốn là mặc ý ngang tàng,
Ðể cho cha mẹ liên can, tội đời.
Năm là cậy khỏe đánh người,
Ðể cha mẹ phải thăm nuôi, bồi thường.

*Chú thích:-

Cha mẹ bị giết: Ám chỉ hình phạt tru di tam tộc dành cho tội làm giặc.

******

V – Tuyển dịch thiên thứ năm: CHÍNH KỶ

1A.

Nguyên văn:

性理書云:見人之善而尋己之善,見人之惡而尋己之惡,如此方是有益。

*Âm:-

Tính Lý Thư vân :Kiến nhân chi thiện nhi tầm kỷ chi thiện, kiến nhân chi ác nhi tầm kỷ chi ác, như thử phương thị hữu ích .

*Dịch nghĩa: –

Sách Tính Lý nói: Thấy điều thiện của người mà tìm điều thiện của mình. Thấy điều ác của người mà tìm cái ác của mình, như thế mới đúng là có ích.

*Diễn ca: –

Thấy người làm điều thiện,
Xem lại mình làm chưa?
Thấy người làm điều ác,
Xem mình có biết chừa?
Tự xét kỹ như thế,
Chả cầu cạnh đền chùa!

————–

2A.

Nguyên văn:

景行錄云:不自重者取辱,不自畏者招禍。不自滿者受益,不自是者博聞。

*Âm: –

Cảnh Hạnh Lục vân :Bất tự trọng giả thủ nhục, bất tự uý giả chiêu hoạ. Bất tự mãn giả thụ ích, bất tự thị giả bác văn .

*Dịch nghĩa:

Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ không tự trọng hứng lấy nhục nhã, kẻ không thấy sợ rước lấy tai họa, kẻ không tự mãn được có thêm, kẻ không tự cho mình đúng sẽ hiếu biết rộng.

*Diễn ca: –

Không tự trọng ắt là chuốc nhục,
Không e dè, có lúc họa bay.
Kẻ không tự mãn mới đầy,
Không cho mình đúng mới hay biết nhiều.

3A.

* Nguyên văn:-

子曰:匿人之善,欺謂蔽賢;揚人之惡,欺謂小人。言人之善,若己有之;言人之惡,若己受之。

*Âm:-

Tử viết :Nặc nhân chi thiện, khi vị tế hiền ;Dương nhân chi ác, khi vị tiểu nhân. Ngôn nhân chi thiện, nhược kỷ hữu chi ;Ngôn nhân chi ác, nhược kỷ thụ chi.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Giấu cái thiện của người, đấy gọi là che người hiền. Nêu các ác của người, ấy là tiểu nhân. Nhắc điều thiện của người, cảm thấy mình có phần trong đó. Nhắc điều ác của người, cảm thấy mình chịu đựng nó.

*Diễn ca: –

Không nêu điều thiện của người,
Là gìm kẻ tốt, đáng cười đáng chê.
Người làm ác, mình hả hê,
Rêu rao, dè bĩu là bè tiểu nhân.
Hãy nên tu dưỡng bản thân,
Người làm thiện, tưởng có phần của ta.
Người làm ác, ta xót xa,
Cảm thấy như là mình chịu lỗi chung.

———–

4A.

* Nguyên văn:-

道吾惡者是吾師,道吾好者是吾賊。

*Âm:-

Đạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô hảo giả thị ngô tặc.

*Dịch nghĩa: –

Kẻ nói ra điều xấu của ta đáng thầy ta. Kẻ nói ra điều tốt của ta, đúng là kẻ hại ta.

*Diễn ca: –

Bảo ta xấu, đáng là thầy,
Kẻ khen ta tốt, có ngày hại ta.

5A.

* Nguyên văn:-

子曰:三人同 行,必有我師焉。擇其善者而從之,其不善者而改之。

*Âm: –

Tử viết :Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Ba người cùng đi ,tất có người thầy ta, chọn cái của người thiện mà theo, cái của người bất thiện mà đổi.

*Diễn ca: –

Ba người cùng một chuyến đi,
Tất chẳng thiếu gì thầy dạy cho ta.
Cái hay ta học thêm ra,
Cái dở, ta rọi xấu xa của mình.

————-
6A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:寡言則省謗,寡慾則保身。保生者寡慾,保身者避名。無慾易,無名難。務名者殺其身。多財者殺其后。

*Âm: –

Cảnh Hạnh Lục vân :Quả ngôn tắc tỉnh báng, quả dục tắc bảo thân. Bảo sinh giả quả dục, bảo thân giả tỵ danh. Vô dục dị, vô danh nan. Vụ danh giả sát kỳ thân. Đa tài giả sát kỳ hậu

*Dịch nghĩa: –

Sách Cảnh Hạnh chép: Ít nói thì bớt bị chê bai, ít tình dục thì giữ được thân mình. Kẻ giữ sự sống thì ít tình dục, kẻ giữ thân thì tránh danh. Không tình dục thì dễ, không danh thì khó. Kẻ ham danh giết thân họ. Kẻ nhiều của giết đời sau của họ.

*Diễn ca: –

Nói ít, giảm tiếng gièm pha,
Bớt ham tình dục, thân ta mới bền.
Giữ mạng, bớt dục mới nên,
Giữ thân, hãm bớt lòng thèm tiếng tăm.
Muốn yên danh giá đừng ham,
Muốn nên dòng dõi, đừng tham của nhiều.

7A.

* Nguyên văn:-

子曰:眾好之,必察焉。眾惡之,必察焉。

*Âm:-

Tử viết :Chúng hảo chi, tất sát yên. Chúng ác chi, tất sát yên.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Ðám đông thích, tất phải xét đã. Ðám đông ghét, tất phải xét đã.

*Diễn ca: –

Nhiều người nhất trí hoan hô,
Kẻ khôn phải xét: Vì sao nhiều người?
Nhiều người la ó, chê cười,
Kẻ khôn phải xét ai người giật dây.

————-

8A.

* Nguyên văn:-

酒中不語真君子。財上分明大丈伕。

*Âm: –

Tửu trung bất ngữ chân quân tử. Tài thượng phân minh đại trượng phu.

*Dịch nghĩa: –

Trong cuộc rượu mà không nói mới thật là người quân tử. Trên chuyện tiền nong mà tách bạch rõ ràng mới đúng là bậc trượng phu.

*Diễn ca: –

Rượu vào thường phải lời ra,
Chỉ người quân tử mới là làm thinh.
Hùn hạp với kẻ phân minh,
Phần người, phần mình sòng phẳng mới hay.
Mới hợp tác được lâu ngày,
Bản lĩnh thế ấy, sánh tày trượng phu.

9A.

* Nguyên văn:-

老子曰:大辯若訥,大巧若拙。澂心清淨可以安神。讒口多言自亡其身。

*Âm:-

Lão Tử viết :Đại biện nhược nột, đại xảo nhược chuyết. Trừng tâm thanh tịnh khả dĩ an thần. Sàm khẩu đa ngôn tự vong kỳ thân.

*Dịch nghĩa: –

Lão Tử nói: Kẻ hùng biện như ấp úng, kẻ quá khéo như vụng về. Lắng lòng thanh tĩnh cơ thể an thần. Miệng gièm nhiều lời, tự đánh mất thân.

*Diễn ca: –

Kẻ hùng biện thường hay ấp úng,
Cố chọn lời thật đúng tình hình.
Kẻ khéo thực hiện công trình,
Thoạt trông dơ dáng dại hình khó ưa.
Bởi kiểu xưa vốn không giống thế,
Chưa quen nhìn, khó thể vừa lòng,
Kẻ giữ tâm thật lắng trong,
Tinh thần mới hòng tĩnh tại, bình an.
Kẻ lắm lời, dễ dàng sơ hở,
Siêng gièm pha lại tự hại mình.
Khiến không ai dám thật tình,
Khiến cho thiên hạ muốn khinh muốn nhờn.

—————-
10A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:飲食之人則人賤之矣,為其養小而失大也。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Ẩm thực chi nhân tắc nhân tiện chi hĩ, vi kỳ dưỡng tiểu nhi thất đại dã.

*Dịch nghĩa: –

Mạnh Tử nói: Người chỉ lo ăn uống thì bị người ta coi là hèn hạ vì cho là nuôi chí nhỏ, bỏ chí lớn.

*Diễn ca: –

Kẻ gầy độ nhậu thường xuyên,
Tự hào mình thật sẵn tiền, dám tiêu.
Thế nhưng quên mất một điều,
Thiên hạ đánh giá, kèm nhiều băn khoăn.
Gã nầy chỉ biết ham ăn,
Còn bao việc khác, chẳng bằng ai đâu!

11A.

* Nguyên văn:-

太公曰 : 瓜田不納履,李下不整冠。

*Âm:-

Thái Công viết :Qua điền bất nạp lí, Lý hạ bất chỉnh quan .

*Dịch nghĩa: –

Thái Công nói: Không nên xỏ giày giữa ruộng dưa, không nên chỉnh lại mũ dưới cành mận.

*Diễn ca: –

Xỏ lại giày giữa ruộng dưa,
Lẽ nào chủ ruộng lại chưa nghi ngờ?
Ði dưới cành mận tình cờ,
Giơ tay chỉnh mũ, có vờ hái không?
Ðấy là lời của Thái Công,
Dạy đừng làm những việc không khỏi ngờ.

—————

12A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:愛人不親反其仁,治人不治反其智,禮人不答反其敬。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Ái nhân bất thân phản kỳ nhân, trị nhân bất trị phản kỳ trí, lễ nhân bất đáp phản kỳ kính.

*Dịch nghĩa: –

Mạnh Tử nói: Yêu người nhưng người không thân thiết lại là trái đạo Nhân. Trị người mà người ta không để cho trị là trái chữ Trí. Lễ độ với người mà người không đáp lại là trái chữ Kính.

*Diễn ca: –

Yêu người, người chẳng đáp tình,
Là chưa hết mình thể hiện chữ Nhân.
Trị người, chẳng lập trị an,
Ấy thật rõ ràng chữ Trí chưa tinh.
Chào người, người vẫn làm thinh,
Ấy là chữ Kính hy sinh mất rồi!

13A.

* Nguyên văn:-

曲禮曰:傲不可長,慾不可縱,志不可滿,樂不可极。

*Âm:-

Khúc Lễ viết :Ngạo bất khả trường, dục bất khả túng, chí bất khả mãn, lạc bất khả cực.

*Dịch nghĩa: –

Thiên Khúc Lễ nói: Tính ngạo không thể để cho lớn, không nên buông thả lòng ham muốn, không nên thỏa mãn về chí hướng, không nên vui vẻ đến tột độ.

*Diễn ca: –

Thói ngạo chớ để phình to,
Lòng ham muốn, chớ mặc cho buông tuồng.
Ðừng rằng chí hướng đã xong,
Ðừng vui đầy ứ cả trong lẫn ngoài.

—————-
14A.

* Nguyên văn:-

心無諂曲可与霹靂同居。耳不聞人之非,目不視人之短,口不言人之過,庶几君子。門內有君子,門外君子至。門內有小人,門外小人至。

*Âm: –

Tâm vô siểm khúc khả dữ tích lịch đồng cư. Nhĩ bất văn nhân chi phi, mục bất thị nhân chi đoản, khẩu bất ngôn nhân chi quá, thứ kỷ quân tử. Môn nội hữu quân tử, môn ngoại quân tử chí. Môn nội hữu tiểu nhân, môn ngoại tiểu nhân chí .

** Dịch nghĩa:-

Tâm không gièm pha cong vẹo có thể ở chung với sấm sét. Tai không nghe lỗi của người, mắt không nhìn chỗ kém của người, miệng không nói điều lỗi của người, ngõ hầu thành người quân tử đấy! Trong nhà có sẵn quân tử thì ngoài cửa mới có quân tử đến. Trong nhà có sẵn tiểu nhân thì ngoài cửa mới có tiểu nhân đến.

*Diễn ca: –

Tâm không gièm siểm quanh co,
Thảnh thơi thân thể, chẳng lo oai trời.
Không nghe điều quấy của người,
Không nhìn chỗ dở, không cười điều sai.
Xứng cùng quân tử sánh vai,
Tiểu nhân đứng ngoài, chả dám mon men.

15A.

* Nguyên văn:-

素書云:短莫短于苟得,孤莫孤于自恃。

*Âm:-

Tố Thư vân :Đoản mạc đoản vu cẩu đắc, cô mạc cô vu tự thị.

*Dịch nghĩa: –

Sách Tố thư nói: Không gì ngắn ngủi bằng cái kiếm được hú họa. Không nỗi cô đơn nào hơn nỗi cô đơn tự cậy mình.

*Diễn ca: –

Chợt được đã vội tự hào,
Kiểu thành tích ấy giữ sao lâu dài?
Tự cho mình chẳng cần ai,
Dù bậc kỳ tài vẫn mãi cô đơn…

—————
16A.

* Nguyên văn:-

子曰:君子泰而不驕,小人驕而不泰。

*Âm:-

Tử viết :Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Người quân tử thư thái nhưng không kiêu. Kẻ tiểu nhân kiêu nhưng không cảm thấy thư thái.

*Diễn ca: –

Quân tử thư thái hồn nhiên,
Không hề vênh váo rằng mình thảnh thơi.
Tiểu nhân ra vẻ hơn đời,
Nhưng lòng thấp thỏm sợ người khinh chê.

17A.

* Nguyên văn:-

荀子曰:聰明圣智,不以窮人;濟給速通,不爭先人;剛毅勇敢,不以傷人。不知則問,不能則學。雖能必讓,然后為德。

*Âm:-

Tuân Tử viết :Thông minh thánh trí, bất dĩ cùng nhân ;Tế cấp tốc thông, bất tranh tiên nhân ;Cương nghị dũng cảm, bất dĩ thương nhân. Bất tri tắc vấn, bất năng tắc học. Tuy năng tất nhượng, nhiên hậu vi đức.

*Dịch nghĩa: –

Tuân Tử (*) nói: Thông minh tài trí không lấy nó bắt chẹt người ta. Cứu giúp chu cấp mở lối thoát nhanh không nên lấy đấy lấn lướt người ta. Cương nghị dũng cảm, không nên lấy nó gây tổn thương người ta. Không biết thì hỏi, không có khả năng thì họ Tuy có khả năng nhưng phải khiêm nhường thì mới là có đức.

*Diễn ca: –

Thông minh tài trí hơn đời,
Ðừng đem đè bẹp những người vận đen.
Cứu người bế tắc, khó khăn,
Ðừng nên vin đó, tỏ rằng đàn anh.
Cương nghị, dũng cảm đã đành,
Ðừng nên đem nó gây thành tổn thương.
Không biết phải hỏi là thường,
Khả năng kém sút, tìm đường nâng cao.
Tài giỏi đạt đến bậc nào,
Khiêm nhường nếu kém, đức hao hụt liền.

*Chú thích:-

Tuân Tử: tên người đồng thời là tên tác phẩm Ðạo Ðức học 33 thiên. Ông tên Tuân Huống sống đồng thời với Mạnh Tử và đề xướng thuyết Tính Ác, đối lập thuyết Tính Thiện của Mạnh Tử. Ông quan niệm con người là kẻ ác bẩm sinh, không có giáo dục thì chỉ là dã thú.

VI – Tuyển dịch thiên thứ sáu: AN PHẬN

1A.

** Nguyên văn:-

景行錄云:知足常樂,多貪則憂。知足者貧賤亦樂,不知足者富貴亦憂。知足常足,終身不辱。知止常止,終身不恥。比上不足,比下有余。若比向下,心無有不足者。

*Âm: –

Cảnh Hạnh Lục vân :Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu. Tri túc giả bần tiện diệc lạc, bất tri túc giả phú quí diệc ưu. Tri túc thường túc, chung thân bất nhục .Tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ. Tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư. Nhược tỷ hướng hạ, tâm vô hữu bất túc giả .

** Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Biết đủ thường vui, tham nhiều thì lo. Kẻ biết đủ, nghèo hèn cũng vui, kẻ không biết đủ, giàu sang vẫn lo. Biết đủ thường đủ, trọn đời không nhụ Biết dừng luôn dừng được, trọn đời không xấu hổ. So lên không đủ, so xuống có dư. Nếu cứ hướng xuống, tâm không có cảm giác không đủ.

* Diễn ca: –

Biết đủ lòng thấy vui,
Quá tham mới lo sợ.
Biết đủ, nghèo vẫn vui,
Sợ thiếu, giàu vẫn khổ.
Biết đủ luôn thấy đủ,
Trọn đời chẳng nhuốc nhơ.
Biết dừng thường dừng được,
Trọn đời mặt đỡ trơ.
So lên, mình hơi thiếu,
So xuống, mình hơi thừa.
Cứ so xuống như thế,
Lòng ai thấy thiếu chưa?

—————
2A.

** Nguyên văn:-

子曰:富与貴是人之所慾也,不以其道得之,不處也。貧与賤是人之所惡也,不以其道得之,不去也。不義而富且貴,于我如浮云。

 *Âm:-

Tử viết :Phú dữ quí thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dã. Bần dữ tiện thị nhân chi sở ác dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khứ dã. Bất nghĩa nhi phú thả quí, vu ngã như phù vân.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Giàu với sang chính là cái người ta ham muốn (nhưng) không lấy đạo lý để có được nó thì chẳng nên ở vào cảnh ngộ ấy. Nghèo với hèn là cái ai cũng ghét (nhưng) không lấy đạo lý để ghét thì không bỏ cảnh ấy. Bất nghĩa mà vừa giàu vừa sang, đối với ta (chỉ) như mây trôi.

*Diễn ca: –

Ai mà chẳng thích giàu sang,
Thế nhưng lỗi đạo, chẳng màng mới nên.
Ai mà chẳng ghét nghèo hèn,
Ðạo trời bắt vậy, cố quen chẳng rời.
Giàu sang bất nghĩa trên đời,
Ta coi như đám mây trời nổi trôi.

3A.

* Nguyên văn:-

荀子曰:自知者不怨人,知命者不怨天。怨人者窮,怨天者無志。先義而后利者榮,先利而后義者辱。榮者常通,辱者常窮。通者常制人。窮者常制于人是榮辱之大分也。

*Âm:-

Tuân Tử viết :Tự tri giả bất oán nhân, tri mệnh giả bất oán thiên. Oán nhân giả cùng, oán thiên giả vô chí. Tiên nghĩa nhi hậu lợi giả vinh, tiên lợi nhi hậu nghĩa giả nhục. Vinh giả thường thông, nhục giả thường cùng. Thông giả thường chế nhân. Cùng giả thường chế vu nhân thị vinh nhục chi đại phận dã.

*Dịch nghĩa: –

Tuân Tử nói: Kẻ tự biết mình thì không oán người, kẻ hiểu mệnh thì không oán trời. Kẻ oán người thì khốn cùng. Kẻ oán trời thì không có chí. Kẻ nghĩ đến điều nghĩa trước, nghĩ đến điều lợi sau thì vinh. Kẻ nghĩ đến điều lợi trước, nghĩ đến điều nghĩa sau thì nhục. Kẻ vinh thường gặp thông thoáng, kẻ nhục thường gặp khốn cùng. Kẻ thông thoáng thường chế ngự được người ta, kẻ khốn cùng thường bị người ta chế ngự. Ðấy là sự phân biệt lớn giữa vinh với nhục vậy.

*Diễn ca: –

Biết mình thì chẳng oán người,
Biết vận mệnh chẳng oán trời làm chi.
Oán người thì khó gặp thì,
Oán trời, chí hướng khó bì nổi ai.
Lo nghĩa trước lợi mới oai,
Vinh quang tồn tại lâu dài thế gian.
Lo lợi trước nghĩa là tàn,
Nhục nhã cản trở bảo toàn thân danh.
Vinh quang mọi việc đều thành,
Nhục nhã cam đành bế tắc mà thôi.
Có thành mới khống chế người,
Bế tắc cả đời bị khống chế luôn.
Nhục vinh phân biệt đôi đường,
Là điều lớn nhất, phải thường lưu tâm.

————-
4A.

* Nguyên văn:-

子曰:君子固窮,小人窮廝濫矣。

*Âm:-

Tử viết :Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hĩ.

*Dịch nghĩa: –

Khổng Tử nói: Người quân tử bền lòng chịu bế tắc Kẻ tiểu nhân lạm dụng sự bế tắc.

*Diễn ca: –

Khốn cùng, quân tử bền lòng,
Tiểu nhân gặp khốn, chỉ mong làm xằng.
Khốn cùng nghị lực mới tăng,
Thói hư mới lộ, chê khen mới nhằm.

VII – Tuyển dịch thiên thứ bảy: TỒN TÂM

1A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:坐密室如通衢,馭吋心如六馬。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Toạ mật thất như thông cù, ngự thốn tâm như lục mã.

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Ngồi nhà kín như ngồi đường thông thoáng, điều khiển tấc lòng như đánh xe sáu ngựa.

*Diễn ca: –

Muốn giữ Tâm mãi còn trong sáng,
Ngồi phòng riêng, tưởng đứng Ngã năm.
Khách xuôi ngược, mắt đăm đăm,
Ðừng nghĩ âm thầm che mắt thế gian.
Kìm giữ Tâm lại càng thêm khó,
Như ngựa đàn tung vó kéo xe,
Ghìm cương buộc ngựa phải nghe,
Ghìm Tâm đừng sổng có bề khó hơn!

—————–

2A.

* Nguyên văn:-

擊壤詩云:

富貴如將智力求,
仲尼年少合封侯。
世人不解青天意,
空使身心半夜愁。

*Âm:-

Kích Nhưỡng Thi vân :

Phú quí như tương trí lực cầu,
Trọng Ni niên thiếu hợp phong hầu.
Thế nhân bất giải thanh thiên ý,
Không sử thân tâm bán dạ sầu .

* Dịch nghĩa:-

Thơ Kích Nhưỡng (*) nói: Nếu đem sức của trí tuệ mà tìm được giàu sang thì Trọng Ni (Khổng Tử) phù hợp việc phong hầu từ thời tuổi trẻ. Người đời không hiểu ý trời xanh nên để tâm mình buồn suông lúc nửa đêm.

*Diễn ca: –

Thông minh xoay nổi sang giàu,
Trọng Ni ắt đã phong hầu thời trai.
Hiểu ý trời, dễ mấy ai!
Thế nên lắm kẻ đêm dài xót xa.

*Chú thích:-

Thơ Kích Nhưỡng: Nhưỡng là nhạc cụ gõ thời cổ, làm bằng gốm. Người xưa gõ vào nhưỡng để đọc thơ, vè trong các cuộc vui dân gian. Lối diễn xuất ấy gọi là Kích Nhưỡng. Những bài hát ấy tập hợp thành Kích Nhưỡng thi.

3A.

* Nguyên văn:-

范忠宣公誡子弟曰:人雖至愚責人則明。雖有聰明恕己則昏。爾曹但當以責人之心責己,恕己之心恕人,不患不到聖賢地位也。

*Âm:-

Phạm Trung Tuyên Công giới tử đệ viết :Nhân tuy chí ngu trách nhân tắc minh. Tuy hữu thông minh thứ kỷ tắc hôn. Nhĩ tào đản đương dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ, thứ kỷ chi tâm thứ nhân, bất hoạn bất đáo thánh hiền địa vị dã.

* Dịch nghĩa:-

Phạm Trung Tuyên công dạy con em rằng: Người tuy rất ngu nhưng biết trách người thì sáng. Tuy có thông minh nhưng tha mình thì mê tối. Bọn ngươi chỉ nên đem cái lòng trách người để trách mình, cái lòng tha mình để tha người, không lo không đạt đến địa vị thánh hiền.

*Diễn ca: –

Dù ai ngu dốt đến đâu,
Trách người sai quấy, mình mau khôn dần.
Kẻ thông minh cũng hóa đần,
Nếu luôn tha thứ những lần mình sai.
Chỉ nên tha thứ lỗi ai,
Lỗi mình mình nhận, đáng vai thánh hiền.

————-

4A.

* Nguyên văn:-

子曰:聰明睿智,守之以愚;功被天下,守之以讓。勇力振世,守之以怯;富有四海,守之以謙。

*Âm:-

Tử viết :Thông minh duệ trí, thủ chi dĩ ngu ;Công bị thiên hạ, thủ chi dĩ nhượng. Dũng lực chấn thế, thủ chi dĩ khiếp ;Phú hữu tứ hải, thủ chi dĩ khiêm.

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Phải lấy vẻ ngu đần để giữ an toàn cho sự thông minh sắc sảo. Phải lấy sự nhún nhường để giữ an toàn cho cái công lao trùm thiên hạ. Phải giả bộ khiếp sợ để giữ an toàn cho sự dũng cảm rung đời. Hãy giữ vẻ khiêm tốn để giữ sự giàu có bốn biển.

*Diễn ca: –

Kẻ thông minh thật tuyệt vời,
Giả ngu thì mới sống đời bình yên.
Kẻ có công, muốn đỡ phiền,
Chớ nên khoe mẽ công mình lớn lao.
Sức thật khỏe, tài thật cao,
Làm bộ khiếp hãi, xiết bao an toàn!
Dẫu giàu ăn đứt thế gian,
Chịu lép giữ mạng, làm tàng dễ nguy.

5A.

* Nguyên văn:-

子貢曰:貧而無諂,富而無驕。

子曰:「貧而無怨難,富而無驕易。

*Âm:-

Tử Cống viết :[Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu .]

Tử viết :「Bần nhi vô oán nan, phú nhi vô kiêu dị.」

* Dịch nghĩa:-

Tử Cống (*) nói: Nghèo mà không siểm nịnh, giàu mà không kiêu.

Khổng Tử nói: Nghèo mà không oán thì khó. Giàu mà không kiêu thì dễ.

*Diễn ca: –

Sống trên đời kẻ nghèo không nịnh,
Giàu không kiêu, mới chính kẻ hay.
Nghèo mà không oán mới hay,
Giàu không kiêu, tập được ngay, khó gì!

*Chú thích:-

Tử Cống: tên thật là Ðoan Mộc Tứ (520 trước Công Nguyên – ?) học trò xuất sắc của Khổng Tử, có tài kinh doanh.

—————-

6A.

* Nguyên văn:-

古人形似獸,心有大聖德。今人表似人,獸心安可測。有心無相,相自心生,有相無心,相從心滅。

*Âm:-

Cổ nhân hình tự thú, tâm hữu đại thánh đức. Kim nhân biểu tự nhân, thú tâm an khả trắc. Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh, hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt .

* Dịch nghĩa:-

Người xưa hình dáng tựa thú nhưng tâm có đức độ của bậc đại thánh. Người nay bề ngoài tựa người nhưng tâm địa của loài thú đâu lường xiết? Có tâm không có tướng, tướng sẽ được tâm sinh cho. Có tướng mà không có tâm, tướng sẽ mất theo tâm.

*Diễn ca: –

Người xưa trông tựa thú hoang,
Cái tâm thánh thiện sáng trong giữa đời.
Người nay đúng thật dáng người,
Lòng lang dạ sói có thừa đấy thôi!
Tâm tốt, hình dáng khó coi,
Rõ tâm, ai xét bề ngoài làm chi?
Mẽ ngoài dầu có uy nghi,
Nhưng tâm đen tối, còn gì mà mong?

7A.

* Nguyên văn:-

人皆道我拙,我亦自道拙。有耳常如聾,有口不會說,你自逞豪強,橫豎有一跌。吃跌教君思,反不如我拙,百巧百成不如一拙。未來休指望,過去莫思量。

*Âm:-

Nhân giai đạo ngã chuyết, ngã diệc tự đạo chuyết. Hữu nhĩ thường như lung, hữu khẩu bất hội thuyết, nễ tự sính hào cường, hoành thụ hữu nhất điệt. Ngật điệt giáo quân tư, phản bất như ngã chuyết, bách xảo bách thành bất như nhất chuyết. Vị lai hưu chỉ vọng, quá khứ mạc tư lương.

* Dịch nghĩa:-

Người đều nói ta vụng, ta cũng nói ta vụng. Có tai thường như điếc, có miệng không biết nói. Mày tự cho giỏi mạnh, bề nào cũng có một lần vấp ngã. Vấp ngã để ngươi nghĩ ra rằng không bằng ta vụng. Trăm khéo trăm nên không bằng một vụng. Cái chưa đến, đừng trông chờ, cái đã qua không lo tính.

*Diễn ca: –

Người chê ta vụng – Xin vâng!
Nghe thì vô ích, nói năng được gì?
Người tự hào chẳng ai bì,
Bề gì lại chẳng có khi lỡ lầm?
Người vấp ngã mới định tâm,
Nhận ra ta vụng có phần tốt thay.
Một vụng ăn đứt trăm hay,
Cả quá khứ, cả tương lai, mặc đời.

Chú ý: Ðoạn này chỉ minh họa chủ thuyết Vô Vi của Ðạo Giáo, mâu thuẫn với chủ thuyết trung hiếu của sách.

——————-
8A.

* Nguyên văn:-

常將有日思無日,
莫待無時思有時。
有錢常記無錢日,
安樂常思病患時。

*Âm:-

Thường tương hữu nhật tư vô nhật,
Mạc đãi vô thời tư hữu thời.
Hữu tiền thường ký vô tiền nhật,
An lạc thường tư bệnh hoạn thời .

* Dịch nghĩa:-

Thường đem ngày có nhớ ngày không có, đừng đợi lúc không có nhớ lúc có. Có tiền thường nhớ ngày không tiền, yên vui nên phòng lúc hoạn bệnh.

*Diễn ca: –

Ngày có nghĩ đến ngày không,
Ðừng đợi lúc hết, nhớ nhung lúc còn.
Túi đầy nhớ túi rỗng không,
Yên vui cần phải đề phòng ốm đau.

9A.

* Nguyên văn:-

素書云:薄施厚望者不報,貴而忘賤者不久。求人需求大丈夫,濟人須濟急時無。施恩勿求報,與人勿追悔。寸心不昧,萬法皆明。

*Âm:-

Tố Thư vân :Bạc thi hậu vọng giả bất báo, quí nhi vong tiện giả bất cửu. Cầu nhân nhu cầu đại trượng phu, tế nhân tu tế cấp thời vô. Thi ân vật cầu báo, dữ nhân vật truy hối. Thốn tâm bất muội, vạn pháp giai minh .

* Dịch nghĩa:-

Sách Tố Thư nói: Kẻ làm ơn ít ỏi mà mong đền ơn hậu hĩ là không đáng đền đáp. Kẻ sang mà quên lúc hèn là bất nghĩa. Cầu cứu người khác thì nên tìm bậc đại trượng phu, giúp người nên giúp khi người túng ngặt nhất thời. Làm ơn không cầu báo đáp, cho người thì đừng tiếc nuối. Lòng không ám muội thì mọi cách trên đều trong sáng.

*Diễn ca: –

Cho khế chớ mong trả vàng,
Bất nghĩa là kẻ khi sang quên hèn.
Cậy nhờ, tránh kẻ nhỏ nhen,
Cứu giúp, chọn kẻ khó khăn nhất thời.
Ðã cho, đừng tiếc ai ơi,
Ðã làm ơn, chớ mong người trả ơn.
Cái Tâm đừng tính thiệt hơn,
Mọi điều trong sáng như gương cả mà!

——————-

10A.

* Nguyên văn:-

孫思邈曰:膽欲大而心欲小,智欲圓而行欲方。唸唸有如臨敵日,心心常似過橋時。

*Âm:-

Tôn Tư Mạo viết :Đảm dục đại nhi tâm dục tiểu, trí dục viên nhi hành dục phương. Niệm niệm hữu như lâm địch nhật, tâm tâm thường tự quá kiều thời .

* Dịch nghĩa:-

Tôn Tư Mạo (*) nói: Mật phải muốn lớn mà Tâm phải muốn nhỏ, Trí phải muốn tròn mà Hạnh phải muốn vuông. Ý luôn luôn nghĩ như ngày gặp địch, Tâm thường thấp thỏm như lúc qua cầu.

*Diễn ca: –

Mật phải lớn mà Tâm phải nhỏ,
Trí phải tròn mà Hạnh phải vuông.
Lo như thấy giặc vào vườn,
Sợ như cầu khỉ ngày thường phải qua.

*Chú thích:-

Tôn Tư Mạo: danh y thông thái đời Ðường đồng thời là Ðạo gia tên tuổi, được suy tôn là Tôn chân nhân.

Hàm ý ở đây là: Con người cần phải “lớn” mật để dám nghĩ, dám làm đại sự cho đời, cho mình, mới nuôi được chí lớn. Cái Tâm phải “nhỏ” mới phát huy được lòng tử tế thực thụ (nghĩa gốc của Tử là bé bỏng, nhỏ nhắn, Tế là tinh tường, nhỏ nhoi).

Trí phải “tròn” thì mới lăn được khắp nơi, mới chu toàn, chu đáo mọi việc (nghĩa gốc: chu là vòng quanh, toàn là đầy đủ, đáo là đến).

Hạnh phải “vuông” thì mới ổn định, không lập lờ, xử sự mới dứt khoát bằng tinh thần “bánh chưng ra góc”.

11A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:誠無悔,恕無怨,和無仇,忍無辱。懼法朝朝樂,欺公日日憂。小心天下去得,氣剛寸步難移。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Thành vô hối, thứ vô oán, hoà vô cừu, nhẫn vô nhục. Cụ pháp triêu triêu lạc, khi công nhật nhật ưu. Tiểu tâm thiên hạ khứ đắc, khí cương thốn bộ nan di .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Thành thực thì không gặp lúc đen tối, dung thứ thì không gây căm oán, hòa hảo thì không tạo thù hận, nén nhịn thì sẽ không gặp nhục nhã. Sợ phép nước sáng nào cũng vui. Khinh nhờn cửa công thì ngày nào cũng lo âu. Lòng thận trọng thì đi khắp thiên hạ cũng được, khí khái cứng cỏi thì đi một bước nhỏ cũng khó khăn.

*Diễn ca: –

Chân thành đỡ gặp âm mưu,
Rộng lượng tha thứ, oán cừu ít sinh.
Ai thù chi kẻ hiền lành?
Người khéo nín nhịn đỡ thành nhuốc nhơ.
Sợ phép nước, sống phởn phơ,
Nhờn cửa quan, chẳng bao giờ được yên.
Thận trọng dễ dạo khắp miền,
Cứng đầu, một bước gặp phiền phức ngay.

——————–

12A.

* Nguyên văn:-

朱子曰:守口如瓶,防意如城。是非只為多開口,煩惱皆因強出頭。

*Âm:-

Chu Tử viết :thủ khẩu như bình, phòng ý như thành. Thị phi chỉ vi đa khai khẩu, phiền não giai nhân cưỡng xuất đầu .

* Dịch nghĩa:-

Chu Tử (*) nói: Giữ miệng như miệng bình, phòng ý như có thành che. Phải quấy chỉ vì mở miệng nhiều. Phiền não đều tại gắng ép ra mặt.

*Diễn ca: –

Biết điều, bưng kín miệng bình,
Giữ ý như đặt trong thành chở che.
Cãi nhau vì nói khó nghe,
Bực vì ương bướng chẳng hề nhịn nhau.

*Chú thích:-

Chu Tử: Tên thực là Chu Hi (1130 – 1200) đỗ tiến sĩ, làm quan trải 4 đời vua Tống. Ông là nhân vật tiêu biểu cho nho học đời Tống, qui tụ nhiều danh nho uyên bá Vua Khang Hi (Thanh Thánh Tổ (1662 – 1722) đã thờ chung ông vào nhóm Thập triết 10 đại đệ tử của Khổng Tử) Ông cũng được gọi là Chu Văn Công, tự Nguyên Hối, Trọng Hối, Hối Ông.

13A.

* Nguyên văn:-

素書云:有過不知者自蔽之也,以言取怨者之禍也。

*Âm:-

Tố Thư vân :Hữu quá bất tri giả tự tế chi dã, dĩ ngôn thủ oán giả chi hoạ dã .

* Dịch nghĩa:-

Sách Tố Thư nói: Kẻ có lỗi mà không biết là tự che vậy. Kẻ dùng lời nói chuốc oán là tự gây họa vậy.

*Diễn ca: –

Lỗi mình đã rõ sờ sờ,
Nếu không nhận biết là nhờ ém đi.
Nói lời gây oán làm chi!
Tự mình chuốc họa, khôn gì mà khôn?

—————-

14A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:貪是逐物於外,欲是情動於中。君子愛財,取之有道。君子憂道不憂貧,君子謀道不謀食。君子坦蕩蕩,小人長慼慼。量大福亦大。機深禍亦深。莫為福首,莫作禍先。各人自掃門前雪,莫管他人屋上霜。心不負人,面無慚色。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Tham thị trục vật ư ngoại, dục thị tình động ư trung. Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo. Quân tử ưu đạo bất ưu bần, quân tử mưu đạo bất mưu thực. Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhân trường thích thích. Lượng đại phước diệc đại. Cơ thâm hoạ diệc thâm. Mạc vi phước thủ, mạc tác hoạ tiên. Các nhân tự tảo môn tiền tuyết, mạc quản tha nhân ốc thượng sương. Tâm bất phụ nhân, diện vô tàm sắc .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Tham là đuổi bắt vật ở ngoài. Muốn là tình động ở trong. Quân tử yêu của nhưng lấy nó có đạo lý. Quân tử lo đạo chứ không lo nghèo. Quân tử mưu tính đạo lý chứ không mưu tính cái ăn. Quân tử bình thản thênh thang, tiểu nhân buồn lây lất. Lượng lớn phước cũng lớn, mưu sâu họa cũng sâu. Ðừng làm kẻ hưởng phước đầu tiên, đừng làm kẻ gây họa trước hết. Mỗi người tự quét tuyết trước cửa, đừng bận tâm sương phủ mái nhà người khác. Lòng không phụ người thì mặt không có sắc thẹn.

*Diễn ca: –

Tham là vơ vét của đời,
Muốn là rạo rực chính nơi lòng mình.
Của tiền, quân tử chẳng khinh,
Chỉ là tham muốn hợp tình mà thôi.
Quân tử vui với đạo trời,
Nghèo nàn cam chịu, chẳng lời thở than.
Lo đạo, chẳng lo cái ăn,
Lòng luôn bình thản, khó khăn mặc đời.
Tiểu nhân buồn bực không ngơi,
Ðộ lượng càng lớn, phước đời càng to.
Tâm cơ sâu, họa đáng lo,
Dù họa dù phước chớ so hơn người.
Việc mình lo tốt mười mươi,
Ðừng mãi chê cười thiên hạ xấu xa.
Lòng mình chẳng phụ người ta,
Khỏi lo ngượng với kẻ xa người gần…

15A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:休恨眼前田地窄,退後一步自然寬。世無百歲人,枉作千年計。兒孫自有兒孫福,莫把兒孫作馬牛。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Hưu hận nhãn tiền điền địa trách, thoái hậu nhất bộ tự nhiên khoan. Thế vô bách tuế nhân, uổng tác thiên niên kế. Nhi tôn tự hữu nhi tôn phước, mạc bả nhi tôn tác mã ngưu.

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Ðừng hận ruộng trước mắt hẹp, bước lùi một bước tự nhiên thấy rộng ra. Ðời không có người trăm tuổi (Thế mà có kẻ) uổng công làm kế hoạch nghìn năm. Con cháu tự có phước của con cháu. (Cha ông) đừng vì con cháu mà làm trâu ngựa.

*Diễn ca: –

Nhìn trước mắt, ruộng đồng quá hẹp,
Lùi bước chân, rộng đẹp ngay ra.
Mấy ai trăm tuổi đâu mà!
Hòng chi nghìn tuổi, thật là viển vông!
Cháu con có phước cháu con,
Bắt làm trâu ngựa, đời còn gì vui?

———————

16A.

* Nguyên văn:-

世上無難事,都來心不專。寧結千人意,莫結一人冤。忍難忍之事,恕不明之人。規小節者不能成榮名。惡小恥者不能成大功。無求勝佈施,謹守勝持齋。言輕莫勸鬧,無錢莫請人。

*Âm:-

Thế thượng vô nan sự, đô lai tâm bất chuyên. Ninh kết thiên nhân ý, mạc kết nhất nhân oan. Nhẫn nan nhẫn chi sự, thứ bất minh chi nhân. Quy tiểu tiết giả bất năng thành vinh danh. Ác tiểu sỉ giả bất năng thành đại công. Vô cầu thắng bố thí, cẩn thủ thắng trì trai. Ngôn khinh mạc khuyến náo, vô tiền mạc thỉnh nhân .

* Dịch nghĩa:-

Trên đời không việc khó, chỉ khó do không chuyên tâm. Thà kết ý nghìn người chứ không kết oán với một người. Nhịn thứ việc khó nhịn, tha cho người không sáng suốt. Kẻ khép mình vào những qui định nhỏ nhặt không làm được chuyện vang danh. Kẻ ghét sự xấu hổ vặt vãnh không làm nên công lớn. Không cầu xin hay hơn bố thí. Giữ cẩn thận hay hơn ăn chay. Nói năng hời hợt thì đừng huênh hoang tranh biện, không tiền bạc chớ nên mời khách.

*Diễn ca: –

Ở đời việc khó có là bao!
Chỉ tại người không để ý vào.
Chiều ý nghìn người là việc đúng,
Chớ nên trái ý một ai nào.
Nhịn giỏi, nhìn điều gay khó nhất,
Tha hay, tha kẻ hiểu lơ mơ.
Trách vặt, khó nên vinh dự lớn,
E dè thẹn nhỏ, chẳng công to.
Không thèm cầu cạnh hơn ban phát,
Khéo giữ, chay đàn đỡ phải lo.
Lời mọn đừng nên ầm ỹ lắm,
Không tiền, mời khách chẳng hay ho.

17A.

* Nguyên văn:-

寇萊公六悔銘:官行私曲失時悔。富不儉用貧時悔。勢不少惜,過時悔。見事不學,用時悔。酒後狂言,醒時悔。安不得息,病時悔。

*Âm:-

Khấu Lai Công “Lục Hối Minh” :

Quan hành tư khúc thất thời hối .
Phú bất kiệm dụng bần thời hối.
Thế bất thiếu tích, quá thời hối.
Kiến sự bất học, dụng thời hối.
Tửu hậu cuồng ngôn, tỉnh thời hối.
An bất đắc tức, bệnh thời hối .

* Dịch nghĩa:-

Bài minh “Sáu điều hối hận” của Khấu Lai Công (*) viết:

– Ở chức quan làm điều quanh co tư túi, lúc mất quan thì hối hận.

– Giàu có không tiêu dùng tiện tặn, lúc nghèo thì hối hận.

– Có thế lực không tiếc một chút, lúc phạm lỗi thì hối hận.

– Thấy việc không học, đến lúc cần dùng thì hối hận.

– Sau khi uống rượu buông lời cuồng ngông, lúc tỉnh lại hối hận.

– Lúc yên ổn không nghỉ ngơi, khi đau ốm lại hối hận.

*Diễn ca: –

Làm quan vun vén riêng tư,
Mất quan mới hối, ngồi thừ thở ra.
Lúc giàu, thỏa sức tiêu pha,
Ðến khi nghèo túng, xót xa làm gì!
Ðắc thế chẳng chút nể vì,
Phạm lỗi mới hối, “thế” đi mất rồi!
Việc đáng học, cứ buông xuôi,
Ðến khi gặp việc, làm hư lại buồn.
Khi say, lảm nhảm ngông cuồng,
Tỉnh ra lại hối hận suông, lộn giờ!
Lúc yên chẳng chịu nghĩ ngơi,
Bê tha bệnh hoạn, hối thời vô phương.

*Chú thích:-

Khấu Lai Công: tức Khấu Chuẩn (961 – 1023). Tể tướng đời Tống, theo vua Chân Tông đi đánh Khiết Ðan (nước Liêu) được phong tước Lai Quốc Công nên gọi tắt là Khấu Lai Công.

——————-

18A.

* Nguyên văn:-

孫景初安樂法:粗茶淡飯,飽即休。補破遮寒暖即休。三平二滿,過即休。不貪不妬,老即休。

*Âm:-

Tôn Cảnh Sơ an lạc pháp :

Thô trà đạm phạn, bão tức hưu.
Bổ phá già hàn noãn tức hưu.
Tam bình nhị mãn, quá tức hưu.
Bất tham bất đố, lão tức hưu .

* Dịch nghĩa:-

Phép yên vui của Tôn Cảnh Sơ là: Trà thô cơm nhạt, no thì thôi. Vá chỗ rách, che chỗ rét, ấm thì thôi. Nếu ba phần mới vừa nhưng chỉ thỏa mãn được hai, qua rồi thì thôi. Không tham lam, không ghen ghét, già rồi thì thôi.

*Diễn ca: –

Chẳng đòi đặc sản, danh trà,
Cứ no cái bụng là ta vừa lòng.
Áo rách vá lại là xong,
Gió lùa che kỹ, chẳng mong lắm tầng.
Việc đời đòi hỏi ba phần,
Hai phần thỏa mãn, chẳng cần hỏi thêm.
Tham lam, ganh tị đừng thèm,
Chỉ mong nhẹ nhõm ngày đêm đến già.

19A.

* Nguyên văn:-

益智書云:寧無事而家貧,莫有事而家富。寧無事而住茅屋,莫有事而住金玉。寧無病而食粗飯,莫有病而食良藥。

*Âm:-

 Ích Trí Thư vân :

Ninh vô sự nhi gia bần, mạc hữu sự nhi gia phú.
Ninh vô sự nhi trú mao ốc, mạc hữu sự nhi trú kim ngọc.
Ninh vô bệnh nhi thực thô phạn, mạc hữu bệnh nhi thực lương dược .

* Dịch nghĩa:-

Sách Ích Trí nói: Thà vô sự mà nhà nghèo, không hữu sự mà nhà giàu. Thà vô sự mà ở lều tranh, không hữu sự mà ở nơi vàng ngọ Thà không bệnh mà ăn cơm hẩm hơn có bệnh mà dùng thuốc hay.

*Diễn ca: –

Thà là vô sự sống nghèo,
Không thèm hữu sự sống theo cảnh giàu.
Tranh tre trống trước hở sau,
Không thèm hữu sự chuốt trau ngọc vàng.
Cơm hẩm xơi lúc bình an,
Còn hơn bệnh tật thuốc thang đắt tiền.

—————

20A.

* Nguyên văn:-

心安茅屋穩,性定菜根香。世事靜方見,人情淡始長.

*Âm:-

Tâm an mao ốc ổn, tính định thái căn hương. Thế sự tĩnh phương kiến, nhân tình đạm thuỷ trường .

* Dịch nghĩa:-

Tâm yên thì ở nhà tranh cũng ổn. Tính ổn định thì ăn rễ rau cũng thấy thơm. Việc đời phải yên tĩnh mới thấy rõ. Tình người nhạt nhẽo mới lâu dài.

*Diễn ca: –

Tâm mà yên, lều tranh cũng ổn,
Tính vững vàng, rễ cải cũng thơm.
Lúc thanh tĩnh, rõ đời hơn,
Tình người thoang thoảng mới thơm lâu dài.

(còn tiếp)

nhuocthuy:
(tiếp theo)

21A.

* Nguyên văn:-

風波境界立身難,
處世規模要放寬。
萬事盡從忙裡錯,
此心須向靜中安。
路當平處更行穩,
人有常情耐久看,
直到始終無悔吝,
才生枝節便多端。

*Âm:-

Phong ba cảnh giới lập thân nan,
Xử thế qui mô yếu phóng khoan.
Vạn sự tận tùng mang lý thác,
Thử tâm tu hướng tĩnh trung an.
Lộ đương bình xứ cánh hành ổn,
Nhân hữu thường tình nại cửu khan.
Trực đáo thủy chung vô hối lận,
Tài sinh chi tiết tiện đa đoan .

* Dịch nghĩa:-

Trong cảnh sóng gió lập thân khó. Cung cách ở đời cần phải buông thoáng. Muôn việc nhầm lẫn đều do vội vàng. Cái Tâm cần hướng đến sự nhàn nhã trong yên tĩnh. Ðường gặp chỗ bằng phẳng người đi mới ổn. Người có giữ tính bình thường thì mới chịu đựng được nhìn nhau lâu. Thẳng thắn từ trước đến sau mới không hối tiếc, mới không sinh cành nhánh lắm mối rối ren.

*Diễn ca: –

Trong sóng gió lập thân mới khó,
Nên ở đời chớ có bôn chôn.
Vội vàng thường hỏng việc luôn,
Nên chi cần giữ cho lòng lặng an.
Ði an toàn nhờ đường bằng phẳng,
Hiểu tình nhau mới đặng bền lâu.
Muốn đừng hối hận trước sau,
Chớ sinh lắm chuyện không đâu gây phiền.

—————–

22A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:責人者不全交,自恕者不改過。有勢不要使人承,落得孩兒叫小名。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Trách nhân giả bất toàn giao, tự thứ giả bất cải quá. Hữu thế bất yếu sử nhân thừa, lạc đắc hài nhi khiếu tiểu danh .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ trách người là không biết kết giao hết lòng. Kẻ tự tha mình thì không sửa lỗi. Có thế lực không được buộc người ta kẻo khi rơi khỏi đấy bị trẻ con réo tên thời bé.

*Diễn ca: –

Trách nhau bất cứ dịp nào,
Những người như thế, kết giao khó toàn.
Lỗi mình đã quá rõ ràng,
Xuê xoa thì muốn đàng hoàng còn lâu!
Ðang khi thế lớn quyền cao,
Ðừng bắt thiên hạ bảo sao phải chiều.
Kẻo khi quyền thế tiêu điều,
Trẻ con nhờn mặt bao nhiêu thì nhờn!

23A.

* Nguyên văn:-

君子成人之美,不成人之惡。小人反是。

*Âm:-

 Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Người quân tử làm thành cái tốt cho người, không làm thành cái xấu cho người. Kẻ tiểu nhân thì trái lại.

*Diễn ca: –

Quân tử nghĩ tốt cho người,
Không tìm sơ hở chê cười nhỏ nhen.
Tiểu nhân kể xấu thành quen,
Tưởng chê thiên hạ, cái khen về mình.

——————-

24A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:君子不怨天,不尤人。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Quân tử bất oán thiên, bất vưu nhân .

* Dịch nghĩa:-

Mạnh Tử nói: Người quân tử không oán trời, không trách người.

*Diễn ca: –

Nên, hư, quân tử trách mình,
Với trời không oán, chẳng sinh trách người.

25A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:夙興夜寐所思忠孝者,人不知天必知之。飽食暖衣怡然自衛者,身雖安其如子孫何?以愛妻子之心事親則盡孝,以保富貴之心事君則盡忠。以責人之心責己則寡過,以恕己之心恕人則全交。爾謀不及告之何及?爾見不長告之何益?利心專則背道,私意確則滅公。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Túc hưng dạ mị sở tư trung hiếu giả, nhân bất tri thiên tất tri chi .Bão thực noãn y di nhiên tự vệ giả, thân tuy an kỳ như tử tôn hà ?Dĩ ái thê tử chi tâm sự thân tắc tận hiếu, dĩ bảo phú quí chi tâm sự quân tắc tận trung. Dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ tắc quả quá, dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân tắc toàn giao. Nhĩ mưu bất cập cáo chi hà cập ?Nhĩ kiến bất trường cáo chi hà ích ?Lợi tâm chuyên tắc bối đạo, tư ý xác tắc diệt công .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ suốt ngày chỉ nghĩ đến điều trung hiếu người không biết nhưng trời tất biết. Kẻ chỉ biết hớn hở bám lấy ăn no mặc ấm, thân tuy yên nhưng con cháu họ mới sao? Ðem cái lòng yêu vợ con mà thờ cha mẹ tất trọn hiếu, đem cái lòng giữ gìn giàu sang ra thờ vua thì sẽ tận trung, đem cái lòng trách người ra trách mình thì ít lỗi, đem cái lòng tha mình ra tha người thì trọn nghĩa giao du.

Ngươi tính chưa đến thế, ta báo cho ngươi chắc gì ngươi hiểu đến thế? Ngươi tính chưa lâu dài, báo cho ngươi (tính lại) chắc gì có ích? Chăm chăm đeo đuổi lòng ham lợi thì phản bội đạo lý. Ý riêng đã bền chắc thì tiêu diệt lẽ công.

*Diễn ca: –

Chăm chăm trung hiếu đêm ngày,
Người dù chưa rõ, trời hay biết liền.
Chăm chăm no ấm cho mình,
Mai sau ai biết sự tình cháu con?
Thứ tình yêu vợ thương con,
Ðem thờ cha mẹ hiếu tròn vẹn ngay.
Bo bo phú quí khôn lay,
Thờ vua được vậy, tôi ngay nhất đời!
Trách người một, trách mình mười,
Sẽ ít sai quấy, người đời ngợi khen.
Với mình tha thứ vốn quen,
Với người cũng vậy, giao tình bền lâu.
Nếu ngươi chưa chịu nghĩ sâu,
Giảng cho ngươi biết, ngươi đâu… học bài?
Ngươi vụng tính kế lâu dài,
Giảng ra ngươi hẳn chê bai lắm điều.
Ham lợi lắm, lỗi đạo nhiều,
Ý riêng bám chặt, tiêu điều lẽ chung…

—————-

26A.

* Nguyên văn:-

會做快活人,凡事莫生事。
會做快活人,省事莫惹事。
會做快活人,大事化小事。
會做快活人,小事化沒事。

*Âm:-

Hội tố khoái hoạt nhân, phàm sự mạc sinh sự.
Hội tố khoái hoạt nhân, tỉnh sự mạc nặc sự.
Hội tố khoái hoạt nhân, đại sự hoá tiểu sự.
Hội tố khoái hoạt nhân, tiểu sự hoá một sự .

* Dịch nghĩa:-

Người hiểu lẽ vui sống, việc đừng đẻ thêm việc. Người hiểu lẽ vui sống, bớt việc không bày việc. Người hiểu lẽ sống vui, việc lớn hóa việc nhỏ. Người hiểu lẽ sống vui việc nhỏ hóa không việc.

*Diễn ca: –

Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Ðừng nên làm việc đẻ thêm cho.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Ðừng quen trò việc bé xé to.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Gặp việc to, thu bé cho xong.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Việc nhỏ nhoi, coi nhẹ bằng không.

******

VII – Tuyển dịch thiên thứ tám: GIỚI TÍNH

1A.

* Nguyên văn:-

景 行錄云:人性如水,水一傾則不可復,性一縱則不可反。制水者必以堤防,制性者必以禮法。忍一時之氣,免百日之憂。得忍且忍,得戒且戒。不忍不戒,小事成 大。一切諸煩惱,皆從不忍生。臨機與對境,妙在先見明,佛語在無諍,儒書貴無爭。好條快活路,世上少人行。忍是心之寶,不忍身之殃。舌柔常在口,齒折只為 剛。思量這忍字,好個快活方,愚濁生嗔怒,皆因理不通,休添心上焰,只作耳邊風。長短家家有,炎涼處處同。是非無實相,究竟終成空。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Nhân tính như thuỷ, thuỷ nhất khuynh tắc bất khả phục, tính nhất túng tắc bất khả phản. Chế thuỷ giả tất dĩ đê phòng, chế tính giả tất dĩ lễ pháp. Nhẫn nhất thời chi khí, miễn bách nhật chi ưu. Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc giới thả giới. Bất nhẫn bất giới, tiểu sự thành đại. Nhất thiết chư phiền não, giai tùng bất nhẫn sinh. Lâm cơ dữ đối cảnh, diệu tại tiên kiến minh, Phật ngữ tại vô tranh, Nho thư quí vô tranh. Hảo điều khoái hoạt lộ, thế thượng thiếu nhân hành. Nhẫn thị tâm chi bảo, bất nhẫn thân chi ương. Thiệt nhu thường tại khẩu, xỉ chiết chỉ vi cương. Tư lương giá nhẫn tự, hảo cá khoái hoạt phương, ngu trọc sinh sân nộ, giai nhân lý bất thông, hưu thiêm tâm thượng diễm, chỉ tác nhĩ biên phong. Trường đoản gia gia hữu, viêm lương xứ xứ đồng. Thị phi vô thực tướng, cứu cánh chung thành không .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Tính người như nước, nước một khi nghiêng trút thì không thể trở lại được, tính một khi buông thả thì không thể trở về đượ Ngăn nước phải dùng đê ngừa, giữ tính phải dùng lễ phép. Nhịn cơn giận một lúc, đỡ bị mối lo trăm ngày. Nhịn được thì nhịn, ngừa được thì ngừa. Không nhịn không ngừa, việc nhỏ thành lớn. Tất cả mọi phiền não đều xảy ra từ chỗ không nhịn. Gặp cơ hội cùng đối đầu cảnh ngộ điều kỳ diệu là ở chỗ sáng suốt nhận thấy trước. Lời Phật quý ở không cãi, sách nho quý ở không tranh. Lối dài đường vui sống, trên đời ít người đi. Nhịn là của báu của thân, không nhịn là tai ương của thân. Lưỡi mềm thường ở miệng, răng gãy chỉ vì cứng. Nghĩ ra chữ Nhịn ấy là phương thuốc hay cho việc vui sống. Ngu đục sinh giận dữ đều do lẽ chẳng thông suốt. Ðừng thêm lửa lên Tâm, chỉ nên làm gió bên tai. Hay dở thì nhà nào cũng có, nóng lạnh nơi nào cũng như nhau. Phải quấy không có bộ mặt thật, cuối cùng tất cả đều trống rỗng.

*Diễn ca: –

Nước đã trút khó bề hốt lại,
Tính đã buông, lỡ dại khó khôn.
Ðắp đê chận nước là hơn,
Ðem lễ phép chận những cơn ngông cuồng.

Nén cơn giận cắt nguồn lo lắng,
Biết dè chừng, việc chẳng xé to.
Ðối đầu cảnh ngộ phải lo,
Sáng suốt nhận rõ gay go từ đầu.

Lời Phật dạy biết câu nhượng bộ,
Ðạo nho khuyên hãy cố đừng tranh.
Ðường đời vui, vắng bộ hành,
Nhịn là của báu trời dành cho ta.

Không nhịn nổi ấy là tai họa,
Lưỡi nhờ mềm nên đã còn nguyên.
Cứng như răng, bị gãy liền,
Gẫm ra giỏi nhịn là niềm sống vui.

Nghĩ những kẻ vừa ngu vừa đục,
Dễ giận hờn, đầu óc khó thông.
Chớ nên thêm lửa vào lòng,
Thị phi như gió, thổi xong là rồi.

Tình ấm lạnh mọi nơi đều có,
Chuyện dở hay nhà đó như đây.
Chẳng gì chắc chắn xưa nay,
Cuối cùng mọi chuyện có ngày rỗng không.

2A.

* Nguyên văn:-

子張欲行,辭於夫子願賜一言為修身之要。夫子曰:百行之本,忍之為上。子張曰:何為忍之?夫子曰:天子忍之,國無害,諸侯忍之,成其大,官吏忍之,進其位,兄弟忍之,家富貴。夫婦忍之,終其世,朋友忍之,名不廢。自身忍之,無禍患。
子張曰:不忍何如?

夫子曰:天子不忍,國空虛。,諸侯不忍,喪其軀,官吏不忍,刑罰誅,兄弟不忍,各分居,夫妻不忍,情意疏,自身不忍,患不除。

*Âm:-

Tử Trương dục hành, từ ư Phu Tử nguyện tứ nhất ngôn vi tu thân chi yếu.
Phu Tử viết :Bách hạnh chi bản, nhẫn chi vi thượng.
Tử Trương viết :Hà vi nhẫn chi ?
Phu Tử viết :Thiên tử nhẫn chi, quốc vô hại, chư hầu nhẫn chi, thành kỳ đại, quan lại nhẫn chi, tiến kỳ vị, huynh đệ nhẫn chi, gia phú quí, phu phụ nhẫn chi, chung kỳ thế, bằng hữu nhẫn chi, danh bất phế. Tự thân nhẫn chi, vô hoạ hoạn.

Tử Trương viết :Bất nhẫn hà như ?

Phu Tử viết :Thiên tử bất nhẫn, quốc không hư. Chư hầu bất nhẫn, táng kỳ khu, quan lại bất nhẫn, hình phạt tru, huynh đệ bất nhẫn, các phân cư, phu thê bất nhẫn, tình ý sơ, tự thân bất nhẫn, hoạn bất trừ.

* Dịch nghĩa:-

Tử Trương (*) sắp lên đường, đến từ biệt Phu Tử xin ban cho một lời làm điều cốt yếu để sửa mình.
 Phu Tử nói: Gốc của trăm nết, Nhịn là đứng đầu.
Tử Trương nói: Nhịn thì thế nào ạ?
Phu Tử nói: Bậc thiên tử nhịn được, nước không thiệt hại, vua chư hầu nhịn được, làm nên việc lớn, quan lại nhịn được, địa vị tiến xa. Anh em nhịn được, nhà giàu có. Vợ chồng nhịn được, ăn ở trọn đời. Bạn bè nhịn được, danh nghĩa không bị vứt bỏ. Bản thân nhịn được, không gặp tai họa.

Tử Trương nói: Không nhịn thì thế nào ạ?
Khổng Tử đáp: Thiên tử không nhịn, nước trống rỗng, chư hầu không nhịn, tự mất xác, quan lại không nhịn, hình phạt giết, anh em không nhịn được, tách ra riêng, vợ chồng không nhịn được, tình nghĩa rời, bản thân không nhịn được, hoạn nạn không dứt.

*Diễn ca: –

Tử Trương cung kính hỏi Thầy:
Sửa mình cần giữ điều gì mới an?
Khổng Tử nói: Khắp thế gian,
Chỉ cần biết “nhẫn” là an tình hình.
Thiên tử “nhẫn”, nước thanh bình,
Chư hầu “nhẫn”, địa phương mình mở mang.
Quan “nhẫn” địa vị thêm sang,
Anh em “nhẫn” cảnh nhà càng giàu ra.
Vợ chồng “nhẫn” tình thiết tha,
Bạn bè “nhẫn” mới vang xa tiếng lành.
Ai đem chữ “nhẫn” giữ mình,
Thì bao tai họa thôi rình rập ngay.
Tử Trương tiếp tục hỏi Thầy:
Lỡ không “nhẫn” nổi, chuyện này ra sao?
Khổng Tử đáp: Hại rất to,
Thiên tử không “nhẫn” của kho chẳng đầy.
Chư hầu không “nhẫn” tan thây,
Quan lại không “nhẫn” dắt tay vào tù.
Anh em không “nhẫn” là ngu,
Sống chung khá giả, phân cư hóa nghèo.
Vợ chồng không “nhẫn” càng eo,
Tình nghĩa lạnh nhạt, cám treo heo thèm.
Bản thân không “nhẫn” khó êm,
Nạn to, nạn nhỏ, ngày đêm khó trừ.

*Chú thích:-

Tử Trương: tên thật là Chuyên Tôn Sư, một trong số mười học trò xuất sắc của Khổng Tử, kém Khổng Tử 48 tuổi.

3A.

* Nguyên văn:-

張敬夫曰:小勇者血氣之怒,大勇者禮義之怒也。血氣之怒不可有,禮義之怒不可無.

*Âm:-

Trương Kính Phu viết :Tiểu dũng giả huyết khí chi nộ, đại dũng giả lễ nghĩa chi nộ dã. Huyết khí chi nộ bất khả hữu, lễ nghĩa chi nộ bất khả vô.

* Dịch nghĩa:-

Trương Kính Phu nói: Kẻ dũng cảm nhỏ là do sự giận dữ của huyết khí. Kẻ dũng cảm lớn là do sự giận dữ vì lễ nghĩa. Giận dữ huyết khí không nên có, giận dữ lễ nghĩa không nên không có.

*Diễn ca: –

Dũng cảm có cỡ hẳn hoi,
Cỡ nhỏ không ngoài tức khí nổi xung.
Cỡ lớn để tạo anh hùng,
Thấy trái lễ nghĩa, đùng đùng ra tay.
Cỡ nhỏ phải nén nhịn ngay,
Cỡ lớn mỗi ngày đều phải phát huy.

————–

4A.

* Nguyên văn:-

惡人罵善人,善人總不對。善人若還對,彼此無智慧。不對心清涼,罵者口熱沸。正如人唾天,還從己身墜。我若被人罵,佯聾不分說。譬如火當空,不救自然滅。嗔火亦如是,有物遭他熱,我心等空虛,聽爾翻唇舌。

*Âm:-

Ác nhân mạ thiện nhân, thiện nhân tổng bất đối. Thiện nhân nhược hoàn đối, bỉ thử vô trí tuệ. Bất đối tâm thanh lương, mạ giả khẩu nhiệt phí. Chính như nhân thoá thiên, hoàn tùng kỷ thân truỵ. Ngã nhược bị nhân mạ, dương lung bất phân thuyết. Thí như hoả đương không, bất cứu tự nhiên diệt. Sân hoả diệc như thị, hữu vật tao tha nhiệt, ngã tâm đẳng không hư, thính nhĩ phiên thần thiệt .

* Dịch nghĩa:-

Người ác mắng người thiện, người thiện không nói lại, người thiện mà nói lại, đây đấy không trí tuệ. Không đáp tâm trong mát, kẻ mắng miệng nóng sôi, đúng như người nhổ lên trời, quay lại trúng nhằm mình. Nếu ta bị người mắng, giả điếc nghe không rõ, ví như lửa chỗ trống, không chữa tự nhiên tắt. Lửa giận cũng như vậy, có vật gặp lửa ấy. Tâm ta đều trống không, mặc sức cho nó khua môi múa lưỡi.

*Diễn ca: –

Kẻ ác mắng người thiện,
Người thiện chẳng trả lời.
Nếu người thiện đáp trả,
Hóa ra ngu cả đôi.
Làm thinh, tâm mát mẻ,
Chửi mắng, miệng nóng sôi.
Khác chi khạc nước bọt,
Cứ tưởng bôi bẩn trời.
Té ra bọt rơi xuống,
Mặt mũi hứng đầy thôi.
Nếu ta bị người mắng,
Giả điếc, nghe không trôi.
Khác chi lửa chỗ trống,
Không chữa cũng tắt rồi.
Lửa giận xem cũng vậy,
Chỉ cháy vật làm mồi.
Tâm ta nếu bỏ trống,
Kẻ ác mỏi lưỡi, môi…

******

IX – Tuyển dịch thiên thứ chín: KHUYẾN HỌC

1A.

* Nguyên văn:-

性理書云:為學之序:博學之,審問之,慎思之,明辨之,篤行之。

*Âm:-

Tính Lý Thư vân :[Vi học chi tự :Bác Học Chi, Thẩm Vấn Chi, Thận Tư Chi, Minh Biện Chi, Đốc Hành Chi .]

* Dịch nghĩa:-

Sách Tính Lý nói: Thứ tự của việc học là: học cho rộng, hỏi cho đúng, nghĩ cho kỹ, biện cho rõ, làm cho hăng.

*Diễn ca: –

Ðã theo cái nghiệp học hành,
Muốn học cho thành, thứ tự phân minh.
Học cho rộng khắp sử kinh,
Hỏi cho cặn kẽ, đinh ninh mọi điều.
Nghĩ suy thận trọng đúng chiều,
Biện cho sáng tỏ, cao siêu, vững bền.
Trải qua bốn bước kể trên,
Cuối cùng vận dụng, đẹp thêm cho đời.

——————–

2A.

* Nguyên văn:-

徽宗皇帝勸學文:學也好,不學也好?學者如禾如稻,不學者如蒿如草。如禾如稻兮,國之精糧,世之大寶。如蒿如草兮,耕者憎嫌,鋤者煩惱。他日面牆,悔之已老。

*Âm:-
Huy Tông Hoàng đế “Khuyến Học Văn” :

Học dã hảo, bất học dã hảo ?
Học giả như hoà như đạo, bất học giả như cảo như thảo.
Như hoà như đạo hề, quốc chi tinh lương, thế chi đại bảo.
Như cảo như thảo hề, canh giả tăng hiềm, sừ giả phiền não.
Tha nhật diện tường, hối chi dĩ lão .

* Dịch nghĩa:-

Bài văn khuyến khích việc học của vua Huy Tông (*) viết: Học là tốt hay không học là tốt? Kẻ học như lúa như nếp, kẻ không học như lau như cỏ. Như lúa như nếp là gạo ngon của nước nhà, là vật báu lớn của cõi đời, như lau như cỏ thì kẻ cày căm ghét, kẻ bừa phiền bự Ngày sau quay mặt vào tường hối hận về chuyện đó thì đã già rồi.

*Diễn ca: –

Học là tốt, hay không là tốt?
Kẻ học như nếp lúa trên đời.
Kẻ dốt như cỏ dại thôi,
Nếp, lúa cung cấp cho người ấm no.
Còn cỏ dại, phải lo dọn kỹ,
Phải cày bừa không nghỉ suốt mùa.
Mai sau kém cạnh ganh đua,
Ăn năn thì đã già nua mất rồi!

*Chú thích:-

Huy Tông: tên thật là Triệu Cát, vua thứ 8 của nhà Bắc Tống, trị vì giai đoạn 1121 – 1125. Ông là hôn quân bất tài của một triều đại sa sút. Quân Kim bắt ông và con là vua Khâm Tông năm 1127 làm tù binh, sau chết ở nước Kim (Tuy nhiên, mối tình giữa ông với kỹ nữ Lý Sư Sư lại xứng đáng là thiên sử diễm tình giàu tính nhân văn: Sư Sư tử tiết để thoát tay Trương Hoằng Phạm là một tướng giỏi của nhà Tống 「bán mình」 cho quân Nguyên).

3A.

* Nguyên văn:-

禮記曰:獨學無友,則孤陋寡聞。書是隨身本才是國家之珍。

*Âm:-

 Lễ Ký viết :Độc học vô hữu, tắc cô lậu quả văn. Thư thị tuỳ thân bản tài thị quốc gia chi trân .

* Dịch nghĩa:-

Sách Lễ Ký nói: Học một mình không có bạn thì quê mùa nông cạn. Sách là vốn liếng mang theo mình, tài năng là vật quý của nước nhà.

*Diễn ca: –

Học mà thui thủi một thân,
Thiếu bạn thảo luận, quê dần người đi.
Có sách đời bớt ngu si,
Tài là vốn quý duy trì quốc gia.

—————

4A.

* Nguyên văn:-

好仁不好學,其蔽也愚。好智不好學,其蔽也蕩。好信不好學,其蔽也賊。好直不好學,其蔽也絞。好勇不好學,其蔽也亂。好剛不好學,其蔽也狂。

*Âm:-

Hảo nhân bất hảo học, kỳ tế dã ngu.
Hảo trí bất hảo học, kỳ tế dã đãng.
Hảo tín bất hảo học, kỳ tế dã tặc.
Hảo trực bất hảo học, kỳ tế dã giảo.
Hảo dũng bất hảo học, kỳ tế dã loạn.
Hảo cương bất hảo học, kỳ tế dã cuồng .

* Dịch nghĩa:-

Muốn Nhân mà không muốn học thì cái ngu che lấp cái Nhân. Muốn Trí mà không muốn học thì sự phóng đãng che lấp cái Trí. Muốn Tín mà không muốn học thì cái hại che lấp cái Tín. Muốn ngay thẳng mà không muốn học thì sự thắt buộc che lấp cái ngay thẳng. Muốn dũng cảm mà không muốn học thì sự quậy phá che lấp cái dũng cảm. Muốn cứng rắn mà không muốn học thì sự ngông cuồng che lấp cái cứng rắn.

*Diễn ca: –

Muốn Nhân, không học thì ngu,
Bị người lạm dụng, mịt mù đúng sai.
Muốn Trí, không học nguy tai!
Nghĩ gì làm nấy, biết ai giữ kèm?
Muốn Tín, không học chẳng nghiêm.
Cho mình sẵn đúng, đâu tìm cái hay?
Muốn Thẳng, không học cũng gay,
Khăng khăng tự tiện, cấm ai góp lời.
Muốn Dũng, không học hỏng đời,
Mặc tình gây rối, chẳng nơi nào từ.
Muốn Cứng, không học càng hư,
Không quen nín nhịn, gần như điên cuồng.
Muốn đức hạnh tốt luôn luôn,
Phải thêm cái học mới vuông, mới tròn.

5A.

* Nguyên văn:-

諸葛武侯誡子弟曰:君子之行,靜以修身,儉以養德。非淡泊無以明志,非寧靜無以致遠。夫學也,才須學也。非學無以廣才,非靜無以成學。慆慢則不能研精,險躁則不能理性。年與時馳,意與歲去遂成枯落悲嘆窮廬將復何及。

*Âm:-

Gia Cát Vũ Hầu giới tử đệ viết :Quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức. Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn. Phù học dã, tài tu học dã. Phi học vô dĩ quảng tài, phi tĩnh vô dĩ thành học. Thao mạn tắc bất năng nghiên tinh, hiểm táo tắc bất năng lý tính. Niên dữ thời khu, ý dữ tuế khứ toại thành khô lạc bi thán cùng lư tương phục hà cập .

* Dịch nghĩa:-

Gia Cát Vũ Hầu (*) nói: Nết người quân tử là tĩnh để sửa mình, tiết kiệm để nuôi đức, không sống đạm bạc thì không lấy gì để làm sáng tỏ cái chí, không yên tĩnh thì không lấy gì đạt đến cao xa. Ðã học thì phải tĩnh, có tài thì phải học, không học thì không lấy gì để mở rộng cái tài, không tĩnh thì không lấy gì để hoàn thành việc học. Ưa dễ dãi thì nghiên cứu không tinh, hấp tấp thì không xử lý được cái tính. Năm tháng cùng thời cơ qua nhanh, ý với tuổi bỏ đi bèn trở nên khô rụng, dẫu buồn than trong ngôi nhà nghèo liệu sẽ quay lại từ đầu sao kịp?

*Diễn ca: –

Không thanh tĩnh, khó sửa mình,
Không quen tiết kiệm, đức thành khó nuôi.
Thanh bần giúp chí sáng ngời,
Suy nghiệm xa vời, lòng cốt phải yên.
Học cần thanh tĩnh mới nên,
Có tài phải học mới bền khả năng.
Không học tài khó mở mang,
Chẳng được thanh tĩnh, học càng rối thêm.
Cái khó là cái đáng thèm,
Cái dễ làm mềm bản lĩnh tiến xa.
Muốn dùng cái Tính tối đa,
Cái thói hấp tấp, tránh xa mới thành.
Thì giờ vun vút qua nhanh,
Thời cơ lỗi hẹn, tuổi xanh qua rồi!
Cành khô lá rụng, ôi thôi!
Hàn vi đâu dễ quay đầu lập thân?

*Chú thích:-

Gia Cát Vũ Hầu: tức Gia Cát Lượng (181 – 234) tự Khổng Minh, làm thừa tướng nước Thục thời Tam Quốc Ông tiêu biểu một quân sư mưu kế hơn đời và là trung thần tận tụy tột độ. Ông được phong tước Vũ hầu.

X – Tuyển dịch thiên thứ mười: HUẤN TỬ

1A.

* Nguyên văn:-

司 馬溫公曰:養子不教父之過,訓導不嚴師之惰。父教師嚴兩無礙,學問無成子之罪。暖衣飽食居人倫,親我笑談如土塊。攀高不及下品流,稍遇賢才無與語。勉後生 力求誨,投明師莫自昧。一朝雲路果然登,姓名亞等呼先輩。室中若未結姻親,自有佳人求配匹。勉之汝等各早修,莫待老來空自悔。

*Âm:-

Tư Mã Ôn Công viết :Dưỡng tử bất giáo phụ chi quá, huấn đạo bất nghiêm sư chi noạ. Phụ giáo sư nghiêm lưỡng vô ngại, học vấn vô thành tử chi tội. Noãn y bão thực cư nhân luân, thân ngã tiếu đàm như thổ khối. Phan cao bất cập hạ phẩm lưu, sảo ngộ hiền tài vô dữ ngữ. Miễn hậu sinh lực cầu hối, đầu minh sư mạc tự muội. Nhất triêu vân lộ quả nhiên đăng, tính danh á đẳng hô tiên bối. Thất trung nhược vị kết nhân thân, tự hữu giai nhân cầu phối thất. Miễn chi nhữ đẳng các tảo tu, mạc đãi lão lai không tự hối .

* Dịch nghĩa:-

Tư Mã Ôn Công nói: Nuôi con không dạy là lỗi của cha. Dạy dỗ không nghiêm là thầy bê trễ. Cha dạy thầy nghiêm, cả hai không trục trặc gì mà học vấn không thành là tội của con. Ấm áo no cơm giữa cõi người mà chuyện trò với bà con cứ trơ như cục đất. Vói cao không tới phải nhập vào lớp hạ lưu, có gặp bậc hiền tài cũng chẳng biết nói năng gì với họ. Khuyên đám hậu sinh ra sức tìm thầy dạy, gửi thân nơi thầy sáng suốt, đừng tự làm cho mình ngu muội. Một mai tiến lên đường công danh, tên họ mình được đám thấp hơn gọi là đàn anh. Trong nhà nếu chưa kết hôn cũng có người đẹp tự đến xin làm vợ. Khuyên các ngươi ai nấy sớm sửa chữa, đừng đợi đến già hối hận suông.

*Diễn ca: –

Nuôi con không dạy,
Là lỗi của cha.
Con học lơ là,
Thầy chưa nỗ lự
Cha, thầy đúng mực,
Học vấn vẫn chưa thành,
Tội con rành rành,
Vô phương chối bỏ.
Áo cơm sẵn có,
Thân thích quanh mình.
Trò chuyện huyên thiên,
Mình trơ cục đất!
Liệt vào hạng thấp,
Hạng cao khó chen.
Gặp bậc tài năng,
Ðâu dám trò chuyện.
Mấy lời tâm nguyện,
Gởi lớp hậu sinh,
Ðem hết sức mình,
Tìm thầy cho tốt.
Ðừng làm mình dốt,
May ra gặp thời,
Tên đề bảng rồi,
Người người kính nể.
Dù nhà vắng vẻ,
Còn sống độc thân,
Thiếu chi giai nhân,
Nguyền câu cầm sắt.
Khuyên đừng để mất,
Cơ hội tu thân,
Về già ăn năn,
Thẹn lây con cháu…

—————-

2A.

* Nguyên văn:-

柳屯田勸學文:父母養其子而不教,是不愛其子也。雖教而不嚴,是亦不愛其子也。父母教而不學,是子不愛其身也。雖學而不勤,是亦不愛其身也。是故養子必教,教則必嚴,嚴則必勤,勤則必成。學則庶人之子為公卿,不學則公卿之子為庶人。

*Âm:-

Liễu Truân Điền Khuyến Học Văn :Phụ mẫu dưỡng kỳ tử nhi bất giáo, thị bất ái kỳ tử dã. Tuy giáo nhi bất nghiêm, thị diệc bất ái kỳ tử dã. Phụ mẫu giáo nhi bất học, thị tử bất ái kỳ thân dã. Tuy học nhi bất cần, thị diệc bất ái kỳ thân dã. Thị cố dưỡng tử tất giáo, giáo tắc tất nghiêm, nghiêm tắc tất cần, cần tắc tất thành. Học tắc thứ nhân chi tử vi công khanh, bất học tắc công khanh chi tử vi thứ nhân .

* Dịch nghĩa:-

Bài văn khuyến khích việc học của quan Ðồn điền họ Liễu (*) viết: Cha mẹ nuôi con mình mà không dạy là không yêu con mình. Tuy dạy mà không nghiêm cũng là không yêu con mình. Cha mẹ dạy mà không học là không yêu thân mình. Tuy học nhưng không siêng năng cũng là không yêu thân mình vậy. Thế cho nên nuôi con tất phải dạy, dạy thì tất phải nghiêm, nghiêm thì tất siêng, siêng thì tất nên. Học thì con dân quèn làm công khanh, không học thì con công khanh làm dân quèn.

*Diễn ca: –

Nuôi con chỉ bởi bản năng,
Như thế cầm bằng nuôi vật cảnh thôi.
Dạy con qua quít lấy rồi,
Kiểm tra lỏng lẻo ấy thời ghét con.
Còn như dạy bảo ôn tồn,
Con không học, tức không còn quý thân.
Có học nhưng thiếu chuyên cần,
Cũng là chẳng quý cái thân của mình.
Nuôi con phải dạy, phải nghiêm,
Con mới thành niềm an ủi mẹ cha.
Có học, nghèo cũng tiến xa,
Không học, giàu cũng hóa ra bần cùng.

*Chú thích:-

Quan Ðồn điền họ Liễu: tức Liễu Kỳ Khanh (987 – 1055) người Phúc Kiến. Ông đỗ tiến sĩ, làm đến chức Ðồn điền viên ngoại lang nhưng giới ăn chơi quen gọi ông là Bảy Liễu (Liễu Thất). Ông là một từ gia lãng mạn, sống khá phóng túng.

3A.

* Nguyên văn:-

白侍郎勉學文:有田不耕倉廩虛,有書不教子孫愚。倉廩虛兮歲月乏,子孫愚兮禮義疏。若為不耕與不教,乃是父兄之過歟!。

*Âm:-

Bạch Thị Lang Miễn Học Văn :Hữu điền bất canh thương lẫm hư, hữu thư bất giáo tử tôn ngu. Thương lẫm hư hề tuế nguyệt phạp, tử tôn ngu hề lễ nghĩa sơ. Nhược vi bất canh dữ bất giáo, nãi thị phụ huynh chi quá dư !.

* Dịch nghĩa:-

Bài văn khuyên gắng học của quan Thị lang họ Bạch nói: Có ruộng không cày kho đụn rỗng. Có sách không dạy con cháu ngu. Kho đụn rỗng thì năm tháng thiếu hụt. Con cháu ngu thì lễ nghĩa lỏng lẻo. Nếu là không cày cùng không dạy mới là lỗi của cha anh vậy.

*Diễn ca: –

Ruộng bỏ hoang, chẳng cấy cày,
Kho tàng trống rỗng, chẳng hay ho gì!
Có sách chẳng dạy chữ chi,
Mặc cho con cháu ngu si hư đời.
Chẳng cày, thiếu đói ngay thôi!
Chẳng dạy, lễ nghĩa hỏng rồi nguy to!
Không cày, không dạy, đáng lo,
Phụ huynh xin hãy nhận cho lỗi mình!

—————-

4A.

* Nguyên văn:-

漢書云:黃金滿盈(盈,通「籝」,箱籠一類的容器。),不如教子一經;賜子千金不如教子一藝。至樂莫如讀書,至要莫如教子。

*Âm:-

Hán Thư vân :Hoàng kim mãn doanh, Bất như giáo tử nhất kinh ;Tứ tử thiên kim bất như giáo tử nhất nghệ. Chí lạc mạc như độc thư, chí yếu mạc như giáo tử .

CT:- (doanh, thông, thông」, sương lung nhất loại đích dung khí. )

* Dịch nghĩa:-

Sách Hán thư nói: Chất vàng đầy rương không bằng dạy con một cuốn sách hay. Ban cho con nghìn vàng không bằng truyền cho con một nghề. Vui nhất không gì bằng dạy con.

*Diễn ca: –

Vàng ròng tích cóp đầy kho,
Không bằng kinh sử dạy cho con mình.
Ngàn vàng cho chúng mưu sinh,
Không bằng dạy chúng cho tinh một nghề.
Ðọc sách, vui thú trăm bề,
Dạy con quan trọng, chớ hề thờ ơ!

5A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:古者易子而教之。父子之間不責善,責善則離,離則不祥莫大焉。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Cổ giả dị tử nhi giáo chi. Phụ tử chi gian bất trách thiện, trách thiện tắc ly, ly tắc bất tường mạc đại yên .

* Dịch nghĩa:-

Mạnh Tử nói: Người xưa đổi con mà dạy. Giữa cha con không nên trách điều chưa phải. Hễ trách là chia lìa, chia lìa là điều chẳng lành lớn nhất vậy.

*Diễn ca: –

Ðổi con mà dạy mới hay,
Mới dễ trách cứ, mới dày khôn ngoan.
Cha cưng, con dễ làm càn,
Cha nghiêm, con oán, tình càng tệ thêm.
Xui nên chia rẽ đôi bên,
Là điều bất hạnh khó quên nhất đời.

——————

6A.

* Nguyên văn:-

呂榮公曰:人生內無賢父兄,外無賢師友而能有成者鮮矣。

*Âm:-

Lã Vinh Công viết :Nhân sinh nội vô hiền phụ huynh, ngoại vô hiền sư hữu nhi năng hữu thành giả tiên hĩ.

* Dịch nghĩa:-

Lã Vinh Công nói: Người đời mà trong nhà không có cha anh giỏi, ngoài đời không có thầy bạn giỏi mà làm nên được là hiếm lắm.

*Diễn ca: –

Gẫm ra kẻ sống trên đời,
Cha, anh, thầy, bạn, không người giỏi giang.
Tự thân vượt được khó khăn,
Bản lĩnh, nghị lực, ai bằng nổi đâu!

7A.

* Nguyên văn:-

太公曰:男子失教長大愚頑,女子失教,長大粗疏。養男之法,莫聽誑語;育女之法,莫教離母。男年長大,莫習樂酒;女年長大,莫教遊走。嚴父出孝子,嚴母出巧女。憐兒多與棒,憎兒多與食。憐兒無功,憎兒有力。桑條從小鬱,長大鬱不屈。人皆愛珠玉,我愛子孫賢。

*Âm:-

Thái Công viết :Nam tử thất giáo trường đại ngu ngoan, nữ tử thất giáo, trường đại thô sơ. Dưỡng nam chi pháp, mạc thính cuống ngữ ;dục nữ chi pháp, mạc giáo ly mẫu. Nam niên trường đại, mạc tập lạc tửu ;nữ niên trường đại, mạc giáo du tẩu. Nghiêm phụ xuất hiếu tử, nghiêm mẫu xuất xảo nữ. Lân nhi đa dữ bổng, tăng nhi đa dữ thực. Lân nhi vô công, tăng nhi hữu lực. Tang điều tùng tiểu uất, trường đại uất bất khuất. Nhân giai ái châu ngọc, ngã ái tử tôn hiền .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Con trai mà mất sự rèn dạy thì lớn lên ngu bướng. Con gái mà mất sự rèn dạy thì lớn lên vụng về sơ suất. Phương pháp dạy con trai là đừng nghe nói dối. Phương pháp dạy con gái là đừng để lìa xa mẹ. Con trai tuổi lớn chớ tập thói ham vui nhạc rượu. Con gái tuổi lớn đừng để chơi bời lêu lổng. Cha nghiêm sinh con trai hiếu thảo. Mẹ nghiêm sinh con gái khéo léo. Thương con nên cho nhiều roi vọt, ghét con mới cho ăn uống nhiều. Thương con chẳng làm nó thành công, ghét con làm nó có năng lự Cành dâu uốn khi nhỏ, lớn to uốn không cong. Người ta đều yêu châu ngọc, ta yêu con cháu tài năng.

*Diễn ca: –

Con trai không dạy lớn đần,
Con gái không dạy, lớn thân vụng về.
Tránh đần, lời dối chớ nghe,
Tránh vụng, mẹ phải kè kè thường xuyên.
Con trai nhạc rượu chớ ghiền,
Con gái chớ để mặc tình rong chơi.
Cha nghiêm, trai mới nên người,
Mẹ nghiêm, gái mới khôn lời, khéo tay.
Thương con, roi vọt mới hay,
Quà nọ, bánh này, là kiểu ghét con.
Có thương, chưa chắc thành công,
Có ghét con mới dốc lòng chữa sai.
Muốn con nên đức, nên tài,
Phải chăm uốn nắn từ ngày lên ba.
Người đời yêu quý ngọc ngà,
Còn ta yêu quý con ta hiền tài.

—————
8A.

* Nguyên văn:-

內則曰:凡生子,擇於諸母與可者,必求其寬裕慈惠溫良恭敬,慎而寡言者使為子師。能食教以右手,能言男唯女俞,男盤革,女盤絲。六年教之數與方名,七年男女不同席,不共食,八年出入門戶及即席飲食必後長者。始教之讓。九年教之數目。十年出就外傅居宿於外。

*Âm:-

Nội Tắc viết :Phàm sinh tử, trạch ư chư mẫu dữ khả giả, tất cầu kỳ khoan dụ từ huệ ôn lương cung kính, thận nhi quả ngôn giả sử vi tử sư. Năng thực giáo dĩ hữu thủ, năng ngôn nam duy nữ du, nam bàn cách, nữ bàn ty. Lục niên giáo chi số dữ phương danh, thất niên nam nữ bất đồng tịch, bất cộng thực, bát niên xuất nhập môn hộ cập tức tịch ẩm thực tất hậu trường giả. Thủy giáo chi nhượng. Cửu niên giáo chi số mục. Thập niên xuất tựu ngoại phó cư túc ư ngoại .

* Dịch nghĩa:-

Thiên Nội Tắc nói: Hễ sinh con nên chọn ở bà mẹ có khả năng, tất tìm người khoan dung, hiền lành, ôn hòa cung kính, thận trọng mà ít lời, nhờ họ làm thầy cho con. Con biết ăn cơm dạy cầm (đũa) tay phải. Con biết nói, con trai phải dạ, con gái phải vâng, trai thắt lưng da, gái thắt lưng tơ. Lên sáu tuổi dạy đếm số và gọi tên phương hướng. Lên bảy tuổi, con trai con gái không ngồi chung chiếu, không ăn uống chung. Lên tám tuổi ra vào cửa ngõ cho đến ngồi chiếu, ăn uống, tất phải làm sau người lớn, bắt đầu dạy tính kính trên nhường dưới. Ðến chín tuổi, dạy chúng đếm ngày. Ðến mười tuổi ra học thầy ngoài, ăn ngủ ở ngoài.

*Diễn ca: –

Phàm sinh con, phải nên chọn mẹ,
Mẹ khoan dung, nhỏ nhẹ, ôn hòa.
Kính nhường, cẩn thận mới là,
Nói năng chừng mực, con ta nhận thầy.
Biết ăn uống, thầy bày tay phải,
Biết nói năng, trai dạ, gái vâng.
Dây da trai tập thắt lưng,
Dây tơ gái buộc, xem chừng hay hơn.
Lên sáu dạy biết phương, đếm số,
Biết gọi tên đúng, rõ bốn phương.
Lên bảy, phái tính đã tường,
Ngồi khác chiếu giường, ăn uống tách riêng.
Lên tám tuổi học kiêng, học nể,
Lúc ăn ngồi, giữ lễ kính nhường.
Ra vào cửa ngõ, đi đường,
Có người lớn, nhớ phải thường đi sau.
Chín tuổi học đếm làu ngày tháng.
Tuổi lên mười, bạo dạn ra ngoài.
Tự tin, tự tại như ai,
Ðến nhà thầy ngụ, trổ tài khiêm cung.
Chữ bản lĩnh chưa từng đòi hỏi,
Nhưng tập quen, gắng gỏi từ đây.
Dù con là gái hay trai,
Giũ rèn thế ấy, hiền tài chẳng xa.

9A.

* Nguyên văn:-

龐德公誡子詩云:

凡人百藝好隨身,
賭博門中莫去親。
能使英雄為下賤,
解教富貴作飢貧。
衣衫襤褸親朋笑,
田地消磨骨肉嗔。
不信但看鄉黨內,
眼前衰敗幾多人。

*Âm:-

Bàng Đức Công Giới Tử Thi vân :

Phàm nhân bách nghệ hảo tuỳ thân,
Đổ bác môn trung mạc khứ thân.
Năng sử anh hùng vi hạ tiện,
Giải giao phú quí tác cơ bần.
Y sam lam lũ thân bằng tiếu,
Điền địa tiêu ma cốt nhục sân.
Bất tín đản khan hương đảng nội,
Nhãn tiền suy bại kỷ đa nhân .

* Dịch nghĩa:-

Bài thơ cảnh báo con của Bàng Ðức Công viết: Người đời có cả trăm nghề để theo. Chớ nên đến gần cửa cờ bạc. Nó có khả năng khiến anh hùng làm kẻ thấp hèn. Nó cởi bỏ giàu sang làm thành kẻ nghèo đói. Áo xống lam lũ, bạn thân cũng chê cười. Ruộng đất tiêu ma, cốt nhục gây gổ. Không tin thì chỉ cần xem trong làng xóm. Ðã có nhiều người suy bại ngay trước mắt.

*Diễn ca: –

Trăm nghề trong cõi người đời,
Riêng nghề cờ bạc, con thời lánh xa.
Anh hùng nó biến hèn ra,
Giàu sang nó biến thành ma đói nghèo.
Áo quần xơ xác não nề,
Bạn bè cười giễu chẳng hề nể đâu!
Ruộng vườn bán sạch từ lâu,
Anh em gây gổ, quên câu ruột rà.
Chẳng tin ngó kỹ làng ta,
Tan cơ nát nghiệp phải là ít đâu!

—————–

10A.

* Nguyên văn:-

一樣人身幾樣心,
一般茶飯一般人,
同時天光同時夜,
幾人富貴幾人貧。
君子貧時有禮義,
小人乍富便欺貧。
東海龍王常在世,
得時休笑失時人。
大家忍耐隨時過,
知他誰是百年人。

*Âm:-

Nhất dạng nhân thân kỷ dạng tâm,
Nhất ban trà phạn nhất ban nhân,
Đồng thời thiên quang đồng thời dạ,
Kỷ nhân phú quí kỷ nhân bần.
Quân tử bần thời hữu lễ nghĩa,
Tiểu nhân sạ phú tiện khi bần.
Đông hải long vương thường tại thế,
Đắc thời hưu tiếu thất thời nhân.
Đại gia nhẫn nại tuỳ thời quá,
Tri tha thuỳ thị bách niên nhân .

* Dịch nghĩa:-

Cùng một dáng người, mấy dáng tâm,
Một loại trà cơm, một loại người.
Cùng lúc sáng trời, cùng lúc đêm về,
Mấy người giàu sang, mấy người nghèo?
Quân tử lúc nghèo có lễ nghĩa.
Tiểu nhân chợt giàu liền khinh nghèo.
Ðông Hải Long Vương (*) thường ở đời,
Ðược thời chớ cười người mất thời.
Mọi người hãy nhẫn nại sống theo thời,
Biết người khác ai sống được trăm năm?

*Diễn ca: –

Bề ngoài ai cũng giống ai,
Bề trong, Tâm mới làm sai hạng người.
Tuy cùng nước hớp, cơm xơi,
Ði sáng về tối ta thời như nhau.
Thế nhưng đây khó, đó giàu,
Dù nghèo, quân tử giữ màu lễ nghi.
Tiểu nhân giàu có gặp thì,
Tỏ ngay cái vẻ khinh khi người nghèo.
Muôn đời sóng biển vẫn reo,
Vẫn nhìn nhân loại giàu nghèo luân phiên.
Vẫn chứng kiến cảnh đảo điên,
Kẻ đắc thế liền cười kẻ sa cơ.
Theo thời, nấn ná ai ơi!
Thử xem thiên hạ ai người trăm năm?

*Chú thích:-

Ðông Hải Long Vương: vua Rồng cai quản biển Ðông, được coi là kẻ có mặt thường xuyên liên tục trên đời, chứng kiến đầy đủ các sự kiện.

11A.

* Nguyên văn:-

瘦地開花晚,
貧窮發福遲。
莫道蛇無角,
成龍也未知。
但看天上月,
團圓有缺時。

*Âm:-

Sấu địa khai hoa vãn,
Bần cùng phát phước trì.
Mạc đạo xà vô giác,
Thành long dã vị tri.
Đản khan thiên thượng nguyệt,
Đoàn viên hữu khuyết thời .

* Dịch nghĩa:-

Ðất xấu trổ hoa muộn,
Nghèo nàn phát phước chậm.
Ðừng bảo rắn không sừng,
Thành rồng chưa biết lúc nào.
Chỉ cần xem trăng trên trời,
Tròn trặn có lúc khuyết.

*Diễn ca: –

Ðất cằn hoa nở muộn,
Nghèo túng phước lâu về.
Rắn không sừng chớ chê,
Hóa rồng chẳng mấy chố
Trăng tuy tròn có lúc,
Cũng khuyết ngay đấy thôi!

—————–

12A.

* Nguyên văn:-

萬事由天莫強求,
何需苦苦用心謀。
三餐飯內休糊想,
得一帆風便可收。
生事事生何日了,
害人人害幾時休。
冤家宜解不宜結,
各自回頭看後頭。

*Âm:-

Vạn sự do thiên mạc cưỡng cầu,
Hà nhu khổ khổ dụng tâm mưu.
Tam xan phạn nội hưu hồ tưởng,
Đắc nhất phàm phong tiện khả thu.
Sinh sự sự sinh hà nhật liễu,
Hại nhân nhân hại kỷ thời hưu.
Oan gia nghi giải bất nghi kết,
Các tự hồi đầu khán hậu đầu .

* Dịch nghĩa:-

Muôn việc do trời chớ có gượng tìm. Sao phải khổ khổ dùng lòng tính mọi cách. Chớ nên mơ tưởng hão huyền ngoài ba bữa cơm. Gió no buồm rồi thì cuộn buồm lại. Bày ra việc rồi việc đẻ việc ngày nào mới xong? Lo hại người, lo người hại lại, lúc nào mới thôi? Mối oan nên cởi không nên thắt. Mỗi người hay quay đầu nhìn phía sau.

*Diễn ca: –

Gượng đòi chi nổi với trời?
Nhọc công xoay xở, việc đời vẫn trơ.
Ðược ăn ba bữa thôi mơ,
Gió no buồm nghỉ, đừng chờ gió thêm.
Việc đẻ việc, lúc nào êm?
Hại người, người hại, ai thèm dừng đâu?
Cởi oan, chớ thắt thêm sâu,
Hãy quay nhìn lại phía sau mỗi người.

13A.

* Nguyên văn:-

雀喙四顧食,
燕寢無疑心。
量大福亦大,
機深禍亦深。

*Âm:-

Tước uế tứ cố thực,
Yên tẩm vô nghi tâm.
Lương đại phước diệc đại,
Cơ thâm hoạ diệc thâm .

* Dịch nghĩa:-

Chim sẻ mổ ăn quay nhìn bốn phía.
 Chim én ngủ thoải mái không nghi ngại gì.
Ðộ lượng lớn, phước cũng lớn.
 Mưu cơ sâu họa cũng sâu.

*Diễn ca: –

Chim sẻ lăng xăng ngảnh bốn bên,
Tiểu nhân bận rộn thuở nào yên?
Én kia nằm nghỉ lòng thanh thản,
Quân tử bất tranh nhẹ nhõm mình.
Ðộ lượng khoan hồng phước càng lớn,
Tâm cơ thâm hiểm họa càng kinh.

XI – Tuyển dịch thiên thứ mười một: TỈNH TÂM

1A.

* Nguyên văn:-

資世通訓雲:陰法遲而不漏,陽憲近而有逃。陽網密而易漏,陰網疏而難逃。

*Âm:-

Tư Thế Thông Huấn vân :Âm pháp trì nhi bất lậu, dương hiến cận nhi hữu đào. Dương võng mật nhi dị lậu, âm võng sơ nhi nan đào .

* Dịch nghĩa:-

Bài Tư Thế Thông Huấn viết: Phép trừng trị của cõi âm chậm mà không lọt. Thể chế của cõi dương gần mà có cách trốn thoát. Lưới cõi dương dày mà dễ lọt, lưới cõi âm thưa mà khó trốn thoát.

*Diễn ca: –

Phép trừng trị cõi âm khó thấy,
Chậm nhận ra nhưng lại chắc sần.
Thể chế nhà nước thật gần,
Thiên hạ chỉ cần móc ngoặc thật hay.
Tha hồ xa chạy cao bay,
Lưới luật để sổng… cả bầy nhà lươn!
Lưới cõi âm, vô phương móc ngoặc,
Mắt lưới thưa, bởi thật lâu đời.
Bao nhiêu tội dưới bầu trời,
Lưới không để lọt dù người bé, to…

——————-

2A.

* Nguyên văn:-

景 行錄云:無瑕之玉,可以為國稅。孝弟之子可以為家寶。寶貝用之有盡,忠孝享之無窮。家和貧也好,不義富如何?但存一子孝,何用子孫多?父不憂心因子孝,夫 無煩惱是妻賢。言多語失皆因酒,義斷親疏只為錢。既取非常樂,須防不測憂。樂極悲生。得寵思辱,居安慮危。榮盛辱大,利重害深。盛名必有重責,大功必有奇窮。甚愛必甚費,甚譽必甚毀。甚喜必甚憂,甚恥必甚亡。恩愛生煩惱,追隨大丈夫。庭前生瑞草,好事不如無。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Vô hà chi ngọc, khả dĩ vi quốc thuế. Hiếu đệ chi tử khả dĩ vi gia bảo. Bảo bối dụng chi hữu tận, trung hiếu hưởng chi vô cùng. Gia hoà bần dã hảo, bất nghĩa phú như hà ?Đản tồn nhất tử hiếu, hà dụng tử tôn đa ?Phụ bất ưu tâm nhân tử hiếu, phu vô phiền não thị thê hiền. Ngôn đa ngữ thất giai nhân tửu, nghĩa đoạn thân sơ chỉ vị tiền. Ký thủ phi thường lạc, tu phòng bất trắc ưu. Lạc cực bi sinh. Đắc sủng tư nhục, cư an lự nguy. Vinh thịnh nhục đại, lợi trọng hại thâm. Thịnh danh tất hữu trọng trách, đại công tất hữu cơ cùng. Thậm ái tất thậm phí, thậm dự tất thậm huỷ. Thậm hỷ tất thậm ưu, thậm sỉ tất thậm vong. Ân ái sinh phiền não, truy tuỳ đại trượng phu. Đình tiền sinh thuỵ thảo, hảo sự bất như vô .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Viên ngọc không vết có thể làm thuế nước, con hiếu đễ có thế làm của gia bảo. Của gia bảo dùng rồi cũng có khi hết, trung hiếu đem hưởng không hết. Nhà hòa thuận thì nghèo cũng tốt, bất nghĩa thì giàu có ra gì? Chỉ còn một đứa con hiếu, cần gì con cháu nhiều? Cha không lo trong lòng vì con có hiếu, chồng không phiền não vì có vợ hiền. Nói nhiều nói bậy đều do rượu, tình nghĩa chấm dứt, người thân chia lìa chỉ vì tiền. Ðã nhận cái vui bất thường thì nên phòng mối lo bất trắ Vui tột độ thì buồn sinh ra, được yêu chiều phải nghĩ đến lúc chịu nhụ Ở cảnh yên vui phải lo lúc nguy cấp. Vinh nhiều thì nhục lớn. Lợi nặng thì hại sâu, danh vọng càng lớn thì khiển trách càng nặng, công to tất có khi cùng khốn kỳ lạ. Yêu lắm tất sử dụng lắm, khen lắm tất xỉ vả lắm, vui lắm tất lo lắm, xấu hổ lắm tất mất lắm. Ái ân sinh phiền não, đeo đuổi đại trượng phu. Trước sân mọc lên cỏ báo điềm tốt. Dù có gặp việc tốt cũng không bằng không có.

*Diễn ca: –

Ngọc quý có thể thay quốc thuế (*),
Gia bảo là con hiếu trong nhà.
Ngọc dùng sẽ hết thôi mà!
Chỉ điều trung hiếu mới là bền lâu.

Nhà bất nghĩa, càng giàu càng bậy.
Nhà thuận hòa, nghèo mấy vẫn hay.
Chỉ cần một đứa thảo ngay,
Ðâu cần chi phải đông đầy cháu con?

Con hiếu thảo, cha không lo lắng,
Vợ hiền hòa, chồng chẳng đau đầu.
Lắm lời lải nhải đâu đâu,
Chẳng qua lỡ uống phải bầu Ðỗ Khang (*).

Chỗ anh em, họ hàng xào xáo,
Chỉ vì không chu đáo tiền nong.
Khi niềm vui rộn rã lòng,
Phải nên đề phòng sẽ gặp lo âu.

Vui vẻ lắm, âu sầu càng lắm,
Nhục đến ngay say đắm yêu vì.
Sống yên phải tính sẽ nguy,
Vẻ vang phải liệu gặp kỳ nhuốc nhơ.

Lợi càng nặng, hại chờ càng nặng,
Danh to thì khó tránh trách phiền.
Ðược yêu, cuộc sống khó yên,
Ðược khen tất phải hứng liền chê bai.

Vui mừng cứ đan cài lo lắng,
Xấu hổ luôn, ắt hẳn trơ lì.
Chừng như xấu hổ mất đi,
Nhưng nào có ích được gì cho cam!

Chuyện ân ái dễ làm mệt óc,
Chẳng buông tha những bậc trượng phu.
Cho dù may mắn có dư,
Việc hay thì cũng chẳng như đừng làm.

*Chú thích:-

Quốc thuế: thuế của một nước, tức cống phẩm của nước nhỏ nộp nước lớn để tỏ ý thần phụ

Ðỗ Khang: tên người nấu rượu đầu tiên, được dùng làm tiếng lóng chỉ rượu.

(Chú ý: Ðoạn văn trên vận dụng thuyết Vô Vi của Lão giáo cách nay 25 thế kỷ, không hẳn là “bảo giám” làm “minh tâm” con người ngày nay).

3A1.

* Nguyên văn:-

素書云:推古驗今所以不惑。欲知未來,先察已往。

*Âm:-

Tố Thư vân :Suy cổ nghiệm kim sở dĩ bất hoặc. Dục tri vị lai, tiên sát dĩ vãng .

* Dịch nghĩa:-

Sách Tố thư nói: Suy xưa nghiệm nay là để khỏi lầm. Muốn biết vị lai, trước phải xét dĩ vãng.

*Diễn ca: –

Muốn cho xét việc khỏi nhầm,
Thì phải sưu tầm kinh nghiệm người xưa.
Chẳng nên nghĩ cạn, làm bừa,
Con người phải chừa dấu vết bản năng.

———————–

3A2.

* Nguyên văn:-

巧者多勞拙厭閒,
善嫌懦弱惡嫌頑。
富遭嫉妬貧遭賤,
勤曰貪婪儉曰慳。
觸目不分皆笑蠢,
見機而作又言奸。
思量那件當教做,
做人難做做人難。
 為人難,
 為人難。
寫得紙盡筆頭干,
更寫幾句為人難。

*Âm:-

Xảo giả đa lao chuyết yếm gian,
Thiện hiềm noạ nhược ác hiềm ngoán.
Phú tao tật đố bần tao tiện,
Cần viết tham lam kiệm viết kiên.
Xúc mục bất phân giai tiếu xuẩn,
Kiến cơ nhi tác hựu ngôn gian.
Tư lương na kiện đương giáo tố,
Tố nhân nan tố tố nhân nan.
 Vi nhân nan,
 Vi nhân nan.
Tả đắc chỉ tận bút đầu can,
Cánh tả cơ kỷ cú vi nhân nan.

* Dịch nghĩa:-

Kẻ khéo chán nhiều nhọc, kẻ vụng chán nhàn rỗi.

– Người thiện bị ghét là nhu nhược, kẻ ác bị ghét là ương ngạnh.

– Kẻ giàu bị ghen ghét, kẻ nghèo bị khinh bỉ.

– Kẻ siêng bị cho là tham lam, kẻ kiệm bị cho là bủn xỉn.

Thấy tận mắt mà không nhận ra mọi người đều cho là ngu ngố

Nhìn ra vận hội mà làm lại có kẻ nói là gian hùng.

Nghĩ kỹ những chuyện ấy nên phải làm.

Làm người khó, làm chuyện làm người khó.

Làm người khó thay! Làm người khó thay!

Viết cho hết giấy, bút khô mực,

Lại vẫn phải viết mấy câu: Làm người khó thay!

*Diễn ca: –

Khéo thì quá nhọc, vụng chê nhàn,
Thiện, cười nhu nhượ Ác, làm càn!
Giàu, người căm ghét. Nghèo, khinh rẻ,
Siêng, chuốc tiếng tham. Kiệm, rán sành. (*)
Nhận định mù mờ, chê: kẻ ngốc,
Ra tay nhanh nhạy, mỉa: quân gian!
Nghĩ sao cho đúng? Làm sao đúng?
Thật khó làm người! Khó tính toan!
Mực cạn, bút cùn ngồi chép mãi:
Làm người là việc khó muôn vàn!

*Chú thích:-

Rán sành: tức “rán sành ra mỡ” thành ngữ cay độc mắng kẻ quá keo kiệt lại ngu xuẩn, thấy mảnh sành bóng láng, tưởng có lớp mỡ bám ngoài (!)

9A.

* Nguyên văn:-

龐德公誡子詩云:

凡人百藝好隨身,
賭博門中莫去親。
能使英雄為下賤,
解教富貴作飢貧。
衣衫襤褸親朋笑,
田地消磨骨肉嗔。
不信但看鄉黨內,
眼前衰敗幾多人。

*Âm:-

Bàng Đức Công Giới Tử Thi vân :

Phàm nhân bách nghệ hảo tuỳ thân,
Đổ bác môn trung mạc khứ thân.
Năng sử anh hùng vi hạ tiện,
Giải giao phú quí tác cơ bần.
Y sam lam lũ thân bằng tiếu,
Điền địa tiêu ma cốt nhục sân.
Bất tín đản khan hương đảng nội,
Nhãn tiền suy bại kỷ đa nhân .

* Dịch nghĩa:-

Bài thơ cảnh báo con của Bàng Ðức Công viết: Người đời có cả trăm nghề để theo. Chớ nên đến gần cửa cờ bạc. Nó có khả năng khiến anh hùng làm kẻ thấp hèn. Nó cởi bỏ giàu sang làm thành kẻ nghèo đói. Áo xống lam lũ, bạn thân cũng chê cười. Ruộng đất tiêu ma, cốt nhục gây gổ. Không tin thì chỉ cần xem trong làng xóm. Ðã có nhiều người suy bại ngay trước mắt.

* Diễn ca: –

Trăm nghề trong cõi người đời,
Riêng nghề cờ bạc, con thời lánh xa.
Anh hùng nó biến hèn ra,
Giàu sang nó biến thành ma đói nghèo.
Áo quần xơ xác não nề,
Bạn bè cười giễu chẳng hề nể đâu!
Ruộng vườn bán sạch từ lâu,
Anh em gây gổ, quên câu ruột rà.
Chẳng tin ngó kỹ làng ta,
Tan cơ nát nghiệp phải là ít đâu!

—————–

10A.

* Nguyên văn:-

一樣人身幾樣心,
一般茶飯一般人,
同時天光同時夜,
幾人富貴幾人貧。
君子貧時有禮義,
小人乍富便欺貧。
東海龍王常在世,
得時休笑失時人。
大家忍耐隨時過,
知他誰是百年人。

*Âm:-

Nhất dạng nhân thân kỷ dạng tâm,
Nhất ban trà phạn nhất ban nhân,
Đồng thời thiên quang đồng thời dạ,
Kỷ nhân phú quí kỷ nhân bần.
Quân tử bần thời hữu lễ nghĩa,
Tiểu nhân sạ phú tiện khi bần.
Đông hải long vương thường tại thế,
Đắc thời hưu tiếu thất thời nhân.
Đại gia nhẫn nại tuỳ thời quá,
Tri tha thuỳ thị bách niên nhân .

* Dịch nghĩa:-

Cùng một dáng người, mấy dáng tâm,
Một loại trà cơm, một loại người.
Cùng lúc sáng trời, cùng lúc đêm về,
Mấy người giàu sang, mấy người nghèo?
Quân tử lúc nghèo có lễ nghĩa.
Tiểu nhân chợt giàu liền khinh nghèo.
Ðông Hải Long Vương (*) thường ở đời,
Ðược thời chớ cười người mất thời.
Mọi người hãy nhẫn nại sống theo thời,
Biết người khác ai sống được trăm năm?

*Diễn ca: –

Bề ngoài ai cũng giống ai,
Bề trong, Tâm mới làm sai hạng người.
Tuy cùng nước hớp, cơm xơi,
Ði sáng về tối ta thời như nhau.
Thế nhưng đây khó, đó giàu,
Dù nghèo, quân tử giữ màu lễ nghi.
Tiểu nhân giàu có gặp thì,
Tỏ ngay cái vẻ khinh khi người nghèo.
Muôn đời sóng biển vẫn reo,
Vẫn nhìn nhân loại giàu nghèo luân phiên.
Vẫn chứng kiến cảnh đảo điên,
Kẻ đắc thế liền cười kẻ sa cơ.
Theo thời, nấn ná ai ơi!
Thử xem thiên hạ ai người trăm năm?

*Chú thích:-

Ðông Hải Long Vương: vua Rồng cai quản biển Ðông, được coi là kẻ có mặt thường xuyên liên tục trên đời, chứng kiến đầy đủ các sự kiện.

11A.

* Nguyên văn:-

瘦地開花晚,
貧窮發福遲。
莫道蛇無角,
成龍也未知。
但看天上月,
團圓有缺時。

*Âm:-

Sấu địa khai hoa vãn,
Bần cùng phát phước trì.
Mạc đạo xà vô giác,
Thành long dã vị tri.
Đản khan thiên thượng nguyệt,
Đoàn viên hữu khuyết thời .

* Dịch nghĩa:-

Ðất xấu trổ hoa muộn,
Nghèo nàn phát phước chậm.
Ðừng bảo rắn không sừng,
Thành rồng chưa biết lúc nào.
Chỉ cần xem trăng trên trời,
Tròn trặn có lúc khuyết.

*Diễn ca: –

Ðất cằn hoa nở muộn,
Nghèo túng phước lâu về.
Rắn không sừng chớ chê,
Hóa rồng chẳng mấy chố
Trăng tuy tròn có lúc,
Cũng khuyết ngay đấy thôi!

—————–

12A.

* Nguyên văn:-

萬事由天莫強求,
何需苦苦用心謀。
三餐飯內休糊想,
得一帆風便可收。
生事事生何日了,
害人人害幾時休。
冤家宜解不宜結,
各自回頭看後頭。

*Âm:-

Vạn sự do thiên mạc cưỡng cầu,
Hà nhu khổ khổ dụng tâm mưu.
Tam xan phạn nội hưu hồ tưởng,
Đắc nhất phàm phong tiện khả thu.
Sinh sự sự sinh hà nhật liễu,
Hại nhân nhân hại kỷ thời hưu.
Oan gia nghi giải bất nghi kết,
Các tự hồi đầu khán hậu đầu .

* Dịch nghĩa:-

Muôn việc do trời chớ có gượng tìm. Sao phải khổ khổ dùng lòng tính mọi cách. Chớ nên mơ tưởng hão huyền ngoài ba bữa cơm. Gió no buồm rồi thì cuộn buồm lại. Bày ra việc rồi việc đẻ việc ngày nào mới xong? Lo hại người, lo người hại lại, lúc nào mới thôi? Mối oan nên cởi không nên thắt. Mỗi người hay quay đầu nhìn phía sau.

* Diễn ca: –

Gượng đòi chi nổi với trời?
Nhọc công xoay xở, việc đời vẫn trơ.
Ðược ăn ba bữa thôi mơ,
Gió no buồm nghỉ, đừng chờ gió thêm.
Việc đẻ việc, lúc nào êm?
Hại người, người hại, ai thèm dừng đâu?
Cởi oan, chớ thắt thêm sâu,
Hãy quay nhìn lại phía sau mỗi người.

13A.

* Nguyên văn:-

雀喙四顧食,
燕寢無疑心。
量大福亦大,
機深禍亦深。

*Âm:-

Tước uế tứ cố thực,
Yên tẩm vô nghi tâm.
Lương đại phước diệc đại,
Cơ thâm hoạ diệc thâm .

* Dịch nghĩa:-

Chim sẻ mổ ăn quay nhìn bốn phía.
 Chim én ngủ thoải mái không nghi ngại gì.
Ðộ lượng lớn, phước cũng lớn.
 Mưu cơ sâu họa cũng sâu.

*Diễn ca: –

Chim sẻ lăng xăng ngảnh bốn bên,
Tiểu nhân bận rộn thuở nào yên?
Én kia nằm nghỉ lòng thanh thản,
Quân tử bất tranh nhẹ nhõm mình.
Ðộ lượng khoan hồng phước càng lớn,
Tâm cơ thâm hiểm họa càng kinh.

XI – Tuyển dịch thiên thứ mười một: TỈNH TÂM

1A.

* Nguyên văn:-

資世通訓雲:陰法遲而不漏,陽憲近而有逃。陽網密而易漏,陰網疏而難逃。

*Âm:-

Tư Thế Thông Huấn vân :Âm pháp trì nhi bất lậu, dương hiến cận nhi hữu đào. Dương võng mật nhi dị lậu, âm võng sơ nhi nan đào .

* Dịch nghĩa:-

Bài Tư Thế Thông Huấn viết: Phép trừng trị của cõi âm chậm mà không lọt. Thể chế của cõi dương gần mà có cách trốn thoát. Lưới cõi dương dày mà dễ lọt, lưới cõi âm thưa mà khó trốn thoát.

*Diễn ca: –

Phép trừng trị cõi âm khó thấy,
Chậm nhận ra nhưng lại chắc sần.
Thể chế nhà nước thật gần,
Thiên hạ chỉ cần móc ngoặc thật hay.
Tha hồ xa chạy cao bay,
Lưới luật để sổng… cả bầy nhà lươn!
Lưới cõi âm, vô phương móc ngoặc,
Mắt lưới thưa, bởi thật lâu đời.
Bao nhiêu tội dưới bầu trời,
Lưới không để lọt dù người bé, to…

——————-

2A.

* Nguyên văn:-

景 行錄云:無瑕之玉,可以為國稅。孝弟之子可以為家寶。寶貝用之有盡,忠孝享之無窮。家和貧也好,不義富如何?但存一子孝,何用子孫多?父不憂心因子孝,夫 無煩惱是妻賢。言多語失皆因酒,義斷親疏只為錢。既取非常樂,須防不測憂。樂極悲生。得寵思辱,居安慮危。榮盛辱大,利重害深。盛名必有重責,大功必有奇窮。甚愛必甚費,甚譽必甚毀。甚喜必甚憂,甚恥必甚亡。恩愛生煩惱,追隨大丈夫。庭前生瑞草,好事不如無。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Vô hà chi ngọc, khả dĩ vi quốc thuế. Hiếu đệ chi tử khả dĩ vi gia bảo. Bảo bối dụng chi hữu tận, trung hiếu hưởng chi vô cùng. Gia hoà bần dã hảo, bất nghĩa phú như hà ?Đản tồn nhất tử hiếu, hà dụng tử tôn đa ?Phụ bất ưu tâm nhân tử hiếu, phu vô phiền não thị thê hiền. Ngôn đa ngữ thất giai nhân tửu, nghĩa đoạn thân sơ chỉ vị tiền. Ký thủ phi thường lạc, tu phòng bất trắc ưu. Lạc cực bi sinh. Đắc sủng tư nhục, cư an lự nguy. Vinh thịnh nhục đại, lợi trọng hại thâm. Thịnh danh tất hữu trọng trách, đại công tất hữu cơ cùng. Thậm ái tất thậm phí, thậm dự tất thậm huỷ. Thậm hỷ tất thậm ưu, thậm sỉ tất thậm vong. Ân ái sinh phiền não, truy tuỳ đại trượng phu. Đình tiền sinh thuỵ thảo, hảo sự bất như vô .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Viên ngọc không vết có thể làm thuế nước, con hiếu đễ có thế làm của gia bảo. Của gia bảo dùng rồi cũng có khi hết, trung hiếu đem hưởng không hết. Nhà hòa thuận thì nghèo cũng tốt, bất nghĩa thì giàu có ra gì? Chỉ còn một đứa con hiếu, cần gì con cháu nhiều? Cha không lo trong lòng vì con có hiếu, chồng không phiền não vì có vợ hiền. Nói nhiều nói bậy đều do rượu, tình nghĩa chấm dứt, người thân chia lìa chỉ vì tiền. Ðã nhận cái vui bất thường thì nên phòng mối lo bất trắ Vui tột độ thì buồn sinh ra, được yêu chiều phải nghĩ đến lúc chịu nhụ Ở cảnh yên vui phải lo lúc nguy cấp. Vinh nhiều thì nhục lớn. Lợi nặng thì hại sâu, danh vọng càng lớn thì khiển trách càng nặng, công to tất có khi cùng khốn kỳ lạ. Yêu lắm tất sử dụng lắm, khen lắm tất xỉ vả lắm, vui lắm tất lo lắm, xấu hổ lắm tất mất lắm. Ái ân sinh phiền não, đeo đuổi đại trượng phu. Trước sân mọc lên cỏ báo điềm tốt. Dù có gặp việc tốt cũng không bằng không có.

*Diễn ca: –

Ngọc quý có thể thay quốc thuế (*),
Gia bảo là con hiếu trong nhà.
Ngọc dùng sẽ hết thôi mà!
Chỉ điều trung hiếu mới là bền lâu.

Nhà bất nghĩa, càng giàu càng bậy.
Nhà thuận hòa, nghèo mấy vẫn hay.
Chỉ cần một đứa thảo ngay,
Ðâu cần chi phải đông đầy cháu con?

Con hiếu thảo, cha không lo lắng,
Vợ hiền hòa, chồng chẳng đau đầu.
Lắm lời lải nhải đâu đâu,
Chẳng qua lỡ uống phải bầu Ðỗ Khang (*).

Chỗ anh em, họ hàng xào xáo,
Chỉ vì không chu đáo tiền nong.
Khi niềm vui rộn rã lòng,
Phải nên đề phòng sẽ gặp lo âu.

Vui vẻ lắm, âu sầu càng lắm,
Nhục đến ngay say đắm yêu vì.
Sống yên phải tính sẽ nguy,
Vẻ vang phải liệu gặp kỳ nhuốc nhơ.

Lợi càng nặng, hại chờ càng nặng,
Danh to thì khó tránh trách phiền.
Ðược yêu, cuộc sống khó yên,
Ðược khen tất phải hứng liền chê bai.

Vui mừng cứ đan cài lo lắng,
Xấu hổ luôn, ắt hẳn trơ lì.
Chừng như xấu hổ mất đi,
Nhưng nào có ích được gì cho cam!

Chuyện ân ái dễ làm mệt óc,
Chẳng buông tha những bậc trượng phu.
Cho dù may mắn có dư,
Việc hay thì cũng chẳng như đừng làm.

*Chú thích:-

Quốc thuế: thuế của một nước, tức cống phẩm của nước nhỏ nộp nước lớn để tỏ ý thần phụ

Ðỗ Khang: tên người nấu rượu đầu tiên, được dùng làm tiếng lóng chỉ rượu.

(Chú ý: Ðoạn văn trên vận dụng thuyết Vô Vi của Lão giáo cách nay 25 thế kỷ, không hẳn là “bảo giám” làm “minh tâm” con người ngày nay).

3A1.

* Nguyên văn:-

素書云:推古驗今所以不惑。欲知未來,先察已往。

*Âm:-

Tố Thư vân :Suy cổ nghiệm kim sở dĩ bất hoặc. Dục tri vị lai, tiên sát dĩ vãng .

* Dịch nghĩa:-

Sách Tố thư nói: Suy xưa nghiệm nay là để khỏi lầm. Muốn biết vị lai, trước phải xét dĩ vãng.

*Diễn ca: –

Muốn cho xét việc khỏi nhầm,
Thì phải sưu tầm kinh nghiệm người xưa.
Chẳng nên nghĩ cạn, làm bừa,
Con người phải chừa dấu vết bản năng.

———————–

3A2.

* Nguyên văn:-

巧者多勞拙厭閒,
善嫌懦弱惡嫌頑。
富遭嫉妬貧遭賤,
勤曰貪婪儉曰慳。
觸目不分皆笑蠢,
見機而作又言奸。
思量那件當教做,
做人難做做人難。
 為人難,
 為人難。
寫得紙盡筆頭干,
更寫幾句為人難。

*Âm:-

Xảo giả đa lao chuyết yếm gian,
Thiện hiềm noạ nhược ác hiềm ngoán.
Phú tao tật đố bần tao tiện,
Cần viết tham lam kiệm viết kiên.
Xúc mục bất phân giai tiếu xuẩn,
Kiến cơ nhi tác hựu ngôn gian.
Tư lương na kiện đương giáo tố,
Tố nhân nan tố tố nhân nan.
 Vi nhân nan,
 Vi nhân nan.
Tả đắc chỉ tận bút đầu can,
Cánh tả cơ kỷ cú vi nhân nan.

* Dịch nghĩa:-

Kẻ khéo chán nhiều nhọc, kẻ vụng chán nhàn rỗi.

– Người thiện bị ghét là nhu nhược, kẻ ác bị ghét là ương ngạnh.

– Kẻ giàu bị ghen ghét, kẻ nghèo bị khinh bỉ.

– Kẻ siêng bị cho là tham lam, kẻ kiệm bị cho là bủn xỉn.

Thấy tận mắt mà không nhận ra mọi người đều cho là ngu ngố

Nhìn ra vận hội mà làm lại có kẻ nói là gian hùng.

Nghĩ kỹ những chuyện ấy nên phải làm.

Làm người khó, làm chuyện làm người khó.

Làm người khó thay! Làm người khó thay!

Viết cho hết giấy, bút khô mực,

Lại vẫn phải viết mấy câu: Làm người khó thay!

*Diễn ca: –

Khéo thì quá nhọc, vụng chê nhàn,
Thiện, cười nhu nhượ Ác, làm càn!
Giàu, người căm ghét. Nghèo, khinh rẻ,
Siêng, chuốc tiếng tham. Kiệm, rán sành. (*)
Nhận định mù mờ, chê: kẻ ngốc,
Ra tay nhanh nhạy, mỉa: quân gian!
Nghĩ sao cho đúng? Làm sao đúng?
Thật khó làm người! Khó tính toan!
Mực cạn, bút cùn ngồi chép mãi:
Làm người là việc khó muôn vàn!

*Chú thích:-

Rán sành: tức “rán sành ra mỡ” thành ngữ cay độc mắng kẻ quá keo kiệt lại ngu xuẩn, thấy mảnh sành bóng láng, tưởng có lớp mỡ bám ngoài (!)

4A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:木有所養則根本固而枝葉茂,棟樑之材成。水有所養則源泉壯而流脈長,灌溉之利博。人有所養則志氣大而見識明,忠義之士出。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Mộc hữu sở dưỡng tắc căn bản cố nhi chi diệp mậu, đống lương chi tài thành. Thuỷ hữu sở dưỡng tắc nguyên tuyền tráng nhi lưu mạch trường, quán khái chi lợi bác. Nhân hữu sở dưỡng tắc chí khí đại nhi kiến thức minh, trung nghĩa chi sĩ xuất .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Cây có cách nuôi thì gốc rễ bền mà cành lá tốt, đồ làm rường cột mới thành. Nước có cách nuôi thì suối nguồn khỏe, dòng chảy dài, cái lợi tưới tiêu được rải khắp. Người có cách nuôi thì chí khí lớn mà kiến thức sáng suốt, kẻ sĩ trung nghĩa mới xuất hiện.

*Diễn ca: –

Cây kia chăm sóc khéo tay,
Mới bền gốc rễ, mới đầy lá xanh.
Gỗ làm kèo, cột mới thành,
Nhà cao cửa rộng phải đành nhờ cây.
Nước kia chăm sóc khéo tay,
Suối nguồn mới khỏe, mới dài kênh, sông.
Tưới, tiêu mới khắp ruộng đồng,
Mới giúp con cháu nhà nông no đầy.
Người mà chăm sóc ngày ngày,
Chí khí phát triển, trí tài mới tinh.
Trung nghĩa từ đấy mới sinh,
Ðất nước nhờ đấy quang vinh thêm nhiều.

——————

5A.

* Nguyên văn:-

左傳云:意合則吳越相親,意不合則骨肉為仇敵。
疑人莫用,用人莫疑。
物極則反,樂極則悲,大合必離,勢盛必衰,否極泰來。

*Âm:-

Tả Truyện vân :Ý hợp tắc Ngô Việt tương thân, ý bất hợp tắc cốt nhục vi cừu địch.
Nghi nhân mạc dụng, dụng nhân mạc nghi.
Vật cực tắc phản, lạc cực tắc bi, đại hợp tất ly, thế thịnh tất suy, bỉ cực thái lai .

* Dịch nghĩa:-

Sách Tả truyện nói: Ý hợp thì Ngô Việt (*) thân nhau. Ý không hợp thì tình ruột thịt cũng làm cừu địch. Nghi người thì đừng dùng, dùng người thì đừng nghi.

Vật phát triển đến tột cùng thì phải quay ngược lại: vui tột cùng thì đau buồn, hợp tới tột cùng thì chia lìa, thế lực thịnh tất sẽ suy, suy tột cùng thì thịnh lại.

*Diễn ca: –

Hợp ý, thù cũng yên,
Thù nhau, nếu trái ý.
Dùng người, đừng nghi kỵ,
Nghi kỵ thì đừng dùng.
Vật phát triển đến cùng,
Quay trăm tám mươi độ. (180°)
Vì thế, vui… hết số,
Tất phải chuyển ra buồn.
Liên kết phình đến cùng,
Mầm ly khai nhen nhóm.
Thế lực tột cùng lớn,
Tất sắp sửa suy vong.
Chịu hết hồi long đong,
Tất hưởng mùi sung sướng…

*Chú thích:-

Ngô Việt: tên hai nước chư hầu đánh nhau quyết liệt vì thù hận truyền kiếp. Cuối cùng, Việt tiêu diệt Ngô.

******

6A.

* Nguyên văn:-

水底魚,天邊雁,高可射兮低可釣。惟有人心咫尺間,咫尺人心不可料。天可度,地可量,惟有人心不可防。畫虎畫皮難畫骨,知人知面不知心。對面與語,心隔千山。

*Âm:-

Thuỷ để ngư, thiên biên nhạn, cao khả xạ hề đê khả điếu. Duy hữu nhân tâm chỉ xích gian, chỉ xích nhân tâm bất khả liệu. Thiên khả đạc, địa khả lượng, duy hữu nhân tâm bất khả phòng. Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm. Đối diện dữ ngữ, tâm cách thiên sơn .

* Dịch nghĩa:-

Cá đáy nước, nhạn bên trời, cao có thể bắn, thấp có thể câu, chỉ có lòng người trong khoảng gang tấc (*) nhưng gang tấc ấy không thể đo, đất có thể lường chỉ có lòng người không thể ngừa. Vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương. Biết người biết mặt không biết lòng. Ðối diện chuyện trò, lòng cách nghìn non.

*Diễn ca: –

Cá đáy nước, nhạn bên trời,
Dễ câu, dễ bắn, lòng người mới gay.
Thà đo trời thẳm đất dày,
Lòng người nham hiểm dễ ai biết ngừa?
Xương hùm ai dám vẽ chưa?
Vẽ da, ai cũng biết vừa sức hơn!
Chuyện trò tay bắt mặt mừng,
Lòng đây lòng đấy nghìn trùng cách xa.

*Chú thích:-

Gang tấc: nguyên văn “chỉ xích” mô tả khoảng cách không đáng kể (chỉ: 0.256m, xích: 0.325m).

—————–

7A.

* Nguyên văn:-

太公曰:凡人不可逆相,海水不可斗量。勸君莫結冤,冤深難解結。一日結成冤,千日解不徹。若將恩報冤,如湯去潑雪。若將冤報冤,如狼重見蠍。我見結冤人,盡被冤磨折。

*Âm:-

Thái Công viết :Phàm nhân bất khả nghịch tương, hải thuỷ bất khả đẩu lương. Khuyến quân mạc kết oán, oán thâm nan giải kết. Nhất nhật kết thành oán, thiên nhật giải bất triệt. Nhược tương ân báo oán, như thang khứ bát tuyết. Nhược tương oán báo oán, như lang trọng kiến yết. Ngã kiến kết oán nhân, tận bị oán ma chiết .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Người ta không nên đoán trước qua bề ngoài. Nước biển không thể đong bằng chén uống rượu. Khuyên người chớ kết oán, oán sâu khó cởi ra. Một ngày kết thành oán, nghìn ngày cởi chẳng sạch. Nếu đem ơn đáp oán, như đem nước sôi dội tuyết. Nếu đem oán đáp oán, như chó sói gặp bọ cạp. Ta thấy những người kết oán đều bị oán làm cho sứt mẻ cả.

*Diễn ca: –

Ðừng xét người đời kiểu đoán trước,
Nước biển đem cốc lường sao được?
Khuyên ai chớ có kết oan gia,
Oan gia đã buộc khó gỡ ra.
Oan gia, dù chỉ một ngày kết,
Cởi suốt nghìn ngày cũng không hết.
Nếu đem ơn nghĩa đáp oan gia,
Như dội nước sôi, tuyết chảy ra.
Nếu cứ đem oan báo oan riết,
Sói gặp bọ cạp chịu hết xiết.
Ta từng thấy bao kẻ gây oan,
Hết thảy đều chuốc bao nguy nan…

8A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:結冤於人,謂之種禍,舍善不為,謂之自賊。莫信直中直,須防仁不仁。禮義生於富足,盜賊起於飢寒。貧窮不與下賤而下賤自生,富貴不與驕奢而驕奢自至。

飽暖思淫慾,飢寒起盜心。長思貧難危困自然不驕,每念疾病熬煎並無愁悶。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Kết oán ư nhân, vị chi chủng hoạ, xả thiện bất vi, vị chi tự tặc. Mạc tín trực trung trực, tu phòng nhân bất nhân. Lễ nghĩa sinh ư phú túc, đạo tặc khởi ư cơ hàn. Bần cùng bất dữ hạ tiện nhi hạ tiện tự sinh, phú quí bất dữ kiêu xa nhi kiêu xa tự chí.

Bão noãn tư dâm dục, cơ hàn khởi đạo tâm. Trường tư bần nan nguy khốn tự nhiên bất kiêu, mỗi niệm tật bệnh ngao tiên tịnh vô sầu muộn.

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Kết oan với người gọi là trồng họa, bỏ việc thiện không làm gọi là tự hại mình. Chớ tin cái gọi là thẳng của kẻ thẳng, phải đề phòng cái bất nhân của người nhân. Lễ nghĩa nảy sinh nơi giàu đủ, trộm cướp nổi lên nơi đói rét. Nghèo nàn không đi cùng hạ tiện mà hạ tiện tự sinh. Giàu sang không đi cùng kiêu xa nhưng kiêu xa tự đến.

No ấm nghĩ đến dâm dục, đói rét nổi lên lòng trộm cắp. Nghĩ mãi đến nghèo khổ, tai nạn nguy khốn, tự nhiên không kiêu. Nhớ mãi đến tật bệnh thuốc thang sẽ không sầu muộn.

*Diễn ca: –

Kết oan, trồng họa chờ ngày,
Vứt bỏ việc thiện, gây tai ương mình.
Thẳng thắn chưa hẳn đủ tin,
Trong nhân, nhận rõ tình hình bất nhân.
Khi giàu, lễ nghĩa đến gần,
Khi nghèo, thói trộm dần dần nảy sinh.
Ðã nghèo tự khắc hóa hèn,
Ðã giàu, xa xỉ, kiêu căng nẩy liền.
No đầy, tơ tưởng… “chơi tiên”,
Ðói rét nghĩ cách kiếm tiền thật nhanh.
Thấp thỏm sợ chuyện chẳng lành,
Tự chữa cho mình khỏi thói kiêu căng.
Nhớ hoài bệnh tật, thuốc men,
Tự nhiên xóa sạch buồn phiền quấy ta.

—————-

9A.

* Nguyên văn:-

疏廣曰:賢人多財則損其志,愚人多財則益其過。

*Âm:-

Sớ Quảng viết :Hiền nhân đa tài tắc tổn kỳ chí, Ngu nhân đa tài tắc ích kỳ quá .

* Dịch nghĩa:-

Sớ Quảng nói: Người giỏi có nhiều của thì hao tổn chí hướng của họ. Người ngu có nhiều của thì càng có thêm cái lỗi của họ.

*Diễn ca: –

Người giỏi có lắm của,
Của làm nhụt chí đi.
Kẻ ngu có lắm của,
Của xui tội thêm ghi.

10A.

* Nguyên văn:-

老子曰 : [多財失其守正,多學惑於所聞。」

*Âm:-

Lão Tử viết : [ Đa tài thất kỳ thủ chính, đa học hoặc ư sở văn .]

* Dịch nghĩa:-

Lão Tử nói: Của nhiều làm mất đi cái chân lý mình bám giữ. Học nhiều làm nghi hoặc vốn kiến thức đã thu thập.

*Diễn ca: –

Của nhiều, lý tưởng hao đi,
Học nhiều, nghi hoặc những gì tưởng hay.

—————–
11A.

* Nguyên văn:-

人非堯舜,焉能每事盡善?人貧志短,福至心靈。不經一事,不長一智。成則妙用,敗則不能。是非終日有,不聽自然無。來說是非者,便是是非人。若聽二面說,便見相離別。

*Âm:-

Nhân phi Nghiêu Thuấn, yên năng mỗi sự tận thiện ?Nhân bần chí đoản, phước chí tâm linh. Bất kinh nhất sự, bất trường nhất trí. Thành tắc diệu dụng, bại tắc bất năng. Thị phi chung nhật hữu, bất thính tự nhiên vô. Lai thuyết thị phi giả, tiện thị thị phi nhân. Nhược thính nhị diện thuyết, tiện kiến tương ly biệt .

* Dịch nghĩa:-

Người ta không phải là vua Nghiêu vua Thuấn (*) làm sao mọi việc đều tốt hết mức được? Người nghèo thì lập chí kém, phước đến thì lòng tinh tế ra. Không từng trải một việc thì không khôn ra một chút, việc thành thì cho là tuyệt vời, việc bại thì cho là không có khả năng. Phải trái cả ngày phải có. Cứ không nghe là tự nhiên thành không có. Kẻ đến nói chuyện phải trái tức là con người lắm chuyện. Nếu nghe hai kẻ lắm chuyện như thế nói, sẽ thấy cả hai cách biệt hẳn nhau.

*Diễn ca: –

Nghiêu Thuấn là mẫu người xưa,
Ngày nay ai dám so bừa thánh quân?
Nhà nghèo lập chí khó khăn,
May ra phước đến, khôn lanh ít nhiều.
Việc đời chưa trải bao nhiêu,
Dễ chi tài trí cao siêu hơn đời?
Việc thành, ca ngợi vẽ vời,
Việc hỏng chuốc lấy bao lời chê bai.
Phải quấy ai chẳng một vài,
Nghe đâu bỏ đấy chẳng ai phiền lòng.
Kẻ đem phải quấy phao đồn,
(Là trò khó phỉnh người khôn mắc lừa!)
Nếu nghe hai phía phân bua,
Thấy ngay là chả ai vừa với ai!

*Chú thích:-

Nghiêu Thuấn: vua Ðường Nghiêu (2357 – 2256 trước Công Nguyên) và Ngu Thuấn (2255 – 2206 trước Công Nguyên). Tương truyền là hai vị vua đạo đức nhất.

12A.

* Nguyên văn:-

擊壤詩云:平生不作皺眉事,天下應無切齒人。爾害別人猶自可,別人害爾卻何如?嫩草怕霜霜怕日,惡人自有惡人磨。有名豈在鐫頑石,路上行人口勝碑。有麝自然香,何必當風立?

*Âm:-

Kích Nhưỡng Thi vân :

Bình sinh bất tác trứu mi sự,
Thiên hạ ưng vô thiết xỉ nhân.
Nhĩ hại biệt nhân do tự khả,
Biệt nhân hại nhĩ khước hà như ?
Nộn thảo phạ sương sương phạ nhật,
Ác nhân tự hữu ác nhân ma.
Hữu danh khởi tại tuyên ngoán thạch,
Lộ thượng hành nhân khẩu thắng bi.

Hữu xạ tự nhiên hương, hà tất đương phong lập ?

* Dịch nghĩa:-

Thơ Kích Nhưỡng (*) nói: Trong đời không làm việc nhíu mày, thiên hạ sẽ không có người nghiến răng. Mầy hại người khác thì mầy cho là được, người khác hại mầy thì mới sao? Cỏ non sợ sương, sương sợ mặt trời. Kẻ ác tự nhiên có kẻ ác giũa mài nó. Có danh há ở chỗ khắc vào đá cứng? Những người đi trên đường có miệng hơn bia đá. Có xạ tự nhiên thơm. Cần gì phải đứng đầu gió?

*Diễn ca: –

Ðừng làm thiên hạ chau mày,
Thì thiên hạ chẳng có ai căm hờn.
Mầy hại người, tưởng mầy hơn,
Người ta hại lại, mầy còn nói chi?
Cỏ non sương muối teo đi,
Mặt trời rọi xuống, sương kia tan tành.
Kẻ ác cứ tưởng lừng danh,
Phải tôn kẻ khác đàn anh mấy hồi?
Danh đâu khắc đá đỉnh đồi?
Nó nằm ở miệng người đời đấy thôi.
Xạ thơm thì đã thơm rồi,
Cần chi phải đặt ở nơi gió nhiều?

————-
13A.

* Nguyên văn:-

張無盡曰:事不可使盡,勢不可倚盡,言不可道盡,福不可享盡。有福莫享盡,福盡身貧窮。有勢莫倚盡,勢盡冤相逢。福兮常自惜,勢兮常自恭。人生驕與侈,有始多無終。

*Âm:-

Trương Vô Tận viết :Sự bất khả sử tận, thế bất khả ỷ tận, ngôn bất khả đạo tận, phước bất khả hưởng tận. Hữu phước mạc hưởng tận, phước tận thân bần cùng. Hữu thế mạc ỷ tận, thế tận oán tương phùng. Phước hề thường tự tích, thế hề thường tự cung. Nhân sinh kiêu dữ xỉ, hữu thủy đa vô chung .

* Dịch nghĩa:-

Trương Vô Tận nói: Việc không nên làm đến hết, thế không nên ỷ hết, nói không nên nói hết, phước không nên hưởng hết. Có phước không hưởng hết, phước hết mình nghèo túng. Có thế không dùng hết, thế hết gặp oan trái. Phước phải thường tiếc, thế phải thường cung kính. Người kiêu căng với xa xỉ chỉ có được lúc đầu, phần nhiều không có lúc cuối.

*Diễn ca: –

Việc đời giữ mực vừa vừa,
Cần phải biết chừa khoảng cách an ninh.
Chớ nên dốc hết bình sinh,
Có quyền thế phải giữ mình khiêm cung.
Nói năng cũng phải dè chừng,
Có phước chớ hưởng đến cùng cho xong.
Hết phước sẽ gặp long đong,
Hết quyền thế, chuốc mối oan là thường.
Hưởng phước phải biết dè chừng.
Hưởng quyền thế phải nhún nhường giữ thân.
Những người xa xỉ, kiêu căng,
Chỉ được vênh váo, hung hăng lúc đầu.
Rồi ra lép vế về sau,
Ai ơi! Hãy liệu khuyên nhau vừa vừa!

14A.

* Nguyên văn:-

太公曰:貧不可欺,富不可侍。陰陽相推,週而復始。

*Âm:-

Thái Công viết :Bần bất khả khi, phú bất khả thị. Âm dương tương thôi, chu nhi phục thủy .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Nghèo không nên khinh, giàu không nên cậy, âm dương đắp đổi nhau, giáp vòng là quay lại lúc đầu.

*Diễn ca: –

Thấy nghèo thì chớ có khinh,
Thấy giàu chớ tưởng là mình dễ vay.
Âm dương đắp đổi vần xoay,
Hôm qua nghèo đấy, hôm nay giàu rồi!
Ngày mai nghèo lại ngay thôi,
Thế là vận số đã trôi giáp vòng.

——————

15A.

* Nguyên văn:-

王參政四留銘言:

留有餘不盡之功以還造化;
留有餘不盡之祿以還朝廷;
留有餘不盡之財以還百姓;
留有餘不盡之福以遺子孫。

*Âm:-

Vương Tham Chính Tứ Lưu Minh ngôn :

Lưu hữu dư bất tận chi công dĩ hoàn tạo hoá ;
Lưu hữu dư bất tận chi lộc dĩ hoàn triều đình ;
Lưu hữu dư bất tận chi tài dĩ hoàn bách tính ;
Lưu hữu dư bất tận chi phước dĩ di tử tôn.

* Dịch nghĩa:-

Bài minh 「Ðể lại bốn cái」 của Vương Tham Chính viết:

– Ðể lại phần còn thừa của công lao chưa hưởng hết trả lại Tạo Hóa.

– Ðể lại phần còn thừa của bổng lộc chưa hưởng hết trả lại triều đình.

– Ðể lại phần còn thừa của tiền tài chưa hưởng hết trả lại trăm họ.

– Ðể lại phần còn thừa của phước đức chưa hưởng hết trả lại con cháu.

*Diễn ca: –

Công lao xin hưởng vừa vừa,
Ðể lại phần thừa trả Tạo Hóa thôi.
Bổng lộc cũng đã hưởng rồi,
Ðể phần thừa lại trả nơi triều đình.
Tiền tài hưởng đủ phần mình,
Phần thừa để lại chúng sinh làm quà.
Phận may hưởng được phước nhà,
Dành cho con cháu, bớt ra một phần.

**********

16A.

* Nguyên văn:-

漢書云:勢交者近,勢盡而亡。財交者密,財盡則疏。色交者親,色衰義絕。

*Âm:-

Hán Thư vân :Thế giao giả cận, thế tận nhi vong. Tài giao giả mật, tài tận tắc sơ /sớ. Sắc giao giả thân, sắc suy nghĩa tuyệt.

* Dịch nghĩa:-

Sách Hán thư nói: Kẻ giao du bằng quyền thế thì rất thân cận, nhưng quyền thế hết là mất. Kẻ giao du bằng tiền tài thì rất thân mật nhưng tiền tài hết thì rời nhau. Kẻ giao du bằng nhan sắc thì rất thân nhau nhưng sắc suy là cắt đứt.

*Diễn ca: –

Thân nhau cùng chức vị cao,
Một bên mất chức, là xao lảng tình?
Thân nhau giữa kẻ lắm tiền,
Một bên phá sản là quên tức thì!
Thân nhau nhan sắc mê si,
Một bên bệnh hoạn nan y là rời!
Ai ơi xin nhắn một lời:
“Tỉnh tâm” cho kỹ mới thôi “thân” nhầm!

 —————–
17A.

* Nguyên văn:-

黃金千兩未為貴,得人好語勝千金。千金易得,好語難求。求人不如求己,能管不如能推,用心閒管是非多。能者乃是拙之奴。知事少時煩惱少,識人多處是非多。小船不堪重載,深徑不宜獨行。踏實地無煩惱。黃金未為貴,安樂值錢多。非財害己,惡語傷人。人為財死,鳥為食亡。

*Âm:-

Hoàng kim thiên lạng vị vi quí, đắc nhân hảo ngữ thắng thiên kim. Thiên kim dị đắc, hảo ngữ nan cầu. Cầu nhân bất như cầu kỷ, năng quản bất như năng thôi, dụng tâm nhàn quản thị phi đa. Năng giả nãi thị chuyết chi nô. Tri sự thiếu thời phiền não thiếu, thức nhân đa xứ thị phi đa. Tiểu thuyền bất kham trọng tải, thâm kính bất nghi độc hành. Đạp thực địa vô phiền não. Hoàng kim vị vi quí, an lạc trị tiền đa. Phi tài hại kỷ, ác ngữ thương nhân. Nhân vi tài tử, điểu vi thực vong .

* Dịch nghĩa:-

Vàng ròng nghìn lạng chưa phải là quý. Ðược của người một lời nói tốt quý hơn nghìn vàng. Nghìn vàng dễ có được, lời nói tốt khó tìm được. Ðòi hỏi người không bằng đòi hỏi mình. Cai quản giỏi không bằng triển khai giỏi. Nặng lòng cai quản sẽ gặp nhiều rắc rối. Kẻ có khả năng là đầy tớ kẻ vụng dại. Lúc biết ít việc thì ít phiền não, biết người nhiều quá thì chịu nhiều thị phi. Thuyền bé không chịu nổi chở nặng, lối đi rậm khuất không nên đi một mình. Giẫm lên chỗ đất chắc thì không gặp chuyện phiền não. Vàng ròng chưa phải là quý, yên vui có giá trị hơn tiền nhiều. Của phi nghĩa làm hại mình, lời dữ làm tổn thương người. Người chết vì của, chim chết vì mê ăn.

*Diễn ca: –

Nghìn vàng chưa hẳn quý đâu,
Lời hay lắm lúc in sâu nhiều đời.
Nghìn vàng kiếm cũng ra thôi,
Dễ gì kiếm được một lời hay ho?
Ðòi hỏi mình, mới đáng lo,
Ðòi hỏi người, chỉ tính cho nhất thời.
Giữ cái có, đã khó rồi,
Mở mang cái có, muôn đời ngợi khen.
Ở đời, những kẻ tài năng,
Chỉ làm đầy tớ mấy anh vụng về.
Biết ít, chuyện đỡ nhiêu khê,
Biết nhiều người, chốn, lắm bề thị phi.
Thuyền con chở nặng khó đi,
Nẻo đường rậm khuất, ngại khi một mình.
Vì mồi, chim dễ hy sinh,
Vì của thiên hạ bỏ mình như chơi!

**********

18A.

* Nguyên văn:-

景 行錄云:利可共而不可獨,謀可獨而不可眾。獨利則敗,眾謀則洩。機不密先發。不孝怨父母,負債怨財主,食多嚼不細,家貧願鄰有。在家不會迎賓客,出外方知 少主人。但願有錢留客醉,勝如騎馬倚人門。貧居鬧市無人問,富在深山有遠親。世情看冷暖,人面逐高低。仁義盡從貧處斷,世情偏向有錢家。吃盡千般無人知。衣衫襤褸被人欺。寧塞無底坑,莫塞鼻下橫。馬行步慢只因瘦,人不風流只為貧。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Lợi khả cộng nhi bất khả độc, mưu khả độc nhi bất khả chúng. Độc lợi tắc bại, chúng mưu tắc duệ. Cơ bất mật tiên phát. Bất hiếu oán phụ mẫu, phụ trái oán tài chủ, thực đa tước bất tế, gia bần nguyện lân hữu. Tại gia bất hội nghênh tân khách, xuất ngoại phương tri thiếu chủ nhân. Đản nguyện hữu tiền lưu khách tuý, thắng như kỵ mã ỷ nhân môn. Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu viễn thân. Thế tình khan lãnh noãn, nhân diện trục cao đê. Nhân nghĩa tận tùng bần xứ đoạn, thế tình thiên hướng hữu tiền gia. Ngật tận thiên ban vô nhân tri. Y sam lam lũ bị nhân khi. Ninh tắc vô để kháng, mạc tắc tỵ hạ hoành. Mã hành bộ mạn chỉ nhân sấu, nhân bất phong lưu chỉ vị bần .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Lợi có thể chung mà không thể một mình, mưu có thể một mình mà không thể đông người. Lợi một mình thì hư, mưu đông người thì rò rỉ. Mưu cơ không kín đáo thì họa xảy ra trước. Ðứa bất hiếu oán cha mẹ, kẻ mắc nợ oán chủ nợ. Tham nhiều nhai chẳng nát, nhà nghèo mong láng giềng có của. Ở nhà không biết đón khách, đi ra mới biết ít chủ nhân. Chỉ mong có tiền giữ khách ở lại nhậu còn hơn cưỡi ngựa tựa cổng người khá Kẻ nghèo ở nơi chợ đông không có người hỏi, kẻ giàu ở non sâu cũng có bà con xa. Tình đời chỉ xem lạnh ấm, mặt người chỉ nhìn theo cao thấp. Nhân nghĩa mất theo cảnh nghèo, tình đời chỉ lệch về phía có tiền. Ăn cả nghìn món không ai biết, áo xổng lam lũ bị người ta khinh ngay. Thà lấp hang không đáy, không lấp nổi vạch ngang dưới mũi. Ngựa bước chậm chạp chỉ vì gầy, người không phong lưu chỉ vì nghèo.

*Diễn ca: –

Lợi thì chung hưởng mới là,
Chớ nên hưởng một mình ta sinh rầy.
Mưu thì chỉ một người hay,
Nhiều người biết đến, lộ ngay đấy mà!
Con bất hiếu oán mẹ cha,
Kẻ vay nợ, lại oán nhà cho vay.
Tham đầy mồm, tất khó nhai,
Nghèo mong lối xóm ai ai cũng giàu.
(Phòng khi vay mượn cũng mau,
Trả nợ cũng đỡ đi lâu nhọc người!)
Nhà thưa tiếng khách nói cười,
Ði ra cũng ít được người đón đưa.
Có tiền mời khách say sưa,
Còn hơn ghé ngựa đứng chờ cổng ai.
Nghèo ở chợ chẳng ai hay,
Giàu ở núi, tiếp suốt ngày bà con.
Tình đời ấm lạnh tùy cơn,
Mặt người ngước chốn cao hơn đấy mà!
Khi nghèo, nhân nghĩa phôi pha,
Nhiều tiền mới hút người ta kéo về.
Khi ta đánh chén no nê,
Chẳng ai hỏi lối đi về của ta.
Nhưng khi ta xác xơ ra,
Họ kéo cả nhà xúm lại khinh khi.
Lấp hang không đáy khó chi,
Nhưng chẳng dễ gì lấp miệng xôn xao.
Ngựa gầy bước thấp bước cao,
Người nghèo chẳng biết làm sao đỡ hèn!

**********

19A.

* Nguyên văn:-

濟顛和尚警世云:看盡彌陀經,念徹大悲咒。種瓜還得瓜,種豆還得豆。經咒本慈悲,冤結如何救。照見本來心,做者還他受,自作還自受。

*Âm:-

Tế Điên Hoà Thượng cảnh thế vân :Khán tận Di Đà Kinh, niệm triệt Đại Bi Chú. Chủng qua hoàn đắc qua, chủng đậu hoàn đắc đậu. Kinh chú bản từ bi, oán kết như hà cứu. Chiếu kiến bản lai tâm, tố giả hoàn tha thụ, tự tác hoàn tự thụ .

* Dịch nghĩa:-

Hòa Thượng Tế Ðiên răn đời rằng: Xem hết kinh Di Ðà, niệm sạch bài chú Ðại Bi thì trồng dưa vẫn được dưa, trồng đậu vẫn được đậu. Kinh chú vốn từ bi, kết oan cứu sao được? Soi thấy cái Tâm vốn có, kẻ nào làm thì nấy chịu, mình tự làm thì tự chịu.

*Diễn ca: –

Kinh Di Ðà, chú Ðại Bi,
Thấm nhuần, thấu triệt, ích gì mấy đâu?
Một khi kết oán đã sâu,
Dẫu kinh cùng chú nhiệm mầu cũng thua.
Cha ông suy gẫm từ xưa,
Trồng đậu chẳng hái được dưa đâu mà!
Lẽ nhân quả chẳng buông tha,
Mình làm mình chịu, ai mà cứu ai?

—————-

20A.

* Nguyên văn:-

荀子云 : [公生明,偏生暗。作德生通,作偽生塞。誠信生神,誕誇生惑。 」

*Âm:-

Tuân Tử vân :Công sinh minh, thiên sinh ám. Tác đức sinh thông, tác nguỵ sinh tắc. Thành tín sinh thần, đản khoa sinh hoặc.

* Dịch nghĩa:-

Tuân Tử nói: Công tâm sinh ra sáng suốt, thiên vị sinh ra tối tăm, làm theo đức thì trôi chảy, làm theo bịp bợm thì bế tắc. Thật thà tin cậy sinh ra thần tình, dối trá khoác lác sinh ra ngờ vực.

*Diễn ca: –

Kẻ công tâm nói gì cũng đúng,
Thiên vị thường lúng túng vụng về.
Làm điều đức độ xuôi ghê,
Làm điều dối gạt như đê chận dòng.
Thần tình là kẻ thật lòng,
Lừa người thì mới thổi phồng, tán dương.

21A.

* Nguyên văn:-

漢書云 : 曲突徙薪無恩澤,焦頭爛額為上客。

*Âm:-

Hán Thư vân :Khúc đột tỉ tân vô ân trạch, tiêu đầu lạn ngạch vi thượng khách .

* Dịch nghĩa:-

Sách Hán thư nói: Kẻ uốn cong ống khói, dời củi đi thì không được coi là có ơn, kẻ cháy tóc bỏng trán lại làm thượng khách.

*Diễn ca: –

(Chuyển thể thơ ngụ ngôn)

Hỏa hoạn ai cũng ngán,
Cỏ kẻ khuyên đề phòng.
Củi nên dời chỗ thoáng,
Ống khói nên nắn cong.

Lời khuyên, gác ngoài tai,
“Kẻ khuyên” đành tiu nghỉu.
Cả xóm hùa chê bai,
“Kẻ khuyên” bấm bụng chịu.

Quả nhiên xảy cháy nhà,
Tài sản hao hơn nửa.
“Kẻ khuyên” bận đi xa,
Lối xóm xúm dập lửa.

“Kẻ khuyên” đi xa về,
Tìm lời sang an ủi.
Thấy tiệc bày ê hề,
Chủ nhân như muốn đuổi:

– Quả là đồ xấu xa!
Chỉ rủa nhà ta cháy!
Giờ thì cháy thật rồi!
Chắc có kẻ vui đấy!

Lại quay sang khách mời:
– Phước may nhờ các vị!
Cụng ly một cái chơi!
Hoan hô người tận tụy!

“Kẻ khuyên” chua chát cười,
Như học trò thi hỏng:
“Mình tử tế mười mươi!
Nhưng nói ra lại… ngọng.”

———————-

22A.

* Nguyên văn:-

三寸氣在千般用,一旦無常萬事休,萬物莫逃其數,萬般祥瑞不如無。天不生無祿之人,地不生無根之草,大富由天,小富由勤,大富則驕,大貧則憂。憂則為盜,驕則為暴。莫道家未成,成家子未生,莫道家未破,破家子未大。成家之兒,惜糞如金,敗家之子,用金如糞。

*Âm:-

Tam thốn khí tại thiên ban dụng, nhất đán vô thường vạn sự hưu. Vạn vật mạc đào kỳ số, vạn ban tường thuỵ bất như vô. Thiên bất sinh vô lộc chi nhân, địa bất sinh vô căn chi thảo. Đại phú do thiên, tiểu phú do cần, đại phú tắc kiêu, đại bần tắc ưu. Ưu tắc vi đạo, kiêu tắc vi bạo. Mạc đạo gia vị thành, thành gia tử vị sinh, mạc đạo gia vị phá, phá gia tử vị đại. Thành gia chi nhi, tích phẩn như kim, Bại gia chi tử, dụng kim như phẩn .

* Dịch nghĩa:-

Ba tấc hơi còn, dùng cả nghìn việc, một sớm gặp chuyện vô thường (tức chết đi) thì muôn việc đều thôi. Muôn vật chẳng trốn nổi số, muôn thứ điềm lành chẳng bằng không. Trời chẳng sinh người không lộc, đất chẳng sinh cỏ không rễ. Giàu to do trời, giàu nhỏ nhờ siêng năng. Giàu lớn thì kiêu, nghèo lớn thì lo. Lo thì làm trộm, kiêu thì tàn bạo. Chớ nói nhà chưa nên, con làm nhà nên còn chưa sinh. Chớ nói nhà chưa tan, con làm nhà tan còn chưa lớn. Con làm nên nhà thì tiếc phân như vàng, con làm tan nhà, xài vàng như phân.

*Diễn ca: –

Còn hơi thở, còn xoay nghìn việc,
Tắt hơi rồi, ai thiết chi chi.
Số trời khi đã dứt đi,
Muôn điều lành tốt đều thì bằng không.
Trời sinh người cũng đồng hưởng lộc,
Ðất sinh cỏ đủ gốc rễ thôi.
Giàu to nhờ bởi số trời,
Giàu nhỏ là bởi cả đời siêng năng.
Kẻ giàu to, kiêu căng khinh bạc,
Kẻ nghèo to, phờ phạc lo âu.
Lo âu toan trộm nhà giàu,
Kiêu nhà giàu bạo chẳng bao giờ vừa.
Chớ nghĩ rằng nhà chưa phát đạt,
Chẳng qua con kích phát chưa sinh.
Ðừng cho nhà nọ vẫn yên,
Chẳng qua đứa phá chờ phiên trưởng thành.
Con nhà nên, quý phân như ngọc,
Con nhà hư, coi ngọc như phân.
Cơ trời biến chuyển xoay vần,
Nên, hư, tốt, xấu dần dần lộ ra…

**********

23A.

* Nguyên văn:-

胡文定公曰:大抵人家須常教有不足處,若十分快意,提防有不恰好事出。

*Âm:-

Hồ Văn Định Công viết :Đại để nhân gia tu thường giáo hữu bất túc xứ, nhược thập phần khoái ý, đề phòng hữu bất kháp hảo sự xuất .

* Dịch nghĩa:-

Ông Hồ Văn Ðịnh nói: Tất cả mọi người phải thường giữ cho có sự chưa đủ. Nếu mười phần thỏa ý phải đề phòng xuất hiện cái không ăn khớp với việc tốt.

*Diễn ca: –

“Cái chưa đủ” buộc người đối phó,
Dịch quyết nhanh khi có lôi thôi.
Cái Tâm đã định thế rồi,
Lôi thôi xảy đến vẫn coi chuyện thường.
“Cái khoái ý” mọi đường thỏa mãn,
Xem cuộc đời chẳng đáng bận tâm.
Chủ quan nên dễ sinh nhầm,
Tai ương xảy đến, thâm tâm rối bời…

————–

24A.

* Nguyên văn:-

康節邵先生曰:

閒居慎勿說無妨,
纔說無妨便有妨。
爽口物多終作病,
快心事過必為殃。
爭先徑路機關惡,
過後語言滋味長。
與其病後能服藥,
不若病前能自防。

饒人不是痴,過後得便宜。趕人不要趕上,捉賊不如趕賊。

*Âm:-

 Khang Tiết Thiệu tiên sinh viết :

Nhàn cư thận vật thuyết vô phương,
Tài thuyết vô phương tiện hữu phương.
Sảng khẩu vật đa chung tác bệnh,
Khoái tâm sự quá tất vi ương.
Tranh tiên kính lộ cơ quan ác,
Quá hậu ngữ ngôn tư vị trường.
Dữ kỳ bệnh hậu năng phục dược,
Bất nhược bệnh tiền năng tự phòng.

Nhiêu nhân bất thị si, quá hậu đắc tiện nghi. Cản nhân bất yếu cản thượng, tróc tặc bất như cản tặc.

* Dịch nghĩa:-

Thiệu Khang Tiết nói: Lúc rảnh rang chớ nói là không hại gì. Vừa nói không hại liền có hại. Sướng miệng ăn nhiều rốt cuộc bị bệnh. Gặp việc khoái ý tất có tai ương. Tránh đi trước đường nhỏ gặp nạn bất ngờ. Qua rồi lời lẽ nghiệm ra mùi vị thấm thía lâu. Ðể lâm bệnh rồi mới tìm thuốc, không bằng biết tự phòng ngừa trướ Tha người không phải là dại. Vì sau đấy sẽ gặp sự thuận lợi. Ðuổi người chẳng nên đuổi chận đầu. Bắt giặc không bằng đuổi giặc.

*Diễn ca: –

Chớ nên bảo “Chẳng hề gì!”
Dứt lời, có chuyện “hề gì” tới ngay.
Món ngon đánh chén no say,
Dễ sinh nên bệnh lo ngày lo đêm.
Thấy việc thú vị lại thèm,
Biết đâu chuốc họa nhiều thêm ích gì?
Lối hẹp, đi trước dễ nguy,
Nói sau mới đủ những gì hay ho.
Lâm bệnh, xuôi ngược chăm lo,
Chi bằng trước đấy phòng cho kỹ càng.
Tha người, há kém khôn ngoan?
Mai sau hẳn gặp dễ dàng cho ta.
Rượt người, hãy chớ rượt nà,
Bắt sống quân địch kém xa xua về.

**********

25A.

* Nguyên văn:-

梓潼帝君垂訓:

妙藥難醫冤債病,
橫財不富命窮人,
虧心折盡平生福,
行短天教一世貧,
生事事生君莫怨,
害人人害汝休嗔,
天地自然皆有報,
遠在兒孫近在身.

藥醫不死病,
佛化有緣人。

*Âm:-

Tử Đồng Đế Quân thuỳ huấn :Diệu dược nan y oan trái bệnh, Hoạnh tài bất phú mệnh cùng nhân. Khuy tâm chiết tận bình sinh phước, Hành đoản thiên giáo nhất thế bần. Sinh sự sự sinh quân mạc oán, hại nhân nhân hại nhữ hưu sân. Thiên địa tự nhiên giai hữu báo, viễn tại nhi tôn cận tại thân. Dược y bất tử bệnh, Phật hoá hữu duyên nhân .

* Dịch nghĩa:-

Tử Ðồng Ðế Quân (*) buông lời dạy: Thuốc hay không chữa được bệnh oan trái. Của hoạnh tài không làm giàu được người mệnh cùng. Lòng phụ bạc rút cạn hết phước bình sinh. Nếu cư xử kém trời bắt nghèo cả đời. Sinh sự tất sự sinh ngươi chớ oán. Hại người tất người hại lại, mầy đừng cự nự. Trời đất tự nhiên đều có báo đáp. Xa thì đời con đời cháu, gần thì ở ngay đời mình. Thuốc chữa thứ bệnh không chết, Phật hóa độ cho người có duyên lành.

*Diễn ca: –

Bệnh oan trái thuốc nào chữa nổi?
Của hoạnh tài chẳng đổi mạng nghèo.
Cả đời làm phước dẫu nhiều,
Trái lòng một việc, phước theo sạch liền!
Tính nết kém, liên miên nghèo túng,
Cán cân trời, cân đúng lòng trời.
Gieo gì gặt nấy mà thôi,
Khuyên ai chớ oán, buông lời sân si.
Trời lẳng lặng duy trì báo ứng,
Hoặc bản thân, hoặc hướng cháu con.
Thuốc hay chỉ chữa người còn,
Phật chỉ hóa độ tâm hồn có duyên.

*Chú thích:-

Tử Ðồng Ðế Quân: Nhân vật vô cùng kỳ lạ trong đức tin người Trung Quốc (có lẽ khó được giới nghiên cứu tiếp thu).

Lúc đầu ông là người thường, có tên là Trương Á Tử tức Trương Dục người núi Thất Khúc, làm quan đời Tấn (thế kỷ IV). Năm Ninh Khang 2 (394) đời Hiếu Vũ đế nhà Ðông Tấn, ông tự xưng Thục vương khởi nghĩa chống nhà Tiên Tần, tử trận chôn ở núi Thất Khúc, thuộc quận Tử Ðồng. Các đời Ðường, Tống về sau đều phong tặng ông tước Vương. Ðến đời Nguyên Nhân Tông, năm 1316 ông được phong là Văn Xương Ðế Quân (!) cai quản… chùm sao Văn Xương (gồm sáu ngôi, phía tả chùm sao Bắc Ðẩu).

Truyền thuyết kể rằng Văn Xương Ðế Quân hóa thân xuống trần gian làm quan 73 lần đều thanh liêm nên được Thiên Ðế giao quản lý Quế Tịch (hồ sơ công danh) điều hành việc đỗ đạt, thăng thưởng.

Các đời Nguyên, Minh đều có lập Văn Xương Cung, Văn Xương Các, Văn Xương Từ, tế lễ trọng hậu cấp nhà nướ Quy mô hoành tráng nhất là ở quận Tử Ðồng (nơi có lăng mộ Trương Á Tử). Ở đấy còn xây dựng hàng loạt công trình phụ sử dụng như một trường đại học ngày nay. Thánh đản được tổ chức thành lễ hội vào ngày 3 tháng 2 hàng năm.

(Tóm tắt tư liệu của Châu Quân Vũ)

—————-

26A.

* Nguyên văn:-

花落花開開又落,錦衣布衣更換著,豪家未必長富貴,貧家未必常寂寞。扶人未必上青霄,推人未必填溝壑。凡事勸君莫怨天,天意於
人無厚薄。

*Âm:-

Hoa lạc hoa khai khai hựu lạc, cẩm y bố y cánh hoán trước, hào gia vị tất trường phú quí, bần gia vị tất thường tịch mịch. Phù nhân vị tất thượng thanh tiêu, thôi nhân vị tất điền câu hác. Phàm sự khuyến quân mạc oán thiên, thiên ý ư nhân vô hậu bạc .

* Dịch nghĩa:-

Hoa rụng, hoa nở, nở xong lại rụng. Áo gấm áo vải thay đổi nhau mặc. Nhà hào phú chưa chắc cứ giàu mãi, nhà nghèo hèn chưa chắc lặng lẽ hoài. Nâng người chưa chắc nâng tới trời xanh, đẩy người chưa chắc rơi đến khe mương. Khuyên ngươi mọi việc không nên oán trời. Ý trời không hậu với ai, không bạc với ai.

*Diễn ca: –

Hôm nay hoa rụng khắp trời,
Ngày mai hoa nở nơi nơi tía hồng.
Rồi ra rụng khắp tây đông,
Ðời người gẫm lại cũng không khác nào.
Hôm nay chức trọng quyền cao,
Ngày mai áo vải rơi vào dân đen.
Giàu nghèo đắp đổi luân phiên,
Chẳng ai bền bỉ liên miên một bề.
Xô người xuống tận đáy khe,
Mai kia người cũng lăm le lên bờ.
Nâng người lên tận mây trời,
Mai kia người cũng sẽ rơi xuống trần.
Ai ơi! Xin chớ oán ngầm,
Trời kia phân phát mọi phần công minh.

**********

27A.

* Nguyên văn:-

莫入州衙與縣衙,
勸君勤儉作生涯,
池塘積水須防旱,
田地勤耕足養家,
教子教孫並教藝,
栽桑栽柘少栽花,
閒是閒非休要管,
渴飲清泉悶煮茶。

*Âm:-

Mạc nhập châu nha dữ huyện nha,
Khuyến quân cần kiệm tác sinh nha (nhai).
Trì đường tích thuỷ tu phòng hạn,
Điền địa cần canh túc dưỡng gia.
Giáo tử giáo tôn tịnh giáo nghệ,
Tài tang tài giá thiếu tài hoa.
Nhàn thị nhàn phi hưu yếu quản,
Khát ẩm thanh tuyền muộn chử trà .

* Dịch nghĩa:-

Ðừng đến Châu nha với Huyện nha. Khuyên ngươi cần kiệm để sinh nhai. Ao vũng chứa nước phải phòng hạn. Ruộng đất siêng cày đủ nuôi nhà. Dạy con dạy cháu đều nên dạy nghề. Trồng dâu trồng đố (*) ít trồng hoa. Chuyện phải quấy vặt vãnh đừng bận tâm. Khát uống suối trong, buồn uống trà.

*Diễn ca: –

Chớ nên bén mảng chốn quan nha,
Cần kiệm làm ăn thế mới là!
Ao vũng nước nhiều phòng hạn hán,
Ruộng vườn cày cấy đủ nuôi nhà.
Dạy nghề này nọ cho con cháu,
Trồng đố, trồng dâu, bớt thích hoa.
Mọi chuyện thị phi đừng vướng bận,
Khát dùng nước suối, chán dùng trà.

*Chú thích:-

Ðố: loài cây cho lá nuôi tằm, vỏ làm thuốc nhuộm, làm dây cung.

———————

28A.

* Nguyên văn:-

寬性寬懷過幾年,
人死人生在眼前。
隨高隨下隨緣過,
或長或短莫埋怨。
自有自無休嘆息,
家貧家富總由天。
平生衣祿隨緣度,
一日清閒一日仙。

*Âm:-

Khoan tính khoan hoài quá kỷ niên,
Nhân tử nhân sinh tại nhãn tiền.
Tuỳ cao tuỳ hạ tuỳ duyên quá,
Hoặc trường hoặc đoản mạc mai oán.
Tự hữu tự vô hưu thán tức,
Gia bần gia phú tổng do thiên.
Bình sinh y lộc tuỳ duyên độ,
Nhất nhật thanh nhàn nhất nhật tiên .

* Dịch nghĩa:-

Tính nhẹ nhõm lòng nhẹ nhõm được mấy năm rồi. Người chết người sống ở trước mắt. Gặp cao theo cao, gặp thấp theo thấp tùy từng lú Có khi khá có khi kém không oán ngầm. Có thì có, không thì không, chả than van. Nhà nghèo hay giàu mặc lòng trời. Cả đời hưởng lộc, cho phép mặc sao hay vậy. Một ngày an nhàn là làm tiên một ngày.

*Diễn ca: –

Tâm hồn thanh thản mấy năm rồi,
Chết sống chuyện thường trước mắt thôi.
Cao thấp công danh không đếm xỉa,
Dở hay tài trí chẳng thừa hơi.
Dù không dù có thôi than thở,
Nghèo túng giàu sang phó mặc trời.
Cái mặc cái ăn sao cũng được,
An nhàn mới sướng nhất trên đời.

**********

29A.

* Nguyên văn:-

家語云:君子有三思不可不察也。少而不學,長無能也。老而不教,死無思也。有而不施,窮無與也。是故君子少思其長則務學,老思其死則務教,有思其窮則務施。

*Âm:-

Gia Ngữ vân :Quân tử hữu tam tư bất khả bất sát dã. Thiếu nhi bất học, trường vô năng dã. Lão nhi bất giáo, tử vô tư dã. Hữu nhi bất thi, cùng vô dữ dã. Thị cố quân tử thiếu tư kỳ trường tắc vụ học, lão tư kỳ tử tắc vụ giáo, hữu tư kỳ cùng tắc vụ thi .

* Dịch nghĩa:-

Sách Gia ngữ nói: người quân tử có ba điều lo không thể không xét vậy: nhỏ mà không học, lớn không có khả năng, già mà không dạy, chết đi không ai nghĩ đến, có mà không bố thí, lúc cùng khốn chẳng ai cho. Thế cho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến khi lớn thì lo học, lúc già nghĩ đến cái chết nên lo dạy. Khi có nghĩ đến khi cùng khổ nên lo bố thí.

*Diễn ca: –

Ba cái lo lớn trên đời,
Nhỏ không học hỏi, lớn thời vô năng.
Già không truyền dạy tận tâm,
Chết không ai nhớ, ai khâm phục mình.
Khi giàu chẳng dốc nghĩa tình,
Sa cơ thất thế kẻ khinh người cười.
Lo xa, lúc trẻ không lười,
Lúc già chăm dạy cho người gắng công.
Lúc giàu bớt tiếc tiền nong,
Ðem ra giúp đỡ kẻ không có tiền.

————–

30A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:能自愛者未必能成人,自欺者必罔人。能自儉者未必能周人,自忍者必害人。此無他為善難,為惡易。富貴易於為善,其為惡也亦不難。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Năng tự ái giả vị tất năng thành nhân, tự khi giả tất võng nhân. Năng tự kiệm giả vị tất năng chu nhân, tự nhẫn giả tất hại nhân. Thử vô tha vi thiện nan, vi ác dị. Phú quí dị ư vi thiện, kỳ vi ác dã diệc bất nan .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ giỏi thương mình chưa chắc giỏi làm cho người ta nên. Kẻ tự dối mình tất dối người. Kẻ tiết kiệm cho mình chưa chắc chu cấp cho người. Kẻ nhẫn tâm với mình tất hại người. Như thế không có gì khác là làm điều thiện khó, làm điều ác dễ. Giàu sang dễ làm điều thiện, mà làm điều ác cũng không khó.

*Diễn ca: –

Thương mình chưa chắc thương người,
Dối mình, cầm chắc mười mươi dối người.
Kẻ tiết kiệm của thường dư,
Cũng dễ khước từ khi có người vay.
Mạng mình coi tựa cỏ cây,
Mạng người chắc cũng thẳng tay dễ dàng.
Chẳng qua điều thiện khó làm,
Ðiều ác thì dễ, chẳng ham vẫn rành.
Giàu sang làm thiện cũng nhanh,
Làm ác cũng chóng, tiến hành dễ hơn!

**********

31A.

* Nguyên văn:-

子曰:富而可求也,雖執鞭之士,吾亦為之,如不可求,從吾所好。

*Âm:-

Tử viết :Phú nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi, như bất khả cầu, tùng ngô sở hảo .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Giàu mà có thể tìm được, tuy làm tên lính cầm roi (đánh xe ngựa) ta cũng làm. Nếu không thể tìm thì ta làm theo cái ta muốn.

*Diễn ca: –

Cái giàu nếu dễ kiếm ra,
Dù đánh xe ngựa thì ta cũng làm.
Còn như chẳng dễ gì ham,
Thì ta đeo đuổi cách làm ta ưa.

—————–

32A.

* Nguyên văn:-

千卷詩書難卻易,一般衣飯易卻難。天無絕人之路,一身還有一身愁。人無遠慮必有近憂。輕諾者信必寡,面譽者背必非。

*Âm:-

Thiên quyển thi thư nan khước dị, nhất ban y phạn dị khước nan. Thiên vô tuyệt nhân chi lộ, nhất thân hoàn hữu nhất thân sầu. Nhân vô viễn lự tất hữu cận ưu. Khinh nặc giả tín tất quả, diện dự giả bối tất phi.

* Dịch nghĩa:-

Nghìn cuốn thi thư khó mà dễ. Một món áo cơm dễ mà khó. Trời không cắt đứt đường của người nhưng mỗi người còn có mỗi nỗi sầu. Người không nghĩ xa tất có lo gần. Kẻ “ừ” dễ dàng quá tất ít đáng tin cậy. Kẻ khen trước mặt sẽ chê sau lưng.

*Diễn ca: –

Sử sách khó mà dễ,
Áo cơm dễ mà khó.
Trời nào đóng cửa ai?
Thế nhưng rầu vẫn có.
Kẻ chẳng biết lo xa,
Thì lo gần tất rõ.
Kẻ vâng lời nhẹ tênh,
Sẽ dễ dàng phủi bỏ.
Kẻ khen ào trước mặt,
Sau lưng sẽ chê đó!

**********

33A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:大丈夫見善明,故重名節於泰山;用心剛,故輕生死於鴻毛。外事無大小,中慾無淺深,有斷則生,無斷則死,大丈夫以斷為先。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Đại trượng phu kiến thiện minh, cố trọng danh tiết ư Thái Sơn ;Dụng tâm cương, cố khinh sinh tử ư hồng mao. Ngoại sự vô đại tiểu, trung dục vô thiển thâm, Hữu đoán tắc sinh, vô đoán tắc tử, đại trượng phu dĩ đoán vi tiên .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Bậc đại trượng phu thấy điều thiện sáng tỏ cho nên coi danh tiết nặng hơn Thái Sơn, dụng tâm cứng cỏi cho nên coi sống chết nhẹ hơn lông hồng. Việc bên ngoài không kể là lớn hay nhỏ, dục vọng trong lòng không kể là cạn hay sâu, có quyết đoán thì sống, không quyết đoán thì chết. Ðại trượng phu lấy quyết đoán làm đầu.

*Diễn ca: –

Phàm là bản lĩnh đàn ông,
Coi trọng danh dự hơn hòn Thái Sơn.
Cái Tâm cứng cỏi chẳng sờn,
Nên coi cái chết nhẹ hơn lông hồng.
Việc dù lớn nhỏ mặc lòng,
Dục vọng sâu cạn không vui, chẳng buồn.
Việc đến tay, quyết đoán luôn,
Rụt rè, dè dặt, nói suông, chẳng hề!

———————

34A.

* Nguyên văn:-

子曰:知而不為,不如勿知。親而不信,不如勿親。樂之方至,樂而勿驕,患之所至,思而勿憂。

*Âm:-

Tử viết :Tri nhi bất vi, bất như vật tri. Thân nhi bất tín, bất như vật thân. Lạc chi phương chí, lạc nhi vật kiêu. Hoạn chi sở chí, tư nhi vật ưu.

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Biết mà không làm, không bằng đừng biết. Thân mà không tin cậy, không bằng đừng thân. Ðiều vui vừa đến, vui nhưng đừng kiêu, hoạn nạn vừa đến, nghĩ đến nó nhưng đừng lo âu.

*Diễn ca: –

Hiểu biết nhưng chẳng chịu làm,
Hơn gì những kẻ cứ cam ngu đần?
Chẳng tin nhau, bảo rằng thân,
Hơn gì những kẻ chẳng cần biết nhau?
Chuyện vui dù lớn đến đâu,
Chớ nên kiêu ngạo làm đau lòng người.
Hoạn nạn xảy đến mười mươi,
Nghĩ đến cứ nghĩ, ưu tư xin đừng!

**********

35A.
* Nguyên văn:-

經目之事猶恐未真,背後之言豈足深信?人不知己過,牛不知力大。不恨自家麻繩短,只恐他人古井深。僥倖脫,無辜報。贓濫滿天下,罪拘福薄人。人心似鐵,官法如爐。

*Âm:-

Kinh mục chi sự do khủng vị chân, bối hậu chi ngôn khởi túc thâm tín ?Nhân bất tri kỷ quá, ngưu bất tri lực đại. Bất hận tự gia ma thằng đoản, chỉ khủng tha nhân cổ tỉnh thâm. Nghiêu hạnh thoát, vô cô báo. Tàng lạm mãn thiên hạ, tội câu phước bạc nhân. Nhân tâm tự thiết, quan pháp như lô .

* Dịch nghĩa:-

Việc xảy ra trước mắt còn sợ chưa thật, lời nói sau lưng há đủ đáng tin? Người không biết mình lỗi, trâu không biết sức lớn. Không giận dây gai của mình ngắn mà chỉ sợ giếng cổ của người khác sâu. (Kẻ phạm tội) may mắn thoát, kẻ không phạm tội lại phải đền tội. Kẻ lạm dụng quả tang khắp thiên hạ (nhưng) người phước mỏng bị ghép tội. Lòng người như sắt, phép quan như lò.

*Diễn ca: –

Cái điều thấy rõ mười mươi,
Chắc gì khỏi bị chê cười là sai?
(Chọc que xuống nước gãy hoài,
Mắt thì thấy vậy nhưng sai quá chừng!)
Huống chi lời nói sau lưng,
Nghe qua rồi bỏ, xin đừng quá tin.
Người đời chẳng biết lỗi mình,
Loài trâu chẳng biết sức bền đến đâu.
Giếng kia mực nước quá sâu,
Múc không tới, trách để lâu cạn rồi!
Không hề nghĩ: “Tại mình thôi,
Dây ngắn quá rồi, gàu múc trên cao.
Phạm tội lại thoát, may sao!
Kẻ không gây tội lại vào nhà giam.
Tham ô, lạm dụng tràn lan,
Chỉ người phước mỏng liên can tù đày.
Lòng người như sắt khó lay,
Phép quan lò nấu, chảy ngay mấy hồi.

——————–

36A.

* Nguyên văn:-

康節邵先生曰:有人來問卜,如何是禍福?我虧人是禍,人虧我是福。大廈千間,夜臥八尺。良田萬頃,日食二升。不孝慢燒千束紙,虧心枉焚萬爐香。神明本是正直做,豈受人間枉法贓?

久住令人賤,頻來親也疏。但看三五日,相見不如初。

渴時一滴如甘露,醉後添杯不如無。酒不醉人,人自醉,花不迷人,人自迷。

*Âm:-

Khang Tiết Thiệu tiên sinh viết :Hữu nhân lai vấn bốc, như hà thị hoạ phước ?Ngã khuy nhân thị hoạ, nhân khuy ngã thị phước. Đại hạ thiên gian, dạ ngoạ bát xích. Lương điền vạn khoảnh, nhật thực nhị thăng. Bất hiếu mạn thiêu thiên thúc chỉ, khuy tâm uổng phần vạn lô hương. Thần minh bản thị chính trực tố, khởi thụ nhân gian uổng pháp tàng ?

Cửu trụ lệnh nhân tiện, tần lai thân dã sơ. Đản khan tam ngũ nhật, tương kiến bất như sơ.

Khát thời nhất trích như cam lộ, tuý hậu thiêm bôi bất như vô. Tửu bất tuý nhân, nhân tự tuý, Hoa bất mê nhân, nhân tự mê .

* Dịch nghĩa:-

Thiệu Khang Tiết nói: Có người đến xem bói, hỏi thế nào là họa phước? Ta hại người là họa, người hại ta là phướ Nhà lớn cả nghìn gian, đêm cũng chỉ nằm tám (*) thước. Ruộng tốt muôn khoảnh (**), ngày ăn hai thăng. Kẻ bất hiếu đốt bừa nghìn bó giấy, kẻ xấu bụng đốt oan muôn lò hương. Thần minh vốn chính trực, há chịu cho người đời hối lộ, bẻ cong phép tắc?

Ở lâu khiến người hóa hèn ra. Ðến mãi thì kẻ thân thiết cũng thờ ơ. Chỉ cần xem năm ba ngày gặp lại không bằng lúc mới đầu.

Lúc khát thì một giọt cũng quý như cam lộ. Say rồi thì thêm một chén không bằng không thêm. Rượu không làm người say mà là người tự làm mình say. Hoa không mê hoặc người mà là người tự tìm sự mê hoặc.

*Diễn ca: –

Có người đến bói Dịch,
Hỏi: “Họa phước đâu ra?”
– Họa khi hại người khác,
Phước khi người hại ta.
Ðêm chỉ nằm tám thước,
Dẫu có nghìn gian nhà.
Ngày ăn hai thăng gạo,
Dẫu ruộng tốt bao la,
Ðốt cả núi hàng mã,
Tưởng báo hiếu mẹ cha.
Xông hương trầm nghi ngút,
Tưởng tội lỗi được tha.
Thần linh vốn ngay thẳng,
Hối lộ dễ đâu mà!
Mùi trầm cùng tro giấy,
Bẻ cong phép tắc à?
Ở lâu sinh nhờn mặt,
Ðến hoài tình phôi pha.
Thử ở năm ba bữa,
Thấy khác lúc đầu xa!
Ðang khát, quý từng giọt,
Say rồi, coi như pha!
Say rượu tại cố uống,
Mê hoa chẳng tại hoa.

*Chú thích:-

Tám thước: (thước cổ) tương đương 1m 92.

Khoảnh: (đơn vị đo lường cổ) tương đương 50 ha.

**********

37A.

* Nguyên văn:-

公心若比私心,何事不辨?道念若同情念,成佛多時。過後方知前事錯,老來方覺少時非。

*Âm:-

Công tâm nhược tỉ tư tâm, hà sự bất biện ?Đạo niệm nhược đồng tình niệm, thành Phật đa thời. Quá hậu phương tri tiền sự thác, lão lai phương giác thiếu thời phi .

* Dịch nghĩa:-

Lòng dành cho việc chung nếu so được như lòng dành cho việc riêng thì việc gì mà không Dịch quyết xong? Nghĩ đến đạo nếu bằng với nghĩ đến tình thì thành Phật lâu rồi. Việc qua rồi, sau đó mới biết trước đó đã nhầm. Già rồi mới biết thời trẻ sai quấy.

*Diễn ca: –

Việc chung hăng tựa việc riêng,
Thì bao nhiêu việc nhẹ tênh cả rồi.
Say đạo ngang say tình đời,
Thì bao nhiêu người thành Phật từ lâu.
Việc xong, nhầm lẫn thấy sau,
Nhận sai thời trẻ, lúc đầu bạc phơ.

——————

38A.

* Nguyên văn:-

子曰:不知命無以為君子也。不知禮無以立也。不知言無以知人也。有德者必有言,有言者不必有德。

*Âm:-

Tử viết :Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã. Bất tri lễ vô dĩ lập dã. Bất tri ngôn vô dĩ tri nhân dã. Hữu đức giả tất hữu ngôn, hữu ngôn giả bất tất hữu đức .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Không biết về Mệnh thì không lấy gì chứng tỏ là người quân tử. Không biết lễ thì không lấy gì để đứng (giữa đời) được. Không biết về cách nói năng thì không lấy gì để biết người. Kẻ có đức tất có cách nói năng, kẻ biết cách nói năng chưa chắc có đức.

*Diễn ca: –

Người quân tử lạc thiên, an mệnh,
Không mưu toan bứt phá đổi đời.
(Vẫy vùng để tạo cơ ngơi,
Giữ sao vẹn được những lời dạy xưa?)
Phải đứng vững trên đời bằng lễ,
Chẳng kính nhường, chẳng thể làm người.
Trong khi bàn bạc, nói cười,
Hiểu sao cho đúng mọi lời đổi trao?
Hiểu đúng ý, biết nhau mới rõ,
Mới cùng nhau cởi bỏ bất đồng.
Một khi đạo đức đầy lòng,
Lời lời phát biểu sáng trong làu làu…
Gặp những kẻ chuốt trau lời lẽ,
Giọng ngọt ngào san xẻ cửa nhà.
Ðề phòng bụng dạ xấu xa,
Phần đức trống rỗng, ba hoa gạt người…

**********

39A.

* Nguyên văn:-

濂溪先生曰:巧者言,拙者默。巧者勞,拙者逸。巧者賊,拙者德。巧者凶,拙者吉。嗚呼!天下拙,刑政徹,上安下順,風清弊絕。

*Âm:-

Liêm Khê tiên sinh viết :Xảo giả ngôn, chuyết giả mặc. Xảo giả lao, chuyết giả dật. Xảo giả tặc, chuyết giả đức. Xảo giả hung, chuyết giả cát. Ô hô !Thiên hạ chuyết, hình chính triệt, thượng an hạ thuận, phong thanh tệ tuyệt .

* Dịch nghĩa:-

Chu Liêm Khê (*) nói: Kẻ khôn khéo thì nói, kẻ vụng về làm thinh. Kẻ khôn khéo thì nhọc, kẻ vụng về rảnh rỗi. Kẻ khôn khéo thì gây hại, kẻ vụng về giữ đức. Kẻ khôn khéo gặp việc dữ, kẻ vụng về gặp việc lành. Hỡi ôi! Thiên hạ vụng về thì việc sử dụng hình phạt phải dẹp bỏ, ở trên yên, ở dưới thuận, phong tục trong sáng, tệ nạn chấm dứt!

*Diễn ca: –

Kẻ khéo ăn nói hùng hồn,
Kẻ vụng chỉ còn dựa cột mà nghe.
Kẻ khéo xông xáo mọi nghề,
Kẻ vụng rảnh rỗi, yên bề vô tâm.
Kẻ khéo dễ vấp lỗi lầm,
Kẻ vụng âm thầm để đức cho con.
Kẻ khéo việc dữ đổ dồn,
Kẻ vụng trái lại, chỉ còn việc hay.
Hỡi ôi! Thiên hạ ngày nay,
Nếu toàn vụng dại, chẳng ai vào tù!
Trên yên, dưới thuận êm ru,
Phong tục trong sáng, thói hư chẳng còn!

*Chú thích:-

Chu Liêm Khê: tức Chu Ðôn Di (1017 – 1073) nhà Lý học lừng danh đời Tống.

——————-

40A.

* Nguyên văn:-

易曰:德微而位尊,智小而謀大,無禍者鮮矣。

*Âm:-

Dịch viết : Đức vi nhi vị tôn, trí tiểu nhi mưu đại, vô họa giả tiễn hĩ .

* Dịch nghĩa:-

Kinh Dịch nói: Ðức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà mưu lớn, rất ít kẻ không gặp họa vậy.

*Diễn ca: –

Ðức hèn kém, chiếm ngôi tôn qúi,
Thật khó bề khỏi bị tai ương.
Trí vừa đủ quản một phương,
Ðem ra trị nước, khó đương mọi bề.
Kẻ tham vọng chẳng hề nhận kém,
Lại không ưa kẻ dám trái lời.
Chỉ nghe miệng lưỡi xu thời,
Gây nên bao cảnh hại người, hại ta.

**********

41A.

* Nguyên văn:-

說苑云:官怠於宦成,病加於少愈,禍生於懈惰,孝衰於妻子。察此四者慎終如始。

*Âm:-

Thuyết Uyển vân :Quan đãi ư hoạn thành, bệnh gia ư thiếu dũ, hoạ sinh ư giải đoạ, hiếu suy ư thê tử. Sát thử tứ giả thận chung như thủy .

* Dịch nghĩa:-

Sách Thuyết Uyển nói: Quan trễ nãi vào lúc địa vị hình thành, bệnh nặng thêm vào lúc đỡ bớt, họa sinh ra ở lúc lười nhác ỷ y, hiếu suy kém khi bận bịu vợ con. Xét kỹ bốn điều ấy để thận trọng lúc cuối như lúc đầu.

*Diễn ca: –

Quan ngồi vững ghế mới lười,
Bệnh thường trở nặng khi người đỡ đau.
Thảnh thơi họa mới đến sau,
Hiếu sa sút lúc bắt đầu vợ con.
Cẩn thận nhớ giữ cho tròn,
Trước sao sau vậy mới không sai lầm.

——————–

42A.

* Nguyên văn:-

顏子曰:鳥窮則啄,獸窮則攫,人窮則詐,馬窮則跌。自古及今,未有窮其下而能無危者也。著意栽花花不發,無心插柳柳成陰。

*Âm:-

Nhan Tử viết :Điểu cùng tắc trác, thú cùng tắc quặc, nhân cùng tắc trá, mã cùng tắc trật. Tự cổ cập kim, vị hữu cùng kỳ hạ nhi năng vô nguy giả dã. Trước ý tài hoa hoa bất phát, vô tâm sáp liễu liễu thành âm .

* Dịch nghĩa:-

Chim cùng đường thì mổ, thú cùng đường thì vồ, người cùng đường thì gian trá, ngựa cùng đường thì đá. Từ xưa đến nay chưa có ai đẩy kẻ dưới vào đường cùng mà không gặp nguy cả. Có ý trồng hoa, hoa không phát triển, vô tâm cắm liễu, liễu rũ thành bóng râm.

*Diễn ca: –

Cùng đường chim cứ mổ bừa,
Thú thì vồ đại, người ưa dối người.
Cùng đường, ngựa đá hậu thôi,
Xưa nay kẻ dưới bị “chơi” tới cùng.
Thường là họ cũng nổi khùng,
Chén đất, chén sứ vỡ chung là hòa.
Trồng hoa, hoa chẳng trổ hoa,
Cắm chơi cành liễu, lòa xòa bóng râm.

**********

XII – Tuyển dịch thiên thứ mười hai: LẬP GIÁO

1A.

* Nguyên văn:-

子曰:立身有義而孝為本。喪事有禮而哀為本。戰陣有列而勇為本。治政有理而農為本。居國有道而嗣為本。生財有時而力為本。

*Âm:-

Tử viết :Lập thân hữu nghĩa nhi hiếu vi bản. Tang sự hữu lễ nhi ai vi bản. Chiến trận hữu liệt nhi dũng vi bản. Trị chính hữu lý nhi nông vi bản. Cư quốc hữu đạo nhi tự vi bản. Sinh tài hữu thời nhi lực vi bản .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Lập thân có nghĩa nhưng hiếu làm gốc. Việc tang có lễ nhưng thương xót làm gốc. Chiến trận có hàng ngũ nhưng dũng cảm làm gốc. Xứ lý chính sự có lý nhưng việc nông làm gốc. Cư xử việc nước có đạo nhưng lấy việc nối dõi làm gốc. Làm ra của cải có lúc nhưng lấy sức làm gốc.

*Diễn ca: –

Hiếu thảo là gốc lập thân,
Ðau thương là gốc việc tang hợp tình.
Chiến trường dàn trận phân minh,
Có lòng dũng cảm mới thành chiến công.
Trị nước phải trọng nghề nông,
Ở ngôi thì việc nối dòng sớm lo.
Chần chờ, cân nhắc, đắn đo,
Dễ sinh chia rẽ, dằng co rầy rà.
Của cải quyết chí làm ra,
Phải coi nỗ lực mới là phương châm.

2A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:為政之要曰公與清。成家之要曰勤與儉。讀書成家之本。循理保家之本。勤儉治家之本。和順齊家之本。勤者富之本,儉者富之源。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Vi chính chi yếu viết công dữ thanh. Thành gia chi yếu viết cần dữ kiệm. Độc thư thành gia chi bản. Tuần lý bảo gia chi bản. Cần kiệm trị gia chi bản. Hoà thuận tề gia chi bản. Cần giả phú chi bản, kiệm giả phú chi nguyên .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Ðiều cốt yếu của việc cai trị là công bằng với thanh liêm. Ðiều cốt yếu của việc nên nhà là siêng năng cùng tiết kiệm. Ðọc sách là gốc nên nhà. Noi theo lẽ phải là gốc giữ nhà. Cần kiệm là gốc của việc cai quản gia đình hoàn hảo. Siêng năng là gốc của việc làm giàu. Tiết kiệm là nguồn của việc làm giàu.

*Diễn ca: –

Thanh liêm cùng với công bằng,
Là nếp rất cần cai quản quốc gia.
Muốn cho nên cửa nên nhà,
Ðiều cốt yếu là tiết kiệm, siêng năng.
Ðồng thời chăm việc sách đèn,
Dựa theo đạo lý làm ăn đàng hoàng.
Cần kiệm xua đuổi cơ hàn,
Là gốc chu toàn, quản lý, ấm êm.
Siêng năng là gốc giàu lên,
Tiết kiệm là suối rót thêm cho giàu.

**********

3A.

* Nguyên văn:-

古靈陳先生教其民曰:為吾民者,父義母慈,兄友弟恭,夫婦有恩,男女有別,子弟有學,鄉閭有禮。貧窮患難親戚相救;婚姻死喪,鄰堡相助。毋惰農業,毋作盜賊,毋學賭博,毋好爭訟,毋以惡凌善,毋以富吞貧。行者讓路,耕者讓畔,頒白者不負戴於道路則為禮義之俗矣。

*Âm:-

Cổ Linh Trần Tiên Sinh giáo kỳ dân viết :Vi ngô dân giả, phụ nghĩa mẫu từ, huynh hữu đệ cung, phu phụ hữu ân, nam nữ hữu biệt, tử đệ hữu học, hương lư hữu lễ. Bần cùng hoạn nan thân thích tương cứu ;hôn nhân tử táng, lân bảo tương trợ. Vô đoạ nông nghiệp, vô tác đạo tặc, vô học đổ bác, vô hảo tranh tụng, vô dĩ ác lăng thiện, vô dĩ phú thôn bần. Hành giả nhượng lộ, canh giả nhượng bạn, ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ tắc vi lễ nghĩa chi tục hĩ .

* Dịch nghĩa:-

Trần Cổ Linh dạy dân mình rằng: Kẻ làm dân ta phải cha nghĩa mẹ hiền, anh coi em như bạn, em phải kính nể anh. Vợ chồng biết ơn nhau, trai gái phải phân biệt, con em phải có học, làng xóm phải có lễ. Nghèo túng hoạn nạn bà con nội ngoại phải cứu nhau. Gặp việc cưới gả, ma chay, xóm giềng phải giúp nhau. Chớ bê trễ việc nông, chớ làm trộm cướp, chớ học bài bạc, chớ ham kiện cáo, chớ để kẻ ác lấn lướt người thiện, chớ để kẻ giàu thôn tính kẻ nghèo. Ði đường phải nhường bước, cày ruộng phải nhường bờ, kẻ già nua không mang vác trên đường là có phong tục lễ nghi vậy.

*Diễn ca: –

Mấy lời dạy bảo dân ta,
Mẹ từ cha nghĩa mới là điều hay.
Từ là cư xử hằng ngày,
Dịu dàng, hiền hậu, tràn đầy tình thương.
Nghĩa là sốt sắng mọi đường,
Việc cần, việc khó, đảm đương tận tình.
Anh coi em tựa bạn mình,
Vui buồn cùng hưởng, lợi quyền cùng chia.
Với anh, em phải nể vì,
Không được so bì, không cậy chiều nuông.
Vợ chồng phải nhớ ơn luôn,
Vì duyên, vì nợ, yêu thương hết lòng.
Xóm làng mỹ tục thuần phong,
Cùng nhau tuân giữ mới hòng văn minh.
Gái trai mình giữ phận mình,
Xô bồ, phức tạp, linh tinh… phải ngừa.
Nghèo túng, hoạn nạn, mất mùa,
Ma chay, cưới hỏi, phải hùa nhau lo.
Miếng khi đói, gói khi no,
Kẻ nhận cảm kích, người cho vui mừng.
Nghề nông khuyên chớ dửng dưng,
Chớ ham lên rừng theo nghiệp lâu la.
Bác thằng bần, phải tránh xa,
Cửa công chớ đến kêu ca hàm hồ.
Cũng đừng cậy thói côn đồ,
Xúc phạm người khác thân cô, thế hèn.
Kẻ giàu chớ cậy lắm tiền,
Cho vay nặng lãi, xiết liền cơ ngơi.
Ði đường giữ đạo làm người,
Phải biết tươi cười nhường bước cho nhau.
Người vì việc gấp phải mau,
Người vì già yếu, ốm đau tìm thầy.
Ra đồng chăm việc cấy cày,
Xén bờ chớ lạm dù vài lóng tay.
Trên đường đêm cũng như ngày,
Người già, kẻ yếu, không ai gánh gồng.
Phải thế lễ nghĩa mới thông,
Phong tục mới tốt, non sông huy hoàng.

**********

4A.

* Nguyên văn:-

說苑云:治國若彈琴,治家若執轡。孝當竭力,忠則盡命。女慕貞潔,男效才良。

*Âm:-

Thuyết Uyển vân :Trị quốc nhược đàn cầm, trị gia nhược chấp bí. Hiếu đương kiệt lực, trung tắc tận mệnh. Nữ mộ trinh khiết, nam hiệu tài lương .

* Dịch nghĩa:-

Sách Thuyết Uyển nói: trị nước như gảy đàn, trị nhà như cầm cương. Hiếu phải hết sức, trung phải liều mạng. Gái quý mến sự trinh sạch, trai cố sức cho có tài năng lương thiện.

*Diễn ca: –

Trị nước phải như đánh đàn,
Du dương trầm bổng dân an nước giàu.
Chớ nên thuế nặng sưu cao,
Cung điện hoành tráng, của hao dân gầy.
Trị nhà là việc khó thay!
Như cầm cương ngựa, đường dài khó đi.
Lúc giong, lúc giật, lúc ghì,
Căng sức duy trì nề nếp gia phong.
Con hiếu thì phải hết lòng,
Tôi trung thì phải đừng mong dưỡng già.
Con trai quý ở tài ba,
Con gái quý nhất chính là tiết trinh.

—————-

5A.

* Nguyên văn:-

張思叔座右銘曰:凡語必忠信,凡行必篤敬。飲食必慎節,字畫必楷正。容貌必端莊,衣冠必肅整。步履必安祥,居處必正靜。作事必謀始,出言必顧行。常德必固持,言諾必重應。見善如己出,見惡如己病。凡此十四者我皆未深省,書此當座隅朝夕視為警。

*Âm:-

Trương Tư Thúc toạ hữu minh viết :Phàm ngữ tất trung tín, phàm hành tất đốc kính. Ẩm thực tất thận tiết, tự hoạ tất khải chính. Dung mạo tất đoán trang, y quán tất túc chỉnh. Bộ lí tất an tường, cư xứ tất chính tĩnh. Tác sự tất mưu thủy, xuất ngôn tất cố hành. Thường đức tất cố trì, ngôn nặc tất trọng ưng. Kiến thiện như kỷ xuất, kiến ác như kỷ bệnh. Phàm thử thập tứ giả ngã giai vị thâm tỉnh, thư thử đương toạ ngung triêu tịch thị vi cảnh .

