TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑
TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI
TUONG NGON PHA NGHI
象 言 破 疑

 

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑
TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI 

TUONG NGON PHA NGHI
象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑
TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI
TUONG NGON PHA NGHI
象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

NGỘ NGUYÊN LÃO NHÂN trước tác

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch

 
MỤC LỤC

Tượng ngôn phá nghi tự

QUYỂN THƯỢNG

Thuận nghịch thuyết
Dược Vật Thuyết
Hỏa Hầu thuyết

QUYỂN HẠ

Phá nghi thi
Huyền tẫn chân khiếu thuyết
Tu chân yếu quyết

—————————-

Tượng ngôn phá nghi tự

象 言 破 疑 序

Đơn kinh vạn quyển giai Tượng Ngôn dã. Tượng Ngôn giả phi Chân Ngôn, phi minh ngôn, phi không ngôn, phi dị ngôn, nãi hữu vật, hữu tắc ngôn chỉ hữu chứng, thủ tượng diễn trực chi ngôn. Hậu nhân bất cứu kỳ ý, chỉ chấp kỳ tượng. Tại Nho giả độc chi dĩ vi quái đản bất kinh, tại Đạo giả độc chi dĩ vi bao bì ngoại tượng. Thậm chí hữu chấp tượng sai nghi, bách ban tố tác, lưu ư khúc kính tà hành, tự thương Tính Mệnh giả bất khả mai cử. Hi! thị khởi cổ nhân tiên hiền, thủ tượng lập ngôn chi ý hồ.

Dịch viết: Pháp tượng mạc đại hồ thiên địa, biến thông mạc đại hồ tứ thời, huyền tượng trứ minh mạc đại hồ nhật nguyệt [1]. Đơn kinh giai bản Chu Dịch nhi tác. Kỳ Dược Vật, Hỏa Hầu câu tá Thiên Địa, nhật nguyệt, tứ thời dĩ phát huy kỳ áo diệu. Nhược dĩ Đơn Kinh Tượng Ngôn vi quái đản, vi bao bì. Dịch hữu phong vân, lôi điện, long hổ, ngưu mã, lộc dương, qui trĩ chi tượng.

Phù: Diễu năng thị, bí năng lý [2], Thừa kỳ Dung [3], Bằng hạp trâm [4], Phệ phu diệt tị [5], Khốn ư Chu Mộc [6], Tải quỉ nhất phương [7], Sĩ khuê dương vô huyết [8] đẳng tượng. Diệc tương dĩ vi quái đản bao bì hồ? Bi phù chính đạo thất truyền dĩ cửu, bất tự kim thủy. Dư tự ngộ Chân sư chi hậu, thủ chư gia đơn kinh, bỉ thử tham trước, thật hữu đắc hồ tượng ngôn chi ý. Nhân tương sở đắc ư sư giả, tận tiết ư tham ngộ xiển chân nguyên chỉ đẳng thư chi nội. Do khủng học giả nan ư quán thông, hựu trước Tượng Ngôn Phá Nghi nhất thư, hội đồ họa tượng, tế phân thị phi, tảo bàng môn nhi chỉ chính Đạo, tức tà thuyết nhi biện chân tông. Thử tắc Dư chi bản nguyện. Kiến thị thư giả, đương tư tử nhân diệc năng thuyết sinh thuật, vật dĩ tao phách tiếu khí vi hạnh thậm.

Thời:

Gia Khánh thập lục niên (1811), Tân Mùi, Xuân Vương Chính Nguyệt, Thê Vân Sơn Tố Phác Lão Tẩu, Ngộ Nguyên Tử Lưu Nhất Minh tự tự ư Tẩy Tâm Đình.

象 言 破 疑 序

丹 經 萬 卷 皆 象 言也 . 象 言 者 非 真 言, 非 明 言, 非 空 言, 非 異 言, 乃 有 物, 有 則 言 指 有 証, 取 象 演 直 之 言 後 人 不 究 其 意, 止 執 其 象. 在 儒 者 讀 之 以 為 怪 誕 不 經, 在 道 者 讀 之 以 為 包 皮 外 象. 甚 至 有 執 象 猜 疑 百 般 做 作, 流 於 曲 徑 邪 行, 自 傷 性 命 者, 不 可 枚 舉. 咦是 豈 古 聖 先 賢, 取 象 立 言 之 意 乎.

易 曰: 法 象 莫 大 乎 天 地, 變 通 莫 大 乎 四 時, 懸 象 著 明 莫 大 乎 日 月. 丹 經 皆 本 周 易 而 作. 其 藥 物 火 候 俱 借 天 地, 日 月, 四 時 以 發 揮 其 奧 妙. 若以 丹 經 象 言 為 怪 誕 為 包 皮. 易 有 風 雲, 雷 電, 龍 虎, 牛 馬, 鹿 羊, 龜 雉 之 象.

夫 眇 能 視, 跛 能 履, 乘其 墉, 朋 盍 簪, 噬 膚 滅 鼻, 困 於 株 木, 載 鬼 一 方, 士 刲 羊 無 血 等 象. 亦 將 以 為 怪 誕 包 皮 乎 ? 悲 夫 正 道 失 傳 以 久, 不 自 今 始.余 自 遇 真 師 之 後, 取 諸 家 丹 經, 彼 此 參 著, 實 有 得 乎 象 言 之 意.因 將 所 得 於 師 者, 盡 洩 於 參 悟 闡 真 原 旨 等 書 之 內. 猶 恐 學 者 難 於 貫 通, 又 著 象 言 破 疑 一 書 繪 圖 畫 像, 細 分 是 非, 掃 旁 門 而 指 正 道, 息 邪 說 而 辯 真 宗.此 則 余 之 本 願. 見 是 書 者, 當 思 死 人 亦 能 說 生 術, 勿 以 糟 粕 笑 棄 為 幸 甚.

嘉 慶 十 六 年 辛 未春 王 正 月 棲 雲 山 素 樸 老 叟 悟 元 子 劉 一 明 自 敘 於 洗 心 亭.

——————

Xem những chú thích ở: –

[1] Nguyễn Văn Thọ, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 3, Hệ Từ Thượng, Chương XI, tiết 7, tr. 489.

[2] Hào Lục Tam quẻ Lý, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 161.

[3] Hào Cửu Tứ quẻ Đồng Nhân, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 194.

[4] Hào Cửu Tứ quẻ Dự, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 225.

[5] Hào Lục Nhị quẻ Phệ Hạp, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 269.

**********************         

QUYỂN THƯỢNG

Thuận nghịch thuyết
Dược Vật Thuyết
Hỏa Hầu thuyết

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN LÃO NHÂN TRƯỚC

棲 雲 山 悟 元 老 人 著

MÔN NHÂN NGỤY DƯƠNG THÀNH KHAN TỬ

門 人 魏 陽 誠 刊 梓

HẬU HỌC LƯU BỐC VÂN TRÙNG KHAN

後 學 劉 卜 人 重 刊

Tu chân chi đạo, sách xưa thường nói tới đạo Vô Vi, mà ít nói tới Đạo Hữu Vi. Vả Đạo Vô Vi thì chỉ có những bậc thượng trí mới đốn ngộ viên thông nó được. Biết một thông trăm lập tức bước lên thánh vức. Còn những hạng Trung Hạ, thì Tính Chất Ngu Độn, căn trần nặng nề, kiến thức hẹp hòi, nếu theo đạo Vô Vi thì lực lượng không bắt kịp, nên ắt không thể vạn duyên câu không, trực đăng bỉ ngạn.

Ngụy Bá Dương tiên ông đời Hậu Hán chuẩn theo Kinh Dịch mà soạn ra bộ Tham Đồng Khế, dẫn dắt những người bậc Trung, bậc Hạ, lấy Hữu Tượng thí dụ vô tượng, lấy hữu hình dụ vô hình, nên bắt đầu mới có danh từ Kim Đơn, Duyên Hống, Sa Ngân, Ô Thố, Long Hổ, Anh Xá, Dược Vật, Lô Đỉnh, Phanh Luyện. v.v…

Phép Pháp Tượng bắt đầu từ đó, và thành ra như một Đạo. Các vị Chân Nhân đều lấy Tham Đồng Khế làm tổ kinh mà soạn ra Đơn Kinh, bàn rõ Diệu Lý. Ý các Ngài dạy cho Hậu Học thấy cái này suy ra cái kia, mượn cái này chứng cái nọ.

Nếu học giả không tìm hiểu ý của ngụ ngôn, không biết lý của phép thủ tượng, thấy nói Kim Đơn, Duyên Hống, Lô Đỉnh thì nghĩ ngay đến ăn uống (phục thực) và cứ lo về Lô Hỏa; thấy nói Ô Thố, Long Hổ thì nghĩ là Tạng Phủ, và chuyên lo Tồn Tưởng; thấy nó Nhà Người, Nhà Ta, Nam Nữ, thì tưởng là Khuê Đơn (chuyện phòng the) nên lo Thái Thủ; thấy nói Nghịch Thuận Điên Đảo thì nghĩ là Cưỡng Tác, và nghĩ đến Vận Chuyển; thấy nói Tu Tính Vô Vi chi thuyết, thì nghĩ ngay đến Tịch Diệt và chủ trương Ngoan Không; thấy nói Tu Mệnh là Hữu Vi chi thuyết thì nghĩ là Bãi Lộng, và lo Chấp Tướng v.v…

Tất cả đều là thấy hươu tưởng ngựa, thấy chim tưởng loan, không những vô ích cho Tính Mệnh, mà còn làm hại Tính Mệnh nữa. Đó đâu phải ý của tổ sư khi lập ra phép Thủ Tượng Dụ Ngôn đâu?

Tượng là Tượng Hình. Nói vật này mà tượng là vật khác, nói vật kia mà tượng vật này.

Ví dụ lấy chuyện mắt thấy nhãn tiền, mọi người đều hay biết mà luận, ví dụ như nấu nướng đồ ăn, thì cái Nồi là Đỉnh, Bếp là Lò. Trong nồi chứa nước, dưới bếp đốt lửa. Lửa bốc lên, nước chảy xuống. Để cho nước trong nồi ở trên, để cho lửa dưới bếp ở dưới. Thế là Thủy Hỏa điên đảo, hai bên tương tế, nhờ vậy mà đồ ăn mới chín. Phàm thủy phàm hỏa giúp nhau là như vậy.

Ở nơi con người cương tính thì khô táo và động. Cho nên động thời thuộc Hỏa.Nhu Tính thời hoãn và Tĩnh. Tĩnh thuộc thủy. Dùng Nhu để dưỡng Cương, dùng Cương để đến với Nhu. Cương Nhu tương đáng không táo không hoãn, trở về trung chính, đại đạo dễ thành.

Đó là cái lý của Thần Thủy Thần Hỏa tương tế. Lấy cái tượng của Phàm Thủy Phàm Hỏa tương tế mà ví dụ cái Lý của Thần Thủy Thần Hỏa tương tế, làm cho cái Lý ấy trở thành hiển nhiên vậy.

Lại như một người vốn có gia tài sản nghiệp phong phú, mà không biết an phận lại phá tán hết gia tài. Rồi hốt nhiên tự tri hối quá, khổ tâm lao lực trùng vụ sinh hoạt, dần dần tích tụ được tài vật, từ ít đến nhiều, cuối cùng tất phục hồi lại được gia nghiệp, thế là Hoàn Nguyên Phản bản được gia sản cũ.

Con người vốn có Tinh Thần, Linh Khí viên mãn, đầy đủ; khi giao vào Hậu Thiên, thuận chiều Tạo Hóa, phí Tinh, lao Thần, Nguyên Khí suy bại, Nguyên bản tiêu hao cho đến hết, nếu biết cải đầu hoán diện, trừng phẫn, trật dục, nhàn tà tồn thành, tiệm thứ dụng công, cuối cùng sẽ qui căn phục mệnh. Đó là Lý của Hoàn Nguyên Phản bản. Dùng cái tượng của Hoàn Nguyên Phản Bản, để ví dụ cái Lý của Hoàn Nguyên phản bản, làm cho cái Lý trở nên Hiển Nhiên vậy.

Lại như thế gian nam nữ tương phối, đôi bên hợp nhất, nên mới sinh con, sinh cháu. Thế là cái tượng Sinh Sinh của nhân loại, dùng để ví dụ cái Lý Sinh Sinh của Đơn Đạo, làm cho cái Lý trở nên hiển nhiên vậy.

Đơn Kinh chuyên dùng Tượng để ví dụ Lý, dạy người từ Tượng mà suy ra cái lý của sự việc, chứ không dạy người đi ngược với Chân Lý, rồi cứ bám vào tượng mà hoạt động, làm cho mọi người không chịu tìm cho ra nghĩa lý, chỉ nhận biết có tượng. Buồn thay!

Đơn kinh dùng Tượng thật nhiều. Học giả nên từ Tượng tìm cho ra nghĩa lý, mà được tượng thì phải quên lời, hiểy ý thì phải quên tượng, như vậy mới được.

Thuận nghịch thuyết:

Người thế gian chỉ biết Thuận hành mà không biết Nghịch Vận. Thế nào là Thuận? Thuận là thuận theo Tạo Hóa. Thế nào là Nghịch? Nghịch là đi ngược Tạo Hóa.

Tạo hóa là sinh nhân, sinh vật, sinh lão bệnh tử, luân hồi không ngừng, Nghịch Tạo Hóa là thành Tiên, thành Phật, bất sinh bất diệt, thọ cùng Trời Đất.

Con người từ khi thành thai sinh thân về sau, hai tám số đủ, giao vào Hậu Thiên, trong thì Thất tình Lục dục làm mê cái Chân, ngoài thì Vạn Duyên Vạn Sự làm mệt cái Hình, nhận Giả làm Chân, lấy Tà làm Chính, coi Khổ làm Sướng, thuận theo sở dục, không gì không làm, đem Tinh, Khí, Thần tam bảo bản lai của mình, tiêu hao cho hết. Làm cho Chân Tính viên minh của mình bị lu mờ đi. Đến khi khí nơi yết hầu bị đứt đoạn, mà cũng không biết ngừng nghỉ, cho nên bị Sinh Sinh, Tử Tử vạn kiếp trầm luân, cho nên nói Diêm La không gọi mà mình tự đến nộp mạng.

Còn những bậc Đại Trí Tuệ, thì nghịch vận Tạo Hóa, không để cho tạo hóa câu thúc, không để cho Âm Dương hun đúc, không để cho vạn vật khiên dẫn, không dễ cho vạn duyên khiên di, trong lửa trồng sen, trong bùn chèo thuyền, mượn thế pháp để tu đạo pháp, y nhân đạo để toàn Thiên Đạo, đem vạn kiếp căn trần vứt bỏ đi, quét sạch mọi khách khí, mệnh do ta làm chủ không do Trời, trở lại bộ mặt Càn Nguyên xưa của ta, thoát Luân Hồi siêu xuất Tam Giới, trở thành Kim Cương bất hoại chi vật.

Vả trong chiều Thuận của Tạo Hóa mà vẫn vận dụng được Chiều Nghịch, có khẩu truyền tâm thụ hẳn hoi, thì ắt phải có Chân Sư điểm hóa, không thể tự nhiên mà biết. Học giả thế gian tự phụ vào ánh sáng đom đóm của mình, lại nhìn qua ống quản, chỉ biết vài thoại đầu, nhớ vài Công Án, mà đã cho mình là Biết Đạo, không chịu hỏi han ai, chỉ dùng mấy lời loạn đàm nơi cửa mồm, như người mù dẫn bọn mù, thật là tội lỗi.

Lại như một kẻ hồ đồ, không nhận được Chân Sư, sáng nói Vương chiều nói Lý. Học với hạng Tiểu Thừa, mà cho mình là có Đạo, dù có người hay trước mắt cũng không chịu hạ mình cầu học, làm bậy làm bạ.

Hoặc coi Tâm Khí hạ giáng, Thận Khí thượng thăng là Nghịch Hành, hoặc vận khí Hậu Thăng Tiền Giáng làm Nghịch Hành, hoặc coi Hoàn Tinh Bổ Não làm Nghịch Hành, hoặc coi Bế Khí Định Thần làm Nghịch Hành, hoặc Thái Âm bổ Dương làm Nghịch Hành, hoặc đàn bà nằm trên, đàn ông nằm dưới là Nghịch Hành, cứ như thế, trăm đường nghìn nẻo đều là đi Nghịch Thánh Đạo, không phài là Thuận Nghịch Tạo Hóa, không phải là Chí Sinh chi Đạo.

Có biết đâu rằng Nghịch là trở về với Phụ Mẫu Sinh Thân chi sơ, như người bỏ nhà đi xa, nay lại trở về nhà. Tuy nói là Nghịch Hành nhưng kỳ thật là đi theo đúng lý (thuận lý nhi hành), đó chính là Nghịch trung chi Đại Thuận. Chỉ vì nó đi ngược với đường lối của thế nhân, nên gọi là Nghịch vậy.

Bàng môn tả đạo, vì hiểu lầm chữ Nghịch, nên bày vẽ ra trăm nghìn công tác cho cái thân xác thịt này, để rồi ra đọa lạc vào không vong, Thật là ngu si vậy.

Dược Vật Thuyết:

Đơn kinh Tử thư nói tới Thái Dược để phanh luyện Kim Đơn đều là Tiên Thiên Vô Hình Vô Chất chi chân, không phải là Thế Gian Hữu Hình Hữu Chất chi dược, cũng không phải là vật gì hữu hình hữu chất trong thân thể con người.

Bởi vì từ sau khi con người sinh ra, đã Nhận Giả và đã Thất Chân, đem viên ngọc quí mình vốn có thủa ban đầu, tiêu hao cho đến hết. Trong con nghì chỉ còn toàn Âm chất và Tà Khí, như người mắc bệnh, chỉ còn chờ chết, nếu không có Linh Dược Chân Chính, thì làm sao biến Âm thành Dương, làm sao bảo toàn được Tính Mệnh?

Chân Chính Linh Dược 真 正 靈 藥 là gì? Đó là Tiên Thiên Nhất Khí 先 天一 氣 vậy. Là Tiên Thiên Tinh Khí Thần Tam Bảo 先 天 精 氣 神 三 寶 vậy, Tiên Thiên Chân Nhất chi khí  先 天真 一 之 氣 còn gọi là Chân Chủng Tử 真 種 子.

Cái Khí này không rơi vào Sắc Tượng, nó là Chí Vô nhưng hàm Chí hữu, Chí Hư nhưng hàm Chí Thực, nó là Chân Không Diệu Hữu 真 空 妙 有.

Nó thống nhiếp Tinh Khí Thần Tam Bảo.

Tam Bảo này cũng không phải là Hữu Hình Chi Vật. Nó là Vô Hình Chi Chân 無 形 之 真.

Ngọc Thiềm Ông viết:

Cái Tinh này không phải là Giao Cảm Tinh, mà là nước rải của Ngọc Hoàng, cái Khí này không phải là cái Khí Hô Hấp, mà là cái khói của Thái Tố, cái Thần này không phải cái Thần Tư Lự, nhưng nó sánh được với Nguyên Thủy.

Tuy chia thành Ba Nhà nhưng vẫn qui lại là một Tiên Thiên Nhất Khí, Tam gia hợp nhi thành Nhất Khí, Nhất Khí Phân nhi thành Tam Gia. Hái thuốc chính là hái cái Nhất Khí Tam Bảo đó.

Dùng Chân Hỏa Đoàn Luyện nó sẽ thành Đơn, nó sẽ điểm hóa cho tất cả Âm Khí trong ta biến thành Thuần Dương. Thanh Tịnh không dính bụi bặm trần ai.

Như người có bệnh dùng thuốc trị liệu cho thành người thường. Gọi là Dược Vật, là dùng phép Tượng Hình.

Hậu thế học giả thấy đơn kinh nói về Dược Vật, lầm tưởng là cái gì Hữu Hình Hữu Chất chi vật 有 形 有 質之 物, nên đi vào núi hái dược thảo, phối hợp mà dùng mơ tưởng sẽ được trường sinh, hoặc lấy Ngũ Kim Bát Thạch luyện thành Đơn Dược mà dùng, mơ tưởng sẽ bay bổng lên Trời.

Có biết đâu rằng Thuốc hữu hình chỉ chữa được những bệnh hữu hình, không thể chữa những bệnh vô hình.

Muốn chữa những bệnh vô hình nếu không lấy được Tiên Thiên Chân Nhất chi khí thì không có thuật nào khác vậy.

Tham Đồng Khế viết: Đồng loại dị thi công hề, phi chủng nan vi xảo 同 類 易 施 工 兮 非 種 難 為 巧.

Ngộ Chân Thiên viết:

Trúc phá tu tương trúc bổ nghi,

竹 破須 將 竹 補 宜

Bão kê đương dụng noãn vi chi.

抱 雞當 用 卵 為 之

Vạn ban phi loại đồ lao lực,

萬 般非 類 徒 勞 力

Tranh tự Chân Diên hợp thánh ky.

爭 似真 鉛 合 聖 機

Dịch:-

Đồ tre, muốn sửa phải dùng tre,

Muốn gà cần trứng, mới nên nghe!

Đồng loại chẳng dùng, hao phí sức,

Phải có Chân Diên mới hành nghề.

Chân Diên chính là Tiên Thiên Chân Nhất chi khí.

Đọc đoạn này xong, mới thấy tưởng phàm dược là tiên dược thật là sai lầm vậy.

Hỏa Hầu thuyết:

Đơn Kinh Tử Thư đều nói đến Hỏa Hầu, để ví dụ Công Phu và Thứ Tự Chuẩn Tắc tu trì. Vì Công Phu Tu Trì có trước có sau, có nhanh có chậm, có tiến, có thoái. Đáng đi trước mà lại đi sau, đáng đi sau mà lại đi trước, đáng nhanh lại chậm; đáng chậm lại nhanh; đáng tiến, lại thoái, đáng thoái lại tiến; lại như lửa trong lò, có Văn Hỏa, có Vũ Hỏa, có lúc phải ngừng.

Cho nên cái thứ tự trong việc Tu Chân, nói theo Tượng thì là Hỏa Hầu. Vả dụng công Hỏa Hầu, không kể năm tháng, ngày giờ. Khắc khắc hành nó, đáng trước thì trước, đáng sau thì sau, đáng nhanh thì nhanh, đáng chậm thì chậm, đáng tiến thì tiến, đáng thoái thì thoái, tùy thời biến thông, tóc tơ không nhầm. Đáng trước thì trước nghĩa là trước hết phải nghiêm bên trong; đáng sau nghĩa là phải đề phòng bên ngoài; đáng nhanh là phải nhanh khi dụng công; đáng chậm là chậm khi ôn dưỡng; đáng tiến là khi Dương chưa đủ thì phải tiến; đáng thoái là khi Âm vừa sinh thì phải thoái Âm.

Đó là Thực Lý về Hỏa Hầu. Chứ không phải là như Công gia nói:Tí thời tiến Dương Hỏa, Ngọ thời thoái Âm Phù, Mão Dậu nhị thời nghi Mộc Dục; cũng không phải là Đông Chí tiến Dương Hỏa, Hạ Chí thoái Âm Phù; Xuân Phân Thu Phân thời Mộc Dục. Vả Trời có Tí Ngọ Mão Dậu; Người có Tí Ngọ Mão Dậu, chứ đâu phải Tí Ngọ Mão Dậu của Trời là Tí Ngọ Mão Dậu của người.

Trong con người lúc nào cũng có Tí Ngọ Mão Dậu.

Cổ Kinh nói: «Bất tất Thiên biên tầm Tí Ngọ, Thân trung tự hữu nhất Dương sinh» 不 必 天 邊 尋 子 午, 身 中 自 有 一 陽 生. Vả coi Dương sinh là Tí, coi Âm sinh là Ngọ, Dương với Âm hợp nhau là Mão, Âm với Dương hợp nhau là Dậu, nên gọi là Hoạt Tí, Ngọ, Mão, Dậu vậy. Đâu phài là Tí Ngọ Mão Dậu chết trên khung Trời đâu? Sách Kim Đơn Tứ Bách Tự viết: «Hỏa Hầu không có thời, Đông Chí không tại Tí, cũng như nói Mộc Dục là Mão Dậu chỉ là cách so sánh mà thôi.»

Ngộ Chân Thiên nói:

Tổng thức Chu Sa dữ Hắc Diên,

總 識朱 砂 與 黑 鉛

Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn,

不 知火 候 也 如 閑

Đại đô toàn tạ tu trì lực,

大 都全 藉 修 持 力

Hào phát sai thù bất kết đơn.[1]

毫 髮差 殊 不 結 丹

Dịch:-

Nếu biết Chu Sa với Hắc Đơn,

Hỏa hầu không biết cũng như không.

Chung qui toàn dụng tu trì lực,

Nếu sai tơ tóc, sẽ hỏng Đơn.

Nói Đông Chí không tại Tí, thì Mão Dậu cũng là cách so sánh chơi mà thôi. Nói Hào Phát Sai Thù Bất Kết Đơn, thì biết ngay là không phải Thiên Biên Tí Ngọ Mão Dậu vậy. Nếu như nói Thiên Biên Tí Ngọ là 12 giờ, như vậy chỉ có 4 giờ tu trì, còn dư 8 giờ khác thì bỏ đi không dùng, thì làm sao nói được là Hào phát vô sai được?

Nhập Dược Kính viết: Trong một ngày có 12 giờ thì Ý cũng có thể đến, và ta đều thấy đều biết. Niên nguyệt nhật thời khắc khắc dụng công tu trì, phòng nguy lự hiểm, hào phát không được sai lầm. Đến như Hỏa Hầu trong 64 quẻ cũng là để nói lên lẽ Âm Dương Tiến Thoái, dạy người tùy thời gia giảm biến thông dụng công vậy. Đâu phải là dạy người cứ theo thứ tự 64 quẻ mà hành động đâu?

Sách Ngộ Chân viết:

Quải trung thiết tượng bản nghi hình,

卦 中 設 象 本 儀 形

Đắc tượng vong ngôn ý tự minh,

得 象 忘 言 意 自 明

Cử thế mê đồ duy chấp tượng,

舉 世 迷 徒 唯 執 象

Khước hành quải khí vọng phi thăng.[2]

卻 行 卦 氣 望 飛 升

Từ quải vẽ nên tượng, ý, hình,

Biết tượng quên lời, ý tự minh.

Thế gian mê muội chuyên chấp tượng,

Mong hành quải khí với phi thăng.

Đọc sách phải biết cách Lập Ngôn Thủ Tựợng của người xưa, nên đã Đắc Ý thì phải Quên Tượng vậy.

Thiên kinh vạn quyển của Đạo Tu Chân chỉ là Tượng Ngôn mà thôi. Tuy cách Thủ Tượng không đồng nhất, nhưng chung qui đều cốt là phát minh lẽ Âm Dương thuận nghịch, Dược Vật Chân Gỉa, Hỏa Hầu Chuẩn Tác mà thôi. Ngoài ra không có thuyết nào khác.

Tôi (Lưu Nhất Minh) được thày chỉ vẽ cho biết phải tìm cho ra Ý trong Tượng, nên không dám dề cao mình.

Nguyện cùng các bậc tri âm đem những điều khẩn yếu của Đơn kinh vẽ thành đồ bản, phân tách thị phi để phá mọi nghi ngờ của các học giả. Còn các điều khác, suy ra sẽ thấy.[3]

Hình 1. Thai Trung Diện Mục 胎 中 面 目

(Trong Hình vẽ,Ta thấy có 1 hình tròn, trên có Chữ Vô Cực, phía Phải có chữ Vô Thanh Vô Xú, phía Trái có chữ Vô Hình Vô Sắc, Dưới có chữ Bản Sinh Thân Xứ. Ý nói Tâm ta từ thủa Sơ Sinh, vốn là Viên Đồng với Hư Vô, với Vô Cực. Nghĩa là Ta với Trời là Đồng Đẳng. Nên nhớ Trung Dung đã dùng 4 chữ Vô Thanh Vô Xú để chỉ Thượng Đế không tiếng, không hơi, nơi cuối sách Trung Dung). [4]

Khi con người chưa sinh ra đời, khi Nam Nữ Âm Dương nhị khí giao cảm nhau, trong lúc yểu minh đó có một điểm sinh cơ, từ Hư Vô trung tới, gọi là Tiên Thiên Chân Nhất Tổ Khí 先 天 真 一 祖 氣. Cái khí này, nhập vào trong Tinh Huyết, đào dung hun đúc nó thành một khối duy nhất. Vô hình rồi sinh hình, vô chất rồi sinh chất, trong thì là Ngũ Tạng, Lục Phủ, ngoài thì là Ngũ Quan, Bá Hài, biến chi, hóa chi, đều tự nhiên mà thành toàn. Ngay người phụ nữ có mang cũng không biết làm sao mà tự nhiên như vậy.

Học giả không biết lý này nên nghi rằng con người trong bào thai, nhờ cuống rốn mà thông với Mẫu Khí, nên mẹ thở vào thì con cũng thở vào, khi mẹ thở ra thì con cũng thở ra, từ từ thành hình vậy.

Thực ra không phải thế. Vì Khí Hô Hấp là Khí Hậu Thiên, mà Khí Hậu Thiên thì làm sao biến hóa tinh huyết cho thành hình được. Hơn nữa Khí Hô Hấp làm sao mà nhập vào bào thai? Có biết đâu rằng như trong bào thai của mẹ, chỉ có Tiên Thiên Nhất Điểm Tổ Khí 先 天 一 點 祖 氣, hồn hồn luân luân 渾 渾淪 淪, mới đầu thì Ngưng Thai, rồi Dưỡng Thai, cuối cùng thì Toàn Thai, từ đầu đến cuối đều nhờ Tổ Khí này mà thành tựu, không có chi khác.

Trong khi đó tuy có Nhân Hình nhưng chưa có Nhân Đạo. Thiên Địa Vạn Vật, thủy hỏa, đao binh đều không thể làm thương hại, thất tình lục dục ngũ tặc đều không tới gần. Suy đến kỳ cùng, thì chỉ có Một Hư Không mà thôi.

Cổ tiên dạy dân tu đạo, chính là dạy người trở lại cái Phụ Mẫu vị sinh thân dĩ tiền 父 母 未 生 身 以 前 đó, Diện Bạch là trở về cảnh giới Hư Không đó, cảnh giới Vô Thanh Vô Xú đó. Vô Thanh Vô Xú chính là Vô Cực. Không có Cực, tức là Vô vậy.

Hình 2. Anh Nhi diện mục 嬰 兒 面 目

(Hình này trong có Một vòng tròn trống, trên có chữ Thủy Cực, bên phải có chữ Hỗn Hỗn Độn Độn, bên trái có chữ Thanh Thanh Tĩnh Tĩnh, phía dưới có chữ Sinh Thân Chi Sơ.)

Con người từ trong bụng mẹ, 10 tháng thai viên, dưa chín rụng cuống, phá thai mà ra, chân hướng lên Trời, đầu hướng xuống đất, kêu oa một tiếng, mới tiếp hậu thiên chi Khí, từ mũi mồm xuống tới Khí Hải, hợp với Tiên Thiên Chi Khí.

Tiên Thiên là Thể; Hậu Thiên là Dụng. Hậu Thiên nhờ Tiên Thiên mà hô hấp lại qua; Tiên Thiên nhờ Hậu Thiên mà xúc dưỡng huyết mạch.

Không những thế: vừa thoạt kêu oa, thì Luân Hồi thức thần liền nhập vào Khiếu. Hợp với Tiên Thiên Nguyên Thần làm một. Nguyên thần nhờ Thức Thần mà tồn tại; Thức Thần nhờ Nguyên Thần mà Linh. Vả Anh Nhi vừa sinh, Tuy có Hậu Thiên Chi Khí, Hậu Thiên chi Thần. Và Tiên Thiên thống Hậu Thiên, Hậu Thiên thuận Tiên Thiên, hỗn thành Hỗn Hỗn Độn Độn, bất thức, bất tri, chỉ là Một Chân mà thôi.

Cổ Tiên dạy người Cùng Thủ Sinh Thân Xứ, tức là Cùng Thủ Nhân Sinh chi sơ, tức là Cùng Thủ Anh Nhi Diện Mục vậy.

Kẻ u mê không hiểu, nói bậy bạ rằng: Sinh Thân Xứ là Âm Hộ đàn bà. Không phải vậy. Sinh Nhân chi sơ là Anh Nhi Diện Mục, trắng trong không tì vết. Đó là Thánh Hiền Phôi Thai, Tiên Phật Căn Manh. Cho nên chim muông không bắt, tê hổ không làm tổn thương, vì nó Vô Tâm.

Vô Tâm nên sinh tử không ngại, như vậy thì làm gì có tai hoạn. Đó là tượng Thủy Cực. Thủy Cực là Thủy Chi Cực, chưa giao với Hậu Thiên. Tuy đã hỗn hợp với Hậu Thiên, nhưng vẫn hoàn toàn do Tiên Thiên quản sự. Nhân vì là tại Vô Chi Cực cho nên từ Vô mà bắt đầu.

Hình 3. Hài Nhi Diện Mục 孩 兒 面 目

(Hình có Ba Vòng Tròn Đồng Tâm. Phía trên có Chữ Thái Cực; phía phải có chữ Vô Tư Vô Dục; Phía trái có chữ Bất Sắc Bất Không; phía dưới có chữ Tiên Hậu Hợp Nhất.)

Con người từ đứa trẻ con (Anh Nhi) lớn lên, có thể đi, có thể chạy, có thể nói theo người chỉ dẫn, nên gọi là Hài Nhi, hay là Hài Đề Chi Đồng 孩 提 之 童. Anh Nhi thì vô thức vô tri (trẻ sơ sinh), Hài Nhi (trẻ con) thì hữu thức, hữu tri, như là một áng mây trên trời. Hữu Thức, Hữu Tri do từ Thủy Cực dần tới Thái Cực vậy.

 Thái Cực là Đại Chi Cực. Đã là Thái Cực thì cũng có khi rất nhỏ. Dương Cực thì cũng có lúc là Âm. Nhưng nhỏ chưa đến, Âm chưa sinh vậy. Nhỏ chưa đến, Âm chưa sinh, còn là lúc Tiên Thiên dụng sự, Hậu Thiên phục tàng. Tuy Hữu Thức, Hữu Tri, nhưng căn trần chưa phát, khách khí chưa sâm, đói ăn, lạnh mặc, hỉ lạc ai nộ tùy hưng tùy diệt, phú quí cùng thông bất tri bất hiểu, thuận kỳ Tự Nhiên, tuyệt nhiên không có tạp niệm.

Đó là Thánh Hiền Phôi Thai, Phật Tiên căn manh. Kẻ ngu coi Hài Nhi là Anh Nhi, thật là không phải. Anh Nhi là Xích Tử, Hài Nhi là Đồng Tử. Tuy nhiên vẫn có Thiên Chân đầy đủ, tuy hình hài cao thấp khác nhau, nhưng tri thức không có khác biệt.

Cho nên Cổ Tiên đã gọi Phản Bản Hoàn Nguyên là trở về Anh Nhi Diện Mục, chứ không phải Hài Nhi Ngoan Đồng diện mục vậy.[5]

Hình 4. Âm Dương Phân Phán 陰 陽 分 判

(Trong Hình Vẽ này, giữa là một hình tròn. Bên phải có chữ Nhị Bát Số Túc, bên trái có chữ Âm Dương Lưỡng Phân. Bên dưới có chữ: Linh Khiếu Khai, Thiện Ác Phân.)

Con người từ Hài Nhi lớn dần, và 2 khí Âm Dương túc mãn. Dương Cực Sinh Âm, sinh ra một Khiếu, Âm Dương phân chia, ở mỗi bên một phương. Trong Thực có Giả, như vậy mà Tri Thức mở mang dần, Thiện Ác phân biệt. Thế là Thái Cực phán mà Âm Dương sinh vậy.

Nói rằng Nhị Khí Túc, là như Mặt Trăng có Thượng Huyền Hạ Huyền, Lưỡng Huyền đó hợp nhau, ánh sáng tròn chĩnh, đày đủ. Nói thế nghĩa là Tiên Thiên Dương Cực là Thái Cực vậy. Dương Cực thì phải có Âm, như Thái Cực đã chia thì Âm Dương phân đôi vậy.

Người ngu không hiểu thế nào là Nhị Bát Sinh Âm, nên nghĩ rằng đến 16 tuổi là có Xuất Tinh. Không phải vậy: Cứ xem trong thế gian, có trẻ 14, 15 đã Xuất Tinh, cũng có trẻ 16, 17 tuổi mới Xuất Tinh, cũng có đứa 18,19 mới Xuất Tinh. Cho nên số có nhiều ít, nên biết vậy.

Cho nên nói Nhị Bát không phải là nói tuổi tác nào nhất định của con người, mà nói tới khi khí huyết con người sung mãn nhất vậy.

Hình 5. Ngũ Hành Phân Vị 五 行 分 位

(Hình vẽ ở giữa có Ngũ Hành phân phối như sau:

     Hỏa

Mộc  Thổ  Kim

     Thủy

Bên phải có chữ Thức Thần tiệm khởi. Bên trái có chữ Căn Trần tiệm sinh. Phía dưới có chữ Ngũ Hành tương tường [=giết])

Khi Âm Dương phân, thì Ngũ Hành cũng loạn. Ngũ Hành là Ngũ Khí Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ.

Ở Tiên Thiên thì Ngũ Hành là Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Ngũ hành bấy giờ là Nhất Khí, phát ra thành Ngũ Đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Ở Hậu Thiên thì Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Ngũ Hành tương sát lẫn nhau, phát ra thành Ngũ Tặc: Hỉ Nộ Ai Lạc Dục.

Ngũ Hành tương hợp thì Ngũ Đức bị, và Âm Dương hợp Nhất.

Ngũ hành mà phân tán thì Ngũ tặc hưng, và Âm Dương bị Bác Tạp.

Ngũ Hành phân thì Thức Thần tiệm khởi, căn trần tiệm phát. Chân giả thoái vị, Giả giả đương quyền, hài nhi diện mục cũng mất đi vậy.

Kẻ ngu cho rằng Ngũ Tạng là Ngũ Hành. Không phải vậy, vì Ngũ Tạng là Hữu Hình Hữu Chất chi trọc vật, là nơi quán xá của Hậu Thiên Ngũ Hành, chứ không phải là Đức Viên của Tiên Thiên Ngũ Hành. Nếu cho rằng Ngũ Tạng là Ngũ Hành, thì làm sao Ngũ Tạng có thể sinh, có thể hợp. Vả Ngũ Hành có Tiên Thiên, có Hậu Thiên. Tiên Thiên là khi con người chưa sinh thân thể, Hậu Thiên là sau khi con người đã có hình hài. Hai thứ Ngũ Hành tuy phân, nhưng chúng đều sống động, không có định vị, làm sao mà Ngũ Tạng là trọc vật lại có thể là Ngũ Hành được? [6]

Hình 6. Hậu Thiên dụng sự 後 天 用 事

(Hình này ở giữa có 2 vòng tròn trong đen ngoài trắng. Phía phải có chữ Khí Chất Chi Tính Phát. Phía trái có chữ Căn Tượng Chi Khí Nhập, Phía dưới có chữ Dương Trung Sinh Âm. Hình này dạy ta phải biết phân biệt rằng Con Người có 2 tính: Tính người là Khí Chất Chi Tính; Tính Trời là Thiên Địa Chi Tính hay Thiên Mệnh Chi Tính. Chúng ta phải bỏ cái Tính Khí Chất Chi Tính, nhưng phải chắt chiu, phải theo cái Thiên Địa chi Tính. Trung Dung nói Suất Tính Chi vị Đạo: Theo Tính Trời gọi là Đạo. Đạo Phật gọi Thiên Địa chi Tính là Chân Tâm, Khí Chất chi Tính là Vọng Tâm. Có hiểu vậy mới tìm ra con đường Đạo.)

Âm Dương phán, Ngũ Hành phân, là giao vào Hậu Thiên Tiên Thiên thoái vị. Lúc ấy là Khí Chất chi Tính phát sinh ra, ngoại lai tập nhiễm chi trần cũng sinh. Lục căn môn đầu cửa nào cũng chiêu địch, thất tình nghiệt chủng chủng chủng sinh tai, thuần bạch chi thể dần dần bị Âm Khí nhập vào. Âm Khí nhất nhập, Âm Khí tiệm trưởng, Dương khí tiệm tiêu. Trưởng rồi lại trưởng, tiêu rồi lại tiêu. Thuận theo lòng dục, tới đâu thì tới.

Ngu nhân vì không biết nên cho rằng Khí Chất chi Tính là Chân Tính. Đâu phải vậy. Chân Tính là Thiên Mệnh chi Tính, thuộc Tiên Thiên, hữu ích cho đời. Khí Chất chi tính là Nhân Sinh Chi Tính, thuộc Hậu Thiên, làm hại cho đời. Làm sao dám nói Hậu Thiên chi Tính là Tiên Thiên Chi Tính được.

Hình 7. Thuần Âm Vô Dương 純 陰 無 陽

(Có một Hình Tròn đen ở giữa. Bên phải viết: Dương Khí tiêu tận, phía trái viết: Âm Khí bất Thuần. Dưới cùng có chữ: Du hạc đăng diệt, Tủy Kiệt Nhân Vong.)

Đó là Hậu Thiên Dụng Sự, Âm Tiến Dương thoái. Ngày lại ngày, năm lại năm. Trong thì Vạn Niệm gây hại, ngoài thì Vạn Vật khiên dẫn. Nội ngoại Công Kích nên Dương Khí tiêu hết, nhất thân thuần Âm, tam bảo tiêu tận, hồn phách nan tồn, làm sao mà không chết cho được?

Người ngu không biết nên cho rằng Số tận, Mệnh tuyệt, và đổ cho Trời. Đâu phải vậy.

Con người sống được là nhờ Dương Khí giúp cho. Một điểm Dương Khí mà chưa tận thì chưa chết. Một điểm Âm khí mà chưa thuần hêt thì cũng chưa chết. Thuận theo Âm Khí tiêu diệt Dương Khí là tự mình tìm lấy tử lộ, đâu phải lỗi Trời.

7 đồ bản trên là Thuận Hành Tạo Hóa Sinh Nhân chi Đạo vậy.

Hình 8. Luyện Kỷ Trúc Cơ 煉 己 築 基

(Hình vẽ có một vòng tròn đen. Bên phải có chữ Trừng Phẫn Trật Dục, bên trái có chữ Khắc Kỷ Phục Lễ, phía dưới có các chữ: Điều Trần Tẩy Cấu, Nhàn Tà Tồn Thành.)

Đạo Tu Chân là Đạo Phản Hoàn. Phản là mình đã đi, nay trở lại. Hoàn là Dương đã mất, nay lại phục hồi. Đó chính là từ Thuần Âm phản hoàn về cái Bản Lai Chân Dương vậy. Con người từ Hậu Thiên dụng sự, trong người còn toàn Thuần Âm, và Tiên Thiên Dương Khí đã tiêu tận, nếu không nhờ công phu hoàn phản thì làm sao trở về với Vô được.

Muốn tìm lại được cái đã mất thì phải có công phu hoàn phản. Hoàn phản chính là Trúc Cơ Luyện Kỷ, là luyện cho sạch hết cái Lịch Kiếp Căn Trần, cái Khí Chất Thiên (thiên lệch) Tính. Nhất thiết tạp nhiễm khách khí, tức là công năng của Trừng Phẫn Trật Dục, Khắc Kỷ Phục lễ. Trừng phẫn trật Dục, Khắc Kỷ Phục Lễ, thời mới Vô Tư Vô Lự, bất động bất giao, căn bản mới kiên cố, cũng như làm nhà thì phải có nền móng vững chắc, gỗ lạt gạch ngói, do người làm ra sẽ đem đến tất cả, Luyện kỷ nằm trong Trúc cơ, Trúc Cơ cũnh không ngoài Luyện Kỷ.

Người ngu không biết lại chu rằng Luyện Kỷ là Thủ Tâm, Trúc Cơ là Bế Tinh. Không phải vậy.

Công phu luyện kỷ chỉ ngưng khi nào Âm tận, Dương thuần mà thôi. Nếu nói Thủ Tâm Bế Tinh là Luyện Kỷ Trúc Cơ, thì làm sao mà thành toàn kim đơn đại sự được, Cổ Tiên nói: Hoàn Đơn tại nhất thời, luyện kỷ tu thập nguyệt. Nói thế đủ biết Luyện Kỷ Trúc Cơ không phải là Thủ Tâm Bế Tinh vậy.[7]

Hình 9. Thiên Lương Chân Tâm 天 良 真 心

(Trong hình vẽ có 2 vòng tròn: Một trắng bên trong với 2 chữ Chân Tâm, và một đen bên ngoài. Bên phải có chữ: Trúc Cơ Thời, Tu Dụng Thác Thược. Bên trái có chữ: Luyện Kỷ Thời, Hoàn Yếu Chân Diên. Phía dưới có chữ: Hắc Trung Hữu Bạch, Thư Lý Hoài Hùng.)

Luyện Kỷ Trúc Cơ không phải là chuyện Cưỡng Chế, Cưỡng Tác. Nếu mà khổ lực dụng công, thì trước tiên phải nhận ra Thiên Lương, Chân Tâm. Nhờ Chân Tâm mà Luyện Kỷ, thì trong cảnh hắc ám đó có một điểm Dương Khí phát hiện, gọi là Chân Linh. Chân Linh đã hiện thì tà chánh phân minh, rõ ràng không bị vật dục kéo lôi, không bị trần duyên làm ô nhiễm.

Luyện kỷ rất dễ. Nếu không nhận biết Chân Tâm, thì không phân biệt được chính tà, không biết rõ thị phi. Thế là dĩ tâm chế tâm, dùng Nhân Tâm mà dụng công, cưỡng chế, cưỡng tác, cho nên nói:

Khước trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh, Xu hướng Chân Như diệc thị sai 卻 除 妄 想 重 增 病 趨 向 真 如 亦 是 差,

làm sao tới được Vô Kỷ Chi Xứ.

Ngu nhân không biết, nhận lầm nhân tâm là Chân Tâm. Không phải vậy.

Chân Tâm là Vô Tâm. Vô Tâm chi Tâm mới là Thiên lương chi tâm. Có được Thiên Lương chi tâm ấy, thì làm sao mà con người không Phục Lễ được?

Bách Tự Bi viết: Động tĩnh tri tông tổ, vô sự cánh tầm thùy? 動 靜 知 宗 祖 無 事更 尋 誰.

Hoàng Hạc Phú viết: Ly nội thất ban Chu Sa vô chân chủng, tắc thời thời nan lưu 離 內 七 般 朱 砂 無真 種 則 時 時 難 留.

Trương Tam Phong nói: Trúc cơ thời, tu dụng thác thược, Luyện kỷ thời hoàn yếu Chân Diên 築 基 時 須 用 橐 籥, 煉 己 時 還 要 真 鉛.

Tất cả đều là biệt danh của Thiên Lương Chân Tâm.

Ôi Thiên Lương Chân Tâm đâu có dễ biết? Nếu ai mà biết thì là Đắc kỳ Nhất nhi vạn sự tất.[8]

Hình 10. Dương trưởng, Âm tiêu 陽 長 陰 消

(Giữa có 2 vòng tròn. Vòng ngoài đen vòng trong trắng. Bên phải có chữ Dương Khí nhật tiệm tăng, bên phải có chữ Âm Khí nhập tiệm giảm. Phía dưới có chữ: Chấn Phát Đạo Tâm, Tiêu Hóa Nhân Tâm.)

Nhận biết Thiên Lương Chân Tâm là Chủ Nhân Ông. Điềm nhiên ngồi ngự tại Trung Ương, vi Đạo nhật diệt, vi Công nhật trương. Dương khí ngày một tăng, Âm Khí ngày một tiêu. Lớn thì càng ngày càng lớn, nhỏ thì càng ngày càng nhỏ. cứ thế cho đến khi không còn cách nào tiêu trưởng thêm được nữa, thế mới là Cực Công.

Ngu nhân không biết tưởng cứ Tĩnh tọa vô vi, tịch diệt, ngoan không, thì Dương Khí tự nhiên sẽ trưởng, Âm Khí tự nhiên sẽ tiêu. Không phải vậy. Vả Hoàn Đơn là từ Âm Trung trở về Dương vậy, Nếu lấy Tĩnh tọa Vô Vi, tịch dệt, ngoan không, mà muốn phục Dương thì làm sao mà Dương tự lai, Âm tự thoái được?

Ngộ Chân Thiên viết:

Túng thức Chu Sa dữ Hắc Diên,

總 識朱 砂 與 黑 鉛

Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn.

不 知火 候 也 如 閑

Đại đô toàn tạ tu trì lực,

大 都全 藉 修 持 力

Hào phát sai thù bất kết đơn.

毫 髮差 殊 不 結 丹

Nếu biết Chu Sa với Hắc Đơn,

Hỏa hầu không biết cũng như không.

Chung qui toàn dụng tu trì lực,

Nếu sai tơ tóc, sẽ hỏng Đơn.

Như vậy, sẽ hiểu thế nào là Tiến Dương Thoái Âm vậy.[9]

Hình 11. Toản Thốc Ngũ Hành 攢 簇 五 行

(Hình vẽ này ở giữa có Ngũ Hành phân phối như sau:

     Thủy

Kim Thổ  Mộc

     Hỏa

Bên phải có chữ: Ngũ Hành Nhất Khí, Bên trái có chữ: Tứ Tượng Hòa hợp. Phía dưới có chữ: Ngũ Đức câu bị, Tam Gia Qui Nhất.)

Dương Trưởng, Âm Tiêu cốt là biết Toản Thốc Ngũ Hành. Ngũ Hành Toản Thốc, thì đại Đạo có cơ thành.

Công phu Toản Thốc, là biết từ Hậu Thiên Ngũ Hành trở về Tiên Thiên Ngũ Hành. Hậu Thiên Ngũ Hành thì cái này khắc với cái kia, Tiên Thiên Ngũ Hánh thời cái này sinh cái nọ. Phản là từ Tương Khắc trở về Tương Sinh. Ngũ Hành tương sinh hồn nhiên Thiên Lý, thế là Ngũ Hành nhất khí, Tứ tượng hòa hợp vậy.

Người ngu không biết nghĩ rằng Lấy Ý dẫn khí Tâm Thận

Cho rằng trên dưới Tương Giao; vận Can Phế chi khí cho tả hữu gặp nhau, thế là Toản Thốc Ngũ Hành. Không phải vậy. Vì Khí của Ngũ Tạng là vật hữu hình. Vật hữu hình là vật Hậu Thiên vật chất nhơ bẩn, có thành có bại, thì làm sao mà ngưng kết được Mệnh Bảo vĩnh cửu Bất Hoại được? [10]

Hình 12. Âm Dương hỗn hợp 陰 陽 混 合

(Hình vẽ trên có 3 vòng tròn đồng tâm. Hình tròn ngoài cùng, ½ trái đen, ½ phải trắng. Hình tròn giữa ½ phải đen, ½ trái trắng. Hình tròn trong cùng hoàn toàn trắng. Trên vòng tròn có chữ Thái Cực. Phải có chữ Âm Trung Hữu Dương; Trái có chữ Dương Trung hữu Âm. Phía dưới có chữ Tức Anh Nhi Diện Mục.)

Ngũ Hành từ Âm Dương phân xuất. Ngũ Hành toản thốc là Ngũ Hành hiệp nhất, tức là Âm Dương hợp nhi vi Nhất. Âm Dương hỗn hợp, là Kim Đơn thành tượng, là Hài Nhi Diện Mục. Bất quá là Hậu Thiên chi khí, chưa Hóa tận; Chưa hóa tận, nay hoàn phục về với Tiên Thiên, và Hậu Thiên thuận theo Tiên Thiên, thì cũng không gây họa. Từ đó, thêm một lần công phu nữa, thì Kim Đơn thành vậy.

Kẻ ngu không biết hoặc nghĩ là Tâm Thận tương giao, hoặc Nhâm Đốc tương hội, hoặc Nam Nữ tương giao, là Âm Dương hợp nhất. Không phải vậy.

Vả Kim Đơn là Tiên Thiên Hư Vô chi Khí ngưng kết mà thành, chứ đâu phải là Hậu Thiên hữu hình chi vật có thể ngưng kết mà thành đâu.[11]

Hình 13. Hồn nhiên nhất Khí 渾 然 一 氣

(Trong Hình, giữa có Vòng tròn trắng chia đôi. Trên có chữ Thủy Cực. Bên phải có chữ: Cương Nhu Tất Hóa. Bên trái có chữ: Vật Ngã giai Không. Bên dưới có chữ Anh Nhi Diện Mục.)

Sau khi Âm Dương đã hoàn phản về Hỗn Thành Anh Nhi, liền vận Thiên Tiên Chân Hỏa để tẩy hết Hậu Thiên Dư Âm, và trở về địa vị Bất Thức, Bất Tri, Thần Tàng Khí Tụ, như nói là Đàn Ông Mang Thai vậy.

Sự mang thai này chính là Anh Nhi Diện Mục, Chính là Sinh Thân thụ Khí, là Thủy Cực, là Thái Ất hàm Chân khí.

Ngu nhân không biết cho là hái Hồng Diên, Chân Hống, là hái Mai Tử (quả Mai), mà ăn mà nuốt, tưởng thế là Kết Thánh Thai. Không phải thế. Nếu nó là Hồng Diên, Mai Tử kết thành Thánh Thai, thì cái thai đó chỉ là Súc Khối, Nhục Đoàn, là Xúc Tử Quỉ Thai mà thôi. Còn vọng tưỡng gì khác nữa.

Hình 14. Thái không Hư Vô 太 空 虛 無

(Trong hình, chính giữa có một vòng tròn trắng. Bên trên có chữ Vô Cực. Bên phải có chữ: Hữu Vô Bất lập; bên trái có chữ: Thiên Địa qui Không; phía dưới có chữ Vị Sinh Thân Diện Mục.)

Thánh Thai ngưng kết, thêm vào 10 tháng ôn dưỡng, dùng Thiên Nhiên Chân Hỏa huân chưng phanh luyện, từ bé đến lớn, từ mềm đến cứng, bác tận quần Âm, Thai viên, Đơn thành. Như dưa chín rụng cuống, hốt nhiên đả phá hỗn độn, sinh ra Thanh Tịnh pháp thân, nhảy vào cảnh Thái Không Hư Vô, và siêu xuất ra ngoài Tam Giới, tức là Vị Sinh Thân Dĩ Tiền Diện Mục, tức là Vô Cực Diện Mục, là Đạo qui Vô Cực, hình thần câu diệu, dữ Đạo hợp Chân, thế là chí bình sinh của Đại Trượng Phu đã thực hiện được rồi vậy.

Kẻ ngu không biết, hoặc Đối Kính Diễn Thần, hoặc Mặc Tưởng Đỉnh Môn, hoặc Diện Bích vong hình, xuất Âm Thần v.v… Không phải vậy, Kim Đơn Thoát Hóa chi thần, là Dương Thần, cái gì là Thần xuất ra nhờ Tĩnh Công đều là Âm Thần. Dương Thần thời vạn tải trường tồn, bất sinh, bất diệt. Còn Ân Thần thì chưa bị Hỏa Luyện, là Phao Thân, hoặc Nhập Thân thiên môn vạn hộ, nếu không được Kim Đơn Đại Đạo điểm hóa, thì tuy Âm Thần ra vào tự tại, thì vẫn chưa thoát Luân Hồi.

Cho nên nói: Nhiêu quân Thiên vạn kiếp, chung thị lạc Không vong 饒 君 千 萬 終 是 落空 亡.

Bảy đồ Hình trên đều là Nghịch Hành Tạo Hóa Tu Tiên Chi Đạo.

14 đồ hình trên đều bàn về Thuận Hành, Nghịch Vận.

Đại khái nên hiểu rằng phần dưới đây đều là đem Tượng Ngôn mà Phân phán tà chính, chỉ xuất thật nghĩa, Học giả nên loại suy mà tìm hiểu.[12]

******************         

CHÚ THÍCH

[1] Ngộ Chân Trực Chỉ, q.2, bài thơ 27.

[2] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 2, bài thơ 37.

[3] Bài Hỏa Hậu của Lưu Nhất Minh luận về hỏa hầu rất sơ sài. Tôi sẽ trở lại vấn đề.

[4] Các chú thich về Hình Vẽ và lời bàn của Dịch Giả trong quyển sách này đều được đánh chữ nghiêng và đặt trong ngoặc đơn.

[5] Tam giáo coi Trời là Vô Cực, là Xích tử Chi Tâm (Mạnh Tử, Ly Lâu Chươmg Cú Hạ, câu 12), là Anh Nhi Diện Mục (Tượng Ngôn Phá Nghi), là Bản Lai Diện Mục (Phật). là Vô. Suy ra, ta thấy rằng nếu trong ta có Vô Cực, thì Trời cũng luôn ở trong ta. Tam Giáo cho thấy Căn Nguyên ta là Trời, thì Mục Đích của ta cũng là Trời. Mà Trời thì Hoàn Thiện, nên Đại Học dạy ta Chỉ ư chí Thiện (nghĩa là phải Tiến tới Hoàn Thiện. Bức tranh Trời, tức là Vũ Trụ với Thiên Biến vạn Hóa được vẽ ngay trên Vô Cực. Vì thế, xét nguyên Vô Cực, thì nó là Vô. Bức tranh đó là tuồng Ảo Hóa, nên ta phải quên nó để trở về với Bản Thể ta là Vô Cực.

Cho nên Vô Cực chính là Khuôn Mẫu con người lý tưởng của chúng ta, đó chính là Vòng Tròn trắng toàn vẹn bên trong.

Chỉ nhìn vào mấy hình trên ta đã học được biết bao là bài học, đã tìm ra dược Chân Tướng, tìm ra được Căn Nguyên và Cùng Đích chân thực của cuộc đời chúng ta, đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời chúng ta: Chúng ta sinh ra để tiến hóa. Cái học này Mạnh Tử xưa gọi là cái học Tự Đắc (Mạnh Tử Ly Lâu hạ, tiết 14), mà lạ lùng thay cái mục đích mà chúng ta muốn vươn tới, cái mẫu người mà Chúng Ta muốn thực hiện, lại đã nằm sẵn trong chúng ta. Người xưa gọi thế là Qui Nguyên Phản Bản.

[6] Sống theo Ngũ Hành Tương Sinh, tức là sống theo Chiều Thuận của muôn vật, mới là Sống Đạo. Sống theo Ngũ Hành tương khắc, theo chiều Phá Tán, là sống theo Đời.

[7] Nói Chân Đạo là Đạo Hoàn Phản thật hết sức sâu xa. Nói Hoàn Phản là Hoàn Phản về với Bản Lai Diện Mục của mình, lại còn sâu xa hơn nữa.

[8] Chân Đạo là phải biết phân biệt Chân Tâm và Nhân Tâm hay Phàm Tâm. Chân Tâm là Lòng Trời, nhân Tâm là Lòng người. Biết dùng Lòng Trời để chế ngự lòng người, biết theo Quang Minh chính Đại (Lòng Trời, phối Thiên), biết chế ngự cái gì Tư Tà Hắc Ám (lòng người) thì sẽ dễ dàng đắc Đạo. Thế là luôn sống thuận theo tiếng của Lương Tâm, Lương Tri vậy.

[9] Đạo Lão, Đạo Khổng chung qui là Đạo Tự Nhiên dạy người: Khử Âm, Thoái Âm (Khử Nhân Dục), và Tiến Dương (Tồn Thiên Lý). Như vậy là một thứ công phu suốt đời.

[10] Học Dịch thì biết Ngũ Hành có hai chiều sinh khắc. Chứ chưa biết Ngũ Hành Tương Sinh là Chiều Sinh Thánh sinh thần, là Thiên Lý hồn nhiên bất hoại. Cũng không biết Ngũ Hành tương khắc là chiều hủy diệt, sinh nhân sinh vật. Xưa nay tôi luôn theo chiều thuận, và tránh mọi nghịch cảnh, nay nhờ Lưu Nhất Minh tôi mới thấu triệt nghĩa lý của Ngũ Hành Tương Sinh.

[11] Như vậy đạo Kim Đơn là đạo Ức Âm, tiến Dương. Khi tới Thuần Dương là Đơn Thành.

[12] Càng đọc tôi càng hiểu Tam Giáo tu hành cốt là dạy người thành Trời. Lúc đứng tuổi là lo làm người cho hẳn hoi. Lúc già là lo làm Trời, treo gương cho đời, tiến tới Chân Thiện Mỹ. Tiến tới Chân Thiện Mỹ, là thành Trời, là Tìm lại được Bản Lai diện Mục của mình, tìm ra được Xích Tử Chi Tâm của mình, hay Vô Cực, Thái Cực của mình. Tìm ra được Trời trong mình là tìm ra Niết Bàn trong Mình, tìm ra được Dương Thần. Bao lâu còn lo xuất Âm Thần, bỏ thân này lìa thân nọ, còn lo phao thân, là còn ở trong vòng Luân Hồi.

Cơ nói : Học là học để làm Trời, Có đâu kiếp kiếp làm người thế gian. Làm trời tức là Hình Thần câu diệu, dữ Đạo hợp chân vậy.

Chúng ta không nên lạc vào mê đồ trận từ ngữ của Phật Lão, mà phải có óc chất sáng suốt để nhận định.

Uổng thay, xưa nay không biết bao nhiêu người uổng phí thời gian, uổng phí tuổi già, vì không tìm ra được mục đích của con người. Theo tôi, thì Làm Trời cũng chính là làm Phật, làm Thánh, làm Tiên.

******************         

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

QUYỂN HẠ

Hình 15. Kim Đơn
金 丹

(Hình giữa là Hình Tròn trống giữa. Bên phải có chữ Viên đà đà, quang chước chước; bên trái có chữ Tịnh khỏa khỏa, quang chước chước; phía dưới có chữ: Sắc Không Bất Chước, Thành Minh Kiêm Cai.)

Kim là Kiên Cương Vĩnh Cửu Bất Hoại chi vật. Đơn là Viên Mãn Quang Tịnh Vô Khuy chi vật. 金 者 堅 剛 永 久 不 壞 之 物. 丹 者 圓 滿 光 淨 無虧 之 物. (Kim giả kiên cương vĩnh cửu bất hoại chi vật. Đan  giả viên mãn quang tịnh vô khuy chi vật.)

Các Tiên xưa mượn tên Kim Đơn để ví dụ cái Tính Bản Lai Viên Minh Chân Linh. Cái Tính đó Nho Gia gọi là Thái Cực, Thích gọi là Viên Giác, Đạo gọi là Kim Đơn. Tên tuy chia Ba, nhưng chỉ là Một Vật. Nho tu theo thì gọi là Thánh, Thích tu theo thì gọi là Phật, Đạo tu theo thì gọi là Tiên. Tam giáo khi thành Đạo căn bản là tu được cái Bản Lai Chân Tính đó.

Kẻ ngu không biết nên dùng ngũ kim, bát thạch để đoàn luyện thành dược mà họ gọi là Kim đơn, không phải vậy.

Chân Tính là từ trong lò Đại Tạo lớn của Trời Đất, đã qua Lửa đoàn luyện thành đơn đồng trường cửu cùng trời đất, đồng quang minh với Nhật Nguyệt, như vậy há phải là vật hữu chất trong thế gian mà thành được đâu.[1]

Hình 16. Thiên Địa chi tâm 天 地 之 心

(Trong hình vẽ này, nơi chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài nửa trên trắng, có chữ Thiên. Nửa dưới đen, có chữ Địa. Vòng tròn trắng trống rỗng bên trong, có chữ Tâm. Phía phải có chữ Hắc Bạch Tương Phù. Bên phải có chữ Âm Dương tương hợp. Phía dưới có chữ Tịch Nhiên Bất Động, cảm nhi toại thông.)

Điều cần yếu nhất của Tu Chân là phải nhận ra được Thiên Địa chi Tâm. Thiên Địa chi tâm là Thiên Lương Chân Tâm đã nói trước đây.

Cái Tâm này, hoảng hốt tra minh, là một hiện tượng không nên coi thường. Nó có hiện tượng Hư Thất sinh bạch và đột nhiên sáng ra, làm lộ xuất đầu đuôi. Thiên thuộc Dương Địa thuộc Âm. Thiên Địa chi Tâm là Âm bất ly Dương, Dương bất ly Âm, là Âm Dương tương hợp chi tâm. Âm Dương hợp mới có Tâm này, Âm Dương ly không có Tâm này. Nó phi sắc phi không, tức sắc, tức không, phi Hữu, phi Vô, tức Hữu tức Vô, Sắc Không Vô Ngại, Hữu Vô Bất Lập, nó là Chân Không Trung chi diệu hữu.

Biết được Tâm này, giữ không để mất, thế là Đại Bản đã Lập, còn các chuyện khác sẽ dễ dàng.

Ngu nhân không biết, cứ tưởng cái tâm thịt ngoan không này là Thiên Địa chi Tâm, hay lấy Động Tâm hay Tĩnh Tâm là Thiên Địa chi tâm, hay coi cái Tâm ở Trung Cung là Thiên Địa chi tâm, tất cả đều không phải.

Vả Ngoan Tâm là Hậu Thiên tư dục chi tâm. Động tâm là vướng vào hữu, Tĩnh tâm là vướng vào vô, Chú Tâm là hướng vào Tượng, những cái Tâm ấy đâu phải là Thiên Địa chi Tâm.

Hai bên như Mây và Bùn, cho nên nói Thiên Địa chi tâm là cái gì Động Tĩnh như Một, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động, như thế thì đâu phải là Nhục Đoàn Ngoan Tâm? [2]

Hình 17. Yển Nguyệt Lô
偃 月 爐

(Chính giữa hình vẽ là một hình tròn, hầu như đen tuyền. Phía dưới có một hình trăng lưỡi liềm ngửa mặt lên trên [Yển Nguyệt Lô]. Phía phải có chữ: Tĩnh Cực, nhi Động. phía trái có chữ Âm Lý sinh Dương; phía dưới có chữ: Đạo Tâm Phát Động.)

Yển Nguyệt là Mặt Trăng ngửa có hình Mày Tằm. Mặt trăng sau ngày 30 sáng lại. Ví như con người Tĩnh Cực hốt nhiên thấy Thiên Căn Hiện Lộ, cũng gọi là Đạo Tâm, có hình tượng mặt trăng ngửa. Lô là Lò để chứa lửa, chính vì Đạo Tâm là Dương Quang, có thể đoàn luyện tẩy trừ hết Khí Âm trong con người, chơ nên gọi là Lò. Kỳ thật Đạo Tâm chính là Thiên Địa chi tâm. Thiên Địa chi Tâm là Thể, Đạo Tâm là Dụng, hai đằng tuy hai nhưng là một.

Kẻ ngu không biết, coi phía dưới Đơn Điền, phía trên xương hông là Yển Nguyệt Lô; hoặc nhìn chữ Tâm thấy nó cong cong hướng về phía trên, nên tưởng trái Tim con người là Yển Nguyệt Lô;, còn phái Thái Chiến thì lại coi Âm Hộ đàn bà là Yển Nguyệt Lô. Tất cả đều sai.

Yển Nguyệt Lô chính là ánh sáng của Đạo Tâm. Ánh Sáng này chiếu vào đâu, thì nơi đó không còn tà ngụy. Nó có thể sinh thánh sinh tiên.

Tử Dương Ông nói:

Hưu nê Đơn Táo phí công phu, Luyện Dược tu tầm Yển Nguyệt Lô

休 泥 丹 灶 費 功 夫煉 藥 須 尋 偃 月 爐 偃 月 爐:

[3] Khỏi dựng lò đơn phí công phu, Luyện Dược tìm sao được Đạo Tâm.

Lại nói:

Yển nguyệt lô trung Ngọc Nhụy sinh. Chu Sa Đỉnh lý Thủy Ngân bình, Chỉ nhân hỏa lực điều hòa hậu, Chủng đắc hoàng nha tiệm trưởng thành

中 玉 蕊 生 朱 砂 鼎 裡 水 銀 平 只 因 火 力 調 和 後 種 得 黃 芽 漸 長 成

(Yển Nguyệt lô trung Ngọc Nhụy sinh. Trong đỉnh Chu Sa thủy ngân bình. Chỉ nhân hỏa lực điều hòa hậu, Trồng được Hoàng Nha cứ lớn dần.) [4]

Như vậy sẽ hiểu được ý của Yển Nguyệt Lô.[5]

Hình 18. Chu Sa Đỉnh 朱 砂 鼎

(Hình vẽ này là 1 vòng tròn trắng với chữ Thần ở chính giữa.Bên phải có chữ Chí Hư Chí Linh, bên trái có chữ Hữu Cảm Hữu Ứng. Phía dưới có các chữ Nguyên Thần Thường Tồn, Thức Thần bất khởi.)

Chu Sa là màu của Lửa. Vì lửa có sức đoàn luyện chư vật, khứ cựu, hoán tân, cho nên con người coi cái Đỉnh là tượng hình cho lửa. Nó là vật Tối Linh Tối Thần, biến cải vạn sự, nên ví dụ nó là Thần Minh, chiếu khắp mọi nơi, thành tựu vạn sự. Vả Thần có Nguyên Thần cũng có Thức Thần. Thức Thần có thể Bại Đạo, Nguyên Thần có thể Thành Đạo.

Thức Thần thì là Lịch Kiếp Căn Trần, nhờ Nguyên Thần linh ứng nên thành vọng, nó hoạt động cho tới khi táng khứ Tính Mệnh mới ngừng. Người tu hành Đại Pháp phải biết dùng Nguyên Thần để chế ngự Thức Thần. Thức Thần mà không khởi thì Tà Hỏa sẽ diệt, và Chân Hỏa sẽ sinh, Khí Trời hòa hợp, Sinh Cơ bất tức, Đại Đạo có hi vọng thành tựu.

Kẻ ngu không biết, nhận cái Thức Thần Chiêu Chiêu Linh Linh làm Nguyên Thần là sai. Vì Nguyên Thần là Bất Thần chi Thần, hết sức Linh Diệu, hết sức Chân Thực, nó là Thần Linh thật vậy. Tuy nhiên tronh Linh có giả, cái Linh giả tạo chính là Luân Hồi chủng tử.

Cổ tiên xưa nói: Vô lượng kiếp lai sinh tử bản, Si nhân hoán tác Bản Lai Nhân

無 量 劫 來 生 死 本 痴 人 喚 作 本 來 人

(Cái gốc Sinh Tử từ Muôn Kiếp, người Ngu lại ngỡ Gốc con người).

Đó là Thức Thần vậy.[6]

Hình 19. Nguyên (Huyền) Tẫn chi môn 玄 牝 之 門

(Hình vẽ chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài chia thành 2 nửa: Nửa trắng bên phải, nửa đen bên trái. Bên phải có chữ: Âm Dương chi Môn; phía trái có chữ: Động Tĩnh chi quan. Phía dưới có chữ: Tứ đại bất chước xứ.)

Nguyên (Huyền) là Dương, là Cương, là Động. Tẫn là Âm, là Nhu là Tĩnh. Nguyên Tẫn chi Môn là Khiếu Âm Dương, là Cửa Cương Nhu, là cửa Động Tĩnh, nó vô phương, vô sở, vô hình, vô tượng, phảng phất, khúc tiếu, là một khiếu Hư Huyền, ở nơi Ngũ Hành không thể tới, tứ đại không thể vào, chí vô nhưng hàm chí hữu, đó là Âm Dương tương hợp nhất khiếu.

Kẻ ngu không biết, tưởng Mũi Mồm là Huyền Tẫn. Mũi Mồm là cửa ra vào của Hô Hấp, không phải là Cửa ra vào của Âm Dương. Âm Dương tương hợp thời sinh tiên sinh Phật, Mũi Mồm hô hấp đâu có sinh Tiên sinh Phật.

Ngộ Chân Thiên có thơ:

Huyền Tẫn chi Môn thế hãn tri,

玄 牝 之 門 世 罕 知

Mạc tương khẩu tị vọng thi vi. [7]

莫 將 口 鼻 妄 施 為

Huyền tẫn chi môn ít kẻ hay,

Phải đâu mũi miệng hít thở này.

Chính là vì vậy.[8]

Hình 20. Nguyên (Huyền) Quan Nhất Khiếu 元 關 一 竅

(Hình vẽ chính giữa có Vòng Tròn trắng chia thành Tứ Chính. Phía phải có Chữ: Thần Khí Chi Huyệt, phía trái có chữ: Khảm Ly Chi Tinh, phía dưới có chữ: Hữu Vô tương nhập xứ.)

Nguyên Quan (Huyền Quan) là quan khẩu chí Huyền, chí Diệu, cũng gọi là Sinh Tử Hộ, Sinh Sát Thất, Thiên Nhân giới, Hình Đức Môn, Hữu Vô Khiếu, Thần Khí Huyệt, Hư Thật Địa, Thập Tự Lộ v.v… Tất cả những danh từ đó cốt để hình dung cái Khiếu đó mà thôi. Nguyên quan cũng là biệt danh của Huyền Tẫn. Ví Âm Dương ở đó, cho nên gọi là Nguyên Tẫn Môn, vì nó Huyền Diệu bất trắc, nên gọi là Huyền Quan Khiếu. Kỳ thật chỉ là Khiếu này mà thôi.

Kẻ ngu không biết tưởng chỗ dưới Tim trên Thận là Huyền Quan, hoặc coi tim Rốn là Huyền Quan, hoặc coi Vĩ Lư là Huyền Quan, hoặc coi Giáp Tích Song Quan là Huyền Quan. Tất cả đều sai.

Huyền Quan thời vô định vị, có định vị thì sai. Trần Nê Hoàn gọi Huyền Quan là Niệm Đầu khởi Xứ (chỗ phát sinh ra Tư Tưởng). Tưởng là Đúng nhưng vẫn chưa phải. Niệm Đầu khởi Xứ là đã sa vào Hậu Thiên, đã là Hữu Hình chi vật thì làm sao đáng gọi là Huyền Quan.

Nay ta chỉ rõ nó cho đại chúng biết nó là ở chỗ Hoảng Hốt Tra Minh chi gian, là bờ cõi của Hữu Vô. Ngộ Chân Thiên viết:

Hoảng hốt chi trung tầm hữu tượng,

恍 惚之 中 尋 有 象

Yểu minh chi nội mịch Chân Tinh,

杳 冥 之 內 覓 真 精

Hữu Vô tòng thử tự tương nhập,

有 無 從 此 自 相 入

Vị kiến như hà tưởng đắc thành.[9]

未 見如 何 想 得 成

Linh tri phải tìm trong Hoảng Hốt.

Chân Tri phải thấy, tự Tra Minh.

Hữu Vô từ đó liền tương hợp.

Nếu không biết vậy, luyện sao thành?

Tứ Bách Tự Bi viết:

Thử Khiếu Phi phàm Khiếu,

此 竅非 凡 竅

Kiền Khôn cộng hiệp thành,

乾 坤共 合 成

Danh vi Thần Khí huyệt,

名 為神 氣 穴

Nội hữu Khảm Ly tinh.

內 有坎 離 精

Khiếu này chẳng phải Khiếu Phàm,

Kiền Khôn cộng lại mới hoàn thành nên.

Thần Khí Huyệt ấy chính tên,

Trong có Ly Khảm tinh nguyên đất trời.

Chính là để chỉ Khiếu này.[10]

Hình 21. Cốc Thần 谷 神

(Giữa hình vẽ trên, có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài chia thành 2 nửa: Nửa phải trắng, có chữ Cốc; nửa trái đen cũng có chữ Cốc. Hình tròn trắng giữa có chữ Thần. Phía phải có 4 chữ: Âm Dương tương hợp; phía phải có chữ: Cốc thần thường tồn; phía dưới có các chữ: Cốc đắc Nhất dĩ doanh.)

Cốc Thần là Thần ở trong Không Cốc. Hang tên là Nhai Oa Oa.

Vì 2 bên là núi cao, giữa có một hang. Người nói trong hang, phát thành tiếng vang, nên gọi là Cốc Thần.

Người tu Đạo mượn cảnh này để ví dụ thần Hư Linh trong con người.

Vì Tâm Hư thời Linh. Không Hư thì không Linh. Linh sinh ra từ Hư cho nên gọi là Cốc Thần.

Thần là Vô Hình Vô Tượng, linh không thể tưởng, cho nên nói: Tịch Nhiên Bất Động, Cảm Nhi Toại Thông, đó là Thần này. Ngưng kết Thánh Thai cũng là Thần này.

Kẻ ngu không biết, nên gọi Thần Tồn Thiên Cốc hay Thần Thủ Huỳnh Đình là Dưỡng Cốc Thần, không phải vậy.

Nói Thần Tồn Thiên Cốc hay Thần Thủ Huỳnh Đình, thì là thần bất hư, thì làm sao có thần. Bất hư là không có Thần, thì làm sao mà gọi là Cốc Thần được.

Ngộ Chân Thiên viết:

Yếu đắc Cốc Thần trường bất tử,

要 得谷 神 長 不 死

Tu bằng Huyền Tẫn lập căn ki.

須 憑元 牝 立 根 基

Chân tinh ký phản Hoàng Kim thất,

真 精既 返 黃 金 室

Nhất khỏa linh quang vĩnh bất ly.

一 顆靈 光 永 不 離

Muốn được Cốc Thần thường Bất Tử,

Huyền Tẩn phải lo lập căn ki.

Chân tinh về được Huỳnh Kim thất,

Một hạt Minh Châu chẳng hề ly.

Huyền Tẫn mà hợp thì giữa sẽ trống. Trống thì Chân Linh sẽ thường tồn, và sẽ không tối tăm. Chân Tinh, Linh Quang hay Cốc Thần đều là những tiếng ví dụ cái Chân Linh đó vậy.[11]

Hình 22. Kim Đỉnh, Ngọc Lô 金 鼎 玉 爐

(Hình này, trên có hai quẻ Kiền (đen), Khôn (trắng). Dưới quẻ Kiền có ghi: Kiền cương tác Đỉnh dược bất phi. Dưới quẻ Khôn có ghi: Khôn Nhu vi Lô hỏa bất táo.)

Kim Đỉnh là vật Cương Cường Kiên Cố. Dụ nhân chí niệm chuyên nhất, có thể Tải Đạo, lại còn gọi là Kim Đỉnh.

Ngọc Lô là Ôn Nhu Bình Tĩnh chi vật, dụ Công Phu tiệm tiến của con người, có thể Bền Xa, cũng còn gọi là Khôn Lô.

Kẻ ngu không biết, nên làm đỉnh sắt, đắp lò đất, để thiêu luyện kim thạch, mong luyên thành đơn, không phải vậy.

Vì Vạc hay Lò hữu hình thì chỉ có thể luyện hữu hinh phàm dược, chứ không luyện được Tiên dược vô hình.

Cổ Tiên nói:

Đỉnh đỉnh nguyên vô đỉnh, Lô lô diệc phi lô

鼎 鼎 原 無 鼎 爐 爐 亦 非 爐

(Đỉnh vốn không phải Đỉnh, Lô thật sự chẳng phải Lô).

Gọi là Lô Đỉnh là chỉ công phu của người Tu Đạo, biết sử dụng Cương Nhu để làm nên chuyện.

Cũng như các nhà nhiêu luyện gia nói:

Có Đỉnh không thể không có Lô, có Lô không thể không có Đỉnh. Có đủ Đỉnh Lô mới có thể thành dược vậy.

Hình 23. Ô Thố, Dược Vật 烏 兔 藥 物

(Hình vẽ này trên có 2 quẻ Ly và Khảm. Dưới chữ Ly có chữ Nhật, dười chữ Khảm có chữ Nguyệt. Các hào dương trong 2 quẻ Khảm Ly đều tô đen, các hào Âm đều tô trắng. Các Hình từ 23 đến 26 cũng theo một lối như vậy. Dưới quẻ Ly, có hàng chữ: Ký khu nhị vật qui Hoàng Đạo, dưới quẻ Khảm có hàng chữ: Trẩm đích Kim Đơn bất giải sinh.)

Trong Nhật, có Kim Ô, là Âm ở trong Dương, trong Nguyệt có Ngọc Thố, là Dương ở trong Âm. Ở nơi quẻ, thì Nhật là Ly, ngoài là Dương trong là Âm, ý muốn nói trong Cương có Nhu. Nguyệt ở quẻ là Khảm, ý muốn nói trong Nhu có Cương.

Đạo Kim Đơn chỉ cốt là lấy Nhu ở trong Cương, lấy Cương ở trong Nhu. Đó là hai vị Chân Âm Chân Dương của Đại Dược. Khi dung hóa chúng thành Nhất Khí thì gọi là Đơn.

Gọi là Dược Vật vì Chân Âm, Chân Dương có thể cải lão hoàn đồng, diên niên ích thọ vậy.

Đến như nói Qui Xà bàn kết, Thủy Hỏa tương tế, thì cũng là ý đó, thủ tượng đa đoan để nói lên Đạo Chân Âm Chân Dương hợp nhất.

Kẻ ngu không hiểu, thấy hai chữ Ô, Thố, thì dùng miệng đề húy Nhật Tinh, Nguyệt Hoa, hoặc dùng mắt để tiếp Nhật Tinh Nguyệt Hoa, như vậy là sai.

Vả Trời có Nhật Nguyệt của Trời, người có Nhật Nguyệt của người.

Chân Âm Chân Dương trong con người chính là Ô Thố, Nhật Nguyệt vậy.

Thiên biên Nhật Nguyệt Tinh Hoa, với ta rất xa, làm sao mà hái về được. Nếu như hái được thì chỉ là Ngoại Thân Tà Khí mà thôi.

Lâu ngày trong thì sẽ sinh bệnh cổ trướng, ngoài thì bị mù, không được ích lợi gì cả, chỉ bị tổn hại mà thôi.

Hình 24. Long Hổ tương hội 龍 虎 相 會

(Hình vẽ này có 2 quẻ Chấn Mộc, Đoài Kim. Dưới quẻ Chấn có hai hàng chữ: Long tòng Đông Hải lai, Hồ hướng Tây Sơn xuất. Dưới quẻ Đoài có hai hàng chữ: Lưỡng thú chiến nhất tràng, Hóa thành Thiên Địa Tủy.)

Long Tính Nhu chủ sinh Vật, thuộc Mộc, tại quẻ là Chấn, dụ là Nhu Tính con người.

Chấn vốn là Dương, nhưng lại có Tượng Nhu, vì là Dương Thiểu Âm Đa vậy.

Hổ Tính Cương chủ Sát vật, chủ Kim, ở nơi quẻ là Đoài, dụ là Cương Tình của con người.

Đòai vốn là Âm, nhưng lại có Tượng Cương, vì Âm Thiểu Dương Đa vậy.

Tính ấy, tình ấy, đôi bên xa cách nhau, đó là Khí Tính Trần Tình làm Thương Sinh. Nếu hai bên tương hợp thì là Chân Tính, Chân Tình và Ích Sinh. Long Hổ tương hội, thế là Dĩ Tính Cầu Tình, Dĩ Tình qui Tính, Tính Tình hợp nhất vậy. Đến như Đông Gia Nữ, Tây Xá Lang mà phối hợp thành phu thê, Trưởng Nam, Thiếu Nữ lưỡng gia hợp nhất, Kim Mộc tương tính, các tượng như vậy, đều là ví dụ cho cái Chân Tính Chân Tình giao hội.

Kẻ ngu không biết coi Gan là Long, coi Phổi là Hổ, vận Can Phế chi khí về tim Rốn (trung tâm của Rốn), hay về Đan Điền, hay về Huỳnh Đình, tưởng thế là Long Hổ Giao Cấu, như vậy là sai.

Có biết đâu rằng Can Phế chi khí là Hậu Thiên hữu hình chi khí, không thể đem về ngưng kết ở một nơi nào, thế là miễn cưỡng đoàn tụ, lâu ngày sẽ thành bệnh Cổ, không thuốc gì chữa nổi, làm cho mình chóng chết thật là ngu vậy.

Hình 25. Khảm Ly điên đảo 坎 離 顛 倒

(Hình vẽ này có quẻ Khảm ở trên, quẻ Ly ở Dưới (Thưỷ Hỏa Ký Tế). Bên phải có hàng chữ: Thủ tương Khảm vị Tâm Trung Thực; bên trái có hàng chữ: Điểm hóa Ly cung Phúc nội Âm; Phía dưới có chữ Thủy Hỏa tương tế.)

Quẻ Khảm Âm Ngoài, Dương trong; quẻ Ly Dương Ngoài, Âm Trong.

Dương trong là Thủy, Âm ngoài là Hỏa.

Đơn Đạo lấy hào Dương trong quẻ Khảm, thay cho hào Âm trong quẻ Ly.

Lấy nước giúp lửa, nên gọi là Thủy trên Hỏa dưới, là Thủy Hỏa Điên Đảo, hay Khảm Ly điên đảo.

Nói thế là muốn chỉ về Thần Thủy của Đạo Tâm Chân Tri, dùng để chế ngự Tà Hỏa của Nhân Tâm Linh Tri vậy.

Chân tri của ta, thì Ngoài Tối trong sáng, như quẻ Khảm ngoại Âm, nội Dương. Linh Tri của ta, thì Ngoài Sáng Trong Tối, như quẻ Ly, ngoại Dương, nội Âm. Dùng Chân Tri để chế Linh Tri, dùng Linh Tri để thuận Chân Tri, Chân Linh như nhất, ngưng kết thành Đơn, cũng y như Điên Đảo Khảm Ly, Thủy Hỏa tương tế vậy.

Đến như Anh Nhi, Xá Nữ, Hắc Diên, Hồng Cống cũng đều cốt hình dung Chân Tri, Linh Tri để cho hai bên hợp nhất vậy.

Kẻ ngu không biết, gọi Thận là Khảm, gọi Tim là Ly, vận thận khí giao lên Tâm, vận Tâm Khí giao xuống Thận, gọi thế là Điên Đảo Khảm Ly. Và còn có Thái Thủ Khuê Đơn. Gọi Nam nữ là Anh Nhi, Xá Nữ, gọi Đàn Ông nằm dưới, Đàn Bà nằm trên là Khảm Ly Điên Đảo. Các nhà Thiêu Luyện gia còn gọi là dùng Hắc Diên Chế Thủy Ngân, hoặc dưới Lò có Lửa, trong Vạc chứa nước, thế là Khảm Ly Điên Đảo, là Thủy Hỏa Tương Tế, những chuyện đó đều sai.

Phàm Đạo Tu Chân là chỉ tu những gì Chân Chính.

Cái gì là hữu hình là Vật Chất Cặn Bã đều không phải.

Cái gì là Giả là không Chân Thật thì làm sao có thể là Chân được.

Hình 26. Ngũ Hành Điên Đảo 五 行 顛 倒

(Hình này có 4 quẻ: Ly, Chấn ở phía phải, Khảm Đoài ở phía trái. Ở phía dưới bên phải có 2 hàng chữ: Ngũ Hành Bất Thuận Hành, Long tòng hỏa lý xuất; phía dưới bên trái có 2 hàng chữ: Ngũ Hành điên đảo thuật, Hổ hướng Thủy trung sinh.)

Ngũ Hành Thuận sinh là Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy.

Ngũ Hành Điên Đảo là Hỏa sinh Mộc, Thủy sinh Kim.             

Vì Gỗ mà đã sinh từ Lửa, thì là thứ gỗ không thể bị hủy hoại, như Mộc đã bị Hỏa đoàn luyện thành Khôi (tro), xuống đất thành thường tồn bất hoại.

Kim mà sinh xuất từ Nước thì sẽ thành loại Kim bất hoại. Như Tán Kim Lô Trung, hợp thành một khối, phía ngoài sáng láng.

Hỏa Sinh Mộc là ví dụ về Bản Tính Con Người, sinh ra từ lò Đại Tạo, là thứ Tính không hề bị Dao Động.

Thủy Sinh Kim là ví dụ Chân Tình Con Người, đã vượt qua bể dục, đã thoát ba đào, là thứ Tình không còn nhiễm Trần Cấu.

Cổ Tiên xưa nói:

Ngũ Hành Thuận Hành, Pháp Giới Hỏa Khanh, Ngũ Hành Điên Đảo, Đại Địa thất Bảo

五 行 順 行 法 界 火 坑 五 行 顛 倒 大 地 七 寶

chính là vì vậy.

Người ngu không biết nên vận Đông chuyển Tây, thái hạ, bổ thượng, lộn lạo trước sau, cho thế là Ngũ Hành Điên Đảo. Không phải vậy.

Có biết đâu rằng trong người ta là Thuần Âm, ngoài thì có Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, mà Nhãn Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, cũng đều là giả vật. Khi yết hầu đứt hơi, thì con người chỉ là một đống huyệt nhục xú uế. Có cái gì là Chân đâu. Dùng những giả vật như vậy mà mơ sẽ Liễu Tính, Liễu Mệnh, thì làm sao mà được?

Hình 27. Huỳnh Bà Môi Sính 黃 婆 媒 娉

(Hình vẽ có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn bên trong, nơi Tứ Chính có 4 chữ: Hỏa, Kim, Thủy, Mộc. Chính trung có chữ Mậu Kỷ, Phía dưới có 2 hàng chữ: Bên phải ghi: Ly Khảm hoàn vô Mậu Kỷ; bên trái ghi: Tuy hàm Tứ Tượng bất thành Đơn.)

Huỳnh Bà là trung ương thổ mẫu, có thể điều hòa Âm Dương, hòa hợp tứ tượng, cho nên gọi là Huỳnh Bà. Đơn Thư ví dụ đó là Chân Ý của Chân Tín, nó có thể hòa hợp Tính Tình, dưỡng Tinh Thần.

Chân Ý Chân Tín tức là Huỳnh Bà trong chúng ta. Gọi là Hoành Trung thông lý chính là vì thế.[12]

Kẻ ngu không biết dùng ý vận khí Ngũ Tạng, hội họp lại gọi là Huỳnh Bà Môi Sính. Lại còn có những kẻ tạo nghiệt coi một Bà Già biết nói, chuyên xui Nam Nữ hành dâm, lấy con gái trinh, lấy kinh nguyệt đầu tiên, lấy tinh huyết trai gái là Huỳnh Bà Môi Sính thật là quá sai vậy.

Chân Thổ thời Vô Vị, Chân Ý thời vô hình, Không vật nào mà không sinh, không lý nào mà không có, có thể Hội Tam Gia, hợp Ngũ Hành, nên gọi là Huỳnh Bà Môi Sính, chứ đâu phải là một Lão Phụ tác yêu, tác quái.

Hình 28. Nhị Bát Lưỡng Huyền 二 八 兩 弦

(Giữa Hình này có một vòng tròn đen trắng chia đôi: nửa phải trắng, nửa trái đen, phía phải có dòng chữ: Thượng Huyền Kim Bát Lạng, phía trái có chữ: Hạ Huyền Thủy Bán Cân; phía dưới có hai dòng chữ: Lưỡng Huyền hợp Kỳ Tinh, Kiền Khôn thể nãi thành.)

Mặt trăng giữa 2 ngày Hối Sóc thì tương giao với Mặt Trời.

Đến ngày mồng 3 thì đã hơi sáng, tới ngày mồng 8, thì Âm trung Dương bán như hình dây cung, nên gọi là Thượng Huyền.

Đến ngày 16 thì tròn đầy, có chút thai âm bên trong, Tượng có chút đen.

Đến ngày 23 thì Dương trung Âm bán, như hình dây cung. Thế là Hạ Huyền.

Thượng Huyền được Thủy Trung Chi Kim tám lạng. Hạ Huyền được Kim Trung Chi Thủy tám lạng. Hai Tám là Một Cân.

Kim Thủy cùng đình, là tượng Âm Dương tương hợp. Đơn Thư mượn thế để dụ Cương Nhu tương Đáng, bất Thiên bất Ỷ, chí Trung, chí Chính.

Kẻ ngu không hiểu cho rằng khi con trai 16 tuổi, thì nhị bát Lưỡng Huyền chi khí túc, phải lặc bế Âm tinh, hoặc cho rằng Hắc Diên bát lạng, Thủy Ngân nửa cân là Nhị Bát Lưỡng Huyền chi dược liệu, dùng để Thiêu Luyện, Phục Thực, đều không phải vậy.

Tứ Bách Tự viết:

Thượng Huyền Kim Bát lạng.

      上 弦金 八 兩

Hạ Huyền Thủy Bán Cân,

      下 弦水 半 斤

Lưỡng Huyền hợp kỳ Tinh,

      兩 弦合 其 精

Kiền Khôn Thể Nãi Thành.

      乾 坤體 乃 成

Lưỡng Huyền là Nhất Âm, Nhất Dương. Kiền Cương là Dương. Khôn Nhu là Âm. Âm Dương tương phối, Kiền Khôn Thể Thành.

Đơn Nguyên có tượng như vậy. Như vậy là hiểu được ý của Lưỡng Huyền.

Hình 29. Thử Mễ Châu 黍 米 珠

(Hình này chính giữa có một vòng tròn trắng. Chính giữa có chữ Châu, Trên dưới có hai chữ: Hồng Mông. Phía phải có chữ: Tiên Thiên, Tiên Địa; Phía trái có chữ: Bất Sắc, bất Không ; Phía dười có hàng chữ: Thái Ất hàm Chân Khí.)

Con người trước khi sinh ra, khi còn ở trong bào thai, khi còn Hỗn Hỗn, Độn Độn, hôn hôn, mê mê, chỉ có Hồn Nhiên Nhất Khí ban tòan, không có vật chi khác, nên gọi là Thái Ất hàm Chân Khí.

Khí này Chí Thần, Chí Diệu, Chí Hư Chí Linh; Chí Vô nhưng tàng Chí Hữu ; Tam Nguyên, Bát Quái, Tứ Tượng Ngũ Hành đều bao gồm ở bên trong. Nên tuy Vô Hình mà vẫn biến hóa vô cùng. Ngũ tạng,Lục Phủ, Cửu Khiếu, Bách Hài đều tự nhiên thành tựu.

Vì nó Chí Thần, Chí Diệu, Chí Hư, Chí Linh, nên còn gọi là Chân Linh, hay Bất Thần Chi Thần.

Khi còn trong lòng mẹ, một Khí Hàm Chân, gọi là Chân Khí.

Khi đã lọt lòng mẹ, thì Linh hàm Nhất khí nên gọi là Linh Khí. Một Khí làm thể, còn Chân Không, Chân Linh làm dụng, tức là Chân Khí, Chân Linh, Chân Không, Diệu Hữu. Tên tuy có khác, nhưng chỉ là Nhất Chân.

Cái Chân nàu vô hình, vô tượng, vô thanh, vô xú, không thể dùng lời mà truyền, không thể dùng bút mà vẽ. Nó phảng phất hìng dung chẳng qua chỉ nhỏ như một hạt lúa.

Cho nên Cổ Tiên xưa đều gọi cái Chân này là Thử Mễ Bảo Châu 黍 米寶 珠.  Tuy gọi là Thử Mễ, nhưng không có hình dáng của một hạt lúa. Vì nó có một điểm Linh khí ẩn tại Trung Ương, nên gọi là Thử Mễ. Vì nó có một điểm Linh Khí của một hạt lúa, nên hỗn độn hư không bao trùm tam giới, nên gọi là Thử Mễ Châu. Suy cho đến căn để, thì chỉ là Hồng Mông vị phán chi khí mà thôi.

Kẻ ngu không biết nên nghĩ rằng Nữ tử thủ Kinh trung Mai Tử là Thử Mễ Châu, còn các nhà Công Phu thì lài cho rằng tụ thần vào Ming Đường lâu sẽ thất ánh sáng tán ra là Thử Mễ Châu, tất cả đều sai.

Vả Hồng Mông vị phán chi Thử Châu là Sinh thánh, sinh Hiền, thành tiên, thành Phật chi Linh Bảo chứ đâu phải là Trọc Huyết, hay là Tồn Tưởng chi quang?

Sách Tứ Bách Tự nói: Hỗn Độn bao Hư Không, Hư Không bao Tam giới 混 沌包 虛 空 虛 空 包 三 界.

Tìm căn nguyên của Nhất Lạp Thử, Trương Tam Phong đời Tống nói:

Thùy bất tri, Thùy bất hội, Thùy bất hành, đô chỉ tại Hồng Mông vị phán nhất lạp thử mễ thượng mê

誰 不 知 誰 不 會 誰不 行 都 只 在 鴻 濛 未 判 一 粒 黍 米 上 迷

(Ai không hiểu, ai không hay, ai không hành, chỉ vì không hiểu Hồng Mông vị phán nhất lạp mễ châu mà thôi).

Hình 30. Hỏa Hầu quải tượng 火 候 卦 象

(Hình vẽ này, là một hình tròn trắng, trong có các chữ: Lục thập quải tại nội hành. Ở Tứ Chính có 4 chữ: Kiền, Khôn, Khản, Ly. Phía phải có chữ: Cương Nhu vi thể; phía trái có chữ: Hối Minh vi dụng; phía dưới có 2 dòng chữ: Dương Hỏa hữu Thời; Âm Phù hữu Hậu.)

Sách Đơn Kinh mượn 64 quẻ gọi là Dương Hỏa, Âm Phù chi pháp tượng.

Gọi Kiền Khôn là Đỉnh Lô vì coi Âm Dương Cương Nhu là Thể, gọi Khảm Ly là Dược Vật, vì chúng Cương Nhu Trung Chính nên là Dụng.

Gọi Phục Cấu là Âm Dương giao giới. Vì thấy Cương Nhu vận dụng có thời tiết.

Gọi Truân Mông là Tạo Hóa chi thủy, vì cho rằng khi đáng Tiến Dương Hỏa thì Dụng Cương, đáng Thoái Hỏa thì phải Dụng Nhu; gọi Ký Vị là Tạo Hóa chi Trung. Khi cần Dương Hỏa thí dụng Cương, nhưng không Thái Quá; Khi đáng Thoái Âm Phù thì Dụng Nhu, nhưng không được Bất Cập.

Kỳ dư còn 54 quẻ đều tùy vào các quẻ Kiền Khôn, Khảm Ly, Phục Cấu, Truân Mông, Ký Vị, mà vận dụng cho thật tự nhiên. Nói tóm lại, đều cốt sao cho Âm Dương tương đáng, hai bên hợp nhất, quay về Hỗn Thành Nhất Tượng mà thôi.

Kẻ ngu không biết, y cứ vào chuyện 64 quẻ có dính líu tới năm, tháng, ngày, giờ, mà cưỡng bách dụng công trên đó, thiệt là không phải.

Vả Âm Dương Tạo Hóa nhất khí lưu hành, chu nhi phục thủy, tuần hoàn vô đoan, chú đâu có vận hành theo 64 quẻ. 64 quẻ là do thánh nhân Quan Thiên, Tượng Địa, thể theo Âm Dương Tạo Hóa và vẽ thành 64 quẻ đề giải thích Âm Dương Tạo Hóa vậy.

Nhân Thân Tạo Hóa, với Thiên Địa Tạo Hóa tương hợp, thì tự nhiên cũng có 64 quẻ, cần gì phải nệ văn, chất tượng đâu?

Hình 31. Sinh Ngã chi Môn 生 我 之 門

(Hình vẽ này giữa có một hình tròn gần đen hết. Duy phía dưới có hình Vầng Trăng Lưỡi Liềm Yểm Nguyệt Lô. Bên phải có chữ: Dược Xuất Tây Nam thị Khôn Vị. Bên Trái có chữ: Dục tầm Khôn Vị, khởi ly nhân, phía dưới có chữ: Tây Nam Đắc Bằng.)

Mặt trăng khi đến Tây Nam thời hết sức Tối, và ánh sáng bắt đầu sinh.

Tây Nam thuộc Khôn, là Phương Thuần Âm.

Thuần Âm chi hạ, nhất Dương tiềm sinh, như vậy trên là quẻ Khôn, Dưới là quẻ Chấn, tại quẻ là Phục, tại mặt trăng là Yểm Nguyệt, đều muốn dụ rằng: Khi cực Tĩnh, thì Thiên Tâm hiện lộ, cũng gọi là Đạo Tâm, hay Thiên Lương Chân Tâm, như trước đã nói là Yển Nguyệt Lô.

 Nếu thấy được cái Tâm đó, bảo thủ nó không cho mất đi, mượn nó để Tiến Dương, thoái Âm, như mèo bắt chuột, thì Dương sẽ tiệm sinh, Âm sẽ tiệm thoái. Âm tận Dương Thuần, thế là thành Tiên. Nên gọi Tây Nam Khôn Vị là Sinh Ngã chi môn.

Kẻ ngu không biết, tưởng Âm Hộ đàn bà là Sinh Ngã chi môn.

Âm Hộ là chỗ sinh ra con người, làm sao mà sinh Tiên cho được?

Hình 32. Tử Ngã Chi hộ 死 我 之 戶

(Hình vẽ, có hình tròn, trên có Một vầng Trăng Lưỡi Liềm úp. Phía dưới là một vòng tròn gần đen tuyền. Phía Phải có chữ: Dương Khí tương Tận; Phía trái có chữ: Âm Khí tương Thuần. Phía dưới có chữ: Đông Bắc táng Bằng.)

Nguyệt từ Đông Bắc, Dương quang tận diệt.

Đông Bắc thuộc Cấn, Âm Khí tương thuần.

Dương quang còn một chút, nên có Tượng Thượng Cấn Hạ Khôn.

Ở nơi quẻ là quẻ Bác. Tại Mặt trăng thì là hình Phúc Uyển (Chén úp) đều muốn chỉ dụ Khách Khí muốn bác tiêu Khí Chân Nguyên.

Nếu có một Trượng Phu Siêu Việt, có một Dũng Mãnh Nam Tử mà biết đốn ngộ, hồi đầu, mượn vào một điểm Dư Dương đó mà phá tan được u ám bên ngoài, mà biết dụng công tu trì, thì cũng có thể Phản Bản Hoàn Nguyên.

Còn những kẻ Phàm Phu u mê không chịu giác ngộ, cứ thuận theo Âm Khí mà phá bác Dương Quang, thì Dương sẽ tận và Âm sẽ thuần, làm sao mà không chết cho được?

Dịch viết: Đông Bắc táng Bằng (Dịch Kinh Đại toàn, quẻ Khôn, Thoán truyện). Đơn kinh cũng gọi là Ngã tử chi hộ.

Kẻ ngu không biết, coi Âm Hộ đàn bà là Cửa Tử con người, đó là sai vậy.

Vả Sinh Môn, Tử Hộ đều là Vô Hình Vô tượng chi Môn Hộ. Nhân vì cho rằng Thuận Âm thời chết, Nghịch Dương thời Sinh, nên mới gọi là Sinh Môn, Tử Hộ, kỳ thật chì là Một Khiếu mà thôi. Cổ Tiên gọi nó là Sinh Tử quan. Tuy gọi là Quan, nhưng thực ra là Không Chốn, Không Nơi. Gọi cưỡng ép thôi.

Ngộ Chân Thiên nói:[13]

Tu tương Tử Hộ vi Sinh Hộ,

須 將死 戶 為 生 戶

Mạc chấp Sinh Môn hiệu Tử môn

莫 執生 門 號 死 門

Nhược hội Sát Cơ minh phản phục,

若 會殺 機 明 返 覆

Thủy tri hại lý khước sinh ân.

始 知害 裡 卻 生 恩

Phải biến Tử Hộ thành Sinh Hộ

Chớ chấp Sinh Môn gọi Tử Môn.

Gặp phải Sát Cơ, rành phản phục,

Mới hay trong Hại lại sinh Ân.

Như vậy, mới hiểu nghĩa của Sinh Môn, Tử Hộ.

Hình 33. Hữu Vi chi khiếu 有 為 之 竅

(Hình vẽ này chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn trong cùng được chia đôi theo chiều dọc. Vòng tròn ngoài, phía bên trong nơi Tứ Chính, có các chữ: Hỏa Thủy, Kim Mộc. Phía bên ngoài, cũng nơi Tứ Chính, có các chữ: Chu Sa, Xích Xà; Ô qui, Hắc Diên; Bạch Hổ, Kim Tinh; Thanh Long, Mộc Hống; Phía phải có hàng chữ: Nữu Chuyển Kiền Khôn; phía trái có hàng chữ: Thiết Đoạt Tạo Hóa.)

Hữu Vi chi Đạo, là công phu Hữu Dục Quan Kiếu 有 欲 觀 竅 (ĐĐK, Chương 1): Có Dục Tình thì chỉ thấy được những hình tướng vạn thù, sai biệt bên ngoài mà thôi.

Quan Kiếu là Quan Âm Dương Tạo Hóa chi Kiếu, nhờ Hậu Thiên phản Tiên Thiên, Hòa Hợp Tứ Tượng, Toản Thốc Ngũ Hành, Thái Dược từ Hoàn Đơn đến Kết Thai, công trình thứ tự đều đủ trong đó. Nếu không được Chân Sư khẩu truyền, tâm thụ, thì sẽ sai một ly, đi một dặm.

Kẻ ngu không biết, nên từ các thân Ảo Bì Nang điều động khí huyết lung tung, gọi thế là hành đạo Hữu Vi, như vậy là sai.

Đạo Kim Đơn là một học thuật Tiên Thiên, có thể xoay chuyển Âm Dương, thiết đoạt Tạo Hóa, nghịch hồi Khí Cơ, điên đảo Kiền Khôn, Đi trước Trời mà Trời không trách. Chứ đâu phải là hành hạ cái xác thân hữu hình hữu vật này mà thành Đạo ấy được?

Chính Dương Ông nói:

Thế, Thóa, Tân, Tinh, Khí, Huyết, Dịch, Thất ban Linh Vật tổng giai Âm, Nhược tương thử vật vi Đơn bản, Chẩm đắc phi thăng triêu Ngọc Kinh

涕 唾津 精 血 液 七 般 物 總 皆 陰 若 將 此 物 為 丹 本 怎 得 飛 升 朝 玉 經

(Nước mắt, rãi, bọt, tinh, khí, huyết, dịch, tất cả đều là Âm Chất, dùng những thứ ấy để luyện Đơn, thì làm sao lên chầu Ngọc Kinh được?)

Tử Dương Ông nói:[14]

Yết tinh, nạp khí thị nhân hành,

嚥 精 納 氣 是 人 行

Hữu dược phương năng tạo hóa sinh.

有 藥 方 能 造 化 生

Đỉnh trung nhược vô Chân Chủng Tử,

鼎 中 若 無 真 種 子

Do tương Thủy Hỏa chử không xanh.

猶 將 小 火 煮 空 鐺

Yết tân, nạp khí chuyện con người,

Phải có Chân Diên mới tạo thai.

Trong Đỉnh nếu không Chân Chủng Tử,

Thì là không thuốc ở trong nồi.

Ôi Kim Hà Mô, Ngọc Lão Nha, nhận ra được và làm bạn với chúng, Đạo Hữu Vi đâu có dễ biết.

Hình 34. Vô Vi chi Diệu 無 為 之 妙

(Hình vẽ này chính giữa có hình tròn trắng đề 2 chữ Thánh Thai, Bên phải có hàng chữ: Ôn Dưỡng Thập Nguyệt, Thần Đơn kết, bên trái có hàng chữ: Nam nhi hoài thai khởi đẳng nhàn; phía dưới có hàng chữ: Vô Dục dĩ quan kỳ Diệu.)

Đạo Vô Vi là công phu Vô Dục dĩ quan diệu 無 欲 以 觀 妙: Không có dục tình mới thấy được Bản Thể vi diệu của Đạo. Đó là chuyện phải làm khi Thánh Thai đã Ngưng Kết về sau. Thế là Tĩnh Quan Nhất Khí biến hóa chi diệu 靜 觀 一 氣 變 化 之 妙.

Sau khi Thánh Thai đã ngưng kết rồi, sau khi Hậu Thiên đã phản hoàn Tiên Thiên, thì chỉ còn dùng công phu Mộc Dục Ôn Dưỡng, vật vong, vật trợ (đừng có xao lãng, đừng có nong sức trưởng thành của công việc),[15] vận Thiên Nhiên Chân Hỏa để huân chưng biến hóa, thì tự nhiên vô hình sẽ sinh hình, vô chất sẽ sinh chất, Dưa chín sẽ rụng cuống, anh nhi sẽ xuất hiện, và công phu Phanh Luyện Vũ Hỏa trước kia, nay không còn phải dùng nữa.

Kẻ ngu không biết, chưa đi đến chỗ tuyệt cùng của Tính Mệnh, chưa biết Tính Mệnh là gì, chưa hiểu thế nào là Tu Đạo, học được vài điều lăng nhăng của bàng môn tả đạo, hoặc của tiểu thừa, rồi cũng vào núi tĩnh tọa, hay đóng cửa Định Thần, gọi thế là đạo Vô Vi, thật là sai vậy.

Phàm Tính Mệnh thì phải Song Tu, và công phu chia làm hai phần: Một là Hữu Vi để Liễu Tính, hai là Vô Vi để Liễu Mệnh. Chứ đâu phải là Không Không Tĩnh Tọa mà có thể Liễu Tính Mệnh được. Ngộ Chân nói:[16]

Vị luyện hoàn đơn mạc nhập sơn,

未 煉 還 丹 莫 入 山

Sơn trung nội ngoại tận phi Diên.

山 中 內 外 盡 非 鉛

Thử ban chí bảo gia gia hữu,

此 般 至 寶 家 家 有

Tự thị ngu nhân thức bất toàn.

自 是愚 人 識 不 全

Chưa luyện hoàn đơn chớ nhập sơn

Trong núi không hề có Chân Diên.

Quí ấy xưa nay ai cũng có,

Chỉ tại ngu si, hiểu chẳng toàn.

Cũng còn nói:

Thủy ư hữu tác vô nhân kiến,

始 於有 作 無 人 見

Cập chí Vô Vi chúng thủy tri.

及 至無 為 眾 始 知

Đãn kiến Vô Vi vi yếu diệu,

但 見無 為 為 要 妙

Khởi tri Hữu tác thị Căn Ki. [17]

豈 知有 作 是 根 基

Đầu tu Hữu Tác, người không biết,

Vào tới Vô Vi chúng mới hay.

Chỉ biết Vô Vi là yếu diệu,

Biết đâu Hữu Tác chính căn ki.

Như vậy có thể biết thế nào là Hữu Vi, Vô Vi. Nó có thời kỳ, và đều có tác dụng nhưng không giống nhau.

Hình 35. Hỗn tục hòa quang 混 俗 和 光

(Hình vẽ này giữa có một hình vuông, bao ngoài bằng một hình tròn trắng. Bên phải có hàng chữ: Viên dĩ ứng ngoại; Bên trái có hàng chữ: Phương dĩ trị nội. Phía dưới có hai hàng chữ: Hỗn tục nhân bất thức, Hòa quang Đạo dị thành.)

Hỗn tục hòa quang chính là phong cách: Đại Ẩn thị triền 大 隱 市 廛 (Đại Ẩn nơi chợ búa). Hỗn tục là: Sống giữa quần chúng mà người không ai hay. Hòa Quang là Hòa nhi bất đồng, tại Trần xuất trần vậy. Có thể Hỗn tục hòa quang, là ngoài thì tròn để thích ứng với mọi vật, trong thì vuông là trong thì có Chủ Tể. Theo Thế Pháp mà vẫn tu Đạo Pháp, sáng tối hay nghịch thuận không có gì trở ngại, nên hành Đạo dễ dàng.

Kẻ ngu không biết, lại tưởng rằng Hỗn Tục Hòa Quang, là ban ngày thời ứng sự, ban đêm thời tĩnh tu, không phải vậy.

Nếu đúng như vậy, thì nói Tòng Tục là đúng, nói Hỗn Tục là không đúng, nói Tế Quang (che Ánh sáng) thì đúng, chứ Hòa Quang thì không phải.

Vả cái Đạo Hỗn Tục Hòa Quang có thể đoạt Thiên Địa Tạo Hóa, ăn cắp Âm Dương Sinh Sát chi quyết, chứ nó đâu phải dễ biết dễ làm?

Hình 36. Dược qui Thổ Phủ 藥 歸 土 釜

(Hình vẽ này có một vòng tròn trắng chia đôi, nửa phải có chữ Dương, nửa trái có chữ Âm. Phía phải có 2 dòng chữ: Dòng trong là Huỳnh Đình, dòng ngoài là Bất Thiên Bất Ỷ. Phía trái cũng có 2 dòng chữ: Dòng trong là Hoàng Trung, dòng ngoài là Chí Trung Chí Chính, Phía dưới có 2 dòng chữ là: Tam Gia tương Hội, Nhất Khí Hồn Nhiên.)

Thổ Tính ôn nhu có thể Dưỡng Vật, Kim chủ Phanh Tiễn có thể Thành Vật. Phủ 釜 (Chõ) bằng đất để Dưỡng Vật, Thành Vật. Nó không phải là thứ đất tầm thường, không phải là thứ chõ tầm thường.

Dược qui thổ phủ cốt nói lên rằng đó là Âm Dương Tương Hợp, là Thánh Thai ngưng kết đã có công phu ôn dưỡng.

Ôn Dưỡng thánh thai cốt là ý không bị phát tán, bao giờ cũng Doãn Chấp Quyết Trung, Âm Dương tương đáng, bất thiên, bất ỷ 允 執 厥 中 陰 陽 相當 不 偏 不 倚. Nên cũng gọi đó là Thổ Phủ. Nó cho cùng chỉ là MỘT CHỮ TRUNG mà thôi.

Giữ được Trung này thì Âm Dương Hòa, Ngũ Hành Toản (hợp nhất), thánh Thai toàn. Đánh mất cái Trung này, thì Âm Dương thiên, ngũ hành phân, thánh thai thương. Cho nên Thủ Trung là diệu quyết để ôn dưỡng Thánh Thai vậy.

Kẻ ngu không biết nên đắp là Địa Lô để Dưỡng Chu Sa, lấy Thủy Ngân của Chu Sa, coi Địa Lô là Thổ Phủ, hoặc Nê Lô làm Khôi Trì. Thiêu Diên nhập Khôi Trì để phân Ngân, coi Khôi Trì là Thổ Phủ, tất cả đều sai.

Tử Dã nói:

 Chân Thổ vô vị, Chân Ý vô hình. Vì Thổ Phủ ở chính trung, vô hình vô tượng, vô phương vô sở, nên dùng nó để thành toàn Thánh Thai. Vì thế nên gọi là Phủ, chứ đâu phải là Chỗ Đất thật đâu.

Hình 37. Ngưng kết Thánh Thai 凝 結 聖 胎

(Hình vẽ này, chính giữa có 3 vòng tròn đồng tâm. Vòng tronh cùng trắng có 2 chữ Thánh Thai, Vòng giữa đen tuyền, vòng ngoài cùng trắng. Phía phải có 4 chữ: Hùng Lý Hoài Thư, phía trái có 4 chữ: Động cực nhi tĩnh; Phía dưới có 4 chữ: Chập thần tàng khí.)

Thánh thai là Thánh Nhân chi Thai 聖 人 之 胎.

Tức là Vô Thức, Vô Tri Anh Nhi Bản Diện 無 識無 知 嬰 兒 本 面.

Đạo mà tới chỗ Vô Thức, Vô Tri, Bách Thần Hội Tập, Vạn Duyên câu tức, hỗn hỗn độn độn, nhập vào cảnh hoảng hốt yểu minh, thế là từ Hữu Vi mà nhập vào Vô Vi vậy.

Ngu nhân không biết nên hoặc vận cho Tâm Dịch Thận Khí tương giao ư Huỳnh Đình là Thánh Thai, hoặc Thần Tồn Trung Cung là Thánh Thai, hoặc Vận Khí cho Hậu thăng tiền giáng trú ở Đan Điền là Thánh Thai, tất cả đều không phải.

Thánh thai là cái gì Vô Hình, Vô Chất. Tuy gọi là Thai, nhưng thực ra không làm gì có thai. Gọi là Thai, bất quá là muốn hình dung Chân Linh ngưng kết không tan mà thôi.

Lấy Khí Huyết cưỡng ngưng thành thai, thì là Tróc tử chi quỉ thai, chứ không phải là Trường Sinh Thánh Thai đâu!

Hình 38. Thập Nguyệt thai viên 十 月 胎 圓

(Hình vẽ này, giữa có một hình tròn trắng; Phía phải có chữ Thần Toàn, Khí túc; phía trái có chữ Âm Tận, Dương Thuần; Phía dưới có các chữ: Kim Dịch đại Hoàn Đơn.)

Thập Nguyệt Thai viên là Thần Toàn, Khí túc, căn trần khứ tận, Khách Khí tiêu hóa, Âm tận Dương thuần chi tượng. Y như đàn bà mang thai 10 tháng, mới thành Toàn Đơn.

Đơn Đạo lấy Thập Nguyệt Thai đồ, để mà chỉ dụ chuyện này.

 Lại muốn nói rằng, khi Thánh Thai đã ngưng kết, thì phải phòng nguy, lự hiểm, mộc dục, ôn dưỡng cho tới lúc viên thành, vô khuy mới được.

Không phải lấy 10 tháng làm định kỳ.

Kẻ ngu không biết cứ chấp vào hai chữ 10 tháng. Hoặc Vận Khí, hoặc Tồn Tưởng, hoặc Ngưng Thần, vọng tưởng kết thai, lấy 10 tháng làm Định Kỳ, thật không phải vậy.

 Tu chân chi đạo từ Thái Dược, đến Phanh Luyện, Kết Đơn, Kết Thai, cho đến khi Thoát Hóa phải tốn một thời gian và một Công Phu vô lượng, chứ đâu phải chỉ mất 10 tháng. Nói 10 tháng là nói bóng gió, là dùng từ ngữ cho vui mà thôi.

Hình 39. Anh Nhi xuất hiện 嬰 兒 出 現

(Hình này, chính giữa có 2 vòng tròn, Vòng trên trắng có chữ Pháp Thân, vòng dưới đen có chữ Sắc Thân. Bên phải có các chữ: Khiêu Xuất Tam Giới Ngoại. Bên trái có các chữ Bất Tại Ngũ Hành trung; phía dưới có các chữ: Thân Ngoại hữu Thân.)

Anh Nhi xuất hiện, Thánh Thai thoát hóa chính là Thánh Thai. Thánh thai là từ trong Sắc Thân con người lại có thêm một Pháp Thân vậy. Thoát hóa là từ trong Sắc Thân lại sinh ra một Pháp Thân vậy.

Nhân vì trong Sắc Thân lại sinh ra một Pháp Thân, như đàn bà sau 10 tháng thai nghén lại sinh ra một anh nhi, cho nên gọi Pháp Thân là Anh Nhi. Anh Nhi xuất hiện, là Thân Ngoại Hữu Thân, siêu xuất Tam Giới, không còn ở trong Ngũ Hành, thoát khỏi Luân Hồi, cùng Đất Trời đồng thọ, bền vững cùng Mặt Trời, Mặt Trăng.

Kẻ ngu không biết, cho rằng Khảm Trung Chân Dương 坎 中 真 陽 là Pháp Thân Anh Nhi 法 身 嬰 兒, hoặc cho rằng Thận Trung Tinh Khí 腎 中 精 氣 là Pháp Thân Anh Nhi. Không phải vậy.

Khảm Trung Anh Nhi 坎 中嬰 兒 là Âm Trung Chi Dương 陰 中 之 陽, còn Pháp Thân Anh Nhi là Âm Dương hỗn hợp chi chân. Đến như Thận Khí, đó là Thận Trung Tà Hỏa, chứ tuyệt nhiên không có nghĩa là Anh Nhi, thì làm sao mà gọi  là Hồn Luân, Hỗn Hợp được.

Ngộ Chân Thiên viết:

Anh Nhi thị Nhất hợp Chân Khí,

嬰 兒 是 一 合 真 氣

Thập nguyệt thai viên nhập Thánh Ki.[18]

十 月 胎 圓 入 聖 基

Anh Hài là Nhất hàm chân khí

Thập nguyệt hoài thai hợp Thánh Ki.

Tứ Bách Tự viết:

Phu Phụ giao hội thời,

夫 婦 交 會 時

Động phòng vân vũ tác.

洞 房雲 雨 作

Nhất tải sinh cá nhi,

一 載生 個 兒

Cá cá hội kỵ hạc.

個 個 會 騎 鶴

Vợ chồng giao hợp nhau,

Động Phòng mây mưa đổ

Mỗi năm sinh một con,

Con nào cũng cưỡi hạc.[19]

Như vậy là hiểu được thế nào là Pháp Thân Anh Nhi.[20]

Hình 40. Di Lô Hoán Đỉnh 移 爐換 鼎

(Hình vẽ này, chính giữa có Vòng Tròn trắng rỗng với Hai Chữ Hư Vô. Phía phải có dòng chữ: Hữu Vô câu bất lập. Phía trái có dòng chữ: Thiên Địa tất qui không, Phía dưới có 2 hàng chữ: Thái Hư chi Đỉnh, Vô vi chi Lô.)

Đại đạo viên thành, Thân Ngoại Hữu Thân, Hình Thần câu diệu. Khi đã đạt tới địa vị của Đại Thánh Nhân, thì Lô Đỉnh không còn công dụng nữa, thì làm gì còn có chuyện Di Lô Hoán Đỉnh nữa?

Sở dĩ còn phải Di Lô Hoán Đỉnh là cốt tiềm tàng mật dưỡng Pháp Thân nói trên. Phải Di cái Lô nào? phải Hoán cái Đỉnh nào? Phải lấy Thái Hư làm Đỉnh, lấy Vô Vi làm Lô, còn những Kiền Đỉnh, Khôn Lô, Chu Sa Đỉnh và Yểm Nguyệt lô, tất cả những dược vật đó đều không dùng nữa.

Chỉ còn dùng là Pháp Thân mà thôi. Pháp Thân đó tại Hư Vô chi Trung, sẽ tự biến, tự hóa, và sẽ dũ Hư, dũ Thần, dũ Vô, dũ Diệu, thần diệu bất trắc, biến hóa vô cùng.

Cho nên nói: Tử hựu sinh Tôn, Tôn hựu Chi.

Tới địa vị này lúc là lúc ngưng mọi công việc, và đã phá hư không, vượt lên trên Thiên La chi cảnh, như vậy mới đáng.

Kẻ hậu học nếu không gặp sư truyền, mà nghĩ Thân Ngoại Hữu Thân là tiến tới chỗ tận cùng của Đạo là sai vậy.

Sao Hào Ca 敲 爻歌 nói:

Nhất vật vô tùy hiển Đạo, Ngũ phương thấu xuất chân nhân mạo, tiên đồng tiên nữ thái vân nghinh, ngũ minh cung lý truyền Chân Cáo

一 物無 隨 顯 道 五 方 透 出 真 人 貌 仙 童 仙 女 彩 雲 迎 五 明 宮 裡 傳 真 誥

(Vật chi cũng truyền Đạo, năm phương hiện rõ Chân Nhân mạo, Tiên đồng, tiên nữ cưỡi mây chờ, Trong cung Ngũ Minh truyền Chân Cáo.) [21]

Xem thế, mới biết Pháp Thân thiên biến vạn hóa, như thế mới là cực điểm công phu vậy.

******************         

CHÚ THÍCH

[1] Kim Đơn như vậy là tìm lại được Tính Trời trong ta. Tính Trời đó chính Thiên Địa chi Tính, hay Bản Lai Viên Minh Chân Linh chi Tính, hay Thái Cực, hay Viên Giác, hay Kim Đơn. Đó chính là cái gốc cho mọi hoạt động chúng ta qui hướng về.

[2] Thiên Địa chi tâm chính là Lòng Trời, là Thái Cực, vì Thái Cực là Âm Dương tương hợp, là Hắc Bạch Tương Phù. Nói nôm na hơn thì đó chính la Lương Tâm con người (Thiên Lương Chân Tâm). Nếu ai cũng thấy được mình có Thiên Tâm có Lương Tri, thì thế gian n ày sẽ thành bồng lai lạc cảnh.

[3] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 2, thơ 3.

[4] Ngộ Chân Thiên, quyển 2, bài thơ 4.

[5] Yển Nguyệt Lô là Đạo Tâm là Thiên Tâm cũng là quẻ Phục. Vì nơi quẻ Phục có nói: Phục Kỳ Kiến Thiên Địa chi tâm hồ?

[6] Thức Thần là Thần con người, Nguyên Thần là Thần Trời.

[7] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 40.

[8] Huyền Tẫn chi Môn chính là Nê Hoàn Cung, chính là Cửa Trời, nơi Âm Dương Xuất Nhập.

[9] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 44.

[10] Ta nên nhớ vì vua Khang Hi (1662- 1723) tên là Tiểu Huyền Tử, nên dể tránh tên Húy của vua các chữ Huyền phải sửa lại thành Nguyên. Cho nên sách này viết Nguyên Tẫn chi Môn, Nguyên Quan Nhất Khiếu, nay ta đọc lại là Huyền Tẫn chi môn, Huyền Quan nhất Khiếu.

Huyền Quan Nhất Khiếu còn gọi là Thiên Nhân Giới, hay Hữu Vô Tương Nhập xứ thật là hết sức đẹp. Thiên Nhân giới là bờ cõi giữa Trời Người, giữa Hữu Vô.Thế là ở ngay trong đầu não ta, đã có biên giới giữa Trời Người. Điều đó đáng cho ta suy nghĩ kỹ.

[11] Trong ta có Cốc Thần tức là trong ta có thần Trời Đất. Nếu vậy Ta phải tìm về với Thần Trời Đất đó.

[12] Xem Văn Ngôn, Hào Lục Ngũ quẻ Khôn.

[13] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 62.

[14] Ngộ Chân Trực Chỉ, q.:, bài thơ 5.

[15] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tiết 2.

[16] Ngộ Chân trực Chỉ, q. 2, bài thơ 7.

[17] Ngộ Chân trực chỉ, q. 2, bài 42.

[18] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 1, bài thơ 14.

[19] Xem Tứ Bách Tự Bi của Trương Bá Đoan, Trung Quốc Khí Công Đại Thành, q. 2, tr. 605.

[20] Tin rằng mình có Tính Trời, Tính Phật là bước vào con đường Đạo; thấy rằng mình có Thiên Địa chi Tâm, là Giác Ngộ, là chính thức Thuận Thiên, là giác Ngộ, là đi vào quẻ Phục. Làm cho Thiên Địa chi tâm càng ngày càng trở nên hoàn hảo, là Anh Nhi xuất hiện, là Pháp Thân xuất hiện. Thế là trở về với Thể Tánh Chân Tâm thường trụ của Phật, và cũng là đạt Thập Trụ, Thập Hạnh trong kinh Lăng Nghiêm và Kinh Hoa Nghiêm.

Ngài Ôn Lăng nói: từ Phát Tâm Trụ cho đến Sinh quí Trụ gọi là Nhập Thánh Thai. Từ Phương Tiện Trụ cho đến Đồng Chơn Trụ thì gọi là nuôi lớn Thánh Thai. Công phu nuôi lớn đã thành tựu gọi là ra khỏi Thánh Thai.

… Trong kinh Hoa Nghiêm hàng Thập Trụ đầy đủ cùng với hàng Thập Địa thầm phù hợp (Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ trọn bộ, thiền sư Hàm Thị giải, Dịch giả Thích Phước Hảo, tr. 694.

[21] Xem Sao hào Ca, của Lữ Động Tân, Trung Quốc Khí Công Đại Thành, chủ biên: Trương Xuân Dương, q. 2, tr. 558.

******************         

PHÁ NGHI THI

破 疑 詩

Thất ngôn Tuyệt Cú Ngũ Thập thủ

七 言 絕 句 五 十 首

Bài 1: Ly thế 離 世

Thế sự thiên ban câu bất chân,

世 事 千 般 俱 不 真

Tục duyên ân ái tối thương thân.

俗 緣 恩 愛 最 傷 身

Nhất đao lưỡng đoạn vô khiên xả,

一 刀 兩 斷 無 牽 扯

Giải thoát tràng trung tác cá nhân.

解 脫 場 中 作 個 人

Thế gian muôn chuyện đều sai lạc

Tục duyên ân ái rất hại người,

Một dao chém đứt không luyến tiếc

Thành người giải thoát giữa cảnh đời

———————

Bài 2: Luyện Thụy 煉 睡

Thiểu thụy nguyên phi luyện Thụy Ma,

少 睡 原 非 煉 睡 魔

Vong sôn, phế tẩm trảm đằng la.

忘 飧 廢 寢 斬 藤 羅

Chư duyên tảo khứ tâm thanh tĩnh,

諸 緣 掃 去 心 清 靜

Trú dạ trường miên, phạ thậm ma?

晝 夜 長 眠 怕 甚 麼

Ít ngủ phải đâu luyện Thụy Ma,

Quên ăn, bỏ ngủ trảm đằng la.

Trong dạ khinh thanh vô nhất vật,

Đêm sẽ ngủ say, sợ chi mà.

******************         

Bài 3: Công hành 功 行

Tu hành tích đức, tối vi tiên,

修 行 積 德 最 為 先

Công đại hành thâm, cảm động Thiên.

功 大 行 深 感 動 天

Khả tiếu ngu nhân duy lợi kỷ,

可 笑 愚 人 惟 利 己

Vô công, thiểu hạnh, tưởng thành tiên.

無 功 少 行 想 成 仙

Tu hành: tích đức việc đầu tiên,

Công quả càng nhiều sẽ động Thiên

Nực cười kẻ dốt chuyên lợi kỷ

Không công, thiểu hạnh tưởng thành tiên.

Bài 4: Kim đơn 金 丹

Tiên Thiên bản tính hiệu vi Đơn,

先 天 本 性 號 為 丹

Bát quái lô trung luyện tác đoàn.

八 卦 爐 中 煉 作 團

Cử thế mê đồ tầm ngoại dược,

舉 世 迷 徒 尋 外 藥

Thôn san, vọng tưởng thượng vân đoan.

吞 飧 妄 想 上 雲 端

Tiên Thiên Bản Tính ấy Kim Đơn,

Mượn lò thân thể luyện thành toàn.

Những kẽ u mê tìm ngoại dược,

Ăn vào, mơ tưởng cưỡi mây ngàn.

Bài 5: Nguyên quan 元 關

Nguyên quan nhất khiếu thiểu nhân tri,

元 關 一 竅 少 人 知

Hoảng hốt yểu minh hàm Lưỡng Nghi.

恍 惚 杳 冥 含 兩 儀

Thuận khứ lưu qui phiền não lộ,

順 去 流 歸 煩 惱 路

Nghịch lai tiện thị thánh hiền ki.

逆 來 便 是 聖 賢 基

Một khiếu Huyền Quan ít kẻ hay,

Hoảng hốt tra minh, đủ Lưỡng Nghi.

Nếu theo chiều thuận là phiền não,

Còn như đi ngược: Thánh Hiền ki.

Bài 6: Thức Thần 識 神

Tư lự tinh linh hiệu Thức Thần,

思 慮 精 靈 號 識 神

Luân hồi chủng tử đới căn trần.

輪 迴 種 子 帶 根 塵

Ngu mê câu bả Du Hồn lộng,

愚 迷 俱 把 游 魂 弄

Đáo để thùy năng kiến chủ nhân.

到 底 誰 能 見 主 人

Tư lự hay ho, chính Thức Thần,

Ấy giống Luân Hồi nặng Căn Trần,

Kẻ ngu đều bị Du Hồn gạt,

Biết đến bao giờ thấy Chủ Nhân.[1]

******************         

Bài 7: Dương Tinh 陽 精

Dương Tinh nhất điểm bí hình sơn,

陽 精 一 點 秘 形 山

Nhận đắc Chân thời khả Trú Nhan.

認 得 真 時 可 駐 顏

Phi tại Tâm trung, phi tại Thận,

非 在 心 中 非 在 腎

Bất không bất sắc ẩn Nguyên Quan.

不 空 不 色 隱 元 關

Dương tinh một điểm dấu nơi đầu,

Nhận được điều này sẽ Sống Lâu.

Không ở nơi Tim không nơi Thận

Không phải Sắc Không, chính Huyền Quan.[2]

Bài 8: Tiên Thiên Khí 先 天 氣

Tiên Thiên Nhất Khí tại Hồng Mông,

先 天 一 氣 在 鴻 濛

Vô tượng vô hình bất lạc không.

無 象 無 形 不 落 空

Nhận đắc Sinh Sơ Chân Diện Mục,

認 得 生 初 真 面 目

Phương tri Ngã hữu Chủ Nhân Ông.

方 知 我 有 主 人 翁

Tiên Thiên Nhất Khí tại Hồng Mông,

Không tượng không hình, chẳng phải Không,

Ấy chính Bản Lai Chân Diện Mục,

Thế là biết được Chủ Nhân Ông.[3]

Bài 9: Tiên Hậu Thiên先 後 天

Vị sinh thân xứ hiệu Tiên Thiên,

未 生 身 處 號 先 天

Nhất xuất đầu lai Khí Chất liên.

一 出 頭 來 氣 質 連

Tiên Thánh Hậu Nhân phân lưỡng lộ,

先 聖 後 人 分 兩 路

Tu đương tử tế biện thiên toàn.

須 當 仔 細 辨 偏 全

Khi chửa Sinh Người gọi Tiên Thiên,

Vừa ló đầu ra: Khí Chất liền,

Tiên thánh Hậu Nhân chia hai nẻo,

Hãy suy cho kỹ thấy được liền.[4]

Bài 10: Thủ Kinh 首 經

Thủ Kinh bản thị Tiên Thiên bảo,

首 經 本 是 先 天 寶

Hoảng Hốt, Yểu Minh Chân Nhất Tinh.

恍 惚 杳 冥 真 一 精

Thuần bạch vô tì thanh tịnh vật,

純 白 無 疵 清 淨 物

Hưu tương trọc huyết mạo an danh.

休 將 濁 血 冒 安 名

Thủ Kinh ấy chính Tiên Thiên bảo.

Cũng còn gọi là Chân Nhất Tinh,

Nó vốn trong veo không tì vết,

Đừng nên coi là vật hữu tình.[5]

******************         

Bài 11: Tam Dược 三 藥

Đại dược Tam Ban: Tinh, Khí, Thần,

大 藥 三 般 精 氣 神

Hữu Hình bất thị bản lai chân.

有 形 不 是 本 來 真

Chí Thanh, Chí Túy, Hư Linh Vật,

至 清 至 粹 虛 靈 物

Luyện tựu Kim Cương Đại Pháp Thân.

煉 就 金 剛 大 法 身

Đại dược có ba: Tinh, Khí, Thần,

Hữu hình đâu phải Bản Lai Chân.

Chí Thanh, Chí Túy, Hư Linh Vật,

Luyện hóa Kim Cương Đại Pháp Thân.[6]

Bài 12: Tính Mệnh 性 命

Tính Mệnh nguyên phân Tiên Hậu Thiên,

性 命 原 分 先 後 天

Sinh thân, lạc địa định Thiên Toàn.

生 身 落 地 定 偏 全

Hậu Thiên Tính Mệnh tùy Thiên Vận,

後 天 性 命 隨 天 運

Tróc trú Tiên Thiên Ngã thao quyền.

捉 住 先 天 我 操 權

Tính Mệnh phân chia Tiên Hậu Thiên,

Ta dở, ta hay nó khiến nên

Hậu Thiên Tính Mệnh tùy Thiên Vận,

Nắm được Thiên Tiên, Ta nắm quyền.[7]

Bài 13: Thiên Địa Tâm 天 地 心

Thiên Địa chi Tâm thậm xứ tàng,

天 地 之 心 甚 處 藏

Âm Dương cảm kích hiện viên quang.

陰 陽 感 激 現 圓 光

Hư Vô đỉnh lý phanh tiễn thục,

虛 無 鼎 裡 烹 煎 熟

Vạn cổ thiên thu bất tổn thương.

萬 古 千 秋 不 損 傷

Thiên Địa chi tâm ẩn thật sâu,

Âm Dương cảm kích hiện viên quang.

Hư Vô đỉnh lý phanh tiễn thục,

Vạn cổ Thiên Thu chẳng tổn thương.[8]

Bài 14: Đạo Tâm, Nhân Tâm  道 心 人 心

Nhân Tâm tự Thiết, Đạo Tâm Kim (Câm),

人 心 似 鐵 道 心 金

Khả hướng Vi, Nguy tế chước châm.

可 向 微 危 細 酌 斟

Biến Hóa Linh Thông vô thượng hạ,

變 化 靈 通 無 上 下

Nguyên đầu hoạt thủy biệt Âm Dương.

源 頭 活 水 別 陰 陽

Nhân Tâm như Sắt, Đạo Tâm Kim,

Vi Nguy phân biệt cũng không cần.

Biến Hóa Linh Thông vô thượng hạ,

Lên tới ngọn nguồn biệt Âm Dương.[9]

Bài 15: Vị sinh thời 未 生 時

Vị sinh thân xứ hữu thùy tri,

未 生 身 處 有 誰 知

Tĩnh tĩnh, tiêu tiêu, hỗn độn thì.

靜 靜 悄 悄 混 沌 時

Tứ tượng, ngũ hành giai vị đáo,

四 象 五 行 皆 未 到

Hồn nhiên nhất khí một hùng thư.

渾 然 一 氣 沒 雄 雌

Vị Sinh Thân Xứ ít ai hay,

Ấy lúc hồn nhiên, hỗn độn thì.

Tứ Tượng Ngũ hành chưa phân biệt,

Nhất Khí hồn nhiên chừa phân kì.[10]

******************         

Bài 16: Sơ sinh thời 初 生 時

Sơ sinh diện mục sự như hà?

初 生 面 目 事 如 何

Tiên Hậu nhị Thiên Nhất Khí hòa.

先 後 二 天 一 氣 和

Vô thức, vô tri, vô điểm nhiễm,

無 識 無 知 無 點 染

Phật Tiên chủng tử thánh hiền oa!

佛 仙 種 子 聖 賢 窩

Sơ sinh diện mục thế nào đây?

Tiên Hậu Nhị Thiên một khí hòa.

Vô thức, vô tri, vô điểm nhiễm,

Phật tiên chủng tử, thánh hiền oa.[11]

Bài 17: Tha gia 他 家

Tha gia bất thị biệt nhân gia,

他 家 不 是 別 人 家

Ngộ nhận nhân gia tảo đại soa (sai).

誤 認 人 家 早 大 差

Ngã đích hài nhi mê thất ngoại,

我 的 孩 兒 迷 失 外

Nhất hô kiến diện tử tùy gia.

一 呼 見 面 子 隨 家

Tha gia cũng chẳng phải Nhà Người,

Không biết nhà mình thật quá sai.

Con cái vì mê nên thất ngoại,

Ta hô một tiếng chúng về ngay.

Bài 18: Bỉ Ngã 彼 我

Kinh ngôn Bỉ Ngã biệt Âm Dương,

經 言 彼 我 別 陰 陽

Phi sắc, phi không thanh tịnh hương.

非 色 非 空 清 淨 鄉

Thái Chiến Khuê Đơn tà thuật bối,

採 戰 閨 丹 邪 術 輩

Yên hoa trại lý hoại Thiên Lương.

煙 花 寨 裡 壞 天 良

Kinh dùng bỉ ngã biệt Âm Dương,

Phi sắc, phi không thanh tịnh hương.

Thái Chiến Khuê Đơn là tà thuật,

Mê thú yên hoa hại Thiên Lương.

Bài 19: Lữ Bạn 侶 伴

Lữ bạn tu phân nội ngoại nhân,

侶 伴 須 分 內 外 因

Thân trung lữ bạn lưỡng tam nhân.

身 中 侶 伴 兩 三 人

Ngoại biên Lữ Bạn đồng phù tá,

外 邊 侶 伴 同 扶 佐

Thoát tận Luân Hồi lịch kiếp trần.

脫 盡 輪 迴 歷 劫 塵

Bè bạn nên chia hai hạng người,

Bạn trong chỉ có một đôi người.

Bạn ngoài ai nấy đều giúp dập,

Giúp đỡ cho ta thoát Luân Hồi.

Bài 20: Ngoại hộ 外 護

Giai tầm ngoại hộ vọng thành công,

皆 尋 外 護 望 成 功

Mãi đỉnh, phanh diên, loạn tróc phong.

買 鼎 烹 鉛 亂 捉 風

Chẩm hiểu Thiên Cơ siêu tục pháp,

怎 曉 天 機 超 俗 法

Tá tha đại lực trấn ngu mông.

借 他 大 力 鎮 愚 幪

Chỉ cầu ngoại viện để thành công,

Mãi Đỉnh, phanh Lô loạn tróc phong.

Phải hiểu Thiên Cơ siêu tục pháp,

Nhờ công lực nó trấn ngu ông.

******************         

Bài 21: Cửu Đỉnh 九 鼎

Kiền Nguyên cửu số hiệu Thuần Dương,

乾 元 九 數 號 純 陽

Cửu Đỉnh hoàn đơn đoàn luyện phương.

九 鼎 還 丹 煆 煉 方

Tạo nghiệt mê đồ sai nữ đỉnh,

造 孽 迷 徒 猜 女 鼎

Quyết nhiên đả nhập thiết vi hương.

決 然 打 入 鐵 圍 鄉

Kiền Nguyên số 9 hiệu Thuần Dương,

Lập ra Cửu Đỉnh đoàn luyện phương.

Tạo Nghiệt mê đồ bày nữ đỉnh,

Dốc lòng nhập phá Thiết Vi Hương.

Bài 22: Chiêu Nhiếp 招 攝

Chiêu nhiếp Tiên Thiên hữu bí phương,

招 攝 先 天 有 秘 方

Cổ Cầm, xao trúc kiến Hư Hoàng.

鼓 琴 敲 竹 見 虛 皇

Sắc Thanh náo xứ vô phương ngại,

色 聲 鬧 處 無 妨 礙

Tùy thủ nữu hồi Bắc Đẩu quang.

隨 手 扭 回 北 斗 光

Chiêu nhiếp Tiên Thiên chẳng khó khăn,

Hư Tâm sẽ thấy được Hi Hoàng.

Sống giữa Sắc Thanh không hề hấn,

Tùy tiện thu hồi Bắc Đẩu quang.

Bài 23: Điên Đảo 顛 倒

Điên đảo Âm Dương hữu thậm nan,

顛 倒 陰 陽 有 甚 難

Đương ư tĩnh lý vận thần quan.

當 於 靜 裡 運 神 觀

Đạo Tâm bất muội, Nhân Tâm diệt,

道 心 不 昧 人 心 滅

Lập địa trực đăng bách xích can.

立 地 直 登 百 尺 竿

Điên đảo Âm Dương chẳng khó khăn,

Chỉ cần yên tĩnh vận thần quan.

Đạo Tâm sáng suốt, Nhân Tâm diệt,

Lập tức vượt lên Bách Xích Can.

Bài 24: Hỏa hậu 火 候

Vận hỏa công phu bản một thời (thì),

運 火 工 夫 本 沒 時

Triêu Kiền, tịch Dịch trảm Tam Thi.

朝 乾 夕 惕 斬 三 尸

Phòng nguy lự hiểm thường thanh Tĩnh,

防 危 慮 險 常 清 静

Ứng vật bất mê, tổn ích chi.

應 物 不 迷 損 益 之

Vận hỏa công phu, phải liên miên,

Lo diệt Tam Thi, sáng lẫn đêm.

Phòng nguy lự hiểm tâm thanh tĩnh,

Ưng vật không mê tồn ích chi?

Bài 25: Quải tượng 卦 象

Hỏa Hậu Kinh ngôn Chu Dịch quải,

火 候 經 言 周 易 卦

Thôi Hào, Chấp Tượng câu giai phi.

推 爻 執 象 俱 皆 非

Đại đô yếu hội Âm Dương lý,

大 都 要 會 陰 陽 理

Tiến thoái tùy thời nhiệm chỉ huy.

進 退 隨 時 任 指 揮

Kinh dạy: Hỏa Hầu dùng quẻ Dịch,

Thôi Hào, Chấp Tượng tổng giai phi.

Đại khái phải rành Âm Dương lý,

Tiến thoái tùy thời mặc sức thi.

******************         

Bài 26: Kiền Khôn Lô Đỉnh 乾 坤 爐 鼎

Kiền Đỉnh, Khôn Lô tại ngã thân,

乾 鼎 坤 爐 在 我 身

Hưu tòng ngoại diện vấn nguyên nhân.

休 從 外 面 問 原 因

Cương Nhu nhị sự vô gián cách,

剛 柔 二 事 無 間 隔

Đoàn xuất Tiên Thiên Nhất Khí chân.

煆 出 先 天 一 氣 真

Kiền Đỉnh, Khôn Lô tại ngã thân,

Khỏi tìm duyên cớ ở xa gần.

Cương Nhu đừng để cho xa cách,

Luyện được Tên Thiên Nhất Khí chân.

Bài 27: Yển Nguyệt Lô 偃 月 爐

Vấn Đạo hà vi Yển Nguyệt Lô,

問 道 何 為 偃 月 爐

Hắc trung hữu bạch, Hối nhi Tô.

黑 中 有 白 晦 而 蘇

Phân minh chỉ xuất Hoàn Đơn Mẫu,

分 明 指 出 還 丹 母

Khiếu tỉnh thời nhân thức dã vô.

叫 醒 時 人 識 也 無

Vấn Đạo chi là Yển Nguyệt Lô,

Trong đen có trắng Hối lại Tô.

Phân minh chỉ rõ Hoàn Đơn mẫu,

Đánh thức người đời hiểu chữ Vô.

Bài 28: Chu Sa Đỉnh 朱 砂 鼎

Tu Chân tạ lại Chu Sa Đỉnh,

修 真 藉 賴 朱 砂 鼎

Phi Thiết, phi Kim, phi thị Ngân.

非 鐵 非 金 非 是 銀

Nhận đắc Linh Minh tha tử vật,

認 得 靈 明 他 子 物

Thủ tân, Cách cố kiến Nguyên Nhân.

取 新 革 故 見 元 仁

Tu Chân vốn cậy Chu Sa Đỉnh,

Chẳng sắt, chẳng Vàng, chẳng Thủy Ngân.

Linh Minh chí Bảo mà biết được,

Đổi cũ, thay tân thấy nguyên nhân.

Bài 29: Thổ Phủ 土 釜

Thổ Phủ khởi do thổ tác thành,

土 釜 起 由 土 作 成

Trung Ương chính vị thị Chân danh.

中 央 正 位 是 真 名

Mộc Kim Thủy Hỏa giai toàn thử,

木金 水 火 皆 全 此

Dưỡng khỏa nguyên châu triệt dạ minh.

養 顆 元 珠 徹 夜 明

Thổ Phủ đâu do Đất tạo thành,

Trung Ương chính vị ấy Chân Danh.

Mộc Kim Thủy Hỏa luôn gom đủ,

Một hạt minh châu sáng liên canh.

Bài 30: Đẩu Bính 斗 柄

Nhân quan Đẩu Bính vận Chu Thiên,

因 觀 斗 柄 運 周 天

Thủy ngộ Sinh Cơ tại na biên.

始 悟 生 機 在 那 邊

Nữu chuyển cước căn phiên quá diện,

扭 轉 腳 根 翻 過 面

Đương thời Hỏa Lý hiện Kim Liên.

當 時 火 裡 現 金 蓮

Nhìn chuôi Bắc Đẩu vận Chu Thiên,

Mới biết Sinh Cơ tại na biên.

Níu kéo cước căn phiên quá diện,

Trong lửa nhìn vào thấy Kim Liên.

******************         

Bài 31: Lưỡng Huyền 兩 弦

Hạ Huyền thị Thủy, Thượng Huyền Kim (Câm),

下 弦 是 水 上 弦 金

Chỉ thị điều đình Dương dữ Âm.

止 是 調 停 陽 與 陰

Quả nhược Cương Nhu hòa hợp liễu,

果 若 剛 柔 和 合 了

Đương trung lộ xuất Niết Bàn tâm.

當 中 露 出 涅 槃 心

Hạ Huyền là Thủy, Thượng Huyền Câm (Kim),

Chỉ cốt điều đình Âm dữ Dương.

Nếu thấy Cương Nhu hòa hợp lại,

Bên trong sẽ lộ Niết Bàn Tâm.

Bài 32: Nhâm Quí 壬 癸

Nhâm thủy Dương hề Quí thủy Âm,

壬 水 陽 兮 癸 水 陰

Học nhân kỷ cá tế truy tầm.

學 人 幾 個 細 追 尋

Khu cơ động xứ phân chân giả,

樞 機 動 處 分 真 假

Khử trọc lưu thanh sản bạch câm (kim).

去 濁 留 清 產 白 金

Nhâm thủy là Dương, Quí Thủy Âm,

Học nhân ít kẻ chịu truy tầm.

Khu Cơ Động Xứ phân Chân Giả,

Khứ trọc lưu thanh, sản Bạch Câm (Kim).

Bài 33: Luyện Kỷ 煉 己

Tu hành luyện kỷ tối vi tiên,

修 行 煉 己 最 為 先

Tuyệt dục, vong tình, khước vạn duyên.

絕 欲 忘 情 卻 萬 緣

Lục tặc, Tam Bành giai tiễn diệt,

六 賊 三 彭 皆 剪 滅

Kiền Kiền, tịnh tịnh nhất Đơn Điền.

乾 乾 淨 淨 一 丹 田

Tu hành Luyện Kỷ chiếm ưu tiên,

Tuyệt dục, Vong Tình, xả Vạn Duyên.

Lục Tặc, Tam Bành trừ diệt hết,

Trong veo còn lại một Đơn Điền.

Bài 34: Trúc Cơ 築 基

Chí niệm kiên lao thị Trúc Ki (Cơ)

志 念 堅 牢 是 築 基

Thân Tâm bất động tối vi kỳ.

身 心 不 動 最 為 奇

Bằng tha họa hoạn dữ tai ách,

憑 他 禍 患 與 災 厄

Chỉ Thủy vô ba vạn hữu ly.

止 水 無 波 萬 有 離

Trí niệm kiên lao ấy trúc ki,

Thân Tâm Bất Động thật ly kỳ.

Xa rời họa hoạn cùng tai ách,

Nước yên, sóng lặng chẳng lo chi.

Bài 35: Diên Hống 鉛 汞

Chân Hống nguyên phi trần thế Hống,

真 汞 原 非 塵 世 汞

Chân Diên bất thị xuất sơn Diên.

真 鉛 不 是 出 山 鉛

Nhất Tình, Nhất Tính Tiên Thiên dược,

一 情 一 性 先 天 藥

Đoàn luyện qui căn liễu đại hoàn,

煆 煉 歸 根 了 大 還

Chân Hống phải đâu trần thế Hống,

Chân Diên chẳng phải Xuất Sơn Diên.

Một Tình, Một Tính là tiên dược,

Đoàn luyện qui căn được Đại Hoàn.

******************         

Bài 36: Anh Xá 嬰 奼

Xá Nữ tàng Ly bản bất chân,

奼 女 藏 離 本 不 真

Anh Nhi tại Khảm diệc nan tuân.

嬰 兒 在 坎 亦 難 遵

Nhi kim thuyết phá Âm Dương khiếu,

而 今 說 破 陰 陽 竅

Năng thực, năng hư sản Pháp Thân.

能 實 能 虛 產 法 身

Xá Nữ tàng Ly chẳng phải Chân,

Anh Nhi ở Khảm cũng khó tuân.

Nay ta nói rõ Âm Dương Khiếu

Có thể Thực Hư sản Pháp Thân.

Bài 37: Khảm Ly 坎 離

Khảm Ly mạc hướng Bắc Nam cầu,

坎 離 莫 向 北 南 求

Hỏa tính phi đằng, Thủy hạ lưu.

火 性 飛 騰 水 下 流

Nhị vật như năng điên đảo quá,

二 物 如 能 顛 倒 過

Thủy thăng Hỏa giáng kết đơn đầu.

水 升 火 降 結 丹 頭

Khảm Ly đừng hướng Bắc Nam cầu,

Hỏa tính bay cao, Nước hạ lưu.

Thủy Hỏa biết đường điên đảo lại,

Nước trên Lửa dưới kết Đơn Đầu.

Bài 38: Chấn Đoài 震 兌

Đoài phi Tây địa, Chấn phi Đông,

兌 非 西 地 震 非 東

Tính loạn tình mê Khí bất đồng.

性 亂 情 迷 氣 不 同

Hội đắc Tình lai qui Tính Pháp,

會 得 情 來 歸 性 法

Siếp thời kiến Ngã Chủ Nhân Ông.

霎 時 見 我 主 人 翁

Đoài chẳng ở Tây, Chấn chẳng Đông,

Tính loạn, Tình mê khí chẳng đồng.

Nếu được Tình lai qui Tính Pháp,

Tức thời biết được Chủ Nhân Ông.

Bài 39: Tí Ngọ 子 午

Tí Ngọ hưu tòng Nhật Dạ tầm,

子 午 休 從 日 夜 尋

Thân trung biệt hữu Chỉ Nam Châm.

身 中 別 有 指 南 針

Âm Dương Động Tĩnh tùy thời hữu,

陰 陽 動 靜 隨 時 有

Định lý thường thinh Thái Cổ Âm.

定 裡 常 聽 太 古 音

Tí Ngọ khỏi tìm nơi Nhật dạ,

Trong thân đã sẵn Chỉ Nam Châm.

Âm Dương động tĩnh luôn luôn có,

Ngồi lặng sẽ nghe Thái Cổ Âm.

Bài 40: Mão Dậu 卯 酉

Mộc Dục Kinh ngôn Mão Dậu thời,

沐 浴 經 言 卯 酉 時

Hình dung nhị khí một thiên tì.

形 容 二 氣 沒 偏 疵

Ngu Nhân bất hiểu Âm Dương Hội,

愚 人 不 曉 音 陽 會

Triêu tịch nhị phân tĩnh tọa chi.

朝 夕 二 分 靜 坐 之

Mộc Dục theo Kinh: Mão Dậu thời,

Mộc Dục là khi tẩy trần ai.

Người ngu không hiểu Âm Dương hội,

Sáng chiều tĩnh tọa sống lần hồi.

******************         

Bài 41: Huỳnh Bà 黃 婆

Thư Hùng thất phối yếu Huỳnh Bà,

雌 雄 匹 配 要 黃 婆

Mậu Kỷ thành Khuê tạo hóa oa.

戊 己 成 圭 造 化 窩

Nhược vấn Huỳnh Bà chân tín tức,

若 問 黃 婆 真 信 息

Nhất Thành cảm cách, Ngũ Hành hòa.

一 誠 感 格 五 行 和

Chồng Vợ nên đôi cậy Huỳnh Bà,

Huỳnh Bà: Mậu Kỷ, Tạo Hóa oa.

Muốn biết Huỳnh Bà là chi đó,

Chí Thành, Chí Thánh: Ngũ Hành Hòa.

Bài 42: Hoàn Đơn 還 丹

Tu Đơn vi thậm hiệu Hoàn Đơn,

修 丹 為 甚 號 還 丹

Ngũ Khí phân ly câu các đơn.

五 氣 分 離 俱 各 單

Minh Thiện phục sơ giai tụ hội,

明 善 復 初 皆 聚 會

Thân Tâm bất động đả thành đoàn.

身 心 不 動 打 成 團

Tu Đơn cốt để luyện Hoàn Đơn,

Chưa tu: Ngũ khí tán các phương.

Nay hiểu lẽ Trời qui tụ lại,

Thân Tâm bất động. kết thành Đoàn.

Bài 43: Đơn thục 丹 熟

Đơn dĩ hoàn thời, biệt hữu phương,

丹 已 還 時 別 有 方

Bất tu gia giảm tái tăng dương.

不 須 加 減 再 增 陽

Tự Nhiên Thần Hỏa, Lô trung luyện,

自 然 神 火 爐 中 煉

Bính xuất thông thiên nhất lạp quang.

迸 出 通 天 一 粒 光

Đơn đã luyện xong, rất huy hoàng,

Hết cần gia giảm, hết tăng Dương.

Thần Hỏa lò trung âm ỉ luyện,

Phóng lên trời thẳm một vừng quang.

Bài 44: Thánh Thai 聖 胎

Thánh Thai phi thị Hữu Hình Thai,

聖 胎 非 是 有 形 胎

Khí tụ Thần ngưng chân chủng tài.

氣 聚 神 凝 真 種 栽

Lự Hiểm Phòng Nguy thường cẩn thận,

慮 險 防 危 常 謹 慎

Nhược hoàn đại ý tất sinh tai.

若 還 大 意 必 生 災

Thánh thai không phải Hữu Hình Thai,

Khí Tụ Thần NgưngChân Chủng Tài.

Lự hiểm phòng nguy luôn cẩn thận,

Nếu như sơ sẩy sẽ sinh tai.

Bài 45: Thoát thai 脫 胎

Thánh Thai thoát hóa thủy toàn chân,

聖 胎 脫 化 始 全 真

Thập nguyệt công phu dưỡng Cốc Thần.

十 月 工 夫 養 谷 神

Dương Khí Cực Thuần, Âm Khí tận,

陽 氣 極 純 陰 氣 盡

Hư không khiêu xuất nhất Tiên Nhân.

虛 空 跳 出 一 仙 人

Thánh thai thoát hóa mới toàn Chân,

Mười tháng công phu dưỡng Cốc Thần.

Dương khí Cực Thuần, Âm Khí tận,

Từ chốn Hư Không hiện Tiên Nhân.

******************         

Bài 46: Hữu Vi 有 為

Hữu Vi khởi thị lộng bì nang,

有 為 豈 是 弄 皮 囊

Tố tác thiên ban tổng thụ thương.

做 作 千 般 總 受 傷

Chẩm hiểu Tâm Truyền Chân Diệu Quyết,

怎 曉 心 傳 真 妙 訣

Quỉ thần mạc trắc nữu Âm Dương.

鬼 神 莫 測 扭 陰 陽

Hữu Vi há phải khổ thân đâu?

Biến thiên bày vẽ chuyện thương đau.

Nếu hiểu Tâm Truyền Chân Diệu Quyết,

Sẽ biết Âm Dương hợp nhất mau.

Bài 47: Vô Vi 無 為

Vô Vi bất thị chước Ngoan Không,

無 為 不 是 著 頑 空

Hoàn đắc Vật Vong, Vật Trợ công.

還 得 勿 忘 勿 助 功

Bạt khứ Luân Hồi sinh tử chủng,

拔 去 輪 迴 生 死 種

Đương trung chỉ hữu nhất Thần Đồng.

當 中 只 有 一 神 童

Vô Vi đâu phải chước Ngoan Không,

Vật trợ, Vật Vong hãy ung dung.

Bỏ được Luân Hồi, Sinh Tử Chủng,

Trong Không chỉ có một Thần Đồng.

Hình 48: Phục Cấu 復 姤

Âm Cực Phục Dương tu tiến hỏa,

陰 極 復 陽 須 進 火

Dương thuần, tương Cấu vận Âm Phù.

陽 純 將 姤 運 陰 符

Âm Phù, Dương Hỏa vô sai thác,

陰 符 陽 火 無 差 錯

Đoàn xuất Tiên Thiên Thái Cực Đồ.

煆 出 先 天 太 極 圖

Âm Cực Phục Dương nên tiến hỏa,

Dương thuần, tới Cấu vận Âm Phù.

Âm Phù, Dương Hỏa không sai lỗi,

Đoàn xuất Tiên Thiên Thái Cực Đồ.

Bài 49: Văn Vũ 文 武

Mãnh lực hàng Ma vi Võ Luyện,

猛 力 降 魔 為 武 煉

Hư tâm dưỡng Khí thị Văn Phanh.

虛 心 養 氣 是 文 烹

Tri Hung hiểu Cát tùy thời biến,

知 凶 曉 吉 隨 時 變

Biến địa hoàng kim diệu nhỡn minh.

遍 地 黃 金 耀 眼 明

Mãnh lực Hàng Ma là Võ Luyện,

Hư Tâm dưỡng Khí ấy Văn Phanh.

Tri hung, hiểu cát tùy thời biến,

Khắp đất HoàngKim, diệu nhỡn minh.

Bài 50: Hòa quang 和 光

Hòa Quang Hỗn Tục bí Thiên Cơ,

和 光 混 俗 秘 天 機

Đại dụng Thần Công chân cá hi.

大 用 神 功 真 個 稀

Thường ứng, thường thanh thường tự tại,

常 應 常 清 常 自 在

Tùy thời thoát cựu hoán tân y.

隨 時 脫 舊 換 新 衣

Hòa Quang hỗn tục: Bí thiên cơ,

Đại dụng Thần Công rất hiếm khi.

Thường ứng, thường thanh, thường tự tại,

Tùy thời bỏ cũ mặc tân y.

—————–
*****************         

CHÚ THÍCH

[1] Thức Thần là Chủng Tử luân hồi. Nguyên Thần mới là nguồn gốc trường sinh.

[2] Dương Tinh là Huyền quan khiếu, là Nê Hoàn Cung nơi đầu não chúng ta.

[3] Cốt lõi con người chúng ta là Tiên Thiên Khí, nó hoàn mỹ như Trời cao. Ấy là Bản Lai Chân Diện mục của chúng ta. Biết vậy sẽ tìm ra được Chủ Nhân Ông trong ta.

Đạo Nho gọi gió là Xích Tử Chi Tâm. Mạnh Tử nói: «Đại Nhân giả, bất thất kỳ Xích tử chi tâm giả dã» chính là vì vậy. (Mạnh Tử, Ly Lâu chương cú hạ, câu 12. Xem James Legge, The Four Books, p.322 and note 12).

Mạnh tử cũng gọi Tiên Thiên khí là Khí Hạo Nhiên. (Xem Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Chương Cú Thượng, câu 2.)

[4] Khi chưa sinh thì là Tiên Thiên, khí vừa ló đầu sinh ra là Hậu Thiên. Hậu Thiên là Hữu Vi là đường lối của phàm phu. Tiên Thiên là Vô Vi, là Đường lối của Thánh Hiền. Suy ra thì sẽ thấy.

[5] Hai chữ Thủ Kinh là một tiếng ít thông dụng. Nó cũng có nghĩa như Tiên Thiên Khí.

[6] Tinh, Khí, Thần là bửu bối của Đạo Gia. Người Tu Luyện dùng nó để luyện cho Thành Thần, hoàn hư, phục qui Vô Cực.

[7] Đạo Lão chủ trương Tính Mệnh Song Tu. Tu Mệnh là tu Hữu Vi, là học làm người. Tu Tính là tu Vô Vi là học làm Trời.

[8] Thiên Địa chi tâm là cái gì quí báu nhất trong con người. Chúng ta có thể có may mắn thấy được Thiên Địa Chi Tâm trong Ta, khi chúng ta khoảng 37 tuổi. Dịch Kinh nơi quẻ Phục viết: «Phục kỳ kiến Thiên Địa chi Tâm hồ!» Thấy được Thiên Địa chi Tâm là lúc con người vừa Hồi Phục, khi vừa mới có: Nhất Dương sơ động xứ. Sau đó theo đà thời gian sẽ tiến mãi lên cho tới Chí Dương, Thuần Dương.

[9] Trong con người có Nhân Tâm và Đạo Tâm. Nhân Tâm như Chì, như Sắt; Đạo Tâm như Vàng. Kinh Thư viết: «Nhân tâm duy Nguy, Đạo tâm duy vi, Duy Tinh Duy Nhất, Doãn chấp quyết Trung.» (Lòng của Trời siêu vi Huyền ảo, lòng con người điên đảo ngả nghiêng. Tinh ròng, Chuyên Nhất ngày đêm, Ra công ra sức giữ nguyên Lòng Trời.) Và công phu tu luyện là dùng Đạo Tâm để chế Nhân Tâm, dùng Nhân Tâm để dưỡng Đạo Tâm. Cuối cùng sẽ đạt được Tâm Tử, Thần Hoạt, sẽ Phối Thiên.

[10] Lúc con người chưa sinh là lúc còn Hồn Nhiên Nhất Khí, chưa có thư hùng, chưa có Âm Dương, chưa có Tứ Tượng Ngũ Hành.

[11] Trời sinh ra con người, thật ly kỳ. Cái mẫu người lý tưởng, cái Bản Lai Chân Diện Mục, cái Tâm Xích Tử của con người lại phải tìm cho ra khi con người vừa mới sinh.
——————
******************         

PHỤ LỤC 1

HUYỀN TẪN CHÂN KHIẾU THUYẾT

玄 牝 真 竅 說

Kẻ học đạo muốn tu Đại Đạo, muốn liễu Tính Mệnh, thì trước hết phải biết Huyền Tẫn chi môn. Huyền Tẫn chi Môn chính là Huyền Quan Nhất Khiếu. Khiếu này có hai cánh cửa, một đóng một mở cao chín thước, rộng 3 thước, ngoài có Linh Quan bả trì, trong có Long Hổ hộ vệ.