* Dịch nghĩa:-

Bài minh bên chỗ ngồi của Trương Tư Thúc viết: Hễ nói thì phải thẳng thắn đáng tin, hễ làm thì phải hết lòng kính cẩn, ăn uống phải thận trọng chừng mực, nét chữ phải chân phương, dung mạo phải đoan trang, áo mũ phải chỉnh tề, bước đi phải vững vàng, cư xử phải chính đáng bình tĩnh, làm việc phải tính trước, nói ra phải đi đôi với việc làm, phải giữ bền đức thường (*), nói lời vâng phải coi trọng sự ưng thuận. Thấy việc thiện như mình tạo ra, thấy việc ác như mình gây nên.

Mười bốn điều ấy ta chưa xét mình sâu sắc nên viết ra treo ở góc chỗ ngồi, sớm chiều đều xem để tự cảnh tỉnh.

*Diễn ca: –

Một là nói thật, đáng tin,
Hai là công việc giữ gìn cho nghiêm.
Ba là ăn uống có chừng,
Bốn là chữ viết giữ đừng lôi thôi.
Năm là dung mạo dễ coi,
Sáu là áo mũ săm soi chỉnh tề.
Bảy là đi đứng giữ lề,
Tám là cư xử khỏi chê điều gì.
Chín là động đến việc chi,
Cũng đều cân nhắc nghĩ suy mới làm.
Mười là mỗi lúc mở mồm,
Phải coi lời nói, việc làm hợp không.
Mười một, lòng mãi dặn lòng,
Duy trì cái đức sáng trong vững vàng.
Mười hai, khi đã nói “vâng”,
Phải xem lòng đã thuận lòng thế chưa?
Mười ba thấy thiện là ưa,
Thỏa lòng như chính mình vừa làm xong.
Mười bốn thấy ác chạnh lòng,
Tưởng như mình có dự phần gây nên.
Lòng ta xét thấy chưa yên,
Viết ra như thế dán bên chỗ ngồi…

*Chú thích:-

*”Tọa hữu minh 座右銘” là danh từ riêng chỉ cho một thể loại văn có giá trị là “lời tự khuyên răn nhắc nhở mình” (gọi là bài châm), thường được treo (dán) bên cạnh chỗ ngồi làm việc (đọc sách), không nhất thiết phải là “bên phải = hữu ” hay “bên trái = tả ” gì cả.

* Đức thường, tức ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

**********

6A.

* Nguyên văn:-

范益謙座右銘曰:

一不言朝廷利害邊報差除。
二不言州縣官員長短得失。
三不言眾人所作過惡。
四不言仕進官職趨時附勢。
五不言財利多寡,厭貧求富。
六不言淫媟戲慢評論女色。
七不言求覓人物需索酒食。

又曰:

一人附書信不可開拆沉滯。
二與人並坐不可窺人私書。
三凡入人家不可看人文字。
四凡借人物不可損壞不還。
五凡吃飲食不可揀擇去取。
六與人同處不可自擇便利。
七見人富貴不可歎羨詆毀。

凡此數事犯之者足以見用意之不肖,於存心修身大有所害,因書以自警。

*Âm:-

Phạm Ích Khiêm toạ hữu minh viết :

Nhất bất ngôn triều đình lợi hại biên báo sai trừ.
Nhị bất ngôn châu huyện quan viên trường đoản đắc thất.
Tam bất ngôn chúng nhân sở tác quá ác.
Tứ bất ngôn sĩ tiến quan chức xu thời phụ thế.
Ngũ bất ngôn tài lợi đa quả, yếm bần cầu phú.
Lục bất ngôn dâm tiết hí mạn bình luận nữ sắc.
Thất bất ngôn cầu mịch nhân vật nhu sách tửu thực.

Hựu viết :

Nhất nhân phụ thư tín bất khả khai sách trầm trệ.
Nhị dữ nhân tịnh toạ bất khả khuy nhân tư thư.
Tam phàm nhập nhân gia bất khả khán nhân văn tự.
Tứ phàm tá nhân vật bất khả tổn hoại bất hoàn.
Ngũ phàm ngật ẩm thực bất khả giản trạch khứ thủ.
Lục dữ nhân đồng xứ bất khả tự trạch tiện lợi.
Thất kiến nhân phú quí bất khả thán tiện để huỷ.
Phàm thử số sự phạm chi giả túc dĩ kiến dụng ý chi bất tiếu, ư tồn tâm tu thân đại hữu sở hại, nhân thư dĩ tự cảnh .

* Dịch nghĩa:-

Bài minh bên chỗ ngồi của Phạm Ích Khiêm viết:

Một là không nói đến chuyện lợi hại của triều đình, chuyện phái đến rút đi của tin tức biên thùy. Hai là không nói đến chuyện giỏi, dở, được, mất của quan chức châu huyện. Ba là không nói đến những việc làm ác, phạm lỗi của mọi người. Bốn là không nói đến việc tiến chức, thăng quan, xu thời dựa thế. Năm là không nói đến của cải nhiều ít, chán nghèo tìm giàu. Sáu là không nói đến bình phẩm gái đẹp, bỡn cợt chơi bời. Bảy là không nói đến chuyện tìm kiếm người nầy kẻ nọ đòi hỏi ăn nhậu.

Lại nói: Một là người ta gửi thư tín không được bóc mở, ỉm đi hay bê trễ. Hai là ngồi cùng người khác, không dòm xem thư riêng của họ. Ba là vào nhà người ta không nên xem giấy má của họ. Bốn là mượn vật dụng của người ta không được làm hư hỏng, không trả. Năm là ăn uống không nên lựa chọn bỏ, lấy. Sáu là ở chung với người khác, không nên chọn phần tiện lợi hơn. Bảy là thấy người ta giàu sang không nên xuýt xoa khen chê.

Ðấy là vài việc mà ai phạm phải thì đủ thấy là có dụng ý không tử tế, rất tai hại cho việc giữ tâm, sửa mình, do đó (ta) viết ra để tự răn giữ.

*Diễn ca: –

Một là chớ kháo vua quan,
Biên cương ai đến, ai đang triệu hồi?
Toàn là bí mật cả thôi,
Ðối phương lợi dụng, ta thời gặp nguy.
Hai là đàm tiếu thị phi,
Quan hay, quan dở, quan bi, quan hài.
Ngợi khen hay dám chê bai,
Rừng có mạch, vách có tai, sinh phiền.
Ba là đừng kể huyên thiên,
Kẻ ác, kẻ hiền, kẻ xấu, kẻ hư.
Biết đâu ta kể say sưa,
Khi những kẻ ấy… đang chừa cũng nên!
Bốn là việc của quan trên,
Ai thăng, ai giáng, ai hèn, ai oai?
Ta đâu giữ chức khâm sai?
Dẫu khen chê đúng thì ai trả tiền?
Năm là bàn chuyện sang hèn,
Kẻ nầy nhiều tiền, kẻ nọ xác xơ.
Nào chán ngán, nào ước mơ,
Nhắc chi loại chuyện từ xưa đã đầy?
Sáu là làm bộ ta đây,
Sành sõi em nầy, dan díu ả kia.
Chuyện chặp tối, chuyện canh khuya,
Sành sõi há được dựng bia để đời?
Bảy là chuyện nhậu, chuyện chơi,
Bạn cũ, bạn mới, ép mời liên hoan.
Tốn nhiều, cứ ngỡ là sang,
Xem ra chỉ toàn lối sống bản năng!
Ðể cái miệng hại cái thân,
Thử hỏi có cần cái óc nữa không?

Và:

Một là người khác gửi thư,
Chuyển liền, chớ có quá ư lề mề.
Hai là người đọc thứ gì,
Chớ nên ghé mắt giống y của mình.
Ba là thăm viếng gia đình,
Dù chỗ thân tình, chớ lục lung tung.
Thư riêng, bản thảo, đề cương,
Chủ không cho phép thì đừng mó tay.
Bốn là mượn vật dụng ai,
Phải lo trả sớm, chớ xài hỏng, hao.
Năm là ăn uống tiệc nào,
Ðừng chọn tùy tiện, gắp vào sớt ra.
Sáu là khi ở chung nhà,
Thì chớ có mà lấn chiếm phần hơn.
Thiệt thòi chút ít chớ hờn,
Cái tình giữ nổi mới hơn nhiều phần.
Bảy là thấy kẻ giàu sang,
Phải nên xử sự đàng hoàng mới hay.
Chớ thán phục, chớ chê bai,
Bạc tiền là thứ mây bay giữa trời.
Nếu đem làm thước đo người,
Thì là… thước ảo, chẳng nơi nào cần!

**********

7A.

* Nguyên văn:-

武 王問太公曰:人居世上何有貴賤貧富不同?願聞其說。太公曰:富貴如聖人之德,皆由天命。富者用之有節,不富者家有十盜。武王曰:何為十盜?太公曰:將熟不 收為一盜,收積不了為二盜,無事燃燈寢睡為三盜,慵懶不耕為四盜,不施工力為五盜,專行竊害為六盜,養畜太多為七盜,晝眠懶起為八盜,貪酒嗜欲為九盜,強 行嫉妬為十盜。武王曰:家無十盜,不富者何如?太公曰:人家必有三耗。武王曰:何名三耗?太公曰:倉庫漏濕不蓋,鼠雀亂食為一耗,收種失時為二耗,拋撒米 穀穢賤為三耗。武王曰:家無三耗,不富者何如?太公曰:人家必有一錯,二誤,三痴,四失,五逆,六不祥,七奴,八賤,九愚,十強自招其禍,非天降殃。武王 曰:悉願聞之。太公曰:養男不教訓為一錯,嬰孩不訓為二誤,初迎新婦不行嚴訓為三痴,未語先笑為四失,不養父母為五逆,夜起赤身為六不祥,好挽他弓為七 奴,愛騎他馬為八賤,吃他酒勸他人為九愚,吃他飲食朋友為十強。武王曰:誠哉斯言也。

*Âm:-

Vũ Vương vấn Thái Công viết :Nhân cư thế thượng hà hữu quí tiện bần phú bất đồng ?Nguyện văn kỳ thuyết. Thái Công viết :Phú quí như thánh nhân chi đức, giai do thiên mệnh. Phú giả dụng chi hữu tiết, bất phú giả gia hữu thập đạo. Vũ Vương viết :Hà vi thập đạo ?Thái Công viết :Tương thục bất thu vi nhất đạo, thu tích bất liễu vi nhị đạo, vô sự nhiên đăng tẩm thuỵ vi tam đạo, dung lại bất canh vi tứ đạo, bất thi công lực vi ngũ đạo, chuyên hành thiết hại vi lục đạo, dưỡng súc thái đa vi thất đạo, trú miên lại khởi vi bát đạo, tham tửu thị dục vi cửu đạo, cường hành tật đố vi thập đạo. Vũ Vương viết :Gia vô thập đạo, bất phú giả hà như ?Thái Công viết :Nhân gia tất hữu tam hao. Vũ Vương viết :Hà danh tam hao ?Thái Công viết :Thương khố lậu thấp bất cái, thử tước loạn thực vi nhất hao, thu chủng thất thời vi nhị hao, phao tán mễ cốc uế tiện vi tam hao. Vũ Vương viết :Gia vô tam hao, bất phú giả hà như ?Thái Công viết :Nhân gia tất hữu nhất thác, nhị ngộ, tam si, tứ thất, ngũ nghịch, lục bất tường, thất nô, bát tiện, cửu ngu, thập cường tự chiêu kỳ hoạ, phi thiên giáng ương. Vũ Vương viết :Tất nguyện văn chi. Thái Công viết :Dưỡng nam bất giáo huấn vi nhất thác, anh hài bất huấn vi nhị ngộ, sơ nghênh tân phụ bất hành nghiêm huấn vi tam si, vị ngữ tiên tiếu vi tứ thất, bất dưỡng phụ mẫu vi ngũ nghịch, dạ khởi xích thân vi lục bất tường, hảo vãn tha cung vi thất nô, ái kỵ tha mã vi bát tiện, ngật tha tửu khuyến tha nhân vi cửu ngu, ngật tha ẩm thực bằng hữu vi thập cường. Vũ Vương viết :Thành tai tư ngôn dã .

* Dịch nghĩa:-

Vũ Vương hỏi Thái Công: Người ta sống trên đời tại sao sang hèn nghèo giàu không như nhau? Xin được nghe nói rõ về chuyện ấy.

Thái Công nói: Giàu sang cũng giống như cái Ðức của thánh nhân, đều là do mệnh trời. Kẻ giàu nhờ tiêu dùng chừng mực, kẻ không giàu là do trong nhà có mười kẻ trộm.

Vũ Vương hỏi: Mười kẻ trộm là gì?

Thái Công nói: Sắp chín mà không thu hoạch là kẻ trộm thứ nhất. Thu hoạch mà cất chứa không xong là kẻ trộm thứ hai. Không có việc mà chong đèn suông để ngủ là kẻ trộm thứ ba. Lười nhác không cày cấy là kẻ trộm thứ tư. Không dốc hết công sức là kẻ trộm thứ năm. Chuyên làm việc trộm xén gây hại là kẻ trộm thứ sáu. Nuôi gia súc tốn quá nhiều là kẻ trộm thứ bảy. Ngủ ngày lười dậy là kẻ trộm thứ tám. Nghiện rượu, ham sắc dục là kẻ trộm thứ chín. Lo ganh ghét, làm ăn gượng gạo là tên trộm thứ mười.

Vũ Vương hỏi: Nhà không có mười kẻ trộm mà không giàu là tại sao?

Thái Công nói: Nhà ấy tất có ba điều hao.

Vũ Vương hỏi: Ba điều hao ấy gọi tên là gì?

Thái Công nói: Kho chứa dột ướt không che lợp, chuột và chim sẻ ăn loạn xạ là điều hao thứ nhất. Thu hoạch và cấy trồng sai thời vụ là điều hao thứ hai. Ném vứt thóc gạo nơi bẩn thỉu là điều hao thứ ba.

Vũ Vương hỏi: Nhà không có ba điều hao mà không giàu là tại sao?

Thái Công nói: Nhà người ấy tất có cái thứ nhất là nhầm, cái thứ hai là lẫn, cái thứ ba là si mê, cái thứ tư là lỗi, cái thứ năm là ngược, cái thứ sáu là chẳng lành, cái thứ bảy là tôi tớ, cái thứ tám là hèn hạ, cái thứ chín là ngu, cái thứ mười là gượng. Ðấy là tự rước họa cho mình chứ không phải trời gieo tai ương.

Vũ Vương nói: Xin được nghe một thể.

Thái Công nói: Nuôi con trai không dạy dỗ là cái nhầm thứ nhất. Khi còn bé không lo dạy là cái lẫn thứ hai. Mới đón vợ về mà không tiến hành nghiêm huấn là cái si mê thứ ba. Chưa nói đã cười là cái lỗi thứ tư. Không nuôi cha mẹ là cái ngược thứ năm. Ban đêm dậy trần trụi là bất tường thứ sáu. Thích kéo dây cung của người khác là điều tôi tớ thứ bảy. Thích cưỡi ngựa người khác là sự hèn hạ thứ tám. Uống rượu người ta mời người khác là cái ngu thứ chín. Ăn món ăn của bạn người ta là cái gượng thứ mười.

Vũ Vương nói: Tốt lắm! Lời nói ấy chân thành lắm thay!

*Diễn ca: –

Vũ Vương hỏi chuyện Thái Công:

– Giàu nghèo sao lại bất đồng thế kia?
Ðáp rằng số mệnh đã chia,
Mệnh giàu dè xẻn, thường khi để dành.
Kẻ không giàu phá của nhanh,
Nuôi mười kẻ trộm xúm quanh về hùa.
Thứ nhất, thu hoạch trễ mùa,
Rơi vãi, hư thối, chịu thua một phần.
Thứ hai, bảo quản sai lầm,
Góp thêm mất mát âm thầm không hay.
Thứ ba, xài phí vung tay,
Chong đèn cả lúc ngủ say không cần.
Thứ tư, đất ruộng bỏ hoang,
Chẳng lo cày cấy tính toan làm giàu.
Thứ năm, không ốm chẳng đau,
Vẫn dửng dưng chuyện làm giàu bằng ai.
Thứ sáu, mất cắp lai rai,
Sinh ra lười nhác, chẳng ai chăm làm.
Thứ bảy, gia súc gia cầm,
Nuôi thật phung phí, thức ăn khắp vườn.
Thứ tám, bám kỹ cái gường,
Ngủ ngày dậy muộn chuyện thường xảy ra.
Thứ chín, gái rượu la cà,
Vung tay quá trán, tỏ ra anh hào.
Thứ mười, ganh ghét kẻ giàu,
Làm ăn gượng gạo, bảo sao chẳng nghèo?

Vũ Vương lại hỏi tiếp theo:
– Thoát mười kẻ trộm, khỏi nghèo được sao?
Ðáp rằng: Ba cái gây hao,
Phạm ba cái ấy làm sao cũng nghèo.
Một hao kho chứa lèo tèo,
Kém che, vụng chắn, chuột vào, sẻ ra.
Hai hao thời vụ lơ là,
Gieo trồng, thu hái, chẳng ra mùa màng.
Ba hao vun, đổ tràn lan,
Hư hỏng, bẩn thỉu, trông càng xót xa.

Vũ Vương hỏi tiếp câu ba:
– Khỏi hao, khỏi trộm, ắt là giàu to?
Ðáp rằng: Còn chục mối lo,
Xui gây nên những rủi ro lâu dài:
Một là chẳng dạy con trai,
Hai là chẳng dạy đúng ngày còn thơ.
Ba là từ thuở ban sơ,
Chẳng khuyên tùy tục, làm ngơ vợ lười!
Bốn là chưa nói đã cười,
Năm là chẳng phụng dưỡng người bề trên.
Sáu là thức giấc nửa đêm,
Dầy dầy lõa thể, điềm thêm bất tường.
Bảy là cung lạ thích giương,
Tám là ngựa lạ tiện đường cưỡi ngay.
Chín là ké cuộc vui say,
Mười là xơi món không bày vì ta.

Vũ Vương nghe đáp thật thà,
Khen rằng: “Nói thế mới là lời hay!”

———————

*Xin lưu ý: Ðành rằng sử có chép Vũ Vương tên thật là Cơ Phát, vua khai sáng nhà Chu, trị vì 15 năm (1131 – 1116 trước Công Nguyên) và Thái Công (Khương Tử Nha) là quân sư đắc lực của Vũ Vương nhưng trên đây chỉ là chuyện hư cấu, hoàn toàn không có giá trị lịch sử, chỉ nhằm mục đích răn đời.

**********

XIII – Tuyển dịch thiên thứ mười ba: TRỊ CHÍNH

1A.

* Nguyên văn:-

唐太宗御製:上有麾之,中有乘之,下有附之,幣帛衣之,倉廩食之,爾俸爾祿民膏民脂,下民易虐,上蒼難欺。

*Âm:-

Đường Thái Tông ngự chế :Thượng hữu huy chi, trung hữu thặng chi, hạ hữu phụ chi, tệ bạch y chi, thương lẫm thực chi, nhĩ bổng nhĩ lộc dân cao dân chỉ, hạ dân dị ngược, thượng thương nan khi .

* Dịch nghĩa:-

Bài ngự chế của Ðường Thái Tông nói: Trên có sai khiến cho, giữa có sai khiến theo, dưới có phụ lực cho, vải vóc mặc cho, kho đụn nuôi cho, bổng lộc ngươi hưởng là máu mỡ của dân đấy! Với dân ở dưới thì dễ hà khắc, với cao xanh ở trên thì khó qua mặt.

*Diễn ca: –

Ở trên chỉ đạo ngọn ngành,
Ở giữa thừa hành thực hiện chủ trương.
Ở dưới thì có dân thương,
Cái ăn, cái mặc, mọi đường dân lo.
Triều đình cấp bổng lộc cho,
Chính là máu mỡ dân lo cho mình.
Với dân ngươi nổi lôi đình,
Tuy có bất bình, dân cố chịu thôi.
Cao xanh tuy ở xa xôi,
Kẻ định lừa trời, chưa chắc nổi đâu!

—————-

2A.

* Nguyên văn:-

童 蒙訓曰:當官之法,唯有三事:曰清,曰慎,曰勤。知此三者則知所以持身矣。當官者必以暴怒為戒。事有不可當詳處之必無不當。若先暴怒只能自害,豈能害人。 事君如事親,事官長如事兄。與同僚如家人,待群吏如奴僕。愛百姓如妻子,處官事如家事,然後能盡吾之心,如有毫末未至,皆吾心有所不盡也。

*Âm:-

Đồng Mông Huấn viết :Đương quan chi pháp, duy hữu tam sự :Viết thanh, viết thận, viết cần. Tri thử tam giả tắc tri sở dĩ trì thân hĩ. Đương quan giả tất dĩ bạo nộ vi giới. Sự hữu bất khả đương tường xứ chi tất vô bất đương. Nhược tiên bạo nộ chỉ năng tự hại, khởi năng hại nhân. Sự quân như sự thân, sự quan trường như sự huynh. Dữ đồng liêu như gia nhân, đãi quần lại như nô bộc. Ái bách tính như thê tử, xứ quan sự như gia sự, nhiên hậu năng tận ngô chi tâm, như hữu hào mạt vị chí, giai ngô tâm hữu sở bất tận dã .

* Dịch nghĩa:-

Sách dạy trẻ nói: Phép tắc kẻ làm quan chỉ có ba việc: thanh liêm, cẩn thận, siêng năng. Kẻ giữ được ba phép tắc ấy là giữ nổi thân vậy. Kẻ làm quan tất phải dè dặt sự giận dữ. Việc có vẻ không thể đảm đương nhưng xử rõ ra tất không có gì là không thể đảm đương. Nếu ngay từ trước đã giận dữ thì chỉ tự gây hại cho mình, há thể hại người? Thờ vua như thờ cha mẹ, phụng sự quan trên như phụng sự anh, đối với đồng liêu như người nhà, đãi ngộ đám lại dịch như nô bộc, yêu trăm họ như vợ con, xử lý việc quan như việc nhà mới tỏ hết lòng ta. Nếu có mảy may chưa đạt được đều là lòng ta còn chỗ chưa dốc hết.

*Diễn ca: –

Làm quan có ba điều răn:
Thanh liêm, cẩn thận, siêng năng nằm lòng.
Giữ ba điều ấy cho xong,
Tức là ta thoát được vòng hiểm nguy.
Không nên giận dữ điều gì,
Ðã giận dữ thì nhất định mất khôn.
Gặp việc khó, tưởng vô phương,
Cân nhắc tỏ tường, Dịch quyết dễ thôi.
Nếu ta đã trót giận rồi,
Hại mình quá rõ, hại người dễ đâu!
Làm quan muốn được bền lâu,
Thờ vua như đáp ơn sâu sinh thành.
Với quan trên, kính như anh,
Với đồng liêu, tựa gia đình của ta.
Với bao lại dịch, sai nha,
Coi như tôi tớ giúp ta bao điều.
Coi dân con quý, vợ yêu,
Việc quan coi tựa bao nhiêu việc nhà.
Hết lòng hết dạ của ta,
Một mảy sơ suất cũng là chưa xong.

**********

3A.

* Nguyên văn:-

居官者凡異色人不宜與之相接。巫祝尼媼之類尤宜罷絕,要以清心省事為本。

*Âm:-

Cư quan giả phàm dị sắc nhân bất nghi dữ chi tương tiếp. Vu chúc ni ẩu chi loại vưu nghi bãi tuyệt, yếu dĩ thanh tâm tỉnh sự vi bản .

* Dịch nghĩa:-

Ở địa vị làm quan thì không nên tiếp xúc với những người khác màu sắ Với loại đồng bóng, ni cô càng nên bãi bỏ cắt đứt, cốt lấy sự trong sáng cho tâm hồn và bớt việc làm gố

*Diễn ca: –

Làm quan, dành sức lo dân,
Những việc không cần, chớ có tự chuyên.
Chuyện đồng bóng, chuyện hóa duyên,
Ðừng để gây phiền trách nhiệm chuyên môn,
Giữ cho trong sáng tâm hồn,
Chớ nên mua việc, làm mòn sức dân.

—————-

4A.

* Nguyên văn:-

劉安禮問臨民。明道先生曰:使民各得輸其情。問御史?曰:正己以格物。

*Âm:-

Lưu An Lễ vấn Lâm Dân. Minh Đạo Tiên Sinh viết :Sử dân các đắc thâu kỳ tình. Vấn ngự sử ?Viết :Chính kỷ dĩ cách vật .

* Dịch nghĩa:-

Lưu An Lễ hỏi cách trị dân Thầy Minh Ðạo (*) nói: Khiến cho dân ai nấy bày tỏ hết tình của họ. Hỏi đến việc quản lý cấp thừa hành. Ngài đáp: Giữ cho mình ngay thẳng để thấu hiểu họ.

*Diễn ca: –

Lưu An Lễ hỏi ngài Minh Ðạo:
Ðối với dân, dạy bảo ra sao?
Ðáp rằng: Lòng họ thế nào,
Tỏ ra thế ấy, xiết bao an toàn.
Lại hỏi việc điều hành cấp dưới,
Phải thế nào thì mới yên dân?
Ðáp rằng: Giữ tốt bản thân,
Làm gương cho họ thì dân thỏa tình.

————–

*Chú thích:-

Minh Ðạo: tên tự của Trình Hạo (cũng đọc là Hiệu, 1032 – 1185). Ông cùng em ruột là Y Xuyên tiên sinh Trình Di (1033 – 1107) và Chu Tử (tức Chu Hi, 1130 – 1200) là 3 cột trụ của trường phái Tính Lý học của nho gia, có công phục hồi Nho Giáo (vốn bị lép vế trước Phật và Lão dưới thời Ðường). Cụm từ Khổng Mạnh Trình Chu dùng chỉ Nho học là gồm các vị ấy và họ cũng được gọi là Tống nho (nhà nho đời Tống).

**********

5A.

* Nguyên văn:-

子曰:不教而殺謂之虐。不戒視成謂之暴。慢令致期謂之賊。猶之與人也,出納之吝謂之有司。

*Âm:-

Tử viết :Bất giáo nhi sát vị chi ngược. Bất giới thị thành vị chi bạo. Mạn lệnh chí kỳ vị chi tặc. Do chi dữ nhân dã, xuất nạp chi lận vị chi hữu ty .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: (Quan trên) không dạy mà giết (dân) thì gọi là ngang ngược. Không răn bảo chỉ chờ làm cho xong là tàn bạo. (Không thúc giục) để nhờn lệnh đến kỳ gọi là giặc. Nghi ngại cho người, chi nhập nhầm lẫn keo kiệt gọi là (thói) quan liêu.

*Diễn ca: –

Không dạy dân biết đúng sai,
Cứ quấy thì giết là loài sài lang.
Không răn đe thật đàng hoàng,
Cứ đòi được việc là tàn bạo thôi.
Hạn kỳ kết thúc đến rồi,
Làm ngơ không giục, chờ hồi thẳng tay.
Thế là kẻ địch chẳng sai,
Chăm chăm mong được hại ai đến cùng.
Còn như nghi ngại lung tung,
Thu chi riết róng là phường quan liêu.

——————–

6A.

* Nguyên văn:-

子張問仁於孔子。孔子曰:恭,寬,信,敏,惠。恭則不侮,寬則得眾,信則人任焉,敏則有功,惠則足以使人。

*Âm:-

Tử Trương vấn nhân ư Khổng Tử. Khổng Tử viết :cung, khoán, tín, mẫn, huệ. Cung tắc bất vụ, khoán tắc đắc chúng, tín tắc nhân nhậm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân .

* Dịch nghĩa:-

Tử Trương hỏi Khổng Tử về đạo Nhân, Khổng Tử nói: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ. Cung kính thì không bị dân nhờn, khoan hồng thì được lòng dân, tỏ lòng tin thì dân tín nhiệm, nhanh nhẹn thì có công, ban ơn huệ thì đủ để sai khiến người ta.

*Diễn ca: –

Tử Trương vấn nạn (*) tôn sư:
Muốn có Nhân phải làm như thế nào?
Rằng: theo năm chữ như sau:
Cung, Khoan, Tín, Mẫn là đầu đức Nhân.
Rồi thêm chữ Huệ cho dân,
Vận dụng dần dần, đức độ sẽ thông.
Giữ cung kính cho bản thân,
Trịnh trọng mọi việc thì dân chẳng nhờn.
Giữ cho lòng dạ khoan hồng,
Thì dân cũng được thỏa lòng ước ao.
Với dân, tỏ ý tin nhau,
Thì dân tín nhiệm, chẳng câu nghi ngờ.
Giữ cho nhanh nhẹn, tùy cơ,
Ðã làm, phải thấy sờ sờ công lao.
Tận vùng sâu, tận rẻo cao,
Ðều hưởng ơn huệ, bảo sao chẳng thuần?

*Chú thích:-

Vấn nạn: hỏi “chất lượng cao”, gây khó khăn cho người đáp, đòi họ phải động não, phải lập luận lôgich (không ngụ ý là “vấn đề nguy hiểm có khả năng gây tai nạn” như cách hiểu ngày nay).

**********

7A.

* Nguyên văn:-

子曰:君子惠而不費,勞而不怨,欲而不貪,泰而不驕,威而不猛。

*Âm:-

Tử viết :Quân tử huệ nhi bất phí, lao nhi bất oán, dục nhi bất tham, thái nhi bất kiêu, uy nhi bất mãnh .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Người quân tử làm ơn nhưng không tốn kém, làm nhọc người ta nhưng không gây oán, ham muốn nhưng không tham lam, thư thái nhưng không kiêu căng, oai vệ nhưng không hung dữ.

*Diễn ca: –

Làm ơn, mình chẳng tốn nhiều,
Gây nhọc, thiên hạ vẫn yêu mến mình.
Không tham nên chẳng ai khinh,
Thế nhưng quyết tình ham muốn gắt gao.
Thư thái mà chẳng làm cao,
Oai vệ nhưng chả khi nào hung hăng.
Thấm nhuần như thế thành quen,
Mới là quân tử, khó khăn chẳng sờn.

——————-

8A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:責難於君謂之恭,陳善閉邪謂之敬。吾君不能謂之賊。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Trách nan ư quân vị chi cung, trần thiện bế tà vị chi kính. Ngô quân bất năng vị chi tặc .

* Dịch nghĩa:-

Mạnh Tử nói: Đòi vua làm được việc khó gọi là kính trọng vua, trình bày điều thiện, chận đứng điều trái (của vua) gọi là tôn kính vua. (Để mặc cho) Vua không hoàn thành chức năng là làm hại vua.

*Diễn ca: –

Ðòi hỏi vua phải anh minh,
Ấy mới thực tình kính trọng nhà vua.
Vua nhầm, quyết chẳng a dua,
Gợi vua làm thiện mới thừa nể nang.
Còn như vua thiếu khả năng,
Dửng dưng mặc kệ, cầm bằng hại vua.

**********

XIV – Tuyển dịch thiên thứ mười bốn: TRỊ GIA

1A.

* Nguyên văn:-

勤儉常豐至老不窮。待客不得不豐。治家不得不儉。有錢常備無錢日。安樂須防病患時。健奴無禮,嬌兒不孝。教婦初來,教子嬰孩。

*Âm:-

Cần kiệm thường phong chí lão bất cùng. Đãi khách bất đắc bất phong. Trị gia bất đắc bất kiệm. Hữu tiền thường bị vô tiền nhật. An lạc tu phòng bệnh hoạn thời .Kiện nô vô lễ, kiều nhi bất hiếu. Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài .

* Dịch nghĩa:-

Cần kiệm thường được dồi dào đến già không túng (nhưng) đãi khách thì không được không dồi dào. Quản trị việc nhà không được không kiệm. Có tiền phòng bị ngày không tiền. Yên vui phải phòng lúc hoạn nạn. Ðầy tớ khỏe (thường) vô lễ, con cưng (thường) bất hiếu. Dạy vợ lúc mới về nhà chồng, dạy con lúc còn trẻ thơ.

*Diễn ca: –

Kẻ cần kiệm chẳng hề rỗng túi,
Ðỡ lo toan tận buổi về già.
Nhưng đãi khách, chớ xuề xòa,
Của ngon vật lạ mới ra nhiệt tình.

Việc gia đình chẳng nên không kiệm,
Phòng khi cần, đỡ kiếm ngược xuôi.
Hôm nay đang sống yên vui,
Mai kia hoạn nạn, ngậm ngùi hầu bao!

Nuôi đầy tớ, đứa nào quá khỏe,
Phải đề phòng vô lễ khó sai.
Nuôi con nhớ kỹ một hai,
Chiều chuộng càng dài, bất hiếu càng sâu.

Rước vợ về, từ đầu phải hiểu,
Thấy làm sai, nên liệu bảo ban.
Chẳng nên dễ dãi khen tràn,
Mai kia trở giọng, mắng quàng mắng xiên.

Dạy trẻ con, chớ nên lần lữa,
Uốn nắn ngay từ thuở còn thơ.
Thấy sai nếu cứ làm ngơ,
Trễ nãi ngày giờ, sai ấy lớn thêm.

—————

2A.

* Nguyên văn:-

太公曰:痴人畏婦,賢婦敬夫。凡使奴僕,先問飢寒。時時防火發,夜夜防賊來。子孝雙親樂,家和萬事成。

*Âm:-

Thái Công viết :Si nhân uý phụ, hiền phụ kính phu. Phàm sử nô bộc, tiên vấn cơ hàn. Thời thời phòng hoả phát, dạ dạ phòng tặc lai. Tử hiếu song thân lạc, gia hoà vạn sự thành .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Người khờ sợ vợ, gái ngoan kính chồng. Hễ sai khiến tôi tớ, trước hết phải hỏi chuyện đói rét. Lúc nào cũng phải phòng lửa cháy. Ðêm nào cũng phải ngừa trộm viếng. Con hiếu thảo cha mẹ vui, nhà hòa thuận muôn việc đều nên.

*Diễn ca: –

Sợ vợ là kẻ ngu si,
Kính chồng là những nữ nhi biết điều.
Muốn cho đầy tớ siêng nhiều,
Hỏi han đói rét là điều trước tiên.
Hỏa hoạn phải sợ thường xuyên,
Ăn trộm là họa mỗi đêm mỗi ngừa.
Con hiếu cha mẹ đều ưa,
Việc nhà trôi chảy là nhờ thuận nhau.

**********

3A.

* Nguyên văn:-

司 馬溫公曰:凡議婚姻,當先須察其婿與婦之性行及家法何如?勿苟慕其富貴婿苟賢矣,今雖貧賤,安知異時不富貴乎?苟為不肖,今雖富盛,安知異時不貧賤乎?婦 者家之所由盛衰也。苟慕一時之富貴而娶之,彼挾其富貴鮮有不輕其夫而傲其舅姑,養成驕妬之性,異日為患庸有極乎?假使因婦財以致富,依婦勢以取貴,苟有丈 夫之志氣者,能無愧乎?

*Âm:-

Tư Mã Ôn Công viết :Phàm nghị hôn nhân, đương tiên tu sát kỳ tế dữ phụ chi tính hành cập gia pháp hà như ?Vật cẩu mộ kỳ phú quí tế cẩu hiền hĩ, kim tuy bần tiện, an tri dị thời bất phú quí hồ ?Cẩu vi bất tiếu, kim tuy phú thịnh, an tri dị thời bất bần tiện hồ ?Phụ giả gia chi sở do thịnh suy dã. Cẩu mộ nhất thời chi phú quí nhi thú chi, bỉ hiệp kỳ phú quí tiên hữu bất khinh kỳ phu nhi ngạo kỳ cữu cô, dưỡng thành kiêu đố chi tính, dị nhật vi hoạn dung hữu cực hồ ?Giả sử nhân phụ tài dĩ trí phú, y phụ thế dĩ thủ quí, cẩu hữu trượng phu chi chí khí giả, năng vô quí hồ ?

* Dịch nghĩa:-

Tư Mã Ôn Công nói: Phàm bàn việc hôn nhân, trước tiên phải xét tính nết chàng rể nàng dâu cùng nề nếp gia đình ra sao? Chớ vội mến sự giàu sang của họ, rể dâu giỏi giang, ngày nay tuy nghèo hèn, biết đâu lúc khác không giàu sang sao? Dầu là không ra gì, nay tuy giàu to, biết đâu lúc khác lại không nghèo hèn? Sự thịnh suy của gia đình do ở vợ mà ra. Nếu hâm mộ sự giàu sang nhất thời mà cưới người ta, người ta dựa vào sự giàu sang của họ, rất ít khi không khinh chồng mình mà còn ngạo mạn với bố mẹ chồng, nuôi thành thói ghen ghét kiêu ngạo làm mối lo cho ngày sau, có ngu nào tột độ đến vậy? Giả sử nhờ của cải nhà vợ mà làm giàu, dựa thế vợ để chuốc sang, dù kẻ có chí khí trượng phu, há không hổ thẹn hay sao?

*Diễn ca: –

Khi đề cập chuyện hôn nhân,
Tính nết phải cần bàn đến trước tiên.
Xét nền gia giáo đôi bên,
Ðừng vì tài sản mà quên nhân tình.
Nếu rể quả thật người hiền,
Nay nghèo rồi cũng đến phiên sang giàu.
Nếu rể là hạng cứng đầu,
Nay giàu ai biết ngày sau nghèo nàn?
Cảnh nhà phát đạt, vẻ vang,
Toàn do phẩm chất của nàng dâu thôi.
Nếu ham giàu có nhất thời,
Nàng dâu cậy của dễ coi thường chồng.
Vô lễ, kiêu ngạo khó trông,
Có ngày đổ đốn, chuyện không ra gì!
Dù ai giàu có ê chề,
Nếu nhờ đào mỏ, đáng chê nhất đời!

—————

4A.

* Nguyên văn:-

安定胡先生曰:嫁女必須勝吾家者,勝吾家則女之事人必欽必戒。娶婦必須不若吾家者,不若吾家則婦之事舅姑必執婦道。

*Âm:-

An Định Hồ tiên sinh viết :Giá nữ tất tu thắng ngô gia giả, thắng ngô gia tắc nữ chi sự nhân tất khâm tất giới. Thú phụ tất tu bất nhược ngô gia giả, bất nhược ngô gia tắc phụ chi sự cữu cô tất chấp phụ đạo .

* Dịch nghĩa:-

Hồ An Ðịnh nói: gả con gái tất phải hơn nhà mình. Có hơn nhà mình thì con gái mới phụng sự người ta một cách kính nể e dè. Cưới vợ tất phải chọn chốn không bằng nhà mình. Không bằng nhà mình tất con gái phụng sự bố mẹ chồng vững đạo làm vợ.

*Diễn ca: –

Gả con gái, lựa nơi khá giả,
Con sẽ không đanh đá, lăng loàn.
Dễ thành dâu thảo, dâu ngoan,
Nhà chồng quý trọng, xóm làng ngợi khen.
Cưới nàng dâu, nghèo hèn mới quý,
Mới siêng năng, chiều ý nhà chồng.
Thuận lòng tát nước biển Ðông,
Mới nêu gương tốt cháu con sau nầy.

**********

5A.

* Nguyên văn:-

司馬溫公曰:

凡為家長必謹守禮法以御群子弟及家眾,分之以職,授之以事,而責其成功。

制財用之節,量入以為出稱家之有無以給上下之衣食及吉凶之費皆有品節,莫不均一,裁省冗費,禁止奢華,常須稍存贏餘以備不虞。

*Âm:-

Tư Mã Ôn Công viết :

Phàm vi gia trường tất cẩn thủ lễ pháp dĩ ngự quần tử đệ cập gia chúng, phân chi dĩ chức, thụ chi dĩ sự, nhi trách kỳ thành công.

Chế tài dụng chi tiết, lương nhập dĩ vi xuất xứng gia chi hữu vô dĩ cấp thượng hạ chi ý thực cập cát hung chi phí giai hữu phẩm tiết, mạc bất quân nhất, tài tỉnh nhũng phí, cấm chỉ xa hoa, thường tu sáo tồn doanh dư dĩ bị bất ngu .

* Dịch nghĩa:-

Tư Mã Ôn công nói: Hễ làm gia trưởng tất phải giữ lễ và phép cẩn thận để điều khiển đám con em cùng bọn người nhà, chia nhiệm vụ cho họ, trao công việc cho họ mà đòi hỏi sự thành công của họ, định đoạt sự chừng mực trong việc sử dụng của cải, lường đầu vào để làm đầu ra cho xứng với tình hình có hay không có của gia đình để cấp ăn mặc cho kẻ trên người dưới cùng các phí tổn về việc lành việc dữ đều phải có chừng mực theo hạng bậc, không khoản nào là không đồng đều như một. Giảm bớt những tiêu pha quá lạm, chận đứng sự xa hoa. Thường phải giữ cho dư ra chút ít để ngừa lúc bất ngờ.

*Diễn ca: –

Làm gia trưởng phải theo nề nếp,
Lễ giữ uy và phép tuân hành.
Mỗi người đảm nhiệm một phần,
Ai lo việc nấy, hoàn thành hay ho.

Với của cải, tính cho hợp lý,
Thu nhập sao? Chi phí ra sao?
Cái ăn, cái mặc tốn hao,
Liệu tính đồng vào, dè xẻn đồng ra.

Người cùng nhà, chi tiêu đúng bậc,
Mỗi bậc đều thống nhất phân minh.
Chẳng nên lễ cưới gia đinh,
Ðám nầy linh đình, đám khác đơn sơ.

Chớ bao giờ vung tay quá trán,
Ðừng cho mình xứng đáng xa hoa.
Dè chừng các khoản tiêu pha,
Phải dư chút đỉnh phòng xa bất ngờ.

**********

XV – Tuyển dịch thiên thứ mười lăm: An Nghĩa

1A.

* Nguyên văn:-

曹大家曰:夫婦以義為親,以恩為合。若行楚撻,義欲何為?詈罵叱咤,恩欲何施?恩義既絕,鮮不離矣。

*Âm:-

Tào Đại Gia viết :Phu phụ dĩ nghĩa vi thân, dĩ ân vi hợp. Nhược hành sở thát, nghĩa dục hà vi ?Lỵ mạ sất sá, ân dục hà thi ?Ân nghĩa ký tuyệt, tiển bất ly hĩ.

* Dịch nghĩa:-

Tào đại gia (*) nói: Vợ chồng lấy nghĩa làm tình thân, lấy ân ái làm sự hòa hợp. Nếu làm chuyện quất bằng roi thì nghĩa để làm gì? Chửi mắng quát tháo thì ân tỏ ra ở đâu? Ân nghĩa đã hết, ít khi không xa lìa nhau vậy.

*Diễn ca: –

Vợ chồng lấy nghĩa làm thân,
Quất roi tới tấp, “nghĩa” cần làm chi?
Hòa hợp đâu có dễ gì!
Cái “ân” gấp vạn, cái uy đừng nhầm!
Vũ phu bất chấp nghĩa, ân,
Con đường ly dị mới gần làm sao!

*Chú thích:-

Tào đại gia: cách gọi suy tôn Ban Chiêu đời Hán, đồng tác giả bộ sách Hán thư xuất sắc viết từ thế kỷ 1. Hai tác giả kia là Ban Bưu và Ban Cố, cha và anh bà. Bà là vợ Tào Thế Thúc (nhưng cách gọi ấy lại không dùng cho họ Tào mà chỉ thấy dùng cho Ban Chiêu!)

—————–

2A.

* Nguyên văn:-

蘇東坡曰:富不親兮貧不疏,此是人間大丈夫。富則進兮貧則退,此是人間真小輩。

*Âm:-

Tô Đông Pha viết :Phú bất thân hề bần bất sơ, Thử thị nhân gian đại trượng phu. Phú tắc tiến hề bần tắc thoái, Thử thị nhân gian chân tiểu bối .

* Dịch nghĩa:-

Tô Ðông Pha (*) nói: Với giàu không kết thân, với nghèo không ruồng rẫy, đấy là hạng đại trượng phu của nhân gian. Với giàu thì đến, với khó thì lui, đấy là loại người tiểu nhân trong nhân gian.

*Diễn ca: –

Thấy giàu, chẳng thiết lân la,
Gặp nghèo, chẳng chịu coi là không quen.
Tính tình ấy mới đáng khen,
Thật đáng coi bằng bậc đại trượng phu!
Thấy giàu, chỉ muốn… làm sui(!)
Thấy nghèo len lén rút lui, sợ phiền!
Kết giao chỉ nhắm bạc tiền,
Tiểu nhân chính hiệu, vô duyên nhất đời.

*Chú thích:-

Tô Ðông Pha: tên thật là Tô Thức (1036 – 1101) là một trong số những người có nhiều giai thoại nhất của mọi thời. Ông cùng cha (Tô Tuân) và em (Tô Triệt) đều đỗ tiến sĩ, nức tiếng tài danh, đều được xếp vào hàng 8 tác giả lớn nhất của thời Ðường Tống (618 – 1279)

————-
3A.

* Nguyên văn:-

太公曰:知恩報恩,風光如雅。有恩不報,非為人也。

*Âm:-

Thái Công viết :Tri ân báo ân, phong quang như nhã. Hữu ân bất báo, phi vi nhân dã .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Lòng biết ơn và sự đền ơn là điều tao nhã vinh diệu. Có ơn mà không báo đáp thì không phải là người vậy.

*Diễn ca: –

Biết ơn cùng biết đền ơn,
Chính là vẻ đẹp quý hơn mọi điều.
Thế nhưng những kẻ hợm, kiêu,
Tự ái quá nhiều, cố ý quên ơn.
Tưởng thế mới trọn danh thơm,
Thật ra chẳng xứng áo cơm làm người.

**********

XVI – Tuyển dịch thiên thứ mười sáu: TUÂN LỄ

1A.

* Nguyên văn:-

子曰:居家有禮故長幼辦。閨門有禮故三族和。朝廷有禮故官爵序。田獵有禮故戎事和。軍旅有禮故武功成。

*Âm:-

Tử viết :Cư gia hữu lễ cố trưởng ấu biện. Khuê môn hữu lễ cố tam tộc hoà. Triều đình hữu lễ cố quan tước tự. Điền liệp hữu lễ cố nhung sự hoà. Quân lữ hữu lễ cố vũ công thành.

* Dịch nghĩa:

Khổng Tử nói: Ở nhà có giữ Lễ thì lớn bé mới phân biệt. Các nữ thành viên trong nhà có giữ Lễ cho nên ba họ hòa thuận. Triều đình có giữ Lễ thì quan tước mới có trật tự. Săn bắn có giữ Lễ nên việc chinh chiến mới hòa (*). Trong quân đội có giữ Lễ nên võ công mới thành.

*Diễn ca: –

Lễ là xương sống cuộc đời,
Thiếu Lễ con người thô lỗ khó coi.
Trong nhà phân biệt hẳn hoi,
Kính trên nhường dưới, người ngoài nể nang.
Nữ giới cư xử đàng hoàng,
Ðỡ rối họ hàng điều nọ tiếng kia.
Triều đình giữ phép tôn ti,
Thì việc trị vì, cai quản mới êm.
Săn bắn giữ Lễ cho nghiêm,
Tạo nên hòa khí, láng giềng trọng nhau.
Ba quân lấy Lễ làm đầu,
Mới mong chiến thắng, mới mau thanh bình.

*Chú thích:-

(*): Câu trên hơi tối nghĩa, xin diễn dịch như sau:

Vào thời Khổng Tử, Trung Quốc có hàng nghìn chư hầu luôn tìm cơ hội thôn tính lẫn nhau một kế hoạch thường dùng là… vua đi săn! Với lý do ấy, nước nầy có thể xua quân vào nước kia để dò xét thực lực, nếu đụng độ càng thuận lơi. (tất nhiên vua nước kia cùng xài kế đi săn để ngăn địch vào cõi)

——————-

2A.

* Nguyên văn:-

孟子曰:朝廷莫如爵,鄉黨莫如齒,輔世長民莫如德。

*Âm:-

Mạnh Tử viết :Triều đình mạc như tước, hương đảng mạc như xỉ, phụ thế trường dân mạc như đức .

* Dịch nghĩa:-

Mạnh Tử nói: Chốn triều đình không gì bằng được tước vị, nơi làng xóm không gì bằng tuổi tác, trong việc giúp đời giúp dân không gì bằng đức độ.

*Diễn ca: –

Việc giữ Lễ, đời từng qui ước,
Chốn triều đình, chức tước làm nền.
Thầy chức dưới, trò chức trên,
Phải trình phải bẩm theo nền nếp chung.

Trong cuộc sống xóm thôn thì khác,
Chỉ trọng nhau tuổi tác mà thôi.
Quan to nhưng trí sĩ rồi,
Về quê cũng phải nhường người tuổi cao.

Thói cường hào thường xao nhãng Lễ,
Nẩy nòi ra ông trẻ, trưởng ngành.
Sinh sau đẻ muộn rành rành,
Mượn hơi đời trước tranh giành khơi khơi.

Cư xử với người đời không dễ,
Mặc chức quyền, chẳng kể tuổi cao.
Ðức độ mới đáng dựa vào,
Cả ngài, cả cụ, phải chào, phải kiêng…

—————-

3A.

* Nguyên văn:-

欒供子曰:民生於三,事之如一。父生之,師教之,君食之。非父不生,非食不長,非教不知,生之族也。。

*Âm:-

Loan Cung Tử viết :Dân sinh ư tam, sự chi như nhất. Phụ sinh chi, sư giáo chi, quân thực chi. Phi phụ bất sinh, phi thực bất trường, phi giáo bất tri, sinh chi tộc dã.

* Dịch nghĩa:-

Loan Cung Tử nói: Dân sống từ ba nguồn gốc, phải phụng sự như một: cha sinh ra, thầy dạy cho, vua nuôi cho. Không phải cha thì không sinh, không ai nuôi thì không lớn, không ai dạy thì không biết, đấy là loài nuôi cuộc sống (của dân) vậy.

*Diễn ca: –

Ðã sinh ra ở trên đời,
Phải trọng ba người tác động nên ta.
Người thứ nhất, ấy là cha,
Thứ nhì thầy dạy, thứ ba vua hiền.
Không cha thì lấy ai sinh?
Không thầy ta dốt, kẻ khinh người cười.
Không vua hiền, khó sống vui,
Tuân lễ phải quý ba người như nhau.

**********

XVII – Tuyển dịch thiên thứ mười bảy: TỒN TÍN

1A.

* Nguyên văn:-

子曰:人而無信,不知其可也。大車無輗,小車無軏,其何以行之哉!

*Âm:-

Tử viết :Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. Đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành chi tai !

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Người mà không có lòng tin (như) xe lớn không càng, xe nhỏ không gọng thì lấy gì để đi cho được!

*Diễn ca: –

Lòng tin nếu chẳng sẵn sàng,
Như xe không càng, biết kéo đi đâu?
Lẽ nào lừa gạt mãi nhau,
Trẻ thơ đến tận bạc đầu chưa thôi?

—————

2A.

* Nguyên văn:-

老子曰:人之有信如車有輪。君子一言,快馬一鞭。一言既出,駟馬難追。

*Âm:-

Lão Tử viết :Nhân chi hữu tín như xa hữu luân. Quân tử nhất ngôn, khoái mã nhất tiên. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy .

* Dịch nghĩa:-

Lão Tử nói: Người có lòng tin như xe có bánh xe. Quân tử nói một lời (như) ngựa hay bị một roi. Một lời đã nói ra, cổ xe ngựa tứ mã cũng khó đuổi nổi.

*Diễn ca: –

Không bánh, xe chẳng chuyển dời,
Không lòng tin, sống ở đời vô phương.
Biết bao lòng dạ thuần lương,
Ðều phải tìm đường gửi gắm lòng tin.
Muôn nghìn cơ sở tâm linh,
Mở ra phục vụ lòng tin con người!
Quân tử khi đã cất lời,
Khác chi tuấn mã nhận roi phóng liền.
Nếu lòng quân tử không yên,
Muốn níu lại liền cũng phải bó tay!

———–

3A.

* Nguyên văn:-

益智書云:君臣不信國不安,父子不信家不睦。兄弟不信情不親,朋友不信交易疏。

*Âm:-

Ích Trí Thư vân :Quân thần bất tín quốc bất an, Phụ tử bất tín gia bất mục. Huynh đệ bất tín tình bất thân, Bằng hữu bất tín giao dịch sơ .

* Dịch nghĩa:-

Sách Ích Trí nói: Vua tôi không còn tin nhau, nước không yên. Cha con không còn tin nhau, nhà không hòa thuận. Anh em không còn tin nhau, tình không thân thiết. Bạn bè không còn tin nhau, giao tình dễ lỏng lẻo.

*Diễn ca: –

Vua tôi khi hết tin nhau,
Rối rén việc nước, khổ đau dân lành.
Cha con đánh mất chân thành,
Gia đình khó sống yên lành bên nhau.
Anh em nghi kỵ càng đau,
Biết bao kỷ niệm bền lâu đều tàn.
Bạn bè chí cốt cũng tan,
Nếu cả đôi đàng đã hết tin nhau.

**********

XVIII – Tuyển dịch thiên thứ mười tám: NGÔN NGỮ

1A.

* Nguyên văn:-

[可與言而不與之言,失人。不可與言而與之言,失言。知者不失人,亦不失言。」

*Âm:-

Khả dữ ngôn nhi bất dữ chi ngôn, thất nhân. Bất khả dữ ngôn nhi dữ chi ngôn, thất ngôn. Tri giả bất thất nhân, diệc bất thất ngôn.

* Dịch nghĩa:-

Có thể nói với mà không nói với họ thì mất người. Không thể nói với mà nói với là mất lời. Kẻ biết rõ đối tượng thì không mất người, cũng không mất lời.

*Diễn ca: –

Với người phục thiện, mong khuyên,
Ta không góp ý; tất nhiên mất người.
Với người ương bướng dễ ngươi,
Có khuyên cũng chỉ uổng lời, mất công.
Những người hiểu biết tinh thông,
Người không để mất, cũng không mất lời.

——————

2A.

* Nguyên văn:-

劉會曰:言不中理,不如不言。一言不中,千言無用。

*Âm:-

Lưu Hội viết :Ngôn bất trúng lý, bất như bất ngôn. Nhất ngôn bất trúng, thiên ngôn vô dụng .

* Dịch nghĩa:-

Lưu Hội nói: Nói không đúng lẽ thì không bằng không nói. Một lời nói không đúng, có nói nghìn lời nữa cũng vô dụng.

*Diễn ca: –

Nói trái lẽ, thà làm thinh,
Ðỡ gây bất bình, đỡ bị rác tai.
Một lời đã lỡ nói sai,
Nói nghìn lời nữa, chẳng ai nghe giùm!

**********

3A.

* Nguyên văn:-

景行錄云:稠人廣坐之中,一言有失,顏色之羞便有悔容。言不可不慎也。

*Âm:-

Cảnh Hạnh Lục vân :Trù nhân quảng toạ chi trung, nhất ngôn hữu thất, nhan sắc chi tu tiện hữu hối dung. Ngôn bất khả bất thận dã .

* Dịch nghĩa:-

Sách Cảnh Hạnh chép: Giữa đám người dày đặc ngồi khắp chung quanh, nói ra một lời bị hố, vẻ mặt hổ thẹn liền có dáng ăn năn ngay. Lời nói không thể không thận trọng vậy.

*Diễn ca: –

Chung quanh dày đặc những người,
Ðăm đăm nhìn, uống từng lời của ta.
Vô tình buột miệng thốt ra,
Một lời khiếm nhã, mặt ta đỏ bừng.
Tiếng cười chế nhạo không ngừng:
Lời chưa nghĩ kỹ thì đừng nói ra!

———————-

4A.

* Nguyên văn:-

四皡 謂子房曰:向獸彈琴,徒盡其聲。

*Âm:-

Tứ Hạo vị Tử Phòng viết :Hướng thú đàn cầm, đồ tận kỳ thanh .

* Dịch nghĩa:-

Bốn ông già (*) bảo Tử Phòng (*) rằng: Ðánh đàn cho thú nghe chỉ mất suông âm thanh của đàn.

*Diễn ca: –

Một cụ dạy đã thấy hay,
Ðến bốn cụ dạy, đố ai chê cười?
Dạy rằng: “Ðàn gảy cho người,
Ðừng gảy cho thú, mất tươi tiếng đàn”
Tử Phòng vận dụng khôn ngoan,
Họ Lưu (*) chẳng thể giết càn họ Trương.

*Chú thích:-

-Bốn ông già: nguyên văn “Tứ hạo 四皡 “, gọi tắc cụm từ “Thương Sơn tứ hạo” (bốn ông già ở núi Thương Sơn) chỉ bốn ẩn sĩ đầu đời Hán (Ðông Viên Công, Ỷ Lý Quý, Hạ Hoàng Công, Dữu Lý tiên sinh).

-Tử Phòng: tức Trương Lương, một trong số “Hán gia tam kiệt” (cùng Hàn Tín, Tiêu Hà) tạo nên nhà Hán.

-Họ Lưu: ở đây chỉ Lưu Bang, tức Hán Cao Tổ.

**********

5A.

* Nguyên văn:-

荀子曰:與善人言,暖如布帛。傷人之言,痛如刀刺。人不以多言為益,人不以善笑為良。刀瘡易好,惡語難消。口殺傷人斧,言是割舌刀,閉口深藏舌,安身處處牢。

*Âm:-

Tuân Tử viết :Dữ thiện nhân ngôn, noãn như bố bạch. Thương nhân chi ngôn, thống như đao thích. Nhân bất dĩ đa ngôn vi ích, nhân bất dĩ thiện tiếu vi lương. Đao sang dị hảo, ác ngữ nan tiêu. Khẩu sát thương nhân phủ, ngôn thị cát thiệt đao, bế khẩu thâm tàng thiệt, an thân xứ xứ lao .

* Dịch nghĩa:-

Tuân Tử nói: Nói với người thiện, ấm như mặc vải lụa. Lời nói gây tổn thương người ta, đau như dao đâm. Người ta không lấy việc nhiều lời làm lợi ích. Người ta không lấy việc khéo cười làm dấu ấn lương thiện. Vết dao đâm dễ lành, lời nói độc ác khó tiêu tan. Miệng là búa giết người, lời nói là dao cắt lưỡi người. Ngậm miệng giấu lưỡi cho sâu là cách bảo vệ yên thân bất cứ nơi đâu.

*Diễn ca: –

Chuyện cùng người thiện ấm sao!
Lời như lụa, vải, nghe vào khỏe ra.
Những câu xúc phạm người ta,
Như dao đâm thấu ruột già, ruột non.
Ích gì cái thói đa ngôn?
Cái trò cười nịnh đâu còn giấu ai?
Vết dao đau chẳng kéo dài,
Cho bằng lời dữ vào tai người lành.
Lời dao, miệng búa rành rành,
Ngậm miệng cho kỹ, yên lành cái thân.

——————–

6A.

* Nguyên văn:-

逢人且說三分話,未可全拋一片心。不怕虎生三個口,只恐人懷兩樣心。

*Âm:-

Phùng nhân thả thuyết tam phân thoại,
Vị khả toàn phao nhất phiến tâm.
Bất phạ hổ sinh tam cá khẩu,
Chỉ khủng nhân hoài lưỡng dạng tâm .

* Dịch nghĩa:-

Mới gặp người hãy nên nói ba phần chuyện đã, chưa thể ném cả lòng mình ra. Không sợ hổ sinh ba cái miệng, chỉ kinh khủng người ăn ở hai lòng.

*Diễn ca: –

Làm quen, chỉ nói vài câu,
Phơi lòng trải dạ còn đâu e dè?
Cọp ba mồm cũng ít ghê,
Với người hai dạ, khó bề kết giao.

**********

7A.

* Nguyên văn:-

子曰:巧言令色鮮矣仁。

*Âm:-

Tử viết :Xảo ngôn lệnh sắc tiển hĩ nhân .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: (Kẻ) khéo nói, giỏi ra lệnh cho sắc mặt thì ít có lòng nhân.

*Diễn ca: –

Dùng lời khéo léo dễ tin,
Sắc mặt diễn cảm, kẻ nhìn phải mê.
Ðều là thủ đoạn đáng ghê,
Một mảy nhân ái khó bề tìm ra.

————————-

8A.

* Nguyên văn:-

子曰:道聽而塗說,德之棄也。

*Âm:-

Tử viết :Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chi khí dã .

* Dịch nghĩa:-

Khổng Tử nói: Nghe lời ngoài đường mà đem nói lại là vứt bỏ cái đức vậy.

*Diễn ca: –

Nghe lời vớ vẩn ngoài đường,
Chưa hề kiểm chứng, chưa tường đúng sai.
Ðem về kháo chuyện, rỉ tai,
Ấy là cái đức bị mai táng rồi.

(còn tiếp)

nhuocthuy:
(tiếp theo)

XIX – Tuyển dịch thiên thứ mười chín: Giao Hữu

1A.

* Nguyên văn:-

與好人交如蘭蕙之香,一人種之,眾人皆香。與惡人交如抱子上牆,一人失腳,兩人遭殃。

*Âm:-

Dữ hảo nhân giao như lan huệ chi hương, nhất nhân chủng chi, chúng nhân giai hương. Dữ ác nhân giao như bão tử thượng tường, nhất nhân thất giác, lưỡng nhân tao ương.

* Dịch nghĩa:-

Giao du với người tốt như hương thơm lan huệ, một người trồng nó, nhiều người đều thấy thơm. Giao du với người ác như ẵm trẻ leo tường, một người sẩy gót, cả hai người gặp họa.

*Diễn ca: –

Sống cùng người tốt tựa trồng hoa,
Chỉ một người trồng, thơm cả nhà.
Sống cạnh kẻ xấu, như ẵm trẻ,
Sẩy chân một kẻ, cả hai la…

——————

2A.

* Nguyên văn:-

太公曰:近朱者赤,近墨者黑。近賢者明,近才者智,近痴者愚,近良者德,近佞者諂,近偷者賊。

*Âm:-

Thái Công viết :Cận chu giả xích, Cận mặc giả hắc. Cận hiền giả minh, Cận tài giả trí, Cận si giả ngu, Cận lương giả đức, Cận nịnh giả siểm, Cận thâu giả tặc .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người giỏi thì sáng suốt, gần người tài thì khôn ngoan, gần người dại thì ngu đần, gần người lương thiện thì có đức, gần kẻ nịnh thì a dua, gần kẻ cắp thì thành kẻ trộm.

*Diễn ca: –

Gần son dính đỏ ngay thôi,
Gần mực nhất định có hồi thấm đen.
Gần người giỏi, sẽ đáng khen,
Gần người tài, chắc kẻ hèn hóa hay.
Gần người dại, sẽ hóa ngây,
Gần người lương thiện, đức dày hơn xưa.
Gần kẻ nịnh, hóa a dua,
Gần kẻ cắp, sẽ thành… vua khoét tường.

**********

3A.

* Nguyên văn:-

嵇康曰:凶險之人,敬而遠之。賢德之人,親而近之。彼以惡來,我以善應。彼以曲來,我以直應。豈有怨之哉!

*Âm:-

Kê Khang viết :Hung hiểm chi nhân, kính nhi viễn chi. Hiền đức chi nhân, thân nhi cận chi. Bỉ dĩ ác lai, ngã dĩ thiện ứng. Bỉ dĩ khúc lai, ngã dĩ trực ứng. Khởi hữu oán chi tai !

* Dịch nghĩa:-

Kê Khang (*) nói: Với kẻ hung ác nham hiểm, hãy kính trọng nhưng phải xa lánh. Với người hiền đức, hãy thân thiết mà gần gũi. Họ cư xử ác, ta dùng thiện đáp ứng, họ cư xử thủ đoạn, ta lấy ngay thẳng đáp ứng, há có thể oán ta được ư!

*Diễn ca: –

Với kẻ nham hiểm, hung tàn,
Ta càng kính trọng phải càng lánh xa.
Với người đức hạnh hiền hòa,
Hết lòng thân thiện mới là kết giao.
Kẻ kia tàn ác bậc nào,
Ta giữ lòng thiện, làm sao oán hờn?
Lòng ta cứ thẳng dây đờn,
Kẻ kia xiên xẹo, không hơn đâu mà!

*Chú thích:-

Kê Khang 嵇康: nhân vật đời Tấn, tương đối đặc biệt:

1. Là tác giả khúc nhạc Quảng Lăng Tán (Truyện Kiều: Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng, Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân…)

2. Có chân trong nhóm “Trúc lâm thất hiền” khá nổi tiếng, sau mười bảy thế kỷ, người đời còn nhắc Lưu Linh, Cát Hồng, Nguyễn Tịch, v.v… Ông bị giết vì trái ý Tư Mã Sư.

3. Có con trai là Thị Trung Kê Thiệu được coi là trung nghĩa điển hình, liều thân che cho Tấn Huệ đế, máu đẫm áo vua (Chính Khí Ca: Vi Kê Thị Trung huyết – Làm máu quan Thị Trung họ Kê).

—————————

4A.

* Nguyên văn:-

太公曰:女無明鏡,不知面上精粗;士無良友,不知行步虧踰。

*Âm:-

Thái Công viết :Nữ vô minh kính, bất tri diện thượng tinh thô ;Sĩ vô lương hữu, bất tri hành bộ khuy thâu .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Nữ giới không có gương soi thì không biết vẻ mịn thô trên mặt. Kẻ sĩ không có bạn hiền thì không hay biết việc sa đà lạc bước.

*Diễn ca: –

Nữ giới nếu thiếu gương soi,
Băn khoăn mặt mũi khó coi? ưa nhìn ?
Kẻ sĩ thiếu bạn đáng tin,
Ðường đời sẩy, trượt, biết vin nơi nào?

**********

5A.

* Nguyên văn:-

– 宋弘曰:糟糠之妻不可下堂,貧賤之交不可忘。

– 施恩於未遇之先,結交於貧寒之際。人情常似初相識,到底終無怨恨心。

– 酒食弟兄千個有,急難之時一個無。不結子花休要種,無義之朋切莫交。君子之交淡如水,小人之交甜似蜜。人用錢交,金用火試。水將杖探知深淺,人用財交便見心。仁義莫交財,交財仁義絕。路遙知馬力,事久見人心。

*Âm:-

– Tống Hoằng viết :Tao khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao bất khả vong.

– Thi ân ư vị ngộ chi tiên, kết giao ư bần hàn chi tế. Nhân tình thường tự sơ tương thức, đáo để chung vô oán hận tâm.

– Tửu thực đệ huynh thiên cá hữu, cấp nạn chi thời nhất cá vô. Bất kết tử hoa hưu yếu chủng, vô nghĩa chi bằng thiết mạc giao. Quân tử chi giao đạm như thuỷ, tiểu nhân chi giao điềm tự mật. Nhân dụng tiền giao, kim dụng hoả thí. Thuỷ tương trượng thám tri thâm thiển, nhân dụng tài giao tiện kiến tâm. Nhân nghĩa mạc giao tài, giao tài nhân nghĩa tuyệt. Lộ dao tri mã lực, sự cữu kiến nhân tâm .

* Dịch nghĩa:-

-Tống Hoằng nói: Vợ tấm mẳn không thể ruồng bỏ, giao tình buổi nghèo không thể quên.

-Làm ơn trước khi người ta chưa gặp thời, kết giao vào lúc người ta đang nghèo hèn. Tình người thường tựa lúc mới quen thì cuối cùng mới không có lòng oán hận.

-Lúc rượu thịt thì có cả nghìn anh em, lúc gặp nạn gấp thì không có nổi một kẻ. Hoa không kết hạt thì đừng trồng, thứ bạn bất nghĩa nhất thiết chớ giao du. Giao tình của quân tử nhạt như nước, giao tình của tiểu nhân ngọt như mật. Người thì dùng tiền để kết giao, vàng thì dùng lửa để thử. Ðem gậy dò nước biết sâu cạn, đem của cải giao thiệp với người liền rõ lòng. Kẻ nhân nghĩa không giao thiệp qua tiền của, giao thiệp qua tiền của thì mất nhân nghĩa. Ðường xa biết sức ngựa, việc xảy ra lâu mới thấy rõ lòng người.

*Diễn ca: –

Chớ ruồng rẫy vợ hàn vi,
Chớ quên bè bạn thời kỳ tả tơi.
Làm ơn, chọn kẻ chờ thời,
Kết bạn chọn kẻ giữa đời khó khăn.
Giữ lòng như buổi mới quen,
Về sau mới đỡ thù hằn lẫn nhau.
Rượu thịt ngàn kẻ bâu vào,
Ðến khi hoạn nạn thì nào thấy ai?
Ðã toan tính chuyện trồng cây,
Phải cầm chắc ngày hái đặng quả ngon.
Muốn cho tình bạn vuông tròn,
Tránh xa những kẻ tâm hồn sai ngoa.
Kẻ lời mật ngọt thiết tha,
Tiểu nhân đích thị, đáng ta đề phòng.
Lời lãnh đạm mới thật lòng,
Ðấy là quân tử, vàng ròng khó so.
Dùng tiền, lòng bạn dễ dò,
Cũng như dùng lửa để đo tuổi vàng.
Có gậy lội nước dễ dàng,
Có của dễ biết bạn vàng hay thau.
Muốn cho tình nghĩa bền lâu,
Chớ đem của cải làm rầu bạn ta.
Sức ngựa rõ lúc đường xa,
Lòng người rõ lúc trải qua lâu ngày.

**********

XX – Tuyển dịch thiên thứ hai mươi: Phụ Hạnh

1A.

* Nguyên văn:-

太公曰:婦人之禮,語必細,行必緩步,止則斂容,動則(足羊)(足且)(通徉徂,款款緩步行走。),耳無餘聽,目無餘視,出無諂容,不窺牆壁,不觀戶牖。早起夜眠,莫憚勞苦。戰戰兢兢,常憂玷辱。賢婦令夫貴,惡婦令夫敗。家有賢妻,夫不遭橫禍。賢婦和六親,佞婦破六親。

*Âm:-

Thái Công viết :Phụ nhân chi lễ, ngữ tất tế, hành tất hoãn bộ, chỉ tắc liễm dung, động tắc (túc dương )(túc thả )(thông dương tồ, khoản khoản hoãn bộ hành tẩu. ).Nhĩ vô dư thính, mục vô dư thị, xuất vô siểm dung, bất khuy tường bích, bất quán hộ dũ. Tảo khởi dạ miên, mạc đạn lao khổ. Chiến chiến căng căng, thường ưu điếm nhục. Hiền phụ lệnh phu quí, ác phụ lệnh phu bại. Gia hữu hiền thê, phu bất tao hoành hoạ. Hiền phụ hoà lục thân, nịnh phụ phá lục thân .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Cách giữ Lễ của đàn bà là nói năng phải nhỏ nhẹ, đi phải khoan thai, dừng phải điềm đạm, cử động phải dè dặt, tai không nghe thừa, mắt không trông thừa, đi ra ngoài không có dáng chiều ý ai, không dòm qua tường vách, không ngó vào cửa lớn nhỏ. Dậy sớm ngủ khuya không sợ lao khổ. Nơm nớp thấp thỏm thường lo lắng bị nhục nhã tì vết. Vợ hiền làm chồng sang ra, vợ xấu làm chồng thất bại. Nhà có vợ hiền chồng đỡ gặp tai họa bất ngờ. Vợ hiền tạo hòa thuận cho lục thân (*). Vợ xấu xa gây tan rã lục thân.

*Diễn ca: –

Ðàn bà giữ Lễ ra sao?
– Nói năng nhỏ nhẹ, ra vào khoan thai.
Ðoan trang, kính cẩn chớ sai,
Chuyện nhảm xua khỏi mắt tai, chớ màng.
Ra khỏi cửa, phải đàng hoàng,
Mắt đừng liếc dọc, nhìn ngang nhà người.
E dè lời nói, tiếng cười,
Chớ chiều ý người, gièm siểm, a dua.
Vui cùng cực nhọc sớm khuya.
Nơm nớp tiết hạnh, sợ mua chê cười.
Vợ hiền chồng được hơn người,
Vợ mang tai tiếng, chồng thời xót xa.
Vợ hiền thân thuộc thuận hòa,
Vợ hư lục đục cả nhà nhuốc nhơ.

*Chú thích:-

Lục thân: sáu thành phần trong đại gia đình: cha, mẹ, vợ, con, anh, em.

**********

2A.

* Nguyên văn:-

列女傳曰:古者婦人妊子,寢不側,坐不偏,立不躍,不食邪味,割不正不食,席不正不坐。目不視邪色,耳不聽淫聲,夜則令瞽誦詩,道正事。如此則生子形容端正,才智過人矣。

*Âm:-

Liệt Nữ Truyện viết :Cổ giả phụ nhân nhẫm tử, tẩm bất trắc, toạ bất thiên, lập bất dược, bất thực tà vị. Cát bất chính bất thực, tịch bất chính bất toạ. Mục bất thị tà sắc, nhĩ bất thính dâm thanh, dạ tắc lệnh cổ tụng thi, đạo chính sự. Như thử tắc sinh tử hình dung đoán chính, tài trí quá nhân hĩ .

* Dịch nghĩa:-

Truyện Liệt Nữ nói: Ðời xưa đàn bà có thai thì nằm không nghiêng, ngồi không lệch, đứng không nhón chân. Không ăn vị lạ, cắt không ngay ngắn không ăn, chiếu trải chưa ngay ngắn không ngồi, mắt không nhìn sắc bất chính, tai chẳng nghe âm thanh dâm đãng. Ban đêm thì sai người mù đọc Kinh Thi (theo trí nhớ) nói chuyện chân chính. Như thế tất sinh con hình dung đoan chính, tài trí hơn người vậy.

*Diễn ca: –

Ðàn bà khi đã mang thai,
Nằm ngồi, đi, đứng, chớ sai đạo thường.
Nằm nghiêng dễ xảy tổn thương,
Ngồi lệch gây hại, đứng đừng kiễng chân.
Cẩn thận cái uống, miếng ăn,
Ðừng ham vật lạ, chẳng cần của ngon.
Cắt miếng ăn, phải ra hồn,
Chiếu trải ngay ngắn, nếu không đừng ngồi,
Mắt đừng nhình cảnh lả lơi,
Tai đừng nghe nhạc, nghe lời lẳng lơ.
Thuê người mù (*) đến đọc thơ,
Kể chuyện đạo lý, bỏ khờ, học khôn.
Giữ gìn như thế cho tròn,
Ắt là sẽ được sinh con anh tài.

*Chú thích:-

Người mù: người mù vốn có ưu thế về trí nhớ và xúc giác bén nhạy nên ngày xưa họ thường hành nghề mát – xa kèm đọc thơ, kể chuyện. Ba thứ dịch vụ ấy bổ sung nhau tạo hiệu quả cao (thuê người mù thai phụ cùng chồng họ cảm thấy thoải mái hơn).

HẾT

**********

(Cảm tác theo Minh Tâm Bảo Giám)

Giữ Lòng Thanh Thản

惡人罵善人 Ác nhân mạ thiện nhân
善人總不對 Thiện nhân tổng bất đối
善人若還對 Thiện nhân nhược hoàn đối
彼此無智慧 Bỉ thử vô trí tuệ.

不對心清凉 Bất đối tâm thanh lương
罵者口熱沸 Mạ giả khẩu nhiệt phí
正如人唾天 Chính như nhân thóa thiên
還從己身墜 Hoàn tùng kỷ thân trụy.

我若被人罵 Ngã nhược bị nhân mạ
佯聾不分說 Dương lung bất phân thuyết
譬如火當空 Thí như hỏa đương không
不救自然滅 Bất cứu tự nhiên diệt.

嗔人亦如是 Sân nhân diệc như thị
有物遭他熱 Hữu vật tao tha nhiệt
我心等虚空 Ngã tâm đẳng hư không
聽彼翻唇舌 Thính bỉ phiên thần thiệt.

*Dịch: –

Kẻ dữ mắng người hiền
Người hiền không đáp trả
Nếu cãi vã lại liền
Cả hai cùng dại cả.

Ai nhịn thì thanh thản
Ai chửi chỉ hoài hơi
Khác nào phun lên trời
Nước bọt rơi xuống mặt.

Khi bị người ta chửi
Cứ giả điếc làm thinh
Lửa cháy không thêm củi
Sẽ tắt bất thình lình.

Người giận cũng như vậy
Gặp bổi là lửa lan
Hãy giữ lòng trống rỗng
Để mặc ai nói càn.

Châu Sa dịch

(từ Minh Tâm Bảo Giám)

************

3A.

* Nguyên văn:-

嵇康曰:凶險之人,敬而遠之。賢德之人,親而近之。彼以惡來,我以善應。彼以曲來,我以直應。豈有怨之哉!

*Âm:-

Kê Khang viết :Hung hiểm chi nhân, kính nhi viễn chi. Hiền đức chi nhân, thân nhi cận chi. Bỉ dĩ ác lai, ngã dĩ thiện ứng. Bỉ dĩ khúc lai, ngã dĩ trực ứng. Khởi hữu oán chi tai !

* Dịch nghĩa:-

Kê Khang (*) nói: Với kẻ hung ác nham hiểm, hãy kính trọng nhưng phải xa lánh. Với người hiền đức, hãy thân thiết mà gần gũi. Họ cư xử ác, ta dùng thiện đáp ứng, họ cư xử thủ đoạn, ta lấy ngay thẳng đáp ứng, há có thể oán ta được ư!

*Diễn ca: –

Với kẻ nham hiểm, hung tàn,
Ta càng kính trọng phải càng lánh xa.
Với người đức hạnh hiền hòa,
Hết lòng thân thiện mới là kết giao.
Kẻ kia tàn ác bậc nào,
Ta giữ lòng thiện, làm sao oán hờn?
Lòng ta cứ thẳng dây đờn,
Kẻ kia xiên xẹo, không hơn đâu mà!

*Chú thích:-

Kê Khang 嵇康: nhân vật đời Tấn, tương đối đặc biệt:

1. Là tác giả khúc nhạc Quảng Lăng Tán (Truyện Kiều: Kê Khang nầy khúc Quảng Lăng, Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân…)

2. Có chân trong nhóm “Trúc lâm thất hiền” khá nổi tiếng, sau mười bảy thế kỷ, người đời còn nhắc Lưu Linh, Cát Hồng, Nguyễn Tịch, v.v… Ông bị giết vì trái ý Tư Mã Sư.

3. Có con trai là Thị Trung Kê Thiệu được coi là trung nghĩa điển hình, liều thân che cho Tấn Huệ đế, máu đẫm áo vua (Chính Khí Ca: Vi Kê Thị Trung huyết – Làm máu quan Thị Trung họ Kê).

—————————

4A.

* Nguyên văn:-

太公曰:女無明鏡,不知面上精粗;士無良友,不知行步虧踰。

*Âm:-

Thái Công viết :Nữ vô minh kính, bất tri diện thượng tinh thô ;Sĩ vô lương hữu, bất tri hành bộ khuy thâu .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Nữ giới không có gương soi thì không biết vẻ mịn thô trên mặt. Kẻ sĩ không có bạn hiền thì không hay biết việc sa đà lạc bước.

*Diễn ca: –

Nữ giới nếu thiếu gương soi,
Băn khoăn mặt mũi khó coi? ưa nhìn ?
Kẻ sĩ thiếu bạn đáng tin,
Ðường đời sẩy, trượt, biết vin nơi nào?

************

5A.

* Nguyên văn:-

– 宋弘曰:糟糠之妻不可下堂,貧賤之交不可忘。

– 施恩於未遇之先,結交於貧寒之際。人情常似初相識,到底終無怨恨心。

– 酒食弟兄千個有,急難之時一個無。不結子花休要種,無義之朋切莫交。君子之交淡如水,小人之交甜似蜜。人用錢交,金用火試。水將杖探知深淺,人用財交便見心。仁義莫交財,交財仁義絕。路遙知馬力,事久見人心。

*Âm:-

– Tống Hoằng viết :Tao khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao bất khả vong.

– Thi ân ư vị ngộ chi tiên, kết giao ư bần hàn chi tế. Nhân tình thường tự sơ tương thức, đáo để chung vô oán hận tâm.

– Tửu thực đệ huynh thiên cá hữu, cấp nạn chi thời nhất cá vô. Bất kết tử hoa hưu yếu chủng, vô nghĩa chi bằng thiết mạc giao. Quân tử chi giao đạm như thuỷ, tiểu nhân chi giao điềm tự mật. Nhân dụng tiền giao, kim dụng hoả thí. Thuỷ tương trượng thám tri thâm thiển, nhân dụng tài giao tiện kiến tâm. Nhân nghĩa mạc giao tài, giao tài nhân nghĩa tuyệt. Lộ dao tri mã lực, sự cữu kiến nhân tâm .

* Dịch nghĩa:-

-Tống Hoằng nói: Vợ tấm mẳn không thể ruồng bỏ, giao tình buổi nghèo không thể quên.

-Làm ơn trước khi người ta chưa gặp thời, kết giao vào lúc người ta đang nghèo hèn. Tình người thường tựa lúc mới quen thì cuối cùng mới không có lòng oán hận.

-Lúc rượu thịt thì có cả nghìn anh em, lúc gặp nạn gấp thì không có nổi một kẻ. Hoa không kết hạt thì đừng trồng, thứ bạn bất nghĩa nhất thiết chớ giao du. Giao tình của quân tử nhạt như nước, giao tình của tiểu nhân ngọt như mật. Người thì dùng tiền để kết giao, vàng thì dùng lửa để thử. Ðem gậy dò nước biết sâu cạn, đem của cải giao thiệp với người liền rõ lòng. Kẻ nhân nghĩa không giao thiệp qua tiền của, giao thiệp qua tiền của thì mất nhân nghĩa. Ðường xa biết sức ngựa, việc xảy ra lâu mới thấy rõ lòng người.

*Diễn ca: –

Chớ ruồng rẫy vợ hàn vi,
Chớ quên bè bạn thời kỳ tả tơi.
Làm ơn, chọn kẻ chờ thời,
Kết bạn chọn kẻ giữa đời khó khăn.
Giữ lòng như buổi mới quen,
Về sau mới đỡ thù hằn lẫn nhau.
Rượu thịt ngàn kẻ bâu vào,
Ðến khi hoạn nạn thì nào thấy ai?
Ðã toan tính chuyện trồng cây,
Phải cầm chắc ngày hái đặng quả ngon.
Muốn cho tình bạn vuông tròn,
Tránh xa những kẻ tâm hồn sai ngoa.
Kẻ lời mật ngọt thiết tha,
Tiểu nhân đích thị, đáng ta đề phòng.
Lời lãnh đạm mới thật lòng,
Ðấy là quân tử, vàng ròng khó so.
Dùng tiền, lòng bạn dễ dò,
Cũng như dùng lửa để đo tuổi vàng.
Có gậy lội nước dễ dàng,
Có của dễ biết bạn vàng hay thau.
Muốn cho tình nghĩa bền lâu,
Chớ đem của cải làm rầu bạn ta.
Sức ngựa rõ lúc đường xa,
Lòng người rõ lúc trải qua lâu ngày.

************

XX – Tuyển dịch thiên thứ hai mươi: Phụ Hạnh

1A.

* Nguyên văn:-

太公曰:婦人之禮,語必細,行必緩步,止則斂容,動則(足羊)(足且)(通徉徂,款款緩步行走。),耳無餘聽,目無餘視,出無諂容,不窺牆壁,不觀戶牖。早起夜眠,莫憚勞苦。戰戰兢兢,常憂玷辱。賢婦令夫貴,惡婦令夫敗。家有賢妻,夫不遭橫禍。賢婦和六親,佞婦破六親。

*Âm:-

Thái Công viết :Phụ nhân chi lễ, ngữ tất tế, hành tất hoãn bộ, chỉ tắc liễm dung, động tắc (túc dương )(túc thả )(thông dương tồ, khoản khoản hoãn bộ hành tẩu. ).Nhĩ vô dư thính, mục vô dư thị, xuất vô siểm dung, bất khuy tường bích, bất quán hộ dũ. Tảo khởi dạ miên, mạc đạn lao khổ. Chiến chiến căng căng, thường ưu điếm nhục. Hiền phụ lệnh phu quí, ác phụ lệnh phu bại. Gia hữu hiền thê, phu bất tao hoành hoạ. Hiền phụ hoà lục thân, nịnh phụ phá lục thân .

* Dịch nghĩa:-

Thái Công nói: Cách giữ Lễ của đàn bà là nói năng phải nhỏ nhẹ, đi phải khoan thai, dừng phải điềm đạm, cử động phải dè dặt, tai không nghe thừa, mắt không trông thừa, đi ra ngoài không có dáng chiều ý ai, không dòm qua tường vách, không ngó vào cửa lớn nhỏ. Dậy sớm ngủ khuya không sợ lao khổ. Nơm nớp thấp thỏm thường lo lắng bị nhục nhã tì vết. Vợ hiền làm chồng sang ra, vợ xấu làm chồng thất bại. Nhà có vợ hiền chồng đỡ gặp tai họa bất ngờ. Vợ hiền tạo hòa thuận cho lục thân (*). Vợ xấu xa gây tan rã lục thân.

*Diễn ca: –

Ðàn bà giữ Lễ ra sao?
– Nói năng nhỏ nhẹ, ra vào khoan thai.
Ðoan trang, kính cẩn chớ sai,
Chuyện nhảm xua khỏi mắt tai, chớ màng.
Ra khỏi cửa, phải đàng hoàng,
Mắt đừng liếc dọc, nhìn ngang nhà người.
E dè lời nói, tiếng cười,
Chớ chiều ý người, gièm siểm, a dua.
Vui cùng cực nhọc sớm khuya.
Nơm nớp tiết hạnh, sợ mua chê cười.
Vợ hiền chồng được hơn người,
Vợ mang tai tiếng, chồng thời xót xa.
Vợ hiền thân thuộc thuận hòa,
Vợ hư lục đục cả nhà nhuốc nhơ.

*Chú thích:-

Lục thân: sáu thành phần trong đại gia đình: cha, mẹ, vợ, con, anh, em.

************

2A.

* Nguyên văn:-

列女傳曰:古者婦人妊子,寢不側,坐不偏,立不躍,不食邪味,割不正不食,席不正不坐。目不視邪色,耳不聽淫聲,夜則令瞽誦詩,道正事。如此則生子形容端正,才智過人矣。

*Âm:-

Liệt Nữ Truyện viết :Cổ giả phụ nhân nhẫm tử, tẩm bất trắc, toạ bất thiên, lập bất dược, bất thực tà vị. Cát bất chính bất thực, tịch bất chính bất toạ. Mục bất thị tà sắc, nhĩ bất thính dâm thanh, dạ tắc lệnh cổ tụng thi, đạo chính sự. Như thử tắc sinh tử hình dung đoán chính, tài trí quá nhân hĩ .

* Dịch nghĩa:-

Truyện Liệt Nữ nói: Ðời xưa đàn bà có thai thì nằm không nghiêng, ngồi không lệch, đứng không nhón chân. Không ăn vị lạ, cắt không ngay ngắn không ăn, chiếu trải chưa ngay ngắn không ngồi, mắt không nhìn sắc bất chính, tai chẳng nghe âm thanh dâm đãng. Ban đêm thì sai người mù đọc Kinh Thi (theo trí nhớ) nói chuyện chân chính. Như thế tất sinh con hình dung đoan chính, tài trí hơn người vậy.

*Diễn ca: –

Ðàn bà khi đã mang thai,
Nằm ngồi, đi, đứng, chớ sai đạo thường.
Nằm nghiêng dễ xảy tổn thương,
Ngồi lệch gây hại, đứng đừng kiễng chân.
Cẩn thận cái uống, miếng ăn,
Ðừng ham vật lạ, chẳng cần của ngon.
Cắt miếng ăn,phải ra hồn,
Chiếu trải ngay ngắn, nếu không đừng ngội
Mắt đừng nhình cảnh lả lơi,
Tai đừng nghe nhạc, nghe lời lẳng lơ.
Thuê người mù (*) đến đọc thơ,
Kể chuyện đạo lý, bỏ khờ, học khôn.
Giữ gìn như thế cho tròn,
Ắt là sẽ được sinh con anh tài.

*Chú thích:-

Người mù: người mù vốn có ưu thế về trí nhớ và xúc giác bén nhạy nên ngày xưa họ thường hành nghề mát- xa kèm đọc thơ, kể chuyện. Ba thứ dịch vụ ấy bổ sung nhau tạo hiệu quả cao (thuê người mù thai phụ cùng chồng họ cảm thấy thoải mái hơn).

HẾT

************

(Cảm tác theo Minh Tâm Bảo Giám)

Giữ Lòng Thanh Thản

惡人罵善人 Ác nhân mạ thiện nhân
善人總不對 Thiện nhân tổng bất đối
善人若還對 Thiện nhân nhược hoàn đối
彼此無智慧 Bỉ thử vô trí tuệ.

不對心清凉 Bất đối tâm thanh lương
罵者口熱沸 Mạ giả khẩu nhiệt phí
正如人唾天 Chính như nhân thóa thiên
還從己身墜 Hoàn tùng kỷ thân trụy.

我若被人罵 Ngã nhược bị nhân mạ
佯聾不分說 Dương lung bất phân thuyết
譬如火當空 Thí như hỏa đương không
不救自然滅 Bất cứu tự nhiên diệt.

嗔人亦如是 Sân nhân diệc như thị
有物遭他熱 Hữu vật tao tha nhiệt
我心等虚空 Ngã tâm đẳng hư không
聽彼翻唇舌 Thính bỉ phiên thần thiệt.

*Dịch: –

Kẻ dữ mắng người hiền
Người hiền không đáp trả
Nếu cãi vã lại liền
Cả hai cùng dại cả.

Ai nhịn thì thanh thản
Ai chửi chỉ hoài hơi
Khác nào phun lên trời
Nước bọt rơi xuống mặt.

Khi bị người ta chửi
Cứ giả điếc làm thinh
Lửa cháy không thêm củi
Sẽ tắt bất thình lình.

Người giận cũng như vậy
Gặp bổi là lửa lan
Hãy giữ lòng trống rỗng
Để mặc ai nói càn.

Châu Sa dịch

(từ Minh Tâm Bảo Giám)

************

TOÁT YẾU

MINH TÂM BẢO GIÁM

************

* Phạm Bân

Ngày xưa, tổ tiên ta học chữ Hán không phải chỉ để thông văn tự, tường huấn hỗ, minh cú đậu mà trước hết là để học cái đạo làm người, học luân thường đạo nghĩa, nghĩa là chú trọng học thế nào là nhân, lễ, nghĩa, trí và tín. Trước học lễ, sau mới học văn chương (Tiên học lễ, hậu học văn). Thiên V, Minh Tâm Bảo Giám, “Chính Kỷ” (Tu Thân), Khổng Tử nói:

Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố. Chủ trung tín.

(Người quân tử không thận trọng (coi trọng, không dám khinh thường, nặng, tự trọng) thì không có uy, học thì không vững vàng. Phải chuyên giữ lòng thật thà và không gian dối).

Muốn học văn (tức học các sách thuộc hàng kinh điển như: Tứ Thư, Ngũ Kinh, Cổ Văn, Truyện, Chí, v.v…) thì ngừời Việt Nam phải học qua một số sách căn bản và phổ thông; trong đó gồm có sách của người Việt Nam viết như: Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi và của người Trung quốc viết như: Tam Tự Kinh, Thiên Tự Văn, Hiếu Kinh, Minh Tâm Bảo Giám, Minh Đạo Gia Huấn, v.v… Bởi vì chỉ chú trọng đến luân thường đạo nghĩa nên nội dung của các sách vừa nêu không theo phương pháp dạy từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, cũng không phân biệt tuổi tác, trình độ suy tư mà cứ mỗi chữ, mỗi bài đều là một bài học luân lý cho tất cả mọi người.

Minh Tâm Bảo Giám là cuốn sách tập hợp các tư tưởng độc đáo của thánh hiền. Có rất nhiều câu được người Việt Nam trích dẫn và sử dụng trong đời sống hàng ngày, phổ biến rất rộng rãi. Như nghĩa của tựa sách đã nói rõ, sách này là tấm gương quý để soi và giữ lòng mình trong sáng. Sách chính là công cụ để mọi người noi theo, tự mình đối chiếu vào đó mà tu tâm, dưỡng tính. Minh Tâm Bảo Giám đã được một số học giả Việt Nam dịch ra tiếng Việt, đặc biệt có học giả Trương Vĩnh Ký đã dịch và chú giải rất chu đáo. (Minh Tâm Bảo Giám. Le précieux miroir du coeur, texte en caractères traduit et annoté en Annamite par P. J. B. Trương Vĩnh Ký, Saigon, Imprimerie de l’ Union Nguyễn Văn Của, 1924).

Minh Tâm Bảo Giám phản ảnh cách nhìn sự vật và con người của hệ thống Triết lý phương Đông. Một số bạn sẽ nhận thấy cách nhìn của phương Đông rất khác phương Tây, có khi trái ngược lại. Thí dụ: phương Tây lấy chủ nghĩa cá nhân (individualism), duy vật chất (materialism) và sự thắng thế, tham lam, đè bẹp người khác làm mục tiêu cho sự thành công ở đời (Họ hay nói: You must try to get the most out of someone (or something) You must be a winner.); trong khi phương Đông lại dạy khiêm nhường, nhẫn nhịn, lợi ích cá nhân phải nhượng bộ cho lợi ích tập thể, xã hội. Thiên VII, MTBG, Tồn Tâm (giữ lòng mình), Khổng Tử nói:

Thông minh duê, trí thủ chi dĩ ngụ Công bị thiên hạ thủ chi dĩ nhượng. Dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp. Phú hữu tứ hải thủ chi dĩ khiêm.

Nghĩa:

Thông minh sâu sắc nhưng giữ trí mình như ngu. Công trùm thiên hạ nhưng cứ giữ lòng nhường nhịn. Sức mạnh tuyệt luân nhưng cứ giữ mình như nhát. Tiền rừng bạc biển nhưng cứ giữ nết khiêm cung.

Tất nhiên, hai hệ thống khác nhau nên không thể so sánh được bên nào hợp lý hơn, bên nào trúng, bên nào sai, mà trúng thì trúng tới đâu và sai thì sai cỡ nào; cũng giống như người ta không bao giờ so sánh tác dụng chữa bệnh của muối trong Đông Y với đường trong Tây Y vậy.

Thiên XI, MTBG, Tỉnh Tâm, Vương Tham Chính nói:

Lưu hữu dư bất tận chi công dĩ hoàn tạo hóa

Lưu hữu dư bất tận chi lộc dĩ hoàn triều đình

Lưu hữu dư bất tận chi tài dĩ hoàn bách tính

Lưu hữu dư bất tận chi phúc dĩ hoàn tử tôn

Nghĩa:

Giữ lại công lao có dư để trả lại cho Trời Đất

Giữ lại lộc có dư để trả lại cho triều đình (quốc gia)

Giữ lại của cải có dư để trả lại cho trăm họ (xã hội)

Giữ lại phúc đức có dư để dành cho con cháu

Thiên VIII, MTBG, Giới Tính, sách Cảnh Hạnh Lục viết:

Nhân tính như thủy. Thủy nhất khuynh tắc bất khả phục. Tính nhất túng tắc bất khả phản. Chế thủy giả tất dĩ đê phòng. Chế tính giả tất dĩ lễ pháp. Nhẫn nhất thời chi khí, miễn bách nhật chi ưu. Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc giới thả giới. Bất giới tiểu sự thành đại. Nhất thiết chư phiền não giai tòng bất nhẫn sinh. Phật ngữ tại vô tranh. Nho thư quý vô tranh. Hảo điều khoái hoạt lộ, thế thượng thiểu nhân hành.

Nghĩa:

Tính người như nước. Nước một khi đổ thì không hốt lại được Tính người một khi phóng túng rồ`i thì không thể phản hồi lại. Muốn ngăn nước thì phải đắp đê để phòng. Muốn chế ngự tính thì phải sử dụng phép tắc. Nhịn khí giận nhất thời thì cả trăm ngày khỏi lo lắng. Nhịn được cứ nhịn. Kiêng được cứ kiêng. Không kiêng thì chuyện nhỏ hóa to. Tất cả phiền não đều do không nhịn mà ra. Lời Phật cốt yếu là không cãi cọ. Sách Nho quý ở chỗ không tranh giành. Tuy nhiên, con đường sung sướng ấy lại ít người đi.

Minh Tâm Bảo Giám gồm có 20 thiên, trong đó có một số thiên đã trở nên lỗi thời do nếp sống, hoàn cảnh sinh hoạt ngày nay không giống như xưa. Một số thiên có tính cách triết lý rất sâu sắc về vũ trụ, con người mà ngày nay vẫn còn là đề tài bàn luận nóng bỏng cho ngành Triết. Cho dù tán thành hay phản đối, suy rộng hay tán hẹp các câu dạy bảo của thánh hiền, người thấm nhuần đạo Nho vẫn luôn luôn khắc ghi rằng:

Quân tử hữu tam úy: úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn. Tiểu nhân bất tri thiên mệnh nhi bất úy dã, hiệp đại nhân, vũ thánh nhân chi ngôn. (Khổng Tử, MTBG, Thiên VII: Tồn Tâm)

Nghĩa:

Người quân tử có ba điều kiêng sợ: kiêng mệnh Trời, kiêng người trên, kiêng lời của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh Trời cho nên không biết sợ, lờn mặt người trên, khinh thường lời nói của thánh nhân.

Điều cần lưu ý khi đọc Minh Tâm Bảo Giám là thể văn biền ngẫu và quan niệm về người quân tử và kẻ tiểu nhân. Biền nghĩa gốc là hai con ngựa đóng kèm với nhau, chạy song song với nhau; ngẫu là một cặp. Văn biền ngẫu là một thể văn xuôi, không có vần nhưng luôn luôn có hai vế đối nhau. Còn quan niệm quân tử và tiểu nhân là hai quan niệm độc đáo, có tính chất nền tảng cho văn hóa phương Đông. Xã hội chia ra hai hạng người: hạng quân tử là hạng người đúng đắn, gương mẫu để học hỏi, noi theo; còn hạng tiểu nhân là hạng người ti tiện, đáng khinh.

Đọc kỹ Minh Tâm Bảo Giám thì tự khắc biết được một số nét căn bản trong cái ruột và cái đầu của người theo đạo Nho.

Thiên XVI, MTBG, Tuân Lễ, Mạnh Tử nói:

Quân tử chi sở dĩ dị ư nhân giả dĩ kỳ tồn tâm dã. Quân tử dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm. Nhân giả ái nhân, hữu lễ giả kính nhân. Ái nhân giả nhân hằng ái chị Kính nhân giả nhân hằng kính chi.

Nghĩa:

Người quân tử khác người ở chỗ giữ tâm. Người quân tử lấy lòng thương người để giữ tâm, lấy lễ để giữ tâm. Người có Nhân tức người có lòng yêu người, người có Lễ tức người biết kính người. Yêu người thì được người yêu, kính người thì được người kính lại.

Thiên VII, MTBG, Tồn Tâm (giữ lòng mình), Phạm Trung Tuyên viết:

Nhân tuy chí ngu, trách nhân tắc minh. Tuy hữu thông minh thứ kỷ tắc hôn. Đãn thường dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ. Thứ kỷ chi tâm thứ nhân, bất hoạn bất đáo thánh hiền địa vị dã.

Nghĩa:

Kẻ nào dù vô cùng dốt nát nhưng khi trách người thì lại rất sáng suốt. Kẻ nào dù thông minh nhưng dung thứ lỗi của chính mình thì lại trở nên u tối. Nên luôn luôn luôn dùng cái tâm trách người để trách mình và tâm dung thứ lỗi của chính mình để dung thứ người. Vậy thì không lo gì để đạt đến bậc thánh.

Dựa vào suy nghĩ và phán xét riêng, tôi chọn lọc và trích ra dưới đây một ít thiên và câu mà tôi thiết nghĩ rằng vẫn còn đáng suy gẫm. Nếu thấy cần, tôi sẽ viết thêm phần chú giải. Lẽ tất nhiên, tôi chỉ cố gắng giới thiệu Minh Tâm Bảo Giám trong chừng mực hiểu biết nông cạn của mình mà thôi, còn việc hiểu, học và áp dụng như thế nào thì bá nhân, bá tính, cứ tùy theo khả năng gạn đục, khơi trong của từng người mà cảm nhận; tôi chẳng dám lạm bàn.

************

Sau đây, chúng ta thử xét vài thiên quan trọng trong Minh Tâm Bảo Giám.

THIÊN I: KẾ THIỆN (noi theo việc thiện)

Đạo Nho chủ trương con người sinh ra ban đầu vốn thiện (nhân chi sơ tính bản thiện), nhưng sau đó vì va chạm với đời sống vật dục nên thay đổi mà làm điều ác. Thuyết tính thiện của Thầy Mạnh được xem là thuyết chính thống của đạo Nho:

“Cáo Tử viết: Tính du thoan thủy dã. Quyết chư Đông phương, tắc Đông lưu; quyết chư Tây phương, tắc Tây lưụ Nhân tính chi vô phân ư thiện, bất thiện dã, du thủy chi vô phân ư Đông, Tây dã.

Mạnh Tử viết: Thủy tính vô phân ư Đông, Tây, vô phân ư thượng, hạ hồ? Nhân tính chi thiện dã, du thủy chi tựu hạ dã; nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bất hạ. Kim phù thủy, bác nhi dược chi khả sử quá táng; kích nhi hành chi khả sử tại sơn; thị khởi thủy chi tính taỉ Kỳ thế, tắc nhiên dã. Nhân chi khả sử vi bất thiện, kỳ tính diệc du thị dã”.

Nghĩa:

“Thầy Cáo nói: Tính người ta cũng như nước chảy quanh vậy. Khơi sang phương Đông thì chảy phương Đông; khơi sang phương Tây thì chảy phương Tây. Tính người không phân biệt thiện với bất thiện, cũng như nước không phân biệt phương Đông với phương Tây vậy.

Thầy Mạnh nói: Nước đành là không phân biệt phương Đông phương Tây, nhưng lại không phân biệt chỗ cao chỗ thấp đấy ử Tính người ta vốn thiện, cũng như nước vốn chảy chỗ thấp; tính người ta không có người nào là chẳng thiện, nước không có nước nào là chẳng chảy chỗ thấp. Nay nước kia đập mà cho bắn lên, có thể khiến vọt qua trán; ngăn mà cho đi ngược, có thể khiến tràn đến núi; ấy há phải cái nguyên tính của nước thế đâu, vì cái thế nó bị đập, bị ngăn thì nó mới thế vậy; người ta mà bị khiến làm điều bất thiện là vì cái tính nó bị vật dục che lấp cũng như nước bị người đập hay ngăn cản đi vậy”.

(Mạnh Tử, Thiên Cáo Tử thượng, Chương 11 do Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch trong “Mạnh Tử quốc văn giải thích”, Editions du Trung Bắc Tân Văn, Hanoi, 1932.)

Phần trích thiên Kế Thiện:

Khổng Tử nói:

Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phúc.

Vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa.

(Làm điều thiện thì Trời ban cho phúc.

Làm điều ác thì Trời giáng họa cho).

Từ Thần Ông nói:

Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác.

Tử tế tư lương thiên địa bất thác.

(Chứa lành gặp lành, chứa ác gặp ác.

Đắn đo suy nghĩ kỹ lưỡng thì Trời Đất không lầm lẫn đâu).

(Chú thích: tích: chứa, gom góp lại

tư 思: 4 nét, bộ Tâm: suy nghĩ, tương tư

thác 錯: lầm lẫn, bộ Kim, 8 nét)

Trang Tử nói:

Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi

(Một ngày không nghĩ đến điều lành thì các điều ác đều tự nổi dậy).

Lão Tử nói:

Thiện nhân, bất thiện nhân chi sư. Bất thiện nhân, thiện nhân chi tư. Nhu thắng cương, nhược thắng cường, cố thiệt nhu thường tồn, xỉ cương tắc chiết.

(Người lành là thầy của kẻ dữ. Người dữ là nguồn chỗ nhờ cậy của người thiện. Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh, do đó lưỡi còn hoài còn răng cứng thì gãy).

(Chú thích: tư: 6 nét, bộ Bối (con sò: ngày xưa dùng vỏ sò làm tiền nên cái gì liên quan đến tiền, của cải thì hay dùng bộ này): của cải, vốn liếng (tư bản), tư chất, chỗ nhờ cậy (tư cách cao quý).

Lão Tử nói:

“Quân tử vi thiện nhược thủy, ủng chi khả dĩ tại sơn, kích chi khả dĩ quá tảng, năng phương năng viên ủy khúc tùy hình. Cố quân tử năng nhu nhi bất nhược, năng cường nhi bất cương, như thủy chi tính dã. Thiên hạ nhu nhược mạc quá ư thủỵ Thị dĩ nhu nhược thắng cương cường”.

(Người quân tử làm điều lành giống như nước vậy, ngăn lại thì có thể giữ nước ở trong núi, khuấy động nước lên thì có thể văng quá trán, tùy theo hình dáng mà nước có thể thành hình vuông hay hình tròn. Vì vậy, người quân tử có thể mềm mà không yếu, mạnh mà không cứng, giống như bản chất của nước vậỵ Trong cõi trời đất không có gì vượt trội hơn nước được. Bởi vậy cho nên mềm yếu thắng cứng mạnh).

Vô danh:

Bình sinh hành thiện thiên gia phúc,

Nhược thị ngu ngoan thụ họa ương.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,

Cao phi viễn tẩu dã nan tàng.

(Một đời làm lành thì Trời ban phúc,

Nếu như ngu ngốc, ngang bướng thì chịu tai vạ.

Thiện ác cuối cùng đều có báo ứng,

Bay cao chạy xa rồi cũng khó trốn thoát được).

Khi nhân thị họa, nhiêu nhân thị phúc.

Thiên võng khôi khôi, báo ứng thậm tốc.

(Khinh miệt người là họa, bao dung người là phúc.

Lưới Trời lồng lộng nhưng báo ứng rất nhanh).

Thiệu Khang Tiết nói:

Thượng phẩm chi nhân, bất giáo nhi thiện. Trung phẩm chi nhân, giáo nhi hậu thiện. Hạ phẩm chi nhân, giáo diệc bất thiện. Bất giáo nhi thiện, phi thánh nhi hà? Giáo nhi hậu thiện, phi hiền nhi hà? Giáo diệc bất thiện, phi ngu nhi hà?

Thị tri: Thiện dã giả, cát chi vị dã. Bất thiện dã giả, hung chi vị dã. Cát dã giả mục bất quan phi lễ chi sắc, nhĩ bất thính phi lễ chi thanh, khẩu bất đạo phi lễ chi ngôn, túc bất tiễn phi lễ chi địa, nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ. Thân hiền như tựu chi lan, tị ác như úy xà hạt. Hung dã giả ngữ ngôn quỷ quyệt, động chỉ âm hiểm, háo lợi tập phi, tham dâm lạc họa, tật lương thiện như thù khích, phạm hình hiến như ẩm thực. Tiểu tắc vẫn thân diệt tính, đại tắc phúc tông tuyệt tự.

Truyện hữu chi viết: Cát nhân vi thiện, duy nhật bất túc. Hung nhân vi bất thiện diệc duy nhật bất túc. Nhữ đẳng dục vi cát nhân hồ? Dục vi hung nhân hồ?

Nghĩa:

Người bậc trên, không dạy vẫn thiện. Người bậc giữa, dạy rồi mới thiện. Người bậc dưới, có dạy cũng không thiện. Không dạy vẫn thiện, chẳng phải bậc thánh sao? Dạy rồi mới thiện, chẳng phải người hiền sao? Dạy rồi cũng không thiện, chẳng phải là người ngu sao?

Ấy mới biết: Thiện chính là điều lành. Không thiện chính là điều dữ. Lành có nghĩa là mắt không nhìn màu sắc hoặc hình ảnh không đúng lễ, tai không nghe những tiếng không đúng lễ, miệng không nói những lời không đúng lễ, chân không đi trên đất không đúng lễ, người phi nghĩa thì không kết làm bạn, vật phi nghĩa thì không giữ. Kết thân với người hiền như được mang hoa lan và cỏ thơm, tránh kẻ ác như sợ rắn và bò cạp. Dữ có nghĩa là lời nói dối trá và gian xảo, việc làm thì đen tối và sâu độc, ham lợi thành thói bậy bạ, tham dâm gây họa, ganh ghét người lành như hận thù, phạm pháp như cơm bữa. Nhỏ thì mạng vong, mất tính, lớn thì mất dòng, tuyệt giống.

Sách Truyện nói: người tốt suốt ngày làm điều lành chưa thấy đủ. Người dữ suốt ngày làm điều hung ác cũng chưa thấy đủ. Các anh muốn làm người tốt chăng? Hay muốn làm người dữ?

THIÊN II: THIÊN LÝ (Lẽ Trời)

Theo đạo Nho, nguồn gốc của vũ tru là một cái lý độc nhất, tuyệt đối, bao trùm, rộng lớn vô cùng, gọi là lý thái cực. Lý này sinh ra hai khí âm và dương, rồi hai khí âm dương biến hóa sinh ra muôn loài, muôn vật. Trong ý nghĩa bao trùm khắp thế gian thì lý ấy gọi là Thiên, trong ý nghĩa chủ tể muôn loài, muôn vật thì lý ấy gọi là Đế hoặc Thiên Đế. Lý thái cực siêu việt vô cùng, không sao biết được cái tĩnh thể mà chỉ biết được cái động thể do lý thể hiện ra ngoài mà thôi. Đạo Nho xét cái động thể của lý để xây dựng tông chỉ, lấy thiên lý làm cơ bản, nhận có Trời làm chủ tể, chủ trương con người phải sống theo mệnh Trời.

Tuy không tán thành cách viết lịch sử Việt Nam của học giả Trần Trọng Kim (1882 – 1953), nhưng tôi nể trọng các khảo cứu của ông về đạo Nho. Trong cuốn Nho Giáo, Lời phát đoan, học giả Trần Trọng Kim viết:

“Khổng Tử ngắm cảnh tượng của tạo hóa mà xét việc cổ kim, đạt được lẽ biến hóa của trời đất. Ngài muốn người ta theo cái lẽ ấy mà hành động, khiến cho nhân sự và thiên lý cùng thích hợp với nhau theo đạo thái hòa trong vũ trụ. Ngài tin rằng người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất, tất là cùng với trời đất có thể tương cảm tương ứng với nhau được. Sự tương cảm tương ứng ấy lúc nào cũng có, nhưng khi ta để lòng tư dục mạnh lên, rồi chỉ dùng lý trí mà tính toán những điều hơn thiệt của mình thì cái tinh thần rối loạn đi, cái trực giác thành ra ám muội, dẫu có cảm có ứng, ta cũng không biết được. Nhưng nếu ta biết nén tư dục xuống, giữ cho lúc nào cũng có thái độ điều hòa, cái bình hành hoàn toàn, thì cái trực giác thành ra mẫn nhuệ, trông cái gì thấy ngay được đến phần rất sâu xa, u uẩn.

Giữ được thái độ điều hòa và cái bình hành hoàn toàn, tức là giữ được cái trung. Cứ ở trong cái trung ấy mà hoạt động mà lưu hành theo thiên lý, rồi cứ đôn đốc tình cảm cho thật hậu thì tất là đến bậc nhân. Người nào tu dưỡng đến bậc nhân thì tinh thần rất hoạt động, xem xét điều gì cũng biết rõ thật hư, và sự hành vi bao giờ cũng hợp với đạo thái hòa của trời đất. Đã nhân mà lại thành là bậc thánh. Thành là chân thực, đúng như cái lý tự nhiên của trời đất. Người chí thành tức là người đã khiến mình trở nên thuần túy như nguyên tính của Trời phú cho, thì tự khắc biết được hết cái tính của muôn vật, và có thể giúp sự hóa dục của trời đất mà sánh ngang với trời đất. Bởi thế cho nên mới gọi là thánh. Tông chỉ đạo Khổng rút lại chỉ có thế mà thôi. Còn những điều hiếu nghĩa lễ trí trung tín đều bởi đó mà ra cả.

Cứ như ý kiến của Khổng Tử thì vạn vật ở trong vũ trụ cứ biến hóa theo lẽ điều hòa và lẽ tương đối mà lưu hành mãi mãi thì ở đời có việc gì là việc nhất định được. Vậy ta cứ nên tùy thời mà hành động, miễn là lúc nào cũng giữ lấy thái độ điều hòa, cái bình hành hoàn toàn thì sự hành vi của ta bao giờ cũng được trung chính. Làm việc gì cũng giữ cho trung bình, vừa phải, không thái quá, không bất cập, ấy là theo cái đạo trung dung rất phải rất haỵ Khổng Tử đem cái tông chỉ ấy mà lập thành một cái đạo nhân sinh triết học tức là cái đạo luân lý rất êm ái, rất hòa nhã, đủ làm cho người ta có cái vẻ thư thái vui thú, không có những điều lo sợ buồn bã”.

Phần trích thiên Thiên Lý:

Mạnh Tử nói:

Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.

(Thuận theo Trời thì còn, nghịch Trời thì mất).

Gia Cát Khổng Minh nói:

Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Nhân nguyện như thử, thiên lý vị nhiên, vị nhiên.

(Mưu việc ở người nhưng thành hay không là ở Trời. Người muốn như thế, lẽ Trời chưa thế thì là chưa thế).

Sách Tích Hiền:

Nhược nhân tác bất thiện đắc hiển danh giả,

Nhân bất hại thiên tất tru chi.

Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu.

Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu.

Thâm canh thiển chủng, thượng hữu thiên tai.

Lợi kỷ tổn nhân, khởi vô quả báo.

Nghĩa:

Nếu như người làm ác mà được rạng danh,

Người không hại họ thì Trời tất phải diệt họ.

Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.

Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt,

Cày sâu cuốc bẩm, trồng cây (cạn), vẫn còn bị thiên tai.

Lợi cho mình mà hại cho người, há không bị quả báo chăng?

Phàm sống ở đời thì ai cũng có bạn: có người có nhiều bạn, có người có ít bạn; rồi trong nhóm bạn lại có nhiều loại: bạn nối khố,bạn đời, bạn trăm năm, bạn vàng, bạn thân, bạn học, bạn … xã giao, bạn “bốn phương”, bạn đãi bôi, bạn nhậu, bạn “bèo giạt, mây trôi”, bạn”đá cá, lăn dưa” nhưng nói chung, không thể gọi là sống nếu không có bạn.

Trong kỳ cắm trại vừa qua, do anh Tô Minh Toàn tổ chức, có một anh CTKD4 nói với tôi một ý thật chí lý, càng nghĩ càng ngấm. Ý đó lấy trong Minh Tâm Bảo Giám, Thiên XVIII, “Ngôn ngữ”:

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu,

Thoại bất cơ đầu bán cú đa!

(Uống rượu mà gặp người hiểu mình thì một ngàn chén vẫn là ít,

Nói chuyện mà không ăn ý với nhau thì nửa câu cũng là nhiều!)

Ca ngợi tình bạn thì xưa nay chưa có câu chuyện nào hay cho bằng tiếng đàn tri âm của Bá Nha và Tử Kỳ: khi Tử Kỳ mất, Bá Nha đập vỡ đàn, thề không bao giờ đàn nữa vì thiếu bạn tri âm. (xin hẹn lúc khác sẽ viết chu đáo hơn về hai người này)

Có bạn là điều đương nhiên trong đời sống của mọi người. Ảnh hưởng khá quan trọng của bạn đối với mỗi người chúng ta là điều không nên coi thường vì vậy, “chọn bạn mà chơi” hoặc ”gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là điều cần lưu ý.

Thiên XI: Tỉnh Tâm (xét lòng mình – tỉnh: bộ Mục: con mắt), Minh Tâm Bảo Giám, Thư Kinh viết:

Thủy để ngư, thiên biên nhạn. Cao khả xạ hề, đê khả điếu.

Duy hữu nhân tâm chỉ xích gian. Chỉ xích nhân tâm bất khả liệu. Thiên khả đạc, địa khả lượng. Duy hữu nhân tâm bất khả phòng.

Họa hổ họa bì nan họa cốt,

Tri nhân tri diện bất tri tâm,

Đối mặt dữ ngữ, tâm cách thiên san!

Nghĩa:

Cá ở đáy nước, chim nhạn ở ven trời. Bay cao có thể bắn, lặn sâu có thể câu.

Lòng người chỉ có gang tấc ngắn ngủi thôi. Lòng người ngắn như gang tấc nhưng không thể liệu chừng được. Trời có thể đo, đất có thể lường. Chỉ có lòng người là không thể đề phòng được.

Vẽ cọp, vẽ da nhưng khó vẽ xương được,

Biết người, biết mặt nhưng không thể biết lòng người đó được.

Gặp nhau, nói chuyện mà lòng thì xa cách ngàn trùng!

Nếu ai muốn biết quan điểm của người xưa về bạn thì xin mời đọc các câu trích từ Thiên XIX: Giao Hữu (Kết Bạn), Minh Tâm Bảo Giám như dưới đây.

1. Khổng Tử nói:

Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất, cửu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hóa hĩ. Dữ bất thiện nhân cư như nhập bào ngư chi tứ, cửu nhi bất văn kỳ xú, diệc dữ chi hóa hĩ.

Đan chi sở tàng giả xích. Tất chi sở tàng giả hắc. Thị dĩ quân tử tất thận kỳ sở dữ xử.

Nghĩa:

Gần gũi người thiện thì như vào nhà có cỏ thơm và hoa lan, ở lâu trong nhà nên không thấy thơm bởi vì mình cũng đã hóa thơm rồi. Gần gũi người ác thì như vào cửa hàng cá ươn, ở lâu trong đó nên không thấy hôi thối bởi vì mình cũng đã hóa tanh rồi.

Son vốn đã có sẵn màu đỏ. Sơn vốn đã có sẵn màu đen. Vì vậy người quân tử phải thận trọng trong giao du, thân cận.

2. Gia ngữ viết:

Dữ hảo nhân xử như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y thời thời tư nhuận.

Dữ vô thức giả xử như xí trung tọa, tuy bất ô y thời thời văn xú.

Dữ ác nhân xử như đao kiếm trung lập, tuy bất thương nhân thời thời kinh khủng.

Nghĩa:

Chơi với người tốt như đi trong sương mù, tuy áo không ướt nhưng lúc nào cũng tươi mát.

Chơi với người không biết phải quấy như ngồi trong cầu tiêu, tuy áo không dơ nhưng lúc nào cũng nghe thấy hôi thối.

Chơi với người ác như đứng trong rừng đao kiếm, tuy thân người chưa bị thương nhưng lúc nào cũng sợ hãi.

3. Thái Công nói:

Cận châu giả xích, cận mặc giả hắc

Cận hiền giả minh, cận tài giả trí

Cận trí giả minh, cận ngu giả ám

Cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc

Nghĩa:

Gần son thì đỏ, gần mực thì đen

Gần người hiền thì sáng, gần người giỏi thì khôn ngoan

Gần người hiểu biết thì sáng, gần người ngu thì tối tăm

Gần người nịnh thì bợ đỡ, gần người ăn cắp thì thành kẻ trộm cướp

4. Kê Khang nói:

Hung hiểm chi nhân, kính nhi viễn chi

Hiền đức chi nhân, thân nhi cận chi

Bỉ dĩ ác lai, ngã dĩ thiện ứng

Bỉ dĩ khúc lai, ngã dĩ trực ứng

Khởi hữu oán chi tai?

Nghĩa:

Đối với người hung ác và hiểm độc thì biết sợ mà tránh xa người đó.

Đối với người hiền đức thì thân mật mà gần gũi

Kẻ nào dữ với mình thì mình lấy thiện đáp lại

Kẻ nào lươn lẹo với mình thì mình lấy ngay thẳng đáp lại

Như vậy làm sao có oán thù được?

5. Mạnh Tử nói:

Trách thiện, bằng hữu chi đạo dã

(Đòi hỏi bạn phải tốt chính là cái đạo bạn bè vậỵ)

6. Tống Hoằng nói:

Tửu thực huynh đệ thiên cá hữu

Cấp nạn chi thời nhất cá vô

Bất kết tử hoa hưu yếu chủng

Vô nghĩa chi bằng thiết mạc giao

Quân tử chi giao đạm nhược thủy

Tiểu nhân chi giao điềm như mật

Nghĩa:

Bạn bè lúc ăn nhậu thì nhiều vô số

Khi bị nạn cần gấp thì không có ma nào

Cây mà không kết hoa thì đừng nên trồng

Bạn bè mà không biết phải quấy thì không nhất thiết phải giao du

Người quân tử giao tình nhạt như nước lạnh (vì thành thực)

Kẻ tiểu nhân giao tình ngọt như mật. (để dụ dỗ, lừa gạt)

*Phần chú thích nhân vật:

1) Khổng Tử: tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ, chủ trương dùng lòng nhân để cai trị xã hội. Ngài có công lớn trong việc san định các tư tưởng của thánh hiền và lập thành hệ thống để truyền bá nên được tôn xưng là ông tổ của đạo Nho và ông thầy của muôn đời (vạn thế sư biểu).

2) Cảnh Hạnh Lục: sách viết về những tính nết (hạnh) rất tốt đẹp (cảnh); lấy ý từ Kinh Thi: Thái sơn ngưỡng chỉ. Cảnh hạnh hành chỉ (Ngửa trông núi Tháị Làm theo hạnh dẹp)- Kinh Thi là một trong Ngũ Kinh của đạo Nho, chép các câu ca dao của Trung quốc thời thượng cổ, phản ảnh tính tình, phong tục và chính trị thời đó.

3) Mạnh Tử: tên Kha, người nước Trâu, học trò của cháu Khổng Tử (Tử Tư). Thầy Mạnh có tài hùng biện, chủ trương Vương đạo, tính con người sinh ra vốn thiện. Thầy là nhân vật cự phách của đạo Nho, được tôn xưng là Á Thánh.

4) Gia Cát Vũ Hầu: tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, quân sư cho nước Thục thời Tam quốc.

5) Thiệu Khang Tiết (1011 – 1017 ?) tức Thiệu Ung, người đời Tống, tự là Nghiêu Phu, hiệu Khang Tiết và An Lạc tiên sinh. Ông là người đức học rộng, không ưa danh lợi, thuộc trường phái Trần Đoàn, rất giỏi về kinh Dịch, viết các sách Hoàng Cực Kinh Thế, Tiên Thiên Đồ.

6) Tử Hạ: họ Bốc, tên Thương, người thời Xuân Thu, học trò của Khổng Tử, có tài ăn nói và được liệt vào số 72 người hiền.

7) Liệt Tử: tức Liệt Ngự Khấu, người nước Trịnh, triết gia thời Chiến quốc (khoảng thế kỷ IV trước Tây lịch), thuộc Đạo giạ Sách Liệt Tử là do các học trò chép lại, có 8 thiên.

8) Tăng Tử: tức Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử. Tăng Sâm rất có hiếu, lấy hiếu làm gốc cho mọi đức tính khác. Ông là một trong 72 người hiền, cùng các học trò khác soạn bộ Luận Ngữ và Hiếu Kinh.

9) Thái Công: tức Lữ Thương,phò vua Chu Vũ Khương diệt Ân Trụ, được phong làm Tề Hầu, đời sau tôn xưng làm Thái Công Vọng.

10) Tính Lý Thư: sách triết học nổi tiếng của đạo Nho thời Tống, ghi lại học vấn của Trình Tử, Chu Tử, phổ biến rộng rãi trong giới Nho học. Ngoài ra còn có bộ Tính Lý đại toàn gồm 70 quyển do nhóm Hồ Quảng đời Minh vâng theo sắc chỉ của nhà vua soạn ra, sưu tầm lời của 120 nhà Tống Nho phân chia làm 13 loại: Lý khí, Quỷ thần, Tính lý, Đạo thống, Thánh hiền, Chư Nho, Học, Chư Tử, Lịch đại, Quân đạo, Trí đạo, Thi, Văn.

11) Tố Thư: bộ sách một quyển đề là Hoàng Thạch Công soạn. Trương Thương Anh, tể tướng đời Tống chú thích. Tương truyền Trương Tử Phòng đời Hán được Hoàng Thạch Công trao cho sách này bên cầu Dĩ. Đại ý của sách là lấy Đạo, Đức, Nhân, Nghĩa, Lễ tóm thâu làm một thể. Họ Trương chú thích đều dùng học thuyết của Lão Tử để làm lời huấn thích. Bút pháp từ đầu đến cuối sách một khuôn như nhau nên người ta ngỡ là ngụy tác của Trương Thương Anh.

12) Đại Học: là một trong các sách kinh điển của đạo Nho,dạy đạo người quân tử, gồm hai phần: Kinh là lời dạy của Khổng Tử và Truyện là lời giảng giải của Tăng Tử.

13) Tuân Tử: tên Huống, tự là Khanh, người nước Triệu thời Chiến quốc, sinh sau Mạnh Tử khoảng 50 năm, là triết gia cự phách của đạo Nho; lập ra phái hình pháp mà học trò sau này là Hàn Phi Tử và Lý Tự Sách của ông để lại là bộ Tuân Tử gồm có 32 thiên.

14) Trung Dung: là một thiên trong Lễ Ký, ghi lại những lời tâm pháp của Khổng Tử, được cháu Ngài là Tử Tư chép thành sách.

15) Trần Hi Di, tức Trần Đoàn, người thời Tống (thế kỷ X), rất tinh thâm Dịch Lý, nổi tiếng khoa thuật số học, thuộc phái Đạo giạ.

16) Kê Khang (223-263) là triết gia, văn sĩ đời nhà Tấn, một trong Trúc lâm thất hiền (bảy người hiền trong rừng trúc), thuộc phái Thanh Đàm, sống theo đạo của Lão Tử và Trang Tử. Theo sách Thế thuyết tân ngữ: Kê Khang nổi tiếng, được sánh với núi ngọc, với cây tùng.

Lễ – của Khổng Tử và Nho gia

Lễ – của Khổng Tử và Nho gia

Lễ – của Khổng Tử và Nho gia
Le – cua Khong Tu va Nho gia

Chữ Lễ là một thành phần quan trọng trong triết học của Nho giáo. Nói của Nho giáo cũng không đúng vì nó có trước đó, và Khổng Tử lấy thuật làm tác để hệ thống và nâng tầm chữ Lễ. Về sau, các môn đệ của Nho gia, mỗi người tùy theo cái sở trường của mình và định nghĩa và phát huy lại chữ Lễ.

Bên cạnh đó, các học phái khác như Mặc gia, Lão Trang, Dương chu, Pháp gia và Hàn Phi v.v vì cạnh tranh và khác nhau với Nho học mà cũng có ít nhiều phản bác chữ Lễ. Thế nhưng, chúng ta phải hiểu suyên suốt tư tưởng triết học của các học phái để từ đó mới có cái nhìn xuyên suốt. Tư tưởng của học phái nào, nhập thế, xuất thế, vô vi ra làm sao để từ đó mới thẩm định những lời phản bác ấy đúng hay sai. Ví dụ với tư tưởng vô vi, xuất thế, tự tại tuyệt đối của Trang Tử,  thì việc phản bác không cần Nhân – Nghĩa của Nho giáo là điều hiển nhiên. Kẻ hậu học bây giờ rất hồ đồ, dùng Lão Trang phản bác Nhân – Nghĩa Khổng Tử. Dùng Mặc học chỉ trích Lễ Nhạc của Khổng Tử là Kiến thủ, một trong năm ác kiến do nhà Phật định nghĩa.

Phần I: Chữ Lễ của Khổng Tử

A- Theo sách Nho giáo trọn bộ – Trần Trọng Kim

Chữ lễ trước tiên chỉ dùng để nói cách thờ thần cho được phúc, tức là chỉ có nghĩa cúng tế, thuộc về đường tông giáo mà thôi. Sau dùng rộng ra, nói gồm cả những qui củ mà phong tục và tập quán của nhân quần xã hội đã thừa nhận, như: quan, hôn, triều, sính, tang, tế, tân chủ, hương ẩm tửu, quân lữ. Sau cùng chữ lễ lại có cái nghĩa thật rộng nói gồm cả cái quyền bính của vua và cái tiết chế sự hành vi của nhân chúng. Cái nghĩa ấy bao quát cả những việc thích hợp với cái lẽ công chính của đạo lý và lẽ thích nghi của sự lý. “Lễ giã giả, nghĩa chi thực giã. Hiệp chư nghĩa nhi hiệp, tắc lễ tuy tiên vương vị chi hữu, khả dĩ nghĩa khởi giã: lễ là cái thực của nghĩa. Hợp với các điều nghĩa mà hợp, thi lễ tuy tiên vương chưa đặt ra, nhưng cũng có thể lấy nghĩa mà khởi sáng ra được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX). Vậy lễ với lý và nghĩa là một, có thể lấy làm qui củ cho sự hành vi, có thể tùy thời mà thay đổi cho hay hơn, tốt hơn, không phải cố chấp lấy cổ lễ cựu tục làm hạn. Chữ lễ hiểu nghĩa rộng như thế mới đúng với cái tông chỉ của Khổng giáo. Tông chỉ ấy cốt nhất là hàm dưỡng những tình cảm cho thật hậu, để gây thành cái tập quán đạo đức cho đến bậc nhân.

Theo cái nghĩa rộng, chữ lễ đã định rõ trên kia, thì tác dụng của lễ có thể chia ra làm bốn chủ đích như sau này:

1. Chủ đích thứ nhất là để hàm dưỡng tính tình. Nguyên Khổng giáo vốn là cái học trọng tình cảm, cho nhân sự đều bởi tình cảm mà sinh ra. Vậy nên thánh nhân rất chú ý về việc gây nên nhiều tình cảm rất tốt, rất hậu, tức là gây thành cái gốc đạo nhân. Cái nghĩa tối cổ chữ lễ thuộc về việc tế tự vẫn quan hệ đến đạo đức. Vì việc tế tự có thể gây thành cái trạng thái có nhiều tình cảm rất hậu. […]
Khổng giáo dùng lễ là cốt tao thành ra một thứ không khí lễ nghĩa, khiến người ta có cái đạo đức tập quán để làm điều lành, điều phải, mà vẫn tự nhiên không biết. Sách Lễ ký, thiên Đàn cung hạ chép chuyện người Chu Phong thưa với Lỗ Ai công rằng: “Khư mộ chi gian, vị thi ai ư dân nhi dân ai; xã tắc tông miếu chi trung, vị thi kính ư dân nhi dân kính: ở chỗ mồ mả, chưa dạy dân phải thương mà dân tự nhiên có lòng thương; ở chỗ xã tắc tông miếu, chưa dạy dân phải kính mà dân tự nhiên có lòng kính, ở chỗ mồ mả thì có cái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì có cái không khí tôn kính, ai đã hô hấp cái không khí ấy thì rồi tự hóa theo mà không biết. Khổng giáo dùng lễ tức là để gầy thành ra cái không khí đạo đức vậy.

2-Cái chủ đích thứ hai là để giữ những tình cảm cho thích hợp đạo trung. Gây thành ra những tình cảm rất tốt, rất hậu, là một điều rất trọng yếu của Khổng giáo. Nhưng cứ để cho tình cảm được tự do hành động thì thường sinh ra lắm điều chếch lệch, phi thái quá thì bất cập. Vậy nên phải lấy lễ mà khiến sự hành vi của người ta cho có chừng mực, để lúc nào cũng hợp với đạo trung. Khổng tử nói: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo: cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không có lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã.” (Luận ngữ: Thái Bá, XIII).
[…]
Khổng giáo thỉ chung làm việc gì cũng cần lấy đạo trung; nếu không có lễ để làm tiêu chuẩn cho sự hành vi thì biết thế nào là trung được. Vậy nên Khổng tử nói rằng: “Lễ hồ, lễ hồ, sở dĩ chế trung giã: lễ vậy ôi, lễ vậy ôi, để chữa cho vừa đạo trung vậy.” (Lễ ký: Ai công vấn, XXVIII).

Cái chủ đích thứ hai này quan hệ với cái chủ đích thứ nhất mật thiết lắm, vì là các tông chỉ Khổng giáo không những là khiến người ta phải có tình cảm rất tốt, rất hậu mà thôi, nhưng lại khiến những tình cảm ấy phải điều hòa cho hợp đạo trung. Đó là quan niệm tối trọng yếu trong Khổng giáo, bởi vì người ta có giữ được tầm tính cho công chính và làm việc gì cũng đắc kỳ trung thì mới là nhân được

3- Cái chủ đích thứ ba là định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự, trên dưới cho phân minh. Ở trong xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có người thân kẻ sơ, có việc phải việc trái, cho nên phải có lễ để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến người ta biết đường ăn ở cho phải đạo: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị, minh thị phi giã: lễ là để định thân sơ, quyết sự hiềm nghi, phân biệt chỗ giống nhau khác nhau, rõ lẽ phải trái”. (Lễ ký: Khúc lễ thượng, I). Lễ là cốt để phân ra trật tự, khiến cho vạn vật không có điều gì hồ đồ hỗn độn. “Phù lễ giả sở dĩ chương nghi biệt vi, dĩ vi dân phường giả giã. Cố quí tiện hữu đẳng, y phục hữu biệt, triều đình hữu vị, tắc dân hữu sở nhượng: lễ là dùng để làm cho rõ điều ngờ, biện bạch những điều vi ẩn, để làm sự phòng giữ cho dân. Cho nên người sang người hèn có bậc, y phục có phân biệt, có chỗ triều đình có ngôi thứ, thì dân mới có đức nhượng”. (Lễ kỷ: Phương ký, XXX).
[…]
Lễ dùng về phương diện phân tôn ti trật tự, tức là phép tắc để tổ chức luân lý ở trong gia đình, xã Hội và quốc gia vậy.

4-Chủ đích thứ tư là để tiết chế cái thường tình của người ta. Sách Lễ ký, thiên Nhạc ký nói rằng: “Nhân sinh nhi tĩnh, thiên chi tính giã. Cảm ư vật nhi động, tính chi dục giã. Vật chí tri tri, nhiên hậu hiếu ố hình yên. Hiếu ố vô tiết ư nội, tri dụ ư ngoại, bất năng phản cung thiên lý diệt hỹ: người ta sinh ra vốn tĩnh, đó là tính trời. Cảm với vật ở ngoài mà động, là cái muốn của tính. Vật đến thì cái biết của mình biết, nhiên hậu cái hiếu, cái ố, mới hình ra. Cái hiếu, cái ố mà không có tiết chế ở trong, cái biết của mình bị ngoại vật dẫn dụ, cứ thế mà không nghĩ lại, thì thiên lý tiêu diệt vậy”. Cứ theo Khổng giáo thì người ta bẩm thụ cái tính của Trời, cái tính ấy cảm xúc với ngoại vật mà động; tính động thành ra tình. Tình thì ai cũng có nhưng nếu không có cái gì để tiết chế, thì rồi bị ngoại vật làm cho đến mất cái thiên tính đi. Bởi vậy Khổng tử nói: “Phù lễ, tiên vương dĩ thừa thiên chi đạo, dĩ trị nhân chi tình: lễ là tiên vương vâng theo cái đạo của Trời để trị cái tình của người” (Lễ ký: Lễ vận, IX).

Khổng giáo vốn lấy tình cảm làm trọng, nhưng vẫn biết cái tình cảm của người thường mà không có hạn chế thì thành hư hỏng. Khổng tử nói: “Trung nhân chi tình hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm, vô cấm tắc dâm, vô độ tắc thất, túng dục tắc bại. Cố ẩm thực hữu lượng, y phục hữu tiết, cung thất hữu độ, súc tụ hữu số, xa khí hữu hạn, dĩ phòng loạn chi nguyên giã: cái thường tình của hạng người trung nhân, hễ có thừa thì xa xỉ, không đủ thì sẻn, không ngăn cấm thì dâm đãng, không theo tiết độ thì sai lầm, buông thả lòng dục thì hư hỏng. Cho nên ẩm thực phải có hạn lượng, y phục phải có tiết chế, cửa nhà phải có pháp độ, súc tụ phải có số thường, xe cộ và đồ dùng phải có ngữ có hạn, là để giữ phòng cái nguồn loạn vậy” (Khổng tử tập ngữ: Tề hầu vấn, XIII).

Vì vậy mới theo thường tình của người ta mà đặt ra văn vẻ để giữ cho người ta khỏi làm bậy: “Lễ giả, nhân nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả giã”, lễ là nhân cái thường tình của người ta mà đặt ra tiết độ; văn vẻ, để làm cái ngăn giữ cho dân”. (Lễ ký: Phường ký, XXX). Nhưng cái tình của người ta thường ẩn khuất ở trong bụng không sao biết được, chỉ có dùng lễ thì mới ngăn giữ được mà thôi: “Ẩm thực, nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên; tử vong, bần khổ, nhân chi đại ố tồn yên. Cố dục ô giả, tâm chi đại đoan giã, nhân tàng kỳ tâm, bất khả trắc đạc giã; mỹ ác giai tại kỳ tâm, bất kiến kỳ sắc giã. Dục nhất dĩ cùng chi, xả lễ hà dĩ tai: cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ, bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố, là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở cả trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ lễ thì lấy gì mà biết được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX) […]

Sự giáo hóa của lễ tinh vi lắm và có hiệu quả rất sâu xa: “Lễ chi giáo hóa giã vi, kỳ chỉ tà giã ư vị hình, sử nhân nhật tỉ thiện, viễn tội, nhi bất tự tri giă: sự giáo hóa của lễ rất cơ mầu, ngăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra, khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện, tránh xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI). Vì thế cho nên thánh nhân rất chuộng lễ: Phù lễ cấm loạn chỉ sở do sinh, do phương chỉ thủy chi tự lai giã: lễ là cấm sự loạn sinh ra, như đường đê giữ cho nước không đến vậy”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI). Người giàu sang biết lễ thì không dâm tà, không kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy. Người làm vua làm chúa có biết lễ thì mới biết trị nước yên dân. Nói rút lại: “Lễ chi ư chính quốc giã, do hành chi ư khinh trọng giã, thằng mặc chi ư khúc trực giã, qui củ chi ư phương viên giã: lễ đối với việc sửa nước cũng như cái cân đối với việc nặng nhẹ, cái dây đối với vật thẳng vật cong, cái qui cái củ đối với vật tròn vật vuông vậy”. (Lễ ký: Kinh giải, XXVI).

————-   
Xét kỹ bốn cái chủ đích đã nói trên kia, thì biết rõ tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi, đủ chứng là tâm lý học của Khổng giáo sâu xa vô cùng. Hồ Thích Chi nói trong sách “Trung Quốc triết học sử” rằng: “Trong cái nghĩa rộng chữ lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái qui củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ là làm thì phải tội. Người làm điều trái lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử”. Lời ấy nói riêng vể cái chủ đích thứ tự thì rất phải lắm.

Dùng lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra, mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng lễ, chứ không trọng hình: “Phàm nhân chi tri, năng kiến dĩ nhiên, bất kiến tương nhiên. Lễ giả cấm, ư tương nhiên chi tiền, nhi pháp giả cấm ư dĩ nhiên chi hậu… Lễ vân, lễ vân, quí tuyệt ác ư vị manh, nhi khởi kính ư vi diểu, sử dân nhật tỉ thiện viễn tội nhi bất tự tri giã: phàm cái biết của người ta chỉ biết cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sai cái đã có rồi… Lễ vậy, lễ vậy, lễ quí là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Đại Đái Lễ ký: Lễ tế).

Lễ – của Khổng Tử và Nho gia

B- Theo sách Lịch sử triết học Trung Quốc – Tập I: Thời đại Tử học. Tác giả: Phùng Hữu Lan, Lê Anh Minh biên dịch
Về Lễ & Nhạc Luận Ngữ  chép:
– Lâm Phóng hỏi về gốc của Lễ, Khổng Tử nói: “Câu hỏi này trọng đại lắm. Lễ mà xa xỉ thì tiết kiệm còn hơn. Tang mà chỉ lo nghi thức thì đau buồn còn hơn“ (Luận Ngữ – Bát Dật)
– Cái dụng của Lễ là lấy hòa làm quí. Cái đạo của tiên vương nhờ hòa mà đẹp (Luận Ngữ – Học Nhi)
– Lễ ư? Lễ ư? Ngọc và lụa là lễ ư? Nhạc ư? Nhạc ư? Chuông và trống là nhạc ư? (Luận Ngữ – Dương chính – LAM chú: Khổng Tử phê bình sự thi hành lễ nhạc chỉ vụ vào hình thức.)
Trong đoạn kể trên, Khổng Tử giảng về Lễ và Nhạc đã chú trọng đến gốc của lễ và nguyên lý của nhạc, chứ không phải chỉ giảng về hình thức, tiết tấu mà thôi
[….]
Trực – Nhân – Trung – Thứ
Trên đây đã nói Khổng Tử chú trọng gốc của Lễ. Tử Hạ hỏi: “Kinh Thi nói: Miệng xinh chúm chím cười, long lanh mắt sáng ngời. Trên nền trắng vẽ màu sặc sỡ. Như vậy là có nghĩa gì?“. Khổng Tử đáp: “Nền trắng có trước rồi ta mới vẽ lên sau“. Tử Hạ: „“Tức là lễ có sau [Nhân và Nghĩa] chăng?“. Khổng Tử nói: “Bốc Thương à, trò là người phát khởi được ý ta, có thể cùng ta thảo luận về Kinh Thi rồi đó“
Tử Hạ nhờ có câu“nền trắng có trước rồi ta mới vẽ lên sau“ mà hiểu rằng “lễ có sau“. Người ta tất phải có tính tình chân chính rồi sau mới thực hành lễ. Cũng như gái đẹp, trước phải cười duyên liếc khéo, rồi sau đó mới trang điểm cho đẹp. Nếu không, lễ chỉ là hình thức hư ngụy, đã không đủ quí mà còn đáng khinh. Vì thế, Khổng Tử nói:
–   Kẻ bất nhân thì theo lễ làm gì? Kẻ bất nhân thì theo nhạc làm gì? (Luận Ngữ – Bát Dật).
Người bất nhân không có tính tình chân chính, cho nên làm theo lễ nhạc chỉ là làm tăng thêm giả dối
–   Người quân tử lấy nghĩa làm bản chất, theo lễ mà làm, từ tốn mà nói năng, lấy trung tín mà làm nên việc (Luận Ngữ – Vệ Linh Công)
Vậy lễ và chất phác phải phối hợp với nhau cùng thi hành
[…]

Thời xưa, chữ lễ rất rộng. Ngoài ý nghĩa như hiện nay, chữ lễ còn bao hàm tất cả phong tục, tập quán, chế độ, chính trị, tổ chức, xã hội. Tử Sản nói: „“Lễ là qui phạm của trời, là chuẩn tắc của đất, là hành động của dân“. Sách Trang Tử, thiên Thiên Hạ chép: “Lễ dẫn dắt hành vi“. Hễ qui tắc nào liên quan đến hành vi của con người đều thuộc về lễ.[…]

Đồng thời, Khổng Tử chú trọng gốc của Lễ nên nói đến thẳng thắn (Trực). Nói đến thẳng thắn tức là nhấn mạnh sự tự do của tính tình cá nhân, nói đến lễ là nhấn mạnh sự ràng buộc của các ước lệ xã hội đối với cá nhân. Cái trước là ý tưởng mới của Khổng Tử, cái sau vốn là qui tắc có từ xưa. Bậc quân tử trong lý tưởng của Khổng Tử là người có thể lấy tính tình chân thật mà làm theo lễ.

[…] Nhân là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong tư tưởng Khổng Tử […]  Người có lòng nhân là người có tính tình chân thật nhất và phát ra hợp lễ […] Nhan Uyên hỏi về nhân, Khổng Tử nói: “Khắc kỉ phục lễ  (Kềm chế bản thân và theo lễ) là nhân. Một ngày khắc kỉ phục lễ thiên hạ trở về nhân“. Nhan Uyên hỏi : „“Xin hỏi đặc điểm của nhân?“. Khổng Tử nói: „“Cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nói, đừng nghe, đừng làm“ (Luận Ngữ – Nhan Uyên). „“Thẳng thắn mà không ham học [lễ] thì có cái tệ phiền nhiễu“ (Luận Ngữ – Dương Hóa). Cho nên nhân là tính tình chân thực của con người mà khi biểu lộ thì phải hợp lễ mới được

C- Theo sách Khổng học đăng – Phan Bội Châu

Trích dẫn:

Tử viết: nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?
Ngài nói rằng:
Người đã bất nhân thời có làm lễ mà làm sao nên lễ? Người đã bất nhân thời dầu có làm nhạc mà làm sao nên nhạc?
Chữ “lễ”, chữ “nhạc” ở đây, không phải như lễ nhạc quen nói ở đầu miệng ta đâu. Theo ở nơi lẽ trời mà bổ thêm vào tiết văn trật tự gọi là lễ; gốc ở đạo người mà biểu hiện ra ở nơi tiết tấu thanh âm thời gọi bằng nhạc. Vậy nên làm lễ làm nhạc, tất phải gốc ở lòng nhân mà tỏ rõ ra, vậy sau lễ mới nên lễ, nhạc mới nên nhạc. Nên đức Khổng Tử có bài nói rằng: Ví dầu người ta đã bất nhân thời lẽ trời đã mất hẳn, mà đạo người cũng chẳng có gì; nhưng cái lễ nhạc mà nó làm ra đó, chỉ thấy là ngọc lụa chuông trống mà thôi, có gì là lễ nhạc thiệt đâu? Nên Khổng Tử đã có câu nói rằng: “Lễ vân lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai; nhạc vân nhạc vân, chung cổ vân hồ tai!..“
Nghĩa là, gọi bằng lễ đó, há phải thấy ngọc lụa mà gọi bằng lễ đâu, gọi bằng nhạc đó há phải nghe chuông trống mà gọi bằng nhạc đâu!

Hữu tử viết: tín, cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã; cung, cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã; nhân, bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã.
[…] Giao thiệp với người, vẫn nên có thái độ cung kính. Nhưng thái độ ấy, phải theo đúng với lễ; chẳng phải gặp người nào, lúc nào cũng cung kính bướng mà được đâu. Hễ ta dùng thái độ cung kính cho đúng với nghĩa lý tức là lễ (cung cận ư lễ) thời chẳng bao giờ mắc lấy xấu thẹn (viễn sỉ nhục dã). Trái lại, cung kính người mà làm cách siểm nịnh a dua, để lấy lòng những kẻ quyền thế, ấy là trái với lễ đó rồi làm sao viễn được sỉ nhục ru? Chẳng phải thành ra người ty ô vô sỉ hay sao?

Vì vậy, người muốn tự lập, tất phải biết “lễ“. Ngài cũng đã thường có câu nói rằng:
Bất học lễ, vô dĩ lập.
“Lễ“ là cái đám đất vững vàng cho ta đứng. Nếu không biết “lễ”, không dựa vào đâu mà lập được vậy (bất trì lễ, vô dĩ lập).

Bàn đến luân lí ở nơi quốc gia, xưa kia Nho giáo theo về đời chế độ quân chủ, nên luân lí quân thần vẫn là trọng lắm. Nhưng chỉ từ đời Tần trở xuống, một là vì cái độc quân chủ chuyên chế mà chế tạo ra vô số quân quyền; hai là vì cái tội Hán Nho xu siểm mà bày đặt ra vô số sách giả (ngụy thư), nên những câu quân quyền tuyệt đối mà họ lại niết tạo ra những lời đức Khổng Tử. Thậm chí như một thiên Hương Đảng, miêu tả những cái thái độ tôn quân đạt ư cực điểm. Chúng ta thử xem thiên ấy cho kĩ, có được mấy câu thật mấy thầy cao đệ chép ra đâu. Chẳng qua sau khi Tần đốt sách rồi, sách tàn thẻ nát, sứt ngược sứt xuôi, lũ Hán Nho nhân dịp ấy chắp vá vơ thêm cho đạt được cái mục đích siểm chúa cầu vinh, kì thực thời toàn cả thiên ấy chỉ một hai câu đúng mà thôi.
Tác giả xin chứng vào mấy câu thiệt lời đức Khổng Tử thời biết rõ được luân lí Khổng học đối với quân thần.
Tử viết: Sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã.
Ngài nói rằng: Hễ những kẻ thờ vua hết sức làm cho có lễ mạo, là những món người dung tục kia lấy đó làm cách siểm nịnh mà thôi (sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã), chứ theo như đạo sự quân thời chỉ cốt ở “trách nan trần thiện”, còn như lễ tiết ở bề ngoài thời có cần gì đâu.
Xem như bài này thời sự quân tận lễ, đức Thánh vẫn cho là siểm, có đâu như những việc chép ở thiên Hương Đảng, mà bảo rằng Khổng Tử làm như thế? Chẳng phải là oan cho đức Khổng Tử lắm hay sao?

Học giả phải biết chữ “lễ” ở trong bài này, khác với chữ “lễ” ở mọi nơi. Chữ “lễ” như “phục lễ” ở thiên Nhan Uyên, chữ “ước lễ” (thu thúc vào điều lễ) ở thiên Tử Hãn thời “lễ” là lẽ phải của trời; còn chữ “lễ” ở bài này thời chỉ là nghi tiết ở nơi hình thức mà thôi.
Thờ vua mà chỉ chăm chỉ ở nơi nghi tiết, chính là cách siểm nịnh của món tiểu nhân đó.

Định Công vấn: Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà? Khổng Tử đối viết: Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung.
Định Công là vua nước Lỗ hỏi với đức Thánh rằng: Vua sai tôi, tôi thờ phụng vua, như thế nào là phải?
Đức Thánh thưa rằng: Vua với tôi thảy là người nào có chức phận người ấy, chỉ chung gánh việc nước mà thôi, vậy nên vua đối với tôi không có phép ỷ mình là quyền thế vua, nên đến lúc sai sử tôi, tất phải lấy lễ; nghĩa là, những việc không đúng với lẽ phải, không được sai sử tôi ấy là “quân sử thần dĩ lễ”. Tôi phụng thờ vua, chẳng phải kiêng nể ở quyền thế nơi vua, chỉ duy hết nghĩa vụ của mình là lo gánh việc nước- theo như nghĩa vụ mình mà thờ vua, cốt ở lòng ngay thẳng, nên phải “dĩ trung”, nghĩa là những việc gì không đúng đạo thẳng thời không đem ra thờ vua, ấy là: “thần sự quân dĩ trung”.
“Sử thần dĩ lễ”, là dựa vào lễ mà không dựa vào quyền; “sự quân dĩ trung” là cốt ở trung mà không cốt ở nịnh.

Xem như bài này thời đức Thánh đối với đạo “quân thần”, vẫn song song cân ngang như nhau: một phương diện phải có chữ “lễ” thời một phương diện mới có chữ “trung”. Nói trái lại, quân mà “vô lễ” thời thần cũng “bất trung”, đó là lẽ đương nhiên. Ngụ ý của Thánh nhân là tương đối mà không bao giờ tuyệt đối.

*******************     

Xuân Thu Tả Truyện (1)  bàn về đấng quân vương biết “thủ lễ” (giữ việc lễ) như sau:

«Một minh quân thưởng lành, phạt ác trông nom dân chúng như con cái người, che chở dân như trời, cưu mang dân như đất. Dân chúng đối với vị minh quân ấy sẽ thương yêu như con thương yêu cha, ngưỡng vọng tin tưởng người như hai vầng nhật nguyệt, kính tôn người như thần minh, sợ hãi người như sấm sét. Một vị minh quân như thế ai dám truất phế, dám đánh đuổi. Có đấng minh quân thông sáng như thần ấy là nguyện vọng của dân.

«Nhược bằng làm vua mà để dân chúng cùng khốn, để thần minh thiếu khói hương tế tự, thì dân sẽ tuyệt vọng, xã tắc sẽ ngả nghiêng vô chủ. Một nhà vua vô dụng như vậy lẽ nào không truất phế, không đánh đuổi đi.

«Trời sinh ra người, cũng cho họ vua chúa để hướng dẫn để họ khỏi làm hư mất tính Trời. Khi đã có vua chúa, Ngài lại cho người phụ bật chỉ vẽ, để bảo vệ và ngăn ngừa các ngài không được đi ra ngoài phạm vi bổn phận. Vì thế, Thiên tử thì có các công; chư hầu có các khanh; khanh có các trất thất (anh em); đại phu có nhị tông (họ hàng); sĩ có anh em; thứ dân như hàng thợ thuyền buôn bán, dịch lệ, mục tử, tất cả cũng đều có thân quyến để giúp đỡ họ.

Khi làm hay, thì khen thưởng; khi làm dở thì sửa phạt; hoạn nạn thì đỡ đần; lầm lạc thì dắt dìu về đường ngay nẻo chính. Từ Thiên tử đến thứ dân ai cũng có cha, anh, con, em để sửa chữa những lỗi lầm, để xem xét công việc hành chính.

Sử gia chép sách, nhạc quan làm thơ, nhạc công hát những bài châm, bài gián để can ngăn. Các quan đại phu chỉ vẽ cho vua qui tắc đường lối, sĩ tử trần tấu lên những cảm nghĩ của dân về chính sách, chính thể, dân chúng phê bình; các nhà buôn trình bày hàng hóa nơi chợ búa; bách công hiến dâng những công trình sáng tác để nhà vua có ý niệm chính xác về nền hành chính của mình.»

…………….

Vậy thì “Lễ” của Nho giáo chẳng phải là điều nên theo hay sao ?

——————-

CT (1):- Theo truyền thống, Tả truyện thường được coi là tác phẩm của Tả Khâu Minh, và là lời bình cho cuốn Xuân Thu, mặc dầu một số học giả hiện nay vẫn còn tranh luận về điều này. Đa phần học giả nổi tiếng trong số đó, như Dương Bá Tuấn (楊伯峻) cho rằng tác phẩm đã được sáng tác thời Chiến Quốc, và nó đã được hoàn thành không muộn hơn năm 389 TCN.

Nhà sử học hiện đại Trung Quốc là Lê Đông Phương diễn giải về tác giả Tả truyện theo hướng khác. Ông nêu các luận điểm :

1.-Tác giả Tả thị Xuân Thu (tức Tả truyện) không thể là Tả Khâu Minh vì họ của Tả Khâu Minh là Tả Khâu chứ không phải Tả.

2.- Hai chữ Tả truyện có thể không phải là tên người mà là tên địa phương. Tả Thị là quê của danh tướng Ngô Khởi. Ngô Khởi lại là đệ tử của một người học trò của Khổng Tử, tên là Bốc Thương – còn gọi là Tử Hạ. Tử Hạ có sở trường về văn chương.

Có thể chính Tử Hạ mới là tác giả sách này. Ngô Khởi mang bộ sách này về quê Tả Thị. Về sau, bộ sách ấy được các đệ tử của ông mang từ Tả Thị qua nơi khác. Khi sách được truyền bá, người ta quen gọi “Sách Xuân Thu xuất phát từ họ Tả” – và nói gọn lại là Tả thị Xuân Thu, hay Tả truyện.

***************     

TRỌNG TÂM CỦA  CHỮ “LỄ”:

***
(Trích Luận Ngữ)

………………………..

Theo Khổng Tử, con người toàn thiện là người có phẩm chất đạo đức phù hợp với ngũ thường, trong đó nhân tính được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, người quân tử “Có khi còn quyên sinh để giữ trọng đạo nhân” (Hữu sát thân dĩ thành nhân – Luận ngữ, XV, 8), hoặc “Người quân tử lấy đạo nghĩa thành làm căn bản, dùng lễ để thi hành, biểu lộ bằng đức khiên tốn, hoàn thành nhờ chữ tín” (Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi – Luận ngữ, XV, 17).

Vậy Lễ là gì mà có thể làm cho thế giới này trở nên trật tự hài hoà? Lễ trước hết là cái làm cho vạn vật trong thế giới này có được vị thế phù hợp. Do vậy, con người là một trong vạn vật đó cũng phải tuân theo lễ, phải biết ” Khắc kỷ phục lễ”, bởi “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân dùng nhạc sao được?” (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà? Luận ngữ, III, 3), hoặc “Cung kính mà thiếu lễ thì khó nhọc, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương dũng mà thiếu lễ thì loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng gắt” (Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ. Dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giáo – Luận ngữ, VIII, 2).

Như vậy, lễ là cái đóng vai trò điều chỉnh hành vi con người, làm cho con người ứng xử với nhau tốt hơn trên cơ sở lấy “Thứ ” (恕)làm trọng. Nhờ có “thứ” mà con người biết “Điều gì mình không muốn [người khác làm cho mình], chớ áp dụng cho người” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Luận ngữ, XV, 23).

Khi Nhan Uyên hỏi về Nhân, Khổng Tử giải thích: “Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân. Một ngày dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ, cả thiên hạ [chịu cảm hoá] quay về về với điều nhân vậy”

(Khắc kỷ phục lễ vi nhân, nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. Nhân do kỷ nhi do nhân hồ tai? – Luận ngữ, XII, 1).

……………………
http://nhantu.net/BienKhaoTongQuat/LeNghiaLiemSi.htm

A.- ĐỊNH NGHĨA  “LỄ”:-

LỄ (禮)

Lễ là một danh từ rất bao quát, hàm súc rất nhiều ý nghĩa.

1) Lễ trước hết là một danh từ chung bao quát mọi định luật thiên nhiên chi phối vạn vật quần sinh. (Ensemble des lois naturelles)
2) Lễ là nghi lễ, là tất cả các bổn phận con người đối với trời đất, tổ tiên (Céremonies, rites religieux, rituel, céremonial).
3) Lễ là tất cả các quy luật chi phối sinh hoạt tâm thần con người. (Lois morales)
4) Lễ là tất cả các các tổ chức chính trị xã hội (organisation politique et sociale) có thể đem đại hòa, đại thuận đến cho nhân quần.
5) Lễ là những cách cư xử tiếp nhân, đối vật thanh lịch, khéo léo (Bonnes manières, convenances, décence, bonne conduite, bonne tenue, courtoisie, bienséance, politesse).
6) Lễ là phong tục, tập quán hay nói đúng hơn là tất cả những gì gọi là thuần phong mỹ tục (Usages et coutumes, tradition).[3]

Gần đây các học giả Âu Châu, như Escarra,[4] như Needham[5] đã tìm hiểu sâu xa về chữ Lễ.

Các ông cho thấy rằng dân Trung Hoa cũng như các dân tộc khác, xưa nay thường sống theo hai bộ luật.

Một là theo bộ luật tự nhiên, do Hóa công đã ấn định. Bộ luật này được gắn liền vào với tính chất vạn hữu nhân quần. Bộ luật này chi phối vạn hữu từ các vì tinh tú trên trời, đến con người nơi gian thế.

Trung Hoa gọi những định luật tự nhiên là Lễ.

Hai là theo bộ luật nhân tạo, do chính quyền lập ra. Bộ luật này vì là nhân tạo, nên có khi hợp lý có khi không hợp lý và thường có tính cách gò bó, khô khan, cứng cỏi không uyển chuyển như những định luật tự nhiên.

Trung Hoa gọi những định luật tự nhiên này là Pháp, hay Pháp luật.[6]

Từ khi đức Khổng ra đời cho đến khi các Nho gia chân chính sau này, nhất nhất đều chủ trương dạy con theo nững định luật tự nhiên, theo những định luật tâm lý, nhân sinh, tức là phải theo Lễ.

Chủ trương Lễ trị này cũng còn được gọi là Nhân trị.

Chủ trương Lễ trị hay Nhân trị có thể toát lược như sau:

Muốn sống một đời sống cá nhân, gia đình, quốc gia hay xã hội hạnh phúc, ý nghĩa, đầm ấm, hòa hợp, cần phải biết rõ định luật thiên nhiên chi phối vạn vật, chi phối sinh hoạt cá nhân và đoàn thể.

Muốn tìm cho ra những định luật thiên nhiên cần phải:

Biết quan sát ngoại cảnh.
Biết tâm lý.
Khảo lịch sử, phong tục.

Dựa theo lẽ phải.[7]

Có vậy mới suy ra được hoạt động, cư xử lý tưởng. Những định luật thiên nhiên chi phối con người có thể quy kết lại thành 3 đề mục:

1) Con người sinh ra đời cần phải biết thích ứng với hoàn cảnh. Chẳng những thế lại còn phải biết lợi dụng hoàn cảnh để mà sống cho vui, cho mạnh.
2) Mặt khác, con người sinh ra đời còn có nhiệm vụ truyền giòng giống.
3) Những nhiệm vụ chính yếu nhất của con người là phải tiến hóa để tiến tới chân, thiện, mỹ.

Suy ra ta sẽ có những tiêu chuẩn, những định tắc sau đây để hướng dẫn hành vi, sinh hoạt của ta.

1) Phải biết vệ sinh, phải biết hiếu sinh.
2) Phải lo cho có một dòng dõi hoàn hảo, lành mạnh.
3) Phải lo gia tăng sinh lực, trau dồi tình cảm, mở mang trí tuệ, nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, vươn mãi lên theo hướng chân, thiện, mỹ.

Vậy cái hay là cái gì làm cho đời sống ta thêm mạnh, thêm sướng, thêm trật tự, thêm an lạc, thêm hòa hợp,thêm văn minh, thêm tiến bộ.
Cái dở là cái gì làm cho đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia trở nên rối loạn, bệnh hoạn, vô lý.

Nói cách khác, cái gì làm ta sống xứng đáng với danh nghĩa con người, cái gì nâng cao giá trị con người, nâng cao phẩm cách con người, khiến con người tiến về phía tinh thần, trở nên thanh cao là hay.
Cái gì làm con người trở nên cục cằn, ti tiện, gian manh, tàn ác, trở nên thoái hóa giống như muông thú là dở.[8]

Thánh quân, hiền phụ xưa khi lập ra lễ, lập ra những định tắc nhân luân đã dựa trên những tiêu chuẩn thiên nhiên hết sức chắc chắn.

1) Vì thấy trời đất liệt bày lẽ tôn ti trật tự, nên các Ngài minh định rằng xã hội này cần phải có tôn ti trật tự, mới có thể sống thái bình hoan lạc, vì thế nên các Ngài đã minh định phận vụ cho mỗi hạng người.[9]

2) Các Ngài minh định rằng con người cần phải theo định luật tự nhiên thì mới có thể có đời sống hay, đẹp; mà đã nói đến định luật thì phải nói đến tiết độ. Cho nên các Ngài suy ra rằng con người không thể sống một cuộc đời buông thả, nhưng làm gì cũng có một chừng mực, tiết độ.[10]

3) Các Ngài minh định rằng con người sinh ra ở đời cần phải nhân nhượng lẫn nhau, kính trọng lẫn nhau, mới có thể đi đến chỗ đại hòa, đại thuận.
Nếu phàm gặp trường hợp bất đồng ý kiến nào, người xưa cũng cố điếu đình, nhân nhượng để đi đến cỗ ý hiệp tâm đầu tránh mọi chuyện đổ vỡ. Chính vì thế mà ta thường hay nói: Lễ nhượng.[11]

4) Các Ngài cũng chủ trương rằng muốn được lòng người khác, con người ta phải luôn luôn khiêm cung, nhún mình, trọng người. Chính vì thế mà khi nói đến Lễ, ta thường liên tưởng đến hai chữ Lễ phép, Lịch sự.[12]
5) Các Ngài cũng thường quan niệm rằng thuần phong, mỹ tục chính là kinh nghiệm của tiền nhân. Chúng gói ghém tất cả những cách thức tốt đẹp để đối phó với mọi hoàn cảnh, để giải quyết mọi công việc, vì thế cần phải bảo trọng.[13]

Tóm lại nếu mọi người trong một quốc gia xã hội biết giữ LỄ là :

– Sống theo những định luật tự nhiên.
– Không tự do buông thả.
– Biết lo trau dồi tâm thần cho một ngày một nên cao khiết, trang nghiêm.
– Nhường nhịn nhau kính trọng lẫn nhau, lịch sự tử tế với nhau.
– Sống theo điều hay lẽ phải thì sẽ đem đến cho mình một đời sống xứng đáng, sẽ tạo cho quốc gia xã hội một quang cảnh hạnh phúc, đầm ấm, hòa hợp.[14]

Mới hay Lễ chi phối mọi hành vi cử chỉ của con người, những cách giao tiếp của con người. «Lễ không cho phép đi quá trớn, quá giới hạn, mực thước đã qui định, không cho phép xâm phạm quyền lợi của người khác, vũ nhục, khinh khi hay sàm sở với người khác.» [15]

Hiểu Lễ là những định luật tự nhiên, là những cử chỉ, những cách đối đãi đẹp đẽ mà muôn thế hệ đã lọc lõi, lưu truyền lại trong các nếp sống hay đẹp của dân gian, ta sẽ thấy thánh hiền Đông Á xưa đã có chủ trương hoàn toàn phù hợp với chủ trương của các bậc thượng nhân, thượng trí mọi nơi, mọi đời trên thế giới.

Aritote cũng đã phân biệt hai loại lề luật:

– Lề luật trời hay lề luật tự nhiên.
– Lề luật người hay lề luật nhân tạo.[18]

Cicéron cũng cho rằng: Luật tự nhiên chính là luật trời, cố sức dạy con người làm điếu hay tránh điều dở.[19]

Âu Châu xưa cũng cho rằng: Luật nhân tạo kém vua chúa; luật thiên nhiên hơn vua chúa. Vua chúa mà dạy làm điều gì trái với luật tự nhiên thì dân chúng có quyền chống đối.[20]

Thánh Thomas cũng cho rằng lề luật thiên nhiên chính là thiên lý, chính là sự khôn ngoan của trời hướng dẫn mọi hoạt động mọi biến chuyển.[21]
Luật con người làm ra chỉ đúng là luật khi nào phù hợp với lề luật thiên nhiên, còn nếu chúng đi ngược lại với luật thiên nhiên thì không còn phải là luật nữa.[22]

Hiểu Lễ là những định luật tự nhiên giúp con người sống xứng đáng với danh nghĩa con người, sống hòa hợp với mọi người, đoàn kết với mọi người, ta mới hiểu rõ ràng được những câu sau đây của Lễ ký và Tứ thư:

«Con chim anh vũ tuy biết nói nhưng vẫn là chim. Con khỉ con vượn tuy biết nói nhưng vẫn là cầm thú, nên nếu con người không biết lễ thì tuy biết nói cũng vẫn là có lòng cầm thú.

«Cầm thú, vì không biết lễ nên mới có sự loạn luân, chung chạ.

«Cho nên thánh nhân lập ra lễ để dạy dân, để con người biết theo lễ mà ăn ở khác với loài vật.» [23]

Lễ là điều gì hợp lý.[24]

Lễ nghĩa là đầu mối của con người.[25]

Cho nên lễ phát nguyên từ trời, có tầm hoạt động lan khắp trần gian, bao quát vạn sự biến chuyển theo thời, thích ứng với mọi nghề nghiệp, hoạt động con người. Nơi tâm con người lễ giúp làm nảy nở các đức tính tự nhiên. Trong hành vi con người lễ bao quát mọi cách thức tặng dữ, trao đổi, mọi hành động, mọi phép lịch sự, xã giao, mọi vấn đề ăn uống, quan hôn, táng tế, bắn cung, đánh xe, yết triều, thăm hỏi…[26]
«Lễ nghĩa quy định những gì hay, những gì phải cho con người, nên rất cần yếu đối với con người. Nó dạy con người biết làm sao để trở nên đức hạnh thật sự, làm sao để hòa thuận với người. Nó giúp cho xương thịt con người trở nên cứng cát, rắn chắc, dạy con người cách nuôi người sống, chôn kẻ chết, tôn kính quỉ thần. Nhờ Lễ như là một cửa lớn, mà con người tìm ra được thiên đạo, sống thuận với nhân tình. Vì thế mà thánh nhân cho rằng cần phải biết lễ.

«Quốc phá, gia vong, nhân tâm ly tán chính là vì con người không còn biết cách sống theo những định luật của trời đất, của nhân sinh…» [27]

Cho nên muốn trị dân có hai cách.

Thượng sách thời dùng lễ trị dân. Khi ấy người trên làm gương đáng cho người dưới, sống theo định luật thiên nhiên, theo vật lý, tâm lý, thiên lý, theo danh dự, dạy dân biết nhường nhịn lẫn nhau, biết xấu hổ mỗi khi mình làm điều gì xằng bậy. Đó là Nhân trị, đó là Vương đạo.[28]

Hạ sách là luật pháp trị dân, dùng thủ đoạn trị dân, dùng hình phạt đe nẹt dân, lúc ấy dân sẽ tìm cách để trốn tránh lề luật và không còn biết xấu hổ vì những hành vi bất chính của mình nữa. Đó là Pháp trị, đó là Bá đạo.[29]

Các Pháp gia xưa như Hàn Phi Tử (chết năm 232, năm thứ 15 Tần Thủy Hoàng), Thương Ưởng (chết năm 338) (làm tướng quốc đời vua Tần Hiếu Công) đã có một đời dùng luật pháp nghiêm minh để trị dân, nhưng cuối cùng đếu thất bại, vì đó gò bó miễn cưỡng, vô nhân đạo không phù hợp với tâm lý con người.

Âu Châu ngày nay cũng đề cao Pháp trị, cũng dùng những lề luật hình pháp bên ngoài để trị dân, cũng dùng những thủ đoạn để thằng thúc, nhuyễn hoặc dân, chỉ bắt bẻ dân trên những hình thức bên ngoài, chỉ cần dân tuân theo những thể chế, qui ước bên ngoài mà thả lỏng lòng dục của dân, mặc cho các tính xấu của dân tha hồ phát triển, miễn sao là dân khéo léo tránh né được con mắt dòm hành của pháp luật, của các nhà cầm quyền, thế là đủ.

Vì thế nên thế giới ngày nay đã trở nên thác loạn. Cá nhân thác loạn vì có thể sống buông thả vô kỷ cương; gia đình thác loạn, sự tương kính tương thân trong gia đình dần dần mất đi; xã hội thác loạn, vì giá trị con người đã mất, vì lòng trọng kính thương yêu nhau cũng chẳng còn.
Cho nên ngày nay bàn về Lễ tức là muốn kêu gọi mọi người chúng ta hãy sống một cuộc đời hẳn hoi, chừng mực theo lẽ phải, xứng với danh nghĩa cao quý của con người, cổ súy tình tương thân, tương nhượng, tương, kính, cố gắng bảo tồn những thuần phong mỹ tục, những nề nếp đẹp đẽ của tiền nhân, để xã hội quốc gia đi đến chỗ đại hòa đại thuận.[30]

CHÚ THÍCH VỀ NGUỒN GỐC TRÍCH DẪN: –

…Hỗn độn nguyên khí ký phân, khinh thanh vi thiên tại thượng, trọng trọc vi địa tại hạ, nhi chế lễ giải pháp chi nhi lập tôn ti chi vị dã. (Khổng Đĩnh Đạt) 5 Couvreur, Li Ki, I, p.527, notes)

Khi nguyên khí đã phân, thì khí thỉnh thanh ở trên thành trời, khí trọng trọc ở dưới thành đất, nên người lập ra lễ, phỏng theo đó mà lập ra thứ vị thấp cao:

…Phù Lễ giả sở dĩ chương nghi, biệt vi, dĩ vi dân phường giả dã. Cố quí tiện hữu đằng, y phục hữu biệt, triều đình hữu vị, tắc dân hữu sở nhượng. (Lễ Ký, Phương Ký, XXX)

Lễ là dùng để làm cho rõ điều ngờ, biện bạch những điều vi ẩn, để lâm sự phòng giữ cho dân. Cho nên người sang, người hèn có bậc, y phục có phân biệt, chỗ triều đình có ngôi thứ, thì dân mời nhường nhịn lẫn nhau.

[10] Phù Lễ giả, tiên vương dĩ thừa thiên chi đạo, dĩ trị nhân chi tình. (Lễ ký, Lễ vận, IX) : Lễ là tiên vương vâng theo cái đạo của trời để trị cái tình của người.

-Lễ hồ, lễ hồ, sở dĩ chế trung dã. (Lễ ký, Ai công vấn). Lễ để điều chế cho vừa đúng mức.

-Trung nhân chi tình hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm vô cấm tắc dâm vô độ tắc thất túng dục tắc bại. Cổ ẩm thực hữu lượng y phục hữu tiết, cung thất hữu độ, súc tụ hữu số xa khí hữu hạn dĩ phòng loạn chi nguyên dã. (Khổng Tử tập ngữ: Tế Hầu vấn, XIII) (Cf. Trần Trọng Kim. Nho giáo I, 117).

[11] Thị dĩ quân tử cung kính, tốn tiết, thoái thượng dĩ minh lễ. (Lễ ký, Khí lễ, I). Vì thế nên người quân tử cung kính, sống cho có chừng mực, tiết độ, nhún mình, nhường người để làm sáng tỏ chữ Lễ…L’idéal suprême du Kiun Tseu (quân tử) est, en toutes circonstances de faire preuve, d’une juste mesure, d’une modération rituelle, qui se traduit par le gout du compromis, des concessions réciproques, de la cote plus ou moins taillée. Abuser de son avantage invoquer «son droit» sont des choses mal vues en Chine.

Le grand arrt est de céder sur certains points, afin de réserver une monnaie d’échange pour obtenir des avantages ailleurs. Toute la philosophie chinoise est incluse dans cette notion de Yang (Nhượng) céder, faire preuve de modération…(Jean Escarra, Le Droit chinois, pp.17, 18)

-sở dĩ trị ái nhân, Lễ vi đại; sở dĩ trị Lễ Kính vi đại. (Lễ Ký Ai công vấn, XXIV, 9). Muốn cho mọi người yêu thương nhau, cần nhất là Lễ. Muốn có Lễ cần nhất là Kính.

[12] Phù Lễ giả, tự ti nhi tôn nhân. (Lễ ký, Khúc Lễ thượng, I, 25). Người biết lễ tự nhún mình để trọng người.

[13] Quoi qu’il en soit, cet enseignement confucéen de la suprématie des rites surr la loi traduisant des notions longuement élaborées, depuis des oigines dans la conscience du peuple chinois demeure vivance…(Jean Escarra, Le Droit chinois, p.19)

…Il y a là des textes qui reflètent intensément ce qu’il y a de permanent dans la civilisation chinoise et qui à ce titre, sont un précieux complément des lois civiles récemment promulguées. (Ibid. 162)

-La conception du droit traduit fondamentalement des notions qui se sont élaborées, à l’aube d’une civilisation, dans la conscience des hommes qui ont peuplé la Chine. (Ib p.78).

[14] Tứ thể cử chính, phu cách sung doanh, nhân chi phì dã. Phụ tử đốc, huynh đệ mục, phu phụ hòa, gia chi phì dã. Đại thần pháp, tiểu thần liêm, quan chức tương tự quân thần tương chính, quốc chi phì dã.

Thiên tử dĩ đức vi xa, dĩ nhạc vi ngự, chư hầu dĩ lễ tương dữ, đại phu dĩ pháp tương tự, sĩ dĩ tín tương khảo, bách tính dĩ mục tương thủ, thiên hạ chi phì dã. Thị vị đại tuận. (Lễ ký, Lễ vận VII)

[15] Lễ bất du tiết, bất sâm vũ bất hiếu áp. (Lễ ký, Khúc lễ, Tiết I, câu 10)

[16] Tử viết: Chế độ tại lễ, văn vi tại lễ, hành chi ký tại nhân hồ! (Lễ ký, Trọng Ni yến cư, XXV). Lễ quy định mực thước phải giữ, hành động hay đẹp phải theo, nhưng giữ được là tùy nơi người.

– Thị cố thánh nhân tác, vi Lễ dĩ giáo nhân, sử nhân dĩ hữu lễ, tri tự biệt ư cầm thú. (Lễ ký, Khúc lễ I).

[17] Tử viết: …Quân tử lễ dĩ sức tình (Lễ ký, Tăng tử vấn). Người quân tử lấy lễ làm đẹp tâm tình.

– Phù lễ, tiên vương dĩ thừa thiên đạo, dĩ trị nhân chi tình. (Lễ ký, Lễ vận IX). Lễ là tiên Vương vâng theo cái đạo của trời, để trị cái tình của người.

– Lễ giả nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả dã. (Lễ ký, Phường ký, XXX). Lễ là nhân cái thường tình của người ta mà đặt ra tiết độ, văn vẻ để làm cái ngăn giữ cho dân.

– Phù Lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị minh thị phi dã (Lễ ký, Khúc lễ thượng, I). Lễ là cốt để ohân ra trật tự, khiến cho vạn vật kông có điều gì hồ đồ, hỗn độn.

– Phù Lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị minh thị phi dã (Lễ ký, Khúc lễ I). Lễ cốt để định thân sơ, tránh hết lẫn lộn, nghi ngờ, phân biệt cái gì giống nhau, cái gì khác nhau cho thấy rõ cái nào là phải, cái nào là sai…

– Nhân hữu lễ tắc an, vô lễ tắc nguy, cố viết: lễ giả bất khả bất học dã (Lễ ký, Khúc lễ, I). Người có lễ sẽ bình an, không có lễ sẽ nguy, cho nên nói lễ cần phải được học hỏi vậy.

– Lễ khí, thị cố đại bị. Đại bị thịnh đức dã. Lễ thích hồi tăng mỹ chất (Lễ ký, Lễ khí VIII). Lễ cốt là để rèn luyện con người. Lễ giúp con người đi đến chỗ thành toàn, đi đến chỗ nhân đức, hòan thiện. Lễ giúp con người sửa nết xấu, mở mang tính tốt.

[18] Political justice is of two kinds one natural (physicon) and the other conventional (nomikon) …(Nicomach, Eth.V,VII, tr. Rackham p.295. – Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Vol 2, p.520.)

[19] Cicérron (-106 te-43) of course, reflection this, saying: «Natualem legem divinam esse censet (Zeno), eamque vim obtinere recta imperantem prohibentemque contraria.» De Natura Deorum, I, 14 (tr. Brooks, p.30). -Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, p. 534.

[20] Positiva lex est infra principantem sicut lex naturalis est supra. (Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, P.538)

[21] Lex Oeterna nihil aliud est quam summa ratio divinae sapientine secun dum quod est diectiva omnium actuum et motionum.

(Summa.I.(2). Q.93 at.I.- Joseph Needham Science and Civilisation in China, Volume 2, p. 538.

[22] Every law framed by man bears the nature of a law in the extent to which it is derived from the Law of Nature. But if on any point it is in conflict with the Law of Nature, it at once ceases to be a law; it is a mere corruption of law. (Joseph Needham, Science and civilisation in China, Volume 2, p. 538).

[23] Anh Vũ năng ngôn, bất ly phi điểu. Tinh tin năng ngôn bất ly cầm thú. Kim nhân nhi vô lễ, tuy năng ngôn, bất diệt cầm thú chi tâm hồ? Phù duy cầm thú vô lễ cố pụ tử tụ ưu. Thị cố thánh nhân tác, vi lễ dĩ giáo nhân, sử nhân dĩ hữu lễ, tri tự biệt ư cầm thú. (Lễ ký, Khúc lễ thượng).

[24] Tử viết: Lễ giả, Lý dã. (Lễ ký, Trọng Ni yến cư. XXV)

[25] Cố Lễ nghĩa dã giả nhân chi đại đoan dã. (Lễ ký, Lễ vận VII)

[26] Cố Lễ tất bản ư thiên, động nhi chi địa, liệt nhi chi sự, biên nhi tòng thời, hiệp ư phân nghệ. Kỳ cư nhân dã viết dưỡng, ký hành chi dĩ hóa lực, từ nhượng, ẩm thực, quan hôn táng tế, sạ ngự, triều sinh. (Lễ ký, Lễ vận, VII).

[27] Cố Lễ Nghĩa dã giả, nhân chi đại đoan dã. Sở dĩ giảng tín tu mục, nhi cố nhân coơ phu chi hội, cân hài chi thúc dã. Sở dĩ dưỡng sinh tống tử, sự qui thần chi đại đoan dã. Sở dĩ đạt thiên đạo, thuận nhân tình chi đại đậu dã. Cố duy thánh nhân vi tri lễ chi bất khả dĩ dĩ dã. Cố hoại quốc táng gia, vong nhân, tất tiên khứ kỳ lễ. (Lễ ký, Lễ vận, VII).

[28] Tử viết: Đạo chi dĩ chính, tế chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách. (Luận Ngữ, Vi Chính II, 3).

[29] Liêm Khê tiên sinh viết: “Cổ thánh vương chế lễ pháp, tu giáo hóa, tam cương chính, cửu trù tự, bách tính đại hòa, vạn vật hàm nhược…hậu thế lễ pháp bất tu, chính hình hà vẫn, túng dục bại độ, hạ dân khốn khổ…(Cận tư lục 0.9, tr. 1a).

[30] Lễ chi dụng hòa vi quý. (Luận ngữ, Học nhi I).

[31] Nghĩa giả nghi dã. (Trung Dung chương XX, Lễ ký chương XXVIII, Trung Dung, tiết II, câu 6).

[32] Hà vị nhân nghĩa: Phụ từ, tử hiếu, lương huynh, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung, thập giả vị chi nhân nghĩa…Cố thánh nhân sở dĩ trị nhân thất tình, tu thập nghĩa, giảng tín, tu mục, thượng từ nhượng, khử tranh đoạt, xả lễ hà dĩ trị chi? (Lễ ký, Lễ vận)

[33] Tề Cảnh Công vấn chính ư Khổng Tử. Khổng Tử đối, viết: «Quân nhân, thần thần, phụ phụ, tử tử». Công viết: «Thiện tai! Tín như quân bất nhân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chi?» (Luận ngữ, Nhan Uyên XII, II).

[34] Tề Cảnh Công vấn chính ư Khổng Tử. Khổng Tử đối, viết: «Quân nhân, thần thần, phụ phụ, tử tử». Công viết: «Thiện tai! Tín như quân bất nhân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chi?» (Luận ngữ, Nhan Uyên XII, II).

[35] Tử viết: «Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẫm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú tha quy, ư ngã như phù vân.» (Luận ngữ, Thuật nhi, VII, 15)

[36] Nhân giả nghĩa chi bổn dã, (Lễ ký, Lễ vận, VII, tiết IV, II) Lý giả nghĩa dã. (Lễ tang phục tứ chế, 13)

[37] Cố Lễ Nghĩa dã giả…sở dĩ đạt thiên đạo, thuận nhân tình chi đại đâu cả. (Lễ ký, Lễ vận VII).

[38] Cảm vấn: «Hà vị hạo nhiên chi khí?» Viết: «Nan ngôn dã. Kỳ vi khí dã chí đại chí cương; dĩ trực dưỡng chi nhi vô hại, tắc tắc hồ thiên địa chi gian. Kỳ vi khí dã, phối nghiã giữ đạo; vô thị, nỗi dã. Thị tập nghĩa sở sinh dã. Phi nghĩa tập nhi thủ chi dã.» (Mạnh Tử, Công tôn Sửu, chương cú thượng, 2)

Dám hỏi thầy: Sao gọi là khí hạo nhiên?

– Khó giải lắm. Cái khí rộng lớn, bao la, cứng cỏi vững vàng lắm. Nếu mình thuận theo lẽ thẳng mà bồi dưỡng nó, đừng làm tổn hại nó thì nó sẽ lan ra khắp trong khoảng trời đất này. Cái khí ấy phối hợp với việc nghĩa việc đạo băng không nó sẽ hư hoại đi.

Mình cần phải làm nhiều việc hợp nghĩa, cái khí hạo nhiên ấy mới sinh ra; chẳng phải làm một việc nghĩa rời rạc, mà thâu đoạt được cái khí lực ấy. Nếu mình làm việc quấy bậy chẳng thuận với lương tâm thì cái khí ấy phải hư hoại vậy…

B.- TÁC DỤNG CỦA LỄ VỚI  CUỘC SỐNG:-

Mục đích của Lễ là:

– Dạy dân cho biết nhân luân, biết hiếu, biết kính.[16]
– Nuôi dưỡng những tính tốt.
– Ngăn chặn những tính xấu.
– Điếu hòa đời sống tình cảm tâm tình.
– Xác định tôn ti, thiện ác, thị phi.
– Đem lại hòa hợp, ngăn chặn sự chia rẽ, loạn lạc.
– Đào luyện cho con người ngày một thêm thanh lịch, thêm nhân cách.[17]

Lễ quy định những luật thiên nhiên chi phối đời sống con người, quy định nhân luân, quy định thuần phong mỹ tục, cho nên tất nhiên phải chú ý đến gia đình.

«Lễ có mục đích đem lại sự hoà thuận cho mọi người.»

«Lễ nghĩa quy định những gì hay, những gì phải cho con người, nên rất cần yếu đối với con người. Nó dạy cho con người biết làm sao để trở nên đức hạnh thực sự, làm sao để hà thuận với người. Nó giúp cho xương thịt con người trở nên cứng cát, rắn chắc, dạy con người cách nuôi người sống, chôn kẻ chết, thờ thần minh. Nhờ lễ như là một cửa lớn mà con người tìm ra được thiên đạo, sống thuận với nhân tình. Vì thế mà thánh nhân cho rằng cần phải biết lễ. Quốc phá gia phong, nhân tâm ly tán, chính là vì con người đã không còn biết sống theo những định luật của trời đất, của nhân sinh…»

Lễ Ký cho rằng muốn sống cho hay cho phải, mọi người phải biết cách cư xử cho đúng ngôi, đúng vị của mình.

Vua phải phân,
Thần phải trung,
Cha phải khoan từ,
Con phải hiếu thảo,
Anh phải hẳn hoi,
Em phải kính thuận,
Chồng phải đường hoàng,
Vợ phải nhu thuận,
Người lớn phải thi ân,
Người nhỏ phải vâng phục.

«Cho nên thánh nhân nếu muốn trị thất tình con người, tu thập nghĩa, giảng dạy chữ tín, tài bồi chữ hoà, đề cao sự nhường nhịn, loại trừ sự tranh đoạt, mà không dùng Lễ thì lấy gì mà trị người?»

(trích sách Lễ Ký)

————————————
“Kinh Lễ”:

Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký (禮記)  là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến Quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Học giả thời Hán là Đới Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại đơn giản hoá Đại Đới Lễ Ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt lệnh, Minh Đường vị và Nhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi là Tiểu Đới Lễ ký. Đại Đới Lễ ký đến thời Tuỳ, Đường bị thất lạc quá nửa, hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đó Tiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện nay.

Toàn bộ Kinh Lễ được viết bằng tản văn, không chỉ miêu tả chế độ lễ nghi đương thời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài ra có giá trị về văn học rất lớn. Đại Học và Trung Dung, hai cuốn sách kinh điển của Nho giáo, chính là hai thiên trong Kinh Lễ.

Khổng Tử hiệu đính lại Kinh Lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời”. (sách Luận Ngữ).

Nội dung:

•   Khúc lễ thượng (hai thiên)
•   Khúc lễ hạ (hai thiên)
•   Đàn cung thượng
•   Đàn cung hạ
•   Vương chế
•   Nguyệt lệnh
•   Tăng Tử vấn
•   Văn Vương thế tử
•   Lễ vận
•   Lễ khí
•   Giao đặc sinh
•   Nội tắc
•   Ngọc tảo
•   Minh đường vị
•   Tang phục tiểu ký
•   Đại truyện
•   Thiếu nghi
•   Học ký
•   Nhạc ký
•   Tạp ký thượng
•   Tạp ký hạ
•   Tang đại ký
•   Tế pháp
•   Tế nghĩa
•   Tế thống
•   Kinh giải
•   Ai Công vấn
•   Trọng Ni yên cư
•   Khổng Tử nhàn cư
•   Phường ký
•   Trung dung
•   Biểu ký
•   Truy y
•   Bôn tang
•   Vấn tang
•   Phục vấn
•   Gian truyện
•   Tam niên vấn
•   Thâm y
•   Đầu hồ
•   Nho hành
•   Đại học
•   Quan nghĩa
•   Hôn nghĩa
•   Hương ẩm tửu nghĩa
•   Xạ nghĩa
•   Yến nghĩa
•   Sính nghĩa
•   Tang phục tứ chế

Nếu bạn cần tài liệu để tham khảo thì có thể đọc sách LỄ KÝ CHÍNH NGHĨA   có 36 quyển sau: – (xem giảng giải về LỄ trong 10  quyển đầu).

http://zh.wikisource.org/zh-hant/%E7%A6%AE%E8%A8%98%E6%AD%A3%E7%BE%A9

禮記正義

作者:鄭玄 孔穎達 東漢 唐
 
漢鄭玄註,唐孔穎達疏。《隋書•經籍誌》曰:「漢初,河間獻王得仲尼弟子及後學者所記一百三十一篇 獻之,時無傳之者。至劉向考校經籍,檢得一百三十篇,第而敘之。又得《明堂陰陽記》三十三篇、《孔子三朝記》七篇、《王史氏記》二十一篇、《樂記》二十三 篇,凡五種,合二百十四篇。戴德刪其煩重,合而記之為八十五篇,謂之《大戴記》。而戴聖又刪大戴之書為四十六篇,謂之《小戴記》。漢末,馬融遂傳小戴之 學。融又益《月令》一篇、《明堂位》一篇、《樂記》一篇,合四十九篇」云云,其說不知所本。今考《後漢書•橋元傳》云:「七世祖仁,著《禮記章句》四十九 篇,號曰橋君學」。仁即班固所謂小戴授梁人橋季卿者,成帝時嘗官大鴻臚,其時已稱四十九篇,無四十六篇之說。又孔《疏》稱《別錄》、《禮記》四十九篇, 《樂記》第十九。四十九篇之首,《疏》皆引鄭《目錄》,鄭《目錄》之末必雲此於劉向《別錄》屬某門。《月令目錄》云:「此於《別錄》屬《明堂陰陽記》。」 《明堂位目錄》云:「此於《別錄》屬《明堂陰陽記》。」《樂記目錄》云:「此於《別錄》屬《樂記》。」蓋十一篇今為一篇,則三篇皆劉向《別錄》所有,安得 以為馬融所增。《疏》又引元《六藝論》曰:「戴德傳《記》八十五篇,則《大戴禮》是也。戴聖傳《禮》四十九篇,則此《禮記》是也。」玄為馬融弟子,使三篇 果融所增,玄不容不知,豈有以四十九篇屬於戴聖之理?況融所傳者乃《周禮》,若小戴之學,一授橋仁,一授楊榮。後傳其學者有劉祐、高誘、鄭玄、盧植。融絕 不預其授受,又何從而增三篇乎?知今四十九篇實戴聖之原書,《隋誌》誤也。元延祐中,行科舉法,定《禮記》用鄭玄《註》。故元儒說《禮》,率有根據。自明 永樂中敕修《禮記大全》,始廢鄭《註》,改用陳澔《集說》,《禮》學遂荒。然研思古義之士,好之者終不絕也。為之疏義者,唐初尚存皇侃、熊安生二家(案明 北監本以皇侃為皇甫侃,以熊安生為熊安,二人姓名並誤,足征校刊之疏。謹附訂於此。)貞觀中,敕孔穎達等修《正義》,乃以皇氏為本,以熊氏補所未備。穎達 《序》稱:「熊則違背本經,多易茆義,猶之楚而北行,馬雖疾而去愈遠。又欲釋經文,惟聚難義,猶治絲而棼之,手雖繁而絲益亂也。皇氏雖章句詳正,微稍繁 廣。又既遵鄭氏,乃時乖鄭義。此是木落不歸其本,狐死不首其丘。此皆二家之弊,未為得也。」故其書務伸鄭《註》,未免有附會之處。然採摭舊文,詞富理博, 說《禮》之家,鑽研莫盡,譬諸依山腫墉,煮海為鹽。即衛湜之書尚不能窺其涯涘,陳澔之流益如莛與楹矣。

目錄

•   序
•   卷一•曲禮上第一
•   卷二•曲禮上第一
•   卷三•曲禮上第一
•   卷四•曲禮下第二
•   卷五•曲禮下第二
•   卷六•檀弓上第三
•   卷七•檀弓上第三
•   卷八•檀弓上第三
•   卷九•檀弓下第四
•   卷十•檀弓下第四
•   卷十一•王制第五
•   卷十二•王制第五
•   卷十三•王制第五
•   卷十四•月令第六
•   卷十五•月令第六
•   卷十六•月令第六
•   卷十七•月令第六
•   卷十八•曾子問第七
•   卷十九•曾子問第七
•   卷二十•文王世子第八
•   卷二十一•禮運第九
•   卷二十二•禮運第九
•   卷二十三•禮器第十
•   卷二十四•禮器第十
•   卷二十五•郊特牲第十一
•   卷二十六•郊特牲第十一
•   卷二十七•內則第十二
•   卷二十八•內則第十二
•   卷二十九•玉藻第十三
•   卷三十•玉藻第十三
•   卷三十一•明堂位第十四
•   卷三十二•喪服小記第十五
•   卷三十三•喪服小記第十五
•   卷三十四•大傳第十六
•   卷三十五•少儀第十七
•   卷三十六•學記第十八
•   卷三十七•樂記第十九
•   卷三十八•樂記第十九
•   卷三十九•樂記第十九
•   卷四十•雜記上第二十
•   卷四十一•雜記上第二十
•   卷四十二•雜記下第二十一
•   卷四十三•雜記下第二十一
•   卷四十四•喪大記第二十二
•   卷四十五•喪大記第二十二
•   卷四十六•祭法第二十三
•   卷四十七•祭義第二十四
•   卷四十八•祭義第二十四
•   卷四十九•祭統第二十五
•   卷五十•經解第二十六
•   卷五十•哀公問第二十七
•   卷五十•仲尼燕居第二十八
•   卷五十一•孔子閒居第二十九
•   卷五十一•坊記第三十
•   卷五十二•中庸第三十一
•   卷五十三•中庸第三十一
•   卷五十四•表記第三十二
•   卷五十五•緇衣第三十三
•   卷五十六•奔喪第三十四
•   卷五十六•問喪第三十五
•   卷五十七•服問第三十六
•   卷五十七•間傳第三十七
•   卷五十八•三年問第三十八
•   卷五十九•深衣第三十九
•   卷五十九•投壺第四十
•   卷五十九•儒行第四十一
•   卷六十•大學第四十二
•   卷六十一•冠義第四十三
•   卷六十一•昏義第四十四
•   卷六十一•鄉飲酒義第四十五
•   卷六十二•射義第四十六
•   卷六十二•燕義第四十七
•   卷六十三•聘義第四十八
•   卷六十三•喪服四制第四十九

Trích dẫn:
Sách Đại học dạy người ta tu thân, cái thân ấy tức gồm cả tai mắt miệng mũi chân tay mà nói.
Muốn tu được thân, cốt phải giữ gìn thế nào, phàm những sự gì phi lễ (chữ lễ đây tức là lý, là nghĩa; phi lễ là trái với lẽ phải, với chính nghĩa) thì mắt chớ có nhìn vào, tai chớ có nghe, miệng chớ có nói, mũi chớ có ngửi, chân tay chớ có cử động. Tu thân cốt phải dụng công như thế.

Nên biết cái tâm là chúa tể của thân. Thật ra, tuy là mắt nhìn, nhưng nhìn ấy chính là tâm, tuy là tai nghe, nhưng nghe ấy chính là tâm, miệng với tay chân tuy là nói năng cử động, nhưng thật sự nói năng cử động ấy cũng là tâm vậy.
Cho nên muốn tu thân, cốt nhất là giữ tâm thể mình lúc nào cũng sáng suốt trong sạch, không để có mảy may nào bất chính ở trong đó.
Vị chúa tể ấy một khi đã chính, thì nảy khiếu ra ở mắt, tự nhiên không có cái nhìn phi lễ; nảy khiếu ra ở tai, tự nhiên không có cái nghe phi lễ; nảy khiếu ra ở miệng với chân tay, tự nhiên cũng không có những ngôn động phi lễ.

Ấy thế là tu thân ở chỗ làm chính cái tâm mình đấy.

Hết trích.
(Đây là lời dịch chính xác những lời dạy của Vương Dương Minh – Do Đào Trinh Nhất (1900-1951): Nhà văn, kí giả, học giả chuyển ngữ sang Việt).
(Trích trong cuốn Đào Trinh Nhất  – Tác phẩm 2 tr.157- Do Nguyễn Q. Thắng sưu tâm biên khảo).

Giữ Lễ là một mắt xích nằm trong quá trình tu thân bên Nho học đề ra. Và cái gì điều chỉnh hành vi như Phạm Thắng hỏi đấy thì cuối cùng là quay về bản tâm. Mà đã di đến Tâm rồi thì sẽ đi đến tận cùng vấn đề TU LUYỆN rồi. Vương Dương Minh nói:
Chủ tể của thân ấy là tâm, sự phát động của tâm ấy là ý, bản thể của ý ấy là tri, sở tại của tri ấy là vật. Ví dụ ý mình để vào chỗ thờ cha mẹ, thì thờ cha mẹ tức là một việc; ý mình để vào chỗ giúp dân yêu vật, tức thị giúp dân yêu vật cũng là một việc; ý mình để vào chỗ nhìn ngó, nghe ngóng, nói năng, cử động, tức thị nhìn ngó, nghe ngóng, nói năng, cử động cũng là một việc. Vì thế, ta nói không có việc gì ngoài tâm.
身之主宰便是心,心之所在便是 意意之本理便是知,知之所在便是物.如意在於事親便是 一物,意在於事君.即事君便是一物,意在於仁民愛物,即仁民愛物便是一物.意在於視聽言動,便是一物。所以某 說無心之外物
(Thân chi chủ tể tiện thị tâm; tâm chi sở tại tiện thị ý:ý chi bản lý tiện thị tri; tri chi sở tại tiện thị vật. Như: ý tại sư sự thân, tức sự thân tiện thị nhất vật: ý tại ư sự quân, tức sự quân tiện thị nhất vật: ý tại ư nhân dân ái vật, tức nhân dân ái vật tiện thị nhất vật; ý tại ư thị thính ngôn động, tức thị thính ngôn động tiện thị nhất vật. Sở dĩ mỗ thuyết vô tâm chi ngoại vật”.
(sách đd, trang 110).

Đức Khổng không nói hoặc viết một chuyên đề về Lễ, mà Ngài chỉ nói, giảng rải rác trong các sách :- Đại học, Trung dung, Luận ngữ.

Riêng trong  Luận Ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ lễ. Có thể nói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về lễ, có khi chủ động giảng giải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ. Chúng tôi xin tạm phân chia ý nghĩa của lễ trong Luận Ngữ theo những phạm trù sau:

– Thứ nhất, lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thể giúp tề gia, trị quốc. Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: “Lễ chi dụng, hòa vi quý. Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi. Hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã”. [01]

– Thứ hai, lễ biễu hiện chính nền đạo đức. Theo Khổng Tử, căn bản của lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức. Ðạo nhân, đạo nghĩa (như thấy sau này nơi Mạnh Tử), đạo tín (tức chân thành), vân vân, là những đức tính căn bản của lễ. [02] Một người thiếu lễ, không thể là người quân tử.

Trung, Hiếu thực ra chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi lễ là một phương thế biểu hiện những đức tính trên. [03]

– Thứ ba, lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùy theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp. Trong chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai, vân vân. Chính vì ngài nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ mà đa số nho gia đã hiểu lễ như là nghi lễ, nghi thức, hay quy luật ta phải theo khi cúng tế, khi tổ chức hôn lễ, khi tham gia vào việc công (làm quan, triều yết), khi sinh con đẻ cái, khi có tang, vân vân (quan, hôn, triều, sinh, tang, tế). [04]

– Thứ tư, ngay từ thời Khổng Tử, đã có một số nho gia theo lối nhìn thứ ba, đặc biệt chú trọng tới lễ, nhạc coi như là nghi lễ, nghi thức và nghi pháp. Ngay cả thầy Tử Lộ cũng đã hiểu nhầm Khổng Tử, khi thầy thấy Thầy mình hình như không giữ một số lễ nghi (chuyện Khổng Tử tiếp một phụ nữ). Cho tới thời Tuân Tử, và nhất là tới thời học trò của họ Tuân, nhất là thời Pháp gia, nho gia thường gắn lễ liền với pháp, như chúng ta thấy từ ngữ hay dùng: “lễ pháp” (tiếng Việt gọi trại đi là “lễ phép”), tức quy tắc mà ta bắt buộc phải theo. Thực ra, như chúng tôi muốn nhấn mạnh, Khổng Tử không nghĩ như vậy, bởi vì theo ngài lễ là cả một lối sống toàn diện, tức lối sống mà ta phải theo để có thể bảo tồn sự sống và xã hội. Thành thử, theo lễ, tức là theo cái lẽ phải, [05] hợp lễ là hợp với bản tính ta vốn có. Ngài từng nói: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo.” [06]

Nói tóm lại, lễ trong Luận Ngữ mang hai bản chất: Lễ chi bản và lễ chi dụng. [07] Lễ chi bản nói lên lễ như là bản chất biểu tả một cách trung thực bản tính con người, trong khi lễ chi dụng nói lên tính chất công cụ của lễ trong công việc giữ gìn trật tự, cũng như giữ được sự cân bằng trong cuộc sống, trong những giao tiếp của con người.

CHÚ THÍCH:

[01] Luận Ngữ, 1: 12 (Học Nhi). Chu Hi chú giải. Việt ngữ: “Công năng của lễ cốt ở thực dụng tạo ra hòa hợp là điểm quý nhất. Chính vì vậy mà các bậc tiên vương đã coi việc áp dụng lễ như là một sự cao quý, và giải quyết mọi việc lớn bé theo nghi lễ quy định. Nếu chỉ có tinh thần hòa hợp mà không có lễ thì khó mà thành công được.” (Bản dịch của chúng tôi, dưa theo chú thích của Phó Bội Vinh).

[02] Luận Ngữ, 3:3: “Tử viết, “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?” (Một con người mà thiếu đạo nhân (ái) thì làm sao mà có lễ? Một người mà thiếu lòng nhân (từ), thì làm sao mà hiểu nhạc?”)

[03] Luận Ngữ, 3:4: “Lâm Phỏng vấn lễ chi bẩn. Tử viết, “Ðại tai vấn, lễ dữ kỳ xa dã, ninh kiệm. Tang, dữ kỳ dị dã, ninh thích” (Lâm Phỏng hỏi về cái nền căn bản của lễ, Khổng tử trả lời “Câu hỏi anh đặt ra thật quan trọng. Nói về lễ cách chung rườm rà xa xỉ, nên tiết kiệm hay hơn. Về tang lễ, nên tỏ lòng thành phân ưu hay hơn là bày vẽ quá đáng”).

[04] Luận Ngữ, 2:5: “Tử viết, “Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ.”

[05] Lẽ phải, lẽ trái được hiểu như lễ, gần giống như phép phải, phép trái. Có người giải thích lẽ giống như lý (lý lẽ) và không cho là lễ. Thực ra, nếu hiểu lẽ giống như lý, thì cái lý lẽ cũng có thể đọc là lý lý, hay lẽ lẽ. Nghe ra không ổn! Lý lẽ phải hiểu là cái lý và cái lẽ (lễ).

[06] Luận Ngữ (Thái Bá): “Thái dộ cung kính không có lễ nghĩa thì chỉ làm phiền phức, người cẩn thận nhưng không phải vì lễ nghĩa thì chỉ tỏ ra được cái tính lo sợ của mình, người có lòng dũng cảm nhưng chẳng theo lễ phép thì chắc sẽ làm loạn, mà người trực tính không trọng lễ thì hồ đồ.”

[07] Luận Ngữ, (Học Nhi): hợp vi quý, và Luận Ngữ, (Hằng Linh Công).

************         
Chữ LỄ của Khổng Tử và công dụng của nó:

************         

Có thể khẳng định “lễ” là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc. “Lễ” được xem là một trong năm đức cơ bản nhất của con người (ngũ thường).

Tuy nhiên bộ Kinh Lễ lại ra đời muộn nhất so với tất cả các kinh điển của Nho gia.
Niên đại xuất hiện của bộ kinh này cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi chưa thực sự được giải đáp.

Tuy vậy, có thể khẳng định rằng phạm trù “lễ” xuất hiện vào đầu thời kỳ nhà Hạ (khoảng 2205 – 1766 TCN), sau đó “lễ” trở nên hưng thịnh nhất vào thời kỳ đầu nhà Chu (khoảng thế kỷ XI TCN). Thời gian Kinh Lễ được ghi chép thành sách rất dài, có thể từ thời Chiến Quốc đến giữa thời Tây Hán.

•   Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật.
Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà ại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan.

Khổng Tử nói: “Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ”.

•   (xin xem tiếp ở:-
http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/chu-le-cua-khong-tu-va-cong-dung-cua-no

Theo tài liệu :-

Phạm trù lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay

Của :-
Nguyễn Thị Lan Minh,

Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS. ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn: TS. Lê Trọng Hanh
Năm bảo vệ: 2012

……………………
Khổng Tử bàn về Lễ:

* Phạm trù Lễ:

Trước Khổng Tử, kể từ thời Chu Công, Lễ đã có hai nghĩa: nghĩa cũ là tế lễ có tính chất tôn giáo, nghĩa mới là pháp điển phong kiến do Chu Công chế định, có tính cách chính trị, để duy trì trật tự xã hội. Sau dùng rộng ra ý nghĩa của Lễ chỉ cả phong tục tập quán và sau cùng qua thời Đông Chu nhất là từ Khổng Tử nó có một nội dung mới, nội dung luận lý chỉ sự kỷ luật về tinh thần: Người có lễ là người biết tự chủ khắc kỷ

Khổng Tử chủ trương tòng Chu, giữ pháp điển lễ nhạc của Chu Công thì tất nhiên rất trọng Lễ và buộc vua chúa phải trọng Lễ. Lễ để duy trì trật tự xã hội, có trật tự đó thì vua mới được tôn, nước mới được trị, nếu vua không trọng lễ thì còn bắt ai trọng nó được nữa.

Chính vì vậy trong việc trị nước cũng như tu thân học đạo, sửa mình để đạt đức “Nhân” thì “Lễ” là một trong những yếu tố được Khổng Tử rất mực coi trọng. Điều này được thể hiện rõ trong cuốn Luận ngữ.

…………………..

Sự giáo hóa Lễ của Khổng Tử rất sâu sắc. Trong Lễ Ký đã viết “Lễ chi giáo hóa giã vi, kỳ chỉ tà giả ư vị hình, sử nhân nhật tỷ thiện, viễn tộ, nhi bất tự tri giã: sự giáo hóa của lễ rất cơ màu, khăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện tránh xa điều tội mà tự mình không biết”.

Kêt luân chương:

Lễ là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa rất phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc; và cũng là một trong năm đức cơ bản nhất của con người trong thuyết “ngũ thường” của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Lễ là phạm trù xã hội tổng hợp, bao gồm những nghi thức trong tế lễ, những nguyên tắc về tổ chức và hành động chính trị, những chuẩn mực về tư tưởng và hành vi của con người nhằm bảo đảm trật tự và sự yên bình của xã hội phong kiến Tông pháp Trung Quốc đương thời.

Lễ còn được coi là đường lối chính trị gọi là “Lễ trị” xã hội có trật tự được xem là xã hội có lễ, con người có đạo đức được đánh giá là con người có lễ: Hiểu lễ là điều kiện để hiểu được thực chất các phạm trù và các khái niệm khác của học thuyết Khổng Tử.

**************************             

Một trích dẫn khác, chứng tỏ rằng khi Khổng Tử còn bé,thời còn đang chú tâm việc học (15 tuổi) thì các bậc quân tử khác đã hiểu Lễ không còn là Lễ nghi thờ cúng nữa:

Lỗ Chiêu Công năm thứ 5, lúc Khổng Tử 15 tuổi, đại phu nước Tần là Nhữ Thúc Tể (Thúc Hầu, Mã Tư Hầu) đã xác định rõ, Lễ không phải là nghi thức:
Chiêu công đến nước Tấn, từ việc ủy lạo ở ngoài thành đến việc biếu xén, không làm điều gì thất lễ. Tấn hầu nói với Nhữ Thúc Tề “Lỗ hầu chẳng phải là biết lễ đó sao!”. Nhữ Thúc Tề đáp:”Lỗ hầu nào hiều được lễ”. Tấn hầu nói “Sao vậy? Từ việc ủy lạo ở ngoài thành đến việc biếu xén chẳng có gì trái lễ, sao lại bảo không hiểu được lễ?” Nhữ Thúc Tề trả lời: “Đó là nghi thức, không phải là lễ. Lễ là dùng để bảo vệ quo61cgia, thực hành chánh lệnh, không làm mất nhân dân. Hiện nay, chính lệnh ở tại nhà riêng, không đem thi hành ra khắp được; có người tài là Gia Ky không đem ra dùng; vi phạm lời ước minh với nước lớn; khinh thường ức hiếp nước nhỏ, mưu lợi trên tai ách của người khác, không biết đến điều riêng tư của họ, nhà công chia tứ tác, dân sống nhờ vào chỗ khác, không nghĩ đến việc công, không lo nghĩ về sau, quân đội của nhà công hầu chiếm một phần tư, nhân dân sống nhờ vào ba nhà đại phu. Lòng dân không ở cùng vua nước mà vua nước chẳng lo nghĩ gì hậu quả. Làm vua một nước, nạn nguy sắp đổ xuống thân mà chẳng lo nghĩ gì đến tình trạng của nước mình. Gốc và ngọn của Lễ là ở điểm này, mà Lỗ hầu chỉ bo bo vào tập tành nghi thức. Bảo rằng y tinh thông Lễ là còn cách quá xa ư?”
(Tả truyện – Chiêu Công ngũ niên).

Đời vua Chiêu Công năm 25 (517 TCN – Khổng Tử 35 tuổi):
Thái Tử Thúc nói: ” Tôi nghe quan đại phu quá cố Tử Sản nói rằng: “Lễ là qui phạm của trời, là chuẩn tắc của đất, là hành động của dân. Dân noi theo qui phạm của trời đất,noi theo vẻ sáng suốt của trời, bắt chước bản tính của đất. Trời đất sinh ra 6 khí và người sử dụng ngũ hành. Khí tạo ra năm vị, phát ra năm sắc, thể hiện 5 thanh. Hễ chúng quá mức thì sinh tối tăm hỗn loạn và dân mất đi bản tính của mình. Cho nên phải lấy lễ để chế ngự họ; lấy 6 loại gia súc, 5 loại thú rừng; 3 loại thú cúng tế để duy trì 5 vị; lấy 9 kiểu hoa văn, sáu màu, 5 cách thể hiện để duy trì ngũ hành; lấy 9 bài ca, gió tám hướng, bảy âm, 6 luật để duy trì 5 thanh; ấn định vua-tôi và vai vế trên dưới để theo chuẩn tắc của đất; lập quan hệ vợ chồng và trong ngoài để hai loại việc [bên ngoài và trong nhà];quan hệ cha-con, anh-em, cô-cháu, cậu-cháu, cha vợ-rể, quan hệ cột chèo để tượng trưng vẻ sáng của trời; ấn định chính sách lao động, việc làm hàng ngay để thuận theo 4 mùa; ấn định hình phạt, hình ngục uy nghiêm, để dân sợ hãi như sợ sự giết hại của sấm sét; tỏ ra hiền từ và ôn hòa để bắt chước sự sinh thành và dưỡng dục của trời. Dân có lòng yêu-ghét, mừng-giận, buồn-vui, là phat sinh từ 6 khí; cho nên [tiên vương] cẩn thận trong phẩm hạnh và mệnh lệnh khi ban phúc, gieo họa và thưởng phạt dân, để kiểm soát sự sống chết của họ. Sống là việc dân yêu thích, chết là việc dân ghét. Cái thích sinh vui, cái ghét sinh buồn. Vui buồn không thất lễ, là hòa hợp với bản tính của trời đât, cho nên lâu dài”.

******************             

Cụ thể trước nhà Chu thì có các nền văn minh Trung quốc như sau:
1) NỀN VĂN HÓA HƯNG LONG OA:
Nền văn hóa Hưng Long Oa thuộc khu vực Liêu Hà, Đông Bắc Trung Quốc cách đây khoảng 8.000 năm, được gọi tên theo vùng di chỉ Hưng Long Oa, Ngao Hán kỳ thuộc thành phố Xích Phong của khu vực Nội Mông.

2) NỀN VĂN HÓA HỒNG SƠN:
Văn hóa Hồng Sơn là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đá mới ở khu vực Liêu Hà, Đông Sơn, được đặt tên là văn hóa Hồng Sơn do nằm ở vị trí khu di tích sau núi Hồng Sơn, thành phố Xích Phong, Nội Mông Cổ, cách đây 6.000 đến 5.000 năm.

3) VĂN HÓA LĂNG GIA THAN:
Văn hóa Lăng Gia Than cách đây 5.500 đến 5.300 năm là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đá mới, tại khu vực Hoài Giang phía Nam Trung Quốc.
Được đặt tên theo di chỉ thôn Lăng Gia Than, thị trấn Đồng Sạp, huyện Hàm Sơn, tỉnh An Huy, gần như diễn ra cùng thời gian với văn hóa Hồng Sơn ở phía Bắc.

4) NỀN VĂN HÓA LƯƠNG CHỬ:
Văn hóa Lương Chử cách đây 5.000 năm đến 4.500 năm là nền văn hóa thuộc khu vực Thái Hồ, hạ nguồn Trường Giang thuộc thời kỳ đồ đá mới.
Tên “Lương Chử” là do nơi ấy thuộc khu di chỉ thị trấn Lương Chử, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang.

5) NỀN VĂN HÓA LONG SƠN:
Văn hóa Long Sơn được phát hiện lần đầu vào năm 1928, ở dốc Thành Tử, thị trấn Long Sơn, huyện Chương Khâu, tỉnh Sơn Đông; thuộc khu vực hạ lưu Hoàng Hà, cách đây 4.000 đến 3.500 năm, thời kỳ này đã bước vào giai đoạn xã hội văn minh sơ cấp. Đây cũng là thời kỳ xã hội cổ đại Trung Quốc.

6) NHÀ THƯƠNG:
Thế kỷ XVI trước Công nguyên, dân tộc Thương đánh bại vương triều của nhà Hạ, lập ra nhà Thương (1600 – 1046 TCN).

7) NHÀ TÂY CHU:
Chu là một bộ lạc cổ xưa ở khu vực Tây Bắc Trung Quốc. Tây Chu (1046 – 771,TCN) là thời đại mà chế độ lễ nghi phát triển lên đến đỉnh điểm của lịch sử Trung Quốc, nó được Khổng Tử (551 – 479 TCN) cho là thời kỳ mẫu mực nhất, đồng thời lấy nó làm cơ sở lý luận, mở ra nền Nho học giữ vai trò quan trọng ở Trung Quốc mấy ngàn năm.

Nền văn hóa Lăng Gia Than (5500 năm trước) có bằng chứng khảo cổ bao gồm: có lọ ngọc và các xăm để bói và hình dáng không khác gì có ống xăm trong chùa hiện nay. Quan trọng hơn là có 1 miếng ngọc mô tả về Thiên Văn như sau:

Bốn cạnh mặt chính của phiến Ngọc có khoan những lỗ tròn nhỏ, chính giữa có khắc chìm hai vòng tròn lớn nhỏ đồng tâm, bên trong vòng tròn nhỏ ấy lại có một hình vuông nhỏ hơn với một hình bát giác viền chung quanh. Giữa hai vòng tròn có hình tia đang phóng ra, giữa vòng tròn lớn và bốn cạnh có khắc bốn đầu mũi tên.
Trong những tài liệu cổ, ta tìm thấy thuyết “Thiên Viên Địa Phương” (trời hình tròn, đất hình vuông). Do đó, vòng tròn trong phiến Ngọc này có thể là tượng trưng cho trời, hình vuông tượng trưng cho đất; các hình ở bốn phía, tám góc và các tia xung quanh trong trọng tâm của phiến Ngọc, rất ăn khớp với với quan niệm tứ tượng, bát quái trong sách “Chu Dịch” và khái niệm “Thiên Viên Địa Phương – Trời tròn đất vuông” mà các tài liệu cổ ghi chép.
Mà những khái niệm tứ tượng và bát quái trong quan niệm về mùa của Trung Quốc, tương đương với bốn mùa tám tiết âm lịch. Từ đó suy ra, hình khắc trên phiến Ngọc rất có thể là sự phác họa trực quan về thiên văn, địa lý của người Lăng Gia Than, nó minh chứng lịch pháp Trung Quốc đã xuất hiện từ năm ngàn năm trước.
(Trích theo ý kiến của Vu Minh viết trong cuốn “Ngọc khí Trung Quốc”).

************       

Lễ của Khổng Tử có gì là cao siêu đâu. Ngài mong chính thể, đất nước, quốc gia.., người già được chăm sóc, người chết được chôn cất. Không được đốn cây vào mùa xuân nó đang ra hoa kết quả, không săn bắn động vật vào mùa sinh sản. Hơn 2500 trước Ngài đã dạy điều này, ngày nay con cháu Á Đông há hốc mồm ra khi xem trên Discovery ở Mỹ người ta ta bắt tôm cua lên đo đạc, không đủ kích thước thì thả xuống…
Thánh nhân nhìn rất xa, thế nên trong quẻ dịch Phong hỏa gia nhân, bóng gió mà nói ra rằng đàn bà có chính thì đàn ông mới chính. Ai đó nói Khổng xem thường phụ nữ là sai, có chăng là Tống nho quá cực đoan mà làm sai tiêu chí của Ngài. Cũng buồn, từ nhà Lý, Trần cho đến nhà cách mạng tây Sơn, sau đó nhà Nguyễn cũng đều nhất nhất tuân theo cái sở học của Tống nho. Chứ như trong quẻ “Phong hỏa gia nhân” thì đàn bà mới là nguồn cơn tội lỗi của đàn ông. Phụ nữ không biết yêu đúng người, không biết vinh nhục thì là nguồn cơn của tội lỗi.
Xót xa cho chữ “lễ” bị chà đạp, có người còn mắng chửi cả Khổng vì chữ lễ ấy.
Tàn tạ nhân tâm rồi, thế nên mới có thảm cảnh này.

KHỔNG HỌC TINH HOA

KHỔNG HỌC TINH HOA

KHỔNG HỌC TINH HOA

KHỔNG  HỌC  TINH  HOA

KHONG HOC TINH HOA

KHỔNG HỌC TINH HOA
*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

KHỔNG  HỌC  TINH  HOA

KHONG HOC TINH HOA

KHỔNG HỌC TINH HOA — Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

KHỔNG  HỌC  TINH  HOA

*Nhân Tử  Nguyễn Văn Thọ

***

KHỔNG  HỌC  TINH  HOA

*Nhân Tử  Nguyễn Văn Thọ

***

Mục Lục

I.- Lời nói đầu

II.- Chương 1: Ý niệm về Thượng Đế qua Tứ Thư, Ngũ Kinh và sử liệu Trung Hoa

III.-Chương 2: Quan niệm về thánh nhân theo thư tịch Nho giáo

IV.- Chương 3: Quan niệm thiên tử Trung Hoa đối chiếu với quan niệm thiên tử trong các quốc gia Âu Á cổ kim

V.- Chương 4: Nền thiên trị Trung Hoa thời cổ

   V1/-Thiên dẫn đầu: Đại cương Hồng Phạm Cửu Trù

   V2/-Thiên 1: Đấng quân vương phải am tường vật lý

   V3/-Thiên 2: Đấng quân vương phải biết phương pháp tu thân

   V4/-Thiên 3: Đấng quân vương phải biết phương pháp trị dân

   V5/-Thiên 4: Đấng quân vương phải am tường ý nghĩa của tháng năm, hiểu thiên văn, lịch số

   V6/-Thiên 5: Đấng quân vương sẽ ở ngôi Hoàng Cực, thay Trời trị dân

   V7/-Thiên 6: Thuật cai trị: chính trực nhưng phải biết cương nhu, quyền biến

   V8/-Thiên 7: Đấng quân vương phải biết suy nghĩ bàn bạc, hỏi han khi gặp những trường hợp nan giải

   V9/-Thiên 8: Đấng quân vương phải nhân các điềm trời mà soát xét lại đường lối cai trị

   V10/-Thiên 9: Đấng quân vương phải nhìn vào tình cảnh dân, để nhận định giá trị của nền cai trị

VI.-Tổng luận

VII.- Phần phụ lục

1/- Phụ lục 1: Nguyệt lệnh (Lễ Ký)

2/- Phụ lục 2: Thơ Thất Nguyệt (Bân Phong, Kinh Thi)

3/- Phụ lục 3: Chiêm Chu niên phong nẫm ca (Ngọc Hạp Ký)

VIII.- Các sách tham khảo

————————————–

I. –
Lời Nói Đầu

Quyển Khổng học Tinh hoa này có mục đích trình bày phương pháp tu thân và trị dân của người xưa mà Khổng giáo gọi là «Nội thánh ngoại vương chi đạo».

Nền tảng của Khổng giáo là Thượng Đế.

Trung Dung viết: «Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri thiên.»

«Biết người trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao?»

Cho nên trước khi đi vào vấn đề tu thân, trị dân, tất nhiên phải nghiên cứu niềm tín ngưỡng Trung Hoa thời cổ. Vì thế, chương đầu sách khảo sát quan niệm về Thượng Đế qua văn liệu, sử liệu Trung Hoa.

Nhiều người nghĩ rằng Khổng giáo chỉ dạy con người trở nên hiền nhân quân tử, chứ không làm cho con người siêu phàm thoát tục như Phật giáo, Lão giáo.

Đó là một sự ngộ nhận đáng tiếc, thực ra Khổng giáo có mục đích thâm viễn là thánh hóa con người, giúp con người tiến tới cực điểm tinh hoa, sống cuộc đời hoàn thiện, phối hợp cùng Thượng Đế. Vì thế, chương 2 sẽ đề cập đến quan niệm thánh nhân trong Nho giáo, song song với những phương pháp tu thân ngõ hầu thực hiện được lý tưởng cao siêu ấy.

Nhưng trở nên hoàn thiện (trung 忠) chưa đủ, còn phải giúp đỡ dẫn dắt người khác trở nên hoàn thiện giống mình (thứ 恕), cùng nhau biến cải vật chất và hoàn cảnh cho trần ai tục lụy biến thành Nhược Thủy, Bồng Lai, thế mới là thuận theo thiên lý, hoàn tất sứ mạng con người. Vả lại, đã sinh ra đời, con người có nhiệm vụ chung sống với nhau, để chung lưng góp sức cải thiện hoàn cảnh vật chất, suy cứu cho ra căn nguyên và định mệnh của mình. Đã sống chung, tất phải có người lãnh đạo chỉ huy. Vì thế, chương 3 đề cập đến cương vị, sứ mạng, đạo độ của một vị lãnh đạo lý tưởng. Vị lãnh đạo lý tưởng là người đem an bình lại cho nhân loại, chỉ vẽ cho con người định mệnh cao sang của mình, dạy dỗ cho biết phương pháp thực hiện định mệnh ấy, lại lấy mình làm tấm gương sáng cho mọi người soi vào mà bắt chước, mà cố gắng noi theo. Vị lãnh đạo lý tưởng ấy Nho giáo mệnh danh là Thiên tử.

Ngoài ra, chương 3 còn đào sâu khơi rộng vấn đề bằng cách đối chiếu quan niệm Thiên tử Trung Hoa với các quan niệm Âu Á, cổ kim tương tự, mục đích là tháo gỡ mối tơ vò nhân loại, giải đáp thai đố tự ngàn xưa về nhân thế và định mệnh con người.

Mối manh để tìm ra lời giải đáp đã nằm gọn trong định luật biến dịch, định luật tuần hoàn, và trong những hiện tượng đối lập như «phục, khởi» (immanence et émergence), «ẩn, hiện» (latence et manifestation, potentialité et réalisation) của trời đất.

Nói cách khác, nếu trong nhân loại đã có những vị chân Thiên tử, tất nhiên nhân loại ai ai cũng có khả năng trở thành Thiên tử.

*Thế mới hay:

«Người là người mà tớ cũng là người

Nhắm cho kỹ, vẫn chênh vênh đầu giốc.»

(Phạm Văn Ái)

Chương 4 sẽ nghiên cứu phương pháp trị dân tại Trung Hoa thời cổ. Phương pháp này đã được ghi chép trong Hồng Phạm Cửu Trù. Hồng Phạm có chín thiên, nên chương 4 cũng có chín thiên chính. Trước sau toàn dùng Hồng Phạm Cửu Trù và Tứ Thư, Ngũ Kinh để phác họa lại những nét chính yếu của nền Thiên trị (Théocratie) Trung Hoa thời cổ, một đề tài mà xưa nay ít người đã đề cập tới một cách mạch lạc, thấu đáo.

Sách có bốn chương, mà chương vắn, dài không cân xứng với nhau, đó là một khuyết điểm của cuốn sách. Nhưng thiết nghĩ không nên câu nệ về hình thức, mà cần chú trọng đến tinh hoa, đến nội dung.

Người xưa gắn liền đời sống nhân quần với đời sống thiên nhiên vũ trụ, cố gắng theo đúng nhịp điệu của trời đất, trăng sao, nên rất chú trọng đến thiên văn, khí tượng, và lịch số.

*Để cho vấn đề thêm sáng tỏ, và để cho quí độc giả rộng đường tham khảo, tác giả đã trình bày thêm trong phần phụ lục:

1- Thiên Nguyệt Lệnh (Lễ Ký) [1] phác họa lại chương trình hoạt động của các vị Thiên tử xưa trong 12 tháng quanh năm, mục đích là điều hòa công tác của quần chúng, của quốc gia cho ăn khớp với nhịp điệu thời tiết.

2- Thơ Thất Nguyệt (thiên Bân Phong, Kinh Thi) [2] trình bày đại khái những mối lo âu và công việc của dân chúng miền cực Tây nước Trung Hoa trong một năm.

3- Thiên «Chiêm chu niên phong nẫm ca» của Ngọc Hạp Ký để trình bày cách thức của người xưa xem khí tượng để ức đoán cát, hung, đắc, thất, trong tháng, trong năm.

Đáng lẽ còn phải đề cập đến thiên văn và lịch số Trung Hoa trong phần phụ lực, nhưng e quá dài, nên xin dành đề tài này cho một thiên khảo luận khác.

Quyển Khổng học Tinh hoa có mục đích tìm hiểu thân thế và định mệnh con người qua lăng kính Khổng giáo.

Nó cũng muốn phạt quang gai góc cho công trình nghiên cứu của những người sau được dễ dàng hơn.

Tác giả chỉ có công sưu tầm. Cái hay trong sách là của tiền nhân, cái dỡ trong sách dĩ nhiên là của tác giả. Mong các bậc cao minh lượng thứ.

*Saigon, ngày 27 tháng 5 năm 1966

* Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
cẩn chí.

————-

CHÚ THÍCH

[1] Theo nhà học giả Couvreur, thiên Nguyệt Lệnh gồm nhiều đoạn trích trong quyển Xuân Thu của Lã Bất Vi. Các đường lối, phong tục ghi trong Nguyệt Lệnh phần nhiều khai nguyên từ thời các vị đế vương xưa. (Xem Couvreur, Li Ki, I chapitre IV – Iue Ling, page 330).

[2] Bân là tên một vùng phía cực Tây nước Tàu (kinh tuyến 105o46’, vĩ tuyến 35o04’). Tổ tiên nhà Chu sinh sống ở đó từ 1796 đến 1325 trước công nguyên cho đến khi dựng nên cơ nghiệp nhà Chu. Thơ Bân Phong như vậy rất cổ kính (cf. Legge, The She King, Prolegomera 127 và các trang 2, 226, 227). Thơ Thất Nguyệt vì mô tả đời sống của giòng họ nhà Chu từ thời xa xưa trong vùng hẻo lánh, lạnh lẽo của miền cực Tây nước Trung Hoa, nên dĩ nhiên có nhiều điều không ăn khớp với thiên Nguyệt Lệnh.

II.- CHƯƠNG  I:-

Ý niệm về Thượng Đế qua
Tứ Thư, Ngũ Kinh và sử liệu Trung Hoa

Khảo sát ý niệm về Trời, về Thượng Đế qua Tứ Thư, Ngũ Kinh và sử liệu Trung Hoa, tức là khảo sát niềm tín ngưỡng của dân tộc Trung Hoa thời cổ, trong khoảng hơn 2000 năm lịch sử trước đời Khổng Tử.

Sống thời nay mà bàn chuyện xa xăm quá vãng từ ba, bốn nghìn năm về trước như vậy, thoạt nghĩ, tưởng là viển vông, lỗi thời. Nhưng biết đâu trong cái thế giới ngả nghiêng cả về tinh thần lẫn vật chất này, niềm tin của người xưa lại chẳng làm vững mạnh lại lòng tin của người nay?

Khảo cứu Tứ Thư, Ngũ Kinh, nhiều người vẫn tưởng rằng đức Khổng lập ra một đạo mới, nhưng kỳ thực Ngài chỉ muốn làm sống lại những truyền thống, những tín ngưỡng cao đẹp của người xưa, muốn xây dựng lại cho nước Trung Hoa nền Thiên trị (Théocratie) chính thống của các thánh quân, hiền phụ thời trước…

*Ngài nói:

«Ta trần thuật chứ không sáng tạo,

Tin cổ nhân, mộ đạo cổ nhân.» [1]

Thực vậy, Ngài ra công sưu tầm, san định các tài liệu lịch sử, lễ nhạc, thi ca thời cổ, ghi chép thành bộ Ngũ Kinh quí báu mà ngày nay chúng ta thừa hưởng. Nhờ vậy mà bây giờ chúng ta mới còn có những quan niệm chính xác về dân Trung Hoa thời cổ.

«Công Tôn Triều, đại phu nước Vệ, hỏi Tử Cống: Thầy ông là Trọng Ni học với ai mà giỏi như vậy ? Tử Cống đáp: Đạo thống của vua Văn, vua Võ chưa tan nát ở cõi này, vẫn còn ở nơi người. Vì vậy trang hiền đức học nhớ được phần trọng đại, kẻ tầm thường học nhớ được phần nhỏ nhít. Ở đâu lại chẳng có đạo thống của vua Văn, vua Võ ? Thầy tôi há chẳng học ở đó sao? Cần gì mà phải nhất định có một ông thầy?» [2]

Nay thì trái lại, đạo thống của vua Văn, vua Võ đã tan nát, chẳng còn ở nơi người, nhưng vẫn còn nguyên vẹn trong sách vở. Ta hãy giở lại những trang sách cũ để tìm ra những điều trọng đại…

Dân Trung Hoa có ý niệm về Trời, về Thượng Đế tự bao giờ? Từ Bàn Cổ, từ Phục Hi, hay từ Hoàng Đế?

Đó thực là một câu hỏi khó trả lời…

Chúng ta chỉ biết rằng: theo Trúc Thư Kỷ Niên thì từ thời Hoàng Đế (tức vị năm 2697 trước kỷ nguyên) đã thấy đề cập tới Trời, một cách kính cẩn nhưng cũng rất tự nhiên, quen thuộc.

* Trong thiên đầu sách, nhan đề là «Hoàng Đế Hiên Viên Thị», Trúc Thư ghi:-

Năm thứ 50 (đời Hoàng Đế), mùa thu, tháng bảy, ngày Canh Thân, phượng hoàng bay đến, Hoàng Đế tế lễ ở sông Lạc.

Từ ngày Canh Thân, trời sa mù ba ngày, ba đêm; ban ngày cũng hôn ám. Hoàng Đế hỏi Thiên Lão, Lực Mục, Dung Thành xem sự thể thế nào ?

Thiên Lão tâu: «Thần nghe khi nước yên và vua chuộng văn thì phượng hoàng tới ở; lúc nước loạn và vua chuộng võ, thì phượng hoàng bay đi. Nay phượng hoàng bay lượn vui vẻ ở bờ cõi Đông, tiếng kêu an hòa tiết tấu ứng hợp với Trời. Suy ra thì biết: TRỜI ĐÃ BAN NHỮNG LỜI NGHIÊM GIÁO CHO ĐỨC VUA, xin đức vua chớ nên bất tuân.» [3]

Tài liệu lịch sử này chứng minh rằng Hoàng Đế (2697 BC) và quần thần đã tin kính Trời, đã đề cập tới Trời một cách rất là tự nhiên quen thuộc và trong những tình thế nghiêm trọng bất thường, đã biết cùng nhau bàn bạc để tìm hiểu ý Trời mà tuân cứ…

Vua Nghiêu (tức vị 2356 BC) lại còn thánh thiện hơn nữa: Ngài đã biết sống thánh thiện noi gương Trời!

Khổng Tử đã viết về vua Nghiêu như sau: «Vua Nghiêu đức nghiệp lớn thay, chỉ có Trời là lớn! Chỉ có vua Nghiêu là bắt chước Trời.» [4]

Khi vua Thuấn lên ngôi (2255) đã tế lễ Thượng Đế. [5]

Vua Đại Võ khi còn là hiền thần, đã biết khuyên vua Thuấn sống cuộc đời đức hạnh «để có thể huy hoàng rước lấy Thượng Đế». [6]

Lúc trị thủy thành công trở về, Đại Võ dâng vua Thuấn một tấm ngọc huyền khuê, để báo cáo công việc hoàn thành. [7] Phó Diễn bình rằng: Võ dâng Thuấn ngọc huyền khuê là muốn nói cùng vua Thuấn: «Đức hạnh của nhà vua đồng nhất với đức hạnh Trời.» [8]

Các vua sáng lập nhà Ân (1766-1122) cũng đã biết sống cuộc đời thánh thiện, phối hợp với Thượng Đế.

* Kinh Thi viết:

«Thủa nhà Ân còn thời thịnh trị,

Đã từng cùng Thượng Đế tất giao.» [9]

Sau khi nhà Ân suy vi thì vua Văn (sinh năm 1258 BC), người được mệnh lệnh Thượng Đế hưng binh đánh Trụ, lại biết sống phối hợp với Trời.

*Kinh Thi viết:

«Việc Trời chẳng tiếng chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin.» [10]

Vũ Vương (1122 BC) đã điều động binh tướng đánh Trụ vương với danh nghĩa «thay Trời trừ bạo».

Trong bài diễn văn quan trọng để hô hào tướng sĩ ở Mạnh Tân, sau khi đã kể các tội ác của Trụ vương, vua nói:

«Hoàng Thiên đã chấn nộ, sai cố quân tôi là Văn Vương kính cẩn ra oai Trời, nhưng đại sự chưa thành tựu. Tôi nay còn là trẻ nít, ngày đêm những lo cùng sợ. Tôi đã nhận lãnh sứ mạng do cố quân tôi, tôi đã tế lễ Thượng Đế, tôi đã làm lễ nghi kính đất đai, và tôi nay hướng dẫn chúng tướng sĩ thi hành hình phạt của Trời. Trời thương dân chúng. Cái gì dân muốn, Trời cũng sẽ nghe theo.

Xin các tướng sĩ hãy giúp tôi quét sạch bốn biển. Thời cơ này xin chớ để mất.» [11]

Lúc lâm trận Mục Dã, đứng trước một đạo binh vô cùng đông đảo của Trụ vương, để khuyến khích ba quân, Võ Vương đã kêu lên: «Thượng Đế ở với ba quân, ba quân hãy vững lòng vững dạ.»

* Kinh Thi viết:

«Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,

Một rừng người chật cả sa tràng.

Cho ba quân thêm dạ sắt gan vàng,

Võ Vương kêu: Thượng đế ở cùng ta đó,

Ba quân hãy vững lòng vững dạ.» [12]

* Sử còn cho hay:

«Sau trận Mục Dã, Trụ Vương trốn vào Lộc Đài tự thiêu chết. Còn vua Vũ, sau khi nhận lời ca tụng của các vị vương bá về trận thắng, liền đuổi theo Trụ Vương tới kinh đô. Dân chúng túc trực ngoài thành lũy, lo lắng sợ hãi. Vua Vũ cho sứ giả tới phủ dụ dân bằng lời lẽ sau: «Trời cao gíng phúc lành cho (anh em).» Dân chúng cúi chào vua Vũ. Vua Vũ cũng cúi chào đáp lễ lại…» [13]

Nếu ta đem so sánh các nhân vật lịch sử Trung Hoa trên đây với các nhân vật lịch sử Do Thái, và các giai đoạn lịch sử Do Thái ghi trong Cựu Ước với những niên kỷ phỏng định tương ứng, ta mới thấy dân Trung Hoa ngay từ trước Hồng Thủy, [14] từ lâu trước thời Abraham [15] và Moïse [16] đã có một niềm tín ngưỡng sâu xa, một lòng kính tôn tin cậy hết sức lớn lao đối với Thượng Đế.

*Bảng đối chiếu sau đây sẽ giúp ta dễ lĩnh hội được điều đó. [17]

 BẢNG NIÊN KỶ ĐỐI CHIẾU GIỮA TRUNG HOA, DO THÁI, VIỆT NAM VÀ ÍT NHIỀU CƯỜNG QUỐC ÂU Á THỜI CỔ

TRUNG HOA

Phục Hi 2852 BC
Thần Nông 2737 BC
Hoàng Đế 2697 BC
Nghiêu 2356 BC
Thuấn 2255 BC
Hạ 2205-1766 BC       Đại Võ 2205 BC
Thương 1766-1122 BC    Thành Thang 1766 BC
Chu 1122-255 BC       Văn Vương sinh 1258 BC
Võ Vương 1122 BC
Chiêu Vương 1052 BC
Mục Vương 1001 BC
Linh Vương   (Khổng Tử sinh 571 BC)
Liệt Vương    (Mạnh Tử sinh 357 BC )
Tần 249 BC -206 BC   Tần Thủy Hoàng (249 BC)
Tây Hán    Cao Tổ (206 BC )

DO THÁI

Adam 4004 BC
Hồng Thủy 2348 BC
Abraham 1800 BC
Xuất Ai Cập Moïse 1240 BC
Các quan xét 1160-1020 BC
Samuel 1050 BC
David 1000 BC
Ezechiel giảng giáo ở Babylone 594  BC

CÁC NƯỚC

Luật Hamourabi (Babilone) 2000 BC
Ai Cập thịnh trị từ 1600 BC —1200 BC
Assyrie thịnh trị 900 BC —607 BC
Babylone thịnh trị 606 BC —536 BC
Ba Tư thịnh trị 536 BC—330 BC
Hi Lạp thịnh trị 330 BC —146 BC
La Mã thịnh trị 146 BC — 476 AC

VIỆT NAM

Hồng Bàng 2879 BC— 258 BC

—————————

* Thượng Đế trong Tứ Thư, Ngũ Kinh, có nhiều danh hiệu:

Đế, [18] Thượng Đế, [19] Thiên, [20] Hoàng Thiên, [21] Thượng Thiên, [22] Hoàng Thượng Đế, [23] Thiên Hoàng Thượng Đế, [24] Thượng Thiên Thần Hậu, [25] Hoàng Hoàng Hậu Đế, [26] v.v… Ấy là chưa kể đến những danh từ trừu tượng siêu hình như Dịch, [27] Thần, [28] Thái Cực, [29] v.v…

Các giáo sĩ Âu Châu rất bất mãn vì Trung Hoa lại có thể dùng chữ Thiên mà chỉ Thượng Đế, vịn lẽ rằng trời là vòm trời, vô tri giác, sao lại có thể kính tôn và thờ phụng được. Linh mục Ruggieri viết:

«Trời không phải là thần minh mà là tòa của thần minh… Có thể ông Khổng đã dùng chữ trời mà chỉ danh một trí tuệ tối cao cai trị trời đất, nhưng tôi không biết ông Khổng đã nghĩ thế nào?» [30]

Những lời bắt bẻ ấy thật vô lý cứ: Trước hết, trong bất kỳ tiếng nước nào, mỗi chữ thường có nhiều nghĩa. Muốn hiểu đúng nghĩa, phải đặt mỗi chữ vào đúng chỗ của nó trong câu (contexte). Vả lại, nếu người xưa đã thờ một vòm trời vô tri giác, thì sao lại nói Trời xem, Trời nghe, Trời muốn, Trời giận, Trời phạt, v.v… thì tại sao trong đền thờ Thượng Đế ở Bắc Kinh lại có bốn chữ đại tự thiếp vàng Hoàng Thiên Thượng Đế? [31] (scan) Hơn nữa, theo nguyên tắc, không một người ngoại quốc nào có thể có đủ thẩm quyền thay đổi từ ngữ của một dân tộc….

Theo Cha Matteo Ricci (sinh tại Macerat ngày 6-10-1552, đến Macao ngày 7-8-1582, mất tại Bắc Kinh ngày 11-5-1610; [32] cầm đầu các cha Dòng Tên vào Trung Hoa từ năm 1583), Thiên và Đế trong sách cổ điển Trung Hoa đều chỉ «một đấng chủ tể vạn vật; phải hiểu Thiên là đấng ngự trị trên trời, theo kiểu nói thân mật của các dân tộc, đã được Thánh Kinh phê nhận». [33] Nhưng những ý kiến xây dựng của cha Ricci đâu có được nghe theo. Cha Pasio khuyến cáo cha Longobardo, người kế nghiệp cha Ricci, rằng nếu dùng chữ Thượng Đế, chữ Thiên để chỉ Thiên Chúa e bất lợi cho công cuộc truyền giáo, nhất là ở Nhật Bản. [34] Cuộc tranh luận về từ ngữ kéo dài mãi cho tới hội nghị Kiating (1628). Các giáo sĩ đành vấn ý Giáo Hội La Mã như sau: «Những chữ Thiên, chữ Thượng Đế còn có nên giữ để chỉ Chúa người Công giáo không?» Mãi đến 1704 Giáo Hội mới trả lời: «Không, hãy dùng chữ Thiên Chúa.» [35]

Ngày 30-11-1700, Vua Khang Hi giáng chiếu như sau: «Đối với các việc tế lễ mà các vua chúa thời xưa quen dâng kính Trời, đó là những việc tế lễ mà các triết gia Trung Hoa gọi là … tế lễ Trời Đất, mục đích là để tôn kính Thượng Đế… cho nên, đã hiển nhiên là không phải dâng tế lễ cho trời hữu hình hữu chất, mà là dâng cho đấng chủ tể đã tạo thành trời đất muôn vật. Và vì người xưa kính sợ Thượng Đế, không dám trực tiếp xưng tên Ngài, nên họ thường xưng hô Ngài dưới danh hiệu là Thượng Thiên, Hoàng Thiện, Mân Thiên. Y như ngày nay, khi đề cập tới Hoàng Đế, người ta không gọi đích danh Hoàng Đế, mà lại gọi cửu trùng, chín bệ…

Như vậy xét về từ ngữ thì có khác nhau, nhưng xét về ý nghĩa thì những danh từ ấy đều là một…» [36]

Vua Khang Hi thực đã tỏ ra một thái độ sáng suốt và biết dung hòa hết sức…

Trong Cựu Ước, nhiều khi Chúa mượn hình người xuống gặp gỡ các tổ phụ, ví dụ gặp Abraham ở gốc sồi Mambré (Sáng Thế Ký 18-1, 23) hay Jacob (Sáng Thế Ký 32-22, 23) hay Moïse (Exode 33-10, 11), v.v…

Trong Tứ Thư, Ngũ Kinh, trái lại, tuyệt nhiên không thấy có sự hiển linh đó, vì Khổng giáo chủ trương Trời «không tiếng, không hơi» (vô thanh vô xú). [37] Tuy nhiên, Thi, Thư cũng một đôi lần ghi chép những lời Thượng Đế phán bảo cùng các thánh vương.

Kinh Thư, thiên Duyệt mệnh thượng, ghi chép: Vua Cao Tông (Vũ Đinh 1325 BC) nằm mộng thấy Thượng Đế ban cho một hiền thần. Vua tỉnh dậy, cho họa ảnh, đồ hình, tìm tòi khắp trong nước. Quả nhiên gặp được Duyệt ở đất Phó Nham đúng như hình vẽ. Vua liền phong cho Phó Duyệt làm tể tướng và giữ luôn bên cạnh mình.[38]

* Kinh Thi thiên Hoàng Hĩ có ghi những lời Thượng Đế phán bảo Văn Vương:-

Thượng đế gọi vua Văn phán bảo,

«Ngươi chớ nên trở tráo đảo điên.

Đừng cho dục vọng tần phiền,

Đừng vì ngoại cảnh rối ren tơ lòng.»

Vua Văn tiến tới cùng nẻo đức,

Đức vua văn rất mực cao siêu…

Thế mà dân Mật dám điều

Manh tâm phản loạn, ra chiều khinh khi.

Chiếm xứ Nguyễn, lại đi Cung đánh,

Làm Văn Vương nổi thịnh nộ lên.

Ba quân điều động một phen,

Ngăn quân phản loạn dẹp yên cõi bờ.

Để thiên hạ thấy cho tường tận,

Khỏi hoang mang lo lắng đợi trông.

Vua tuy vẫn ở trong kinh khuyết,

Nhưng ba quân ra tít Nguyễn thành,

Quản chi đồi núi chênh vênh,

Núi non nào thấy bóng hình địch quân.

Đồi cao, đồi thấp biệt tăm.

Suối kia, ao nọ vẫn nằm chơ vơ.

Địch quân đóng bên bờ sông Vệ,

Đóng xứ Kỳ, đóng xế về Nam,

Là nơi đồng ruộng mỡ màng,

Là trung tâm điểm muôn vàn lý hương.

oOo

Thượng đế gọi vua Văn phán bảo:

«Ta ưa ngươi hoài bão đức nhân,

Chẳng cần khoe tiếng khoe tăm,

Chẳng cần thanh sắc lố lăng bên ngoài,

Không hay, không biết, thảnh thơi,

Thung dung theo đúng luật trời ở ăn.»

Thượng đế gọi vua Văn phán bảo:

«Hãy ra tay chinh thảo địch quân.

Hãy cùng huynh đệ hợp quần,

Sẵn sàng thang, móc, xung, lâm phá thành.

Thành Sùng nọ, sẽ phanh, sẽ phá,

Sẽ ra tay xô ngã thành Sùng…» [39]

… Trời oai nghi,[40] nhưng luôn để mắt nhìn xuống muôn phương [41] để dìu dắt ám trợ chúng dân.[42]

«Kìa Thượng Đế muôn trùng cao cả

Oai nghi nhìn thiên hạ chúng dân

Nhìn quanh tứ phía hồng trần

Tìm xem ai kẻ trị dân an bình.» [43]

* Bởi vì:-

«Sinh dân Trời chẳng bỏ liều

Liệu người cai quản đến điều mới thôi.» [44]

Dĩ nhiên là «Trời rất thông minh, nên các vị thánh quân phải bắt chước Trời, như vậy quần thần sẽ khâm phục và dân chúng sẽ được cai trị hẳn hoi, yên ổn.» [45]

Trời không thân ai, chỉ thân kẻ biết kính sợ Ngài. [46]

Trời đôi khi cũng phẫn nộ [47] vì những lỗi lầm, [48] thất bại [49] hay tội lệ [50] của các nhà cầm quyền, có khi cũng ra uy, [51] giáng tai ách, [52] nhưng, thật ra Ngài thương muôn dân vô hạn, [53] đến nỗi đồng hóa mình với chúng dân. [54]

*Kinh Xuân Thu cũng viết:

«Trời rất thương dân. Có lẽ nào Trời để cho một người trị dân theo ý riêng mình, theo tính xấu mình mà phế bỏ tính trời đất, chắc không thể nào được.» [55]

oOo

Khảo cứu văn liệu, sử liệu Trung Hoa thời cổ, ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy dân Trung Hoa xưa đã thờ Trời, tin Trời, kính sợ Trời. Hơn thế, họ còn coi Trời như cha, vì thế mà vua nhiều khi còn được mệnh danh là nguyên tử, là con đầu của Thượng Đế. [56] Trịnh Khang Thành bàn rằng: «Phàm người ta ai cũng là con Trời, Thiên Tử là con đầu hay là trưởng tử.» [57]

Chính Trời cai trị, hướng dẫn dân chúng.

Kinh Thi viết:

«Trời xanh dẫn dắt chúng dân,

Như là tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,

Trời, Người, đôi ngọc chương khuê,

Bên cho, bên lấy, đề huề, xiết bao,

Tay cầm, tay giắt, khéo sao,

Trời xanh, dẫn dắt dân nào khó chi.» [58]

Như vậy, các vua quan chỉ là những người đại diện, những thiên sứ, [59] những tôi tá của Trời. [60] Một tổ chức xã hội theo quan niệm như vậy là Thiên trị (Théocratie).

Các trang hiền thánh, các thánh quân, hiền thần đều ước ao sống cuộc đời thánh thiện, phối hợp với Thượng Đế.. Những chữ «phối Thiên», «khắc phối Thượng Đế» (kết hợp với Thượng Đế) [61] được đề cập nhiều lần trong Tứ Thư, Ngũ Kinh…

Thực là lạ lùng khi nhận thấy người xưa đã có một niềm tín ngưỡng sâu xa về Thượng Đế như vậy, và một lý tưởng đạo hạnh tuyệt vời như vậy …

Nhiều học giả Âu Châu, khi khảo sát lại niềm tín ngưỡng Trung Hoa thời cổ cũng phải bỡ ngỡ lạ lùng.

Cha Ricci viết ngày 4-11-1595 như sau: «Tôi đã nhận thấy có nhiều đoạn [trong Tứ Thư, Ngũ Kinh] phù hợp với tín ngưỡng chúng ta, ví như Thiên Chúa duy nhất, linh hồn bất tử, các thánh nhân được vinh quang, v.v…» [62]

Pascal viết: «Ai đáng tin hơn: Moïse hay Trung Hoa?» [63]

Cha Lecomte viết:

«Đạo giáo Trung Hoa hình như đã giữ được tinh toàn qua các thế hệ những chân lý chính yếu mà Thiên Chúa đã mặc khải cho những người sơ thủy. Trung Hoa lúc sơ khai may mắn hơn các nước khác trong hoàn võ, đã thâu lượm hầu như được chính mạch, chính nguồn những chân lý thánh thiện và chính yếu cho đạo giáo cổ thời của họ. Những vị hoàng đế đầu tiên đã xây đền thờ Thiên Chúa, và thực không phải là một vinh dự nhỏ cho dân Trung Hoa vì đã tế lễ tạo hóa trong một đền thờ cổ kính nhất thiên hạ. Niềm đạo hạnh ban sơ đã gìn giữ được trong dân chúng nhờ công lao của các vị hoàng đế; vì thế tà đạo đã không lọt được vào Trung Quốc.» [64]

James Legge, một giáo sĩ Thệ Phản và một học giả lừng danh về Hán học, đã viết trong bài phi lộ quyển Kinh Thư mà ông bình dịch như sau:

«Thiên Chúa được gọi là Đế, là Thượng Đế, tức là đề cao tính cách hữu ngã, chí tôn và duy nhất của Ngài. Chúng ta thường thấy những danh hiệu trên được dùng thay đổi với chữ Thiên. Thiên vẫn hàm ngụ ý nghĩa chí tôn, và duy nhất, còn tính cách hữu ngã thì được ám chỉ tới một cách không rõ rệt, như là bằng một sự liên tưởng. [65] Vua chúa cai trị là do Trời. Vua chúa bắt buộc phải thi hành công lý cũng là vì Trời. Mọi người đều phải sống dưới lề luật của Ngài, và có bổn phận tuân theo ý chỉ của Ngài. Ngay hạ dân, Ngài cũng ban cho một ý thức về luân lý, theo ý thức ấy, sẽ làm tỏ rõ nhân tính hằng cửu chân thiện. Mọi uy quyền đều do nơi Ngài. Ngài cất nhắc kẻ này lên ngôi báu và hạ bệ kẻ khác xuống. Tuân phục Ngài sẽ được phúc lộc; bất tuân Ngài sẽ bị Ngài trách phạt. Bổn phận các vua chúa là phải cai trị cho công bình và nhân hậu, cho dân chúng được hạnh phúc, sung sướng. Vua chúa phải nêu gương mẫu cho đình thần, bá quan, và muôn dân. Sự thành công lớn lao nhất của vua chúa là khiến cho dân chúng được sống yên bình, thảng đãng tiến bước theo lời chỉ giáo của lương tâm họ. Khi vua chúa lầm lỗi, Trời sẽ chỉnh huấn bằng những phán quyết như giông tố, đói khát, hay các thiên tai khác; nếu vua chúa không chịu sửa đổi, thì hình phạt sẽ nặng nề hơn.

Họ sẽ mất quyền cai trị, và quyền ấy sẽ sang tay người khác xứng đáng với nhiệm vụ ấy…» [66]

Mấy hàng của James Legge có thể dùng để toát lược chương này.

Thực ra quan niệm về Thượng Đế là một quan niệm rất phức tạp. Nó biến ảo vô cùng, và thay đổi tùy nơi, tùy thời, tùy sự nhận thức của từng người. Đề cập thế nào về Thượng Đế cũng thấy là bất xứng, diễn tả thế nào về Thượng Đế cũng vẫn thấy sai ngoa. Cho nên, nơi đây chúng ta đã không có tham vọng bao quát mọi ý niệm về Thượng Đế trong Nho giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi, không đề cập tới những quan niệm siêu hình, những danh từ trừu tượng về Thượng Đế của các triết gia về sau, nhất là của Tống Nho.

Chúng ta đã đề cập tới Thượng Đế bằng những quan niệm của đại chúng, của các vị hiền thánh thời xa xưa, chứ không muốn đề cập tới Thượng Đế bằng khối óc của những nhà triết học. [67]

Cũng vì vậy mà chúng ta đã không đi sâu vào những ý kiến dị biệt, những tranh luận kéo dài hằng mấy thế kỷ của các giáo sĩ, các học giả Âu Châu quanh chữ Thiên, quanh ý niệm về Trời, về Thượng Đế trong Nho giáo. [68]

Chương này chỉ là chương dẫn đầu để xây nền đắp tảng cho các chương sau, vì Thượng Đế chính là căn bản cho nền đạo giáo và chính trị Trung Hoa thời trước.

Chương này ngoài ra còn có mục đích dùng sử liệu văn liệu để chứng minh Thượng Đế chẳng phải là của sở hữu của cá nhân nào, quốc gia nào, dân tộc nào hay thời đại nào, mà Thượng Đế là của chung cho hoàn võ và nhân loại. Trời chẳng thân ai, chỉ thân người biết kính sợ Ngài (Kinh Thư – Thái Giáp hạ 1)

CHÚ THÍCH

[1] Tử viết: Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ. 子 曰: 述 而 不 作, 信 而 好 古. (Luận Ngữ, Thuật Nhi, 7)

[2] Vệ Công Tôn Triều vấn ư Tử Cống viết: Trọng Ni yên học ? Tử Cống viết: Văn Vũ chi đạo vị truỵ ư địa, tại nhân. Hiền giả thức kỳ đại giả; bất hiền giả thức kỳ tiểu giả. Mạc bất hữu Văn Vũ chi đạo yên ? Phu tử yên bất học ? Nhi diệc hà thường sư chi hữu ? 衛 公 孫 朝 問 於 子 貢 曰: 仲 尼 焉 學? 子 貢 曰: 文 武 之 道 未 墜 於 地, 在 人. 賢 者 識 其 大 者; 不 賢 者 識 其 小 者. 莫 不 有 文 武 之 道 焉? 夫 子 焉 不 學? 而 亦 何 常 師 之 有? (Luận Ngữ, Tử Trương đệ thập cửu, tiết 22).

[3] Ngũ thập niên thu thất nguyệt, Canh Thân, phượng điểu chí, Đế tế ư Lạc Thuỷ. Canh Thân, thiên vụ tam nhật tam dạ; trú hôn. Đế vấn Thiên Lão, Lực Mục. Dung Thành viết: ư công hà như ? Thiên Lão viết: «Thần văn chi quốc an, kỳ chủ hiếu văn, tắc phượng hoàng cư chi. quốc loạn, kỳ chủ hiếu vũ, tắc phượng hoàng khứ chi. Kim phượng hoàng tường ư Đông giao nhi lạc chi kỳ minh âm trung di tắc dữ Thiên tương phó. Dĩ thị quan chi, thiên hữu nghiêm giáo dĩ tứ đế. Đế vật phạm dã.» 五 十 年 秋 七 月, 庚 申, 鳳 鳥 至, 帝 祭 於 洛 水. 庚 申, 天 霧 三 日 三 夜; 晝 昏. 帝 問 天 老, 力 牧. 容 成 曰: 於 公 何 如? 天 老 曰: 臣 聞 之 國 安, 其 主 好 文, 則 鳳 凰 居 之. 國 亂, 其 主 好 武, 則 鳳 凰 去 之. 今 鳳 凰 翔 於 東 郊 而 樂 之 其 鳴 音 中 夷 則 與 天 相 副 以 是 觀 之, 天 有 嚴 教 以 賜 帝, 帝 勿 犯 也. (Trúc Thư Kỷ Niên, quyển chi nhất, chương Hoàng Đế Hiên Viên thị). (James Legge, The Chinese Classics, vol III, The Annals of the Bamboo Books, page 108)

[4] Khổng Tử viết: Đại tai Nghiêu vi quân, duy thiên vi đại, duy Nghiêu tắc chi.

孔 子 曰: 大 哉 堯 之 為 君,惟 天 為 大,惟 堯 則 之 (Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng, 4).

[5] Tứ loại vu Thượng Đế 肆 類 于 上 帝 (Thượng Thư, Thuấn Điển 6). Thượng Thư là bộ sách được đức Khổng san định mục đích đề cao các thánh quân hiền phụ và nền Thiên trị thời cổ. Nên sách chỉ ghi chép sự tích của ít nhiều thánh quân hiền thần từ thời Nghiêu (2356 BC) đến đời Tần Mục Công (659 BC) chứ không phải là một bộ sử liên tục, có mạch lạc liên tiếp. Thoạt tiên Kinh Thư chỉ gọi là Thư. Sau, Trịnh Khang Thành thêm vào chữ Thượng. Ông nói: Đức Khổng vì tôn trọng bộ sách, coi nó như là cuốn thiên thư, nên gọi là Thượng Thư (Tôn nhi trọng chi nhược thiên, cố viết Thượng Thư) (Cf. James Legge, The Shoo King, part I, the Book of T’ang The Canon of Yaou, page 15, notes).

[6] … dĩ chiêu thụ Thượng Đế (Thượng Thư, Ích Tắc 2)

以 昭 受 上 帝

(James Legge bình và dịch như sau: 以 昭 受 上 帝 You will brightly receive God. We must understand 上 帝 之 命 or some similar phrase. (James Legge, The Shoo King, part II, book IV, chap. 1, 2, 4; notes, p. 79).

James Legge không dịch là rước lấy Thượng Đế, mà dịch là nhận sự ủy nhiệm của Thượng Đế, nhưng công nhận nếu dịch theo nghĩa đen thì phải dịch như cách thứ nhất.

[7] Kinh Thư, Vũ Cống, 38.

[8] Ngô quân chi đức dữ Thiên vi nhất. 吾 君 之 德 與 天 為 一 (cf. Couvreur, Chou King, page 89.)

[9] Ân chi vị táng sư khắc phối Thượng Đế. 殷 之 未 喪 師 克 配 上 帝 (Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất, chương 6.)

[10] Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú, nghi hình Văn Vương, vạn bang tác phu. 上 天之 載, 無 聲 無 臭, 儀 刑 文 王, 萬 邦 作 孚 (Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất.)

Đoạn này tác giả dịch khác James Legge. Tuy nhiên James Legge cũng chú: King Wan might be considered as an embodiment of Heaven. (James Legge, The Shoo King, pages 431-432.)

[11] Cf. Kinh Thư, Thái Thệ thượng 5, 10: Hoàng thiên chấn nộ, mệnh ngã văn khảo, túc tương thiên uy, đại huân vị tập… Dư tiểu tử túc dạ chi cụ, thụ mệnh văn khảo, loại vu Thượng Đế, nghi vu trủng thổ, dĩ nhĩ hữu chúng, để thiên chi phạt. Thiên căng vu dân, dân chi sở dục, thiên tất tòng chi, nhĩ thượng bật dư nhất nhân, vĩnh thanh tứ hải, thời tai phất khả thất. 皇 天 震 怒,命 我 文 考,肅 將 天 威,大 勳 未集… 予 小 子 夙 夜 祗 懼,受 命 文 考, 類 于 上 帝,宜 于 冢 土, 以 爾 有 眾, 底 天 之 罰. 天 矜 于 民, 民 之 所 欲, 天必 從 之, 爾 尚 弼 予 一 人, 永 清 四 海, 時 哉 弗 可 失.

[12] Ân Thương chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm. 殷 商 之 旅, 其 會 如 林. 矢 于 牧 野, 維 予 侯 興. 上 帝臨 女, 無 貳 爾 心 (Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương.) Chỗ này tác giả dịch theo ý, và hơi khác James Legge. Legge cho câu Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm là lời Khương Tử Nha khuyên Vũ Vương lúc lâm trận Mục Dã (J. Legge, The She King, tr. 435), nhưng nếu vậy thì tác dụng tâm lý sẽ không lấy gì làm mạnh mẽ, sâu rộng; vả lại, theo Kinh Thư, chương Thái Thệ, ta chỉ thấy trước sau có mình Vũ Vương đứng ra lôi cuốn quần chúng.

[13] Cf. James Legge, The Shoo King, part V, book III, p. 2, notes, p. 308.

[14] Hồng Thủy khoảng năm 2348 (cf. Sấm truyền cũ, thuật cùng gẫm truyện thánh tổ tông, Imprimerie de la Mission, 1960, trang 20).

Đó cũng là niên kỷ theo sự ước toán của Tổng Giám Mục Usher 1650 AD (cf. Hallay’s Bible Handbook, trang 32). Các sách Thánh kinh mới như Crampon, Bible de Jerusalem không còn ghi những niên kỷ về Adam hay Hồng Thủy. Lý do là vì xưa kia Giáo Hội tin rằng Chúa dựng nên ông Adam khoảng 4004 năm trước kỷ nguyên. Truyền thống này được lưu truyền trong các bài hát cũ, hay trong Histoire universelle của Tổng Giám Mục Bossuet. Nhưng từ khi khoa địa chất học và nhân chủng học khám phá ra được rằng vũ trụ cũng như loài người đã có từ rất lâu về trước, thì các sách vở mới đều bỏ trống những niên kỷ về sự tạo dựng Adam hay Hồng Thủy.

[15] Abraham sinh khoảng 1996 BC theo Tổng Giám Mục Usher nhưng Crampon thì lại ghi sự du mục của Abraham vào khoảng 1800.

[16] Moïse đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập năm 1941 theo Tổng Giám Mục Usher (Hallay’s Bible Handbook, trang 33), hay 1240 theo Bible de Crampon (Bible de Crampon, trang LI).

[17] Các niên kỷ Trung Hoa trong đồ bản sau, lấy ở bộ Kinh Thư do cha Couvreur dịch (Séraphin Couvreur, Les Annales de la Chine, Tome II, pages 401-402). Các niên kỷ về Do Thái lấy ở Sấm truyền cũ, thuật cùng gẫm truyện thánh tổ tông, Imprimerie de la Mission, trang 7 và 20 (niên kỷ về Adam và Hồng Thủy). Các niên kỷ sau thời Hồng Thủy đều lấy ở Bible de Crampon, trang LI. Các niên kỷ về các nước Cận Đông, Hi Lạp, La Mã đều lấy ở Hallay’s Bible Handbook, trang 40-41. Các niên kỷ về Việt Nam rút ở Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

[18] Kinh Thư: Duyệt Mệnh thượng, 2. – Hồng Phạm 3, 15. – Kim Đằng 7.

[19] Kinh Thư: Thuấn Điển 6. – Thái Giáp hạ 3. – Bàn Canh hạ 6. – Thái Thệ thượng 6, 7, 10. – Thái Thệ hạ 3. – Vũ Thành 6.

[20] Kinh Thư: Thái Thệ 7 – Thái Giáp thượng 2.

[21] Kinh Thư: Thái Giáp thượng 5 – Duyệt Mệnh trung 10 – Y Huấn 2.

[22] Kinh Thư: Thang Cáo 2.

[23] Kinh Thư: Thang Cáo 2.

[24] James Legge, The Shoo King, part II, book III, 2, notes.

[25] Kinh Thư: Thang Cáo 4.

[26] Luận Ngữ, chương XX, 3.

[27] Thiên địa thiết vị nhi Dịch hành hồ kỳ trung hĩ. 天 地 設 位 而 易 行 乎 其 中 矣 (Hệ Từ thượng)

[28] Thần dã giả diệu vạn vật nhi vi ngôn dã. 神 也 者, 妙 萬 物 而 為 言 也 (Thuyết Quái)

[29] Thị cố Dịch hữu Thái Cực. 是 故 易 有 太 極 (Hệ Từ thượng)

[30] Le ciel n’est pas la divinité, mais le siège de la divinité…

Peut-être (forsan) par ce mot que vous croyez signifier le ciel, votre Confucius a-t-il voulu désigner cette intelligence suprême qui gouverne le ciel et la terre, mais j’ignore ce qu’il a pensé au juste (quid ille senserit ignoro).

Catéchisme du P. Ruggieri (1584); Opere storiche, tome II page 507, 520. – Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 99.

[31] Cf. A.M. Bùi Hữu Ngạn, Thượng Đế trong Nho giáo, trang 47.

[32] Cf. Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 101.

[33] Dictionnaire de Théologie Catholique, Tome II, phần II, cột 2365-2389.

A.M. Bùi Hữu Ngạn, Thượng Đế trong Nho giáo (Ra Khơi 1958), trang 38.

[34] Cf. Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 110.

[35] «Les expressions T’ien et Chang-ti, ciel et Souverain Seigneur sont-elles à conserver comme désignant le Dieu des chrétiens?»

La réponse définitive de Rome en 1704 sera: Non, dites T’ien Tchou, Seigneur du ciel. (Ibidem pages 110-111).

[36] Cf. Henri Bernard, Maître Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 143:

Le 30 Novembre 1700, paraissait une déclaration impériale: «A l’égard des sacrifices que les anciens Rois et Empereurs avaient coutume d’offrir au ciel, ce sont ce que les philosophes chinois appellent… sacrifices qu’on fait au Ciel et à la Terre, par lesquels ils disent que le Chang Ti ou Souverain Seigneur est honoré… D’où il est évident qu’on n’offre pas ces sacrifices au ciel visible et matériel; mais seulement au Seigneur et à l’auteur du ciel et de la terre et de toutes choses. Et comme par la crainte et le respect qu’ils ont pour lui, ils n’osent pas l’invoquer directement par son propre nom, ils ont coutume de l’invoquer sous le nom de ciel suprême; de ciel bienfaisant, de ciel universel, de même manière que quand on parle avec respect de l’empereur, on ne l’appelle pas par son nom, mais on dit les «degrés de son trône», «la cour suprême de son palais». Or ces noms quoique différents si l’on regarde les termes, sont cependant les mêmes, si l’on regarde leur signification». (Những danh từ Hoàng Thiên, Thượng Thiên, Mân Thiên, Cửu Trùng, Chín Bệ là những tiếng tác giả gượng dùng, để phiên dịch cho xuôi chứ thật ra muốn dịch đúng phải có bản Hán văn.)

[37] Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú… 天 之 載, 無 聲 無 臭 (Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất.)

[38] Mộng Đế lai dư lương bật… 夢 帝 來 予 良 弼 (Kinh Thư – Duyệt Mệnh thượng 2)

[39] Kinh Thi – Đại Nhã – Văn Vương. Hoàng Hĩ Thượng Đế 5, 9, 7.

[40] Ibidem I.

[41] Thiên giám hạ dân. 天 監 下 民 (Kinh Thư – Cao Tông Dung nhật 3).

[42] Thiên âm chất hạ dân 天 陰騭下 民 (Kinh Thư – Hồng Phạm 2).

[43] Kinh Thi – Đại Nhã – Văn Vương, Hoàng Hĩ Thượng Đế I.

[44] Đế tác bang, tác đối. 帝 作 邦 作 對 (Kinh Thi – Văn Vương – Hoàng Hĩ 3)

[45] Duy thiên thông minh, duy thánh thời hiến, duy thần khâm nhược, duy dân tòng nghệ. 惟 天 聰 明, 惟 聖時 憲, 惟 臣 欽 若, 惟 民 從 乂 (Kinh Thư – Duyệt Mệnh trung 3)

[46] Duy thiên vô thân, khắc kính duy thân. 惟 天 無 親, 克 敬 惟 親 (Kinh Thư – Thái Giáp hạ 1)

[47] Đế nãi chấn nộ. 帝 乃 震 怒 (Kinh Thư – Hồng Phạm 3.)

Hoàng Thiên chấn nộ 皇 天 震 怒 (Kinh Thư – Thái Thệ thượng 3.)

[48] Cổn nhân hồng thủy, cốt trần ngũ hành 鯀陻洪水,汨陳五行 (Kinh Thư – Hồng Phạm 3.)

[49] Cô thực bất kính thiên giáng chi tai 孤 實 不 敬, 天 降 之 災 (Xuân Thu – Trang Công năm thứ 2. Couvreur, Le Chou King, p. 153.)

[50] Thương tội quán doanh, Thiên mệnh tru chi 商 罪 貫 盈, 天 命 誅 之 (Kinh Thư – Thái Thệ 9.)

[51] Thiên giáng úy 天 降 畏 (Kinh Thư – Đại Cáo)

[52] Thiên độc giáng tai hoang vu Ân bang 天 毒 降 災 荒 于 殷 邦 (Kinh Thư – Vi Tử 4.)

[53] Thiên căng vu dân 天 矜 于 民 (Kinh Thư – Thái Thệ thượng 2)

[54] Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã dân thính 天 視 自 我 民 視, 天 聽 自 我 民 聽 (Kinh Thư – Thái Thệ trung 7.) Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi 民 之 所 欲, 天 必 從 之 (Kinh Thư – Thái Thệ 1.)

[55] Thiên chi ái dân thậm hĩ. Khởi kỳ sử nhất nhân tứ ư dân thượng, dĩ tòng kỳ dâm nhi khí thiên địa chi tính, tất bất nhiên hĩ 天 之 愛 民 甚 矣豈 其 使 一 人 肆 於 民 上 以 從 其 淫 而 棄 天 地 之 性 必 不 然 矣 (Xuân Thu Tả Truyện; Tương Công năm 14. Couvreur, Le Chou King, p. 310.)

[56] Hoàng Thiên Thượng Đế cải quyết nguyên tử 皇 天 上 帝 改 厥元 子: Đấng Hoàng Thiên Thượng Đế thay đổi con đầu của Ngài (Kinh Thư – Thiệu Cáo 9.)

[57] Phàm nhân giai vân thiên chi tử, thiên tử vi chi thủ nhĩ 凡 人皆 云 天 之 子. 天 子 為 之 首 耳 (Cf. James Legge, The Shoo King, p. 425.)

[58] Thiên chi dũ dân, Như huân như trì, Như chương như Khuê, Như thủ như huề, Huề vô viết ích, Dũ dân khổng dị. 天 之 牖 民, 如 壎 如 篪, 如 璋 如 圭, 如 取 如 攜, 攜 無 曰 益, 牖 民 孔 易 (Kinh Thi, Đại Nhã, Sinh Dân, thập chương, Bản, 6.)

[59] Thiên sứ dật đức liệt vu mãnh hỏa 天 吏 逸 德 烈 于 猛 火: Bậc thiên sứ thiên lại lầm đức dữ hơn lửa mạnh (Kinh Thư – Dận Chinh 6.) Cf. James Legge, The Shoo King, Thang Cáo thiên, trang 174, chú thích.

[60] Dư tạo thiên dịch 予造 天 役: Ta là tôi tá của Trời (Lời vua Vũ Vương) (Kinh Thư – Đại Cáo 8)

[61] Khắc phối Thượng Đế 克 配 上 帝 (Kinh Thư – Thái Giáp hạ 3.) (Kinh Thi – Đại Nhã, Văn Vương, Văn Vương 9)

Kỳ tự thời phối Hoàng Thiên 其 自 時 配 皇 天 (Kinh Thư – Thiệu Cáo 14.)

Cố Ân lễ thiệp phối thiên 故 殷 禮 陟 配 天 (Kinh Thư – Quân Thích 8)

Khắc phối bỉ thiên 克 配 彼 天 (Kinh Thi – Chu Tụng: Thanh Miếu, Tư Văn 1)

Cố viết phối thiên 故 曰 配天 (Trung Dung, chương 31)

[62] J’ai noté, écrit-il, beaucoup de passages qui sont en faveur de notre foi comme l’unité de Dieu, l’immortalité de l’âme, la gloire des Bienheureux etc… (Henri Bernard, Maître Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, p. 103)

[63] Lequel est le plus croyable des deux, Moïse ou la Chine? (Pascal – Pensées – petite édition Brunschwig, p. 596. – Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, p. 138).

[64] La religion chinoise, disait le Comte, semble avoir conservé intactes et pures au cours des âges, les premières vérités révélées par Dieu aux premiers hommes. «La Chine plus heureuse dans ses commencements que nul autre peuple du monde, a puisé presque dans la source, les saintes et les premières vérités de son ancienne religion». Les premiers empereurs bâtirent des temples à Dieu et «ce n’est pas une petite gloire à la Chine d’avoir sarrifié au Créateur dans le plus ancien temple de l’univers».

La piété primitive se conserve dans le peuple grâce aux Empereurs qui prirent soin de l’entretenir, si bien que l’idolâtrie n’arriva pas à se glisser en Chine… (Cf. Henri Bernard, Maître Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 133. – Nouveaux mémoires du P. Le Comte parus en 1696).

[65] Thiết tưởng trong đoạn văn này James Legge đã quá dè dặt, nên đã không nhận xét về danh từ «Thiên» cho thật đứng đắn. Âu cũng một phần do ảnh hưởng những cuộc tranh luận trong dĩ vãng.

[66] The name by which God was designated, was the Ruler, and the Supreme Ruler, denoting emphatically His personality, supremacy, and unity. We find it constantly interchanged with the term Heaven, by which the ideas of supremacy and unity are equally conveyed, while that of personality is only indicated vaguely, and by an association of the mind. By God kings were supposed to reign, and princes were required to decree justice. All were under law to Him; and bound to obey His will. Even on the inferior people He has conferred a moral sense, compliance with which would show their nature invariably right. All powers that be are from Him. He raises one to the throne and puts down another. Obedience is sure to receive His blessings; disobedience, to be visited with His curse. The business of kings is to rule in righteousness and benevolence, so that the people may he happy and good. They are to be an example to all in authority, and to the multitudes under them. Their highest achievement is to cause the people tranquilly to pursue the course which their moral nature would indicate and approve. When they are doing wrong. God admonishes them by judgments, – storms, famine and other calamities; if they persist in evil, sentence goes forth against them. The dominion is taken from them, and given to others more worthy of it…

(Cf. James Legge, The Shoo King, prolegomena, page 193)

[67] Trong tập Vô Cực Luận (sẽ in) tôi đã có dịp đề cập tới Thượng Đế siêu hình và bất khả tư nghị của các thánh triết Trung Hoa.

[68] Đối với những độc giả nào muốn đi sâu vào vấn đề, tôi xin giới thiệu ít nhiều sách vở, tài liệu như sau:

– Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne (Cathasia).

– Amaury de Riencourt, L’Âme de la Chine. (Librairie Arthème Fayard. Viện Khảo Cổ, thư viện số 3086).

– Bùi Hữu Ngạn, Thượng Đế trong Nho giáo (Tủ sách Ra Khơi).

– Tien Tcheu Bang, L’idée de Dieu dans les huit premiers classiques chinois. Fribourg 1942.

– De Harlez, Les religions de la Chine. Leipzig 1891.

– H.G. Creel, La naissance de la Chine. Paris 1937.

– Kou Mou Je, L’évolution de la théologie chinoise avant les Ch’in. Shanghai 1936.

Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm quốc ngữ đầu tiên (Phép giảng tám ngày) (Tinh Việt Văn Đoàn) các trang LXIII, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, …

————————–

KHỔNG HỌC TINH HOA–Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Chương 2

Quan niệm về thánh nhân theo thư tịch Nho giáo

Sau khi khảo sát quan niệm về Trời, về Thượng Đế ở Trung Hoa, chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu ba vấn đề hết sức quan trọng mà xưa nay đã bị quên lãng, hay đã được đề cập tới một cách phớt qua. Đó là các quan niệm về:

– Thánh nhân

– Thiên tử

– Nền Thiên trị Trung Hoa thời cổ

Thấu triệt mấy vấn đề chính yếu này, chúng ta sẽ biết lòng dạ các tiên hiền, tiên thánh khi các Ngài ra công trước tác, giáo hóa; ta sẽ phanh phui những mối manh chính yếu trong giải đồng nối kết Trời người, chúng ta sẽ am tường cách tổ chức giáo hóa và chính trị người xưa, biết những phương pháp giản dị nhưng hữu hiệu, có thể mang lại hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại.

Vậy trước hết, chúng ta hãy cùng nhau giở những trang sử sách cũ, tìm cho ra chân dung, chân tướng của các vị thánh nhân qua các thời đại…

A. QUAN NIỆM VỀ THÁNH NHÂN THEO TỨ THƯ NGŨ KINH

Trong cuộc đối thoại với Hạo Sinh Bất Hại, Mạnh Tử đã định nghĩa và định vị trí của thánh nhân như sau:

Hạo Sinh Bất Hại, người nước Tề, hỏi Mạnh Tử: «Nhạc Chính Tử là người thế nào ?» Mạnh Tử đáp: «Là người thiện và tín.» Hạo Sinh Bất Hại hỏi tiếp: «Sao gọi là Thiện? Sao gọi là Tín?» Mạnh Tử giải: «Người mà hành vi nhân phẩm đáng yêu, đáng kính, gọi là Thiện. Người làm thiện theo lương tâm và bản tính không cưỡng ép và không giả trá gọi là Tín. Người mà lòng thiện đầy đủ phát lộ ra khắp thân thể và mỗi cử động đều hợp vý lành, gọi là Mỹ. Người có mỹ đức đầy đủ và làm nên sự nghiệp, khiến cho cái mỹ đức mình chói lói trên đời, gọi là Đại. Đã là bực đại nhân, lại đứng ra hoằng hóa cho đời, khiến cho thiên hạ đều quay về nẻo thiện, gọi là Thánh. Đã là bực thánh cảm hóa cho đời, thế mà sở hành và trí tuệ mình chẳng ai ức đạc nổi, biến hóa vô tận, thông với trời đất, gọi là Thần… Trong sáu bực đó, Nhạc Chính Tử dự vào hai bực thấp, còn bốn bực kia thì ngoài sức người vậy.» [1]

Theo định nghĩa của Mạnh Tử thì thánh nhân thực là hi hữu, ngàn năm một thủa.

Hữu Nhược nói:

«… Người năm bảy đấng,

Kìa kỳ lân vẫn giống thú rừng,

Phượng hoàng vẫn loại chim muông,

Thái Sơn vẫn đúc theo khuôn đống gò,

Sông với biển vẫn nhà ngòi lạch,

Thánh với phàm một phách thế nhân,

Nhưng thánh phàm, muôn phân, ngàn biệt,

Vì thánh nhân bạt thiệp, siêu quần…»[2]

Thánh nhân bạt thiệp, siêu quần, vì các Ngài là những người thông minh duệ trí, nhân đức tuyệt vời [3] noi gương Trời mà hành sự, [4] sống cuộc đời thánh thiện, phối hợp với Thượng Đế. [5]

Dịch Kinh viết: «Thánh nhân đức độ sánh với trời đất, sáng láng như hai vầng nhật nguyệt, biến thông tựa bốn mùa, ảnh hưởng người in tựa thần minh…» [6]

Trung Dung đề cập tới thánh nhân nhiều lần nhất, với những lời lẽ đẹp đẽ nhất. Dưới đây, xin trích dẫn một trong nhiều đoạn.

Trung Dung viết:

«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí tuệ.

Y như thể có trời ẩn áo giáng lâm,

Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần.

Y như có dung nhan Trời phất phưởng,

Phấn phát, tự cường, kiên cương, hùng dũng.

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng;

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.

Nói năng văn vẻ rõ ràng, tường tận,

Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm, ứng hiện phải thì,

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm.

Thấy bóng ngài, dân một dạ kính tôn,

Nghe lời ngài, dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động: muôn dân đều hoan lạc.

Nên thanh danh ngài vang lừng Trung Quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che và đất chở.

Đâu còn nhật nguyệt hai vầng tở mở,

Đâu có móc đọng đâu có sương rơi.

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó ngài vẫn được tôn sùng quí báu.

Thế nên gọi là “cùng trời phối ngẫu”.»

(Trung Dung, chương 31)

B. QUAN NIỆM VỀ THÁNH NHÂN THEO CHU HI

Trong tập Chu Hi học án của linh mục Stanislas Le Gall, dòng Tên, [7] có một đoạn bình luận về thánh nhân như sau:

«Trên mẫu người quân tử còn có thánh nhân, kiệt tác của Tạo Hóa, tinh hoa của nhân loại.

«Xét về phương diện bản thể, phương diện «thiên địa chi tâm», thì thánh nhân cũng như mọi người, đều thụ hưởng như nhau. Nhưng điểm làm cho thánh nhân khác biệt chính là tại «khí chất chi tính» ở nơi thánh nhân tinh toàn, thuần túy, y như hạt kim cương trong suốt, mặc tình cho ánh sáng rọi thấu qua.

Chu Hi nói: «Con người là tinh hoa của ngũ hành, nhưng thánh nhân là tinh hoa của tinh hoa đó…»

«Trong những thế kỷ tiếp giáp với thời kỳ nguyên thủy, khi hoàn võ còn măng sữa, mới mẻ, khi khí chất hãy còn tinh khiết, thì dĩ nhiên có thánh nhân sinh; đó là thời kỳ hoàng kim, có những thánh nhân, minh triết trị dân, làm cho họ sung sướng. Hứa Dung Trai cho rằng đầu mỗi kỷ nguyên vũ trụ, lại có một vị thánh nhân như Phục Hi. [8] Vũ trụ càng già càng cỗi, vật chất càng ô trọc, thì thánh nhân lại càng trở nên hiếm thấy, và hoàn võ lại dần dà quay trở về trạng thái hỗn mang nguyên thủy.

«Dưới đây là những vị thánh nhân đã được công nhận:

1- Phục Hi (2852-2737)

2- Thần Nông (2737-2697)

3- Hoàng Đế (2697-2597)

4- Nghiêu (2357-2255)

5- Thuấn (2255-2205)

6- Vũ (2205-2197)

7- Thành Thang (1766-1753)

8- Y Doãn (? -1713)

9- Tỉ Can (? – 1222)

10- Văn Vương (1232-1135)

11- Vũ Vương (1196-1116)

12- Châu Công (? -1105)

13- Liễu Hạ Huệ (khoảng 600)

14- Khổng Tử (551-479) [9]

Vị thánh sau cùng lại là vị thánh được suy tôn, sùng thượng nhiều nhất: đó là đức Khổng. Tử Cống nói trong quyển V, tiết 6, Luận Ngữ: «Thực Trời đã ban nhiều ân trạch nhiều tài năng cho đức Khổng; Ngài chính là vị Thánh…»

«Thánh nhân chính là mẫu người lý tưởng trong nhân loại, chính là tinh hoa của nhân loại, chính là người đã thể hiện được sự toàn thiện. Sự toàn thiện ấy cũng được gọi là «Thành», là «Chí Thành», «chí thiện», vì thế mà Rémusat đã dịch «thành” là «toàn thiện»; Intorcetta đã dịch là hoàn thiện, tinh tuyền; Legge cũng dịch là tinh tuyền không pha phách tà ngụy.

«Chu Hi cũng định nghĩa «thành» là chân thực, không còn chút chi man muội, lỗi lầm. [10]

«Thánh nhân như vậy có một đời sống hoàn toàn phù hợp với thiên lý. Cũng có thể nói thánh nhân được mệnh danh là «thành», chính là vì đã sống cuộc đời hoàn toàn phù hợp với tính bản nhiên, với thiên lý, và vì vậy đã phối hợp được với trời đất, đã sánh được với trời đất.

«Chu Liêm Khê cho rằng chữ «thành» đồng nghĩa với chữ Thái Cực, với Lý. Thái Cực hay Lý ấy, bất kỳ ai cũng có, nhưng khi Thái Cực hay Lý đã lồng vào hình hài, khí chất không tinh tuyền thì ảnh hưởng sẽ bị giới hạn lại. Chỉ có thánh nhân sống theo tính bản thiện của mình, nên thần trí người nhận định được hằng tính của mỗi vật, mỗi sự; ý chí người hướng về chân, thiện, mỹ, không chút khó khăn và sống trong đường nhân nẻo đức, trong trãt tự và bổn phận, không chút chi vất vả.

«Nhiều người thường nghĩ «thánh nhân sinh nhi tri chi» và cho là thánh nhân có khối óc thông minh quán triệt, bao quát mọi sự, mọi điều; «thánh nhân cũng thông minh khôn lường như thần minh»… Nhưng Chu Hi cho rằng thánh nhân chỉ thông suốt được những nguyên lý đại cương, và dễ dàng suy ra những áp dụng cụ thể, hữu ích cho mọi người. [11]

«Đó cũng là ý kiến của Doãn Ngạn Minh 尹 彥 明 (1200), một nhà bình giải Luận Ngữ. Ông nói: «Tuy là bậc thánh nhân, thông minh thiên phú, và sinh nhi tri chi, đức Khổng thường nhắc đi nhắc lại rằng Ngài ham học, hiếu học. Ta đừng tưởng đó là Ngài nói nhún nhường, để khuyến khích các đệ tử theo gương mà cố gắng. Không, Ngài chỉ biết những chân lý hằng cửu, còn những áp dụng cụ thể, đặc thù, ví như những chi tiết về lễ nghi hay nhã nhạc, những chuyện xưa tích cũ, những biến cố lịch sử cổ kim, thời đức Khổng cũng phải học mới biết. Nhưng mỗi khi gặp những vấn đề nan giải, khó khăn, Ngài liền thấu triệt dễ dàng, có những quyết định sáng suốt, những phán đoán xác đáng, minh triết, vì Ngài thông minh tinh tế rất mực.» Chu Hi cho rằng thánh nhân có một khối óc hoàn toàn trong sáng, hàm tàng vạn lý, vừa thoạt mới cảm xúc, liền thông suốt ngay… [12]

«Các bậc chí thánh đều tiên tri, tiên đoán được sự suy thịnh của các triều đại. Các Ngài biết trước những điều hay, dở xảy tới cho đất nước bằng cách quan sát các hiện tượng thiên nhiên, nhân tình, thế thái, hay bằng phương pháp bốc phệ, thi, qui.»

«Thánh nhân sở dĩ có cái nhìn tinh tế thấu triệt, vì lòng không bợn tư tà, dục vọng, cho nên mới nhìn thấu đáo được những điều tinh vi huyền diệu.

«Thánh nhân lại còn là những người có đức hạnh siêu việt, theo đúng Trung Dung, Trung Đạo; xử sự luôn theo chính lý. Mạnh Tử nói: «Các quan năng thì Trời ban cho mọi người, nhưng chỉ có thánh nhân tận dụng được quan năng mình, vì các Ngài sống hoàn toàn hợp với chân lý, hợp với lương tri, lương năng… [13]

Bình đoạn này Trình Tử cũng cho rằng thánh nhân theo đúng thiên lý, thiên đạo vì vậy đã tận dụng được quan năng mình. Phàm nhân tuy là có đạo lý trong mình, nhưng họ nào có biết, có hay; hiền nhân quân tử, tuy biết và theo, nhưng không hoàn toàn triệt để; duy có thánh nhân là giữ vẹn đạo lý, cho nên mới sử dụng quan năng được đúng mức.

«Thánh nhân vì không bị dục tình quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung thanh thản. Thiên lý, thiên đạo được thể hiện nơi Ngài một cách sáng tỏ để soi đường dẫn lối cho kẻ khác…»

«Ở nơi thánh nhân, mỗi động tác, mỗi cử chỉ, mỗi lời ăn tiếng nói, ngay đến sự ngơi nghỉ yên lặng, cũng là những bài học hữu ích cho các bậc chính nhân quân tử. Những kẻ phàm phu tục tử nếu không được cải hóa, thời chỉ tại họ đã thâm căn cố đế trong tính hư nết xấu, và lòng họ đã hư hỏng. Còn thánh nhân luôn luôn có thể soi sáng nhân trí và cải hóa nhân tâm. [14]

«Ảnh hưởng của thánh nhân thực là vô biên như ảnh hưởng của Trời. Chu Hi nói: «Cũng y như xem bốn mùa vần xoay, xem vạn vật sinh hóa, thì biết được thiên lý biến dịch ở khắp nơi mà chẳng cần Trời phải nói nên lời. Ở nơi thánh nhân cũng vậy, động hay tĩnh, nhất nhất đều khải minh nguyên lý huyền diệu; sự toàn thiện, tinh tuyền sẵn chứa nơi người. Và Chu Hi kết luận bằng những lời hết sức hào hứng như sau: «Thánh nhân là hiện thân của Trời.» [15]

«Dịch Kinh từ lâu vẫn coi con người toàn thiện là có đức độ sánh với Trời. Dịch Kinh viết: «Đức độ người ngang với đức độ trời đất, người sáng láng như hai vầng nhật nguyệt, biến thông tựa bốn mùa, ảnh hưởng người in tựa thần minh…»

«Tử Tư, trong bộ Trung Dung, cũng nương theo ý Dịch Kinh, chủ trương thánh nhân có thể chuyển hóa chúng nhân bằng gương mẫu và bằng lời giáo hóa, khiến chúng dân có thể tiến hóa đến cùng cực tinh hoa. Như vậy thánh nhân đã giúp đất trời trong công cuộc sinh thành muôn vật, và cùng đất trời hợp thành bộ ba. Thánh nhân sánh vai với Trời, kết hợp với Trời …» [16]

Những lời bình luận trên về thánh nhân rất là xác đáng. Nó đúng với quan niệm truyền thống Nho giáo. Theo Kinh Thư, thiên Khang Cáo, vua Thành Vương khi phong cho chú là Ông hoàng Khang làm Vệ hầu, đã khuyên Ông Khang phải cố gắng sao cho đức độ «cao vút tới Trời» (Hoằng vu Thiên).

Ông Khế bình ba chữ «Hoằng vu Thiên» như sau: «Người ta ai cũng có tính Trời. Tính Trời đó ở trong họ như lửa vừa nhen nhóm, như suối vừa tung tỏa. Con người chỉ phải khuếch sung tính Trời đó mà thôi.» [17]

Vũ Chính bình rằng: «Phải khuếch sung đức hạnh để được hợp nhất với Trời.» [18]

C. THUYẾT THIÊN NHÂN TƯƠNG DỮ VÀ THIÊN NHÂN HỢP NHẤT TRONG NHO GIÁO

Cho nên thánh nhân là người «kế thiên lập cực», [19] thay Trời chỉ vẽ cho nhân loại đâu là cực điểm tiến hóa, soi đường dẫn lối cho mọi người tiến tới Trung đạo, tiến tới tinh hoa của nhân loại.

Quan niệm về thánh nhân của dân tộc Trung Hoa đã cho chúng ta thấy rõ ràng rằng muốn tiến tới Trời, tiến tới tinh hoa của nhân loại, phải thông minh duệ trí, sống cuộc đời nhân đức thánh thiện, phối hợp với Trời.

Nhưng muốn sống phối hợp với Trời, phải biết Trời ra sao, Trời ở đâu. Đó là cả một vấn đề ! Nho gia cho rằng Trời chính là bản thể nhân loại. [20] Cho nên muốn tìm Trời phải tìm ngay trong đáy lòng mình, vì thế mà Trung Dung đã có một câu rất là táo bạo:

«Biết người trước phải biết Trời,

Biết Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao?» [21]

Đọc bộ Thư Kinh Đại Toàn, ta thấy người xưa bàn về tâm pháp của các đấng thánh vương như sau:

«Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm

Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời.»

«Đó là tâm pháp Nghiêu truyền cho Thuấn. «Kiến trung», cố đạt tới Trung Dung, tới tinh hoa nhân loại (Thang), «Kiến cực», cố đạt tới tuyệt đỉnh tinh hoa hoàn thiện (Vũ). Đó là tâ pháp của các đời Thương Thang, Chu Vũ. Sự toàn thiện đó hoặc gọi là Đức, là Nhân, là Kính, là Thành, lời tuy khác nhưng ý là một; nghĩa là không ngoài sự làm sáng tỏ nguồn mạch kỳ diệu của tâm hồn. Nói đến Trời thì nghiêm chỉnh lòng lại, là Trời tự hiện; nói đến dân, thì cố cẩn thận tâm tư, dân sẽ được nhờ. Lễ nhạc, giáo hóa cốt là để phát huy tâm hồn. Điển chương văn vật là sự biểu dương phát lộ của tâm hồn. Suy lòng mình ra thì có thể làm cho nhà yên nước trị; thiên hạ bình. Sức mạnh của tâm hồn thực là kỳ diệu vậy.» [22]

Cho nên thánh nhân giảng dạy không phải là truyền đạo của mình, mà chính là truyền lòng mình; không phải là truyền lòng mình cho người, mà chính là truyền lòng người cho người, [23] bởi vì trong lòng mỗi người đã sẵn có lòng Trời rồi vậy. [24]

* Mạnh Tử viết:

«Thấu triệt lòng sẽ hay biết tính,

Hay biết tính, nhất định biết Trời.

Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,

Ấy là giữ đạo thờ Trời chẳng sai.» [25]

Mạnh Tử cũng viết:

«Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành,

Kiện toàn, hoàn thiện, tinh anh,

Vui nào hơn được khi mình đang vui…» [26]

Cho nên muốn tìm đạo Trời phải tìm nơi đáy lòng. Chu Hi viết trong phụ chú chương 1 Trung Dung như sau:

«Những học giả muốn tìm đạo ấy

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.» [27]

Trong bộ Cận Tư Lục, Chu Hi lại chủ trương: nếu khai phá được hết chướng ngại vật, thấy được bản tính mình, sẽ đạt tới thiên đạo, và sẽ trở nên một với thánh nhân. [28]

* Vương Dương Minh viết:

Thần thánh ngàn xưa đều quá vãng,

Lương tri mới thực chính thầy ta.[29]

Theo vi ý Kinh Thi, Kinh Thư, ta có thể hiểu truyền thống chính yếu của Nho giáo như sau: Trời sinh ra con người, đã ghi tạc vào lòng con người những khuôn phép thánh thiện tuyệt hảo, để làm di luân, qui tắc hằng cửu cho con người theo. [30] Con người chỉ cần nhận ra bản tâm, bản tính của mình sẽ thấy định mệnh cao sang của mình… chỉ cần sống hoàn toàn theo tiếng gọi lương tâm, nghĩa là gạt bỏ hết mọi tư dục, tư tà, sống cuộc đời công chính cao đại, hoàn toàn theo đúng Thiên lý, Thiên đạo, tức là lên tới mức độ thánh thiện tuyệt vời, thế là đạt tới Trung điểm, Trung đạo, thế là theo đúng mệnh Trời.

Mạnh Tử nói rằng: «Bực đại nhân vẫn giữ được cái tâm tốt lành của con đỏ.» [31]

Như vậy thánh nhân chỉ là những người giữ được bản tâm, bản tính, những người giữ được «xích tử chi tâm»; còn phàm phu tục tử chính là những người sống cuộc đời phóng túng chạy theo vật dục bên ngoài, để mất bản tâm, bản tính mình, có thế thôi.

Thánh nhân và người thường giống nhau ở chỗ cùng có một bản tâm, bản tính, mà khác nhau ở chỗ giữ được và đánh mất nó mà thôi.

Mạnh Tử viết:

«Cho nên phàm những vật đồng loại thì bản tính giống nhau. Tại sao riêng về nhân loại, người ta lại nghĩ rằng bản tính chẳng tương tự? Những vị thánh nhân và chúng ta đều là một loại…

«Tâm tính của người ta giống nhau ở chỗ nào? Tức là ai nấy đều công nhận chỗ hợp lý, hợp nghĩa vậy. (Lý là những lẽ đương nhiên của bản tính, nghĩa là sự thi hành những lẽ đương nhiên ấy). Thánh nhân chẳng qua là những người trước ta đã tỉnh ngộ, và bày tỏ ý nghĩa mà chúng ta nhìn nhận đó…» [32]

Nếu chúng ta trở nên xấu xa, đánh mất bản tâm, bản tính, thì lỗi tại chúng ta chứ đâu phải lỗi nơi bản tâm, bản tính?

Mạnh Tử viết:

«Cây cối trên núi Ngưu Sơn (phía đông nam nước Tề) ngày xưa vẫn tốt tươi. Nhưng vì ở về chỗ giáp mối với một nước lớn, cho nên thường bị búa rìu bửa đốn. Như vậy có thể nào giữ được vẻ tốt tươi được chăng?»

«Nhưng nhờ có sức mạnh nhựa lưu thông ngày đêm, lại được nước sương tẩm nhuận, cho nên mới đâm chồi nảy mộng. Rồi thì bò, chiên kéo nhau từng đoàn đến ăn phá. Vì vậy mà cảnh núi ấy trở nên trơ trụi. Hiện nay thấy nó trơ trụi, ai ai cũng ngỡ rằng núi ấy chưa từng sản xuất tài mộc. Như thế há nên đổ lỗi cho bản tính của núi sao?»

«Cái bản tính tồn tại nơi người cũng thế. Người ta há chẳng có những nỗi lòng nhân nghĩa sao. Nhưng vì họ (mê sa theo các sở dục) mà buông mất tấm lòng lương thiện của họ đi, cũng như cảnh núi trở nên trơ trụi vì cây cối đều bị búa rìu bửa đốn hết vậy.»

«Mỗi ngày họ cứ sát phạt tấm lòng lương thiện của họ mãi thì lòng dạ của họ có thể nào mà tốt đẹp như xưa chăng?»

«… Cho nên nếu khéo bồi dưỡng thì vật nào cũng sinh nảy thêm ra, còn như chẳng chịu bồi dưỡng, thì vật nào cũng phải tiêu mòn.»

«Đức Khổng có nói rằng: Giữ thì còn, bỏ thì mất. Nó ra vào không chừng, không ai biết nó ở đâu. Đó là đức Khổng nói về những nỗi lòng lương thiện của con người vậy.» [33]

«… Nhân là lương tâm con người, nghĩa là con đường chính đại của người. Những ai bỏ con đường chính đại của mình mà chẳng theo, những kẻ để thất lạc lương tâm mình mà chẳng biết tìm nó lại, thật đáng thương hại thay! Mỗi khi con gà, con chó họ chạy lạc, thì họ biết đi kiếm mà đem về. Nhưng tới chừng cái lương tâm họ thất lạc thì họ chẳng biết cách tìm nó trở lại. Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích này mà thôi: Tìm lại lương tâm thất lạc của mình.» [34]

Trương Hoành Cừ chủ trương: «người theo đạo Nho sẽ từ chỗ toàn thiến tiến tới chỗ minh triết hoàn toàn. Cho nên «thiên nhân hợp nhất» là tuyệt đỉnh của sự học vấn và như vậy con người có thể thành Thánh…» [35]

Tống Nho luận về «Thiên tính tại nhân tâm» hay «thánh nhân kết hợp làm một với Trời» thật là rõ ràng. Dưới đây xin đan cử thêm một vài chứng cứ:

Diệp Lục Đồng chủ trương: «Thiên tính nơi con người cũng như tính nước nơi băng; nước và băng tuy lưu thông hay ngưng kết có khác nhau, nhưng cũng chỉ là một vật; sự hấp thụ ánh sáng nhiều ít có khác nhau, chiếu sáng mờ tỏ có khác nhau, nhưng tinh chất hấp thụ và chiếu diệu ánh sáng chỉ có một.» Cao Trung Hiến bình rằng: «Lấy nước ví Trời, lấy băng ví người, lấy sự lưu thông ngưng đọng để ví sự sống chết; lấy sự hấp thụ ánh sáng để ví sự khác nhau về bẩm chất; lấy sự thâu quang, chiếu quang để ví tính trước sau chẳng có hai.» [36]

Tôn Chung Nguyên viết: «Trời và Thần chỉ là một, Thánh với Trời cũng chẳng là hai.» [37]

Trương Tải dạy học trò rằng: «Đã học tất phải nên như thánh nhân rồi mới được thôi. Đòi biết người mà chẳng biết Trời, chỉ cầu làm hiền nhân mà chẳng cầu làm thánh nhân, đó là tệ hại của các học giả từ thời Tần, Hán đến nay.» [38]

Trương Kỳ Quân, một học giả Trung Hoa lỗi lạc hiện thời, đã viết như sau: trong tạp chí Trung Quốc Nhất Chu và trong bộ Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử của ông trước tác như sau:

«Trung Quốc tự thời Đường, Ngu (Nghiêu, Thuấn) tới nay đều có chủ trương Trời người có thể kết hợp… Kính Trời cốt là để yêu người. Yêu người cốt là để kính Trời. Các thánh triết lịch đại chỉ cốt làm sáng tỏ lẽ “Trời người hợp nhất”.» [39]

Trong bài khảo luận của ông về Chu Dịch, ông cũng viết: «Sách Dịch thật mênh mông bao quát, nhưng đại khái là cốt xiển minh lẽ “Thiên nhân hợp nhất”.» [40]

Thực ra, ngay ở thời nhà Thanh, khi mà nền văn học, đạo học nước Trung Hoa đã suy vi, những quan niệm trên vẫn còn phổ thông trong giới học giả. Các giáo sĩ Âu Châu cũng đã nhận xét thấy trào lưu này, khi các ngài mới du nhập vào Trung Quốc hồi thế kỷ 16.

Cha Ricci viết:

«Trào lưu tư tưởng mà nhiều người theo hiện nay, theo tôi, có lẽ đã vay mượn ở một giáo phái tà thần từ 500 năm nay (Tống triết). quan niệm ấy là: thiên địa vạn vật nhất thể. Hóa công cùng với trời đất, người vật, cỏ cây, tứ tượng điều họp thành như một cơ thể duy nhất mà vạn vật là những phân bộ. Từ quan niệm nhất thể ấy, họ rút ra nhiệm vụ bác ái đối với mọi người, và chủ trương mọi người đều có thể trở nên giống Thiên Chúa …

Đó là điều mà chúng ta cố gắng phi bác, chẳng những bằng lý luận mà còn bằng uy thế của tiền nhân Trung Hoa, vì các vị ấy đã giảng dạy một học thuyết khác.» [41]

Nhưng tiền nhân Trung Hoa, như các chứng cứ Kinh Thi, Kinh Thư, Luận Ngữ, Mạnh Tử trích dẫn trên cho thấy, trước sau đều có một chủ trương, một tín ngưỡng y thức như nhau và y thức như các bậc đại hiền triết thời Tống!

Theo Mạnh Tử thì dẫu là vị thánh ở Đông Di hay là vị thánh ở Tây Di, dẫu là xa nhau nghìn dặm, hay là cách nhau nghìn năm, thì tôn chỉ lề lối cũng y thức như nhau, như hai mảnh tre ở một phù tiết. Đường lối thánh trước thánh sau chỉ là một … [42]

Để rộng đường khảo sát, so sánh, tôi xin trưng ra đây quan điểm về vấn đề, của một vài vị thánh nhân Thiên Chúa giáo.

Theo thánh Augustin, thì lương tâm là nơi tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa, là nơi huyền nhiệm của lòng người, nơi là tâm hồn nhận chân được sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng mình. [43]

Trong một bài giảng thuyết, ngài nói: «Cũng một nhẽ ấy, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, vẫn là Ngôi hai… mà đồng thời cũng làm cho các thiên thần sung mãn, hoàn toàn ở khắp mọi nơi, hoàn toàn hiện diện trong hoàn võ, hoàn toàn ở trong các tổ phụ, hoàn toàn ở trong các đấng tiên tri, hoàn toàn ở trong mọi đấng thánh, hoàn toàn ở trong lòng đấng Trinh nữ…» [44]

Nơi khác ngài than thở: «Lạy Chúa, trong Chúa, con sẽ có sự chắc chắn, vững vàng, và bản thể rốt ráo của con.» [45]

Thánh Paolo nhìn nhận rằng ngay những người ngoại giáo cũng tuân theo những giới luật của Thiên Chúa đã ghi tạc trong tâm khảm họ. [46]

Thánh Paolo cũng là vị thánh Công giáo đầu tiên sống với niềm tin say say là có Thiên Chúa hiện diện trong tâm khảm ngài.

Thánh Paolo viết: «Thiên Chúa là đấng đã truyền cho ánh sáng bừng lên trong tăm tối, chính cũng đã bừng sáng lên trong lòng chúng ta.» [47]

Nơi khác ngài viết: «Anh em hãy ngợi khen và hãy mang Thiên Chúa trong thể xác anh em.» [48]

Đời sống của ngài hoàn toàn phối hợp với Thiên Chúa, vì thế ngài mới dám viết cho những người xứ Galates: «Tôi sống chẳng phải tôi sống nữa, mà là Chúa sống trong tôi.» [49]

Gần đây quan điểm «thiên địa vạn vật nhất thể» và chủ trương «con người có thể tiến hóa tới cùng cực tinh hoa», «có thể phối hợp với Thượng Đế» của Kinh Dịch và của thánh hiền Trung Hoa lại được cha Teilhard de Chardin công khai chủ trương bên phía trời Âu, và được các giới văn học khắp nơi tán đồng và sùng thượng. Phải chăng đó là điềm báo hiệu cho một cuộc Đông Tây gặp gỡ, kim cổ giao duyên trong một tương lai gần gũi? [50]

Tóm lại đối với hiền thánh Trung Hoa: Đạo Trời vốn đã ẩn áo ở đáy lòng nhân loại.

Sự toàn thiện toàn mỹ cũng vốn đã nằm sẵn trong đáy thẳm lòng sâu con người.

Thánh nhân là những người thông minh duệ trí, nhận ra được căn bản hoàn thiện nơi đáy lòng mình, sống hờp với thiên lý, thiên đạo, hợp nhất với Trời. Cực điểm ấy tức là cùng đích đã đặt ra cho nhân loại: Chưa đi đến mức hoàn thiện ấy, dĩ nhiên là nhân loại còn phải tiến hóa mãi. Đại Học vì thế mới đặt lằn mức cho mọi người dừng chân: lằn mức ấy là sự chí thành chí thiện (Chỉ ư chí thiện. Đại Học chương 1).

Cực điểm ấy cũng chính là Trung điểm, Trung đạo, là Trung Dung.

Đạo thánh nhân cao siêu toàn mỹ, vì thế mới được Trung Dung khen tặng chẳng tiếc lời. Trung Dung (chương 27) viết:

«Đạo thánh nhân to sao, to lớn quá,

Nó mênh mang biến hóa chúng nhân.

Nó cao, cao vút tới trời thẳm muôn tầm,

Nó rộng, rộng bát ngát khôn kể xiết.

Gồm thâu mọi điều lễ nghi chi tiết,

Bao uy nghi quán triệt hết chẳng trừ.

Đợi thánh nhân, Trời mới phú thác cho.

Không đức cả, Trời không ngưng đạo cả,

Nên quân tử dốc một lòng một dạ.

Trọng tính Trời, quyết gắn bó học hành,

Tiến sao cho đến mức rộng rãi tinh anh.

Mức cao sáng của Trung Dung đạo cả.

Ôn điều cũ, học thêm điều mới lạ,

Chuộng lễ nghĩa, sống đời sống nết na.

Ở ngôi cao, không có thói kiêu xa,

Ở cấp dưới không làm điều trái nghịch.

Nước có đạo, chỉ một lời làm tiến ích,

Nước đảo điên: lặng lẽ đủ dung thân.

Thơ rằng: Khôn lại còn ngoan,

Khôn ngoan nên mới bảo toàn tấm thân.»

D. PHƯƠNG PHÁP TU LUYỆN ĐỂ TRỞ NÊN HIỀN THÁNH

Như vậy cùng đích của nhân loại đã được xác định rõ ràng: con người sinh ra đời, cốt là để «thực hiện» Thượng Đế ngay từ khi còn ở trần gian này; cốt là để sống một cuộc đời thánh thiện phối hợp với Thượng Đế. Đại Học gọi thế là «dừng chân lại ở nơi toàn thiện tuyệt đối» (chỉ ư chí thiện); Trung Dung gọi thế là «phối thiên» (kết hợp với Trời) (Trung Dung chương 31). Lão Tử cũng chủ trương rằng: «Lý tưởng cao siêu nhất của người xưa là sống phối hợp với Trời.» [51] Gần đây, nhà đại hiền triết Ramakrishna mà dân Ấn Độ coi là một vị thánh sống, một hiện thân của Thượng Đế, đã nói: «uổng thay cho những kẻ đã được diễm phúc sinh ra làm người mà không thực hiện nổi được Thiên Chúa trong đời mình! Họ sinh ra như thế thực là uổng phí, vô ích!» [52]

Vì thế các Nho gia cự phách và chân chính đã khinh thường mũ áo, công danh, coi rẻ bạc vàng, phú quí, [53] suốt đời cố gắng học hỏi suy tư, cải thiện mình, [54] ngõ hầu trở nên một hiền nhân quân tử, nên một vị thánh nhân, sống hoàn toàn thuận theo thiên lý, phối hợp với Trời …

Mạnh Tử viết: «Người quân tử trọn đời hằng có điều lo, mà không khi nào có điều sợ. Như cần phải lo thì lo thế này: «Vua Thuấn cũng là người, mình cũng là người. Vua Thuấn đã làm gương mẫu cho thiên hạ, roi truyền cho các đời sau. Còn mình đây chẳng hơn gì một kẻ làng mạc quê mùa.» Đó là điều mình nên lo sợ vậy. Đã lo, thì phải làm sao? Thưa phải làm như vua Thuấn vậy thôi. Còn như sợ thì người quân tử chẳng hề. Việc trái đức nhân mình không làm; việc trái lễ phép mình chẳng động. Như có một buổi, xảy ra điều đáng sợ, người quân tử cũng không lấy làm sợ đó.» [55]

Sở nguyện của Mạnh Tử là theo đòi đức Khổng mà thôi. [56]

Vương Dương Minh lập chí cũng chẳng kém.

Đào Trinh Nhất viết: «Người thường nói “biết con không ai bằng cha”, nhưng ở đây Long Sơn Công dù tài giỏi học đỗ tới trạng nguyên mặc lòng, thật không biết lập chí của cậu ấm con cụ.

«Cậu (khi ấy Vương Dương Minh mới 12, 13 tuổi) muốn học tới bậc gì cao hơn trạng nguyên, tể tướng, tôn hơn đế vương nữa kia. Học sao tới chỗ có ích cho muôn dân, cho nghìn đời, chứ cầu lấy béo nhà sướng thân, hiển hách một đời có sá kể gì. Xưa nay lắm kẻ chẳng học chữ nào cũng đi tới đó.»

«Cậu định học đến bậc thánh nhân !»

«Có lần nghe thầy đồ giảng sách rồi cậu bé Dương Minh hỏi:

– Thưa thầy, ở đời làm việc gì cao hơn hết?

– Chỉ có việc đi học thi đỗ thôi. Thầy học trả lời.

– Thi đỗ không phải là việc cao nhất đâu. Duy có việc học làm thánh hiền là cao hơn tất cả …» [57]

Mà muốn nên thánh hiền, tất nhiên phải biết quí trọng, biết tài bồi thiên tính, biết rèn luyện, biết khuếch sung nhân tâm.

Công Tôn Đô Tử thưa với Mạnh Tử: «Cũng đều là người nhưng tại sao có người thành ra đại nhân, có kẻ hóa ra tiểu nhân?» Mạnh Tử đáp rằng: «Ai noi theo cái đại thể của mình thì làm bực đại nhân, ai noi theo cái tiểu thể của mình thì làm tiểu nhân.»

Công Tôn Đô Tử hỏi tiếp rằng: «Cũng đều là người nhưng tại sao có người noi theo đại thể, có kẻ noi theo tiểu thể ?» Mạnh Tử đáp rằng: «Lỗ tai là cơ quan để nghe, con mắt là là cơ quan để thấy, người ta có thể dùng chúng mà suy tư, chúng nó lại còn bị vật ngoài mê hoặc nữa. Vật trong và vật ngoài giao tiếp nhau, do đó mà những căn cơ ở người, bị các cảnh trần lôi cuốn; lỗ tai mê theo âm thanh, con mắt mê theo sắc đẹp, lỗ mũi mê theo mùi thơm, cái miệng mê theo món ngon, tay chân mình mẩy mê theo vật mịn.

«Chỉ có tâm là cơ quan để tư tưởng mà thôi. Hễ biết tư tưởng thì rõ thông chân lý; mà chẳng xét nét thì chẳng biết được chính tà.

«Các cơ quan ấy, từ những cái nhỏ là lỗ tai, con mắt, lỗ mũi, cái miệng, thân thể, tay chân, cho đến cái lớn là tâm chí đều do nơi Trời ban tất cả. Nếu trước mình đã định đặt xong cái đại thể, bồi dưỡng tâm chí, thì những cái tiểu thể như tai, mắt, v.v…chẳng chiếm đoạt quyền hành được. Nhờ đó mình thành ra bậc đại nhân vậy.» [58]

Sau khi biết mục phiêu của đời mình, sau khi đã biết mình sẽ phải rèn luyện cái gì, phải đặt trọng tâm công tác vào đâu, bấy giờ ta mới để hết tâm trí suy tư, học hỏi [59] để mở mang trí tuệ, rèn luyện cho tâm hồn ngày một thêm sắt son, sáng láng; cẩn thận giữ gìn cho mọi tâm tư, ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ của mình, sự giao tiếp đối đãi của mình đối với mọi người lúc nào cũng hợp nghĩa lý, lúc nào cũng quang minh chính đại, không ai có thể chê trách mình được.

Trung Dung (chương 20) viết:

«Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu nhân phải gắng công lao.

Muốn lên hùng dũng anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.

Trí-nhân-dũng tu thân là lý,

Biết tu thân ắt trị nổi người.

Trị người, hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa.»

Tu thân chẳng qua là cùng lý, trí tri, [60] hàm dưỡng tính tình, [61] chuyên tâm chú ý khử trừ nhân dục, hoàn toàn thuận theo thiên lý. [62]

Mạnh Tử nói rằng: «cách bồi dưỡng lương tâm hay hơn hết là nên bớt dần những điều ham muốn. Những người nào bớt được những điều ham muốn của mình, có thể chẳng bảo tồn được thiên lý, nhưng ít có cảnh ấy lắm. Kẻ nào tham dục nhiều, có thể bảo tồn được thiên lý, nhưng ít có cảnh ấy lắm.» [63]

Theo Thượng Thái, Thiên lý và nhân dục là hai lẽ tương đối, người ta có một phần nhân dục tức là diệt mất một phần thiên lý, có một phần thiên lý tức là thắng được một phần nhân dục. Khi người ta đã trừ bỏ được tất cả những dục vọng ở trong lòng thì phần còn lại tức là thiên lý. Bởi vậy, đối với Thượng Thái, kẻ học đạo muốn được giác ngộ, không cần phải tìm những điều xa xôi hư phiếm, chỉ biết «khắc kỷ phục lễ» để giữ toàn thiên lý là đủ. [64]

Học đạo phải biết tuần tự nhi tiến.

Trình Y Xuyên cho rằng học đạo cũng phải tuần tự trước sau, có gần, có xa, có thấp, có cao, có dễ, có khó, không thể nhất đán mà lĩnh hội được đạo thể. Người mới bắt đầu học đạo, đã muốn được «mặc thức tâm thông ngay», cũng chẳng khác gì kẻ muốn đứng trên đỉnh núi nhưng không leo núi, muốn ở bên kia sông mà chẳng vượt sông; chỉ là chuyện hão huyền, không thể nào thực hiện được … [65] Thế tức là kẻ sĩ thời mong nên giống hiền nhân, hiền nhân mong nên giống thánh nhân, thánh nhân mong nên giống Trời.

Đàng khác, công cuộc tu trì rất cần có sự kiên gan, bền chí. Đức Khổng nói: «Tỉ như đắp đất cho thành núi, chỉ còn một giỏ nữa là xong, nhưng mình lại thôi, đó là tại mình bỏ vậy.» [66]

Đời sống của những người chính nhân quân tử đang tiến bước trên con đường hoàn thiện phải là một bài kinh nguyện trường thiên, [67] sống cuộc đời đạo hạnh mẫu mực khả dĩ có thể treo gương cho mọi người.

Trung Dung (chương 29) viết:

«Mỗi động tác quân tử đều nên như mẫu mực,

Mỗi hành vi là khuôn phép chúng nhân theo.

Mỗi lời nói, thiên hạ đời sau sẽ nương vào,

Người xa ngưỡng vọng, người gần không ngán.»

Tất cả các công trình tu luyện trên đây tuy rất là quan trọng nhưng chưa có thể gọi được là đi đến Trung điểm, cực điểm, chưa gọi được là đạt tới tinh hoa nhân loại. Muốn vào tới Trung cung, Trung điểm, vào tới Trung Dung, còn phải biết nhận ra nguồn gốc và định mệnh cao sang của mình, còn cần phải rũ bỏ tất cả cái mình nhỏ nhoi hèn mọn, mà mặc lấy đại thể, đại đồng. [68] Lúc ấy tâm thần sẽ khinh khoát, quên mọi biên cương, bờ cõi, giới hạn, quên hết mọi tiểu tiết đặc thù, thung dung sống trong toàn thể vô biên. Luận Ngữ cho rằng bậc thánh nhân rốt ráo sẽ không còn bị nội giới hay ngoại cảnh chi phối, thung dung tự tại, không còn tình ý riêng tư, không còn cái mình nhỏ nhoi ti tiện. [69]

Thế tức là tuyệt hết niềm tây, hoàn toàn quên mình, để phối hợp với Thượng Đế. Đạo Lão gọi thế là «Tâm tử thần hoạt», «lòng chết để thần sống». [70] Đó là trạng thái vô ngã, vô kỷ, bỏ mình, bỏ mọi sự, mà các nhà huyền học mọi đạo giáo đều đề cập tới. [71]

E. KẾT LUẬN

Để toát lược và kết thúc thiên này tưởng không gì hơn là dùng những lời lẽ của Trung Dung (chương 20):

«Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy cũng đúng chẳng sai.

Thung dung trung đạo tháng ngày,

Ấy là vị Thánh từ ngày lọt lòng.

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành phải mạnh tay co…

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, quyết mang thi hành.

Đã định học chưa thành chưa bỏ,

Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nhôi.

Chưa ra manh mối, chưa rời xét suy.

Biện luận mãi, tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua.

Đã làm làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến thâu toàn thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh;

Người làm mười lượt đã thành,

Ta làm nghìn thứ, ta ganh với người.

Đường lối ấy nếu ai theo được,

Dẫu u mê sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Sớm chày cũng sẽ ra lòng sắt son.»

CHÚ THÍCH

[1] Mạnh Tử – Tận Tâm chương cú hạ, tiết 24. Đoàn Trung Còn dịch, trang 269. Hạo Sinh Bất Hại vấn viết: «Nhạc Chính Tử, hà nhân dã?» Mạnh Tử viết: «Thiện nhân dã, tín nhân dã.» «Hà vị thiện? Hà vị tín?» Viết: «Khả dục chi vị thiện, hữu chư kỷ chi vị tín. Sung thật chi vị mỹ, sung thật nhi hữu quang huy chi vị đại, đại nhi hoá chi chi vị thánh, thánh nhi bất khả tri chi chi vị thần. Nhạc Chính Tử, nhị chi trung, tứ chi hạ dã.»

浩 生 不 害 問 曰: «樂 正 子,何 人 也? 孟 子 曰: «善 人 也, 信 人 也.» «何 謂 善? 何 謂 信?»

曰: «可 欲 之 謂 善, 有 諸 己 之 謂 信. 充 實 之 謂 美, 充 實 而 有 光 輝 之 謂 大, 大 而 化 之

之 謂 聖, 聖 而 不 可 知 之 之 謂 神. 樂 正 子, 二 之 中, 四 之 下 也.»

[2] Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng, 2. Đoàn Trung Còn dịch, trang 99. Hữu Nhược viết: Khởi duy dân tai ! Kỳ lân chi ư tẩu thú, phượng hoàng chi ư phi điểu, Thái Sơn chi ư khâu điệt, hà hải chi ư hàng lạo loại dã. Thánh nhân chi ư dân, diệc loại dã. Xuất ư kỳ loại. bạt hồ kỳ tuỵ. Tự sinh dân dĩ lai, vị hữu thịnh ư Khổng Tử dã.

有 若 曰: 豈 惟 民 哉 ! 麒 麟 之 於 走 獸, 鳳 凰 之 於 飛 鳥, 泰 山 之 於 丘 垤, 河 海 之 於 行 潦

類 也. 聖 人 之 於 民, 亦 類 也. 出 於 其 類. 拔 乎 其 萃. 自 生 民 以 來, 未 有 盛 於 孔 子 也.

[3] Cẩu bất cố thông minh thánh trí, đạt thiên đức giả, kỳ thục năng tri chi

苟 不 固 聰 明 聖 知, 達 天 德 者, 其 孰 能 知 之 (Trung Dung chương 32)

[4] Duy thiên thông minh, duy thánh thời hiến. 惟 天 聰 明, 惟 聖 時 憲 (Kinh Thư – Duyệt Mệnh trung, 3): Chỉ có Trời là thông minh, chỉ thánh nhân bắt chước Trời.

[5] Liêm Khê tiên sinh viết: Thánh hi thiên, hiền hi thánh, sĩ hi hiền.

廉 溪 先 生 曰: 聖 希 天 賢 希 聖 士 希 賢

(Chu Tử nguyên đính, Cận Tư Lục tạp chú, quyển 2, trang 1): Thánh cố nên giống Trời; hiền cố nên giống thánh; sĩ cố nên giống hiền nhân.

– Cố viết: «Phối thiên.» (Trung Dung chương 31)

[6] Dịch Kinh, Hệ Từ thượng: Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, Âm Dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, dị giản chi thiện phối chí đức.

廣 大 配 天 地,變通 配 四 時,陰 陽 之 義 配 日月,易 簡 之 善 配 至 德.

[7] Le Philosophe Tchou Hi, sa doctrine, son influence par le P. Stanislas Le Gall SJ, pages 63 et ss.

[8] Au-dessus du Sage (賢 人 ou 君 子), brille d’un éclat exceptionnel le chef-d’œuvre de la nature, l’homme idéal, le type achevé de la perfection: le Saint (聖 人). Sous le rapport de la nature originelle, c’est-à-dire, considéré hors de la matière qui l’individualise, le Saint n’est rien de moins qu’un être quelconque. Ce qui le distingue d’entre tous, c’est que sa substance matérielle est d’une pureté, d’une subtilité extrême, semblable à un diamant de la plus belle eau, qui n’offrirait aucun obstacle au passage des rayons lumineux. L’homme, dit Tchou-tse, est constitué par la portion plus pure de la matière (陰 陽 五 行 之 氣 一 精 英 者 為 人) mais de cette quintessence elle-même la partie superfine est le partage du Saint (精 英 之 中 又 精 英 者 為 聖 人). Durant les premiers siècles qui suivent le chaos, lorsque le monde est encore dans la force de sa jeunesse renouvelée, la matière, étant plus pure, doit nécessairement produire des êtres plus parfaits: c’est l’âge d’or, le temps où de sages princes font des peuples heureux. Alors, dit Hui Yong Tchai (許 庸 齋), l’homme est à l’apogée de sa perfection. Au commencement de chaque période cosmique, apparaît un Fou-Hi.

[9] Mais à mesure que le monde vieillit, la matière se charge d’impureté, les Saints deviennent plus rares, l’humanité se dégrade, l’univers revient insensiblement au chaos, son point de départ.

Voici la liste des personnages reconnus officiellemeni comme Saints: 1) Fou-Hi (2852-2737); 2) Chen-Nong (2737-2697); 3) Hoang-Ti (2697-2597); 4) Yao (2357-2255); 5) — Choen (2255-2205); 6) Yu (2205-2197); Tch’eng T’ang (1766-1753); 8) I-In (mort en 1713): 9) Pi-Kan (1222); 10) Wen Wang (1331-1135); 11) Ou Wang (1169-1116); 12) Tcheou-Kong (mort en 1105); 13) Lieou h’a Hoei (environ         600); 14) Confucius (551-479)…

Trong thiên Tận Tâm chương cú hạ, tiết 38, Mạnh Tử cho một danh sách khác đôi chút: Nghiêu (2357-2255); Thuấn (2255-2205); Vũ (2205-2197); Cao Dao (hiền thần của Thuấn và Nghiêu); Thành Thang (1766-1753); Y Doãn (hiền thần của vua Thành Thang, Thái Giáp); Lai Châu (đời vua Thành Thang); Văn Vương (1231-1135); Tản Nghi Sinh (hiền thần của Văn Vương); Thái Công Vọng (hiền thần của Văn Vương); Khổng Tử (551-479).

Danh sách của Mạnh Tử dĩ nhiên là không đầy đủ. Đạo Nho chỉ chú trọng đến các thánh vương Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ mà không đề cập đến Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, hay đề cập tới rất ít. Đạo Lão, trái lại, hay tán dương Hoàng Đế… Vả lại Mạnh Tử chỉ muốn nêu ra một thuyết là cứ 500 năm lại có thánh nhân ra đời.

[10] Le dernier dans l’ordre chronologique, Confucius occupe cependant depuis longtemps, parmi ses congénères, le premier rang d’honneur: il est le Saint par excellence 至 聖 先 師 孔 子… Tse-Kong disait «Certainement le Ciel l’a doué sans mesure: il doit être un Saint»… L’idéal de l’humanité réalisé dans la personne du Saint, la perfection absolue qui est son partage, est bien ce que signifie le term 誠. Rémusat l’a rendu par «la perfection», «la perfection morale»; le P. Intorcetti par «vera solidaque perfectio» Legge le traduit par «sincerity»; simplicity or singleness of Soul»; «the disposition to and the capacity of what is good, without any deteriorating element, with no defect of intelligence or intromission of selfish thoughts».

Ces derniers mots décrivent très bien les effets de 誠 signalés par. Tchou-Hi 德 無 不 實 而 無 不 照 者 聖 人 之 德 所 性 而 有 者 天 道 也 mais ils n’expriment pas clairement ce qu’il est en soi. Tchou-Hi en donne cette definition: 誠 者 真 實 無 妄 之 謂.

Cet état de conformité est le propre du Saint: 聖 人 之 德 渾 然 天 理 真 實 無 妄.

[11] Il nous semble que ce qui rend le mieux l’idée de Tch’eng d’après les philosophes chinois, c’est la conformité parfaite d’un être avec sa nature, ou avec le principe d’ordre universel (天 理), c’est par cette conformité que l’homme devient l’égal du Ciel et de la Terre (聖 人 體 道 無 隱 與 天 象 昭 然 莫 非 至 教 常 以 示 人 而 人 自 不察). Tcheng, dit Tcheou-Lien-Ki est synonyme de Tai-Ki ou Li, que chaque être reçoit tout entier; mais il peut être et il east généralement limité dans ses effets par l’imperfection de la matière qui le renferme. Dans le Saint, ces limites n’existent pas: Il agit constamment en conformité avec sa vertueuse nature. Son intelligence perçoit sans effort la raison intime de chaque chose, sa volonté n’éprouve aucune difficulté à se porter au bien et à demeurer ferme dans la voie de la justice, de l’ordre et du devoir.

Tous les auteurs lui attribuent comme qualité essentielle la science innée, infuse (生 而 知 之 者). La plupart semblent croire qu’elle n’a pas de limite, mais s’étend à tout sans exception: rien n’est caché au regard du Saint: Il est omniscient (聖 人 神 明 不 測 之 號) (Tchou Tse). Tchou-Hi cependant enseigne que l’objet de cette science embrasse seulement les principes généraux d’où le Saint tirera sans peine dans le cours de sa vie, les conclusions pratiques nécessaires pour le bien des hommes…

[12] C’est l’opinion que In Yen Ming (1100), un des commentateurs du Luen Yu exprime en ces termes: «Lorsque Confucius qui comme Saint possédait la science infuse, nous répète avec insistence qu’il aimait à étudier, il ne faut pas croire qu’il ne parlait ainsi que par pure modestie et pour exciter ses disciples au travail par la force de son exemple. Non, car la science innée n’a pour objet que les principes généraux. Quant à l’application de ces principes, comme par exemple les détails pratiques du cérémonial et de la musique, les choses célèbres de l’antiquité, les évènements des temps anciens et modernes, le Saint lui-même ne peut que par l’étude, en avoir une connaissance certaine. Mais, dès que l’occasion amène devant son esprit les questions les plus difficiles, aussitôt sans effort, il les pénètre à fond; ses décisions sont claires, ses jugements infaillibles 所 謂 聖 者 不 勉不 思 而 至 焉 者 也 (Mong-tse chap. V). 無 思 而 無 不 通為 聖 人 (T’ong Chou), car il est doué d’une pénétration sans mesure. L’esprit du Saint, dit Tch’ou tse, est parfaitement pur et brillant, il contient dans sons ampleur, la raison de toutes choses. A la plus légère impression reçue, il répond à l’instant et rien dans la nature n’échappe à sa pénétration. (Mong tse, chap. XIII, comment)

[13] L’homme parfait peut lire dans l’avenir la prospérité ou la ruine des dynasties. Tous les changements en bien ou en mal, qui doivent arriver dans l’empire, il les connaît d’avance d’une science certaine, par l’observation des phénomènes de la nature, la disposition de l’herbe divinatoire (蓍) et les lignes qu’il remarque sur la carapace de la merveilleuse tortue (龜).

La raison de ce pouvoir de claire vue est, dit Tchou-Hi, que la Saint n’a devant les yeux de son intelligence aucune trace d’égoïsme ou de fausseté puisqu’il est de tout point conforme à la nature; rien ne l’empêche donc d’apercevoir les choses les plus subtiles; par sa connaissance admirable, il ressemble, aux Koei-chen (唯 誠 之 至 極 而 無 毫 私 偽 留 於 心 目 之 間).

Le saint est de plus le paragon de la perfection morale. Il possède toutes les vertus à un degré eminent 聖 者 … 幾 無 不 明 德 無不 備 者 也 乃 以 能 察 其 幾 焉 (Cf. Tchong Yong 34 comment).

Constant dans la voie du juste milieu, il agit suivant la droite raison. «Tout homme, dit Mong tse a reçu du Ciel ses sens avec leurs fonctions déterminées, mais le Saint peut seul en faire un usage parfait, parce que, ajoute le Commentateur, seul il sait se conformer de point en point à la direction du principe intérieur (Li) qui l’anime et le dirige (孟 子 曰 形 色 天 性 也 唯 聖人 然 後 可 以 踐 形) (盡 心 上 卅 七).

[14] Ce passage, dit aussi Tcheng-tse, signifie que le Saint suit en tout la voie que la nature a tracée aux hommes et par là, il fait un bon emploi de ses sens. Le vulgaire possède bien aussi le principe directif (li) mais il l’ignore, le sage ordinaire s’y conforme mais pas parfaitement; seul le Saint peut faire un emploi correct de ses sens.

程 子 曰: 此 言 聖 人 盡 得 人 道 而 能 充 其 形 也… 眾 人 有 之 而 不 知; 賢 人 踐 之 而 未 盡; 能 充 其 形 惟 聖 人 也 (Ibid. comment)

Jamais la passion ne l’émeut: il se possède dans un calme que rien ne saurait altérer. Le principe céleste incoporé dans sa personne (聖 人 體 道) se manifeste et brille au dehors pour éclairer les hommes et les porter au bien. Tout en lui, ses moindres actions, ses paroles, jusqu’à son repos et son silence même, est autant de leçons, que les sages seuls perçoivent et dont ils font leurs profits; mais si le vulgaire et les hommes vicieux ne sont pas transformés, la faute en est uniquement à leurs mauvaises dispositions et à leur volonté dépravée; car la sagesse du Saint est d’elle-même capable d’éclairer tous les esprits, comme sa vertu a la force de changer tous les cœurs. (聖 人 體 道 無 隱 與 天 象 昭 然 莫 非 至 教 常 以 示 人 而 人 自 不 知).

[15] Son influence bienfaisante est sans bornes, comme l’influence du Ciel. «De même, dit Tchou-Hi, que dans le cours régulier des quatre saisons, dans la production et la conservation des êtres de l’univers, se voient partout avec évidence, les effets de l’évolution du principe céleste (天 理) sans que le Ciel doive pour cela rompre son silence; ainsi tout dans le Saint, l’action et le repos, révèle également le principe merveilleux, la droiture parfaite dont il est plein». Et il conclut par ce cri d’enthousiasme: «En un mot, le Saint est le Ciel personnifié».

四 時行 百 物 生 莫 非 天 理 發 見 流 行 之 實 不 得 言 而 可 見 聖 人 一 動 一 靜 莫 非 妙 道 精 義 之 際 亦 天 而 已 (Luen Yu chap. XVII, No 18 comment)

Le I-King avait depuis longtemps déjà représenté l’homme parfait

comme l’égal du ciel en perfection: «Ses vertus, y est-il dit, égalent celles du ciel et de la terre, il brille comme le soleil et la lune, sa régularité est comparable à celle des quatre saisons, son influence rappelle celle des esprits. Si son action devance le Ciel, le Ciel ne le contrarie pas; s’il suit le ciel, il se conforme aux saisons. Et si le Ciel même ne lui résiste pas, combien moins les hommes et les esprits lui résisteront-ils?…»

[16] Tse-Se, petit-fils de Confucius nous fait dans le Tchoung-Young une description qui semble bien n’être que le développement du passage précédent du I-King. Le Saint nous y est dépeint comme transformant les hommes par la force de son exemple et de ses enseignements, et conduisant tous les êtres jusqu’au complet épanouissement de leur nature. Il aide et assiste le Ciel et la Terre dans la production et la conservation de toutes choses; il est le troisième agent de l’univers (與 天 地 並 位 為 三 也) (Tchoung Young comment) (l’égal même du Ciel) (配天) (Tchoung Young no 22 et no 26 與 天 地 參 配 天 配 地 no 31, 配天).

[17] The critic See says: «Every man has his heavenly nature, which is in him as a fire that has just been kindled or a spring which is just issuing forth. What is required is the widening and enlarging of it. (Cf. James Legge, The Shoo king page 386 notes).

[18] The words of Woo Ch’ing: 又 當 擴 充 其 德 與 天 為 一 (Hựu đương khoách sung kỳ đức, dữ thiên vi nhất) (James Legge, The Shoo king, page 386, notes)

[19] Cf. James Legge, The Shoo king, page 428 notes.

[20] Thiên nhân bản vô nhị, bất tất ngôn hợp. Nhược bất nhất bản, tắc an đắc tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thời? – Trình Hạo, Tống Nguyên Học Án, q. 3, trang 17.

Âm Phù Kinh của đạo Lão cũng chủ trương: Thiên Tính Nhân Dã, Nhân Tâm cơ dã. Lập Thiên chi Đạo dĩ định nhân dã. 天 性 人 也, 人 心機 也. 立 天 之 道 以 定 人 也 (Thiên Tính là người. Nhân Tâm là máy. Lập ra thiên đạo để định thế nào là người.)

[21] Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri thiên. 思 知 人, 不 可 以 不 知 天 (Trung Dung chương 20)

[22] «Tinh nhất chấp trung» Nghiêu Thuấn tương thụ chi tâm pháp dã. «Kiến trung» (Thang), «kiến cực» (Vũ), Thương, Thang, Chu, Vũ tương truyền chi tâm pháp dã. Viết đức, viết nhân, viết kính, viết thành, ngôn tuy thù nhi lý tắc nhất, vô phi sở dĩ minh thử tâm chi diệu dã. Chí ư ngôn Thiên, tắc nghiêm kỳ tâm chi sở tự xuất; ngôn dân tắc cẩn kỳ tâm chi sở tự thi. Lễ nhạc giáo hoá tâm chi phát dã; điển chương văn vật tâm chi trứ dã. Gia tề, quốc trị, thiên hạ bình, tâm chi suy dã, tâm chi đức kỳ thịnh hĩ hồ! 精 一 執 中 堯 舜 相 授 之 心 法 也 建 中 (湯) 建 極 (武) 商 湯 周 武 相 傳 之 心 法 也 曰 德 曰 仁 曰 敬 曰 誠 言 雖 殊 而 理 則 一 無 非 所 以 明 此 心 之 妙 也

至 於 言 天 則 嚴 其 心 之 所 自 出 言 民 則 謹 其 心 之 所 自 施 禮 樂 教 化 心 之 發 也 典 章 文 物

心 之 著 也 家 齊 國 治 天 下 平 心 之 推 也 心 之 德 其 盛 矣 乎 (Thư Kinh Đại Toàn, quyển nhị)

[23] Cáo Thần Tông viết: Tiên thánh hậu thánh nhược hợp phù tiết, phi truyền thánh nhân chi đạo, truyền thánh nhân chi tâm dã; phi truyền thánh nhân chi tâm dã, truyền kỷ chi tâm dã. Kỷ chi tâm vô dị thánh nhân chi tâm. Quảng đại vô hạn, vạn thiện giai bị. Dục thánh nhân chi đạo khuếch sung thử tâm yên nhĩ.

告 神 宗 曰 先 聖 後 聖 若 合 符 節 非 傳 聖 人 之 道 傳 聖 人 之 心 也 非 傳 聖 人 之 心 也

傳 己 之 心 也 己 之 心 無 異 聖 人 之 心 廣 大 無 限 萬 善 皆 備 欲 聖 人 之 道 擴 充 此 心 焉 耳 (Trùng biên Tống Nguyên Học Án, quyển 1, trang 144.)

[24] Nhất nhân chi tâm tức thiên địa chi tâm, nhất vật chi lý tức vạn vật chi lý, nhất nhật chi vận tức nhất tuế chi vận. 一 人 之 心 即 天 地 之 心 一 物 之 理 即 萬 物 之 理 一 日 之 運 即 一 歲 之 運

(Tống Nguyên Học Án, quyển 15, Y Xuyên học án thượng, trang 2)

[25] Mạnh Tử viết: Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính giả. Tri kỳ tính, tắc tri Thiên hĩ.

孟 子 曰: 盡 其 心者 知 其 性 也. 知 其 性 則 知 天 矣 (Mạnh Tử – Tận Tâm chương cú thượng, 1)

[26] Mạnh Tử viết: Vạn vật giai bị ư ngã hĩ. Phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.

孟 子 曰: 萬 物 皆 備 於 我 矣. 反 身 而 誠 樂 莫 大 焉 (Mạnh Tử – Tận Tâm chương cú thượng, 4)

Lý Phác, một triết gia thời Tống đã muốn đề mộ chí mình như sau: Dĩ thiên vi tâm, dĩ Đạo vi thể, dĩ thời vi dụng 以 天 為 心 以 道 為 體 以 時 為 用: Lấy Trời làm lòng, lấy Đạo (Trời, tuyệt đối thể) làm bản thể, lấy thời gian làm của dùng. (Tống Nguyên Học Án – Bí Giám, Lý chương Công tiên sinh Phác, quyển 1, trang 18)

[27] Cái dục học giả ư thử phản cầu chư thân nhi tự đắc chi

蓋 欲 學 者 於 此反 求 諸 身 而 自 得 之 (Trung Dung chương 1– Phụ chú của Chu Hi.)

[28] Phàm vật mạc bất hữu thị tính. Do thông, tế, khai, tắc; sở dĩ hữu nhân vật chi biệt. Do tế hữu hậu bạc, cố hữu trí ngu chi biệt. Tắc giả lao bất khả khai; hậu giả khả dĩ khai, nhi khai chi dã nan. Bạc giả khai chi dã dị. Khai tắc đạt vu thiên đạo, dữ thánh nhân nhất.

凡 物 莫 不 有 是 性 . 由 通 蔽 開 塞 所 以 有 人 物 之 別 . 由 蔽 有 厚 薄 故 有 智 愚 之 別 . 塞 者 牢 不 可 開 . 厚 者 可 以 開 而 開 之 也 難 . 薄 者 開 之 也 易 . 開 則 達 于 天 道 與 聖 人 一 (Cận Tư Lục, quyển 1, trang 10)

[29] Thiên thánh giai quá ảnh lương tri nãi ngô tâm 千 聖 皆 過 影 良知 乃 吾 心 (Vương Dương Minh).

[30] Duy Hoàng Thượng Đế giáng trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính, khắc tuy quyết du duy hậu

惟皇上帝,降衷于下民,若有恒性,克綏厥猷惟后 (Kinh Thư – Thang Cáo, tiết 2)

… Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc; Dân chi bỉnh di, hảo thị ý đức.

天 生 蒸 民 有 物 有 則, 民 之 秉 彝. 好 是 懿 德. (Kinh Thi, Chưng Dân). (Trời sinh ra khắp muôn dân, Vật nào phép ấy, định phân rành rành. Lòng dân chứa sẵn căn lành, Nên ưa những cái tinh thành tốt tươi.)

[31] Mạnh Tử viết: Đại nhân giả bất thất kỳ xích tử chi tâm giả dã

孟 子 曰: 大 人 者 不 失 其 赤 子 之 心 者 也 (Mạnh Tử – Ly Lâu chương cú hạ, 12.)

[32] Mạnh Tử – Cáo Tử chương cú thượng, tiết 7. Đoàn Trung Còn dịch, trang 157.

[33] Mạnh Tử – Cáo Tử chương cú thượng, tiết 7 và 8.

[34] Mạnh Tử – Cáo Tử chương cú thượng, tiết 1.

[35] Nho gia tắc nhân minh trí thành nhân thành trí minh. Cố «thiên nhân hợp nhất», trí học nhi khả dĩ thành thánh. 儒 家 則 因 明 致 誠 因 誠 致 明 . 故 天 人 合 一 . 致 學 而 可 以 成 聖 (Tống Nguyên Học Án – Hoành Cừ học án, quyển 17, trang 55)

[36] Thiên tính tại nhân chính do thuỷ tính chi tại băng. Ngưng thích tuy dị vi vật nhất dã; thụ quang hữu tiểu, đại, hôn, minh; kỳ chiếu nạp bất nhị dã. Cao Trung Hiến viết: Dĩ thuỷ dụ thiên, dĩ băng dụ nhân, dĩ ngưng thích dụ sinh tử, dĩ thụ quang dụ khí bẩm chi bất đồng, dĩ chiếu nạp dụ tính chi bất nhị.

天 性 在 人 正 猶 水 性 之 在 冰 . 凝 釋 雖 異 為 物 一 也 . 受 光 有 小 大 昏 明 . 其 照 納 不 二 也 . 高 中 憲 曰 以 水 喻 天 以 冰 喻 人 . 以 凝 釋 喻 生 死 . 以 受 光 喻 氣 稟 之 不 同 . 以 照 納 喻 性 之 不 二 (Tống Nguyên Học Án, quyển 17, trang 20)

[37] Tôn Chung Nguyên viết: Thiên dữ thần phi nhị kiến; thánh nhân tức thiên. 孫 鐘 元 曰 天 與 神 非 二 見 聖 人 即 天 (Tống Nguyên Học Án, quyển 17, trang 13)

[38] Cáo chư sinh dĩ học tất như thánh nhân nhi hậu dĩ. Dĩ vi tri nhân nhi bất tri thiên; cầu vi hiền nhân nhi bất cầu vi thánh nhân, thử tần hán dĩ lai học giả chi đại tế dã.

告 諸 生 以 學 必 如 聖 人 而 後 已 . 以 為 知 人 而 不 知 天. 求 為 賢 人 而 不 求 為 聖 人 . 此 秦 漢 以 來 學 者 之 大 蔽 也 (Tống Nguyên Học Án, quyển 17, trang 2. Hoành Cừ học án, thượng)

«Cùng tính mệnh chi nguyên, tất dĩ thể thiên vi học vấn chi bản.»

窮 性 命 之 源 必 以 體 天 為 學 問 之 本 (Liêm Khê học án. Tống Nguyên Học Án, quyển 11, trang 10)

Thiệu Khang Tiết: «Học mà không đạt được tới trình độ hợp Trời với người, thì không đủ gọi là học.» (Học bất tế thiên nhân bất túc dĩ vi chi học) 學 不 際 天 人 不 足 以 為 之 學 (Quan vật ngoại thiên).

[39] Trung Quốc tự Đường Ngu dĩ lai, tức hữu thiên nhân hợp nhất chi tư tưởng. Kính thiên tức sở dĩ ái nhân; ái dân tức sở dĩ tôn thiên. Lịch đại thánh triết mạc bất kế tục hoành dương thử thiên nhân hợp nhất chi đạo. Lão Tử tức kỳ nhất dã. 中 國 自 唐 虞 以 來 , 即 有 天 人 合 一 之 思 想. 敬 天 即 所 以 愛 人; 愛 民 即 所 以 尊 天.  歷 代 聖 哲 莫 不 繼 續 宏 揚 此 天 人 合 一 之 道. 老 子 即 其 一 也 (Trương Kỳ Quân, Lão Tử. Trung Quốc văn hóa nhất chu, kỳ 623, trang 21. Trung Hoa ngũ thiên niên sử, quyển 3, chương Lão Tử)

[40] Dịch chi vi thư quảng đại tất bị, nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi thiên nhân hợp nhất chi đạo. 易 之 為 書 廣 大 悉 備 而 語 其 要 歸, 則 為 天 人 合 一 之 道 (Trương Kỳ Quân, Chu Dịch. Trung Quốc văn hóa nhất chu, kỳ 588, trang 21. Trung Hoa ngũ thiên niên sử, quyển 1, chương Chu Dịch, trang 123)

[41] Cf. Opere storiche, tome I,

Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 108:

«Mais l’opinion la plus suivie actuellement et qui me paraît (pare) empruntée à la secte des idoles depuis 500 ans (philosophie des Song), c’est que tout ce monde est fait d’une seule substance, et que le Créateur du monde avec le ciel et la terre, les hommes et les animaux, les arbres et les végétaux, et les quatre éléments, forment un corps continu dont les divers êtres sont les membres. C’est de cette unicité de substance que l’on déduit le devoir de la charité envers les hommes et la possibilité pour tous de devenir semblables à Dieu… voilà ce que nous nous efforçons de réfuter (procuriamo di confutare), non seulement par le raisonnement, mais avec l’autorité de leurs anciens auteurs qui très clairement ont enseigné une doctrine différente… (G. Ricci).

[42] Mạnh Tử viết: Thuấn sinh ư Chư Phùng, thiên ư Phụ Hạ, tốt ư Minh Điều. Đông di chi nhân dã. Văn Vương sinh ư Kỳ chu, tốt ư Tất Dĩnh. Tây di chi nhân dã. Địa chi tương khứ dã, thiên hữu dư lý, thế chi tương hậu dã, thiên hữu dư tuế. Đắc chí hành hồ Trung Quốc, nhược hợp phù tiết. Tiên thánh hậu thánh, kỳ quĩ nhất dã. 孟 子 曰: 舜 生 於 諸 馮,遷於 負 夏, 卒 於 鳴 條.東 夷 之 人 也.文 王 生 於 岐周,卒 於 畢 郢. 西 夷 之 人 也.地 之 相 去 也,千 有 餘 里; 世 之 相 後 也,千 有 餘 歲. 得 志行 乎 中 國, 若 合 符 節.先 聖 後 聖,其 揆 一 也. (Mạnh Tử – Ly Lâu chương cú hạ, tiết 1. Đoàn Trung Còn dịch, trang 38)

[43] Cf. Revue des sciences philosophiques et théologiques. (Paris Librairie philosophique J. Vrin 6, Place de la Sorbone V, Tome XLIV No 3 Juillet 1960) page 570:

«La conscience a pour Augustin une valeur exclusivement religieuse, c’est le lieu de rencontre entre l’âme et Dieu présent en elle…» (J. Stelzenberger, Conscientia bei Augustinus zur Geschichte der Moraltheologie, Paderborn, Schoningh 1959).

[44] Cf. Henri de Lubac, Aspects du Bouddhisme. Notes 39 du chapitre III, page 176:… Augustin, sermon 263, N. 4: Sic et Dominus manens Deus, manens Verbum… implens angelos, totus ubique, totus in mundo, totus in Patriarchis, totus in Prophetis, totus in omnibus sanctis, totus in utero Virginis… (P. L. 38, 1215): cf Enarratio in psalmum 61, N. 4 (P.L., 730-732)…

[45] Cf. Henri de Lubac, Aspects du Bouddhisme. Notes 103 du Chapitre I «En toi, mon Dieu, j’aurai ma solidité, ma fixité, mon être définitifs» (Augustin).

[46] Cf. Romains 2, 14 et 15. Ceux-là (les Gentils) montrent gravées dans leurs cœurs les prescriptions de la Loi…

Trong Deutéronome, đoạn XXX, câu 11-15, Chúa cũng phán: «Vì luật mà ta truyền hôm nay, không có quá sức, quá tầm ngươi. ó không ở trên trời, để ngươi phải nói: «Ai sẽ trời tìm nó cho ta để chúng ta được nghe biết Luật và tuân cứ.» Nó cũng chẳng cách mấy trùng dương, để ngươi phải nói: «Ai sẽ vượt bể tìm nó cho ta để chúng ta được nghe biết Luật và tuân cứ.» Vì Đạo (Lời) nào có xa ngươi, nó đã ở trong miệng ngươi và lòng ngươi, để ngươi tuân cứ. (Dịch theo Bible de Jérusalem, trang 206)

Jéremie viết: «Ta sẽ đặt lề luật ta trong đáy lòng họ, và viết lề luật ta vào tâm khảm họ.» (Jéremie 31, 33)

[47] Le Dieu qui a dit à la lumière de resplendir du fond des ténèbres est Celui qui a resplendi en nos cœurs… (II Corinthiens 4, 6…)

[48] Glorificate et portate Deum in corpore vestro. (I Cor. 6, 20.)

(Biblia sacra juxta Vulgatae exemplaria et correctoria romana. Paris Librairie Letouzey et Ane, 87 Boulevard Raspail, page 1265).

Các bản Kinh thánh bằng tiếng Pháp mới không dám thêm chữ «và hãy mang Thiên Chúa trong thể xác anh em». Crampon chỉ dịch: Glorifiez donc Dieu dans votre corps (La Sainte Bible de Crampon, page 191). Quyển La «Bible de Jérusalem» dịch: Glorifiez donc Dieu dans notre corps; còn chữ «et portez» cho xuống chú thích K nhỏ dưới gầm trang. (Bible de Jérusalem page 1515)

[49] Ce n’est plus moi qui vis, c’est le Christ qui vit en moi. Aux Galates 11, 20) (Crampon, page 215)… Puto autem quod et ego, Spiritum Dei habeam (Et je pense bien, moi aussi, avoir l’Esprit de Dieu) (Biblia sacra (Vulgata) et Bible de Jérusalem: 1 Cor, 40.

… Et ita cadens in faciem adorabit Deum, pronuntians quod vere Deus in vobis sit. (I Cor. XIV, 25) (Và bấy giờ hắn sấp mình xuống đất, thờ phượng Thiên Chúa, và nói thực có Thiên Chúa trong anh em). La Bible de Jérusalem và La Sainte Bible de Crampon dịch chữ «In vobis» là «parmi nous» thiết tưởng không đúng, vì «inter» mới là «parmi», còn «in» phải dịch là «en».

[50] Pierre Teilhard voit le cosmos tout entier construit à partir d’une seule et même énergie, cette énergie s’actualise sous des aspects très différents. La science, particulièrement la physique, confirme de plus en plus le bien fondé de cette conception…

George Magloire & Hubert Cuypers, Teilhard de Chardin, page 131.

… Teilhard de Chardin résume admirablement sa conception cosmique dans ces quatre propositions:

«Je crois que l’univers est en évolution.»

«Je crois que l’évolution va vers l’Esprit.»

«Je crois que l’Esprit s’achève en Dieu personnel.»

«Je crois que le Personnel suprême est le Christ universel.»

Ibid. page 222.

[51] Thị vị phối thiên cổ chi cực 是 謂 配 天 古 之 極. Lão tử Đạo đức kinh, chương 68.

[52] «Il est né en vain, celui qui, ayant le rare privilège d’être né homme, est incapable de «réaliser» Dieu dans cette vie.» (L’enseignement de Ramakrishna, p. 5)

[53] «Người quân tử lấy đạo đức sung thực làm quí, lấy thân được làm giàu, còn xem hiên miện là nhỏ nhen, xem kim ngọc là tro bụi.» (Chu Liêm Khê, 1017-1073). Tống Nho của Bửu Cầm,trang 52.

[54] Học giả sở dĩ trị tâm dã; học tuy đa, nhi tâm bất trị, hà dĩ học vi? 學 者 所 以 治 心 也 學 雖 多 而 心 不 治 何 以 學 為 (Học là cốt để sửa trị tâm hồn; học nhiều mà tâm hồn chẳng sửa trị, thì học để làm gì?) (Tốc Thủy học án. Tống Nguyên Học Án, quyển 4, trang 5.)

[55] Mạnh Tử – Ly Lâu chương cú hạ, 28. Đoàn Trung Còn dịch, trang 61.

[56] Nãi sở nguyện tắc học Khổng Tử dã. 乃 所 願 則 學 孔 子 也 (Mạnh Tử – Công Tôn Sửu chương cú thượng, 2. Đoàn Trung Còn dịch, trang 95-97)

[57] Cf. Đào Trinh Nhất, Vương Dương Minh, trang 41-42.

[58] Mạnh Tử – Cáo Tử chương cú thượng, 15. Đoàn Trung Còn dịch, trang 173.

[59] Nho gia chủ trương phải suy tư học hỏi nhiều mới có thể thành thánh nhân được. Kinh Thư (Hồng Phạm, 6) viết: «Tư viết duệ… duệ tác thánh» 思 曰 睿 … 睿 作 聖 (Suy tư sẽ thông tuệ… thông tuệ sẽ thành thánh). Kinh Thư (Đa Phương, 17) lại viết: «Thánh võng niệm tắc cuồng, duy cuồng khắc niệm tác thánh» 聖 罔 念 作 狂 惟 狂 克 念 作 聖 (thánh mà bỏ suy niệm sẽ thành cuồng nhân; cuồng nhân chịu suy niệm sẽ thành thánh).

Đức Khổng nói: «Trước đây ta mảng trầm tư, mặc tưởng mà trọn ngày quên ăn, trong đêm quên ngủ. Không có ích. Chẳng bằng học.» (Luận Ngữ – Vệ Linh Công 15-30)

Y Xuyên (Trình Di, 1033-1107): Muốn «cùng lý», cần phải suy nghĩ chín chắn. Vì thế Y Xuyên nói: «Không suy nghĩ chín chắn ắt không thể đến được cõi đạo lý.» (Bất thâm tư bất năng tháo ư Đạo). «Không suy nghĩ chín chắn mà đắc đạo thì sự được ấy dễ mất.» (Bất thâm tư nhi đắc giả, kỳ đắc dị thất). «Tư lự lâu ngày, sự minh duệ tự nhiên sinh ra» (Tư lự cửu hậu, duệ tự nhiên sinh). «Đại phàm học vấn do sự nghe biết, đều không thể gọi là tự đắc. Kẻ tự đắc nên mặc thức tâm thông… Nghe thấy mà biết, không phải sự hiểu biết của đức tính. Sự hiểu biết của đức tính không mượn ở kiến văn» (Đại phàm học vấn, văn chi tri chi, giai bất vi đắc. Đắc giả tự mặc thức tâm thông… văn kiến chi tri phi đức tính chi tri. Đức tính chi tri bất giả kiến văn.) (Tống Nho của Bửu Cầm, trang 93)

[60] Thượng Thái nói rằng: «Sự đại yếu của người học nơi cửa thánh là lấy việc khắc kỷ làm gốc. Khắc kỷ phục lễ, không có tư tâm thì hợp với thiên lý.» (Thánh môn học giả, đại yếu dĩ khắc kỷ phục lễ vi bản. Khắc kỷ phục lễ, vô tư tâm yên, tắc thiên hĩ.)

Với tư tưởng ấy Thượng Thái bàn về những chữ cách vật cùng lý như thế này: «Gọi là cách vật cùng lý, phải nhận rõ thiên lý mới được. Điều gọi là thiên lý, tự nhiên thích hợp với đạo lý, không có một hào ly đặt để ra.» (Sở dĩ cách vật cùng lý, tu thị nhận đắc thiên lý thủy đắc. Sở vị thiên lý giả, tự nhiên để đạo lý, vô hào phát đỗ soạn.) Lại nói: «Người học đạo phải nên cùng lý. Muôn vật đều có lý. Cùng lý hẳn hiểu biết được điều sở vi của Trời. Biết được sở vi của Trời, hẳn cùng Trời làm một. Cùng Trời làm một thì khi nào cũng hợp lý cả.» (Tống Nho của Bửu Cầm, Thượng Thái Tạ Lương Tá, 1050-1103, trang 99)

[61] Lấy sự «hàm dưỡng» và «học vấn» làm hai phương pháp chủ yếu của người học đạo, Y Xuyên đã nói rằng: «Hàm dưỡng nên dụng sự thành kính, còn tiến học thì tại trí tri.» (Hàm dưỡng tu dụng kính, tiến học tại trí tri). Bởi «hàm dưỡng» là gốc, «học vấn» là ngọn; gốc và ngọn không thể thiếu được ở cây, cũng như hai điều «hàm dưỡng» và «học vấn» không thể thiếu được ở người học đạo. (Tống Nho của Bửu Cầm, Trình Y Xuyên, trang 92)

[62] Vì vậy nếu người ta muốn tồn thiên lý khử nhân dục, thì phải biết giữ lấy điều nhân, và làm cho nó càng ngày càng tăng trưởng. Khi mà trong tâm của người ta chỉ còn có thiên lý, không có mảy may nhân dục, thì lúc tĩnh ắt hợp với điều Trung, lúc động ắt hợp với điều Hòa. Vì thế nên những mối thiện, ác, chính, tà của lòng người chỉ kết thúc trong mấy chữ thiên lý và nhân dục. Thuận theo thiên lý gọi là đạo tâm; tùy theo nhân dục thì gọi là nhân tâm. – Tống Nho của Bửu Cầm: Chu Hi (1130-1200), trang 144.

[63] Mạnh Tử – Tận Tâm chương cú hạ, 35. Đoàn Trung Còn dịch, trang 279.

[64] Tống Nho của Bửu Cầm, trang 102.

[65] Tống Nho của Bửu Cầm, trang 93.

[66] Luận Ngữ – Tử Hãn IX-18.

[67] Tử viết: «Khâu chi đảo cửu hĩ.» (Luận Ngữ – Thuật Nhi VII-34)

[68] «Bậc chí nhân lấy trời đất làm một thân, và lấy phẩm vật vạn hình ở giữa khoảng trời đất làm tứ chi bách thể» Há có người nhìn tứ chi bách thể mà không thương thay. Thánh nhân là bậc chí nhân chỉ một mình thể được cái tâm ấy; há thường chia lìa nhiều mối để tìm nó ở bên ngoài ? (Chí nhân tắc thiên địa vi nhất thân, nhi thiên địa chi gian, phẩm vật vạn hình, vi tứ chi bách thể. Phù nhân khởi hữu thị tứ chi bách thể nhi bất ai giả tai. Thánh nhân, nhân chi chí dã, độc năng thể thị tâm nhi dĩ, hạt thường chi li đa đoan nhi cầu chi tự ngoại hồ.) – Tống Nho của Bửu Cầm: Trình Hạo, trang 78.

[69] Luận Ngữ – Tử Hãn IX-7.

– «Người học đạo phải nên cùng lý. Muôn vật đều có lý. Cùng lý hẳn hiểu biết được điều sở vi của Trời. Biết được sở vi của Trời, hẳn cùng Trời làm một… Kẻ còn thấy TA ấy là chưa thể cùng lý. Ai biết được cái ta chân thật?» (Tạ Lương Tá, 1050-1103. Tống Nho của Bửu Cầm, trang 99).

[70] Minh đạt ngôn tâm ký tử tắc thần hoạt. Cổ nhân vân: Tâm tử thần hoạt. Tâm tử  tắc du thần tử hĩ. Du thần tử nhi nguyên thần hiện; như nhân dục tận nhi thiên lý hiện. Thị dĩ viết: Minh đạt nhị tự giả tức như ngôn: Minh tâm kiến tính dã. Minh giả, quang nhi bất muội. Đạt giả thông nhi bất trệ. Thị nguyên thần bất thức trung chi thức, lương tri, lương năng dã. Đáo thử tắc trí huệ sinh hĩ.

明 達 言 心 既 死 則 神 活. 古 人 云 心 死 神 活. 心死 則 遊 神 死 矣 . 遊 神 死 而 元 神 現 ; 如 人 欲 盡 而 天 理 現 . 是 以 曰 明 達 二 字 者 即 如 言 明 心 見 性 也 . 明 者 光而 不 眛 . 達 者 通 而 不 滯 . 是 元 神 不 識 中 之 識 良 知 良 能 也. 到 此 則 智 慧 生 矣  (Huỳnh Đình Kinh chú. Ngoại Cảnh Ngọc Kinh, quyển thượng trang 17. Tung Ẩn Tử Thạch Hòa Dương thuật)

[71] Huyền học Lão giáo

«Đại đồng nhi vô kỷ» 大 同 而 無 己 (L’éloge substantiel de cet homme se résume en ces mots qu’il est un avec le Grand Tout. Il est le Grand Tout et n’est plus lui-même.) (Trang Tử – Tại Hựu, tiết E. Léon Wieger, Tchoang Tzeu, chapitre II, E)

«Chí nhân vô kỷ thần nhân vô công thánh nhân vô danh.»

至 人無 己 神 人 無 功 聖 人 無 名 (Trang Tử – Tiêu Diêu Du, tiết C.)

Huyền học Phật giáo

«Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm» 應 無 所 住 而 生 其 心 (Kim Cương Kinh)

Tòng lai chí đạo dữ tâm thân; học đáo vô tâm đạo tức chân.

從 來 至 道 與 心 親 學 到 無 心 道 即 真 (Tính Mệnh Khuê Chỉ, 11-13)

Phật giáo luôn tha thiết với vấn đề «phá ngã chấp».

Huyền học Bà La Môn giáo

«Kìa sông tới biển thời tiêu

Hết điều danh sắc, hết điều riêng tây

Trở thành biển cả từ đây

Gọi là biển cả từ nay khác gì

Con người nhìn lại cũng y

Khi mười sáu bộ đã qui về Ngài

Còn đâu danh tướng lôi thôi

Rồi ra cũng chỉ là ngôi chân thần

Thế là vĩnh cửu bất phân

Chẳng còn bộ phận, còn thuần tinh hoa

Đã điều qui tụ hiệp hòa

Như đũa liền trục ắt là chân nhân.

Chân nhân là chính chân thần

Tử sinh thôi hết bận tâm lo lường.»

(Prasna Up. 6-5-6 – Brih Upd 4-4, 1-2)

Huyền học và thánh kinh Công giáo

Si quelqu’un veut venir à ma suite, qu’il se renonce lui-même, qu’il prenne sa croix et qu’il me suive… (Mat. 16, 24)

Ce n’est plus moi qui vis, c’est le Christ qui vit en moi. (Aux Galates 11, 20).

Ut langueat et liquefiat anima mea solo semper amore et desiderio lui, te concupiscat et decficiat in atria tua, cupiat dissolvi et esse tecum (Prière de St Bonaventure, Paroissien Romain page 58… en sorte que mon âme languisse et se fonde sans cesse d’amour et de désir pour vous seul. Qu’elle soupire après vous et se sente défaillir à la pensée de vos tabernacles, qu’elle n’aspire qu’à sa délivrance et à son union avec vous.)

————————–

KHỔNG HỌC TINH HOA — Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Chương 3

Quan niệm thiên tử Trung Hoa đối chiếu với quan niệm thiên tử trong các quốc gia Âu Á cổ kim

I. QUAN NIỆM THIÊN TỬ THEO TRUNG HOA

A. SỨ MẠNG VÀ THIÊN CHỨC

Thánh nhân lĩnh mệnh Trời trị dân thì được gọi là Thiên tử.

Theo nguyên nghĩa, Thiên tử tức là con Trời, hay nói theo từ ngữ Âu Châu, là con Thiên Chúa.

Thánh thiện phối hợp với Trời, thông minh, duệ trí, xứng đáng là tinh hoa nhân loại, thiên tử sẽ ở ngôi hoàng cực, tâm điểm nhân quần, thay Trời trị dân. Thiên tử là những Người Trời (Homme-Dieu), làm môi giới giữa Trời và người.

Phù hiệu của các vị Thiên tử Trung Hoa là rồng vàng, vì theo Dịch Kinh, rồng tượng trưng cho sự biến hóa vô lường, cho Càn Đạo, cho Thiên Đạo, [1] và theo Hà Đồ, màu vàng là màu của Trung cung, Trung điểm.

Trên phẩm phục nhà vua có thêu mười hai hình gọi là mười hai chương, phân phối như sau:

1- Mặt trời (nhật 日)

2- Mặt trăng (nguyệt 月)

3- Những vì sao (tinh thần 星辰)

Nhật, nguyệt, tinh thần lấy ý nghĩa soi sáng. [2]

4- Núi lấy nghĩa vững vàng (sơn 山)

5- Rồng lấy nghĩa biến hóa (long 龍)

6- Chim trĩ lấy nghĩa văn hoa (hoa trùng 華蟲) [3]
[4]

Nửa áo dưới (thường) có thêu:

7- Bình tông di, có mang hình con hổ và con vị (một thử khỉ đuôi dài) tượng trưng cho quyền tế lễ (tông di 宗彞)

8- Rau tảo, lấy nghĩa khiết tịnh, thanh đạm (tảo 藻)

9- Gạo trắng, có nghĩa nuôi nấng (phấn mễ 粉米)

10- Lửa có nghĩa sáng soi và làm cho ấm áp (hỏa 火)

11- Lưỡi rìu chỉ sự quyết đoán, và quyền sửa phạt (phủ 黼)

12- Chữ phất, thành bởi hai chữ kỷ quay lại với nhau, chỉ sự cân nhắc, thận trọng. (phất 黻)
[5]

Cũng như Thượng Đế ngự giữa hoàn võ làm khu nữu cho vũ trụ, hoàng đế cũng ngự giữa đất nước để cai trị muôn dân.

Các sơ đồ về tổ chức quốc gia thời Hạ, thời Thương, thời Chu chứng minh điều đó:
[6]

Thiên tử còn có thể sánh được với ngôi sao bắc Thần, vì ở trên trời, Bắc Thần làm khu nữu cho muôn phương.
[7]

Thiên tử thay Trời trị dân, làm môi giới giữa Trời và người nên nắm trọn trong tay cả thần quyền, thế quyền. Do đó ta thấy các vị thiên tử có thể phong thánh, phong thần, tế lễ Thượng Đế, v.v… Trung Hoa thời cổ không có hàng giáo sĩ riêng biệt.

Trong bộ Trung Hoa Ký Sự, các vị thừa sai ở Bắc Kinh đã viết như sau: «Hoàng đế lại còn là vị giáo chủ trong nước. Chỉ ngài có quyền công khai dâng lễ tế Trời; từ Phục Hi đến Càn Long, không ai nảy ra ý định tước quyền ấy của vua.

Chúng dân đối với vua, như là con nhỏ đối với cha. Vua là cha chung, truyền lệnh cho dân, như là cho bày con, những điều phải làm. Vua cai trị dân và lo cho dân mọi sự. Nếu cần xin trời đất giáng phúc, thì đã có vua cầu đảo. Tóm lại, những nguyên tắc chính trị và đạo giáo Trung Hoa thực là giản dị: Bổn phận cha đối với con, con đối với cha sao cho phải đạo, đó là nền móng chính trị. Thờ Trời, thờ thần, thờ tổ tiên, đó là nền móng đạo giáo của một dân tộc khi đã chấp nhận một quan niệm thời không hề đổi thay, của một dân tộc trung kiên nhất hoàn cầu.»
[8]

Hồng Phạm dành chương 5 để dạy nghệ thuật làm vua, vì số 5 ở Trung cung, tâm điểm, tượng trưng cho Đạo, cho Trời, vì chương 5 Hồng Phạm dạy vua lề lối sống xứng đáng thể hiện Trời, Đạo nơi trần thế. [9]

Thiên tử xứng đáng với tước hiệu và ngôi vị mình, phải nhân đức tuyệt vời.

Muốn là hoàng đế phải có đức độ sánh với Trời.

Khang Hi tự điển ghi chú về chữ Hoàng và chữ Đế như sau:

Hoàng là lớn, là Trời. [10]

Đế là có đức hợp với Trời. [11]

Những vị thánh vương Trung Hoa tin tưởng mình là con Trời, cho nên khi cầu khẩn Trời thì xưng mình là «tiểu tử» là «con nhỏ», còn khi đối thoại với mọi người thì xưng mình là «dư nhất nhân», là «một mình ta». [12]

Lúc nhà vua mất, Lễ Ký gọi là «đăng hà», ý nói lên một nơi xa thẳm như là lên trời [13] và trên bài vị dùng chữ «Đế» nghĩa là được phối hợp với Thượng Đế. [14]

Kinh Thi cũng còn ghi lại niềm tin ấy. Kinh Thi viết:

«Uy danh vang khắp nước non

Trời coi vua Võ là con của Trời

Nước Châu vinh hiển mấy mươi

Ý vua đà muốn, người người hãi vâng

Nhu hoài đến cả chúng thần

Tấm lòng lân mẫn thấm nhuần non sông

Võ Vương đáng mặt Cửu Trùng…» [15]

Đoạn Kinh Thi này làm ta liên tưởng đến một đoạn Thánh Vịnh tương tự:

Trên Sion Chúa đặt ta

Làm vua núi thánh truyền ra luật Ngài

Cùng ta, Chúa phán lời chí thiết:

«Con là Con nay thiệt Cha sinh

Hãy xin gia sản Cha dành

Bốn phương cõi đất quyền hành Cha ban

Con thống trị khắp toàn dân đó

Roi sắt dùng phạt cả thế gian

Con sẽ đập chúng cho tan

Như bình thợ gốm ra ngàn mảnh rơi…» [16]

Tóm lại, thiên tử chẳng những là thay Trời trị dân, mà còn treo cao gương nhân đức cho mọi người soi.

«Đấng thánh nhân ở ngôi cao, đã lập ra được một gương mẫu tuyệt đỉnh về nhân đức, lấy chính bản thân mình, đời sống mình để dạy dỗ thiên hạ, lại dùng lời nói để giáo hóa thiên hạ; lấy đời sống mình dạy dỗ, tức là cho chúng dân trông thấy những hành vi, cử chỉ của mình, lấy lời lẽ dạy dỗ để dân ca tụng ngâm vịnh cho thuộc, cho nhớ. Cả hai phương diện đều cần thiết, không thể bỏ dân nào được.

«Trong thiên hạ chỉ có Lý là hằng cửu, là cao đại, lời minh diễn về Hoàng Cực, tức là thuần chân, thuần lý, vì thế nên gọi là hằng cửu, là cao đại. Lý đó bắt nguồn từ Trời, vì Trời đã đem chân lý ấy ghi tạc vào tâm khảm con người, nên những lời lẽ hợp với chân lý, hợp với lương tâm con người tức là lời giáo huấn của Trời – Trời tức là vị thánh nhân không nói. Thánh nhân tức là Trời biết nói, một là hai, hai là một vậy.» [17]

B. ĐỨC ĐỘ CÁC VỊ CHÂN THIÊN TỬ TRUNG HOA

Lịch sử Trung Hoa đã ghi chép và đã khen lao đức độ các vị thánh quân, những bậc chân thiên tử.

Hoàng đế được coi là vị thánh nhân. Trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn, chương Thượng Cổ Thiên Chân Luận có ghi chú như sau:

«Trong khi đúc đỉnh ở Đỉnh Hồ Sơn xong thì Hoàng Đế lên trời giữa ban ngày. Quần thần chôn áo mão ngài ở Kiều Sơn…» [18]

Vua Thành Thang biết «lấy Trời làm lòng mình», nghĩa là hoàn toàn sống phối hợp với ý Trời. [19]

Sử chép vua Nghiêu rất thương dân. Ngài nói: «Thấy một người dân đói, ta thấy như là ta đói; thấy một người dân rét, ta thấy như là ta rét; thấy một người dân bị áp bức, ta thấy như là ta bị áp bức.» [20] Vì thế, dân chúng coi Ngài như cha, và khi Ngài băng hà, trong ba năm trong nước không nghe thấy tiếng âm nhạc. [21]

Vua Đại Võ khen vua Thuấn như sau: «Lời nói phải không còn bị che đậy giấu diếm, đồng nội không còn sót hiền tài. Muôn nước đều yên. Vua cư xử vừa lòng chúng dân, bỏ ý mình theo ý người, không hiếp đáp kẻ bơ vơ, không ruồng rẫy người cùng khốn, chỉ vua Nghiêu là được thế.»

Ích Tắc nói tiếp: «Vâng, đức vua Nghiêu lẫy lừng vang khắp. Ngài là thánh, là thần, gồm văn, gồm võ. Trời cao thương Ngài, trao cho mệnh cả… Ngài gồm thâu bốn bể, làm vua thiên hạ.» [22]

Trong Chiến Quốc Sách có chép: Đời vua Vũ có viên quan tên là Nghi Địch nấu rượu rất ngon. Nghi Địch dâng rượu lên vua. Vua Vũ uống vào, thấy rượu ngon ngọt, phán rằng: «Đời sau ắt có vị vua vì rượu mà mất nước.» Ngài bèn xa lánh Nghi Địch, và tự hậu chẳng hề uống rượu. [23]

Trong một cuộc tuần thú, vua Đại Võ trông thấy một tội nhân, liền xuống xe, han hỏi và khóc ròng. Tả hữu nói: «Tội nhân này trái đạo, đức vua can chi phải khổ đau?» Vua nói: «Thời Nghiêu Thuấn, dân lấy lòng Nghiêu, Thuấn làm lòng mình. Ta nay lên làm vua, bách tính theo ý riêng mình, vì vậy ta khóc. Vạn phương có tội, lỗi tự mình ta…» Một hôm Ngài qua sông Giang, bị con rồng vàng đội thuyền lên. Cả thuyền đều sợ. Nhà vua không thay đổi thần sắc nói: «Ta chịu mệnh Trời, một niềm tận tụy vì dân. Sống chết của ta là do ý Trời, rồng này làm gì được ta.» Thoắt thôi, rồng cúi đầu cúp đuôi lặn mất. [24]

Chu Công nói: «Trung Tông nhà Ân kính sợ mệnh Trời, giữ mình, trị dân cẩn thận, hãi hùng không dám hoang toàng, yên vui. Cho nên vua Trung Tông hưởng nước 75 năm. Tới đời vua Cao Tông, trước vốn khó nhọc ở ngoài cung, làm lụng với dân hèn, cho nên khi lên ngôi, có thời cư tang trong lều, ba năm không nói. Về sau vua cũng ít nói, nhưng khi nói ra là hợp lẽ. Ngài không dám hoang toàng, yên vui. Làm đẹp, làm yên nước Ân, cho nên kẻ nhỏ người lớn không hề khi nào oán trách. Cao Tông trị nước 59 năm. Văn Vương phục sức xoàng xĩnh, chỉ chăm việc trị an và canh nông. Ngài khiêm cung nhu mì, thương yêu, bênh vực dân hèn, làm ơn cho kẻ góa bụa. Từ sớm đến trưa, từ trưa đến tối, vua không còn có thời giờ rảnh để ăn, mà mê mải lo cho muôn dân được vui hòa. Ngài không dám ham mê chơi săn. Thâu thuế các nước thì chỉ thâu chính đáng. Cho nên vua Văn chịu mệnh khi đã đứng tuổi, mà còn hưởng nước được 50 năm.» [25]

Đức Khổng khen các thánh vương thời cổ như sau: «Cao siêu thay! Thuấn Vũ có thiên hạ mà lòng không dính bén.» [26]

«… Đức nghiệp vua Nghiêu to lớn biết bao! Cao siêu biết bao! Chỉ có Trời là lớn; chỉ có vua Nghiêu sánh được với Trời. Lồng lộng thay! Dân chúng không thể khen tặng cho xiết. Cao siêu thay sự thành công của Ngài ! Lễ nhạc, pháp độ Ngài rõ ràng thay.» [27]

«Vua Văn nhà Châu được hai phần ba thiên hạ theo mình mà vẫn phụng sự nhà Ân. Đức độ ấy có thể gọi là chí cực vậy.» [28]

Đức Khổng nói: «Vua Vũ nhà Hạ ta chẳng chê trách được. Trong việc ăn uống ngài giữ đạm bạc, nhưng trong việc cúng tế quỉ thần thì lại trọng hậu. Y phục ngài thường mặc thì xấu, nhưng áo mão Ngài trang sức trong dịp cúng tế thì lại rất đẹp. Cung thất của Ngài thì nhỏ hẹp, nhưng ngòi lạch trong nước thì Ngài tận lực sửa sang. Vua Vũ nhà Hạ ta chẳng chê trách được.» [29]

Đọc lịch sử ta thấy các vị thánh vương xưa rất trọng dân, thương dân, cai trị dân một cách dân chủ và bình dị.

Vua Nghiêu cho đặt trống và bản trước triều ca. Hễ ai muốn can gián khuyến cáo nhà vua thì đánh trống xin vào triều kiến, hoặc là viết lời gián nghị lên bảng.[30]

Vua Đại Võ cho treo chuông, trống lớn, khánh, mõ, trống khẩu tại triều đình. Vua truyền viết trên giá chuông trống như sau: «Ai muốn chỉ dẫn quả nhân về đạo lý, xin đánh trống lớn, muốn khuyến cáo về việc nghĩa xin đánh chuông, muốn trình bày công việc xin đánh mõ, muốn khiếu oan xin đánh khánh, muốn thưa kiện xin đánh trống khẩu.»

Vua thường nói: «Các hiền sĩ lận đận ngoài đạo lộ còn khả trợ. Nhưng để họ lận đận trước cửa ta thì không thể được.» Nên nhiều khi nhà vua đang gội đầu, phải bỏ dở, vắt tóc đến hai ba lần, có ngày lại mất cả ăn uống thư thả, để giữ trọn lễ với các hiền sĩ. [31]

Dưới triều nhà Hạ, hằng năm vào tháng đầu xuân, viên chấp lệnh gõ mõ đi khắp nẻo đường, rao rằng:

«Hỡi các quan, các thầy hãy cho nhà vua biết các khuyết điểm của triều chính; hỡi các thợ thuyền hãy cho nhà vua biết các lỗi lầm mà triều chính đã phạm đối với từng nghề nghiệp. Kẻ nào không tuân cứ, sẽ bị phạt theo phép nước.» [32]

Nói chung, các vị thánh vương xưa, tuy ở ngôi cao đứng đầu trăm họ, nhưng không hề dám trễ nải, ăn chơi, trái lại, thường tự nhủ: «Làm vua khó mà làm bầy tôi cũng chẳng dễ.» [33]

Các ngài dùng người hiền thì tôn trọng và không nghi ngờ, gặp kẻ xấu thì xua đuổi không ngần ngại. [34]

Các ngài không dám làm điều trái đạo để cầu lời khen của trăm họ, không dám trái ý trăm họ để thể theo ý riêng mình. [35]

Các ngài ra công học hỏi, tu thân; cố gắng không ngừng để trở nên giỏi giang, nhân đức, ngõ hầu trị dân một cách khôn ngoan sáng suốt. [36]

Các ngài cấp phát tài sản cho dân, vì biết rằng có «hằng sản» [37] thì dân mới có «hằng tâm». [38]

Các ngài khuyến khích chúng dân triệt để khai thác đất đai, để cho dân được no ấm, có đầy đủ tiện nghi và sống một cuộc đời phong phú về vật chất, thuần mỹ về tinh thần, khả dĩ có thể tiến tới được tinh hoa, thánh thiện. [39] Các ngài lấy đức độ mình để cảm hóa dân, coi mình như ngọn gió, và chúng dân như ngọn cỏ; hễ gió thổi thì cỏ lướt theo chiều. [40] Không bao giờ các ngài nghĩ đến sự tàn sát dân, và luôn luôn giữ được đức hiếu sinh, [41] tuy có lập ra hình phạt để sửa trị dân, nhưng trong lòng hằng mong mỏi có ngày vất bỏ được những hình phạt ấy. [42] Các ngài cố giáo hóa dân, mong sao cho dân một ngày một thêm hoàn thiện, có thể đạt tới Trung đạo thông phần vinh quang của thiên tử. [43]

Các vị chân thiên tử xưa trị dân cốt lấy đức độ mình mà cảm hóa dân, và đặc biệt nhất, là các ngài tỏ ra rất là nhân từ khoan hậu.

Đối với dân, thì thương dân và trọng dân, nếu cần sửa phạt thì đắn đo cân nhắc, coi là chuyện bất đắc dĩ. Khi chinh phạt thì chỉ chinh phạt kẻ tàn hung, còn lê dân thì tuyệt đối không sát hại. Khi diệt trừ những bạo chúa xong rồi thì giòng dõi được nhiêu dung, hay, hơn nữa, lại còn được trọng dụng, phong quan tước.

Cao Dao khen Đại Võ: «Đức độ nhà vua thật là toàn vẹn. Ngài giản dị khi tiếp xức với bầy tôi, khoan hồng trong việc cai trị dân chúng. Phạt không tới con, mà thưởng thì thưởng đến con cháu. [44] Tha cho kẻ lầm lẫn, dù họ phạm tội to; bắt tội kẻ cố ý, dù họ phạm tội nhẹ. Tội nghi ngờ thì coi là nhẹ; công nghi ngờ thì coi là lớn. Thà là đắc tội không thi hành luật pháp còn hơn là giết người vô tội. Đức vua cố làm cho dân thấy ngài quí trọng mạng sống của họ, cho nên dân cố tránh tội lệ, để khỏi bị các giới chức của nhà vua trừng trị.» [45]

Trong Kinh Thư có chép rằng: «Vua Thành Thang khi khởi cuộc chinh phạt (chống vua Kiệt), trước hết chiếm đất Cát. Thiên hạ đều tin tưởng ngài. Ngài đương chinh phục miền Đông thì đoàn rợ Di miền Tây phiền trách; tới chừng ngài chinh phục miền Nam thì thì đoàn rợ Địch miền Bắc phiền trách. Nó trách rằng: «Sao ngài chẳng tới sớm nước ta?» Dân chúng khắp thiên hạ mong chờ ngài đến, như lúc trời hạn người ta trông cho thấy mây và mống trời. Đến chừng ngài kéo binh vào xứ họ, họ vẫn tự nhiên chẳng sơ sệt gì cả: Người đi chợ vẫn đi, người đương cày vẫn cày. Ngài giết những vị vua hôn bạo, mà giải cứu cho nhân dân. Bá tánh đều mừng rỡ, dường như được mưa tuôn phải lúc.» [46]

Các vị thánh vương Trung Hoa thực đã có những thái độ đường lối khác hẳn với các vị lãnh đạo, các vị đế vương Do Thái.

Thánh Kinh đã cho ta thấy cách cai trị, cách xử sự của các vị lãnh tụ, các vị đế vương Do Thái thật là bạo tàn cứng rắn, chẳng hề có chút tình thương. Các vị lãnh đạo Do Thái đã trị dân bằng sự khủng bố, bằng những hình phạt, bằng sự giết lát.

Moïse đã tàn sát dân chúng hai lần: một lần ở Sinaï, tiêu diệt 23.000 người, vì tội thờ bò vàng, nhưng trớ trêu thay lại tha cho thủ phạm là Aaron anh mình; [47] chẳng những thế, ít lâu sau còn phong cho Aaron làm thầy cả thượng phẩm… Một lần khác, ở Péor, 24.000 dân lại bị tàn sát, vì tội trai lơ, trăng gió với các con gái dân Moab, với lễ thần Baal. [48]

Deutéronome xác nhận rằng Moïse đã làm cho cả Israel thấy bàn tay quyền phép, và sự kinh hoàng lớn lao… [49]

Khi Josué đưa dân Do Thái vào chiếm xứ Canaan thì đã ra tiêu lệnh phải tận diệt người, vật trong các thành mình sẽ chiếm. [50]

Vua Saül, trong khi tiêu diệt dân Amalec, đã phạm phải lỗi lầm là nhiêu sinh cho vua Agag, nên từ đấy đã bị chúc dữ, đã mất vương quyền trên lý thuyết. [51] Còn Agag rốt cuộc cũng bị Samuel đích thân chém chết. [52] David sau khi đã được Samuel tấn phong và đã trở nên đấng Messie của Do Thái, vì sợ Saül giết, nên đã cùng bộ hạ qui hàng vua dân Philistins là Akish, trong vòng một năm bốn tháng. [53] Trong khoảng thời gian ấy, David thường cùng bộ hạ trở về cướp phá miền Negeb, phía nam Palestine, và tận diệt dân chúng vùng ấy, như dân Geshurites, Girzites, Amalécites, cũng như đã tận diệt dân thành Gat, để hết còn ai tố cáo hành động mình. [54] Khi ngài đã lên ngôi, ngoài những trận tiêu diệt địch quân ngoài chiến địa không kể, ngài còn tận diệt dân thành Rabba, cũng như dân chúng trong các thành trì của dân Ammonites. Sử Do Thái chép: «Còn dân sự trong thành, người đem ra mà cắt xé ra hoặc bằng cưa, hoặc bằng búa sắt, hoặc bằng rìu. David làm như vậy cho các thành của Ammon.» [55]

Sau khi thắng dân Moabites, vua bắt họ nằm cả xuống đất đoạn lấy dây đo; cứ giết hai dây, lại tha một dây. [56]

Khi ngài ở ngôi, trong nước có nạn đói kém ba năm. Ngài nghe lời dân Gabaonites, buộc cho con cháu vua Saül đã gây ra tai ương ấy, vì những tiền khiên của vua Saül, cha ông họ, nên đã giao tất cả con cháu vua Saül là 7 người, cho dân Gabaonites đóng cọc nhọn vào ruột, dựng lên trên một ngọn núi cho đến chết; cho rằng làm vậy, Chúa sẽ nguôi cơn thịnh nộ. [57] Trong vụ này vua chỉ tha cho một mình Meribaal, con jonathan. Nhưng Meribaal chỉ là một phế nhân vì bị què quặt từ bé. [58]

Salomon vừa lên ngôi, liền kiếm cớ giết anh cùng cha khác mẹ với mình là Adonias, người đáng lý ra được thừa kế ngôi vua David, và đại tướng Joab, vị khai quốc công thần dưới triều David, vì đã muốn phò Adonias lên ngôi. [59]

Sử khen vua Salomon khôn ngoan, thông tuệ, giàu sang, phú quí, có tới những 700 vợ hàng vương tước, và 300 cung tần (I, Rois, XI, 1-3). Nhưng thực ra, dân chúng rên siết vì phải phục dịch nặng nề vất vả. Sau khi Salomon thăng hà, dân chúng đến cùng tân vương là Roboam mà tâu rằng: «Thân phụ vua đã làm cho ách chúng tôi nặng nề quá, nhưng bây giờ vua hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc và cái ách nặng mà thân phụ của vua đã gán cho chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục dịch vua.» Vua Roboam, sau ba ngày suy nghĩ và vấn kế đình thần, đã trả lời dân như sau: «Cha ta đã khiến ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm cho ách các ngươi nặng nề hơn nữa. Cha ta có sửa phạt các ngươi bằng roi da; ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bò cạp.» [60] Một lời nói vô ý thức ấy đã làm cho mười họ Israel bỏ vua Roboam mà qui thuận Jéroboam thuộc giòng họ khác. [61]

C. CÔNG TRÌNH CỦA CÁC VỊ THÁNH VƯƠNG TRUNG HOA

Các vị thánh vương Trung Hoa là những người vừa mẫn tiệp, vừa thánh thiện, vừa tài ba xuất chúng, cho nên thường đã lưu lại những công nghiệp vĩ đại.

Phục Hi đã dạy dân săn, câu, chăn nuôi gia súc, lập lễ nghi cưới hỏi, lập văn tự, chế đàn cầm, đàn sắt, vẽ bát quái, đặt nền móng cho Kinh Dịch. [62]

Thần Nông dạy dân canh tác. Vua nghiên cứu thảo mộc để học tính chất. Thần Nông là thủy tổ ngành y dược. Ông lập chợ cho dân buôn bán, phân phối đình thần. [63]

Hoàng Đế tổ chức triều thần để trị dân, lập chức tả hữu sử để ghi chép lịch sử, san định lại văn tự, lập thiên văn đài gọi là Linh đài để quan sát thiên tượng, thời tiết; qui định can chi để tính năm; lập lịch số, toán số, qui định cân lương, cung điện, sáng tác nhạc phẩm Hàm Trì, lập chế độ áo mão, y thường, chế tạo khí giới, dụng cụ, xe thuyền; lập những qui tắc cho công việc xây cất nhà cửa, tế lễ Thượng Đế, và dạy dỗ dân, tổ chức tiền tệ để tiện buôn bán, viết Nội Kinh. Vợ ngài là Luy Tổ dạy dân nuôi tằm.

Ngài ưa tuần thú, tổ chức quân lữ thành doanh vệ, chế trận pháp, làm kỳ hiệu, lập phép tỉnh điền, để qui tụ dân chúng và khai khẩn đất đai, bắt đầu cho vẽ bản đồ các châu quận. [64]

Vua Nghiêu rất chú trọng đến thiên văn lịch số. Vua định vòng năm là 366 ngày. Sai Hi, Hòa trí lịch tượng, lập ghép thêm tháng nhuận, xác định khởi điểm bốn mùa theo vị trí biểu kiến mặt trời. Để trống và bảng trước triều đình cho dân chúng tới khiếu nại. Đi tuần thú tứ phương 12 năm một lần, để kiểm soát phong tục, lịch số, lễ nghi, phẩm phục, nhã nhạc, cốt cho phong tục trong nước đâu đấy được đồng nhất. [65]

Vua Thuấn qui định thống nhất lại hệ thống cân lường, lễ nhạc. Lập chính sách tuần thú năm năm một lần, phân công cho đình thần. Thủa ấy vua Thuấn đã biết phân công cho đình thần mỗi người một nhiệm vụ, thật là rõ rệt. Về chính trị ta thấy vua Thuấn chú trọng đến:

1- Nông nghiệp

2- Sản vật tự nhiên

3- Công chánh

4- Hình pháp

5- Giáo dục

6- Nghi lễ

7- Nhã nhạc

8- Thiên thời, địa lợi

9- Tấu đối (tức là phúc trình tường thuật mọi công việc cho nhà vua được hay biết).

Vua còn lập ra quan Bách quỹ có quyền trông nom, kiểm soát cả 9 bộ nói trên. Tổ chức của vua Thuấn chẳng khác nào tổ chức của nội các ngày nay. [66]

Vua Đại Võ khai sông, đào ngòi, đục núi làm đường, trị hồng thủy, lập thuế khóa, đúc cửu đỉnh, v.v… [67]

Văn Vương, Võ Vương nối tiếp đường lối của Nghiêu, Thuấn để trị dân. Văn Vương khi bị giam ở ngục Dũ Lý đã làm ra Dịch hậu thiên. Võ Vương nhờ Cơ Tử viết ra chương Hồng Phạm đúc kết lại tinh hoa phương pháp thay Trời trị dân. [68]

Công trình các vị thánh vương Trung Hoa nói tóm lại thực là bao la vĩ đại…

II. TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH NHÂN VÀ THIÊN TỬ THEO QUAN NIỆM TRUNG HOA

Trên nguyên tắc, thiên tử phải:

1/ là một thánh nhân [69] đức hạnh tuyệt vời. [70]

2/ là một triết vương [71] có mắt tinh đời, biết người, biết dùng người. [72]

3/ được mệnh Trời. [73]

4/ được lòng dân. [74]

5/ có trách nhiệm đem lại cho dân chúng hòa bình thái thịnh, dạy dỗ dân, làm gương cho dân, để họ tiến bước trên đường nhân nẻo đức. Như vậy thiên tử có trách nhiệm và quyền hạn cả về vật chất lẫn tinh thần đối với dân. [75]

Cho nên, dẫu là thánh nhân, dẫu đáng ngôi thiên tử, nếu không được tiến cử với Trời, không được mệnh Trời, thì cũng không được quyền cai trị thiên hạ. [76]Tuy nhiên, thiên tử hay thánh nhân chỉ khác nhau về nhiệm vụ và địa vị, nhưng trên lý thuyết, không khác nhau về giá trị nội tại. [77] Các ngài trước sau vẫn là những người sống phối hợp với Thượng Đế, là vẻ sáng của Thượng Đế, là hiện thân của Thượng Đế.

Kinh Thi viết:

«Việc Trời chẳng tiếng chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin.» [78]

Cao Trung Hiến bình đoạn Kinh Thi này như sau:

«Thánh nhân là đạo Trời có hình tướng. Muốn tìm đạo Trời nơi Trời thì ẩn vi khó thấy, tìm đạo Trời nơi thánh nhân thì có thể thấy và bắt chước được. Cho nên Dịch viết: «Thần minh âu cũng ở nơi người nghĩa là thần minh có thể âm thầm khế hợp với người vậy.» [79]

Khổng Tử lúc gian nan nguy khốn mới xưng mình là vẻ sáng của Thượng Đế y thức như Văn Vương xưa.

Khi bị vây ở đất Khuông, Ngài nói: «Văn Vương thác rồi, vẻ sáng ấy chẳng ở lại nơi ta hay sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì sau khi Văn Vương thăng hà đâu có ban cho ta. Nếu Trời không muốn mất vẻ sáng ấy, thì người đất Khuông làm gì được ta?» [80]

Tống Nho minh xác: «Thánh nhân và Trời là một.» [81]

Những lời lẽ trên gợi lại cho chúng ta một câu Phúc Âm: «Cha ta và ta là một.» [82]

Diệp Các Lão 葉 閣 老 đời Thanh chủ trương Thiên Chúa đã giáng trần nhiều lần dưới hình hài Nghiêu, Thuấn, Khổng Tử, nhiều vua, và nhiều vị thánh nhân khác. Cho nên cũng giáng trần bên Âu Châu trong hình hài Chúa Jésus… Kết luận là Chúa Jésus đối với Âu Châu thế nào thì Khổng Tử và các văn hào lỗi lạc khác đối với Trung Hoa cũng vậy.

Tiến sĩ Michel còn nói: học thuyết Khổng Tử hoàn bị vì chính là học thuyết của Trời. [83]

III. QUAN NIỀM VỀ THIÊN TỬ TRONG ÍT NHIỀU QUỐC GIA KHÁC VÀ QUA CÁC THỜI ĐẠI

Thực ra, niềm tin tưởng rằng vị thánh quân này, vị thánh nhân kia là hiện thân của Thượng Đế, là Thượng Đế giáng trần, đối với các dân tộc xưa không có gì là lạ cả.

Khảo sát các nền văn hóa cũ ta thấy khắp nơi đều tin tưởng như vậy.

Trong quyển The Golden Bough, nơi chương VII, nhan đề Incarnate human gods «Thần minh giáng phàm», ông James George Frazer đã khảo sát về vấn đề này rất là tường tận kỹ càng.

Ông viết: «Quan niệm Người-Trời hay một nhân vật có quyền phép Trời hay quyền phép siêu nhiên là một quan niệm đặc biệt thời cổ sơ của lịch sử đạo giáo. Thời ấy thần minh và nhân loại còn được coi hầu như đồng loại. Sau này, hố sâu ngăn cách chia rẽ đôi đàng mới một ngày một thêm sâu thẳm.» [84]

Tóm lại, trong khi các đế vương Trung Hoa xưng mình là:

– Thiên tử (con Thiên Chúa, con Trời) [85]

– Thiên sứ (sứ giả của Trời) [86]

– Thiên dịch (tôi tá của Trời) [87]

thì các vị đế vương hay các vị thánh nhân các nước khác trong hoàn võ cũng thường xưng mình, hay thường được xưng tụng là:

– Con Thiên Chúa

– Thiên Chúa

– Đấng Christ, hay Messie

– Đấng Cứu Thế.

Chúng ta sẽ dùng lịch sử cổ kim để chứng minh điều đó.

Trước hết, chúng ta hãy lần giở Thánh Kinh cũ và mới. Tước hiệu «Con Thiên Chúa» đã xuất hiện từ trước thời Hồng Thủy như đã được ghi chép trong chương 6 Sáng Thế Ký. [88]

Ý nghĩa đoạn này chưa được giải thích chính xác. Những con Thiên Chúa đề cập nơi đây, có thể là những thiên thần, những người Trời, hay những người đã được Thần Chúa nhập vào. Nói được vậy, là vì Sáng thế ký, sau khi ghi chép rằng các Con Thiên Chúa bắt đầu yêu và lấy con gái loài người, đã viết tiếp: Yahve nói: «Thần ta sẽ chẳng ở mãi trong loài người, vì loài người chỉ là xác thịt. [89]

Trong Deutéronome, ta thấy chữ «Những Con Trời» dùng đối với chữ «Những Con Người». Và ở đây, «Những Con Trời» được quyền cai trị «Những Con Người», trong những vùng đất đai Thiên Chúa đã chỉ định sẵn. Ở Israel, Jacob là «Con Thiên Chúa được phần gia nghiệp». [90]

Về sau vua David cũng đã được gọi là Con Thiên Chúa, là Thiên tử.

*Thánh Vịnh 89 đã ghi rõ điều đó:

«Chúa từng phán trong khi mặc khải

Ánh siêu nhiên, giãi tới tôi hiền

Ta ban dũng sĩ triều thiên

Đặt người lê thứ lên trên ngai vàng

Tìm David trong hàng tôi tá

Lấy dầu thiêng ta đã xức cho

Ta còn vững mạnh hộ phù

Cho người sức mạnh cơ đồ làm nên…

Kẻ gian ác khôn tìm hành hạ,

Kẻ đối phương chằng khá lọc lừa,

Và bao đảng nghịch quân thù,

Vì người, ta sẽ diệt trừ phá tan.

Ta cho tựa lòng nhân, đức tín

Nhờ danh ta nước tiến oai hùng,

Quyền người lan rộng Tây Đông,

Bao la mặt biển, dòng sông rộng dài,

Người sẽ gọi Cha tôi Chúa hỡi,

Thành đá hằng cứu rỗi của tôi,

Và ta con trưởng đặt người

Lên ngôi cao cả các ngôi vương hầu.

Ta sẽ trọn lòng yêu mãi mãi

Lời ước giao giữ tới đời đời,

Cháu con người sẽ truyền ngôi.

Tháng năm cùng với tầng trời dài lâu. [91]

Kế đến, vua Salomon cũng được Chúa chính thửc công nhận là con, qua lời tiên tri Nathan. Chúa phán:

«…Đến khi ngươi (David) mãn phần về cùng tổ phụ ngươi, ta sẽ giữ vững giòng giõi ngươi, một trong các con trai ngươi sẽ được ta cho lên trị vì vững.chắc. Người sẽ xây cho ta một đền thờ, và ta sẽ làm cho ngôi báu người bền vững mãi. Ta sẽ là cha người và người sẽ là con ta. Sự phù hộ ta, ta sẽ chẳng cất khỏi người như ta đã làm đối với những kẻ ở trước ngươi, song ta sẽ lập người đời đời tại trong nhà ta và trong nước, và ngôi báu người sẽ bền vững mãi. [92]

Vua xứ Tyr, lại tiến thêm bước nữa: vua xưng mình là Thiên Chúa ngự tòa Thiên Chúa ở giữa trùng dương. [93]

Đàng khác, chính Thiên Chúa cũng công nhận vua xứ Tyr trước khi trở nên giàu có, oai quyền, kiêu ngạo đó là một gương mẫu cho sự toàn thiện, và đã được coi như một thiên thần Chérubin, được Chúa hết sức thương yêu chiều chuộng.

Chúa nói cùng vua Tyr:

Xưa ngươi là một tấm gương hoàn thiện,

Ngươi khôn ngoan, kiều diễm biết là bao.

Ngươi ở Eden, thượng uyển đấng Tối cao,

Y thường ngươi, được dệt bằng muôn châu ngọc.

Mã não, kim cương, ngọc thanh, hoàng, xích, lục,

Với hoàng kim để làm sáo trống ngươi,

Ta đã sắm, từ khi ngươi vừa mới chào đời.

Ngươi y như một thiên thần giang rộng cánh

Và chính ta, đã đặt ngươi trên núi thánh.

Cho ngươi bước trên toàn là những ngọc châu

Và ngươi từng đã có đời sống thanh tao,

Cho tới ngày ngươi sa vào vòng tội lệ. [94]

Chúa cũng đã gọi Cyrus một vua Ba Tư ngoại đạo [95] là đấng Christ, đấng Messie.

Yahvé phán cùng Cyrus đấng Christ của Ngài: «Ta đã cầm lấy tay hữu người, để hàng phục các dân nước trước mặt người. [96]

Chẳng những thế, tước vị con Thiên Chúa còn được áp dụng cho những người có đời sống thánh thiện hoàn hảo.

Sách Minh Triết viết:

«Kẻ lành tự đắc mình được biết Chúa và tự xưng mình là con Thiên Chúa… Nếu kẻ công chính con Thiên Chúa thật, thì Chúa sẽ giúp họ, Chúa sẽ cứu họ khỏi tay thù địch! Vậy ta hãy sỉ vả quấy nhiễu họ.» [97]

Kinh Thánh cũng chép khi Otniel, Saül, David được thụ phong thì Thần Chúa nhập vào các ngài, [98] và như vậy Chúa ở cùng Saül, [99] cùng David. [100] Những đoạn này làm liên tưởng tới câu Kinh Thi: «Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm.» [101]

Khi Chúa Jésus ra đời, bao nhiêu huy hiệu:

– Thiên tử [102]

– Thiên chúa [103]

– Christ, Messie [104]

– Cứu thế [105]

lại được dùng để xưng tụng Ngài và chính Chúa Jésus cũng rất nhiều lần xưng mình là Con Thiên Chúa. [106]

Tuy nhiên Thánh Jean và Thánh Paul vẫn chủ trương mọi người đều có thể trở nên con Thíên Chúa [107] và hoàn võ chỉ cốt để tạo thành những con Thiên Chúa. [108]

Vì thế ước vọng và vinh dự lớn lao nhất của người Thiên Chúa giáo là trở thành «đấng Christ mới» (Christanus Alter Christus). [109]

 Cho nên ngay trong giáo hội Công giáo nhất là máy thế kỷ đầu ta đã thấy có những người xưng mình là con Thiên Chúa, là hiện thân của Thượng Đế.

Ở thế kỷ thứ hai, Montanus người Phrygie xưng mình là hiện thân của Thượng Đế. [110]

Các môn đệ Thánh Columba cũng tôn thờ ngài như là hiện thân của Chúa Ki Tô. [111] Thế kỷ thứ 8, Elipandus ở Toledo, nói về Chúa Ki Tô như là «Chúa giữa các Chúa», ý nói mọi người tin đạo đều là Chúa y như Chúa Jésus vậy. [112]

Thế kỷ XIII, có một giáo phái gọi là «Anh chị em tinh thần tự do» chủ trương: Nhờ sự chiêm ngưỡng miệt mài, ai cũng có thể kết hợp với Chúa một cách tuyệt diệu và nên một với Nguồn gốc vạn vật; và ai đã được nhập vào bản thể hạnh phúc của Chúa, sẽ trở nên phần mình Chúa, nên con Chúa như đấng Christ và sẽ không còn bị mọi luật lệ gian trần và thiên cung chi phối… [113]

Dĩ nhiên những chủ trương trên bị Giáo Hội phi bác và cho là lầm lạc hết.

Khảo sát lịch sử các nước sống ở ngoài ảnh hưởng Thiên Chúa giáo ta cũng vẫn thấy quan điểm tương tự về «thần nhân», về «Người Trời», về «Thiên tử», và đấng «Cứu thế» ở khắp các dân nước.

Khi Pháp còn theo đạo Druidisme thì quốc gia Celte được coi là tiểu vũ trụ mà vị quân vương giáo chủ được coi là Hóa Công suy lòng mình để đem sự hòa bình thượng giới vào trong xã hội loài người. [114]

Thủa xa xưa, các vua xứ Akkad thuộc miền Mésopotamie, vẫn cho mình là đại diện của Trời, là thần minh, là đấng Christ, đấng Messie vì mỗi triều đại mới là một hứa hẹn cho sự bình yên thái thịnh. [115]

Các vua Babylone thời sơ thủy, từ Sargon I tới triều đại Ur hay sau hơn nữa, đều coi mình là thần minh, ngay khi còn sinh thời. [116]

Các vua Ai Cập cũng được thần thánh hóa ngay khi sinh tiền. Và chắc chắn lả các vua Ai Cập coi mình là người Trời.. là con thần Ra. Các ngài cho rằng mình có chủ quyền chẳng những trên nước Ai Cập, mà trên khắp mọi dân nước, trên toàn thế giới… [117]

Ernest Findlay Scott cho rằng:

Chữ đấng «Cứu thế» xưa là một tiếng ngoại giáo thường được áp dụng cho nhiều vị thần minh, hay những người đã được thần thánh hóa.