Gian Trung đường ở chính giữa thì Tứ Thông Bát Đạt, Trong đó có Chân Nhân. Đầu bù, Chân đỏ, mặc áo ngũ sắc, lưng thắt dây tơ vàng, tay cầm Kim Quang như ý, ngồi rất tự nhiên. Phía sau giường không treo ảnh tượng.

Tường có treo đèn pha lê. Yên lặng, buông rèm, ngồi không nhúc nhích, con ngươi không động đậy, không mở miệng nói bừa, tả có Kim Đồng, Hữu có Ngọc Nữ. Cũng có lúc mắt sáng rực càn khôn, dù là Âm Ti tăm tối cũng chiếu sáng.

 Cũng có khi mở miệng nói thì khí sung vũ trụ, quỉ quái tà ma đều lo xa lánh. Nắm quyền Tạo Hóa, giữ máy Âm Dương, giữ sổ Sinh Tử, nắm giữ cán cân Tính Mệnh.

Nếu ai biết mà thành tâm lễ bái, sáng chiều phụng trì, không hề rời xa. Chân Nhân đó có Diên Mệnh Tửu, có Trường Thọ Đơn, Người nào đã nếm qua, sẽ thoát thai, hoán cốt, xuất tử, nhập sinh.

Nhưng thế gian này, ít trượng phu, ít liệt sĩ, không dám chịu vất vả, không chịu kiên tâm, lại không chịu nghiên cứu Căn Thể, Chính Lý, chỉ sống với cái thân hữu hình hữu tượng này mà thôi.

Giảng Huyền Quan, luận Huyền Tẫn, cứ chước không chấp tướng, theo bọn tiểu thừa, mà mong thành đạo. Buồn thay. Nếu quả là hào kiệt chân chính, thì phải Triệt Nhiên phóng hạ, vạn duyên giai không, phải chịu cầu Chân Sư, chịu kết giao với Lương Hữu.

Chết cũng không thay lòng đổi dạ, thì cuối cùng sẽ hiểu thế nào là Huyền Quan, sẽ thấy được Huyền Tẫn, sẽ liễu đạt Tính Mệnh. Học giả nên cố gắng.

******************         

TU CHÂN YẾU QUYẾT

修 真 要 訣

Đại đạo vô vi bản tự nhiên,

大 道 無 為 本 自 然

Công phu bất đáo, bất phương viên.

工 夫 不 到 不 方 圓

Tam xoa lộ khẩu, tầm Chân Chủng,

三 岔 路 口 尋 真 種

Bát quái Lô Trung luyện Tính Thiên.

八 卦 爐 中 煉 性 天

Một để pháp thuyền năng độ hải,

沒 底 法 船 能 渡 海

Tùy thân dược liệu khả diên niên.

隨 身 藥 料 可 延 年

Hình trung tàng Đức nhân nan trắc,

形 中 藏 德 人 難 測

Hại lý sinh Ân tâm yếu chuyên.

害 裡 生 恩 心 要 專

Tứ tượng điều hòa qui Bản Diện,

四 象 調 和 歸 本 面

Ngũ Hành toản thốc trưởng Kim Liên.

五 行 攢 簇 長 金 蓮

Hữu tăng hữu giảm phương vi diệu,

有 增 有 減 方 為 妙

Tri Cát, tri Hung thủy nhập huyền.

知 吉 知 凶 始 入 玄

Thoát tận khiên triền trần cấu vật,

脫 盡 牽 纏 塵 垢 物

Toàn thành phụ mẫu vị sinh tiền.

全 成 父 母 未 生 前

Tu tiên tác Phật giai do thử,

修 仙 作 佛 皆 由 此

Dư nhị Hư Huyền câu tẩu thiên.

餘 二 虛 懸 俱 走 偏

 *Dịch :-

Đại đạo Vô Vi vốn tự nhiên,

Công phu không đủ, khó phương viên.

Đứng giữa ngã ba, tìm nẻo chính,

Trong lò Bát Quái luyện Tính Thiên.

Pháp Thuyền không đáy năng vượt biển,

Đại Dược tùy thân khá diên niên.

Hình trung tàng Đức người khó biết,

Hại lý sinh Ân, tâm phải chuyên.

Tứ tượng điều hòa qui Bản Diện,

Ngũ Hành toản thốc, mọc Kim Liên.

Có tăng có giảm nên kỳ diệu,

Biết Cát, biết Hung mới nhập huyền.

Thoát hết phược triền trần cấu vật,

Hoàn thành phụ mẫu Vị Sinh Tiền.

Tu Tiên tác Phật đều do đó,

Ngoài ra tất cả: tổng Hư Huyền.

(xin xem Phần chính văn chữ Hán của TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI)

******************         

QUYỂN THƯỢNG

象言破疑

象言破疑序
 
    丹經萬卷皆象言也。象言者,非直言,非明言,非空言,非異言,乃有物有則,有指有證,取象演真之言。後人不究其意,止執其象,在儒者讀之,以為怪誕不經; 在道者讀之,以為包皮外象,甚至有執象猜疑,百般做作,流於曲徑邪行,自傷性命者,不可枚舉。咦!是豈古聖先賢取象立言之意乎?易曰:法象莫大乎天地,變 通莫大乎四時,懸象著明莫大乎日月。丹經皆本週易而作,其藥物火候,俱借天地、日月、四時以發揮其奧妙,若以丹經象言為怪誕,為包皮,易有風雲、雷電、龍 虎、牛馬、鹿羊、龜雉之象,與夫眇能視,跛能履,乘其墉,朋盍簮,噬膚滅鼻,困於株木,載鬼一車,刲羊無血等象,亦將以為怪誕包皮乎?悲夫!正道失傳已 久,不自今始。余自遇真師之後,取諸家丹經,彼此參看,實有得乎象言之意,因將所得於師者,盡洩於參、悟、闡真、原旨等書之內,猶恐學者難於貫通,又著象 言破疑一書,繪圖畫像,細分是非,掃旁門而指正道,息邪說而辯真宗,此則余之本願。見是書者,當思死人亦能說生術,勿以糟粕笑棄。為幸甚。
    時  嘉慶十六年,歲次辛未,春,王正月,棲雲山素樸老叟悟元子劉一明自敘於洗心亭。
 
象言破疑捲上
 
棲雲山悟元老人著 

門人魏陽誠刊梓  後學劉卜雲重刊

象言說
 
    修真之學,古經多言無為之道,而於有為之道罕言之,但無為之道,惟上智者頓悟圓通,一了百當,立躋聖域,其次中下之人,性質愚鈍,根塵深,識見小,若行無 為之道,力量不及,決不能萬緣俱空,直登彼岸。後漢魏伯陽仙翁,准易道而作參同契,度引中下之流,以有像譬無象,以有形喻無形,始有金丹之名,鉛汞、砂 銀、烏兔、龍虎、嬰姹、藥物、爐鼎、烹煉等等法象之說。自後成道群真皆祖參同而作丹經,以演妙理,其意皆欲後之學者,因此以參彼,借彼以證此耳。無如後之 學者,不究寓言之意,不推取象之理,見金丹鉛汞爐鼎之說,疑為服食,而遂流於爐火;見烏兔龍虎之說,疑為臟腑,而遂流於存想;見他家我家陰陽男女之說,疑 為閨丹,而遂流於採取;見逆順顛倒之說,疑為強作,而遂流於運轉;見修性無為之說,疑為寂滅,而遂流於頑空;見修命有為之說,疑為擺弄,而遂流於執相;等 等門戶,皆是以鹿為馬,以鳥作鸞,不但無益於性命,而且有害於性命,是豈祖師當年取象喻言之意乎?
    夫象者,像也。言其此物而像彼物,彼事而像此事也。試以眼前人人共見共知之事物論之,譬如烹煎飲食,鍋即鼎也,灶即爐也,鍋中貯水,灶底燒火,火本上焰,水本下流,今鍋中之水在上,灶底之火在下,水火顛倒,彼此相濟,而飲食熟成,此凡水凡火相濟之象也。
    人之剛性躁,多動,動則屬火,柔性緩,多靜,靜則屬水;用柔以養剛,以剛而就柔,剛柔相當,不躁不緩,歸於中正,大道易成,此神水神火相濟之理也。取凡水 凡火相濟之象,以喻神水神火相濟之理,而其理顯然矣。又如有人本來家業豐富,不守本分,化費財產將盡,忽然自知悔過,苦心勞力,重務生活,漸次積聚,財物 由少而多,終必家業復舊,此還元返本之象也。人身精神靈氣,本來充足圓滿,交於後天,順其造化,費精勞神,元氣衰敗,原本消耗殆盡,若知改頭換面,懲忿窒 慾,閒邪存誠,漸次用功,終有歸根覆命之時,此還元返本之理也。取世人還元返本之象,以喻修道還元返本之理,而其理顯然矣。又如世間男女相配,兩而合一, 即能生子生孫,此人道生生不已之象也。人身陰陽相當,兩而合一,即能生仙生佛,此丹道生生不已之理也。借人道生生之象,以喻丹道生生之理,而其理顯然矣。 丹經皆是借象以喻理,教人從象上辨別所行之理,非是教人背乎理而於象上做作也。
    今人不窮其理,只認其象,悲哉!丹經象言極多,學者須宜由象以窮理,得像忘言,得意忘象,其庶幾乎?

順逆說
 
    舉世之人,皆知順行之道,而不知逆運之道。何為順?順其造化也;何為逆?逆其造化也。順造化則生人生物,生老病死,輪迴不息;逆造化則成仙成佛,不生不滅,壽同天地。
    凡人自父母成胎,生身以後,二八數足,交於後天,內而七性六慾迷其真,外而萬緣萬事勞其形,認假為真,以邪為正,以苦為樂,順其所欲,無所不至,將本來精 氣神三寶,消化殆盡,將原有圓明真性,全然昧卻,不到咽喉氣斷之時,不肯休歇,以故生生死死,萬劫沉淪,所謂閻王不呌,自投其死也。若是大智慧人,逆運造 化,不為造化所拘束,不為陰陽所陶鎔,不為萬物所牽引,不為萬緣所牽移,在大火裡栽蓮,泥水中拖船,借世法而修道法,依人道而全天道,將歷劫根塵盡皆拔 去,把後起客氣一概掃無,命由自主,不由天主,復還當年乾元面目,躲去輪迴,超出三界,為金剛不壞之物矣。
    但這個順中逆運天機,有口傳心授之秘,必須真師指點,非可私猜而知。世間學人,恃自己螢火之明,管窺之見,記下幾句話頭,看過幾宗公案,自謂知道,再不求人,人前賣弄,滿口亂談,以己盲而引人盲,罪過罪過。
    又有一等糊塗漢,認不得真師,朝王暮李,學此小乘工夫,亦負有道,即有明人在前,不肯低心下氣,亂作亂為,或心氣下降,腎氣上升為逆行,或運氣後升前降為 逆行,或還精補腦為逆行,或閉氣定神為逆行,或採陰補陽為逆行,或男下女上為逆行,如此等類,千門萬戶,皆是背逆聖道,非是逆運造化;儘是取死之道,非是 至生之道。殊不知逆者,逆回於父母生身之初也,如人離家遠出,而又逆回於家之謂。
    雖雲逆行,其實是順理而行,乃逆中之大順,因其與常人所行相反,故謂是逆。旁門曲徑,惑於逆之一字,而遂在肉皮囊上萬般作為,到底落空,豈不愚哉!

藥物說
 
    丹經子書,所言採取藥物,烹煉金丹,皆是先天無形無質之真,非世間有形有質之藥,亦非人身有形有質之物,因其人自有生以後,認假失真,將本來圓成之寶,消化殆盡,一身純陰,滿腔邪氣,如大病臨身,待時而死,不有真正靈藥療治,如何返陰為陽,保全性命也?
    真正靈藥是何藥?先天真一之氣也,先天精氣神三寶也。先天真一之氣又名真種子,此氣不落於色象,至無而含至有,至虛而含至實,真空妙有,統攝精氣神三寶, 三寶亦非有形之物,乃無形之真。玉蟾翁云:其精不是交感精,乃是玉皇口中涎;其氣即非呼吸氣,乃知卻是太素煙;其神即非思慮神,可與元始相比肩。雖分三 家,總歸於先天一氣,三家合而成一氣,一氣分而為三家。採藥者,即采此一氣三寶,運真火煆煉成丹,點化一身萬般陰氣,歸於純陽清靜無垢無塵之原物,如人有 病,用藥醫治而成好人矣。所謂藥物者,譬象也;後世學者見丹經藥物之說,誤為有形有質之物,而遂採取山中草藥,配合服食,妄冀長生,或採五金八石,煆煉丹 藥服食,妄想飛昇,殊不知有形之藥,僅能治有形之病,而不能治無形之病,若欲治無形之病,非采先天真一之氣,余無他術矣。參同云:同類易施功兮,非種難為 巧。悟真云:竹破須將竹補宜,抱雞當用卵為之;萬般非類徒勞力,爭似真鉛合聖機。真鉛即先天真一之氣也。觀此一切,認凡藥為仙藥可以悟矣。

火候說
 
    丹經子書所言火候,乃喻其修持工夫次序之準則也。蓋修持功力有先後,有急緩,有進退之時候,不得宜先者而後,宜後者而先;不得宜急者而緩,宜緩者而急;不 得宜進者而退,宜退者而進;亦如爐火燒藥,有文武進退止足之時候,故修真用功次序,取象為火候也。但用功火候,不拘年月日時,刻刻行之,宜先而即先,宜後 而即後,宜急而即急,宜緩而即緩,宜進而即進,宜退而即退,隨時變通,毫髮不得有差。
    所謂宜先者,先嚴於內也;宜後者,後御其外也;宜急者,急於用功也;宜緩者,緩於溫養也;宜進者,陽未足而須進陽;宜退者,陰方生而須退陰;此即火候之實 理,非工家子時進陽火,午時退陰符,卯酉二時宜沐浴之說;亦非冬至進陽火,夏至進(當為退)陰符,春分秋分宜沐浴之說。夫天有天之子午卯酉,人有人之子午 卯酉,豈可以天之子午卯酉而即是人之子午卯酉乎?人身子午卯酉,刻刻皆有,古經云:不必天邊尋子午,身中自有一陽生。蓋以陽生即子,陰生即午,陽與陰合即 卯,陰與陽合即酉,所謂活子午卯酉也,豈是天邊死子午卯酉乎?金丹四百字云:火候不須時,冬至不在子,及其沐浴法,卯酉亦虛比。悟真篇云:縱識硃砂與黑 鉛,不知火候也如閒,大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。曰冬至不在子,曰卯酉亦虛比,曰毫髮差殊不結丹,可知非天邊子午卯酉矣。如雲是天邊子午卯酉,是十 二時只有四時修持,所餘八時棄之不用,豈能毫髮無差乎?入藥鏡云:一日內,十二時,意所到,皆可為。可見年月日時,刻刻用功修持,防危慮險,毫髮不容有 差;至於六十四卦火候之說,亦是指示陰陽進退之法,教人隨時加減,變通用功耳,豈是教人依六十四卦次序而行乎?悟真云:卦中設象本儀形,得像忘言意自明, 舉世迷徒惟執象,卻行卦氣望飛昇。讀書須要會的古人取象立言之意,意已得而像可忘矣。
    修真之道,千經萬典皆象言也,雖取象不一,總以發明陰陽順逆、藥物真假、火候準則而已,其外再無別說。予自得師指示,實悟的象中之意,不敢自私,願公諸知音之士,因將丹經緊要之條拈出,繪圖傳真,分析是非,以破學者之疑,其餘可類推而知。
 

胎中面目
 
    人當父母未生身以前,男女陰陽二氣交感之時,杳冥之中有一點生機自虛無中來,所謂先天真一祖氣者是也。此氣入於精血之內,陶鎔精血,混而為一,無形而即生 形,無質而即生質,內而五臟六腑,外而五官百骸,變之化之,皆自然而成全,雖懷胎之婦,亦莫知其所以然也。後學不知此理,或疑人在胎中,臍帶通於母氣,母 呼亦呼,母吸亦吸,漸次變化成形者,非也。夫呼吸之氣,乃後天之氣,後天之氣,焉能變化精血而成形?況呼吸之氣,焉能入於胞胎之中?殊不知母胎中,只有先 天一點祖氣,渾渾淪淪,始而凝胎,既而養胎,終而全胎,始之終之,皆此祖氣成就之,別無加雜。當斯時也,雖有人形而無人道,天地萬物,水火刀兵,俱不能 傷;七情六慾,五賊四相,俱不能近,究到實處,只一虛空而已。古仙教人修道,返於父母未生身以前面目者,即返於虛空之境,而無聲無臭也。無聲無臭,即是無 極,無極者,無之極,即是一無而已。

嬰兒面目
 
    人在母腹之中,十月胎圓,瓜熟蒂落,破胞而出,足向天,頭向地,”哇”的一聲,方接後天之氣,自口鼻而入,下於氣海,與先天元氣相合,先天為體,後天為 用,後天借先天而呼吸往來,先天借後天而蓄養血脈。不但此也,當”哇”的一聲時,歷劫輪迴識神,亦入於竅,而與先天元神混而為一,元神借識神而存,識神借 元神而靈,但嬰兒初生,雖有後天之氣,後天之神,而先天統後天,後天順先天,先後混成,混混沌沌,無識無知,一真而已。古仙教人窮取生身處,即窮取生身之 初,即窮取嬰兒面目也。迷人不知,妄言生身處是婦人產門者,非也。夫生身之初,嬰兒面目,純白無玷,是聖賢胚胎,仙佛根芽,故飛鳥不搏,虎兕不傷。蓋不搏 不傷者,以其無心也,無心而生死不礙,何災何患?此即始極之象。始極者,始之極,未交於後天,雖與後天相混,純是先天管事,因其在始之極,由無而方始也。

孩兒面目
 
    人自嬰兒漸長,能行能走,能言能語,隨人指引,名曰孩兒,又名孩提之童。嬰兒無識無知,孩兒已有識有知,未免浮雲點太空矣。能識有知,是由始極漸至太極 矣。太極者,大之極,大極則必小,陽極則必陰之時,但小未來,陰未生耳。小未來,陰未生,尚是先天用事,後天伏藏,雖有識有知,根塵尚未發,客氣尚未侵, 飲只食,寒只衣,喜怒哀樂,隨興隨滅;富貴窮通,不知不曉;順其自然,絕無雜念,亦是聖賢胚胎,仙佛根芽。愚人不知,以孩兒為嬰兒者,非也,嬰兒是赤子, 孩兒是童子,雖然皆俱天真,而身份高低不一,知識有無各別,故古仙皆以返本還元為嬰兒本來面目,不取孩兒頑童面目也。

陰陽分判
 
    人自孩兒漸長,二八氣足,陽極生陰,日鑿一竅,陰陽兩分,各居一方,真中有假,於是知識漸開,善惡分別,是太極判而陰陽分矣。所謂二八氣足者,如月上弦下 弦,兩弦合一,光渾圓滿之象;喻其先天陽極,如太極也,陽極必陰,如太極一判,而陰陽兩離矣。愚人不知,以二八生陰之說,疑為男子十六歲而陰精洩者,非 也,試觀世間男子,有十四五歲而洩精者,有十六七歲而洩精者,更有十八九歲而洩精者,歲精多寡不等;可知二八之數,不論人之年歲,乃言氣之盈滿也。

五行分位
 
    陰陽一分,於是五行亦亂矣。五行者,金木水火土之五氣也。五行在先天,則是土生金,金生水,水生木,木生火,火生土,五行一氣,發而為仁義禮智信之五德; 在後天則土克水,水克火,火克金,金克木,木克土,五行相戕,發而為喜怒哀樂欲之五賊。五行相合,則五德備而陰陽混一;五行分散,則五賊興而陰陽駁雜。五 行一分,識神漸起,根塵漸發,真者退位,假者當權,孩兒面目亦失矣。愚人不知,以五臟分五行者,非也。夫五臟者,有形有質之濁物,為後天五行之旅寓,非先 天五行之德園,若以五臟即是五行,五臟如何能分能合?且五行有先天后天之別,先天本於生身以前,後天出於生身以後;先天生聖,後天生人;兩個五行,雖分先 後,皆是活的,非有定位,豈可以五臟之濁物為五行乎?

後天用事
 
    陰陽判,五行分,後天一交,先天退位,於是秉受氣質之性發,外來習染之塵生。六根門頭,門門招賊;七情孽種,種種生災。純白之體,漸漸陰氣入內矣。陰氣一 入,陰氣漸長,陽氣漸消,長而又長,消而又消,順其所欲,無所不至矣。愚人不知,以氣質之性為真性者,非也。真性者,天命之性,屬於先天,有益於人;氣質 之性者,人生之性,出於後天,有損於人。豈可以後天之性即先天之性乎?

純陰無陽
 
    後天用事,陰進陽退,日復一日,年復一年,內而萬唸作殃,外而萬物牽引,內外加攻,陽氣消盡,一身純陰,三寶耗滅,魂魄難存,不死豈能之乎?愚人不知,以 數盡命絕,委之於天者,非也。夫人生所依賴者,陽氣也。一點陽氣,不盡不死,一點陰氣,不純亦不死。順其陰氣,消滅陽氣,自尋死路,與天何涉也?以上七 圖,皆順行造化,生人之道也。

煉己築基
 
    修真之道,返還之道也。返者,我已去而又來之謂;還者,陽已失而復得之義。是於純陰之內,而返還其本來真陽也。人自後天用事,一身純陰,先天陽氣消化殆 盡,不有返還之功,何能無者而復有,失者而仍得耶?返還之功莫先於煉己築基。煉己者,煉其歷劫根塵、氣質偏性,與夫一切習染客氣,即懲忿窒慾,克己復禮之 功。能懲忿窒慾,克己復禮,則無思無慮,不動不搖,根本堅固。即如起屋必先築基,基地堅固,木料磚瓦由人做作,無不負載也。煉己即在築基之中,築基不在煉 己之外。愚人不知,以煉己為守心,築基為閉精者,非也。夫煉己之功,為丹道始終之要著,直至陰盡陽純之後,而煉己之功方畢。若未到陰盡陽純之時,而煉己之 功不可歇。若謂守心閉精即是煉己築基,豈能全金丹之大事乎?古仙云:還丹在一時,煉己須十月。於此可知,非守心閉精矣。

天良真心
 
    煉己築基,非是強制強作、苦力用功,必要認的天良真心,借此真心以煉己。則黑暗之中,即有一點陽光發現,號曰真靈。真靈若現,是非邪正,判然分明,不為物 慾所牽,不為塵緣所染,煉己甚易。倘認不得真心,則邪正不分,是非罔辨,是以心制心,終是人心用事,強制強作。所謂卻除妄想重增病,趨向真如亦是差。如何 到無己之處?愚人不知,誤認人心為真心者,非也。夫真心無心,無心之心,方是天良之心。有此天良之心,何難於己之不能克去乎?百字碑云:動靜知宗祖,無事 更尋誰。黃鶴賦云:離內七般硃砂,無真種則時刻難留。三丰云:築基時須用槖籥,煉己時還要真鉛。祖宗真種、槖籥真鉛,皆天良真心之別名。噫!天良真心,豈 易知哉?若有知之者,則得其一,而萬事畢矣。

陽長陰消
 
    認的天良真心,主人公穩坐中央,為道日減,為功日增;陽氣漸長,陰氣漸消;長而又長,消而又消,直到無可長消處,方為極功。愚人不知,以靜坐無為、寂滅頑 空,妄想陽氣自長,陰氣自消者,非也。夫還丹者,陰中復陽也。若以靜坐無為、寂滅頑空而欲復陽,陽豈能自來,陰豈能自退?《悟真》云:”總識硃砂與黑鉛, 不知火候也如閒;大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。”於此可知進陽退陰之道矣。

攢簇五行
 
    陽長陰消,還要知的攢簇五行。五行攢簇,大道可望。攢簇之功是在後天五行中返出先天五行也。後天五行,彼此相剋也;先天五行,彼此相生也。返者,於相剋之 中而致相生也。五行相生,渾然天理,是五行一氣,四象和合也。愚人不知,以意引心腎之氣,上下相交,運肝肺之氣,左右相會為攢簇五行者,非也。夫五臟之 氣,皆有形之物,後天滓質,有成亦有壞,如何凝結永久不壞之命寶哉?

陰陽混合
 
    五行從陰陽中分出,五行攢簇,合而為一,即是陰陽合而為一。陰陽混合,金丹有像,仍是孩兒面目,但不過後天之氣,猶未化去耳。然雖是未化去,先天返還,後 天即順,亦是不能為禍,從此再下一重功夫,金丹可成矣。愚人不知,或心腎相交,或任督相會,或男女相交,為陰陽混合者,非也。夫金丹先天虛無之氣凝結而成 者,豈後天氣血有形之物所能凝結哉?

渾然一氣
 
    陰陽返還於混成,孩兒面目已復,從此運天然真火,鍛去後天余陰,歸於無識無知地位,神藏氣聚,所謂男兒有孕者是也。這個胎孕,即是嬰兒面目,即是生身受氣 處,亦即始極,亦即太一含真氣。愚人不知,采紅鉛,摘梅子,服食吞飡,相結聖胎者,非也。若謂紅鉛梅子能結聖胎,不過所結者血塊肉團,促死之鬼胎而已,其 他何望乎?

太空虛無
 
    聖胎凝結,再加十月溫養之功,運天然真火,熏烝烹煉,由微而著,由嫩而堅,群陰剝盡,胎圓丹成,瓜熟蒂落,忽的打破混沌,迸出清淨法身,跳入太空虛無之 境,超出乎三界之外矣。此即未生身以前面目,亦即無極面目。道歸無極,形神俱妙,與道合真,大丈夫之能事畢矣。愚人不知,或對鏡演神,或默想頂門,或面壁 忘形,出陰神之類者,非也。金丹脫化之神,乃為陽神,其一切靜功所出之神,乃為陰神;陽神萬載長在,不生而不滅;陰神未經火煉,拋身又入身。千門萬戶,若 不得金丹大道點化,雖能陰神出入自便,知前曉後,難逃輪迴,所謂饒君千萬劫,終是落空亡也。
 
以上七圖,皆逆行造化,修仙之道也。
 
十四圖中,順行逆運二事,大略可知,以下拈出緊要像言,分判邪正,指出實義,以示學者,諸如此類,可以意會矣。
——————————  
******************         

QUYỂN HẠ

象言破疑

卷下
 

金丹
 
    金者,堅剛永久不壞之物;丹者,圓滿光淨無虧之物。古仙借金丹之名,以喻本來圓明真靈之性也。此性在儒則名太極,在釋則名圓覺,在道則名金丹。名雖分三, 其實一物。儒修之則為聖,釋修之則為佛,道修之則為仙。三教聖人皆以本來真性為成道之本也。愚人不知,或用五金八石鍛鍊成藥為金丹者,非也;真性在大造爐 中,經火鍛鍊成熟,與天地同長久,與日月同光明,豈凡世有質之物能成哉?

天地之心
 
    修真第一要著,須要認得天地之心。天地之心即前所云天良真心也。此心恍惚杳冥,不輕現象,因有虛室生白,暗中忽明之時,方露端倪。天屬陽,地屬陰,天地之 心,乃陰不離陽,陽不離陰,陰陽相合之心。陰陽合,有此心,陰陽分,無此心;非色非空,即色即空,非有非無,即有即無,色空無礙,有無不立,乃真空中之妙 有也。識得此心,守而不失,則大本已立,其餘易事耳。愚人不知,皆在肉團頑心上揣摩,或以動心為天地之心,或以靜心為天地之心,或心住中宮為天地之心者, 皆非也。夫頑心者,後天私慾之人心,動心則著於有,靜心則著於無,住心又著於象,此等之心與天地之心雲泥相隔。蓋以天地之心,動靜如一,寂然不動,感而遂 通,感而遂通,寂然不動,豈肉團頑心之謂乎?

偃月爐
 
    偃月者,偃仰蛾眉之月。月晦極,下又生明,喻人至靜之中,忽有天根現露,號曰道心,有如偃月之象。爐者,運火之器,以其道心陽光,能以鍛鍊一身之陰氣,故 又喻之為爐,其實道心即天地之心。以體言,為天地之心;以用言,為道心。一物而二名也。愚人不知,以丹田之下橫骨上仰為偃月爐,或認心字一彎上仰,誤以肉 團心為偃月爐,又采戰家以婦女產門為偃月爐者,皆非也。夫偃月爐,乃道心之光輝,此光照處,諸邪皆滅,能以作聖,能以作仙。紫陽翁云:”休泥丹灶費工夫, 煉藥須尋偃月爐。”又云:”偃月爐中玉蕊生,硃砂鼎裡水銀平;只因火力調和後,種得黃芽漸長生。”於此可知偃月之義矣。

硃砂鼎
 
    硃砂者,火之色,因其火能鍛鍊諸物,去舊換新,故人以鼎象之。火之為物,最靈最神,無物不化,喻其神明無處不照,無事不成之義。但神有元神有識神,識神能 以敗道,元神能以成道。蓋識神帶有歷劫根塵,借元神之靈而生妄,不至喪去性命而不止。修行大法,須要以元神而制識神,識神不起,則邪火滅,邪火滅而真火 生,真火生而和氣氤氳,生機不息,大道可望。愚人不知,誤認昭昭靈靈之識神以為元神者,非也。夫元神者,不神之神,靈而最真,真而最靈;昭昭靈靈之神,乃 神而神者,雖靈有假,假中之靈為輪迴之種子。古仙云:”無量劫來生死本,痴人喚作本來人。”生死本,即識神之謂也。

元牝之門
 
    元為陽、為剛、為動,牝為陰、為柔、為靜,元牝之門乃陰陽之竅、剛柔之門、動靜之關,無方無所,無形無象,彷彿曲肖,虛懸一竅,在五行不到之處,四大不著 之境,至無而含至有,至虛而含至實,乃陰陽相合之中一竅。愚人不知,以口鼻為元牝者,非也。夫口鼻是呼吸出入之門,非陰陽出入之門,陰陽相合,生仙生佛, 口鼻呼吸之氣,豈能生仙生佛乎?悟真云:”元牝之門世罕知,莫將口鼻妄施為”者是也。

元關一竅
 
    元關者,至元至妙之關口,又名生死戶、生殺室、天人界、刑德門、有無竅、神氣穴、虛實地、十字路等等異名,無非形容此一竅耳。元關即元牝之別名,因其陰陽 在此,故謂元牝門;因其元妙不測,故謂元關竅,其實皆此一竅耳。愚人不知,或以心下腎上處為元關,或以臍心為元關,或以尾閭為元關,或以夾脊雙關為元關, 凡此皆非也。蓋元關無定位,若有定位即非元關。陳虛白以念頭起處為元關,似是而實非也。念頭起處已落於後天有形之物,如何稱為元關?吾今與大眾分明指出: 在恍惚杳冥之間,有無相入之際,悟真篇曰:”恍惚之中尋有像,杳冥之內覓真精,有無從此自相入,未見如何想得成?”又四百字云:”此竅非凡竅,乾坤共合 成,名為神氣穴,內有坎離精。”此實指元關一竅而言也。

穀神
 
    穀神者,空谷之神,俗名崖娃娃。因其兩山高聳,中間一谷,人聲喊叫,谷中傳聲,故名穀神。修道借此以喻人身虛靈之神。蓋心虛則靈,不虛不靈,靈出於虛,亦 名穀神。神者,無形無象,靈而不可測度之義。所謂寂然不動,感而遂通者,此神也;所謂凝結聖胎者,亦此神也。愚人不知,以神存天谷謂穀神,或神守黃庭謂穀 神者,皆非也。若神存於天谷,神守於黃庭,則是不虛,不虛焉得有神?不虛無神,何得名穀神?悟真云:”要得穀神長不死,須憑元牝立根基。真精既返黃金室, 一顆靈光永不離。”元牝合而中即虛,虛則真靈常存而不昧矣。真精靈光穀神,皆喻真靈之一物耳。

金鼎 玉爐
 
    金鼎者,剛強堅固之物,喻人志念專一,能以載道之義,又名乾鼎;玉爐者,溫柔平靜之物,喻人工夫漸進,能以久遠之義,又名坤爐。愚人不知,鑄造鐵鼎,做作 泥灶,燒煉金石,妄想成丹者,非也。蓋有形之爐鼎只能煉有形之凡藥,而不能煉無形之仙藥。古仙云:鼎鼎原無鼎,爐爐亦非爐。其所謂爐鼎者,以其修道之功, 剛柔兩用方能濟事,亦如燒煉家,有鼎不可無爐,有爐不可無鼎,鼎爐俱備,方能成藥也。

烏兔 藥物
 
    日中有金烏,為陽中之陰;月中有玉兔,為陰中之陽。日在卦為離,外陽內陰,喻其剛中有柔之義;月在卦為坎,坎外陰內陽,喻其柔中有剛之義。金丹之道,惟取 剛中之柔,柔中之剛,兩味真陰真陽大藥,熔化一氣而成丹。曰藥物者,以其真陰真陽能以返老還童,延年益壽也。至於龜蛇盤結,水火相濟,亦是此理,不過隨便 取象,以證真陰真陽合一之道耳。愚人不知,疑為烏兔二字,或口吸日精月華,或眼接日精月華者,非也。夫天有天之日月,人有人之日月,人身真陰真陽,即人之 烏兔日月也。天邊日月精華,與我相遠,怎能采來?如曰能采,則改採者身外邪氣,久必內得臌脹,外則失明,無益有損矣。

龍虎相會
 
    龍性柔,主生物,屬木,在卦為震,喻人之柔性。震本陽而取柔象者,陽少陰多也。虎性剛,主殺物,屬金,在卦為兌,喻人之剛情。兌本陰而取剛象者,陰少陽多 也。此性此情,彼此隔礙,則為氣性塵情而傷生;彼此和合,則為真性真情而益生。龍虎相會,是以性求情,以情歸性,性情合一之義。至於東家女、西舍郎,配為 夫妻,長男少女,兩家合一,金木相併等象,無非喻此真性真情交會之意。愚人不知,以肝為龍,肺為虎,運肝肺之氣於臍心,或於丹田,或於黃庭,以為龍虎交媾 者,非也。殊不知肝肺之氣皆後天有形之氣,不但不能凝結一處,即強團聚,積久成蠱,無法醫治,自促其死,豈不愚哉!

坎離顛倒
 
    坎卦外陰而內陽,離卦外陽而內陰。內陽為水,內陰為火。丹道取坎中之陽,以填離中之陰,以水濟火,是謂水上火下,水火顛倒,又名坎離顛倒,以喻道心真知之 神水,去制人心靈知之邪火也。吾之真知,外暗內明,如坎卦外陰內陽;吾之靈知,外明內暗,如離卦外陽內陰。以真知而制靈知,以靈知而順真知,真靈如一,凝 結成丹,亦如顛倒坎離,水火相濟也。至於嬰兒、姹女、黑鉛、紅汞之象,亦無非形容真知靈知兩而合一耳。愚人不知,指腎為坎,心為離,運腎氣上交於心,心氣 下降於腎為顛倒坎離;又有採取閨丹,以男女作嬰兒姹女,男下女上為坎離顛倒;又燒煉家以黑鉛制水銀,或爐下煨火,鼎上貯水,為坎離顛倒、水火相濟者。凡此 皆非也。夫修真之道,修其真也,一切有形滓質,邪行醜事之類,假而不真,何能成真哉!

五行顛倒
 
    五行順生,木生火,金生水;五行顛倒,火生木,水生金。蓋火生出之木,永為不朽之木,如木遇火,鍛鍊成炭,入地常存之類;水生出之金,永為不壞之金,如散 金爐中熔汁成塊,分外生明之類。火生木,喻人之本性在大造爐中,鍛鍊出來,永為不動不搖之性矣;水生金,喻人之真情在慾海波中,親渡過去,永為無塵無垢之 情矣。古仙所謂,五行順行,法界火坑,五行顛倒,大地七寶者是也。愚人不知,搬東弄西、採下補上、推前運後為五行顛倒者,非也。殊不知一身純陰,內而心肝 脾肺腎,外而眼耳鼻舌身,儘是假物,咽喉氣一斷,一堆臭穢骨肉,哪有一件是真?若以此假物妄想了性了命,烏乎能之?

黃婆媒娉
 
    黃婆者,中央土母,以其能調陰陽,能和四象,故名黃婆,丹書借此以喻人之真意中真信,能以和性情,養精神之義。真意真信即吾身中之黃婆,所謂黃中通理者是 也。愚人不知,以意運五臟之氣會合,為黃婆媒娉,又有造孽之輩,用能言老婦調戲男女行淫,取處女首經梅子,為黃婆媒娉者,大非也。夫真土無位,真意無形, 無物不生,無理不具,能以會三家、攢五行,故名黃婆媒娉,豈意念之意,作妖老婦之謂乎!

二八兩弦
 
    月自晦朔之間,與日相交,初三微光現象,至初八陰中陽半,有如弓弦,是為上弦,十六圓滿,一陰胎內微黑現象,二十三陽中陰半,有如弓弦,是為下弦;上弦得 水中之金八兩,下弦得金中之水八兩,二八一斤,金水相停,陰陽相合之象,丹書借此以喻剛柔相當,不偏不倚,至中至正之義。愚人不知,或以男子十六歲為二 八,兩弦之氣足,而遂勒閉陰精,或以黑鉛八兩,水銀半斤為二八兩弦之藥料,而燒煉服食者,皆非也。《四百字》云:上弦金八兩,下弦水半斤,兩弦合其精,乾 坤體乃成。兩弦者,一陰一陽也。乾剛為陽,坤柔為陰,陰陽相配,乾坤體成,丹元有像,於此可知兩弦之意矣。

黍米珠
 
    人當未生身之前,在胞胚之中,混混沌沌,昏昏迷迷,只有渾然一氣盤旋,別無他物,所謂太乙含真氣者是也。此氣至神至妙,至虛至靈,至無而藏至有,三元、八 卦、四象、五行皆包於內,故無形而能變化,所以變化無窮,五臟六腑、九竅百骸俱皆自然成就,因其至神至妙,至虛至靈,又名真靈,又名不神之神。當其在母腹 之中,一氣含真,名曰真氣,及其出母腹,靈含一氣,名曰靈氣,一氣為體,即是真空;真靈為用,即是妙有。真氣真靈,真空妙有,名雖有異,只是一真。此真無 形無象,無聲無臭,不可以言傳,不可以筆肖,仿彿形容,不過一黍米之微,故古仙皆稱此真為黍米寶珠。雖雲黍米,而實無黍米之形,因其有一點靈氣,隱於中 央,故名黍米;因其有一點黍米之靈,而混沌虛空,三界無一不包,故名黍米珠;究到實處,總是鴻濛未判之始氣也。愚人不知,以女子首經中梅子為黍米珠,又工 夫家神存明堂,久而眼光散外,為黍米珠,皆非也。夫鴻濛未判之黍珠,為生聖生賢,成仙成佛之靈寶,豈濁血之物、存想之光所可能哉!《四百字》云:混沌包虛 空,虛空包三界,及尋其根源,一粒黍米大。三丰翁云:誰不知,誰不會,誰不行,都只在鴻濛未判一粒黍米上迷。

火候卦象
 
    丹經皆借六十四卦為陽火陰符之法象,以乾坤二卦為鼎爐者,取其陽剛陰柔為體也;以坎離二卦為藥物者,取其剛柔中正為用也;復姤二卦為陰陽之交界,取其剛柔 運用各有時節也;屯蒙二卦為造化之始,取其當進火而須用剛,當退火而須用柔也;既未為造化之終,取其陽火而用剛,不可太過,陰符而用柔,不可不及也。其餘 五十四卦,皆隨乾坤坎離復姤屯蒙既未十卦運用,自然而然。約而言之,總以陰陽相當,兩而合一,歸於混成之象而後已。愚人不知,按六十四卦,在年月日時上強 做作用功者,非也。夫天地陰陽造化一氣流行,週而復始,循環無端,豈從六十四卦行哉?六十四卦是聖人觀天象地,體陰陽造化而作,六十四卦乃陰陽造化之解注 耳。人身造化與天地造化相合,自有六十四卦,豈可泥文執象哉!

生我之門
 
    月至西南,晦極而生明,西南屬坤,純陰之方。純陰之下,一陽潛生,有上坤下震之象,在卦為復,在月為偃月,皆喻其靜極之中,忽有天心現露之義;又名道心, 又名天良真心,即前所謂偃月爐。若見此心,保守不失,借之進陽退陰,如貓捕鼠,必至陽漸生,陰漸退,陰盡陽純,則仙矣。故以西南坤位為生我之門。愚人不 知,以婦人產門為生我之門者,非也。產門乃生人之處,何以能生仙哉?

死我之戶
 
    月至東北,陽光將滅,東北屬艮,陰氣將純,陽光些微,有上艮下坤之象,在卦為剝,在月為覆碗,皆喻其客氣剝消真元之義。若有出世丈夫,勇猛男子,頓悟回 頭,借此一點余陽,以明破暗,用功修持,亦不難於返本還元。一切凡夫,迷而不悟,順其陰氣剝陽,陽盡陰純,不死豈能之乎?易曰:東北喪朋,丹書又號死我之 戶。愚人不知,以婦女產門為死我之戶者,非也。夫生門死戶,皆無形無象之門戶,因其順陰則死,逆陽則生,故以生門死戶名之,其實只一竅耳。古仙號曰生死 關。雖名為關,亦無方無所,乃強名也。悟真云:須將死戶為生戶,莫執生門號死門。若會殺機明返覆,始知害裡卻生恩。於此可知生門死戶之義矣。

有為之竅
 
    有為之道即有欲觀竅之功。觀竅者,觀陰陽造化之竅,借後天返先天,和四象、攢五行、採藥進火,自還丹以至結胎,工程次序,皆在其內。若非真師口傳心授,毫 髮之差,千里之失。愚人不知,在後天幻皮囊上擺弄氣血,以為有為之道者,非也。夫金丹之道,先天之學,能以扭轉陰陽,竊奪造化,逆回氣機,顛倒乾坤,先天 而天弗違之道,豈做作後天一身有形有質之物所能成乎?正陽翁云:涕唾津精氣血液,七般靈物總皆陰。若將此物為丹本,怎得飛昇朝玉京。紫陽翁云:嚥精納氣是 人行,有藥方能造化生。鼎中若無真種子,猶將水火煮空鐺。噫!金蝦蟇,玉老鴉,認得真的是作家。有為之道豈易知哉!

無為之妙
 
    無為之道,即無慾觀妙之功,乃聖胎凝結以後之事,是靜觀一氣變化之妙。當聖胎凝結之後,後天已返為先天,只用沐浴溫養之功,勿忘勿助,運天然真火熏烝,變 化自然,無形生形,無質生質,瓜熟蒂落,嬰兒出現,而前之烹煉武火之功,皆棄而不用也。愚人不知未窮性命是何物,修道是何事,學些旁門曲徑小法乘,而便入 山靜坐,或閉關定神,以為無為者,非也。夫性命必須雙修,功夫還要兩段,兩段者,一有為而先了命,一無為而後了性,豈空空靜坐定神而能了性命哉?悟真云: 未煉還丹莫入山,山中內外盡非鉛,此般至寶家家有,自是愚人識不全。又云:始於有作無人見,及至無為眾始知。但見無為為要妙,豈知有作是根基。於此可知有 為無為,各有時節,各有作用,大不同也。

混俗和光
 
    混俗和光,及乃大隱市朝之作用。混俗者,混於俗中,使人不識也;和光者,和而不同,在塵出塵也。能混俗和光,外圓而能應物,內方而有主宰,依世法而修道 法,顯晦逆順,無阻無擋,行道至易。愚人不知,或疑混俗和光是日間應事,夜間修靜者,非也。果如是言,謂之從俗則可,謂之混俗則不可;謂之蔽光則可,謂之 和光則不可。蓋混俗和光之道,有奪天地造化之能,竊陰陽生殺之訣,豈容易而知,容易而行哉?

藥歸土釜
 
    土性溫柔,能以養物;釜主烹煎,能以成物。釜以土名,為養物成物之器,非尋常之土,非尋常之釜可比。藥歸土釜,是喻其陰陽相合,聖胎凝結溫養之功。溫養聖 胎,全在一意不散,允執厥中,陰陽相當,不偏不倚,故亦以土釜名之。究到實處,只一中字耳。守此中,則陰陽和,五行攢,聖胎全;失此中,則陰陽偏,五行 分,聖胎傷。然則守中為溫養聖胎之妙訣也。愚人不知,或挖地爐,養硃砂,取硃砂中水銀,以地爐為土釜;或泥爐作灰池,燒鉛入灰池分銀,以灰池為土釜者,皆 非也。子野云:真土無位,真意無形,特以中之土釜,無形無象,無方無所,因其能成全聖胎,故以釜名之,豈泥土之釜之謂乎?

凝結聖胎
 
    聖胎者,聖人之胎。即無識無知,嬰兒本面。道至無識無知,百神會集,萬緣俱息,混混沌沌,入於恍惚杳冥之境,自有為而入無為矣。愚人不知,或運心液腎氣相 交於黃庭為聖胎,或神存中宮為聖胎,或運氣後升前降,住於丹田為聖胎者,皆非也。聖胎無形無質,雖名為胎,而實無胎可見,所云胎者,不過形容真靈凝結不散 耳。若以氣血強凝成胎,是乃促死之鬼胎,非長生之聖胎也。

十月胎圓
 
    十月胎圓,乃神全氣足,根塵拔去,客氣消化,陰盡陽純之象;猶如婦人懷胎,十月方能成全。丹道以十月胎圓喻之者,取其聖胎凝結之後,必須防危慮險,沐浴溫 養,期必至於圓成無虧而後已,非以十月為定期也。愚人不知,疑於十月二字,或運氣,或存想,或凝神,妄想結胎,以十月為定期者,非也。修真之道,自採藥烹 煉結丹結胎,以至道成脫胎換化,要費無限功力,豈可以十月為期?可知十月乃象言耳。

嬰兒出現
 
    嬰兒出現,聖胎脫化之謂。聖胎者,色身中又懷一法身也;脫化者,色身中又生出一法身也。因其色身中又生出一法身,如凡婦十月懷胎生出一嬰兒,故以法身名嬰 兒。嬰兒出現,身外有身,跳出三界之外,不在五行之中,躲過輪迴,與天地同壽,與日月同庚矣。愚人不知,以坎中真陽為法身嬰兒,或以腎中精氣為法身嬰兒 者,非也。夫坎中嬰兒,乃陰中之陽,法身嬰兒,乃陰陽混化之真;至於腎氣,乃腎中之邪火,絕無嬰兒之義,豈得混論哉?悟真篇云:嬰兒是一含真氣,十月胎圓 入聖基。四百字云:夫婦交會時,洞房雲雨作,一載生個兒,個個會騎鶴。於此可知法身嬰兒之說矣。

移爐換鼎
 
    大道圓成,身外有身,形神俱妙,已到大聖人地位,而爐鼎無所用,更何有移換爐鼎之事乎?其所以移換爐鼎者,仍將此法身潛藏密養,變化神通耳。所移者何爐, 所換者何鼎?以太虛為鼎,無為為爐,而前之乾鼎坤爐、硃砂鼎、偃月爐,一概藥物,俱皆不用矣。只所用者,法身耳。法身在虛無之中,自變自化,愈虛愈神,愈 無愈妙,神妙不測,變化無窮,所謂子又孫孫又枝,到此地位,休歇罷功,打破虛空,跳上大羅之境,方為了當也。後之學人,未得真傳,或疑身外有身,已抵道之 盡頭路者,非也。敲爻歌云:一物無,隨顯道,五方透出真人貌,仙童仙女彩雲迎,五明宮裡傳真誥。觀此而知法身千變萬化,方為極功也。
 
 
破疑詩

七言絕句五十首

離世

世事千般俱不真,俗緣恩愛最傷身,一刀兩斷無牽扯,解脫場中作個人。

煉睡

少睡原非煉睡魔,忘飱廢寢斬藤蘿。諸緣掃去心清靜,晝夜長眠怕甚麼。

功行

修行積德最為先,功大行深感動天。可笑愚人惟利己,無功少行想成仙。

金丹

先天本性號為丹,八卦爐中煉作團。舉世迷徒尋外藥,吞飱妄想上雲端。

元關

元關一竅少人知,恍惚杳冥含兩儀。順去流歸煩惱路,逆來便是聖賢基。

識神

思慮精靈號識神,輪迴種子帶根塵。愚迷俱把遊魂弄,到底誰能見主人。

陽精

陽精一點秘形山,認得真時可駐顏。非在心中非在腎,不空不色隱元關。

先天氣

先天一氣在鴻蒙,無象無形不落空。認得生初真面目,方知我有主人公。

先後天

未生身處號先天,一出頭來氣質連,先聖後人分兩路,須當仔細辨偏全。

首經

首經本是先天寶,恍惚杳冥真一精。純白無疵清淨物,休將濁血冒安名。

三藥

大藥三般精氣神,有形不是本來真。至精至粹虛靈物,煉就金剛大法身。

性命

性命原分先後天,生身落地定偏全。後天性命後隨天運,捉住先天我操權。

天地心

天地之心甚處藏,陰陽感激現圓光。虛無鼎裡烹煎熟,萬古千秋不損傷。

道心人心

人心似鐵道心金,可向微危細酌斟。變化靈通無上下,源頭活水別陽陰。

未生時

未生身處有誰知,靜靜悄悄混沌時。四象五行皆未到,混然一氣沒雄雌。

初生時

初生面目事如何,先後二天一氣和。無識無知無點染,佛仙種子聖賢窩。

他家

他家不是別人家,誤認人家早大差。我的孩兒迷失外,一呼見面子隨爺。

彼我

經言彼我辨陰陽,非色非空清淨鄉,采戰閨丹邪術輩,煙花寨裡壞天良。

侶伴

侶伴須分內外因,身中侶伴兩三人,外邊侶伴同扶佐,脫盡輪迴歷劫塵。

外護

皆尋外護望成功,買鼎烹鉛亂捉風,怎曉天機超俗法,借它大力鎮愚慒。

九鼎

乾元九數號純陽,九鼎還丹鍛鍊方,造孽迷徒猜女鼎,決然打入鐵圍鄉。

招攝

招攝先天有秘方,鼓琴敲竹見虛皇。色聲鬧處無妨礙,隨手扭回北斗光。

顛倒

顛倒陰陽有甚難,當於靜裡運神觀。道心不昧人心滅,立地直登百尺竿。

火候

運火工夫本沒時,朝乾夕惕斬三屍。防危慮險常清靜,應物不迷損益之。

卦象

火候經言周易卦,推爻執象俱皆非。大都要會陰陽理,進退隨時任指揮。

乾坤爐鼎

乾鼎坤爐在我身,休從外面問原因,剛柔二事無間隔,鍛出先天一氣真。

偃月爐

問道何謂偃月爐,黑中有白晦而蘇。分明指出還丹母,叫醒時人識也無。

硃砂鼎

修真藉賴硃砂鼎,非鐵非金非是銀,認得靈明些子物,取新革故見元仁。

土釜

土釜豈由土作成,中央正位是真名。木金水火皆攢此,養顆元珠徹夜明。

斗柄

因觀鬥柄運周天,始悟生機在那邊。扭轉腳根翻過面,當時火裡現金蓮。

兩弦

下弦是水上弦金,止是調停陽與陰。果若剛柔和合了,當中露出涅槃心。

壬癸

壬水陽兮癸水陰,學人幾個細追尋。樞機動處分真假,去濁留清產白金。

煉己

修行煉己最為先,絕欲忘情卻萬緣。六賊三彭皆剪滅,乾乾淨淨一丹田。

築基

志念堅牢是築基,身心不動最為奇。憑它禍患與災厄,止水無波萬有離。

鉛汞

真汞原非塵世汞,真鉛不是出山鉛,一情一性先天藥,鍛鍊歸根了大還。

嬰姹

姹女藏離本不真,嬰兒在坎亦難遵,而今說破陰陽竅,能實能虛產法身。

坎離

坎離莫向北南求,火性飛騰水下流,二物如能顛倒過,水升火降結丹頭。

震兌

兌非西地震非東,性亂情迷氣不同。會得情來歸性法,霎時見我主人翁。

子午

子午休從日夜尋,身中別有指南針。陰陽動靜隨時有,定裡常聽太古音。

卯酉

沐浴經言卯酉時,形容二氣沒偏疵,愚人不曉陰陽會,朝夕二分靜坐之。

黃婆

雌雄匹配要黃婆,戊己成圭造化窩。若問黃婆真信息,一誠感格五行和。

還丹

修丹為甚號還丹,五氣分離俱各單,明善復初皆聚會,身心不動打成團。

丹熟

丹已還時別有方,不須加減再增陽,自然神火爐中煉,迸出通天一粒光。

聖胎

聖胎非是有形胎,氣聚神凝真種栽,慮險防危常謹慎,若還大意必生災。

脫胎

聖胎脫化始全真,十月功夫養穀神。陽氣極純陰氣盡,虛空跳出一仙人。

有為

有為豈是弄皮囊,做作千般總受傷,怎曉心傳真妙訣,鬼神莫測扭陰陽。

無為

無為不是著頑空,還得勿忘勿助功。拔去輪迴生死種,當中只有一神童。

復姤

陰極復陽須進火。陽純將姤運陰符。陰符陽火無差錯,鍛出先天太極圖。

文武

猛力降魔為武煉,虛心養氣是文烹。知凶曉吉隨時變,遍地黃金耀眼明。

和光

和光混俗秘天機,大用神功真個希,常應常清常自在,隨時脫舊換新衣。

—————–
PHỤ LỤC

元牝真竅說
 

    學人欲修大道,了性命,莫先於認元牝之門。元牝之門,即元關一竅,此竅有門兩扇,一開一合,高九尺,闊五尺,門外有靈官把守,門內有龍虎護衛;中堂一間, 四通八達,有真人居焉,蓬頭赤足,身穿五色納衣,腰繫黃綠長絛,手執金光如意,穩坐自然床,後靠無影壁,前懸玻璃燈,塞兌垂簾,不動不搖,等閒眼不輕睜, 口不妄開,左有金童,右有玉女,有時睜眼,光滿天地,黑暗陰司,無處不明;有時開口,氣充宇宙,鬼怪邪魔,盡皆遠避;掌造化之權,把陰陽之機,握生死之 簿,操性命之柄。人能見之,誠心禮拜,朝夕奉侍,須臾不離;真人有延命酒、長壽丹,得嘗之者,脫胎換骨,出死入生。但世間少大丈夫,真烈士,下不得苦力, 耐不得長久,又不窮究根本正理,專在一身上下有形有像處講元關,論元牝,做些著空執相小法乘,妄想成道,悲哉!果是個真正豪傑,截然放下,萬緣皆空,在切 身大事上留心,拜訪真師,結交良友,存至死不變念頭,元關終必知,元牝終必見,性命終能了,學者其勉之。
 
 
修真要訣

大道無為本自然,功夫不到不方圓。
三岔路口尋真種,八卦爐中煉性天。
沒底法船能渡海,隨身藥料可延年。
刑中藏德人難測,害裡生恩心要專。
四象調和歸本面,五行攢簇長金蓮。
有增有減方為妙,知吉知凶始入玄。
脫盡牽纏塵垢物,全成父母未生前。
修仙作佛皆由此,余二虛玄俱走偏。

——————-

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH
– NT NGUYỄN VĂN THỌ

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH
HUYNH DINH KINH BINH DICH

 

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH 

NT NGUYỄN VĂN THỌ
HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH
HUYNH DINH KINH BINH DICH

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH
– NT NGUYỄN VĂN THỌ

HUỲNH ĐÌNH KINH BÌNH DỊCH
HUYNH DINH KINH BINH DICH

***

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

PHẦN I – KHẢO LUẬN

CHƯƠNG 1 – Những khái niệm cơ bản của đạo Lão

1. Đầu tiên có nhất thể: Thuyết thiên địa vạn vật nhất thể

2. Nhất thể biến vạn thể

3. Các danh hiệu của nhất thể

4. Tâm điểm và vòng tròn (nhất thể và vạn thù)   

5. Nhất thể vạn thù ở hai thế đối đỉnh

6. Nhất thể vạn thù với hai chiều thuận nghịch

7. Con đường trở về nhất thể là con đường qui tâm hướng nội

8. Hiểu chữ Nhất là hiểu được tinh hoa đạo giáo của Á đông nói chung và Lão giáo nói riêng

CHƯƠNG 2 – Xuất xứ và tác giả Huỳnh Đình

1. Hai nghĩa rộng hẹp của Huỳnh Đình

2. Tác giả Huỳnh Đình

3. Huỳnh Đình kinh được phổ biến vào thời kỳ nào?

4. Huỳnh Đình kinh dưới mắt Nho gia

5. Nhận định về tác giả Huỳnh Đình

CHƯƠNG 3 – Huyền nghĩa hai chữ Huỳnh Đình

1. Nguyên nghĩa hai chữ Huỳnh Đình: Huỳnh Đình là Thái cực, bản thể vạn hữu bản thể con người.

2. Huỳnh Đình là Chân Trung là Tâm điểm là Trung nhất.

3. Huỳnh Đình hay Trung điểm ở nơi đâu trong con người?

CHƯƠNG 4 – Nội dung chính yếu của Huỳnh Đình

a. Tư tưởng then chốt thứ 1 của Huỳnh Đình:

– Đâu là tâm điểm con người?

– Đâu là Linh Đài, Tổ Khiếu, Huỳnh Đình?

– Tâm điểm con người, Huỳnh Đình thực sự là Nê Hoàn cung

b. Tư tưởng then chốt thứ 2 của Huỳnh Đình:

– Trong con người có đủ các tầng trời.

– Chư thần, đều có đủ trong con người.

– Các vị tối thượng thần đều ở trong các xoang não con người.

c. Tư tưởng then chốt thứ 3 của Huỳnh Đình: Đời sống đạo hạnh chân chính phải là một đời sống toàn diện viên mãn. Muốn được thế, Huỳnh Đình dạy:

* Tiết dục

* Án ma, đạo dẫn.

* Yết tân.

* Vận khí, điều tức.

* Thích ứng với hoàn cảnh.

* Nội quan phản chiếu.

* Điềm đạm, vô vi, vô dục.

* Quán tưởng thần minh.

Công trình tu luyện tóm lại là:

* Bảo tinh, hàm khí, dưỡng hình.

* Luyện hồn phách.

Kết quả:

* Nạn tai tiêu, tật bệnh thuyên, phản lão hoàn đồng

* Tâm hồn an lạc thanh sảng.

* Phối Thiên.

CHƯƠNG 5 – Lược khảo về những lễ nghi trì tụng Huỳnh Đình

CHƯƠNG 6 – Ít nhiều nhận định về kinh Huỳnh Đình

A. Người xưa nhận định về kinh Huỳnh Đình

– Huỳnh Đình và Đạo Đức kinh bổ túc lẫn nhau.

– Huỳnh Đình dạy về sở cư của thần Chân Nhất.

B. Những nhận định của riêng tôi về kinh Huỳnh Đình

1. Huỳnh Đình có nhiều bản văn khác nhau.

2. Huỳnh Đình là một kinh khó hiểu.

3. Huỳnh Đình chủ trương Tính mệnh song tu.

4. Những khám phá của Huỳnh Đình về các xoang não.

5. Huỳnh Đình kinh coi con người là toàn thể vũ trụ.

6. Đọc Huỳnh Đình và các kinh đạo Lão cần thấu triệt chủ trương: Nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui nhất thể

7. Huỳnh Đình kinh dạy phép quán tưởng thần linh, tồn thần linh, hô thần linh, cầu thần linh         

8. Huỳnh Đình dạy cầu thần khi đau ốm.

9. Huỳnh Đình là Thái Cực là Cốc Thần ở Nê Hoàn cung.

10. Huỳnh Đình kinh bàn nhiều về ngũ tạng và đởm.

PHẦN II – BÌNH DỊCH

CHƯƠNG 1 – THƯỢNG THANH

CHƯƠNG 2 – THƯỢNG HỮU

CHƯƠNG 3 – KHẨU VI

CHƯƠNG 4 – HUỲNH ĐÌNH

CHƯƠNG 5 – TRUNG TRÌ

CHƯƠNG 6 – THIÊN TRUNG

CHƯƠNG 7 – CHÍ ĐẠO

CHƯƠNG 8 – TÂM THẦN

CHƯƠNG 9 – PHẾ BỘ

CHƯƠNG 10 – TÂM BỘ

CHƯƠNG 11 – CAN BỘ

CHƯƠNG 12 – THẬN BỘ

CHƯƠNG 13 – TỲ BỘ

CHƯƠNG 14 – ĐẢM BỘ

CHƯƠNG 15 – TỲ TRƯỜNG

CHƯƠNG 16 – THƯỢNG ĐỔ

CHƯƠNG 17 – LINH ĐÀI

CHƯƠNG 18 – TAM QUAN
 
CHƯƠNG 19 – NHƯỢC ĐẮC

CHƯƠNG 20 – HÔ HẤP

CHƯƠNG 21 – QUỲNH THẤT

CHƯƠNG 22 – THƯỜNG NIỆM

CHƯƠNG 23 – TRỊ SINH

CHƯƠNG 24 – ẨN ẢNH

CHƯƠNG 25 – NGŨ HÀNH

CHƯƠNG 26 – CAO BÔN

CHƯƠNG 27 – HUYỀN NGUYÊN

CHƯƠNG 28 – TIÊN NHÂN

CHƯƠNG 29 – TỬ THANH

CHƯƠNG 30 – BÁCH CỐC

CHƯƠNG 31 – TÂM ĐIỂN

CHƯƠNG 32 – KINH LỊCH

CHƯƠNG 33 – CAN KHÍ

CHƯƠNG 34 – PHẾ CHI

CHƯƠNG 35 – ẨN TÀNG

CHƯƠNG 36 – MỘC DỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Huỳnh Đình kinh là một kỳ thư của Lão giáo, có tự lâu đời. Danh mục Huỳnh Đình kinh đã được ghi trong Tấn thư nghệ văn chí [1] 晉 書 藝 文 志 và Tống sử nghệ văn chí [2] 宋 史 藝 文 志. Như vậy Huỳnh Đình kinh tối thiểu đã có từ hơn 1600 năm nay.

Huỳnh Đình kinh có mục đích giúp ta trở thành thần tiên. Đọc chính kinh và các khẩu quyết trì tụng kinh này nơi đầu kinh ta thấy ngay điều đó.

Chẳng hạn như:

– Muốn thọ lĩnh kinh này, phải trai giới trước 9, 7, hay 3 ngày.

– Phải có phòng thất đặc biệt thanh tịnh để tụng kinh này.

– Khi bước vào phòng để tụng kinh này, phải quán tưởng như có chư thần cùng theo vào.

– Khi tụng kinh này, phải quán tưởng như trong lòng mình có đủ các cung trời, và các vị Thượng thần trên trời đều có đủ trong lòng mình.

– Tụng kinh này 10.000 lần sẽ trở thành thần tiên.

Nếu mỗi ngày tụng kinh này một lần phải mất 28 năm mới đủ một vạn lần. Nếu mỗi ngày tụng 10 lần, phải mất ngót 3 năm. Thu thần định trí, đem chư thần trong trời đất vào lòng mình, xác tín rằng: chư thần trong trời đất luôn đi đứng cùng mình, chẳng phải một lần mà ngàn vạn lần, chẳng phải một ngày một buổi mà nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Nếu được như vậy, chẳng phải là thần minh thì còn là gì?

Tử Vi chân nhân 紫 微 真 人 nói: «Xưa Mạnh tiên sinh tụng Huỳnh Đình theo đường lối đó trong 8 năm. Huỳnh Đình chân nhân giáng nhập vào ông. Đó là điều hết sức huyền diệu. Bí quyết Huỳnh Đình chính tại điểm này. Nếu suốt ngày, từ sáng đến chiều, lúc nào cũng quán tưởng chư thần trong thân mình, thì khỏi cần đọc Huỳnh Đình kinh vậy.» [3]

Kinh này hết sức khó hiểu, phải có căn cơ đặc biệt mới mong hiểu nổi. Tuy nhiên nếu mỗi khi trì tụng kinh này mà tâm trí luôn tưởng có chư thần hiện diện trong thân tâm mình, thì không hiểu kinh, kinh này vẫn là phương tiện quý báu, giúp ta trở thành thần tiên.

Ở Việt Nam đã có người phiên dịch Huỳnh Đình,[4] nhưng bí quyết của Huỳnh Đình chưa được phanh phui. Tôi có được một bản Huỳnh Đình Nội Cảnh, dịch theo nguyên bản của Tử Hà chân nhân 紫 霞 真 人 bình chú. Tam Tông Miếu có nhã ý cho tôi mượn nguyên bản chữ Hán nói trên. Sách này in mộc bản năm Dân Quốc thứ 5 (1916) vào đầu mùa hạ năm Bính Dần (1916) do Mộng Giác Tử 夢 覺 子 Hồng Huệ Sâm 洪 惠 琛 soạn ở Sán Đầu 汕 頭 nơi trường học Tam Thụy 三 瑞. Tôi lại có được Huỳnh Đình Nội Cảnh Vụ Thành Tử chú bằng chữ Hán, không biết được in ra từ năm nào.

Về Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tôi có bốn bản Hán văn:

– Bản Lương Khưu Tử 梁丘子 chú, không đề năm in.

– Bản Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, không đề năm in.

– Bản Tử Hà chân nhân 紫 霞 真 人 chú (Viên Kiều Sơn 圓 橋 山, Tử Hà động 紫 霞 洞, Hàm Hư Tử 涵 虛 子).

– Bản của Tung Ẩn Tử 嵩 隱 子 Thạch Hòa Dương 石 和 陽 thuật, in thạch bản năm Càn Long thứ 58 (tức 1793).

Huỳnh Đình Nội Cảnh theo truyền thuyết là do đức Đại Đạo Ngọc Thần Quân 大 道 玉 神 君 (Linh Bảo Thiên Tôn 靈 寶 天 尊) chép. Huỳnh Đình Ngoại Cảnh theo truyền thuyết là do đức Lão Tử chép, toát lược, giản yếu lại Nội Cảnh. Tuy phân nội ngoại khác nhau nhưng cả hai cùng chủ trương:

1. Con người là tiểu vũ trụ.

2. Trong con người có đủ ba tầng trời Tam Thanh và đủ chư thần.

3. Con người có thể tu luyện trở thành thần tiên.

4. Bí quyết trở thành thần tiên đại khái vẫn là:

– Trừng phẫn diệt dục.

– An thần, định trí, thanh tâm.

– Diệt phàm tâm cho thiên tâm hiện.

Vì không nắm được vi chỉ của Huỳnh Đình nên dân gian Việt Nam thường nghĩ rằng Huỳnh Đình bất quá là dạy người ăn ngay ở lành; nếu mình đã ăn ngay ở lành thì cần gì đọc Huỳnh Đình nữa. Cụ Nguyễn Đình Chiểu viết trong Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật như sau:

 «Xin lòng nhân dục cho thanh,

 Trau mình nào phải tụng kinh Huỳnh Đình.

 Xin lòng luân lý cho minh,

 Nuôi lòng nào phải đọc kinh Âm Phù.

 Cho hay Tiên Phật rằng tu,

 Cũng trong bảo dưỡng đương đầu mà ra.» [5]

Huỳnh Đình, cả nội cảnh lẫn ngoại cảnh, đều được viết theo thể thơ thất ngôn, cổ phong. Kinh có một lối gieo vần hết sức đặc biệt. Gieo vần bằng thì cứ vần bằng mãi; gieo vần trắc thì cứ vần trắc mãi. Đọc lên, có một âm thanh khác lạ. Chính vì vậy mà có nhiều vị đạo sư ở Việt Nam cho rằng nếu biết tụng kinh này cho phải phép thì âm thanh của kinh cũng có thể chuyển hoá tâm hồn con người, cũng như khi trì tụng các chú kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, v.v. Tôi không tin như vậy.

Huỳnh Đình kinh – cả nội lẫn ngoại – có nhiều bản, do nhiều người chú giải. Chánh kinh thì dị biệt không bao lăm, nhưng lời bình chú thì khác nhau trời vực, vì tuỳ thuộc vào căn cơ, trình độ học vấn tu luyện của người bình giải. Chính vì vậy mà ta không câu nệ vào lời bình. Lời bình nào hữu lý thì mới chấp nhận.

Trong khi phiên dịch, tôi không chấp văn nệ tự, vừa dịch mà cũng vừa giải. Đôi khi gặp lúc chính kinh quá khúc mắc, tôi liền dựa vào lời bình để lấy ý, dịch thoát. Có thể nhiều độc giả không đồng ý với tôi về điểm này. Để biện minh cho lập trường của mình, thay vì trích dẫn Trang tử [6] hay Mạnh Tử,[7] tôi xin cống hiến quý vị bài thơ của Tùng Giang Vương Cảnh Dương Duy Nhất 松 江 王 景 陽 惟 一 :

 «Tự nhiên chi đạo bản vô vi,                     
 自 然 之 道 本 無 為

 Nhược chấp vô vi, tiện hữu vi.                   
 若 執 無 為 便 有 為

 Đắc ý vong ngôn, phương liễu triệt,         
 得 意 忘 言 方 了 徹

 Nệ hình chấp tượng chuyển hôn mê.       
 泥 形 執 象 轉 昏 迷

 Thân tâm tĩnh định bao thiên địa,               
 天 心 靜 定 包 天 地

 Thần khí xung hòa hội khảm ly.                 
 神 氣 沖 和 會 坎 離

 Liệu đắc giá ta chân diệu quyết,               
 料 得 這 些 真 妙 訣

 Kỷ nhân hội đắc kỷ nhân tri.» [8]               
 幾 人 會 得 幾 人 知

 Tạm dịch:

 Cái đạo tự nhiên vốn vô vi,

 Nếu chấp vô vi, ấy hữu vi.

 Được ý quên lời rằng liễu triệt,

 Nệ văn chấp tượng hoá hôn mê.

 Thân tâm tĩnh định bao thiên địa,

 Thần khí xung hòa hội khảm ly.

 Chỉ có bấy nhiêu chân diệu quyết,

 Mấy ai hiểu được, mấy ai tri?

Quyển Huỳnh Đình kinh bình dịch này gồm hai phần: (1) Phần khảo luận và (2) Phần bình dịch.

Phần khảo luận gồm các chương sau:

– Chương 1: Những khái niệm cơ bản của đạo Lão

– Chương 2: Xuất xứ và tác giả Huỳnh Đình kinh

– Chương 3: Huyền nghĩa hai chữ Huỳnh Đình

– Chương 4: Các quan niệm then chốt của Huỳnh Đình

– Chương 5: Lược khảo lễ nghi trì tụng Huỳnh Đình

– Chương 6: Ít nhiều nhận định về Huỳnh Đình kinh

Phần bình dịch theo thứ tự sau:

– Kinh có 36 chương. Tên mỗi chương là hai chữ đầu chương bản chữ Hán.

– Trình bày chính kinh bằng chữ Hán kèm theo phiên âm.

– Ghi những dị biệt của các bản kinh, nếu có.

– Lược dịch bằng thể thất ngôn cổ phong.

– Chú giải những chữ khó.

– Bình giải.

Để kết thúc lời phi lộ này, tôi mượn lời kinh Huỳnh Đình, nơi chương một:

Từ cung trời thẳm thượng thanh thiên,

 Kinh được viết ra, Ngọc Đế tiền.

 Lời thơ bảy chữ đầy châu ngọc,

 Biến được thân mình thành vạn tiên.

 Huỳnh Đình mỹ hiệu gọi nội thiên,

 Khiến tâm linh sảng thướng Tam thiên.

 Tâm thần hòa hợp cùng Ngọc Đế,

 Mắt tỏa hào quang rực ánh tiên.

 Đó chính ngọc thư phải tinh nghiên,

 Đọc quá vạn lần thăng Tam thiên.

 Thiên tai vạn bệnh đều qua khỏi,

 Hổ lang chẳng hại, lại diên niên.

Viết xong năm 1976 tại Việt Nam

Nhân Tử Bác sĩ Nguyễn văn Thọ

Cẩn bút

CHÚ THÍCH

[1] Đời Tấn 晉 (265 – 402)

[2] Đời Tiền Tống, tức Nam Triều Tống 南 朝 宋 (420 – 479).  Đời Tống 宋 (960 – 1278)

[3] Tử Vi chân nhân viết: «Tích Mạnh tiên sinh tụng Huỳnh kinh, tu thử đạo bát niên. Huỳnh Đình chân nhân giáng chi. Thử diệu chi cực dã. Huỳnh Đình bí quyết tận ư thử hĩ. Hình trung chi thần, diệc khả tòng triêu chí mộ hằng niệm vật vong, bất tất tụng Huỳnh Đình kinh hĩ.» (Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Thái Thượng Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh 太 上 黃 庭 內 景 經, tr. 5b) 紫 微 真 人 曰: 昔 孟 先 生 誦 黃 庭 經, 修 此 道 八 年. 黃 庭 真 人 降 之. 此 妙 之 極 也. 黃 庭 秘 訣 盡 於 此 矣. 形 中 之 神, 亦 可 從 朝 至 暮 恆 念 勿 忘, 不 必 誦 黃 庭 經 矣.

[4] Không rõ dịch giả là ai, chỉ biết cụ Nguyễn Hoà Hiệp nhờ dịch. Bản này chỉ phiên âm chính kinh và dịch lời bình giải của Tử Hà Hàm Hư Tử.

[5] Nguyễn Đình Chiểu, Ngư tiều vấn đáp y thuật, Phan văn Hùm hiệu đính, chú thích, Nhượng Tống tăng bình, bổ chú, Tân Việt 1952, tr. 209.

[6] Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. 言 者 所 以 在 意. 得 意 而 忘 言 (Trang Tử 莊 子, Ngoại Vật 外 物).

[7] Bất dĩ văn hại từ, bất dĩ từ hại ý, dĩ ý nghịch chí, thị vi đắc chi. 不 以 文 害 辭. 不 以 辭 害 意. 以 意 逆 志, 是 為 得 之 (Mạnh Tử 孟 子, Vạn Chương 萬 章, chương cú thượng, câu 4)

[8] Minh Đạo Thiên 明 道 篇. Xem Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 139.

CHƯƠNG 1

Những khái niệm cơ bản của đạo Lão

1. Đầu tiên có nhất thể: Thuyết thiên địa vạn vật nhất thể

2. Nhất thể biến vạn thể

3. Các danh hiệu của nhất thể

4. Tâm điểm và vòng tròn (nhất thể và vạn thù)

5. Nhất thể vạn thù ở hai thế đối đỉnh

6. Nhất thể vạn thù với hai chiều thuận nghịch

7. Con đường trở về nhất thể là con đường qui tâm hướng nội

8. Hiểu chữ Nhất là hiểu được tinh hoa đạo giáo của Á đông nói chung và Lão giáo nói riêng

Xưa nay rất nhiều người thường cho rằng các đạo giáo và triết thuyết Á Đông hết sức là mơ hồ, huyền ảo. Khảo về các học thuyết Á Đông nhiều người cảm thấy như mình lạc vào một mê đồ trận, hay vào một khu rừng rậm giữa đêm tăm, không còn biết đầu đuôi phương hướng ra sao. Ấy chính là vì họ không có những khái niệm cơ bản chỉ nam. Cho nên muốn khảo sát các đạo giáo Á Đông nói chung, đạo Lão và Huỳnh Đình kinh nói riêng, chúng ta phải nắm vững ít nhiều tư tưởng then chốt của Tam giáo Đông phương.

1. Đầu tiên có nhất thể

Trước hết các đạo giáo Đông phương đều xác tín rằng có một thực thể tuyệt đối, một bản thể duy nhất uyên nguyên, vô hình vô ảnh, nhưng lại linh động biến hóa không cùng. Bản thể ấy đã sinh xuất ra vũ trụ hiện tượng hữu hình, hữu tướng này. Đó là thuyết thiên địa vạn vật nhất thể 天 地 萬 物 一 體.

2. Nhất thể biến vạn thể

Bản thể duy nhất vô sinh, vô diệt, vô thuỷ, vô chung ấy là căn nguyên sinh xuất ra vũ trụ hữu hình, hữu sinh, hữu diệt, hữu thuỷ, hữu chung này. Nó mang muôn vàn danh hiệu. Dưới đây chỉ đan cử ít nhiều danh hiêu để rọi sáng vào ít nhiều tính cách của bản thể uyên nguyên ấy.

3. Danh hiệu của nhất thể

Bản thể ấy trước hết được gọi là Nhất 一 vì cũng như số một sinh ra mọi con số khác, bản thể duy nhất ấy cũng sinh ra mọi hiện tượng, mọi sinh linh.

Bản thể ấy cũng còn được gọi là Trung 中 vì nó lồng trong mọi hiện tượng, mọi sinh linh, để làm chân tâm, làm khu nữu, làm cốt lõi, nâng đỡ giữ gìn vạn sự, vạn loài.

Trung này vừa vô định tại, vô phương sở, vì bao trùm vũ trụ, vì là bản thể vũ trụ; vừa hữu định tại, hữu phương sở, vì nằm sâu trong lòng muôn loài muôn vật, từ tinh tú, nhật nguyệt đến vi tử, vi trần.

Phật giáo gọi bản thể ấy là:

– Tâm địa 心 地, vì sinh xuất muôn loài.

– Bồ đề 菩 提, vì đó là sở đắc của chư Phật.

– Pháp giới 法 界, vì dung nhiếp vạn tượng.

– Niết bàn 涅 槃, vì tịch nhiên thường lạc.

– Bất lậu 不 漏, vì không tì ố bợn nhơ.

– Chân như 真 如, vì vô vọng bất biến.

– Phật tính 佛 性, vì siêu xuất thị phi.

– Viên giác 圓 覺, vì phá sạch quần mê.

– Như lai 如 來, vì hàm nhiếp vạn linh.

– Mật nghiêm quốc 密 嚴 國, vì siêu việt huyền bí.

– Bản lai diện mục 本 來 面 目, vì là bộ mặt thật của con người từ muôn thủa.[1]

– Kim cương 金 剛, vì là bản thể bất diệt, trường sinh, vĩnh cửu nơi con ngườ i.[2]

Lão giáo gọi bản thể đó là:

– Tạo hóa chi nguyên 造 化 之 元, vì là căn cơ sinh hóa.

– Tiên thiên chủ nhân 先 天 主 人, vì sẽ tạo dựng ra đất trời vạn hữu.

– Vạn tượng chủ tể 萬 象 主 宰, vì sinh xuất mọi hiện tuợng.

– Huyền tẫn chi môn 玄 牝 之 門, vì bao quát âm dương (huyền 玄: dương; tẫn 牝: âm).

– Tổ khiếu 祖 竅, vì là nơi xuất phát muôn loài.

– Cốc thần 谷 神, vì ở sẵn ngay trong đầu não con người.

– Chân nhất xứ 真 一 處, vì bản thể ấy duy nhất.

– Trung hoàng cung 中 黃 宮, Mậu kỷ môn 戊 己 門, Chân thổ 真 土, Huỳnh đình 黃 庭, Qui trung 歸 中, v.v. vì là tâm điểm của vạn hữu.

– Ngưng kết chi sở 凝 結 之 所, vì có đắc nhất thì công cuộc luyện đơn mới thành.

– Qui căn khiếu 歸 根 竅, Phục mệnh quan 復 命 關, vì đó là cùng đích muôn loài.

– Huyền quan khiếu 玄 關 竅, vì là cửa sinh xuất vạn loài. (…)

Thực không sao kể xiết. Quí vị độc giả nào muốn thâu lượm thêm các danh từ về bản thể mà đạo Lão thường dùng, xin đọc Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 nơi các hình: Phổ chiếu đồ 普 照 圖 (quyển Nguyên, tr. 7b), Tâm trung đồ 心 中 圖 (quyển Nguyên, tr. 10b), Thái dược qui hồ đồ 採 藥 歸 壺 圖 (quyển Lợi, tr.1b), Kiền khôn giao cấu đồ 乾 坤 交 媾 圖 (quyển Lợi, tr. 8a), An thần tổ khiếu 安 神 祖 竅 (quyển Hanh, tr. 9a).

Khổng giáo gọi bản thể đó là: Vô cực 無 極, Thái cực 太 極, Nhất 一, Trung 中; và Dịch kinh 易 經 cũng triển khai mấy quan niệm đó.

Nhất thể ấy, khi thì được đạo Lão coi là vô ngã 無 我, và được hài danh bằng những danh từ như: Đạo 道, Hư vô 虛 無, Hư 虛, Vô 無, Vô cực 無 極, Đơn 丹, Tiên thiên nhất khí 先 天 一 氣, Thái hòa nguyên khí 太 和 元 氣, Hạo nhiên chi khí 浩 然 之 氣. Lão Tử và Trang Tử theo chủ trương này. Đó cũng chính là chủ trương của Phật, của các đại hiền triết Hy Lạp cổ thời như Pythagore, Héraclite, Parménide, Platon, Anaximandre, v.v.[3] Đó là quan niệm Nhất nguyên vô ngã 一 元 無 我 theo danh từ triết học ngày nay.

Cũng nhất thể ấy, khi thì được đạo Lão coi như là hữu ngã 有 我, và được gọi là Thái Thượng Lão Quân 太 上 老 君, Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 原 始 天 尊, Ngọc Hoàng Thượng Đế 玉 皇 上 帝. Đó là quan niệm Nhất nguyên hữu ngã 一 元 有 我, tương đương với quan niệm Đại Nhật Như Lai 大 日 如 來 trong Phật giáo, và Thượng Đế 上 帝 trong các đạo giáo.

Đạo Lão có khi còn dung thông hai quan niệm nói trên làm một và gọi bản thể vũ trụ là Tiên Thiên Nhất Khí Thái Thượng Lão Quân 先 天 一 氣 太 上 老 君.[4]

4. Tâm điểm và vòng tròn (nhất thể và vạn thù)

Quan niệm Thiên địa vạn vật nhất thể, nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui nhất thể còn được kinh Dịch và các Đạo gia thuở xưa biểu hiệu, tượng trưng bằng Tâm điểm và Vòng tròn.

Tâm điểm tượng trưng cho bản thể, căn nguyên, gốc gác, cùng đích của muôn loài.

Vòng tròn bên ngoài tượng trưng cho hiện tượng, cho luân lưu biến hoá. Trong Huỳnh Đình nội cảnh do Tử Hà Hàm Hư Tử chú có một câu hết sức ý vị:

«Nhất thần chính vị nhi trung lập,

一 神 正 位 而 中 立

Vạn thần triều củng nhi hoàn trần.»

萬 神 朝 拱 而 環 陳

(Một thần chính vị nơi trung điểm,

Vạn thần chầu chực thành vòng quanh.)

Thể và dụng của Huỳnh Đình nằm trong hai câu đó.[5]

5. Nhất thể vạn thù ở hai thế đối đỉnh

Từ hình vẽ tâm điểm và vòng tròn ta dễ dàng suy diễn được rằng vũ trụ này gồm có hai phần:

– Một thế giới của Bản Thể, của thực thể, lý tưởng, siêu việt, thế giới của chân thiện mỹ, vĩnh cửu trường tồn. Đó là thế giới khinh thanh, bao la, tiềm ẩn và đồng đẳng, vô phân biệt. Đó là Chân như môn 真 如 門 theo danh từ Phật giáo, là Vô vi 無 為, là Diệu 妙 theo danh từ Lão giáo, là Thể 體 theo danh từ Nho giáo.

– Một thế giới của hiện tượng, của giác quan, của thiên nhiên, của những gì phù du, biến ảo, những gì trọng trọc, chất chưởng, hữu hạn, những gì bị chi phối bởi sự duyên. Ở nơi con người nó bao quát tất cả tâm tư, trí não, giác quan, hình hài, tóm lại là tất cả những gì là vọng tâm 妄 心, vọng ngã 妄 我, là tứ đại giả hợp 四 大 假 合 theo từ ngữ Phật giáo. Đó là Sinh diệt môn 生 滅 門 theo Phật giáo, là Hữu vi 有 為 hay Khiếu 竅 theo Lão giáo, là Dụng 用 theo Nho giáo.

Phàm nhân thì sống phù phiếm, lênh đênh chìm nổi trên cái thế giới hiện tượng ấy, chỉ biết những gì là sắc tướng, chỉ thích những gì là phù hoa, chỉ mê những gì là hào nhoáng bên ngoài, lạc lõng trong muôn vàn sai biệt, bị ngoại cảnh chi phối, thất tình lục dục đẩy đưa, từ ngữ và tư tưởng ám nhãn, manh tâm; thu hẹp con người vô hạn của mình vào trong gông cùm không gian và thời gian, hình hài sắc tướng hữu hạn.

Thánh nhân trái lại, đi xuyên qua được bức màn hiện tượng ấy để vào thế giới chân tâm, vô biên vĩnh cửu, thế giới bản thể vĩnh cửu trường tồn, xuyên qua được tâm thức để vào tới cõi hư vô chân thể, đồng đẳng với Thái hư.

Chính vì thế mà Tham Đồng Khế 參 同 契 có câu: «Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung.» 真 人 潛 深 淵 , 浮 游 守 歸 中.[6] Tạm dịch:

Chân nhân sống rất thâm trầm,

Nhởn nhơ khinh khoát ôm cầm khuông thiêng.

Tính Mệnh Khuê Chỉ có câu: «Ly chủng chủng biên, doãn chấp quyết trung.» 離 種 種 邊 允 執 厥 中.[7] Tạm dịch:

Lìa xa hết mọi vòng ngoài,

Trung tâm giữ vững, chẳng rời tấc gang.

6. Nhất thể vạn thù với hai chiều thuận nghịch

Tâm điểm và vòng tròn còn giúp ta nhìn thấy được hai chiều thuận nghịch biến hoá của trời đất và của con người.

Ở nơi trời đất, thì chiều từ Bản thể ra Hiện tượng là chiều từ tâm ra biên, từ nhất sinh vạn, là chiều thuận, là chiều sinh hoá ra vạn hữu. Đó là chiều đi ra, chiều ly tâm, và đồng thời cũng có thể gọi là chiều đi xuống, chiều thoái hoá, từ khinh thanh xuống dần, ra dần tới trọng trọc, từ phác giản xuống dần, ra dần tới tần phiền.

Ở nơi con người thì chiều thuận chính là chiều ly tâm, là chiều phóng ngoại, hướng ngoại, từ Thần ra tới tâm tư, ý thức, hình hài, ngoại cảnh.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ, chiều thuận nơi con người được phác hoạ như sau: Tính 性 ➔ Tâm 心 ➔ Ý 意 ➔ Tình 情 ➔ Vọng 妄 (Mê vọng 迷 妄).[8]

Ở nơi trời đất thì chiều từ hiện tượng biến hoá trở ngược mãi về bản thể, chiều từ biên trở về tâm điểm, từ vạn qui hoàn về nhất, là chiều nghịch, là chiều thăng hoa, sinh thánh sinh thần. Đó là chiều đi vào, chiều hướng tâm, đồng thời cũng được gọi là chiều đi lên, chiều tiến hoá, từ trọng trọc trở lại dần tới khinh thanh, từ tần phiền trở ngược về phác giản.

Ở nơi con người thì chiều nghịch đó chính là chiều hướng tâm, chiều hồi hướng, hướng nội, từ hình hài quay trở về với thiên tính, với thần linh, với Đạo tâm, Chân tâm nội tại.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ, chiều nghịch nơi con người được phác hoạ như sau: Vọng 妄 (Mê vọng 迷 妄) ➔ Tình 情 ➔ Ý 意 ➔ Tâm 心 ➔ Tính 性.[9]

Chiều nghịch này mới là quan trọng. Đạo Đức Kinh viết: «Phù vật vân vân, các qui kỳ căn, qui căn viết tĩnh, tĩnh viết phục mệnh, phục mệnh viết thường.» 夫 物 芸 芸, 各 歸 其 根, 歸 根 曰 靜, 靜 曰 復 命, 復 命 曰 常 (chương 16). Tạm dịch:

Muôn loài sinh hoá đa đoan,

Rồi ra cũng phải qui hoàn bản nguyên.

Hoàn bản nhiên, an nhiên phục mệnh,

Phục mệnh rồi, trường vĩnh vô cùng.

Ở nơi vòng Dịch, thì chiều thuận là chiều Quan nguyệt quật 觀 月 窟 theo từ ngữ của Thiệu Khang Tiết 邵 康 節, từ quẻ Cấu 姤 đến quẻ Khôn 坤. Còn chiều thuận là chiều Kiến thiên căn 見 天 根 theo từ ngữ của Thiệu Khang Tiết, từ quẻ Phục 复 đến quẻ Kiền 乾 rồi vào trung cung Thái cực, «Hoàng trung thông lý, chính vị cư thể» 黃 中 通 理 正 位 居 體. Dịch chủ trương chiều nghịch mới là chiều quan trọng, và thánh hiền xưa đã định nghĩa Dịch là Nghịch số.[10]

7. Con đường trở về nhất thể phải là con đường qui tâm hướng nội

Hiểu được hai chiều biến hoá ngược xuôi ấy ta thấy ngay:

– Đi ra ngoại cảnh là đi ra Đời bất kể ngoại cảnh ấy là đền đài, miếu mạo, thần phật chi chi đi nữa.

– Đi vào nội tâm mới là đi vào Đạo.

Có như vậy ta mới hiểu lời lẽ sau của Tính Mệnh Khuê Chỉ: «Muốn thoát luân hồi, phải thể hợp với Chí đạo. Muốn thể hợp với Chí đạo, tất phải quán chiếu bản tâm. Muốn quán chiếu bản tâm, tất phải nhắm mắt hồi quang nhìn vào hư không, đem ánh sáng tuệ quang chiếu diệu vào nơi thất tình lục dục chưa nhen nhúm, nơi mà bản thể chưa bị bát thức làm ô nhiễm. Ngoài thì tuyệt hết chư duyên, trong thì tuyệt hết chư vọng, hợp nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tị tức, khoá thiệt khí, tứ chi bất động, để cho ngũ thức của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân quay trở về gốc gác. Như vậy tinh, thần, hồn, phách, ý sẽ an vị. Suốt cả 12 giờ trong ngày, mắt luôn luôn nội quan quán chiếu nhìn vào khiếu ấy, tai trở ngược lại lắng nghe khiếu ấy, đầu lưỡi thường phong bế khí ấy, vận dụng thi vị,niệm niệm không rời khỏi khiếu ấy.» [11] Khiếu ấy chính là bản thể thần linh của con người, là bản thể tuyệt đối mà chúng ta đã đề cập trong suốt chương này.

Thái Thượng nói: «Ta từ vô lượng kiếp đã quan tâm đắc đạo, và tới được hư vô.»[12] Hiểu được bản thể là hiểu được căn nguyên và cùng đích của vũ trụ và con người. Hiểu được hai chiều thuận nghịch nói trên là hiểu được lẽ biến dịch tuần hoàn của vũ trụ và vạn hữu và của con người.

8. Chung qui: Hiểu chữ Nhất là hiểu được tinh hoa đạo giáo Á Đông nói chung, Lão giáo nói riêng

Dù đứng trên lập trường hữu ngã hay vô ngã mà nhìn vào Nhất thể, dù gọi Nhất thể đó là Khí, Thể, Thần, Lão, hay Thiên, khái niệm cơ bản vẫn là: Nhất thể đó linh minh, huyền diệu, có khả năng sinh xuất biến hoá ra vạn sự, vạn hình.

– Nhất thể đó có thể biến thành tam thể, vạn thể.

– Nhất khí đó có thể biến thành tam khí, vạn khí.

– Nhất thần đó có thể biến thành tam thần, vạn thần.

– Nhất lão đó có thể biến thành tam lão, vạn lão.

– Nhất thiên đó có thể biến thành tam thiên, vạn thiên.

Thế tức là hiểu lẽ Một sẽ hiểu được căn cơ gốc gác của muôn loài muôn vật, và có thể đi đến một kết luận hết sức triết học và khoa học sau đây: Thiên địa, nhân vật nhất tính, đồng thể.[13] Suy ngược lại ta có:

– Nếu nhất thần hoá chúng thần thì chúng thần qui nhất thần; nhất khí hoá vạn khí thì vạn khí qui nhất khí.

– Nếu con người có chúng thần thì cũng có nguyên thần, nhất thần.

– Nếu trong người có vạn khí, ngũ khí, tam khí, thì ắt cũng có chân nguyên nhất khí hay nguyên khí.

Vì hiểu lẽ Một nên người đạo sĩ: Chọn cái tinh hoa, bỏ cái bác tạp. Chọn cái giản dị, bỏ cái tần phiền. Chọn cái chân tâm, bỏ cái thất tình lục dục, tứ đại, tam thi, âm dương đối đãi.

Vì hiểu lẽ Một, người đạo sĩ biết rằng mình là Tiên thiên Nhất Khí hoá thân, nghĩa là đồng thể với Tối Thượng thần trong trời đất.

Vì hiểu lẽ Một nên hiểu rằng mình và chân thần trong mình và chân thần trời đất là một. Mình đây chẳng qua là hoá thân của chân thần đó mà mình chẳng hay.

Hoạ sĩ Wyzowa đã viết năm 1893: «Cái mà ta gọi là thực tại, chẳng qua chỉ là hình ảnh của bản thể thầm kín nơi ta, phóng phát ra hư cảnh bên ngoài mà thôi.» [14]

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: «Vì thế nói thánh nhân tẩy rửa tâm hồn, trở về náu ẩn trong nơi thầm kín. Trong đó vốn đã có bản thể uyên nguyên cùng với thái hư hỗn thành nhất khối. Vì thế nói: Thánh nhân đồng thể với thái hư.» [15]

Lão giáo vì thế mà chủ trương Thủ trung bão nhất 守 中 抱 一, Khổng giáo vì thế mà chủ trương Ngô đạo nhất dĩ quán chi 吾 道 一 以 貫 之. Tính Mệnh Khuê Chỉ chép: «Xưa Hoàng Đế lên núi Nga Mi gặp thiên chân Hoàng Nhân ở Ngọc Đường và hỏi về cái đạo Chân Nhất. Hoàng Nhân đáp: Đó là điều quí trọng nhất của Đạo gia. Kinh của đạo này, Thượng Đế giấu trong năm thành của núi Côn Lôn, cất trong hòm ngọc, viết vào thẻ vàng, phong bằng bùn tía, đóng ấn bằng chữ Trung. Nhất đó ở Thái uyên Bắc cực, trước có Minh đường sau có Ngọc chẩm, trên là Hoa cái, dưới là Giáng cung.» [16] Với những lời lẽ mơ hồ đó, ta thấy Hoàng Nhân muốn nói như sau: Muốn tìm Trời, tìm Chân đạo, tìm Nhất, tìm Trung, phải tìm nơi trung điểm đầu não con người.

Trước đó vài dòng, Tính Mệnh Khuê Chỉ đã khéo léo đề cập Nê hoàn cung và trích dẫn lời kinh Huỳnh Đình:

Nê hoàn cửu chân giai hữu phòng,       
泥 丸 九 真 皆 有 房

Phương viên nhất thốn xứ thử trung.   
方 圓 一 寸 處 此 中

Đồng phục tử y, phi la thường,               
同 服 紫 衣 飛 羅 裳

Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng.                   
但 思 一 部 壽 無 窮

Viết đến đây tôi liên tưởng đến lời chú của Phật giáo Tây Tạng: Um Mani Padme Hum (Ôi ngọc châu viên giác nằm tại liên hoa tâm). Liên hoa tâm, theo lời bình giải của các đạo sư Tây Tạng, chính là trung tâm đầu não con người.

Mở đầu chương bằng bản thể uyên nguyên của vũ trụ và của con người, kế đến bàn hai chữ Trung và Nhất, cuối cùng kết thúc bằng chữ Nhất, và đem chữ Nhất ấy vào trung tâm đầu não con người, vào nê hoàn cung nơi mà từ vô lượng kiếp đức Thái Thượng đã dạy đạo cho chúng ta, đúng như lời kinh Huỳnh Đình nơi chương 7: «Thị tích Thái Thượng cáo ngã dã.» 是 昔 太 上 告 我 也 (Ấy chính là nơi mà xưa kia đức Thái Thượng đã dạy ta), thiết tưởng tôi cũng đã phát quang được gai góc và để lộ ra con đường Đại đạo.

CHÚ THÍCH

[1] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh 亨, tr. 2b.

[2] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh 亨, tr. 1a.

[3] Nghiêm Xuân Hồng, Nguyên tử, Hiện sinh, và Hư vô, Hoàng đông phương xb, 1969, quyển thượng.

[4] Tử Hà 紫 霞, Huỳnh đình nội cảnh kinh tường chú 黃 庭 內 景 經 詳 注, tr. 2a: Phù Lão Quân giả, Đạo khí chi tổ, vạn hoá chi tông, tòng tiên thiên, tiên địa, không động hư vô trung sinh xuất nhất khí, danh viết Đạo khí. Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh cửu, cửu sinh vạn. Vạn khí sinh vạn thần. Cố trì thánh hiệu viết: Tiên Thiên Nhất Khí Thái Thượng Lão Quân. 夫 老 君 者, 道 氣 之 祖, 萬 化 之 宗, 從 先 天, 先 地, 空 洞 虛 無 中 生 出 一 氣, 名 曰 道 氣. 道 生 一, 一 生 二, 二 生 三, 三 生 九, 九 生 萬. 萬 氣 生 萬 神. 故 持 聖 號 曰: 先 天 一 氣 太 上 老 君.

[5] Tử Hà 紫 霞, Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh Tường Chú 黃 庭 內 景 經 詳 注, tr. 3a.

[6] Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 86.

[7] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh 亨, tr. 8b. Lý Lạc Cầu Tiên Học diệu tuyển 仙 學 妙 選, tr. 71, 86, 87.

[8] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, Thuận nghịch tam quan đồ 順 逆 三 關 圖, q. Nguyên, tr. 13a.

[9] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, Thuận nghịch tam quan đồ 順 逆 三 關 圖, q. Nguyên, tr. 13a.

[10] Dịch nghịch số dã 易 逆 數 也. Dịch Kinh 易 經, thuyết quái 說 掛, chương 3.

[11] Doãn chân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh 亨, tr. 2b. Dục tức luân hồi, mạc nhược thể hồ chí đạo. Dục thể chí đạo, mạc nhược quán chiếu bản tâm. Dục chiếu bản tâm, ưng tu phổ nhãn hư giám, thường giáo lãng nguyệt huy minh, mỗi hướng định trung huệ chiếu, thời thời bảo đắc thử thất tình vị phát chi trung, thời thời toàn đắc thử bát thức vị nhiễm chi thể. Ngoại tức chư duyên, nội tuyệt chư vọng. Hàm nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tị tức, giam thiệt khí, tứ chi bất động, sử nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân chi ngũ thức các phản kỳ căn, tắc tinh, thần, hồn, phách, ý chi ngũ linh các an kỳ vị. Nhị lục thời trung, nhãn thường yếu nội quán thử khiếu, nhĩ thường yếu nghịch thính thử khiếu, chí ư thiệt chuẩn thường yếu đối trước thử khiếu, vận dụng thi vi niệm niệm bất ly thử khiếu, hành lập tọa ngọa tâm tâm thường tại thử khiếu. 欲 息 輪 回, 莫 若 體 乎 至 道. 欲 體至 道, 莫 若 觀 照 本 心. 欲 照 本 心, 應 須 普 眼 虛 鑒, 常 教 朗 月 輝 明, 每 向 定 中 慧 照, 時 時 保 得 此 七 情 未 發 之 中, 時 時 全 得 此 八 識 未 染 之 體. 外 息 諸 緣, 內 絕 諸 妄. 含 眼 光, 凝 耳 韻, 調 鼻 息, 緘 舌氣, 四 肢 不 動, 使 眼, 耳, 鼻, 舌, 身 之 五 識 各 返 其 根, 則 精, 神, 魂, 魄, 意 之 五 靈 各 安 其 位. 二 六 時 中, 眼 常 要 內 觀 此 竅, 耳 常 要 逆 聽 此 竅, 至 於 舌 准 常 要 對 著 此 竅, 運 用 施 為 念 念 不 離 此 竅, 行 立 坐 臥 心 心 常 在 此 竅.

[12] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh 亨, tr. 3a. Thái thượng viết: Ngô tòng vô lượng kiếp lai, quán tâm đắc đạo nãi chí hư vô. 太 上 說 : 吾 從 無 量 劫 來 觀 心 得 道 乃 至 虛 無.

[13] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Nguyên 元, tr. 6a. 天 地 人 物 一 性 同 體.

[14] Ce que nous appelons la réalité n’est que la projection au néant externe de l’image de notre essence intime. Cf. Pierre Francastel, Art et Technique, p.198.

[15] Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, Trung tâm đồ 中 心 圖, quyển Nguyên 元, tr. 10b. Cố viết: thánh nhân dĩ thử tẩy tâm thối tàng ư mật, kỳ trung bản hư nguyên dữ thái hư hỗn nhi vi nhất. Cố viết: thánh nhân dữ thái hư đồng thể. 故 曰: 聖 人 以 此 洗 心 退 藏 於 密, 其 中 本 虛 原 與 太 虛 渾 而 為 一. 故 曰: 聖 人 與 太 虛 同 體.

[16] Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, Kiền Khôn giao cấu 乾 坤 交 媾, quyển Lợi 利, tr. 9b. Tích Hoàng Đế thướng Nga Mi sơn kiến thiên chân Hoàng Nhân ư Ngọc đường, thỉnh vấn chân nhất chi đạo. Hoàng Nhân viết: Thử Đạo gia chi chí trọng, kỳ kinh Thượng Đế bí tại Côn Lôn ngũ thành chi nội, tàng dĩ ngọc hàm, khắc dĩ kim trát, phong dĩ tử nê, ấn dĩ Trung chương. Ngô văn chi kinh vân: Nhất tại Bắc cực Thái uyên chi trung, tiền hữu Ngọc đường, hậu hữu Ngọc chẩm, thượng hữu Hoa cái, hạ hữu giáng cung. 昔 黃 帝 上 峨 嵋 山 見 天 真 皇 人 於 玉 堂, 請 問 真 一 之 道. 皇 人 曰: 此 道 家 之 至 重, 其 經 上 帝 秘 在 昆 侖 五 城 之 內, 藏 以 玉 函, 刻 以 金 札, 封 以 紫 泥, 印 以 中 章. 吾 聞 之 經 云: 一 在 北 極 太 淵 之 中, 前 有 明 堂, 後 有 玉 枕, 上 有 華 蓋, 下 有 絳 宮.

CHƯƠNG 2

Xuất xứ và tác giả Huỳnh Đình

1. Hai nghĩa rộng hẹp của Huỳnh Đình

2. Tác giả Huỳnh Đình

3. Huỳnh Đình kinh được phổ biến vào thời kỳ nào?

4. Huỳnh Đình kinh dưới mắt Nho gia

5. Nhận định về tác giả Huỳnh Đình

1. Huỳnh Đình Kinh hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp

Theo Vương Thị Pháp Thiếp Thư Uyển Ngôn 王 氏 法 帖 書 苑 言 thì Đạo gia có nhiều bộ Huỳnh Đình:

– Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh 黃 庭 內 景 經

– Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh 黃 庭 外 景 經

– Huỳnh Đình Độn Giáp Duyên Thân Kinh 黃 庭 遁 甲 緣 身 經

– Huỳnh Đình Ngọc Trục Kinh 黃 庭 玉 軸 經

Dân gian gọi tất cả các bộ kinh này là Huỳnh Đình, thế là hiểu theo nghĩa rộng. Còn hiểu theo nghĩa hẹp và thông thường hơn, chỉ có hai bộ: Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh 黃 庭 內 景 經 và Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh 黃 庭 外 景 經.

2. Tác giả Huỳnh Đình Kinh

Theo truyền thuyết, Huỳnh Đình Nội Cảnh được đức Đại Đạo Ngọc Thần Quân 大 道 玉 神 君 (tức là Linh Bảo Thiên Tôn 靈 寶 天 尊) viết ra ở Nhụy cung 蕊 宮 trên bầu trời Thượng Thanh); Huỳnh Đình Ngoại Cảnh được đức Lão Tử chép ra. Thật ra Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh chỉ là phần san định và toát lược Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh mà thôi.

Trong Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh, Tử Hà Hàm Hư Tử chú, nơi chương một có ghi: “Đức Lão Tử lúc thư nhàn, đem Nội Cảnh Kinh ra giản hoá lại, cũng viết theo thể thất ngôn, vẫn gọi là Huỳnh Đình, chỉ ghi thêm là Ngoại Cảnh.» [1]

Trong tiểu sử của Mạo Cô, nơi cuối bộ Huỳnh Đình của Tử Hà chú, cũng thấy ghi: «Thái Thượng viết Huỳnh Đình, trước hết truyền cho Chuyên Húc (2295 tr. CN), tổng cộng 50 quyển, theo như số Hà Đồ. Sau truyền cho Mạo Cô, rút gọn 50 quyển thành một quyển, gọi là Nội Cảnh. Kế đó truyền cho Đông Hoa; lại nhân nghĩa Huỳnh Đình, rút gọn hơn thành một quyển mà truyền bá gọi là Ngoại Cảnh. Đông Hoa truyền cho Ngụy phu nhân. Phu nhân quảng truyền cho hậu thế…»

Tôi đã đối chiếu hai quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh và Ngoại Cảnh với nhau, thì thấy: Huỳnh Đình Nội Cảnh có 36 chương; Huỳnh Đình Ngoại Cảnh có 24 chương (ngắn hơn Huỳnh Đình Nội Cảnh).

Mỗi câu kinh của Ngoại Cảnh có thể tìm thấy một câu tương tự trong Nội Cảnh. Thông lệ là như vậy. Dĩ nhiên có một trong hai bộ cũng đã đủ, mà có cả hai bộ thì càng quý. Nội Cảnh có 36 chương đó là dương số (9×4=36), Ngoại Cảnh có 24 chương đó là âm số (6×4=24). Ý nói hai bộ kinh bổ túc lẫn cho nhau.

3. Huỳnh Đình Kinh được phổ biến vào thời kỳ nào?

Có nhiều thuyết:

a. Huỳnh Đình kinh được phổ biến vào khoảng năm 364 Công nguyên.

Theo thuyết này, thì quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh, và Ngoại Cảnh được các tiên nhân truyền cho Ngụy phu nhân 魏 夫 人.

Năm Hưng Ninh 興 寧 thứ 2 đời Tấn Ai Đế 晉 哀 帝 (năm 364; Tư Mã Phi 司 馬 丕), đệ tử của phu nhân là Tư đồ Công phủ trưởng sử 司 徒 公 府 長 史 Dương Quân 楊 君 cho chép kinh lại theo lối chữ lệ, sau đó dần dà mới được quảng bá đi, theo ngả Chiết Giang 浙 江 …

Thiết tưởng cũng nên đề cập quan đến tiểu sử Ngụy phu Nhân 魏 夫 人, người có công truyền bá Huỳnh Đình kinh.

Ngụy phu nhân là người ở Nhâm Thành 任 城 nước Tấn, tên gọi là Hoa Tồn 華 存, tự là Hiền An 賢 安, con Tấn tư đồ Kịch Dương 晉 司 徒 劇 陽 Văn Khang công 文 康 公.

Hoa Tồn ngay từ khi còn bé, đã yêu chuộng đạo thần tiên, lại bác lãm quần thư. Năm 24 tuổi mẹ cha ép lấy Thái bảo Duyện Nam Dương Lưu Văn 太 保 掾 南 陽 劉 文, tự Ấu Ngạn 幼 彥.

Bà sinh được hai con, con lớn tên là Phác 璞, con nhỏ tên là Hà 瑕. Khi hai con bắt đầu hơi lớn, bà liền biệt cư, tu trai. Sau đó ít tháng thần tiên hiện ra, tặng phẩm vật và truyền cho hai bộ Huỳnh Đình. Khi Ấu Ngạn qua đời, bà đem hai con qua sông Hoàng Hà lập cư. Phác và Hà sau đều làm quan… Bà mất năm Hàm Hòa 咸 和 thứ 9 đời Tấn Thành Đế 晉 成 帝 (334) thọ 83 tuổi.

Tuy nhiên có nhiều người thường cho rằng, Ngụy phu nhân chỉ truyền bá bộ Huỳnh Đình Nội Cảnh. Còn quyển Ngoại Cảnh là do Vương Hữu Quân 王 右 軍 (tức thư pháp gia kiêm đạo gia Vương Hi Chi 王 羲 之) quảng bá. Vương Hữu Quân mất năm Thăng Bình 昇 平 thứ 5 đời Tấn Mục Đế 晉 穆 帝 (361).

Như vậy cả Ngụy phu nhân lẫn Vương Hữu Quân đều mất trước khi các bản kinh Huỳnh Đình được truyền bá vào năm Hưng Ninh 興 寧 thứ 2 đời Tấn Ai Đế 晉 哀 帝 (364).

b. Huỳnh Đình kinh có từ thời trước vua Đế Cốc 帝 嚳 (2217)

Để tăng phần huyền bí cho kinh, đạo Lão đã có chủ trương rằng Huỳnh Đình là sách để tu đạo đắc tiên, có vào khoảng thời Thiên Hoàng thị đến Đế Cốc (2217 trước Công nguyên).

c. Huỳnh đình kinh có từ thời Chuyên Húc 顓 頊 (2295)

Có người lại cho rằng, Quảng Thành tử 廣 成 子 truyền Nội Cảnh cho vua Chuyên Húc, sau lại truyền cho Mạo Cô, sách mới đầu gồm 50 quyển. Sau rút lại còn một quyển, gọi là Nội Cảnh. Đông Hoa đế quân 東 華 帝 君 sau đó được truyền sách. Kinh lại được rút gọn hơn lại thành Ngoại Cảnh. Đông Hoa truyền tất cả cho Ngụy Phu Nhân. Ngụy phu nhân truyền cho hậu thế.

Như vậy, cả hai quyển Nội Cảnh và Ngoại Cảnh đã ẩn tích trong một khoảng thời gian dài. Mãi đến đời nhà Hán (202-220) Ngoại Cảnh mới xuất hiện, và mãi đến đời nhà Tấn vào khoảng năm 364, Nội Cảnh mới được truyền bá.

Dẫu chủ trương Ngoại Cảnh được truyền bá trước Nội Cảnh, nhưng không ai nghĩ rằng Ngoại Cảnh đã được chép ra trước Nội Cảnh.

4. Huỳnh Đình kinh dưới mắt Nho gia

Nho gia cho rằng Huỳnh Đình kinh được căn cứ theo các bản chép từ thời nhà Tần, nhưng đó chỉ là bản giản lược. Âu Dương công 歐 陽 公 (Âu Dương Tu 歐 陽 修,1007-1072) đời Tống nói: «Huỳnh Đình là một quyển sách dạy về dưỡng sinh của các đạo sĩ, khoảng giữa đời Ngụy Tấn (Ngụy 魏: 220-265; Tấn 晉: 265-420). Sách chuyên dạy về Dưỡng nội (Tu dưỡng bên trong). Có nhiều điều kỳ quái. Lại vì sách truyền ra từ lâu, nên có nhiều điều sai suyễn. Đâu đâu cũng có những bản Huỳnh Đình khác nhau, rất khó hiểu đâu là chính bản.

Tôi có một bản Huỳnh Đình kinh in thạch bản do một người đời Tấn viết năm Vĩnh Hòa 永 和 thứ 30 (khoảng năm 374). Lời văn giản dị, đem so với các bản kinh lưu hành hiện nay, thấy rất có lý. Cho nên, nếu muốn hiệu đính những dị biệt thấy ở các bản kinh hiện hành, thì nên lấy bản kinh này làm tiêu chuẩn.»

Tô Đông Pha 穌 東 坡 (1036-1101) cũng đã chép quyển kinh này và tặng cho đạo sư Bảo Quang 葆 光. Về sau Long Miên cư sĩ 龍 眠 居 士 đem đặt kinh ra phía trước và vẽ tượng Tô Đông Pha và Bảo Quang cư sĩ từng phía sau. Nét bút tinh vi. Tô Đông Pha thấy cảnh tượng đó, cảm kích và làm bài thơ sau:

«Thái Thượng Hư Hoàng xuất linh thiên,

太 上 虛 皇 出 靈 篇

Huỳnh Đình chân nhân vũ thai tiên.

黃 庭 真 人 舞 胎 仙

Nhiệm kỳ lưỡng khanh tương hậu tiền,

髯 耆 兩 卿 相 後 前

Quán diệu hiệp thị, thanh thả nghiên.

丱 妙 俠 侍 清 且 妍

Thập hữu nhị thuần phục nhuệ kiên,

十 有 二 神 服 銳 堅

Nguy nguy đường đường, nhân trung thiên.

巍 巍 堂 堂 人 中 天

Vấn ngã hà tu, quả thử duyên,

問 我 何 修 果 此 緣

Thị tâm triều không, tịch liễu nhiên.

是 心 朝 空 夕 了 然

Khủng phi kỳ nhân, thế mạc truyền,

恐 非 其 人 世 莫 傳

Điện dĩ nhị sĩ thương hộc hiên.

殿 以 二 士 蒼 鵠 騫

Nam tùy đạo sư lịch sơn uyên,

南 隋 道 師 歷 山 淵

Sơn nhân nghênh tiếu hỉ ngã hoàn,

山 人 迎 笑 喜 我 還

Vấn thùy khiển hóa Lão Long Miên.» [2]

問 誰 遣 化 老 龍 眠

5. Nhận định về tác giả Huỳnh Đình

Nếu ta chấp nhận rằng Huỳnh Đình Nội Cảnh 36 chương, Ngoại Cảnh có 24 chương như sự sắp xếp nơi kinh, thì tên tác giả đều đã được ghi rõ nơi đầu chương một của Nội và Ngoại Cảnh, và như vậy:

Nội Cảnh do đức Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân chép: «Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân, nhàn cư Nhụy cung tác thất ngôn.» 太 上 大 道 玉 神 君 閑 居 蕊 宮 作 七 言 (Nội Cảnh, ch.1)

Ngoại Cảnh là do đức Lão tử chép: «Lão tử nhàn cư tác thất ngôn.» 老 子 閑 居 作 七 言 (Ngoại Cảnh, ch.1)

Nhưng tiếc thay, sự việc không đơn giản như vậy.

Khi bình chương 1 của Nội Cảnh, Tử Hà Hàm Hư tử nhận định rằng hai câu: «Thái Thượng đại đạo Ngọc Thần Quân, nhàn cư Nhụy cung tác thất ngôn.» là do Vương Thiếu Dương tổ sư, người kế vị đức Đông Hoa Đế Quân viết thêm vào.

Bình chương một của Ngoại Cảnh, ông cũng cho rằng chương này là của Vương Thiếu Dương viết thêm vào.

Trong truyện nói về Mạo cô, Ma cô, nơi cuối bộ kinh Huỳnh Đình Nội và Ngoại Cảnh của Tử Hà, có ghi: «Chương đầu của Nội Cảnh và Ngoại Cảnh là do đức Đông Hoa Đế Quân viết để tán dương bộ kinh Huỳnh Đình. Một thời gian lâu sau, chúng được coi là chương 1 của kinh. Ít người biết được rằng chính văn kinh Huỳnh Đình bắt đầu từ chương 2…»

Viên Đốn tử 圓 頓 子 trong bài Biền ngôn 弁 言 của ông nơi đầu sách Huỳnh Đình kinh giảng nghĩa 黃 庭 經 講 義 viết rằng: «Huỳnh Đình kinh, không ghi rõ tác giả và thời đại.» [3]

Về vấn đề tác giả, tôi cũng đồng ý với Viên Đốn tử là không biết rõ ai đã viết ra bộ kinh Huỳnh Đình. Nói là của đức Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân (Linh Bảo Thiên Tôn) viết, hay soạn ra lại càng không phải. Vì Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân là một trong ba ngôi Trời, không không thể nào có lối hành văn đầy sắc tướng như vậy được. Dĩ nhiên là Huỳnh Đình không thể ngang hàng với Đạo Đức kinh được.

Trong truyện Mạo Cô, Ma cô, nơi cuối kinh Huỳnh đình của Tử Hà ta thấy ghi: «Quyển kinh này (Huỳnh Đình) với Đạo Đức kinh trợ giúp lẫn nhau. Đạo Đức kinh nói nhiều về Diệu (Vô hình tướng). Huỳnh Đình kinh nói nhiều về Khiếu (Hữu hình tướng).» [4]

Trong kinh đề cập những phương pháp dưỡng sinh, thổ nạp, kim tân ngọc dịch, đúng theo như trào lưu các đạo sĩ thời Ngụy Tấn. Cho nên chúng ta có thể kết luận rằng Huỳnh Đình kinh đã được chép vào khoảng năm 300-360.

CHÚ THÍCH

[1] Tổ sư (Vương Thiếu Dương) viết: Lão Tử nhàn cư vô sự, thường tức Nội Cảnh Kinh san phồn tựu giản tác vi thất ngôn, nhưng danh viết Huỳnh Đình, biệt chi viết Ngoại Cảnh. 祖 師 (王 少 陽) 曰: 老 子 閑 居 無 事, 常 即 內 景 經 刪 繁 就 簡 作 為 七 言, 仍 名 曰 黃 庭, 別 之 外 景.

[2] Tất cả chương này đều dựa vào các tài liệu sưu khảo của Tử Hà Hàm Hư Tử, ở câu đầu hay ở cuối bộ kinh Huỳnh Đình của ông, (Tam Tông miếu tàng bản) nhất là ở nơi chương Huỳnh Đình khảo ký.

[3] Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 27: «Huỳnh đình kinh, bất trước soạn nhân danh cập thời đại.» 黃 庭 經, 不 著 撰 人 名 及 時 代.

[4] Kỳ thư dữ Đạo Đức kinh tương vi y phụ. Đạo Đức kinh đa ngôn diệu, Huỳnh Đình đa ngôn khiếu. 其 書 與 道 德 經 相 為 依 輔. 道 德 經 多 言 妙, 黃 庭 多 言 竅.

CHƯƠNG 3

Huyền nghĩa hai chữ Huỳnh Đình

1. Nguyên nghĩa hai chữ Huỳnh Đình: Huỳnh Đình là Thái cực, bản thể vạn hữu bản thể con người.

2. Huỳnh Đình là Chân Trung là Tâm điểm là Trung nhất.

3. Huỳnh Đình hay Trung điểm ở nơi đâu trong con người?

Người xưa khi đặt tên sách, thường toát lược cả nội dung sách vào đó. Cho nên nếu ta hiểu được ý nghĩa hai chữ Huỳnh Đình, ta sẽ hiểu được đại ý của sách.

1. Nguyên nghĩa hai chữ Huỳnh Đình

Huỳnh Đình nguyên nghĩa là Đình vàng.

Huỳnh 黃 là màu vàng. Đình 庭 nghĩa hẹp là sân; nghĩa rộng là nơi vua quan làm việc. Ví dụ: triều đình, phủ đình, pháp đình, tụng đình …

Huỳnh là màu của Trung cung chân thổ 中 宮 真土, tức là màu sắc của Trung điểm vòng Dịch. Mà Trung điểm vòng Dịch chính là Thái cực, là căn cơ là bản thể vạn hữu, bản thể con người.

Dịch Kinh nơi quẻ Khôn có viết: «Quân tử Hoàng Trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp: Mỹ chi chí dã.» 君 子 黃中 通 理, 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 肢, 發 於 事 業:美 之 至 也.

Dịch:

«Hiền nhân thông lý Trung Hoàng,

Tìm nơi Chính vị, mà an thân mình.

Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều,

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.» [1]

Trong quyển Tiên Học Từ Điển 仙 學 辭 典 của Đới Nguyên Trường 戴 源 長, nơi thành ngữ vương chủ trung tâm 王 主 中 心 có bình: «Vạn vật đều có một điểm (Thái cực) làm nhân 仁. Nó làm chủ ở ngay tâm trung vạn hữu vì thế gọi là vương 王. Cũng gọi là Thiên quân 天 君. Đó là nguồn gốc của Tính Mệnh. Tổ sư Hải Thiềm 海 蟾 viết: Trung ương chính vị bản Hư Vô, tự hữu tiên thiên thần khí đáo.»

Chính vì vậy, mà Huỳnh Đình kinh tối thiểu đã vạch ra cho chúng ta thấy đâu là Chân tâm, đâu là Trung tâm điểm con người. Chữ Đình 庭 gợi lên ý niệm đền đài. Thực vậy, Huỳnh Đình kinh chủ trương: Thân tâm ta chính là đền đài có muôn thần ở bên trong, và ở nơi tâm điểm, có ba ngôi Trời hiện diện.

Huỳnh Đình là Thái cực, là bản thể vạn hữu, bản thể con người.

Trong quyển Huỳnh Đình kinh giải 黃 庭 經 解 của Thê Vân Sơn 棲 雲 山 (tức Ngộ Nguyên Tử 悟 元 子, Lưu Nhất Minh 劉 一 明) có hình vẽ sau:

Chú thích hình vẽ: (1) Thái cực 太 極, (2) Đạo nghĩa chi môn 道 義 之 門, (3) Chân không 真 空,

(4) Bất nhị pháp môn 不 二 法 門, (5) Trung Thần 中 神, (6) Chúng diệu chi môn 眾 妙 之 門,

(7) Hư vô 虛 無, (8) Huyền tẫn chi môn 玄 牝 之 門, (9) Huỳnh Đình 黃 庭.

 Như vậy ta thấy rằng đức Đông Hoa Đế Quân đã giải Huỳnh Đình là: Thái cực, Chúng diệu chi môn, Trung thần, Đạo nghĩa chi môn, Huyền tẫn chi môn, Bất nhị pháp môn, Chân không, Hư vô, Trung thần …

Đông Hoa Đế Quân còn viết: «Huỳnh Đình sinh xuất từ Tiên thiên, tàng ẩn ở hậu thiên. Vốn không hình tượng, không danh tự, nên tạm hình dung bằng vòng tròn O, tạm gọi là Huỳnh Đình.» [2]

«Vì là sinh cơ man mác, nên gọi là Huỳnh Đình, vì biến hóa khôn lường nên gọi là Thần 神. Huỳnh Đình là thể 體, Thần là dụng 用, hai đằng là một. Nho gia gọi là Đạo đức chi môn 道 德 之 門. Thích gọi là Bất nhị pháp môn 不 二 法門. Lão gọi là Chúng diệu chi môn 眾 妙 之門 hay Huyền tẫn chi môn 玄 牝 之 門. Vì không hình tượng nên người xưa lấy thần các cảnh mà hình dung thần Huỳnh Đình để mọi người nhận thần các cảnh, mà suy ra Thần «không cảnh» của Huỳnh Đình.» [3]

Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 nơi chương An thần tổ khiếu hấp tụ tiên thiên 安 神 祖竅 翕 聚 先 天 (q. Hanh, tr. 9a) gọi Huỳnh Đình là:

Chân thổ Huỳnh Đình 真 土 黃 庭, Tiên thiên chủ nhân 先 天 主 人, Vạn vật chủ tể 萬 物 主 宰, Thái cực chi đế 太 極 之 蒂, Hỗn độn chi căn 混 沌 之 根, Chí thiện chi địa 至 善 之 地, Ngưng kết chi sở 凝 結 之 所, Hư vô chi cốc 虛 無 之 谷, Tạo hóa chi nguyên 造 化 之 源, Bất nhị pháp môn 不 二 法 門, Thậm thâm pháp giới甚 深 法 界, Qui căn khiếu 歸 根 竅, Phục mệnh quan 復 命 關, Trung Hoàng cung 中 黃 宮, Hi di phủ 希 夷 府, Tổng trì môn 總 持 門, Cực lạc quốc 極 樂 國, Hư không tạng 虛 空 藏, Tây nam hương 西 南 鄉, Mậu kỷ môn 戊 己 門, Chân nhất xứ 真 一 處, Huỳnh bà xá 黃 婆 舍, Thủ nhất đàn 守 一 壇, Tịnh thổ 淨 土, Tây phương 西 方, Hoàng trung 黃 中, Chính vị 正 位, Giá cá 這 箇, Thần thất 神 室, v.v. và Huỳnh Đình dĩ nhiên cũng là Tổ khiếu 祖 竅, là Tiên thiên Nhất điểm Linh quang 先 天 一點 靈 光, là Vô 無, là Viên giác 圓 覺, là Đan 丹.

An thần tổ khiếu hấp tụ tiên thiên

Tất cả những ý niệm trên đều cho ta thấy rằng cổ nhân đã dùng hai chữ Huỳnh Đình 黃 庭 để giúp ta hiểu rõ Thiên địa vạn vật đồng nhất thể 天 地 萬物 同 一 體. Hơn thế nữa còn muốn cho ta thấy rằng cái bản thể linh minh huyền diệu, vĩnh cửu trường tồn ấy, lạ lùng thay, lại vẫn có nơi tâm thần chúng ta.

Nó chẳng những là Căn nguyên sinh ra ta, vì thế gọi là Tổ khiếu 祖 竅, nó còn ở ngay trong đầu não ta để hướng dẫn chỉ huy mọi công trình của ta, nên gọi là Cốc thần 谷 神, hay Nguyên thần 元 神, nó cũng còn là cùng đích cho ta và muôn loài muôn vật hướng về, qui về vì thế gọi là Qui căn khiếu 歸 根 竅, Phục mệnh quan 復 命 關…

Nó chính là Nguyên thần 元 神 sinh ra vạn thần trong ta, chính là Nguyên khí 元 氣, hay Tiên thiên khí 先 天 氣, Hạo nhiên khí 浩 然 氣 sinh ra mọi khí trong ta.

Như vậy, ngoài cái phần biến thiên chất chưởng là hình hài, tâm tư, trí lự của ta, ta còn có một phần linh thiêng, vĩnh cửu, bất biến, vô thủy vô chung …

Hiểu lẽ đó nên Trang tử đã viết: «Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất.» 天 地 與 我 並 生 而 萬 物 與 我為 一.[4]

Dịch:

«Ta và trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.»

Trong quyển Từ Viên tiên sư chân kinh có bốn câu thơ sau:

«Đương thời vị hữu tinh hà đẩu,

當 時 未 有 星 河 斗

Tiên hữu ngô đương hậu hữu thiên.» [5]

先 有 吾 當 後 有 天

Dịch:

«Trước khi thiên hán, quần tinh có,

Trước có ta, rồi mới có trời.»

Và:

«Ngã thể bản đồng thiên địa lão.

我 體 本 同 天 地 老

Tu di sơn đảo, tính do tồn.» [6]

須 彌 山 倒 性 猶 存

Dịch:

«Tính ta vốn thọ cùng trời đất,

Tu di nghiêng đổ, tính vẫn còn …»

Như vậy hai chữ Huỳnh Đình đã toát lược mấy ý niệm then chốt sau đây của đạo Lão:

(1) Thiên địa vạn vật đồng nhất thể.

(2) Bản thể con người đồng nhất với Bản thể vũ trụ, Tạo hóa.

(3) Bản thể ấy, Chân nguyên Linh khí ấy, Nhất điểm Linh quang ấy đã tiềm ẩn sẵn trong thân tâm ta.

Những quan niệm trên cũng đã được các đạo gia dùng làm đề tài ngâm vịnh. Tính Mệnh Khuê Chỉ đã sưu tập những bài thơ ấy.

Dưới đây xin đan cử một vài bài:

Tư Mã Tử Vi 司 馬 紫 微 có thơ:

«Hư vô nhất khiếu hiệu Huyền quan,

虛 無 一 竅 號 玄 關

Chính tại nhân thân thiên địa gian.

正 在 人 身 天 地 間

Bát vạn tứ thiên phân thượng hạ,

八 萬 四 千 分 上 下

Cửu tam lục ngũ liệt tuần hoàn. [7]

九 三 六 五 列 循 環

Đại bao pháp giới hỗn vô tích,

大 包 法 界 混 無 跡

Tế nhập vi trần bất kiến nhan.

細 入 微 塵 不 見 顏

Giá cá danh vi Tổ khiếu huyệt,

這 箇 名 為 祖 竅 穴

Thử châu nhất lạp chính trung huyền.» [8]

黍 珠 一 粒 正 中 玄

Tạm dịch:

Hư vô nhất khiếu gọi Huyền quan,

Giữa lòng trời đất, giữa tâm xoang,

8 vạn 4 nghìn phân thượng hạ,

9, 3, 5, 7 liệt tuần hoàn,

Lớn trùm pháp giới không hình dạng,

Nhỏ lọt vi trần, chẳng diện nhan,

Cái đó phải chăng là Tổ khiếu,

Chính trung chói lói hạt châu xoàn .

Đinh Dã Hạc 丁野鶴, Tiêu Diêu Du 逍遙遊 có thơ:

«Tam giáo nhất nguyên, giá cá viên,

三 教 一 元 這 箇 圓

Sinh tại vô vi, tượng đế tiên,

生 在 無 為 象 帝 先

Ngộ đắc thử trung chân diệu lý,

悟 得 此 中 真 妙 理

Thủy tri đại đạo tổ căn nguyên…» [9]

始 知 大 道 祖 根 源

Dịch:

Tam Giáo Hư Vô vẽ một vòng,

Sinh tại vô vi vạn tượng tông,

Có hiểu trung hoàng, chân diệu lý,

Rồi ra nguồn đạo sẽ khai thông …

Tào Văn Dật 曹 文 逸 có bài thơ Đại đạo ca 大 道 歌 như sau:

«Tá vấn Chân nhân hà xứ lai?

Tòng tiền nguyên chỉ tại Linh đài.

Tích niên vân vụ, thâm già tế,

Kim nhật tương phùng đạo nhãn khai.»

借 問 真 人 何 處 來

從 前 原 只 在 靈 台

昔 年 雲 霧 深 遮 蔽

今 日 相 逢 道 眼 開

Dịch:

Chân nhân ướm hỏi tới từ đâu,

Tâm khảm tiềm tàng sẵn đáy sâu,

Thủa trước linh đài vân vụ phủ,

Ngày nay gặp gỡ hết xa nhau. [10]

2. Huỳnh Đình Chân Trung, là Tâm điểm, là Trung Nhất

Vụ Thành Tử giải nghĩa Huỳnh Đình như sau:

Huỳnh là màu của trung ương. Đình là trung điểm của 4 phương. Đối với vũ trụ bên ngoài thì là trung điểm trời đất người. Đối với nơi con người thì là trung tâm não bộ, tim và tì. Cho nên gọi là Huỳnh Đình.[11] Như vậy hai chữ Huỳnh Đình đã hàm ngụ mọi quan điểm về chữ trung của người xưa. Đó chính là:

– Doãn chấp quyết trung 允 執 厥 中 của Nghiêu Thuấn 堯 舜,

– Thời trung 時 中 của Khổng Mạnh 孔 孟,

– Vị phát chi trung 未 發 之 中 của Tử Tư 子 思,

– Hoàng trung thông lý 黃中通理 của Dịch kinh 易經.

– Trung lý ngũ khí 中 理 五 氣 của Độ nhân kinh 度 人 經.

– Trung Không 中 空 của Thích Ca 釋 迦.

– Thủ trung 守 中 của Lão tử 老 子… [12]

Các hình vẽ Tứ tượng, Ngũ hành, Hà đồ, Lạc thư, Cửu cung bát quái, tất cả đều nói lên ý niệm:

Trong vũ trụ có một bản thể làm khu nữu, làm trục cốt cho mọi hiện tượng biến thiên bên ngoài.

Thuyết này từ thủa xa xưa cũng đã được Tây phương chủ trương. Louis Lallemand, viết trong quyển La Vocation de L’Occident của ông đại khái như sau: «Dân Celtes xưa cũng chia nước thành năm miền là: Ulster, Connaught, Leinstor và Munster với một miền ở Trung điểm là Moath, miền trung ương này được coi là miền núm rốn …»

Theo Louis Lallemand, thì các vũ trụ luận Âu châu cổ xưa đều chủ trương rằng vũ trụ này gồm có: Một phần tinh hoa ở trung điểm và tứ đại giả hợp ở bên ngoài.

Tâm điểm ấy tuy vô hình nhưng lại quan trọng nhất.[13]

Và như vậy, Đông cũng như Tây đều chủ trương rằng con người phải tìm cho ra trung cung, trung điểm của Trời đất và của lòng mình, mới mong siêu thoát. Trung cung ấy chính là Tổ khiếu, là Đan, là Chân Nhất, là Đạo, là Qui căn khiếu, Phục mệnh quan.

3. Huỳnh Đình hay Trung điểm ở nơi đâu trong con người?

Trước hết, có người cho rằng Huỳnh Đình tổ khiếu là Thái cực (trung điểm hoàn võ và con người) thì dĩ nhiên phải bàng bạc, bao la, không thể có định vị, phương sở.

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: «… Cái khiếu ấy phải tìm nơi thân ta. Nó không phải là miệng, mũi, tim, thận, gan, phổi, tì, vị, rốn, vĩ lư, bàng quang, cốc đạo, không phải là huyệt giữa thận, không phải ở dưới rốn 1 tấc 3 phân, không phải minh đường, nê hoàn, không phải quan nguyên khí hải, thế thì nó ở đâu? Thuần Dương tổ sư 純 陽 祖 師 nói:

«Huyền tẫn, huyền tẫn, chân huyền tẫn,

玄 牝 玄 牝 真 玄 牝

Bất tại tâm hề, bất tại thận,

不 在 心 兮 不 在 腎

Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ,

窮 取 生 身 自 氣 初

Mạc quái thiên cơ đô tiết tận.»

莫 怪 天機 都 泄 盡

Dịch:

Huyền tẫn, huyền tẫn, chân Huyền tẫn,

Không ở nơi tâm, không ở thận,

Sinh thân thụ khí, ấy linh quang,

Thiên cơ như vậy đà lộ tận…[14]

Nơi hình An thần tổ khiếu đồ 安 神 祖 竅 圖, trong quyển Hanh bộ Tính Mệnh Khuê Chỉ còn có thơ:

«Giá cá khiếu,         
這 箇 竅

Tuyệt trung biên,     
絕 中 邊

Vô nội ngoại,             
無 內 外

Thượng hạ viên,     
上 下 圓

Đông tây hợp,           
東 西 合

Nam bắc tuyền,       
南 北 全

Hội thử ý,                   
會 此 意

Tiện thành tiên.»     
便 成 仙

Dịch:

Cái khiếu ấy,

Không trung, biên,

Không nội ngoại,

Trên dưới viên,

Đông tây hợp,

Nam bắc tuyền,

Hiểu ý ấy,

Sẽ thành tiên …

Lập trường này làm ta liên tưởng đến lời kinh Kim Cương: «Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.» 應 無 所 住 而 生 其 心.

Hay bài toán mà Phật đặt ra cho A Nan nơi đầu kinh Lăng Nghiêm: «Cái thấy anh ở đâu?»

Lối nhìn viên dung như vậy là lối nhìn tiên thiên, khi chưa có sinh thành biến hóa, hay là khi gác mọi biến hóa sang một bên.

Nhưng một khi đã có biến hóa, thì lập tức phải có trung và biên; phải có bản vị, chính vị (position initiale, position centrale) và các dịch vị, biến vị (positions variables) sau này.

Cho nên trong thực tế, người ta vẫn đi tìm cho ra đâu là tâm điểm, đâu là trung điểm nơi con người.

Có nhiều thuyết về tâm điểm hay trung điểm, được trình bày lần lượt như sau:

(1) Rất nhiều người thường cho rằng Huỳnh Đình hay trung điểm con người ở nơi bụng; hoặc là ở:

– Khoảng rốn. [15]

– Xoang trống sau rốn và trước xương sống.

– Trên rốn 1 tấc 3 (chấn thủy, nơi vị trí của tì).

– Dưới rốn 1 tấc 3, nơi khí hải.

Những luận cứ mà người xưa dựa vào để biện minh rằng rốn hay chấn thủy, hay khí hải là tâm điểm con người có thể toát lược như sau:

– Vì nơi đó là khoảng giữa đầu và chân, là giữa tâm và thận.[16]

– Trời đất cách nhau 84000 dặm, thì nơi con người cũng vậy. Tâm và thận cách nhau 8 tấc 4 phân. Đó là lý luận mà Tính Mệnh Khuê Chỉ đưa ra nơi hình Trung tâm đồ 中 心 圖 trong quyển Hanh, tr. 10b.

Ngoài ra, nơi các hình: Phổ chiếu đồ 普 照 圖 (q. Nguyên, tr. 7b), Trung tâm đồ 中 心 圖 (q. Nguyên, tr.10b), An thần tổ khiếu đồ 安 神 祖 竅 圖 (q. Hạnh, tr.8b), Pháp luân tự chuyển đồ 法 輪 自 轉 圖 (q. Hanh, tr.12) đều cho ta thấy rõ rằng Huỳnh Đình là ở khoảng giữa bụng.

Trong quyển Dưỡng sinh bí lục 養 生 祕 錄 (tác giả không rõ; được chép trong Chính Thống Đạo Tạng 正 統 道藏) ta thấy ghi: «Vương Chân tiên sinh cho rằng: Trung Hoàng là đan quýnh 丹 扃 (then chốt hay cơ sở của luyện đan), nơi tổng hội của Tám hướng. Đó tức là Trung cung, Huỳnh đình, Huyền tẫn, Tiên thiên nhất khiếu, đó là Chỉ ư chí thiện. Nếu lấy hai lần đốt ngón tay giữa để định tiêu chuẩn cho 1 tấc, thì trên rốn (thận) 3 tấc 6 phân, và vào trong 1 tấc 3 phân là Huỳnh Đình vậy.» [17]

Viên Đốn Tử 圓 頓 子 trong quyển Huỳnh Đình kinh giảng nghĩa 黃 庭 經 講 義 viết: «Gốc gác, con người là đâu? Đó là xoang trống sau rốn. Khoảng trống phía sau rốn là Huỳnh đình vậy.» [18]

Trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh của Vụ Thành Tử chú cũng thấy giải: «Tì là Huỳnh Đình, mệnh môn, minh đường, trung bộ. Ở nơi đó có Lão Quân.»[19]

Trong quyển Tiên Học Từ Điển ghi: «Huỳnh Đình là xoang trống bên trong rốn.» 黃 庭 一 云 臍 內 空 處 也 .

Thuyết trên còn cho rằng rốn đối với hài nhi lúc còn trong lòng mẹ là quan trọng nhất. Quan niệm lấy tì thổ 脾 土 làm trung cung Huỳnh đình, còn thấy nơi nhiều hình vẽ trong các sách cổ, trong đó: Tâm 心, can 肝, phế 肺, thận 腎 ở chung quanh, tì thổ 脾 土 ở chính giữa.

Mà lạ lùng thay, chữ Pancréas của Âu Châu cũng có nghĩa là «Cái tạo nên tất cả» (Pan: tất cả Créas: Tạo dựng). Ở nơi dân gian, ta thấy người ta thường tưởng trí thông minh con người tâm và lương tâm con người nằm ngay trong bụng. Cho nên nói:

– Sáng dạ, tối dạ.

– Tốt bụng, xấu bụng.

– Miệng Nam Mô, bụng một bồ dao găm.

– Lòng lang dạ sói, lòng độc miệng dữ.

– Đau lòng xót dạ…

Trong quyển Pháp môn tọa thiền của Pháp sư Giác Nhiên, nơi trang 29, có dạy phép thở thành vòng số 8 qua các huyệt vị trong người. Trong đó có ghi: Huỳnh Đình là ở «Chấn thủy trước ngực».

Trong hình Phổ chiếu đồ 普 照 圖, ta thấy ghi rõ: nơi rốn là Huỳnh Đình 黃 庭, Tổ khí huyệt 祖 氣 穴, Qui căn khiếu 歸 根 竅, Phục mệnh quan 復 命 關, Chân nhất khiếu 真 一 竅, v.v…

Phổ chiếu đồ

Quan niệm rằng trung tâm con người ở khoảng rốn, khoảng tì 脾 là sai. Nói rằng khí hải 氣 海 là huyệt quan trọng, tì (tụy tạng) là một cơ quan trọng yếu, thì đúng, còn nói rằng đó là cơ quan then chốt, đầu não thì hoàn toàn sai. Ngày nay với đà tiến hóa của khoa học, khi mà người ta hiểu rõ quan năng của từng bộ phận trong người, nhất là hiểu biết khá nhiều về tầm quan trọng của não bộ, thì những lý luận trên không còn chân đứng.

 Vả lại trời cũng chẳng cách đất 84000 dặm, từ đầu đến chân cũng chẳng thể là 8 thước 4 tấc, mặc dầu tấc đó là đốt ngón tay giữa. Nơi bụng dưới, ta thấy có những cơ quan bài tiết và sinh dục, nơi bụng trên ta thấy những cơ quan về tiêu hóa, chứ không có cơ quan nào để suy tư, hay sầu bi hoan lạc cả. Vả lại Thượng Thần không thể nào ở những nơi uế tạp như vậy được. Càng đọc tiếp các luận cứ tiếp theo đây, sẽ càng thấy quan niệm trên là không đúng.

(2) Có tất cả ba Huỳnh Đình trong con người:

Đi sâu hơn vào công trình đi tìm tâm điểm con người, ta thấy sự việc không đơn giản như vậy.

Có nhiều người chủ trương có ba Huỳnh Đình:

– Một ở trung tâm đầu não con người,

– Một ở giáng cung 絳 宮 (tâm),

– Một ở nơi tỳ 脾 (tụy tạng= Pancréas).

Trong đầu sách Huỳnh Đình Nội Cảnh, Vụ Thành Tử ghi: «Huỳnh là màu của trung ương. Đình là trung điểm của bốn phương. Nói về vũ trụ bên ngoài thì đó là: tâm của trời, đất, người. Nói về bên trong con người thì đó là: tâm của óc của tim, của tì.» [20]

Cũng trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh này nơi chương 15, khi giải câu: «Tam Lão đồng tọa các hữu bằng.» 三 老 同 坐 各 有 朋 giải rằng có ba Huỳnh Đình:

Thượng Thanh Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh – Vụ Thành Tử chú

Trong Thượng Huỳnh Đình (ở đầu não) có chư thần:

– Thượng Nguyên Lão Quân 上 元 老 君,

– Nê Hoàn Lão Quân 泥 丸 老 君,

– Thương Hoa Quân 蒼 華 君,

– Thanh Thành Quân 青 城 君,

– Minh Đường Trung Quân Thần 明 堂 中 君 神,

– Động Phòng Trung Phụ Mẫu 洞 房 中 父 母,

– Thiên Đình Chân Nhân 天 庭 真 人,

Nơi Trung Huỳnh Đình (ở ngực và bụng) cũng có chư thần:

– Trung Huyền Lão Quân 中 玄 老 君,

– Xích Thành Đồng Tử 赤 城 童 子 (thần ở tim),

– Đan Điền Quân 丹 田 君,

– Hạo Hoa Quân 皓 華 君 (thần phổi),

– Hàm Minh Quân 含 明 君 (thần gan),

– Huyền Anh Quân 玄 英 君 (thần thận),

– Đan Nguyên Chân Nhân 丹 元 真 人,

Nơi Hạ Huỳnh Đình cung có chư thần:

– Hạ Hoàng Lão Quân 下 黃 老 君,

– Thái Nhất Quân 太 一 君,

– Thái Thương Quân 太 倉 君,

– Hồn Đình Quân 魂 停 君,

– Linh Nguyên Quân 靈 元 君,

– Đan Điền Chân Nhân 丹 田 真 人…

Vị trí của ba Huỳnh Đình cung này như đã nói trên là trung tâm não bộ, tâm và tì.

Quan niệm rằng con người có ba Huỳnh Đình, ba Đan Điền chẳng qua là dựa vào thuyết Tam tài: Thiên – địa – nhân, Thần – Khí – Tinh.

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: «Muốn được trường sinh, phải biết cửu thị 久 視 (nhìn lâu). Cửu thị vào thượng đan điền, thời thần 神 trường sinh. Cửu thị vào trung đan điền, thời khí 氣 trường sinh. Cửu thị vào hạ đan điền thì hình 形 trường sinh. Mặt trời mặt trăng chiếu vào trong khoảng trời đất cho nên loài trai có thể hấp thụ ánh sáng mà sinh châu, đá có thể súc tích ánh sáng đó để mà sinh ngọc, phương chi là con người đã có sẵn hai vầng nhật nguyệt (hai con mắt) mà không biết hồi quang nội chiếu vào nơi bản thân để cho trân châu, mỹ ngọc được sinh ra trong mình hay sao?» [21]

(3) Có một số người lại quan niệm Huỳnh Đình chính là ở nơi trung tâm não bộ, là ở Nê Hoàn cung 泥 丸 宮.

Trong quyển Huỳnh Đình Ngoại Cảnh do Lương Khưu Tử chú, ghi: «Huỳnh Đình là ở giữa đầu con người. Đó là Minh đường, Động phòng, Đan điền. Từ giữa hai làn mi, đi vào 1 tấc là Minh đường; 2 tấc là Động phòng; 3 tấc là Đan điền. Ba chỗ đó đều là Thượng nguyên, là Một vậy … Cho nên biết rằng Nhất ở nơi Minh đường nhất xứ vậy.» [22]

Từ lâu tôi vẫn chủ trương quan điểm này. Tôi lập luận rằng: Nếu Tâm điểm của vòng Dịch là Thái cực, nếu Tâm điểm của Trời là khoảng trống gần sao Bắc thần, thì tâm điểm con người phải ở trung tâm đầu não con người.

Trước hết ta hãy lưu ý vị trí tối cao của đầu não đối với con người. Sau là cơ cấu hết sức đặc biệt của não, của đầu. Không nơi đâu trong người có một hộp xương kín và chắc như vậy, do đó nó phải tàng trữ cái gì là quí báu nhất. Hơn nữa giữa đầu con người có một xoang trống chính trung, có các mạch máu, các thần kinh từ bốn phương tám hướng qui tụ về, thực là một vị trí hết sức là quan trọng.

Tôi lấy lẽ ngũ hành tương sinh và dùng hình vẽ sau đây để chứng minh một cách hết sức giản dị rằng ở nơi con người Trung điểm đã được đưa lên đầu. Ta hãy vẽ một ngôi sao năm cánh. Cánh trên tượng trưng cho đầu, hai cánh ngang tượng trưng cho hai tay, hai cánh dưới tượng trưng cho hai chân, rồi viết chữ Thổ nơi cánh đầu, sau đó ta viết theo chiều đồng hồ Kim Thủy, Mộc, Hỏa, ta vẽ được vòng Ngũ hành tương sinh, tương ứng với vòng Dịch. Ta vẽ đối chiếu hai hình để thấy rõ.

Khi khảo về các mô hình các nhà thờ Thiên chúa giáo, tôi cũng đã tìm thấy được thêm một chứng minh của giả thuyết trên của tôi.

Thực vậy, các nhà thờ Thiên Chúa giáo được chia thành hai loại chính:

a. Các nhà thờ thuộc giáo hội bên Đông, thường được xây theo hình tròn, có vòm. Và như vậy bàn thờ sẽ ở tâm điểm (édifices à plan central).

b. Các nhà thờ thuộc giáo hội La Mã (giáo hội bên Tây) thường được xây theo hình Thập tự, trong đó cánh trên là đầu người, cánh ngang là hai tay, cánh dưới là chân, là bụng, Liên lạc tượng hình giữa các nhà thờ kiểu chữ thập này (églises basilicales, structuration basilicale & développement horizontal) với thân thể con người đã được Léon Sprink chứng minh trong quyển Art sacré en Occident et en Orient chứng minh. Và khi ấy bàn thờ được đặt nơi đầu cánh trên thập tự, như vậy là nơi đầu.

Hai hình vẽ sau đây toát lược những quan điểm trên:

Trong chương tiếp sau đây, tôi sẽ bàn luận về Nê Hoàn nhiều hơn, và viện dẫn Huỳnh Đình để chứng minh Nê Hoàn cung là nơi quan trọng nhất trong con người. Ở đây, tôi chỉ muốn phanh phui những điều mà đạo Lão coi là bí ẩn, và giản dị hóa những gì mà người xưa trình diễn một cách hết sức khó khăn, đồng thời cũng sẽ nhân đó chứng minh Nê Hoàn là nơi quan trọng nhất.

A. Nếu theo quan niệm tam tài, thì trong người có 3 yếu tố cơ bản, đó là thần, khí, tinh. Do đó có 3 đan điền:

– Thượng đan điền hay Thiên cốc tương ứng với thần, nơi luyện thần. Thượng đan điền chính là Nê Hoàn cung.

– Trung đan điền, hay Giáng cung, hay Ứng cốc nơi để điều khí, vận khí.

– Hạ đơn điền, hay Khí hải, hay Linh cốc, nơi để luyện tinh.

B. Nếu theo quan niệm lưỡng nghi, thì ta sẽ có:

– Nê Hoàn Cung là Kiền đỉnh, hay Ngọc đỉnh, nơi luyện thần, tụ thần, thông tính thiên, dưỡng tính thiên.

– Hạ đan điền hay Khôn lô, hay Kim lô, nơi dưỡng mệnh, dưỡng thân hình.

Muốn được siêu thoát phải biết tu Côn Lôn (đầu não) Nê hoàn. Muốn được sống lâu, khỏe mạnh, hãy tu trung đan điền và hạ đan điền.

Theo quan niệm lưỡng nghi, đạo Lão phân tu thân 修 身 thành hai loại:

– Tu tính 修 性, tức là luyện thần, tụ thần, ngưng thần, luyện thần, hoàn hư, siêu thoát. Tu tính lấy nê hoàn cung 泥 丸 宮 làm cơ sở.

– Tu mệnh 修 命, tức là luyện cho thân xác khỏe mạnh, khinh khoát sống lâu. Tu mệnh bao quát tất cả các môn tiết dục 節 欲, cố tinh 固 精, đạo dẫn 導 引, ma sát 摩 擦, luyện khí 鍊 氣, điều tức 調 息, hoàn tinh bổ não 還 精 補 腦, v.v… Tu mệnh lấy Khôn lô 坤 爐, hay hạ đan điền làm cơ sở. Ấy là chưa kể đến những phương thức dùng ngoại dược như dùng lá câu kỷ 枸 杞, chử thực 楮 實 (quả cây ró), thiên môn đông 天 門 東, ngũ gia bì 五 茄 皮, địa du 地 榆, mi giác 糜 角 (sừng nai), tùng diệp 松 葉 (lá tùng) v.v. [23]

Căn bản của tu mệnh, hay tu dưỡng, hay dưỡng sinh, dưỡng thân chung qui vẫn chỉ là ái khí 愛 氣, bảo tinh 保 精 và phương pháp luyện đan của Lão giáo truy kỳ căn cũng chỉ gồm có hai phần chính:

– Luyện thần 鍊 神, đó là tu tính 修 性.

– Luyện khí 鍊 氣, cố tinh 固 精, đó là tu mệnh 修 命.

Hiểu được đại cương ấy sẽ hiểu được những gì là nội dược 內 藥, ngoại dược外 藥, và mới hiểu được tại sao hai chữ Âm dương 陰 陽, Diên hống 鉛 汞 lúc thì chỉ Nhân tâm 人 心, Đạo tâm 道 心, Tâm 心, thần 神, khí 氣, lúc thì lại là khí huyết 氣 血, tinh huyết 精 血, v.v. [24]

Cho nên đạo Lão bao giờ cũng chủ trương: Tính mệnh song tu 性 命 雙 修. Đối với đại đa số, thì nên Tu Mệnh trước, tu Tính sau, như Lão tử đã nói: Quí dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ … 貴 以 賤為 本 , 高 以 下 為 基.[25] Đối với các bậc đại căn đại giác mới tu Tính trước, Tu Mệnh sau.

Những luận cứ trên cốt chỉ muốn chứng minh rằng: Hạ đan điền, rốn hay chấn thủy, v.v. đều không phải là Chân tâm, là Trung tâm đích thực nơi con người.

Tâm điểm con người cũng không phải là ở nơi khoảng tim (giáng cung) mặc dầu bên Đông cũng như bên Tây đã có nhiều môn phái chấp đó là Trung tâm điểm con người.[26]

Tâm điểm con người thực sự là ở trung tâm đầu não con người. Đó là Huỳnh Đình.

Khảo về đầu não con người, ta thấy có thể vẽ thành những vòng tròn bao quanh đầu mặt con người một cách hết sức chính xác. Những hình chụp trong quyển Anatomy for Students and Teachers của Walter T. Foster [27] chứng minh điều đó. Nếu thế thì ta xác định được một cách chính xác rằng Huỳnh đình chính là Tâm điểm đầu não ở Nê Hoàn Cung.

Nơi ấy chính là:

– Huyền quan khiếu 玄 關 竅, vì là nơi thần khí 神 氣 hợp nhất.

– Thiên cốc 天 谷 và có Cốc thần 谷 神 trời đất ngự trị.

– Linh đài 靈 臺 vì đó chính là Tâm con người mà tâm con người chính là đền thờ Thượng đế, đền thờ Thần linh.

– Đó chính là Cao Đài 高 臺. Vì đạo Lão xưa đã gọi đầu là  Cao Đài. [28]

– Đó chính là Côn Lôn đỉnh 崑 崙 頂, là Thiên đường 天 堂, là Bát Nhã ngạn 般 若 岸, Ba La Mật địa 波 羅 蜜 地, Đà La Ni môn 陀 羅 尼 門 như Tính Mệnh Khuê Chỉ đã ghi nơi hình Càn Khôn giao cấu đồ 乾 坤 交 媾 圖 (Tính Mệnh Khuê Chỉ, quyển Lợi tr. 8a).

Léon Sprink trong quyển L’Art Sacré en Orient et on Occident, nơi tr. 32, có một nhận định hết sức khoa học và cũng hết sức thâm trầm là: «Có nhiều loài vật có cơ cấu ngược nhau: Chẳng hạn như nếu ta đem loài polypiers fossiles lộn ngược phía trong ra phía ngoài, ta sẽ được hình dung của loài Flagellés fossiles.» [29]

Theo tôi đó chính là định luật Âm Dương điên đảo của Dịch kinh. Và tôi suy thêm rằng: Nếu nơi bụng dưới con người có «động phòng» 洞 房 để tạo nên con người, thì ở nơi đầu não cũng có «động phòng» để tạo nên Thánh thần, nên tiên phật.

Léon Sprink còn nhận định rằng nơi trán các thánh, tượng phật thường thấy có ngôi sao, hoặc một điểm tròn mà ông gọi là Urna (tiếng Ấn độ). Ông cũng còn nhận định thêm rằng các nữ Ấn độ thường đeo ngọc nơi giữa trán, hoặc mang một điểm son nơi giữa trán. Ở Châu Phi cũng có nhiều người thích một vết chàm vào giữa trán. Khảo về các xác ướp Ai cập ông cũng thấy điểm giữa trán được đặc biệt ám chỉ, vì nó là đỉnh một hình vuông, còn ba đỉnh kia thì ở hai vai và ở khoảng ngực nơi chấn thủy.[30] Ông dựa vào ông Brewster, tác giả quyển Gautame Bouddha, Paris 1929, mà nhận định thêm rằng: Điểm Urna nơi trán Phật là dấu hiệu chỉ rõ dòng dõi sang cả và định mệnh cao sang của Phật.[31]

Tôi nghĩ rộng hơn rằng ai ai cũng có một Urna thiên nhiên, vì Trời đã tạo cho mọi người một Nê Hoàn cung, nơi sở cư thường trú của Trời, theo nhiều đạo giáo, nhất là theo đạo Bà La Môn. Đó chính là bằng cớ chứng minh mọi người đều có một dòng dõi, sang cả, một định mệnh sang cả, miễn là giác ngộ được điều đó, thực hiện được lý tưởng đó … Đó cũng chính là vi chỉ của Huỳnh Đình kinh.

CHÚ THÍCH

[1] Kinh Dịch, quẻ Khôn, Văn ngôn, hào lục nhị.

[2] Huỳnh Đình xuất ư tiên thiên, tàng ư hậu thiên, bản vô hình tượng diệc vô danh tự, cưỡng nhi đồ chi giá cá O nhi dĩ. Cưỡng nhi danh chi Huỳnh Đình dã. 黃 庭 出 於 先 天, 藏 於 後 天, 本 無 形 象 亦 無 名 字, 強 而 圖 之 這 箇 O 而 已. 強 而 名 之 黃 庭 也. Lưu Nhất Minh 劉 一 明, Huỳnh Đình kinh giải 黃 庭 經 解, tr. 3.

[3] Nhân kỳ hồn nhiên sinh cơ, cố danh Huỳnh Đình. Nhân kỳ biến hóa bất trắc, cố vi chi Thần. Huỳnh Đình thể dã, Thần kỳ dụng dã. Nhất vật nhi nhị danh. Nho tu chi vi Đạo nghĩa chi môn, Thích tu chi vi Bất nhị pháp môn, Đạo tu chi vi Chúng diệu chi môn, hựu vi Huyền tẫn chi môn. Nhân kỳ vô hình vô tượng, cố đạo tổ dĩ chư cảnh chi thần hình dung kỳ Huỳnh Đình chi thần, sử nhân ư chư cảnh chi thần truy cứu kỳ Huỳnh Đình vô cảnh chi thần nhĩ. 因 其 渾 然 生 機, 故 名 黃 庭. 因 其 變 化 不 測, 故 謂 之 神. 黃 庭 體 也, 神 其 用 也. 一 物 而 二 名. 儒 修 之 為 道 義 之 門, 釋 修 之 為 不 二 法 門, 道 修 之 為 眾 妙 之 門, 又 為 玄 牝 之 門. 因 其 無 形 無 象, 故 道 祖 以 諸 景 之 神 形 容 其 黃 庭 之 神, 使 人 於 諸 景 之 神 追 究 其 黃 庭 無 景 之 神 耳. Lưu Nhất Minh 劉 一 明, Huỳnh Đình kinh giải 黃 庭 經 解, tr. 3.

[4] Nam Hoa kinh 南 華 經, Tề vật luận 齊 物 論.

[5] Từ Viên Tiên Sư Chân Kinh, Bảo thiên xã kinh khan. Tỉnh thành Học viện Tiền Tụ kinh đương tàng bản, Quang tự thập thất niên 1801, tr. 39a.

[6] Như trên, tr. 37a.

[7] Theo thuyết xưa, trời đất cách nhau 84000 dặm, và thiên địa gian, hay thiên địa chi tâm ở giữa (xem Tính Mệnh Khuê Chỉ q. Nguyên, tr. 10b nơi hình Trung tâm đồ 中 心 圖) 3, 5, 9, 6 là các con số trong Hà đồ, Lạc thư…

[8] Bài thơ này trích trong Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 11, chương An Thần Tổ Khiếu 安 神 祖 竅.

[9] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, q. Hanh, tr. 11a.

[10] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, q. Hanh, tr. 11a.

[11] Vụ Thành Tử, Huỳnh Đình kinh, tr. 3b.

[12] Doãn chân nhân 尹 真 人, Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, q. Hanh, tr. 9b.

[13] «Le groupement ou la subdivision des unités sociales (chez les Celtes) ne se fait pas au hasard, constate H. Hubert, mais sur une sorte de rythme ou de loi numerique. De là vient la conception toute idéale des cinq royaumes d’Ulster, Connaught, Leinster et Munster, avec le royaume central de Meath contenant l’Omphales, le nombril, le pays central, le point de divergence des grandes routes.» H. Hubert: Les Celtes depuis l’époque de Tène et la civilisation celtique, Paris 1932, p. 270-271. Louis Lallemand, La Vocation de l’Occident, p. 23.

       Celte formule quaternaire semble avoir été l’application d’une loi universelle d’après laquelle quatre modalités d’existence ou d’expression seraient nécessaires pour traduire selon l’espace et le temps, un principe spirituel. Les aspects multiples en les quels se refracte ici bas, la plénitude ineffable des réalités qui transcendent ce monde de la division, peuvent en règle générale, être en effet ramenés dans chaque cas à quatre representations fondementales: ainsi les quatre animaux de la vision d’Ezechiel, ou les quatre fleuves en lesquels il est dit qu’au Paradis terrestre se partage la source des eaux vives. C’est là l’un des sens symboliques de la croix, et la vérité que les pythagoriciens ont révérée dans la «tétractys» sacrée, tenant quatre pour le nombre de la création.

       … C’est ainsi que le message du Christ a été transcrit en quatre évangiles selon saint Jean, saint Matthieu, saint Marc et saint Luc, dont les différences de nature ont été symbolisées par l’aigle, l’homme, le lion et le boeuf. Saint Irénée, auquel remonte cette correspondance établie entre les évangélistes et les animaux, d’Ezechiel, la relie d’ailleurs expressément (Adversus Hoeréses III-II-8) aux quatre régions du monde où nous sommes et aux quatre vents principaux. Au surplus; saint Thomas d’Aquin, Dante, et bien d’autres soutiennent que tout texte inspiré, c’est-à-dire traduisant en mode humain les vérités surnaturelles, possède quatre sens. Du même point de vue, on peut observer que toutes les cosmogonies anciennes présentent le monde comme constitué de QUATRE éléments: le feu, l’air, l’eau et la terre. La «quintessence» qu’elles considèrent en outre, n’est pas un cinquième élément à proprement parler; elle appartient à un ordre de réalités-subtil, intermédiaire entre l’esprit et la matière, et c’est en quelque sorte, la matière première immatérielle de la création, contenant unis dans l’indistinction originelle, les principes des quatre éléments.

        D’une manière générale la quintessence symbolise la pure réalité spirituelle par rapport à ses traductions quaternaires, entachées des servitudes d’expression ou d’incarnation. C’est par exemple le Christ, Verbe divin, par rapport aux évangélistes, témoins inspirés participant de sa lumière. La quintessence n’est pas un symbole, elle a sa réalité propre encore qu’insaisissable aux sens humains. Il semble qu’ainsi l’Apocalypse représente la quintessence des Evangiles. Quant à la loi du quaternaire dans le temps il suffit de rappeler ici les quatre âges de l’humanité, les quatre époques de la vie humaine, les quatre saisons de l’année. (Sđd. 23-24).

[14] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 9a.

[15] Xem Ngũ Chân Nhân Đan Đạo Cửu Thiên, phần hậu bạt; Xướng Đạo Chân Ngôn, quyển 3, tr. 20a.

[16] Như trên.

[17] Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 164.

        Ngọc Chân tiên sinh vị Trung hoàng vi đan quýnh, thị bát phương tổng hội xứ, tức sở vị Trung cung, Huỳnh Đình, Huyền tẫn, Tiên thiên nhất khí, Huyền quan nhất khiếu, sở vị Chỉ ư chí thiện dã. Dĩ trung chỉ tiết văn vi tắc, tề (thận) chi thượng tam thốn lục phân, kỳ trung nhất thốn tam phân xứ, nãi Huỳnh Đình dã. 玉 真 先 生 謂 中 黃 為 丹 扃, 是 八 方 總 會 處, 即 所 謂 中 宮, 黃 庭, 玄 牝, 先 天 一 氣, 玄 關 一 竅, 所 謂 止 於 至 善 也. 以 中 指 節 文 為 則, 臍 (腎 ) 之 上 三 寸 六 分, 其 中 一 寸 三 分 處, 乃 黃 庭 也.

[18] Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 29. Căn giả hà? tề nội không xứ dã. Tề nội không xứ tức Huỳnh Đình dã. 根 者 何? 臍 內 空 處 也. 臍 內 空 處 即 黃 庭 也.

[19] Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh 黃 庭 內 景, tr. 1a.

[20] Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh 黃 庭 內 景, 3b.