Nhiều vua xứ Syrie và Ai Cập cũng được mệnh danh «đấng Cứu thế». Có lẽ vì nguồn gốc ngoại giáo như vậy nên thoạt kỳ thủy giáo dân đã tránh không muốn dùng tước hiệu ấy để xưng tụng chúa Jésus, và mãi đến thế kỷ thứ 2, tiếng «đấng Cứu thế» mới trở nên tước hiệu phổ thông để chỉ đấng Christ. [118]

Andrew F. Wall viết trong bộ Tự điển Thần học như sau:

Các dân nước quanh dân Do Thái xưa thường hay thần thánh hóa vua chúa. Chẳng hạn, người Hi Lạp tin rằng thần minh có thể mặc xác phàm, và ngược lại con người có hồn thiêng bất tử giống thần minh. Vì thế họ thần thánh hóa vua chúa rất dễ dàng.

Các vị anh hùng, các bậc cứu quốc, kiến quốc thường được tôn sùng như thần minh ngay khi họ còn sinh thời.

Alexandre được thờ sống trong những quốc gia Á Châu mà õng chinh phục được. [119]

Đối với các vua chúa kế vị Alexandre, thời việc được thờ phụng trở nên quá thông thường. Đó có thể là một kiểu dua nịnh Á Đông mà vua Hérode Agrippa đã mua với một giá rất đắt (Actes 12: 20ff), nhưng cũng có thể là một cử chỉ thành thực, như khi vua Antiochus IV Epiphanus, vị vua ác cảm với Do Thái, và Thiên Chúa Do Thái, đã xưng mình là Chúa Thần Zeus, và trên tiền tệ phát hành, ghi tạc, tuyên xưng mình là Chúa (God). Chủ trương này cũng liên quan mật thiết với truyền thống Ai Cập, một quốc gia coi giòng giõi vua chúa là Thần thánh, ngôi vua được truyền tử, lưu tôn, và giống họ Ptolémée dầu chết sống cũng được thờ phụng công khai.

Từ thời Jules Caesar về sau, thì sự thần thánh hóa vua chúa được qui định cẩn thận, và sự thờ phượng vua chúa được thi hành nguyên ở La Mã không thôi… [120]

Jules Cesar được thờ phụng trong những nơi ông chinh phục được. Vua Auguste khuyến cáo tôn thờ «Thần Jules Caesar» nhưng lại giảm bớt sự tôn thờ đối với mình. Auguste và các vua kế vị đều được thần thánh hóa chính thức lúc băng hà. Các vua như Caligula, Neron, Domitien bắt dân phải thờ phụng mình ngay khi còn sống… [121]

Ông Andrew F. Walls có lẽ muốn giải thích những dữ kiện trên, nên tiếp tục viết đại khái như sau:

Đạo huyền đồng, mật giáo Hi Lạp có mục đích tu luyện cho tâm hồn được hòa đồng với thần minh, và chủ trương tâm hồn cũng cùng một giòng giống với Thần minh. Quan niệm này đã ảnh hưởng tới Philon và cũng đã xâm nhập vào một vài hình thức của Huyền đồng Công giáo. Người ta không còn coi con người là nghĩa tử, dưỡng tử của Thiên Chúa mà chính là thông phần bản thể Thiên Chúa; tu trì là chuyển hóa bản thể chứ không phải là chuyển biến trên bình diện luân lý. [122]

IV. CÁC BIẾN CHUYỂN VỀ QUAN NIỆM THIÊN TỬ THEO GIÒNG THỜI GIAN

Quan niệm Thiên tử có thể coi như là một quan niệm, một khám phá vĩ đại của người xưa. Năm sáu nghìn năm lịch sử còn đó để chứng minh rằng con người đã có những ngưỡng vọng quả là to tát; mà ngưỡng vọng to tát nhất là tin tưởng rằng con người có thề trở nên nhân đức, thông tuệ, vẹn toàn, trở nên Con Thiên Chúa, nên Thiên tử, bước lên ngôi vị Trời, thay Trời trị dân, để cầm cân nảy mực cho muôn dân.

Chức vị ấy mở rộng chờ đón mọi người không dàmh cho riêng ai. Và trong lịch sử đã có những con người siêu việt đăng ngôi Thiên Tử, lên trị vì để đem hạnh phúc cho nhân loại.

Thay vì giới hạn ở Trung Hoa, quan niệm tuy đã có thời kỳ phổ cập khắp thiên hạ.

Đọc cổ sử ta đã thấy tước hiệu ấy được áp dụng cho những đấng quân vương tài đức, hoặc cho những vị thánh nhân.

Nhưng dần dà, theo đà thời gian, tước hiệu Thiên Tử đã mất ý nghĩa thiêng liêng của nó, đã mất hồn thiêng mà chỉ còn lại cái xác, còn lại mũ miện, áo xống, tước vị đã mất thiên tước để trở thành một huy hiệu chính trị trần tục suông. Lúc hưng thịnh nó rực rỡ như vầng nhật nguyệt, chất chứa bao là hứa hẹn thanh bình hạnh phúc cho nhân loại; thời mạt vận, lắm hồi nó lại tăm tối như trời vắng trăng sao, và gieo rắc biết bao hãi hùng, đau thương, tang tóc cho nhân loại.

Nhìn sang phía trời Tây, đã từ ngót hai nghìn năm nay, hai tiếng Thiên Tử đã trở nên một huy hiệu độc đáo, duy nhất, để tặng dữ cho Chúa Ki Tô.

Và từ đấy các vua chúa Âu Châu không còn ai dám xưng mình là Thiên tử nữa. Quan niệm «Vua – Đại diện Trời – Giáo chủ» không còn toàn vẹn nữa, và ta thấy trong vòng hơn một nghìn năm, sau bao thăng trầm, bao tranh chấp hoặc thầm lặng hoặc công khai, quan niệm ấy chuyển hướng dần để đi tới một đối đỉnh là:

«Giáo chủ – đại diện Trời – vua». Chúng ta hãy quay lại cuốn phim lịch sử…

Cách đây ngót hai mươi thế kỷ, Thiên Chúa giáo đã như ngọn nước thủy triều lan tràn khắp Âu Châu, nhất là khi vua Constantin chính thức công nhận đạo Thiên Chúa là quốc giáo (312)…

Khi giáo quyền còn bỡ ngỡ, sự tổ chức chưa có qui mô, thì các vua thượng vị còn có rất nhiều quyền hạn cả đạo lẫn đời.

Tuy không chính thức tuyên xưng là giáo chủ, các vua lúc ấy hành động y thức như vị giáo chủ ngày nay.

Vua Constantin đã triệu tập cộng đồng chung Nicée (325) đoán định về giáo lý, chủ tọa nhiều phiên họp công đồng, truất phế lưu đầy các giám mục có những tư tưởng chống đối với đại đa số. [123] Giám mục Anathase bị cộng đồng Tyr (335) kết án, đã trốn sang Constantinople để minh oan với vua, chứ không sang Rome. [124] Théodore (408-450), và Pulchérie (414-453) cũng có ảnh hưởng sâu rộng đối với các cộng đồng Ephèse (431) và Chalcédoine (453), v.v…

Khảo sát lễ tấn phong các bậc đế vương nước Pháp ta thấy vua cũng được coi là vị đại diện Chúa Ki Tô, là «một Chúa Ki Tô mới», «Chúa Ki Tô thứ hai», làm môi giới giữa Trời và Người. [125]

Charlemagne được thụ phong với tước hiệu là: «đại diện Chúa Giê su» chủ tể nước thượng vị Công giáo». [126] Trong một bức thư gửi Giáo Hoàng, nhà vua xưng mình là «Chúa, là Cha, là Vua, là Thầy cả, là lãnh đạo và hướng đạo cho toàn thể giáo hữu». [127] Ngài chủ trương trị dân là lĩnh trách nhiệm hướng dẫn dân đến sự cứu rỗi hằng cửu. [128] Và khi Giáo Hoàng Léon III lên ngôi, liền gửi cho Ngài bản sao sắc tấn phong, kèm theo chìa khoá mồ Thánh Phêrô với cờ hiệu thành La Mã, tỏ lòng thần phục. [129]

Dần dà giáo hội không cho các vị Hoàng đế xen lấn vào công việc giáo hội nữa. Các nhà thần học chủ trương: Giáo Hoàng và Hoàng đế tượng trưng cho hai nửa mình Thiên Chúa, một bên giữ quyền giáo hóa, giải kết (tha hay buộc tội), một bên giữ quyền cai trị thưởng phạt. Một bên là «Con Người», một bên là «Con Trời». [130]

Càng về sau, khi giáo hội càng lớn mạnh, thì vua chúa càng mất quyền.

Thế kỷ XI, Giáo Hoàng Grégoire VII (1073-1085) tuyên 27 Sắc chỉ (Dictatus Papoe), xác định uy quyền tuyệt đối của Giáo Hoàng:

Sắc chỉ 12: «Giáo Hoàng có quyền truất phế Hoàng đế.»

Sắc chỉ 20: «Không ai được bài bác, chỉ trích một quyết định của Giáo tông.» [131]

Đến thế kỷ XIII, dưới triều đại Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216), Giáo Hoàng thực sự có quyền tuyệt đối. Ngài tuyên xưng mình là «Đại diện Chúa Ki Tô, đại diện Thiên Chúa, Bá chủ Giáo hội và Thế giới» có quyền truất phế vua chúa và mọi sự trên Trời dưới đất, trong hỏa ngục đều thuộc quyền đấng thay mặt Chúa Ki Tô. [132]

Ngài tuyên bố: «Cũng như mặt trăng nhờ ánh sáng mặt trời… quyền Chúa cũng vay mượn nơi quyền Giáo Hoàng sự huy hoàng của tước vị nó.»

«Các vua chúa chỉ có quyền dưới đất, còn các linh mục có quyền cả dưới đất lẫn trên trời. Quyền vua chỉ chi phối thể xác, quyền các linh mục chi phối cả thể xác lẫn tâm hồn.» [133]

Giáo Hoàng Boniface VIII (1294-1303) trong sắc lệnh «Unam Sanctam» viết: «Ta tuyên bố, phán quyết, xác định và tuyên cáo: sự thần phục Giáo Hoàng La Mã là điều hoàn toàn thiết yếu cho sự cứu rỗi của mọi người.» [134]

Các nhà thần học như Henri de Suse cũng chủ trương: «Giáo dân chỉ có một đầu là Giáo Hoàng.» [135]

Giáo Hoàng Calixte III (l455-l458) truyền ghi trên đồng tiền kỷ niệm triều đại: «Omnes reges servient ei» (mọi vua chúa tuân phục ngài). [136]

Giáo Hoàng Jules III (1550-1555) truyền ghi trên đồng tiền kỷ niệm triều đại: «Gens et regnum quod non servierit tibi peribit» (Dân tộc, quốc gia nào không tuân phục ngài, sẽ tiêu ma). [137]

Và trên thực tế, ta đã thấy Hoàng đế Henri IV, bị Giáo Hoàng Grégoire VII truất phế, đã lặn lội tới Canossa, chịu nhục nhằn, đóì rét, đứng chầu chực ba ngày trước lâu đài để xin Giáo Hoàng thứ tội.» [138]

Thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-l216) vua Jean sans Terre nước Anh cũng bị vạ tuyệt thông (1209). [139] Hoàng đế Frédéric II (1194-1250) bị truất phế, v.v…

Giáo Hoàng Innocent III đã chủ trương lập nền thiên trị do đức Giáo Hoàng đứng đầu và làm bá chủ hoàn cầu… [140]

Thực ra, Giáo Hoàng được coi y như là Thiên Chúa, [141] «vì thế ngài đội mũ miện ba tầng khác nào như vua trên trời, dưới đất, và hỏa ngục». [142]

Thế là:

Quan niệm Thiên tử thay Trời trị dân ở Trung Hoa thời cổ lại sống lại phía trời Âu dưới hình thức thần quyền và đạo giáo. [143]

KẾT LUẬN

Trong công cuộc khảo sát quan niệm Thiên tử Trung Hoa, chúng ta đã tìm tòi học hỏi về vấn đề một cách hết sức sâu rộng, chúng ta đã vượt khỏi biên cương Trung Quốc, chúng ta đã rẽ sóng thời gian đảo mắt nhìn ngót năm nghìn năm lịch sử nhân quần. Đối với một vấn đề quan trọng như vậy, công trình của chúng ta thiết tưởng không có viễn vông, vô lý. Bởi vì có nhìn xa trông rộng, chúng ta mới hiểu rõ vấn đề, chúng ta mới lĩnh hội thấu đảo được rằng xưa nay Trời chẳng xa người vì từ ngàn xưa nơi trần ai tục lụy đầy gian nan mâu thuẫn này, đã có những vị thánh hiền cố công đem thanh bình an lạc từ thiên quốc xuống cho nhân loại.

Chúng ta ghi nhận những sự kiện và biến chuyển lịch sử sau đây:

1/ Từ ngàn xưa, đã có những vị Thánh vương lĩnh mệnh trời trị dân.

Trong khi ở các dân nước khác, các vua chúa tự xưng là Trời, là Người Trời, là Thần minh, ở Trung Hoa sau trước các vị đế vương chỉ xưng mình là Con Trời, lĩnh mệnh Trời trị dân.

2/ Quan niệm Thiên tử ngày một bị trần tục hóa và có thể nói được từ thời Xuân Thu Chiến Quốc về sau không còn một vị vua chúa nào ở Trung Hoa quan niệm được một cách chính xác thiên chức cao cả và sứ mạng thiêng liêng của mình.

3/ Ở Âu Châu, quan niệm Thiên tử, từ khi có Thiên Chúa giáo, đã được thu hẹp lại, và đã được siêu thăng hóa, để áp dụng cho một mình Chúa Ki Tô.

4/ Tuy nhiên quan niệm Thiên tử như là một thánh nhân hay một hiện thân của Thượng Đế vẫn còn được ít nhiều dân tộc không Công giáo, chủ trương (ví dụ như Ấn Độ). [144]

5/ Đã từ lâu dân chúng hết tin tưởng ở các vị vua chúa hay ít ra chủ nghĩa quân quyền mất hết vẻ quyến rũ đối với dân chúng, vì đã có nhiều vua chúa lạm dụng quyền thế áp bức dân lành. Cho nên tước hiệu thiên tử đã rút lui khỏi trần gian để trở thành một huy hiệu hoàn toàn đạo giáo.

Ngày nay, nếu chúng ta chịu suy nghĩ cho sâu xa về phương diện đạo giáo thì hai chữ thiên tử vẫn còn có thể nên như một chìa khóa nhiệm mầu mở cho chúng ta cánh cửa vĩnh cửu thiêng liêng huyền bí.

Thiên tử hiểu theo nghĩa đạo giáo sẽ trở nên một lý tưởng cao đẹp lôi cuốn chúng ta tiến bước mãi trên con đường hoàn thiện để tiến tới tinh hoa, tiến tới cùng cực.

Thiên tử sẽ là cùng điểm của nhân loại.

Hồng phạm nói:

«Hội kỳ hữu cực» «Qui kỳ hữu cực». [145] Phải chăng định mệnh cao sang của nhân loại là đều cùng qui hướng về tâm điểm hoàn thiện, đều hội tụ cả về cực điểm tinh hoa mà xưa vị thiên tử đã là một tượng trưng sống động.

Phải chăng vũ trụ tương lai huy hoàng xán lạn cốt là để đón chờ những vị thiên tử [146] mai sau.

*Nguyễn Văn Thọ

CHÚ THÍCH

[1] Coi Dịch Kinh, Càn quải.

[2] Ses étendards où sont reproduits le soleil, la lune et les étoiles montrent la clarté de son intelligence.

Xuân Thu Tả Truyện, Hoàn Công năm 2.

Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, Tome I, page 70. Hình mặt trời, mặt trăng, (Âm Dương: kim ô, ngọc thố) thêu trên phẩm phục nhà vua giống hệt như những hình Âm Dương hay kim ô ngọc thố vẽ trong các sách đơn thư, đạo thư của Lão giáo, ví dụ nơi hình «Phổ Chiếu đồ» trong quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ. Như vậy ngoài ý nghĩa thông thường kể trên, hình mặt trời mặt trăng còn gợi cho hay rằng nhà vua cần biết lẽ «phối hợp Âm Dương», lẽ «thiên nhân hợp phát» hay lẽ «phản bản hoàn nguyên».

[3] Lễ Ký cắt nghĩa ý nghĩa áo mão vua như sau: «Ngày lễ vua mặc áo long cổn, tượng trưng cho Trời, đội mũ có 12 gù giải, tức là 12 sốp Trời, 12 định luật thiên nhiên, ngồi xe không có trang trí, để tỏ lòng ưa chộng chất phác đơn giản. Cờ có 12 gù giải và có rồng, có mặt trời, có mặt trăng, chỉ thiên tượng. Trời treo thiên tượng, thánh nhân bắt chước. Lễ giáo là cốt làm cho thiên đạo được minh hiển.» (Lễ Ký – Giao Đặc Sinh, tiết 6)

[4] Hình trên phỏng theo hình ở trong luận văn của Trần Thị Nở, trang 91 bis. Hình này nguyên đã được trích trong quyển «The Chinese Court Costume», The Royal Ontario Museum of Archeology, Toronto, 1946.

[5] Xem Thượng Thư, Ích Tắc, tiết 4. Bản dịch Nhượng Tống trang 40.

Cf. Étude de la catégorie correspondant à la notion de siang (tượng) dans le Hi-ts’eu (Hệ Từ) du livre des Mutations ou Yi King (Dịch Kinh). Luận văn của Trần Thị Nở, Đại Học Văn Khoa, năm 1964-1965, trang 91 bis.

[6] Các chữ trong sơ đồ 1 từ trong ra ngoài: Vương kỳ, Hầu, Điện, Nam, Thái, Vệ, Man, Di, Trấn, Phiên.

Các chữ trong sơ đồ 2, từ trong ra ngoài: Điện phục, Hầu phục, Tuy phục, Yêu phục, Di phục, Thái phục, Man.

[7] Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như bắc Thầncư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi. 子 曰:為 政 以 德, 譬 如 北 辰 居 其 所 而 眾 星 共 之 (Luận Ngữ – Vi Chính, 1)

[8] Cf. Mémoires concernant les Chinois par les rnissionnaires de Pékin, 1780: 15 volumes, Tome VI, page 335 — Dr A. Chamfrault, Traité de Médecine chinoise, page 101.

[9] Dr A. Chamfrault, Traité de Médecine chinoise, page 100.

[10] Hoàng: đại dã, Thiên dã. 皇:大 也, 天 也.

[11] Đế: đức hợp thiên giả xưng Đế. 帝: 德 合 天 者 稱 帝.

[12] Ts’ai Peen (Thái Biện 蔡 卞 says: «In the announcement to the myriad regions, and in distinction from the multitudes, the emperor calls himself «The one man». Realizing his relation to God, and feeling as in his presence, he calls himself a little child (Dĩ thiên tử cáo vạn phương cố xưng dư nhất nhân, đối Thượng Đế nhi ngôn cố xưng «Di tiểu tử»). 以 天 子 告 萬 方 故 稱 予 一 人 對 上 帝 而 言 故 稱 台 小 子

(Thang Thệ tiết 2, chú thích của James Legge) (James Legge, The Shoo King, trang 174)

… Selon d’autres commentateurs, (Dư nhất nhân) signifie: moi le seul hornme qui associé à l’œuvre de l’Auguste Ciel commande à tous les hommes. (Khắc phối Hoàng Thiên, vi hạ dân kỳ chủ giả, duy dư dã 克 配 皇 天 為 下 民 其 主 者 惟 予 也 ). (Lễ Ký Bị Chỉ 禮 記 備 旨) Couvreur, Li Ki, Tome I, Kiu Li (Khúc Lễ), page 81, notes.

[13] Cáo táng viết Thiên vương đăng hà 告 喪 曰 天 王 登 假 (Lễ Ký – Khúc Lễ tiết 32). Chú: 尊 之 不 敢 言 其 死 但 言 其 升 陟 於 遐 遠 之 處 猶 言 其 登 天 也 (Ngô Trừng 吳 澄)

Par respect pour l’empereur on ne se permet pas de dire qu’il est mort. On dit seulement qu’il est monté vers un lieu très éloigné, comme si l’on disait qu’il est allé au ciel.» (Couvreur, Li Ki, Tome I, page 86, notes).

[14] 立 之 主 曰 帝 (Lễ Ký – Khúc Lễ, tiết 32) chú: 立 之 曰 帝 同 之 天 神 (Trịnh Khang Thành 鄭 康 成) «Sur la tablette, on donne à l’empereur le titre du ti, on l’assirnile à l’esprit du ciel.» (qu’on appelle 上 帝) (Couvreur, Li Ki, page 86, notes)

[15] Xem Kinh Thi – Chu Tụng, Thanh Miếu, Thời Mại.

Thời mại kỳ bang                     
時 邁 其 邦

Hạo Thiên kỳ tử chi                 
昊 天 其 子 之

Thực hữu tự hữu Chu             
實 右 序 有 周

Bạc ngôn chấn chi                 
薄 言 震 之

Mạc bất chấn điệp                 
莫 不 震 疊

Hoài nhu bách thần               
懷 柔 百 神

Cập hà kiều nhạc                   
及 河 喬 嶽

Doãn vương duy hậu             
允 王 維 后

(Xem James Legge, The She King, trang 577)

[16] Mai Lâm – Đoàn Văn Thăng, Thánh Vịnh toàn tập, Thánh Vịnh 2, trang 20-21.

[17] Thánh nhân tại thượng, ký kiến cực nhi dĩ thân giáo vu thiên hạ, phục phu ngôn nhi dĩ ngôn giáo vu thiên hạ, cái thân giáo giả, thị dĩ cung hành tiễn lý chi thực; ngôn giáo giả, sử kỳ ca tụng ngâm vịnh nhi đắc, nhị giả bất khả thiên phế dã. Thiên hạ duy Lý vi chí thường, duy Lý chi vi đại. Hoàng cực chi phu ngôn, thuần hồ nhất lý, cố vị chi thường lý, cố vị chi đại huấn, thị lý dã, bản chi ư thiên, duy Hoàng Thượng Đế giáng trung chi lý dã, ngôn nhi bất dị ư giáng trung chi lý, thị khởi dĩ quân chi huấn thị chi tai, nãi thiên chi huấn dã. Thiên giả kỳ bất ngôn chi thánh nhân, thánh nhân giả kỳ năng ngôn chi thiên, nhất nhi nhị, nhị nhi nhất dã.

聖 人 在 上 既 建 極 而 以 身 教 于 天 下, 復 敷 言 而 以 言 教 于 天 下,蓋 身 教 者 示 以 躬 行 踐 履之 實;言教 者 使 其 歌 誦 吟 詠 而 得.二者 不 可 偏 廢 也.天下 惟 理 為 至 常,惟理 之 為 大,皇極 之 敷 言,純乎 一 理.故謂 之 常 理,故謂 之 大 訓,是理 也 本 之 於 天.惟皇 上 帝 降 衷 之 理 也,言而 不 異 於 降 衷 之 理,是豈 以 君 之 訓 視 之 哉,乃天 之 訓 也.天者 其 不 言 之 聖 人,聖人 者 其 能 言 之 天,一而 二,二而 一 也.

(Lời của Ch’in Ya Yen bình câu «Hoàng cực chi phu ngôn, dĩ thị huấn, vu Đế kỳ huấn» trong thiên Hồng Phạm) (Xem James Legge, The Shoo King, page 332, notes).

[18] … Chú đỉnh vu Đỉnh Hồ Sơn, đỉnh thành nhi bạch nhật thăng thiên. Quần thần táng y quan vu Kiều Sơn… 鑄 鼎 于 鼎 湖 山,鼎 成 而 白 日 升 天. 群 臣 葬 衣 冠 于 嬌 山 (Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn, chương Thượng Cổ Thiên Chân Luận, trang 1)

[19] Thang tắc dĩ Thượng Thiên vi tâm 湯 則 以 上 天 為 心 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 51)

[20] Nhất dân cơ tắc viết ngã cơ chi. Nhất dân hàn tắc viết ngã hàn chi. Nhất dân la cô tắc viết ngã hãm chi. 一 民 饑 則 曰 我 饑 之.一 民 寒 則 曰 我 寒 之.一 民 羅 辜 則 曰 我 陷 之 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 31).

[21] Cố dân tải chi như nhật nguyệt, ái chi như phụ mẫu (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 32).

… Nhị thập hữu bát tải, đế nãi tồ lạc. Bách tính như táng khảo tỷ. Tam tải tứ hải át mật bát âm. 二 十 有 八 載, 帝乃 殂 落. 百 姓 如 喪 考 妣. 三 載 四 海 遏 密 八 音 (Kinh Thư – Thuấn Điển, 13)

[22] … Gia ngôn võng du phục. Dã vô di hiền. Vạn bang hàm ninh. Kê vu chúng. Xả kỷ tòng nhân. Bất ngược vô cáo, bất phế khốn cùng. Duy đế thời khắc. Ích viết: Đô. Đế đức quảng vận, nãi thánh nãi thần, nãi vũ nãi văn. Hoàng thiên quyến mệnh. Yểm hựu tứ hải, vi thiên hạ quân. 嘉 言 罔 攸 伏. 野 無 遺 賢. 萬 邦 咸 寧. 稽 于 眾. 舍 己 從 人. 不 虐 無 告, 不 廢 困 窮. 惟 帝 時 克. 益 曰: 都. 帝 德 廣 運, 乃 聖 乃 神, 乃 武 乃 文. 皇 天 眷 命. 奄 有 四 海, 為 天 下 君 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 3)

[23] Xem Mạnh Tử, Đoàn Trung Còn dịch, trang 51, chú thích 1.

… Nghi Địch tác tửu. Vương ẩm nhi cam chi viết: «Hậu thế tất hữu dĩ tửu vong kỳ quốc giả.» Toại sơ Nghi Địch nhi tuyệt chỉ tửu. 儀 狄 作 酒 王 飲 而 甘 之 曰: 後 世 必 有 以 酒 亡 其 國 者 遂 疏 儀 狄 而 絕 旨 酒 (Wieger, Textes historiques, Tome I, page 30).

[24] Ngũ tuế tuần thú chu hành thiên hạ. Vương xuất, kiến tội nhân, há xa, vấn nhi khấp chi. Tả hữu viết: Tội nhân bất thuận đạo, quân vương hà vi thống chi? Vương viết: Nghiêu Thuấn chi nhân giai dĩ Nghiêu Thuấn chi tâm vi tâm. Quả nhân vi quân bách tính các tự dĩ kỳ tâm vi tâm. Thị dĩ thống chi. Vạn phương hữu tội tại dư nhất nhân … Vương tế giang hoàng long phụ chu. Chu nhân khủng. Vương thần sắc bất biến, viết: Ngô thụ mệnh ư thiên kiệt lực dĩ lao vạn dân. Sinh tính dã tử mệnh dã. Long hà vi giả tu du long nghê thủ đê vĩ nhi thệ.

五 歲 巡 狩 周 行 天 下. 王 出, 見 罪 人, 下 車, 問 而 泣 之. 左 右 曰: 罪 人 不 順 道, 君 王 何 為 痛 之. 王 曰: 堯 舜 之 人 皆 以 堯 舜 之 心 為 心. 寡 人 為 君 百 姓 各 自 以 其 心 為 心. 是 以 痛 之. 萬 方 有 罪 在 予 一 人 … 王 濟 江 黃 龍 負 舟. 舟 人 恐. 王 神 色 不 變, 曰: 吾 受 命 於 天 竭 力 以 勞 萬 民. 生 性 也 死 命 也. 龍 何 為 者 須 臾 龍 俛 首 低 尾 而 逝 (Wieger, Textes historiques, Tome I, pages 38-40).

[25] Kinh Thư – Vô Dật, tiết 4, 5, 10, 11.

[26] Tử viết: Nguy nguy hồ! Thuấn Vũ chi hữu thiên hạ dã nhi bất dự yên. 子 曰: 巍 巍 乎, 舜 禹 之 有 天 下 也 而 不 與 焉 (Luận Ngữ – Thái Bá, 18)

[27] Tử viết: Đại tai Nghiêu chi quân dã. Nguy nguy hồ! Duy thiên vi đại, duy Nghiêu tắc chi. Đãng đãng hồ! Dân vô năng danh yên. Nguy nguy hồ, kỳ hữu thành công dã; hoán hồ kỳ hữu văn chương. 子 曰: 大 哉 堯 之 為 君 也. 巍 巍 乎! 唯 天 為 大, 唯 堯 則 之. 蕩 蕩 乎! 民 無 能 名 焉. 巍 巍 乎, 其 有 成 功 也; 煥 乎, 其 有 文 章. (Luận Ngữ – Thái Bá, tiết 18-19) (Xem thêm Mạnh Tử – Đằng Văn Công chương cú thượng tiết 3.)

[28] Tam phân thiên hạ hữu kỳ nhị, dĩ phục sự Ân. Châu chi đức, kỳ khả vị chí đức dã dĩ hĩ. 三 分 天 下 有 其 二, 以 服 事 殷, 周 之 德, 其 可 謂 至 德 也 已 矣 (Luận Ngữ – Thái Bá đệ bát, tiết 20.)

[29] Tử viết: Vũ ngô gián nhiên hĩ. Phỉ ẩm thực nhi trí hiếu hồ quỉ thần. Ố y phục, nhi trí mỹ hồ phất miện. Ty cung thất nhi tận lực hồ câu hức. Vũ, ngô vô gián nhiên hĩ. 子 曰: 禹 吾 無 間 然 矣,菲 飲 食 而 致 孝 乎 鬼 神.惡 衣 服,而 致 美 乎 黻冕.卑宮 室 而 盡 力 乎 溝洫.禹 吾 無 間 然 矣 (Luận Ngữ – Thái Bá, 21)

[30] Trí gián cổ, lập báng mộc. 置 諫 鼓 立 謗 木 (Wieger, Textes historiques, p. 31)

[31] Dĩ ngũ thanh thính trị, yết chung, cổ, khánh, đạc, đào, ngũ khí ư đình, nhi minh ư tuân cư viết: Đạo quả nhân dĩ đạo giả quá cổ; dụ dĩ nghĩa giả cổ chung; cáo dĩ sự giả chấn đạc; ngữ dĩ ưu giả kích khánh; hữu ngục tụng giả huy đào. Thường viết: «Ngô bất khủng tứ hải chi sĩ lưu ư đạo lộ, khủng kỳ lưu ư ngô môn dã.» Cố thường nhất mộc, tam ốc phát; nhật trung bất hạ thực, dĩ lễ hữu đạo chi sĩ yên. 以 五 聲 聽 治, 揭 鐘, 鼓, 磬, 鐸, 鞀, 五 器 於 庭, 而 銘 於 簨 虡 曰:導 寡 人 以 道 者 過 鼓; 喻 以 義 者 鼓 鐘; 告 以 事 者 振 鐸; 語 以 憂 者 擊 磬; 有 嶽 訟 者 揮 鞀. 常 曰: 吾 不 恐 四 海 之 士 留 於 道 路, 恐 其 留 吾 門 也. 故 常 一 沐 三 握 髮; 日 中 不 暇 食 以 禮 有 道 之 士 焉 (Wieger, Textes historiques, Tome I, p. 38-39)

[32] Mỗi tuế mạnh xuân, du nhân dĩ mộc đạc tuần ư lộ. Quan sư tương qui, công chấp nghệ sự dĩ gián. Kỳ hoặc bất cung, bang hữu thường hình. 每 歲 孟 春, 遒 人 以 木 鐸 徇 於 路. 官 師 相 規, 工 執 藝 事 以 諫. 其 或 不 恭, 邦 有常 刑 (Kinh Thư – Dận Chính, 3) Xem thêm Xuân Thu Tả Truyện, Tương Công năm 14. Couvreur, Tch’ouen Ts’ieu, Tome I, p. 901.

[33] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, tiết 2-6.

[34] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, tiết 6.

[35] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, tiết 6.

[36] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, tiết 7.

[37] Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 25.

Ensuite, il divisa les terres arables d’après le système tsing c’est-à-dire qu’il établit huit familles sur un carré de terrain de un li de côté, divisé par deux sentiers Nord-Sud et deux sentiers Est-Ouest, en 9 carrés de cent mou chacun; le carré central contenant le puit était common. Les 8 familles d’un tsing formait un linn, 24 familles un p’eng, 72 familles formaient un li, 360 familles formaient un i, 3600 familles un tou’ et 36000 familles un Tcheou. II ne faut pas se figurer que cette division se soit faite par arpentage d’un seul coup et d’après la forrnule.

Mais retenons que Hoang-Ti inaugura le double système (1) cadastral d’après lequel le Gouvernement leva depuis lors l’impôt foncier, (2) familial d’après lequel, il exigea certaines prestations et corvées. (Ư thị hoạch dã phân châu đắc bá lý chi quốc vạn khu. Mệnh tượng doanh quốc ấp, toại kinh thổ thiết tỉnh, sử bát gia vi tỉnh, khai tứ đạo nhi phân bát trạch, tỉnh nhất vi lân; lân tam vi lý, lý ngũ vi ấp, ấp thập vi sư, sư thập vi đô, đô thập vi châu. Vị trước thổ địa nhi hữu thường cư, phi hành quốc tùy súc mục thiên tỉ giả thử dã.)

於 是 畫 野 分 州 得 百 里 之 國 萬 區, 命 匠 營 國 邑, 遂 經 土 設 井 使 八 家 為 井, 開 四 道 而 分 八 宅, 井 一 為 鄰, 鄰 三 為 里, 里 五 為 邑, 邑 十 為 都,都 十 為 師, 師 十 為 州, 謂 著 土 地 而 有 常 居, 非 行 國 隨 畜 牧 遷 徙 者 此 也.

[38] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng. Công Tôn Sửu thượng, 3. Lương Huệ Vương thượng, 7. Vạn chương hạ, 3.

[39] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 7.

[40] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 10. Quân Trần, 4.

[41] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 12.

[42] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 11.

[43] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 7, 11. Trọng Hủy chi cáo, 8. Hồng Phạm, 16.

[44] Trong lịch sử Do Thái ta thấy tội của cha là phạt cho tới đời cháu đời chắt, tới ba bốn đời (Exode 34,7; Exode 20,5-6; Nb 14, 18; Dt 5, 9-10; Jr 32, 18; Na 1, 3.).

[45] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 12.

[46] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 2. Đoàn Trung Còn dịch, trang 67.

[47] Exode XXXIV, 28: Các bản dịch Kinh Thánh mới đây như của Crampon, Bible de Jérusalem, như của Tin Lành chỉ để 3000 người. Trái lại Vulgate để 23.000, Bible de Jérusalem cũng đề cập tới con số 23.000 của Vulgate nơi chú thích d, trang 96.

[48] Nombres, XXI, 5-9.

[49] Quelle main puissante et quelle grande terreur Moïse avait mises en oeuvre aux yeux de tout Israel. (Deut. XXXIV, 13) (Cf. Bible de Jérusalem, page 211)

[50] … «Nhưng trong các thành của những dân tộc này mà Giêhôva, đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, thì chớ để sống một vật nào biết thở. Khá tận diệt dân Hê-tit, dân A-mô-ri, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sit, dân Hê-vit, dân Gie-bu-sit, y như Giêhôva, đức Chúa Trời ngươi đã phán dạy.» v.v… (Deut. XX, 16-17)

[51] Vậy hãy đi đánh dân Amalec và diệt hết mọi vật thuộc về chúng nó. Ngươi sẽ không thương xót chúng nó. Phải giết người nam và nữ và trẻ còn bú; bò và chiên, lạc đà và lừa (I Sam XV, 3)

[52] I Sam, 9, 29, 32, 33.

[53] I Sam, 27, 2-7.

[54] I Sam, XXVII, 8-11. Trong đoạn này, David báo cáo đã giết cả những người thuộc giòng họ Juda mà ông gặp (I Sam, XXVII, 10)

[55] Xem bản dịch Việt văn của Thánh Thơ Công Hội Saigon 1965. Sử Ký I, đoạn XX, 3.

Xem bản dịch của Louis Segond, La Sainte Bible, I Chronique XX, 3.

Xem bản dịch Vulgate (Biblia sacra, I, Par. XX, 3)

Ba bản dịch trên giống nhau.

Trái lại, Bible de Jérusalem và Crampon thì dịch khác hẳn, đại ý nói vua chỉ bắt dân chúng ra cầm cưa, cầm búa chim, cầm rìu để làm việc… Lời dịch sau đây đã hẳn là không đúng, bởi vì thời ấy kẻ chiến thắng đâu có đối với kẻ bại một cách lịch sự nhân từ như vậy bao giờ. Đọc Le Livre de Josué, Les Livres de Samuel, Les Livres des Rois, Les Livres des Chroniques ta sẽ thấy rõ.

[56] I Sam, 8, 2.

[57] 2 Sam XXI, I, 10.

[58] 2 Sam IX, 3-4; 2 Sam XXI, 7.

[59] I Rois, III, 3-25; I Rois, II, 28-34.

[60] I Rois, XII, 2-4. 14.

[61] I Rois, XII, 20. Lorsque les Israélites, apprirent que Jéroboam était revenu, ils l’appelèrent à l’assemblée et ils le firent roi stir tout Israël: il n’y eut pour se rallier à la maison de David que la seule tribu de Juda. (La Bible de Jérusalem, page 355).

[62] Thái Hạo, Phục Hi thị, hựu hiệu Bao Hi thị sinh ư Thành Kỷ, Phong tính, dĩ mộc đức vương. Đô ư Trần. Giáo dân điền ngư, súc mục, chế giá thú, tạo thư khế, tạo cầm sắt. Long mã xuất Hà, toại tắc kỳ văn dĩ hoạch bát quái. Bát quái Dịch thủy. 太 昊 伏 犧 氏 又 號 庖 犧 氏 生 於 成 紀, 風 姓, 以 木 德 王, 都 於 陳 教 人 佃 漁 畜 牧, 制 嫁 娶, 造 書 契, 造 琴 瑟, 龍 馬 出 河 遂 則 其 文 以 畫 八 卦, 八 卦 易 始 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 19-20)

[63] Sơ nghệ ngũ cốc, cố hiệu Thần Nông thị. Thưởng bách thảo, thủy chế y dược. Thủy vi nhật trung chi thị, dĩ hỏa kỷ quan. 初 藝 五 穀 故 號 神 農 氏, 嘗 百 草 始 制 醫 藥, 始 為 日 中 之 市 以 火 紀 官 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 21)

[64] Hoàng Đế Hiên Viên thị dĩ vân kỷ quan mệnh Thương Hiệt vi tả sử, Trở Tụng vi hữu sử chế lục thư… Thiết Linh Đài lập chiêm thiên chi quan, dĩ tự ngũ sự, chưởng thiên văn, lịch số, phong vân, khí sắc. Ư thị hồ hữu tinh quan chi thư. Tác giáp tý, tác cái thiên cập điều lịch, định toán số, nhi luật độ lượng hành do thị thành yên. Tạo luật lữ, tác thập nhị chung, tác Hàm Trì chi nhạc, tác miện lưu, chính y thường, tác khí dụng, tác chu xa, tác hợp cung, tự Thượng Đế, tiếp vạn linh nhi phu giáo yên. Tác hoá tệ, tác Nội Kinh, mệnh nguyên phi Luy Tổ Tây Lăng thị giáo dân tàm… Đế phương hành thiên hạ, bạt sơn thông đạo, vị thường ninh cư. Thiên tỉ vãng lai, dĩ sư binh vi doanh vệ, chế trận pháp, thiết kỳ mao… hoạch dã phân châu… Toại kinh thổ, thiết tỉnh, sử bát gia vi tỉnh, tỉnh khai tứ đạo, nhi phân bát trạch. 黃 帝 軒 轅 氏 以 雲 紀 官 命 蒼 頡 為 左 史, 沮 誦 為 右 史, 制 六 書… 設 靈 臺 立 占 天 之 官, 以 敘 五 事, 掌 天 文, 歷 數, 風 雲, 氣 色. 於 是 乎 有 星 官 之 書. 作 甲 子, 作 蓋 天 及 調 歷, 定 算 數, 而 律, 度 量 衡 由 是 成 焉. 造 律 呂, 作 十 二 鐘, 作 咸 池 之 樂, 作 冕 旒, 正 衣 裳, 作 器 用, 作 舟 車, 作 合 宮, 祀 上 帝, 接 萬 靈 而 敷 教 焉. 作 貨 幣, 作 內 經, 命 元 妃 縲 祖 西 陵 氏 教 民 蠶… 帝 方 行 天 下, 拔 山 通 道, 未 嘗 寧 居. 遷 徙 往 來, 以 師 兵 為 營 衛, 制 陣 法, 設 旗 麾… 畫 野 分 州… 遂 經 土, 設 井, 使 八 家 為 井, 井 開 四 道, 而 分 八 宅 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 25.)

[65] Đế viết: Tư nhữ Hi ký Hoà, kỳ tam bách hữu lục tuần hữu lục nhật, dĩ nhuận nguyệt định tứ thời 帝 曰: 咨 汝 羲 既 和, 其 三 百 有 六 旬 有 六 日, 以 閏 月 定 四 時 (Kinh Thư – Nghiểu Điển, 8)

… Mệnh Hi Hoà trị lịch tượng, trí nhuận pháp, định tứ thời, trí gián cổ, lập báng mộc 命 羲 和 治 歷 象, 置 閏 法, 定 四 時, 置 諫 鼓, 立 謗 木 (Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 31.)

[66] Xin xem: Kinh Thư – Thuấn Điển, 8.

Thượng Thư, Nhượng Tống dịch, trang 29, chú thích 5.

[67] Xin xem: Kinh Thư tất cả chương Vũ Cống.

Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, p. 38.

Mạnh Tử – Đằng Văn Công hạ, 6.

Mạnh Tử – Ly Lâu hạ, 26.

[68] Trong chương Nền Thiên trị Trung Hoa thời cổ, tiếp theo chương nàyse đề cập rất dài tới Hồng Phạm. Xin đọc Léon Wieger, Textes historiques, Tome I, page 65 et ss; page 71 et ss.

[69] Đế đức quảng vận, nãi thánh, nãi thần 帝 德 廣 運 乃 聖 乃 神 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 4)

[70] Hoàng kiến kỳ hữu cực 皇建 其 有 極 (Kinh Thư – Hồng Phạm, 2)

[71] Tư Ân đa tiên triết vương tại thiên 茲 殷 多 先 哲 王 在 天 (Kinh Thư – Thiệu Cáo, 10) (Kinh Thư – Khang Cáo, 5, 20). Tại tích Ân, tiên triết vương địch úy thiên, hiển tiểu dân, kinh đức bỉnh triết 在昔殷先哲王迪畏天,顯小民,經德秉哲 (Kinh Thư – Tửu Cáo, 9)

[72] Tri nhân tắc triết 知人 則 哲 (Kinh Thư – Cao Dao Mô, 2)

[73] Nãi mệnh dĩ vị 乃 命 以 位 (Kinh Thư – Thuấn Điển, 1)

Nãi mệnh vu đế đình 乃 命 于 帝 庭 (He was appointed in the hall of God) (Kinh Thư – Kim Đằng, 7)

Hoàng Thiên quyến mệnh 皇 天 眷 命 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 4)

[74] Tái Thệ viết: «Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã dân thính.» Thử chi vị dã. 泰 誓 曰: 天 視 自 我 民 視, 天 聽 自 我 民 聽. 此 之 謂 也 (Mạnh Tử – Vạn Chương thượng, 6). Xem Mạnh Tử, Đoàn Trung Còn dịch, trang 95.

[75] Hồng Phạm từ tiết 7 đến 16.

[76] Mạnh Tử – Vạn Chương thượng, 6: «Thất phu nhi hữu thiên hạ giả, đức tất nhược Thuấn, Vũ nhi hựu hữu thiên tử tiến chi giả. Cố Trọng ni bất hữu thiên hạ.» 匹 夫 而 有 天 下 者, 德 必 若 舜 禹 而 又 有 天 子 荐 之 者. 故 仲 尼 不 有 天 下.

[77] Mạnh Tử viết: «Vũ, Tắc, Nhan Hồi đồng đạo.» (mt)

[78] Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú, nghi hình Văn Vương, vạn bang tác phu. 上 天之 載, 無 聲 無 臭, 儀 刑 文 王, 萬 邦 作 孚 (Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất.)

[79] Cao Trung Hiến viết: … cái thánh nhân giả hữu hình chi thiên đạo, cầu thiên đạo vu thiên tắc vi nhi nan kiến, cầu thiên đạo vu thánh nhân tắc hữu thể nhi khả pháp dã. Cố Dịch viết: Thần nhi minh chi, tồn hồ kỳ nhân, vị năng minh khế dã 高 中 憲 曰: … 蓋 聖 人 者 有 形 之 天 道, 求 天 道 于 天 則 微 而 難 見, 求 天 道 于 聖 人 則 有 體 而 可 法 也. 故 易 曰: 神 而 明 之, 存 乎 其 人, 謂 能 冥 契 也 (Tống Nguyên học án, quyển 17, trang 36)

[80] Luận Ngữ – Tử Hãn, 5. Đoàn Trung Còn dịch, trang 134.

[81] Cái thiên dữ thánh nhân nhất dã 蓋 天 與 聖 人 一 也 (Tống Nguyên học án, quyển 17, trang 20)

[82] Moi et le Père, nous sommes un. (Evangile selon Saint Jean 10, 30)

[83] … C’est à cela que fait allusion le Ye Kolao (Diệp Các Lão 葉 閣 老

grand ami du père Aleni, mais non chrétien) lorsqu’il a prétendu que le Roi d’en haut, ou le T’ien Chou s’éetait incarné en notre pays. Ce qu’il prouve ainsi: Le Roi d’en haut s’est incarné plusieurs fois en cet Orient comme dans les personnnes de Yao, de Choen, de Confucius, de plusieurs rois et même de plusieurs parliculiers. Il a donc pu dans l’Occident s’incarner de même dans la personne de Jésus… La conséquence qu’on doit tirer de ces paroles est que Jésus Christ est dans l’Occident ce que Confucius ou tout autre lettré de distinction est à la Chine. Ce docteur Michel dit encore… que la doctrine de Confucius est parfaite en tout et la même que celle de Dieu. –

Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 114. Lettres de Leibniz par Kortholt (Leibniz epistoloe) Lépse 1734 tome 2, page 250 à 266.

[84] The notion of man-god, or of a human being endowed with divine or supernatural powers, belongs essentially to the earlier period of religious history in which gods and men are still viewed as beings of much the same order, and before they are divided by the impassable gulf which, to later thought, open out between them. Strange therefore as may seem to us the idea of a god incarnate in human form it has nothing very startling for early man, who sees in a man-god or a god-man only a higher degree of the same supernatural powers which he arrogates in perfect good faith to himself.

(James George Frazer, The Golden Bough, p. 106.)

[85] Kinh Thư – Thiệu Cáo, 9.

Kinh Thi – Chu Tụng, Thanh Miếu, Thời Mại.

[86] Kinh Thư – Dận Chính, 6.

[87] Kinh Thư – Đại Cáo, 8.

[88] Sáng Thế Ký VI, 1-4.

[89] Xem Sáng Thế Ký VI, 1-4. và VI, 3. (Xem Bible de Crampon)

Sau này trong thánh thư gửi cho giáo hữu La Mã, thánh Paolo cũng viết: «Thật vậy, tất cả những ai được Tánh Thần Chúa làm cho linh hoạy đều là Con Thiên Chúa. (Romains 8, 14) (En effet, tous ceux qu’anime l’Esprit de Dieu sont fils de Dieu.» (Bible de Jérusalem, p. 1501)

[90] Xem Deutéronome XXXII 8-10: «Quand le Très Haut donna aux nations leur héritage, quand il répartit les fils d’homme, il fixa leurs limites suivant le nombre des fils de Dieu. Mais le lot de Yahvé, ce fut son peuple, Jacob fut la part d’héritage.»

[91] Mai Lâm Đoàn Văn Thăng, Thánh Vịnh Toàn Tập, trang 284-285.

[92] I Chroniques XVII, 11-14.

Xem thêm II Samuel VII, 12-16. Trong đoạn này cũng vẫn thuật lại lời tiên tri Nathan, nhưng thêm chi tiết này: «Ta sẽ là cha người, và người là con ta, nếu người phạm lỗi ta sẽ sửa trị bằng roi vọt loài người, và bằng thương tích lòao người, nhưng ta sẽ không cất sự phù trì ta khỏi ngươi như đã làm đối với Saül là kẻ ta trừ diệt trước mặt ngươi…» (II Samuel VII, 12-16)

[93] Ezechiel 28, 1, 2.

[94] Ezechiel 28, 11, 16. Dịch theo Bible de Jérusalem, từ 11 đến 13. Theo Louis Segond từ 14 đến 16.

[95] Cyrus (560-529 TCN) sáng lập nước thượng vị ba Tư, lật đổ vua dân Mèdes là Astyage, thắng Cresus, vua xứ Lydie, chiếm Babylone và trở nên bá chủ cả mì6n tây Á Châu.

[96] Hoec dicit Dominus Christo meo Cyro, cujus apprehendi dexteram, ut subjiciam ante faciem ejus gentes… Vulgate, Isaïe XLIV, 1.

Ainsi parle Yahvé à son oint, à Cyrus qu’il a pris par la main droite pour abattre devant lui les nations.

Bible de Jérusalem, Isaïe XLIV, 1.

[97] Livre de la Sagesse II, 13, 19.

… Il (le juste) se flatte de posséder la connaissance de Dieu, et se nomme lui-mêrne fils du Seigneur… Si le juste est le fils de Dieu, Dieu l’assistera, il le délivrera des mains de ses adversaires. Eprouvons le par des outrages et des tourrnents. (Bible de Jérusalem, page 871-872)

[98] – Juges 3, 10

– I Samuel 10, 6

– I Samuel 16, 13

[99] I Samuel 10, 7.

[100] II Samuel 7, 3.

[101] Thương Ân chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm. (J. Legge, The She King, tr. 435) ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương.

[102] Mat: 3: 17; 4: 3, 6; 8: 29: 14: 33; 16: 16; 17: 5; 26: 63; 27: 54.

Marc: 1: 1; 1: 11; 5: 7; 14: 61, 62.

Luc: 1: 32, 35; 3: 22; 4: 41; 9: 35; 22: 70.

Jean: 1: 34; 1: 49; 3: 16, 18; 5: 25; 9: 35; 10: 36; 19: 7; 20: 31.

Chúa Jésus xưng mình là Con Thiên Chúa:

Jean: 5: 25; 5: 18; Marc: 14: 61, 62.

Jean: 9: 35, 37; 10; 36.

[103] Jean: 1: 1; 10: 33; 20: 28; Rom: 9: 5.

Col. 1: 16; 2: 9; I Tim. 1: 17.

Heb. 1: 8; I Jn 5: 20; Jude 25.

[104] Jn. 4:25, 26; Mat. 16: 16.

[105] I Epitre de St Jean: 14.

[106] Jean 5, 25; 5:18; Marc 14: 61, 62; Jean 9: 35, 37; 10: 36.

[107] Quotquot autem receperunt eum, dedit eis potestatem filios Dei fieri… (Joan. Capt. I, II)

… on les appellera fils du Dieu vivant (Romains 9, 26) (Bible de Jérusalem, 1504)

… Car vous êtes tous fils de Dieu par la foi au Christ Jésus (Galates 3, 26) (Bible de Jérusalem, page 1540)

… Aussi n’es-tu plus esclave mais fils, et donc héritier de par Dieu (Galates 4, 7) (Bible de Jérusalem, page 1540)

… En effet, tous ceux qu’anime l’Esprit de Dieu sont fils de Dieu (Romains 8, 14).

… Car ceux que d’avance, il a discernés, il les a aussi prédestinés à reproduire l’image de son fils, afin qu’il soit l’aîné d’une multitude de frères… (Romains VIII, 29, Bible de Jérusalem, page 1502)

[108] … Aussi la création attend-elle avec un ardent désir la révélation des fils de Dieu. (Romains 8, 19) – Louis Segond, La Sainte Bible, page 1140.

[109] La société médiévale était conçue en tous ses rouages pour hausser l’homme de l’existence brute à la conscience morale, et de la subsistance naturelle à la vie spirituelle. C’était un appareil institutionnel qui s’insérait parfaitement dans la création conçue comme «machine à faire des dieux». La civilisation du moyen-âge tout entière avait pour but, en dernière analyse, d’aider les hommes à devenir de véritables chrétiens, c’est-à-dire des images du Christ, selon le mot de l’Apôtre: Christianus alter-Christus. (La Vocation de l’Occident, page 156)

[110] In the second century, Montanus the Phrygian claimed to be the incarnate Trinity uniting in his single person God the Father, God the Son and God the Holy Ghost…

Nor is this an isolated case, the exorbitant pretension of a single ill-balanced mind. From the earliest times down to the present day many sects have believed that Christ, nay God himself, is incarnate in every fully initiated Christian, and they have carried this belief to its logical conclusion by adoring each other. Tertullian records that this was done by his fellow-Christians at Carthage in the second century.

The Golden Bough, page 117.

[111] The disciples of St Columba worshipped him as an embodiment of Christ.

[112] And in the eighth century, Elipandus of Toledo spoke of Christ as «a God among Gods», meaning that all believers were Gods just as truly as Jesus himself.

Xem để so sánh: «Car ceux que d’avance il a discernés, il les a aussi prédestinés à reproduire l’image de son Fils, afin qu’il soit l’aîné d’une multitude de frères… (Romains 8, 20)

[113] On thirteenth century, there arose a sect called the Brethen and Sisters of the free Spirit who held that by long and assiduous contemplation any man might be united to the deity in an ineffable manner and become one with the source and parent of all things, and that he who had thus ascended to God and been absorbed in his beatific essence, actually formed part of the godhead, was the Son of God in the same sense and manner with Christ himself, anh enjoyed thereby a glorious immunity from the trammels of all laws human and divine… (The Golden Bough, page 117)

[114] Le monde Celte était considéré comme un petit univers, dont le roi-prêtre devait être le démiurge écoutant en lui-même pour l’orchestrer dans la société humaine l’harmonie céleste chère à Platon.

(Louis Lallement, La Vocation de l’Occident, page 25)

[115] Cf. Initiation biblique (A. Robert et A Tricot page 855) Les religions de l’Asie antérieure. La religion akkadienne:

Le roi de chaque cité est le prêtre du Dieu de to ville. L’intermédiaire entre lui et les hommes. Prédestiné, il a été l’objet d’un choix manifesté par un appel mystérieux et formé par le Dieu même dans le sein de sa mère pour faire régner la justice. Du Dieu il reçoit les pouvoirs et les insignes de la royauté; s’il répond à sa vocation, il sera le favori des Dieux, s’il y est in fidèle, il pourra être dépossédé de ses fonctions. Le roi devient fils, frère, époux d’une divinité, Dieu lui-même, et messie car son avènement est le début d’une ère nouvelle d’abondance et de prospérité…

[116] The early Babylonian kings from the time of Sargon I, till the fourth dynasty of Ur or later claimed to be gods in their lifetime… (The Golden Bough, p. 120)

[117] The kings of Egypt were deified in their lifetime … It has never been doubted that the king claimed actual divinity; he was the «great god», the «golden Horus», and son of Ra. He claimed authority not only over Egypt, but over «all lands and nations», the whole world in its length and its breadth, the east and the west, «the entire compass of the great circuit of the sun», etc. (The Golden Bough, page 121)

[118] Saviour: In its origin this was a pagan term applied to various divinities and occasionally to deified man. Certain kings of Syria and Egypt were invested with the title of «Soler» as part of their proper names. It was perhaps because of its pagan association that the term was avoided by Christians. In the N. it occurs rarely and always with a general sense, as a variant of the more usual expression «He who saved us». It was not until well on in the second century that «the saviour» came to be one of the acknowledged names of Christ… (Vergelius Ferm, Encyclopedia of religion, page 690.)

[119] Deification of the king held an acknowledged place in the cultus of the nations surrounding Israel; but the covenant between Jehovah and the head of the Davidic house was a standing protest against assimilation to the commun pattern. For Greeks, deification followed easily from both the anthropomorphism of the myths which emptied the concept of godhead of much numinous content and the philosophico-religious belief in immortality and the divine affinities of the soul.

Heroes and benefactors received quasi divine honors and at least from fifth century B.C., divine honors were paid to living men. Alexander received worship in the Oriental lands he conquered.

(Baker’s Dictionary of Theology, trang 161, nơi chữ Deification.)

[120] With his successors and kings and kinglets thereafter it become a common place. This might be oriental flattery, like that dearly bought by Herod Agrippa (Acts 12: 20ff), but it might be intensely serious; as when Antiochus IV Epiphanus, opponent of devout Jews and their God, identified himself with Zeus and called «himself» God on coins; and it might have deep associations as in Egypt, where sacred kingship was traditional and the Ptolemais family living and dead were worshipped officially.

From Julius Caesar onward, deification was a carefully regulated part of Roman policy. Traditional Roman sentiment was inimical and Caesar worship was always restrained in Rome: but in the empire local comnumities frequently outran official pronouncements… (Baker’s Dictionary of Theology, page 161)

[121] Julius received worship in his conquests. Augustus promoted the worship of «Divas Julius», but moderated the worship proffered to himself. He and most of his successors were officially deified at death (hence Vespasian’s deathbed joke, «I think L’m becoming a god»). Unbalanced Emperors – Caligula, Nero, Donnitian – insisted on divine honors during life.

(Baker’s Dictionary of Theology, page 161)

[122] Hellenistic mysticism as expressed most fully in the mystery religion but observably even in the Jewish Philo, tended to seek identification of the soul with the divinity to which it was kin. This passed into some forms of Christian mysticism; the Christian’s adoptive status was neglected; «partakers of the divine nature» (II Pet, 1:4) came to express an essential, rather than a moral transformation.

(Baker’s Dictionary of Theology page 161)

[123] Cf. J. M, A. Salles Dabadie. Les Conciles Occuméniques de l’Histoire, page 21 et ss (Collection 10-18), page 27.

[124] Ibidem. page 36.

[125] Cf. La vocation de l’Occident, page 156.

«Soyez glorifié avec Jésus Christ dont vous êtes dit porter le nom et tenir la place. Que celui qui est médiateur entre Dieu et les hommes vous établisse médiateur entre le peuple et le Ciel», disait le consécrateur, après les onctions qui faisaient du Roi l’Oint du Seigneur, alter Christus…

[126] Charlemagne, intronisé par l’onction royale comme lieutenant de Jésus Christ et par le couronnement impérial comme maître de l’Empire chrétien, s’attribuait en même temps que le pouvoir temporel une certaine juridiction spirituelle… (Louis Lallement, La vocation de l’Occident, page 109)

[127] «Seigneur et Père, roi et prêtre, chef et guide de tous les chrétiens ‘ainsi qu’il s’intitula dans une lettre au Souverain Pontife, il se considérait en ces temps d’apostolat généralisé comme en quelque sorte le prince des apôtres pour son empire et quant au temporel (Ibid, p. 109)

[128] Gouverner, c’était pour lui se charger de guider les hommes vers le salut éternel. (Ibidem, p. 107)

[129] Il (Léon III) adressa aussitôt au roi des Francs copie de l’acte de son élection et y joignit les clefs du tombeau de Saint Pierre ainsi que l’étendard de la ville de Rome. C’était une manière d’hommage.

Miroir de l’Histoire No 157. Les grandes heures des Papes, page 42.

[130] Le pape et l’empereur figurent bien les «deux moitiés de Dieu» comme dit Hugo… Le premier devrait participer effectivement à la plénitude du surnaturel chez le Fils de Dieu et le second à la perfection de la nature humaine chez le Fils de l’homme. (La vocation de l’Occident, page 109-110).

[131] Il lui est permis de déposer les empereurs (12) – Personne ne peut condamner une decision du Siège apostolique.

[132] Innocent III (1198-1216) most powerful of all the Popes, claimed to be «Vicar of Christ», «Vicar of God», «Supreme sovereign over the Church and the world»; the right to depose kings and princes; that «all things on earth, and in heaven and in hell are subject to the Vicar of Christ». (Halley’s Bible Handbook, page 686.)

[133] «De même que la lune reçoit la lumière du soleil de même le pouvoir royal emprunte à l’autorité pontificale, la splendeur de sa dignité»… «Aux princes a été donné le pouvoir sur la terre, aux prêtres a été attribué le pouvoir sur la terre et dans le ciel. La puissance des rois atteint seulement les corps, celle des prêtres atteint les corps et les âmes.» (Miroir de l’Histoire No 157, page 54.)

[134] Boniface VIII, (1293-1303), in his famous bull, «Unam Sanctam» said: we declare, affirm, define and pronounce that it is altogether necessary for salvation that every human creature be subject to the Roman Pontiff.» (Halley’s Bible Handbook, page 678)

… Leo XII (1820-9) declares that «every one separated front the Roman Catholic Church, however unblamable in other respects his life may be, because of this single offense, has no part in eternal life. (Halley’s Bible Handbook, page 690)

[135] Au XIIIè siècle on en était venu à Rome à la conception «guelfe» d’un pape-empereur telle que la résume typiquement la formule d’Henri de Suse» «Unus caput est tantum scilicet papa» (une seule tête suffit à la chrétienté: le pape.) (La Vocation de l’Occident, page 235)

[136] Le Roy Edwin Frown, The prophetic faith of our fathers, Vol II, page 556.

[137] Ibidem, page 556.

[138] Arrivé le 25 Janvier (1077) au terme de son pénible pèlerinage, «le souverain déchu» se tint trois jours devant la porte, sans aucun insigne royal, ne cessant d’implorer la miséricorde apostolique» Grégoire VII ne voulut être «vaincu» que par la persévérance du repentir», au soir du 28 Janvier, comme le pénitent l’implorait de nouveau d’une voix que le froid et le jeûne prolongé rendaient à peine perceptible, il consentit enfin à le laisser au château et peu après, il l’admet au repas du soir.

Miroir de l’Historire No 157.

Les Grandes heures des papes, page 48.

[139] Vạ tuyệt thông là một hình phạt tinh thần rất nặng. Đọc lễ nghi lời nguyền sau đây sẽ rõ:

La cérémonie de l’excommunication.

Dans l’église tendue de noir, au son des cloches, l’évêque entouré de son clergé, torches en mains, lisait devant le peuple assemblé la sentence d’excommunication. Puis il prononçait la formule d’anathème (ce mot a à-peu-près le même sens que: excommunication), dont voici quelques passages: «Qu’ils soient maudits toujours et partout: qu’ils soient maudits la nuit et le jour et à toute heure, qu’ils soient maudits quand ils dorment et quand ils mangent et quand ils boivent: qu’ils soient maudits quand ils se taisent et quand ils parlent, qu’ils soient maudits depuis le sommet de la tête jusqu’à la plante des pides. Que leurs yeux deviennent aveugles, que leurs oreilles deviennent sourdes, que leur bouche devient muette, que leur langue s’attache à leur palais, que leur mains ne touchent plus, que leurs pieds ne marchent plus. Que tous les membres de leur corps soient maudits; qu’ils soient maudits quand ils se tiennent debout; quand ils sont couchés et quand ils sont assis, qu’ils soient enterrés avec les chiens et les ânes; que les loups rapaces dévorent leurs cadavres… Et de même que s’éteignent aujourd’hui ces torches par nos mains, que la lumière de leur vie soit éteinte pour l’éternité, à moins qu’ils ne se repentent.» L’évêque et les prêtres, qui portaient des torches allumées, les renversaient alors contre terre et les éteignaient sous leurs pieds.

(D’après le Dictionnaire d’Archéologie et de Liturgie, Letouzey édit.)

André Alba, Le Moyen Âge (Classiques Hachette) page 60.

[140]… Cette doctrine est celle de la théocratic pontificale. Elle finirait avec les papes moins respectueux de leur exacte mission que ne l’a été Innocent III, par attribuer au Siège romain la totalité de la puissance spirituelle et temporelle, véritablement le dominium mundi la Seigneurie du monde. Miroir de l’Histoire No 15, page 54.

[141] «… Non simplex homo, sed quasi Deus» – not simply man but as it were God…»

«… Tantoe enim est dignitatis et potestatis, ut faciat unum et idem tribunal cum Christo… et quasi Deus in terra». – «of so great dignity and power that he may constitute one and the same tribunal with Christ.., and as if God on earth…»

(H. Grattan Guinness, Key to the Apocalypse, page 71).

[142]… Hinc Papa triplici coronatur tamquan Rex Coeli et Terroe et Infernorum.

– Ibid. page 70.

– Annot 1, ad decis – Biblioth. Canon Ferraris Tome VII

… In his investiture with the papal tiara, the Pope is thus addressed: Receive this triple crown, and know that thou art the Father of Princes and the King and Ruler of the world…

(Key to the Apocalypse, page 86)

[143] The coronation oath enjoined by Popes and agreed to by the Western Emperors was that they would «be faithful and submissive to the Pope and Roman Church». In token of their subjection they prostrated themselves before the Pope, and kissed his feet. They held their kingdoms from him…

(Key to the Apocalypse, page 86)

«… Under the sacerdotal monarchy of St Peter» says Gibbon, «the nations began to resume the practice of seeking on the banks of the Tiber their fate…» (Ib. page 86)

[144] Cf. jean herbert, L’Enseignement de Ramakrishna.

[145] Hồng Phạm tiết 14. James Legge dịch: «Seeing this perfect excellence, turn to this perfect excellence.»

[146] Cf. Romains 8, 19: Ainsi la Création attend-elle avec un ardent désir la révélation des fils de Dieu. (Louis Segond, La Sainte Bible, p. 1140)

————————–

KHỔNG HỌC TINH HOA–Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Chương 4

Nền thiên trị Trung Hoa thời cổ

MỤC  LỤC  CHƯƠNG 4

Thiên dẫn đầu: Đại cương Hồng Phạm Cửu Trù

Thiên 1: Đấng quân vương phải am tường vật lý

Thiên 2: Đấng quân vương phải biết phương pháp tu thân

Thiên 3: Đấng quân vương phải biết phương pháp trị dân

Thiên 4: Đấng quân vương phải am tường ý nghĩa của tháng năm, hiểu thiên văn, lịch số

Thiên 5: Đấng quân vương sẽ ở ngôi Hoàng Cực, thay Trời trị dân

Thiên 6: Thuật cai trị: chính trực nhưng phải biết cương nhu, quyền biến

Thiên 7: Đấng quân vương phải biết suy nghĩ bàn bạc, hỏi han khi gặp những trường hợp nan giải

Thiên 8: Đấng quân vương phải nhân các điềm trời mà soát xét lại đường lối cai trị

Thiên 9: Đấng quân vương phải nhìn vào tình cảnh dân, để nhận định giá trị của nền cai trị

Tổng luận

*Thiên dẫn đầu:-

PHI LỘ

Như các chương trên đã chứng minh, dân Trung Hoa thời cổ có những ý niệm về Thượng đế y thức như dân Do Thái và quan niệm về Thượng Đế trong Tứ Thư, Ngũ Kinh, tương tự như quan niệm của Cựu Ước.

Văn liệu sử liệu còn chứng minh trong khoảng gần hai nghìn năm (từ Phục Hi 2852 trước CN tới Chu Võ Vương 1122-1115 trước CN) ngoại trừ vài gián đoạn ngắn, dân Trung Hoa đã có một nền Thỉên trị (Théocratie). Gọi là Thiên trị vì dân Trung Hoa đã tin tưởng rằng chính Trời trị dân, còn vua chúa chẳng qua là những phần tử ưu tú được lĩnh mệnh Trời trị dân. Các Ngài được mệnh danh là:

– Thiên tử [1]

– Thiên sứ [2]

Hoặc Thiên dịch [3]

Trong nền Thiên trị, Trời sẽ gián tiếp cai trị chúng dân qua trung gian các vị thánh vương, triết vương [4] tức các vì Thiên tử.

Cho nên Trời cũng đã soi sáng cho các ngài biết đường lối trị dân theo đúng thiên ý nhân tâm, và vật lý, ngõ hầu mang an bình, hòa hợp, thái thịnh lại cho muôn phương.

 Kinh Thư chép rằng bí quyết trị dân, toát lược trong Hồng Phạm Cửu Trù, đã được chính Trời ban cho vua Đại Võ khi ngài trị thủy thành công. [5]

 Cho nên không phải ngẫu nhiên mà có Hồng Phạm Cửu Trù. Chính Trời cao đã sắp xếp cho dân con được người hướng dẫn.

Kinh Thư đã nhiều lần xác định điểm ấy.

Thiên Trọng hủy chi cáo viết:

«Than ôi ! Trời sinh ra dân có lòng muốn, không có chủ, thì loạn. Nên Trời sinh ra những bậc thông minh để trị dân. [6]

Võ Vương cũng nói:

«Chỉ có Trời đất là cha mẹ muôn vật. Kẻ thực thông minh làm vua đứng đầu. Vua đứng đầu là cho mẹ dân…» [7]

… «Trời giúp dân dưới, mới dựng nên kẻ làm vua, người làm thày, để họ giúp Thượng Đế vỗ yên bốn phương.» [8]

Trời lại còn muốn cho dân con được hướng dẫn thực sự, trong tình thương yêu, trong sự quí trọng, cho nên đã đòi hỏi người cầm quyền phải có rất nhiều đức tính.

Trong nền Thiên trị, Thiên tử phải thông minh, đức độ, có như vậy mới xứng đáng mệnh Trời. Thiên tử thay Trời trị dân nên phải uy nghi, trang trọng, thông minh, thánh trí. Mỗi động tác của người nhất nhất đều có giá trị tượng trưng hay ích lợi thực sự.

Lúc ở Trung cung thời như sao Bắc thần làm khu nữu cho muôn tinh tú chầu về. [9] Lúc đi tuần thú bốn phương thì như vầng Dương rong ruổi trên hoàn võ theo đúng nhịp điệu tứ thờì mà tới mỗi phương. [10] Cho nên đặt Thiên tử vào ngôi Hoàng cực [11] vì con Trời sẽ thay Trời cai trị chúng dân.

Như trên thượng giới, Trời ngự ở bắc cực trung tâm hoàn võ. [12]

Dưới hạ giới, thiên tử cũng trị vì ở đế đô, trung tâm muôn nước.

Hoàng cực chính là tâm điểm vũ trụ muôn phương, nơi Âm Dương giao thái, điểm hội tụ «duy tinh duy nhất» của tinh hoa nhân loại; nơi thực hiện đại đồng phổ quát; «nhất quán» vũ trụ quần sinh, bao trùm mọi biến thiên, chỉ huy mọi hành động, là tiêu chuẩn lý tưởng cho mọi người y thức trên đồ Dịch, Thái Cực ở Trung điểm là nơi phát sinh, vừa là điểm hội tụ của tất cả mọi biến hóa, mọi hào quải. [13]

Kinh Thư vừa mô tả đời sống và công trình các vị chân thiên tử, vừa dùng mọi phương cách để nhắc nhở: «Thiên tử phải thánh thiện, minh triết cho đáng ngôi Hoàng cực.»

Để chứng minh, chúng ta có thể đan cử thiên «Trọng Hủy chi cáo»:

Trọng Hủy khuyên vua Thành Thang:

«Hãy nâng đỡ người hiền, phù trợ người đức, thỏa mãn người giỏi, trọng kính người trung… Nếu nhà vua ngày một thêm nhân đức, muôn nước sẽ yêu mến. Nếu nhà vua độc đoán, độc tài sẽ bị chính họ ruồng rẫy ! Nhà vua hãy gắng làm rạng đức lớn, hãy treo gương «trung đạo» cho dân. Xin lấy nghĩa trị việc, lấy lễ trị lòng, hãy để lại cho hậu thế một tấm gương xán lạn. Tôi nghe nói: «Kẻ biết tìm thày hay chỉ dẫn, sẽ thống trị; còn kẻ coi mình hơn mọi người sẽ đi đến chỗ suy vong. Thích hỏi han sẽ trở nên cao đại; tự chuyên, tự đắc sẽ trở nên «ti tiểu». Ôi nếu muốn thành công, phải lo từ khởi điểm… Hãy khuyến khích kẻ có lễ nghi, hay lật đổ kẻ hôn bạo! Có trọng đạo Trời, mới giữ được mệnh Trời.» [14]

Tứ Thư, Ngũ Kinh, còn đưa ra những nguyên tắc trị dân rất là đẹp đẽ. Những nguyên tắc ấy đã ghi trong Hồng Phạm Cửu Trù một cuốn sách tương truyền đã được Trời ban cho vua Đại Võ khoảng năm 2278 trước CN để thưởng công trị thủy thành công. [15]

Theo Hồng Phạm, thiên tử trong khi trị dân sẽ tuân theo thiên lý, nương theo vật lý, tâm lý để khai thác vật chất, chuyển hóa nhân tâm, cho vũ trụ nhân quần tiến dần tới chân thiện mỹ. Công cuộc cai trị này sẽ trang trọng như một cuộc hành lễ, và êm đềm như một bài thơ, một khúc nhạc…

Chúng ta sẽ khảo cứu Hồng Phạm một cách tỉ mỉ, một cách cặn kẽ trong những trang sau.

Nhưng nếu chỉ nghiên cứu nguyên Hồng Phạm Cửu Trù, sẽ không làm nổi bật được hết cái hay cái đẹp của nền Thiên trị. Chúng ta phải đặt Hồng Phạm vào khung cảnh Tứ Thư Ngũ Kinh, như đề tài chính ở giữa một họa phẩm mênh mông, như quân vương ngự giữa triều đình rực rỡ, chúng ta mới lĩnh hội được tinh hoa, mới nhận định được mọi vẻ huy hoàng cao đại của Hồng Phạm.

Chúng ta sẽ dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh, điểm tô chảỉ chuốt cho các thiên Hồng Phạm, ta sẽ đem các lời lẽ của Khổng Mạnh làm hoa làm ngọc cài lên các ý tứ của Hồng Phạm; nói cách khác, chúng ta sẽ dùng những lời lẽ của Khổng Mạnh để quảng diễn và bình giải Hồng Phạm.

THIÊN DẪN ĐẦU

ĐẠI CƯƠNG HỒNG PHẠM CỬU TRÙ

Hồng Phạm Cửu Trù là chương trình đại qui mô gồm chín điểm ghi chú những nguyên tắc chính yếu để trị dân.

Tục truyền Trời đã ban Hồng Phạm Cửu Trù cho vua Đại Võ.

«Thư Kinh Bị Chỉ» chia Hồng Phạm làm 3 phần:

Phần nhất: Gồm ba tiết đầu, đề cập tới xuất xứ của Hồng Phạm: Vua đã được Trời ban cho Hồng Phạm. Cơ Tử truyền lại cho Võ Vương nhà Châu.

Phần hai: Tức tiết 4. Trình bày tổng quát chín thiên Hồng Phạm.

Phần ba: Từ tiết 5 đến tiết 40, mô tả rành rẽ chín thiên Hồng Phạm.

Trong chín thiên Hồng Phạm, thì thiên 5 là quan trọng nhất, và là then chốt vì bàn về đức độ toàn thiện đấng quân vương.

4 thiên trước minh định những phương pháp đạt tới đức độ siêu việt ấy.

Còn 4 thiên sau trình bày những cách thế để giữ gìn đức độ siêu việt ấy. [16]

Xưa nay ít người khảo sát Hồng Phạm theo đường lối này, thành thử Hồng Phạm trở nên mơ hồ huyền ảo, như một động phủ chìm ngập trong mây, xa xăm bí ẩn, phảng phất mung lung…

Trái lại, nếu ta dùng Thư Kinh Bị Chỉ làm chiếc chìa thần để mở các khóa then Hồng Phạm, ta sẽ phanh phui được nhiều điều huyền diệu của tiền nhân. [17]

Hồng Phạm Cửu Trù là hiến chương căn bản dạy cách thay Trời trị dân, nên toàn ghi chép những lời huấn thị cho các bậc đế vương.

Nó đi sâu vào gốc rễ thần quyền, thế quyền, nó đưa ra một bí quyết trị dân rất là cao siêu huyền diệu, rập đúng theo guồng máy âm dương của vũ trụ và tiết tấu của trang sao, và có mục đích giúp con người khai thác những khả năng vô tận tiềm ẩn trong lòng mình, và trong lòng vũ trụ. [18]

Võ Vương vì muốn rõ cơ vi về phương pháp trị dân, nên đến phỏng vấn Cơ Tử. [19]

Hồng Phạm viết:

Năm thứ 13, vua tới phỏng vấn Cơ Tử.

Vua nói: «Này, ông Cơ Tử ! Trời luôn ám trợ chúng dân để cho họ được an hòa thái thịnh. Trời còn cộng tác với dân để giúp đỡ phù trì họ trong công cuộc bảo tồn giang sơn. Ta không biết đạo trị dân phải diễn tiến thế nào cho phù hợp với những nguyên lý hằng cửu chi phối nhân loại.» [20]

Cơ Tử tâu: «Tôi nghe xưa chúa Cổn ngăn lấp Hồng Thủy, làm đảo lộn tính chất ngũ hành. Thượng Đế nổi giận, không ban Hồng Phạm Cửu Trù, vì thế các định luật hằng cửu bị hiểu sai trật. Cổn bị đày mà chết. Vua Võ nối tiếp công trình trị thủy. Trời ban cho Ngài Hồng Phạm Cửu Trù cho nên các định luật hằng cửu được áp dụng đúng cách, hợp theo thứ tự diễn biến.»

Cơ Tử bèn lần lượt trình bày chín thiên Hồng Phạm cùng vua Võ…

Hồng Phạm Cửu Trù xếp theo Lạc Thư
(trích trong James Legge, The Shoo King, trang 325)

Chín thiên Hồng Phạm ấy từ 4000 năm nay đã khoác một lớp áo cổ kính, có một dáng điệu xa cách, đạo mạo, có một lối văn tỉnh mật cao siêu, nên khó gây cảm hứng. Nay ta sẽ trình bày lại Hồng Phạm, sẽ lấy Tứ Thư Ngũ Kinh trang điểm lại cho Hồng Phạm, để Hồng Phạm trở nên linh động duyên dáng, có một bộ mặt thế kỷ, một tâm tư thời đại ngõ hầu trao lại cho chúng ta những nguyên tắc chính trị cao đại và hằng cửu.
*Hồng Phạm Cửu Trù toát lược các thiên
(trích trong James Legge, The Shoo King, trang 344)

CHÚ THÍCH

[1] Hoàng thiên Thượng Đế cải xuyết nguyên tử. 皇 天 上 帝 改 厥 元 子 (Đấng Hoàng Thiên Thượng Đế thay đổi con đầu lòng của Ngài.) (Kinh Thư – Thiệu Cáo, 9).

[2] Thiên sứ dật đức liệt vu mãnh hỏa. 天 吏 逸 德 烈 于 猛 火 (Bậc thiên tử, thiên lại, lầm đức dữ hơn lửa mạnh.) (Kinh Thư – Dận Chinh, 6)

[3] Dư tạo thiên dịch 予 造 天 役 (Ta là tôi tá của Trời). Lời Võ Vương trong Kinh Thư – Đại Cáo, 8.

[4] Tư Ân đa tiên triết vương tại thiên. 茲 殷 多 先 哲 王 在 天 (Bấy giờ triều Ân đã có nhiều vị triết vương ở trên trời) (Kinh Thư – Thiệu Cáo, 10)

[5] Xem Hồng Phạm, lời mở đầu, tiết 3.

[6] Xem Trọng Hủy chi cáo, tiết 2: Ô hô! duy Thiên sinh dân hữu dục, vô chủ nãi loạn. Duy Thiên sinh thông minh thời nghệ… 嗚 呼!惟 天 生 民 有 欲, 無 主 乃 亂. 惟 天 生 聰 明 時 乂…

[7] Xem Thái Thệ Thượng, tiết 3: Duy thiên địa vạn vật phụ mẫu. Duy nhân vạn vật chi linh. Đãn thông minh tác nguyên hậu. Nguyên hậu tác dân phụ mẫu. 惟 天 地 萬 物 父 母, 惟 人 萬 物 之 靈. 亶 聰 明, 作 元 后, 元 后 作 民 父 母 (Kinh Thư – Thái Thệ Thượng, tiết 3)

[8] Thiên hựu hạ dân, tác chi quân, tác chi sư. Duy kỳ khắc tướng Thượng Đế, sủng tuy tứ phương. 天 佑 下 民, 作 之 君, 作 之 師. 惟 其 克 相 上 帝, 寵 綏 四 方 (Kinh Thư – Thái Thệ thượng, 7)

[9] Luận Ngữ – Vi Chính, 1.

[10] Kinh Thư – Thuấn Điển, 8.

[11] Hoàng cực giả, trung ương chính vị dã. 黃 極 者 中 央 正 位 也 (Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy. Trung quyển, trang 6.)

[12] Comme un souverain terrestre est toujours accompagné de sa cour qui l’environne, de même les Chinois ont donné aux étoiles qui environnent l’étoil polaire, le Souverain des cieux ( 皇 天 大 帝 ) des noms de ministre et de membres de la famille impériale. (Gustave Schlegel, L’Uranographie chinoise, page 524)

Thiên trung cung, thiên cực nhất tinh, kỳ nhất minh giả. Thái nhất thường cư. 天 中 宮, 天 極 一 星, 其 一 明 者. 太 一 常 居 (Sử Ký 史 記, Thiên quan thư 天 官 書) Ibidem.

Thiên cực nhất tinh, danh Bắc Cực, vị tại trung ương, tứ phương sở thủ chính. Cố viết trung cung, viết Thiên cực, tức Bắc thần dã 天 極 一 星, 名 北 極, 位 在 中 央, 四 方 所 取 正. 故 曰 中 宮, 曰 天 極, 即 北 辰 也 (Khảo yếu 考 要). Ibidem. 524.

… Ma Yung held that Shang Te was «the Supreme one» Thái Nhất (太 一 ). The whole of this comment is 上 帝 太 一 在 紫 微 宮 天 之 最 顯 者 (Thượng Đế Thái Nhất thần tại Tử Vi cung, thiên chi tối hiển giả): Shang Te is the the great one, his spirit occupies the palace of Tsze Wei (a celestial place about the pole), the most distinguished of the heavenly Powers. (Legge, The Shoo King, page 34 notes)

[13] Đọc thêm: Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Đông phương I, trang 130-131.

[14] Kinh Thư – Trọng Hủy Chi Cáo, 2.

[15] Xem Kinh Thư – Thuấn Điển, 8. Xem Wieger, Textes historiques. La Grande Règle, page 26.

[16] «The whole, says the writer exhibits the great model for the government of the empire. The fifth or middle division on Royal perfection is, indeed the central one of the whole that about which the book revolves. The four divisions that precede it show how this royal Perfection is to be accomplished and the four that follow show how it is to be maintained.» (James Legge, The Shoo King, page 321).

[17] Cụ Từ Thanh chú thích 9 trù là: 1- Ngoại giới, 2- Nội giới, 3- Quốc gia, 4- Lịch số, 5- Vũ trụ, 6- Xử thế, 7- Chiêm nghiệm, 8- Thời tiết, 9- Thưởng phạt. Và cho rằng đó là quan điểm của Khổng An Quốc. (Châu Dịch Đại Toàn, Việt Nam Âm Dương Dịch Lý Hội, quyển thượng, trang 9)

Giáo sư Nguyễn Đăng Thục cũng có ý kiến tương tự. Xem Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Đông Phương, quyển I, trang 137.

[18] L’humanité est le but de la nature humaine et Dieu avec ce but a remis à notre espèce son propre destin entre ses mains. Le but d’une chose qui n’est pas simplement sans vie doit nécessairement se trouver en elle-même. Si nous étions créés pour, de même que la boussole se dirige vers le Nord, tendre avec un effort éternellement vain, vers un point de perfection en dehors de nous, que nous ne pourrions jamais atteindre, nous serions fondés, à titre de machines aveugles, à plaindre non seulement nous, mail l’être même qui nous aurait condamnés à un destin de Tantale, en créant notre espèce uniquement pour le plaisir de ses yeux, plein de malignité et indigne d’un Dieu… Mais par bonheur, la nature des choses ne nous enseigne pas cette hypothèse fausse; si nous considérons l’humanité telle que que nous la connaissons, d’après les lois qu’elle porte en elle, nous ne connaissons rien de plus haut que l’humanité idéale en l’homme. Car de même, quand nous imaginons des anges et des dieux, nous nous les représentons seulement comme des hommes idéaux, supérieurs.

(Herder, Idées pour la philosophie de l’histoire de l’humanité, pages 270-271)

[19] L’empereur gouverne par le Ciel, doit gouverner selon les intentions du Ciel et bien gérer les intérêts que le Ciel a dans le peuple. Ce sont les règles pratiques pour ce faire que l’empereur demande à Cơ Tử. (Wieger, Textes philosophiques. Chapitre II, La Grande Règle, page 26)

[20] Đoạn này rất quan trọng, nên trích dẫn các bản dịch của mấy học giả danh tiếng Âu Châu:

Wieger dịch: «Le Ciel, dit l’Empereur, gouverne mystérieusement le peuple habitant parmi lui. Je ne suis pas bien au courant de ses lois. Veuillez me les apprendre afin que mon action seconde parfaitement la sienne.» (Wieger Textes philosophiques. La Grande Règle, page 26)

Gaubil dịch: «Le ciel a des voies secrètes par lesquelles, il rend le peuple tranquille et fixe. Il s’unit à lui pour l’aider à garder son état. Je ne connais point cette règle, Quelle est-elle?»

Medhurst dịch: «Heaven has secretly settled lower people aiding and according with that in which they rest, but I do not know the arrangement of these invariable principles.» (Legge, The Shoo King, page 323, notes)

THIÊN 1

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI AM TƯỜNG VẬT LÝ

Trước hết Hồng Phạm đòi hỏi Thiên Tử phải am tường vật lý vì có như vậy mới có thể dạy dân sử dụng chi phối biến hoá được ngũ hành, chế ngự, khai thác được hoàn cảnh vật chất.

Hồng Phạm viết:

MỘT là năm hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là kim, năm là đất. Nước thấm nhuần và chảy xuống, lửa bốc cháy và bay lên; gỗ có thể cong lại; kim có thể tùy nghi biến dạng; đất có thể gieo cấy.

Nước chảy xuống nên sinh vị mặn; lửa bốc lên, nên sinh vị đắng; cây có thể cong ngay nên sinh vị chua; kim có thể tùy nghi biến dạng nên sinh vị cay; đất có thể gieo cấy nên sinh vị ngọt…

Chữ ngũ hành [1] là chữ thông dụng nhất, nhưng cũng là chữ mù mờ nhất; mới nhìn, tưởng giản dị nhất, nhưng thật ra phức tạp cao siêu nhất.

Quan niệm ngũ hành đã được các học giả Đông Tây bàn cãi nhiều. Nếu ta đi vào chi tiết sẽ không bao giờ cùng; đây ta chỉ tháo gỡ cho ra những giường mối chính, ý nghĩa chính.

«Ngũ hành» có quan hệ mật thiết đến siêu hình học và vũ trụ quan Trung Hoa thời cổ; có hiểu vũ trụ quan Trung Hoa, mới hiểu ngũ hành.

Trung Hoa, cũng như các dân tộc xưa, tin rằng vũ trụ vạn vật đều do một nguyên thể, một nguyên động lực phân tán, biến hóa ra. [2]

1- Cho nên đứng vào phương diện năng lực, thì nguyên động lực từ một tâm điểm phân tán vận chuyển ra bốn phương theo hai chiều kinh (dọc) vĩ (ngang) thành ra hai cặp ngẫu lực chính. [3] Các ngẫu lực này hoạt động ảnh hưởng lên nhau và dần dà sinh mọi loại năng lực.

2- Đứng về phương diện nguyên liệu, chất liệu, ngũ hành [4] là năm yếu tố cấu tạo vũ trụ. Hành Thổ ở Trung cung là căn cơ và cũng là đích cho muôn vật. Cho nên Dịch thường nói «Nguyên thủy phản chung» là vì vậy. [5]

Quan niệm này tương tự như quan niệm của Âu Châu, vì các vũ trụ luận cổ Âu Châu vẫn chủ trương có 4 nguyên chất tạo thành vũ trụ: «thủy, hỏa, thổ, khí», nhưng ngoài ra còn chủ trương có «tinh hoa», «tinh túy thứ năm» (la quintessence: la quinte essence) mà họ còn gọi là éther, hay matière première. [6]

Ấn Độ, Tây Tạng và nhiều phái huyền học Âu Châu chủ trương con người – tiểu vũ trụ – gồm ngũ hành như đại vũ trụ bên ngoài.

Và họ hình dung con người như sau:
[7]

Nhiều đền đài Tây Tạng hiện còn xây theo đồ hình trên, ví dụ như đền Koumboum ở Gyantsé. [8]

3- Xét theo không gian, thì ngũ hành lại chiếm năm vị trí chính yếu là Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung.

4- Xét về thời gian, thì ngũ hành chính là năm thời đại khác nhau, năm mùa khác nhau, bốn mùa biến thiên bên ngoài và một mùa hằng cửu bên trong, vừa là mùa hoàng kim khởi thủy vừa là mùa Hạnh phúc lý tưởng lúc chung cuộc. [9]

5- Ngũ hành, mà không kể trung điểm bên trong, thì còn lại tứ tượng bên ngoài.

Cho nên ngũ hành bao gồm tất cả huyền cơ về bản thể và hiện tượng, gồm cả nguyên lý hằng cửu, và dịch lý biến thiên.

Tứ tượng là 4 trạng thái, bốn hiện tượng tối sơ của một bản thể.

Trung Hoa thường lấy tứ linh tượng trưng tứ tượng tức là: Long, Ly, Qui, Phượng.

Trên trời thì ghi tứ tượng vào bốn chòm sao:

Thanh Long 青龍

Chu Tước 朱雀

Bạch Hổ 白虎

Huyền Vũ 玄武

gồm nhị thập bát tú của vòng chu thiên Hoàng đạo, [10] còn Bắc Thần sẽ ở Trung điểm làm khu nữu.

Đọc thánh kinh, hay huyền thoại các nước Âu Châu ta đều thấy có tứ linh tứ tượng, ví dụ tứ tượng trong sách Ezéchiel, mà sau này Thánh Irénée đã dùng làm tiêu biểu cho 4 Thánh Sử. [11]

Trên nhiều bức họa, ta thấy đấng Christ ở tâm điểm thánh giá, còn ở bốn cánh có bốn Thánh Sử, hay tứ tượng.

Louis Lallement bình về tứ tượng như sau:

«Tứ tượng có thể là áp dụng của một đinh luật phổ quát, theo đó, cần phải có bốn trạng thái sinh hoạt, bốn nghi thức phô diễn để mô tả một nguyên lý thuần thuần, tùy theo thời gian và không gian.» [12]

Những biến thái muôn mặt phản chiếu lại các sắc diện biến thiên của một toàn thể vô biên siêu xuất trên thế giới của phân ly chia xẻ, có thể thâu về bốn ý niệm chính, thâu về tứ tượng. Vì thế, tiên tri Ezéchiel đã nhìn thấy bốn con thú; cũng vì thế vườn địa đàng xưa có bốn con sông chảy ra bốn phương do một nguồn nước hằng sống. Đó cũng là huyền nghĩa của thập tự và chân lý mà các môn đệ Pythagore đã kính tôn dưới hình thức «tứ tượng» gồm 4 số sinh ra vũ trụ. [13]

Huyền học Tarot cho rằng tứ tượng chính là 4 biến dạng của Thượng đế. [14]

Xem 2 sơ đồ Đông Tây đối chiếu sau ta sẽ hiểu huyền nghĩa của tứ tượng và ngũ hành.

Bốn chữ viết vòng 4 phương trên tức là:
Iod, Hé, Vau, Hé = IVHV = Jéhovah = Thượng Đế

Cho nên đề cập tới Thái Cực hay tới ngũ hành, ngũ đế chẳng qua cũng như là đề cập tới Tuyệt đối thể với các biến dạng, biến thái mà thôi.

Thiên tử trong tòa Minh đường, hằng năm xưa, đã đóng lại tấn tuồng vũ trụ ấy.

Xuân thì phẩm phục, cờ xí xanh, ngự cung Thanh dương phía Đông.

Hạ thì phẩm phục, cờ xí đỏ ngự cung Minh Đường phía Nam.

Sau Hạ Chí, phẩm phục, cờ xí vàng, ngự trung cung (Thái Miếu, Thái Thất).

Thu phẩm phục, cờ xí trắng, ngự cung Tổng chương phía Tây.

Đông phẩm phục, cờ xí đen, ngự cung Huyền đường phía Bắc. [15]

Ý nói rằng chỉ có một vị Thiên tử nhưng hình dáng, động tác, phương vị có thể đổi thay theo thời gian: Thế cũng chủ trương: «Thể duy nhất, dụng vạn thù» của Dịch Kinh.

6- Ngũ hành còn có thể hiểu là năm yếu tố cần thiết cho sự sống. [16]

Ý nghĩa này hợp với Hồng Phạm. Kinh Thư chương Đại Vũ Mô viết: «Nhân đức của nhà vua hiện ra trong một nền chính trị giỏi giang khéo léo. Mà chính trị trước là phải nuôi dân.» [17]

Sáu yếu tố cần cho dân là «Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ, Cốc» (nước, lửa, kim khí, gỗ, đất, lúa); chúng cần được khai thác. Nhà vua chẳng những phải lo giáo hóa, khuyến thiện cho dân, mà còn phải cho họ biết khai thác lợi dụng vật chất thiên nhiên, cho đời sống họ được dồi dào phong phú. [18]

Những lời Hồng phạm về ngũ hành tuy vắn vỏi nhưng chứa chan ý nghĩa. Nguyên tắc chính yếu là: muốn cho dân giàu, nước mạnh phải khai thác thiên nhiên, mà muốn khai thác thiên nhiên, phải biết vật lý, phải tìm hiểu tính cách, khuynh hướng nó. Sau khi am tường vật lý, sẽ thuận thế mà khai thác, lợi dụng, mới đỡ tốn công, mới mong kết quả. [19]

Cách vua Vũ trị thủy xưa là một áp dụng hữu hiệu của thiên Hồng Phạm này.

Mạnh Tử viết:

«Ông Vũ làm cho nước lưu thông thuận theo thế nước, tính nước, cho nên ông làm việc chẳng có khó nhọc.

Cũng một lễ, nếu kẻ trí y theo đó mà làm, tức là tùy theo thế, tính tự nhiên, ắt họ làm việc chẳng có chi khó nhọc mà được thành công, thì trí thức họ mới đáng kể là rộng lớn đó. [20]

Cũng đời vua Vũ có đúc cửu đỉnh, tức là áp dụng, nguyên lý lửa nóng bay lên và kim loại tùy nghi biến dạng, v.v…

Thiên một nói về ngũ hành này là phản ảnh một bổn phận trọng đại hay một mối lo âu muôn thuở của những nhà lãnh đạo, lập quốc, kiến quốc. Chúng ta nhìn ngay vào lịch sử nhân loại gần đây cũng vẫn tìm ra được những thí dụ điển hình.

Brigham Young trong khi dẫn đoàn tín đồ Mormons băng ngàn, vượt núi tiến về miền Tây nước Mỹ (l847), đã cho thăm dò về địa dư, để tìm nơi định cư cho dân.

Câu hỏi đầu tiên đặt ra là nơi nào có đất đai rộng, có nước nhiều và có cây cối nhiều. [21]

Năm l948 khi dân Do Thái kéo nhau trở về Palestine lập quốc, vấn đề trước tiên họ nghĩ tới là tìm cho ta các mạch nước để dùng vào việc canh nông. Họ giở Thánh Kinh tìm các nơi xưa có giếng nước nhất là ở vùng Négeb, họ dẫn nước sông Yarkon vào các vùng hoang địa để canh tác; họ bắt dân thi đua giồng lại cây cối; họ hết sức khai thác đất đai. Nhờ vậy mà ngày nay, ở Do Thái, sa mạc xưa kia đã trở nên xanh tươi và rực rỡ muôn hoa, những giải đất cằn cỗi khô khan xưa đã trở nên thành đồng ruộng phì nhiêu. [22]

Hồng Phạm đã đặt vấn đề kinh tế, vấn đề khai thác tài nguyên lên hạng đầu trong công cuộc trị dân.

Nhìn vào các cường quốc Âu Mỹ ngày nay: ta thấy họ hết sức khai thác mọi nguồn lợi thiên nhiên và khuếch trương kinh tế.

Đâu đâu họ cũng lợi dụng sông ngòi để thiét lập những hệ thống dẫn thủy nhập điền hết sức hoàn bị, để số đất đai dùng vào việc canh tác được lên tới mức tối đa. Các tài nguyên của nước, như muối, cá, rong hay sức nước v.v… đều được tận dụng.

Họ dùng những sức nóng lớn lao để biến hóa kim loại, mở mang các ngành kỹ nghệ, và đã tiến rất xa về phương diện cơ khí.

Họ triệt để khai thác lâm sản, khoáng sản, làm cho các vùng núi trở thành những khu vực thịnh vượng.

Họ cũng đã khoa học hóa công cuộc trồng tỉa, cấy gặt.

Nhờ sự am tường về tính chất đất đai, nhở những tiến bộ vượt mức về canh tác, họ đã thu thập được những thành quả hết sức tốt đẹp.

Mới hay, càng hiểu biết về thiên nhiên, càng biết cách khaí thác ngũ hành, kho trời đất lại càng trở nên phong phú.

Nếu một vị lãnh đạo nhân dân tự cho mình có bổn phận làm cho nước giàu dân mạnh, dĩ nhiên là phải để tâm suy cứu về địa dư, triệt để khai thác các đất đai còn hoang vu trong nước, triệt để khai thác các tài nguyên còn súc tích ở khắp nơi, trên núi, trên rừng, dưới nước dưới biển…

Tóm lại xưa cũng như nay, các nhà lãnh đạo nhân dân đều tin tưởng vào kho tàng phong phú kỳ diệu của đất trời. Nhưng muốn cho thiên nhiên chuyển mình để trở thành nô bộc nhân loại, hỗ trợ và dưỡng nuôi nhân loại, nhân loại trước hết, cần phải dùng khối óc mà quan sát tìm hiểu, cần phải có ý chí sắt đanh để khắc phục hoàn cảnh, và cần có những bàn tay cần cù để đảo lộn cục diện hoàn võ. Trần gian tưởng như tiêu sơ, man dại nhưng chính là một thiên đường, nếu mọi người đều tận dụng khả năng để khai thác kho tàng của trời đất.
Thiên Hồng Phạm này làm liên tưởng đến mấy lời tiên tri Isaïe:

Ta, Yahvé, đấng vô cùng cao cả.

Sẽ cho sông tung tỏa giữa sườn đồi

Cho suối tuôn trong thung lũng xa xôi

Cho hồ ao chứa chan trong sa mạc

Nơi hoang địa, nước sẽ chảy vào rào rạt,

Sa mạc xưa sẽ đầy tùng bách, lá hoa…

(Isaïe 51: 28 29)

CHÚ THÍCH (Thiên 1-C4)

[1] Chữ 行 xưa viết  . Ta có thể giải:  một nguyên động lực phân tán ra bốn phương.

[2] Teilhard de Chardin gọi nguyên thể ấy là Etoffe cosmique. (Cf. Jean Onimus, Teilhard de Chardin, page 81)

[3] Các động lực trong mỗi cặp ngẫu lực tưởng chừng xung khắc nhau, những thực ra vẫn tương thừa nhau để sinh biến hóa.

Trong con người, nguyên động lực ấy cũng di chuyển theo các chiều kinh (dọc), lạc (ngang), và nhất lả dọc theo xương sống và đường chạy dọc theo giữa thân người phía trước qua hai mạch Nhâm, Đốc. (Nhâm chạy phía trước, Đốc chạy phía sau).

[4] Chữ ngũ hành chỗ này, Legge dịch là Five Elements (Legge, The Shoo King, The Great Plan, p. 325).

Thực ra chữ ngũ hành có nhiều nghĩa nên có học giả Âu Châu chỉ phiên âm mà không dịch, ví dụ như trường hợp ông Gaubil (Gaubil does not translate but gives always «le cinq hing») (Legge, The Shoo King, The Great Plan, p. 325)

[5] Ngộ Chân Thiên chi thi vân: Tứ tượng ngũ hành toàn tạ thổ. Hựu vân: Chỉ duyên bỉ thử hoài chân thổ, toại sử kim đan hữu phản hoàn. 悟 真 篇 之 詩 云: 四 象 五 行 全 藉 土. 又 云: 只 緣 彼 此 懷 真 土, 遂 使 金 丹 有 返 還 (Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy, quyển thượng, trang 4)

… Cố năng di luân thiên địa chi đạo, ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố, nguyên thuỷ phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết. 故 能 彌 綸 天 地 之 道, 仰 以 觀 於 天 文, 俯 以 察 於 地 理, 是 故 知 幽 明 之 故, 原 始 反 終, 故 知 死 生 之 說 (Hệ Từ Thượng 繫 辭 上)

[6] «Du même point de vue, on peut observer que toutes les cosmogénies anciennes présentent le monde comme constitué de quatre éléments; le feu, l’air, l’eau, et la terre. La «quintessence» qu’elles considèrent en outre n’est pas un cinquième élément à proprement parler: elle appartient à un ordre de réaltiés subtil, intermédiaire entre l’esprit et la matière, et c’est en quelque sorte, la rnatière immatérielle de la création, contenant unis dans l’indistinction originelle, les principes des quarte éléments.

D’une manière générale, la quintessence symbolise la pure réalité spirituelle par rapport à ses traductions quaternaires, entachées des servitudes d’expression ou d’incarnation. C’est, par exemple, le Christ, Verbe divin, par rapport aux Evangélistes, témoins inspirés participant de sa lumière. La quintessence n’est pas pur symbole, elle a sa réalité propre encore qu’insaisissable aux sens humains…

Quant à la loi du quaternaire dans le temps, il suffit de rappeler ici les quatre âges de l’humanité, les quatre époques de la vie humaine, les quatres saisons de l’année, etc…

Louis Lallement, La vocation de l’Occident, page 24.

[7] Forlong, in his Faiths of man, gives this arrangement:

A – is the earth, or foundation on which all build.

WA – Water as in an egg, or as condensed fire and ether.

RA – fire or the elements in motion.

KA – Air or wind – Juno or Ioni; a condensed element.

CHA – Ether or Heaven, the cosmical Former.

(Cf. Mackey’s Freemasonry encyclopedia, Vol. II, page 615)

[8] Xem Fondement de la mystique tibétaine, page 260-261.

[9] Lễ Ký bình về ngũ hành:

Ngũ hành chi động trật tương kiệt dã. Ngũ hành tứ thời, thập nhị nguyệt, hoàn tương vi bản dã. 五 行 之 動 迭 相 竭 也. 五 行 四 時, 十 二 月, 還 相 為 本 也.

Les cinq éléments se meuvent sans cesse, prenant alternativement la place et anéantissent le pouvoir l’un de l’autre. Dans leurs révolutions, durant les quatre saisons et les douze mois de l’année, chacun d’eux est à son tour comme la base des quatre autres.

Couvreur, Li Ki, page 519.

[10] Cac nước cũng có tứ linh, tứ tượng: Cf. Robert Ambelain, Traité d’astrologie ésotérique, page 155:

Les Quatre branches de la croix symbolisent les quatre angles célestes (Nord, Sud, Est. Ouest), les quatre angles du thème astrologique (AS, DS, FC, MC), les quatre saisons solaires, les quatre étoiles royales qui marquaient dans l’antique Egypte le commencement des saisons; Aldébaran (l’œil du Taureau), Régulus (le cœur du Lion), Antarès (le cœur du Scorpion) et Fomalhaut (La bouche du Poisson austral)

[11] C’est ainsi que le message du Christ a été, transmis en quatre évangiles selon Saint Jean, Saint Mathieu, Saint Marc et Saint Luc dont les différences de nature ont été symbolisées par l’aigle, l’homme, le lion et le bœuf – Saint Irénée auquel remonte cette correspondance établie entre les évangélistes et les animaux d’Ezéchiel, la relie, d’ailleurs expressément aux «quatre régions du monde où nous sommes», et aux «quatre vents principaux».

Irénée (Adversus Hoereses III, II-8)

Louis Lallement, La vocation de l’Occident, page 23.

Khoa chiem tinh cũng có tứ tượng, tứ thú.

Huyền học Rose Croix cũng có tứ tượng như sách Ezéchiel. (Cf. Traité d’Astrologie ésotérique của Robert Ambelain, page 53)

… The Celestial Vulture or Eagle, rising and setting with the Scorpion, was substituted in its place, in many cases, on account of the malign influence of the latter, and thus the four great periods of the year were marked the Bull, the Lion, the Man (Aquarius), and the Eagle, which were upon the respective standards of Ephraim, Judah, Ruben, and Dan and still appear on the shield of American Royal Arch Masonry (Albert Pike, Moral and Dogmas – Knight of the Brazen Serpent)

[12] Celle formule quaternaire semble avoir été l’application d’une loi universelle d’après laquelle quatre modalités d’existence ou d’expression seraient nécessaires pour traduire selon l’espace et le temps un principe spirituel.

Louis Lallement, La vocation de l’Occident, page 23.

[13] Les aspects multiples en lesquels se réfracte, ici-bas, la plénitude ineffable des réalités qui transcendent ce monde de la division, peuvent en règle générale, être en effet ramenés dans chaque cas, à quatre représentations fondamentales; ainsi les quatre animaux de la vision d’Ezéchiel, ou les quatre fleuves en lesquels il est dit qu’au Paradis terrestre se partage la source des eaux vives. C’est là l’un des sens symboliques de la croix, et la vérité que les pythagoriciens ont révérés dans la «tétractys» sacrée, tenant quatre pour le nombre de la création.

(Louis Lallement, la Vocation de’Occident, page 23)

[14] Bốn chữ viết vòng bốn phương trên tức là: Iod, Hé, Vau, Hé = IVHV = Jéhovah = Thượng Đế.

[15] Lễ Ký – Nguyệt Lệnh. Couvreur, Li Ki, từ trang 330 đến 410.

[16] Legge dịch là «The five essentials to human life». (James Legge, The Shoo King, p. 326)

[17] Vũ viết: Ư đế niệm tai. Đức duy thiện chính, chính tại dưỡng dân. 禹 曰: 於 帝 念 哉. 德 惟 善 政, 政 在 養 民. (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 7)

[18] Thủy, hỏa, kim, mộc, thổ, cốc duy tính tu. Chính đức lợi dụng hậu sinh. 水, 火, 金, 木, 土, 穀 惟 修. 正 德 利 用 厚生 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 7)

Dụng thủy hỏa kim mộc, ẩm thực tất thời. 用 水, 火, 金, 木 飲 食 必 時. Couvreur bình dịch như sau: La pêche, l’extraction du sel et des métaux, la coup du bois avaient lieu aux époques convenables.

Lễ Ký – Lễ Vận. Couvreur, Tome I, 535.

[19] Thiết tưởng nguyên tắc này cũng cần được áp dụng vào nghệ thuật trị dân.

[20] Mạnh Tử – Ly Lâu hạ, 26. Đoàn Trung Còn dịch, trang 57-59. và Mạnh Tử – Cáo Tử hạ, 11. Đằng Văn Công thượng, 3.

[21] Xem La longue marche des Mormons trong Sélection Octobre và Novembre 1965.

[22] Xem André Lamorte, La Bible et le plan de Dieu. Chapitre VI, pages 92 et ss.

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 2

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI BIẾT PHƯƠNG PHÁP TU THÂN

Thiên tử phải biết mình, biết người, biết phương pháp gây uy tín, tăng gia kiến thức, giá trị nội tại. Ngoài phải đoan trang, biết đàng ăn nói, biết nghe, biết nhìn, biết suy xét. [1]

Hồng Phạm viết:

Hai là năm việc: một là dáng điệu, hai là nói năng, ba là trông nhìn, bốn là nghe ngóng, năm là nghĩ ngợi. Dáng điệu phải kính cẩn, nói năng phải hợp lý, trông nhìn phải sáng suốt, nghe ngóng phải tinh tế, nghĩ ngợi phải thấu triệt. Kính cẩn sẽ nghiêm trang; hợp lý sẽ trật tự; sáng suốt sẽ khôn ngoan; tinh tế sẽ mưu lược; thấu triệt sẽ thánh thiện.[2]

Đó chính là đường lối cho nhà vua tiến tới minh triết, hiền thánh.

Phương pháp tiến tới minh triết, hiền thánh thật cũng rất là giản dị; chỉ cần tận dụng khai thác các quan năng mình; con tim, khối óc mình, cho nó rung động lên, rực rỡ lên, và thành khẩn đón nhận tinh hoa nhân loại.

Nguyên tắc chính vẫn là muốn trị người, trước phải trị mình.

Đức Khổng nói trong Luận Ngữ: «Như người nào đã sửa trị lấy mình, thì đứng ra cai trị thiên hạ có khó gì. Nhược bằng chẳng cai trị được mình, thì làm sao cai trị nhân dân được?» [3]

Ta có thể dùng Luận Ngữ, Mạnh Tử để bình giải thiên này.

Đức Khổng nói: «Người quân tử có chín mối xét nét:

1- Khi trông thì cố trông cho minh bạch.

2- Khi nghe thì lắng nghe cho tỏ rõ.

3- Sắc mặt giữ cho ôn hòa.

4- Tướng mạo giữ cho khiêm cung.

5- Nói năng thì giữ bề trung thực.

6- Làm việc thì trọng sự kính cẩn.

7- Có điều nghi hoặc thì liệu thế hỏi han.

8- Khi giận thì nghĩ đến hoạn nạn có thể xảy ra.

9- Khi thấy mối lợi, liền nhớ đến điều nghĩa.» [4]

Người xưa rất chú trọng đến lời ăn, tiếng nói, vì lời lẽ phản ảnh tâm hồn con người.

Mạnh Tử nói: «Nghe ai thốt ra lời nghiêng lệch bất công, ta biết rằng lương tâm kẻ ấy bị mối tư dục che án. Nghe ai thốt ra lời phóng đãng, ta biết rằng tâm ý kẻ ấy bị chìm đắm. Nghe ai thốt ra lời tà ác, ta biết lòng dạ kẻ ấy rời khỏi đường chính nẻo thiện. Nghe ai thốt ra lời đần độn, ta biết tâm trí kẻ ấy cùng quẫn chẳng thông. Nhà cầm quyền nếu tâm không minh chính, thiên lệch, u mê, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng xấu đến chính sự, sẽ hại cho việc nước. Dẫu thánh nhân trở lại cõi này cũng sẽ công nhận lời ta vậy.» [5]

Tăng Tử cho rằng:

Bậc quân tử ở ngôi trên, quí trọng đạo đức, có ba điều:

1- Cử chỉ dung mạo nên tránh lối bạo ngược khinh lờn.

2- Dung nhan nên sửa cho thành tín ngay thật.

3- Lời nói nên tránh lối thô bỉ, bạo nghịch. [6]

Ông Tử Trương hỏi đức Khổng: «Phải làm gì mới đáng là người gánh việc nước?»

Đức Khổng đáp: «Người gánh vác việc nước phải tôn trọng năm việc tốt, trừ tuyệt bốn việc xấu.»

Tử Trương hỏi: «Sao gọi là năm việc tốt?»

Đức Khổng đáp:

«1- Người quân tử cầm quyền thi thố ân huệ cho dân mà chẳng hao tốn tiền của.

2- Khiến dân làm việc cực nhọc mà họ chẳng oán ghét.

3- Có lòng ưa thích mà chẳng mang tiếng tham.

4- Tướng mạo thư thái mà chẳng có vẻ kiêu hãnh.

5- Oai nghiêm đằm thắm mà chẳng có vẻ hung dữ.»

Tử Trương hỏi thêm: «Sao gọi là thi thố ân huệ cho dân mà chẳng hao tốn tiền của?»

Đức Khổng giải: «Mình nương theo chỗ lợi của dân mà mở mang nguồn lợi cho họ nhờ, như vậy chẳng phải là thi thố ân huệ cho dân mà chẳng hao tốn tiền của sao? Mình chọn việc nào đáng làm mà phải lúc mới khiế dân ra công nhọc sức; như vậy còn ai oán ghét mình. Mình chuộng điều nhân thì được nhân, như vậy lại mang tiếng tham sao?»

Người quân tử đối với người chẳng luận là nhiều hay ít, lớn hay nhỏ, chẳng hề dám khinh dễ ai; như vậy chẳng phải là thư thái mà chẳng kiêu hãnh sao? Người quân tử mũ miện ngay ngắn, áo xống chỉnh tề, nhìn ngó một cách nghiêm trang, oai nghi nghiễm nhiên, khiến người trông vào mà kính sợ, như vậy chẳng phải là oai nghiêm đằm thắm mà chẳng có vẻ hung dữ sao?

Tử Trương hỏi thêm: «Sao gọi là bốn việc xấu?»

Đức Khổng đáp: «1- Nhà cầm quyền chẳng giáo hóa cho dân biết nghĩa vụ phép tắc, bởi đó dân phản bội, nhà cầm quyền bèn đem giết đi, như vậy gọi là ngược.

2- Trước chẳng dặn bảo người cho rành rẽ, kế buộc người làm xong công việc một cách cấp tốc, như vậy gọi là bạo.

3- Tự mình ra lệnh một cách giải đãi; rồi kỳ hạn cho người làm cho chóng; như vậy gọi là tặc.

4- Khi cho ai vật gì, thì so hơn tính thiệt một cách biển lận, đó là cử chỉ của một viên chức nhỏ.» [7]

Mạnh Tử chủ trương: nếu có đức độ, trị dân chúng chẳng khó. Ông nói cùng Tề Tuyên Vương:

«Mình kính trọng bực cha anh mình, rồi do nơi mối tình ấy mình kính trọng bực cha anh của mọi người; mình thương tưởng hàng con em mình, rồi do nơi mối tình ấy, mình thương tưởng hàng con em của mọi người. Nếu vua làm được như vậy, Ngài sẽ cai trị thiên hạ dễ dàng như trở bàn tay.

Kinh Thi viết: «Văn Vương trước làm gương mẫu cho vợ con mình, kế làm gương mẫu cho anh em mình, nhờ đó mà ngài yên trị từ việc nhà đến việc nước.»

Thế nghĩa là: mình chỉ cần cho tấm lòng nhân đức của mình nó lan tràn ra từ chỗ gần mà lần ra chỗ xa vậy. Cho nên người thi ân bá đức cho rộng ra thì đủ sức bảo hộ bốn biển; mà người chẳng thi ân bá đức thì chẳng thể giữ gìn vợ con mình. Các vua đời xưa sở dĩ hơn người thường, vì các ngài khéo phát triển những hành vi về đạo nghĩa của mình mà thôi.» [8]

Mạnh Tử nói: «Dùng lực mà thu phục người, thì người ta chì phục mình bề ngoài nhưng tâm chẳng phục, ấy là tại người ta chẳng đủ sức mà đương cự với mình. Còn như dùng nhân đức mà thâu phục người thì người ta vui lòng mà tùng phục mình, một cách thành thật như bảy mươi vị đệ tử phục đức Khổng Tử vậy.»

Kinh Thi viết:

«Bất phân Nam, Bắc, Tây, Đông,

Bốn phương đâu đấy phục tòng Văn Vương.»

Mấy lời ấy tỏ ra sự tâm phục. [9]

Tóm lại muốn trị dân, phải đủ trí, nhân, trang, lễ. [10]

oOo

—————————————

CHÚ THÍCH

[1] Tu thân dạ chẳng suy vi,

Gương lòng vằng vặc quang huy rỡ ràng.

Trang nghiêng mũ áo đường hoàng,

Những điều dang dở chẳng làm chẳng nghe.

Muốn khuyến hiền hãy chê nịnh hót,

Hãy tránh xa sắc tốt lả lơi.

Khinh tài trọng nghĩa không ngơi,

Treo gương hiền đức cho đời soi chung.

[2] Xem bản dịch của Wieger trong Textes philosophiques, chapitre II, la Grande Règle, p. 29.

Có người bình đoạn này như sau: Thứ tự năm công việc này diễn tiến theo đà khai triển của con người (từ thô đến tinh, từ biểu tới lý).

Bé thì múa may, vận động, rồi kêu gào, rồi trông nhìn, nghe ngóng; cuối cùng mới biết suy nghĩ… Sự suy nghĩ cũng lại diễn biến từ thô tới tinh, y như việc làm của người đào giếng: mới đào chỉ có bùn đục, mãi sau, nước mới trong dần.

Xem Wieger, Textes philosophiques, chapitre II, la Grande Règle, p. 28.

Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Đông Phương, quyển I, trang 125.

[3] Luận Ngữ – Tử Lộ, 13. – Quí Thị, 10. – Thái Bá, 5. – Nghiêu Viết, 2.

[4] Luận Ngữ – Quí Thị, 10.

[5] Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng, 2.

[6] Luận Ngữ – Thái Bá, 5.

[7] Luận Ngữ – Nghiêu Viết, 2.

[8] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng, 6.

[9] Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng, 3.

[10] Luận Ngữ – Vệ Linh Công, 33. – Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 33.

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 3

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI BIẾT PHƯƠNG PHÁP TRỊ DÂN

Thiên tử biết thiên nhiên, biết mình chưa đủ, còn phải biết cai trị muôn dân. Trị dân thật là nhiêu khê phức tạp, nếu xét về chi tiết, nhưng giản dị nếu xét về cương lĩnh. Cương lĩnh trị dân gồm tám mối. Trị dân tức là lo cho dân:

1- No ấm

2- Sung túc đủ tiện nghi

3- Có lễ nghi, tế tự

4- Có nhà cửa đất đai

5- Có một nền giáo hóa hẳn hoi

6- Khỏi bị gian ác đạo tặc quấy nhiễu

7- Biết đường tiếp nhân, xử thế

8- Được bảo vệ tính mệnh và tài sản trước nạn ngoại xâm, nhờ có binh hùng tướng mạnh.

Đó là đại ý chương 3 Hồng Phạm. [1]

Hồng Phạm viết:

BA là bát chính:

Một là ăn uống,

Hai là của cải,

Ba là tế tự

Bốn là Tư Không (coi về đất đai),

Năm là Tư Đồ (coi về giáo dục),

Sáu là Tư Khấu (coi về tư pháp),

Bảy là Tân Khách (tiếp khách),

Tám là Binh Lương (quân sự). [2]

Đó chính là tám điểm trọng yếu trong công cuộc trị dân.

Luận Ngữ và Mạnh Tử có rất nhiều đoạn bình luận về các điểm này.

Tử Cống hỏi về cách cai trị. Đức Khổng đáp: «Đủ lương thực, đủ binh lực, có tín ngưỡng.» [3]

Đức Khổng đến nước Vệ, ông Nhiễm Hữu đánh xe hầu Ngài. Đức Khổng khen: «Dân nước Vệ đông thay!» Ông Nhiễm Hữu hỏi: «Dân đã đông, nhà cầm quyền phải làm gì cho họ nhờ?» Đáp: «Phải giúp cho họ trở nên giàu có.» Hỏi: «Họ đã giàu có rồi, nhà cầm quyền phải làm gì cho họ nhờ?» Đáp: «Phải giáo hóa họ.» [4]

Mạnh Tử cũng viết:

«Làm người ai cũng có đạo lý, chứ như đã được ăn no, mặc ấm, ở yên mà chẳng có giáo dục thì gần với loài thú rồi đó, cho nên bậc thánh nhân (Nghiêu, Thuấn) lấy làm lo lắng về việc ấy. Hai Ngài bèn cử ông Tiết làm quan Tư Đồ, giao phó việc giáo hóa, cho dân biết ăn ở theo nhân luân: giữa cha con có tình thân ái; giữa vua tôi có mối danh nghĩa; giữa chồng vợ có sự phân biệt; giữa anh em có thứ tự; giữa bạn bè có niềm tin thật…

Tóm lại mình nên thi hành mọi phương pháp cho dân trở lại với tính bản thiện của họ, và mình cũng nên ra ân huệ để giúp cho họ phấn chấn trên đường đức hạnh.» [5]

Mạnh Tử còn chủ trương:

«Đem của cải phân phát cho người, đó kêu là huệ; dùng lẽ thiện mà dạy người, đó là trung; vì thiên hạ mà quyết kiếm cho được người giúp mình trong cuộc cai trị, đó là nhân. Bởi vậy cho nên truyền ngôi cho người cai trị thiên hạ thì dễ, mà vì thiên hạ quyết kiếm cho được người biết cai trị thì khó.» [6]

Vì thế đạo Nho có câu: «Đấng quân vương phải lo liệu cho dân cũng như giữ gìn con đỏ.»[7]

Đem no ấm, bình an, hạnh phúc lại cho dân, đó là trọng tâm công tác của các vị thánh vương Trung Hoa.

Những phương pháp đã được thực thi, cốt cho dân được ấm no, hạnh phúc đại khái như sau:

A. Quân phân ruộng đất cho dân.

Các vị thánh vương xưa chia ruộng đất cho dân, theo phép tỉnh điền. Chế độ này bắt đầu từ thời Hoàng Đế và được biến chế qua các thời đại Hạ, Thương, Chu. [8]

Đại khái mỗi gia đình, tùy theo triều đại, được cấp phát từ 50 đến 100 mẫu ruộng. Cứ 8 gia đình lại họp sức nhau làm giúp nhà nước một khoảnh ruộng ở chính giữa, cũng rộng từ 50 đến 100 mẫu.

Thế tức là nhà nước cấp phát điền sản cho dân, nhưng ngược lại, thu một phần mười lợi tức của dân. [9]

Mạnh Tử nói:

«Đấng minh quân chế định điền sản, chia cho dân cày cấy, cốt cho họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi nấng vợ con. Nhằm năm được mùa, thì mãi mãi no đủ; phải năm thất bát, thì khỏi chết đói. Được vậy rồi, vua mới khiến dân làm thiện. Tự nhiên họ sẽ làm điều thiện dễ dàng…» [10]

B. Không được bắt dân làm phu phen trái mùa, không được thu thuế quá nặng. [11]

Mạnh Tử nói: «Nếu chính quyền chẳng đoạt mất thời giờ cấy gặt của những gia đình làm ruộng trăm mẫu thì trong nhà tám miệng ăn chẳng đến nỗi đói khổ.» [12]

C. Khuyến khích dân chúng sản xuất thật nhiều và biết dành dụm, không hoang phí.

Đại Học (chương X) viết: «Muốn cho trong nước được nhiều của cải, có phương pháp trọng đại này: Số người làm việc sinh lợi càng ngày càng nhiều, số người ăn xài phung phí càng ngày càng ít; những kẻ làm ra của cải phải cho mau mắn siêng cần; những kẻ tiêu dùng phải cho thư thả từ từ.»

D. Khuyến khích bách công bách nghệ bằng cách tưởng thưởng, thi đua.

Trung Dung (chương XX) viết:

«Muốn cho công nghệ mở mang,

Luôn luôn theo dõi, thời thường thi đua.

Đem lúa gạo thưởng cho xứng đáng.

Là mọi nghề cố gắng ra công.»

Đ. Các gia đình quyền quí nên tránh kinh doanh, để khỏi đi đến chỗ tranh cướp, bóc lột dân đen.

Đại Học (chương X) viết: «Nhà ai đủ sức sắm xe bốn ngựa, chớ để ý đến việc nuôi gà.

Nhà ai có đủ sức chứa nước đá ướp lễ vật, chớ nuôi bò, dê, tranh lợi với dân.

Nhà ai có trăm cỗ xe, chẳng nên nuôi dưỡng những bầy tôi thu góp hoa lợi hay thuế má gắt gao.

Thà mình có bầy tôi ăn cắp của mình còn hơn có bầy tôi bóc lột nhân dân.»

E. Nhà vua phải lấy lòng dân, chứ đừng lấy của dân.

Đại Học (chương X) viết: «Nếu bậc cai trị nước mà chỉ lo vơ vét tài sản của dân, ắt sẽ có kẻ tiểu nhân xúi giục. Kẻ ấy khéo bày vẽ, bợ đỡ, làm cho mình tin nó là hiền lành, giỏi giang; bèn giao quyền cao, chức trọng cho nó, mà kẻ tiểu nhân khi nắm được chính sự rồi, tất nhiên các cuộc tai họa khốc hại sẽ xảy ra. Bấy giờ dẫu có các trang hiền đức tài hoa cũng không cứu nổi nữa. Mới hay: Bậc trị quốc chẳng nên lấy lợi làm ra lợi, phải lấy đức làm ra lợi.»

Trong công cuộc trị dân, các vị thánh vương xưa rất quan tâm đến vấn đề tế tự, [13] vì thế ta thấy trong «bát chính» việc tế tự đứng hàng thứ ba, ngay sau vấn đề cơm áo. Ý nói cơm áo chưa đủ, còn cần có tín ngưỡng.

Các vị đế vương phụ trách việc tế lễ Trời, còn dân chúng lo việc thờ cúng tổ tiên. Cử chỉ ấy nhắc nhở chúng dân đừng quên gốc gác mình, đừng bao giờ quên Trời đã sinh ra mình. [14]

Nó cũng nhắc nhở con người sinh ra không phải để mê mải chuyện trần hoàn, mà thực ra cốt để trở nên hoàn thiện, tìm kiếm lại đức Trung [15] cao quí mà Trời đã phú cho, tìm lại sự hoàn thiện nguyên thủy, để đi đến chỗ «phối thiên», «phối mệnh» mà Trung Dung [16] cũng như Kinh Thi [17] đã nhiều lần đề cập tới. Như vậy đời sống mới có đầu đuôi, nghĩa lý. [18]

Vả, nếu không có Trời, thì lấy gì làm nền tảng cho nền luân lý, chính trị?

Xuân Thu Tả Truyện viện dẫn Kinh Thi để chứng minh điều đó. [19]

Kinh Thi viết: «Tại sao các người không kính sợ nhau. Thế là các người không kính sợ Trời vậy.» [20]

Một người quân tử cầm quyền thì không bạo ngược với kẻ hèn yếu, là vì kính sợ Trời vậy. [21]

Chu Tụng viết: «Ta kính sợ oai Trời, nên ta được Trời bảo hộ.» [22]

Lễ Ký viết: «Vạn vật đều gốc gác ở Trời, con người gốc gác ở tiên tổ, cho nên làm lễ Giao là để phối hợp với Thượng Đế, tỏ lòng tri ân nguồn gốc mình, và quay về với cội rễ đầu tiên vậy.» [23]

Khi đã lo cho dân no ấm, đã dạy dân biết kính sợ Trời, biết hiếu thảo với tổ tiên, các vị thánh vương sẽ giáo hóa cho dân trở nên ngay chính, ngõ hầu mang an bình lại cho xứ sở.

Theo nguyên nghĩa, «chính» [24] tức là làm cho dân trở nên ngay chính và «trị» tức là đem sự bình an thịnh trị lại cho dân.

Các vị thánh vương xưa đã nhận xét thấy một cách rất tinh tế rằng mầm mống loạn lạc ở ngay trong tâm hồn con người, gây nên bởi tình dục con người, mà những duyên cớ loạn lạc là do các tệ đoan trong xã hội. [25]

Cho nên một mặt cố gắng dẹp các tệ đoan trong xã hội, một mặt hô hào dân chúng tu thân.

Mà hô hào suông chưa đủ, chính nhà vua phải ra công tu thân tích đức trước tiên….

Cho nên Đại Học nói: «Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, giai dĩ tu thân vi bản.»

Nếu mọi người trong nước từ trên chí dưới ai cũng cố gắng ăn ở cho phải đạo làm người, kính trên nhường dưới, thương xót kẻ bần hàn, trong nhà thì hòa mục hiếu đễ, ra đường thì kính tôn, nhân nhượng, đối với bạn bèn thì chung thủy, đối với mọi người thì tín nghĩa, không ai vì lợi quên nghĩa, vì lợi quên tình, và nếu ai cũng theo châm ngôn «Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân» (Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người), thì làm sao mà bốn phương không an bình được ?

Công cuộc xây dựng bình an trật tự đòi hỏi sự cộng tác chân thành của mọi người, mà càng người trên lại càng phải nêu gương sáng trước.

Luận Ngữ viết: «Nếu bậc lãnh đạo quốc gia mà chính đính, thì còn ai dám ăn ở bất chính.» [26]

Luận Ngữ còn nói: «Người hiếu thảo với cha mẹ, hòa thuận với anh em, tức là thi hành chính trị từ nơi nhà mình. Đó là làm chính trị rồi. Đợi chi tới ra làm quan, mới làm chính trị.» [27]

Trung Dung (chương 33) viết: «Suy rộng ra, nếu ai cũng dốc một lòng chính trực, thì thiên hạ lo chi chẳng an bình…» [28]

Cho nên một nền giáo hóa phổ cập tới toàn dân sẽ là công cụ đem an bình lại cho đất nước.

Mạnh Tử sau khi đề cập tới một chế độ điền địa khả dĩ có thể đem no ấm lại cho dân, liền đề cập tới việc giáo hóa. Ông minh chứng rằng thời Hạ, Thương, Chu từ các trường làng ra tới trường học ở kinh thành, tất cả đều có mục đích dạy dân biết rõ nhân luân. Vì nếu người trên hiểu rõ nhân luân giữ đúng cương thường, thì người dưới sẽ thân mến hòa mục với nhau. [29]

Dẫu sau này có bậc vương giả nào ra đời, ắt cũng giữ theo hai phép ấy. [30]

Nếu mọi người cố gắng ăn ở cho xứng đạo làm người thì bình an đâu có khó.

Mạnh Tử nói: «Đạo ở gần sao cứ tìm ở xa xôi, việc thiện dễ làm, sao cứ chuốc mua khó khăn rắc rối! Nếu ai cũng thương yêu họ hàng, trọng kính người trên, thì thiên hạ sẽ thái bình.» [31]

Cho nên đấng quân vương nêu gương nhân đức, thánh thiện chưa đủ, còn phải biết kích động lòng dân, giáo hóa dân, khuyến khích dân, để họ hào hứng đua nhau làm điều thiện, như vậy mới là một nhà chính trị giỏi. [32]

Các đấng thánh vương thực ra chỉ áp dụng những sự hiểu biết chính xác về con người, về bản tính con người, chỉ khai thác các khả năng vô tận của con người, chỉ hướng dẫn con người một cách khéo léo mà thôi.

Người xưa quan niệm rằng: con người sinh ra đời đã được Trời phú bẩm cho một thiên tính toàn thiện. Nhưng vì vật dục lôi cuốn, hoàn cảnh đẩy đưa, vì đói khát, vì dốt nát, con người dần dà sa đọa vào vòng lầm lạc tội lỗi. Tuy nhiên «thiên lương» trong con người thực ra chỉ bị lu mờ đi, chứ không bao giờ bị phôi pha hay hủy diệt, vì thế có thể dùng giáo hóa để cải hóa con người, phục hồi thiên lương, thiên tính họ. Việc ấy chắc chắn có thể thực hiện được.

Muốn giáo hóa cải thiện con người, cổ nhân hết sức khai thác những định luật nhân sinh, như định luật cảm ứng (loi du magnétisme et de l’induction), định luật phản ứng dây chuyền (loi des réactions en chaînes). Nói cách khác, chủ trương nếu người trên đức hạnh, người dưới sẽ cảm hóa, sẽ bắt chước, một người làm lành, trăm người dần dần sẽ đua theo, và khi đã gây được một trào lưu rộng rãi, thì ảnh hưởng sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ. [33]

Đại Học (chương 9) viết: «Một nhà nhân đức có thể làm cho cả nước nhân đức; một nhà lễ nhượng, có thể làm cho cả nước lễ nhượng. Một người tham nhũng có thể làm cho cả nước rối loạn. Cái cớ là vậy. Vì thế có câu: Một lời có thể làm hư cả công việc, một lời có thể làm yên cả đất nước.»

Đại Học (chương 10) lại viết: «Nếu bậc quốc trưởng ở trên cung kính cha mẹ, thì dân ở dưới cảm động mà ăn ở hiếu thảo với mẹ cha. Nếu bậc quốc trưởng ở trên trọng kính huynh trưởng, thì dân ở dưới cảm động mà ăn ở lễ nhượng với bậc đàn anh. Nếu bậc quốc trưởng ở trên thương xót kẻ côi cút, thì dân ở dưới cảm động mà cứu giúp kẻ nghèo khổ, chẳng dám trái nghịch. Thế là bậc quân tử có phép thước tấc vậy.»

Phép «thước tấc» (hiệt củ) tức là phép «suy bụng ta ra bụng người», tức là chủ trương «kỷ sở bất dục vật thi ư nhân» của Luận Ngữ.[34] Đại Học (chương 10) coi đó là phương pháp độc đáo khả dĩ tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Biết «suy bụng ta ra bụng người», tức là biết cách trị dân, biết thuận «dân tâm». [35]

Cai trị dân, mà biết yêu điều dân yêu, ghét điều dân ghét, mình với dân hòa hài như cá với nước thì còn gì sung sướng hơn. Vì thế Đại Học viết:

«Sướng thay bậc phụ mẫu dân

Cùng dân yêu ghét, mọi phần chẳng sai.

Đáng làm cha mẹ muôn người.» [36]

Một nền chính trị có chủ trương như vậy dĩ nhiên coi nhẹ hình pháp và tư pháp.

Các thánh vương xưa trị dân bằng đức độ, bằng lễ nghĩa, chứ không muốn đem luật lệ câu thúc dân, hình pháp bức bách dân. [37]

Hình pháp, tụng đình chỉ là những biện pháp tạm thời bất đắc dĩ, có ngày sẽ hủy bỏ. [38]

Cho nên vua Đại Võ và ông Cao Dao đã đặt mấy nguyên tắc cho nền hình pháp như sau:

1- Phán quan phải khoan hậu.

2- Không được phạt tới con cháu.

3- Tha các tội phạm vì vô tình.

4- Nhân nhượng đối với nghi tội. Quảng đại đối với nghi công.

5- Lỗi án lệ còn hơn giết oan người.

6- Phán quan phải tỏ cho dân biết đức hiếu sinh của nhà vua. [39]

Xuân Thu Tả Truyện chép:

Người xưa trị dân, thích thưởng, ngại phạt. [40] Thưởng mùa hạ, phạt mùa đông.

Khi tới kỳ thưởng, bữa ăn bày thêm món, và cho tả hữu ăn uống thỏa thích, để tỏ lòng ham thưởng. Khi tới kỳ phạt, bữa ăn rút bớt món, bỏ âm nhạc, để tỏ lòng ngại phạt… [41]

Gia hình, phạt tội tuy cần, nhưng tìm hiểu lý do khiến dân phạm tội, còn cần hơn gấp bội. Nếu vì chính quyền thất thố, thối nát khiến dân đói khát, khổ sở, sa ngã vào vòng tội lệ, mà không thay đổi đường lối cai trị, cứ lo phạt dân, hành dân thì sao phải?

Mạnh Tử viết: «Nếu nền hành chính thối nát, để dân đói khổ, tức là nhà cầm quyền xô dân vào tội ác. Thế mà khi dân phạm tội, lại trừng phạt thẳng tay, thì có khác nào nhà cầm quyền bủa lưới bắt dân đâu! Nếu có một bậc nhân đức lên ngôi vị, người há bủa lưới gài bẫy dân sao?» [42]

Các bậc thánh vương xưa không quên lập ra những lễ tiết, những dịp vui chung, để dân tỏ tình quí mến nhau, thắt chặt lại mối dây thân ái, tạm quên mọi chia phôi ngăn cách trong xã hội, để sống vui tươi cởi mở. Đó là bước đầu dẫn tới một thế giới hòa hợp, thân ái, hoan lạc, hạnh phúc trong tương lai.

Sau hết, «bát chính» đề cập tới vấn đề binh bị, nhưng lại cố ý xếp nó xuống cuối cùng, tỏ ra các bậc thánh vương xưa coi binh đao là chuyện bất đắc dĩ.

Thái độ của Võ Vương, [43] của Khổng Tử [44] cho ta thấy rõ điều ấy.

Xuân Thu Tả Truyện phỏng theo Kinh Thi, xác định mục đích của các cuộc động binh như sau:

1- Ngăn chặn bạo quyền, áp bức.

2- Đánh dẹp can qua.

3- Giữ gìn các giá trị cao đại.

4- Bảo tồn các công trình đã rhực hiện được.

5- Đem an ninh hòa hiếu tới cho dân.

6- Gây dựng lại sự trù phú cho dân tộc. [45]

Kinh Thi khen Võ Vương:

«Nhà Châu vinh hiển biết bao!

Định ngôi Vương tướng thấp cao tỏ tường

Thâu hồi gươm giáo đao thương,

Cung tên cũng đã lo lường tra bao.

Rằng ta tu tập đức cao,

Đức ta sẽ rạt, sẽ rào bốn phương.

Ngôi vua ắt sẽ cửu trường.» [46]

oOo

Hết thiên 3

————————–

CHÚ THÍCH

[1] Luận Ngữ – Vệ Linh Công, 32.

Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 3.

[2] Medhurst translates «Bát chính», «the eight regulators», and Gaubil les huit règles du gouvernement. It means the eight things to be attended to in government, its objects or departments. They seem to be stated in the order of their importance in the view of the speaker. «Food» belong to the department of agriculture, and commodities or goods to that of trade and commerce. Those two things being secured, the people would have the essentials of life and would be able to attend to their duties to spiritual beings and to the dead.

Then would come in the Ministers of works to secure the comfort of their dwellings, and the minister of instruction to teach them all their moral duties; and the minister of crime to deter them from evil. All festive ceremonies, all the intercourse of society could then be regulated, and finally the efficiency of the army would be maintained to secure the general well- being of the state. (Legge, The Shoo King, p. 327).

[3] Luận Ngữ – Nhan Uyên, 7.

[4] Luận Ngữ – Tử Lộ, 9.

[5] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 4. Đọc thêm: Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng, 3; Đằng Văn Công thượng, 3.

[6] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 4

[7] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 4. Xem thêm Đại Học chương X.

[8] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng, 7. Xem Lễ Ký – Vương Chế, 3.

[9] Nhà Hạ cấp cho mỗi gia đình 50 mẫu; thu hoa lợi trung bình của 5 mẫu (phép Cống).

Nhà Ân cấp cho mỗi gia đình 70 mẫu; nhưng mỗi gia đình lại phải cộng tác với 7 gia đình khác làm 70 mẫu công điền ở giữa (phép Trợ).

Nhà Thương cấp cho mỗi gia đình 100 mẫu; nhưng tám gia đình lại họp nhau lại làm 100 mẫu công điền ở giữa (phép Triệt).

Cf. Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 3. Đọc thêm: Lương Huệ Vương thượng, 7; Vạn Chương hạ, 2.

[10] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng, 7.

[11] Trung Dung chương 20.

[12] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng, 7.

[13] Cf. Xuân Thu Tả Truyện – Hoàn Công năm thứ VI. «Thị dĩ thánh vương, tiên thành dân, nhi hậu trí lực ư thần.» 是 以 聖 王, 先 成 民, 而 後 致 力 於 神 (Couvreur, Xuân Thu Tả Truyện, quyển 1, trang 88.)

[14] … Les sacrifices par lesquels, l’homme remontant à l’origine et à la source, remercie des bien reçu. Cf. Wieger, Textes historiques, chapitre II – la Grande Règle, page 29.

[15] Duy hoàng thượng đế giáng trung vu hạ dân. Nhược hữu hằng tính, khắc tuy quyết du duy hậu. 惟 皇 上 帝 降 衷 于 下 民. 若 有 恆 性, 克 綏 厥 猷 惟 后 (Kinh Thư – Khang Cáo)

[16] Cố viết phối Thiên 故 曰 配 天 (Trung Dung chương 30)

[17] Vĩnh ngôn phối mệnh 永 言 配 命 (Kinh Thi – Đại Nhã, Văn Vương)

[18] Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy 物 有 本 末, 事 有 終 始 (Đại Học chương I)

… Bất thành vô vật. Thị cố quân tử thành chi vi quý. 不 誠 無 物. 是 故 君 子 誠 之 為 貴 (Trung Dung chương 25)

[19] Xuân Thu Tả Truyện – Văn Công năm thứ XV. Xem Xuân Thu Tả Truyện Couvreur dịch, quyển I, trang 531.

[20] Xem Kinh Thi – Tiểu Nhã, Kỳ Phụ. Vũ Vô Chính, chương 3: «Hồ bất tương úy. Bất úy vu Thiên.» 胡 不 相 畏, 不 畏 于 天.

[21] Xuân Thu Tả Truyện – văn Công năm XV. Bản dịch của Couvreur, quyển I, trang 531.

[22] Kinh Thi – Chu Tụng Thơ VII: Ngã Tương, chương 3: «Úy thiên chi uy, vu thời bảo chi.» 畏 天 之 威, 于 時 保 之.

[23] Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ. Thử sở dĩ phối Thượng Đế dã. Giao chi tế dã, đại báo bản phản thủy dã. 萬 物 本 乎 天, 人 本 乎 祖. 此 所 以 配 上 帝 也. 郊 之 祭 也, 大 報 本 反 始 也 (Lễ Ký – Giao Đặc Sinh, 8)

[24] Chính giả, chính dã. 政 者 正 也 (Luận Ngữ – Nhan Uyên, 16)

[25] Các thánh nhân thánh vương thường không tính đến một điều khác, là sự xâm lăng của ngoại bang, nên ít chú trọng đến binh lực. Dụng binh là điều bất đắc dĩ. Thế giới trong tương lai cũng sẽ dẹp binh bị, vì con người sẽ không còn có ý nghĩ xâm chiếm nhau, mà giúp đỡ nhau.

[26] Luận Ngữ – Nhan Uyên, 16.

[27] Luận Ngữ – Vi Chính, 21.

[28] Dĩ tuần trí hồ đốc cung nhi thiên hạ bình chi thịnh. 以 馴 致 乎 篤 恭 而 天 下 平 之 盛 (Trung Dung chương 33)

[29] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 3: Hạ viết hiệu, Ân viết tự, Chu viết tường. Học tắc tam đại cộng chi. Giai sở dĩ minh nhân luân dã. Nhân luân minh ư thượng, tiểu dân thân ư hạ. 夏 曰 校, 殷 曰 序, 周 曰 庠. 學 則 三 代 共 之. 皆 所 以 明 人 倫 也. 人 倫 明 於 上, 小 民 親 於 下.

[30] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 3: Hữu vương giả khởi, tất lai thủ pháp. 有 王 者 起, 必 來 取 法.

[31] Mạnh Tử – Ly Lâu thượng, 11.

[32] Mạnh Tử – Ly Lâu hạ, 16.

[33] Xem A- Đại Học chương 1: Chủ trương tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

B- Kinh Thư – Nghiêu Điển, 2: Khắc minh tuấn đức, dĩ thân cửu tộc. cửu tộc ký mục, bình chương bách tính. bách tính chiêu minh, hiệp hoà vạn bang. 克 明 俊 德, 以 親 九 族. 九 族 既 睦, 平 章 百 姓. 百 姓 昭 明, 協 和 萬 邦.

C- Luận Ngữ – Nhan Uyên, 18: Tử vi chính, yên dụng sát ?Tử dục thiện, nhi dân thiện hĩ. Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo. Thảo thượng chi phong tất yển. 子 為 政, 焉 用 殺? 子 欲 善, 而 民 善 矣. 君 子 之 德 風, 小 人 之 德 草. 草 上 之 風 必 偃.

D- Mạnh Tử – Ly Lâu thượng, 6: nhất quốc chi sở mộ, thiên hạ mộ chi.  Cố bái nhiên đức giáo dật hồ tứ hải 一 國 之 所 慕, 天 下 慕 之. 故 沛 然 德 教 溢 乎 四 海. (Một nước mà ái mộ, thiên hạ sẽ ái mộ. Chừng đó đức hạnh và giáo hóa mình sẽ lan tràn trong bốn biển, mau lẹ và mạnh mẽ như thác tuôn.)

[34] Luận Ngữ – Vệ Linh Công, 21. Pháp dịch là La Règle de la Réciprocité, hay là Règle d’Or.

[35] Xem Đại Học chương 10.

[36] Đại Học chương 10: Thi vân: «Lạc chỉ quân tử, dân chi phụ mẫu» Dân chi sở hiếu hiếu chi; dân chi sở ố ố chi, thử chi vị dân chi phụ mẫu 詩 云: 樂 只 君 子, 民 之 父 母. 民 之所 好 好 之, 民 之 所 惡 惡 之, 此 之 謂 民 之 父 母.

[37] Minh vu ngũ hình, dĩ bật ngũ giáo, kỳ vu dư trị. Hình kỳ vu vô hình. Dân hiệp vu trung… 明 于 五 刑, 以 弼 五 教, 期 于 予 治. 刑 期 于 無 刑. 民 協 于 中 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 11) (Đại Học chương 4.)

[38] Tử viết: «Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách. 子 曰: 道 之 以 政, 齊 之 以 刑, 民 免 而 無 恥. 道 之 以 德, 齊 之 以 禮, 有 恥 且 格.

[39] Kinh Thư – Đại Vũ Mô, 12.

[40] Văn Vương sở dĩ tạo Chu dã; minh đức vụ sùng chi chi vị dã; thận phạt vụ khử chi chi vị dã. 文 王 所 以 造 周 也; 明 德 務 崇 之 之 謂 也; 慎 罰 務 去 之 之 謂 也. Xuân Thu Tả Truyện – Thành Công năm 11. Couvreur, tome II, trang 23.

Kinh Thư – Khang Cáo, 3.

[41] Xuân Thu Tả Truyện – Tương Công năm 26. Bản dịch của Couvreur, trang 464.

[42] Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng, 3.

[43] Cf. Kinh Thư – Vũ Thành, 4: Quyết tứ nguyệt tại sinh minh, vương lai tự Thương, chí vu Phong nãi yển vũ tu văn, quy mã vu Hoa Sơn chi dương, phóng ngưu vu Đào Lâm chi dã, thị thiên hạ phất phục. 厥 四 月 在 生 明, 王 來 自 商,至 于 豐 乃 偃 武 修 文,歸 馬 于 華山 之 陽, 放 牛 于 桃 林 之 野,示 天 下 弗 服.

[44] Vệ Linh Công vấn trần ư Khổng Tử. Khổng Tử đối viết: «Trở đậu chi sự, tắc thường văn chi hĩ. Quân lữ chi sự, vị chi học dã.» Minh nhật toại hành.

衛 靈 公 問 陳 於 孔 子. 孔 子 對 曰: 俎 豆 之 事, 則 嘗 聞 之 矣. 軍 旅 之 事, 未 之 學 也. 明 日 遂 行 (Luận Ngữ – Vệ Linh Công, 1)

[45] Phù vũ cấm bạo, tập binh bảo đại, định công, an dân, hoà chúng, phong tài giả dã. 夫 武 禁 暴, 戢 兵 保 大, 定 功, 安 民, 和 眾, 豐 財 者 也 (Xuân Thu Tả Truyện – Tuyên Công năm 12)

Couvreur dịch, Tome I, page 636.

Kinh Thi – Chu Tụng, Thanh Miếu VIII – Thời Mại.

Kinh Thi – Chu Tụng, Thần Công X: Vũ kỳ định nhĩ công 武 其 定 爾 功.

Kinh Thi – Chu Tụng, Mẫn Dư X, Lai.

[46] Kinh Thi – Chu Tụng, Thanh Miếu, Thời mại.

Minh chiêu hữu Chu 明 昭 有 周

Thức tự tại vị 式 序 在 位

Tải tập can qua 載 戢 干 戈

Tải cao cung thỉ 載 櫜 弓 矢

Ngã cầu ý đức 我 求 懿 德

Tứ vu thời hạ 肆 于 時 夏

Doãn Vương bảo chi 允 王 保 之

————————–

CHƯƠNG 4
THIÊN 4

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI AM TƯỜNG Ý NGHĨA
CỦA THÁNG NĂM, HIỂU THIÊN VĂN, LỊCH SỐ

Đấng quân vương phải hiểu rõ liên lạc giữa sự chuyển vân của tinh cầu trên trời, với công việc làm ăn của dân gian và sự biến chuyển của khí hậu, thời tiết. Như vậy mới hướng dẫn được quốc dân trong việc nông tang, và mới mong được phong đăng, hòa cốc.

Hồng Phạm viết:

BỐN là năm kỷ.

Một là năm.

Hai là tháng,

Ba là ngày,

Bốn là các sao, các độ,

Năm là phép làm ra lịch.

Khoa thiên văn, lịch số không biết khởi thủy tự bao giờ, chỉ biết Hoàng Đế (2402) đã cho lập Linh Đài quan sát tinh tượng và lập can chi để tính năm. [1]

Chuyên Húc (2302-2246) lấy tháng Dần làm tháng Giêng. [2]

Vua Nghiêu rất am hiểu thiên văn, đã biết căn cứ vào các vị trí của mặt trờiở các cung sao mà đoán định nhị phân (Xuân phân, Thu phân) và nhị chí (Dông chí, Hạ chí), [3] định năm là 366 ngày, sai hai họ Hi, Hòa chuyên khảo về thiên tượng. [4]

Vua Thuấn đã cho làm lại tuyền ki một bầu trời giả tạo với các vòng hoàng đạo, xích đạo và các vì tinh tú nạm vào bằng châu ngọc. [5]

Trung Dung (chương 30) khen phép trị dân của Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ như sau:

«Đức Khổng tiếp nối đạo Thuấn Nghiêu,

Làm sáng tỏ lối đường Văn Võ.

Trên thuận thiên trời, dưới theo thủy thổ,

Như đất trời bát ngát bao la.

Che chở muôn loài khắp gần xa,

Như tứ thời luân lưu chuyển động.

Như nhật nguyệt hai vầng chiếu rạng.»

Lời Trung Dung cho thấy bí quyết trị dân của các vị thánh vương xưa là luôn luôn uyển chuyển, xử sự hợp tình, hợp lý, hợp cảnh, hợp thời, [6] rất chú trọng đến triền năm, ngày, tháng, tinh tượng và lịch số.

Cổ nhân xưa luôn luôn nuôi hoài bão sống hợp ý Trời nên lập lịch số cốt sao cho nhân sự hợp thiên thời. [7] Muốn lập lịch số trước hết phải biết sự chuyển vận của guồng máy Âm Dương và các tinh cầu, sau sẽ quan sát tinh tượng để suy diễn ra các định luật. [8]

Như vậy đời xưa quan sát tinh tượng rồi mới lập luật pháp rồi cố cắt nghĩa bằng tinh tượng. Người xưa lập pháp độ là để thuận theo Trời, người sau ép Trời theo pháp độ của họ. [9]

Cho nên muốn hiểu bí quyết trị dân của người xưa, chúng ta hãy theo dõi tấn tuồng âm dương đắp đổi qua bốn bộ mặt: [10] hỉ, lạc, nộ, ai của trời đất và của lòng người và qua bốn mùa đời: xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng. [11]

Chúng ta hãy bắt đầu từ ngày Đông Chí. [12]

Nhìn phiến diện bên ngoài thì Đông Chí là ngày thê lương ảm đạm; ngày mà bức màn tóc tang chết chóc của mùa Đông giăng mắc khắp nơi. Nhưng tra cứu đến căn nguyên, thì ngày Đông Chí là ngày «âm dương hợp tinh», «nhật nguyệt hợp bích», [13] cho nên ngày Đông Chí lại là ngày «nhất dương lai phục», là ngày của nguồn sống bắt đầu âm thầm tung tỏa từ lòng sâu vật chất và vạn vật. [14]

Thời gian ấy ứng vào giờ, gọi là Tí hàm ngụ ý nghĩa xuất sinh, [15] ứng vào quẻ, gọi là «Phục» để đánh dấu sự trở lại của sinh khí, cũng như của vừng dương. [16]

Nhưng thực ra Đông Chí chỉ là khởi điểm của đường Trời; tháng giêng mới chính là khởi điểm cho các động tác của nhân loại. [17]

Sinh khí của đất trời vươn mình lên từ thời Đông Chí, ngấm ngầm hoạt động, tới ngày xuân mới thấy phát hiện công trình. Ngày xuân mới công khai mang lại cho con người sự đầm ấm, thức tỉnh muôn loài, làm cho lòng đất thêm ấm áp, để cho muôn mầm sống có thể sinh sôi nảy nở. Xuân là rung động, là sinh nở, là sống động, [18] người xưa đã khoác cho xuân một bộ mặt hớn hở, vui tươi. [19]

Ngày Xuân Phân, dương quang hoàn toàn thắng âm khí. [20]

Xuân Phân tức là thời giải thoát nên tháng hai còn gọi là tháng Mão, vì Mão có nghĩa là «cửa Trời», một «cửa Trời» đã rộng mở để muôn loài lũ lượt kéo nhau ra, vui hưởng kiếp phù sinh. [21]

Xuân ra rồi Hạ lại, sức sống vạn vật ngày nay không còn êm đềm mơn mởn như những ngọn cỏ xanh mà rạt rào bừng cháy lên, như những ngọn lửa đỏ.

Để đánh dấu những ngày vui tươi, vạn vật cài muôn hoa thắm lên trên áo lá xanh um.

Sức nóng của mùa hè làm tiêu tan những tuyết băng từ trên những đầu non thẳm làm cho các nguồn suối thêm rạt rào các mạch nước ngầm dưới lòng đất thêm phong phú. [22]

Mới hay:

Thanh minh, hàn thực qua rồi,

Thanh tuyền, du hỏa đồng thời canh tân. [23]

Tới ngày Hạ Chí, dương cực thịnh. Nhưng âm khí đã bắt đầu vẩn lên trong lòng ánh sáng, và nọc độc của sự suy vong tàn tạ đã bắt đầu tiêm nhiễm vào trong tinh tủy của muôn loài. [24]

Âm sinh tức là mầm mộng chống đối với dương quang bắt đầu hoạt động. Vì thế tháng «Trọng Hạ» còn gọi là tháng Ngọ vì Ngọ có nghĩa là «ngỗ nghịch» [25] chống đối, để đưa trần hoàn vào con đường phong trần luân lạc mới. [26]

Chiều trời dần ngả về thu. Một vẻ u buồn phảng phất bàng bạc trên khắp trời mây hoa lá. Người xưa viết chữ 愁 «sầu» bằng hai chữ 秋 «thu» và 心 «tâm», tức là buồn như tấc lòng gặp tiết thu sang. [27]

Mùa thu là thời kết quả, gặt hái. Tạo vật như đã hoàn tất công trình, nên để cho cây cối ra chiều ngất ngây bả lả. Vừng dương bớt nóng, và mấy trận thu phong nổi dậy thê lương, làm đó đây xào xạc lá vàng rơi lả tả. Ngoài đồng, mùa gặt đã xong, chỉ còn trơ những cọng rạ tiêu điều. Mùa thu gợi nên sự thịnh nộ của đất trời, và ở gian trần lưỡi liềm sắc bén đã vung lên để giết lát, để cắt chặt hết cả những bông lúa vàng tươi mơn mởn. [28]

Trung thu là tiết Thu Phân; chị Hằng ngự trị trên nền trời với tất cả những gì thơ mộng. Trong tháng 8 này, vạn vật như sửa soạn trở vào trong lòng đất nghỉ ngơi. Nên tháng 8 là tháng Dậu, mà Dậu tức là cánh cửa trần gian sẽ sắp khép lại. [29]

Cho nên mùa thu là mùa thê lương, là mùa của sương rơi lá rụng. Mùa thu là mùa gặt hái các thành quả vật chất đem về thu cất vào kho lẫm để dành, trước khi mùa đông lạnh lẽo trở về…

Mùa đông lạnh lẽo sửa soạn trở về với gió sương…

Từ Thu Phân, mặt trời như đi chậm lại dần. Sức nóng của dương quang càng ngày càng yếu ớt. Vạn vật dĩ nhiên là bị ảnh hưởng trực tiếp: Cây cối bị rụng dần hết lá; các cây nhỏ yếu dần dần còi cọc, vì tuyết sương băng giá. Các sinh vật thi nhau đi lẩn tránh giá rét: người về nhà, vật về hang, chim chóc đua nhau vỗ cánh xuôi Nam, tới những chân trời còn ấm áp hơn. Cho nên mùa Đông là mùa ẩn áo bế tàng. Đường xá nhiều nơi trở nên hoang vắng u buồn, chỉ thấy có gió gào tuyết phủ. [30]

Mùa Đông là mùa tang tóc của muôn phương. [31]

Tóm lại: «Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng.»

Xuân như con rồng xanh (Thanh long 青 龍 ) vẫy vùng biến hóa; Hạ như chim phượng đỏ (Chu Tước 朱 雀 ) tung bay; Thu như con hổ trắng (Bạch Hổ 白 虎 ) rảo tìm mồi; Đông như rùa đen (Huyền Vũ 玄 武 ) lạnh lùng chậm chạp.

Cơ trời biến ảo, nhưng chung qui là như thế. Con người phải biết thuận cơ trời, thi hành các công tác, thuận theo tiết trời.

Mùa xuân vạn vật từ lòng đất muốn nhô lên, thì con người sẽ lấy lưỡi cày, như gươm thiên mà phá vỡ đất giúp cho muôn loài vươn lên.

Mùa hè, khi lúa má đã nhờ ánh dương quang mọc lên, thời con người sẽ phải săn sóc đồng ruộng, nhổ cỏ, tưới, bón để giúp trời đất làm cho cây cối thêm phần tươi tốt.

Mùa thu, khi vạn vật tang thương, lá rơi quả rụng, thì con người phải lo gặt hái, đem mùa màng về.

Mùa đông, khi đất trời đã hoàn thành công việc muốn nghỉ ngơi, thì con người cũng bắt chước mà về ngơi nghỉ. [32] Đất trời như đóng cửa lại, thì vua chúa cũng ra lệnh đóng các kho lẫm, đóng quan ải, thành thị, làng mạc, sửa sang lại bờ cõi, đề phòng giặc ngoại xâm. [33]

Thế gọi là «pháp tượng», bắt chước vẻ trời, chiều trời. [34]

Muốn «pháp tượng», muốn bắt chước trời, còn phải hiểu rõ cơ trời, hiểu rõ sự vận chuyển của đất trời, biết sự thăng trầm của các vì tinh tú. Vì thế mà khoa Thiên Văn xuất sinh:

Mỗi vì sao đều được đặt tên tuổi, được phân cư thành chòm xóm, các sự thay đổi hình dạng của các vì sao, các giờ giấc mọc lặn, các vị trí thẳng ngay hay thiên lệch của chúng đều được ghi chú.

Và bầu trời được chia thành kinh, vĩ, các vòng hoàng đạo, xích đạo được ấn định; đường lối trời mây dần dà trở nên quen thuộc đối với người và các sao bắt đầu đối thoại, bắt đầu tâm sự được với người nơi trần thế. [35]

Cổ nhân chia các sao quanh vòng hoàng đạo làm 28 chòm sao, gọi là 28 cung sao, để làm quán xá trời mây [36] cho hai vầng nhật nguyệt và năm vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Thế rồi ngày ngày lại theo rõi bộ mặt biến thiên của vầng trăng, và tùy như trăng tròn, khuyết, tối, sáng, sẽ định các ngày trong tháng; mặt trăng trở thành tấm lịch lớn treo trên trời cho người Đông Á trông trăng biết ngày. [37]

Theo rõi gót lãng du của mặt trăng, mặt trời, và năm vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sẽ định được tháng được mùa.

Ví dụ mùa đông mặt trời mặt trăng sẽ lần lượt ở những cung trong quần tinh Huyền Vũ: gồm các cung sao Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. Mùa hạ sẽ ở trong quần tinh Chu Tước: gồm các cung sao Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Trương Dực, Chẩn, v.v…

Còn năm tháng đầu lịch số, sẽ là năm kỷ niệm khi hai vầng nhật nguyệt và năm vị chính tinh đoàn tụ tại một cung khoảng chòm sao Ngưu Đẩu, đó là năm Giáp Tí nguyên niên. [38]

Thế là cuộc đời luân lạc của hai vầng nhật nguyệt, trên đường mây muôn vạn dặm được liên kết với 28 quán xá trời.

Người xưa thay vì nói ngày ấy tháng ấy có nhật thực hay nguyệt thực, sẽ nói rõ thêm nhật thực hay nguyệt thực xảy ra ở chòm sao nào.

Ví dụ sử chép:

Năm thứ năm, đời vua Trọng Khang (1948 trước CN) mùa thu, tháng 9, mồng một, có nhật thực ở chòm sao Phòng. [39]

Ngày xưa lại còn muốn lồng thời gian vào nhạc điệu cho mỗi mùa ứng với một cung đàn, [40] mỗi tháng trở thành một dấu nhạc. [41]

Khúc nhạc thời gian như bắt đầu bằng những hồi trống rung vang, như sấm động dưới lòng đất sâu, rồi dần dà trở nên vui tươi sống động trong tiếng sáo, tiếng quản; đằm thắm mạnh mẽ trong tiếng ngữ dồn dập, tiếng đàn sắt tưng bừng rộn rã; uy nghi hùng tráng trong tiếng huân nhặt khoan, tiếng chuông vang lừng uy dũng, để kết thúc bằng những tiếng khánh tiêu sơ, như muốn hòa hài cùng tiết đông băng giá. [42]

Hiểu được nhạc Trời mới mong hướng dẫn được nhân quần một cách êm đềm, khéo léo.

Các công tác của vị thánh vương sẽ tương ứng với sự biến thiên của nhị khí âm dương trong hoàn võ, sẽ đúng nhịp điệu với sự xuất hiện của các vì sao trên trời, và sẽ đáp ứng được nhu cầu tinh thần và vật chất của nhân thế.

Các ngài đã ghi tuần tự diễn tiến của những động tác chính yếu của mình cũng như của dân vào «nhị thập bát tú» và các phụ tinh, để hễ trông thấy sao là nhớ đến công việc phải làm. [43]

Cho nên ngày nay chúng ta chỉ việc giở quyển thiên văn cổ Trung Hoa, xem xét lại ý nghĩa từng vì sao, xem xét lại thời gian nó xuất hiện là biết ngay lúc ấy dưới trần gian phải làm công việc gì.

Trong bộ Tinh Thần Khảo Nguyên (Uranographie chinoise), nhà học giả Hòa Lan Gustave Schlegel đã làm công việc vĩ đại ấy. Ông giải thích ý nghĩa của nhị thập bát tú cùng các phụ tinh để chứng minh sự xuất hiện của nó ăn khớp với các tác động của các vị thánh vương xưa nay trần thế. Có đi sâu vào vấn đề này, ta mới hiểu được ý nghĩa chương trình hoạt động của các vị đế vương trong 12 tháng như đã ghi trong Nguyệt Lệnh, Lễ Ký.

Cái đẹp cái hay trong công việc lồng thiên văn lịch số vào công cuộc trị dân, chính là ở chỗ muốn cho các công việc con người được hòa nhịp với tiết tấu của trăng sao, với vũ khúc của hoàn võ, để cho con người cũng như các vì sao trên trời vận chuyển tác động theo nhịp điệu chung trời đất, cho thời gian vũ trụ ăn khớp với thời gian hoạt động của con người.

Kinh Thư thiên Nghiêu Điển đã cho ta thấy sự chuyển động của các vì tinh tú có liên quan mật thiết đến tác động và biến động nơi người và vật ở trần gian vì vậy nhà vua phải lo sao cho vạn vật gian trần bước theo đúng nhịp điệu hoàn vũ bằng cách minh định lịch số. Để chứng minh ta có thể sắp xếp những nhận xét của vua Nghiêu thành những vần thơ như sau:

Xuân Phân Tinh Điểu đỉnh đầu

Dân con nay đã rủ nhau ra ngoài

Chim muông đẻ trứng tìm đôi

Ngày xuân ta chớ buông lơi việc làm. [44]

oOo

Tới ngày Hạ Chí chói chang

Đêm về sao Hỏa hiên ngang đỉnh đầu

Chúng dân tản mạn dãi dầu

Chim muông thôi cũng thay mầu đổi lông. [45]

oOo

Thu Phân, trú dạ tương đồng

Sao Hư chập tối vời trông đỉnh đầu

Dân con mát mẻ bên nhau

Chim muông lông lá ra màu tốt tươi. [46]

oOo

Đông Chí ngày vắn đêm dài

Đêm về sao Mão chơi vơi đỉnh đầu

Dân con ít muốn đi đâu

Chim muông lông lá trước sau thêm dài. [47]

Đọc thiên Nguyệt Lệnh trong Lễ Ký, thiên Mân Phong trong Kinh Thi, đọc các sách thiên văn Trung Quốc, ta lại càng thấy rõ người xưa, từ Thiên tử đến dân gian đều có hoạt động theo đúng tiết tấu của đất trời. [48]

oOo

————————–

CHÚ THÍCH

[1] Nãi thiết Linh Đài, lập chiêm thiên chi quan, dĩ tự ngũ sự, chưởng thiên văn lịch số, phong vân, khí sắc ư thị hồ hữu tinh quan chi thư… Tác giáp tý, tác cái thiên, cập điều lịch. 乃 設 靈 臺, 立 占 天 之 官, 以 叙 五 事, 掌 天 文 歷 數, 風 雲, 氣 色 於 是 乎 有 星 官 之 書… 作 甲 子, 作 蓋 天, 及 調 歷 (Wieger, Textes historiques, Tome I, page 24)

[2] Cải tác lịch tượng, dĩ kiến Dần chi nguyệt vi lịch nguyên… 改 作 歷 象, 以 建 寅 之 月 為 歷 元 (Wieger, Textes historiques, Tome I, page 28)

[3] Kinh Thư – Nghiêu Điển, 3.

[4] Kinh Thư – Nghiêu Điển, từ tiết 4 đến tiết 8.

[5] Kinh Thư – Thuấn Điển, 5.

… «Peu de temps après (l’an 2285 avant notre ère), dans la crainte que les mathématiciens ne vinssent à se négliger dans leur emploi, Chun les fit venir et leur dit de construire une machine qui représentait la rondeur du ciel divisé par ses degrés, ayant la terre au centre, et le soleil, la lune, les planètes et les étoiles aux places qui leur conviennent en leur donnant un mouvement tel qu’on voit dans le ciel. Chun fit prendre dans le trésor des pierres précieuses de différentes couleurs pour marquer les pôles, le soleil, la lune et les planètes et on se servit de perles pour désigner les étoiles… (Histoire gén. de la Chine traduite par le P. Maila, Vol I, page 78 và Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 504).

[6] Nhật đoản chí tắc phạt mộc, thủ trúc tiễn. 日 短 至 則 伐 木 取 竹 箭. Chú thích: Thử thuận thời dĩ thủ tài dã. Âm thịnh tắc tài thành, cố phạt thủ chi. Mộc đại cố ngôn phạt, trúc tiểu cố ngôn thủ. 此 順 時 以 取 材 也. 陰 盛 則 材 成, 故 伐 取 之. 木 大 故 言 伐, 竹 小 故 言 取 (Lễ Ký – Nguyệt Lệnh, Trọng Đông) Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 272.

[7] Sở hệ thiên thời nhân sự thành bất tiểu (Thiên nguyên lịch số định pháp chi nhất, khảo cổ sách số) 所 係 天 時 人 事 成 不 小 (天 元 暦 數 定 法 之 一, 考 古 策 數) (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 35)

[8] 建 曆 之 本, 必 先 立 元, 元 正, 然 後 建 日 法, 法 定 然 後 度 周 天, 以 定 分 至. 按 漢 人 曆 法 之 疏, 正 坐 此 病, 蓋 曆 以 合 天, 必 先 測 天 象 之 分 至, 分 至 定, 然 後 可 以 度 周 天, 周 天 定 然 後 可 建 日 法, 日 法 定 然 後 可 溯 曆 元,斯 為 合 天 之 道. 漢 人 先 立 元, 而 後 求 周 天 分, 至; 是 以 天 從 人 也, 烏 得 不 繆. 今 人 測 影 既 精, 分 至 已 得, 而 不 推 曆 元, 則 又 亡 其 本 矣.(東 漢 虞 恭 治 曆 議 … 在 天 元 曆 理 考 古 之 三) (星 辰 考 原 張 廿 四 )

Kiến lịch chi bản, tất tiên lập nguyên. Nguyên chính nhiên hậu kiến nhật pháp; pháp định nhiên hậu độ chu thiên, dĩ định phân chí. Án Hán nhân lịch pháp chi sơ, chính toạ thử bệnh. Cái lịch dĩ hợp thiên, tất tiên trắc thiên tượng chi phân chí. Phân chí định, nhiên hậu khả dĩ độ chu thiên; chu thiên định, nhiên hậu khả kiến nhật pháp; nhật pháp định, nhiên hậu khả tố lịch nguyên. Tư vi hợp thiên chi đạo. Hán nhân tiên lập nguyên, nhi hậu cầu chu thiên phân, chí; thị dĩ thiên tòng nhân dã. Ô đắc bất mậu. Kim nhân trắc ảnh ký tinh, phân chí dĩ đắc, nhi bất suy lịch nguyên, tắc hựu vong kỳ bản hĩ. (Đông Hán, Ngu Cung trị lịch nghị … tại: Thiên nguyên lịch lý, khảo cổ chi tam.) (Tinh thần khảo nguyên trương 24.)

Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 24.

[9] 古 人 觀 象 以 立 法, 後 人 為 法 以 求 象, 失 其 本 矣. 古 人 為 法 以 順 天, 後 人 矯 天 以 從 法, 失 其 法 之 要 也. 黃 道 盈 縮, 月 離 遲 疾, 所 以 求 交 會, 而 用 之 為 日 躔. 古 人 先 氣 而 後 日, 今 人 先 日 而 後 氣, 失 其 法 之 用 矣 … 使 天 象 曆 理 盡 晦, 經 史 聖 言 失 解. (天 元 曆 理 原 理 之 六 原 法 論 – 星 辰 考 原 張 廿 五 )

Cổ nhân quan tượng dĩ lập pháp, hậu nhân vi pháp dĩ cầu tượng, thất kỳ bản hĩ. Cổ nhân vi pháp dĩ thuận thiên, hậu nhân kiểu thiên dĩ tòng pháp, thất kỳ pháp chi yếu dã. Hoàng Đạo doanh súc, nguyệt ly trì tật, sở dĩ cầu giao hội, nhi dụng chi vi nhật triền. Cổ nhân tiên khí nhi hậu nhật, kim nhân tiên nhật nhi hậu khí, thất kỳ pháp chi dụng hĩ… Sử thiên tượng lịch lý tận hối, kinh sử thánh ngôn thất giải.

(Thiên nguyên lịch lý nguyên lý chi lục nguyên pháp luận – Tinh thần khảo nguyên trương 25)

… Les anciens firent des lois, afin qu’elles s’accordassent avec le ciel; la postérité a tordu le ciel pour le faire accorder avec ces lois; ainsi ils ont perdu la chose principale de la loi…

(Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 25)

[10] Clé quaternaire des temps: chìa khóa bốn mùa cũng đã viết ở bốn tuần trăng: Hối, sóc, huyền, vọng.

[11] 春 者, 天 地 開 闢 之 所, 養 生 之 首, 法 象 所 出. (公 羊 傳 隱 元 年)

Xuân giả, thiên địa khai tịch chi sở, dưỡng sinh chi thủ, pháp tượng sở xuất. (Công Dương Truyện, Ẩn nguyên niên). Tinh thần khảo nguyên, Gustave Schlegel, page 82.

春 喜 氣 故 生 秋 怒 氣 故 殺 夏 樂 氣 故 養 冬 哀 氣 故 藏 (春 秋 繁 露)

Xuân hỉ khí, cố sinh. Thu nộ khí, cố sát. Hạ lạc khí, cố dưỡng. Đông ai khí, cố tàng (Xuân Thu Phồn Lộ). Tinh thần khảo nguyên, Gustave Schlegel, page 83.

[12] 通 曆 數 家 算 法, 推 考 其 紀, 從 上 古 天 元 以 來, 訖 十 一 月, 甲 子, 夜 半, 朔, 冬, 至 (桓 譚 新 論) 星 辰 考 原.

Thông lịch số gia toán pháp suy khảo kỳ kỷ tòng thượng cổ thiên nguyên dĩ lai, cật thập nhất nguyệt giáp tý dạ bán sóc đông chí. (Hoàn đàm tân luận). Tinh thần khảo nguyên.

十 一 月 陰 極 之 至 陽 氣 始 生 (致 富 奇 書 冬 至)

Thập nhất nguyệt, âm cực chi chí, dương khí thuỷ sinh. (Trí phú kỳ thư; Đông Chí)

Gustave Schlegel, page 252.

[13] 冬 至, 日 月 若 合 璧, 五 星 如 連 珠 (天 元 曆 理 考 古 之 四)

Đông Chí, nhật nguyệt nhược hợp bích, ngũ tinh như liên châu (Thiên Nguyên Lịch Lý khảo cổ chi tứ) – Tinh Thần Khảo Nguyên, trang 28.

[14] 十 一 月, 一 陽 生 (莊 子)

Thập nhất nguyệt, nhất dương sanh (Trang Tử) – Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 201.

十 一 月, 陰 極 之 至, 陽 氣 始 生. (致 富 奇 書 冬 至)

Thập nhất nguyệt, âm cực chi chí, dương khí thủy sanh (Trí Phú Kỳ Thư Đông Chí) – Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 252.

冬 至, 陰 陽 合 精, 天 地 交 讓. (神 農 書).

Đông Chí, âm dương hợp tinh, thiên địa giao nhượng. (Thần Nông Thư) – Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 200.

[15] Tí (enfant) – Tí thời = Heure des générations. Tí cung = Palais des générations (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, I, page 42)

… 十 一 月 謂 子 (禮 記 月 令 註)

Thập nhất nguyệt, vị Tí (Lễ Ký Nguyệt Lệnh chú) (Gustave Schlegel, p. 42)

… 十 一 月 夜 半 陽 氣 所 起 (徐 鍇)

Thập nhất nguyệt dạ bán, dương khí sở khởi (Từ Giai)

… 十 一 月 陽 氣 動 萬 物 滋 (說 文)

Thập nhất nguyệt dương khí động vạn vật tư (Thuyết Văn)

– Khang Hi tự điển, nơi chữ 子. (Gustave Schlegel, p. 43)

天 正 者, 天 道 所 始, 仲 冬 月 也. 人 正 者, 人 事 所 始, 孟 春 月 也 (天 元 曆 理)

Thiên chính giả, thiên đạo sở thủy, trọng đông nguyệt dã. Nhân chính giả, nhân sự sở thủy, Mạnh Xuân nguyệt dã. (Thiên Nguyên Lịch Lý) (Gustave Schlegel, p. 82)

[16] Le solstice d’hiver était seulement le commencement du règne de lumière et la fin du règne des ténèbres: le commencement de l’année astronomique. (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 83)

Fou (retour) c’est le principe de la lumière renaissant en bas. Le onzième mois a pour effet naturel (Koua) le signe Retour (fou) puisque (pendant ce mois) le principe de lumière, après être parti, est revenu.

復, 陽 復 生 於 下 也, 十 有 一 月, 其 卦 為 復, 以 其 陽 既 往 而 復 反. (易 上 經 復 卦)

Phục, dương phục sanh ư hạ dã, thập hữu nhất nguyệt, kỳ quải vi phục, dĩ kỳ dương ký vãng nhi Phục phản. (Dịch Thượng Kinh Phục quải) (Gustave Schlegel, page 260)

[17] 天 正 者, 天 道 所 始, 仲 冬 月 也. 人 正 者, 人 事 所 始, 孟 春 月 也 (天 元 曆 理)

Thiên chính giả, thiên đạo sở thủy, trọng đông nguyệt dã. Nhân chính giả, nhân sự sở thủy, mạnh xuân nguyệt dã (Thiên Nguyên Lịch Lý) (Gustave Schlegel, page 82)

[18] 春 者 天 地 開 闢 之 所, 養 生 之 首, 法 象 所 出 (公 陽 傳 隱 元 年)

Xuân giả thiên địa khai tịch chi sở, dưỡng sanh chi thủ, pháp tượng sở xuất (Công Dương Truyện Ẩn nguyên niên) (Gustave Schlegel, page 82)

陽 氣 動 物 於 時 為 春. 春 蠢 也, 物 蠢 生 乃 動 運 (前 漢 曆 志)

Dương khí động vật ư thời vi xuân. Xuân xuẩn dã, vật xuẩn sinh nãi động vận. (Tiền Hán Lịch Chí) (Gustave Schlegel, page 83)

[19] 春 喜 氣 故 正 (春 秋 繁 露)

Xuân hỉ khí cố chính (Xuân Thu Phồn Lộ) (Gustave Schlegel, page 83)

[20] Ce n’est qu’à l’équinoxe du printemps que le soleil était véritablement vainqueur du principe ténébreux. (Gustave Schlegel, page 130)

[21] Au second mois de l’année chinoise dans lequel tombe l’équinoxe du printemps, toute la création jaillit de la terre, le sein de la terre s’ouvrant à cette époque. Pour rendre cette idée, on traçait l’hiéroglyphe d’une porte ouverte:  ou  hiéroglyphe écrit maintenant 卯 Mao qui signifiait primitivement jaillir; puisqu’au second mois la nature entière jaillit de la terre, raison pourquoi on l’appelait aussi «la Porte céleste». Ce second mois de l’équinoxe vernal était celui dans lequel, le principe frigorifère ne pouvant plus agir, le principe calorifère jaillit et quand toute la création était pour ainsi dire sortie de la porte céleste.

卯 古 文   昌 也. 二 月, 萬 物 昌 地 而 出, 象 開 門 之 形, 故 二 月 為 天 門 (說 文)

Mão cổ văn XX xương dã. Nhị nguyệt, vạn vật xương địa nhi xuất, tượng khai môn chi hình, cố nhị nguyệt vi thiên môn. (Thuyết Văn)

二 月, 陰 不 能 制 陽 昌 而 出 也, 天 門, 萬 物 畢 出 也 (星 辰 考 原 四 十三)

Nhị nguyệt, âm bất năng chế dương xương nhi xuất dã, thiên môn, vạn vật tất xuất dã. (Tinh Thần Khảo Nguyên tứ thập tam)

Xem Khang Hi tự điển. – Gustave Schlegel, page 43.

[22] – Mấy tháng Hạ thường ít mưa.

– Nên tháng 5 vua thường phải đảo vũ.

– Tháng 6 mới mưa.

– Nhưng đầu mùa hè dân quê thường vét giếng và đào sâu thêm giếng để khơi thêm những mạch nước mới.

– Những tháng này cũng phải lo tát nước vào ruộng.

[23] 寒 食 清 明 者 過 了

石 泉 榆 火 一 時 新 (東 坡)

Hàn thực thanh minh giả quá liễu

Thạch tuyền du hỏa nhất thời tân (Đông Pha)

Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 405.

[24] 是 月 也, 日 長 至, 陰 陽 爭, 死 生 分. (禮 記 月 令)

Thị nguyệt dã, nhật trường chí, âm dương tranh, tử sinh phân. (Lễ Ký – Nguyệt Lệnh)

夏 至 日 長 之 極, 陽 盡 午 中 而 微. 陰 眇 重 淵 矣. 此 陰 陽 爭 辨 之 際 也. 物 之 感 陽 氣 而 方 長 者 生, 感 陰 氣 而 已 成 者 死. 此 死 生 之 分 判 之 際 也 (禮 月 令 仲 夏 註)

Hạ Chí nhật trường chi cực, dương tận ngọ trung nhi vi. Âm miễu trọng uyên hĩ. Thử âm dương tranh biện chi tế dã. Vật chi cảm dương khí nhi phương trưởng giả sinh, cảm âm khí nhi dĩ thành giả tử. Thử tử sinh chi phân phán chi tế dã. (Lễ Nguyệt Lệnh trọng hạ chú)

陰 氣 始 起 于 下, 盛 陽 強 盍 于 上, 故 爭. 此 陰 方 來 與 陽 遇 也. 陽 主 生, 陰 主 死, 微 陰 既 生, 則 萬 物 向 死. 故 死 生 之 理 于 是 乎 分.

Âm khí thủy khởi vu hạ, thịnh dương cường hạp vu thượng, cố tranh. Thử âm phương lai dữ dương ngộ dã. Dương chủ sinh, âm chủ tử, vi âm ký sinh, tắc vạn vật hướng tử. Cố tử sinh chi lý vu thị hồ phân. (Lễ – Nguyệt Lệnh – Trọng Hạ chú)

[25] 午 牾 也, 五 月 陰 氣 午 逆 陽, 昌 地 而 出 也. (說 文)

Ngọ ngộ dã, ngũ nguyệt âm khí ngọ nghịch dương, xương địa nhi xuất dã. (Thuyết Văn)

[26] 垢 Cấu: quẻ Cấu trên là Kiền ☰ dưới là Tốn ☴.

[27] 愁 (Sầu) composé de 心 (Tâm) Cœur et de 秋 (Thu) automne c’est-à-dire avoir le cœur triste comme on l’a pendant l’automne. (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 317)

[28] 秋 怒 氣, 故 殺. Thu nộ khí, cố sát. (Xuân Thu Phồn Lộ) (Gustave Schlegel, page 317)

[29] 酉 時, 酉 月, 八 月 謂 酉 (禮 月 令 註)

八 月 麥 成, 可 為 酎 酒 (說 文)

卯 為 春 門, 萬 物 已 出.

酉 為 秋 門, 萬 物 已 入.

一 閉 門 象 也

Dậu thời, Dậu nguyệt, bát nguyệt vị Dậu. (Lễ Nguyệt Lệnh chú)

Bát nguyệt mạch thành, khả vi chữu tửu. (Thuyết Văn)

Mão vi xuân môn, vạn vật dĩ xuất.

Dậu vi thu môn, vạn vật dĩ nhập,

Nhất bế môn tượng dã. (Khang Hi tự điển)

酉 秀 也, 秀 者 物 皆 成 也. (釋 名)

Dậu tú dã, tú giả vật giai thành dã. (Thích Danh)

[30] 冬 哀 氣 故 藏 (春 秋 繁 露)

Đông ai khí, cố tàng. (Xuân Thu Phồn Lộ) (Gustave Schlegel, page 215)

喪 者 人 之 終. 冬 者 歲 之 終. (禮 月 令 朱 氏 註)

Táng giả nhân chi chung. Đông giả tuế chi chung. (Lễ Nguyệt Lệnh Chu thị chú) (Gustave Schlegel, page 221)

[31] 冬 終 也. 萬 物 所 以 終 成 也. (釋 名)

Đông chung dã. Vạn vật sở dĩ chung thành dã. (Thích Danh)

[32] Or qu’avait fait l’homme pendant l’époque qui précédait la résurrection du soleil ? Il avait imité la Nature comme le fait toujours un peuple, aussi longtemps qu’il n’est pas forcé, par des lois humaines et sociales, à agir contre l’ordre de cette nature, qui seule devait le guider dans ses actions. Donc, puisque la neige couvrait la Terre, que les bêtes restaient cachées dans leurs cavernes, l’homme se cachait égalemenl dans des cavernes et se retirait dans ses maisons de terre ou de troncs d’arbres, au lieu de demeurer dans ses nids, construits de branches ou de bambou dans les arbres qui lui servaient d’habitation pendant la belle saison. (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, pages 243-241)

[33] 天 子 以 孟 冬 命 三 公 謹 蓋 藏, 閉 門 閭 固 封 境 以 佐 冬 固 地 藏 也 (書 大 傳)

Thiên tử dĩ mạnh đông mệnh tam công cẩn cái tàng, bế môn lư, cố phong cảnh, dĩ tá đông cố địa Tàng dã. (Thư Đại Truyện)

立 冬 不 周 風 至, 修 宮 室, 完 邊 城 (易 通 卦 驗)

Lập Đông bất chu phong chí, tu cung thất, hoàn biên thành. (Dịch Thông Quái Nghiệm)

立 冬, 築 城 郭, 造 宮 室 (禮 記)

Lập Đông, trúc thành quách, tạo cung thất. (Lễ Ký)

孟 冬 固 疆, 備 邊 境, 完 要 塞, 謹 關 梁, 塞 徯 徑. (註) 徯 徑, 野 獸 往 來 之 路 也 (禮 月 令)

Mạnh Đông cố cương, bị biên cảnh, hoàn yếu tắc, cẩn quan lương, tắc khê kính. (chú) Khê kính, dã thú vãng lai chi lộ dã. (Lễ – Nguyệt Lệnh)

[34] 王 者 觀 象 于 天, 然 後 稽 器 于 人. 上 承 天 之 所 為, 下 以 正 其 所 為, 同 度 量 權 衡, 自 舜 以 來 有 是 法 也. (禮 記 月 令 仲 春 注)

Vương giả quan tượng vu thiên, nhiên hậu kê khí vu nhân. Thượng thừa thiên chi sở vi, hạ dĩ chính kỳ sở vi, đồng độ lượng quyền hành, tự Thuấn dĩ lai hữu thị pháp dã. (Lễ Ký – Nguyệt Lệnh trọng xuân chú)

Les rois observent les corps célestes dans les cieux et examinent ensuite les ustensiles de leurs sujets. Ils reçoivent d’en haut les actions du ciel afin de corriger par eux leurs actions ici-bas. La loi d’égaliser les mesures de longueur et de capacité, les pesons et les balances, existe depuis l’empereur Chouen (2585 avant notre ère) Gustave Schlegel, page 135.

[35] Les astronomes de la dynastie des Han disent qu’on observait le matin et le soir la disparition et apparition des étoiles, leur position inclinée ou recte, le lever ou coucher, leur obscurité et clarté, leur étendue ou rétrécissement. (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 20-21)

[36] On fit un cercle de tous les petits groupes (d’étoiles) qui se trouvaient sur la route du soleil. Ce cercle se compose de 28 groupes, 7 pour chaque division, dans lesquels on domicilia les 7 planètes, et on appela chacun de ces groupes, Domiciles ( 宿 Tú) Caractères composés de cent ( 百 ) hommes ( 亻) sous un toit ( 宀 ) on dans sa forme antique: ( 夙 ), une nuit ( 夕) sous an abri ( 几 ) ce qui est expliqué par halte de unit (夜 所 止 也 vide 王 篇).

… Les 28 Siou sont les maisons du soleil et de la lune, ressemblant aux relais de poste et hôtelleries ou aux salles d’attente pour les officiers inférieurs sur la terre. (Gustave Schlegel, page 76)

二 十 八 宿 為 日 月 舍, 猶 地 有 郵 亭, 為 長 史 廨 矣 (王 充 論 衡)

Nhị thập bát tú vi nhật nguyệt xá, do địa hữu bưu đình, vi trưởng sử giải hĩ. (Vương Sung Luận Hành)

[37] Các tuần trăng:

a- Vọng: trăng tròn mọc phía đông buổi tối, ngược lại với mặt trời lặn lúc buổi tối (en opposition). Vọng là ngày 15 hay 16 tùy theo tháng 29 hay 30 ngày.

b- Hạ Huyền: trăng nửa vành (hình chữ C) vào ngày 22, 23.

c- Hối: mặt trăng tối (mọc lặn cùng với mặt trời = lune en conjonction). Hối là ngày 29 hay ngày 30 tùy tháng thiếu đủ.

d- Sóc: mặt trăng sống lại (Sóc 朔 = résurrection) mọc buổi sáng ở phía đông.

e- Thượng Huyền: trăng nửa vành (hình chữ D) vào ngày 7, 8 mỗi tháng.

Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 605.

[38] 斗 建 之 間, 陰 陽 終 始 之 間, 律 歷 之 原 本 也. (考 要)

Đẩu kiến chi gian, âm dương chung thủy chi gian, luật lịch chi nguyên bản dã. (Khảo Yếu)

Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 548.

若 元 年 甲 子, 朔 旦 冬 至, 日 月, 五 星 俱 赴 於 牽 牛 之 初, 是 歲 星 與 日 月 同 次 之 月, 十 一 月 斗 建 子.

Nhược nguyên niên giáp tí, sóc đán đông chí, nhật nguyệt, ngũ tinh câu phó ư Khiên Ngưu chi sơ, thị tuế tinh dữ nhật nguyệt đồng thứ chi nguyệt, thập nhất nguyệt Đẩu kiến Tí.

Khiên Ngưu = Capricorne (Gustave Schlegel, page 617)

Đẩu = μ, λ, Φ, σ, τ, ξ du Sagittaire

Kiến tinh = các sao 2 ν, σ, π, d 171 de Bode et ξ du Sagittaire.

[39] Trọng Khang… ngũ tuế, thu, cửu nguyệt, sóc, thần phất tập ư phòng… 仲 康 五 歲, 秋, 九 月, 朔, 辰 弗 集 於 房. Wieger, Textes historiques, page 44.

Bị chú: cũng có chỗ nói năm Giáp Tí nguyên niên, các vị chính tinh ở chòm sao Hư, vì Hư nhật thử 虛 日 鼠 tức là Hư ở cung Tí (Cf. Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 584)

[40] Xuân ứng với cung Giốc.

Hạ ứng với cung Chủy.

Trung điểm ứng với cung Trung Cung.

Thu ứng với cung Thương.

Đông ứng với cung Vũ.

Có tác giả cho rằng Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ là năm dấu nhạc, nhưng thiết tưởng nên coi là cung điệu có lẽ hợp lý hơn.

Nguyễn Du cũng viết:

So dần dây Vũ, dây Văn,

Bốn dây to nhỏ theo vần cung Thương. (Kiều)

Nhiệm Ứng Thu viết: «Cung ti tối đa, tha đích âm tiện tối trường, tối hạ, tối trọc. Vũ ti tối thiểu, tha đích âm tiện tối đoản, tối cao, tối thanh. Thương ti thứ đa, tha đích âm tiện thứ trường, thứ hạ, thứ trọc. Chủy ti thứ thiểu, tha đích âm tiện thứ đoản, thứ cao, thứ thanh. Giốc ti đa quả thích trung, tha đích âm tiện giới vu trường đoản, thanh trọc chi gian. »

宮 絲 最 多, 它 的 音 便 最 長, 最 下, 最 濁. 羽 絲 最 少, 它 的 音 便 最 短, 最 高, 最 清. 商 絲 次 多, 它 的 音 便 次 長, 次 下, 次 濁. 徵 絲 次 少, 它 的 音 便 次 短, 次 高, 次 清. 角 絲 多 寡 適 中, 它 的 音 便 介 于 長 短, 清 濁 之 間.

[41] Tháng 11 (Đông Chí) = Hoàng Chung 黃 鐘 (Do).

Tháng 12 = Đại Lữ 大 呂 (Do#).

Tháng 1 = Thái Thốc 太 蔟 (Re).

Tháng 2 = Giáp Chung 夾 鐘 (Re#)

Tháng 3 = Cô Tẩy 姑 洗 (Mi)

Tháng 4 = Trọng Lữ 仲 呂 (Fa).

Tháng 5 = Nhuy Tân 蕤 賓 (Fa#)

Tháng 6 = Lâm Chung 林 鐘 (Sol).

Tháng 7 = Di Tắc 夷 則 (Sol#).

Tháng 8 = Nam Lữ 南 呂 (La).

Tháng 9 = Vô Dịch 無 射 (La#).

Tháng 10 = Ứng Chung 應 鐘 (Si).

Chamfrault cho rằng Hoàng Chung là Fa, Đại Lữ là Fa#, v.v… chẳng qua đó là một sự chuyển âm giai.

Xem:

a/ Lễ Ký – Nguyệt lệnh.

b/ Đẩu Thủ Hà Lạc, Lý Khí Ngao Đầu, I, trang 12 hình: Ngũ thanh, Bát âm thất thập nhị hầu tổng đồ.

c/ Nguyễn Đình Lai, Etude sur la musique vietnamienne, Bulletin de la Société des E.I. 1er trimestre 1926, page 12.

[42] Cổ 鼓 = trống (cách âm 革 音 = tiếng da) ứng vào tháng 11 và đầu tháng 12.

Sinh 笙 = (bào âm 匏 音 = tiếng bầu) ứng vào cuối tháng 12, đầu tháng giêng.

Quản 管 = (trúc âm 竹 音 = tiếng trúc) ứng vào đầu tháng giêng và tháng hai.

Chúc ngữ 梲 敔 = (mộc âm 木 音 = tiếng gỗ) ứng vào tháng 3 và đầu tháng 4.

Sắt 瑟 = (ti âm 絲 音 = tiếng tơ) ứng vào cuối tháng 4, đầu tháng 5.

Huân 塤 = (thổ âm 土 音 = tiếng đất) ứng vào giữa tháng 5 và tháng 6.

Chung 鐘 = (kim âm 金 音 = tiếng đồng) ứng vào tháng 7, tháng 8.

Khánh 磬 = (thạch âm 石 音 = tiếng đá) ứng vào tháng 9, tháng 10.

Xem: Ngao Đầu Thông Thư Đại Toàn, quyển I, trang 12.

[43] Ce ne sont pus seulement les Chinois qui ont agi ainsi, tous les anciens peuples ont fait de même. «Les Anciens, dit Maïmonides, portant toute leur attention sur l’agriculture, donnèrent aux étoiles des noms tirés de leurs occupations pendant l’année.»

Volney exprime exactement la pensée de l’autenr chinois susdit quand il dit: «Les étoiles, individuellement, on en groupe avaient reçu des noms tirés des opérations de l’homme ou de la nature pendant la révolution solaire; et le ciel astronomique était devenu comme un miroir de réflexion de ce qui se passait sur la terre.»

(Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, I, page 74)

[44] Sao Tinh là một ngôi sao trong Nhị thập bát tú. Điểu là chòm sao gồm: Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.

Xem: Kinh Thư – Nghiêu Điển, 4.

Xem: James Legge, The Shoo King, page 19.

[45] Sao Hỏa là ngôi sao Tâm trong chòm sao Thanh Long gồm: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.

Xem: Kinh Thư – Nghiêu Điển, 5.

Xem: James Legge, The Shoo King, page 20 và prolegomena, p. 90: Appendix on the astronomy of the Ancient Chinese.

Xem Xuân Thu Tả Truyện – Trương Công năm 9. – Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, I, page 235.

[46] Sao Hư là sao giữa trong chòm sao Huyền Vũ gồm: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.

Xem: James Legge, The Shoo King, page 21.

[47] Sao Mão là sao giữa trong chòm sao Bạch Hổ gồm: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm.

Xem: James Legge, The Shoo King, page 21.

Xem: Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 5.

Bị chú: Các nhà thiên văn học bất đồng ý kiến về vị trí các sao Tinh, Hỏa, Mão, Hư trong những ngày nói trên.

Các nhà thiên văn học thời Hán và Gaubil cho rằng trong các ngày nói trên, lúc 6 giờ chiều, các sao nói trên qua kinh tuyến. (Xem: Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 5; Lý Khí Ngao Đầu, quyển 10, trang 32.)

– M. Chalmers cho rằng không đúng thế.

– M. J. B. Biot cho rằng thời Nghiêu (năm 2357):

Xuân Phân tại Mão + 1o29’44”.

Hạ Chí tại Tinh + 2o23’20”.

Thu Phân tại Phòng – 0o22’14”.

Đông Chí tại Hư + 6o45’34”.

Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 7.

[48] Xem: a/ Nguyệt Lệnh (Lễ Ký); b/ Mân Phong (thơ Thất Nguyệt) (Kinh Thi); c/ Tinh Thần Khảo Nguyên (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise).

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 5

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG SẼ Ở NGÔI HOÀNG CỰC THAY TRỜI TRỊ DÂN

王 中 心 無 為 也, 以 守 至 正.

Vương trung tâm vô vi dã, dĩ thủ chí chính.

(Lễ Ký – Lễ Vận, tiết 2)

 oOo

Có thông minh tài trí đức hạnh tuyệt vời con người mới đáng lên ngôi Hoàng Cực.

Hoàng Cực tượng trưng cho cực điểm tinh hoa nhân loại. Hoàng Cực là nơi Trời người gặp gỡ. Hoàng Cực là ngôi Thiên tử.

Cho nên Thiên tử sẽ thay Trời trị dân, lấy đời sống mình làm gương mẫu cho dân soi, dùng lời lẽ giáo huấn dân, để họ sống một cuộc đời an bình, đức hạnh. [1] Phúc lành của Trời sẽ qua trung gian vì Thiên tử tuôn xuống cho dân.

Ở ngôi Hoàng Cực [2] nhà vua sẽ khuyến khích những người trung lương tiến bước trên đường nhân nẻo đức, trọng dụng kẻ hiền tài, bao dung che chở người hèn yếu, cải thiện đời sống vật chất của nhân dân.

Như vậy vua và dân sẽ cùng nhau tiến bước trên con đường trời mênh mông, vút một lèo tới cao minh chính đại.

Đó Tóm lại,

Ý nghĩa sâu xa của Vương Đạo. Sách Tham Đồng Khế cho rằng Vương Đạo, Thiên Đạo, Thánh Đạo cũng là một. [3]

Huỳnh Đình Kinh cũng dùng nguyên văn Hôàng Phạm để mô tả «Chí Đạo», «Đạo cao siêu nhất» của con người như sau:

«Chí Đạo xưa nay không có hai lề lối, nó hết sức giản dị, như một con đường thẳng tắp, phẳng phiu, trơn tru, không xiên, không vẹo.» [4]

Hồng Phạm viết:

NĂM là Hoàng Cực:

Đấng quân vương tiến tới cùng cực nhân đức, sẽ là nguồn mạch ngũ phúc, để ban phát cho dân, còn dân cũng nương vào đức độ siêu việt của người và sẽ giúp người giữ gìn đức độ siêu việt ấy.

Thứ dân sẽ không bè đảng gian tà, quan chức không có mưu tính riêng tư, đó là nhờ đức độ cao vọi của nhà vua. Phàm thứ dân có mưu lược, tháo vát, đức hạnh, thời vua phải để ý tới. Những người nhân đức tuy chưa tới tuyệt đỉnh tuyệt đích, nhưng biết tránh xa tội lệ lỗi lầm, thời nhà vua phải biết tiếp đãi họ. Nếu thấy sắc diện họ bình thản, vui tươi và nói được rằng: «Lòng tôi yêu nhân đức.» thời nhà vua hãy ban thưởng cho họ. Như vậy họ sẽ tiến bước lên tới đỉnh nhân đức như nhà vua. Nhà vua đừng áp bức kẻ côi cút cô đơn, đừng sợ hãi người cao sang quyền quý. Ai có khả năng tài cán, hãy giúp cho họ tiến thêm. Như vậy nước vua sẽ thịnh. Những người lương thiện đã giàu, sẽ thêm tốt thêm hay. Nếu nhà vua không liệu cho dân được yên vui sung túc trong nhà họ, họ sẽ sa vào vòng tội lệ; mà khi họ đã xa rời đường nhân nẻo đức, dẫu nhà vua ban thưởng cho họ. thì cũng chỉ như là giúp họ thêm tội ác.

Đường Trời nọ bao la thảng đãng

Không quanh co, không vặn, không xiên.

Đường Trời phẳng lặng êm đềm

Không hề tráo trở đảo điên vạy vò.

Đường Trời nọ thẳng vo, thẳng tắp.

Vút một lèo tới cực cao minh.

Những lời lẽ trong Hoàng Cực ấy chính là chân lý, là lời giáo huấn chân thường. Đó chính là lời giáo huấn của Thượng Đế.

Nếu chúng dân được dạy dỗ về lẽ Hoàng Cực và biết đem thi hành, sẽ tiến gần tới vinh quang Thiên tử. Thiên tử là cha mẹ dân và sẽ trị vì thiên hạ.

Hoàng Cực thực là một quan niệm siêu hình tuyệt diệu đã được đem áp dụng làm căn cốt cho một nền chính trị lý tưởng.

Như ở trên trời cao thẳm, Thượng Đế ngự tòa Bắc Thần, cho chúng thần hướng về. [5]

Vì Thiên tử ở trần gian cũng thể hiện được tuyệt đỉnh tinh hoa nhân loại, sẽ như sao Bắc Thần đứng tại vị, cho quần chúng hướng triều về. [6]

Hoàng Cực là nguyên lý hằng cửu, bài học hằng cửu. Thượng Đế đã dùng đấng quân vương làm trung gian để dạy nguyên lý ấy, và truyền lời giáo huấn ấy cho nhân loại. [7]

Lời giáo huấn ấy chúng ta có thể trình bày lại dưới một hình thức như sau:

«Khái niệm cơ bản của nền thiên trị là mỗi người đều mang trong mình «thiên lý», «thiên chân» bất diệt và có sứ mạng, định mạng phát huy cho tới cùng cực, thực hiện cho tới thành toàn «thiên lý», «thiên chân» ấy.

Khái niệm cơ bản này sẽ dẫn đến hai quan niệm phụ thuộc.

Một là: chính trị phải tổ chức thế nào để bảo đảm được tự do, công bình, no ấm cho nhân dân, để mỗi người đều sống trong một bầu không khí đầy thi vị, hào hứng, thuận tiện, giúp họ phát triển đời sống nội tâm và đạo đức của họ.

Hai là: mọi người khắp bốn phương trời đều được ràng buộc với nhau bằng một liên hệ tinh thần; liên hệ tinh thần này sau trước sẽ thắng lướt được mọi biên cương bờ cõi, hay những ý thức nông cạn hẹp hòi, nặng nề tính chất địa phương và bè phái. [8]

Hoàng Cực nói tóm lại, chỉ vẽ cho nhân loại cực điểm tiến hóa của mình, cực điểm tinh hoa của mình, và Hồng Phạm Cửu Trù chỉ có một mục đích là tổ chức đời sống xã hội thế nào để bảo đảm cho con người mọi giá trị tinh thần và vật chất, cũng như giúp cho con người tiến tới tinh hoa, thực hiện được tinh hoa nhân loại ấy.

Nó nói lên một cách rất hùng hồn rằng không phải chỉ có một vài vị thánh vương, thánh đế là Thiên tử, là con Trời, nhưng mọi người đều có thể trở nên con Trời, nhân loại trong tương lai sẽ trở thành con Trời tất cả.

Quan niệm này, niềm tin tưởng này, sẽ làm cho con người luôn hiên ngang tiến bước, quên mọi gian lao, và luôn luôn xây dựng tương lai với một nguồn sống dạt dào, một niềm tin mạnh mẽ.

Ở ngôi Hoàng Cực, Thiên tử phải là vị thánh nhân và mọi sự thuộc về ngài đều được thánh hóa. Trong từ ngữ Trung Hoa ta còn thấy những tiếng:

Thánh thể 聖 體

Thánh chỉ 聖 旨

Thánh giá 聖 駕

Dùng để chỉ mình vua, lệnh vua, xe vua, v.v…

Trong bộ Kinh Thư Đại Toàn có viết: «Vua ở chỗ Trung Ương trong thiên hạ, tất phải có nhân đức tuyệt vời, mới lập ra tiêu chuẩn tối cao cho mọi người được.» [9]

Lễ Ký cũng viết: «Nhà vua cần có tâm hồn thanh nhã, không chao động mới có thể giữ gìn được sự công chính tuyệt hảo.» [10]

Như vậy Thiên tử tất nhiên phải siêu phàm, thoát tục, phải là người Trời…

Có như vậy mới xứng đáng thay Trời trị dân.

oOo

————————–

KHỔNG HỌC TINH HOA–Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

CHÚ THÍCH

[1] 聖 人 在 上 既 建 極 而 以 身 教 于 天 下, 復 敷 言 教 于 天 下, 蓋 身 教 者, 示 以 躬 行 踐 履 之 實. 言 教 者, 使 其 歌 誦, 吟 詠 而 得, 二 者 不 可 偏 廢 也. 天 下 惟 理 為 至 常, 惟 理 為 至 大, 皇 極 敷 言 純 乎 一 理, 故 謂 之 常 理, 故 為 之 大 訓. 是 理 也, 本 之 於 天, 惟 皇 上 帝, 降 衷 之 理 也, 言 而 不 異 於 降 衷 之 理. 是 豈 可 以 君 之 訓 視 之 哉, 乃 天 之 訓 也. 天 者 其 不 言 之 聖 人, 聖 人 者 其 能 言 之 天, 一 而 二, 二 而 一 者 也.

Thánh nhân tại thượng ký kiến cực nhi dĩ thân giáo vu thiên hạ, phục phu ngôn giáo vu thiên hạ, cái thân giáo giả, thị dĩ cung hành tiễn lý chi thật. Ngôn giáo giả, sử kỳ ca tụng, ngâm vịnh nhi đắc, nhị giả bất khả thiên phế dã. Thiên hạ duy lý vi chí thường, duy lý vi chí đại. Hoàng Cực phu ngôn thuần hồ nhất lý, cố vị chi thường lý, cố vi chi đại huấn. Thị lý dã, bản chi ư thiên, duy Hoàng Thượng Đế, giáng trung chi lý dã, ngôn nhi bất dị ư giáng trung chi lý. Thị khởi khả dĩ quân chi huấn thị chi tai, nãi thiên chi huấn dã. Thiên giả kỳ bất ngôn chi thánh nhân, thánh nhân giả kỳ năng ngôn chi thiên, nhất nhi nhị, nhị nhi nhất giả dã.

[2] Medhurst translates 皇 極 (Hoàng Cực) by «The princely perfection» and Gaubil by «le terme du Souverain, ou le milieu du Souverain». Gan Kwo had defined the term by 大 中 (Đại Trung) and his explanation seems to have been unquestioned till the time of the Sung Dynasty. Tan Choo He insisted that 皇 (Hoàng) must be taken here in the sense of « 君 » (Quân) «prince, sovereign», referring to the way in which it is interchanged with 王 (Vương). Choo’s criticism is correct. He is correct also in rejecting the definition of 極 (Cực) by 中 (Trung). 極 (Cực) «the utmost point, the extreme of excellence», realized in the person of the sovereign, and serving as an example, and attractive influence to all below, both minister and people. It is supposed to be in the center, the exact middle, but it should not be called the Center or mean.

James Legge, The Shoo King, page 328 notes.

Wieger chú: Hoàng Cực = Pôle impérial.

L’empereur est le pivot autour duquel tout tourne sur la terre 極 猶 北 極 之 極 (Cực do Bắc Cực chi cực) comme au ciel tout gravite autour du pôle 紫 微 帝 座 (Tử vi đế tọa) siège du sublime souverain.

Wieger, Textes philosophiques, page 29.

[3] Dĩ thượng tá Dịch lý: hoặc ngôn thiên đạo hoặc ngôn vương đạo, hoặc ngôn thánh đạo.

以 上 借 易 理: 或 言 天 道 或 言 王 道, 或 言 聖 道. Tham Đồng Trực Chỉ, trang 24.

[4] Chí đạo giả cắng cổ chí kim, vô nhị thuật dã. Bất phiền giả, chí giản chí dị, nhất điều đại đạo dã, thản thản, dị, dị, bất thiên bất đảng, hà nan chi hữu. 至 道 者 亙 古 至 今, 無 二 術 也, 不 煩 者, 至 簡 至 易, 一 條 大 道 也, 坦 坦, 易, 易, 不 徧 不 黨, 何 難 之 有. (Huỳnh Đình Kinh chú, trang 10).

[5] 天 中 宮 天 極 一 星, 其 一 明 者, 太 一 常 居 (史 記 天 官 書)

Thiên trung cung Thiên Cực nhất tinh, kỳ nhất minh giả, Thái Nhất thường cư. (Sử Ký – Thiên Quan Thư)

On nommait encore cette étoile polaire T’ien Tchoung Koung, le palais central du ciel et T’ien Ki Sing l’Etoile Extrême du ciel, et on disait toujours que le Grand Premier, le «Summum unum» y résidait toujours. (Gustave Schlegel, Uranographie chinoise, page 524).

[6] 建 極 者, 如 北 辰 之 居 所, 而 會 其 極, 歸 其 極 者, 則 如 眾 星 之 拱 北 辰 也.

Kiến cực giả, như Bắc Thần chi cư sở, nhi hội kỳ cực, quy kỳ cực giả, tắc như chúng tinh chi củng bắc thần dã.

«The perfect, set up, is like the north pole star occupying its place. Meeting with the perfection and turning to it, is like all the stars moving towards – doing homage to – the pole star.» Lin Che K’e. James Legge, The Shoo King, page 332, notes.

[7] 皇 極 是 彝. (彝 = 常). Hoàng cực thị di. (Di = thường).

«It is constant, invariable.» 是 訓 (Thị huấn) «it is the lesson» for all 于 帝 其 訓 (vu Đế kỳ huấn) «from God is its lesson». James Legge, The Shoo King, page 332.

[8] The basic concept is that each human being embodies a divine principle which is indestructible and whose destiny it is to grow ultimately into the fullness of spiritual realization. Two logical corollaries flow there from. First, it is essential that conditions of political freedom, social justice and economic emancipation are created so that every individual can live in an atmosphere conducive to his inner growth and development. Secondly, our concept of the spiritual human being implies that all men living on this planet are bound to each other by a spiritual bond which must ultimately transcend every lesser barrier.

Maharajah Karan Singh, Successors to the heroes, The Asia magazine. January 16-1966, page 14.

[9] 人 君 居 天 下 之 至 中, 則 必 有 天 下 之 絕 德, 而 後 可 以 立 至 極 之 標 準.

Nhân quân cư thiên hạ chi chí trung, tắc tất hữu thiên hạ chi tuyệt đức, nhi hậu khả dĩ lập chí cực chi tiêu chuẩn. Kinh Thư Đại Toàn, quyển III, trang 27.

[10] 王 中 心 無 為 也 以 守 至 正. Vương trung tâm vô vi dã dĩ thủ chí chính. (Lễ Ký – Lễ vận, 2)

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 6

THUẬT CAI TRỊ: CHÍNH TRỰC

NHƯNG PHẢI BIẾT CƯƠNG, NHU, QUYỀN BIẾN

*****

Cố dụng nhân chi tri khứ kỳ trá.

Dụng nhân chi dũng khứ kỳ nộ.

Dụng nhân chi nhân khứ kỳ tham.

故 用 人 之 知 去 其 詐.

用 人 之 勇 去 其 怒.

用 人 之 仁 去 其 貪.

Lễ Ký – Lễ Vận, tiết 16.

oOo

Sau khi đã học hỏi, đã tu thân đến mức độ cao siêu, minh triết, sau khi đã lên ngôi Hoàng Cực thay Trời trị dân, nhà vua sẽ cai trị một cách linh động tùy thời, lúc cương lúc nhu, quyền biến để ứng phó với hoàn cảnh, nhưng đường lối chung vẫn là chính trực.

Hồng Phạm viết:

SÁU là ba đức:

Một là chính trực.

Hai là cương.

Ba là nhu.

Nước an bình, cai trị cho chính trực.

Nước loạn lạc, cai trị cho cương quyết.

Nước thái hòa, cai trị cho ôn nhu.

Đối với kẻ phàm phu, hạ cấp phải cho cứng rắn. Đối với các bậc cao minh, thanh lịch, phải ôn thuần.

Chỉ có nhà vua được tác phúc, tác oai, chi phối công quỹ.

Bề tôi không được làm như vậy, nếu để bề tôi tác oai, tác phúc, chi phối công quỹ, sẽ hại cho nhà, cho nước.

Quần thần sẽ thiên vị, hư hốt; dân chúng sẽ lấn áp, lầm lỗi.

Đường lối xưa cai trị thật khác xa nay.

Ngày nay trong chính trường người ta không ngại dùng thủ đoạn xảo trá để loại trừ địch thủ, để xách động quần chúng, để bảo vệ quyền lợi. Machiavel cho rằng làm chính trị khỏi cần bận tâm đến luân lý và lương tâm.

Ngày xưa trái hẳn, nghệ thuật trị dân lại đề cao hai chữ «chính trực».

Thực vậy, thánh nhân xưa nếu làm một việc bất nghĩa, giết một kẻ vô tội để được thiên hạ, cũng chẳng hề làm. [1]

Vì muốn theo đường lối chính trực trị dân, nên các thánh vương mới tha thiết xin các hiền thần hết sức phụ bật, chỉ giáo, phê bình mình, [2] nên mới đặt trống trước triều ca, để mong được nghe những lời cao kiến của nhân dân, [3] nên mỗi đầu năm, mới cho đánh mõ yêu cầu dân chúng chỉ vẽ những lỗi lầm của triều đình. [4]

Cũng vì muốn cai trị công minh chính trực nên người xưa đã lập ra những định tắc lý tưởng để làm tiêu chuẩn trong mọi trường hợp.

Ví dụ trước khi trao nhiệm vụ gì cho ai, thì vua và quần thần bàn bạc về tài đức của người đó. Khi đã công nhận là người tài đức, sẽ trao cho công việc để thử thách. Giao cho công tác sẽ được phong tước; (khi thấy có thực tài) sẽ định phẩm trật và ban bổng lộc. [5]

Vua Nghiêu mỗi khi muốn cất nhắc ai vào nhiệm vụ gì, thường công khai nghị luận cùng đình thần. [6] Cho nên vua đã không trọng dụng con mình vì thấy kém tài đức. [7]

Vua Nghiêu cũng đã thử thách ông Thuấn. Sau, vua Thuấn cũng thử thách ông Vũ trong nhiều năm mới truyền ngôi Thiên tử cho. [8]

Đọc Hồng Phạm [9] hay các thiên Nguyệt Lệnh và Lễ Vận trong Lễ Ký ta thấy các vua xưa trong khi lập ra các qui chế và định tắc chính trị đã theo những tiêu chuẩn bất biến và h8a2ng cửu chứ không dám tự ý lập luật pháp. Thế là chính trực tự căn bản, tự thâm tâm.

*Những tiêu chuẩn ấy là:

1- Thiên ý.

2- Nhân tâm.

3- Vật lý, địa lý.

Khi cần xử sự, điều hành các công việc thì:

1- Bắt chước nhật nguyệt tinh thần (pháp tượng).

2- Thuận theo khí vận và bốn mùa trời (thuận thiên thời).

3- Thuận nhân tình (thuận nhân tâm).

4- Tùy địa thế, địa lợi.
Chúng ta sẽ dùng ít nhiều đoạn Lễ Ký để chứng minh các điểm trên.

Lễ Ký viết: «Một nền chính trị hay phải che giấu cá nhân vua và lập căn bản nơi Trời.» [10]

Lễ Ký viết:

Thánh nhân xưa lập ra phép tắc, tất nhiên lấy trời đất làm căn bản, lấy âm dương làm mối manh, lấy bốn mùa làm lèo lái; lấy mặt trời và tinh tú làm kỷ độ, lấy mặt trăng làm trắc lượng, lấy quỉ thần làm phụ bật, lấy ngũ hành làm chất liệu, lấy lễ nghĩa làm khí cụ, lấy nhân tình làm môi trường hoạt động… [11]

Lấy trời đất làm căn bản mới cắt nghĩa được sự vật; lấy âm dương làm mối manh mới cắt nghĩa được tâm tình; lấy bốn mùa làm lèo lái mới thúc đẩy được công việc; lấy mặt trời và các vì sao làm kỷ độ mới định được lịch trình công tác; lấy mặt trăng làm trắc lượng công việc mới tiến hành mỹ mãn; lấy quỉ thần làm phụ bật mới bền gan và tiếp tục công trình; lấy ngũ hành làm chất liệu công việc mới có thể thay đổi, trở đi, trở lại được; lấy lễ nghĩa làm khí cụ công việc mới thành tựu mỹ mãn được… [12]

Lấy nhân tình làm môi trường hoạt động vì nơi con người nhân tình mới là then chốt, là tâm điểm cho nền cai trị. [13]

Nói cách khác, các phép tắc để trị nước xưa đều bắt nguồn từ Trời, [14] từ Thái Cực, âm dương và thuận theo chiều sinh hóa của trời đất. [15]

Như vậy có nghĩa là các luật pháp đều là thiên tạo [16] khuôn theo cơ cấu của trời đất và của con người và rãp theo tiết tấu của sự chuyển vận vũ trụ nhân sinh, chứ không phải là nhân tạo.

Các thánh vương xưa trong mọi động tác đều muốn bắt chước đất trời, thuận theo thời thế nhân vật. Lễ Ký viết: «Trong những công việc trọng đại (như tế lễ hay chinh phạt) đều thuận theo mùa. Bắt chước mặt trời mặt trăng mọc lặn mà bày ra hai buổi thiết triều sáng tối. Muốn làm gì cao, sẽ nhân theo đồi núi; muốn làm gì thấp sẽ nương theo sông hồ; thấy trời mưa móc thấm nhuần vạn vật, nhà vua cũng muốn cho đức độ ân huệ mình thấm nhuần muôn phương.» [17]

Các thánh vương xưa cai trị là mong muốn thi hành, mong muốn thực hiện thiên ý.

Muốn hiểu thiên ý, cần biết trọng tâm của trời đất.

Mà trọng tâm của trời đất tức là con người.

Lễ Ký viết: «Con người là tâm của trời đất.» [18]

Hạng thị An Thế bình rằng: Trọng tâm của đất trời là sự toàn thiện, là đức Nhân – mà sự toàn thiện, đức Nhân tuyệt hảo ấy đã ngụ trong con người, nên vừa có hình người, liền có tâm người. Nên nói: Người là hoàn thiện, mà hoàn thiện chính là tâm con người vậy. [19]

Nên khi sinh ra người, Trời đã ban cho lương tâm, cho mẫu mực hằng cửu hoàn thiện lồng ngay trong con người [20] để làm di luân, làm qui tắc bất biến. [21] Qui tắc, di luân hằng cửu ấy tức là tuyệt điểm của tinh hoa, [22] là Hoàng Cực, mà Thiên tử là hiện thân, là tiêu biểu. [23]

Ý Trời là muốn cho mọi người thấu hiểu chân lý ấy, sống đúng theo qui tắc hoàn thiện đã ghi tạc trong thâm tâm mình để trở về, cùng nhau hội ngộ ở tâm điểm chí cực ấy. [24]

Mọi tổ chức trên đời đều phải qui hướng về viễn đích ấy.

Cho nên trong phạm vi chính trị thánh vương đặt trọng tâm cải hóa con người, [25] cải hóa tâm tình con người, lấy lòng con người làm môi trường hoạt động. [26]

Các vị thánh vương đã nhận ra rằng con người trong thiên hạ bản tâm bản tính đều giống nhau và đều tốt như nhau, nhưng sở dĩ chưa đi đến hòa hợp tương thân, tương ái được, là do thất tình quấy phá, do tư dục buộc ràng. Nếu biết đem nhân nghĩa cải hóa thất tình, biết đem điều lợi hại thực mà chỉ vẽ cho dân, thì mọi người sẽ hòa hợp, muôn nước sẽ là một nhà, Trung Quốc chẳng qua như là một người.

Lễ Ký viết: «Khi nói rằng thánh nhân có thể làm cho thiên hạ hợp thành một nhà, Trung Quốc trở thành như một người, không phải nói là thánh nhân có thể thực hiện được nguyên bằng ý chí. Muốn đạt được mục phiêu ấy, cần biết rõ nhân tình.»

Giảng dạy cho họ biết bổn phận, giải thích cho họ biết thế nào là lợi hại.

Nhân tình là gì? Nhân tình là hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục (vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn). Bảy tình đó chẳng cần học, vẫn có! [27] Thế nào là bổn phận làm người? Bổn phận làm người có mười điều:

Cha phải hiền.

Con phải thảo.

Anh phải tốt.

Em phải ngoan.

Chồng phải biết điều.

Vợ phải biết nghe.

Người trên phải rộng rãi.

Người dưới phải kính thuận.

Vua phải nhân.

Tôi phải trung. [28]

Cố gắng tu nhân tích đức, gây niềm hòa hiếu, đó là cái lợi cho con người; tranh đoạt tàn sát lẫn nhau, đó là cái hại cho con người.

Phương pháp bình trị tình dục của con người của thánh nhân, tức là dạy dỗ họ mười bổn phận làm người, dạy họ tu đức lập thân, gây niềm hòa hiếu, tránh mọi sự tranh đoạt.

Nếu không có những qui tắc ấy, làm sao trị nổi dân? [29]

Nếu từ vua chí dân ai cũng một lòng chính trực thì chúng dân sẽ đi đến chỗ đại thuận, đến chỗ an bình thực sự.

Lễ Ký viết:

«Khi mà chân tay lành mạnh, da dẻ tốt tươi, thì con người cường tráng. Cùng một lẽ, khi cha con thực tình yêu mến nhau, anh em hòa hợp, vợ chồng đầm ấm, thì gia đình sẽ an lạc.

«Nếu các quan đại thần giữ luật pháp, các hạ quan thanh liêm, các quan chức có tôn ti, trật tự hệ thống, vua tôi đều giữ đúng cương thường, thì nước sẽ thịnh trị.» [30]

Khi Thiên tử lấy nhân đức làm xe, lấy âm nhạc làm người đánh xe; khi chư hầu lấy lễ đối với nhau, khi các quan đại phu giữ trãt tự hệ thống như luật định, khi sĩ tử trọng tín nghĩa, làm tròn phận sự, khi chúng dân đối với nhau đâu đấy đều với một niềm hòa mục, thì thiên hạ sẽ bình trị. Thế gọi là «đại thuận», thế gọi là «đại hiệp hòa». [31]

Khi đã bàn giải kỹ lưỡng về hai chữ chính trực như là một phương pháp chính yếu và hữu hiệu để trị dân, thì những biến thái cương nhu không thành vấn đề nữa.

Lúc loạn lạc thì cương, lúc thái hòa thì nhu, chẳng qua là quyền biến theo thời mà thôi.

Người trên phải biết linh động, lúc đáng cương thì như chặt sắt chém đá; lúc cần nhu thì nhẹ nhàng như gió mát trăng trong.

Đối với những người quân tử biết liêm sỉ thì không cần nặng tay, họ đã cải hóa; còn đối với tiểu nhân thì nói nhẹ làm sao mà họ sợ oai?

Như vậy tức là phải biết người biết thời để đẩy đưa con thuyền quốc gia cho khéo léo nghệ thuật.

Thế mới hay:

Mối lo âu Thang, Võ nơi Mục Dã, Minh Điều [32]

Sự ung dung nơi Bình Dương, Bồ Bản của Thuấn, Nghiêu [33]

Hai nỗi lòng ấy suy ra nào có khác

Đó là hai phương diện quyền hành thưởng phạt.

*Hết thiên 6

————————–

CHÚ THÍCH

[1] 行 一 不 義, 殺 一 不 辜, 而 得 天 下, 皆 不 為 也.

Hành nhất bất nghĩa, sát nhất bất cô, nhi đắc thiên hạ, giai bất vi dã. (Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng)

[2] Xem Kinh Thư – Duyệt mệnh thượng, từ tiết 5 đến tiết 10.

[3] Xem Wieger, Textes historiques, Tome I, page 38.

導 寡 人 以 道 者: 過 鼓 喻 以 義 者, 鼓 鐘.

Đạo quả nhân dĩ đạo giả: quá cổ dụ dĩ nghĩa giả, cổ chung.

[4] 每 歲 孟 春 遒 人 以 木 鐸 徇 于 路, 官 師 相 規, 工 執 藝 事 以 諫 其 或 不 恭, 邦 有 常 刑.

Mỗi tuế mạnh xuân du nhân dĩ mộc đạc tuần vu lộ, quan sư tương qui, công chấp nghệ sự dĩ gián kỳ hoặc bất cung, bang hữu thường hình. (Kinh Thư – Dận Chinh, 3)

Xem thêm Xuân Thu Tả Truyện Tương Công năm 14. – Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, I, page 901.

[5] 凡 官 民 材 必 先 論 之, 論 辨 然 後 使 之; 任 事 然 後爵 之; 位 定 然 後 祿 之.

Phàm quan dân tài tất tiên luận chi, luận biện nhiên hậu sử chi; nhậm sự nhiên hậu tước chi; vị định nhiên hậu lộc chi. (Lễ Ký – Vương Chế)

Couvreur dịch: «Avant de confier une charge à quelqu’un, le prince et ses ministres commençaient toujours pour faire une enquête et délibérer sur ses qualités. Quand ils avaient reconnu ses qualités, ils lui donnaient un emploi (pour l’assayer). Après lui avoir donné un emploi (s’ils constataient son savoir-faire) ils fixaient son grade. Après lui avoir assigné son rang, ils lui allouaient un traitement.» (Couvreur, Li Ki, page 271)

[6] Kinh Thư – Nghiêu Điển, 9, 10, 11.

[7] Kinh Thư – Nghiêu Điển, 9.

[8] Kinh Thư – Nghiêu Điển và Thuấn Điển.

[9] 武 王 意 人 君 代 天 理 物, 必 仰 承 天 意 以 治 民 而 使 其 居 之 順 其 常, 得 其 正 以 無 負 上 天 陰 騭 相 協 之 心 者, 其 道 在 於 敘 其 秉 彝 人 倫 也. (陳 雅 言).

Vũ Vương ý nhân quân đại thiên lý vật, tất ngưỡng thừa thiên ý dĩ trị dân nhi sử kỳ cư chi thuận kỳ thường, đắc kỳ chính dĩ vô phụ thượng thiên âm chất tương hiệp chi tâm giả, kỳ đạo tại ư tự kỳ bỉnh di nhân luân dã. (Trần Nhã Ngôn).

James Legge, The Shoo King, page 323, notes.

[10] 故 政 者 君 之 所 以 藏 身 也. 是 故 夫 政 必 本 於 天.

Cố chính giả quân chi sở dĩ tàng thân dã. Thị cố phu chính tất bản ư thiên. (Lễ Ký – Lễ Vận)

Couvreur dịch:

Un bon gouvernement met à couvert la personne du prince… Il s’appuie sur le Ciel…

Couvreur, Li Ki, Tome I, page 512-513.

Vua chúa sẽ không tự ý đặt ra luật pháp, đọc đoạn bình giải Hồng Phạm sau sẽ rõ:

聖 人 能 使 天 下 順 治, 非 能 為 物 作 則 也, 惟 止 之 各 於 其 所 順 乎 陰 陽 相 協 之 妙 而 已.

Thánh nhân năng sử thiên hạ thuận trị, phi năng vi vật tác tắc dã, duy chỉ chi các ư kỳ sở thuận hồ Âm dương tương hiệp chi diệu nhi dĩ.

C’est le ciel qui les (lois) a faites. Le sage ne peut pas imposer des lois, mais il doit veiller à ce que chacun se tient à sa place, et seconde les communications et l’union mystérieuse du ciel avec le peuple.

Wieger, Textes philosophiques, page 26.

[11] 故 聖 人 作 則 必 以 天 地 為 本, 以 陰 陽 為 端, 以 四 時 為柄, 以 日 星 為 祀, 月 以 為 量, 鬼 神 以 為 徒, 五 行 以 為 質, 禮 義 以 為 器, 人 情 以 為 田.

Cố thánh nhân tác tắc tất dĩ thiên địa vi bản, dĩ âm dương vi đoan, dĩ tứ thời vi bính, dĩ nhật tinh vi tự, nguyệt dĩ vi lượng, quỷ thần dĩ vi đồ, ngũ hành dĩ vi chất, lễ nghĩa dĩ vi khí, nhân tình dĩ vi điền. (Lễ Ký – Lễ Vận)

Couvreur dịch:

Aussi lorsque les grands sages ont établi les règles, ils ont cru devoir prendre pour base le ciel la terre; pour agents principaux, les deux principes constitutifs des corps; pour gouvernail les quatre saisons; pour indicateurs du temps le soleil et les étoiles; pour matière les cinq éléments; pour instruments les devoirs qu’il convient de remplir; pour champ à cultiver, les passions du cœur humain…

Couvreur, Li Ki, page 522.

[12] 以 天 地 為 本, 故 物 可 舉 也. 以 陰 陽 為 端, 故 情 可 睹 也. 以 四 時 為 柄, 故 事 可 勸 也. 以 日 星 為 祀, 故 事 可 列 也. 月 以 為 量, 故 功 有 藝 也. 鬼 神 以 為 徒, 故 事 可 守 也. 五 行 以 為 質, 故 事 可 復 也. 禮 義 以 為 器, 故 事 行 有 考 也.

Dĩ thiên địa vi bản, cố vật khả cử dã. Dĩ âm dương vi đoan, cố tình khả đổ dã. Dĩ tứ thời vi bính, cố sự khả khuyến dã. Dĩ nhật tinh vi tự, cố sự khả liệt dã. Nguyệt dĩ vi lượng, cố công hữu nghệ dã. Quỉ thần dĩ vi đồ, cố sự khả thủ dã. Ngũ hành dĩ vi chất, cố sự khả phục dã. Lễ nghĩa dĩ vi khí, cố sự hành hữu khảo dã.

Couvreur, Lễ Ký – Lễ Vận, page 523.

[13] 人 情 以 為 田, 故 人 以 為 奧也.

Nhân tình dĩ vi điền, cố nhân dĩ vi áo dã.

Couvreur dịch khác: «Si l’on prend pour champ les passions du cœur humain, les hommes prennent pour maître (les sages et suivent leurs préceptes).» Couvreur, Li Ki, Tome I, chapitre VII, Liu I, page 534.

[14] 夫 禮 必 本 於 天, 動 而 之 地, 列 而 之 事, 變 而 從 時, 協 於 分 藝, 其 居 人 也 曰 義, 其 行 之 以 貨 力, 辭 讓 飲 食, 冠 昏 喪 祭, 射 御 朝 聘.

Phù lễ tất bản ư thiên, động nhi chi địa, liệt nhi chi sự, biến nhi tòng thời, hiệp ư phân nghệ, kỳ cư nhân dã viết nghĩa, kỳ hành chi dĩ hóa lực, từ nhượng ẩm thực, quan hôn tang tế, xạ ngự triều sính. (Lễ Ký – Lễ Vận, Couvreur)

[15] 是 故, 夫 禮 必 本 於 大 一, 分 而 為 天 地, 轉 而 為 陰 陽, 變 而 為 四 時.

Thị cố, phu lễ tất bản ư đại nhất, phân nhi vi thiên địa, chuyển nhi vi âm dương, biến nhi vi tứ thời. (Lễ Ký – Lễ Vận, Couvreur)

[16] 凡 此 皆 天 造 之 禮 而 主 之 於 天. (陳 祥 道)

Phàm thử giai thiên tạo chi lễ nhi chủ chi ư thiên. (Trần Tường Đạo)

Toutes ces règles sont l’œuvre du ciel et il en est l’arbitre. (Couvreur, Li Ki, Tome I, page 528)

[17] 是 故 昔 先 王 之 制 禮 也, 因 其 財 物 而 致 其 義 焉 爾. 故 作 大 事, 必 順 天 時, 為 朝 夕 必 放 於 日 月, 為 高 必 因 丘 陵, 為 下 必 因 川 澤, 是 故 天 時 爾 澤 君 子 達 亹 亹 焉.

Thị cố tích tiên vương chi chế lễ dã, nhân kỳ tài vật nhi trí kỳ nghĩa yên nhĩ. Cố tác đại sự, tất thuận thiên thời, vi triêu tịch tất phỏng ư nhật nguyệt, vi cao tất nhân khâu lăng, vi hạ tất nhân xuyên trạch, thị cố thiên thời nhĩ trạch, quân tử đạt vỉ vỉ yên.

Lễ Ký – Lễ Khí. Couvreur, Tome I, page 562.

[18] 故 人 者 天 地 之 心 也. Cố nhân giả thiên địa chi tâm dã. (Lễ Ký – Lễ Vận, 7)

[19] 項 氏 安 世 曰: 天 地 之 心, 仁 而 已 矣. 天 地 之 至 仁 寓 之 於 人, 纔 有 人 形, 即 有 人 心. 故 曰 人 者 仁 也, 仁 人 心 也. (欽 定 禮 記)

Hạng Thị An Thế viết: Thiên địa chi tâm, nhân nhi dĩ hĩ. Thiên địa chi chí nhân ngụ chi ư nhân, tài hữu nhân hình, tức hữu nhân tâm. Cố viết nhân giả nhân dã, nhân nhân tâm dã. (Khâm định Lễ Ký)

[20] 惟 皇 上 帝 降 衷 于 下 民.

Duy Hoàng Thượng Đế giáng trung vu hạ dân. (Kinh Thư – Thang Cáo, 2)

[21] 天 生 烝 民, 有 物 有 則, 民 之 秉 彝, 好 是 懿 德.

Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc, dân chi bỉnh di, hảo thị ý đức.

Kinh Thi – Đại Nhã Đãng – Chưng Dân VI.

[22] 中 即 至 理, 何 嘗 不 兼 至 義. 大 學 文 言 皆 言 知 至. 所 謂 至 者, 即 此 理 也. 語 讀 易 者 曰 能 知 太 極 即 是 知 至. 語 讀 洪 範 者 曰 能 知 黃 極 即 是 知 至, 夫 豈 不 可, 蓋 同 此 理 曰 極, 曰 中, 曰 至, 其 實 一 也.

Trung tức chí lý, hà thường bất kiêm chí nghĩa. Đại học văn ngôn giai ngôn tri chí. Sở vị chí giả, tức thử lý dã. Ngữ độc Dịch giả viết năng tri Thái Cực tức thị tri chí. Ngữ độc Hồng Phạm giả viết năng tri Hoàng Cực tức thị tri chí, phù khởi bất khả, cái đồng thử lý viết Cực, viết Trung, viết Chí, kỳ thật nhất dã.

[23] 惟 皇 作 極. Duy hoàng tác cực. (Hồng Phạm)

[24] 會 有 其 極 歸 其 有 極. Hội hữu kỳ cực quy kỳ hữu cực. (Hồng Phạm)

[25] 政 者 正 也. Chính giả chính dã. (Luận Ngữ – Nhan Uyên, 16)

[26] 人 情 以 為 田. Nhân tình dĩ vi điền. (Lễ Ký – Lễ Vận)

[27] 故 聖 人 耐 以 天 下 為 一 家, 以 中 國 為 一 人 者, 非 意 之 也, 必 知 其 情, 辟 於 其 義, 明 於 其 利, 達 於 其 患, 然 後 能 為 之. 何 謂 人 情? 喜, 怒, 哀, 懼, 愛, 惡, 欲. 七 者 弗 學而 能.

Cố thánh nhân nại dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ Trung Quốc vi nhất nhân giả, phi ý chi dã, tất tri kỳ tình, tích ư kỳ nghĩa, minh ư kỳ lợi, đạt ư kỳ hoạn, nhiên hậu năng vi chi. Hà vị nhân tình? hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ác, dục. Thất giả phất học nhi năng.

[28] 何 謂 人 義? 父 慈, 子 孝, 兄 良, 弟 弟, 夫 義, 婦 聽, 長 惠, 幼 順, 君 仁, 臣 忠. 十 者 謂 之 人 義. (禮 記, 禮 運, 節 十 八, 十 九)

Hà vị nhân nghĩa? Phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung. Thập giả vị chi nhân nghĩa. (Lễ Ký, Lễ Vận, tiết thập bát, thập cửu)

[29] 講 信, 脩 睦, 謂 之 人 利. 爭 奪 相 殺, 謂 之 人 患. 故 聖 人 之 所 以 治 人 七 情, 脩 十 義 講 信 脩 睦, 尚 辭 讓, 去爭 奪, 舍 禮 何 以 治 之.

Giảng tín, tu mục, vị chi nhân lợi. Tranh đoạt tương sát, vị chi nhân hoạn. Cố thánh nhân chi sở dĩ trị nhân thất tình, tu thập nghĩa giảng tín tu mục, thượng từ nhượng, khứ tranh đoạt, xá lễ hà dĩ trị chi. (Lễ Ký – Lễ Vạn, tiết 18-19; Couvreur, Li Ki, page 516).

[30] 四 體 既 正, 膚 革 充 盈, 人 之 肥 也. 父 子 篤, 兄 弟 睦, 夫 婦 和, 家 之 肥 也. 大 臣法, 小 臣 廉, 官 職 相 序, 君 臣 相 正, 國 之 肥 也.

Tứ thể ký chính, phu cách sung doanh, nhân chi phì dã. Phụ tử đốc, huynh đệ mục, phu phụ hòa, gia chi phì dã. Đại thần pháp, tiểu thần liêm, quan chức tương tự, quân thần tương chính, quốc chi phì dã.

[31] 天 子 以 德 為 車, 以 樂 為 御. 諸 侯 以 禮 相 與, 大 夫 以 法 相 序, 士 以 信 相 考, 百 姓 以 睦 相 守, 天 下 之 肥 也, 是 謂 大 順.

Thiên tử dĩ đức vi xa, dĩ nhạc vi ngự. Chư hầu dĩ lễ tương dữ, đại phu dĩ pháp tương tự, sĩ dĩ tín tương khảo, bách tính dĩ mục tương thủ, thiên hạ chi phì dã, thị vị đại thuận.

(Lễ Ký – Lễ Vận; Couvreur, Li Ki, I, page 533-534)

[32] Thành Thang đánh vua Kiệt tại Minh Điền.

[33] Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn ở Bình Dương (Bình Dương là kinh đô thời vua Nghiêu).

Cf. Wieger, Textes historiques, I, page 31.

Thuấn truyền ngôi cho Đại Võ ở Bồ Bản. Bồ Bản 蒲 坂 là kinh đô thời vua Thuấn.

Cf. Wieger, Textes historiques, I, page 35.

———————-

CHƯƠNG 4

THIÊN 7

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI BIẾT SUY NGHĨ BÀN BẠC
HỎI HAN KHI GẶP NHỮNG TRƯỜNG HỢP NAN GIẢI

Khi gặp công việc hệ trọng, hay hoàn cảnh bất thường, nhà vua phải hết sức thận trọng.

Trước hết phải đắn đo suy nghĩ rồi bàn với khanh sĩ, với thứ dân. Sau cùng nếu cần sẽ thỉnh ý Trời (bằng cách bói rùa, bói cỏ thi). [1]

Hồng Phạm viết:

BẢY là nghiên cứu các điều ngờ vực, thắc mắc: cử người chuyên lo bốc phệ, [2] thi qui, rồi sai bói toán.

Xem những đường nứt của mực bôi lên mu rùa hơ lửa, sẽ thấy những hiện tượng như trời mưa, trời tạnh, trời âm u, trời mây lẻ tẻ, trời mây chằng chịt.

Xem cỏ thi biết trinh hối (tốt, xấu).

Cộng là bảy việc: «qui» năm, «thi» hai, để tìm biết các chỗ sai lầm mà tránh.

Ba người đồng bói, hãy theo lời đoán của hai người giống nhau.

Nếu vua nghi hoặc về vấn đề trọng đại nào, hãy tự vấn lòng mình, hãy bàn bạc với khanh sĩ, hãy hỏi ý dân, hãy bàn bạc với hàng bốc phệ.

a/ Việc nào mình thuận, thi, qui, khanh sĩ đều thuận, thế gọi là đại đồng, mình sẽ an khang, con cháu sẽ cát tường.

b/ Việc nào mình ứng, thi, qui thuận; khanh sĩ, thứ dân nghịch; cũng vẫn tốt.

c/ Việc nào thi, qui, khanh sĩ nghịch, mình và thứ dân ứng cũng tốt.

d/ Việc nào dân và thi, qui thuận; mình và khanh sĩ nghịch cũng tốt.

e/ Việc gì mình và qui thuận, nhưng thi, khanh sĩ, thứ dân nghịch thì cát nếu là việc bên trong, hung nếu là việc bên ngoài.

f/ Nếu thi, qui nghịch với ý mình thì nên tránh đừng làm. [3]

Xưa các vị đế vương không ngại hỏi ý kiến khanh sĩ và thứ dân. Gặp việc trọng đại lắm mới bốc phệ để thỉnh ý Trời.

Trúc Thư Kỷ Niên có ghi: «Năm thứ 50 (đời Hoàng Đế)… từ ngày Canh Thân, trời sa mù ba ngày ba đêm; ban ngày cũng hôn ám. Hoàng Đế hỏi Thiên Lão, Lục Mục, Dung Thành xem sự thể thế nào?» [4]

Như vậy Hoàng Đế đã chẳng ngại vấn ý quần thần trong những trường hợp đặc biệt.

Đọc Kinh Thư ta thấy vua Nghiêu khi muốn chọn người để giao trọng trách, đã bình luận với quần thần. [5]

Vua Khải (2197 trước CN) trước khi đánh Hồ thị, [6] vua Thành Thang trước khi đánh vua Kiệt, [7] Vũ Vương trước khi đánh vua Trụ đều họp chúng dân và tướng sĩ để giải thích dẫn dụ, [8] như vậy cốt được sự đồng ý của mọi người.

Vua Bàn Canh (1401-1373), trước khi thiên đô và di dân từ Bạc [9] về Ân [10] để tránh nạn lụt lội, đã họp dân để bàn cãi, giải thích. [11]

Những sự kiện lịch sử ấy chứng tỏ các vị vua chúa xưa không dám tự quyết, mà bao giờ cũng cố gắng bàn bạc để được sự tán đồng của mọi người.

Đó là một cử chỉ khéo léo nhất.

Các vị thánh vương xưa trọng phép bói qui, thi, vì đó là thỉnh ý Trời, chứ không phải mê tín quàng xiên.

Dùng thi, qui để bói, vì rùa và cỏ thi đều là linh vật.

Những rùa dùng để bói thường có đường kính một thước 2 ta. Những rùa ấy phải sống khoảng một ngàn năm. [12]

Nhưng không phải nguyên vì rùa sống lâu mà cổ nhân dùng để bói, rùa còn có ý nghĩa tượng trưng: mai cao tượng trời, bụng phẳng tượng đất. [13]

Thi là một loại cỏ sống trăm năm; một gốc có trăm cọng, cho nên cũng được xem là linh thảo. Bốc phệ mục đích thỉnh ý quỉ thần, nên dùng thi, qui là những linh vật, linh thảo, để nhờ đó mà biết cát hung. [14]

Các vị đế vương xưa coi việc bốc phệ là một hành vi đạo đức, một sự thỉnh ý Thượng Đế…

Khoảng năm 1400, khi vua Bàn Canh muốn di dân và thiên đô từ Bạc về Ân, đã bói rùa trước khi quyết định. [15]

Khi Tây Bá hầu (Văn Vương) dẹp xong xứ Lê; Tổ Y sợ hãi vội vàng tâu với Trụ Vương: «Thưa bệ hạ, Trời đã định ruồng bỏ nhà Ân, cho nên những người khôn ngoan, cũng như rùa thiêng không còn báo cho ta điềm cát nữa.» [16]

Năm 1050, Vũ Vương thiên đô từ Phong về Hạo. Trong trường hợp hệ trọng ấy, vua đã bói rùa để thỉnh ý Thượng Đế:

Kinh Thi viết:

Vua suy rồi lại bói rùa

Cảo kinh những muốn thiên đô phen này

Bói rùa, quẻ dạy rằng hay

Vũ Vương lập tức ra tay xây thành

Võ Vương quả thật anh minh. [17]

Năm 1049 (hay 1121 theo Thông Giám Cương Mục) Vũ Vương ngọa bệnh. Chu Công bói thi, qui để xem bệnh tình biến chuyển ra sao. Thấy các điềm đều tốt, Chu Công kết luận: nhà vua sẽ vô sự. Quả nhiên ngày hôm sau, bệnh Vũ Vương thuyên giảm. [18]

Năm 1042, ba người chú [19] vua Thành Vương xúi dục Vũ Canh cùng rợ Di, Nhung mưu đồ phản loạn. Thành Vương định cất quân đánh. Các phụ lão can ngăn. Vua bèn bói rùa [20] để thỉnh ý Thượng Đế.

Khi bói được điềm tốt, vua phán: «Ninh Vương (vua Vũ) đã để lại cho quả nhân “đại bảo qui” này, để thỉnh ý Trời; biết cát, hung. Thế mà các phụ lão lại can quả nhân đừng chinh phạt, đừng nghe theo bói rùa… Nhưng bói thấy chinh phạt Vũ Canh là vie5c tốt, thế tức là Thượng Đế truyền ta phải chịnh phạt Vũ Canh. Mệnh lệnh Thượng Đế, lẽ nào ta chẳng theo. Xưa tiên vương và chúng dân đã từng bói rùa, lẽ nào ta tự tiện dám bỏ?» [21]

Năm 1038, khi muốn lập thêm Lạc Ấp, Chu Công bói rùa để quyết định địa điểm. [22]

Xong xuôi, ông gửi dự án xây cất và kết quả bói rùa về cho Thành Vương.

Thành Vương trước còn do dự, nhưng sau khi xem kết quả bói do Chu Công gửi về, vua nhất quyết cho lập đô ở Lạc. Nhà vua chắp tay cúi đầu trả lời Chu Công như sau: «Ngài đã hoạt động theo ý Trời. Ngài lại còn gửi cho tôi mai rùa báo trước một hạnh phúc lâu dài. Ngài đã cho tôi hay phải làm sao để đẹp lòng Trời trong vạn ức năm…» [23]

Lễ Ký giải thích về bốc phệ như sau:

Bốc là bói rùa, sách là bói cỏ thi. Các bậc thánh vương xưa dùng bốc phệ để khiến dân tin tưởng vào ngày giờ thời tiết đã chọn, tôn trọng quỉ thần, kính sợ vương lệnh. Bốc phệ cũng làm cho dân hết hiềm nghi do dự. Cho nên nói rằng: Hễ nghi thì bói; bói xong sẽ làm theo như quẻ dạy. Nếu quẻ định ngày nào làm việc gì, sẽ chọn ngày ấy. [24]

Phép bói toán, theo đà thời gian bị dân gian lạm dụng, nên đã trở thành mê tín dị đoan.

Vì vậy, nhiều học giả, khi khảo về thiên này, thường đả kích phép bói toán đời xưa.

Wieger cho rằng: Ý muốn thì rất hay, nhưng phương tiện thì quá dở. [25]

Bình giải Kinh Thư, Ngô Trừng 吳 澄 cũng chê phép bói toán, và cho rằng không nên làm một việc gì mà khanh sĩ và chúng dân không thuận. [26]

Ông nói: «Nếu thuyết Cơ Tử thi hành, thì đời sau vua chúa sẽ bỏ hết ý kiến khanh sĩ và thứ dân mà chỉ theo thi qui; dị đoan, tà thuyết sẽ thừa cơ xâm nhập; thiên hạ sẽ nhiễu nhương đa sự.»

Ngô Trừng còn cho rằng: Cơ Tử khi viết thiên Hồng Phạm này đã không thoát khỏi lưu tục của dân chúng đời Thương. [27]

Nhưng đó không phải là lập trường của mọi học giả.

Hồ Vị 胡 謂 đã viện dẫn Khổng Tử để phi bác ý kiến Ngô Trừng như sau:

«Thảo lư (tức Ngô Trừng) thường cho rằng hiền trí xưa cũng có điều nhầm lẫn; nhưng trong trường hợp này ông đã sai lầm lớn.

Bình giải Dịch Kinh đức Khổng viết:

«Tìm tòi những điều thâm u, nghiên cứu những điều ẩn áo, thâu thái những điều sâu xa, đạt đáo những điều viễn cách, để định hay dở cho thiên hạ, để thúc đẩy mọi người cố gắng không gì bằng thi qui.» (Xem Hệ Từ Thượng Truyện) [28]

Đức Khổng lại nói:

«Hỏi ý kiến người, hỏi ý kiến thần minh, cho dân chúng được góp phần vào công việc (Hệ Từ Hạ Truyện) như vậy thì dẫu việc gì nghi ngờ rắc rối đến đâu cũng trở nên minh xác…» Khi vua Vũ viết thiên «Kê Nghi» và Cơ Tử khi đề cập tới bói toán, hẳn cũng không ngoài ý ấy. Còn như bảo Cơ Tử sa vào vòng lưu tục, thì còn gì là Cơ Tử nữa ! [29]

Ngày nay nói đến bói toán ta khinh, nhưng người xưa coi bói toán là trọng, vì cốt để thỉnh ý Trời. Không phải chỉ có dân Trung Hoa thỉnh ý Trời. Đọc Thánh Kinh ta thấy vua Saül, vua David cũng đã nhiều lần xin thẻ để thỉnh ý Trời. [30] Lối bói cỏ thi với hai phương diện tốt xấu (trinh, hối) làm cho ta nhớ lại lối bói bằng ephod với hai thẻ urim và tummim của Do Thái. [31]

Quan niệm về bói toán cũng như công dụng của bói toán xưa hoàn toàn khác nay.

Người xưa bói toán cốt để cầu mong thỉnh ý Trời, nghe lời Trời. [32]

Vì thế, không nghi ngờ, không dám bói. [33]

Lại nữa, chỉ bói toán khi gặp trường hợp trọng đại, khó quyết đoán, hay khi vua tôi bất đồng ý kiến nhau. Khi ấy sẽ thỉnh mệnh Trời, để cùng nhau tuân phục cho hết chia rẽ bàn tán.

Mỗi khi bói toán, đều ghi kết quả vào lịch sử. [34]

Công dụng của bói toán, là cốt làm cho ai nấy vững lòng tư tưởng vào công trình sắp sửa thi hành, là cốt thu phục lòng người, làm cho mọi người thông cảm với nhau, có một ý hướng như nhau, đánh tan hết mọi nghi ngờ, do dự, và như vậy sẽ giúp mọi người làm nên công nghiệp. [35]

KHỔNG HỌC TINH HOA — Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Suy cho cùng, nếu biết áp dụng đứng đắn thiên «Kê Nghi» này sẽ gây được một ảnh hưởng chính trị và tâm lý rất lớn.

Khi cần giải quyết một vấn đề trọng đại, nhà vua suy đi nghĩ lại cho chín cắn rồi, sẽ bàn bạc cùng khanh sĩ, cùng dân chúng; nếu trên dưới bất đồng ý kiến sẽ bốc phệ để thỉnh ý Thượng Đế.

Nhờ vậy mọi người sẽ hết nghi ngờ, sẽ đồng tâm nhất trí, sẽ giữ được hòa khí, sẽ thỏa mãn được lòng tự ái, và công trình sẽ dễ thành tựu.

Thực vậy nếu gặp việc khó khăn mà trên dưới không cảm thông, không đồng ý, năng suất sẽ giảm bớt và sự thành tựu sẽ trở nên khó khăn.

Nhà vua cư xử như vậy, dân chúng và đình thần sẽ đặt hết tư tưởng vào nơi vua, vì nhận thấy:

1- Vua không cẩu thả, hấp tấp, không độc tài.

2- Vua trọng ý quần thần, ý dân.

3- Vua kính sợ Trời, luôn vâng mệnh Trời.

Kinh Thư thiên Quân Thích khen các vị thánh vương nhà Thương như sau:

«Nhờ đức độ cao minh, cách cai trị của các Ngài hoàn hảo. Nên mỗi khi nhà vua có việc gì bất kỳ ở phương nào, ý chí của vua cũng như ý chí của Trời (phát biểu bằng thi qui) luôn được mọi người hoàn toàn tin kính.» [36]

Thiên Kê Nghi có mục đích rõ rệt là muốn nhà vua trong mọi công việc đều vừa ý dân, thuận ý Trời, như vậy mới mong kết quả mỹ mãn.

Lúc suy sụp thì mọi sự sẽ đảo lộn hết. Kinh Thi đã cho chúng ta bức tranh thế sự đảo điên ấy.

Kinh Thi viết:

Trời xa thẳm ra uy mấy độ

Gieo tang thương dang dở khắp nơi

Mưu toan xuôi ngược rối bời

Bao giờ vua mới chịu thôi, chịu ngừng

Lời khuyên hay, vua không dùng tới

Lời dở dang vua dõi vua lý thuyết

Nhìn xem cơ sự đến điều

Lòng ta luống những trăm chiều ngổn ngang.

oOo

Đồng ý đấy rồi gàng quải đấy

Nghĩ nguồn cơn biết mấy bi ai

Lời bàn êm ấm trong ngoài

Hùa nhau họ cố liệu bài dèm pha

Những ý kiến chẳng ra đầu cuối

Trớ trêu thay, họ lại đồng tình

Toàn là tính quẩn bàn quanh

Nhẽ nào công việc hoàn thành được sao.

oOo

Rùa bói mãi, cơ màu hóa nhảm

Chẳng tiên tri, tiên đoán được chi

Quân sư vô số làm gì

Bàn xuôi, tán ngược ra gì nữa đâu

Người múa mép sân chầu chật cứng

Người đảm đang chịu đựng là ai?

Y như bàn chuyện đường dài

Thế mà chẳng một có ai khởi hành!

oOo

Buồn cho kẻ mang danh mưu sĩ

Chẳng theo đòi cương kỷ người xưa

Chẳng còn tôn chỉ sâu xa

Chỉ toàn lời lẽ nông sờ, buồn tênh

Toàn tính chuyện loanh quanh lẩn quẩn

Như cất nhà chẳng gẫm chẳng suy

Ra đường han hỏi vân vi

Mưu đồ thế ấy mong gì thành công ! [37]

oOo
Hết thiên 7
————————–

CHÚ THÍCH

[1] On obtenait, dit le commentaire,

國 有 大 事, 必 先 詳 慮 於 己, 而 後 謀 之 於 人, 人 不 能 決, 則 又 諏 之 卜 筮 以 決 之 於 天. l’avis du ciel, 以 人 謀 未 勉 于 有 心, 未 勉 于 有 私, 此 所 以 聽 天 命, une décision impartiale.

Quốc hữu đại sự, tất tiên tường lự ư kỷ, nhi hậu mưu chi ư nhân, nhân bất năng quyết, tắc hựu tu chi bốc phệ dĩ quyết chi ư thiên. Dĩ nhân mưu vị miễn vu hữu tâm, vị miễn vu hữu tư, thử sở dĩ thính thiên mệnh. (Wieger, Textes philosophiques, page 30. La Grande Règle)

[2] Bốc卜 = bói rùa. Phệ 筮 = bói cỏ thi. Dùng 49 cọng cỏ thi, thiệt 18 bận để lấy 1 quẻ (Le devin prenait 49 brins d’achilée, les manipulait 18 fois et obtenait un symbole 卦). (Couvreur, Chouking, page 204, notes)

[3] Tóm lại đứng trước một việc trọng đại, sẽ tham khảo ý kiến:

– của mình

– của người (khanh sĩ: ks; thứ dân: td)

– của Trời (thi, qui).

Tổng kết lại sẽ biết tốt xấu:

[4] Trúc Thư Kỷ Niên quyển chi nhất, chương Hoàng Đế Hiên Viên thị.

James Legge, The Chinese Classics, Vol III – The Annals of the Bamboo Books, page 108.

[5] Kinh Thư – Nghiêu Điển.

[6] Kinh Thư – Cam Thệ.

[7] Kinh Thư – Thang Thệ.

[8] Kinh Thư – Thái Thệ.

[9] Vua Thành (1766-1753) đóng đô ở Bạc ở phía nam phủ Qui Đức, tỉnh Hồ Nam.

[10] Bàn Canh dời đô về Ân hay Tây Bạc thuộc huyện Yển Sư tỉnh Hồ Nam; từ đấy nhà Thương đổi thành Ân. Cf. Couvreur, Chou King, page 132, notes.

[11] Xem Kinh Thư – Bàn Canh.

[12] Kinh Thư thiên Vũ Cống ghi:

Dân Cửu Giang tiến cống những rùa lớn (2278). Cửu giang nạp tích đại quyi. 九 江 納 錫 大 龜 (Kinh Thư – Vũ Cống)

Quy thiên tuế mãn xích nhị thốn. 龜 千 歲 滿 尺 二 寸 (Wieger, Textes philosophiques, page 23)

[13] Thượng long tượng thiên, hạ bình tượng địa. 上 隆 象 天, 下 平 象 地. (Wieger, Textes philosophiques, page 23)

[14] 龜 歲 久 則 靈, 著 生 百 歲, 一 本 百 莖, 亦 物 之 神 靈 者. 卜 筮 實 問 鬼 神 以 蓍 龜 神 靈 之 物 故 假 之 以 其 卦 兆. 卜 法 以 明 火 熱 柴, 灼 龜 為 兆, 筮 法 以 四 十 九 蓍 分 卦, 揲 扐. 凡 十 有 八 變 而 成 卦. (龜 策 列 傳 策 六 十 八)

Qui tuế cửu tắc linh, trứ sinh bách tuế, nhất bản bách kinh, diệc vật chi thần linh giả. Bốc thệ thật vấn quỉ thần dĩ thi qui thần linh chi vật cố giả chi dĩ kỳ quái triệu. Bốc pháp dĩ minh hỏa nhiệt sài, chước qui vi triệu, phệ pháp dĩ tứ thập cửu thi phân quải, thiệt lặc. Phàm thập hữu bát biến nhi thành quái. (Qui Sách Liệt Truyện sách lục thập bát)

Xem James Legge, The Shoo King, page 335, notes. Gaubil cho rằng Thi là thuộc Achillea millefolium – Williams cho rằng thuộc loại Verbena officinalis. Không biết ai là đúng. Trong Bản Thảo Cương Mục có hình cỏ thi.

本 草 綱 目 – 草 部 隰 草 類 上 Bản Thảo Cương Mục – thảo bộ thấp thảo loại thượng.

James Legge, The Shoo King, page 335, notes.

[15] 卜 稽 曰 其 如 台 各 非 敢 違 卜 (書 盤 庚)

Bốc kê viết: kỳ như di các phi cảm vi bốc. (Kinh Thư – Bàn Canh)

[16] 曰 天 子 天 既 訖 我 殷 命, 格 人 元 龜, 罔 敢 知 吉 (書 西 伯 戡 黎)

Viết: Thiên tử, thiên ký cật ngã Ân mệnh, cách nhân nguyên qui, võng cảm tri cát (Kinh Thư – Tây Bá Kham Lê)

[17] Xem Wieger, Textes philosophiques, page 59 (ở đây ghi là năm 1122).

Xem Wieger, Textes historiques, page 71 (ở đây ghi là năm 1050). Sự sai biệt nhau sở dĩ có là vì Textes historiques ghi theo Trúc Thư Kỷ Niên, còn Textes philosophiques lại ghi niên kỷ theo Thông Giám Cương Mục.

Xem Kinh Thư – Đại Nhã, Văn Vương Hữu thanh, 7.

Khảo bốc duy vương, rạch thị Cảo kinh.

Duy qui chính chi, Vũ Vương thành chi.

Vũ Vương chưng tai.

[18] Xem Wieger, Textes historiques, page 73.

Wieger, Textes philosophiques, page 59-60.

Xem Kinh Thư – Kim Đằng.

三 王 前 各 一 龜 卜 之, 三 龜 之 兆 皆 吉, 以 古 書 而 考 之, 亦 吉 也. 周 公 曰 視 其 卜 兆 之 吉, 王 疾 其 無 所 害.

Tam vương tiền các nhất qui bốc chi, tam qui chi triệu giai cát. Dĩ cổ thư nhi khảo chi, diệc cát dã. Chu Công viết: Thị kỳ bốc triệu chi cát, vương tật kỳ vô sở hại. (Wieger, Textes philosophiques, page 60).

[19] Ba người chú Thành Vương là Quản Thúc 管 叔, Thái Thúc 蔡 叔, Hoắc Thúc 霍 叔.

Wieger, Textes historiques, page 88.

[20] Phép bói rùa xưa, theo tài liệu của học giả Wieger được thực hiện theo một trong ba cách:

a/ Nếu muốn mai rùa khỏi hỏng, người ta phết mực lên mai rùa rồi hơ lửa, như vậy chỉ có lớp mực bên ngoài nứt, còn mai rùa vẫn nguyên.

b/ Nếu không, người ta sẽ vẽ trên mai rùa một lằn mực thẳng, và đem mai rùa hơ lửa; nếu những vết rạn của mai rùa cắt qua những vết lằn mực, sẽ là điềm hung; nếu chạy song song với lằn mực là điềm cát.

先 用 墨 畫 龜 而 後 灼 之 而 其 兆 之 文 循 墨 而 行 則 謂 之 吉 也. Tiên dụng mặc họa qui nhi hậu chước chi nhi kỳ triệu chi văn tuần mặc nhi hành tắc vị chi cát dã.

c/ Đem mai rùa hơ lửa rồi mới phết mực. Đem chùi sạch. Những chỗ mai rùa nứt sẽ uống mực; chỗ mai rùa nguyên sẽ không thấm mực. Nếu được những hình vẽ thật đen thật rõ, sẽ là điềm cát; nếu mờ sẽ là điềm hung.

Wieger, Textes historiques, page 62.

[21] 寧 王 遺 我 大 寶 龜 者, 以 其 可 以 紹 介 天 命, 以 定 吉 凶. 父 老 皆 謂 不 可 征. 王 曷 不 達 卜 而 勿 征 乎. 卜 伐 武 庚 而 吉. 是 上 帝 命 伐 之 也. 上 帝 之 命 其 敢 廢 乎. 上 而 先 王, 下 而 小 民 莫 不 用 卜, 而 我 獨 可 廢 卜 乎. 此 篇 專 主 卜 言, 然 其 上 原 天 命, 下 述 得 人, 反 復 終 始 平 卜 之 一 說 以 通 天 下 之 志, 以 斷 天 下 之 疑, 以 定 天 下 之 業.

Ninh Vương di ngã đại bảo qui giả, dĩ kỳ khả dĩ thiệu giới thiên mệnh, dĩ định cát hung. Phụ lão giai vị bất khả chinh; vương hạt bất đạt bốc nhi vật chinh hồ. Bốc phạt Vũ Canh nhi cát. Thị Thượng Đế mệnh phạt chi dã. Thượng Đế chi mệnh kỳ cảm phế hồ. Thượng nhi tiên vương, hạ nhi tiểu dân mạc bất dụng bốc, nhi ngã độc khả phế bốc hồ. Thử thiên chuyên chủ bốc ngôn, nhiên kỳ thượng nguyên thiên mệnh, hạ thuật đắc nhân, phản phục chung thủy bình bốc chi nhất thuyết dĩ thông thiên hạ chi chí, dĩ đoạn thiên hạ chi nghi, dĩ định thiên hạ chi nghiệp. (Wieger, Textes philosophiques, page 61).

[22] Xem Wieger, Textes philosophiques, page 62. Người xưa gọi thế là «bốc trạch». Bói để tìm địa điểm. 卜 宅 者 用 龜 卜 宅 都 之. Bốc trạch giả dụng qui bốc trạch đô chi.

[23] Xem Wieger, Textes philosophiques, page 61-62.

Wieger, Textes historiques, page 89.

Kinh Thư – Thiệu Cáo, tiết 2.

Kinh Thư – Lạc Cáo, tiết 3, 4.

惟 洛 食. 伻 來; 以 圖 及 獻 卜, 王 拜 手 稽 首 曰. 公 不 敢 不 敬 天 之 休. […] 伻 來. 來 視 予 卜 休 恆 吉. […] 公 其 以 予 萬 億 年 敬 天 之 休.

Duy lạc thực. Bình lai; dĩ đồ cập hiến bốc, vương bái thủ kê thủ viết: Công bất cảm bất kính thiên chi hưu. […] Bình lai. Lai thị dữ bốc hưu hằng cát. […] Công kỳ dĩ dữ vạn ức niên kính thiên chi hưu.

[24] 龜 為 卜, 筴 為 筮. 卜 筮 者 先 聖 王 之 所 以 使 民 信 時 日, 敬 鬼 神, 畏 法 令 也, 所 以 使 民決 嫌 疑, 定 猶 與 也. 故 曰: 疑 而 筮 之 則 弗 非 也, 日 而 行 事, 則 必 踐之. Qui vi bốc, sách vi phệ. Bốc phệ giả tiên thánh vương chi sở dĩ sử dân tín thời nhật, kính quỉ thần, úy pháp lệnh dã, sở dĩ sử dân quyết hiềm nghi, định do dự dã. Cố viết: nghi nhi phệ chi tắc phất phi dã, nhật nhi hành sự, tắc tất tiễn chi.

[25] Wieger, Textes philosophiques, page 23: «Intention excellente, moyen inepte.»

[26] 天 下 之 事, 卿 士 庶 民 皆 不 可, 而 猶 有 吉 者. 蓋 自 古 未 之 有 也 […] 使 箕 子 之 說 行, 後 世 人 君 將 有 棄 卿 士, 忽 庶 民 而 惟 龜 筮 之 從. 邪 說 異 議 得 以 乘 間 而 入. 天 下 自 此 多 事 矣.

Thiên hạ chi sự, khanh sĩ thứ dân giai bất khả, nhi do hữu cát giả. Cái tự cổ vị chi hữu dã […] Sử Cơ Tử chi thuyết hành, hậu thế nhân quân tương hữu khí khanh sĩ, hốt thứ dân nhi duy qui phệ chi tòng. Tà thuyết dị nghị đắc dĩ thừa gian nhi nhập. Thiên hạ tự thử đa sự hĩ. (James Legge, The Shoo King, page 338.)

[27] 此 蓋 商 俗 尚 鬼, 習 聞 其 說 遂 信 不 移. 雖 箕 子 之 賢 不 能 拔 於 流 俗 也. Thử cái Thương tục thượng quỉ, tập văn kỳ thuyết toại tín bất di. Tuy Cơ Tử chi hiền bất năng bạt ư lưu tục dã. (James Legge, The Shoo King, page 338.)

[28] 草 廬 說 經 往 往 有 賢 智 之 過 而 此 說 尤 為 紕 繆. 夫 子 之 贊 易 也 曰: 探 賾 索 隱, 鉤 深 致 遠, 以 定 天 下 之 吉 凶, 成 天 下 之 亹 亹 者 莫 大 乎 蓍 龜. Thảo Lư thuyết kinh vãng vãng hữu hiền trí chi quá nhi thử thuyết vưu vi phi mậu. Phu tử chi tán dịch dã viết: Tham trách sách ẩn, câu thâm trí viễn, dĩ định thiên hạ chi cát hung, thành thiên hạ chi vĩ vĩ giả mạc đại hồ thi qui…

[29] 又 曰 人 謀 鬼 謀, 百 姓 與 能, 謂 其 可 以 斷 天 下 之 疑 也. 大 禹 之 稽 疑, 豈 別 有 所 指 而 箕 子 以 卜 筮 附 會 之 邪. 使 箕 子 而 溺 於 流 俗, 何 以 為 箕 子.

Hựu viết nhân mưu quỉ mưu, bách tính dữ năng, vị kỳ khả dĩ đoán thiên hạ chi nghi dã. Đại Vũ chi kê nghi, khởi biệt hữu sở chỉ nhi Cơ Tử dĩ bốc phệ phụ hội chi tà. Sử Cơ Tử nhi nịch ư lưu tục, hà dĩ vi Cơ Tử?

James Legge, The Shoo King, page 338-339, notes.

[30] I Samuel 14, 41-42.

I Samuel 30, 7, 8.

II Samuel 2, 1.

Trong khi thỉnh ý Thiên Chúa vua Saül và vua David đều dùng ephod, tức là hai thẻ urim và tummim, tương tự như lối xin âm dương của Á Đông.

[31] Ce verset montre comment on consultait par l’épod: il contenait deux sorts (bâtonnets ou dés) qu’on appelait urim et tummim et auxquels on donnait la signification conventionnelle. Celui qui était tiré apportait la réponse divine, c’était donc une réponse par oui ou par non. La maniement des sorts était réversé aux prêtres lévites. (Cf. Nb 27, 21 Dt 33, 8) Trích Bible de Jérusalem, trang 293.

[32] 周 公 之 心 以 聽 於 天 而 已. Chu Công chi tâm dĩ thính ư thiên nhi dĩ. (Wieger, Textes philosophiques, page 62.)

筮 卜 之 道 必 先 斷 於 心, 故 曰 考 卜 維 王, 以 吉 凶 取 正 於 龜. Phệ bốc chi đạo tất tiên đoán ư tâm, cố viết khảo bốc duy vương, dĩ cát hung thủ chính ư qui. = Phàm khi bói toán, mình phải định trong lòng trước, rồi mới bói rùa xem ý định ấy đúng hay sai. (Wieger, Textes philosophiques, page 59.)

[33] 非 義 不 占, 非 疑 不 占, 非 疑 而 占 謂 之 侮. 非 義 而 占 謂 之 欺. Phi nghĩa bất chiếm, phi nghi bất chiếm, phi nghi nhi chiếm vị chi vũ. Phi nghĩa nhi chiếm vị chi khi. (Ts’ae Ch’in) (James Legge, The Shoo King, page 338, notes)

[34] Kinh Thư ghi chép phần nhiều các cuộc bói rùa.

Kinh Xuân Thu ghi chép phần nhiều là các cuộc bói cỏ thi.

Các cuộc bói rùa quan trọng trong Kinh Thư đã thuật lại trong chương này.

Các cuộc bói cỏ thi, và bình giải, xin xem kinh Xuân Thu:

Hi Công năm XXV (Couvreur, Tome I, p. 369)

Tuyên Công năm VI (Couvreur, Tome I, p. 591)

Tuyên Công năm VII (Couvreur, Tome I, p. 591)

Thành Công năm XVI (Couvreur, Tome II, p. 33)

Tương Công năm IX (Couvreur, Tome II, p. 237)

Tương Công năm XXV (Couvreur, Tome II, p. 420-421)

Tương Công năm XXVIII (Couvreur, Tome II, p. 593)

Chiêu Công năm XVII (Couvreur, Tome III, p. 151)

Chiêu Công năm XII (Couvreur, Tome III, p. 201)

Ai Công năm X (Couvreur, Tome III, p. 658), v.v…

[35] 此 篇 專 卜 言, 然 其 上 原 天 命, 下 述 得 人, 反 復 終 始 平 卜 之 一 說, 以 通 天 下 之 志, 以 斷 天 下 之 疑, 以 定 天 下 之 業. Thử thiên chuyên bốc ngôn, nhiên kỳ thượng nguyên thiên mệnh, hạ thuật đắc nhân, phản phục chung thủy bình bốc chi nhất thuyết, dĩ thông thiên hạ chi chí, dĩ đoán thiên hạ chi nghi, dĩ định thiên hạ chi nghiệp. (Cf. Wieger, Textes philosophiques, page 61.)

[36] 惟 茲 惟 德, 稱 用 乂 厥 辟. 故 一 人 有 事 于 四 方, 若 卜 筮 罔 不 是 孚. Duy tư duy đức, xưng dụng nghệ quyết tích. Cố nhất nhân hữu sự vu tứ phương, nhược bốc phệ võng bất thị phu. (Kinh Thư – Quân Thích)

[37] Kinh Thi – Mân Thiên – Vật Uy.

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 8

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI NHÂN CÁC ĐIỀM TRỜI
MÀ SOÁT XÉT LẠI ĐƯỜNG LỐI CAI TRỊ

Theo Hồng Phạm thì đấng quân vương cai trị hay, dở, sẽ cảm ứng đến trời đất.

Nên mỗi khi có điềm trời khác lạ, lập tức phải tự vấn lương tâm, kiểm điểm lại đường lối cai trị.

Hồng Phạm viết:

TÁM là các điềm: mưa, ấm, rét, gió và thời gian xuất hiện của chúng.

Nếu năm việc này mà xảy đến vừa đúng lúc cho mình dùng, hợp theo thời tiết của nó, thời cỏ cây sẽ được tươi tốt rườm rà.

Quá nhiều không hay, quá ít cũng chẳng tốt.

Đây là các điềm lành: Nhà vua đoan trang, mưa sẽ thuận. Nhà vua khôn ngoan, ấm sẽ thuận. Nhà vua mưu trí, có phương lược, lạnh sẽ thuận. Nhà vua thánh thiện, gió sẽ thuận.

Đây là điềm dữ: Nhà vua cuồng bạo, mưa sẽ tầm tã. Nhà vua hống hách, nắng sẽ lâu lai. Nhà vua biếng lười, nóng sẽ liên tiếp. Nhà vua hấp tấp, gió sẽ kéo dài. Nhà vua hôn ám, gió sẽ dồn dập.

Vua phải xét tình hình tổng quát cả năm, khanh sĩ xét tình hình mỗi tháng, sư doãn lo tình hình hằng ngày.

Nếu quanh năm mưa thuận gió hòa thì lúa thóc phong đăng, cai trị khôn khéo, dân thịnh nước yên. Nếu quanh năm thời tiết gàng quải, lúa má sẽ hư hao, việc trị dân đã tối tăm, kém cỏi, dân suy, nước khổ.

Thứ dân là các chòm sao, còn vua quan như vầng nhật nguyệt. Có nhóm sao ưa gió, có nhóm sao ưa mưa. Mặt trời, mặt trăng vận hành qua các chòm sao mới có gió, có mưa. [1]

Như vậy, theo Hồng Phạm, thời tiết cũng như tấm gương lớn, Trời treo trước mặt đấng quân vương, để soi vào, sẽ thấy thực trạng mình, tình thế đất nước; suy ra được sở trường sở đoản của mình để tùy nghi quyền biến.

Xưa, mỗi khi có cuồng phong, bạo vũ, hạn hán hay điềm bất thường gì nhà vua lại tự vấn lương tâm, tìm tòi xem mình đã ăn ở thất thố gì. Sử sách có ghi ít nhiều trường hợp.

Kinh Thư thiên Kim Đằng viết: [2]

Sang Thu, được mùa lớn; chưa gặt thì trời nổi giông gió sấm chớp. Lúa má đổ hết, các cây cũng bật rễ. Dân chúng cả sợ. Nhà vua cùng các quan đại phu, đội mũ da, để mở hòm gắn vàng.

Bấy giờ mới hay Chu Công đã tình nguyện chết thay cho Vũ Vương.

Nhà vua cùng hai ông (Thái Công, Thiệu Công) bèn hỏi sử quan cùng các quan coi trăm việc.

Họ đều thưa:

– Thực có thế! Nhưng chao ôi ! Chu Công ngài đã dặn chúng tôi không được nói.

Nhà vua cầm lấy thư mà khóc…

– Thôi đừng nói nữa! [3]

«Xưa kia Ông (Chu Công) khó nhọc với nhà vua; chỉ tại ta trẻ dại, không kịp biết tới. Nay Trời động dụng đến oai, để tỏ ra đức của Ông Chu. Vậy ta, kẻ nhỏ mọn, phải thân sang đón Ông về nước nhà ta. Lễ cũng nên thế.»

Nhà vua ra khỏi thành. Trời liền mưa, trở gió. Lúa đứng lại hết. Hai ông (Thái Công, Thiệu Công) sai người trong nước dựng lại các cây bị nghiêng ngả và đắp đất vào. Năm ấy được mùa lớn. [4]

Khoảng Chu Tuyên Vương năm thứ 6 (821 trước CN) có hạn hán khủng khiếp. [5]

Vua Tuyên Vương lo lắng không cùng, hết thở than rồi lại soát xét vì đâu mà Trời lại ra tai.

Kinh Thi viết:

Long lanh kìa giải Ngân Hà

Long lanh chuyển vận, lại, qua, trên trời

Vua rằng thương hỡi, thương ôi

Ai làm nên tội, để Trời ra tai

Mà cho tang tóc rối bời

Mà cho đói khát, mấy hồi lao lung.

Riêng ta há dám lưng chừng

Tam sinh nào dám tiếc cùng thần minh

Ngọc khuê, ngọc bích sạch sanh

Mà sao Trời vẫn ra tình mần ngơ.

oOo

Trời làm hạn hán cháy khô

Càng ngày cái nóng cơ hồ càng thiêu

Tế Giao rồi lại tế triều

Cúng rồi chôn cất, đủ điều thiếu chi

Vái van thần thánh mọi vì

Mà sao Hậu Tắc chẳng chi hộ phù

Trời cao thôi cũng làm lơ

Khắp nơi khô héo, phạc phờ vì ai

Điêu tàn, hoang hủy khắp nơi

Ước gì ta được vì người chịu thay… [6]

Ngày nay, ta không thể nào tìm hiểu được lý do tại sao Hồng Phạm lại cho điềm tốt, điềm xấu nọ kia, ứng đối với tính tốt, tính xấu này khác của đấng quân vương.

Nhưng có một điều mà ngày nay ta có thể nói chắc là thời tiết, mưa gió có ảnh hưởng rất nhiều đến nền cai trị. Điều đó rất dễ hiểu, ví như hạn hán quá lâu, dân sẽ đói khổ, đói khổ sẽ lầm than, sẽ loạn lạc, cho nên nếu đấng quân vương không quan phòng, không ngăn chặn tai ương từ khi nó chớm nở, không có những biện pháp hữu hiệu để cứu trợ dân chúng trong những kỳ hạn hán, hay bão táp, chắc là sẽ để cho dân lâm vào cảnh khốn cùng, và làm cho ngôi vị nhà cầm quyền cũng bị lung lay, điên đảo. Đọc lịch sử ta thấy dân đói khát sẽ sinh ra loạn lạc, mà dân đói khát phần nhiều vì Trời giáng tai ương và nhà cầm quyền không biết đàng chống đỡ, ngăn chặn kịp thời.

Xuân Thu viết: «Khi trời làm đảo điên thời tiết, sẽ có tai ương. Khi đất làm đảo điên các phẩm vật, sẽ sinh ra yêu quái. Khi dân chúng làm đảo điên luân thường sẽ sinh ra loạn lạc…» [7]

Ta có thể nhân đó mà lập luận thêm: nếu thời tiết đảo điên, loạn lạc sẽ sinh ra dễ dàng.

Cũng vì thế mà các bậc đế vương để ý đến điềm trời, đến thời tiết.

Cho nên các ngày nhị phân, nhị chí, người xưa thường quan sát sắc mây, để đoán trước điềm trời tốt xấu cho một năm, để đề phòng. [8]

Vả lại trên phương diện thực tế, còn gì hữu ích hơn cho dân nước là nhà cầm quyến luôn luôn kiểm điểm lại đường lối cai trị của mình để xem có được thập phần hoàn hảo, có trong sạch không, xem có phục vụ nhân dân cho đúng mức không.

Cho nên mỗi khi có gió mưa bão táp hay hạn hán bất thường mà nhà cầm quyền biết xét mình, biết lo tu sửa những lỗi lầm của mình thì dân con được nhờ biết bao.

Mỗi khi dân chúng gặp tai ương gì, dĩ nhiên họ chờ mong sự cứu trợ của nhà cầm quyền, sự cảm thông, và sự «vì dân lo lắng» của nhà cầm quyền.

Xuân Thu chép:

Năm 21 đời Lỗ Hi Công có hạn hán.

Lỗ Hầu muốn thiêu sống một mụ đồng cốt (để cầu đảo). Tàng Văn Trọng tâu:

«Giết người đâu phải là phương sách làm cho hết hạn hán. Bây giờ phải sửa sang thành quách (phòng giặc cướp), giảm bớt khẩu phần, giảm bớt tiêu pha, hết sức cần kiệm, khuyến khích dân chúng chia sẻ vật thực cùng nhau, đó mới là công việc phải làm…»

Lỗ Hi Công nghe theo và năm ấy dân chúng không đến nỗi đói khổ quá. [9]

Dân chúng mắc tai ương, dĩ nhiên nhà cầm quyền phải nghĩ đến việc cứu trợ, giảm thuế má, và cũng phải thực hiện một đời sống khắc khổ ngay với bản thân để cảm thông cùng dân chúng.

Cho nên những công cuộc cầu phong đảo vũ các vua thời trước, những nỗi lòng trắc ẩn xót xa vì dân vì nước, trước những thiên tai, dẫu không đưa tới một hậu quả gì trực tiếp để phò nguy cứu khổ, nhưng ít ra cũng có một ảnh hưởng tâm lý rất lớn.

Nếu khi dân chúng hoạn nạn gặp thiên tai đại họa mà vua quan thờ ơ, đến khi vua quan mắc họa, binh đao, chắc chắn sẽ không được dân chúng cứu giúp.

… Nước Trâu và nước Lỗ đánh nhau. Vua Mục Công nước Trâu (thua) hỏi ông Mạnh Tử rằng: «Trong cuộc chiến tranh vừa qua, có ba mươi ba vị quan võ của ta phải chết, nhưng chẳng có một tên lính nào liều thác để cứu kẻ bề trên. Nếu ta đem họ ra mà giết thì họ đông lắm, giết chẳng xiết. Còn như chẳng giết họ, thì họ vẫn ghét bực trưởng thượng của mình, họ cứ nhìn bực trên trước của mình chết mà chẳng chịu tiếp cứu. Theo ý Ngài, nên làm thế nào?»

Mạnh Tử đáp rằng: «Trong những năm tai biến, ruộng đất bỏ hoang, mùa màng thiệt hại, dân chúng của vua người già cả, yếu đuối chết đói nằm ngang dọc theo đường mương lỗ cống, kẻ trai tráng tản lạc khắp bốn phương; số nạn nhân già trẻ ấy đến mấy ngàn người rồi. Trong lúc ấy lẫm vua thì đầy tràn lúa gạo; kho tàng của vua thì dư dật của tiền. Thế mà các quan của vua không hề báo cáo với vua. Đó là kẻ bề trên coi rẻ mạng dân và tàn hại lê dân vậy.

«Ông Tăng Tử có nói rằng: «Phải coi chừng! Phải coi chừng! Người làm cho ai việc gì thì việc ấy sẽ trả lại cho người.» Nay dân chúng chẳng tiếp cứu quan chức, đó là họ trả lại cách quan chức bỏ bê họ vậy. Cho nên vua chớ buông lời phiền trách họ.» [10]

Vả lại chúng ta đừng tưởng quan niệm về một nền cai trị hay dở có thể ảnh hưởng đến thời tiết là một chuyện «phong thần». Không! Đó chính là thực tại, thế mới lạ!

Mới đây trong quyển La Bible et le Plan de Dieu, ông André Lamorte nhân kể lại công trình của dân Do Thái trong việc phục hưng xứ sở, cũng công nhận ảnh hưởng ấy. Ông viết:

«Khi người Do Thái trở về chiếm lại quê hương xứ sở, họ đứng trước một vùng đất đai cằn cỗi hoàn toàn.

Lý do: Thổ Nhĩ Kỳ đã lập ở Palestine một loại thuế đánh lên các cây. Người Á Rập để trốn thuế đó, đã để cho cây cối chết.

Chúng ta biết ảnh hưởng của cây cối đến khí hậu. Thiếu các cây rừng thuở xưa, xứ Palestine không còn được mưa thuận gió hòa nữa. Và đất đai để hoang phế vì sự lười biếng của người Á Rập hầu như không còn sinh sôi nảy nở được gì… [11]

Trong thiên này chúng ta có thể rút ra được những bài học cụ thể.

Nếu chúng ta không chứng minh một cách khoa học được rằng hành động hay dở của con người có ảnh hưởng đến trời đất khí hậu, thì trái lại, ta có thể hiểu dễ dàng các biến cố về thời tiết có ảnh hưởng lớn lao đến con người, đến chính trị.

Cho nên các bậc lãnh đạo dân cần phải lưu tâm chú ý đến các biến chuyển khác thường về khí tiết phong vũ, để biết cách phòng nguy lự hiểm cho dân chúng, hoặc là để tránh bớt bệnh tật, hoặc là tránh bớt lầm than cho dân chúng.

Và mỗi khi gặp những điềm bất tường, cần phải kiểm điểm lại lề lối cai trị. Cử chí ấy, thái độ ấy chỉ có lợi, chứ không có hại.

Mạnh Tử viết: «Bực quốc trưởng mà chia vui sẻ buồn với thiên hạ thì thế nào nền cai trị của mình cũng có bề hưng vượng đó.» [12]

oOo
Hết Thiên 8
————————–

CHÚ THÍCH

[1] Ý nói vua quan phải phục vụ dân, xuống tới dân để thỏa mãn những nguyện vọng chân chính của dân.

[2] Muốn hiểu đoạn này chúng ta nên nhớ lại 2 năm sau khi thắng nhà Thương, vua Vũ ngọa bệnh. Chu Công liền xin các tiên đế cho mình được chết thay Vũ Vương, và lời cầu xin thế mệnh ấy được để trong một hộp gắn vàng (kim đằng).

Sau này, khi Vũ Vương thăng hà, và con là Thành Vương lên trị vì, các ông Quản Thúc, Thái Thúc, và Hoắc Thúc phao tin Chu Công muốn tạo phản, thành thử Thành Vương đem lòng ngờ Chu Công, nên Chu Công phải cáo quan về Đông Lỗ ẩn dật hai năm để tị nạn. Chu Công cũng làm bài thơ Chi Hào (hay Suy Hào) (鴟 鴞 = con cú) để minh oan cùng vua. Và mùa Thu, Trời làm giông tố sấm chớp để cho vua có dịp nhận ra sự hôn ám của mình…

[3] 其 勿 穆 卜 = 今 觀 公 書 可 知 天 變 之 所 由, 我 君 臣 不 必 更 穆 卜 矣.

Kỳ vật mục bốc = kim quan công thư khả tri thiên biến chi sở do, ngã quân thần bất tất canh mục bốc hĩ. (Nhật giảng) (James Legge, The Shoo King, page 360)

[4] Kinh Thư – Kim Đằng, tiết 16, 17, 18, 19.

[5] James Legge, The Shoo King, page 528.

[6] Kinh Thi – Đại Nhã Đãng Vân Hán, 1, 2.

[7] 天 反 時 為 災, 地 反 物 為 妖, 民 反 德 為 亂, 亂 則 妖 災 生.

Thiên phản thời vi tai, địa phản vật vi yêu, dân phản đức vi loạn, loạn tắc yêu tai sinh.

Xuân Thu – Tuyên Công năm thứ XV.

Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, page 655.

[8] 凡 分 至 啟 閉, 必 書 雲 物, 為 備 故 也. Phàm phân chí khải bế, tất thư vân vật, vi bị cố dã.

Xuân Thu – Hi Công năm thứ V. – Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, page 248.

[9] 夏 大 旱, 公 欲 焚 巫 尩. 藏 文 仲 曰: 非 旱 備 也. 修 城 郭 貶 食, 省 用, 務 穡, 勸 分, 此 其 務 也. 巫 尩 何 為. Hạ đại hạn, Công dục phần vu uông. Tàng Văn Trọng viết: Phi hạn bị dã. Tu thành quách, biếm thực, tỉnh dụng, vụ sắc, khuyến phân, thử kỳ vụ dã. Vu uông hà vi.

Xem Xuân Thu – Hi Công năm 21. – Couvreur, page 327.

[10] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 12.

[11] Lorsque les Juifs sont entrés en possession de leur territoire, ils se sont trouvés en face d’un sol littéralement stérilisé.

L’occupant turc avait établi en Palestine un impôt sur les arbres. Pour éviter cette redevance, les Arabes avaient laissé périr leurs arbres.

Nous savons l’action des arbres sur le climat. Privée de ses forêts de jadis, la Palestine ne connaissait plus le régime régulier de ses pluies et de ses saisons. La terre délaissée par l’Arabe indolent ne produisait à peu près rien… (André Lamorte, La Bible et le Plan de Dieu, page 95).

[12] 樂 以 天 下,憂 以 天 下﹔然 而 不 王 者,未 之 有 也. Lạc dĩ thiên hạ, ưu dĩ thiên hạ; nhiên nhi bất vương giả, vị chi hữu dã. (Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 4)

————————–

CHƯƠNG 4

THIÊN 9

ĐẤNG QUÂN VƯƠNG PHẢI NHÌN VÀO TÌNH CẢNH DÂN
ĐỂ NHẬN ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA NỀN CAI TRỊ

Sau hết nhà vua muốn biết mình cai trị dở hay thế nào, cứ nhìn vào tình cảnh dân chúng sẽ thấy.

Nếu cai trị hay, dân sẽ sung sướng, hạnh phúc, sống lâu, giàu bền, yên ổn, ưa chuộng nhân đức và được chết già!

Nếu cai trị dở, dân sẽ khổ sở, lao lung, bệnh tật, tảo vong, yểu tử, nghèo khổ, bất lương, tật bệnh, v.v…

Hồng Phạm viết:

-Thứ CHÍN là năm phúc: (Ngũ phúc lâm môn)

Một là thọ,

Hai là giàu,

Ba là yên vui,

Bốn là ham về đức,

Năm là chết già yên ổn.

*Sáu cực: (Lục cực)

Một là chết non,

Hai là bệnh tật,

Ba là lo buồn,

Bốn là nghèo khổ,

Năm là tội ác,

Sáu là yếu ớt.

Thế tức là nhìn xem đời sống, nhìn xem tình cảnh dân chúng có thể biết ngay một nền hành chánh hay dở thế nào.

Kinh Thư viết:

Người xưa có lời rằng:

«Con người chẳng những soi bóng nước

Còn phải ngắm mình với gương dân.» [1]

Tăng Cống bình rằng: «Hạnh phúc hay khổ cực của dân là những yếu tố để nhà vua xem xét mình đã thành công hay thất bại trong công cuộc trị dân. Trị dân là mang hạnh phúc no ấm lại cho dân, và tránh cho dân mọi tai ương khổ ải.» [2]

Một nền hành chánh dở hay có ảnh hưởng rất nhiều đến tình cảnh của dân. Một vị quốc quân luôn thương dân, dìu dắt dân, đỡ đần dân, tổ chức đời sống xã hội cho dân được no ấm, không quấy nhiễu dân bằng sưu cao thuế nặng, không đàn áp dân bằng những luật lệ vô tình, giúp đỡ những người quan quả, ấu thơ, côi cút, tránh cho dân khỏi mắc vòng binh đao, đạn lửa, dạy cho dân sùng thượng những thuần phong mỹ tục, giáo hóa cho dân biết hòa mục lễ nghĩa, thời chắc chắn sẽ đi đến kết quả là toàn dân sẽ hạnh phúc.

Còn như coi dân chúng như cỏ rác; hành hạ dân, di chuyển dân mà không để ý đến tập quán, những nghề nghiệp của họ, [3] sử dụng dân không đúng với khả năng của họ, không hợp với thời tiết, làm cho đời sống họ bị xáo trộn, công việc bị gián đoạn, chồng vợ bị chia phôi, bắt họ phải phục dịch nhà nước tối ngày, gôm cùm họ bằng những luật lệ, những chỉ thị quái ác, xô đẩy họ vào vòng lửa đạn, để cho họ đêm mất ngủ, ngày mất ăn, lao lung cùng khốn, để cho họ thân tàn ma dại. Những tai họa, những lầm than ấy chẳng phải là tiền oan nghiệp chướng của dân, mà chính là lỗi tại chính quyền thiếu sáng suốt, thiếu khôn ngoan, thiếu tổ chức.

Ngày xưa các vị thánh vương cai trị hoàn toàn vì dân vì nước, nên coi dân như mình, thương xót dân chứ không quấy phá, thành thực giúp đỡ dân, thành thực muốn cho dân hạnh phúc. Và dĩ nhiên các Ngài tin tưởng rằng hạnh phúc của dân chúng là mục phiêu có thể đạt được nơi trần gian này.

Đọc Lễ Ký, ta thấy rõ đường lối ngày xưa:

Thiên Lễ Vận viết: «Cho nên thánh nhân, trong cuộc cai trị, bắt chước trời đất, quỉ thần. Ngài xây nền tảng chính trị trên những nguyên lý, những định tắc bất biến của trời đất, và do đó, lập ra lễ nghi, qui tắc để giữ gìn trật tự. Ngài yêu thích những điều dân ưa thích, vì thế dân bình trị.» [4]

Mỗi khi đem dân cư đến lập nghiệp nơi nào, đều xem xét kỹ lưỡng địa thế, khí hậu trước. Bắt dân làm việc thì bắt làm nhẹ nhàng vừa sức, mà cho ăn thì tử tế no nê: «Làm việc của ông lão, ăn khẩu phần của người trai!» [5]

Xưa, nhà nông góp phần canh tác công điền, nhưng không phải nạp thuế. Nơi chợ búa, cửa hàng phải thuê, nhưng hàng hóa không mất lệ phí. Ở quan ải, khám thương lữ, mà không đánh thuế quan.

Mỗi năm, có kỳ dân được tự do lên rừng, lên núi chặt cây, ra sông, ra hồ câu cá.

Các khuê điền không mất thuế. Bắt dân làm xâu không quá ba ngày.

Đất thổ cư mỗi gia đình không được bán. [6]

Nhà cầm quyền xưa nhận thấy rằng phong tục, đồ ăn thức dùng, áo xống có thể tùy thổ ngơi, tùy khí hậu đổi thay, nên đến xứ nào cũng lo giáo hóa dân, lo cai trị dân, nhưng không thay đổi tập tục, hay kiểu cách của dân. [7]

Cũng vì nghĩ đến hạnh phúc của dân, và muốn xoa dịu những nỗi niềm đau khổ của dân, nên các vị thánh vương xưa đặc biệt lưu ý và trợ cấp cho những người cô đơn, quan quả.

Hơn nữa tất cả những người tật nguyền, câm điếc, què quặt hay bất thành nhân đều được chính quyền thâu dụng giao cho công việc làm ăn tùy theo khả năng, được chính quyền nuôi dưỡng. [8]

Văn Vương đã cai trị theo đúng những nguyên tắc ấy.

Tề Tuyên Vương hỏi Mạnh Tử: «Nền chính trị của các vì Thiên tử, ngài có thể giải cho ta nghe chăng?» Mạnh Tử đáp rằng : «Thuở xưa Văn Vương cai trị đất Kỳ, ngài thi hành phép chính trị như sau:

«Ruộng đất thì phân ra chín khu (một tỉnh), tám khu ngoài thì chia cho tám gia đình dân chúng làm mà hưởng trọn huê lợi; còn khu thứ chín ở giữa thì tám gia đình ấy phải chung sức mà làm cho nhà vua. Những vị quan chức ăn lộc vua, khi qua đời, thì con cháu được truyền nối nhau mà hưởng lộc. Ở những chợ búa, nơi miền quan ải, người ta khám xét kẻ bộ hành qua lại, nhưng chẳng đánh thuế vào hàng hóa họ mang theo. Ở những ao hồ, ngòi lạch, để cho dân tự do đánh cá mà kiếm ăn. Đối với kẻ phạm tội, chỉ phạt một mình họ mà thôi, chẳng bắt lây tới vợ con họ.

«Lại nữa, quan là những ông lão không vợ, quả là những bà lão không chồng, độc là những ông lão hay bà lão chẳng có ai phụng dưỡng, cô là những trẻ mồ côi cha. Đó là bốn hạng người cùng khổ nhất trong thiên hạ, chẳng biết nhờ cậy vào ai. Văn Vương khi mới bắt đầu hành chính và thi nhân, ngài lưu tâm cứu giúp bốn hạng người ấy trước nhất.» [9]

Xét như vậy thì một nền hành chánh đúng mức, nhất định phải đem hạnh phúc sung sướng lại cho nhân dân. Cho nên những kết quả cụ thể mà dân chúng thâu lượm được sẽ trở nên những bản tuyên dương, hay ngược lại, trở thành những bản cáo trạng đối với chính quyền.

Cho nên, thăm dân tình sẽ biết chính sự.

Vua Nghiêu đã áp dụng những nguyên tắc này để thưởng, phạt, thăng, giáng các chư hầu, trong khi ngài đi tuần thú bốn phương.

Mạnh Tử viết: «Thiên tử đến viếng các vua chư hầu gọi là  tuần thú. Mùa Xuân, Thiên tử và chư hầu đi xem xét ruộng nương của bá tánh, thấy những ai thiếu thốn thì giúp lúa giống cho. Mùa Thu các ngài đi xem xét việc gặt thâu: biết những ai hụt hạt, các ngài tư trợ cho. Khi Thiên tử bước vào ranh giới một vua chư hầu, ngài nhận thấy đất đai mở mang, ruộng vườn trồng trọt, người già cả được phụng dưỡng, bực hiền đức được tôn trọng, và tranh anh tuấn có chức vị, thấy vậy ngài vui mừng mà ban thưởng. Ban thưởng tức là phong đất thêm cho. Khi Thiên tử bước vào ranh giới một vua chư hầu, ngài nhận thấy đất đai hoang phế, cỏ mọc um tùm, người già cả bị bỏ rơi, bậc hiền đức không được trọng dụng, những kẻ bóc lột và hà khắc với dân lại chiếm đoạt chức vị cao, thấy vậy, ắt Ngài quở trách vị vua chư hầu…» [10]

Thiên IX Hồng Phạm này đem lại cho chúng ta một niềm tin tưởng lớn lao, và xác định một lần nữa nhiệm vụ của nhà cầm quyền.

Con người được hạnh phúc hay không là do con người được cai trị hay hay dở. Tai họa và khổ cực không phải là gia tài của con người, mà chỉ là những bước đường gian lao, những hoàn cảnh éo le gây nên do sự dốt nát, sự thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết, thiếu thương yêu  mà thôi.

Và một nền hành chánh lý tưởng, với sự đoàn kết nhất trí của các tầng lớp xã hội nhất định sẽ khắc phục được mọi gian khổ, sẽ đem lại cho con người sự hòa bình thái thịnh thực sự và bền vững.
oOo

*Hết thiên 9
————————–

CHÚ THÍCH

[1] Cổ nhân hữu ngôn viết: Nhân vô ư thủy giám, đương ư dân giám.

人 無 於 水 監,當 於 民 監. Kinh Thư – Tửu Cáo, 12.

[2] Tsang Kung 曾 鞏 (Tăng Cống) says: «The nine divisions all describe the course of the sovereign. The happinesses and extremities are conditions by which the sovereign examines his own attainments and defects in reference to the people. That these happinesses should be among the people, is what the sovereign should aim after, and the extremities being among them is what he should be standing in awe of. (James Legge, The Shoo King – The Great Plan, page 343, notes)

[3] Đời xưa các vị thánh vương không bắt dân miền núi xuống ở ven sông, hay bắt dân ngoài hải đảo vào ở trong đồng, như vậy dân sẽ không nghèo khổ.

故 聖 王 所 以 順. 山 者 不 使 居 川, 不 使 渚 者 居 中 原, 而 弗 敝 也. Cố thánh vương sở dĩ thuận. Sơn giả bất sử cư xuyên, bất sử chử giả cư trung nguyên, nhi phất tệ dã. (Lễ Ký – Lễ Vận, 16. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 535)

[4] 故 聖 人 參 於 天 地, 並 於鬼 神, 以 治 政 也. 處 其 所 存, 禮 之 治 也. 玩 其 所 樂﹔ 民之 治 也. Cố thánh nhân tham ư thiên địa, tịnh ư quỉ thần, dĩ trị chính dã. Xử kỳ sở tồn, lễ chi trị dã. Ngoạn kỳ sở lạc; dân chi trị dã. (Lễ Ký – Lễ Vận, 13. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 514)

[5] 司 空 執 度 度 地. 居 民 山 川 沮 澤. 時 四 時. 量 地 遠 近. 興 事 任 力. 凡 使

民. 任 老 者 之 事. 食 壯 者 之 食. Tư không chấp độ độ địa. Cư dân sơn xuyên tự trạch. Thời tứ thời. Lượng địa viễn cận. Hưng sự nhậm lực. Phàm sử dân, nhậm lão giả chi sự, thực tráng giả chi thực. (Lễ Ký – Vương Chế, 12. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 294)

[6] 古 者 公 田 藉 而 不 稅, 市 廛 而 不 稅. 關 譏 而 不 征. 林 麓川 澤, 以 時 入 而 不

禁. 夫 圭 田 無 征, 用 民 之 力, 歲 不 過 三 日. 田 里 不 粥, 墓 地 不 請. Cổ giả công điền tạ nhi bất thuế, thị triền nhi bất thuế. Quan ky nhi bất chinh. Lâm lộc xuyên trạch, dĩ thời nhập nhi bất cấm. Phù khuê điền vô chinh, dụng dân chi lực, tuế bất quá tam nhật. Điền lý bất chúc, mộ địa bất thỉnh. (Lễ Ký – Vương Chế, 11. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 293-294)

[7] 凡 居 民 材, 必 因 天 地, 寒 煖 燥 濕, 廣 谷 大 川, 異 制 民 生 其 間 者 異 俗. 剛

柔 輕 重, 遲 速 異 齊, 五 味 異 和, 器 械 異 制, 衣 服 異 宜, 脩 其 教 不 易 其

俗, 齊 其 政 不 易 其 宜. Phàm cư dân tài, tất nhân thiên địa, hàn noãn táo thấp, quảng cốc đại xuyên, dị chế dân sinh kỳ gian giả dị tục. Cương nhu khinh trọng, trì tốc dị tề, ngũ vị dị hòa, khí giới dị chế, y phục dị nghi, tu kỳ giáo bất dịch kỳ tục, tề kỳ chính bất dịch kỳ nghi. (Lễ Ký – Vương Chế, 13. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 294-295)

[8] 此 四 者 (孤, 獨, 矜, 寡) 天 民 之 窮 而 無 告 者 也, 皆 有 常 餼. 瘖, 聾, 跛, 躄, 斷 者, 侏 儒, 百 工, 各 以 其 器 食 之. Thử tứ giả (cô, độc, căng, quả) thiên dân chi cùng nhi vô cáo giả dã, giai hữu thường hí. Âm, lung, bả, tích, đoạn giả, chu nhu, bách công, các dĩ kỳ khí thực chi. (Lễ Ký – Vương Chế, 13, 14. – Couvreur, Li Ki, Tome I, page 318-319)

[9] Mạnh Tử – Lương Huệ Vương hạ, 5. Đoàn Trung Còn dịch, trang 55-57.

[10] Mạnh Tử – Cáo Tử hạ, 7.

————————–

CHƯƠNG 5
   
TỔNG  LUẬN

Hồng Phạm Cửu Trù có thể nói được là một luận thuyết chính trị cổ nhất vì có từ đời vua Đại Võ (2205-1197 trước Công Nguyên).

Nó vừa là hiến chương vừa là tiêu biểu cho một nền thiên trị đã được thực thi ở Trung Quốc qua trung gian các vị thánh vương như Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, v.v… và có thể nói được đã kéo dài (trừ ít nhiều gián đoạn) trong một khoảng thời gian ngót hai ngàn năm, từ năm 2852 trước CN (Phục Hi) cho tới khoảng năm 1000 trước CN (thời Võ Vương). [1]

Hồng Phạm Cửu Trù là một học thuyết có đầu đuôi gốc ngọn chứ không phải là một vài lời khuyến cáo suông, hơn nữa là một học thuyết đã được thực thi một cách sống động và hữu hiệu, do các vị thánh vương như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, v.v…

Nếu đem so sánh Hồng Phạm Cửu Trù với những đoạn thánh kinh, trong đó Moïse hay Samuel khuyến cáo hoặc phê bình vua chúa trong tương lai, ta mới thấy tất cả vẻ đẹp đẽ cao siêu của nó.

Trong Deutéronome, Moïse chỉ khuyên các vị đế vương sau này đừng lấy nhiều phi hậu, đừng có tham cầu súc tích vàng bạc. Nhưng những lời khuyến cáo ấy chẳng được vị đế vương nào nghe theo. [2]

Samuel rất ghét chế độ quân chủ, vì cho rằng vua chỉ bóc lột, áp bức dân mà thôi (I Sam 8, 10-18).

Hồng Phạm Cửu Trù cho ta thấy một nguyên tắc rất lạ lùng siêu việt này là phàm bậc thiên tử, bậc vương giả thay Trời trị dân, không được lập luật, mà trái lại, phải tìm ra những định luật hằng cửu Trời đã ghi tạc trong vật chất, trong hoàn võ, và trong con người, phải tìm ra những liên lạc thiên nhiên nối kết tam tài và khiến cho thiên hạ thuận theo những định tắc thiên nhiên hằng cửu ấy mà thôi. Thực là một bài học vĩ đại cho nhân loại và là đá thử vàng để biết đâu là chân giả trong các chính thể, các phương thức trị dân nơi hoàn võ phàm tục này.

Gaubil bình về Hồng Phạm như sau: Cơ Tử mượn cớ nói về Lạc Thư và cắt nghĩa Lạc Thư nhưng thực ra đã khuyến cáo một cách khéo léo vua cũng như tôi về các bổn phận phải theo, phải giữ.

James Legge không đồng ý và cho rằng Hồng Phạm Cửu Trù rất tối nghĩa. Đã đành cũng có vài nguyên tắc luân lý và chính trị hay, nhưng vua vũ nghe xong chắc lại mờ mịt hơn trước khi phỏng vấn Cơ Tử. [3]

James Legge phê bình như vậy có lẽ vì đã không hiểu thâm ý người xưa.

Chúng ta, sau khi đã khảo sát tỉ mỉ Hồng Phạm Cửu Trù, chắc phải công nhận nó là một hiến chương hoàn bị cho nền Thiên trị

Hồng Phạm xây nền tảng chính trị trên căn bản vĩnh cửu tuyệt đối, vì đã biết lấy Trời làm căn cốt cho con người. Trời từ đáy thẳm lòng sâu của vũ trụ, đáy thẳm lòng sâu con người đã tung tỏa muôn ánh hào quang để hướng dẫn nhân loại. Thiên tử là những người đã hấp thụ được hào quang ấy nhiều nhất nên vừa thông minh, vừa đạo đức vượt quá chúng nhân; vừa thay Trời trị dân, vừa là gương mẫu sống động cho một đời sống lý tưởng cao đẹp nhất, lúc nào cũng treo cao cho muôn dân soi chung, và là trung gian giữa Trời người, qui tụ lại mọi điều hạnh phúc của Trời, để rồi lại tung tỏa cho toàn dân thiên hạ. Nó cũng dựa theo sơ đồ trung điểm và vòng Dịch để tổ chức quốc gia.

Lập đế đô ở giữa muôn dân và càng xa đế đô là càng xuống tới man di, mọi rợ; xuống tới các tầng cấp giá trị thấp kém. [4]

Đó cũng là phỏng theo cơ cấu hoàn võ, quan niệm rằng Trời ở Trung cung, Trung điểm, và càng ở xa Trời càng đi ra các cảnh giới hình hài vật chất bên ngoài, là càng đi xuống các tầng cấp giá trị thấp kém.

Cũng vì thế mà muôn dân đều có nguyện vọng về sống ở đế đô, gần thiên tử.

Đại Học nói: «Bang kỳ thiên lý, duy dân sở chỉ.» cũng không ngoài ý đó.

Ở nơi con người cũng theo một tổ chức như vậy. Tầng ngoài cùng là dáng điệu, tầng trong cùng duệ trí, có đạt tới duệ trí, mới đạt tới mức thánh thiện được. [5]

Bậc thánh vương hiểu được gốc ngọn đầu đuôi, nên bao giờ cũng lấy Trời làm gốc, lấy tâm hồn con người làm trọng, của cải vật chất bên ngoài làm tùy. (Đại Học, chương 10).

Tuy nhiên, bậc thánh vương không có bỏ sót một tầng lớp giá trị nào mà không khai thác; từ vật chất đến tinh thần, từ miếng cơm manh áo đến đạo đức tế tự, nhất nhất đều được đề cập tới.

Ý niệm Thiên tử trong Hồng Phạm bắt nguồn từ Trời, có một ý nghĩa thần thánh, và phổ quát, một giá trị «vũ trụ».

Các nhà học giả Âu Châu như Wieger, như Marcel Granet đã nhìn thấy những ý nghĩa sâu xa của chức vị Thiên tử trong dân Trung Hoa thời cổ. [6]

Nền thiên trị nhật Trời làm khởi điểm, cùng điểm nhân loại, lấy sự hoàn thiện làm khởi điểm và cùng điểm nhân loại, nên bậc thánh vương tế tự Trời tức nhận Trời làm khởi điểm, sống thánh thiện phối hợp với Trời, tức lấy Trời làm cùng điểm, làm cứu cánh cho mình và cho muôn dân; cố đem những khuôn phép hằng cửu áp dụng vào công cuộc trị dân, tức là dùng những khuôn phép hoàn thiện để uốn nắn cho dân trở nên hoàn thiện.

Những luật pháp cũng cố theo đúng thiên nhiên, nên luật pháp của dân xưa chính là tam cương ngũ thường, chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Các luật lệ nhân tạo, các hình pháp nhân tạo, đều cố hết sức tránh; nếu bất đắc dĩ phải lập ra thì chỉ dùng tạm thời. Thế tức là ý nghĩa: dùng hình pháp là cốt mong sao bỏ được hình pháp; [7] xử kiện là cốt mong sao bỏ được kiện tụng. [8]

Thiên tử hay thánh vương là một người siêu việt «quán tam tài», nối kết «Trời, đất, người».

Tinh thần người phối hợp với Trời, vì thế gọi là Thiên tử.

Tim óc người nhân hậu, thông minh, cốt là để thương xót, hướng dẫn dân chúng.

Thể xác và áo mão người tượng trưng cho vẻ đẹp của vật chất.

Ảnh hưởng, ân trạch ngài thụ lãnh được từ Trời, sẽ qua trung gian các hiền thần, thâm nhập vào bách tính. Bách tính hấp thụ được ảnh hưởng ấy sẽ được giáo hóa, sẽ được hoán cải.

Chúng dân lại đem tài sức ra cải tạo vật chất, cải tạo hoàn cảnh trong những điều kiện thuận tiện.

Vật chất được hoán cải, canh tác, trở ngược lại, sẽ đem no ấm sung túc đến cho chúng dân.

Con người được no ấm, an bình, có cơ hội được học hỏi suy nghĩ sẽ tiến dần trên các nấc thang giá trị, để tiến tới hoàn thiện. hơn nữa, mọi người sẽ trông vào gương sáng của thiên tử sẽ cố gắng hướng thượng, cải thiện mình mãi mãi để tiến tới chí thiện tuyệt đối.

*Nói cách khác:

Các bậc thánh vương lên trị nước không phải là để hưởng thụ, để buông thả cho dục tình tha hồ mà phóng túng, nhưng chính là để tuân theo ý Trời, tuân theo định luật thiên nhiên của trời đất và nhân loại. Vì thế, các ngài yêu cầu đình thần và dân chúng thời thường phải đàn hạch, kiểm thảo hành vi hoạt động của mình. [9]

Các ngài hứa đem an bình lại cho dân, nhưng không có hứa suông, mà lại dạy mọi người phải thực hiện an bình bằng cách tu thân; bằng cách tôn trọng tam cương ngũ thường, giữ vẹn tín nghĩa; trọng đức khinh tài, v.v… [10] Thế tức là dạy dân biết tự trọng, biết tự tạo cho mình một nền hòa bình an lạc do tài đức của mọi người chứ không phải là ngồi không ăn sẵn, ỷ lại, chờ Trời đổ an bình xuống cho mình, như đổ mưa móc xuống cho cây cỏ.

Vẻ đẹp đẽ khác của nền Thiên trị là sự cố gắng hòa hợp động tác con người với sự vận chuyển của các tinh cầu, sự vận chuyển của vũ trụ, sự biến hóa của bốn mùa.

Cho nên Hồng Phạm rất chú trọng đến lịch số và chủ trương một cuộc cai trị vô ý thức chẳng những sẽ gây đảo lộn trong xã hội, mà còn gây đảo lộn trong nhịp điệu của vũ trụ, làm cho trăng sao lỗi nhịp, mưa nắng thất thường… Thực là một lối nhìn sâu sắc và đẹp đẽ, và có lẽ cũng sẽ nêu cho hậu thế một đề tài khảo cứu mới mẻ là «ảnh hưởng hỗ tương giữa nhân loại và hoàn võ».

Tuy Hồng Phạm Cửu Trù toát lược lại tất cả nghệ thuật trị dân, nhưng Khổng Tử không muốn tách rời chương này khỏi Kinh Thư; hơn nữa Tứ Thư, Ngũ Kinh, còn bàn giải rất nhiều về cách trị dân. Như vậy cốt là để cho ta rõ rằng muốn tìm ra sự phong phú của Nho giáo về chính trị chúng ta cần phải khảo sát các kinh, thư, cần phải nghiên cứu các gương tích sống động của các vị vua chúa đã ghi trong sử sách. Tóm lại chúng ta phải có cái nhìn bao quát, khối óc vừa suy cứu, vừa tổng hợp.

Cho nên chúng ta phải dùng kinh, thư để quảng diễn Hồng Phạm Cửu Trù.

Các học thuyết Âu Châu khi bàn về nguồn gốc quyền bính thường chỉ chú trọng về một khía cạnh nào đó, và chủ trương quyền bính:

1/ Hoặc do Trời ban.

2/ Hoặc do dân ban.

Trái lại Hồng Phạm Cửu Trù và thánh hiền Nho giáo muốn vị đế vương chân chính phải có đủ ba yếu tố:

1/ Giá trị nội tại: Thiên tử phải thông minh, đức độ xuất chúng. [11]

2/ Thiên chức ấy phải được Trời ban. [12]

3/ Người bước lên thiên vị phải được dân thuận. [13]

Vì vậy, nếu vua không xứng đáng sẽ mất ngôi, rồi sẽ bị Trời truất phế, [14] dân truất phế. [15]

*Kinh Thi viết: sự ủy thác của Trời không bền vững. «Thiên mệnh mỹ thường». [16] Trời chỉ ủy thác, chỉ trao thiên mệnh cho người xứng đáng, còn nếu vua phạm tội lỗi thì Trời lại dùng người khác để chỉnh thảo, truất phế đi. [17] Mạnh Tử đã khuyến cáo đừng nhầm ngôi vị với giá trị nội tại, với bộ mặt thật của đấng quân vương:

Tuyên Vương hỏi: «Vua Thành Thang đuổi vua Kiệt; vua Võ đánh vua Trụ, có thật như vậy chăng?» Mạnh Tử đáp rằng: «Trong sử sách có chép như vậy.» Tuyên Vương hỏi tiếp: «Bề tôi mà giết vua có nên chăng?» Mạnh Tử đáp: «Kẻ làm hại đức nhân gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa gọi là tàn. Kẻ tàn, kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi. Tôi từng nghe vua Võ chỉ giết một người thường là Trụ mà thôi, chứ chưa hề nghe vua.» [18]

Mạnh Tử nói với Tề Tuyên Vương: «Vua mà coi tôi như tay chân, ắt tôi sẽ coi vua như bụng dạ. Vua mà coi tôi như chó ngựa, ắt tôi sẽ coi vua như như kẻ qua đường. Vua mà coi tôi như bùn rác, ắt tôi sẽ coi vua như kẻ cướp, người thù.»

Cho nên bậc quân vương chân chính bao giờ cũng nhặt nhiệm đối với mình; khoan dung, trọng kính đối với người. Tuy có uy quyền nhưng không độc tài, độc đoán, vẫn thân dân, trọng dân. Bài «Ngũ tử chi ca» trong Kinh Thư chứng minh điều đó:

Kinh Thư chép: Thái Khang ngồi không ở ngôi vua, nhàn rỗi, vui sướng bỏ mất đức. Dân đen đều không hài lòng. Vua rong chơi không chừng mực, săn ở ngoài sông Lạc mười tuần chẳng trở về. Chúa Hữu Cung là Nghệ, nhân lòng dân không nhịn nổi, đón bắt nhà vua ở sông Hà. Em vua năm người theo hầu mẹ, chờ đợi ở sông Lạc. Năm anh em đều oán hận Thái Khang, kể lại lời răn dạy của vua Đại Võ để làm thành ca:

*Người em thứ nhất:

Kìa Hoàng Tổ xưa kia đã dạy

Phải chắt chiu thương lấy dân con

Chớ đừng chà đạp khinh nhờn

Chúng dân, gốc gác nước non bấy chày

Gốc có chắc, nước nay mới vững…

(Nên ta đừng hờ hữmng với dân)

Vời trông non nước xa gần

Ngu phu, ngu phụ cũng phần hơn ta

Ta chớ có những sa cùng sẩy

Để cho dân hờn lẫy, oán than…

Đừng chờ oán lộ rõ ràng

Oán hờn chưa lộ phải toan lo lường

Cầm giềng mối dân con bao triệu

Phải trăm lo nghìn liệu mới hay

Dân như sáu ngựa tung bay

Mà ta rong ruổi với dây cương tàng.

oOo

* Em thứ hai:

Kìa tiên tổ xưa ban giáo huấn

Nếu mà trong mê mẩn sắc hương

Ngoài mà mê mẩn chim muông

Rượu đào ngất ngưởng, ca xoang vui vầy,

Nhà cao cuốn, ham xây, ham ở.

Vách tường ưa chạm trổ huy hoàng

Chẳng cần nhiều nết đa mang

Chỉ cần một nết, đủ làm suy vong.

oOo

* Em thứ ba:

Thủa Đào Đường oai phong trị nước

Đất Ký này cũng thuộc giang san

Đạo Nghiêu nay đã lỡ làng

Kỷ cương nay đã điêu tàn còn chi

Diệt vong nào có lạ gì.

oOo

* Em thứ tư:

Nhớ tổ ta uy nghi, rạng rỡ

Trị muôn dân một thưở huy hoàng

Lập ra khuôn phép điển chương

Những mong truyền tử lưu tôn lâu dài

Lập đấu hộc, lưu lai vương phủ

Sao nay ta nỡ bỏ mối giềng

Làm cho dòng họ tan hoang

Rồi ra cúng lễ nhỡ nhàng vì ai?

oOo

* Em thứ năm:

Ôi thảm thiết trông vời non nước

Biết về đâu cất bước về đâu?

Lòng ta xiết nỗi thảm sầu

Oán ta, trăm họ oán sâu lắm rồi!

Ta biết tính cùng ai nương tựa?

Lòng ta nay chan chứa ưu tư!

Mặt dày đến nỗi thế ư?

Đức kia chẳng giữ, hối chừ kịp sao?

Trong nền vương đạo, nhà vua thông minh đức hạnh chưa đủ, còn cần có hiền tài phụ bật.

Hồng Phạm đã đề cập tới vấn đề khanh sĩ, và vấn đề dùng người tài đức trị dân, nhưng không quảng diễn. [19] Trái lại, thuyết «tuyển hiền dữ năng» ta thấy được quảng diễn cặn kẽ trên lý thuyết lẫn thực hành trong Tứ Thư, Ngũ Kinh.

*Đoc lịch sử Trung Hoa thời cổ ta thấy phàm thánh vương là có hiền thần phụ bật.

– Hoàng Đế có Kỳ Bá. [20]

– Vua Nghiêu có Thuấn. [21]

– Vua Thuấn có Vũ, Tắc, Tiết, Cao Dao, Ích. [22]

– Thành Thang có Y Doãn, Lai Châu. [23]

– Cao Tông có Phó Duyệt. [24]

– Võ Vương có Châu Công, Triệu Công, Khương Tử Nha, Tất Công, Vinh Công, Thái Điên, Hoành Điêu, tán Nghi Sinh, Nam Cung Quát, và bà Ấp Khương (vợ Võ Vương). [25]

Nhưng cảm động nhất có lẽ là chuyện Cao Tông dùng Phó Duyệt.

Cao Tông chiêm bao thấy Thượng Đế cho hiền thần là Phó Duyệt.

Bèn vẽ hình tượng, sai đem tranh tìm khắp thiên hạ. Khi gặp được Duyệt ở Phó Nham, hệt với tranh, bèn phong làm tướng quốc. [26]

Cao Tông nói cùng Phó Duyệt: «Than ôi! Duyệt! Bốn biển đều ngửa trông đức ta, ấy là nhờ ngươi dạy bảo. Đủ chân tay mới là người. Có bầy tôi giỏi mới là vua thánh. Y Doãn xưa có nói: «Không làm được cho nhà vua trở nên Nghiêu Thuấn thì lòng này xấu hổ, như bị đòn ở giữa chợ.» Một người dân không yên thì nói: «Ấy là tội của tôi!» Y Doãn đã giúp cho liệt tổ ta trở nên đức độ như Trời. Ngươi hãy sáng suốt chỉ bảo ta, đừng để Y Doãn một mình được tiếng khen ở triều nhà Thương! Vua không có người hiền, không trị được nước. Người hiền không gặp được vua, không ăn được lộc. Ngươi hãy làm cho vua ngươi nối dõi được các đời vua trước, yên mãi được dân.» Duyệt lạy dập đầu mà rằng: «Dám xin báo đáp, tuyên dương lời phán bảo tốt đẹp của thiên tử…» [27]

Vua, tôi đối với nhau như là ruột thịt. Đọc Kinh Thư thiên Ích Tắc, ta thấy cảnh hiệp hòa đầm ấm ấy.

Quì nói: «Ồ! tôi đánh khánh đá, vỗ khánh đá, trăm loài muông đua nhau múa! Các quan thật vui!»

Nhà vua liền làm lời ca rằng:

«Gắng theo mệnh Trời

Phải xét cơ, phải theo thời!»

*Bèn hát:

«Đầu sỏ vui vẻ

Chân tay mạnh khỏe!

Trăm quan đều được việc nhờ thế!»

Cao Dao chắp tay, dập đầu, nối lời: «Xin nhà vua hãy suy nghĩ! Xin hãy chỉ huy, xin cho sáng kiến và luôn luôn xin lưu ý đến luật pháp đã ban ra. Xin cẩn trọng và thời thường xin xét xem đã thực hiện được những gì! Xin hãy cẩn trọng.»

*Bèn nối lời mà hát:

«Đầu sỏ công minh!

Chân tay mạnh lành,

Mọi việc đều thành!»

Lại hát:

«Đầu sỏ chãnh chọe!

Chân tay biếng trễ,

Muôn việc thôi bỏ bê!»

Nhà vua lạy mà rằng:

«Hay, thôi đi, hãy thận trọng trong công việc.» [28]

Về sau Khổng Tử, Mạnh Tử cũng hết sức nhắc nhở các vua chúa chọn hiền tài để trị dân.

Mấy câu «tuyển hiền dữ năng» «cử trực thố uổng» của Khổng Tử đã nên câu cửa miệng của Nho gia. [29]

Mạnh Tử hết sức khuyến khích dùng hiền tài trị dân. Ông nói:

«Nay như vua có hạt ngọc thủy xoàn còn nguyên chất, dẫu ngọc ấy đáng giá muôn dật, vua cũng giao cho thợ ngọc cắt mài. Thế mà, đến việc cai trị, thì nhà vua lại nói với các trang hiền tài rằng: «Khoan, hãy để qua một bên sở học các ngươi, hãy làm theo ý chí của ta đã.» Thế thì có khác chi dạy thợ ngọc cắt mài ngọc đâu?» [30]

Mạnh Tử còn chủ trương một hiền tài không đủ làm cho vua trở nên tốt. Nhưng nếu quanh vua có nhiều hiền tài tạo nên một bầu không khí đạo đức, thì nhà vua làm sao mà làm chuyện bất thiện được ? [31]

Trong Trung Dung chương 21, đức Khổng toát lược chính sách trị nước như sau:

          Phép trị nước từ xưa có chín,

I, II.   Phải tu thân, phải kiếm hiền tài.

III.     Thương yêu thân tộc trong ngoài,

IV, V. Đại thần thời nể, quan thời xót thương.

VI.     Lê dân chăm bẫm như con,

VII.    Nhân tài khuyến khích, mở mang trăm nghề.

VIII.   Người viễn xứ quay về ta rước,

IX.     Những chư hầu bạc nhược ta nâng.

I.        Tu thân đạo sẽ thịnh dần,

II.       Tôn hiền, hiền giúp, đỡ lầm đỡ sai.

III.     Yêu thân thuộc, trong ngoài hết oán,

IV.     Kính đại thần, hết nạn dèm pha.

          Bao nhiêu công bộc quốc gia,

          Một lòng ưu ái như là chân tay.

          Tình ưu ái sẽ gây cảm xúc,

          Hàng sĩ phu nỗ lực đền ơn.

VI.      Thương dân một dạ như con,

          Toàn dân thiên hạ ai còn kêu ca ?

VII.     Chiêu bách nghệ tăng gia sản xuất,

          Thời quốc gia sung túc hóa tài.

VIII.   Trọng người xứ lạ nước ngoài,

          Bốn phương hâm mộ, nơi nơi hướng về.

IX.      Các chư hầu chở che một dạ,

          Sẽ khiến cho thiên hạ sợ uy.

I.        Tu thân dạ chẳng suy vi,

          Gương lòng vằng vặc quang huy rỡ ràng.

          Trang nghiêng mũ áo đường hoàng,

          Những điều dang dở chẳng làm chẳng nghe.

II.       Muốn khuyến hiền hãy chê nịnh hót,

          Hãy tránh xa sắc tốt lả lơi.

          Khinh tài trọng nghĩa không ngơi,

          Treo gương hiền đức cho đời soi chung.

III.      Khiến dân chúng thêm lòng hiếu thảo,

          Ta tỏ tình thảo lảo kính nhường,

          Lợi danh chẳng tiếc họ hàng,

          Những bề yêu ghét, ta thường chiều theo.

IV.      Để đại thần dễ điều hành sự,

          Ta bổ sung tá sứ dưới trên.

V.       Trước sau trung tín một niềm,

          Tăng lương để khiến nhân viên tận tình.

VI.      Muốn bách tính kính tin một dạ,

          Xâu phải thời, thuế má phải chăng.

VII.     Muốn cho công nghệ mở mang,

          Luôn luôn theo dõi, thời thường thi đua.

          Đem lúa gạo thưởng cho xứng đáng.

          Là mọi nghề cố gắng ra công.

VIII.   Tiễn đưa người muốn ruổi rong,

          Sẵn sàng đón rước kẻ mong về mình.

          Người có đức, tâm thành khen ngợi,

          Người vô năng cảm nỗi xót thương.

          Dĩ nhiên hiền đức tứ phương,

          Mến ta họ sẽ tìm đường về ta.

IX.      Những nước nhỏ, vận nhà nghiêng ngửa,

          Ta tìm người tu sửa mối giường.

          Chấn hưng những nước tan hoang,

          Dẹp yên loạn lạc, dấp đường hiểm nguy.

          Lễ triều sính có kỳ có hạn,

          Ít của dâng, đầy đặn của cho.

          Bao dung không bến không bờ,

          Một lòng lân mẫn giúp cho chư hầu.

          Trị thiên hạ trước sau chín mối,

          Nhưng tóm thâu vào mỗi chữ thành.

Xuân Thu Tả Truyện bàn về đấng quân vương như sau:

«Một minh quân thưởng lành, phạt ác trông nom dân chúng như con cái người, che chở dân như trời, cưu mang dân như đất. Dân chúng đối với vị minh quân ấy sẽ thương yêu như con thương yêu cha, ngưỡng vọng tin tưởng người như hai vầng nhật nguyệt, kính tôn người như thần minh, sợ hãi người như sấm sét. Một vị minh quân như thế ai dám truất phế, dám đánh đuổi. Có đấng minh quân thông sáng như thần ấy là nguyện vọng của dân.

«Nhược bằng làm vua mà để dân chúng cùng khốn, để thần minh thiếu khói hương tế tự, thì dân sẽ tuyệt vọng, xã tắc sẽ ngả nghiêng vô chủ. Một nhà vua vô dụng như vậy lẽ nào không truất phế, không đánh đuổi đi.

«Trời sinh ra người, cũng cho họ vua chúa để hướng dẫn để họ khỏi làm hư mất tính Trời. Khi đã có vua chúa, Ngài lại cho người phụ bật chỉ vẽ, để bảo vệ và ngăn ngừa các ngài không được đi ra ngoài phạm vi bổn phận. Vì thế, Thiên tử thì có các công; chư hầu có các khanh; khanh có các trất thất (anh em); đại phu có nhị tông (họ hàng); sĩ có anh em; thứ dân như hàng thợ thuyền buôn bán, dịch lệ, mục tử, tất cả cũng đều có thân quyến để giúp đỡ họ. Khi làm hay, thì khen thưởng; khi làm dở thì sửa phạt; hoạn nạn thì đỡ đần; lầm lạc thì dắt dìu về đường ngay nẻo chính. Từ Thiên tử đến thứ dân ai cũng có cha, anh, con, em để sửa chữa những lỗi lầm, để xem xét công việc hành chính. Sử gia chép sách, nhạc quan làm thơ, nhạc công hát những bài châm, bài gián để can ngăn. Các quan đại phu chỉ vẽ cho vua qui tắc đường lối, sĩ tử trần tấu lên những cảm nghĩ của dân về chính sách, chính thể, dân chúng phê bình; các nhà buôn trình bày hàng hóa nơi chợ búa; bách công hiến dâng những công trình sáng tác để nhà vua có ý niệm chính xác về nền hành chính của mình.» [32]

Tàng Ai khuyên vua nước Lỗ (Hoàn Công 110-693): «Một bậc quân vương xứng đáng với tước hiệu mình sẽ làm cho nhân đức được chấn hưng phát động, làm cho tội ác bị mai một đào thải, lấy mình làm gương cho bá quan. Mặc dầu vậy, ngài vẫn lo không đạt mục đích

«Các ngài cố ăn ở đức hạnh để dạy dỗ con cháu sau này. Cho nên, thanh miếu nhà vua xưa lợp bằng tranh rạ, xe cộ của nhà vua chỉ trải bằng chiếu thường, đồ ăn không cầu cao lương mỹ vị, kê dùng nấu ăn cũng chẳng phải hạt kê kén chọn – Nhà vua như vậy, tỏ ra cần kiệm, y thường của nhà vua, phục sức của nhà vua nhất nhất đều tỏ ra đúng mức.» [33]

Tử Sản chủ trương: «Cai trị nước cũng như công việc trồng trọt khai thác đất đai, cần phải mài miệt ngày đêm, nghĩ đến mọi sự mọi việc từ lúc khởi điểm và theo dõi cho đến khi thành tựu. Từ sáng chí tối, phải làm lụng, lo lắng làm sao để việc gì cũng đã được đắn đo, suy nghĩ trước. Phải bắt chước người cày ruộng đi từ khoảnh ruộng này sang khoảnh ruộng khác, nghĩa là phải tuần tự nhi tiến. Có như vậy mới mong tránh được lỗi lầm.» [34]

*Tóm lại, một vị thiên tử chân chính phải có một niềm tin bao la về thiên chức mình, có một đời sống nội tâm vừa rạt rào vừa cao thượng, có một khối óc thông minh linh động để chỉ huy dân chúng trong ngoài, phải có nhiều sáng kiến, phải biết hướng dẫn, biết kiểm soát, biết thưởng phạt cho công minh, biết dùng nhiều trang hiền tài phụ bật như rồng thêm vây, như phượng thêm cánh; như vậy mới xứng đáng trị vì thiên hạ.

Còn như ở ngôi vị cao mà lòng không được nấu nung vì thiên chức của mình, không dám hi sinh vì dân vì nước, không biết đường lối lèo lái quốc gia thì chắc chắn sẽ đi tới bại vong.

Lẽ Trời xưa nay chỉ có một.

Tóm lại, nền Thiên trị trong Nho giáo có thể coi như là một học thuyết hoàn bị:

Nó xây dựng nền tảng trên vĩnh cửu, trên tuyệt đối; nói cách khác, nó đã lấy Trời làm căn bản, đã coi nền chính trị là công cụ để cải hóa con người, [35] lập ra những nguyên tắc căn bản cho các đấng quân vương dựa vào mà trị dân cho tuyệt hảo, thúc đẩy dân chúng làm lụng, tiết kiệm để trở nên giàu có, sung túc, [36] tu nhân tích đức [37] để trở nên quân tử, nên hiền thánh với nguyện vọng thiết tha là đem lại cho nhân dân an bình, thái thịnh, hạnh phúc cả về tinh thần lẫn vật chất, [38] mục đích là làm cho mọi người trở nên hoàn thiện, [39] như vậy mục đích của nó cũng tuyệt đối.

Tiếc thay nền thiên trị thời cổ với ý nghĩa cao đẹp của nó đã bị dục vọng con người và bụi bặm lịch sử che lấp hết mọi vẻ đẹp; vương đạo biến chuyển dần sang bá đạo ; nhân trị chuyển hóa dần sang pháp trị, nhân đạo nhường bước cho bạo tàn.

Các vị đế vương thời sau, như Tần Thủy Hoàng, như Hán Cao Tổ đâu còn hiểu biết gì về những tế nhị, những tinh hoa của nền thiên trị. Tuy cũng mang danh thiên tử, nhưng nào có hiểu thiên tử nghĩa là làm sao. Cho nên chế độ vua chúa dần dà trở nên một mâu thuẫn trên lý thuyết, một gánh nặng trên thực tế đối với dân.

Đến nỗi, nhiều triết gia không còn hiểu nổi được lý do sự tồn tại của một nền quân chủ hôn ám, thối nát.

Herder viết:

Đến ngày nay, người ta cũng không hiểu tại sao một người sinh ra lại có quyền trên ngàn vạn kẻ khác, lại có toàn quyền sai khiến họ, giết lát họ một cách vô trách nhiệm, tiêu xài công quỹ không phải giải thích, thanh toán với ai, và có quyền đem sưu cao thuế nặng đè lên trên đầu trên cổ dân nghèo… [40]

Vả lại không có gì trong bản tính con người giải thích được tại sao hàng ngàn vạn người quý phái lại có thể hôn chân một kẻ còn thơ dại, và có thể thờ phượng phủ việt của một kẻ điên cuồng dùng để đánh đập họ đến máu tuôn… không biết quỉ thần nào đã xui khiến dân chúng phó thác lý trí, phó thác thể xác tính mệnh và mọi quyền làm người vào tay một người, cho họ mặc tình thao túng, và lấy làm sung sướng khi thấy bạo chúa mình đã sinh hạ được một bạo chúa tương lai. [41]

Thực quả những điều ấy là những thai đố khó giải cho nhân loại, và thực là không may mà cũng là may mắn cho nhiều quốc gia đã không phải sống trong những chính thể đó. Như vậy ta không thể kể nghĩa vua tôi như là một trong những định tắc tự nhiên cần yếu và phổ quát của nhân loại. Vợ-chồng, cha-con, bạn-thù, là những tương quan và những từ ngữ chính xác, nhưng còn vua chúa quan quyền, một bá chủ chuyên chế trị dân, để thủ lợi cho mình và cho con cháu mình sau này, thì thực là khó hiểu và cần được bàn cãi dài dòng, nếu có thể. [42]

Ông Herder có lý mà cũng không có lý.

Có lý là vì ông đã nhận định đúng về những giả tạo, những mâu thuẫn gây nên do một chính thể đã tới lúc mạt vận, lúc tàn cuộc, lúc chỉ còn cái vỏ, cái xác bên ngoài ; lúc người ta chỉ còn biết dùng chức vị làm bình phong che đậy cho mọi sự cướp bóc phá phách, lúc những tinh hoa cao đẹp đã tan nát mất cả rồi.

Ông không có lý, nếu ta đem ra áp dụng những lời phê bình của ông cho một nền thiên trị chân chính khi nó đang thời kỳ triển dương phát động, thực thi áp dụng. Cũng vì không tìm ra được ý nghĩa và chân giá trị của nền thiên trị, nên ông không tìm được lời giải cho một câu thai đố tự ngàn xưa.

Gần đây, chính trị gia Liang Ch’i Ch’ao đã toát lược về các yếu tố gây loạn trong lịch sử Trung Hoa như sau:

– Đại thần chuyên quyền.

– Hoàng hậu tiếm quyền.

– Các hoàng tử dòng chính, dòng thứ tranh giành ngôi vua.

– Những người thuộc cựu hoàng tộc nổi loạn.

– Các người trong hoàng tộc giành ngôi.

– Tể tướng tiếm ngôi.

– Võ tướng nổi loạn.

– Ngoại thích tiếm ngôi.

– Quan lại tham nhũng.

– Hoạn quan lộng quyền.

Và kết luận chính trị độc tài gây loạn trong lịch sử Trung Hoa trên mấy ngàn năm. [43]

Các điều nhận xét của ông Liang Ch’i Ch’ao chỉ đúng cho những nền quân chủ từ thời Xuân Thu trở về sau.

Kinh Thư đã cho ta thấy những tệ đoan ấy hầu như không có trong những đời Nghiêu, Thuấn hay Hạ, Thương, Chu lúc toàn thịnh. Vả chúng ta cũng nên phân biệt nề thiên trị và nền quân chủ, vì tuy nền quân chủ đã giữ nguyên những nghi lễ, những tổ chức bên ngoài của nền thiên trị, nhưng đã bỏ mất hẳn những điều cao đẹp, những lý tưởng và tinh thần thuần tùy bên trong.

Ngày nay, cơ trời biến chuyển, sự thế thăng trầm, nền thiên trị cao đẹp kia như một tòa lâu đài cổ kính đã bị chôn vùi dưới tầng sâu của thời gian và lịch sử.

Từ lâu, nó đã bị pha phôi, hoen ố vì sự lăng mạ của dốt nát và ngạo nghễ, nó đã rút lui vào quá vãng xa vời nhường sân khấu đời cho các học thuyết khác múa may.

Nhưng biết đâu năm bảy ngàn năm sau chủ trương của Hồng Phạm lại chẳng được đem thực thi áp dụng một cách hết sức đứng đắn, đẹp đẽ?

Tuy nhiên, Hồng Phạm Cửu Trù với những nguyên tắc chính yếu của nó cũng có thể đem áp dụng được, chẳng ít thì nhiều, dưới bất kỳ chế độ nào, trong bất kỳ thời đại nào. Thực vậy, bất kỳ dưới chính thể nào, người dân cũng muốn có những người lãnh đạo tài ba đức độ; nhà lãnh đạo nào cũng mong muốn cho nước mạnh dân giàu, phong hóa trong nước được thuần mỹ, và sự hòa bình thái thịnh luôn được thập phần toàn hảo.

Bao lâu con người còn có những ước vọng ấy thì bấy lâu những nguyên tắc trong Hồng Phạm Cửu Trù còn có thể đem ra thi hành được. Cho nên, giở lại những trang sử cũ để lượm lặt thấu thái lấy tinh hoa nhân loại, ong ước có thể dùng những bài học lịch sử xa xưa để mà đắp xây cho một tương lai huy hoàng xán lạn cho đất nước, tưởng không phải là chuyện vô ích vậy.

Các hiền thánh xưa làm ra Hồng Phạm Cửu Trù hay ghi lại cho chúng ta những nguyên tắc trị dân đẹp đẽ, tức là muốn đóng góp cho tới muôn ngàn đời vào công trình xây dựng bình an và thái thịnh cho xã hội.

Mạnh Tử nói: «Các vị thánh nhân đã dùng hết tâm trí mình mà suy xét, lại còn đem lòng thương xót mà thi hành trong chính trị, nhờ vậy, đức nhân ái của các ngài phổ cập khắp thiên hạ.» [44]

Chúng ta ngày nay là những con người diễm phúc có sau lưng cả một dĩ vãng phong phú, có trước mặt cả một tương lai huy hoàng, tưởng cũng nên biết «ôn cố nhi tri tân», biết học cái hay của tiền nhân để giúp tương lai mình thêm xán lạn.

————————–

CHÚ THÍCH

[1] Ở Âu Châu về thời cổ sử cũng có nền Thiên trị như ở dân Celtes. Về sau thời trung cổ, Giáo Hoàng Innocent III cũng định lập lại một nền Thiên trị do chính đức Giáo Hoàng cầm đầu.

Đọc cổ sử, ta thấy các nước Cận Đông và Ai Cập cũng đã có những nền Thiên trị tương tự.

[2] Theo Thánh Kinh, vua David có nhiều vợ, và những hậu phi chính có tên như sau: Abiroam, Abigayil (I, Sam 27, 3), Maaka, Haggit, Abital, Egla (II Sam 3, 2-5), Mikal (II Sam 6, 16-23). Lúc về Je1rusalem lại lấy thêm nhiều phi tần khác (2 Sam 5, 13). Sau lấy thêm Bethsabée, vợ Urie (2 Sam 11, 27), về già có cô hầu non là Abishag (I Rois 1, 2, 3). Salomon có tới 700 hậu, 300 phi (I Rois 11, 1-4) và giàu có vô hạn (I Rois 10, 14-24).

[3] Doc Marcel Grandt; La Pensee chinoise – Churo•ng IV, Le Tao pages 330 339 ;

a… Le roi, dit-il (le P. Wieger), clans son interpretation du Hong-Pharr, est le pivot antour duquel tout tourne sur la terre, cowrie an ciel tout gravite aulour du pole, siege du Souverain d’En-haut n. (Ibid 323, notes)… Soen-ma-Ts’ien ecrit (SMT, III, p, 342): Le Boisseau (La Grande Ourse) dont les 7 etoiles correspondent aux 7 Recteurs est le char du souverain. it se melt an centre, it gouverne les 4 orients, it separe le Yin et le Yang ; it determine les 4 saisons; it equilibre les 5 elements ; it fait evoluer les divisions du Temps et les degres (du Ciel et de l’espace) ; it fixe les divers comptes.. (ib. 323 notes)

[4] Tổ chức quốc gia thời Chu như sau: Ở giữa là Vương kỳ, rồi lần lượt từ trong ra ngoài là: Hầu, Điện, Nam, Thái, Vệ, Man, Di, Trấn, Phiên. Xem James LeggeThe Shoo King, p. 149. Xưa muốn đày ai thì đày ra biên ải.

[5] Xem Hồng Phạm tiết 6: «Nhị ngũ sự: nhất viết mạo… ngũ viết tư; mạo viết cung… tư viết duệ; cung tác túc … duệ tác thánh…» 二 五 事: 一 曰 貌… 五 曰 思; 貌 曰 恭… 思 曰 睿; 恭 作 肅… 睿 作 聖.

[6] Đọc Marcel Granet, La Pensée chinoise, chương IV, Le Tao, pages 330-339:

«… Le roi, dit-il (le P. Wieger), dans son interprétation du Hồng Phạm, est le pivot autour duquel tout tourne sur la terre, comme au ciel tout gravite autour du pôle, siège du Souverain d’En-haut». (Ibid 323, notes)… Soen-ma-Ts’ien écrit (SMT, III, p, 342): Le Boisseau (La Grande Ourse) dont les 7 étoiles correspondent aux 7 Recteurs est le char du souverain, il se meut au centre, il gouverne les 4 orients, il sépare le Yin et le Yang; il détermine les 4 saisons; il équilibre les 5 éléments; il fait évoluer les divisions du Temps et les degrés (du Ciel et de l’espace); il fixe les divers comptes… (ib. 323 notes)

[7] Hình kỳ vu vô hình (Kinh Thư – Đại Vũ Mô, tiết 11)

[8] Luận Ngữ – Nhân Uyên XII, 13. – Đại Học chương 4.

[9] Xem Kinh Thư Duyệt Mệnh thượng tiết 5, 6. Duyệt Mệnh hạ.

[10] Kinh Thư – Dận Chnh 3. – Xuân Thu Tả Truyện, Tương Công năm XIV. Couvreur, Tch’ouen Ts’iou, I, p. 901.

[11] Xem Hồng Phạm tiết 9.

[12] Thiên chi lịch số tại nhữ cung. Nhữ chung thiệp nguyên hậu. 天 之 歷 數 在 汝 躬. 汝 終 陟 元 后 (Kinh Thư – Đại Vũ Mô tiết 14) (The determinate appointment of Heaven)

Đọc Mạnh Tử Vạn Chương, chương cú thượng tiết 5, 6.

[13] Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã dân thính 天 視 自 我 民 視, 天 聽 自 我 民 聽 (Kinh Thư – Thái Thệ trung 7.) – Mạnh Tử Vạn Chương, chương cú thượng tiết 5, 6.

[14] Kinh Thư, Thái Thệ trung 4, 5. – Kinh Thư, Thái Thệ thượng 5: Hoàng thiên chấn nộ, mệnh ngã văn khảo, túc tương thiên uy. 皇 天 震 怒, 命 我 文 考, 肅 將 天 威.Thương tội quán doanh, Thiên mệnh tru chi 商 罪 貫 盈, 天 命 誅 之 (Kinh Thư – Thái Thệ 9.)

[15] Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi, nhĩ thượng bật dư nhất nhân, vĩnh thanh tứ hải 民 之 所 欲, 天 必從 之, 爾 尚 弼 予 一 人, 永 清 四 海 (Kinh Thư – Thái Thệ 1.)

[16] Kinh Thi – Đại Nhã Văn Vương, chương 5.

[17] Hữu Hạ Kiệt phất khắc nhược Thiên, lưu độc hạ quốc, Thiên nãi hựu mệnh Thành Thang, giáng truất Hạ mệnh. 有 夏 桀 弗 克 若 天, 流 毒 下 國, 天 乃 佑 命 成 湯, 降 黜 夏 命 (Kinh Thư – Thái Thệ trung 4.)

Nhĩ thượng phụ dư nhất nhân, trí Thiên chi phạt 爾 尚 輔 予 一 人, 致 天 之 罰 (Kinh Thư – Thang Thệ 4.)

… Cổ chi vương giả tri mệnh chi bất trường (Les anciens souverains savaient que le mandat du Ciel n’est pas irrévocable) Xuân Thu Tả Truyện, quyển VI, Văn Công lục niên. Couvreur, Tch’ouen Ts’iou et Tso Tchouan I, p. 471.

[18] Mạnh Tử (Lương Huệ Vương chương cú hạ, 8. – Ly Lâu chương cú hạ 3.)

[19] Đọc Hồng Phạm các thiên Bát Chính, Hoàng Cực, Kê Nghi, Bát Trưng.

[20] Đọc Hoàng Đế Nội Kinh.

[21] Kinh Thư – Nghiêu điển.

[22] Kinh Thư – Thuấn điển. – Luận Ngữ (Thái Bá VIII, 20)

[23] Kinh Thư – Y Huấn. – Mạnh Tử (tận Tâm chương cú hạ, 38)

[24] Kinh Thư – Duyệt Mệnh (thượng, trung, hạ)

[25] Kinh Thư – Thái Thệ trung 6. – Luận Ngữ (Thái Bá VIII, 20)

[26] Kinh Thư – Duyệt Mệnh thượng tiết 2-4.

[27] Kinh Thư – Duyệt Mệnh hạ tiết 8-11.

[28] Kinh Thư – thiên Ích Tắc, tiết 10-11. (Phỏng theo Kinh Thư, Nhượng Tống dịch, trang 43-44.)

[29] Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. 大 道 之 行 也, 天 下 為 公, 選 賢 與 能, 講 信 脩 睦 (Lễ Ký, Lễ Vận, trang 497. Couvreur Li Ki)

– Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. 舉 直 錯 諸 枉, 能 使 枉 者 直 (Luận Ngữ, Nhan Uyên 21)

– Xem thêm Luận Ngữ Tử Lộ XII-2. Vi Chính XI-19.

[30] Mạnh Tử (Lương Huệ Vương chương cú hạ, 9)

[31] Mạnh Tử (Đằng Văn Công chương cú hạ, 6)

[32] Xuân Thu Tả Truyện. Couvreur dịch, quyển 1. Tương Công năm 14, trang 309-310.

[33] Xuân Thu Tả Truyện. Couvreur dịch, quyển 1. Hoàn Công năm II, trang 70.

[34] Xuân Thu Tả Truyện. Couvreur dịch, quyển 1. Tương Công năm 25, trang 441.

[35] Chính giả chính dã. 政者 正 也.

[36] Đại Học chương X.

[37] Đại Học chương I.

[38] Hoàn thành không những riêng mình,

Rồi ra hoàn thiện quần sinh muôn loài.

Hoàn thành mình là người nhân đức,

Tác thành vật là bực thông minh.

Thiên nhiên tự tính uy linh,

Trong ngoài hai mặt một mình quán thâu.

(Trung Dung chương 25.)

[39] Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện. (Đại Học chương 1)

[40] Cf. Herder – Idées pour la philosophie de 1’hisloire de 1’humanité, page 185 ;

… Car, puisqu’à l’aide des raisons indiquées jusqu’ici, on n’explique pas encore pourquoi un seul homme règne par droit de naissance sur des milliers de ses frères, pourquoi il a le droit de les commander selon son bon plaisir sans contrat, ni limitation, d’en livrer à la mort des milliers sans en porter la responsabilité, de dépenser les trésors de 1’Etat sans en rendre compte et d’imposer précisément au pauvre les taxes les plus accablantes.

[41] Puisqu’il résulle encore moins des dispositions premières de la nature qu’un peuple courageux et hardi, c’est-à-dire mille hommes et femmes nobles baisent souvent les pieds d’un être faible et adorent le sceptre avec lequel un insensé les frappe jusqu’au sang, quel dieu ou quel démon leur a inspiré de remettre leur propre raison et leurs propres forces, et souvent même leur vie et tous les droits de l’humanité à l’arbitraire d’un seul et de considérer comme leur plus grande joie et prospérité le fait, que leur despote ait engendré un futur despote…

[42] Puisque, dis-je, toutes ces choses semblent au premier aspect les énigmes les plus embrouillées de 1’humanité et que heureusement ou malheureusement, la plus grande partie de la terre ignore ces formes de gouvernement ; dès lors, nous ne pouvons les compter au nombre des premières lois naturelles, nécessaires et universelles de 1’humanité. Mari et femme, père et fils, ami et ennemi, ce sont là des rapports et des noms précis ; mais chef et roi, législateur et juge héréditaire, souverain arbitraire et administrateur de l’Etat à son profit et à celui de tous ses enfants encore à naître – ces notions exigent un développement autre que celui qu’il nous est possible de donner ici…

[43] Tổ chức văn hóa quốc tế, chính trị học hiện đại. Bản dịch của Tôn Thất Trạch, trang 257.

[44] Mạnh Tử (Ly Lâu chương cú thượng, 1)

————————–

Phụ lục 1

NGUYỆT LỆNH

月 令

TIẾT I

A. Hán văn

1. 孟 春 之 月. 日 在 營 室. 昏 參 中. 旦 尾 中.

2. 其 日 甲 乙.

3. 其 帝 太 皞. 其 神 句 芒.

4. 其 蟲 鱗.

B. Phiên âm

1. Mạnh Xuân chi nguyệt, nhật tại Doanh Thất: Hôn Sâm trung. đán Vĩ trung.

2. Kỳ nhật giáp ất.

3. Kỳ đế Thái Hạo, kỳ thần Cú Mang.

4. Kỳ trùng lân.

C. Dịch

1. Tháng đầu Xuân, mặt trời ở chòm sao Doanh Thất (Pégase). Sao Sâm (Orion) qua kinh tuyến buổi chiều. Sao Vĩ (la queue du Scorpion) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Tháng này, ngày thuộc Giáp Ất.

3. Ứng với vua Thái Hạo, với thần Cú Mang.

4. Ứng với các vật có vẩy.

oOo

A. Hán văn

5. 其 音 角. 律 中 太 蔟.

6. 其 數 八. 其 味 酸. 其 臭 羶.

7. 其 祀 戶. 祭 先 脾.

8. 東 風 解 凍. 蟄 蟲 始 振. 魚 上 冰. 獺 祭 魚. 鴻 鴈 來.

B. Phiên âm

5. Kỳ âm giốc; luật trung Thái Thốc.

6. Kỳ số bát, kỳ vị toan, kỳ xú thiên.

7. Kỳ tự hộ, tế tiên tì.

8. Đông phong giải đống. Chập trùng thuỷ chấn. Ngư thướng băng. Thát tế ngư. Hồng nhạn lai.

C. Dịch

5. Âm ứng cung Giốc, luật ứng Thái Thốc.

6. Ứng số 8, vị chua, mùi tanh.

7. Tháng này tế thần chửa, cúng tì (rate-pancréas) trước.

8. Gió đông thổi, làm tan băng giá. Các loài sâu bọ sống trong đất đai bắt đầu giao động. Cá ngoi lên trên lớp băng. Dái cá tế cá (bắt cá tế thần); chim hồng chim nhạn (các loại ngỗng) bay về.

oOo

A. Hán văn

9. 天 子 居 青 陽 左 個.乘 鸞 路. 駕 倉 龍. 載 青 旂. 衣 青 衣.服 倉 玉. 食 麥

與 羊. 其 器 疏 以 達.

B. Phiên âm

9. Thiên tử cư Thanh Dương tả cá, thừa loan lộ, giá thương long, tải thanh kỳ. Ý thanh y, phục thương ngọc, thực mạch dữ dương, kỳ khí sơ dĩ đạt.

C. Dịch

9. Thiên tử ngự phía góc tả cung Thanh Dương. Xa giá lồng nhạc, thắng ngựa thương long, có trương cờ xanh. Ngài mang phẩm phục xanh, đeo ngọc bích. Dùng lúa mạch thịt cừu. Các dụng cụ có trạm nổi (trạm hình các mầm non nhô khỏi mặt đất).

oOo

A. Hán văn

10. 是 月 也. 以 立 春. 先 立 春 三 日. 太 史 謁 之 天 子. 曰. 某 日 立 春. 盛 德 在 木. 天 子 乃 齋. 立 春 之 日. 天 子 親 帥 三 公. 九 卿. 諸 侯. 大 夫. 以 迎 春 於 東 郊. 還 反. 賞 公 卿 諸 侯 大 夫 於 朝.

B. Phiên âm

10. Thị nguyệt dã, dĩ Lập Xuân. Tiên Lập Xuân tam nhật, thái sử yết chi Thiên tử viết: mỗ nhật Lập Xuân, thịnh đức tại mộc. Thiên tử nãi trai. Lập Xuân chi nhật, Thiên tử thân soái tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu, dĩ nghinh xuân ư đông giao. Hoàn phản, thưởng công khanh, chư hầu, đại phu ư triều.

C. Dịch

10. Tháng này, Xuân sang. Ba ngày trước Lập Xuân, quan thái sử tâu vua: ngày mỗ lập Xuân. Ảnh hưởng trời mạnh nhất nơi cây cối. Vua liền trai giới. Ngày Lập Xuân vua thân chinh thống suất tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu ra đông giao (cánh đồng phía đông) đón xuân về. Khi hồi trào, vua ban thưởng cho công khanh, chư hầu đại phu…

oOo

A. Hán Văn

11. 命 相 布 德 和 令. 行 慶 施 惠. 下 及 兆 民. 慶 賜 遂 行 毋 有 不 當.

12. 乃 命 太 史 守 典. 奉 法 司 天 日 月 星 辰 之 行. 宿 離 不 貸. 毋 失 經 紀. 以 初 為 常.

B. Phiên âm

11. Mệnh tướng bố đức hoà lệnh, hành khánh thi huệ, hạ cập triệu dân. Khánh tứ toại hành vô hữu bất đáng.

12. Nãi mệnh thái sử thủ điển, phụng pháp tư thiên nhật nguyệt tinh thần chi hành, túc ly bất thải, vô thất kinh kỷ, dĩ sơ vi thường.

C. Dịch

11. Truyền quan tướng ban bố giáo huấn, luật lệnh, tưởng thưởng, ban ân trạch cho tới chúng dân. Khen lao tưởng thưởng phải cho thấu đáo, xứng đáng.

12. Lại truyền quan thái sử giữ gìn luật lệ, tuyên bố pháp lệnh, theo rõi sự vận chuyển của mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú, quan sát độ tiệm ly giữa mặt trăng và mặt trời. Lại khuyến cáo họ tránh mọi lỗi lầm, theo đúng các định luật thiên văn, và theo gương các nhà thiên văn thủa trước.

oOo

A. Hán Văn

13. 是 月 也. 天 子 乃 以 元 日 祈 穀 于 上 帝. 乃 擇 元 辰. 天子 親 載 耒 耜. 措 之 于 參 保. 介 之 御 閒. 帥 三 公 九 卿 諸 侯. 大 夫. 躬 耕 帝 藉. 天 子 三 推. 三 公 五 推. 卿 諸 侯 九 推. 反 執 爵 于 大 寢. 三 公. 九 卿. 諸 侯. 大 夫. 皆 御. 命 曰 勞 酒.

B. Phiên âm

13. Thị nguyệt dã, Thiên tử nãi dĩ nguyên nhật kỳ cốc vu Thượng Đế, nãi trạch nguyên thần, Thiên tử thân tải lỗi tỷ. thố chi vu tham bảo, giới chi ngự nhàn. Soái tam công cửu khanh, chư hầu, đại phu, cung canh đế tịch. Thiên tử tam thôi, tam công ngũ thôi, khanh chư hầu cửu thôi. Phản, chấp tước vu đại tẩm. Tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu giai ngự. Mệnh viết lao tửu.

C. Dịch

13. Tháng này, vua chọn ngày (tức ngày có chữ Tân 辛) cầu xin Thượng Đế cho được mùa. Rồi chọn ngày (tức ngày có chữ Hợi 亥), vua đem cày lên xa giá đặt giữa quan đánh xe và quan võ mặc giáp, dẫn công khanh, đại phu, chư hầu, thân chinh ra cày tại tịch điền. Vua cày ba luống, tam công cày năm luống, cửu khanh và chư hầu chín luông. Lúc về vua hợp các công khanh chư hầu nơi đại tẩm và ban rượu thưởng công khó nhọc.

oOo

A. Hán Văn

14. 是 月 也. 天 氣 下 降. 地 氣 上 騰. 天 地 和 同. 草 木 萌 動.

15. 王 命 布 農 事. 命 田 舍 東 郊. 皆 脩 封 疆. 審 端 經 術. 善 相 丘 陵. 阪 險 原 隰. 土 地 所 宜. 五 穀 所 殖. 以 教 道 民 必 躬 親 之. 田 事 既 飭. 先 定 準 直. 農 乃 不 惑.

B. Phiên âm

14. Thị nguyệt dã, thiên khí hạ giáng, địa khí thượng đằng, thiên địa hoà đồng, thảo mộc manh động.

15. Vương mệnh bố nông sự, mệnh điền xá đông giao, giai tu phong cương, thẩm đoan kinh thuật, thiện tương khâu lăng, phản hiểm nguyên thấp, thổ địa sở nghi, ngũ cốc sở thực, dĩ giáo đạo dân tất cung thân chi. Điền sự ký sức, tiên định chuẩn trực, nông nãi bất hoặc.

C. Dịch

14. Tháng này khí trời vận xuống, khí đất bốc lên; Trời đất hòa hợp, cây cối đâm chồi nảy lộc.

15. Vua truyền khởi sự canh tác. Ngài sai các điền quan ra ở ngoài cánh đồng phía đông, sửa sang lại bờ mốc, sửa sang lại đường lối, kênh, lạch; nhận xét địa thế núi non, sườn núi, chân núi, đồng khô, đồng lầy, xem đất nào ưa thứ gì, xem phải trồng ngũ cốc ở đâu, để dạy dỗ hướng dẫn dân. Các điền quan phải đích thân làm việc, đi lại xem xét. Khi nông sự đã được trù liệu, khi ruộng đất có bờ cõi, hẳn hoi, nhà nông sẽ không lầm lỗi.

oOo

A. Hán Văn

16. 是 月 也. 命 樂 正 入 學 習 舞.

17. 乃 脩 祭 典. 命 祀 山 林 川 澤. 犧 牲 毋 用 牝.

18. 禁 止 伐 木.

19. 毋 覆 巢. 毋 殺 孩 蟲 胎. 夭 飛 鳥. 毋 麛. 毋 卵.

B. Phiên âm

16. Thị nguyệt dã mệnh nhạc chính nhập học tập vũ.

17. Nãi tu tế điển. Mệnh tự sơn lâm xuyên trạch, hi sinh vô dụng tẫn.

18. Cấm chỉ phạt mộc.

19. Vô phúc sào, vô sát hài trùng thai, yểu phi điểu, vô mê, vô noãn.

C. Dịch

16. Tháng này sai nhạc quan tới các trường dạy ca vũ.

17. Các lễ nghi tế tự đều được xem xét lại. Truyền tế thần núi, rừng, sông, hồ. Không được dâng tế các loài vật giống cái.

18. Không được chặt cây.

19. Không được phá tổ chim, giết hại sâu nhỏ, chim non, thú non, hay phá trứng.

oOo

A. Hán Văn

20. 毋 聚 大 眾. 毋 置 城 郭.

21. 掩 骼 埋 胔.

22. 是 月 也. 不 可 以 稱 兵. 稱 兵 必 天 殃. 兵 戎 不 起. 不 可 從 我 始.

B. Phiên âm

20. Vô tụ đại chúng, vô trí thành quách.

21. Yểm cách, mai tí.

22. Thị nguyệt dã, bất khả dĩ xưng binh. Xưng binh tất thiên ương. Binh nhung bất khởi, bất khả tòng ngã thuỷ.

C. Dịch

20. Không được tập hợp quần chúng, không được xây thành quách.

21. Phải chôn cất các xương khô, thịt thốt.

22. Tháng này không được hưng binh. Hưng binh ắt Trời phạt. Không được hưng binh, nghĩa là tự mình không được gây chyện binh đao (tức là vẫn có quyền tự vệ).

oOo

A. Hán Văn

23. 毋 變 天 之 道. 毋 絕 地 之 理. 毋 亂 人 之 紀.

24. 孟 春. 行 夏 令 則 雨 水 不 時. 草 木 蚤 落. 國 時 有 恐. 行秋 令. 則 其 民 大 疫. 猋 風 暴 雨 總 至. 藜 莠 蓬 蒿 並 興. 行 冬 令. 則 水 潦 為 敗. 雪 霜 大 摯. 首 種 不 入.

B. Phiên âm

23. Vô biến thiên chi đạo, vô tuyệt địa chi lý, vô loạn nhân chi kỷ.

24. Mạnh Xuân, hành Hạ lệnh tắc vũ thuỷ bất thời, thảo mộc tảo lạc, quốc thời hữu khủng. Hành thu lệnh tắc kỳ dân đại dịch, tiêu phong bạo vũ tổng chí, lê dửu bồng hao tịnh hưng. Hành Đông lệnh, tắc thuỷ lạo vi bại, tuyết sương đại chí, thủ chủng bất nhập.

C. Dịch

23. Đừng đổi thiên đạo, đừng ngăn địa lý, đừng làm rối luật lệ người.

24. Nếu tháng đầu Xuân, vua hành động theo mùa Hạ, mưa sẽ thất thường, thảo mộc sẽ héo hon, trong nước sẽ không yên. Nếu hành động theo mùa Thu, dân sẽ bị dịch tễ; hay có cuồng phong bạo vũ; các thứ cỏ dại sẽ thi nhau mọc. Nếu hành động theo mùa Đông, sẽ có thủy tai hay tuyết sương, mùa màng sẽ thất bát.

oOo

TIẾT II

A. Hán Văn

1. 仲 春 之 月. 日 在 奎. 昏 弧 中. 旦 建 星 中.

2. 其 日 甲 乙. 其 帝 太 皞. 其 神 句 芒. 其 蟲 鱗. 其 音 角. 律 中 夾 鍾.

B. Phiên âm

1. Trọng Xuân chi nguyệt, nhật tại Khuê, hôn Hồ trung, đán Kiến tinh trung.

2. Kỳ nhật Giáp Ất. Kỳ đế Thái Hạo. Kỳ thần Cú Mang. Kỳ trùng lân, kỳ âm giốc. Luật trung Giáp Chung.

C. Dịch

1. Tháng hai mùa Xuân, mặt trời ở chòm sao Khuê (Andromède et les Poissons). Chòm sao Hồ (le Grand Chien et le Navire Argo) qua kinh tuyến vào buổi chiều, và chòm sao Kiến (la Tête du Sagittaire) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Ngày tháng này gọi là Giáp Ất. Ứng vào vua Thái Hạo, ứng vào thần Cú Mang, ứng vào các vật có vẩy. Âm ứng cung Giốc, luật ứng Giáp Chung.

oOo

A. Hán Văn

3. 其 數 八. 其 味 酸. 其 臭 羶. 其 祀 戶. 祭 先 脾.

4. 始 雨 水. 桃 始 華. 倉 庚 鳴. 鷹 化 為 鳩.

5. 天 子 居 青 陽 太 廟. 乘 鸞 路. 駕 倉 龍. 載 青 旂. 衣 青 衣. 服 倉 玉. 食 麥 與 羊. 其 器 疏 以 達.

B. Phiên âm

3. Kỳ số bát, kỳ vị toan, kỳ xú thiên, kỳ tự hộ. Tế tiên tì.

4. Thuỷ vũ thuỷ. Đào thuỷ hoa. Thương canh minh. Ưng hoá vi cưu.

5. Thiên tử cư Thanh Dương thái miếu. Thừa loan lộ. giá thương long, tải thanh kỳ, ý thanh y, phục thương ngọc, thực mạch dữ dương, kỳ khí sơ dĩ đạt.

C. Dịch

3. Ứng với số tám, vị chua, mùi tanh. Tế thần cửa. Cúng tì (pancréas, rate) trước.

4. Mưa bắt đầu rơi, đào bắt đầu nở hoa, oanh líu lo, ưng hóa thành chim gáy.

5. Thiên tử ở cung Thanh Dương. Xa giá lồng nhạc, thắng ngựa thương long, có trương cờ xanh. Ngài mang phẩm phục xanh, đeo ngọc bích; dùng lúa mạch và thịt cừu. Các dụng cụ đều trạm nổi (trạm hình mầm non vừa nhô khỏi đất).

oOo

A. Hán Văn

6. 是 月 也. 安 萌 牙. 養 幼 少. 存 諸 孤.

7. 擇 元 日. 命 民 社.

8. 命 有 司. 省 囹 圄. 去 桎 梏. 毋 肆 掠. 止 獄 訟.

B. Phiên âm

6. Thị nguyệt dã, an manh nha, dưỡng ấu thiếu, tồn chư cô.

7 Trạch nguyên nhật, mệnh dân xã.

8. Mệnh hữu tư tỉnh linh ngữ. Khử chất cốc. Vô tứ lược, chỉ ngục tụng.

C. Dịch

6. Tháng này phải giữ gìn các mầm, các lộc, nuôi các loài còn yếu măng sữa, săn sóc kẻ mồ côi.

7. Vua chọn ngày tốt, truyền cho dân tế thần xã tắc.

8. Truyền các quan hữu tư xem xét lại tù ngục, bỏ gông cùm, và không đánh đập vô lý, ngăn ngừa các vụ kiện cáo về hình sự.

oOo

A. Hán Văn

9. 是 月 也. 玄 鳥 至. 至 之 日. 以 大 牢 祠 于 高 禖. 天 子 親往. 后 妃 帥 九 嬪 御. 乃 禮 天 子 所 御. 帶 以 弓 韣. 授 以 弓 矢. 于 高 禖 之前.

10. 是 月 也. 日 夜 分. 雷 乃 發 聲. 始 電. 蟄 蟲 感 動. 啟 戶始 出.

B. Phiên âm

9. Thị nguyệt dã, huyền điểu chí. Chí chi nhật, dĩ đại lao từ vu cao môi. Thiên tử thân vãng. Hậu phi soái cửu tần ngự, nãi lễ Thiên tử sở ngự. Đái dĩ cung độc, thụ dĩ cung thỉ, vu cao môi chi tiền.

10. Thị nguyệt dã, nhật dạ phân, lôi nãi phát thanh, thuỷ điện, chập trùng cảm động, khải hộ thuỷ xuất.

C. Dịch

9. Tháng này, nhạn đen trở về. Ngày nhạn về, làm lễ thái lao (giết bò, cừu, lợn) tế thần phụ trách hôn nhân và sinh sản. Thiên tử đích thân đến dự. Hoàng hậu dẫn 9 phi tần và các cung phi đến dự. Có lễ riêng (ban ngự tửu) cho những phi tần đã có mang với vua. Cho đeo bao cung và cung, ban cho cung tên, trước mặt thần coi sinh sản.

10. Tháng này Xuân phân. Bắt đầu có sấm chớp. Các loài đông miên bắt đầu sống động lại, và khoét tổ tỏ ra ngoài.

oOo

A. Hán Văn

11. 先 雷 三 日. 奮 木 鐸 以 令 兆 民 曰. 雷 將 發 聲. 有 不 戒 其 容 止 者. 生 子 不 備. 必 有 凶 災.

12. 日 夜 分. 則 同 度 量. 鈞 衡 石. 角 斗 甬. 正 權 概.

B. Phiên âm

11. Tiên lôi tam nhật, phấn mộc đạc dĩ lệnh triệu dân viết: lôi tương phát thanh; hữu bất giới kỳ dung chỉ giả, sinh tử bất bị, tất hữu hung tai.

12. Nhật dạ phân, tắc đồng độ lượng, quân hành thạch, giác đẩu dũng, chính quyền khái. (*)

C. Dịch

11. Ba ngày trước khi sấm động (tức là 3 ngày sau Xuân Phân, vì sấm động 6 ngày sau Xuân Phân) sai quan gõ mõ báo cho dân rằng: «Trời sắp sửa có sấm, phải tránh phòng sự kẻo sinh con không toàn vẹn và gặp những điều chẳng lành.»

12. Ngày Xuân Phân, kiểm soát lại các loại cân, lượng, đấu, hộc, dũng, các quả cân và các gạt lúa.

(*) Chú: Độ = thước dài; lượng = đồ đong; quân = 30 cân; hành = cán cân; thạch = 120 cân; đẩu = đấu; dũng = 10 đấu; quyền = quả cân; khái = cái gạt.

A. Hán Văn

13. 是 月 也. 耕 者 少 舍. 乃 脩 闔 扇. 寢 廟 畢 備. 毋 作 大 事. 以 妨 農 之 事.

14. 是 月 也. 毋 竭 川 澤. 毋 漉 陂 池. 毋 焚 山 林.

15. 天 子 乃 鮮 羔. 開 冰. 先 薦 寢 廟.

B. Phiên âm

13. Thị nguyệt dã, canh giả thiểu xả, nãi tu hạp phiến, tẩm miếu tất bị. Vô tác đại sự, dĩ phương nông chi sự.

14. Thị nguyệt dã, vô kiệt xuyên trạch, vô lộc bi trì, vô phần sơn lâm.

15. Thiên tử nãi tiên cao, khai băng, tiên tiến tẩm miếu.

C. Dịch

13. Tháng này nhà nông ít được nghỉ ngơi. Họ sửa sang lại cửa ngõ, buồng thờ cho hẳn hoi. Không được làm gì cho lớn lao, có hại đến công việc đồng áng.

14. Tháng này không được tát cạn hồ ao; không được tháo nước đầm vũng; không được đốt phá rừng rú.

15. Thiên tử lễ chiên (dâng cho thần lạnh), mở nhà chứa nước đá. Dâng đá cúng thần trong tẩm miếu.

oOo

A. Hán Văn

16. 上 丁. 命 樂 正 習 舞. 釋 菜. 天 子 乃 帥 三 公. 九 卿. 諸侯. 大 夫. 親 往 視 之. 仲 丁 又 命 樂 正 入 學 習 舞.

17. 是 月 也. 祀 不 用 犧 牲. 用 圭 璧. 更 皮 幣.

B. Phiên âm

16. Thượng Đinh, mệnh nhạc chính tập vũ thích thái; Thiên tử nãi soái tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu. thân vãng thị chi. Trọng Đinh hựu mệnh nhạc chính nhập học tập vũ.

17. Thị nguyệt dã, tự bất dụng hi sinh, dụng khuê bích, cánh bì tệ.

C. Dịch

16. Ngày Đinh đầu tiên trong tháng, nhạc quan sau khi đã dâng rau cúng thần (nhạc), dạy học trò ca vũ. Thiên tử hướng dẫn công khanh tới nơi ngự lãm. Ngày Đinh thứ hai trong tháng, nhạc quan lại được lệnh vào các trường học dạy nhạc.

17. Tháng này không được giết sinh vật tế lễ, mà dùng ngọc khuê, ngọc bích, da thú hay lụa.

oOo

A. Hán Văn

18. 仲 春 行 秋 令. 則 其 國 大 水. 寒 氣 總 至. 寇 戎 來 征. 行冬 令 則 陽 氣 不 勝. 麥 乃 不 熟. 民 多 相 掠. 行 夏 令. 則 國 乃 大 旱. 煖氣 早 來. 蟲 螟 為 害.

B. Phiên âm

18. Trọng Xuân hành Thu lệnh, tắc kỳ quốc đại thuỷ, hàn khí tổng chí, khấu nhung lai chinh. Hành Đông lệnh tắc dương khí bất thắng, mạch nãi bất thục, dân đa tương lược. Hành Hạ lệnh, tắc quốc nãi đại hạn, hoãn khí tảo lai, trùng minh vi hại.

C. Dịch

18. Tháng giữa mùa Xuân mà xử sự như mùa Thu, sẽ có thủy tai, sẽ bị giá lạnh nhiều, sẽ bị giặc giã. Xử sự theo mùa Đông, dương khí sẽ không thắng được hàn khí, lúa mạch sẽ không chín, trộm đạo sẽ sinh. Xử sự theo mùa Hạ, nước sẽ đại hạn, nóng sẽ đến sớm, lúa mạ sẽ bị sâu phá.

oOo

A. Hán Văn

19. 季 春 之 月. 日 在 胃. 昏 七 星 中. 旦 牽 牛 中.

20. 其 日 甲 乙. 其 帝 太 皞. 其 神 句 芒. 其 蟲 鱗. 其 音 角. 律 中 姑 洗.

21. 其 數 八. 其 味 酸. 其 臭 羶. 其 祀 戶. 祭 先 脾.

22. 桐 始 華. 田 鼠 化 為 鴽. 虹 始 見. 萍 始 生.

B. Phiên âm

19. Quý Xuân chi nguyệt, nhật tại Vị. Hôn Thất tinh trung. Đán Khiên Ngưu trung.

20. Kỳ nhật Giáp Ất, kỳ đế Thái Hạo, kỳ thần Cú Mang, kỳ trùng lân, kỳ âm Giốc, luật trung Cô Tẩy.

21. Kỳ số bát, kỳ vị toan, kỳ xú thiên, kỳ tự hộ, tế tiên tì.

22. Đồng thuỷ hoa, điền thử hoá vi như, hồng thuỷ kiến, bình thuỷ sinh.

C. Dịch

19. Tháng cuối Xuân, mặt trời ở chòm sao Vị (la Mouche Boréale), sao Thất Tinh (le Cœur de l’Hydre) qua kinh tuyến buổi chiều, sao Khiên Ngưu (le Cou de l’Aigle) qua kinh tuyến buổi sáng.

20. Ngày tháng này gọi Giáp Ất, ứng với vua Thái Hạo, với thần Cú Mang, với loài có vẩy, với âm Giốc, với dấu Cô Tẩy.

21. Ứng số 8, vị chua, mùi tanh. Tế thần cửa, cúng tì trước.

22. Ngô đồng bắt đầu nở hoa, chuột đồng hóa thành chim cút, cầu vồng bắt đầu mọc, bèo bắt đầu sinh.

oOo

A. Hán Văn

23. 天 子 居 青 陽 右 个. 乘 鸞 路. 駕 倉 龍. 載 青 旂. 衣 青 衣. 服 倉 玉. 食 麥 與 羊. 其 器 疏 以 達.

24. 是 月 也. 天 子 乃 薦 鞠 衣 于 先 帝.

25. 命 舟 牧 覆 舟. 五 覆 五 反. 乃 告 舟 備 具 于 天 子 焉. 天 子 始 乘 舟. 薦 鮪 于 寢 廟. 乃 為 麥 祈 實.

B. Phiên âm

23. Thiên tử cư Thanh Dương hữu cá, thừa loan lộ, giá thương long, tải thanh kỳ, ý thanh y, phục thương ngọc, thực mạch dữ dương. Kỳ khí sơ dĩ đạt.

24. Thị nguyệt dã, Thiên tử nãi tiến cúc y vu tiên đế.

25. Mệnh chu mục phúc chu, ngũ phúc ngũ phản, nãi cáo chu bị cụ vu Thiên tử yên. Thiên tử thuỷ thừa chu, tiến vị vu tẩm miếu, nãi vi mạch kỳ thực.

C. Dịch

23. Thiên tử ngự phía hữu cung Thanh Dương. Xa giá lồng nhạc, thắng ngựa thương long, có trương cờ xanh. Ngài mang phẩm phục xanh, đeo ngọc bích. Dùng lúa mạch và thịt cừu. Các dụng cụ đều trạm nổi (trạm hình các mầm non nhô khỏi mặt đất).

24. Tháng này, Thiên tử dâng áo vàng lên các vị tiên đế.

25. Quan giữ thuyền rồng được lệnh lật thuyền để xem xét. Lật đi lật lại năm lần, thuyền quan thượng tấu rằng thuyền tốt. Vua lên thuyền. Dâng cá vị nơi tẩm miếu, cầu cho mùa lúa mạch được phong đăng.

oOo

A. Hán Văn

26. 是 月 也. 生 氣 方 盛. 陽 氣 發 泄. 句 者 畢 出. 萌 者 盡 達. 不 可 以 內.

27. 天 子 乃 布 德 行 惠. 命 有 司. 發 倉 廩. 賜 貧 窮. 振 乏 絕. 開 府 庫. 出 幣 帛. 周 天 下. 勉 諸 侯. 聘 名 士. 禮 賢 者.

B. Phiên âm

26. Thị nguyệt dã, sinh khí phương thịnh, dương khí phát tiết, cú giả tất xuất, manh giả tận đạt, bất khả dĩ nội.

27. Thiên tử nãi bố đức hành huệ. Mệnh hữu tư phát thương lẫm, tứ bần cùng, chấn phạp tuyệt, khai phủ khố, xuất tệ bạch, chu thiên hạ, miễn chư hầu, sính danh sĩ, lễ hiền giả.

C. Dịch

26. Tháng này, sinh khí đã thịnh, Dương khí tràn lan. Các mầm mống nhất tề mọc lên. Thời kỳ này là thời kỳ ban phát, chưa phải thời kỳ thu liễm.

27. Thiên tử sẽ thi ân bá đức. Truyền quan hữu tư mở kho lẫm để phát chẩn cho người nghèo, trợ cấp người cùng khốn. Mở kho tàng lấy lụa là gửi tặng khắp nước, cốt thúc đẩy chư hầu chiêu hiền đãi sĩ.

oOo

A. Hán Văn

28. 是 月 也. 命 司 空 曰. 時 雨 將 降. 下 水 上 騰. 循 行 國 邑. 周 視 原 野. 修 利 隄 防. 道 達 溝 瀆. 開 通 道 路. 毋 有 障 塞.

29. 田 獵 罝 罘. 羅 罔. 畢 翳. 餧 獸 之 藥. 毋 出 九 門.

B. Phiên âm

28. Thị nguyệt dã, mệnh tư không viết: Thời vũ tương giáng, hạ thuỷ thượng đằng, tuần hành quốc ấp, chu thị nguyên dã, tu lợi đề phòng, đạo đạt câu độc, khai thông đạo lộ, vô hữu chướng tắc.

29. Điền, lạp, ta, phù, la, võng, tất, ế, uỷ thú chi dược, vô xuất cửu môn.

C. Dịch

28. Tháng này vua phán cùng quan coi về tạo tác rằng: mùa mưa sắp tới nước sẽ dâng cao. Hãy đi khắp kinh đô và thành thị, hãy sửa sang đê điều, hãy khai thông các ngòi lạch, khai quang đạo lộ, tránh mọi ứ đọng, bế tắc.

29. Các loại lưới, vợt, mồi bả, các dụng cụ để thợ săn ẩn nấp, đều không được ra khỏi chín cửa thành.

oOo

A. Hán Văn

30. 是 月 也. 命 野 虞 無 伐 桑 柘. 鳴 鳩 拂 其 羽. 戴 勝 降 于 桑. 具 曲 植 蘧 筐. 后 妃 齋 戒. 親 東 鄉 躬 桑. 禁 婦 女 毋 觀. 省 婦 使. 以 勸蠶 事. 蠶 事 既 登. 分 繭 稱 絲 效 功. 以 其 郊 廟 之 服. 無 有 敢 惰.

B. Phiên âm

30. Thị nguyệt dã, mệnh dã ngu vô phạt tang chá, minh cưu phất kỳ vũ đái thắng giáng vu tang. Cụ khúc thực cừ khuông. Hậu phi trai giới, thân đông hương cung tang. Cấm phụ nữ vô quan, tỉnh phụ sử, dĩ khuyến tàm sự. Tàm sự ký đăng, phân kiển, xứng ti hiệu công, dĩ kỳ giao miếu chi phục, vô hữu cảm noạ.

C. Dịch

30. Tháng này quan coi về nông lâm được lệnh không cho chặt các loại dâu. Chim cưu (tu hú) vỗ cánh rỉa lông trên các ngàn dâu. Người ta sửa soạn nong, né, thúng, mủng. Hoàng hậu trai giới và đi hái dâu ngoài đồng phía Đông. Phi thần không được trang sức, bớt tạp dịch, để xúc tiến việc tầm tang. Khi nuôi tằm đã xong, hoàng hậu phát kén, rồi cân tơ để so sánh công việc các cung phi, và cũng là để cung cấp lụa may phẩm phục cho các cuộc tế lễ. Không ai dám lười…

oOo

A. Hán Văn

31. 是 月 也. 命 工 師 令 百 工. 審 五 庫 之 量. 金. 鐵. 皮. 革. 筋. 角. 齒. 羽. 箭. 幹. 脂. 膠. 丹. 漆. 毋 或 不 良. 百 工 咸 理. 監 工 日 號. 毋 悖 于 時. 毋 或 作 為 淫 巧. 以蕩 上 心.

B. Phiên âm

31. Thị nguyệt dã, mệnh công sư lệnh bách công, thẩm ngũ khố chi lượng, kim, thiết, bì, cách, cân, giác, xỉ, vũ, tiễn, cán, chỉ, giao, đan, tất, vô hoặc bất lương. Bách công hàm lý, giám công nhật hiệu vô bội vu thời, vô hoặc tác vi dâm xảo, dĩ đãng thượng tâm.

C. Dịch

31. Tháng này các quan thanh tra được lệnh phải sai chuyên viên đi kiểm tra năm kho: để soát xem các loại kim khí, da, gân, gỗ, nhựa, son, và sơn có được giữ gìn hẳn hoi không. Sau đó thợ bắt đầu làm việc; hằng ngày họ được khuyến cáo không được làm gì lỗi thời hay đẹp quá, khéo quá, có thể kích thích lòng ham muốn xa hoa.

oOo

A. Hán Văn

32. 是 月 之 末. 擇 吉 日 大 合 樂. 天 子 乃 率 三 公. 九 卿. 諸侯. 大 夫. 親 往 視 之.

33. 是 月 也. 乃 合 累 牛 騰 馬. 遊 牝 于 牧. 犧 牲 駒 犢. 舉 書其 數.

34. 命 國 難. 九 門 磔 攘 以 畢 春 氣.

B. Phiên âm

32. Thị nguyệt chi mạt, trạch cát nhật, đại hợp nhạc, Thiên tử nãi suất tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu thân vãng thị chi.

33. Thị nguyệt dã, nãi hợp luy ngưu đằng mã, du tẫn vu mục, hi sinh câu độc, cử thư kỳ số.

34. Mệnh quốc nạn, cửu môn trạch nhương dĩ tất xuân khí.

C. Dịch

32. Cuối tháng này, chọn ngày tốt, mở đại nhạc hội. Thiên tử dẫn tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu tới dự.

33. Tháng này tập hợp các trâu ngựa giống lại cho đi cái… Ghi sổ các vật hi sinh và tổng số trâu con, ngựa con.

34. Vua truyền cầu cho quốc thái dân an. Tại 9 cửa thành, mổ xẻ các vật hi sinh để vứt (cho ôn thần) để xua tà khí cuối Xuân.

oOo

A. Hán Văn

35. 季 春 行 冬 令. 則 寒 氣 時 發. 草 木 皆 肅. 國 有 大 恐. 行夏 令. 則 民 多 疾 疫. 時 雨 不 降. 山 林 不 收. 行 秋 令. 則 天 多 沈 陰. 淫雨 蚤 降. 兵 革 並 起.

B. Phiên âm

35. Quý Xuân hành Đông lệnh, tắc hàn khí thời phát, thảo mộc giai túc, quốc hữu đại khủng. Hành Hạ lệnh, tắc dân đa tật dịch, thời vũ bất giáng, sơn lâm bất thu. Hành Thu lệnh, tắc thiên đa trầm âm, dâm vũ tảo giáng, binh cách tịnh khởi.

C. Dịch

35. Nếu tháng Xuân mà cư xử theo như mùa Đông, sẽ bị thời tiết lạnh, cỏ cây héo hon, chúng dân lo sợ. Nếu cư xử theo mùa Hạ sẽ có ôn dịch, hạn hán, núi đồi không sinh sôi nảy nở được gì. Nếu cư xử theo như mùa Thu, trời sẽ có sương mù, mưa dầm sẽ tới sớm, và loạn lạc binh cách sẽ sinh.

oOo

TIẾT III

A. Hán Văn

1. 孟 夏 之 月. 日 在 畢. 昏 翼 中. 旦 婺 女 中.

2. 其 日 丙 丁.

3. 其 帝 炎 帝. 其 神 祝 融.

B. Phiên âm

1. Mạnh Hạ chi nguyệt, nhật tại Tất. Hôn Dực trung, đán Vụ nữ trung.

2. Kỳ nhật Bính Đinh.

3. Kỳ đế Viêm Đế, kỳ thần Chúc Dung.

C. Dịch

1. Tháng đầu Hạ, mặt trời ở chòm sao Tất (les Hyades). Chòm sao Dực (la Coupe) qua kinh tuyến buổi chiều, chòm sao Vụ Nữ (quatre étoiles du Verseau) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Ngày là Bính Đinh.

3. Ứng với vua Viêm Đế, với thần Chúc Dung.

oOo

A. Hán Văn

4. 其 蟲 羽.

5. 其 音 徵. 律 中 中 呂.

6. 其 數 七. 其 味 苦. 其 臭 焦.

7. 其 祀 灶. 祭 先 肺.

B. Phiên âm

4. Kỳ trùng vũ.

5. Kỳ âm Chuỷ. Luật trung Trung Lữ.

6. Kỳ số thất, kỳ vị khổ, kỳ xú tiêu.

7. Kỳ tự táo, tế tiên phế.

C. Dịch

4. Ứng với loài chim.

5. Âm ứng cung Chủy, luật ứng dấu Trung Lữ.

6. Ứng số 7, vị đắng, mùi khét.

7. Cúng ông Táo, cúng phổi trước.

oOo

A. Hán Văn

8. 螻 蟈 鳴. 蚯 蚓 出. 王 瓜 生. 苦 菜 秀.

9. 天 子 居 明 堂 左 個. 乘 朱 路. 駕 赤 (馬戼). 載 赤 旂. 衣 朱 衣. 服 赤 玉. 食 菽 與 雞. 其 器 高 以 粗.

B. Phiên âm

8. Lâu quắc minh, khâu dẫn xuất, vương qua sinh, khổ thái tú.

9. Thiên tử cư Minh Đường tả cá, thừa chu lộ, giá xích lựu. tải xích kỳ, ý chu y, phục xích ngọc, thực thúc dữ kê, kỳ khí cao dĩ thô.

C. Dịch

8. Ếch nhái kêu, giun bò ra ngoài, dưa gang (?) sinh, rau diếp (?) nở hoa.

9. Thiên tử ở cung phía tả cung Minh Đường. Xa giá màu đỏ, thắng ngựa hồng đuôi đen, mang cờ đỏ. Vua mặc phẩm phục đỏ, đeo ngọc đỏ, ăn đậu và gà; dùng dụng cụ cao và rộng (tượng trưng thảo mộc lớn mạnh).

oOo

A. Hán Văn

10. 是 月 也. 以 立 夏. 先 立 夏 三 日. 太 史 謁 之 天 子 曰. 某日 立 夏. 盛 德 在 火. 天 子 乃 齋. 立 夏 之 日. 天 子 親 帥 三 公. 九 卿. 大 夫. 以 迎 夏 於 南 郊. 還 反. 行 賞. 封 諸 侯. 慶 賜 遂 行. 無 不 欣 說.

B. Phiên âm

10. Thị nguyệt dã, dĩ Lập Hạ. Tiên Lập Hạ tam nhật, thái sử yết chi Thiên tử viết: mỗ nhật Lập Hạ, thịnh đức tại hoả, Thiên tử nãi trai. Lập Hạ chi nhật, Thiên tử thân soái tam công, cửu khanh, đại phu, dĩ nghinh Hạ ư Nam Giao. Hoàn phản, hành thưởng, phong chư hầu, khánh tứ toại hành, vô bất hân duyệt.

C. Dịch

10. Tháng này, Lập Hạ. Trước Lập Hạ ba ngày, quan thái sử tâu lên Thiên tử: «Ngày mỗ Lập Hạ, oai Trời sẽ phát hiện bằng lửa.» Thiên tử liền trai giới. Ngày Lập Hạ dẫn tam công, cửu khanh, đại phu ra Nam Giao đón Hè về. Lúc về triều, ban thưởng và phong hầu một cách hết sức công minh, làm cho mọi người vui dạ.

oOo

A. Hán Văn

11. 乃 命 樂 師 習 合 禮 樂.

12. 命 大 尉. 贊 桀 俊. 遂 賢 良. 舉 長 大. 行 爵 出 祿. 必 當 其 位.

13. 是 月 也. 繼 長 增 高. 毋 有 壞 墮. 毋 起 土功. 毋 發 大 眾. 毋 伐 大 樹.

B. Phiên âm

11. Nãi mệnh nhạc sư tập hợp lễ nhạc.

12. Mệnh đại uý tán kiệt tuấn, toại hiền lương, cử trưởng đại, hành tước, xuất lộc, tất đáng kỳ vị.

13. Thị nguyệt dã, kế trưởng tăng cao, vô hữu hoại đoạ, vô khởi thổ công, vô phát đại chúng, vô phạt đại thụ.

C. Dịch

11. Bèn truyền nhạc quan dạy lễ và nhạc.

12. Truyền quan tổng binh giúp đỡ người tuấn kiệt, làm toại nguyện kẻ hiền lương, cất nhắc những người khỏe mạnh, cao lớn, ban tước lộc cho xứng với khả năng.

13. Tháng này giúp cho mọi vật tăng trưởng, nên không phá phách, không đắp đất, bắt phu, không chặt cây lớn.

oOo

A. Hán Văn

14. 是 月 也. 天 子 始 絺.

15. 命 野 虞. 出 行 田 原. 為 天 子 勸 民. 毋 或 失 時. 命 司 徒 巡 行 縣 鄙. 命 農 勉 作. 毋 休 于 都.

16. 是 月 也. 驅獸 毋 害 五 穀. 毋 大 田 獵.

B. Phiên âm

14. Thị nguyệt dã, Thiên tử thuỷ hi.

15. Mệnh dã ngu xuất hành điền nguyên, vị Thiên tử khuyến dân, vô hoặc thất thời. Mệnh tư đồ tuần hành huyện bỉ, mệnh nông miễn tác, vô hưu vu đô.

16. Thị nguyệt dã, khu thú vô hại ngũ cốc, vô đại điền lạp.

C. Dịch

14. Tháng này Thiên tử bắt đầu mặc áo vải mỏng.

15. các quan nông lâm được lệnh đi thăm đồng áng, thay mặt vua tưởng thưởng nông phu, khuyến khích dân chúng, để ai nấy không bỏ phí thời giờ quí báu. Các học quan sẽ hoạt động tại các quận huyện, thôi thúc dân chúng chăm lo việc đồng áng, và không cho ai được ăn không ngồi rỗi nơi thành thị.

16. Tháng này săn đuổi thú không cho chúng phá mùa màng nhưng không săn bắn lớn.

oOo

A. Hán Văn

17. 農 乃 登 麥. 天 子 乃 以 彘 嘗 麥. 先 薦 寢 廟.

18. 是月 也. 聚 畜 百 藥. 靡 草 死. 麥 秋 至. 斷 薄 刑. 泱 小 罪. 出 輕 繫.

B. Phiên âm

17. Nông nãi đăng mạch, Thiên tử nãi dĩ trệ thưởng mạch; tiên tiến tẩm miếu.

18. Thị nguyệt dã, tụ súc bách dược. Mỹ thảo tử; mạch thu chí. Đoán bạc hình, ương tiểu tội, xuất khinh hệ.

C. Dịch

17. Nhà nông gặt lúa mạch về. Thiên tử ăn thứ lúa mạch với thịt lợn, sau khi đã cúng dâng trong tẩm miếu.

18. Tháng này, súc tích các loại dược thảo. Những cây nhỏ yểu chết, tháng này là mùa lúa mạch. Chỉ xử tội nhẹ, lỗi nhẹ, tha cho những kẻ phạm lỗi nhẹ. (*)

——————–

(*) Quand tout croît dans la nature, il ne convient pas de mutiler ou de mettre à mort les coupables. (K’oung Ing Ta) (Couvreur, Li Ki, page 357).

oOo

A. Hán Văn

19. 蠶 事畢. 后 妃 獻 繭. 乃 收 繭 稅. 以 桑 為 均. 貴 賤 長 幼 如 一. 以 給 郊 廟 之 服.

20. 是 月 也. 天 子 飲 酎. 用 禮 樂.

B. Phiên âm

19. Tàm sự tất, hậu phi hiến kiển, nãi thu kiển thuế, dĩ tang vi quân, quí tiện trưởng ấu như nhất, dĩ cấp giao miếu chi phục.

20. Thị nguyệt dã, Thiên tử ẩm chữu, dụng lễ nhạc.

C. Dịch

19. Công việc tầm tang xong, hoàng hậu dâng kén lên vua. Truyền thu thuế kén theo xỉ số cây dâu và không phân giàu nghèo lớn bé, để cung ứng cho nhu cầu lễ phục nơi Giao, Miếu

20. Tháng này, vua uống rượu mạnh, có nghi thức lễ nhạc phụ diễn.

oOo

A. Hán Văn

21. 孟 夏 行 秋 令 則 苦 雨 數 來. 五 穀 不 滋. 四 鄙 入 保. 行 冬 令 則 草 木 蚤 枯. 後 乃 大 水. 敗 其 城 郭. 行 春 令 則 蝗 蟲 為 災. 暴 風 來 格. 秀 草 不 實.

B. Phiên âm

21. Mạnh Hạ hành Thu lệnh tắc khổ vũ số lai, ngũ cốc bất tư. Tứ bỉ nhập bảo. Hành Đông lệnh tắc thảo mộc tảo khô, hậu nãi đại thuỷ, bại kỳ thành quách. Hành Xuân lệnh tắc hoàng trùng vi tai, bạo phong lai cách, tú thảo bất thực.

C. Dịch

21. Thàng đầu Hạ mà xử sự theo như mùa Thu, sẽ có nhiều trận mưa xấu làm cây cối không lớn được; các miền gần biên ải sẽ có loạn lạc, mọi người phải rút vào trong thành lũy. Cư xử theo như mùa Đông, cây cỏ sẽ khô héo, quốc gia sẽ có thủy tai, thành quách sẽ bị hư hại. Cư xử theo như mùa Xuân, sẽ có châu chấu phá hoại, sẽ có gió lớn, và lúa má có hoa mà chẳng có hạt.

oOo

A. Hán Văn

22. 仲 夏 之 月. 日 在 東 井. 昏 亢 中. 旦 危 中.

23. 其 日 丙 丁. 其 帝 炎 帝. 其 神 祝 融. 其 蟲 羽. 其 音 徵. 律 中 蕤 賓.

24. 其 數 七. 其 味 苦. 其 臭 焦. 其 祀 灶. 祭 先 肺.

B. Phiên âm

22. Trọng Hạ chi nguyệt. nhật tại đông Tỉnh. Hôn Cang trung. đán Nguy trung.

23. Kỳ nhật Bính Đinh, kỳ đế Viêm Đế, kỳ thần Chúc Dung, kỳ trùng vũ, kỳ âm Chuỷ, luật trung Nhuy Tân.

24. Kỳ số thất, kỳ vị khổ, kỳ xú tiêu, kỳ tự táo, tế tiên phế.

C. Dịch

22. Tháng giữa Hạ, mặt trời ở chòm sao Tỉnh (Gémeaux); Sao Cang (La Vierge) qua kinh tuyến buổi chiều, chòm sao Nguy (a du Verseau, ε θ de Pégase) qua kinh tuyến buổi sáng.

23. Ngày là Bính Đinh, ứng vào vua Viêm Đế, vào thần Chúc Dung, vào loài chim, vào âm Chuỷ, vào dấu Nhuy Tân.

24. Ứng số 7, ứng vị đắng, mùi khét, cúng táo quân, cúng phổi trước.

oOo

A. Hán Văn

25. 小 暑 至. 螳 螂 生. 鵙 始 鳴. 反 舌 無 聲.

26. 天 子 居 明 堂 太 廟. 乘 朱 路. 駕 赤 馬. 載 赤 旂. 衣 朱 衣. 服 赤 玉. 食 菽 與 雞. 其 器 高 以 粗.

27. 養 壯 佼.

B. Phiên âm

25. Tiểu thử chí, đường lang sinh, quyết thuỷ minh, phản thiệt vô thanh.

26. Thiên tử cư Minh Đường thái miếu, thừa chu lộ, giá xích mã, tải xích kỳ, ý chu y. phục xích ngọc, thực thúc dữ kê, kỳ khí cao dĩ thô.

27. Dưỡng tráng giảo.

C. Dịch

25. Tiết trời nóng vừa, bọ ngựa sinh, chim quyết kêu, chim bách thiệt thôi hót.

26. Thiên tử ngự cung Minh Đường, ngự trên xe đỏ, thắng ngựa lông đỏ đuôi đen, mang cờ đỏ, mặc phẩm phục đỏ, đeo ngọc đỏ, dùng đậu và thịt gà, dùng những đồ cao và rộng (tượng trưng thảo mộc lớn mạnh).

27. Khuyến khích những người cường tráng.

oOo

A. Hán Văn

28. 是 月 也. 命 樂 師 脩 鞀 鞞 鼓. 均 琴 瑟 管 簫. 執 干 戚 戈 羽. 調 竽 笙 竾 簧. 飭 鍾 磬 柷 敔.

29. 命 有 司 為 民 祈 祀 山 川 百 源. 大 雩 帝. 用 盛 樂. 乃 命 百縣 雩 祀 百 辟 卿 士 有 益 於 民 者. 以 祈 穀 實.

B. Phiên âm

28. Thị nguyệt dã, mệnh nhạc sư tu đào, bì, cổ; quân cầm, sắt, quản, tiêu; chấp can, thích, qua, vũ; điều vu, sanh, trì, hoàng; sức chung, khánh, chúc, ngữ.

29. Mệnh hữu tư vi dân kỳ tự sơn xuyên bách nguyên, đại vu Đế, dụng thịnh nhạc, nãi mệnh bách huyện vu tự bách tích khanh sĩ hữu ích ư dân giả, dĩ kỳ cốc thực.

C. Dịch

28. Tháng này vua truyền nhạc quan sửa sang lại trống khẩu và các loại trống; so lại các cầm, sắt, quản, tiêu; tập sử dụng các loại khiên, búa, giáo, lông (dùng để ca vũ); sửa sang lại các loại sênh, sáo; sắp xếp lại chuông, khánh, chúc, ngữ.

29. Truyền quan hữu tư tế các thần sông núi. Vua làm lễ đảo vũ cùng Thượng Đế, trong buổi lễ có đại hòa tấu âm nhạc. Truyền các quận huyện dâng lễ cúng vong linh các vị công khánh, các vị anh hùng liệt sĩ để cầu phong đăng hòa cốc.

oOo

A. Hán Văn

30. 農 乃 登 黍. 是 月 也. 天 子 乃 以 雛 嘗 黍. 羞 以 含 桃. 先薦 寢 廟.

31. 令 民 毋 艾 藍 以 染. 毋 燒 灰. 毋 暴 布.

32. 門 閭 毋 閉. 關 市 毋 索.

B. Phiên âm

30. Nông nãi đăng mạch. Thị nguyệt dã, Thiên tử nãi dĩ sồ thưởng mạch, tu dĩ hàm đào, tiên tiến tẩm miếu.

31. Lệnh dân vô nghệ lam dĩ nhiễm.

32. Vô thiêu hôi, vô bạo bố.

33. Môn lư vô bế, quan thị vô sách.

C. Dịch

30. Nhà nông gặt lúa mạch về. Tháng này Thiên tử sau khi tiến dâng trong tẩm miếu, thưởng lúa mạch với thị gà non, tráng miệng bằng đào.

31. Cấm dân không được cắt chàm để nhuộm.

32. Không được đốt than, không được phơi vải.

33. Cổng tỉnh, cổng làng bỏ ngỏ; nơi quan ải chợ búa không thu thuế.

oOo

A. Hán Văn

34. 挺 重 囚. 益 其 食.

35. 游 牝 別 群. 則 縶 騰 駒. 班 馬 政.

36. 是 月 也. 日 長 至. 陰 陽 爭. 死 生 分. 君 子 齋 戒. 處 必 掩 身. 毋 躁. 止 聲 色. 毋 或 進. 薄 滋 味. 毋 致 和. 節 耆 欲. 定 心 氣. 百 官 靜 事. 毋 刑. 以 定 晏 陰 之 所 成.

B. Phiên âm

34. Đĩnh trọng tù, ích kỳ thực.

35. Du tẫn biệt quần, tắc trập đằng câu, ban mã chính.

36. Thị nguyệt dã, nhật trường chí, âm dương tranh, tử sinh phân, quân tử trai giới, xử tất yểm thân, vô táo, chỉ thanh sắc, vô hoặc tiến, bạc tư vị, vô chí hoà, tiết thị dục, định tâm khí. Bách quan tĩnh sự, vô hình, dĩ định yến âm chi sở thành.

C. Dịch

34. Giảm hình phạt cho những trọng tù, cho họ ăn thêm.

35. Thả những ngựa cái vào một nơi, và buộc các ngựa đực lại. Ban hành cách thức nuôi ngựa.

36. Tháng này, ngày dài nhất, âm dương tương tranh, tử sinh chia rẽ; người quân tử trai giới, ở nơi thanh tĩnh, không hấp tấp, tránh né nữ sắc âm nhạc, ăn uống đạm bạc; tiết chế lòng ham muốn, định tâm thần. Các quan ngừng công việc, không gia hình phạt tội, thế là giúp cho khí âm thi triển ảnh hưởng.

oOo

A. Hán Văn

37. 鹿 角 解. 蟬 始 鳴. 半 夏 生. 木 堇 榮.

38. 是 月 也. 毋 用 火 南 方.

39. 可 以 居 高 明. 可 以 遠 眺 望. 可以 升 山 陵. 可 以 處 臺 榭.

B. Phiên âm

37. Lộc giác giải, thiền thuỷ minh, bán hạ sinh, mộc cận vinh.

38. Thị nguyệt dã, vô dụng hoả Nam phương.

39. Khả dĩ cư cao minh, khả dĩ viễn thiểu vọng, khả dĩ thăng sơn lăng, khả dĩ xứ đài tạ.

C. Dịch

37. Tháng này hươu thay sừng; ve kêu; bán hạ mọc; cần cạn đâm bông.

38. Tháng này không được nổi lửa về phía nam.

39. Nên ở nhà cửa cao ráo, sáng sủa; nên ngắm những thắng cảnh bao la, khoáng đãng; nên dạo chơi đồi núi, ở lầu cao, chỗ cao.

oOo

A. Hán Văn

40. 仲 夏 行 冬 令. 則 雹 凍 傷 穀. 道 路 不 通. 暴 兵 來 至. 行春 令. 則 五 穀 晚 熟. 百 螣 時 起. 其 國 乃 饑. 行 秋 令. 則 草 木 零 落. 果實 早 成. 民 殃 於 疫.

B. Phiên âm

40. Trọng Hạ hành Đông lệnh tắc bạc đống thương cốc, đạo lộ bất thông, bạo binh lai chí. Hành Xuân lệnh tắc ngũ cốc vãn thục, bách đằng thời khởi, kỳ quốc nãi cơ. Hành Thu lệnh tắc thảo mộc linh lạc, quả thật tảo thành, dân ương ư dịch.

C. Dịch

40. Tháng giữa mùa Hè, mà cư xử theo như mùa Đông sẽ có mưa đá phá hại mùa màng, đường xá sẽ hư hại, sẽ có giặc cướp. Nếu cư xử theo như mùa Xuân, các hạt sẽ chín muộn, các loại châu chấu sẽ phát sinh, và trong nước sẽ đói kém. Nếu cư xử theo như mùa Thu, cây cối sẽ rụng lá, quả sẽ non, dân có thể bị dịch tễ.

oOo

TIẾT III

A. Hán Văn

1. 季 夏 之 月. 日 在 柳. 昏 火 中. 旦 奎 中.

2. 其 日 丙 丁. 其帝 炎 帝. 其 神 祝 融. 其 蟲 羽. 其 音 徵. 律 中 林 鍾.

3. 其 數 七. 其 味 苦. 其 臭 焦. 其 祀 灶. 祭 先 肺.

B. Phiên âm

1. Quý Hạ chi nguyệt, nhật tại Liễu; hôn Hoả trung, đán khuê trung.

2. Kỳ nhật Bính Đinh, kỳ đế Viêm Đế, kỳ thần Chúc Dung, kỳ trùng vũ, kỳ âm Chuỷ, luật trung Lâm Chung.

3. Kỳ số thất, kỳ vị khổ, kỳ xú tiêu, kỳ tự táo, tế tiên phế.

C. Dịch

1. Tháng cuối Hạ, mặt trời ở chòm sao Liễu (Hydre); sao Hỏa (Antarès du Scorpion) qua kinh tuyến buổi chiều, chòm sao Khuê (Andromède et Poissons) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Ngày là Bính Đinh, ứng với vua Viêm Đế, với thần Chúc Dung, với loài chim, với cung Chuỷ, với dấu Lâm Chung.

3. Ứng với số 7, vị đắng, mùi khét; cúng táo quân, cúng phổi trước.

oOo

A. Hán Văn

4. 溫 風 始 至. 蟋 蟀 居 壁. 鷹 乃 學 習. 腐 草 為螢.