[21] Dục đắc trường sinh, tiên tu cửu thị. Cửu thị ư Thượng đan điền tắc Thần trường sinh; cửu thị ư Trung đan điền, tắc Khí trường sinh; cửu thị ư Hạ đan điền, tắc Hình trường sinh. Phù nhật nguyệt chi chiếu vu thiên địa gian, loa bạng hấp chi tắc sinh châu ngọc, ngoan thạch súc chi tắc sản ngọc. Hà huống nhân thân hữu nhật nguyệt khởi bất năng hồi quang nội chiếu, kết tự kỷ chi trân châu, sản tự kỷ chi mỹ ngọc tai? 欲 得 長 生, 先 修 久 視. 久 視 於 上 丹 田 則 神 長 生; 久 視 於 中 丹 田, 則 氣 長 生; 久 視 於 下 丹 田, 則 形 長 生. 夫 日 月 之 照 于 天 地 間, 螺 蚌 吸 之 則 生 珠 玉, 頑 石 畜 之 則 產 玉. 何 況 人 身 自 有 日 月 豈 不 能 回 光 內 照, 結 自 己 之 珠 產 自 己 之 美 玉 哉? Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, quyển Hanh, tr. 15a, chương Trập tàng khí huyệt 蟄 藏 氣 穴.

[22] Huỳnh Đình giả tại đầu trung. Minh đường, Động phòng, Đan điền, thử tam xứ thị dã. Lưỡng mi gian, khước nhập nhất thốn vi Minh đường, nhị thốn vi Động phòng, tam thốn vi Đan điền. Thử tam xứ vi Thượng nguyên. Nhất dã… Cố tri Nhất giả, tại Minh đường nhất xứ dã黃 庭 者 在 頭 中 明 堂, 洞 房, 丹 田, 此 三 處 是 也. 兩 眉 間, 卻 入 一 寸 為 明 堂, 二 寸 為 洞 房, 三 寸 為 丹 田. 此 三 處 為 上 元. 一 也… 故 知 一 者, 在 明 堂 一 處 也. Lương Khưu Tử chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr.1a.

[23] Xem Đạo Học Từ Điển 道 學 辭 典 nơi các chữ Tu thân, Tu luyện, Trường sinh bất lão, lý khí hình, Hình khí chất, Đạo giáo, Dưỡng sinh, Dưỡng mệnh, Dưỡng hình, Dưỡng tâm… Xem Tiên Học Từ Điển 仙 學 辭 典, nơi các chữ: Tính học mệnh học, Tính mệnh căn nguyên, Nhân tâm, Đạo tâm, Hạ, Trung Thượng đan điền, Tam cốc, Tam cung, Tam điệp, Hạ đức, Thượng đức, Bản mệnh, Tận tính, Liễu mệnh, Điều tức, Điều thần.

[24] Xem Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 266-267, tr. 243-278. Trang 293 ghi: Cổ tiên vân: Ngọc dịch luyện kỷ dĩ liễu tính. Nhiên hậu Kim dịch dĩ liễu mệnh. 古 仙 云: 玉 液 鍊 己 以 了 性. 然 後 金 液 以 了 命.

      – Hoàng Hạc Phú Chân Bản 黃 鶴 賦 真 本 tr. 17 giải hai câu trên như sau: Ngọc dịch chỉ thần khí, Kim dịch hay Kim ba chỉ tinh, huyết. Thần khí có thể thông tính thiên, Tinh huyết có thể dưỡng thân mệnh. 玉 液 指 神 氣. 金 液 (金 波) 指 精 血. 神 氣 可 以 通 性 天. 精 血 可 以 養 身 命. Lữ Động Tân Thuần Dương Tử 呂 洞 賓 純 陽 子, Hoàng Hạc Phú Chân Bản 黃 鶴 賦 真 本, Chân Thiện Mỹ xb, Đài Bắc 1960, tr. 17.

      – Triệu Tị Trần 趙 避 塵, Tính Mệnh Pháp Quyết Minh Chỉ 性 命 法 訣 明 指 nơi tr. 1b q. 2, có ghi: «Tính giả tâm dã,… Mệnh giả hình dã.» 性 者 心 也… 命 者 形 也.

      – Xem Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Lợi tr. 8b, q. Nguyên tr. 13b, và 12b, 12a.

[25] Tử Hà Hàm Hư Tử chú, Huỳnh Đình Nội Ngoại cảnh, nơi tr. 1, quyển Hậu thiên quán thuật 後 天 串 述.

[26] N’oublions pas qu’en Orient et depuis la plus haute antiquité, le nombril avait une signification sacrée et symbolisait non seulement le centre, comme le fameux «ombilic de la terre» que l’on situe encore en Russie, sur le Saint Sépulcre de Jérusalem, mais aussi une source de ravitaillement physique et spirituel.

       Thiên Chúa giáo thường thờ trái tim Chúa và Đức Mẹ, các ảnh tượng đúng đều lấy Tâm làm cứ điểm (xem Léon Sprink, L’Art sacré en Occident et en Orient, p. 46-58.

       Trong quyển A Search for the Truth của Ruth Montgoméry, tác giả cho rằng nơi bụng dưới có một từ trường. Nó tung hỏa sinh lực ra châu thân. Nếu người có nhân điện mạnh đặt tay vào nơi đó, có thể tăng từ điện lực cho bệnh nhân và nhân đó chữa được bệnh. Ta thấy viết: «By placing his fingers over nerves relay in the lower abdomen a human current is transmitted throughout the body…» (tr. 173) «… The lungs draw in the energy, but the magnetic field must draw the energy from the lungs in order to radiate it through the body. Everything is centered in the belly.» (p. 175)

[27] Walter T. Foster, Anatomy for Students and Teachers, Foster Art Service Inc. 430 W. 6th Street, Tustin California.

[28] Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, chương 1, tr. 2a.

[29] Léon Sprink, L’Art sacré en Occident et en Orient, p. 32.

[30] Sđd., tr. 45, 46, 47.

[31] Sđd., tr. 45.

——————————-

CHƯƠNG 4

Nội dung chính yếu của Huỳnh Đình

1. Tư tưởng then chốt thứ 1 của Huỳnh Đình:

– Đâu là tâm điểm con người?

– Đâu là Linh Đài, Tổ Khiếu, Huỳnh Đình?

– Tâm điểm con người, Huỳnh Đình thực sự là Nê Hoàn cung

2. Tư tưởng then chốt thứ 2 của Huỳnh Đình:

– Trong con người có đủ các tầng trời.

– Chư thần, đều có đủ trong con người.

– Các vị tối thượng thần đều ở trong các xoang não con người.

3. Tư tưởng then chốt thứ 3 của Huỳnh Đình:

Đời sống đạo hạnh chân chính phải là một đời sống toàn diện viên mãn. Muốn được thế, Huỳnh Đình dạy:

* Tiết dục

* Án ma, đạo dẫn.

* Yết tân.

* Vận khí, điều tức.

* Thích ứng với hoàn cảnh.

* Nội quan phản chiếu.

* Điềm đạm, vô vi, vô dục.

* Quán tưởng thần minh.

Công trình tu luyện tóm lại là:

* Bảo tinh, hàm khí, dưỡng hình.

* Luyện hồn phách.

Kết quả:

* Nạn tai tiêu, tật bệnh thuyên, phản lão hoàn đồng

* Tâm hồn an lạc thanh sảng.

* Phối Thiên.

1. Tư tưởng then chốt thứ nhất của Huỳnh Đình:

Theo tôi, tư tưởng then chốt nhất của Huỳnh Đình vẫn là: Đâu là tâm điểm con người? Đâu là Linh đài? Đâu là Tổ khiếu? Đâu là Huỳnh Đình?

Tuy Huỳnh Đình không chủ trương hai năm rõ mười rằng: Huỳnh Đình là Nê Hoàn cung, nhưng trong kinh đã dành nhiều nơi để nói về tầm quan trọng của não bộ, của các xoang não và của Nê Hoàn. Ta dùng Huỳnh Đình kinh để chứng minh. Huỳnh Đình Nội Cảnh dùng cả chương 7 để nói về Nê Hoàn:

Nê Hoàn bách tiết giai hữu thần

泥 丸 百 節 皆 有 神

Não thần Tinh Căn, tự Nê Hoàn

腦 神 精 根 字 泥 丸

Nhất diện chi thần tông Nê Hoàn

一 面 之 神 宗 泥 丸

Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng

泥 丸 九 真 皆 有 房

Phương viên nhất thốn xứ thử trung

方 圓 一 寸 處 此 中

Đồng phục tử y, phi la thường

同 服 紫 衣 飛 羅 裳

Đản tư nhất bộ, thọ vô cùng

但 思 一 部 壽 無 窮

Phi các biệt trú, cư não trung

非 各 別 住 居 腦 中

Liệt vị thứ tọa hướng ngoại phương

列 位 次 坐 向 外 方

Sở tồn tại tâm tự tương đương.

所 存 在 心 自 相 當

Lược dịch:

Nê Hoàn bách tiết đều có thần …

Não thần Tinh Căn, tự Nê Hoàn …

Chư thần nơi mặt thuộc Nê Hoàn.

Nê Hoàn cửu chân đều có phòng.

Vuông tròn một tấc tại não trung,

Áo tía, quần là, đều rỡ ràng.

Tồn tư Cửu Chân, thọ vô cương,

Cửu thần đều ngự tại não xoang,

Ngồi theo thứ tự hướng ngoại phương,

Thu tồn nhất tâm, thần bất vương …

Nơi chương 21 có câu:

Bảo ngã Nê Hoàn tam kỳ linh,

保 我 泥 丸 三 奇 靈

Điềm đạm nhàn quan nội tự minh,

恬 淡 閑 觀 內 自 明

Tạm dịch:

Giữ cho Nê Hoàn vẹn Tam linh,

Điềm đạm, hồi quang, lòng quang minh. [1]

Nơi chương 17 có câu:

Động phòng, tử cực, linh môn hộ,

洞 房 紫 極 靈 門 戶

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả.

是 昔 太 上 告 我 者

Tạm dịch:

Động phòng, tử cực có cửa linh,

Nơi xưa Thái Thượng dạy ta đó …

Suy ra thì ở Nê Hoàn cung, có chư vị tối thượng thần ngự trị; Nê Hoàn cung gồm đủ tam bảo, tam kỳ linh, trong con người, là tinh, khí, thần. Nê Hoàn cung chính là nơi mà Thượng Đế thường hàn huyên, dạy dỗ con người trong thầm lặng …

Tác giả Huỳnh Đình, trong một lúc xuất thần đã thấy Thần trời đất ngự vào Nê Hoàn mình. Nơi chương 19 tác giả viết:

Vấn thùy gia tử tại ngã thân,

問 誰 家 子 在 我 身

Thử nhân hà xứ nhập Nê Hoàn.

此 人 何 處 入 泥 丸

Dịch:

Thân ta thử hỏi kìa ai ngự,

Người đó đi sao vào Nê Hoàn?

Nơi chương 21, tác giả lại viết:

Quỳnh thất chi trung bát tố tập,

瓊 室 之 中 八 素 集

Nê Hoàn phu nhân đương trung lập.

泥 丸 夫 人 當 中 立

Dịch:

Trong não xoang ta, thần khí tụ,

Trong Nê Hoàn ta, thượng thần ngự …

Huỳnh Đình Ngoại Cảnh nơi chương 6 có câu: «Tử dục bất tử tu Côn Lôn.» 子 欲 不 死 修 崑 崙 (Bạn muốn trường sinh, tu Côn Lôn.) Mà Côn Lôn chính là nơi cao trọng nhất trong đầu não con người ….

Đọc các bản bình giải Huỳnh Đình kinh của người xưa, nhất là của Tử Hà, Hàm Hư Tử, ta càng thấy giá trị siêu việt của Nê Hoàn cung. Ví như ở nơi chương 1, Huỳnh Đình Nội Cảnh, khi giải thích câu: «Tụng quá vạn biến thăng tam thiên», Tử Hà chân nhân giải: Tam thiên là Tam thanh. Thăng Tam thiên là từ Hạ Đan Điền, lên Thượng Đan Điền, từ Thái thanh lên Ngọc thanh vậy. Đạo thông lên đến Nê Hoàn sẽ thoát ly khổ hải, thiên tai có thể tiêu, vạn bệnh có thể trừ….[2]

Thế tức Trời và người đều có Tam thanh 三 清:

TRỜI 
NGỌC THANH 玉 清
THƯỢNG THANH 上 清
THÁI THANH 太 清 

NGƯỜI
NÊ HOÀN 泥 丸
GIÁNG CUNG 絳 宮
HẠ ĐAN ĐIỀN 下 丹 田

 Tính Mệnh Khuê Chỉ nơi chương Càn Khôn giao cấu đồ 乾 坤 交 媾 圖, cũng dùng các cung trời mà đặt tên cho Nê Hoàn cung, ví như gọi Nê Hoàn cung là: Tử phủ 紫 府, Thiên đình 天 庭, Thiên đường 天 堂, Thiên cung 天 宮, Thượng thiên quan 上 天 關, Liêu thiên 寥 天, v.v…

Trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh Tử Hà chân nhân chú nơi chương 7, và trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh Vụ Thành tử chú nơi chương 17, ta thấy hai nhà bình giải đều mô tả một cách hết sức tỉ mỉ 9 cung của đầu não. Cả hai cách đều chủ trương đại loại như sau:

Cách điểm giữa hai làn mi, đi vào:

– 1 tấc là Minh đường 明 堂

– 2 tấc là Động phòng 洞 房

– 3 tấc là Nê hoàn 泥 丸

– 4 tấc là Lưu châu cung 流 珠 宮

– 5 tấc là Ngọc đế cung 玉 帝 宮

– Trên Minh đường 1 tấc là Thiên đình 天 庭

– Trên Động phòng 1 tấc là Cực chân 極 真

– Trên Nê Hoàn 1 tấc là Huyền đan 玄 丹

– Trên Lưu Châu 1 tấc là Thiên hoàng 天 皇

Lối trình bày trên của hai nhà bình giải không làm nổi bật lên được vị trí trung ương của Nê Hoàn, cũng như không làm nổi bật lên cái diệu lý của Cửu cung bát quái.

Vì thế nên, tôi dựa vào câu của sách Kim Đan Đại Thành 金丹 大成: «Đầu hữu cửu cung, trung hữu Nê Hoàn.» 頭有九宮中有泥丸.

Và câu của sách Đại Đỗng Chân Kinh 大 洞 真 經: «Nhân đầu hữu cửu cung, do thiên hữu cửu tiêu.» 人 頭 有 九 宮 猶 天 有 九 宵 (tr. 7a)

Và các hình vẽ của Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 nơi Phổ chiếu đồ 普 照 圖 và Nội chiếu đồ 內 照 圖 (quyển Nguyên 8b, 9a)

Phổ chiếu đồ

Nội chiếu đồ

Để trình bày lại 9 cung như sau:

Thiên đình
天 庭 
Cực chân
極 真 
Huyền đan
玄 丹
Minh đường
明 堂 
Nê Hoàn
泥 丸 
Thiên hoàng
天 黃   
Động phòng
洞 房 
Lưu châu
流 珠 
Ngọc Đế
玉 帝

Trình bày theo lối này, đầu con người sẽ tương ứng với:

– Cửu cung bát quái 九 宮 八 卦.

– Cửu dã 九 野, cửu cung trên trời.

– Cửu Châu 九 州 dưới đất.

Và ta sẽ hiểu tại sao lại gọi đầu là Kiền đỉnh 乾 鼎.

Sách Tiên Học Từ Điển bình về chữ Đỉnh 鼎 như sau: «Chữ Đỉnh 鼎 bên ngoài có 8 góc, biểu hiệu 8 phương, ở giữa có chữ Mục目(mắt). Tám phương tượng trưng cho lò bát quái, chữ Mục bên trong tượng trưng cho cái Đỉnh. Tám phương cộng với trung ương là 9. Cho nên gọi là cửu đỉnh 九 鼎. Đầu là Đỉnh 鼎, bụng là Lô 爐. Giữa là đầu gọi là Nê Hoàn 泥 丸. Thần mục 神 目 ở tại trung điểm hai con mắt. Thần ngự Nê Hoàn, đều là nghĩa đó …» [3]

Đặt Nê Hoàn thần 泥 丸 神 vào giữa, Bát cảnh thần 八 景 神 chầu quanh, tức cũng nói lên được thể dụng 體 用 của Huỳnh Đình. Thật vậy, Tử Hà chân nhân viết trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh (tr. 4a) như sau:

Nhất thần chính vị nhi trung lập,

一 神 正 位 而 中 立

Vạn thần triều củng nhi hoàn trần.

萬 神 朝 拱 而 環 陳

Huỳnh Đình chi thể dụng bị hĩ.

黃 庭 之 體 用 備 矣

Dịch:

Một thần ngự giữa nơi chính vị,

Chư thần chầu quanh thành vòng tròn.

Đó là thể dụng của Huỳnh Đình.

Phối kiểm quan điểm của Huỳnh Đình kinh về Nê Hoàn cung, với quan điểm của nhiều đạo gia danh tiếng khác, chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng Nê Hoàn 泥 丸 tức là Thiên cốc 天 谷, là sở cư của Cốc Thần 谷 神, là tòa ngôi của Ngọc Hoàng Thượng Đế 玉 皇 上 帝, là Thiên khu bất động giữa hoàn vũ biến thiên, là Chân tâm, là chỗ hội tụ hỗn hợp của vạn linh, là cứ điểm phóng xuất và chỉ huy của Ngũ khí trong con người.

Trương Tử Dương 張 紫 陽 – tác giả Ngộ Chân Thiên 悟 真 篇 – viết: «Chân tâm 真 心 vốn chẳng là vật gì, nó đồng nhất với Thái hư 太 虛. Muốn kết hợp với chí đạo, phải hiểu biết bản tâm, phải biết quán tâm 觀 心 (nhìn vào tâm). Tâm đây không phải là nhục tâm 肉 心, mà là Chân tâm. Chân tâm ở trung tâm não bộ.»

Thiên Phong Lão Nhân 千 峰 老 人 – tác giả Tính Mệnh Pháp quyết minh chỉ 性 命 法 訣 明 指 – chủ trương đại khái rằng Trung Tâm, não bộ con người hàm chứa Chân tính, đó là Tổ khiếu. Từ trung tâm đó phát ra hai tiểu quản thông ra đồng tử hai con mắt. Như vậy cũng có thể nói được rằng: Tổ khiếu ở Trung tâm điểm hai con mắt.[4]

Tính Mệnh Khuê Chỉ nơi chương Càn Khôn giao cấu, khử khoáng lưu kim 乾 坤 交 媾 去 礦 留 金 có dành hơn một trang để bình về Nê Hoàn cung với những lời bất hủ. Đại khái, Tính Mệnh Khuê Chỉ cho rằng Nê Hoàn cung là nơi:

– Huyền trung chi huyền             
玄 中 之 玄

– Thiên trung chi trung               
天 中 之 中

– Uất la, Tiêu đài                         
鬱 羅 蕭 臺

– Ngọc sơn, Thổ kinh,                 
玉 山 土 京

– Não huyết chi quỳnh phòng,   
腦 血 之 瓊 房

– Hồn tinh chi ngọc thất,             
魂 精 之 玉 室

– Bách linh chi mệnh trạch         
百 靈 之 命 宅

– Chân Nhất Nguyên thần sở cư chi thất.
真一元神所居之室

Nơi đó Đạo chân nhất 真 一 đã được cất giấu. Và chương này đã được kết bằng câu: «Hỗn bách linh ư Thiên cốc; Lý ngũ khí ư Nê Hoàn.» 混 百 靈 於 天 谷 , 理 五 氣 於 泥 丸.

Nê Hoàn như vậy chính là nơi: Đông tây hội hợp, nam bắc hỗn dung 東 西 會 合 南 北 混 溶.[5]

Khưu Xử Cơ 邱 處 機 (1147-1227) có thơ:

Cửu thị Côn Lôn thủ Chân nhất,

久 視 崑 崙 守 真 一

Thủ đắc Ma ni viên hựu xích

取 得 摩 尼 圓 又 赤

Thanh hư hạo khoáng Đà La Môn,

清 虛 浩 曠 陀 羅 門

Vạn phật, thiên tiên tòng thử xuất …

萬 佛 千 仙 從 此 出

Dịch:

Cửu thị Côn Lôn gìn Chân Nhất,

Nắm được Ma Ni đỏ lại tròn.

Đà La cửa mở thênh thang,

Thiên tiên vạn phật cũng toàn đó ra…

Sách Nhập Dược Kính 入 藥 鏡 có thơ:

Nê Hoàn nhất khiếu đạt thiên môn,

泥 丸 一 竅 達 天 門

Trực thượng Hư Hoàng, Ngọc đế tôn,

直 上 虛 皇 玉 帝 尊

Thử thị chân nhân lai vãng lộ,

此 是 真 人 來 往 路

Thời thời khóa hạc khứ triều nguyên.[6]

時 時 跨 鶴 去 朝 元

Để xác định lại một lần nữa tầm quan trọng siêu việt của Nê Hoàn cung trong công cuộc tu thân, tôi xin viện dẫn thêm ít nhiều tư tưởng của Tử Hà Chân nhân.

Khi bình câu: «Vịnh chi vạn quá thăng tam thiên» 詠 之 萬 過 昇 三 天, nơi chương 1, Huỳnh Đình Nội Cảnh, Tử Hà viết: «Đạo thông Nê Hoàn thời thoát ly khổ hải» (Đạo thông Nê đan, thoát ly khổ hải) 道 通 泥 丹 脫 離 苦 海 (tr. 4b).

Khi bình câu: «Tuyền ki ngọc hành sắc lan can» 璇 璣 玉 衡 色 蘭 玕 nơi chương 19, Tử Hà viết: «Chuyển đan lên đến đỉnh đầu, lấy hư luyện hư, đó chính là cực phẩm thần tiên.» (Phù di đan đỉnh thượng, dĩ hư luyện hư, nãi thần tiên cực phẩm) 夫 移 丹 頂 上 以 虛 鍊 虛 乃 神 仙 極 品 (tr. 32a).

Khi bình câu: «Cao củng vô vi hồn phách an» 高 拱 無 為 魂 魄 安 nơi chương 23, Tử Hà viết: «Tập chư thần về Nê Hoàn, ngồi nghiêm chỉnh vô vi, thời chư thần sẽ nghe mệnh lệnh.» (Tập chư thần ư Nê Hoàn, cao cao tại thượng, đoan củng vô vi, tắc chư thần thính lệnh.) 集 諸 神 於 泥 丸 , 高 高 在 上 , 端 拱 無 為 , 則 諸 神 聽 令 (tr. 41b)

Tử Hà còn cho rằng Nê Hoàn cung ở giữa chín cung đầu não, cũng y như Thái cực ở trung cung bát quái, Thái nhất ở giữa Cửu cung. Nơi đó hàm tàng chí bảo, và muốn tìm Nguyên thần, phải tìm nơi tâm điểm Ngũ hành.

Nơi trang 28a, khi bình câu: «Ngũ linh dạ chúc hoán bát khu» 五 靈 夜 燭 煥 八 區, chương 16, Tử Hà viết: «Bát quái khí trung tàng chí bảo; Ngũ hành quang lý ẩn Nguyên thần.» 八 卦 氣 中 藏 至 寶 五 行 光 裏 隱 元 神.

Hoàng Nguyên Cát 黃 元 吉, sống vào khoảng các đời vua Nguyên Anh Tông 元 英 宗 (1321-1324) Nguyên Thái Định Đế 元 泰 定 帝 (1324-1328), đã viết: «Người ta đầu có chín cung, ở giữa có một nơi, gọi là Thiên cốc, thanh tĩnh không vương bụi trần; Nếu đem được Nguyên thần vào an ngự nơi đó, không phát tán ra ngoài, thời thành tiên, thành thánh. Huỳnh Đình kinh nói: “Nếu bạn muốn bất tử, hãy tu Côn Lôn.” Mới hay Thiên cốc thật là vô cùng huyền diệu vậy.» [7]

2. Tư tưởng then chốt thứ hai của Huỳnh Đình:

Tư tưởng then chốt thứ hai mà Huỳnh Đình nêu ra chính là:

a. Trong con người, có đủ các tầng trời.

b. Chư thần vạn thánh đều có đủ trong con người, các vị tối thượng thần đã có sẵn trong đầu não con người.

Nơi chương 7 chẳng hạn, chúng ta đọc thấy: «Nê Hoàn, bách tiết giai hữu thần.» 泥 丸 百 節 皆 有 神.

Hai tư tưởng then chốt trên đã được Tử Hà chân nhân làm nổi bật lên trong những lời bình luận nơi chương nhất của Huỳnh Đình do ông chú giải. Những lời bình giải của ông có thể thâu tóm lại như sau:

– Thoạt kỳ thủy có một bản thể duy nhất. Bản thể duy nhất ấy có thể được gọi bằng những danh hiệu như: Tiên thiên nhất khí 先 天 一 氣, Tiên thiên nhất khí Thái thượng Lão quân 先 天 一 氣 太 上 老 君, Lão quân 老 君, Đạo khí 道 氣, Hỗn độn Thái vô chi nguyên khí 混 沌 太 無 之 元 氣.

Một khí ấy hóa sinh: Tam thanh 三 清, Tam cảnh 三 景, Tam bảo 三 寶, Tam nguyên 三 元, Tam quân 三 君, tức là các cung trời và các vị Thượng thần cai quản các cung trời ấy. Ta có đồ bản sau:

TAM THANH   TAM CẢNH   TAM NGUYÊN   TAM BẢO, TAM QUÂN
Ngọc thanh   Thánh cảnh   Nguyên thủy   Thiên bảo quân
Thượng thanh   Chân cảnh     Ngọc thần      Linh bảo quân
Thái thanh      Tiên cảnh      Đạo đức       Thần bảo quân

Thế tức là:

Ở Ngọc Thanh thánh cảnh có đức Nguyên thủy Thiên Bảo quân.

Ở Thượng Thanh Chân Cảnh có đức Ngọc Thần Linh Bảo quân.

Ở Thái Thanh Tiên cảnh có đức Đạo đức Thần Bảo quân.

Ở trên trời có Tam Thanh, thì ở nơi con người cũng có Tam thanh: Ngọc Thanh là Nê Hoàn, Thượng Thanh là Giáng cung, Thái thanh là Hạ đơn điền.

Huỳnh Đình kinh nơi chương nhất viết: «Đức Hư Hoàng (Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân) viết kinh này nơi cung Thái Thanh. Tử Hà chân nhân giải thích là: Kinh này là do Nguyên thần con người viết ra trong Cung Thái thanh, tức là trong tâm hồn con người…» [8]

Thiết tưởng cũng nên ghi lại ít lời theo nguyên văn của Tử Hà. Nơi trang 2b, Tử Hà viết: «Ba tầng trời, nơi con người tức là Tam đan điền. Nê Hoàn là Ngọc Thanh. Giáng cung là Thượng Thanh. Đan điền là Thái Thanh.» [9]

Nơi trang 3a, Tử Hà giải: «Hư hoàng là Ngọc Hoàng … Ngọc Hoàng nơi con người ví như Nguyên thần nơi Giáng cung. Huỳnh Đình nơi câu thứ nhất nói: Thượng thanh Tử Hà Hư Hoàng tiền … Cho nên Thượng thanh chính là Linh khí ở trong tâm chúng ta. Hư Hoàng chính là Nguyên thần trong tâm chúng ta …» [10]

Tử Hà chân nhân còn có cái ý tứ rất tế nhị này nữa, là ông muốn chúng ta không được dừng chân nơi đa tạp, dẫu cái đa tạp ấy là Tam thanh, Tam cảnh, Tam bửu, Tam thần. Ông khuyến cáo chúng ta phải qui nhất.

Ông viết: «Người tu đạo, phải tìm nơi Tâm điểm mà ở, phải hợp Tam đơn lại làm một khối Hư vô, và phải lấy nơi vô trụ mà sinh tâm. Bởi vì Tam nguyên gốc vốn là một khí, Tam quân vốn là một Lão Quân.» [11]

Tôi thấy lời bình trên thực là tuyệt diệu: Chủ trương Nhất khí tán vạn thù 一 氣 散 萬 殊 để cắt nghĩa duyên do sinh vạn tượng, rồi lại chủ trương Vạn thù qui nhất thể 萬 殊 歸 一 體 để minh định phương pháp và mục đích công cuộc Tu trì.

3. Tư tưởng then chốt thứ ba của Huỳnh Đình:

Tư tưởng then chốt thứ ba của Huỳnh Đình chính là: Một đời sống đạo hạnh chân chính phải là một đời sống toàn diện, hoàn toàn viên mãn.

Mỗi khi ta nghĩa đến tiên thánh, ta liên nghĩ đến những bậc chân nhân linh sảng, đẹp đẽ, tươi vui, chứ không phải là những thân hình còi cọp, yếu đau, bệnh hoạn. Cũng như vậy, đạo Lão chủ trương thánh nhân, tiên nhân phải có:

– Thân hình khỏe mạnh,

– Tâm tư bình thản,

– Điềm đạm hư vô,

– Sống siêu thoát, hạnh phúc miên trường,

– Bạn bè cùng muôn thần vạn thánh …

Huỳnh Đình, một sách của Lão giáo, dĩ nhiên sẽ có những chủ trương tương tự. Chính vì vậy, mà Huỳnh Đình kinh dạy đủ mọi điều, từ thấp đến cao, từ hữu vi đến vô vi:

* Dạy đừng dâm dục, hao tinh, tổn khí:

Trường sinh chí thận phòng trung cấp. (ch.21)   
長 生 至 慎 房 中 急

Đản đương hấp khí, lục tử tinh. (ch.21)   
但 當 吸 氣 錄 子 精

Lưu thai, chỉ tinh, khả trường sinh. (ch.20)   
留 胎 止 精 可 長 生

Khí vong, dịch lậu, phi kỷ hình. (ch.21)   
氣 亡 液 漏 非 己 形

Cấp thủ tinh thất, vật vọng tiết. (ch.22)   
急 守 精 室 勿 妄 泄

Bế nhi bảo chi, khả trường hoạt. (ch.22)   
閉 而 寶 之 可 長 活

Tam quan chi trung, tinh khí thâm. (ch.18)   
三 關 之 中 精 氣 深

* Dạy phép án ma, dẫn đạo:

Thiên trung chi nhạc, tinh cẩn tu,   
天 中 之 嶽 精 謹 修

Vân trạch ký thanh, Ngọc đế du,   
雲 宅 既 清 玉 帝 遊

Thông lợi đạo lộ, vô chung hưu. (ch.6) [12]   
通 利 道 路 無 終 休

* Dạy phép nuốt ngọc dịch (nước bọt):

Thấu yết linh dịch, tai bất can. (ch.3)   
漱 咽 靈 液 災 不 干

Hàm thấu kim lễ, thôn ngọc anh. (ch.15)   
含 漱 金 醴 吞 玉 英

Chu điểu, thổ súc, bạch thạch nguyên. (ch.20)   
朱 鳥 吐 縮 白 石 源

* Dạy phép hô hấp, hàm khí, điều tức:

Hàm khí, dưỡng tinh, khẩu như chu. (ch.24)   
含 氣 養 精 口 如 朱

Hô hấp nguyên khí dĩ cầu tiên. (ch.20)   
呼 吸 元 氣 以 求 仙

Xuyễn tức, hô hấp, thể bất khoái. (ch.9)   
喘 息 呼 吸 體 不 快

Cấp tồn bạch nguyên hòa lục khí. (ch.9)   
急 存 白 元 和 六 氣

Điều lý ngũ hoa, tinh, phát, xỉ. (ch.34)   
調 理 五 華 精 髮 齒

* Dạy thích ứng với hoàn cảnh, với khí hậu hàn nhiệt bên ngoài, điều hòa khí huyết, vinh vệ bên trong:

Chủ thích hàn nhiệt, vinh vệ hòa. (ch.10)   
主 適 寒 熱 榮 衛 和

Điều huyết, lý mệnh, thân bất khô. (ch.10)   
調 血 理 命 身 不 枯

Khai thông bách mạch huyết dịch thủy. (ch.34)   
開 通 百 脈 血 液 水

Khả dĩ hồi nhan, điền huyết não. (ch.26)   
可 以 回 顏 填 血 腦

* Dạy nội quan phản chiếu:

Nội thị, mật phán, tận đổ chân. (ch.23)   
內 視 密 盼 盡 睹 真

Bế mục nội niệm, tự tương vọng. (ch.23)   
閉 目 內 念 自 相 望

Nội phán, trầm mặc luyện ngũ hình. (ch.35)   
內 盼 沉 默 鍊 五 形

* Dạy điềm đạm hư vô, vô vi, vô dục:

Cầm tâm tam điệp, vũ thai tiên. (ch.1)   
琴 心 三 疊 儛 胎 仙

Tán phát vô dục, tự trường tồn. (ch.36)   
散 髮 無 欲 自 長 存

Thanh khiết, hỉ khí tự minh quang. (ch.31)   
清 潔 喜 氣 自 明 光

Lục thần hợp tập, hư trung yên. (ch.27)   
六 神 合 集 虛 中 宴

Đới chấp tính mệnh, thủ hư vô. (ch.24)   
帶 執 性 命 守 虛 無

Cao củng vô vi, hồn phách an. (ch.23)   
高 拱 無 為 魂 魄 安

Hư vô tịch mịch, không trung tố. (ch.22)   
虛 無 寂 寞 空 中 素

Hồn phách nội thủ, bất tranh cạnh. (ch.16)   
魂 魄 內 守 不 爭 競

* Dạy phép quán tưởng thần minh:

Chí đạo bất phiền quyết tồn chân,   
至 道 不 煩 決 存 真

Nê Hoàn bách tiết giai hữu thần. (ch.7)   
尼 丸 百 節 皆 有 神

Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng,   
尼 丸 九 真 皆 有 房

Phương viên nhất thốn xứ thử trung,   
方 圓 一 寸 處 此 中

Đồng phục tử y, phi la thường,   
同 服 紫 衣 飛 羅 裳

Đãn tư nhất bộ, thọ vô cùng. (ch.7)   
但 思 一 部 壽 無 窮

*Mục đích tối hậu vẫn là:

Năng tồn huyền chân vạn sự tất,   
能 存 玄 真 萬 事 畢

Nhất thân tinh thần bất khả thất. (ch.25)   
一 身 精 神 不 可 失

*Huỳnh Đình bảo ta rằng muốn thành tiên thành thánh phải kiên tâm trì chí, phải tốn công phu:

Thị do tinh thành, diệc do chuyên. (ch.29)   
是 由 精 誠 亦 由 專

Tích công thành luyện, phi tự nhiên. (ch.29)   
積 功 成 鍊 非 自 然

* Công trình tu luyện, chung qui vẫn là:

– Bảo tinh, hàm khí, dưỡng hình:

Tích tinh, lũy khí dĩ vi chân. (ch.28)   
積 精 累 氣 以 為 真

Cấp thủ tinh thất vật vọng tiết.   
急 守 精 室 勿 妄 泄

Bế nhi bảo chi, khả trường hoạt. (ch.22)   
閉 而 寶 之 可 長 活

Hàm khí dưỡng tinh, khẩu như chu. (ch.24)   
含 氣 養 精 口 如 朱

Nhất thân tinh thần bất khả thất. (ch.25)   
一 身 精 神 不 可 失

– Luyện hồn phách

Cầm tâm. (ch.1)      琴 心

Huyền nguyên thượng nhất, hồn phách luyện. (ch.27)   
玄 元 上 一 魂 魄 鍊

Cao củng vô vi hồn phách an. (ch.23)   
高 拱 無 為 魂 魄 安

Hồn phách nội thủ bất tranh cạnh. (ch.16)   
魂 魄 內 守 不 爭 競

– Vô vi, thủ Hư vô, Chân nhất

Đới chấp tính mệnh, thủ Hư vô. (ch.24)   
帶 執 性 命 守 虛 無

Cao củng vô vi, hồn phách an. (ch.23)   
高 拱 無 為 魂 魄 安

* Công phu tu luyện ấy sẽ đem lại những kết quả sau:

– Nạn tai tiêu, tật bệnh thuyên, phản lão hoàn đồng, diên niên khang kiện:

Thiên tai dĩ tiêu, bách bệnh thuyên.   
千 災 以 消 百 病 痊

Bất đạn hổ lang chi hung tàn,   
不 憚 虎 狼 之 凶 殘

Diệc khước lão, diên vĩnh niên. (ch.1)   
亦 卻 老 延 永 年

Thần tiên cửu thị vô tai hại. (ch.9)   
神 仙 久 視 無 災 害

Sử nhân trường sinh thăng cửu thiên. (ch.12)   
使 人 長 生 昇 九 天

Nhan sắc sinh hoa, kim ngọc trạch,   
顏 色 生 華 金 玉 澤

Xỉ kiên phát hắc bất tri bạch. (ch.34)   
齒 堅 髮 黑 不 知 白

Não phát tương phù, diệc câu tiên. (ch.14)     
腦 髮 相 符 亦 俱 鮮

Diên ngã bạch đầu phản hài anh. (ch.20)   
延 我 白 頭 反 孩 嬰

– Và tâm hồn cũng sẽ được an lạc, thanh sảng:

Cao củng vô vi, hồn phách an. (ch.23)   
高 拱 無 為 魂 魄 安

Tâm ý thường hòa, trí hân xương. (ch.15)   
心 意 常 和 致 欣 昌

– Cao hơn một bậc nữa, chúng ta có thể cảm giác thấy thượng thần trời đất ngự vào tâm hồn mình, chư thần sẽ cùng bè bạn trò chuyện:

Thanh tĩnh, thần tiên dữ ngã ngôn. (ch.23)   
清 靜 神 仙 與 我 言

Vấn thùy gia tử tại ngã thân?   
問 誰 家 子 在 我 身

Thử nhân hà khứ nhập Nê Hoàn? (ch.19)   
此 人 何 去 入 尼 丸

Xích Đế, Hoàng Lão dữ ngã hồn.   
赤 帝 黃 老 與 我 魂

Tam chân phù tư cộng phòng tân. (ch.19)   
三 真 扶 胥 共 房 津

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả,   
是 昔 太 上 告 我 者

Tả thần công tử phát thần ngữ. (ch.17)   
左 神 公 子 發 神 語

Tử tồn Nội Hoàng dữ ngã du,   
子 存 內 皇 與 我 遊

Thân phi phượng y, hàm hổ phù,   
身 飛 鳳 衣 含 虎 符

Nhất chí bất cửu thăng hư vô. (ch.16)   
一 至 不 久 昇 虛 無

Hư trung điềm đạm tự trí thần. (ch.29)   
虛 中 恬 淡 自 致 神

– Cuối cùng tên tuổi sẽ được ghi vào tiên tịch, trường sinh cùng trời đất:

Trường sinh cao tiên viễn tử ương. (ch.13)   
長 生 高 仙 遠 死 殃

Tam hồn tự minh, Đế thư mệnh. (ch.16)   
三 魂 自 明 帝 書 命

Vịnh chi vạn biến, thăng tam thiên. (ch.1)   
詠 之 萬 遍 昇 三 天

Tử nhược ngộ chi thăng Thiên hán. (ch.6)   
子 若 悟 之 昇 天 漢

Sử nhân trường sinh, thăng cửu thiên. (ch.12)   
使 人 長 生 昇 九 天

Tư vịnh Ngọc thư nhập Thượng Thanh. (ch.21)   
思 詠 玉 書 入 上 清

Hành tự cao tường nhập Thiên lộ. (ch.22)   
行 自 翱 翔 入 天 路

– Nếu ta thực thi được những phương pháp mà kinh này chỉ dẫn, thì kinh này sẽ đúng là:

Thái thượng vi ngôn trí thần tiên,   
太 上 微 言 致 神 仙

Bất tử chi đạo, thử chân văn. (ch.36)   
不 死 之 道 此 真 文

CHÚ THÍCH

[1] Tử Hà Chân nhân giải Tam kỳ linh là tinh, khí thần. Ông viết: «Nê Hoàn vi Tinh, Khí, Thần tụ hội chi địa. Danh viết Tam kỳ linh.» 泥 丸 為 精 氣 神 聚 會 之 地. 名 曰 三 奇 靈. (Tử Hà chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, tr. 37b)

[2] Tử Hà Hàm Hư Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 4b.

[3] Đới Nguyên Trường 戴 源 長, Tiên Học Từ Điển 仙 學 辭 典, Chân Thiện Mỹ xb, Đài Bắc 1960, tr. 19. Chú: Thần mục 神 目cũng gọi là Thiên mục 天 目(xem Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ).

[4] Tính nãi trung tâm linh khí, phát ư não trung; nhị tiểu quản, thị nhãn thị chính trung… 性 乃 中 心 靈 氣, 發 於 腦 中; 二 小 管, 是 眼 視 正 中. (q. 1, tr. 2a, 2b) Lưỡng mục chi tâm trung, nội tắc thị Tổ khiếu… 兩 目 之 心 中 內 則 是 祖 竅 (q. 1, tr. 3b) Tính tại đại não trung nhân… 性 在 大 腦 中 仁 (q. 4, tr. 14b)

[5] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Lợi tr. 10a, 10b.

[6] Thôi Hi Phạm 崔 希 范, Nhập Dược Kính 入 藥 鏡, tr. 10b.

[7] Lý Lạc Cầu 李 樂 俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選, tr. 298

Nhân đầu hữu cửu cung, trung hữu nhất sở, danh viết Thiên cốc, thanh tĩnh vô trần. Năng tương Nguyên Thần an trí kỳ trung, hào bất ngoại trì, tắc thành chân chứng thánh, tức tại thị hĩ. Huỳnh Đình kinh vân: Tử dục bất tử tu Côn Lôn… Khả kiến thủ thử Thiên cốc, hữu vô hạn chi diệu uẩn dã. 人 頭 有 九 宮, 中 有 一 所, 名 曰 天 谷, 清 靜 無 塵. 能 將 元 神 安 置 其 中, 毫 不 外 馳, 則 成 真 證 聖, 即 在 是 矣. 黃 庭 經 云: 子 欲 不 死 修 崑 崙… 可 見 守 此 天 谷, 有 無 限 之 妙 蘊 也.

[8] Tử Hà chú, Huỳnh Đình kinh, chương 1, tr. 1a, 2a, 2b, 3a, 3b.

[9] Tam thiên giả, tại nhân tỉ Tam đan. Nê Hoàn vi Ngọc Thanh, Giáng cung vi Thượng Thanh, Đan điền vi Thái Thanh. 三 天 者, 在 人 比 三 丹. 泥 丸 為 玉 清, 絳 宮 為 上 清, 丹 田 為 太 清.

[10] Hư Hoàng giả, Ngọc Hoàng dã… Ngọc Hoàng trị sự. Tại nhân thân tỉ Giáng cung Nguyên thần dã. Huỳnh Đình đệ nhất cú viết: «Thượng Thanh Tử Hà Hư Hoàng tiền.» Cái Thượng Thanh vi tâm trung linh khí. Hư Hoàng vi tâm trung Nguyên thần… 虛 皇 者, 玉 皇 也… 玉 皇 治 事. 在 人 身 比 絳 宮 元 神 也. 黃 庭 弟 一 句 曰: 上 清 紫 霞 虛 皇 前. 蓋 上 清 為 心 中 靈 氣. 虛 皇 為 心 中 元 神…

[11] Tu đạo giả, cư trung nhi lập, hợp tam đan vi Nhất Hư vô, dĩ vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Do chi, tam nguyên bản ư nhất nguyên. Tam quân bản ư Nhất Lão quân dã. 修 道 者, 居 中 而 立, 合 三 丹 為 一 虛 無, 以 無 所 住 而 生 其 心. 猶 之, 三 元 本 於 一 元. 三 君 本 於 一 老 君 也. (tr. 2b)

[12] Xem phần bình dịch phía sau.

CHƯƠNG 5

Lược khảo về những lễ nghi trì tụng Huỳnh Đình

Có người đến được với Trời với Đạo bằng trí huệ, có người đến được với Trời với Đạo bằng niềm tin và lòng sùng tín.

Số người đến được với Đạo bằng trí huệ, dĩ nhiên là rất ít. Đối với những người có đại căn này, thì đọc kinh là hiểu nghĩa, coi kinh là phương tiện, và chẳng cần gì lễ nghi trì tụng.

Còn những người hạ căn, phải tin kinh, kính kinh, và nhờ niềm tin ấy, kinh như sẽ có một huyền lực hộ trì họ. Có lẽ chính vì vậy mà người xưa đã bao phủ Huỳnh Đình bằng nhiều lớp mây huyền thoại, bằng một bầu không khí huyền linh, màu nhiệm để tín đồ đặt hết niềm tin kính vào kinh. Khi đọc tất cả lễ nghi truyền thụ, cùng như trì tụng kinh Huỳnh Đình, tôi liên tưởng đến lời Chúa Jésus trong Phúc âm: «Nếu bạn có đức tin to bằng hạt cải, và bạn bảo cây dâu kia rằng: Ngươi hãy bật rễ lên, ra trồng lại ở ngoài biển, và nó sẽ vâng lời bạn.» (Luc. 17. 6)

Hay trong Phúc Âm thánh Marc: «Tôi nói thực cùng các bạn nếu có ai nói với trái núi này rằng: Ngươi hãy bật lên và hãy gieo mình xuống bể, và người đó không nghi ngờ gì trong lòng, và tin rằng những điều mình nói sẽ xảy ra, thì hắn sẽ được như ý.» (Marc 11, 23)

Mới hay đức tin là mạnh. Và trong ngũ đức, thì người xưa vẫn đặt chữ tín vào trung điểm. Mà lạ lùng thay, nhân loại xưa nay thường sống về niềm tin …

Xưa nay trong đạo Lão những người trì tụng Huỳnh Đình đều trì tụng kinh này với niềm tin sắt đá rằng mình sẽ trở thành thần tiên. Chính vì vậy mà xưa người ta luôn luôn chọn mặt gởi vàng.

Trước khi truyền kinh, họ quan hình sát sắc người đệ tử tương lai, và sau khi biết chắc chắn rằng người đó là người nhân từ, trung tín, yêu thích đời sống đạo hạnh, muốn đi tìm những điều huyền diệu, kính trọng thần minh, thầy mới truyền kinh cho trò và dạy cho biết áo nghĩa huyền vi của kinh.[1]

Khi thầy đã đồng ý truyền kinh cho trò, trò phải sửa lễ xin dâng cho thầy. Sau khi đã trai giới 9 hoặc 7 hoặc 3 ngày trò sẽ đem dâng cho thầy:

– 90 thước gấm huyền vân,

– 40 thước lụa là kim giản phụng văn.

– 9 cúc vàng.

Nếu nghèo thì có thể sửa lễ thanh đạm hơn như:

– Lụa mộc trắng

– Vải xanh

– Vòng vàng, nhẫn vàng v.v…

Thầy trò lập minh ước trước là không được tiết lộ bí quyết của Kinh cho ai, sau là thề hứa với Trời đất, với Thần minh. Một người được truyền kinh, có quyền truyền kinh cho 9 người khác.

Như vậy dĩ nhiên là Huỳnh Đình kinh xưa nay không được phổ biến. Và dù có được phổ biến chăng nữa, nhưng người đủ sức hiểu kinh chắc là cũng ít có ai. Kinh đã tam sao thất bản, lời bình thì nhiều khi hết sức bí ẩn, những bản dịch tiếng Việt thì đầy rẫy những sự sai thác, như vậy thì làm sao mà sử dụng được kinh cho hữu hiệu. Chính vì thế mà ở Việt Nam đã có những người coi Huỳnh Đình như là những bài thần chú, cứ tụng lên là âm thanh của kinh sẽ có huyền lực phác tác trên con người….

Lại cứ mỗi năm đến kỳ bát tiết 八 節 (Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí) trò phải đem dâng thày nhẫn vàng, và 9 thước lụa xanh. Thày ghi tên ngày sinh tháng đẻ, quận huyện của đệ tử vào miếng lụa đó, lên đỉnh núi cao, hướng về phía Bắc và tấu danh đệ tử lên Thanh Đế cung, và khai bẩm đại khái rằng: «Xin cửu phủ ngũ nhạc, tứ linh, nhớ cho những tên mà tôi đã trình tấu. Sau đây ba năm xin đến đón vi hình của họ, cho phép họ được lên Bát cảnh, lên Thượng đế đình. Khải tấu xong đem chôn giải lụa nơi triền núi.» [2]

Như vậy muốn tu theo Huỳnh Đình, người xưa cũng phải tốn nhiều tiền lắm. Thế là: không tiền âu cũng khó thành tiên. Có lẽ chính vì vậy mà nhiều đạo sĩ than vì nghèo, nên công phu tu luyện phải diên trì.

Quyển Huyền Diệu Cảnh 玄 妙 景 của Ly Trần Tử, Lý Xương Nhân, đã để cả một chương «Nội Ngoại Pháp, Tài, Lữ, Địa» 內 外 法 財 侶 地 để nói lên cái tâm tư đó. Ta đọc thấy cổ nhân xưa nói: «Muốn cầu báu trên trời, phải mượn của thế gian …» [3]

Cát tiên ông 葛 仙 翁 nói: «Ta được chân quyết từ 30 năm nay, chỉ vì không có tịnh thất và tiền của, nên khó liễu đạt được chí đạo.» [4]

Trương Tam Phong 張 三 丰 than:

Muốn cầu người ngoài giúp,

Chưa gặp được cao hiền,

Hoài bão thiên cơ mấy mươi niên …

Lại tiếp:

Không tiền khó tu luyện,

Không dám nói cùng người.

Chỉ hận ta không tiền,

Ngày đêm tấu thượng thiên… [5]

Thượng Dương Tử 上 陽 子 nói:

Được quyết, không tiền, sự bất tuyền,

Pháp, tài gồm đủ để thành tiên. [6]

Người trì tụng Huỳnh đình phải trường chay, nghĩa là không được ăn:

– Thịt lục súc (bò, ngựa, dê, gà, lợn, chó),

– Cá tanh,

– Năm thứ rau cay: Như hành sống, tỏi, hẹ, kiệu, rau hồ tuy (1 loại rau thơm).

Ngoài ra phải tránh những gì mà người đời thường cho là uế tạp. Họ cẩn thận đến nỗi, mỗi khi đi vào những con đường nhơ bẩn về, thời chẳng những phải tắm rửa, lại còn phải đốt hương nơi phía tả mình để khu trừ uế khí, gọi đó là «dĩ Dương tiêu Âm» …

Mỗi khi vào trai đường để tụng kinh, phải trai giới, khiết tịnh, phải đốt hương, phải mặc pháp phục …

Khi đi vào trai đường, phải tưởng như có Ngọc Đồng, Ngọc Nữ phù ủng hai bên mình, phải mường tưởng như có vùng mây tía xuống bao quanh mình, và lan tỏa khắp phòng. Phải hướng về phía Bắc, tấu bái đức Cao Thượng, Vạn Chân, Ngọc Thần Thái Đạo Quân, phải hướng về phía Đông, kính vái đức Phù Tang Thái Đế Dương Cốc Thần Vương … Phải quay về hướng Đông mà trì tụng kinh này. Đọc lên một cách trầm hùng, ngâm nga nho nhỏ, không được đọc nhầm lẫn. Nếu nhầm lẫn phải đọc lại ba mươi chữ kinh trước khúc đó.

Khi đau yếu, nếu không cầm được quyển kinh mà đọc, thời đọc thuộc lòng. Nếu không đọc được toàn kinh, thì đọc các đoạn kinh nói về tên các thần mà thôi. Có người trì tụng kinh này mỗi ngày hàng chục lần.[7]

Cả ở đầu hai quyển Huỳnh Đình kinh mà tôi có, đều có ghi rõ nghi lễ trì tụng Huỳnh Đình. Bài kinh ở nơi mỗi quyển mỗi khác. Nhưng tất cả đều nói lên lòng chí thành, chí kính. Và đại khái đều là mường tưởng như là mình đang trì tụng kinh này trước mặt chư thần … Nơi chương Huỳnh Đình Nội Cảnh khoa nghi trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh kinh tường chú của Tử Hà có bài kinh: Chí tâm qui mệnh lễ: «Tiên thiên khí hóa, Thái Thượng Lão quân» mà sau này Cao Đài đã sửa qua lại để làm kinh nhật tụng.

Chính vì vậy, mà Vụ Thành Tử cho rằng tụng kinh này cốt là để: hoà thần chiêu linh 和 神 招 靈. Và nhiều đạo sĩ đã dùng kinh này như là một phương tiện để hộ thân.

Quyên tử 涓 子 nói: «Linh Nguyên là thần của tì. Dài 4 tấc, ngồi trên tì, như con trẻ, mặc áo vàng. Ngồi nơi trung vị, của Minh đường Lão quân. Nếu trong mình có bệnh tật, hay khi ăn uống không được tiêu hóa như ý, chỉviệc tồn tưởng đến phục sắc của Trung bộ Lão quân, phảng phất như đang ngự nơi Tì, kêu tên thần Tì ba lần, xong, nuốt tân dịch bảy lần. Vạn bệnh sẽ qua khỏi.» [8]

Nơi đây tôi không ghi chép lại chính bản các kinh hoặc chi tiết các nghi lễ để trì tụng kinh này. Riêng tôi, tôi thấy tất cả những chuyện đó chỉ có một giá trị văn học, lịch sử. Nếu mình có lòng thành khẩn thực sự, thành kính thực sự, sẽ lập tức cảm ứng tới thần linh.

CHÚ THÍCH

[1] Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Kinh 黃 庭 經, tr. 2b.

[2] Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Kinh 黃 庭 經, tr. 4b.

[3] Chương này của Huyền Diệu Cảnh 玄 妙 景 bàn về Pháp, tài, lữ, địa. Pháp 法 là bí quyết chân thuyên, mà cũng có thể là nhà cửa, và các đồ vật dụng trong nhà; Tài 財 là tiền nong; Lữ 侶 là bè bạn cùng tu; Địa 地 là môi trường, là cơ sở thuận tiện để tu trì. Thiếu một điều kiện cũng khó tu luyện. Cổ nhân vân: Dục cầu thiên thượng bảo, tu tá thế nhân tài. 古 人 云: 欲 求 天 上 寶, 須 借 世 人 財.

[4] Cát tiên ông vân: Ngô dĩ đắc quyết tam thập niên lai, thán vô tài, nan liễu chí đạo. 葛 仙 翁 云: 吾 已 得 訣 三 十 年 來, 嘆 無 財, 難 了 至 道…

[5] Trương Tam Phong vân: Dục phỏng ngoại hộ, vị ngộ cao hiền, Bả thiên cơ hoài bão sổ thập niên. Hựu viết: Vô tiền nan tu luyện, bất cảm đối nhân ngôn. Hận chỉ hận ngã vô tiền, Trú dạ cáo Thương Thiên… 張 三 丰 云: 欲 訪 外 護, 未 遇 道 高 賢, 把 天 機 懷 抱 數 十 年. 又 曰: 無 錢 難 修 鍊, 不 敢 對 人 言. 恨 只 恨 我 無 錢, 晝 夜 告 蒼 天…

[6] Thượng Dương Tử viết: Đắc quyết vô tiền sự bất tuyền, Pháp tài lưỡng túc, tiện thành tiên. 上 陽 子 曰: 得 訣 無 錢 事 不 全, 法 財 兩 足, 便 成 仙.

[7] Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Kinh 黃 庭 經, tr. 2b, 3a, 3b.

[8] Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Kinh 黃 庭 經, tr. 3a.

——————————-

CHƯƠNG 6

Ít nhiều nhận định về kinh Huỳnh Đình

A. Người xưa nhận định về kinh Huỳnh Đình

– Huỳnh Đình và Đạo Đức kinh bổ túc lẫn nhau.

– Huỳnh Đình dạy về sở cư của thần Chân Nhất.

B. Những nhận định của riêng tôi về kinh Huỳnh Đình

1. Huỳnh Đình có nhiều bản văn khác nhau.

2. Huỳnh Đình là một kinh khó hiểu.

3. Huỳnh Đình chủ trương Tính mệnh song tu.

4. Những khám phá của Huỳnh Đình về các xoang não.

5. Huỳnh Đình kinh coi con người là toàn thể vũ trụ.

6. Đọc Huỳnh Đình và các kinh đạo Lão cần thấu triệt chủ trương:

Nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui nhất thể

7. Huỳnh Đình kinh dạy phép quán tưởng thần linh, tồn thần linh, hô thần linh, cầu thần linh         

8. Huỳnh Đình dạy cầu thần khi đau ốm.

9. Huỳnh Đình là Thái Cực là Cốc Thần ở Nê Hoàn cung.

10. Huỳnh Đình kinh bàn nhiều về ngũ tạng và đởm.

A. Người xưa nhận định về kinh Huỳnh Đình

Trước khi trình bày nhận định riêng tư của tôi về Huỳnh Đình, tôi thu nhập ít nhiều nhận định của người xưa về Huỳnh Đình.

Sách Đạo Học từ điển 道 學 辭 典 xếp hạng các kinh đạo Lão như sau:

– Đại Đỗng Ngọc Kinh 大 洞 玉 經 dạy siêu phàm nhập thánh.

– Xướng Đạo Chân Ngôn 唱 道 真 言 dạy luyện tâm.

– Tham Đồng Khế 參 同 契, Ngộ Chân Thiên 悟 真 篇, Thanh Hoa 青 華 và Huỳnh Đình kinh 黃 庭 經 dạy phép tu mệnh. (Mà tu mệnh, liễu mệnh như đạo Lão thường hiểu, bao quát tất cả những phương thuật, giúp con người khỏe mạnh tăng thêm tuổi thọ.)

– Tam Hoàng Nội Văn 三 皇 內文 cốt để độ người. [1]

Huỳnh Đình kinh của Tử Hà nơi phần phụ lục cuối sách nhận định: Huỳnh Đình thường bàn về hữu vi (Khiếu). Đạo Đức kinh thường bàn về vô vi (Diệu). [2]

Tuy nhiên cả hai quyển Huỳnh Đình của Tử Hà và của Vụ Thành Tử ở nhiều trang khác chủ trương rằng Huỳnh Đình thực ra giúp cho con người có được một lối sống toàn diện, viên mãn.

Huỳnh Đình kinh chẳng những dạy điều hòa ngũ tạng lục phủ 調 和 五 臟 六 腑, lại còn khiến cho hồn sướng 魂 暢, phách an 魄 安.[3] Chẳng những làm cho con người đẹp ra, trẻ lại, lại còn có thể giúp con người nhìn thấy quỉ thần. Tóm lại giúp ta: Toàn vẹn được hình hài, tập hợp chư thần, giúp cho ta có khí chính 氣 正, tâm thanh 心 清.[4]

Nhưng thực ra, Huỳnh Đình còn dạy con người một điều rất vi diệu, đó là chỉ cho con người biết đâu là tòa ngôi của Thần Chân Nhất 真 一 神, dạy con người biết đường, biết phép qui hướng về Nhất. Vì đây là điều cao quí nhất của Huỳnh Đình, bí ẩn nhất của Huỳnh Đình, nên tôi muốn sao lục lại các đoạn kinh văn, hoặc bình giải, hoặc phụ chú, để làm nổi bật lên Chí Đạo 至 道.

Trong bài tựa Huỳnh Đình kinh của Vụ Thành Tử có lời rất lạ lùng sau: «Bạn có tướng tiên, gặp được sách này của ta. Trong sách này đã mô tả sở cư của chư thần trong thân hình con người và nơi cư ngụ của thai thần 胎 神.»

Vụ Thành Tử giải: «Chư thần trong con người kể làm sao xiết. Nhưng thấy được nơi cư ngụ của chư thần, cũng là cùng đạt được điều bí mật vậy. Thai thần 胎 神 tức là Minh đường Tam lão 明 堂 三 老. Cũng gọi là Thai linh đại thần 胎 靈 大 神. Đó chính là căn bản của Huỳnh Đình vậy.» [5]

Rồi đọc Ngoại Cảnh thấy đây đó có những lời chú giải rời rạc. Nhưng nếu đem lắp tất cả lại sẽ được một sự chỉ dẫn hết sức là mạch lạc về Chân Nhất Thần 真 一 神.

Câu trên cho ta ba yếu tố:

– Minh đường tức là khoảng giữa hai làn mi, nơi trán.

– Thai thần là Minh đường Tam Lão, tức là Thần ngự nơi Minh Đường.

– Huỳnh Đình chi bổn, đó là gốc gác, căn cơ, đó là điều căn bản chính yếu của Huỳnh Đình.

Nơi quyển Ngoại Cảnh, khi bình giải câu: «Tâm hiểu căn cơ, dưỡng hoa thái.» 心 曉 根 基 養 華 采 (chương 14), Lương Khưu Tử giải: «Căn cơ chỉ người biết giữ được nhất; Dưỡng hoa thái nói về mặt mũi sáng láng, người có quang hoa.» [6]

Nơi chương 1 của Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Lương Khưu Tử chú, ta thấy bàn về họ tên và sắc phục cùng nơi sở cư của Nhất.

Nhất hay là Xích Tử hay là Chân Nhân, tên là Tử Đan, ở Minh Đường.

Huỳnh Đình ở trong đầu gồm ba cung Minh Đường, Đông Phòng, Đan Điền. Ba nơi đó đều gọi là Thượng Nguyên. Đó là Nhất vậy … Cho nên người biết Nhất, là biết Nhất ở tại Minh Đường vậy.[7]

Nơi cuối kinh Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, Lương Khưu tử dành cả một trang để bàn về Nhất. Lại dùng tài liệu của Cát Hồng Bão Phác Tử mà cho biết tính, tử, phục sắc của Nhất. Phục sắc của Nhất được ghi là Xích y (Áo đỏ). [8]

Thứ đến ông bàn về bí quyết Thủ Nhất 守 一 của Trang Tử và Bão Phác Tử. Trang Tử thì nói: «Ngã thủ kỳ nhất, nhi xử kỳ Hòa.» 我 守 其 一 而 處 其 和. Bão Phác tử thì nói: «Nhân năng thủ Nhất vạn sự tất.» 人 能 知一 萬 事 畢. Tiên Kinh thì nói: «Tử dục trường sinh, thủ Nhất đương minh… Thủ Nhất tồn chân, nãi năng thông Thần, v.v.» 子 欲 長 生 守 一 當 明 … 守 一 , 存 真 乃 通 神.

Cuối cùng viện dẫn lời Cao Tử 高 子 mà cho rằng: «Muốn thu thập toàn bộ tinh thần, chỉ có một nơi duy nhất. Đó là tĩnh tọa đem toàn bộ tinh thần về nơi giữa hai làn mi.» [9]

Và lập luận của Nội Cảnh và Ngoại Cảnh chung qui vẫn là: Muốn trường sinh phải Đắc Nhất 得 一,[10] bè bạn với Nhất.[11]

Nghiên cứu hai chữ Tử Đan 子 丹,[12] ta thấy:

– Tử 子 là liễu Nhất 了 一.

– Đan 丹 là Âm Dương hợp nhất 陰 陽 合 一, Thần Khí hợp nhất 神 氣 合 一.

Thần Tử Đan ngự nơi Tâm, mà Tâm màu đỏ nên nói mặc xích y 赤 衣. Nhưng theo kinh Dịch, thì Tâm 心 (Nê Hoàn 泥 丸, Minh Đường 明 堂) cũng là Trung điểm, nên cũng có màu vàng, vì thế đôi khi thấy nói: Thần Tử Đan mặc hoàng thường 黃 裳 (váy vàng), hay thần Tử Đan cho ăn cỗ màu vàng.[13]

Có vậy ta mới hiểu được những lời lẽ bí ẩn nơi chương 17 và chương 35. Chương 17 viết:

Linh đài uất ái vọng Hoàng dã,

靈 臺 鬱 藹 望 黃 野

Tam thốn dị thất hữu thượng hạ.

三 寸 異 室 有 上 下

Gian quan doanh vệ cao huyền thụ,

間 關 營 衛 高 玄 受

Động phòng tử cực linh môn hộ,

洞 房 紫 極 靈 門 戶

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả.

是 昔 太 上 告 我 者

Tả thần công tử phát thần ngữ,

左 神 公 子 發 神 語

Hữu hữu Bạch Nguyên tính lập xứ.

右 有 白 元 併 立 處

Linh đường, Kim quĩ, Ngọc phòng gian.

明 堂 金 匱 玉 房 間

Thượng Thanh chân nhân đương ngô tiền,

上 清 真 人 當 吾 前

Hoàng thường Tử Đan, khí tần phiền

黃 裳 子 丹 氣 頻 煩

Tá vấn hà tại lưỡng mi đoan.

借 問 何 在 兩 眉 端

Nội hiệp nhật nguyệt liệt tú trần

內 俠 日 月 列 宿 陳

Thất diệu Cửu nguyên quán Sinh môn…

七 曜 九 元 冠 生 門

Tạm dịch:

Linh đài chơi vơi vọng Huỳnh dã,

Nê Hoàn cung thất phân thượng hạ.

Doanh vệ u huyền oai phong giữ,

Động phòng, Tử cực có cửa linh,

Nơi xưa Thái Thượng dạy ta đó.

Tả thần công tử phát thần ngữ,

Hữu thần Bạch Nguyên cùng đứng chỗ.

Minh đường, Kim quĩ, Động phòng gian,

Thượng Thanh chân nhân tại mục tiền,

Hoàng thường Tử Đan, khí cương kiên

Dám hỏi đầu này sao đứng đó

Trong gồm nhật nguyệt với tinh quang,

Thất diệu, Cửu nguyên chiếu Sinh môn…

Nơi chương 35, ta thấy viết:

Đạm nhiên vô vị Thiên nhân lương,

淡 然 無 味 天 人 糧

Tử Đan tiến soạn, hào chính hoàng.

子 丹 進 饌 肴 正 黃

Tạm dịch:

Lượng của trời, người nhạt vô vị,

Tử Đan mời ăn, cỗ màu vàng…

Tất cả đều cho thấy: Muốn tìm Chân Nhất, phải tìm nơi lưỡng mi gian. Vào sâu ba tấc thấu Nê Hoàn…

Trong sách Huyền Diệu Cảnh 玄 妙 景 của Ly Trần Tử 離 塵 子 Lý Xương Nhân 李 昌 仁 (q. trung, tr.47) có hình vẽ Diện bích đồ 面 壁 圖 và thấy vẽ một hình người nơi giữa trán điểm một vòng với hai chữ Nê Hoàn 泥 丸.

Trong quyển Tính Mệnh Pháp Quyết Minh Chỉ 性 命 法 訣 明 指 của Triệu Tị Trần 趙 避 塵, đầu trang 27 có hình vẽ: giữa hai làn mi định là Tổ Khiếu 祖 竅. Nơi hình Phổ chiếu đồ 普 照 圖 trong Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 (q. Nguyên, tr.7b), ta thấy giữa trán có một vòng lớn bao quát cả hai chữ Tính Mệnh 性 命. Trên có bài thơ:

Tam tuế chi khiếu,                 
三 歲 之竅

Khiếu trung hữu diệu.           
竅 中 有妙

Diệu khiếu tề quan,               
妙 竅 齊觀

Thị vị phổ chiếu:                   
是 謂 普照

Tạm dịch:

Ba tuổi ấy khiếu,

Trong khiếu có Diệu,

Diệu khiếu thấy đều,

Thế là phổ chiếu…

Trong quyển Tu Thiền Định của Pháp sư Giác Nhiên nơi trang 58 viết: «Tập trung tư tưởng: Tư tưởng con người là một luồng điện mạnh nhứt, làm việc gì mà được thành công đều do tập trung tư tưởng lại (gọi là gom thần, trụ tâm), không cho thần lực tán loạn; cũng chẳng hay dòm ngó, nói làm thường thường gom kết tư tưởng lại, an tâm trụ thần ngay giữa chính giữa hai chơn mày (gọi là mắt giữa) chỗ ấn đường hay minh đường là Cửa sáng… vì ở nơi đây có cục hạch mà người Nhật gọi là Tổng Thủy Truyền, là nơi phát sinh trí huệ…» [14]

Tất cả những luận cứ trên, cho thấy rằng người xưa chẳng những cho rằng Huỳnh Đình dạy Tính mệnh song tu, nhưng thực ra cũng dạy cho ta phương pháp Liễu Nhất, Đắc Nhất. Và xin kết thúc nhận định của người xưa về Huỳnh Đình bằng câu: «Tử dục đắc Nhất vấn lưỡng đồng.» 子 欲 得 一 問 兩 瞳 (Nếu Bạn muốn được Nhất, hỏi đồng tử mắt.)[15]

Và bằng lời của Vụ Thành Tử: «Kinh này lấy Vô vi làm chủ, nên dùng hai chữ Huỳnh Đình làm tiêu đề.» [16]

B. Những nhận định của riêng tôi về Huỳnh Đình

1. Vấn đề dị bản của Huỳnh Đình kinh

Huỳnh Đình kinh vì truyền từ lâu đời, nên mỗi bản mỗi khác. Trong bài Huỳnh Đình dẫn 黃 庭 引, Tử Hà cũng đã viết:

«Trên trời bay xuống hai nguyên quân,

Đan Hà, Thanh Hà đều Thiên quân,

Truyền cho Nam Nhạc, Tử Hư nói:

Cõi thế Huỳnh đình nhiều văn sái.

Tiên sư trên trời xuống nhân gian,

Bản kín truyền cho phải chép lại.» [17]

Riêng hai bản Huỳnh Đình Nội Cảnh mà tôi có (một của Tử Hà chú, một của Vụ Thành Tử chú) so ra cũng thấy có nhiều chữ khác nhau. Thành thử mỗi khi gặp chữ khác nhau, tôi ghi chú lời kinh của cả hai bản để đối chiếu.

2. Huỳnh Đình kinh viết rất khó hiểu.

Khó hiểu vì từ ngữ khó hiểu, văn mạch khó hiểu, ý tứ khó hiểu. Nên nhiều khi phải dựa vào lời bình mới tìm ra được manh mối ý nghĩa. Những phải cái, cũng một câu, mà lời bình mỗi sách lại một khác, có khi lại mâu thuẫn nhau, thế thì còn biết làm sao mà tìm cho ra chính ý.

Đối với người có căn cơ cao, thì sự khó hiểu đó sẽ thúc đẩy suy tư và tìm hiểu, nhân đó hiểu thêm mãi ra. Còn người có căn cơ thấp, đọc không hiểu, hay hiểu sai hiểu quấy, thành thử nhiều khi ích không thấy lại thấy hại, hoặc ít là không thấy được hứng thú khi đọc kinh này…

Tôi thiết nghĩa rằng muốn hiểu rõ kinh này, phải có hai loại chìa khóa:

– Một loại chìa thông thường, là làm sao hiểu được hai chữ Tính Mệnh của Đạo lão, nhân đó hiểu được nhẽ Tính Mệnh song tu, có vậy sẽ hiểu Huỳnh Đình.

– Một loại chìa khóa đặc biệt là làm sao hiểu được tầm quan trọng của Nê Hoàn cung, nơi sở cư của Thượng thần trời đất trong con người.

Chính vì vậy mà nơi đây tôi sẽ cố trao lại cho độc giả hai loại chìa khóa ấy.

3. Thế nào là Tính Mệnh và Tính Mệnh song tu?

Tử Hà chân nhân khi giải Huỳnh Đình Nội Cảnh, thường thiên về tu Tính 修 性, nên thường lấy vô vi, lấy các từ ngữ luyện đan mà giải Huỳnh Đình, nên làm cho Huỳnh Đình càng thêm khó hiểu.

Trái lại, Vụ Thành Tử khi giải Huỳnh Đình thì lại bao quát cả hai phương diện Tính Mệnh song tu 性 命 雙 修, nên khi cần giải thấp, thì giải thấp, khi cần giải cao thì giải cao, từ hữu vi đến vô vi, từ hữu tướng đến vô tướng, không có gì là vướng mắc.

Tôi cũng theo đường lối của Vụ Thành Tử, và nhờ đó, bình giải Huỳnh Đình, dựa trên một căn bản vững chãi, và cũng hiểu rõ thêm được lẽ Tính Mệnh song tu của đạo Lão.

Nhiều đạo giáo, nhiều nhà tu hành cho rằng tu thân là tu tâm, luyện tính, nên khinh khi thân xác, coi xác thân thù địch, hành hạ xác thân đánh đập xác thân, nhiều khi ở dơ, ăn dơ, và cho đó là tinh tiến… Chính vì thế mà có nhiều thánh nhân các đạo giáo khác có khi đau ốm bệnh hoạn suốt đời.

Đạo Lão tuyệt đối không có chủ trương ấy. Trái lại chủ trương phải giữ gìn xác thân cho thanh khiết, mạnh khỏe, tập luyện cho khí lực dồi dào, cố thủ kiên trì cho tinh huyết được đầy đủ, cốt là làm sao cho mình sống lâu, sống vui, sống khỏe. Tất cả những cái đó gọi là tu Mệnh 修 命. Rồi ra mới luyện Thần, tập trung tinh thần, vô vi, định tĩnh. Tất cả những cái đó gọi là tu Tính 修 性.

Cái gì thuộc về Tiên thiên, vô vi thì gọi là Tính 性. Cái gì thuộc về Hậu thiên, hữu vi, hữu tướng thì gọi là Mệnh 命. Nơi con người, thì Thần là Tiên thiên, là Tính. Còn hồn xác khí phách, đều là Hậu thiên, là Mệnh.

Sách Đạo Học từ điển (tr. 139) cũng viết: «Tính là Tiên thiên, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm… Hồn là Hậu thiên, hữu sinh hữu diệt, hữu cấu hữu tịnh, hữu tăng hữu giảm…» [18]

Tính là Thần, là cái gì hết sức khinh thanh, nên dĩ nhiên là phải ở nơi cao nhất trong người, chính vì thế mà đạo Lão cho rằng Tính căn 性 根 ở đỉnh đầu, ở Nê Hoàn, ở Càn đỉnh 乾 鼎.

Mệnh thuộc phần hình hài nên dĩ nhiên là phải ở chỗ chứa thấp trong người. Chính vì thế mà đạo Lão cho rằng Mệnh 命 蒂 ở nơi xoang bụng phía sau rốn. Đó là Khôn lô 坤 爐 .

Giữa hai cực Càn Khôn đó là phần khí lưu chuyển tuần hoàn. Ta trình bày lại con người, theo đường hướng trên, bằng đồ bản sau:

 

TÍNH
性   Thần
神   Thái Cực
太 極   Tiên thiên nhất khí 先 天 一 氣   Chân 真, vô vi 無 為, vô dục 無 欲, bất sinh 不 生, bất tử 不 死.

MỆNH 
hồn phách
魂 魄   Âm dương
陰 陽    Khí 氣 (khí hô hấp và khí tiềm tàng trong châu thân)   Vọng 妄, hữu vi 有 為, hữu tướng 有 相, sinh diệt 生 滅, sinh tử luân hồi 生 死 輪 回
命   Lục phủ ngũ tạng
六 腑 五 臟   Ngũ hành
五 行   Tinh hoa ngũ cốc 五 谷, ngũ vị 五 味 
                       
     
Nhìn vào bản đồ này, ta sẽ thấy ngay rằng các phương pháp dưỡng sinh như ẩm thực, phương dược, án ma, đạo dẫn, các phương pháp yết tân dịch, thổ nạp, v.v. hoặc vận khí điều tức, đều thuộc phần hình khí, có thể làm cho con người sống lâu thêm ít nhiều kỷ, mạnh khỏe, tươi trẻ, linh sảng, chứ không thể làm cho con người đắc Nhất, đắc Đạo được.

Thế mới gọi là liễu Mệnh 了 命, và công phu tu luyện mới được có nửa phần, còn nửa phần nữa chính là liễu Tính 了 性, chính là ngưng thần nhập định, kết hợp với Thái Hư Vô Cực, trở nên đồng nhất cùng Bản thể huyền linh của vũ trụ, an nghỉ trong Thượng đế (tức là Hưu hồ Thiên quân 休 乎 天 鈞 theo lời Trang Tử trong Nam Hoa kinh, chương Tề vật luận). Đó là một điều hoàn toàn khác biệt với các công phu tu luyện để điều hòa, di dưỡng xác thân nói trên, mặc dầu hai đàng có liên lạc mật thiết với nhau.

Tu Tính mới thực sự là phép luyện tiên đan tối thượng của Lão giáo. Nó tương ứng với Chánh pháp nhãn tàng 正 法 眼 藏 của Phật giáo, với vi chỉ của khoa Huyền học các đạo giáo Âu châu: Sống kết hợp với Thượng Đế. Cho nên tu mệnh là siêu phàm, còn tu tính mới là nhập thánh.

Chính vì vậy mà người xưa cho rằng cần phải phân biệt thấp cao. Nuốt tân dịch, thổ nạp, hô hấp bất quá là cho thân xác khỏe mạnh, chứ làm sao mà thành thánh, thành tiên cho được? Đó chính là ý nghĩa những câu:

– Yết tân, nạp khí thị nhân hành; hữu dược phương năng Tạo hóa sinh. 咽 津 納 氣 是 人 行 ; 有 藥 方 能 造 化 生 (Yết tân, nạp khí ấy nhân hành; có «thuốc» mới mong Tạo hóa sinh.) [19]

– Nhiêu quân thổ nạp kinh thiên tải; tranh đắc kim ô, nặc thố nhi. 饒 君 吐 納 經 千 載 ; 爭 得 金 烏 搦 兔 兒 (Dẫu anh thổ nạp nghìn năm suốt; cũng chẳng làm sao được tiên đan.) [20]

Dẫu sao thì đạo Lão cũng chủ trương tính mệnh song tu. Cổ tiên nói: «Tu tính tiên tu mệnh; phương nhập tu hành kính 修 性 先 修 命 ;方入 修 行 徑 (Muốn tu tính, trước phải tu mệnh; thế mới vào đường tu chân chính.) [21]

Trong quyển Tiên Học Từ Điển (tr. 10) có bài ca của Xao Hào 敲 爻 như sau:

Mệnh phải truyền,

Tính phải ngộ,

Siêu phàm nhập thánh, do mình cả.

Chỉ tu tính, không tu mệnh,

Đó là tu hành đệ nhất bệnh,

Chỉ tu tổ tính, chẳng tu đơn,

Vạn kiếp âm linh, khó thành thánh [22]

Đạt mệnh tông, mê tổ tính,

Khác nào soi gương không bửu kính,

Thọ cùng trời đất, một ngu phu,

Tuy được gia cơ, dùng chẳng biết.

Tính mệnh song tu, huyền hựu huyền,

Sóng thần, đáy biển đẩy pháp thuyền,

Giao long vùng vẫy, tay không bắt,

Mới hay tay thợ chẳng hư truyền. [23]

Tính mệnh song tu đại khái là như vậy.

Còn như nói Tính Mệnh song tu chính là chìa khóa giúp ta mở cửa Huỳnh Đình, thì tôi đã chứng minh nơi chương Nội dung chính yếu của Huỳnh Đình: Nhờ hiểu thế nào là Tính Mệnh song tu, tôi đã phơi bày, toát lược lại được nội dung Huỳnh Đình từ thấp đến cao.

4. Huỳnh Đình kinh có từ hơn 1600 năm nay, mà đã bàn được về các xoang não, về Nê Hoàn cung thật là một điều kỳ lạ.

Kỳ lạ hơn nữa, là các nhà bác học, y học ngày nay, tuyệt nhiên không hề đả động đến não thất ba với những ý nghĩa huyền học của nó. Riêng tôi, tôi cho rằng phải hiểu đại khái về óc não, và ý nghĩa, nhiệm vụ của các tầng óc não, ta mới có thể tu luyện dễ dàng hơn.

Sau nhiều năm để tâm suy cứu về vấn đề, lại tham bác đông tây, y khoa, triết học, đạo giáo đông tây, tôi đã đi đến những nhận định sau:

1. Nơi tâm điểm Não thất ba: Hư vô 虛 無, Thần 神, Tiên thiên chi khí 先 天 之 氣, Thiên tâm 天 心, Thiên tính 天 性. (Nơi đó thực là hư linh).

2. Não thất ba, và các xoang não: Hồn 魂. Nê Hoàn cung 泥 丸 宮, Thiên cốc 天 谷, Tổ khiếu 祖 竅, Huyền quan khiếu 玄 關 竅. (Trong các xoang não này có Khí 氣. Mà hồn là khí. Đây cũng là Nhân tâm 人 心, là Linh Đài 靈 臺, Linh Sơn 靈 山 của đạo Lão, trong quyển Tiên Học Từ Điển nơi chữ Tâm Tính có câu Tâm bao tính ngoại 心 包 性 外 [Tâm bao ngoài tính], nên tìm ra Tính sẽ tìm ra Tâm.)

3. Thể Lam (Thalamus), hay Động phòng 洞 房, hay Thị tầng 視 層 – Thể Hạ Lam (Hypothalamus) hay Hạ thị tầng 下 視 層 – Não đế 腦 蒂 (Brainstem, hay Myélencéphale). (Xét về cơ cấu, thì là Tinh 精. Xét về quan năng, chức vụ, thì gọi là Phách 魄. Có sách đạo Lão chủ trương Phách chủ cảm xúc (émotions), mà theo khoa học hiện đại thì nơi đây chủ trì các cảm giác. Xét về hoạt động, thì đây cũng có liên quan đến Ý 意, vì chuyên tâm chú ý, là nhiệm vụ nơi đây.) Như vậy, ta thấy vị trí của Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý đều nằm trong não bộ.

4. Vỏ não (cortex cérébral): Trí lự 智 慮, ý thức 意 識 (raisonnement et idées).

Đồ bản dưới đây cho thấy: Tinh, Hồn, Phách, Ý vây quanh một Thần. Có vậy thì Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý mới dễ qui trung, đoàn tụ… [24]

SƠ ĐỒ ÓC NÃO

I . Nê Hoàn cung (Não thất ba) (Thần, Hồn)

II. Thể Lam (Thalamus) =- Động Phòng (Tinh, Phách, Ý)

– Thể Hạ Lam (Hypothalamus) – Diencéphale (Tinh, Phách, Ý)

 – Não đế (Mésencéphale và myélencéphale) (Tinh, Phách, Ý)

III. Cortex cerébral: Vỏ não (Télencéphale) (Niệm lự).

Tại sao nói được rằng hiểu biết về óc não là chìa khóa giúp ta hiểu vi ý của đạo Lão, của Huỳnh Đình?

Bởi vì có minh định được đâu là Linh Đài, đâu là tâm khảm, đâu là Kiền đỉnh, đâu là Tổ khiếu, thì mới có thể thu thần định trí, mới hiểu thế nào là Tạo hóa qui trung chi diệu.

Huỳnh Đình kinh cho rằng não là Côn Lôn. Não ở trên và tượng Trời. Nên nói bổ thiên là bổ não. Chính vì vậy mới nói Tử dục bất tử tu Côn Lôn.[25]

Tung Ẩn Tử trong quyển Huỳnh Đình Ngoại Cảnh do ông giải, đã gọi Huỳnh Đình kinh là Thân Học 身 學.[26]

Có học biết về cơ thể, về thân thể con người, rồi ra mới biết rành đường quán tâm đắc đạo.

Nguyễn Đình Chiểu cũng nhận định rằng muốn tu tiên, muốn tìm đến chốn Đan Kỳ, thời trước hết phải đi qua cửa ải xác thân, mà Cụ gọi là ải Nhân xu. Cụ viết trong quyển Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật như sau:

Ngư rằng: Nhắm chốn Đan kỳ,

Éo le khúc nẻo, đường đi chẳng gần,

Nhiều non, nhiều núi nhiều rừng.

Nhiều đèo, nhiều ải, nhiều chừng động hang,

Chút công khó nhọc chẳng màng,

Chỉn lo góc hiểm mối đàng Nhân xu.

Tiều rằng: Ta dốc tầm phương,

Xin phân cho rõ cái đường Nhân xu.

Ngư rằng: Một ải Nhân xu,

Lấy da bao thịt làm bầu hồ lô.

Trổ thông chín ngách ra vô,

Mươi hai kinh lạc chia đồ dọc ngang,

Ngoài thời sáu phủ Dương quan,

Trong thời năm tạng xây bàn âm đô.

Hai bên tả hữu vách tô,

Có non Nguyên khí, có hồ huyết quan,

Có nơi Hồn Phách ở an,

Có nơi Thần chủ sửa sang việc mình.

Rước đưa có đám Thất tình,

Có vườn Ngũ vị nuôi mình tốt tươi…[27]

Huỳnh Đình kinh như vậy có một chủ trương hết sức rõ rệt. Đó là: Muốn tìm Đạo, tìm Trời, phải tìm trong thân, trong tâm. Và hai chữ Huỳnh Đình làm ta liên tưởng đến cuốn sách nổi tiếng của thánh Thérese d’Avila: Le Château intérieur (Lâu đài bên trong).

Bà viết: «Tôi đã coi tâm hồn chúng ta như một tòa lâu đài, thành bởi một khối kim cương hay thủy tinh trong vắt. Cũng như trên trời có nhiều nơi ở, lâu đài ấy cũng có nhiều phòng: phòng thì ở trên, phòng thì ở dưới, phòng thì ở bên, rốt cuộc ở trung tâm lâu đài, có một phòng chính, ở đó thường diễn biến ra các điều bí ẩn giữa Trời và Người. Các bạn cũng đã biết rằng thân cây cọ có nhiều lớp, bao quanh và che chở lớp tâm cây, ngon ngọt nhất. Cũng y thức thế, giữa lâu đài, có nơi sở cư của Vua, còn chung quanh là các phòng ốc khác.» [28]

Môn phái Tam Điểm cũng cho rằng đền thờ Jérusalem là hình ảnh con người. Đền thờ có hai cửa âm dương là Jachin và Boaz (Jachin: cửa Nam hay cửa Hữu. Boaz: cửa Bắc hay cửa Tả). Ở nơi con người thì hai cửa Âm Dương chính là không gian và thời gian. Tạo hóa đã dựng hai cột ấy trong não chất con người,và đã đặt chính nơi biên cương giữa tinh thần và vật chất.[29]

Còn Trung Cung thời là nơi hàm tàng Chân lý. Vào tới đó con người sẽ trở thành toàn mãn, thành chân nhân và sẽ biết rõ đường hướng phương cách tìm Thượng đế. Những bậc thang đưa tới Trung cung đó thời quanh co khúc khuỷu… [30]

5. Coi con người là toàn thể vũ trụ, gồm đủ các tầng trời, gồm đủ muôn vì tinh tú, gồm đủ chúng thần là một quan niệm khá độc đáo của Huỳnh Đình.

Nhưng thực ra các nhà huyền học đông tây xưa nay cũng đã chủ trương tương tự như vậy. Vivekananda chẳng hạn đã viết: «Mỗi một người chứa trong mình toàn thể vũ trụ.» [31]

Câu «Thử nhân hà khứ nhập Nê Hoàn» 此 人 何去 入 泥 丸 chương 19 Huỳnh Đình Nội Cảnh làm ta liên tưởng đến câu sau đây của Vivekananda: «Từ đó, thần Civa nhập vào óc tôi, và Ngài nhất định không muốn ra nữa.» [32]

Chủ trương Thượng đế ngự tại trung tâm đầu não con người cũng chính là của Áo Nghĩa thư, Bà La Môn giáo. Chandogya Upanishad viết:

Kìa xem trong chốn thiên đường,

Có cung nho nhỏ, nhỏ dường Liên hoa,

Bên trong là một tiểu tòa,

Trong tòa ai đó, tìm ra mới tình.

… Tuy là một khoảng tâm linh,

Nhưng mà trời đất trong mình gồm thâu,

Gồm thâu gió lửa tinh cầu,

Hai vầng nhật nguyệt, cũng đâu có ngoài,

Gồm thâu muôn sự trên đời,

Gồm thâu ngàn vạn khúc nhôi sự tình… [33]

Katha Upanishad viết:

Chân tâm chủ tể muôn loài,

Thể thời duy nhất, hình thời ngàn muôn,

Biết ngài ngự giữa tâm hồn,

Mới mong hạnh phúc trường tồn vô chung.

Biết ngài bất biến thung dung,

Lồng trong trời đất lao lung chuyển vần,

Biết Ngài thần giữa chúng thần,

Biết Ngài duy nhất giữa quần sinh ban.

Bao niềm mơ ước chứa chan,

Biết Ngài phân phát cho toàn sinh linh,

Biết Ngài ngự giữa lòng mình,

Mới mong hạnh phúc siêu sinh trường tồn… [34]

Gần đây, trong quyển Thông điệp tình yêu nhân hậu gởi cho các tâm hồn nhỏ, tức là Nhật ký của Margarita (người Bỉ) mà Chúa Giê su nhận mình là tác giả, ta thấy có câu sau: «Nếu người ta không có cảm giác như một giác quan thứ sáu về sự hiện diện của Cha trong họ cho dầu cảm giác đôi khi mờ ảo, thì Cha cho con hay, không ai có thể nên thánh được. Đối với một số đông người, than ôi, giác quan thứ sáu ấy bị bóp nghẹt bởi nết xấu dưới mọi hình thức.» [35]

Đọc Huỳnh Đình ta thấy phát ra một niềm tin sắt đanh rằng con người nhờ công phu tu luyện có thể trở thành thần linh. Quan niệm này thực ra không phải là dị đoan mê tín.

Gần đây Vivekananda viết: «Không có giáo lý nào khác ngoài niềm tin rằng khả năng trở thành thần linh đã được ghi tạc vào trong con người, và con người có khả năng tiến hóa vô tận…» [36]

6. Đọc Huỳnh Đình kinh, và các kinh của đạo Lão cần phải thấu triệt chủ trương: Nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui nhất thể. 一 體 變萬 殊 , 萬 殊 歸 一 體

Khi đã nắm được chốt then ấy, thì dẫu Huỳnh Đình kinh và các nhà bình giải có nói:

Nhất khí sinh tam khí, vạn khí,

Nhất thần sinh bá thần, vạn thần,

Nhất Thiên sinh Tam thiên, cửu thiên,

Nhất Lão sinh Tam Lão, vạn Lão.

Nhất Thể sinh Tam thể, vạn thể.

Người tu đạo cũng không vì thế mà lạc lõng bối rối, bởi vì họ chỉ việc thu nhiếp tất cả lại thành Một mà thôi:

Vạn thiên, tam thiên trở lại thành Nhất Thiên.

Vạn thần thu nhiếp lại còn độc Thần.

Tam Lão trở về cùng Nhất Lão.

Tam đan thu nhiếp lại còn Nhất đan.

Chính vì vậy mà Tử Hà khi bình chương nhất, Nội Cảnh đã có viết: «Người tu đạo, ở nơi trung tâm điểm, hợp Tam Đan thành Nhất Đan. Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.» [37]

Theo từ ngữ Huyền học Âu Châu, thì ta có thể nói như sau: «Thượng đế là bản thể mọi thể xác và mọi tâm hồn như lời Saint Hilaire.»[38]

Hay nói: «Thượng đế là Khuôn thiêng duy nhất muôn loài muôn vật» như lời Robert Grosse Tête.[39]

Chủ trương Nhập Nê Hoàn là thăng thiên cũng đã được các nhà huyền học Âu Châu diễn tả như sau: «Trời ở trong mỗi người chúng ta chứ không ở bên ngoài.» [40]

Albert le Grand cũng viết: «Lên cùng Thượng đế là đi vào tâm hồn. Ai vào được tới tâm khảm mình, sẽ siêu thoát, và đạt tới Thượng đế …» [41]

Bà thánh Thérèse d’Avila nói cách khác: «Thực đó là một ân sủng lớn mà Thượng đế ban, khi ngài giúp ta tìm Ngài trong ta.» [42]

Tử Hà chân nhân bình về Huỳnh Đình như sau: «Huỳnh là màu của Trung ương. Đình là Trung điểm của bốn phương. Luyện đan tại đó. Kết đan tại đó. Hoàn đan tại đó. Dưỡng thần tại đó. Một Thần chính vị nơi trung điểm. Vạn thần triều củng thành vòng quanh. Đó là gồm đủ hết thể và dụng Huỳnh Đình.» [43]

Tôi góp ý thêm: Trung ương, trung điểm ấy là tại trung tâm óc não, tại Nê Hoàn cung, tại Thiên cốc. «Một Thần chính vị cư Thiên cốc, vạn thần triều củng thành vòng quanh.» Và tôi tin chắc rằng tư tưởng trên của tôi ăn khớp với tư tưởng của các vị đạo gia chân chính xưa nay.

Hoàng Nguyên Cát nói: «Đầu người ta có chín cung, trong đó có một nơi gọi là Thiên cốc, thanh tĩnh không bụi bậm. Nếu có thể an thần ở trong, hào ly không cho rong ruổi ra ngoài, sẽ thành Chân, chứng thánh … Huỳnh Đình kinh nói: Tử dục bất tử tu Côn Lôn. Đủ biết rằng trì thủ được thiên cốc ấy, là điều huyền diệu vô cùng vậy.» [44]

Doãn chân nhân 尹 真 人 nói: «Thiên cốc Nguyên Thần, giữ được là Chân …» [45]

Khưu Xử Cơ 邱 處 機 có thơ:

Cửu thị Côn Lôn, thủ Chân Nhất,

久 視 崑 崙 守 真 一

Thủ đắc Ma-ni viên hựu xích.

守 得 摩 尼 圓 又 赤

Thanh hư hạo khoáng Đà la môn,

清 虛 浩 曠 陀 羅 門

Vạn Phật thiên tiên tòng thử xuất.[46]

萬 佛 千 仙 從 此 出

Triệu Thai Đỉnh 趙 台 鼎 cho rằng: «Côn lôn là óc não. Bổ thiên là Bổ não.» [47]

Doãn Chân Nhân cho rằng: «Hỗn bá linh ư Thiên cốc. Lý ngũ khí ư Nê Hoàn.» 混 百 靈 於 天 谷 . 理 五 氣 於 泥 丸.[48]

Nói thế tức là chấp nhận Nê Hoàn là nơi hội tụ mọi tinh hoa.

7. Huỳnh Đình kinh chuyên dạy phép QUÁN TƯỞNG THẦN LINH, TỒN THẦN LINH, HÔ THẦN LINH, CẦU THẦN LINH.

Thế nào là Quán tưởng thần linh? Đó là luôn luôn mường tưởng trong thân mình có chư vị thần linh ở.

Về phương pháp quán tưởng thần linh này, đầu sách Huỳnh Đình Nội Cảnh của Vụ Thành Tử có ghi rõ. Xin toát lược đại khái như sau:

Thanh Hư chân nhân nói rằng: «Phàm tu Huỳnh đình nội cảnh kinh, thời nên y theo phép Điền thần hỗn hóa 填 神 混 化 của Đế quân. Sau khi đã đọc kinh và Lễ xong, thời ngồi ngay ngắn hướng về phương Đông, nhắm mắt lại tưởng chừng như thấy hình sắc, kích thước các vị thần trong mình, kêu tính danh các vị thần đó, và đặt để vào mỗi cung tương ứng. Nếu không tu theo phép này thì dẫu tụng kinh Huỳnh Đình vạn lần, cũng không gìn giữ được Chân thần, và cũng không cảm ứng được cùng thần linh, như vậy chỉ tổ làm hao tổn khí lực, bì quyện tinh thần, không ích lợi gì cho công trình tu dưỡng cả…

Sau đó Vụ Thành Tử liệt kê tính danh, sắc phục, kích thước 13 vị thần chính trong người.

Trong 13 vị thần đó, đã có 7 vị ở trên đầu mặt, còn 6 vị ở tạng phủ, 7 vị thần ở đầu mặt:

1. Thần tóc tên Thương Hoa 蒼 華, tự Thái Nguyên 太 元, hình dài 2 tấc 1 phân.

2. Thần óc tên Tinh Căn 精 根, tự Nê Hoàn 泥 丸, hình dài 1 tấc, 1 phân.

3. Thần mắt tên Minh Thượng 明 上, tự Anh Huyền 英 玄, hình dài 3 tấc.

4. Thần mũi tên Ngọc Lũng 玉 壟, tự Linh Kiên 靈 堅, hình dài 2 tấc 5 phân.

5. Thần tai tên Không Nhàn 空 閑, tự U Điền 幽 田, hình dài 2 tấc 1 phân.

6. Thần lưỡi tên Thông Mệnh 通 命, tự Chính Luân 正 綸, hình dài 7 tấc.

7. Thần răng tên Ngạc Phong 崿 峰, tự La Thiên 羅 千, hình dài 1 tấc 5 phân.

Các thần đầu mặt đều mặc áo tía, quần là, đều có hình như trẻ nít. Hãy để tâm tư mường tượng và an vị vào chính phương vị.

Các thần tạng phủ:

1. Thần tim tên Đan Nguyên 丹 元, tự Thủ Linh 守 靈, hình dài 9 tấc, mặc áo gấm đỏ, quần là.

2. Thần phổi tên Hạo Hoa 皓 華, tự Hư Thành 虛 成, hình dài 8 tấc, mặc áo gấm trắng thắt lưng vàng.

3. Thần gan tên Long Yên 龍 煙, tự Hàm Minh 含 明, hình dài 6 tấc, mặc áo gấm xanh, mặc váy.

4. Thần thận tên Huyền Minh 玄 冥, tự Dục Anh 育 嬰, hình dài 3 tấc 6 phân, mặc áo gấm xanh.

5. Thần tì tên Thường Tại 常 在, tự Hồn Đình 魂 停, hình dài 7 tấc 3 phân, mặc áo gấm vàng.

6. Thần đởm tên Long Diệu 龍 曜, tự Uy Minh 威 明, hình dài 3 tấc 6 phân, mặc áo gấm 9 màu, quần hoa màu lục.

Sáu vị lục phủ chân nhân 六 腑 真 人 kể trên ở nơi ngũ tạng, lục phủ hình dáng như anh nhi, sắc như hoa đồng 華 童 (trẻ nhỏ đẹp).

Nơi đây tôi bỏ đi những chi tiết về lễ nghi quán thần, và bài kinh. Xin tham khảo thêm Huỳnh Đình Nội Cảnh, Vụ Thành tử, các trang 5a, 5b.

Phép quán tưởng thần linh của Đạo Lão, cũng giống như phép quán tưởng về chúa Giêsu và các sự thương khó Ngài của Công giáo, hay phép niệm Phật quán, niệm Kim thân quán của Thiền Tông.

Có nhiều người cho rằng quán tưởng như vậy là còn ở trình độ thấp. Phải vô niệm, vô trước, vô sắc tướng mới là cao.

Aldous Huxley phê bình phép quán tưởng hình sắc ấy như sau: «Quán tưởng về những nhân vật và những đặc tính của họ, đòi hỏi phải dùng nhiều suy luận và tưởng tượng. Nhưng thực ra suy tư, phân tách và tưởng tượng chính là những trở ngại ngăn chận không cho tâm hồn đạt tới viên giác. Đó là một điều mà các nhà huyền học Đông, Tây đều nhất trí. Cho nên người đạo sĩ, thay vì quán tưởng vào thần linh vô ngã, lại quán tưởng vào thần linh hữu ngã nào đó với những đức tính của các ngài, sẽ tạo ra những chướng ngại không cho họ tiến tới được sự hợp nhất cao siêu hơn.» [49]

Kinh Kim Cương cũng viết:

Nhược dĩ sắc kiến ngã,       若 以 色 見 我

Dĩ âm thanh cầu ngã,          以 音 聲 求 我

Thị nhân hành tà đạo          是 人 行 邪 道

Bất năng kiến Như Lai.       不 能 見 如 來

Dịch:

Nếu mà lấy sắc xem ta,

Thanh âm cầu ngã đều là tà môn,

Thế là đi lạc nẻo đường,

Làm sao mong thấy tỏ tường Như Lai.

Dĩ nhiên nếu đi được đến vô tướng, thì đã đạt tới cứu cánh… Nhưng đối với đại đa số, thì phải đi từ sắc tướng, mới tới được vô tướng, phải đi từ hữu vi, mới lên được tới vô vi, phải đi từ ảo thân mới lên được tới Chân thần, thế tức là theo quan niệm «Sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền» 貴 以 賤為 本 高 以 下 為 基 (Quí dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ) của Đạo Đức kinh (chương 39).

Nếu tâm niệm được như thế, thì phép quán tưởng thần minh của Huỳnh Đình không có gì là dị đoan sai trái. Huỳnh Đình kinh viết: «Thần tiên cửu thị vô tai hại.» 神 仙 久視 無 災 害 (chương 9).

Huỳnh Đình kinh và các nhà bình giải Huỳnh Đình chỉ dạy quán tưởng thần minh, nhưng không dạy phép quán tưởng thần minh thế nào cho hữu hiệu nhất.

Nhân đọc phép niệm Phật quán, và phép niệm Kim thân quán của Thiền Tông trong quyển Pháp môn tọa thiền của pháp sư Giác Nhiên, thấy có giải thích tại sao lại niệm Phật, tại sao lại quán tưởng kim thân Phật, lời lẽ rất xác đáng, xin sao lục ra đây để bổ sung phép quán tưởng thần minh của Huỳnh Đình.

Giác Nhiên viết: «Niệm tưởng đến danh hiệu của các vị Phật hay các vị Bồ tát là cốt để định trụ vọng tâm, lìa xa loạn tưởng mà cũng là ý nghĩa trau tâm của hành giả. Khi niệm tưởng đến A Di Đà là cần trau dồi đức tánh của mình trở nên vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng cam lộ vương như lai, bình đẳng tánh, niệm không tranh, vô tranh niệm.» (tr. 136) […] «Vậy khi hành giả quán tưởng đến Phật, thì phải tự xét nơi mình coi lời nói việc làm và tâm niệm của mình có toàn chân, toàn thiện hay không? Vì quán tưởng đến Phật là quán tưởng đến ta, bởi ta là Phật, Phật chính là ta, tại sao ta không được như Phật? Tại sao Phật không giống như ta? Nếu một khi ta tham thiền quán sát như thế, để trau dồi hạnh đức, và luyện tập bản năng của mình đến chỗ toàn chân chí thiện, ấy cũng là vi yếu của đạo.» (tr. 138)

Viên Đốn Tử 圓 頓 子, trong quyển Huỳnh Đình kinh giảng nghĩa, còn cho rằng Huỳnh Đình kinh dạy phép tồn thần. Ông viện dẫn, mấy câu sau đây của Huỳnh Đình kinh:

– Trú dạ tồn chi khả trường sinh.         
晝 夜 存 之 可 長 生 (Nội Cảnh, ch. 8)

– Năng tồn Huyền Minh vạn sự tất.   
能 存 玄 冥 萬 事 畢 (Nội Cảnh, ch. 25)

Và giải tồn thần 存 神 như sau: «Tồn thần là không còn suy tưởng gì, bất quá là đem thần quang ngưng tụ lại một điểm nào, không nhất định là phải tồn thần vào một điểm nào trong thân, mà cũng có thể tồn thần, ngưng thần vào một điểm ngoài thân.» [50]

Như vậy, Tồn thần 存 神 đồng nghĩa với Ngưng thần 凝 神, Tụ thần 聚 神, Định thần 定 神, v.v.

Người tu đạo mà biết luôn luôn tu thần, tồn thần, không cho thần linh trong con người mình tản mạn, phá tán đi, là đã lên tới một mức độ cao siêu vậy.

Ta có thể nói: Quán tưởng tức là méditation. Tồn thần tức là concentration. Mà tồn thần dĩ nhiên là cao hơn quán tưởng.

Tôi nhận định như sau về tồn thần và quán tưởng:

Xưa nay có hai con đường lên tới siêu việt: Một là con đường viên giác; Hai là con đường sùng kính.

Con đường viên giác (tức chủ trương Nhất quán hay Chân Nhất chi đạo) đại khái chủ trương rằng: Trong mình có bản thể tuyệt đối.

Con người viên giác hay giác ngộ trực giác thấy bản thể tuyệt đối, thông đạt và thể nhập tức khắc với bản thể tuyệt đối. Âu Châu dùng những danh từ Illumination, Gnose để chỉ Viên giác. Ấn độ gọi thế là Nhất nguyên (Advaita). Gaudapada và Sankara là những người chủ xướng thuyết này.

Người theo con đường sùng tín, thấy Trời, Phật, Thần, Chúa ngự trong lòng mình, nên đem hết tâm thần để kính mến Trời, Phật, Thần, Chúa; mong kết hợp với Trời, Phật, Thần, Chúa, cũng vẫn cảm thấy có Chúa, có Tôi, nghĩa là trong cái đồng vẫn có cái dị.

Ấn Độ gọi đó là con đường sùng tín hay Bhakti, Ramanoudja chủ xướng thuyết này mà ông gọi là Vishishtadvaita. Công giáo gọi thế là con đường Huyền nhiệm, và các thánh hiền Công giáo thường theo con đường này …

Huỳnh Đình kinh theo con đường này. Nhưng Huỳnh Đình kinh có một điểm khác là thay vì đặt vấn đề:

Chúa / Tôi

Phật / Tôi

Thần / Tôi

Trời / Tôi

thì lại đi từ Tôi tới Đa thần, rồi dần dần mới đến Tôi và Thượng thần. Thế là từ đa thần qui về Nhất thần, từ Tam điệp, Tam đan qui về Nhất đan, Nhất Thần, Nhất Tâm, đem tinh hoa tứ chi bá hài, tam hoa ngũ khí, chư thần qui tụ về một điểm Trung Hoàng nơi Nê Hoàn cung tại tâm điểm đầu não con người.

Có nắm vững được chủ trương Thủ Trung Bão Nhất 守 中 抱 一 của đạo Lão thì mới có thể theo con đường Huỳnh Đình đã vạch ra mà vẫn tinh tiến đến cùng cực được. Nếu không biết lẽ Nhất nguyên, không biết lẽ Vạn thù nhi nhất bổn thì mãi mãi cũng sẽ chỉ luẩn quẩn trong vòng hình danh, sắc tướng, đa nguyên bác tạp mà thôi.

Quan điểm trên của Huỳnh Đình làm ta liên tưởng đến các phép chữa bệnh bằng đức tin của các giáo phái hiện đại như: Christian Science ở Mỹ; Espirittista Christiana ở Phi Luật Tân; hoặc tới phép chữa bệnh bằng cách niệm A Di Đà Phật song song với việc vận khí điều tức của thiền tông.[56]

Bước vào lãnh vực này chúng ta thấy nhiều điều kỳ ảo, khó mà cắt nghĩa rạch ròi được.

Ví dụ gần đây bên Phi Luật Tân có những người thuộc môn phái Espirittista Christiana, như Terte, Blanche, hoặc không thuộc môn phái nào như Tony Agpaoa, chuyên dùng tay không để mổ xẻ, và chữa bệnh. Các vị thần y ấy – chúng ta hãy tạm dùng danh từ đó – chữa được rất nhiều bệnh, họ cho rằng họ chữa được bệnh là nhờ thần quyền, thần lực.

Sự kiện này đã làm chấn động năm châu, và nhiều bệnh nhân từ khắp các nước trong thế giới kéo đến Phi xin chữa bệnh. Có nhiều phái đoàn quan sát của Mỹ, gồm nhiều nhà khoa học, thần linh học, v.v. đã sang quan sát sự kiện, quay phim, chụp ảnh tại chỗ. Ông Harold Sherman sau khi đã sang Phi khảo sát sự kiện, cùng với một phái đoàn gồm có những nhân vật lỗi lạc trong các giới đạo gia, khoa học, y học Mỹ Nhật, lúc về đã viết một quyển sách hơn 300 trang phúc trình tỉ mỉ về những sự kiện lạ lùng trên.

Bản phúc trình xác nhận:

– Các thần y đã mổ xẻ trong nhiều năm nay cho rất nhiều người, toàn bằng tay không, không dùng dao kéo.

– Bệnh nhân khi mổ xẻ vẫn tỉnh táo không đau ốm.

– Không hề dùng phương pháp khử trùng, mà bệnh nhân vẫn như thường.

– Mổ xong, buông tay ra là da thịt bụng lại liền như cũ.

– Các thần y đó đã chữa khỏi rất nhiều bệnh.

– Đã có những bác sĩ và nhà khoa học gia Mỹ đến thụ giáo với các thần y này và phụ tá họ trực tiếp trong vòng vài tháng, và thú nhận đó là những chuyện có thực, chứ không phải là ma thuật hay thôi miên hay lừa bịp.

– Đã chụp và quay phim được rất nhiều trường hợp mổ xẻ, mà theo dõi được bằng phim ảnh tất cả các diễn tiến của các cuộc mổ xẻ.

– Các thần y, khi được phỏng vấn, đều quả quyết rằng sở dĩ mình chữa được bệnh, là nhờ thần thánh phụ thể…[57]

Về phương pháp trị bệnh của Thiền tông, ta thấy ghi: «Trong khi cơ thể bất hòa, nhức mình, nặng đầu, nghẹt mũi, nóng lạnh … no hơi, ăn không tiêu v.v… Khi ấy hành giả ngồi ngay thẳng, bắt đầu thở mạnh như vầy: NAM, MÔ, A hít vô từ sống mũi xuống chấn thủy và chạy thẳng xuống đơn điền (dưới rún 5 phân) vừa đầy hơi rán thở vô cho thẳng bụng dưới. Kế bắt đầu từ từ thở ra niệm: DI, ĐÀ, PHẬT, (từ đơn điền lên tới chấn thủy lên luôn sống mũi) thở ra cuối hơi, hóp bụng vô cho thật sát, cứ mãi thở và niệm Phật đến liên tiếp như vậy từ một trăm đến hai, ba, bốn, năm trăm hơi tùy theo sức của hành giả. Khi nào thấy hơi mệt, và ấm áp cả thân mình thì cứ để tự nhiên cho hơi thở điều hòa lấy.» (Muốn cho có phần kết quả trong phương pháp này, thì mỗi lần thở từ 300 hơi sắp lên mới thấy ứng nghiệm.) [58]

Những chứng cớ trên cho ta thấy rằng phép hô thần, cầu thần để chữa bệnh cho mình, chẳng có gì là mê tín, với điều kiện tiên quyết là trước khi muốn thực hành chữa bệnh, phải hun đúc niềm tin cho vững mạnh trong vòng một thời gian lâu lai, ít là năm năm.

Bác sĩ Decker hỏi thần y Terte, người Phi Luật Tân, làm sao có thể có thần lực để chữa bệnh. Ông Terte trả lời: «Có thể mất từ 3 đến 5 năm. Trong khi đó ông chỉ việc đọc mỗi đêm Phúc Âm Gioan chương 15, 16, và 17.»

Ông Decker kể thêm: «Trước đây đêm nào tôi cũng đọc thánh vịnh David thứ 119. Nhưng 3 tới 5 năm thì quá lâu, tôi không chờ được…» [59]

Và như vậy sự khỏi bệnh nơi mình, nơi người có thể cắt nghĩa bằng một trong những lý do sau:

– Thần linh trực tiếp phụ thể để chữa bệnh.

– Lòng tin mãnh liệt có thể chữa lành bệnh.

– Sức mạnh của ý chí có thể chữa lành bệnh.

– Sau nhiều năm tháng tồn thần, tụ thần, thần lực trong người gia tăng, do đó có thể vận dụng thần lực đó để chữa bệnh.

– Tự kỷ ám thị có thể chữa lành bệnh.

– Mình đã xử dụng được huyền năng, huyền lực sẵn có trong trời đất để chữa bệnh.

– Vận khí điều tức để gây lại thể quân bình trong người nên có thể chữa lành bệnh.

– Sau khi tu luyện nhiều năm nhiều tháng, sau khi đã đi được vào những tầng sâu con người, lúc ấy có thể sử dụng được nguồn huyền lực sẵn có trong con người để lành bệnh.

Điều mà tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là: Định tĩnh lâu ngày, thần lực sẽ tăng. Thần lực tăng, các khả năng nơi con người đều tăng, và như vậy người đạo sĩ như đã có được chiếc nhẫn thần, có thể sử dụng được các nguồn huyền lực trong trời đất. Vấn đề chữa bệnh chỉ là một trong những hậu quả là người tu luyện lâu năm có thể gặt hái được.[60]

9. Trên đây, tôi đã bàn nhiều đâu là Huỳnh Đình trong con người, và dùng đủ mọi chứng lý đạo học, Dịch học, y học để đi đến kết luận rằng: Huỳnh Đình là Thái cực, là Cốc thần, mà Thái cực hay Cốc thần thì ở ngay nơi tâm điểm đầu não con người.

Điều đó thực ra cũng rất chính thống, và các sách đạo Lão cũng nhiều nơi công nhận như vậy.

Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 viết: «Ngô thân trung chi Huỳnh Đình, Thái cực lập yên.» 吾 身 中之 黃 庭 太 極 立 焉 (q. Hanh, tr. 12b)

Sách Kim Đan Đại Thành 金 丹 大 成 (tr. 4) viết: «Đầu hữu cửu cung, trung hữu Nê hoàn.» 頭 有 九宮 中 有 泥 丸.

Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨 viết: «Đầu hữu cửu cung, trung hữu Cốc thần.» 頭 有 九 宮 中 有 谷 神 (q. Hanh, tr. 21b)

Tiên Học Diệu Tuyển 仙 學 妙 選 (tr. 131) viết: «Ngũ khí câu triều ư Thượng điền, tam hoa giai tụ ư Càn đỉnh.» 五 氣 俱 朝 於 上 田 , 三 華 皆 聚 於 乾 頂.

Nhưng mặt khác, khi đọc các lời bình Huỳnh Đình kinh và đọc nhiều sách đạo Lão khác, thì thấy xưa nay có rất nhiều người chủ trương Huỳnh Đình ở nơi khoảng gần rốn, nơi Chấn Thủy …

Ta lập sơ đồ dưới đây để toát lược lại quan niệm thông thường của các đạo gia về Tam thiên, Tam cung, Tam Lão, Tam đan như sau:

TAM
THANH

Ngọc Thanh
Thượng thanh
Thái thanh

TAM
CẢNH

Thánh cảnh
Chơn cảnh
Tiên cảnh

TAM
QUÂN

Nguyên thủy Thiên bảo quân
Ngọc thần Linh bảo quân
Đạo đức thần bảo quân

TAM
CUNG

Nê hoàn
Giáng cung (Huỳnh đình)
Đan điền

TAM
ĐAN

Thượng đan
Trung đan
Hạ đan

Người khẳng định mạnh nhất rằng trong khoảng giữa bụng là Huỳnh Đình có lẽ là tác giả vô danh của quyển Dưỡng Sinh Bí Lục 養 生 祕 錄.

Ta thấy ghi: «Trung hoàng là chốt then của khoa luyện đan. Nó là nơi tổng hội của 8 phương. Tức gọi là Trung cung, Huỳnh Đình, Huyền tẫn, Tiên thiên nhất khí hay Chỉ ư chí thiện. Lấy đốt giữa ngón tay giữa làm tắc chuẩn, thì từ rốn lên 3 tấc 6 phân, tính vào 1 tấc 3 phân là Huỳnh Đình vậy.» [61]

Quyển Tiên Học Chân Thuyên 仙 學 真銓 của Nguyên Đồng Tử 元 同 子 có ghi: «Tĩnh tâm nhìn vào nơi dưới tim, trên rốn khoảng một bàn tay tức Trung cung. Chỉ cần thanh tĩnh, để tóc xõa tự nhiên, chuyên nhất, trì cửu, sẽ trực thượng dữ thiên thông.» [62]

Có một điều kỳ lạ là thời trung cổ bên Âu Châu cũng có một môn phái tu luyện chuyên nhìn rốn, đồng thời niệm tên Chúa Giêsu, để cầu giải thoát.

Tu sĩ Barlaam tố cáo họ với giáo chủ Constantinople như sau: «… Họ nhịn thở thật lâu và luôn mồm tụng niệm: Lạy Chúa, xin thương xót tôi. Cằm họ gập xuống ngực, và mắt nhìn chăm chú vào rốn. Họ cho rằng bụng là nơi chứa hồn, và họ nhờ phương pháp này có thể xuất thần, thấy được nước trời trong thân xác họ, và thấy thân thể họ phát quang, y như chúa Jésus khi Ngài ở trên núi Thabor.» [63]

Barlaam gọi họ là những tu sĩ nhìn rốn (Ombilicaires). Các nhà khảo cứu đạo giáo gọi họ là Hésychastes (tĩnh tu). Dân chúng gọi họ là Người có Hồn nơi rốn (Omphalopsychoi).[64]

Sở dĩ tôi ghi lại những sự kiện trên, là để cho chúng ta có cái nhìn trung thực về lịch sử đạo Lão, và cũng là vì trong quá khứ đã có nhiều người tin theo như vậy.

Riêng tôi, tôi dứt khoát chủ trương Nê Hoàn hay Cốc thần mới chính là Huỳnh Đình. Bụng chỉ đóng một vai trò thứ yếu, mặc dầu là chúng ta thường nói: Dĩ thực vi tiên …

10. Huỳnh Đình kinh nói về ngũ tạng và đởm.

Bàn về Huỳnh Đình như vậy cũng đã khá nhiều. Chỉ cần ghi nhận thêm: Huỳnh Đình Nội Cảnh nói hơi nhiều về ngũ tạng và về đởm. Nội Cảnh chỉ có 36 chương mà 13 chương (8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 31, 32, 33, 34, 35) nói về ngũ tạng và đởm. Nói đi rồi lại nói lại. Có lẽ tác giả Ngoại Cảnh đã thấy điều này nên cắt xén một số chương này và đã toát lược lại cho ngắn hơn, gọn hơn.

Trên đây, tôi đã trình bày mọi khía cạnh của Huỳnh Đình, từ thấp đến cao, để quí vị tùy nghi từ cao xuống thấp, hoặc đi từ thấp lên cao. Bình dịch quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh này tôi chỉ muốn nói lên niềm tin của người xưa là:

– Trong con người, có thần trời đất ngự.

– Con người có thể trực tiếp được với thần minh bằng cách định thần quán tưởng.

– Con người nếu biết tu luyện, biết định thần, biết điều tức dẫn đạo, có thể có một đời sống khỏe mạnh, an lạc thư thái, và cuối cùng có thể trở thành thần minh, dữ Đạo hợp chân 與 道 合 真, dữ Thiên vi Nhất 與 天 為 一.

Ước mong độc giả nắm được những tư tưởng then chốt ấy, biết được đường hướng tu luyện là: phản thân nhi thành, tâm nội quán tâm mịch Bản tâm, và mục phiêu tu luyện là trở thành thần minh. Có nắm được những tư tưởng then chốt ấy mới sử dụng hữu hiệu Huỳnh Đình kinh, và biến Huỳnh Đình kinh thành phương tiện cho mình trở thành Chân nhân 真 人, Thiết hán 鐵 漢 …[65]

(Xem tiếp  Chú thích)

CHÚ THÍCH

[1] Đạo Học từ điển 道 學 辭 典, nơi chữ Đạo thư 道 書, tr. 205: Đại Đỗng Ngọc Kinh dĩ hóa phàm. Xướng Đạo Chân Ngôn dĩ luyện tâm. Tham Đồng, Ngộ Chân, Thanh Hoa, Huỳnh Đình dĩ liễu mệnh. Tam Hoàng Nội Văn dĩ độ nhân. 大 洞 玉 經 以 化 凡. 唱 道 真 言 以 鍊 心. 參 同, 悟 真, 青 華, 黃 庭 以 了 命. 三 皇 內 文 以 度 人…

[2] Huỳnh Đình đa ngôn khiếu, Đạo Đức đa ngôn diệu. 黃 庭 多 言 竅, 道 德 多 言 妙.

[3] Độc chí vạn biến, tất năng động kiến quỉ thần, an thích thiên hồn, địa phách, điều hòa ngũ tạng lục phủ, sinh hoa sắc, phản anh hài, nãi bất tử chi đạo dã. 讀 至 萬 遍, 必 能 洞 見 鬼 神, 安 適 天 魂, 地 魄, 調 和 五 臟 六 腑, 生 華 色, 反 嬰 孩, 乃 不 死 之 道 也.

        Xem phụ lục của Huỳnh Đình kinh, Tử Hà chú, tr. 10a… Thần thất minh chính, thai chân an ninh, linh dịch lưu thông, bách quan lãng thanh, trường vị hư doanh… 神 室 明 正, 胎 真 安 寧, 靈 液 流 通, 百 關 朗 清, 腸 胃 虛 盈…

       Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 1b

       Hình sung hồn tinh 形 充 魂 精 (tr. 1b)

       Hình cố thần khiết. Nội triệt thân linh, ngoại giáng anh thánh. Ẩn chi đại động, ư thị nhi chí… 形 固 神 潔. 內 徹 身 靈, 外 降 英 聖. 隱 芝 大 洞, 於 是 而 至. (tr. 1b. 2a).

[4] Toàn hình tập thần, khí chính, tâm thanh. 全 形 集 神, 氣 正, 心 清. Xem phụ lục của Huỳnh Đình kinh, Tử Hà chú, tr. 9a.

       Trừng chính thần khí. Thần khí chính tắc nội tà bất năng can. 澄 正 神 氣. 神 正 則 內 邪 不 能 干. (tr.1b, 9a)

[5] Tử hữu tiên tướng, đắc ngô thử thư. Thử văn la liệt nhất hình chi thần thất xứ, Thai thần chi sở tại nhĩ. 子 有 仙 相, 得 吾 此 書. 此 文 羅 列 一 形 之 神 室 處, 胎 神 之 所 在 耳. (Lời bình: Ư hình, trung chư thần, nãi bất đô tận, nhi mục kỳ thất trạch, diệc bị cùng, ủy mật hỹ. Thai thần tức Minh đường Tam Lão quân, sở vị Thai linh đại thần dã. Thử tối vi Huỳnh đình chi bổn.) 於 形, 中 諸 神, 乃 不 都 盡, 而 目 其 室 宅, 亦 備 窮, 委 密 矣. 胎 神 即 明 堂 三 老 君, 所 謂 胎 靈 大 神 也. 此 最 為 黃 庭 之 本. Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 1b.

[6] Căn cơ giả, vị nhân tri thủ Nhất dã. Hoa thái giả, vị nhân diện mục nhuận trạch, thể hữu quang hoa dã… 根 基 者, 謂 人 知 守 一 也. 華 采 者, 謂 人 面 目 潤 澤, 體 有 光 華 也.

[7] Huỳnh Đình giả tại đầu trung, Minh đường, Động phòng, Đan điền, thử tam xứ thị dã… Lưỡng mi gian, khước nhập nhất thốn vi Minh đường, nhị thốn vi Động phòng, tam thốn vi Đan điền. Thử tam xứ vi Thượng Nguyên, Nhất dã… Xích tử hóa vi Chân nhân, tại Minh đường trung, tự Tử Đan. Cố tri Nhất giả, tại Minh đường nhất xứ dã. 黃 庭 者 在 頭 中 明 堂, 洞 房, 丹 田, 此 三 處 是 也… 兩 眉 間, 卻 入 一 寸 為 明 堂, 二 寸 為 洞 房, 三 寸 為 丹 田. 此 三 處 為 上 元, 一 也… 赤 子 化 為 真 人, 在 明 堂 中, 字 子 丹. 故 知 一 者, 在 明 堂 一 處 也. Lương Khưu Tử chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 1a.

[8] Nhất hữu tính, tự, phục sắc… Tính tự, vị Tử Đan. Phục sắc, vị chu y dã… 一 有 姓, 字 服 色… 姓 字, 謂 子 丹. 服 色, 謂 朱 衣 也… Trang Tử viết: Ngã thủ kỳ Nhất, nhi xử kỳ hòa… 莊 子 曰 我 守 其 一, 而 處 其 和… Bão Phác tử viết: Dư văn chi sư vân: Nhân năng tri Nhất, vạn sự tất. 抱 朴 子 曰: 予 聞 之 師 云: 人 能 知 一, 萬 事 畢.

[9] Cố Tiên kinh viết: Tử dục trường sinh, thủ Nhất đương minh… Thủ Nhất, tồn chân, nãi năng thông Thần… Cao Tử Di Thư viết: Thu thập toàn phó tinh thần, chỉ tại nhất xứ. Vị tĩnh thời đương tụ toàn phó tinh thần ư lưỡng mi gian chi nhất xứ dã. 故 仙 經 曰: 子 欲 長 生, 守 一 當 明… 守 一, 存 真, 乃 通 神… 高 子 遺 書 曰: 收 拾 全 副 精 神, 只 在 一 處. 謂 靜 坐 時 當 聚 全 副 精 神 於 兩 眉 間 之 一 處 也. Lương Vụ Tử chú, Thái Thượng Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 7a.

[10] Tử năng thủ Nhất, vạn sự tất… 子 能 守 一, 萬 事 畢… Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 3b.

[11] Vạn thế thường tồn dữ Nhất vi hữu… 萬 世 常 存 與 一 為 友… (1b. tr. 3b)

[12] Cũng có sách thay vì viết là Tử Đan 子 丹 đã viết là Kiết Đan 孑 丹. Kiết 孑 có nghĩa là «đơn chiếc» (Xem Thái Thượng Huỳnh Đình Ngoại Cảnh Kinh Chú, Tung Ẩn Tử chú, tr. 12b).

[13] Huỳnh Đình Nội Cảnh, chương 17, 35.

[14] Pháp sư còn cho rằng chỗ ấy chính là Thiên nhãn, hay Huệ nhãn (con mắt thứ ba: troisième œil). Pháp sư cũng ghi nhận rằng trên các tượng Phật đều có một đốm giữa hai chân mày.

[15] Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 3b, nơi lời bình câu: Thùy dữ chi đẩu, nhật, nguyệt 誰 與 之 斗, 日, 月.

[16] Thử kinh dĩ Hư Vô vi chủ, cố dụng Huỳnh Đình tiêu chi nhĩ. 此 經 以 虛 無 為 主, 故 用 黃 庭 標 之 耳. Vụ Thành Tử 務 成 子 chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh 黃 庭 內 景 經, Tự 序, tr. 1a.

[17] Cửu tiêu phi hạ lưỡng Nguyên quân. Đan Hà, Thanh Hà giai Thiên nhân. Khẩu truyền Nam nhạc, Tử Hư vân: Thế thượng Huỳnh Đình đa ngộ văn. Thượng thanh tiên sứ hạ dao kinh. Bí bản truyền chi, tế thảo tầm… 九 霄 飛 下 兩 元 君. 丹 霞, 青 霞 皆 天 人. 口 傳 南 嶽, 紫 虛 云: 世 上 黃 庭 多 誤 文. 上 清 仙 使 下 瑤 京. 祕 本 傳 之, 細 討 尋… Tử Hà chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 4b.

[18] Tính vi tiên thiên, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Hồn vi hậu thiên, hữu sinh hữu diệt, hữu cấu hữu tịnh, hữu tăng hữu giảm. 性 為 先 天, 不 生 不 滅, 不 垢 不 淨, 不 增 不 減. 魂 為 後 天, 有 生 有 滅, 有 垢 有 淨, 有 增 有 減.

[19] Nuốt nước bọt để nuôi thân, hút thở khí trời để dưỡng hình làm sao đòi thành tiên thánh được. Muốn thành tiên, phải có được mầm tiên, giống tiên. Mà mầm tiên giống tiên ấy chính là Tiên thiên nhất khí, là thần linh nội tại. Câu trên trong Ngộ Chân Thiên, trích lại trong Huỳnh Đình Nội Cảnh của Tử Hà chú, tr. 6a.

[20] Như trên.

[21] Tiên Học Từ Điển, tr. 156.

[22] Tôi không đồng ý, vì có nhiều vị thánh công giáo đau ốm suốt đời.

[23] Xao Hào ca viết: Mệnh yếu truyền, Tính yếu ngộ. Nhập thánh siêu phàm do nhữ tố. Chỉ tu tính, bất tu mệnh, chỉ thị tu hành đệ nhất bệnh. Chỉ tu tổ tính, bất tu đan, vạn kiếp âm linh nan nhập thánh. Đạt mệnh tông, mê tổ tính; kháp tự giám dung vô bửu kính. Thọ đồng thiên địa nhất ngu phu. Quyền ốc gia tài, vô chủ bính. Tính mệnh song tu, huyền hựu huyền. Hải để hồng ba, giá pháp thuyền. Sinh cầm, hoạt tróc giao long thủ, Thủy tri tượng thủ bất hư truyền. 敲 爻 歌 曰: 命 要 傳, 性 要 悟. 入 聖 超 凡 由 汝 做. 只 修 性, 不 修 命, 只 是 修 行 第 一 病. 只 修 祖 性, 不 修 丹, 萬 劫 陰 靈 難 入 聖. 達 命 宗, 迷 祖 性; 恰 似 鑑 容 無 寶 鏡. 壽 同 天 地 一 愚 夫. 權 握 家 財, 無 主 柄. 性 命 雙 修, 玄 又 玄. 海 底 洪 波, 駕 法 船. 生 擒, 活 捉 蛟 龍 首, 始 知 匠 手 不 虛 傳.

[24] Nói cho đúng ra, thì Phách vẫn có thể là Khí nhưng không khinh thanh bằng hồn, hơn nữa Phách nhất định phải liên hệ chặt chẽ với xác hơn. Ta thấy nói: Hồn phách nhị khí chi linh 魂 魄 二 氣 之 靈 (Đạo Học Từ Điển, tr. 244), nhưng cũng thấy nói: Thác là thể phách, còn là tinh anh.

[25] Não vị Côn Lôn, cứ thượng tượng thiên. Bổ Thiên tức Huỳnh Đình kinh chi bổ não. Sở vị Tử dục bất tử tu Côn Lôn thị dã. 腦 謂 崑 崙, 居 上 象 天. 補 天 即 補 黃 庭 經 之 補 腦. 所 謂 子 欲 不 死 修 崑 崙是 也. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 197, 198.

[26] Tung Ẩn Tử chú, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 15a.

[27] Nguyễn Đình Chiểu, Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật, tr. 97-98.

[28] J’ai considéré notre âme comme un château, fait d’un seul diamant ou d’un cristal très pur. Tout comme au ciel, il y a diverses demeures ce Château renferme plusieurs apparte-ments: les uns sont en haut, les autres en bas, d’autres dans les ailes, enfin au centre, au milieu de tous, se trouve le principal où se passent les choses les plus secrètes entre Dieu et l’âme.

       Vous savez comment la tige du palmier est formée de plusieurs enveloppes qui entourent et protègent la partie savoureuse, le coeur proprement dit de l’arbre, de même, au centre du château, se trouve la demeure du Roi, et tout autour sont d’autres demeures…

       Illan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p. 164.

[29] The one of these pillars he set at the entrance of the porch on the right hand, or South, and called it Jachin, and the other at the the left hand, or North and called it Boaz. (Mackey’s revised Encyclopedia, volume 2, p. 778-779).

   … In this respect, they are representative of Space and Time, which were cast by the Great Architect of the Universe in the clay ground of the brain and placed in the porchway of human consciousness, where they constitute the border between material and spiritual science. (Sđd., tr. 666)

[30] The Middle Chamber, the abiding place of Truth (Sñd., tr. 1109) until in the Middle Chamber of life – in the full fruition of manhood – the reward is attained, and the purified and elevated intellect is invested with the reward in the direction, now to seek God and God’s truth. (Sđd., tr. 1110)

[31] Un seul homme contient en lui l’univers tout entier.

La vie de Vivekananda, Tome 1, p. 92.

[32] Depuis Civa est entré dans mon cerveau et il n’en veut plus sortir… Sđd., q. I, tr. 160.

[33] Oh! now what is here in this city of Brahma (the body) is an abode a small lotus-flower (the heart). Within that is a small space. What is in that should be searched out, that assuredly, is what one should desire to understand … As far, verily, as this world-space extends, so far extends the space within the heart. Within it indeed are contained both heaven and earth, both fire and wind, both sun and moon, lightenings and the stars, both what one possesses here and what one does not possess, everything here is contained within it.

       Chandogya Upanishads, 8. I. I – 2.

[34] The Inner Soul of all things, the one controller,

       Who makes his one form manifold.

       The wise who perceive Him as standing on oneself,

       They and no others, have eternal happiness,

       His who is the Constant among the inconstant, the intelligent among intelligences,

       The One among many, who grants desires,

       The wise who perceive Him as standing on oneself,

       They and no others, have eternal peace.

       Katha 5. 14 và Prasna 6. 5 – Brith. 4. 4. I – 2.

[35] Margarita, Thông điệp tình yêu nhân hậu gởi cho các tâm hồn nhỏ, Saigon 73, tr. 177.

[36] Nul autre dogme que la divinité inscrite en l’homme et son pouvoir d’évolution indéfinie. Vie de Vivekananda, Sđd., q. I, tr. 47.

[37] Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 2b. Tu đạo giả, cư trung nhi lập, hợp tam đan vi Nhất Hư Vô. Dĩ vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm… 修 道 者, 居 中 而 立, 合 三 丹 為 一 虛 無. 以 無 所 住 而 生 其 心…

[38] Il est manifeste que Dieu est la substance de tous les corps et de toutes les âmes. (Saint Hilaire). – Illan De Casa Fuerte, La Réligion essentielle, tr. 87.

[39] Dieu seul est la forme première et unique de toutes choses. (Sđd., tr. 126)

[40] Le Ciel est au dedans et non au dehors de chacun. (Emmanuel Svedenborg, Sđd., tr. 184).

[41] Monter vers Dieu, c’est entrer en soi même. Celui qui entre en lui même et pénètre au fond de son âme se dépasse et atteint vraiment Dieu. La Réligion essentielle, tr. 130.

[42] C’est une grande grâce que Dieu nous fait quand il nous aide à le chercher dans notre intérieur. (Sđd., tr. 167).

[43] Huỳnh giả trung ương chi sắc. Đình giả tứ phương chi trung. Luyện đan tại thử. Kết đan tại thử. Hoàn đan tại thử. Dưỡng thần tại thử. Nhất Thần chính vị nhi trung lập. Vạn Thần triều củng nhi hoàn trần. Huỳnh đình chi thể dụng bị hĩ. 黃 者 中 央 之 色. 庭 者 四 方 之 中. 煉 丹 在 此. 結 丹 在 此. 還 丹 在 此. 養 神 在 此. 一 神 正 位 而 中 立. 萬 神 朝 拱 而 環 陳. 黃 庭 之 體 用 備 矣. Tử Hà chú, Huỳnh Đình kinh, tr. 3b, 4a.

[44] Nhân đầu hữu cửu cung, trung hữu nhất sở, danh viết Thiên cốc thanh tĩnh vô trần, năng tương Nguyên thần an trí kỳ Trung, hào bất ngoại trì, tắc thành Chân, chứng Thánh, tức tại thử hĩ. Huỳnh Đình kinh vân: Tử dục bất tử tu Côn Lôn. Khả kiến thủ thử Thiên cốc hữu vô hạn chi diệu uẩn dã. 人 頭 有 九 宮, 中 有 一 所, 名 曰 天 谷 清 靜 無 塵, 能 將 元 神 安 置 其 中, 毫 不 外 馳, 則 成 真, 證 聖, 即 在 此 矣. 黃 庭 經 云: 子 欲 不 死 修 崑 崙. 可 見 守 此 天 谷 有 無 限 之 妙 蘊 也. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 298.

[45] Thiên Cốc Nguyên thần thủ chi tự chân. 天 谷 元 神 守 之 自 真 (Sđd., tr. 390)

[46] Sđd., tr. 390.

[47] Não vị Côn Lôn. Cư thượng tượng thiên. Bổ thiên tức Huỳnh Đình kinh chi bổ não, sở vị Tử dục bất tử tu Côn Lôn thị dã. 腦 謂 崑 崙. 居 上 象 天. 補 天 即 黃 庭 經 之 補 腦, 所 謂 子 欲 不 死 修 崑 崙 是 也. Sđd., tr. 197.

[48] Sđd., tr. 391. Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Lợi, tr. 10a.

[49] Contemlation of persons and their qualities entails a great deal of analytic thinking and an incessant use of the imagination. But analytic thinking and imagination are precisely the things which prevent the soul from attaining enlightenment. On this point all the great mystical writers Chirstian and oriental, are unanimous and emphatic. Consequently, the would-be mystic who chooses as the object of his love and contemplation, not the godhead, but a person and personnal qualities, thereby erects insurmontable barriage between and the higher states of union…

       Aldous Huxley, Grey Eminence (New York 1941), p. 101.

       William Johnston, The Still Point, Perennial Library, Harper and Row, Publishers, New York, Evanston, San Francisco, London, 1971, p. 152-153.

[50] Viên Đốn Tử chú, Huỳnh Đình kinh giảng nghĩa.

       Lý Lạc Cầu, Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 41.

[51] Tử Hà chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 4a.

[52] Bạch Nguyên là thần phổi.

[53] Đây là thần tim, Đơn Nguyên.

[54] Đây là niệm thần gan Thanh đồng, Xá Minh.

[55] Đây là thần thận Huyền Minh.

[56] Giác Nhiên, Pháp Môn Tọa Thiền, tr. 59.

[57] Harold Sherman, Wonder healers of the Philippines, DeVorss and Co. Los Angeles, Calif.

[58] Giác Nhiên, Pháp Môn Tọa Thiền, tr. 59.

[59] Harold Sherman, Wonder healers in the Philippines, tr. 52.

[60] Evelyn Underhill, Mysticism, p. 183. The will … is king, not only of the House of Life, but of the universe outside the gates of sense. It is the key to «man limitless»; the true «ring of Gyges,» which can control the forces of nature, known and unknown.

[61] Trung Hoàng vi đan quýnh, thị bát phương tổng hội xứ, tức sở vị Trung cung, Huỳnh Đình, Huyển tẫn, Tiên thiên nhất khí, huyền quan nhất khiếu. Sở vị chỉ ư chí thiện dã. Dĩ trung chỉ tiết văn vi tắc, Tề (Thận) chi thượng tam thốn lục phân, kỳ trung nhất thốn tam phân xứ nãi Huỳnh Đình dã. 中 黃 為 丹 扃, 是 八 方 總 會 處, 即 所 謂 中 宮, 黃 庭, 玄 牝, 先 天 一 氣, 玄 關 一 竅, 所 謂 止 於 至 善 也. 以 中 指 節 文 為 則, 臍 (腎 ) 之 上 三 寸 六 分, 其 中 一 寸 三 分 處 乃 黃 庭 也. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 164.

[62] Tĩnh quán tâm hạ tề thượng ước nhất chưởng chi địa, sở vị Trung cung. Đãn Hư tĩnh, khinh tùng, chuyên nhất, trì cửu, tắc khả: Trực thượng dữ thiên thông. 靜 觀 心 下 臍 上 約 一 掌 之 地, 所 謂 中 宮. 但 虛 靜, 輕 鬆, 專 一, 持 久, 則 可: 直 上 與 天 通. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 188.

[63] G. Welter, Histoire des Sectes chrétiennes des Origines à nos Jours, Payot Paris, 1950, p. 102.

[64] E. Royston Pike, Dictionnaire des Religions, p. 149 nơi chữ Hésychastes.

[65] Tính Mệnh Khuê Chỉ 性 命 圭 旨, q. Hanh, chương Hàm dưỡng bản nguyên cứu hộ mệnh bảo 涵 養 本 原 救 護 命 寶 cho rằng: Muốn trở nên bất tử thì phải tìm cho được bất tử nhân 不 死 人 trong con người, Lão giáo gọi bất tử nhân 不 死 人 ấy là Thiết hán 鐵 漢. Phật gia gọi đó là Kim cương金 剛. Thiết hán hay Kim cương chính là Bản lai Diệu giác Chân tâm 本 來 妙 覺 真 心 của người đời.

———————————–

(Xin xem tiếp Phần Dịch và Bình giảng)

PHẦN II – BÌNH DỊCH

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 – THƯỢNG THANH

CHƯƠNG 2 – THƯỢNG HỮU

CHƯƠNG 3 – KHẨU VI

CHƯƠNG 4 – HUỲNH ĐÌNH

CHƯƠNG 5 – TRUNG TRÌ

CHƯƠNG 6 – THIÊN TRUNG

CHƯƠNG 7 – CHÍ ĐẠO

CHƯƠNG 8 – TÂM THẦN

CHƯƠNG 9 – PHẾ BỘ

CHƯƠNG 10 – TÂM BỘ

CHƯƠNG 11 – CAN BỘ

CHƯƠNG 12 – THẬN BỘ

CHƯƠNG 13 – TỲ BỘ

CHƯƠNG 14 – ĐẢM BỘ

CHƯƠNG 15 – TỲ TRƯỜNG

CHƯƠNG 16 – THƯỢNG ĐỔ

CHƯƠNG 17 – LINH ĐÀI

CHƯƠNG 18 – TAM QUAN
 
CHƯƠNG 19 – NHƯỢC ĐẮC

CHƯƠNG 20 – HÔ HẤP

CHƯƠNG 21 – QUỲNH THẤT

CHƯƠNG 22 – THƯỜNG NIỆM

CHƯƠNG 23 – TRỊ SINH

CHƯƠNG 24 – ẨN ẢNH

CHƯƠNG 25 – NGŨ HÀNH

CHƯƠNG 26 – CAO BÔN

CHƯƠNG 27 – HUYỀN NGUYÊN

CHƯƠNG 28 – TIÊN NHÂN

CHƯƠNG 29 – TỬ THANH

CHƯƠNG 30 – BÁCH CỐC

CHƯƠNG 31 – TÂM ĐIỂN

CHƯƠNG 32 – KINH LỊCH

CHƯƠNG 33 – CAN KHÍ

CHƯƠNG 34 – PHẾ CHI

CHƯƠNG 35 – ẨN TÀNG

CHƯƠNG 36 – MỘC DỤC

———————————————————

CHƯƠNG 1

THƯỢNG THANH

上 清

A. KINH VĂN

1. Thượng Thanh, Tử Hà, Hư Hoàng tiền,

上 清 紫 霞 虛 皇 前

2. Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân.

太 上 大 道 玉 晨 君

3. Nhàn cư Nhụy Châu, tác thất ngôn.

閑 居 蕊 珠 作 七 言

4. Tán hóa ngũ hình, biến vạn thần,

散 化 五 形 變 萬 神

5. Thị vi Huỳnh đình, viết Nội thiên,

是 為 黃 庭 曰 內 篇

6. Cầm tâm Tam điệp, vũ thai tiên,

琴 心 三 疊 儛 胎 仙

7. Cửu khí ánh minh, xuất tiêu gian,

九 氣 映 明 出 霄 間

8. Thần cái, đồng tử, sinh tử yên,

神 蓋 童 子 生 紫 煙

9. Thị viết ngọc thư, khả tinh nghiên.

是 曰 玉 書 可 精 研

10. Vịnh chi vạn quá, thăng Tam thiên,

詠 之 萬 過 昇 三 天

11. Thiên tai dĩ tiêu, bách bệnh thuyên.

千 災 以 消 百 病 痊

12. Bất đạn hổ lang chi hung tàn,

不 憚 虎 狼 之 凶 殘

13. Diệc dĩ khước lão, niên vĩnh diên.

亦 以 卻 老 年 永 延

B. LƯỢC DỊCH

Từ cung trời thẳm, Thượng Thanh thiên,

Kinh được viết ra, Ngọc Đế tiền,

Lời thơ bảy chữ, đầy châu ngọc,

Tán hóa thân hình, thành vạn tiên…

Huỳnh Đình mỹ hiệu gọi Nội Thiên,

Khiến tâm linh sảng, thưởng Tam thiên.

Tâm thần hòa hợp cùng Ngọc Đế,

Mắt tỏa hào quang, rực ánh tiên…

Đó chính ngọc thư phải tinh nghiên

Đọc được vạn lần, thăng Tam thiên.

Thiên tai vạn bệnh, đều qua khỏi,

Hổ lang chẳng hại, lại diên niên…

C. CHÚ THÍCH

Tử Hà cho rằng ba câu đầu, là do đức Vương Thiều Dương tổ sư 王 少 陽 祖 師, Đông Hoa Đế Quân 東 華 帝 君, đã phỏng theo âm vận Huỳnh Đình viết ra tán dương, xưng tụng Huỳnh Đình kinh. Như vậy chính kinh bắt đầu từ câu thứ 4.

Câu 1. Thượng Thanh, Tử Hà, Hư Hoàng tiền,

上 清 紫 霞 虛 皇 前

Thượng Thanh là cung Thượng Thanh trên trời. Theo đạo Lão, trời có ba cung:

– Ngọc Thanh 玉 清 (nơi ngự của đức Nguyên Thủy Thiên Bảo quân)

– Thượng Thanh 上 清 (nơi ngự của đức Ngọc Thần Linh Bảo quân)

– Thái Thanh 太 清 (nơi ngự của đức Đạo Đức Thần Bảo quân)

Ba cung trời với Tam quân 三 君, Tam Lão 三 老 nói trên đều hóa ra từ Lão quân nhất khí 老 君 一 氣 (tức là: Lão quân 老 君, Nhất khí 一 氣, Tiên Thiên nhất khí 先 天 一 氣, Tiên Thiên Nhất khí Thái Thượng Lão quân 先 天 一 氣 太 上 老 君, v.v.) Như vậy Tam Thanh đều sinh ra cùng một gốc. Đọc lời bình của Tử Hà về chương này, ta có một bằng chứng rõ rệt là đạo Lão chủ trương Nhất thể tán vạn thù 一 體 散 萬 殊.

Nơi con người, cũng có Tam Thanh:

– Ngọc Thanh cung tức Nê Hoàn cung.

– Thượng Thanh cung tức Giáng cung.

– Thái Thanh cung tức Hạ đan điền.

Đại Thừa Chân Giáo [1] lại xếp ba cung trên theo hàng ngang. Ý nói, ba cung Trời đều ở trong đầu não con người: nơi não thất ba, và hai xoang não hai bên.

Tử Hà 紫 霞: Bầu trời đầu tiên. Tử hà nguyên nghĩa là vầng mây tía.

Hư Hoàng 虛 皇: Nội hiệu của đức Tử Thanh Thái Tố Cao Hư Động Diệu Tam Nguyên Đạo Quân 紫 清 太 素 高 虛 洞 曜 三 元 道 君.

Câu 2. Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân.

太 上 大 道 玉 晨 君

Thái Thượng 太 上: Là Cao Thánh Thái Chân Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân 高 聖 太 真 玉 晨 玄 皇 大 道 君.

Câu 3. Nhàn cư Nhụy Châu tác thất ngôn.

閑 居 蕊 珠 作 七 言

Nhụy Châu cung 蕊 珠 宮: Tên một cung Trời Thượng Thanh (Thượng Thanh cảnh cung khuyết 上 清 境 宮 闕).

Câu 4. Tán hóa ngũ hình, biến vạn thần.

散 化 五 形 變 萬 神

Biến hóa thần hình thành nhất khí. Tử Hà giải: Khí khí tương tục biến thành vạn thần 氣 氣 相 續 變 成 萬 神.

Câu 5. Thị vi Huỳnh Đình, viết Nội thiên.

是 為 黃 庭 曰 內 篇

Huỳnh Đình 黃 庭: Đình là nhà lớn. Huỳnh là màu vàng của Trung Cung. Huỳnh Đình tượng trưng cho Thái Cực 太 極, cho Hư vô nhất khiếu 虛 無 一 竅 nơi con người.

Câu 6: Cầm tâm Tam điệp, vũ thai tiên.

琴 心 三 疊 儛 胎 仙

Cầm tâm 琴 心: Cầm tâm là đàn cầm. Cầm tâm tức là điều hòa tâm hồn, và như vậy tâm hồn được ví như cây đàn. Huỳnh Đình kinh vì vậy mà còn được gọi là Thái Thượng Cầm Tâm Văn 太 上 琴 心 文.

Tam điệp 三 疊: Ba tầng trong người tức là Tam đan điền.

Vũ thai tiên 儛 胎 仙: Vui với Thai tiên (Thai Linh đại thần 胎 靈 大 神).

Câu 7. Cửu khí ánh minh, xuất tiêu gian.

九 氣 映 明 出 霄 間

Bản Tử Hà, thay vì hai chữ ánh minh 映 明 lại viết lãng ánh 朗 映.

Vụ Thành Tử giải câu «Cửu khí ánh minh xuất tiêu gian» như sau: Cửu thiên chi khí, qua lỗ mũi, chu lưu trong óc não con người, ánh quang minh thượng đạt, vì thế gọi là xuất tiêu gian. 九 天 之 氣, 入 於 人 鼻, 周 流 腦 宮, 映 明 上 達, 故 曰 出 霄 間 (Tiêu 霄 là trời).

Câu 8. Thần cái, đồng tử, sinh tử yên.

神 蓋 童 子 生 紫 煙

Thần cái 神 蓋: Lọng thần, đây là lông mi.

Đồng tử 童 子: Mắt.

Tử yên 紫 煙: Ánh sáng của mắt.

Câu 10. Vịnh chi vạn quá, thăng Tam thiên.

詠 之 萬 過 昇 三 天

Bản của Tử Hà chép là tụng chi vạn biến 誦 之 萬 遍.

D. BÌNH GIẢNG

Kinh này được đức Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân viết ra trên bầu trời Tam Thanh, trong cung Nhụy Châu, trước mặt đức Hư Hoàng. (Tam Nguyên Đạo quân). (câu 1, 2, 3)

Kinh này gọi là Huỳnh Đình Nội Cảnh hay Nội Thiên. Nó giúp ta điều hòa tâm hồn, để có thể hòa hài cùng Ngọc Đế. (Câu 4)

Khi đọc kinh này, khí thiêng trời đất như tràn ngập tâm thần ta, khiến ta lâng lâng, như bay lên trên chín tầng trời thẳm, làm cho mắt ta rực rỡ ánh thần quang. (Câu 6, 7, 8)

Đó là Ngọc thư, nên nghiên cứu cho kỹ lưỡng. (Câu 9)

Đọc quá vạn lần, với một lòng thành khẩn; khiết tịnh, tinh vi, sẽ thành Đại La Tiên, lên trên trời Tam Thanh. (Câu 10)

Thường xuyên trì tụng sẽ được tai qua, bệnh khỏi, sẽ không sợ hổ lang, lại được phần lão hoàn đồng, diên niên tăng thọ. (Câu 11, 12, 13)

Kinh Huỳnh Đình, vì có mục đích điều hòa tâm thần (cầm tâm) nên còn được gọi là Thái Thượng cầm tâm văn.

Đức Phù Tang Đại Đế Quân, sau khi đọc kinh này đã khắc vào kim giản nên kinh này còn được gọi là Đại Đế Kim Thư. Các vị ngọc nữ tiên nhân ở cung đức Đông Hoa, còn khắc kinh này vào ngọc, nên cũng được gọi là Đông Hoa Ngọc Thiên.

CHƯƠNG 2

THƯỢNG HỮU

上 有

 A. KINH VĂN

1. Thượng hữu hồn linh, hạ Quan nguyên.

上 有 魂 靈 下 關 元

2. Tả vi Thiếu Dương, hữu Thái Âm.

左 為 少 陽 有 太 陰

3. Hậu hữu mật hộ, tiền sinh môn.

後 有 密 戶 前 生 門

 4. Xuất nhật nhập nguyệt, hô hấp tồn.

出 日 入 月 呼 吸 存

5. Tứ khí sở hợp, liệt tú phân,

四 氣 所 合 列 宿 分

6. Tử yên thượng hạ tam tố vân.

紫 煙 上 下 三 素 雲

7. Quán khái ngũ hoa, thực linh căn.

灌 溉 五 華 植 靈 根

8. Thất dịch động lưu, xung lư gian.

七 液 洞 流 衝 廬 間

9. Hồi tử, bão hoàng, nhập đan điền,

回 紫 抱 黃 入 丹 田

10. U thất nội minh, chiếu Dương minh.

幽 室 內 明 照 陽 明

B. LƯỢC DỊCH

Trên có hồn linh, dưới Quan nguyên,

Tả là Thiếu Dương, hữu Thái Âm,

Sau có mật hộ, trước sinh môn,

Nhật nguyệt vào ra, hô hấp tồn.

Tứ khí hiệp hòa, tinh tú phân,

Rõ ràng lên xuống áng tường vân.

Khí thiêng hun đúc, linh căn dưỡng,

Trời đất tinh hoa, óc não tràn.

Thu tía ôm vàng vào Đan điền.

Tâm thất u minh thành xán lạn,

Quang hoa tung tỏa, chiếu tâm xoang …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Thượng hữu hồn linh hạ Quan nguyên.

上 有 魂 靈 下 關 元

Hồn linh 魂 靈: Tử Hà giải là Tâm trung chi Nguyên thần 心 中 之 元 神.

Quan Nguyên 關 元: Vị trí dưới rốn 3 tấc.

Câu 2. Tả vi Thiếu Dương, hữu Thái Âm.

左 為 少 陽 有 太 陰

Thiếu Dương 少 陽: Đởm (mật).

Thái Âm 太 陰: Phế (phổi).

Câu 3. Hậu hữu mật hộ, tiền sinh môn.

後 有 密 戶 前 生 門

Tử Hà giải Mật hộ là Giáp tích quan 夾 脊 關 ở xương sống lưng; Sinh môn là rốn (tề 臍). Vụ Thành Tử giải mật hộ là thận 腎; Sinh môn là Mệnh môn 命 門.

Câu 4. Xuất nhật, nhập nguyệt, hô hấp tồn.

出 日 入 月 呼 吸 存

Vụ Thành Tử giải: Mặt trời và mặt trăng vào ra thân mình qua đôi mắt, chiếu diệu châu thân, thấu tới Nê Hoàn, quán chiếu phủ tạng. Tượng như thân mình và ánh sáng nhật nguyệt hai vầng đồng tỏ, như ánh sáng hai vầng nhật nguyệt kết thành thân xác mình.

Câu 5. Tứ khí sở hợp, liệt tú phân.

四 氣 所 合 列 宿 分

Bản Tử Hà viết nguyên khí 元 氣 thay vì tứ khí 四 氣.

Tứ khí 四 氣: Vụ Thành Tử giải là linh khí của bốn mùa (tứ thời linh khí 四 時 靈 氣).

Liệt tú 列 宿: Các vì tinh tú.

Vụ Thành Tử giải câu này là: Nếu giữ cho Nguyên khí tụ tại thân mình, lại suy tưởng về nhật nguyệt và tinh tú, như chúng thường tỏa sáng vào mình, sẽ thông linh, thành thần.

Câu 6. Tử yên thượng hạ, tam tố vân.

紫 煙 上 下 三 素 雲

Tam tố 三 素: Ba khí nguyên sơ có ba màu: tía, trắng, vàng (tử tố 紫 素, bạch tố 白 素, hoàng tố 黃 素). Tử Hà cho rằng đó là ba nguyên khí của tì (lá lách), gan và phổi. Vụ Thành Tử cho rằng giữ vẹn được Tam nguyên diệu khí ấy ở trong mình, thời hình thần sẽ thông cảm (Thường tồn tam nguyên diệu khí, thượng hạ tại thân, tắc hình thần thông cảm 常 存 三 元 妙 氣, 上 下 在 身, 則 形 神 通 感).

Câu 7. Quán khái ngũ hoa thực linh căn.

灌 溉 五 華 植 靈 根

Quán khái 灌 溉: Rưới tắm.

Ngũ hoa 五 華: Anh hoa của năm phương, tức là khí lực trong con người.

Thực 植: Vun trồng.

Linh căn 靈 根: Tâm thần. Vụ Thành Tử giải linh căn là cuống lưỡi (thiệt bản 舌 本). Vụ Thành Tử giải đại khái câu này là: Nếu biết nuốt tân dịch, và hấp dẫn điều hòa ngũ khí trong người, thời linh căn sẽ bền vững, thần phủ sẽ thanh sướng.

Câu 8. Thất dịch động lưu, xung lư gian.

七 液 洞 流 衝 廬 間

Câu này bản Tử Hà ghi: Thất dịch lưu xung nhuận lư gian 七 液 流 衝 潤 廬 間.

Thất dịch 七 液: Tứ khí 四 氣 và tam tổ 三 祖 (tam nguyên 三 元) theo Vụ Thành Tử cũng có nghĩa là toàn thể khí lực trong người. Tứ khí, tam nguyên đó kết thành linh dịch 靈 液; khí lực mà sung túc óc chất sẽ thịnh mãn. (Khí xung, não thịnh 氣 衝 腦 盛).

Lư gian 廬 間: Giữa hai làn mi, tức là trán.

Câu 9. Hồi tử, bão hoàng, nhập đan điền.

回 紫 抱 黃 入 丹 田

Tử 紫, Hoàng 黃: Tam nguyên linh khí 三 元 靈 氣.

Đan điền 丹 田: Thượng đan điền, từ lưỡng mi gian 兩 眉 間 đi sâu vào 3 tấc. Đó là cơ sở của Thượng Nguyên Chân Nhất 上 元 真 一.

Câu 10. U thất nội minh, chiếu Dương minh.

幽 室 內 明 照 陽 明

Bản Tử Hà ghi câu này là U thất nội minh chiếu Dương môn 幽 室 內 明 照 陽 門.

Tử Hà giải Dương môn 陽 門 là huyền tẫn chi môn 玄 牝 之 門. Nếu là huyền tẫn chi môn thì cũng là Nê Hoàn cung 泥 丸 宮.

D. BÌNH GIẢI

Tử Hà cho rằng chương này bàn về nơi để luyện kỷ 煉 己, trúc cơ 筑 基. Vụ Thành Tử cho rằng chương này trước hết xác định vị trí của Huỳnh Đình cung, sau đó bàn về cách làm sao cho khí dịch chu lưu, thượng hạ tương thông.

Ông cho rằng: U thất 幽 室 ở chương này là thận. Dương minh 陽 明 là Mệnh môn 命 門, và bàn rằng nên chuyên khí 專 氣, bảo tinh 保 精, vô sử tiết tán 無 使 泄 散 (chớ để tiết lậu tinh ra ngoài).

Khi bình câu Quán khái ngũ hoa thực Linh căn, ông cho rằng nên nuốt tân dịch (yết tân 咽 津), và hấp dẫn ngũ khí. Như vậy phương pháp luyện kỷ trúc cơ 煉 己 筑 基 của đạo Lão có thể thâu tóm lại thành mấy đề mục như sau:

– Bảo tinh 保 精

– Yết tân 咽 津 (nuốt nước bọt)

– Vận khí 運 氣 (hô hấp)

– Điều thần 調 神, ngưng thần 凝 神

– Tụ thần khí về Nê Hoàn cung …

Đọc chương này, ta có cảm giác như đó là một đề tài suy nghiệm, với nhiều giai đoạn:

1. Trước hết, mường tượng thân mình như là một vòng Dịch với:

– Thái cực 太 極 hay Hư vô khiếu 虛 無 竅 ở giữa.

– Hồn linh 魂 靈 (tâm) ở trên.

– Quan nguyên 關 元 ở dưới.

– Đởm 膽 (Thiếu Dương) ở phía tả.

– Phế 肺 (Thái âm) ở phía hữu.

– Giáp tích quan 夾 脊 關 là mật hộ 密 戶 ở sau lưng,

– Sinh môn 生 門 là Tề đường (rốn) ở phía trước bụng.

Thế là coi thân mình như là một tiểu vũ trụ. Có đủ tứ duy lục hợp …

2. Coi thân mình như là một vũ trụ nhỏ, có hai vầng nhật nguyệt (câu 1, 2, 3) theo làn hơi thở ra vào thân mình, có đủ muôn vì tinh tú sáng soi. (câu 4, 5).

3. Tưởng như thân mình được kết tinh bởi ánh sáng của hai vầng nhật nguyệt. Thế tức là: Nhất thân dữ nhật nguyệt quang cộng minh, cộng chiếu 一 身 與 日 月 光 共 明 共 照 (câu 4) như lời bàn của Vụ Thành Tử.

4. Tưởng chừng như Linh khí 靈 氣, tinh hoa tứ khí của trời đất tràn ngập hình hài mình, nuôi dưỡng óc não mình, nuôi dưỡng Linh căn 靈 根 mình. (câu 5)

5. Tưởng chừng như tâm xoang mình có quang huy trời chiếu diệu bên trong. (câu 6, 7, 8)

6. Cuối cùng, thu thập, gồm thâu hết tinh hoa, tú khí của trời đất cho xâm nhập vào Thượng đan điền của mình, hồi quang phản chiếu, trở về Nê Hoàn cung phối hợp với Thái cực. (câu 9, 10)

7. Trong lúc suy gẫm, Vụ Thành Tử còn khuyên thầm đọc một bài kinh đại khái rằng: «Xin đức Thái Thượng Huyền Nhất 太 上 玄 一 đem tinh quang của hai vầng nhật nguyệt chiếu soi vào toàn thân con; xin cho con được trở nên trường sinh bất tử, trở thành một Chân Linh, như Kim giản, Ngọc thư này đã hứa. Xin trời đất ưu ái giúp con thành công.»

Thực là một đề tài suy gẫm hết sức là đẹp đẽ. Vụ Thành Tử còn cho rằng suy gẫm như vậy lâu ngày sẽ thông thần 通 神.

PHỤ CHÚ:

Vụ Thành Tử cho rằng chương này xác định vị trí của Huỳnh Đình: Thử nhất chương, tiên thuyết Huỳnh Đình cung phủ sở tại 此 一 章 先 說 黃 庭 宮 府 所 在.[1] Và như vậy đại khái cho là Huỳnh Đình là Tì thổ 脾 土 cho nên ta thấy mô tả như ở vào khoảng Chấn Thủy, nơi bụng trên.

Trên có Hồn linh;

Dưới có Quan nguyên;

Tả có đởm;

Hữu có phế;

 Sau có Mật hộ (Giáp tích quan);

Trước có Sinh môn (Tề đường).

Nhưng khi đọc Ngoại Cảnh, chương Nhất, ta thấy:

«Thượng hữu Huỳnh Đình, hạ Quan nguyên,   上 有 黃 庭 下 關 元.

Hậu hữu U khuyết, tiền Mệnh môn.»                 後 有 幽 闕 前 命 門

Thế là Huỳnh Đình ở đây đã mất vị trí trung tâm, trung cung rồi. Và trong quyển Huỳnh Đình Ngoại Cảnh do Lương Khưu Tử chú, Lương Khưu Tử nhân cách trình bày này đã chủ trương:

Huỳnh Đình ở tại nơi trung điểm đầu não. (Huỳnh Đình giả, tại đầu trung 黃 庭 者 在 頭 中) và Quan nguyên thì ở dưới rốn 3 tấc (Quan nguyên tại tề hạ tam thốn 關 元 在 臍 下 三 寸). Đủ biết rằng: Ngay các nhà chú giải Huỳnh Đình Nội và Ngoại Cảnh cũng đã không đồng ý với nhau về vị trí của Huỳnh Đình.

[1] Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 7a.

CHƯƠNG 3

KHẨU VI

口 為

A. KINH VĂN

1. Khẩu vi Ngọc trì, Thái hòa quan,

口 為 玉 池 太 和 官

2. Thấu yết linh dịch, tai bất can.

漱 咽 靈 液 災 不 干

3. Thể sinh quang hoa, khí hương lan,

體 生 光 華 氣 香 蘭

4. Khước diệt bách tà, ngọc luyện nhan.

卻 滅 百 邪 玉 鍊 顏

5. Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn.

審 能 修 之 登 廣 寒

6. Trú dạ bất mị nãi thành chân,

晝 夜 不 寐 乃 成 真

7. Lôi minh, điện kích, thần mang mang.

雷 鳴 電 激 神 泯 泯

B. LƯỢC DỊCH

Miệng là Ngọc trì, Thái hòa quan,

Biết nuốt linh dịch, bệnh tai an,

Thân thể quang hoa, hơi thơm phức,

Trừ diệt bách tà, đẹp dung nhan.

Biết tu phép này, lên Quảng Hàn,

Đêm ngày tỉnh táo, thành Chân tiên,

Dẫu nghe sấm sét, thần vẫn yên…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Khẩu vi Ngọc trì, Thái hòa quan,

口 為 玉 池 太 和 官

Khẩu 口: Miệng. Tử Hà giải miệng đây không phải miệng ăn uống mà chính là Qui trung nhất khiếu 規 中 一 竅 hay Thái hòa cung 太 和 宮. Bảo hợp được Thái hòa thời Linh dịch 靈 液 sẽ sinh, mà Linh dịch tức là Chân dương 真 陽. Nuốt được Chân dương con người sẽ trở nên mạnh khỏe v.v… Bản của Tử Hà viết câu này là: Khẩu vi Ngọc trì, Thái Hòa cung 口 為 玉 池 太 和 宮. Ngọc trì 玉 池: Ao ngọc. Người xưa gọi nước miếng là: Ngọc dịch 玉 液, là Ngọc tuyền 玉 泉, Huyền tuyền 玄 泉, Lễ tuyền 醴 泉, Ngọc tương 玉 漿, v.v… Cho nên gọi mồm là Ngọc trì 玉 池.

Câu 2. Thấu yết linh dịch tai bất can.