5. 天 子 居 明 堂 右 個. 乘 朱 路. 駕 赤 (馬戼). 載 赤 旂. 衣 朱 衣. 服 赤 玉. 食 菽 與 雞. 其 器 高 以 粗.

6. 命 漁 師 伐 蛟. 取 鼉. 登 龜. 取 黿.

B. Phiên âm

4. Ôn phong thuỷ chí, tất suất cư bích, ưng nãi học tập, hủ thảo vi huỳnh.

5. Thiên tử cư Minh Đường hữu cá. Thừa chu lộ, giá xích lựu, tải xích kỳ, ý chu y, phục xích ngọc, thực thúc dữ kê, kỳ khí cao dĩ thô.

6. Mệnh ngư sư phạt giao, thủ đà, đăng qui, thủ ngoan.

C. Dịch

4. Gió nóng bắt đầu thổi, dế rúc chân tường, chim ưng tập vồ mồi; cỏ mục sinh đom đóm.

5. Thiên tử ngự cung phía hữu cung Minh Đường, ngự xe đỏ, thắng ngựa màu đỏ đuôi lông đen, mặc phẩm phục đỏ: đeo ngọc đỏ, ăn đậu và gà; dùng đồ đạc cao và rộng (tượng trưng cây cỏ đang lớn mạnh).

6. Vua truyền quan coi về chài lưới săn bắt sấu, rùa, giải.

oOo

A. Hán Văn

7. 命 澤 人. 納 材 葦.

8. 是 月 也. 命 四 監. 大 合 百 縣 之 秩 芻. 以 養 犧 牲. 令 民無 不 咸 出 其 力. 以 共 皇 天 上 帝. 名 山 大 川. 四 方 之 神. 以 祠 宗 廟 社 稷之 靈. 以 為 民 祈 福.

B. Phiên âm

7. Mệnh trạch nhân. nạp tài vỹ.

8. Thị nguyệt dã, mệnh tứ giám, đại hợp bách huyện chi trật xô, dĩ dưỡng hi sinh, lệnh dân vô bất hàm xuất kỳ lực, dĩ cộng Hoàng Thiên Thượng Đế, danh sơn đại xuyên, tứ phương chi thần, dĩ từ tông miếu xã tắc chi linh, dĩ vi dân kỳ phúc.

C. Dịch

7. Truyền quan coi hồ đầm thu thập lau lách.

8. Tháng này các quan coi về lâm sản phải thâu tích trong các quận huyện cho đủ số cỏ khô đã được ấn định để nuôi các vật sẽ cúng tế. Bắt dân tích cực đóng góp vào công cuộc kính thờ Thượng Đế và các thần sơn hà xã tắc, để cầu cho dân được hạnh phúc.

oOo

A. Hán Văn

9. 是 月 也. 命 婦 官 染 采. 黼 黻 文 章. 必 以 法 故. 無 或 差貸. 黑 黃 倉 赤. 莫 不 質 良. 毋 敢 詐 偽. 以 給 郊 廟 祭 祀 之 服. 以 為 旗 章. 以 別 貴 賤 等 給 之 度.

B. Phiên âm

9. Thị nguyệt dã, mệnh phụ quan nhiễm thái, phủ, phất, văn, chương, tất dĩ pháp cố, vô hoặc sai thải. (*) Hắc hoàng, thương, xích, mạc bất chất lương, vô cảm trá nguỵ, dĩ cấp giao miếu tế tự chi phục, dĩ vi kỳ chương, dĩ biệt quí tiện đẳng cấp chi độ.

C. Dịch

9. Tháng này truyền phụ quan (quan trông nom về công việc đàn bà) nhuộm các màu. Các loại phủ, phất, văn, chương phải cho hợp lệ. Các màu đen, vàng, xanh, đỏ phải tốt không được gian trá, để dùng vào việc may phẩm phục tế lễ, và may cờ xí, áo xống cà các quan chức.

————–

(*) Phủ 黼 = vải hay đồ thêu, dệt bằng chỉ đen, trắng, vải hay đồ thêu có hình rìu, lưỡi trắng, cán đen. Phất 黻 = vải hay đồ thêu dệt bằng sợi đen, sợi xanh; vải hay đồ thêu có hình chữ 亞, tức là hai chữ 己 quay lưng vào nhau, một chữ đen, một chữ xanh. Văn 文 = đồ trang sức đỏ và xanh thẫm hay xanh nhạt. Chương 章 = đồ trang sức đỏ và trắng.

oOo

A. Hán Văn

10. 是 月 也. 樹 木 方 盛. 乃 命 虞 人 入 山 行 木. 毋 有 斬 伐.

11. 不 可 以 興 土 功. 不 可 以 合 諸 侯. 不 可 以 起 兵 動 眾. 毋 舉 大 事. 以 搖 養氣. 毋 發 令 而 待. 以 妨 神 農 之 事 也. 水 潦 盛 昌. 神 農 將 持. 功 舉 大 事. 則 有 天 殃.

B. Phiên âm

10. Thị nguyệt dã, thụ mộc phương thịnh, nãi mệnh ngu nhân nhập sơn, hành mộc, vô hữu trảm phạt.

11. Bất khả dĩ hưng thổ công, bất khả dĩ hợp chư hầu, bất khả dĩ khởi binh, động chúng; vô cử đại sự, dĩ dao dưỡng khí, vô phát lệnh nhi đãi, dĩ phương thần nông chi sự dã. Thuỷ lạo thịnh xương, thần nông tương trì; công cử đại sự, tắc hữu thiên ương.

C. Dịch

10. Tháng này cây cối đang mạnh. Các quan coi về nông lâm phải xem xét các cây, không ai được chặt cây. (凡 木 春 夏 斬 者 多 蠹) (欽 定 禮 記 案)

11. Không được xây đắp, không được hội chư hầu, không được khởi binh mã, không được làm những công chuyện lớn lao, vì làm hại sinh khí, không được ra lệnh trước về công chuyện gì kẻo hại nông sự. Nước ruộng đầy tràn, nông gia sẽ rất bận rộn. Nếu làm những chuyện lớn lao, Trời sẽ ra tai.

oOo

A. Hán Văn

12. 是 月 也. 土 潤 溽 暑. 大 雨 時 行. 燒 薙 行 水. 利 以 殺 草. 如 以 熱 湯. 可 以 糞 田 疇. 可 以 美 土 疆.

13. 季 夏 行 春 令. 則 穀 實 鮮 落. 國 多 風 欬. 民 乃 遷 徙 行 秋令. 則 丘 隰 水 潦. 禾 稼 不 熟. 乃 多 女 災. 行 冬 令. 則 風寒 不 時. 鷹 隼 蚤 鷙. 四 鄙 入 保.

B. Phiên âm

12. Thị nguyệt dã, thổ nhuận nhục thử. Đại vũ thời hành. Thiêu thế hành thuỷ, lợi dĩ sát thảo, như dĩ nhiệt thang, khả dĩ phẩn điền trù, khả dĩ mỹ thổ cương.

13. Quý Hạ hành Xuân lệnh, tắc cốc thực tiên lạc, quốc đa phong khái; dân nãi thiên tỉ. Hành Thu lệnh, tắc khâu thấp thuỷ lạo, hoà giá bất thục, nãi đa nữ tai. Hành Đông lệnh, tắc phong hàn bất thời, ưng chuẩn tảo chí, tứ bỉ nhập bảo.

C. Dịch

12. Tháng này đất ẩm và khí nóng. Trời thường mưa to. Nước nóng như sôi làm chết cỏ đã bị cắt, và chết cả rễ cỏ. Cỏ chết lại thành như phân bón ruộng, làm cho đất xốp hơn.

13. Tháng cuối Hạ, mà cư xử theo như mùa Xuân, các hạt sẽ rụng non. Trong nước nhiều người bị cảm ho; dân sẽ di cư. Nếu cư xử theo như mùa Đông, sẽ có gió lạnh không đúng thời tiết; chim ưng, chim cắt sẽ bắt mồi sớm; dân chúng gần biên cảnh sẽ phải rút vào trong thành chống giặc.

oOo

A. Hán Văn

14. 中 央 土.

15. 其 日 戊 己.

16. 其 帝 黃 帝. 其 神 后 土.

17. 其 蟲 倮.

18. 其 音 宮. 律 中 黃 鍾 之 宮.

B. Phiên âm

14. Trung ương Thổ.

15. Kỳ nhật Mậu Kỷ.

16. Kỳ đế Hoàng Đế. kỳ thần Hậu Thổ.

17. Kỳ trùng khỏa.

18. Kỳ âm Cung, luật trung Hoàng Chung chi cung.

C. Dịch

14. Trung ương là Thổ.

15. Ứng với ngày Mậu Kỷ.

16. Ứng với Hoàng Đế, thần Hậu Thổ.

17. Ứng với các loài có da trơn.

18. Ứng với cung Cung, ứng với Hoàng Chung, cho dấu Cung.

oOo

A. Hán Văn

19. 其 數 五. 其 味 甘. 其 臭 香.

20. 其 祀 中 霤. 祭 先 心.

21. 天 子 居 太 廟 大 室. 乘 大 路. 駕 黃 (馬戼). 載 黃 旂. 衣 黃 衣. 服 黃 玉. 食 稷 與 牛. 其 器 圜 以 閎.

B. Phiên âm

19. Kỳ số ngũ, kỳ vị cam, kỳ xú hương.

20. Kỳ tự Trung Lựu, tế tiên tâm.

21. Thiên tử cư Thái miếu, Thái thất, thừa đại lộ, giá hoàng lựu. tải hoàng kỳ, ý hoàng y. phục hoàng ngọc, thực tắc dữ ngưu, kỳ khí viên dĩ hoành.

C. Dịch

19. Ứng số 5, vị ngọt, mùi thơm.

20. Cúng thần hậu Tắc nơi giữa nhà; cúng tim trước.

21. Thiên tử ngự nơi Thái Miếu, Thái Thất, ngựa xe lớn, có thắng ngựa lông vàng đuôi đen, trương cờ vàng, mặc phẩm phục vàng, đeo ngọc vàng, ăn kê và bò. Đồ đạc dùng có hình tròn và lớn (tượng trưng đất).

oOo

A. Hán Văn

22. 孟 秋 之 月. 日 在 翼. 昏 建 星 中. 旦 畢 中.

23. 其 日 庚 辛.

24. 其 帝 少 皞. 其 神 蓐 收.

25. 其 蟲 毛.

26. 其 音 商. 律 中 夷 則.

B. Phiên âm

22. Mạnh Thu chi nguyệt, nhật tại Dực, hôn Kiến Tinh trung, đán Tất trung.

23. Kỳ nhật Canh Tân.

24. Kỳ đế Thiếu Hạo, kỳ thần Nhục Thu.

25. Kỳ trùng mao.

26. Kỳ âm Thương, luật trung Di Tắc.

C. Dịch

22. Tháng đầu Thu, mặt trời ở chòm sao Dực (la Coupe); Sao Kiến Tinh (la Tête du Sagittaire) qua kinh tuyến buổi chiều; Sao Tất (les Hyades) qua kinh tuyến buổi sáng.

23. Ngày là Canh Tân.

24. Ứng vào vua Thiếu Hạo, vào thần Nhục Thu.

25. Ứng vào loài có lông.

26. Ứng cung Thương, dấu Di Tắc.

oOo

A. Hán Văn

27. 其 數 九. 其 味 辛. 其 臭 腥.

28. 其 祀 門. 祭 先 肝.

29. 涼 風 至. 白 露 降. 寒 蟬 鳴. 鷹 乃 祭 鳥. 用 始 行 戮.

30. 天 子 居 總 章 左 個. 乘 戎 路. 駕 白 駱. 載 白 旂. 衣 白 衣. 服 白 玉. 食 麻 與 犬. 其 器 廉 以 深.

B. Phiên âm

27. Kỳ số cửu, kỳ vị tân, kỳ xú tinh.

28. Kỳ tự Môn, tế tiên can.

29. Lương phong chí, bạch lộ giáng, hàn thiền minh, ưng nãi tế điểu, dụng thuỷ hành chạc.

30. Thiên tử cư Tổng Chương tả cá, thừa nhung lộ, giá bạch lạc, tải bạch kỳ, ý bạch y. phục bạch ngọc, thực ma dữ khuyển, kỳ khí liêm dĩ thâm.

C. Dịch

27. Ứng số 9, vị cay, mùi tanh.

28. Ứng thần cửa, cúng gan trước.

29. Gió mát thổi, sương trắng rơi, ve sầu kêu. Chim ưng bắt chim con như để tế thần và bắt đầu thi hành công việc giết lát.

30. Thiên tử ở góc tả cung Tổng Chương, ngự xe trận, thắng ngựa trắng bờm đen, trương cờ trắng, mặc phẩm phục áo trắng, đeo ngọc trắng, ăn vừng và thịt chó; đồ dùng có góc và sâu (tượng trưng mùa thu sẽ làm chết cây cỏ.)

oOo

A. Hán Văn

31. 是 月 也. 以 立 秋. 先 立 秋 三 日. 太 史 謁 之 天 子 曰. 某日 立 秋. 盛 德 在 金. 天 子 乃 齋. 立 秋 之 日. 天 子 親 帥 三 公. 九 卿. 諸侯. 大 夫. 以 迎 秋 於 西 郊. 還 反. 賞 軍 帥 武 人 於 朝.

B. Phiên âm

31. Thị nguyệt dã, dĩ Lập Thu, tiên Lập Thu tam nhật, thái sử yết chi Thiên tử viết: «Mỗ nhật Lập Thu, thịnh đức tại kim.» Thiên tử nãi trai. Lập Thu chi nhật, Thiên tử thân soái tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu, dĩ nghinh Thu ư Tây Giao. Hoàn phản, thưởng quân soái vũ nhân ư triều.

C. Dịch

31. Tháng này Lập Thu. Trước Lập Thu ba ngày, quan thái sử tâu cùng Thiên tử: «Ngày mỗ Lập Thu, oai Trời sẽ phát hiện trong kim khí.» Vua liền trai giới. Tới ngày Lập Thu vua thân dẫn tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu ra cánh đồng phía Tây đón Thu về. Khi về triều, vua ban thưởng cho nguyên soái và các quan võ.

oOo

A. Hán Văn

32. 天 子 乃 命 將 帥. 選 士 厲 兵. 簡 練 桀 俊. 專 任 有 功. 以 征 不 義. 詰 誅 暴 慢. 以 明 好 惡. 順 彼 遠 方.

B. Phiên âm

32. Thiên tử nãi mệnh tướng soái, tuyển sĩ lệ binh, giản luyện kiệt tuấn, chuyên nhiệm hữu công, dĩ chinh bất nghĩa, cật tru bạo mạn, dĩ minh hiếu ố, thuận bỉ viễn phương.

C. Dịch

32. Thiên tử truyền các tướng soái chọn những binh sĩ và khí giới tốt, tuyển luyện những người có khả năng; bổ dụng vào các cấp chỉ huy những người có công trạng, để chinh thảo kẻ bất nghĩa; đàn hạch, trừng phạt kẻ ngạo mạn, để tỏ cho mọi người biết nhà vua thích gì, ghét gì, và cũng là để thuận theo ý dân dù là ở nơi xa xôi.

oOo

A. Hán Văn

33. 是 月 也. 命 有 司. 脩 法 制. 繕 囹 圄. 具 桎 梏. 禁 止 姦. 慎 罪 邪. 務 搏 執. 命 理 瞻 傷. 察 創. 視 折. 審 斷. 決 獄 訟 必 端 平. 戮 有 罪. 嚴 斷 刑. 天 地 始 肅. 不 可 以 贏.

B. Phiên âm

33. Thị nguyệt dã, mệnh hữu tư, tu pháp chế; thiện linh ngữ; cụ trất cốc; cấm chỉ gian, thận tội tà; vụ bác chấp; mệnh lý chiêm thương sát sang; thị triết, thẩm đoạn; quyết ngục tụng, tất đoan bình, chạc hữu tội, nghiêm đoán hình. Thiên địa thuỷ túc, bất khả dĩ doanh.

C. Dịch

33. Tháng này truyền quan hữu tư kiểm điểm lại pháp chế, sửa sang lại ngục tù, sắm sẵn gông cùm; ngăn chặn các sự gian trá; lưu ý đến các tội tình, bắt giữ tội nhân, từ vết xẻ thịt đến chỗ gãy xương, phân xử hình án cho công minh; trừng phạt tội nhân cho xứng đáng. Trời đất bắt đầu tỏ ra nghiêm khắc; nhưng phải cẩn thận, đừng làm gì quá mức.

oOo

A. Hán Văn

34. 是 月 也. 農 乃 登 穀. 天 子 嘗 新. 先 薦 寢 廟.

35. 命 百 官 始 收 斂. 完 隄 防. 謹 壅 塞. 以 備 水 潦. 脩 宮 室. 坏 垣 牆. 補 城 郭.

36. 是 月 也. 毋 以 封 諸 侯. 立 大 官. 毋 以 割 地. 行 大 使. 出 大 幣.

B. Phiên âm

34. Thị nguyệt dã, nông nãi đăng cốc, Thiên tử thưởng tân, tiên tiến tẩm miếu.

35. Mệnh bách quan thuỷ thu liễm, hoàn đề phòng, cẩn úng tắc, dĩ bị thuỷ lạo, tu cung thất, phối viên tường, bổ thành quách.

36. Thị nguyệt dã, vô dĩ phong chư hầu, lập đại quan, vô dĩ cát địa, hành đại sứ, xuất đại tệ.

C. Dịch

34. Tháng này là mùa gặt hái. Vua ăn các loại lúa, hạt mới, sau khi tiến dâng nơi tẩm miếu.

35. Các quan được lệnh thu các loại thuế, làm cho hoàn tất đê điều, hàn trám các chỗ rạn nứt, đề phòng thủy tai, sửa lại nhà cửa, tường vách, thành lũy.

36. Tháng này không nên phong chức cho chư hầu mới, hay lập quan chức lớn; không nên chia cắt đất đai, sai đại sứ hay cho tặng phẩm lớn.

oOo

A. Hán Văn

37. 孟 秋 行 冬 令. 則 陰 氣 大 勝. 介 蟲 敗 穀. 戎 兵 乃 來. 行春 令. 則 其 國 乃 旱. 陽 氣 復 還. 五 穀 無 實. 行 夏 令. 則 國 多 火 災. 寒熱 不 節. 民 多 瘧 疾.

B. Phiên âm

37. Mạnh Thu hành Đông lệnh, tắc âm khí đại thắng, giới trùng bại cốc, nhung binh nãi lai. Hành Xuân lệnh, tắc kỳ quốc nãi hạn, dương khí phục hoàn, ngũ cốc vô thật. Hành Hạ lệnh, tắc quốc đa hoả tai, hàn nhiệt bất tiết, dân đa ngược tật.

C. Dịch

37. Tháng đầu Thu mà cư xử theo như mùa Đông, âm khí sẽ thắng, sâu bọ sẽ phá hoại mùa màng, sẽ có giặc giã. Cư xử theo như mùa Xuân, nước sẽ có hạn hán, dương khí sẽ trở lại, và lúa má sẽ không có hạt. Cư xử theo như mùa Hạ, nước sẽ có hỏa tai, nóng lạnh thất thường, dân bị sốt rét nhiều.

oOo

TIẾT V

A. Hán Văn

1. 仲 秋 之 月. 日 在 角. 昏 牽 牛 中. 旦 觜 觿 中.

2. 其 日 庚 辛. 其 帝 少 皞. 其 神 蓐 收. 其 蟲 毛. 其 音 商. 律 中 南 呂.

3. 其 數 九. 其 味辛. 其 臭 腥. 其 祀 門. 祭 先 肝.

B. Phiên âm

1. Trọng Thu chi nguyệt, nhật tại Giác, hôn Khiên Ngưu trung, đán Chuỷ Huề trung.

2. Kỳ nhật Canh Tân, kỳ đế Thiếu Hạo, kỳ thần Nhục Thu, kỳ trùng mao, kỳ âm Thương, luật trung Nam Lữ.

3. Kỳ số cửu, kỳ vị tân, kỳ xú tinh, kỳ tự môn, tế tiên can.

C. Dịch

1. Tháng giữa Thu, mặt trời ở chòm sao Giác (l’Epi de la Vierge). Sao Khiên Ngưu (le Cou de l’Aigle) qua kinh tuyến vào buổi chiều, sao Chủy Huề (la Tête d’Orion) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Ngày là Canh Tân, ứng vào vua Thiếu Hạo, thần Nhục Thu, vào loại có lông, vào cung Thương, vào dấu Nam Lữ.

3. Ứng vào số 9, vị cay, mùi tanh. Cúng thần cửa, cúng gan trước.

oOo

A. Hán Văn

4. 盲 風 至. 鴻 鴈 來. 玄 鳥 歸. 群 鳥 養 羞.

5. 天 子 居 總 章 太 廟. 乘 戎 路. 駕 白 駱. 載 白 旂. 衣 白 衣. 服 白 玉. 食 麻 與 犬. 其 器 廉 以 深.

6. 是 月 也. 養 衰 老. 授 几 杖. 行 麋 粥 飲 食.

B. Phiên âm

4. Manh phong chí, hồng nhạn lai, huyền điểu quy, quần điểu dưỡng tu.

5. Thiên tử cư Tổng Chương Thái Miếu, thừa nhung lộ, giá bạch lạc, tải bạch kỳ, ý bạch y, phục bạch ngọc, thực ma dữ khuyển, kỳ khí liêm dĩ thâm.

6. Thị nguyệt dã, dưỡng suy lão, thụ kỷ trượng, hành mê chúc ẩm thực.

C. Dịch

4. Gió thổi mạnh, chim hồng, chim nhạn bay về. Én về Nam. Chim chóc tích lương thực.

5. Thiên tử ngự cung Tổng Chương, ngự xe trận, thắng ngựa bạch có bờm đen, trương cờ trắng, mặc phẩm phục trắng, đeo ngọc trắng, ăn vừng và thịt chó. Dùng đồ có góc và sâu.

6. Tháng này nuôi kẻ già yếu, cho họ ghế ngồi, gậy chống, cho cháo và đồ ăn, đồ uống.

oOo

A. Hán Văn

7. 乃 命 司 服. 具 飭 衣 裳. 文 繡 有 恆. 制 有 小 大 度. 有 長 短. 衣 服 有 量. 必 循 其 故. 冠 帶 有 常.

8. 乃 命 有 司. 申 嚴 百 刑. 斬 殺 必 當. 毋 或 枉 橈. 枉 橈 不 當. 反 受 其 殃.

B. Phiên âm

7. Nãi mệnh tư phục, cụ sức y thường; văn tú hữu hằng, chế hữu tiểu đại độ, hữu trường đoản, y phục hữu lượng, tất tuần kỳ cố, quan đái hữu thường.

8. Nãi mệnh hữu tư, thân nghiêm bách hình, trảm sát tất đáng, vô hoặc uổng nạo, uổng nạo bất đáng, phản thụ kỳ ương.

C. Dịch

7. Truyền quan coi về áo mão phải may sắm y thường phẩm phục. Các kiểu trang sức thêu trên y thường phải đúng phép. Kích thước vắn dài cũng phải theo đúng lệ. Cân đai mũ mãng cũng hợp phép tắc.

8. Truyền quan hữu tư xét lại các hình án, chém giết phải cho đúng, không được chém giết oan; nếu có oan uổng sẽ bị Trời phạt.

oOo

A. Hán Văn

9. 是 月 也. 乃 命 宰 祝. 循 行 犧 牲. 視 全 具. 案 芻 豢. 瞻 肥 瘠. 察 物 色. 必 比 類. 量 小 大. 視 長 短. 皆 中 度. 五 者 備 當. 上 帝其 饗.

10. 天 子 乃 難. 以 達 秋 氣.

B. Phiên âm

9. Thị nguyệt dã, nãi mệnh tể chúc tuần hành hi sinh; thị toàn cụ, án xô hoạn, chiêm phì tích, sát vật sắc, tất tỉ loại. Lượng tiểu đại, thị trường đoản, giai trúng độ, ngũ giả bị đáng, Thượng Đế kỳ hưởng.

10. Thiên tử nãi nạn, dĩ đạt thu khí.

C. Dịch

9. Tháng này quan coi việc tế lễ phải đi thị sát các vật hi sinh, xem chúng có được hoàn toàn không, xem xét cả hai loại ăn cỏ và ăn thóc; xem béo gầy, màu mỡ ra sao. Ước lượng lớn bé, trông xem dài vắn cho hợp phép tắc, nếu các vật có đủ 5 điều kiện (nguyên vẹn, nuôi tử tế, béo mập, có màu sắc và kích thước hợp lệ) sẽ được Thượng Đế chuẩn nhận.

10. Vua làm lễ cầu an, để cho khí thu thông đạt.

oOo

A. Hán Văn

11. 以 犬 嘗 麻. 先 薦 寢 廟.

12. 是 月 也. 可 以 築 城 郭. 建 都 邑. 穿 竇 窖. 脩 囷 倉.

13. 乃 命 有 司. 趣 民 收 斂. 務 畜 菜. 多 積 聚.

14. 乃 勸 種 麥. 毋 或 失 時. 其 有 失 時. 行 罪 無 疑.

B. Phiên âm

11. Dĩ khuyển thưởng ma, tiên tiến tẩm miếu.

12. Thị nguyệt dã, khả dĩ trúc thành quách, kiến đô ấp, xuyên đậu diếu, tu khuân thương.

13. Nãi mệnh hữu tư, thú dân thu liễm, vụ súc thái, đa tích tụ.

14. Nãi khuyến chủng mạch, vô hoặc thất thời, kỳ hữu thất thời, hành tội vô nghi.

C. Dịch

11. Vua ăn thịt chó với vừng sau khi đã cúng nơi tẩm miếu.

12. Tháng này có thể xây thành quách, dựng đô ấp, đào hào, đào mương, sửa sang lại các vựa lẫm.

13. Truyền quan hữu tư thúc dân nạp thuế, cho hái rau, trữ thực phẩm.

14. Khuyên gieo lúa mạch, đừng để mất thời cơ; để lỡ thời cơ sẽ phải phạt.

oOo

A. Hán Văn

15. 是 月 也. 日 夜 分. 雷 始 收 聲. 蟄 蟲 坏 戶. 殺 氣 浸 盛. 陽 氣 日 衰. 水 始 涸.

16. 日 夜 分. 則 同 度 量. 平 權 衡. 正 鈞 石. 角 斗 甬.

B. Phiên âm

15. Thị nguyệt dã, nhật dạ phân, lôi thuỷ thu thanh. Chập trùng phôi hộ. Sát khí sâm thịnh, dương khí nhật suy; thuỷ thuỷ hạc.

16. Nhật dạ phân, tắc đồng độ, lượng; bình quyền, hành; chính quân thạch; giác đẩu dũng.

C. Dịch

15. Tháng này Thu phân. Trời hết nổi sấm. Các vật đông miên (animaux hibernants) bít miệng hang. Sát khí càng mạnh, dương khí càng suy, nước bắt đầu cạn.

16. Tiết Thu phân, kiểm soát lại thước tấc, độ lượng, cán cân, quả cân, sửa lại đẩu, dũng. (*)

———————

(*) Quyền = quả cân; Hành = cán cân; Quân = 30 cân; Thạch = 120 cân; Đẩu = đấu; Dũng = 10 đấu.

oOo

A. Hán Văn

17. 是 月也. 易 關 市. 來 商 旅. 納 貨 賄. 以 便 民 事. 四 方 來 集. 遠 鄉 皆 至. 則財 不 匱. 上 無 乏 用. 百 事 乃 遂.

18. 凡 舉 大 事. 毋 逆 大 數. 必 順 其 時. 慎 因 其 類.

B. Phiên âm

17. Thị nguyệt dã, dị quan thị, lai thương lữ, nạp hoá hối, dĩ tiện dân sự; tứ phương lai tập; viễn hương giai chí, tắc tài bất quĩ. thượng vô phạp dụng, bách sự nãi toại.

18. Phàm cử đại sự, vô nghịch đại số, tất thuận kỳ thời, thận nhân kỳ loại.

C. Dịch

17. Tháng này giảm thuế nơi quan ải chợ búa, chiêu lai khách thương từ bốn phương tới, từ những xứ xa tới, các thức cần dùng sẽ không thiếu, các công việc sẽ tiến hành dễ dàng.

18. Khi muốn làm công chuyện lớn, không nên trái đạo Trời, phải chọn thời cơ thuận tiện, và xem xét kỹ lưỡng tính chất của công việc.

oOo

A. Hán Văn

19. 仲 秋 行 春 令. 則 秋 雨 不 降. 草 木 生 榮. 國 乃 有 恐. 行夏 令. 則 其 國 乃 旱. 蟄 蟲 不 藏. 五 穀 復 生. 行 冬 令. 則 風 災 數 起. 收雷 先 行. 草 木 蚤 死.

B. Phiên âm

19. Trọng Thu hành Xuân lệnh, tắc Thu vũ bất giáng, thảo mộc sinh vinh, quốc nãi hữu khủng. Hành Hạ lệnh, tắc kỳ quốc nãi hạn, chập trùng bất tàng, ngũ cốc phục sinh. Hành Đông lệnh, tắc phong tai số khởi, thu lôi tiên hành, thảo mộc tảo tử.

C. Dịch

19. Tháng giữa Thu mà cư xử theo như mùa Xuân, mưa Thu sẽ không rơi; thảo mộc sẽ ra hoa; nước sẽ gặp sợ hãi. Cư xử theo như mùa Hạ, nước sẽ bị hạn hán, các vật đông miên sẽ chui ra ngoài; lúa má sẽ lớn lại. Cư xử theo mùa đông, gió lạnh sẽ phá hoại, sấm sẽ động sớm: cây cối chết sớm.

oOo

A. Hán Văn

20. 季 秋 之 月. 日 在 房. 昏 虛 中. 旦 柳 中.

21. 其 日 庚 辛. 其 帝 少 皞. 其 神 蓐 收. 其 蟲 毛. 其 音 商. 律 中 無 射.

22. 其 數 九. 其 味 辛. 其 臭 腥. 其 祀 門. 祭 先 肝.

B. Phiên âm

20. Quý thu chi nguyệt, nhật tại Phòng, hôn Hư trung, đán Liễu trung.

21. Kỳ nhật Canh Tân, kỳ đế Thiếu Hạo, kỳ thần Nhục Thu, kỳ trùng mao, kỳ âm Thương, luật trung Vô Dịch.

22. Kỳ số cửu, kỳ vị tân, kỳ xú tinh, kỳ tự môn, tế tiên can.

C. Dịch

20. Tháng cuối Thu, mặt trời tại sao Phòng (la Tête du Scorpion). Sao Hư (le Petit Cheval) qua kinh tuyến buổi chiều; sao Liễu (la tête de l’Hydre) qua kinh tuyến buổi sáng.

21. Ngày là Canh tân, ứng vào vua Thiếu Hạo, vào thần Nhục Thu, vào loài có lông, vào âm Thương, vào dấu Vô Dịch.

22. Ứng số 9, vị cay, mùi tanh, tế thần cửa, cúng gan trước.

————————–

A. Hán Văn

23. 鴻 鴈 來 賓. 爵 入 大 水 為 蛤. 鞠 有 黃 華. 豺 乃 祭 獸 戮 禽.

24. 天 子 居 總 章 右 個. 乘 戎 路. 駕 白 駱. 載 白 旂. 衣 白 衣. 服 白 玉. 食 麻 與 犬. 其 器 廉 以 深.

B. Phiên âm

23. Hồng nhạn lai tân, tước nhập đại thuỷ vi cáp, cúc hữu hoàng hoa, sài nãi tế thú, chạc cầm.

24. Thiên tử cư Tổng Chương hữu cá, thừa nhung lộ, giá bạch lạc, tải bạch kỳ, ý bạch y, phục bạch ngọc, thực ma dữ khuyển, kỳ khí liêm dĩ thâm.

C. Dịch

23. Hồng nhạn về trú tạm; chim sẻ nhào xuống biển hóa thành trai. Cúc nở hoa vàng. Sói bắt đầu săn mồi.

24. Thiên tử ngự cung phía hữu cung Tổng Chương, ngự chiến xa thắng ngựa trắng bờm đen, trương cờ trắng, mặc phẩm phục trắng, đeo ngọc trắng, ăn vừng và thịt chó, dùng đồ có góc và sâu.

oOo

A. Hán Văn

25. 是 月 也. 申 嚴 號 令. 命 百 官 貴 賤 無 不 務 內. 以 會 天 地 之 藏. 無 有 宣 出.

26. 乃 命 冢 宰 農 事 備 收. 舉 五 穀 之 要. 藏 帝 藉 之 收 於 神 倉. 祗 敬 必 飭.

B. Phiên âm

25. Thị nguyệt dã, thân nghiêm hiệu lệnh, mệnh bách quan quí tiện vô bất vụ nội, dĩ hội thiên địa chi tàng, vô hữu tuyên xuất.

26. Nãi mệnh trủng tể nông sự bị thu cử ngũ cốc chi yếu, tàng đế tịch chi thu ư thần thương, chi kính tất sức.

C. Dịch

25. Tháng này tuyên cáo hiệu lệnh một cách nghiêm chỉnh, truyền bá quan, ai nấy phải lo thâu thập, bắt chước đường lối trời đất, không được phát tán.

26. Quan trủng tể được lệnh làm sổ sách lúa gạo cho cẩn thận, sau khi công việc mùa màng đã hoàn tất, lúa má gặt được ở đạo điền phải cất vào kho lẫm dành cho việc tế tự và phải làm cho thành kính.

oOo

A. Hán Văn

27. 是 月 也. 霜 始 降. 則 百 工 休.

28. 乃 命 有 司 曰. 寒 氣 總 至. 民 力 不 堪. 其 皆 入 室.

29. 上 丁. 命 樂 正. 入 學 習 吹.

30. 是 月 也. 大 饗 帝. 嘗 犧 牲. 告 備 于 天 子.

B. Phiên âm

27. Thị nguyệt dã, sương thuỷ giáng, tắc bách công hưu.

28. Nãi mệnh hữu tư viết: Hàn khí tổng chí, dân lực bất kham, kỳ giai nhập thất.

29. Thượng Đinh, mệnh nhạc chính nhập học tập xuy.

30. Thị nguyệt dã, đại hưởng đế, thường hi sinh, cáo bị vu Thiên tử.

C. Dịch

27. Tháng này sương trắng bắt đầu sa, các công việc đều ngưng nghỉ.

28. Quan chức nhận được lệnh rằng: Trời đã trở lạnh, dân chúng không chịu nổi rét. Hãy cho họ về nhà.

29. Ngày Đinh đầu tiên trong tháng, truyền nhạc quan vào trường dạy học trò xử dụng các loại âm nhạc thổi bằng miệng.

30. Tháng này tâu lên vua rằng các vật hi sinh đã sẵn sàng để làm đại lễ kính Trời và tế tổ tiên.

oOo

A. Hán Văn

31. 合 諸 侯. 制 百 縣. 為 來 歲 受 朔 日. 與 諸 侯 所 稅 於 民 輕重 之 法. 貢 職 之 數. 以 遠 近 土 地 所 宜 為 度. 以 給 郊 廟 之 事. 無 有 所 私.

32. 是 月 也. 天 子 乃 教 於 田 獵. 以 習 五 戎. 班 馬 政.

B. Phiên âm

31. Hợp chư hầu, chế bách huyện. Vi lai tuế thụ sóc nhật, dữ chư hầu sở thuế ư dân khinh trọng chi pháp, cống chức chi số, dĩ viễn cận thổ địa sở nghi vi độ, dĩ cấp giao miếu chi sự, vô hữu sở tư.

32. Thị nguyệt dã, Thiên tử nãi giáo ư điền lạp, dĩ tập ngũ nhung, ban mã chính.

C. Dịch

31. Vua hợp chư hầu và truyền lệnh cho các quận huyện trực thuộc. Phát lịch năm tới; định mức thuế khóa chư hầu được thu của dân, ấn định cống lễ tùy theo sự xa gần, giàu nghèo của mỗi xứ, và cũng là để cung ứng nhu cầu tế tự nơi giao miếu, và để tránh mọi bất công.

32. Tháng này Thiên tử thống suất thuộc hạ đi săn, để cho họ tập luyện 5 loại khí giới (cung tên, thù, mâu, qua, thích) và để tập đánh các loại xe ngựa.

oOo

A. Hán Văn

33. 命 僕 及 七 騶 咸 駕. 載 旌 旐. 授 車 以 級. 整 設 于 屏 外. 司 徒 搢 扑. 北 面 誓 之.

34. 天 子 乃 厲 飾. 執 弓 挾 矢 以 獵. 命 主 祠 祭 禽 于 四 方.

35. 是 月 也. 草 木 黃 落. 乃 伐 薪 為 炭.

B. Phiên âm

33. Mệnh bộc cập thất sô hàm giá, tải tinh triệu thụ xa dĩ cấp, chỉnh thiết vu bình ngoại, tư đồ tấn phác, bắc diện thệ chi.

34. Thiên tử nãi lệ sức, chấp cung, hiệp thỉ dĩ lạp, mệnh chủ từ tế cầm vu tứ phương.

35. Thị nguyệt dã, thảo mộc hoàng lạc, nãi phạt tân vi thán.

C. Dịch

33. Truyền cho các người đánh xe và các người giữ ngựa thắng ngựa, trương các cờ tỉnh, cờ triệu, phân phát xe cộ cho các hàng quan theo phẩm trật, sắp xe thành hàng lối trước bình phong. Quan tư đồ buộc roi vào thắt lưng, ngoảnh mặt về phương Bắc, để nói cùng quần chúng.

34. Thiên tử nai nịt hẳn hoi, cầm cung, cặp tên và bắt đầu săn. Truyền quan coi về tế tự dâng thú săn cho tứ phương thần.

35. Tháng này lá cây vàng rụng. Người ta chặt củi đốt than.

oOo

A. Hán Văn

36. 蟄 蟲 咸 俯. 在 內 皆 墐 其 戶. 乃 趣 獄 刑. 毋 留 有 罪. 收 祿 秩 之 不 當. 供 養 之 不 宜 者.

37. 是 月 也. 天 子 乃 以 犬 嘗 稻. 先 薦 寢 廟.

B. Phiên âm

36. Chập trùng hàm phủ, tại nội giai cận kỳ hộ. Nãi thú ngục hình; vô lưu hữu tội, thu lộc trật chi bất đáng, cung dưỡng chi bất nghi giả.

37. Thị nguyệt dã, Thiên tử nãi dĩ khuyển thường đạo, tiên tiến tẩm miếu.

C. Dịch

36. Các loài động vật đông miên, đầu cúi cắm, nằm trong hang, bít cửa lại. Người ta xử gấp các hình án; không giữ kẻ có tội lâu; thu lại các phẩm trật, các bổng lộc không xứng đáng.

37. Tháng này Thiên tử thưởng thức gạo mới với thịt chó, sau khi đã tiến dâng nơi tẩm miếu.

oOo

A. Hán Văn

38. 季 秋 行 夏 令. 則 其 國 大 水. 冬 藏 殃 敗. 民 多 鼽 嚏. 行冬 令. 則 國 多 盜 賊. 邊 竟 不 寧. 土 地 分 裂. 行 春 令. 則 煖 風 來 至. 民氣 解 惰. 師 興 不 居.

B. Phiên âm

38. Quý Thu hành Hạ lệnh, tắc kỳ quốc đại thuỷ; đông tàng ương bại; dân đa cầu chí. Hành Đông lệnh, tắc quốc đa đạo tặc, biên cảnh bất ninh, thổ địa phân liệt. Hành Xuân lệnh, tắc noãn phong lai chí, dân khí giải noạ, sư hưng bất cư.

C. Dịch

38. Tháng cuối Thu mà cư xử theo như mùa Hạ, nước sẽ có lụt; các vật thực súc tích để dùng trong nhà mùa Đông sẽ bị hư hỏng; dân chúng sẽ có nhiều người bị hắt hơi, sổ mũi. Cư xử theo như mùa Đông, nước sẽ có đạo tặc, biên giới sẽ mất an ninh, đất đai sẽ bị chia xẻ. Cư xử theo như mùa Xuân, sẽ có gió nóng thổi tới, mọi người sẽ mệt nhọc uể oải. Quân lính sẽ phải vất vả.

oOo

TIẾT VI

A. Hán Văn

1. 孟 冬 之 月. 日 在 尾. 昏 危 中. 旦 七 星 中.

2. 其 日 壬癸.

3. 其 帝 顓 頊. 其 神 玄 冥.

4. 其 蟲 介.

B. Phiên âm

1. Mạnh Đông chi nguyệt, nhật tại Vĩ. hôn Nguy trung, đán Thất tinh trung.

2. Kỳ nhật Nhâm Quí.

3. Kỳ đế Chuyên Húc, kỳ thần Huyền Minh.

4. Kỳ trùng giới.

C. Dịch

1. Tháng đầu mùa Đông, mặt trời ở chòm sao Vĩ (la Queue du Scorpion). Chòm sao Nguy (a du Verseau, ε du Pégase) qua kinh tuyến buổi chiều; sao Thất Tinh (la Tête de l’Hydre) qua kinh tuyến buổi sáng.

2. Ngày là Nhâm Quí.

3. Ứng với vua Chuyên Húc, với thần Huyền Minh.

4. Với loài sâu bọ có vỏ cứng.

oOo

A. Hán Văn

5. 其 音 羽. 律 中 應 鍾.

6. 其 數 六. 其 味 鹹. 其 臭 朽.

7. 其 祀 行. 祭 先 腎.

8. 水 始 冰. 地 始 凍. 雉 入 大 水 為 蜃. 虹 藏 不 見.

B. Phiên âm

5. Kỳ âm Vũ, luật trung Ứng Chung.

6. Kỳ số lục, kỳ vị hàm, kỳ xú hủ.

7. Kỳ tự hành, tế tiên thận.

8. Thuỷ thuỷ băng, địa thuỷ đống, trĩ nhập đại thuỷ vi thận; hồng tàng bất kiến.

C. Dịch

5. Ứng với âm Vũ, ứng với dấu Ứng Chung.

6. Ứng số 6, vị mặn, mùi thối.

7. Cúng thần coi đường đi, cúng thận trước.

8. Nước bắt đầu đóng băng, đất có giá phủ; chim trĩ nhào xuống nước hóa thành sò. Không còn thấy cầu vồng.

oOo

A. Hán Văn

9. 天 子 居 玄 堂 左 個. 乘 玄 路. 駕 鐵 驪. 載 玄 旂. 衣 黑 衣. 服 玄 玉. 食 黍 與 彘. 其 器 閎 以 奄.

B. Phiên âm

9. Thiên tử cư Huyền Đường tả cá. Thừa huyền lộ, giá thiết ly; tải huyền kỳ; ý hắc y, phục huyền ngọc, thực thử dữ trệ, kỳ khí hoành dĩ yểm.

C. Dịch

9. Thiên tử ngự cung góc phía tả cung Huyền Đường. Xa giá mầu huyền, thắng ngựa ô, trương cờ xám, mặc áo đen, đeo ngọc huyền, ăn kê và thịt lợn; đồ dùng rộng và sâu.

oOo

A. Hán Văn

10. 是 月 也. 以 立 冬. 先 立 冬 三 日. 太 史 謁 之 天 子 曰. 某日 立 冬. 盛 德 在 水. 天 子 乃 齋. 立 冬 之 日. 天 子 親 帥 三 公 九 卿 大 夫. 以 迎 冬 於 北 郊. 還 反. 賞 死 事. 恤 孤 寡.

B. Phiên âm

10. Thị nguyệt dã, dĩ Lập Đông. Tiên Lập Đông tam nhật, thái sử yết chi Thiên tử viết: «Mỗ nhật Lập Đông, thịnh đức tại thuỷ.» Thiên tử nãi trai. Lập Đông chi nhật, Thiên tử thân soái tam công, cửu khanh, đại phu, dĩ nghinh Đông ư Bắc giao. Hoàn phản, thưởng tử sự, tuất cô quả.

C. Dịch

10. Tháng này Lập Đông. Ba ngày trước Lập Đông, thái sử tâu lên vua: «Ngày mỗ Lập Đông. Oai Trời sẽ hiển dương trong nước.» Thiên tử liền trai giới. Ngày Lập Đông, Thiên tử thân chinh hướng dẫn tam công, cửu khanh, đại phu, ra đồng phía Bắc đón Đông về. Lúc hồi trào, sẽ tưởng thưởng những người chết và ban ân cho vợ con họ.

oOo

A. Hán Văn

11. 是 月 也. 命 太 史. 釁 龜 筴 占 兆. 審 卦 吉 凶. 是 察 阿 黨. 則 罪 無 有 掩 蔽.

12. 是 月 也. 天 子 始 裘.

13. 命 有 司 曰. 天 氣 上 騰. 地 氣 下 降. 天 地 不 通. 閉 塞 而 成 冬.

B. Phiên âm

11. Thị nguyệt dã, mệnh thái sử hấn qui thệ, chiếm triệu, thẩm quải, cát hung thị sát, a đảng tắc tội vô hữu yểm tế.

12. Thị nguyệt dã, Thiên tử thuỷ cừu.

13. Mệnh hữu tư viết: Thiên khí thượng đằng, địa khí hạ giáng, thiên địa bất thông, bế tắc nhi thành Đông.

C. Dịch

11. Tháng này truyền quan thái sử lấy máu bôi lên thi, qui, xem xét các điềm các quẻ, đoán định cát hung. Nhờ đó những kẻ dua nịnh, phản loạn đều có thể biết được.

12. Tháng này Thiên tử bắt đầu mặc áo cừu.

13. Truyền quan hữu tư: «Khí trời bốc lên, khí đất lắng xuống, trời đất không liên lạc, vì thế có mùa Đông.»

oOo

A. Hán Văn

14. 命 百 官 謹 蓋 藏. 命 司 徒 循 行 積 聚. 無 有 不 斂.

15. 坏 城 郭. 戒 門 閭. 脩 鍵 閉. 慎 管 籥. 固 封 疆. 備 邊 竟. 完 要 塞. 謹 關 梁. 塞 徯 徑.

B. Phiên âm

14. Mệnh bách quan cẩn cái tàng, mệnh tư đồ tuần hành tích tụ, vô hữu bất liễm.

15. Phôi thành quách, giới môn lư. Tu kiện bế, thận quản thược, cố phong cương, bị biên cánh, hoàn yếu tắc, cẩn quan lương, tắc khê kính.

C. Dịch

14. Truyền bá quan phải đậy điệm các kho lẫm cho cẩn thận, truyền quan hữu tư phải xem xét lại các kho đụn, để mọi sự đều được chu tất.

15. Người ta sửa sang lại thành quách, giữ gìn cửa ra, sửa chữa lại các khóa then, xây đắp lại bờ cõi, biên ải, đóng các chỗ hiểm yếu, kiểm soát các ải, các cầu, chặn các đường nhỏ.

oOo

A. Hán Văn

16. 飭 喪 紀. 辨 衣 裳. 審 棺 槨 之 厚 薄. 塋 丘 壟 之 大 小. 高 卑. 厚 薄 之 度. 貴 賤 之 等 級.

B. Phiên âm

16. Sức táng kỷ, biện y thường, thẩm quan quách chi hậu bạc, doanh khâu lũng chi đại tiểu, cao ti, hậu bạc chi độ, quí tiện chi đẳng cấp.

C. Dịch

16. Xem xét các lệ luật về tống táng, phân định các loại áo tang, soát lại sự dày mỏng của quan quách, định kích thước của huyệt, bề cao của mộ, phân định đẳng cấp của tang lễ tùy sang hèn.

oOo

A. Hán Văn

17. 是 月 也. 命 工 師 效 功. 陳 祭 器. 按 度 程. 毋 或 作 為 淫巧. 以 蕩 上 心. 必 功 致 為 上. 物 勒 工 名. 以 考 其 誠. 功 有 不 當. 必 行其 罪. 以 窮 其 情.

B. Phiên âm

17. Thị nguyệt dã, mệnh công sư hiệu công, trần tế khí, án độ trình. Vô hoặc tác vi dâm xảo, dĩ đãng thượng tâm, tất công chí vi thượng, vật lặc công danh, dĩ khảo kỳ thành. Công hữu bất đáng, tất hành kỳ tội dĩ cùng kỳ tình.

C. Dịch

17. Tháng này truyền quan coi thợ đệ trình các khí cụ đã làm được, nhất là về các đồ dùng về tế tự, và phải xếp chúng theo kích thước. Không được cho làm những đồ quá đẹp, quá khéo để kích động lòng ham muốn xa hoa của các quan chức lớn. các đồ vật phải làm cho thực tốt. Tên mỗi người thợ phải được khắc vào đồ, để kiểm soát sự thành thực của họ. Nếu thấy đồ vật nào kém, sẽ phạt thợ để sửa lỗi họ.

 oOo

A. Hán Văn

18. 是 月 也. 大 飲 烝.

19. 天 子 乃 祈 來 年 于 天 宗. 大 割 祠 于 公 社 及 門 閭. 臘 先 祖 五 祀. 勞 農 以 休 息 之.

20. 天 子 乃 命 將 帥 講 武. 習 射 御. 角 力.

B. Phiên âm

18. Thị nguyệt dã, đại ẩm chưng.

19. Thiên tử nãi kỳ lai niên vu thiên tông, đại cát từ vu công xã cập môn lư. Lạp tiên tổ ngũ tự; lao nông dĩ hưu tức chi.

20. Thiên tử nãi mệnh tương soái giảng vũ, tập xạ ngự, giác lực.

C. Dịch

18. Tháng này vua cùng quần thần uống rượu, thịt tế đặt trên bàn.

19. Thiên tử cầu xin nhật nguyệt tinh cầu cho sang năm đất nước phì nhiêu. Giết nhiều vật để cúng tế các thần đất đai và cửa rả. Cúng dâng thời vật cho vong linh tiên tổ và thần coi năm phần trong nhà. Cho nông dân ăn uống để giải lao.

20. Vua truyền tướng soái giảng võ, dạy binh lính tập bắn, tập đánh xe, thí võ.

oOo

A. Hán Văn

21. 是 月 也. 乃 命 水 虞 漁 師. 收 水 泉 池 澤 之 賦. 毋 或 敢 侵 削 眾 庶 兆 民. 以 為 天 子 取 怨 于 下. 其 有 若 此 者. 行 罪 無 赦.

B. Phiên âm

21. Thị nguyệt dã, nãi mệnh thuỷ ngu ngư sư, thu thuỷ tuyền trì trạch chi phú, vô hoặc cảm xâm tước chúng thứ triệu dân, dĩ vi Thiên tử thủ oán vu hạ. Kỳ hữu nhược thử giả, hành tội vô xá.

C. Dịch

21. Tháng này truyền các quan phụ trách về ngư nghiệp hồ hải thu thuế về sông, ngòi, hồ, ao. Cấm không được lạm thâu hay tước đoạt của dân để họ có thể ta thán Thiên tử. Kẻ nào phạm tội ấy sẽ bị trừng phạt không khoan xá.

oOo

A. Hán Văn

22. 孟 冬 行 春 令. 則 凍 閉 不 密. 地 氣 上 泄. 民 多 流 亡. 行夏 令. 則 國 多 暴 風. 方 冬 不 寒. 蟄 蟲 復 出. 行 秋 令. 則 雪 霜 不 時. 小 兵 時 起. 土 地 侵 削.

B. Phiên âm

22. Mạnh Đông hành Xuân lệnh, tắc đống bế bất mật, địa khí thượng tiết, dân đa lưu vong. Hành Hạ lệnh, tắc quốc đa bạo phong; phương Đông bất hàn, chập trùng phục xuất. Hành Thu lệnh, tắc tuyết sương bất thời, tiểu binh thời khởi. thổ địa xâm tước.

C. Dịch

22. Tháng đầu Đông mà cư xử theo như mùa Xuân, lớp giá đóng trên mặt đất sẽ không kín, khí đất sẽ bốc lên, dân sẽ có nhiều người bị lưu vong ly tán. Cư xử theo như mùa Hạ, nước sẽ có gió mạnh nhiều; mùa Đông sẽ không lạnh, các loài đông miên sẽ ra khỏi hang tổ. Cư xử theo như mùa Thu, tuyết sương sẽ thất thời, sẽ có giặc giã nhỏ, nước sẽ bị xâm lăng và bị mất đất.

oOo

A. Hán Văn

23. 仲 冬 之 月. 日 在 斗. 昏 東 壁 中. 旦 軫 中.

24. 其 日 壬 癸. 其 帝 顓 頊. 其 神 玄 冥. 其 蟲 介. 其 音 羽. 律 中 黃 鍾.

B. Phiên âm

23. Trọng Đông chi nguyệt, nhật tại Đẩu; hôn Đông Bích trung; đán Chẩn trung.

24. Kỳ nhật Nhâm Quí, kỳ đế Chuyên Húc, kỳ thần Huyền Minh, kỳ trùng giới, kỳ âm Vũ, luật trung Hoàng Chung.

C. Dịch

23. Tháng giữa mùa Đông mặt trời tại chòm sao Đẩu (l’épaule et l’arc du Sagittaire). Chòm sao Đông Bích (Algénib de Pégase et a d’Andromède) qua kinh tuyến buổi chiều, chòm sao Chẩn (le Corbeau) qua kinh tuyến buổi sáng.

24. Ngày là ngày Nhâm Quí, ứng với vua Chuyên Húc, với thần Huyền Minh, với loài có vỏ cứng; với âm Vũ, với dấu Hoàng Chung.

oOo

A. Hán Văn

25. 其 數 六. 其 味 鹹. 其 臭 朽. 其 祀 行. 祭 先 腎.

26. 冰 益 壯. 地 始 坼. 鶡 旦 不 鳴. 虎 始 交.

B. Phiên âm

25. Kỳ số lục, kỳ vị hàm, kỳ xú hủ, kỳ tự hành; tế tiên thận.

26. Băng ích tráng, địa thuỷ sách, hạt đán (*) bất minh, hổ thuỷ giao.

(*) Hạt đán là một con chim núi hót về đêm và như gọi bình minh tới.

鶡 旦 山 鳥 (高 誘) 夜 鳴 而 求 日 (方慤)

C. Dịch

25. Ứng số 6, ứng vị mặn, mùi thối. Cúng thần coi về đường đi, cúng thận trước.

26. Băng dày thêm, d8a61t nứt ra; chim gọi ngày không hót nữa, hổ bắt đầu đi giống.

oOo

A. Hán Văn

27. 天 子 居 玄 堂 太 廟. 乘 玄 路. 駕 鐵 驪. 載 玄 旂. 衣 黑 衣. 服 玄 玉. 食 黍 與 彘. 其 器 閎 以 奄.

28. 飭 死 事.

B. Phiên âm

27. Thiên tử cư Huyền Đường Thái miếu, thừa huyền lộ, giá thiết ly, tải huyền kỳ, ý hắc y, phục huyền ngọc, thực thử dữ trệ, kỳ khí hoành dĩ yểm.

28. Sức tử sự.

C. Dịch

27. Thiên tử ngự cung Huyền Đường, xa giá màu hyền, thắng ngựa ô, trương cờ xám, mặc áo đen, đeo ngọc huyền, ăn kê và lợn, đồ dùng rộng và sâu.

28. Xem xét lại các nghi lễ đối với người chết.

oOo

A. Hán Văn

29. 命 有 司 曰. 土 事 毋 作. 慎 毋 發 蓋. 毋 發 室 屋. 及 起 大 眾. 以 固 而 閉. 地 氣 沮 泄. 是 謂 發 天 地 之 房. 諸 蟄 則 死. 民必 疾 疫. 又 隨 以 喪. 命 之 曰 暢 月.

B. Phiên âm

29. Mệnh hữu tư viết: Thổ sự vô tác; thận vô phát cái, vô phát thất ốc, cập khởi đại chúng; dĩ cố nhi bế, địa khí tự tiết. Thị vị phát thiên địa chi phòng, chư chập tắc tử, dân tất tật dịch, hựu tuỳ dĩ táng. Mệnh chi viết sướng nguyệt.

C. Dịch

29. Truyền quan coi về giáo dục rằng: «Không được đào đất, không được mở những gì đã đóng, không được rỡ nhà, rỡ cửa hay huy động dân chúng, để mọi sự được bế tàng súc tích. Nếu không khí đất sẽ tiết tán. Thế tức là mở rỡ nhà trời đất. Các loài đông miên sống dưới đất sẽ chết, người sẽ bị bệnh tật, ôn dịch, và sẽ bị hao hại nhiều.» Cho nên gọi là tháng thư thả thoải mái.

oOo

A. Hán Văn

30. 是 月 也. 命 奄 尹. 申 宮 令. 審 門 閭. 謹 房 室. 必 重 閉. 省 婦 事. 毋 得 淫. 雖 有 貴 戚 近 習. 毋 有 不 禁.

B. Phiên âm

30. Thị nguyệt dã, mệnh yểm doãn, thân cung lệnh, thẩm môn lư, cẩn phòng thất. Tất trọng bế, tỉnh phụ sự, vô đắc dâm, tuy hữu quí thích cận tập, vô hữu bất cấm.

C. Dịch

30. Tháng này truyền quan yểm doãn (hoạn quan đứng đầu trong cung) phải ban bố luật lệ trong cung, khám xét các cửa rã, và để ý đến các phòng thất. Các cửa cung nội phải đóng cẩn thận, giảm công tác cho cung nhân, không được cho làm những đồ quá đẹp quá khéo. Lệnh cấm này áp dụng cho cả các hàng quí tộc, hoàng thân, quốc thích.

oOo

A. Hán Văn

31. 乃 命 大 酋 秫 稻 必 齊. 麴 櫱 必 時. 湛 熾 必 絜. 水 泉 必香. 陶 器 必 良. 火 齊 必 得. 兼 用 六 物. 大 酋 監 之. 毋 有 差 貸.

32. 天 子 命 有 司. 祈 祀 四 海. 大 川. 名 源. 淵 澤 井 泉.

B. Phiên âm

31. Nãi mệnh đại tù thuật đạo tất tề, khúc nghiệt tất thời, trạm sí tất khiết, thuỷ tuyền tất hương, đào khí tất lương; hoả tề tất đắc, kiêm dụng lục vật, đại tù giám chi, vô hữu sai thải.

32. Thiên tử mệnh hữu tư kỳ tự tứ hải, đại xuyên, danh nguyên, uyên trạch tỉnh tuyền.

C. Dịch

31. Truyền quan có nhiệm vụ cất rượu phải lựa kê và gạo cho đúng phép; làm men làm giá cho đúng kỳ, phải ngâm, phải nấu cho sạch sẽ, phải chọn nước tốt, phải dùng những vò tốt, lửa phải nhóm vừa phải ; sáu điều kiện trên phải đầy đủ, quan cất rượu phải trông nom cho mọi công việc được đúng cách.

32. Thiên tử truyền quan hữu tư tế lễ dâng cúng thần sông, thần biển, thần nguồn, thần hồ, thần giếng.

oOo

A. Hán Văn

33. 是 月 也. 農 有 不 收 藏 積 聚 者. 馬 牛 畜 獸 有 放 佚 者. 取之 不 詰.

34. 山 林 藪 澤. 有 能 取 蔬 食 田 獵 禽 獸 者. 野 虞 教 道 之. 其 有 相 侵奪 者. 罪 之 不 赦.

B. Phiên âm

33. Thị nguyệt dã, nông hữu bất thu tàng, tích tụ giả, mã ngưu súc thú hữu phóng dật giả, thủ chi bất cật.

34. Sơn lâm tẩu trạch, hữu năng thủ sơ thực, điền lạp cầm thú giả; dã ngu giáo đạo chi. Kỳ hữu tương xâm đoạt giả, tội chi bất xá.

C. Dịch

33. Tháng này nếu nhà nông nào để ngoài đồng thức gì mà không thu thập, đậy điệm lại, hay để trâu bò chạy rông, súc vật thả cỏ mà mất, sẽ không được quyền kiện cáo đòi trừng phạt người lấy.

34. Trên rừng núi hay trong đồng, trong hồ, quan coi về nông lâm khuyến khích hướng dẫn những người muốn hái quả hay săn thú. Họ sẽ trừng phạt những kẻ tranh cướp của người khác.

oOo

A. Hán Văn

35. 是 月 也. 日 短 至. 陰 陽 爭. 諸 生 蕩. 君 子 齋 戒. 處必 掩 身. 身 欲 寧. 去 聲 色. 禁 耆 慾. 安 形 性. 事 欲 靜. 以 待 陰 陽 之 所定.

36. 芸 始 生. 荔 挺 出. 蚯 蚓 結. 麋 角 解. 水 泉 動.

B. Phiên âm

35. Thị nguyệt dã, nhật đoản chí, âm dương tranh, chư sinh đãng quân tử trai giới, xử tất yểm thân, thân dục ninh, khứ thanh sắc, cấm thị dục, an hình tính, sự dục tĩnh, dĩ đãi âm dương chi sở định.

36. Vân thuỷ sinh, lệ đĩnh xuất, khưu dẫn kết, mi giác giải, thuỷ tuyền động.

C. Dịch

35. Tháng này ngày ngắn nhất, âm dương tương tranh, các sinh vật bị giao động. Người quân tử trai giới, ở nơi thanh vắng, cho thân thể nghỉ ngơi, kiêng thanh sắc, giảm thị dục, cho thân tâm được yên tĩnh, đợi cho âm dương trở lại khí thế ổn định.

36. Cỏ thơm sinh, cỏ lệ lớn mạnh. Giun thu hình, hươu thay sừng, các nguồn suối bắt đầu chuyển động.

oOo

A. Hán Văn

37. 日 短 至. 則 伐 木 取 竹 箭.

38. 是 月 也. 可 以 罷 官 之 無 事. 去 器 之 無 用 者.

39. 塗 闕 廷 門 閭. 築 囹 圄. 此 以 助 天 地 之 閉 藏 也.

B. Phiên âm

37. Nhật đoản chí, tắc phạt mộc, thủ trúc tiễn.

38. Thị nguyệt dã, khả dĩ bãi quan chi vô sự, khứ khí chi vô dụng giả.

39. Đồ khuyết đình môn lư, trúc linh ngữ, thử dĩ trợ thiên địa chi bế tàng dã.

C. Dịch

37. Ngày Đông Chí chặt cây chặt tre làm tên.

38. Tháng này đóng cửa những cơ quan không có công việc, cất bớt những đồ không dùng đến.

39. Trát các cửa ngõ, xây ngục tù, giúp đất trời trong công cuộc cất giấu.

oOo

A. Hán Văn

40. 仲 冬 行 夏 令. 則 其 國 乃 旱. 氛 霧 冥 冥. 雷 乃 發 聲. 行秋 令. 則 天 時 雨 汁. 瓜 瓠 不 成. 國 有 大 兵. 行 春 令. 則 蝗 蟲 為 敗. 水泉 咸 竭. 民 多 疥 癘.

B. Phiên âm

40. Trọng Đông hành Hạ lệnh, tắc kỳ quốc nãi hạn, phân vụ minh minh, lôi nãi phát thanh. Hành Thu lệnh, tắc thiên thời vũ trấp; qua hồ bất thành; quốc hữu đại binh. Hành Xuân lệnh, tắc hoàng trùng vi bại, thuỷ tuyền hàm kiệt, dân đa giới lệ.

C. Dịch

40. Tháng giữa mùa Đông mà cư xử theo như mùa Hạ, nước sẽ có hạn hán; sẽ sa mù tối trời, sấm sẽ động. Cư xử theo như mùa Thu, mưa tuyết sẽ rơi; dưa, bầu sẽ không đậu, nước sẽ có loạn. Cư xử theo như mùa Xuân, châu chấu sẽ phá hoại, các nguồn suối sẽ cạn, và dân chúng sẽ bị ghẻ lở phong cùi.

oOo

A. Hán Văn

41. 季 冬 之 月. 日 在 婺 女. 昏 婁 中. 旦 氐 中.

42. 其 日 壬 癸. 其 帝 顓 頊. 其 神 玄 冥. 其 蟲 介. 其 音 羽. 律 中 大 呂.

43. 其 數 六. 其 味 鹹. 其 臭 朽. 其 祀 行. 祭 先 腎.

B. Phiên âm

41. Quí Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, hôn Lâu trung, đán Đê trung.

42. Kỳ nhật Nhâm Quí, kỳ đế Chuyên Húc, kỳ thần Huyền Minh, kỳ trùng giới, kỳ âm Vũ, luật trung Đại Lữ.

43. Kỳ số lục, kỳ vị hàm, kỳ xú hủ, kỳ tự hành, tế tiên thận.

C. Dịch

41. Tháng quí Đông, mặt trời tại chòm sao Vụ Nữ (quatre étoiles du Verseau). Sao Lâu (la Tête du Bélier) qua kinh tuyến buổi chiều, sao Đê (la Balance) qua kinh tuyến buổi sáng.

42. Ngày là Nhâm Quí, ứng với vua Chuyên Húc, với thần Huyền Minh, với loài có vỏ cứng, với âm Vũ, với dấu Đại Lữ.

43. Ứng số 6, vị mặn, mùi thối. Cúng thần coi đường đi, cúng thận trước.

oOo

A. Hán Văn

44. 鴈 北 鄉. 鵲 始 巢. 雉 雊. 雞 乳.

45. 天 子 居 玄 堂 右 個. 乘 玄 路. 駕 鐵 驪. 載 玄 旂. 衣 黑 衣. 服 玄 玉. 食 黍 與 彘. 其 器 閎 以 奄.

46. 命 有 司. 大 難 旁 磔. 出 土 牛. 以 送 寒 氣.

B. Phiên âm

44. Nhạn bắc hương, thước thuỷ sào, trĩ cẩu, kê nhũ.

45. Thiên tử cư Huyền Đường hữu cá, thừa huyền lộ, giá thiết ly, tải huyền kỳ, ý hắc y, phục huyền ngọc, thực thử dữ trệ, kỳ khí hoành dĩ yểm.

46. Mệnh hữu tư, đại nạn bàng trách, xuất thổ ngưu, dĩ tống hàn khí.

C. Dịch

44. Nhạn bay về Bắc, thước làm tổ, trĩ kêu, gà ấp.

45. Thiên tử ngự cung góc phía hữu cung Huyền Đường; xá giá màu huyền, thắng ngựa ô, trương cờ xám, mặc áo đen, đeo ngọc huyền, ăn kê và thịt lợn; đồ dùng rộng và sâu.

46. Truyền quan hữu tư làm lễ cầu an, mổ xẻ các thú vật hi sinh, đem ra đồng một con trâu đất để tống tiễn khí lạnh.

oOo

A. Hán Văn

47. 征 鳥 厲 疾.

48. 乃 畢 山 川 之 祀. 及 帝 之 大 臣. 天 之 神 祇.

49. 是 月 也. 命 漁 師 始 漁. 天 子 親 往. 乃 嘗 魚. 先 薦 寢 廟.

50. 冰 方 盛. 水 澤 腹 堅. 命 取 冰. 冰 以 入.

B. Phiên âm

47. Chinh điểu lệ tật.

48. Nãi tất sơn xuyên chi tự, cập Đế chi đại thần, thiên chi thần kỳ.

49. Thị nguyệt dã, mệnh ngư sư thuỷ ngư, Thiên tử thân vãng; nãi thường ngư, tiên tiến tẩm miếu.

50. Băng phương thịnh, thuỷ trạch phúc kiên. Mệnh thủ băng, băng dĩ nhập.

C. Dịch

47. Chim bắt mồi bay nhanh.

48. Dâng lễ cúng các thần sông núi, các hiền thần của các đấng tiên vương, các thần trời đất.

49. Tháng này truyền lệnh cho các quan coi về chài lưới câu cá. Vua dự cuộc câu. Ăn cá, sau khi đã dâng nơi tẩm miếu.

50. Nước đá đông nhiều, sông đầm đóng thành băng đá cứng. Vua truyền lấy nước đá, cất nước đá.

oOo

A. Hán Văn

51. 命 告 民 出 五 種. 命 農 計 耦 耕 事. 脩 耒 耜. 具 田 器.

52. 命 樂 師 大 合 吹 而 罷.

53. 乃 命 四 監. 收 秩 薪 柴. 以 共 郊 廟. 及 百 祀 之 薪 燎.

B. Phiên âm

51. Mệnh cáo dân xuất ngũ chủng. Mệnh nông kế ngẫu canh sự, tu lỗi tỷ, cụ điền khí.

52. Mệnh nhạc sư đại hợp suy nhi bãi.

53. Nãi mệnh tứ giám, thu trật tân sài, dĩ cộng giao miếu cập bách tự chi tân liệu.

C. Dịch

51. Truyền chúng dân xuất kho lẫm năm loại hạt giống, truyền nông dân họp nhau hai người một, sửa soạn cày ruộng, xem xét sửa chữa lại cày và lưỡi cày, mua sắm các dụng cụ đồng áng.

52. Truyền các nhạc quan mở đại hòa tấu tất niên.

53. Các quan thanh tra (sơn lâm, xuyên, trạch) phải cho thu thập củi cành để cung ứng củi đuốc cho các cuộc tế lễ giao, miếu, hay các cuộc cúng lễ khác.

oOo

A. Hán Văn

54. 是 月 也. 日 窮 于 次. 月 窮 于 紀. 星 回 于 天. 數 將 幾 終. 歲 且 更 始. 專 而農 民. 毋 有 所 使.

55. 天 子 乃 與 公 卿 大 夫. 其 飭 國 典. 論 時 令. 以 待 來 歲 之宜.

B. Phiên âm

54. Thị nguyệt dã, nhật cùng vu thứ, nguyệt cùng vu kỷ, tinh hồi vu thiên, số tương cơ chung, tuế thả canh thuỷ, chuyên nhi nông dân, vô hữu sở sử.

55. Thiên tử nãi dữ công khanh đại phu, kỳ sức quốc điển, luận thời lệnh, dĩ đãi lai tuế chi nghi.

C. Dịch

54. Tháng này mặt trời đi được một vòng chu thiên, mặt trăng hợp bích lần cuối với mặt trời tinh tú trở về chỗ cũ, số ngày gần hết, năm sắp đổi mới. Phải để cho nông dân rảnh tay, đừng huy động họ làm phù sai tạp dịch.

55. Thiên tử cùng công khanh đại phu sửa sang lại luật lệ, lập chương trình công tác, để thích ứng năm sau.

oOo

A. Hán Văn

56. 乃 命 太 史 次 諸 侯 之 列. 賦 之 犧 牲. 以 共 皇 天 上 帝 社稷 之 饗. 乃 命 同 姓 之 邦. 共 寢 廟 之 芻 豢. 命 宰 歷 卿 大 夫. 至 于 庶 民. 土 田 之 數. 而 賦 犧 牲. 以 共 山 林 名 川 之 祀. 凡 在 天 下 九 州 之 民 者. 無不 咸 獻 其 力. 以 共 皇 天 上 帝. 社 稷 寢 廟. 山 林 名 川 之 祀.

B. Phiên âm

56. Nãi mệnh thái sử thứ chư hầu chi liệt, phú chi hi sinh, dĩ cung Hoàng Thiên Thượng Đế, xã tắc chi hưởng. Nãi mệnh đồng tính chi bang. cộng tẩm miếu chi sô hoạn. Mệnh tể lịch khanh đại phu, chí vu thứ dân. thổ điền chi số, nhi phú hi sinh. dĩ cộng sơn lâm, danh xuyên chi tự. Phàm tại thiên hạ cửu châu chi dân giả, vô bất hàm hiến kỳ lực, dĩ cung Hoàng Thiên Thượng Đế, xã tắc tẩm miếu, sơn lâm danh xuyên chi tự.

C. Dịch

56. Truyền quan thái sử viết danh tánh chư hầu theo thứ tự, bắt họ nạp các vật hi sinh để tế lễ Thượng Đế và thần xã tắc. Truyền cho các vị hoàng thân nạp sô hoạn (bò, cừu, lợn) để cúng nơi tẩm miếu. Truyền ghi tính danh, và điền sản từ đại phu đến thứ dân để bắt nạp các loại vật dùng để cúng tế các thần rừng, núi, sông. Chúng dân khắp thiên hạ ai cũng phải góp phần vào công việc tế lễ Thượng Đế, tế lễ xã tắc tẩm miếu, và các thần núi, rừng, sông.

oOo

A. Hán Văn

57. 季 冬 行 秋 令. 則 白 露 蚤 降. 介 蟲 為 妖. 四 鄙 入 保. 行春 令. 則 胎 夭 多

傷. 國 多 固 疾. 命 之 曰 逆. 行 夏 令. 則 水 潦 敗 國. 時雪 不 降. 冰 凍 消 釋.

B. Phiên âm

57. Quý đông hành Thu lệnh, tắc bạch lộ tảo giáng, giới trùng vi yêu, tứ bỉ nhập bảo. Hành Xuân lệnh, tắc thai yểu đa thương, quốc đa cố tật. Mệnh chi viết nghịch. Hành Hạ lệnh, tắc thuỷ lạo bại quốc, thời tuyết bất giáng, băng đống tiêu thích.

C. Dịch

57. Tháng cuối Đông mà cư xử theo như mùa Thu, sương trắng sẽ ra sớm, các loại trùng có vảy sẽ có những hình thù quái đản. Dân các nơi biên ải sẽ phải rút vào thành. Cư xử theo như mùa  Xuân nhiều trẻ con sẽ chết trong bụng mẹ, hay sau khi lọt lòng, nước sẽ có nhiều bệnh khó chữa. Trời không chiều người. Cư xử theo như mùa  Hạ sẽ có thủy tai, tuyết sẽ không rơi, băng giá sẽ tiêu tan.

* Đồ bản các vật loại tương ứng đã đề cập tới trong thiên Nguyệt Lệnh

————————–

*PHỤ  LỤC  2

THƠ THẤT NGUYỆT

七 月

Bân Phong Kinh Thi

–––––––––––––––––––––––––
A. Hán Văn

七 月 流 火, 九 月 授 衣.

一 之 日 觱 發, 二 之 日 栗 烈.
無 衣 無 褐, 何 以 卒 歲.

三 之 日 子 趾, 四 之 日 舉 子.
同 我 婦 子, 饁 彼 南 畝, 田 畯 至 喜.

B. Phiên âm

Thất nguyệt lưu hủy (hoả)

Cửu nguyệt thụ ý (y).

Nhất chi nhật tất phệ (phát)

Nhị chi nhật lật lệ (liệt).

Vô y vô hệ (hạt)

Hà dĩ tốt tuế.

Tam chi nhật vu di (chỉ)

Tứ chi nhật cử chỉ (tử)

Đồng ngã phụ tỉ,

Diệp bỉ nam mĩ (mẫu). (*)

Điền tuấn chí hỉ.

(*) Các chữ trong ngoặc đã được đọc khác đi cho hợp vần thơ.

C. Dịch

Sao tâm tháng bảy xế đoài

Áo quần tháng chín liệu bài quân phân

Tháng giêng gió lạnh căm căm

Tháng hai rét mướt thêm phần giá băng

Hàn y nếu chẳng sẵn sàng

Làm sao sống được chu toàn suốt năm

Tháng ba cày cuốc sửa sang

Tháng tư ta sẽ tính toan ra đồng

Ta cùng thê tử tùy tòng

Cơm cơm, nước nước kẻ gồng người mang

Mang cơm ra phía đồng Nam

Điền quan trông thấy, nở nang mặt mày.

 oOo

A. Hán Văn

七 月 流 火, 九 月 授 衣.
春 日 載 陽, 有 鳴 倉 庚.
女 執 懿 筐, 遵 彼 微 行, 爰 求 柔 桑.
春 日 遲 遲, 采 蘩 祁 祁.
女 心 傷 悲, 殆 及 公 子 同 歸.

B. Phiên âm

Thất nguyệt lưu hủy (hoả)

Cửu nguyệt thụ ý (y).

Xuân nhật tải dương,

Hữu minh thương cang (canh).

Nữ chấp ý khuông,

Tuân bỉ vi hang (hành) (*)

Viên cầu nhu tang.

Xuân nhật trì trì,

Thái phồn kỳ kỳ.

Nữ tâm thương bi,

Đãi cập công tử đồng qui.

(*) Lối đọc «hiệp vận» như trên đều theo phát âm của Chương Phúc Ký giám bản Kinh Thi.

C. Dịch

Sao tâm tháng bảy xế đoài

Áo quần tháng chín liệu bài quân phân

Ngày xuân trời ấm áp dần

Con oanh kia đã mấy lần líu lo

Mấy cô đeo rỏ nhởn nhơ

Tung tăng nẻo hẹp, đi dò dâu non

Ngày xuân dùng dắng gót son

Bao cô lũ lượt đi bòn bạch hao

Một cô ủ dột má đào

Vầy duyên công tử, sắp vào cung môn.
oOo

A. Hán Văn

七月 流 火, 八 月 萑 葦.
蠶 月 條 桑, 取 彼 斧 斨,

以 伐 遠 揚, 猗 彼 女 桑.
七 月 鳴 鵙, 八 月 載 績.
載 玄 載 黃, 我 朱 孔 陽, 為 公 子 裳.

B. Phiên âm

Thất nguyệt lưu hủy (hoả)

Bát nguyệt hoàn vỹ.

Tàm nguyệt điều tang,

Thủ bỉ phủ thương (tường),

Dĩ phạt viễn dương,

Y bỉ nữ tang.

Thất nguyệt minh quyết (quých),

Bát nguyệt tải tích.

Tải huyền tải hoàng,

Ngã chu khổng dương,

Vi công tử thường.

C. Dịch

Sao tâm tháng bảy xế đoài

Sậy lau tháng tám là thời trổ sinh

Tháng tằm dâu phải tuốt cành

Búa rìu ta phạt những ngành xa vươn

Lá dâu hãy tuốt sạch trơn

Quyết kia tháng bảy véo von trên cành

Tháng tám lo việc cửi canh

Dệt rồi lại nhuộm tơ thành vàng, đen.

Tơ ta son rực màu lên

Để cho công tử ta đem may thường.
oOo

A. Hán Văn

四 月 秀 葽, 五 月 鳴 蜩.
八 月 其 穫, 十 月 隕 蘀.
一 之 日 于 貉, 取 彼 狐 狸,

為 公 子 裘. 二 之 日 其 同,

載 纘 武 功, 言 私 其 豵, 獻 豜 于 公.

B. Phiên âm

Tứ nguyệt tú yêu,

Ngũ nguyệt minh điều (điêu).

Bát nguyệt kỳ hoạch,

Thập nguyệt vẫn thác.

Nhất chi nhật vu hạc (lạc),

Thủ bỉ hồ ly,

Vi công tử kỳ (cừu).

Nhị chi nhật kỳ đồng,

Tải toản vũ công,

Ngôn tư kỳ tông (tung),

Hiến kiên vu công.

C. Dịch

Tú yên cỏ mọc tháng tư

Tháng năm ra rả ve dư tiếng sầu

Tháng tám mùa gặt bắt đầu

Tháng mười lá rụng theo nhau tơi bời

Tháng giêng săn bắt cầy chơi

Bắt chồn, bắt cáo, bắt thôi cho nhiều

Làm cho công tử áo cừu

Săn to, bắn lớn lựa chiều tháng hai

Rồi ra luyện võ cho tài

Heo non giữ lấy, heo nhoai dâng người.
oOo

A. Hán Văn

五 月 斯 螽 動 股, 六 月 莎 雞 振 羽.
七 月 在 野, 八 月 在 宇, 九 月 在 戶.
十 月 蟋 蟀, 入 我 床 下.
穹 窒 熏 鼠. 塞 向 墐 戶.
嗟 我 婦 子, 曰 為 改 歲, 入 此 室 處.

B. Phiên âm

Ngũ nguyệt tư chung động cổ,

Lục nguyệt sa kê chấn vũ.

Thất nguyệt tại dữ (dã)

Bát nguyệt tại vũ,

Cửu nguyệt tại hộ.

Thập nguyệt tất suất,

Nhập ngã sàng hũ (hạ).

Khung trất (thất) huân thử.

Tắc hướng cận hộ.

Ta ngã phụ tử,

Viết vi cải tuế,

Nhập thử thất xử.

C. Dịch

Tháng năm châu chấu động chân

Tháng sáu con dế rần rần cánh bay

Tháng bảy nó ra ruộng cày

Tháng tám nó quẩn ở ngay hiên nhà

Tháng chín nó đậu cửa ra

Tháng mười nó rét nó sa gầm giường

Kẽ ta lấp, chuột ta hun

Song hồ bít lại, liếp sờn bồi thêm

Vợ con ơi, lại mà xem

Năm cùng, nên phải lo tiền sửa sang

Vào đây ta sống bình an.
oOo

A. Hán Văn

六 月 食 鬱 及 薁,

七月 亨 葵 及 菽.
八 月 剝 棗, 十 月 穫 稻.
為 此 春 酒, 以 介 眉 壽.
七 月 食 瓜, 八 月 斷 壺,

九月 叔 苴, 采 荼 薪 樗.
食 我 農 夫.

B. Phiên âm

Lục nguyệt thực uất cập úc

Thất nguyệt phanh (hanh) quì cập thúc.

Bát nguyệt bác tẩu (tảo),

Thập nguyệt hoạch đẩu (đạo).

Vi thử xuân tửu,

Dĩ giới mi thậu (thọ).

Thất nguyệt tự (thực) qua,

Bát nguyệt đoạn hồ,

Cửu nguyệt thúc thư,

Thái đồ tân sư (xư).

Tự (thực) ngã nông phu.

C. Dịch

Tháng sáu ăn mận cùng nho

Tháng tám luộc đậu và lo luộc quì

Táo kia tháng tám trẩy đi

Tháng mười gặt lúa đem về ta ăn

Rồi ta cất rượu thưởng xuân

Uống cho mày mặt thêm phần phởn phơ

Tháng bảy ta sẽ ăn dưa

Tháng tám sau trước nhớ lo cắt bầu

Hạt gai tháng chín ta thâu

Rau đồ hái nấu, củi vâu đóm lò

Nhà nông ăn uống khỏi lo.
oOo

A. Hán Văn

九 月 築 場 圃, 十 月 納 禾 稼.
黍 稷 重 穋, 禾 麻 菽 麥.
嗟 我 農 夫, 我 稼 既 同,

上入 執 宮 功. 晝 爾 于 茅,

宵 爾 索 綯. 亟 其 乘 屋, 其 始 播 百 穀.

B. Phiên âm

Cửu nguyệt trúc tràng bố (phố),

Thập nguyệt nạp hoà cổ (giá).

Thử tắc trùng lực (lục),

Hoà ma thúc cực (mạch).

Ta ngã nông phu,

Ngã giá ký đồng,

Thượng nhập chấp cung công.

Trú nhĩ vu mao,

Tiêu nhĩ sách đào.

Cức kỳ thừa ốc,

Kỳ thuỷ bá bách cốc.

C. Dịch

Tháng chín vườn nện thành sân

Tháng mười lúa má ta khuân về nhà

Thêm kê sớm muộn non già

Lúa mì đậu hạt với là đay gai

Nông phu này các bạn ơi

Nay đà gặt hái xong xuôi mùa màng

Ta về ta ở trên làng

Ban ngày ta cắt ta làm cỏ gianh

Đến đêm ta đánh thanh tranh

Ta trèo lên mái, lợp nhanh cho rồi

Loay hoay nông vụ đến nơi

Cả trăm thứ giống nó đòi ta gieo.
oOo

A. Hán Văn

二 之 日 鑿 冰 沖 沖, 三 之 日 納 于 凌 陰.
四 之 日 其 蚤, 獻 羔 祭 韭.
九 月 肅 霜, 十 月 滌 場.
朋 酒 斯 響, 曰 殺 羔 羊.
躋 彼 公 堂, 稱 彼 兕 觥, 萬 壽 無 疆.

B. Phiên âm

Nhị chi nhật tạc băng xung xung,

Tam chi nhật nạp vu lánh (lăng) ung (âm).

Tứ chi nhật kỳ tảo,

Hiến cao tế kiểu (cửu).

Cửu nguyệt túc sương,

Thập nguyệt địch trường.

Bằng tửu tư hương (hưởng),

Viết sát cao dương.

Tê bỉ công đường,

Xưng bỉ huỷ quàng (quang),

Vạn thọ vô cương

C. Dịch

Tháng hai nước đá ta phăng

Đem về «băng thất» trong tuần tháng ba

Tháng tư ban sớm nở ra

Sau khi đã lễ cừu và hẹ thơm

Tháng chín vừa lạnh vừa sương

Tháng mười quét dọn sạch trơn sân nhà

Rượu ngon ta lễ hai vò

Chiên cừu ta dọn cỗ cho chững chàng

Rồi ra ta tới công đường

Sừng tê nâng chén thọ khương chúc người.

————————–

PHỤ  LỤC  3

CHIÊM CHU NIÊN PHONG NẪM CA [1]

———————–

* Phi Lộ:

Cứ trong Ngọc Hạp chiêm niên,

Chép làm quốc ngữ để truyền cho con

Dám đâu lấy khéo làm khôn

Gọi là để dạy gia môn nhà mình.

Biết năm biết tháng dữ lành

Biết mưa biết nắng, đã đành ấm no

Biết cơ ắt cũng khỏi lo

Dẫu mà tiền bạc để cho chẳng tày.

oOo

A. Hán Văn

正 月

歲 朝 宜 黑 四 邊 天

大 雪 紛 紛 是 旱 年

但 得 立 春 晴 一 日

農 夫 不 用 力 耕 田

(上 元 日 睛 宜 百 果)

二 月

驚 蟄 聞 雷 米 似 泥

春 分 有 雨 病 人 稀

月 中 但 得 縫 三 卯

處 處 棉 花 豆 麥 宜

(社 日 雨 年 豐 果 少)

B. Phiên âm

Chính nguyệt:

Tuế triêu nghi hắc tứ biên thiên,

Đại tuyết phân phân thị hạn niên;

Đãn đắc lập xuân tình nhất nhật,

Nông phu bất dụng lực canh điền.

(Thượng nguyên nhật tình nghi bách quả.)

Nhị nguyệt:

Kinh trập văn lôi mễ tự nê

Xuân phân hữu vũ bệnh nhân hi

Nguyệt trung đãn đắc phùng tam mão

Xứ xứ miên hoa đậu mạch nghi.

(Xã nhật vũ, niên phong, quả thiểu.)

C. Dịch

Tháng giêng trước hết kể ngay

Lập Xuân sao được một ngày tạnh cho

Lập Xuân trời tạnh được mùa

Đầu năm, mồng một, sương mù: hạn tai.

Mây đen khắp bốn phương trời

Trời trong năm ấy thảnh thơi mùa màng

Thượng nguyên trời nắng chang chang

Quả hoa năm ấy mọi đường tốt tươi

Tháng hai Kinh Trập sấm trôi

Được mùa năm ấy gạo coi như bùn

Xuân phân mùa có mưa phùn

Quanh năm chẳng có tai ôn đâu mà

Tháng hai ngày Mão được ba

Nơi nơi lúa thóc quả hoa được mùa

Trong ngày Xuân Xã mà mưa

Lúa nhiều mà giống quả hoa chẳng nhiều.

oOo

A. Hán Văn

三 月

風 雨 相 逢 初 一 頭

沿 村 瘟 疫 萬 民 憂

清 明 風 若 從 南 至

定 是 農 家 大 有 收

(初 三 日 雨 宜 蠶)

四 月

立 夏 東 風 少 病 疴

春 逢 初 一 果 生 多

雷 鳴 甲 子 庚 辰 日

須 防 蝗 蟲 侵 損 禾

(初 四 雨 穀 貴 初 八 雨 豐 收)

B. Phiên âm

Tam nguyệt:

Phong vũ tương phùng sơ nhất đầu

Duyên thôn ôn dịch vạn dân ưu

Thanh minh phong nhược tòng Nam chí

Định thị nông gia đại hữu thu.

(Sơ tam nhật vũ nghi tàm.)

Tứ nguyệt:

Lập Hạ Đông phong thiểu bệnh a

Xuân phùng sơ nhất quả sinh đa

Lôi minh giáp tý canh thìn nhật

Tu phòng hoàng trùng xâm tổn hoà.

(Sơ tứ vũ, cốc quý; sơ bát vũ, phong thu.)

C. Dịch

Tháng ba mồng một mưa rào

Ấy điềm tai dịch lao đao chẳng lành

Gió Nam trong tiết Thanh Minh

Thỏa lòng những kẻ nông canh cày bừa

Mồng ba mưa, tốt tằm tơ

Đoạn rồi xem tiết tháng tư Lập Hè

Gió Đông ắt chẳng bệnh chi

Mưa ngày mồng bốn, gạo suy bằng tiền

Mưa ngày mồng tám: phong niên.

Sấm ngày Giáp Tí, Canh Thìn: Sâu keo.

oOo

A. Hán Văn

五 月

端 陽 有 雨 是 豐 年

芒 種 聞 雷 美 亦 然

夏 至 風 從 西 北 起

瓜 蔬 果 園 受 熬 煎

六 月

三 伏 之 中 逢 酷 熱

五 谷 田 中 多 不 結

此 時 若 不 見 災 危

定 主 三 冬 多 雨 雪

B. Phiên âm

Ngũ nguyệt:

Đoan Dương hữu vũ thị phong niên,

Mang Chủng văn lôi mỹ diệc nhiên

Hạ Chí phong tòng Tây Bắc khởi

Qua sơ quả viên thụ ngao tiên.

Lục nguyệt:

Tam phục chi trung phùng khốc nhiệt

Ngũ cốc điền trung đa bất kết

Thử thời nhược bất kiến tai nguy,

Định chủ tam đông đa vũ tuyết.

C. Dịch

Tháng năm Đoan Ngọ mưa rào

Sấm ngày Mang Chủng thế nào cũng no

Hạ Chí mưa lúa đầy bồ

Gió phương Tây Bắc, phải chờ hạn tai

Tháng sáu tam phục nắng nôi

Ruộng nhiều lúa ít, hạn tai khá phòng

Tai ương mùa ấy mà không

Rồi ra mưa tuyết ba Đông dầm dề.

oOo

A. Hán Văn

七 月

立 秋 無 雨 最 堪 憂

萬 物 從 來 只 半 收

處 署 若 逢 天 下 雨

縱 然 結 實 也 難 留

(立 秋 小 雨 大 雨 傷 禾)

八 月

秋 分 天 氣 白 云 多

處 處 歡 歌 好 晚 禾

只 怕 此 時 雷 電 閃

冬 來 米 價 道 如 何

(社 日 雨 來 年 豐)

B. Phiên âm

Thất nguyệt:

Lập thu vô vũ tối kham ưu

Vạn vật tòng lai chỉ bán thu

Xử Thử nhược phùng thiên há vũ

Túng nhiên kết thật dã nan lưu.

(Lập Thu tiểu vũ đại vũ thương hoà.)

Bát nguyệt:

Thu Phân thiên khí bạch vân đa

Xứ xứ hoan ca hảo vãn hoà

Chỉ phạ thử thời lôi điện thiểm

Đông lai mễ giá đạo như hà.

(Xã nhật vũ, lai niên phong.)

C. Dịch

Tháng bảy Lập Thu không mưa

Vật nào vật ấy lưa thưa nửa phần

Lập Thu mưa lớn đổ rầm

Mùa màng, lúa má, có phần xác xơ

Nếu ngày Xử Thử mưa to

Rồi ra xẹp lép, phạc phờ lúa năn

Bước sang tháng tám Thu Phân

Trời mây trắng xóa, gạo ăn thiếu gì

Sấm chớp thời kém thưng đi

Mưa ngày Thu Xã, được kỳ sang năm.

oOo

A. Hán Văn

九 月

初 一 飛 霜 侵 損 民

重 陽 無 雨 一 冬 晴

月 中 火 色 人 多 病

若 遇 雷 聲 采 價 增

(重 九 雨 大 宜 收 禾)

十 月

立 冬 之 日 怕 逢 壬

來 歲 高 田 枉 費 心

此 日 更 逢 壬 子 日

災 傷 疾 病 損 人 民

B. Phiên âm

Cửu nguyệt:

Sơ nhất phi sương xâm tổn dân

Trùng Dương vô vũ nhất đông tình

Nguyệt trung hoả sắc nhân đa bệnh

Nhược ngộ lôi thanh thái giá tăng.

(Trùng cửu vũ đại nghi thu hoà.)

Thập nguyệt:

Lập Đông chi nhật phạ phùng Nhâm

Lai tuế cao điền uổng phí tâm

Thử nhật cánh phùng Nhâm Tý nhật

Tai thương tật bệnh tổn nhân dân.

C. Dịch

Tháng chín mồng một sương dầm

Ấy là thời khí tai xâm bệnh nhiều

Tháng này, nắng lắm cũng nao

Sấm ra thời gạo giá cao bằng vàng.

Tạnh thời gặp buổi Trùng Dương

Mùa Đông năm ấy nắng tuôn đã đành

Trùng Dương mưa xuống thì lành

No nê lúa gạo, nông canh thỏa lòng

Tháng mười Nhâm nhật, Lập Đông

Ruông cao năm tới uổng công cày bừa

Năm ngày Nhâm, còn vừa vừa

Gặp ngày Nhâm Tí, có cơ tổn người.

oOo

A. Hán Văn

十 一 月

初 一 西 風 盜 賊 多

更 兼 大 雪 有 災 魔

冬 至 天 晴 無 日 色

來 年 定 唱 太 平 歌

十 二 月

初 一 東 風 大 留 災

若 逢 大 雪 旱 年 來

但 得 此 日 睛 明 好

分 付 農 家 放 下 懷

B. Phiên âm

Thập nhất nguyệt:

Sơ nhất tây phong đạo tặc đa

Cánh kiêm đại tuyết hữu tai ma

Đông Chí thiên tình vô nhật sắc,

Lai niên định xướng thái bình ca.

Thập nhị nguyệt:

Sơ nhất đông phong đại lưu tai

Nhược phùng đại tuyết hạn niên lai

Đãn đắc thử nhật tình minh hảo

Phân phó nông gia phóng hạ hoài.

C. Dịch

Tháng một, mồng một gió Đoài

Sẽ sinh đạo tặc lắm loài gian manh

Tuyết sương thời lắm ma tinh

Bằng ngày Đông Chí thiên tình khá coi

Thanh quang mà vắng mặt trời

Thái bình thiên hạ nơi nơi bằng lòng

Tháng chạp mồng một gió Đông

Tai ương lục súc hãi hùng xiết bao

Đại Tuyết, hạn hán năm sau

Trời quang, mây tạnh, phong thâu tốt lành.

oOo

[1] Hán văn trích trong quyển Ngọc Hạp. Bản dịch Việt văn nguyên là của cụ huyện Hiệp Hòa, đã được ông Nguyễn Triệu sưu tầm và đăng tải trong Phổ Thông (Phổ Thông số 91, trang 53-54, nơi bài Khí tượng học). Xin mạn phép sao lục bản dịch này nơi đây, với một vài sửa đổi.

————————–

   
Sách tham khảo

Hán Anh

– The Chinese Classics: James Legge

+ Vol III. The Shoo King

+ Vol IV. The She King

Hán Pháp

– Chou King – Séraphin Couvreur

– Li Ki – Séraphin Couvreur

– Tch’ouen ts’ieu – Séraphin Couvreur

Hán Việt

– Dịch Kinh Tân Khảo – Nguyễn mạnh Bảo

– Tứ Thư – Đoàn Trung Còn dịch

La Ngữ

– Biblia Sacra (juxta Vulgatoe exemplaria et correctoria romana) – Librarie Letouzey et Ané

Hán

– Cận tư lục tạp chú – Chu Hi, Giang Vinh, Lã Tổ Khiêm

– Chương Phúc Ký Giám bản Thi Kinh

– Đẩu thủ Hà Lạc lý khí ngao đầu (toàn bộ)

– Huỳnh Đình Kinh chú

– Nội Kinh Tố Vấn – Hoàng Đế, Kỳ Bá

– Tham Đồng trực chỉ

– Tống Nguyên học án – Từ Khgê, Bằng Vân Hào

– Trùng biên Tống Nguyên học án – Trần Thúc Lượng, Lý Tâm Trang

– Trung Hoa ngũ thiên niên sử – Trương Kỳ Quân

– Trung Quốc nhất chu (tạp chí)

Anh

– Baker’s Dictionary of Theology

– Encyclopedia of Religion – Vergilius Ferm

– Halley’s Bible Handbook

– Key to the Apocalypse – H. Grattan Guinness

– Mackey’s Freemasonry Encylopedia

– Moral and Dogmas – Albert Pike

– The Golden Bough – James George, Frazer

– The prophetic faith of our Fathers – Le Roy Edwin Froom

Pháp

– Aspect du Bouddhisme – Henri de Lubac

– Astronomie – Larousse

– Astronomie populaire – Camille Flammarion

– Bulletin de la Société des E.I. (1er trimestre 1956)

– Etude de la catégorie logique correspondant à la notion de Siang (Tượng) dans le Hi-Ts’ou (Hệ Từ) – Trần Thị Nở (Đại Học Văn Khoa 1964-1965)

– Idées pour la philosophie de l’histoire de l’humanité – Herder

– Initiation biblique – A. Robert et A. Tricot

– L’âme de la Chine – Amaury de Riencourt

– L’enseignement de Ramakrishna – J. Herbert

– La Bible de Jérusalem

– La Bible et le plan de Dieu – André Lamorte

– La pensée chinoise – Marcel Granet

– La Sainte Bible – Crampon

– La Sainte Bible – Louis Segond

– La vocation de l’Occident – Louis Lallement

– Le philosophe Tchou Hi, Sa doctrine, son influence – Stanislas Le Gall S.J.

– Les Conciles oecuméniques – J.M.A. Salles Dabadie

– Les fondements de la mystique tibétaine (traduction) – Charles Andrieu et J. Herbert

– Miroir de l’Histoire No 157 – Les grandes heures des Papes

– Pensées pour l’action – Napoléon

– Planète (Revue)

– Revue des sciences philosophiques et théologiques – Paris Librairie philosophique J. Vrin

– Sagesse chinoise et philosophie chrétienne – Henri Bernard Maître

– Teihard de Chardin – George Magloire, Hubert Cuypers

– Textes historiques – Léon Wieger

– Textes philosophiques – Léon Wieger

– Traité d’astrologie ésotérique – Robert Ambelain

– Traité de médicine chinoise – Dr A. Chamfrault

– Uranographie chinoise – Gustave Schlegel

Việt

– Châu Dịch đại toàn – VN Âm Dương Dịch Lý Hội (dịch)

– Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm quốc ngữ đầu tiên – Nguyễn Khắc Xuyên, Phạm Đình Khiêm

– Lịch sử  triết học Đông phương – Nguyễn Đăng Thục

– Phổ thông (tạp chí)

– Sấm Truyền Cũ – Imprimerie de la Mission

– Thánh Kinh – Thánh Thư Công Hội

– Thánh Vịnh toàn tập – Mai Lâm, Đoàn Văn Thăng

– Thượng Đế trong Nho giáo – A.M. Bùi Hữu Ngạn

– Thượng Thư – Nhượng Tống

– Tố chức văn hóa quốc tế chính trị học hiện đại –  Tôn Thất Trạch (dịch)

– Tống Nho – Bửu Cầm

– Vương Dương Minh – Đào Trinh Nhất

—————-

*Hết bài Khổng Học Tinh Hoa

*Cám ơn quí vị đã xem bài nầy.

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ * 孔 夫 子 的 真 容

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ * 孔 夫 子 的 真 容
孔夫子的真容
CHÂN DUNG KHỔNG TỬ
Tác giả :- Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ * 孔 夫 子 的 真 容

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ

孔 夫 子 的 真 容

Tác giả :-
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ 

孔 夫 子 的 真 容

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ
Tác giả :- Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
 

孔 夫 子 的 真 容
CHÂN DUNG KHỔNG TỬ * 孔 夫 子 的 真 容

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ

Tác giả :- Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ 

孔 夫 子 的 真 容

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ

Tác giả :- Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
 

孔夫子的真容

Mục lục

Phi lộ

Chương 1: Bối cảnh địa dư

Chương 2: Bối cảnh lịch sử

Chương 3: Tiểu sử đức Khổng

Chương 4: Môn đệ đức Khổng

Chương 5: Đức Khổng dưới mắt ít nhiều phê bình gia và đệ tử

Chương 6: Đức Khổng, con người nhiệt thành đi tìm chân lý

Chương 7: Đức Khổng, con người rất cũ và rất mới

Chương 8: Đức Khổng, con người có niềm tin vững mạnh về thân thế và sứ mạng mình

Chương 9: Đức Khổng, con người đã được đạo thống Trung Dung

Chương 10: Đức Khổng, con người vụ bản (giữ gốc của Đạo)

Chương 11: Đức Khổng, con người biết thuận theo các định luật của trời đất

Chương 12: Đức Khổng, con người linh động và uyển chuyển

Chương 13: Đức Khổng, một thi sĩ

Chương 14: Đức Khổng, con người nghệ sĩ

Chương 15: Đức Khổng, một vị giáo sư gương mẫu

Chương 16: Đức Khổng, một sử gia

Chương 17: Đức Khổng, một chính trị gia

Chương 18: Đức Khổng, vị thánh nhân chân thực

Chương 19: Đức Khổng với ít nhiều thánh nhân kim cổ

Chương 20: Đức Khổng có ích lợi gì cho chúng ta?

Bản đính chính về gia phả đức Khổng

Phụ lục

Các sách tham khảo

*******************     

Lời Phi lộ:

Phác họa lại chân dung, chân tướng Đức Khổng chẳng phải là một công trình mới mẻ gì. Từ mấy nghìn năm nay, người ta đã đổ không biết cơ man nào là mực, đã tốn mất không biết cơ man nào là giấy để làm công chuyện này.

Phác họa lại chân dung, chân tướng đức Khổng không phải là chuyện dễ dàng, vì phải tìm cho ra những nét đặc thù, những điểm độc đáo, những điều kỳ bí, mà từ trước đến nay người ta chưa tìm thấy.

Phác họa lại chân dung, chân tướng đức Khổng lúc này cũng không phải là một công chuyện lỗi thời, vì các bậc vĩ nhân siêu không gian và thời gian, cũng như chân lý chẳng hề có niên canh cùng tuế nguyệt.

Hơn thế nữa, phác họa lại chân dung, chân tướng đức Khổng nói riêng, và khảo sát các học thuyết Á Đông nói chung, có thể nói được là cần yếu và hữu ích trong giai đoạn này, giai đoạn mà con người chỉ sống hời hợt, phù phiếm ngoài bì phu, bám víu vào tha nhân và ngoại cảnh, lấy thành công và hưởng thụ tạm bợ, nhất thời làm cứu cánh cuộc đời, xây dựng hạnh phúc mình trên đau khổ kẻ khác, mà không còn biết thế nào là đời sống nội tâm, đời sống nhân nghĩa, đạo đức thật sự.

Phác họa lại chân dung, chân tướng, khảo sát về tinh hoa Khổng giáo lúc này càng cần thiết, nhất là vì các chủ nghĩa, các nền văn minh hiện thời với tất cả nghệ thuật hóa trang, son phấn của các đào kép chính trị, và lý thuyết gia già dặn, lõi đời, cũng không giấu nổi được bộ mặt thực quái gở của nó với những sự mua bán nô lệ công khai ngay ở những nước nổi tiếng là văn minh, đạo đức cách đây không đầy một trăm năm, với sự kỳ thị chủng tộc, với sự cướp bóc, được tổ chức đại qui mô với chiêu bài đạo đức và nhân nghĩa, đã được diễn ra khắp năm châu trong vòng vài thế kỷ nay, với những trận đại chiến, những số thương vong khổng lồ, những lò sát sinh tàn khốc, những trại tập trung man rợ, với những kinh thành hoa lệ và những ánh đèn màu rực rỡ như muôn vì sao lấp lánh ban đêm, để cho muôn vạn con «thiêu thân người» say sưa và trác táng tuổi xuân xanh…

Phác họa chân dung, chân tướng đức Khổng là dựa vào các văn liệu, sử liệu, các tác phẩm đức Khổng để tìm hiểu tâm tư, hoài bão, nguyện vọng đức Khổng, lý tưởng và đạo lý của ngài.

Phác họa chân dung, chân tướng đức Khổng nhằm vào nhiều mục đích:

1- Mục đích thứ nhất là giúp ta hiểu rõ hơn về đức Khổng.

2- Công trình khảo sát của chúng ta sẽ là sự dẫn nhập vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, vào cửa Khổng, sân Trình, cho ta thấy những nét đặc thù, chính yếu của Khổng giáo, trước khi đi sâu vào chi tiết sau này.

3- Sự hiểu biết về đức Khổng chẳng những sẽ làm cho học thuyết Khổng Tử trở nên trong sáng, mạch lạc, mà cũng sẽ giúp chúng ta hiểu biết về các tầng lớp thâm sâu của tâm hồn con người, hiểu biết về con người muôn thuở, về thân thế và định mệnh con người, để nhân sự tìm hiểu chân dung, chân tướng đức Khổng, chúng ta sẽ tìm thấy chân dung, chân tướng chúng ta.

Chúng ta chẳng phải là những kẻ cổ hủ, nhất thiết bám vào những đường xưa lối cũ. Chúng ta cũng chẳng phải là những kẻ ngu muội có thiên kiến, đến nỗi chẳng nhận định ra được những cái hay của nền văn minh khoa học, vật chất hiện thời. Chúng ta không phải là những kẻ «không tưởng» sống trên mây xanh, mà chúng ta sẽ hết sức thực tế. Chúng ta sẽ hết sức vô tư trong công trình khảo sát của chúng ta, sẽ hết sức thực tế, hết sức khoa học.

Phương pháp của chúng ta là phương pháp khoa học. Nó đòi hỏi một sự nhận xét tinh tế, một sự phân tách rõ ràng, một sự phán đoán vô tư, thẳng thắn, và một công trình tổng hợp.

Đồng thời đường lối của chúng ta là đường lối giản dị. Chúng ta sẽ tránh mọi điều viển vông, mơ hồ, mù mịt rắc rối, tần phiền. Như vậy công trình khảo sát của chúng ta đòi nhiều công phu, nhiều tìm tòi, nhưng cũng sẽ hết sức hồn nhiên, sống động, thoát sáo, tự nhiên.

Tóm lại, chúng ta không làm một công chuyện tắc trách, lấy lệ, mà chúng ta thành khẩn, tha thiết muốn khơi sâu về thân thế và chân dung Khổng Phu Tử, muốn khơi sâu về thân thế và định mệnh con người muôn thuở, cũng như học hỏi cách tiếp nhân, xử thế cho hay cho khéo, cách sử dụng hoàn cảnh và thời gian để khai tâm, khai trí, khai thần, luyện tình, luyện tính để tiến mãi trên con đường hoàn thiện.

Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát:

1- Bối cảnh địa dư.

2- Bối cảnh lịch sử.

3- Sơ lược về thân thế và sự nghiệp đức Khổng.

4- Môn đệ đức Khổng.

5- Đức Khổng dưới mắt ít nhiều phê bình gia và đệ tử.

6- Đức Khổng, con người nhiệt thành đi tìm chân lý

7- Đức Khổng, con người rất cũ và rất mới.

8- Đức Khổng, con người có niềm tin vững mạnh về thân thế và sứ mạng mình.

9- Đức Khổng, con người đã được đạo thống Trung Dung.

10- Đức Khổng, con người vụ bản.

11- Đức Khổng, con người biết thuận theo các định luật của trời đất (Lễ).

12- Đức Khổng, con người linh động và uyển chuyển (Dịch).

13- Đức Khổng, một thi sĩ (Kinh Thi).

14- Đức Khổng, con người nghệ sĩ (Nhạc).

15- Đức Khổng, một vị giáo sư gương mẫu.

16- Đức Khổng, một sử gia (Kinh Thư và Xuân Thu).

17- Đức Khổng, một chính trị gia (Luận Ngữ, Đại Học).

18- Đức Khổng, vị thánh nhân chân thực (Trung Dung).

19- Đức Khổng với ít nhiều thánh nhân kim cổ.

20- Tổng luận: Đức Khổng có ích lợi gì cho chúng ta?

Saigon 16/10/1969

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

chuyết đề

*******************     

Chương 1

Bối cảnh địa dư:

Như sông Gange và sông Indus đã ngưng đọng nền văn minh Ấn Độ, như sông Tigre và sông Euphrate đã chứng kiến một thời kỳ huy hoàng trong lịch sử nước Babylonie, sông Hoàng Hà và sông Dương Tử cũng đã đem lại nền văn minh, thịnh vượng cho Trung Hoa.

Sông Hoàng Hà uy nghi dưới ngòi bút của Lý Thái Bạch:

«Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.»

«Anh chẳng thấy Hoàng Hà nước nọ,

Tụ trên trời chảy đổ ra khơi.

Ra khơi thôi thế thì thôi,

Về nguồn trở lại có đời nào đâu.»

(Đường Thi, Trần Trọng Kim, trang 97)

Sông Hoàng Hà dũng mãnh đã tràn ngập Trung Quốc và đã làm cho vua Thuấn, vua Võ mất bao nhiêu công trị thủy. (Textes historiques, Wieger, p. 33)

Sông Hoàng Hà linh diệu đã đem bao nhiêu đất đỏ phì nhiêu từ các vùng cao nguyên hiểm trở xuống để lấp một quãng bể bao la từ Sơn Tây ra tới bờ bể ngày nay, đem người Trung Hoa từ các cao nguyên xuống, và bình nguyên nó đã thành trung tâm Trung Quốc kết tụ lại tất cả những huy hoàng tráng lệ vê tinh thần, vật chất Trung Hoa. (Histoire de la Chine, René Grousset, p. 73) (Chương này phần lớn trích trong sách Khảo luận và phê bình học thuyết của Khổng Tử của tác giả, từ trang 7- 11).

Sông Dương Tử và phụ lưu là sông Hán cũng không kém phần mênh mang. Kinh Thi ca tụng:

Hán chi quảng hĩ, bất khả vịnh ti,

Giang chi vĩnh hĩ, bất khả phương ti.

Dịch:

Mênh mông sông Hán, sông Giang

Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng.

(Kinh Thi, Tản Đà, trang 43)

Vài con sông nhỏ trở nên tiếng tăm vì nhờ có liên lạc, dính dấp đến đời sống các danh nhân, ví dụ như:

– Sông Vị, nơi Lã Vọng buông câu, đợi ngày Văn Vương mời ra giúp nước.

– Sông Thù, sông Tứ chảy qua khúc Phụ, nơi chôn rau cắt rốn của Hoàng Đế, của Y Doãn, nơi có lăng của Thiếu Hạo, có miếu của Chu Công, nơi mà đức Khổng mở mắt chào đời, sinh sống một thời kỳ thơ ấu, giảng giáo trong những năm già nua, yên nghỉ khi đã mãn phần, vì thế cho nên nói đến dòng Thù, Tứ, tức là ám chỉ đến Khổng giáo, Khổng môn.

– Sông Nghi miền nam nước Lỗ, nơi mà ông Tăng Tích ước muốn được sống thanh nhàn, ngoài vòng cuong tỏa lợi danh, cùng ít nhiều bạn bè trẻ, tắm mát rong chơi, trong những ngày cuối xuân đầm ấm. (LN, 12, 25).

– Sông Vấn giáp giới Lỗ với Tề, nơi mà Mẫn Tử Khiên dọa đi ẩn dật để khỏi phải ra làm quan đất Phí theo lời mời của quyền thần nước Lỗ là Quý Khương Tử. (LN, VI, 7).

Rồi đến giải núi Tần Lĩnh cao ngất trời, chia Trung Hoa làm hai phần Nam Bắc, mà đám mây vắt trên đỉnh cao xa như ấp ủ cả những tình lưu luyến cố hương.

«Đoái trông muôn dặm tử phần,

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.»

Nguyễn Du

Bốn ngọn núi lịch sử Thái Sơn, Hằng Sơn, Hoa Sơn, Hành Sơn là chỗ vua tập hợp các chư hầu, mỗi núi dành cho chư hầu một phương.

Nhìn địa dư, ta nhận thấy hai phần phân biệt:

1- Một phần là cao nguyên rừng núi, nơi xưng hùng xưng bá của những nước Tấn, Tần, Tề, Sở, đất phát sinh ra những chiến sĩ hùng cường, nguyện da ngựa bọc thây nơi chiến địa.

2- Một phần là bình nguyên qui tụ văn minh tinh thần Trung Hoa, nhưng chỉ có những nước nhỏ: Lỗ, Vệ, Trần, Tống, Trịnh, Kỷ, Thái…

Và dĩ nhiên là các nước hùng cứ Bắc Nam đều dồn mắt vào các nước trong bình nguyên sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, cho nên bình nguyên sông Hoàng Hà và sông Dương Tử cũng đã chứng kiến bao cảnh tàn phá. Nó «không những được cày bằng cày mà còn bị cày bằng vó ngựa, không những được gieo bằng hạt lúa mà còn bị gieo bằng đầu người, và hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử đã được tô điểm bằng những nàng con gái góa bụa, đã được nở đầy hoa trẻ mồ côi; những lớp sóng sông Hoàng Hà và Dương Tử đã dâng lên đầy những nước mắt của người cha già mẹ yếu.» (Văn Hóa Á Châu, số 19, 1959, trang 68). Đối với những người chinh phụ mong chồng thì:

Nước sông trôi hết xuân dần,

Trăng sông cũng lại xế dần sang Tây.

Đường Thi, Trần Trọng Kim, trang 91)

Và đối với đức Khổng thì bình nguyên Trung Hoa cũng đã từng ghi dấu gót phong sương…

Nhìn chung vào bản đồ Trung Quốc, ta thấy thực là «giang sơn riêng chiếm một cảnh trời». Phía Đông thì là cả một đại dương với muôn tầm sóng cả, phía Bắc thời Hoàng Hà chín khúc cuồn cuộn chảy, dãy Thái Hằng tuyết phủ mây che, làm cho Thái Bạch phải viết:

«Đường đi khó, tìm đường đi khó quá,

Rút kiếm bén ngỡ ngàng trông đây đó,

Lòng băn khoăn ta biết sẽ đi đâu,

Muốn qua Hoàng Hà, băng giá lấp sông sâu,

Muốn lên non Thái tuyết một mầu ảm đạm.»

(Hành Lộ Nan)

Xa hơn nữa là sa mạc Gobi với cát phủ bao la, với gió gào lạnh lẽo.

Phía Tây thì Tần Lĩnh và Côn Lôn là hai dãy núi trập trùng hiểm trở. Phía Tây Nam thời Hi Mã Lạp Sơn với những ngọn núi cao vút chín tầng mây, như những bức trường thành muôn vạn nhận, vươn lên thinh không để ngăn cách Trung Hoa với các nước miền Nam như Ấn Độ và Tây Tạng.

Nói thế nghĩa là Trung Quốc cổ thời rất khó mà có được những liên lạc văn hóa với các trung tâm văn hóa khác như Ấn Độ, Babylone, Hi Lạp, Ai Cập. Thế nhưng ngày nay khi mà từ ngữ cũng như những biên giới thiên nhiên, núi sông hiểm trở không còn là những bức tường thành kiên cố ngăn cách con người, ngày nay, khi đem so sánh học thuyết Khổng Tử với các học thuyết khác trên thế giới, ta thấy có rất nhiều điểm tương đồng, y như đã phát xuất từ một nguồn. Nguồn ấy là đâu, phải chăng là tâm linh con người?

Sách Deutéronome viết:

«Thực vậy, lề luật mà ta truyền dạy ngươi hôm nay, không có ở ngoài tầm kích ngươi. Nó không ở trên trời để ngươi phải nói: Ai lên trời cho chúng tôi tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành. Nó cũng không phải ở cách trùng dương để ngươi phải nói: Ai sẽ vượt biển cho chúng tôi tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành. Đạo kề bên ngươi, đạo ở trong miệng, trong lòng ngươi, để có thể đem thực hiện.» (Deut. 30, 11- 14)

Thế mới hay:

«Muốn tìm cho ra pháp giới tính, nhất định phải do tâm.»

(Ưng quan pháp giới tính, nhất thiết do tâm tạo.)[1]

Người Việt xưa viết:

«Quan Âm nghìn mắt nghìn tay,

Cũng do một điểm linh đài mà ra.»

thật là chí lý vậy.

Khu vực Khúc Phụ, quê hương đức Khổng.

Chú thích :-

Trung Quốc Ngũ Thiên Niên Sử – quyển 3, trang 401.

[1] Hoa Nghiêm Kinh, trang 12, Hán văn của chùa Hoa Nghiêm, Gia Định.

*******************     

Chương 2

Bối cảnh lịch sử:

A. Đồ biểu lịch sử

ĐỜI

VUA

ĐÔ

TIỀN SỬ

Phục
Hy, Thần Nông

Trần
(Hoài), Khúc Phụ

CẬN SỬ
2686

Hoàng

Đế

Trác

Lộc

SỬ

2357-2255

2255-2205

Thời
phong kiến

Nghiêu

Thuấn

 

Bình

Dương

Bồ Bản

HẠ 17
vua, 439 năm

2205-
1766

Đại
Võ (2205-2197)

Đế Kiệt
(1818-1766)

An Ấp

THƯƠNG
ÂN 28 vua, 644 năm, 1766-1122

Thành

Thang (1766-1753)

Trụ
(1154-1122)

Bạc

CHU 38
vua, 873 năm

Văn
Vương (thụy phong)

Vương (1122-1115)

Bình

Vương (770-719)

 

Phong
Cảo

Lạc
Dương

Thế
Xuân Thu: 722-481

Thế
Chiến Quốc: 481-249

Khổng
Tử: 551-479

Mạnh
Tử: 372-289


ĐỜI VUA ĐÔ
TIỀN SỬ “Phục Hy, Thần Nông” “Trần (Hoài), Khúc Phụ”
CẬN SỬ 2686 Hoàng Đế Trác Lộc
SỬ Thời phong kiến
2357-2255 Nghiêu Bình Dương
2255-2205 Thuấn Bồ Bản
“HẠ 17 vua, 439 năm” Đại Võ (2205-2197) An Ấp
2205- 1766 Đế Kiệt (1818-1766)
“THƯƠNG ÂN 28 vua, 644 năm, 1766-1122” Thành Thang (1766-1753) Bạc
Trụ (1154-1122)
“CHU 38 vua, 873 năm” Văn Vương (thụy phong)
Võ Vương (1122-1115) Phong Cảo
Bình Vương (770-719) Lạc Dương
Thế Xuân Thu: 722-481
Thế Chiến Quốc: 481-249
Khổng Tử: 551-479
Mạnh Tử: 372-289

Bị chú:

Niên lịch đây là theo Thông Giám Cương Mục. Từ năm 827 trước Tây Lịch về trước sử Tàu còn có ghi theo niên lịch ghi trong Trúc Thư kỷ Niên. Sự sai biệt giữa hai niên lịch xê xích chừng vài chục năm. Trên đây chỉ ghi vua đầu và cuối đời.

Thời Khổng Tử ứng vào cuối đời Hồng Bàng, ứng vào các vua sau đây bên Nhật Bản: Thần Võ Thiên Hoàng (660- 585), Tuy Tĩnh Thiên Hoàng (581- 549), An Ninh Thiên Hoàng (548- 511), Ý Đức Thiên Hoàng (510- 477). (Xem Synchronisme chinois, Variétés sinologiques No24)

*******************     

CHÂN DUNG KHỔNG TỬ 

孔 夫 子 的 真 容

B. Ít dòng lịch sử

Thời Chu mạt là thời đế vương mạt vận, thời phong kiến vô kỷ cương.

Còn đâu thời oanh liệt của vua Nghiêu, vua Thuấn, tuy cũng phong kiến nhưng uy quyền đế vương còn tràn ngập thiên hạ, mỗi năm năm lại rầm rộ đi tuần thú thiên hạ; tới bốn ngọn núi lịch sử họp chư hầu bốn phương.

Còn đâu cảnh huy hoàng trật tự thời Văn Vương, Võ Vương hùng cứ Kiểu kinh, giữa những sông sâu núi thẳm, để làm thế ỷ dốc, rồi lập thêm một đô ở Lạc Dương, triều kiến chư hầu; sai Bá Cầm con Chu Công sang trọng nhậm nước Lỗ để trấn áp miền duyên hải, như vươn hai caánh tay khổng lồ ôm ấp cả bình nguyên Trung Quốc vào trong. Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!

Nay chỉ còn thời Khuyển Nhung tàn phá Đế kinh (thời U Vương, 781- 770) để vua tôi nhà Chu lạc lõng dời đô về lạc Dương (thời Chu Bình Vương, 770- 719).

Nay chỉ còn là thời các vua chư hầu lũng đoạn, xưng hùng xưng bá, mưu mô chém giết, giành giật chính quyền, là thời cá lớn nuốt cá bé, là thời mà các nước nhỏ chông chênh như trứng để đầu đẳng, thời mà chiến mã hí bên thành…

Ta có thể mượn lời Kinh Thi mà mô tả thời kỳ đó bằng những lời thơ thắm thiết sau:

Chiến tranh như mưa bấc tuyết sa đem tê tái và hoang mang lại cho lòng người:

Vù vù gió bấc ghê thay,

Phay phay mưa tuyết, tuyết bay đầy trời

Ai ơi ai có yêu ai

Dắt nhau ta kiếm một nơi đi cùng

Còn gì là cái thung dung

Sự đời đã giục bên lòng xiết bao.

(Bội phong – Bắc phong)

(Bắc phong kỳ đê. Vũ tuyết kỳ phi. Huệ nhi hiếu ngã. Huề thủ đồng qui. Kỳ hư kỳ từ. Kỳ cức chỉ thư.) (Kinh Thi, Tản Đà, trang 132)

Bầu không khí chiến tranh bao trùm khắp nơi:

Trống đánh thùy thuỳnh

Gươm giáo tập tành

Những ai đắp đất xây thành

Xa nhà xa nước riêng mình sang Nam.

(Bội phong – Kích cổ)

(Kích cổ kỳ đường. Dũng dược dụng binh. Thổ quốc thành tào. Ngã độc nam hành). (Kinh Thi, Tản Đà, trang 94)

Làm cho con dân đau lòng sinh ly tử biệt:

Tử sinh cách trở đôi nơi,

Cùng em anh đã nặng lời từ xưa.

Đôi ta những nguyện cùng già,

Cầm tay thủa ấy, bây giờ chưa quên.

Nhưng:

Cùng nhau thôi đã cách xa,

Sống đâu còn đến thân ta hỡi mình.

Thề xưa còn đó rành rành,

Nay thôi anh đã phụ tình cùng em.

(Bội phong – Kích cổ)

(Tử sinh khế khoát. Dữ tử thành thuyết. Chấp tử chi thủ. Dữ tử giai lão. Hu ta khoát hề. Bất ngã hoạt hề. Hu ta tuân hề. Bất ngã thân hề). (Kinh Thi, Tản Đà, trang 96)

Những vua nước nhỏ, cũng có khi nước nhà tan tác, cùng bọn vong thần vất vưởng nước người, đến nỗi:

Áo cừu đã rách tả tơi,

Bánh xe nào phải không rời sang Đông.

Ai ơi chẳng giúp nhau cùng,

Tủi thân hèn mọn, đau lòng lưu ly.

Ai ơi, ai chỉ cười khì.

(Bội phong – Mao khâu)

(Hồ cừu mông nhung. Phỉ xa bất đông. Thúc hề bá hề. Mỹ sở dữ đồng. Tỏa hề vỹ hề. Lưu ly chi tử. Thúc hề bá hề. Rứu như xung nhĩ.) (Kinh Thi, Tản Đà, trang 119- 120)

Dân thì đói khổ nghèo túng, cái nghèo túng đó được mô tả trong bài Xuất tự Bắc môn:

Từ trong cửa Bắc bước ra,

Lòng ta trăm mối, cho ta ngậm ngùi.

Phận sao nghèo khổ suốt đời,

Nỗi ta ta biết, ai người biết ta.

Đành thôi còn nói chi mà,

Trời kia bảo vậy, biết là làm sao?

(Bội phong – Bắc môn)

(Xuất tự bắc môn. Ưu tâm ân ân. Chung lũ thả bần. Mạc tri ngã gian. Dĩ yên tai. Thiên thực vi chi. Vị chi hà tai.) (Kinh Thi, Tản Đà, trang 129- 130)

Nghiên cứu tỉ mỉ hơn ta thấy tình hình Xuân Thu, Chu mạt tổng quát như sau:

1- CHU

– Linh Vương (571-545)

– Cảnh Vương (544-520)

– Điệu Vương (519)

– Kính Vương (519-476)

2- LỖ

– Tương Công (572-542)

– Chiêu Công (541-510)

– Định Công (509-495) (LN III, 19. – XII, 15)

– Ai Công (494-468) (LN II, 19 – III, 21 – VI, 2 – XII, 9 – Trung Dung XX)

3- VỆ

– Linh Công (534-493) (LN XV, 1)

– Xuất Công (492-480) (Hiếu Công)

4- TỀ

– Trang Công (553-548)

– Cảnh Công (547-490) (LN XII, 11 – XVI, 12 – XVIII, 3)

– Án Nhụ Tử (489)

– Điệu Công (488-485)

– Giản Công (484-481) (LN XIV, 22)

– Bình Công (480-456)

5- SỞ

– Khang Vương (559-545)

– Hùng Quân (544-541)

– Linh Vương (540-529)

– Bình Vương (528-516)

– Chiêu Vương (515-489)

6- TỐNG

– Bình Công (575-532)

– Nguyên Công (531-517)

– Cảnh Công (516-453)

7- NGÔ

– Hạp Lư (514-496)

– Phù Sai (495-473)

8- VIỆT

– Câu Tiễn (498-465) (Câu Tiễn diệt Phù Sai và Ngô năm 473)

9- TRỊNH

– Giản Công (565-530)

– Định Công (529-514)

– Hiến Công (513-501)

– Thanh Công (500-463)

10- TẤN

– Bình Công (557-532)

– Chiêu Công (531-526)

– Khoảnh Công (525-512)

– Định Công (511-475)

Ngoài ra còn các nước nhỏ như Trần, Thái, Tào, Triệu, Ngụy, Hàn, Đằng, Tiết, Hứa, Kỷ, Cử, Trâu, v.v…

Đây là những đoạn trong Tứ Thư có liên lạc đến những nước kể trên;

1- Đằng: MT, II, 13; V, 1; V, 2, 3; XIV, 30.

2- Kỷ: Trung Dung XXVIII.

3- Lỗ: Luận Ngữ: VI, 3, 22; VII, 16; XIII, 7; XIII, 13; XIV, 15, 38.

Mạnh Tử: II, 12, 16; IV, 7; IV, 10; XII, 8, 13.

4- Ngụy: MT: I, 1- 4.

5- Sở: LN: XVIII, 5, 6, 7. MT: V, 1; ĐH: X.

6- Tần: Luận Ngữ: XIV, 12; XIX, 12.

7- Tào: MT: XII, 2.

8- Tề: Luận Ngữ VI, 3, 22; XIV, 17, 18; XIV, 22, 41; XVII, 9. MT: I, 7; II 1- 7, 10- 11; IV, 12- 14; VII, 7; VIII, 3, 27, 32, 33; XI, 8- 9; XII, 6; XIII, 33- 39; XIV, 14, 23, 25, 29.

9- Tiết: MT: IV, 3.

10- Tống: LN VII, 22; MT IV, 3; VI, 8; TD, XXVIII.

11- Thái: LN XI, 2.

12- Trần: LN VIII, 30; XI, 2; XV, 2.

13- Trịnh: LN XIV, 10; MT VIII, 2.

14- Vệ: LN: VI, 26; VII, 14; IX, 15; XI, 22; XIII, 7, 8, 9; XIV, 14, 19, 20, 26, 42; XV, 1, 6; XIX, 22.

15- Yên: MT IV, 3.

16- Trâu: MT II, 12; V, 2; XII, 5.

Trong Luận Ngữ ta thấy đề cập đến những nước nhỏ, thành nhỏ, như:

Khuông (LN, IX) (Khuông ở giữa nước Trịnh và Tống) (LN XI, 22).

Diệp (LN XIII, 16, 18) (Diệp giữa Thái và Sở và thuộc Sở).

Phí (LN VI, 7; XVII, 5) (Phí thuộc Lỗ).

Trung Mâu (LN XVII, 7) (Trung Mâu thuộc Tấn).

Trong Khổng Tử thế gia còn nói đến đất Bồ (phía Tây nước Vệ), nơi mà Khổng Tử bị dân chúng ngăn không cho đến nước Vệ, may nhờ có Công Lương Nhụ liều chết điều khiển năm cỗ xe chiến đấu với dân Bồ sau mới thoát.

Chúng ta còn có thể có những nhận định sau về thời Xuân Thu:

1- Thế lực Chu triều đã hết sức suy giảm. Thời đức Khổng ta thấy có bốn vua kế tiếp:

– Linh Vương (571-545)

– Cảnh Vương (544-520)

– Điệu Vương (519)

– Kính Vương (519-476)

Năm 518, có loạn Vương Tử Triều. Kính Vương chịu mất kinh đô, lui về Thành Chu (Hạ Chu) 30 dặm, phía đông huyện Lạc Dương (Hà Nam).

Năm 516, sau khi đã đánh đuổi được Vương Tử Triều, Kính Vương mới trở về được cố đô. Dẫu sao, Vương Tử Triều cũng đã thoán vị và xưng vương được một thời gian. (Cf. Variétés sinologiques No24, Synchronismes chinois par Mathieu Tchang SJ, nơi năm Quý Mùi 518.)

2- Các nước chư hầu xích mích, tranh chấp với nhau, nên thường có những trận giao binh:

Ví dụ: Tấn Sở tranh chấp về cương giới (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia).

Ngô đánh Trần.

Sở cứu Trần đánh Ngô.

Tề đánh nhau với Lỗ (LN VI, 13) (Ai Công 2) (năm 484).

Ngô đánh nhau với Việt (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia).

Thời đức Khổng chính là thời Ngô, Việt tranh nhau, là thời Hạp Lư (514-496), Phù Sai (495-473) và Câu Tiễn (498-465).

3- Nước Sở ở phía nam xa xôi hiểm trở, nên các vua đều xưng vương:

– Khang Vương (559-545)

– Hùng Quân (544-541)

– Linh Vương (540-529)

– Bình Vương (528-516)

– Chiêu Vương (515-489)

– Huệ Vương (488-436)

4- Nước nọ đôi khi bị nước kia tiêu diệt:

Trần bị Sở thôn tính năm 478 (xem Synchronismes chinois nơi các năm kể trên).

Tiết bị tàn vong vào năm 480.

Ngô bị tàn vong vào năm 473.

5- Các nước chư hầu không còn thần phục quyền nhà Chu như xưa.

Ngược lại, các vua chư hầu lại thường bị quyền thần nắm quyền.

Ví dụ nước Lỗ, trong các đời vua Tuyên Công, Thành Công, Tương Công, Chiêu Công, Định Công bị ba họ Quí, Mạnh, Thúc lấn quyền.

Ba họ này thoạt kỳ thủy là ba con vợ lẽ của Hoàn Công nước Lỗ (711- 699). Ba họ Mạnh, Quí, Thúc còn được gọi là Mạnh Tôn, Quí Tôn hay Trọng Tôn, và Thúc Tôn. (xem Legge, The Chinese Classics, T 1, p. 147 notes; xem Luận Ngữ Đoàn Trung Còn, các trang 261, 31, v.v…; xem Đông Chu Liệt Quốc Võ Minh Trí dịch, trang 932; xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia).

Nổi bật nhất là họ Quí với những:

– Quí Võ Tử (Quí Tôn Túc)

– Quí Bình Tử (Quí Tôn Ý Như)

– Quí Hoàn Tử (Quí Tôn Tư)

– Quí Khang Tử (Quí Tôn Phi) (LN II, 20; III, 1, 6; VI, 7; XI, 6; XII, 16- 18)

Rồi họ Mạnh với:

– Mạnh Ly Tử (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia)

– Mạnh Ý Tử (Mạnh Tôn Vô Kỵ: LN II, 5)

– Mạnh Võ Bá (LN II, 6; V, 7)

– Mạnh Trang Tử.

Họ Thúc với:

– Thúc Tôn Châu Cừu (xem Đông Chu Liệt Quốc Võ Minh Trí dịch, trang 932)

– Thúc Tôn Võ Thúc (LN XIX, 23)

Mội nhà quyền thần đều có thành, có ấp riêng; giao cho gia thần cai trị (thời ấy gọi là quan Tể):

– Họ Mạnh có ấp Thành, do Liễm Dương cai trị.

– Họ Thúc có ấp Hậu, do Nhược Diếu cai trị.

– Họ Quí có ấp Phí, giao cho Quí Sơn Phất Nhiễu (Quí Sơn Bất Nựu) và Dương Hổ cai trị. (xem Đông Chu Liệt Quốc Võ Minh Trí dịch, trang 922).

Ở nước Tấn thì có ba nhà Triệu (Triệu Ưởng), Ngụy, Hàn (LN XIV, 12) chuyên quyền…

Những quan đại phu lắm lúc coi mình như vua: Ngang nhiên lấy tiền thuế vua cho vào kho mình (LN XVI, 3), dùng lễ nhạc nhà Chu (LN III, 1, 2, 6).

Ngược lại, đại phu lại bị gia thần lũng đoạn. Đó là trường hợp Dương Hổ, gia thần của Quí Hoàn Tử. Dương Hổ đã có lần cùng Công Tôn Phất Nhiễu bắt giam Quí Hoàn Tử (xem LN XXII, 1, 5; Khổng Tử thế gia, năm Khổng Tử 50 tuổi, tức Định Công bát niên.)

6- Đời Xuân Thu, trong khoảng đời đức Khổng, nhìn vào liệt quốc, ta thấy những bộ mặt quen thuộc sau đây:

– Tề Cảnh Công với hai trung thần là thừa tướng Yến Anh (Yến Bình Trọng hay Yến Tử) và thượng tướng Điền Nhương Thư.

– Vệ Linh Công với bà vợ đa tình là Nam Tử, một mỹ nhân mà trước khi về với Vệ Linh Công đã từng dan díu duyên tơ với Công Tử Triều, một thanh niên nổi tiếng mỹ mạo ở nước Tống (LN VI, 14); với sủng thần xinh trai là Di Tử Hà; với những quan đại phu hóm hỉnh như Vương Tôn Giả (LN III, 13), trung trực như quan sử Ngư (LN XV, 6), quân tử như Cừ Bá Ngọc (LN XV, 6; XIV, 20).

– Trịnh Định Công với thừa tướng Tử Sản (Công Tôn Kiều), một người nổi tiếng là bác học (LN XIV, 10, 9).

– Sở Chiêu Vương với quan đại phu là Tử Tây (LN XIV, 10).

– Hạp Lư và Phù Sai với những Ngũ Tử Tư, Tôn Võ, Tây Thi.

– Câu Tiễn với Phạm Lãi, Văn Chủng.

Ta cũng không nên quên những nhân vật như Lão Tử ở Đông Chu; Sư Quyến thày đàn nước Vệ; Sư Quáng, thày đàn nước Tấn. (xem Đông Chu, hồi 68).

7- Thời Chu mạt là thời luân thường đảo lộn, vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, anh em chẳng ra anh em.

– Vua chúa thời nghĩ chuyện ăn chơi, hưởng thụ, hoặc chinh phạt lẫn nhau để tranh bá đồ vương, ưa xây cung cất điện, xây thành xây quách, hơn là xây dựng đạo lý, nhân luân.

– Tấn Bình Công xây cung Tê Kỳ ở gần Khúc Ốc (xem Đông Chu, trang 811).

– Sở Linh Vương xây cung Hoa Chương và cung Tế Yêu, rong chơi hưởng thụ cùng những mỹ nữ lưng ong thắt đáy. (xem Đông Chu, trang 811).

– Phù Sai xây Cô Tô đài để thơ mộng với Tây Thi. (xem Đông Chu, trang 960).

– Cha lấy tranh vợ con: như Bình Vương nước Sở lấy tranh nàng Mạnh Doanh, cô con dâu mà ông cưới về cho con là thái tử Kiến. (xem Đông Chu, trang 852).

– Con muốn giết mẹ: Thái tử Khoái Hội nước Vệ toan ám sát mẹ là nàng Nam Tử, vì dan díu với công tử Triều nước Tống.

– Cha con cự địch lẫn nhau để tranh cướp ngôi báu: công tử Triếp tức là Vệ Xuất Công cực địch với cha là Khoái Hội tức là Vệ Trang Công sau này. Vụ tranh chấp này làm cho Tử Lộ chết bất đắc kỳ tử. (xem Đông Chu, trang 977- 978).

– Anh em giết chóc lẫn nhau: Hoàn Công nước Tề giết em là công tử Củ (LN XIV, 18). Hạp Lư nước Ngô, nhờ tay Chuyên Chư, tặng anh mình là Vương Liêu một nhát gươm chủy thủ vào lưng.

– Thần dân rước voi về dầy mồ: như Ngũ Tử Tư, vì báo thù cha, đã đem binh Ngô về đánh tan nát nước Sở là quê hương của mình. (xem Đông Chu, trang 900- 908).

– Bày tôi đánh đuổi vua: Ba họ Quí, Mạnh, Thúc hợp nhau đánh đuổi Lỗ Chiêu Công, làm cho Lỗ Chiêu Công phải lưu vong sang đất Kiền Hầu nước Tề cho đến chết. (xem Khổng Tử thế gia, năm Khổng Tử 35 tuổi).

– Bày tôi giết vua: Thôi Tử giết Tề Trang Công (553- 548) (LN XIV, 22); Trần Thành Tử giết Tề Giản Công (484- 481) (LN XIV, 22); Công Tôn Phiên bắn chết Thái Chiêu Công (518- 491) (xem Khổng Tử thế gia, năm Khổng Tử 61 tuổi).

Có thể nói được rằng thời Xuân Thu, Chu mạt, người ta không còn biết con người sinh ra đời để làm gì, và cũng chẳng còn tôn trọng sinh mạng con người. Người ta giết nhau như bỡn, tự tử như chơi.

Ông lái đò, cũng như cô gái sông Lô, đã tự tử vì cái khí tiết không đâu, sau khi đã giúp Ngũ Tử Tư qua sông, hay đã biếu Tử Tư một nắm cơm. Mạc Gia cam tâm nhảy vào lò để đúc nên đôi kiếm Can Tương, Mạc Gia. (xem Đông Chu, trang 884).

Sừ Sư tham vàng, giết hai con lấy huyết bôi vào sắt, để đúc hai vòng kim câu dâng cho Hạp Lư (xem Đông Chu, trang 885)…

Giữa thời buổi nhiễu nhương, tao loạn, cương thường điên đảo ấy, đức Khổng ra đời, đem đuốc chân lý soi cho nhân thế…

*******************     

Chương 3

Tiểu sử đức Khổng:

Giữa lúc thiên hạ đang quay cuồng trong khói lửa, con người thả lỏng lòng tham, đem kinh hoàng gieo rắc khắp nơi, thì đức Khổng ra đời, đem lại cho nhân quần một ý nghĩa mới mẻ về cuộc đời: Sống để thực hiện lý tưởng, để tiến tới hoàn thiện và một viễn tượng hòa bình xây dựng trên nền móng cải thiện nhân tâm, trật tự, hòa hợp.

Ngài sinh năm Canh Tuất, 551 trước kỷ nguyên, năm 21 đời Linh Vương nhà Chu, năm 22 đời Tương Công nước Lỗ, vào khoảng cuối đời Hồng Bàng, đồng thời với các tiên tri Ezechiel, Daniel bên Do Thái, triết gia Zoroastre bên Ba Tư, Pythagore và Solon bên Hi Lạp, đức Phật bên Ấn Độ, Lão Tử bên Trung Hoa.

Ngài sinh tại làng Xương Bình, ấp Trâu, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ. Cha là Thúc Lương Ngột, mẹ là Nhan Trưng Tại (Nhan thị). Ngài họ Khổng, tên Khâu, tự Trọng Ni; người đời sau xưng Khổng Tử hay Khổng Phu Tử.

Ngài xuất thân từ một gia đình bần bách, lại mồ côi cha từ tấm bé, nên biết nhiều nghề, đảm đang, tháo vát (LN IX, 2, 6).

Ngài có tầm vóc cao lớn (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia) nên tuy sống một cuộc đời rất hoạt động, nhiều khi lại còn phong trần vất vả, mà vẫn khang kiện như thường. Có lẽ cả đời Ngài chỉ đau nặng một lần. (LN VII, 34; IX, 11; X, 13). Về phương diện tâm thần, Ngài:

– Thông minh hiếu học (LN VII, 19, 33).
– Say sưa nghệ thuật và lý tưởng (LN VII, 13, 16, 18, 19).
– Khiêm cung (LN VII, 1, 3, 5, 28, 32, 33; IX, 7; XIV, 30; MT Công Tôn Suu3 thượng, 2).
– Lễ độ (LN III, 12; IX, 15, 16; X, 1- 7, 11- 14).
– Nghiêm trang, hòa nhã (LN VII, 37).
– Luôn luôn cẩn trọng (LN X, 11; X, 6, 7) (MT Vạn Chương thượng, 8).
– Luôn luôn ở ăn theo đúng luật Trời (LN X, 8, 9) (MT Cáo Tử thượng 6; Ly Lâu thượng 18).
– Tùy thời xử thế (MT Vạn Chương hạ, 1, 4).
– Có niềm tin tưởng vững mạnh vào sứ mạng mà Thượng Đế giao phó cho Ngài (LN VII, 22; IX, 15).
– Thẳng tiến trên con đường hoàn thiện. (LN IX, 18; XIV, 37) để sau cùng:
– Thung dung Trung Đạo (LN II, 4; IX, 4; XIII, 21) (MT Tận Tâm hạ 7, 38) (Trung Dung XXX, XXXI).

Cuộc đời Ngài đã được mô tả đầy đủ trong Sử Ký Tư Mã Thiên. Đây xin tóm thành bốn thời kỳ:

1- Thời kỳ thơ ấu và tráng niên: Từ 1 đến 30 tuổi: Thời kỳ côi cút, nghèo nàn, hay làm, ham học.
2- Thời kỳ trưởng thành: Từ 30 đến 50 tuổi: Thời kỳ lập chí học đạo, sang Chu, sang Tề khảo sát phong tục, lễ nhạc, nghiên cứu sách vở tiền nhân.
3- Thời kỳ giảng giáo bằng phương pháp chính trị: Từ 50 đến 68.
– hoặc chấp chánh tại Lỗ (50- 55 tuổi)
– hoặc chu du thiên hạ (55- 68)

4- Thời kỳ giảng giáo bằng phương pháp giảng dạy, giáo dục môn đệ và trước tác: Từ 68 đến 73.

Hai thời kỳ sau là thời kỳ quan trọng, ta sẽ lược khảo.

Đức Khổng nói: «Ngũ thập tri thiên mệnh» tức là 50 tuổi mới biết rõ về định mệnh con người, mới tìm ra được chân lý, chân đạo, nên từ đó ta thấy Ngài trở nên hoạt động phi thường. Cũng có lúc làm quan nước Lỗ, từ chức Trung Đô Tể đến chức Nhiếp Tướng Sự, hết lòng đem đạo giáo dạy dân, cảnh thái thịnh hòa bình, trật tự, bầu không khí đạo giáo dần dần bao trùm nước Lỗ. Nhưng sau vua Lỗ mắc kế mỹ nhân của Tề Cảnh Công, đâm mê say nữ sắc. Ngài liền bỏ đi du thuyết các nước, lúc đó đã 56 tuổi.

Ngài mỏi chân đi lại nhiều nước trong khắp vùng bình nguyên Hoàng Hà, Dương Tử; Bắc thì lên đến sông Hoàng Hà giáp địa phận nước Tấn; Nam thì tiến đến nước Thái, nước Sở, mà không vua nào chịu dùng. Trên con đường rao truyền đạo lý, Ngài đã gặp biết bao gian khổ:

– Bị vây ở đất Khuông (LN IX, 5; XI, 22).
– Bị mưu sát ở Tống (LN VII, 22; MT, Vạn Chương thượng 8).
– Thầy trò lạc nhau ở Trịnh.
– Bị cản trở ở đất Bồ.
– Bị bao vây đến tuyệt lương ở giữa nước Trần, nước Thái (LN XI, 2; XV, 1; MT Tận tâm hạ 18).

Nếm biết bao mùi vị đắng cay của thất bại:

– Vua chúa lừng khừng không chịu nghe (LN XV, 1; XVIII, 3).
– Quần thần gièm pha mưu hại (LN VII, 22).
– Các ẩn sĩ chê bai (LN XVI, 42; XVII, 5; XVIII, 5).

Thật là: «Bình sinh phong vũ lăng tằng thậm», đời phong sương luống trải mấy gió mưa…
Nhưng gian lao là trường rèn luyện chí khí: Ta có thể bình luận quãng đời phong trần của đức Khổng bằng những lời văn của Mạnh Tử:

«Trời kia khi sắp trao ai nhiệm vụ lớn, tất trước làm cho khổ chí, nhọc gân cốt, đói thể xác, cùng túng cái thân, động làm gì thì làm cho trái loạn ý mình muốn. Trời khiến thế, là để khích động cái tâm, kiên nhẫn cái tánh, bổ khuyết những chỗ còn sơ suất.» (MT Cáo Tử hạ 15).

Năm Ngài 68 tuổi, Quí Khang Tử nước Lỗ thay mặt vua Ai Công cho mời Ngài về. Ngài về cố quốc sau 13 năm phiêu bạt, thật là:

Ta từ viễn xứ trở về,
Chân trời vẫn dáng mây thề năm xưa.
Dòng sông nước vẫn lờ đờ,
Con đò năm trước bây giờ thay mui.
Gió qua sóng vỗ tay cười,
Sao lay động, nguyệt chìm xuôi theo dòng.
Trăng chưa vàng giấc mộng lòng,
Non xanh chưa hẹn thành công với đời.
Đã lâu trăng lạ nước người,
Ngàn thiêng nước độc, phương trời một ta.
Bụi đường ố áo hào hoa,
Mây lìa xa tóc, màu da hôn hoàng.
(Nhất Sơn – Vũ Quang Hân)

Ngài đã già… Ngài về Lỗ không phải để dự quốc chính nữa, mà là để truyền đạo bằng cách dạy học và đồng thời khảo sát, san định kinh điển. Ngài hoạt động vô cùng:

– Khảo sát nghi lễ của ba đời Hạ, Thương, Chu.
– Khảo sát lý thuyết về nhạc và chia nhạc thành hai loại: Nhã (musique sacrée; hymne sacré), Tụng (musique classique).
– San định Kinh Thi.
– San định Kinh Thư và muốn phục hồi nền vương đạo chân chính.
– Khảo cứu Kinh Dịch.
– Viết Xuân Thu, tức là cuốn sử ký đầu tiên có niên hiệu mạch lạc từ đời Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công 14, gồm 240 năm (từ 721 đến 481 trước Tây lịch).

Năm Nhâm Tuất, 479 trước Tây lịch, một hôm Ngài dậy sớm đi tiêu dao trước cửa, tay chống gậy mà hát: «Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, triết nhân kỳ nuy hồ.» (Ôi non Thái bạt ngàn, lương mộc nát tan, triết nhân suy tàn.)

Hát xong Ngài vào ngồi giữa cửa. Tử Cống đến. Ngài kể chuyện chiêm bao sắp chết. Được mấy hôm thì mất, thọ 73 tuổi. Mộ Ngài hiện nay ở Khổng lâm thuộc huyện Khúc Phụ, Sơn Đông.

Tư Mã Thiên sau khi thuật sự tích đức Khổng có phê bình:

«Tôi đọc sách họ Khổng, tưởng tượng như trông thấy cách làm người của Thầy. Sang Lỗ xem nhà thờ Trọng Ni, nào xe, nào áo, nào đồ thờ; các học trò thời thường tới đó tập lễ. Tôi bồi hồi ở lại không dứt ra về được. Trong đời, vua chúa cho đến người tài giỏi nhiều lắm; sống thì vẻ vang nhưng chết rồi thì hết. Thầy Khổng áo vải truyền hơn mười đời mà học giả vẫn tôn trọng. Từ thiên tử đến vương hầu ở Trung Quốc này, hỏi đến sáu kinh, đều phải lấy Thầy làm chuẩn đích. Thật là bậc chí thánh vậy.» (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia, bản dịch Nhượng Tống). Câu trên tuy là cảm tưởng, nhưng cũng là tổng luận về thân thế, sự nghiệp đức Khổng.

Nếu cần thêm, thiết tưởng chỉ nên dẫn chứng câu của Nhiễm Hữu, môn đệ Ngài:

«Đạo Ngài để truyền bá cho quần chúng trăm họ. Nếu muốn Đạo ấy thực hiện mà dùng Ngài, Ngài sẽ tận tâm hành đạo mà không màng đến lợi phong ấp ngàn xã.» (Dụng chi hữu danh, bá chi bách tính… Cầu chi ư thử Đạo, tuy lụy thiên xã, phu tử bất lợi dã…) (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia). Đạo ấy là Đạo gì mà làm cho Ngài mê say đến quên cả danh lợi, chúng ta sẽ lần lượt khảo sát… Để tiện bề khảo cứu, xin kèm theo đây hai đồ biểu:

a.- Gia phả đức Khổng

b.- Tiểu sử đức Khổng với những niên kỷ, sử tích và các đoạn Tứ Thư có liên hệ.

GIA PHẢ ĐỨC KHỔNG

1- Vi Tử (em Trụ Vương 1191- 1154) được Võ Vương phong làm Tống hầu.
2- ?
3- ?
4- Tống Mẫn Công (935- 909); em Tống Dương Công (908- 893)
5- Tống Dương Công; Phất Phụ hà; Phòng Kỷ giết Dương Công, lên ngôi hiệu lệ Công (893- 859).
6- Tống Phụ Châu.
7- Thế tử Thắng.
8- Chính Khảo Phủ (sử gia, văn gia đời các vua Tống Đái Công (799- 766), Tống Vũ Công (765- 748), Tống Tuyên Công (747- 729).
9- Khổng Phụ Gia…?

Khổng Phụ Gia làm tư mã đời Tống Mục Công (728- 720), Tống Trang Công (719- 710). Khổng Phụ Gia có bà vợ rất xinh đẹp là Ngụy Thị. Quan Thái tể nước Tống là Hoa Đốc, trông thấy đâm mê mẩn, sinh lòng muốn chiếm đoạt, bèn âm mưu giết Khổng Phụ Gia. Bà Ngụy Thị bị Hoa Đốc bắt, giữa đường tuẫn tiết theo chồng.

10- Mộc Kim Phụ (còn bé, được gia thần bế trốn sang Lỗ).
11- Kỳ Phụ Cao Di.
12- Khổng Phòng Thúc (nhiều người cho rằng mãi tới đời Khổng Phòng Thúc mới chạy sang Lỗ. Thuyết này không đúng, vì lúc ấy dòng họ Hoa đã sa sút.
13- Bá Hạ.
14- Thúc Lương Ngột (làm quan tể ấp Tưu (Trâu). Thúc Lương Ngột năm 70 lấy bà Nhan Trưng Thị. Vợ chồng đi cầu đảo ở Ni Sơn, sinh ra Ngài).

TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG

NĂM

THIÊN HẠ SỰ

TUỔI

TÍCH SỰ

551 (Canh Tuất)

Linh Vương năm 21.

Lỗ Tương Công năm 22

Khổng Tử sinh

Ngài sinh tại làng Xương
Bình, ấp Trâu, huyện Khúc Phụ. Cha
là Thúc Lương Ngột. Mẹ là Nhan Thị.

549

 

3 t

Cha chết, chôn ở Phòng Sơn

546

 

6 t

Còn bé, Ngài thích
chơi trò «trở đậu» (tế lễ)

537

Lỗ Chiêu Công năm 5

15 t

Lập chí học hành (LN II, 4)

533

 

19 t

Lấy bà Khiên Thị nước Tống.

532

 

20 t

Sinh Bá Ngư tên Lý.[2]

532

 

20 t

Làm Ủy Lại (giữ kho) cho họ Quí
Thị.

Làm Thặng điền (coi cừu và
bò) (xem MT Vạn Chương hạ 5).

530

 

22 t

Bắt đầu dạy học.[3]

527

 

25 t

Mẹ chết, chôn ở gần đường Ngũ Phụ; sau
đem cải táng về cạnh mộ cha ở Phòng Sơn,
phía Đông nước Lỗ (Lễ Ký II,
Đàn Cung).[4]

523

 

29 t

Học đàn với Sư Tương, nước Lỗ (xem
Xuân Thu, Chiêu Công 19).

 

B- Thời kỳ trưởng
thành, lập chí học Đạo, sang Châu, sang Tề
khảo sát lễ nhạc, nghiên cứu cổ sử, cổ
tích (30- 50 tuổi) – (522- 502).

 

NĂM

THIÊN

HẠ SỰ

TUỔI

TÍCH

SỰ

522

Lỗ
Chiêu Công

30 t

Lập
chí học đạo (LN II, 4)

518

Bình
Vương I

Chiêu
Công 24

34 t

Nhờ nam Cung
Kính Thúc đề bạt, Lỗ Chiêu
Công cấp phương tiện cho đức Khổng sang Lạc Dương
(Châu) khảo về lễ nghi, thư tịch. Ở Châu
Ngài gặp Lão Tử, nhạc sĩ Trành
Hoằng. Sau đó về Lỗ dạy học.

517

Quí
Bình Tử đánh đuổi Chiêu Công;
Chiêu Công trốn sang Tề ở Kiền hầu cho đến
chết.

35 t

Sang Tề, học
nhạc Thiều (LN VII, 13), bàn bạc chính trị
với Tề Cảnh Công (LN XII, 11). Cảnh Công
định tiếp Ngài theo hàng đại phu (LN
XVIII, 3); lại định cắt đất Ni Khê phong cho
Ngài. Án Anh can, nên Tề Cảnh
Công lại thôi (LN XVIII, 3).

516

 

36 t

Đức Khổng trở
về Lỗ (LN XVIII, 3). Ở Lỗ gần 15 năm, đến 50 mới tham
chính.

510

 

42 t

– Dạy học
(xem Khổng Tử thánh tích, trang 78).

– Dạy
Bá Ngư (LN XVI, 13; LN XVII, 10).

– Trước
tác (xem Khổng Tử thánh tích, trang
78).

505

Định
Công 5

47 t

Hội kiến với
Quí Hoàn Tử. Giải thích về con phần
dương. Đức Khổng không ra tham chính,
vì lúc ấy Dương Hổ thao túng quyền
chính, có lần bắt giam cả Quí
Hoàn Tử. Dương Hổ muốn dụ đức Khổng ra làm
quan theo phe mình. Đức Khổng không chịu
(LN XVII, 1; MT V, 13). Dương Hổ làm loạn, định
giết Hoàn Tử; không thành, trốn sang
Tề.

502

Định
Công 8

50 t

Công
Sơn Phất Nhiễu chiếm đất Phí, làm loạn,
muốn mời đức Khổng, Ngài không đi (LN XII,
5).

 

C- Thời kỳ chấp
chính ở Lỗ (50- 55 tuổi) – (502- 497).

 

NĂM

THIÊN

HẠ SỰ

TUỔI

TÍCH

SỰ

502

Định
Công 8

50 t

Định
Công mời đức Khổng làm Trung Đô Tể
(quan coi ấp Trung Đô).

501

Định
Công 9

51 t

Thăng chức Tư
Không. Đồng thời Tử Lộ, Tử Du cũng ra làm
quan với họ Quí.

500

Định
Công 10

52 t

Phò
Định Công đi phó hội Giáp Cốc với Tề
Cảnh Công, đuổi bọn vũ công người mọi lai
Giả, chém phường tuồng của lê Di, khiến cho
Định Công thoát hiểm. Tế Cảnh Công tạ
lỗi bằng cách trả lại Lỗ ba xứ Hoan, vân,
và Qui Âm.

Luận về chim
Thương Dương và cho rằng Thương Dương múa
là điềm mưa lớn. (xem Xuân Thu, Định
Công 10; hội Giáp Cốc).

498

Định
Công 12

54 t

Tập trung
quyền chính vào tay Định Công, bằng
cách đề nghị phá ba ấp Phí, Hậu,
Thành của ba họ Quí, Mạnh, Thúc.
Nhưng chỉ phá được Phí và Hậu,
còn ấp Thành thì Công Liễm
Dương không cho phá (xem Xuân Thu,
Định Công 12). Quí Sơn Bất Nữu (Phất Nhiễu)
quan tể ấp Phí làm loạn. Thất bại, trốn
sang Ngô (Xuân Thu, Định Công 12). Đức
Khổng được phong chức Nhiếp Tướng Sự. Giết Thiếu
Chính Mão ở cửa Lưỡng Quan. Nước Lỗ dần
dà trở nên có trật tự, thịnh vượng.

497

Định
Công 13, Tề Hầu dâng nữ sắc.

 

Đức Khổng
thấy Định Công và Quí Hoàn
mê nữ sắc, ba ngày không ra thiết
triều, liền viện cớ thất thố, không chia thịt tế
cho các quan ngày lễ Giao, từ quan bỏ Lỗ,
sang Vệ (LN XIII, 9; XII, 6; XIV, 17).

 

D- Thời kỳ chu du liệt
quốc, phiêu bạt, giang hồ (55- 68 tuổi) – (497- 484).

 

NĂM

THIÊN

HẠ SỰ

TUỔI

TÍCH

SỰ

497

Định
Công 13

55 t

Sang Vệ. Đi
qua đất Nghi (LN III, 24). Sang Vệ (LN XIII, 9) ở
nhà Nhan Thù. Vệ Linh Công mới đầu
cũng trợ cấp 60.000 thùng gạo như bên Lỗ.
Sau lại sai Công Tôn Cổ tới nhà, ra
ý dọa nạt. Đức Khổng bèn bỏ đi, sau 10
tháng ở Vệ. Muốn sang Trần, nhưng đi qua
Khuông, bị người đất Khuông nhận lầm
là Dương Hổ, nên bao vây. (LN IX, 5;
XI, 22).

496

Định
Công 14

56 t

Sang Bồ ở một
tháng. Gặp lúc Công Thúc Thị
(Công Thúc Tuất) nổi loạn chống với
bè của Nam Tử nên bao vây đức Khổng,
không cho trở về Vệ. Đệ tử là Công
Lương Nhụ liều chết chống lại mới giải được vây.

Về Vệ, ở
nhà Cao Cừ Ngọc. Nam Tử vời vào yết kiến
(LN VI, 26). Tháp tùng vệ Linh Công
và Nam Tử đi dạo phố. (LN IX, 17; XIII, 10). Đức
Khổng tủi lòng bỏ sang Tào.

495

Định
Công 15

(Định
Công chết)

57 t

Bỏ Vệ sang
Tào.

Bỏ Tào
sang Tống.

494

Ai Công
1

(Phù
Sai đánh Việt ở Cối Kê, phá
thành Cối kê, tìm được xương người
khổng lồ; cho sứ hỏi đức Khổng. Ngô đánh
Trần, Tấn, Sở. Ngô quấy Trần.)

58 t

Ở Tống gặp
nạn Hoàn Khôi. Hoàn Khôi đốn
cây cho đổ, để đè chết đức Khổng và
môn đệ. Sau lại đón đường giết. Thày
trò phải cải trang, trốn sang Trịnh (LN VII, 22;
MT Vạn Chương thượng 8). Thày trò lạc nhau
ở Trịnh. Sang Trần ở nhà Tư Thành Trinh
Tử.

– Đức Khổng
luận về người khổng lồ Phòng Phong.

– Luận về mũi
tên gỗ Hộ có đầu bịt đá của rợ
Túc Thân.

493

Ai Công
2

59 t

Đức Khổng
muốn trở về Lỗ (LN V, 21)

Nhưng lại
sang VệVề Vệ: Phật bật làm loạn ở Trung Mâu
(Tấn), mời đức Khổng. Ngài muốn đi, sau lại
thôi.

Nhàn
cư ở Vệ, học đánh khánh với Sư Tương (LN
XIV, 42). Đ sang Tấn định gặp Triệu Ưởng. Đến sông
Hoàng Hà nghe tin Triệu Ưởng giết hại hiền
thần là Đậu Minh Độc và Thuần Hoa,
nên lại trở về.

Về Vệ, ở
nhà Cao Cừ Ngọc.

Vệ Linh
Công vấn trận. Đức Khổng thoái thác.
Vệ Linh Công coi thường đức Khổng, ngó
lên trời xem chim nhạn bay thay vì
bàn bạc. Đức Khổng bỏ sang Trần. Năm ấy Vệ Linh
Công chết. (LN XV, 1)

492

Ai Công
3

Vệ Xuất
Công với cha là Khoái Hội tranh
ngôi. Quí Khang Tử lên thay
Quí Hoàn Tử.

60 t

Quí
Khang Tử thay vì nghe lời di chúc của cha
là Quí Hoàn Tử là mời Khổng
Tử, lại mời Nhiễm Hữu.

491

Ai Công
4

Thái
Chiêu Công bị bắn chết. Thái đầu
Ngô. Một số dân Thái bị di cư sang
đất Sở.

61 t

Từ Trần sang
Thái.

490

Ai Công
5

Tề Cảnh
Công chết

62 t

Từ
Thái qua Diệp. Diệp Công (Trần Chư Lương)
hỏi Ngài về chính trị. (LN VII, 18; XIII,
16, 18). Từ Diệp về Thái, giữa đường gs85p
Tràng Thư, Kiệt Nịch (LN XVIII, 5). Ở
Thái.

489

Ai Công
6

Mùa hạ
489 Sở Vương mất ở Thành Phụ.

63 t

(Ngô
đánh Trần. Sở cứu Trần, đem quân đến
Thành Phụ). Vua Sở bắt được một thứ quả lạ, đem
hỏi đức Khổng. Đáp: đó là quả
bèo. Vua Sở mời Ngài. Ngài toan đi
hội kiến. Đại phu hai nước Trần, Thái sợ, đem
quân vây Ngài ở cánh đồng giữa
Trần và Thái. Tuyệt lương. (xem LNXI, 2;
XV, 1; MT Tận Tâm hạ 18). Sở Vương cứu. Muốn đem
đất Thư Xã 100 dặm dâng cho Ngài. Tử
Tây can. Gặp Sở Cuồng là Tiếp Dư (LN XVIII,
5).

Ở Sở về vệ,
không tham chính vì Vệ loạn. Hai cha
con Khoái Hội và Xuất Công tranh
ngôi với nhau (LN VII, 14).

Khổng Tử
bàn về thuyết chính danh (LN XIII, 3).

485

Ai Công
10

67 t

Vợ
Ngài là bà Khiên Quan Thị
mất.

484

Ai Công
11

Tề Lỗ
đánh nhau ở lang. Nhiễm Hữu thắng.

68 t

Quí
Khang Tử sai Công Hoa, Công Tân,
Lâm đi mời đức Khổng trở về Lỗ.

 

E- Thời kỳ trước
tác, giảng học ở Lỗ (68- 73 tuổi) – (484- 479).

 

NĂM

THIÊN

HẠ SỰ

TUỔI

TÍCH

SỰ

484

Ai Công
11

68 t

Về Lỗ.
Bàn về chính trị với Ai Công (LN II,
19; TD XIX) và với Quí Khang Tử (LN XII,
17, 18, 19; XII, 24).

Soạn Thi,
Thư, Lễ, Nhạc (LN VII, 17; IX, 14).

Bàn về
nhạc với thái sư nước Lỗ (LN III, 23).

Khảo Kinh
Dịch (LN VII, 16).

Viết
Xuân Thu (MT Đằng Văn Công hạ 9).

Dạy học
trò, văn, hạnh, trung, tín (LN VII, 24).

Cư xử với mọi
người lịch sự, chu đáo (LN X).

Tiến
mãi trên đường nhân nẻo đức (LN IX,
4).

Bá Ngư
chết

482

Ai Công
14. Tề Giản Công bị Trần Hằng giết. (Nhật thực,
sao chổi).

71 t

Họ
Thúc bắt được kỳ lân ở huyện Gia Tường (LN
IX, 8; Xuân Thu, Ai Công XIV). Nhan Hồi chết
(LN XI, 7, 8, 9, 10).

Khổng Tử
bàn phạt Tề (LN XIV, 22).

Mạnh Ý
Tử chết.

Những
câu Luận Ngữ có thể nói trong thời
kỳ này: LN XIV, 37; XV, 18, 19; XVIII, 8).

Xuân
Thu đến đây ngừng.

481

Ai Công
15

72 t

Tử Lộ chết ở
Vệ, bị phe Khoái Hội xả thịt, làm thịt
ngâm giấm. Khổng Tử khóc thương như con.
(Lễ Ký, Đàn Cung II, 7)

479

Ai Công
17 (Nhâm Tuất)

73 t

Đức Khổng mất
ngày 18/2, táng ở Khổng Lâm

A- Thời kỳ thơ ấu và tráng niên, từ 1 đến 30 tuổi.
B- Thời kỳ trưởng thành, lập chí học Đạo, sang Châu, sang Tề khảo sát lễ nhạc, nghiên cứu cổ sử, cổ tích (30- 50).
C- Thời kỳ chấp chính ở Lỗ (50- 55).
D- Thời kỳ chu du phiêu bạt (55- 68).
E- Thời kỳ trước tác, giảng học ở Lỗ (68- 73).

A- Thời kỳ thơ ấu và tráng niên (1- 30 tuổi).

Thời kỳ thơ ấu và tráng niên (1- 30 tuổi).

NĂM THIÊN HẠ SỰ TUỔI TÍCH SỰ
551,
(Canh Tuất) Linh Vương năm 21. Khổng Tử sinh “Ngài sinh tại làng Xương Bình, ấp Trâu,
huyện Khúc Phụ.
Cha là Thúc Lương Ngột. Mẹ là Nhan Thị.”
Lỗ Tương Công năm 22
549 3 t “Cha chết, chôn ở Phòng Sơn”
546 6 t “Còn bé, Ngài thích chơi trò «trở đậu» (tế lễ)”
537 Lỗ Chiêu Công năm 5 15 t “Lập chí học hành (LN II, 4)”
533 19 t Lấy bà Khiên Thị nước Tống.
532 20 t Sinh Bá Ngư tên Lý.[2]
532 20 t Làm Ủy Lại (giữ kho) cho họ Quí Thị.
Làm Thặng điền (coi cừu và bò)
(xem MT Vạn Chương hạ 5).
530 22 t Bắt đầu dạy học.[3]
527 25 t “Mẹ chết, chôn ở gần đường Ngũ Phụ;
sau đem cải táng về cạnh mộ cha ở Phòng Sơn,
phía Đông nước Lỗ (Lễ Ký II, Đàn Cung).[4]”
523 29 t “Học đàn với Sư Tương, nước Lỗ (xem Xuân Thu,
Chiêu Công 19).”

B- Thời kỳ trưởng thành, lập chí học Đạo, sang Châu, sang Tề khảo sát lễ nhạc, nghiên cứu cổ sử, cổ tích (30- 50 tuổi) – (522- 502).


NĂM THIÊN HẠ SỰ TUỔI TÍCH SỰ
522 Lỗ Chiêu Công 30 t “Lập chí học đạo (LN II, 4)”

518 Bình Vương I,
Chiêu Công 24 34 t “Nhờ nam Cung Kính Thúc đề bạt,
Lỗ Chiêu Công cấp phương tiện cho
đức Khổng sang Lạc Dương (Châu)
khảo về lễ nghi, thư tịch.
Ở Châu Ngài gặp Lão Tử, nhạc sĩ Trành Hoằng.
Sau đó về Lỗ dạy học”.

517 Quí Bình Tử đánh
đuổi Chiêu Công;
Chiêu Công trốn
sang Tề ở Kiền
hầu cho đến chết. 35 t “Sang Tề, học nhạc Thiều (LN VII, 13),
bàn bạc chính trị với Tề Cảnh Công (LN XII, 11).
Cảnh Công định tiếp Ngài theo hàng đại phu
(LN XVIII, 3);
lại định cắt đất Ni Khê phong cho Ngài.
Án Anh can, nên Tề Cảnh Công lại thôi
(LN XVIII, 3)”.

516 36 t “Đức Khổng trở về Lỗ (LN XVIII, 3).
Ở Lỗ gần 15 năm,
đến 50 mới tham chính.”

510 42 t “- Dạy học (xem Khổng Tử thánh tích, trang 78).”
“- Dạy Bá Ngư (LN XVI, 13; LN XVII, 10).”
“- Trước tác (xem Khổng Tử thánh tích, trang 78).”

505 Định Công 5 47 t “Hội kiến với Quí Hoàn Tử.
Giải thích về con phần dương.
Đức Khổng không ra tham chính,
vì lúc ấy Dương Hổ thao túng quyền chính,
có lần bắt giam cả Quí Hoàn Tử.
Dương Hổ muốn dụ đức Khổng ra làm quan theo phe mình.
Đức Khổng không chịu (LN XVII, 1; MT V, 13).
Dương Hổ làm loạn, định giết Hoàn Tử;
không thành, trốn sang Tề.”

502 Định Công 8 50 t “Công Sơn Phất Nhiễu chiếm đất Phí, làm loạn,
muốn mời đức Khổng, Ngài không đi (LN XII, 5)”.

C- Thời kỳ chấp chính ở Lỗ (50- 55 tuổi) – (502- 497).


NĂM THIÊN HẠ SỰ TUỔI TÍCH SỰ
502 Định Công 8 50 t Định Công mời đức Khổng làm Trung Đô Tể
(quan coi ấp Trung Đô).

501 Định Công 9 51 t “Thăng chức Tư Không. Đồng thời Tử Lộ,
Tử Du cũng ra làm quan với họ Quí.”

500 Định Công 10 52 t “Phò Định Công đi phó hội Giáp Cốc với Tề Cảnh Công,
đuổi bọn vũ công người mọi lai Giả,
chém phường tuồng của Lê Di,
khiến cho Định Công thoát hiểm.
Tế Cảnh Công tạ lỗi bằng cách trả lại Lỗ ba xứ Hoan,
vân, và Qui Âm.”
“Luận về chim Thương Dương
và cho rằng Thương Dương múa là điềm mưa lớn.
(xem Xuân Thu, Định Công 10; hội Giáp Cốc).”

498 Định Công 12 54 t “Tập trung quyền chính vào tay Định Công,
bằng cách đề nghị phá ba ấp Phí, Hậu,
Thành của ba họ Quí, Mạnh, Thúc.
Nhưng chỉ phá được Phí và Hậu,
còn ấp Thành thì Công Liễm Dương không cho phá
(xem Xuân Thu, Định Công 12).
Quí Sơn Bất Nữu (Phất Nhiễu)
quan tể ấp Phí làm loạn.
Thất bại, trốn sang Ngô
(Xuân Thu, Định Công 12).
Đức Khổng được phong chức Nhiếp Tướng Sự.
Giết Thiếu Chính Mão ở cửa Lưỡng Quan.
Nước Lỗ dần dà trở nên có trật tự, thịnh vượng.”

497 “Định Công 13,
Tề Hầu dâng nữ sắc.” “Đức Khổng thấy Định Công và Quí Hoàn mê nữ sắc,
ba ngày không ra thiết triều,
liền viện cớ thất thố,
không chia thịt tế cho các quan ngày lễ Giao,
từ quan bỏ Lỗ, sang Vệ
(LN XIII, 9; XII, 6; XIV, 17)”.

D- Thời kỳ chu du liệt quốc, phiêu bạt, giang hồ (55- 68 tuổi) – (497- 484).


NĂM THIÊN HẠ SỰ TUỔI TÍCH SỰ
497 Định Công 13 55 t “Sang Vệ. Đi qua đất Nghi (LN III, 24).
Sang Vệ (LN XIII, 9) ở nhà Nhan Thù.
Vệ Linh Công mới đầu cũng trợ
cấp 60.000 thùng gạo như bên Lỗ.
Sau lại sai Công Tôn Cổ tới nhà,
ra ý dọa nạt.
Đức Khổng bèn bỏ đi, sau 10 tháng ở Vệ.
Muốn sang Trần, nhưng đi qua Khuông,
bị người đất Khuông nhận lầm là Dương Hổ,
nên bao vây. (LN IX, 5; XI, 22).”

496 Định Công 14 56 t “Sang Bồ ở một tháng. Gặp lúc Công Thúc Thị
(Công Thúc Tuất)
nổi loạn chống với bè của Nam Tử nên bao vây đức Khổng,
không cho trở về Vệ.
Đệ tử là Công Lương Nhụ liều chết chống lại mới giải được vây.”
“Về Vệ, ở nhà Cao Cừ Ngọc.
Nam Tử vời vào yết kiến (LN VI, 26).
Tháp tùng vệ Linh Công và Nam Tử đi dạo phố.
(LN IX, 17; XIII, 10).
Đức Khổng tủi lòng bỏ sang Tào.”

495 Định Công 15 57 t Bỏ Vệ sang Tào.
(Định Công chết) Bỏ Tào sang Tống.

494 Ai Công 1,
(Phù Sai đánh Việt ở Cối Kê,
phá thành Cối kê,
tìm được xương người khổng lồ;
cho sứ hỏi đức Khổng.
Ngô đánh Trần, Tấn, Sở.
Ngô quấy Trần.)” 58 t “Ở Tống gặp nạn Hoàn Khôi. Hoàn Khôi đốn cây cho đổ,
để đè chết đức Khổng và môn đệ.
Sau lại đón đường giết. Thầy trò phải cải trang,
trốn sang Trịnh (LN VII, 22;
MT Vạn Chương thượng 8). Thầy trò lạc nhau ở Trịnh.
Sang Trần ở nhà Tư Thành Trinh Tử.”
– Đức Khổng luận về người khổng lồ Phòng Phong.
– Luận về mũi tên gỗ Hộ có đầu bịt đá của rợ Túc Thân.

493 Ai Công 2 59 t “Đức Khổng muốn trở về Lỗ (LN V, 21)”
“Nhưng lại sang Vệ Về Vệ:
Phật bật làm loạn ở Trung Mâu (Tấn),
mời đức Khổng. Ngài muốn đi, sau lại thôi.”
“Nhàn cư ở Vệ, học đánh khánh với Sư Tương
(LN XIV, 42).
Đi sang Tấn định gặp Triệu Ưởng.
Đến sông Hoàng Hà nghe tin
Triệu Ưởng giết hại hiền thần
là Đậu Minh Độc và Thuần Hoa,
nên lại trở về.” “Về Vệ, ở nhà Cao Cừ Ngọc.”
“Vệ Linh Công vấn trận. Đức Khổng thoái thác.
Vệ Linh Công coi thường đức Khổng,
ngó lên trời xem chim nhạn bay thay vì bàn bạc.
Đức Khổng bỏ sang Trần.
Năm ấy Vệ Linh Công chết. (LN XV, 1)”

492 Ai Công 3,
Vệ Xuất Công với cha
là Khoái Hội tranh ngôi.
Quí Khang Tử lên
thay Quí Hoàn Tử. 60 t “Quí Khang Tử thay vì nghe lời di chúc
của cha là Quí Hoàn Tử
là mời Khổng Tử, lại mời Nhiễm Hữu.”

491 Ai Công 4,
Thái Chiêu Công bị bắn chết.
Thái đầu Ngô.
Một số dân Thái bị di cư
sang đất Sở. 61 t Từ Trần sang Thái.

490 Ai Công 5 62 t “Từ Thái qua Diệp.
Diệp Công (Trần Chư Lương) hỏi Ngài về chính trị.
(LN VII, 18; XIII, 16, 18). Từ Diệp về Thái,
giữa đường gs85p Tràng Thư,
Kiệt Nịch (LN XVIII, 5). Ở Thái.”
Tề Cảnh Công chết

489 Ai Công 6 63 t “(Ngô đánh Trần. Sở cứu Trần,
đem quân đến Thành Phụ).
Vua Sở bắt được một thứ quả lạ, đem hỏi đức Khổng.
Đáp: đó là quả bèo. Vua Sở mời Ngài.
Ngài toan đi hội kiến.
Đại phu hai nước Trần, Thái sợ,
đem quân vây Ngài ở cánh đồng giữa Trần và Thái.
Tuyệt lương. (xem LNXI, 2; XV, 1; MT Tận Tâm hạ 18).
Sở Vương cứu.
Muốn đem đất Thư Xã 100 dặm dâng cho Ngài.
Tử Tây can. Gặp Sở Cuồng là Tiếp Dư (LN XVIII, 5).”
Mùa hạ 489
Sở Vương mất ở Thành Phụ. “Ở Sở về vệ, không tham chính vì Vệ loạn.
Hai cha con Khoái Hội và Xuất Công tranh ngôi với nhau
(LN VII, 14).”
“Khổng Tử bàn về thuyết chính danh (LN XIII, 3).”

485 Ai Công 10 67 t Vợ Ngài là bà Khiên Quan Thị mất.

484 Ai Công 11,
Tề Lỗ đánh nhau ở lang.
Nhiễm Hữu thắng. 68 t “Quí Khang Tử sai Công Hoa, Công Tân,
Lâm đi mời đức Khổng trở về Lỗ.”

E- Thời kỳ trước tác, giảng học ở Lỗ (68- 73 tuổi) – (484- 479).

“E- Thời kỳ trước tác, giảng học ở Lỗ (68- 73 tuổi) – (484- 479).”

NĂM THIÊN HẠ SỰ TUỔI TÍCH SỰ
484 Ai Công 11 68 t “Về Lỗ. Bàn về chính trị với Ai Công (LN II, 19;
TD XIX) và với Quí Khang Tử
(LN XII, 17, 18, 19; XII, 24).”
“Soạn Thi, Thư, Lễ, Nhạc (LN VII, 17; IX, 14).”
“Bàn về nhạc với thái sư nước Lỗ (LN III, 23).”
“Khảo Kinh Dịch (LN VII, 16).”
Viết Xuân Thu (MT Đằng Văn Công hạ 9).
“Dạy học trò, văn, hạnh, trung, tín (LN VII, 24).”
“Cư xử với mọi người lịch sự, chu đáo (LN X).”
“Tiến mãi trên đường nhân nẻo đức (LN IX, 4).”
Bá Ngư chết
482 “Ai Công 14.
Tề Giản Công bị
Trần Hằng giết.
(Nhật thực,
sao chổi).” 71 t “Họ Thúc bắt được kỳ lân ở huyện Gia Tường
(LN IX, 8; Xuân Thu, Ai Công XIV).
Nhan Hồi chết (LN XI, 7, 8, 9, 10).”
“Khổng Tử bàn phạt Tề (LN XIV, 22).”
Mạnh Ý Tử chết.
“Những câu Luận Ngữ có thể nói trong thời kỳ này:
LN XIV, 37; XV, 18, 19; XVIII, 8).”
Xuân Thu đến đây ngừng.
481 Ai Công 15 72 t “Tử Lộ chết ở Vệ, bị phe Khoái Hội xả thịt,
làm thịt ngâm giấm. Khổng Tử khóc thương như con.
(Lễ Ký, Đàn Cung II, 7)”
479 Ai Công 17
(Nhâm Tuất) 73 t “Đức Khổng mất ngày 18/2, táng ở Khổng Lâm”

*******************     

CHÚ THÍCH

[1] Các tài liệu về gia phả Khổng Tử đã rút từ:

     1– James Legge, Chinese Classics, I, pp. 56 trở đi.
     2– Tưởng Bá Tiềm, Chư Tử Thông Khảo, tr. 35.
     3– Đông Châu Liệt Quốc, Võ Minh Trí dịch, tr. 90 trở đi (hồi 8).

[2] Khổng Tử có người con gái, sau gả cho Công Dã Tràng. (LN V, 1).

[3] Ở Lỗ lúc ấy đã có những sách như: Dịch Tượng, Lỗ Xuân Thu, Thi, Nhạc, v.v… (xem Xuân Thu, Chiêu Công, 2).

[4] Có thuyết cho rằng bà Nhan Thị chết khi Khổng Tử mới 16 tuổi.

*******************     

Chương 4

Môn đệ đức Khổng

Sau khi đã khảo sát về tiểu sử đức Khổng, tưởng cũng nên đề cập ít là sơ qua về các môn đệ đức Khổng. Lý do trước tiên là các môn đệ đức Khổng chính là những người có công bảo tồn, phát huy và phổ biến đạo Khổng. Sau nữa, học về các môn đệ, ta sẽ biết rõ đức Khổng hơn, qua các lời lẽ đối thoại giữa Thầy, trò.

Tục truyền đức Khổng có đến hàng mấy nghìn học trò. Điều đó chắc không đúng sự thật, vì lấy đâu ra thì giờ, ra chỗ mà dạy. Vả lại đâu phải cứ dạy nhiều mới là hay, dạy ít nhưng thành nhân hết mới hay.

Nên chúng ta chỉ nên lưu ý đến số đệ tử giới hạn trong khoảng 72 (đời sau gọi là thất thập nhị hiền, xem Nho Giáo Trần Trọng Kim I, tr. 200), 77 (Khổng Tử viết: Thụ nghiệp thân thông giả, thất thập hữu thất nhân, giai dị năng chi sĩ dã. Legge, Chinese Classics I, 112), hoặc hơn 80 (Legge, Chinese Classics I, pp. 112- 127).

Trước hết, chúng ta đề cập đến những đệ tử có tên trong Tứ Thư. Sau đó chúng ta sẽ trình bày ba danh sách:

a/ Danh sách ít nhiều môn đệ xếp theo tuổi.

b/ Danh sách ít nhiều môn đệ xếp theo sở trường.

c/ Danh sách Tứ Phối, Thập Nhị Triết, và Tiên Nho được dự phần hương khói nơi Khổng Miếu.

I. Những môn đệ có tên trong Tứ Thư

1- Nhan Hồi:

Nhan Hồi tự là Tử Uyên hay Nhan Uyên, sinh năm 513, kém đức Khổng 39 tuổi. Ông là cao đồ của Khổng Tử, đứng đầu hàng Tứ Phối. Người sau xưng là Phục Thánh Nhan Uyên. Người nước Lỗ, thông minh xuất chúng, theo đức Khổng từ 16, 17 tuổi. Từng chia sẻ hoạn nạn với Ngài ở Khuông (LN XI, 22) (năm 427), ở Trần, Thái (489) (LN XI, 2; XV, 1). Nhà nghèo nhưng an bần, lạc đạo (LN VI, 9). Khiêm cung (LN V, 25), ý hợp tâm đầu với Khổng Tử (LN XI, 3), biết lẽ xuất xử hành tàng như Ngài (LN VII, 10). Thích hỏi về đức nhân (LN XII, 1), về trị quốc (LN XV, 10). Một lòng tu đạo tiến đức (LN IX, 10, 20; XI, 2; IX, 19; XI, 6). Chết năm 482 khi 32 tuổi (LN XI, 6, 7, 8, 9, 10).

2- Tăng Sâm:

Tăng Sâm tữ Tử Dư sinh năm 506, kém đức Khổng 46 tuổi. (Sau xưng là Tăng Tử hay Tông Thánh Tăng Sâm).

Người ở Nam Vũ Thành. Thực thà chất phác (LN XI, 17). Lĩnh hội được đạo trung thứ (LN IV, 5). Truyền đạo cho Tử Tư, Tử Tư truyền cho Mạnh Tử. Hiếu thảo (LN 1, 9; XIX, 17, 18). Ưa xét mình (LN I, 4). Thích có bầu bạn để học hỏi, tiến đức (LN XII, 23). Không muốn làm gì vượt quyền hạn mình (LN XIV, 29). Sau đó có mở trường (MT Ly Lâu hạ 31). Chủ trương người đứng đầu nước phải thành khẩn, tiết tháo, khiêm cung (LN VIII, 4, 5, 6, 7, 8). THông cảm với dân và thương dân (LN XIX, 19). Sau được liệt vào hàng Tứ Phối.

3- Mẫn Tổn:

Mẫn Tổn tự Tử Khiên, sinh năm 537, kém đức Khổng 15 tuổi. Người nước Lỗ. Đại hiếu (có tích trong Nhị Thập Tứ Hiếu). Không ưa quyền thế, xa hoa, ưa đạo hạnh, ẩn dật (LN VI, 7). Dáng điệu thư thái (LN XI, 12), ngôn từ đoan chính (LN XI, 13).

4- Nhiễm Canh:

Nhiễm Canh tự Bá Ngưu, người nước Lỗ, sinh năm 545, kém đức Khổng 7 tuổi. Đạo đức như Mẫn Tử, Nhan Uyên, Trọng Cung (LN XI, 2). Sau bị bệnh phong (LN VI, 8).

5- Nhiễm Ung:

Nhiễm Ung tự Trọng Cung, người Lỗ, sinh năm 523, kém đức Khổng 29 tuổi. Đức hạnh (LN XI, 2), tuy người cha không ra gì (LN XI, 4). Đức Khổng cho rằng ông đáng làm vua (LN VI, 4). Sau ông ra làm quan với nhà họ Quí (LN XIII, 2). Hay hỏi về nhân (LN XII, 2), về sùng đức (LN XII, 10), chính trị (LN XIII, 2). Sau có mở trường.

6- Tể Dư:

Tể Dư tự Tử Ngã (Tể Ngã), người nước Lỗ, có tài biện bác, có khiếu chính trị (LN XI, 2). Một lần bị Khổng Tử chê về tội ngủ ngày (LN V, 9). Chủ trương nhân là liều chết cứu người (LN VI, 24). Chủ trương nên để tang cha mẹ một năm thôi (LN XVII, 20). Sau làm quan ở Tề, chết năm 482 nhân loạn Trần Hằng.

7- Đoan Mộc Tứ:

Đoan Mộc Tứ tự Tử Cống, người nước Vệ. Sinh năm 521, kém đức Khổng 31 tuổi. Có tài biện bác, có khiếu chính trị (LN XI, 2). Tâm phục đức Khổng (LN I, 10; IX, 6, 12; XXI, 22, 23, 24, 25). Đức Khổng liệt vào bậc có tài chính trị, có thể ra làm quan đại phu (LN V, 3). Đã có lần ra tham chính ở Lỗ (LN III, 17). Được đức Khổng tâm sự (LN XVII, 18). Thường hay đàm đạo cùng đức Khổng, để hỏi về sĩ (LN XIII, 20), quân tử (LN II, 13), về nhân vật (về Tử Trương, Tử Hạ, LN XI, 15) (về Khổng Văn Tử LN V, 14) (về Quản Trọng, LN XIV, 18), về chính trị (LN VI, 28; XII, 7), về cách tiếp nhân xử thế, về các định luật luân lý (LN XII, 24; XVII, 23; XIX, 20, 21). Nhận mình thua Nhan Hồi (LN V, 8). Mới được truyền nhân đạo (LN V, 11; XV, 23), chưa được truyền thiên đạo (LN V, 12). Cư tang đức Khổng 6 năm (MT Công Tôn Sửu thượng 3).

8- Nhiễm Cầu:

Nhiễm Cầu tự Tử Hữu (Nhiễm Hữu), người nước Lỗ, sinh năm 523 kém đức Khổng 29 tuổi. Có tài chính trị (LN XI, 2). Đức Khổng cho rằng chỉ làm được gia thần, không làm được đại phu (LN XI, 23). Đã từng làm gia thần cho Quí Khang Tử (LN XI, 23; XIII, 14; XVI, 1), tuy nhiên ông không ngăn ngừa được những sự lạm dụng của họ Quí (LN III, 6;XVI, 1), lại còn cố làm giàu cho họ Quí, nên đức Khổng giận, nói không còn phải là học trò nữa (LN XI, 16; MT Ly Lâu thượng 14). Vẻ người đoan chính (LN XI, 12), nhưng nhút nhát (LN XI, 21), cho rằng mình không theo nổi đạo Khổng (LN VI, 10). Hỏi đức Khổng về chính trị (LN XIII, 9). Không thân cận đức Khổng bằng Tử Cống (LN VII, 14).

9- Trọng Do:

Trọng Do tự Tử lộ hay Quí Lộ. Sinh năm 543, kém đức Khổng 9 tuổi. Tính tình cương trực, nóng nảy (LN XI, 25). Thô lỗ (LN XI, 17). Ít biến báo (LN VII, 18) nhưng rộng rãi (LN V, 25). Chủ trương tri hành hiệp nhất (LN V, 13). Theo đức Khổng rất sớm. Có lẽ theo Ngài từ khi Ngài sang Tề (LN XIV, 4) vì thế, là một đệ tử duy nhất, dám phê bình hoặc can gián Ngài. Phê bình đức Khổng vì đã yết kiến Nam Tử (LN VI, 26). Can Ngài không nên theo Qui Sơn Phất Nhiễu (LN XVII, 5), Phật bật (LN XVII, 7). Trình độ tâm thần còn thấp kém (LN XI, 14), khuyên Thầy cầu nguyện (LN VII, 34). Thích lễ nghi, hình thức bên ngoài (LN IX, 11), lo thờ phụng quỉ thần (LN XI, 2). Vất vả vì Thầy (LN XVIII, 6, 7). Hay đàm đạo cùng đức Khổng về chính trị (LN XIII, 1, 3) về kẻ sĩ (LN XIII, 28) về quân tử (LN XIV, 45), về người hoàn thiện (LN XIV, 1, 3) người nhân (LN XIV, 17) về dũng (LN XVII, 23; TD X) về cách thờ vua (LN XII, 23). Đức Khổng thường dạy dỗ riêng (LN XVII, 8).

Theo ý  đức Khổng thời Tử Lộ cương quyết, có thể làm quan (LN VI, 6) nhưng chỉ có thể làm gia thần, không thể làm quan đại phu (LN XI, 23), và đoán rằng Tử Lộ chết bất đắc kỳ tử (LN XI, 12). Có thời làm quan với Quí Thị (LN XIV, 38) nhưng không biết dùng người (LN XI, 24). Thích cầm quân (ít ra đó là sở nguyện của ông) (LN XI, 25). Chết ở vệ, ở Thích thành trong loạn Xuất Công, Khổng Ly, Khoái Hội. Phe Khoái Hội xẻ thịt ông ra ngâm giấm. (xem Lễ Ký Đàn Cung II). Đức Khổng thương xót như con (xem Lễ Ký Đàn Cung II).

10- Ngôn Yển:

Ngôn Yển: tự Tử Du, người nước Ngô. Sinh năm 507, kém đức Khổng 45 tuổi. Con người văn học, nho phong (LN XI, 2). Vụ bản (LN XVII, 12, 13, 14, 15). Chủ trương không nên đàn hạch người trên, chỉ trích bè bạn nhiều (LN IV, 25). Làm quan Tể ấp Võ Thành (LN VI, 12). Đem nhạc dạy dân (LN XVII, 4).

11- Bốc Thương:

Bốc Thương tự Tử Hạ. Sinh năm 508, kém đức Khổng 44 tuổi. Người nước Vệ. Con người văn học (LN XI, 2). Chưa đạt đạo Trung Dung (LN XI, 15). Đức Khổng khuyên ông nên sống cao thượng (LN VI, 11) và dạy về hiếu (LN II, 8). Tử Hạ sau có mở trường dạy học. Chủ trương tuần tự nhi tiến (LN XIX, 12), con người phải hướng thượng (LN I, 7), phải có tâm thành (LN III, 8), không nên quá ư hào nháng (LN XIX, 4) và quân tử không nên mất thì giờ vào những việc nhỏ (LN XIX, 4). Đã học, phải chuyên tâm (LN XIX, 7), phải học cho súc tích, sâu rộng (LN XIX, 5), nên chọn những người hay mà giao tiếp (LN XIX, 3).

12- Chuyên Tôn Sư:

Chuyên Tôn Sư tự Tử Trương, sinh năm 504, kém đức Khổng 48 tuổi. Tính tình phóng khoáng, tiêu sái (LN XIX, 3). Chưa đạt đạo Trung Dung (LN XI, 15). Mong học giỏi để làm quan, hưởng lộc (LN II, 18), muốn học để biết tiên tri, tiên đoán (LN II, 23). Hỏi đức Khổng rất nhiều và được giải đáp dài dòng nhất về nhiều vấn đề như: nhân sự (về Tử Văn, Trần Văn Tử, LN V, 18), sĩ khí (LN XII, 9; XIX, 1), thiện nhân (LN XI, 19), tôn sùng đức tính (LN XII, 10), đức sáng suốt (LN XII, 6), cư tang của vua chúa như của vua Cao Tông (LN XIX, 43), chính sự (LN XII, 14), trách nhiệm của kẻ lãnh đạo dân nước (LN XX, 2). Ông sau cũng mở trường. Chủ trương: linh động, bao dung (LN XIX, 3), cần có đạo đức sâu rộng mới đáng sống (LN XIX, 3).

13- Hữu Nhược:

Hữu Nhược tự Tử Nhược, hay Hữu Tử. Không biết rõ kém đức Khổng bao nhiêu tuổi: 13, 33, 36, hay 43 tuổi. Dung nghi giống đức Khổng, nên sau này Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du muốn tôn làm thầy; Tăng Tử can mới thôi (MT Đằng Văn Công thượng 4). Dầu sao cũng được các đồng môn trọng vọng. Luận Ngữ chỉ có Hữu Nhược và Tăng Sâm là những đệ tử được tôn xưng là Hữu Tử, Tăng Tử (LN I, 2). Chủ trương vụ bản, dạy hiếu đễ tức là dạy làm công dân tốt (LN I, 2), chủ trương cư xử phải trang nghiêm, hòa duyệt (LN I, 12), người được hứa hẹn bậy, cư xử hợp lễ, làm con có tốt thời sau mới trở thành cha tốt (LN I, 13), làm vua phải thương dân (LN XII, 9). Rất tâm phục đức Khổng (MT Công Tôn Sửu thượng 2).

14- Công Dã Tràng:

Công Dã Tràng tự Tử Trường, con rể đức Khổng (LN V, 1).

15- Phàn Tu:

Phàn Tu hay Phàn Trì tự Tử Trì, sinh năm 515, kém đức Khổng 37 tuổi. Đức Khổng chê chí khí nhỏ hẹp (LN XIII, 4). Hỏi đức Khổng về nhân (LN II, 5; XII, 21) về trí (LN VI, 20), về cách tu đức (LN XII, 20), về cách làm ruộng (LN XIII, 4).

16- Công Tây Xích:

Công Tây Xích tự Tử Hoa, sinh năm 510, kém đức Khổng 42 tuổi. Có lần đức Khổng phái đi sứ sang Tề (LN VI, 3). Muốn giữ chức quan nhỏ (LN XI, 25).

17- Tăng Điểm:

Tăng Điểm tự Tăng Tích (cha Tăng Sâm). Thích sống ẩn dật, ngoài vòng cương tỏa lợi danh (LN XI, 25).

18- Mật Bất Tề:

Mật Bất Tề tự Tử Tiện. Sinh năm 503, kém đức Khổng 49 tuổi. Được đức Khổng khen là người quân tử (LN V, 2).

19- Tất Điêu Khai:

Tất Điêu Khai (Tử Khai (tự Tử Nhược). Sinh năm 541, kém đức Khổng 11 tuổi. Có lần đức Khổng khuyên ra làm quan. Ông không chịu vì chưa tự tin (LN V, 5). Sau có mở trường.

20- Nguyên Hiến:

Nguyên Hiến (Nguyên Tư) tự Tử Tư. Thanh liêm, không ham tài lộc (LN VI, 3).

21- Tư Mã Canh:

Tư Mã Canh tự Tử Ngưu. Anh Hoàn Khôi. Hỏi về quân tử (LN XII, 4). Phàn nàn vì thân phận cô đơn (LN XII, 5).

22- Trần Cang:

Trần Cang tự Tử Cầm. Hỏi về đức Khổng (LN I, 10). Hỏi dò Bá Ngư xem đức Khổng có truyền cho điều gì lạ không (LN XVI, 13). Nghĩ rằng đức Khổng không hơn Tử Cống (LN XIX, 25).

23- Nhan Vô Diêu:

Nhan Vô Diêu (Nhan Do) tự Lộ hay Quí Lộ. Cha Nhan Uyên (LN XI, 7). Sinh năm 546, kém đức Khổng 5 tuổi.

24- Vu Mã Kỳ:

Vu Mã Kỳ (Vu Mã Thi) tự Tử Kỳ, sinh năm 522, kém đức Khổng 30 tuổi.

25- Cao Sài:

Cao Sài tự Tử Cao, sinh năm 522, kém đức Khổng 30 tuổi. Kém học thức (LN XI, 17). Tử Lộ cho ra làm quan, đức Khổng không bằng lòng (LN XI, 24).

26- Nam Dung Đạo (Quát):

Nam Dung Đạo tự Tử Dung (LN XIV, 6), được đức Khổng khen là quân tử (LN XIV, 6).

27- Thân Trành:

Đức Khổng cho rằng có tính tham, chứ không phải cương quyết (LN V, 10).

28- Lao:

Lao (Cầm Trương) tự Tử Khai (LN IX, 6; MT XIII, hạ 37).

29- Đạm Đài Diệt Minh:

Đạm Đài Diệt Minh tự Tử Vũ. Người trung trực (LN VI, 12).

30- Công Bá Liêu:

Công Bá Liêu tự Tử Chân. Có lần gièm Tử Lộ với Quí Thị (LN XIV, 38).

31- Lâm Phỏng:

Lâm Phỏng tự Tử Khưu. Hỏi đức Khổng về gốc Lễ (LN III, 4, 6).

32- Nhu Bi:

Có lỗi, muốn gặp đức Khổng, bị từ chối khéo (LN XVII, 19).

II. Danh sách ít nhiều môn đệ xếp theo tuổi

A. Những môn đệ chết trước đức Khổng

– Nhan Hồi (513- 482), chết năm 32 tuổi khi đức Khổng 70 tuổi.

– Tử Lộ (543- 481) chết trong loạn ở Thích Thành (ở Vệ) khi đức Khổng 71 tuổi.

– Nhiễm Canh sinh năm 545, sau chết bệnh phong (LN VI, 8).

– Tể Ngã sau làm quan nước Tề. Chết năm 482, kỳ Trần Hằng nổi loạn.

B. Niên canh ít nhiều đệ tử khi đức Khổng mất (năm 479)

– Nhan Lộ (cha Nhan Hồi)                68

– Tất Điêu Khai                                  62

– Mẫn Tử Khiên                                 58

– Nhiễm Cung (Trọng Cung)              44

– Nhiễm Cầu (Nhiễm Hữu)                44

– Vu Mã Kỳ                                        43

– Cao Sài                                           43

– Tử Cống                                          32

– Công Tây Xích                                 31

– Hữu Nhược                                      30

– Tử Hạ                                             29

– Tử Du                                              28

– Tăng Tử                                           27

– Phàn Trì                                           26

– Tử Trương                                       25

– Mật Bất Tề (Tử Tiện)                       24

III. Danh sách ít nhiều môn đệ xếp theo sở trường

A. Đức hạnh: Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung.

B. Ngôn ngữ, đối đáp: Tể Ngã, Tử Cống.

C. Chính trị: Nhiễm Hữu, Tử Lộ.

D. Văn học: Tử Hạ, Tử Du.

(xem LN XI, 2).

(Như vậy thì lúc sinh thời đức Khổng, Tăng Tử và Hữu Nhược chưa nổi bật. Sau khi đức Khổng mất, mới gây được nhiều thanh thế và uy tín.)

*******************     

IV. Danh sách Tứ Phối, Thập Nhị Triết và Tiên Nho

A. Tứ Phối:

1- Nhan Hồi tự Tử Uyên (Phục Thánh Nhan Uyên).

2- Tăng Sâm tự Tử Dư (Tông Thánh Tăng Sâm).

3- Khổng Cấp tự Tử Tư (Thuật Thánh Tử Tư).

4- Mạnh Kha tự Mạnh Tử (Á Thánh Mạnh Kha).

(Tử Tư và Mạnh Tử không phải là môn đệ đức Khổng. Tăng Tử dạy Tử Tư, Tử Tư truyền lại cho Mạnh Tử.)

B. Thập Nhị Triết (Thập nhị tiên hiền)

1- Mẫn Tổn tự Tử Khiên.

2- Nhiễm Canh tự Bá Ngưu.

3- Nhiễm Ung tự Trọng Cung.

4- Tể Dư tự Tử Ngã (Tể Ngã).

5- Đoan Mộc Tứ tự Tử Cống.

6- Nhiễm Cầu tự Tử Hữu (Nhiễm Hữu).

7- Trọng Do tự Tử Lộ (Quí Lộ).

8- Ngôn Yển tự Tử Du.

9- Bốc Thương tự Tử Hạ.

10. Chuyên Tôn Sư tự Tử Trương.

11. Hữu Nhược tự Tử Nhược (Hữu Tử).

12. Chu Hi tự Nguyên Hối (Trọng Hối). (Chu Hi là một thạc nho thời Tống, 1130- 1200).

C. Tiên Nho:

(Thất thập nhị hiền = 72 vị)

1- Đạm Đài Diệt Minh tự Tử Vũ.

2- Mật Bất Tề tự Tử Tiện.

3- Nguyên Hiến tự Tử Tư.

4- Công Dã Tràng tự Tử Trường (Tử Chi).

5- Nam Cung Quát (Đạo) tự Tử Dung.

6- Công Triết Ai tự Qúi Thứ (Quí Trầm).

7- Tăng Điểm (Tử Triết).

8- Nhan Vô Diêu (Nhan Lộ).

9- Thương Cù tự Tử Mộc.

10- Cao Sài tự Tử cao (Quí Cao).

11- Tất Điêu Khai tự Tử Khai, Tử Nhược, Tử Du.

12- Công Bá Liêu tự Tử Chu.

13- Tư Mã Canh tự Tử Ngưu (Lê Canh).

14- Phàn Tu tự Tử Trì.

15- Công Tây Xích tự Tử Hoa.

16- Tư Mã Thi (Kỳ) tự Tử Kỳ.

17- Lương Chiên (Lý) tự Thúc Ngư.

18- Nhan Hạnh tự Tử Liễu.

19- Nhiễm Nhụ tự Tử Lộ, Tử Tăng, Tử Ngư.

20- Tào Tuất tự Tử Tuần.

21- Bá Kiền tự Tử Triết.

22- Công Tôn Long tự Tử Thạch.

23- Nhiễm Quí tự Tử Sản (Tử Đạt).

24- Công Tổ Câu Tư tự Tử Chi.

25- Tần Tổ tự Tử Nam.

26- Tất Điêu Xa tự Tử Liễm.

27- Nhan Cao tự Tử Kiêu.

28- Tất Điêu Đồ Phụ tự Tử Hữu.

29- Nhưỡng Tứ Xích tự Tử Đồ.

30- Thương Trạch tự Tử Quí.

31- Thạch Tác (Thục) tự Tử Minh.

32- Nhiệm Bất Tề tự Tốn.

33- Công Lương Nhụ (Nhu) tự Tử Chính.

34- Hậu Xứ (Thạch Xứ) (Hậu Kiền) tự Tử Lý (Lý Chi).