漱 咽 靈 液 災 不 干

Thấu yết 漱 咽: Thấu: súc miệng. Làm như kiểu súc miệng để cho nước miếng sinh ra. Yết: Nuốt vào.

Câu 5. Thẩm năng tu chi đăng Quảng Hàn.

審 能 修 之 登 廣 寒

Quảng Hàn 廣 寒: Cung tiên. Tiếng Việt thường dùng chữ cung Quảng nhiều hơn.

Câu 6. Trú dạ bất mị nãi thành chân.

晝 夜 不 寐 乃 成 真

Vụ Thành Tử giải: Nếu chuyên cần tu tĩnh định, sẽ thành Chân nhân. (Cần tu tĩnh định tắc vi chân nhân 勤 修 靜 定 則 為 真 人).

Câu 7. Lôi minh, điện kích, thần mang mang.[1]

雷 鳴 電 激 神 泯 泯

Vụ Thành Tử cho rằng: Khi đã biết điều thần, lý khí, hồn phách, sẽ điềm tĩnh, nên dẫu nghe sấm sét cũng vẫn thản nhiên… (Điều thần lý khí, hồn phách điềm du, tuy ngộ chấn lôi nhi bất kinh triếp 調 神 理 氣 魂 魄 恬 愉 雖 遇 震 雷 而 不 驚 慴).

D. BÌNH GIẢI

Chương này có hai cách bình giải: cách của Tử Hà và cách thông thường.

1. Cách bình giải của Tử Hà.

Tử Hà cho rằng chương này không nói về cái miệng ăn uống thường, cũng như không nói về cách nuốt nước bọt.

Ông viện lý rằng hít thở, và nuốt nước bọt đâu phải là Đại Đạo, và ông dẫn mấy lời thơ xưa công kích phép yết tân, thổ nạp như sau:

«Yết tân, nạp khí, thị nhân hành,

咽 津 納 氣 是 人 行,

Hữu dược phương năng Tạo Hóa sinh.»

有 藥 方 能 造 化 生.

Dịch:

Yết tân, nạp khí ấy nhân hành,

Có thuốc mới mong Tạo Hóa sinh.

Và:

Nhiêu quân thổ nạp kinh thiên tải,

饒 君 吐 納 經 千 載,

Tranh đắc kim ô, nạch thố nhi. [2]

爭 得 金 烏 搦 兔 而.

Dịch:

Dẫu Anh thổ nạp nghìn năm suốt,

Cũng chẳng làm sao được tiên đan…

Và ông giải khẩu 口 ở đây phải hiểu là Qui trung nhất khiếu 規 中 一 竅, là Thái hòa cung 太 和 宮. Bảo hợp được Thái hòa sẽ sinh ra linh dịch 靈 液. Linh dịch sẽ làm cho con người mạnh khỏe đẹp tươi, v.v…

2. Cách giải thông thường.

Tôi không đồng ý với cách giải của Tử Hà về chương này, vì quá xa với chính kinh. Vì phủ nhận tất cả mọi giá trị của công phu tu mệnh 修 命, luyện hình 煉 形 của đạo Lão. Và phương châm đạo Lão là «Quí dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ» 貴 以 賤 為 本 高 以 下 為 基 (Đạo Đức Kinh, chương 39).

Hơn nữa các nhà bình giải danh tiếng khác như Vụ Thành Tử, Doãn Chân nhân,[3] Như Viên Đốn Tử,[4] đều cho rằng chương này bàn về phương pháp Yết tân 咽 津 (nuốt nước bọt).

Dĩ nhiên là tôi theo phương pháp của Vụ Thành Tử để giải Huỳnh Đình vì tôi thấy, với phương pháp này, ta chẳng những hiểu Huỳnh Đình, mà còn hiểu thêm đạo Lão rất nhiều.

Tôi cũng ghi nhận rằng: Các sách đạo Lão nguyên thủy như Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh, không nói về phép đạo dẫn, điều tức, vận khí, ma sát, v.v…

Huỳnh Đình kinh, tiêu biểu cho đạo Lão khoảng đời Tấn, tức là khoảng những năm 360 Công nguyên, đã thấy, ngoài vấn đề triết học, siêu hình, còn đề cập nhiều đến các vấn đề tôn giáo quần chúng như Thần linh, như quán tưởng thần minh, v.v. và các công phu luyện hình, mà họ gọi là tu mệnh, gồm các công phu động công, tĩnh công, thể thao, ma sát, thổ nạp, thấu yết, v.v. Huỳnh Đình kinh tuyệt nhiên không hề dùng các danh từ luyện đan: Diên 鉛, Hống 汞, Long Hổ 龍 虎, Anh Nhi 嬰 兒, Xá nữ 奼 女, v.v…

Tử Hà, một trong những nhà chú giải Huỳnh Đình kinh, sinh vào khoảng năm 1596 Công nguyên, tức là năm Vạn Lịch 萬 曆 thứ 27 đời vua Thần Tông 神 宗 nhà Minh, thì lại toàn dùng những danh từ luyện đan để giải Huỳnh Đình. Không chương nào mà không thấy những chữ như Diên 鉛, Hống 汞, hay Ngân diên 銀 鉛, v.v. Chẳng lẽ đời Minh, phong trào luyện đan lại mạnh đến như vậy hay sao?

Vụ Thành Tử giải: Khẩu 口 hay Ngọc trì 玉 池 đây là miệng. Gọi là Ngọc trì vì chứa Ngọc dịch 玉 液.

Doãn chân nhân 尹 真 人[5] cho rằng Huỳnh Đình kinh nơi chương này đã bàn về phương pháp nuốt nước bọt để luyện hình.

Khảo sách vở đạo Lão, tôi thấy các Đạo gia rất quí nước bọt. Họ gọi nước bọt là: Ngọc dịch 玉 液, Lễ tuyền 醴 泉, Ngọc tương 玉 漿, Ngọc tân 玉 津, Ngọc tuyền 玉 泉; và gọi miệng là Ngọc trì 玉 池 hay Huyền tuyền 玄 泉.

Họ không biết được rằng nước bọt sinh ra là do các hạch nước bọt ở lưỡi, dưới hàm, giáp tai, nên đã cho rằng nước bọt được sinh ra là do khiếu Huyền Ưng 玄 膺 (Cuống họng), mặc dầu trong khoa Châm cứu ta thấy nơi dưới lưỡi có hai huyệt: Kim tân 金 津 (phía tả) và Ngọc dịch 玉 液 (phía hữu).

Nuốt nước bọt để nuôi thần, luyện hình đối với đạo gia quan trọng không kém gì phương pháp thổ nạp 吐 納 hay vận khí điều tức 運 氣 調 息.

Độc giả nào muốn nghiên cứu kỹ lưỡng phương pháp Thấu yết 漱 咽 này xin đọc:

– Chương Ngọc dịch luyện hình đồ 玉 液 煉 形 圖 của Doãn chân nhân 尹 真 人 trong quyển Tính Mệnh Khuê Chỉ.

– Chương Thấu tân 漱 津 của Viên Đốn Tử 圓 頓 子 trong Huỳnh Đình kinh giảng nghĩa (trích dẫn trong Tiên Học Diệu Tuyển trang 39 và 40).

– Chương Diên thọ lục tự quyết 延 壽 六 字 訣.

– Chương Thập nhị đoạn 十 二 段 trong quyển Thông Thiên bí thư tục tập tức Trí phú toàn thư, quyển 4, tr. 8a, 8b.

– Chương Thập nhị đoạn động công 十 二 段 動 功 nơi tr. 18a trong quyển Thọ thế thanh biên của Từ Viên tiên sư.

Đối với Huỳnh Đình kinh, phương pháp Thấu yết 漱 咽 cũng rất quan trọng vì thấy còn đề cập ở các chương:

– Ch. 6:     Thiệt hạ Huyền ưng tử sinh ngạn,
舌 下 玄 膺 生 死 岸,

Xuất thanh nhập huyền nhị khí hoán.
出 青 入 玄 二 氣 煥.

– Ch. 22:   Tồn thấu ngũ nha bất cơ khát.
存 漱 五 牙 不 饑 渴.               

– Ch. 27:   Bế khẩu khuất thiệt, thực thai tân…
閉 口 屈 舌 食 胎 津.               

– Ch. 33:   Thủ tân huyền ưng nhập Minh đường.
取 津 玄 膺 入 明 堂,

Hạ khái hầu lung, thần minh thông.
下 溉 喉 嚨 神 明 通.

– Ch. 34:   Tam thập lục yết ngọc trì lý.
三 十 六 咽 玉 池 裏.               

– Ch. 1 (Ngoại Cảnh):

Ngọc trì thanh thủy quán linh căn.
玉 池 清 水 灌 靈 根,

Thẩm năng tu chi khả trường tồn.
審 能 修 之 可 長 存

– Ch. 2 (Ngoại Cảnh):

Ngọc trì, thanh thủy thượng sinh phì,
玉 池 清 水 上 生 肥,

Linh căn kiên cố lão bất suy.
靈 根 堅 固 老 不 衰

Sau đây tôi dựa vào sách xưa mà bàn qua về phương pháp Thấu yết.

a. Thấu yết theo Thập nhị đoạn động công của sách Thọ thế thanh biên:

«Đưa cuống lưỡi chạm cúa. Để lâu, nước miếng sẽ sinh ra đầy mồm. Nuốt ực xuống. Dùng để quán khái ngũ tạng, giáng hoả rất mau. Càng nuốt nhiều lần càng tốt.»

b. Thấu yết theo Vụ Thành Tử:

Vụ Thành Tử viện dẫn lời kinh Đại Đỗng 大 洞 經 bàn về phương pháp nuốt tân dịch như sau:

Tập trung tinh thần, hô hấp linh khí đất trời, làm như súc miệng (thấu), cho tân dịch ra đầy mồm, rồi nuốt (yết) đi. Làm như vậy 5 lần. Đánh hai hàm răng vào với nhau (khấu xỉ 叩 齒) 3 lần. Cầu nguyện đại khái như sau: «Xin Ngọc Thanh Cao Thượng, Cửu Thiên Cửu Linh, biến hóa tân dịch tôi, để khi nó vào đến vị thanh 胃 清 (bao tử), sẽ óng ánh lên như bạc như vàng, làm cho tôi tâm khai, thần thông, y thức như đã nuốt được tinh hoa của vừng thái dương, làm cho chân nguyên của tôi được sung mãn…» [6]

c. Thấu yết theo Viên Đốn Tử [7]

Viên Đốn Tử cho rằng nước bọt đề cập nơi đây là thứ nước bọt sinh ra do công phu tĩnh tọa lâu dài. Lúc ấy, trong miệng tự nhiên sinh ra một thứ nước ngọt, mát dịu, khác hẳn lúc thường. Nước ấy được sinh ra là do thủy khí ở hạ tiêu 下 焦 之 水 氣 được huân chưng, rồi theo đường kinh lạc mà đi lên miệng, hóa thành nước bọt. Đó là thứ nước bọt do luyện khí mà ra. Nuốt xuống lại bị nhiệt khí huân chưng, rồi lại trở lên thành nước bọt, càng ngày càng trở nên bổ dưỡng hơn. Chính vì thế mà người xưa đã gọi đó là phép Ngọc dịch hoàn đan 玉 液 還 丹.

Nên ghi nhận rằng lối giải thích về sự tân dịch hóa sinh của Viên Đốn Tử, không hợp với khoa sinh lý học hiện đại.

d. Thấu yết theo Doãn chân nhân:

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ, nước bọt nuốt vào có công hiệu:

– Thông quan, đãng uế 通 關 蕩 穢

– Nhuận thân 潤 身

– Thông quan, thấu tiết 通 關 透 節

– Khí huyết lưu thông 氣 血 流 通

– Bách mạch hòa sướng 百 脈 和 暢, v.v.

Doãn chân nhân cho rằng người xưa khi nuốt nước bọt từ cổ họng vào, sẽ dùng thần trí dẫn nó đi quán khái châu thân, cho đủ vòng rồi lại trở về cổ họng (huyền ưng 玄 膺). Chu kỳ như sau:

Huyền ưng 玄 膺 (cổ họng), Trùng lâu 重 樓 (thực quản), Chiên trung 膻 中, Cưu vĩ 尻 尾, Trung uyển 中 脘, Thần khuyết 神 闕, Khí hải 氣 海. Từ đó phân làm hai đường, dẫn xuống hai đùi, đầu gối, tới Tam Lý 三 里, mu bàn chân, ngón chân cái, Dũng Tuyền 涌 泉, trở lên theo phía sau hai vế, hai đùi, đến Vĩ lư 尾 閭 hợp thành một, qua Thận đường 腎 堂, Giáp tích 夾 脊, đến Song quan 雙 關 thì lại phân ra hai vai, hai tay hai mu bàn tay, đến đầu ngón giữa, trở về lòng bàn tay, lên khuỷu tay, rồi lên má, lên đầu đến đỉnh đầu, trở xuống Minh đường 明 堂, đến cúa trên, lấy đầu lưỡi đón lại đến Huyền ưng là đủ một vòng … Ngừng một chút lại vận động lại như trên, sẽ hết mọi ứng trệ, và châu thân sẽ thư sướng, các kinh các khiếu trong người do đó đều thông. [8]

Mà lạ thay chẳng những Đạo gia trọng phép yết tân, mà Phật gia cũng trọng nó, Pháp Hoa Kinh tụng có thơ:

Bạch ngọc xỉ biên lưu xá lợi,

白 玉 齒 邊 流 舍 利

Hồng liên thiệt thượng, phóng hào quang,

紅 蓮 舌 上 放 豪 光

Hầu trung cam lộ quyên quyên nhuận,

喉 中 甘 露 涓 涓 潤

Tâm nội đề hồ, trích trích lương.

心 內 醍 醐 滴 滴 涼 [9]

Tạm dịch:

Bên răng bạch ngọc, Xá lợi phun,

Trên lưỡi, sen hồng, phóng hào quang,

Hầu trung, cam lộ lung linh tiết,

Tâm nội đề hồ róc rách tuôn.

Ta có thể bình tiếp chương này như sau:

Luyện phép nuốt ngọc dịch cho tinh, con người sẽ trở nên linh hoạt, không biết mỏi mệt, tỉnh táo không còn buồn ngủ, và tâm thần trở nên định tĩnh, dẫu sấm sét kề bên cũng vẫn thản nhiên … (các câu 2, 3, 4, 5, 6, 7).

[1] Chữ 泯 nghĩa gốc là diệt tận (滅 盡 也). Từ Hải phiên thiết: mật dẫn thiết 密 引 切; mật dần thiết âm dân 密 寅 切音 民; mật nghiễn thiết âm miến 密 硯 切 音 麵 (vậy đọc là mẫn, mân, miến). Thuyết Văn Giải Tự phiên: vũ tận thiết 武 盡 切 (vậy đọc là vận). Khang Hi phiên thêm: nhĩ tận thiết tùng âm mẫn 弭 盡 切 從 音 黽 (vậy đọc là mẫn) và giải: mẫn mẫn 泯 泯 giống như mang mang 茫 茫 (mẫn mẫn do mang mang dã 泯 泯 猶 茫 茫 也) nghĩa là mơ hồ không rõ 模 糊 不 清. Từ Hải giải mẫn mẫn là phần phần 棼 棼 (tối tăm lộn lạo). Vụ Thành Tử bảo phải độc tụng 泯 泯 theo bình thanh, nên ở đây có thể phiên âm là mân mân hoặc mang mang để hợp vận với các câu trên.

[2] Đây là hai trong bốn câu thơ của Trương Bình Thúc 張 平 叔 (tức Trương Bá Đoan 張 伯 端, Trương Tử Dương chân nhân 張 紫 陽 真 人). Hai câu trên là: Huyền tẫn chi môn thế hãn tri, Hưu tương khẩu tị vọng thi vi 玄 牝 之 門 世 罕 知 , 休 將 口 鼻 妄 施 為. Xem Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 15b)

[3] Tính Mệnh Khuê Chỉ, chương Ngọc dịch luyện hình đồ 玉 液 煉 形 圖, q. Hanh, tr. 7a, 8b.

[4] Tác giả quyển Huỳnh Đình Kinh Giảng Nghĩa (Xem Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 39, và 40).

[5] Tính Mệnh Khuê Chỉ, quyển Hanh, chương Ngọc dịch luyện hình đồ 玉 液 煉 形 圖, tr. 7a, 8a, 8b.

[6] Vụ Thành Tử chú, Huỳnh Đình Nội Cảnh, ch. 3

Ngọc Thanh Cao Thượng, Cửu Thiên Cửu Linh. Hoá dịch tại huyền, hạ nhập vị thanh. Kim hoà ngọc ánh, tâm khai thần minh. Phục thực nhật tinh, kim hoa sung doanh. 玉 清 高 上, 九 天 九 靈. 化 液 在 玄, 下 入 胃 清 金 和 玉 映, 心 開 神 明. 服 食 日 精, 金 華 充 盈.

[7] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 39, 40.

[8] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, Ngọc Dịch luyện hình pháp tắc 玉 液 煉 形 法 則. Thử pháp tiên dụng hành khí chủ tể, chiếu tại Huyền ưng nhất khiếu. Thử khiếu khả thông khí quản, tức Huỳnh Đình kinh sở vị «Huyền ưng khí quản thụ tinh phù» thị dã. Thiểu khoảnh, tắc tân dịch mãn khẩu, như tỉnh thủy nhiên, vi thấu sổ biến, từ từ dĩ ý dẫn dĩ Trùng lâu, tiệm đạt Chiên trung, Cưu vĩ, Trung uyển, Thần khuyết, chí Khí hải nhi chỉ. Tựu tòng Khí hải phân khai lưỡng lộ, chí tả hữu đại thối, tòng tất chí tam lý hạ cước bối cập đại mẫu chỉ, hựu chuyển nhập Dũng tuyền, do cước căn, cước loan tuần đại thối nhi thượng, chí Vĩ lư, hợp tố nhất xứ, quá Thận đường Giáp tích, Song quan, phân tống lưỡng kiên, lưỡng bàng, lưỡng tý chí thủ bối. Do trung chỉ chuyển thủ chưởng, nhất tề tuyền hồi, quá thủ oản, do hung bàng lịch lặc hậu, tòng hung quán đỉnh, phục hạ Minh đường, Thượng ngạc, dĩ thiệt nghinh chi, chí Huyền Ưng nhi chỉ. Thử vi nhất chuyển tất. Sảo đình, hựu chiếu tiền hành công, tắc ung trệ chi xứ tiệm thứ sơ thông, bất duy quán xuyên chư kinh, diệc năng thông đạt chư khiếu. 此 法 先 用 行 氣 主 宰, 照 在 玄 膺 一 竅. 此 竅 可 通 氣 管, 即 黃 庭 經 所 謂 玄 膺 氣 管 受 精 符 是 也. 少 頃, 則 津 液 滿 口, 如 井 水 然, 微 漱 數 遍, 徐 徐 以 意 引 以 重 樓, 漸 達 膻 中, 尻 尾, 中 脘, 神 闕, 至 氣 海 而 止. 就 從 氣 海 分 開 兩 路, 至 左 右 大 腿, 從 膝 至 三 里 下 腳 背 及 大 拇 指, 又 轉 入 涌 泉, 由 腳 根, 腳 彎 循 大 腿 而 上, 至 尾 閭, 合 做 一 處, 過 腎 堂 夾 脊, 雙 關, 分 送 兩 肩, 兩 膀, 兩 臂 至 手 背. 由 中 指 轉 手 掌, 一 齊 旋 回, 過 手 腕, 由 胸 旁 歷 肋 後, 從 胸 灌 頂, 復 下 明 堂, 上 齶, 以 舌 迎 之, 至 玄 膺 而 止. 此 為 一 轉 畢. 稍 停, 又 照 前 行 功, 則 壅 滯 之 處 漸 次 疏 通, 不 惟 貫 穿 諸 經, 亦 能 通 達 諸 竅.

[9] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh tr. 8a.

CHƯƠNG 4

HUỲNH ĐÌNH

黃 庭

A. KINH VĂN

1. Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y,

黃 庭 內 人 服 錦 衣

2. Tử hoa phi quần vân khí la.

紫 華 飛 裙 雲 氣 羅

3. Đan thanh, lục điều, thúy linh kha.

丹 青 綠 條 翠 靈 柯

4. Thất nhuy, ngọc thược bế lưỡng phi,

七 蕤 玉 籥 閉 兩 扉

5. Trùng phiến kim quan mật khu ki.

重 扇 金 關 密 樞 機

6. Huyền tuyền, u khuyết cao thôi nguy,

玄 泉 幽 闕 高 崔 巍

7. Tam điền chi trung, tinh khí vi.

三 田 之 中 精 氣 微

8. Kiều nữ yểu điệu ế tiêu huy,

嬌 女 窈 窕 翳 霄 暉

9. Trùng đường hoán hoán, minh bát uy.

重 堂 煥 煥 明 八 威

10. Thiên đình, địa quan, liệt phủ ki (cân),

天 庭 地 關 列 斧 斤

11. Linh đài bàn cố, vĩnh bất suy.

靈 臺 盤 固 永 不 衰

B. LƯỢC DỊCH

Huỳnh Đình nội nhân mặc cẩm y,

Phẩm phục mây tuôn, muôn sắc hoa.

Lục, thắm đua chen, vẻ đượm đà.

Khép kín song mâu, gìn tâm cảnh,

Điều thần, dưỡng khí, bảo khu ki.

Huyền tuyền, ngọc dịch nhuần tạng phủ.

Thông thấu tam điền, tinh khí vi.

Đôi tai sáng láng, ắt tiêu huy,

Trùng lâu rạng rỡ, châu thân sáng,

Thiên đình khai thông, hiển thần uy,

Linh đài kiên cố, chẳng bao suy …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y.

黃 庭 內 人 服 錦 衣

Huỳnh Đình nội nhân 黃 庭 內 人: Đạo mẫu 道 母.

Huỳnh Đình chân nhân 黃 庭 真 人: Đạo phụ 道 父.

Đạo mẫu mặc áo gấm ngũ sắc, tức là chân khí của ngũ tạng 五 臟 之 真 氣. Đạo mẫu ở cả ba nơi Thượng, Hạ, Trung đình trong người (Tam đình chi trung bị hữu chi 三 庭 之 中 備 有 之).

Câu 2. Tử hoa phi quần, vân khí la.

紫 華 飛 裙 雲 氣 羅

Bản Tử Hà viết: Tử Hà phi cứ, vân khí la 紫 霞 飛 裾 雲 氣 羅.

Tử hà 紫 霞: mây tía. Quần 裙: quần.

Cứ 裾: vạt áo. Cũng đọc là cư (tự điển Khang Hi phiên thiết cửu ngư thiết 九 魚 切; cận ư thiết tòng âm cư 近 於 切 從 音 居).

Vụ Thành Tử giải: Đức Cao Thượng Ngọc Hoàng mặc sắc phục của tiên dệt bằng mây. (Cao Thượng Ngọc Hoàng, y văn minh phi vân chi quần. Tức thần tiên chi sở phục dã 高 上 玉 皇, 衣 文 明 飛 雲 之 裙. 即 神 仙 之 所 服 也).

Câu 3. Đan thanh lục điều, thúy linh kha.

丹 青 綠 條 翠 靈 柯

Đan 丹: đỏ. Thanh 青: xanh. Lục 綠: xanh màu lục. Điều 條: cành cây nhỏ. Thúy 翠: xanh non. Kha 柯: cành cây là xuống.

Câu 4. Thất nhuy ngọc thược bế lưỡng phi.

七 蕤 玉 籥 閉 兩 扉

Thất nhuy 七 蕤: Chỉ tâm. Vì tâm thuộc hỏa. Hỏa thuộc số 7, và thuộc dấu nhuy trong 12 dấu Luật 律, Lã 呂.[1]

Ngọc thược 玉 籥: khóa ngọc. Chữ thược 籥 nguyên nghĩa là ống sáo, nhưng còn dùng thông với chữ thược 鈅 (鑰) là cái khóa (= toả 鎖).[2]

Bế lưỡng phi 閉 兩 扉: Đóng hai cánh, chỉ đôi mắt.

Vụ Thành Tử giải câu này đại khái như sau: Thất khiếu khai hạp, phải cho hợp đạo. Muốn tồn thần thời phải nhắm đôi mắt. 七 竅 開 闔 以 諭 關 籥 用 之 以 道 不 妄 開 也 蕤 籥 之 飾 存 神 必 閉 目 故 名 曰 閉 兩 扉 也 (Thất khiếu khai hạp, dĩ dụ quan thược. Dụng chi dĩ Đạo, bất vọng khai dã. Nhuy thược chi sức, tồn thần tất bế mục, cố danh viết bế lưỡng phi dã.)

Câu 5. Trùng phiến kim quan mật khu ki.

重 扇 金 關 密 樞 機

Bản Tử Hà viết: Trùng yểm kim khuyết mật khu ki 重 掩 金 闕 密 樞 機.

Khu ki 樞 機: Chuỗi sao Bắc đẩu 北 斗 gọi là khu ki. Bắc thần 北 辰 cũng gọi là khu cơ, hay khu ki. Ý nói phải đóng khóa ngũ quan, nhất là đôi mắt, để gìn giữ căn cốt con người. Vụ Thành Tử cho rằng: phải giữ cho tinh thần được toàn vẹn, không bị phát tiết, tiêu hao. 善 守 精 神 不 妄 洩 也 (Thiện thủ tinh thần, bất vọng tiết dã.)

Câu 6. Huyền tuyền u khuyết cao thôi nguy.

玄 泉 幽 闕 高 崔 巍

Bản Tử Hà: Huyền tuyền, u khuyết cao thôi ngôi. 玄 泉 幽 闕 高 崔 嵬.

Huyền tuyền 玄 泉: a. Nước bọt (Vụ Thành Tử giải); b. Miệng; c. Nguyên hải 元 海 (Tử Hà giải). Nguyên hải: Nơi Nguyên khí tụ hội. Đó là Nê Hoàn cung (?) hay Hạ đan Điền (Khí hải 氣 海) (?)

U khuyết 幽 闕: (1) Cửa tối; (2) Nơi lưỡng mi gian (Vụ Thành Tử giải trong Ngoại Cảnh); (3) Sinh thần chi xứ 生 神 之 處 (Tử Hà giải). Lời giải của Tử Hà lại nghiêng về Nê Hoàn.

Cao thôi ngôi 高 崔 嵬, hay cao nguy 高 巍, hay cao thôi nguy 高 崔 巍: (1) Cao ngất: Nói rằng lưỡng thận mà cao ngất thì không hợp lý, nên các nhà bình giải cho rằng vì thận có liên lạc với hai tai, nên nói cao nguy nguy. (Xem Ngoại cảnh, Lương Khưu Tử chú.) (2) Tử Hà giải cao thôi ngôi là: tại Hư vô xứ dã 在 虛 無 之 處 也. Hư vô xứ có phải Nê Hoàn cung không?

Câu 7. Tam điền chi trung tinh khí vi.

三 田 之 中 精 氣 微

Tam điền 三 田: Tam đan điền, là nơi thần khí hòa hợp cảm ứng với nhau.

Câu 8. Kiều nữ yểu điệu ế tiêu huy.

嬌 女 窈 窕 翳 霄 暉

Kiều nữ 嬌 女: (1) Tai, sách Chân Cáo [3] 真 誥 cho rằng Kiều nữ là tên thần tai (Vụ Thành Tử giải); (2) Xá nữ 奼 女, Âm đan (Tử Hà giải).

Ế tiêu huy 翳 霄 暉: (1) Át quang huy của trời (Vụ Thành Tử giải); (2) Tên của Kiều nữ (Tử Hà giải).

Câu 9. Trùng đường hoán hoán, minh bát uy.

重 堂 煥 煥 明 八 威

Trùng đường 重 堂: Hầu lung 喉 嚨 (thực quản và khí quản), còn được gọi là Trùng lâu 重 樓, Trùng hoàn 重 環.

Trùng lâu (hầu lung) là đường lưu thông của tân dịch, tân dịch theo đường này đi xuống, nhuần được thân hình, làm cho tám phương cơ thể như sáng láng thêm. 喉 嚨 者, 津 液 之 路, 流 通 上 下, 滋 榮 一 體, 煥 明 八 方 (Hầu lung giả, tân dịch chi lộ, lưu thông thượng hạ, tư vinh nhất thể, hoán minh bát phương.)

Câu 10. Thiên đình địa quan liệt phủ ki (cân):

天 庭 地 關 列 斧 斤

Thiên đình 天 庭: Lưỡng mi gian.

Tử Vi phu nhân cầu xin rằng: Xin mở thiên đình tôi để tôi được trường sinh. 紫 微 夫 人 祝 曰: 開 通 天 庭 使 我 長 生 (Tử Vi phu nhân chúc viết: Khai thông thiên đình, sử ngã trường sinh.) (Xem Nội Cảnh, Vụ Thành Tử chú.)

Địa quan 地 關: Có lẽ là huyệt Chiếu Hải 照 海 dưới mắt cá chân trong, vừa thuộc Thận kinh, vừa là đầu Âm kiều mạch 陰 蹻 脈, hoặc là huyệt Hội Âm 會 陰. Nhiều sách gọi Hội Âm là Âm kiều mạch.

Liệt phủ cân 列 斧 斤: Bày ra rìu búa. Ám chỉ sự phòng thủ nghiêm mật.

Tử Hà Tử cho rằng chương này đại ý khuyên: Ngày càng bồi dưỡng thêm. Ngày càng đề phòng thêm cho cẩn mật.

Câu 11. Linh đài bàn cố vĩnh bất suy.

靈 臺 盤 固 永 不 衰

Bản Tử Hà ghi: Linh đài hoàn cố vĩnh bất suy 靈 臺 完 固 永 不 衰. Ngoại cảnh sau đổi thành: Linh căn kiên cố vĩnh bất suy 靈 臺 堅 固 永 不 衰.

Linh đài 靈 臺: Tâm 心.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này đã được Huỳnh Đình Ngoại Cảnh toát lược lại như sau:

Huỳnh Đình trung nhân ý chu y,

黃 庭 中 人 衣 朱 衣

Quan môn mẫu thược, hợp lưỡng phi.

關 門 牡 籥 合 兩 扉

Đan điền chi trung tinh khí vi,

丹 田 之 中 精 氣 微

U khuyết hiệp chi cao nguy nguy,

幽 闕 俠 之 高 巍 巍

Ngọc trì, thanh thủy thượng sinh phì.

玉 池 清 水 上 生 肥

Linh căn kiên cố, Lão bất suy …

靈 根 堅 固 老 不 衰

(Ngoại Cảnh, chương 2)

Khảo Nội Cảnh và Ngoại Cảnh cùng với các lời bình giảng, ta thấy tuy Nội Cảnh và Ngoại Cảnh bất đồng ý kiến về những tiểu tiết, nhưng đại ý cả hai vẫn chỉ là:

– Quán tưởng thần Huỳnh Đình.

– Bế tỏa giác quan.

– Yết tân (nuốt nước miếng).

– Điều tức, dưỡng thần.

Chương này đại ý dạy người đạo sĩ:

1. Quán tưởng hình ảnh thần Huỳnh đình hiện ra trong tâm khảm dưới phẩm phục rực rỡ. Thần Huỳnh đình được bao phủ bởi một vầng chân khí của ngũ tạng, y như mặc áo gấm năm màu, mặc quần sặc sỡ bằng những áng mây trời, hồng chen sắc lục, xanh thắm đua tươi. (Các câu 1, 2, 3)

2. Nhắm nghiền đôi mắt, để hồi quang phản chiếu, bế quan, tồn thần. (Các câu 4, 5)

3. Đem Ngọc dịch, quỳnh tương (nước miếng) vận chuyển, nuôi dưỡng châu thân. (Câu 6)

4. Vận khí, điều thần, cho chân khí nhẹ nhàng lưu chuyển trong tam điền. (Câu 7)

Nếu làm được như vậy:

– Thính giác sẽ trở nên bén nhạy. (Câu 8)

– Tâm thần sẽ trở nên thông sáng. (Câu 9)

– Thân hình cũng sáng sủa, rực rỡ y như thế. (Câu 10)

– Tâm hồn sẽ trở nên kiên cường, dũng mãnh.(Câu 11)

Huỳnh Đình Kinh – thư pháp Vương Hi Chi 王 羲 之 (321-379)

… 盖 兩 扉 幽 闕 俠 之 高 巍 巍 丹 田 之 中 精 氣 微 玉 池 清 水 上

生 肥 靈 根 堅 固 志 不 衰 中 池 有 士 服 赤 朱 橫 下 三 寸 神 所 居

中 外 相 距 重 閇 之 神 廬 之 中 務 修 治 玄 膺 氣 管 受 精 符

急 固 子 精 以 自 持 宅 中 有 士 常 衣 絳 子 能 見 之 可 不 病 橫

理 長 尺 約 其 上 子 能 守 之 或 無 恙 呼 嗡 廬 間 以 自 償 保 守 …

[1] Luật lã (lữ) 律 呂: nói chung về luật âm nhạc. Thời Hoàng Đế 黃 帝 có Linh Luân 伶 倫 dùng ống trúc dài và ngắn để tạo âm thanh và phân biệt 6 loại dương luật 陽 律:

(1) hoàng chung黃 鍾: ống trúc dài 9 thốn 寸 ứng với tháng 11;
(2) thái thốc 太 簇: ống trúc dài 8 thốn 寸 ứng với tháng giêng;
(3) cô tẩy 姑 洗: ống trúc dài 7 thốn 寸 1 phân 分 ứng với tháng 3;
(4) nhuy tân 蕤 賓: ống trúc dài 6 thốn 寸 2 phân 分 ứng với tháng 5;
(5) di tắc 夷 則: ống trúc dài 5 thốn 寸 5 phân 分 ứng với tháng 7; và
(6) vô xạ 無 射: ống trúc dài 4 thốn 寸 8 phân 分 ứng với tháng 9.

Ngoài ra còn phân biệt 6 âm lữ 陰 呂:

(1) lâm chung 林 鍾: ống trúc dài 6 thốn 寸 ứng với tháng 6;
(2) nam lữ 南 呂: ống trúc dài 5 thốn 寸 3 phân 分 ứng với tháng 8;
(3) ứng chung 應 鍾: ống trúc dài 4 thốn 寸 6 phân 分 ứng với tháng 10;
(4) đại lữ 大 呂: ống trúc dài 8 thốn 寸 3 phân 分 ứng với tháng 12;
(5) giáp chung 夾 鍾: ống trúc dài 7 thốn 寸 4 phân 分 ứng với tháng 2; và
(6) trọng lữ 仲 呂: ống trúc dài 6 thốn 寸 5 phân 分 ứng với tháng 4.

Như vậy luật lữ là tiêu chuẩn ấn định âm thanh cao thấp trong đục cho các loại nhạc cụ Trung Quốc cổ đại. (Chú thích của Uông Khiếu Doãn 汪 嘯 尹 đời Thanh, Thiên Tự Văn Thích Nghĩa 千 字 文 釋 義, Liêu Ninh, 1994, tr. 61).

[2] Vương Lực 王 力 chủ biên, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển 古 漢 語 常 用 字 字 典, Thương Vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1993, tr. 360.

[3] Chân Cáo 真 誥 là điển tịch chủ yếu của Thượng Thanh Mao Sơn tông 上 清 茅 山 宗. Kinh này do Đào Hoằng Cảnh 陶 弘 景 (456-536) soạn, ký lục những lời giảng của Dương Hi 楊 羲 (331-386) và thêm vào đó những ghi chép của Đào Hoằng Cảnh về kinh nghiệm tu hành và các thư từ lai vãng.

Trong Thượng Thanh phái 上 清 派, Ngụy phu nhân 魏 夫 人 (Ngụy Hoa Tồn 魏 華 存) là đệ nhất tổ (gọi là Thái Sư 太 師), Dương Hi 楊 羲 là nhị tổ (gọi là Huyền Sư 玄 師), Hứa Mục 許 穆 là tam tổ (gọi là Chân Sư 真 師), Hứa Hội 許 翽 là tứ tổ (gọi là Tông Sư 宗 師; từ đời 4 trở đi gọi chung các tổ là Tông Sư). Đào Hoằng Cảnh là cửu tổ.

Từ Đào Hoằng Cảnh về sau, Thượng Thanh phái nhập với Mao Sơn Tông nên gọi là Thượng Thanh Mao Sơn Tông.

——————————

CHƯƠNG 5

TRUNG TRÌ

中 池

A. KINH VĂN

1. Trung trì nội thần phục xích châu,

中 池 內 神 服 赤 珠

2. Đan cẩm, vân bào, đới hổ phù.

丹 錦 雲 袍 帶 虎 符

3. Hoành tân tam thốn Linh Sở cư,

橫 津 三 寸 靈 所 居

4. Ẩn chi, ế uất tự tương phù.

隱 芝 翳 鬱 自 相 扶

B. LƯỢC DỊCH

Thần ở Trung trì mặc xích chu,

Vân bào, gấm đỏ, mang hổ phù,

Dưới rốn ba tấc, Thần Linh ngự,

Hai khí Âm Dương, đã sẵn phù…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Trung trì nội thần phục xích châu.

中 池 內 神 服 赤 珠

Bản Tử Hà: Trung trì nội thần phục xích chu. 中 池 內 神 服 赤 朱. Trung trì 中 池: Đởm 膽 (mật) (Vụ Thành tử giải); Hạ Đan điền 下 丹 田, Khí hải 氣 海, Nguyên hải 元 海 (Tử Hà giải).

Câu 2. Đan cẩm, vân bào, đới hổ phù.

丹 錦 雲 袍 帶 虎 符

Đơn cẩm 丹 錦: Gấm đỏ.

Vân bào 雲 袍: Áo bào kết bằng mây.

Đới hổ phù 帶 虎 符: Lưng đeo tín phù có hình con hổ.

Câu 3. Hoành tân, tam thốn Linh sở cư.

橫 津 三 寸 靈 所 居

Bản Tử Hà ghi: Hoành kính tam thốn Thần sở cư. 橫 徑 三 寸 靈 所 居

Hoành tân 橫 津: Rốn (Vụ Thành Tử giải).

Hoành kính tam thốn 橫 徑 三 寸: Nơi ở của thần gọi là Qui trung nhất khiếu có 3 tấc bề ngang.

Câu 4. Ẩn chi ế uất, tự tương phù.

隱 芝 翳 鬱 自 相 扶

Ẩn chi và ế uất 隱 芝 翳 鬱: Tử Hà cho rằng: Nội thần ở giữa Qui Trung nhất khiếu, bên phải có một vị đạo nhân tên là Ẩn Chi Nhận 隱 芝 仞 tức là Kim khí 金 氣, bên trái có một vị đạo nhân tên là Ế Uất Nhạn 翳 鬱 仞, tức là Mộc khí 木 氣.

Ta thấy ngay hình ảnh Thái Cực và Âm Dương nhị khí. Thần khí mà xung hòa, thời đắc đạo, đắc đan vậy.

D. BÌNH GIẢNG

Trước hết ta ghi nhận rằng Huỳnh Đình Ngoại Cảnh nơi chương 3, cũng có đề cập nội dung chương Trung trì này. Ngoại Cảnh viết:

Trung trì hữu sĩ, phục xích chu,

中 池 有 士 服 赤 朱

Điền hạ tam thốn thần sở cư,

田 下 三 寸 神 所 居

Trung ngoại tương cự, trùng bế chi,

中 外 相 距 重 閉 之

Thần lư chi trung, vụ tu trị…

神 廬 之 中 務 修 治

Muốn hiểu chương này, cũng như muốn giải tỏa những thắc mắc về Huỳnh Đình, về Tam đan điền, ta phải biết quan niệm của người xưa về Nguyên thần 元 神, hay Tâm thần 心 神, tức là Thần của Tâm.

Quan niệm ấy như sau:

Nguyên thần 元 神 hay NHẤT 一 có tên là Tử Đan 子 丹. Tử 子 là Liễu Nhất 了 一. Đan 丹 là Nhật Nguyệt, Âm Dương, Thần khí hợp nhất.日 月 陰 陽 神 氣 合 一.

Nguyên thần cũng còn được gọi là Xích Tử Chân Nhân Kiết Đan 赤 子 真 人 孑 丹. Vì là Thần của Tâm nên nói mặc áo đỏ, vì Tâm thuộc Hỏa có màu đỏ. Thần này ở Trung Cung, nên đôi khi cũng mô tả là mặc váy vàng, vì màu vàng là màu Trung Cung, Trung Điểm.[1]

Cũng như vị Lão quân ở trên trời có thể tùy nghi ở ba cung Tam Thanh, Nguyên Thần trong người cũng có thể tùy ý ở ba cung Tam Thanh trong con người. Chính vì vậy mà Vụ Thành Tử đã nói: «Đạo hữu tam Nguyên; Tứ ý sở tòng.» 道 有 三 元 肆 意 所 從 (Đạo có 3 nơi [ở]; Tùy ý sở tòng.)

Vụ Thành Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, trang 1b và Bão Phác Tử quyển 18 có chép:

«NHẤT có tính danh, phục sức. Nơi con trai thì cao 9 phân, nơi con gái thì cao 6 phân. Hoặc ở dưới rốn 2 tấc 4 phân, trong Hạ Đan điền. Hoặc ở tại Giáng Cung Kim Khuyết, phía dưới tim, nơi Trung Đan điền. Hoặc là ở nơi lưỡng mi gian đi vào: 1 tấc là Minh Đường, 2 tấc là Động Phòng, 3 tấc là Đan điền.»

Về Tam đan điền, như vậy là ta có:

– Thượng Đan điền 上 丹 田 (Nê Hoàn Cung泥 丸 宮): Lưỡng mi gian 兩 眉 間 đi vào 3 tấc.

– Trung Đan điền 中 丹 田 (Giáng Cung 絳 宮, Huỳnh Đình 黃 庭): Trên rốn 3 tấc.

– Hạ Đan điền 下 丹 田 (Khí Hải 氣 海, Nguyên Hải 元 海): Dưới rốn 3 tấc.

Cũng nên ghi nhận rằng theo khoa Châm cứu thì:

– Trên rốn 3 tấc là huyệt Kiến Lý 建 里.

– Dưới rốn 1 tấc rưỡi là huyệt Khí Hải 氣 海.

– Dưới rốn 3 tấc là huyệt Quan Nguyên 關 元.

Khi đã xác định được vị trí của Nguyên Thần ở đâu, thì đem Nguyên Khí về qui tụ lại đó, cho Thần Khí hòa hài.

Chương 4 trên đây, đại khái nói về Thần Chân Nhất tại Trung Đan điền. Chương này đại khái nói về Thần Chân Nhất ở tại Hạ Đơn điền. Chương 6 và 7, sau đề cập đến Thần Chân Nhất ở tại Nê Hoàn cung, tại Thượng Đan điền. Người xưa có thơ:

Tâm tại Đơn điền, thân hữu chủ,

心 在 丹 田 身 有 主

Khí qui Nguyên hải, thọ vô cùng.[2]

氣 歸 元 海 壽 無 窮

Cảnh Dương Tử 景 陽 子 nói:

«Tính qui Nguyên hải, sinh kim dịch,

性 歸 元 海 生 金 液

Mệnh phục Hư vô, sản ngọc hoa.»[3]

命 復 虛 無 產 玉 葩

[1] Xem Lương Khưu Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, chương 1, và lời bàn của Bão Phác Tử về Nhất nơi cuối sách đó. Xem Huỳnh Đình Nội Cảnh, chương 17. Xem phần Khảo luận của tôi ở phần trên, nơi chương 6, mục Người xưa nhận định về Huỳnh Đình.

[2] Nguyên hải 元 海 có thể hiểu được là Nê Hoàn Cung 泥 丸 宮, cũng có thể hiểu được là Khí hải 氣 海, Hạ Đan điền 下 丹 田.

[3] Xem Đái Nguyên Trường, Tiên học từ điển, tr. 49.

Chữ 葩 còn đọc là ba như các tự điển Hán Việt đã ghi. Tuy nhiên Khang Hi phiên thiết nó là: phổ ba thiết phạ bình thanh 普 巴 切 帊 平 聲, vậy đọc là pha; chữ 葩 đồng nghĩa với hoa 花 (bông hoa). Thuyết Văn Giải Tự giải nghĩa 葩 là hoa 華 và phiên thiết là: phổ ba thiết 普 巴 切, vậy đọc là pha.

——————————–

CHƯƠNG 6

THIÊN TRUNG

天 中

A. KINH VĂN

1. Thiên trung chi nhạc, tinh cẩn tu,

天 中 之 岳 精 謹 修

2. Vân trạch ký thanh, Ngọc đế du,

雲 宅 既 清 玉 帝 遊

3. Thông lợi đạo lộ vô chung hưu,

通 利 道 路 無 終 休

4. Mi hiệu Hoa Cái, phúc minh châu,

眉 號 華 蓋 覆 明 珠

5. Cửu u nhật nguyệt, đỗng không vô.

九 幽 日 月 洞 空 無

6. Trạch trung hữu Chân, thường ý đan,

宅 中 有 真 常 衣 丹

7. Thẩm năng kiến chi, vô tật hoạn,

審 能 見 之 無 疾 患

8. Xích châu, linh quần, hoa thiến xán.

赤 珠 靈 裙 華 蒨 粲

9. Thiệt hạ Huyền ưng sinh tử ngạn,

舌 下 玄 膺 生 死 岸

10. Xuất thanh, nhập huyền, nhị khí hoán,

出 青 入 玄 二 氣 煥

11. Tử nhược ngộ chi thăng Thiên Hán.

子 若 遇 之 昇 天 漢

B. LƯỢC DỊCH

Núi mọc giữa trời, hãy cố tu,

Nhà mây quang quẻ, Ngọc Đế du,

Khai thông đạo lộ, chớ trù trừ.

Mi là hoa cái, che minh châu,

Hai vầng nhật nguyệt chiếu hư vô,

Trong nhà, có Thần, mang y đơn,

Nếu mà thấy được, không bệnh hoạn.

Xích châu, linh quần, trông xán lạn.

Khí quản ấy là sinh tử ngạn,

Hai khí đục trong thường giao hoán,

Nếu mà gặp được, thăng Thiên Hán…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Thiên trung chi nhạc tinh cẩn tu.

天 中 之 岳 精 謹 修

Thiên trung chi nhạc 天 中 之 岳: Mũi. Mũi còn được gọi là Thiên đài 天 臺.

Sách Tiêu Ma kinh 消 魔 經 nói rằng: «Mũi thường nên được ma sát hai bên tả, hữu, để khí được bình. Thế gọi là ‘khái quán Trung nhạc’ (tưới tắm cho Trung Nhạc). Tên sẽ được ghi vào đế lục.» 消 魔 經 云: 鼻 欲 數 按 其 左 右, 令 人 氣 平. 所 謂 溉 灌 中 岳, 名 書 帝 錄 (Tiêu Ma kinh vân: Tỵ dục sổ án kỳ tả hữu, lịnh nhân khí bình. Sở vị khái quán Trung nhạc, danh thư đế lục.)

Câu 2. Vân trạch ký thanh Ngọc đế du.

雲 宅 既 清 玉 帝 遊

Vân trạch 雲 宅: Mặt, cũng còn được gọi là Xích trạch 尺 宅. Mặt là nơi mi, mắt, mũi, mồm cư ngụ, nên gọi là trạch 宅 (nghĩa là nhà). Giữ gìn cho nó được thanh thông, thần tiên sẽ viếng thăm.

Bản Tử Hà ghi: Linh trạch ký thanh, Ngọc đế du 靈 宅 既 清 玉 帝 遊.

Câu 3. Thông lợi đạo lộ, vô chung hưu.

通 利 道 路 無 終 休

Bản Tử Hà ghi: Thông lợi đạo lộ, vô đình hưu 通 利 道 路 無 停 休.

Kinh Thái Tố Đan Cảnh 太 素 丹 景 chép: «Thường nên dùng hai tay, ma sát mặt, cao thấp tùy hình, đừng ngừng nghỉ, sẽ làm thông lợi khí mạch của tai, mắt, mũi, mồm.» 太 素 丹 景 經 曰: 一 面 之 上, 常 欲 兩 手 摩 拭 之. 高 下 隨 形 不 休, 息 則 通 利 耳 目 鼻 口 之 氣 脈 (Thái Tố Đan Cảnh Kinh viết: nhất diện chi thượng, thường dục lưỡng thủ ma thức chi. Cao hạ tùy hình bất hưu tức, tắc thông lợi nhĩ mục tỵ khẩu chi khí mạch.)

Câu 4. Mi hiệu hoa cái phúc minh châu.

眉 號 華 蓋 覆 明 珠

Hoa cái 華 蓋: Lọng che. Minh châu 明 珠: Hai mắt.

Phúc 覆: Che đậy; như nói thiên phúc địa tải 天 覆 地 載 trời che, đất chở).

Câu 5. Cửu u nhật nguyệt đỗng không vô.

九 幽 日 月 洞 空 無

Bế mục tồn thần, để thần quang của đôi mắt soi rõi vào tâm khảm.

Câu 6. Trạch trung hữu Chân thường y đan.

宅 中 有 真 常 衣 丹

Trạch trung 宅 中: Trong mặt, trong đầu.

Chân 真: Ở đây là Tâm thần 心 神, tức Xích Thành đồng tử 赤 城 童 子, hay Chân nhân 真 人, hay Xích tử 赤 子.

Như vậy vẫn là một thần Tử đan 子 丹 mà ta gặp nơi chương trước; vẫn mặc thứ áo đỏ quen thuộc; cũng còn được gọi là Tâm đan 心 丹.

Câu 7. Thẩm năng kiến chi vô tật hoạn.

審 能 見 之 無 疾 患

Nguyên Dương Tử 元 陽 子 viết: «Thường tồn tâm thần, tắc vô bệnh dã.» 常 存 心 神 則 無 病 也.

Câu 8. Xích châu, linh quần, hoa thiến xán.

赤 珠 靈 裙 華 蒨 粲

Bản Tử Hà ghi: Xích châu, linh cứ hoa thiến xán 赤 珠 靈 裾 華 蒨 燦. Và cho rằng xích châu, linh cứ đều là các loại châu ngọc.

Linh quần 靈 裙: Vụ Thành Tử lại ghi là Linh quần, như vậy là quần áo.

Thiến xán 蒨 粲: Rực rỡ, đẹp đẽ.

Câu 9. Thiệt hạ Huyền ưng sinh tử ngạn.

舌 下 玄 膺 生 死 岸

Huyền ưng 玄 膺: Họng, cuống họng. Chẳng những là đạo lộ thông tân dịch, mà còn là đạo lộ thông khí hô hấp.

Ngoại Cảnh gọi Huyền ưng là Khí quản: Huyền ưng khí quản thụ tinh phù. 玄 膺 氣 管 受 精 符 (chương 3). Có bản lại chép: Huyền ưng khí quản thụ tinh phủ 玄 膺 氣 管 受 精 府. Vụ Thành Tử chú thích câu này: «Huyền ưng là bến bờ thông tân dịch. Kinh này nói Huyền ưng là khí quản thông tân phủ.» 玄 膺 者, 通 津 液 之 岸 也. 本 經 云: 玄 膺 氣 管 受 津 府 (Huyền ưng giả, thông tân dịch chi ngạn dã. Bản kinh vân: Huyền ưng khí quản thụ tân phủ.)

Câu 10. Xuất thanh, nhập huyền, nhị khí hoán,

出 青 入 玄 二 氣 煥

và Câu 11. Tử nhược ngộ chi thăng Thiên Hán.

子 若 遇 之 昇 天 漢

Hai câu này đại khái nói rằng: Nếu biết thổ nạp 吐 納 nhị khí Âm Dương, nếu hiểu được ý nghĩa thổ nạp, con người sẽ thành tiên.

D. BÌNH GIẢNG

Lời bình giảng của Vụ Thành Tử về chương này làm nổi bật lên 4 vấn đề:

1. Ma sát mũi, mặt (các câu 1, 2, 3).

2. Hồi quang phản chiếu 回 光 返 照 (các câu 4, 5).

3. Tồn tâm thần 存 心 神 (các câu 6, 7).

4. Nuốt ngọc dịch (yết tân) 咽 津 (các câu 7, 8).

5. Thổ nạp 吐 納, tức là thở độc khí ra, hít thanh khí vào.

Hồi quang phản chiếu 回 光 返 照 và tồn tâm thần 存 心 神 rất quan trọng nhưng chúng ta đã đề cập nhiều. Phép nuốt Ngọc dịch (tức yết tân) đã được giải thích nơi chương 3.

Nơi chương này ta bàn về hai vấn đề: (1) Ma sát mặt mũi và (2) Thổ nạp.

1. Ma sát mặt mũi.

Các sách dưỡng sinh thuộc đạo Lão xưa thường hay bàn về vấn đề này. Trong Thập nhị đoạn động công thì phép ma sát mặt (mà người xưa gọi là Dục diện 浴 面: tắm mặt) được xếp hàng thứ ba sau Khấu xỉ 叩 齒 và Yết tân 咽 津. Tất cả những phương pháp đạo dẫn án ma 導 引 按 摩 của đạo Lão cốt là để khử bệnh 去 病, diên niên 延 年 mà thôi.

Dục diện 浴 面 (tắm mặt, ma sát mặt):

«Lấy hai tay, xoa vào nhau cho nóng, rồi chà xát lên mặt, như khi rửa mặt. Làm thế, râu tóc sẽ không bạc, mặt sẽ trẻ mãi.» (Xem Thọ thế thanh biên, tr. 18, và Thông Thiên bí thư tục tập, Trí phú toàn thư, q. 4, tr. 8b.)

Sách Chân Tây Sơn vệ sinh ca của Tử Viên tiên sư có bài thơ sau:

Thu đông nhật xuất, thủy xuyên y,

秋 冬 日 出 始 穿 衣

Xuân hạ kê minh, nghi tảo khởi.

春 夏 雞 鳴 宜 早 起

Tí hậu, Dần tiền, thụy giác lai,

子 後 寅 前 睡 覺 來

Minh mục khấu xỉ, nhị thất hồi,

暝 目 叩 齒 二 七 回

Hấp tân, thổ cố, vô lệnh ngộ,

吸 新 吐 故 毋 令 誤

Yến thấu ngọc tuyền, hoàn dưỡng thai.

嚥 漱 玉 泉 還 養 胎

Chỉ ma thủ tâm, úy lưỡng nhãn,

指 摩 手 心 熨 兩 眼

Nhưng cánh giai ma ngạch dữ diện.

仍 更 揩 摩 額 與 面

Trung chỉ thời thời sát tị hành,

中 指 時 時 擦 鼻 莖

Tả hữu nhĩ căn, thuyên sổ biến,

左 右 耳 根 筌 數 遍

Cánh năng can dục nhất thân gian …

更 能 乾 浴 一 身 間

Dịch:

Thu Đông, mặc áo, lúc Dương lên,

Xuân Hạ, gà gáy, nên dậy sớm.

Nửa đêm về sáng, nếu tỉnh dậy,

Nhắm mắt nghiến răng 27 hồi,

Nạp tân, thổ cố, đừng nhầm nhỡ.

Nước miếng nuốt vào dưỡng hình hài.

Ngón (tay) chà lòng tay, vuốt đôi mắt,

Đoạn chà xát thêm trán và mặt.

Cánh mũi nên dùng ngón giữa vuốt.

Quanh tai hai phía nên sát ma,

Rồi đến toàn thân nên ma sát …

Sách Thông Thiên Bí Thư tục tập, tức Trí phú toàn thư của Vương Hiển Đình, nơi quyển 4, tr. 6b, còn ghi chép Án ma diện thượng chư huyệt 按 摩 面 上 諸 穴, nghĩa là phép xoa bóp các huyệt trên mặt như: Tinh minh, Thái dương, Ngư vĩ, Thừa tương, Ti Trúc không, Nghinh hương …

2. Phép thổ nạp

Thổ nạp 吐 納 hay Thổ cố nạp tân 吐 故 納 新 nghĩa là lấy miệng hà hơi cũ ra dùng mũi hít hơi mới vào. Làm sao cho mũi hít vào nhiều, miệng thở ra ít làm cho từ từ, để tâm trí vào đó, làm lâu lai sẽ diên niên … (Đạo học từ điển, tr. 108). [1]

Hít vào chỉ có một cách gọi là Hấp 吸. Còn thở ra có sáu cách, theo âm sáu chữ là Hư 噓, Ha 呵, Hô 呼, Hí 呬, Xuy 吹, Y 噫.

Mỗi chữ đó, công hiệu hơn kém tùy theo mùa, có ảnh hưởng đến một tạng nhất định nào trong ngũ tạng, và chữa được một loại bệnh nào. Xem đồ bản dưới đây sẽ rõ:

LỤC TỰ

六 字
Hư 噓
Ha 呵
Hô 呼
Hí 呬
Xuy 吹
Y 噫 (Hi 嘻)

MÙA NÀO
CÔNG HIỆU HƠN
Xuân
Hạ
tứ quý
18 ngày cuối mỗi mùa
Thu
Đông

ỨNG VỚI
BỘ PHẬN
gan
tim

phế
thận
tam tiêu

CHỮA BỆNH
bệnh gan
bệnh tim
bệnh tì
bệnh phổi
bệnh thận
nhiệt bệnh

– Thọ Thế Thanh Biên nơi các trang 23b, 24a, 24b dạy cách thổ nạp như:

– Ở trong phòng yên tĩnh, ấm áp.

– Ngồi xếp chân bàn tròn, ngồi yên.

– Thi hành động công trước cho khí huyết chuyển vận.

– Bế tỏa ngũ quan, ngậm miệng, cắn răng, lòng không, tâm tĩnh. Như thế, một lúc lâu, cho khí huyết trở nên hòa hoãn, hơi thở điều hòa.

– Sau đó, dùng miệng phả độc khí ra 2, 3 lần.

– Rồi sau đó, mới tùy bệnh, tùy mùa mà đọc rất nhỏ các chữ Hư 噓, Ha 呵, Hô 呼, Hí 呬, [2] Xuy 吹, Y 噫.

Sáu chữ này cốt là để phả độc khí ra, đoạn mới hít hơi vào. Mỗi thứ làm 24 hoặc 26 lần.

• Sách Trí Phú Toàn Thư ghi rõ hơn như sau:

– Từ giờ Tí (nửa đêm) đến giờ Tị (9 – 11 giờ) thuộc Dương, quay về hướng đông, ngồi ngay ngắn.

– Khấu xỉ 叩 齒 (đập răng) để tập thần, tụ thần.

– Yết tân 咽 津 (nuốt nước bọt).

Xong rồi:

(1) Khẽ đọc chữ Ha 呵 (đọc rất khẽ, không cho tai mình nghe tiếng) để phả độc khí nơi tâm xoang. Rồi ngửa mặt lên trời, hít thanh khí, để bổ tim. Như vậy 6 lần.

(2) Rồi đọc chữ Hô 呼 để phả độc nơi Tì. Rồi hít thanh khí vào để bổ Tì. Làm 6 lần.

(3) Rồi đọc chữ Hí 呬 để phả khí độc nơi Phổi, hít thanh khí vào để bổ phế, 6 lần.

(4) Đọc chữ Hư 噓 để phả độc khí nơi gan, Hít thành khí vào để bổ Gan, 6 lần.

(5) Đọc Hi 嘻 để thả độc khí trong mật, hít thanh khí vào để bổ mật, 6 lần.

(6) Đọc Xuy 吹 để tả độc khí nơi thận, hít thanh khí vào để bổ Thận, 6 lần.

6 x 6 = 36 lần, tức là 1 vòng Đại Chu Thiên 大 周 天.

Từ giờ Ngọ 午 đến giờ Hợi 亥, quay mặt về phía Nam, vì Nam phương là Hỏa, có thể trừ Âm độc 陰 毒. (Xem sách đã dẫn nơi tr. 7b, q. 4).

– Sách Trí phú Toàn Thư, nơi tr. 8a, quyển 4, còn cho một bài Diên niên lục tự quyết 延 年 六 字 訣 như sau:

(1) Đọc Hư 噓 chữa bệnh gan, gan nhiệt, mắt đỏ, mắt mờ, chảy nước mắt.

(2) Đọc Ha 呵 chữa bệnh tim và bệnh ở Thượng Tiêu.

(3) Đọc Hí 呬 chữa bệnh phổi, cảm hàn, cảm nhiệt, lao muộn, hoặc độc sang.

(4) Đọc Xuy 吹 trị bệnh Thận, bệnh tai hoặc lưng, gối lạnh, dương đạo yếu.

(5) Đọc Hi 嘻 trị bệnh Tam tiêu.

(6) Đọc Hô 呼 trị Tì, bụng chướng, bụng đầy, tứ chi phiền muộn, khí trệ không thông.

Sách Thọ Thế Thanh Biên nơi tr. 24b có bài thơ:

Xuân Hư minh mục, mộc phù can,

春 噓 明 目 木 扶 肝

Hạ chí Ha tâm hỏa tự nhàn.

夏 至 呵 心 火 自 閑

Thu Hí định tri kim phế nhuận,

秋 呬 定 知 金 肺 潤

Đông Xuy duy lệnh Thận trung an.

冬 吹 惟 令 腎 中 安

Tam Tiêu Hi khước trừ phiền não,

三 焦 嘻 卻 除 煩 惱

Tứ quí thường Hô, Tì hóa xan.

四 季 常 呼 脾 化 餐

Thiết kỵ xuất thanh văn khẩu nhĩ,

切 忌 出 聲 聞 口 耳

Kỳ công vưu thắng bảo Thần đan … [3]

其 功 尤 勝 保 神 丹

Về phương pháp Án ma, xin đọc thêm quyển Cổ Tiên Đạo Dẫn Án Ma Pháp 古 仙 導 引 按 摩 法. Về phép thổ nạp, xin đọc thêm quyển Tu Linh Yếu Chỉ 修 齡 要 指, chương Diên niên lục tự quyết 延 年 六 字 訣, và Tứ quý khước bệnh ca四 季 卻 病 歌, nơi các trang 2h, 3a, v.v.

Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng Huỳnh Đình Ngoại Cảnh nhấn mạnh đến các phép:

(1) Quán tưởng Thần Huỳnh Đình

Trạch trung hữu sĩ thường y giáng,

宅 中 有 士 常 衣 降

Tử năng kiến chi, khả bất bệnh.

子 能 見 之 可 不 病

Hoành kính trường xích ước kỳ thượng,

橫 徑 長 尺 約 其 上

Tử năng thủ chi khả vô dạng.

子 能 守 之 可 無 恙

(2) Thổ nạp (ngưng thần tụ khí về Thượng đan điền)

Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, chương 4, viết:

Hô hấp lư gian dĩ tự thưởng,

呼 吸 廬 間 以 自 償

Bảo thủ hoàn kiên, thân thụ khánh.

保 守 完 堅 身 受 慶

Nơi chương 3, khi nói về phương pháp Yết tân, tôi có ghi lời của Tử Hà cho rằng đó không phải là đại đạo.

Nơi đây khi bàn về phương pháp thổ nạp của đạo Lão, về chiều hướng giải thích chương này, nghiêng về các phương pháp ma sát, thổ nạp của Vụ Thành Tử, tôi cũng ghi lại quan điểm của Sung Ẩn Tử Thạch Hòa Dương, một trong những nhà bình giải Huỳnh Đình Ngoại Cảnh.

Khi bình câu «Hô hấp lư gian dĩ tự thưởng» nơi chương 4 Huỳnh Đình Ngoại Cảnh ông viết:

«Thế tức là đi đứng nằm ngồi, không lìa Cái Đó [Nê Hoàn Cung, Tổ Khiếu, Phương Thốn, Huỳnh Đình]. Ngưng thần, tụ khí về nơi đó, lâu lai, sẽ thành thai tiên […] Khí đó không phải là Khí hô hấp. Cho nên bàng môn bày ra thuyết vận khí, đánh lừa người không ít.» 所 謂 行 住 坐 臥, 不 離 這 個. 凝 神 聚 氣 於 這 個 之 中, 久 則 成 胎 仙 矣. […] 此 氣 非 呼 吸 之 氣. 是 以 傍 門 有 運 氣 之 說, 誤 人 不 少 (Sở vị hành trú tọa ngọa, bất ly Giá Cá. Ngưng thần tụ khí ư Giá Cá chi trung, cửu tắc thành thai tiên hĩ. […] Thử khí phi hô hấp chi khí. Thị dĩ bàng môn hữu vận khí chi thuyết, ngộ nhân bất thiểu.)

Tiên Học Từ Điển (tr. 70) cũng xếp bốn môn Động, Tĩnh, Thuật, Lưu sau đây là ngoại đạo, tức là những phương thuật, công phu không giúp con người đắc đạo được:

1- Động 動: Thể thao 體 操, vận động 運 動, ma sát 摩 擦, đạo dẫn 導 引.

2- Tĩnh 靜: Tham thiền 參 禪, đả tọa 打 坐, giới ngữ 戒 語, trì trai 持 齋, hưu lương 休 糧 (nhịn ăn), tị cốc 避 谷 (vào hang ở ẩn), thụy công 睡 功 (phép nằm ngủ), lập công 立 功 (phép đứng), v.v.

3- Thuật 術: Phù chú 符 咒, hô phong 呼 風, hoán vũ 喚 雨, v.v.

4- Lưu 流: Y 醫, bốc卜, tinh 星, tướng 相, v.v.

Trang Tử nơi chương Khắc Ý của Nam Hoa Kinh cho rằng: «Xuy, hu, thổ nạp, vận động như gấu leo, chim lượn, là cốt tăng thọ. Đó là sở thích của các người thích môn đạo dẫn, thích dưỡng hình, thích thọ như Bành Tổ.» [4]

Trong khi bàn về phương pháp yết tân, thổ nạp, đạo dẫn, ma sát, vận khí, điều tức, v.v… tôi cũng vẫn nhận định rằng chúng chỉ có công hiệu đối với cơ thể chúng ta, làm cho khí huyết thông sướng, con người mạnh khỏe ít bệnh, có vậy thôi.

Còn tập trung Thần khí, phát huệ, sống phối kết với Trời, với Đạo nơi tâm khảm mình, mới chính là Đại Đạo. Nhắc lại để người hành đạo tu trì, phân biệt được thấp cao, và đừng lặn ngụp, lạc lõng trong cái thấp, vì những kết quả sinh lý nhãn tiền mình có thể thâu lượm được …

Tử khí đông lai 紫 氣 東 來

[1] Phép thổ nạp tức là lục khí pháp 六 氣 法 (cũng gọi lục tự quyết 六 字 訣 hay lục tự pháp 六 字 法). Lục tự pháp bắt đầu xuất hiện từ đời Nam Bắc Triều trong tác phẩm Dưỡng Tính Diên Mệnh Lục 養 性 延 命 錄 của Đào Hoằng Cảnh 陶 弘 景 (456-536). Sau đó xuất hiện trong quyển Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu Tạp Thuyết 修 習 止 觀 坐 禪 法 要 雜 說 của Trí Khải 智 顗 (538-597) đời Tùy, và trong quyển Thiên Kim Yếu Phương 天 金 要 方 của Tôn Tư Mạc 孫 思 邈 (541-682) đời Đường, rồi lưu hành từ đó đến nay. Nhưng 6 chữ này hơi khác nhau. Đào Hoằng Cảnh và Tôn Tư Mạc dùng 6 chữ: Xuy 吹, Hô 呼, Hi 唏, Ha 呵, Hư 噓, Hí 呬. Trí Khải đại sư của Thiên Thai tông 天 台 宗 dùng 6 chữ: Xuy 吹, Hô 呼, Hi 嘻, Ha 呵, Hư 噓, Hí 呬. Nhưng nguyên tắc chung là thở ra bằng miệng, hít vào bằng mũi (kỳ pháp dĩ khẩu thổ tị thủ 其 法 以 口 吐 鼻 取) và không để tai nghe thấy hơi ra vào (bất sử nhĩ văn 不 使 耳 聞).

[2] Chữ 呬 Khang Hi và Thuyết Văn Giải Tự đọc là hí (hứa khí thiết 許 器 切) hoặc là hứ (hứa tứ thiết 許 四 切). Vậy không đọc 呬 là hi cho khỏi lầm với chữ hi 嘻.

[3] Trí phú toàn thư q. 4, tr. 3a cũng có bài thơ tương tự.

[4] Xuy, hu, hô hấp, thổ cố nạp tân, hùng kinh, điểu thân vi thọ nhi dĩ hĩ, thử đạo dẫn chi sĩ, dưỡng hình chi nhân Bành Tổ thọ khảo giả chi sở hiếu dã. 吹, 呴, 呼 吸, 吐 故 納 新, 熊 經, 鳥 申 為 壽 而 已 矣, 此 導 引 之 士, 養 形 之 人 彭 祖 壽 考 者 之 所 好 也 (Nam Hoa Kinh, XV).

CHƯƠNG 7

CHÍ ĐẠO

至 道

A. KINH VĂN

1. Chí đạo bất phiền quyết tồn chân,

至 道 不 煩 決 存 真

2. Nê Hoàn bách tiết, giai hữu thần,

泥 丸 百 節 皆 有 神

3. Phát thần: Thương Hoa tự Thái Nguyên,

髮 神 蒼 華 字 太 元

4. Não thần: Tinh Căn tự Nê Hoàn,

腦 神 精 根 字 泥 丸

5. Nhãn thần: Minh Thượng tự Anh Huyền.

眼 神 明 上 字 英 玄

6. Tị thần: Ngọc Lũng tự Linh Kiên,

鼻 神 玉 壟 字 靈 堅

7. Nhĩ thần: Không Bế tự U Điền,

耳 神 空 閉 字 幽 田

8. Thiệt thần: Thông Mệnh tự Chính Luân,

舌 神 通 命 字 正 倫

9. Xỉ thần: Ngạc Phong tự La Thiên.

齒 神 崿 鋒 字 羅 千

10. Nhất diện chi thần tông Nê Hoàn,

一 面 之 神 宗 泥 丸

11. Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng,

泥 丸 九 真 皆 有 房

12. Phương viên nhất thốn xứ thử trung,

方 圓 一 寸 處 此 中

13. Đồng phục tử y, phi la thường,

同 服 紫 衣 飛 羅 裳

14. Đản tư nhất bộ, thọ vô cùng.

但 思 一 部 壽 無 窮

15. Phi các biệt trú, câu não trung.

非 各 別 住 俱 腦 中

16. Liệt vị thứ tọa hướng ngoại phương.

列 位 次 坐 向 外 方

17. Sở tồn tại tâm, tự tương đương.

所 存 在 心 自 相 當

B. LƯỢC DỊCH

Chí đạo chẳng phiền, quyết tồn chân,

Nê Hoàn, bách tiết đều có thần,

Thần tóc: Thương Hoa tự Thái Nguyên.

Não thần: Tinh Căn tự Nê Hoàn,

Nhãn thần: Minh Thượng tự Anh Huyền,

Tị thần: Ngọc Lũng tự Linh Kiên,

Nhĩ thần: Không Bế tự U Điền,

Thiệt thần: Thông Mệnh tự Chính Luân,

Xỉ thần: Ngạc Phong tự La Thiên,

Chư thần nơi mặt thuộc Nê Hoàn.

Nê Hoàn Cửu Chân đều có phòng,

Vuông tròn, một tấc tại não trung.

Áo tía quần là đều rỡ ràng.

Tồn tư Cửu Chân, thọ vô cương.

Cửu Chân đều ngự tại não xoang,

Ngồi theo thứ tự hướng ngoại phương,

Nếu biết tồn tâm, Thần không tản …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Chí đạo bất phiền quyết tồn chân,

至 道 不 煩 決 存 真

Bản Vụ Thành Tử viết quyết 決 (quyết tâm). Bản Tử Hà viết quyết 訣 (khẩu quyết). Cả hai đều có nghĩa:

(1) Đại Đạo không khó, chỉ cần quyết tâm tồn Chân.

(2) Đại Đại không khó, khẩu quyết là: Tồn Chân.

Câu 10. Nhất diện chi thần tông Nê Hoàn.

一 面 之 神 宗 泥 丸

Tất cả các thần mặt đều thuộc quyền thống suất của thần Nê Hoàn.

Câu 11. Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng,

泥 丸 九 真 皆 有 房

Nê Hoàn có chín cung: 1/ Minh Đường cung 明 堂 宮; 2/ Động Phòng cung 洞 房 宮; 3/ Nê Hoàn cung 泥 丸 宮; 4/ Lưu Châu cung 流 珠 宮; 5/ Ngọc Đế cung 玉 帝 宮; 6/ Thiên Đình cung 天 庭 宮; 7/ Cực Chân cung 極 真 宮; 8/ Huyền Đan cung 玄 丹 宮; 9/ Thiên Hoàng cung 天 皇 宮. [1]

Câu 12. Phương viên Nhất Thốn xứ thử trung.

方 圓 一 寸 處 此 中

Tử Hà cho rằng gọi là Cung phòng nhưng cũng không rộng bao la, phương viên chỉ có 1 tấc.

Câu 11 đến 16:

Chín vị thần Nê Hoàn gọi là Cửu Chân 九 真. Bản Vụ Thành Tử cho tên: 1/ Thượng Chân 上 真 (hướng về phía trên); 2/ Cao Chân 高 真 (hướng về phía Nam); 3/ Thái Chân 太 真 (hướng về phía Đông); 4/ Thần Chân 神 真 (hướng về phía Tây); 5/ Huyền Chân玄 真 (hướng về phía Bắc); 6/ Tiên Chân 仙 真 (hướng về phía Đông Bắc); 7/ Thiên Chân 天 真 (hướng về phía Đông Nam); 8/ Linh Chân 靈 真 (hướng về phía Tây Nam); 9/ Chí Chân 至 真 (hướng về phía Tây Bắc).

Câu 17. Sở tồn tại tâm, tự tương đương.

所 存 在 心 自 相 當

Tử Hà bình: Con người không biết thu tồn nhất tâm, thời bách thần đều tán. Biết tồn tại tâm, thế là mọi sự đều thanh thỏa. 不 能 收 存 一 心, 則 諸 神 皆 散; 所 存 在 心, 自 然 彼 此 相 當 聚 (Bất năng thu tồn nhất tâm, tắc chư thần giai tán; sở tồn tại tâm, tự nhiên bỉ thử tương đương tụ).

D. BÌNH GIẢNG

Chương này rất quan trọng. Nó cho ta thấy rằng:

Đại Đạo không phiền toái như ta tưởng, chỉ cần tồn Chân, tồn giữ được Thần Trời Đất trong đầu não mình, trong tâm linh mình, trong Nê Hoàn Cung.

Nê Hoàn Cung chính là Huỳnh Đình, chính là Tâm, chính là Trung Tâm Điểm con người, mà xưa nay mọi người đều ra công tìm kiếm.

Đáng lý, phải viết những chữ trên đây thật lớn, đóng khung nó lại, cho mọi người chú ý, rồi không viết gì thêm nữa …

Viết thêm, chỉ tổ làm cho vấn đề thêm mờ, thêm tối, thêm quẩn, và làm cho ta chia lòng, chia trí mà thôi.

Một trong những vấn đề hết sức quan trọng mà các đạo giáo và các triết thuyết xưa nay thường đặt ra, đó là:

(1) Con người có Trung Tâm Điểm, có TÂM không ?

(2) Đâu là Trung Tâm Điểm nơi con người ?

Tôi đã trình bày hai quan điểm trên rất dài dòng trong phần khảo luận nơi các chương ba và bốn.

Dưới đây tôi xin nhắc lại sơ lược:

1. Các đạo giáo, các nhà triết thuyết đều đồng quan điểm rằng: trong con người có một Trung Tâm Điểm. Các nhà Huyền học còn cho rằng ở Trung Tâm Điểm ấy có Thần Trời Đất ngự trị …

2. Nhưng đến khi cần minh định xem đâu là Tâm, là Trung Tâm Điểm, là Huỳnh Đình nơi con người, thì chúng ta thấy có nhiều ý kiến khác biệt nhau. Sau đây là tất cả các ý kiến ấy. Chúng ta hãy đi từ dưới lên trên:

1. Hạ bộ là tâm điểm con người

Khảo các hình vẽ về sự tương xứng trong con người (La proportion dans l’homme) của Léonard de Vinci (= Leonardo da Vinci, 1452-1519) hay của Albrecht Dürer (1471-1528) [2] ta thấy: Nếu lấy hạ bộ làm tâm điểm, chúng ta có thể vẽ được hoặc là một vòng tròn chạm đầu, chạm chân hoặc là một hình tròn chạm đầu và 2 chân, 2 tay dạng theo thể ngôi sao năm cánh đều.

Mỹ thuật Hy lạp xưa cũng cho rằng: Nếu lấy đầu con người (từ đỉnh đầu xuống tới cằm) là một đơn vị chiều dài, thì một người cân xứng lý tưởng sẽ dài 8 đầu. Từ đầu đến hạ bộ là 4 khoảng, từ hạ bộ đến chân là 4 khoảng.

Nhưng trên thực tế, con người chỉ cao khoảng 7 đầu rưỡi. Từ đỉnh đầu đến hạ bộ là 4 đầu, từ hạ bộ đến chân là 3 đầu rưỡi.

Tính Mệnh Khuê Chỉ cũng có chủ trương tương tự khi cho rằng, nếu tâm điểm của Trời Đất là ở giữa Trời Đất, thì tâm điểm con người cũng phải ở giữa con người. Trời Đất xa nhau 84.000 dặm, thì tâm điểm trời đất ở khoảng giữa là 42.000 dặm. Đầu và chân cũng cách nhau 8 thước 4, vậy trung tâm điểm con người ở khoảng giữa.[3]

2. Tâm điểm con người là ở nơi Hạ đan điền (tức Khí hải hay Nguyên hải).

Khí hải cách rốn 1 tấc rưỡi (theo khoa Châm cứu); hoặc cách rốn 2 tấc 4 (theo Bão Phác tử);[4] hoặc cách rốn 3 tấc.[5]

3. Tâm điểm là Rốn. Chữ Ombilic (rốn, rún) trong tiếng Pháp có nghĩa gốc là Tâm điểm.

4. Tâm điểm là ở khoảng trống sau rốn hoặc sau rốn 3 tấc.[6]

5. Tâm điểm là ở trên rốn 3 tấc nơi vị trí của tì thổ.[7]

Đông phương thì cho rằng: Tì Thổ là Trung ương (trung ương chi vị 中 央 之 位).

Tây phương gọi Tì là Pancréas. Mà Pan là tất cả, Créas là Tạo dựng. Như vậy vẫn đồng một ý với Đông phương: Tì thổ chính là Trung cung, là nơi xuất sinh ra mọi sự.

6. Tâm hay Trái tim là trung điểm nơi con người.[8]

Tiếng Pháp Cœur có nghĩa là Trung điểm (Centre).

7. Nê Hoàn cung là Trung tâm điểm con người.

Nê Hoàn cung mới chính là Huỳnh Đình. Tất các tác phẩm và các công trình sưu khảo của tôi thực ra chỉ có mục đích chứng minh rằng Nê Hoàn mới đích thực là Trung Tâm điểm con người, là Huỳnh Đình, là nơi Thần trời đất ngự trị.

Nếu ta chịu khó ghi chú thì sẽ thấy không biết bao nhiêu bản thi văn trong đạo Lão đã chủ xướng điểm này. Đây chỉ xin nhắc qua vài câu. Tiên Học Từ Điển cho rằng: «Khoảng trên Đan điền là Kim đỉnh. Khoảng trên Kim đỉnh là Huỳnh Đình.» 丹 田 之 上 為 金 鼎 金 鼎 稍 上 為 黃 庭 (Đan điền chi thượng vi Kim đỉnh, Kim đỉnh sảo thượng vi Huỳnh Đình.) [9]

Lương Khâu Tử và Vụ Thành Tử đều cho rằng cho Huỳnh Đình ở nơi trung tâm đầu não con người: «Huỳnh Đình giả, tại đầu trung.» 黃 庭 者 在 頭 中.[10]

Tiên Học Từ Điển giải hai chữ Nê Hoàn như sau: «Nê Hoàn tại chính trung đỉnh đầu. Cũng gọi là Não hải. Não mềm như bùn nên gọi là NÊ 泥. Não hình tròn nên gọi là HOÀN 丸. Huyệt của nó ở tại chính trung điểm của Thiên, của Huyền.» 泥 丸 在 頭 頂 當 中, 腦 海 是 也, 以 腦 如 泥 而 形 圓, 圓 者 丸 也, 其 穴 處 於 天 中 之 中 玄 中 之 玄 (Nê Hoàn tại đầu đỉnh đương trung, Não hải thị dã, dĩ não như nê nhi hình viên, viên giả hoàn dã, kỳ huyệt xứ ư thiên trung chi trung, huyền trung chi huyền.)

Nê Hoàn cũng còn được gọi là:

Uất la tiêu đài 鬱 羅 蕭 台

Ngọc sơn thổ kinh 玉 山 土 京

Não huyết chi quỳnh phòng 腦 血 之 瓊 房

Hồn tinh chi ngọc thất 魂 精 之 玉 室

Bách linh chi mệnh trạch 百 靈 之 命 宅

Tân dịch chi sơn nguyên 津 液 之 山 源.

Huyệt đó nằm giữa hai lỗ tai, trước nó là Minh đường, sau đó là Ngọc chẩm. Não có chín cung, có chín vị thần làm chủ. Thần trung ương gọi là: Nê Hoàn phu nhân, vì đó là ly trung chi chân âm, bền tĩnh, không nên động. 正 兩 耳 交 通 之 穴, 前 明 堂, 後 玉 枕. 腦 有 九 宮, 九 神 主 之. 中 央 之 神 曰 泥 丸 夫 人 以 其 離 中 之 真 陰, 宜 靜 不 宜 動. (Chính lưỡng nhĩ giao thông chi huyệt, tiền Minh đường, hậu Ngọc chẩm. Não hữu cửu cung, cửu thần chủ chi. Trung ương chi thần viết “Nê Hoàn phu nhân”dĩ kỳ ly trung chi chân âm, nghi tĩnh bất nghi động.)

Tiên Học Từ Điển trích dẫn mấy đoạn Huỳnh Đình nói về Nê Hoàn như:

– Quỳnh thất chi trung bát tố tập, Nê Hoàn phu nhân đương trung lập.

瓊 室 之 中 八 素 集, 泥 丸 夫 人 當 中 立 (Nội Cảnh, chương 21)

– Nê Hoàn bách tiết giai hữu thần, Não thần Tinh Căn, tự Nê Hoàn.

泥 丸 百 節 皆 有 神, 腦 神 精 根 字 泥 丸 (Nội Cảnh, chương 7)

– Nhất diện chi thần tông Nê Hoàn, Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng.

一 面 之 神 宗 泥 丸, 泥 丸 九 真 皆 有 房 (Nội Cảnh, chương 7)

Rồi Tiên Học Từ Điển kết luận về tầm quan trọng của Nê Hoàn bằng mấy câu thơ:

Kim đan vận chí Nê Hoàn huyệt,

金 丹 運 至 泥 丸 穴,

Danh tính tiên tương ký Ngọc đô.

名 姓 先 將 記 玉 都.

[Thái cổ tập 太 古 集]

(Kim đơn vận tới Nê Hoàn huyệt,

Tính danh đăng ký tại Ngọc đô.)

Thức đắc bản lai chân diện mục,

Thủy tri sinh tử tại Nê Hoàn.

識 得 本 來 真 面 目,

始 知 生 死 在 泥 丸.

[Pháp bảo di châu 法 寶 遺 珠]

(Biết được bản lai chân diện mục,

Mới hay sinh tử tại Nê Hoàn.)[11]

Gần đây cơ bút  cũng xác nhận lại giá trị vô thượng của Nê Hoàn cung. Quyển Đại Thừa Chân Giáo, nơi tr. 61 có viết: «Người tu hành, chừng nào luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư, luyện hư hoàn vô, thì Huyền Quan Nhất Khiếu ấy mở hoát ra. Huyền Quan Nhất Khiếu ấy là chi ? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn cung, gom trọn chơn dương, chính đạo …» Nơi trang 56, Đại Thừa Chân Giáo cũng cho rằng Nê Hoàn cung là Thiên Môn dẫn tới Thượng Thanh cung…

[1] Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh kinh tường chú, tr. 12a, 12b.

[2] Xem Jean Arestein, Encyclopédie pratique de dessin, Fernand Nathan, Liège, 1957, các trang 55, 56, 57.

[3] Xem chương Trung Tâm đồ trong Tính Mệnh Khuê Chỉ, quyển Nguyên, tr. 10b.

[4] Xem Lương Khưu Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 7a.

[5] Huỳnh Đình Nội Cảnh, chương 5: Hoành tân tam thốn thần sở cư 橫 津 三 寸 神 所 居.

[6] Xem Tiên Học từ điển tr. 142, và Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 29.

[7] Xem Lương Khưu Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, tr. 1a.

[8] Xem Léon Sprink, l’Art sacré en Occident et en Orient, p. 49.

[9] Xem Tiên Học Từ Điển, tr. 142.

[10] Xem Lương Khưu Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh chú, tr. 1a; và xem Vụ Thành Tử, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 3b.

[11] Đới Nguyên Trường, Tiên Học Từ Điển, tr. 99-100.

CHƯƠNG 8

TÂM THẦN

心 神

A. KINH VĂN

1. Tâm thần Đan Nguyên tự Thủ Linh,

心 神 丹 元 字 守 靈

2. Phế thần Hạo Hoa tự Hư Thành,

肺 神 皓 華 字 虛 成

3. Can thần Long Yên tự Hàm Minh,

肝 神 龍 煙 字 含 明

4. Ế uất đạo yên, chủ trọc thanh,

翳 鬱 導 煙 主 濁 清

5. Thận thần Huyền Minh tự Dục Anh,

腎 神 玄 冥 字 育 嬰

6. Tì Thần Thường Tại tự Hồn Đình,

脾 神 常 在 字 魂 停

7. Đảm thần Long Diệu tự Uy Minh,

膽 神 龍 曜 字 威 明

8. Lục phủ, ngũ tạng, thần thể tinh,

六 腑 五 藏 神 體 精

9. Giai tại tâm nội, vận thiên kinh,

皆 在 心 內 運 天 經

10. Trú dạ tồn chi, tự trường sinh…

晝 夜 存 之 自 長 生

B. LƯỢC DỊCH

Tâm thần: Đan Nguyên tự Thủ Linh,

Phế thần: Hạo Hoa tự Hư Thành,

Can thần: Long Yên tự Hàm Minh,

Làm mắt: trong sáng, tùy quyền linh.

Thận thần: Huyền Minh tự Dục Anh,

Tì thần Thường Tại tự Hồn Đình,

Đảm thần: Long Diệu tự Uy Minh,

Lục phủ ngũ tạng, thần thể linh,

Đều ở trong tâm vạn thiên kinh,

Ngày đêm giữ được sẽ trường sinh…

C. CHÚ THÍCH

Câu 4. Ế uất đạo yên, chủ trọc thanh,

翳 鬱 導 煙 主 濁 清

Ế uất 翳 鬱: cũng là một tên khác của thần gan.

Chủ trọc thanh 主 濁 清: Khi gan đục thì mắt mờ, khi gan trong thì mắt sáng. (Vụ Thành Tử: 清 則 目 明, 濁即 目 暗 Thanh tắc mục minh, trọc tức mục ám.)

Có bản bỏ câu 4 này.

Câu 9. Giai tại tâm nội vận thiên kinh.

皆 在 心 內 運 天 經

Chư thần đều ở trong tâm, vận hành điều động cơ thể theo đúng định luật của trời đất.

Thần tim (hình chim đỏ) – Tâm thần danh Đan Nguyên tự Thủ Linh 心 神 名 丹 元 字 守 靈

D. BÌNH GIẢNG

Chương này không có gì đặc biệt.

Nơi chương này ta thấy tác giả tiếp tục kể tên chư thần cả ngũ tạng.

 Lục phủ thần, thì chỉ duy có thần Đảm là được đề cập.

Có người cho rằng: Đảm tàng thức, cho nên vừa là Phủ (hành) vừa là Tạng (tàng). Chính vì thế, nên đã được nói tới.

Cuối chương, ta thấy quan điểm của người xưa bao giờ cũng là: Tồn Tâm, Tồn Thần mới trường sinh.

Tâm thần là cái gì quí báu nhất trong con người, không gìn giữ được cho toàn vẹn, mà để mất mát, hư hao, tản lạc mãi đi, thì làm sao mà mong trường cửu được…

Huỳnh Đình Ngoại Cảnh bỏ qua từ chương này cho tới chương 17 mới bắt đầu toát lược lại…

CHƯƠNG 9

PHẾ BỘ

肺 部

A. KINH VĂN

1. Phế bộ chi cung tự Hoa cái,

肺 部 之 宮 似 華 蓋

2. Hạ hữu Đồng tử tọa Ngọc khuyết,

下 有 童 子 坐 玉 闕

3. Thất Nguyên chi tử chủ điều khí.

七 元 之 子 主 調 氣

4. Ngoại ứng Trung Nhạc, tỵ tề vị.

外 應 中 岳 鼻 齊 位

5. Tố cẩm y thường, hoàng vân đới.

素 錦 衣 裳 黃 雲 帶

6. Suyễn tức hô hấp, thể bất khoái,

喘 息 呼 吸 體 不 快

7. Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục khí,

急 存 白 元 和 六 氣

8. Thần tiên cửu thị vô tai hại,

神 仙 久 視 無 災 害

9. Dụng chi bất dĩ, hình bất trệ.

用 之 不 已 形 不 滯

B. LƯỢC DỊCH

Phế bộ chi cung tựa lọng che,

Dưới có Đồng tử, trấn Ngọc khuyết.

Phế khai thất khiếu, chủ điều khí,

Ngoài ứng với mũi, Trung Nhạc ví,

Y thường gấm trắng, Huỳnh vân đới,

Mỗi khi suyễn tức, thần không khoái,

Cầu thần Bạch Nguyên, điều hòa khí,

Thần tiên cửu thị, không tai hại.

Chí thành cảm thần, thần không hoại.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Phế bộ chi cung tự Hoa cái.

肺 部 之 宮 似 華 蓋

Hoa cái 華 蓋: Lọng che.

Câu 2. Hạ hữu Đồng tử, tọa Ngọc khuyết.

下 有 童 子 坐 玉 闕

Ngọc khuyết 玉 闕: Cửa ngọc.

Câu 3. Thất Nguyên chi tử chủ điều khí.

七 元 之 子 主 調 氣

Thất Nguyên 七 元: Thất khiếu chi nguyên khí 七 竅 之 元 氣.

Thất Nguyên chi tử 七 元 之 子: Thất Nguyên chi quân 七 元 之 君. Nguyên Dương tử nói: Thất Nguyên chi quân mang giáp giữ phù, trừ khử hung tà, ban bố khí đến bảy khiếu, chủ yếu làm cho mắt và tai thông minh. 元 陽 子 曰 : 七 元 之 君 負 甲 持 符, 辟 除 凶 邪 而 布 氣 七 竅, 主 耳 目 聰 明 (Nguyên Dương tử viết Thất Nguyên chi quân phụ giáp trì phù, tịch trừ hung tà nhi bố khí thất khiếu, chủ nhĩ mục thông minh.)

Câu 4. Ngoại ứng Trung Nhạc, tỵ tề vị.

外 應 中 岳 鼻 齊 位

Trung Nhạc 中 岳: Mũi. Xem lại chương sáu: Thiên Trung chi Nhạc tinh cẩn tu 天 中 之岳 精 謹 修.

Câu 5 . Tố cẩm y thường, hoàng vân đới.

素 錦 衣 裳 黃 雲 帶

Tố cẩm 素 錦: Gấm trắng. Hoàng vân đới 黃 雲 帶: Đai lưng bằng mây vàng.

Câu 6. Suyễn tức hô hấp thể bất khoái.

喘 息 呼 吸 體 不 快

Suyễn tức喘 息: Hen suyễn.

Câu 7. Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục khí.

急 存 白 元 和 六 氣

Bạch Nguyên 白 元: Cũng là tên của thần phổi.
 

Thần phổi (hình hổ trắng) – Phế thần danh Hạo Hoa tự Hư Thành 肺 神 名 皓 華 字 虛 成

Câu 8. Thần tiên cửu thị vô tai hại.

神 仙 久 視 無 災 害

Thần tiên cửu thị 神 仙 久 視: Muốn thành thần tiên, hay trường sinh phải biết Cửu thị.

Cửu thị là dùng mắt Nội quan 內 觀 hay Nội thị 內 視. Phải Cửu thị bất ly 久 視 不 離 nghĩa là thu thần quang, nhìn chăm chú vào một mục phiêu gì cho lâu lai, thế mới là Cửu thị (Cửu 久 là lâu, Thị 視 là nhìn). Có tập trung tinh thần cho lâu lai, ánh sáng nội tâm mới chiếu diệu.

Cửu thị chính cũng là Trú dạ tồn chi 晝 夜 存 之 của Huỳnh Đình (Xem Nội Cảnh, ch. 8).

Tập trung tinh thần lâu lai, thần lực sẽ gia tăng, và ngoại tà sẽ không còn xâm phạm được. Vì thế nói: Thần tiên cửu thị vô tai hại.

Câu 9. Dụng chi bất dĩ, hình bất trệ.

用 之 不 已 形 不 滯

Bản Tử Hà: Dụng chi bất dĩ, hình bất hoại. 用 之 不 已 形 不 壞.

Có nội quan cửu thị lâu lai, mới thấy kết quả ứng tới hình hài.

D. BÌNH GIẢNG

Phế chủ về hô hấp, dưỡng nuôi thân thể.

Phế là Thất nguyên chi tử, hay Thất nguyên chi thần điều hòa nguyên chi Thất khiếu. (Câu 3).

Phế ở trên các tạng phủ khác, hình rủ xuống như lọng che. Ngoài ứng với mũi. (Câu 1 – Câu 4)

Phế thần mặc phẩm phục bằng gấm trắng, đeo đai bằng mây vàng. (Câu 5). Vụ Thành Tử cho rằng sở dĩ nói rằng Phế thần mặc gấm trắng, là vì phế có màu trắng bên ngoài; nói thần phổi đeo đai bằng mây vàng, vì bên trong phổi có những mạch lan tràn, chằng chịt màu vàng.

Nếu quả đúng như vậy, thì người xưa đã dùng những danh từ, những hình ảnh của huyền thoại để mô tả tạng phủ, thay vì dùng những từ ngữ thông thường.

Chương này cho rằng: Khi bị hen suyễn khó thở, có thể tĩnh tọa, tập trung tinh thần, nghĩ đến thần Bạch Nguyên, tức là Phế thần, cố điều hòa lại hơi thở, sẽ được lành mạnh. Đây cũng là một cách dùng đức tin để chữa bệnh (Câu 6, câu 7).

Tuy nhiên chương này cũng cho rằng muốn đạt kết quả phải biết nội quan quán chiếu, phải biết tồn tâm, thu thần nhiều ngày, nhiều tháng rồi (Câu 8, câu 9).

CHƯƠNG 10

TÂM BỘ

心 部

A. KINH VĂN

1. Tâm bộ chi cung liên hàm hoa,

心 部 之 宮 蓮 含 華

2. Hạ hữu đồng tử, Đan Nguyên gia,

下 有 童 子 丹 元 家

3. Chủ thích hàn nhiệt vinh vệ hòa,

主 適 寒 熱 榮 衛 和

4. Đan cẩm phi thường, phi ngọc la,

丹 錦 飛 裳 披 玉 羅

5. Kim linh chu đới tọa bà sa.

金 鈴 朱 帶 坐 婆 娑

6. Điều huyết lý mệnh thân bất khô,

調 血 理 命 身 不 枯

7. Ngoại ứng khẩu thiệt, thổ ngũ hoa,

外 應 口 舌 吐 五 華

8. Lâm tuyệt hô chi, diệc đăng tô,

臨 絕 呼 之 亦 登 蘇

9. Cửu cửu hành chi, phi thái hà.

久 久 行 之 飛 太 霞

B. LƯỢC DỊCH

Tâm bộ chi cung, sen chớm hoa,

Trong có đồng tử Đan Nguyên gia,

Thích ứng hàn nhiệt, vinh vệ hòa,

Trang phục đỏ tươi, toàn lụa là,

Nhạc vàng đai đỏ, ngồi an tĩnh,

Điều huyết, lý mệnh, thân không khô,

Ngoài ứng miệng lưỡi, thổ ngũ hoa,

Gần chết hô thần, liền sống lại,

Tồn thần mãi thế, thăng Thái Hà.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tâm bộ chi cung liên hàm hoa.

心 部 之 宮 蓮 含 華

Liên hàm hoa 蓮 含 華: Hoa sen còn chưa nở.

Câu 2. Hạ hữu đồng tử, Đan Nguyên gia.

下 有 童 子 丹 元 家

Gia 家: là ở. Thần tim là Đan Nguyên, tự là Thủ Linh. Thần trong tim nên nói là hạ 心 神 丹 元 字 守 靈. 神 在 心 內 而 云 下 者 (Tâm thần Đan Nguyên tự Thủ linh. Thần tại tâm nội, nhi vân hạ giả.)

Câu 3. Chủ thích hàn nhiệt, vinh vệ hòa.

主 適 寒 熱 榮 衛 和

Thích hàn nhiệt 適 寒 熱: điều chỉnh sự nóng lạnh trong con người (régulation thermique).

Vinh vệ hoà 榮 衛 和: Điều hòa khí (vệ) huyết (vinh). (Vinh vệ huyết khí 榮 衛 血 氣: Huyết vi vinh 血 為 榮, khí vi vệ氣 為 衛 (Nội kinh內 經). Xem từ điển Từ Nguyên 辭 源 nơi chữ Vinh 榮.

Câu 4. Đan cẩm phi thường, phi ngọc la.

丹 錦 飛 裳 披 玉 羅

Phi 披: khoác, mặc. La 羅: Là, dệt bằng tơ mỏng mặc cho mát.

Bản Tử Hà chép: Đan cẩm y thường, phi ngọc la 丹 錦 衣 裳 披 玉 羅.

Câu này nghĩa là: Mặc quần áo bằng gấm, ngoài lại khoác một áo là mỏng mảnh đẹp như ngọc.

Câu 5. Kim linh chu đới tọa bà sa.

金 鈴 朱 帶 坐 婆 娑

Kim linh 金 鈴: Nhạc vàng (tượng trái tim như hình nhụy hoa 肉 蕊 之 象).

Chu đới 朱 帶: Đai màu đỏ. Chỉ huyết mạch màu đỏ.

Tọa bà sa 坐 婆 娑: ngồi an nhàn tự tại (Ngôn thần chi an tĩnh dã 言 神 之 安 靜 也).

Câu 6. Điều huyết lý mệnh thân bất khô.

調 血 理 命 身 不 枯

Câu này nghĩa là: Tâm an, thể hòa, nên vô bệnh 心 安 病 和 則 無 病 矣 (Tâm an, thể hòa, tắc vô bệnh hỹ.)

Câu 7. Ngoại ứng khẩu thiệt thổ ngũ hoa.

外 應 口 舌 吐 五 華

Thổ ngũ hoa 吐 五 華: Miệng thổ nạp tân dịch của ngũ tạng, phân biệt được mùi vị của ngũ hành. Vì thế gọi là ngoại ứng. 心 主 口 舌, 吐 納 五 藏 之 液, 辨 識 五 行 之 味, 故 言 外 應 (Tâm chủ khẩu thiệt, thổ nạp ngũ tạng chi dịch, biện thức ngũ hành chi vị, cố ngôn ngoại ứng.)

Câu 8. Lâm tuyệt hô chi diệc đăng tô.

臨 絕 呼 之 亦 登 蘇

Lâm tuyệt 臨 絕: Lúc chết. Đăng tô 登 蘇: Sẽ sống lại. Khi người ta bị bệnh hay nguy hiểm phải tồn thần nơi Đan Nguyên đồng tử (mặc áo đỏ đội mũ đỏ) để được cứu mạng. 人 有 病 危 當 存 丹 元 童 子 朱 衣 赤 冠 以 救 護 之 也 (Nhân hữu bệnh nguy, đương tồn Đan Nguyên đồng tử, chu y xích quán, dĩ cứu hộ chi dã.)

Câu 9. Cửu cửu hành chi, phi Thái hà.

久 久 行 之 飛 太 霞

Thái Hà là Kim Hương, cũng còn gọi là Kim Thái Hà. Ý nói sẽ thành tiên, sẽ được lên trời.

D. BÌNH GIẢNG

Tâm như búp sen, trong có thần Đan Nguyên, tự Thủ Linh cư ngụ (Câu 1).
           

Thần tim (hình chim đỏ) – Tâm thần danh Đan Nguyên tự Thủ Linh 心 神 名 丹 元 字 守 靈

Tâm có nhiệm vụ điều hòa khí huyết, điều chỉnh nóng lạnh trong người. Tâm mà yên tĩnh, người sẽ khỏe mạnh (Câu 3, 4, 5, 6, 7).

Xưa, Tử Dương tiên sinh, bôn tẩu 10 năm, dung mạo vẫn như thường, không suy sút. Có kẻ hỏi tiên sinh dùng thuật gì mà được như vậy. Tiên sinh đáp: Con người ta sở dĩ tiều tụy, khô héo, chính là do trái tim gây ra. Nghĩ việc này chưa xong, đã nghĩ tiếp việc khác, suốt ngày chẳng có khi nào thong thả, cho đến đêm khi nằm ngủ cũng vậy, chính vì thế mà thần bị hao tán. Còn tôi thì chẳng có làm chi khác hơn là định tâm. Định thời sẽ tĩnh, tĩnh thời sẽ an, và Kim đơn có thể ngồi yên mà được…[1]

Khi gần lâm chung, biết hô thần Đan Nguyên sẽ sống lại. Nếu biết thường xuyên dưỡng tâm, tồn thần sẽ thành tiên. (Câu 8, câu 9).

[1] Xem Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh tường chú, chương 10.

CHƯƠNG 11
CAN BỘ
肝 部

A. KINH VĂN

1. Can bộ chi trung, thúy trùng lý,
肝 部 之 中 翠 重 裏

2. Hạ hữu Thanh Đồng Thần Công Tử,
下 有 青 童 神 公 子

3. Chủ chư quan kiện, thông minh thủy,
主 諸 關 鍵 聰 明 始

4. Thanh cẩm phi thường, bội ngọc linh,
青 錦 披 裳 佩 玉 鈴

5. Hòa chế hồn phách, tân dịch bình,
和 制 魂 魄 津 液 平

6. Ngoại ứng nhãn mục, nhật nguyệt thanh,
外 應 眼 目 日 月 清

7. Bách kha bất chung, tồn Vô Anh,
百 痾 不 鍾 存 無 英

8. Đồng dụng thất nhật, tự sung doanh.
同 用 七 日 自 充 盈

9. Thùy tuyệt, niệm Thần, tử phục sinh,
垂 絕 念 神 死 復 生

10. Nhiếp hồn, hoàn phách, vĩnh vô khuynh.
攝 魂 還 魄 永 無 傾

B. LƯỢC DỊCH

Can bộ chi cung, xanh khoe vẻ,

Trong có Thanh Đồng Thần Công Tử.

Nắm giữ mối giường, sinh thông minh,

Y phục gấm xanh, mang ngọc linh.

Điều chế hồn phách, tân dịch bình,

Ngoài ứng đôi mắt, nhật nguyệt minh,

Can giữ điều hòa, bệnh không sinh.

Đồng dụng bảy ngày, tự sung doanh.

Gần chết hô thần, lại phục sinh,

Nhiếp hoàn, hoàn phách hết đảo khuynh.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Can bộ chi trung, thúy trùng lý.

肝 部 之 中 翠 重 裏

Thúy 翠: xanh. Can thuộc Mộc nên chương này ta thấy toàn dùng những chữ màu xanh như Thúy, Thanh đồng, Thanh cẩm. Cũng như nơi chương nói về Tâm thì toàn dùng màu đỏ, vì Tâm thuộc Hỏa. Nơi chương nói về Phế, thì thấy dùng màu trắng, vì Phế thuộc Kim v.v…

Trùng lý 重 裏: Can có nhiều lớp lớn nhỏ chồng lên nhau, nên nói trùng lý.

Câu 2. Hạ hữu Thanh Đồng Thần Công Tử.

下 有 青 童 神 公 子

Thanh Đồng Thần Công Tử 青 童 神 公 子: Thần gan có nhiều tên như: Thanh Đồng 青 童, Long Yên 龍 煙, Vô Anh Công Tử 無 英 公 子.
           
Thần gan (hình rồng) – Can thần danh Long Yên tự Hàm Minh 肝 神 名 龍 煙 字 含 明

Câu 3. Chủ chư quan kiện thông minh thủy.

主 諸 關 鍵 聰 明 始

Quan kiện 關 鍵: Then (quan 關), khóa (kiện 鍵). Gan chủ mắt, là khóa then của Ngũ hành. Mắt chủ thông minh,

Câu 4. Thanh cẩm phi thường, bội ngọc linh.

青 錦 披 裳 佩 玉 鈴

Thanh cẩm phi thường 青 錦 披 裳: Quần áo bằng gấm màu xanh.

Câu 5. Hòa chế hồn phách, tân dịch bình.

和 制 魂 魄 津 液 平

Hòa chế hồn phách 和 制 魂 魄: Điều chế hồn phách.

Tân dịch bình 津 液 平: là cho tân dịch trong người trở nên quân bình.

Câu 6. Ngoại ứng nhãn mục, nhật nguyệt thanh.

外 應 眼 目 日 月 清

Bản Tử Hà: Ngoại ứng lưỡng mục, nhật nguyệt tinh 外 應 眼 目 日 月 精.

Gan ngoài ứng với đôi mắt, tinh hoa của nhật nguyệt hai vầng. 肝 位 屬 眼 象 日 月明 (Can vị thuộc nhãn, tượng nhật nguyệt minh.)

Câu 7. Bách a (kha) bất chung, tồn Vô Anh.

百 痾 不 鍾 存 無 英

Bách a (kha) bất chung 百 痾 不 鍾: trăm bệnh không sinh (chung 鍾: sinh).

Tồn Vô Anh 存 無 英: Chính là nhờ tồn được thần gan Vô Anh.

Câu 8. Đồng dụng thất nhật, tự sung doanh.

同 用 七 日 自 充 盈

Dùng đồng thời cùng với ngũ tạng, nên gọi là đồng dụng 同 用. Thất nhật, tự sung doanh 七 日 自 充 盈: trong vòng bảy ngày, sẽ trở nên sung mãn.

Câu 9. Thùy tuyệt, niệm Thần, thủy phục sinh.

垂 絕 念 神 死 復 生

Thùy tuyệt 垂 絕: Lúc gần chết.

Câu 10. Nhiếp hồn, hoàn phách vĩnh vô khuynh.

攝 魂 還 魄 永 無 傾

Nhiếp hồn, hoàn phách 攝 魂 還 魄: Thu nhiếp hồn phách. Vĩnh vô khuynh 永 無 傾: Sẽ mãi không khuynh đảo, ngả nghiêng.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này thực ra cũng rập theo một lối như các chương trên. Trước hết đề cập đến gan, và Thần gan, là Thanh Đồng Thần Công Tử. Câu (1,2).

Gan chủ thông minh. Sách Lan Đài Bí điển gọi gan là Tướng quân chi quan, mưu lự đều do đó xuất sinh.

Gọi gan là Tướng quan, nên nắm hết chốt then trong người.

Gọi là Mưu lự, nên thông minh do đó xuất sinh.

Thường ta chỉ thấy nói Gan tàng Hồn, đây lại thêm là Gan điều hòa hồn phách, điều chỉnh tân dịch (câu 3, 4, 5).

Gan ngoài ứng với đôi mắt, y học Trung Hoa cũng chủ trương như vậy (câu 6).

 Muốn cho bệnh tật không sinh, phải thường quán tưởng, thường “tồn”thần Vô Anh (thần gan) (câu 7).

Nếu để ra được chừng 7 ngày, chuyên tâm, tồn thần, điều dưỡng gan và ngũ tạng, thì sẽ thấy sức lực rồi rào trở lại (câu 8).

Gần chết, niệm thần, sẽ sống lại (câu 9). Biết thu nhiếp hồn phách sẽ diên niên (câu 10). Vụ Thành Tử, trong lời bình giải chương nầy, cho rằng:

Người có tam hồn: là Sảng Linh 爽 靈, Thai Quang 胎 光, và U Tinh 幽 精.

Mỗi tháng cứ ngày mồng 3, 13, 23 là hồn lìa thân xác đi chơi, phải biết phép nhiếp hồn.

Phách có bảy, là:

Thi Cẩu 尸 苟 Phục Thỉ 伏 矢, Tước Âm 雀 陰, Thôn Tặc 吞 賊, Phi Độc 非 毒, Trừ Uế 除 穢, và Xú Phế 臭 肺.

Mỗi tháng các ngày Sóc 朔 (Mồng 1), Vọng 望 (15) Hối 晦 (30), là phách lưu đãng, giao thông với quỉ mị, cần phải biết phép hoàn phách. Vụ Thành Tử cũng có dạy phép Hoàn phách, nhiếp hồn. Nhưng tôi không muốn ghi lại nơi đây.

Tam hồn

Thất phách

Tam hồn thất phách

—————–

CHƯƠNG 12

THẬN BỘ

腎 部

A. KINH VĂN

1. Thận bộ chi cung, Huyền Khuyết viên,

腎 部 之 宮 玄 闕 圓

2. Trung hữu đồng tử, minh thượng huyền,

中 有 童 子 冥 上 玄

3. Chủ chư lục phủ, cửu dịch nguyên,

主 諸 六 腑 九 液 源

4. Ngoại ứng lưỡng nhĩ, bách dịch tân.

外 應 兩 耳 百 液 津

5. Thương cẩm, vân y, vũ long phiên,

蒼 錦 雲 衣 舞 龍 幡

6. Thượng trí minh hà, nhật nguyệt yên,

上 致 明 霞 日 月 煙

7. Bách bệnh, thiên tai cấp đương tồn,

百 病 千 災 急 當 存

8. Lưỡng bộ thủy vương đối Sinh môn.

兩 部 水 王 對 生 門

9. Sử nhân trường sinh, thăng cửu thiên.

使 人 長 生 昇 九 天

B. LƯỢC DỊCH

Thận bộ chi cung, cửu huyền viên,

Trong có Đồng Tử, thông tâm điền,

Thống lĩnh lục phủ, cửu tân dịch,

Ngoài ứng đôi tai, khí huyết tuyên.

Phẩm phục gấm xanh, múa long phiên,

Tỏ tai, sáng mắt, khí chu tuyền,

Bách bệnh thiên tai, cầu ngay tới,

Lưỡng bộ thủy vương, đối Sinh môn,

Giúp người trường sinh, thăng cửu thiên…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Thận bộ chi cung Huyền Khuyết viên.

腎 部 之 宮 玄 闕 圓

Huyền khuyết viên 玄 闕 圓: Hai thận họp lại thành hình tròn, giữa trống, như cái cửa.

Câu 2. Trung hữu đồng tử, minh thượng huyền.

中 有 童 子 冥 上 玄

Minh thượng huyền 冥 上 玄: Vụ Thành Tử giải: Thận là Hạ huyền 下 玄, tâm là Thượng huyền 上 玄. Minh Thượng huyền là kín đáo giao thông với tim.

Câu 3. Chủ chư lục phủ, cửu dịch nguyên.

主 諸 六 腑 九 液 源

Cửu dịch九 液: Nước của cửu khiếu.

Câu 4. Ngoại ứng lưỡng nhĩ, bách dịch tân.

外 應 兩 耳 百 液 津

Ngoài ứng với hai tai, và mọi tân dịch.

Câu 5. Thương cẩm vân y, vũ long phiên.

蒼 錦 雲 衣 舞 龍 幡

Thương cẩm 蒼 錦: Vụ Thành Tử cho rằng Thương là màu trắng trộn với màu đen. Như vậy Thương chính là màu xám.

Long phiên 龍 幡: Cờ hiệu thêu hình rồng.

Câu 6. Thượng trí minh hà, nhật nguyệt yên.

上 致 明 霞 日 月 煙

Bản Tử Hà ghi: Thượng phu minh hà, nhật nguyệt yên 上 敷 明 霞 日 月 煙.

Minh hà 明 霞: Mây sáng gần mặt trời, nhất là khi mặt trời lặn.

Nhật nguyệt yên日 月 煙: Tử Hà giải: Nhật tinh nguyệt hoa, đều có yên quang. Yên là khói.

Câu 7. Bách bệnh, thiên tai cấp đương tồn,

百 病 千 災 急 當 存

Câu 8. Lưỡng bộ thủy vương đối Sinh môn.

兩 部 水 王 對 生 門

Lưỡng bộ thủy vương 兩 部 水 王: Hai quả thận đều là thủy vương, nên gọi lưỡng bộ.

D. BÌNH GIẢNG

Thận bộ gọi là Huyền khuyết 玄 闕 hay là Thủy phủ 水 府. Hai trái thận, như là Âm Dương hợp lại thành một Thái Cực hình tròn.

Vì thế gọi là Viên 圓, hợp lại trái thận lại ở giữa vẫn có lỗ trống, như hình cửa nên gọi là Khuyết 闕.

Thận ở chỗ thấp kín, nên nói Huyền 玄. Ba chữ Huyền khuyết viên 玄 闕 圓 có là vì vậy (Câu 1).
 

Hình quả thận và quẻ Khảm

Chữ thủy 水 (giáp cốt, kim văn, triện, lệ) giống như quẻ Khảm ☵ xoay đứng, và hình dáng lưỡng thận hai bên xương sống cũng tương tự quẻ Khảm.

     

Thần thận (hình nai hai đầu)

Thận thần danh Huyền Minh tự Dục Anh 腎 神 名 玄 冥 字 育 嬰

Thần thận là Huyền Minh 玄 冥 hay Dục Anh 育 嬰.

Thận vẫn ám thông với Tâm ở trên; mà tâm là Thượng huyền, Thận là Hạ huyền, vì thế nên nói: Minh Thượng huyền. Y học cũng nói tâm và thận tương thông (Câu 2).

Thận thuộc Khảm. Khảm là nước, nên nói thận là nguồn suối của Cửu dịch. Cửu dịch là tân dịch của Cửu khiếu. Thận cũng điều hòa lục phủ. Thận ứng với tai. Thận khí suy, thì tai ù, tai điếc. (Câu 3, 4).

Hai trái thận làm việc điều hòa, khí huyết sẽ lưu thông. (Câu 4). Thận màu xam xám, nên nói thần thận mặc áo gấm màu xanh xám. Vụ Thành Tử giải hai chữ vân y, “áo mây”là những màng quanh thận, và cho long phiên là những mạch nơi thận. (Câu 5).

Thận khí sung hòa thời mắt sáng, tai thông. (Câu 6).

Gặp khi tật bệnh, nên tồn thần thận. (Câu 7).

Thận có hai quả nên gọi là Lưỡng bộ thủy vương. Đối Sinh môn là tương đối với rốn. Thực ra thận ở cao hơn, ngang khoảng xương sườn 12. Còn rốn là ngang thắt lưng. Huyệt Mệnh Môn 命 門, theo khoa Châm Cứu mới ở đốt xương sống «eo» thứ 2 (đệ nhị yêu trùy 第 二 要 椎) hoặc thứ bảy tính từ đốt xương cùng trở lên (thất tiết chi bàng trung hữu tiểu tâm 七 節 之 旁 中 有 小 心) và Mệnh Môn mới ngang với rốn. (Câu 8).

——————————-

CHƯƠNG 13

TỲ BỘ

脾 部

A. KINH VĂN

1. Tỳ bộ chi cung, thuộc Mậu kỷ,

脾 部 之 宮 屬 戊 己

2. Trung hữu Minh Đồng, hoàng thường lý.

中 有 明 童 黃 裳 裏

3. Tiêu cốc tán khí, nhiếp nha xỉ,

消 穀 散 氣 攝 牙 齒

4. Thị vi Thái Thương, lưỡng Minh Đồng,

是 為 太 倉 兩 明 童

5. Tọa tại Kim đài, thành cửu trùng,

坐 在 金 臺 城 九 重

6. Phương viên nhất thốn Mệnh môn trung.

方 圓 一 寸 命 門 中

7. Chủ điều bách cốc, ngũ vị hương,

主 調 百 穀 五 味 香

8. Tịch khước hư luy, vô bệnh thương,

辟 卻 虛 羸 無 病 傷

9. Ngoại ứng xích trạch, khí sắc phương.

外 應 尺 宅 氣 色 芳

10. Quang hoa sở sinh, dĩ biểu minh,

光 華 所 生 以 表 明

11. Hoàng cẩm ngọc y, đới hổ chương.

黃 錦 玉 衣 帶 虎 章

12. Chú niệm Tam Lão, tử khinh tường,

注 念 三 老 子 輕 翔

13. Trường sinh cao tiên, viễn tử ương.

長 生 高 仙 遠 死 殃

B. LƯỢC DỊCH

Tỳ bộ chi cung, thuộc Mậu Kỷ,

Hoàng Thường Minh đồng, lập cư vị,

Tiêu cơm tán khí, vững nha xỉ,

Đều nhờ Tỳ vị, lưỡng Minh Đồng.

Thần tại Kim Đài, thành Cửu trùng,

Vuông tròn một tấc Mệnh môn trung.

Chủ điều bách cốc, ngũ vị hương,

Khiến hình béo tốt, thân an khương,

Ngoại ứng dung nhan, sắc nhuận hường.

Tỳ mạnh, hóa nên dung nhan đẹp.

Y phục gấm vàng, đeo hổ phù,

Chuyên niệm Tam Lão, người nhẹ nhàng,

Trường sinh cao tiên, thoát tử ương.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tỳ bộ chi cung thuộc Mậu kỷ.

脾 部 之 宮 屬 戊 己

Tỳ thuộc Thổ, tức là Trung Cung, Mậu kỷ, theo Dịch và Hà Đồ, Lạc Thư. Tỳ thổ có màu vàng. Nên phẩm phục của Thần Tỳ đều là màu vàng.

Câu 2. Trung hữu Minh đồng, hoàng thường lý.

中 有 明 童 黃 裳 裏

Minh đồng 明 童: Thần Tỳ, còn có tên là Hỗn Khang, Hồn Đình.

Câu 3. Tiêu cốc, tán khí, nhiếp nha xỉ.

消 穀 散 氣 攝 牙 齒

Tiêu cốc 消 穀: Tiêu cơm.

Tán khí 散 氣: Làm cho khí lưu chuyển.

Nhiếp nha xỉ 攝 牙 齒: Làm cho vững răng.

Câu 4. Thị vi Thái Thượng, lưỡng Minh đồng.

是 為 太 倉 兩 明 童

Thái Thượng: Vị.

Tỳ với Vị hợp với nhau thành Lưỡng thổ, đều cùng chung nhiệm vụ tiêu hóa. Nên thần Minh Đồng cũng có 2. Bởi thế nói: Thị vị Thái thượng, lưỡng Minh Đồng.

Câu 5. Tọa tại kim đài, thành cửu trùng.

坐 在 金 臺 城 九 重

Tử Hà cho rằng: Thần tỳ vị ngự tại Huyền quan nhất khiếu.

Kim đài 金 臺: Đài vàng. Cửu trùng 九 重: Chín tầng.

Câu 6. Phương viên nhất thốn mệnh môn trung.

方 圓 一 寸 命 門 中

Vuông tròn 1 tấc, ở giữa mệnh môn.

Câu 7. Chủ điều bách cốc, ngũ vị hương,

主 調 百 穀 五 味 香

Câu 8. Tịch khước hư luy, vô bệnh thương.

辟 卻 虛 羸 無 病 傷

Tịch khước 辟 卻: Trừ khử.

Hư luy 虛 羸: Hư hao, gầy mòn.

Vô bệnh thương 無 病 傷: Không bệnh nào làm hại được.

Câu 9. Ngoại ứng Xích trạch, khí sắc phương.

外 應 尺 宅 氣 色 芳

Bản Tử Hà chép: Ngoại ứng Thiên trạch, khí sắc phương 外 應 天 澤 氣 色 芳.

Xích trạch 尺 宅: Mặt.

Theo Tử Hà, thì Thiên trạch 天 澤 là quẻ Lý (Thiên trạch Lý 天 澤 履). Lý là dáng đi điệu đứng. Tôi theo Vụ Thành Tử, giải Xích trạch là mặt. Cách giải này, hợp với văn mạch, từ chương tám tới đây. Nội tạng bao giờ cũng ứng với một bộ phận nào ở bên ngoài: phế ứng mũi, tâm ứng miệng lưỡi, gan ứng mắt, thận ứng tai, tỳ ứng mặt…

Câu 10. Quang hoa sở sinh dĩ biểu minh.

光 華 所 生 以 表 明

Quang hoa sinh ra bên trong, lấy cái bên ngoài (biểu 表) để minh chứng (minh 明).

Câu 11. Hoàng cẩm ngọc y, đới hổ chương.

黃 錦 玉 衣 帶 虎 章

Hoàng cẩm 黃 錦: Áo vàng. Đới 帶: Đeo.

Câu 12. Chú niệm Tam Lão, tử khinh tường.

注 念 三 老 子 輕 翔

Chú niệm Tam Lão 注 念 三 老: Tam Lão đây là Nguyên Lão, Huỳnh Lão, Huyền Lão. Tức là niệm tỳ trung Chân nhân 脾 中 真 人.

Tử Hà lại cho rằng Tam lão là Nê Hoàn chi Chân Dương 泥 丸 之 真 陽, là Ngọc đế chi tân (khách) lão 玉 帝 之 賓 老, tên là: Tam Tố Lão quân 三 素 老 君, hay là Hãn Trương Ông 罕 張 翁, hay là Tam Lão Tố Hãn Trương 三 老 素 罕 張 hay là Tam Tố sinh Nê Hoàn 三 素 生 泥 丸 hay là Lão quân 老 君 hay là Hãn Trương Thượng 罕 張 上.

Đem Ý chú Nê Hoàn, thời Chân dương sẽ phá đỉnh mà ra.

Tử 子: là anh, là người tu Huỳnh Đình.

Khinh tường 輕 翔: Nhẹ nhàng bay lượn.

Câu 13. Trường sinh cao tiên, viễn tử ương.

長 生 高 仙 遠 死 殃

Tử ương 死 殃: Nạn chết chóc. Viễn tử ương 遠 死 殃: Thoát nạn chết chóc.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này nói về Tỳ. Tỳ có vị trí hết sức quan trọng: vì nó ở vào TRUNG ƯƠNG, MẬU KỶ THỔ, Thần Tỳ là Minh Đồng hay Hồn Đình, hay Hỗn Khang (Câu 1). Tỳ với Vị đi với nhau là Lưỡng Thổ, nên thần của Tỳ vị cũng gọi là Lưỡng Minh Đồng (Câu 2).

Thần Tỳ Vị ở trung cung Huỳnh Đình, vuông tròn khoảng 1 tấc (Câu 5,6).

Tỳ chủ tiêu hóa, nên trừ được những bệnh gầy ốm. Tỳ ứng với mặt, tỳ tốt, thì mặt đẹp (Câu 7, 8, 9, 10, 11).

Nơi chương này, ta có thể có hai nhận định sau:

1. Tử Hà khi bình câu «Tọa tại Kim đài, thành cửu trùng», đã cho rằng Tỳ thần ở Huyền quan nhất khiếu.

Vụ Thành Tử khi bình câu «Hoàng cẩm ngọc y, đới hổ chương» đã cho rằng Tỳ là chủ Trung Hoàng, và câu này cũng tương đương với câu «Huỳnh Đình chân nhân ý chu y».[1]

2. Khi bình câu «Chú niệm Tam Lão, tử khinh tường» Tử Hà đã cho rằng Tam Lão đây là Huyền Lão, Hoàng lão, và Nguyên Lão. Và Tử Hà còn cho rằng Tam Lão đây chính là Thần Nê Hoàn?

Đọc các lời bình giải, và nghiền ngẫm chính kinh, ta sẽ thấy ngay rằng tư tưởng của người xưa rất là mơ hồ, khi cần minh định đâu là Huỳnh Đình, đâu là tâm điểm con người, và có sự lẫn lộn giữa Nê Hoàn và Trung đan điền.

Có sách thì cho rằng: Nê Hoàn là Huyền quan khiếu. Tam Lão là thần Nê Hoàn.[2] Nê Hoàn cũng chính là Huỳnh Đình.[3] Có nơi thì lại cho rằng: Tỳ là Huyền quan khiếu.[4] Tỳ là Huỳnh Đình.[5] Tam Lão là thần Tỳ.[6]

Riêng tôi, thì tôi vẫn chủ trương: Nê Hoàn cung, là Huyền quan khiếu, có thần Tam Lão, có Thần Trời ngự trị, nó mới chính thực là Huỳnh Đình.

Tỳ hay Trung đan điền, hay Trung hoàng. Tuy rất quan trọng về phương diện sinh lý, nhưng không phải là Huỳnh Đình đích thực, không phải là Huyền quan khiếu.

Ở nơi đó, theo Y học hiện nay, có Tùng Thái Dương (tùng thần kinh mặt trời, plexus solaire). Mà các tùng thần kinh trong người có thể được coi như là những nơi dung chứa khí lực (Accumulateurs d’énergie) chỉ vậy thôi.[7]

Trong quyển Thiên Tiên chính lý trực luận tăng chú 天 仙 正 理 直 論 增注 (quyển tiền 前, tr. 6b) ta thấy ghi:

Đan điền có ba:

– KHÍ ở Trung đan,

– THẦN ở Thượng đan,

– TINH ở Hạ đan.

Từ Hạ điền thiên tới Trung điền, Trung điền thiên tới Thượng điền. Thượng điền thiên xuất Thiên môn. Thế là Tam thiên công thành…[8]

Mấy lời trên đây giúp ta nhận định được tầm quan trọng của từng Đan điền, cũng như liên lạc giữa các đan điền với nhau, cũng như giúp ta có một quan niệm sáng sủa về Nê Hoàn Cung, về Tỳ, về Thần, v.v…

[1] Xem Huỳnh Đình Nội Cảnh, ch. 4; và Ngoại Cảnh, ch. 2.

[2] Xem Đại Thừa Chân Giáo, tr. 61. Xem Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh tường chú, ch. 1 và ch. 13.

[3] Xem Lương Khưu Tử, Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, ch. 1. Xem Vụ Thành Tử, Huỳnh Đình Nội Cảnh, tr. 3b.

[4] Tử Hà, Nội Cảnh tường chú, tr. 13.

[5] Vụ Thành Tử, Huỳnh Đình Nội Cảnh, ch. 13.

[6] Xem Vụ Thành Tử, Nội Cảnh, ch. 13.

[7] Rappelons, tout d’abord, que la recharge de nos accumulateurs internes, (les plexus) s’effectue au cours du sommeil de chaque nuit. Paul C. Jagot, L’Influence à distance, Paris, 1925, p. 32… L’absorption des excitants tire des plexus la force nerveuse qui s’y trouve émmagasinée et la jette dans le torrent circulatoire, d’où, le cerveau l’attire et s’en sustente. Ibid. p. 74.

[8] Đan điền hữu tam: Khí tại trung đan, thần tại thượng đan, tinh tại hạ đan. Tự hạ điền thiên chi Trung điền, Trung điền thiên chi thượng điền. Thượng điền thiên xuất Thiên Môn, thị vị Tam Thiên công thành. 丹 田 有 三: 氣 在 中 丹, 神 在 上 丹, 精 在 下 丹. 自 下 田 天 之 中 田, 中 田 天 之 上 田 .上 田 天 出 天 門, 是 謂 三 天 功 成.

CHƯƠNG 14

ĐẢM BỘ

膽 部

A. KINH VĂN

1. Đảm bộ chi cung, lục phủ tinh,

膽 部 之 宮 六 府 精

2. Trung hữu đồng tử, Diệu Uy Minh,

中 有 童 子 曜 威 明

3. Lôi điện bát chấn, dương ngọc tinh,

雷 電 八 震 揚 玉 旌

4. Long kỳ hoành thiên, trịch hỏa linh.

龍 旗 橫 天 擲 火 鈴

5. Chủ chư khí lực, nhiếp hổ binh,

主 諸 氣 力 攝 虎 兵

6. Ngoại ứng nhãn đồng, tỵ trụ gian,

外 應 眼 童 鼻 柱 間

7. Não phát tương phù, diệc câu tiên,

腦 髮 相 扶 亦 俱 鮮

8. Cửu sắc cẩm y, lục hoa quần,

九 色 錦 衣 綠 華 裙

9. Bội kim đới ngọc, long hổ vân,

佩 金 帶 玉 龍 虎 文

10. Năng tồn Uy Minh, thừa khánh vân,

能 存 威 明 乘 慶 雲

11. Dịch sử vạn thần triều Tam Nguyên.

役 使 萬 神 朝 三 元

B. LƯỢC DỊCH

Đảm bộ đứng đầu lục phủ tinh

Trong có Đồng Tử, Diệu Uy Minh,

Sấm sét tám phương, giương ngọc tinh,

Cờ rồng phấp phới, nhạc lửa rinh,

Chủ chư khí lực, nhiếp hổ binh,

Ngoại ứng đồng tử, lưỡng mi gian,

Đầu tóc nhờ đảm, tươi nhuận luôn,

Áo gấm chín màu, quần xanh rờn,

Ngọc dắt, vàng đeo, long hổ văn,

Tồn thần Uy Minh, cưỡi khánh vân,

Sai khiến vạn thần triều Tam Nguyên.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Đởm bộ chi cung, lục phủ tinh.

膽 部 之 宮 六 府 精

Lục phủ tinh 六 府 精: Huỳnh Đình coi Đảm đứng đầu Lục phủ (Đảm 膽, Vị 胃, Đại trường 大 腸, Tiểu trường 小 腸, Bàng quang 膀 胱, Tam Tiêu 三 焦), nên gọi là Lục phủ tinh.

Câu 2. Trung hữu Đồng tử, Diệu Uy Minh.

中 有 童 子 曜 威 明

威 明.

Thần đảm (hình rắn và rùa) – Đảm thần danh Long Diệu tự Uy Minh 膽 神 名 龍 曜 字 威 明

Thần đảm tên là: Long Diệu 龍 曜 tự Uy Minh 威 明.

Thần đảm (hình rắn và rùa) – Đảm thần danh Long Diệu tự Uy Minh 膽 神 名 龍 曜 字 威 明

Câu 3. Lôi điện bát chấn, dương ngọc tinh.

雷 電 八 震 揚 玉 旌

Sách Bí điển gọi Đảm là Trung Chính chi quan 中 正 之 官, chủ quyết đoán. Cho nên nó cũng dự phần dũng mãnh, quyết đoán với Thần gan. Đảm chủ uy lực, oai phong nên mới nói: Lôi điện bát chấn, giương ngọc tinh.

Dương 揚: là giương lên, phất lên. Tinh 旌: là cờ trên ngù có cắm lông. Xưa đi sứ đều cầm cờ tinh.

Câu 4. Long kỳ hoành thiên, trịch hỏa linh.

龍 旗 橫 天 擲 火 鈴

Long kỳ hoành thiên 龍 旗 橫 天: Cờ rồng phấp phới ngang trời. Trịch 擲: Ném. Hỏa linh 火 鈴: Nhạc lửa.

Toàn những hình ảnh của uy vũ, của chiến tranh.

Câu 5. Chủ chư khí lực, nhiếp hổ binh.

主 諸 氣 力 攝 虎 兵

Chủ chư khí lực 主 諸 氣 力: Đảm chủ khí lực.

Nhiếp hổ binh 攝 虎 兵: Có thể thu nhiếp, hàng phục được quân binh mạnh như hổ.

Câu 6. Ngoại ứng nhãn đồng, tỵ trụ gian.

外 應 眼 童 鼻 柱 間

Nhãn đồng 眼 童: Đồng tử, con ngươi. Tỵ trụ 鼻 柱: sống mũi.

Tỵ trụ gian 鼻 柱 間 hay lưỡng mi gian 兩 眉 間 hay ấn đường 印 堂: khoảng giữa hai làn mi.

Câu 7. Não phát tương phù, diệc câu tiên.

腦 髮 相 扶 亦 俱 鮮

Mật có ảnh hưởng đến óc não, đến tóc. Khi giận chẳng hạn tóc có thể dựng lên. Mật tốt, thì óc và tóc tốt.

Câu 8. Cửu sắc cẩm y, lục hoa quần.

九 色 錦 衣 綠 華 裙

Đởm cũng như Can đều thuộc Đông phương, sắc xanh. Cửu sắc 九 色 đây là sắc cửu khí của Đông phương. Lục hoa quần 綠 華 裙: quần màu xanh có hoa, hay quần màu xanh đẹp.

Câu 9. Bội kim đới ngọc long hổ văn.

佩 金 帶 玉 龍 虎 文

Bội kim đới ngọc 佩 金 帶 玉: Đeo vàng, giắt ngọc. Bội cũng là đeo. Đới cũng là đeo. Nhưng đới là đeo nơi thắt lưng, còn bội có thể là đeo nơi tay.

Câu 10. Năng tồn Uy Minh, thừa khánh vân.

能 存 威 明 乘 慶 雲

Tồn được Thần Đảm là Uy Minh, sẽ cưỡi mây lành (khánh vân 慶 雲), tức là sẽ thành tiên.

Câu 11. Dịch sử vạn thần triều Tam Nguyên.

役 使 萬 神 朝 三 元

Bản Tử Hà chép: Dịch sử vạn linh, triều Tam Nguyên 役 使 萬 靈 朝 三 元.

Dịch sử 役 使: Sai khiến. Dịch sử vạn thần 役 使 萬 神: Sai khiến được vạn thần. Triều Tam Nguyên 朝 三 元: Chầu Tam Nguyên Đạo Quân, ở nơi cung Tam Nguyên.

D. BÌNH GIẢNG

Đảm 膽, theo Huỳnh Đình, đứng đầu Lục phủ.

Tử Hà cho rằng Đảm tàng thức 膽 藏 識. Theo ông, chủ trương này có thể bổ khuyết cho nền y học. Nếu vậy thì:

Tâm tàng Thần. 心 藏 神

Phế tàng Phách (khí). 肺 藏 魄 (氣 )

Can tàng Hồn. 肝 藏 魂

Thận tàng Chí. 腎 藏 志

Tỳ tàng Ý. 脾 藏 意

Đảm tàng Thức. 膽 藏 識 [1]

Đảm chủ sự quyết đoán, uy vũ, thịnh nộ. Cho nên các từ ngữ, các hình ảnh nơi chương này đều nói lên ý đó, ví dụ:

– Sấm sét vang dậy tám phương.

– Cờ xí tung bay ngất trời.

– Nhạc vàng rổn rảng.

Đảm chủ khí lực, và ảnh hưởng đến óc đến đầu tóc. Đảm cũng như gan thuộc Đông phương mộc, nên có màu xanh. Vì thế phẩm phục Đảm thần cũng màu xanh. Đảm thần tên là Long Diệu, hay Uy Minh. Năng tồn Đảm thần, sẽ thành chân tiên, sai sử được vạn thần, và lui tới chầu chực được Tam Nguyên, Tam Lão.

[1] Xem Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh tường chú, ch. 8 và ch. 14.

CHƯƠNG 15

TỲ TRƯỜNG

脾 長

A. KINH VĂN

1. Tỳ trường nhất xích, yểm Thái Thương,

脾 長 一 尺 掩 太 倉

2. Trung bộ Lão quân trị Minh đường.

中 部 老 君 治 明 堂

3. Quyết tự Linh Nguyên, danh Hỗn Khang,

厥 字 靈 元 名 混 康

4. Trị nhân bách bệnh, tiêu cốc lương,

治 人 百 病 消 穀 糧

5. Hoàng y, tử đới, long hổ chương,

黃 衣 紫 帶 龍 虎 章

6. Trường tinh ích mệnh, lại quân vương.

長 精 益 命 賴 君 王

7. Tam hô Ngã danh thần tự thông,

三 呼 我 名 神 自 通

8. Tam Lão đồng tọa, các hữu bằng.

三 老 同 坐 各 有 朋

9. Hoặc tinh, hoặc thai, biệt chấp phương.

或 精 或 胎 別 執 方

10. Đào Hài Hợp Diên, sinh hoa mang.

桃 孩 合 延 生 華 芒

11. Nam nữ hồi cửu, hữu Đào Khang,

男 女 迴 九 有 桃 康

12. Đạo phụ, đạo mẫu đối tương vọng.

道 父 道 母 對 相 望

13. Sư phụ, sư mẫu, đan huyền hương,

師 父 師 母 丹 玄 鄉

14. Khả dụng tồn tư, đăng Hư không,

可 用 存 思 登 虛 空

15. Thù đồ nhất hội qui yếu chung,

殊 途 一 會 歸 要 終

16. Quan tắc tam quan, ốc cố đình,

關 塞 三 關 握 固 停

17. Hàm thấu kim lễ, thôn ngọc anh.

含 漱 金 醴 吞 玉 英

18. Toại chí bất cơ, tam trùng vong.

遂 至 不 飢 三 蟲 亡

19. Tâm Ý thường hòa trí hân xương.

心 意 常 和 致 欣 昌

20. Ngũ nhạc chi vân, khí bành hanh,

五 岳 之 雲 氣 彭 亨

21. Bảo quán ngọc lư, dĩ tự thưởng.

保 灌 玉 廬 以 自 償

22. Ngũ hình hoàn kiên vô tai ương.

五 形 完 堅 無 災 殃

B. LƯỢC DỊCH

Tỳ dài một thước, đè Thái Thương,

Trung bộ Lão quân trị Minh đường.

Tự là Linh Nguyên, tên Hỗn Khang,

Trị mọi bệnh người, tiêu cốc lương,

Áo vàng, đai tía, Long Hổ chương,

Trường tinh, ích mệnh, tỳ đảm đương,

Kêu ta ba lần, thần tự thông,

Tam Lão cùng nhau ngồi có bạn,

Hoặc tinh, hoặc thai, tùy nữ nam.

Đào Hài, Hợp Diên, sắc rỡ ràng,

Âm Dương hòa hài, có Đào Khang.

Âm Dương hai ngả, mong hòa hợp,

Đạo thể huyền vi, chủ Âm Dương.

Nếu biết tồn tư, đăng Hư không.

Đường lối khác nhau, mục đích chung.

Cố tinh, hộ khí đừng vọng tiết,

Dưỡng nuôi cơ thể, nuốt Ngọc Anh.

Hết còn thấy đói Tam Trùng vong,

Tâm trí hòa hài, hớn hở lòng,

Ngũ tạng khí thông, hình hài nhuận,

Mũi thông, hô hấp được dễ dàng.

Thân hình khỏe mạnh, hết tai ương.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tỳ trường nhất xích, yểm Thái Thương.

脾 長 一 尺 掩 太 倉

Tỳ trường nhất xích 脾 長 一 尺: Đây là nói đại khái chứ không phải là kích thước chính xác.

Yểm Thái Thương 掩 太 倉: Đè lên vị, che bao tử.

Câu 2. Trung bộ Lão quân trị Minh đường.

中 部 老 君 治 明 堂

Tỳ là Huỳnh Đình cung, là Trung bộ, có Hoàng Lão quân chủ trì.

Câu 3. Quyết tự Linh Nguyên, danh Hỗn Khang.

厥 字 靈 元 名 混 康

Quyết tự 厥 字: Tự của nó là … Quyết 厥: đại từ sở hữu, tương đương với Kỳ 其 trong văn ngôn hoặc Tha đích 他 的 trong Bạch thoại (= của anh ấy, của hắn, của nó). Như nói: quyết phụ 厥 父 = kỳ phụ 其 父 = tha đích phụ 他 的 父 (cha của hắn). Vậy câu này nghĩa là: Linh Nguyên và Hỗn Khang là tên và tự của Thần Tỳ.

Câu 4. Trị nhân bách bệnh, tiêu cốc lương,

治 人 百 病 消 穀 糧

Tiêu cốc lương 消 穀 糧: Tiêu hóa ngũ cốc, lương thực.

Câu 5. Hoàng y, tử đới, long hổ chương,

黃 衣 紫 帶 龍 虎 章

Hoàng y 黃 衣: Áo vàng. Tử đới 紫 帶: Đai tía.

Câu 6. Trường tinh ích mệnh, lại quân vương.

長 精 益 命 賴 君 王

Trường tinh 長 精: Làm tinh tăng. Ích mệnh 益 命: Làm mệnh tăng.

Lại quân vương 賴 君 王: Đều nhờ Thần tỳ, vị quân vương của ngũ tạng.

Câu 7. Tam hô Ngã danh thần tự thông,

三 呼 我 名 神 自 通

Hô tên ta ba lần, thần tự thông.

Câu 8. Tam Lão đồng tọa, các hữu bằng.

三 老 同 坐 各 有 朋

Trong người có Tam đan 三 丹, nên có Tam Lão 三 老. Ở thượng đan điền có Thượng Nguyên Lão quân 上 元 老 君, bè bạn cùng với các thần: Nê Hoàn quân 泥 完 君, Thương Hoa quân 蒼 華 君, Thanh Thành quân 青 城 君, Minh Đường quân thần 明 堂 中 君 臣, Động Phòng trung phụ mẫu 洞 房 中 父 母, Thiên Đình chân nhân 天 庭 真 人.

Ở trung đan điền có Trung Huyền Lão quân 中 玄 老 君, bè bạn cùng với các thần: Xích Thành Đồng tử 赤 城 童 子, Đan Điền quân 丹 田 君, Hạo Hoa quân 皓 華 君 (Phế thần 肺 神), Hàm Minh quân 含 明 君 (Can thần 肝 神), Huyền Anh quân 玄 英 君 (Thận thần 腎 神), Đan Nguyên Chân nhân 丹 元 真 人 (Tâm 心).

Ở hạ đan điền có Hạ Huỳnh Lão quân 下 黃 老 君, bè bạn cùng với: Thái Nhất quân 太 一 君, Hồn Đình quân 魂 停 君, Linh Nguyên quân 靈 元 君, Thái Thương quân 太 蒼 君, Đan Điền Chân nhân 丹 田 真 人. Vì thế nói Tam Lão đều có bè bạn. (Vụ Thành Tử giải.)

Câu 9. Hoặc tinh, hoặc thai, biệt chấp phương.

或 精 或 胎 別 執 方

Vụ Thành Tử giải: Hạ đan điền là căn bản của nhân mệnh, là nơi tàng trữ tinh thần, ở dưới rốn ba tấc, giáp xương sống. Nơi đó nam tàng tinh, nữ tàng thai. Như vậy có sự phân biệt.[1] Tử Hà cho rằng: Trong con người có Tam Lão, Tam quan, thì cũng có Tam luyện. Tam luyện là luyện tinh, luyện khí, luyện thần (luyện thai tiên). Mỗi mỗi đều có phương vị riêng của nó.

Câu 10. Đào Hài Hợp Diên, sinh hoa mang.

桃 孩 合 延 生 華 芒

Bản của Tử Hà viết là Đào Hạch 桃 核 thay vì Đào Hài 桃 孩. Đào Hài hay Đào Hạch đều là tên của Thần Tỳ. Theo Tử Hà, Thần Tỳ có họ là Đào 桃; tên là Hài 孩 (Hạch 核); tự là Hợp Diên 合 延; hiệu là Đạo Khang 道 康. Nên nhiều khi gọi tắt là Đào Khang 桃 康.

Gọi là Đào Hạch 桃 核, mà Hạch 核 là nhân, là cốt lõi, là mầm mộng, là chân tâm. Như vậy Tử Hà đã chuyển ý, cho Tỳ là chân tâm.

Câu 11. Nam nữ hồi cửu, hữu Đào Khang,

男 女 迴 九 有 桃 康

Bản Tử Hà chép: Nam nữ hồi lão, hữu Đào Khang. 男 女 迴 老 有 桃 康. Tử Hà cho rằng nếu Thủy (Thận) Hỏa (Mệnh môn) trong người mà được thần Tỳ giúp cho hòa hài, hòa hợp, sẽ diên niên. Vì thế đã dùng hai chữ Hợp Diên để gọi thần Tỳ. Nam hay nữ, nhờ thần Tỳ Đào Khang, hòa hài được thủy hỏa, sẽ phản lão hoàn đồng.

Câu 12. Đạo phụ, đạo mẫu đối tương vọng.

道 父 道 母 對 相 望

Âm Dương hay Hồn Phách, như Đạo phụ, Đạo mẫu ở hai đầu, cùng trông ngóng nhau, mong trở về được Trung Cung mà hòa hợp.

Câu 13. Sư phụ, sư mẫu, đan huyền hương.

師 父 師 母 丹 玄 鄉

Âm Dương (sư phụ, sư mẫu) sẽ hợp nhất tại đan điền (đan huyền hương). (Đạo là Tông sư, là chủ của Âm Dương. Đan huyền hương là phép tồn đan điền vậy. 道 為 宗 師 陰 陽 之 主 也. 丹 玄 鄉 謂 存 丹 田 法 也).

Câu 14. Khả dụng tồn tư, đăng Hư không.

可 用 存 思 登 虛 空

Tồn tư 存 思 chính là học tiên chi đạo 學 仙 之 道.

Câu 15. Thù đồ nhất hội qui yếu chung.

殊 途 一 會 歸 要 終

Điều cốt yếu của Đạo là: Nhất tán vi tam, tam hợp vi Nhất 一 散 為 三, 三 合 為 一. Sách Huyền Diệu Nội Thiên 玄 妙 內 篇 viết: Triệu dục trường sinh Tam Nhất đương minh 兆 欲 長 生 三 一 當 明.

Câu 16. Quan tắc tam quan, ốc cố đình.

關 塞 三 關 握 固 停

Bản Tử Hà chép: Bế tắc tam quan, ốc cố đình 閉 塞 三 關 握 固 停.

Tam quan 三 關: (1) Khẩu 口 (Thiên quan 天 關), Thủ 手 (Nhân quan 人 關), Túc 足 (Địa quan 地 關); (2) Quan Nguyên 關 元. Ốc cố 握 固: nắm cho vững chắc. Câu này dạy nên bảo tinh, hộ khí. Tam bảo cũng chính là Tinh, Khí, Thần.

Câu 17. Hàm thấu kim lễ, thôn ngọc anh.

含 漱 金 醴 吞 玉 英

Hàm thấu 含 漱: Ngậm và súc miệng. Thôn 吞: Nuốt. Kim lễ 金 醴: Ngọc Anh 玉 英: Nước miếng.

Câu 18. Toại chí bất cơ, tam trùng vong.

遂 至 不 飢 三 蟲 亡

Bất cơ 不 飢: Không đói.

 Tam Trùng vong 三 蟲 亡: Tam trùng hay tam thi diệt vong.

Tam trùng三 蟲 (Tam thi 三 尸) là: (1) Bành Cứ 彭 琚 (tham ăn tục uống, mê say); (2) Bành Chất 彭 質 (tham tiền, tham của, hỉ nộ thất thường); (3) Bành Kiểu 彭 矯 (tham sắc dục).

Tam trùng 三 蟲 (Tam thi 三 尸)

Câu 19. Tâm Ý thường hòa trí hân xương.

心 意 常 和 致 欣 昌

Đó là tình trạng lúc Đạo thông, vô ngại. Tâm trí hòa lạc, người vui vẻ khỏe mạnh (hân xương).

Câu 20. Ngũ nhạc chi vân, khí bành hanh.

五 岳 之 雲 氣 彭 亨

Đó tức là Ngũ tạng chi khí được thông sướng.

Câu 21. Bảo quán ngọc lư, dĩ tự thưởng.

保 灌 玉 廬 以 自償

Ngọc lư 玉 廬: mũi. Hô hấp điều hòa.

Câu 22. Ngũ hình hoàn kiên vô tai ương.

五 形 完 堅 無 災 殃

Ngũ hình 五 形: ngũ thể 五 體, ngũ tạng 五 臟.

D. BÌNH GIẢNG

Chương 13 đã nói rõ về Tỳ. Chương 15 này lại nói về Tỳ, có lẽ để nhấn mạnh tầm quan trọng của Tỳ

Tỳ đè trên bao tử, Tỳ thuộc trung bộ, trung đan điền, có Trung bộ Lão quân cai quản (câu 1, 2).

Thần Tỳ tên là Hồn Khang, tự Linh Nguyên (câu 3).

Tỳ tiêu ngũ cốc, trưởng tinh, ích mệnh. Tỳ mà khỏe, tiêu hóa mà tốt, mọi bệnh sẽ tiêu. Tỳ như là vua của ngũ tạng, nên có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe (câu 4, 5, 6).

Từ câu 7 đến câu 14, lời luận về Tỳ trở nên bao quát hơn, trừu tượng hơn. Tỳ với Nê hoàn, với Hạ đan điền hợp thành Tam đan, có Tam lão cai quản (câu 8).

Có Tam đan, Tam lão, Tam thanh, thì cũng có Tam luyện:

– Hạ đan luyện Tinh,

– Trung Đan luyện Khí,

– Thượng đan luyện Thần hay Thai tiên.

Phận sự mỗi cung đều đã được qui định tách bạch, rõ ràng (câu 9). Thần của Tì cũng còn được gọi là Đào Hài, Đào Hạch, Hợp Diên, hay Đào Khang (câu 10, 11).

Bình thường tâm thị Đạo–平 常 心 是 道

thư pháp của Sengai Gibon (Nhật Bản)

Nếu bây giờ ta coi Tỳ không phải là Tỳ nhục thể nữa, mà coi Tỳ là tượng trưng cho Trung cung, Trung điểm, Huỳnh Đình, Hư vô nhất khiếu, thì thần Đào khang lập tức cũng sẽ trở thành thần Huỳnh Đình, vô cùng biến hóa, vô trụ, vô định. Lúc thì ở hạ đan điền, bảo tinh, cô khí, lúc thì ở Trung cung, Trung điểm, có nhiệm vụ thu nhiếp Âm, Dương, phách hồn chi qui về một mối (Câu 12, 13, 14).

Theo Vụ Thành Tử, yếu quyết của Đạo là:

Nhất tán vi Tam 一 散 為 三

Tam hợp vi Nhất 三 合 為 一.

Nhất là Đạo, Đạo tán thành Thần, Khí, Tinh, (Thần, Hồn, Phách).

Thần, Khí, Tinh (hay Thần, Hồn, Phách) phải hợp lại để thành Đạo (Câu 15).

Nơi hợp nhất chính là Trung cung, Trung điểm, chính là Đan huyền hương (Câu 13). Thần, hay Thần Đào Khang chính là thần sẽ giúp cho Âm Dương hòa hài, hồn phách đoàn tụ (Câu 11-13).

Vậy nếu biết đem thần hồn phách qui tụ lại về nơi Tâm điểm, con người sẽ thành tiên. Thế tức là: Khả dụng tồn tư, đăng Hư không 可 用 存 思 登 虛 空 (Câu 14).

Đạo tuy có nhiều đường lối khác nhau, nhưng chủ trương vẫn là một (Câu 15).

1. Trước hết là cố tinh, hộ khí, đừng để cho khí lực trong người hao tán (Câu 16).

2. Nuốt tân dịch để nuôi dưỡng cơ thể (Câu 17).

3. Dẹp thất tình lục dục mà chương này gọi là Tam trùng.

Tam Trùng 三 虫 tức là Tam Thi 三 尸, gồm có: Bành Cứ 彭 琚, tượng trưng cho sự tham ăn, tục uống, mê say. Bành Chất 彭 質, tượng trưng cho sự tham tiền, tham bạc, hốt hỉ, hốt nộ. Bành Kiểu 彭 矯, tượng trưng cho sự mê sắc dục (Câu 18).  (TAM BÀNH)

Khi tu đã tới mức cao siêu, sẽ thấy:

Tâm thần sảng khoái (Câu 19).

Cơ thể khỏe, dung nhan tươi tốt (Câu 20).

Hô hấp thông sướng, điều hòa (Câu 21).

Gân cốt, thân hình cương kiện … (Câu 22).

[1] Hạ đan điền giả, nhân mệnh chi căn bản, tinh thần chi sở tàng, ngũ khí chi nguyên dã. Tại tề hạ tam thốn, phụ trước tích, hiệu vi Xích Tử phủ. Nam tử dĩ tàng tinh, nữ nhân dĩ tàng thai. Chủ hòa hợp xích tử, âm dương chi môn hộ dã. Kỳ đan điền trung khí, tả thanh hữu hoàng, thượng bạch hạ hắc.

下 丹 田 者, 人 命 之 根 本, 精 神 之 所 藏, 五 氣 之 元 也. 在 臍 下 三 寸, 附 著 脊, 號 為 赤 子 府. 男 子 以 藏 精, 女 人 以 藏 胎. 主 和 合 赤 子, 陰 陽 之 門 戶 也. 其 丹 田 中 氣, 左 青 右 黃, 上 白 下 黑.

 ————————————–

CHƯƠNG 16

THƯỢNG ĐỔ

上 睹

A. KINH VĂN

1. Thượng đổ Tam nguyên như liên châu,

上 睹 三 元 如 連 珠

2. Lạc lạc minh cảnh, chiếu cửu ngung,

落 落 明 景 照 九 隅

3. Ngũ linh dạ chúc hoán bát khu,

五 靈 夜 燭 煥 八 區

4. Tử tồn nội hoàng dữ ngã du,

子 存 內 皇 與 我 遊

5. Thân phi phượng y, hàm hổ phù,

身 披 鳳 衣 銜 虎 符

6. Nhất chí bất cửu, thăng Hư vô,

一 至 不 久 昇 虛 無

7. Phương thốn chi trung niệm thâm tàng,

方 寸 之 中 念 深 藏

8. Bất phương, bất viên, bế dũ song,

不 方 不 圓 閉 牖 窗

9. Tam thần hoàn tinh lão phương tráng.

三 神 還 精 老 方 壯

10. Hồn phách nội thủ, bất tranh cạnh,

魂 魄 內 守 不 爭 競

11. Thần sinh phúc trung, hàm ngọc đang,

神 生 腹 中 銜 玉 當

12. Linh chú u khuyết, na đắc táng.

靈 注 幽 闕 那 得 喪

13. Lâm điều vạn tầm khả âm trượng,

琳 倏 萬 尋 可 蔭 仗

14. Tam hồn tự ninh, Đế thư mệnh.

三 魂 自 寧 帝 書 命

B. LƯỢC DỊCH

Trông lên Tam nguyên như liên châu,

Linh lung minh cảnh, chiếu cửu ngung,

Ngũ tinh, đêm chiếu, rực tám khu,

Cẩn thủ Nội Hoàng cùng ta du,

Thân mặc áo phượng, ngậm hổ phù,

Chỉ trong khoảng khắc lên Hư vô,

Giữ gìn lòng son lắng tâm tư,

Ngũ quan kỹ lưỡng, gài cửa giả,

Tam thần hoàn tinh, già hóa trẻ,

Hồn phách nội thủ, không tranh cạnh,

Trong lòng thần sinh, châu ngọc mang,

Linh tàng u khuyết, không thất tán,

Như cây muôn tầm, rủ bóng nương,

Tâm hồn thư thái, ghi tiên ban…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Thượng đổ Tam Nguyên như liên châu.

上 睹 三 元 如 連 珠

Đổ 睹: Xem. Cũng viết là 覩.

Tam Nguyên 三 元: Tam tố: (màu tím, màu vàng, màu trắng của nguyên khí. Tam nguyên này đều là tinh hoa, nguyên khí trong người, khinh thanh, nên ở Thượng cung đầu não, vì thế nói thượng đổ 上 睹 (nhìn lên).

Như liên châu 如 連 珠: Thiên văn có câu: Nhật nguyệt hợp bích, ngũ tinh liên châu 日 月 合 璧 五 星 連 珠 (Mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh đứng thành một hàng thẳng).

Liên châu 連 珠: Ngọc xếp liền nhau.

Câu 2. Lạc lạc minh cảnh chiếu cửu ngung.

落 落 明 景 照 九 隅

Lạc lạc 落 落: Phi phàm, thoát tục.

Minh cảnh 明 景: Cảnh tượng sáng láng.

Cửu ngung 九 隅: Chín cung trên đầu.

Câu 3. Ngũ linh dạ chúc, hoán bát khu.

五 靈 夜 燭 煥 八 區

Ngũ linh 五 靈: Ngũ tinh 五 星: Kim 金, Mộc 木, Thủy 水, Hỏa 火, Thổ 土.

Dạ chúc 夜 燭: Như đuốc sáng ban đêm.

Hoán 煥: Sáng sủa, rực rỡ.

Câu 4. Tử tồn nội hoàng, dữ ngã du.

子 存 內 皇 與 我 遊

Tử 子: Bạn (cách xưng hô kính trọng).

Tồn Nội Hoàng 存 內 皇: Giữ gìn được thần linh nội tại.

Dữ ngã du 與 我 遊: Cùng ta đi ngao du. Ngã 我 đây là tác giả sách.

Câu 5. Thân phi phượng y, hàm hổ phù.

身 披 鳳 衣 銜 虎 符

Thân phi phượng y 身 披 鳳 衣: Mình mặc áo thêu phượng.

Hàm hổ phù 銜 虎 符: Mang tín phù có hình mặt hổ.

Câu 6. Nhất chí bất cửu, thăng Hư vô.

一 至 不 久 昇 虛 無

Nhất chí bất cửu 一 至 不 久: Chẳng bao lâu.

Thăng Hư vô 昇 虛 無: Lên trời, lên tiên, lên cõi hư vô.

Vụ Thành Tử giải câu này như sau: «Nhất 一 là tiếng dùng để gọi Vô 無. Học đạo cho chuyên nhất, sẽ đồng thể với thần linh. Thế là thần tiên có thể nhờ công phu mà tới được vậy. Trang tử nói: Người mà biết được Nhất, mọi việc sẽ xong.» (Nhất giả, Vô chi xưng dã. Học đạo chuyên nhất, dữ Linh đồng thể, thần tiên khả trí dã. Trang Tử vân: Nhân năng tri Nhất, vạn sự tất 一 者, 無 之 稱 也. 學 道 專 一, 與 靈 同 體, 神 仙 可 致 也. 莊子 云 : 人 能 知 一 萬 事 畢).

Câu 7. Phương thốn chi trung niệm thâm tàng.

方 寸 之 中 念 深 藏

Phương thốn 方 寸: Vụ Thành Tử giải là huyệt Quan Nguyên 關 元 ở dưới rốn 3 tấc. Tôi vẫn cho rằng: Phương thốn là Tấc vuông là Tâm, là Linh đài. Như vậy Nê Hoàn cung cũng gọi được là Phương thốn. Tiên học từ điển cũng giải Phương thốn là Nhân tâm.

Niệm thâm tàng 念 深 藏: Giữ gìn cho cẩn mật.

Câu 8. Bất phương bất viên bế dũ song.

不 方 不 圓 閉 牖 窗

Bất phương, bất viên 不 方 不 圓: Vụ Thành Tử giải là bất động bất tĩnh.

Bế dũ song 閉 牖 窗: Đóng khóa của ngũ quan. Chữ 窗 (song): cửa sổ.

Tham Đồng Khế có câu:

Nhĩ mục khẩu tam bảo,         
耳 目 口 三 寶

Bế tắc vật phát thông.           
閉 塞 勿 發 通

Chân nhân tiềm thâm uyên, 
真 人 潛 深 淵

Phù du thủ qui trung.             
浮 遊 守 規 中

(Tai mắt miệng là thân tam bảo,

Đóng khóa cho chu đáo, cho chăm.

Chân nhân sống rất thâm trầm,

Nhởn nhơ, khinh khoát ôm cầm Khuôn Thiêng…)

Câu này Bản Tử Hà đổi là: Bất phương bất viên bế dũ song 不 方 不 圓 閉 牖 窗.

Câu 9. Tam thần hoàn qui, lão phương tráng.

三 神 還 精 老 方 壯

Tam thần 三 神: Tam Nguyên chi thần 三 元 之 神.

Hoàn tinh 還 精: Phản bản hoàn nguyên 返 本 還 元, phản hoàn qui căn 返 還 歸 根.

Vụ Thành Tử giải: Đem được tinh thần qui tụ về tam điền, sẽ được diên niên (Hoàn tinh thần ư tam điền, tắc cửu thọ diên niên dã 還 精 神 於 三 田, 則 久 壽 延 年 也).

Câu 10. Hồn phách nội thủ, bất tranh cạnh.

魂 魄 內 守 不 爭 競

Hồn phách nội thủ 魂 魄 內 守: Giữ hồn phách không cho tản lạc đi.

Bất tranh cạnh 不 爭 競: Hồn phách hòa hài, không còn cạnh tranh nhau.

Câu 11. Thần sinh phúc trung hàm ngọc đang.

神 生 腹 中 銜 玉 當

Thần sinh phúc trung 神 生 腹 中: Thần sinh ra trong lòng.

Ngọc đang 玉 當: Ngọc trên mũ, hay tai.

Thế tức là: Thần trời đất hiển lộ ra (Nhất Chân đặc lộ 一 真 特 露. Tử Hà tử). Tử Hà cho rằng: Những người có được Thiên chân trong người sẽ được gọi là Hàm Hư tử [người chứa được Hư trong mình] (Nhất Chân đặc lộ, thử nhân danh Hàm Hư tử 一 真 特 露,此 人名 涵 虛 子). Tử Hà cũng xưng mình là Hàm Hư Tử.

Câu 12. Linh chú u khuyết, na đắc táng.

靈 注 幽 闕 那 得 喪

Linh chú u khuyết 靈 注 幽 闕: Thần tàng nơi tâm khảm.

Thế tức là Tồn thần thủ Nhất 存 神 守 一.

Na đắc táng 那 得 喪: Làm sao mai một được.

Câu 13. Lâm điều vạn tầm, khả âm trượng.

琳 倏 萬 尋 可 蔭 仗

Lâm điều 琳 倏: Cây ngọc (ngọc thụ 玉 樹).

Vạn tầm 萬 尋: Vạn trượng (cao viễn 高 遠).

Khả âm trượng 可 蔭 仗: Có thể nhờ cậy, nương tựa được.

Câu 14. Tam hồn tự ninh, Đế thư mệnh.

三 魂 自 寧 帝 書 命

Khi đã thành được Chân đạo thì tên sẽ được ghi vào sổ trời.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này là một trong những chương quan trọng, vì Ngoại cảnh đã lặp lại tới 4 câu.

Nội cảnh:

Phương thốn chi trung niệm thâm tàng,

方 寸 之 中 念 深 藏

Tam thần hoàn tinh lão phương tráng…

三 神 還 精 老 方 壯

Linh chú u khuyết, na đắc táng,

靈 注 幽 闕 那 得 喪

Lâm điều vạn tầm, khả âm trượng.

琳 倏 萬 尋 可 蔭 仗

Ngoại cảnh chương 4:

Phương thốn chi trung cẩn cái tàng,

方 寸 之 中 謹 蓋 藏

Tinh thần hoàn qui, lão phục tráng,

精 神 還 歸 老 復 壯

Hiệp dĩ u khuyết, lưu hạ cánh,

俠 以 幽 闕 流 下 竟 [1]

Dưỡng tử ngọc thụ, lệnh khả trượng.

養 子 玉 樹 令 可 杖

Chương này bàn về vấn đề đem Tinh thần trở về Căn Nguyên của nó (tinh thần qui căn 精 神 歸 根).

Đem tinh khí thần qui tụ về Nê Hoàn Cung, tức là tam hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều nguyên 三 華 聚 頂, 五 氣 朝 元. Lúc ấy tâm thần sẽ rực rỡ, như có ngũ tinh liên châu, nhật nguyệt hợp bích chiếu soi. (Các câu 1, 2, 3).

Tam hoa mà hợp nhất, sẽ sánh vai tiên tử, thăng Hư vô (câu 4, 5, 6). Hãy giữ cho Chân Thần hội tụ ở Trung Cung, hãy bế tỏa ngũ quan (câu 7, 8) như lời Tham Đồng Khế:

Nhĩ mục khẩu tam bảo,               
耳 目 口 三 寶

Bế tắc vật phát thông.                 
閉 塞 勿 發 通

Chân nhân tiềm thâm uyên,       
真 人 潛 深 淵

Phù du thủ qui trung.                   
浮 遊 守 規 中

(Xem lời dịch ở phần chú thích chương này nơi câu 8).

Hồn phách mà không tản lạc, mà không chống đối nhau (Câu 9, 10, 11), Chân thần tự nhiên sẽ hiển lộ. (Câu 11).