35- Tần Nhiễm tự Tử Khai.

36- Công Hạ Thủ tự Tử Thừa.

37- Hệ Dung Điểm tự Tử Triết.

38- Công Kiên Định (Công Hữu) tự Tử Trọng.

39- Nhan Tổ tự Tử Tương.

40- Ô Đơn tự Tử Gia.

41- Câu Tỉnh Cương tự Tử Cương.

42- Hãn Phụ Hắc tự Tử Hắc, Tử Sách.

43- Tần Thương tự Tử Phi.

44- Thân Đảng vChu.

45- Nhan Chi Bộc tự Tử Thúc.

46- Vinh Kỳ tự Tử Kỳ.

47- Huyện Thành tự Tử Kỳ, Tử Hoành.

48- Tả Nhân Dinh tự Tử Hành.

49- Yến Cấp tự Ân (Tử Tư).

50- Trịnh Quốc tự Tử Đồ.

51- Tần Phi tự Tử Chi.

52- Thân Chi Thường tự Tử Hằng.

53- Nhan Khoái tự Tử Thanh.

54- Bộ Thúc Thặng tự Tử Xa.

55- Nguyên Cang tự Tử Tịch.

56- Lạc Khái tự Tử Thanh.

57- Liêm Khiết tự Tử Dung.

58- Thúc Trọng Hội tự Tử Kỳ.

59- Nhan Hà tự Tử Nhiễm.

60- Địch Hắc tự Tử Triết (Triết Chi).

61- Qui (Bang) tự Tử Liễm.

62- Khổng Trung tự Tử Miệt.

63- Công Tây Dư Như tự Tử Thượng.

64- Cầm Trương tự Tử Khai.

65- Trần Cang tự Tử Cang, Tử cầm.

66- Công Tây Điểm tự Tử Thượng.

67- Huyền Đản tự Tử Tượng.

68- Lâm Phỏng tự Tử Khưu.

69- Cừ Viên tự Bá Ngọc (LN XIV, 26; XVI, 6).

70- Thân Trành.

71- Mục Bì (MT XIII hạ 37).

72- Tả Khâu Minh, bình giải Xuân Thu (LN V, 24).[1]

———————-

CHÚ THÍCH

[1] Những sách dùng để tham khảo:

a/ Tứ Thư

b/ Chinese Classics của James Legge.

c/ Chư Tử Thông Khảo của Tưởng Bá Tiềm.

d/ Nho giáo của Trần Trọng Kim.

e/ Khổng Tử Thánh Tích Đồ của Khổng Đức Thành.

Những chữ viết tắt ở 4 chương đầu:

LN: Luận Ngữ.

MT: Mạnh Tử.

TD: Trung Dung.

ĐH: Đại Học.

—————–
*****************     

Chương 5

Đức Khổng dưới mắt ít nhiều phê bình gia và đệ tử

Trước khi đi sâu hơn vào cuộc đời, vào tâm tư, nguyện vọng và học thuyết Khổng Tử, ta hãy thành khẩn trình bày những lời khen chê đức Khổng để chứng minh chúng ta luôn luôn nhìn vào sự thật, nhìn tỏ sự thật; rồi mới công bình phê phán, và cũng là để chứng minh chúng ta đi vào học thuyết Khổng Tử không phải một cách mù quáng mà chính là sau khi đã cân nhắc mọi lời khen chê, mọi thái độ khinh trọng.

Trải ngót 2500 năm nay, đức Khổng được khen cũng nhiều mà bị chê cũng lắm.

Sự phê bình chỉ trích cũng như những lời tán tụng, khen lao đã phát khởi ngay từ khi Ngài còn sinh thời.

Các ẩn sĩ thời Xuân Thu, như Tràng Thư, Kiệt Nịch, cho rằng sự suy vong, loạn lạc trong thiên hạ như ba đào muôn đợt trập trùng, làm sao mà ngăn chận được. Chẳng thà lánh đời còn hơn.

Nhưng đức Khổng chủ trương ngược lại: gặp trắc trở khó khăn không thể nhắm mắt buông xuôi, mặc cho dòng đời lôi cuốn. Đời càng dang dở, lại càng phải lo liệu lý, kinh luân, cải thiện. (LN XVIII, 6).

– Sở Cuồng Tiếp Dư cho rằng đức Khổng làm một công trình viễn vông, vô ích. Vả lại đâm vào vòng chính trị, tức là lao mình vào một môi trường nguy hiểm khôn cùng. Sở Cuồng Tiếp Dư hát:

«Phượng ơi, phượng ơi,

Đức người suy rồi,

Tương lai còn mờ mịt,

Dĩ vãng đã xa xôi,

Thôi đừng khuyên đạo đức,

Cẩn thận kẻo lụy ngươi,

Chính trường nay gian hiểm,

Đọa lạc biết bao người.» (LN XVIII, 5).

– Án Anh, thừa tướng nước Tề, khuyên Tề Cảnh Công không nên dùng Khổng Tử, vì Nho gia chỉ là những người hoạt kê, lợi khẩu, mà không có phương pháp hoạt động thiết thực; kiêu căng, tự thị nên không thể dùng làm bầy tôi; phí phao gia tài sản nghiệp để lo tang ma, tống táng; muốn phục hồi những lễ nghi phiền toái thời xưa, vì thế chẳng có lợi cho dân (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia, Khổng Tử 35 tuổi).

– Ngược lại, Tử Tây, đại phu nước Sở, lại can Sở Chiêu Vương không nên cắt đất Thư Xã phong cho đức Khổng, vì đức Khổng có thể từ cứ điểm ấy mà dựng nên nghiệp vương như vua Văn, vua Võ; gồm thâu thiên hạ vào trong tay và sẽ làm cho Sở quốc suy vi, lụn bại (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia, Khổng Tử 63 tuổi).

– Nhiều người khác như Trần Cang (Trần Tử Cầm) (LN XIX, 25), Thúc Tôn Võ Thúc (LN XIX, 24) lại cho rằng đức Khổng cũng chẳng tài đức gì hơn Tử Cống môn đệ Ngài.

– Nhưng các cao đệ Ngài đều hết sức khâm phục, ngưỡng mộ Ngài, và cho rằng phàm nhân sở dĩ không hiểu Ngài, là vì chưa đủ khả năng, chưa đủ tầm kích mà hiểu Ngài, y thức như một người đi ở ngoài đường bị bức tường cao ngăn chận, không sao nhìn thấy được những đồ quý báu trần thiết bên trong nhà. (LN XIX, 23).

– Tử Cống cho rằng tài đức đức Khổng cao trổi như hai vầng nhật nguyệt, không thể ai vượt nổi (LN XIX, 24).

– Tể Ngã nói: Theo sự quan sát của tôi, Thầy chúng ta hơn vua Nghiêu, Thuấn xa (MT Công Tôn Sửu thượng 2).

– Hữu Nhược cho rằng đức Khổng là một vị thánh nhân siêu quần, bạt tụy (MT Công Tôn Sửu thượng 2).

– Tăng Tử cho rằng đạo lý đức Khổng trong trẻo như món đồ quí đã được rửa sạch bằng nước sông Giang, sông Hán, lại được đem phơi dưới ánh sáng mặt trời thu, nên trong sạch, tinh thuần không gì sánh kịp. (MT Đằng Văn Công thượng 4).

– Tử Cống tâm niệm thầy mình là thánh nhân (MT Công Tôn Sửu thượng 2) và cho rằng từ khi có nhân loại đến đời Xuân Thu, chưa ai có học vấn, đạo đức bằng đức Khổng (MT Công Tôn Sửu thượng 2).

– Mạnh Tử cho rằng đức Khổng là vị thánh nhân đã đạt đạo Trung Dung (MT Tận Tâm hạ 38), có một đời sống linh động, tùy thời xử thế (MT Vạn Chương hạ 1) và qui tụ lại được tinh hoa nhân loại, vừa trí huệ lại vừa dũng mãnh (MT Vạn Chương hạ 1).

– Và đây là một cuộc kiểm điểm và nhận xét về giá trị học thuyết giữa Thầy và trò trong lúc cùng quẫn, tuyệt lương nơi hoang dã, khoảng giữa hai nước Trần và Thái.

Lúc ấy, môn đệ vừa đói vừa khổ, vừa phẫn uất, vừa thất vọng… Khổng Tử cho vời Tử Lộ tới mà hỏi: «Kinh Thi có câu: “Chẳng phải tê, chẳng phải hổ, sao lang thang nơi hoang dã?” Đạo ta có gì chếch lệch mà thầy trò ta đến nông nỗi này?»

Tử Lộ đáp: «Đó là tại ta chưa hoàn toàn sáng suốt nên dân không theo.»

Đức Khổng trả lời: «Nếu người hiền nhân quân tử bao giờ cũng được dân tin, thì sao Bá Di, Thúc Tề phải chết đói trong núi? Nếu khôn ngoan mà người theo, thì sao Tỉ Can phải chết?»

Ngài lại cho vời Tử Cống tới và nói: «Này trò Tứ, Kinh Thi có câu:”Chẳng phải tê, chẳng phải hổ, sao lang thang nơi hoang dã?” Đạo ta có gì chếch mác mà thầy trò ta đến nông nỗi này?»

Tử Cống đáp: «Đạo Thầy quá cao, nên dân không theo được, phải hạ xuống cho bằng trình độ họ.» Đức Khổng trả lời: «Người nông phu biết gieo giống, nhưng không bảo đảm được mùa màng, người thợ tinh xảo không chiều cho hết được khách hàng, người quân tử có thể tu luyện đạo đức, có thể hệ thống được đạo lý mình, nhưng không bắt được dân theo. Nay trò chẳng lo trau dồi Đạo, mà mong người theo, là thiển cận vậy.»

Tử Cống rút lui. Ngài lại cho vời Nhan Hồi. Đức Khổng nói: «Trò Hồi, Kinh Thi có câu:”Chẳng phải tê, chẳng phải hổ, sao lang thang nơi hoang dã?” Đạo ta có gì chếch mác mà thầy trò ta đến nông nỗi này?»

Nhan Hồi đáp: «Đạo Thày cao siêu nên thiên hạ khó theo. Tuy nhiên Thày cứ tiếp tục mà giảng dạy như thế. Dân không theo, không sao! Dân không theo, càng tỏ ra ta là hiền nhân quân tử. Nếu ta không trau chuốt đạo ta thì ta nên hổ thẹn; bằng đạo ta đã trau chuốt, mà đời không theo dùng, thì các bậc vua chúa phải hổ thẹn. Nên, đời không theo, không sao; không theo ta, càng tỏ ra ta là hiền nhân quân tử.» Đức Khổng vui cười mà đáp: «Thật đúng thế. Nhan ơi, ngươi mà giàu, ta nguyện làm quản gia cho ngươi.» (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia, Khổng Tử 63 tuổi).

Trải hơn hai nghìn năm nay, các vua chúa ở Trung Hoa hết sức tôn sùng Ngài. Từ đời nhà tây Hán về sau, trải qua các thời đại, trước sau có 59 vị hoàng đế đã phong tặng, suy tôn đức Khổng:

Đây chỉ đan cử ít nhiều trường hợp:

– Năm 154 trước Tây lịch, vua Hán Cao Tổ đến Lỗ dùng lễ Thái Lao lễ đức Khổng.

– Năm 183 sau Tây lịch, vua Hán Linh Đế dựng Hồng Đô Môn có vẽ hình dung đức Khổng và 72 môn đệ.

– Năm 1110 vua Tống Huy Tông sắc phong đức Khổng làm Văn Tuyên Vương.

– Vua Vũ Tông nhà Minh, năm 1512, tôn Ngài là Chí Thánh Tiên Sư.

– Năm 1929, năm Trung Hoa dân Quốc thứ 18, chính phủ Trung Hoa chọn ngày 27- 8 làm ngày lễ thánh đản.

– Năm 1935, Trung Hoa dân Quốc 24 phong cho cháu 77 đời của Ngài là Khổng Đức Thành làm quan coi Thánh miếu.

– Năm 1952, đổi ngày đản sinh làm ngày 28- 9 mỗi năm (xem Khổng Tử thánh tích đồ).

Trong Nho giáo Trần Trọng Kim quyển 2, trang 80, có một đoạn như sau: «Xưa kia các nhà làm vua vẫn sùng bái Khổng Tử, nhưng không tôn danh hiệu gì cả. Đến năm Trinh Quán thứ 2 (637), vua Thái Tông mới tôn Khổng Tử là Tiên thánh và Nhan Hồi là Tiên Sư cùng thờ với Chu Công ở nhà Thái Học. Năm Khai Nguyên thứ 27 (739) vua Huyền Tông (Đường) có chiếu truy thụy Khổng Tử là Văn Tuyên Vương để theo Vương lễ mà thờ.»

«Trong tờ chiếu ấy nói rằng: “Mở rộng vương hóa cốt ở Nho thuật, phát minh đạo ấy để lưu truyền về sau và có vẻ thiêng liêng, rực rỡ, từ lúc có Phu Tử đến nay, chưa ai bằng vậy. Thế mới thực là tự Trời sinh ra Ngài là thánh, mà chỉ có thánh mới biết nhiều; đức sánh với trời đất, mình mở mặt trời mặt trăng, cho nên dựng gốc lớn của thiên hạ, làm cho đẹp việc chính, việc giáo, sửa đổi phong tục, vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, đến đời nay còn nhớ Ngài, há chẳng tốt lắm ru! Than ôi! Sở Vương không phong, Lỗ Công không dùng, để bậc đại thánh như Ngài ngang hàng với bọn bồi thần, làm người lữ khách đi chu du liệt quốc, vốn đã đành vậy. Song niên tự càng xa, quang linh càng rõ, dầu các đời có khen ngợi, nhưng chưa được tôn sùng, danh không phó với thực, sao nên! Phu tử đã xưng là Tiên Thánh, nay khá truy tặng là Văn Tuyên Vương.”» (TTK Nho giáo, quyển 2, tr. 80- 81).

Các danh nho lịch đại cũng hết sức xưng tụng đức Khổng:

Tuân Tử nói: «Không có chỗ đất cắm dùi, mà bậc vương công không thể cùng với những người ấy tranh cái danh dự; ở cái ngôi một bậc đại phu, mà một ông vua không thể nuôi được, một nước không thể dùng nổi. Cái danh dự của những người ấy không ai so sánh được, cho nên chư hầu ai cũng muốn được những người ấy mà dùng. Những người ấy là bậc thánh nhân không đắc thời thế. Ấy là Khổng Tử và Tử Cung…» (TTK Nho giáo, quyển 1, tr. 262).

Chu Liêm Khê nói: «Đạo đức cao dày, giáo hóa vô cùng, thực sánh ngang với trời đất mà cùng đồng với bốn mùa, chỉ có Khổng Tử vậy.» (TTK Nho giáo, quyển 2, tr. 125).

Thiêu Khang Tiết nói: «Sự nghiệp của Tam Hoàng chỉ có nghìn đời, sự nghiệp của Ngũ Đế chỉ có trăm đời, sự nghiệp của Tam Vương chỉ có 10 đời, sự nghiệp của Ngũ Bá chỉ có một đời. Duy đức Khổng mới có sự nghiệp vạn thế.» (phỏng theo Khổng Học Đăng, II, tr. 682).

Mấy thế kỷ nay, nhờ có khoa học, tổ chức, và nhờ văn minh vật chất, Âu Châu sang chinh phục Á Châu, đem văn minh và đạo giáo Âu Châu du nhập vào các nước Á Châu, làm cho những nước này dần dần lọt vào vòng thống trị, hoặc ảnh hưởng Âu Châu. Và cũng từ đấy, nhiều người cũng có những lời phê bình, chỉ trích đức Khổng và học thuyết Ngài đôi khi hết sức nghiệt ngã và hết sức nặng nề.

Các giáo sĩ Âu Châu phần đông khinh thị Khổng Tử, vì vốn đã có sẵn thành kiến.

Thực vậy, «các giáo sĩ đến không phải để bàn cãi, mà là để dạy bảo, không phải để nghe biết, mà là để ra lệnh…» [1]

Vả lại người Âu Châu vốn cho rằng chỉ có mình họ là con cái Thiên Chúa, còn các dân khác là con cái ma quỉ làm mồi cho lửa hỏa ngục, nên dẫu mình có tước đoạt đất đai của họ cũng không sao…,[2] huống chi là phê bình, chỉ trích.

Hơn nữa, trong khi tiếp xúc với các dân tộc khác không chia sẻ một nền văn minh như họ, người Âu Châu đã có lần tự hỏi những dân tộc ấy có phải là người hay không, mà nếu là người, thì họ là hạng người gì?

Dĩ vãng của những người ấy là một dĩ vãng tội lỗi, cần phải xóa bỏ; hiện tại và tương lai của họ tùy thuộc vào nền văn hóa của những kẻ thống trị. [3]

Các chính trị gia cũng ra công phá phách các giá trị tinh thần của các nước bị trị với mục đích gây lũng đoạn, và khủng hoảng trong các nước mà họ đang kiểm soát, chi phối.

Họ khuyên nhau «nên xâm nhập vào các nền văn minh khác, dạy cho dân bản xứ biết phát minh kỹ thuật của ta, cách tổ chức công quyền, giáo dục, luật pháp, ý tế, và tài chánh, xui họ khinh khi những phong tục của họ, và khuyến cáo nên có một thái độ sáng suốt đối với những mê tín đạo giáo, rồi mặc họ tự nấu lấy nồi canh mà ta đã pha phách cho họ.» [4]

Khảo các văn liệu do chính người Âu Châu viết, ta thấy ngoại trừ một số ít học giả Âu Châu thực tình mến chuộng văn hóa Á Châu, đa số các vị giáo sĩ Âu Châu, các học giả Âu Châu hoặc là theo phương pháp tiệm tiến, dùng Khổng giáo làm bàn đạp để đi đến Công giáo, như sách lược của cha Ricci (1552- 1610) và của dòng tên, hoặc công khai đả phá mọi thứ đạo giáo Á Châu, như đường lối của các dòng truyền giáo khác. [5]

Các thức giả trong nước phần đông được đào luyện theo phương pháp giáo dục, và theo chương trình học vấn của Âu Châu, hấp thụ các triết thuyết Tây Phương, nên không còn thì giờ, hay còn muốn có thì giờ để nghiên cứu các học thuyết cũ. Và đứng trước những cảnh tượng điêu tàn về chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước mà họ không tìm ra được lý do và nguyên ủy đích thực, nên họ sẵn sàng cho rằng những lời đả kích, mạt sát của ngoại nhân là xác đáng, mà không hề kiểm điểm lại.

Họ không nhận thức được rằng sĩ khí, nho phong, nhân cách tuy cần, nhưng không còn đủ để phục hưng đất nước đã bị ngoại nhân lũng đoạn, qua phân hay thống trị; mà ngoài chí khí, ngoài nhân cách, ngoài tinh thần bất khuất, quật cường, còn cần phải có kỹ thuật, khoa học, đường lối, tổ chức, sự đồng tâm, nhất trí của toàn dân; nhưng bao giờ cũng như bao giờ, nhân cách, nah6n phẩm, lòng hiếu trung tiết liệt cũng vẫn là những yếu tố cần thiết, không sao có thể bỏ được. Vì không phân tách được rõ ràng những lý do hưng vong, thành bại, nên nhiều người trong nước cũng quay ra đả kích đức Khổng, đả kích Khổng giáo nói riêng và các đạo giáo Á Đông nói chung, cho rằng đó chính là căn nguyên của sự hủ hóa, lạc hậu.

Họ cũng không nhận định ra được rằng sự hùng mạnh của Âu Châu không phải ở chỗ họ theo đạo Công giáo mà chính là ở chỗ đã đi ngược lại với tôn chỉ Công giáo. Đáng Christ dạy hiền lành, thương xót, thì họ lại đề cao sự liều lĩnh, can đảm, cố gắng tranh thắng với hoàn cảnh, ráo riết đấu tranh với đồng loại để mưu cầu cho mình một đời sống ngày một hoàn bị hơn.[6]

Họ cũng không phân tích được rằng Âu Châu ngoài mặt nói đạo lý, tinh thần, nhân nghĩa, nhưng thâm tâm thì theo vật chất, vụ lợi, vụ thực, cho rằng thành công ở đời tức là thành nhân.

Họ cũng không nhận thấy tòa lâu đài văn minh Âu Châu đang nứt rạn và lung lay đến tận nền tảng.

Cho nên nhiều người bản xứ ra sức cổ súy nếp sống Âu Châu, nền văn minh vật chất Âu Châu mà khinh thị nền văn hóa tinh thần Á Châu.

Hiểu được các lý do xa gần ấy, mới đánh giá được cho đúng mức các lời phê bình về đức Khổng.

Dưới đây xin trích dẫn ít nhiều lời phê bình:

– Đức Giám mục Navarette tuyên bố: «Ngay cả Socrate, Platon, Aristote, Pline, Sénèque, v.v… cũng còn bị xuống hỏa ngục, thì Khổng Tử, một kẻ không đáng hôn chân họ, lại thoát được hỏa ngục hay sao?»

– Giám mục Navarette trong trường hợp này cũng đã hỏi ý kiến bộ thánh vụ La Mã vào khoảng năm 1674, và được trả lời như sau: «Chiếu theo những điều đã nói trên, thời cấm không được nói rằng Khổng Tử đã được cứu rỗi.» [7]

Alexandre de Rhodes cho rằng: «Khổng Tử chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ; vì sự nhất, phải, hay đầu hết, mà chẳng có dạy ai. Ví bằng ông Khổng chẳng biết đức Chúa Trời là cội rễ, và cội rễ của mọi sự lành, mọi sự thánh, nên hiền làm sao được?» (Catechismus Phép giảng tám ngày – Tinh Việt xuất bản, trang 81).

Linh mục Léon Wieger là một trong những học giả viết rất nhiều về các học thuyết Trung Hoa cũng coi thường Khổng Tử. Ông viết: «Đức Khổng đòi hỏi nơi vương giả, nơi hiền nhân, quân tử cái gì? Bác ái hay hi sinh? Ôi! Đâu phải thế… Ngài đòi hỏi một khối óc trung lập, 1khối óc trung lập, một con tim lạnh lùng, na ná như chủ trương của Hồng Phạm Cửu Trù: Chẳng thương, chẳng ghét, không thiên kiến, không tin tưởng chắc chắn, không ý chí bền bĩ, không bản ngã… Thoạt tiên đừng vội khen hay chê, theo hay bỏ. Rồi sau khi đã suy xét, đừng có nghiêng theo một cực đoan nào, vì thái quá hay bất cập đều hại. Phải theo đường trung dung, có thái độ chiết trung. Đừng hăng hái nhiệt thành, chớ thất vọng lạnh lùng, bao giờ cũng điềm đạm theo thời. Phải bắt chước trời lạnh lùng không tây vị, và lúc hành sự phải biết chần chờ, khoan dãn, len lỏi, nước đôi.» (xem Histoire des Croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine, p. 135).

Bình luận về học thuyết Khổng Tử, René Grousset viết: «Tất cả những vấn đề quan thiết đến định mệnh nhân loại, đều bị hạ xuống thành chủ trương công ích, hay tùy thời xử thế. Thiếu nền tảng siêu hình, luân lý Khổng Tử chỉ dựa vào những sự kiện xã hội.» [8]

Ông P.H. Bernard còn phán quyết hách dịch và dõng dạc gấp bội: «Cái mà xưa kia ta gọi triết học Khổng Tử chỉ là sự phủ quyết của triết lý. Đó là bất cứ cái gì: xã hội học, kinh tế học, một cuốn sách dạy lịch sự thơ ngây và thành thực, chứ nhất định không phải là triết lý thật sự.» [9]

Giá trị nội tại của lời phê bình tùy thuộc vào:

– Sự thành khẩn hay không thành khẩn.

– Sự có thiên kiến hay không có thiên kiến.

– Trình độ hiểu biết của người phê bình.

– Trình độ tiến hóa tinh thần của người phê bình.

Giá trị ngoại tại, tức là ảnh hưởng của lời phê bình, tùy thuộc vào:

– Địa vị.

– Quyền thế.

– Uy tín, tiếng tăm của người phê bình.

– Trình độ văn hóa cao hay thấp của quần chúng.

Cho nên xét về phương diện nội tại, thì phần nhiều các lời phê bình của các giáo sĩ và các học giả có thể nói được là vô giá trị vì có mục đích phá hoại, có thiên kiến; vì không biết rõ vấn đề, chỉ biết loáng thoáng qua các bản dịch.

Nhưng về phương diện ngoại tại, những lời phê bình của họ có ảnh hưởng hết sức lớn lao, làm được cho quần chúng khinh khi đức Khổng và học thuyết Khổng Tử.

Về phía Trung Hoa, Hồ Thích cho rằng Khổng giáo là một thứ đồ cổ vô dụng. Ông cũng không trông gì ở văn hóa Á Châu, mà chỉ cần lợi ích thực tiễn. [10]

Quách Mạt Nhược cho rằng học thuyết Khổng Tử là «khiết phẩn chi học»(cái học ăn phân).

Về phía Việt Nam, Phan Khôi cho rằng Khổng Tử là vô thần, v.v… «Phan tiên sinh quyết đoán rằng Khổng Tử là một nhà vô thần luận gia.» (Cf. Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển 2, tr. 407).

Đọc những lời phê bình đó ta cảm thấy chua xót, vì lầm lẫn chung của chúng ta là không hiểu đã vội phê bình người xưa, thấy trân châu tưởng lầm là mắt cá.

Ông Robert Maguenoz suy nghĩ về duyên do thắng lợi của cộng sản ở lục địa Trung Hoa đã viết đại khái như sau: «Âu Châu và Mỹ Châu đã ra công phá những con đê ngàn đời từng ngăn ngọn thủy triều Đông Á, đã cố phá những cơ cấu, những truyền thống và những nguồn gốc triết học Đông Phương. Những thân cây dân tộc Á Đông vì thế mà héo hon. Nhân đó chủ nghĩa cộng sản mới có thể tháp vào mà mọc lên như qua cát, sắn bìm, làm nghẹt hết chồi văn minh Đông Á.» (xem De Confucius à Lénine, Préface. Xem Trung Dung Tân Khảo của tác giả. Chương 1, nguyên văn chữ Pháp có ghi chú trong quyển Trung Dung Tân Khảo của tác giả.)

Mấy trận thế chiến gần đây đã làm cho các giá trị tinh thần của nền văn minh Âu Châu sụp đổ, và đã cho thấy bộ mặt thực, vật chất, tàn nhẫn, vụ thực, vụ lợi của họ. Đồng thời Á Châu, sau khi bị vũ nhục, kích động, cũng vùng lên, chạy theo khoa học, vật chất, tiền tài, dục vọng như Âu Châu, tưởng thế là con đường cứu rỗi.

Kết quả là thời nay, con người đã trở nên «trống rỗng» theo lời văn của văn hào T.S. Eliot trong bài thơ đại khái như sau:

Bụng ta trống rỗng, trống trơn,

Tuy bao kiến thức luôn luôn tọng nhồi.

Chụm đầu tình tự khúc nhôi,

Đầu toàn rạ nhét, than ôi, phũ phàng!

Lời ta héo hắt khô khan,

Những khi to nhỏ, thở than sự tình.

Lời êm, ý rỗng tuếch tuênh,

Như làn gió thổng, dưới vành cỏ khô.

Hay như bầy chuột nhởn nhơ,

Trong hầm nhà vắng, bãi bừa miểng gương.[11]

Nói thế, không có ý vơ đũa cả nắm, vì thời đại nào ở bên Đông cũng như bên tây, vẫn có những siêu nhân, những chân nhân, những bậc đại hiền, đại triết, những triết gia, những học giả chân chính mà chúng ta cần bái phục, mặc dù đường lối tư tưởng các Ngài chưa được phổ biến, chưa được đại chúng hóa.

Về bên phía Á Đông, sự hoang mang của giới trí thức cũng hết sức là lớn lao.

Bởi vậy nên đã phát sinh bốn phong trào lớn này:

1- Phục hưng các giá trị văn hóa cổ truyền, lọc lõi tinh hoa, loại trừ phiền toái.

2- Dung hòa Á đạo với Âu thuật.

3- Thoát Á, nhập Âu.

4- Theo những chủ nghĩa mới, học thuyết mới: Tam Dân chủ nghĩa, chủ nghĩa Karl Marx, chủ nghĩa chủ nghiệm (pragmatisme) của Dewey mà Hồ Thích ra công đề xướng, v.v… (xin đọc Văn Hóa Á Châu, tập III, các số 4 và 5, tháng 7, 8, năm 1960).

Tất cả những hoang mang, những do dự, những quyết tâm xóa bỏ mọi ảnh hưởng, mọi vết tích cũ nhiều khi đã đưa tới khẩu hiệu quá khích như: «Đả đảo Khổng Tử» «Giã từ Khổng Tử» v.v… (Cf. Time, Dec. 12. 1969, p. 27, mục Goodbye, Confucius- Japan).

Cho nên trước khi đi sâu vào học thuyết Khổng Tử, buộc lòng chúng ta phải soát xét lại học thuyết này thực sự hay hay dở, còn hợp thời hay không hợp thời.

Năm 1919, Trung Hoa có mời Bertrand Russell sang, để hỏi về đường lối phải theo để phục hưng xứ sở.

Russell phân tách rằng: «Người Trung Hoa đang trông về Âu Mỹ để tìm ra những phương thức khả dĩ thay thế được học thuyết Khổng Tử. Nhưng họ có biết đâu rằng quần chúng thì ở đâu đâu cũng như nhau: Thả lỏng thì làm bậy, có đe nẹt thằng thúc mới chịu làm tốt.

Cái điều mà chúng ta cần dạy người Trung Hoa không phải là luân lý, hay thuật trị dân, mà chính là khoa học và kiến thức kỹ thuật.» Thế tức là Russell khuyên chúng ta chớ nên bỏ mất những giá trị tinh thần của tiền nhân, mà chỉ nên học của Âu Châu kỹ thuật và khoa học. [12]

Nhà học giả Nhật là Yamagata Banto (Sơn Phiến Bàn Đào, 1748- 1821) cách đây hơn một thế kỷ đã nói: «Về đạo đức và bản tánh con người, cần phải theo gương hiền thánh xưa, nhưng về phương diện thiên văn, địa lý, y học, có điên mới bám chặt cổ thời, mới theo gương cổ thời.» [13]

Sau khi đã trình bày một cách thành khẩn những lời khen chê, ta có thể xác định lại lập trường của chúng ta như sau:

Làm văn hóa không phải là làm chính trị. Văn hóa siêu việt trên chính trị. Cho nên ta không thể trông vào cái lợi nhãn tiền, mà quên mất cái hại xa xăm. Làm văn hóa không thể xao lãng tinh thần hay vật chất, mà phải gồm đủ hai chiều, hai mặt. Làm văn hóa không phải là nệ cổ hay nệ kim, mà phải phân tích và tổng hợp cổ kim. Vì thế chúng ta nên theo phương châm Á đạo Âu thuât của Russell và của các học giả Đông Phương sáng suốt như Sơn Phiến Bàn Đào. Làm thế, ta giữ được hết tinh hoa của người xưa, học hỏi được hết những kinh nghiệm, những phát minh của thời nay, để thành những con người toàn diện.

Vì thế mà trong thời đại hỏa tiễn, nguyên tử, cung trăng, sao hỏa này, chúng ta vẫn hãnh diện khảo sát lại một học thuyết cổ truyền, tức là học thuyết Khổng Tử, với chủ trương và tâm niệm:

Rẽ sóng thời gian tìm nghĩa lý,

Khơi lòng trời đất lấy tinh hoa.

Chúng ta không hoài cổ, nhưng chúng ta khảo cổ để xây dựng cho hiện tại và tương lai ta thêm đẹp, thêm tươi. Học thuyết Khổng Tử thực ra vẫn còn hợp thời, và còn đáng cho ta riềm tâm suy cứu, vì:

1- Về phương diện đạo giáo, đức Khổng dạy người sống một cách rất cao siêu: là sống tinh toàn, hoàn thiện, để phối hợp với Trời.

2- Về phương diện triết học, Khổng giáo đã khám phá ra được tầng lờp thâm sâu nhất trong con người, mà Nho gia gọi là Tính, hay bản Tính, mà triết học ngày nay gọi là bản thể hay vô thức.

3- Về phương diện chính trị, đức Khổng đặt nặng vấn đề cải thiện nội tâm, và muốn xây dựng trật tự, hòa bình trên nền tảng đạo lý.

4- Về phương diện khoa học, đức Khổng đã cố gắng tìm ra những định luật thiên nhiên, chi phối mọi sự biến dịch trong hoàn vũ và trong đời sống con người.

5- Về phương diện văn hóa, Khổng Tử đã dạy con người phải luôn luôn cố gắng, nỗ lực hướng thượng, để tiến tới tinh hoa thuần túy, chí thành chí thiện.

Bấy nhiêu lý do thiết tưởng đã đủ để chúng ta lưu tâm khảo sát về đức Khổng và học thuyết của Ngài.

CHÚ THÍCH

[1] New missionaires had come not to discuss, but to dictate, not to listen and learn, but to give orders.

[2] Vì vậy nên trong thời kỳ đi chinh phục Mỹ Châu, người Âu Châu vẫn tưởng mình là đi cứu rỗi dân ngoại. Đây là đoạn sách chứng minh: «Ferdinand and Isabella at once dispatched an embassy to Alexander VI for the purpose of ensuring their rights to the new territories, on the principle that Martin V had given to the king of Portugal possession of all lands he might discover between cape Bojador and the East Indies, with plenary indulgence for the souls who perished in the conquest. The pontifical action was based essentially on the principle that pagans and infidels have no lawful rights in their lands and goods, and the children of God may rightfully take them over.» (The Roy Edwin Froom – The Prophetic faith of uor fathers, vol II, p. 169).

[3] Qui étaient ces hommes ainsi demeurés étrangers à la culture universelle? Etaient- ce des hommes? Etaient- ce des bêtes? Et si c’étaient des hommes, quelle sorte d’homme étaient- ils? Son passé est le péché qui doit être effacé; son présent et son avenir doivent se subordonner à la culture de ses conquérants. (Léopold Zéa – L’Originalité des Cultures, p. 298).

[4] We do well to intrude ourselves upon another civilisation, equip the members of it with our mechanical contrivances, our system of government, education, law, medicine and finance, inspire them with a comtempt for their own customs and with an enlightened attitude towards religious superstition, and then leave them to stew in the broth which we have brewed for them. – TS Eliot, Notes towards the definition of cultures, p. 92.

[5] Les Jésuites avaient entrepris cette évangélisation sur une échelle cyclopéenne et s’étaient dressés contre les autres missions catholiques, franciscaines, capucines et dominicaines qui toutes, croyaient en la politique de la «table rase» c’est- à- dire en l’absence de compromis avec les cultures et les modes de pensée de l’étranger. Selon cette doctrine, les missions chrétiennes devaient tenter de convertir les masses et détruire de fond en comble les civilisations paїennes. Les Jésuites, au contraire, croyaient en une «politique des élites consistant à convertir d’abord l’intelligentsia.» – Amaury de Riencourt, L’Âme de la Chine, p. 230.

[6] Si au lieu de prêcher l’Evangile, les missionnaires occidentaux avaient apporté avec eux un Coran occidental ou une proclamation nietzchéenne, dans laquelle les sources spirituelles de l’immense puissance occidentale auraient été clairement révélées, si, au lieu du doux message d’amour du Christ, il avaient prêché les dynamiques vertus de l’audace et du courage, ou encore le devoir prométhéen qu’a tout homme de dominer la nature et de concevoir des formes toujours plus élevées d’existence sans se soucier dse souffrances qui en résultent … alors la Chine aurait volontiers prêté l’oreille à leur enseignement… – L’Âme de la Chine, p. 216.

[7] Navarette declared that since Socrates, Plato, Aristotle, Pliny, Seneca, etc. were irretrievably damned, how much more Confucius who was not worthy to kiss their feet. – Malcolm Hay, Failure in the Far East, p. 129. The Holy Office replied: «Allowing for what has been said, it is forbidden to say that Confucius is saved.» – Ib. 128.

[8] Les plus hauts problèm es de la destinée humaine étaient ramenés à une question d’utilité ou mieux d’opportunité sociale. Dépourvue de base métaphysique, la morale de Confucius sera simplement fondée sur les faites sociaux. – La Conception confucéenne de l’homme par Trần Văn Hiến Minh, p. 15.

[9] Ce qu’on appelait la philosophie confucianiste, dit- il, était la négation même de la philosophie: c’était tout ce qu’on voudra: de la sociologie, de l’économie politique, un manuel de civilité naїve et honête – tout – sauf une philosophie véritable. Ib., p. 13.

[10] Il (Hu Shih) se servit du scientisme comme d’une arme, avec laquelle il s’efforça de détruire les éléments du passé resté cher au cœur des conservateurs. Il vitupéra contre l’intérêt croissant que manifestait l’Occident pour les «valeurs spirituelles de l’Orient» et dénonça le Confucianisme comme étant une antiquité inutilisable. – Amaury de Riencourt, L’Âme de la Chine, p. 316- 317.

[11] Dịch theo bài Les Hommes Creux của T.S. Eliot đăng trong Tout l’Univers, No 305, septembre 1967, tr. 1574:

LES HOMMES CREUX

Nous n’avons rien dans le ventre,

Nous sommes bourrés de science.

Penchés les uns sur les autres,

La caboche pleine de paille, hélas!

Nos voix desséchée,

Lorsque nous murmurons ensemble,

Sont douces et vides de sens,

Comme vent dans l’herbe sèche,

Ou des rats trottinant sur les débris de verre,

Dans nos caves stériles…

[12] Les chinois, écrivit-il alors, même les plus modernes d’entre-eux, regardent vers les peuples blancs, en particulier vers l’Amérique pour qu’ils leur fournissent des maximes morales capables de remplacer celle de Confucius… «Ils n’ont pas encore réalisé que la morale des masses est la même partout: les hommes font tout le mal don’t ils sont capables et tout le bien auquel ils sont contraints.» Ce que nous devons enseigner aux Chinois, c’est la science et les connaissances techniques. (L’Âme de la Chine, p. 321.)

[13] Yamagata Banto said: «As to the virtue and the nature of man, the example of the ancient sages should generally be followed, but in the case of astronomy, geography, and medicine, it is foolish to stick to and follow the example of the olden times.» – Acta Asiatica, Bulletin of the Institute of Eastern Culture, No 13, Tokyo, tr. 63. Trích trong bài của Toyama Shigekin nói về vấn đề: Reforms of the Meiji Restoration and the Birth of Modern Intellectuals. -Ta cũng nên ghi nhận rằng ngược lại với quan điểm của Yamagata Banto về y học Đông Phương, nhiều quốc gia Âu Châu đã cho các bác sĩ hành nghề châm cứu của Đông Phương.

—————–
*****************     

Chương 6

Đức Khổng, con người nhiệt thành đi tìm chân lý

Thế nhân thường cho rằng đã là thánh nhân, đã là giáo chủ, thì phải là thánh nhân ngay từ trong bụng mẹ, phải có những cách thai sanh kỳ bí, thoát khỏi hết các định luật và trật tự chi phối vũ trụ, nhân quần, lại thông minh tuyệt đối, sinh nhi tri chi, không cần học hỏi, suy tư gì, mà đã biết hết mọi sự trên trời dưới đất, quá khứ, vị lai, ngay từ tấm bé.

Nói thế chẳng khác nào nói rằng có những cây vừa mới mọc, đã cao vút từng mây, đã sinh hoa, kết quả sum sê, hay có những người vừa mới sinh ra đã trưởng thành ngay, không cần cúc dục, cù lao, không cần thời gian, tuổi tác…

Thiết tưởng muốn tìm hiểu thánh hiền, ta không nên bắt chước đường lối phàm tục đó, mà phải tìm cho ra những tiêu chuẩn chính xác, hướng dẫn sự suy khảo của chúng ta.

Tuân Tử nói: «Quân tử thời nói điều chân thường, hợp lý; tiểu nhân nói điều kỳ quái.» (Vinh nhục VI, xem Trần Trọng Kim, Nho giáo trang 308.)

Sách Minh Triết, thánh thư công giáo nói:

«Ta đây cũng phận hèn như chúng,

Cũng tổ tông xác đất vật hèn,

Cũng từ trong bụng mẹ thai nên,

Tinh cha huyết mẹ đôi bên tạo thành.

Cũng mười tháng mới sinh mới nở,

Khi lọt lòng cũng thở khí phàm,

Như ai cũng kiếp trần gian,

Mới sinh cũng khóc mà toan chào đời,

Cũng tã lót, cũng thời cúc dục,

Cũng cù lao cực nhọc như ai.

Xưa nay vua cũng như tôi,

Tử sinh một phép khác bài nào đâu?»

(Phỏng dịch Livre de la Sagesse, VII, 1- 6)

Cát Hồng khi viết về Lão Tử đã nhận định như sau: «Các học giả có óc chất hẹp hòi, đã coi Lão Tử như là một người trời siêu xuất quần linh, và khuyên các thế hệ tương lai bắt chước Ngài, nhưng làm thế là ngăn cản không cho mọi người tin được rằng mình cũng có thể nhờ học hỏi mà tìm ra được bí quyết trường sinh bất tử.»

Thực vậy, nếu Lão Tử chỉ là một hiền nhân đã đắc Đạo thì mọi người phải hết sức noi gương, bắt chước Ngài, nhưng nếu ta nói rằng đó là một nhân vật đặc biệt, có thiên tính thì ta không thể nào bắt chước Ngài được. (Cf. Matgioi, La voie rationelle, p. 19 và Lecomte du Noüy và học thuyết viễn đích của tác giả, trang 331.)

Mạnh Tử nói: «Phàm những vật đồng loại thì bản tính giống nhau. Tại sao riêng về nhân loại, người ta lại nghĩ rằng bản tính chẳng tương tự? Những vị thánh nhân và chúng ta đều là một loại…» (MT, Ly Lâu chương cú hạ, tiết 12). Khảo về đời sống và những lời giảng giáo của các bậc giáo chủ ta thấy:

1- Sự khôn ngoan thông thái của các Ngài cũng cần có đủ thời gian, tuổi tác mới phát triển được.[1]

2- Nhiều khi các ngài cũng phải học hỏi với các bậc tiền bối, trước khi trở nên minh giác. [2]

3- Học thuyết các Ngài, tư tưởng các Ngài cũng có nhiều vay mượn ở nơi các học thuyết, hoặc các luồng tư tưởng đã có trước.[3]

4- Các Ngài có công ở chỗ là làm cho những tư tưởng cũ kỹ trở nên linh động, có thần lực tác động, lôi cuốn, hoán cải được tâm hồn quần chúng.

Chủ trương rằng các vị thánh hiền xưa cũng cần phải có thời gian tuổi tác mới phát huy được trí tuệ và đức độ mình, chủ trương rằng các Ngài cũng phải cố gắng nhiều mới tiến tới địa vị siêu việt, là một chủ trương hết sức lành mạnh, vì:

1- Nó phản ảnh lại một cách chân thực cuộc đời các Ngài, giúp ta gạt bỏ được hết mọi huyền thoại.

2- Nó hợp với các định luật tự nhiên.

3- Nó cũng chẳng làm giảm giá trị các Ngài chút nào.

4- Nó vạch cho ta thấy con đường và phương pháp để trở nên hiền thánh.

5- Nó phù hợp với quan niệm của các danh nho, vì Nho gia vốn chủ trương rằng nếu chúng ta cố gắng tiến hóa, tu trì theo đúng đường lối thì cũng có thể trở nên như vua Nghiêu, vua Thuấn. (Cf. MT, Ly Lâu chương cú hạ, 28, 32, v.v…)

6- Nó cũng phù hợp với những học thuyết tiến hóa, thuyết viễn đích mới mẻ nhất, cho rằng nhân loại sẽ còn tiến hóa lâu dài để trong một thời gian còn xa lắc sẽ tiến tới cực điểm tinh hoa: đó là sống một cuộc đời thần tiên, phối hợp với Thượng Đế. Các thánh hiền chẳng qua là người đã sớm lãnh hội được định mệnh cao cả của con người, và đã thực hiện được ngay trong đời mình định mệnh sang cả ấy. Như vậy các Ngài là những vị tiền phong khả kính, soi đường, chỉ lối cho chúng ta noi theo mà bắt chước để nên giống các Ngài. (Cf. Teilhard de Chardin và Lecomte du Noüy).

Nhờ những quan niệm lành mạnh và chính xác ấy hướng dẫn, ta có thể vạch lại bước đường tìm cầu đạo lý của đức Khổng:

Đức Khổng tâm sự:

– Hồi 15 tuổi, ta để hết tâm trí vào sự học.

– Đến 30 tuổi, ta vững chí mà tiến lên trên đường đạo đức.

– Đến 40 tuổi, tâm tư ta sáng suốt, hiểu rõ việc phải trái, đạt được sự lý, chẳng còn nghi hoặc.

– Qua 50 tuổi, ta biết mạng Trời (tức là biết căn cốt và định mệnh con người).

– Đến 60 tuổi, lời chi, tiếng chi lọt vào tai ta thì ta hiểu ngay, chẳng cần suy nghĩ lâu dài.

– Đến 70 tuổi, trong tâm ta dầu có muốn sự chi cũng chẳng hề sai phép.
(LN, II, 4) (Xem Đoàn Trung Còn, LN, trang 14- 16.)

Lần khác, Ngài than: «Ôi, đời chẳng biết ta.»

Tử Cống hỏi: «Tại sao Thầy than rằng chẳng ai biết Thầy?»

Đức Khổng đáp: «Ta không oán Trời, ta không trách người; (còn về đạo lý) thì ta khởi học từ mức thấp nhất để đạt lên mức cao. Biết ta chẳng chỉ có Trời.» (LN, XIV, 37) (Cf. Đoàn Trung Còn, trang 231).

 Ngài chủ trương ở đời không được làm càn, làm gì cũng cần phải rõ đường lối trước đã; muốn được như vậy, phải chịu khó học hỏi, suy tư, phán đoán. Ngài nói: «Có những kẻ không biết mà cũng làm càn; ta không phải như họ vậy. Sau khi nghe nhiều, ta chọn những điều phải mà theo; sau khi thấy nhiều, ta ghi nhớ lấy những điều ta chú ý. Nhờ vậy mà ta trở thành người thứ tri.» (LN, VII, 27).

Đức Khổng không bao giờ nhận Ngài sinh nhi tri chi. Ngài nói: «Ta chẳng phải sinh ra đã biết. Thực ta là người hâm mộ tinh hoa đạo lý cổ nhân và mê mải tìm cầu tinh hoa đạo lý ấy mà thôi.» (LN, VII, 19).

Trên con đường đi tìm chân lý, Ngài chủ trương hai công trình: Suy Tư và Học Hỏi. Học để rút kinh nghiệm của tiền nhân; Suy để tìm cho ra những đường lối mới, những quan niệm mới, những giá trị mới về cuộc đời. Hai công trình ấy luôn luôn phải hỗ trợ, bổ túc lẫn nhau. Như vậy mới hữu ích, mới hoàn hảo. Ngài viết: «Trước đây ta mảng trầm tư, mặc tưởng, mà trọn ngày quên ăn, trọn đêm quên ngủ. Xét ra sự việc ấy không mấy ích gì cho ta, chẳng bằng học.» (LN, XV, 30).

Thế tức là Ngài cũng đã phải dày công học hỏi, suy tư, cố gắng tiến bước trên con đường đạo lý. Ngài cũng đã phải tiến từ thấp đến cao, cố gắng không ngừng để tiến mãi trên con đường hoàn thiện.

Ngài hết sức trọng sự cố gắng tâm thần, vì tâm thần không cố gắng, không hoạt động thì làm sao mà phát triển được. Do đó Ngài rất sợ hãi sự ù lì, sống qua ngày đoạn tháng, không chịu tìm hiểu, suy tư của rất nhiều người đương thời. Ngài nói: «Thà họ đánh cờ, đánh bạc, còn hơn là ăn không, ngồi rồi.» (LN, XVII, 21). Cũng vì vậy mà Ngài nặng lời quở trách Tể Ngã về tật ngủ ngày của ông. Ngài nói: «Cây mục không chạm khắc được, vách bằng bùn đất không tô vẽ được, ta còn trách người Dư làm gì.» (LN, V, 9).

Đức Khổng luôn luôn tỏ ra mình là một con người hiếu học, chịu trông, chịu nhìn, chịu quan sát, chịu hỏi, chịu suy để tìm cho ra nguyên ủy, thủy chung của cuộc đời. Không biết khi còn nhỏ Ngài đã học chữ với ai. Có người đã cho rằng Ngài đã học với Án Bình Trọng, tức là Án Anh nước Tề. Điều này dĩ nhiên là không đúng, vì sau này, nhiều lần gặp nhau, mà đôi bên không thấy có dấu hiệu nào, cử chỉ nào biểu lộ tình thầy trò cả.

Chỉ biết rằng Ngài lập chí học hành từ khi 15 tuổi, và chắc chắn đã dày công sưu khảo các sách vở như Dịch Tượng, Xuân Thu, Thi, Nhạc trong tàng thư của nước Lỗ (Xem Tả Truyện, Chiêu Công 2 và Chư Tử Thông Khảo, trang 47). Năm 30 tuổi, Ngài lại quyết tâm học đạo lý cho sâu xa hơn, và có lẽ từ ấy Ngài đã mơ ước sang lạc ấp, kinh đô nhà Châu một chuyến để thỏa lòng cầu học. Nguyện vọng ấy mãi đến năm 34 tuổi Ngài mới thực hiện được.

Sau đây xin mượn lời lẽ trong Khổng Tử Gia Ngữ mà thuật lại cuộc du hành quan trọng ấy, cũng như những điều mà Ngài đã thâu thập được trong khi quan sát di tích và phỏng vấn các nhân vật ở kinh đô nhà Châu.

Khổng Tử nói với Nam Cung Kính Thúc: «Ta nghe Lão Đam là một người bác cổ, tri kim, biết nguồn gốc của Lễ Nhạc, hay mối manh của đạo đức, như vậy là thầy ta vậy. Nay đi sang Châu.»

Kính Thúc đáp: «Cần phải có mệnh vua.» Bèn xin với vua Lỗ. Vua Lỗ bằng lòng và cấp cho thầy trò một xe, hai ngựa và một tiểu đồng. Ngài bèn cùng với Nam Cung Kính Thúc sang Châu.

Sang đến kinh đô Châu, Ngài phỏng vấn Lão Đam về Lễ, Trành Hoằng về Nhạc, đi xem các địa điểm tế Giao, tế Xã, khảo sát về phép tắc của tòa Minh Đường, xem cách tổ chức nơi Tông Miếu…

Sau khi khảo sát các phép tắc, qui mô, tổ chức của nhà Châu, đức Khổng than rằng: «Bây giờ ta mới hay Châu Công là vị thánh nhân, và lý do tại sao nhà Châu lại được làm vua cai trị thiên hạ.»

Đức Khổng đi xem tòa Minh Đường thấy trên tường, bốn bên cửa, có hình vua Nghiêu, Thuấn, lại có hình vua Trụ, vua Kiệt, như muốn phơi bày ra trạng thái, ra dung mạo của thiện, ác, và như muốn răn dạy về sự hưng vong. Lại thấy hình Châu Công bồng Thành Vương, cầm phủ việt, quay mặt về nam mà tiếp chư hầu. Thấy thế đức Khổng bồi hồi mà nói cùng tùy tùng rằng: «Đây là lý do tại sao nhà Châu thái thịnh.» Ý Ngài muốn nói: Quốc gia thái thịnh một phần lớn là nhờ có những con thảo, tôi hiền, những vị đại thần trung liệt một lòng vì nước vì vua như Châu Công.

Ngài nói rằng: «Gương trong thời dùng để soi bóng hình. Thời xưa cốt là giúp ta biết rõ thời nay. Bậc nhân quân mà không chịu cố gắng làm việc, chỉ ẩn núp sau những gì làm cho mình an hưởng mà lãng quên những căn do đưa đến suy vong (chỉ lo hưởng thụ mà quên phòng nguy lự hiểm) thời có khác nào người không chịu đi mà muốn đuổi theo kịp người đi trước mình. Thật là lầm lạc vậy.»

Khi Ngài vào thăm miếu của tổ tiên nhà Châu, là Hậu Tắc, Ngài thấy ở trước thềm bên phải có khắc một người vàng, miệng niêm phong ba đợt, sau lưng có khắc những lời đại loại như sau:

Đây là tượng một người xưa,

Lời ăn tiếng nói đắn đo, giữ gìn,

Gương xưa, ta cũng nên xem,

Nói năng cẩn trọng, hãy nên lo lường.

Rườm lời, sẽ lắm nhiễu nhương,

Ôm đồm nhiều việc, lòng thường xuyến xao.

Khi hay, cẩn trọng mới hào,

Đừng làm chi để nữa nào ăn năn.

Đừng rằng họa chẳng bao lăm,

Họa kia đến lúc rần rần, lớn lao.

Đừng rằng hại chẳng nỗi nào,

Họa kia lúc đến rạt rào, gớm ghê.

Đừng rằng: ai biết ai nghe,

Thần minh soi xét chi li, tỏ tường,

Lửa hừng mãi sẽ cao vươn,

Lửa vươn chất ngất, muôn phương cháy rần.

Nước kia nhỏ giọt chẳng ngừng,

Sông con, sóng cả vẫy vùng đó đây.

Sợi tơ kéo mãi cho dài,

Võng la giăng mắc khắp nơi trùng trùng.

Cành non để mọc đẫy tầm,

Búa rìu hồ dễ chặt phăng được nào?

Ở đời thận trọng hay sao!

Rồi ra phúc khánh rạt rào, láng lai!

Là chi cái miệng con người?

Miệng là cửa họa tai xưa rày!

Hùng hùng, hổ hổ cậy tài,

Chết oan, chết uổng rồi đời dở dang!

Ỷ mình hiếu thắng dương dương,

Sớm chày sẽ gặp người đương cự mình.

Trộm thời ghét chủ nhà lành

Dân thì luôn oán bậc anh, bậc thầy.

Biết rằng khó ở trên người,

Hiền nhân khiêm tốn chọn nơi thấp hèn.

Biết rằng đời khó tranh tiên,

Sau người ta bước, ấm êm, vẹn toàn.

Luôn luôn hòa nhã, nhún nhường,

Tự nhiên người sẽ yêu thương, nể vì.

Nhún nhường, chẳng chút suy bì,

Mình nhường, thiên hạ dám chi vượt mình?

Mặc người háo hấc, điêu linh,

Riêng ta, ta giữ tâm thành của ta;

Mặc người xuôi ngược phôi pha,

Riêng ta, ta vẫn ôn hòa thung dung.

Tuy là thông sáng quá chừng,

Nhưng ta che giấu chẳng trưng với người.

Cho nên dẫu ở cao ngôi,

Khiêm cung, hòa nhã, ai người hại ta.

Biển sông, vì thấp hết đà,

Nước muôn sông suối mới là của riêng!

Đạo trời chẳng vị chẳng thiên,

Đạo trời vốn đã kề bên mọi người!

Hãy nên cẩn trọng, hỡi ai!

Sau khi đọc đoạn văn này, đức Khổng bảo đệ tử: «Các trò nên ghi nhớ những lời này. Chúng thiết thực lại đúng lý, chí tình, lại thành khẩn. Kinh Thi rằng:

Hãy nên năm liệu bảy lo

Như qua vực thẳm như chà băng thưa.

Nếu các trò ăn ở được như vậy, lẽ nào mà mắc họa khẩu thiệt được.»

Khi đức Khổng ra về, Lão Tử tiễn đưa bằng những lời sau đây: «Tôi nghe người giàu có tiễn nhau bằng tiền, người nhân đức tiễn nhau bằng lời lẽ. Tôi chẳng giàu sang, nên trộm lấy tiếng người nhân mà xin tiễn biệt ông bằng lời lẽ: Ngày nay người càng thông minh sâu sắc lại càng dễ chết vì thích chỉ trích kẻ khác. Người khéo biện bác lý sự lại hay bị nguy hại đến thân, vì hay bới xấu kẻ khác. Đạo làm con là phải biết quên mình. Đạo làm bầy tôi là phải biết tự trọng.» [4]

Đức Khổng đáp: «Tôi xin kính cẩn phụng giáo.»

Tổng kết lại, trong cuộc du hành sang Châu, đức Khổng có thể đã lãnh hội, thâu thập được rất nhiều bổ ích. Ví dụ: tinh thần trách nhiệm, tài tổ chức của các bậc quân vương hồi mới lập quốc; lòng trung liệt của các bậc trọng thần, các bậc thần tử; đó chính là những yếu tố làm căn bản cho một nền hành chánh lành mạnh, hợp lễ nghĩa, đẹp lòng người. Đức Khổng cũng ghi nhận được những bài học khôn ngoan, như thận trọng trong khi ăn nói; cố gắng tu nhân tích đức, tích thiểu thành đại, để đi đến tinh hoa hoàn thiện; khiêm cung và thành khẩn trong khi tiếp nhân xử thế; không nên bài bác người, không nên bới xấu người; làm con phải biết quên mình, biết hy sinh; làm bầy tôi phải biết tự trọng, phải biết giữ cho tròn khí tiết, thanh danh.

Lúc ấy Ngài 34 tuổi. Xem như vậy thì lúc sang Châu, Ngài chỉ mới thâu lượm được những bài học tiếp nhân xử thế, những bài học chính trị, những bài học về nhân đạo mà thôi. Sau khi đi Châu về, Ngài còn sang Tề một thời gian ngắn, rồi lại trở về Lỗ. Trong khoảng 14 năm, từ 36 đến 50 tuổi, ắt hẳn là Ngài vừa dạy học, vừa khảo cứu thêm, vừa suy tư, vừa tìm hiểu. Nhờ vậy mà tới 50 tuổi, Ngài biết được mệnh Trời, thấy được thiên địa chi tâm, bước lên thánh vức. Trong thời gian ấy, Ngài khảo cứu sách vở, dạy dỗ học trò, quan sát nhân tình thế thái; quan sát cảnh vật; học rồi lại suy, suy rồi lại học. Càng suy tư mài miệt, lại càng nhìn thấy chân lý; càng đi sâu vào nội tâm, lại càng thấy mình sống liên kết với Thượng Đế. Ngài cho rằng chỉ khi nào con người sống kết hợp được với Thượng Đế, thì đời sống mới trở nên mãnh liệt rạt rào, y như nước suối, vì phát xuất tự nguồn nên tung tỏa mãi mãi chẳng bao giờ hao kiệt, còn như sống cách biệt với trời, thì có khác nào những giòng nước của trận mưa rào, lai láng đấy rồi lại tiêu ma đấy, nào có ra chi. Mạnh Tử đã ghi lại những những sự suy tư của đức Khổng, trước những giòng sông suối như sau:

Tử Tư hỏi Mạnh Tử rằng: «Thuở xưa đức Trọng Ni thường khen nước rằng: Nước thay, nước thay. Nước có chi mà Ngài khen vậy?»

Mạnh Tử đáp rằng: –

«Nước từ trên nguồn chảy xuống, cuồn cuộn ngày đêm chẳng ngừng, ngập hết các hang, ngách; kế chảy thêm nữa và phóng ra bốn bể. Nước có nguồn mới được như thế. Vì chỗ đó nên đức Khổng khen vậy. Chí như nước không nguồn, vào khoảng tháng bảy tháng tám, mưa lớn nước ngập hết các mương cống. Nhưng mưa vừa dứt, mình chỉ đứng chờ một chút, thì nước rút đi mất hết.» (MT, Ly Lâu chương cú hạ, 18).

Chắc niềm tin ấy của Ngài cũng có thể phát sinh, hoặc đã được làm cho trở nên mãnh liệt hơn, trong khi Ngài khảo lại Kinh Thi, Kinh Thư, vì trong Kinh Thi, Kinh Thư, ta thấy thuyết: Thiên Nhân Tương Dữ, Thiên Nhân Hợp Nhất, hoặc những từ ngữ Phối Thiên, Phối Mệnh thường hay được nhắc tới. (Cf. Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương IV và VI. Kinh Thư, Cao Dao mô 7; Thái Thệ hạ 2; Thái Giáp hạ 3; Cao Tông, Dung Nhật 3; Thái Thệ trung 7; Đa Sĩ 6; Quân Thích 6, 7; Quýnh mệnh 2, v.v…)

Ngài ghi rằng Ngài 50 tuổi, Ngài mới biết mệnh Trời. Thế nào là biết mệnh Trời? Biết mệnh Trời tức là:

1- Biết rằng trong thâm tâm mình có Trời làm căn cơ, chủ chốt (Thiên Mệnh chi vị tính).

2- Biết rằng con người sinh ra là cốt để thực hiện một định mệnh sang cả, là sống một cuộc đời hoàn thiện, thuận theo thiên lý, sống phối kết với Trời (suất tính chi vị Đạo).

3- Chủ trương rằng con người phải làm bừng sáng ngọn lửa thiên chân, vốn đã tiềm ẩn, đã âm ỉ cháy lòng; phải tiến mãi trên con đường tu đức, tu đạo, cho đến chỗ chí thành chí thiện. (Cf. Đại Học 1).

Vì đã lập được căn cơ vào nơi Trời, nên sau này khi bị vây ở đất Khuông (LN, IV, 5), bị nạn ở đất Tống (LN, VII, 22), Ngài mới nói một cách tin tưởng được rằng Ngài đã là vẻ sáng của Thượng Đế, thì những kẻ phàm phu tục tử không thể nào hãm hại Ngài được.

Cũng vì vậy mà sau này có nhiều lúc Ngài muốn lặng thinh để bắt chước Trời (LN, XVII, 18); hoặc than rằng chỉ có Trời mới hiểu được Ngài mà thôi (LN, XIV, 37). Nói thế, tức là Ngài muốn ám chỉ Ngài đã lên tới một trình độ, một cảnh giới tinh thần siêu xuất quần sinh….

Dầu sao thì từ trước tới sau ta thấy Ngài vẫn luôn luôn tỏ ra thiết tha đi tìm chân lý, thiết tha học hỏi, thiết tha suy tư, cố gắng để tiến tới mãi mãi (LN, VII, 1, 2, 19; XV, 30).

Ngài nói: «Tỉ như đắp đất cho thành núi, chỉ còn một giỏ nữa là xong, nhưng mình lại thôi, đó là tại mình bỏ vậy. Lai tỉ như lấp một vực sâu cho thành đất bằng, dầu cho mình mới đổ xuống một giỏ, nhưng mình tinh tấn đổ thêm, đó là mình đi đến chỗ thành công vậy.» (LN, IX, 18).

Ngài lại còn chủ trương Tri Hành Hợp Nhất. Ngài nói: «Mình có đủ tri thức để hiểu đạo, nhưng mình chẳng có lòng nhân để giữ gìn, dẫu mình có được đạo ấy, rồi cũng mất đi.» (LN, XV, 32). Tấm lòng thiết tha tìm cầu đạo lý ấy còn được đức Khổng minh xác với Diệp Công khi Ngài đã 63 tuổi. Diệp Công hỏi Tử Lộ về đức Khổng; Tử Lộ không đáp. Đức Khổng nói: «Tại sao ngươi không nói thế này: Đó là người khi hăng say suy tư thì quên ăn; khi được chân lý thì vui sướng quên hết mọi nỗi buồn lo; chuyên tâm về đạo đến nỗi tuổi già sắp tới mà chẳng biết.» (LN, VII, 18). Và cũng vì lòng tha thiết luôn luôn cầu học, cầu tiến, nên ngay khi gần chết, Ngài vẫn còn học Dịch đến bật cả lề sách ba lần (LN, VII, 16).

Nhờ sự cố gắng học hỏi, suy tư ấy, đức Khổng đã có một kiến thức hết sức sâu rộng, khiến cho nhiều người phải bỡ ngỡ (LN, XIX, 22). Nhưng quý báu nhất, là nhờ sự thành khẩn tìm cầu chân, thiện, mỹ ấy, mà chân, thiện, mỹ đã đến với Ngài, đã thể nhập vào Ngài. Trung Dung say này cũng đã ghi lại phương pháp để tiến tới chân, thiện, mỹ. Trung Dung viết:

Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy, cũng đúng chẳng sai.

Thung dung trung đạo tháng ngày,

Ấy là vị Thánh, từ ngay lọt lòng.

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành, phải mạnh tay co…

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, mới mang thi hành.

Đã định học, chưa thành, chưa bỏ,

Đã hỏi han, chưa tỏ, chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nhôi.

Chưa ra manh mối, chưa rời xét suy.

Biện luận mãi, tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua.

Đã làm làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến, thâu toàn thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh;

Người làm mười bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ, ta ganh với người.

Đường lối ấy, nếu ai theo được,

Dẫu u mê, sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Sớm chày cũng sẽ ra lòng sắt son.

(Trung Dung XX)

Ngày nay khảo lại cuộc đời đức Khổng, ta còn như vẳng vẳng nghe thấy lời Ngài nhắn nhủ: Bạn hỡi, xưa kia ta đã cố gắng học hỏi, suy tư, tu luyện, nên mới đạt tới địa vị thánh hiền. Nay sao bạn không đi lại con đường của ta đã đi, áp dụng những phương pháp của ta đã dùng, để tiến tới thánh vị, thiên vị, mà ta đã đạt được?

CHÚ THÍCH

[1] La tempête dans l’âme du Bodhisattva s’était apaisée. Il entreprit le laborieux voyage vers la suprême clarté. Présence du Bouddhisme, p.4. – Quant à Jésus, il croissait en sagesse, en taille et en grâce… (Luc. 2, 52).

[2] Naturellement ceux qui suivent les voies nouvelles doivent toujours partir de ce qui est connu; Sakyamuni, pour s’éclairer, se tourna vers les maîtres qui vivaient alors. Présence du Bouddhisme, p.4.

[3] Ví dụ: Phật giáo có nhiều vay mượn ở Bà La Môn; Công giáo có nhiều vay mượn ở đạo Do Thái, và nhất là giáo phái Esséniens. (Xem Edmun Wilson, The Scrolls from the Dead Sea. – Millar Burrows, Les Manucrits de la Mer Morte. – John J. Dougherty, The Searching the Scriptures (Appendix I, The Significance of Qumram).

[4] Khổng Học Đăng chỗ này lại ghi những lời Lão Tử khuyên nhủ khác hẳn (Xem Khổng Học Đăng trang 12 quyển 1. Quyển Khổng Tử Thánh Tích Đồ cũng ghi những lời lẽ của Lão Tử giống như Khổng Học Đăng. Những lời lẽ trên trích dịch trong quyển Khổng Tử Gia Ngữ).

——————-
*******************     

Chương 7

Đức Khổng, con người rất cũ và rất mới

Suy khảo về cuộc đời đức Khổng, ta thấy Ngài có một điểm hết sức đặc biệt và một thái độ hết sức khiêm tốn.

Ngài nói: «Ta trần thuật chứ không sáng tạo,

Tin cổ nhân, mộ đạo cổ nhân.» (LN, VII, 1)

Trung Dung viết thêm:

«Đức Khổng tiếp nối đạo Thuấn, Nghiêu,

Làm sáng tỏ lối đường Văn, Võ.» (Trung Dung, chương XXX)

Ngài sống vào khoảng thời gian từ 551 đến 479 Trước Công nguyên, mà đã tốn rất nhiều công phu khảo sát về các đạo giáo, chính trị, tư tưởng, triết học, phong tục của một khoảng thời gian lịch sử ước chừng 2.000 năm về trước cho tới đời Ngài. Ngài đã san định, biên khảo trước sau sáu bộ sách lớn: Lễ, Nhạc, Thi, Thư, Dịch, Xuân Thu. Đây ta chỉ đề cập sơ về Thi, Thư, Dịch, Xuân Thu.

A. KINH THI

Kinh Thi mô tả lại niềm tín ngưỡng của các vị thánh vương nhà Châu; ghi chú lại những phong tục và nếp sống thường nhật của dân Trung Hoa, từ thời Hậu Tắc cho tới thời đức Khổng.

Hậu Tắc hay Khí, tức là anh em ruột với vua Nghiêu (2356- 2255), mới đầu ở đất Thai. Sau này cháu bốn đời ngài, là Công Lưu, thiên sang đất Bân.

Năm Giáp Dần, 1327, cháu 16 đời của Ngài, là Cổ Công Đản Phụ, lại thiên sang dãy Kỳ Sơn, và cải quốc hiệu là Châu.

Năm Đinh Dậu, 1284, tức năm 41 đời vua Vũ Đinh, Cổ Công Đản Phụ sinh Quí Lịch.

Năm Canh Dần, 1231, tức năm 28 đời vua Tổ Giáp, Quí Lịch sinh Văn Vương.

Năm Nhâm Thìn, 1169, tức năm thứ 2 đời vua Đế Ất, Văn Vương sinh Cơ Phát, tức là Chu Vũ Vương sau này.

Kinh Thi, ngoài những thi ca mô tả phong tục, tâm sự, nếp sống thường ngày của người xưa, còn cho ta thấy một niềm tin về Thượng Đế hết sức lạ lùng, và một nền đạo đức hết sức cao siêu.

Kinh Thi chủ trương rằng các bậc thánh vương, các bậc hiền thánh đời xưa, đã có một đời sống tinh toàn, phối kết với Thượng Đế với Thượng Đế và chủ trương Thượng Đế sống rất gần vua, gần dân, gần quân sĩ.

Kinh Thi viết:

«Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,

Một rừng người chật cả sa tràng.

Cho ba quân thêm dạ sắt gan vàng,

Võ Vương kêu: Thượng đế ở cùng ta đó,

Ba quân hãy vững lòng vững dạ.» [1]

Lời kêu gọi đó làm cho binh sĩ nhà Châu ào lên đánh tan quân Thương Ân trong có một buổi sáng.

Kinh Thi viết thêm:

«Nơi Mục Dã mênh mang rộng rãi,

Xe bạch đàn chói chói chang chang,

Ngựa tứ nguyên phau phau đẹp rỡ ràng,

Khương thượng phụ trông oai phong lẫm lẫm,

Ngài như chim ưng xoè tung đôi cánh,

Giúp Võ Vương thế mạnh xiết bao,

Cả phá Thương, ba quân tiến ào ào,

Sau một sáng, trời thanh quang trở lại.» [2]

Thời buổi thô sơ ấy, nhân loại đã tin rằng Trời chiếu ánh sáng muôn trùng vào tâm hồn họ, để làm khuôn phép mẫu mực, để ra mệnh lệnh cho họ theo. Các vương giả, hiền nhân thời ấy cố gắng sống sao cho đức hạnh tuyệt vời, để kết hợp với Trời, để có thể coi như là vẻ sáng của Trời, như Văn Vương. Họ mong muốn được đức hạnh như Trời (dữ Thiên, đồng đức).

Hễ thấy ai:

Đức sáng quắc sáng choang ở dưới,

Họ liền biết:

Mệnh hiển dương, chói lọi ở trên.[3]

Thời buổi ấy, các bậc hiền nhân, vương giả đều tin có ảnh tượng Trời trong đáy lòng mình.

Văn Vương nói:

«Chẳng thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm,

Chẳng phải long đong nhưng vẫn giữ được.» [4]

Thế là nhờ sự hiếu cổ, tồn cổ của đức Khổng mà ngày nay ta còn có được một bằng chứng lịch sử cụ thể về quan niệm «Thiên Nhân Tương Dữ» của người xưa, về ước vọng của hiền thánh xưa, là sống phối hợp với Trời.

Trương Kỳ Quân, một học giả Trung Hoa Dân Quốc hiện đại đã viết: «Trung Quốc từ thời đại Đường Ngu (Nghiêu Thuấn) tới nay vốn có tư tưởng về lý lẽ “Thiên Nhân Hợp Nhất”. Kính Trời cốt là để yêu người. Yêu dân tức là để tôn Thiên. Thánh triết lịch đại đều nối tiếp phát huy cái đạo”Thiên Nhân Hợp Nhất” ấy. Lão Tử chính là một trong các bậc thánh hiền ấy.» (Cf. Trương Kỳ Quân, Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử, chương Lão Tử.)

Khảo Đạo Đức Kinh, ta thấy Lão Tử cũng sùng cổ như Khổng Tử và cũng chủ trương: «Lý tưởng của người xưa là sống phối kết với Trời.» (Thị vị phối Thiên, cổ chi cực. Đạo Đức Kinh, ch. 68).

Nơi chương 15, Đạo Đức Kinh, Lão Tử mô tả hình dung dáng dấp những người xưa sống khuôn theo đạo cả, kết hợp với Trời như sau:

«Ai người xưa khuôn theo Đạo cả,

Sống huyền vi rất khó tri tường.

Nay ta gạn ép văn chương,

Hình dung dáng dấp liệu đường phác ra.

Họ e ấp như qua băng tuyết,

Họ ngỡ ngàng như khiếp láng giềng.

Hình dung phong thái trang nghiêm,

Băng tan, tuyết tán như in lạnh lùng.

Họ đầy đặn in chừng mộc mạc,

Nhưng phiêu khinh man mác hang sâu.

Hỗn mang ngỡ nước đục ngầu,

Đục ngầu lắng xuống một mầu trong veo.

Ngỡ ù cạc một chiều an phận,

Nào ai hay sống động khôn lường.

Phù hoa gom góp chẳng màng,

Đã say đạo cả coi thường phù hoa.

Sống ẩn dật không phô thanh thế,

Việc thế gian hồ dễ đổi thay..»

(Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 15.)

B. KINH THƯ

Kinh Thư mô tả lại gương tích ít nhiều vị đế vương xưa, từ thời vua Nghiêu (2356- 2255) cho đến đời vua Bình Vương (770- 719), tức là đến hết thời Tây Chu. Nếu ta bỏ đoạn cuối nói về Tần Mục Công (659- 620), và đọc tiếp theo bộ Xuân Thu, ta sẽ có một quan niệm khái quát về các bậc thánh vương Trung Hoa thời cổ, và sự thăng trầm của các nền chính trị Trung Hoa, từ Nghiêu cho tới năm 14 đời Ai Công nước Lỗ (481).

Nhưng mục đích Kinh Thư là cho ta thấy rõ quan niệm về nền Thiên trị Trung Hoa thời cổ, với bản hiến chương căn bản của nó là Hồng Phạm Cửu Trù.

Thế nào là một nền Thiên trị?

Nền Thiên trị là một nền chính trị nhận Trời làm khởi điểm và làm cùng điểm nhân loại; lấy sự hoàn thiện làm khởi điểm và làm cùng điểm nhân loại. Nên bậc thánh vương tế tự Trời, tức là lấy Trời làm cùng điểm, làm cứu cánh cho mình và cho muôn dân, cố đem những khuôn phép hằng cửu áp dụng vào công cuộc trị dân, tức là dùng những khuôn phép hoàn thiện để uốn nắn con người trở nên hoàn thiện.

Những luật pháp cũng cố khuôn theo đúng các định luật thiên nhiên; nên luật pháp của dân xưa chính là tam cương ngũ thường; chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Các luật lệ nhân tạo, các hình pháp nhân tạo đều cố hết sức tránh. Nếu bất đắc dĩ phải lập ra, thì chỉ muốn dùng tạm thời. Thế tức là ý nghĩa «dùng hình pháp cốt là mong sao bỏ được hình pháp», «xử kiện cốt là mong sao bỏ được kiện tụng.» [5]

Thiên tử hay thánh vương phải là một người siêu việt quán tam tài, nối kết Trời, đất, người.

Tinh thần ngài phối hợp với Trời, vì thế gọi là Thiên Tử.

Tim óc người nhân hậu, thông minh, cốt là để thương xót, hướng dẫn chúng dân.

Thể xác người và áo mão người tượng trưng cho vẻ đẹp đẽ của vật chất.

Ảnh hưởng, ân trạch, ngài thụ lãnh được nơi Trời, sẽ qua trung gian các hiền thần, thâm nhập vào bách tính. Bách tính hấp thụ được ảnh hưởng ấy, sẽ được giáo hóa, sẽ được hoán cải.

Chúng dân lại đem tài sức ra cải tạo vật chất, cải tạo hoàn cảnh, trong những điều kiện thuận tiện.

Vật chất được hoán cải, canh tác, trở ngược lại sẽ đem no ấm, sung túc lại cho chúng dân.

Con người được no ấm, an bình, có cơ hội học hỏi, suy nghĩ, sẽ tiến dần trên các nấc thang giá trị, để tiến dần tới hoàn thiện. Hơn nữa, mọi người sẽ trông vào gương sáng của vì thiên tử, sẽ cố gắng hướng thượng, cải thiện mình mãi mãi, để tiến tới chí mỹ, chí thiện…

Nói cách khác, các bậc thánh vương lên trị nước không phải là để hưởng thụ, để buông thả cho dục tình tha hồ mà phóng túng, nhưng chính là để tuân theo ý Trời, tuân theo những định luật nhiên nhiên của trời đất và nhân loại. Vì thế, các Ngài thời thường yêu cầu đình thần và dân chúng đàn hạch, kiểm thảo hành vi, hoạt động của mình.[6]

Các Ngài hứa đem an bình lại cho nhân loại; thế nhưng không có hứa suông, mà lại dạy mọi người phải thực hiện an bình, bằng cách tu thân, bằng cách tôn trọng tam cương ngũ thường, giữ vẹn tín nghĩa, trọng đức, khinh tài, cố gắng không ngừng để cải thiện hoàn cảnh, cải thiện nội tâm, tiến mãi trên con đường chân, thiện, mỹ.[7] Thế tức là dạy cho dân biết tự trọng, biết tự tạo cho mình một nếp sống an bình, an lạc, do tài đức của moi người chứ không phải là ngồi không ăn sẵn, ỷ lại, chờ mong Trời đổ an bình xuống cho mình, như đổ mưa móc xuống cho cây cỏ.

Xét Hồng Phạm Cửu Trù ta thấy nó xây nền tảng chính trị trên căn bản vĩnh cửu tuyệt đối, vì đã biết lấy Trời làm căn cốt cho mọi người. Trời từ đáy thẳm lòng sâu vũ trụ, đáy thẳm lòng sâu con người, đã tung tỏa muôn ánh hào quang để hướng dẫn nhân loại. Thiên tử là người hấp thụ được hào quang ấy nhiều nhất, nên vừa thông minh vừa đạo đức vượt quá chúng nhân, vừa thay Trời trị dân, vừa là gương mẫu sống động cho một đời sống lý tưởng cao đẹp nhất, lúc nào cũng treo cao cho muôn dân soi chung, và là trung gian giữa Trời người; qui tụ lại mọi điều hạnh phúc của Trời, để rồi lại tung toả ra cho toàn dân thiên hạ. Nó cũng dựa trên sơ đồ Trung điểm và vòng Dịch để tổ chức quốc gia. Nó cũng dựa theo sơ đồ Trung điểm và vòng Dịch để tổ chức quốc gia.

Lập đế đô ở giữa muôn dân và càng xa đế đô, là càng xuống man di, mọi rợ, xuống tới các tầng lớp thấp kém.[8]

Cũng vì thế mà muôn dân đều có nguyện vọng về sống ở đế đô, gần thiện tử. Đại Học nói: «Bang kỳ thiên lý, duy dân sở chỉ» cũng không ngoài ý đó.

Ở nơi con người cũng theo một tổ chức như vậy. Tầng ngoài cùng là dáng điệu, tầng trong cùng là duệ trí. Có đạt tới duệ trí mới đạt tới mức thánh thiện. (Hồng Phạm, trang 6).

Bậc thánh vương không bỏ sót tầng lớp giá trị nào mà không khai thác; từ vật chất đến tinh thần, từ miếng cơm manh áo đến đạo đức, tế tự, nhất nhất đều được đề cập tới.

Bậc thánh vương hiểu được gốc ngọn, đầu đuôi, nên bao giờ cũng lấy Trời làm gốc, lấy tâm hồn con người làm trọng, của cải vật chất bên ngoài làm tùy. (Đại Học, X).

Ý niệm Thiên Tử trong Hồng Phạm Cửu Trù bắt nguồn từ Trời, có một ý nghĩa thần thánh, và phổ quát, một giá trị vũ trụ.

Các học giả Âu Châu sau này như Wieger, Marcel Granet, đã nhìn thấy giá trị cũng như ý nghĩ sâu xa của chức vị thiên tử trong nền chính trị Trung Hoa thời cổ.[9]

C. KINH XUÂN THU

Kinh Xuân Thu là một bộ sử có niên hiệu mạch lạc ghi chú các công chuyện từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên, tức 721, đến hết năm 14 đời vua Lỗ Ai Công, tức 481.

Viết Xuân Thu, đức Khổng muốn áp dụng thuyết chính danh vào công chuyện viết sử, và cũng muốn phục hồi lại nền Thiên Trị, phục hồi lại vương đạo trong công cuộc trị dân.

Theo Đổng Trọng Thư, thì sách Xuân Thu cũng cốt là để xiển minh cái quan niệm «Thiên nhân tương dữ», nghĩa là Trời và người có quan hệ mật thiết với nhau. (TTK, Nho Giáo, II, tr. 35). Trời là tổ của vạn vật, là tổ của con người. Cho nên khi ta mới sinh, chưa phải là người, vì con người xứng đáng với danh hiệu nó, phải hoàn toàn như Trời. (Nho Giáo, II, tr. 35).

Người có địa vị tôn quý hơn cả là bậc vương giả. Vương giả là người đứng giữa, tham tán, quán thông cả Trời, đất, và người, cho nên nói rằng: «Đời xưa đặt chữ, vẽ 3 vạch và sổ một cái ở giữa, là chữ Vương. ba cái vạch ngang là biểu thị Trời, đất, và người, cái sổ ở giữa là biểu thị cái ý tham thông ba bậc ấy.» (Vương Đạo thông tam, XLIV). Bậc vương giả có cái địa vị quan trọng như thế và lại có cái trách nhiệm rất lớn, không những là đối với người mà thôi, nhưng đối với cả trời đất nữa, cho nên người làm vua phải thận trọng mà giữ ngôi mình cho xứng đáng. Bậc nhân quân một đằng là tham dữ với trời đất, một đằng làm cái khu cơ, nghĩa là cái then máy để phát động sự hành vi trong nước. Cái khu cơ mà sai một hào ly, thì mọi việc hư hỏng cả. Vậy nên kẻ nhân quân cần phải «cẩn bản, tường thủy, kính tiểu, thận vi»: cẩn cái gốc, rõ cái mối đầu, kính cái nhỏ, thận cái không rõ. (Lập Nguyên Thần XIX) (TTK, Nho Giáo, II, tr. 36).

Như vậy vi ý Xuân Thu ngoài phương pháp dùng từ ngữ, danh xưng để bao biếm ra, thì cũng tương tự vi ý Kinh Thư.

D. KINH DỊCH

Theo Luận Ngữ thì về già đức Khổng mới chuyên tâm nghiên cứu và xiển minh Dịch lý (LN, VII, 16).

Theo truyền thuyết thì:

– Phục Hi vẽ Bát Quái.

– Văn Vương lập 64 quẻ, viết Thoán Từ, giải đại cương về mỗi quẻ.

– Chu Công viết 384 Hào Từ, giải đại cương về mỗi hào.

– Khổng Tử viết Thập Dực để bổ sung cho Kinh Dịch.

Thập Dực là:

1- Thoán Thượng Truyện: để cắt nghĩa Thoán Từ của Thượng Kinh.

2- Thoán Hạ Truyện: để cắt nghĩa Thoán Từ của Hạ Kinh. Thoán Truyện khác Thoán Từ của Văn Vương. Thoán Từ bao giờ cũng xếp ngay ở đầu quẻ. Thoán Truyện xếp tiếp theo, và bao giờ cũng bắt đầu bằng hai chữ «Thoán viết».

3- Tượng Thượng Truyện: để giải thích các Tượng nơi Thượng Kinh.

4- Tượng Hạ Truyện: để giải thích các Tượng trong Hạ Kinh. Tượng Truyện chia thành Đại Tượng (cắt nghĩa hình ảnh của toàn quẻ với bài học luân lý kèm theo) và Tiểu Tượng để cắt nghĩa hình ảnh đề cập trong Hào Từ; như vậy Tiểu Tượng cốt cắt nghĩa Hào Từ cho thêm rõ nghĩa. Như vậy quẻ nào cũng có một Đại Tượng và sáu Tiểu Tượng, và đều bắt đầu bằng hai chữ «Tượng viết».

5- Hệ Từ Thượng Truyện.

6- Hệ Từ Hạ Truyện. Hệ Từ Thượng và Hạ bàn về đạo lý, triết lý đại cương trong Kinh Dịch, lại đôi khi cũng bình thêm một ít hào cho rõ nghĩa hơn.

7- Văn Ngôn. Văn Ngôn chỉ có ở trong hai quẻ Kiền và Khôn. Văn Ngôn bình giải Thoán và sáu Hào của hai quẻ Kiền và Khôn cho thêm rõ ràng, lý sự hơn.

8- Thuyết Quái Truyện: Thuyết Quái cho biết mục đích của thánh nhân khi viết ra bộ Kinh Dịch, đồng thời bàn về những ảnh hưởng mà 8 quẻ chính trong Kinh Dịch có thể tượng trưng được.

9- Tự Quái: Tự Quái bàn về thứ tự của 64 quẻ trong Kinh Dịch, như ta thường thấy theo, trong mọi bộ Kinh Dịch.

Thượng Kinh 30 quẻ, bắt đầu là Kiền, Khôn; kết cục là Khảm, Ly.

Hạ Kinh bắt đầu bằng Hàm, Hằng; kết thúc bằng Ký Tế, Vị Tế; gồm 34 quẻ.

10- Tạp Quái Truyện: bàn sơ về ý nghĩa của 64 quẻ, xếp thành 32 đôi, có ý nghĩa thường là nghịch nhau.

Nếu khảo cứu Kinh Dịch cho đúng đắn, ta sẽ thấy đó là một bộ sách triết học rất cao siêu. Các đồ bản Dịch chính là những họa đồ phô bày ra cơ cấu của vũ trụ, con người và vạn vật; cũng như các định luật tuần hoàn, thăng giáng, vãng lai, tiến thoái, tiêu tức của nhị khí Âm Dương, của tinh thần và vật chất.

Vì ý cổ nhân khi viết Kinh Dịch, chính là muốn cho ta tìm cho ra căn để của con người và vạn vật; gốc gác của vũ trụ; những định luật chi phối mọi sự biến thiên của trời đất; cũng như viễn đích, cùng lý của quần sinh và nhân loại.

Nhìn vào các họa bản Dịch ta sẽ lĩnh hội được sự kiện vô cùng quan trọng này là:

Tạo hóa hay Thái Cực ẩn áo ngay trong lòng vạn hữu.

Tạo Hóa và vạn hữu không thể nào tách rời nhau ra được.

Tạo Hóa và vạn hữu hợp lại thành một đại thể, y như một cây vĩ đại có muôn cành lá, hoa quả, xum xuê.

Thái Cực hay Tạo Hóa là căn cốt. Vạn tượng, vạn hữu là những hiện tượng biến thiên, chuyển dịch bên ngoài.

Suy ra, nếu ta vượt qua những lớp lang biến ảo của hoàn cảnh, xác thân và tâm hồn, ta sẽ tìm về được với Tạo Hóa, với Thái Cực ẩn áo nơi đáy lòng ta.

Thế là từ ngọn suy ra gốc, từ biến thiên suy ra hằng cửu, từ các tầng lớp biến thiên bên ngoài suy ra tâm điểm bất biến bên trong. Như vậy học Dịch là để biết các lớp lang biến hóa chuyển dịch của vũ trụ và của lòng mình; nhân đó sẽ suy ra được chiều hướng tiến thoái và trở về được với bản thể duy nhất, tiềm ẩn nơi đáy lòng mình.

Khi tâm thần, nhờ Dịch học, đã băng qua được các lớp lang biến ảo bên ngoài, trở về được với căn nguyên bất biến, trở về được với khu nữu của trần hoàn rồi, ta sẽ từ đó đi ngược lại, để tìm cho ra căn cơ, then chốt, cũng như nhịp điệu, tiết tấu của mọi biến thiên, cốt là góp phần vào công cuộc đại tạo của trời đất, tức là vào công cuộc tinh luyện vĩ đại, để đi đến tinh hoa, toàn mỹ.

Nhờ bộ Kinh Dịch mà xưa nay biết bao người đã trở về được với căn nguyên của mình, với Trời với Thái Cực.

Ngụy Bá Dương chân nhân đời nhà Hán, tác giả bộ Chu Dịch Tham Đồng Khế, một bộ sách căn bản của đạo Thần tiên, đã đề tựa sách như sau:

Đạo thần tiên, luyện đơn tu Đạo thực hết sức giản dị, chẳng qua là phối hợp với Thái Cực (với Tạo Hóa mà thôi). Ông giải thích:

Tham là tham dự cùng Thái Cực

Đồng là hòa đồng cùng Thái Cực

Khế là khế hợp với Thái Cực.

Thái Uyên, một nho gia đời Tống, cho rằng: «Người quân tử học Dịch để tiến tới thần minh.» (Quân tử học Dịch nhi chí ư thần dã. – Trùng biên Tống Nguyên học án, quyển III, trang 678).

Tác giả quyển Thái Cực Quyền Bổng Đồ Thuyết cho rằng: «Dịch là một phương pháp, một con đường lớn lao giúp ta trở về với Trời, với Thượng Đế.» (Dịch chi vi thư giáo nhân hồi thiên chi đại kinh, đại pháp dã. Sách trích dẫn, trang 52).

Gần đây, Văn Đạo Tử cũng chủ trương rằng học Dịch cốt là để tìm cho ra căn cốt, tinh hoa của mình, tìm cho ra định mệnh sang cả của mình, tìm cho ra lẽ phản bản quy nguyên, chứ không phải vụ chuyện bói toán, sấm vĩ. (Cf. Văn Đạo Tử giảng Đạo tinh hoa lục, quyển 1, trang 9).

Nói như vậy cốt là để ta biết tại sao đức Khổng ưa khảo Dịch, mê nghiên cứu Kinh Dịch …

Căn cứ Trung Dung, ta thấy đức Khổng sau khi đã khảo cứu sử sách, các thi văn cổ thời, sau khi đã khảo sát niềm tín ngưỡng và đạo giáo thời xưa, liền minh định được rằng: Trời chẳng có ở đâu xa, mà Trời đã ở ngay trong lòng con người. Cho nên chân đạo, chân lý, cũng phải phát xuất từ đáy lòng con người. Chân đạo, chân lý ấy, nếu đem so với đường lối của tiên vương, sẽ không có chi là khác; nếu đem so với định luật của trời đất cũng sẽ đúng như in, và nếu đem so với đạo của các hiền thánh ngàn đời về sau, cũng vẫn y thức như vậy. Thế mới là chân đạo, chân lý.

Trung Dung viết:

«Nên đạo quân tử phát xuất tự thâm tâm.

Đem trưng bày phổ cập tới thứ dân,

Khảo chứng tiên vương, không có chi lầm lỗi.

Sánh với luật đất trời không phản bội,

So quỉ thần, thấy đường lối đúng không sai.

Thế là đã biết lòng Trời đó,

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng có chê bai

Thế là đã biết lòng người tỏ rõ.»

(Trung Dung, XXIX)

Tóm lại đức Khổng đã khảo sát thư tịch cổ nhân, triết lý cổ nhân, cốt là để tìm ra:

1- Chân đạo của các vị thánh vương, thánh triết xưa, mà ta thường thấy Kinh Thi, Kinh Thư đề cập tới.

2- Nền Thiên trị (Théocratie) Trung Hoa thời cổ, với hiến chương căn bản là Hồng Phạm Cửu Trù.

3- Tinh hoa triết học và siêu hình học cổ thời mà Kinh Dịch đã hàm tàng, dung trữ.

4- Những định luật tự nhiên, những nguyên tắc căn bản,những khuôn phép, những đường lối lý tưởng, chi phối mọi sự biến dịch và mọi hoạt động cá nhân và xã hội.

Cũng vì Ngài chỉ lấy thực tại làm đối tượng; chân, thiện, mỹ làm mục phiêu, cho nên đạo của Ngài, học thuật của Ngài sẽ trường tồn với thời gian …

Vả lại Trung Dung cho rằng phàm những bậc thánh nhân đã đạt được tới mức độ Phối Thiên, sẽ sống mãi cùng trời đất. Trung Dung viết:

«Nên thanh danh ngài vang lừng Trung Quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che và đất chở.

Đâu còn nhật nguyệt hai vầng tở mở,

Đâu có móc đọng đâu có sương rơi.

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó ngài vẫn được tôn sùng quí báu.»

(Trung Dung, 31)

Điều đó không sai, vì Thánh Vịnh David cũng viết:

«Danh người sẽ muôn đời sáng tỏ,

Cùng vầng dương muôn thuở lâu lai.

Muôn dân diễm phúc nhờ người,

Phúc người truyền tụng muôn đời dài lâu.»

(Thánh Vịnh David, 72, 17)

Sách Minh Triết viết:

«Nhờ minh triết tiếng ta vang dậy,

Trẻ như ta, già thảy kính tôn,

Ngồi tòa, thiên hạ khen khôn,

Gặp ta, vương tướng cũng còn ngạc nhiên.

Ta nín lặng, người thêm mong đợi,

Ta nói năng, người vội lắng nghe.

Lời ta nhả ngọc phun huê,

Làm cho thiên hạ say mê nghe hoài.

Nhờ minh triết muôn đời trường thọ,

Ta lưu danh vạn cổ hậu lai,

Muôn dân ta quản, ta coi,

Muôn dân, muôn nước, trong ngoài phục ta.»

(Minh Triết, 8, 10, 14)

Vả lại, đức Khổng vừa rất cổ vừa rất kim, là vì Ngài đã đi vào được tới lương tâm con người, mà lương tâm thời không có cổ kim, không có mầu da, sắc áo, không có biên cương, bờ cõi.

Ngày nay chúng ta sở dĩ không hiểu nổi cổ, không theo kịp kim, là vì con đường nội tâm chúng ta đã bị lau lách dục vọng làm cho bế tắc.

Mạnh Tử nói với Cáo Tử: «Trong núi, nếu người ta vạch một lối mà đi, lại thường thường, thì lối ấy thành ra một cái lộ. Rồi nếu trong một thời gian người ta chẳng dùng cái lộ ấy, thì cỏ lau sẽ làm cho nó bế tắc. Hiện nay lòng dạ ngươi đã bị cỏ lau bế tắc mất rồi.» (MT, Tận Tâm, hạ, 21).

Chính vì đã đi được vào lương tâm, vào tâm linh con người, chính vì chuyên khảo về những định luật, những nguyên lý tự nhiên, những nguyên tắc lý tưởng, chi phôi đời sống con người, cũng như sự biến dịch của hoàn vũ, nên đức Khổng chẳng hề có lỗi thời. Ngày nay, học về đạo Khổng ta thấy nó luôn luôn gần gũi với ta, vì nó không phải là một thứ kiến trúc tinh thần, văn học xa xưa, mà nó chỉ là phản ảnh của chân đạo, chân lý của tâm thần ta, phản ảnh cuộc biến dịch tuần hoàn trong vũ trụ.

Trong bức thư đề ngày 6- 9- 69, đăng tải trong báo Minh Tân nguyệt san, số 1, bộ mới, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền có những nhận xét hết sức tinh tế về Khổng giáo như sau:

«Đành rằng trong hiện tại Khổng giáo không còn mấy người theo học. Nhưng đó là Khổng giáo hình thức. Cái khẩn thiết cho tất cả người Việt chúng ta là phần tinh thần của Khổng giáo, thứ Khổng giáo đại đồng bàng bạc khắp không gian, thời gian, từ những trang sử xưa, dòng sách cổ, đến những đền đài, miếu mạo, đến tập tục, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nếp sống hằng ngày của dân tộc ta.

«Ẩn tàng trong mọi người, tinh thần ấy là một trong những yếu tố của cái nay ta gọi là dân tộc tính, là hồn nước. Làm sống dậy tinh thần ấy, là làm sống lại hồn nước, đồng thời làm thức tỉnh thiên lương.

«Đạo Khổng lấy “cách vật trí tri, thành ý, chính tâm” làm phương tiện, lấy “minh minh đức” tức hoàn thiện nhân cách, làm cứu cánh.

Thế là Khổng học đã đặt cá nhân làm đơn vị cho xã hội. Muốn xã hội tốt, cá nhân cần phải được tinh luyện đến chí thanh chí chánh, bởi lẽ ý thành, tâm chánh thì đạo chứng đến chỗ chí Thiện, chí Chân – tôi muốn nói chung đến chân lý tối hậu của vũ trụ và nhân sinh, đến uyên nguyên của cuộc sống…»

Ngày nay, ta thấy ở ít nhiều nước Á Châu, ví dụ như ở Trung Hoa lục địa, người ta đã cố vùi lấp cái dĩ vãng đầy tràn ảnh hưởng Khổng giáo để theo chủ nghĩa Các Mác. Nhưng lạ lùng thay, gần đây ông tổ cách mạng Trung Hoa là mao Trạch Đông, đã có lần trích dẫn Luận Ngữ để tự hỏi rằng có phải vì ông đã phạm lỗi lầm, mà Trời đã bắt ông phải tuyệt tự, đã để cho một con ông bị chết, một con ông bị điên không? [10]

Vả, nếu có những nước Á Châu muốn giã biệt Khổng Tử, thì Khổng Tử đã và đang được tiếp đón bên Tây phương.

Năm 1593, linh mục Matteo Ricci đã dịch Tứ Thư ra La ngữ.

Năm 1626, N. Trigault đã dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh sang La ngữ.

Gần đây ta có những bản dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh rất có giá trị như:

– Bản dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh của James Legge bằng Anh văn.

– Bản dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh của Linh mục Seraphin Couvreur bằng hai thứ tiếng Pháp và la.

– Bản dịch Kinh Dịch ra tiếng Pháp của Philastre.

– Bản dịch Kinh Dịch ra tiếng Đức của Richard Wilhelm. Sau này bản dịch ấy lại được dịch ra Anh văn, v.v…

Và kỳ lạ thay, chính nhờ những bản dịch công phu ấy của Âu Châu mà ta đã hiểu Khổng giáo một cách dễ dàng hơn trước nhiều.

Nhà triết học Carl Jung đã viết lời dí dỏm như sau: «Chúng ta đã chinh phục được Á Đông, nhưng tinh thần Á Đông đã thâm nhập vào mọi khí khổng và đã đạt tới những nhược địa của Âu Châu. Có thể gọi đó là một bệnh truyền nhiễm mà cũng có thể coi đó là một phương dược.» [11]

Để chứng minh đức Khổng vẫn còn rất là tân tiến, rất là hợp thời, dưới đây chỉ xin trưng ra ít nhiều bằng chứng:

1- Như trên đã nói, đức Khổng chủ trương chân đạo phát xuất tự chân tâm, và Trời chẳng có ở đâu xa, Trời đã ở ngay trong đáy lòng con người.

Thì mới đây trong số báo Time ra ngày 26- 12- 1969 với chủ đề là «Thượng Đế có đang sống lại không?» (Thượng Đế có đang trở lại cuộc đời ta không?) và với phụ đề «Những khoa thần học biến thể cho một thế giới biến thể», ta thấy có đoạn rất là kỳ thú sau đây với tiểu đề là «Sự du hành nội tâm».

Trong đề mục này, bà Jean Houston, một triết gia kiêm tâm lý học gia, giám đốc viện khảo cứu về tâm linh ở Mỹ, tin rằng những cuộc thí nghiệm gần đây về nội giác bằng những phương pháp tâm lý học, hay bằng những dược liệu, đã đưa đến sự phát sinh ra một nền thần học chứng nghiệm. Theo bà Houston, thì tâm hồn con người có một điểm tiếp xúc được với đại thể, một đại thể đã được chứng nghiệm là thần linh.

Trong các phòng thí nghiệm, ngày nay người ta đã cải thiện được các phương pháp các dòng tu xưa đã dùng, nên con người ngày nay, càng ngày càng tiếp xúc được với sự linh thiêng nội tại ấy. Bà Houston cho rằng khoa thần học rồi đâysẽ bị chi phối, hướng dẫn bởi những cuộc du hành nội tâm, bằng phương cách này hay bằng phương cách khác.[12]

Như vậy tức là con người đời nay đang chập chững đi vào nội tâm để tìm Trời, tìm thần linh, một công chuyện mà đức Khổng cũng như các hiền thánh xa xưa đã làm từ mấy nghìn năm nay. Hệ Từ Thượng, nơi chương XI, có nói: «Thánh nhân dĩ thử tâm thoái tàng ư mật» chính là muốn dạy con người đi vào trong tâm, thanh lọc tâm thần để tìm cho ra Trời tiềm ẩn trong lòng mình vậy.

2- Từ ngàn xưa đức Khổng đã nói: «Thiên hạ lo gì, nghĩ gì? Đường đi khác nhau, nhưng mục đích là một, tư lự trăm chiều mà chân lý không hai» (Thiên hạ hà tư hà lự? thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất tri nhi bách lự. Thiên hạ hà tư hà lự?) (Dịch, Hệ Từ Hạ); thì ngày nay sau mấy nghìn năm thù ghét nhau, hãm hại nhau, giết lát, chém giết nhau vì bất đồng tín ngưỡng, con người gần đây đã tỏ ra thông cảm, hiểu biết nhau hơn, và ta đã thấy những phong trào hòa đồng tôn giáo, với mục đích là tìm hiểu lẫn nhau, kính trọng lẫn nhau, đối thoại với nhau, hay ít ra là thân thiện với nhau hơn.

3- Ấy là chưa kể đến «Đại đồng thuyết» của Khổng Tử: «Thiên hạ là một nhà, bốn biển đều là anh em», mà còn lâu lắm con người mới có thể thực hiện được.

Như vậy, chẳng phải đức Khổng là con người vừa rất cũ vừa rất mới là gì?

CHÚ THÍCH

[1] Thương Ân chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm.(J. Legge, The She King, tr. 435) ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương.

[2] Mục dã dương dương, Đàn xa hoàng hoàng, Tứ nguyên bành bành, Duy sư Thượng phụ, Thời duy ưng dương, Lượng bỉ Võ Vương, Tứ phạt Đại Thương, Hội chiêu thanh minh. ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, bát chương. (J. Legge, the She king, p. 436)

[3] Minh minh tại hạ, hách hách tại thượng. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Đại minh nhất chương.(J. Legge, the She King, p. 432)

[4] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Tư Trai, tam chương. (J. Legge, the She King, p. 447)

[5] Kinh Thư, Đại Vũ Mô, tiết 2; LN, XII, 13; Đại Học, IV.

[6] Kinh Thư, Duyệt Mệnh, thượng, tiết 5, 6; Duyệt Mệnh, hạ).

[7] Kinh Thư, Dận Chinh, tiết 3.

[8] Legge, The Shoo King, p. 149.

[9] Marcel Granet, La Pensée chinoise, chap. IV, Le Tao, p. 300- 339.

[10] Citing Confucius Analects of the effet that the man who initiates something evil, will be severely punished by God, Mao revealed that he had been struck down by the very punishment prescribed by the Sage, the loss of his sons. He disclosed that one of his sons had died in battle (presumably in Korea) and the other had gone insane. Then, in a cry approaching agony, he asked his audience: «Because of my gilt, should I be deprived of my posterity?» -The mao papers: A New View of China’s Chairman… (Cf. Time, Dec, 12/1969, p. 24).

[11] We have conquered the East politically. Do you know what happened when Rome overthrew the Near East politically? The spirit of the East entered Rome… Thus places of Europe. It could be a dangerous infection, but perhaps it is also a remedy. – The Secret of the Golden Flower, p. 148.

[12] Cf. Time, 28, 1969. IS GOD COMING BACK TO LIFE? – Changing Theology for a Changing World. – Inner Voyages. «What might the next in theology? Philosopher- psychologist Jean Houston, co-director with her husband R. E. L. Masters of the Foundation for Mind Research, believes that current experiments in deepening awareness by psychological techniques or with drugs (which she does not advocate) are already leading to a rise of what she calls «experimental» psychology. According to Houston, the human psyche possesses a «built- in point of contact» with larger reality that is experienced as divine. As the laboratory «improves upon techniques developed in the monastery», people will increasingly encounter this interior sacrality. Indeed, she claims «theology may soon become dominated by men whose minds and imaginations have been stimulated by inner voyages of one kind or another.» – Time Dec. 26, 1969, p. 35.

——————
******************     

Chương 8

Đức Khổng, con người có niềm tin

vững mạnh về thân thế và sứ mạng mình

Các đấng thánh nhân, các vị giáo chủ thường biết rõ thân thế mình và sứ mạng mình.

Phật xưng mình là Phật đã thành.

Chúa Giêsu nhiều lần xưng mình là con Thiên Chúa (Jean, 5, 25, 18; Marc 14, 61, 62; Jean 9, 35, 37; 10, 36).

Thánh Phaolô xưng mình có Thần Chúa trong mình. (I, Cor. VII, 40).

Vậy khảo về đức Khổng ta cũng cần phải xét thêm Ngài có niềm tin về thân thế và sứ mạng của Ngài ra sao.

Sự khảo sát này rất cần thiết, vì nó làm cho chúng ta hiểu rõ chân tướng đức Khổng. Khi đã biết chân dung, chân tướng Ngài, ta có thể suy ra khẩu khí, ước nguyện, hành vi, thái độ và nếp sống thường nhật của Ngài.

Sự khảo sát này cũng có mục đích thứ hai, không kém phần quan trọng, là cho chúng ta thấy sự cần thiết tạo cho chúng ta một lý tưởng, một vai trò, một niềm tin, một sứ mạng; có vậy thì cuộc đời chúng ta mới trở nên thực sự linh động và có ý nghĩa.

Cho nên trước khi tìm xem đức Khổng tin tưởng thế nào về thân thế mình và sứ mạng mình, ta cũng nên đề cập đến ích lợi của sự tạo dựng cho chúng ta một niềm tin, một sứ mạng và tìm xem chân tướng chúng ta là gì.

Descartes cho rằng kẻ nào không có niềm tin, không có sự hứng khởi, sẽ chỉ là người tầm thường.[1]

Pasteur cho rằng sự hứng khởi (enthousiasme) theo từ nguyên Hi Lạp, chính là có «Thần», có «Chúa» trong tâm, và người không có hứng khởi thì không tìm ra được chân lý vật chất, cũng như người không có niềm tin sẽ không tìm ra được chân lý siêu nhiên. [2]

Pasteur thường khuyên các sinh viên như sau:

«Bạn hãy làm việc, hãy cố gắng, hãy bền gan, trì thủ. Chỉ có sự làm việc mới làm cho con người vui sướng thực sự và mới làm ích cho mình, cho đồng loại, và cho tổ quốc.»

«Bất kỳ nghề chọn nào, bạn hãy đặt cho mình một mục đích cao cả. Bạn hãy sùng thượng những danh nhân, danh sĩ, những đại sự, đại nghiệp.»

«Hạnh phúc thay cho kẻ nào mang trong tâm hồn một Thượng Đế, một lý tưởng đẹp đẽ, và sống theo lý tưởng ấy, bất lỳ là lý tưởng nghệ thuật, khoa học, quốc gia, hay lý tưởng đạo giáo, Phúc âm. Đó là những nguồn mạch sống động phát sinh ra những tư tưởng cao đại, những hành vi cao đại. Tư tưởng và hành vi ấy sẽ bừng sáng lên trong những ánh quang huy của vô cùng.» [3]

Đời chúng ta nay sở dĩ còn buồn tẻ chính là vì chúng ta chưa tìm thấy lý tưởng cho cuộc đời chúng ta.

Thực vậy, chính vì chúng ta không biết được chúng ta là ai, chúng ta sinh ra đời với sứ mạng gì, nên đời chúng ta trở nên tan tác như những mảnh gương vụn, vãi vương trên mặt đất, hay như một nắm lá khô mà mỗi trào lưu, khuynh hướng, mỗi hoàn cảnh lại như một trận gió lốc khác chiều, cuốn lôi cho thành rã rời, tơi tả, tản mạn ra khắp muôn phương.

Chúng ta trở nên yếu đuối, vì lòng chúng ta muốn nhiều sự trong một lúc, vì chúng ta bị co kéo, giày vò bởi nhiều động lực khác chiều.

Chúng ta trở nên tối tăm, vì không mấy khi chịu tập trung ánh sáng tâm hồn trí tuệ chúng ta vào một đề tài, hay một mục phiêu nào lâu lai cho đủ.

Chúng ta trở nên cằn cỗi, vì chúng ta gieo trồng vào lòng chúng ta những hạt giống không thích hợp.

Chúng ta trở nên cằn cỗi, vì chúng ta ôm đồm lấy những công việc mà thực ra đối với chúng, lòng ta dửng dưng hay làm miễn cưỡng.

Chúng ta trở nên kiểu điệu, ngớ ngẩn, vụng về, vì chúng ta lệ thuộc vào hoàn cảnh, vào ngoại cảnh, cho rằng mình dở hay hay là tùy ngoại cảnh hay hay dở; mà không biết rằng mình hay hay dở chính là tùy cốt cách, tùy tâm tư mình, và tùy cách mình đối phó với hoàn cảnh hay hay là dở. [4]

Chúng ta là những kẻ khát khao mà đã không được thỏa mãn, chúng ta là những kẻ muốn triển dương mà đã bị hãm kìm, chúng ta mất mát nhiều mà chẳng được đền bù cho xứng đáng. Chúng ta là những kẻ lạc hướng trong cuộc đời, thất thểu cất bước đi, mà chẳng biết rồi ra mình sẽ đi đến những nơi đâu.

Sự hồn nhiên, niềm hứng khởi của chúng ta đôi khi còn bị bóp nghẹt vì những sự gò bó, thằng thúc, tù túng, ngăn chặn vô ý thức, vì vậy cho nên nhiều khi chúng ta:

«Hình thì còn, bụng chết đòi nau!…»

Chúng ta phải biết chúng ta là ai, là gì, thì nhiên hậu mới sống theo khuôn khổ lý tưởng ấy được. Một triết gia hiện đại nói: «Trong bản tính con người có khuynh hướng sâu xa này là hễ mình tưởng mình là ai, thì sẽ trở nên giống như vậy.» [5]

Chúng ta chỉ có thể sống một cuộc đời hoàn toàn ý nghĩa khi chúng ta hoài bão một lý tưởng gì, khi chúng ta có một ước mơ gì, và muốn cho ước mơ ấy trở thành thực tại. [6]

Đời chúng ta phải có sự hứng khởi, sự hăng nồng, vì hứng khởi, hăng nồng chính là thần lực có thể làm chúng ta trở nên linh động tuyệt vời, theo như lời Pasteur đã trích dẫn bên trên …

Dưới làn khăn áo, dưới lớp tóc da, chúng ta như kịch sĩ thủ rất nhiều vai trò, nào là vai trò gia đình, nào là vai trò xã hội, nào là vai trò cá nhân, nào là vai trò trên sân khấu đời, nào là vai trò trên sân khấu lòng.

Chúng ta cố thủ thật nhiều vai trò vụn vặt, cho đời đỡ buồn nản. Nhiều khi chúng ta sợ không muốn chỉ đóng mãi có một vai trò, và nếu phải đóng mãi một vai trò ta muốn nói lên như Logan Pearsall Smith’s:

«Chán chường thay, chán chường thay,

Sáng nào cũng thứ người này mãi sao!…» [7]

Nhưng thực ra chúng ta sinh ở đời, sau khi đã đóng nhiều vai trò, sau khi đã có nhiều kinh nghiệm, phải chọn cho mình một vai trò ăn ý nhất; sau khi đã trải qua lớp sống của nhiều thứ hạng người: học sinh, sinh viên, thưởng dân, binh sĩ, v.v… phải cố đóng lấy vai trò con người; phải ! vai trò Con Người với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó: một thứ con người tinh hoa, một thứ con người muôn thuở, «quán tam tài» và «dữ thiên địa tham».

Chính vì muốn trở nên một Con Người với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó, mà chúng ta đã tự nguyện đi vào con đường nghiên cứu triết học, khảo sát lại cuộc đời của các vị thánh hiền, một công việc mà hiện nay chúng ta đang làm…

***

Trở lại vấn đề chân dung, chân tướng của đức Khổng, chính đức Khổng đã vạch cho ta phương pháp để tìm cho ra chân tướng của một người. Ngài nói:

«Mình hãy nhìn kỹ cách làm việc của người ta, mình hãy xem xét coi vì cớ chi mà người ta làm vậy, rồi quan sát coi họ làm việc ấy có được yên vui không. Nếu mình xét được ba điều đó, thì họ làm sao mà giấu được chân tướng của họ với mình? Họ không thể giấu giếm tình cảnh của họ đối với mình vậy.» (LN, II, 10).

Như vậy nếu ta quan sát đời sống Ngài, nghiên cứu lời ăn, tiếng nói của Ngài, nhất là nghiên cứu những trường hợp Ngài gặp hoạn nạn, ta sẽ thấy chân tướng của Ngài.

– Đức Khổng phải chăng là người ham công danh? Không ! vì Ngài đã từ bỏ được chức Nhiếp tướng sự để dấn thân vào con đường bôn ba, phong vũ. (LN, XVII, 4)

– Phải chăng Ngài đã súc tích tiền tài? Không ! vì Ngài tỏ ra không có tiền bạc, đến nỗi khi Nhan Hồi chết, Nhan Lộ định xin Ngài cho phá cỗ xe Ngài đang đi để làm quách chôn. (LN, XI, 7)

– Phải chăng Ngài ra đời cốt để dạy hai chữ Hiếu Trung? Không phải ! vì nếu Ngài chỉ làm công việc ấy thì đâu có hơn gì Cơ Tử, Tỉ Can xưa, là những người chí trung; hơn nữa Mẫn Tử Khiên, Tử Lộ cũng là những người chí hiếu.

Ngài phải có gì hơn người mới làm được cho những người như Nhan Hồi, Tử Lộ, Hữu Nhược, Tăng Tử, Mạnh Tử thâm phục được.

Ngài nói: «Sớm nghe biết Đạo, chiều chết cũng cam!» (LN, IV, 7).

Nếu ta chịu tốn công tìm tòi, sẽ thấy Đạo ấy hiện ra…

Đức Khổng bình nhật rất khiêm cung, Ngài chỉ nhận Ngài là một học giả, chứ không nhận mình là thánh hiền.

Ngài nói: «Như làm bực thánh và bực nhân thì ta há dám? Nhưng làm mà không chán, dạy người mà không mỏi, ta chỉ có thể gọi được như vậy mà thôi!» (LN, VII, 33).

Nhưng khi bị vây ở đất Khuông, Ngài mới cho ta thấy rõ chân tướng của Ngài. Ngài mới xác định một cách long trọng niềm tin của Ngài về thân thế mình. Ngài nói: «Văn Vương thác rồi, vẻ sáng ấy chẳng ở lại nơi ta hay sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì khi Văn Vương đã thác, chẳng có ban nó cho ta. Bằng Trời chưa muốn mất vẻ sáng ấy, thì người đất Khuông làm gì được ta?» (LN, IX, 5).

Khi bị nạn ở đất Tống, Ngài lại nói: «Trời đã sinh đức người nơi ta, Hoàn Khôi làm gì được ta?» (LN. VII, 22).

Ngài xưng mình có đức Trời, có vẻ sáng Trời; Ngài nhắc đến sự tích Văn Vương, và sánh mình như Văn Vương là có ý nghĩa gì?

Khảo Kinh Thi ta thấy Văn Vương là một vị thánh nhân đã đạt tới mức độ nhân đức cao siêu, có một đời sống phối kết với Thượng Đế, mường tượng như Thượng Đế sống kề cận bên mình, như nhìn thấy Thượng Đế.

Ngài nói:

«Chẳng thấy nhãn tiền nhưng vẫn giáng lâm; chẳng phải long đong nhưng vẫn giữ được.» [8]

Kinh Thi viết:

«Việc Trời chẳng tiếng chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin.» [9]

Kinh Thi viết thêm:

«Văn Vương trọn một lòng kính nể,

Làm chói chang Thượng Đế ra ngoài,

Muôn nghìn phúc lộc chiêu lai,

Một niềm nhân đức chẳng phai lòng vàng.»

(Kinh Thi, Văn Vương, thất chương, bát cú.)

Có lúc Thượng Đế đã đối thoại với Văn Vương. Kinh Thi, thiên Hoàng Hĩ viết:

«Thượng đế gọi vua Văn phán bảo,

“Ngươi chớ nên trở tráo đảo điên.

Đừng cho dục vọng tần phiền,

Đừng vì ngoại cảnh rối ren tơ lòng.”

Vua Văn tiến tới cùng nẻo đức,

Đức vua văn rất mực cao siêu…»[10]

Thượng đế gọi vua Văn phán bảo,

«Ta ưa ngươi hoài bão đức nhân,

Chẳng cần khoe tiếng khoe tăm,

Chẳng cần thanh sắc lố lăng bên ngoài,

Không hay, không biết, thảnh thơi,

Thung dung theo đúng luật trời ở ăn.» [11]

Khi Văn Vương băng hà, Châu Công thuật lại công nghiệp của Văn Vương, nói:

«Văn Vương ở trên trời cao thẳm,

Trên trời cao rạng ánh quang minh,

Nước Châu tuế nguyệt dư nghìn,

Nhưng mà thiên mệnh mới truyền từ đây.

Phải chăng vì Châu đầy vinh hiển?

Phải chăng vì đế mệnh gặp thời?

Văn Vương lên xuống thảnh thơi,

Hai bên Thượng Đế tới lui thanh nhàn.» [12]

Như vậy Văn Vương chính là vẻ sáng của Thượng Đế. Nói theo từ ngữ đạo giáo, thì Văn Vương chính là hiện thân của Thượng Đế …

Đức Khổng sánh mình với Văn Vương, tức là xác nhận gián tiếp rằng Ngài chính là vẻ sáng của Thượng Đế, là hiện thân của Thượng Đế, xác nhận rằng Ngài có một đời sống thánh thiện phối kết với Thượng Đế.

Ngài công nhận Ngài là vẻ sáng của Thượng Đế, cũng y như thánh Paul nhiều lần đã công nhận Ngài có thần Chúa ở trong tâm. (I Cor. VII, 40 và II, 16).

Đó là lý do tại sao đức Khổng trở nên thông sáng quá chừng. Xưa nay, các thánh nhân khi đã đắc Đạo đều trở nên thông sáng.

Lão Tử  viết trong Đạo Đức Kinh:

«Ở nhà chẳng bước đi đâu,

Thế mà thiên hạ gót đầu vẫn hay.

Tuy rằng cửa đóng then cài,

Thế mà vẫn hiểu Đạo trời tinh vi.

Con đường phiêu lãng càng đi,

Càng xa càng lạc biết gì nữa đâu.

Cho nên hiền thánh trước sau,

Không đi mà biết, không cầu mà nên.

Cần chi vất vả bon chen,

Không làm mà vẫn ấm êm vuông tròn.»

(Đạo Đức Kinh, chương 47)

Nguyễn Đình Chiểu cũng viết trong Ngư Tiều vấn đáp y thuật (trang 372):

«Có Trời thầm dụ trong lòng,

Tuy ngồi một chỗ suốt thông trăm đời.»

Một khi đã có một đức độ siêu việt như vậy rồi, một đời sống nội tâm dồi dào và sâu xa như vậy rồi, dẫu có sống trong nghịch cảnh cũng không sao.

Văn Thiên Tường sau này cũng viết trong bài Chính Khí Ca đại loại như sau:

«Anh hoa chính khí đất trời

Khoác hình vật chất khắp nơi vẫy vùng.

Tràn mặt đất tuôn sông kết núi,

Vút trời mây chói lói trăng sao

Trần ai lẩn bóng anh hào,

Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh.

Thuở non nước thanh bình khắp chốn,

Nét đan thanh chóng lộn bệ rồng.

Sơn hà gặp buổi lao lung,

Càng cao tiết ngọc, càng bừng vẻ son.»

(Xem bản dịch Chính Khí Ca của tác giả, đăng trong Văn Đàn, số 37- 38, ngày 12- 25 tháng 7- 1962.)

Đức Khổng đã muốn chứng minh điều đó trong trường hợp đặc biệt sau: Phật Bật mời đức Khổng. Ngài muốn đến. Tử Lộ can: «Trước đây Do này có nghe Thầy dạy rằng: Ngài quân tử chẳng vào đảng của kẻ gây ra việc bất thiện. Người Phật Bật chiếm đất Trung Mâu làm phản, nay Thầy muốn đến với va, lẽ sao nên.» Đức Khổng nói rằng: «Phải, trước kia ta có nói lời ấy. Nhưng ta cũng có nói câu này:”Vật chi thật bền chắc, dẫu mài cách mấy nó cũng chẳng mòn.” Ta cũng lại nói câu này:”Vật chi mà trắng trẻo, dẫu nhuộm nó cách mấy, nó cũng chẳng đen.” Ta há phải trái bầu để treo lòng thòng làm cảnh mà chẳng để ăn hay sao?» (LN, XVII, 7).

Câu ấy có nghĩa rằng đức Khổng đã lên tới bậc thánh nhân rồi, thì bản tính trở nên tinh khiết như bông sen thơm phức, tuy ở gần bùn cũng vẫn chẳng có hôi tanh mùi bùn.

Cho nên cuộc đời Ngài toàn hướng về sự hoàn thiện, cốt là để thực hiện sự hoàn thiện (LN, VII, 14: Cầu điều nhân được điều nhân thì còn oán trách gì nữa?) và dạy cho mọi người con đường hoàn thiện (Đại Học chương I, Trung Dung chương XX và XXI).

Cũng vì thế, phú quý mà bất nghĩa, Ngài coi như mây nổi (LN, VII, 15), công danh mà suông tình, Ngài cũng chẳng vấn vương (LN, XII, 4). Ngài biết mình có thể làm ích cho nhân loại bất kỳ ở đâu; dẫu có phải sống giữa mọi rợ Ngài cũng vẫn cải hóa được họ (LN, IX, 13); dẫu một vị lãnh đạo tầm thường mà thực tâm cầu Ngài chỉ giáo, thực tâm thi hành những điều Ngài chỉ bảo, Ngài cũng có thể giúp cho họ trở nên những vị vương giả chân chính (LN, XVII, 5).

Tóm lại, đức Khổng đã nhận thức được mình là một vị thánh nhân có một đời sống hoàn thiện, phối kết với Thượng Đế, ngay từ khi còn ở trần gian này.

Sứ mạng của Ngài sẽ là một sứ mạng hết sức cao cả: Đó là sứ mạng chỉ vẻ cho con người biết đường phát huy vật đạo, nhân đạo, và thiên đạo.

Thế nào là vật đạo? Vật đạo là lo cho mọi người có đủ cơm ăn áo mặc, sống trong những hoàn cảnh vật chất thuận tiện, sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đông. Đức Khổng tới nước Vệ. Ông Nhiễm Hữu đánh xe hầu Ngài, đức Khổng khen rằng: «Dân Vệ đông thay!» Ông Nhiễm Hữu hỏi: «Dân đã đông, nhà cầm quyền phải làm gì cho họ nhờ?» Đáp: «Phải giúp cho họ trở nên giàu có.» (LN, XIII, 9).

Trung Dung cũng viết:

«Hoàn thành mình là người nhân đức,

Tác thành vật là bực thông minh.

Thiên nhiên tự tính uy linh,

Trong ngoài hai mặt một mình quán thâu.

Nên quân tử biết câu sau trước,

Xếp thời giờ tổ chức cho hay.»

(Trung Dung chương 26)

Thế nào là nhân đạo? Nhân đạo là dạy cho con người biết sống cho xứng đáng với danh nghĩa con người; biết hiếu trung, tiết liệt, nhân hậu, từ nhượng, liêm sỉ, tín thành, trở nên những mẫu người quân tử, có một trí óc sáng suốt, một tâm hồn thanh cao, trang nhã như Kinh Thi mô tả:

«Kìa xem bên khuỷu sông Kỳ,

Tre non mới mọc xanh rì vườn ai,

Người sao văn vẻ hỡi người,

Dường như cắt đánh rũa mài bấy nay,

Lẫm liệt thay, rực rỡ thay,

Hỡi người quân tử biết ngày nào quên.»

(Kinh Thi, Tản Đà, tr. 168)

Thế nào là Thiên đạo?

Thiên đạo là dạy cho con người biết rõ rằng mình có nguồn mạch chí thành, chí thiện trong tâm khảm mình, nói cách khác, căn nguyên gốc gác con người, tuyệt đối thể, Thượng Đế, chẳng ở đâu xa, mà đã hiện diện ngay trong lòng con người. Vì thế con người cần phải kính cẩn, nghiêm chỉnh lòng lại, theo gương mẫu, khuôn phép hoàn thiện sẵn có trong lòng mình, mà tự tu tự luyện, để ngày một trở nên siêu phàm thoát tục, trở nên khinh khoát, trở nên hoàn thiện, và con người cố gắng triển dương mầm mống hoàn thiện sẵn có nơi mình cho tới tầm mức chí cao, chí đại, chí thành, chí thiện, mới được ngưng nghỉ.

Đạt đạo tức là thực hiện được bản tính của mình, thực hiện được định mệnh sang cả của mình, phối kết với Thượng Đế.

Trung Dung gọi thế là Trung Đạo hay đạo Phối Thiên (TD chương 30) mà Lão Tử cũng coi là tuyệt điểm tinh hoa của cổ nhân (ĐĐK, ch 47: Thị vị phối thiên, cổ chi cực). Đó cũng là tinh hoa mà bộ kinh Vệ Đà đã cố gắng phát huy. [13]

Thế tức là đức Khổng đã muốn giúp đất trời trong công cuộc hóa sinh. Trung Dung viết:

«Chỉ những bậc chí thánh trong thiên hạ,

Mới phát huy vẹn cả tính nhân loài.

Tận thiện mình rồi cải thiện mọi người,

Cải thiện người, rồi tác thành muôn vật.

Tác thành cho quần sinh trong trời đất,

Là giúp đất trời dinh dưỡng sinh linh.

Giúp đất trời trong công cuộc dưỡng sinh,

Nghiễm nhiên sẽ được cùng đất trời tham tán.»

(Trung Dung chương 22)

Muốn được vậy cần phải dạy cho con người biết rằng vạn sự, vạn vật trong vũ trụ cũng như trong con người đều hàm tàng những năng lực vô biên, đều có thể phát triển vô tận, cho nên cần phải học hỏi để biết tính chất, biết đường lối sử dụng và triển dương, phóng phát các tiềm năng, tiềm lực nơi vạn hữu và nơi con người.

Trung Dung viết:

«Đạo trời đất một câu tóm hết,

Làm muôn loài chẳng biết hai khuôn.

Nhưng mà sinh hóa khôn lường,

Đất trời đường lối mênh mang rộng dày.

Cao minh trong sáng xưa nay,

Xa gần vĩnh cửu đó đây khôn lường.

*

Kìa như trời vài nguồn sang sáng,

Nhưng một khi tản mạn vô cùng.

Lửng lơ nhật nguyệt hai vừng,

Muôn vàn tinh tú tưng bừng treo trên.

Trời còn che chở mọi miền…

*

Kìa như đất vài thưng bụi cát,

Nhưng một khi bát ngát rộng dày.

Hoa sơn nó chở như bay,

Muôn vàn sông biển hút ngay vào lòng.

Đất còn chở hết non sông.

*

Kìa núi non, đá chồng mấy tảng,

Nhưng một khi khoáng đãng vươn cao.

Cỏ cây muôn khóm chen nhau,

Muôn chim cầm thú nương vào ở ăn.

Núi còn biết mấy kho tàng.

*

Kìa sông nước, mấy ang, mấy gáo,

Nhưng một khi biến ảo mênh mông.

Sấu, rùa, cá, giải, giao long,

Sinh sinh, hóa hóa vẫy vùng triền miên.

Nước còn biết mấy nguồn tiền,

Biết bao hóa phẩm còn chìm biển sâu.

*

Việc trời ngẫm xiết bao huyền ảo,

Thực sâu xa, ẩn áo, không cùng.

Thực là đáng mặt hóa công…

Đức vua Văn tinh thuần chói lọi.

Thế cho nên đáng gọi vua Văn,

Tinh ròng vĩnh cửu vô chung.»

(Trung Dung chương 26)

*******************     

Văn Ngôn hào cửu nhị quẻ Kiền ,sánh vị thánh nhân ra đời như con rồng hiện ra giữa cánh đồng , vị thánh ấy đem văn minh lại cho thiên hạ:

Văn Ngôn viết:

«Hào hai rồng hiện trong đồng,

Thế gian nhờ đó tưng bừng văn minh.»

Đức Khổng chính là con rồng thiêng đã có công lớn trong cuộc đem văn minh lại cho trần thế, nếu ta hiểu như Lecomte de Noüy: «Văn minh là nỗ lực để giải phóng con người khỏi đói khát, rét mướt, bệnh tật, đau khổ; giải thoát con người khỏi sự ngăn cách, khỏi những dục vọng, những khát khao; tổng quát lại, giải phóng con người về phương diện thể chất, giải thoát con người về phương diện tinh thần.» [14]

Đức Khổng hằng ôm ấp nguyện vọng cao siêu là làm bừng sáng ngọn đuốc lương tâm nhân loại, để đem an bình lại cho thiên hạ muôn đời.

Đại Học viết:

«Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy,

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng,

Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan,

Hết lo, lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng xét suy,

Suy xét rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời, ngành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi,

Muốn Đức, sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa, lo cải hoá dân mình,

Trị dân, trước trị gia đình,

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên,

Dày công học vấn sẽ hay KHUÔN TRỜI.

Hay Khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay ta sẽ hoá hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên,

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình an,

Từ vua cho tới dân gian,

Tu thân, một mực lấy làm căn cơ.»

(Đại Học, chương I).

Để kết thúc chương này, ta toát lược lai như sau:

– Đức Khổng hết sức tin vào thân thế và sứ mạng của Ngài. Ngài tin mình là vẻ sáng của Thượng Đế.

– Ngài dạy Vật Đạo, Nhân Đạo cho đa số, Thiên Đạo cho một thiểu số.

– Ngài muốn cảnh tỉnh nhân quần, cải thiện con người, dạy cho mọi người biết tự lực cánh sinh, biết cố gắng góp phần vào công trình xây dựng một xã hội công bình, trật tự, hoan lạc; cố gắng trau giồi nhân cách, cải thiện mình, để tiến mãi trên đường tinh hoa, hoàn thiện.

Vì vậy mà đức Khổng có lần vì mình như một người đánh xe (LN, IX, 2), đánh xe đạo lý để đưa muôn triệu người tới tinh hoa, tới hoàn thiện. Vì vậy mà quan tể đất Nhi đã ví Ngài như chiếc mõ gỗ (LN, III, 24): mõ gỗ để rao truyền chân lý cho vang dậy khắp muôn phương…

CHÚ THÍCH

[1] C’est un signe de médiocrité que d’être dépourvu d’enthousiasme. – Pierre Lecomte du Noüy, Entre Savoir et Croire, p. 117.

[2] Et Pasteur exaltent le mot lui-même, légué par les Grecs: entheos, un Dieu intérieur, écrivait que l’enthousiasme est à la recherche de la vérité matérielle, ce que la foi est à la vérité spirituelle: on ne peut atteindre l’une ou l’autre qu’à la condition d’être enthousiaste ou croyant. (Ib, p. 117)

[3] «Travaille et persévère. Le travail amuse vraiment et seul, il profite à l’homme, au citoyen, à la patrie.

«Quelle que soi la carrière que vous embrassiez, proposez- vous un but élevé. Ayez le culte des grands hommes et des grandes choses…

«Heureux celui qui porte en soi un Dieu, un idéal de beauté et qui lui obéit, idéal de la science, idéal de la patrie, idéal des vertus de l’évangile ! Ce sont là les sources vives des grandes pensées et des grandes actions. Toutes s’éclairent des reflets de l’infini.» -De l’Agnosticisme à la Foi, p. 82.

[4] Epictetus said: «The condition and characteristic of a vulgar person is that he never expects either benefit or hurt from himself, but from externals. The condition and characteristic of a philosopher is that he expects all hurt and benefit from himself…» – (Harry Emerson Fosdick, On Being A Real Person. Introduction XII.)

[5] There is a deep tendency in human nature to become like that which we imagine ourselves to be. (Ibid, p. 20).

[6] Il nous faut manger, boire, dormir, paresser, aimer, toucher aux choses les plus douces de cette vie et pourtant ne pas succomber, il faut qu’en faisant tout cela, les pensées antinaturelles auxquelles on s’est voué restent dominantes et continuent leur cours impassible dans notre pauvre tête; il faut faire de la vie un rêve et faire d’un rêve, la vie. – Pierre Curie. (Cf. Lecomte de Noüy, Entre Savoir et Croire, p. 197).

[7] What a bore it is, waking up in the morning always the same person! – Logan Pearsall Smith’s. Cf. Harry Emerson Fosdick, On Being a Real Person, p. 38.

[8] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo. – Kinh Thi, Đại Nhã, Tư Trai, Tứ chương, chương lục cú.

[9] Thượng thiên chi tải vô thanh vô xú, nghi hình Văn Vương, vạn bang tác phu. – Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất.

[10] Kinh Thi, Đại nhã, Văn Vương, Hoàng Hĩ Thượng đế 5.

[11] Kinh Thi, Đại nhã, Văn Vương, Hoàng Hĩ Thượng đế 6.

[12] Kinh Thi, Văn Vương: Văn Vương tại thượng, ô chiêu vu thiên…

[13] An essential part of the teaching regarding Brahman is the belief that a man can by personal effort, and use of inner knowledge, attain the union with the Divine One while still on earth. – nancy Wilson Ross, Three Ways of Asian Wisdom, p. 19.

[14] On peut dire que la civilisation représente un effort en vue d’une libération de plus en plus grande: libération de la faim, du froid, de la peur, de la maladie, de la douleur qui depuis des millénaires, ont menacé l’homme; libération de tous les esclavages, l’esclavage de la distance, du temps, vaincu par l’avion et la radio. Enfin l’esclavage des appétits, des passions, de tous les souvenirs charnels hérités de la bête… La combination de ces deux efforts, l’effort matériel d’une part, vers l’affranchissement du corps et l’effort moral, vers l’affranchissement de l’esprit, qui lui succède, représente donc la contribution de l’homme à la civilisation. – Entre Savoir et Croire, p. 199.

—————-
****************     

Chương 9

Đức Khổng, con người đã được đạo thống Trung Dung

A. THÀNH KIẾN SAI LẦM VỀ TRUNG DUNG

Ngày nay nói đến chữ Trung Dung, Trung Đạo, hay đạo thống Trung Dung, không còn gây được âm hưởng gì đối với người nghe.

Thực vậy, mấy nghìn năm thành kiến của dân gian đã làm cho danh từ ấy mất hết ý nghĩa, mất hết hiệu năng của nó.

Người đời thường hiểu Trung Dung là một lối sống khéo léo, vừa phải, không thái quá, không bất cập.

Các học giả Á Châu cũng sa vào vòng lầm lạc ấy. Họ cũng hiểu Trung Dung một cách chơi vơi, nông cạn như vậy, mà không hề chịu tốn công suy sâu, xét rộng vấn đề.

Ngay đến học giả Lâm Ngữ Đường cũng cho rằng Trung Dung là một lối sống lưng chừng, đại khái như vậy. Và ông đã mượn bài thơ «Bán bán ca» của Lý Mật Am mô tả đời sống Trung Dung lý tưởng đại khái như sau:

«Ta sống quá nửa đời phù phiếm,

Mới nhận ra huyền nhiệm Trung Dung.

Trung Dung hương vị khôn cùng,

Làm cho lòng dạ tưng bừng niềm vui.

Lúc mà cái con người sướng nhất,

Chính là khi tới cấp trung niên.

Quang hoa dùng dắng triền miên,

Như chờ như đợi, gót tiên tạm dừng.

Cõi trần lọt giữa chừng Trời đất,

Giữa tỉnh quê, ta cất nhà ta.

Thảnh thơi ta mở trại hoa,

Giữa chừng sông núi, la đà nước non.

Biết vừa đủ, tiền nong vừa đủ,

Vòng lợi danh, vương nửa tấm son

Không sang nhưng cũng dễ nom,

Không giàu nhưng cũng còn dòn hơn ai.

Nhà ta xây nửa đài nửa các,

Đồ đạc ta lác đác đủ chơi,

Áo ta cũ mới chơi vơi,

Uống ăn na ná như người bậc trung,

Vài tôi tớ không thông không dở,

Vợ con ta đơ đỡ ta ưng,

Nửa tiên nửa tục lừng chừng

Nửa cùng thần thánh, nửa cùng thê nhi,

Nửa bụng dạ lo vì con cái.

Nửa tâm hồn gởi lại Hoàng thiên,

Để khi thoát xác, ta yên,

Biết đường thưa gửi, biết niềm tới lui.

Ngà say là lúc ly bôi,

Đóa hoa hàm tiếu là thời mê ly.

Buồm nửa cánh, thuyền đi thanh thả.

Cương vừa giong, vó ngựa mới hay.

Quá giầu phiền lụy sẽ dầy,

Quá nghèo cuộc sống sẽ đầy truân chuyên.

Trần ai sướng với phiền khó tách,

Trong ngọt ngào pha phách đắng cay.

Hưởng đời đừng quá mê say,

Lừng chừng đại khái, tháng ngày tiêu dao.»

(Cf. L’Importance de vivre, p. 123- 124; Sinh hoạt đích nghệ thuật, tr. 131- 132)

*******************     

B. ĐẠO TRUNG DUNG CHÂN THỰC

Nhưng nếu hiểu Trung Dung như vậy thì có gì là cao siêu, có gì đáng cho ta lưu tâm, chú ý.

Dĩ nhiên quan niệm trên không phải là quan niệm của đức Khổng.

Ta có thể chứng minh bằng Luận Ngữ, Trung Dung, và Mạnh Tử.

Đức Khổng nói trong Luận Ngữ: «Trung Dung là đức hạnh tuyệt vời. Đã lâu nay ít người đạt được.» (Trung Dung chi vi đức kỳ chí hỹ hồ; dân tiển năng cửu hỹ. LN, VI, 27).

Trung Dung chương III lại nhắc lại:

«Đạo Trung Dung cao siêu hoàn mỹ,

Theo Trung Dung hồ dễ mấy ai!»

Chương IV bàn tiếp:

Đức Khổng nói:

«Ta biết đạo Trung Dung theo rất khó

Người sắc sảo quá trớn chân đi lỡ,

Kẻ ngu đần chậm chạp khó khuôn theo.

Ta biết đời chảng hiểu đạo cao siêu

Người hiền đức ỷ mình không suy xét,

Kẻ ngu si trông vào thì mù mịt,

Uống ăn kia ai cũng lấy làm thường,

Nhưng mấy ai sành mùi vị tinh tươm.»

Mạnh Tử viết: «Đức Khổng chẳng được hạng người đạt đến mức Trung Dung đặng người truyền đạo. Cho nên Ngài há chẳng chọn hạng cuồng và hạng quyến sao. Cuồng giả là kẻ sĩ có chí tấn thủ trên đường đạo lý, dẫu làm chẳng được cũng gắng sức mà làm. Quyến giả là kẻ sĩ giữ bền khí tiết; chuyện chẳng hạp nghĩa thì chẳng làm. Đức Khổng há chẳng muốn có những đệ tử đạt đến mức Trung Dung sao? Nhưng Ngài thấy rằng chẳng ai tu học đến mức đó, cho nên Ngài mới nhớ đến những hạng đệ tử thấp hơn vậy.» (Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, câu 37).

Như vậy Trung Dung không phải là một đạo tầm thường. Nó chính là thứ đạo mà «Sáng nghe được, chiều chết cũng cam.» (Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ. – LN, IV, 8)

Chu Hi nói: «Tôi yêu cầu mọi người học Đại Học trước để biết qui mô; đoạn học Luận Ngữ để lập căn bản; kế đó, đọc Mạnh Tử để biết đường tiến triển; rồi mới đọc Trung Dung để tìm cho ra điều vi diệu của cổ nhân.» [1]

Khảo sát Tứ Thư, Ngũ Kinh, ta thấy Trung Dung là đạo của các bậc thánh hiền. Nó có tác dụng và có mục đích đưa con người lên đến tuyệt đỉnh tinh hoa, lên đến mức toàn thiện toàn mỹ.

Vì thế, Trung Dung là một đạo khó theo, khó biết.

Đức Khổng nói:

«Ai cũng nói ta đây tài giỏi,

Đường trần hoàn rong ruổi ngược xuôi.

Sa vào cạm bẫy ngoài đời,

Sa hầm sụp hố thoát thôi dễ nào.

Ai cũng ỷ trí cao tài giỏi,

Theo Trung Dung không nổi tháng trời.»

(Trung Dung chương VII)

Ngài cũng nói:

«Người có thể trị yên thiên hạ.

Người có gan từ bả vinh hoa.

Gươm trần người dám bước qua,

Trung Dung đạo ấy khó mà người theo.»

(Trung Dung chương IX)

*******************     

Đạo Trung Dung đòi hỏi:

1- Một tâm thần, trí lự sáng suốt, tinh tế, có thể suy xét và thấu đáo được huyền cơ vũ trụ và con người.

2- Nó đòi hỏi con người phải lãnh hội được rằng dưới tầng lớp nhân tâm đảo điên, nghiêng ngửa, còn có lớp thiên tâm tế vi ẩn áo, làm then chốt ở bên trong.

Vì thế Kinh Thư mới viết:

Nhân tâm duy nguy,

Đạo tâm duy vi,

Duy tinh, duy nhất,

Doãn chấp, quyết trung.

(Kinh Thư, Đại Vũ Mô, tiết 15.)

Dịch:

Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngã nghiêng,

Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức, giữ nguyên lòng Trời.

3- Trung Dung phát khởi từ một niềm tin, một linh giác rằng con người thông phần bản tính của Trời, cho nên con người sinh ra đời, có mục đích tối hậu là thực hiện bản tính chí thiện ấy. Nói cách khác, con người phải học hỏi, suy tư cố gắng không ngừng, để tiến tới hoàn thiện, hoàn mỹ. Vì vậy mà ngay đầu sách Trung Dung đã mở đầu bằng mấy chữ:

«Thiên mệnh cũng chính là bản tính,

Đạo là noi theo tính bản nhiên…»

4- Nói theo từ ngữ đạo giáo thì Trung Dung dạy cho con người biết rằng Trời chẳng có đâu xa, mà Trời đã tiềm ẩn ngay trong lòng con người. Cho nên người quân tử phải biết kính sợ Trời tiềm ẩn trong lòng mình, tuy nhìn chẳng ra, nghe chẳng thấy:

Trung Dung viết:

«Thiên mệnh cũng chính là bản tính,

Đạo là noi theo tính bản nhiên.

Giáo là cách giữ đạo nên,

Đạo trời giây phút vẫn liền với ta.

Rời ta được đâu là đạo nữa.

Thế cho nên quân tử giữ gìn,

E dè cái mắt không nhìn.

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều.

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng.»

(Trung Dung I)

5- Tính mệnh, bản tính con người chính là Tính Trời đã phú cho con người, chính là mẫu mực hoàn thiện cho con người khuôn theo, cho nên con người chỉ việc nghe theo tiếng nói của lương tâm, theo dõi những định luật vĩnh cửu đã ghi tạc trong lòng mình mà phát huy dần dà các đức tính đã tiềm ẩn nơi mình để tiến tới hoàn thiện.

Kinh Thi viết:

«Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào phép ấy, định phân rành rành.

Lòng dân chứa sẵn căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành tốt tươi.» [2]

Trung Dung viết:

«Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa vời chúng nhân,

Hiếu kỳ, lập dị, là nhầm.

Kinh Thi viết:

Đẽo cán rìu, có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn cố đấu cho in.

Ngắm đi ngắm lại liền liền,

Đẽo lui đẽo tới, mắt xem chưa vừa.

Nên quân tử khi lo giáo hóa,

Sửa trị người sẵn có khuôn người.

Thấy người giác ngộ thì thôi,

Đã chiều cải hóa liệu bài ta ngưng.»

(Trung Dung XIII)

*******************     

6- Theo những khuôn phép mẫu mực đã ghi sẵn trong lòng con người, làm sáng tỏ thiên lương đã tiềm ẩn sẵn trong lòng con người; Trung Dung gọi là «Suất Tính», Đại Học gọi là «Minh Minh Đức» (làm bừng sáng ngọn lửa thiên chân tiềm ẩn đáy lòng). Sau này Vương Dương Minh gọi thế là «Trí Lương Tri».

Tóm lại, Trung Dung cũng như Tứ Thư, Ngũ Kinh, đưa ra quan niệm Trời chẳng xa người, và dạy người quân tử phải luôn luôn bắt chước Trời, theo gương Trời mà hành sự.

Kinh Thi viết:

«Trời xanh dẫn dắt chúng dân,

Như là tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,

Trời, Người, đôi ngọc chương khuê,

Bên cho, bên lấy, đề huề, xiết bao,

Tay cầm, tay giắt, khéo sao,

Trời xanh, dẫn dắt dân nào khó chi.» [3]

Kinh Dịch viết: «Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.» (Kiền, Tượng. – Trời vận hành không ngừng nghỉ, người quân tử cũng phải bắt chước mà hoạt động không ngừng.

Như vậy Trung Dung chính là Thiên Đạo. Trung Dung là Thiên Đạo, vì:

– Nó tương ứng với phần Thần, phần Thiên, phần Thiên Địa chi tâm, Thiên Địa chi tính, phần «tính bản thiện» nơi con người.

– Nó hướng con người lên đến chỗ hoàn thiện, lên địa vị thánh nhân, sống phối kết với Thượng Đế ngay từ khi còn ở trần gian này.

Trung Dung viết:

«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí tuệ.

Y như thể có trời ẩn áo giáng lâm,

Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần.

Y như có dung nhan Trời phất phưởng,

Phấn phát, tự cường, kiên cương, hùng dũng.

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng;

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.

Nói năng văn vẻ rõ ràng, tường tận,

Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm, ứng hiện phải thì,

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm.

Thấy bóng ngài, dân một dạ kính tôn,

Nghe lời ngài, dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động: muôn dân đều hoan lạc.»

(Trung Dung XXXI)

*******************     

C. ĐẠO THỐNG TRUNG DUNG

Xưa nay trong thiên hạ đã có một số thánh nhân đã đạt tới mức độ Trung Dung, đã đạt tới Trung Đạo, Thiên Đạo.

Riêng ở Trung Hoa, theo quan niệm Mạnh Tử, thì đã có những vị thánh nhân sau đây đắc đạo Trung Dung:

– Nghiêu                 – Thuấn

– Đại Võ                 – Cao Dao

– Thành Thang        – Y Doãn

– Lai Châu              – Văn Vương

– Thái Công Vọng   – Tản Nghi Sinh

– Khổng Tử.

Mạnh Tử lại cho rằng cứ 500 năm mới lại có một ít người đắc đạo Trung Dung: Từ Nghiêu, Thuấn, Võ, Cao Dao cho tới Thành Thang là 500 năm. Từ Thành Thang và hiền thần Y Doãn, Lai Châu cho tới Văn Vương là 500 năm. Từ Văn Vương và hiến thần là Thái Công Vọng, Tản Nghi Sinh cho tới Khổng Tử là 500 năm. (Xem Mạnh Tử, Tận Tâm chương, chương cú hạ, tiết 38).

Sau này, Miễn Trai tiên sinh đời Tống lại làm một bản thống kê những bậc thánh hiền từ thượng cổ đến đời Tống đã đắc đạo Trung Dung như sau:

– Nghiêu             

– Thuấn

– Thành Thang     

– Văn Vương

– Châu Công

– Khổng Tử

– Nhan Tử (Nhan Hồi)

– Tử Tư

– Mạnh Tử

– Chu Tử (Chu Liêm Khê)

– Nhị Trình (Trình Di và Trình Hạo)

– Chu Hi

(Xem Bửu Cầm, Tống Nho, trang 188- 193. Tống Nguyên Học Án, quyển 63, trang 2: Thánh hiền đạo thống truyền thụ tổng tự thuyết của Miễn Trai.)

Như vậy đức Khổng là một trong những vị thánh nhân đã đạt đạo Trung Dung.

Khảo Tứ Thư, Ngũ Kinh, và hai bản liệt kê các thánh hiền đã đạt đạo Trung Dung nói trên, ta thấy:

1- Trung Dung là một đạo cao siêu, không phải ai cũng lãnh hội được. Xưa nay chỉ mới có ít người đạt đạo Trung Dung.

Trung Dung có viết:

«Đạo thánh nhân to sao, to lớn quá,

Nó mênh mang biến hóa chúng nhân.

Nó cao, cao vút tới trời thẳm muôn tầm,

Nó rộng, rộng bát ngát khôn kể xiết.

Gồm thâu mọi điều lễ nghi chi tiết,

Bao uy nghi quán triệt hết chẳng trừ.

Đợi thánh nhân, Trời mới phú thác cho.

Không đức cả, Trời không ngưng đạo cả.»

(Trung Dung chương XXVII)

Vì vậy mà Trung Dung không tiếc lời khen ngợi đức Khổng:

«Đức Khổng tiếp nối đạo Thuấn Nghiêu,

Làm sáng tỏ lối đường Văn Võ.

Trên thuận thiên trời, dưới theo thủy thổ,

Như đất trời bát ngát bao la.

Che chở muôn loài khắp gần xa,

Như tứ thời luân lưu chuyển động.

Như nhật nguyệt hai vầng chiếu rạng,

Muôn loài cùng chung sống chẳng hại nhau.

Đi một chiều, chẳng phản bội chi đâu,

Tiểu Đức như sông ngòi dinh dưỡng.

Đại Đức luôn hóa sinh tăng trưởng,

Phép tắc trời cao cả xiết bao.»

(Trung Dung chương XXX)

Trung Dung viết thêm:

«Nên thanh danh ngài vang lừng Trung Quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che và đất chở.

Đâu còn nhật nguyệt hai vầng tở mở,

Đâu có móc đọng đâu có sương rơi.

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó ngài vẫn được tôn sùng quí báu.

Thế nên gọi là”cùng trời phối ngẫu”.»

(Trung Dung chương XXXI)

*******************     

2- Đạo Trung Dung là một đạo «nội giáo», «nội đạo» (tiếng Pháp là Esotérisme, do chữ Hi Lạp là «Eis» là «trong»). Nó đối nghịch với «ngoại giáo», «ngoại đạo» (Exotérisme) như Chính đối với Tà, như Chính Đạo đối với Bàng môn, tả đạo, như Chân đối với Giả, như Tinh Hoa đối với Thô Thiển, như Tinh thần đối với Hình thức bên ngoài …

3- Tất cả các vị thánh hiền đạt đạo Trung Dung, đều đã tìm ra được căn cốt Trời, Thiên Tính tiềm ẩn nơi lòng mình, và đã phát huy, đã thể hiện được Thiên Tính ấy. Ta có thể mượn ý một danh nho đất Quảng Nam là cụ Lương Gia Hòa mà toát lược Trung Dung, Trung Đạo, Đạo thống Trung Dung như sau:

«Trộm nghĩ rằng duyên do sinh Bát Quái, Lạc Thư

Làm chủ chốt cho cuộc trời đất doanh hư

Gồm Thái cực cả hai bề động tĩnh,

Làm chủ chốt cho muôn điều chân chính,

Thao túng hết vi diệu của Hoàng Thiên,

Duyên do ấy ngự trong thâm tâm ta ẩn áo an nhiên.

Làm vua Nghiêu treo cao gương đức cả.

Làm vua Thuấn, kính tin vô tư lự,

Cho Đại Võ nương vào khi giáo hóa,

Cho Cao Dao lấy đó để dạy đời,

Thành Thang nhờ đó nên hiền thánh hơn người,

Y Doãn Lai Châu nương vào nên nhân đức.

Văn Vương những ước mơ mà chưa thấy được

Võ Vương, Châu Công rong ruổi trên đường ngài.

Ngài cho đức Khổng biết chóng, chậm, tiến, lui,

Cái thuật ấy xưa nay, ai vượt nổi,

Cảm thấy Ngài cao, chắc trước sau vươn khó tới,

Như Nhan Hồi thiên hạ dễ mấy mươi.

Đạo “nhất quán” thầy Tăng thấy nơi người,

Mạnh Tử nhờ đức tài bồi  “Hạo nhiên chi khí”.»

(Phỏng dịch bài Trung Dung phú của cụ Lương Gia Hòa – Xem Cổ học tinh hoa Quảng Nam, Thu, Canh Tý, 1960, trang 21.)

Tóm lại, nói rằng đức Khổng là một người đã đạt đạo Trung Dung, đã được đạo thống Trung Dung là một lời khen hết sức lớn lao vậy.

CHÚ THÍCH

[1] Chu Tử viết: «Mỗ yêu nhân, tiên độc Đại Học dĩ định kỳ qui mô, thứ độc Luận Ngữ dĩ lập kỳ căn bản, thứ độc Mạnh Tử dĩ quan kỳ phát việt, thứ độc Trung Dung dĩ cầu cổ nhân chi vi diệu. – Thánh tổ ngự chế Tứ Thư, Ngũ Kinh, Tính Lý đại toàn, Đại Học trang 11.

[2] Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc; Dân chi bỉnh di, hảo thị ý đức. (Kinh Thi, Chưng Dân).

[3] Thiên chi dũ dân, Như huân như trì, Như chương như Khuê, Như thủ như huề, Huề vô viết ích, Dũ dân khổng dịch. Kinh Thi, Đại Nhã, Sinh Dân, thập chương, Bản, lục chương. (James Legge, tr. 502)

*******************     

Chương 10

Đức Khổng, con người vụ bản

(trọng gốc)

Ở đời, càng là những phàm phu tục tử, càng là những người phù phiếm sốc nổi, lại càng sống vụ vào những chi tiết vụn vặt, những hiện tượng biến thiên hào nháng bên ngoài, những biến cố lịch sử phù du, vân cẩu… Càng là những bậc minh tri, giác ngộ, lại càng sống một cuộc sống nội tâm thâm trầm, sâu sắc; dựa vào tinh hoa, bản thể con người; dựa vào những gì vĩnh cửu trường tồn. Các Ngài tìm tòi học hỏi, nhưng tìm tòi học hỏi những điều chính yếu, những điều tinh hoa, căn bản, quan thiết đến hạnh phúc và định mệnh con người; các Ngài súc tích, nhưng súc tích những gì không hao mòn, hủy hoại được với thời gian; các Ngài xây dựng, nhưng xây dựng trên những nền tảng cố định và vững chắc. Mạnh Tử viết:

«Ngày đêm suy rộng xét sâu,

Xét sâu suy rộng ngõ hầu tìm ra,

Tìm ra rồi sống an hòa,

An hòa, thanh thả, vốn nhà càng tăng.

Vốn tăng mặc sức tiêu dùng,

Vén mây, tỏ nhẽ cùng thông, gốc nguồn.

Nên người quân tử lo toan,

Cố sao nắm được vẹn toàn tinh hoa.

Học nhiều bàn tỏ mãi ra,

Để rồi tóm lại chẳng qua vài lời…» [1]

Ta có thể nói được rằng phàm là thánh nhân, hiền triết đều có tinh thần vụ bản.

Thánh kinh công giáo viết: «Hãy tìm nước Trời trước đã, rồi mọi sự sẽ thêm cho anh em sau.» (Mat. 5, 20; Sag. 7, 11; Luc. 12, 21). Thế tức là xây nhà trên đá, chứ không xây nhà trên cát… (Mat. 7, 24).

Trang Tử viết trong Nam Hoa Kinh: «Cho nên những người am hiểu đại đạo xưa, trước hết hiểu biết về Trời. Hiểu Trời, rồi sẽ hiểu đạo đức; hiểu đạo đức rồi sẽ hiểu nhân nghĩa.» [2]

Đức Khổng là một trong những bậc thánh hiền chủ trương vụ bản.

Đại Học viết: «Mỗi vật đều có gốc, có ngọn; mỗi việc đều có đầu đuôi. Biết cái gì trước cái gì sau, tức là gần Đạo, gần Trời vậy.» [3]

«Không bao giờ gốc loạn mà ngọn lại trị được.» [4]

Chủ trương vụ bản của đức Khổng, sau này ta thấy Tử Du lãnh hội được.

Tử Du nói: «Học trò Tử Hạ rửa quét giỏi, ứng đáp nhanh, tới lui lẹ, chỉ làm được như vậy thôi. Đó là những việc học nhỏ nhít, phụ thuộc. Còn những việc học lớn lao chính gốc thì chẳng thấy dạy, dạy học như thế thì sao nên?» (LN, Tử Trương, tiết 12).

Vậy vụ bản là gì?

Vụ bản là trọng gốc. Vụ bản là lưu tâm, lưu ý đến căn bản vũ trụ quần sinh; là lưu tâm lưu ý đến những vấn đề hệ trọng nhất, quan thiết đến vận mạng con người; là suy khảo về nguyên lý vũ trụ quần sinh, về bản tính con người, về chân đạo, chân lý.

A. Vụ bản là quan tâm đến căn bản vũ trụ quần sinh, đến nguyên lý duy nhất chi phối hoàn võ và con người.

Cái gì là căn bản vũ trụ quần sinh?

Trung Quốc xưa vốn cho rằng: Thái Cực hay Trời là căn bản vũ trụ quần sinh.

Đại Đỗng Chân Kinh viết: «Muốn tìm căn bản, phải tìm nơi Thái Cực.» [5]

Hệ Từ cũng viết: «Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi.» Dịch Kinh Đại Toàn cũng có một bài thơ, trong đó có câu:

«Tu tri nhất bản sinh song cán,

Thủy tin thiên nhi dữ vạn tôn…»

(Có hay một gốc đôi cành rẽ,

Mới thấy nghìn con, vạn cháu đông…)

Một gốc nói nơi đây tức là Thái Cực.

Trang Tử viết trong Nam Hoa Kinh như sau: «Hư tĩnh, điềm đạm, tịch mạc, vô vi, ấy chính là gốc sinh vạn vật. Hiểu điều đó nên Nghiêu làm vua thiên hạ, Thuấn trở nên hiền thần; ở ngôi trên, áp dụng được nó, nên đế vương, thiên tử; ở cấp dưới, áp dụng được nó, thời thành huyền thánh, tố vương.» [6]

Nhìn sang phía triết học Ấn Độ, ta thấy Áo Nghĩa Thư cũng có chủ trương tương tự.

Shri Aurobindo toát lược Áo Nghĩa Thư đại khái như sau:

– Áo Nghĩa Thư muốn lập căn bản vũ trụ quần sinh và đưa ra quan niệm Thực thể duy nhất, bất biến, lồng trong mọi tạp thù, biến ảo, và là chủ chốt chi phối vũ trụ hình tướng, biến dịch bên ngoài.

– Áo Nghĩa Thư cho rằng hai phương diện biến hằng của vũ trụ quần sinh đều bao hàm trong những trạng thái động tĩnh của Brahman, Thực thể duy nhất bất khả phân, và căn cơ của vũ trụ.

– Theo Áo Nghĩa Thư, Thực thể duy nhất ấy thể hiện và hiển dương trong thế giới chuyển dịch và hình tướng này, qua trung gian những lớp lang, tiết tấu, những giai đoạn, những trình độ, những thời kỳ khác nhau.

– Sự biến thiên chuyển dịch cốt là để thực hiện lại Duy Nhất, cốt là để cho quần sinh phối hợp được với Duy Nhất… (Xem Shri Aurobindo, Trois Upanishads, p. 20 et ss).

Tư Mã Thiên tóm tắt niềm tín ngưỡng tự nhiên của nhân loại ấy bằng những lời lẽ mộc mạc sau đây: «Trời là thủy tổ của con người, cha mẹ là gốc gác của con người. Người ta khi cùng khổ sẽ quay về nguồn, về gốc, cho nên khi khổ sở lao lung cùng cực thời thường kêu Trời, lúc đau đớn thảm thiết thời thường kêu cha mẹ…» [7]

Đức Khổng cũng tin rằng Trời là gốc gác muôn vật, quần sinh, gốc gác con người, nên muốn hiểu con người, trước phải hiểu Trời, vì Trời là gốc mà con người là cành, là ngọn.

Trung Dung viết:

«Biết người trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao?»

(Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri thiên.)

(Trung Dung chương XX)

Suy rộng ra, muốn trị dân, trị nước mà không biết được căn bản quần sinh thì chắc là không thể trị dân, trị nước cho hay. Bằng như biết ra, thì trị nước trị dân không có khó. Vì thế mà Trung Dung lại viết: «Lễ Giao, lễ Xã để thờ phụng đấng Thượng Đế, lễ Tông miếu là để tế tự tổ tiên. Nếu ai hiểu nghĩa lễ Giao, lễ Xã, lễ Đế, lễ Thường, thời trị nước dễ như trở bàn tay.» (Trung Dung chương XIX; LN, III, 11)

B. Vụ bản là suy khảo và khám phá ra được căn cơ tính mệnh, được thực thể con người.

Những người vụ bản là những người đã đi sâu được vào tầng lớp làm căn cơ, cốt cách con người, tìm ra được Đạo, được Trời ở đáy lòng.

Ngày nay người ta gọi những người đó là những người có «tâm địa ban sơ» (mentalité archaïque), nghĩa là những tâm hồn sống kề cận với căn bản, với cốt cách con người (Arché). [8]

Đó là những người hãy còn hồn nhiên, toàn vẹn, chưa bị pha phôi bởi vọng niệm, tư tâm, kiến văn, kiến thức. [9]

Nói thế, tức là con người vụ bản đi sâu được vào vô thức. Vô thức đây không phải thứ tiềm thức hời hợt của Freud, chơi vơi giữa óc não và nhân tâm, nhưng vô thức đây chính là vô thức đại đồng của Jung, là Toàn Nhất của Hartmann, là Tự Thể của Kant, hay Tuyệt Đối của Schelling, Bản Tính của Carus…

Đức Khổng gọi cái Vô thức ấy là Tính (Trung Dung I), là Thiên mệnh (Trung Dung I), là Mệnh (LN, XX, 3), là Đạo (Trung Dung I), là Thành (Trung Dung XX, XXI), là Minh Đức (Đại Học I), và suy luận ra rằng ý thức hay nhân tâm không phải là chủ, mà ý thức hay nhân tâm phải khuôn theo Vô thức, khuôn theo Thiên tính để tiến tới hoàn thiện. Tìm ra được căn cơ, cốt cách, bản tính con người tức là tìm thấy Đạo, thấy Trời trong tâm khảm mình.

Ngô Thảo Lư viết: «Đạo, Lý, Thành, Thiên, Đế, Thần, Mệnh, Tính, Đức, Nhân, Thái Cực, lời tuy khác, nhưng ý chỉ có một.» (Đạo dã, Lý dã, Thành dã, Thiên dã, Đế dã, Thần dã, Mệnh dã, Tính dã, Đức dã, Nhân dã, Thái Cực dã, danh tuy bất đồng, kỳ thực nhất dã. – Tống Nguyên Học Án, q. 12, trang 8.)

Cũng vì thế mà Mạnh Tử viết:

«Thấu triệt lòng sẽ hay biết tính,

Hay biết tính, nhất định biết Trời.

Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,

Ấy là giữ đạo thờ Trời chẳng sai.»

(Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú thượng 1)

C. Vụ bản là tin ngọn ngành không lìa xa gốc gác, người chẳng lìa xa Trời.

Đã nói rằng Trời là căn cơ, gốc gác con người, thì con người chẳng thế nào lìa xa khỏi Trời, dầu là một phút giây. Vì thế Trung Dung viết: «Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã.» (Trung Dung I: Đạo Trời sau trước vẫn liền với ta.)

Quan niệm này nếu đem đối chiếu với quan niệm của các bậc minh triết Ấn Độ, ta sẽ thấy giống hoàn toàn.

Katha Upanishad viết:

«Chân tâm chủ thể muôn loài,

Thể thời duy nhất, hình thời ngàn muôn.

Biết Ngài ngự giữa tâm hồn,

Mới mong hạnh phúc, trường tồn, vô chung.

Biết Ngài bất biến, thung dung,

Lồng trong trời đất lao lung chuyển vần,

Biết Ngài Thần giữa chúng Thần,

Biết Ngài duy nhất giữa quần sinh ban.

Bao nhiêu mơ ước chứa chan,

Biết Ngài phân phát cho toàn sinh linh.

Biết Ngài ngự giữa lòng mình,

Mới mong hạnh phúc siêu sinh, trường tồn.»

(Katha Up. 5, 14. – Prasna 6, 5. – Brih. 4, 4. – 1, 2)

Vì thế mà Kinh Thi mới viết:

«Chái Tây Bắc góc nhà thanh vắng,

Đừng làm chi đáng để hổ ngươi.

Đừng rằng tăm tối chơi vơi,

Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.

Thần giáng lâm ai mà hay biết,

Nên dám đâu khinh miệt, dễ ngươi.»

(Cf. Mao Thi, Đại Nhã Úc Thiên)

Quan niệm trên đã được Trung Dung nhắc lại nơi chương XVI.

D. Vụ bản là phương pháp để tìm ra thiên lý, thiên đạo.

Đức Khổng vì tìm ra được Trời, được Đạo tàng ẩn trong tâm khảm mình, nên đã sống một cuộc đời đạo hạnh chân thực, nghĩa là sống phối kết với Trời. Thomas Mann gần đây cũng cho rằng đạo hạnh chân thực chính là sống phối kết với bản thể. [10]

Ngoài ra đức Khổng còn cho rằng tất cả mọi lề luật chi phối con người, cũng như quần sinh vũ trụ đều đã được ghi tạc ngay trong lòng con người, trong lòng vạn vật.

Trung Dung viết:

«Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa vời chúng nhân,

Hiếu kỳ, lập dị, là nhầm…

Kinh Thi viết:

“Đẽo cán rìu, có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn cố đấu cho in.”

Ngắm đi ngắm lại liền liền,

Đẽo lui đẽo tới, mắt xem chưa vừa.

Nên quân tử khi lo giáo hóa,

Sửa trị người sẵn có khuôn người.

Thấy người giác ngộ thì thôi,

Đã chiều cải hóa liệu bài ta ngưng.»

(Trung Dung XXII)

Kinh Thi viết:

«Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào phép nấy định phân rành rành.

Lòng dân sẵn có căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành đẹp tươi.» [11]

Chính vì lĩnh hội được cái chân đạo ấy mà đức Khổng không câu nệ về những hình thức cầu đão bên ngoài.

Khi Ngài đau, Tử Lộ khuyên Ngài nên cầu đảo. Ngài trả lời: «Ta cầu đảo từ lâu rồi.» (LN, VII, 34). Ý Ngài muốn nói tuy không cầu đảo theo thói thường, nhưng thực ra, đời Ngài là cả một bài kinh nguyện trường thiên, vì luôn sống phối kết với Thượng Đế.

Khi Tử Lộ không bằng lòng Ngài vì Ngài đã vào yết kiến nàng Nam Tử, Ngài trả lời: «Nếu ta làm điều gì không phải, thì Trời hại ta!» (LN, VI, 26)

Ngài khuyên mọi người nên học cho nhiều để tìm cho ra cốt cách, căn cơ, ra Trời, ra Đạo ở nơi tâm khảm mình, và cho rằng đó là điều kiện thiết yếu để sống cuộc đời đạo hạnh chân thực.

Đại Học viết:

«Muốn sửa mình, tâm nên sửa trước,

Sửa tâm hồn trước cốt ý ngay.

Ý ngay phải học cho dày,

Học cho thấu triệt, mới hay «khuôn Trời»

Hay «khuôn Trời», thoắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi, ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay, ta sẽ hóa hay…»

(Đại Học I)

Ngài chủ trương dạy thiên hạ làm bừng sáng ngọn đuốc lương tâm, cố gắng không ngừng để tiến tới hoàn thiện.

Đại Học viết:

«Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy,

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng…»

Đó chính là chủ trương của các bậc đại thánh đại hiền muôn thuở.

Thời cổ xa xưa, Mahagourou, vị thánh Ai Cập, cũng đã dạy thiên hạ phát huy «ánh sáng nội tại ấy». Đó là ánh sáng sáng soi cho mọi người sinh ra nơi trần thế. Ánh sáng ấy là con đường chân thực. Ánh sáng ấy tiềm tàng khắp nơi, ẩn áo ngay cả trong lòng nham thạch. Đối với con người, Ánh sáng ấy gần gũi họ hơn mọi sự, ánh sáng ấy đã hiện diện trong lòng của mọi người. Thực thể ấy gần gũi con người hơn mọi hình thức, lễ nghi, vì con người chỉ cần hồi quang quán chiếu là tìm thấy ngay ánh sáng ấy. Khi con người biết ra mà vượt được lên trên mọi lễ nghi, hình thức, là con người lên được tới cùng Osiris, lên được tới Ánh sáng: Ánh sáng ấy chính là thượng thần Amoun- Ra, căn nguyên và cùng đích mọi sự. [12]

Tóm lại, đức Khổng chủ trương chân đạo, chân lý phát xuất tự thâm tâm.

Trung Dung viết:

«Nên đạo quân tử phát xuất tự thâm tâm.

Đem trưng bày phổ cập tới thứ dân,

Khảo chứng tiên vương, không có chi lầm lỗi.

Sánh với luật đất trời không phản bội,

So quỉ thần, thấy đường lối đúng không sai.

Thế là đã biết lòng Trời đó,

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng có chê bai

Thế là đã biết lòng người tỏ rõ.»

(Trung Dung XXIX)

*******************     

F. Những người vụ bản có tâm hồn định tĩnh.

Những người vụ bản, vì chú trọng đến các tầng lớp thẳm sâu trong tâm hồn, nên có đời sống nội tâm dồi dào.

Các Ngài ưa trầm tư mặc tưởng để tìm ra nguyên lý tìm ra định luật chi phối vũ trụ.

Đại Học viết:

«Có mục phiêu rồi lòng mới định,

Lòng định rồi nhẹ gánh lo toan.

Hết lo lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng xét suy

Xét suy rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời ngành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Tức là gần đạo, gần Trời còn chi.»

Trang Tử cũng chủ trương tương tự. Ông viết: «Nước lặng sẽ chiếu soi thấy được râu mày, lại được thợ dùng để đánh thăng bằng. Nước lặng mà còn trong, huống chi là tinh thần? Lòng thánh nhân mà tĩnh lãng thời nên gương soi trời đất vạn vật.» (Thủy tĩnh tắc minh chúc tu mi. Bình trung chuẩn đại tượng thủ pháp yên. Thủy tĩnh do minh huống tinh thần. Thánh nhân chi tâm tĩnh hồ, thiên địa chi giám dã, vạn vật chi kính dã. – Nam Hoa Kinh chương Thiên Đạo XIII, A.)

Vì vậy mà đức Khổng thường trầm tư, mặc tưởng (LN, XV, 30). Ngài cũng dạy các môn đệ năng xét mình để trừ khử những điều không hay, không tốt (LN, I, 3), để khiến cho tâm thần trở nên tinh ròng, bắng tuyết. (LN, II, 2; XII, 4).

Chính nhờ sống một cuộc sống nội tâm sâu sắc như vậy mà đức Khổng thường thư thái, ung dung, tự tại (LN, VII, 4). Có thể nói được rằng ngày nay chúng ta thường buồn bực, khổ sở, bất mãn, một phần lớn là vì đã bỏ quên mất nếp sống tâm hồn, mà sống phiến diện nơi óc não, nơi giác quan, nơi bì phu, hay vùi đầu vào ngoại cảnh, đem hết tâm lực chạy theo tiền bạc lợi danh hoặc thú vui nhục dục.[14]

Thế chính là trạng thái đánh mất linh hồn mình theo từ ngữ thánh kinh,[15] hoặc theo từ ngữ của Harvey Cox trong cuốn The Feast of Fools,[16] hay là làm thất lạc con tim theo từ ngữ Mạnh Tử. [17]

G. Nhờ vụ bản nên đức Khổng đã tìm ra được nguyên lý duy nhất, do đó suy ra vạn sự.

Đức Khổng đã nói: «Đạo ta do một nguyên lý mà suy rộng ra để quán triệt mọi sự.» (Ngô đạo nhất dĩ quán chi. – LN, IV, 15; XV, 2).

Nguyên lý duy nhất ấy chính là gốc, mọi sự khác chỉ là ngọn. Biết được nguyên lý duy nhất, rồi sau sẽ suy ra được mọi điều khác. Không biết nguyên lý duy nhất, thì mọi sự sẽ rối mù.

Chính vì thế mà Trang Tử đã nói: «Thông kỳ nhất nhi vạn sự tất.» (Biết được nguyên lý duy nhất thời vạn sự cũng biết xong xuôi.) (Nam Hoa Kinh, Thiên Địa, XII, A). Ông cũng còn nói: «Trước hết phải nắm được tâm điểm, sau đó sẽ ứng dụng được vô cùng.» (Khu thủy đắc kỳ hoàn trung dĩ ứng vô cùng.) (Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận II, C.)

H. Đức Khổng dùng nguyên lý duy nhất mà suy ra lẽ tuần hoàn của mọi sự biến dịch trong hoàn võ.

Ngài cho rằng mọi sự biến hóa chung qui đều trở về lại căn nguyên, và sự tu luyện học hỏi của con người cũng cốt là để nhập thần, huyền hóa. Vì thế mà Ngài đã viết trong Hệ Từ Hạ khi Ngài bình về hào Cửu Tứ quẻ Hàm như sau:

«Dạy rằng: muôn sự trên đời,

Cần chi lo nghĩ, rối bời mà chi.

Muôn đường, nhưng vẫn đồng qui,

Trăm chiều lo lắng, rút về một căn.

Cần chi mà phải băn khoăn,

Việc gì mà phải bận tâm lo lường.

Vừng trăng đắp đổi vừng dương,

Vừng dương đắp đổi đài gương Quảng Hằng.

Mặt trời cùng với mặt trăng,

Luân phiên đắp đổi, nên hằng sáng soi.

Lạnh đi, nóng lại tới nơi,

Nóng đi, lạnh lại trở lui thay liền.

Hàn, ôn đắp đổi thường xuyên,

Cho nên, niên tuế triền triền sinh ra.

Trôi vào dĩ vãng là co,

Vị lai là dãn, dãn là triển dương.

Khuất thân, lai vãng thời thường,

Đôi bên cảm ứng, mở đường lợi sinh.

Sâu đo có lúc co mình,

Co mình, cốt để duỗi mình dễ hơn.

Long xà, đông tới chợp chờn,

Ngủ vùi tháng lạnh, bảo toàn tấm thân.

Học sao, tinh nghĩa nhập thần,

Rồi ra áp dụng, muôn phần hay ho.

Đã rành, đã tỏ Hóa cơ,

Rồi ra lợi dụng ấm no thân mình.

Thân mình, sung túc, an ninh,

Rồi ra nhân đức thi hành, sùng tôn.

Băng chừng, từ đó tiến lên,

Là vào tới cõi siêu nhiên, Thánh Thần.

Thần minh, khế hợp với tâm,

Hóa cơ đã tỏ, siêu nhân đã đành.»

1- Đức Khổng đã áp dụng nguyên lý duy nhất ấy vào công cuộc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

2- Sau khi đã định được căn bản của vũ trụ quần sinh là Trời, là Thái Cực, mà Trời thì:

– Bất biến

– Hằng cửu

– Siêu vi

– Vừa lồng trong nhân quần, vạn vật, vừa siêu xuất nhân quần, vạn vật.

– Vừa là căn cơ, vừa là cùng đích nhân loại

– Hoàn thiện tuyệt đối.

Đức Khổng liền định được đạo làm người là «trở nên hoàn thiện»; và làm chính trị là làm cho con người trở nên hoàn thiện. Chung qui, tu thân, chính nhân, bình thiên hạ đều cốt tại chữ Thành (Hoàn Thiện).

Vì thế mà Trung Dung viết:

«Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.»

(Trung Dung XX)

Trung Dung còn viết:

«Đạo thiên hạ có năm hình thức,

Nương ba chồi thịnh đức sum sê.

Quân thần, phụ tử, phu thê,

Anh em cốt nhục, bạn bè tất giao.

Ấy năm đạo tối cao thiên hạ,

Trí, dũng, nhân đức cả ba chồi.

Năm cành ba cỗi tốt tươi,

“Tinh thành” do một gốc trời trổ sinh.»

(Trung Dung XX)

«Thành vốn dĩ tự mình hoàn thiện,

Đạo thời thường tự khiển tự do.

Thành là cùng đích duyên do,

Duyên do cùng đích khắp cho muôn loài.

Bỏ lẽ ấy khôn bài có vật,

Nên hiền nhân quý nhất chữ thành.

Hoàn thành không những riêng mình,

Rồi ra hoàn thiện quần sinh muôn loài.

Hoàn thành mình, là người nhân đức,

Tác thành vật, là bậc thông minh.

Thiên nhiên tự tính uy linh,

Trong ngoài hai mặt, một mình quán thâu.

Nên quân tử biết câu sau trước,

Xếp thời giờ tổ chức cho hay.»

(Trung Dung XXV)

*******************     

Về phương diện chính trị, tất nhiên cũng phải liệu lý từ trong ra ngoài.

Căn cơ có tỏ, thì tâm mới định; thần có linh thì tâm mới thiện; tâm có thiện thì thân mới an; thân có an thì gia đình mới tốt; gia đình có tốt thì quốc gia mới thịnh; quốc gia có thịnh thì thiên hạ mới mong bình.

Thế mới hay, có thấu đáo căn cơ cốt cách của mình thì thân mới tu, gia mới tề, quốc mới trị, thiên hạ mới bình. Cái gốc có vững, thì cái ngọn mới không xiêu.

Ngày nay thế giới trở nên điên đảo, suy vi, loạn lạc, chính là vì người ta đã trở nên vong bản, đã quên mất gốc, hoặc không biết rằng cái gốc hoàn thiện đã ở ngay trong tâm cơ con người.

Thành thử người ta cầu mong hòa bình mà chỉ thấy loạn lạc; người ta hứa hẹn an lạc mà chỉ thấy toàn gian khổ, điêu linh.

Tất cả những cái thống khổ, điêu linh, khốn nạn, tất cả những chén phiền não tân toan mà con người đã, đang, và sẽ uống hằng ngày, đều là do đã lạc mất tâm, đã quên mất gốc…

Chúng ta muốn an bình ư ? Hãy bắt chước đức Khổng trở về gốc, trở về nguồn.

Chúng ta muốn có một nền học vấn cao siêu ư ? Hãy bắt chước đức Khổng khảo về gốc, suy về nguồn.

Chúng ta muốn tìm ra giải đồng thân ái, liên kết ta được với chúng dân trong hoàn võ ư ? Chúng ta hãy bắt chước đức Khổng tìm ra gốc, tìm ra nguồn.

Nguồn gốc chúng ta, chúng ta khỏi tìm ở khởi điểm sáu nghìn năm lịch sử. Nguồn gốc vũ trụ, nhân quần, chúng ta khỏi suy khảo cho tới phút lập địa khai thiên. Muốn tìm cho ra chính gốc chính nguồn của chúng ta, chúng ta chỉ việc phạt cho quang hết những lau lách dục vọng hay tạp niệm nội tâm, rồi ra chúng ta sẽ thấy hiện ra một con đường quang, đưa thẳng chúng ta tới nguồn, tới gốc. Đó là một công trình hết sức khó khăn, nhưng cũng hết sức thích thú. Chúng ta phải bắt tay ngay vào công việc, vì thực ra, như lời Mạnh Tử, nay lau lách đã lấp kín tâm hồn chúng ta rồi ! (Kim mao tắc tử chi tâm hỹ. – Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, 21).

CHÚ THÍCH

[1] Mạnh Tử viết: «Quân tử thâm tháo chi dĩ đạo; dục kỳ tự đắc chi dã. Tự đắc chi, tắc cư chi an; cư chi an, tắc tư chi thâm; tắc thủ tả hữu, phùng kỳ nguyên; cố quân tử đắc kỳ tự đắc chi dã. Bác học nhi tường thuyết chi, tương dĩ phản thuyết ước dã. – Mạnh Tử, Ly Lâu chương cú hạ, 14, 15.

[2] Cổ chi minh đại đạo giả, tiên minh thiên, nhi đạo đức thứ chi; đạo đức dĩ minh, nhi nhân nghĩa thứ chi. (Nam Hoa Kinh, chương 13, Thiên Đạo, mục C. – Les Pères du Système Taoiste, trang 313.)

[3] Vật hữu bản mạt, sự hữu thủy chung. Tri sở tiên hậu, tắc cận Đạo hỹ. (Đại Học).

[4] Kỳ bản loạn nhi mạt trị giả, phủ hỹ. (Đại Học).

[5] Căn bản do lai Thái Cực tầm. (Đại Đỗng Chân Kinh, trang 4b.)

[6] Phù hư tĩnh, điềm đạm, tịch mạc, vô vi giả, vạn vật chi bản dã. Minh thử dĩ nam hướng. Nghiêu chi vi quân dã, dĩ bắc diện Thuấn chi vi thần dã. Dĩ thử xử thượng, d8e61 vương, thiên tử chi đức dã. Dĩ thử xử hạ, huyền thánh, tố vương chi đạo dã… (Nam Hoa Kinh, Thiên Đạo, XIII, A.)

[7] Phù Thiên giả, nhân chi thủy dã; phụ mẫu giả, nhân chi bản dã. Nhân cùng tắc phản bản, cố lao khổ quyện cực, vị thường bất hô thiên dã; tật thống, thảm đát, vị thường bất hô phụ mẫu dã. – (Livre 84 des Mémoires de Seu ma Ts’ien; Annales de la Chine, traduction Couvreur, p. 110). Đó cũng là quan niệm của Khuất Nguyên. Khuất Nguyên viết: «Nhân cùng tắc phản bản, cố lao khổ quyện cực, vị thường bất hô thiên dã.» (Cf. Annales de la Chine, traduction Couvreur, p. 110).

[8] Dans un article publié il y a quelques années par Clémence Ramnoux dans Psychanalyse, cette équivalence entre archaïque et primitif apparaissait déjà nettement et cela grâce à la meditation de la notion de subsconscient: l’archaïsme y est considéré comme une structure permanente de l’esprit humain, plus accentuée dans sociétés dites primitives et qui tiendrait à l’influence exercée par le système préconscient. L’archaïque ne serait pas seulement ce qui est avant nous, mais aussi ce qui est au fond de nous et que nous avons oublié. «A notre époque, déclare Clémence Ramnoux, où l’homme d’Occident tente de surmonter le vide intérieur d’un rationalisme trop abstrait, de sortir de son isolement pour renouer avec les grandes forces naturelles, les premiers penseurs de la Grèce ne peuvent manquer d’exercer sur nous charme et fascination, parce qu’ils sont justement les témoins de ces couches oubliées que nous nous efforçons vainement de retrouver.» (p. 195) (Cf. Critique Mars 1961, No 166, p. 251).

[9] Nous sommes dans un univers où les routes de la mystique, de la théologie, de l’éthique, de la politique, de la science, de la logique, n’ont point encore divergé. La pensée rationnelle ne s’est pas pleinement séparée de la pensée magique. L’analyse du moi est encore utilisée comme instrument pour nous faire pénétrer dans l’essence de la chose. (Ib. p. 253).

[10] L’Homme se sente directement branché sur le mystère profond de l’Être (unmittelbare Seinbeziehung: was ist religio anderes als dies?) (Critique Mars 1961, No 166, p. 218).

[11] Xem Kinh Thi, Chưng Dân: Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc. Dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức.

[12] Le Mahagourou vint au milieu de son peuple comme Tehouti ou Thoth, appelé plus tard Hermès par le Grecs. Il enseigna la grande doctrine de la «Lumière Intérieure». Il leur parla de «la Lumière qui éclaire tout homme venant au monde»… «Cette Lumière, dissait– il, c’est l’homme vrai… La Lumière est cachée partout; elle est dans toute roche et dans toute pierre. La Lumière est la vie des hommes… Pour chaque homme… cette Lumière est plus proche que toute autre chose: elle est au fond de son coeur. Pour chaque homme, la Réalité est plus proche que toute cérémonie car il lui suffit de se tourner au dedans, et alors il verra la Lumière … Quand l’homme sait, alors il franchit le stade des cérémonies, il va à Osiris, il va à la Lumière, la Lumière qui est Amoun– Ra, de qui tout est venu, à qui tout retournera.» (A. E. Powell, Le système solaire, p. 351).

[13] Xem Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, tiết 37; LN, VII, 19; LN, IV, 21.

[14] L’homme moderne est en général triste, malheureux, mécontent. Faute de connaitre des fins plus élevées, il consacre toutes ses énergies à l’acquisition de richesses et à la quête de satisfactions sexuelles et sensuelles. (Cf. Originalité des Cultures, p. 153 nơi bài Aspects de la Culture indienne của B. L. Atreya.)

[15] Mat. 16, 26.

[16] While gaining the whole world, Western man has been losing his own soul. (Cf. Life Feb. 2. 1970, p. 21)

[17] Hữu phóng tâm nhi bất tri cầu. Học vấn chi đạo vô tha: cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ. – Mạnh Tử Cáo Tử chương cú thượng, 2.

————–
**************     

Chương 11

Đức Khổng, con người biết thuận theo

các định luật của trời đất

Con người muốn sống hạnh phúc, sung sướng, không thể nào sống bừa phứa được mà phải biết tuân theo những qui luật, những định tắc mà thiên nhiên đã phú bẩm cho mình.

Con người sống trong thiên nhiên phải biết sống thuận theo thời tiết, mới có thể sống khỏe mạnh, sung sướng.

Con người sống trong xã hội, cũng cần phải biết sống với người, cần phải chấp nhận những định tắc, những tiêu chuẩn, những đường lối, những khuôn khổ mà tiền nhân, đại chúng, phong tục, tập quán đã chấp nhận là hay, là phải, mới tránh được lỗi lầm, mới mong tạo được niềm hòa khí và sự thái thịnh chung.

Con người sống không phải để sống suông, mà chính là để tiến hóa, mà chính là để trở nên hoàn hảo ngày một hơn mãi.

Tóm lại, con người sinh ra, muốn cho có một cuộc sống hẳn hoi, mạnh giỏi, có ý nghĩa, về phương diện cá nhân, cũng như về phương diện xã hội, cần phải biết thuận theo những định luật thiên nhiên, những định luật sinh lý, tâm lý, xã hội.

Tuy nhiên, con người ngày xưa và con người ngày nay cũng đã khác nhau. Người xưa sống chất phác hơn, sống dựa vào những định luật tự nhiên, những tiêu chuẩn nội tại hơn, mà ta gọi chung là Lễ.

Con người ngày nay sống dựa vào những định luật, những qui ước nhân tạo, những tiêu chuẩn ngoại tại hơn, mà chúng ta gọi chung là Luật.

Đức Khổng là một trong những vị thánh nhân đã cố gắng tìm cho ra những định tắc, những qui luật thiên nhiên chi phối con người, cũng như những lễ phép mà người xưa đã suy diễn ra từ những qui luật thiên nhiên ấy. Ngài san định bộ kinh Lễ với mục đích qui định lại hành vi, cử chỉ, bổn phận của con người sống trong xã hội, từ tấm bé cho đến khi nhắm mắt tắt hơi.

Trong chương này, ta lần lượt khảo sát:

1- Đức Khổng quan niệm thế nào về Lễ.

2- Đức Khổng sống thuận theo những định luật thiên nhiên ra sao?

3- Đại cương về ba bộ kinh Lễ (Chu Lễ, Lễ Nghi, Lễ Ký).

Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, ta hãy mượn những ý kiến của Alexis Carrel về sinh lý, về nhân luân, để hướng dẫn chúng ta trong công trình suy khảo về lễ. (Xem quyển Réflexions sur la conduite de la vie của Alexis Carrel).

Alexis Carrel cho rằng:

Có ba định luật chính chi phối đời sống con người:

1- Định luật bảo vệ sinh mạng (Loi de la conservation de la vie).

2- Định luật sinh sản, truyền dòng (Loi de la propagation de la race).

3- Định luật tiến hóa tinh thần. (Loi de l’évolution de l’esprit).

Các triết gia và các bác học thuộc phái tiến hoá cũng chủ trương: con người cũng như vạn vật phải thích ứng với hoàn cảnh để sinh tồn, phải cố gắng, phải đấu tranh để tiến hóa.

Nói nôm na, thời thiên nhiên muốn ta phải thích ứng với hoàn cảnh để mà sống, lại phải biết lợi dụng hoàn cảnh để mà sống cho vui, cho mạnh. Mỗi người lại còn có nhiệm vụ truyền dòng giống. Nhưng con người sinh ra chính là có nhiệm vụ tiến hóa, để tiến tới chân, thiện, mỹ.

Suy ra, ta sẽ có những tiêu chuẩn, những định tắc sau đây để hướng dẫn hành vi, sinh hoạt của ta.

1- Phải biết vệ sinh, phải biết hiếu sinh.

2- Phải lo cho có một dòng dõi hoàn hảo, lành mạnh.

3- Phải lo gia tăng sinh lực, trau giồi tình cảm, mở mang trí tuệ, nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, vươn mãi lên theo hướng chân, thiện, mỹ.

Vậy «cái hay» là cái gì làm cho đời sống ta thêm mạnh, thêm sung sướng, thêm trật tự, thêm an lạc, thêm hòa hợp, thêm văn minh, tiến bộ.

«Cái dở» là cái gì làm cho đời sống cá nhân, gia đình, quốc gia, xã hội trở nên rối loạn, bệnh hoạn, vô nghĩa, vô lý.

Nói cách khác, cái gì làm cho ta sống xứng đáng với danh nghĩa con người, cái gì nâng cao giá trị con người, nâng cao phẩm cách con người, khiến cho con người tiến về phía tinh thần, trở nên thanh cao là hay.

Cái gì làm cho con người trở nên cục cằn, ti tiện, gian manh, tàn ác, trở nên thoái hóa giống như muông thú là dở.

*******************     

A. ĐỨC KHỔNG QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ LỄ?

Những tư tưởng ấy chính là phản ảnh của đức Khổng và Nho giáo về Lễ.

Lễ là một danh từ rất bao quát, hàm súc rất nhiều ý nghĩa.

1- Lễ trước hết chính là một danh từ chung, bao quát hết mọi định luật tự nhiên chi phối vạn vật quần sinh. (Ensemble des lois naturelles).

2- Lễ là nghi lễ, là tất cả bổn phận con người đối với trời đất, với tổ tiên. (Cérémonies, rites religieux, rituel, cérémonial).

3- Lễ là tất cả các qui luật chi phối sinh hoạt tâm thần con người (Lois morales).

4- Lễ là tất cả các cách tổ chức chính trị, xã hội (organisation politique et sociale).

5- Lễ là những cách cư xử, tiếp nhân, đối vật thanh lịch, khéo léo (bonnes manières, convenances, décence, bonne conduite, bonne tenue, bienséance, politesse, courtoisie.)

6- Lễ là phong tục, tập quán, hay nói đúng hơn là tất cả những gì gọi là thuần phong mỹ tục. (Usages et coutumes, tradition). [1]

Mục đích của Lễ là:

– Nuôi dưỡng những tính tốt.

– Ngăn chặn những tính xấu.

– Điều hòa đời sống tình cảm, tâm tình.

– Xác định tôn ti, thiện ác, thị phi.

– Đem lại sự hòa hợp, ngăn chặn sự chia rẽ, loạn lạc.

– Đào luyện cho con người ngày một thêm thanh lịch, thêm nhân cách.

Nói cách khác, muốn sống một cuộc sống cá nhân, gia đình, quốc gia, xã hội hạnh phúc, đầm ấm, hòa hợp, ý nghĩa, cần phải biết rõ những định luật thiên nhiên chi phối vạn vật, chi phối sinh hoạt cá nhân và đoàn thể.

Tìm ra những định luật thiên nhiên ấy không phải là chuyện dễ. Đức Khổng đã cố gắng nhiều trong phạm vi này.

Chẳng những Ngài đã cố gắng suy tư, để tìm ra các định luật chi phối sinh hoạt cá nhân và đoàn thể, mà lại còn thu thập lấy những lề lối xử sự của người xưa trong việc tề gia, trị quốc, trong việc đối phó với hoàn cảnh, nhất là trong những trường hợp đặc biệt, để làm kim chỉ nam cho người đời sau.

Tất cả những phong tục, lễ nghi của tiền nhân đã được ghi lại trong ba bộ: Chu Lễ, Lễ Nghi, Lễ Ký.

Đức Khổng cho rằng những định luật thiên nhiên chi phối vạn vật đã gắn liền với bản chất vạn vật.

Kinh Thi viết:

«Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào phép ấy, định phân rành rành.

Lòng dân chứa sẵn căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành tốt tươi.» [2]

Đức Khổng khi đọc ácc câu kinh Thi ấy, có khen rằng: tác giả mấy câu thi ấy hẳn là người biết đạo vậy. (Mạnh Tử, Cáo Tử chương cú thượng, tiết 7)

Cho nên, muốn tìm ra những định luật chi phối vạn vật, trước hết phải quan sát vạn vật. Người gọi thế là «ngửa xem, cúi xét» (Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý) (Dịch, Hệ Từ Thượng, chương IV, tiết 2).

Những định luật thiên nhiên chi phối con người, có thể được nhìn ra bằng trực giác; hoặc suy diễn ra bằng phương pháp loại suy; hoặc bằng cách khảo sát lại lịch sử, quan sát hiện tại, hiện tình; hay suy diễn ra từ những quan niệm của Dịch Kinh. Thế tức là phải hiểu vật, hiểu người, biết nay, biết xưa, khảo sát lại hiến chương của đời trước, tham khảo lại sự thành bại của đời nay. (Bác vật, thông nhân, tri kim, ôn cố, khảo tiên đại chi hiến chương, tham đương thời chi đắc thất. – Lễ Ký chính nghĩa, Tựa, trang 1. Xem Tống bản thậm tam kinh, Lễ Ký.)

Trực giác cho ta thấy con người có hai mặt trong ngoài:

– Tâm ở trong.

– Xác và hoàn cảnh ở ngoài.

Nhưng tâm mới là trọng; xác và hoàn cảnh chỉ có thể đóng vai phụ thuộc. Vậy nên trong công cuộc trị dân, lập lễ, cần phải chú trọng đến Tâm. Lễ Ký viết: «Thánh vương xưa lập lễ nghĩa cốt là để trị nhân tình. Cho nên nhân tình là môi trường của thánh nhân.» (Cố thánh nhân tu nghĩa chi bính, lễ chi tự, dĩ trị nhân tình. Cố nhân tình giả, thánh vương chi điền dã. – Lễ Ký I, Lễ Vận, 7).

Luận Ngữ viết: «Làm người trước phải trung tín, rồi sau mới giữ Lễ, cũng y như muốn vẽ một bức họa đủ màu đẹp đẽ, trước hết phải cần có cái nền trắng tốt.» (LN, III, 8).

Phương pháp loại suy cho ta thấy rằng tâm hồn con người cũng như miếng ngà, miếng ngọc. Ngọc ngà có trau chuốt mới trở nên thanh quý; con người cũng vậy, có trau chuốt điêu luyện, mới trở nên thanh cao, khả ái.

Kinh Thi viết:

«Kìa xem bên khuỷu sông Kỳ,

Tre non mới mọc xanh rì vườn ai,

Người sao văn vẻ hỡi người,

Dường như cắt đánh rũa mài bấy nay,

Lẫm liệt thay, rực rỡ thay,

Hỡi người quân tử biết ngày nào quên.»

(Kinh Thi, Tản Đà, tr. 168)

Đọc 64 quẻ Dịch, ta thấy trong phần Đại Tượng của mỗi quẻ, đều dùng phương pháp loại suy để nhìn cảnh vật mà suy ra đường lối ở ăn.

Ví dụ thấy Trời vận hành không hề ngơi nghỉ, người quân tử liền suy ra rằng sống trên đời cần phải bắt chước Trời, cố gắng không ngừng để tiến đức, tu nghiệp. (Xem Dịch, Kiền quái, Tượng.)

Ngoài ra cũng còn có thể dùng quan niệm Dịch mà suy ra đường lối ở ăn, tiếp nhân, xử kỷ. Đây là một ví dụ:

«Nguyên khí khi đã phân chia, thời khí khinh thanh là trời ở trên, phần trọng trọc là đất ở dưới. Người lập ra Lễ nhân đó mà suy ra giai cấp, tôn ti… Khi trời đất đã phân thành hai hình thái khác nhau, thời thiên khí vận chuyển thành Dương, địa khí vận chuyển thành Âm; người chế Lễ quí phía Tả vì bắt chước Dương, quí phía Hữu để bắt chước Âm, lại tùy theo bốn mùa để thi hành thưởng phạt; mùa Dương thời thưởng; mùa Âm thời phạt… Dương khí biến thành Xuân, Hạ; Âm khí biến thành Thu, Đông… Bốn mùa biến hóa để sinh thành vạn vật. Đó đều là công trình của quỉ thần.» [3]

Chính vì thế mà Lễ Ký đã nói: «Lễ vốn xuất phát từ Đại Nhất, phân ra nên thành trời đất, chuyển vần nên thành Dương Âm, biến hóa nên thành bốn mùa, phân liệt nên thành quỉ thần.» [4]

Chính nhờ những sự học hỏi suy tư này mà đức Khổng đã tìm ra được những nguyên lý, những định luật cơ bản chi phối sinh hoạt con người.

Ví dụ:

– Định luật tôn ti, trật tự, trong trời đất và trong xã hội

– Định luật «hiệt củ», suy bụng ta ra bụng người.

– Định luật tâm vật hỗ tương ảnh hưởng.

Về định luật tôn ti, Hạ Dương nói: «Vạn vật đều có quí tiện, cao hạ, đại tiểu, tôn ti, văn chất khác nhau. Thánh nhân chế phép tắc để mọi loài, quí, tiện, cao, hạ, sống xứng với tính cách của mình.» [5]

Về định luật «hiệt củ», Đại Học và Luận Ngữ nhiều lần đã đề cập tới.

Định luật ấy chẳng qua là suy bụng ta ra bụng người. Mình thích gì hãy làm cho người; mình không muốn gì, đừng làm cho người. [6]

Về định luật tâm vật hỗ tương ảnh hưởng, ta thấy Đại Học và Khổng Tử Gia Ngữ đã đề cập tới cả hai phương diện ngược xuôi.

Đại Học bàn về Tâm ảnh hưởng đến Vật:

«Giàu thời nhà cửa khang trang

Đức thời thân thể khang an, rạng ngời.

Lòng mà khinh khoát, thảnh thơi,

Rồi ra sẽ thấy hình hài tốt tươi.» [7]

Khổng Tử Gia Ngữ bàn ảnh hưởng của vật, của hoàn cảnh đến tâm tình:

Môt hôm Ai Công nước Lỗ hỏi Khổng Tử: «Giải mũ và áo chương phủ có ích cho đạo nhân không?»

Khổng Tử nghiêm sắc mặt mà thưa:

«Sao vua lại nghĩ thế? Người mặc áo sô gai chống gậy, chí không để đến sự vui, không phải là tại không nghe thấy, vì y phục khiến như thế; người mặc cái phủ, cái phất, áo cổn, mũ miện, dáng điệu không nhờn, không phải là nguyên tính vốn trang nghiêm, vì y phục khiến như thế; người đội mũ trụ, mặc áo giáp, cầm cây giáo, không có cái khí nhút nhát, không phải là thân thể vốn mạnh bạo, vì y phục khiến như thế.»

(Xem Trần Trọng Kim, Nho giáo I, trang 149. – Khổng Tử Gia Ngữ, Hiếu Sinh X).

Sự khảo sát ở trên đây đã cho ta thấy quan niệm của đức Khổng về luân lý, về nhân luân, nhân đạo, về Lễ. Những nguyên tắc, những định lý của Ngài đã tìm ra hoặc đã dựa theo, đều là những tiêu chuẩn phổ quát và vĩnh cửu. Ta tóm lại:

– Con người phải biết thích ứng với hoàn cảnh.

– Con người phải biết tùy thời xử thế.

– Phải coi người như mình. Phải biết suy bụng ta ra bụng người.

– Phải cố gắng luôn luôn để tiến tới hoàn thiện.

– Trong xã hội phải có tôn ti, trật tự; phải có kẻ trên người dưới; phải có sự đoàn kết, tương thân, tương ái, thì mới có thể đạt được tới an bình, thái thịnh được …

B. ĐỨC KHỔNG SỐNG THUẬN THEO NHỮNG ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN RA SAO?

Khảo sát đời sống thường nhật của đức Khổng, ta thấy Ngài không cầu kỳ, không lập dị, mà chỉ sống theo đúng định luật thiên nhiên.

– Đức Khổng rất thận trọng trong việc ăn uống, rất quí trọng và rất giữ gìn sức khỏe.

Luận Ngữ viết: «Đức Khổng thích ăn cơm gạo giã trắng tinh. Ngài ưa ăn gỏi thái nhỏ. Cơm hẩm và thiu, cá ươn, thịt bở nát, thì Ngài chẳng ăn. Đồ nấu chẳng vừa thì Ngài chẳng ăn. Khi ăn thì cần có đồ để chấm…» (LN, X, 8)

Khi Ngài đau, ông Quí Khang Tử, đại phu nước Lỗ, sai người đưa thuốc tới tặng Ngài. Đức Khổng vái và lãnh thuốc, rồi nói với sứ giả rằng: «Khâu này chưa rõ tính thuốc thế nào nên chẳng dám nếm lấy.» (LN, X, 11)

– Ngài hiểu rằng con người cần phải tiến tới hoàn thiện, hoàn mỹ. (TD XX: Thành giả, thiên chi đạo dã; thành chi giả, nhân chi đạo dã.) Cho nên con người sinh ra đời cần phải hiểu định mệnh mình là tiến tới hoàn mỹ; chẳng vậy, chẳng phải là người quân tử (LN, XX, 3).

– Ngài hiểu rằng con người sinh ra ở đời cần phải biết những định luật chi phối sinh hoạt con người (Không biết Lễ không thể lập thân, lập mệnh. – LN, XVI, 13); cần phải cố gắng không ngừng để tiến tới hoàn thiện, tiến tới chân, thiện, mỹ (Quân tử thành chi vi quí. – TD XXV. – Duy thiên hạ chí thành vi năng tận kỷ chi tính. TD XXV). Vì vậy, chủ trương của Ngài là đổi mới hằng ngày (Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân. ĐH II), cố gắng mãi mãi (ĐH II), cố gắng mãi mãi (LN, VIII, 8; IX, 18); để tiến tới hoàn thiện (LN, XIV, 24; ĐH I; TD XXVII).