Nếu có Chân Thần tiềm tàng ở nơi tâm khảm, thì làm sao mà bị tử vong được (Câu 12).

Lúc ấy con người sẽ như một cây ngọc, tươi tốt rườm rà, cao muôn tầm tỏa bóng, cho muôn người nương náu (Câu 13).

Lúc ấy con người sẽ thấy tâm thần an lạc, và tên tuổi sẽ được ghi vào tiên tịch (Câu 14).

Thế tức là Đắc Nhất vạn sự tất 得 一 萬 事 畢.

————————–
[1] Có bản chép: Tâm kết u khuyết lưu hạ cánh 心 結 幽 闕 流 下 竟.

————————–

CHƯƠNG 17

LINH ĐÀI

靈 臺

A. KINH VĂN

1. Linh đài uất ái vọng Hoàng dã,

靈 臺 鬱 藹 望 黃 野

2. Tam thốn dị thất hữu thượng hạ,

三 寸 異 室 有 上 下

3. Gian quan doanh vệ, Cao Huyền thụ,

間 關 營 衛 高 玄 受

4. Động phòng tử cực, linh môn hộ,

洞 房 紫 極 靈 門 戶

5. Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả,

是 昔 太 上 告 我 者

6. Tả thần công tử phát thần ngữ,

左 神 公 子 發 神 語

7. Hữu hữu Bạch Nguyên, tính lập xứ,

右 有 白 元 併 立 處

8. Minh Đường, Kim quĩ, ngọc phòng gian,

明 堂 金 匱 玉 房 間

9. Thượng Thanh chân nhân đương ngô tiền,

上 清 真 人 當 吾 前

10. Hoàng thường Tử Đan, khí tần phiền,

黃 裳 子 丹 氣 頻 煩

11. Tá vấn hà tại lưỡng mi đoan,

借 問 何 在 兩 眉 端

12. Nội hiệp nhật nguyệt, liệt tú trần,

內 俠 日 月 列 宿 陳

13. Thất diệu, cửu nguyên quán sinh môn.

七 曜 九 元 冠 生 門

B. LƯỢC DỊCH

Linh đài phiêu diêu trông Huỳnh dã,

Nê Hoàn Cung thất phân thượng hạ,

Gian quan, doanh vệ Cao Huyền giữ,

Động phòng, tử cực, linh môn hộ,

Nơi xưa Thái Thượng dạy ta đó,

Tả thần Công tử, phát tham ngữ,

Hữu thần Bạch Nguyên, ngự cùng chỗ,

Minh đường, kim quĩ ngọc phòng gian,

Thượng Thanh chân nhân, tại mục tiền,

Tử Đơn, hoàng thường, trông nghiểm nhiên,

Ướm hỏi chân mày ai ngự đó?

Gồm thâu, nhật nguyệt với tinh quang,

Thất diệu, Cửu nguyên chiếu sinh môn.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Linh đài Uất ái vọng Hoàng dã.

靈 臺 鬱 藹 望 黃 野

Linh đài 靈 臺: Tâm con người, Nê Hoàn Cung.

Uất ái 鬱 藹: Mây bốc ngùn ngụt, cuồn cuộn.

Hoàng dã 黃 野: Trung cung, trung ương.

Câu 2. Tam thốn dị thất hữu thượng hạ.

三 寸 異 室 有 上 下

Tam thốn 三 寸: 3 tấc. Vụ Thành Tử cho rằng 3 thốn nói về Tam đơn điền, vì mỗi đơn điền chỉ có 1 tấc.

Tử Hà bảo đây chỉ nói về Nê Hoàn Cung mà thôi.

Câu 3. Gian quan doanh vệ, Cao Huyền thụ.

間 關 營 衛 高 玄 受

Bản Tử Hà: Nhàn quan vinh vệ Cao Huyền thụ 閑 關 榮 衛 高 玄 受. Tử Hà giải câu này, như sau:

Nhàn quan 閑 關 là phòng thủ. Trong Động phòng có Tam chân: Vị bên tả coi về Vinh 榮 (Âm), vị bên hữu coi về Vệ 衛 (Dương khí), vị chính giữa là Cao Huyền chân nhân 高 玄 真 人, thống lãnh, tổng quản tất cả công việc hai vị kia.

Câu 4. Động phòng tử cực linh môn hộ.

洞 房 紫 極 靈 門 戶

Động phòng 洞 房: Một trong chín cung trên đầu.

Trong Động phòng cung 洞 房 宮 có Tử cực điện 紫 極 殿, lại có Linh môn 靈 門, Ngọc hộ 玉 戶.

Câu 5. Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả.

是 昔 太 上 告 我 者

Ở đó, xưa đức Thái Thượng đã dạy ta. Ta đây là đức Phù Tang Đại Đế quân 扶 桑 大 帝 君. Vụ Thành Tử bình rất hay như sau: Ý nói Đạo này chẳng ở đâu xa, mà đã ở ngay nơi đơn điền. (Ngôn thử đạo [Huỳnh đình chi thuật 黃 庭 之 術] bất viễn, chỉ tại đơn điền 言 此 道 不 遠, 只 在 丹 田).

Câu 6. Tả thần Công tử phát thần ngữ.

左 神 公 子 發 神 語

Trong Động phòng có: (1) Phía tả là Vô Anh quân 無 英 君. (2) Phía hữu là Bạch Nguyên quân 白 元 君. (3) Ở giữa là Hoàng Lão quân 黃 老 君. Như vậy, công tử đây là Vô Anh quân 無 英 君. Thái Thượng ở trên là Hoàng Lão quân 黃 老 君.

Câu 7. Hữu hữu Bạch Nguyên tính lập xứ.

右 有 白 元 併 立 處

Thần Bạch Nguyên 白 元 là một thần trong Động phòng, như nơi câu 5 đã giải. Tính 併: Cùng, đều. Lập 立: đứng.

Câu 8. Minh đường, kim quĩ, ngọc phòng gian.

明 堂 金 匱 玉 房 間

Minh đường 明 堂: Một trong 9 cung trên đầu.

Kim quĩ 金 匱, Ngọc phòng 玉 房: Hai phòng phụ thuộc Minh đường, và ở phía dưới Minh đường. Tử Hà cho rằng: Kim quĩ thuộc Nhật là mắt trái. Ngọc phòng thuộc Nguyệt là mắt phải.

Câu 9. Thượng Thanh chân nhân đương ngô tiền.

上 清 真 人 當 吾 前

Thượng thanh chân nhân là Thượng Nguyên bộ thần.

Câu 10. Hoàng thường Tử Đan, khí tần phiền.

黃 裳 子 丹 氣 頻 煩

Bản Tử Hà: Hoàng thường Tử Đan, khí tần huyên.

Tử Đan 子 丹: Tâm thần, Thần Chân Nhất, Nhất. Cũng gọi là Xích Thành đồng tử 赤 城 童 子, Xích tử 赤 子, hay Tâm đan 心 丹, hay Chân nhân 真 人. Vụ Thành Tử giải: Đây nói về Trung Nguyên đồng tử đang cư ngụ tại Xích Thành. Tần phiền là khí thịnh, không suy kiệt (Vị Trung Nguyên đồng tử xử ư Xích Thành. Tần phiền, khí thịnh bất suy kiệt謂 中 元 童 子 處 於 赤 城. 頻 煩 氣 盛 不 衰 竭).[1]

Câu 11. Tá vấn hà tại lưỡng mi đoan.

借 問 何 在 兩 眉 端

Lưỡng mi đoan 兩 眉 端: Nơi giữa hai làn mi.

Câu 12. Nội hiệp nhật nguyệt, liệt tú trần.

內 俠 日 月 列 宿 陳

Thần trời ở đâu, thì tinh quang trời ở đó.

Câu 13. Thất diệu, cửu nguyên quán sinh môn.

七 曜 九 元 冠 生 門

Thất diệu 七 曜 hay thất tinh 七 星: (1) Nhật nguyệt và ngũ tinh (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). (2) Bảy ngôi sao Bắc đẩu.

Cửu nguyên 九 元: Chín sao ứng với Cửu khiếu.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này cũng là một trong những chương quan trọng. Ngoại cảnh đề cập chương này với sáu câu:

Nội cảnh:

Linh đài uất ái vọng Hoàng dã,

靈 臺 鬱 藹 望 黃 野

Tam thốn dị thất, hữu thượng hạ,

三 寸 異 室 有 上 下

Động phòng tử cực linh môn hộ,

洞 房 紫 極 靈 門 戶

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả,

是 昔 太 上 告 我 者

Minh đường kim quĩ ngọc phòng gian,

明 堂 金 匱 玉 房 間

Thượng Thanh chân nhân đương ngô tiền.

上 清 真 人 當 吾 前

Ngoại cảnh:

Linh đài trung thiên lâm trung dã,

靈 臺 中 天 臨 中 野

Phương thốn chi trung chí khuyết hạ,

方 寸 之 中 至 闕 下

Ngọc phòng chi trung thần môn hộ,

玉 房 之 中 神 門 戶

Giai thị Công tử giáo ngã giả.

皆 是 公 子 教 我 者

Minh đường tứ đạt, pháp hải viên,

明 堂 四 達 法 海 圓

Chân nhân Tử Đan đương ngã tiền.

真 人 子 丹 當 我 前 [2]

Ta thấy chương này đề cập ba vấn đề:

1. Linh đài hay tâm hồn con người ở nơi đâu ?

Linh đài 靈 臺 hay Cao đài 高 臺 (theo lời giải của Vụ Thành Tử, ngoại cảnh, tr. 2a) chính là Trung Tâm đầu não con người.

Hoàng dã 黃 野, tức là trung cung, trung điểm đầu não con người. Vậy Linh đài là Nê Hoàn cung 泥 丸 宮. Nơi đó Trời người gặp gỡ, vì thế có Động phòng cung 洞 房 宮 (câu 1, 2, 3, 4).

2. Trời hay Thượng đế hay Tử Đan 子 丹, hay Thái Thượng Chân Nhân 太 上 真 人 đã ngự trị ngay trong đầu não con người, và đã thường xuyên dạy bảo con người từ tâm khảm đó (câu 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11).

3. Trời ở đâu, thì quang huy Trời ở đó (câu 12, 13).

Chương này làm ta liên tưởng đến bài thơ của Tam Mao chân quân 三 茅 真 君:

Linh đài trạm trạm tự băng hồ,

靈 臺 湛 湛 似 冰 壺

Chỉ hứa Nguyên thần lý diện cư,

只 許 元 神 裏 面 居

Nhược hướng thử trung lưu nhất vật,

若 向 此 中 留 一 物

Khởi năng chứng Đạo, hợp Thanh Hư [3]

豈 能 證 道 合 清 虛

(Linh đài trong vắt tự băng hồ,

Dành đợi Nguyên Thần tới ngụ cư,

Bên trong ví thể còn vương vật,

Làm sao chứng Đạo, hợp Thanh Hư.)

Mấy vần thơ sau cũng giúp ta hiểu thêm chương này. Trương Vô Mộng 張 無 夢 nói:

Tâm tại Linh quan, thân hữu chủ,

心 在 靈 關 身 有 主

Khí qui Nguyên hải, thọ vô cùng.

氣 歸 元 海 壽 無 窮

(Tâm ở Linh quan, thân có chủ,

Khí về Nguyên hải, thọ vô cùng.)

Bành Hạc Lâm 彭 鶴 林 nói:

Thần thất tức thị thử Linh đài,

神 室 即 是 此 靈 臺

Trung hữu trường sinh, bất tử thai.

中 有 長 生 不 死 胎

(Thần thất chẳng qua cũng Linh đài,

Trong có trường sinh bất tử thai.) [4]

Tóm lại tu đạo, cần biết:

– Đâu là Linh đài 靈 臺, Thần thất 神 室.

– Trong Linh đài, thần thất có ai, có gì ?

–   Làm sao tìm ra được thần trời đất, và giữ được thần trời đất trong Linh đài.
 

[1] Xem phụ lục về chữ Nhất cuối sách Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, Lương Khưu tử chú.

[2] Bản Huỳnh Đình Kinh do Thượng Hải Cổ Tịch Xuất bản xã 上 海 古 藉 出 版 社 ấn hành (1990), tr. 3 (phần Ngoại Cảnh) chép là:

Linh đài thông thiên lâm trung dã                   
靈 臺 通 天 臨 中 野

Phương thốn chi trung gian khuyết hạ           
方 寸 之 中 間 闕 下

Ngọc phòng chi trung thần môn hộ               
玉 房 之 中 神 門 戶

Ký thị Công tử giáo ngã giả                             
既 是 公 子 教 我 者

Minh đường tứ đạt, pháp hải nguyên             
明 堂 四 達 法 海 源

Chân nhân Tử Đan đương ngô tiền               
真 人 子 丹 當 吾 前.

[3] Xem Tính Mệnh Khuê Chỉ, chương Hàm dưỡng bản nguyên, cứu hộ mệnh bảo 涵 養 本 原, 救 護 命 寶.

[4] Tham khảo thêm bài thơ Giải mê ca                 
解 迷 歌

Nhược yêu chân tinh vô lậu tiết,                     
若 要 真 精 無 漏 泄

Tu tịnh Linh đài, như lãng nguyệt.                   
須 淨 靈 臺 如 朗 月

Linh đài bất tịnh, Thần bất thanh,                   
靈 臺 不 淨 神 不 清

Trú dạ công phu, hưu đoạn tuyệt…               
晝 夜 功 夫 休 斷 絕

(Cũng nơi chương trên, Tính Mệnh Khuê Chỉ).

———————————-

CHƯƠNG 18

TAM QUAN

三 關

A. KINH VĂN

1. Tam quan chi trung tinh khí thâm,

三 關 之 中 精 氣 深

2. Cửu vi chi nội, u thả âm.

九 微 之 內 幽 且 陰

3. Khẩu vi tâm quan, tinh thần ki,

口 為 心 關 精 神 機

4. Túc vi địa quan sinh mệnh phi.

足 為 地 關 生 命 棐

5. Thủ vi nhân quan, bả thịnh suy.

手 為 人 關 把 盛 衰

B. LƯỢC DỊCH

Ba cửa Tam quan, tinh khí thâm,

Chín cung đầu não, rất u sầm.

Miệng là tâm quan, chốt tinh thần,

Chân là địa quan, sinh mệnh hệ,

Tay là nhân quan, chủ hưng phế.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tam quan chi trung, tinh khí thâm.

三 關 之 中 精 氣 深

Tam quan 三 關:

(1) Hạ đan điền下 丹 田 (Quan nguyên 關 元) (Vụ Thành tử giải);

(2) Miệng, tay, chân (theo Huỳnh đình kinh);

(3) Minh đường 明 堂, Động phòng 洞 房, Đan điền 丹 田 (Nguyên Dương Tử 元 陽 子 giải);

(4) Ấn đường 印 堂, Trùng lâu 重 樓, Giáng cung 絳 宮 (theo Tiên học từ điển);

(5) Tam đan điền 三 丹 田, Nê Hoàn 泥 丸, Giáng cung 絳 宮, Hạ đan điền 下 丹 田 (Tử Hà 紫 霞 giải);

(6) Thái thanh 太 清, Thái tổ太 祖, Thái hòa 太 和.

Câu 2. Cửu vi chi nội, u thả âm.

九 微 之 內 幽 且 陰

Tử Hà giải đó là nơi Tiềm long vật dụng 潛 龍 勿 用, là nơi ở của Thần, cho nên rất là thâm sâu, kín nhiệm.

Câu 3. Khẩu vi tâm quan, tinh thần ki.

口 為 心 關 精 神 機

Bản Tử Hà: Khẩu vi Thiên quan, tinh thần ki 口 為 天 關 精 神 機.

Ki hay Cơ 機 là Then máy, là chủ chốt, là khu cơ (= xu cơ) 樞 機.

Câu 4. Túc vi địa quan, sinh mệnh phi.

足 為 地 關 生 命 棐

Phi 棐: Tử Hà giải là cái ghế; Vụ Thành Tử giải là cánh cửa.[1]

Câu 5. Thủ vi nhân quan, bả thịnh suy.

手 為 人 關 把 盛 衰

Bả thịnh suy 把 盛 衰: Nắm được thịnh suy trong tay.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này ngắn nhưng khó giải.

Huỳnh Đình ngoại cảnh đề cập đến chương này bằng hai câu hết sức có ý nghĩa:

Tam quan chi gian, tinh khí thâm,

三 關 之 間 精 氣 深

Tử dục bất tử tu Côn Lôn. (Chương 6)

子 欲 不 死 修 崑 崙

Hai câu này khiến ta hướng về Côn Lôn, về đầu não, về Linh đài, về Nê Hoàn, về Chân nhất. Ta có thể bàn về chương này như sau:

Trong con người, có đủ tam tài: Thiên, Địa, Nhân, nên con người gồm thâu mọi biến hóa.

Trong con người có một nguồn năng lượng rất lớn tiềm tàng, nhưng nó ẩn trong tầng sâu con người (câu 1, 2).

Đại đạo chính là phát huy được đến cực độ các tiềm năng, tiềm lực ấy. (Các câu 3, 4, 5).

Ta cũng có thể nhân các chữ: Tinh thần ki 精 神 機, Sinh mệnh phi 生 命 棐, Bả thịnh suy 把 盛 衰, mà bình giải chương này như sau:

Đại đạo chính là tìm cho ra được cái gì làm chủ chốt của con người mình, của cuộc đời mình. Mà chủ chốt đây, chính là Thiên Chân, là Chân Nhất, nó tiềm ẩn ngay trong đầu não con người, trong thân hình con người. (Câu 1, 2, 3).

Thứ đến phải phát huy Thiên Chân ấy, phải thực hiện Thiên Chân ấy (Câu 4).

Tuy nhiên con người có quyền hoặc phát huy, hoặc sao lãng, phế hủy thiên chân ấy (Câu 5). Đúng như lời Mạnh Tử nói: Cầu tắc đắc chi, Xả tắc thất chi 求 則 得 之 捨 則 失 之 (Mạnh tử, tận tâm chương cú hạ).

Sách Kim Đan Đại Thành (tr. 3a, 3b) viết:

Hỏi: Chân Nhất là gì ?

Đáp: Người mà có thể đem Thiên Chân của mình, an vào trong Thiên Cốc, thế gọi là Chân nhất chi đạo.

Kim Động chủ 金 洞 主 nói: Chân Nhất ở Bắc Cực, ở Trung điểm Thái Uyên 太 淵.[2]

Huỳnh Đình nhiều lần bàn về Chân Nhất chi đạo 真 一 之 道.

Tử Đan 子 丹, Xích Thành Đồng tử 赤 城 童 子, hay Xích Tử 赤 子, hay Chân Nhân 真 人 hay Thái Thượng 太 上 chính là Chân Nhất 真 一, Nê Hoàn cung 泥 丸 宮 chính là Thiên Cốc 天 谷.

Hiểu được ý này là nắm được then chốt của Huỳnh Đình kinh, nắm được then chốt Kim Đan đại đạo 金 丹 大 道. Trong quyển sách nhỏ này, tôi đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần chân lý giản yếu này. Hy vọng độc giả nhận ra dụng ý đó.

[1] Thuyết Văn Giải Tự phiên chữ 棐 là phỉ (phu vĩ thiết 敷 尾 切), nghĩa là giúp đỡ (棐, 輔 也 phỉ, phụ dã). Vương Lực giải 棐 phỉ /fei/ là: (1) giúp đỡ (phụ trợ 輔 助); (2) không, bất 不 (thông với chữ phỉ 匪); (3) giỏ tre (thông với chữ phỉ 篚); (4) cây phỉ (thông với chữ phỉ 榧). Khang Hi bảo gỗ cây phỉ có thể làm bàn ghế (khả vi kỷ 可 為 几), có lẽ Tử Hà giải theo ý này. Vụ Thành Tử giảng: Có lẽ là phi 扉 (cánh cửa): Phỉ hoặc vi phi 棐 或 為 扉 (có người bảo phỉ là cánh cửa).

[2] Vấn viết: Hà vị chân nhất. Đáp viết: Nhân năng tương tự kỷ Thiên Chân, an ư Thiên Cốc chi nội, nãi thử chân nhất chi đạo dã. Kim động chủ viết: Chân nhất giả tại ư Bắc cực thái uyên chi trung dã. 問 曰: 何 謂 真 一. 答 曰: 人 能 將 自 己 天 真, 安於 天 谷 之 內, 乃 守 真 一 之 道 也. 金 洞 主曰: 真 一 者 在 於 北 極 太 淵 之 中 也.

CHƯƠNG 19

NHƯỢC ĐẮC

若 得

A. KINH VĂN

1. Nhược đắc tam cung tồn Huyền đan,

若 得 三 宮 存 玄 丹

2. Thái nhất, Lưu châu an Côn lôn.

太 一 流 珠 安 崑 崙

3. Trùng trùng lâu các thập nhị hoàn,

重 重 樓 閣 十 二 環

4. Tự cao, tự hạ giai chân nhân,

自 高 自 下 皆 真 人

5. Ngọc đường giáng vũ, tận huyền cung.

玉 堂 絳 宇 盡 玄 宮

6. Tuyền ki, Ngọc hành sắc lan can.

璇 璣 玉 衡 色 蘭 玕

7. Chiêm vọng đồng tử, tọa bàn hoàn,

瞻 望 童 子 坐 盤 桓

8. Vấn thùy gia tử tại ngã thân,

問 誰 家 子 在 我 身

9. Thử nhân hà khứ, nhập Nê Hoàn.

此 人 何 去 入 泥 丸

10. Thiên thiên, bách bách tự tương liên,

千 千 百 百 自 相 連

11. Nhất nhất, thập thập tự trùng sơn.

一 一 十 十 似 重 山

12. Vân nghi, Ngọc hoa hiệp nhĩ môn,

雲 儀 玉 華 俠 耳 門

13. Xích đế, Hoàng lão dữ kỷ hồn,

赤 帝 黃 老 與 己 魂

14. Tam chân phù tư cộng phòng tân,

三 真 扶 胥 共 房 津

15. Ngũ đẩu hoán minh, thị Thất nguyên.

五 斗 煥 明 是 七 元

16. Nhật nguyệt phi hành lục hợp gian.

日 月 飛 行 六 合 間

17. Đế hương thiên trung địa hộ đoan,

帝 鄉 天 中 地 戶 端

18. Diện bộ hồn thần giai tương tồn.

面 部 魂 神 皆 相 存

B. LƯỢC DỊCH

Nếu được Tam cung tồn Huyền đơn,

Thái ất, Lưu Châu an Côn Lôn,

Lầu các trập trùng, thập nhị hoàn,

Từ cao xuống thấp, toàn chân nhân.

Ngọc đường, giáng vụ, đều huyền cung,

Bắc đẩu bảy vì chiếu linh lung.

Nhìn tỏ Đồng tử ngồi an nhiên,

Thân ta ướm hỏi kìa ai ở,

Người đó làm sao vào Nê Hoàn.

Trăm ngàn thần tiên tự tương liên,

Xếp hàng cao thấp như núi non.

Vân Nghi, Ngọc Hoa phù trì bên,

Xích đế Hoàng lão với ngã Hồn,

Ba ngôi hợp một tại Phòng tân,

Ngũ tinh, bắc đẩu soi linh môn,

Nhật nguyệt muôn phương tỏa hào quang,

Đế hương, Thiên đình tại mi gian,

Toàn bộ thần mặt đầu tương tồn.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Nhược đắc tam cung tồn Huyền đan.

若 得 三 宮 存 玄 丹

Tam cung 三 宮: (1) Tam đan điền (Vụ Thành Tử); (2) Huyền đan 玄 丹, Lưu châu 流 珠, Thái nhất 太 一 (Ba cung này đều ở trong đầu não con người, tức là 3 trong 9 cung của Nê Hoàn.

Câu 2. Thái nhất, Lưu châu an Côn lôn.

太 一 流 珠 安 崑 崙

Côn lôn 崑 崙: (1) Đầu não con người (Vụ Thành Tử); (2) Nơi cao nhất trong óc (Tử Hà).

Lưu châu ở phía trước Côn lôn, có Thái Dương chiếu, hóa tận quần âm. Thái nhất ở phía sau Côn Lôn, có đức Cứu Khổ Thiên Tôn giải trừ chư ách. Huyền đơn ở phía trên Côn lôn, không thanh, tuyệt trần ai.

Câu 3. Trùng trùng lâu các thập nhị hoàn.

重 重 樓 閣 十 二 環

Vụ Thành Tử cho rằng đây ám chỉ Hầu lung (cuống họng) với 12 tiết đoạn.

Huỳnh Đình Ngoại Cảnh cũng viết: Giáng cung trùng lâu thập nhị hoàn (hay thập nhị cấp) (Xem Ngoại Cảnh chương 7). Tử Hà cho rằng đây chỉ là những Kim lâu, bửu các trên các cung, hay trên Tam cung nói trên.

Câu 4. Tự cao tự hạ giai Chân nhân.

自 高 自 下 皆 真 人

Trên dưới đều là Chân thần.

Câu 5. Ngọc đường, giáng vũ, tận Huyền cung.

玉 堂 絳 宇 盡 玄 宮

Vụ Thành Tử cho rằng đây nói về Giáng cung 絳 宮, Minh đường 明 堂. Tử Hà vẫn cho rằng đó là những ngọc đường, giáng vũ nơi các cung trên đầu.

Câu 6. Tuyền ki, Ngọc hành sắc lan can.

璇 璣 玉 衡 色 蘭 玕

– Vụ Thành Tử giải đó là cuống họng. (Tuyền ki, ngọc hành). Lan can 蘭 玕: Màu sắc của cuống họng.

– Tử Hà giải Tuyền ki là 4 ngôi sao Khôi tinh hợp thành hình chữ nhật nơi chòm sao Bắc đẩu. Ngọc hành là ba sao Tiêu tinh hợp thành chuôi sao Bắc đẩu. Lan can: Xán lạn như Bạch ngọc.

Côn lôn là nơi thần tiên đô hội, ở đỉnh Côn lôn thấy Bắc đẩu sáng soi, có thể lấy tay mà hái được…

Câu 7. Chiêm vọng đồng tử tọa bàn hoàn.

瞻 望 童 子 坐 盤 桓

Đồng tử 童 子 đây là Nhất 一, là thần Tử đan 子 丹, hay Xích Thành đồng tử 赤 城 童 子 hay Đan Hoàng chân nhân 丹 皇 真 人.

Bàn hoàn 盤 桓: An nhiên tự tại.

Câu 8. Vấn thùy gia tử tại ngã thân.

問 誰 家 子 在 我 身

Nơi đây, tác giả trực giác thấy thần trời đất ngự trong thân mình.

Câu 9. Thử nhân hà khứ nhập Nê Hoàn.

此 人 何 去 入 泥 丸

Tác giả xác minh thêm rằng thần trời đất ngự tại trung tâm đầu não mình.

Câu 10 – 11. Thiên thiên, bách bách tự tương liên, Nhất nhất, thập thập tự trùng sơn.

千 千 百 百 自 相 連, 一 一 十 十 似 重 山

Thần trời đất ở đâu thì chư thần theo chầu đó.

Câu 12. Vân nghi, Ngọc hoa hiệp nhĩ môn.

雲 儀 玉 華 俠 耳 門

Vân nghi Ngọc hoa: Tử Hà cho là hai vị thần.

Vụ Thành Tử giải vân nghi, ngọc hoa là tóc.

Câu 13. Xích đế, Hoàng Lão dữ kỷ hồn.

赤 帝 黃 老 與 己 魂

Tử Hà giải Xích đế, Hoàng Lão là Chân tâm, Chân ý.

Câu 14. Tam chân phù tư cộng phòng tân.

三 真 扶 胥 共 房 津

Tam chân 三 真: Xích đế 赤 帝, Hoàng Lão 黃 老, kỷ hồn 己 魂 (ngã hồn).

Phù tư 扶 胥: Giúp đỡ nhau, cộng tác với nhau.

Cộng phòng tân 共 房 津: Ở chung nơi Tủy hải. Xoang trống giữa óc cũng được gọi là tủy hải.

Câu 15. Ngũ đẩu hoán minh, thị Thất nguyên.

五 斗 煥 明 是 七 元

Ngũ đẩu 五 斗: Ngũ tinh.

Thất nguyên七 元: Bắc đẩu.

Câu 16. Nhật nguyệt phi hành lục hợp gian.

日 月 飛 行 六 合 間

Lục hợp 六 合: Sáu phương (tứ phương và thượng hạ).

Câu 17. Đế hương thiên trung địa hộ đoan.

帝 鄉 天 中 地 戶 端

Đế hương 帝 鄉: Đế hương ở nơi trán.

Thiên đình 天 庭 hay thiên trung 天 中 cũng ở giữa trán.

Địa hộ 地 戶: Mũi là địa hộ ở thương bộ. Cho nên đầu sống mũi là Thiên trung.

Câu 18. Diện bộ hồn thần giai tương tồn.

面 部 魂 神 皆 相 存

Đây là nói về chư thần nơi bộ mặt. Các thần mặt đều tương ứng với nhau.

D. BÌNH GIẢNG

Tồn thần, trú khí, hoàn tinh được về Côn lôn đỉnh tức là đem được Huyền đan về tam cung, đem được Thái nhất, Lưu châu an vào Côn lôn. Lúc ấy sẽ thấy Chân thần hiện ra trong đầu não… (Các câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7). Chân thần hay Nguyên thần hết sức là linh động, hết sức là biến hoá, có lẽ vì thế mà người xưa thường sánh nó với Lưu châu, hay Thủy ngân là cái gì trôi chảy nhất, hay sánh nó với con «tẩu lộc» 走 鹿 (cervus fugitivus) là cái gì khó bắt, khó cầm nhất, thế mà nay làm cho nó ngưng tụ lại được ở nơi tâm điền thực là cả một kỳ công.

Câu «Vấn thùy gia tử tại ngã thân, thử nhân hà xứ nhập Nê Hoàn» 問 誰 家 子 在 我 身, 此 人 何 處 入 泥 丸 cho ta thấy được rằng tác giả Huỳnh Đình đã thấy Thần trời đất hiện ra trong tâm khảm tác giả. (Các câu 8, 9).

Tới giai đoạn đắc đạo, các nhà huyền học đông tây đều chứng nghiệm được vậy:

Bà Evelyn Underhill tác giả quyển Mysticism, đã viết về thánh Thérèse d’Avila như sau: «Trong thẩm cung tâm hồn, trong cái “thái uyên vô để» ấy, nơi mà tiểu ngã trở nên vô nghĩa, nơi mà con người đạt tới đời sống của Toàn thể vô biên, mọi sự phân biệt đều tan biến, và bà thánh Thérèse thấy Thượng đế ở một điểm.» [1] Bà Thérèse d’Avila còn viết: «Thoạt tiên, tôi nhận định được rằng trước đây tôi đã không biết rằng Thượng đế ở trong mọi sự, và khi thấy Chúa có vẻ như ở gần tôi, tôi cho là một điều phi lý, không thể xảy ra. Mà tôi cũng không thể nào không tin rằng Ngài hiện diện nơi tôi, vì tôi cảm thấy ngài rõ ràng quá. Có những người dốt nát đã nói với tôi rằng Chúa chỉ có thể hiện diện bằng ân sủng Ngài mà thôi. Tôi thì không sao mà tin như thế được, cho nên tôi rất khổ sở. Sau có một Cha dòng Đa Minh, thông thái, đã giải tỏa được sự nghi ngờ của tôi, vì Ngài nói với tôi rằng Chúa thực sự hiện diện, và giảng cho biết cung cách Chúa hòa hài với con người. Điều đó làm cho tôi hết sức sung sướng…» [2]

Các câu 12, 13, 14, 15 chương này làm ta liên tưởng đến sự hòa hài, đến sự huyền đồng, hợp nhất với Trời (union mystique avec Dieu) mà các sách huyền học Đông, Tây thường đề cập.

Hai chữ Động Phòng (Chambre nuptiale, thalamus) mà lạ lùng thay, Á Đông nói trong đầu có Động Phòng, thì Âu Châu nói trong đầu có Thalamus, mà Thalamus cũng lại là Động Phòng hai chữ Động phòng của Huỳnh Đình đã chứng minh được rằng từ xưa, nhân loại vốn tin rằng Thiên tâm, Nhân tâm có thể hòa hài, Trời người có thể kết hợp, mà địa điểm kết hợp là nơi Động Phòng, tức là ở ngay trong đầu não con người…

Huỳnh Đình kinh nói: «Vấn thùy gia tử tại ngã thân, thử nhân hà xứ nhập Nê Hoàn.» 問 誰 家 子 在 我 身, 此 人 何 處 入 泥 丸 thì Tào văn Dật 曹 文 逸 cũng đã viết trong bài Đại Đạo Ca 大 道 歌 rằng:

Tá vấn Chân Nhân hà xứ lai,                       
借 問 真 人 何 處 來

Tòng tiền nguyên chỉ tại Linh đài.                 
從 前 原 只 在 靈 臺

Tích niên vân vụ, thâm già tế.                       
昔 年 雲 霧 深 遮 蔽

Kim nhật tương phùng đạo nhãn khai…[3]
今 日 相 逢 道 眼 開

Dịch:

Ướm hỏi Chân nhân hà xứ lai,

Trước sau vốn ngự tại Linh Đài,

Năm xưa vần vụ che lấp kín,

Nay mới tương phùng Đạo nhãn khai…

Nơi đây ta lại thấy đề cập: Nhật nguyệt 日 月, Tuyền ki 璇 璣, Ngọc hành 玉 衡 (Bắc đẩu 北 斗), Ngũ đẩu 五 斗 (Ngũ tinh 五 星), Thất nguyên 七 元 (Bắc đẩu 北 斗).

Mới hay đầu não con người là cả một bầu trời: Trong đầu não con người chẳng những có thiên cung, thiên môn, thiên đình, đế hương, có đủ kim môn, ngọc điện mà còn có đủ chư thần, có đủ nhật nguyệt tinh cầu. Thảo nào mà Ngoại Cảnh (chương 6) nói: «Tử dục bất tử tu Côn Lôn» 子 欲 不 死 修 崑 崙, thảo nào mà Nội Cảnh (chương 7) nói: «Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng.» 但 思 一 部 壽 無 窮.

Nhất bộ 一 部 đây là chư thần nơi đầu mặt… (Các câu 13, 14, 15, 16, 17, 18).

Huỳnh Đình cho ta biết đâu là Đế hương 帝 鄉, đâu là Thiên đình 天 庭… Thiên đình, Đế hương chính là Nê hoàn cung 泥 丸 宮 (Câu 17).

Bát tiên quá hải

[1] Evelyn Underhill, Mysticism, tr. 131: «In the deepest recess of her Spirit, in that unplumbed abyss where selfhood ceases to have meaning, and the individual touches the life of the All, distinction vanished and she ‘saw God in a point’.»

[2] Evelyn Underhill, Mysticism, tr. 291-292: «In the beginning it happened to me that I was ignorant of one thing: I did not know that God was in all things; and when He seemed to me to be so near, I thought it impossible. Not to believe that He was present was not in my power, for it seemed to me, as it were, evident that I felt there His very presence. Some unlearned men used to say to me, that He was present only by his grace. I could not believe that, because as I am saying, He seemed to me to the present Himself: so I was distressed. A most learned man, of the Order of the glorious Patriarch St. Dominic, delivered me from this doubt; for he told me that He was present, and how He communed with us: this was a great comfort to me.»

[3] Doãn Chân nhân, Tính Mệnh Khuê Chỉ, quyển Hanh, tr. 11a.

CHƯƠNG 20

HÔ HẤP

呼 吸

A. KINH VĂN

1. Hô hấp Nguyên khí dĩ cầu tiên,

呼 吸 元 氣 以 求 仙

2. Tiên công, Công tử dĩ tại tiền,

仙 公 公 子 已 在 前

3. Chu điểu, thổ súc Bạch thạch nguyên,

朱 鳥 吐 縮 白 石 源

4. Kết tinh dục bào hóa sinh thân,

結 精 育 胞 化 生 身

5. Lưu thai chỉ tinh khả trường sinh,

留 胎 止 精 可 長 生

6. Tam khí hữu hồi cửu đạo minh,

三 氣 右 迴 九 道 明

7. Chính nhất hàm hoa nãi sung doanh,

正 一 含 華 乃 充 盈

8. Dao vọng nhất tâm như la tinh,

遙 望 一 心 如 羅 星

9. Kim thất chi hạ khả bất khuynh,

金 室 之 下 可 不 傾

10. Diên ngã bạch thủ phản hài anh.

延 我 白 首 反 孩 嬰

B. LƯỢC DỊCH

Hô hấp nguyên khí để cầu tiên,

Tồn thần Vô Anh trước mặt liên,

Vận hành thổ nạp, nuốt ngọc diên,

An tâm dưỡng thần, thần sung mãn,

Chỉ tinh, tiết dục sẽ diên niên.

Khí vận châu thân, người linh sảng,

Tồn thần bão nhất, khí sung doanh,

Tâm như sao sáng, thiên trung hiện,

Linh đài rực rỡ, hết đảo khuynh,

Còn ta đầu bạc cũng hóa xanh …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Hô hấp Nguyên khí dĩ cầu tiên.

呼 吸 元 氣 以 求 仙

Nguyên khí 元 氣: Tiên thiên khí 先 天 氣, Tổ khí 祖 氣, Chân dương chi tinh khí 真 陽 之 精 氣, Tiên thiên Tổ khí 先 天 祖 氣, Chân khí 真 氣 (lời giải của Xung Hư chân nhân 沖 虛 真 人, Thiên tiên chính lý trực luận 天 仙 正 理 直 論, tr. 21b), Tiên thiên thủy khí 先 天 始 氣 (Sđd, tr. 1b, 18b)

Câu 2. Tiên công, công tử dĩ tại tiền.

仙 公 公 子 已 在 前

Tiên công 仙 公: (1) Vụ Thành Tử cho rằng đây là mỹ hiệu tặng cho người học Huỳnh Đình (Tiên công trực chỉ Huỳnh Đình học giả 仙 公 直 指 黃 庭 學 者). (2) Tử Hà giải là Đông phương Mộc công 東 方 木 公, hay Vô Anh công tử 無 英 公 子, sau thành Kim công 金 公, hiệu Cửu Tam Lang 九 三 郎. Đó chính là Chân Chủng tử 真 種 子.

Công tử 公 子: Vụ Thành Tử giải là Thần Vô Anh ở bên trái Động phòng cung (Động Phòng cung tả vi Vô Anh quân, nhất danh Công tử 洞 房 宮 左 為 無 英 君 一 名 公 子).

Câu 3. Chu điểu thổ súc Bạch thạch nguyên.

Chu điểu 朱 鳥: Vụ Thành Tử giải là lưỡi.

Bạch thạch 白 石: Vụ Thành Tử giải là răng.

Thổ súc 吐 縮: Vụ Thành Tử giải là đạo dẫn tân dịch.

(Chu điểu thiệt tượng, bạch thạch xỉ tượng, thổ súc đạo dẫn tân dịch 朱 鳥 舌 象, 白 石 齒 象, 吐 縮 導 引 津 液).

Câu 4. Kết tinh dục bào, hóa sinh thân.

結 精 育 胞 化 生 身

Bản Tử Hà chép: Kết tinh dục thai hóa sinh thân 結 精 育 胎 化 生 身. Thai 胎 đây là thai tiên (tiên thai 仙 胎). Ngưng tụ thần khí ở tại Nê Hoàn, tức là nơi sinh thân thụ khí chi sơ, thế gọi là kết thai tiên. Dục thai 育 胎: là bồi dưỡng thai tiên ấy.

Câu 5. Lưu thai chỉ tinh khả trường sinh.

留 胎 止 精 可 長 生

Tử Hà giải là lưu giữ thai tiên và cấm chỉ tinh lộ 留 仙 胎 禁 止 精 路. Tu tiên đạo 仙 道 vẫn là: Cố tinh 固 精, điều khí 調 氣, an tâm 安 心, dưỡng thần 養 神, khiến cho não cung toàn mãn.

Câu 6. Tam khí hữu hồi, cửu đạo minh.

三 氣 右 迴 九 道 明

Tam khí 三 氣: Tam đan điền chi khí 三 丹 田 之 氣. Thái nguyên 太 元, thái huyền 太 玄, thái tổ chi khí 三 祖 之 氣.

Hữu hồi 右 迴: Vận khí đó trong Đốc mạch thì là Tả tuyền 左 旋, vận khí đó trong Nhâm mạch thì gọi là Hữu hồi 右 迴.

Cửu đạo minh 九 道 明: (1) Tử Hà giải: Sau lưng Đốc mạch thì gọi là Cửu khúc Hoàng hà 九 曲 黃 河. Phía trên thì gọi là Cửu chiết Thiên tân 九 折 天 津. Đằng trước Nhâm mạch, thì gọi là Cửu khúc Trường giang 九 曲 長 江. Mọi đường lối đều phân minh. (2) Vụ Thành Tử giải là Cửu khiếu thông lưu 九 竅 通 流.

Câu 7. Chính nhất hàm hoa, nãi sung doanh.

正 一 含 華 乃 充 盈

Chính nhất 正 一: Tồn Chính 存 正, thủ Nhất 守 一.

Hàm hoa 含 華: Thần khí vinh hoa.

Câu 8. Dao vọng nhất tâm như la tinh.

遙 望 一 心 如 羅 星

Dao vọng 遙 望: Xa nhìn thấy.

Nhất tâm như la tinh 一 心 如 羅 星: trông thấy Tâm Thần (Xích thành đồng tử 赤 城 童 子) sáng láng như ánh sao chiếu vào là lượt.

Câu 9. Kim thất chi hạ khả bất khuynh.

金 室 之 下 可 不 傾

Kim thất 金 室: Ám chỉ Tâm 心. Đại ý nói: Giữ gìn tâm thần cho nghiêm cẩn.

Câu 10. Diên ngã bạch thủ phản hài anh.

延 我 白 首 反 孩 嬰

Đại ý nói làm cho con người trẻ lại khỏe ra.

D. BÌNH GIẢNG

Ta có thể tóm tắt chương này bằng mấy câu ở Ngoại Cảnh (chương 1):

«Hô hấp hư vô nhập đan điền,           
呼 吸 虛 無 入 丹 田

Ngọc trì thanh thủy quán linh căn,     
玉 池 清 水 灌 靈 根

Tổng chân đồng tử thực Thai tân,     
總 真 童 子 食 胎 津

Thẩm năng tu chi, khả trường tồn.»   
審 能 修 之 可 長 存

Vì thực ra chương này cũng bàn về:

– Hô hấp chân khí (câu 1)

– Tồn thần (câu 2)

– Nuốt tân dịch (câu 3)

– Bảo tinh, dưỡng thần (câu 4, câu 5)

– Vận khí điều tức (câu 6)

– Thủ chính, bão nhất (câu 7)

– Tồn tâm, dưỡng thần (câu 8, câu 9)

– Diên niên, trường thọ (câu 10)

Dưới đây tôi chỉ chú trọng bình giảng câu 1:

Hô hấp Nguyên khí dĩ cầu tiên 呼 吸 元 氣 以 求 仙.

A. HAI THỨ KHÍ TRONG CON NGƯỜI

Trong con người có hai thứ khí:

a. Khí trời: khí hô hấp.

b. Khí tiên thiên 先 天 氣, hay Chân khí 真 氣, hay Nguyên khí 元 氣.

Nguyên khí hay khí tiên thiên ở trong xoang não, và trong tủy xương sống. Chính vì vậy mà tủy xương sống được gọi là Tiên thiên khí quản 先 天 氣 管.[1]

Hai khí tiên thiên và hậu thiên hỗ trợ nhau. Nghĩa là hô hấp tiên thiên phải nhờ vào sức hô hấp hậu thiên mới có thể vận chuyển được.

Nói rõ hơn: khi ta hít khí trời xuống phổi (hấp hậu thiên 吸 後 天), thì đồng thời ta nương sức hít đó, hít Chân khí từ Vĩ lư 尾 閭, qua Đốc mạch 督 脈 lên Nê Hoàn 泥 丸 (hấp tiên thiên 吸 先 天).

Khi ta thở khí ra (hô hậu thiên 呼 後 天), thì đồng thời ta chuyển chân khí từ Nê Hoàn, xuống Hạ đan điền, xuống Sinh tử huyệt 生 死 穴 (huyệt giữa giang môn 江 門 và sinh dục khí 生 育 器) (hô tiên thiên 呼 先 天).

Người xưa gọi Hô hấp hậu thiên là Hỏa hầu 火 候.[2] Hô hấp tiên thiên là Dược vật 藥 物.[3]

Hô hấp hậu thiên là âm 陰.[4] Hô hấp tiên thiên là dương 陽.[5] Hai thứ hô hấp đó liên lạc mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau. [6]

B. ĐƯỜNG VẬN CHUYỂN CỦA CHÂN KHÍ

Hô hấp tiên thiên 呼 吸 先 天 là vận chuyển chân khí từ Sinh tử huyệt 生 死 穴 (Trường cường) tới Vĩ lư 尾 閭, qua Đốc mạch 督 脈 (qua Giáp tích 夾 脊, Ngọc chẩm 玉 枕) vào Nê Hoàn. (Đốc mạch 督 脈 còn được gọi là Ngân hà 銀 河, Hoàng hà 黃 河, Hoàng đạo 黃 道, Khí quản 氣 管, Khí lộ 氣 路, Thiên kinh 天 經, hay Hà xa 河 車. Vĩ lư 尾 閭, Giáp tích 夾 脊, Ngọc chẩm 玉 枕 gọi là hậu tam quan 後 三 關). Giai đoạn này là Hấp khí 吸 氣, cũng còn gọi là Thăng 升, là Tiến dương hỏa 進 陽 火 hay Thái thủ 採 取.[7] Sách Xao Kiểu động chương gọi giai đoạn này là: Hấp thăng hổ hống phong sinh 吸 升 虎 吼 風 生 (Sđd, tr. 8a, quyển Hạ).

Giai đoạn thứ hai là hô khí 呼 氣, tức là chuyển khí từ Nê Hoàn 泥 丸, xuống miệng, xuống mạch Nhâm 任, rồi xuống tới Sinh tử huyệt 生 死 穴. Giai đoạn này là giai đoạn hô khí 呼 氣 hay Giáng 降, hay Thoái âm phù 退 陰 符.[8] Xao kiểu động chương gọi giai đoạn này là: Hô giáng 呼 降, long ngâm vân khởi 龍 吟 雲 起.[9] Nhâm mạch 任 脈 cũng còn được gọi là: Xích đạo 赤 道, Thần lộ 神 路, Hồng Khê 紅 溪, Tào khê 曹 溪.[10]

Đường vận chuyển của Chân khí 真 氣 có hai khoảng đứt quãng: Trên là Môn 門, dưới là Cốc đạo 谷 道 hay hậu môn. Muốn cho mạch đến được liên tục cần phải lấy lưỡi đưa lên cúa để cho liền mạch nơi mồm tức là bắc Thượng thước kiều, và cần phải khép kín hậu môn lại gọi là bắc Hạ thước kiều.[11]

Người xưa đã tóm tắt công phu vận khí điều tức tiên thiên khí bằng bốn chữ: Hấp 吸 (hô hấp); Để 抵 (đưa lưỡi lên cứa để khóa môn); Toát 撮 (khép kín hậu môn); Bế 閉 (nhắm mắt, ngậm miệng).[12]

C. THAI TỨC 胎 息 (Respiration embryonnaire)

Đã nói đến vấn đề hô hấp Nguyên khí cần phải đề cập đến Thai tức 胎 息. Tiên học từ điển định nghĩa Thai tức rằng: Thai là tàng thần ở khí huyệt. Tức là tụ khí ở khí huyệt. Như vậy Thai tức là Ngưng thần tụ khí ở Khí huyệt … Lúc ấy, hô hấp hậu thiên và tiên thiên đều như ngừng lại. [13]

Sách Thái Thanh Trung Hoàng chân kinh (tr. 7a) định nghĩa thai tức là: «Bế Chân khí thành thai tức.» 閉 真 氣 成 胎 息. Sách có câu: Hội hợp Thai tiên đạo tự thành 會 合 胎 仙 道 自 成. Cũng nơi trang ấy, sách bình rằng: Nhập thai tức (tức là tự khí, bế khí nơi Nê hoàn) lâu tới 100 tức (khoảng ½ giờ) thì vào được cảnh tiên, lâu 1000 tức (khoảng 1 giờ) thì hồn du thượng cảnh.

Có biết thai tức, mới thành thánh thai, mới thành thai tiên, mới mong nhập đại định,[14] mới mong xuất thần, xuất hồn.[15]

THẾ NÀO LÀ TIÊN  仙 ?

Đạo Lão gọi Tiên là:

a. Một người sống lâu khỏe mạnh một vài trăm tuổi, nhờ dùng linh chi, linh thảo, linh dược, hoặc nhờ Đạo dẫn, Hành khí, thổ nạp v.v…

b. Tuy nhiên tiên nhân chân chính đều do công phu tu luyện nội công:

– Luyện tinh hóa khí 煉 精 化 氣 trời thành nhân tiên.

– Luyện khí hóa thần 煉 氣 化 神 thời thành thần tiên.

– Luyện thần hoàn hư 煉 神 還 虛 thời thành Thiên tiên hay Đại La tiên.

Tổ sư Vương Trùng Dương 王 重 陽 nói: Ý đồng Thiên tâm vi Thiên tiên 意 同 天 心 為 天 仙. Đó cũng là những người: Thể như Thiên chi thanh hư; Đức đồng Thiên chi vô cực 體 如 天 之 清 虛, 德 同 天 之 無 極.[16] Vậy là chúng ta đã giải xong câu thứ nhất rất quan trọng của chương này: Hô hấp nguyên khí dĩ cầu tiên. Chỉ một câu ngắn ngủi mà thâu tóm trọn một công phu tu trì trọng đại của đạo Lão …

[1] Xem hình vẽ và lời chú giải của Diệu Thạch Tử, Quả Văn Đức trong Tính Mệnh Pháp quyết minh chỉ 性 命 法 訣 明 旨, tr. 29.

[2] Hỏa hầu giả, đơn dĩ hậu thiên khí nhi ngôn giả dã 火 候 者, 單 以 後 天 氣 而 言 者 也. Tiên thiên chính lý trực luận 先 天 正 理 直 論, tr. 21a.

[3] Dược vật giả, đơn dĩ tiên thiên khí nhi ngôn giả dã 藥 物 者, 單 以 先 天 氣 而 言 者 也. Sđd., tr. 21a.

[4] Đạo nguyên tinh vi ca 道 源 精微 歌, quyển thượng, tr. 26a.

[5] Thị vi Dương bất đắc âm, cương tất nhiên bất tụ chi cố dã. 是 為 陽 不 得 陰,剛 必 然 不 聚 之 故 也. Sđd.

[6] Nãi nguyên khí bất tự năng siêu, tất dụng hô hấp dĩ thành kỳ năng. Cố viết: Hữu nguyên khí, bất đắc hô hấp, vô dĩ thái thủ phanh luyện nhi vi bản. Hữu hô hấp, bất đắc Nguyên khí, vô dĩ thành thực địa trường sinh, chuyển thần, nhập định chi công. 乃 元 氣 不 自 能 超, 必 用 呼 吸 以 成 其 能. 故 曰: 有 元 氣 ,不 得 呼 吸, 無 以 採取 烹 煉 而 為 本. 有 呼 吸, 不 得 元 氣, 無 以 成 實 地 長 生, 轉 神 入 定 之 功. Tiên thiên chính lý trực luận, tr. 18b.

… Nãi Nguyên khí nhược bất năng thừa hô hấp chi năng, tắc bất năng thành nghiệt 乃 元 氣 若 不 能 承 呼 吸之 能, 則 不 能 成 . Đạo nguyên tinh vi ca, tr. 26b.

… Tùy Hậu thiên khí trục nhi nghịch chuyển hạp tịch. Đương hô hấp cơ chi hạp, Ngã tắc chuyển nhi chí Kiền dĩ thăng vi tiến dã. Đương hô cơ chi tịch, Ngã tắc chuyển nhi chí Khôn dĩ giáng, vi thoái dã. 隨 後 天 氣 軸 而 逆 轉 闔 闢. 當 呼 吸 機 之 闔, 我 則 轉 而 至 乾 以 升 為進 也. 當 呼 機 之 闢, 我 則 轉 而 至 坤 以 降, 為 退 也. Tiên thiên chính lý trực luận, quyển hậu, tr. 20a.

… Nhiên hậu thiên hấp, tắc Tiên thiên thăng yên. Thăng thị thăng ư Kiền, nhi thái thủ dã. Hậu thiên khí hô tắc Tiên thiên khí giáng yên. Giáng thị giáng ư Khôn nhi vi phanh luyện dã. 然 後 天 吸, 則 先 天 升 焉. 升 是 升 於 乾, 而 採 取 也. 後 天 氣 呼 則 先 天 氣 降 焉. 降 是 降 於 坤 而 烹 煉 也. Đạo Nguyên tinh vi ca, tr. 43a quyển thượng. Xem thêm:

(1) Tính Mệnh Pháp quyết minh chỉ 性 命 法訣 明 旨, quyển 8, tr. 15a; quyển 9, tr. 6a; quyển 5, tr. 17a.

(2) Tiên học diệu tuyển 仙 學 妙 選, tr. 345.

(3) Ngũ chân nhân đan đạo cửu thiên 伍 真 人 丹 道 九 篇, tr. 5-6 nói về: Thượng thước kiều 上 鵲 橋, Hạ thước kiều 下 鵲 橋. Xem chương 2 cũng sách này nói về Chân ý 真 意; chương 7 nói về Thủ trung 守 中 và Thần qui đại định 神 歸 大 定; phụ lục nói về Tiểu chu thiên ca quyết 小 周 天 歌 訣.

(4) Tiên học từ điển 仙 學 辭 典 giải nghĩa các thuật ngữ: Thước kiều 鵲 橋 (tr. 168), Tiên thiên nhất khí 先 天 一氣 (tr. 84), Tiên thiên chân khí 先 天 真氣 (tr. 85), Đan đạo 丹 道 (tr. 62).

(5) Độ Nhân kinh 度 人 經, tr. 3a.

[7] Tính Mệnh Pháp quyết minh chỉ, quyển 4, tr. 10b. Tiên Thiên chính lý trực luận, tr. 33a. Đạo Nguyên tinh vi ca, q. thượng, tr. 15a.

[8] Tính Mệnh pháp quyết, q. 4, tr. 10b. Tiên Thiên chính lý trực luận, tr. 33b.

[9] Xao Kiểu động chương, q. thượng tr. 46, q. Hạ, tr. 8a.

[10] Tiên học từ điển, tr. 2. Nhâm mạch gọi là: Thủy câu 水 溝, Xích đạo 赤 道, Thần lộ 神 路, Hồng khê 紅 溪, Tào khê 曹 溪. Đốc mạch gọi là: Ngân hà 銀 河, Hoàng hà 黃 河, Hắc đạo 黑 道, Dương đạo 陽 道, Khí lộ 氣 路, Khí quản 氣 管, Thiên kinh 天 經.

[11] Tiên Thiên chính lý trực luận, tr. 7b.

[12] Tiên học từ điển, tr. 91.

[13] Tiên học từ điển, tr. 111. Tàng thần ư khí huyệt viết thai, khí chí khí huyệt vi tức, thai kỳ thần tức kỳ khí, công phu tiến chí thai tức, tắc bất xuất bất nhập, vĩnh vô phàm tức hĩ. 藏 神 於氣 穴 曰 胎, 氣 至 氣 穴 為 息, 胎 其 神 息 其 氣, 功 夫 進 至 胎 息, 則 不 出 不 入, 永 無 凡 息 矣. (Tàng thần nơi khí huyệt gọi là thai, khí đến khí huyệt là tức, thai [nói về] thần và tức [nói về] khí. Công phu đến giai đoạn thai tức, [hơi thở] sẽ không ra không vào, [nghĩa là] không còn cách thở của phàm nhân nữa).

[14] Tính Mệnh Pháp quyết minh chỉ , tr. 3b, q. 9.

[15] Thái Thanh trung hoàng chân kinh 太 清 中黃 真 經, tr. 7a.

[16] Tiên học từ điển, tr. 70.

CHƯƠNG 21

QUỲNH THẤT

瓊 室

A. KINH VĂN

1. Quỳnh thất chi trung bát tố tập,

瓊 室 之 中 八 素 集

2. Nê Hoàn phu nhân đương trung lập,

泥 丸 夫 人 當 中 立

3. Trường cốc, huyền hương nhiễu giao ấp,

長 谷 玄 鄉 繞 交 邑

4. Lục long tán phi, nan phân biệt.

六 龍 散 飛 難 分 別

5. Trường sinh chí thận phòng trung cấp,

長 生 至 慎 房 中 急

6. Hà vi tử tác, lệnh thần khấp,

何 為 死 作 令 神 泣

7. Hốt chi họa hương tam linh một,

忽 之 禍 鄉 三 靈 歿

8. Đãn đương hấp khí lục tử tinh,

但 當 吸 氣 錄 子 精

9. Thốn điền xích trạch, khả trị sinh,

寸 田 尺 宅 可 治 生

10. Nhược đương quyết hải, bách độc khuynh,

若 當 決 海 百 瀆 傾

11. Diệp khứ, thụ khô, thất thanh thanh,

葉 去 樹 枯 失 青 青

12. Khí vong, dịch lậu, phi kỷ hình,

氣 亡 液 漏 非 己 形

13. Chuyên bế ngự cảnh, nãi trường ninh,

專 閉 御 景 乃 長 寧

14. Bảo ngã Nê hoàn tam kỳ linh,

保 我 泥 丸 三 奇 靈

15. Điềm đạm bế thị nội tự minh,

恬 淡 閉 視 內 自 明

16. Vật vật bất can thái nhi bình,

物 物 不 干 泰 而 平

17. Khác hĩ, phỉ sự lão phục đinh,

愨 矣 匪 事 老 復 丁

18. Tư vịnh ngọc thư, nhập Thượng thanh.

思 詠 玉 書 入 上 清

B. LƯỢC DỊCH

Ở trong não ta, thần khí tụ,

Trong Nê Hoàn ta, Thượng thần ngự.

Khí vận điều hòa, châu thân cấp,

Lục phủ hòa hài như lục long,

Muốn tu trường sinh, kỵ dâm dục,

Ấy đường tử vong, khiến thần khóc,

Hồn vào họa hương sẽ mai một,

Hãy nên hô hấp, bảo thận tinh,

Tinh toàn, tâm diện sẽ quang minh.

Nếu không, sông biển cùng hao cạn,

Lá rụng, cây khô sẽ hết xanh,

Khí vong, dịch lậu, tàn thân hình,

Tồn tinh, bế khí mới trường sinh,

Gìn giữ Nê Hoàn tam kỳ linh,

Điềm đạm, hư vô, tâm quang minh,

Vật vật chẳng phạm, tâm thái bình,

Tất nhiên lão mạo thành tráng đinh,

Hãy đọc Ngọc thư, vào Thượng thanh.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Quỳnh thất chi trung, bát tố tập.

瓊 室 之 中 八 素 集

Quỳnh thất 瓊 室: Một phòng trong Nê Hoàn cung.

Bát tố 八 素: Tám thứ khí.

Nê hoàn có cửu cung: 8 cung bên ngoài là bát tố, hay bát cảnh. Giữa là Thái nhất.[1]

Tập: Tụ hội.

Câu 2. Nê Hoàn phu nhân đương trung lập.

泥 丸 夫 人 當 中 立

Nê Hoàn phu nhân 泥 丸 夫 人: Đạo mẫu.

Câu 3. Trường cốc huyền hương nhiễu giao ấp.

長 谷 玄 鄉 繞 交 邑

Tử Hà chép: Trường cốc, huyền tân nhiễu giao ấp 長 谷 玄 津 繞 交 邑.

Trường cốc 長 谷: mũi (Vụ Thành tử giải)

Huyền hương 玄 鄉: thận (Vụ Thành tử giải)

Tử Hà giải Trường cốc Huyền tân 長 谷 玄 津 là những cảnh tiên trong Nê hoàn. Vụ Thành tử giải câu này đại khái là: Khí trời do mũi hô hấp, liên lạc với thận ở phía dưới, chu lưu nuôi dưỡng tạng phủ.

Câu 4. Lục long tán phi, nan phân biệt.

六 龍 散 飛 難 分 別

Lục long 六 龍: (1) Lục khí của lục phủ (Vụ Thành tử giải). (2) Thai tiên (Tử Hà giải)

Câu 5. Trường sinh chí thận phòng trung cấp.

長 生 至 慎 房 中 急

Muốn tu trường sinh, kỵ dâm dục.

Câu 6. Hà vi tử tác, lịnh thần khấp.

何 為 死 作 令 神 泣

Tại sao tạo cho mình cái chết để thần minh phải khóc.

Câu 7. Hốt chi họa hương, tam linh một.

忽 之 禍 鄉 三 靈 歿

Bản Tử Hà: Hốt chi họa hương, tam linh diệt.

忽 之 禍 鄉 三 靈 滅

Hốt chi 忽 之: Mau đi tới.

Họa hương 禍 鄉: họa hoạn.

Tam linh 三 靈: Tam hồn (Sảng linh 爽 靈, Thai quang 胎 光, U linh 幽 靈).

Một 歿: Mất, mai một.

Câu 8. Đãn đương hấp khí lục tử tinh.

但 當 吸 氣 錄 子 精

Bản Tử Hà: Đãn đương hấp khí, luyện tử tinh.

但 當 吸 氣 鍊 子 精

Lục 錄: Thu góp.

Tử tinh 子 精: Tinh của Anh, của Bạn.

Câu 9. Thốn điền, xích trạch khả trị sinh.

寸 田 尺 宅 可 治 生

Thốn điền 寸 田: Nhất thốn chi đơn điền.

Xích trạch 尺 宅: Nhất xích chi an trạch, cũng là đan điền (Tử Hà giải). Xích trạch cũng có nghĩa là mặt.

Câu 10. Nhược đương quyết hải, bách độc khuynh.

若 當 決 海 百 瀆 傾

Bản Tử Hà: Nhược đương hải quyết, bách độc khuynh.

若 當 海 決 百 瀆 傾

Quyết 決: Khơi, tháo vỡ.

Quyết hải 決 海: Bể bị khơi tháo

Bách độc khuynh 百 瀆 傾: Trăm cái ngòi lạch đều bị khuynh đảo.

Câu 11. Diệp khứ, thụ khô, thất thanh thanh.

葉 去 樹 枯 失 青 青

Bản Tử Hà: Diệp lạc, thụ khô, thất thanh thanh.

葉 落 樹 枯 失 青 青

Câu 12. Khí vong, dịch lậu, phi kỷ hình.

氣 亡 液 漏 非 己 形

Bản Tử Hà: Khí vong, dịch lậu phi kỷ hành.

氣 亡 液 漏 非 己 行

Khí vong, dịch lậu 氣 亡 液 漏: Khí mất, tân dịch (nước miếng) lậu tiết.

Phi kỷ hình 非 己 形: Không còn phải là hình dáng mình nữa.

Câu 13. Chuyên bế ngự cảnh nãi trường ninh.

專 閉 御 景 乃 長 寧

Chuyên bế ngự cảnh 專 閉 御 景: Tránh chuyện trai gái. (Bế ngự nữ chi cảnh 閉 御 女 之 景).

Câu 14. Bảo ngã Nê Hoàn, Tam kỳ linh.

保 我 泥 丸 三 奇 靈

Tam kỳ linh 三 奇 靈: Tinh khí thần (Tử Hà giải)

Câu 15. Điềm đạm bế thị, nội tự minh.

恬 淡 閉 視 內 自 明

Bản Tử Hà: Điềm đạm nhàn quan nội tự minh.

恬 淡 閑 觀 內 自 明

Bế thị 閉 視: Nhắm mắt để nội quan.

Câu 16. Vạn vật bất can, thái nhi bình.

物 物 不 干 泰 而 平

Vật vật bất can 物 物 不 干: Vật vật không can phạm.

Câu 17. Khác hĩ, phỉ sự, lão phục đinh.

愨 矣 匪 事 老 復 丁

Bản Tử Hà: Sầu hĩ, phỉ sự, lão phục đinh.

愁 矣 匪 事 老 復 丁

Khác 愨: Thành thực, thực sự, thật ra.

Tử Hà giải: Người ta thường nói già là buồn, nhưng việc gì mà buồn.

Câu 18. Tư vịnh Ngọc thư, nhập Thượng thanh.

思 詠 玉 書 入 上 清

Ngọc thư 玉 書: Huỳnh Đình kinh.

Thượng thanh 上 清: Một cung trời; một cung trong đầu.

D. BÌNH GIẢNG

Tử Hà cho rằng chương này dạy người con đường trường sinh. Ngoại Cảnh (Bản Tử Hà) tóm lại chương này bằng chín câu sau đây. Kể cũng là trường hợp hãn hữu:

Cung khuyết chi trung, ngũ thái tập,

闕 之 中 五 釆 集

Xích thần chi tử, trung trì lập.

赤 神 之 子 中 池 立

Hạ hữu Trường Thành, Huyền cốc ấp,

下 有 長 城 玄 谷 邑

Trường sinh yếu diệu phòng trung tiếp. (Ch. 7)

長 生 要 妙 房 中 接

Khí quyên dâm dục, chuyên tử tinh,

棄 捐 淫 欲 專 子 精

Thốn điền, xích trạch khả trị sinh,

寸 田 尺 宅 可 治 生

Hệ tử trường lưu, tâm an ninh,

繫 子 長 流 心 安 寧

Quan chí, du thần tam kỳ linh,

觀 志 遊 神 三 奇 靈

Nhàn hạ vô sự tâm thái bình. (Ch. 8)

閑 暇 無 事 心 太 平

Phương pháp trường sinh cốt nhất là: Đem được Nguyên thần trở về Thiên cốc. Tính Mệnh Khuê chỉ viết: Thiên cốc Nguyên thần thủ chi tự chân.[2] Qui tụ được Tam hoa (Thần khí tinh), Ngũ khí (kim mộc thủy hỏa thổ) Bát tố (Bát cảnh, bát quái) về Thiên cốc Nê hoàn.

Người xưa gọi thế là:

– Tam hoa qui đỉnh,                   
三 華 歸 頂

– Ngũ khí triều nguyên,             
五 氣 朝 元

– Hỗn hữu linh ư Thiên cốc,     
混 有 靈 於 天 谷

– Lý ngũ khí ư Nê hoàn,[3]       
理 五 氣 於 泥 丸

– Tứ tượng ngũ hành, toản thốc nhất đỉnh.
四 象 五 行 攢 簇 一 頂.[4]

Huỳnh Đình kinh gọi thế là:
Quỳnh thất chi trung bát tố tập
瓊 室 之 中 八 素 集.

Giữ cho Nguyên thần luôn hiển hiện trong đầu não mình. Tính Mệnh Khuê chỉ viết:

Nhất điểm tối sơ chân chủng tử,           
一 點 最 初 真 種 子

Nhập đáo đan điền, vạn cổ xuân.[5]   
入 到 丹 田 萬 古 春

Hay: Tử dục trường sinh, bão nhất đương minh.[6] 
子 欲 長 生 抱 一 當 明

Sao Kiểu động chương [7] 敲 蹻 洞 章 cũng cho rằng: Sau khi đã biết «Thái thủ qui thù» 采 取 歸 渞 (hái thuốc đem về nguồn) sau khi đã trăm ngày nhũ bộ, sau khi khí mãn, tinh doanh, thần khí như nhất thì:

– Tiên thiên phát hiện 先 天 發 現 (Lão)

– Hạo nhiên chi khí phát hiện 浩 然 之 氣 發 現 (Nho)

– Bồ đề chủng tử phát hiện 菩 提 種 子 發 現 (Phật giáo)

– Tiên thiên nghiệt sinh 先 天 生(Lão giáo)

Huỳnh Đình kinh gọi thế là: Nê Hoàn phu nhân đương trung lập. 泥 丸 夫 人 當 中 立 (câu 1, 2, 3, 4).

Hầu như toàn chương 21 này chỉ nói tới vấn đề quan trọng này: Muốn tu đạo, tu chân, tu trường sinh cần xa lánh sắc dục, bảo toàn tinh dịch (các câu 5 đến 13).

Muốn tu đạo phải:

– bảo toàn tinh khí thần (câu 14);

– phải giữ cho tâm thái hòa (câu 15, 16);

– phải đọc Huỳnh Đình kinh (câu 18).

Giữ được vậy, lo gì mà không thấy mình cải lão hoàn đồng (câu 16).

————————–

[1] Xem Tử Hà chú; Thành tử chú, nơi chương 23, tr. 17b.

[2] Tính Mệnh Khuê chỉ, quyển Lợi tr. 9b.

[3] Tính Mệnh Khuê chỉ, quyển Lợi, tr. 10a.

[4] Tính Mệnh Khuê chỉ, tr. 10a.

[5] Tính Mệnh Khuê chỉ, quyển Lợi, tr. 4b.

[6] Tính Mệnh Khuê chỉ, quyển Lợi tr. 9b.

[7] Xao Kiểu động chương 敲 蹻 洞章, quyển thượng, tr. 25.

CHƯƠNG 22

THƯỜNG NIỆM

常 念

A. KINH VĂN

1. Thường niệm tam phòng tương thông đạt,

常 念 三 房 相 通 達

2. Động đắc thị kiến vô nội ngoại,

洞 得 視 見 無 內 外

3. Tồn thấu ngũ nha, bất cơ khát,

存 漱 五 牙 不 饑 渴

4. Thần hoa chấp cân, Lục đinh yết,

神 華 執 巾 六 丁 謁

5. Cấp thủ tinh thất vật vọng tiết,

急 守 精 室 勿 妄 泄

6. Bế nhi bảo chi khả trường hoạt,

閉 而 寶 之 可 長 活

7. Khởi tự hình trung sơ bất khoát,

起 自 形 中 初 不 闊

8. Tam quan cận tại dị ẩn quát,

三 官 近 在 易 隱 括

9. Hư vô tịch tịch không trung tố,

虛 無 寂 寂 空 中 素

10. Sử hình như thị bất đương ô,

使 形 如 是 不 當 污

11. Cửu thất chính hư thần minh xá,

九 室 正 虛 神 明 舍

12. Tồn tư bách niệm thị tiết độ,

存 思 百 念 視 節 度

13. Lục phủ tu trị vật lịnh cố,

六 府 修 治 勿 令 故

14. Hành tự cao tường, nhập thiên lộ.

行 自 翱 翔 入 天 路

B. LƯỢC DỊCH

Thường niệm, xoang não đều thông đạt,

Tầm nhìn bao quát không trong ngoài,

Nguyên khí qui căn, hết cơ khát,

Tâm thần nghiễm nghiên, Lục đinh yết,

Giữ sao tinh dịch kiên chẳng tiết,

Chắt chiu tinh khí, sẽ trường hoạt.

Điều tâm, sử khí, người khinh khoát,

Chư thần trong thần sẽ phù bật,

Thân trung hư tịch như giải lụa,

Căng giữa khung trời, không bợn nhơ,

Đầu não hư tĩnh, thần minh ngự,

Tồn tâm chiêm ngưỡng, thần vô số,

Lục phủ điều hòa cho tiết độ,

Lãng đãng gót tiên, vào thiên lộ …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Thượng niệm tam phòng tương thông đạt.

常 念 三 房 相 通 達

Tam phòng 三 房: (1) Minh đường 三 堂, Động phòng 洞 房, Đan điền 丹 田 (Vụ Thành tử); (2) Huỳnh đình 黃 庭, Nguyên hải 元 海, Đan điền 丹 田 (Tử Hà).

Thường niệm 常 念: Luôn luôn nghĩ tưởng tới.

Câu 2. Động đắc thị kiến, vô nội ngoại.

洞 得 視 見 無 內 外

Bản Tử Hà: Động thị đắc kiến vô nội ngoại.

洞 視 得 見 無 內 外

Động đắc thị kiến 洞 得 視 見: Sẽ có một cái nhìn khoáng đại, động triệt, viên dung.

Câu 3. Tồn thấu ngũ nha bất cơ khát.

存 漱 五 牙 不 饑 渴

Tồn thấu 存 漱: Nuốt và giữ gìn.

Ngũ nha 五 牙: Ngũ khí 五 氣, ngũ hành chi sinh khí 五 行 之 生 氣.

Ngoại cảnh đổi câu này thành: Thường niệm Thái thượng bất cơ khát 常 念 太 上 不 饑 渴. Ta biết Thái thượng là thần Vị 胃, thần Trung Ương, cũng tương đương như khi nói: Thường niệm Thái cực bất cơ khát, nên câu trên Tung Ẩn Tử bình:

Thời thời giác chiếu,                 時 時 覺 照

Niệm niệm hiện trung,              念 念 現 中

Tự nhiên tâm tử thần hoạt,     自 然 心 死 神 活

Nhi vô cơ khát chi ngu.[1]       而 無 饑 渴 之 虞

Câu 4. Thần hoa chấp cân, Lục đinh yết.

神 華 執 巾 六 丁 謁

Thần hoa 神 華: Nguyên thần 元 神.

Lục đinh 六 丁: Lục đinh âm thần 六 丁 陰 神.

(1) Đinh Sửu thần 丁 丑 神: Triệu Tử Ngọc 趙 子 玉. Ngọc Nữ: Thuận Khí 順 氣.

(2) Đinh Mão thần 丁 卯 神: Tư Mã Khanh 司 馬 卿. Ngọc Nữ: Túc Viết Chi 足曰之.

(3) Đinh Tị thần 丁 巳 神: Thôi Cự Khanh 崔 巨 卿. Ngọc Nữ: Khai Tâm 開 心.

(4) Đinh Mùi thần 丁 未 神: Thạch Thúc Thông 石 叔 通. Ngọc Nữ: Ký Phòng 寄 房.

(5) Đinh Dậu thần 丁 酉 神: Tang Văn Công 臧 文 公. Ngọc Nữ: Đắc Hỉ 得 喜.

(6) Đinh Hợi thần 丁 亥 神: Trương Văn Thông 張 文 通. Ngọc Nữ: Tào Phiêu Chi 曹 漂 之.

Câu 5. Cấp thủ tinh thất, vật vọng tiết.

急 守 精 室 勿 妄 泄

Tinh thất 精 室: Nơi chứa tinh.

Tiết 泄: Phát tiết ra.

Vọng tiết 妄 泄: Phát tiết ra bừa bãi.

Câu 6. Bế chi, bảo chi khả trường hoạt.

閉 而 寶 之 可 長 活

Bế 閉: đóng. Bảo 寶: Chắt chiu, quí báu.

Trường hoạt 長 活: Sống lâu.

Câu 7. Khởi tự hình trung, sơ bất khoát.

起 自 形 中 初 不 闊

Tử Hà giải hình trung 形 中 là Hội âm mạch 會 陰 脈 (huyệt Hội âm 會 陰). Vụ Thành tử giải: Điều tâm sử khí, vi diệu vô hình 調 心 使 氣 微 妙 無 形.

Câu 8. Tam quan cận tại, dị ẩn quát.

三 官 近 在 易 隱 括

Bản Tử Hà: Tam cung cận tại, dị ẩn quát.

三 宮 近 在 易 隱 括

Vụ Thành tử giải Tam quan 三 官 là Tam đan điền chi chân quan 三 丹 田 之 真 官 (ba vị quan nơi ba đan điền). Ẩn quát 隱 括: Âm thầm bảo vệ tinh khí (Ẩn quát tinh khí 隱 括 精 氣).[2]

Câu 9 – 10. Hư vô tịch tịch không trung tố,

虛 無 寂 寂 空 中 素

Sử hình như thị bất đương ô.

使 形 如 是 不 當 污

Theo Vụ Thành tử, hai câu này có hai cách hiểu: 1/ Khiến cho thân thể thanh tịnh, như lụa nõn căng giữa trời. 2/ Giữ cho trong lòng hư không, như lụa nõn, hư tĩnh đương nhiên, không vấn vương phàm sự (sự việc phàm trần).[3]

Câu 11. Cửu thất chính hư thần minh xá.

九 室 正 虛 神 明 舍

Cửu thất 九 室: Cửu cung nơi đầu.

Chính hư 正 虛: Hư tĩnh, chính trực.

Câu 12. Tồn tư bách niệm thị tiết độ.

存 思 百 念 視 節 度

Tồn tưởng như có bách thần trong con người.

Câu 13. Lục phủ tu trị vật lịnh cố.

六 府 修 治 勿 令 故

Bản Tử Hà: Lục tạng tu trị vật lịnh cố.

六 臟 修 治 勿 令 故

Lục phủ hay lục tạng nơi đây đều được giải là Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, Đởm.

Câu 14. Hành tự cao tường nhập thiên lộ.

行 自 翱 翔 入 天 路

Bản Tử Hà: Hành tự cao tường nhập vân lộ.

行 自 翱 翔 入 雲 路

Cao tường 翱 翔: Bay lượn.

D. BÌNH GIẢNG

Theo Tử Hà, chương này chú trọng công phu: Thủ trung bão nhất 守 中 抱 一.

Huỳnh Đình ngoại cảnh tóm chương này như sau:

Thường tồn Ngọc phòng, thần minh đạt,

常 存 玉 房 神 明 達

Thời niệm Thái Thượng, bất cơ khát.

時 念 太 上 不 饑 渴

Dịch sử Lục đinh, ngọc nữ yết,

役 使 六 丁 玉 女 謁

Bế tử tinh hộ, khả trường hoạt. (Chương 9)

閉 子 精 戶 可 長 活

Chính thất chi trung Thần sở cư,

正 室 之 中 神 所 居

Tẩy tâm tự trị vô cảm ố,

洗 心 自 治 無 敢 污

Lịch quan ngũ tạng, thị tiết độ,

歷 觀 五 臟 視 節 度

Lục phủ tu trị, khiết như tố,

六 府 修 治 潔 如 素

Hư vô tự nhiên đạo chi cố. (Chương 10)

虛 無 自 然 道 之 固

Theo lời bình của Tử Hà và theo Huỳnh Đình ngoại cảnh, ý tưởng nơi chương này hiện ra rất rõ ràng:

Biết được rằng có Trời ngự trị trong Tâm linh mình, luôn muốn sống phối kết với Trời, với Đạo, với Thái Thượng nơi tâm não mình, đó là đạt đạo, đạt đích. (Các câu 1, 2, 3, 4).

Lúc ấy sẽ có cái nhìn viên dung, toàn mãn. Lúc ấy sẽ sai sử được chư thần Lục đinh. Cần phải giữ cho lòng thanh khiết, tinh vi như tấm lụa trắng. Đạo Nho gọi thế là Tư vô tà. (Các câu 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12).

Lại cũng phải giữ gìn cho lục phủ ngũ tạng được thái khang, thanh tĩnh (Các câu 12, 13).

Đó chính là con đường tu tiên, tu đạo. (Câu 14).

—————————

[1] Tung Ẩn Tử, Huỳnh Đình ngoại cảnh, tr. 17.

[2] Vụ Thành tử giải: vị tam đan điền chân quan, cận tại nhân thân, ẩn quát tinh khí, thường dĩ tâm vi quân chủ giả dã 謂 三 丹田 真 官, 近 在 人 身, 隱 括 精 氣, 常 以 心 為 君 主 者 也 (Ý nói ba vị chân quan ở ba đan điền, gần ngay thân người, âm thầm bảo vệ tinh khí của người, thường xem tim là bậc vua chúa).

[3] Sử hình khinh tịnh, như huyền kiêm tố ư không trung dã. Hựu vân thân trung hư không, sử như khí chi luyện tố, hư tĩnh đương nhiên. Ô vị hữu kỳ sự dã. 使 形 輕 淨, 如 懸 縑 素 於 空 中 也. 又 云 身 中 虛 空, 使 如 氣 之 煉 素, 虛 靜 當 然. 污 謂 有 其 事 也.

—————————

CHƯƠNG 23

TRỊ SINH

治 生

A. KINH VĂN

1. Trị sinh chi đạo liễu bất phiền,

治 生 之 道 了 不 煩

2. Đản tu Đỗng Huyền dữ Ngọc Thiên.

但 修 洞 玄 與 玉 篇

3. Kiêm hành hình trung bát cảnh thần,

兼 行 形 中 八 景 神

4. Nhị thập tứ chân xuất tự nhiên,

二 十 四 真 出 自 然

5. Cao củng vô vi hồn phách an,

高 拱 無 為 魂 魄 安

6. Thanh tĩnh thần hiện dữ Ngã ngôn,

清 靜 神 見 與 我 言

7. An tại tử phòng vi mạc gian,

安 在 紫 房 幃 幙 間

8. Lập tọa thất ngoại tam ngũ huyền,

立 坐 室 外 三 五 玄

9. Thiêu hương, tiếp thủ Ngọc hoa tiền,

燒 香 接 手 玉 華 前

10. Cộng nhập thái thất tuyền ki môn.

共 入 太 室 璇 璣 門

11. Cao nghiên điềm đạm đạo chi viên,

高 研 恬 淡 道 之 園

12. Nội thị mật phán, tận đổ chân,

內 視 密 盼 盡 睹 真

13. Chân nhân tại kỷ mạc vấn lân,

真 人 在 己 莫 問 鄰

14. Hà xứ viễn sách cầu nhân duyên.

何 處 遠 索 求 因 緣

B. LƯỢC DỊCH

Cái phép dưỡng sinh chẳng tần phiền,

Chỉ tu Động Huyền với Ngọc Thiên,

Kiêm hành hình trung bát cảnh thần,

Điều hòa chân khí cho tự nhiên,

Siêu tuyệt vô vi, thần hồn an,

Thanh tĩnh, thần hiện cùng ta bàn,

Ngự tại tử phòng, óc não gian,

Đứng, ngồi bên ngoài dăm ba thần,

Đốt hương, tiếp tay, tại mục tiền,

Cùng vào Thái thất, Tuyền ky môn,

Điềm đạm hư vô, chơi vườn Đạo,

Phản quang nội chiếu, sẽ thấy Thần,

Thần tại lòng ta, gần thật gần,

Còn phải đi đâu, hỏi với thăm.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Trị sinh chi đạo liễu bất phiền.

治 生 之 道 了 不 煩

Bản Tử Hà: Trị sinh chi đạo bất khả phiền.

治 生 之 道 不 可 煩

Đạo trị sinh cốt tại vô vi 無 為, thanh giản 清 簡.

Câu 2. Đãn tu Đỗng Huyền dữ Ngọc Thiên.

但 修 洞 玄 與 玉 篇

Đỗng Huyền 洞 玄: Đỗng Huyền Linh Bảo.

Ngọc Thiên 玉 篇: Huỳnh đình.

Câu 3. Kiêm hành hình trung bát cảnh thần.

兼 行 形 中 八 景 神

Bát cảnh thần 八 景 神: Ngọc Vĩ kinh 玉 緯 經 nói: Ngũ tạng có Bát quái đại thần, bảo vệ thần Thái nhất.[1] Bát quái đại thần tức là Bát cảnh thần.

Câu 4. Nhị thập tứ chân xuất tự nhiên.

二 十 四 真 出 自 然

Nhị thập tứ chân 二 十 四 真: Nhị thập tứ khí trong người. Tử Hà cho rằng: Nhị thập tứ chân là Lục căn, Bát thức, tam hồn, thất phách; hoặc 24 vị thần nơi con người.

Theo Tử Hà, trong thân người có Tam bộ. Mỗi bộ có Bát cảnh thần. Tổng cộng là 24. Tử Hà có ghi lại tên 24 vị thần trong 3 bộ đó. Nơi đây tôi không chép lại.

Vụ Thành tử giảng khác với Tử Hà.[2]

Câu 5. Cao củng vô vi thần hồn an.

高 拱 無 為 魂 魄 安

Tử Hà giải Cao củng vô vi là tập hợp các vị thần về Nê Hoàn. Vụ Thành Tử giải câu này là: Hành vong tọa vong 行 忘 坐 忘, ly hình khứ trí 離 形 去 智. Cao củng Vô vi như vậy là nhập đại định.

Câu 6. Thanh tĩnh thần hiện dữ ngã ngôn.

清 靜 神 見 與 我 言

Vụ Thành Tử giải, nếu có thể thanh, có thể tĩnh, thời Tâm thần sẽ hiện ra.[3] Tử Hà giải Thanh tĩnh thần là Đạo tâm 道 心, là thần Thanh Tĩnh.

Câu 7. An tại Tử phòng, vi mạc gian.

安 在 紫 房 幃 幙 間

Bản Tử Hà: An tại Tử phủ vi mạc gian.

安 在 紫 府 幃 幙 間

Tử Phủ 紫 府: Nê Hoàn, tức là Quỳnh thất.

Vi mạc 幃 幙: Màn che trướng rủ.[4]

Câu 8. Lập tọa thất ngoại tam ngũ huyền.

立 坐 室 外 三 五 玄

Tam ngũ 三 五 là Tam gia:

Đông tam Nam nhị đồng thành ngũ, (3+2=5)

東 三 南 二 同 成 五

Bắc Nhất Tây phương Tứ cộng chi (1+4=5)

北 一 西 方 四 共 之

Mậu kỷ tự cư sinh sổ Ngũ (Mậu kỷ trung cung: 5)

戊 己 自 居 生 數 五

Tam gia tương kiến kết Anh nhi.

三 家 相 見 結 嬰 兒

Vụ Thành tử giải là tam điền ngũ tạng (3 đan điền và ngũ tạng).[5]

Câu 9. Thiêu hương tiếp thủ ngọc hoa tiền.

燒 香 接 手 玉 華 前

Ngọc hoa 玉 華: là Thiên đình 天 庭 ở giữa hai chân mày (lưỡng mi gian 兩 眉 間).[6]

Câu 10. Cộng nhập Thái thất, Tuyền ky môn.

共 入 太 室 璇 璣 門

Chư thần cùng vào Nê Hoàn cung, tức là Tử phủ, Thái Thất, Lay Tuyền Ky môn (Tuyền Ky là Trung khu Bắc cực).

Câu 11. Cao nghiên điềm đạm đạo chi viên.

高 研 恬 淡 道 之 園

Bản Tử Hà: Cùng nghiên điềm đạm Đạo chi viên.

窮 研 恬 淡 道 之 園

Cũng như Đạo Đức kinh nói: Trí hư cực, thủ tĩnh đốc .

Câu 12. Nội thị mật phán tận đổ chân.

內 視 密 盼 盡 睹 真

Bản Tử Hà: Nội thị mật miến, tận đổ chân.

內 視 密 眄 盡 睹 真

Huỳnh Đình luôn đề cao: hồi quang phản chiếu.

Câu 13. Chân nhân tại kỷ, mạc vấn lân.

真 人 在 己 莫 問 鄰

Câu này đúng là ý nói: Trời chẳng xa người.

Câu 14. Hà xứ viễn sách, cầu nhân duyên.

何 處 遠 索 求 因 緣

Cần gì mà phải tìm tòi đâu xa ?

D. BÌNH GIẢNG

Ngoại Cảnh (chương 11) toát lược chương này như sau:

Vật hữu tự nhiên, sự bất phiền,

物 有 自 然 事 不 煩 (như câu 1 Nội Cảnh)

Thùy củng vô vi, thân tự an.

垂 拱 無 為 身 自 安 (như câu 5 Nội Cảnh)

Thể hư vô vật tâm tự nhàn.

體 虛 無 物 心 自 閒 (như câu 5 Nội Cảnh)

Tịch mịch khoáng nhiên khẩu bất ngôn,

寂 寞 曠 然 口 不 言 (như câu 6 Nội Cảnh)

Tu hòa độc lập Chân nhân cung,

修 和 獨 立 真 人 宮 (như câu 7, 8, 9 Nội Cảnh)

Điềm đạm vô dục tồn đức viên.

恬 淡 無 欲 存 德 園 (như câu 11 Nội Cảnh)

Thanh tịnh hương khiết ngọc nữ tồn,

清 淨 香 潔 玉 女 存 (như câu 9 Nội Cảnh)

Tu đức minh thiện đạo chi môn.

修 德 明 善 道 之 門 (như câu 11 Nội Cảnh)

Ý nghĩa chương này như vậy cũng dễ thâu tóm được:

1. Tu đạo, nếu đi đúng đường lối tự nhiên, sẽ giản dị, vì đạo chẳng qua là theo đúng định luật phát triển, tiến hóa tự nhiên mà thôi. (Câu 1-4)

2. Chương này đề cao chủ trương thanh tĩnh, điềm đạm vô, vi, vô dục của đạo Lão (câu 5, 6), và như vậy về phương diện Vô Vi, cũng đã dập theo đúng khuôn mẫu của Đạo Đức Kinh, của Xung Hư Chân kinh, của Nam Hoa Kinh.[7]

3. Nếu chúng ta biết điềm đạm hư tĩnh, nội quan quán chiếu, sẽ thấy Trời chẳng xa người, thần minh đã ở ngay trong tâm thần ta (các câu từ 5 đến 14).

————————-

[1] Vụ Thành tử chú: Ngũ tạng hữu bát quái đại thần túc vệ Thái nhất. Bát sử giả chủ bát tiết nhật. Bát quái hợp Thái nhất vi cửu cung. Bát quái ngoại hữu thập nhị lâu. Lâu vi hầu lung dã. Tề trung vi Thái nhất quân, chủ nhân chi mệnh dã. Nhất danh Trung cực, nhất danh Thái uyên, nhất danh Côn lôn, Đặc xu. Chủ thân trung vạn nhị thiên thần dã. (Ngũ tạng có Bát quái đại thần, bảo vệ Thái nhất. Tám vị này thi hành công việc vào những ngày bát tiết. Bát quái hợp với Thái nhất làm 9 cung. Bên ngoài bát quái có 12 lầu. Lầu là cuống họng. Trong rốn là thần Thái nhất, nắm giữ sinh mệnh con người; còn có tên là: Trung cực, Thái uyên, Con lôn, Đặc xu, làm chủ 12 ngàn vị thần trong thân thể con người) 玉 緯 經 云 : 五 藏 有 八 卦 大 神, 宿 衛 太 一 八 使 者 主 八 節 日. 八 卦 合 太 一 為 九 宮 八 卦 外 有 十 二 樓. 樓 為 喉 嚨也 臍 中 為 太 一 君, 主 人 之 命 也 一 名 中 極, 一 名 太 淵, 一 名 崑 崙, 一 名, 一 名 特 樞. 主 身 中 萬 二 千 神 也 (Bát tiết: Theo Hứa Chỉ Tịnh chú Cảm Ứng Thiên, bát tiết là bốn lập, hai phân, và hai chí. Đó là những ngày mà chư thần tra lục tội lỗi thế nhân 四 立, 二 分. 二 至 叫 八 節. 這 是 諸神 錄 人 罪 過 之 日. Trung Hoa Đạo Học Thông Điển chú: Bát tiết là lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí.)

[2] Vụ Thành tử chú: Thiên hữu nhị thập tứ chân khí, nhân thân diệc hữu chi. Hựu tam đan điền chi sở, tam bát nhị thập tứ chân nhân, giai tự nhiên chi đạo khí dã (Trời có 24 chân khí, con người cũng thế. Lại ở chỗ 3 đan điền, có 3 lần 8 là 24 vị chân nhân, đều là những đạo khí tự nhiên) 天 有 二 十 四 真 氣, 人 身 亦 有 之. 又 三 丹 田 之 所, 三 八 二 十 四 真 人, 皆 自 然 之 道 氣 也.

[3] Vụ Thành tử chú: Năng thanh năng tĩnh, tắc tâm thần tự hiện. Cơ lãm vô ngoại, nhi dữ kỷ ngôn. Tức vị Huỳnh Đình chân nhân. (Có thể thanh, có thể tĩnh thì tâm thần tự hiện. Then chốt xem không nằm ở ngoài mà nói là ở trong thân ta, tức là Huỳnh Đình chân nhân) 能 清 能靜, 則 心 神 自 見. 機 覽 無 外, 而 與 己 言.即 謂黃 庭 真 人.

[4] Vụ Thành tử chú: Tử phòng vi mạc, nhất danh Giáng cung, vị Xích thành trung đồng tử sở an chi xứ. Tồn tư thần, kỳ trạng như thử. (Tử phòng vi mạc còn gọi là Giáng cung, tức là chỗ an cư của vị đồng tử trong Xích thành [tức là thần tim]. Tồn tư vào vị thần này [sẽ thấy] trạng thái của thần như thế) 紫 房 幃 幙, 一 名 絳 宮, 謂 赤 城 中 童 子 所 安 之 處. 存 思 神, 其 狀 如 此.

[5] Vụ Thành tử chú: Vị Bát cảnh cập nhị thập tứ chân thần doanh hộ nhân thân, tắc tam điền ngũ tạng, chân khí điều nhu, vô tai bệnh dã ([Câu này] ý nói thần bát cảnh và 24 chân thần bảo vệ thân thể con người, như thế 3 đan điền, ngũ tạng, và chân khí sẽ điều hoà êm ái; không có tai hoạ bệnh tật gì xảy ra.) 謂 八 景 及 二 十 四 真 神 營 護 人 身, 則 三 田 五 藏, 真 氣 調 柔, 無 災 病 也.

[6] Vụ Thành tử chú: Ngọc hoa tức Hoa cái chi tiền. Vị mi gian Thiên đình dã. Bách thần chi tông nguyên, chân nhân chi quật trạch, tòng diện nhi tồn chi dã (Ngọc hoa ở trước hoa cái, ý nói Thiên đình nằm giữa hai chân mày. Đó là tông nguyên của 100 thần, là chỗ ở của chân nhân, do đó [người tu] từ mặt của mình mà luyện phép tồn thần) 玉 華 即 華 蓋 之 前. 謂 眉 間 天 庭 也. 百 神 之 宗 元, 真 人 之 窟 宅, 從 面 而 存 之 也.

[7] Xem Đạo Đức Kinh, các chương 2, 3, 10, 37, 38, 43, 48, 57, 63, 64. Xem Xung Hư Chân kinh các chương 2, đoạn J, chương 8 đoạn H. Xem Nam Hoa Kinh chương 6, G. 7, F. 10, D. 11 A, DF. 12 A, B. 13, A, B. 15, B. 18, A. 22, H.

CHƯƠNG 24

ẨN ẢNH

隱 影

A. KINH VĂN

1. Ẩn ảnh diệt hình dữ thế thù,

隱 影 滅 形 與 世 殊

2. Hàm khí dưỡng tinh khẩu như chu,

含 氣 養 精 口 如 朱

3. Đới chấp tính mệnh thủ hư vô,

帶 執 性 命 守 虛 無

4. Danh nhập Thượng Thanh tử lục trừ,

名 入 上 清 死 錄 除

5. Tam thần chi lạc do ẩn cư,

三 神 之 樂 由 隱 居

6. Thúc hốt du ngao vô di ưu,

倏 欻 遊 遨 無 遺 憂

7. Vũ phục nhất chỉnh bát phong khu,

羽 服 一 整 八 風 驅

8. Khống giá tam tố thừa thần hà,

控 駕 三 素 乘 晨 霞

9. Kim liễn chính lập tòng ngọc dư,

金 輦 正 立 從 玉 輿

10. Hà bất đăng sơn tụng ngã thư,

何 不 登 山 誦 我 書

11. Uất uất yểu điệu Chân nhân khư,

鬱 鬱 窈 窕 真 人 墟

12. Nhập sơn hà nan, cố trù trừ,

入 山 何 難 故 躊 躇

13. Nhân gian phân phân xú như như …

人 間 紛 紛 臭 帤 如

B. LƯỢC DỊCH

Thao quang ẩn tích, khác với người,

Dưỡng khí, hàm tinh, mặt sáng ngời.

Thành toàn tính mệnh, giữ Hư vô,

Tâm ghi tiên tịch, tử sinh lìa.

Tâm thần linh sảng, nhờ ẩn cư,

Ngao du trời đất lòng phơi phới,

Như mọc cánh tiên, thượng giới du,

Cưỡi gió, nương mây, tùy sở thích,

Kim xa, ngọc liễn sẵn sàng chờ,

Sao không lên núi, tụng Ngọc thư,

Quang cảnh u nhàn, chân nhân cư,

Nhập sơn không khó, sao chần chừ,

Thế tục xông hôi, mùi vải thô …

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Ẩn ảnh diệt hình dữ thế thù.

隱 影 滅 形 與 世 殊

Bản Tử Hà: Ẩn cảnh tàng hình dữ thế thù.

隱 景 藏 形 與 世 殊

Ẩn ảnh diệt hình 隱 影 滅 形: thao quang ẩn tích 韜 光 隱 跡.[1]

Thù 殊: khác. Dữ thế thù 與 世 殊: khác với đời.

Câu 2. Hàm khí dưỡng tinh khẩu như chu.

含 氣 養 精 口 如 朱

Khẩu như chu 口 如 朱: Môi đỏ như son.

Câu 3. Đới chấp tính mệnh, thủ Hư vô.

帶 執 性 命 守 虛 無

Đới chấp tính mệnh 帶 執 性 命: Đới: Gần. Chấp: Cầm. Đới chấp: Chắt chiu, tu luyện.

Tính 性: Thần. Mệnh 命: Hình.

Thủ Hư vô 守 虛 無: Hư tĩnh 虛 靜, điềm đạm 恬 淡, tịch mịch vô vi 寂 寞 無 為 (Vụ Thành tử chú).

Câu 4. Danh nhập Thượng Thanh, tử lục trừ.

名 入 上 清 死 錄 除

Danh nhập Thượng Thanh 名 入 上 清: Danh được ghi vào tiên tịch. Tử lục trừ 死 錄 除: Xóa tên khỏi sổ tử.

Câu 5. Tam Thần chi lạc do ẩn cư.

三 神 之 樂 由 隱 居

Tam Thần 三 神: Thần của ba đan điền. Lạc 樂: Vui.[2]

Câu 6. Thốc hốt du ngao, vô di ưu.

倏 欻 遊 遨 無 遺 憂

Thốc hốt 倏 欻: Mau lẹ (tật phát 疾 發). Có người giải thốc hốt là tên một loại rồng.

Du ngao 遊 遨: Rong chơi.

Vô di ưu 無 遺 憂: Không để sót lại sự ưu sầu.

Câu 7. Vũ phục nhất chỉnh bát phong khu.

羽 服 一 整 八 風 驅

Vũ phục 羽 服: Phẩm phục của tiên.[3]

Nhất chỉnh 一 整: Một khi đã tề chỉnh. Bản Tử Hà: Nhất chẩn.

Bát phong khu 八 風 驅: Gió của tám phương sẽ quét dọn đường cho ta đi (bát phương chi phong, tiên khu, tảo lộ dã 八 方 之 風, 仙 驅, 掃 路 也).

Câu 8. Khống giá tam tố, thừa thần hà.

控 駕 三 素 乘 晨 霞

Khống giá tam tố 控 駕 三 素: Cưỡi làn khí nhẹ.

Thừa thần hà 乘 晨 霞: Cưỡi áng mây buổi sáng.

Câu 9. Kim liễn, chính lập tòng ngọc dư.

金 輦 正 立 從 玉 輿

Thần tiên cưỡi xe vàng kiệu ngọc đi chơi.

Câu 10. Hà bất đăng sơn tụng ngã thư.

何 不 登 山 誦 我 書

Tại sao không lên núi tụng Huỳnh đình.

Câu 11. Uất uất yểu điệu chân nhân khư.

鬱 鬱 窈 窕 真 人 墟

Bản Tử Hà: Uất uất, yểu yểu chân nhân khư.

鬱 鬱 窈 窈 真 人 墟

Uất uất yểu điệu 鬱 鬱 窈 窕: U tịch; đẹp đẽ.

Khư 墟: Đồi núi, vực.

Câu 13. Nhập sơn hà nan cố trù trừ.

入 山 何 難 故 躊 躇

Vào núi có khó chi sao còn ngần ngừ.

Câu 14. Nhân gian phân phân xú như như.

人 間 紛 紛 臭 帤 如

Bản Tử Hà: Nhân gian phân phân xú như noa.

Nhân gian phân phân 人 間 紛 紛: Thế gian rắc rối, không thể ở được (nhân gian thế bất khả cư 人 間 世 不 可 居).

Xú như như 臭 帤 如: Hôi như mùi vải lụa thô. Như 帤: vải lụa thô (tệ ố chi bạch 弊 惡 之 帛).

D. BÌNH GIẢNG

Chương này mục đích đề cao sự lánh trần để tu đạo.

Huỳnh Đình kinh dứt khoát khuyên nên vào núi ẩn cư để dễ bề tu luyện. (Các câu 1, 5, 10, 11, 12, 13).

Có thể nói đó là một cổ tục ở Trung Hoa cũng như ở Ấn độ. Tư tưởng này phát sinh vì nhiều lý do:

1. Đạo sĩ phải lánh trần duyên mới dễ bề tu luyện.[4]

2. Đạo sĩ phải thao quang ẩn tích. (Đạo Đức Kinh, ch. 54).

3. Đạo Lão chủ trương muốn tu trì cần 4 điều kiện: Pháp 法: Khẩu quyết, Tài 財: Tiền nong, Lữ 侶: Bè bạn, Địa 地: Nơi tu trì.

4. Chính vì vậy mà những đạo sĩ khi đã biết được khẩu quyết tu trì do chân sư truyền dạy, đã vào rừng vào núi tu luyện.

5. Tuy nhiên không phải bạ rừng núi nào cũng đến ở, mà chọn những chốn gọi là Động thiên, phúc địa, những nơi “địa linh”. Người xưa đã kinh nghiệm rằng lên núi Không Động, Chung Nam, Vũ Đương, Ngũ Đài, Nam Nhạc chẳng hạn mà tham thiền, sẽ thấy tâm thần thêm hào sảng rất mau.[5]

Thế nào là Động thiên, Phúc địa? Động thiên Phúc địa là những nơi có: Đất màu đỏ; Núi vây, nước uốn; Khí ấm; Thảo mộc bốn bề chầu quanh.[6]

Dựa vào những yếu tố ấy tôi nghĩ rằng Động thiên Phúc địa là những nơi có một từ trường mạnh.

Đất đỏ là đất chứa sắt. Sắt hút giữ được từ trường của đất. Non núi, thảo mộc chầu quanh tỏ ra là có một điểm có tính chất hấp dẫn những sự vật chung quanh. Ở những nơi có từ trường mạnh, uống những nước có chứa nhiều chất sắt sẽ làm cho cơ thể thêm từ lực, khí lực…

Sách Phỏng đạo ngữ lục nơi phần phụ lục (tr. 441-540) có ghi tên các Động thiên, Phúc địa bên Trung Hoa lục địa, phân thành: (1) Thập đại Động thiên 十 大 洞 天; (2) Tam thập lục tiểu động thiên 三 十 六 小 洞 天; (3) Thất thập nhị phúc địa 七 十 二 福 地.

Huỳnh Đình ngoại cảnh tuy cũng chủ trương: Ngoại bất tham cầu, nội vô phiến loạn, nhưng không chủ trương vào núi tu trì một cách cực đoan ráo riết như Huỳnh Đình nội cảnh, Ngoại Cảnh (chương 12) chỉ viết:

Tác đạo du ưu, thâm độc cư,

作 道 游 憂 深 獨 居

Phù dưỡng tính mệnh, thủ hư vô,

扶 養 性 命 守 虛 無

Điềm đạm vô vi, hà sở lự,

恬 淡 無 為 何 所 慮

Vũ dực dĩ thành (Mậu kỷ) chính phù sơ,

羽 翼 已 成 正 扶 疏

Trường sinh cửu thị, nãi phi khứ.

長 生 久 視 乃 飛 去

Đạo Đức kinh thì chỉ chủ trương: «Hòa quang đồng trần»和 光 同 塵 (hòa mình với quần chúng) [chương 54], «Bị hạt hoài ngọc» 被 褐 懷 玉 (mặc áo rách bên ngoài, mà trong người có ngọc) [chương 70]. Thế nghĩa là làm sao để người khỏi ghen, khỏi hại và để khinh khoát dễ bề tu luyện, bởi vì tình đời là: Rùa chết vì vỏ, chim chết vì lông (Qui vong dĩ xác, thúy tử dĩ mao 龜 亡 以 殼 翠 死 以 毛). Lão Trang nguyên thủy như vậy không chủ trương bỏ vợ lìa con, vào núi vào non tu luyện.

 Sau này ta mới thấy có nhiều đạo sĩ chủ trương dứt khoát vào núi tu luyện. Trương Tam Phong 張 三 丰 chẳng hạn tu ở núi Vũ Đương 武 當.[7] Châm Thạch Tử 針 石 子 tu luyện ở vùng núi Cơ Long 基 隆.[8] Trương Tam Phong viết:

Tiềm thân nhai hác, duy úy nhân tri,

潛 身 崖 壑 惟 畏 人 知

Nhân sở tham giả ngã bất tham,

人 所 貪 者 我 不 貪

Ngã sở đắc giả nhân bất đắc.

我 所 得 者 人 不 得

Tiềm thân non núi, sợ người hay,

Cái người ham muốn, tớ chẳng say,

Tớ có cái mà người chẳng có…[9]

Tuy nhiên, cũng có nhiều đạo sĩ không chấp nhận chủ trương vào núi ẩn tu. Vì thế mà xưa mới có câu: Tiểu ẩn ẩn ư sơn lâm, đại ẩn ẩn ư thị triền 小 隱 隱 於 山 林, 大 隱 隱 於 市 廛 (Kẻ ẩn dật xoàng thì ẩn nơi núi non, người đại ẩn dật thì ẩn nơi thị thành).

Huỳnh Nguyên Cát viết: «Không cần vào núi sâu, ngồi tịnh như cây khô, chỉ cần tĩnh tâm, là có thể giác ngộ… nguyên tắc chung là vậy. Nếu con người có thể tự tĩnh, tự giác, tự thường, sẽ chứng quả bồ đề…» [10]

Ngày nay, chủ trương vào núi ẩn tu đã trở thành lạc hậu. Dù sao chúng ta cũng nên ghi nhận rằng có những vùng núi thanh kỳ có thể bồi dưỡng khí lực cho con người.[11]

Vào núi ẩn cư, đối với người xưa, cốt là để tu luyện. Các thiền sư xưa nhiều vị cũng vào núi non suốt đời:

– Long sơn Hòa thượng 龍 山 和 尚 ẩn cư thâm sơn, không xuống núi.

– Tuệ Trung 彗 中 sau khi đã được Lục tổ truyền tâm ấn, ẩn cư ở Nam Dương 南 陽, Bạch Nhai sơn 白 崖 山, Đảng Tử cốc 黨 子 谷, hơn 40 năm không xuống núi.

– Lợi Tung 利 蹤 ở núi Tử Hồ 子 湖 45 năm không xuống núi.[12]

Huỳnh Đình kinh chủ trương vào núi cốt là để: Tiếp tục công phu tu dưỡng tính mệnh (câu 2, 3); trì tụng Huỳnh Đình (câu 10); ngoại thì vô mưu cầu, nội thì vô phiền loạn (câu 5, 6); bè bạn cùng gió mây (câu 7, 8); ngao du non núi mặc tình (câu 5, 6); hàm tinh dưỡng khí (câu 2); điềm đạm thử hử vô (câu 3). Thế là:

Thoát trần một cõi thiên nhiên (câu 11)

Tấm thân ngoại vật là tiên trên đời (câu 4).

Ta trở lại Huỳnh Đình Ngoại cảnh, sẽ thấy Ngoại cảnh toát lược chương này một cách hết sức thần kỳ:

Tác đạo ưu du, thân độc cư,

作 道 優 游 身 獨 居

Phù dưỡng tính mệnh, thủ Hư vô,

扶 養 性 命 守 虛 無

Điềm đạm vô vi, hà sở lự,

恬 淡 無 為 何 所 慮

Vũ dực dĩ thành chính phù sớ,

羽 翼 已 成 正 扶 疏

Trường sinh cửu thị, nãi phi khứ.[13]

長 生 久 視 乃 飛 去

Lược dịch:

Tác đạo nhàn du, thân độc cư,

Bồi dưỡng tính mệnh, thủ hư vô,

Điềm đạm vô vi, vô tư lự,

Chắt chiu tâm thần, không sơ hở,

Trường sinh cửu thị vào thiên lộ.

——————–

Lý Thiết Quải – Tranh Tề Bạch Thạch

[1] Che bớt ánh sáng và giấu tông tích; ý chỉ của Đạo Đức kinh, chương 7, theo chú của Hà Thượng Công. Vụ Thành tử chú: Học tiên chi sĩ, hàm quang tàng huy, diệt tích nặc đoan (Kẻ học đạo Tiên phải che giấu ánh sáng của mình, xoá bỏ tông tích và giấu manh mối) 學 仙 之 士, 含 光 藏 輝, 滅 跡 匿 端.

[2] Vụ Thành tử chú: Lý thân vô vi tắc thần lạc, lý quốc vô sự tắc nhân an. Tam thần, tam đan điền chi thần dã (Sửa mình vô vi thì thần vui; sửa nước vô sự thì dân an. Tam thần là thần ở ba đan điền) 理 身 無 為 則 神 樂, 理 國 無 事 則 人 安. 三 神, 三丹 田 之 神 也.

[3] Y phục của tiên làm bằng lông vũ chim hạc. Tiên cũng gọi là vũ sĩ 羽 士. Vụ Thành tử chú: Án Thượng Thanh Bảo Văn Tiên Nhân, hữu ngũ sắc vũ y. Hựu Phi Hành Vũ Kinh vân: Thái nhất chân nhân y cửu sắc, phi vân vũ chương, giai thần tiên chi phục dã (Theo Thượng Thanh Bảo Văn Tiên Nhân, có loại vũ y năm màu. Kinh Phi Hành Vũ nói vũ y của Thái nhất chân nhân có chín màu, khi cưỡi mây, lông vũ lấp lánh; nói chung đều là y phục thần tiên) 按 上 清寶 文 仙 人, 有 五 色 羽 衣. 又 飛 行 羽 經 云 : 太 一 真 人 衣 九 色, 飛 雲 羽 章, 皆 神 仙 之 服 也.

[4] Tiên học diệu tuyển, tr. 359: Học đạo hưu thê, biệt tử, khí tài, tửu sắc quyên trừ, phan viên ái niệm vĩnh giáo vô, tuyệt tận ưu sầu tư lự, bất đắc vô minh tạm khởi, tiêu dao vật ngoại nhàn cư, thường thanh thường tĩnh, thị công phu, thứ xưng toàn chân môn hộ. 學 道 休妻, 別 子, 氣 財酒 色 捐 除, 攀 援 愛 念 永 教 無, 絕 盡 憂 愁思 慮, 不 得 無 明 暫 起, 逍 遙 物 外 閒 居, 常 清 常 靜, 是 功 夫, 庶 稱 全 真 門 戶.

[5] Phỏng đạo ngữ lục, tr. 380: Cẩu đắc địa linh tu đạo dị thành. Tương truyền tĩnh tọa ư Không động, Chung Nam, Ngũ Đài, Vũ đương, Nam Nhạc đẳng đại danh sơn, tự nhiên tâm thanh niệm thiểu…苟 得 地靈 修 道 易 成. 相 傳 靜 坐 於 崆 峒, 終 南, 五 台, 武 當, 南 嶽 等 大 名 山, 自 然 心 清 念 少…

[6] Phỏng đạo ngữ lục, tr. 348: Động thiên, Phúc địa giả: Thổ tất xích sắc, sơn hoàn thúy bão, noãn khí dung dung, tứ chu thảo mộc giai hân nhiên triều củng. 洞 天 福 地 者: 土 必 赤 色, 山 環 水 抱, 暖 氣融 融, 四 周 草 木 皆 忺 然 朝 拱.

[7] Tiên học diệu tuyển, tr. 338.

[8] Phỏng đạo ngữ lục, tr. 375.

[9] Huỳnh Đình kinh Ngoại cảnh, Tử Hà chú, tr. 43b.

[10] Bất tất thâm sơn, khô ngột tĩnh tọa, chỉ yêu ngã tâm nhất tĩnh, tự nhiên liễu giác, thường thường như thị, Nhân năng tự tĩnh, tự giác, tự thường, tức khả chứng Vô thượng bồ đề. 不 必 深 山, 枯 兀 靜 坐, 只 要 我 心 一 靜, 自 然 了 覺, 常 常 如 是. 人 能 自 靜, 自 覺, 自 常, 即 可 證 無 上 菩 提. Xem Tiên học diệu tuyển, tr. 314.

[11] Phỏng đạo ngữ lục, tr.370: Phàm niên đăng mạo, điệt, hoặc dương đảo bất cử chi tu sĩ, nghi nhập sơn tĩnh tu, nhiếp thủ sơn lâm trung thanh linh chi khí, thủy khả trục tiệm hồi dương dã. Phàm khí suy, dương nuy giả, nghi ngưng thần Nê Hoàn, dĩ khôi phục kỳ tính chi cơ năng dã. 凡 年 登 耄, 耋, 或 陽 倒 不 舉 之 修 士, 宜 入 山 靜 修, 攝 取 山 林 中 清 靈 之 氣, 始 可 逐 漸 回 陽 也. 凡 氣 衰, 陽 萎 者, 宜 凝 神 泥丸, 以 恢 復 其 性 之 機 能 也. Xem thêm Tiên học diệu tuyển, tr. 180, 299, 342.

[12] Xem Tiên học diệu tuyển, tr. 439.

[13] Huỳnh Đình kinh, Tung Ẩn tử 嵩 隱 子 Thạch Hoà Dương 石 和 陽 thuật.

—————————

CHƯƠNG 25

NGŨ HÀNH

五 行

A. KINH VĂN

1. Ngũ hành tương thôi phản qui Nhất,

五 行 相 推 反 歸 一

2. Tam ngũ hợp khí, cửu cửu tiết.

三 五 合 氣 九 九 節

3. Khả dụng ẩn địa hồi bát thuật,

可 用 隱 地 回 八 術

4. Phục ngưu u khuyết la phẩm liệt.

伏 牛 幽 闕 羅 品 列

5. Tam minh xuất hoa sinh tử tế,

三 明 出 華 生 死 際

6. Động phòng linh tượng đẩu nhật nguyệt,

洞 房 靈 象 斗 日 月

7. Phụ viết: Nê Hoàn, mẫu: Thư Nhất,

父 曰 泥 丸 母 雌 一

8. Nhị quang hoán chiếu nhập tử thất,

二 光 煥 照 入 子 室

9. Năng tồn Huyền chân, vạn sự tất.

能 存 玄 真 萬 事 畢

10. Nhất thân tinh thần, bất khả thất.

一 身 精 神 不 可 失

B. LƯỢC DỊCH

Ngũ hành biến chuyển trở về Một,

Tam ngũ hợp khí, tinh hoa hợp.

Thu hồi Nguyên khí, nhập Thượng Thanh,

Tồn tư đổng kiến, tâm xoang hiện.

Tai mắt mồm miệng phát quang minh,

Não xoang bừng sáng ánh nhật nguyệt.

Não Thần Nê Hoàn hiển uy linh.

Hai vầng Nhật, Nguyệt soi Tâm Thất,

Giữ được Huyền Chân, vạn sự tất,

Tinh thần nơi thân đừng để mắt.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Ngũ hành tương thôi phản qui Nhất.

五 行 相 摧 反 歸 一

Tương thôi 相 摧: (1) Tương sinh và tương khắc (Vụ Thành Tử giải); (2) Tương khắc (Tử Hà giải). Dù sinh, dù khắc vẫn có một biến chuyển vòng tròn:

Khởi từ 1: Ta có: Thủy (1) sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy (1). Thế là từ Một lại trở về Một (chu nhi phục thủy 周 而 復 始).

Thủy (1) khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy (1). Thế là từ Một lại trở về Một. Vì thế tôi giải Tương thôi là biến chuyển.[1]

Phản qui Nhất 反 歸 一: Theo Vụ Thành tử, đó là trở về con số của nước (thủy số 水 數); nó là số đứng đầu ngũ hành, là tổ tông của vạn vật. Đạo Kinh nói: Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Hơn nữa, Dịch có Thái Cực sinh lưỡng nghi. Thái Cực chính là một vậy. Lưỡng nghi là thiên địa. Thiên địa sinh vạn vật. Đến chỗ cùng tận thì trở về một. Một là gọi Vô, là chỗ thành và chung cuộc của vạn vật. Thế mới nói là qui nhất (trở về một).[2]

Câu 2. Tam ngũ hợp khí, cửu cửu tiết.

三 五 合 氣 九 九 節

Tam 三: Tam Tài. Ngũ 五: Ngũ hành. Hợp khí 合 氣: Hòa hợp lại.[3]

Tam Ngũ: Đông 3 + Nam 2 = 5 (một ngũ); Bắc 1 + Tây 4= 5 (hai ngũ); Mậu Kỷ, Trung Cung: 5 (ba ngũ). Tam ngũ hợp nhất: vạn tượng hoàn nguyên.

Cửu cửu tiết 九 九 節: Có thể giải là số Thuần dương 純 陽 (9 x 9 = 81), số túc (hay là phối hợp Cửu cung khí tiết).

Câu 3. Khả dụng ẩn địa hồi bát thuật.

可 用 隱 地 回 八 術

Dịch có Thái Cực ở Trung điểm, Bát quái ở chung quanh. Bát quái là Bát cung, hay Bát tổ. Thái cực sinh Bát quái, Bát quái hoàn qui Thái cực. Người xưa gọi thế là Tạo hóa qui trung chi diệu. Cho nên câu này cũng chỉ cốt dạy lẽ Qui nguyên, Phản bản. Tử Hà giải rằng: đó là Thuật Hoàn đan.

Câu 4. Phục ngưu u khuyết la phẩm liệt.

伏 牛 幽 闕 羅 品 列

Phục ngưu u khuyết 伏 牛 幽 闕: Tàng ý ư sinh thân xứ 藏 意 於 生 身 處 (Tử Hà giải). Giống như Dịch kinh nói: Thoái tàng ư mật 退 藏 於 密. Sinh thân xứ (U khuyết) như vậy là ở Nê Hoàn.[4]

La phẩm liệt 羅 品 列: Mọi sự phơi bày ra.

Hồi quang quán chiếu sẽ thấy vạn tượng tại tâm. Phải thu nhiếp tất cả lại cho hội tụ về Nhất.

Tử Hà giải: Thu la chúng phẩm, trần liệt đan lô 收 羅 眾 品 陳 列 丹 爐 (Gom vạn tượng đa dạng vào trong một lò luyện đan).

Câu 5. Tam minh xuất hoa, sinh tử tế.

三 明 出 華 生 死 際

Bản Tử Hà: Tam nhật xuất hoa, sinh tử tế.

三 日 出 華 生 死 際

Xuất hoa 出 華: Sinh xuất quang hoa 生 出 光 華.

Tam minh 三 明: ở trời là nhật 日 nguyệt 月 tinh 星; ở người là tai 耳, mắt 目, miệng 口; ở đất là văn 文, chương 章, hoa 華.[5]

Sinh tử tế 生 死 際: Vùng tiếp giáp giữa sinh và tử. Tử chỉ cái gì biến thiên. Sinh chỉ cái gì vĩnh cửu. Tử thuộc phần Tâm; Sinh thuộc phần Thần. Có biết đổi chết lấy sống, mới biết chết cái phàm tâm, cho Thần sinh hoạt (Tâm tử thần hoạt 心 死 神 活).

Câu 6. Động phòng linh tượng đẩu, nhật, nguyệt.

洞 房 靈 象 斗 日 月

Trong động phòng (một cung trên Nê Hoàn), có đủ nhật nguyệt, thất tinh Bắc đẩu.[6]

Câu 7. Phụ viết: Nê Hoàn, mẫu Thư Nhất.

父 曰 泥 丸 母 雌 一

Trong Nê Hoàn cung có thần Thái Nhất. Gọi là Thư vì là Tĩnh, vì là Vô cực. Gọi là Nhất vì là Tuyệt đối, là Vô vi.[7]

Câu 8. Nhị quang hoán chiếu nhập tử thất.

二 光 煥 照 入 子 室

Bản Tử Hà: Tam quang hoán chiếu nhập tử thất.

三 光 煥 照 入 子 室

Nhị quang 二 光: Nhật, nguyệt. (Tam quang 三 光: Nhật, Nguyệt, Tinh)

Tử thất 子 室: Nê Hoàn. Hoán chiếu 煥 照: Sáng soi.

Câu 9. Năng tồn Huyền chân vạn sự tất.

能 存 玄 真 萬 事 畢

Bản Tử Hà: Năng tồn Huyền Minh vạn sự tất 能 存 玄 冥 萬 事 畢. Ngoại Cảnh bản Tử Hà viết: Tử năng thủ Nhất vạn sự tất 子 能 守 一 萬 事 畢. Như vậy Huyền Chân hay Huyền Minh đều là Nhất.[8]

Câu 10. Nhất thân tinh thần bất khả thất.

一 身 精 神 不 可 失

Nhất là Tinh Hoa trong con người, đừng để mất.[9]

D. BÌNH GIẢNG

Chương này chủ trương: Qui Nguyên Phản Bản 歸 元 返 本. Sách Đại Đỗng Chân Kinh 大 洞 真 經 toàn bàn về chủ trương này.

Huỳnh Đình Ngoại Cảnh, khi toát lược chương này, đã loại bỏ những ý tưởng phức tạp, khó hiểu của chương này như các câu: 1, 2, 3 v.v… và đã làm nổi bật lên chủ trương:

– Thiên địa vạn vật đồng nhất thể, mặc dầu những hình tướng đa tạp bên ngoài.

– Thu liễm Chân Thần về Nê Hoàn cung chính là công trình phản bản hoàn nguyên.

– Hoàn nguyên sẽ Đắc Nhất. Nhất đó là chí bảo, đã có sẵn trong mình đừng để mất…

Ngoại Cảnh viết:

Ngũ hành sâm si đồng căn tiết,

五 行 參 差 同 根 節

Tam ngũ hợp khế, yếu bản Nhất.

三 五 合 契 要 本 一

Thùy năng cộng chi đẩu nhật nguyệt.

垂 能 共 之 斗 日 月

Bão châu, hoài ngọc, hòa tử thất.

抱 珠 懷 玉 和 子 室

Tử năng thủ Nhất, vạn sự tất.

子 能 守 一 萬 事 畢

Tử tự hữu chi, trì vật thất.

子 自 有 之 持 勿 失

Tử dục bất tử, tàng kim thất. (Bản Tử Hà)

子 欲 不 死 藏 金 室

Chúng ta đã biết Đạo giáo và Triết học Đông phương dựa trên một Nguyên lý căn bản. Đó là:

Vũ trụ này do một Nguyên lý, một Bản thể duy nhất phân hóa. Nguyên lý ấy được gọi bằng nhiều danh hiệu: Vô cực, Hư Vô, Thái cực, Thượng đế, Đạo, Trời, Tiên Thiên nhất khí v.v… Bản thể thì ở Tâm Điểm.

Vạn hữu, vạn tượng thời ở vòng biến thiên bên ngoài. Chiều từ Bản thể ra hiện tượng là chiều Thuận, là chiều phân hóa, là chiều giáng bản, lưu mạt, càng ngày càng trở nên chi ly, phiền tạp, phiến diện, biến thiên. Đó là chiều sinh nhân, sinh vật. Chiều từ Vạn tượng trở về Bản thể là chiều Nghịch, là chiều hội tụ, hòa hài, là chiều Qui căn, phản bản, hay Phản bản, hoàn nguyên, càng ngày càng trở nên thuần nhất, sinh Phật, sinh Thánh sinh Thần. Trong con người cũng một Thái Cực, một Bản thể ấy phân hóa thành:

HAI: Âm – Dương (Thần – Hồn; Thần – Khí; Thiên tâm – Nhân tâm).

BA: Thần – Khí – Tinh (tam tài).

NĂM: Ngũ khí (ngũ tạng; ngũ hành).

Muốn phản bản hoàn nguyên phải qui tụ tất cả lại cho trở về một:

Năm trở về một 五 歸 一: Hợp nhất ngũ khí 五 氣 lại cho thành Tiên thiên nhất khí 先 天 一 氣.

Đại Đỗng chân kinh gọi thế là Ngũ khí dung hòa đại đạo toàn 五 氣 融 和 大 道 全.[10]

Người xưa gọi thế là Ngũ khí triều nguyên 五 氣 朝 元.

Tính Mệnh Khuê Chỉ gọi thế là: Tứ tượng Ngũ hành toản thốc nhất đỉnh 四 象 五 氣攢 簇 一 鼎 hay Lý ngũ khí ư Nê Hoàn 理 五 氣 於 泥 丸.[11]

Ba trở về một 三 歸 一: Hợp nhất tam hoa 三 華 lại cho thành Nhất khí 一 氣.

Người xưa gọi thế là Tam hoa qui đỉnh 三 華 歸 鼎.

Đại Đỗng chân kinh gọi thế là: Cổ luân Tam hoa thành 鼓 輪 三 華 成,[12] Tam hợp vĩnh bất vấn 三 合 永 不 紊,[13] Tam hợp thừa Thiên long 三 合 乘 天 龍.[14]

Hai trở về một 二 歸 一: Hợp nhất thần khí 神 氣 cho thành Thái cực kim đan 太 極 金 丹.

Đại Đỗng chân kinh gọi thế là Âm Dương hợp bão nhi thành thái cực 陰 陽 合 抱 而 成 太 極.[15]

Trong con người, Nguyên thủy tổ khí 原 始 祖 氣hay Tiên thiên nguyên khí 先 天 元 氣 sinh xuất ra muôn vàn hiện tượng được dung chứa trong các xoang não, trong Nê hoàn cung 泥 丸 宮. Vì thế Nê hoàn cung được gọi là Tổ khiếu 祖 竅. Nguyên khí đó được gọi là Sinh thân thụ khí sơ 生 身 受 氣 初.

Cho nên muốn qui tụ ngũ khí, tam hoa, tâm thần, cần phải lấy Nê hoàn làm cứ điểm, làm Trung điểm, Trung cung, chính vì vậy mà Nê hoàn là Đỉnh, là Huỳnh Đình.

Thu thần, tụ khí được về cả Nê hoàn, sẽ đi đến Đại định, mà người xưa gọi là Thai tức, hay nhập Niết bàn. Thế là đắc Trung, đắc Nhất, thế là đan thành, thế là đắc Đạo, thế là phối thiên.

Trở lại chương 25 ta thấy đại ý đó hiển lộ đại khái rằng:

Ngũ hành biến hóa, vạn tượng biến thiên chung qui đều trở về Nhất (Câu 1).

Như vậy cần phải đem Tam hoa, Ngũ khí trở về hiệp nhất lại nơi Động phòng (Các câu 2, 3, 4, 5).

Đem Tâm Thần ngưng tụ về Nê hoàn. (Các câu 7, 8)

Thế là đắc Nhất, đắc Huyền châu theo Trang Tử.

Mà thực ra Nhất, hay thần Trời Đất đã tiềm ẩn sẵn trong ta, ta phải tìm cho ra đừng để mất. Mà bí quyết để tìm cho ra thần Trời Đất, chính là:

– Thủ chi tắc tồn, xả chi tắc vong 守 之 則 存 舍 之 則 亡.

– Phóng chi tắc di lục hạp, quyển chi tắc thoái tàng ư mật 放 之 則 彌 六 合 卷之 則 退 藏 於 密.[16]

– Cầu tắc đắc chi, xả tắc thất chi 求 則 得 之 舍 則 失 之.[17]

– Tán thì tản, Tụ thì ngưng.

Ý tôi muốn nói hai chữ đắc 得, thất 失 đã được tiềm tàng trong hai chữ Tụ 聚 và Tán 散.

Tôi càng đọc Huỳnh Đình càng thấy rõ chủ đích của kinh này là:

Ta phải đem được Thần chân nhất, thần Trời Đất vào ngự trị trong Huỳnh Đình cung, tức là trong Nê hoàn cung, trong đầu não, tâm khảm mình.

Ta có thể quên đi những chi tiết vụn vặt khác của Huỳnh đình chỉ cần nhớ ý chính trên đây là đã quá đủ. Thực đúng là: Năng tồn huyền chân vạn sự tất 能 存 玄 真 萬 事 畢 (Câu 9).

[1] Vụ Thành tử giải: Ngũ hành vị thủy, hỏa, kim, mộc, thổ. Tương thôi giả, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy hựu sinh mộc, chu nhi phục thủy. Hựu tương khắc pháp: thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy hựu khắc hỏa, chu nhi phục thủy, tương thôi chi đạo dã (Ngũ hành là thủy, hỏa, kim, mộc, thổ. Tương thôi nghĩa là thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy hựu sinh mộc, giáp vòng thì trở lại ban đầu. Lại [có nghĩa là] tương khắc: thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy lại khắc hỏa, giáp vòng thì trở lại ban đầu. Đó là lẽ tương thôi vậy) 五 行 謂 水, 火, 金, 木, 土, 相 推 者, 水 生 木, 木生 火, 火 生 土, 土 生 金, 金 生 水, 水 又 生 木, 周 而 復始. 又 相 克 法: 水 克 火, 火 克 金, 金 克 木, 木 克 土, 土 克 水, 水 又 克 火, 周 而 復 始, 相 推 之 道 也.

[2] Phản qui nhất giả, thủy số dã. Ngũ hành chi thủ, vạn vật chi tông. Đạo Kinh vân: Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Hựu Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi. Thái Cực giả, nhất dã. Lưỡng nghi, thiên địa. Thiên địa sinh vạn vật. Hựu chung nhi qui nhất. Nhất giả, vô chi xưng. Vạn vật chi sở thành chung. Cố vân qui nhất. 反 歸 一 者, 水 數 也. 五 行 之 首, 萬 物 之 宗. 道 經 云: 道 生 一, 一 生 二, 二 生 三, 三 生 萬 物. 又 易 有 太 極, 是 生 兩 儀. 太極 者, 一 也. 兩 儀, 天 地. 天 地 生 萬 物. 又 終 而歸 一. 一 者, 無 之 稱. 萬 物 之 所 成 終. 故 云 歸 一.

[3] Vụ Thành tử giải: Huyền Diệu kinh vân: Tam giả, tại thiên vi nhật nguyệt tinh, danh viết tam quang. Tại địa vi châu ngọc kim, danh viết tam bảo. Tại nhân vi nhĩ tỵ khẩu, danh viết tam sinh. Thiên địa nhân phàm tam nhi các hoài ngũ hành, cố viết tam ngũ. Kỳ thường tinh dã. Hợp tam giả vi cửu cung. Phù tam ngũ sở hoài, thuận chúng loại dã. Điều hòa vạn vật, lý hóa âm dương, phúc tải thiên địa, quang minh tứ hải, phong vũ lôi điện, xuân thu đông hạ, hàn thử ôn lương, thanh trọc chi khí, chư sinh chi vật, bất đắc tam ngũ bất lập dã. Cố viết thiên đạo bất viễn, tam ngũ phục phản. Tam ngũ giả, thiên địa chi xu đế, lục hợp chi yếu hội dã. Cửu cung chi khí tiết, cửu cửu bát thập nhất vi nhất chương vân vân. (Kinh Huyền Diệu nói: Số ba, ở trên trời tức là mặt trời, mặt trăng, và ngôi sao, tên là Tam quang. Ở đất đó là hạt châu, ngọc, và vàng, tên là Tam bảo. Ở người đó là tai, mũi, miệng, tên là Tam sinh. Thiên địa nhân, mỗi mỗi đều có ngũ hành ở trong, cho nên mới gọi là Tam ngũ. Chúng luôn tinh ròng. Hợp cả ba lại thành cửu cung. Nói chung, sự bao hàm tam ngũ thuận theo thứ loại. Điều hoà vạn vật, xử lý và chuyển hoá âm dương, chở che trời đất, soi sáng bốn biển, gió mưa sấm chớp, xuân thu đông hạ, lạnh nóng ấm mát, khí nhẹ và nặng, tất cả sinh vật nếu không có tam ngũ thì không đứng vững. Thế mới nói đạo trời không xa, chỉ là sự trở lại tam ngũ. Tam ngũ là then chốt và cội rễ của trời đất, là chỗ hội tụ tất yếu của lục hợp. Khí tiết của cửu cung, 9 lần 9 là 81, gọi là một Chương)

玄 妙 經 云: 三 者, 在 天 為 日 月 星, 名 曰三 光. 在 地 為 珠 玉 金, 名 曰 三 寶. 在 人 為 耳 鼻 口, 名 曰 三 生. 天 地 人 凡 三 而 各 懷 五 行, 故 曰 三 五. 其 常 精 也. 合 三 者 為 九 宮. 夫 三 五 所 懷, 順 眾 類 也. 調和 萬 物, 理 化 陰 陽, 覆 載 天 地, 光 明 四 海, 風 雨 雷 電, 春 秋 冬 夏, 寒 暑 溫 涼, 清 濁之 氣, 諸 生 之 物, 不 得 三 五 不 立 也. 故 曰 天 道 不 遠, 三 五 復 返. 三 五 者, 天 地 之 樞 蔕, 六 合之 要 會 也. 九 宮 之 氣 節, 九 九 八 十 一 為一 章 云 云.

[4] Vụ Thành tử giải: Phục ngưu thận chi tượng. Thận vi U khuyết. Trung Hoàng kinh vân: tả thận vi Huyền Diệu quân, hữu thận vi Huyền Nguyên quân. La phẩm liệt, tồn tư kiến chi (Phục ngưu là tượng trưng cho thận. Thận là U khuyết. Kinh Trung Hoàng nói: Thận trái là Huyền Diệu quân, thận phải là Huyền Nguyên quân. La phẩm liệt nghĩa là tồn tư để nhìn thấy hai vị thần này) 伏 牛 腎 之 象. 腎 為 幽 闕 中 黃 經 云 : 左 腎 為 玄 妙 君, 右 腎 為 玄 元 君. 羅 品 列, 存思 見 之.

[5] Vụ Thành tử chú: Thiên tam minh nhật nguyệt tinh, nhân tam minh nhĩ mục khẩu, địa tam minh văn chương hoa; thị sinh tử chi tế (Trời có tam minh là mặt trời, mặt trăng và sao; người có tam minh là tai, mắt và miệng; đất có tam minh là văn, chương và hoa; đó là ranh giới giữa sống và chết) 天 三 明 日 月 星, 人 三 明 耳 目 口, 地 三 明 文 章 華. 是 生 死 之 際.

[6] Vụ Thành tử chú: Tồn tam quang ư động phòng. Động phòng minh đường (Tồn nhật nguyệt tinh nơi động phòng, tức là nơi minh đường) 存 三 光 於 洞 房. 洞 房 明 堂.

[7] Vụ Thành tử chú: Nhất, minh đường trung hữu quân thần. Động phòng trung hữu phu phụ. Đan điền trung hữu phụ mẫu. Nê hoàn, não thần danh. Đạo kinh vân: Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư. Thư, vô vi, nhất dã (Nhất: trong minh đường có vua tôi, trong động phòng có vợ chồng, trong đan điền có cha mẹ. Nê hoàn là tên của thần Não bộ. Đạo kinh nói: Biết trống, giữ mái. Mái tức là vô vi, là Nhất vậy) 一, 明 堂中 有 君 臣. 洞 房 中 有 夫 婦. 丹 田 中 有 父 母. 泥 丸, 腦 神名. 道 經 云: 知 其 雄, 守 其 雌. 雌, 無 為, 一 也.

[8] Vụ Thành tử chú: Trang Tử viết: thông ư nhất, vạn sự tất dã (Trang Tử nói: Thông hiểu lẽ Một thì mọi việc đều xong) 莊 子 曰 : 通 於 一, 萬 事 畢 也.

[9] Vụ Thành tử chú: Thường tồn niệm chi, bất xả tu du (Thường tồn niệm ở lẽ Một, chớ có xa lìa một giây phút nào) 常 存 念 之 不 捨 須 臾.

[10] Đại Đỗng chân kinh, quyển 1, tr. 3.

[11] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Lợi tr. 10a.

[12] Đại Đỗng chân kinh, q.1, tr. 2b.

[13] Đại Đỗng chân kinh, q.1, tr. 3a

[14] Đại Đỗng chân kinh, q.1, tr. 11a

[15] Đại Đỗng chân kinh, q.1, tr. 4b. Chú thích.

[16] Trung Dung, Tựa.

[17] Mạnh tử, Tận tâm chương cú thượng, câu 3.

—————————

CHƯƠNG 26

CAO BÔN

高 奔

A. KINH VĂN

1. Cao bôn nhật nguyệt ngô thượng đạo,

高 奔 日 月 吾 上 道

2. Uất Nghi, Kết Lân, thiện tương bảo,

鬱 儀 結 璘 善 相 保

3. Nãi kiến Ngọc thanh Hư Vô lão.

乃 見 玉 清 虛 無 老

4. Khả dĩ hồi nhan, điền huyết não,

可 以 回 顏 填 血 腦

5. Khẩu hàm linh mang, huề ngũ Hoàng.

口 銜 靈 芒 攜 五 皇

6. Yêu đới hổ lục, bội kim đang,

腰 帶 虎 籙 佩 金 璫

7. Giá hốt tiếp sinh, yến Đông Mông.

駕 欻 接 生 宴 東 蒙

B. LƯỢC DỊCH

Soi gương Nhật, Nguyệt tu hình, thần,

Hình thần câu diệu; Đạo tuyệt luân.

Sẽ thấy Ngọc Thanh Hư Vô Lão,

Có thể trú nhan, điền huyết não,

Bạn cùng thần tiên, người phát quang,

Lưng cài hổ lục, đeo kim đang,

Cưỡi rồng Ngao du nơi Tiên bang …

C. CHÚ GIẢI

Câu 1. Cao bôn nhật nguyệt, ngô thượng đạo.

高 奔 日 月 吾 上 道

Bản Tử Hà: Cao bôn nhật nguyệt vô thượng đạo 高 奔 日 月 無 上 道. Ba chữ vô thượng đạo (là cái đạo vô thượng) của Tử Hà nghe hay hơn.[1]

Cao bôn 高 奔: Rong ruổi trên đường trời cao.

Nhật nguyệt 日月: Âm Dương. Nhật Nguyệt cũng tượng trưng cho hai chiều vãng lai của trời đất, hai nửa đêm ngày đêm của một ngày 24 giờ.

Tu thì phải tu cả Hình 形 (Âm) lẫn Thần 神.

Tu thời phải tùy thời sau trước, mà tu hình, tu thần cho thích hợp. Dịch kinh gọi thế là Nhất âm, nhất Dương chi vị đạo 一 陰 一 陽 之 謂 道. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả Tính dã 繼 之 者 善 也, 成 之 者 性 也. Đừng bảo chỉ thần là quí nên chỉ vụ tu thần, mà bỏ bê thân xác.

Câu 2. Uất Nghi, Kết Lân, thiện tương bảo.

鬱 儀 結 璘 善 相 保

Uất Nghi 鬱 儀: thần mặt trời, tượng trưng cho Thần.

Kết Lân 結 璘: thần mặt trăng, tượng trưng cho Hình.

Thiện tương bảo 善 相 保: Hai bên có tương quan mật thiết với nhau, giữ gìn lẫn nhau.

Câu 3. Nãi kiến Ngọc Thanh Hư Vô Lão.

乃 見 玉 清 虛 無 老

Kết quả: Sẽ lên Tam Thanh, cùng hoà đồng với Đạo (thăng Tam Thanh chi thượng, dữ Đạo hợp đồng 昇 三 清 之 上,與 道 合 同) nghĩa là sẽ có thể thấy Trời, thấy Đạo.

Câu 4. Khả dĩ hồi nhan, điền huyết não.

可 以 回 顏 填 血 腦

Biết đường tu: Người sẽ trẻ ra, khỏe lại.

Câu 5. Khẩu hàm linh mang, huề ngũ Hoàng.

口 銜 靈 芒 攜 五 皇

Bản Tử Hà: Khẩu hàm linh chi, triều Ngọc Hoàng.

口 銜 靈 芝 朝 玉 皇

Linh mang 靈 芒: Ánh sáng phát ra có tia, gọi là mang.

Khẩu hàm 口 銜: Miệng ngậm.

Khẩu hàm linh mang 口 銜 靈 芒: Miệng phát quang mang.[2]

Huề Ngũ Hoàng 攜 五 皇: Dắt Ngũ Lão, cùng chơi nơi lục hợp. Tử Hà lại cho rằng: Miệng ngậm Linh chi, được triều kiến Ngọc Hoàng.

Câu 6. Yêu đới hổ lục, bội kim đang.

腰 帶 虎 籙 佩 金 璫

Lưng mang hổ lục (hổ phù 虎 符 và phù lục 符 籙), đeo vàng, ngọc. Phù 符 là vật để làm tin, ngày xưa dùng lệnh tiễn, phù lục 符 籙 như là sự vụ lệnh, công vụ lệnh.

Câu 7. Giá hốt tiếp sinh, yến Đông Mông.

駕 欻 接 生 宴 東 蒙

Bản Tử Hà: Giá hốt tiếp tọa, yến Đông Mông. 駕 欻 接 坐 宴 東 蒙

Giá hốt 駕 欻: Cưỡi rồng.

Hốt 欻: (1) Bỗng chốc; (2) Rồng.

Tiếp sinh 接 生: (1) Được trường sinh (trường sinh dã 長 生 也); (2) Được tiếp thụ sinh khí (dữ sinh khí tương tiếp dã 與 生 氣 相 接 也).

Đông Mông 東 蒙: Là một ngọn núi tiên ở Đông Hải (Đông hải tiên cảnh chi sơn dã 東 海 仙 景 之 山 也).

Yến 宴: Yên nghỉ, vui, ăn yến tiệc.

Vụ Thành tử giải: Hốt nhiên nhi du kỳ xứ (Bỗng nhiên ngao du đến nơi đó) 欻 然 而 遊 其 處.

D. BÌNH GIẢNG

Ngoại Cảnh (ch. 14) trình bày chương này như sau:

1. Xuất nhật, nhập nguyệt thị ngô đạo,

出 日 入 月 是 吾 道 (Câu này giống Nội cảnh).

2. Thiên nhất, địa nhị đồng tương bảo.

天 一 地 二 同 相 保 (Câu này gần giống Nội cảnh).

3. Ngọc thạch lạc lạc thị ngô bảo.

玉 石 珞 珞 是 吾 寶

4. Tử tự hữu chi hà bất thủ.

子 自 有 之 何 不 守

5. Tâm hiểu căn đế, dưỡng hoa thái.

心 曉 根 蒂 養 華 太

6. Phục thiên, thuận địa tàng tinh hải.

服 天 順 地 藏 精 海

7. Thất nhật chi nội, hồi tương hợp,

七 日 之 內 回 相 合

8. Côn Lôn chi tính, bất mê hoặc.

崑 崙 之 性 不 迷 惑

Tạm dịch:

Xuất nhật, nhập nguyệt ấy đạo ta,

Đất trời gồm đủ, đẹp chăng là.

Trong anh sẵn có kho vàng quí.

Sao chẳng giữ gìn, lại phao phí.

Tâm hiểu Linh căn, dưỡng hình thái,

Thuận trời, thuận đất, gìn tinh hải.

Tới độ phản hoàn, nên trở lại,

Tinh hoa óc não, đường hiểu sái.

Hội ý Nội và Ngoại Cảnh, tôi cho rằng chủ đề của chương này là muốn tu luyện cần phải hiểu lẽ vãng lai của trời đất. Hai chiều lai vãng của trời đất được tượng trưng bằng hai vầng Nhật, Nguyệt.

Chiều vãng, chiều tiến ra ngoại cảnh, chiều đem tâm thần phục vụ cho giang sơn gia đình quốc gia, xã hội, đem tâm thần đổi lấy miếng cơm, manh áo, là chiều Âm, tượng trưng bằng vầng trăng. Thiệu Khang Tiết gọi là thời kỳ: Quan Nguyệt quật. Tôi gọi là thời kỳ: Điểm tô ngoại cảnh.

Chiều lai, chiều hướng về nội tâm, bắt ngoại cảnh phải phục vụ cho tâm linh, cho công trình tu dưỡng tâm linh, là chiều Dương tượng trưng bằng vầng Dương. Thiệu Khang Tiết gọi thời kỳ này là thời kỳ: Kiến Thiên căn. Tôi gọi thời kỳ này là thời kỳ: Thực hiện Thiên chân.

Đang dấn thân vào cõi trần hoàng ngoại cảnh, mà khi tới lúc, biết hồi hướng, biết qui tâm, để trở về với Trời đất ẩn trong lòng mình, để ra công thực hiện thiên chân, thiên tinh, sự hồi hướng đó, theo từ ngữ Dịch Kinh là Thất nhật lai phục 七 日 來 復. Gọi là Thất nhật 七 日, vì lúc này bản thân đã đi hết sáu hào Âm, và bắt đầu quay lại (Phục 復) để thực hiện 6 hào dương còn lại, tức là từ Phục 復, đến Lâm 臨, đến Thái 泰, đến Đại Tráng 大 壯, đến Quải 夬, đến Thuần Kiền 純 乾… Trời sẽ rung chuông cảnh tỉnh cho ta biết lúc phải lai phục: Tiếng chuông ấy sẽ rung lên, khi ta đã:

«Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ,

Đường thế đồ, gót rỗ kỳ khu…»

Khi ta cảm thấy Chán chường thế sự. Khi mái tóc bắt đầu đã hoa râm, và khi chiều trời đã ngả sang thu…

Ngoại Cảnh viết: Thất nhật chi nội, hồi tương hợp 七 日 之 內 迴 相 合 chính là muốn dùng từ ngữ Dịch Kinh mô tả lại thời điểm Hồi phục, Phản hoàn.

Muốn tu dưỡng Thiên chân, phải biết trong người có Thần trời ngự trị (câu 3); phải biết Tính Mệnh song tu (câu 1, 2); phải biết đem tâm thần hợp nhất lại cho thành Đạo thành Chân (câu 1, câu 2).

Như vậy là thực hiện được cái gì chí bảo, chí quí ở ngay nơi thân mình.

Trong mà thực, ngoài sẽ ứng; thần mà linh, hình sẽ phát quang (câu 5); sẽ phản lão hoàn đồng (câu 4); sẽ sảng khoái như cùng tiên tử ngao du trong hoàn võ (câu 5); sẽ có tiên phong đạo cốt, và sẽ được ghi tên vào tiên bang, tiên tịch (câu 6, 7).

Nhật Nguyệt chẳng những biểu hiện cho hai chiều vãng lai, mà còn tượng trưng cho cặp Âm Dương, mà Nhật Nguyệt có hợp thì Minh mới sinh, suy ra thì Tâm (âm) Thần (Dương) có hợp nhất thì Đạo mới thành.

[1] Vụ Thành tử chép là ngô 吾, giải là: Đạo quân 道 君.

[2] Vụ Thành tử giải: Khẩu thổ ngũ sắc vân khí, quang mang tứ chiếu, dữ ngũ hoàng lão quân đồng du lục hợp dã (Miệng nhả ra vân khí năm màu, rực sáng bốn hướng, cùng năm vị Lão quân chơi cõi lục hợp)

口 吐 五 色 雲 氣, 光 芒 四 照, 與 五 皇 老 君 同 遊 六 合 也.

—————————

CHƯƠNG 27

HUYỀN NGUYÊN

玄 元

A. KINH VĂN

1. Huyền Nguyên thượng Nhất, hồn phách luyện,

玄 元 上 一 魂 魄 鍊

2. Nhất chi vi vật phả hãn kiến,

一 之 為 物 叵 罕 見

3. Tu đắc chi chân, nãi cố phán,

須 得 至 真 乃 顧 盼

4. Chí kỵ tử khí chư uế tiện.

至 忌 死 氣 諸 穢 賤

5. Lục thần hợp tập, hư trung yến,

六 神 合 集 虛 中 宴

6. Kết châu cố tinh dưỡng thần căn.

結 珠 固 精 養 神 根

7. Ngọc chi, kim thược thường hoàn kiên,

玉 匙 金 籥 常 完 堅

8. Bế khẩu khuất thiệt, thực thai tân,

閉 口 屈 舌 食 胎 津

9. Sử ngã toại luyện, hoạch phi tiên.

使 我 遂 鍊 獲 飛 仙

B. LƯỢC DỊCH

Tu luyện hồn phách hợp với Nhất,

Nhất là cái chi khó thấy thật,

Lòng phải tinh thành, mới nhìn ra,

Nhất rất khinh thanh, kỵ uế tiện,

Lục thần hợp tập, Hư Vô hiện,

Tinh, dịch giữ toàn, dưỡng thần căn,

Then khóa hình hài, giữ chắc bền,

Ngậm miệng, uốn lưỡi, uống ngọc diên,

Công phu thành tựu sẽ lên tiên.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Huyền Nguyên thượng nhất hồn phách luyện.

玄 元 上 一 魂 魄 鍊

Vụ Thành Tử giải câu này một cách rất uẩn súc: Nhờ Nhất để luyện thần, luyện thần để hợp Nhất (Tư Nhất dĩ luyện thần, Thần luyện dĩ hợp Nhất 資 一 以 鍊 神 神 鍊 以 合 一). Tử Hà giải Huyền Nguyên là hai khí Thái Huyền 太 玄 và Thái Nguyên 太 元. Tôi cho rằng câu này chỉ muốn nói: Cái đạo cao siêu nhất đó là luyện hồn phách.

Câu 2. Nhất chi vi vật phả hãn kiến.

一 之 為 物 叵 罕 見

Nhất là một vật rất hiếm thấy.

Hãn 罕: hãn hữu, hiếm có (vật dĩ hãn vi quý 物 以 罕 為 貴: sự vật do hiếm hoi mà cho là quý).

Câu 3. Tu đắc chí chân nãi cố phán.

須 得 至 真 乃 顧 盼

Cần có chí chân mới nhìn ra được Nhất.

Tu 須: nên. Cố 顧: quay lại. Phán 盼: nhìn ra.

Câu 4. Chí kỵ tử khí, chư uế tiện.

至 忌 死 氣 諸 穢 賤

Chí kỵ 至 忌: rất sợ. Tử khí 死 氣: mùi xác chết.

Chư uế tiện 諸 穢 賤: Mọi sự nhơ bẩn, hèn hạ.[1]

Câu 5. Lục thần hợp tập, hư trung yến.

六 神 合 集 虛 中 宴

Lục thần 六 神: thần của Tâm, phế, can, thận, tì, đảm. Tử Hà cho rằng Đảm là thức thần có nhiệm vụ truyền tống ngũ khí triều nguyên 五 氣 朝 元.

Hư trung 虛 中: thế là hoàn Hư.

Yến 宴: An lạc. Có hoàn hư, mới an lạc.

Câu 6. Kết châu, cố tinh, dưỡng thần căn.

結 珠 固 精 養 神 根

Vụ Thành Tử giải: «Kết châu là nuốt tân dịch, trước sau tương tự như kết châu. Cố tinh là giữ cho tinh bền không vọng tiết. Dưỡng thần căn là dưỡng thân hình, dưỡng hình khu.» [2]

Câu 7. Ngọc chi kim thược thường hoàn kiên.

玉 匙 金 籥 常 完 堅

Ngọc chi玉 匙: chìa ngọc. Kim thược 金 籥: khóa vàng. Tử Hà giải: Ngọc chi là âm đan, ngoại đan. Thế tức là dưỡng hình, dưỡng thân. Kim nhược là dương đan, nội đan. Thế tức là dưỡng thần.

Thường hoàn kiên 常 完 堅: cả khóa lẫn chìa đều mạnh, là cả thần lẫn hình đều mạnh.

Câu 8. Bế khẩu, khuất thiệt thực thai tân.

閉 口 屈 舌 食 胎 津

Lúc tham thiền, thường ngậm miệng, đưa lưỡi lên cúa, gọi là khóa lưỡi, là cong lưỡi (khuất thiệt 屈 舌) để trám mạch điện từ hở nơi miệng (thượng thước kiều 上 鵲 橋) đồng thời cũng là để kích thích các tuyến nước bọt (yết tân 咽 津), mà chúng ta đã biết nơi chương 3.

Câu 9. Sử ngã toại luyện, hoạch phi tiên.

使 我 遂 鍊 獲 飛 仙

Giúp ta luyện thành, được lên tiên, thành tiên.

Bản Tử Hà: Sử ngã tốc luyện, hoạch phi tiên.

使 我 速 鍊 獲 飛 仙

Bị chú: Có một điều đặc biệt là nhiều chương đều kết thúc bằng một câu ý nói sẽ thành tiên, lên tiên. Xem các chương 4, 6, 7, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 21, 22, 26, 27. Như vậy ta thấy rằng Huỳnh Đình kinh hết sức tin tưởng rằng con người nhờ công phu tu luyện sẽ thành tiên, thành thánh…

D. BÌNH GIẢNG

Chương này ý tứ rất rõ ràng. Có lẽ vì vậy mà Ngoại Cảnh hầu như không bàn lại vấn đề.

Ngoại Cảnh nơi chương 16, chỉ ám chỉ đến chương này bằng 1 câu duy nhất:

Ngọc chi, kim thược, thường hoàn kiên. 玉 匙 金 籥 常 完 堅

Ý chương này chỉ là Tu luyện cốt để Đắc Nhất 得 一.

Muốn Đắc Nhất phải biết luyện hồn, phách, thu nhiếp hồn phách (câu 1). Nhất tuy là vật chi rất khó thấy (câu 2) nhưng nếu ta chân thành tìm cầu, Nhất sẽ hiện ra (câu 3).

Muốn tu chứng được Nhất cần phải thanh tịnh (câu 4), cần phải biết thu nhiếp tinh hoa thần khí trong người (câu 5).

Nhưng cũng cần phải biết luyện hình bằng những phương pháp yết tân, cố tinh. Huỳnh Đình gọi xác thân là Thần căn. Vậy rõ rệt là Huỳnh Đình chủ trương Tính Mệnh song tu (câu 7).

Khóa (thần) mạnh không đủ, phải có cả chìa (xác) mạnh nữa. Có biết xử dụng xác thân vào phương pháp luyện thần, như có biết ngậm miệng, nuốt tân dịch v.v… mới có thể thành tựu trong công trình tu luyện được (câu 8, 9).

Chủ trương của Âu Châu xưa: Mens sana in copore sano (Tinh thần mạnh trong thể xác mạnh) rất phù hợp với chủ trương trên đây của Huỳnh Đình.

Như vậy tức là «tiên đau», «tiên ốm», «tiên sầu», «tiên khổ» là những quan niệm không thể chấp nhận được, đối với một tu sĩ Á đông. Và nếu thấy mình đau ốm sầu khổ, tức là biết mình đã tu sai, tu lạc. Vì tu sai, tu lạc, mới không chứng được quả tốt đẹp.

————————–

[1] Cổ Nguyệt hòa thượng xưa mỗi khi đi qua những nơi có xí phòng, âm phần mộ địa đều đi đường vòng để tránh xa uế khí (Phỏng đạo ngũ lục, tr. 240).

[2] Kết châu vị yết dịch tiên hậu tương thứ như kết châu. Cố tinh bất vọng tiết. Thần căn hình khu dã. Phù thần chi ư thân, do quốc chi hữu quân, quân chi hữu nhân. Nhân dĩ quân vi mệnh, quân dĩ nhân vi bản, hỗ tương tư tịch dĩ vi sinh chủ nhi điều dưỡng chi dã. 結 珠 謂 咽 液 先 後 相 次如 結 珠. 固 精 不 妄 洩. 也 神 根 形 軀 也. 夫 神 之 於 身, 猶 國 之 有 君, 君 之 有 人. 人以 君 為 命, 君 以 人 為 本, 互 相 資 藉 以 為生 主 而 調 養 之 也.

————————–

CHƯƠNG 28

TIÊN NHÂN

仙 人

A. KINH VĂN

1. Tiên nhân, đạo sĩ, phi hữu thần.

仙 人 道 士 非 有 神

2. Tích tinh, lũy khí, dĩ vi chân.

積 精 累 氣 以 為 真

3. Huỳnh đồng diệu âm, nan khả văn.

黃 童 妙 音 難 可 聞

4. Ngọc thư, giáng giản, xích đơn văn.

玉 書 絳 簡 赤 丹 文

5. Tự viết Chân Nhân, cân kim cân,

字 曰 真 人 巾 金 巾

6. Phụ giáp, trì phù, khai thất môn.

負 甲 持 符 開 七 門

7. Hỏa binh, phù đồ, bị linh quan.

火 兵 符 圖 備 靈 關

8. Tiền ngang hậu ti, cao hạ trần.

前 昂 後 卑 高 下 陳

9. Chấp kiếm bách trượng vũ cẩm phan,

執 劍 百 丈 舞 錦 幡

10. Thập tuyệt bàn không, phiến phân vân,

十 絕 盤 空 扇 紛 紜

11. Hỏa linh, quán tiêu, đội lạc yên,

火 鈴 冠 霄 隊 落 煙

12. An tại hoàng khuyết, lưỡng mi gian,

安 在 黃 闕 兩 眉 間

13. Thử phi chi điệp, thực thị căn.

此 非 枝 葉 實 是 根

B. LƯỢC DỊCH

Tiên nhân đạo sĩ, chẳng phải thần,

Tích tinh, lũy khí mới thành chân.

Tiếng thần Huỳnh Đồng nghe khó khăn,

Huỳnh đình, Ngọc thư, Xích tử văn,

Chép rằng: Chân Nhân đội kim cân,

Mặc giáp, cầm phù, mở thất môn,

Hỏa binh chực sẵn các linh quan.

Trước cao sau thấp, đã bầy trằm,

Cầm kiếm trăm trượng, múa cẩm phan.

Hào quang tung tỏa khắp không gian.

Đội ngũ vô vàn như mây tuôn,

Tất cả hợp tại lưỡng mi gian.

Chẳng phải là cành, ấy bản căn.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tiên nhân đạo sĩ phi hữu thần.

仙 人 道 士 非 有 神

Tiên nhân đạo sĩ chẳng phải có thần gì hơn người.

Câu 2. Tích tinh, lũy khí dĩ vi chân.

積 精 累 氣 以 為 真

Họ sở dĩ thành công, nên tiên, nên thánh, là nhờ đã dày công tu luyện, biết tích lũy tinh khí, hàm dưỡng thiên chân.

Câu 3. Huỳnh đồng diệu âm nan khả văn.

黃 童 妙 音 難 可 聞

Huỳnh đồng 黃 童: Thần Chân Nhất 真 一 神, hay Xích Thành đồng tử 赤 城 童 子, hay Huỳnh đình chân nhân 黃 庭 真 人.

Diệu âm 妙 音: Tiếng nói thầm lặng, huyền diệu.

Nan khả văn 難 可 聞: Khó mà nghe thấy được.

Câu 4. Ngọc thư, giáng giản, xích đơn văn.

玉 書 絳 簡 赤 丹 文

Đây là ám chỉ Huỳnh Đình kinh. Huỳnh Đình kinh còn được gọi là: Đại đế kim thư 大 帝 金 書, hay Đông Hoa ngọc thiên 東 華 玉 篇.

Câu 5. Tự viết Chân Nhân cân kim cân.

字 曰 真 人 巾 金 巾

Để cho thông nghĩa, tôi dịch Tự viết là chép rằng: (sách trên chép rằng). Cân kim cân 巾 金 巾: đội khăn vàng (chữ cân trước là động từ, chữ cân sau là danh từ).

Câu 6. Phụ giáp trì phù, khai thất môn.

負 甲 持 符 開 七 門

Phụ giáp 負 甲: Mang giáp. Nếu dịch là hô thần Lục giáp tôi thấy cầu kỳ quá. Vụ Thành Tử lại còn ghi cả 6 tên các thần Lục giáp nữa mới phức tạp.

Trì phù 持 符: mang phù tiết.

Khai thất môn 開 七 門: Khai thất khiếu.

Câu 7. Hỏa binh phù đồ bị linh quan.

火 兵 符 圖 備 靈 關

Thái cực ở đâu thì có hào 爻 và quái 卦 châu quanh ở đó. Bản thể ở đâu, thì có các hiện tượng bao quanh ở đó. Thượng thần trời đất ở đâu, thì có chúng thần chầu quanh ở đó. Ví như đâu có vị tướng quân, thì đấy có chư binh túc trực.

Câu 8. Tiền ngang hậu ti, cao hạ trần.

前 昂 後 卑 高 下 陳

Câu này cũng giống như câu đầu Hệ từ thượng: Thiên tôn địa ti, kiền khôn định hĩ. Cao ti dĩ trần, quí tiện vị hĩ. 天 尊 地 卑, 乾 坤 定 矣. 高 卑 以 陳, 貴 賤 位 矣. Đâu có chư thần thì đấy có tôn ti, cũng như đâu có hiện tượng, thì đấy có lớp lang, đẳng cấp.

Tử Hà giải mấy câu này rằng: Linh quan 靈 關 là Huyền môn 玄 門, là Hạ thước kiều 下 鵲 橋 gần Vĩ lư 尾 閭. Phía trước hướng về rốn nên gọi là tiền ngang 前 昂 (trước cao), phía sau hướng về Vĩ Lư, nên gọi là hậu ti 後 卑.

Tôi thấy giải như vậy đi quá xa. Chủ đề chương này chỉ có là Muốn tu tiên ngoài sự tu luyện chuyên cần còn phải nghe được tiếng thần trời đất trong mình. Nhưng nghe biết được thần trời đất không phải chuyện dễ. Tuy nhiên Huỳnh đình đã ghi chép dung quang diện mạo vị thần đó cùng với phẩm phục uy nghi, binh tướng chầu chực hộ trì. Hiểu như vậy vừa thông mạch văn, vừa lãnh hội được đại ý chương. Cắt nghĩa, giải thích tứ tung, chỉ làm cho rối loạn đầu óc độc giả; cho đến chương này, tôi toàn dùng cách giải thích hết sức tự nhiên giản dị, để giải thích chương cú, mà vẫn làm nổi bật lên được cái hay, cái lạ, cái cao siêu của Huỳnh Đình. Chính vì vậy mà tôi vẫn khai thác Vụ Thành Tử và Tử Hà nhưng không chấp nhận phương pháp giải thích của các ông. Gặp những câu khó, thì nói ngay rằng đó là câu khó giải thích, còn hơn là đi tìm một cái gì khó hơn để cắt nghĩa. Rút cuộc chẳng cắt nghĩa được cái gì.

Câu 9. Chấp kiếm bách trượng vũ cẩm phan.

執 劍 百 丈 舞 錦 幡

Cầm kim dài trăm trượng, múa cờ phan bằng gấm.

Câu 10. Thập tuyệt bàn không, phiến phân vân,

十 絕 盤 空 扇 紛 紜

Ý nói múa kiếm trên không trung phả ra ánh hào quang. Tử Hà giải thập tuyệt là lá cờ Huyền Vũ dùng để thâu nhiếp thần khí.

Câu 11. Hỏa linh quán tiêu, đội lạc yên.

火 鈴 冠 霄 隊 落 煙

Hỏa linh 火 鈴: Nhạc lửa. Quán tiêu 冠 霄: Vút trời xanh. Đội lạc yên 隊 落 煙: Đội ngũ như mây khói.

Câu 12. An tại Huỳnh khuyết lưỡng mi gian.

安 在 黃 闕 兩 眉 間

Huỳnh khuyết 黃 闕: Thiên đình. Lưỡng mi gian 兩 眉 間: Giữa đôi lông mày (Ta thấy điểm giữa trán đối với đạo Lão rất quan trọng).

Câu 13. Thử phi chi diệp thật thị căn.

此 非 枝 葉 實 是 根

Huỳnh Đình cho rằng nhận định được rằng trong đầu não có Trời ngự trị là một điều then chốt căn bản, chứ không phải là một điều tùy thuộc.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này được Ngoại Cảnh toát lược như sau:

Tiên nhân đạo sĩ phi hữu thần,

仙 人 道 士 非 有 神

Tích tinh, lũy khí dĩ thành chân. (chương 18)

積 精 累 氣 以 成 真

Phụ giáp trì phù, khai thất môn.

負 甲 持 符 開 七 門

Thử phi chi diệp thực thị căn,

此 非 枝 葉 實 是 根

Trú dạ tư chi, khả trường tồn. (chương 17)

晝 夜 思 之 可 長 存

Cho nên chương này thực ra chỉ có hai ý chính:

(1) Tu tiên tu đạo chỉ cốt chuyên cần, tích tinh, lũy khí. Tiên thánh cũng chỉ là những người thường như chúng ta, tu luyện, nhờ khổ công mới thành đạt (câu 1, 2).

Tiên học diệu tuyển 仙 學 妙 選 có thơ:

«Phụng chân, tu đạo, thủ trung hòa,

奉 真 修 道 守 中 和

Thiết chử thành châm yếu trác ma,

鐵 杵 成 針 要 琢 磨

Thủ sự bản nhiên vô đại xảo,

此 事 本 然 無 大 巧

Chỉ tranh nhật trục dụng công đa.» [1]

只 爭 日 逐 用 功 多

Tạm dịch:

Phụng chân, tu đạo, giữ Trung Hòa,

“Chày sắt thành kim”, phải trác ma,

Chuyện đó chẳng cần tài khéo lớn.

Chỉ cần ngày tháng, dụng công đa

(2) Muốn tu luyện cho thành tiên, thành thánh, cần phải biết rằng có thần trời đất ngự trị trong lòng mình, cần phải nghe thấy được thần trời đất hàn huyên cùng mình (câu 3). Nhưng hỏi mấy ai nghe thấy được tiếng thần trời đất? (câu 3).

Tuy nhiên ta hãy tin Huỳnh Đình kinh, vì Huỳnh Đình đã xác định đó là một sự kiện có thật (câu 4).

Kế tiếp đó chỉ là nhắc lại: dung quang, danh hiệu, (câu 5); phẩm phục, uy thế (câu 6, 7); oai võ (câu 8, 9, 10) của Thần Huỳnh Đình.

Kế đó, Huỳnh Đình kinh xác nhận lại rằng: Thần trời đất, cùng chư thần chẳng ở đâu xa, mà đã ở ngay vừng trán con người, trong đầu não con người (câu 11, 12). Huỳnh Đình kinh cho rằng đó là quan niệm then chốt cơ bản đừng có lấy làm thường. Tư tưởng này Huỳnh đình đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại. Ta hãy đọc lại:

Chương 4: Huỳnh đình trung nhân ý cẩm y.

黃 庭 中 人 衣 錦 衣

Chương 17: Động phòng tử cực linh môn hộ,

洞 房 紫 極 靈 門 戶

Thị tích Thái Thượng cáo ngã giả,

是 昔 太 上 告 我 也

Tả thần Công tử phát thần ngữ,

左 神 公 子 發 神 語

Hữu hữu Bạch Nguyên tính lập xứ.[2]

右 有 白 元 併 立 處

Chương 19: Vấn thùy gia tử tại ngã thân,

問 誰 家 子 在 我 身

Thử nhân hà xứ nhập Nê Hoàn.

此 人 何 處 入 泥 丸

Quang cảnh thần trời đất oai nghi cùng với chư thần ngự trong đầu não con người mà chương này đề cập đến, ta thấy cũng tương tự như quang cảnh mô tả nơi chương 7 ở trên.

Cảm thấy có thần trời đất hiện diện trong lòng mình, chính là bí quyết cao siêu nhất để thành tiên, thành thánh. Đạo giáo nào cũng công nhận điểm này. Biết bao nhiêu thánh nhân nhờ sự trực giác này đã thành thần, thành thánh. Trung Dung viết:

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng,

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu.

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.[3]

Chính là sợ Trời, kính Trời tiềm ẩn trong tâm mình. Quyển Thông điệp tình yêu nhân hậu gởi các hồn nhỏ [4] ghi lời Chúa Giêsu đàm đạo cùng bà Margarita người Bỉ như sau: «Nếu người ta không có cảm giác như một giác quan thứ sáu về sự hiện diện của Cha trong họ cho dầu cảm giác đó đôi khi mờ ảo thì, Cha cho con hay, không ai có thể nên thánh được. Than ôi! giác quan thứ sáu ấy bị bóp nghẹt bởi nết xấu dưới mọi hình thức.»

Áo Nghĩa thư (Upanishads) viết:

«Dung quang ngài khó mà cầu,

Mắt trần sau trước thấy sao được Ngài.

Biết Ngài trong dạ ấy ai,

Tâm thần biết thế muôn đời trường sinh.» [5]

Ở Việt Nam, theo chỗ tìm hiểu của tôi, mới thấy có một mình cụ Nguyễn Đình Chiểu là người đã trực giác được Trời trong ta. Cụ viết:

«Có Trời thầm dụ trong lòng,

Tuy ngồi một chỗ suốt thông trăm đời.» [6]

Huỳnh Đình kinh cho rằng nghe thấy được tiếng của thần Huỳnh Đình rất khó. Tôi thấy rằng nghe được tiếng của thần trời đất cũng dễ: Cứ việc lắng nghe Tiếng Lương Tâm, vì đó chính là tiếng nói thầm lặng của Thượng Đế. Cũng trong quyển Thông điệp tình yêu nhân hậu gởi các hồn nhỏ nói trên, nơi tr. 254, Chúa Giêsu cũng đã tâm sự: «Con hãy cứ làm theo lương tâm con, thì con luôn luôn có lý.»

————————

[1] Tiên học diệu tuyển 仙 學 妙 選, tr. 205. Thuần Dương Lữ tổ trước thuật tiết yếu 純 陽 呂 祖 著 述 節 要.

[2] Nơi đây tác giả Huỳnh Đình kinh xác nhận nghe thấy tiếng của Thượng thần dạy bảo.

[3] Trung Dung, chương 1: Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. Mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi. Cố quân tử thận kỳ độc dã. 是 故 君 子 戒 慎 乎 其 所 不 睹, 恐 懼 乎 其 所 不 聞. 莫 現 乎 隱, 莫 顯 乎 微. 故 君 子 慎 其 獨 也.

[4] Nhật ký Margarita, Saigon 1973, tr. 177.

[5] Svetasvatra Upanishads. 4, 19-20.

[6] Ngư tiều vấn đáp y thuật, tr. 372.

————————–

CHƯƠNG 29

TỬ THANH

紫 清

A. KINH VĂN

1. Tử Thanh Thượng Hoàng Thái Đạo Quân,

紫 清 上 皇 太 道 君

2. Thái Huyền, Thái Hòa hiệp thị đoan,

太 玄 太 和 俠 侍 端

3. Hóa sinh vạn vật sử ngã tiên.

化 生 萬 物 使 我 仙

4. Phi thăng thập thiên giá ngọc luân.

飛 昇 十 天 駕 玉 輪

5. Trú dạ thất nhật tư vật miên.

晝 夜 七 日 思 勿 眠

6. Tử năng hành chi khả trường tồn.

子 能 行 之 可 長 存

7. Tích công thành luyện phi tự nhiên,

積 功 成 鍊 非 自 然

8. Thị do tinh thành diệc do chuyên,

是 由 精 誠 亦 由 專

9. Nội thủ kiên cố Chân chi Chân,

內 守 堅 固 真 之 真

10. Hư trung điềm đạm tự trí thần.

虛 中 恬 淡 自 致 神

B. LƯỢC DỊCH

Tử Thành Thượng Hoàng Thái Đạo Quân,

Thái Huyền, Thái Hòa chầu hai bên,

Hóa sinh vạn vật, giúp nên tiên,

Cưỡi xe ngọc luân, lên thượng thiên,

Bảy ngày thức trắng, nghĩ triền miên,

Làm được như vậy sẽ trường tồn.

Công thành do tu chẳng tự nhiên,

Vừa do tinh thành vừa do chuyên.

Chân chi Chân ta, hãy giữ bền,

Hư vô, điềm đạm, sẽ thành tiên.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tử Thanh Thượng Hoàng Thái Đạo Quân.

紫 清 上 皇 太 道 君

Bản Tử Hà: Tử Thanh Thượng Hoàng Đại Đạo Quân.

紫 清 上 皇 大 道 君

Vụ Thành Tử giải đó là đức Ngọc Thần Quân 玉 神 君. Nơi chương một ghi đức Ngọc Thần Quân ban truyền kinh Huỳnh Đình.

Tử Hà giải đó là đức Nguyên Thủy Thượng Hoàng Đại Đạo Quân 原 始 上 皇 大 道 君.

Tử Thanh 紫 清: tức là cung Ngọc Thanh 玉 清.

Câu 2. Thái Huyền, Thái Hòa hiệp thị đoan.

太 玄 太 和 俠 侍 端

Thái Huyền là thần phân khí (Âm, phóng ngoại, phân tán). Thái Hòa thần thu khí, hợp khí (Dương, hướng nội, qui nạp, hội tụ).

Câu 3. Hóa sinh vạn vật sử ngã tiên.

化 生 萬 物 使 我 仙

Hóa sinh vạn vật, khiến ta nên tiên.

Câu 4. Phi thăng Thập thiên giá ngọc luân.

飛 昇 十 天 駕 玉 輪

Bản Tử Hà: Phi thăng Thập thiên triều ngọc luân.

飛 昇 十 天 朝 玉 輪

Câu 5. Trú dạ thất nhật, tư vật miên.

晝 夜 七 日 思 勿 眠

Chí thành sẽ cảm đến Thần.

Câu 6. Tử năng hành chi, khả trường tồn.

子 能 行 之 可 長 存

Bản Tử Hà: Tử năng tu chi khả trường tồn.

子 能 修 之 可 長 存

Câu 7. Tích công thành luyện, phi tự nhiên.

積 功 成 鍊 非 自 然

Bản Tử Hà: Cấp công đoạn luyện, phi tự nhiên.

急 功 鍛 鍊 非 自 然

Tu trì phải tốn công phu.

Câu 8. Thị do tinh thành diệc do chuyên.

是 由 精 誠 亦 由 專

Tu luyện phải vừa thành khẩn vừa chuyên cần.

Câu 9. Nội thủ kiên cố, Chân chi Chân.

內 守 堅 固 真 之 真

Hãy giữ gìn cho chắc cái Chân đó, cái Chân tuyệt đối đó.

Câu 10. Hư trung điềm đạm tự trí thần.

虛 中 恬 淡 自 致 神

Giữ cho lòng hư vô, điềm đạm, tự nhiên sẽ thành thần.

D. BÌNH GIẢNG

Đoạn này lại tiếp tục chủ trương phải có được Thượng đế ngự trị trong tâm ta hướng dẫn tu trì, mới mong thành tiên (câu 1, 2, 3, 4).

Tử Hà bình rất xác đáng chương này rằng: «Người tu đạo phải tìm cho ra thần Tử Thanh Thượng Hoàng ở trong thân mình, rồi phải lấy hai thần Thái Huyền, Thái Hòa tức là Thần, Khí làm chủ chốt cho công trình tu luyện.» [1]

Muốn tìm ra được Trời nơi tâm, phải chân thành tìm cầu ước nguyện, phải khao khát tới mức ngày không ăn đêm không ngủ, có như vậy Trời mới hiển dương (câu 5, 6).

Người xưa nói: Tinh thành sở chí, kim thạch vi khai.

Trực giác được rằng có Thượng đế trong tâm, thu thần định trí, trở về Tâm Linh, phối kết với Đạo với Trời, thế là giữ được Chân chi Chân, giữ được cái gì chân thực nhất (câu 9), cố công tu trì liên tục (câu 7, 8) giữ cho lòng hư vô, thanh tĩnh, sống phối kết với Đạo, với Trời, nói theo từ ngữ hiện đại, chắc chắn sẽ thành thần tiên (câu 10).

Ta thấy càng ngày Huỳnh Đình kinh càng xoắn lấy chủ đề Nhất và Thái Thượng. Thế tức là theo đúng lẽ Dịch: bất kỳ về phương diện nào cũng phải đi từ đa tạp trở về thuần nhất, thuần chân. Con đường giải thoát chỉ có vậy, khẩu quyết tu trì chỉ có vậy.

Bị chú: Ngoại cảnh chỉ lược chương này bằng một câu:

Trú dạ tu chi khả trường tồn. 晝 夜 修 之 可 長 存 (Chương 17).

————————–

[1] Tu đạo giả tòng thân trung tầm Tử Thanh Thượng Hoàng, mịch Thái Huyền Thái Hòa, nhị Thần, Khí vi chủ.

修 道 者 從 身 中 尋 紫 清 上 皇, 覓 太 玄 太 和, 二 神, 氣 為 主.

————————–

CHƯƠNG 30

BÁCH CỐC

百 穀

A. KINH VĂN

1. Bách cốc chi thật thổ địa tinh,

百 穀 之 實 土 地 精

2. Ngũ vị ngoại mỹ, tà ma tinh,

五 味 外 美 邪 魔 腥

3. Xú loạn thần minh, thai khí linh,

臭 亂 神 明 胎 氣 零

4. Na tòng phản lão, đắc hoàn anh.

那 從 反 老 得 還 嬰

5. Tam hồn hốt hốt, phách mi khuynh.

三 魂 忽 忽 魄 糜 傾

6. Hà bất thực khí Thái hòa tinh.

何 食 不 氣 太 和 精

7. Cố năng bất tử nhập Huỳnh Ninh.

故 能 不 死 入 黃 寧

B. LƯỢC DỊCH

Bách cốc chẳng qua đất đai tinh,

Ngũ vị ngoài ngon, trong hôi tanh,

Loạn thần, đọa khí, gây điêu linh.

Phản lão hoàn đồng, làm sao sinh?

Tam hồn chơi vơi, phách đảo khuynh.

Sao không dùng khí Thái Hòa tinh?

Để được bất tử, nhập Huỳnh Ninh.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Bách cốc chi thực thổ địa tinh.

百 穀 之 實 土 地 精

Thực là Bản chất (là xác)

Ngũ cốc, bách cốc là tinh hoa của đất đai.

Câu 2. Ngũ vị ngoại mỹ, tà ma tinh.

五 味 外 美 邪 魔 腥

Tinh là tanh hôi.

Câu 3. Xú loạn thần minh, thai khí linh.

臭 亂 神 明 胎 氣 零

Xú loạn 臭 亂: là cho bị uế tạp, làm cho bị tán loạn.

Thai khí linh 胎 氣 零: Nguyên khí bị linh lạc, hao tổn.

Câu 4. Na tòng phản lão đắc hoàn anh.

那 從 反 老 得 還 嬰

Làm sao có thể phản lão hoàn đồng được.

Câu 5. Tam hồn hốt hốt, phách mi khuynh.

三 魂 忽 忽 魄 糜 傾

Tam hồn hốt hốt 三 魂 忽 忽: tam hồn bị hoảng hốt.

Phách mi khuynh 魄 糜 傾: phách có thể nát tan, khuynh đảo.

Câu 6. Hà bất thực khí Thái hòa tinh.

何 食 不 氣 太 和 精

Bản Tử Hà: Hà bất thực khí Thái hòa thanh.

何 不 食 氣 太 和 清

Khí Thái Hòa là tiên thiên khí. Tiên thiên khí như tôi đã trình bày nơi chương 20, được dung chứa trong các xoang não, và trong tủy xương sống.

Câu 7. Cố năng bất tử nhập Huỳnh Ninh.

故 能 不 死 入 黃 寧

Huỳnh Ninh là Huỳnh Đình cung.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này bàn về một vấn đề hết sức mới mẻ.

Đại khái là Con người không phải chuyên sống về ngũ cốc, mà còn sống vì Nguyên Khí. Ngoại Cảnh khi toát lược lại chương này cũng làm nổi bật lên hai ý đó:

Ngoại Cảnh nơi chương 18 viết:

Nhân giai thực cốc dữ ngũ vị,

人 皆 食 穀 與 五 味

Độc thực Thái Hòa Âm Dương khí.

獨 食 太 和 陰 陽 氣

Cố năng bất tử Thiên tương ký.

故 能 不 死 天 相 既

Nội Cảnh cho rằng: Ngũ cốc chẳng qua là tinh hoa của đất đai nhưng nó vẫn là âm chất, là trọng trược, ngũ vị tuy ngon ngọt thật đấy, nhưng cũng rất tanh hôi (các câu 1, 2, 3).

Cho nên chính nhiều khi vì ăn uống mà sinh ra vô số bệnh tật (câu 4). Còn như trông vào bách cốc, ngũ vị để phản lão hoàn đồng, chắc là chuyện không có được (câu 5).

Muốn phản lão hoàn đồng phải biết dưỡng nuôi tâm thần bằng khí Thái Hòa thanh khiết (câu 6). Khí Thái Hòa này chính là tiên thiên chi khí.

Khí này ở trong xoang não, và trong tủy tuyến giữa xương sống. Nếu chúng ta nhờ sức hô hấp thông thường mà vận chuyển được Chân khí này, đem được Chân khí này về Nê Hoàn cung để bồi bổ cho óc não. Rồi giữ được Chân khí này cho nó định tĩnh ở nơi Khí hải, Nguyên Hải tức cũng là tâm điểm Nê Hoàn cung, lúc ấy gọi là Đại định, lúc ấy gọi là Thai tức (xem chương 20 ở trên). Khi ấy, sức nuôi dưỡng của Chân khí càng trở nên rõ rệt, tuy rằng lúc ấy, con người hầu như ngưng mọi hoạt động sinh lý, cơ thể.

Tiên thiên khí là đồ ăn bổ dưỡng nhất, tiên thiên khí chính là trường sinh dược. Đề tài này rất đáng được y học hiện đại để tâm nghiên cứu. Năm 1956 báo Lancet số 12 là một tờ báo y học rất đứng đắn đã đăng tải một cuộc thí nghiệm về sức tiềm sinh của nhà đạo sĩ Ấn độ tên là Babasri Dzirnari.

Bác sĩ người Anh là Vayson nói đã chứng kiến cuộc chôn sống để thí nghiệm sức tiềm tàng của vị đạo sĩ trên. Bác sĩ Vayson cho biết, trước sự hiện diện của 10.000 người, người ta đã cho đạo sĩ Babasri xuống một huyệt bằng xi măng, dưới đáy, cũng như chung quanh đã cắm đầy đinh nhọn. Khi đạo sĩ Babasri đã xuống đứng trong huyệt đó, người ta xây nắp xi măng lấp lên trên. Đạo sĩ ở trong huyệt xi măng đó 56 giờ. Sau đó người ta lại đổ đầy nước vào huyệt đó, và nhà đạo sĩ lại sống dưới nước như vậy trong vòng 6 giờ rưỡi. Cuối cùng mở huyệt, đem đạo sĩ ra. Và nhà đạo sĩ đó đã sống lại trong một bệnh viện ở Bombay.

Báo Lancet còn cho biết: Trước cuộc thí nghiệm đó, nhà đạo sĩ còn nhịn ăn trong vòng 10 ngày, chỉ uống nước lã không.

Khoa học giải thích rằng đạo sĩ sống được là vì đã biết sống trong một tình trạng chết ảo, các hoạt động sinh lý đều ngưng, và cơ thể ở trong một tình trạng hoàn toàn khoan dãn (relâchement musculaire), đông miên (hibernation).

Ta thấy nhà đạo sĩ sống như vậy là ở trong một hoàn cảnh hoàn toàn không có dưỡng khí. Ta kết luận: đạo sĩ sống được là nhờ Tiên thiên chi khí mà ngày nay người ta còn gọi là Tuyệt đối năng, là vũ trụ năng, là sinh mệnh năng (Prâna), hay là Hỏa hầu Kundalini, v.v…

Tiếc vì kỹ thuật khai thông Nhâm Đốc rất là tế vi, rất là nguy hiểm; tiếc vì muốn tu luyện phương pháp này cần phải có chân sư, cần phải nắm vững sinh lý, y lý, cần phải kiên trì, cho nên rất ít người dám luyện phép này. Và người nào có luyện được cũng ít đem truyền vì sợ làm tổn thương đến hệ thống thần kinh tích tủy của người tu đạo.

Tôi đã bàn về cách hô hấp tiên thiên khí qua tủy xương sống nêu ở chương 20 nơi đây, chỉ nhắc sơ lại rằng:

Tuy tiên thiên khí đã có sẵn trong tủy sống mỗi người, nhưng nếu không được kích thích, sẽ không có được thần lực. Kích thích tiên thiên khí, tức là vận chuyển tiên thiên khí qua tủy sống lên Nê Hoàn Cung.

Đó là một công phu cần yếu. Người xưa đã có câu:

Giáp tích song quan thấu đỉnh môn,

夾 脊 雙 關 透 頂 門

Tu hành kính lộ thử vi tôn.[1]

修 行 徑 路 此 為 尊

Tích tụ được khí Tiên thiên đó lên đầu, mới sinh ra được những tác dụng thần kỳ. Người xưa gọi thế là hoàn tinh bổ não, tam hoa qui đỉnh, ngũ khí triều nguyên, v.v. Lúc ấy mới gọi được là đan thành.

Vì thế mới nói được: «Khí qui Nguyên hải thọ vô cùng.» 氣 歸 元 海 壽 無 窮.[2]

Khi đã hiểu được sức nuôi dưỡng thần kỳ của tiên thiên khí, một khi nó được khích thích đúng cách, vận chuyển đúng cách, tích tụ đúng nơi, ta mới thấy những nhận định của người xưa về “Khí”(tiên thiên khí) chẳng sai ngoa.

Thi Kiên Ngô 施 肩 吾 nói: «Khí thị thiêm niên dược.» 氣 是 添 年 藥 (Tiên thiên khí là thuốc tăng thọ).[3]

«Đan thành, khí mãn, tự nhiên tuyệt lạp.» 丹 成 氣 滿 自 然 絕 粒 (Đan thành, khí mãn, tự nhiên không cần ăn.)[4]

«Tân năng khắc khát, khí khắc lương.» 津 能 克 渴 氣 克 糧 (Nước bọt đỡ khát, tiên thiên khí no lòng.)[5]

«Hỗn nguyên nhất khí thiên niên dược.» 混 元 一 氣 千 年 藥.[6]

«Thực cốc giả, trí tuệ nhi yểu, thực khí giả, thần minh nhi thọ.» 食 穀 者 智 慧 而 夭, 食 氣 者 神 明 而 壽 (Ăn đồ ngũ cốc, trí tuệ nhưng chết non, ăn thiên thiên khí, thần minh lại sống lâu.)[7]

«Thân tàng tiên đan dược tối linh, hà lao kỳ phương thân ngoại tầm?» 身 藏 仙 丹 藥 最 靈, 何 勞 奇 方 身 外 尋. [8]

«Tiệm tuyệt tục thực, chuyên tâm thực khí, bảo dưỡng Thái Hoà, khả dĩ trường sinh.» 漸 絕 俗 食, 專 心 食 氣, 保 養 太 和, 可 以 長 生.[9]

Tung Ẩn Tử bình về Thái Hòa Nguyên khí, có thơ:[10]

Thái Hòa Nguyên khí, nhân tự hữu,

太 和 元 氣 人 自 有

Chỉ thị ngu phu bất thức chân.         

只 是 愚 夫 不 識 真

Vạn kiếp thiên sinh tằng nhất hội,   

萬 劫 千 生 曾 一 會

Kim sinh bất độ đãi hà sinh…

今 生 不 度 待 何 生

Dịch:

Thái Hòa nguyên khí ai cũng có,

Lẽ ấy ngu phu há biết sao ?

Nghìn đời vạn kiếp, nay mới gặp,

Đời này chẳng độ, đợi khi nào ?

Như vậy ta có 3 nguồn dinh dưỡng:

(1) Ngũ cốc lấy từ đất đai.

(2) Khí trời mà ta có thể hấp thụ bằng cách hô hấp, qua hai lá phổi, hoặc qua làn da của toàn thân. Chính vì thế mà ta thấy đạo Lão, Thiền tông, hay Yoga đều chú trọng đến hô hấp. Nhiều môn phái, như phái Hồng Môn Đại Đạo, chủ trương ngày tắm nước lạnh ba lần, để giúp da hấp thụ dưỡng khí, và như vậy có thể tịch cốc.

(3) Tiên thiên khí mà ta có thể vận chuyện điều động, tích tụ trong tủy sống, trong xoang não. Tiên thiên khí này thực sự mới có những huyền năng linh diệu.

Cho tới nay, rất ít người biết công năng của Tiên thiên khí, cũng như cách vận chuyển tiên thiên khí, nên thường chỉ bàn đến công năng của khí hô hấp thông thường.

Ngay đến Viên Đốn Tử là một đạo sĩ Trung Hoa gần đây cũng không biết công năng của Tiên thiên khí, mà chỉ nghĩ rằng con người muốn sống lâu cần ăn uống cho phải phép, hô hấp khí trời qua mũi mồm, và qua làn da mà thôi.[11]

Y học ngày nay lại càng chưa biết công năng của nguyên khí này, nên khi cắt nghĩa những hiện tượng tiềm sinh của các nhà Yoga, thường cho rằng các vị có thể tuyệt cốc trong một thời gian lâu là vì biết làm thư giãn bắp thịt (relâchement musculaire), làm giảm thiểu các hoạt động sinh lý như loài vật đông miên (hibernation).

Trong bài bình giảng chương này, tôi đã cố gắng làm nổi bật hai vấn đề quan yếu trong công trình tu đạo của Lão giáo:

(1) Thận trọng trong vấn đề ăn uống thông thường.

(2) Phải biết hấp thụ tiên thiên khí mới được trường sinh.

Sau đây tôi cũng bàn qua về quan niệm Tuyệt cốc của ít nhiều đạo gia. Nhiều đạo sĩ tưởng rằng muốn thành tiên, phải tuyệt cốc. Nhưng quan điểm này cũng có nhiều đạo gia chống đối lại.

Sách Bàng môn tiểu thuật lục do Viên Đốn Tử bình chú có câu:

Si nhân vọng tưởng tố thần tiên,

癡 人 妄 想 做 神 仙

Nhẫn khát bất ẩm, cơ bất xan.

忍 渴 不 飲 饑 不 餐

Dịch:

Người ngu mới tưởng muốn thành tiên,

Khát không được uống, đói nhịn thèm.

Và nếu ta dở các sách tu dưỡng của đạo Lão ta thấy có rất nhiều bài thuốc Tuyệt cốc. Trong quyển Thông Thiên Bí Thư, quyển hai từ tr. 4 đến tr. 7, có đến hơn mười bài thuốc tịch cốc với những tên rất kêu như:

– Tịch cốc tiên đan 辟 穀 仙 丹. Lý Vệ Công, hành quân tịch cốc phương 李 衛 公 行 軍 辟 穀 方.

– Tịch cốc phương 辟 穀 方.

– Cứu hoang đan 救 荒 丹.

– Tế sinh đan 濟 生 丹.

– Hành lộ bất cơ đan 行 路 不 饑 丹.

– Hoàng sơn cốc cứu cơ đan 黃 山 谷 救 饑 丹.

– Tả Từ hoang niên pháp 左 慈 荒 年 法.

– Phòng cơ cứu sinh tứ quả đan 防 饑 救 生 四 果 丹, v.v.

Cuối quyển Thọ Thế thanh biên có các bài thuốc sau:

– Tịch cốc tiên đan 辟 穀 仙 丹

– Hứa chân quân phổ tế đan 許 真 君 普 濟 丹

– Gia Cát can lương 諸 葛 乾 糧

– Vương Tử Kiều biến bạch 王 子 喬 變 白

– Tăng niên phương 增 年 方

– Trường sinh tịch cốc đan 長 生 辟 穀 丹

– Tịch cốc phương 辟 穀 方

– Cứu hoang tịch cốc kỳ phương 救 荒 辟 穀 奇 方, v.v…

Sở dĩ có khuynh hướng này chính là vì:

1. Những đạo sĩ Trung Hoa xưa thường rất nghèo, bữa đói, bữa no, nên phải tìm ra những phương thức sống cho qua ngày.

2. Ta thấy các phương thuốc tịch cốc thường gắn liền với hai chữ “hoang niên”là những năm đói kém.

3. Các đạo sĩ nhiều người ẩn cư trong hang động, nên không đủ ngũ cốc, nhiều khi không muốn nấu nướng, để dành thời giờ tu luyện, nên đã nghĩ ra cách tịch cốc.

Dưới đây xin nhường lời cho Lâm Nhất Dân 林 一 民:

«Tịch cốc không phải là tuyệt thực. Mà chỉ là không ăn đồ ngũ cốc. Tiến thêm một bước nữa là không ăn đồ nấu nướng. Người tu sĩ vào núi, phải chú ý chọn lấy được một khu vực, một hoàn cảnh thích hợp, mà người ta thường gọi là Động Thiên, Phúc Địa, danh sơn, thắng cảnh. Đồng thời cũng phải xem xét xem nơi đó có sẵn những thứ sinh thực vật, nuôi sống con người không, ví như: Nhân sâm, Truật, phục linh, hoàng tinh, hà thủ ô, hoài sơn, kê đầu thực (khiếm thực?) … mới đầu ăn chín, sau tập ăn sống dần. Tịch cốc lương phương 辟 穀 糧 方, tôi đã dùng qua, và giới thiệu với nhiều người, đều thấy kết quả:

Kết phục linh 結 茯 苓 4 lạng.

Hoài sơn dược 懷 山 藥 4 lạng.

Kê đầu thực 雞 頭 實 4 lạng.

Nhu mễ 糯 米 (gạo nếp) 1 cân.

Canh mễ 粳 米 (gạo tẻ) nửa cân.

«Mới đầu đem Hoài sơn, phục linh, kê đầu thực phơi cho thật khô. Lúc chế thuốc, đem rang gạo nhu mễ (gạo nếp), và canh mễ (gạo tẻ) vo sạch, phơi khô, rồi cho vào nồi, đun nhỏ lửa cho tới khi hơi vàng, sẽ cho ba thứ phục linh, hoài sơn, kê đầu thực nói trên vào, cùng sao cho thật vàng, rồi đem ra tán mạt, càng nhỏ càng tốt, cho vào chai đút nút kín để dành. Khi đem dùng, lấy nước thật sôi đổ vào quấy thành như hồ. Có thể ăn thay điểm tâm, vừa rẻ tiền, vừa bổ dưỡng, ai dùng cũng được, bất kỳ là nam phụ lão ấu.» [12]

Thiết tưởng bình giải chương này như vậy đã đầy đủ.

——————————

[1] Phỏng đạo ngũ lục, tr. 323.

[2] Hư Tĩnh Chân Quân 虛 靜 真 君. Tiên học diệu tuyển, tr. 144. Xem thêm tr. 131.

[3] Tiên học diệu tuyển, tr. 410.

[4] Ngộ chân thiên, trích dẫn trong Tiên học diệu tuyển, tr. 148.

[5] Lữ Tổ toàn thư, trích dẫn trong Tiên học diệu tuyển, tr. 230.

[6] Chung Ly Quyền, trích trong Tiên học diệu tuyển, tr. 150.

[7] Hoàng đế Nội kinh, trích trong Tiên học diệu tuyển, tr. 37.

[8] Viên Đốn tử, Phỏng đạo ngữ lục, tr. 290.

[9] Viên Đốn tử, Phỏng đạo ngữ lục, tr. 298.

[10] Tung Ẩn Tử, Huỳnh Đình Ngoại cảnh chú, quyển Hạ, tr. 6a.

[11] Xem Phỏng đạo ngữ lục, tr. 300. Tiên học diệu tuyển, tr. 36.

[12] Phỏng đạo ngữ lục, tr. 255.

————————–

CHƯƠNG 31

TÂM ĐIỂN

心 典

A. KINH VĂN

1. Tâm điển nhất thể ngũ tạng vương,

心 典 一 體 五 藏 王

2. Động tĩnh, niệm chi, đạo đức hành.

動 靜 念 之 道 德 行

3. Thanh khiết, hỉ khí tự minh quang.

清 潔 喜 氣 自 明 光

4. Tọa khởi ngô câu, cộng đống lương.

坐 起 吾 俱 共 棟 梁

5. Trú dạ diệu cảnh, mộ bế tàng.

晝 夜 妙 景 暮 閉 藏

6. Thông lợi hoa tinh, điều âm dương.

通 利 華 精 調 陰 陽

B. LƯỢC DỊCH

Con tim trong thân: ngũ tạng vương,

Tổn niệm tâm thần, đạo thịnh xương.

Thanh tĩnh, hân hoan, phả huy quang,

Thần cùng tâm ta, bạn đống lương.

Ngày thời phóng ngoại, đêm thu tàng,

Làm sáng đôi mắt, điều Âm Dương.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Tâm điền nhất thể ngũ tạng vương.

心 典 一 體 五 藏 王

Tâm là cái gì quan trọng nhất nơi con người.

Câu 2. Động tĩnh niệm chi, đạo đức hành.

動 靜 念 之 道 德 行

Nếu biết rằng Tâm tàng Thần, mà suốt ngày dù động dù tĩnh, cũng tồn tưởng được Thần của tâm, thời đạo đức sẽ hưng thịnh. Thế tức là biết rằng trong tâm có Trời là nguồn gốc đạo đức chân chính.

Câu 3. Thanh khiết, hỉ khí, tự minh quang.

清 潔 喜 氣 自 明 光

Biết rằng trong tâm có Thần, có Trời: Tâm sẽ trở nên thanh khiết, vui tươi sáng láng, thông tuệ.

Câu 4. Tọa khởi, ngô câu, cộng đống lương.

坐 起 吾 俱 共 棟 梁

Tâm thần đứng ngồi có nhau như cột với kèo trong một cái nhà.

Câu 5. Trú nhật diệu cảnh, mộ bế tàng.

晝 夜 妙 景 暮 閉 藏

Ban ngày phóng ngoại là cho ngoại cảnh thêm đẹp tươi, rực rỡ. Ban đêm thời tàng ẩn trong xác thân.

Câu 6. Thông lợi hoa tinh, điều âm dương.

通 利 華 精 調 陰 陽

Làm cho đôi mắt được sáng láng, điều hòa được âm dương.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này bàn về lẽ: Trong tâm có Thần.

Tâm thần lúc nào cũng gắn bó lấy nhau. Tâm con người chính vì vậy mà trở nên quan trọng nhất nơi con người (câu 1). Tâm niệm rằng trong tâm mình có Thần (câu 2) sẽ làm cho tâm mình trở nên thanh khiết, hoan lạc, thông minh (câu 3). Hãy luôn luôn sống bè bạn với Thần Trời, dù khi ăn, dù khi ngủ, dù khi đứng, dù khi ngồi (câu 4).

Sau đó ta có thể tùy nghi, khi thì phóng ngoại điểm tô cho ngoại cảnh, khi thì hướng nội để chau chuốt (câu 5). Đắc đạo, đắc Thiên, có Thần trong tâm, thời mặt mũi sẽ sáng láng, đôi mắt sẽ tinh thần, và thân thể cả tinh thần lẫn thể xác đều được điều hòa thư sướng (câu 6).

Về phương diện tôn giáo đối chiếu, thời tư tưởng này nói lên lẽ:

– Thiên nhân tương dữ 天 人 相 與.

– Thiên nhân hợp phát 天 人 合 發.

– Thiên nhân hợp nhất 天 人 合 一.

Ngoại Cảnh toát lược đại ý chương này như sau:

«Tâm vi quốc chủ ngũ tạng vương,

心 為 國 主 五 臧 王

Nhất ý động tĩnh, khí giai hành.

一 意 動 靜 氣 皆 行

Đạo tự thủ ngã, thần minh quang.

道 自 守 我 神 明 光

Thông ngã hoa tinh điều âm dương,

通 我 華 精 調 陰 陽

Trú nhật chiêu chiêu, dạ tự thủ,

晝 日 昭 昭 夜 自 守

Khát tự đắc ẩm, cơ tự bão.» (chương 19)

渴 自 得 飲 饑 自 飽

Tung Ẩn Tử bình đoạn Ngoại Cảnh này rất hay, ta có thể mượn một đoạn để soi sáng thêm cho chương này:

Tung Ẩn Tử viết: «Trong lòng tâm và ý, theo cái lý động tĩnh, mà tìm cho ra được Nguyên Thần. Đến khi Nguyên Thần đã hiện thời ban ngày sáng chói, ban đêm giữ yên. Thế tức là Nguyên Thần mà hiện, thời mộng mị không còn sinh. Ngày thời chói chang rạng rỡ nơi Huỳnh Đình, đêm thời êm đềm tự thủ nơi Huỳnh đình. Chói chang rạng rỡ, nghĩa là không một làn mây mờ che phủ, êm đềm tự thủ là không có gì đến quấy nhiễu.» [1]

[1] Tung Ẩn Tử, Huỳnh đình ngoại cảnh chú, quyển Hạ, tr. 7b.

Tung Ẩn Tử có những lời bình nhiều khi rất trác tuyệt, ví như khi bình về Thái Hòa Nguyên khí (Xem Nội cảnh chương 30, Ngoại cảnh Tung Ẩn Tử, quyển Hạ, tr. 6a, chú) Ông có thơ:

Thái Hòa Nguyên khí, nhân tự hữu,           
太 和 元 氣 人 自 有

Chỉ thị ngu phu bất thức chân.                   
只 是 愚 夫 不 識 真

Vạn kiếp thiên sinh tằng nhất hội,               
萬 劫 千 生 曾 一 會

Kim sinh bất độ đãi hà sinh…                     
今 生 不 度 待 何 生

Dịch:

Thái Hòa nguyên khí ai cũng có,

Lẽ ấy ngu phu há biết sao ?

Nghìn đời vạn kiếp, nay mới gặp,

Đời này chẳng độ, đợi khi nào ?…

————————–

CHƯƠNG 32

KINH LỊCH

經 歷

A. KINH VĂN

1. Kinh lịch lục hợp, ẩn Mão Dậu,

經 歷 六 合 隱 卯 酉

2. Lưỡng thận chi thần, chủ diên thọ.

兩 腎 之 神 主 延 壽

3. Chuyển giáng thích đẩu, tàng sơ cửu,

轉 降 適 斗 藏 初 九

4. Tri hùng thủ thư khả vô lão,

知 雄 守 雌 可 無 老

5. Tri bạch, kiến hắc cấp tọa thủ.

知 白 見 黑 急 坐 守

B. LƯỢC DỊCH

Kinh qua châu thân, về Chân Thổ.

Thần của hai thận chủ diên thọ,

Chuyển hồi Bắc đẩu về đầu não,

Biết đực giữ cái nên bất lão.

Biết trắng giữ đen, gấp ngồi giữ.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Kinh lịch lục hợp ẩn mão dậu.

經 歷 六 合 隱 卯 酉

Kinh lịch 經 歷: Đi qua.

Lục hợp 六 合: (1) Tứ phương và thượng hạ; (2) Lục phủ, hay Lục tạng (Ngũ tạng và đảm)

Ẩn 隱: Ẩn giấu.

Mão dậu 卯 酉: Mão 卯: Đông. Dậu 酉: Tây. Mão dậu là hai phía đông tây của chân trời. Mặt trời mọc lên từ Mão, lặn từ Dậu. Như vậy dưới đường Mão dậu không có mặt trời. Xét về giờ thì Mão là khoảng 6 giờ sáng, Dậu là khoảng 6 giờ chiều. Ở nơi con người thì Mão ứng với huyệt Giáp Tích của xương sống, Dậu ứng với huyệt Trung Uyển ở phía trước bụng.[1]

Tung Ẩn Tử giải Mão Dậu là Nhật Nguyệt, mà Nhật Nguyệt là Đan 丹. Và giải toàn câu là: «Kinh lịch lục phủ dẫn chí Đan thượng». Đi qua lục phủ, dẫn về Thượng đan điền. Thượng đan điền hay Huỳnh Đình, hay Chân Thổ, hay Trung điểm, vì thế tôi dịch: Kinh qua châu thân về Chân thổ.

Câu 2. Lưỡng thận chi thần chủ diên thọ.

兩 腎 之 神 主 延 壽

Thần của hai thận chủ trường thọ.

Tôi hội ý rằng: Thận theo Đông Y, gồm đủ Âm (thận phải) Dương (thận trái). Ý nói người tu đạo cần phải biết phối hợp Âm (Tâm) Dương (Thần) mới có thể trường sinh.

Câu 3. Chuyển giáng thích đẩu tàng sơ cửu.

轉 降 適 斗 藏 初 九

Bản Tử Hà: Chuyển Cương, hồi Đẩu tàng sơ cửu.

轉 罡 迴 斗 藏 初 九

Ngoại cảnh đổi là Chuyển Dương chi Âm tàng ư cửu.

轉 陽 之 陰 藏 於 九

Câu này rất tối nghĩa.

Thiên Cương 天 罡 hay Bắc Đẩu 北 斗 được coi như là Thất khiếu 七 竅.

Lương Khưu Tử khi giải: Chuyển Dương chi âm, tàng ư Cửu dã 轉 陽 之 陰 藏 於 九 也, giải Cửu là Đầu 頭. Hội những ý trên, tôi dịch là: chuyển hồi Bắc đẩu về đầu não. Và hiểu rằng: tu luyện là cốt đem tinh hoa chu thân (ở đây tượng trưng bằng thất khiếu) về Nê Hoàn cung.

Câu 4. Tri hùng, thủ thư khả vô lão.

知 雄 守 雌 可 無 老

Hùng 雄: Dương. Động. Thư 雌: Âm, Tĩnh.

Tiên học Từ điển nơi chữ: Tri hùng thủ thư 知 雄 守 雌, đã giải là: Nên giữ lấy cái Tĩnh, đừng vọng động.[2]

Có lẽ giải đại cương rằng: Tu cần tĩnh định, đừng vọng động, cũng có thể hợp với chính ý của Huỳnh Đình. Huỳnh Đình nơi chương 4 viết:

Huỳnh Đình nội nhân phục cẩm y. 黃 庭 內 人 服 錦 衣 (nội nhân là đạo mẫu vẫn là Âm, là Thư)

Chương 21 viết: Nê Hoàn phu nhân đương trung lập.

泥 丸 夫 人 當 中 立 (cũng là đạo mẫu, là Thư).

Đạo Đức Kinh cũng chủ trương: Trí hư cực, thủ tĩnh đốc 智 虛 極, 守 靜 篤.

Câu 5. Tri bạch kiến hắc, cấp tọa thủ.

知 白 見 黑 急 坐 守

Bản Tử Hà: Tri hắc kiến bạch, khí tự thủ.

知 黑 見 白 氣 自 守

Tham Đồng Khế 參 同 契 giải Hắc là Thủy, Bạch là Kim. Thế tức là: Nhìn thấy Âm thì biết trong Âm có tàng Dương, nên gấp thái thủ mà tu luyện.

D. BÌNH GIẢNG

Ngoại Cảnh tóm tắt chương này như sau:

Kinh lịch lục phủ, tàng Mão Dậu,

經 歷 六 府 藏 卯 酉

Chuyển dương chi âm tàng ư cửu.

轉 陽 之 陰 藏 於 九

Thẩm năng hành chi, bất tri lão.

審 能 行 之 不 知 老

Chương này mới đọc thì rất khó hiểu, nhưng chịu suy nghĩ cũng thấy có mạch lạc sáng suốt:

Hội ý Nội Cảnh và Ngoại cảnh cùng với các lời bình giải của cổ nhân ta có thể giải hai câu đầu như sau:

Một khi Nguyên thần đã xuất hiện (xem từ chương 31) thì sẽ kinh qua lục phủ, đem tinh hoa châu thân về tàng trữ nơi đầu. Chính vì vậy mà Tung Ẩn Tử đã giải: “Kinh lịch lục phủ để dẫn về Đan điền. Mão Dậu, Tung Ẩn Tử giải là là Nhật Nguyệt, rồi lại chắp hai chữ Nhật Nguyệt lại thành chữ Đan.

Tôi cho rằng nơi chương này tác giả Huỳnh Đình muốn nói lên rằng: Muốn tu luyện cần phải hiểu lẽ Âm Dương (câu 2, 4, 5) và lẽ Hoàn phản (câu 1, 3).

Âm Dương là gì: Thưa là Tâm và Thần. Nơi con người, lộ liễu nhất, thô thiển nhất để tượng trưng cho Âm Dương là hai trái thận. Nhiều vị danh y Trung Hoa và Việt Nam đã gọi hai trái thận là Âm Dương. Triệu Dưỡng Quì và Lãn Ông còn thấy Hai trái thận kết hợp lại thành Thái Cực (Xem Lãn Ông, Huyền tẫn phát vi, luận án của Nguyễn Văn Thọ, Les Secrets des Reins révélés). Âm Dương có hợp nhất thì mới thành lại Thái Cực, Tâm thần có hợp nhất thì Đạo và Nguyên thần mới hiện.

Tâm thời dễ nom thấy, dễ cảm thấy, còn Thần thời khó biết khó tìm. Thấy Âm thời suy ra Dương, thấy Tâm thời suy ra Thần. Như vậy tức là Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, tri kỳ bạch, thủ (kiến) kỳ hắc.

Khi bình giải Đạo Đức Kinh, chương 28, tôi đã dùng lẽ Âm Dương mà giải đại khái như trên. Chung qui vẫn chỉ là phải trực giác được rằng trong Tâm mình còn có Thần, trong tâm mình còn có Trời, có Đạo, thời mới bước được vào con đường tu trì chân chính.

Tham Đồng Khế 參 同 契 cũng đã viết:

Tri bạch, thủ hắc, Thần minh tự lai,

Bạch giả kim tinh, hắc giả thủy tái.[3]

知 白 守 黑 神 明 自 來

白 者 金 精 黑 者 水 塞

Ngộ Chân thiên 悟 真 篇 có thơ:

Hắc trung hữu bạch, vi đan mẫu.

黑 中 有 白 為 丹 母

Hùng lý tàng thư, thị thánh thai.

雄 裏 藏 雌 是 聖 胎

Thái ất tại lộ, nghi thận thủ,

太 乙 在 爐 宜 慎 守

Tam điền tụ bảo ứng Tam Thai.[4]

三 田 聚 寶 應 三 台.

Biết rằng trong tâm (Hắc) có Thần (Bạch) mới có thể tu kim đan, Tâm Thần có hợp nhất mới thành thánh thai, Âm Dương có giao hòa, Thái Ất mới hiển lộ, và Tam đan điền mới tụ được Tam Bảo (Tinh, Khí, Thần), ứng với sao Tam Thai trên trời (Tam Thai cũng có 3 vì sao). Nay bình giải đoạn này của Huỳnh Đình, tôi thêm rằng: Tu luyện cốt tại hư tĩnh (tri hùng, thủ thư) đừng có vọng động, tu luyện trước hết phải biết rằng trong Tâm (Hắc) có Thần (Bạch).

Giải như trên, sẽ được một bài học quí giá, mà Đạo Đức Kinh, Huỳnh Đình Kinh, Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Thiên đều muốn trao cho ta.

————————————-

[1] Tiên học từ điển, tr. 75.

[2] Tiên học từ điển, tr. 106: Hùng chủ động, dương tính, thư chủ tĩnh, âm tính, tri kỳ động bất khẳng vọng động, thủ chi dĩ tĩnh, nhi đãi kỳ biến, tắc vi diệu dụng, nhược tri nhi bất thủ, thuận kỳ tự động, thị vi vọng động, thủ nhi bất tri kỳ biến, hựu vi vô ích chi thủ, tri nhi thủ chi, cái động tĩnh hỗ dụng dã. 雄 主 動, 陽 性, 雌 主 靜, 陰 性, 知 其 動 不 肯 妄 動, 守 之 以 靜, 而 待 其 變, 則 為 妙 用, 若 知而 不 守, 順 其 自 動, 是 為 妄 動, 守 而 不 知 其 變, 又 為 無 益 之 守, 知 而 守 之, 蓋 動 靜 互 用 也.

[3] Trích trong Tiên học từ điển, tr. 106.

[4] Trích trong Tiên học diệu tuyển, tr. 120.

CHƯƠNG 33

CAN KHÍ

肝 氣

A. KINH VĂN

1. Can khí uất bột thanh thả trường,

肝 氣 鬱 勃 清 且 長

2. La liệt lục phủ sinh tam quang.

羅 列 六 府 生 三 光

3. Tâm tinh ý chuyên, nội bất khuynh,

心 精 意 專 內 不 傾

4. Thượng hợp tam tiêu, hạ ngọc tương,

上 合 三 焦 下 玉 漿

5. Huyền dịch vân hành, khứ xú hương.

玄 液 雲 行 去 臭 香

6. Trị đãng phát xỉ, luyện ngũ phương.

治 蕩 髮 齒 鍊 五 方

7. Thủ tân, huyền ưng, nhập minh đường.

取 津 玄 膺 入 明 堂

8. Hạ khái hầu lung, thần minh thông,

下 溉 喉 嚨 神 明 通

9.Tọa thị hoa cái du quí kinh.

坐 侍 華 蓋 遊 貴 京

10. Phiêu diêu tam đế tịch thanh lương,

飄 颻 三 帝 席 清 涼

11. Ngũ sắc vân khí, phân thanh thông.

五 色 雲 氣 紛 青 蔥

12. Bế mục nội miến, tự tương vọng,

閉 目 內 眄 自 相 望

13. Sử tâm chư thần hoàn tương sùng.

使 心 諸 神 還 相 崇

14. Thất huyền anh hoa khai mệnh môn,

七 玄 英 華 開 命 門

15. Thông lợi thiên đạo, tồn huyền căn.

通 利 天 道 存 玄 根

16. Bách nhị thập niên do khả hoàn.

百 二 十 年 猶 可 還

17. Quá thử thủ đạo thành độc nan,

過 此 守 道 誠 獨 難

18. Duy đãi cửu chuyển bát quỳnh đan,

唯 待 九 轉 八 瓊 丹

19. Yếu phục tinh tư tồn thất nguyên,

要 復 精 思 存 七 元

20. Nhật nguyệt chi hoa cứu lão tàn,

日 月 之 華 救 老 殘

21. Căn khí chu lưu lạc vô đoan.

根 氣 周 流 絡 無 端

B. LƯỢC DỊCH

Can khí bồng bột, trong lại trường,

Khai thông lục phủ, sinh tam quang.

Tâm tinh, ý chuyên, tu mới ngoan,

Trên hợp tam tiêu, dưới ngọc tương,

Tâm khí lưu hành, hơi hám vương (vong)

Răng bền, tóc nhuận, thân thái khương.

Ngọc tân từ họng xuống minh đường.

Tẩm nhuận yết hầu, thần minh thông.

Ngồi xem phế khí nhập đơn điền,

Can khí khinh phiêu, thông tâm đan,

Ngũ khí kết thành ngũ sắc vân,

Bế mục phản quan, quên mình luôn,

Tâm cùng chư thần được vầy đoàn,

Thất khiếu lưu thông, khai mệnh môn,

Chư kinh thông thâu, tồn huyền côn (căn)

Tuổi trăm hai mươi, tu còn dòn,

Vượt quá tuổi đó, đạo khó tròn,

Hợp nhất tinh thần, tổn thất nguyên,

Điều can, vận khí, cứu lão tàn,

Mắt như nhật nguyệt, chiếu linh quang.

Can khí chu lưu, thân mãi an.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Can khí uất bột thanh thả trường.

肝 氣 鬱 勃 清 且 長

Uất bột 鬱 勃: bồng bột, mạnh mẽ.

Thanh thả trường 清 且 長: Trong và dài.

Câu 2. La liệt lục phủ sinh tam quang.

羅 列 六 府 生 三 光

Can khí chu lưu lục phủ, ngũ tạng chứ không phải riêng gì ở gan.

Sinh tam quang 生 三 光: Làm cho con người sáng láng.

Câu 3. Tâm tinh ý chuyên nội bất khuynh.

心 精 意 專 內 不 傾

Vụ Thành Tử cho rằng được như vậy nhờ đã hiểu Nhất (năng tri nhất dã 能 知 一 也).

Câu 4. Thượng hợp tam tiêu hạ ngọc tương.

上 合 三 焦 下 玉 漿

Can khí trên thì hợp với khí ma tiêu, dưới thì sinh ra nước bọt. Ngọc tương 玉 漿: nước bọt.

Câu 5. Huyền dịch vân hành, khứ xú hương.

玉 漿 玄 液 雲 行 去 臭 香

Bản Tử Hà: Huyền dịch vân anh, khứ xú hương.

玄 液 雲 英 去 臭 香

Chân khí chu lưu, nên không còn bệnh tật, hết mọi mùi hôi hám.

Câu 6. Trị đãng phát xỉ, luyện ngũ phương.

治 蕩 髮 齒 鍊 五 方

Bản Tử Hà: Địch đãng phát xỉ, luyện ngũ phương.

滌 蕩 髮 齒 鍊 五 方

Can khí lưu hành, nên lông tóc cũng như được tẩy rửa, tân dịch sinh lưu, nên răng lợi cũng như được rửa súc. Can khí còn dưỡng nuôi ngũ tạng (luyện ngũ phương).

Câu 7. Thủ tân, huyền ưng, nhập Minh đường.

取 津 玄 膺 入 明 堂

Nước bọt được rót vào cuống họng rồi đi xuống Minh đường. Minh đường đây là Giáng cung minh đường ở trung bộ.

Câu 8. Hạ khái hầu lung, thần minh thông.

下 溉 喉 嚨 神 明 通

Tân dịch quán khái cổ họng, chi nên thần minh thông sáng. Quán khái 灌 溉: rót tưới vào.

Câu 9. Tọa thị hoa cái du quí kinh.

坐 侍 華 蓋 遊 貴 京

Tử Hà: Tọa thị hoa cái du quí kinh.

坐 視 華 蓋 遊 貴 京

Hoa cái 華 蓋: phổi. Quí kinh 貴 京: Đan điền.

Câu 10. Phiêu diêu tam đế, tịch thanh lương.

飄 颻 三 帝 席 清 涼

Bản Tử Hà: Phiêu diêu tam tố tịch thanh lương.

飄 颻 三 素 席 清 涼

Chu lưu tam điền (phiêu diêu tam đế 飄 颻 三 帝), nhuần nhuận đôi mắt (tịch thanh lương 席 清 涼).

Câu 11. Ngũ sắc vân khí, phân thanh thông.

五 色 雲 氣 紛 青 蔥

Can khí hợp với khí sắc của ngũ tạng, trông như mây ngũ sắc.

Câu 12. Bế mục nội miến, tự tương vọng.

閉 目 內 眄 自 相 望

Bản Tử Hà: Bế mục nội phán, tự tương vọng.

閉 目 內 盼 自 相 望

Bế mục nội phán 閉 目 內 盼: Hồi quang phản chiếu.

Tự tương vọng 自 相 望:  Nhìn thấy lục phủ ngũ tạng (Vụ Thành Tử giải: Thường tồn niệm chi, ngũ tạng tự hiện 常 存 念 之 五 藏 自 現); ‚ Tự tâm và tự tư cả hai đều được quên đi luôn (Tử Hà giải).

Câu 13. Sử tâm chư thần hoàn tương sùng.

使 心 諸 神 還 相 崇

Làm cho thần tim và thần ngũ tạng hợp nhất với nhau (hợp khế 合 契, tương phù 相 符) đều cùng kính trọng lẫn nhau (hoàn tương sùng 還 相 崇).[1]

Câu 14. Thất huyền anh hoa khai mệnh môn.

七 玄 英 華 開 命 門

Thất khiếu lưu thông, không còn lưu trệ. (Vụ Thành Tử giải: Thất khiếu lưu thông vô lưu trệ dã 七 竅 流 通 無 留 滯 也).

Câu 15. Thông lợi thiên đạo tồn huyền căn.

通 利 天 道 存 玄 根

Thông lợi Thiên tâm, cửu đạo tức là thông Nhâm Đốc.

Tồn huyền căn 存 玄 根: Tồn huyền tẫn căn cơ 存 玄 牝 根 基 (Tồn nguyên thần 元 神, nguyên khí 元 氣).

Câu 16. Bách nhị thập niên do khả hoàn.

百 二 十 年 猶 可 還

Bản Tử Hà: Bách nhị thập tuế do khả hoàn.

百 二 十 歲 猶 可 還

Dẫu già (120 tuổi) nhưng tu vẫn còn kịp.[2]

Câu 17. Quá thử thủ đạo thành độc nan.

過 此 守 道 誠 獨 難

Quá tuổi đó, thực sự mà nói thời tu đạo được rất khó, vì chết đến nơi rồi còn gì (khứ tử cận hĩ 去 死 近 矣).

Câu 18. Duy đãi cửu chuyển bát quỳnh đan.

唯 待 九 轉 八 瓊 丹

Phải có Cửu chuyển hoàn đan 九 轉 還 丹 hay Bát quỳnh đan 八 瓊 丹 mới cứu được.

Bát quỳnh đan theo tài liệu của Henri Doré (Variétés sinologiques No 66 gồm có):

(1) Đan sa 丹 砂 (chu sa 朱 砂): Sulfure de Mercure;

(2) Hùng hoàng 雄 黃: Réalgar, Sulfure d’arsénic rouge;

(3) Hư Hoàng 雌 黃: Sulfure d’arsénic jaune;

(4) Lưu Hoàng 硫 黃: Soufre;

(5) Nhung diêm 戎 鹽: Borate de Soude;

(6) Vân mẫu 雲 母: Mica;

(7) Tiêu thạch 消 石: Salpêtre;

(8) Không thanh 空 青: Sulfate de cuivre.

Cửu chuyển hoàn đan gồm 14 vị: Ngoài 8 vị của Bát quỳnh đan còn có:

(1) Bạch thạch anh 白 石 英 (quartz blanc);

(2) Tử thạch anh 紫 石 英 (quartz violet);

(3) Thanh đại 青 黛 (Plombagine);

(4) Dương khởi thạch 陽 起 石 (Actinolite);

(5) Kim nha thạch 金 牙 石: Dent de tigre;

(6) Diên phấn 鉛 粉 (Céruse).[3]

Câu 19. Yếu phục tinh tư tồn thất nguyên.

要 復 精 思 存 七 元

Cần phải bảo toàn được tinh thần.

Thất nguyên là tinh hoa của thất khiếu.

Câu 20. Nhật nguyệt chi hoa cứu lão tàn.

日 月 之 華 救 老 殘

Tinh thần mà bảo toàn được thời sẽ diên niên.

Câu 21. Can khí chu lưu lạc vô đoan.

根 氣 周 流 絡 無 端

Bản Tử Hà: Can khí chu lưu chung vô đoan.

根 氣 周 流 終 無 端

Câu này lại bàn về sự lưu hành của can khí khắp châu thân.

D. BÌNH GIẢNG

Chương này chủ yếu là bàn về: Vận khí yết tân.

Ngoại Cảnh tóm chương này như sau:

Can chi vi khí điều thả trường,

肝 之 為 氣 條 且 長

La liệt ngũ tạng sinh tam quang.

羅 列 五 臟 生 三 光

Thượng hợp tam tiêu, hạ ngọc tương,

上 合 三 焦 下 玉 漿

(Ngã thần hồn phách tại trung ương)

我 神 魂 魄 在 中 央

Tân dịch lưu tuyền khứ xú hương.

津 液 流 泉 去 臭 香

Lập ư huyền ưng hợp minh đường.

立 於 玄 膺 合 明 堂

… (tiếp theo là 9 câu)

Hạ ư hầu lung, thông thần minh.

下 於 喉 嚨 通 神 明

Quá hoa cái hạ, thanh thả lương.

過 華 蓋 下 清 且 涼

… (tiếp theo là 4 câu)

Tương sử chư thần khai mệnh môn.

將 使 諸 神 開 命 門

Thông lợi thiên đạo chí linh căn.

通 利 天 道 至 靈 根

… (tiếp theo là 1 câu)

Can khí tự hoàn chung vô đoan.

肝 氣 似 環 終 無 端

(Ngoại Cảnh chương 20)

So chương 33 Nội Cảnh với chương 20 Ngoại Cảnh, ta thấy: Nội Cảnh bàn về Vận khí, Yết tân. Ngoại Cảnh bàn thêm về Tồn thần nữa. Vì thế mà Ngoại Cảnh có những câu thêm như:

Thanh tĩnh vô vi, thần lưu chỉ. 清 靜 無 為 神 留 止.

Chương này sở dĩ bàn về Vận khí, vì Can tàng Hồn, mà Hồn chính là Khí. Cũng như nơi chương Tâm điển, bàn về Thần, vì Tâm tàng Thần.

Can khí ở chương này được đồng hóa với Nguyên khí, vì vậy nó mới có thể chu lưu khắp chân thân (câu 1, 2), có thể:

– Sinh quang 生 光 (câu 2);

– Sinh khí 生 氣 (câu 3);

– Sinh ngọc dịch, tân dịch 生 玉 液 津 液 (câu 3).

Tân 津 (ngọc dịch, tân dịch, ngọc tương) khí 氣 (nguyên khí) có nhuần tẩm, có chu lưu, thì người mới được khỏe mạnh, hơi hướng mới được thơm tho (câu 5), răng mới bền, tóc mới nhuận (câu 5, 6, 7).

Nguyên khí có chu lưu, mới thông kinh mạch, thông Nhâm Đốc (câu 15), thông thất khiếu (câu 14), hoàn qui về Thiên môn, Đan điền (câu 15). Ngoại Cảnh (Huỳnh Đình Ngoại Cảnh) nhấn mạnh rằng:

– Thông lợi Thiên đạo, trường sinh thảo 通 利 天 道 長 生 草 (Khai thông được Nhâm Đốc là tìm ra được thuốc trường sinh).

– Thất khiếu dĩ thông, bất tri lão 七 竅 以 通 不 知 老 (Thông được thất khiếu sẽ khiến con người bất lão).

Đem được Ngũ khí triều nguyên, hội tụ về Kiền Đỉnh, Nê Hoàn chính là trở về được Thiên Môn tổ Khiếu, trở về được với Thái cực, nơi sinh xuất Âm Dương (Hoàn tọa Thiên môn, hầu Âm Dương 還 坐 天 門 候 陰 陽).

Trong khi vận khí, cũng phải điều thần, phải hồi quang phản chiếu, để nhìn cho ra chân diện mục của mình (câu 13), hòa hợp với thần trong người, hòa hài tâm thần trong người thành một chân nhân duy nhất (câu 12, 13).

Phép tu luyện nói trên không có hạn tuổi, đừng nói rằng đã già mà ngoại ngùng chẳng dám tu.

Huỳnh Đình kinh nói một cách rất hài hước rằng nếu ta chưa tới 120 tuổi vẫn có thể tu thành tiên, vẫn có thể tu trường sinh, sau tuổi đó cần phải uống Cửu Chuyển hoàn đơn hay Bát quỳnh đơn (câu 17, 18).

Tóm lại muốn diên niên, cần phải bảo tồn tinh hoa, hòa hài được tâm thần, khai thông được thất khiếu (câu 17, 18) và nhất là cần phải biết điều thần, vận khí (câu 20, 21).

[1] Vụ Thành tử giải: Xích Thành đồng tử dữ ngũ tạng chân nhân hợp khế đồng phù, cộng tương tôn kính dã. 赤 城 童 子 與 五 藏 真 人 合 契 同 符, 共相 尊 敬 也.

[2] Vụ Thành tử: Đương tức tu hành, thời bất khả thất 當 即 修 行, 時 不 可 失 (Phải tu hành ngay, chớ để thời quan trôi qua mất).

[3] Henri Doré, Variétés Sinologiques, No 66, Chapitre 11, Section B. Article V: La Pillule d’ immortalité.

————————–

CHƯƠNG 34

PHẾ CHI

肺 之

A. KINH VĂN

1. Phế chi vi khí tam tiêu khởi,

肺 之 為 氣 三 焦 起

2. Thị thính u minh, hầu đồng tử,

視 聽 幽 冥 候 童 子

3. Điều lý ngũ hoa, tinh phát xỉ,

調 理 五 華 精 髮 齒

4. Nhị thập lục yết, ngọc trì lý,

二 六 十 咽 玉 池 裏

5. Khai thông bách mạch huyết dịch thủy,

開 通 百 脈 血 液 始

6. Nhan sắc sinh quang kim ngọc trạch.

顏 色 生 光 金 玉 澤

7. Xỉ kiên, phát hắc bất tri bạch,

齒 堅 髮 黑 不 知 白

8. Tồn thử chân thần, vật lạc lạc.

存 此 真 神 勿 落 落

9. Đương ức thử cung, hữu tọa tịch,

當 憶 此 宮 有 座 席

10. Chúng thần hợp hội chuyển tương sách.

眾 神 合 會 轉 相 索

A. LƯỢC DỊCH

Phế khí phát sinh từ Tam tiêu,

Nghe nhìn u minh, chờ đồng tử,

Điều hòa ngũ tạng, bổ răng tóc

Chân khí 36 lần về Nê Hoàn,

Khai thông bách mạch, bổ não tủy,

Nhan sắc phởn phơ, huyết dịch thông,

Răng chặt, tóc đen, quên mất bạc,

Giữ Chân Thần đó, đừng biếng nhác,

Nên nhớ Huỳnh đình có tòa tịch,

Chuyển khí hội thần, thần tương hợp.

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Phế chi vi khí Tam tiêu khởi.

肺 之 為 氣 三 焦 起

Tử Hà giải Tam tiêu là Chân Nhất chi khí, Chân Nguyên Nhất Khí. Như vậy nói theo từ ngữ y học ngày nay, là phế muốn hoạt động phải nhờ sự kích thích của một bộ phận trong đầu não.

Câu 2. Thị thính u minh, hậu đồng tử.

視 聽 幽 冥 候 童 子

Ngoại Cảnh: Phục ư Thiên môn, hậu cố đạo.

伏 於 天 門 候 故 道

Hội ý hai câu này ta giải câu trên là: Phế có liên lạc với Nê Hoàn cung 泥 丸 宮 (Thiên môn 天 門, U khuyết 幽 闕) và thần Tim (Đồng tử). Vụ Thành Tử giải Đồng tử là Tâm Thần 心 神 (thần Tim: Xích Thành đồng tử 赤 城 童 子).

Câu 3. Điều lý ngũ hoa, tinh phát xỉ.

調 理 五 華 精 髮 齒

Điều lý 調 理: Điều hòa.

Ngũ hoa 五 華: Ngũ tạng khí.

Tinh phát xỉ 精 髮 齒: Làm cho răng tóc thêm bền, thêm tốt.

Câu 4. Nhị thập lục yết ngọc trì lý.

二 六 十 咽 玉 池 裏

Bản Tử Hà: Tam thập lục yết Ngọc trì lý.

三 六 十 咽 玉 池 裏

Câu này có thể giải hai cách:

(1) Nếu nuốt (thôn yết 吞 咽) được tân dịch trong miệng tất cả là 36 hay 26 lần (số 36 có lẽ đúng hơn là 26, vì 36 = 9 x 4, thuộc Dương, đối ứng với 24. Số 24 = 6 x 4 thuộc Âm. Nội Cảnh có 36 chương, Ngoại Cảnh chia thành 24 chương chính cũng là để thuận lẽ âm dương nói trên).

(2) Nếu đem được Chân khí về Nê Hoàn (Ngọc trì 玉 池) được 36 lần. Tử Hà giải Ngọc trì là Thái Hòa cung 太 和 宮 (Xem Nội cảnh chương 3) và giải thôn yết 吞 咽 nơi đây nghĩa là đem chân khí về Nê Hoàn. Giải như vậy, có lẽ hợp với mạch văn trong chương này.

Câu 5. Khai thông bách mạch, huyết dịch thủy.

開 通 百 脈 血 液 始

Đem được Chân khí về Nê Hoàn, tức là khai thông được Nhâm Đốc, khai thông được bách mạch, và ảnh hưởng được đến nguồn gốc của huyết dịch (huyết dịch thủy).

Câu 6. Nhan sắc sinh quang, kim ngọc trạch.

顏 色 生 光 金 玉 澤

Nhờ hô hấp (nhờ phế khí 肺 氣) vận chuyển được Nguyên khí (chân khí), sẽ là cho nhan sắc thêm nhuận trạch, con người thêm phởn phơ, tươi đẹp.

Câu 7. Xỉ kiên phát hắc, bất tri bạch.

齒 堅 髮 黑 不 知 白

Răng tóc sẽ tốt lại (răng chắc tóc đen, không bạc đầu)

Câu 8. Tồn thử chân thần vật lạc lạc.

存 此 真 神 勿 落 落

Hãy giữ vẹn Chân thần, đừng biếng nhác.

Câu 9. Đương ức thư cung hữu tọa tịch.

當 憶 此 宮 有 座 席

Bản Tử Hà: Đương ức Tử cung hữu tọa tịch.

當 憶 紫 宮 有 座 席

Ta có thể so sánh câu này với câu:

Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng

泥 丸 九 真 皆 有 房 (chương 7)

Đương ức 當 憶: nên nhớ.

Tử cung 紫 宮, Thử cung 此 宮: Cung tía, cung này. Nê Hoàn cung. Cung chính giữa trời ở nơi Bắc cực được gọi là Tử vi cung 紫 微 宮. Màu Tía đối với Trung Hoa như vậy không thua gì màu vàng. Ta thấy có Trương Bá Đoan 張 伯 端 có đạo hiệu: Tử Dương chân nhân 紫 陽 真 人.

Câu 10. Chúng thần hội hợp, chuyển tương sách.

眾 神 合 會 轉 相 索

Vận khí là phương pháp điều thần, phương pháp tập thần, tụ thần, đem chư thần hội hợp về Nê Hoàn.

D. BÌNH GIẢNG

Ngoại Cảnh đề cập chương này như sau:

Phế chi vi khí tam tiêu khởi,

肺 之 為 氣 三 焦 起

Phục ư Thiên môn, hầu cố đạo,

伏 於 天 門 候 故 道

… (tiếp theo là 3 câu)

Điều hòa tinh hoa nhuận phát xỉ.

調 和 精 華 潤 髮 齒

Nhan sắc nhuận trạch, bất phục dược.

顏 色 潤 澤 不 服 藥

Chư thần giai hội tương cầu sách.

諸 神 皆 會 相 求 索 (chương 21)

Chương này có thể hiểu được một cách minh bạch, mạch lạc, nếu ta chấp nhận rằng:

1. Hai lá phổi muốn hoạt động phải được sự điều khiển âm thầm của não bộ (câu 1). Y học ngày nay đã xác định, nếu ta lấy một vật nhọn chọc đúng vào khoảng «cây sống» (arbre de vie) nơi hành tủy (bulbe) khoảng dưới huyệt Phong phủ, nơi hõm sau ót, thì sẽ chết lập tức vì tắt thở.

2. Và như vậy phế có liên quan mật thiết đến Nê Hoàn cung (u khuyết) và tâm thần (hầu đồng tử) (câu 2).

3. Nhờ phế khí, ta sẽ chuyển được chân khí, (mà Huỳnh Đình cũng gọi là (Càn khí). Đó là phương pháp vận khí điều tức mà người xưa gọi bóng bảy là hàng long 降 龍 (Long: Can khí) phục hổ 伏 虎 (phế khí).[1] Có vận khí, điều tức mới khai thông được Nhâm Đốc, mới thu hồi được Tâm Thận nhị khí, người xưa gọi thế là Thủy Hỏa Ký Tế 水 火 既 濟.[2] Rồi mới tụ hội được ngũ khí về tàng dưỡng nơi linh căn Huỳnh đình Trung thổ.

4. Phế khí lưu chuyển trong huyết mạch châu thân. Chân khí lưu chuyển trong thần kinh, trong tủy sống, và trong các xoang não. Nhờ sự vận chuyển điều hòa của hai thứ khí đó mà ngũ tạng sẽ được điều hòa, răng bền, tóc đẹp (câu 3).

5. Nếu ta biết nhờ phép hô hấp mà vận chuyển được chân khí qua tủy sống về tích tụ tại Nê Hoàn, mỗi ngày 36 lần, ta sẽ khai thông được bách mạch, sẽ tăng bổ huyết dịch, sẽ làm cho răng bền tóc đẹp (câu 2, 3, 4, 5, 6, 7). Những kết quả tốt đẹp trên chắc chắn là chỉ mỗi sự hô hấp của hai lá phổi không sao đem lại được.

6. Lối giải thích trên còn cho ta thấy được liên lạc giữa hồn phách. Ta tóm tắt lại:

– Phế khí 肺 氣 (Khí hô hấp thông thường qua phổi)

– Can khí 肝 氣 (Chân khí 真 氣)

– Phế tàng phách 肺 藏 魄

– Can tàng hồn 肝 藏 魂

Ta sẽ thấy:

– Phách 魄 là khí trọng trọc thuộc Âm, có liên lạc mật thiết với tạng phủ, huyết mạch.

– Hồn 魂 là khí khinh thanh thuộc Dương, có liên lạc mật thiết với thần kinh, với tủy sống, và các xoang não, óc não.

– Phách coi phần biểu 表, phần ngoài.

– Hồn coi phần lý 裏, phần bên trong.

– Còn Thần 神 là Khí siêu vi, hư cực tĩnh đốc, là căn cơ, làm khu nữu cho tính mệnh con người.

– Thần là Thái Cực, Hồn phách là hai phần Âm Dương.

Tung Ẩn Tử viết: «Phách là phế khí, phách là thủ lãnh âm thần trong con người. Hồn là thủ lãnh dương thần trong con người. Phách là khí, chủ nhất thân hữu hình chi tri giác. Hồn là khí, chủ nhất thân vô hình chi tri giác. Cho nên bảy thứ tri giác thuộc Âm đều do phách. Ba thứ tri giác thuộc dương đều do hồn.» [3]

Nói theo y học hiện đại thì: Phách chủ về cảm giác (sensations); Hồn chủ về tri giác (perceptions).

Phế khí là vì Âm khí nên dầu lưu chuyển cũng không khai thông được bách mạch. Chỉ có chân khí, nếu biết cách vận chuyển mới khai thông Bách mạch. Chính vì thế mà Tử Dương nói: «Bách mạch đóng chứ không mở. Chỉ có các bậc thần tiên mới dùng Dương khí (Chân khí) khai thông được. Cho nên có thể đắc Đạo. Từ đó, nhan sắc mới sinh quang hoa, mới ngời lên như ánh vàng ngọc». (Bách mạch bế nhi bất khai, duy thần tiên dĩ dương khí xung thai. Cố năng đắc đạo. Tự thử nhan sắc sinh quang, nhi đắc kim ngọc chi trạch dã 百 脈 閉 而 不 開 惟 神 仙 以 陽氣 沖 開. 故 能 得 道. 自 此 顏 色 生 光, 而 得 金 玉 之 澤 也.) [4]

Tổng kết lại, hô hấp chính là một phương pháp để vận khí, điều tức thu nhiếp thần khí lại cho tất cả hội tụ lại nơi Nê Hoàn cung (câu 8, 9, 10).

Tử Hà giải hai chữ Tử cung 紫 宮 (mà bản Vụ Thành Tử viết là Thử cung 此 宮) là nơi Chư thần hội hợp (Xem Tử Hà, Huỳnh đình kinh giải tr. 61a). Chính vì thế mà tôi mới mạnh dạn dịch là Nê Hoàn.

Và như vậy câu 9 và 10 trở nên sáng tỏ:

Nê Hoàn cung có nhiều phòng thất, ngôi vị (Xem lại chương 7, câu 9). Đó chính là nơi chư thần tụ hội (câu 10).

Hô hấp, chuyển khí chính là phương tiện «sách thần» 索 神 (tìm thần), nhiếp thần, thu thần để đem về Nê Hoàn cung (chuyển tương sách轉 相 索).

[1] Tung Ẩn Tử, Huỳnh Đình kinh chú – Ngoại Cảnh ngọc kinh, quyển hạ, tr. 18a.

[2] Sách đã dẫn, tr. 18a.

[3] Tung Ẩn tử, Huỳnh Đình kinh, Ngoại Cảnh ngọc kinh, quyển Hạ, tr. 17a, 17b

[4] Huỳnh Đình kinh giải, Tử Hà chú, tr. 60b.

————————–

CHƯƠNG 35

ẨN TÀNG

隱 藏

A. KINH VĂN

1. Ẩn tàng vũ cái khan thiên xá,

隱 藏 羽 蓋 看 天 舍

2. Triều bái Thái dương lạc tương hô,

朝 拜 太 陽 樂 相 呼

3. Thần minh bát uy, chính tịch tà,

神 明 八 威 正 辟 邪

4. Tỳ thần hoàn qui thị vị gia.

脾 神 還 歸 是 胃 家

5. Đam dưỡng linh căn bất phục khô,

耽 養 靈 根 不 復 枯

6. Bế tắc mệnh môn, bảo ngọc đô.

閉 塞 命 門 保 玉 都

7. Vạn thần phương tạc, thọ hữu dư,

萬 神 方 胙 壽 有 餘

8. Thị vị tỳ kiến tại trung cung,

是 謂 脾 建 在 中 宮

9. Ngũ tạng, lục phủ thần minh chủ,

五 藏 六 府 神 明 主

10. Thượng hợp thiên môn, nhập minh đường.

上 合 天 門 入 明 堂

11. Thủ thư, tồn hùng đỉnh tam quang,

守 雌 存 雄 頂 三 光

12. Nội phương, ngoại viên, thần tại trung,

內 方 外 圓 神 在 中

13. Thông lợi huyết mạch, ngũ tạng phong,

通 利 血 脈 五 藏 豐

14. Cốt thanh cân xích tủy như sương,

骨 青 筋 赤 髓 如 霜

15. Tỳ cứu thất khiếu khứ bất tường.

脾 救 七 竅 去 不 祥

16. Nhật nguyệt liệt bố, thiết âm dương,

日 月 列 布 設 陰 陽

17. Lưỡng thần tương hội hóa ngọc anh,

兩 神 相 會 化 玉 英

18. Đạm nhiên vô vị thiên nhân lương,

淡 然 無 味 天 人 糧

19. Tử Đan tiến soạn, hào chính hoàng,

子 丹 進 饌 肴 正 黃

20. Nãi viết lang cao, cập ngọc sương,

乃 曰 琅 膏 及 玉 霜

21. Thái thượng ẩn hoàn bát tố quỳnh,

太 上 隱 環 八 素 瓊

22. Khái ích bát dịch, thận thụ tinh,

溉 益 八 液 腎 受 精

23. Phục ư thái âm kiến ngã hình,

伏 於 太 陰 見 我 形

24. Dương phong tam huyền xuất Thủy thanh,

揚 風 三 玄 出 始 青

25. Hoảng hốt chi gian chí thanh linh,

恍 惚 之 間 至 清 靈

26. Tọa ư tiên đài, kiến Xích Sinh,

坐 於 飆 臺 見 赤 生

27. Dật vực hi chân, dưỡng hoa vinh,

逸 域 熙 真 養 華 榮

28. Nội phán trầm mặc luyện ngũ hình,

內 盼 沉 默 鍊 五 形

29. Tam khí bồi hồi đắc thần minh,

三 氣 徘 徊 得 神 明

30. Ẩn long độn chi vân lang anh.

隱 龍 遁 芝 雲 琅 英

31. Khả dĩ sung cơ, sử vạn linh,

可 以 充 飢 使 萬 靈

32. Thượng cái huyền huyền hạ hổ chương.

上 蓋 玄 玄 下 虎 章

B. LƯỢC DỊCH

Ẩn thân, tàng ý, kiến Thiên tâm,

Cùng Thái dương thần, hợp nhất chân.

Thần soi tám cõi trừ tà tịch,

Tì thần nay đã hoàn qui tâm,

Nuôi dưỡng linh căn, cho nhuần thấm,

Bế tỏa mệnh môn, bảo Thiên chân,

Thọ kỷ gia tăng, nhờ chúng thần,

Tì tại Trung cung toàn Thổ đức,

Ngũ tạng, lục phủ đều nhờ ân,

Trên hợp Thiên môn, nhập Minh Đường,

Thư hùng hòa hợp đỉnh phát quang,

Ngoài vuông, trong tròn, Thần ở trong,

Thông điều huyết mạch, ngũ tạng tốt,

Xương cốt tốt tươi, tủy như sương,

Tì nuôi thất khiếu, cửu bất tường,

Nhật nguyệt hai vầng bày Âm Dương,

Lưỡng thần hòa hợp sinh ngọc anh,

Lương của trời người, không mùi vị,

Tử Đan bày tiệc, màu sắc vàng,

Nên gọi lang cao hay ngọc sương,

Bát tố quỳnh dịch Thái Thượng ban,

Uống vào nuôi huyết, tăng thận tinh,

Thu thần, nhìn thấy chân tướng hình,

Cưỡi gió, phiêu diêu lên Ngọc Thanh,

Linh lung phút chốc tới Thanh Linh,

Ngồi trên tiên đài với Xích Sinh,

Điều thần dưỡng khí nuôi hoa vinh.

Nhắm mắt an nhiên luyện ngũ hình.

Tam khí bồi hồi đắc thần minh,

Thần đơn sẵn có, linh chi sẵn,

Có thể no lòng, khiến vạn linh,

Lọng mây che trên, dưới hổ chương…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Ẩn tàng vũ cái khan thiên xá.

隱 藏 羽 蓋 看 天 舍

Ngoại Cảnh đổi là:

– Ẩn tàng hoa cái, thông thần lô.

隱 藏 華 蓋 通 神 爐 (bản Tử Hà)

– Ẩn tàng hoa cái, quan thông lô.

隱 藏 華 蓋 觀 通 爐 (bản Vụ Thành Tử)

– Ẩn tàng hoa cái, thông thần lô.

隱 藏 華 蓋 通 神 爐 (bản Lương Khưu Tử)

– Ẩn tàng hoa cái, thông lục hợp.

隱 藏 華 蓋 通 六 合 (bản Tung Ẩn Tử)

Vũ cái 羽 蓋: Lọng bằng lông.

Tử Hà giải đại ý câu này: Tàng ý, ẩn thân để thấy Thiên Tâm.

Câu 2. Triều bái Thái Dương lạc tương hô.

朝 拜 太 陽 樂 相 呼

Ngoại Cảnh đổi là:

– Chuyên thủ tâm thần, chuyển tương hô.

專 守 心 神 轉 相 呼 (bản Tử Hà)

– Chuyên thủ chư thần chuyển tương hô.

專 守 心 神 轉 相 呼 (bản Tung Ẩn Tử)

– Chuyên thủ tâm thần chuyển tương hô.

專 守 心 神 轉 相 呼 (bản Lương Khưu Tử)

Vụ Thành Tử giải: Thần hồn cùng với chúng tiên hội hợp. Tỳ là Thái âm, hợp với Dương tức là Âm Dương hợp nhất, Thần khí hợp nhất.

Câu 3. Thần minh bát uy, chính tịch tà.

神 明 八 威 正 辟 邪

Ngoại Cảnh đổi là:

– Quan ngã Thần minh, tịch chư tà.

觀 我 神 明 辟 諸 邪 (bản Tử Hà)

– Quan ngã chư thần tịch chư tà.

觀 我 諸 神 辟 諸 邪 (bản Tung Ẩn Tử)

– Quan ngã chư thần tịch trừ tà.

觀 我 諸 神 辟 除 邪 (bản Lương Khưu Tử)

Khi thần minh trong người đã hiện ra sẽ trừ sạch tà tịch, sẽ biểu dương uy nghi khắp tám hướng.

Câu 4. Tỳ thần hoàn qui thị vị gia.

脾 神 還 歸 是 胃 家

Ngoại Cảnh đổi thành: Tỳ thần hoàn qui y đại gia.

脾 神 還 歸 依 大 家 (bản Tử Hà)

Lương Khưu Tử giải: Xích Tử hoàn nhập Huỳnh Đình trung. 赤 子 還 入 黃 庭 中. Thế nghĩa là Chân Thần trở về được ngôi vị. Ngôi vị ấy là ở Trung cung, Trung điểm, Nê Hoàn cung, Tổ khiếu.

Vị gia 胃 家: Tỳ và vị đều ở Trung cung. Nhà của vị cũng là nhà của Tỳ.

Câu 5. Đam dưỡng linh căn bất phục khô.

耽 養 靈 根 不 復 枯

Ngoại Cảnh đổi là: Tàng dưỡng linh căn bất phục khô.
藏 養 靈 根 不 復 枯 (Bản Tử Hà)

Thần mà qui hoàn được về Trung Cung, thì Linh căn sẽ được bồi dưỡng cho được luôn tươi tốt.

Câu 6. Bế tắc mệnh môn, bảo ngọc đô.

閉 塞 命 門 保 玉 都

Ngoại Cảnh đổi:

– Bế tắc mệnh môn tự ngọc đô
閉 塞 命 門 自 玉 都.

(bản Lương Khưu Tử , bản Tung Ẩn Tử)

– Bế tắc mệnh môn như ngọc đô
閉 塞 命 門 如 玉 都.

(bản Vụ Thành Tử, bản Tử Hà)

Vụ Thành Tử giải: Đóng khóa ngũ quan để biết Thiên đạo, Ngọc đô là nơi thần ngự, tức là Trung cung, Huỳnh Đình.

Câu 7. Vạn thần phương tạo, thọ hữu dư.

萬 神 方 胙 壽 有 餘

Ngoại Cảnh đổi là:

– Thọ truyền vạn tuế, niên hữu dư.

壽 傳 萬 歲 年 有 餘 (bản Vụ Thành Tử)

– Thọ truyền vạn tuế, tương hữu dư.

壽 傳 萬 歲 將 有 餘 (bản Lương Khưu Tử)

– Thọ ức vạn tuế tương hữu dư.

壽 億 萬 歲 將 有 餘 (bản Tung Ẩn Tử)

Câu 8. Thị vị tỳ kiến tại trung cung.

是 謂 脾 建 在 中 宮

Ngoại Cảnh đổi là:

– Tỳ trung chi thần du trung cung.
脾 中 之 神 遊 中 宮

(bản Tung Ẩn Tử, bản Lương Khưu Tử)

– Tỳ trung chi thần chủ trung ương.

脾 中 之 神 主 中 央 (bản Tử Hà)

– Tỳ trung chi thần chủ trung cung.

脾 中 之 神 主 中 宮 (bản Vụ Thành Tử)

Theo Kinh Dịch, Tỳ tượng trưng cho Trung Cung, Trung Ương, Chân thổ, Mậu kỷ cung, v.v.

Câu 9. Ngũ tạng lục phủ thần minh chủ.

五 藏 六 府 神 明 主

Bản Tử Hà: Ngũ tạng lục phủ thần minh vương.

五 藏 六 府 神 明 王

Ngoại Cảnh đổi:

– Triều hội ngũ thần hòa tam quang.

朝 會 五 神 和 三 光 (bản Tử Hà, bản Lương Khưu Tử)

– Triều lý ngũ thần hợp tam quang.

朝 理 五 神 合 三 光 (bản Tung Ẩn Tử)

– Triều hội ngũ tạng liệt tam quang.

朝 會 五 臧 列 三 光 (bản Vụ Thành Tử)

Ý câu này như vậy đã rõ: Tỳ thần vì ở ngôi vị trung ương, nên thống trị chư thần, hòa hợp tam quang.

Câu 10. Thượng hợp Thiên môn, nhập Minh đường.

上 合 天 門 入 明 堂

Ngoại Cảnh đổi là:

– Thượng hợp Thiên môn, hội Minh đường.

上 合 天 門 會 明 堂 (bản Tử Hà)

– Thượng hợp Thiên khí cập Minh đường.

上 合 天 氣 及 明 堂 (bản Lương Khưu Tử)

– Thượng hợp Thiên Môn, hợp Minh Đường.

上 合 天 門 合 明 堂 (bản Vụ Thành Tử)

– Thượng hợp Thiên khí, hợp Minh Đường.

上 合 天 氣 合 明 堂 (bản Tung Ẩn Tử)

Ý câu này đã rõ: Tỳ có liên lạc mật thiết với Nê Hoàn cung. Tỳ phải hiểu là Thần của Nê Hoàn.

Câu 11. Thủ thư, tồn hùng, đỉnh tam quang.

守 雌 存 雄 頂 三 光

Câu này Ngoại Cảnh không nhắc đến. Đại ý câu này vẫn là Qui căn. Hòa hợp Âm Dương, Thần Khí để thành Thái cực, Thai tiên. Ngộ Chân thiên 悟 真 篇 viết: Hùng lý, hoài thư, kết thánh thai. 雄 裏 懷 雌 結 聖 胎.

Bản Tử Hà có câu: Tam quang hoán chiếu nhập tử thất 三 光 煥 照 入 子 室.

Câu 12. Ngoại phương, Nội viên, thần tại trung.

內 方 外 圓 神 在 中

Bản Tử Hà: Ngoại phương, nội viên, thần tại trung.

外 方 內 圓 神 在 中

Câu này nói về Huỳnh Đình, Trung cung, Minh đường.

Câu 13. Thông lợi huyết mạch, ngũ tạng phong.

通 利 血 脈 五 藏 豐

Bản Tử Hà: Thông lý huyết mạch, ngũ tạng phong.

通 理 血 脈 五 藏 豐

Ngoại Cảnh đổi:

– Thông lợi huyết mạch, hãn vi tương.

通 利 血 脈 汗 為 漿 (bản Tử Hà).

– Thông lợi huyết mạch trấp vi tương.

通 利 血 脈 汁 為 漿 (bản Lương Khưu Tử)

– Thông hành huyết mạch hãn vi tương.

通 行 血 脈 汗 為 漿 (bản Tung Ẩn Tử)

Khi ngồi tĩnh tọa, điều lý huyết mạch, mồ hôi có thể ra như tắm. Cái đó theo Linh mục Âu Dương Kính Dư, không phải là một bệnh, mà là hiện tượng tự nhiên.[1]

Như vậy mới thấy sự mạch lạc của câu này.

– Thông hành huyết mạch 通 行 血 脈.

– Xuất hãn 出 汗 (xuất ra mồ hôi).

Câu của Nội Cảnh chỉ nói: dùng thần có thể làm cho huyết mạch lưu thông, ngũ tạng khang kiện.

Câu 14. Cốt thanh, cân xích, tủy như sương.

骨 青 筋 赤 髓 如 霜

Dùng thần điều hòa huyết mạch, có thể làm cho xương cốt mạnh mẽ, tinh tủy tốt tươi.

Câu 15. Tỳ cứu thất khiếu, khử bất tường.

脾 救 七 竅 去 不 祥

Ngoại Cảnh đổi:

– Tu hộ thất khiếu, khử bất tường.

脩 護 七 竅 去 不 祥

(bản Tử Hà, bản Vụ Thành Tử)

– Tuần hộ thất khiếu, khử bất tường.

循 護 七 竅 去 不 祥

(bản Tung Ẩn Tử, bản Lương Khưu Tử)

Ảnh hưởng của tì chu lưu lan tới thất khiếu và trừ khử mọi bệnh hoạn. Khi mà thần linh hoạt, chu lưu toàn thân, điều động được sinh lý, thời con người sẽ hoán chuyển.

Câu 16. Nhật nguyệt liệt bố, thiết Âm Dương.

日 月 列 布 設 陰 陽

Bản Tử Hà: Nhật nguyệt liệt bố trương Âm Dương.

日 月 列 布 張 陰 陽

Ngoại Cảnh đổi:

– Nhật nguyệt liệt tú, trương Âm Dương.

日 月 列 宿 張 陰 陽 (bản Tử Hà)

– Nhật nguyệt liệt bố trương Âm Dương.

日 月 列 布 張 陰 陽

(bản Vụ Thành Tử, bản Lương Khưu Tử)

Huỳnh Đình, Trung cung là nơi Âm Dương tụ hội.

Câu 17. Lưỡng thần tương hội hóa ngọc anh.

兩 神 相 會 化 玉 英

Bản Tử Hà: Lưỡng thần tương hội hóa ngọc tương.

兩 神 相 會 化 玉 漿

Ngoại Cảnh:

– Lưỡng thần tương đắc hạ ngọc anh.

兩 神 相 得 下 玉 英 (bản Tử Hà)

– Tam thần tương đắc hạ ngọc anh.

三 神 相 得 下 玉 英 (bản Tung Ẩn Tử)

– Nhị thần tương đắc hóa ngọc anh.

二 神 相 得 化 玉 英 (bản Vụ Thành Tử)

– Nhị thần tương đắc hạ ngọc anh.

二 神 相 得 下 玉 英 (bản Lương Khưu Tử)

Lưỡng thần 兩 神: Tâm, Thần, Âm Dương hợp nhất thành Thái cực.

Ngọc anh 玉 英: “kim đơn, kim dịch, ngọc dịch;” một thức ăn tiên thiên.

Câu 18. Đạm nhiên vô vị thiên nhân lương.

淡 然 無 味 天 人 糧

Bản Tử Hà: Đạm nhiên ngũ vị thiên nhân lương.

淡 然 五 味 天 人 糧

Lão Tử Đạo Đức kinh chương 35 cũng viết:
Đạo chi xuất khẩu, đạm hồ kỳ vô vị.
道 之 出 口 淡 乎 其 無 味.

(Đạo trời ra khỏi tấc lòng.

Nói ra ngoài miệng, nhạt không, nhạt phèo.)

Kim đan, Đạo, Thái cực hay Đạo chính là Thiên Nhân lương 天 人 糧, thứ lương thực có thể nuôi sống Trời Người.

Câu 19. Tử Đan tiến soạn hào chính hoàng.

子 丹 進 饌 肴 正 黃

Tử Đan 子 丹: là Thần Chân Nhất.

Tiến soạn 進 饌: Dâng của ăn.

Hào chính hoàng 肴 正 黃: thức ăn có màu vàng.

Màu vàng là màu Trung cung Thái Cực. Đắc Thái cực là đắc Kim đơn, đắc Nhất, đắc Thiên.

Câu 20. Nãi viết lang cao, cập ngọc sương.

乃 曰 琅 膏 及 玉 霜

Tử Hà giải Lang cao, ngọc sương là món ăn tiên.

Câu 21. Thái thượng, ẩn hoàn bát tố quỳnh.

太 上 隱 環 八 素 瓊

Thái Thượng 太 上: Tử Hà giải là danh hiệu tượng trưng cho «kim thai thần nhất» 金 胎 神 一.

Ẩn hoàn 隱 環: Vụ Thành Tử giải là cuống họng, khí quản (trùng lâu 重 樓); Ẩn hoàn 隱 環: vòng tròn ẩn áo.

Nê hoàn cung có hình tròn, ta có thể mệnh danh nó là Ẩn hoàn, vì tàng ẩn tận trong giữa óc. Nó chính là Thái thượng ẩn hoàn, vì kim dịch hoàn đơn đều chứa ở đó.

Bát tố quỳnh 八 素 瓊:  quỳnh thất chứa bát tố (Tử Hà giải); ‚ quỳnh dịch chứa bát tố (Vụ Thành Tử giải).

Câu 22. Khái ích bát dịch thận thụ tinh.

溉 益 八 液 腎 受 精

Quán khái (rót tưới), tăng gia tinh dịch trong người, đều nhờ Ngọc anh, đều nhờ Lang cao, Ngọc sương của Nê Hoàn.

Câu 23. Phục ư Thái âm kiến ngã hình. [2]

伏 於 太 陰 見 我 形

Thái âm là Tỳ, Tỳ là Trung cung. Trở về Trung cung sẽ thấy bản lai diện mục. Vụ Thành Tử giải Thái âm là Động phòng.

Tử Hà cũng nói rằng Tỳ ở đây là cái Tỳ, cái Thổ vô hình, vô định (tức là phải hiểu là Trung cung, Trung điểm, Nê Hoàn; Tử Hà nói nên phân biệt Tỳ trong kinh sách tu Tiên, với Tì trong kinh điển y học thông thường).

Câu 24. Dương phong tam huyền xuất Thủy thanh.

揚 風 三 玄 出 始 青

Tử Hà viết là Dương phong 陽 風 (gió dương).

Dương phong 揚 風: làm cho gió sinh ra.

Tam huyền 三 玄: Tử Hà giải là Tam đan điền.

Xuất Thủy Thanh 出 始 青: Tử Hà giải là cung trời Ngọc thanh, nơi đó khí bắt đầu hóa xanh.

Ý nói Chân khí lưu thông Tam đan lên tới Nê Hoàn, tức là cung Ngọc Thanh.

Câu 25. Hoảng hốt chi gian chí Thanh Linh.[3]

恍 惚 之 間 至 清 靈

Tử Hà giải là Chí ư Nê Hoàn cung Thanh Linh chi cảnh. Giải như vậy mới mạch lạc với chương này.

Câu 26. Tọa ư Tiên đài dữ Xích Sinh. [4]

坐 於 飆 臺 與 赤 生

Bản Tử Hà: Hí ư Tiên đài kiến Xích Sinh.

戲 於 飆 臺 見 赤 生

Tiên đài 飆 臺: đài ở trong cung Huyền Đan trong đầu (Tử Hà giải).

Xích Sinh 赤 生: (1) Nam Cực Trường Sinh đại đế 南 極 長 生 大 帝 hay là Bản Tính Viên Minh 本 性 圓 明 (Tử Hà giải); (2) Xích Tử Chân Nhân 赤 子 真 人 tức là Thần Chân Nhất 真 一 神 (Vụ Thành Tử giải).

Câu 27. Dật vực hi chân dưỡng hoa vinh.[5]

逸 域 熙 真 養 華 榮

Bản Tử Hà: Dật vực hi hi dưỡng hoa vinh.

逸 域 熙 熙 養 華 榮

Dật vực 逸 域: Tử Hà giải là Dật trạch ở trong Huyền đan cung trong đầu. Dật vực (hay Huyền đan, Nê Hoàn) là nơi điều thần, dưỡng khí. Thần khí chính là Hoa vinh trong con người.

Câu 28. Nội phán trầm mặc luyện ngũ hình.

內 盼 沉 默 鍊 五 形

Thanh tĩnh, hư vô, nội quan quán chiếu để luyện hình thần.

Câu 29. Tam khí bồi hồi đắc thần minh.

三 氣 徘 徊 得 神 明

Bồi hồi 徘 徊: có sự sảng khoái, “hàm vịnh, ưu du”(Tử Hà giải).

Đắc Thần minh 得 神 明: về được Trung cung sẽ thành thần minh.

Câu 30. Ẩn long, độn chi, vân lang anh.

隱 龍 遁 芝 雲 琅 英

Ẩn long 隱 龍: Rồng còn tiềm ẩn.

Độn chi 遁 芝: Cỏ linh chi tiềm ẩn.

Vân lang anh 雲 琅 英: Thần đan.

Thần qui trung cung tức là tìm ra được con rồng tiềm ẩn trong mình, tìm ra được cỏ linh chi tiềm ẩn trong lòng mình, tìm ra được thần đan, kim đan.

Câu 31. Khả dĩ sung cơ, sử vạn linh.

可 以 充 飢 使 萬 靈

Có thể no lòng, có thể sai sử được vạn linh.

Câu 32. Thượng cái huyền huyền, hạ hổ chương.

上 蓋 玄 玄 下 虎 章

Tử Hà giải: Đầu đội Bắc thiên, chân đạp Kim quang. 頭 頂 北 天, 足 履 金 光.

D. BÌNH GIẢNG

Bàn về Tỳ, tức là bàn về Huỳnh Đình, Trung Cung, Chân Thổ. Chương 35 này nói lên hai ý quan trọng:

(1) Thần có hồi tâm, qui tâm mới trở nên linh, mới mong thọ trường.

(2)  Muốn thần hồi tâm, trước hết phải tìm cho ra được Thiên tâm, mà thiên tâm chỉ tìm được trong định tĩnh (câu 1).

Thiên tâm chính là nê Hoàn cung là nơi Âm Dương, Thần Khí giao thái (câu 2). Thần có qui trung, mới trở nên uy nghi, chấn bát phương, khử bách tà (câu 3). Thần qui Trung là qui gia (câu 4), và như vậy Linh căn mới được nảy nở (câu 5). Thần trở về Trung cung như một vị Vương trở lại đế đô (câu 6); chư thần sẽ theo về và con người sẽ được trường thọ (câu 7).

Vậy muốn tu trì, cần phải tìm cho ra Tỳ Thần, tức là Thần Huỳnh Đình, ngự trị nơi Trung Cung, Trung điểm (câu 8). Tỳ thần ở đúng Trung cung, sẽ thông thiên môn, nhập minh đường (câu 10); sẽ làm chủ lục phủ ngũ tạng (câu 9); sẽ làm cho huyết mạch lưu thông, gân cốt kiên cường (câu 12, 13, 14); sẽ trừ khử được mọi điều bất tường (câu 15).

Thần khí đã hòa hài, thành Kim đơn Thái cực (câu 16) thì sẽ trở thành một thứ lương thực siêu nhiên, một thứ Ngọc anh, đạm nhiên vô vị (câu 17, 18) nhưng chính đó là lương mễ của Trời Người (câu 19) chính là bữa ăn thịnh soạn do chính Thượng Thần Chân Nhất bày biện, nó mang màu vàng, vì màu vàng là màu sắc của Trung Cung Thái cực, nó chính là lang cao, ngọc sương (cau 19, 20), chính là quỳnh tương ngọc dịch, sẽ quán khái châu thân, làm cho cơ thể được vinh xương, khang kiện (câu 21, 22).

Có trở về được Trung Cung Thái cực mới nhìn ra được bản lai diện mục, mới thấy được bộ mặt lý tưởng của mình (câu 23). Vào được Nê Hoàn chính là lên được cung trời Ngọc Thanh, bè bạn cùng Thần Xích Sinh, Chân Nhất (câu 24, 25, 26), sẽ dưỡng được tâm thần (câu 27), sẽ nuôi được thể xác (câu 28), sẽ đắc thần minh, sẽ thành thần minh (câu 29). Thế là đánh thức được con rồng ẩn ấp trong người, ăn được Linh Chi sẵn có trong người, luyện thành thần đơn (câu 30). Lúc ấy hết còn đói khát, có thể sai sử được vạn linh (câu 31), trên thời như có lọng trời che phủ, dưới chân thì như có tam quang đỡ đần (câu 32).

Thế chính là Đắc Chân , đắc Nhất, đắc Đạo.

[1] Phỏng đạo ngữ lục, tr. 211.

[2] Phục ư Thái âm, tàng kỳ chân, … Hô hấp Hư vô kiến ngô hình. 伏 於 太 陰, 藏 其 真, … 呼 吸 虛 無 見 吾 形 (Ngoại Cảnh, chương 23).

[3] Tọa ư lô gian quan tiểu đồng 坐 於 廬間 觀 小 童 (Ngoại Cảnh, ch. 23).

[4] Hoảng hốt bất kiến quá thanh linh 恍 惚 不見 過 清 靈 (Ngoại Cảnh, ch. 23).

[5] Điềm đạm vô dục dưỡng hoa căn 恬 淡 無欲 養 華 根 (Ngoại Cảnh, ch. 23).

————————–

CHƯƠNG 36

MỘC DỤC

沐 浴

A. KINH VĂN

1. Mộc dục thịnh khiết khí phì huân,

沐 浴 盛 潔 棄 肥 薰

2. Nhập thất đông hướng tụng Ngọc thiên.

入 室 東 向 誦 玉 篇

3. Ước đắc vạn biến, nghĩa tự tiên.

約 得 萬 徧 義 自 鮮

4. Tán phát vô dục dĩ trường tồn,

散 髮 無 欲 以 長 存

5. Ngũ vị giai chí, chính khí hoàn,

五 味 皆 至 正 氣 還

6. Di tâm, tịch muộn, vật phiền oan,

夷 心 寂 悶 勿 煩 冤

7. Quá số dĩ tất, thể thần tinh,

過 數 已 畢 體 神 精

8. Hoàng Hoa, Ngọc Nữ cáo tử tình,

黃 華 玉 女 告 子 情

9. Chân nhân ký chí sử Lục Đinh,

真 人 既 至 使 六 丁

10. Tức thụ ẩn chi Đại Động kinh,

即 受 隱 芝 大 洞 經

11. Thập độc tứ bái triều Thái Thượng,

十 讀 四 拜 朝 太 上

12. Tiên yết Thái đế, hậu Bắc hướng,

先 謁 太 帝 後 北 向

13. Huỳnh Đình Nội kinh, Ngọc thư sướng,

黃 庭 內 經 玉 書 暢

14. Thụ giả viết sư, thụ giả minh,

授 者 曰 師 受 者 盟

15. Vân cẩm phụng la, kim nữu triền,

雲 錦 鳳 羅 金 鈕 纏

16. Dĩ đại cát phát cơ phụ tuyền,

以 大 割 髮 肌 膚 全

17. Huề thủ đăng san, sáp dịch đơn,

攜 手 登 山 歃 液 丹

18. Kim thư Ngọc cảnh nãi khả tuyên,

金 書 玉 景 乃 可 宣

19. Truyền đắc khả thụ cáo Tam quan,

傳 得 可 授 告 三 官

20. Vật lệnh thất tổ thụ minh hoạn,

勿 令 七 祖 受 冥 患

21. Thái Thượng vi ngôn trí thần tiên,

太 上 微 言 致 神 仙

22. Bất tử chi đạo thử chân văn.

不 死 之 道 此 真 文

B. LƯỢC DỊCH

Tẩy rửa cho tiêu hết mùi phàm,

Vào nhà, Đông hướng, đọc Ngọc thiên.

Đọc khoảng vạn lần, nghĩa sáng lên,

Xõa tóc, hư tâm, sẽ trường tồn,

Ngũ vị hòa hài, chính khí hoàn,

Tịch mặc, thanh tĩnh, tâm xoang an,

Tu luyện thành thục, tinh thần toàn,

Thông tình, hợp tính, thành hoàn đơn,

Chân Nhân đã tới sai Lục đinh,

Thụ lĩnh ẩn chi, Đại động kinh,

Mười đọc, bốn lạy, triều Thái Thượng,

Trước yết Thượng đế, sau Bắc hướng,

Hiểu được Huỳnh đình, tâm thần sướng,

Thày trò truyền kinh, lập thệ minh,

Vân cẩm, phụng la với cúc vàng,

Thay cho xuống tóc, cơ phu toàn,

Dắt nhau lên núi, lập thệ đoan,

Kim thư ngọc cảnh sau đó truyền,

Cáo cùng Thiên, Địa, Thủy, tam ban,

Sao cho Thất Tổ khỏi lâm nàn,

Lời của Thái Thượng rất thần tiên,

Đó chính bản văn sinh bất tử…

C. CHÚ THÍCH

Câu 1. Mộc dục thạnh khiết khí phì huân.

沐 浴 盛 潔 棄 肥 薰

Bản Tử Hà: Mộc dục thạnh khiết, khí phì tiên.

沐 浴 盛 潔 棄 肥 鮮

Mộc dục 沐 浴: Tắm rửa, tẩy rửa.

Thạnh khiết 盛 潔: Tịnh khiết.

Khí phì huân 棄 肥 薰: Bỏ các thức ăn béo (thịt, cá), các đồ ăn có mùi thơm, hăng (như hành tỏi, v.v.)

Câu 2. Nhập thất Đông hướng, tụng Ngọc thiên.

入 室 東 向 誦 玉 篇

Đại đế ở phía đông.

Ngọc Thiên 玉 篇: Huỳnh Đình kinh.

Câu 3. Ước đắc vạn biến, nghĩa tự tiên.

約 得 萬 徧 義 自 鮮

Bản Tử Hà: Ước đắc vạn biến, nghĩa tự tuyên.

約 得 萬 徧 義 自 宣

Đọc khoảng vạn lần, nghĩa lý sẽ sáng tỏ.

Câu 4. Tán phát vô dục dĩ trường tồn.

散 髮 無 欲 以 長 存

Tán phát 散 髮: Xõa tóc. Vô dục 無 欲: Hư tâm.

Thanh tĩnh vô vi là chìa khóa mở cửa trường sinh.

Ngoại Cảnh chương 20 có câu:

Thanh tĩnh vô vi thần lưu chỉ. 清 靜 無 為 神 留 止.

Chương 23 có câu:

Điềm đạm vô vi thần lưu chỉ. 恬 淡 無 為 神 留 止.

Câu 5. Ngũ vị giai chí, Chính khí hoàn.

五 味 皆 至 正 氣 還

Giống như nói: Tam hoa qui đỉnh, ngũ khí triều nguyên. 三 華 歸 頂 五 氣 朝 元.

Câu 6. Di tâm tịch muộn, vật phiền oan.

夷 心 寂 悶 勿 煩 冤

Bản Tử Hà: Di tâm tịch bí, vật phiền oan.

夷 心 寂 閟 勿 煩 冤

Câu này lại nói lên ý: Tịch mạc thanh tĩnh.

Câu 7. Quá sổ dĩ tất, thể thần tinh.

過 數 已 畢 體 神 精

Bản Tử Hà: Quá sổ dĩ tất, thể tinh thần.

過 數 已 畢 體 精 神

Quá sổ dĩ tất 過 數 已 畢: Sau nhiều năm tu luyện Huỳnh Đình (ước chừng là 3 năm, nghĩa là sau khi đã tụng niệm Huỳnh Đình kinh 10.000 lần), công phu nội dưỡng sẽ thuần thục.

Thể thần tinh 體 神 精: Tử Hà cho rằng thân thể sẽ có tinh thần.

Câu 8. Hoàng hoa Ngọc Nữ cáo tử tình.

黃 華 玉 女 告 子 情

Hoàng hoa Ngọc Nữ 黃 華 玉 女 : Tử Hà giải là TÍNH (Bản tính)

Cáo tử tình 告 子 情: Tử Hà giải là thông tình, hợp tính.

Như vậy ta có thể hiểu câu này là: Tâm thần hợp nhất, Đạo tâm sinh, Hoàn đan thành, Chân Nhân hiện.

Câu 9. Chân nhân ký chi sử Lục đinh.

真 人 既 至 使 六 丁

Khi Chân Nhân đã hiện, sẽ sai sử được Lục Đinh âm thần. Tà ma sẽ hãi sợ.

Câu 10. Tức thụ ẩn chi, Đại Động kinh.

即 受 隱 芝 大 洞 經

Ẩn chi 隱 芝: Cỏ linh chi tiềm ẩn.

Đại Đỗng kinh 大 洞 經: Kinh Đại Động (Đỗng), hay Đại Đỗng chân kinh 大 洞 真 經, do đức Nguyên Thủy Thiên Tôn 元 始 天 尊 viết. Sách gồm có hai quyển Thượng, Hạ. Đại khái cũng dạy con người tìm về Thái cực, căn nguyên.

Như vậy Huỳnh Đình và Đại Động cũng đều dạy con người trở thành Chân Nhân.

Câu 11. Thập độc, tứ bái, triều Thái Thượng.

十 讀 四 拜 朝 太 上

Tâm thành, đọc mười lần, lạy 4 lạy, kính đức Thái Thượng.

Câu 12. Tiên yết Thái đế, hậu Bắc hướng.

先 謁 太 帝 後 北 向

Bản Tử Hà: Tiên yết Đại đế, hậu Bắc hướng.

先 謁 大 帝 後 北 向

Tử Hà cho rằng: Trước tiên xoay về phía Đông để triều yết Đại đế, sau mới ngồi xoay về hướng Bắc để trì tụng Huỳnh Đình.

Câu 13. Huỳnh đình Nội kinh, Ngọc thư sướng.

黃 庭 內 經 玉 書 暢

Tử Hà cho rằng Huỳnh Đình cũng như Đại Động đều dạy con người giữ vẹn Trung Cung, Trung điểm. Huỳnh Đình chính là Ngọc thư. Lời lời làm cho con người thông sướng.

Câu 14. Thụ giả viết sư, thụ giả minh.

授 者 曰 師 受 者 盟

Thụ giả 授 者: người truyền kinh, truyền sách, trao sách Huỳnh Đình. (Thụ 授: truyền cho)

Thụ giả minh 受 者 盟: người nhận sách Huỳnh Đình phải lập thệ. (Thụ 受: nhận lãnh; minh 盟: thề ước)

Câu 15. Vân cẩm phụng la, kim nữu triền.

雲 錦 鳳 羅 金 鈕 纏

Lễ thọ kinh có hẳn nghi thức. Người đệ tử phải nạp gấm, nạp lụa là, nạp vòng vàng để tỏ lòng thành tín. (Xem phần khảo luận bên trên).

Câu 16. Dĩ đại cát phát, cơ phu tuyền.

以 大 割 髮 肌 膚 全

Lễ vật trên sẽ thay cho lễ xuống tóc (của nhà Phật) và như vậy giữ trọn được cơ phu, cơ thể.

Câu 17. Huề thủ đăng sơn, sáp dịch đan.

攜 手 登 山 歃 液 丹

Huề thủ đăng sơn 攜 手 登 山: Dắt tay nhau lên núi.

Sáp dịch đan 歃 液 丹: Lấy máu thề nguyện.

Dịch đan 液 丹: Là thần danh để gọi máu huyết.

Thay vì nói Sáp huyết 歃 血 , nói sáp dịch đan.

Câu 18. Kim Thư, Ngọc Cảnh nãi khả tuyên.

金 書 玉 景 乃 可 宣

Sau khi đệ tử đã tuyên thệ:

– Không được vọng truyền cho kẻ «phỉ nhân» 匪 人 (người không xứng đáng, không có tư cách).

– Không được từ chối không truyền cho người có đức.

– Không được hủy hoại kinh.

– Không được biếng nhác, phải chuyên cần trì tụng.

– Không được tham lam, lợi dụng kinh làm điều phi nghĩa.

lúc ấy mới được truyền kinh.

Câu 19. Truyền đắc khả thụ cáo Tam quan.

傳 得 可 授 告 三 官

Bản Tử Hà: Vọng truyền sự phát cáo Tam quan.

妄 傳 事 發 告 三 官

Vụ Thành Tử cho rằng: khi truyền kinh, phải cáo cùng Tam quan. Tam quan: Trời, đất, nước (thiên địa thủy 天 地 水).

Tử Hà giải rằng: Nếu vọng truyền cho người bất xứng, mà công việc bị phát giác, thì phải tuyên cáo cùng Tam quan.

Câu 20. Vật lệnh Thất Tổ thụ minh hoạn.

勿 令 七 祖 受 冥 患

Đừng làm cho các bậc sư phụ, sư tổ bị vạ lây.

Câu 21. Thái Thượng vi ngôn trí thần tiên.

太 上 微 言 致 神 仙

Những lời của đức Thái Thượng tuy là vi ẩn nhưng thực sự giúp ta thành thần tiên.

Câu 22. Bất tử chi đạo thử chân văn.

不 死 之 道 此 真 文

Bản Tử Hà: Bất tử chi đạo, thử kỳ văn.

不 死 之 道 此 其 文

Đây là những lời văn chân chính hàm chứa phương pháp dạy con người trở nên bất tử.

D. BÌNH GIẢNG

Chương cuối này dạy con người phải nên sống tự nhiên, thanh khiết, thanh tịnh, vô vi (câu 1, 4).

Chủ trương này chính cũng là chủ trương: Trí hư cực, thủ tĩnh đốc của Đạo Đức Kinh (chương 16).

Câu: Tán phát vô dục, dĩ trường tồn (câu 4) nhấn mạnh: Tu hành khi đã tới mức độ cao siêu,[1] cần phải:

Hư tâm, thanh thản, tự nhiên.

Chủ trương này có thể nói được là chủ trương chính yếu của Huỳnh Đình kinh, Nội cảnh, cũng như Ngoại cảnh. Thực vậy có rất nhiều câu tương tự tản mác khắp nơi trong hai kinh. Xin đan cử ít nhiều ví dụ:

NỘI CẢNH:

– Cao củng vô vi hồn phách an.

高 拱 無 為 魂 魄 安 (chương 23)

– Thanh tĩnh, thần hiện dữ ngã ngôn.

清 靜 神 現 與 我 言 (chương 23)

– Cao nghiên điềm đạm đạo chi viên.

高 研 恬 淡 道 之 園 (chương 23)

– Đới chấp Tính Mệnh, thủ Hư Vô.

帶 執 性 命 守 虛 無 (chương 27)

– Lục thần tập hợp, hư trung yến.

六 神 集 合 虛 中 宴 (chương 27)

NGOẠI CẢNH:

– Điềm đạm vô dục cư đức viên.

恬 淡 無 欲 居 德 園 (chương 11)

– Phù dưỡng tính mệnh thủ Hư Vô,

夫 養 性 命 守 虛 無

– Điềm đạm vô vi hà tư lự.

恬 淡 虛 無 何 思 慮 (chương 12)

– Thanh tĩnh, vô vi, thần lưu chỉ.

清 靜 無 為 神 留 止 (chương 20)

– Điềm đạm vô dục dưỡng hoa căn.

恬 淡 無 欲 養 華 根 (chương 23)

Khi đã thanh tĩnh, cực hư, Thần sẽ qui căn, phản bản, trở về chính ngôi, chính vị tại Trung Cung Huỳnh Đình, đóng vai Thái cực, chủ trì vạn biến.

Thế tức là: «Ngũ vị giai chí, chính khí hoàn.» 五 味 皆 至 正 氣 還 (câu 5)

Tử Hà khi bình giải câu trên đã liên tưởng, đến Văn ngôn hào lục ngũ quẻ KHÔN 坤:

«Quân tử Hoàng trung thông lý,

君 子 黃 中 通 理

Chính vị cư thể,

正 位 居 體

Mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi,

美 在 其 中 而 暢 於 四 肢

Phát ư sự nghiệp,

發 於 事 業

Mỹ chi chí dã.»

美 之 至 也

Tạm dịch:

Hiền nhân thông lý Trung Hoàng,

Tìm nơi chính vị, mà an thân mình,

Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh, mỹ miều,

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi…

Trung Hoàng là Trung Cung, Huỳnh Đình, Thái Cực.

Chính vị là Thiên Vị 天 位. Khi mà Tinh Thần đã hoàn qui «đại gia» 大 家, thì tâm thần sẽ an định (câu 6), thân thể sẽ thư sướng (câu 7, 8), đơn sẽ thành (câu 8), Chân nhân sẽ hiện (9), và như vậy sẽ sai khiến được chư thần Lục đinh trong con người, âm tà sẽ khiếp phục sợ uy (câu 9).

Thế cũng như là đã ăn được Linh chi thảo (câu 10). Dầu Huỳnh Đình Kinh hay Đại Đỗng Kinh cũng chỉ đưa tới mục tiêu đó mà thôi (câu 10).

Đọc Huỳnh Đình muốn cho có kết quả, cần phải thành tâm, cần phải kính cẩn (câu 11, 12, 13).

Huỳnh Đình là một kỳ thư, gặp người hiền mới nên truyền thụ. Khi truyền thụ phải có lễ nghi trang trọng. Phải lập nguyện trước đất trời rằng mình sẽ kính cẩn, sẽ kiên trì, sẽ hăng hái trì tụng kinh nầy, sẽ hết sức áp dụng kinh nầy vào trong công phu tu luyện, cho thành chính quả Đại La Tiên 大 羅 仙 (các câu 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20).[2]

Huỳnh Đình lời lẽ tuy ẩn vi, nhưng chính là di thư của đức Thái Thượng cốt dạy con người phương pháp trở thành thần tiên (câu 21, 22).

Huỳnh Đình kết thúc bằng một câu: Bất tử chi đạo thị chân văn. 不 死 之 道 此 真 文 (Ấy là lời văn chân chính dạy người trở thành trường sinh bất tử.) Chúng ta phải khai thác kinh này ra sao để khỏi phụ lòng các bậc thần tiên tiền bối.

[1] Tự nhiên giả, tu đạo chi tối cao nguyên tắc dã 自 然 者 修 道 之 最 高 原 則 也.

[2] Xem phần khảo luận Chương 5 ở trên.

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

Chư thần cư ngụ trong thân thể con người

Chư thần cư ngụ trong thân thể con người

Chu than cu ngu trong than the con nguoi
Chư thần cư ngụ trong thân thể con người

 