Muốn được vậy, cần phải cố gắng không ngừng (Dịch, Kiền quái, Tượng truyện), suy tư mãi mãi (LN, XV, 30), và cần phải có một đời sống nội tâm bình tĩnh, trật tự, mạnh mẽ, và phải biết hướng thượng (xem LN XIV, 17, 18, 24, 30, 32).

Trong công cuộc giao tiếp thường nhật, đức Khổng áp dụng mấy tôn chỉ:

1- Thành

2- Kính

3- Ái.

– Ngài rất thành khẩn. Ngài nói: «Các trò ngỡ rằng ta có điều giấu giếm với các trò sao? Không, ta chẳng có giấu giếm điều gì hết. Ta chẳng có làm điều gì mà chẳng cho các trò hay. Khâu này là vậy đó.» (LN, VII, 23)

– Đối với mọi người, nhất là đối với kẻ già cả, người có chức tước, hay những người gặp tang chế, Ngài rất trọng kính.

Khi dự tiệc rượu với người làng, Ngài chờ mấy ông lão chống gậy ra trước, rồi Ngài mới ra sau. (LN, X, 9).

Khi thấy người mặc đồ tang, dẫu quen biết, Ngài cũng đổi sắc diện. Thấy người đội mũ, mặc áo nhà quan cùng người đui mù, Ngài cũng đối đãi có lễ mạo… Ngồi trên xe thấy người mặc đồ tang, Ngài liền nắm lấy thức xe, cúi đầu chào; và khi thấy người công chức mang sổ kê khai dân số, thì Ngài cũng vịn lấy cái thức xe, mà cúi đầu chào. (LN, X, 15).

Ngài thương yêu mọi người. Chủ trương của Ngài là «Phiếm ái chúng nhi thân nhân» (Thương yêu mọi người nhưng thân cận với người nhân đức. – LN, I, 6).

Tàu ngựa của Ngài cháy. Ngài ở triều về, hỏi rằng: «Có ai bị hại không ?» Ngài chỉ hỏi thăm người, chứ chẳng hỏi thăm ngựa (LN, X, 12).

Khi bằng hữu Ngài có người thác mà chẳng có ai là thân thuộc để đưa người thác này về thì Ngài nói rằng: «Để ta lo liệu việc chôn cất cho.» (LN, X, 14).

Về cách tổ chức đời sống xã hội, Ngài áp dụng hai định luật chính yếu:

– Định luật «hiệt củ»: suy ta ra người (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân).

– Định luật «ảnh hưởng dây chuyền» thực ra đã được áp dụng từ thời vua Nghiêu.  [8]

Mình mà hay, rồi ra người cũng hay theo. Đó chính là ý nghĩa câu «Tu kỷ dĩ an nhân; tu kỷ dĩ an bách tính» (LN, XIV, 45). Đó chính là đề tài chính yếu của Đại Học, vì Đại Học chủ trương «Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.» (Đại Học I)

Đại Học còn viết: «Nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều nhân hậu. Nếu trong một nhà mà mọi người đều lễ nhượng, lần ra cả nước đều lễ nhượng. Một người mà tham lam, trái ngược, lần ra cả nước đều rối loạn. Cái cơ là như vậy đó. Bởi đó, người xưa có truyền lại rằng: «Một lời mà làm hại cả công việc, một người là làm yên cả đất nước.» (Đại Học IX)

Cho nên người trên cần phải chính trực: «Nếu đại phu ở trên mà chính, thì còn ai dám bất chính.» (LN, XII, 16). Người trên như gió, người dưới như cỏ. Gió thổi thì cỏ rạp theo chiều. (LN, XII, 18).

Về những nguyên tắc làm căn bản cho công cuộc tổ chức một xã hội trật tự, an ninh, ta thấy rằng đức Khổng qui định xã hội thành ba phần khác nhau:

I. Thành phần thiêng liêng vô hình

Đó chính là Thượng Đế, thần minh, và tiên tổ.

Thành phần vô hình và thiêng liêng này chính là thành phần gốc gác, căn cơ, mà con người không thể nào quên lãng được.

Vì thế mới có lễ Giao, lễ Xã, lễ Thường, lễ Đế (TD XIX) và Xuân Thu nhị kỳ có lệ tế lễ nơi tông miếu (TD XIX)

II. Thành phần xã hội hữu hình

– Quân, thần; phụ, tử; phu, phụ; huynh, đệ; trưởng, ấu.

Mỗi thứ hạng có một bổn phận khác nhau:

– Quân nhân (vua phải nhân)

– Thần trung (thần phải trung)

– Phụ từ (cha phải khoan từ)

– Tử hiếu (con phải hiếu)

– Huynh lương (anh phải tốt lành)

– Đệ đễ (em phải kính thuận)

– Phu nghĩa (chồng phải chính đính)

– Phụ thính (vợ phải nghe lời)

– Trưởng huệ (người lớn phải thi ân)

– Ấu thuận (người nhỏ phải vâng phục).

Đó là Thập Nghĩa (Lễ Ký, Lễ Vận, chương VIII, tiết II, mục 19).

Nếu ai cũng ăn ở cho đúng phương vị, đúng bổn phận mình, thì thân tu, quốc trị, thiên hạ bình (LN, XII, 11).

Ngoài ra, con người ai cũng có thất tình (hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục). Cần phải lo điều hòa tiết chế thất tình ấy (Lễ Ký, Lễ Vận, chương VII, tiết 2, mục 19)

III. Thành phần hoàn cảnh vật chất

Hoàn cảnh vật chất gồm có trời đất, nhị khí Âm Dương, nóng lạnh, sáng tối, thời tiết; có tinh, thần, nhật, nguyệt; có thảo mộc sơn xuyên; ngũ vị (toan, khổ, tân, hàm, cam); ngũ âm (cung, thương, giốc, chủy, vũ); ngũ sắc (thanh, xích, hoàng, bạch, hắc).

Cho nên, con người phải dựa vào Âm Dương, thời tiết nóng lạnh, vào bốn mùa mà tổ chức công việc, nhất là tổ chức công việc đồng áng, tằm tơ. Phải biết tận dụng ngũ vị, ngũ sắc, ngũ âm mà tài bồi cho đời mình càng ngày càng thêm đậm đà, ý vị, đẹp tươi. Lễ Ký đã quảng luận vấn đề này rất dài dòng nơi thiên Lễ Vận.

C. ĐẠI CƯƠNG VỀ BA BỘ KINH LỄ

Lễ Ký nơi thiên Lễ Vận, bình luận về Lễ như sau:

Lễ phát xuất tự Trời, đem áp dụng ở dưới đất, lồng vào trong mọi công việc, biến hóa theo thời gian, thích ứng với phương tiện và nghề nghiệp từng người; ở nơi lòng người nó điều hòa và làm phát triển được mọi tính tình. Trong hành vi nó bao quát mọi công việc, mậu dịch, lao tác, ngôn ngữ, ẩm thực, quan, hôn, táng, tế, xạ, ngự, triều, sính.

Lễ qui định cái gì hay, cái gì phải. Đối với con người nó rất là cần thiết.

Nó giúp con người hiểu thế nào là nhân đức thật sự, là hòa hợp thật sự. Nó làm cho cơ nhục con người gắn bó với nhau, làm cho cốt tiết con người liên kết với nhau. Nó giúp con người nuôi kẻ sống, chôn kẻ chết, thờ quỉ thần, đạt thiên đạo, thuận nhân tình. Cho nên thánh nhân cho rằng con người cần phải biết Lễ.

Chop nên quốc phá, gia vong, trước hết là vì con người đã quên lễ nghĩa, quên bổn phận.

Thánh vương xưa lập ra qui tắc, lễ nghĩa là để trị nhân tình.

Nhân tình như ruộng đất, mà lễ phép như cày bừa; giảng điều hay như gieo hạt; dạy dỗ, giáo hóa là như làm cỏ; lấy nhân ái (đạo đức) để dạy dân; lấy âm nhạc để an dân…

Mục đích là đi đến chỗ đại hòa, đại thuận… (Lễ Ký, Lễ Vận, chương VII, tiết 4, mục 5, 6, 7, …)

Tóm lại, nhờ Lễ ta có thể:

– Phân biệt được kẻ hay người dở

– Xây dựng được tương lai.

– Đề phòng được loạn ly chia rẽ.

– Gây được niềm hòa khí.

Những nghi lễ, phong tục sau này được lập ra và được lưu hành trong dân gian đều gói ghém một bài học nhân luân, và có một mục đích giáo hóa, tự nhiên, và trang trọng.

Mạnh Tử viết:

Trong Kinh Lễ có dạy rằng: «Khi một người con trai trưởng thành, tức là được hai mươi tuổi, thì thọ lễ đội mão. Người cha bèn dạy cho biết những phận sự của kẻ trượng phu… Kẻ trượng phu ở trong đức Nhân, là chỗ rộng rãi nhất trong thiên hạ. Lúc đắc chí ra làm quan, thì chung sức cùng dân mà thi hành những đức Nhân, Lễ, Nghĩa. Khi chẳng đắc chí, thì ẩn dật mà tu thân hành đạo. Nếu được giàu có sang trọng thì chẳng hoang dâm, phóng túng. Gặp cơn nghèo khó ti tiện, thì chẳng đổi dời tiết tháo. Cho nên oai thế và võ lực chẳng làm cong vạy được chí khí của mình…» (Xem Mạnh Tử, Đằng Văn Công chương cú hạ, tiết 2. Bản dịch Đoàn Trung Còn, tr. 185).

Khi một cô gái đúng tuổi được xuất giá, người mẹ dạy con phận sự của kẻ làm vợ: «Khi con về nhà chồng tức là nhà của con, thì nên kính nhường, giữ mình cho vén khéo, đừng có trái ý chồng. Nên đem nết thuận tòng làm phép chính, đó là đạo làm vợ.» (Mạnh Tử, Đằng Văn Công chương cú hạ, tiết 2).

Đức Khổng chỉ có công san định lại Kinh Lễ, vì Kinh Lễ phần lớn đã do Chu Công soạn ra (Xem Lễ Ký, Minh Đường vị, chương XII, tiết 6), nhưng Ngài có công gầy dựng và phục hưng tinh thần trọng Lễ, trọng các định luật tự nhiên. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta còn được ba bộ Kinh Lễ.

Ba bộ Kinh Lễ là: Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Ký.

CHU LỄ

Chu Lễ (Chu Quan) do Chu Công soạn ra trong khi nhiếp chính. Chu Lễ bàn về cách tổ chức hành chánh, chính trị, xã hội đời Chu.

Thời Hán, Lý Thị tìm ra bộ này, đem dâng cho Hiến Vương, xứ Hà Gian, một người thích sưu tầm sách. Hiến Vương đem nó dâng cho Vũ Đế (140 trước TL – 86). Vũ Đế cất vào kho. Mãi đến đời Thành Đế (32-6), Lưu Hâm mới ghi nó vào sổ bộ của Hán Thư tam thập nghệ văn chí.

NGHI LỄ

Nghi Lễ (hay Sĩ lễ, hay Lễ Kinh, hay Kinh) qui định thể thức, lễ nghi về quan, hôn, tang, tế.

Thời Hán sơ, bộ Nghi Lễ xuất hiện.

Trước tiên có một học giả người nước Lỗ, tên là Cao Đường, nhớ thuộc lòng được 17 chương.

Đến thời Vũ Đế, nhân phá bức tường nhà đức Khổng đã tìm ra được 56 chương bộ Nghi lễ.

Trong bộ Hán Thư nghệ văn chí của Lưu Hâm, ta thấy Nghi Lễ gồm 56 chương, viết bằng cổ tự, và 17 chương viết bằng kim văn. Chu Hi cho rằng đó chính là bộ Nghi Lễ lưu hành ngày nay.

LỄ KÝ

Lễ Ký là ký sự của môn đệ đức Khổng về lễ nghi phong tục. Nội dung có thể cổ hơn hai quyển trên, nhưng lại xuất hiện sau hơn, vì tới thế kỷ 2 sau TL mới hoàn thành.

Cuối đời Vũ Đế, Lỗ Cung Vương phá tường vách nhà đức Khổng đã tìm thấy một số sách cổ, như Thượng Thư, Lễ Ký, Luận Ngữ, Hiếu Kinh, v.v… Lễ Ký tìm được lúc ấy gồm 131 chương.

Sau này Hiến Vương sưu tầm được 131 chương ấy. Thời Hiến Vương (xứ Hà Gian) không ai khảo cứu bộ sách này. Mãi đến đời Lưu Hướng, con Lưu Hâm, mới kiểm điểm lại kinh tịch và rút Lễ Ký còn lại 130 chương.

Sau Lưu Hướng (80-9 sau TL) lại tăng bổ thêm vào 130 chương bộ Lễ Ký nguyên thủy, những thiên sau đây:

– Minh Đường Âm Dương Ký, 33 thiên

– Khổng Tử Tam Triều Ký, 7 thiên

– Vương thị, Sử thị Ký, 21 thiên

– Nhạc Ký, 23 thiên

Thành thử bộ Lễ Ký của Lưu Hướng gồm những 240 thiên.

Đến sau, Đới Đức thu lại còn 85 thiên (gọi là Đại Đới Ký).

Đới Thánh rút lại còn 46 thiên (gọi là Tiểu Đới Ký).

Cuối đời Hán, Mã Dung (79- 160) đem 3 thiên (Nguyết lệnh, Minh Đường Vị, Nhạc Ký) thêm vào 46 chương Lễ Ký của Đới Thánh, thành thử bộ Lễ Ký của Mã Dung gồm 49 thiên.

Bộ Lễ Ký của Mã Dung sau này được đệ tử là Trịnh Huyền (Trịnh Khang Thành, 127- 200) chú giải.

Nay ta thấy trong «Tống bản thập tam kinh», Lễ Ký chỉ có 46 chương. Lễ Ký do Couvreur dịch, cũng theo «Tống bản thập tam kinh» gồm 46 chương. (Những tài liệu về Tam Lễ đều rút trong bộ Lễ Ký của Couvreur, nơi phần nhập đề.)

****

Ngày nay, những lễ nghi, tập tục xưa đã tiếp theo nhau đi vào dĩ vãng, nhưng bài học của đức Khổng về Lễ vẫn còn giữ nguyên giá trị.

Thời nào cũng như thời nào, con người sinh ra ở đời, không thể tự do muốn làm gì thì làm, mà phải tuân theo các định luật thiên nhiên, các định luật sinh lý, tâm lý, nhân sinh, các định luật giao tế, xã hội. Tuân theo các định luật thiên nhiên, chúng ta mới có thể tạo cho mình một đời sống lý sự, đẹp, tươi, vui; tạo cho mọi người một đời sống xã hội an vui hòa hợp. Đó là điều kiện căn bản để tiến tới chân, thiện, mỹ…

CHÚ THÍCH

[1] Xem các định nghĩa về Lễ: 1– Couvreur Liki I, Introduction, p.IX. 2– Nho giáo, Trần Trọng Kim, I, trang 147 và tiếp theo.

[2] Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc; Dân chi bỉnh di, hảo thị ý đức. (Kinh Thi, Chưng Dân).

[3] Hỗn độn nguyên khí ký phân, khinh thanh vi thiên tại thượng, trọng trọc vi địa tại hạ; nhi chế lễ giả pháp chi, dĩ lập tôn ti chi vị dã… Thiên địa nhị hình ký phân, nhi thiên chi khí vận chuyển vi Dương, địa chi khí vận chuyển vi Âm; nhi chế lễ giả, quý tả dĩ tượng Dương, quý hữu dĩ pháp Âm; hựu nhân Dương thời nhi hành thưởng, nhân Âm thời nhi hành phạt dã… Dương khí tắc biến vi Xuân, Hạ; Âm khí tắc biến vi Thu, Đông… Tứ thời biến hóa, sinh thành vạn vật, giai thị quỉ thần chi công. (Khổng Đĩnh Đạt. – Lễ Ký Couvreur, I, trang 527– 528, chú.)

[4] Phù lễ tất bản ư Đại Nhất, phân nhi vi thiên địa, chuyển nhi vi Âm Dương, biến nhi vi tứ thời, liệt nhi vi quỉ thần… (Lễ Ký, Lễ vận, 4).

[5] Vạn vật quí tiện, cao hạ, tiểu đại, văn chất, các hữu kỳ thể… thánh nhân chế pháp thể thử vạn vật, sử cao hạ, quí tiện, các đắc kỳ nghi… Lễ Ký, Tựa.

[6] Xem Đại Học chương X.– Luận Ngữ, XV, 23: Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân.

[7] Phú nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng, thể bàn.– Đại Học, VI.

[8] Xem Kinh Thư, Nghiêu Điển, câu 2: Khắc minh tuấn đức dĩ ninh cửu tộc. Cửu tộc ký mục, bình chương bách tính. Bách tính chiêu minh, hiệp hòa vạn bang. Lê dân ư biến thời ung.

—————-
****************     

Chương 12

Đức Khổng, con người linh động và uyển chuyển

Đức Khổng là một trong những người đã biết áp dụng Dịch lý vào cuộc đời, cho nên cuộc sống của Ngài hết sức linh động và uyển chuyển.

Khảo sát đời sống Ngài, ta sẽ hiểu cách người xưa áp dụng Dịch lý vào đời sống, vào cách tiếp nhân xử thế; xử kỷ, đối vật; vào cách trị dân.

Trong chương này ta sẽ nghiên cứu xem:

A. Đức Khổng áp dụng Dịch lý vào đời sống Ngài ra sao?

B. Người xưa áp dụng Dịch lý vào phép trị dân ra sao?

C. Dịch Kinh đại khái chủ trương những gì?

A. ĐỨC KHỔNG ÁP DỤNG DỊCH LÝ VÀO CUỘC ĐỜI NGÀI RA SAO?

Dịch lý là các định luật chi phối mọi cuộc biến thiên, chuyển dịch trong hoàn võ và trong nhân sinh, nhân thế.

Con người sinh ra ở đời không thể trần trần một nếp, không thể ù lì bất động, mà phải biến thiên; phải biết khuất, thân, tiến, thoái; phải biết tùy thời xử thế; tùy cảnh ngộ mà xuất xử, hành tàng.

Đằng khác, con người sinh ra không phải để thích ứng (adaptation) suông với hoàn cảnh, mà còn có nhiệm vụ tiến hóa (évolution). Tiến hóa tức là phát triển, thi thố mọi tiềm năng, tiềm lực của mình. Trong tiếng Đức, chữ Entwicklung vừa có nghĩa là tiến hóa, vừa có nghĩa là phát triển (développement).

Các định luật biến động, chuyển dịch là là những định luật chi phối vũ trụ quần sinh.

Đức Khổng một hôm đứng trên bờ sông, đã than thở:

«Vật như sông nước cùng trôi,

Ngày đêm chuyển dịch, chẳng ngơi, chẳng ngừng!»

(Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ. – LN, IX, 16; xem them: Khổng Tử thánh tích đồ, trang 60, 61)

Ý Ngài muốn dạy đệ tử rằng: thể theo mạng Trời, mọi vật trong vũ trụ đều biến hóa; dầu ngày, dầu đêm, dầu trong phút chốc, không vật gì ngừng nghỉ một chỗ. Vậy kẻ học đạo nên đắc lý ấy, mà tiến lên trên đường đạo lý; mỗi ngày nên cải hóa lấy mình. (Cf. LN, Đoàn Trung Còn dịch, trang 141, lời bàn của Đoàn Trung Còn).

I. ĐỨC KHỔNG BIẾT THÍCH THỜI, QUYỀN BIẾN

Vì thế nên chủ trương của đức Khổng là uyển chuyển, tùy thời xử thế.

Ngài nói: «Người quân tử ở trên đời không nhất thiết phò cái gì, không nhất thiết chống cái gì; cái gì phải thời theo.» (Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dĩ tỉ. – LN, IV, 10).

Nhân khi phê bình các ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Hạ Huệ, Thiếu Liên, v.v…đức Khổng tuyên bố Ngài không giống các vị ấy, vì Ngài đã không nhất thiết vạch sẵn cho mình một thái độ, một đường lối bất di, bất dịch; nhưng Ngài uyển chuyển tùy thời. Ngài nói: «Ta thì không thế, không nhất thiết là không thể, không nhất thiết là có thể.» (LN, XVIII, 8: Ngã tắc dị ư thị, vô khả, vô bất khả. – xem thêm Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng.)

Đức Khổng rất trọng chữ Thời, nên trong Kinh Dịch có tất cả 12 quẻ đã đề cập đến chữ Thời, mà ta có thể trình bày thành mấy vần thơ sau đây:

«Thời đại hỹ tai» bốn quẻ gồm:

CÁCH, DI, ĐẠI QUÁ, GIẢI theo luôn;

DỰ, ĐỘN, CẤU, LỮ bàn «thời nghĩa»;

«Tùy thời chi nghĩa» độc TÙY suông;

Nói về «thời dụng» âu ba quẻ:

Một KHẢM, hai KHUÊ, KIỂN nữa tam.

Vì thế Ngài hết sức linh động. Nhan Hồi hỏi Ngài về cách trị nước. Ngài trả lời:

– Nên theo lịch nhà Hạ (2205- 1765) (vì lịch đó lấy tháng Dần làm tháng giêng, tháng đầu năm. Lúc ấy thời tiết đã bớt lạnh, thuận tiện cho công việc đồng áng).

– Nên đi xe nhà Ân (vì xe nhà Ân bền chắc).

– Nên đội mũ nhà Châu (vì mũ nhà Châu khéo hơn, đẹp hơn).

– Nên dùng nhạc Thiều của vua Thuấn (2255- 2205) vì nhạc ấy toàn mỹ, mà không nên dùng nhạc Trịnh (806- 395), tuy mới hơn, nhưng khiêu dâm (xem LN, XV, 10; LN Đoàn Trung Còn, 245) [1]

Tinh thần quyền biến ấy còn được minh chứng bằng ba trường hợp khác nhau sau đây:

a- Trong thiên Tử Hãn IX, 3, đức Khổng nói: «Đội mũ bằng gai là theo lễ xưa. Nhưng đời nay người ta toàn dùng mũ bằng tơ rẻ tiền hơn. Vậy ta làm theo đại chúng.»

«Còn trong việc bái yết vua, mình ở dước bậc thềm mà bái theo lễ xưa. Nhưng ngày nay các quan đều ở bậc trên mà bái. Tuy ta trái với đại chúng, nhưng ta vẫn theo lễ xưa là ở dưới bậc thềm mà chiêm bái vậy.» (LN, Tử Hãn IX, 3)

b- Trong thiên Tiên Tấn XI, 1, Ngài nói: «Về phương diện lễ nhạc, người xưa xem ra quê mùa hơn, người nay xem ra thanh lịch hơn. Nếu như ta dùng lễ, ta sẽ theo người xưa.» (LN, Tiên Tấn XI, 1).

c- Về lễ, sau khi đã khảo sát lễ nhà Hạ, nhà Ân, nhà Châu, Ngài theo nghi lễ nhà Châu, vì thấy trang nghiêm rực rỡ hơn. (Cf. LN 9, 14.- Trung Dung, XX)

Mạnh Tử, một triết gia chủ trương quyền biến tùy thời (xem Mạnh Tử, Ly Lâu thượng VII, 17) đã hết lời khen đức Khổng là một vị thánh nhân biết «tùy thời».

Mạnh Tử viết:

«Đức Khổng khi ra khỏi nước Tề, gạo vừa vo xong, chưa kịp nấu chín, thế mà Ngài tiếp lấy và vội vã ra đi.

Khi ra khỏi nước Lỗ, Ngài nói rằng:”Ta đi chậm chậm vậy thôi.”

Đó là cách buộc lòng rời đất nước của cha mẹ vậy. Lúc cần đi gấp thì Ngài đi gấp; lúc cần ở lâu thì Ngài ở lâu. Khi nên lui về ẩn, thì Ngài lui về ẩn; khi nên tiến ra làm quan thì Ngài tiến lên làm quan. Đó là phong độ của đức Khổng vậy… Ngài là một bậc thánh biết thích thời.»

(Xem Mạnh Tử, Vạn Chương chương cú hạ X, 1)

Mạnh Tử viết thêm:

«Đức Khổng bình sinh ra làm quan là do một lẽ trong ba lẽ này:

-một là thấy mình có thể thi hành đạo lý;

-hai là nhà vua giao tế với mình có lễ phép và cung kính;

– ba là thấy bậc quốc quân ái mộ tài đức mình, đem công quỹ ra mà cấp dưỡng mình vậy.

Hồi ở nước Lỗ, lúc ông Quí Hoàn Tử cầm quyền, thấy mình có thể thi hành đạo lý, Ngài đã ra làm quan.

Khi ở nước Vệ, nhằm khi vua Linh Công giao tế với Ngài có lễ phép và cung kính, Ngài chịu nhận chức quan.

Và lúc ở Vệ, nhằm đời vua Hiến Công (Xuất Công), vua ái mộ tài đức Ngài, đem công quỹ ra mà cấp dưỡng Ngài, cho nên Ngài mới ra làm quan vậy.»

(Mạnh Tử, Vạn Chương chương cú hạ, 4).

II. ĐỨC KHỔNG «TỐ KỲ  VỊ  NHI  HÀNH»

Đức Khổng đã triệt để áp dụng phương châm «quân tử tố kỳ vị nhi hành» mà Tử Tư đã ghi chép lại trong Trung Dung như sau:

«Người quân tử sống theo địa vị,

Không ước mơ lo nghĩ viễn vông.

Sang giàu sống lối giàu sang,

Nghèo nàn sống lối nghèo nàn ngại chi.

Tới man di, sống y man mọi,

Gặp gian lao, vui nỗi gian lao.

Bất kỳ sống ở cảnh nào,

Lòng người quân tử ra vào thỏa thuê.

Ở cấp trên không đè nén dưới,

Ở dưới không luồn cúi người trên.

Trời, người, chẳng oán chẳng phiền,

Ung dung thanh thản, chờ xem ý trời.»

(Trung Dung chương XIV)

Nguyên tắc này, đức Khổng lại nhắc lại nơi Tượng Truyện quẻ Cấn.

«Cấn là núi mọc chập chùng,

Quân tử cư vị, chứ không ra ngoài.»

(Tượng viết: Kiêm sơn. Cấn. Quân tử dĩ tư bất xuất kỳ vị. – Dịch, Cấn quái, Tượng Truyện).

Đó cũng chính là đường lối của Văn Vương mà Đại Học đã đề cao:

«Văn Vương thâm thúy biết bao,

Luôn luôn lo giữ sống sao chu toàn.

Làm vua: một dạ nhân khoan,

Làm tôi: kính cẩn lo toan hết lòng.

Làm con: hiếu thảo thủy chung,

Làm cha: nhân ái, bao dung, khoan từ.

Cùng người tiếp đãi giao du:

Một lòng thành tín, khư khư chẳng rời.»

(Đại Học chương III)

Biết nguyên tắc này, ta sẽ hiểu rõ hơn hành vi và thái độ của đức Khổng.

Đức Khổng chủ trương: «Nếu mình chẳng có chức vị trong một xứ, thì chẳng cần mưu tính chính sự của xứ ấy.» (Tử viết: Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh. – LN, VIII, 15.)

Mạnh Tử nói: «Đức Khổng khi mới ra làm quan, Ngài từng làm chức Ủy lại (tiểu quan trông coi thương khố). Ngài nói rằng:”Ta chỉ lo cho sổ sách phù hợp với việc thâu xuất lúa thóc, như vậy là đủ rồi.” Rồi Ngài làm chức Thặng điền (tiểu quan lĩnh việc chăn nuôi). Ngài nói rằng:”Ta nuôi bò, chiên cho mập mạp, mạnh khỏe và chóng lớn, thế là đủ rồi.” Ở địa vị thấp mà trèo đèo lên tước vị cao, là phạm tôi việt chức vậy. Làm quan lớn tại triều đình, mà chẳng thi hành đạo lý để dạy dân, giúp nước, đó là một điều sỉ nhục vậy. Đức Khổng không hề mắc hai lỗi đó.» (Mạnh Tử, Vạn Chương hạ, 5.)

Vạn Chương hỏi rằng: «Đức Khổng khi có lệnh vua triệu, chẳng đợi thắng xe, Ngài đi liền. Như vậy đức Khổng có điều chẳng phải chứ gì?» Mạnh Tử đáp: «Đức Khổng thuở ấy đang làm quan, Ngài thi hành phận sự của một viên quan. Vua vì chức quan của Ngài mà triệu Ngài vậy.» (Xem Mạnh Tử, Vạn Chương X, 7. – xem thêm LN, X, 13: Quân mạng triệu, bất sĩ giá, hành hỹ.)

*******************     

III. ĐỨC KHỔNG AM TƯỜNG LẼ BIẾN DỊCH, THĂNG TRẦM CỦA TRỜI ĐẤT

Ngài viết nơi Thoán Truyện quẻ Phong:

«Vừng dương cao sẽ xế ngang,

Trăg tròn, rồi sẽ chuyển sang vơi, gầy.

Đất trời, lúc rỗng, lúc đầy,

Thăng trầm, tăng giảm, đổi thay theo thời.

Đất trời còn thế, nữa người.

Quỉ thần âu cũng một bài thịnh suy.» [2]

Cho nên Ngài dạy phải bền gan, trì chí, chớ nên thất vọng khi cùng khổ. Luận Ngữ viết: «Quân tử cố cùng.» (LN, XV, 1). Hào Thượng Cửu quẻ Bĩ viết:

«Tượng rằng bĩ cực thái lai,

Có gì trường cửu ở đời này đâu?» [3]

Ngược lại, Ngài chủ trương phải hết sức khiêm cung, cẩn trọng khi thịnh mãn; chỉ có như vậy mới giữ được sự thịnh mãn của mình.

Trong quyển Khổng Tử Thánh Tích Đồ có kể: Trong miếu thờ Lỗ Hoàn Công có treo một bình gọi là «y khí». Để không thì nghiêng; đổ nước vào lưng chừng thì ngay ngắn, đổ nước đầy tới miệng thì lật úp sấp lại. Vua chúa treo để tự răn. Đức Khổng bảo môn đệ đổ nước thí nghiệm, thấy đúng như vậy. Ngài dạy các môn đệ rằng: Muốn trì mãn (giữ sự sung mãn), phải hết sức khiêm cung (Xem Khổng Tử Thánh Tích Đồ trang 62, 63). Ngài cũng dạy đệ tử bài học khiêm cung tương tự, khi Ngài đọc tới hai quẻ Tổn, Ích (Xem Khổng Tử Thánh Tích Đồ trang 81). Lý do là vì:

«Trời làm vơi chốn rồi rào,

Mà thêm vào những chỗ nào khiêm cung.

Đất soi mòn, bớt cao phong,

Để cho lòng biển, lòng sông thêm dày,

Quỷ thần hại kẻ no đầy,

Mà đem phúc lại cho người khiêm cung.

Người thường ghét kẻ thừa dùng,

Còn người khiêm tốn thật lòng, thời ưa.

Trên khiêm, thì sáng mãi ra,

Dưới khiêm, ai kẻ hơn ta được nào,

Khiêm cung, giữ vẹn trước sau,

Rồi ra, quân tử gót đầu hanh thông.»

(Dịch, Khiêm quái, Thoán Truyện)

IV. ĐỨC KHỔNG TỬ NHÌN THẤY CƠ VI CỦA CUỘC BIẾN HÓA

Theo Dịch lý cái gì cũng phát triển, chuyển dịch từ bé đến lớn, từ gần đến xa. Cho nên đức Khổng dạy người phải ngăn chặn họa hoạn, tai ương, loạn lạc ngay từ khi chúng mới nất nanh, mầm mộng.

Luận Ngữ viết: “Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.” (Người không lo xa, ắt có rầu gần. – LN, XV, 2).

Nơi quẻ Khôn, đức Khổng dạy về «phòng nguy lự hiểm» như sau:

«Nhà nào tích thiện sẽ hay,

Nhà nào tích ác sẽ đầy tai ương,

Tôi mà dám giết quân vương,

Con mà giết bố, dễ thường ngay sao?

Việc đâu một sớm, một chiều,

Duyên do tích lũy, bao nhiêu lâu rồi.

Duyên do lần dẫn tới nơi,

Tại mình chẳng sớm phanh phui tỏ tường.

Dịch rằng: Khi bước trên sương,

Hãy phòng băng cứng, thời thường đến sau,

Ý rằng chuyện sẽ nối nhau,

Nếu mình để mặc từ đầu, đến đuôi.»

(Dịch, Khôn quái, Văn Ngôn, hào sơ lục.)

V. ĐỨC KHỔNG CHỦ TRƯƠNG LÀM GÌ CŨNG PHẢI TÙY THỜI, NHẤT LÀ TRONG PHẠM VI CHÁNH TRỊ

Theo Dịch lý, một công chuyện gì cũng có đầu, có đuôi, có giai đoạn, có tiết tấu. Phàm công chuyện gì muốn nên công, chẳng những cần đến tài đức của người chủ xướng mà còn cần đến hoàn cảnh thuận tiện, thời cơ thuận tiện, tâm cơ thuận tiện.

Phàm việc gì bị gàng quải sẽ khó nên công; phàm việc gì được ủng hộ sẽ dễ thành sự. Như vậy tuy ta làm điều hay, mà lỗi thời, lỗi vận, trái cảnh, trái nơi, ngược đời, ngược chúng, cũng thất bại như thường; dẫu người làm điểu dở, nhưng khéo xoay, khéo xở, lại gặp thời, gặp vận vẫn thành công như thường. Vì thế người quân tử phải lấy đó làm phương châm hành sự.

Lúc nước có đạo, nên đem tài sức ra giúp đời, vì đó là thời cơ thuận tiện để thi hành đạo lý.

Quẻ Thái, hào Sơ Cửu viết:

«Hào Sơ Cửu, cỏ gianh muốn nhổ,

Nhổ một cây, cụm bửa lên theo,

Giúp đời, đã đúng lúc chiều.»

Khi nước vô đạo, khi tiểu nhân lên cầm quyền, người quân tử cần phải lui về ẩn dật.

Tượng Truyện quẻ Bĩ viết:

«Tượng rằng: Trời đất quải gàng,

Mỗi bên, mỗi ngã, đôi đàng chẳng giao.

Hiền nhân đức cả, tài cao,

Liệu bề che dấu, cốt sao thoát nàn.

Đừng mong lợi lộc, vinh quang.

Tiểu nhân đắc thế, ẩn tàng là hơn.»

VI. ĐỨC KHỔNG BIẾT RẰNG CON NGƯỜI BỊ HOÀN CẢNH CHI PHỐI RẤT NHIỀU

Theo Dịch lý, sự biến hóa và môi trường biến hóa có ảnh hưởng và liên lạc với nhau rất nhiều. Vì thế đức Khổng dạy các môn đệ không được đến một nước loạn lạc, vô đạo, đảo điên (LN, VII, 14: Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư).

Hơn nữa phải xa lánh kẻ tiểu nhân. Đã không ý hợp tâm đầu với tiểu nhân, mà còn mưu sự với tiểu nhân, thời tránh sao được họa hại? (LN, XV, 39: Đạo bất đồng bất tương vi mưu.)

Dịch Kinh về điểm này đã luận như sau:

«Dịch kinh, trong cả toàn pho,

Gần mà chẳng hợp, tức là chẳng hay.

Chẳng hay, họa hại có ngày.

Phàn nàn, tủi hận dắt dây hiện hình.»

(Hệ Từ Hạ chương 12: Phàm Dịch chi tình. Cận nhi bất tương đắc. Tắc hung. Hoặc hại chi. Hối thả lận.)

VII. ĐỨC KHỔNG CHỦ TRƯƠNG PHÀM LÀM CÔNG VIỆC GÌ CŨNG CẦN PHẢI CÓ NGHIÊN CỨU, CÓ TỔ CHỨC, CÓ GẮNG GỎI MỚI NÊN CÔNG

Trung Dung viết:

«Việc gì tính trước cũng linh,

Không toan tính trước âu đành dở dang.

Lời xếp trước, hoang mang khôn lẽ,

Việc tính rồi hồ dễ rối ren.

Hành vi đã sẵn chốt then,

Sẽ không vấp vướng, sẽ nên tinh thành.

Đạo làm người có rành duyên cớ,

Sẽ mênh mang muôn thuở, muôn đời…»

(Trung Dung chương XX)

Sự chuẩn bị chu đáo đó cũng đã được Kinh Dịch đề cao như sau:

«Hiền nhân thủ khí trong người,

Đợi thời hoạt động, đợi thời ra tay.

Sẵn đồ, lại sẵn dịp may,

Làm gì mà chẳng được hay, được lời.

Làm mà thông suốt, xong xuôi,

Không vương trở ngại, ắt thời nên công.

Ý rằng: Sắm đủ đồ dùng,

Sắm sanh đầy đủ, ra công mới là.»

(Dịch, Hệ Từ Hạ, chương V, bình giải hào Thượng Lục quẻ Giải)

Hơn nữa, lúc nào cũng phải thận trọng, lo lắng, dẫu công trình đã gần tới thành công.

Hào Cửu Ngũ quẻ Bĩ viết:

«Cơn đen, vận bĩ đã lui,

Đại nhân đã gặp được hồi hay ho.

rằng nguy, rằng hỏng mới là,

Khóm dâu vững chãi, thiết tha buộc ràng.»

(Dịch, Bĩ quái, hào Cửu Ngũ.)

Hệ Từ quảng luận hào này như sau:

«Nguy thay, kẻ tưởng vững ngôi,

Táng vong, kẻ tưởng thảnh thơi, trường tồn.

Loạn là kẻ tưởng trị an,

Tưởng an, khinh thị, ly loàn mới sinh.

Cho nên, quân tử giữ mình,

Đương yên, mà vẫn nhớ rành cơn nguy.

Đang còn, vẫn sợ mất đi.

Nước yên, mà vẫn phòng khi ly loàn.

Biết lo, thân mới được an,

Biết lo, nên mới bảo toàn quốc gia.

Dịch rằng: Rằng nguy, rằng hỏng, mới là,

Khóm dâu vững chãi, thiết tha buộc ràng.»

(Hệ Từ Hạ, V)

*******************     

VIII. TUY NHIÊN ĐỨC KHỔNG CHO RẰNG HAY TẠI MÌNH, DỞ CŨNG TẠI MÌNH

Mạnh Tử thuật:

Thuở xưa có một đứa trẻ hát:

«Thương Lang nếu nước mà trong,

Ta đem giải mũ ra giòng giặt chơi.

Thương Lang nước đục thời thôi,

Ta dùng ta rửa, rửa đôi chân này.»

Nghe câu hát ấy, đức Khổng nói với đệ tử rằng:

«Các ngươi hãy lắng nghe: Nước trong thì dùng giặt giải mũ; nước đục thì dùng rửa bàn chân. Đó là người ta tùy theo sự tốt xấu, trong đục mà dùng vậy. Này, một người tự khinh mình trước, rồi kẻ khác mới khinh khi mình. Một nhà tự hủy hoại mình trước, rồi kẻ khác mới hũy hoại nhà mình. Một nước mà phe này, đảng nọ, người này, kẻ khác đánh nhau, rồi nước khác mới thừa dịp mà đánh nước mình.»

Trong thiên Thái Giáp, Kinh Thư có chép rằng: «Những tai ách do Trời làm ra, mình còn tránh được; những tai ách do tự mình gây nên, thì mình phải chết.» (Xem Mạnh Tử, Ly Lâu thượng, 8). Thế là «Linh tại ngã, bất linh tại ngã.»

Trung Dung viết:

«Người quân tử như tay xạ thủ,

Chệch hồng tâm, lỗi đó trách mình.»

(Trung Dung, XIV)

IX. ĐỨC KHỔNG LINH ĐỘNG, BIẾN DỊCH CỐT LÀ ĐỂ THỰC HIỆN ĐẠO LÝ, CỐT LÀ ĐỂ ĐI ĐẾN CHỖ TOÀN THIỆN

Đức Khổng tùy thời xử thế, cốt là để tu đạo lập thân, đem Trung, đem toàn thiện vào trong lòng mình (TRUNG), rồi ra sẽ thành nhân chi mỹ (LN, XII, 15), làm cho người trở nên giống mình (THỨ) để cùng nhau tiến bước mãi mãi, cố gắng mãi mãi (LN, X, 18), và chỉ dừng bước nơi mức hoàn thiện (Chỉ ư chí thiện. – Đại Học 1).

Tóm lại, làm người phải biết thời cơ, như chim trĩ trước khi muốn đậu, liệng vòng tròn rồi mới đậu, thấy người có khí sắc dữ tợn thì bay đi (LN, X, 18); và phải biết «chỉ ư chí thiện» như chim hoàng điểu, nói trong Đại Học, biết tìm nơi góc núi mà đậu cho yên thân.

(ĐH III: Miên mang hoàng điểu, chỉ vu kỳ ngung).

B. NGƯỜI XƯA ÁP DỤNG DỊCH LÝ VÀO PHÉP TRỊ DÂN RA SAO?

Trong Tứ Thư, Ngũ Kinh,, đức Khổng đã nhiều lần lấy gương xưa tích cũ, đường xưa lối cũ ra để gián tiếp dạy người cầm quyền phải áp dụng Dịch lý vào công cuộc chính trị.

Người xưa trị dân dực vào ba nguyên tắc:

– Thuận theo thời trời

– Thuận theo thế đất

– Thuận theo lòng người.

1. Trị dân thuận theo thời trời

Người xưa trị dân rất chú trọng đến thời trời, vì thế rất chú trọng đến thiên văn và lịch số.

Vua Nghiêu từng sai Hi, Hòa khảo sát tinh tượng, tiên đoán các ngày nhật thực, nguyệt thực, v.v… Thời Nghiêu đã có tên nhị thập bát tú… (xem Kinh Thư, Nghiêu Điển).

Thiên Nguyệt Lệnh trong Lễ Ký đã mô tả tỉ mỉ công việc của nhà vua trong từng tháng mỗi năm.

Đại khái:

– Trong những mùa Xuân, Hạ, nhựa sống đang tràn đầy trong vũ trụ, công việc đồng áng tằm tang đang bận rộn, vua sẽ không động dụng đến dân chúng, sẽ không giết lát tội nhân, không động dụng quân sĩ binh đao; dân sẽ không giết chim, phá tổ; không săn bắn; không vét lát sông hồ; không đốt phá rừng rú; không chặt cây, đẵn cối. Vả cây cối đẵn vào mùa Xuân, Hạ sẽ dễ bị mọt. (Phàm mộc Xuân Hạ trảm giả đa đố. – Khâm định Lễ Ký án. Cf. Couvreur Li Ki, I, p. 369)

– Trong những mùa Thu, Đông, vạn vật héo khô dần, vua mới bắt đầu cho thi hành các hình án trảm quyết. thu, Đông là những mùa gặt hái, thâu liễm. Người xưa chặt cây, chặt tre vào ngày Đông Chí.

– Khi Âm Dương nhị khí giao nhau, nên giảm công việc, tránh viễn hành. (Xem Nguyệt Lệnh, các ngày Đông Chí, Hạ Chí).

– Trước Xuân Phân ba ngày thường có sấm động; nhà vua truyền dân chúng kiêng việc phòng sự, kẻo sinh quái thai.

– Ngày Xuân Phân và Thu Phân, nhật dạ tương đồng, nên nhà vua truyền xem xét lại cân lường, đấu hộc, v.v… (Xem Nguyệt Lệnh Lễ Ký Couvreur I, 330, 410. Xem Nguyệt Lệnh trong quyển Khổng Học Tinh Hoa của tác giả, trang 337- 438).

2. Người xưa trị dân thuận theo thủy thổ

Vua Vũ là vị vua Trung Hoa đầu tiên rất sành về địa lý. Ngài đã vẽ địa đồ nước Trung Hoa. Thiên Vũ Cống trong Kinh Thư cho thấy:

Ngài biết rõ:

– Địa thế từng miền.

– Năng suất đất đai của từng miền.

– Nghề nghiệp của từng miền.

– Đường lối giao thông của từng miền.

Tùy theo sức sản xuất và sự phú cường của từng miền, Ngài định thuế khóa và phẩm vật cống hiến. (Xem Kinh Thư Vũ Cống.)

Lễ Ký viết: «Các thánh vương xưa thuận theo định luật trời đất mà cai trị. Các Ngài không bắt người vùng núi xuống ở vùng biển; không bắt người ở ngoài đảo vào ở trong đồng. Các Ngài sử dụng ngũ hành, sử dụng nguyên liệu vật thực tùy theo thời. Các Ngài tùy tuổi dân mà cho phép kết hôn; tùy tài đức mà ban tước vị.

«Các Ngài sử dụng dân theo đúng thời tiết, cho nên trong nước thoát thủy tai, hạn hán, côn trùng; dân chúng không lo đói khát.»

(Cf. Lễ Ký, Lễ Vận, tiết IV, 16. Couvreur Li Ki, I, 535; xem thêm Lễ Ký, Lễ Khí, tiết II, 10; tiết 1, 3.)

3. Người xưa cai trị thuận theo nhân tâm

Các vị thánh vương xưa cho rằng dân muốn là trời muốn, nên làm vua phải biết thuận nhân tâm.[4]

Vậy nên các vua xưa, làm việc gì trọng đại, thường hỏi ý dân, hay ít ra là giải thích cho dân, cho quân được rõ nguyên do hành động của mình.

– Thành Thang trước khi cất binh đánh vua Kiệt nhà Hạ, đã làm bài Thang Thệ, phủ dụ dân quân (Xem Kinh Thư, Thang Thệ).

– Võ Vương trước khi cất binh đánh vua Trụ nhà Thương, đã họp quân sĩ và chư hầu ở bến Mạnh Tân, để hiểu thị (Xem Kinh Thư, Thái Thệ).

– Vua Bàn Canh khi muốn dời đô từ Cảnh sang Ân để đề phòng lụt lội cho dân, đã hội họp dân lại để giải thích hơn thiệt. (Kinh Thư, Bàn Canh).

Đại Học viết:

«Sướng thay bậc phụ mẫu dân,

Cùng dân yêu ghét muôn phần chẳng sai.

Đáng làm cha mẹ muôn người.»

(Đại Học X)

Luận Ngữ chủ trương phải sử dụng dân cho hợp thời (LN, I, 5: Sử dân dĩ thì.)

Trung Dung cũng ghi:

«Muốn bách tính kính tin một dạ,

Xâu (sưu) phải thời, thuế má phải chăng.» [5]

Tóm lại, theo thời trời, theo thế đất, theo nhân tình mà cai trị, chính là bí quyết thành công của người xưa.

Thế tức là:

– «Thượng luật thiên thời, hạ tập thủy thổ» của Trung Dung (chương XIX)

– «Dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi.» của Đại Học (chương X)

– «Sử dân dĩ thì.» của Luận Ngữ (I, 5) và Trung Dung (chương XX).

Đó cũng chính là ba yếu tố tạo dựng lịch sử: thiên thời, địa lợi, nhân hòa đề cập ở thiên Công Tôn Sửu hạ, sách Mạnh Tử.

C. DỊCH KINH ĐẠI KHÁI CHỦ TRƯƠNG NHỮNG GÌ ?

Dịch Kinh khảo sát tất cả hiện tượng biến thiên, các trạng thái chuyển dịch vô thường của một bản thể bất biến mà Dịch gọi là Thái Cực.

Về vũ trụ quan, Dịch cho rằng vạn vật từ một Đại Thể, một Bản Thể, một Nguyên Thể sinh xuất, phát tán ra; biến thiên, thắng giáng theo định luật tuần hoàn, rồi lại kết cục trở về Nguyên Thể.

Vì thế mà Nho gia sau này chủ trương:

«Nhất thể tán vạn thù, vạn thù qui nhất thể.»

«Vạn vật tuần hoàn, chung nhi phục thủy.»

Về nhân sinh quan, Dịch Kinh chủ trương con người phải biết tùy thời xử thế, để tránh được điều họa hung, mưu cầu được hạnh phúc, cát tường. Kinh Dịch dạy con người nên sống theo lối đường người quân tử (Dịch vi quân tử mưu, bất vi tiểu nhân mưu); và nếu có thể, trở nên hiền thánh, sống huyền hóa với đất trời (xem quẻ Kiền)

Dịch Kinh, ngoài ra, còn muốn đề cập đến các định luật biến dịch của vũ trụ cũng như của quần sinh.

«Dịch sở dĩ có là cốt để mở mang trí tuệ cho con người, tác thành muôn việc cho con người, bao trùm tất cả đạo lý trong thiên hạ …» (Phù Dịch sở dĩ vi giả dã, khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ dã. – Hệ Từ Thượng, chương XI, tiết I).

Dịch Kinh theo đúng khuôn khổ của trời đất, vì vậy nên có thể điều hòa, sắp xếp mọi việc trong thiên hạ (Dịch dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên hạ chi đạo. – Hệ Từ Thượng, chương IV). Vì không thể nào đề cập đến Dịch Kinh một cách nông cạn, một sớm một chiều được, nên ở đây chúng ta chỉ bàn qua về phương pháp xu cát, tị hung của Kinh Dịch.

Dịch Kinh dạy chúng ta xu cát, tị hung bằng sự hiểu biết của mình, bằng sự cố gắng của mình, sự khéo léo của mình.

Dịch Kinh nhận định rằng ta lệ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh, cho nên biết hoàn cảnh là biết được một phần lớn số phận cá nhân.

Hoàn cảnh hay, dở khác nhau, tùy như ở chỗ chính thắng hay tà thắng; quân tử thắng hay tiểu nhân thắng; tinh thần thắng hay vật chất thắng; tinh thần làm chủ hay vật chất làm chủ. Nhưng, trong mỗi hoàn cảnh, cá nhân có hay có dở khác nhau, vì địa vị tài đức khác nhau; vì có người giúp đỡ hay gàng quải; vì gần quí nhân hay tiểu nhân…

Hành động có hay có dở khác nhau:

+ Hành động hay:

– sẽ đem lại lợi ích.

– hợp đạo lý

– hợp tình, hợp cảnh, không làm cho ta phải xấu hổ, hay hối hận, phàn nàn.

+ Hành động dở sẽ đem lại cho mình hung họa, làm cho mình băn khoăn, hối hận.

+ Một phần lớn hung họa của ta phát sinh là vì ta:

   – sống trong những hoàn cảnh bất xứng, địa vị bất xứng.

   – thiếu tài đức

   – thiếu nhẫn nại.

   – thiếu quan phòng

   – ghét nhau mà vẫn phải gần nhau

   – giao thiệp với nhau toàn bằng sự dối trá.

Vậy, muốn sống một đời sống lý tưởng, phải thuận theo đạo lý, tức là theo các định luật thiên nhiên, đừng gàng quải với trời đất, với tuổi tác. Phải tìm hoàn cảnh thuận tiện cho mình mà sống, giao thiệp với những người mình thích; rồi lại phải tránh ác, tránh hung, từ khi nó mới chớm phát; phải cố gắng tạo cho mình một lề lối sống hay, đẹp; khi đã được phải chắt chiu bảo vệ.

Đó là chủ trương của Dịch về phép xu cát tị hung. Nếu mình theo được vậy, mình sẽ thấy tinh thần thung dung, thoải mái, óc chất minh mẫn, con người khỏe khoắn, linh động và sẽ được mọi người quí mến, kính trọng; mình sẽ như một vị thuyền trưởng có kinh nghiệm, lèo lái con thuyền bản thân trên trùng dương trần thế, cho đến bến bờ hoàn thiện.

Nhận định ra được chân giá trị của Dịch, lại biết áp dụng thực thi được Dịch lý vào công cuộc tu luyện bản thân, nên đức Khổng rất tha thiết khảo cứu Kinh Dịch.

Ngài nói: «Nếu Trời cho ta sống thêm ít tuổi nữa để học Dịch, ta có thể không phạm lỗi lầm lớn nữa.» (LN, VII, 16). Lời nói ấy thật là khiêm tốn và cũng là một lời chân thành khuyến cáo chúng ta nên để tâm học Kinh Dịch.

———–
CHÚ THÍCH

[1] Ở đây thêm hai niên kỷ 255: Châu mạt, và 395: Trịnh mạt, là những niên kỷ sau thời đức Khổng.

[2] Xem Dịch Kinh, Thoán Truyện quẻ Phong: Nhật trung tắc trắc. Nguyệt doanh tắc thực. Thiên địa doanh hư. Dữ thời tiêu tức. Nhi huống ư nhân hồ? Huống ư quỉ thần hồ?

[3] Tượng viết: Bĩ chung tắc khuynh, hà khả trường dã.

[4] Thiện thị tự ngã dân thị; thiên thính tự ngã dân thính. (Kinh Thư Thái Thệ Trung, 7). – Dân chi sở dục thiên tất tòng chi. (Thái Thệ Thượng, 11). – Duy thiên huệ dân, duy tích phụng thiên (Thái Thệ Trung, 4).

[5] Trung Dung XX.– Cửu kinh VI: Thì sử, bạc liễm, sở dĩ khuyến bách tính dã.

—————
***************     

Chương 13

Đức Khổng, một thi sĩ

Người ta thường hình dung đức Khổng như là một vị thánh nhân đạo mạo, khắc khổ, nhưng khảo sát kỹ đời sống Ngài, ta thấy Ngài thật là một con người có tâm hồn thi sĩ.

Ngài không để lại một bài thơ nào do Ngài sáng tác, nhưng Ngài thật là một con người yêu thơ.

Ngài chẳng những san định lại Kinh Thi mà còn phổ Kinh Thi vào nhạc.

Tư Mã Thiên viết: «Đức Khổng đem ba trăm lẻ năm thiên Kinh Thi ra mà đàn ca cho hợp với âm thanh của Thiều, Vũ, Nhã, Tụng.» [1]

Khổng Tử Thế Gia còn chép: «Ngày xưa Thi có hơn ba ngàn thiên, Khổng Tử san khứ phần trùng phức, chỉ lấy những thiên hợp với lễ nghĩa, trước nhặt các bài từ đời Tiết, Hậu Tắc, đến các bài thuật sự hưng thịnh đời Ân, Chu, sau là các bài nói về sự khuyết điểm của U Vương và Lệ Vương, gồm có 305 thiên.» [2]

Có điều này lạ lùng là đức Khổng yêu thơ nhất là lúc Ngài trở về già. Tuy cuộc đời phiêu lưu tranh đấu cho đạo lý của Ngài đã không mang lại thắng lợi nhãn tiền cho Ngài, nhưng Ngài chẳng vì thế mà trở nên yếm thế. Càng già, Ngài càng trở nên hồn nhiên, yêu đời, yêu vẻ đẹp thiên nhiên.

Ngài khen Tăng Tích, vì Tăng Tích đã sống tiêu sái hồn nhiên, muốn cùng ít nhiều bạn trẻ, vào những ngày cuối xuân ấm áp, tắm mát ở sông Nghi, hóng gió ở đàn Vũ Vu; rồi trên đường về, cùng nhau ca vịnh cho vui. (LN, XI, 25)

Thế tức là đức Khổng cũng chủ trương:

«Đành vũ trụ ấy ngô nhân phận sự,

Cũng tiêu dao cho tuế nguyệt thêm trường.

Vân thương thương hề thủy thương thương,

Phong quang ấy người sao nỡ phụ!»

(Nguyễn Công Trứ, Kiếp Nhân Sinh) [3]

Ngài bắt đầu san định Kinh Thi, khi Ngài trở về Lỗ. Lúc ấy Ngài đã 68 tuổi. Ngài nói: «Sau khi ta từ Vệ trở về Lỗ, ta chỉnh đốn Kinh Nhạc, và san định lại Nhã, Tụng (Kinh Thi)» (LN, IX, 14).

Trong khi giảng dạy học trò, Ngài thường nói đến kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ (LN, VII, 17). Ngài cũng đã nhiều lần trích dẫn cổ thi (LN, IX, 29) hoặc kinh Thi để giảng dạy (ĐH III; TD XIII, XV, XVI, v.v…)

Ngài đặc biệt khuyến khích con mình là Bá Ngư nên học Kinh Thi (LN, XVI, 13), nhất là hai thiên Chu Nam và Thiệu Nam (LN, XVII, 10).

Ngài cũng dạy đệ tử phải học Kinh Thi để:

– Gây niềm hứng khởi cho mình.

– Cảm thông hòa hợp với người.

– Biết oán ghét những gì dở dang chếch mác.

– Biết hiếu.

– Biết trung.

– Trau giồi thêm kiến thức (biết thêm các tên thảo, mộc, điểu, thú, ngư, cầm) (LN, XVII, 9).

Ngài chủ trương:

– Học Kinh Thi để lòng thêm hứng khởi vui sống.

– Học Kinh Lễ để biết tuân theo định luật tự nhiên mà ở ăn.

– Học Nhạc để cho con người trở nên vẹn hảo, hòa hợp được với nhân quần, với vũ trụ (LN, XII, 9).

Ngài cho rằng học Kinh Thi cho phải, sẽ làm cho lòng mình trở nên xởi lởi, hồn nhiên, cởi mở, không còn nghĩ ngợi lăng nhăng tà vạy. (LN, II, 2).

Nhờ ảnh hưởng của Ngài mà thơ cũng như thi nhân sau này có một địa vị quan trọng trong nền văn học Đông Á. Các Nho gia cự phách sau này, như Chu Liêm Khê, Nhị Trình (Trình Di, Trình Hạo), Chu Hi, Vương Dương Minh ở Trung Hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Yên Đổ, Nguyễn Du, v.v… ở Việt Nam, sau một thời gian xuất chính, tích cực xây dựng cho non sông đất nước, đều trở về với thú điền viên, ngâm phong, lộng nguyệt, khiến cho lòng hồn nhiên, phơi phới như Tăng Tích xưa cùng bè bạn trên bờ sông Nghi, hoặc trên đàn Vũ Vu (LN, XI, 25. – Khổng Học Đăng II, trang 685: Ngâm phong lộng nguyệt dĩ qui hữu ngô dữ Điểm dã chi ý.)

Đức Khổng với Kinh Thi

Đức Khổng khuyên ta nên đọc Kinh Thi. Vậy trong chương này, ta sẽ nghiên cứu Kinh Thi một cách khái quát, với mục đích tìm hiểu tâm hồn thi nhân muôn thuở, qua những hình thức thi ca, và nhân đó hiểu thêm về tâm hồn đức Khổng. Kinh Thi lúc này đối với ta sẽ là phương tiện gián tiếp để «phân tâm», để đi sâu vào tâm tư đức Khổng, để tìm thêm những nét đặc thù, tô điểm cho bức chân dung Ngài càng ngày càng trở nên linh động, chính xác.

Bộ Kinh Thi với 305 bài thơ mà đức Khổng đã san định là cả một cuộc triển lãm sống động về nhân tình thế thái, về lòng tin tưởng, về đạo đức của người xưa.

Kinh Thi chia làm ba phần:

1. Quốc Phong (160 thiên)

Gồm các bài ca dao của 15 nước: Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Trần, tần, Cối, Tào, Bân. Các nước này đều ở về phía bắc nước Trung Hoa.

Ta có bản địa đồ sơ lược sau đây:

(Phỏng theo Cursus litteraturæ sinicæ của Zottoli, volumen tertium.)

2. Nhã (105 thiên)

Gồm những bài hát ở nơi triều đình, miếu mạo. Nhã chia làm:

a. Tiểu Nhã (74 thiên) gồm những bài thơ dùng trong những trường hợp không quan trọng, như yến tiệc.

b. Đại Nhã (31 thiên) gồm những bài thơ dùng trong những trường hợp quan trọng, như khi thiên tử họp vua chư hầu, hoặc tế ở miếu đường.

3. Tụng (40 thiên)

Gồm những bài ca tụng các đời vua trước và dùng để hát múa nơi miếu đường.

Tụng gồm có:

– Chu Tụng, 31 thiên

– Lỗ Tụng, 4 thiên

– Thương Tụng, 5 thiên.

Kinh Thi cũng như các sách Nho khác, đã gặp nạn «phần thư» (đốt sách) đời Tần.

Đến đời Hán, có 4 bản Kinh Thi xuất hiện:

– Lỗ Thi của Thân Bồi.

– Tề Thi của Viên Cố Sinh.

– Hàn Thi của Hàn Anh.

– Mao Thi của Mao Hanh và Mao Trường.

Nay chỉ còn truyền tụng lại bản Mao Thi.

NỘI DUNG KINH THI

Đọc Kinh Thi ta thấy như cả một dân tộc xa xưa đang sống dưới những vần thơ linh động.

Đọc Kinh Thi ta thấy hiện ra trước mắt:

– Niềm tín ngưỡng sâu xa của người xưa về Thượng Đế.[4]

– Nguyện ước sâu xa của thánh hiền thiên cổ là sống phối kết với Thượng Đế (Ân chi vị táng sư khắc phối Thượng Đế) (Đại Nhã, Văn Vương) (Xem thêm Đại Nhã, Bản, và Hoàng Hĩ).

Đọc Kinh Thi ta thấy phơi bày ra mọi hạng người hay, dở trong xã hội, đại loại:

– Con thảo, dâu hiền (Chu Nam, Cát Đàm. – Đường Phong, Bảo Vũ).

– Những anh em vẹn tình cốt nhục (Bội Phong, Nhị tử thừa chu).

– Những cặp vợ chồng keo sơn gắn bó (Chu Nam, Quan Quan. – Chu Nam, Quyền NHĩ. – Chu Nam, Nhữ Phần. – Thiệu Nam, Thảo Trùng; Ẩn kỳ lôi; hà bỉ nùng hĩ, v.v…)

– Những bậc lãnh đạo anh minh một lòng vì dân, vì nước (Đại Nhã, Văn Vương, Hạn Lộc; Tư Trai; Sinh Dân, v.v…)

Nhưng ngược lai ta cũng thấy:

– Những vị vua chua hoang dâm (Trần Phong, Tru Lâm), bất tài, bất lực (Đại Nhã, Chiêm Ngưỡng; Thiệu Mân; Uất Liễu.)

– Những vị quan tham nhũng (Tào Phong, Hậu Nhân. – Ngụy Phong, Thạc Thử. – Đường Phong, Cao Cầu.)

– Những đàn bà dâm loạn (Tề Phong, Tề Cẩu; Tái Khu, v.v…)

– Những bà mẹ bỏ con để đi tái giá (Bội Phong, Khải Phong.)

– Những cặp nhân tình hẹn hò (Trần Phong, Đông môn chi dương); ngõ liễu hoa tường (Tề Phong, Đông phương chi nhật. – Trịnh Phong, Thương Trọng Tử.)

Kinh Thi phơi bày ra mọi hoạt cảnh của xã hội. Ta thấy:

– Những cảnh trai thanh, gái lịch, rộn rực yêu đương, đem trăng, sao, hoa, lá, đem cảnh vật, điểm tô cho tình thương, nỗi nhớ; mượn vật, mượn cảnh để nói lên nỗi niềm tha thiết yêu đương, tương tư, sầu bi, khắc khoải, nhớ mong. (Xem Chu Nam, Thư Cưu. – Bội Phong, Tình Nữ. – Dung Phong, Tang Trung. – Trịng Phong, Xuất kỳ Đông môn; Tử Khâm; Phong Vũ; Đông Môn; Phong; Tuân đại lộ. – Vương Phong, Thái Cát. – Dung Phong, Đế Đống, v.v…)

– Những cảnh vui xuân hồn nhiên giữa gái trai trên những dòng sông xuân, lồng vẻ xuân tươi thắm. (Trịnh Phong, Trăn dữ Vĩ)

– Những cảnh nợ nước tình nhà rối ren, khó gỡ. Bận lo toan việc vua chúa, thời lại bỏ mất bổn phận săn sóc gia đình; thương cha xót mẹ không người định tỉnh thần hôn. (Tiểu Nhã, Tứ Mẫu. – Đường Phong, Bảo Vũ)

– Những cảnh trị dân bê tha, bạo tàn, tham nhũng, làm cho dân sống lắt lay, cơ cực (Ngụy Phong, Thạc Thử. – Tần Phong, Hoàng Điểu. – Tiểu Nhã, Vũ vô chính; Thập nguyệt chi giao; Tiểu Mân; Bắc Sơn; Cổ Chung, v.v…)

– Những cảnh chinh chiến phân ly, những cảnh chiến xa, chiến mã đưa người chinh phu ra nơi quan ải, làm cho lòng người khuê phụ ở nhà sầu thương man mác (Tần Phong, Tiểu Nhung. – Đường Phong, Cát Sinh, v.v…)

– Những cảnh quân sĩ, viễn chinh lâu ngày, hồi hương; trên đường về mường tưởng như nhà cũ, vườn xưa đã trở nên xác xơ, hoang vắng, mặc cho nhện giăng tơ, bầu thòng quả, hươu chạy, đóm bay (Bân Phong, Ngã tồ Đông sơn….

Nghệ thuật diễn tả trong Kinh Thi

Đối với một người có tâm hồn mộc mạc, hồn nhiên, biết rung động trước cảnh sắc thiên nhiên, thì cái gì cũng trở nên nguồn thơ sóng nhạc; cái gì cũng có thể mượn được để làm đề tài ngâm vịnh.

Tiếng gà eo óc lúc bình minh (Trịnh Phong, PhongVũ), tiếng chim gù ghì ngoài bãi vắng (Chu Nam, Quan Quan), tiếng oanh lo líu trên cành (Bân Phong, Tất Nguyệt), đôi cánh phù du trước gió (Tào Phong, Phù Du), con nhện giăng tơ, quả bầu lủng lẳng (Bân Phong, Đông Sơn), thậm chí đến mưa sa tuyết rơi (Trịnh Phong, PhongVũ), gió gào (Trịnh Phong, PhongVũ), sấm động (Thiệu Nam, Ẩn kỳ lôi), nhất nhất cái gì cũng trở nên trào thơ, nguồn hứng; cái gì cũng có thể dùng để điểm tô, để gửi gấm, để đưa đà cho một mối tâm tình, một bầu tâm sự, một ước mơ hay một khát vọng.

Nghệ thuật của thi nhân là làm cho tất cả tâm tình, tất cả cảnh vật trở nên rạo rực, trở nên sống động rạt rào bằng những âm vận, bằng những cảnh sắc, bằng những nhịp điệu.

Lời thơ đọc lên có âm có vận, lúc chậm lúc nhanh, lúc vắn lúc dài, biến ảo linh động, rộn rã âm thanh, chứa chan tình tứ, rực rỡ sắc màu.

Thơ tuy có thiên có chương có cú, nhưng không trang nào giống trang nào.

Các câu thơ dài vắn thường khi không đều; vắn thời ba chữ, dài thời chín, mười chữ không chừng, theo nhau tùy điệu, tùy hứng. Đọc lời thơ, ta thấy thần thơ, tứ thơ rạt rào, cuồn cuộn bên trong, lôi cuốn âm thanh và từ ngữ theo hứng lòng, theo nhịp khoái cảm, chứ không gò gập theo một khuôn khổ nhất định nào.

Vần thơ có yêu vận, cước vận; những chữ «chi», chữ «hề» thường được dùng để cho bài thơ có một âm điệu, một duyên dáng huyền kỳ. (Ngụy Phong, Phạt Đàn. – Chu Nam, Sâm si hạnh thái).

Thơ làm theo nhiều lối:

– Nói ngay, nói thẳng (Phú)

– Nói quanh co, mượn cảnh vật làm nhịp cầu để vào đề (Hứng).

– Nói bóng, nói gió, nói xa, nói gần (Tỉ)

Một nghệ thuật hành văn đặc biệt của Kinh Thi là cách khai thác triệt để song ngữ, điệp ngữ để tả tình, tả cảnh.

Kinh Thi dùng điệp ngữ để bắt chước tiếng chim véo von (anh anh), tiếng gà eo óc (giê giê, kiêu kiêu) (Trịnh Phong, Phong Vũ), tiếng búa choang choang (khảm khảm) (Phạt Đàn); để diễn tả sắc màu mơn mởn của đào tơ, liễu yếu (Đào chi yêu yêu, kỳ diệp tần tần); mô tả những nỗi băn khoăn, khắc khoải của tâm tư (thảm thảm, đát đát, chuyết chuyết; túc túc, đao đao, v.v…)

Kinh Thi còn áp dụng lối thơ điệp khúc, lối diễn xuất tiệm tăng, tiệm tiến, thêu đi, dệt lại một hoạt cảnh. Mỗi chương thơ mới lại y như một bộ mặt cũ hóa trang cho mới mẻ thêm ít nhiều; lại y như một đợt sóng mới của ngọn nước triều dâng: đợt sóng này tiếp đợt sóng kia, tràn vào bờ, tuy có giống nhau, nhưng mà vẫn có khác nhau.

Kinh Thi dùng lời thơ mà mô tả vạn sự: Tả cảnh, tả tình. Mọi khía cạnh của đời sống con người lần lượt hiện lên, tân kỳ, biến ảo, như những ảnh tượng trong ống kính vạn hoa.

Trong Kinh Thi chữ Hán cũng biến chuyển khôn cùng: nhiều chữ không còn đọc theo nguyên âm nữa, mà phải đọc trại đi cho hợp vần, hợp giọng. Nếu ta cứ đọc đúng theo mặt chữ thì không còn ra âm điệu gì nữa…

Như vậy muốn thưởng thức Kinh Thi, ta phải như người chơi hoa, chơi cảnh, phải có thời giờ mà thưởng thức mới thấy được hết cái hay.

Một vài bài thơ trong Kinh Thi

Muốn thưởng thức Kinh Thi dĩ nhiên là phải đọc chính văn, chính bản. Nhưng nếu chúng ta đi ngay vào chính văn, chính bản, thì e thế nào lúc mới, cũng chập chững, ngỡ ngàng. Chi bằng chúng ta hãy cùng nhau thưởng thức Kinh Thi qua ít nhiều bản dịch.

Dưới đây là một vài vần thơ dịch:

1. Thạc nhân (Vệ Phong)

Tay ai như cái gianh non,

Da như mỡ đọng! cổ như con nhạy dài!

Hạt bầu như thể răng ai!

Đầu trăn! Mà lại mày ngài thêm xinh!

Hai con mắt tốt long lanh!

Miện cười tươi đẹp, khéo sinh tình, càng ưa…

(Kinh Thi, Tản Đà, tr. 175)

*******************     

2. Hữu nữ đồng xa (Trịnh Phong)

Chung xe chàng có cô em gái,

Mặt như hoa, xinh hỡi là xinh.

Dáng nàng uyển chuyển hữu tình,

Hoa cài ngọc dắt, rung rinh bên người.

Nàng Khương xuân sắc xinh tươi,

Trên đời hồ dễ mấy ai như nàng.

*

Đi cùng chàng có cô em gái,

Mặt như hoa, phơi phới tươi xinh.

Dáng nàng uyển chuyển hữu tình,

Hoa kia ngọc nọ, rung rinh rộn ràng.

Đẹp thay cô gái Mạnh Khương,

Nết na đức hạnh chi nhường cho ai.

(Bản dịch Nguyễn Văn Thọ)

3. Xuất kỳ Đông môn (Trịnh Phong)

Vui chân ra phía cửa đông,

Gái đâu óng ả mơ màng như mây.

Gái đâu uyển chuyển mây bay,

Dẫu như mây đẹp ta đây chẳng màng.

Vợ ta áo trắng khăn lam,

Khăn lam áo trắng vẫn làm ta vui.

*

Vui chân ra phía địch lâu,

Mặt hoa da phấn gái đâu thế này.

Mặt hoa ta cũng chẳng say,

Vợ ta mộc mạc, ta đây vừa lòng.

(Bản dịch của tác giả)

4. Khiên thường (Trịnh Phong)

Anh nhớ em, vén xiêm em lội,

Qua sông Trăn em vội em sang.

Như anh chẳng khứng ngó ngàng,

Trên đời khối kẻ hoàn toàn hơn anh !

Sao anh vẫn thói trẻ ranh?

(Bản dịch của tác giả)

5. Trăn dữ Vĩ (Trịnh Phong)

Con sông Trăn với con sông Vĩ,

Nước trong veo, lồng vẻ xuân tươi.

Trai thanh gái lịch đua chơi,

Từng đoàn lũ lượt, tươi cười thênh thang.

Nàng ướm hỏi: Anh sang xem thử,

Chàng vội thưa: Xem đủ lắm rồi.

Nàng rằng sang nữa mà coi,

Bên kia sông Vĩ có nơi rỡn đùa.

Gái sang, trai cũng đua sang với,

Gái cùng trai thỏa mãn vui đùa.

Đem hoa thược dược tặng cho,

Đem hoa thược dược hẹn hò cùng nhau.

*

Con sông Trăn với con sông Vĩ,

Nước mênh mông lồng vẻ xinh tươi.

Trai thanh gái lịch đua chơi,

Hoa lan mấy đóa kẻ cài người mang.

Nàng ướm hỏi: Anh sang xem thử,

Chàng vội thưa: Xem đủ lắm rồi.

Nàng rằng sang nữa mà coi,

Bên kia sông Vĩ có nơi rỡn đùa.

Đem hoa thược dược tặng cho,

Đem hoa thược dược hẹn hò cùng nhau.

(Bản dịch Nguyễn Văn Thọ)

6. Tiểu nhung (Tần Phong)

Chiến xa chàng nhỏ lại xinh,

Đầu xe sóng lượn năm vành da bao.

Đai trơn lồng xấp cương đào,

Vàng tô khoen trắng, lẫn vào hàm xe.

Trục dài, xe trải hổ bì,

Ngựa Kỳ, ngựa Chức, lông khoe sắc mầu.

Chinh phu nhớ tới thêm sầu,

Chinh phu mỹ mạo ta đâu bây giờ?

Chàng thời ván liếp thô sơ,

Em thời thương nhớ tơ vò niềm tây.

Xe chàng bốn ngựa phây phây,

Sáu dây cương ngựa một tay chàng dòng.

Kỳ, Lưu, hai ngựa bên trong,

Qua, Ly, hai ngựa song song bên ngoài.

Thuẫn rồng đã ghép thành đôi,

Vòng khoen dây thắng chưa phôi ánh vàng.

Nhớ chàng dạ những bàng hoàng,

Nhớ ai mỹ mạo bạt ngàn thành xa.

Khi nào chàng trở lại nhà?

Nhớ chàng thắm thiết biết là mấy mươi!

***

Ngựa chàng giáp thắng hẳn hoi,

Cầu mâu ba chẽ sáng ngời vàng tô.

Khiên chàng lông vẽ nên hoa,

Bao cung da hổ bạc tra phía ngoài.

Trong bao cung chập một đôi,

Lồng trong kẹp trúc, cánh gài sẵn dây.

Nhớ chàng lòng dạ khôn khuây,

Nhớ đêm khi ngủ, nhớ ngày khi chong.

Nhớ ai đi mấy thong dong,

Nết na thuần cẩn, tiếng lừng gần xa.

(Bản dịch Nguyễn Văn Thọ)

7. Nguyệt xuất (Trần Phong)

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

Người đâu nhan sắc rạng ngời ánh hoa.

Sầu vương ai gỡ cho ra,

Nỗi lòng khắc khoải bao giờ mới khuây.

*

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

Người đâu ngọc nói hoa cười trớ trêu.

Nỗi buồn càng dập càng khêu,

Tình thương nỗi nhớ trăm chiều vò tơ.

***

Vầng trăng sáng quắc đều trời,

Người đâu rực rỡ rạng ngời ánh hoa.

Sầu này ai gỡ cho ra,

Trăm thương nghìn nhớ, lòng ta tơ vò.

(Bản dịch của tác giả)

8. Đông sơn (Bân Phong)

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Ngày qua tháng lại triền miên chẳng về.

Ngày ta nhẹ bước hồi quy,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Ngàn đông từ dáng quân lui,

Sầu dâng lòng thét, non đoài nhớ quê.

Y thường đã sẵn mọi bề,

Rồi đây hết chuyện đi về ngậm tăm.

Sâu dâu lổn nhổn nó nằm

Ngàn dâu bát ngát lăng xăng nó bò.

Canh khuya chiếc bóng co ro,

Canh khuya hồn mộng thẫn thờ bên xe.

***

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Tháng ngày đằng đẵng, triền miên khó về.

Ngày ta nhẹ bước hồi quy,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Bầu kia chắc đã sinh sôi,

Quả thòng, lủng lẳng lôi thôi đầu nhà.

Bọ mát chắc khắp buồng ta,

Nhện kia trước cửa chắc đà giăng tơ.

Vườn ta hươu chắc nhởn nhơ,

Lập lòe đom đóm nó đùa nó bay.

Nghĩ càng sợ hãi lắm thay,

Nỗi lòng canh cánh, niềm tây thẫn thờ.

***

Đông sơn từ buổi chinh yên,

Tháng ngày đằng đẵng, triền miên chẳng về.

Những từ trở ngọn chinh kỳ

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Cò trên tổ kiến kêu chơi,

Phòng khuê chinh phụ bồi hồi thở than.

Cửa nhà kìa đã sửa sang,

Ta nay phút đã lai hoàn nhà ta.

Khổ qua cành lật la đà,

Kể từ xa cách tính vừa ba năm.

***

Ta từ nhẹ bước chinh yên,

Tháng ngày đằng đẵng, triền miên chẳng về.

Những từ trở bóng chinh kỳ,

Mưa bay lất phất lâm li mấy hồi.

Con oanh bay lượn rong chơi,

Lấp loa lấp loáng như phơi cánh vàng.

Vu quy óng ả mấy nàng,

Ngựa vàng ngựa đỏ đàng hoàng đón đưa.

Ân cần mẹ thắt khăn tua,

Chín mười thôi thế đã vừa tiện nghi.

Tình nay nếu đáng chuốc vì,

Duyên xưa thắm thiết nói chi cho cùng.

(Bản dịch của tác giả)

*******************     

Ích lợi của Kinh Thi

Đọc Kinh Thi chúng ta thấy dân Trung Hoa xưa đã biết sống một đời sống thuần phác, hòa mình với thiên nhiên và cảnh sắc. Tuy họ cần cù lao tác suốt tháng suốt năm, nhưng vẫn biết sống hồn nhiên rạt rào nhựa sống, vẫn biết thương yêu tha thiết, gửi gấm cho người mình yêu những gì cao quí nhất của tâm hồn, đem cảnh sắc, trời mây, hoa lá mà cài lên, tô điểm cho tình ái, tâm tư…

Cái lối sống thơ mộng hồn nhiên ấy đã biến cái thế giới thô sơ, mộc mạc của thời xưa thành một khung cảnh đẹp đẽ, làm cho cuộc đời vơi bớt đi vẻ trần ai tục lụy…

Đức Khổng khuyên ta đọc Kinh Thi, muốn cho chúng ta yêu thơ, là muốn chúng ta đem thi hứng vào tâm hồn, làm cho chúng ta nên hồn nhiên sống động, vui tươi, xởi lởi, chấp nhận những cái éo le dang dở của cuộc đời, nhưng vẫn tích cực sửa sang cho hết những chếch mác, dở dang ấy, hoặc bằng những hoạt động tích cực trực tiếp, hoặc bằng những lời bao biếm, bóng gió, chỉ trích, phê bình…

Khi chúng ta đã biết yêu thơ, khi chúng ta đã có hồn thơ, chúng ta sẽ nhìn thấy những vẻ đẹp lung linh của trời đất, của trăng sao, của cành đào ngà nghiêng trước gió, của vì sao mai lấp lánh lúc bình minh, chúng ta sẽ nghe thấy tiếng rạo rực của tâm tư, tiếng xuyến xao của muôn vật, và nhờ đó chúng ta sẽ sống một đời sống đẹp đẽ hơn, duyên dáng hơn.

Tóm lại, đức Khổng đã sống một cuộc đời hào hứng, thơ mộng, và Ngài đã khuyên ta học Kinh Thi, để cũng có được một đời sống đẹp đẽ thơ mộng như Ngài. «Hưng ư thi» là như thế vậy…

—————————-

CHÚ THÍCH

[1] Tam bách ngũ thiên, Khổng Tử giai huyền ca chi, dĩ cầu hợp Thiều, Vũ, Nhã, Tụng chi âm. (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia.)

[2] Cổ giả Thi tam thiên dư thiên; cập chí Khổng Tử, khứ kỳ trùng, thủ khả thi ư lễ nghĩa; thượng thái Tiết, Hậu Tắc; trung thuật Ân Chu chi thịnh, chí U Lệ chi khuyết… tam bách ngũ thiên. (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia) (Xem lời dẫn nhập: Tìm hiểu kinh Thi của giáo sư Bửu Cầm, trong Thi Kinh tập Truyện của Tạ Quang Phát, q. 1, trang xviii, xix).

[3] Đọc thêm:

– Lược khảo Kinh Thi của Trần Trọng San, đăng trong Văn Hóa Á Châu, tháng 6/1958, tr. 57; tháng 7/1958, tr. 65; và Ảnh Hưởng Kinh Thi, Văn Hóa Á Châu, tháng 9/1959, tr. 23.

– Trương Tửu, Kinh Thi Việt Nam.

– Kinh Thi, Tạ Quang Phát.

– Kinh Thi, Tản Đà.

– James Legge, The She King, Prolegomena.

– Liber Carminum của P. Angelo Zottoli.

[4] Xem: Đường Phong, Bảo vũ. – Tần Phong, Hoàng điểu. Tiểu Nhã: Lộc Minh, Đông Cung; Kỳ Phụ; Tiểu Mân; Bắc Sơn; Tang Hộ, v.v… Đại Nhã: Văn Vương, Sinh Dân; Đãng, v.v….

Xem James Legge, The She King, Prolegomena, p. 131.

*******************     

Chương 14

Đức Khổng, con người nghệ sĩ

*****

Đức Khổng là một con người rất có tâm hồn nghệ sĩ. Ngài rất say mê ưa chuộng âm nhạc, và dùng âm nhạc để bình tâm tĩnh trí, hàm dưỡng cho tinh thần trở nên cao khiết.

Đức Khổng biết nhạc từ hồi còn trẻ.

Khi nghe ai hát bài nào hay, Ngài thường yêu cầu hát lại, và tập hòa theo. (LN, VII, 31).

Ở đâu mà có nhạc sư danh tiếng Ngài cũng tìm tới để học hỏi, hoặc để bàn bạc. Ngài đã gặp Trành Hoằng ở Châu, các nhạc sư ở Tề (LN, VI, 13) và Lỗ (LN, III, 23).

Khi 35 tuổi, sang Tề, Ngài có dịp học nhạc Thiều. Ngài học say mê đến nỗi trong vòng ba tháng không biết mùi vị thịt (LN, VII, 13).

Thường nhật, Ngài hay đàn ca hoặc gảy đàn sắt (LN, XVI, 19) hoặc đánh khánh (LN, XIV, 42).

Ngài thích các loại nhạc uy nghi, trang trọng như nhạc Thiều (LN, III, 25) và ghét các loại nhạc dâm đãng, phóng túng như nhạc Trịnh (LN, XVII, 17).

Ngài khiển trách Tử Lộ vì đã tấu những khúc nhạc có những cung điệu cuồng bạo, sát phạt trong nhà Ngài (LN, XI, 14).

Khi trở về già, Ngài đã sửa sang lại âm nhạc (LN, XI, 14).

Ngài đã đem hết các bài ca trong Kinh Thi để phổ nhạc. Tư Mã Thiên viết: «Đức Khổng đem ba trăm lẻ năm thiên Kinh Thi ra mà đàn ca cho hợp với âm thanh của Thiều, Vũ, Nhã, Tụng.» [1]

Ngài chủ trương:

Học Kinh Thi để cho lòng thêm hứng khởi, vui sống.

Học Kinh Lễ để biết tuân theo luật lệ tự nhiên mà ở ăn.

Học Nhạc để cho con người trở nên vẹn hảo, hòa hợp được với nhân quần và vũ trụ (LN, VIII, 9).

Những lúc Ngài bị lao lung nguy khốn nhất, lại là lúc ta thấy Ngài dùng âm nhạc để trấn tĩnh tinh thần (xem Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia, lúc Ngài bị tuyệt lương ở cánh đồng giữa Trần và Thái.)

Đức Khổng là một người sành về nhạc lý (LN, III, 3, 23, 25; XVI, 2; XVII, 11).

Các môn đệ Ngài cũng có nhiều người ưa nhạc, thích tấu nhạc như Tử Lộ (LN, XI, 14), Tăng Tích (LN, XI, 25), Tử Du (LN, XIII, 4).

Đức Khổng cho rằng nhạc rất quan hệ trong đời sống cá nhân cũng như trong nghệ thuật trị dân. Người xưa cho rằng Lễ, Nhạc, Hình, Chính phải đi với nhau, thì dân mới yên, nước mới trị.

KHÁI NIỆM VỀ NHẠC

Đức Khổng đã san định lại cả một bộ Kinh Nhạc. Bộ sách này đã bị thất lạc.

Ở Lễ Ký ta thấy vẻn vẹn còn có một thiên Nhạc Ký.

Nhưng nhờ đoạn này và tham khảo thêm Tứ Thư, Ngũ Kinh, và cổ thư, ta cũng có thể có một khái niệm về nhạc xưa.

Nhạc là gì?

Chữ nhạc đây không phải là ca nhạc suông, mà gồm cả nhạc và vũ.

Nhạc Ký viết: «Chuông, trống, sáo, khánh, vũ, thược, can, qua là những nhạc khí. Co, ruỗi, ưỡn, khom, chụm, tỏa, nhanh, chậm là nhạc văn.» (Chung, cổ, quản, khánh, vũ, thược, can, thích, nhạc chi khí dã; khuất thân, phủ ngưỡng, chuyết triệu, tật thư, nhạc chi văn dã. – Uyên Giám Loại Hàm, III, 3203).

Nói cách khác, nhạc gồm:

– Thi

– Ca

– Nhạc

– Vũ

Nhạc là sự phối hợp của thanh âm, màu sắc, tiết tấu, chuyển động, để mà kích thích, di dưỡng tâm thần con người.

Nhạc tức là tiếng lòng con người, tâm tình, tâm trạng con người phát ra qua lời ca, giọng hát; qua âm thanh của nhạc khí; qua điệu bộ của nhạc công, vũ công; qua màu sắc và hình thù của mao, vũ (dùng khi múa), can, thích (dùng khi múa võ).

Cho nên khi lòng đau thương, thì tiếng nhạc lời ca cũng lâm li ai oán.

Khi lòng vui vẻ, thì lời ca tiếng nhạc cũng rộn rã vui hòa.

Khi lòng thư thái, tiếng nhạc lời ca sẽ khoan hòa, êm ả.

Khi lòng mà kính cẩn, tiếng nhạc lời ca sẽ trang nghiêm, réo rắt.

Khi lòng mà oán hờn, giận dữ, nhạc và ca cũng sẽ chát chúa, sôi sục.

Khi lòng mà dâm đãng, phóng túng, nhạc và ca cũng sẽ ủy mị, khêu gợi, phóng túng, lả lơi.

Những yếu tố cấu tạo nên nhạc

Muốn ca hát, nhã nhạc, trươc hết phải qui định những cung điệu cơ bản, những âm thanh cơ bản.

Có năm cung điệu cơ bản, đó là: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ (Nhiệm Ứng Thu, trong quyển Ngũ vận Lục Khí đã cho rằng Cung thời trầm nhất mà Vũ thời cao nhất).

Có 12 âm thanh cơ bản (thập nhị luật), gồm:

– Sáu dấu Dương gọi là Lục Luật: Hoàng Chung, Thái Thốc, Cô Tẩy, Nhuy Tân, Di Tắc, Vô Dịch.

– Sáu dấu Âm gọi là Lục Lữ: Lâm Chung, Nam Lữ, Ứng Chung, Đại Lữ, Giáp Chung, Trọng Lữ.

Ta viết:

– Hoàng Chung   : Do

– Đại Lữ                : Do#

– Thái Thốc          : Ré

– Giáp Chung       : Ré#

– Cô Tẩy               : Mi

– Trọng Lữ            : Fa

– Nhuy Tân          : Fa#

– Lâm Chung       : Sol

– Di Tắc                : Sol#

– Nam Lữ             : La

– Vô Dịch             : La#

– Ứng Chung       : Si

Về nhạc liệu, người xưa dùng tám loại, gọi là Bát âm:

– Da (Cách)

– Bầu (Bào)

– Trúc (Trúc)

– Tơ (Ti)

– Gỗ (Mộc)

– Đất (Thổ)

– Kim (Kim)

– Đá (Thạch)

CÁC LOẠI NHẠC CỤ XƯA

cổ cầm

tì bà
 

hồ cầm
 

địch

 
sanh

tiêu
 

tỏa nột (xô – na)
 

tam huyền
 

nhị hồ

não bạt

 
cổ tranh

 
trống

Mỗi loại chất liệu kể trên lại có thể dùng để chế tạo một hay nhiều nhạc khí.

– Da (Cách) dùng để làm các loại trống: trống lớn, trống nhỏ, trống treo: hoặc lục lăng, hoặc bát giác, hoặc vuông; các loại trống trận lớn, nhỏ.

– Bầu (Bào) dùng để chế tạo các loại nhạc khí như Sênh, Hoàng, Vũ.

– Trúc (Trúc) dùng để chế tạo các loại quản, sáo (trì, địch, thược, tiêu, quản).

– Tơ (Ti) dùng để chế thành các loại đàn (Cầm, Sắt, Đàn Không Hầu, Tì Bà, v.v…)

– Gỗ (Mộc) dùng để chế thành các loại Chúc, Ngữ.

– Đất (Thổ) dùng để chế thành các loại Huân, Phữu.

– Kim (Kim) dùng để chế thành các loại Chuông, Chiêng, Não Bạt.

– Đá (Thạch) dùng để chế thành các loại Khánh.

Nhạc khí chưa đủ, còn phải có nhạc công, vũ công. Âm thanh chưa đủ, còn phải có màu sắc, có điệu bộ, có cung cách trình diễn. Xưa bao giờ nhạc cũng gồm cả ca lẫn vũ.

Những vũ khí, tức là những dụng cụ dùng để múa, thời có:

– Can (múa võ)

– Thích (múa võ)

– Mao (múa văn)

– Vũ (múa văn)

Những nhạc khúc xưa có nhiều nhạc khúc nổi tiếng như:

– Hàm Trì (thời Hoàng Đế) ca tụng công lao của Hoàng Đế đã có công làm cho đạo đức phát huy, thi triển được khắp nơi.

– Đại Chương (thời Nghiêu) ý muốn nói lên lòng mong muốn của vua, muốn cho nhân nghĩa đại hành, pháp độ chương minh.

– Lục Anh (đời Đế Khốc).

– Ngũ Hành (thời Chuyên Húc).

– Tiêu Thiều (đời Thuấn) ý rằng vua Thuấn muốn tiếp tục (Thiều nghĩa là kế tục) con đường của vua Nghiêu.

– Đại Hộ (nhà Thương Ân) ý nói nhà Ân sẽ cố phục hưng, bảo hộ nền đạo đức của các thánh vương xưa.

– Đại Chước hay Đại Vũ (đời Chu) ý nói nhà Chu sẽ châm chước để luôn theo đường lối của hai vua Văn, Vũ.

(Xem Uyên Giám Loại Hàm, quyển III, mục nhạc Tổng tải, trang 3204.)

Thế mới hay người xưa mượn lời thơ để nói lên chí hướng và hoài bão của mình, rồi phổ vào ca nhạc và vũ, để lời thơ trở nên bất diệt, hoài bão của mình được quảng thi, quảng diễn, nhờ đó có ảnh hưởng sâu rộng vào quần chúng.

(Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn, thanh y vĩnh, luật hòa thanh, bát âm khắc hài… – kinh Thư, Thuấn Điển, tiết 23.)

Những bài học mà nhạc dạy cho con người

Ta thấy trong trời đất bất kỳ là chất liệu gì, dầu đất, dầu đá, dầu gỗ, dầu da, cvẫn có thể tinh luyện, vẫn có thể chế tạo cho thành nhạc khí. Như vậy, đã sinh ra làm người, ai cũng có thể trau chuốt dùi mài để trở nên thanh lịch, cao quý được. Một chính trị gia chân chính sau khi đã lo phần cơm áo, phần ngoại cảnh cho dân, phải lo tinh luyện cho tâm thần dân con được trở nên cao khiết, khoan quảng, hòa duyệt, để cùng nhau sống trong cảnh thái hòa.

Hơn nữa, con người sinh ra chính là để tinh luyện tâm thần mình ngày một trở nên tinh toàn, cao khiết, khiến cho lòng mình trở nên khúc nhạc tuyệt vời, hòa nhịp được cùng với khúc đại nhạc của vũ trụ. Sự tinh luyện, sự phát triển các tài đức còn tiềm ẩn trong lòng mình, sẽ đem lại cho mình một thú vui chân thật và cao quý chứ con người sinh ra không phải là để đắm mình trong những thú vui ô trọc. Đi con đường ấy tức là nghịch thiên, nghịch lý, sẽ bị tử vong, đào thải (xem Kinh Dịch, nơi quẻ Dự).

Muốn tấu nên một khúc nhạc tuyệt vời, thanh âm của mỗi loại nhạc khí cần phải tinh tuyền; nhạc công phải là những người điêu luyện. Lúc tấu nhạc phải theo nhịp điệu, tình tiết của toàn ban, chứ không được theo những ý thích riêng tư.

Suy ra, trong một nước, muốn tạo nên một nền đại hòa, đại thuận, mỗi người phải làm bổn phận mình cho chu đáo, phải có tài đức đúng với ngôi vị mình, rồi phải cộng tác với nhau, phải đồng tâm nhất trí mà xây dựng, mà điểm tô cho non sông đất nước.

Thế là vừa có tôn ti trật tự (Lễ) vừa có phân công (division du travail), vừa có sự thống nhất đường lối hoạt động, để cho tất cả mọi nỗ lực đều qui hướng về một mục phiêu nào (coordination du travail).

Nếu nhạc có năm cung: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, thì đời sống quốc gia cũng gồm năm yếu tố:

– Vua (Cung)

– Quan (Thương)

– Dân (Giốc)

– Công tác xây dựng đất nước (Chủy)

– Nguyên liệu và ngoại cảnh (Vũ)

Nếu vua không xứng đáng để làm chủ chốt, cầm giềng mối đất nước; nếu quan không đủ tài đôn đốc thi hành; nếu dân bạc nhược, suy vi, phóng túng, không chịu cần cù, lao tác; nếu công cuộc xây dựng phong doanh thái thịnh cho dân nước bị bê trễ; nếu các tài nguyên trong nước không được khai thác cho chu đáo, hẳn hoi, thì làm sao mà có được sự thái hòa, đại thuận?

Nhạc là sự rung động của tâm hồn để rồi phát sinh ra thành âm thanh, nhạc điệu: lòng buồn sinh nhạc buồn, lòng vui tạo nhạc vui. Nếu vậy, ta có thể dùng nhạc mà tạo nên được những tâm trạng vui, buồn, hùng, kính, v.v…

Ảnh hưởng của nhạc rất là sâu xa:

– Nhạc đạo, nhạc Thiều sẽ gây kính cẩn trang nghiêm.

– Nhạc đời, nhạc Trịnh sẽ gây tình dục.

– Nhạc chiến sẽ gây hùng tâm dũng khí.

– Nhạc sầu sẽ làm ủy mị lòng người.

Vì thế cho nên ngày xưa, cổ nhân cố bài trừ những loại nhạc dâm bôn, phóng đãng, mà chỉ cho phổ biến những ca khúc thanh khiết, trang trọng, hào hùng.

Thiên Nguyệt Lệnh Lễ Ký cho ta thấy đời xưa vua chúa hết sức chú trọng đến âm nhạc, và các trường đều phải học tập, đều phải trình diễn nhạc vào những thời kỳ nhất định. Những cuộc trình diễn âm nhạc đặc biệt đều có sự hiện diện của vua và triều đình, bá quan văn võ…

Nhạc là một lợi khí để di dưỡng tinh thần

Trần Trọng Kim viết:

«Cái tác dụng của nhạc cốt để hòa thanh âm cho tao nhã, để di dưỡng tính tình”.

Cho nên Khổng Tử nói:”Trí nhạc dĩ trị tâm, tắc dĩ trực, từ, lương chi tâm du du nhiên sinh hỹ.” Trau chuốt âm nhạc để trị lòng người, thì cái lòng giản dị, chính trực, từ ái, thành tín, tự nhiên phơi phới mà sinh ra. (Lễ Ký, Tế Nghĩa XXIV). Thánh nhân biết nhạc có cái thế lực rất mạnh về đường đạo đức, cho nên mới chế ra nhạc để dạy người.”Nhạc là cái vui của thánh nhân, mà có thể khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và đi đến di phong, dịch tục, cho nên tiên vương mới đặt ra dạy nhạc.” (Nhạc dã giả, thánh nhân chi sở lạc dã, nhi khả dĩ thiện dân tâm, kỳ cảm nhân thâm, kỳ di phong, dịch tục, cố tiên vương trứ kỳ giáo yên. – Nhạc Ký XIX).» (Xem Trần Trọng Kim, Nho giáo I, trang 157, 158.)

Lịch sử đã nhiều lần chứng minh ảnh hưởng lớn lao ghê gớm của nhạc.

Tề Vương dâng nữ nhạc để khuynh đảo vua Lỗ và Quí Hoàn Tử, khiến cho đức Khổng phải cất bước ra đi (LN, XVIII, 4).

Trương Lương thổi tiêu mà làm cho quân binh Hạng Võ tan rã…

Một bài Marseillaise của Pháp cũng gây được xúc động và cũng đã hô hào, đã đoàn kết được dân Pháp, đã thúc đầy được họ vác súng ra sa trường, mạnh mẽ hơn bất kỳ bài diễn văn hùng hồn nào.

Nhạc chẳng những điều hòa được tâm tình con người mà còn khiến cho lòng họ trở nên thanh cao, tế nhị. Vì thế, Dịch Kinh chủ trương sau khi đã đoàn kết được mọi người (Đồng Nhân), sau khi đã đem lại cho dân nước một nền phong doanh, phú thịnh (Đại Hữu), bậc quốc quân còn phải dùng nhạc để làm cho con người có được một tâm thần thanh cao, hòa duyệt (Dự), …

Nhạc là một lợi khí đoàn kết con người, một biểu tượng cho sự hòa thuận

Nhạc cũng có mục đích là dạy con người đoàn kết, hợp quần, chung lưng, góp sức để cùng nhau tạo dựng một đời sống tâm thần và vật chất vẹn hảo.

Muốn có một khúc nhạc cho hay, phải có đủ sự hòa hợp của tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng đá, tiếng vàng, tiếng bầu, tiếng gỗ, tiếng da, tiếng đất; lại cũng phải có sự hòa tấu của các loại âm thanh cao thấp; có sự tiết tấu nhanh chậm, sự hòa nhịp của mọi loại nhạc khí.

Cho nên vơ chồng mà hòa hợp thì gọi là sắt cầm hòa hợp (Trung Dung XV); anh em mà hòa thuận thời cũng gọi là hòa lạc vui vầy (Trung Dung XV); vua tôi mà hòa lạc thời gọi là đại hòa, đại thuận. (Xem Lễ Ký, Lễ Vận, tiết IV, câu 14.)

Sự gàng quải, chia phôi, ngược lại, đã được phô diễn bằng những thành ngữ âm nhạc như sau:

– Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.

– Đàn ngang cung, v.v…

Mạnh Tử có bàn về âm nhạc rất là sâu sắc như sau:

Trang Bạo, một viên quan của Tề Tuyên Vương, một hôm đến viếng Mạnh Tử và nói rằng: «Tôi có đến chầu vua. Trong khi nói chuyện vua có cho tôi biết vua thích âm nhạc. Nhưng tôi chẳng có lời chi đáp lại. Vậy tôi xin hỏi phu tử: Bực quốc trưởng mà thích âm nhạc, thời cuộc trị nước ra thế nào?» Mạnh Tử đáp rằng: «Nếu vua mà thật lòng ưa nhạc một cách thận trọng, thì vận nước Tề có mòi hưng vượng đó.»

Một ngày khác, Mạnh Tử vào chầu vua, tâu rằng: «Vua có nói với Thầy Trang rằng vua thích âm nhạc, phải vậy chăng?» Vua biến sắc đáp rằng: «Quả nhân chẳng đủ sức mà hâm mộ và luyện tập âm nhạc của các vị thánh vương đời xưa; thật ra quả nhân chỉ thích âm nhạc của thế tục thôi.»

Mạnh Tử nói: «Nếu vua mà thật lòng yêu thích âm nhạc một cách trân trọng, thì vận nước Tề có mòi hưng vượng đó. Là vì nhạc đời nay do nhạc đời xưa mà ra; cũng cùng công dụng chứ không khác gì.»

Vua hỏi: «Quả nhân muốn biết hiệu lực của âm nhạc có được chăng?»

Mạnh Tử vừa đáp vừa hỏi rằng: «Về thú vị âm nhạc, một mình mình hưởng và cùng hưởng với người, bề nào vui hơn?»

– Cùng hưởng với người thì vui hơn.

– Cùng hưởng với một số ít người và cùng hưởng với một số đông người, bề nào vui hơn?

– Cùng hưởng với một số đông người vui hơn.

Mạnh Tử nói: Tôi xin giảng giải về âm nhạc để vua nghe: Tỉ như nay vua ra lệnh tấu nhạc ở đây. Bá tánh nghe tiếng chuông, tiếng trống cùng tiếng sáo tiếng tiêu của vua, họ đều nhức đầu nhăn mày và méo mặt, bèn nói với nhau rằng: «Vua ta chỉ thích hòa nhạc mà thôi. Sao người nỡ đày đọa chúng ta trong cảnh cùng cực như vầy? Cha con chẳng thấy nhau; anh em, vợ con đều chia lìa phân tán.»

Tỉ như nay vua mở cuộc săn bắn ở đây. Bá tánh nghe tiếng xe chạy, ngựa hí, cùng thấy những ngọn cờ hoa mỹ có kết lông chim và lông thú của nhà vua, họ đều nhức đầu nhăn mày và méo mặt, bèn nói với nhau rằng: «Vua ta chỉ ham săn bắn mà thôi. Sao người nỡ đày đọa chúng ta trong cảnh cùng cực này? Cha con chẳng được thấy nhau; anh em, vợ con đều chia lìa phân tán.»

Bá tánh oán than vua chỉ vì việc này thôi: Vua chẳng cùng hưởng sự vui với dân.

Tỉ như nay vua ra lệnh tấu nhạc ở đây. Bá tánh nghe tiếng chuông, tiếng trống cùng tiếng sáo, tiếng tiêu của vua, gương mặt họ lộ vẻ vui mừng hớn hở. Họ bèn nói với nhau rằng: «Đó là điềm lành chứng tỏ vua ta chẳng có tật bệnh chứ gì? Nếu người đau yếu, thì làm sao mở ra cuộc tấu nhạc cho được?»

Tỉ như nay vua mở ra cuộc săn bắn ở đây. Bá tánh nghe tiếng xe chạy, ngựa hí, cùng thấy những ngọn cờ hoa mỹ có kết lông chim và lông thú của nhà vua, gương mặt họ lộ vẻ vui sướng hớn hở. Họ bèn nói với nhau rằng: «Đó là điềm lành chứng tỏ vua ta chẳng có tật bệnh chứ gì? Nếu người đau yếu, thì làm sao mở ra cuộc săn bắn cho được? Bá tánh hoan nghênh vua chỉ vì việc này thôi: Vua cùng hưởng sự vui với dân. Hiện nay nếu vua với bá tánh cùng nhau vui hưởng sự khoái lạc, thì nền cai trị của vua có bề hưng vượng đó.» (Cf. Mạnh Tử, Đoàn Trung Còn I, 41, 43. Mạnh Tử, Lương Huệ Vương, chương cú hạ, 1.) Thế mới hay nhạc dạy hòa thuận, mà hòa thuận chính là phúc cùng hưởng, họa cùng chia vậy.

Nhạc là phản ảnh tình trạng đất nước

Cho nên nhạc là tấm gương phản ảnh lại nền hành chính, hoặc tình trạng hay dở trong dân, trong nước.

– Nước mạnh, thời nhạc hùng.

– Nước yếu, thời nhạc bạc nhược.

– Nước loạn ly, tang tóc, thời nhạc ai oán, sầu bi, hay là buông thả cho đoạn tháng qua ngày.

– Nước trị bình, thời nhạc yên vui, đầm ấm.

Lễ và Nhạc:

Trần Trọng Kim bàn về tương quan giữa Lễ và Nhạc như sau:

«Lễ, Nhạc quan hệ đến luân lý, phong tục, và chính trị rất mật thiết lắm. Cho nên các Nho gia tìm cái căn nguyên ở trong đạo tự nhiên của trời đất, cho Lễ là cái trật tự của trời đất, Nhạc là cái điều hòa của trời đất. (Nhạc giả thiên địa chi hòa dã, Lễ giả thiên địa chi tự dã. – Lễ Ký, Nhạc Ký XIX). Lễ phân ra trật tự khác nhau, để cho vạn vật có thứ vị phân minh; Nhạc hợp đồng lại làm một, để người ta biết vạn vật tuy khác nhau nhưng cũng đồng một thể, cùng theo một lẽ điều hòa mà sinh hóa. Cho nên mới nói rằng:”Trời cao đất thấp, muôn vật khác nhau, cho nên mới nhân đó mà định ra Lễ chế, để phân tôn ti, trật tự. Trời đất và vạn vật lưu hành không nghỉ, rồi hội họp khí tính cho điều hòa, để hợp đức mà sinh dục, thế mới thành ra có Nhạc vậy.” (Thiên cao địa hạ, vạn vật tán thù, nhi lễ chế hành hỹ. Lưu nhi bất tức, hợp đồng nhi hóa, nhi Nhạc hưng yên. – Lễ Ký, Nhạc Ký XII)

«Tiên vương chế ra nhạc không phải là để làm cho cùng cực cái dục của miệng, bụng, tai, mắt, nhưng để khiến cho dân giữ lòng hiếu, ố cho vừa phải, mà sửa lại cái đạo làm người cho chính vậy. (Tiên vương chi dĩ chế Lễ Nhạc dã, phi dĩ cực khẩu, phúc, nhĩ, mục chi dục dã, tương giáo dân bình hiếu ố, nhi phản nhân đạo chi chính dã).» – Lễ Ký XIX. Cf. TTK, Nho giáo I, 146, 147)

Lễ, Nhạc, Hình, Chính.

Lễ, Nhạc quan trọng như thế nên người xưa đã đem áp dụng vào nghệ thuật trị dân.

Người xưa trị dân dựa vào bốn phương pháp:

– Lễ

– Nhạc

– Hình

– Chính

+ Lễ qui định tôn ti, trật tự, xác định bổn phận của mọi tầng lớp trong xã hội, khiến cho mọi người kính trọng lẫn nhau, vẹn nhân, vẹn nghĩa.

+ Nhạc có mục đích làm cho con người trở nên thanh lịch, cao khiết, sống xứng đáng với danh nghĩa con người, sống trọn vẹn với huy hiệu con người, tạo nên tình thân ái, hòa thuận trong quốc gia, xã hội.

+ Hình có mục đích ngăn chặn mọi ảnh hưởng xấu xa, ác độc, làm cho con người tránh được những hiểm họa hư hỏng, băng đọa, phân tán, chia ly…

+ Chính có mục đích tổ chức đời sống xã hội cho có lý sự, đem lại no ấm, an bình, trật tự cho dân, giáo hóa dân, cải thiện dân, để mỗi ngày mỗi hơn, mỗi ngày mỗi tiến…

Khảo về lòng yêu âm nhạc của đức Khổng, ta thấy được ý nghĩa sâu xa của nhạc, ta hiểu được tầm kích của âm nhạc.

Chung qui, nhạc muốn cho hay, cốt là ở chỗ có tâm hồn cao khiết, biết rung cảm, biết truyền tâm, truyền thần, lồng tình lồng ý của mình vào vần thơ, tiếng nhạc, chứ nhạc không phải là ở chỗ khua chiêng, gióng trống, đánh mõ, đánh khánh. (LN, XVII, 11).

Muốn tạo nhạc, muốn tấu nhạc, con người cần phải có một tâm hồn cao khiết, vẹn toàn (LN, III, 3).

Nhạc vũ thực ra không phải là để thỏa mãn, để kích thích giác quan, kích thích tình dục, thị hiếu, mà nhạc là để điều hòa tình tiết; gạn đục, khơi trong tâm hồn, khiến cho tâm hồn ngày một nên cao khiết siêu vi. (Cf. Lễ Ký, Nhạc Ký XIX).

Nhạc có mục đích chính yếu là đem lại vui chung cho mọi người, thắt chặt tình đoàn kết, đem lại hòa thuận cho mọi tầng lớp nhân dân, chứ không phải là một sản phẩm của những người dư tiền, dư bạc; một công cụ giúp cho những cuộc ăn chơi, sa đọa, trác táng. (Cf. Mạnh Tử Lương Huệ Vương chương cú hạ, 1).

Xưa cũng như nay, Nhạc có mục đích có ý nghĩa của nó. Hiểu nhạc như vậy, sẽ giúp ta hiểu thêm về đức Khổng và quan niệm của Nho gia sau này về Nhạc và công dụng của Nhạc…

CHÚ THÍCH

[1] Tam bách ngũ thiên, Khổng Tử giai huyền ca chi, dĩ cầu hợp Thiều, Vũ, Nhã, Tụng chi âm. (Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khổng Tử thế gia.)

——————-

 

 

 

 

 

 

 

Bài tập thể dục khí công hít thở đơn giản

Bài tập thể dục khí công hít thở đơn giản.

Trong các phương pháp tập khí công, có một phương pháp cực kỳ căn bản, làm tích tụ lực ở “Đan điền” rất vững chắc, làm nền tảng cho mọi phương pháp luyện tập khí công khác, đó là “Khí công nguyên pháp” (KCNP).
– Tập khí công thường xuyên để tăng cường sức mạnh của thần kinh não, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, chữa trị các bệnh mạn tính. Điều kiện để có thể tập KCNP là còn có đôi chân lành lặn bình thường, vì tập bằng chân là chính.
– Tập vào lúc buổi sáng sớm khi chưa ăn gì, và đã uống một ly nước đầy. Buổi tối tập trước khi ngủ sẽ giúp ngủ ngon. Tập vào giữa buổi làm việc sẽ giúp giải tỏa căng thẳng.
Khi bắt đầu tập, ta đứng hai chân rộng hơn vai một chút, hai tay chống vào hông, toàn thân buông lõng, quan trọng nhất là giữ lưng luôn luôn thẳng đứng so với mặt đất. Mắt nhìn thẳng, nhưng không chú ý ngoại cảnh vì tâm phải lo quan sát bản thân.
Động tác một, ta hạ tấn xuống theo như “Trung bình tấn”, lưng giữ tuyệt đối thẳng đứng, hít vào trong khi đang hạ tấn xuống. Nếu ai có thể hạ tấn đến khi mông gần sát hai gót chân thì rất tốt, nếu chưa quen thì hạ lưng chừng cũng được. nhưng cuối cùng cũng phải hạ tấn sao cho hai mông gần sát hai gót.
Động tác hai, ta đứng lên và nín thở lại, giữ lưng tuyệt đối thẳng đứng. Đứng thẳng hết hai chân như ban đầu.
Động tác ba, ta thở ra, và đếm số. theo dõi xem tim có bớt đập hay không.
– Khi tim đã bình thường thì tập lại chu kỳ như trước, hạ tấn xuống hít vào, đứng lên nín thở, đứng lên hết thì thở ra, đếm số.
– Ta cần chú ý đếm số cẩn thận chính xác mỗi khi xong một chu kỳ, vì khi tập như thế bộ não được củng cố rất nhiều, và ngay lúc đó ta tập trung nhớ số thì phát huy hiệu quả luyện tập bộ não rất cao.
– Mỗi buổi tập như thế nên tập ít nhất 50 lần (chu kỳ). Người tập quen có thể tập đến năm sáu trăm lần trong một buổi tập.
– Điều khó ban đầu là làm sao giữ lưng thẳng khi hạ xuống và lúc đứng lên, vì nếu lưng bị cong thì nội lực bị chạy ngược lên làm căng thẳng não bộ. Chỉ khi lưng được giữ thật thẳng thì nội lực sẽ được tích tụ tại đan điền và tạo nên nhiều điều kỳ diệu.
– Những ngày đầu mới tập thì ta sẽ bị đau mỏi hai chân, đi đứng hơi kỳ kỳ một chút, nhưng không sao, tập tiếp thì sẽ hết.
– Khi nội lực tích cụ ở “đan điền” được rồi thì hệ thống cột sống lưng, gân dây chằng hai bên cột sống được vững chắc giúp ngăn ngừa và chữa trị các bệnh về đốt sống lưng, đau lưng, suy thận…
– Nội lực tích tụ ở đan điền cũng giúp con người sống thanh thản, không bị đòi hỏi tình dục vô cớ, cũng là một sự giải phóng tâm sinh lý rất đáng kể.
– Người có tu thiền thì lại rất cần nội lực tích tụ ở “đan điền” vì giúp tập trung tinh thần tốt hơn trong việc kiểm soát vọng tưởng.
– KCNP cũng giúp rèn luyện ý chí vì thế tập đơn điệu, đều đều, và gây mỏi chân, nhưng nếu ai tập quen rồi lại thấy ghiền vì nó đem lại sự bình an kỳ lạ khi đang tập, và ảnh hưởng tốt còn kéo dài sau khi tập xong.

A brief summary of the Ramayana – The God Hanuman

A brief summary of the Ramayana – The God Hanuman
A brief summary of the Ramayana
The Mewar Ramayana
The God Hanuman
श्री हनुमान चालीसा

Hanuman Chalisa Hindi
108 Hanuman Names
Ashtottara Shatanamavali of God Hanuman
Hanuman attributes
Hanuman showing Rama in His heart

The Mewar Ramayana:
The Ramayana is an ancient Sanskrit epic which follows Prince Rama’s quest to rescue his beloved wife Sita from the clutches of Ravana with the help of an army of monkeys. It is traditionally attributed to the authorship of the sage Valmiki and dated to around 500 BCE to 100 BCE.

Comprising 24,000 verses in seven cantos, the epic contains the teachings of the very ancient Hindu sages. One of the most important literary works of ancient India, it has greatly influenced art and culture in the Indian subcontinent and South East Asia, with versions of the story also appearing in the Buddhist canon from a very early date. The story of Rama has constantly been retold in poetic and dramatic versions by some of India’s greatest writers and also in narrative sculptures on temple walls. It is one of the staples of later dramatic traditions, re-enacted in dance-dramas, village theatre, shadow-puppet theatre and the annual Ram-lila (Rama-play).

Origins
The original five books of an oral epic of local northern significance dealing with a hero and his exile, the abduction of his wife by a rival king and her rescue became conflated into seven books in which the hero Rama became an avatar of the god Vishnu, the scene shifted to encompass the whole of India, and the struggle to recover his wife became a metaphor for the final triumph of the righteous.

A brief summary of the Ramayana
Sita
Rama, prince of Ayodhya, won the hand of the beautiful princess Sita (seen here), but was exiled with her and his brother Laksmana for 14 years through the plotting of his stepmother. In the forest Sita was abducted by Ravana, and Rama gathered an army of monkeys and bears to search for her. The allies attacked Lanka, killed Ravana, and rescued Sita. In order to prove her chastity, Sita entered fire, but was vindicated by the gods and restored to her husband. After the couple’s triumphant return to Ayodhya, Rama’s righteous rule (Ram-raj) inaugurated a golden age for all mankind.

Characters of the Ramayana
Rama is the hero of the Ramayana epic, an incarnation of the God Vishnu. The eldest and favourite son of Dasaratha, King of Ayodhya, he is a virtuous prince and is much loved by the people. He is exiled from Ayodhya due to the plotting of his stepmother, Kaikeyi.

Sita is Rama’s wife and daughter of King Janaka of Mithila. Sita is the epitome of womanly purity and virtue.

Lakshmana with bow
Laksmana (seen here) is Rama’s younger brother. Completely loyal to Rama, he chooses to go with Rama and Sita when they are exiled from Ayodhya.

Ravana is the king of Lanka and has 10 heads and 20 arms. He received a boon from the God Brahma that he cannot be killed by gods, demons or by spirits, after performing a severe penance for 10,000 years. After receiving his reward from Brahma, Ravana began to lay waste to the earth and disturbed the deeds of the good Hindu sages. Vishnu incarnates as the human Rama to defeat him, assisted by an army of monkeys and bears, thus circumventing the boon given by Brahma.

Dasaratha is the King of Ayodhya, Rama’s father.

Kausalya is Rama’s mother, Dasaratha’s chief wife.

Kaikeyi is Dasaratha’s wife and Rama’s stepmother. She demands that Rama be banished to the forest and that her son Bharata be awarded the kingdom instead.

Bharata is the second son of Dasaratha. When he learns that his mother Kaikeyi had forced Rama into exile, causing Dasaratha to die broken hearted, he storms out of the palace and goes in search of Rama. When Rama refuses to return from his exile to assume the throne, Bharata obtains Rama’s sandals and places them on the throne as a gesture that Rama is the true king.

Sumitra is Dasharatha’s wife and mother of the twins Lakshmana and Satrughna.

Hanuman is the wise and resourceful monkey who helps Rama in his quest to defeat Ravana and rescue Sita.

Sugriva is the ruler of the monkey kingdom. His throne was taken by his brother Bali, but Rama helps him to defeat the usurper in return for his assistance in finding Sita.

The importance of the Ramayana in Indian culture
The epic’s poetic stature and marvellous story means that the story of Rama has been constantly retold by some of India’s greatest writers both in Sanskrit and regional languages. It is one of the staples of various dramatic traditions, in court drama, dance-dramas, and in shadow-puppet theatres. In northern India, the annual Ram-lila or ‘Rama-play’ is performed at the autumn festival of Dassehra to celebrate with Rama and Sita the eventual triumph of light over darkness.

A hugely popular television series, ‘Ramayan’, was aired in India 1987-1988, drawing over 100 million viewers to become ‘the world’s most viewed mythological serial’. Dubbed ‘Ramayan’ fever by India Today magazine, it was reported that India came to a virtual standstill as so many people who could gain access to a television stopped whatever they were doing to watch the small screen adventures of Rama. From January 2008, a new big-budget primetime series of the Ramayana has been appearing on television screens across India.

The Ramayana manuscripts of Jagat Singh of Mewar
Rama was of a royal race descended from the Sun, and Rajput clans of the Solar dynasty, among them the rulers of Mewar or Udaipur, claimed Rama as their ancestor, making the Ramayana something of a family history.

The Ramayana manuscripts commissioned by Rana Jagat Singh of Mewar (1628-52) are among the most important documents of 17th-century Indian painting. Unlike most other Ramayana manuscripts, they have not been dispersed as individual paintings into various collections but remain largely intact. The huge scale of the project (with originally over 400 paintings) allowed the artists to focus on telling an epic story on the grandest scale.

The seven books of the Ramayana are illustrated in three different styles of Mewar painting, including two books by Sahib Din, the greatest Mewar artist of the 17th century. Four of the seven books and part of a fifth are in the British Library. The two remaining books are still in India.

The British Library’s four volumes were given by Rana Bhim Singh of Mewar to Col. James Tod, the historian of the Rajputs, who brought them back to London in 1823. Bhim Singh also gave Tod a separate manuscript of the first book of the Ramayana dated 1712. They were all acquired by the British Museum in 1844, and from there came to the British Library.

How to read a Rajput painting
Image selected from a magnificent manuscript of the Ramayana produced in Udaipur, India, in 1653 (British Library Add. MS 15296(1), f.114r)
Buy the print

The Ramayana manuscripts commissioned by Rana Jagat Singh of Mewar (1628-1652) were illustrated on the grandest scale so that no episode or detail of importance was omitted. This necessitated the revival of the ancient narrative method of simultaneous narration used in both sculpture and painting. In European or Islamic illustration, each picture usually concentrates on depicting a single episode of the story – but in the Indian method, each picture might capture several episodes in the story so that the characters appear more than once in the same picture.

In the example shown above, reading anti-clockwise, we can follow Rama, Bharata and Satrughna from the top of the hill, down to the river (in the lower right corner) and back up again to where they sit outside the hut.

—————————–

The Ramayana is an ancient Indian epic, composed some time in the 5th century BCE, about the exile and then return of Rama, prince of Ayodhya. It was composed in Sanskrit by the sage Valmiki, who taught it to Rama’s sons, the twins Lava and Kush. At about 24000 verses, it is a rather long poem and, by tradition, is known as the Adi Kavya (adi = original, first; kavya = poem). While the basic story is about palace politics and battles with demon tribes, the narrative is interspersed with philosophy, ethics, and notes on duty. While in that other Indian epic, the Mahabharata, the characters are presented with all their human follies and failings, the Ramayana leans more towards an ideal state of things: Rama is the ideal son and king, Sita the ideal wife, Hanuman the ideal devotee, Lakshman and Bharat the ideal brothers, and even Ravana, the demon villian, is not entirely despicable.

Rama is born:
Dasharath, king of Ayodhya, had no children. So he arranged a Putra-kameshti sacrifice (putra = son, kameshti = that which is desired). At the sacrifice, Agni (god of fire) arose from the flames and handed the king a golden vase brimming with nectar. “Give this to your queens”, said the god and disappeared. The king had three wives. To the eldest, the king gave half of the nectar; the second queen got a portion that remained when the queen had drunk her half. To the youngest queen, the king gave the remaining half of the nectar and again, the second queen got the portion that remained. In time, the queens gave birth to sons: to the eldest was born Rama, to the youngest was born Bharat, and to the second queen were born the twins Lakshman and Shatrughna.

RAMA, HERO OF THE RAMAYANA, IS THE IDEAL SON & KING, SITA THE IDEAL WIFE.
Rama marries Sita:
When the princes had grown up some, the sage Vishwamitra arrived at Dasharath’s court and asked that Rama and Lakshman be “lent” to him to help him rid his hermitage of the demons that were plaguing the ashram dwellers by defiling their sacrifices with blood and bones, and by killing them off. After the two princes successfully rid the ashram of the demons, the sage took them to the neighbouring kingdom of Mithila to show them the swayamvar festivities of the Mithila princess, Sita, born of the earth. The king of that country had adopted Sita as his daughter and, after Sita had grown up, had declared that he would give her in marriage to anyone who could string the Great Bow of Shiva. No one could. Several kings, princes, and commoners had tried and failed.

The swayamvar had been in progress for several months now and the bow still remained unstrung. It was to this place that the sage Vishwamitra brought the two princes of Ayodhya. Rama and Lakshamn entered the assembly hall where the bow was displayed in all its glory. Rama walked over, picked up the bow, strung it, and plucked the bowstring with such a twang that two things happened simultaneously: the twang was heard for miles around, and the force of it broke the bow into two with so great a sound that the king and his courtiers came running from their chambers to see what the commotion was about. When the confusion had settled, Rama was married to Sita. His three brothers were married to a sister and cousins of Sita, and there were many festivities and much rejoicing in the two kingdoms.

Rama is exiled
Some time later, Dasharath decided he had grown too old to rule and declared he would abdicate in favour of Rama, the eldest born and the crown prince. This is when his youngest queen invoked an old promise that Dasharath had made to her: she demanded that Rama be exiled for 14 years and that her own son, Bharat, be crowned king. Dasharath refused but Rama decided to honour his father’s old promise and left for the forests. He was accompanied by Sita and by Lakshman, both of whom could not be dissuaded from following him. In grief at the injustice of it all and at Rama’s departure, Dasharath died within two days.

Rama, Sita, & Laksmana
by Raja Ravi Press (Public Domain)
Bharat was not in Ayodhya when these events happened; he, and the fourth prince Shatrughna, were away holidaying at Bharat’s maternal grandfather’s country. They were summoned to Ayodhya in haste and, when Bharat learnt what had happened, he was furious. He shouted at his mother, refused to ascend the throne, and gathered the townsfolk around him to proceed to the forest and bring Rama back.

Rama refused to return, stating his intention to serve his father’s last wish by being an exile for the full 14 years. Bharat returned with Rama’s sandals, placed them on the throne, and proceeded to rule the country in Rama’s name. Meanwhile, Rama moved further south even deeper into the forests so that the people of Ayodhya would not find it easy to keep coming to his hut and begging him to return.

Ravana abducts Sita
One day, a demoness named Surpanakha saw Rama and, being charmed out of her wits by his beauty, walked up to him and begged him to marry her. “I already have a wife”, said Rama and pointed to Sita. “Why don’t you marry my brother Lakshman instead?” When Surpanakha turned towards Lakshman, he declared he’d taken a temporary vow of celibacy and sent her back to Rama. What followed was that the brothers took turns to thus play ping-pong with her and when Surpanakha, by now angry beyond measure, rushed towards Sita to kill her, Lakshmana cut off Surpanakha’s nose and ears.

Ravana the Demon King
by Henryart (Public Domain)
Surpanakha flew towards Lanka (modern Sri Lanka), ruled by her brother Ravana, and complained. Enraged, Ravana vowed vengeance. He persuaded the demon Marich to disguise himself as a golden deer and wander near Rama’s hut. When Sita saw the golden deer, she begged Rama to get it for her. When the brothers were out pursuing the deer, Ravana arrived, abducted Sita, placed her in his flying chariot, and flew through the skies to Lanka. When the princes, after having killed the golden deer and discovered it was a demon in disguise, returned to their hut, they found it empty and started to look for Sita.

Rama meets Hanuman
During their wanderings, the princes came upon a group of monkeys who showed them some ornaments of Sita’s: the monkeys had seen a beautiful lady crying and dropping her ornaments from a chariot in the sky that was being driven southwards by a demon.

Among the monkeys was Hanuman, who ultimately located Sita’s whereabouts to be in Ravana’s kingdom in Lanka. Rama gained the help of the monkey chief Sugreeva, gathered a monkey army, marched southwards, built a bridge across the ocean and crossed over to Lanka. Rama, after an epic battle, was then able to kill Ravana and finally free Sita.

Hanuman
by Fae (Public Domain)
Sita faces a trial by fire
When Sita walked up to Rama, however, he refused to accept her since she had been a living in a demon’s palace all this while. Hurt, Sita entered into a burning pyre intending to give up her life. However, Agni rose from the flames, carrying an unhurt Sita in his arms and said:

एषा ते राम वैदेही पापमस्यां न विद्यते
Here, Rama, is your Sita. She has not an iota of sin in her. (Valmiki Ramayana, 6.118)
This event came to be known as the Agni Pareeksha (agni = fire, pareeksha = test).

Rama is crowned at Ayodhya
Since the 14 years were over by now, Rama then returned to Ayodhya, was crowned king, and ruled the kingdom with great wisdom: no child died before their parents did, no door needed locks against robbers, no farmland lay barren, no tree went fruitless, and there was peace and prosperity all around.

Sita is banished
The Ramayana, as composed by Valmiki, is thought to have six chapters and to end at this happy point. A seventh chapter, called the Uttar-Ramayana (uttar = post, after, that which comes later) continues the story and ends on a slightly less happy note. This is how the story continues: After many months of Rama’s rule, rumours began to surface among the populace regarding Sita’s chastity since she had been abducted and imprisoned by a demon. Mindful of the feelings of his subjects, Rama asked Sita to undergo an Agni Pareeskha again. Sita refused, whereupon Rama banished her. Lakshman was deputed to escort her out of the kingdom; he did so unwillingly and left Sita near the hermitage of Valmiki.

Ramayana: Places
by Anindita Basu
Lava & Kush sing the Ramayana
Sita was pregnant at that time. Valmiki took her in as an ashram inmate, and she gave birth to her twins there: sons named Lava and Kush whom Valmiki brought up with great love and affection, teaching them princely skills such as archery as well as scholarly skills such as the Vedas and other scriptures. Valmiki also taught them to sing the Ramayana, which he had finished composing by this time. The twins, who were unaware of their parentage and, hence, unaware that they were singing about their own family, would recite the poem at gatherings. They became so well-loved for their sweet recitation that their fame reached Rama’s ears who summoned them for a performance. It was here at Rama’s court that the true story was revealed to the twins: that they, spitting images of the king, were his sons and that their mother was none other than the Sita whom they sang of.

Rama, in remorse, asked Sita to return to the palace if she could prove her chastity again before an assembly. Sita, in anguish, cried out, “O mother earth, just take me away from this place forever!” Whereupon the ground parted, the goddess Prithivi arose on a golden throne, took Sita in her lap, descended, and the rift closed. Sita was forever lost. Griefstricken, Rama decided to live no longer. He abdicated the throne in favour of his sons and, along with his brothers, entered the waters of the river Sarayu that skirted Ayodhya; their spirits left their bodies and ascended to the heavens.

Regional variations
The Ramayana was composed in Sanskrit. Over the years of re-tellings, several vernacular versions emerged that embellished the story, added regional touches, and inserted explanations and justifications for those bits that showed the hero, Rama, in a not-too-heroic light. The Ramavataram, composed by the Tamil poet Kamban in the 12th century CE, is popular in the southern parts of India. In the north, the Ramacharit Manas, composed by the Awadhi poet Tulsidas, is extremely popular. Other variations exist in Bengali, Malayalam, Telegu, Kannada, and other Indian languages.

Staircase of the Kailasa Temple, Ellora

The Ramayana’s characters have found their way into the common speech and idiom of the land. Public recitations of the Ramayana are common. The epic has been adapted into plays and films; it is also enacted every year by local troupes and neighbourhood societies in North India during the Dusshera festivities of the present times. Scenes from the epic can be seen on the walls of some of the oldest temples across Asia.

Rama is worshipped as an incarnation of god Vishnu, and it is not uncommon to find a Rama temple in almost every other neighbourhood in the country in the northern parts of India, especially in the Gangetic belt. In countries of South-East Asia, such as Cambodia, Indonesia, and Malaysia, the story of Rama continues to be told through intricately crafted shadow puppet shows.

—————————–

श्री हनुमान चालीसा – Hanuman Chalisa Hindi

श्री हनुमान चालीसा
Hanuman Chalisa Hindi
दोहा :

श्रीगुरु चरन सरोज रज, निज मनु मुकुरु सुधारि।
बरनऊं रघुबर बिमल जसु, जो दायकु फल चारि।।
बुद्धिहीन तनु जानिके, सुमिरौं पवन-कुमार।
बल बुद्धि बिद्या देहु मोहिं, हरहु कलेस बिकार।।

चौपाई :

जय हनुमान ज्ञान गुन सागर।
जय कपीस तिहुं लोक उजागर।।

रामदूत अतुलित बल धामा।
अंजनि-पुत्र पवनसुत नामा।।

महाबीर बिक्रम बजरंगी।
कुमति निवार सुमति के संगी।।

कंचन बरन बिराज सुबेसा।
कानन कुंडल कुंचित केसा।।

हाथ बज्र औ ध्वजा बिराजै।
कांधे मूंज जनेऊ साजै।

संकर सुवन केसरीनंदन।
तेज प्रताप महा जग बन्दन।।

विद्यावान गुनी अति चातुर।
राम काज करिबे को आतुर।।

प्रभु चरित्र सुनिबे को रसिया।
राम लखन सीता मन बसिया।।

सूक्ष्म रूप धरि सियहिं दिखावा।
बिकट रूप धरि लंक जरावा।।

भीम रूप धरि असुर संहारे।
रामचंद्र के काज संवारे।।

लाय सजीवन लखन जियाये।
श्रीरघुबीर हरषि उर लाये।।

रघुपति कीन्ही बहुत बड़ाई।
तुम मम प्रिय भरतहि सम भाई।।

सहस बदन तुम्हरो जस गावैं।
अस कहि श्रीपति कंठ लगावैं।।

सनकादिक ब्रह्मादि मुनीसा।
नारद सारद सहित अहीसा।।

जम कुबेर दिगपाल जहां ते।
कबि कोबिद कहि सके कहां ते।।

तुम उपकार सुग्रीवहिं कीन्हा।
राम मिलाय राज पद दीन्हा।।

तुम्हरो मंत्र बिभीषन माना।
लंकेस्वर भए सब जग जाना।।

जुग सहस्र जोजन पर भानू।
लील्यो ताहि मधुर फल जानू।।

प्रभु मुद्रिका मेलि मुख माहीं।
जलधि लांघि गये अचरज नाहीं।।

दुर्गम काज जगत के जेते।
सुगम अनुग्रह तुम्हरे तेते।।

राम दुआरे तुम रखवारे।
होत न आज्ञा बिनु पैसारे।।

सब सुख लहै तुम्हारी सरना।
तुम रक्षक काहू को डर ना।।

आपन तेज सम्हारो आपै।
तीनों लोक हांक तें कांपै।।

भूत पिसाच निकट नहिं आवै।
महाबीर जब नाम सुनावै।।

नासै रोग हरै सब पीरा।
जपत निरंतर हनुमत बीरा।।

संकट तें हनुमान छुड़ावै।
मन क्रम बचन ध्यान जो लावै।।

सब पर राम तपस्वी राजा।
तिन के काज सकल तुम साजा।

और मनोरथ जो कोई लावै।
सोइ अमित जीवन फल पावै।।

चारों जुग परताप तुम्हारा।
है परसिद्ध जगत उजियारा।।

साधु-संत के तुम रखवारे।
असुर निकंदन राम दुलारे।।

अष्ट सिद्धि नौ निधि के दाता।
अस बर दीन जानकी माता।।

राम रसायन तुम्हरे पासा।
सदा रहो रघुपति के दासा।।

तुम्हरे भजन राम को पावै।
जनम-जनम के दुख बिसरावै।।

अन्तकाल रघुबर पुर जाई।
जहां जन्म हरि-भक्त कहाई।।

और देवता चित्त न धरई।
हनुमत सेइ सर्ब सुख करई।।

संकट कटै मिटै सब पीरा।
जो सुमिरै हनुमत बलबीरा।।

जै जै जै हनुमान गोसाईं।
कृपा करहु गुरुदेव की नाईं।।

जो सत बार पाठ कर कोई।
छूटहि बंदि महा सुख होई।।

जो यह पढ़ै हनुमान चालीसा।
होय सिद्धि साखी गौरीसा।।

तुलसीदास सदा हरि चेरा।
कीजै नाथ हृदय मंह डेरा।।

दोहा :

पवन तनय संकट हरन, मंगल मूरति रूप।
राम लखन सीता सहित, हृदय बसहु सुर भूप।।

hanuman chalisa.
hanuman chalisa hindi with meaning.

—————————–

108 Hanuman Names

Ashtottara Shatanamavali of God Hanuman

आञ्जनेय
Anjaneya
1
ॐ आञ्जनेयाय नमः।
Om Anjaneyaya Namah।
Son of Anjana
महावीर
Mahavira
2
ॐ महावीराय नमः।
Om Mahaviraya Namah।
Most Valiant
हनूमत
Hanumanta
3
ॐ हनूमते नमः।
Om Hanumate Namah।
One With Puffy Cheeks
मारुतात्मज
Marutatmaja
4
ॐ मारुतात्मजाय नमः।
Om Marutatmajaya Namah।
Most Beloved Like Gems
तत्वज्ञानप्रद
Tatvagyanaprada
5
ॐ तत्वज्ञानप्रदाय नमः।
Om Tatvajnanapradaya Namah।
Granter of Wisdom
सीतादेविमुद्राप्रदायक
Sitadevi Mudrapradayaka
6
ॐ सीतादेविमुद्राप्रदायकाय नमः।
Om Sitadevimudrapradayakaya Namah।
Deliverer of the Ring of Sita
अशोकवनकाच्छेत्रे
Ashokavanakachhetre
7
ॐ अशोकवनकाच्छेत्रे नमः।
Om Ashokavanakachchhetre Namah।
Destroyer of Ashoka Orchard
सर्वमायाविभंजन
Sarvamayavibhanjana
8
ॐ सर्वमायाविभंजनाय नमः।
Om Sarvamayavibhanjanaya Namah।
Destroyer of All Illusions
सर्वबन्धविमोक्त्रे
Sarvabandha Vimoktre
9
ॐ सर्वबन्धविमोक्त्रे नमः।
Om Sarvabandhavimoktre Namah।
Detacher of All Relationship
रक्षोविध्वंसकारक
Rakshovidhwansakaraka
10
ॐ रक्षोविध्वंसकारकाय नमः।
Om Rakshovidhwansakarakaya Namah।
Slayer of Demons
परविद्या परिहार
Paravidhyaparihara
11
ॐ परविद्या परिहाराय नमः।
Om Paravidya Pariharaya Namah।
Destroyer of Enemies Wisdom
परशौर्य विनाशन
Parashaurya Vinashana
12
ॐ परशौर्य विनाशनाय नमः।
Om Parashaurya Vinashanaya Namah।
Destroyer of Enemy’s Valour
परमन्त्र निराकर्त्रे
Paramantra Nirakartre
13
ॐ परमन्त्र निराकर्त्रे नमः।
Om Paramantra Nirakartre Namah।
Acceptor of Rama’s Mantra Only
परयन्त्र प्रभेदक
Parayantra Prabhedaka
14
ॐ परयन्त्र प्रभेदकाय नमः।
Om Parayantra Prabhedakaya Namah।
Destroyer of Enemies Missions
सर्वग्रह विनाशी
Sarvagraha Vinashi
15
ॐ सर्वग्रह विनाशिने नमः।
Om Sarvagraha Vinashine Namah।
Killer of Evil Effects of Planets
भीमसेन सहायकृथे
Bheemasenasahayakruthe
16
ॐ भीमसेन सहायकृथे नमः।
Om Bhimasena Sahayakrithe Namah।
Helper of Bheema
सर्वदुखः हरा
Sarvadukhahara
17
ॐ सर्वदुखः हराय नमः।
Om Sarvadukha Haraya Namah।
Reliever of All Agonies
सर्वलोकचारिणे
Sarvalolkacharine
18
ॐ सर्वलोकचारिणे नमः।
Om Sarvalokacharine Namah।
Wanderer of All Places
मनोजवाय
Manojavaya
19
ॐ मनोजवाय नमः।
Om Manojavaya Namah।
Speed Like Wind
पारिजात द्रुमूलस्थ
Parijata Drumoolastha
20
ॐ पारिजात द्रुमूलस्थाय नमः।
Om Parijata Drumulasthaya Namah।
Resider Under the Parijata Tree
सर्वमन्त्र स्वरूपवते
Sarvamantra Swaroopavate
21
ॐ सर्वमन्त्र स्वरूपवते नमः।
Om Sarvamantra Swarupavate Namah।
Possessor of All Hymns
सर्वतन्त्र स्वरूपिणे
Sarvatantra Swaroopine
22
ॐ सर्वतन्त्र स्वरूपिणे नमः।
Om Sarvatantra Swarupine Namah।
Shape of All Hymns
सर्वयन्त्रात्मक
Sarvayantratmaka
23
ॐ सर्वयन्त्रात्मकाय नमः।
Om Sarvayantratmakaya Namah।
Dweller in All Yantras
कपीश्वर
Kapeeshwara
24
ॐ कपीश्वराय नमः।
Om Kapishwaraya Namah।
Lord of Monkeys
महाकाय
Mahakaya
25
ॐ महाकायाय नमः।
Om Mahakayaya Namah।
Gigantic
सर्वरोगहरा
Sarvarogahara
26
ॐ सर्वरोगहराय नमः।
Om Sarvarogaharaya Namah।
Reliever of All Ailments
प्रभवे
Prabhave
27
ॐ प्रभवे नमः।
Om Prabhave Namah।
Popular Lord
बल सिद्धिकर
Balasiddhikara
28
ॐ बल सिद्धिकराय नमः।
Om Bala Siddhikaraya Namah।
सर्वविद्या सम्पत्तिप्रदायक
Sarvavidya Sampattipradayaka
29
ॐ सर्वविद्या सम्पत्तिप्रदायकाय नमः।
Om Sarvavidya Sampattipradayakaya Namah।
Granter of Knowledge and Wisdom
कपिसेनानायक
Kapisenanayaka
30
ॐ कपिसेनानायकाय नमः।
Om Kapisenanayakaya Namah।
Chief of the Monkey Army
भविष्यथ्चतुराननाय
Bhavishyath Chaturanana
31
ॐ भविष्यथ्चतुराननाय नमः।
Om Bhavishyathchaturananaya Namah।
Aware of Future Happenings
कुमार ब्रह्मचारी
Kumarabrahmachari
32
ॐ कुमार ब्रह्मचारिणे नमः।
Om Kumara Brahmacharine Namah।
Youthful Bachelor
रत्नकुण्डल दीप्तिमते
Ratnakundala Deeptimate
33
ॐ रत्नकुण्डल दीप्तिमते नमः।
Om Ratnakundala Diptimate Namah।
Wearing Gem-Studded Earrings
चञ्चलद्वाल सन्नद्धलम्बमान शिखोज्वला
Chanchaladwala sannaddha-lambamaana shikhojwala
34
ॐ चञ्चलद्वाल सन्नद्धलम्बमान शिखोज्वलाय नमः।
Om Chanchaladwala Sannaddhalambamana Shikhojwala Namah।
Glittering Tail Suspended Above The Head
गन्धर्व विद्यातत्वज्ञ
Gandharvavidya Tatvangna
35
ॐ गन्धर्व विद्यातत्वज्ञाय नमः।
Om Gandharva Vidyatatvajnaya Namah।
Exponent in the Art of Celestials
महाबल पराक्रम
Mahabala Parakrama
36
ॐ महाबल पराक्रमाय नमः।
Om Mahabala Parakramaya Namah।
Of Great Strength
काराग्रह विमोक्त्रे
Karagrahavimoktre
37
ॐ काराग्रह विमोक्त्रे नमः।
Om Karagraha Vimoktre Namah।
One Who Frees from Imprisonment
शृन्खला बन्धमोचक
Shrunkhalabandhamochaka
38
ॐ शृन्खला बन्धमोचकाय नमः।
Om Shrinkhala Bandhamochakaya Namah।
Reliever from a Chain of Distresses
सागरोत्तारक
Sagarotharaka
39
ॐ सागरोत्तारकाय नमः।
Om Sagarottarakaya Namah।
Leapt Across the Ocean
प्राज्ञाय
Pragnya
40
ॐ प्राज्ञाय नमः।
Om Prajnaya Namah।
Scholar
रामदूत
Ramaduta
41
ॐ रामदूताय नमः।
Om Ramadutaya Namah।
Ambassador of Lord Rama
प्रतापवते
Pratapavate
42
ॐ प्रतापवते नमः।
Om Pratapavate Namah।
Known for Valour
वानर
Vanara
43
ॐ वानराय नमः।
Om Vanaraya Namah।
Monkey
केसरीसुत
Kesarisuta
44
ॐ केसरीसुताय नमः।
Om Kesarisutaya Namah।
Son of Kesari
सीताशोक निवारक
Sitashoka Nivaraka
45
ॐ सीताशोक निवारकाय नमः।
Om Sitashoka Nivarakaya Namah।
Destroyer of Sita’s Sorrow
अन्जनागर्भसम्भूता
Anjanagarbhasambhoota
46
ॐ अन्जनागर्भ सम्भूताय नमः।
Om Anjanagarbha Sambhutaya Namah।
Born of Anjani
बालार्कसद्रशानन
Balarka Sadrashanana
47
ॐ बालार्कसद्रशाननाय नमः।
Om Balarkasadrashananaya Namah।
Like the Rising Sun
विभीषण प्रियकर
Vibheeshanapriyakara
48
ॐ विभीषण प्रियकराय नमः।
Om Vibhishana Priyakaraya Namah।
Beloved of Vibheeshana
दशग्रीव कुलान्तक
Dashagreevakulantaka
49
ॐ दशग्रीव कुलान्तकाय नमः।
Om Dashagriva Kulantakaya Namah।
Slayer of the Ten-Headed Ravana Dynasty
लक्ष्मणप्राणदात्रे
Lakshmanapranadatre
50
ॐ लक्ष्मणप्राणदात्रे नमः।
Om Lakshmanapranadatre Namah।
Reviver of Lakshmana’s Life
वज्रकाय
Vajrakaya
51
ॐ वज्रकायाय नमः।
Om Vajrakayaya Namah।
Sturdy Like Metal
महाद्युत
Mahadyuta
52
ॐ महाद्युथये नमः।
Om Mahadyuthaye Namah।
Most Radiant
चिरञ्जीविने
Chiranjeevini
53
ॐ चिरञ्जीविने नमः।
Om Chiranjivine Namah।
Eternal Being
रामभक्त
Ramabhakta
54
ॐ रामभक्ताय नमः।
Om Ramabhaktaya Namah।
Devoted to Rama
दैत्यकार्य विघातक
Daityakarya Vighataka
55
ॐ दैत्यकार्य विघातकाय नमः।
Om Daityakarya Vighatakaya Namah।
Destroyer of All Demons’ Activities
अक्षहन्त्रे
Akshahantre
56
ॐ अक्षहन्त्रे नमः।
Om Akshahantre Namah।
Slayer of Aksha
काञ्चनाभ
Kanchanabha
57
ॐ काञ्चनाभाय नमः।
Om Kanchanabhaya Namah।
Golden-Hued Body
पञ्चवक्त्र
Panchavaktra
58
ॐ पञ्चवक्त्राय नमः।
Om Panchavaktraya Namah।
Five-Faced
महातपसी
Mahatapasi
59
ॐ महातपसे नमः।
Om Mahatapase Namah।
Great Meditator
लन्किनी भञ्जन
Lankineebhanjana
60
ॐ लन्किनी भञ्जनाय नमः।
Om Lankini Bhanjanaya Namah।
Slayer of Lankini
श्रीमते
Shrimate
61
ॐ श्रीमते नमः।
Om Shrimate Namah।
Revered
सिंहिकाप्राण भञ्जन
Simhikaprana Bhanjana
62
ॐ सिंहिकाप्राण भञ्जनाय नमः।
Om Simhikaprana Bhanjanaya Namah।
Slayer of Simhika
गन्धमादन शैलस्थ
Gandhamadana Shailastha
63
ॐ गन्धमादन शैलस्थाय नमः।
Om Gandhamadana Shailasthaya Namah।
Dweller of Gandhamadana
लङ्कापुर विदायक
Lankapuravidahaka
64
ॐ लङ्कापुर विदायकाय नमः।
Om Lankapura Vidayakaya Namah।
The One Who Burnt Lanka
सुग्रीव सचिव
Sugreeva Sachiva
65
ॐ सुग्रीव सचिवाय नमः।
Om Sugriva Sachivaya Namah।
Minister of Sugreeva
धीर
Dheera
66
ॐ धीराय नमः।
Om Dhiraya Namah।
Valiant
शूर
Shoora
67
ॐ शूराय नमः।
Om Shuraya Namah।
Bold
दैत्यकुलान्तक
Daityakulantaka
68
ॐ दैत्यकुलान्तकाय नमः।
Om Daityakulantakaya Namah।
Destroyer of Demons
सुरार्चित
Surarchita
69
ॐ सुरार्चिताय नमः।
Om Surarchitaya Namah।
Worshipped by Celestials
महातेजस
Mahatejasa
70
ॐ महातेजसे नमः।
Om Mahatejase Namah।
Most Radiant
रामचूडामणिप्रदायक
Ramachudamaniprada
71
ॐ रामचूडामणिप्रदायकाय नमः।
Om Ramachudamanipradayakaya Namah।
Deliverer of Rama’s Ring
कामरूपिणे
Kamaroopine
72
ॐ कामरूपिणे नमः।
Om Kamarupine Namah।
Changing Form at Will
पिङ्गलाक्ष
Pingalaksha
73
ॐ पिङ्गलाक्षाय नमः।
Om Pingalakshaya Namah।
Pink-Eyed
वार्धिमैनाक पूजित
Vardhimainakapujita
74
ॐ वार्धिमैनाक पूजिताय नमः।
Om Vardhimainaka Pujitaya Namah।
Worshipped by Mynaka Hill
कबळीकृत मार्ताण्डमण्डलाय
Kabalikruta Martanda-Mandalaya
75
ॐ कबळीकृत मार्ताण्डमण्डलाय नमः।
Om Kabalikrita Martandamandalaya Namah।
Swallower of the Sun
विजितेन्द्रिय
Vijitendriya
76
ॐ विजितेन्द्रियाय नमः।
Om Vijitendriyaya Namah।
Controller of the Senses
रामसुग्रीव सन्धात्रे
Ramasugreeva Sandhatre
77
ॐ रामसुग्रीव सन्धात्रे नमः।
Om Ramasugriva Sandhatre Namah।
Mediator between Rama and Sugreeva
महारावण मर्धन
Maharavanamardana
78
ॐ महारावण मर्धनाय नमः।
Om Maharavana Mardhanaya Namah।
Slayer of the Famous Ravana
स्फटिकाभा
Sphatikabha
79
ॐ स्फटिकाभाय नमः।
Om Sphatikabhaya Namah।
Crystal-Clear
वागधीश
Vagadheesha
80
ॐ वागधीशाय नमः।
Om Vagadhishaya Namah।
Lord of Spokesmen
नवव्याकृतपण्डित
Navavyakruta Pandita
81
ॐ नवव्याकृतपण्डिताय नमः।
Om Navavyakritapanditaya Namah।
Skillful Scholar
चतुर्बाहवे
Chaturbahave
82
ॐ चतुर्बाहवे नमः।
Om Chaturbahave Namah।
Four-Armed
दीनबन्धुरा
Deenabandhuraya
83
ॐ दीनबन्धुराय नमः।
Om Dinabandhuraya Namah।
Protector of the Downtrodden
महात्मा
Mahatmane
84
ॐ मायात्मने नमः।
Om Mayatmane Namah।
Supreme Being
भक्तवत्सल
Bhakthavatsala
85
ॐ भक्तवत्सलाय नमः।
Om Bhaktavatsalaya Namah।
Protector of Devotees
सञ्जीवन नगाहर्त्रे
Sanjeevananagahatre
86
ॐ संजीवननगायार्था नमः।
Om Sanjivananagayartha Namah।
Bearer of Sanjeevi Mount
सुचये
Shuchaye
87
ॐ सुचये नमः।
Om Suchaye Namah।
Chaste
वाग्मिने
Vagmine
88
ॐ वाग्मिने नमः।
Om Vagmine Namah।
Spolesman
दृढव्रता
Dridhavrata
89
ॐ दृढव्रताय नमः।
Om Dridhavrataya Namah।
Strong-Willed Meditator
कालनेमि प्रमथन
Kalanemi Pramathana
90
ॐ कालनेमि प्रमथनाय नमः।
Om Kalanemi Pramathanaya Namah।
Slayer of Kalanemi
हरिमर्कट मर्कटा
Harimarkatamarkata
91
ॐ हरिमर्कट मर्कटाय नमः।
Om Harimarkata Markataya Namah।
Lord of Monkeys
दान्त
Danta
92
ॐ दान्ताय नमः।
Om Dantaya Namah।
Calm
शान्त
Shanta
93
ॐ शान्ताय नमः।
Om Shantaya Namah।
Very Composed
प्रसन्नात्मने
Prasannatmane
94
ॐ प्रसन्नात्मने नमः।
Om Prasannatmane Namah।
Cheerful
शतकन्टमदापहते
Shatakanttamadapahate
95
ॐ शतकन्टमुदापहर्त्रे नमः।
Om Shatakantamudapahartre Namah।
Destroyer Of shatakantta’s Arrogance
योगी
Yogi
96
ॐ योगिने नमः।
Om Yogine Namah।
Saint
रामकथा लोलाय
Ramakathalolaya
97
ॐ रामकथा लोलाय नमः।
Om Ramakatha Lolaya Namah।
Crazy of listening Rama’s Story
सीतान्वेषण पण्डित
Sitanveshana Pandita
98
ॐ सीतान्वेषण पण्डिताय नमः।
Om Sitanveshana Panditaya Namah।
Skillful in Finding Sita’s Whereabouts
वज्रद्रनुष्ट
Vajradranushta
99
ॐ वज्रद्रनुष्टाय नमः।
Om Vajradranushtaya Namah।
वज्रनखा
Vajranakha
100
ॐ वज्रनखाय नमः।
Om Vajranakhaya Namah।
Strong-Nailed
रुद्रवीर्य समुद्भवा
Rudraveerya Samudbhava
101
ॐ रुद्र वीर्य समुद्भवाय नमः।
Om Rudra Virya Samudbhavaya Namah।
Born of Shiva
इन्द्रजित्प्रहितामोघब्रह्मास्त्र विनिवारक
Indrajit Prahitamoghabrahmastra Vinivaraka
102
ॐ इन्द्रजित्प्रहितामोघब्रह्मास्त्र विनिवारकाय नमः।
Om Indrajitprahitamoghabrahmastra Vinivarakaya Namah।
Remover of Effect of Indrajita’s Brahmastra
पार्थ ध्वजाग्रसंवासिने
Parthadhwajagrasamvasine
103
ॐ पार्थ ध्वजाग्रसंवासिने नमः।
Om Partha Dhwajagrasamvasine Namah।
Having Foremost Place on Arjuna’s Flag
शरपञ्जर भेदक
Sharapanjarabhedaka
104
ॐ शरपञ्जर भेदकाय नमः।
Om Sharapanjara Bhedakaya Namah।
Destroyer of the Nest made of Arrows
दशबाहवे
Dashabahave
105
ॐ दशबाहवे नमः।
Om Dashabahave Namah।
Ten-Armed
लोकपूज्य
Lokapujya
106
ॐ लोकपूज्याय नमः।
Om Lokapujyaya Namah।
Worshipped by the Universe
जाम्बवत्प्रीतिवर्धन
Jambavatpreeti Vardhana
107
ॐ जाम्बवत्प्रीतिवर्धनाय नमः।
Om Jambavatpritivardhanaya Namah।
Winning Jambavan’s Love
सीताराम पादसेवा
Sitaramapadaseva
108
ॐ सीतासमेत श्रीरामपाद सेवदुरन्धराय नमः।
Om Sitasameta Shriramapada sevadurandharaya Namah।
Always Engrossed in Rama’s Service
॥ इति श्रीहनुमानष्टोत्तरशतनामावलिः सम्पूर्णा ॥

—————————–

Ramayana:
An Introduction to the Great Indian Epic:
A leaf from a popular Indian comic book version of Ramayana.
The Ramayana is an all-popular epic in South and Southeast Asia. It is the story of King Rama who must save his kidnapped wife, Sita. Along the way, it teaches Hindu life lessons. The Ramayana is told and retold orally, through literature (and comic books!), plays, movies and is reference in many other forms of popular culture today.

The Ramayana by the sage Valmiki is one of the great epics of the Sanskrit language, and is dated to approximately 200 B.C.E. There are many other versions of the epic in the many regional languages found in South Asia. Although the same core narrative is used (or referred to) in most of these versions, there are significant differences among them. This is particularly true regarding how the story ends; see below. The basic storyline is provided here, but teachers and students should expect to see great variation and greater detail with reference to each episode.

Rama was the eldest son of the great king Dasharatha. The gods had declared that he was born for the specific purpose of defeating the demon-king Ravana. He is considered to be the seventh incarnation of the great god, Vishnu.

Rama won the hand of his wife Sita in an archery contest, in which he was the only contender able to bend a bow that had once belonged to Shiva. Sita had been born of a furrow in the earth (this is what her name means). The two were extremely happy together, and returned to live in Rama’s home, in Ayodhya.

Rama’s stepmother, Kaikeyi, wanted to promote her son Bharata as heir to the throne of her husband, Dasharatha; Rama was eldest, and the honor rightly was due him. Kaikeyi called in several favors her husband had promised her, and forced Dasharatha, who could not go back on his promises to his wife—-to exile Rama for fourteen years. Rama’s brother Lakshman and his wife insisted on accompanying him, and they left together. Dasharatha died of grief, and Bharata attempted to persuade his brother to return. Rama, also bound not to go back on his word, refused. Bharata pledged to rule in Rama’s name until his return.

Rama, Sita, and Lakshman wandered in the forest until Rama was seen by an evil spirit, who fell in love with him. Rama rejected her and she attacked with her allies, only to meet defeat at the hands of Lakshman and Rama. She appealed to her brother Ravana, the strongest and most dangerous demon on earth at that time, for help. Ravana decided to kidnap Sita, the wife of Rama.

One of Ravana’s demon followers assumed the form of a splendid deer, who aroused the interest of Sita. She asked Rama to retrieve the deer. Lakshman drew a line or circle around Sita to protect her magically, and went to aid his brother. While he and his brother were thus engaged, Ravana came to Sita in the guise of a holy man. Tricking her in this way to cross the protective line, he kidnapped her and took her to his palace on the island of Lanka.

Upon returning and finding Sita gone, Rama despaired. Accompanied by his brother, he went in search of her. On the way the two killed a demon whose liberated spirit told them to seek the help of Sugriva, the monkey-king. The brothers sought out the king, and helped him to regain control of his kingdom, which had been usurped by his half-brother. In gratitude, Sugriva dedicated his armies and his finest general—Hanuman, the son of the wind—to the quest to retrieve Sita. Hanuman discovered Sita’s location and visited her there, reassuring her that Rama would save her. He suggested that a huge bridge to the island be constructed to allow the siege of Lanka. After great battles and acts of heroism, the siege was completed and Ravana defeated. Sita was rescued.

Many versions of the Ramayana end thus with return of Sita and Rama to their kingdom after fourteen years of exile, and the commencement of Ram Rajya, the glorious time of the rule of Ram. Other versions, such as that by Valmiki, end with the questioning of Sita’s loyalty during the time of her kidnapping, when she spent so much time in another man’s home. In such versions, Sita returned to her husband only to be put to a fire test to prove her loyalty. She passed this test, only to be questioned again later. She was then banished with her two unborn twin sons. Later asked to return to the kingdom, she did so only to stand before the assembly, calling on the earth (from which she was born) to take her back again if she had remained pure. The story ends with her absorption into her mother, the earth, and her ultimate vindication.

Author: Anne Murphy.

—————————–
Story:

The original Ramayana written by the 4th c. sage Valmiki comprised of seven “kandas” or books. Many scholars question the authorship of the certain passages from the first book (Bala Kanda) and question the authenticity of the last book (Uttara Kanda) for various reasons.

Bala Kanda: “The Book of the Youth,” the boyhood and adolescence of Rama;

Ayodhya Kanda: “The Book of Ayodhya,” the court of Dasaratha and the scenes that set the stage for the unfolding of the story, including the exchange between Dasaratha and Kaikeyi and the exile of Rama;

Aranya Kanda: “The Book of the Forest ,” life in the forest during the fourteen year exile and the abduction of Sita by Ravana;

Kishkindhya Kanda: “The Book of The Empire of Holy Mokeys,” Rama’s residence in Kishkindhya, the quest for Sita, and the slaying of Bali;

Sundara Kanda: “The Book of the Beautiful (Hanuman),” sundara means beautiful, and this portion of the book has passages of lyrical beauty; description of the landscapes over which Rama roams, and the arrival of Rama and his allies in Lanka;

Yuddha Kanda: “The Book of War,” the defeat of Ravana, the recovery of Sita, the return to Ayodhya, and the coronation of Rama; and

Uttara Kanda: “The Book Beyond,” the “later section”, detailing Rama’s life in Ayodhya, the banishment of Sita, the birth of Lava and Kusa, the reconciliation of Rama and Sita, her death or return to the earth, and Rama’s ascent into heaven.

Summary
Dasharatha was the King of Ayodhya and had three wives and four sons. Rama was the eldest and his mother was Kaushalya. Bharata was the son of Dasharatha’s second and favorite wife, Queen Kaikeyi. The other two were twins, Lakshmana and Shatrughna whose mother was Sumithra. In the neighboring city the ruler’s daughter was named Sita. When it was time for Sita to choose her bridegroom (at a ceremony called a swayamvara) princes from all over the land were asked to string a giant bow which no one could lift. However, as Rama picked it up, he not only strung the bow, he broke it. Seeing this, Sita indicated that she had chosen Rama as her husband by putting a garland around his neck. Their love became a model for the entire kingdom as they looked over the kingdom under the watchful eye of his father the king.
A few years later, King Dasharatha decided it was time to give his throne to his eldest son Rama and retire to the forest. Everyone seemed pleased, save Queen Kaikeyi since she wanted her son Bharata to rule. Because of an oath Dasharatha had made to her years before, she got the king to agree to banish Rama for fourteen years and to crown Bharata, even though the king pleaded with her not to demand such a request. The devastated King could not face Rama and it was Queen Kaikeyi who told Rama the King’s decree. Rama, always obedient, was content to go into banishment in the forest. Sita and Lakshmana accompanied him on his exile.

One day Rama and Lakshmana wounded a rakshasas (demon) princess who tried to seduce Rama. She returned to her brother Ravana, the ten-headed ruler of Lanka. In retaliation, Ravana devised a plan to abduct Sita after hearing about her incomparable beauty. He sent one of his demons disguised as a magical golden deer to entice Sita. To please her, Rama and Lakshmana went to hunt the deer down. Before they did though, they drew a protective circle around Sita and told her that she would be safe for as long as she did not step outside the circle. After Rama and Lakshmana left, Ravana appeared as a holy man begging alms. The moment Sita stepped outside the circle to give him food, Ravana grabbed her and carried her to his kingdom in Lanka.
Rama then sought the help of a band of monkeys offer to help him find Sita. Hanuman, the general of the monkey band can fly since his father is the wind. He flew to Lanka and, finding Sita in the grove, comforted her and told her Rama would come to save her soon. Ravana’s men captured Hanuman, and Ravana ordered them to wrap Hanuman’s tail in cloth and to set it on fire. With his tail burning, Hanuman escaped and hopped from house-top to house-top, setting Lanka on fire. He then flew back to Rama to tell him where Sita was.

Rama, Lakshmana and the monkey army built a causeway from the tip of India to Lanka and crossed over to Lanka where a cosmic battle ensued. Rama killed several of Ravana’s brothers and eventually confronted the ten-headed Ravana. He killed Ravana, freed Sita and after Sita proved here purity, they returned to Ayodhya where Bharata returned the crown to him.

(Story and summary adapted from http://www.indhistory.org)

—————————–

In Hinduism, Hanuman (/ˈhʌnʊˌmɑːn/; Sanskrit: हनुमान्, IAST: Hanumān)[4] is an ardent devotee of Rama.[1] Hanuman is one of the central characters of the Indian epic Ramayana. He is a Brahmachari (Life long celibate) and one of the chiranjeevi. He is also mentioned in several other texts, such as the Mahabharata and the various Puranas. Hanuman is the son of Anjani and Kesari and is also son of the wind-god Pawan, who according to several stories, played a role in his Avatar.[3][5]

While Hanuman is one of the central characters in the ancient Sanskrit epic Ramayana, the evidence of devotional worship to him is missing in the texts and archeological sites of ancient and most of the medieval period. According to Philip Lutgendorf, an American Indologist known for his studies on Hanuman, the theological significance and devotional dedication to Hanuman emerged about 1,000 years after the composition of the Ramayana, in the 2nd millennium CE, after the arrival of Islamic rule in the Indian subcontinent.[6] Bhakti movement saints such as Samarth Ramdas expressed Hanuman as a symbol of nationalism and resistance to persecution.[7] In the modern era, his iconography and temples have been increasingly common.[8] He is viewed as the ideal combination of “strength, heroic initiative and assertive excellence” and “loving, emotional devotion to his personal god Rama”, as Shakti and Bhakti.[9] In later literature, he has been the patron god of martial arts such as wrestling, acrobatics, as well as meditation and diligent scholarship.[1] He symbolizes the human excellences of inner self-control, faith and service to a cause, hidden behind the first impressions of a being who looks like an Ape-Man Vanara.[8][10][11]

Hanuman is stated by scholars to be the inspiration for the allegory-filled adventures of a monkey hero in the Xiyouji (Journey to the West) – the great Chinese poetic novel influenced by the travels of Buddhist monk Xuanzang (602–664 CE) to India.[12][13]

—————————–

Hanuman has many attributes:

Hanuman fetches the herb-bearing mountain, in a print from the Ravi Varma Press, 1910s
Chiranjivi (immortal): various versions of Ramayana and Rama Katha state towards their end, just before Rama and Lakshmana die, that Hanuman is blessed to be immortal. He will be a part of humanity forever, while the story of Rama lives on.[41]
Brahmachari (self-controlled): one who control their lust from all materialistic things of material world.
Kurūp and Sundar: he is described in Hindu texts as kurūp (ugly) on the outside, but divinely sundar (beautiful inside).[37] The Hanuman Chalisa describes him as handsome with a complexion of molten gold (kanchana barana birāja subesā).[42]
Kama-rupin: He can shapeshift, become smaller than the smallest, larger than the largest adversary at will.[14]:45–47, 287 He uses this attribute to shrink and enter Lanka, as he searches for the kidnapped Sita imprisoned in Lanka. Later on, he takes on the size of a mountain, blazing with radiance, to show his true power to Sita.[43]
Strength: Hanuman is extraordinarily strong, one capable of lifting and carrying any burden for a cause. He is called Vira, Mahavira, Mahabala and other names signifying this attribute of his. During the epic war between Rama and Ravana, Rama’s brother Lakshmana is wounded. He can only be healed and his death prevented by a herb found in a particular Himalayan mountain. Hanuman leaps and finds the mountain. There, states Ramayana, Hanuman finds the mountain is full of many herbs. He doesn’t know which one to take. So, he lifts the entire Himalayan mountain and carries it across India to Lanka for Lakshmana. His immense strength thus helps Lakshmana recover from his wound.[14]:6, 44–45, 205–210 This legend is the popular basis for the iconography where he is shown flying and carrying a mountain on his palm.[14]:61

Hanuman showing Rama in His heart
Innovative: Hanuman is described as someone who constantly faces very difficult odds, where the adversary or circumstances threaten his mission with certain defeat and his very existence. Yet he finds an innovative way to turn the odds. For example, after he finds Sita, delivers Rama’s message, and persuades her that he is indeed Rama’s true messenger, he is discovered by the prison guards. They arrest Hanuman, and under Ravana’s orders take him to a public execution. There, the Ravana’s guards begin his torture, tie his tail with oiled cloth and put it on fire. Hanuman then leaps, jumps from one palace rooftop to another, thus burning everything down.[14]:140–141, 201
Bhakti: Hanuman is presented as the exemplary devotee (bhakta) of Rama and Sita. The Hindu texts such as the Bhagavata Purana, the Bhakta Mala, the Ananda Ramayana and the Ramacharitmanas present him as someone who is talented, strong, brave and spiritually devoted to Rama.[44] The Rama stories such as the Ramayana and the Ramacharitmanas, in turn themselves, present the Hindu dharmic concept of the ideal, virtuous and compassionate man (Rama) and woman (Sita) thereby providing the context for attributes assigned therein for Hanuman.[45][46]
Learned Yogi: In the late medieval texts and thereafter, such as those by Tulasidas, attributes of Hanuman include learned in Vedanta philosophy of Hinduism, the Vedas, a poet, a polymath, a grammarian, a singer and musician par excellence.[44][1]
Remover of obstacles: in devotional literature, Hanuman is the remover of difficulties.[44]
Texts
Hinduism
Ramayana

Hanuman finds Sita in the ashoka grove, and shows her Rama’s ring
The Sundara Kanda, the fifth book in the Ramayana, focuses on Hanuman. Hanuman meets Rama in the last year of the latter’s 14-year exile, after the demon king Ravana had kidnapped Sita. With his brother Lakshmana, Rama is searching for his wife Sita. This, and related Rama legends are the most extensive stories about Hanuman.[47][48]

Numerous versions of the Ramayana exist within India. These present variant legends of Hanuman, Rama, Sita, Lakshamana and Ravana. The characters and their descriptions vary, in some cases quite significantly.[49]

Mahabharata

Roadside Hanuman shrine south of Chennai, Tamil Nadu
The Mahabharata is another major epic which has a short mention of Hanuman. In Book 3, the Vana Parva of the Mahabharata, he is presented as a half brother of Bhima, who meets him accidentally on his way to Mount Kailasha. A man of extraordinary strength, Bhima is unable to move Hanuman’s tail, making him realize and acknowledge the strength of Hanuman. This story attests to the ancient chronology of the Hanuman character. It is also a part of artwork and reliefs such as those at the Vijayanagara ruins.[50][51]

Other literature
Apart from Ramayana and Mahabharata, Hanuman is mentioned in several other texts. Some of these stories add to his adventures mentioned in the earlier epics, while others tell alternative stories of his life. The Skanda Purana mentions Hanuman in Rameswaram.[52]

In a South Indian version of Shiva Purana, Hanuman is described as the son of Shiva and Mohini (the female avatar of Vishnu), or alternatively his mythology has been linked to or merged with the origin of Swami Ayyappa who is popular in parts of South India.[1]

Hanuman Chalisa
The 16th-century Indian poet Tulsidas wrote Hanuman Chalisa, a devotional song dedicated to Hanuman. He claimed to have visions where he met face to face with Hanuman. Based on these meetings, he wrote Ramcharitmanas, an Awadhi language version of Ramayana.[53]

According to Hindu belief Hanuman Chalisa is a very powerful mantra to get the blessing of Hanuman. Many people recite Hanuman Chalisa regularly. According to belief chanting of Hanuman Chalisa protects Hanuman devotee from devil and all problems.

Relation with Devi or Shakti
The relation between Hanuman and Goddess Kali finds mention in the Krittivasi Ramayana. Their meeting takes place in the Yuddha Kanda of Ramayana in the legend of Mahiravana. Mahiravana was a trusted friend/brother of Ravana. After his son, Meghanatha was killed, Ravana sought Mahiravana, the King of Patalaloka’s help to kill Rama and Lakshmana. One night, Mahiravana, using his maya, took Vibhishana’s form and entered Rama’s camp. There he cast the nidra mantra on the Vanar Sena, kidnapped Rama and Lakshmana and took them to Patala Loka. He was an adherent devotee of Devi and Ravana convinced him to sacrificing the valiant fighters of Ayodhya to the goddess to which, Mahiravana agreed. Hanuman, upon understanding the way to Patala from Vibhishana headed for rescuing his lords. Down, he met Makardhwaja who claimed of being Hanuman’s son, being born from his sweat which was consumed by a Makara (crocodile). Hanuman defeated and tied him and went inside the palace. There he met Chandrasena who told about the sacrifice and the way to kill Ahiravana. Hanuman then shrunk his size to that of a bee and went towards the huge idol of Maha-Kali. He asked her to let him save Rama, and the fierce mother goddess agreed as Hanuman took her place while she slipped below. When Mahiravana asked the prince-sages to bow, they refused as they were of royal lineage and didn’t know how to bow. So as Mahiravana was about to show them how to bow, Hanuman took his Pancha-mukha form (with the head of Garuda, Narasimha, Varaha, Hayagreeva and himself: each head signifying a particular trait. Hanuman courage and strength, Narasimha fearlessness, Garuda magical skills and the power to cure snake bites, Varaha health and exorcism and Hayagriva victory over enemies), blew the 5 oil lamps in 5 directions and severed the head of Mahiravana by thus killing him. He later took Shri Rama and Lakshmana on his shoulders and as he flew outside Shri Rama saw Makardhwaja tied with his tail. He rightaway ordered Hanuman to crown him the King of Patala. The story of Ahiravan finds its place in the Ramayanas of the East. It can be found in the Bengali version of the Ramayana, written by Krittibash. The passage which talks about this incident is known as ‘Mahirabonerpala’. It is also believed that after being pleased with Hanuman, Goddess Kali blessed him to be her dwara-paal or gate-keeper and hence one finds Bhairava and Hanuman on either sides of the temple entrance of the Goddess’ shrine. [54]

Buddhism
Hanuman appears with a Buddhist gloss in Tibetan (southwest China) and Khotanese (west China, central Asia and northern Iran) versions of Ramayana. The Khotanese versions have a Jātaka tales-like theme, but are generally similar to the Hindu texts in the storyline and character of Hanuman. The Tibetan version is more embellished, and without attempts to include a Jātaka gloss. Also, in the Tibetan version, novel elements appear such as Hanuman carrying love letters between Rama and Sita, in addition to the Hindu version wherein Rama sends the wedding ring with him as a message to Sita. Further, in the Tibetan version, Rama chides Hanuman for not corresponding with him through letters more often, implying that the monkey-messenger and warrior is a learned being who can read and write letters.[55][56]
In Japan, icons of the divine monkey (Saruta Biko), guards temples such as Saru-gami at Hie Shrine.[57][58]
In the Sri Lankan versions of Ramayana, which are titled after Ravana, the story is less melodramatic than the Indian stories. Many of the legends recounting Hanuman’s bravery and innovative ability are found in the Sinhala versions. The stories in which the characters are involved have Buddhist themes, and lack the embedded ethics and values structure according to Hindu dharma.[59] According to Hera Walker, some Sinhalese communities seek the aid of Hanuman through prayers to his mother.[60] In Chinese Buddhist texts, states Arthur Cotterall, myths mention the meeting of the Buddha with Hanuman, as well as Hanuman’s great triumphs.[61] According to Rosalind Lefeber, the arrival of Hanuman in East Asian Buddhist texts may trace its roots to the translation of the Ramayana into Chinese and Tibetan in the 6th-century CE.[62]

In both China and Japan, according to Lutgendorf, much like in India, there is a lack of a radical divide between humans and animals, with all living beings and nature assumed to be related to humans. There is no exaltation of humans over animals or nature, unlike the Western traditions. A divine monkey has been a part of the historic literature and culture of China and Japan, possibly influenced by the close cultural contact through Buddhist monks and pilgrimage to India over two millennia.[57] For example, the Japanese text Keiranshuyoshu, while presenting its mythology about a divine monkey, that is the theriomorphic Shinto emblem of Hie shrines, describes a flying white monkey that carries a mountain from India to China, then from China to Japan.[63] Many Japanese shrines and village boundaries, dated from the 8th to the 14th centuries, feature a monkey deity as guardian or intermediary between humans and gods.[57][58]

The Jātaka tales contain Hanuman-like stories.[64] For example, the Buddha is described as a monkey-king in one of his earlier births in the Mahakapi Jātaka, wherein he as a compassionate monkey suffers and is abused, but who nevertheless continues to follow dharma in helping a human being who is lost and in danger.[65][66]

Jainism
Main articles: Rama in Jainism and Salakapurusa
Paumacariya (also known as Pauma Chariu or Padmacharit), the Jain version of Ramayana written by Vimalasuri, mentions Hanuman not as a divine monkey, but as a Vidyadhara (a supernatural being, demigod in Jain cosmology). He is the son of Pavangati (wind deity) and Anjana Sundari. Anjana gives birth to Hanuman in a forest cave, after being banished by her in-laws. Her maternal uncle rescues her from the forest; while boarding his vimana, Anjana accidentally drops her baby on a rock. However, the baby remains uninjured while the rock is shattered. The baby is raised in Hanuruha.

There are major differences from the Hindu text : Hanuman is a supernatural being in Jain texts, (Rama is a pious Jaina who never kills anyone, and it is Lakshamana who kills Ravana.) Hanuman becomes a supporter of Rama after meeting him and learning about Sita’s kidnapping by Ravana. He goes to Lanka on Rama’s behalf, but is unable to convince Ravana to give up Sita. Ultimately, he joins Rama in the war against Ravana and performs several heroic deeds. Later Jain texts, such as Uttarapurana (9th century CE) by Gunabhadra and Anjana-Pavananjaya (12th century CE), tell the same story.

(In several versions of the Jain Ramayana story, there are passages that explain to Hanuman, and Rama (called Pauma in Jainism),(Hanuman, in these versions, ultimately renounces all social life become a Jain ascetic).

Sikhism
In Sikhism, the Hindu god Rama has been referred to as Sri Ram Chandar, and the story of Hanuman as a siddha has been influential. After the birth of the martial Sikh Khalsa movement in 1699, during the 18th and 19th centuries, Hanuman was an inspiration and object of reverence by the Khalsa.[citation needed] Some Khalsa regiments brought along the Hanuman image to the battleground. The Sikh texts such as Hanuman Natak composed by Hirda Ram Bhalla, and Das Gur Katha by Kavi Kankan describe the heroic deeds of Hanuman.[67] According to Louis Fenech, the Sikh tradition states that Guru Gobind Singh was a fond reader of the Hanuman Natak text.[citation needed]

During the colonial era, in Sikh seminaries in what is now Pakistan, Sikh teachers were called bhai, and they were required to study the Hanuman Natak, the Hanuman story containing Ramcharitmanas and other texts, all of which were available in Gurmukhi script.[68]

Sri Guru Granth Sahib, the primary Sikh Scripture, outright rejects the validity of supremacy of Hanuman. Bhagat Kabir, a prominent writer of the scripture explicitly states that the being like Hanuman does not know the glory of the divine.

ਹਨੂਮਾਨ ਸਰਿ ਗਰੁੜ ਸਮਾਨਾਂ

Hanūmān sar garuṛ samānāʼn.

Beings like Hanumaan, Garura,

ਸੁਰਪਤਿ ਨਰਪਤਿ ਨਹੀ ਗੁਨ ਜਾਨਾਂ Surpaṯ narpaṯ nahī gun jānāʼn.

Indra the King of the gods and the rulers of humans – none of them know Your Glories, Lord.

— Sri Guru Granth Sahib page 691 Full Shabad
Southeast Asian texts
There exist non-Indian versions of the Ramayana, such as the Thai Ramakien. According to these versions of the Ramayana, Macchanu is the son of Hanuman borne by Suvannamaccha, when “Hanuman fly over Lanka after firing Ravana palace, his body with extreme heat & a drop of his sweat fall into sea it eaten by a mighty fish when he bathing and she birth to macchanu” daughter of Ravana.

Another legend says that a demigod named Matsyaraja (also known as Makardhwaja or Matsyagarbha) claimed to be his son. Matsyaraja’s birth is explained as follows: a fish (matsya) was impregnated by the drops of Hanuman’s sweat, while he was bathing in the ocean.[22]

Hanuman in southeast Asian texts differs from the north Indian Hindu version in various ways in the Burmese Ramayana, such as Rama Yagan, Alaung Rama Thagyin (in the Arakanese dialect), Rama Vatthu and Rama Thagyin, the Malay Ramayana, such as Hikayat Sri Rama and Hikayat Maharaja Ravana, and the Thai Ramayana, such as Ramakien. However, in some cases, the aspects of the story are similar to Hindu versions and Buddhist versions of Ramayana found elsewhere on the Indian subcontinent, valmiki Ramayana is the original holy text Others are edited versions by the poet’s for performing Arts like folk dances, the true story of Ramayana is Valmikis, Sage Valmiki known as the Adikavi “the first poet”.

—————————–

Hanuman

Hanuman is a Hindu god, an ardent devotee of Rama. He is a central character in the Indian epic Ramayana and its various versions. He also finds mention in several other texts, including Mahabharata, the various Puranas and some Jain texts. A vanara (one who lives in forest i.e. ‘vana’), Hanuman participated in Rama’s war against the demon king Ravana. Several texts also present him as an incarnation of Lord Shiva. He is the son of Vayu, who according to several stories, played a role in his birth.

Quotes

Do you know about Hanuman, sir? He was the faithful servant of the god Rama, and we worship him in our temples because he is a shining example of how to serve your masters with absolute fidelity, love, and devotion…

Hanuman, the well-known monkey god, can be seen in temples throughout the country. In some temples his image is set up alone standing with a mace in the right hand or sitting in a devotional posture before the images of Rama and Sita. He is considered to be the god of power and strength, who remained a celibate through his whole life. He is worshipped as being the greatest of Ram, who loves Hanuman the most. – Suresh Chandra
Do you know about Hanuman, sir? He was the faithful servant of the god Rama, and we worship him in our temples because he is a shining example of how to serve your masters with absolute fidelity, love, and devotion. These are the kinds of gods they have foisted on us Mr. Jiabao. Understand, now, how hard it is for a man to win his freedom in India.
Aravind Adiga in: The White Tiger by Aravind Adiga, ashutoshsrivastava.com.
Lord Hanuman escorted me into the inner palace, where I gazed on Lord Rama in human form. Hanuman approached the Lord, on whose left side Lakshmana was present. I saw that Hanuman, while chanting the Lord’s praises, sometimes rotated the royal fly-whisk over him sometimes stood before him and recited spontaneous hymns, sometimes held a white umbrella over him, and sometimes massaged his feet. And sometimes he did all these things at once.
From Brihadbhagavatam quoted in: Philip Lutgendorf Hanuman’s Tale: The Messages of a Divine Monkey, Oxford University Press, 13 December 2006, p. 345-46.
Hanuman, the well-known monkey god, can be seen in temples throughout the country. In some temples his image is set up alone standing with a mace in the right hand or sitting in a devotional posture before the images of Rama and Sita. He is considered to be the god of power and strength, who remained a celibate through his whole life. He is worshipped as being the greatest of Ram, who loves Hanuman the most.
Suresh Chandra in: Encyclopaedia of Hindu Gods and Goddesses, Sarup & Sons, 1998, p. 116.
Hanuman’s other names are Hanumat and pavana-Sut. He is the son of Vayu, the Lord of winds and Anjana, the female seduced by Vayu. Along with Ram, Hanuman is usually worshipped and he is the most favoured of wrestlers and grapplers. Tuesday is the sacred day on which lacs [hundred thousands] of Hindus worship and pray to him for strength and prosperity.
Suresh Chandra in: “Encyclopaedia of Hindu Gods and Goddesses”, p. 116.
This god is described as having a short thick neck, a round red face, sharp white fangs, a mane like Ashoka flowers, a tail like Indra’s banner and ability to expand until he could be as large as a mountain or to contract until he could become as small as a fly.
Suresh Chandra in: “Encyclopaedia of Hindu Gods and Goddesses”, p. 116.
Hanuman attends Rama, one of the incarnations of Vishnu, and personifies the ideal and faithful servant. He is the son of Pavana, the god of winds, and is noted for his speed and agility in which context he is often worshipped by young men and athletes. He leads a mythical forest army of monkeys, and is depicted as a monkey with a long tail. He takes a major role in the Ramayana epic searching for, rescuing the goddess Sita who has been captured by the demon Ravana.
Suresh Chandra in: “Encyclopaedia of Hindu Gods and Goddesses”, p. 115.
It is said that the sure antidote of Saturn or Shanee’s evil effect is the worship of Lord Hanuman. Scriptures say that when Saturn warned Lord Hanuman about his onset of the Seven and Half Years (w:Sade SatiSaade Saati) [period of bad times], the Monkey Lord accepted the challenge and allowed Saturn to have his play. When the planet dwelled on his head, the Monkey Lord ‘headed’ heavy rocks so viciously that the planet was almost crushed. Similar agony he faced when he tried to dwell on the Monkey Lord’ body and legs. Then the planet had to bow before the Lord, saying that whosoever worshipped Lord Hanuman shall be beyond the evil effect of the planet.
Suresh Chandra in: “Encyclopaedia of Hindu Gods and Goddesses”, p. 302

A less-common form of Hanuman is the Panchmukhi—that which has five heads or faces. Each head represents an animal. The five animals are the monkey (Vanar), the horse (Hay-griv), the lion (Narasimh), the boar (Varah) and the eagle. Some of these are incarnations of Vishnu… – Parvez Dewan.
A less-common form of Hanuman is the Panchmukhi—that which has five heads or faces. Each head represents an animal. The five animals are the monkey (Vanar), the horse (Hay-griv), the lion (Narasimh), the boar (Varah) and the eagle. Some of these are incarnations of Vishnu. There is also an eleven headed Hanuman (ekadash-mukhi) Hanuman. These two forms are the result of the popularity of the tantric cults during the medieval era. The five-headed Hanuman may have as many pairs of arms, or just one pair. The eleven-headed Hanuman normally has ten pairs of arms.
Parvez Dewan in: Book Of Hanuman (PB), Penguin Books India, 20 July 2009, p. 166

…He was able to fly and is a conspicuous figure in the Ramayana, …Hanuman leaped from India to Ceylon in one bound; tore trees, carried away the Himalayas, seized the clouds and performed many other wonderful exploits… – John Dowson.
HANUMAN, HANUMAT, HANÜMAT. A celebrated monkey chief. He was able to fly and is a conspicuous figure in the Ramayana, …Hanuman leaped from India to Ceylon in one bound; tore trees, carried away the Himalayas, seized the clouds and performed many other wonderful exploits… Among his other accomplishments, Hanuman was a grammarian; and the Ramayana says: “The chief of monkeys is perfect; no one equals him in the sastras, in learning, and in ascertaining the sense of the scriptures (or in moving at will). It is well known that Hanuman was the ninth author of grammar.
John Dowson in A Classical Dictionary of Hindu Mythology, quoted in: Octavio Paz “The Monkey Grammarian”
Hanuman represents the inner life that the confrontation with dukkha opens up. But his job is to help differentiate pure desire from the clinging that tends to obscure it. Hanuman’s exploits fill the central part of the Ramayana.
Mark Epstein in: Open to Desire: The Truth About What the Buddha Taught, Penguin, 5 January 2006, p. 26.
For some it is primarily a story of devotion centering on the monkey-god Hanuman, who is something of a trickster but who is completely at the service of Rama, saving his life and rescuing his wife from the evil demons.
Mark Epstein in: “Open to Desire: The Truth About What the Buddha Taught”, p. 22.
Hanuman, the embodiment of devotion, brings Sita’s jewels to Rama and then takes a gold ring back to her as a symbol of Rama’s unflagging love, a ring given to him by Sita’s father at the time of their marriage. Sita welcomes Hanuman, takes the ring and gives him one more jewel, a pearl mounted on a gold leaf that her father had tied to her hair on the day of the wedding. She refuses Hanuman’s offer to fly back to Rama, insisting he come to free her himself…Rama is able to free Sita only by securing the help of Hanuman. Hanuman, the monkey-god, son of the wind, is the bridge between the two lovers, the vehicle that helps them.
Mark Epstein in: “Open to Desire: The Truth About What the Buddha Taught”, p. 25

…After leaping to Lanka Hanuman discovers the captive Sita surrounded by rakshasas in the Ashoka grove, but she insists on being rescued by her husband…Kirsti Evans.
Grief-stricken Rama meets a tribe of vanaras whose chief Sugriva and eloquent minister Hanuman become Rama’s devoted helpers in the task of rescuing the princess [Sita]. After leaping to Lanka Hanuman discovers the captive Sita surrounded by rakshasas in the Ashoka grove, but she insists on being rescued by her husband. Hanuman reports to Rama who assembles an army of Vanaras and crosses to Lanka where the final battle is fought between the heroes and the rakshasas.
Kirsti Evans in: Epic Narratives in the Hoysaḷa Temples: The Rāmāyaṇa, Mahābhārata, and Bhāgavata Purāṇa in Haḷebīd, Belūr, and Amṛtapura, BRILL, 1997, p. 37

The divine name Rama was not only on the lips of Hanuman; He was enthroned in his heart. Rama gave Hanuman exhaustless strength… – Mahatma Gandhi.
The divine name Rama was not only on the lips of Hanuman; He was enthroned in his heart. Rama gave Hanuman exhaustless strength. In Rama’s strength Hanuman lifted the mountain and crossed the ocean. It is faith that steers us through the stormy seas, faith that moves mountains, and faith that jumps across the ocean. That faith is nothing but a living, wide-awake consciousness of God within. He who has achieved that faith wants nothing.
Mahatma Gandhi in: Charles F. Andrews Mahatma Gandhi: His Life , and Ideas, Jaico Publishing House, 2005, p. 38

…Hanuman is mentioned as an avatar of Shiva or Rudra in the Sanskrit texts and was the son of Anjana, an Apsara cursed to be born as a monkey and Kesari, after the couple performed intense prayers to Shiva to get a child. According to a story, when Anjana, was worshipping Shiva, king Dasharatha of Ayodhya was also performing penances for having children. The prasad (portion of the offerings) he received was to be shared by his three wives. A kite snatched a part of the Prasad and dropped it near Anjana. Vayu, the Hindu deity, caught it before it fell to the ground and delivered into the outstretched hands of Anjana, who consumed it leading to the birth of Hanuman… – Ashok Kumar Jha
Son of the wind the epithet refers to Hauman a Hindu deity, who was an ardent devotee of Rama. Hanuman is mentioned as an avatar of Shiva or Rudra in the Sanskrit texts and was the son of Anjana, an Apsara cursed to be born as a monkey and Kesari, after the couple performed intense prayers to Shiva to get a child. According to a story, when Anjana, was worshipping Shiva, king Dasharatha of Ayodhya was also performing penances for having children. The prasad (portion of the offerings) he received was to be shared by his three wives. A kite snatched a part of the Prasad and dropped it near Anjana. Vayu, the Hindu deity, caught it before it fell to the ground and delivered into the outstretched hands of Anjana, who consumed it leading to the birth of Hanuman. So he is also called the son of vayu, while still being considered as an incarnation of Rudra (Shiva). He is a central character in the epic Ramayana and also finds mention in several other texts, including Mahabharata, the various Puranas and some Jain texts. Hanuman is worshipped by villagers as a boundary guardian, by Shaiva ascetics as a yogi, and by wrestler for his strength.
Ashok Kumar Jha in:Meghadutam: Translated into English in vers libre, Partridge Publishing Singapore, 8 July 2013, p. 85.
Our road lay through the bazaar, close to a little temple of Hanuman, the Monkey god, who is a leading divinity worthy of respect. All gods have good points, just as have all priests. Personally, I attach much importance to Hanuman, and am kind to his people – the great grey apes of the hills. One never knows when one may want a friend.
Rudyard Kipling in “Mark of the Beast” quoted in: Joseph Black et al. The Broadview Anthology of British Literature: The Victorian Era,Broadview Press, p. 779.
Hanuman Monkey-headed Hindu god originally appears in the Ramayana, the earlier of the two great Indian epics, where he is described as a minister of the monkey king Sugriva and a devoted servant of Rama, the god-king who is the epics protagonist.
James G. Lochtefeld in: The Illustrated Encyclopedia of Hinduism: A-M, The Rosen Publishing Group, 2002, p. 271

After his birth the infant Hanuman is continuously hungry, and one day he attempts to eat the sun. Indra, the king of gods and ruler of heaven, is incensed at Hanuman’s action and strikes the infant with a thunderbolt, breaking his jaw (hanu)… -James G. Lochtefeld.
After his birth the infant Hanuman is continuously hungry, and one day he attempts to eat the sun. Indra, the king of gods and ruler of heaven, is incensed at Hanuman’s action and strikes the infant with a thunderbolt, breaking his jaw (hanu). Vayu become very angry upon learning of his son’s injury and ceases to perform his usual activities. Since in Indian physiology winds are responsible for all internal functions- including digestion, respiration, and elimination – Yavu’s strike means that no one can live a normal life. After a short time the gods realize their predicament and beg Vayu for forgiveness; he is placated when each of the gods promise to give Hanuman a divine gift. By virtue of these divine gifts, Hanuman gains great powers. He is immensely strong and his image portrays him with bulging muscles. He is also skilled as a healer, both through his skill with herbs and natural medicines, and his magical abilities to protect people from evil supernatural beings. Among his most unusual divine gifts are the power to live as long as he likes and to chose the time of his death.
James G. Lochtefeld in: “The Illustrated Encyclopedia of Hinduism: A-M”, p. 271.
Hanuman Jayanti is a Hindu holiday that celebrates the birth of Hanuman, the popular deity who appears as a monkey. Actually, he is of the vanara, the race of ape-like humanoids who play a prominent role in the India epic Ramayana. The vanaras were created by the gods to assist the deity Rama.in his battle against the demon Ravana. Hanuman led the vanara in the fight against Ravana.
J. Gordon Melton, Martin Baumann in: Religions of the World: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices [6 volumes: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices], ABC-CLIO, 21 September 2010, p. 1310

Watercolour painting on paper of Rāma and Lakṣmaṇa meeting Hanumān at Rishyamukha, the residence of Sugriva. Rāma and Laksmana are shown wearing dhoti’s with animal skins covering their shoulders. They hold bow and arrows in their hands and have their hair tied in a top knot on their heads… -British Museum.
Watercolour painting on paper of Rāma and Lakṣmaṇa meeting Hanumān at Rishyamukha, the residence of Sugriva. Rāma and Laksmana are shown wearing dhoti’s with animal skins covering their shoulders. They hold bow and arrows in their hands and have their hair tied in a top knot on their heads. They face towards a male figure wearing a pink dhoti with a green shawl. He has a shaven head and raises his hands in anjali mudra. Behind the three figures is a staircase which leads up to a city on top of a mountain, Rishyamukha. On the edges of the staircase kneel monkeys wearing golden hats. In the centre of the city is a large building with a golden roof and a large red flag flying. The painting is surrounded by a black border.
British Museum in: Collection online, The British Museum.

… describing his visit to the grove of the palace of Rāvana. He compares its rhetoric to a page of indecipherable calligraphy and thinks: the difference between human writing and divine consists in the fact that the number of signs of the former is limited, whereas that of the latter is infinite; hence the universe is a meaningless text, one which even the gods find illegible… – Octavio Paz.
The Great Monkey closes his eyes, scratches himself again and muses: before the sun has become completely hidden — it is now fleeing amid the tall bamboo trees like an animal pursued by shadows — I shall succeed in reducing this grove of trees to a catalogue. A page of tangled plant calligraphy. A thicket of signs: how to read it, how to clear a path through this denseness? Hanumān smiles with pleasure at the analogy that has just occurred to him: calligraphy and vegetation, a grove of trees and writing, reading and a path. Following a path: reading a stretch of ground, deciphering a fragment of world. Reading considered as a path toward… The path as a reading: an interpretation of the natural world? He closes his eyes once more and sees himself, in another age, writing (on a piece of paper or on a rock, with a pen or with a chisel?) the act in the Mahanātaka describing his visit to the grove of the palace of Rāvana. He compares its rhetoric to a page of indecipherable calligraphy and thinks: the difference between human writing and divine consists in the fact that the number of signs of the former is limited, whereas that of the latter is infinite; hence the universe is a meaningless text, one which even the gods find illegible. The critique of the universe (and that of the gods) is called grammar… Disturbed by this strange thought, Hanumān leaps down from the wall, remains for a moment in a squatting position, then stands erect, scrutinizes the four points of the compass, and resolutely makes his way into the thicket.
Octavio Paz in: The Monkey Grammarian, English-language translation, Seaver Books, 1981.
The gods were my superheroes growing up. Hanuman, the monkey god, lifting an entire mountain to save his friend Lakshman. Ganesha the elephant headed, risking his life to save the honor of his mother Pārvati.
“Pi Patel” in Life of Pi (2012), based on the 2001 novel by Yann Martel Vishnu, Rudyard Kipling in The Mark Of The Beast And Other Fantastical Tales , Hachette UK, 11-Nov-2010.
Tulsidas wrote 12 books, but, by far, the most important is the Ramacharitamanas (the holy Lakes of the Acts of Ram), a Ramayana written in old Hindi (Avadhi) couplets. The book was written under the direction of Hanuman himself. It is read all over North India, and particularly during the time of the Ramlila. It is sung aloud in large groups for devotional purposes.
Constance Jones, James D. Ryan in: Encyclopedia of Hinduism, p. 457.
Devanagari:
यत्र यत्र रघुनाथकीर्तनं तत्र तत्र कृतमस्तकाञ्जलिम् ।
बाष्पवारिपरिपूर्णलोचनं मारुतिं नमत राक्षसान्तकम् ॥
Hunterian:
yatra yatra raghunāthakīrtanaṃ tatra tatra kṛta mastakāñjalim ।
bāṣpavāriparipūrṇalocanaṃ mārutiṃ namata rākṣasāntakam ॥
English translation:
Bow down to Hanumān, who is the slayer of demons, and who is present with head bowed and
eyes full of flowing tears wherever the fame of Rāma is sung.
Ramaayana in: Satsang e- letter: Issue 19:6th April – Hanuman Jayanti, Swaminarayan.info.org, April 2012.
Indeed, I hadn’t dared to think of that, but yes, indeed, when you read the Ramayana you’ll come across the story of Hanuman on which I built my version of that very old myth…I love Friend Monkey. I love the story of Hanuman. For many years, it remained in my very blood because he’s someone who loves too much and can’t help it. I don’t know where I first heard of him, but the story remained with me and I knew it would come out of me somehow or other. But I didn’t know what shape it would take.
P. L. Travers in: Interviews: P. L. Travers, The Art of Fiction No. 63, The Paris Review

Lord Ram gave Hanuman a quizzical look and said, “What are you, a monkey or a man?” Hanuman bowed his head reverently, folded his hands and said, “When I do not know who I am, I serve You and when I do know who I am, You and I are One”. – Tulsidas.

…With the dust of guru’s lotus feet having,
I cleanse the mirror of my soul sparkling,
Raghuvar’s spotless glory I be singing,
The four fruits of life it ever is giving. – Tulsidas.
Lord Ram gave Hanuman a quizzical look and said, “What are you, a monkey or a man?” Hanuman bowed his head reverently, folded his hands and said, “When I do not know who I am, I serve You and when I do know who I am, You and I are One”.
Tulsidas from Ramcharitmanas quoted in: The Temporary World, Schenectady Hindu Temple.org
Poem from Hanuman Chalisa in Devanagari:
॥दोहा॥
श्रीगुरु चरन सरोज रज, निज मनु मुकुरु सुधारि।
बरनउँ रघुबर बिमल जसु, जो दायकु फल चारि॥
English translation:
Doha:
With the dust of guru’s lotus feet having,
I cleanse the mirror of my soul sparkling,
Raghuvar’s spotless glory I be singing,
The four fruits of life it ever is giving.
Tulsidas in: Munindra Misra Chants of Hindu Gods and Godesses in English Rhyme, Partridge Publishing, 7 March 2014, p. 128.
Poem from Hanuman Chalisa in Devanagari:
॥दोहा॥
बाल समय रबि भक्षि लियो तब तीनहुँ लोक भयो अँधियारो।
ताहि सों त्रास भयो जग को यह संकट काहु सों जात न टारो।
देवन आनि करी बिनती तब छाँड़ि दियो रबि कष्ट निवारो।
को नहिं जानत है जग में कपि संकटमोचन नाम तिहारो॥१॥
English translation:
Doha:
When as a child you lapped the sun, darkness on triple world fell,
The worlds so got into trouble and a crisis that none could dispel,
Gods then prayed to you to spare the sun and you did so quell,
Who doesn’t know in this world your name `Problem Solver’ bells?
Tulsidas in: Munindra Misra “Chants of Hindu Gods and Godesses in English Rhyme”

Eka-Nishtha or devotion to one ideal is absolutely necessary for the beginner in the practice of religious devotion. He must say with Hanuman in the Râmâyana, though I know that the Lord of Shri and the Lord of Jânaki are both manifestations of the same Supreme Being, yet my all in all is the lotus-eyed Râma. -Swami Vivekananda.
There is a story of Hanumân, who was a great worshipper of Râma. Just as the Christians worship Christ as the incarnation of God, so the Hindus worship many incarnations of God. According to them, God came nine times in India and will come once more. When he came as Rama, this Hanuman was his great worshipper. Hanuman lived very long and was a great Yogi. During his lifetime, Rama came again as Krishna; and Hanuman, being a great Yogi, knew that the same God had come back again as Krishna. He came and served Krishna, but he said to him, “I want to see that Rama form of yours”. Krishna said, “Is not this form enough? I am this Krishna; I am this Rama. All these forms are mine”. Hanuman said, “I know that, but the Rama form is for me. The Lord of Jânaki (Janaki is a name of Sitâ.) and the Lord of Shri Shri is a name of Laksmi.) are the same. They are both the incarnations of the Supreme Self. Yet the lotus-eyed Rama is my all in all”. This is Nishtha — knowing that all these different forms of worship are right, yet sticking to one and rejecting the others. We must not worship the others at all; we must not hate or criticize them, but respect them.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 9/Lectures and Discourses/Bhakti-Yoga, Wikisource.
A great Bhakta [Devotee] (Hanuman) once said when asked what day of the month it was, “God is my eternal date, no other date I care for.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 7/Inspired Talks/Monday, July 1, Wikisource.
As on the one hand Hanuman represent the ideal of service, so on the other hand he represents leonine courage, striking the whole world with awe. He has not the least hesitation in sacrificing his life for the good of Rama. A supreme indifference to everything except the service of Rama, even to the attainment of the status of Brahma and Shiva, the great World – gods! Only the carrying out of Shri Rama’s best is the one vow of this life! Such whole – hearted devotion is wanted.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda by Swami Vivekananda Volume 7, Conversations And Dialogues, Wikisource.
Eka-Nishtha or devotion to one ideal is absolutely necessary for the beginner in the practice of religious devotion. He must say with Hanuman in the Râmâyana, though I know that the Lord of Shri and the Lord of Jânaki are both manifestations of the same Supreme Being, yet my all in all is the lotus-eyed Râma.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 3/Bhakti-Yoga/The Chosen Ideal, Wikisource.
Hanuman, the best of the monkeys, became the most faithful servant of Rama and helped him in rescuing Sita.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 4/Lectures and Discourses/The Ramayana, Wikisource.
Hanuman, the devotee of Rama, summed up his philosophy in these words: When I identify myself with the body, O Lord, I am Thy creature, eternally separate from Thee. When I identify myself with the soul, I am a spark of that Divine Fire which Thou art. But when I identify myself with the Atman, I and Thou art one.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 8/Lectures And Discourses/Discourses On Jnana-Yoga, Wikisource.
His devotion to Rama was so great that he is still worshipped by the Hindus as the ideal of a true servant of the Lord.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 4/Lectures and Discourses/The Ramayana, Wikisource.
In the course of the article I described the ‘god’ worshiped by terrorists as ‘a monkey god.’ I was wrong and that was offensive. I owe an apology to millions of Hindus who worship Lord Hanuman, an actual Monkey God… Hanuman is worshiped as a symbol of perseverance, strength and devotion. He is known as a destroyer of evil and to inspire and liberate. Those are hardly the traits of whatever the Hell (literally) it is that terrorists worship and worthy of my respect and admiration not ridicule.
Mark Williams (radio host) in: Samuel Goldsmith Tea Party Express leader Mark Williams says ‘sorry’ – to Hindus – for slamming Muslim’s ‘monkey god’, Daily News, 20 May 2010.
If you be very generous, you may think that like the great devotee, Hanuman.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 7/Translation of writings/Memoirs of European Travel, Wikisource.
Raganuga Bhakti is of five kinds: (1) Shanta [peace] as illustrated by the religion of Christ; (2) Dasya as illustrated by that of Hanuman to Rama; (3) Sakhya [friendship] as illustrated by that of Arjuna to Shri Krishna; (4) Vatsalya [affection] as illustrated by that of Vasudeva to Shri Krishna; (5) Madhura (that of the husband and wife) in the lives of Shri Krishna and the Gopikas.
Swami Vivekananda in: The Complete Works of Swami Vivekananda/Volume 6/Notes Of Class Talks And Lectures/Notes Taken Down In Madras, 1892-93, Wikisource.

—————————–

 

Design a site like this with WordPress.com
Get started