Chư thần cư ngụ trong thân thể con người  

Chu than cu ngu trong than the con nguoi 
Chư thần cư ngụ trong thân thể con người   
Chư thần cư ngụ trong thân thể con người   
*****
[1]
* Nguyên tác tiếng Đức của Rolf Homann
* Lê Anh Minh dịch & chú
Chủ đề của Huỳnh Đình Kinh được khẳng định ngay từ đầu của bản Ngoại Cảnh: «Lão Quân nhàn cư tác thất ngôn, giải thuyết thân hình cập chư thần.» 老君閑居作七言,解說身形及諸神 (Lão Quân lúc thư nhàn, viết thơ 7 chữ, để giải thích về thân hình con người và các thần linh trong đó). [2] 
Sự mô tả về chư thần trong thân thể con người (nhân thân chư thần 人身諸神) này rất chi tiết và chiếm phần lớn nhất trong văn bản Huỳnh Đình Kinh. Sự trình bày này và các lý thuyết liên quan đã ảnh hưởng đến sự phát triển về sau của thuyết nhân thân chư thần. [3]
Tuy nhiên không phải thuyết nhân thân chư thần được phát triển đầu tiên trong Huỳnh Đình Kinh, mà Huỳnh Đình Kinh cho đến nay được biết đến như là một tác phẩm tối cổ nêu ra danh xưng chư thần quan trọng nhất trong thân thể con người và mô tả các chức năng của các ngài.
Từ đời Hán người ta đã biết đến nhân thân chư thần rồi. Tuy nhiên các lý thuyết dẫn đến sự phát triển thuyết nhân thân chư thần đã bắt nguồn từ các quan niệm xa xưa về sự hợp nhất giữa đại vũ trụ (Makrokosmos) và tiểu vũ trụ (Mikrokosmos).
Trong quyển Trung Quốc Đạo giáo sử 中國道教史, tác giả Phó Cần Gia 傅勤家 đã trình bày sự phát triển của thuyết chư thần trong thân thể nơi chương Nhân thân trung chi thần 人身中之神 (thần ngụ trong thân thể con người) như sau: «Thái Bình Kinh 太平經 đã nói rõ nhân thân chư thần. Thiên Tinh thần huấn 精神訓 của quyển Hoài Nam Tử 淮南子 đã phân khí làm hai loại thần: âm và dương. Khí là sinh mệnh của vũ trụ, cũng là hoạt động lực. Theo Đạo giáo, nếu khí bên trong thân thể con người tương giao qua lại liên tục với khí của vũ trụ, tức là con người sống. Do đó mới có công phu luyện thổ cố nạp tân 吐故納新 (nhả hơi cũ, nuốt hơi mới), tức là công phu luyện khí, luyện đan. Rồi họ lại xem khí là thần; nơi ngũ tạng trong thân thể mỗi tạng đều có thần lai vãng. Cho nên muốn sống lâu thì phải nhìn thẳng (trực quán 直觀) các vị thần này và phải hợp nhất (đồng thể 同體) với các ngài.» [4]
Phó Cần Gia cũng giải thích ở đây sự phát sinh nhân thân chư thần là từ cùng một khí mà khí này tạo ra nhân thân và vũ trụ. Về khía cạnh khí, Porkert đã giảng rõ trong quyển Thuật ngữ về Khí trong kinh sách y học Trung Quốc:
 «Sự biến đổi của sự sinh hóa đặt nền tảng trên khí. Trong muôn vật của vũ trụ không có gì mà không phát sinh từ khí. Khí bao trùm vũ trụ và khí tác động vũ trụ từ bên trong. Khí tác động những thứ khác: mặt trời, mặt trăng, hành tinh, định tinh chiếu sáng; sấm mưa mây gió hình thành; vạn vật suốt bốn mùa sinh, trưởng, thu, tàng. Sự hiện hữu của con người hoàn toàn tùy thuộc vào khí.» [5]
Ta có công thức ngắn gọn:
Khí = năng lực tạo ra đại vũ trụ.
Khí = năng lực tạo ra tiểu vũ trụ. [6]
Một câu phát biểu tương tự cũng có thể áp dụng với tinh 精. Haloun cũng nhìn nhận: «Khí tương đối đơn giản. Ý nghĩa ban đầu chỉ là «không khí» (air), là «không khí dày dặc» (thick air). Chúng ta có giả thuyết là: Khí là nền tảng vật chất của vũ trụ (the physical basis of the universe)… Thuyết của người Trung Quốc là: Khí tác động thông qua một tác nhân gọi là tinh 精, thường được phiên dịch là «tinh túy» (essence).» [7]
Trong Quản Tử, sự tạo thành của tinh đối với vũ trụ và con người được nhấn mạnh rõ hơn: «Tinh của vạn vật ban cho chúng sự sống. Ở dưới đất thì tinh sinh ra ngũ cốc; ở trên trời thì tinh là la liệt tinh tú. Khi lưu chuyển giữa trời đất, tinh được gọi là quỷ thần. Khi tàng chứa nơi ngực của con người, tinh được gọi là thánh nhân.» [8]
Vì rằng khí và tinh chuyển hóa nhau nên tôi thấy không cần tiếp tục khai triển vấn đề này. Porkert cũng nhận thấy: «Tinh hóa thành khí (Tinh hóa vi khí 精化為氣).» và «Khí hóa thành tinh (khí hóa vi tinh 氣化為精).» [9]
Hai câu trên đưa đến kết luận rằng vũ trụ và thân thể con người được tạo thành bằng những chất liệu giống nhau. Nhưng điều này chưa thể dẫn đến kết luận rằng chư thần trong nhân thể phát sinh từ cơ sở của các giả thiết trên, mà điều này chỉ dẫn đến quan niệm về sự thống nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Về khía cạnh này, Phó Cần Gia đã bảo: «… tức là tạng phủ đều có thần. Theo Đạo giáo, con người được xem là một tiểu thiên địa, cho nên thần trong trời đất đều hiện hữu trong thân thể con người chúng ta.» [10]
Phó Cần Gia chỉ nêu ra mà không giải thích điều này. Tôi muốn thử chỉ ra mối liên hệ giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ và thử giải thích chư thần trong thân thể con người đã phát sinh như thế nào.
Thiên Thiên văn huấn 天文訓 trong Hoài Nam Tử đã giảng: «Các khiếu (lỗ) và tứ chi của nhân thể đều có liên hệ với trời. Trời có cửu trùng (trung ương và 8 hướng) thì người có cửu khiếu. Trời có bốn mùa để bố trí thứ tự 12 tháng thì người có tứ chi để điều khiển 12 quan tiết. Trời có 12 tháng để xếp thứ tự 360 ngày thì người có 12 quan tiết để điều khiển 360 lóng xương và khớp xương. Cho nên khi làm việc mà ai không thuận theo trời tức là đi ngược lại sự sống của bản thân.» [11]
Thiên Tinh thần huấn 精神訓 trong Hoài Nam Tử còn giảng chi tiết hơn về sự thống nhất giữa trời và người: «Cho nên đầu tròn tượng trưng trời, chân vuông tượng trưng đất. Trời có bốn mùa, ngũ hành, cửu giải, 360 ngày; người cũng có tứ chi, ngũ tạng, cửu khiếu, 360 lóng xương. Trời có gió, mưa, lạnh, nóng; người cũng có tiếp nhận, cho tặng, vui vẻ, giận dữ. Thế nên, mật là mây, phổi là khí, gan là gió, thận là mưa, tỳ là sấm, để người cùng kết hợp với trời đất.» [12]
Bên cạnh những «đức tính» của trời, sự phân chia bầu trời thành từng vùng [13] cũng phóng rọi vào con người. Rõ rệt nhất là thí dụ về nhật nguyệt và các hành tinh. Chúng không chỉ được xem là các hiện tượng thiên nhiên mà còn được xem là hệ thống thứ tự các thiên quan 天官. Theo Karlgren, chữ quan 官 này là: «Nơi công thự, công sở (official’s residence, office); chức việc hành chánh (public charge); quan lại (official, officer); chức vụ (function), thi hành chức năng (to function).» [14]
Lời chú của Sách ẩn 索隱 về thuật ngữ thiên quan 天官 [15]  nơi quyển 27 (Thiên quan thư 天官書) của Sử Ký Tư Mã Thiên đã giải rằng: «Thiên văn có 5 quan. Quan tức là tinh quan. Chòm sao (tinh tòa) có tôn ti, nên những quan nơi con người cũng có địa vị khác nhau. Thế gọi là thiên quan.» [16]
Trong tác phẩm Tuân Tử 荀子, các thiên quan được chuyển sang cho con người: «Chức vụ của trời đã xác lập, công việc của trời đã thành, hình đủ thì thần sinh. Ưa, ghét, mừng, giận, thương, vui được chứa cả trong đó, thế gọi là thiên tình 天情 (tình cảm tự nhiên được trời phú bẩm). Tai, mắt, miệng, mũi, hình thể đều có thể giao tiếp với bên ngoài nhưng không thể thay thế nhau, thế gọi là thiên quan 天官. Tâm ở giữa, hư tĩnh, để làm chủ ngũ quan, thế gọi là thiên quân 天君.» [17]
Quan niệm tương tự trên đây cũng thấy xuất hiện nơi chương 13 của Quản Tử: «Trong thân thể con người, tâm là chủ tể. Nhiệm vụ của cửu khiếu là thể hiện các chức năng biệt lập của các quan năng. Tai và mắt là các giác quan để nghe và nhìn.» [18]
Các quan niệm trên được Lương Khâu Tử 梁邱子 lập lại trong Huỳnh Đình Ngoại Cảnh: «Mắt trái là mặt trời (thái dương); mắt phải là mặt trăng (thái âm). » [19]
Trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn 黃帝內經素問, 12 bộ phận cơ thể được mô tả chi tiết là 12 quan: «Tâm là cơ quan của vua chúa, là nơi thần minh xuất ra. Phổi là cơ quan của đại tướng, ban ra sự trật tự và điều tiết. Gan là cơ quan của tướng quân, đề ra chiến lược và kế hoạch. Mật là cơ quan trung chính, cho ra sự quyết đoán. Trong lồng ngực là cơ quan của thần sứ, phát ra vui vẻ sung sướng. bao tử và lá lách là kho lúa gạo, phát ra năm vị. Ruột già là cơ quan truyền đi vật uế tạp, biến hóa chúng. Ruột non là cơ quan nhận lấy nhiều tạp chất để đưa vào ruột già, biến hóa chúng. Thận là cơ quan làm việc mạnh mẽ, phát sinh kỹ xảo. Tam tiêu là cơ quan dẫn lối âm dương khai thông ngòi nước cho khỏi bế tắc, nước từ đó thoát ra. Bàng quang (bọng đái) là cơ quan quản lý thủ đô và châu quận, nước tàng chứa ở đây.» [20]
Những thí dụ ít ỏi trên đây đã minh xác rằng: trên cơ sở là sự thống nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, các thiên quan trên trời cũng hiện hữu dưới đất và nơi thân thể con người.
Thiên quan, tức là các tinh tú, là nơi thần minh cư ngụ: «Nơi cung giữa là sao Thiên cực, là nơi sáng nhất, vốn là nơi thường trú của thần Thái Nhất.» [21]
Vì thiên quan có thần minh cư ngụ, nên thiên quan tương ứng ở con người cũng có thần minh cư ngụ. Quản Tử nói: «Có thần trú nơi thân thể con người, thần có lúc cũng đi, có lúc cũng đến. Nhưng không ai biết được điều này. Khi mất thần, con người mê loạn.» [22]
Quan niệm cụ thể về nhân thân chư thần đã thấy vào đời Hán, qua lời chú của Hà Thượng Công về «Cốc thần» 谷神 trong Lão Tử Đạo Đức Kinh: 
«Cốc là nuôi dưỡng. Nếu con người có thể nuôi dưỡng thần thì họ sẽ bất tử. Thần đây là thần của ngũ tạng. Thần của gan là hồn 魂, thần của phổi là phách 魄, thần của tim là thần 神, thần của thận là tinh 精, thần của tỳ là chí 志, ngũ tạng bị thương tổn hết thì năm thần này xuất ra khỏi nhân thể.» [23]
Sự liên hệ ngũ tạng với ngũ thần (gan-hồn, phổi-phách, tim-thần, thận-tinh, tỳ-chí) được nêu ra trên đây cũng tương đồng với quan niệm của y học Trung Quốc. [24]
Thần của ngũ tạng có liên hệ mật thiết với thần của bốn mùa và thần của ngũ hành. Thái Bình Kinh 太平經 có nói như vậy, nhưng không kể chi tiết tên của các vị thần này:
 «Thần của bốn mùa và thần của ngũ hành khi nhập vào thân thể con người thì thành chư thần của ngũ tạng, khi xuất ra thì trở thành thần của bốn mùa và thần của ngũ hành.» [25]
Thái Bình Kinh cũng nói như vậy ở một đoạn khác: 
«Khí của bốn mùa và ngũ hành nhập vào bụng của con người thì sinh ra chư thần của ngũ tạng, có màu sắc tương ứng với màu sắc của bốn mùa và trời đất.» [26]
Chư thần (ở đây gọi là «kỵ thần» 騎神) của trung ương và bốn phương hướng được mô tả trong Thái Bình Kinh như sau:
 «Kỵ thần hướng đông cầm cây mâu, kỵ thần hướng nam cầm cây kích, kỵ thần hướng tây cầm cung nỏ và cái rìu, kỵ thần hướng bắc cầm cái thuẫn mạ vàng và cây đao, kỵ thần trung ương cầm kiếm và cái trống. Khi nghĩ đến các vị thần này thì trước tiên hãy nhìn vào chư thần trong thân mình (nội thần) và hãy nhìn chư thần bên ngoài mình (ngoại thần); hoặc trước tiên nhìn dương thần, sau đó nhìn nội thần.» [27]
Những quan niệm xuyên qua ít ví dụ nêu trên đã được khai triển rộng hơn vào đời Đông Hán: Số lượng chư thần trong nhân thể phát triển đến 36000 vị; những vị thần quan trọng nhất được mô tả cụ thể về danh xưng, chức vụ, vóc dáng, y phục. Maspero đã viết rõ: «Thực sự toàn thân con người tràn ngập thần linh. Không những mỗi đan điền, mỗi tạng, mỗi phủ đều có ít nhiều thần linh mà mọi cơ quan hay nói đơn giản là mọi thứ có vẻ có nhân tính đều hình thành một thực thể biệt lập, như mắt, tai, tóc, v.v. Mỗi vị thần này đều có tên họ, biệt hiệu, tước vị. Thần có y phục, nơi cư ngụ, chức nghiệp, và vai trò trong sự hài hòa chung của sự sống của thân thể đó.» [28]
Có nhiều phương hướng khác nhau trong sự phát triển chư thần trong nhân thể: «Nhưng trong tất cả chư thần trong nhân thể này, người ta phân biệt ngay hai loại khác nhau: một loại đơn thuần liên quan các bộ phận của thân người (ordre purement physiologique)… và một loại thần liên quan đến bản thể vũ trụ (ordre ontologique).» [29]
Loại thần thứ hai này phân làm hai nhóm: một nhóm ứng với 24 khí tiết và một nhóm được tạo sinh theo cửu thiên 九天. [30]
Trong loại thần liên quan đến các bộ phận của thân thể con người (die physiologischen Gottheiten), ta thấy có 7 vị thần đầu, 5 vị thần của ngũ tạng, và 6 vị thần của lục phủ. Đại Đỗng chân kinh 大洞真經 còn đặc biệt phát triển tiếp số chư thần này: từng bộ phận được ấn định có thêm nhiều vị thần nữa. Nhưng số chư thần được nêu ra trong Đại Đỗng chân kinh thì khác xa với số chư thần được nêu trong các đạo thư hay đạo kinh tương tự về sau đến nỗi người ta không thể suy đoán được.
 Để minh họa điều này, tôi trích dẫn Lão Tử Trung Kinh 老子中經:
 «8 vị thần phổi (phế thần) là Thái Hòa Quân 太和君, tên gọi [ở] phủ Thượng Thư 尚書 của Ngọc Chân Cung 玉真宮. 
Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây trắng, do bạch hổ kéo hoặc họ cỡi bạch long (rồng trắng). 
9 vị thần tim (tâm thần) là Thái Úy Công 太尉公, gọi là Nguyên Quang 元光, Thái Thủy Nam Cực Lão Nhân 太始南極老人, ở Giáng Cung 絳宮. 
Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây đỏ; chim đỏ tạo thành cái lọng trên xe, rắn đỏ làm thành tay nắm. Xe do chim đỏ kéo hoặc họ cỡi xích long (rồng đỏ.) 7 vị thần gan (can thần) là Lão Tử Quân 老子君, tên gọi [ở] phủ Lan Đài 蘭臺 của Minh Đường Cung 明堂宮. 
Các quan tùy tùng có 3600 người, cỡi chiếc xe bằng khí mây xanh, do rồng xanh kéo hoặc họ cỡi nai trắng. 5 vị thần mật (đảm thần) là Thái Nhất Đạo Quân 太一道君, cư ngụ nơi Tử Phòng Cung 紫房宮. 
Họ cỡi chiếc xe bằng khí mây màu ngọc, trên có cái lọng che ngũ sắc, do 6 con rồng bay kéo. Các quan tùy tùng có 3600 người.» [31]
Về chư thần khác của đầu và các bộ phận trong thân, Lão Tử Trung Kinh còn cho những chi tiết tương tự.
Loại thần liên quan đến bản thể vũ trụ (ontologische Gottheiten) tương ứng với 24 khí tiết được Maspero mô tả như sau:
 «Một nhóm thần nổi tiếng khác là 24 thần (nhị thập tứ thần) mà mỗi vị cùng một lúc vừa cai quản một bộ phận trong thân thể con người vừa ứng với 24 khí tiết. Nơi thân thể con người (=tiểu vũ trụ), 24 khí tiết là 24 vòng tròn chồng lên nhau, phân đều từ đỉnh đầu xuống lòng bàn chân; và trong đại vũ trụ, chúng là 24 nửa tháng dương lịch do một năm được chia ra, sao cho tiết Hạ Chí là ngay đỉnh đầu, tiết Thu Phân và Xuân Phân là ngay rốn, và tiết Đông Chí là ở bàn chân.» [32]
Sự phân loại thông thường nhất là 3×8=24 thần căn cứ vào 3 bộ (tam bộ 三部 = đầu, ngực, bụng) của thân thể con người. Mỗi bộ có 8 cảnh thần.
Thượng bộ bát cảnh thần 上部八景神 gồm có:
1. Thần não (não thần 腦神) tên Giác Nguyên Tử 覺元子, tự Đạo Đô 道都;
2. Thần tóc (phát thần 髮神) tên Huyền Phụ Hoa 玄父華, tự Đạo Hành 道衡;
3. Thần da (bì phu thần 皮膚神) tên Thông Chúng Trọng 通眾仲, tự Đạo Liên 道連;
4. Thần mắt (mục thần 目神) tên Linh Giám Sinh 靈監生, tự Đạo Đồng 道童;
5. Thần tủy ở cổ (hạng tủy thần 項髓神) tên Linh Mạc Cái 靈膜蓋, tự Đạo Chu 道周;
6. Thần xương sống (lữ thần 膂神) tên Ích Lịch Phụ 益歷輔, tự Đạo Trụ 道柱;
7. Thần mũi (tỵ thần 鼻神) tên Trọng Long Ngọc 仲龍玉, tự Đạo Vi 道微;
8. Thần lưỡi (thiệt thần 舌神) tên Thủy Lương Trĩ 始梁峙, tự Đạo Kỳ 道岐.
Trung bộ bát cảnh thần 中部八景神 gồm có:
1. Thần yết hầu (hầu thần 喉神) tên Bách Lưu Phóng 百流放, tự Đạo Thông 道通;
2. Thần phổi (phế thần 肺神) tên Tố Linh Sinh 素靈生, tự Đạo Bình 道平;
3. Thần tim (tâm thần 心神) tên Hoán Dương Xương 煥陽昌, tự Đạo Minh 道明;
4. Thần gan (can thần 肝神) tên Khai Quân Đồng 開君童, tự Đạo Thanh 道清;
5. Thần mật (đảm thần 膽神) tên Đức Long Câu 德龍拘, tự Đạo Phóng 道放;
6. Thần thận trái (tả thận thần 左腎神) tên Xuân Nguyên Chân 春元真, tự Đạo Khanh 道卿;
7. Thần thận phải (hữu thận thần 右腎神) tên Tượng Tha Vô 象他無, tự Đạo Ngọc 道玉;
8. Thần tỳ (tỳ thần 脾神) tên Bảo Nguyên Toàn 寶元全, tự Đạo Khiên 道騫.
Hạ bộ bát cảnh thần 下部八景神 gồm có:
1. Thần bao tử (vị thần 胃神) tên Đồng Lai Dục 同來育, tự Đạo Triển 道展;
2. Thần ruột cùng (cùng trường thần 窮腸神) tên Triệu Đằng Khang 兆騰康, tự Đạo Hoàn 道還;
3. Thần ruột già và ruột non (đại tiểu trường thần 大小腸神) tên Bồng Tống Lưu 蓬送留, tự Đạo Trù 道廚;
4. Thần trong ruột (động trung thần 胴中神) tên Thụ Hậu Bột 受厚勃, tự Đạo Hư 道虛;
5. Thần hoành cách mô (hung cách thần 胸膈神) tên Quảng Anh Trạch 廣英宅, tự Đạo Trung 道中;
6. Thần hai hàng xương sườn (lưỡng lặc thần 兩肋神) tên Tịch Giả Mã 辟假馬, tự Đạo Thành 道成;
7. Thần tả dương (tả dương thần 左陽神) tên Phù Lưu Khởi 扶流起, tự Đạo Khuê 道圭;
8. Thần hữu âm (hữu âm thần 右陰神) tên Bao Biểu Minh 包表明, tự Đạo Sinh 道生. [33]
Tên 28 vị thần này không thống nhất với tên các thần thuộc nhóm liên quan các bộ phận của thân người (physiologische Gottheiten) [đã kể trong Lão Tử Trung Kinh].
Chư thần liên quan bản thể vũ trụ (ontologische Gottheiten) tương ứng với Cửu thiên 九天 đã bắt nguồn từ một thuyết của Trung Quốc về sự sáng thế:
«Cửu thiên có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thế giới và cửu thiên sinh trưởng trong thân người. » [34]
Cửu thiên ở đây là 9 khí hình thành thế giới. Các khí này bắt nguồn từ nguyên khí 元氣. Trước tiên nguyên khí phân làm 3 khí, rồi phân thành 9 khí:
 «Cửu khí biến đổi một loạt . Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, âm dương, ngũ hành, đều tiếp nhận sự sống từ cửu khí.» [35]
Trong thân thể con người, cửu khí hay cửu thiên thể hiện ra là cửu cung 九宮. Cửu cung tọa lạc nơi mỗi ba bộ phận. Cửu cung nơi thượng bộ (=đầu) thường được mô tả chi tiết, còn cửu cung nơi trung bộ (=mình) và hạ bộ (=phần dưới) thì chưa được biết rõ. Chỉ trong một văn bản duy nhất sau đây là Thượng Dương Tử Kim đan đại yếu 上陽子金丹大要, tôi tìm thấy sự mô tả chi tiết về cửu cung ở trung bộ:
 «Tim (nơi thần cư ngụ) là Giáng tiêu cung 絳霄宮. Thận (nơi thần cư ngụ) là Đan nguyên cung 丹元宮. Gan (nơi thần cư ngụ) là Lan đài cung 蘭臺宮. Phổi (nơi thần cư ngụ) là Thượng thư cung 尚書宮. Tỳ (nơi thần cư ngụ) là Huỳnh đình cung 黃庭宮. Mật (nơi thần cư ngụ) là Thiên hoằng cung 天霐宮. Ruột non (nơi thần cư ngụ) là Huyền linh cung 玄靈宮. Ruột già (nơi thần cư ngụ) là Mộc linh cung 木靈宮. Bàng quang (nơi thần cư ngụ) là Ngọc phòng cung 玉房宮.» [36]
Văn bản đời Nguyên trên đây rõ ràng là một cố gắng muộn màng nhằm hệ thống hóa cửu cung nơi trung bộ thân người. Qua sự tổng kết các cơ quan của trung bộ và hạ bộ nhưng lược bỏ cửu cung nơi hạ bộ, sự cố gắng này không có giá trị gì.
Huỳnh Đình Kinh có sự đặc biệt: với tư cách là một đạo kinh xưa nhất nói về chư thần trong thân thể con người, kinh này dung chứa cả ba sự khai triển đã nêu trên đây. Trọng tâm của sự mô tả này là chư thần liên quan đến các bộ phận trong thân người (physiologische Gottheiten). Trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, thần ở đầu được liệt kê danh tính ở chương 7 (Chí đạo 至道) và các thần ngũ tạng được liệt kê danh tính ở chương 8 (Tâm thần 心神), nhưng các thần lục phủ thì không kể danh tính ra. Gần phân nửa của Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh mô tả tỉ mỉ nhất về chư thần ngũ tạng. [37]
Ở đây tôi muốn nêu ra một sự khai triển đặc biệt các thần lục phủ theo quan niệm đời Tống: «Theo một quyển sách khuyết danh tác giả vào đời Tống đã minh họa, mỗi phủ trong lục phủ của thân người được cho rằng có động vật cư ngụ. Hổ trắng ở phổi, rắn và rùa ở mật, rồng ở gan, phượng hoàng ở tỳ, chim đỏ ở tim, nai hai đầu ở thận.» [38]
Thần phổi có hình hổ trắng    
Thần mật có hình rắn và rùa    
Thần gan có hình rồng    
Thần tim có hình chim đỏ    
Thần thận có hình nai hai đầu
Ở đây danh xưng chư thần ngũ tạng nêu trong Huỳnh Đình Kinh được mô tả thêm hình dáng qua sự trình bày của Hồ Âm 胡愔 trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Ngũ Tạng Lục Phủ Đồ 黃庭內景五臟六腑圖.
Nhóm chư thần tương ứng với 24 tiết khí được mô tả như sau trong Huỳnh Đình Nội Cảnh chương 23: «Phép đối trị sự sống thật đơn giản: chỉ cần học theo sách Động Huyền [của Lão Quân] và sách Ngọc Thiên (tức Huỳnh Đình Kinh).
 Ngoài ra, trong thân hình có bát cảnh thần [ở mỗi bộ trên, giữa, dưới], thống nhiếp khí toàn thân thì 24 vị thần này hiện ra.» [39]
Sự giải thích chư thần liên quan đến 24 tiết khí không phải duy nhất chỉ có ở sách này. Chẳng hạn Lãnh Khiêm 泠謙 trong Huỳnh Đình Kinh Bí Nghĩa đã giảng rằng bát cảnh tương ứng với bát quái tức là 8 quẻ cơ bản để hình thành 64 quẻ kinh Dịch. 
Còn 24 chân nhân ứng với 24 hào âm và dương của bát quái. [40] Ngoài ra người ta cũng có thể giải 24 chân nhân này ứng với 24 tiếng đồng hồ của một ngày (bát cảnh thần ứng với 8 tiếng, nhân với 3 [sáng, chiều, tối] là 24 thần).
Về các thần tương ứng với cửu cung của trời, chương 7 của Nội Cảnh đã viết: «Chư thần nơi mặt đều lấy nê hoàn làm tông chủ, [trời có cửu cung mà người cũng thế] nên nê hoàn [ở trung cung] và 8 cung xung quanh đều có 9 vị thần.» [41]
Đến đây, vấn đề vẫn còn chưa giải quyết xong: Chư thần trong thân thể con người để phục vụ mục đích gì?
Theo quan niệm của Thái Bình Kinh, khi chư thần tồn tại trong thân người mà không bị thương tổn thì con người ta khỏe mạnh, nếu chư thần rời bỏ thân ta thì ta bệnh hoạn và chết: «Cho nên thần gan đi mất mà không trở về thân ta, thì mắt ta không sáng. Khi thần tim đi mất thì môi ta xanh tái. Khi thần phổi đi mất thì mũi ta bị nghẹt. Khi thần thận đi mất thì tai ta điếc. Khi thần tỳ đi mất thì miệng ta không cảm nhận được vị ngọt. Khi thần đầu đi mất thì ta mắt ta tối sầm. Khi thần bụng đi mất thì bao tử ta rối loạn, không thể tiêu hóa thực phẩm. Khi thần tứ chi đi mất thì ta không thể cử động và di chuyển được.» [42]
Tuy nhiên, khi chư thần vẫn tồn tại trong thân thể con người thì, theo Thái Bình Kinh mô tả, người ta sẽ có tình trạng như sau: «Khi chư thần tồn tại trong thân thể ta, ta sẽ cảm thấy tươi vui, sẽ cảm thấy hạnh phúc và không truy cầu tài bảo hay ganh đua với đời. Vì không ham danh lợi, sau một thời gian dài, ta sẽ trông thấy hình ảnh chư thần.» [43]
Sau đó, điều quan trọng đối với sức khỏe con người chính là tam trùng 三蟲 – kẻ thù tự nhiên của con người cũng như của nhân thân chư thần – sẽ bị tiêu diệt thông qua sự hành khí và phục thực đúng đắn. Tam trùng cư ngụ nơi ba bộ phận của con người.
Kaltenmark viết: «Thượng trùng tấn công mắt và gây tai hại cho đầu. Trung trùng hại bụng và ruột. Hạ trùng gây bệnh thận, làm cạn tinh tủy, làm khô xương, gây thiếu máu.» [44]
Tam trùng được mô tả tỉ mỉ chi tiết và sinh động trong Thái Thượng Trừ Tam Thi Cửu Trùng Bảo Sinh Kinh 太上除三尸九蟲保生經: 
«Thượng trùng Bành Cư 彭琚 có tên trẻ con là A Ha 阿呵 ở trong đầu con người. Nó tấn công nê hoàn tức thượng đan điền, khiến cho người ta cảm thấy nặng đầu, mắt tối sầm, khóc chảy nước mũi, tai điếc, răng rụng, miệng hôi, khuôn mặt nhăn nheo. Nó làm con người mê loạn, yêu thích xe ngựa, say mê âm nhạc và nữ sắc… 
Trung trùng Bành Chất 彭質 có tên trẻ con là Tác Tử 作子, yêu thích ngũ sắc và ngũ vị. Nó cư ngụ nơi tim và bao tử con người. Nó tấn công tử cung (cung màu đỏ) và trung tiêu, khiến con người nhầm lẫn và mất trí nhớ. Nó làm giảm tinh. Khi khí sinh ra, tai họa đến. Mặt khác, nó gây sầu não. Khi âu lo thái quá, miệng khô, mắt trắng, răng sâu. Ngày đêm nó làm hại lục phủ ngũ tạng. Nó gây ra bệnh tật. Do nó mà người ta ngủ nhiều và thấy ác mộng… 
Hạ trùng Bành Kiểu 彭矯 có tên trẻ con là Lý Tế 李細, cư ngụ nơi bụng và chân con người. Nó làm hại khí hải đến nỗi khô cạn và làm cho bách bệnh sinh ra. Nó xúi con người trộm cướp, ham mê nữ sắc, danh vọng, và ham mê trụy lạc, gây tác hại. Người ta không thể cản được nó làm hại sinh mệnh của họ. Nó khiến con người kết hợp với ma quỉ, quay lưng với cuộc sống, cận kề cái chết, cạn kiệt tinh khí. Nó làm khô tủy, cơ bắp đau nhức, thịt nóng hực, ý chí bạc nhược, thân thể trống rỗng, mông nặng nề, bàn chân và đầu gối rã rời. Nước tiểu và xú khí thoát ra, và dần dần tai họa đến…» [45]
Tam thi (tam trùng) 三尸(三蟲)
Tam trùng đã xuất hiện từ đời Đông Hán, như trong tác phẩm Luận Hành 論衡 của Vương Sung 王充 đã chép: «Người ta có tam trùng trong ruột. Côn trùng sống nơi đầm lầy gọi là con đỉa. Chúng ăn chân người, còn ở con người thì tam trùng ăn ruột.» [46]
Về sau, do ảnh hưởng của thuyết về chư thần tương ứng với cửu thiên, người ta lại phân biệt xa hơn nữa là tam thi cửu trùng (cũng là kẻ thù của con người). Về cửu trùng thì Thái Thượng Trừ Tam Thi Cửu Trùng Bảo Sinh Kinh cũng đã mô tả sinh động.
Chư thần trong thân thể con người là đối tượng của tĩnh tọa, gọi là nội quán 內觀: «Nội quán cũng cho phép người ta nhìn thấy các thần trong thân thể… Nhiều đạo kinh đã mô tả chính xác chư thần này, nêu ra danh tánh của thần và thường cho biết hình dáng của thần để dễ nhìn thấy và giao tiếp với thần.» [47]
Tuy chư thần theo quan niệm của Đạo giáo là có cung điện cả trên trời lẫn dưới đất, nhưng chư thần không thường trú nơi đó, mà luôn dạo chơi khắp nơi, nên thật là khó khăn cho các đạo sĩ được giao tiếp với chư thần. Điều đó cũng là một điều thực dễ dàng khi đạo sĩ luôn có khả năng giao tiếp chư thần nhờ tham thiền nội quán chư thần trong thân thể, mà các vị này tương ứng với chư thần trên trời.
Tóm tắt chư thần nơi ba bộ vị của thân thể
I. Thượng bộ 上部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
1- Thần Tóc = Thương Hoa 蒼華
2- Thần Trán = Tinh Căn 精根
3- Thần Mắt = Minh Thượng 明上
4- Thần Mũi = Ngọc Lũng 玉壟
5- Thần Tai = Không Nhàn 空閑
6- Thần Lưỡi = Thông Mệnh 通命
7- Thần Răng = Ngạc Phong 崿鋒
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (Đạo Tạng 1051/W1388: 洞玄靈寶二十四生圖經 Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh)
1- Thần Tóc = Huyền Phụ Hoa 玄父華
2- Thần Trán = Giác Nguyên Tử 覺元子
3- Thần Mắt = Hư Giám 虛監
4- Thần Mũi = Trọng Long Tử 仲龍子
5- Thần Lưỡi = Thủy Lương Trĩ 始梁峙
6- Thần Da = Thông Tượng Trọng 通象仲
7- Thần Tủy xương sống = Linh Mô Cái 靈謨蓋
8- Thần Xương sống = Ích Lịch Chuyển 益歷轉
c/ Chư thần liên quan cửu cung:
1- Chư thần cung Minh Đường 明堂: ở giữa là Minh Kính Thần Quân 明鏡神君; bên trái là Minh Đồng Chân Quân 明童真君; bên phải là Minh Nữ Chân Quân 明女真君. [48]
2- Chư thần cung Động Phòng 洞房: ở giữa là Hoàng Lão Quân 黃老君; bên trái là Nguyên Anh Quân 元英君; bên phải là Nguyên Bạch Quân 元白君. [49]
3- Chư thần cung Nê Hoàn 泥丸: bên trái là Thượng Nguyên Xích Tử 上元赤子; bên phải có Đế Hương 帝鄉 (chỉ có 2 thần đồng cư). [50]
4- Chư thần cung Lưu Châu 流珠: Lưu Châu Chân Quân 流珠真君. [51]
5- Chư thần cung Ngọc Đế 玉帝: Ngọc Thanh Thần Mẫu 玉清神母. [52]
6- Chư thần cung Thiên Đình 天庭: Thượng Thanh Chân Nữ 上清真女
7- Chư thần cung Cực Chân 極真: Thái Cực Đế Phi 太極帝妃.
8- Chư thần cung Huyền Đan 玄丹: Trung Hoàng Thái Ất Chân Quân 中黃太乙真君. [53]
9- Chư thần cung Thái Hoàng 太皇: Thái Thượng Quân Hậu 太上君后.
II. Trung bộ 中部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
1- Thần Tim = Đan Nguyên 丹元
2- Thần Phổi = Hạo Hoa 皓華
3- Thần Gan = Long Yên 龍湮
4- Thần Thận = Huyền Minh 玄明
5- Thần Tỳ = Thường Tại 常在
6- Thần Mật = Long Diệu 龍曜
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (theo Đạo Tạng 1051/W1388: Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh 洞玄靈寶二十四生圖經)
1- Thần Tim = Hoán Dương Xương 煥陽昌
2- Thần Phổi = Tố Linh Sinh 素靈生
3- Thần Gan = Khai Quân Đồng 開君童
4- Thần Thận trái = Xuân Nguyên Quân 春元君
5- Thần Thận phải = Tượng Tha Vô 象他無
6- Thần Tỳ = Bảo Vô Toàn 寶無全
7- Thần Mật = Long Đức Câu 龍德拘
8- Thần Cuống họng = Bách Lưu Phóng 百流放
c/ Chư thần liên quan cửu cung: (không có)
III. Hạ bộ 下部 của thân thể:
a/ Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh:
– Thần Mật = Long Diệu 龍曜
b/ Chư thần liên quan 24 khí tiết (theo Đạo Tạng 1051/W1388: Động Huyền Linh Bảo Nhị Thập Tứ Sinh Đồ Kinh 洞玄靈寶二十四生圖經)
1- Thần Bao Tử = Đồng Lai Dục 同來育
2- Thần Ruột già ruột non = Bồng Tống Lưu 蓬送留
3- Thần Ruột thừa = Phi Đằng Khang 非騰康
4- Thần Đầu ruột = Thụ Hậu Bột 受厚勃
5- Thần Cách (Zwerchfell: diaphragm: cơ hoành) = Quảng Anh Trạch 廣瑛宅
6- Thần Mông = Tịch Giả Mã 辟假馬
7- Thần Tả dương = Phù Lưu Khởi 扶流起
8- Thần Hữu âm = Bao Biểu Minh 包表明
c/ Chư thần liên quan cửu cung: (không có)
CHÚ THÍCH 
[1] Nguyên tác Đức ngữ: Die Körpergottheiten, trích dịch từ Rolf Homann, Die wichtigsten Körpergottheiten im H’uang-t’ing ching (Chư thần quan trọng nhất trong nhân thể theo Huỳnh Đình Kinh), Verlag Alfred Kümmerle, Göppingen, Germany, 1971, tr. 24-51. Chú thích riêng của người dịch được ghi là [LAM chú].
[2] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, trang 89.
– Thuật ngữ thần 神 thường được dịch là dieu divinité (thần linh) hay god (thần linh) theo Maspero, Kaltenmark, Welch. Ở đây hãy so sánh các chú thích của Porkert trong Die energetische Terminologie in den chinesischen Medizin-klassikern (Thuật ngữ về Khí trong kinh sách y học Trung Quốc), trong Sinologica VIII, số 4, Basel 1965, tr.189; và chú của ông trong Untersuchungen einiger philosophisch-wissenschaftlicher Grundbegriffe und Beziehungen im Chinesischen (Khảo vài khái niệm cơ bản về triết học và khoa học và các liên quan của chúng trong Hán ngữ), trong Zeitschrift der Deutschen Morgenländischen Gesellschaft (Tạp chí Xã hội Đông phương [theo nghiên cứu của người] Đức), bộ 110, tập 2, Wiesbaden, 1961, tr. 429; đặc biệt là chú thích 19 (trang 431), ông đã chỉ ra sự khác biệt về khái niệm Thần của người Trung Quốc và khái niệm Thần của người Tây phương.
[3] Holmes Welch, Taoism: The Parting of the Way, Boston, 1966, tr. 106.
[4] Phó Cần Gia 傅勤家, Trung Quốc Đạo giáo sử 中國道教史, Đài Bắc, 1967, tr. 104.
[LAM chú] Tôi dịch theo bản của Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh, 1998, tr. 104:
«Thân trung chư thần, Thái Bình Kinh dĩ tường ngôn. Hoài Nam Tử – Tinh thần huấn dĩ phân khí vi âm dương nhị thần, khí giả vũ trụ chi sinh mệnh, hựu vi hoạt động lực, cứ Đạo giáo sở thuyết, nhân loại thân nội chi khí, năng dữ vũ trụ chi khí tương vãng lai nhi bất tuyệt, tức đắc trường mệnh. Cố hữu thổ cố nạp tân, tức luyện khí luyện đan chi công phu. Hựu dĩ khí vi thần, thể nội ngũ tạng, diệc các hữu thần lai vãng, cố dục trường thọ, đương trực quán thử thần, dữ chi đồng thể.» 
身中諸神,太平經已詳言.淮南子精神訓已分氣為陰陽二神,氣者宇宙之生命,又為活動力,據道教所說,人類身內之氣,能與宇宙之氣相往來而不絕,即得長命.故有吐故納新即鍊氣鍊丹之工夫.又以氣為神,體內五臟亦各有神來往,故欲長壽,當直觀此神,與之同體.
[5] Porkert, Die energetische Terminologie in den chinesischen Medizinklassikern, 1965, tr. 185. Porkert dịch đoạn văn này trong Loại kinh 類經, nhưng tôi không có quyển này.
[6] Manfred Porkert, sđd., 1965, tr. 186.
[7] Haloun, Nachschrift eines Kollegs über die taoistischen Kapitel (36, 37, 49) im Kuan-tzu (Lời cuối của một khóa giảng về các chương Đạo giáo 36, 37, 49 trong Quản Tử), tr. 31.
– Lời cuối này không công bố, nhưng giáo sư Eichhorn đã cung cấp cho tôi. Nguyên văn tiếng Anh: «Ch’i 氣 is comparatively simple. The original meaning is ‘air’, ‘thick air’. We have here a hypothesis that air is the physical basis of the universe… The Chinese theory is that air acts through an agent called ching 精, usually translated as ‘essence’.»
[8] Quản Tử, trong Tứ Bộ Bị Yếu, tr. 365, chương 16.
– W.A. Rickett, Kuan-tzu, Hong Kong, 1965, tr. 158, dịch: «It is ever so that the essence of things is what gives them life. Below it gives life to the five grains; above it creates the ranked stars. When floating between Heaven and earth, we call it the spirit. When stored in the breast (of a person), we call it the sage.»
[LAM chú] Tôi dịch theo bản chữ Hán, chương Nội nghiệp 內業: «Phàm vật chi tinh, thử tác vi sinh, hạ sinh ngũ cốc, thượng vi liệt tinh, lưu thiên địa chi gian, vị chi quỷ thần, tàng ư hung trung, vị chi thánh nhân.» 凡物之精,此作為生,下生五穀,上為列星,流天地之間,謂之鬼神,藏於胸中謂之聖. (Ngô Văn Đào 吳文濤 & Trương Thiện Lương 張善良 biên tập, Quản Tử, Bắc Kinh, Yên Sơn xbx, 1995, tr. 339.)
[9] Porkert, sđd., 1961, tr. 424. Hai câu này Porkert dịch từ Vân Cấp Thất Thiêm 雲笈七籤.
[10] «Thử ngôn tạng phủ giai hữu thần dã. Nhiên Đạo giáo chi thuyết thị nhân thân vi nhất tiểu thiên địa, cố thiên địa chi thần giai tồn ngô nhân chi thân trung.» 此言臟腑皆有神也.然道教之說視人身為一小天地,故天地之神皆存吾人之身中. (Phó Cần Gia, sđd., tr. 106). Quan niệm về sự thống nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ tuy vậy không thuộc phạm vi của Đạo giáo, mà quan niệm này đã phổ biến trong xã hội Trung Quốc cổ đại rồi. Maspero, Le Taoïsme, 1950, tr. 123, đã chỉ ra sự liên hệ này giữa đại và tiểu vũ trụ [qua chư thần trong vũ trụ và chư thần trong thân thể con người], nhưng ông không khai triển quan niệm này. Nơi trang 109, theo tôi thì Maspero đã lầm khi nói về Bàn Cổ 盤古. Ở đây là huyền thoại nói về sự sáng tạo vũ trụ mang tính đồng hình với con người chứ không phải là quan niệm về đại và tiểu vũ trụ.
[LAM chú] Maspero viết: «Nhiệm Phưởng 任昉, thế kỷ VI cn, đã viết chính xác huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký 述異記 rằng: ‘Ngày xưa khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành bốn ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và mặt trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc. Thời Tần và Hán, dân gian kể rằng đầu của Bàn Cổ là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân ngày xưa kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong mắt là ánh sáng.’» (Ren Fang, au VIe siècle, rapporte exactement de même la légende de Pan Gu dans ses Récits Merveilleux: Autrefois, quan Pan Gu mourut, sa tête devint les Quatre Pics; ses yeux devinrent le soleil et la lune; sa graisse devint les fleuves et les mers; ses cheveux et sa barbe devinrent les herbes et les arbres. A l’époque des Qin et des Han, on racontait vulgairement que la tête de Pan Gu était le Pic de l’Est, son ventre le Pic du Centre, son bras gauche le Pic du Sud, son bras droit le Pic du Nord, ses pieds le Pic de l’Ouest. Les anciens Lettrés racontent que les larmes de Pan Gu sont les fleuves, que son souffle est le vent, sa voix le tonnerre, la pupille de ses yeux l’éclair.) Rồi Maspero có một kết luận (mà Rolf Homann bác bỏ): «Huyền thoại này không nhất thiết có nguồn gốc Đạo giáo, bởi vì chính quan niệm nhân thể là tiểu vũ trụ không phải riêng của Đạo giáo: Nó là tín ngưỡng phổ biến mà tại chính Trung Quốc tín ngưỡng này được bắt gặp hầu như ở mọi giới thế tục cũng như tôn giáo mọi thời. Nhưng các Đạo sĩ đã đẩy mạnh sự đồng hóa của con người đối với thế giới xa hơn những người đương thời của họ đã làm.» 
(La légende n’est pas nécessairement d’origine taoïste, car la conception même du corps-microcosme n’a rien de spécifiquement taoïste: c’est une croyance universellement répandue et qui, en Chine même, se rencontre à peu près dans tous les milieux laïques et religieux, à toutes les époques. Mais les Taoïstes ont poussé cette assimilation du corps au monde plus loin que ne le faisaient leurs contemporains.)
[11] Hoài Nam Tử, Tứ Bộ Bị Yếu, 424, chương 3, tr. 16a/b.
– Thuật ngữ thập nhị tiết 十二節 (12 quan tiết) bao gồm: 2 cánh tay trong, 2 cánh tay ngoài, 2 bàn tay, 2 đùi, 2 ống chân, 2 bàn chân. Trung Y Danh Từ từ điển 中醫名詞辭典, Hongkong, 1964, tr. 4, giải: «Tứ chi các hữu tam đại tiết, hợp danh thập nhị tiết.» 四肢各有三大節合名十二節 (Mỗi chi của tứ chi đều có ba quan tiết lớn, gọi chung là 12 tiết). Lại có 360 (hoặc 366) tiết, Homann tôi vẫn chưa rõ, có lẽ là số lượng các đốt xương, khớp xương (Gelenke, Knochen).
[LAM chú] Tôi dịch theo Hoài Nam Hồng Liệt giải 淮南鴻烈解 in trong Đạo Tạng Yếu Tịch tuyển san (khan) )道臧要藉選刊, Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 1995, quyển 5, tr. 27: «Khổng khiếu chi thể giai thông ư thiên. Thiên địa cửu trùng, nhân diệc hữu cửu khiếu. Thiên hữu tứ thời dĩ chế thập nhị nguyệt, nhân diệc hữu tứ chi dĩ sử thập nhị tiết. Thiên hữu thập nhị nguyệt dĩ chế tam bách lục thập nhật, nhân diệc hữu thập nhị chi dĩ sử tam bách lục thập tiết. Cố cử sự bất thuận thiên giả nghịch kỳ sinh giả dã.» 孔竅肢體皆通於天.天地九重人亦有九竅.天有四時以制十二月,人亦有四肢以使十二節.天有十二月以制三百六十日,人亦有十二肢以使三百六十節.故舉事而不順天者逆其生者也. – Nguyên tác viết cửu trùng (tức cửu thiên hay cửu dã hay cửu giải) là 9 vùng gồm trung ương và 8 hướng. Homann dịch là «9 tầng trời» (neun Stockwerke) là không đúng vì mâu thuẫn với đoạn ông trích dẫn kế tiếp từ chương Tinh thần huấn. Xem chú thích 12 và 13 dưới đây.
[12] Hoài Nam Tử, Tứ Bộ Bị Yếu, 424, chương 7, tr. 2a.
[LAM chú] Tôi dịch theo Hoài Nam Hồng Liệt giải 淮南鴻烈解 in trong Đạo Tạng Yếu Tịch tuyển san (khan) 道臧要藉選刊, Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 1995, quyển 5, tr. 50 và theo bản Hoài Nam Tử của Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1933, tr. 46: «Cố đầu chi viên dã tượng thiên, túc chi phương dã tượng địa. Thiên hữu tứ thời, ngũ hành, cửu giải, tam bách lục thập nhật, nhân diệc hữu tứ chi, ngũ tạng, cửu khiếu, tam bách thập tiết. Thiên hữu phong, vũ, hàn thử, nhân diệc hữu thủ dữ hỉ nộ. Cố đảm vi vân, phế vi khí, can vi phong, thận vi vũ, tỳ vi lôi, dĩ dữ thiên địa tương tham.» 故頭之圓也象天,足之方也象地.天有四時,五行,九解,三百六十日,人亦有四肢,五臟,九竅,三百十節.天有風雨寒暑人亦有取與喜怒.故膽為雲,廢為氣,肝為風,腎為雨,脾為雷,以與天地相參. Sách này chú rằng có bản chép 366 ngày và 366 lóng xương. Cửu giải = cửu thiên = 8 hướng và trung ương (bát phương trung ương vị chi cửu giải 八方中央謂之九解), Homann dịch là «9 phương hướng» (neun Richtungen). Xem tiếp chú thích 13.
[13] [LAM chú] Theo Thiên văn học Trung Quốc, bầu trời được phân thành 9 vùng gọi là cửu dã 九野 ứng với mặt đất là Cửu Châu 九州 (tức Trung Quốc cổ đại, Thượng Thư – Vũ Cống liệt kê 9 châu là: Ký 冀, Duyện 兗, Thanh 青, Từ 徐, Dương 揚, Kinh 荊, Dự 豫, Lương 梁, Ung 雍). Cửu châu theo Đạo giáo là 9 cơ quan trong thân thể con người. Tu chân Thái Cực hỗn nguyên đồ 修真太極混元圖 nói: Nhân thân chi trung vạn tượng tồn yên, dĩ cửu châu ngôn chi. Thận vi Ký châu, bàng quang vi Từ châu, can vi Thanh châu, đảm vi Duyện châu, tâm vi Dương châu, tiểu trường vi Kinh châu, tỳ vi Dự châu, phế vi Lương châu, đại trường vi Ung châu. 人身之中萬象存焉,以九州言之.腎為冀州,膀胱為徐州,肝為青州,膽為兗州,心為揚州,小腸為荊州,脾為豫州,肺為梁州,大腸為雍州 (Vạn tượng đều tồn tại trong thân thể con người, lấy cửu châu để nói điều này. Thận: Ký châu, bọng đái: Từ châu, gan: Thanh châu, mật: Duyện châu, tim: Dương châu, ruột non: Kinh châu, lá lách: Dự châu, ruột già: Ung châu.)
– Hoài Nam Tử gọi cửu dã 九野 là cửu giải 九解 hay cửu thiên 九天: gồm trung ương và 8 hướng. Trung ương là Quân thiên 鈞天; hướng đông là Thương thiên 蒼天; hướng đông bắc là Biến thiên 變天; hướng bắc là Huyền thiên 玄天; tây bắc là U thiên 幽天; hướng tây là Hạo thiên 顥天; hướng tây nam là Chu thiên 朱天; hướng nam là Viêm thiên 炎天; hướng đông nam là Dương thiên 陽天. Đó là 9 vùng trời theo sự phân loại trong Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋 (thiên Hữu thủy lãm 有始覽). Hoài Nam Tử gọi tên khác một chút ở 2 hướng: hướng đông bắc gọi là Mân thiên 旻天, hướng tây gọi là Hạo thiên 皓天. Còn 7 hướng kia thì cũng gọi y như vậy. Cửu dã trên trời ứng với cửu khiếu 九竅 nơi người. Đó là 9 lỗ, gồm 7 dương khiếu 陽竅 (2 mắt, 2 lỗ tai, 2 lỗ mũi, miệng) và 2 âm khiếu 陰竅 (lỗ tiểu tiện, lỗ đại tiện).
[14] Bernhard Karlgren, Grammata Serica Resensa, Stockholm, 1957, tr. 62.
[LAM chú] Bản tiếng Anh của Bernhard Karlgren (phiên âm là Cao Bản Hán 高本漢) được dịch ra Hán văn là Hán Văn Điển 漢文典, Thượng Hải Từ Thư xbx, tu đính bản, Thượng Hải, 1992. Nơi trang 81, các dịch giả (Phan Ngộ Vân 潘悟雲, Dương Kiếm Kiều 楊劍橋, Trần Trọng Nghiệp 陳重業, Trương Hồng Minh 張洪明) đã dịch Quan 官 /kwan; kuan; guān/ là: (1) phủ quan và nơi quan làm việc 官府, 辦事處; (2) công chức 公職; (3) nhân viên hành chánh 行政人員, quan viên 官員; (4) chức vụ 職務, nhậm chức 任職. Tôi đã kiểm lại lời dịch trên trong ấn bản Stockholm, 1964, tr. 62: kwán/ kuán/ kuan: official’s residence, office (Li); office, public charge (Tso); official, office (Lunyü); function, to function (Li). Đó là các ý nghĩa mà Karlgren tìm thấy trong Lễ Ký (Li), Tả Truyện (Tso), và Luận Ngữ (Lunyü).
– Hứa Thận 許慎, Thuyết Văn Giải Tự 說文解字, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh, 1996, tr. 304, giải: Sử sự quân dã, tòng miên tòng đôi do chúng dã, thử dữ sư đồng ý. 史事君也從宀從猶眾也此與師同意 (quan lại phục vụ vua; do chữ miên [mái nhà] ghép với đôi [nghĩa như đông người], cùng ý nghĩa với sư 師 [giả tá của sự 事 = phục vụ]).
 Như vậy chữ quan có kết cấu hội ý = miên + đôi. Chữ đôi  /dui/ ngày nay thường viết là 堆, nghĩa là ‘gò đống’, ngụ ý ‘đông đúc’. Ngay từ ban đầu, chữ quan ngụ ý [người] thay vua giải quyết công việc hành chánh cho nhiều người ở một nơi có mái che. Về sau, một nét trên đầu chữ đôi bị mất đi và chữ quan hiện nay là 官. Dưới bộ miên 宀 là hình hai cái miệng liền nhau. Người dân đen vốn thấp cổ bé miệng, thường than thở rằng dân không chống cự nổi hay tranh cãi với quan được vì quan có đến hai cái miệng liền nhau.
[15] Xem Chavannes, Les Mémoires sur les Historiques de Se-ma Ts’ien (Sử Ký Tư Mã Thiên), Paris, 1967, (5 quyển), quyển 3, tr. 339, chú thích 1: «Les gouverneurs du ciel sont le soleil, la lune, les planètes… Le soleil, la lune et les cinq planètes fournissent les principales indications astrologiques pour la conduite des hommes.» (Thiên quan là mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, … Mặt trời, mặt trăng, và 5 hành tinh cung cấp những hiện tượng thiên văn chính yếu cho phẩm hạnh của con người.)
[16] Sử Ký hội chú khảo chứng 史記會注考證, Tōkyō, 1932, (10 tập), tập 4, quyển 27, tr. 1.
[LAM chú] Tôi dịch theo bản Sử Ký, Quảng Trí thư cục, Hương Cảng, năm ?, (6 tập), tập 3, quyển 27, tr. 98: «Thiên văn hữu ngũ quan. Quan giả tinh quan dã. Tinh tòa hữu tôn ti. Nhược nhân chi quan tào liệt vị. Cố viết thiên quan.» 天文有五官.官者星官也.星座有尊卑.若人之官曹列位.故曰天官.
[17] Tuân Tử, Tứ Bộ Bị Yếu, chương 11 (Thiên luận), tr. 10. Trang này có lời bình nơi chữ thiên tình: «Nghĩa là thân thể con người cũng có thiên chức, và công việc của trời được hoàn thành nơi nhân thể. Hình thể con người có trăm khúc xương và 9 lỗ (cửu khiếu). Thần là hồn 魂 tinh tế nhất. Thiên tình là những gì mà trời phú bẩm cho người.» Lại có lời bình nơi chữ thiên quan: «Tai phân biệt âm thanh, mắt phân biệt màu sắc, mũi phân biệt mùi, miệng phân biệt vị, và thân hình con người phân biệt nóng lạnh, bệnh tật. Các khả năng phân biệt này kết hợp tất cả nơi sự vật, và người ta không thể chuyển đổi các quan năng đó với nhau. Quan ở đây chỉ có nghĩa là bổn phận, tức là những bổn phận mà trời bảo ta làm.»
[18] Quản Tử, sđd., chương 13, tr. 2b: Chương Tâm thuật 心術 (thượng 上): «Tâm chi tại thể, quân chi vị dã. Cửu khiếu chi hữu chức, quan chi phân dã. Nhĩ mục giả thị thính chi quan dã.» 心之在體,君之位也.九竅之有職,官之分也.耳目者,視聽之官也.
[19] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 75.
[20] Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn, chương 3, tr. 1a/b.
[LAM chú] Homann dùng các bản dịch: Ilza Veith, Huangti Neiching Suwen, Berkeley, 1966, tr. 133; Chamfrault, Traité de Médicine Chinoise (Trung Y luận), (5 tập, từ 1954 đến 1963), Angoulême, tập 2 (1957), tr. 46-47; Hsieh, A Review of Ancient Chinese Anatomy, in trong: The Anatomical Record, Vol 20, No 2, Philadelphia, 1921, tr. 105-107. Tôi dùng bản chữ Hán và chú giải của Vương Băng 王冰 (đời Đường), in trong: Phương Xuân Dương 方春陽 chủ biên, Trung Quốc Khí Công Đại Thành 中國氣功大成, Cát Lâm Khoa Học Kỹ Thuật xbx, 1999, tr. 127. Đoạn trích trên đây từ chương Linh Lan Bí Điển Luận 靈蘭秘典論 «Tâm giả, quân chủ chi quan dã, thần minh xuất yên; phế giả, tướng phó chi quan, trị tiết xuất yên; can giả, tướng quân chi quan, mưu lự xuất yên; đảm giả, trung chính chi quan, quyết đoán xuất yên; đán trung giả, thần sứ chi quan, hỉ lạc xuất yên; tỳ vị giả, thương lẫm chi quan, ngũ vị xuất yên; đại trường giả, truyền đạo chi quan, biến hóa xuất yên; tiểu trường giả, thụ thịnh chi quan, hóa vật xuất yên; thận giả, tác cường chi quan, kỹ xảo xuất yên; tam tiêu giả, quyết độc chi quan, thủy đạo xuất yên; bàng quang giả, châu đô chi quan, tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ.» 心者,君主之官也,神明出焉;肺者,相傅之官,治節出焉;肝者,將軍之官,謀慮出焉;膽者,中正之官,決斷出焉;膻中者,臣使之官,喜樂出焉;脾胃者,倉廩之官,五味出焉;大腸者,傳道之官,變化出焉;小腸者,受盛之官,化物出焉;腎者,作強之官,伎巧出焉;三焦者,決瀆之官,水道出焉;膀胱者,州都之官,津液藏焉,氣化則能出矣. 
Vương Băng chú: Trị nhậm mọi vật nên gọi là quân chủ chi quan; thanh tĩnh nên gọi là thần minh xuất; ngôi vị cao nhưng không phải là vua nên gọi là tướng phó; chủ về vinh vệ nên gọi là trị tiết xuất; dũng mãnh mà có óc phán đoán nên gọi là tướng quân; tiềm tàng chưa phát nên gọi là mưu lự xuất; ngay thẳng không hoài nghi nên gọi là quyết đoán xuất; đán trung là chỗ trong lồng ngực ở giữa hai vú, tức là khí hải, là chủ quản của tâm, ban lệnh và huấn giáo, đán trung chủ về khí để phân bố âm dương, hễ khí và chí thích hợp thì vui vẻ sung sướng phát sinh; truyền đạo là đường truyền đi chất uế tạp, biến hóa chúng [thành phân]; tác cường là tác dụng mạnh mẽ, kỹ xảo là hình dung sự biến hóa, ở nam thì tác cường, ở nữ thì kỹ xảo; quyết độc là khai thông ngòi nước cho khỏi bế tắc, để dẫn lối âm dương, tạo ra đường nước chảy. (Tân dịch = nước miếng; ở đây tôi dịch thoát như Homann: die Flüssigkeiten= chất lỏng, nước [nói chung])
[21] Sử Ký hội chú khảo chứng 史記會注考證, Tōkyō, 1932, (10 tập), tập 4, quyển 27, tr. 3/4; Chavannes, sđd., quyển 3, tr. 339, dịch: «Dans le Palais central, l’étoile T’ien-ki (Faîte du ciel) est la plus brillante; elle est la résidence de T’ai-i (l’Unité suprême).»
[LAM chú] Bản in của Quảng Trí thư cục: «Trung cung Thiên Cực tinh, kỳ nhất minh giả, Thái Nhất thường cư dã.» 中宮天極星,其一明者,太一常居也.
[22] Quản Tử, ch. 16, tr. 3a/b. Chương Nội nghiệp 內業: «Hữu thần tự tại thân, nhất vãng nhất lai, mạc chi năng tư, thất chi tác loạn.» 有神自在身,一往一來,莫之能思,失之作亂.
[23] Đạo Đức chân kinh chú 道德真經注, Đạo Tạng 363/W676. ch. 6, tr. 5a.
[LAM chú] Tôi dịch theo bản Lão Tử Hà Thượng Công chương cú 子河上公章句, in trong Trung Quốc Khí công tứ đại kinh điển 中國氣功四大經典, Giang Tô cổ tịch xbx, 1999, tr. 15; và bản in trong: Phương Xuân Dương chủ biên, sđd., tr. 51. Hà Thượng Công chú câu «Cốc thần bất tử» 谷神不死 nơi chương 6 của Đạo Đức Kinh. Cốc là nuôi dưỡng; cốc thần là nuôi dưỡng thần; ta nuôi thần thì ta sẽ bất tử. Nguyên văn: «Cốc, dưỡng dã. Nhân năng dưỡng thần, tắc bất tử dã. Thần, vị ngũ tạng chi thần dã. Can tạng hồn, phế tạng phách, tâm tạng thần, thận tạng tinh, tỳ tạng chí, ngũ tạng tận thương, tắc ngũ thần khứ hĩ.» 谷養也.人能養神則不死也.神謂五臟之神也.肝臟魂,肺臟魄,心臟神,腎臟精,脾臟志,五臟盡傷,則五神去矣.
[24] Hoàng Đế Nội kinh tố vấn, ch. 3, tr. 7b, 8b.
[LAM chú] Homann chỉ nói thế, nhưng không trích dẫn câu văn. Có lẽ Homann muốn đề cập đoạn sau đây trong chương Lục tiết tạng tượng luận 六節臟象論: «Tâm giả, sinh chi bản, thần chi xứ dã, kỳ hoa tại diện, kỳ sung tại huyết mạch, vi dương trung chi thái dương, thông ư hạ khí. Phế giả, khí chi bản, phách chi xứ dã, kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại bì, vi dương trung thái âm, thông ư thu khí. Thận giả, chủ trập, phong tàng chi bản, tinh chi xứ dã, kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt, vi âm trung chi thiếu âm, thông ư đông khí. Can giả, bãi cực chi bản, hồn chi cư dã, kỳ hoa tại trảo, kỳ sung tại cân, dĩ sinh huyết khí, kỳ vị toan, kỳ sắc thương, thử vi dương trung chi thiếu dương, thông ư xuân khí. Tỳ, vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang giả, thương lẫm chi bản, doanh chi cư dã, danh viết khí, năng hóa tao phách, chuyển vị nhi nhập xuất giả dã, kỳ hoa tại thần tứ bạch, kỳ sung tai cơ, kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng, thử chí âm chi loại, thông ư thổ khí.» 心者,生之本,神之處也,其華在面,其充在血脈,為陽中之太陽,通於夏氣.肺者,氣之本魄之處也,其華在毛,其充在皮,為陽中太陰,通於秋氣.腎者,主蟄,封藏之本,精之處也,其華在髮,其充在骨,為陰中之少陰,通於冬氣.肝者,罷極之本,魂之居也,其華在爪,其充在筋以生血氣,其味酸,其色蒼,此為陽中之少陽,通於春氣.脾胃大腸小腸三焦膀胱者,倉廩之本,營之居也,名曰器,能化糟粕,轉味而入出者也,其華在唇四白,其充在肌,其味甘,其色黃,此至陰之類,通於土氣. (Tâm là gốc của sự sống, là chỗ thần cư ngụ, sáng rỡ tại mặt, bổ sung huyết mạch, là thái dương trong dương, thông với khí mùa hè. Phổi là gốc của khí, là chỗ phách cư ngụ, sáng rỡ tại lông, bổ sung da, là thái âm trong dương, thông với khí mùa thu. Thận chủ về nội tàng để sinh hóa, là gốc của sự cất giữ [tinh], là chỗ tinh cư ngụ, sáng rỡ tại tóc, bổ sung xương, là thiếu âm trong âm, thông với khí mùa đông, Gan là gốc của trừ bỏ sự mệt nhọc, là nơi hồn cư ngụ, sáng rỡ tại móng tay móng chân, bổ sung gân, để sinh huyết khí, có vị chua, có màu đen sẫm, là thiếu dương trong dương, thông với khí mùa xuân. Lá lách, bao tử, ruột già, ruột non, tam tiêu, bọng đái đều là gốc của sự thu nạp và tiêu hóa, là nơi doanh khí cư ngụ, tên là vật chứa đựng, có chức năng biến hóa cặn bã, chuyển hóa thực phẩm đã hấp thu và bài tiết chúng, sáng rỡ tại thịt màu trắng quanh môi, bổ sung cơ bắp, vị ngọt (!?), màu vàng, thuộc loại chí âm, thông với khí của đất.) (Tôi dịch theo bản Phó Trinh Lượng 傅貞亮 chủ biên, Nội kinh giảng nghĩa 內經講義, Hồ Nam Khoa học Kỹ thuật xbx, 1995, tr. 42-43)
[25] Thái Bình Kinh hợp hiệu 太平經合校, sđd., tr. 292.
[LAM chú] Đoạn này trích từ chương Trai giới tư thần cứu tử quyết 齋戒思神救死訣; tôi dùng bản của Ninh Chí Tân chủ biên, Đạo giáo thập tam kinh, sđd., tr. 907. Nguyên văn: «Thử tứ thời ngũ hành tinh thần nhập vi nhân ngũ tạng thần, xuất vi tứ thời ngũ hành thần tinh.» 此四時五行精神入為人五臟神出為四時五行神精.  Homann chú thích «tinh thần» và «thần tinh» nghĩa như nhau vì ông dựa vào chú giải của: Ōbuchi Numani (Đại Uyên Nhẫn Nhĩ 大淵忍爾), Taheikyō no chosō ni tsuite 太平經の思想について (Bàn về tư tưởng của Thái Bình Kinh), in trong tạp chí Tōyō Gakuhō 28/4, Tōkyō, 1941, tr. 161.
[26] Thái Bình Kinh hợp hiệu, sđd., tr. 292.
[LAM chú] Nguyên văn theo bản của Ninh Chí Tân: «Tứ thời ngũ hành chi khí lai nhập nhân phúc trung vi nhân tạng tinh thần, kỳ sắc dữ thiên địa tứ thời sắc tương ứng dã.» 四時五行之氣來入人之腹中為人臟精神,其色與天地四時色相應也.
[27] Thái Bình Kinh hợp hiệu, sđd., tr. 293.
[LAM chú] Nguyên văn theo bản của Ninh Chí Tân: «Đông phương chi kỵ thần trì mâu. Nam phương chi kỵ thần trì kích. Tây phương chi kỵ thần trì cung nỏ phủ. Bắc phương chi kỵ thần trì tương thuẫn. Trung ương chi kỵ thần trì kiếm cổ. Tư chi đương tiên đổ thị nội thần dĩ, đương đổ thị ngoại thần dã, hoặc tiên kiến dương thần nhi hậu kiến nội thần.» 東方之騎神持矛.南方之騎神持戟.西方之騎神持弓弩斧.北方之騎神持鑲楯.中央之騎神持劍鼓.思之當先睹是內神已,當睹是外神也,或先見陽神而後見內神. Kỵ thần là thần cỡi ngựa, vì phía trên đoạn văn này nói: «Chư thần đều đội mũ đội khăn, cỡi ngựa, và ngựa cũng có màu tùy theo ngũ hành.» (Giai đái quan trách thừa mã, mã diệc tùy kỳ ngũ hành sắc cụ 皆戴冠幘乘馬,馬亦隨其五行色具). Homann chú: «Theo Tham Đồng Khế 參同契, tập 3, tr. 34, Dương thần là hồn, âm thần là phách.» 陽神曰魂陰神曰魄 (Dương thần viết hồn, âm thần viết phách). Tuy nhiên lời chú của Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典 hợp lý hơn lời chú của Homann: «Nội thần là thần của ngũ tạng; dương thần là ngoại thần (thần ngoài thân thể) vì ngoài là dương, trong là âm.» (Nội thần chỉ ngũ tạng thần tượng. Dương thần tức ngoại thần, ngoại vi dương, nội vi âm. 內神指五臟神象;陽神即外神,外為陽,內為陰) (Ngô Phong 吳楓 chủ biên, sđd., 1994, tr. 409). Đoạn trích này thuộc chương 109 (Trai giới tư thần cứu tử quyết), nói về ngũ thần là kỵ thần (thần cưỡi ngựa) do ngũ hành hóa thân, mỗi vị đều cầm binh khí. Nơi chương 111 (Ngũ thần sở trì quyết 五行所持訣) ở sau đã giải thích về binh khí của ngũ thần này như một loại tín phù 信符.
[28] Maspero, sđd., 1950, tr. 116.
[29] Gauchet, Un Livre Taoique, Le «Cheng-chen King» (Sinh thần kinh), sur la Génération des Esprits dans l’Homme, in trong: Bulletin des l’Université l’Aurore, No 37, Thượng Hải, 1949, tr. 71.
[30] Maspero, sđd., tr. 117, 118. Homann chú: «Gauchet dường như đã lầm khi liệt kê 24 thần này vào loại thần liên quan đến các bộ phận của thân thể con người.» («Mir scheint, daß hier Gauchet ein Irrtum unterlaufen ist, denn er rechnet diese 24 Gottheiten den physiologischen Gottheiten zu.») (Gauchet, sđd., tr.71)
[LAM chú] Chính Homann mới lầm lẫn vì ông theo kiến giải sai lầm của Maspero. Xem thêm chú thích 32 và 33 dưới đây.
[31] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 7, tập 2, tr. 278.
[LAM chú] Tôi dịch theo bản chữ Hán Lão Tử Trung Kinh, tức là quyển 18 của Vân Cấp Thất Thiêm (in trong Đạo Tạng Yếu Tịch tuyển san (khan) 道臧要藉選刊, Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 1995, quyển 1, tr. 140): “Phế thần bát nhân Đại (Thái) Hòa Quân dã, danh viết Ngọc Chân Cung Thượng Thư phủ dã. Kỳ tòng quan tam thiên lục bách nhân, thừa bạch vân khí chi xa, tham giá bạch hổ hoặc thừa bạch long. Tâm thần cửu nhân Thái Úy Công dã. Danh viết Giáng Cung Thái Thủy Nam Cực Lão Nhân Nguyên Quang dã. Kỳ tòng quan tam thiên lục bách nhân, thừa xích vân khí chi xa, chu tước vi cái, đan xà vi bính, tham giá chu tước hoặc thừa xích long. Can thần thất nhân Lão Tử Quân dã. danh viết Minh Đường Cung Lan Đài phủ dã. Kỳ tòng quan tam thiên lục bách nhân, thừa thanh vân khí chi xa, tham giá thanh long hoặc thừa bạch lộc. Đảm thần ngũ nhân Thái Nhất Đạo Quân dã. Cư Tử Phòng Cung, thừa ngũ thái huyền hoàng tử cái châu ngọc vân khí chi xa, tham giá lục phi long, tòng quan tam thiên lục bách nhân.» 
肺神八人大和君也.名曰玉真宮尚書府也.其從官三千六百人,乘白雲氣之車,驂駕白虎或乘白龍.心神九人太尉公也.名曰絳宮太始南極老人元光也.其從官三千六百人,乘赤雲氣之車,朱雀為蓋,丹蛇為柄,驂駕朱雀或乘赤龍.肝神七人老子君也.名曰明堂宮蘭臺府也.其從官三千六百人,乘青雲氣之車,驂駕青龍或乘白鹿.膽神五人太一道君也.居子房宮,乘五彩玄黃紫蓋,珠玉雲氣之車,驂駕六飛龍.其從官三千六百人.
– Homann bỏ một đoạn về tỳ thần, tôi dịch bổ sung: «Tỳ thần ngũ nhân Huyền Quang Ngọc Nữ Tử Đan Vô dã. Thừa hoàng kim châu ngọc vân khí chi xa, tham giá phượng hoàng hoặc thừa hoàng long. Tòng quan tam thiên lục bách nhân. Chân nhân Tử Đan tại thượng ngọa, vị quản trung hoàng vân khí vi trướng, châu ngọc vi sàng, thực hoàng kim ngọc nhị, ẩm lễ tuyền ngọc dịch.» 脾神五人玄光玉女,子丹毋也.乘黃金珠玉雲氣之車,驂駕鳳凰或乘黃龍.從官三千六百人,真人子丹在上臥,胃管中黃雲氣為帳,珠玉為床,食黃金玉餌,飲醴泉玉液 (5 vị thần tỳ tên Huyền Quang Ngọc Nữ, Tử Đan Vô; cỡi chiếc xe bằng khí mây màu của vàng và ngọc, do phượng hoàng kéo hoặc họ cỡi rồng vàng. Các quan tùy tùng có 3600 người. Tiên Tử Đan nằm ở trên, có khí mây màu vàng nơi cuống bao tử làm màn, ngọc báu làm giường, ăn bánh bằng vàng bằng ngọc, uống nước suối ngọt.)
[32] Maspero, Taoïsme, 1950, tr.117-118.
[LAM chú] Lịch pháp Trung Quốc cổ đại căn cứ vào vị trí mặt trời trên vòng Hoàng Đạo 黃道 mà chia một năm thành nhị thập tứ tiết khí 二十四節氣 (24 tiết khí) hay nhị thập tứ khí 二十四氣 (24 khí). Một tháng âm lịch chia làm 2 phần: nửa đầu gọi là tiết khí 節氣, nửa sau gọi là trung khí 中氣. Tháng nhuần thì không có trung khí. Sau đây là 24 tiết khí: (1) Lập xuân 立春 (đầu xuân, 5/2 dương lịch, vị trí trên đưòng Hoàng đạo là Aquarius), (2) Vũ thủy 雨水 (ẩm ướt, 19/2, Pisces), (3) Kinh trập 惊蟄 (sâu nở, 5/3, Pisces), (4) Xuân phân 春分 (giữa xuân, 20/3, Aries), (5) Thanh minh 清明 (trong sáng, 5/4, Aries), (6) Cốc vũ 谷雨 (mưa rào như hạt thóc, 20/4, Taurus), (7) Lập hạ 立夏 (sang hè, 5/5, Taurus), (8) Tiểu mãn 小滿 (đầy ít, 21/5, Gemini), (9) Mang chủng 芒種 (tua rua, 6/6, Gemini), (10) Hạ chí 夏至 (giữa hè, 21/6, Cancer), (11) Tiểu thử 小暑 (nắng nhạt, 7/7, Cancer), (12) Đại thử 大暑 (nắng nhiều, 23/7, Leo), (13) Lập thu 立秋 (vào thu, 7/8, Leo), (14) Xử thử 處署 (nắng ít, 23/8, Virgo), (15) Bạch lộ 白露 (sương trắng, 8/9, Virgo), (16) Thu phân 秋分 (giữa thu, 23/9, Libra), (17) Hàn lộ 寒露 (sương lạnh, 8/10, Libra), (18) Sương giáng 霜降 (sương sa, 23/10, Scorpio), (19) Lập đông 立冬 (sang đông, 7/11, Scorpio), (20) Tiểu tuyết 小雪 (tuyết ít, 22/11, Sagittarius), (21) Đại tuyết 大雪 (tuyết nhiều, 7/12, Sagittarius), (22) Đông chí 冬至 (giữa đông, 21/12, Capricorn), (23) Tiểu hàn 小寒 (chớm lạnh, 6/1, Capricorn), (24) Đại hàn 大寒 (giá rét, 21/1, Aquarius).
Trương Chí Triết, Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, Giang Tô cổ tịch xbx, 1994, tr. 795, giảng rằng 24 thần này không có liên quan đến 24 khí tiết như quan điểm của Maspero. Theo Trương Chí Triết, 24 thần (nhị thập tứ thần 二十四神) hay 24 chân (nhị thập tứ chân 二十四真) là chư thần trong thân thể con người. Thân thể con người chia làm 3 bộ, mỗi bộ có 8 vị thần (gọi là bát cảnh thần 八景神); tổng cộng là 24 thần. Con số 8 là ứng với tam nguyên 三元 và ngũ hành 五行. Homann cũng trích dẫn bát cảnh thần trong đoạn văn kế tiếp. Theo đó, ông theo kiến giải của Maspero, nghĩa là 24 thần ứng với 24 tiết khí chứ không phải là tổng số bát cảnh thần ở ba bộ. Nhưng Maspero đã lầm vì chính bát cảnh thần thuộc về nhóm thần mà Gauchet đặt tên là ordre physiologique.
[33] [LAM chú] Homann tham khảo Werner nhưng chép sơ sài, lược bỏ tên và tự của từng vị thần. Tôi kiểm tra lại mục này trong: Werner, A Dictionary of Chinese Mythology, New York, 1961, và trong Trương Chí Triết (sđd.) để bổ sung thêm chi tiết phần viết của Homann. Lời giải của Werner và Trương Chí Triết giống như lời giải trong Nhị thập tứ sinh đồ kinh 二十四生圖經 và Nhị thập tứ thần hành sự quyết 二十四神行事訣.
Về Bát cảnh thần và 24 chân (thần) thì Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh cũng đã nói nơi chương 23 (Trị sinh 治生): «Trị sinh chi đạo liễu bất phiền, đản tu động huyền dữ ngọc thiên; kiêm hành hình trung bát cảnh thần; nhị thập tứ chân xuất tự nhiên.» 治生之道了不煩,但修洞玄與玉天,兼行形中八景神,二十四真出自然 (Pháp trị sinh [tức cách đối trị sự sống] rất giản dị, chỉ cần chuyên tâm tu luyện theo kinh Động Huyền [của Lão Quân] và kinh Ngọc Thiên [tức Huỳnh Đình Kinh]; đồng thời [nội quán] các bát cảnh thần trong thân thể thì 24 thần này sẽ xuất hiện tự nhiên [cho ta thấy]). Chính chương này cũng chứng minh kiến giải của Maspero là sai.
[34] Gauchet, sđd., 1949, tr. 70.
[35] Đạo Tạng 186/W393: Động huyền Linh bảo tự nhiên Cửu thiên sinh thần chương kinh giải nghĩa 洞玄靈寶自然九天生神章經解義, ch. 1, tr. 8b.
[LAM chú] Vì chưa tìm được bản kinh chữ Hán này, tôi dịch theo lời dịch tiếng Đức của Homann. Thật ra còn có các giải thích khác nhau về cửu khí:
– Trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, chương 1 (Thượng thanh 上清), đã đề cập cửu khí: «Cầm tâm tam điệp, vũ thai tiên, cửu khí ánh minh, xuất tiêu gian; Thần cái, đồng tử, sinh tử yên, thị viết ngọc thư, khả tinh nghiên.» 琴心三疊儛胎仙,九氣映明出霄間,神蓋童子生紫煙,是曰玉書可精研 (Hòa khí thông thần, tích tinh lũy khí, dưỡng chí tồn thần, luyện thành đại dược, cổ vũ chân nguyên để kết thai tiên. Chân khí của cửu cung sáng chiếu đến chỗ tối cao thì thần mi và mắt tự nhiên phát; đây là yếu chỉ của Huỳnh Đình ngọc thư, kẻ có thực tâm tu luyện hãy nghiên cứu kỹ.) Nơi đây, mỗi đan điền có 3 nguyên khí, vị chi là 9. Vụ Thành Tử chú rằng: Khí của cửu thiên nhập vào mũi con người, chu lưu trong 9 cung của não, sáng chiếu lên trên nên gọi là ‘xuất tiêu gian’. Cửu thiên sinh thần kinh nói: Nuôi dưỡng Tam nguyên, cửu khí kết hình. (Cửu thiên chi khí, nhập vu nhân tỵ, chu lưu não cung, ánh minh thượng đạt, cố viết xuất tiêu gian. Cửu thiên sinh thần kinh viết: Tam nguyên dục dưỡng, cửu khí kết hình. 胎仙,九氣映明出霄間,神蓋童子生紫煙,是曰玉書可精研). (Phương Xuân Dương, sđd., tr. 408).
– Trương Chí Triết, sđd., tr. 745, giải: «Cửu khí là do Thủy khí 始氣, Nguyên khí 元氣, và Huyền khí 玄氣 sinh ra. Thủy khí sinh Hỗn khí 混氣 màu xanh thẫm, Hỗn khí sinh Động khí 洞氣 màu đỏ, Động khí sinh Hạo khí 皓氣 màu xanh. Nguyên khí sinh Mân khí 旻氣 màu lục, Mân khí sinh Cảnh khí 景氣 màu vàng, Cảnh khí sinh Độn khí 遁氣 màu trắng. Huyền khí sinh Dung khí 融氣 màu đỏ tía, Dung khí sinh Viêm khí 炎氣 màu xanh bích, Viêm khí sinh Diễn khí 演氣 màu đen.» Trương Chí Triết giải theo Thái Thanh Ngọc Sách 太清玉冊, một đạo kinh đời Minh do Chu Quyền 朱權 soạn.
[36] Đạo Tạng 736/W1053, Thượng Dương Tử Kim đan đại yếu, chương 4, tr. 4b.
[LAM chú] Vì chưa tìm được bản kinh chữ Hán này, tôi dịch theo lời dịch tiếng Đức của Homann.
[37] [LAM chú] Nhận xét của Homann không đúng. Trước tiên, Huỳnh Đình Kinh không phải là đạo kinh cổ xưa nhất nói đến chư thần trong thân thể con người, vì Thái Bình Kinh (đời Hán) cũng đã giải thích rồi tuy chưa tỉ mỉ. Thứ đến, chư thần ngũ tạng và lục phủ đều được liệt kê danh tính đầy đủ trong Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, như chương 7 liệt kê tên chư thần nơi đầu, chương 8 liệt kê tên chư thần ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận). Các thần này còn được giải thích ở từng chương: chương 9 (phế thần), chương 10 (tâm thần), chương 11 (can thần), chương 12 (thận thần), chương 13 (tỳ thần). Còn lục phủ là ngũ tạng cộng thêm «đảm» (mật). Nơi chương 14 đã giải thích tên của đảm thần.
[38] E.V. Cowdry, Taoist Ideas of Human Anatomy, in trong: Annals of Medical History, Vol 3, No 4, New York, 1921, tr. 305.
[39] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 54 (Thượng Thanh Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, ch. 23): «Trị sinh chi đạo liễu bất phiền, đản tu Động Huyền dữ Ngọc Thiên; kiêm hành hình trung bát cảnh thần, nhị thập tứ chân xuất tự nhiên.» 治生之道了不煩,但修洞玄與玉篇;兼行形中八景神,二十四真出自然.
[40] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 3, tập 5, tr. 74/75 (Huỳnh Đình Kinh Bí Nghĩa 黃庭經秘義).
[41] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 54 (Thượng Thanh Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh, ch. 7): «Nhất diện chi thần tông nê hoàn, nê hoàn cửu chân giai hữu phòng.» 一面之神宗泥丸,泥丸九真皆有防.
[LAM chú] Nê hoàn vốn là thuật ngữ của Đạo giáo, viết là 泥汍. Khi Phật giáo Trung Quốc vay mượn chữ này để dịch chữ Phạn Nirvāņa (Niết bàn) thì viết là 泥洹. Chữ Nirvāņa  còn được phiên âm là: Nê viết 泥曰, Nê bạn 泥畔, Niết bàn na 涅槃那, v.v. Dịch nghĩa là: tịch diệt, diệt, diệt độ, an lạc, giải thoát, bất sinh, v.v. (Xem Đinh Phúc Bảo 丁福保, Phật học đại từ điển 佛學大辭典, Thượng Hải, 1995, quyển hạ, tr. 1790; xem William Edward Soothill & Lewis Hodous, A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (Trung Anh Phật học từ điển), Đài Bắc, 1962, tr. 265.) Như vậy nê hoàn của Đạo giáo khác với nê hoàn của Phật giáo. Trong Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu 修習止觀坐禪法要 của Thiên Thai tông (một bí kíp mà Đạo gia cũng rất xem trọng) có câu: «Nhược phù nê hoàn chi pháp, nhập nãi đa đồ. Luận kỳ cấp yếu, bất xuất chỉ quán nhị pháp.» 若夫泥洹之法,入乃多途.論其急要,不出止觀二法 (Pháp giải thoát có nhiều lối vào. Nói về đường lối nhanh và thiết yếu nhất thì không ngoài chỉ và quán). Nhân tiện, xin nói thêm: Tác giả của Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu là Trí Nghĩ 智顗 đại sư (không phải là «Trí Khải» đại sư). Chữ 顗 bấy lâu nay vẫn bị phiên âm sai là «Khải» trong kinh sách Phật giáo bằng tiếng Việt. Từ điển Từ Hải (tr. 1480) phiên thiết: nghi khởi thiết âm nghĩ vĩ vận 疑豈切音螘尾韻, vậy đọc là nghĩ. Ý nghĩa: Cẩn trang mạo 謹莊貌 (dung mạo trang nghiêm). Âm Bắc Kinh hiện nay của 顗 là /yǐ/, không phải là /kǎi/.
[42] Thái Bình Kinh hợp hiệu, 1960, tr. 27.
[LAM chú] Tôi dịch theo Trung Hoa Đạo Học Thông Điển (sđd., tr. 286): «Cố can thần khứ, xuất du bất thời hoàn, mục vô minh dã. Tâm thần khứ bất tại, kỳ thần thanh bạch dã. Phế thần khứ bất tại, kỳ tỵ bất thông dã. Thận thần khứ bất tại, kỳ nhĩ lung dã. Tỳ thần khứ bất tại, lịnh nhân khẩu bất tri cam dã. Đầu thần khứ bất tại, lịnh nhân huyễn minh dã. Phúc thần khứ bất tại, lịnh nhân phúc trung ương thậm bất điều, vô sở năng hóa dã. Tứ chi thần khứ bất tại, lịnh nhân bất năng tự di dã.» 故肝神去,出游不時還,目無明也.心神去不在,其唇青白也.肺神去不在,其鼻不通也.腎神去不在,其耳聾也.脾神去不在,令人口不知甘也.頭神去不在,令人眴冥也.腹神去不在令人腹中央甚不調,無所能化.四肢神去不在,令人不能自移也.
[43] Thái Bình Kinh hợp hiệu, 1960, tr. 722.
[44] Max Kaltenmark, Laotseu et le Taoisme, Paris, 1965, tr. 158.
[45] Đạo Tạng, 580/W864 (Thái Thượng Trừ Tam Thi Cửu Trùng Bảo Sinh Kinh 太上除三尸九蟲保生經), tr. 7a-7b.
[LAM chú] Tam trùng 三蟲 cũng gọi tam thi 三尸 hay tam bành 三彭. Tuy nhiên trong cách gọi «tam thi cửu trùng» của đạo kinh nói trên thì cửu trùng gồm: 1. Phục trùng 伏蟲, 2. Hồi trùng 回蟲, 3. Bạch trùng 白蟲, 4. Nhục trùng 肉蟲, 5. Phế trùng 肺蟲, 6. Vị trùng 胃蟲, 7. cách trùng 鬲蟲, 8. Xích trùng 赤蟲, 9. Khang trùng 蜣蟲. Người Việt Nam nói «nổi cơn tam bành» (ý nói nổi giận đùng đùng) nhưng ít ai biết tam bành là thuật ngữ của Đạo giáo. Về tam thi hay tam bành và tên gọi, có các thuyết khác nhau:
– Trung Hoàng Kinh 中黃經 nói: «Thượng trùng ở trong đầu não, trung trùng ở trong minh đường, hạ trùng ở trong bụng và bao tử.» 一者上蟲居腦宮,二者中蟲居明堂,三者下蟲居腹胃 (Nhất giả thượng trùng cư não cung, nhị giả trung trùng cư minh đường, tam giả hạ trùng cư phúc vị).
– Thái Thượng Tam Thi Trung Kinh 太上三尸中經 thì nói: «Thượng thi tên Bành Cư, thích báu vật, ở trong đầu con người. Trung thi tên Bành Chất, thích ngũ vị, ở nơi bụng con người. Hạ thi tên Bành Kiểu thích sắc dục, ở trong chân con người.» 上尸名彭倨,好寶物,在人頭中.中尸名彭質,好五味,在人腹中.下尸名彭矯,好色欲,在人足中 Thượng thi danh Bành Cư, hiếu bảo vật, tại nhân đầu trung. Trung thi danh Bành Chất, hiếu ngũ vị, tại nhân phúc trung. Hạ thi danh Bành Kiểu, hiếu sắc dục, tại nhân túc trung).
– Ngọc Xu Kinh Chú 玉樞經注 nói: «Thượng thi tên Thanh Cô, trung thi tên Bạch Cô, hạ thi tên Huyết Cô.» 上尸名青姑,中尸名白姑,下尸名血姑 (Thượng thi danh Thanh Cô, trung thi danh Bạch Cô, hạ thi danh Huyết Cô).
Tuy có các thuyết khác nhau như vậy, nói chung tam thi là mối nguy hại cho thân thể, vì tam thi bị giam giữ trong thân thể con người, chỉ khi con người chết đi thì tam thi mới được phóng thích khỏi thân thể con người. Theo Cảm Ứng Thiên 感應篇 và Vân Cấp Thất Thiêm 雲笈七籤, ngày canh thân 庚申, tam thi thần 三尸神 sẽ lên trời bẩm báo với Thiên Tào và xuống địa phủ thưa kiện, trình báo mọi tội lỗi của con người nơi thế gian để giảm bớt tuổi thọ của họ. Do đó các đạo sĩ có phép gọi là thủ canh thân pháp 守庚申法: Vào ngày canh thân họ phải trai giới, tĩnh tọa và không được ngủ để cho tam thi thần không thể xuất ra. Lại có thuyết cho rằng tam thi hay tam trùng sống là nhờ hơi ngũ cốc (cốc khí 谷氣), nếu con người không ăn ngũ cốc thì tam thi phải chết, nghĩa là thân thể sẽ dứt mọi bệnh tật. Thuyết này là cơ sở của phép tu tịch cốc 辟谷 cầu trường sinh. Thuyết tam thi hay tam trùng xuất hiện đã lâu, ngay trong Thái Bình Kinh đời Hán quyển 92 đã ghi chép, rồi đến đời Tấn cũng thấy chép trong Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 (chương Vi Chỉ 微旨). Chính Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là mô phỏng theo chương Vi Chỉ này. Vân Cấp Thất Thiêm (chương 82) của Trương Quân Phòng 張君房 đời Bắc Tống cũng nói đến tam thi, tam trùng.
[46] Tứ Bộ Bị Yếu, 391: Vương Sung, Luận Hành, ch. 16, tr. 9a/b. Homann dịch theo bản tiếng Anh của Forke, Lun-heng, (2 tập), New York, 1962, tập 2, tr. 366: «Man has three worms in his intestines. The worms living in low marshes are called leeches. They eat man’s feet, as the three worms eat his bowels.»
[47] Max Kaltenmark, sđd., 1965, tr. 177.
[48] [LAM chú] Homann chép nhầm: Minh Đồng Chân Quân 明童真君, Minh Nữ Chân Quan 明女真官, Minh Kính Quân 明鏡君. Thật ra nơi cung Minh Đường, ở giữa là Minh Kính Thần Quân 明鏡神君; bên trái là Minh Đồng Chân Quân 明童真君; bên phải là Minh Nữ Chân Quân 明女真君. Tôi chỉnh lại là Minh Kính Thần Quân [thêm chữ Thần] và Minh Nữ Chân Quân [không phải Quan]. Ở đây tôi cũng nói thêm: quan niệm Minh Đường của Nho giáo và quan niệm Minh Đường của Đạo giáo hoàn toàn khác nhau. Theo Nho gíáo, Minh Đường là nhà thái miếu của thiên tử để tế tự. Cổ Đại Hán ngữ từ điển (Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh, 2000, tr. 1075) giải ngắn gọn: «Cổ đại thiên tử tuyên minh chính giáo đích địa phương. Phàm triều hội, tế tự, khánh thưởng, tuyển sĩ, dưỡng lão, giáo học đẳng đại điển, quân tại thử cử hành.» 古代天子宣明政教之地方.凡朝會,祭祀,慶賞,選士,養老,教學等大典,均在此舉行 (Nơi thiên tử làm rõ chính trị và tôn giáo. Nói chung những việc lớn như triều hội [chư hầu], cúng tế, khen thưởng, tuyển chọn kẻ sĩ, dưỡng lão, dạy học, v.v. đều cử hành tại đây.) Tên gọi Minh Đường có từ đời Chu. Trước đời Chu, nhà thái miếu không gọi là Minh Đường, như đời nhà Hạ gọi là Thế Thất 世室, đời nhà Ân gọi là Trùng Ốc 重屋.
Minh Đường theo Nguyệt Lệnh trong Lễ Ký. 
Thật ra có nhiều thuyết khác nhau về Minh Đường. Theo Nguyệt Lệnh 月令 trong Lễ Ký 禮記, Minh Đường có 9 cung: cung giữa là Thái Miếu 太廟 hay Thái Thất 太室; 3 cung phía Nam thì chính giữa là Minh Đường, hai bên là tả cá 左個 và hữu cá 右個; 3 cung phía Bắc thì chính giữa là là Huyền Đường 玄堂, hai bên là tả cá và hữu cá; 3 cung phía Đông thì chính giữa là là Thanh Dương 青陽, hai bên là tả cá và hữu cá; 3 cung phía Tây thì chính giữa là là Tổng Chương 總章, hai bên là tả cá và hữu cá. Cung Minh Đường ở phía Nam được lấy làm tên chỉ cho 9 cung. 9 cung này có 36 cửa một cánh (hộ 戶) và 72 cửa sổ (dũ 牖), và mái lợp bằng cỏ mao 茅. (xem: Từ Hải, tr. 632)
Theo Đạo giáo, Minh Đường là một trong 9 cung nằm trong đầu não. Từ giữa 2 chân mày đi vào một thốn 寸 là Minh Đường, vào một thốn 寸 nữa là Động Phòng. Đái Nguyên Trường, Tiên học từ điển, Chân Thiện Mỹ xuất bản xã, Đài Bắc, 1970, tr. 94, giải: «Tại Trùng Lâu chi hạ, Động Phòng chi thượng, vi Hạ Minh Đường, mi tâm nội nhất thốn, vi Thượng Minh Đường, Minh Đường Động Phòng, quân hữu thượng hạ nhị xứ, cố đặc tường chi.» 在重樓之下,洞房之上,為下明堂,眉心內一寸,為上明堂,明堂洞房,均有上下之處,故特詳之. (Dưới Trùng Lâu và bên trên Động Phòng là Hạ Minh Đường, từ mi tâm [=giữa 2 chân mày] đi vào trong 1 thốn là Thượng Minh Đường. Minh Đường và Động Phòng đều có 2 phần thượng và hạ, do đó phải đặc biệt hiểu rõ chúng.)
Nơi mục từ Nê Hoàn, Đái Nguyên Trường (sđd, tr. 99) nói thêm: «Chính lưỡng nhĩ giao thông chi huyệt, tiền Minh Đường, hậu Ngọc Chẩm.» 正兩耳交通之穴前明堂後玉枕 (Ngay nơi huyệt giao thông giữa hai tai thì phía trước là Minh Đường, phía sau là Ngọc Chẩm.)
[49] [LAM chú] Homann chép nhầm: Vô Anh Công Tử 無英公子, Bạch Nguyên Quân 白元君, Hoàng Lão Quân 黃老君.
[50] [LAM chú] Homann chép nhầm: Thượng Nguyên Xích Tử 上元赤子; Triệu Lặc Tinh 肇勒精.
[51] [LAM chú] Homann chép nhầm: Lưu Châu Chân Thần 流珠真神, Nhật Nguyệt Trung Nữ Tử 日月中女子.
[52] [LAM chú] Homann chép nhầm: Ngọc Thanh Thần Mẫu 玉清神母, Tam Tố Nguyên Quân 三素元君.
[53] [LAM chú] Homann ghi chú nhầm: «Không có tên thần ở cung này.» (Name fehlt).
Từ chú thích 48 đến 53, tôi căn cứ quyển Tồn Tưởng Thiên 存想篇 mà điều chỉnh lại tên chư thần trong bảng tóm tắt của Homann. (xem: Lục Cẩm Xuyên 陸錦川 chủ biên, Khí Công Truyền Thống Thuật Ngữ Từ Điển 氣功傳統術語辭典, Tứ Xuyên Khoa Học Kỹ Thuật xbx, 1991, tr. 60) – Tôi đã điều chỉnh bảng tóm tắt của Homann. Để độc giả tiện tham khảo, tôi cũng trích lại sau đây bảng tóm tắt của ông (tr. 47-51); chỗ khác biệt đánh dấu là [*]:
Schema der drei Hauptrichtung der Körpergottheiten
(Sơ đồ ba bộ vị chính có thân nội chư thần)
I. Obere Abteilung des Körpers =Thượng bộ 上部 thân thể:
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching: Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 1- Thần Tóc (Haar) = Thương Hoa 蒼華, 2- Thần Trán (Gehirn) = Tinh Căn 精根, 3- Thần Mắt (Augen) = Minh Thượng 明上, 4- Thần Mũi (Nase) = Ngọc Lũng 玉壟, 5- Thần Tai (Ohren) = Không Nhàn 空閑, 6- Thần Lưỡi (Zunge) = Thông Mệnh 通命, 7- Thần Răng (Zähne) = Ngạc Phong 崿鋒.
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết: 1- Thần Tóc (Haar) = Huyền Phụ Hoa 玄父華, 2- Thần Trán (Gehirn) = Giác Nguyên Tử 覺元子, 3- Thần Mắt (Augen) = Hư Giám 虛監, 4- Thần Mũi (Nase) = Trọng Long Tử 仲龍子, 5- Thần Lưỡi (Zunge) = Thủy Lương Trĩ 始梁峙, 6- Thần Da (Haut) = Thông Tượng Trọng 通象仲, 7- Thần Tủy xương sống (Mark der Nackenknochen) = Linh Mô Cái 靈謨蓋, 8- Thần Xương sống (Nackenwirbel) = Ích Lịch Chuyển 益歷轉.
c/ Neun-Himmel-Gottheiten: Chư thần liên quan cửu cung: 1- Cung Minh Đường 明堂 (Regierungshalle): Minh Đồng Chân Quân 明童真君; Minh Nữ Chân Quan 明女真官 [*]; Minh Kính Quân 明鏡君 [*]. 2- Cung Động Phòng 洞房 (Grottenzimmer): Vô Anh Công Tử 無英公子 [*]; Bạch Nguyên Quân 元白君 [*]; Hoàng Lão Quân 黃老君. 3- Cung Nê Hoàn 泥丸 (Zinnoberfeld): Thượng Nguyên Xích Tử 上元赤子; Triệu Lặc Tinh 肇勒精 [*]. 4- Cung Lưu Châu 流珠 (Fließende Perlen): Lưu Châu Chân Thần 流珠真神 [*]. 5- Cung Ngọc Đế 玉帝 (Jade-Kaiser): Ngọc Thanh Thần Mẫu 玉清神母; Tam Tố Nguyên Quân 三素元君 [*].6- Cung Thiên Đình 天庭 (Himmlische Halle): Thượng Thanh Chân Nữ 上清真女. 7- Cung Cực Chân 極真 (Äußerste Wahrhaftigkeit): Thái Cực Đế Phi 太極帝妃. 8- Cung Huyền Đan 玄丹 (Dunkles Zinnober): Không có tên (Name fehlt). 9- Cung Thái Hoàng 太皇 (Großer Erhabener): Thái Thượng Quân Hậu 太上君后.
II. Mittlere Abteilung = Trung bộ 中部 thân thể:
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching = Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 1- Thần Tim (Herz) = Đan Nguyên 丹元; 2- Thần Phổi (Lunge) = Hạo Hoa 皓華; 3- Thần Gan (Leber) = Long Yên 龍湮; 4- Thần Thận (Nieren) = Huyền Minh 玄明; 5- Thần Tỳ (Milz) = Thường Tại 常在; 6- Thần Mật (Galle) = Long Diệu 龍曜.
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết: 1- Thần Tim (Herz): Hoán Dương Xương 煥陽昌. 2- Thần Phổi (Lunge): Tố Linh Sinh 素靈生; 3- Thần Gan (Leber): Khai Quân Đồng 開君童; 4- Thần Thận trái (linke Niere): Xuân Nguyên Quân 春元君; 5- Thần Thận phải (rechte Niere): Tượng Tha Vô 象他無; 6- Thần Tỳ (Milz): Bảo Vô Toàn 寶無全; 7- Thần Mật (Galle): Long Đức Câu 龍德拘; 8- Thần Cuống họng (Schlund): Bách Lưu Phóng 百流放.
c/ Neun-Himmel-Gottheiten: Chư thần liên quan cửu cung (không có)
III. Untere Abteilung des Körpers = Hạ bộ 下部 thân thể:
a/ Physiologische Gottheiten nach dem Huang-t’ing-ching: Chư thần liên quan các bộ phận thân thể theo Huỳnh Đình Kinh: 6 Nebeneingeweide (keine Namen der einzelnen Gottheiten): Lục phủ (không có tên của từng vị thần riêng lẻ), mit Ausnahme der Galle (ngoại trừ Đảm thần= Thần Mật (Galle): Long Diệu 龍曜).
b/ 24 Halbmonat-Gottheiten: Chư thần liên quan 24 khí tiết: 1- Thần Bao Tử (Bauch): Đồng Lai Dục 同來育; 2- Thần Ruột già ruột non (Dick-und Dünndarm): Bồng Tống Lưu 蓬送留; 3- Thần Ruột thừa (Darmansatz): Phi Đằng Khang 非騰康; 4- Thần Đầu ruột (Eingeweide): Thụ Hậu Bột 受厚勃; 5- Thần Cách (Zwerchfell: cơ hoành): Quảng Anh Trạch 廣瑛宅; 6- Thần Mông (Hüften): Tịch Giả Mã 辟假馬; 7- Thần Tả dương (linkes Yang): Phù Lưu Khởi 扶流起; 8- Thần Hữu âm (rechtes Yin): Bao Biểu Minh 包表明.
c/ Neun-Himmel-Gottheiten: Chư thần liên quan cửu cung (không có)
HẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TRUNG DUNG

CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TRUNG DUNG

 CON DUONG HUYEN NHIEM TRUNG DUNG

CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TRUNG DUNG
CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TRUNG DUNG
*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TRUNG DUNG [1]

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Từ trước tới nay, nói đến Trung Dung, người ta thường quan niệm đó là một cuộc sống không thái quá, không bất cập, nước đôi lấp lửng giữa dòng.

*Nhưng nếu Đức Khổng và các danh nho chỉ đưa ra cho nhân quần một mục phiêu, một lý tưởng tầm thường như vậy thì có gì đáng cho thiên hạ kính tôn?

Nếu Trung Dung đã được các danh nho coi là tâm pháp của Khổng giáo, là tuyệt phẩm thì phải có cái gì cao siêu gấp bội.

Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ cố gắng chứng minh Trung Dung, hiểu cho đúng mức sẽ là Thiên đạo, sẽ là đạo Vô Thượng trong thiên hạ, vì chỗ đạt đạo, đạt đích của Trung Dung cũng tương đồng với chỗ đạt đạo đạt đích của các đạo giáo trong thiên hạ.

Tôi sẽ lần lượt:

– Định nghĩa và khai thác hai chữ Trung Dung.

– Trình bày về Thiên đạo với những nét đặc thù, chính yếu của nó, theo Trung Dung.

I. HAI CHỮ TRUNG DUNG

Chữ Trung 中, theo từ nguyên, là một mũi tên bắn trúng hồng tâm.

Trình tử và Chu Hi giải Trung là bất thiên, bất ỷ, nghĩa là không thiên lệch, không dựa dẫm vào đâu.

Chữ Dung 庸, theo Trịnh Huyền có nghĩa là dùng, là áp dụng, còn theo Trình Tử thì có nghĩa là không biến đổi.

Sau khi hội ý tiên nho, tôi giải hai chữ Trung Dung một cách thông thường như sau:

– Trung là Tâm điểm,

– Dung là bất biến.

Trong vòng biến thiên ảo hóa của vũ trụ vạn hữu, chỉ có một tâm điểm bất biến hằng cửu, ấy là Bản thể, là Tuyệt đối, là Thánh Cực, là Đạo, là Trời.

Chính vì thế, mà Dịch Kinh đã vẽ Thái Cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các hào quái, tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên trên vòng tròn bên ngoài, lên trên vòng Dịch bên ngoài.

Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên của vạn hữu, nên không hề nghiêng lệch về bên nào. Tâm điểm, vì là cơ cấu, là căn cơ gốc gác muôn loài nên cũng không hề phải dựa nương vào đâu. Vì thế nên Trình tử mới nói Trung là bất thiên, bất ỷ.

Muôn loài, muôn vật biến thiên ắt phải có một căn do bất biến hay hằng cửu, làm chủ chốt. Chính vì thế mà Trình tử giải Trung Dung là bất biến.

Thế tức là với hai chữ TRUNG DUNG, Khổng tử đã vạch cho chúng cả một chương trình hành động, cả một con đường giải thoát.

Nghĩa là :

– Sống trong muôn vàn hiện tượng biến thiên, chúng ta phải tìm cho ra căn cơ bất biến.

– Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ bất biến làm chủ chốt.

– Ở nơi con người ta cũng đầy dẫy mọi hiện tưởng biến thiên, như vậy trong con người chúng ta, phải có một căn cơ bất biến làm chủ chốt.

– Mà chỉ có Trời, có Đạo, có Thái Cực mới bất biến. Suy ra trong ta, chắc chắn phải có Đạo, có Trời, có Nguồn sống siêu nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt.

– Cái gì biến thiên thì còn ở trong vòng sinh tử. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên sinh tử, thế nên, nếu con người muốn thoát vòng sinh tử, phải đạt cho tới Tâm Điểm mới bất biến, đạt tới TRUNG DUNG.

Đức Phật cũng đã nói: «Hỡi các tì khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ bất tạo, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao mà giải thoát được cái sinh thành, ỷ tạp. Nhưng vì có thực trạng ấy, nên có đường thoát cho cái sinh, thành, ỷ, tạp.” [3]

Vivekananda cũng đã viết: «Chúng ta trước hết phải đi tìm cho ra một tâm điểm phát sinh ra mọi bình diện sinh hoạt khác. Khi đã tìm ra được tâm điểm rồi, chúng ta mới mong tìm ra được một giải pháp. Đó là chương trình của ta. Tâm điểm ấy ở đâu? Thưa nó ở ngay trong lòng ta. Các hiền triết cổ thời đã tìm sâu mãi vào tâm con người, cho đến khi khám phá ra rằng tâm khảm con người chính là trung tâm vũ trụ. Tất cả mọi bình diện khác đều xoay quanh tâm điểm duy nhất ấy,và chỉ từ đó, chúng ta mới tìm ra được giải pháp chung cho mọi người.» [4]

Văn Đạo Tử cho rằng: Tâm điểm ấy chính là Thiên đạo. Vào được tâm điểm của lòng người, tức là vào được tâm điểm vòng dịch, thoát luân hồi sinh tử, thế tức là vào được trục Pháp luân theo danh từ Phật giáo.

Ta hãy nghe Văn Đạo Tử trình bày:

«Thiên đạo cư trung, lập cực, nên vận chuyển muôn đời mà không sai thất, cũng như trong bánh xe, các vành xe và tai hoa xe vận chuyển không ngừng là nhờ ở trục xe. Nếu ta giữ vững được Trung điểm, tận dụng được Thái Cực, thì có thể chuyển vần với vạn vật mà vẫn có thể góp phần được với trời đất trong công trình hóa dục.»

«Cho nên người quân tử tu nhân đạo để hợp thiên đạo. Hợp thiên đạo, tức là vào được trục của vòng Dịch, thoát ra ngoài vòng kiềm tỏa của hiện tượng; hỗ trợ muôn vật mà không tơ vương dính bén muôn vật, xoay chuyển vòng biến dịch, mà chẳng chuyển dịch vòng bánh xe biến thiên, luân hồi.

«Hoàng đế nói: «Vũ trụ ở trong tay, vạn hóa sinh trong mình.»

«Phật nói: Thu bể khơi vào trong sợi lông, đem núi Tu Di lồng vào trong hạt cải, đâu phải là thuật lạ. bất quá các Ngài đã nắm được trục của pháp luân. Ôi vi diệu thay, trục của Pháp luân, hỏi mấy ai đã biết? Chẳng rõ được trục mà chỉ biết nói pháp luân luôn vận chuyển, thì chóng chày cũng bị vận chuyển theo pháp luân, làm sao thoát vòng sinh tử được!» [5]

– Như vậy, nếu ta đặt hai chữ Trung Dung vào tâm điểm một vòng tròn, ta sẽ có ngay một chìa khóa thần để mở các chốt then đạo giáo thấu triệt huyền cơ vũ trụ và con người. Thực vậy, nếu ta nhận định rằng, Tuyệt đối hằng cửu bất biến ở tâm điểm mọi vòng biến dịch, ta sẽ định ngay được rằng Tuyệt đối hằng cửu ở ngay tâm điểm, trung tâm não bộ chúng ta, vì đầu ta là một hình tròn Lão giáo gọi nơi đó là Huyền quan khiếu, là Cốc thần là Nê Hoàn. Phật giáo, với lời chú Oum Mani Padme Hum, đã xác nhận rằng giữa bông Hoa Sen đầu não chúng ta, đã có sẵn Ngọc Châu Viên giác. Học giả Lilian Silburn, trong tác phẩm Instant et Cause đã viết: «Tìm ra được Chân tâm, tương đương với Brahman Thượng đế vừa là Tâm điểm của lòng mình, vừa là Tâm điểm của Vũ trụ, là một khám phá lớn lao của các vị đạo sĩ Bà La Môn, sự khám phá này đã dẫn tới sự hình thành của bộ Áo Nghĩa Thư.» [6]

– Sau khi trình bày hai chữ Trung Dung như là Tâm điểm bất biến của Vũ Trụ và của lòng con người, ta có thể nói một cách chắc chắn như sau: Bất kỳ ở tôn giáo nào, nếu con người chưa tìm ra được Chân tâm, Trung điểm, Trung đạo, chưa tìm ra được Thượng đế ngự trong tâm khảm mình, làm chủ chốt cho mọi tâm tư hành vi trong và ngoài mình, thì con người vẫn còn ở trong vòng mê lạc, chưa thể nào có thể giải thoát được.

Tất cả những lời trình bày, minh biện ở trên chỉ có mục đích đưa tới một nhận xét sơ khởi này là: Trung Dung chính là Thiên đạo.

TRUNG DUNG LÀ THIÊN ĐẠO

Để cho vấn đề được sáng tỏ, chúng ta có thể dựa vào thuyết Tam tài của Nho giáo mà nhận định rằng: Thực ra con người không phải có một thứ đạo, mà là có đến ba thứ đạo:

– Trước hết, vì có xác nên con người cần phải khai thác ngoại cảnh, để nuôi dưỡng, chăm sóc xác thân cho được no ấm, khỏe mạnh. Đó là Địa đạo, hay Vật đạo.

– Thứ đến, vì có tâm hồn, nên con người cần phải ăn ở cho xứng đáng, đối đãi với nhau cho hẳn hoi, để khỏi hổ thẹn với danh hiệu con người. Đó là Nhân đạo.

– Sau hết vì con người có Thiên tính, có Thần, nên con người phải sống siêu việt lên trên bình diện tâm hồn, sống trên bình diện siêu linh, thần thánh hóa mình, để sống phối hợp với Thượng đế ngay từ khi còn ở gian trần này. Đó là Thiên đạo. Người xưa cũng còn gọi đạo ấy là Trung đạo, là đạo Trung Dung, là Chân đạo hay Đại đạo. Thiên đạo thực ra không dạy ta van vái một thần minh nào, dù là siêu việt đến đâu, mà chính là khuyên nhủ, nhắc nhở chúng ta nên nhớ rằng chính mình đã có bản thể thần minh, vì thế nên cần phải trở thành thần thánh.

Trung đạo hay Thiên đạo, thực đúng như lời Hegel đã nói, là sự cao cả mà con người đạt được, sau khi đã tháo gỡ được mọi phiền trược, trở ngại, để đi vào đời sống vô cùng.[7] Chân đạo chính là sự vươn mình lên cho tới bình diện thần linh.[8]

NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA ĐẠO TRUNG DUNG

A. Con người với Trời có đồng một bản tính

Trung Dung với mấy chữ vắn vỏi «Thiên mệnh chi vị Tính” đã cho chúng ta thấy rằng: Con người nếu muốn bước vào Thiên đạo, trước hết phải có một nhận thức nghiêm chỉnh và chính xác về bản thể mình, bản tính mình.

Trung Dung cho rằng Bản tính con người chính là Thiên tính. Nói nôm na: Bản tính con người và Bản tính Trời là một. Thế tức là sau những bộ mặt nạ hóa trang mà sân khấu đời đã bắt ta phải mang, phải giữ, sau những lớp bùn đất thời gian ngoại cảnh dơ bẩn bên ngoài của những con người thực tại (moi empirique) còn đang luân lạc trong chốn bụi hồng của trần ai tục lụy, còn có bộ mặt vô cùng xinh đẹp của con người lý tưởng (le moi idéal) ẩn khuất bên trong. Bộ mặt đó người Á đông theo Phật giáo thường gọi là Bản lai diện mục.

Từ khi tôi khám phá ra được điều quan trọng này, tôi đã dùng nó như là một kim chỉ nam để tìm cho ra đại đạo khuất lấp trong các cánh rừng sâu tôn giáo và triết học trên thế giới.

Gần đây, có dịp đọc quyển Lịch đại cao tăng cố sự, tôi thấy hoà thượng Đạo Sinh, sống vào thời đại Nam Bắc triều bên Tàu, đời Lưu Văn Đế (424-453) cũng có chủ trương y hệt như tôi. Đạo Sinh bình rằng: Nhà Nho gọi là Thiên mệnh, thì nhà Phật gọi là Phật tính, mà Phật tính tức là Thiên tính.[9]

Bà La Môn cũng cho rằng: con người chân thực trong ta chính là Atman, là Brahman.

Phật giáo, nhất là nơi kinh Đại Niết Bàn, chủ trương rằng mọi người đều có Phật tính.

Thánh kinh Công giáo cũng có một câu làm cho tôi hết sức sung sướng. Đó là: «Thượng đế chính là sự sống của bạn.» [10]

Nếu Thượng đế chính là sự sống của chúng ta, thì chắc chắn Ngài chính là Bản thể của ta vậy.

Hội Nghị Thông Thiên học họp tại Salzbourg nước Áo, năm 1968 mới đây, cũng có những lời tuyên ngôn hết sức nảy lửa. Ví dụ:

– Trong ta có một Vô cùng.[11]

– Giác ngộ tâm linh sẽ mặc khải cho thấy yếu tố thần linh duy nhất trong tâm thần mọi người.[12] Thời buổi này cần phải nhận chân rằng trong mọi con người có một tàn lửa thiên chân, và những khả năng vô biên vô tận.[13]

– Tôn giáo xưa cho rằng Trời và người xa cách nhau, Phẩm và Chất xa cách nhau. Thông Thiên ngày nay dạy rằng: Trời người là một.[14]
B. Nhân tâm thuận tòng Thiên lý thế là ĐẠO (Suất tính chi vị đạo)

Theo Trung Dung đạo Trời thật là chí giản, chí dị. Muốn theo đạo Trời, muốn theo Thiên lý, con người chỉ cần lắng nghe tiếng gọi của lương tâm. Trung Dung gọi thế là Suất tính.

Lương tâm luôn luôn dạy ta làm những điều cao đại minh chính luôn luôn dạy ta từ bi, hỉ xả, coi người như mình, trọng nghĩa khinh lợi.

Còn tư tâm của chúng ta, thì luôn luôn muốn làm những điều tà ngụy, bất trung, bất chính, ích kỷ hại nhân, luôn luôn muốn vọng hành vọng niệm.

Như vầy, thuận tòng Thiên lý, tức là gạt bỏ những điều tà ngụy, để tiến tới công chính, từ bỏ mọi điều ti tiện, cục cằn để vươn lên tới tinh hoa cao đại.

Vương Dương Minh nhận định về Lương tâm, Lương tri như sau: «Lương tâm ở trong tâm người ta, ví như cái ánh sáng của mặt trời ở trong không gian. Khi ta ngồi vào chỗ tối, ta tưởng là không có ánh sáng nữa, nhưng kỳ thực nó vẫn vằng vặc trong khoảng trời đất. Chỗ tối ấy là vọng niệm, là tư dục, nó chỉ che được cái sáng, chứ không làm mất được cái sáng… Sự học cốt bỏ cái tối, cái che đi, để thấy rõ cái sáng của lương tri vậy…» [15]

Bà H.P. Blavatsky, trong quyển Mật giáo (Doctrine secrète) đã viết: «Chỉ có Nguyên Lý tuyệt đối, bất khả tư nghị, căn nguyên vạn hữu mới đáng có đền thờ và bàn thờ trong khu đất thiêng liêng và u tịch của lòng ta. Nguyên lý ấy, nhìn không thấy, bắt không được, mung lung huyền ảo, (nhưng ta vẫn có thể cảm thấy được) qua trung gian tiếng nói thầm lặng của lương tâm. Kẻ nào thờ phượng Nguyên lý tuyệt đối ấy, phải thờ trong yên lặng và trong sự u tịch thiêng liêng của tâm hồn mình.» [16]

Bà Blavatsky còn viết: «Atman, Đại Ngã… sẽ tỏ quyền năng cho kẻ nào có khả năng nghe được tiếng nói thầm lặng của lương tâm. «Từ thủa ban sơ, cho đến thời hiện đại, không có một triết gia chân chính nào mà không mang trong đền đài u tịch của tâm hồn mình Chân lý cao đại và huyền diệu đó. Nếu là trường hợp người được điểm đạo, thì sự học biết về lương tâm, lại trở thành một khoa học thiêng liêng…» [17]
C. Trời, luật Trời, Đao Trời chẳng hề rời con người một phút giây

Đọc câu «Đạo bất khả tu du ly» 道 不 可 須 臾 離, nơi đầu sách Trung Dung tôi đã tìm ra được 3 nhận định hết sức là quan trọng của người xưa.

1. Một là Trời chẳng hề xa con người.

2. Hai là Luật Trời chẳng hề có ở ngoài con người, mà đã được ghi tạc trong lương tâm con người.

3. Ba là Chân đạo hay là con đường dẫn tới Trời đã có sẵn trong tâm thần mọi người.

Tôi tin rằng đó là những quan niệm hết sức xác đáng, hết sức phổ quát, cần được bàn bạc, học hỏi, suy tư cho tận tường.

Trước hết ta hãy bàn về quan niệm TRỜI CHẲNG XA NGƯỜI.

Quan niệm này chẳng những đã được trình bình nơi đoạn I, đoạn XVI sách Trung Dung, mà còn được trình bày trong Kinh Thi.

Trung Dung vì tin rằng Trời đã tiềm ẩn sẵn trong lòng con người và nhìn thấy tỏ rõ mọi tâm tư, niệm lự của chúng ta, nên đã khuyên người quân tử phải luôn luôn e dè, kính sợ, phải luôn luôn thận trọng dẫu là khi một bóng, một mình.

Trung Dung viết:

«E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng…» [18]

Kinh Thi viết:

«Chái Tây bắc góc nhà thanh vắng,

Đừng làm chi đáng để hổ ngươi,

Đừng rằng tăm tối chơi vơi,

Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.

Thần giáng lâm ai mà hay biết?

Nên dám đâu khinh miệt dễ ngươi.» [19]

– LUẬT TRỜI CHẲNG LÌA XA CON NGƯỜI

Chương XII Trung Dung viết:

Đức Khổng nói:

«Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa rời chúng dân,

Hiếu kỳ lập dị là nhầm.»

Kinh Thi viết:

«Đẽo cán rìu, có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn cố dấu cho in.

Ngắm đi ngắm lại liền liền,

Đẽo lui, đẽo tới, mắt xem chưa vừa.

Nên quân tử khi lo giáo hóa,

Sửa trị người sẵn có khuôn người.

Thấy người giác ngộ thời thôi,

Đã chiều cải hóa liễu bài ta ngưng.»

*Cụ Phan Bội Châu bình giải câu «Dĩ nhân trị nhân» của đoạn Trung Dung này như sau:

«Chữ Nhân (trong câu dĩ nhân trị nhân) ở trên là chân lý của người tức là đạo, chữ nhân ở dưới là thân thể của người tức là nhân. Lấy đạo người trì người, chính là kiểu mẫu không xa, lại thiết tha hơn phạt kha (tức là đẽo rìu có sẵn cán mẫu bên cạnh mà theo) kia nữa.» (Khổng học đăng, I, 332).
CON ĐƯỜNG TỪ NGƯỜI TỚI TRỜI ĐÃ CÓ SẴN TRONG TÂM THẦN CON NGƯỜI

Nhận định này chỉ là một sự suy diễn tự nhiên của quan niệm TRỜI CHẲNG XA NGƯỜI đã đề cập tới nơi trên.

Thực vậy đạo chẳng qua là sự tìm ra được Trời ngự trị trong lòng mình, tìm lại được bản tính thần minh sang cả của mình; bắt được nhịp cầu giữa lòng mình với Thần Trời trong mình, phạt quang được gai góc lách lau của thất tình, lục dục, phá tan được lớp sương mù dày đặc của sự ngu si, mê vọng, tức là sẽ tìm lại được Trời, được Đạo nơi tâm.

Mới hay:

Trời tuy thị vô biên vô tận,

Nhưng mà Trời vẫn lẩn trong tâm.

Thật là kỳ ảo khôn cùng,

Không hơi không tiếng, vẫn lừng uy danh.

Khuôn phép Trời chí thành, chí thiện,

Tiếng của Trời là tiếng lương tâm,

Mới hay trong chốn cát lầm,

Muôn ngàn đã sẵn vô ngần ngọc châu.

Mới hay giữa sông sân núi thẳm,

Vốn có đường bằng phẳng thênh thênh

Đường Trời rong ruổi mặc tình,

Không xiên, không vẹo, không vênh, không tà.

Đường Trời nọ bao la thảng đãng,

Không quanh co, không vặn không xiên.

Đường trời phẳng lặng êm đềm,

Không hề tráo trở đảo điên vạy vò,

Đường trời nọ thẳng vo, thẳng tắp,

Vút một lèo tới cực cao minh

Đó là duy nhất duy tinh,

Đó là Thái cực tinh thành xưa nay,

Cuộc phù thế chớ say danh lợi,

Bả lợi danh phất phới hão huyền,

Chớ mê những cái đảo điên,

Mà quên mất cái vững bền ngàn thu.

Sông thế sự hãy ưa chèo ngược,

Chèo ngược dòng lên tuốt căn nguyên.

Căn nguyên chính là thanh thiên,

Vô biên vô tận, triền miên khôn cùng.

Bỏ phù phiếm tìm tông tìm tích,

Dương cung thần ngắm đích thâm tâm.

Bắn vào trung điểm tâm thần,

Ấy là thoát cõi hồng trần lầm than.

Như trăng sáng băng ngàn trần thế,

Rẽ Đẩu, Ngưu đượm vẻ thần tiên.

Đó là tâm pháp thánh hiền,

Đó là Trung đạo tương truyền xưa nay…

(Xem Trung Dung yếu chỉ của tác giả)

Thông Thiên Học cũng chủ trương phải tìm Đạo, tìm Trời ngay trong lòng mình.

Ông Jey Mills, trong một bài thuyết trình tại Đại Hội Thông Thiên quốc tế ở Salzbeurg, có trích dẫn một đoạn Upanishads như sau:

«Có một ánh sáng chiếu soi cùng khắp trời đất, đó là ánh sáng chiếu soi trong lòng chúng ta. Có một nhịp cầu nối liền thời gian và vĩnh cửu, và nhịp cầu ấy là Thần con người. Trên cầu ấy, chẳng có ngày đêm, chẳng có lão, tử, chẳng có sầu muộn ưu tư…

«Một khi đã tìm thấy nhịp cầu ấy, con người sẽ nhìn thấy rõ tương lai, và sẽ khỏi hết thương tích, bệnh tật. Đối với ai đã vượt được cầu ấy, đêm sẽ trở thành như ngày, vì trong thế giới thần linh, có một ánh sáng vĩnh cửu…» [20]

Đại hội Thông Thiên quốc tế ở Salzbourg cũng còn nhận định rằng: «Người ta thấy được Thượng đế trong tạo vật Ngài… Ngay trong lòng mình, con người có thể tìm thấy đời sống Thượng đế. Về phương diện đạo giáo, sự khám phá này cũng vĩ đại như sự khám phá ra nguyên tử năng. Nó cho con người một quyền lực tinh thần không bờ bến, cũng như nguyên tử năng đã cho con người một sức mạnh vật chất kỳ diệu…» [21]

Nếu vậy thì các vị giáo chủ xưa nay thực ra không tạo ra được đạo mà chỉ là những ngón tay chỉ cho ta thấy đạo đã sẵn có nơi ta, chỉ là những người có công giúp chúng ta phạt quang gai góc, phạt quang lau lách đã mọc um tùm trong tâm hồn ta, làm cho mất hết dấu vết của đại đạo ấy mà thôi.

Cũng một lẽ chân đạo, không thể xuất cảng được từ nước này sang nước nọ, và cũng không phải là cái gì tự trên trời xa lắc rơi tòm xuống tâm hồn ta.

Năm 1961, nhân dịp ghé qua Pháp, một buổi tối, tôi đứng trên tháp Eiffel ngắm cảnh trời mây ban đêm ở Paris với những cảnh đèn rực rỡ như muôn vì sao óng ánh trên các căn nhà và các nẻo đường của Paris.

Tôi hết sức xúc động khi nhận thấy rằng mặt trăng và những làn mây trên bầu trời Paris cũng y hệt mặt trăng và những làn mây trên bầu trời Việt Nam, mà tôi thường xuyên có dịp thưởng ngoạn ngay từ khi còn tấm bé.

Tôi chợt suy ra rằng nếu mặt trời, mặt trăng cần yếu cho tôi, thì Thượng đế chẳng hề tỏ ra xẻn xe và đã ban cho tôi mặt trời, mặt trăng y thức như là cho mọi người trên thế giới. Nếu không khí cần cho con người, thì ai sinh ra cũng được hít thở một bầu không khí như nhau. Như vậy, nếu đạo giáo cần cho con người, thì ai sinh ra ở đời cũng đã đều mang sẵn như nhau chân đạo ấy ở trong tâm, dẫu là người thời ban sơ, hay là người thời thế mạt…, chứ không phải nghểnh cổ ngóng trông tới một thời nào đó, mới có những người đem chân đạo nhập cảng vào để mà ban phát cho. Và tôi cũng nhớ lời Thiên Chúa phán cùng dân Do Thái, nhân dịp ban truyền 10 điều răn Thiên Chúa. Chúa đã phán rằng: «Thực vậy, lề luật mà ta truyền dạy ngươi hôm nay, không có ở ngoài tầm kích ngươi. Nó không ở trên trời, để ngươi phải nói: ‘Ai lên trời cho chúng tôi để tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành.’ Nó cũng chẳng ở cách trùng dương để ngươi phải nói: ‘Ai sẽ vượt biển cả cho chúng tôi, để tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành.’ Đạo kề bên ngươi, Đạo ở trong miệng trong lòng ngươi, để ngươi có thể đem thực hiện.» (Deutéronome, 30, 11-14)

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUÁT ĐỂ TIẾN TỚI TRUNG DUNG, TIẾN TỚI THIÊN ĐẠO

Sau khi đã vạch rõ cho người thấy rằng mình có một căn cơ hết sức là sang cả, đó là Thiên tính, sau khi đã cho con người thấy rằng Trời, Đạo, và định luật Trời đã sẵn có trong tâm linh con người, Trung Dung đề ra 3 phương pháp chính yếu để giúp con người tiến tới hoàn thiện:

– Mở mang trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác. Đó là TRÍ.

– Luôn luôn thực thi những điều hay, điều phải để tiến tới nhân đức thực sự. Đó là NHÂN.

– Cố gắng không ngừng để phát triển năng lực tinh thần để tiến mãi cho tới chỗ tinh vi, cao đại. Đó là DŨNG.

Trung Dung viết:

Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu nhân phải gắng công lao,

Muốn nên hùng dũng anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.

Trí, nhân, dũng tu thân ấy lý,

Biết tu thân ắt trị nổi người.

Trị người hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa… (Trung Dung, 20)

Muốn phát huy những năng lực nội tại, những đức tính nội tại, con người không cần phải đi vào thâm sơn cùng cốc, bè bạn cùng hùm beo, khỉ vượn, mà chỉ việc vui sống trong mọi hoàn cảnh mình gặp trên bước đường đời. Trung Dung viết:

Người quân tử sống theo địa vị,

Không mơ ước suy nghĩ viễn vông.

Sang giàu sống lối giàu sang,

Nghèo nàn sống lối nghèo nàn ngại chi.

Tới man di sống y man mọi,

Gặp gian lao vui nỗi gian lao,

Bất kỳ sống ở cảnh nào,

Lòng người quân tử ra vào thỏa thuê. (Trung Dung, 14)

Gần đây, Edgar Cayce, trong giấc thôi miên, cũng đã nói: «Bạn hãy sống cho xứng đáng trong nơi chốn bạn ở. Khi bạn đã chứng minh được điều đó, Thượng đế sẽ tìm cho bạn những con đường tốt hơn.» [22]

Trung Dung cho rằng, theo đạo trời không phải là để mong làm được những điều quái dị, cho hậu thế ngợi khen, mà chính là bền vững theo con đường đạo đức, công chính cho đến cùng. Trung Dung viết:

«Tìm bí ẩn làm điều quái dị,

Cốt mong cho hậu thế ngợi khen,

(Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen,

Đã là quân tử chẳng thèm quan tâm.

Làm trai quyết chí tu thân,)

Đường đường quân tử ta tuân đạo trời.

Giữa đường dứt gánh trở lui,

«Bán đồ nhi phế» có đời nào đâu.

Trung Dung quân tử trước sau,

Dẫu không tăm tiếng không rầu lòng ai,

Thánh nhân, ấy thánh nhân rồi.» (Trung Dung, 11)

Về công cuộc tu thân, sách Bhagavad Gita của Ấn Độ giáo, cũng đả kích những cách hành hạ xác thân phi lý, và chỉ khuyên những lời ý vị như sau: «Thanh tịnh, khiết trinh, từ bi, chính trực, đó là luyện thân. Nói lời cho lành, cho đúng, cho khéo, cho hay, đó là luyện khẩu. Giữ cho tinh thần được thanh tịnh, tĩnh lãng, thái hòa, tự chủ được mình, đó là luyện thần.» [23]

Tóm lại đối với Trung Dung, bí quyết để tiến tới tinh hoa cao đại chính là học hỏi cho tinh tế, biện luận cho rạch ròi, tìm hiểu cho rốt ráo; khi đã nắm vững được chân lý rồi, nhất quyết đem thi hành cho tới kết quả thành toàn. Trung Dung viết:

«Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy cũng đúng chẳng sai.

Thung dung Trung đạo tháng ngày.

Ấy là vị thánh từ ngay lọt lòng,

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành phải mạnh tay co,

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, quyết mang thi hành.

Đã định học, chưa thành chưa bỏ,

Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nôi,

Chưa ra manh mối chưa rời xét suy.

Biện luận mãi tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua.

Đã làm làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến thâu toàn thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh,

Người làm mười bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ ta ganh với người.

Đường lối ấy nếu ai theo được,

Dẫu u mê, sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Sớm chày cũng sẽ ra lòng sắt son.» (Trung Dung, 20)
ĐẠT ĐẠO TRUNG DUNG TỨC LÀ THÀNH THẦN THÁNH

Sau khi đã dùi mài học hỏi, suy tư đến mức khai thông được trí huệ, sau khi đã tha thiết đem thực thi những điều hay điều phải đến mức nhân đức vẹn toàn; sau khi đã phát huy được năng lực tinh thần, để có thể tiến tới chỗ quảng đại tinh vi, đến chỗ chí cao, chí mỹ, chí thành, chí thiện, lúc ấy con người sẽ đạt tới Trung cung, Trung điểm, Trung đạo. Người xưa gọi thế là thung dung Trung đạo, là «phối Thiên», là «sống hợp nhất với Thượng đế». Đó là đạt đích của chân đạo. Bất kỳ một hiền thánh nào trên hoàn vũ, lúc đạt đạo, cũng chỉ tới lằn mức đó mà thôi.

Đại học gọi thế là: Chỉ ư chí thiện.

Phật giáo gọi thế là Chính kiến, chính giác.

Pháp sư Đạo Sinh, thời Nam Bắc triều, đã nhận định về sự đắc đạo của đức Phật như sau: «Thưa Phật tổ, Ngài được chính kiến, chính giác, thực ra là tại vì Ngài đã khế hợp được với Thiên Tâm. Thế nhưng tất cả những đệ tử Ngài chỉ biết giữ những qui luật thấp kém chẳng cần thiết, những tập tục chẳng ra gì, rút cuộc là họ đã đem những chính hạnh, chính niệm của Ngài, đem những điều quan trọng, hết cả thiết yếu của giáo lý Ngài tung hê lên chín tầng mây biếc.» [24]

Trung Dung bình về đấng thánh nhân đạt đạo Trung Dung như sau:

«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí huệ,

Y như thể có Trời ẩn áo giáng lâm.

Mới khoan dung hòa nhã ôn thuần,

Y như thể có dung nhan trời phất phưởng.

Phấn phát tự cường, kiên cương hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng.

Trang trọng, khiết tinh, trang chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.

Nói năng văn vẻ rỡ ràng cẩn thận,

Y như là đã chia được phần thông suốt, tinh vi,

Mênh mang sâu thẳm ứng dụng phải thì,

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng sâu thăm thẳm

Thấy bóng Ngài dân một dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động muôn dân đều hoan lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung Quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che, và đất chở,

Đâu còn có nhật nguyệt hai vừng tở mở,

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó, Ngài vẫn được tôn sùng quí báu,

Thế nên gọi là «Cùng Trời phối ngẫu».

Trung Dung cho rằng đạt điểm của Thiên đạo là phối Thiên, là Sống hợp nhất với Thượng đế. Khảo sách Mật giáo của bà Blavatsky và giáo lý Thông Thiên, ta sẽ nhận thấy rằng niềm tin then chốt của Thông Thiên là con người, khi đã đạt tới chỗ toàn chân toàn thiện cũng sẽ thông phần toàn trí, toàn năng của Thượng đế.[25]

KẾT LUẬN

Trên đây, tôi đã cố gắng chứng minh rằng Trung Dung có mục đích dạy chúng ta Thiên đạo. Tôi cũng đã cố gắng chứng minh rằng Thiên đạo không phải là sản phẩm riêng tư của đạo này đạo nọ, mà chính là của chung của mọi người. Cái kho tàng vô giá ấy Trời dành cho bất kỳ ai có lòng thành khẩn tìm cầu. thiên đạo chẳng qua là những chặng đường tiến hóa của tâm linh con người, từ lúc còn là một mầm mộng thần linh, cho đến khi đạt đạo, tiến tới cùng cực tinh hoa cao đại, trở thành Chí thánh, Chí thiện.

Tôi cũng đã lấy những quan điểm của Trung Dung, đem so sánh với quan niệm của các bậc thánh triết cổ kim để cho thấy rằng con người chúng ta ai cũng đã có một bản chất hết sức là sang cả, một định mệnh hết sức là sang cả.

Nếu vậy thì chúng ta sinh ra ở cõi đời này, sau trước cũng phải thực hiện một cuộc hành trình không phải là một cuộc hành trình thiên sơn, vạn thủy nơi ngoại cảnh, mà chính là một cuộc hành trình nội tâm để tìm Đạo, tìm Trời.

Chúng ta chính là những vị thần minh, những vị thiên tử đã lạc xuống hồng trần, rồi vì va chạm với những cảnh đời éo le, gian khổ, nên đã quên lãng mất cả dòng dõi cao sang của mình, lạc lõng lao lung trên muôn nẻo đường trần ai ngoại cảnh, và quên mất hẳn con đường trở về thiên quốc.

Như vậy, đôi lúc, chúng ta cũng nên cắm sào lại trên dòng sông thời gian, dành để ít phút suy tư về thân thế và định mệnh của mình, và cũng là để hồi tưởng lại con đường trở về Thiên quốc. Tôi xin nhắc nhở rằng con đường trở về Thiên quốc của chúng ta không thể nào tìm kiếm thấy được trên muôn vạn nẻo đường của trần ai ngoại cảnh, mà chính là đã có sẵn ở trong tâm thần chúng ta.

Con đường ấy, vì lâu ngày ta chẳng ngó ngàng tới nên đã để cho lau lách dục tình che khuất mất, để cho mây mù vọng niệm bao phủ mất, chúng ta hãy dùng ánh sáng mặt trời tuệ giác, hãy dùng lưỡi kiếm bén của sự hùng dũng tinh thần, để trông cho tỏ hướng đi, để phạt cho quang con lộ, nhiên hậu ta sẽ thảnh thơi rong ruổi trên con đường tìm đạo, tìm trời, và một ngày nào đó, ta sẽ được diễm phúc trực diện với thiên nhan.

Và để kết thúc bài này cũng như toàn khóa học về Khổng giáo, tôi xin mượn lời kinh Vệ Đà, mà tôi đã mạo muội dịch thành mấy câu thơ lục bát sau đây:

Đường trời cao vút tầng mây,

Ai ơi đừng có một ngày lui chân,

Đức Trời lồng với kinh luân,

Ta đem ta sẻ, ta phần cho ai,

Hãy lên rong ruổi xe trời,

Băng miền cực lạc muôn đời trường sinh.

Răng long đầu bạc mặc tình,

Đừng bao giờ nói rằng mình già nua.

Thần thông Trời đã phú cho,

Bạc đầu, lòng vẫn phởn phơ nhẹ nhàng.

Vén mây, vượt núi băng ngàn,

Đường Trời chót vót chớ màng lui chân. [26]

————————-

CHÚ THÍCH

[1] Bài thuyết trình tại CQPTGL.

[2] Cf. Lâm Ngữ Đường (Lin Yu Tang) L’Importance de vivre, p. 123-124.

[3] «O moines, il y a un état non-né, non-devenu, non-conditionné, non-composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non-né, non-devenu, non-conditionné, non-composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composée.» (Présence du Bouddhisme, p. 268. – Udanâ, p.129, Colombo, 1929.)

[4] Nous devons donc d’abord trouver quelque part un centre d’où partent pour ainsi dire tous les autres plans de l’existence une fois là, nous devons esayer de trouver une solution. Voilà la programme.

Où est ce centre? Il est au dedans de nous. Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers seul point; il est leur terrain commun et c’est seulement en … là que nous pourrons trouver une solution commune.

[5] Xem Văn Đạo Tử giảng đạo tinh hoa lục (chữ Hán), tr. 36b.

[6] «La découverte du centre du Soi qui coincide avec Brahman, et qui correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres qui permettent au sacrificiant d’échapper à l’espace et au temps, est la grande découverte des Bramanes, celle qui mène à l’orée de l’Upanishad.» Lilian Silburn, Instant et Cause, p. 103.

[7] Cette grandeur que l’homme a acquise par lui-même, en se dégageant de ses entraves pour entrer dans la vie de l’infini, c’est cela le Religion. – Robert Tucker, Philosophie et Mythe chez Karl Marx, Paris, Payot, p. 32.

[8] La Réligion consiste à s’élever au niveau de la vie divine. Ib. 32.

[9] Sở vị Phật tính, tựu thị Thiên tính. Dã tựu thị Nhu gia chi sở vị Thiên mệnh, sở vị Đạo liễu. Nan quái Khổng phu tử thuyết: Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ. Lịch đại cao tăng cố sự, quyển 7, tr. 30.

[10] Dieu, dit l’Ecriture est la vie de l’homme: Ipse est vita tua (Deutéronome XXX, 20. Texte de la Vulgate cité par Saint Thomas d’Aquin, Summa Theologica, Ia-IIae, q.110 a.I, obj.2.) et Saint Augustin a souvent affirmé au Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle-même est la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin, Confessions, VII, 1,2 et X,6,10). Cf. Etienne Gilson, Théologie et histoire de la spiritualité, Paris, Librairie philosophique, J. vrin, 1943, p.10.

[11] Il y a un infini en nous. (Florilège de la pensée théosophique moderne, Lotus Bleu, 71 Année, No 11, Novembre 1967, p. 293.)

[12] L’Illumination spirituelle rélève l’élément unique qui est dans l’esprit et le coeur de tout être humain. (Florilège de la pensée théosophique, in Lotus Bleu, 72 è Année, Aout Septembre 1967, p. 235.)

[13] Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine et de possibilités infinites. (Ib. 235).

[14] Pour la religion, Dieu et l’homme, la qualité et la forme étaient séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont un. (Lotus Bleu, 72 è Année, Decembre 1967, p. 326).

[15] Trần Trọng Kim, Vương Dương Minh, Tân Việt xuất bản, tr. 43.

[16] Madame Blavatsky, dans la Doctrine Secrète, fait allusion à cette mystérieuse voix intérieure, dans ce beau passage (I, 277 édition, I, 270, 7e édition): «Seul, l’inconnaissable et incognoscible Kârana, la Cause sans Cause de toutes les causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le terrain sacré et solitaire de notre coeur – invisible, insaisissable, indistinct, sauf par la «petite voix silencieuse» de notre conscience spirituelle. Ceux qui l’adorent devraient le faire dans le silence et la solitude sanctifiée de leurs âmes …» Lotus Bleu, 75e Année, Janvier, 1968, p. 17.

[17] «L’Atman, Le Soi… montrait toute sa puissance à celui qui était capable de reconnaitre la «petite voix silencieuse». Depuis les jours de l’homme primitif… jusqu’à notre âge moderne il n’y a pas eu un philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire silencieux de son coeur la grande et mystérieuse vérité. Si c’était un initié, il l’apprenait comme une science sacrée …» (Doctrine Secrète, Volume 5, p. 67. – Lotus Bleu, 73e Année No 1, p. 18).

[18] Xem Trung Dung chương 1.

[19] Kinh Thi, Đại Nhã, ức thiên.

[20] «Il est une Lumière qui brille au-delà de toutes, su terre au-delà de nous tous, au delà des cieux vraiment les plus hauts. C’est une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y an un pont entre le temps et l’éternité, et ce pont est l’Esprit dans l’homme. Ni le jour, ni la nuit ne traversent ce pont, ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin… Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que, dans le monde de l’Esprit, il y a une Lumière qui est éternelle.»

Lotus Bleu, 72e Année, No 4, Avril, 1967, p.115.

[21] On trouve Dieu dans sa création… Dans le coeur même de l’homme on peut trouver la vie Divine. En religion, cette découverte est aussi révolutionnaire que la découverte atomique. Elle place dans la main de l’homme un pouvoir spirituel sans limite, comme l’énergie atomique lui a donné un prodigieux pouvoir physique. Lotus Bleu, 72e Année No 12, Décembre 1967, p. 327.

[22] Soyez ce que vous devriez être à l’endroit où vous vous trouvez! Et quand vous aurez fait vos preuves, Il vous trouvera des voies meilleures. (Cina Cerminara, De nombreuses demeures, Adya Paris, 1966, p. 287).

[23] La pureté, la droiture, la chasteté, la mansuétude sont appelées austérités du corps. Un langage dépourvu de malveillance qui est vérédique, agréable, bienfaisant… est appelé l’austérité de la parole. Le calme de l’esprit, l’équilibre, le silence la maýtrise de soi-même, la pureté de l’être, telle est l’austérité de l’esprit. (Bhagavad. XVII, 14-16) (Leadbeater, l’Occultis dans la Nature, p. 164).

[24] Xem Lịch đại Cao tăng cố sự, Đạo Sinh, tr. I, tr. 2.

[25] Et ainsi, nous sommes installés dans notre schéma planétai et réalisons qu’il est une partie de la Doctrine Secrète que l’attributs de Dieu «Omniprésence, Omnisoience et Omnipotence» peuvent être réalisés par l’homme dans sa plénitude comme homme et humanité, les réalisant et les libérant en lui-même (E. L. Gardner, Le Jeu de la Connaissance, p.10). C’est ce que nous voulons dire quand nous parlons de la Divinité de l’homme. (Wallace V. Slater, in Lotus Bleu, Décembre 1967, p. 318).

[26] Steep and high is your path of pilgrimage, o mana never descending low. I have equipped thee with the divine wisdom and power to live a full and vigorous life. Come and enter in the divine chariot of immortal bliss. Never say you are old o my traveller, with the advancing age, blessed with the weal of wisdom, you shall ever remain young and vigorous. Up and high goes your path never descending low. Atharvaveda.

*   *   *

Từ trước tới nay, nói đến Trung Dung, người ta thường quan niệm đó là một cuộc sống không thái quá, không bất cập, nước đôi lấp lửng giữa dòng.

Thậm chí nhà học giả Lâm Ngữ Đường còn đề cao lối sống lừng chừng, trung lập, nước đôi đó, và giới thiệu nó như là một đời sống lý tưởng với các độc giả Âu Châu, qua mấy vần thơ của Lý Mật Am, mà tôi xin tạm dịch như sau:-

Ta sống quá nửa đời phù phiếm,

Mới nhận ra huyền nhiệm Trung Dung.

Trung Dung hương vị khôn cùng,

Làm cho lòng dạ tưng bừng niềm vui.

Lúc mà cái con người sướng nhất,

Chính là khi tới cấp trung niên,

Quang hoa dùng dắng triền miên,

Như chờ như đợi gót tiên tạm ngừng.

Cõi trần lọt giữa chừng trời đất,

Giữa tỉnh quê ta cất nhà ta,

Thảnh thơi ta mở trại hoa,

Giữa chừng sông núi la đà nước non.

Biết vừa đủ tiền nong vừa đủ,

Vòng lợi danh vương nửa tấm son,

Không xinh nhưng cũng dễ nom,

Không giàu nhưng cũng còn dòn hơn ai.

Nhà ta xây nửa đài nửa các,

Đồ đạc ta lác đác đủ chơi,

Áo cũ mới chơi vơi,

Uống ăn na ná như người bậc trung.

Vài tôi tớ không thông không dở,

Vợ con ta đơ đỡ ta ưng,

Nửa tiên nửa tục lừng chừng,

Nửa cùng thần thánh, nửa cùng thê nhi.

Nửa bụng dạ lo vì con cái,

Nửa tâm hồn gửi lại Hoàng Thiên,

Để khi thoát xác ta yên,

Biết đường thưa gửi, biết niềm tới lui.

Ngà say là lúc ly bôi,

Đóa hoa hàm tiếu là thời mê ly.

Buồm nửa cánh thuyền đi thong thả,

Cương vừa dong, vó ngựa mới hay.

Quá giàu phiền lụy sẽ dày,

Quá nghèo cuộc sống sẽ đầy truân chuyên.

Trần ai sướng với phiền khó tách,

Trong ngọt ngào pha phách đắng cay.

Hưởng đời đừng quá mê say,

Lừng chừng đại khái tháng ngày tiêu dao. [2]
*Nguyễn Văn Thọ

—————

LIỆT TỬ – XUNG HƯ CHÂN KINH * 沖虛真經 * 列子

LIỆT TỬ – XUNG HƯ CHÂN KINH * 沖虛真經 * 列子
LIET TU – XUNG HU CHAN KINH * 沖虛真經 * 列子

LIỆT TỬ – XUNG HƯ CHÂN KINH

LIET TU – XUNG HU CHAN KINH, 沖虛真經, 列子

LIET TU – XUNG HU CHAN KINH, 沖虛真經, 列子
LIET TU – XUNG HU CHAN KINH * 沖虛真經 * 列子

LIỆT TỬ – XUNG HƯ CHÂN KINH

沖 虛 真 經

LIỆT TỬ – XUNG HƯ CHÂN KINH

沖虛真經 * 列子

沖虛真經: 《沖虛真經》即《列子》, 戰國時列禦寇著。 唐玄宗於天寶元年詔封列子為「沖虛真人」, 尊其書為《沖虛真經》。 道教奉為「四子」真經之一。 該書多為寓言故事, 大旨宣揚道家清虛無為思想。

Sách Liệt Tử còn được tôn xưng là Xung Hư Chân Kinh, tương truyền do một người thuộc phái đạo gia là Liệt Ngự Khấu (430-349 trước CN). Liệt Ngự Khấu, sinh khoảng năm 430 (Khảo Vương) mất khoảng 349 (Hiển Vương) đời nhà Chu (TQ) soạn ra, nhưng truyền thuyết này còn bị đặt nhiều nghi vấn. Có lẽ nó là một công trình của tập thể nhiều thế hệ, đến đời Tấn (thế kỷ IV) được Trương Trầm sưu tập và chú giải, tôn là một kinh quan trọng của “Tứ Tử”.  Bản lưu truyền đến nay gồm 8 thiên, trình bày tư tưởng Đạo gia qua nhiều truyền thuyết, huyền thoại, ngụ ngôn… có ý nghĩa hàm súc, tế nhị.

XUNG HƯ CHÂN KINH

《沖虛真經》

***
Gồm 8 chương:

I. Thiên thuỵ 天瑞

II. Hoàng Đế 黃帝

III. Chu Mục vương 周穆王

IV. Trọng Ni 仲尼

V. Thang vấn 湯問

VI. Lực mệnh 力命

VI. Dương Chu 楊朱

VIII. Thuyết phù 說符

*****************

CHƯƠNG I

THIÊN THỤY

《沖虛真經》

天瑞 第一

子列子居鄭圃, 四十年人無識者。
國君卿大夫視之, 猶眾庶也。
國不足, 將嫁於衛。
弟子曰: 「先生往無反期, 弟子敢有所謁; 先生將何以教? 先生不聞壺丘子林之言乎?」

子列子笑曰:

「壺子何言哉? 雖然, 夫子嘗語伯昏瞀人, 吾側聞之, 試以告女。 其言曰: 有生不生, 有化不化。 不生者能生生, 不化者能化化。 生者不能不生, 化者不能不化, 故常生常化。 常生常化者, 無時不生, 無時不化。 陰陽爾, 四時爾, 不生者疑獨, 不化者往復。 往復, 其際不可終; 疑獨, 其道不可窮。

《黃帝書》曰: 「穀神不死, 是謂玄牝。 玄牝之門, 是謂天地之根。 綿綿若存, 用之不勤。」故生物者不生, 化物者不化。 自生自化, 自形自色, 自智自力, 自消自息。 謂之生化、形色、智力、消息者, 非也。」

Thầy Liệt Tử ở một khu vườn nước Trịnh, bốn chục năm mà không ai nghe danh, từ vua tới các quan khanh, đại phu đều coi thầy như người dân thường. Năm đó đói kém, thầy tính di cư qua nước Vệ. Đệ tử hỏi:

– Thầy đi không biết bao giờ mới về. Bọn đệ tử chúng con muốn xin hỏi thầy: thầy có điều gì dạy chúng con không? Thầy đã được nghe Hồ Khâu Tử Lâm nói gì không?

Thầy Liệt Tử cười mà đáp:

– Thầy Hồ có nói gì đâu! Nhưng thầy có lần nói chuyện với Bá Hôn Mâu Nhân, ta đứng bên được nghe lóm, nay thử kể lại cho các anh.

Thầy Hồ nói:

“Có một vật sinh ra các vật khác mà không được vật nào sinh ra cả, biến hoá các vật khác mà tự nó không biến hoá. Vậy cái không được sinh ra có thể sinh (làm chủ tể) các vật được sinh ra, cái không biến hoá có thể biến hoá (làm chủ tể) các vật biến hoá. Mà cái được sinh ra không thể không sinh cái khác, cái được biến hoá không thể không biến hoá; do đó mà sinh sinh, hoá hoá hoài, không thời nào không sinh. Do đó có âm dương, bốn mùa. Cái không được sinh ra, có thể là duy nhất, vô thuỷ vô chung; cái không biến hoá thì qua lại không cùng; cái đạo của cái duy nhất không thể dò được.

Sách Hoàng Đế có câu: “Thần hang bất tử, gọi là Huyền tẫn. Cửa của Huyền tẫn là gốc của trời đất, dằng dặc như bất tuyệt, tạo thành mọi vật mà không mệt”. Vì vậy mà vật nào sinh ra các vật khác thì không được sinh ra; vật nào biến hoá các vật khác thì không biến hoá. Nó tự sinh, tự hoá, tự thành hình, tự thành sắc, sáng suốt, tự có sức mạnh, tự tăng giảm. Nó tự nhiên như vậy, chứ không phải cố ý mà sinh hoá, thành hình, thành sắc, sáng suốt, có sức mạnh, tăng giảm.

子列子曰:

「昔者聖人因陰陽以統天地。 夫有形者生於無形, 則天地安從生?
故曰: 有太易, 有太初, 有太始, 有太素。 太易者, 未見氣也: 太初者, 氣之始也; 太始者, 形之始也; 太素者, 質之始也。

氣形質具而未相離, 故曰渾淪。

渾淪者, 言萬物相渾淪而未相離也。

視之不見, 聽之不聞, 循之不得, 故曰易也。 易無形埒, 易變而為一, 一變而為七, 七變而為九。

九變者, 究也, 乃複變而為一。

一者, 形變之始也。 清輕者上為天, 濁重者下為地, 沖和氣者為人; 故天地含精, 萬物化生。」

Thầy Liệt Tử bảo:

– Các thánh nhân đời xưa cho rằng âm dương điều hoà trời đất (tức vũ trụ). Cái hữu hình từ cái vô hình mà ra, vậy thì trời đất ở đâu mà ra? Cho nên bảo rằng có cái Thái Dịch, cái Thái Sơ, cái Thái Thuỷ, cái Thái Tố.

Cái Thái Dịch (cái Biến đổi lớn) là các (trạng thái) chưa thành khí; khi khí bắt đầu thành thì là cái Thái Sơ; khi hình bắt đầu thành thì là cái Thái Thuỷ, khi chất bắt đầu thành thì là cái Thái Tố.

Khi có đủ khí, hình, chất rồi mà ba cái đó chưa tách rời nhau ra thì gọi là Hỗn luân. Gọi là Hỗn luân vì vạn vật còn hỗn hợp nhau, chưa rời nhau ra. Nhìn vào không thấy, lắng nghe không thấy, rờ nắm không được, cho nên gọi là Dịch (Biến đổi), biến đổi thì không có hình nào (nhất định) cả.

Nó biến đổi mà thành ra Một; Một biến thành ra Bảy; Bảy biến thành ra Chín. Tới Chín là cùng, rồi lại trở về Một.

Một là sự khởi thuỷ của các sự biến hình. Cái trong nhẹ bốc lên thành trời, cái đục và nặng lắng xuống thành đất; còn cái khí xung hoà thì thành người.

Vậy trời và đất chứa cái tinh của vạn vật, mà vạn vật hoá sinh.

子列子曰:

「天地無全功, 聖人無全能, 萬物無全用。

故天職生覆, 地職形載, 聖職教化, 物職所宜。

然則天有所短, 地有所長, 聖有所否, 物有所通。

何則? 生覆者不能形載, 形載者不能教化, 教化者不能違所宜, 宜定者不出所位。

故天地之道, 非陰則陽; 聖人之教, 非仁則義; 萬物之宜, 非柔則剛: 此皆隨所宜而不能出所位者也。 故有生者, 有生生者; 有形者, 有形形者; 有聲者, 有聲聲者; 有色者, 有色色者; 有味者, 有味味者。

生之所生者死矣, 而生生者未嘗終; 形之所形者實矣, 而形形者未嘗有; 聲之所聲者聞矣, 而聲聲者未嘗發; 色之所色者彰矣, 而色色者未嘗顯; 味之所味者嘗矣, 而味味者未嘗呈: 皆無為之識也。

能陰能陽, 能柔能剛, 能短能長, 能圓能方, 能生能死, 有暑能涼, 能浮能沉, 能宮能商, 能出能沒, 能玄能黃, 能甘能苦, 能羶能香。

無知也, 無能也, 而無不知也, 而無不能也。」

Thầy Liệt Tử bảo:

– Trời đất không có đủ công dụng, thánh nhân không có đủ khả năng, vạn vật không vật nào dùng vào đủ mọi việc. Chức vụ của trời là sinh ra và che vạn vật, chức vụ của đất là gây hình và chở vạn vật, chức vụ của thánh nhân là giáo hoá, chức vụ của mỗi vật tuỳ theo khả năng của nó.

Mà trời có sở đoản, đất có sở trường, thánh nhân có việc làm không được, và mỗi vật có cái tài riêng.

Sao vậy? Là vì trời sinh ra và che vạn vật thì không thể gây hình và chở vạn vật; đất gây hình và chở vạn vật thì không thể giáo hoá vạn vật; thánh nhân giáo hoá thì không thể làm trái với bản tính của vạn vật, mỗi vật đã có bản tính nhất định rồi thì không thể vượt được phận vị của nó.

Cho nên đạo của trời đất, không phải âm thì là dương, đạo giáo hoá của thánh nhân không phải là nhân thì là nghĩa; bản tính của vạn vật không phải là nhu thì là cương, đều là theo bản tính mà không thể vượt khỏi phận vị của mình.

Cho nên có cái sống đấy thì có cái sinh ra cái sống; có cái hình đấy thì có cái khiến thành hình; có thanh âm đấy thì có cái khiến cho thành thanh âm; có màu sắc đấy thì có cái khiến cho thành màu sắc; có mùi vị đấy thì có cái khiến cho thành mùi vị.

Cái từ cái sống mà sinh ra là cái chết, nhưng cái sinh ra cái sống thì bất tuyệt; cái từ cái hình gây nên là cái thực (chất), nhưng cái khiến cho thành hình thì không hề có (thực chất); cái từ thanh âm gây nên là thính giác, nhưng cái khiến cho thành thanh âm thì không hề phát nên tiếng; cái từ màu sắc gây nên là thị giác, nhưng cái khiến cho thành màu sắc thì không hề hiện ra; cái từ mùi vị gây nên là vị giác, nhưng cái khiến cho thành mùi vị thì không hề lộ ra.

Tất cả những cái đó đều là vô vi mà ra cả. Vô vi có thể âm, có thể dương, có thể nhu, có thể cương, có thể sinh, có thể Tử, có thể nóng, có thể lạnh, có thể nổi, có thể chìm, có thể là âm trầm, có thể là âm bổng, có thể hiện ra, có thể biến mất, có thể tím đen, có thể vàng, có thể ngọt, có thể đắng, có thể tanh hôi, có thể thơm tho.

Vô vi tuy vô tri, vô năng mà không gì là không biết, không gì là không làm được.

林類年且百歲, 底春被裘, 拾遺穗於故畦, 並歌並進。

孔子適衛, 望之於野。 顧謂弟子曰: 「彼叟可與言者, 試往訊之!」子貢請行。

逆之壟端, 面之而嘆曰: 「先生曾不悔乎, 而行歌拾穗?」林類行不留。
歌不輟。

子貢叩之不已, 乃仰而應, 曰: 「吾何悔邪?」子貢曰: 「先生少不勤行, 長不競時, 老無妻子, 死期將至, 亦有何樂而拾穗行歌乎?」

林類笑曰: 「吾之所以為樂, 人皆有之, 而反以為憂。 少不勤行, 長不競時, 故能壽若此。 老無妻子, 死期將至, 故能樂若此。」
子貢曰: 「壽者人之情, 死者人之惡。 子以死為樂, 何也?」

林類曰: 「死之與生, 一往一反。 故死於是者, 安知不生於彼? 故吾知其不相若矣。 吾又安知營營而求生非惑乎? 亦又安知吾今之死不癒昔之生乎?」

子貢聞之, 不喻其意, 還以告夫子。

夫子曰: 「吾知其可與言, 果然; 然彼得之而不盡者也。」

Lâm Loại đã trăm tuổi. Đương mùa xuân, bận áo lông, đi mót lúa ở những ruộng đã gặt rồi, vừa đi vừa hát.

Khổng Tử trên đường qua nước Vệ, thấy Lâm Loại ở trên một cánh đồng, quay lại bảo đệ tử :

– Nên hỏi chuyện ông lão đó. Ai muốn đi nào?

Tử Cống xin đi, bắt kịp ông lão ở trên cái đồi, đối diện ông lão, thở dài, hỏi:

– Cụ không có điều gì ân hận sao mà vừa mót lúa vừa ca hát?

Lâm Loại vẫn vừa đi vừa hát. Tử Cống lại hỏi nữa. Sau cùng Lâm Loại ngừng lại đáp:

– Ta có gì phải ân hận?

Tử Cống bảo:

– Hồi trẻ cụ có siêng năng không? Lớn lên cụ có sống không kịp thời không? Già mà không có vợ con, và bây giờ cái chết sắp tới, có gì đâu mà vui, mà vừa mót lúa vừa ca hát?

Lâm Loại cười đáp:

– Cái ta cho là vui thì mọi người cho là buồn. Hồi trẻ ta không siêng, lớn lên ta sống không kịp thời, cho nên ta mới thọ được như vầy; già ta không có vợ con, cái chết nó sắp tới, cho nên ta mới vui như vầy.

Tử Cống bảo:

– Ai cũng muốn sống lâu, ai cũng ghét chết, sao cụ lại cho chết là vui?

Lâm Loại đáp:

– Sống với chết như qua với lại. Chết ở đây biết đâu chẳng phải tái sinh ở nơi khác? Làm sao ta biết được rằng hai cái đó không như nhau? Ta lại làm sao biết được đau đáu khó nhọc cầu sống chẳng phải là mê muội? Lại làm sao biết được bây giờ chết đi chẳng hơn là hồi trước được sống?

Tử Cống nghe xong không hiểu, về thưa với Khổng Tử.

Khổng Tử bảo: “Ta biết trước rằng nên hỏi chuyện ông lão đó, quả nhiên như vậy. Nhưng ông ấy mới hiểu một phần thôi, chưa hiểu hết lẽ”.

子貢倦於學, 告仲尼曰: 「願有所息,」

仲尼曰: 「生無所息。」

子貢曰: 「然則賜息於所乎?」

仲尼曰: 「有焉耳, 望其壙, 睪如也, 宰如也, 墳如也, 鬲如也, 則知所息矣。」

子貢曰: 「大哉死乎! 君子息焉, 小人伏焉。」

仲尼曰: 「賜! 汝知之矣。 人胥知生之樂, 未知生之苦; 知老之憊, 未知老之佚; 知死之惡, 未知死之息也。

Tử Cống học mệt rồi, thưa với Trọng Ni (Khổng Tử) :

– Con muốn được nghỉ.

Trọng Ni bảo:

– Sống thì đâu có được nghỉ.

Tử Cống hỏi:

– Vậy thì con không có lúc nào được nghỉ sao?

– Có chứ. Nhìn những nắm mồ ngổn ngang cái thấp cái cao kia, chỗ nghỉ ngơi đó.

Tử Cống bảo:

– Sự chết lớn thay, người quân tử chết là được nghỉ, kẻ tiểu nhân chết là hết, không làm bậy được nữa.

Trọng Ni nói thêm:

– Tứ, anh hiểu rồi đấy. Người ta đều biết sống là vui mà không biết sống là khổ; biết già thì mỏi mệt mà không biết già là an nhàn; biết chết là buồn mà không biết chết là nghỉ.

晏子曰:
『善哉, 古之有死也! 仁者息焉, 不仁者伏焉。 』死也者, 德之徼也。

古者謂死人為歸人。

夫言死人為歸人, 則生人為行人矣。

行而不知歸, 失家者也。

一人失家, 一世非之; 天下失家, 莫知非焉。
有人去鄉土, 離六親, 廢家業, 游於四方而不歸者, 何人哉? 世必謂之為狂蕩之人矣。

又有人鐘賢世, 矜巧能, 修名譽, 誇張於世, 而不知已者, 亦何人哉? 世必以為智謀之士。

此二者, 胥失者也。

而世與一不與一, 唯聖人知所與, 知所去。」

Án Tử nói: “Sáng suốt thay quan niệm của cổ nhân về cái chết: người nhân (hiền) chết là được nghỉ, kẻ bất nhân chết là hết làm bậy”.

Chết là được về. Cổ nhân bảo những người chết là “những người trở về”. Bảo như vậy tức là bảo rằng người đương sống là “người đi đường”.

Đi đường mà không biết lối thì sẽ lạc xa nhà, không có nhà. Một kẻ không có nhà thì mọi người chê; vậy mà khắp thiên hạ, không có ai có nhà cả thì không ai chê! Có người bỏ quê hương, rời cha mẹ, anh em, vợ con, phá tán tài sản, đi lang thang bốn phương trời mà không về, thì người đó ra sao? Người đời chắc cho hắn là cuồng đãng.

Lại có kẻ quá trọng hình hài và đời sống, muốn được tài giỏi, tiếng tăm, khoa trương với đời mà không biết ngừng, hạng đó nữa ra sao? Người đời chắc khen là kẻ sĩ đa trí, đa mưu.

Hai hạng trên đều lầm lẫn cả, mà hạng trên bị chê, hạng dưới được khen. Chỉ bậc thánh nhân mới biết khen chê cho đúng thôi.

粥熊曰:

「運轉亡已, 天地密移, 疇覺之哉? 故物損於彼者盈於此, 成於此者虧於彼。

損盈成虧, 隨世隨死。

往來相接, 間不可省, 疇覺之哉? 凡一氣不頓進, 一形不頓虧; 亦不覺其在, 亦不覺其虧。 亦如人自世至老, 貌色智態, 亡日不異; 皮膚爪發, 隨世隨落, 非嬰孩時有停而不易也。

間不可覺, 俟至後知。」

Dục Hùng nói:

“Sự vận chuyển không bao giờ ngừng. Trời đất biến chuyển bí mật, ai mà biết được? Cho nên vật giảm ở phía này thì tăng ở phía khác, đầy ở kia thì vơi ở đây. Tăng, giảm, vơi, đầy, sinh ra lẫn nhau rồi chết; qua lại nối tiếp nhau mật thiết, ai mà thấy được sự biến chuyển”.

Một “cái khí” không đột nhiên tăng lên, một “cái hình” không đột nhiên giảm đi; (cứ biến chuyển từ từ) cho nên ta không thấy lúc nó đầy, không thấy lúc nó vơi.

Cũng như người ta lúc sinh ra tới lúc già, dong mạo, hình thái, trí tuệ, không ngày nào không thay đổi; da, móng tay, móng chân, tóc mọc ra rồi rụng liền liền, nhưng sự biến chuyển (từng ngày nhỏ quá) không thể thấy ngay được, mãi tới sau mới thấy được.

杞國有人, 憂天地崩墜, 身亡所寄, 廢寢食者。

又有憂彼之所憂者, 因往曉之, 曰: 「天, 積氣耳, 亡處亡氣。

若屈伸呼吸, 終日在天中行止, 奈何憂崩墜乎?」其人曰: 「天果積氣, 日月星宿不當墜邪?」曉之者曰: 「日月星宿, 亦積氣中之有光耀者, 只使墜, 亦不能有所中傷。」其人曰: 「奈地壞何?」曉者曰: 「地積塊耳, 充塞四虛, 亡處亡塊。 若躇步跐蹈, 終日在地上行止, 奈何憂其壞?」其人舍然大喜, 曉之者亦舍然大喜。

長廬子聞而笑曰: 「虹蜺也, 雲霧也, 風雨也, 四時也, 此積氣之成乎天者也。 山嶽也, 河海也; 金石也, 火木也, 此積形之成乎地者也。 知積氣也, 知積塊也, 奚謂不壞? 夫天地, 空中之一細物, 有中之最巨者。 難終難窮, 此固然矣; 難測難識, 此固然矣。 憂其壞者, 誠為大遠; 言其不壞者, 亦為未是。

天地不得不壞, 則會歸於壞。 遇其壞時, 奚為不憂哉?」子列子聞而笑曰: 「言天地壞者亦謬, 言天地不壞者亦謬。 壞與不壞, 吾所不能知也。 雖然, 彼一也, 此一也。

故生不知死, 死不知生; 來不知去, 去不知來。 壞與不壞, 吾何容心哉?」

Nước Kỉ có một người lo trời đất sập, không biết ở đâu cho yên, sinh ra mất ăn mất ngủ.

Một người khác lo ngại cho anh ta, lại giảng giải:

– Trời chỉ chứa cái khí, không chỗ nào không có khí; anh co duỗi hô hấp, suốt đời vận động trong (cái khí của) trời đó, vậy thì tại sao lo nó sập?

Anh ta lại hỏi:

– Nếu quả trời chỉ chứa cái khí thì sao mặt trời, mặt trăng, các vì sao lại không rớt?

Người kia đáp:

– Mặt trời, mặt trăng, các vì sao cũng chỉ là những ánh sáng trong cái khí tích tụ lại đó, dù chúng có rớt xuống cũng không làm ai bị thương được.

– Nhưng, còn đất sập thì sao?

Người kia đáp:

– Đất chỉ chứa những khối (đặc) để lấp những chỗ trống ở bốn phương, không đâu không có khối. Dù đi, dẫm suốt đời thì cũng là di chuyển trên mặt đất, sao lại sợ đất sập?

Anh ta giải được nỗi lo, mừng quá; mà người kia khỏi lo cho bạn nữa, cũng mừng quá.

Trường Lư Tử, nghe kể chuyện đó, cười, bảo:

– Cầu vòng, mây và sương mù, mưa gió, bốn mùa, tất cả những cái đó đều là khí tích tụ trên trời mà thành. Núi đồi, sông biển, kim thuộc và đá, lửa và cây, tất cả những cái đó đều là những khối tích tụ trên đất mà thành. Đã biết là cái khí, cái khối tích tụ lại thì sao còn bảo rằng không thể sụp đổ? Trời đất là những vật nhỏ trong quảng không trung, (nhưng) rất quan trọng trong vũ trụ chúng ta, khó mà tận cùng, huỷ diệt được, lẽ đó cố nhiên.

Lo trời đất huỷ hoại thì thực quá lo xa; nhưng bảo rằng chúng không bao giờ huỷ hoại thì cũng không đúng. Trời đất không thể không huỷ hoại được; tới cái thời trời đất huỷ hoại, mà ta lại sống nhằm thời đó thì làm sao mà không lo?

Thầy Liệt Tử nghe vậy, cười và bảo:

– Kẻ nói trời đất sẽ huỷ hoại, là nói bậy; mà kẻ nói trời đất không bao giờ huỷ hoại cũng nói bậy nữa, trời đất huỷ hoại hay không, điều đó ta không thể biết được. Trời đất huỷ hoại thì mọi người cùng chết; trời đất mà không huỷ hoại thì mọi người cùng sống như nhau hết.

 Sống thì không hiểu được sự chết, chết rồi thì không hiểu được sự sống; thời vị lai không biết được thời dĩ vãng, thời dĩ vãng không biết được thời vị lai; trời đất huỷ hoại hay không thì quan tâm tới cái đó làm gì?

子列子適衛, 食於道, 從者見百歲髑髏, 攓蓬而指, 顧謂弟子百豐曰: 「唯予與彼知而未嘗生未嘗死也。 此過養乎? 此過歡乎? 種有幾: 若蛙為鶉, 得水為藚, 得水土之際, 則為蛙蠙之衣。 生列陵屯, 則為陵舄。 陵舄得郁棲, 則為烏足。 烏足之根為蠐螬, 其葉為蝴蝶。 蝴蝶胥也, 化而為蟲, 生灶下, 其狀若脫, 其名曰鴝掇。 鴝掇千日, 化而為鳥, 其名曰乾餘骨。 乾餘骨之沫為斯彌。 斯彌為食醯頤輅。 食醯頤輅生乎食醯黃軦, 食醯黃軦生乎九猷。 九猷生乎瞀芮, 瞀芮生乎腐蠸。 羊肝化為地皋, 馬血之為轉鄰也, 人血之為野火也。 鷂之為鸇, 鸇之為布穀, 布穀久復為鷂也。 燕之為蛤也, 田鼠之為鶉也, 朽瓜之為魚也, 老韭之為莧也。 老羭之為猨也, 魚卵之為蟲。 亶爰之獸, 自孕而生, 曰類。 河澤之鳥, 視而生, 曰鶂。 純雌其名大xxxx, 純雄其名稚蜂。 思士不妻而感, 思女不夫而孕。 后稷生乎巨跡, 伊尹生乎空桑。 厥昭生乎濕, 醯雞生乎酒。 羊奚比乎不荀, 久竹生青寧, 青寧生程, 程生馬, 馬生人。 人久入於機。 萬物皆出於機, 皆入於機。」

《黃帝書》曰: 「形動不生形而生影, 聲動不生聲而生響, 無動不生無而生有。」形, 必終者也; 天地終乎? 與我偕終。 終進乎? 不知也。 道終乎本無始, 進乎本不久。 有生則復於不生, 有形則復於無形。 不生者, 非本不生者; 無形者, 非本無形者也。 生者, 理之必終者也。 終者不得不終, 亦如生者之不得不生。 而欲恆其生, 畫其終, 惑於數也。 精神者, 天之分; 骨骸者, 地之分。 屬天清而散, 屬地濁而聚。 精神離形, 各歸其真, 故謂之鬼。 鬼, 歸也, 歸其真宅。 黃帝曰: 「精神入其門, 骨骸反其根, 我尚我存?」

人自生至終, 大化有四: 嬰孩也, 少壯也, 老耄也, 死亡也。 其在嬰孩, 氣專志一, 和之至也; 物不傷焉, 德莫加焉。 其在少壯, 則血氣飄溢, 欲慮充起; 物所攻焉, 德故衰焉。 其在老耄, 則欲慮柔焉; 體將休焉, 物莫先焉; 雖未及嬰孩之全, 方於少壯, 間矣。 其在死亡也, 則之於息焉, 反其極矣。

Thầy Liệt Tử đi qua nước Vệ, vừa đi vừa ăn.

Môn đệ đi theo thấy một sọ người đã trăm năm, bèn vạch cỏ, chỉ cho Liệt Tử thấy.

Liệt Tử quay lại nói với (môn đệ là) Bách Phong: “Ta với cái sọ này, biết rằng không có gì thực là sinh, thực là tử.  Cái sọ đó có thực cho chết là buồn không? Ta có thực cho sống là vui không?” (lược bớt)

…Sách Hoàng Đế có câu: Hình mà động thì không sinh ra một hình khác mà sinh ra cái bóng; thanh âm mà phát ra thì không sinh ra một thanh âm khác mà sinh ra tiếng vang; cái “vô” mà động thì không sinh ra cái “vô” mà sinh ra cái “hữu”.

Đã là hình thì phải có chỗ tận cùng, mà trời đất có tận cùng không? (Có vẻ như trời đất cùng tận cùng với ta. Nhưng như vậy có thật là tận cùng không thì ta không biết được. Đạo có tận cùng không? Nó vốn không có khởi thuỷ, làm sao có tận cùng được? Nó có hết không? Nó vốn không có (vô) thì làm sao mà hết được?

Cái gì có sinh thì lại trở về cái bất sinh (tức cái chết); cái gì có hình thì trở về cái vô hình. Nhưng cái bất sinh vốn không phải là bất sinh; cái vô hình vốn không phải là cái vô hình.

Theo lí, cái gì sống thì phải hết (chết); cái gì phải hết thì không thể không hết được, cũng như cái gì sống thì không thể không sống được; vậy kẻ nào muốn sống hoài không chết là kẻ mê muội, không hiểu lẽ trời.

Tinh thần thuộc về trời, hài cốt thuộc về đất; thuộc về trời thì trong mà tán, thuộc về đất thì đục mà tụ. Khi tinh thần lìa thể xác rồi thì mỗi cái đều trở về nguồn gốc riêng của mình, cho nên gọi là “quỉ”. “Quỉ (ma quỉ) tức là “qui”, là về, về cái gốc của nó.

Hoàng Đế bảo: “Tinh thần về nhà cửa của nó rồi, hài cốt về cội nguồn của nó rồi, thì làm sao ta còn tồn tại được nữa? “.

Con người từ lúc sanh tới lúc chết, trải qua bốn sự biến hoá lớn: tuổi thơ, tráng niên, già rồi chết. Trong tuổi thơ, khí và chí chuyên nhất, thực là hoà hợp, cho nên ngoại vật không làm thương tổn được, mà các đức thật đầy đủ; tới tráng niên, khí huyết tràn trề, dục vọng và tư lự phát lên mạnh, bị ngoại vật tấn công, cho nên đức suy; tới tuổi già, dục vọng và tư lự giảm đi, muốn nghỉ ngơi, không cạnh tranh nữa nên ngoại vật không tranh thắng với mình; tuy không được như tuổi thơ, nhưng cũng khác tráng niên rồi.

Tới lúc chết thì là nghỉ ngơi, trở về lúc đầu.

孔子游於太山, 見榮啟期行乎郕之野, 鹿裘帶索, 鼓琴而歌。

孔子問曰: 「先生所以樂, 何也?」

對曰: 「吾樂甚多。 天生萬物, 唯人為貴。 而吾得為人, 是一樂也。 男女之別, 男尊女卑, 故以男為貴; 吾既得為男矣, 是二樂也。 人生有不見日月、不免襁褓者, 吾既已行年九十矣, 是三樂也。 貧者士之常也, 死者人之終也, 處常得終, 當何憂哉?」

孔子曰: 「善乎! 能自寬者也。」

Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp Vinh Khải Kì bận cái áo lông bằng da hươu, quấn dây lưng bằng thừng, vừa gảy đàn cầm vừa hát, lang thang trên cánh đồng.

Khổng Tử hỏi: Cụ có cái gì mà vui vậy?

Đáp: Ta có nhiều cái vui lắm. Trời sinh ra muôn loài, chỉ có người là quí, mà ta được làm người, đó là một cái vui. Đàn ông so với đàn bà, đàn ông được trọng, đàn bà bị khinh, vậy đàn ông là quí, mà ta lại là đàn ông, đó là hai cái vui. Có những kẻ sinh ra không thấy mặt trời, mặt trăng, còn bọc trong tả đã chết rồi, ta nay đã được chín chục tuổi, đó là ba cái vui. Nghèo là cảnh thường của kẻ sĩ, và chết là là số phận của mọi người. Ở vào cảnh thường mà được số phận chung của mọi người, có gì mà buồn?

Khổng Tử bảo: Đạt quan niệm rộng thoáng như vậy, sáng suốt thay!

舜問乎烝曰: 「道可得而有乎?」

曰: 「汝身非汝有也, 汝何得有夫道?」

舜曰: 「吾身非吾有, 孰有之哉?」

曰: 「是天地之委形也。

生非汝有, 是天地之委和也。

性命非汝有, 是天地之委順也。

孫子非汝有, 是天地之委蛻也。

故行不知所往, 處不知所持, 食不知所以。

天地, 強陽氣也, 又胡可得而有邪?」

Thuấn hỏi ông Chưng:

– Có thể đạt được, nắm được đạo không?

Đáp:

– Ngay cái thân anh cũng không phải của anh, thì anh làm sao nắm được đạo?

Lại hỏi:

– Thân của tôi không phải là của tôi thì là của ai?

Đáp:

—-Đó là cái hình hài trời đất giao cho anh đấy.
Đời sống không phải là của anh, nó là sự điều hoà của trời đất giao cho anh đấy.
Tính mệnh không phải là của anh, nó là sự kết hợp của trời đất giao cho anh đấy.
Con cháu không phải là của anh, chúng là sự lột xác của trời đất giao cho anh đấy.

Cho nên khi đi, chúng ta không biết đi đâu, khi ở, không biết ở đâu, khi ăn, không biết ăn gì.

Trời đất là cái khí nó vận động. Làm sao nắm được làm của mình?

齊之國樂大富, 宋之向氏大貧; 自宋之齊, 請其術。

國氏告之曰: 「吾善為盜。 始吾為盜也, 一年而給, 二年而足, 三年大壤。 自此以往, 施及州閭。」

向氏大喜, 喻其為盜之言, 而不喻其為盜之道, 遂踰垣鑿室, 手目所及, 亡不探也。 未及時, 以贓獲罪, 沒其先居之財。

向氏以國氏之謬己也, 往而怨之。 國氏曰: 「若為盜若何?」
向氏言其狀。
國氏曰: 「嘻! 若失為盜之道至此乎? 今將告若矣。 吾聞天有時, 地有利。
吾盜天地之時利, 雲雨之滂潤, 山澤之產育, 以生吾禾, 殖吾稼, 築吾垣, 建吾舍。
陸盜禽獸, 水盜魚鱉, 亡非盜也。 夫禾稼、土木、禽獸、魚鱉, 皆天之所生, 豈吾之所有? 然吾盜天而亡殃。
夫金玉珍寶穀帛財貨, 人之所聚, 豈天之所與? 若盜之而獲罪, 孰怨哉?」向氏大惑, 以為國氏之重罔己也, 過東郭先生問焉。

東郭先生曰:

「若一身庸非盜乎? 盜陰陽之和以成若生, 載若形; 況外物而非盜哉? 誠然, 天地萬物不相離也; 認而有之, 皆惑也。
國氏之盜, 公道也, 故亡殃; 若之盜, 私心也, 故得罪。 有公私者, 亦盜也; 亡公私進, 亦盜也。 公公私私, 天地之德。 知天地之德者, 孰為盜邪? 孰為不盜邪?」

Một người họ Quốc ở nước Tề rất giàu; một người họ Hướng ở nước Tống rất nghèo, từ Tống qua Tề hỏi người kia về thuật làm giàu. Người họ Quốc bảo:

– Tôi giàu vì khéo ăn trộm. Làm nghề ăn trộm, năm đầu tôi đủ ăn, năm thứ nhì tôi phong lưu, năm thứ ba tôi giàu lớn, và từ đó tôi lần lần mua được hết vườn ruộng trong miền.

Người họ Hướng rất mừng. Anh ta biết rằng phải ăn trộm, nhưng không hiểu cách ăn trộm ra sao. Thế rồi anh ta leo tường vào lén nhà người ta, thấy cái gì, đụng cái gì vơ vét hết cái đó, không bao lâu bị bắt, xử tội, tịch thu luôn cả những của cải tích luỹ từ trước.

Họ Hướng cho rằng họ Quốc gạt mình, lại ngỏ lời trách oán. Người họ Quốc hỏi:

– Anh ăn trộm cách nào?

Họ Hướng kể lại cách ăn trộm của mình. Người họ Quốc bảo:

– Ôi! Sao mà anh lầm về cách ăn trộm tới mức đó. Này, để tôi giảng cho anh nghe.

Ta nghe nói trời có bốn mùa, đất có huê lợi, ăn trộm thời tiết của trời, huê lợi của đất, sự ẩm ướt thấm nhuần của mây mưa, sản phẩm của núi chằm, để cho lúa của ta mọc, rồi chín mà gặt, để xây tường, dựng nhà mà ở.
Ở trên đất, ta ăn trộm các loài cầm thú, ở dưới nước ta ăn trộm các loài cá, rùa, không thứ gì ta không ăn trộm.
Lúa má, đất gỗ, cầm thú, cá rùa, đều do trời sinh ra cả, đâu phải của ta, nhưng ta ăn trộm của trời thì không bị tai hoạ.
Còn như vàng ngọc, châu báu, thức ăn, vải lụa, hoá phẩm, là của người ta làm ra, chứa lại, đâu phải của trời cho; ăn trộm của người ta thì bị tội, còn oán ai nữa?

Họ Hướng rất hoang mang, cho rằng họ Quốc gạt mình lần nữa, gặp ông Đông Quách, đem hỏi lại. Ông Đông Quách bảo:

– Anh dùng cái thân thể của anh, chẳng phải là ăn trộm ư?

Anh ăn trộm sự điều hoà của âm dương để thành sinh lực của anh; thân anh cũng vậy, huống hồ là ngoại vật, có vật nào là anh không ăn trộm?

Thực ra trời đất, vạn vật không rời nhau ra, phân biệt ra để chiếm hữu các vật đó, đều là lầm lẫn. Cách ăn trộm của họ Quốc, là cách “chung”, cho nên không bị tai hoạ; còn cách ăn trộm của anh là “riêng”, cho nên bị tội. Tuy phân biệt chung và riêng đó thì cũng vẫn là ăn trộm.

Cái đức (đạo, luật) của trời đất là cái gì cũng có thể là chung được, cái gì cũng có thể là riêng được; biết được cái đức của trời đất thì thế nào là ăn trộm, thế nào không phải ăn trộm?

HẾT CHƯƠNG I

———-

CHƯƠNG II

HOÀNG ĐẾ

《沖虛真經》

黃帝 第二

黃帝即位十有五年, 喜天五戴己, 養正命, 娛耳目, 供鼻口, 焦然肌色皯XXXX, 昏然五情爽惑。
又十有五年, 憂天下之不治, 竭聰明, 進智力, 營百姓, 焦然肌色皯XXXX, 昏然五情爽惑。
黃帝乃喟然贊曰: 「朕之過淫矣。 養一己其患如此, 治萬物其患如此。」於是放萬機, 舍宮寢, 去直待, 徹鐘縣。 減廚膳, 退而間居大庭之館, 齋心服形, 三月不親政事。 晝寢而夢, 游於華胥氏之國。 華胥氏之國在弇州之西, 臺州之北, 不知斯齊國幾千萬里; 蓋非舟四足力之所及, 神遊而已。
其國無帥長, 自然而已。 其民無嗜欲, 自然而已。 不知樂生, 不知惡死, 故無夭殤; 不知親己, 不知疏物, 故無愛憎; 不知背逆, 不知向順, 故無利害; 都無所愛惜, 都無所畏忌。
入水不溺, 入火不熱。 斫撻無傷痛, 指擿無痟癢。 乘空如履實, 寢虛若處床。 雲霧不硋其視, 雷霆不亂其聽, 美惡不滑其心, 山谷不躓其步, 神行而已。

黃帝既悟, 怡然自得, 召天老、力牧、太山稽, 告之曰: 「朕閒居三月, 齋心服形, 思有以養身治物之道, 弗獲其術。 疲而睡, 所夢若此。 今知至道不可以情求矣。 朕知之矣! 朕得之矣! 而不能以告若矣。」

又二十有八年, 天下大治, 幾若華胥氏之國, 而帝登假, 百姓號之, 二百餘年不輟。

Hoàng Đế lên ngôi được mười lăm năm, mừng rằng thiên hạ tôn thờ mình. Ông giữ gìn tính mệnh (sinh lực), hưởng cái vui thanh sắc, hương vị, vậy mà nước da ông khô và đen sạm, tâm hồn ông mờ ám mê loạn.

Thêm mười lăm năm nữa, ông lo lắng nhận thấy rằng nước muốn loạn; ông gắng sức, dùng hết trí lực sáng suốt để trị dân, nước da ông vẫn khô và đen sạm, tâm hồn vẫn mờ ám mê loạn. Ông thở dài than rằng:

– Ta lỗi lầm quá lắm! Nuôi riêng cái thân ta thì tai hại như vậy, mà muốn trị dân thì cũng tai hại như vậy.

Thế rồi ông bỏ hết cơ mưu, rời cung điện, đuổi kẻ hầu đi, hạ các chuông xuống, giảm các thức ăn, lui ra ở yên tĩnh trong một ngôi nhà tại giữa sân lớn của ông, trai tâm để làm chủ được hình hài, như vậy ba tháng không trông nom việc nước nữa.

Một hôm ông nghĩ trưa, nằm mộng thấy lại chơi nước Hoa Tư Thị.

Nước này ở phía Tây Yểm Châu, phía bắc Thai Châu, không biết cách nước Tề bao nhiêu vạn dặm.
Không thể đi xe, đi thuyền hay đi chân mà tới nước đó được, chỉ có thể tới bằng tinh thần (thần du) mà thôi.
Nước đó không có vua, tự nhiên mà trị, dân không thị dục, tự nhiên mà sống.
Họ không ham sống, không ghét chết, cho nên không có ai chết yểu.
Họ không yêu mình mà lãnh đạm với người, cho nên không yêu không ghét.
Không ác cảm với người trái với mình, không thiện cảm với người thuận ý mình, cho nên không có lợi, không có hại, không thích, không tiếc.
Họ không uý kỵ cái gì cả, xuống nước mà không chìm, vô lửa mà không cháy, bị đánh không thấy đau; gãi mà không nhức, ngứa; bay lên không như đi dưới đất, nằm trên không như nằm trên giường; mây và sương mù không che được mắt, tiếng sấm sét không làm điếc được tai, cái đẹp cái xấu không làm động lòng, núi hang không ngăn được bước chân, họ đi đi lại lại như thần linh vậy.

Hoàng Đế tỉnh dậy, vui vẻ, giác ngộ, cho vời Thiên Lão, Lực Mục, Thái Sơn Kê lại, bảo:

Ta nhàn cư ba tháng, trai tâm mà làm chủ được hình hài, suy nghĩ về cách dưỡng thân và trị nước mà không tìm ra được thuật nào cả. Mệt mỏi, ta ngủ thiếp đi, nằm mộng thấy vậy. Bây giờ biết rằng không thể nhiệt tình cầu đạo mà được đạo. Ta hiểu được rồi, đạt được rồi, nhưng không thể giảng cho các khanh được.

Hoàng Đế giữ ngôi hai mươi tám năm nữa, thiên hạ thật bình trị, gần như nước Hoa Tư Thị vậy. Rồi Hoàng Đế qui tiên. Trăm họ đều khóc, trên hai trăm năm không dứt.

列姑射山在海河洲中, 山上有神人焉, 吸風飲露, 不食五穀;

心如淵泉, 形如處女, 不偎不愛,

仙聖為之臣; 不畏不怒, 願愨為之使;

不施不惠, 而物自足; 不聚不斂, 而已無愆。

陰陽常調, 日月常明, 四時常若, 風雨常均, 字育常時, 年穀常豐;

而土無札傷, 人無夭惡, 物無疵癘, 鬼無靈響焉。

Dãy núi Cô Xạ ở Hải Hà Châu.

Trên núi có thần nhân hít gió uống sương (mà sống) chứ không ăn ngũ cốc.
Lòng họ như dòng suối sâu, thân thể họ như gái tân.

Họ không thiên vị, không yêu riêng ai. Tiên thánh là bề tôi của họ. Họ không sợ, không giận. Sứ giả của họ là những người trung hậu, thuần phác. Họ không ban ân huệ, mà mọi vật đều tự túc; không thu nhặt gom góp mà không thiếu thứ gì.

Âm dương luôn luôn điều hoà, mặt trăng mặt trời luôn luôn sáng tỏ, bốn mùa bao giờ cũng thuận, gió mưa bao giờ cũng hoà; thực vật cứ đúng thời mà có, mùa màng năm nào cũng trúng, đất cát không bị thương tổn, người không chết yểu, vạn vật không bị bệnh tật, quỉ không xuất hiện, hết linh.

列子師老商氏, 友伯高子; 進二子之道, 乘風而歸。
尹生聞之, 從列子居, 數月不省舍。

因間請蘄其術者, 十反而十不告。
尹生懟而請辭, 列子又不命。 尹生退。
數月, 意不已, 又往從之。 列子曰: 「汝何去來之頻?」

尹生曰: 「曩章戴有請於子, 子不我告, 固有憾於子。 今復脫然, 是以又來。」
列子曰: 「曩吾以汝為達, 今汝之鄙至此乎。 姬! 將告汝所學於夫子者矣。
自吾之事夫子友若人也, 三年之後, 心不敢唸是非, 口不敢言利害, 始得夫子一眄而已。
五年之後, 心庚念是非, 口庚言利害, 夫子始一解顏而笑。
七年之後, 從心之所念, 庚無是非; 從口之所言, 庚無利害, 夫子始一引吾並席而坐。

九年之後, 橫心之所念, 橫口之所言, 亦不知我之是非利害歟, 亦不知彼之是非利害歟; 亦不知夫子之為我師, 若人之為我友: 內外進矣。 而後眼如耳, 耳如鼻, 鼻如口, 無不同也。

心凝形釋, 骨肉都融; 不覺形之所倚, 足之所履, 隨風東西, 猶木葉干殼。 竟不知風乘我邪? 我乘風乎? 今女居先生之門, 曾未浹時, 而懟憾者再三。
女之片體將氣所不受, 汝之一節將地所不載。 履虛乘風, 其可幾乎?」尹生甚怍, 屏息良久, 不敢復言。

Liệt Tử học ông Lão Thương, làm bạn với ông Bá Cao Tử, khi đã biết được nhiều về đạo của hai ông đó rồi thì cưỡi gió mà về. Doãn Sinh hay tin lại ở gần nhà Liệt Tử, mấy tháng không được dạy bảo điều gì cả, một hôm nhân lúc Liệt Tử nhàn rỗi, xin Liệt Tử truyền đạo cho. Mười lần qua hỏi, mười lần không được Liệt Tử chỉ bảo. Doãn Sinh giận, qua từ biệt Liệt Tử, Liệt Tử làm thinh.

Doãn Sinh mấy tháng không qua nữa, nhưng lòng vẫn thắc mắc muốn biết đạo, sau lại trở qua. Liệt Tử hỏi:

– Bỏ đi rồi lại trở lại mấy lần là nghĩa gì vậy?

Doãn Sinh đáp:

– Trước kia Chương Đái xin thầy dạy bảo, thầy chẳng buồn dạy, nên con bất bình với thầy. Bây giờ hết rồi nên con trở lại.

Liệt Tử bảo:

– Trước kia ta tưởng anh thông minh, không ngờ tầm thường như vậy. Ngồi đó, ta sẽ chỉ cho ta đã học được gì ở thầy ta. Từ khi ta là môn đệ của thầy ta, là bạn của Bá Cao, sau ba năm, lòng không dám cân nhắc đến phải trái, miệng không dám nói đến lợi hại, lúc đó mới chỉ được thầy ta liếc mắt nhìn thôi. Sau năm năm, lòng ta mới lại cân nhắc phải trái, miệng ta lại nói đến lợi hại, lúc đó thầy ta mới tươi tỉnh cười với ta. Sau bảy năm, lòng ta tự nhiên suy tư, không thấy gì là phải trái nữa; miệng ta tự nhiên nói ra, không biết gì là lợi hại nữa, lúc đó thầy ta mới cho ta ngồi cùng chiếu. Chín năm sau, giải thoát được ý nghĩ trong lòng và lời nói ngoài miệng, đã không phân biệt cái phải trái lợi hại của ta ở đâu mà cũng không phân biệt cái phải trái của người ở đâu, cũng không phân biệt thầy ta là thầy, bạn ta là bạn nữa.

Hết phân biệt nội và ngoại (mình và vạn vật) rồi, thì cảm giác của mắt cũng như cảm giác của tai, của tai cũng như của mũi, của mũi cũng như của miệng, hết thảy đều hoà đồng với nhau. Lòng ta ngưng lại, hình hài ta được giải thoát, xương thịt như tan rã, ta không cảm thấy thân thể ta dựa vào cái gì cả, không cảm thấy chân ta đạp đất nữa. Ta theo gió mà qua đông qua tây, như lá lìa cành, như hạt lìa cây; không biết ta chở gió hay gió chở ta nữa.

Còn anh, anh ở nhà thầy chưa được bao lâu mà đã hai ba lần tỏ ra bất mãn. Cái mảnh thân thể của anh, không khí không chịu nhận, một khúc xương cốt của anh, đất không chịu chở, như vậy làm sao anh cưỡi gió bay trong không khí được?

Doãn Sinh rất xấu hổ, nín thở hồi lâu, không dám thốt một lời.

列子問關尹曰: 「至人潛行不空, 蹈火不熱, 行乎萬物之上而不慄。 請問何以至於此?」

關尹曰: 「是純氣之守也, 非智巧果敢之列。 姬! 魚語女。

凡有貌像聲色者, 皆物也。 物與物何以相遠也? 夫奚足以至乎先? 是色而已。

則物之造乎不形, 而止乎無所化。 夫得是而窮之者, 焉得為正焉? 彼將處乎不深之度, 而藏乎無端之紀, 游乎萬物之所終始。

壹其性, 養其氣, 含其德, 以通乎物之所造。 夫若是者, 其天守全, 其神無郤, 物奚自入焉? 夫醉者之墜於車也, 雖疾不死。

骨節與人同, 而犯害與人異, 其神全也。 乘亦弗知也, 墜亦弗知也。

死生驚懼, 不入乎其胸, 是故遌物而不慴。

彼得全於酒, 而猶若是, 而況得全於天乎? 聖人藏於天, 故物莫之能傷也。」

Liệt Tử hỏi Quan Doãn:

– Bậc chí đức lặn dưới nước mà không ngạt, đi trong lửa mà không bỏng, bay bổng lên trên vạn vật mà không run sợ. Xin ông giảng cho tôi làm sao mà lại được như vậy?

Quan Doãn đáp:

– Như vậy là nhờ giữ được cái khí thuần hoá, chứ không nhờ trí xảo hay quả cảm. Ông ngồi xuống, tôi giảng cho ông nghe.

Hễ có hình dáng, thanh âm, khí sắc thì đều là sinh vật cả. Sinh vật khác nhau ở đâu? Làm sao có vật này hơn vật khác được? Chỉ là nhờ không có hình sắc mà thôi. Nhưng vật nào không có hình sắc thì đạt được cảnh giới không biến hoá nữa. Đạt được cùng cực của cảnh giới ấy thì không bị các vật khác khống chế nữa.

Như vậy là đạt được cái trung độ, cái cương kỉ vô thuỷ vô chung, mà tiêu dao cảnh giới sơ thuỷ của vạn vật, hợp nhất bản tính, hàm dưỡng nguyên khí, trở về với cái Đức nguyên thuỷ mà cảm thông với tự nhiên.

Một người như vậy bảo toàn được thiên tính, tinh thần không suy tổn, ngoại vật làm sao xâm nhập mà làm hại người đó được?

Như trường hợp người say rượu mà té xe, tuy bị thương mà không chết. Xương và khớp xương cũng như mọi người mà không bị hại như mọi người, là nhờ [say rượu] mà giữ được cái thần, lên xe đã không biết, té xe cũng không hay. Tử sinh, kinh cụ không xâm nhập lòng người đó, cho nên tiếp xúc với ngoại vật mà không biết sợ.

 Kẻ nhờ rượu giữ toàn được cái thần mà còn như vậy, huống hồ là người tự nhiên vô tâm. Thánh nhân hoà hợp với tự nhiên, nên không vật gì làm hại nổi.

Kẻ muốn phục thù không lẽ lại bẻ cây gươm của kẻ thù [vì cây gươm vốn vô tâm]; mà dù có nóng tính, cũng không ai lại oán phiến ngói rơi nhằm đầu mình [vì phiến ngói vô tâm].

Theo được đạo [qui tắc] đó thì thiên hạ được quân bình, không có loạn chiến tranh, không có cái hoạ chém giết. Không nên dùng trí tuệ mà truy cầu tự nhiên, cứ thuận theo bản tính mà ứng hợp với tự nhiên.
Thuận theo bản tính thì cái Đức sẽ phát, dùng trí tuệ thì sự tàn hại sẽ sinh. Đừng ém cái tự nhiên, đừng diệt cái thiên tính ở người, như vậy thì may ra dân chúng trở về bản chân được.

列禦寇為伯昏瞀人射, 引之盈貫, 措杯水其肘上, 發之, 鏑矢復沓, 方矢復寓。
當是時也, 猶像人也。

伯昏瞀人曰: 「是射之射, 非不射之射也。

當與汝登高山, 履危石, 臨百仞之淵, 若能射乎?」

於是瞀人遂登高山, 履危石, 臨百仞之淵, 背逡巡, 足二分垂在外, 揖禦寇而進之。

禦寇伏地, 汗流至踵。

伯昏瞀人曰: 「夫至人者, 上窺青天, 下潛黃泉, 揮斥八極。 神氣不變。 今汝怵然有恂目之志, 爾於中也殆矣夫!」

Liệt Ngự Khấu (tức Liệt Tử)  bắn cung cho Bá Hôn Vô Nhân coi, giương hết sức cây cung, mà tay thật cứng, không nhúc nhích, giá có đặt một chén nước đầy lên khuỷ tay trái thì nước cũng không sóng sánh khi phát mũi tên; ông lại bắn mau tới nỗi mũi tên đầu vừa phát thì mũi tên thứ nhì đã đặt vào chỗ, rồi tới mũi tên thứ ba. Lúc đó, ông như pho tượng.

 Bá Hôn Vô Nhân bảo:

– Như vậy còn là hữu tâm mà bắn, chứ không phải là vô tâm mà bắn. Tôi muốn thử cùng với ông lên núi cao, tới một mỏm đá nguy hiểm ở bờ một vực thẳm một trăm nhẫn (mỗi nhẫn là tám thước), xem ở đó ông còn bắn được nữa không.

Thế rồi Vô Nhân lên núi cao, tới một mỏm đá nguy hiểm ở bờ một vực thẳm trăm nhẫn, quay lưng lại mà đi lùi, khi hai phần ba bàn chân ở ngoài bờ vực rồi, mới cúi xuống mời Liệt Ngự Khấu lại. Liệt Ngự Khấu sợ quá, nằm rạp xuống đất, mồ hôi chảy xuống tận gót chân.

Bá Hôn Vô Nhân bảo:

– Bậc chí nhân trên thì đo trời xanh, dưới thì đạt tới suối vàng, vùng vẫy ở chỗ bát cực (tám góc xa nhất của vũ trụ) mà thần khí bất biến. Mới có vậy mà ông đã run sợ, mờ mắt, không làm chủ cái tâm của ông được, nguy rồi, làm sao mà bắn được?

范氏有子曰子華, 善養私名, 舉國服之; 有寵於晉君, 不仕而居三卿之右。
目所偏視, 晉國爵之; 口所偏肥, 晉國黜之。 游其庭者侔於朝。
子華使其俠客, 以智鄙相攻, 彊弱相凌。 雖傷破於前, 不用介意。
終日夜以此為戲樂, 國殆成俗。 禾生、子伯、范氏之上客。
出行經坰外, 宿於田更商丘開之舍。 中夜, 禾生、子伯二人相與言子華之名勢, 能使存者亡, 亡者存; 富者貧, 貧者富。 商丘開先窘於饑寒, 潛於牖北聽之。
因假糧荷畚之子華之門。 子華之門徒皆世族也, 縞衣乘軒, 緩步闊視。 顧見商丘開年老力弱, 面目黎黑, 衣冠不檢, 莫不眲之。
既而狎侮欺詒, 攩XXXX挨抌, 亡所不為。 商丘開常無慍容, 而諸客之技單, 憊於戲笑。 遂與商丘開俱乘高臺, 於眾中漫言曰: 「有能自投下者賞百金。」
眾皆競應。 商丘開以為信然, 遂先投下, 形若飛鳥, 揚於地, 肌骨無毀。 范氏之黨以為偶然, 未詎怪也。 因復指河曲之淫隈曰: 「彼中有寶珠, 泳可得也。」商丘開復從而泳之, 既出, 果得珠焉。 眾昉同疑。 子華昉令豫肉食衣帛之次。 俄而范氏之藏大火。
子華曰: 「若能入火取綿者, 從所得多少賞若。」商丘開往, 無難色, 入火往還, 埃不漫, 身不焦。 范氏之黨以為有道, 乃共謝之曰: 「吾不知子之有道而誕子, 吾不知子之神人而辱子。
子其愚我也, 子其聾我也, 子其盲我也, 敢問其道。」商丘開曰: 『吾亡道。 雖吾之心, 亦不知所以。 雖然, 有一於此, 試與子言之。 曩子二客之宿吾舍也, 聞譽范氏之勢, 能使存者亡, 亡者存; 富者貧, 貧者富。 吾誠之無二心, 故不遠而來。 及來, 以子黨之言皆實也, 唯恐誠之之不至, 行之之不及, 不知形體之所措, 利害之所存也。 心一而已。 物亡迕者, 如斯而已。
今昉知子黨之誕我, 我內藏猜慮, 外矜觀聽, 追幸昔日之不焦溺也, 怛然內熱, 惕然震悸矣。 水火豈復可近哉?」自此之後, 范氏門徒路遇乞兒馬醫, 弗敢辱也, 必下車而揖之。
宰我聞之, 以告仲尼。 仲尼曰: 「汝弗知乎? 夫至信之人, 可以感物也。 動天地, 感鬼神, 橫六合而無逆者, 豈但履危險, 入水火而已哉? 商丘開信偽物猶不逆, 況彼我皆誠哉? 小子識之!」

Phạm Thị có một người con tên là Tử Hoa khéo gây tiếng tốt, trong nước ai cũng phục, được vua Tấn tin cậy, tuy không có chức vụ gì mà được ngồi bên phải ba vị khanh.

Tử Hoa thích ai thì người đó được vua ban tước liền, chê ai thì kẻ đó bị truất liền, được lui tới tư dinh ông ta thì cũng như vô ra triều đình.

Tử Hoa xúi bẩy cho bọn hiệp khách trong nhà tranh nhau về trí ngu, về mạnh yếu, dù có kẻ bị thương tích trước mắt, ông cũng thản nhiên, suốt ngày đêm lấy trò đó làm vui, cơ hồ thành cái tục trong nước.

Hoà Sinh và Tử Bá là hai thượng khách của ông ta, đi ra ngoài cõi, trọ ở nhà một ông nông dân già tên là Thương Khâu Khai.

Ban đêm, hai người đó nói với nhau về uy danh của Tử Hoa, có thể làm cho kẻ sống phải chết, kẻ chết được sống lại, kẻ giàu hoá nghèo, kẻ nghèo hoá giàu.

Ông lão Thương Khâu Khai nghèo đói quẫn bách, nép ở cửa sổ nghe lóm được, chuẩn bị lương thực, xếp vào giỏ, lại nhà Tử Hoa.

Bọn đàn em của Tử Hoa đều là hạng gia thế, bận đồ lụa, ngồi xe đẹp. Họ ung ung bước tới, ngó ngang ngó ngửa, liếc thấy Thương Khâu Khai tuổi đã già, sức đã suy, mặt mũi sạm nắng, mũ áo lôi thôi, (…), tỏ vẻ khinh bỉ, nhạo báng, xô đẩy, lôi kéo, làm tình làm tội ông già đủ thứ. Thương Khâu Khai không tỏ vẻ bực mình và bọn đó đùa giỡn riết rồi chán.

Rồi họ cùng với Thương Khâu Khai lên một cái đài cao, một người trong bọn nói đùa:

– Ai dám nhảy xuống đất thì ta thưởng cho trăm lượng vàng.

Mọi người đều tán thành. Thương Khâu Khai tin là thật, nhảy xuống đầu tiên. Thân thể ông như chim bay, đáp nhẹ xuống đất, xương thịt không bị thương gì cả. Bọn Phạm Thị cho là chuyện may mắn ngẫu nhiên, chưa phải là quái dị. Dịp khác, họ trỏ một chỗ sâu tại một khúc sông bảo dưới đó có châu bảo, xuống mò sẽ được. Thương Khâu Khai lại tin, lặn xuống, rồi nổi lên, quả nhiên vớt được châu bảo. Lúc đó mọi người mới bắt đầu nghi (có phép lạ nào đó), Tử Hoa mới ra lệnh đãi ông già vào hạng thượng khách, được ăn thịt và bận đồ tơ lụa.

Chẳng bao lâu, kho của Phạm Thị cháy lớn, Tử Hoa bảo ông già:

– Ông vô đám cháy khuân ra các gấm vóc thì tôi sẽ tuỳ nhiều ít mà thưởng ông.

Thương Khâu Khai nhảy vô đám lửa, nét mặt thản nhiên, đi đi lại lại trong lửa rực, không bị khó chịu vì tro bụi, thân thể không bị bỏng.

Bọn Phạm Thị cho rằng ông già đó “đắc đạo”, xin lỗi ông:

– Chúng tôi không biết ông đắc đạo, cố ý lừa gạt ông. Chúng tôi không biết ông là bậc thần nhân mà muốn làm nhục ông. Xin ông coi chúng tôi như bọn ngu, điếc, đui và dạy cho chúng tôi đạo của ông.

Thương Khâu Khai đáp:

– Tôi có cái đạo nào đâu. Chính lòng tôi cũng không biết sao lại được như vậy, nhưng có điều này tôi muốn cho các ông hay.

Hôm trước, hai ông khách lại tá túc trong nhà tôi, tôi nghe hai ông ấy khen uy thế của họ Phạm, có thể làm cho kẻ sống phải chết, kẻ chết sống lại, kẻ giàu hoá nghèo, kẻ nghèo hoá giàu, tôi thành tâm tin thực, nên không ngại xa mà tới đây. Lại đây, tôi tin lời của các ông là đúng. Tôi chỉ sợ lòng tôi không được chân thành, hành vi của tôi không xứng đáng, mà không nghĩ an hay nguy cho thân tôi, lợi hay hại cho tôi. Tôi chỉ nhất tâm, nhất nguyện, cho nên vật không làm trở ngại cho tôi. Chỉ có vậy thôi. Bây giờ tôi mới biết rằng các ông muốn gạt tôi thì trong lòng tôi sinh ra nghi ngờ, lo sợ, nghe thấy, trông thấy cái gì cũng đâm ngại.

Nhớ lại hôm trước thoát chết đuối, chết cháy, tôi hoảng hốt, lo sợ, bừng bừng trong lòng. Từ nay tôi đâu dám lại gần nước và lửa nữa.

Từ hôm đó, bọn đàn em Phạm Thị gặp ăn mày hay hạng thú y ở ngoài đường, không dám làm nhục họ nữa, mà còn xuống xe vái là khác.

Tể Ngã nghe chuyện đó, kể với Trọng Ni, Trọng Ni bảo:

– Anh có biết không? Con người cực thành tín thì có thể cảm động được vạn vật, trời đất, quỉ thần, vượt sáu cõi mà không gì ngăn được, chứ nào phải chỉ vô được chỗ nguy hiểm, vô nước, vô lửa mà thôi đâu.

Ông Thương Khâu Khai tin lời gạt của bọn đó mà nước, lửa còn không làm hại ông được, huống hồ là hai bên cùng chân thành cả (thì việc gì mà không làm được?). Các con nên nhớ điều đó.

周宣王方牧正, 有役人梁鴦者, 能養野禽獸, 委食於園庭之內, 雖虎狼雕鶚之類, 無不柔馴者。 雄雌在前, 孳尾成群, 異類雜居, 不相搏噬也。

王慮其術終於其身, 令毛丘園傳之。

梁鴦曰: 「鴦, 賤役也, 何術以告爾? 懼王之謂隱於爾也, 且一言我養虎之法。
凡順之則喜, 逆之則怒, 此有血氣者之性也。 然喜怒豈妄發哉? 皆逆之所犯也。
夫食虎者, 不敢以生物與之, 為其殺之之怒也; 不敢以全物與之, 為其碎之之怒也。
時其饑飽, 達其怒心。 虎之與人異類, 而媚養己者, 順也; 故其殺之, 逆也。 然則吾豈敢逆之使怒哉?
亦不順之使喜也。 夫喜之復也必怒, 怒之復也常喜, 皆不中也。
今吾心無逆順者也, 則鳥獸之視吾, 猶其儕也。 故游吾園者, 不思高林曠澤; 寢吾庭者, 不願深山幽穀, 理使然也。」

Viên quan mục súc của vua Tuyên vương nhà Chu có một người coi vườn thú tên là Lương Ương khéo nuôi các cầm thú rừng.

Khi chú ta cho chúng ăn thì ngay những con hổ, chó sói, chim cắt, chim ngạc cũng tỏ ra hiền. Mỗi cặp sinh đẻ thành bầy.
Các giống khác nhau sống chung mà không cắn nhau.

Nhà vua sợ chú coi vườn đó chết đi, cái thuật nuôi cầm thú cũng mất theo, sai Mao Khâu Viên học thuật đó. Lương Ương nói với Mao Khâu Viên:

– Công việc của tôi hèn mọn, có thuật gì truyền cho anh đâu. Tôi sợ nhà vua cho rằng tôi giấu nghề, nên tôi kể cho anh nghe cách tôi nuôi cọp.

Bất kì loài nào, hễ thuận ý nó thì nó mừng, nghịch ý nó thì nó giận, tánh đó là tánh chung của các loài có huyết khí.

Vậy mừng hay giận có phải là vô cớ phát ra đâu; (một con vật mà hoá dữ) thì luôn luôn là do ta phạm tới điều gì trái ý nó.

Như nuôi cọp, tôi không dám cho nó ăn các con vật còn sống, vì nó sẽ vồ, giết con vật đó, mà nổi tánh hung dữ của nó lên.
Tôi cũng không cho nó ăn trọn con vật chết, vì nó sẽ xé xác con vật đó, mà nổi tánh hung dữ của nó lên. Tôi theo đúng giờ ăn, biết lúc nào nó đói, nó no; tôi hiểu lí do khiến nó hung dữ mà theo ý nó; nếu bị nó cắn chết thì chỉ tại làm trái ý nó.

Cho nên tôi không dám làm trái ý nó, khiến cho nó nổi giận, mà cũng không theo bản năng của nó, kích thích nỗi vui của nó, vì vui hết rồi thì tất giận, giận hết rồi thì thường vui; cả hai trường hợp đều không trung hoà (không quân bình).

Lòng tôi không muốn làm trái ý chúng cho chúng giận, kích thích cho chúng vui, cho nên các loài cầm thú đều coi tôi như đồng loại của chúng. Cho nên chúng nhởn nhơ trong vườn mà không nhớ cảnh rừng cao, đầm rộng, ngủ trong sân mà không đòi cảnh núi sâu, hang thẳm. Lẽ tự nhiên như vậy.

孔子觀於呂梁, 懸水三十仞, 流沫三十里, 黿鼉魚鱉之所不能游也。

見一丈夫游之, 以為有苦而欲死者也, 使弟子並流而承之。

數百步而出, 被髪行歌, 而游於棠行。

孔子從而問之曰: 「呂梁懸水三十仞, 流沫三十里, 黿鼉魚鱉所不能游, 向吾見子道之, 以為有苦而欲死者, 使弟子並流將承子。

子出而被髪行歌, 吾以子為鬼也。

察子則人也。 請問蹈水有道乎?」

曰: 「亡, 吾無道。 吾始乎故, 長乎性, 成乎命, 與齊俱入, 與汨偕出, 從水之道而不為私焉。 此吾所以道之也。」

孔子曰: 「何謂始乎故, 長乎性, 成乎命也?」

曰: 「吾生於陵安於陵, 故也; 長於水而安於水, 性也; 不知吾所以然而然, 命也。」

Khổng Tử ngắm thác nước ở Lữ Lương từ trên cao ba mươi “nhẫn”(mỗi nhẫn là 8 thước Tàu)) đổ xuống, cuồn cuộn nổi bọt lên tới ba mươi dặm, ngay đến loài giải, ba ba, cá, kì đà cũng không lội trong dòng đó được.

Bỗng ông thấy một người đàn ông lội trong dòng, tưởng người đó có nỗi khổ tâm mà muốn tự Tử, bèn sai học trò đi dọc theo bờ thác mà vớt.

Nhưng thấy cách chỗ đó vài trăm bước, người đó nhoi lên bờ, vuốt tóc lại, vừa đi vừa hát ở chân đê.

Khổng Tử đuổi kịp người đó hỏi:

– Thác Lữ Lương từ trên cao ba chục “nhẫn” đổ xuống cuồn cuộn lên tới ba mươi dặm, ngay loài giải, ba ba, cá kì đà cũng không lội trong dòng đó được.
Mới đầu tôi thấy chú lội ở trong thác, tưởng chú có nỗi khổ tâm mà muốn tự Tử, sai học trò của tôi đi theo bờ mà vớt chú.
Rồi chú nhoi lên, vuốt tóc lại, vừa đi vừa hát, ngỡ chú là ma quỉ, lại gần coi kĩ thì thấy chú là người.
Xin chú cho biết cái “đạo” (thuật) gì để lội trong nước không?

Người đó đáp:

– Không, tôi chẳng có đạo lội nước nào cả. Mới đầu tôi tập lội, lớn lên thành một bản tính, cuối cùng thành ra tự nhiên, gặp nước xoáy thì để cho nó cuốn vô rồi lại để nó đưa mình nổi lên, cứ theo cái “đạo” của nước, chứ không theo ý riêng của mình. Nhờ vậy tôi bơi lội dễ dàng trong thác được.

Khổng Tử hỏi:

– Chú nói: “Mới đầu tôi tập lội, lớn lên thành một bản tính, cuối cùng thành ra tự nhiên” là nghĩa làm sao?

Đáp:

– Tôi sinh ra ở trên đất cao, thấy yên ổn ở trên đất, đó là bước đầu.
Rồi lớn lên ở trong nước, thấy yên ổn ở trong nước.
Sau cùng tới lúc tôi không biết tại sao lại như vậy nữa, mà cho nó là điều tự nhiên.

仲尼適楚, 出於林中, 見痀僂者承蜩, 猶掇之也。

仲尼曰: 「子巧乎! 有道邪?」

曰: 「我有道也。 五六月累垸二而不墜, 則失者錙銖; 累三而不墜, 則失者十一; 累五而不墜, 猶掇之也。
吾處也, 若厥株駒, 吾執臂若槁木之枝。
雖天地之大、萬物之多, 而唯蜩翼之知。
吾不反不側, 不以萬物易蜩之翼, 何為而不得?」

孔子顧謂弟子曰: 「用志不分, 乃凝於神。 其痀僂丈人之謂乎!」

丈人曰: 「汝逢衣徒也, 亦何知問是乎? 修汝所以, 而後載言其上。」

Trên đường qua nước Sở, ra khỏi một khu rừng, Trọng Ni thấy một người bắt ve sầu dễ dàng như nhặt vậy. Trọng Ni hỏi người đó:

– Ông bắt tài quá, có đạo (thuật) gì không?

Đáp:

– Có, tôi có đạo bắt ve sầu.

Trong năm sáu tháng, tôi tập giữ sao cho hai viên đạn đặt trên đầu gậy không rớt xuống, lúc đó ít con ve sầu nào thoát được tôi.

 Khi để ba viên đạn trên đầu gậy mà không rớt thì mười con chỉ bắt hụt một con.

 Khi để năm viên đạn mà không rớt thì bắt chúng dễ như nhặt vậy.

Tôi giữ thân thể trơ trơ như khúc cây, cánh tay như một cành khô; chung quanh trời đất mênh mông, có biết bao nhiêu là vật mà tôi chỉ thấy cánh ve sầu thôi; tôi không nhúc nhích một chút, có ai đòi đổi mọi vật để lấy cánh ve sầu, tôi cũng không đổi. Như vậy làm sao không bắt được chúng?

Khổng Tử quay lại bảo học trò:

– Tập trung tinh thần đừng cho phân tán thì không khác gì bậc thần, tức như ông lão này vậy.

Ông lão đó bảo:

-Thầy là hạng (quần dài) áo rộng, biết gì mà nói vậy? Hãy sửa cái đạo (dùng nhân nghĩa) của thầy đi, (cho nó trở về đạo tự nhiên) rồi hãy nói như vậy.

子列子之齊, 中道而反, 遇伯昏瞀人。

伯昏瞀人曰: 「奚方而反?」

曰: 「吾驚焉。」

「惡乎驚?」

「吾食於十漿, 而五漿先饋。」

伯昏瞀人曰: 「若是則汝何為驚已?」

曰: 「夫內誠不解, 形諜成光, 以外鎮人心, 使人輕乎貴老, 而韲其所患。 夫漿人特為食羹之貨, 多餘之贏; 其為利也薄, 其為權也輕, 而猶若是。 而況萬乘之主, 身勞於國, 而智盡於事; 彼將任我以事, 而效我以功, 吾是以驚。」

伯昏瞀人曰: 「善哉觀乎! 汝處己, 人將保汝矣。」

無幾何而往, 則戶外之屨滿矣。 伯昏瞀人北面而立, 敦杖蹙之乎頤。 立有間, 不言而出。 賓者以告列子。 列子提履徒跣而走, 暨乎門, 問曰: 「先生既來, 曾不廢藥乎?」

曰: 「已矣。 吾固告汝曰, 人將保汝, 果保汝矣。 非汝能使人保汝, 而汝不能使人無汝保也, 而焉用之感也? 感豫出異。 且必有感也, 搖而本身, 又無謂也。 與汝游者, 莫汝告也。 彼所小言, 盡人毒也。 莫覺莫悟, 何相孰也。

Liệt Ngự Khấu đi sang nước Tề, nửa đường quay về, gặp Bá Hôn Mâu Nhân. Bá Hôn Mâu Nhân hỏi:

– Sao lại trở về?

Đáp:

– Vì tôi sợ.

– Sợ cái gì?

– Tôi ăn tại mười nhà làm tương mà năm nhà dọn cho tôi ăn trước.

– Như vậy thì có gì mà sợ?

– Sợ vì lòng chân thành của tôi không hoàn toàn mà nó hiện ra rực rỡ bên ngoài. Dùng cái bề ngoài ấy mà chấn phục nhân tâm, khiến người ta trọng tôi hơn các bậc trưởng lão, như vậy tai nạn sẽ tới. Những người bán tương ấy chỉ sống bằng nghề bán thức ăn, lợi không được bao, quyền thế lại chẳng có gì mà còn đối xử với tôi như vậy, huống hồ ông vua một vạn cỗ xe [tức nước Tề], thân thể mệt nhọc vì việc nước, tâm trí để hết vào chính sự. Ông ấy sẽ giao trọng trách cho tôi, xét xem tôi có được việc không. Vì vậy mà tôi sợ.

Bá Hôn Mâu Nhân bảo:

– Anh nhận xét sáng suốt đấy. Nhưng dù anh làm một thường dân thì người ta cũng qui phụ anh.

Ít lâu sau, lại nhà [liệt Ngự Khấu], thấy dép để đầy ngoài cửa, Bá Hôn Mâu Nhân đứng hướng về phương Bắc, cằm tì vào chiếc gậy, một lát rồi lặng thinh đi về. Người coi cửa cho Liệt Tử hay. Liệt Tử không kịp xỏ dép, vội vàng xách dép chạy theo, tới cổng thì đuổi kịp, hỏi:

– Thầy tới mà sao không chỉ cho tôi phương thuốc gì [tức một lời khuyên răn nào] ?

Bá Hôn Mâu Nhân đáp:

– Vô ích. Ta đã bảo anh rằng người ta sẽ qui phụ anh đấy, quả nhiên như vậy. Không phải là anh cố ý làm cho người ta qui phụ anh, mà là anh không biết cách làm cho người ta đừng qui phụ anh. Cần gì phải làm điều dị thường để cho người ta cảm mộ mình trước như vậy? Không có lí họ thúc đẩy anh tỏ tài riêng của anh ra.  Những người giao thiệp với anh không có gì để nói với anh cả. Những lời nhỏ nhen của họ có hại như thuốc độc đấy. Anh mê muội, không giác ngộ thì làm sao có thể cải hoá anh được.

宋有狙公者, 愛狙, 養之成群, 能解狙之意; 狙亦得公之心。

損其家口, 充狙之慾。 俄而匱焉, 將限其食。

恐眾狙之不馴於己也, 先誑之曰: 「與若芧, 朝三而暮四, 足乎?」

眾狙皆起而怒。

俄而曰: 「與若芧, 朝四而暮三, 足乎?」

眾狙皆伏而喜。

物之以能鄙相籠, 皆猶此也。 聖人以智籠群愚, 亦猶狙公之以智籠眾狙也。 名實不虧, 使其喜怒哉!

Nước Tống có một người khéo nuôi khỉ.

Ông ấy yêu khỉ, nuôi được một bầy khỉ, hiểu ý chúng mà chúng cũng hiểu ý ông.

Ông giảm khẩu phần trong nhà đi để khỉ ăn được đầy đủ, nhưng gặp năm đói kém, thiếu thốn, ông đành phải hạn chế phần ăn của chúng.

Sợ chúng phản kháng, mới đầu ông nói gạt chúng như vầy:-

– Tao cho chúng bay ăn hạt dẻ, sáng ba, chiều bốn, đủ không?

Chúng đều nổi giận không chịu. Rồi ông bảo :

– Thế thì cho chúng bay sáng bốn, chiều ba, đủ không?

Chúng đều phủ phục, mừng lắm.

Các sinh vật khôn và dại, gạt nhau đều như vậy cả. Thánh nhân dùng trí mà gạt bọn dân ngu, cũng như người nuôi khỉ đó dùng trí mà gạt khỉ. Số hạt dẻ không hề đổi, mà khiến cho bầy khỉ trước giận sau vui.

紀渻子為周宣王養鬭雞, 十日而問: 「雞可鬭已乎?

「曰: 「未也, 方虛驕而恃氣。」

十日又問。

曰: 「未也, 猶應影響。」

十日又問。

曰: 「未也, 猶疾視而盛氣。

十日又問。

曰: 「幾矣。 雞雖有鳴者, 已無變矣。

望之似木雞矣, 其德全矣。 異雞無敢應者, 反走耳。」

Kỉ Tỉnh Tử luyện gà đá cho vua. Mới được mười ngày vua đã hỏi xong chưa.

Đáp: Chưa, gà còn kiêu khí, tự thị.

Mười ngày sau lại hỏi.

Đáp: Chưa, mắt nhìn còn hăng, khí còn thịnh.

Mười ngày sau lại hỏi.

Đáp: Gần được, nghe gà khác gáy, nó không xúc động nữa. Coi nó tựa như gà bằng gỗ, đức nó toàn bị rồi, gà lạ không dám đương đầu với nó, thấy nó là quay đầu chạy.

楊朱南之沛, 老聃西遊於秦。

邀於郊。 至梁而遇老子。 老子中道仰天而嘆曰: 「始以汝為可教, 今不可教也。」楊朱不答。

至舍, 進涫漱巾櫛, 脫履戶外, 膝行而前曰: 「向者夫子仰天而嘆曰: 『始以汝為可教, 今不可教。 』弟子欲請夫子辭, 行不閒, 是以不敢。 今夫子閒矣, 請問其過。」

老子曰: 「而睢睢, 而盱盱, 而誰與居? 大白若辱, 盛德若不足。」

楊朱蹴然變容曰: 「敬聞命矣!」其往也, 舍者迎將家, 公執席, 妻執巾櫛, 舍者避席, 煬者避灶。 其反也, 舍者也之爭席矣。

Dương Chu đi xuống phía nam, lại đất Bái; Lão Đam đi qua phía Tây chơi nước Tần, Dương Chu tới nước Lương thì gặp Lão Tử.  Lão Tử đứng giữa đường, ngửa mặt lên trời, than:

– Trước kia ta tưởng có thể dạy anh được, nay thấy là vô phương.

Dương Tử làm thinh.

Họ tới quán trọ. Khi đã tắm rửa, súc miệng, chải đầu, lau mình rồi, Dương Tử tụt dép ở ngoài cửa, quì mà lết lại gần Lão Tử, thưa:

– Lúc nãy thầy ngửa mặt lên trời than rằng: “Trước kia ta tưởng có thể dạy anh được, nay thấy là vô phương”. Con muốn thỉnh giáo, nhưng thầy mãi từ từ đi, nên con không dám. Nay thầy nhàn rỗi, xin thầy chỉ cho con biết lỗi của con.

Lão Tử đáp:

– Anh có vẻ tự mãn, khoa trương thì ai mà muốn ở gần anh. Trắng bong thì coi như có vết, đức mà đầy đủ thì có vẻ như thiếu thốn.

Dương Tử ngượng nghịu, biến sắc, thưa:

– Con xin vâng lời.

Trước kia, khi Dương Tử mới tới quán trọ, chủ quán ra đón, ông già chủ quán giải chiếu mời, vợ chủ quán dâng khăn và lược, và khách trọ nhường chỗ tốt cho, người đầu bếp nhường chỗ ăn cho.
Bây giờ (sau khi Dương tử nghe lời khuyên của Lão Tử), các người khách trọ tranh nhau chỗ với Dương Tử.

楊朱過宋東之於逆旅。

逆旅人有妾二人, 其一人美, 其一人惡; 惡者貴而美者賤。

楊子問其故。

逆旅小子對曰: 「其美者自美, 吾不知其美也; 其惡者自惡, 吾不知其惡也。」

楊子曰: 「弟子記之! 行賢而去自賢之行, 安往而不愛哉!」

Dương Chu qua nước Tống, vô nghỉ một quán trọ ở phía Đông nước đó.

Chủ quán có hai người vợ, một người đẹp, một người xấu, quí người vợ xấu mà ghét người vợ đẹp.

Dương Chu hỏi tại sao, chủ quán đáp:

– Con vợ đẹp của tôi tự cho mình là đẹp cho nên tôi không thấy nó đẹp; con vợ xấu của tôi tự cho mình là xấu, nên tôi không thấy nó xấu.

Dương Chu bảo các đệ tử:

– Các con nên nhớ điều đó. Hành động như hiền nhân, mà đừng có thái độ tự cho mình là bậc hiền nhân, thì đi tới đâu mà chẳng được người ta quí !

趙襄子率徒十萬, 狩於中山, 藉芿燔林, 扇赫百里, 有一人從石壁中出, 隨煙燼上下, 眾謂鬼物。

火過, 徐行而出, 若無所經涉者。

襄子怪而留之, 徐而察之: 形色七竅, 人也; 氣息音聲, 人也。 問奚道而處石? 奚道而入火?

其人曰: 「奚物而謂石? 奚物而謂火?」

襄子曰: 「而向之所出者, 石也; 而向之所涉者, 火也。」

其人曰: 「不知也。」魏文侯聞之, 問子夏曰: 「彼何人哉?」 

子夏曰: 「以商所聞夫子之言, 和者大同於物, 物無得傷閡者, 游金石, 蹈水火, 皆可也。」

文侯曰: 「吾子奚不為之?」

子夏曰: 「刳心去智, 商未之能。 雖然, 試語之有暇矣。」

文侯曰: 「夫子奚不為之?」

子夏曰: 「夫子能之而能不為者也。」

文侯大說.

Triệu Tương Tử thống suất trăm ngàn người đi săn ở núi Trường Sơn. Họ dùng cỏ khô đốt rừng, cháy hừng hừng cả trăm dặm.

Bỗng thấy một người từ trong vách đá chui ra, cùng bay lên đáp xuống với ngọn lửa và tàn lửa, mọi người đều cho là quỉ. Lửa tắt rồi, người đó ung dung bước ra, như không có chuyện gì xảy ra cả.

Tương Tử lấy làm lạ, giữ lại, xem xét kỹ lưỡng người đó, hình sắc, mặt mũi, đúng là người, hơi thở tiếng nói cũng đúng là người, rồi hỏi:

– Anh có cái đạo (thuật) nào mà ở trong đá được, vô lửa được?

Người đó hỏi lại:

– Đá là cái gì kia? Lửa là cái gì kia?

Tương tử đáp:

– Đá là chỗ lúc nãy anh chui ra; còn lửa là chỗ lúc nãy anh vượt qua đó.

Người đó nói:

– Tôi không biết đấy.

*

Nguỵ Văn hầu nghe chuyện đó hỏi Tử Hạ :-

– Người đó là hạng người nào vậy?

Tử Hạ đáp:

– Tôi được nghe thầy tôi (Khổng Tử) dạy rằng người nào hoà đồng với vạn vật thì hoá đồng với vạn vật, vạn vật không làm thương tổn, trở ngại được mình, mà có thể đi xuyên vô kim thạch, đi trong nước lửa.

Văn hầu hỏi:

– Sao thầy không làm như vậy?

– Diệt lòng, bỏ trí, Thương tôi chưa làm được; nhưng nếu nhàn thì cũng xin bàn về điều đó.

Văn hầu bảo:

– Thế còn Phu Tử (Khổng Tử) sao không làm?

Tử Hạ đáp:

– Phu tử làm được mà không cần làm.

Văn hầu rất mừng.

惠盎見宋康王。 康王蹀足謦欬, 疾言曰: 「寡人之所說者, 勇有力也, 不說為仁義者也。 客將何以教寡人?」

惠盎對曰: 「臣有道於此, 使人雖勇, 刺之不入; 雖有力, 擊之弗中。 大王獨無意邪?」

宋王曰: 「善, 此寡人之所欲聞也。」

惠盎曰: 「夫刺之不入, 擊之不中, 此猶辱也。 臣有道於此, 使人雖有勇弗敢刺; 雖有力弗敢擊。 夫弗敢, 非無其志也。 臣有道於此, 使人本無其志也。 夫無其志也, 未有愛利之心也。 臣有道於此, 使天下丈夫女子, 莫不驩然皆欲愛利之。 此其賢於勇有力也, 四累之上也。 大王獨無意邪?」

宋王曰: 「此寡人之所欲得也。」

惠盎對曰: 「孔、墨是已。 孔丘、墨翟, 無地而為君, 無官而為長; 天下丈夫女子, 莫不延頸舉踵而願安利之。 今大王, 萬乘之主也, 誠有其志, 則四竟之內, 皆得其利矣。 其賢於孔、墨也遠矣。」

宋王無以應。 惠盎趨而出。

宋王謂左右曰: 「辯矣, 客之以說服寡人也!」

Huệ Áng vô yết kiến Tống Khang vương. Khang vương đứng dậy tiếp, hăng hái nói liền:

– Quả nhân chỉ ưa dũng lực thôi, không muốn dùng nhân nghĩa, khách có điều gì dạy quả nhân không?

Huệ Áng tiếp:

– Thần có đạo (thuật) khiến cho một người đã dũng cảm rồi lại thêm có bị đâm cũng không vô, đã mạnh rồi lại thêm có bị đập cũng không trúng, có lẽ nào riêng đại vương không ưa đạo đó sao?

Vua Tống bảo:

– Tốt lắm, đó là điều quả nhân muốn nghe.

Huệ Áng nói:

– Bị kẻ khác đâm mà không vô, bị kẻ khác đập mà không trúng, (tuy là không bị thương đấy, nhưng) vẫn còn là bị nhục.

Thần lại có đạo khiến cho một người đã dũng cảm rồi mà kẻ khác lại không dám đâm, đã mạnh rồi kẻ khác không dám đập. Nhưng họ không dám không phải là không muốn.

Thần lại có cái đạo khiến cho họ không có ý muốn đâm, đập nữa. Nhưng họ không có ý muốn đó, chưa phải là đã có lòng quí mến và giúp đỡ đại vương.

Thần lại có cái đạo khiến cho không một người đàn ông, một người đàn bà nào không vui vẻ quí mến và giúp đỡ đại vương. Như vậy đại vương còn hiền minh hơn có dũng lực.

Thần cho là hơn hẳn bốn hạng trên. Có lẽ nào riêng đại vương không ưa đạo đó.

Vua Tống đáp:

– Đó là đạo quả nhân muốn có.

Huệ Áng bảo:

– Đó là đạo của họ Khổng họ Mặc. Khổng Khâu và Mặc Địch không có đất đai mà vẫn làm vua, không có bề tôi mà vẫn làm chúa. Đàn ông và đàn bà trong thiên hạ không ai là không nghểnh cổ, nhón gót để ngó, để giúp đỡ, bảo toàn họ. Nay đại vương là một vị chúa một nước có vạn cổ xe, nếu thực muốn như vậy, thì trong bốn cõi, đại vương đều được mọi người giúp đỡ, còn hiền minh hơn Khổng, Mặc nhiều.

Vua Tống làm thinh không đáp. Huệ Áng vội vã bước ra. Vua Tống bảo kẻ tả hữu:

– Người khách đó khéo biện thuyết, quả nhân không biết đáp sao.

***************   

CHƯƠNG III

CHU MỤC VƯƠNG

《沖虛真經》

周穆王 第三

***

覺有八征, 夢有六侯。 奚謂八征? 一曰故, 二曰為, 三曰得, 四曰喪, 五曰哀, 六曰樂, 七曰生, 八曰死。 此者八征, 形所接也。 奚謂六侯? 一曰正夢, 二曰蘁夢, 三曰思夢, 四曰寤夢, 五曰喜夢, 六曰懼夢。 此六者, 神所交也。 不識感變之所起者, 事至則惑其所由然, 識感變之所起者, 事至則知其所由然。 知其所由然則無所怛。 一體之盈虛消息, 皆通於天地, 應於物類。 故陰氣壯, 則夢涉大水而恐懼; 陽氣壯, 則夢涉大火而燔0(左苂右內); 陰陽俱壯, 則夢生殺。 甚飽則夢與, 甚饑則夢取。 是以以浮虛為疾者, 則夢揚; 以沈實為疾者, 則夢溺。 藉帶而寢, 則夢蛇; 飛鳥銜發, 則夢飛。 將陰夢火, 將疾夢食。 飲酒者憂, 歌舞者哭。 子列子曰: 「神遇為夢, 形接為事。 故晝想夜夢, 神形所遇。 故神凝者想夢自消。 信覺不語, 信夢不達, 物化之往來者也。 古之真人, 其覺自忘, 其寢不夢, 幾虛語哉?」

Trạng thái tỉnh có tám biểu hiện, trạng thái mộng có sáu điềm.

Tám biểu hiện đó là gì? Là chuyện cũ, hành động, được, mất, buồn, vui, sinh, tử. Tám biểu hiện đó ở trong cõi hình thể.

Sáu điềm là gì? Là chính mộng (ở yên mà mộng), kinh ngạc mà mộng, nhớ nhung nghĩ ngợi mà mộng, thức mà mộng (mơ mộng), vui mà mộng, lo lắng mà mộng. Sáu thứ mộng đó do thần giao mà có (ở trong cõi tinh thần).

Ai không biết những cảm biến đó phát sinh từ đâu thì khi việc xảy ra, không hiểu được nguyên nhân. Hiểu được nguyên nhân thì không còn kinh ngạc, xót xa nữa.

Bất kì một cơ thể nào, dù doanh, hư, hoạt động hay nghỉ ngơi, đều cảm thông với trời đất, cảm ứng với vạn vật. Cho nên khi khí âm mạnh thì thấy qua sông lớn mà hoảng sợ, khí dương mạnh thì mộng thấy qua đám lửa rực mà cảm thấy nóng bỏng. Khí âm và khí dương đều mạnh thì mộng thấy sống hoặc chết.

No thì mộng thấy mình cho người ta; đói thì mộng thấy mình lấy của người. Người nào có tật sôi nổi thì mộng thấy lên cao; người nào (trái lại) có tật trầm trọng thì mộng thấy chết đuối. Quấn dây lưng mà ngủ thì mộng thấy rắn; chim ngậm tóc mà bay, thì ai có sợi tóc đó sẽ mộng thấy bay. Lại gần cái “âm” thì mộng thấy lửa, sắp đau thì mộng thấy ăn; sau khi uống rượu thì buồn, sau khi hát múa thì khóc.

Thầy Liệt Tử bảo:

– Tinh thần người ngủ gặp cái gì thì cái đó là mộng, cơ thể tiếp xúc cái gì thì cái đó là thực; cho nên ngày nghĩ tới cái gì thì đêm mộng cái đó, thế là tinh thần và cơ thể gặp nhau.

 Cho nên tinh thần mà ngưng lại, thì tư tưởng và mộng mị tự nhiên tiêu tan. Tìm điều mình thấy khi tỉnh thì không nói, tìm điều mình thấy trong mộng thì là không sáng suốt, chỉ là sự biến hoá qua lại của sự vật thôi.

Bậc chân nhân thời xưa khi tỉnh thì quên mình đi, khi ngủ thì không nằm mộng, lời đó có thể tin được.

***************   

西極之南隅有國焉, 不知境界之所接, 名古莽之國。 陰陽之氣所不交, 故寒暑亡辨; 日月之光所不照, 故晝夜亡辨。 其民不食不衣而多眠。 五旬一覺, 以夢中所為者實, 覺之所見者妄。

四海之齊謂中央之國, 跨河南北, 越岱東西, 萬有餘裡。 其陰陽之審度, 故一寒一暑; 昏明之分察, 故一晝一夜。 其民有智有愚。 萬物滋殖, 才藝多方。 有君臣相臨, 禮法相持。 其所云為, 不可稱計。 一覺一寐, 以為覺之所為者實, 夢之所見乾妄。

東極之北隅有國, 曰阜落之國。 其土氣黨燠, 日月餘光之照其土, 不生嘉苗。 其民食草根木實, 不知火食。 性剛悍, 強弱相藉, 貴勝而不尚義; 多馳步, 少休息, 常覺而不眠。

Ở phía nam góc cực tây có một nước không biết cảnh giới tới đâu, gọi là nước Cổ Mãng. Ở đó khi âm và khí dương không giao nhau, cho nên không có lạnh, không có nóng; ánh sáng mặt trời mặt trăng không chiếu, cho nên không có ngày, không có đêm. Dân chúng không ăn, không mặc mà ngủ nhiều, năm mươi ngày mới tỉnh dậy một lần, cho việc làm trong mộng mới là thực, còn những cái thấy khi tỉnh là sai.

Ở giữa bốn bể, có một nước trung ương. Nước đó trải ra phía bắc và phía nam sông Hoàng Hà, ở phía đông và phía tây núi Thái Sơn, trên vạn dặm. Khí âm, khí dương điều hoà với nhau, cho nên cứ hết lạnh thì tới nóng, hết nóng thì tới lạnh; tối và sáng phân biệt, cho nên hết đêm tới ngày, hết ngày tới đêm. Dân chúng có người trí kẻ ngu, vạn vật phồn thịnh, tài nghệ nhiều vẻ, vua tôi thân nhau, lễ nghĩa và pháp luật dựa lẫn nhau. Không sao kể hết được ngôn, hành của họ. Họ thức rồi ngủ, ngủ rồi thức, cho việc làm khi thức là thực, còn những cái thấy khi ngủ là sai.

Ở phía bắc góc cực đông có một nước gọi là Phụ Lạc. Ở đó hơi đất thường nóng; ánh sáng mặt trời mặt trăng nhiều quá, đất đai không sinh được lúa tốt, dân chúng ăn rễ và trái cây, không biết nấu nướng. Tính tình họ cứng cỏi, hung hãn, kẻ mạnh áp bức kẻ yếu, họ chỉ quí kẻ thắng mà không biết trọng nghĩa. Họ lăng xăng hoài, ít nghỉ ngơi,thường thức mà không ngủ.

周之尹氏大治產, 其下趣役者, 侵晨昏而弗息。 有老役夫, 筋力竭矣, 而使之彌勤。 晝則呻呼而即事, 夜則昏憊而熟寐。 精神荒散, 昔昔夢為國君。

居人民之上, 總一國之事。 游燕宮觀, 恣意所欲, 其樂無經。 覺則復役。
人有慰喻其懃者, 役夫曰: 「人生百年, 晝夜各分。 吾晝為僕虜, 苦則苦矣; 夜為人君, 其樂無比。 可所怨哉?」

尹氏心營世事, 慮鐘家業, 心形俱疲, 夜亦昏憊而寐。 昔昔夢為人僕, 趨走作役, 無不為也; 數罵杖撻, 無不至也。 眠中啽囈呻呼, 徹旦息焉。 尹氏病之, 以訪其友。

友曰: 「若位足榮身, 資財有餘, 勝人遠矣。 夜夢為僕, 苦逸之復, 數之常也。 若欲覺夢兼之, 豈可得邪?」尹氏聞其友言, 寬其役夫之程, 減己思慮之事, 疾並少間。

Ở nước Chu có người họ Doãn, gia sản rất lớn, bọn tôi tớ hầu hạ từ sáng đến tối không được nghỉ. Có một người đầy tớ già, đã kiệt lực mà lại phải làm rất nhiều. Ban ngày chú ta hổn hển làm việc, ban đêm mệt mỏi ngủ li bì, tinh thần phiêu tán, đêm nào cũng nằm mê thấy mình làm vua, cai trị muôn dân, nắm hết mọi việc trong nước, đi lui đi tới trong cung điện, muốn làm gì thì làm, sung sướng vô cùng. Tỉnh dậy lại làm cái thân tôi tớ.

Có người thấy chú ta vất vả, tỏ lời an ủi. Chú ta đáp:

– Đời người dù sống trăm năm thì cũng một nửa là ngày, một nửa là đêm. Tôi, ban ngày làm thân nô lệ thì khổ thực. Nhưng ban đêm được làm vua, còn gì sướng bằng? Còn oán hận nỗi gì?

Còn ông họ Doãn kia, lòng bận việc đời, trí lo sản nghiệp, tâm thần và thể xác đều mệt mỏi, đêm nào cũng ngủ li bì, nằm mê thấy mình làm tôi tớ, tất tả làm hết mọi việc, mà còn bị đánh, bị mắng, cực khổ trăm chiều. Trong mộng, ông ta mê sảng, hổn hển suốt đêm, sáng dậy mới hết.

Họ Doãn thấy vậy lo buồn, hỏi ý một người bạn. Người này đáp:

– Địa vị của bác đủ vẻ vang rồi, tài sản của bác dư dật hơn người ta nhiều rồi. Ban đêm có nằm mê thấy làm tôi tớ, thì cũng là vui khổ thay phiên nhau, đó là lẽ thường. Muốn cho lúc tỉnh với lúc mộng đều sung sướng cả, thì đâu được?

Nghe bạn nói vậy, ông ta nới tay cho tôi tớ, giảm việc làm ăn, lo lắng cho mình, mà tật (mộng mị) bớt nhiều.

鄭人有薪皇野者, 遇駭鹿, 御而擊之, 斃之。 恐人見之也, 遽而藏諸隍中, 覆之以蕉, 不勝其喜。

俄而遺其所藏之處, 遂以為夢焉。 順途而詠其事。 傍人有聞者, 用其言而取之。 既歸, 告其室人曰: 「向薪者夢得鹿而不知其處; 吾今得之, 彼直真夢者矣。 ?」
室人曰: 「若將是夢見薪者之得鹿邪? 詎有薪者邪? 今真得鹿, 是若之夢真邪?」夫曰: 「吾據得鹿, 何用知彼夢我夢邪?」薪者之歸, 不厭失鹿, 其夜真夢藏之之處, 又夢得之之主。

爽旦, 案所夢而尋得之。 遂訟而爭之, 歸之士師。 士師曰: 「若初真得鹿, 妄謂之夢; 真夢得鹿, 妄謂之實。 彼真取苦鹿, 而與若爭鹿。 室夫又謂夢認人鹿, 無人得鹿。 今據有此鹿, 請二分之。」以聞鄭君。

鄭君曰: 「嘻! 士師將復夢分人鹿乎?」訪之國相。

國相曰: 「夢與不夢, 臣所不能辨也。 欲辨覺夢, 唯黃帝、孔丘。 今亡黃帝、孔丘, 熟辨之哉? 且恂士師之言可也。」

Một người nước Trịnh ra đồng kiếm củi, gặp một con hươu chạy trốn, rình đón, đập chết được. Sợ người khác thấy, anh ta giấu nó trong cái hào cạn, lấy cành cây phủ lên, mừng rỡ lắm.

Nhưng rồi anh ta quên mất chỗ giấu, cho rằng mình đã nằm mộng, vừa đi vừa lẩm bẩm (một mình) về chuyện đó. Một người nghe lóm được, theo lời anh ta nói mà tìm được con hươu đem về.

Tới nhà, bảo vợ:

– Một gã kiếm củi, nằm mộng thấy bắt được con hươu mà quên không biết giấu nó ở đâu; anh tìm ra được này. Gã đó đúng là nằm mê.

Người vợ nói:

– Hay là chính anh mộng thấy người kiếm củi bắt được con hươu, chứ có người kiếm củi nào thực đâu? Nay quả anh được con hươu, thì mộng của anh đúng rồi.

Người chồng bảo:

– Anh đã thực bắt được con hươu thì cần gì biết anh nằm mê hay gã đó nằm mê.

Người kiếm củi về nhà, rầu rĩ vì mất con hươu, đêm đó mộng thấy chỗ giấu nó và mộng thấy người đã chiếm được nó. Sáng dậy, cứ theo đúng mộng mà tìm ra được người đó, trách mắng, đòi lại con hươu. Việc đưa lên quan sĩ sư. Quan sĩ sư bảo người kiếm củi:

– Anh mới đầu quả thực bắt được con hươu, rồi nghĩ lầm mà bảo là mộng; hay mới đầu quả thực anh nằm mộng bắt được con hươu, rồi nghĩ lầm mà bảo là chuyện thực? Còn anh kia, có thực là lấy con hươu của anh mà tranh giành lại không? Vợ anh ấy lại bảo chồng nằm mộng thấy con hươu của người ta, chứ không ai được hươu cả. Nhưng quả có con hươu đây thì ta tính chia hai, và trình lên vua Trịnh để ngài phán.

Vua Trịnh phán:

– Ta ngờ rằng quan sĩ sư cũng lại nằm mê thấy rằng mình cắt con hươu ra làm hai nữa.

Rồi nhà vua hỏi quan tướng quốc. Quan tướng quốc tâu:

– Mộng hay không mộng, thần không thể quyết đoán được. Phân biệt được mộng hay không thì phải là Hoàng Đế hay Khổng Tử. Nhưng Hoàng Đế và Khổng Tử đã chết thì ai mà phân biệt được. Thôi thì cứ làm theo lời ông sĩ sư là xong.

宋陽裡華子, 中年病忘, 朝取而夕忘, 夕與而朝忘; 在途則忘行, 在室而忘坐; 今不識先, 後不識今。 闔室毒之。

謁史而卜之, 弗佔; 謁巫而禱之, 弗禁; 謁醫而攻之, 弗已。

魯有儒生, 自媒能治之, 會子之妻妻以居產之半請其方。

儒生曰: 「此固非封兆之所佔, 非祈請之所禱, 非藥石之所攻。 吾試化其心, 變其慮, 庶幾其瘳乎!」於是試露之而求衣; 饑之而求食; 幽之而求明。

儒生欣然告其子曰: 「疾可已也。 然吾之方密傳世, 不以告人。 試屏左右, 獨與居室七曰。」從之。 莫知其所施為也, 而積年之疾, 一朝都除。 華子既悟悟乃大怒, 黜妻罰子, 操戈逐儒生。

宋人執而問其以。 華子曰: 「曩吾忘也, 蕩蕩然不覺天地之有無。 今頓識, 既往數十年來, 存亡得失、哀樂好惡, 擾擾萬緒起矣。 吾恐將來之存亡得失哀樂好惡之亂吾心如此也, 須臾之忘, 可復得乎?」

子貢聞而怪之, 以告孔子。

孔子曰: 「此非汝所及乎!」

顧謂顏回紀之。

Một người tên là Hoa Tử ở đất Dương Lí nước Tống, khi đứng tuổi mắc bệnh quên, sáng lấy cái gì thì tối quên rồi, tối cho ai cái gì thì sáng đã quên rồi, đi đường thì quên mình định đi đâu, ở nhà thì quên ngồi, lúc này quên lúc trước, lúc sau quên lúc này. Cả nhà rầu rỉ lắm.

Nhờ thầy bói cho, quẻ không dạy gì cả; nhờ thầy pháp cúng cho, không hết; nhờ thầy lang trị cho, cũng trơ trơ.

Nước Lỗ có một nho sinh tự giới thiệu là có thể trị được. Vợ con Hoa Tử hứa nếu trị được thì xin tặng nửa gia tài.

Nho sinh đó bảo:

– Bệnh đó vốn không thể bói mà biết được, không thể cúng mà hết được, không thể dùng thuốc mà trị được. Tôi thử sửa tâm tính ông ấy, đổi trí lự ông ấy, may ra đỡ được chăng.

Thế rồi nho sinh đó cởi hết áo của Hoa Tử ra, thấy ông ta đòi mặc; bắt ông ta chịu đói, thấy ông ta đòi ăn; nhốt ông ta vào chỗ tối, thấy ông ta đòi ra chỗ sáng. Và nho sinh đó vui vẻ bảo con Hoa Tử:

– Bệnh có thể chữa được đấy; nhưng phương của tôi bí truyền, không thể cho người khác biết được. Xin ngăn hết các người chung quanh, để tôi ở riêng với ông nhà bảy ngày.

Người nhà làm theo, không biết nho sinh đó trị cách nào mà căn bệnh đã mấy năm đó nhất đán khỏi hẳn.

Hoa Tử khi đã tỉnh rồi, nổi giận đùng đùng, đuổi vợ, đánh con, vác cây mác đuổi nho sinh. Người Tống níu lại, hỏi tại sao, Hoa Tử đáp:

– Trước kia tôi quên hết, thanh thản, không biết trời đất có hay không nữa. Nay bừng tỉnh, những gì xảy ra mấy chục năm nay, còn hay mất, thua hay được, vui buồn, yêu ghét, bời bời muôn mối trong lòng, tôi sợ những nỗi còn mất, thua được, vui buồn, yêu ghét lại sẽ làm rối loạn trong lòng tôi nữa; có muốn quên một lát, phỏng còn được nữa không?

Tử Cống nghe chuyện đó, lấy làm lạ, hỏi Khổng Tử, Khổng Tử bảo:

– Anh không hiểu được đâu.

Rồi quay lại bảo Nhan Hồi:

– Chép lại chuyện đó đi.

秦人逄氏有子, 少而惠, 及壯而有迷惘之疾。 聞歌以為哭, 視白以為黑, 饗香以為朽, 嘗甘以為苦, 行非以為是。 意之所之, 天地四方水火寒暑, 無不倒錯者焉。

楊氏告其父曰: 「魯之君子多術藝, 將能已乎? 汝奚不訪焉。 ?」其父之魯, 過陳, 遇老聃, 因告其子之證。

老聃曰: 「汝庸知汝子之迷乎? 今天下之人, 皆惑於是非, 昏於利害。 同疾者多, 固莫有覺者。 且一身之迷, 不足傾一家; 一家之迷, 不足傾一鄉; 一鄉之迷, 不足傾一國; 一國之迷, 不足傾天下; 天下盡迷, 孰傾之哉? 向使天下之人, 其心盡如汝子, 汝則反迷矣。 哀樂聲色臭味是非, 孰能正之? 且吾之言未必非迷, 而況魯之君子, 迷之郵者, 焉能解人之迷哉? 榮汝之糧, 不若遄歸也。」

Người họ Phùng nước Tần có một người con trai hồi nhỏ rất thông minh, mà lớn lên mắc tật mê loạn: nghe tiếng hát thì bảo là tiếng khóc, nhìn màu trắng thì bảo là màu đen, ngửi mùi thơm thì bảo là mùi thối, nếm vị ngọt thì bảo là vị đắng, làm điều quấy thì bảo là điều phải. Trời đất, bốn phương, lửa nước, nóng lạnh, trong óc anh ta đều đảo lộn, sai lầm hết.

Một người họ Dương bảo cha thanh niên đó:

– Vị quân tử nước Lỗ (Khổng Tử) nhiều tài nghệ, may ra trị được bệnh đó, sao bác không qua hỏi xem.

Người cha bèn sang nước Lỗ, khi đi qua nước Trần, gặp Lão Đam (Lão Tử), kể bệnh của con cho Lão Đam nghe. Lão Đam bảo:

– Làm sao chú biết được rằng con chú mê loạn. Ngày nay khắp thiên hạ đều mê hoặc về phải trái, hôn ám về lợi hại. Kẻ bị bệnh đó nhiều quá tới nỗi không ai thấy nữa. Vả lại, một người mê loạn, không đủ làm cho cả nhà khuynh đảo được; một nhà mê loạn, không đủ làm cho cả làng khuynh đảo được; một làng mê loạn, không đủ làm cho cả nước khuynh đảo được; cả nước mê loạn, không đủ làm cho cả thiên hạ khuynh đảo được; mà khi cả thiên hạ mê loạn thì còn ai làm cho nó khuynh đảo được nữa? Ví thử khắp thiên hạ đều như con chú hết thì ngược lại chính chú mới là người mê loạn; và còn ai hiểu chính được cái ý niệm về vui buồn, thanh âm, màu sắc, mùi vị, phải trái nữa? Ngay lời tôi vừa nói với chú đó, cũng vị tất là không mê loạn, huống hồ cái ông quân tử nước Lỗ kia, còn mê loạn hơn ai hết, thì còn trị bệnh mê cho ai được nữa?

Thôi chú nên về nhà gấp đi, đừng phí tiền ăn đường nữa.

燕人生於燕, 長於楚, 及老而還本國。

過晉國, 同行者誑之, 指城曰: 「此燕國之城。」其人愀然變容。

指社曰: 「此若裡之社。」乃謂然而嘆。

指舍曰: 「此若先人之廬。」乃涓然而泣。

指壟曰: 「此若先人之冢。」其人哭不自禁。

同行者啞然大笑, 曰: 「予昔給若, 此晉國耳。」其人大慙。

及至燕, 真見燕國之城社, 真見先人之廬冢, 悲心更微。

Một người nước Yên, sanh ở nước Yên, lớn lên ở nước Sở, tuổi già trở về cố quốc. Khi đi qua nước Tấn, một người đồng hành gạt ông ta, trỏ thành (của nước Tấn) bảo:

– Thành nước Yên đấy.

Ông già đó cảm động, rầu rĩ.

Người kia lại trỏ nền xã bảo:

– Nền xã của tổ quốc bác đấy.

Ông già thở dài, bùi ngùi.

Lại trỏ một ngôi nhà bảo:

– Nhà của các cụ hồi trước đấy.

Ông già rũ rượi, nhỏ lệ.

Lại trỏ mấy nắm mồ:

– Mộ của các cụ đấy.

Ông già khóc mướt.

Người kia cười rộ, bảo:

– Tôi gạt bác đấy, đây mới là nước Tấn mà.

Ông già mắc cỡ. Khi về tới nước Yên, thấy chính thành quách, nền xã của nước Yên, thấy chính nhà cửa, mồ mả của tổ tiên, thì lòng bi cảm của ông kém nhiều rồi.

——————–
(Lược bớt một số truyện không lý thú mấy)

***************   

XUNG HƯ CHÂN KINH
CHƯƠNG IV
TRỌNG NI

《沖虛真經》

仲尼 第四

***

仲尼閒居, 子貢入待, 而有憂色。 子貢不敢問, 出告顏回。 顏回援琴而歌。 孔子聞之, 果召回入問, 曰: 「若奚獨樂?」回曰: 「夫子子奚獨憂?」孔子曰: 「先言爾志。」曰: 「吾昔聞之夫子曰: 『樂天知命故不憂』, 回所以樂也。 「孔子愀然有間曰:」有是言哉? 汝之意失矣。 此吾昔日之言爾, 請以今言為正也。 汝徒知樂天知命之無憂, 未知樂天知命有憂之大也。 今告若其實。 修一身, 任窮達, 知去來之非我, 亡變亂於心慮, 爾之所謂樂天知命之無憂也。 曩吾修《詩》《書》, 正禮樂, 將以治天下, 遣來世; 非但修一身治魯國而已。 而魯之君臣日失其序, 仁義益衰, 情性益薄。 此道不行一國與當年, 其如天下與來世矣? 吾始知《詩》《書》禮樂無救於治亂, 而未笑所以革之之方: 此樂天知命者之所憂。 雖然, 吾得之矣。 夫樂而知者, 非古人之謂所樂知也。 無樂無知, 是真樂真知; 故無所不樂, 無所不知, 無所不憂, 無所不為。 《詩》《書》禮樂, 何棄之有? 革之何為? 「顏回北面拜手曰: 「回亦得之矣。」出告子貢。 子貢茫然自失, 歸家淫思七日, 不寢不食, 以至骨立。 顏回重往喻之, 乃反丘門, 絃歌誦書, 終身不輟。

Trọng Ni ngồi không, Tử Cống vô hầu, thấy thầy có vẻ buồn, không dám hỏi, trở ra cho Nhan Hồi hay. Nhan Hồi cầm cây đờn lên gảy và ca. Khổng Tử nghe thấy, quả nhiên gọi vô hỏi:

– Có cái gì mà vui một mình vậy?

Hồi hỏi lại:

– Tại sao thầy buồn một mình vậy?

Khổng Tử đáp:

– Hãy nói cho thầy nghe nỗi vui của anh trước đã.

Hồi thưa:

– Con nghe có lần thầy dạy rằng hễ lạc thiên tri mệnh thì không có gì buồn cả, vì vậy mà con vui.

Khổng Tử trầm ngâm một lát rồi bảo:

– Ta có nói như vậy sao? Anh hiểu sai ý của ta rồi. Lời ta nói hồi trước đó, bây giờ anh theo lời ta sắp nói đây mà sửa lại. Anh chỉ hiểu được cái lẽ lạc thiên tri mệnh thì không có gì buồn mà chưa hiểu được rằng tuy lạc thiên tri mệnh mà cũng vẫn buồn. Nay ta giảng hết cho anh nghe: cứ sửa thân mình, thành công hay thất bại cũng mặc, biết rằng thăng hay trầm không quan hệ gì tới ta, không để cho những biến loạn làm bận lòng, đó anh hiểu lạc thiên tri mệnh thì vô ưu là như vậy.

Trước ta đã sửa lại Thi, Thư, định lại Lễ, Nhạc, mong dùng những sách đó để trị thiên hạ, truyền lại hậu thế, chứ không phải chỉ sửa riêng cái thân ta, trị riêng nước Lỗ mà thôi đâu. Mà vua tôi nước Lỗ càng ngày càng mất trật tự, nhân nghĩa càng ngày càng suy, tính tình càng ngày càng bạc. Như vậy là đạo không thi hành được ở trong một nước, ngay bây giờ đây, nói chi thi hành tới khắp thiên hạ, trong các đời sau nữa.

Bây giờ ta mới biết rằng Thi, Thư, Lễ, Nhạc không giúp được cho loạn hoá trị, mà chưa tìm được phương nào cải cách được xã hội được đây. Đó là cái lẽ lạc thiên tri mệnh mà vẫn còn buồn. Nhưng ta đã hiểu được một điều: cái chúng ta gọi là “lạc”, là “tri” không phải cái cổ nhân gọi là “lạc”, là “tri”. Cổ nhân cho rằng “vô lạc”, “vô tri” mới thực là “chân lạc”, “chân tri”. Được như vậy thì không cái gì là không vui, không cái gì là không biết, không cái gì là không buồn, không cái gì là không làm. Thi, Thư, Lễ, Nhạc cần gì phải bỏ đi, cần gì phải sửa lại?

Nhan Hồi hướng về phương Bắc, chắp tay vái thầy:

– Con cũng hiểu được lẽ đó.

Rồi trở ra kể lại cho Tử Cống nghe. Tử Cống hoang mang, như mất hồn, về nhà suy nghĩ lung bảy ngày, quên ngủ quên ăn, tới nỗi gầy trơ xương. Sau cùng Tử Cống trở lại nhà thầy, lại gảy đờn, ca hát, học kinh Thư, suốt đời không ngừng.

陳大夫聘魯, 私見叔孫氏。 叔孫曰: 「吾國有聖人。」
曰: 「非孔丘邪?」
曰: 「是也。」「何以知其聖乎?」
叔孫氏曰: 「吾常聞之顏回, 曰: 『孔丘能廢心而用形。 』」
陳大夫曰: 「吾國亦有聖人, 子弗知乎?」
曰: 「聖人孰謂?」
曰: 「老聃之弟子, 有亢倉之者, 得聃之道, 能以耳視而目聽。」
魯侯聞之大驚, 使上卿厚禮而致之。
亢倉子應聘而至。 魯侯卑辭請問之。
亢倉之曰: 「傳之者妄。 我能視聽不用耳目, 不能易耳目之用。」
魯侯曰: 「此增異矣。 其道奈何? 寡人終願聞之。」

亢倉子曰: 「我體合於心, 心合於氣, 氣合於神, 神合於無。 其有介然之有, 唯然之音, 雖遠在八荒之外, 逝在眉睫之內, 來幹我者, 我必知之。 乃不知是我七也孔四支之所覺, 心腹六臟之知, 其自知而已矣。」

魯侯大悅。 他日以告仲尼, 仲尼笑而不答。

Vị đại phu nước Trần đi sứ sang nước Lỗ, lại thăm viếng Tôn Thúc Thị, Tôn Thúc Thị bảo:

– Nước chúng tôi có một bậc thánh.

Vị đại phu hỏi:

– Phải ông Khổng Khâu không?

– Phải.

– Làm sao biết được là thánh?

– Tôi thường nghe Nhan Hồi bảo Khổng Khâu có thể bỏ cái tâm (không dùng cái tâm) mà vận dụng hình hài (tức ngũ quan) được.

Vị đại phu nước Trần bảo:

– Nước tôi cũng có một vị thánh nhân, ông biết không?

– Thánh nhân ư? Ai đó?

– Một đệ tử của Lão Đam tên là Cang Thương Tử học được cái đạo của Đam, có thể dùng tai mà trông, dùng mắt mà nghe.

Lỗ Hầu nghe vậy, kinh hoảng, sai một vị thượng khanh đem hậu lễ qua mời Cang Thương Tử. Cang Thương Tử nhận lễ và tới, Lỗ Hầu lễ độ hỏi, Cang Thương tử đáp:

– Người ta đồn bậy. Tôi có thể không dùng tai mắt mà nghe, trông được, nhưng không thể dùng tai thay mắt, mắt thay tai được.

Lỗ Hầu bảo:

– Vậy thì còn lạ hơn nữa; cách nào vậy, xin cho quả nhân được nghe.

Cang Thương Tử đáp:

– Cơ thể tôi hoà hợp với cái tâm, tâm hoà hợp với khí, khí hoà hợp với thần, thần hoà hợp với cái “vô”. Có một hình thể nào rất nhỏ xuất hiện, một thanh âm nào rất nhỏ nào thoảng qua, dù xa tít ngoài cõi bát hoang hoặc ở gần, tại sát mi mắt mà liên can đến tôi là tôi biết liền. Nhưng tôi không hiểu là do cảm giác của ngũ quan hay của các bộ phận trong người, (tôi chỉ biết) cái biết đó tự nhiên phát ra vậy thôi.

Lỗ Hầu mừng lắm, một hôm kể lại với Khổng Tử, Khổng Tử cười mà không nói.

子夏問孔子曰: 「顏回之為人奚苦?」
子曰: 「回之仁賢於丘也。」

曰: 「子貢之為人奚苦?」
子曰: 「賜之辨賢於丘也。」

曰: 「子路之為人奚若?」
子曰: 「由之勇賢於丘也。」

曰: 「子張之為人奚若?」
子曰: 「師之莊賢於丘也。」

子夏避席而問曰: 「然則四子者何為事夫子?」

曰: 「居! 吾語汝。 夫回能仁而不能反。 賜能辨而不能訥, 由能勇而不能怯, 師能莊而不能同。

兼四子之有以易吾, 吾弗許也, 此其所以事吾而不貳也。」

Tử Hạ hỏi Khổng tử:

– Nhan Hồi là người ra sao?

Khổng tử đáp:

– Hồi hơn ta về đức nhân.

Tử Hạ lại hỏi:

– Tử Cống là người ra sao?

– Tứ biện thuyết giỏi hơn ta.

Tử Hạ lại hỏi :

– Tử Lộ là người ra sao?

– Do dũng cảm hơn ta.

– Tử Trương là người ra sao?

– Sư trang nghiêm hơn ta.

Tử Hạ đứng dậy hỏi:

– Vậy thì sao bốn anh đó phải học thầy?

Khổng tử đáp:

– Ngồi xuống, ta giảng cho nghe.

Hồi có đức nhân nhưng không quyền biến.

Tứ có tài biện thuyết mà không biết giữ lời.

Do dũng cảm mà không biết có lúc nên nhát.

Sư trang nghiêm mà không biết hoà đồng với người.

Đổi cái của ta để lấy những đức của bốn anh đó thì ta không đổi.

 Vì vậy bốn anh đó một mực thờ ta làm thầy

子列子既師壺丘子林, 友伯昏瞀人, 乃居南郭。
從之處者, 日數而不及。 雖然, 子列子亦微焉, 朝朝相與辨, 無不聞。
而與南郭子連墻二十年, 不上謁請; 相遇於道, 目若不相見者。 門之徒役, 以為子列子與南郭子有敵不疑。

有自楚來者, 問子列子曰: 「先生與南郭子奚敵?」
子殛子曰: 「南郭子貌充心虛, 耳無聞, 目無見, 口無言, 心無知, 形無惕。 往將奚為? 雖然, 試與汝偕往閱。」

弟子四十人同行。 見南郭子, 果若欺魄焉而不可與接。

顧視子列子, 形神不相偶, 而不可與群。 南郭子俄而指子列子之弟子末行者與言, 衎衎然若專直而在在雄者。

子列子之徒駭之。 反舍咸有疑色。

子列子曰: 「得意者無言, 進知者亦無言。 用無言為言亦言, 無知為知亦知。 無言與不言, 無知與不知, 亦言亦知。 亦無所不言, 亦無所不知; 亦無所言, 亦無所知。 如斯而已。 汝奚妄駭哉?」

Thầy Liệt Tử sau khi cùng với bạn là Bá Hôn Mâu Nhân thôi học Hồ Khâu Tử Lâm rồi, lại ở Nam Quách, số người lại xin học có hàng trăm, tới hoài không ngớt, Liệt Tử không biết bao nhiêu nữa. Thầy trò sáng nào cũng thảo luận với nhau, xa gần không ai không biết tiếng.

 Nam Quách Tử ở sát vách hai chục năm mà hai người không bao giờ qua thăm hỏi nhau, gặp nhau ngoài đường thì làm như không trông thấy nhau. Môn đệ tin chắc rằng Liệt Tử và Nam Quách Tử hiềm khích nhau.

Có một người từ nước Sở lại, hỏi Liệt Tử:

– Tiên sinh có gì hiềm khích với Nam Quách Tử đấy?

Thầy Liệt Tử đáp:

– Nam Quách Tử bề ngoài như mọi người mà lòng thì hư tĩnh, tai không nghe, mắt không thấy, miệng không nói, tâm không biết, hình hài trơ trơ, qua thăm ông ấy làm gì. Nhưng chúng ta thử qua xem sao.

Thế là Liệt Tử cùng với bốn chục môn đệ qua nhà Nam Quách Tử, quả nhiên thấy ông ấy trơ trơ như pho tượng, không thể tiếp xúc, chuyện trò được. Nam Quách Tử liếc ngó Liệt Tử, vẻ xa vắng như tinh thần thoát khỏi xác. Rồi Nam Quách Tử bỗng bảo mấy đệ tử đứng hàng cuối của Liệt Tử: “Ta khen các người cương quyết hùng tâm chuyên cần học đạo”.

Bọn môn đệ Liệt Tử hoảng hốt ra về, người nào cũng có vẻ hoang mang. Liệt Tử bảo:

– Người nào đã đạt ý thì không nói; người nào biết rõ chân lí rồi thì cũng không nói. Không nói mà cũng là nói, không biết mà cũng là biết. Không có một lời nào với chẳng nói, không một tri thức nào với chẳng biết, thì cũng là nói, là biết. Mà như vậy cũng là không có gì không nói, không có gì không biết; mà cũng là không nói gì cả, không biết gì cả. Có vậy thôi, các anh sợ nỗi gì?

初子列子好游。 壺丘子曰: 「禦寇好游, 游何所好?」
列子曰: 「游之樂, 所玩無故。 人之遊也, 觀其所見; 我之遊也, 觀之所變。 游乎游乎! 未有能辨其游者。」

壺丘子曰: 「禦寇之遊固與人同歟, 而曰固與人異歟? 凡所見, 亦恆見其變。 玩彼物之無故, 不知我亦無故。 務外游, 不知務內觀。 外游者, 求備於物; 內觀者, 取足於身。 取足於身, 游之至也; 求備於物, 游之不至也。」

於是列子終身不出, 自以為不知游。

壺丘子曰: 「游其至乎! 至游者不知所適; 至觀者不知所眂, 物物皆游矣, 物物皆觀矣, 是我之所謂游, 是我之所謂觀也。

故曰: 游其至矣乎! 游其至矣乎!」

Mới đầu, thầy Liệt Tử thích du lịch. Hồ Khâu Tử bảo:

– Ngự Khấu thích du lịch, du lịch có gì đâu mà thích?

Liệt Tử đáp:

– Cái vui du lịch là được coi những cái mới. Những người khác du lịch là ngắm những cảnh mới, còn con du lịch để xem xét sự biến đổi. Du lịch! Du lịch! Ai biết được du lịch thực là du lịch thì phải ra sao?

Hồ Khâu Tử bảo:

– Cách anh du lịch với cách người khác du lịch thì cũng vẫn như nhau, mà sao bảo là khác? Ai nhìn cảnh thì cũng thấy sự biến đổi của nó. Anh thích ngắm vật mới mà không biết rằng cái bản ngã của ta cũng thay đổi hoài.

Người nào chỉ nghĩ du lịch là ngắm cảnh ngoài thì không biết chú trọng tới nội tâm mình. Ngắm cảnh ngoài là muốn cho vạn vật hoàn toàn, xét nội tâm mình là muốn thoả mãn ở trong lòng. Thoả mãn ở trong lòng là đạt cái mức cao nhất của du lịch, cầu cho vạn vật hoàn toàn thì không đạt được mức đó.

Từ đó, Liệt Tử suốt đời không đi du lịch nữa, tự cho rằng mình không biết cách du lịch.

Hồ Khâu Tử bảo : “Cái cao nhất của sự du lịch ở đâu? Ở chỗ không biết mình đi đâu. Cái mức cao nhất của sự quan sát sự vật là không biết mình nhìn cái gì nữa. (Đừng cố ý du lịch, cố ý quan sát thì) vật nào cũng là cơ hội cho mình du lịch, quan sát được. Tôi cho du lịch là như vậy, quan sát là như vậy. Cho nên bảo : Phải đạt cái mức cao nhất của du lịch! Phải đạt cái mức cao nhất của du lịch!”.

龍叔謂文摯曰: 「子之術微矣。 吾有疾, 子能已乎?」

文摯曰: 「唯命所聽。 然先言子所病之正。」

龍叔曰: 「吾鄉譽不以為榮, 國毀不以為辱; 得而不喜, 失而弗憂; 視生如死, 視富如貧, 視人如豕, 視吾如人。 處吾之家, 如逆旅之舍; 觀吾之鄉, 如戎蠻之國。 凡此眾疾, 爵賞不能勸, 弄罰不能威, 盛衰利害不能易, 哀樂不能移。 固不可事國君, 交親友, 御妻子, 制僕隸。 此奚疾哉? 奚方能已之乎?」

文摯乃命龍叔背明而立。

文摯自後向明而望之, 既而曰: 「嘻! 吾見子之心矣, 方寸之地虛矣, 幾聖人也! 子心六孔流通, 一孔不達。 今以聖智為疾者, 或由此乎! 非吾淺術所能已也。」

Long Thúc bảo Văn Chí :-

– Y thuật của ông huyền diệu! Tôi bị một bệnh, ông trị cho được không?

Văn Chí đáp:

– Xin vâng, nhưng ông cho biết bệnh gì đã.

Long Thúc đáp:

– Người trong làng khen tôi, tôi không lấy làm vinh, người trong nước chê tôi, tôi không thấy làm nhục; được đã không mừng, mất cũng không buồn; tôi coi sống với chết cũng như nhau, giàu nghèo như nhau; coi mọi người khác như loài heo, mà tự coi tôi cũng như mọi người khác.

Tôi ở trong nhà mà tự coi là quán trọ, coi làng tôi như nước ngoài. Ngoài mấy tật đó, tôi lại còn coi thường tước quí, chẳng sợ hình phạt; thịnh suy lợi hại không làm thay đổi được lòng tôi, vui buồn cũng không làm động lòng tôi, cho nên tôi không thể thờ vua giúp nước được, không thể thân với bạn bè bà con được, kiềm chế vợ con, sai khiến tôi tớ được.

Tôi có bệnh gì vậy, ông? Có phương nào trị được không?

Văn Chí bảo Long Thúc quay lưng ra chỗ sáng, rồi mình đứng ở phía sau hướng ra phía sáng mà xem xét. Xem kĩ rồi bảo:

– A! Tôi thấy con tim của ông rồi, nó rỗng một tấc vuông, gần như tim một bậc thánh. Sáu lỗ tim của ông đều thông, chỉ có một lỗ là nghẹt thôi. Ngày nay người ta cho cái trí sáng suốt của thánh nhân là một thứ bệnh, có lẽ đó là bệnh của ông chăng? Y thuật nông cạn của tôi không trị được thứ bệnh đó.

鄭之輔澤多賢, 東里多才。 圃澤之役有伯豐子者, 行過東里, 遇鄧析。

觀析顧其徒而笑曰: 「為若舞彼來者奚苦?」其徒曰: 「所願知也。」

鄧析謂伯豐子曰: 「汝知養養之義乎? 受人養而不能自養者, 犬豕之類也; 養物而物為我用者, 人之力也。 使汝之徒, 食而飽, 衣而息, 執政之功也。 長幼群聚, 而為牢藉庖廚之物, 奚異犬豕之類乎?」

伯豐子不應。

伯豐子之從者越次而進曰: 「大夫水聞齊魯之多相乎? 有善治土木者, 有善治金革者, 有善治聲樂者, 有善治書數乾, 有善治軍旅者, 有善治宗廟者, 群才備了。 而無相位者, 無能相使者。 而位之者無知, 使之者無能, 而知之與能, 為之使焉。 執政者乃吾之所使, 子奚矜焉?」

鄧析無以應, 目其徒而退。

Ở nước Trịnh, miền Phố Trạch có nhiều người hiền (trỏ hạng ẩn dật), miền Đông Lí thì có nhiều người tài (về việc trị nước).

Trong bọn đệ tử ở Phố Trạch, có người tên là Bá Phong Tử. Bá Phong Tử đi qua Đông Lí, gặp Đặng Tích, Đặng Tích quay lại cười cười và nói với môn đệ:

– Chúng ta thử trêu gã kia xem sao?

Bọn đệ tử đáp:

– Thế thì thú lắm.

Đặng Tích bèn bảo Bá Phong Tử:

– Các anh hiểu cái nghĩa nuôi người và được người nuôi không? Không tự nuôi mình được, phải để cho người ta nuôi, đó là loài chó, loài heo; còn người thì nuôi vật để sai khiến chúng. Các anh được ăn no, mặc ấm, là nhờ công của những người cầm quyền đó. Bọn các anh quần tụ nhau, khi vô sự thì được người ta nuôi trong chuồng, trong hàng rào, hữu sự thì bị đưa vào bếp, có khác gì loài chó loài heo đâu.

Bá Phong Tử làm thinh, nhưng một đệ tử ở sau tiến lên đáp:

– Quan đại phu có nghe ở Tề, Lỗ có nhiều người khéo léo không? Người thì giỏi công việc đất, gỗ, người thì giỏi việc kim khí và đồ da, người thì giỏi âm nhạc, người thì giỏi sổ sách, tính toán, người thì giỏi cầm quân, người thì giỏi cúng tế ở tôn miếu, không thiếu một tài năng nào; nhưng những người tài giỏi đó, không ai được cầm quyền trị dân, không sai khiến nhau. Mà những kẻ ở chức trị dân, sai khiến người khác thì lại không biết gì cả, không có tài năng gì cả, họ sai khiến những người thông minh, có tài năng. Vậy bọn cầm quyền kia, chính nhờ chúng tôi mà có địa vị đấy. Có gì mà các ông tự đắc!

Bọn Đặng Tích không biết đáp sao, ngó bọn đồ đệ rồi rút lui.

公儀伯以力聞諸侯, 堂谿公言之於周宣王, 王備禮以聘之。

公儀伯至, 觀形, 懦夫也。

宣王心惑而疑曰: 「女之力何如?」

公儀伯曰: 「臣之力能折春螽之股, 堪秋蟬之翼。」

王作色曰: 「吾之力者能裂犀兕之革。 曳九牛之尾, 猶憾其弱。 女折春螽之股, 堪秋蟬之翼, 而力聞天下, 何也?」

公儀伯長息退席曰:

「善哉, 王之問也! 臣敢以實對。 臣之師有商丘子者, 力無敵於天下, 而六親不知, 以未嘗用其力故也。 臣以死事之。 乃告臣曰: 『人欲見其所不見, 視人所不窺; 欲得其所不得, 修人所不為。 故學視者先見輿薪, 學聽者稱聞撣鐘。 夫有易於內者, 無難於外。 於外無難, 故名不出其一家。 』今臣之名聞於諸侯, 是臣諱師之教, 顯臣之能者也。 然則臣之名不以負其力者也, 以能用其力者也, 不猶愈於負其力者乎?」

Trong số các chư hầu, Công Nghi Bá nổi tiếng là có sức mạnh. Đường Khuê công tâu với vua Chu Tuyên Vương. Tuyên Vương sửa soạn lễ vật để mời Công Nghi Bá tới.

Công Nghi Bá tới, Tuyên Vương coi hình dáng có vẻ yếu ớt, sinh nghi hỏi:

– Sức của ngươi ra sao?

Công Nghi Bá đáp:

– Sức của thần có thể bẻ gãy càng con giọt sành mùa xuân, mang được cánh con ve mùa thu.

Tuyên Vương nổi giận, bảo:

– Sức bọn dũng sĩ của ta có thể xé da một con tê, nắm đuôi chín con bò mà kéo (lùi lại), mà ta còn cho là yếu; ngươi bẻ gãy được càng con giọt sành mùa xuân, mang được cánh ve mùa thu, mà nổi tiếng là mạnh trong thiên hạ, sao vậy?

Công Nghi Bá thở dài, đương ngồi trên chiếu, đứng dậy, tâu:

– Câu hỏi của đại vương thật hay, thần xin cứ thực mà đáp: Thầy của thần là Thương Khâu Tử, vào hạng vô địch trong thiên hạ, mà người thân trong nhà không ai biết là vì không bao giờ dùng sức vậy.

Thần thờ thầy tới khi thầy mất, có lần được thầy bảo: “Người nào muốn thấy những cái người khác không thấy thì phải nhìn cái người khác không nhìn; người nào muốn có những cái người khác không có thì phải làm những cái người khác không làm. Cho nên muốn tập trông thì mới đầu phải nhìn một chiếc xe củi; muốn tập nghe thì mới đầu phải lắng nghe tiếng chuông”.

Cái gì dễ thực hiện ở trong thì khó thực hiện ở ngoài. Không gặp cái khó ở ngoài, cho nên danh tiếng không truyền ra khỏi cửa. Nay thần nổi danh khắp chư hầu là làm trái lời giáo huấn của thầy mà để cho người khác biết tài năng của thần.

 Nhưng thần sở dĩ nổi danh không phải là vì thần cậy sức mạnh mà vì thần biết dùng sức mạnh, như vậy chẳng hơn là cậy sức mạnh ư?

堯治天下五十年, 不知天下治歟, 不治歟? 不知億兆之願戴己歟, 不願戴己歟?

顧問左右, 左右不知。 問外朝, 外朝不知。 問在野, 在野不知。

堯乃微服游於康衢, 聞兒童謠曰: 「立我蒸民, 莫匪爾極。 不識不知, 順帝不則。」

堯喜問曰: 「誰教爾為此言?」

童兒曰: 「我聞之大夫。」

問大夫, 大夫曰: 「古詩也。」

堯還宮, 召舜, 因禪以天下。 舜不辭而受之。

Vua Nghiêu trị thiên hạ năm chục năm rồi mà không biết thiên hạ có bình trị không. Không biết hàng ức hàng triệu người dân đó có tôn phụng mình không.

Ông hỏi các người chung quanh (các đại thần), họ không biết; hỏi những người ngoài vô triều, họ cũng không biết; hỏi dân quê, dân quê cũng không biết. Ông bèn cải trang vi hành ở Khang Cù, nghe thấy trẻ con hát bài này:

Nuôi khắp dân ta

Đó là công lớn của người;

Dân chẳng biết gì cả

Chỉ theo mệnh trời.

Vua Nghiêu mừng lắm, hỏi:

– Ai dạy các con bài đó?

Chúng đáp:

– Quan đại phu dạy chúng con.

Vua Nghiêu tìm hỏi quan đại phu, quan đại phu đáp:

– Đó là một bài thơ cổ.

Vua Nghiêu trở về cung, vời ông Thuấn lại, nhường ngôi cho. Ông Thuấn nhận.

—————
(lược bỏ ba truyện không lý thú)
***************   

XUNG HƯ CHÂN KINH

CHƯƠNG V

THANG VẤN

沖虛真經

湯問 第五

***

殷湯問於夏革曰: 「古實有物乎?」夏革曰: 「古初無物, 今惡得物? 後之人將謂今之無物可乎?」殷湯曰: 「然則物無先後乎?」夏革曰: 「物之終始, 初無極已。 始或為終, 終或為始, 惡知其紀? 然自物之外, 自中之先, 朕所不知民。」殷湯曰: 「然則上下八方有極盡乎?」革曰: 「不知也。」湯固問。 革曰: 「無則無極, 有則有盡; 朕何以知之? 然無極之外, 復無無極, 無盡之中, 復無無盡。 無極復無無極, 無盡復無無盡。 朕以是知其無極無盡也, 而不知其有極有盡也。」

湯又問曰: 「四海之外奚有?」革曰: 「猶齊州也。」湯曰: 「汝奚以實之?」革曰: 「朕東行至營, 人民猶是也。 問營之東, 復猶營也。 西行至豳, 人民猶是也。 問豳之西, 復猶豳也。 朕以是知四海四荒四極之不異是也。 故大小相含, 無窮極也。 含萬物者亦如含天地; 含萬物也故不窮, 含天地也故無極。 朕亦焉知天地之表不有大天地者乎? 亦吾所不知也。 然則天地亦物與。 物有不足, 故昔者女媧氏煉五色石以補其闕; 斷鰲之足以立四極。 其後共工氏與顓頊爭為帝, 怒而觸不周之山, 折天柱, 絕地維, 故天傾西北, 日月星辰就焉; 地不滿東南, 故百川水潦歸焉。」

(Chúng tôi bỏ nửa trên đại ý Hạ Cách đáp vua Thang rằng vũ trụ vô cùng vô tận; mà bắt đầu dịch từ:

Thang hựu vấn: Tứ hải chi ngoại….)

Vua Thang lại hỏi (quan đại phu Hạ Cách) :

– Ở bên kia bốn bể có gì không?

Hạ Cách đáp:

– Cũng như ở Tề Châu (tức Trung Quốc) này vậy.

– Lấy gì làm bằng cớ?

– Tôi đã đi về phía đông, tới nước Dinh, nhân dân ở đó cũng như ở đây ; hỏi người ở đó phía đông nước Dinh ra sao, họ đáp cũng như nước Dinh; tôi đi về phía tây, tới nước Bân, nhân dân ở đó cũng như ở đây, hỏi người ở đó về phía tây nước Bân ra sao, họ đáp cũng như ở nước Bân. Cho nên tôi cho rằng bên kia tứ hải (bốn bể), tứ hoang (bốn cõi hoang), tứ cực (bốn cõi cùng cực) cũng không khác gì ở đây.

Cho nên cái lớn trùm cái nhỏ, không có cùng cực. Cái bao trùm vạn vật, cũng là cái bao trùm trời đất. Bao trùm vạn vật, trời đất, cho nên không có cùng cực. Nhưng làm sao tôi biết được ở ngoài trời đất của chúng ta có một trời đất lớn hơn nữa không? Điều đó ngoài sự hiểu biết của tôi.

Nhưng trời đất cũng là “vật”, mà đã là vật thì không hoàn toàn, cho nên hồi xưa bà Nữ Oa luyện đá ngũ sắc để vá chỗ khuyết của trời, chặt chân của con ngao để chống đỡ tứ cực. Về sau họ Cung Công tranh nhau ngôi Hoàng Đế với Chuyên Húc, giận mà đập núi Bất Chu, làm gãy mất cái trụ đỡ trời, đứt mất dây cột đất, cho nên trời mới nghiêng về phía tây bắc, mà mặt trời mặt trăng, các ngôi sao chạy về phía đó; còn đất thì khuyết ở phía đông nam, cho nên trăm sông lớn nhỏ đều đổ về phía đó.

湯又問: 「物有鉅細乎? 有修短乎? 有同異乎?」革曰: 「渤海之東不知幾億萬里, 有大壑焉, 實惟無底之穀, 其下無底, 名曰歸墟。 八紘九野之水, 天漢之流, 莫不注之, 而無增無減焉。 其中有五山焉: 一曰岱輿, 二曰員嶠, 三曰方壺, 四曰瀛洲, 五曰蓬萊。 其山高下周旋三萬里, 其頂平處九千里。 山之中間相去七萬里, 以為鄰居焉。 其上臺觀皆金玉, 其上禽獸皆純縞。 珠玕之樹皆叢生, 華實皆有滋味, 食之皆不老不死。 所居之人皆仙聖之種; 一日一夕飛相往來者, 不可數焉。 而五山之根, 無所連著, 常隨潮波上下往還, 不得暫峙焉。 仙聖毒之, 訴之於帝。 帝恐流於西極, 失群聖之居, 乃命禺疆使巨鰲十五舉首而戴之。 迭為三番, 六萬歲一交焉。 五山始峙。 而龍伯之國, 有大人, 舉足不盈數步而暨五山之所, 一釣而連六鰲, 合負而趣, 歸其國, 灼其骨以數焉。 於是岱輿員嶠二山流於北極, 沈於大海, 仙聖之播遷者巨億計。 帝憑怒, 侵減龍伯之國使阨。 侵小龍伯之民使短。 至伏羲神農時, 其國人猶數十丈。 從中州以東四十萬里, 得憔僥國。 , 人長一尺五寸。 東北極有人名曰諍人, 長九尺。 荊之南有冥靈者, 以五百歲為春, 五百歲為秋。 上古有大椿者, 以八竿歲為春, 八竿歲為秋。 朽壤之上有菌芝者, 生於朝, 死於晦。 春夏之月有蠓蚋者, 因雨而生, 見陽而死。 終發北之北有溟海者, 天池也, 有魚焉。 其廣數千里, 其長稱焉, 其名為鯤。 有鳥焉。 其名為鵬, 翼若垂天之雲, 其體稱焉。 世豈知有此物哉? 大禹行而見之, 伯益知而名之, 夷堅聞而志之。 江浦之間生麼蟲, 其史曰焦螟, 群悅而集於蚊睫, 弗相觸也。 棲宿去來, 蚊弗覺也。 離朱子羽, 方晝拭眥揚眉而望之, 弗見其形; 鯱(換魚為角)俞師曠方夜擿耳俛首而聽之, 弗聞其聲。 唯黃帝與容成子居空峒之上, 同齋三月, 心死形廢; 徐以神視, 塊然見之, 若嵩山之阿; 徐以氣聽, 砰然聞之若雷霆之聲。 吳、楚之國有大木焉, 其名為櫾, 碧樹而冬生, 實丹而味酸; 食其皮汁, 已憤厥之疾。 齊州珍之, 渡淮而北, 而化為枳焉。 鸜鵒不逾濟, 貉逾汶則死矣。 地氣然也。 雖然形氣異也, 性鈞已, 無相易已。 生皆全已, 分皆足已。 吾何以識其鉅細? 何以識其修短? 何以識其同異哉?」

Vua Thang lại hỏi:

– Các vật có lớn nhỏ, dài ngắn, giống nhau khác nhau không?

Hạ Cách đáp:

– Ở phía đông Bột Hải, không biết bao nhiêu ức vạn dặm, có một cái vực lớn, không đáy, gọi là Qui Khư. Tất cả nước ở bát hoành, cửu dã, tất cả nước ở Ngân Hà đều chảy vào đó mà mực nước không lên không xuống. Giữa có năm ngọn núi: Đại Dư, Viên Kiệu, Phương Hồ, Doanh Châu và Bồng Lai.

Châu vi chân núi là ba vạn dặm, đỉnh núi bằng phẳng, chu vi chín ngàn dặm; núi nọ cách núi kia bảy vạn dặm, mà như hàng xóm với nhau. Lâu đài trên núi đều bằng vàng ngọc; các cầm thú đều màu trắng, các cây quí đều sum suê, hoa quả đều thơm ngon, ăn vô thì trường sinh bất tử. Người ở trên núi đó đều là hạng tiên, thánh, sớm tối họ bay đi thăm nhau, nhiều không kể được. Mới đầu năm ngọn núi đó không dính vào đáy biển, thường trôi nổi, theo thuỷ triều mà lên xuống, không tạm đứng yên được; các vị thánh tiên bất mãn, phàn nàn với Thượng Đế.

Thượng Đế sợ những ngọn núi đó trôi về tây cực, không có chỗ ở cho các vị thánh tiên, ra lệnh cho thần Ngu Cương, sai mười lăm con ba ba lớn ngóc đầu lên đội núi, chia làm ba đoàn, cứ sáu vạn năm lại thay phiên nhau, từ đó năm ngọn núi mới đứng yên mà không lắc lư nữa.

Nhưng một hôm có một người khổng lồ ở nước Long Bá (…) lại gần năm cái núi đó mà câu một lần được sáu con ba ba, vác trên lưng đem về, đốt mai để bói. Do đó mà hai ngọn núi Đại Dư và Viên Kiệu trôi về phía bắc cực, chìm xuống biển lớn, các tiên thánh tản mác đi có tới số ức (?). Thượng Đế nổi giận, thu hẹp nước Long Bá lại, và làm cho dân nước đó nhỏ con lại, nhưng tới đời Phục Hi, Thần Nông, người nước đó vẫn còn cao vài chục trượng.

Ở phía đông, cách Trung Châu (tức Trung Hoa) bốn chục vạn dặm, có nước Tiêu Nghiêu, người cao một thước năm tấc, ở góc đông bắc, có giống người tên là Tránh, cao chín tấc.

Ở phía nam nước Kinh (tức nước Sở) có cây minh linh, mùa xuân là năm trăm năm, mùa thu là năm trăm năm. Thời thượng cổ có cây xuân lớn, mùa xuân là tám ngàn năm, mùa thu là tám ngàn năm. Trên đất thối có thứ nấm sáng sinh chiều chết. Mùa xuân và mùa hè có loài mông nhuế sinh ra trong lúc mưa và trời nắng lên thì chết.

Ở phía bắc Chung Bắc có một cái biển gọi là ao trời, biển đó có loài cá chiều ngang là mấy ngàn dặm, chiều dài xứng với chiều ngang, gọi là con cá côn; có loài chim gọi là chim bằng, cánh như cánh mây rũ ở trên trời, thân mình cũng xứng với cánh. Người đời đâu biết được những vật đó. Vua Đại Vũ đi tới nơi mà thấy được, ông Bá Ích biết những loài đó mà đặt tên cho, ông Di Kiên nghe nói mà ghi lại.

Ở khoảng giữa sông Giang và sông Phố, có loài trùng rất nhỏ gọi là con tiêu minh, bay từng đàn rồi đáp xuống lông mi mắt con muỗi mà không chạm vào nhau. Chúng ở nhờ, đi đi lại lại mà con muỗi không hay; những người mắt cực sáng như Li Chu, Tử Vũ giữa ban ngày, dụi con mắt giương mi cố nhìn mà cũng không thấy; những người tai cực thính như Đệ Du, Sư Khoáng giữa đêm (tĩnh mịch) cúi đầu lắng nghe mà không thấy tiếng của chúng. Chỉ có vua Hoàng Đế với ông Dung Thành tử ở trên núi Không Đồng, cùng trai giới ba tháng, lòng như tắt, hình hài tiều tuỵ, mới lần lần dùng tinh thần mà thấy rõ chúng lù lù như sườn núi Tung Sơn, lần lần dùng cái khí mà nghe thấy tiếng ầm ầm như sét.

Nước Ngôi và nước Sở có một loại cây lớn tên là cây dữu, lá xanh biếc, mùa đông mới nở hoa, trái đỏ và vị chua, vỏ nó trừ được bệnh sốt rét cơn. Người Tề Châu quí cây đó lắm, đem nó trồng ở phía bắc sông Hoài, nhưng nó biến tính đi thành cây chỉ.  Loài cù dục không vượt được sông Tế, loài hạc vượt sông Vấn thì chết, đó là do khí hậu vậy.

Các loài, tuy hình, khí khác nhau, nhưng đều được bẩm thụ cái tính riêng của trời đất, không thay đổi lẫn nhau; đời sống của mỗi loài đều hoàn hảo, thoả mãn về phận của mình. Làm sao biết được thế nào là lớn và nhỏ, là dài và ngắn, là giống nhau và khác nhau.

太形、王屋二山, 方七百里, 同萬仞。 本在冀州之南, 河陽之北。 北山愚公者, 年且九十, 面山而居。 懲山北之寒塞, 出入之迂也。 聚室而謀曰: 「吾與汝畢力平險, 指通豫南, 達於漢陰, 可乎?」雜然相許。 其妻獻疑曰: 「以君之力, 曾不能損魁父之丘, 如太形、王屋何? 且焉置土石?」雜曰: 「投諸渤海之尾, 隱土之北。」遂率子孫荷擔者三夫, 叩石墾壤, 箕畚運於渤海之尾。 鄰人京城氏之孀妻, 有遣男, 始齔, 跳往助之。 寒暑易節, 始一反焉。 河曲智叟笑山之一毛, 其如土石何? 「北山愚公長息曰: 「汝心不固, 固不可徹, 曾不若孀妻弱子。 雖我之死, 有子存焉; 子又生孫, 孫又生子; 子又有子, 子又有孫; 子子孫孫, 無窮匱也, 而山不加增, 何苦而不平?」河曲智叟亡以應。 操蛇之神聞之, 懼其不已也, 告之於帝。 帝感其誠, 命萬蛾氏二子負二山, 一厝朔東, 一厝雍南。 自此冀之南, 漢之陰, 無隴斷焉。

Hai ngọn núi Thái Hình và Vương Ốc rộng bảy trăm dặm vuông, cao vạn nhẫn, xưa kia vốn ở phía nam Kí châu và phía bắc Hà Dương.

Ở gần Bắc Sơn, có ông Ngu Công, tuổi đã chín mươi, nhà đối diện với núi, bực mình rằng núi chắn lối, sự giao thông với miền ngoài hoá ra xa xôi bất tiện. Ông bèn hội họp con cháu trong nhà bảo:

– Ta và các con tận lực san bằng núi đó để có đường đi thẳng ra Dự Nam, tới Hán Âm, được không?

Mọi người đều bằng lòng, duy có bà vợ tỏ ý nghi ngờ:

– Sức ông không san nổi ngọn núi Khôi Phủ, làm sao san nổi núi Thái Hình và núi Vương Ốc? Với lại san rồi, đem đất, đá đổ vào đâu?

Những người khác đều đáp:

– Đổ xuống phía cuối Bột Hải, phía bắc Ẩn Thổ.

Thế rồi ông lão sai ba người con cháu đập đá, đào đất, đổ vào sọt, đội vác, khiêng lại đổ ở phía cuối Bột Hải. Một quả phụ (chồng tên là Kinh Thành), ở gần đó, có một đứa con trai mới thay răng sữa, cũng lại tiếp tay, tới hết đông, qua hè mới trở về nhà.

Ông lão Trí Tẩu ở Hà Khúc hay tin, chế nhạo và ngăn cản:

– Sao mà ngu thế! Già nua, yếu đuối như vậy, không nhổ được một cọng cỏ trên núi, mà đòi san bằng đất với đá.

Ngu Công ở Bắc Sơn, thở dài, đáp:

– Chú thật vô tình, lòng không sao chuyển được, không bằng người đàn bà goá và đứa bé yếu ớt này. Tôi chết thì còn con tôi, con tôi lại sinh cháu, cháu tôi lại sinh chắt, chắt tôi lại sinh con, con nó lại sinh cháu; con con cháu cháu, sinh hoài bất tuyệt, không lúc nào thiếu người, mà núi kia thì cứ như vậy chứ không tăng, vậy lo gì không san phẳng được?

Ông Trí Tẩu ở Hà Khúc không biết đáp sao.

Vị thần chỉ huy loài rắn hay chuyện đó, sợ việc san phẳng núi không thành, tâu với Thượng Đế. Thượng Đế cảm động vì lòng thành của Ngu Công, sai hai người con của thần Khoa Nga đội hai trái núi đó, đặt một trái ở Sóc Đông, một trái ở Ung Nam. Từ đó ở phía nam Kí Châu và ở phía bắc Hà Dương không còn ngọn núi nào ngăn cản bộ hành nữa.

夸父不量力, 欲追日影, 逐之於隅穀之際。

渴欲得飲, 赴飲河渭。 河謂不足, 將走北飲大澤。

未至道, 渴而死。

棄其杖, 屍膏肉所浸, 生鄧林。

鄧林彌廣數千里焉。

Khoa Phủ không tự lượng sức, muốn đuổi bắt bóng mặt trời.

Đuổi tới biên giới Ngung Cốc, khát quá, xuống uống nước sông Hà, sông Vị.

Uống cạn hai sông đó mà chưa đả khát, Khoa Phủ muốn lên phương bắc uống nước ở cái đầm lớn, giữa đường vì khát quá mà chết, để lại cây gậy.

Gậy thấm đầy thịt xương tan rửa của ông mà đâm rễ, lá thành rừng Đặng, rừng này rộng mấy ngàn dặm.

禹之治水土也, 迷而失塗, 謬之一國。 濱北海之北, 不知距齊州幾千萬里, 其國名曰終北, 不知際畔之所齊限。 無風雨霜露, 不生鳥、獸、蟲、魚、草、木之類。 四方悉平, 周以喬陟。 當國之中有山, 山名壺領, 狀若甔甀。 頂有口, 狀若員環, 名曰滋穴。 有水湧出, 名曰神瀵, 臭過蘭椒, 味過醪醴。 一源分為四埒, 注於山下; 經營一國, 亡不悉遍。 土氣和, 亡札厲。 人性婉而從, 物不競不爭。 柔心而弱骨, 不驕不忌; 長幼儕居, 不君不臣; 男女雜游, 不媒不聘; 緣不而居, 不耕不稼; 土氣溫適, 不織不衣; 百年而死, 不夭不病。 其民孳阜亡數, 有喜樂, 亡衰老哀苦。 其俗好聲, 相攜醉醉經旬乃醒。 沐浴神瀵, 膚色脂澤, 香氣經旬乃歇。 周穆王北遊, 過其國, 三年記歸。 既反周室, 慕其國, 惝(右加攵)然自失。 不進酒肉, 不召嬪御者數月, 乃復。

Hồi ông Vũ đấp đập đào sông, có lần lạc đường, tới một nước ở bờ phía bắc Bắc Hải, không biết là cách Tề Châu mấy vạn dặm.

Nước đó tên là Chung Bắc, không biết biên giới tới đâu, không có gió mưa, không có sương, giá, không có các loài cầm thú, trùng, cá, cỏ cây, bốn phương bằng phẳng, chỗ nào cũng là bình nguyên cao.

Ở giữa nước đó có một ngọn núi gọi là Hồ Lĩnh, coi như cái lọ, đỉnh có miệng như cái vòng tròn, gọi là “lỗ nước”, nước ở trong phun ra, gọi là suối thần. Nước thơm hơn hương lan, hồ tiêu, vị ngon hơn rượu “lao”, rượu “lê”, một nguồn chia làm bốn dòng suối chảy xuống chân núi, rồi chảy qua khắp nước, không miền nào không tới.

 Khí đất ấm áp, không sinh ra bệnh dịch. Dân chúng nhu thuận, có tính thoả hiệp, không ganh đua; lòng hiền hoà, cơ thể mềm mại, không kiêu căng, không hiềm kị, già trẻ ở chung với nhau, không có vua, không có bề tôi.

Đàn ông đàn bà ở lẫn lộn với nhau, không có mai mối, cưới gã. Họ ở theo bờ sông, không cày không cấy. Khí hậu ấm áp, nên họ không dệt, không bận quần áo. Họ sống trăm tuổi rồi chết, không ai ốm đau, không ai chết yểu, dân số tăng lên vô số kể.

 Ai cũng sung sướng, vui vẻ, không ai suy nhược già nua, buồn rầu, đau khổ.
Họ thích đàn hát, nắm tay nhau mà ca hát suốt ngày không dứt.
Khi đói mệt, họ uống nước Suối Thần, sức mạnh cùng tinh thần lại phục hồi; nếu uống quá thì say, mười ngày sau mới tỉnh.

Họ tắm nước “suối thần”, da dẻ tươi nhuận, mười ngày sau hương thơm mới hết.

Vua Chu Mục vương đi chơi phương bắc, tới nước đó, ba năm quên về.

Khi trở về cung điện, nhớ nước đó quá, rầu rĩ như mất hồn, không buồn ăn uống, không gần cung tần, mấy tháng sau mới nguôi.

管仲勉齊桓公, 因游遼口, 俱之其國。 幾尅舉, 隰朋諫曰: 「君舍齊國之廣, 人民之眾, 山川之觀, 殖物之阜, 禮義之盛, 章服之美, 妖靡盈庭, 忠良滿朝, 肆咤則徒卒百萬, 視撝則諸侯從命, 亦奚羨於彼, 而棄齊國之社稷, 從戎夷之國乎? 此仲父之耄, 奈何從之?」桓公乃止, 以隰朋之言告管仲, 仲曰: 「此固非朋之所及也。 臣恐彼國之不可知之也。 齊國之富奚戀? 隰朋之言奚顧?」

南國之人, 祝發而裸; 北國之人, 鞨巾而裘; 中國之人, 冠冕而裳。 九土所資, 或農或商或田或漁, 如冬裘夏葛, 水舟陸車, 默而得之, 性而成之。 越之東有輒木之國, 其長子生, 則鮮而食之, 謂之宜弟。 其大父死, 負其大母而棄之, 曰: 「鬼妻不可以同居笮。」楚之南有炎人之國, 其親戚死, 咼其肉而棄, 然後埋其具, 乃成為孝子。 秦之西有儀渠之國者, 其親戚死。 聚柴只而焚之。 燻則煙上, 謂之登遐, 然後成為孝子。 此上以為政, 下以為俗。 而未足為異也。

(Cắt bỏ một đoạn đầu đại ý Quản Trọng rủ Tề Hoàn Công đi chơi các nước ở Liêu Khẩu, Thấp Bằng ….

Bắt đầu dịch từ: Nam quốc chi nhân bị phát nhi khoả)

Dân các nước phương Nam cắt tóc, khoả thân, người các nước phương bắc chít khăn và bận áo lông, người Trung Quốc đội mũ và bận áo dài (…).

Ở phương Đông nước Việt có nước Vĩnh Mộc, khi sinh đứa con đầu lòng thì người ta xẻ ra mà ăn thịt, bảo như vậy có lợi cho những đứa con sau; hễ ông mà mất thì con cháu cõng bà đem bỏ ở một nơi xa, bảo không thể ở chung với vợ của quỉ (người đã chết) được.

Ở phía nam nước Sở, có nước của những người Viêm, khi cha mẹ mất thì cắt lấy thịt liệng đi, còn xương thì đem chôn, như vậy mới là báo hiếu.

Ở phía tây nước Tần, có nước Nghi Cừ, cha mẹ chết thì chất củi mà thiêu, khói bốc lên, họ bảo cha mẹ “lên cõi xa”, như vậy mới là báo hiếu.

Những thói đó, người ở trên (các nước đó) cho là hợp pháp, người dưới cho là hợp tục, không lấy làm lạ.

孔子東遊, 見兩小兒辯鬭。

問其故, 一兒曰: 「我以日始出時去人近, 而日中時遠也。」

一兒以日初出遠, 而日中時近也。

一兒曰: 「日初出大如車蓋, 及日中, 則如盤盂, 此不為遠者小而近者大乎?」

一兒曰: 「日初出滄滄涼涼, 及其目中, 如探湯, 此不為近者熱而遠者涼乎?」

孔子不能決也。

兩小兒笑曰: 「孰汝多知乎?」

Khổng Tử đi chơi ở phía Đông, thấy hai đứa nhỏ cãi nhau. Hỏi duyên cớ, một đứa đáp:

– Con bảo rằng mặt trời khi mới mọc thì ở gần chúng ta, mà giữa trưa, ở xa chúng ta.

Đứa kia bảo:

– Con thì cho rằng mặt trời khi mới mọc ở xa chúng ta mà giữa trưa thì ở gần.

Đứa thứ nhất cãi:

– Mặt trời mới mọc lớn như bánh xe, giữa trưa nhỏ như cái mâm, hoặc như cái chén. Ở xa thì nhỏ, ở gần thì lớn, chẳng phải vậy ư?

Đứa kia đáp:

– Mặt trời mới mọc thì không khí mát mẻ, giữa trưa thì nóng như nước sôi. Ở gần thì nóng, ở xa thì mát, như vậy mới đúng chứ!

Khổng Tử không giải quyết nổi.  Hai đứa đó cười, bảo:

– Vậy mà người ta bảo ông biết nhiều chứ.

均, 天下之至理也, 連於形物亦然。

均發均縣輕重而發絕, 發不均也。 均也, 其絕也, 莫絕。

人以為不然, 自有笑其然者也。 詹何以獨繭絲為綸, 芒針為鉤, 荊篠為竿, 剖粒為餌, 引盈車之魚於百仞之淵、汨流之中, 綸不絕, 鉤不伸, 竿不橈。

楚王聞而異之, 召問其故。

詹何曰: 「臣聞先大夫之言。 蒲且子之弋也, 弱弓纖繳, 乘風振之, 連雙鶬於青雲之際。 用心專, 動手均也。 臣因其事, 放而學釣, 五年始盡其道。 當臣之臨河持竿, 心無雜慮, 唯魚之念; 投綸沉鉤, 手無輕重, 物莫能亂。 魚見臣之鉤餌, 猶沉埃聚沫, 吞之不疑。 所以能以弱制強, 以輕致重也。 大王治國誠能若此, 則天下可運於一握, 將亦奚事哉?」

楚王曰: 「善!」

Quân bình là luật rất lớn trong thiên hạ, ngay về vật hữu hình cũng vậy. Treo hai vật vào một sợi tóc, nếu không quân bình mà một vật nặng một vật nhẹ thì sợi tóc sẽ đứt, như vậy là sợi tóc không ở điểm quân bình. Nếu quân bình thì không có lẽ gì mà đứt được, cho nên không đứt. Người ta thường không hiểu lẽ đó, nhưng cũng có người hiểu được.

Chiêm Hà chỉ dùng một sợi tơ làm dây câu, một cái gai cong nhọn làm lưỡi câu, thân cây trúc nhỏ ở Sở làm cần câu, cắt một hạt lúa làm mồi mà câu ở cái vực sâu trăm nhẫn, chỗ nước chảy xiết, đem về đầy một xe cá, mà dây câu không đứt, lưỡi câu không duỗi ra, cần câu không gãy gặp lại. Vua Sở nghe nói, lấy làm lạ, cho gọi tới. Chiêm Hà đáp:

– Thần nghe nói, cổ đại phu Bồ Thư tử giỏi bắn, dùng một cây cung yếu, cột một sợi dây vào mũi tên để cho gió bay đi, mà bắn được hai con dang bay tít trên mây xanh, như vậy là nhờ ông tập trung tinh thần và giữ được sự quân bình khi cử động cánh tay.

Thần phỏng theo cách đó mà học câu năm năm mới thấu được hết thuật câu. Khi thần ngồi trên bờ sông mà cầm cần câu, lòng thần chỉ nghĩ tới cá thôi, không nghĩ tới gì khác; khi liệng câu thả mồi, thì cánh tay thần cử động không nặng quá, không nhẹ quá để mọi vật khỏi loạn. Khi cá thấy mồi ở lưỡi câu, chúng tưởng là những hạt bụi chìm hoặc những bọt tụ lại, nên không nghi ngờ gì mà lại đớp.

Vậy yếu có thể chế được mạnh, nhẹ có thể thắng được nặng.

Đại vương trị quốc mà thật sự theo cách đó thì có thể vận dụng thiên hạ trong bàn tay, có việc gì khó khăn đâu?

Sở Vương đáp :- “Lành thay !”.

魯公扈、趙齊嬰二人有疾, 同請扁鵲求治, 扁鵲治之。
既同愈。 謂公扈、齊嬰曰: 「汝曩之所疾, 自外而干府藏者, 固藥石之所已。 今有偕生之疾, 與體偕長, 今為汝攻之, 何如?」
二人曰: 「願先聞其驗。」扁鵲謂公扈曰: 「汝志強而氣弱, 故足於謀而寡於斷。 齊嬰志弱而氣強, 故少於慮而傷於專。 若換汝之心, 則均於善矣。」
扁鵲遂飲二人毒酒, 迷死三日, 剖胸探心, 易而置之; 投以神藥, 既悟, 如祿。 二人辭歸。
於是公扈反齊嬰之室, 而有其妻子, 妻子弗識。
齊嬰亦反公扈之室室, 有其妻子, 妻子亦弗識。
二室因相與訟, 求辨於扁鵲。 扁鵲辨其所由, 訟乃已。

Lỗ Công Hỗ, Triệu Tề Anh đều đau, cùng mời Biển Thước lại trị. Biển Thước trị cho đều hết, rồi bảo Công Hỗ và Tử Anh:

– Bệnh trước của hai ông đều phát từ ngoài mà nhập vô tạng phủ, cho nên dùng thuốc mà trị được. Nhưng mà hai ông còn một bệnh nữa, mới sinh ra đã có và đều theo tuổi mà tăng lên, để tôi trị cho các ông nhé?

Hai người kia đáp:

– Xin hãy cho nghe bệnh gì đã.

Biển Thước bảo Công Hỗ:

– Ý chí của ông mạnh mà khí lực của ông yếu, cho nên mưu tính giỏi mà không biết quyết đoán; còn ông Tề Anh ý chí yếu mà khí lực mạnh, cho nên ít mưu tính mà có tật cố chấp. Thay đổi tim cho nhau thì sẽ được quân bình.

Biển Thước bèn cho hai người đó uống một thứ rượu thuốc, khiến họ mê man bất tỉnh trong ba ngày, rồi mổ ngực lấy tim ra, thay cho nhau và đặt trở lại vào ngực. Sau cùng cho họ uống một thứ thần dược, họ tỉnh lại như trước, và từ biệt Biển Thước ra về.

 Nhưng Công Hổ về nhà Tề Anh sống với vợ con Tề Anh, vợ con Tề Anh không thừa nhận ông ta; Tề Anh cũng về nhà Công Hỗ sống với vợ con Công Hỗ, vợ con Công Hỗ cũng không thừa nhận ông ta. Vì vậy hai nhà gây lộn nhau, nhờ Biển Thước phân xử.

Biển Thước giảng lí do cho họ biết, họ thôi không gây lộn nhau nữa.

匏巴鼓琴, 而鳥舞魚躍, 鄭師文聞之, 棄家從師襄游。 柱指鉤弦, 三年不成章。 師襄曰: 「子可以歸矣。」師文舍其琴嘆曰: 「文非弦之不能鉤, 非章之不能成。 文所存者不在弦, 所志者不在聲。 內不得於心, 外不應於器, 故不敢發手而動弦。 且小假之以觀其所。」無幾何, 復見師襄。 師襄曰: 「子之琴何如?」師文曰: 「得之矣。 請嘗試之。」於是當春而叩商弦, 以召南呂, 涼風忽至, 草木成實。 及秋而叩角弦, 以激夾鐘, 溫風徐迴, 草木發榮。 當夏而叩羽弦, 以召黃鐘, 霜雪交下, 川池暴沍。 及冬而叩徵弦, 以激蕤賓, 陽光泅烈, 堅冰立散。 將終命宮而總四弦。 則景風翔, 慶雲浮, 甘露降, 澧泉湧。 師襄乃撫心高蹈曰: 「微矣, 子之彈也! 雖師曠之清角, 鄒衍之吹律, 亡以加之。 被將挾琴執管而從子之後耳。」

Khi Hồ Ba gảy đàn cầm thì chim múa, cá nhảy (vì vui mừng).

Sư Văn nước Trịnh hay vậy, bỏ nhà theo Sư Tương du học.

Trong ba năm ông ta bấm dây đàn mà không thành khúc.

Sư Tương bảo:

– Anh nên về đi!

Sư Văn đặt cây đàn xuống, thở dài đáp:

– Văn tôi không phải là không gảy được đàn, không chơi thành khúc được; ý chí của tôi không phải ở chỗ bấm dây cho thành tiếng hay. Nhưng trong lòng tôi có điều nghĩ chưa ra thì ứng vào cây đàn ở ngoài sao được? Cho nên tôi không dám động ngón tay cho dây đàn rung lên. Xin đợi ít lâu, sẽ thấy tôi đạt được gì không.

Ít lâu sau, Sư Văn trở lại thăm Sư Tương, Sư Tương hỏi:

– Thuật gảy đàn ra sao rồi?

Đáp:

– Tôi đã đạt được rồi, xin cho tôi thử.

Thế là, lúc đó đương mùa xuân, Sư Văn gảy dây thương, để gợi nam lữ tức thì gió mát nổi lên, cây cối kết trái, thời tiết vào thu.

Sư Văn lại gảy dây dốc, để kích động giáp chung tức thì một luồng ấm áp chậm chậm toả ra, cây cối đều nở hoa.

Đương mùa hè, Sư Văn gảy dây vũ, để gợi hoàng chung thì sương tuyết đều rơi, sông hồ đóng băng, thời tiết vào đông.

Lại gảy dây chuỷ để kích động nhuy tân, tức thì ánh sáng mặt trời hừng hực làm tan hết băng giá.

Cuối cùng, gảy dây cung hoà điệu với bốn dây kia, thì gió lành phe phẩy, mây đẹp trôi qua, sương ngọt (cam lộ) trút xuống, suối thơm phun ra.

Sư Tương mừng quá, nhảy lên, bảo:

– Nghệ thuật gảy đàn của anh thật huyền diệu. Ngay như Sư Tương gảy điệu thanh dốc, Trâu Diễn thổi ống luật (một thứ ống tiêu), cũng không hơn anh. Họ chỉ đáng xách đàn cầm, cầm ống tiêu mà đi hầu phía sau anh thôi.

薛譚學謳於秦青, 未窮青之技, 自謂盡之, 遂辭歸。 秦青弗止。 餞於郊衢, 撫節悲歌, 聲振林木, 響遏行雲。 薛譚乃謝求反, 終身不敢言歸。 秦青顧謂其友曰: 「昔韓娥東之齊, 匱糧, 過雍門, 鬻歌假食。 既去, 而餘音繞樑欐, 三日不絕, 左右以其人弗去。 過逆旅, 逆旅人辱之。 韓娥因曼聲哀哭, 一里老幼。 悲悉垂涕相對, 三日不食。 遽百追之。 娥還復為曼聲長歌, 一里老幼, 善躍抃舞, 弗能自禁, 忘向之悲也。 乃厚賂發之。 故雍門之人至今善歌哭, 放娥之遺聲。」

Tiết Đàm học hát với Tần Thanh, chưa học hết nghệ thuật của Thanh, đã tự cho là biết đủ rồi, bèn từ biệt xin về nhà.

Tần Thanh không giữ lại, trong bữa tiễn hành ở ngã tư ngoài thành, gõ nhịp hát một khúc bi ca, tiếng hát làm cho cây lá trong rừng rung động, tiếng vang làm ngừng đám mây đương bay.

Tiết Đàm tạ lỗi, xin được trở lại học nữa, suốt đời không dám đòi về.

Tần Thanh ngó bạn bảo:

– Xưa, nàng Hàn Nga đi về phía đông sang nước Tề, tới Ung Môn, hết lương thực, phải hát để kiếm ăn, khi đi,đi rồi mà dư âm còn vương vấn ở chung quanh cái đà, cái đòn nóc, ba ngày mới dứt, các người chung quanh cho rằng nàng chưa đi. Sau nàng tới một quán trọ, bị người trong quán làm nhục, nàng khóc ti tỉ, thảm thiết tới nỗi già trẻ trong làng ngó nhau mà thương tâm nhỏ lệ, ba ngày không ăn, phải đuổi theo nàng, bắt kịp, mời nàng trở lại. Nàng trở lại, hát một khúc du dương tới nỗi già trẻ trong làng vui mừng nhảy múa, không tự ngăn được, quên hết nỗi thương tâm trước kia. Họ tặng nàng một số tiền lớn để lên đường. Nhờ vậy mà dân Ung Môn tới nay còn giỏi hát, giỏi than vãn, bắt chước được giọng của Hàn Nga.

伯牙善鼓琴, 鐘子期善聽。

伯牙鼓琴, 志在登高山。

鐘子期曰: 「善哉洋洋兮若江河!」伯牙所念, 鐘子期必得之。

伯牙游於泰山之陰, 卒逢暴雨, 止於巖下; 心悲, 用援琴而鼓之。

初為霖雨之操, 更造崩山之音, 曲每奏, 鐘子期輒窮其趣。

伯牙乃舍琴而嘆曰: 「善哉善哉! 子之聽夫志, 想像猶吾心也。 吾於何逃聲哉?」

Bá Nha đời Xuân Thu là một người có tài đàn.

Chung Tử Kỳ là người biết thưởng thức âm nhạc.

 Khi Bá Nha ngồi gảy đàn, bụng nghĩ đến núi, thì Chung Tử Kỳ khen: “Tiếng đàn chót vót như núi cao”.

Lúc Bá Nha đánh đàn, lòng nghĩ về sông nước, thì Chung Tử Kỳ nói: “Tiếng đàn cuồn cuộn như nước chảỵ”

Sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập vỡ đàn, bảo rằng: “Trong thiên hạ không ai còn được nghe tiếng đàn của ta nữa”.

Tử Kỳ được gọi là bạn tri âm của Bá Nha.

周穆王西巡狩, 越昆倉, 不至弇山。 反還, 未及中國, 道有獻工人名偃師, 穆王薦之, 問曰: 「若有何能?」偃師曰: 「臣唯命所試。 然臣已有所造, 願王先觀之。」穆王曰: 「日以俱來, 吾與若俱觀之。」翌日, 偃師謁見王。 王薦之曰: 「若與偕來者何人耶?」對曰: 「臣之所造能倡者。」穆王驚視之, 趨步俯仰, 信人也。 巧夫, 顉其頤, 則歌合律; 捧其手, 則舞應節。 千變萬化, 惟意所適。 王以為實人也。 與盛姬內御並觀之。 技將終, 倡者瞬其目而招王之左右待妾。 王大怒, 立欲誅偃師。 偃師大懾, 立剖散倡者以示王, 皆傅會革、木、膠、漆、白、黑、丹、青之所為。 王諦料之, 內則肝、膽、心、肺、脾、腎、腸、胃, 外則筋骨、支節、、皮毛、齒發, 皆假也, 而無不畢具者。 合會復如初見。 王試廢其心, 則口不能言; 廢其肝, 則目不能視; 廢其腎, 則足不能步。 穆王始悅而嘆曰: 「人之巧乃可與造化者同功乎?」詔貳車載之以歸。 夫班輸之雲梯, 墨翟之飛鳶, 自謂能之極也。 弟子東門賈、禽滑釐, 聞偃師之巧, 以告二子, 二子終身不敢語藝, 而時執規矩。

Vua Chu mục vương đi săn, vượt núi Côn Lôn tới núi Yểm Sơn rồi về. Trên đường về Trung Quốc, có người dâng lên một người thợ giỏi tên là Yển Sư. Mục vương bảo người thợ đó tiến lên để hỏi:

– Ngươi có tài gì?

Yển Sư đáp:

– Đại vương sai làm gì, thần cũng xin thử. Nhưng thần đã chế tạo sẵn một cái máy, xin dâng đại vương coi.

Mục vương bảo:

– Ngày mai ngươi mang máy đó lại, ta với ngươi cùng coi.

Hôm sau Yển Sư vô yết kiến, nhà vua bảo lại gần, rồi hỏi:

– Người nào đi theo đó?

Thưa:

– Đó là người máy thần đã chế tạo, nó biết hát.

Mục Vương ngạc nhiên ngó người máy đó, nó biết đi biết chạy, biết cúi biết ngửa, y như người vậy. Người thợ vặn cái cằm của nó, tức thì nó hát rất đúng, nâng cái tay của nó lên thì nó múa rất hợp điệu; nó làm được ngàn trò đúng theo ý người. Nhà vua cho là người thực; nàng Thịnh Cơ (sủng phi của vua) và tất cả bọn hầu hạ trong cung đều được coi.

Khi người máy làm hết các trò rồi, nó liếc mắt ra dấu với các thị nữ ở chung quanh nhà vua. Chu Mục vương nổi giận đùng đùng, muốn đem chém Yển Sư, Yển Sư hết hồn, vội vàng tháo gỡ người máy ra cho nhà vua coi, các bộ phận toàn bằng da, gỗ, sơn, keo đủ các màu trắng, đen, đỏ, xanh. Nhà vua xem xét kĩ lưỡng: ở trong có gan, tim, mật, phổi, tì, thận, ruột, bao tử; ở ngoài có gân cốt, tay chân, khớp xương, da, tóc, lông, răng, toàn là giả cả, mà rất hoàn thiện; người thợ lắp lại như cũ.

Nhà vua bảo thử bỏ trái tim đi xem sao thì miệng không biết nói nữa; bỏ gan đi thì mắt không trông được nữa; bỏ thận đi thì chân không bước được nữa.

Lúc đó Chu Mục vương mới mừng, than thở:

– Ôi, cái khéo của con người ngang với hoá công chăng?

Rồi ra lệnh lấy hai cái xe chở người máy đó về.

Thang máy của Ban Thâu, con diều bay của Mặc Tử, hai nhà đó đã tự cho là cực kì khéo rồi. Một hôm, đệ tử của họ là Đông Môn Cổ, Cầm Hoạt Li, nghe nói tài khéo của Yển Sư, kể lại cho họ, họ từ đó cho tới suốt đời, không dám khoe nghệ thuật của mình nữa, nhưng vẫn thường cầm cái thước vuông, cái thước tròn.

甘蠅, 古之善射者, 彀弓而獸伏鳥下。 弟子名飛衛, 學射於甘蠅, 而巧過其師。 紀昌者, 又學射於飛衛。 飛衛曰: 「爾先學不瞬, 而後可言射矣。」紀昌歸, 偃臥其妻之機下, 以目承牽挺。 二年之後, 雖錐末倒眥而不瞬也。 以告飛衛。 飛衛曰: 「未也, 必學視而後可。 視小如大, 視微如著, 而後告我。」昌以氂懸蝨於牖。 南面而望之。 旬日之間, 浸大也; 三年之後, 如車輪焉。 以睹餘物, 皆丘山也。 乃以燕角之弧, 朔蓬之簳, 射之, 貫蝨之心, 而懸不絕。 以告飛衛。 飛衛高蹈拊膺曰: 「汝得之矣! 「紀昌既盡衛之術, 計天下之敵己者一人而已, 乃謀殺飛衛。 相遇於野, 二人交射; 中路端鋒相觸, 而墜於地, 而塵不揚。 飛衛之矢先窮。 紀昌遺一矢, 既發, 飛衛以棘刺之端扞之, 而無差焉。 於是二子泣而投弓, 相拜於塗, 請為父子。 尅臂以誓, 不得告術於人。

Cam Dăng là người giỏi tài bắn thời cổ, khi giương cung lên là thú lăn ra, chim rớt xuống. Đệ tử của ông tên là Phi Vệ, còn bắn giỏi hơn ông nữa. Kỉ Xương lại học nghệ thuật của Phi Vệ.

Phi Vệ bảo:

– Trước hết anh phải tập đừng chớp mắt đã, rồi sau sẽ nói chuyện học bắn.

Kỉ Xương về nhà, nằm ngửa dưới khung củi của vợ, đưa mắt theo con thoi. Hai năm sau, mũi nhọn của cái dùi có chạm vào mí mắt, Kỉ Xương cũng không chớp mắt. Lúc đó mới lại thưa với Phi Vệ. Phi Vệ bảo:

– Chưa, còn phải tập nhìn nữa, nhìn sao cho vật nhỏ mà thấy lớn, vật không thấy mà thấy rõ, rồi lại cho ta hay.

Kỉ Xương về dùng (lông) đuôi bò treo một con rận ở cửa sổ, quay về phía nam mà nhìn, khoảng mươi ngày sau thấy con rận lần lần lớn ra, ba năm sau thấy nó lớn bằng bánh xe; nhìn các vật khác đều thấy lớn bằng núi cả. Lúc đó mới lấy cây cung bằng sừng nước Yên và mũi tên bằng cỏ bồng châu Sóc, bắn xuyên quả tim con rận mà sợi lông treo không đứt. Rồi lại thưa với Phi Vệ. Phi Vệ nhảy lên, vỗ ngực bảo:

– Anh đã đạt được nghệ thuật bắn rồi.

Kỉ Xương khi đã học được thuật bắn của Phi Vệ, nghĩ rằng trong thiên hạ chỉ có mỗi một người địch nổi mình, lập tâm giết Phi Vệ. Họ gặp nhau ở đồng trống, giương cung bắn nhau, hai mũi tên đụng nhau ở giữa đường, rớt xuống mà bụi trên mặt đất không bay lên. Phi Vệ hết tên trước, Kỉ Xương còn một mũi, bắn nốt. Phi Vệ dùng mũi nhọn của một cái gai mà đỡ trúng. Thế là hai người cùng khóc, liệng cung xuống, quì xuống đất vái nhau, nhận làm cha con, thích vào cánh tay mà thề không dạy cho ai bí quyết của mình.

造父之師曰泰豆氏。 造父之始從習御也, 執禮甚稗稗泰豆三年不告。 造父執禮愈謹乃告之曰: 「古詩言: 『良弓之子, 必先為箕, 良冶之子, 必先為裘。 』汝先觀吾趣。 趣如事, 然後六轡可持, 六馬可御。」造父曰: 「唯命所從。」泰豆乃立木為途, 僅可容足; 計步而置。 履之而行。 趣走往還, 無跌失也。 造父學子, 三日盡其巧。 泰豆嘆曰: 「子何其敏也, 得之捷乎? 凡所御者, 亦如此也。 曩汝之行, 得之於足, 應之於心。 推於御也, 齊輯乎轡銜之際, 而急緩乎唇吻之和; 正度乎胸臆之中, 而執節乎掌握之間。 內得於中心, 而外合於馬志, 是故能進退履繩, 而旋曲中規矩, 取道致遠, 而氣力有餘, 誠得其術也。 得之於銜, 應之於轡; 得之於轡, 應之於物; 得之於物, 應之於心。 則不以目視, 不以策驅; 心閒體正, 六轡不亂, 而二十四蹄所投無差; 迴旋進退, 莫不中節。 然後輿輪之外, 可使無餘轍; 馬蹄之外, 可使無餘地。 未嘗覺山谷之險。 原隰之夷, 視之一也。 吾術窮矣。 汝其識之!」

Thầy của Tháo Phủ là Thái Đậu. Hồi Tháo Phủ mới theo thầy học đánh xe, giữ lễ rất khúm núm, mà ba năm, Thái Đậu không dạy cho một lời. Tháo Phủ càng giữ lễ nghiêm cẩn hơn nữa, lúc đó Thái Đậu mới bảo:

– Thơ cổ có câu: “Con người thợ giỏi làm cung mới đầu làm cái thúng đã; con người thợ đúc giỏi mới đầu tập đúc cái búa đã”. Trước hết anh hãy coi ta đi, mà đi như ta, rồi sau mới cầm được sáu dây cương, chế ngự được sáu con ngựa.

Tháo Phủ thưa:

– Con xin vâng lời.

Thái Đậu bèn lấy các khúc cây, bề ngang chỉ vừa đặt chân lên, tính xem bước chân dài ngắn ra sao mà đặt thành đường đi, rồi dẫm lên mà chạy qua chạy lại, không trật bước nào. Tháo Phủ tập ba ngày đã thành thạo.

Thái Đậu than:

– Anh mẫn tiệp thật, tập mau nhĩ? Thuật đánh xe cũng chỉ vậy thôi.

Cái thuật đi của anh (trên khúc cây), nhập vào chân anh rồi thì ứng vào lòng anh. (Đem thuật đó) suy ra thuật đánh xe, biết điều hoà dây cương, hàm thiếc, gò hay lơi ra ở môi mép con ngựa sao cho vừa phải; hiểu rõ cách đánh ngựa trong lòng thì cửa động ở ngoài sẽ hợp ý với ngựa. Nhờ vậy mà biết tiến lui theo phép tắc, quẹo hay chạy vòng quanh đúng qui củ mà không trật đường, tiến rất xa mà không hao khí lực.

Như vậy là thực đạt được thuật đánh xe; thuật đó đạt được ở chỗ sử dụng hàm thiếc, rồi ứng vào dây cương; đạt ở chỗ sử dụng dây cương, rồi ứng vào bàn tay; đạt ở bàn tay rồi thì ứng vào lòng. Như vậy không cần dùng mắt để nhìn, không dùng roi để thúc ngựa, lòng được nhàn, thân thể ngay ngắn, mà sáu dây cương không loạn, hai mươi bốn móng ngựa bước đúng không sai, quẹo vòng, tiến lui đều đúng mực, sau đó có thể khiến cho bánh xe và xe chạy khít đường, móng ngựa dẫm vào đúng chỗ, không phân biệt núi hang là hiểm trở mà đồng cao đồng lầy là bằng phẳng nữa, coi như nhau hết. Nghệ thuật của ta chỉ có như vậy thôi, anh nên nhớ lấy.

魏黑卵以暱嫌殺丘邴章。 丘邴章之子來丹謀報父子仇。 丹氣甚猛, 形甚露, 計料而食, 順風而趨。 雖怒, 不能稱兵以報之。 恥假力於人, 誓手劍以屠黑卵。 黑卵悍志絕眾, 九抗百夫, 筋骨皮肉, 非人類也。 延頸承刀, 披胸受矢, 鋩鍔摧屈, 而體無痕撻。 負其材力, 視來丹猶雛鷇也。 來丹之友申他曰: 「子怨黑卵至矣, 黑卵之易子過矣, 將奚謀焉?」來丹垂涕曰: 「願子為我謀。」申他曰: 『吾聞衛孔周其祖得殷帝之寶劍, 一童子服之, 卻三軍之眾, 奚不請焉? 「丹遂適衛, 見孔周, 執僕御之禮請先納妻子, 後言所欲。 孔周曰: 「吾有三劍, 唯子所譯; 皆不能父人, 且先言其狀。 一曰含光, 視之不可見, 運之不知有。 其所觸也, 泯然無際, 經物而物不覺。 二曰承影, 將旦昧爽之交, 日夕昏明之際, 北面而察之, 淡淡焉若有物存, 莫識其狀。 其所觸也, 竊竊然有聲, 經物而物不疾也。 三曰宵練, 方晝則見影而不見光, 方夜見光而不見形。 其觸物也, 騞然而過, 隨過隨合, 覺疾而不血刃焉。 此三寶者, 傳之十三世矣, 而無施於事。 匣而藏之, 未嘗啟封,」來丹曰: 「雖然, 吾心請其下者。」孔周乃歸其妻子, 與齋七日。 晏陰之間, 跪而授其下劍, 來丹再拜受之以歸。 來丹遂執劍從黑卵。 時黑卵之醉, 偃於牖下, 自頸至腰三斬之。 黑卵不覺。 來丹以黑卵之死, 趣而退。 遇黑卵之子於門, 擊之三下, 如投虛。 黑卵之子方笑曰: 「汝何0(嗤右半部)而三招子?」來丹知劍之不能殺人也, 嘆而歸。 黑卵既醒, 怒其妻曰: 「醉而露我, 使人嗌疾而腰急。」其子曰: 「疇昔來丹之來。 遇我於門, 三招我, 亦使我體疾而支強, 彼其厭我哉!」

Hắc Noãn ở nước Nguỵ vì thù nhà mà giết Khâu Bính Chương. Con Khâu Bính Chương là Lai Đan muốn báo thù cho cha. Đan, tính khí rất can trường, nhưng hình thể rất gầy ốm, ăn mỗi bữa chỉ vài hột, gió thổi muốn ngã. Vì vậy tuy oán lắm mà không thể đấu kiếm báo thù được. Phải nhờ người khác (để báo thù) thì cho là điều nhục, cho nên thề sẽ tự dùng kiếm mà giết (lén) Hắc Noãn.

Hắc Noãn mạnh tợn hơn người, một mình chống được trăm kẻ; gân cốt thịt da không phải là gân cốt thịt da của con người, có thể vươn cổ ra cho người ta chém, phanh ngực ra cho người ta bắn; mũi tên sẽ gẫy, lưỡi kiếm sẽ quằn mà thân thể không hề bị thương. Hắc Noãn cậy sức mình như vậy, coi Lai Đan như con chim non mới nở.

Một người bạn của Lai Đan tên là Thân Tha bảo:

– Anh thâm oán Hắc Noãn mà hắn coi thường anh quá lắm! Anh tính sao đây?

Lai Đan khóc và đáp:

– Xin anh tính giùm tôi.

– Tôi nghe ông tổ của Khổng Chu nước Vệ được vua cho một cây kiếm quí. Một đứa nhỏ cầm cây kiếm đó có thể đánh đổi được ba đạo quân. Sao anh không hỏi mượn?

Lai Đan bèn qua nước Vệ, yết kiến Khổng Chu. Theo lễ của hạng đánh xe, Lai Đan dâng vợ con cho Khổng Chu rồi mới bày tỏ ý mình. Khổng Chu bảo:

– Ta có ba cây kiếm, tuỳ anh lựa, nhưng không cây nào giết người được đâu. Ta hãy tả cho anh nghe được đã :-

Một cây tên là Hàm Quang, nhìn vào không thấy, vận dụng nó mà không cảm thấy nó ở trong tay mình; nó đụng vào vật gì thì không lưu lại dấu vết gì cả, nó đâm thủng ta, ta cũng không biết.

Cây thứ nhì gọi là Thừa Ảnh. Vào lúc bình minh nửa mờ nửa tỏ hoặc hoàng hôn tranh sáng tranh tối, quay về phía bắc mà nhìn kĩ nó thì thấy mờ mờ mà không nhận ra được hình dáng nó ra sao. Nó đụng vào cái gì thì nghe có tiếng nhẹ, tan liền; nó đâm thủng ta, ta cũng không thấy đau gì cả.

Cây thứ ba tên là Tiêu Luyện, ban ngày chỉ thấy cái bóng chứ không thấy ánh sáng của nó, ban đêm thấy ánh sáng mà không thấy hình dáng nó. Nó đụng vào cái gì, nghe soạt một cái, đâm lủng nhưng vết lủng khép lại liền, thấy đau mà không thấy vết máu.

– Ba cây kiếm đó, đã truyền được mười ba đời mà không dùng lần nào, còn để trong bao, chưa hề mở ra.

– Mặc dầu vậy, tôi cũng xin ngài cho tôi cây thứ ba.

Khổng Chu trả vợ con lại cho Lai Đan, rồi cả hai người đều trai giới bảy ngày; sau đó đúng lúc nửa đêm quì xuống giao kiếm cho Lai Đan. Lai Đan cúi lại hai lạy mà nhận và trở về nhà.

Lai Đan cầm cây kiếm đó theo rình Hắc Noãn. Một hôm Hắc Noãn say rượu, đương ngủ dưới cửa sổ, Lai Đan chém ba nhát từ cổ cho tới lưng. Hắc Noãn không hay gì cả, (vẫn nằm trơ trơ). Lai Đan tưởng Hắc Noãn chết, mừng quá, rút lui, gặp con Hắc Noãn ở cổng, chém ba nhát, như chém trong không khí. Con Hắc Noãn cười, bảo:

– Giỡn sao đó mà vẫy ta tới ba lần vậy?

Lai Đan thấy thanh kiếm đó không giết người được, thở dài ra về.

Khi Hắc Noãn tỉnh dậy, rầy vợ:

– Tôi say mà ngủ, sao phanh mền tôi ra, tôi thấy đau ở cuống họng và ngang lưng này.

Người con cũng nói:

– Mới rồi, Lai Đan tới đây, gặp con ở cổng, nó vẫy con ba lần, cũng làm cho con đau trong mình, tay chân cứng đơ. Nó thư (yểm = ếm) chúng ta rồi.

周穆王大征西戎, 西戎獻錕鋙之劍, 火浣之布。

其劍長尺有咫, 練鋼赤刃, 用之切玉如切泥焉。

火浣之布, 浣之必投於火; 布則火色, 垢則布色; 出火而振之, 皓然疑乎雪。

皇子以為無此物, 傳之者妄。

蕭叔曰: 「皇子果於自信, 果於誣理哉!」

Khi Chu Mục vương đem đại quân chinh phạt Tây Nhung, được rợ đó tặng cây kiếm Côn Ngô và thứ vải Hoả Hoán.

Cây kiếm đó dài một thước tám tấc, luyện bằng gang, lưỡi kiếm màu đỏ, cắt ngọc dễ dàng như cắt bùn.

Còn thứ vải Hoả Hoán, muốn giặt thì cho vào lửa, vải đỏ lên như lửa, mà vết dơ thì trở thành màu vải; rút ở lửa ra, giũ giũ thì chỗ đó trắng như tuyết.

Hoàng tử cho rằng không có những vật như vậy, chỉ là đồn nhảm.

Tiêu Thúc bảo: “Hoàng tử quá tự tin, và quá tin những lí lẽ bậy”.

—————–
*****************   

XUNG HƯ CHÂN KINH

CHƯƠNG VI

LỰC MỆNH

《沖虛真經》

力命 第六

***

管夷吾、鮑叔牙二人相友甚戚, 同處於齊。 管夷吾事公子糾, 鮑叔牙事公子小白。 齊公族多寵, 嫡庶並行。 國人懼亂。 管仲與召忽奉公子糾奔魯, 鮑叔奉公子小白奔莒。 既而公孫無知作亂, 齊無君, 二公子爭入。 管夷君與小白戰於莒道, 射中小白帶鉤。 小白既立, 脅魯殺子糾, 召忽死之, 管夷吾被囚。 鮑叔牙謂桓公曰: 「管夷吾能, 可以治國。」桓公曰: 『我仇也, 願殺之。 「鮑叔牙曰:」吾聞賢君無私怨, 且人能為其主, 亦必能為人君。 如欲霸王, 非夷吾其弗可。 君必舍之! 「遂召管仲。 魯歸之齊, 鮑叔牙郊近, 釋其囚。 桓公禮之, 而位於高、國之上, 鮑叔牙以身下之, 任以國政。 號曰仲父。 桓公遂霸。 管仲嘗嘆曰: 「吾少窮困時, 嘗與鮑叔賈, 分財多自與; 鮑叔不以我為貪知我貧也。 吾嘗為鮑叔謀事而大窮困, 鮑叔不以我為愚, 知時有利不利也。 吾嘗三仕, 三見逐於君, 鮑叔不以我為怯, 知我有老母也。 公子糾敗, 召忽死之, 吾幽囚受辱; 鮑叔不以我為無恥, 知我不羞小節, 而恥名不顯於天下也。 生我者父母, 知我者鮑叔也!」

此世稱管、鮑善交者, 小白善用能者。 然實無善交, 實無用能也。 實無善交實無用能者, 非更有善交、更有善用能也。 召忽非能死, 不得不死; 鮑叔非能舉賢, 不是不舉; 小白非能用仇, 不得不用。 及管夷吾有病, 小白問之曰: 「仲父之病疾矣, 可不諱雲, 至於大病, 則寡人惡乎屬國而可?」夷吾曰: 「公誰欲歟?」小白曰: 「鮑叔牙可。」曰: 「不可。 其為人潔廉善土也, 其於不己若者不比之人, 一聞人之過, 終身不忘。 使之理國, 上且鉤乎君, 下且逆乎民。 其得罪於君也, 將弗久矣。」小白曰: 「然則孰可?」對曰: 「勿已, 則隰朋可。 其為人也, 上忘而下不叛, 愧其不若黃帝, 而哀不己若者。 以德分人, 謂之聖人; 以財分人, 謂之賢人。 以賢臨人, 未有得人者也; 以賢下人者, 未有不得人者也。 其於國有不聞也, 其於家有不見也。 勿已, 則隰朋可。」然則管夷吾非薄鮑叔也, 不得不薄; 非厚隰朋也, 不得不厚。 厚之於始, 或薄之於終; 薄之於終, 或厚之於始。 厚薄之去來, 弗由我也。

Quản Di Ngô (Trọng) và Bảo Thúc Nha là hai nhân vật trong thời Xuân Thu ( thế kỷ thứ 7 trước công nguyên ở Trung Quốc-ND).  Hai người là bạn thân của nhau. Quản Trọng tương đối nghèo, còn Bảo Thúc Nha lại khá giàu sang, nhưng giữa họ rất hiểu biết nhau và tín nhiệm nhau. Hai người hồi đầu cùng nhau buôn bán, Quản Trọng chỉ bỏ ra rất ít tiền vốn, lúc chia hoa hồng lại được chia rất nhiều. Bảo Thúc Nha không ganh tị việc này, ông biết Quản Trọng có gánh nặng gia đình và còn hỏi Quản Trọng “số tiền này có đủ không? Nhiều lần Quản Trọng góp ý kiến cho Bảo Thúc Nha trong buôn bán nhưng lại làm hỏng việc, Bảo Thúc Nha không hề bực tức mà còn an ủi Quản Trọng, nói việc không thành không phải là chủ ý của bạn không tốt, mà là vì không gặp dịp thôi. Quản Trọng từng ba lần làm quan nhưng mỗi lần đều bị bãi miễn. Bảo Thúc Nha cho rằng không phải Quản Trọng không có tài mà là vì Quản Trọng chưa gặp được người hiểu ông. Quản Trọng đầu quân đi chiến đấu, nhưng vào trận lại bỏ chạy. Bảo Thúc Nha cũng không chê cười Quản Trọng, ông biết Quản Trọng còn có bà mẹ già đang đợi ở nhà.

Sau này Quản Trọng và Bảo Thúc Nha đều làm chính trị. Lúc đó nước Tề rất loạn, các hoàng tử đều lánh nạn sang các nước khác để chờ thời cơ. Quản Trọng hộ tống hoàng tử Củ tới nước Lỗ, còn Bảo Thúc Nha hộ tống hoàng tử Tiểu Bạch tới nước Lã. Không lâu nước Tề bạo loạn, nhà vua bị giết, nhà nước không có vua. Các hoàng tử Củ và Tiểu Bạch được tin liền lên đường về nước để cướp ngôi. Khi hai đoàn gặp nhau trên đường, Quản Trọng muốn để hoàng tử Củ làm vua nên đã bắn một phát tên vào Tiểu Bạch, nhưng không gây thương tích gì. Sau này Tiểu Bạch làm vua và trong lịch sử gọi là “Tề Hằng Công”.

Khi lên làm vua, Tề Hằng Công liền bảo nước Lỗ giết hoàng tử Củ và bắt giam Quản Trọng. Tề Hằng Công muốn Bảo Thúc Nha làm thừa tướng, giúp ông quản lý đất nước. Bảo Thúc Nha cho rằng mình không có năng lực làm thừa tướng. Ông dốc sức tiến cử Quản Trọng đang bị giam ở nước Lỗ. Ông nói quản lý đất nước tôi không bằng Quản Trọng. Quản Trọng nhân đức, trung thành, lại giỏi điều quân. Tề Hằng Công không đồng ý và nói “Quản Trọng trước đây dùng cung bắn ta, xuýt nữa mất mạng, ta không giết hắn là may lắm rồi, sao lại bảo hắn ra làm thừa tướng được. Bảo Thúc Nha nói, tôi nghe nói đấng trên anh minh là không báo thù hằn. Hơn nữa Quản Trọng cũng là vì hoàng tử Củ. Một người trung thành với chủ như vậy chắc chắn sẽ trung thành với nhà vua. Nếu nhà vua muốn xưng hùng thiên hạ, không có Quản Trọng sẽ không thể thành công. Tề Hằng Công bị Bảo Thúc Nha thuyết phục, mời Quản Trọng về nước Tề.

Sau khi về nước Tề, Quản Trọng được làm thừa tướng, còn Bảo Thúc Nha chỉ làm trợ tá cho Quản Trọng. Dưới sự hợp sức của Quản Trọng và Bảo Thúc Nha, nước Tề trở thành nước mạnh trong các nước Chư hầu, Tề Hằng Công trở thành bá chủ trong các nước Chư hầu.

Người đời đều khen Quản Trọng và Bảo Thúc là những bạn tốt và Công tử Tiểu Bạch biết dùng người tài năng. Nhưng thực ra không phải vậy (…) Bảo Thúc không phải có cái đức đề cử người hiền (tức Quản Trọng), ông ta không thể không đề cử người hiền được. Công tử Tiểu Bạch không phải có cái đức dùng kẻ thù của mình (tức Quản Trọng), ông ta không thể không dùng kẻ thù của mình được.

Đến khi Quản Di Ngô đau, Tiểu Bạch hỏi:

– Trọng phụ đau nhiều, phải nói thẳng như vậy. Nếu trọng phụ không qua khỏi thì quả nhân biết giao việc nước cho ai?

Di Ngô hỏi lại:

– Nhà vua muốn giao cho ai?

Tiểu Bạch đáp:

– Giao cho Bảo Thúc Nha được không?

– Không được. Ông ấy là bậc sĩ hiền và liêm khiết. Những người nào không được như ông ấy thì ông ấy coi như không phải là người; nghe thấy ai có lỗi thì suốt đời không quên; nếu giao việc nước cho ông ấy thì ở trên gây khó khăn cho vua, ở dưới làm cho dân bất bình, thế nào cũng mang tội với vua, không bền đâu.

Tiểu Bạch hỏi:

– Vậy thì lựa ai?

– Không có ai khác thì lựa Thấp Bằng. Ông ấy ở chức cao mà quên mình ở chức cao cho nên người dưới không chống đối, thẹn rằng mình không có đức bằng vua Hoàng Đế mà thương những người không bằng mình. Đem cái đức của mình chia sẻ với người khác thì gọi là thánh nhân; đem tiền của mà chia sẻ với người khác thì gọi là hiền nhân. Cho rằng mình minh triết hơn người thì không bao giờ được lòng người; cho rằng mình minh triết kém người thì không bao giờ không được lòng người. Ở trong nước cũng như ở trong nhà, ông ấy không muốn nghe thấy, trông thấy mọi điều. Không có ai khác thì lựa Thấp Bằng.

Như vậy Quản Di Ngô không phải bạc tình với Bảo Thúc, (cái thế) không thể không bạc tình được; cũng không phải là có hậu tình với Thấp Bằng, (cái thế) không thể không hậu tình được. Có người lúc đầu mình quí trọng rồi sau lơ là; có người lúc đầu lơ là rồi sau quí trọng. Quí trọng hay lơ là lúc vầy lúc khác, cái đó không tuỳ thuộc ta.

可以生而生, 天福也; 可以死而死, 天福也。

可以生而不生, 天罰也; 可以死而不死, 天罰也。

可以生, 可以死, 得生得死, 有矣; 不可以生, 不可以死, 或死或生, 有矣。

然而生生死死, 非物非我, 皆命也, 智之所無奈何。

故曰: 「窈然無際, 天道自會, 漠然無分, 天道自運。

天地不能兒犯, 聖智不能干, 鬼魅不能欺。

自然者, 默之成之, 平之寧之, 將之迎之。

Có thể sống được (một cách vui vẻ) mà sống, đó là được trời thương.

Tới lúc nên chết mà chết, là được trời thương.

Có thể sống được mà không sống, là trời phạt.

Tới lúc nên chết mà không chết, là bị trời phạt.

Có thể sống, có thể chết mà được sống được chết, là do mệnh trời. Không nên sống, không nên chết mà sống hoặc chết là do mệnh trời. Vậy thì sống sống chết chết, không do ta hay do ngoại vật, đều là số mệnh hết, trí óc ta không sao hiểu được. Cho nên bảo:

Đạo trời tự tạo nên, sâu xa không biết tới đâu là cùng.

Đạo trời tự vận hành, mênh mông, không phân biệt.

Trời đất không phạm được nó.

Thánh nhân không nghịch được nó.

Ma quỉ không lừa dối nó được.

Cái “tự nhiên” im lặng mà gây nên mọi vật,

Làm cho mọi vật quân bình, yên ổn, nó tự đưa đón nó.

楊朱之友曰季梁。 季梁得疾, 七日大漸。 其子環而泣之, 請醫。 季梁謂楊朱曰: 「吾子不肖如此之甚, 汝奚不為我歌以曉之?」楊朱歌曰: 「天其弗識, 人幫能覺? 匪孽自天, 弗孽由人。 我乎汝乎! 其弗知乎! 醫乎巫乎! 其知之乎?」其子弗曉終謁三醫。 一曰矯氏, 二曰俞氏, 三曰盧氏, 診其所疾。 矯氏謂季梁曰: 「汝寒溫不節, 虛實失度, 病由饑飽色慾。 精慮煩散, 非天非鬼, 雖漸, 可攻也。」季梁曰: 「眾醫也, 亟屏之!」俞氏曰: 「汝始則胎氣不足, 乳湩有餘。 病非一朝一夕之故, 其所由來漸矣, 弗可已也。」季梁曰: 「良醫也, 且食之!」盧氏曰: 「汝疾不由天, 亦不由人, 亦不由鬼。 稟生受形, 既有制之者矣, 亦有知之者矣, 藥石其如汝何?」季梁曰: 「神醫也, 重貺遣之!」俄而季梁之疾自瘳。

生非貴之所能存, 自非愛之所能厚; 生亦非賤之所能夭, 身亦非輕之所能薄。 故貴之或不生, 賤之或不死; 愛之亦不厚, 輕之或不薄。 此似反也, 非反也; 此自生自死, 自厚自薄。 或貴之而生, 或賤之而死; 或愛之而厚, 或輕之而薄。 此似順也, 非順也, 此亦自生自死, 自最自薄。 鬻熊語文王曰: 「自長非所增, 自短非所損。 算之所亡若何?」老聃語關尹曰: 「天之所惡, 孰知其故?」言迎天意, 揣利害, 不如其已。

Một người bạn của Dương Chu tên là Quí Lương đau, được mười ngày thì bệnh hoá nguy kịch. Các con Quí Lương đứng chung quanh mà khóc, (muốn) mời thầy lang tới để chữa bệnh.

Quí Lương bảo Dương Chu:

– Các con tôi ngu tới bực đó đấy. Sao bác không vì tôi hát lên một bài để dạy bảo chúng?

Dương Chu bèn hát:

– Trời kia còn không biết,

Huống hồ là con người.

Trời đã chẳng giúp ai,

Hoạ cũng chẳng do người.

Cả bác lẫn tôi

Đều cùng chẳng biết,

Thầy cúng thầy lang,

Làm sao biết được?

Các con của Quí Lương không hiểu, vẫn mời ba thầy lang lại.Thầy lang thứ nhất họ Kiểu, thầy lang thứ nhì họ Du, thầy lang thứ ba họ Lư, cùng lại coi mạch đoán bệnh.

Thầy họ Kiểu bảo Quí Lương:

– Cơ thể ông hàn nhiệt không điều hoà, hư thực mất quân bình, bệnh do ẩm thực, sắc dục, tinh thần lo lắng tán loạn, chẳng phải ma quỉ đâu, tuy lâu hết nhưng trị được.

Quí Lương bảo:

– Thứ lang vườn đó, nên gấp đuổi đi.

Thầy họ Du bảo:

– Bệnh của ông do tiên thiên bất túc. Sữa cụ bà nhiều quá. Bệnh đã phát từ lâu, mỗi ngày một tăng, không thể trị được.

Quí Lương khen:

– Đáng là lương y.

Rồi bảo làm cơm thết đãi.

Thầy họ Lư bảo:

– Bệnh ông do trời, không do người, cũng không do ma quỉ. Nó có từ khi ông ra đời. Hễ đạt được lẽ trời thì hiểu được nó. Thuốc thang có ích gì cho ông đâu.

Quí Lương khen:

– Thật là thần y.

Rồi sai hậu tạ, tiễn thầy lang đó về.

Chẳng bao lâu bỗng nhiên Quí Lương hết bệnh.

Đời mình không phải cứ quí nó mà bảo tồn được nó;

thân mình không phải cứ yêu nó mà nó khoẻ mạnh.

Đời mình không phải cứ khinh nó mà nó hoá ngắn ngủi,

thân mình không phải cứ coi thường nó mà nó bạc nhược.

Có khi quí đời mình mà không sống được, khinh nó mà lại không chết; yêu thân mình mà không khoẻ mạnh, coi thường nó mà nó lại không bạc nhược. Nói vậy có vẻ như ngược đời mà thực ra không ngược đời. Đời sống tự sinh tự chết, thân thể tự khoẻ mạnh, tự bạc nhược. Có khi quí đời mình mà sống lâu, khinh nó mà chết yểu; có khi yêu thân mình mà nó khoẻ mạnh, coi thường nó mà nó bạc nhược. Thấy vậy, người ta cho là lẽ tự nhiên. Không phải vậy. Đó chỉ là đời sống tự sinh tự chết, thân thể tự nó khoẻ mạnh, tự bạc nhược thế thôi.

楊布曰:

「有人於此, 年兄弟也, 言兄弟也, 才兄弟也, 貌兄弟也; 而壽夭父子也, 貴賤父子也, 名譽父子也, 愛憎爺子也。 吾惑之。」

楊子曰:

「古之人有言, 吾嘗識之, 將以告若。

不知所以然而然, 命也。

今昏昏昧昧, 紛紛若若, 隨所為, 隨所不為。

日去日來, 孰能知其故? 皆命也。

夫信命者亡壽夭, 信理者亡是非; 信心者亡逆順信性者亡安危。

則謂之都亡所信, 都亡所不信。

真矣, 慤矣, 奚去奚就? 奚哀奚樂? 奚為奚不為?

Dương Bố hỏi (Dương Chu):

– Có những người về tuổi tác, ngôn ngữ, tài năng, dong mạo ngang nhau, chỉ hơn kém nhau như anh với em, mà về thọ yểu, sang hèn, danh dự, được đời yêu hoặc bị đời ghét, khác nhau xa như cha với con, điều đó em không hiểu được tại sao.

Dương Chu đáp:

– Anh được nghe người xưa có nói câu này:

Cái gì không biết tại sao nó lại như vậy, thì gọi là mệnh trời.

Ngày nay cái gì cũng mờ mờ tối tối, bời bời hỗn độn, làm cũng vậy, không làm cũng vậy.

 Ngày qua ngày lại, ai mà biết tại sao, chẳng qua là do mệnh cả.

Đã tin mệnh trời rồi thì không có gì là thọ, là yểu; tin cái lẽ đương nhiên rồi thì không có gì là phải, là trái; theo đúng lòng mình thì không có gì là thuận, là nghịch; theo đúng bản tính của mình rồi thì không có gì là an, là nguy.

Người như vậy, có thể gọi là không tin cái gì cả mà không có cái gì là không tin. Thật vậy, tại sao lui, tại sao tới? Tại sao vui, tại sao buồn? Tại sao hành động, tại sao không hành động?

黃帝之書云:

『至人居若死, 動若械。 』

亦不知所以居, 亦不知所以不居;

亦不知所以動, 亦不知所以不動。

亦不以眾人之觀易其情貌,

亦不謂眾人之不觀不易其情貌。

獨往獨來, 獨出獨入, 孰能得之?」

Sách Hoàng Đế có câu: –

“Bậc chí nhân sống ở đời cũng như chết, cử động mà như bị trói buộc”

Không biết tại sao lại sống, tại sao lại không sống ở đời,

tại sao lại cử động, tại sao lại không cử động,

người đời dòm ngó mình thì cũng chẳng thay đổi thái độ,

không dòm ngó mình thì cũng vậy.

Một mình mình tới, một mình mình lui, một mình mình ra, một mình mình vô, ai mà ngăn cản được?”

墨杘、單至、嘽咺、憋懯 四人相與游於世, 胥如志也; 窮年不相知情, 自以智之深也。

巧佞、愚直、婩斫、便辟四人相與游於世, 胥如志也; 窮年而不相語術, 自以巧之微也。

謬(換訁為犭)訝(換訁為忄)、情露、謇極、凌誶四人相與游於世, 胥如志也; 窮年不相曉悟, 自以為才之得也。

眠娗、諈諉、勇敢、怯疑四人相與游於世, 胥如志也; 窮年不相讁發, 自以行無戾也。

多偶、自專、乘權、隻立四人相與游於世, 胥如志也; 窮年不相顧眄, 自以時之適也。 此眾態也。

其貌不一, 而咸之於道, 命所歸也。

Bốn hạng người sống với nhau trong đời: hạng thâm hiểm, hạng nông nổi, hạng thận trọng, hạng nóng nảy; hạng nào cũng hành động theo ý mình mà suốt đời không hiểu nhau, và đều tự cho trí tuệ mình là sâu sắc nhất.

Bốn hạng người sống với nhau trong đời: hạng khéo nịnh, hạng ngu mà trực, hạng hay câu nệ, hạng ngớ ngẩn; hạng nào cũng hành động theo ý mình mà suốt đời không giao du với nhau, và đều tự cho mình là khéo léo hơn hết.

Bốn hạng người sống với nhau trong đời: hạng tinh ranh, hạng vô sỉ, hạng phán đoán vội vàng, hạng mỉa mai; hạng nào cũng hành động theo ý mình mà suốt đời không giác ngộ lẫn nhau, và đều tự cho tài của mình là hơn cả.

Bốn hạng người sống với nhau trong đời: hạng giả dối, hạng hay thêu dệt, hạng dũng cảm, hạng khiếp nhược; hạng nào cũng hành động theo ý mình mà suốt đời không phê phán nhau, và đều tự cho con đường của mình mới đúng.

Bốn hạng người sống với nhau trong đời: hạng chiều đời, hạng tự chuyên, hạng tàn bạo, hạng đứng một mình không cần tới ai; hạng nào cũng hành động theo ý mình mà suốt đời không thèm ngó nhau, và đều tự cho mình là biết theo thời.

Thái độ và hành trạng mỗi người khác nhau, không ai giống ai, nhưng đều theo con đường số mệnh cả.

佹佹成者, 俏成也, 初非成也。 佹佹敗者, 俏敗者也, 初非敗也。

故迷生於俏, 俏之際昧然。

於俏而不昧然, 則不駭外禍, 不喜內福; 隨進動, 隨進止, 智不能知也。

信命者, 於彼我無二心。 於彼我而有二心者, 不若揜目塞耳, 背阪面隍, 亦不墜僕也。

故曰: 死生自命也, 貧窮自時也。 怨夭折者, 不知命者也; 怨貧窮者, 不知時者也。
當死不懼, 在窮不戚, 知命安時也。 其例多智之人, 量利害, 料虛實, 度人情, 得亦中, 亡亦中。
其少知之人, 不量利害, 不料虛實, 不度人情, 得亦中, 亡亦中。

量與不量, 料與不料, 度與不度, 奚以異? 唯亡所量, 亡所不量, 則全而亡喪。 亦非知全, 亦非笑喪, 自全也, 自亡也, 自喪也。

Cái gì gần thành thì có vẻ thành rồi, nhưng chưa phải là thành;

cái gì gần bại có vẻ bại rồi, nhưng chưa phải là bại.

Vì thấy nó có vẻ gần giống nhau, nên người ta lầm lẫn, mê muội.

Không mê muội về chỗ giống nhau thì không sợ cái hoạ ở ngoài, không mừng vì cái phúc ở trong.

Ngay những bậc sáng suốt cũng không biết tuỳ thời mà hành động, tuỳ thời mà ngừng lại.

Người nào tin ở mệnh trời thì không mừng, không sợ.

Nếu mừng và sợ thì không thể so sánh với người bịt mắt, bịt tai, quay lưng vào sườn núi, nhìn xuống vực thẳm mà cũng không sợ té.

Cho nên bảo rằng sống và chết do mệnh trời cả, nghèo khổ là tại thời vận. Oán ghét sự chết yểu là không biết mệnh trời, oán ghét sự nghèo khổ là không biết thời vận.

Chết mà không sợ, nghèo mà không buồn, là người biết trị mệnh an thời.

Dù là người rất thông minh mà lượng lợi và hại, xét hư và thực, dò lòng người thì cũng chỉ đúng một nửa thôi, còn một nửa sai. Còn người ít thông minh, không lường lợi và hai, không xét hư và thực, không dò lòng người thì (kết quả cũng vậy) đúng được một nửa, còn một nửa sai.

Vậy lường hay không lường, xét hay không xét, dò hay không dò, có khác gì nhau đâu?

Chỉ có người nào không lường gì cả mà là lường tất cả, giữ được trọn mà không mất.

 Nhưng (thực ra) người đó cũng không biết đâu mà giữ được trọn, đâu là mất.

Tóm lại, còn hay mất, có hay không là sự việc tự nhiên xảy ra, chứ không dụng tâm mà được.

齊景公游於牛山, 北臨其國城而流涕曰: 「美哉國乎! 鬱鬱芊芊, 若何滴滴去此國而死乎? 使古無死者, 寡人將去斯而之何?」史孔、梁丘據皆從而泣曰: 「臣賴君之賜, 疏食惡肉, 可得而食, 駑馬稜車, 可得而乘也, 且猶不欲死, 而況吾君乎?」晏子獨笑於旁。 公雪涕而顧晏子曰: 「寡人今日之遊悲也與據皆從寡人而泣, 子之獨笑, 何也?」晏子對曰: 「使賢者常守之, 則太公、桓公將常守之矣; 使有勇者而常守之, 則莊公、靈公將常守之矣。 數君者將守之, 吾君方將被蓑笠而立乎畎畝之中, 唯事之恤, 行假今死乎? 則吾君又安得此位而立焉? 以其迭處之, 迭去之, 至於君也, 而獨為之流涕, 是不仁也。 見不仁之君, 見諂諛之臣; 臣見此二者, 臣之所為獨竊笑也。」景公慙焉, 舉觴自罰; 罰二臣者, 各二觴焉。

Vua Tề Cảnh Công đi chơi núi Ngưu Sơn, khi tới phía bắc quốc đô, thì ứa lệ, than thở:

– Đẹp thay nước ta! Cây cỏ tươi tốt, sum suê, dầm dề sương mai kia. Rồi đây ta phải chết mà bỏ nước này ư? Nếu tự cổ không ai chết (mà ta cũng sống hoài) thì ta quyết không bỏ nước này mà đi nơi khác.

Viên sử quan họ Khổng và Lương Khâu Cứ đi theo hầu, đều nhỏ lệ, tâu:

– Bọn hạ thần chúng tôi đội ơn đại vương mà ăn rau và thịt, thường được ngồi xe xấu ngựa còm, mà còn không muốn chết, huống hồ đại vương.

Duy có Án Tử đứng bên mà cười. Cảnh Công chùi nước mắt, quay lại hỏi Án Tử:

– Hôm nay quả nhân đi chơi mà xúc cảm sinh buồn. Khổng và Cứ đều khóc theo quả nhân, riêng ông cười là tại sao?

Án Tử đáp:

– Nếu bậc hiền tài cứ sống hoài thì đức Thái Công và Hoàn Công còn sống đến ngày nay. Nếu những người dũng cảm mà sống hoài thì các đức Trang Công, Linh Công còn sống đến ngày nay. Nếu tất cả các vị đó còn sống đến nay thì nhà vua tất bận áo tơi, đội nón lá mà đứng ở giữa đồng, lo việc ruộng nương chứ đâu được nhàn hạ mà nghĩ tới chết như vậy? Nhà vua đâu được lên ngôi như vậy? Nhờ cái lẽ thay phiên nhau kẻ ở người đi, nên ngôi vua mới tới đại vương. Đại vương chỉ vì vậy mà khóc thì quả là bất nhân quá. Thần thấy một ông vua bất nhân, lại thấy những bề tôi nịnh hót này, mới riêng cười thầm.

Cảnh Công xấu hổ, nâng chén rượu lên uống để tự phạt mình, rồi phạt hai người bề tôi kia mỗi người hai chén.

魏人有東門吳者, 其子死而不憂。

其相室曰: 「公之愛子, 天下無有。 今子死不憂, 何也?」

東門吳曰: 「吾常無子, 無子之時不憂。 今子死, 乃與向無子同, 臣奚憂焉?」

農赴時, 商趣利, 工追術, 仁逐勢, 勢使然也。 然農有水旱, 商有得失, 工有成敗, 仕有遇否, 命使然也。

Nước Nguỵ có một người họ Ngô ở Đông Môn, con trai chết mà không buồn. Người quản lí trong nhà hỏi:

– Ông yêu con không ai bằng, nay cậu ấy chết mà ông không buồn là tại sao?

Họ Ngô đáp:

– Xét hồi ta không có con, lúc đó ta không buồn. Nay nó mất thì như hồi ta chưa có nó. Vậy có gì mà buồn?

Nhà nông thì theo thời tiết (mà làm ruộng). Người buôn bán thì lo kiếm lời. Người thợ thì chăm lo cái khéo léo. Người nhân nghĩa thì tùy theo tình thế mà làm, sao cho đáp ứng thực tế giúp người là tốt. Cho nên nhà nông hay nghĩ đến việc khô hạn hay có nước (để làm ruộng), người buôn bán thì lo việc lời lỗ, người thợ thì lo việc nên hư tốt xấu, kẻ làm quan thì nghĩ đến gặp thời vận hay không …Tất cả đều thuận theo lẽ tự nhiên, có gì phải buồn khổ ?

——————-
*******************   

XUNG HƯ CHÂN KINH

CHƯƠNG VII

DƯƠNG CHU

《沖虛真經》

楊朱 第七

***
楊朱游於魯, 舍於孟氏。 孟氏問曰: 「人而已矣, 奚以名為?」曰: 「以名者為富。」既富矣, 奚不已焉? 「曰: 「為貴」。 「既貴矣, 奚不已焉?」曰: 「為死」。 「既死矣, 奚為焉?」曰: 「為子孫。」「名奚益於子孫?」曰: 「名乃苦其身, 燋其心。 乘其名者澤及宗族, 利兼鄉黨; 況子孫乎?」「凡為名者必廉廉斯貧; 為名者必讓, 讓斯賤。」曰: 「管仲之相齊也, 君淫亦淫, 君奢亦奢, 志合言從, 道行國霸, 死之後, 管氏而已。 田氏之相齊也, 君盈則己降, 君斂則己施, 民皆歸之, 因有齊國; 子孫享之, 至今不絕。」「若實名貧, 偽名富。」曰: 「實無名, 名無實; 名者, 偽而已矣。 昔堯舜偽以天下讓許由、善卷, 而不失天下, 郭祚百年。 伯夷、叔齊實以孤竹君讓, 而終亡其國, 餓死於首陽之山。 實偽之辯, 如此其省也。」

Dương Chu qua chơi nước Lỗ, ở nhà Mạnh thị. Mạnh thị hỏi:

– Làm người cũng đủ rồi, danh để làm gì?

Đáp:

– Người ta dùng danh để làm giàu.

– Thế đã giàu rồi sao không thôi?

– Để được sang.

– Đã sang rồi sao không thôi?

– Để chết (được vẻ vang).

– Chết rồi thì để làm gì?

– Để cho con cháu nhờ.

– Danh mà có ích gì cho con cháu?

Dương Chu đáp:

– Có danh thì khổ cho cái thân, não tấm lòng. (Nhưng) người có danh thì họ hàng được hưởng ân huệ, làng mạc được hưởng lộc, huống hồ được con cháu.

Mạnh thị nói:

– Người nào muốn có danh thì tất phải liêm khiết, mà liêm khiết thì nghèo; muốn có danh thì phải nhún nhường mà nhún nhường thì thấp hèn (không vinh hiển).

Đáp:

– Quản Trọng hồi làm tướng quốc nước Tề, vua dâm đãng thì cũng dâm đãng, vua xa xỉ thì cũng xa xỉ, ý chí và ngôn ngữ đều theo đúng vua mà thi hành được chính sách, khiến cho nước Tề thành bá chủ chư hầu, chết rồi con cháu cũng chỉ là những kẻ họ Quản mà thôi (không ai giàu sang). Điền thị làm tướng quốc nước Tề, vua mà tự đắc quá thì ông khiêm tốn, vua mà tham lam thì ông rộng rãi, dân đều qui phục, nên sau ông được làm vua Tề, con cháu tới nay còn được hưởng thụ.

Mạnh thị hỏi :-

– Có phải như vậy là hễ thực danh thì nghèo mà nguỵ danh thì giàu, thực danh thì hèn, nguỵ danh thì sang không?

Đáp :-

– Hễ thực thì không có danh, hễ có danh thì không có thực. Hồi xưa, những người có danh đều là ngụy hết. Hồi xưa vua Nghiêu vua Thuấn giả dối đem thiên hạ nhường cho Hứa Do và Thiện Quyển, nên mới giữ được thiên hạ mà hưởng lộc tới trăm tuổi. Bá Di, Thúc Tề thực tâm nhường ngôi nước Cô Trúc, cho nên mới mất nước, chết đói ở núi Thú Dương. Coi đó thì biết được thành thực và giả dối khác nhau ra sao”.

楊朱曰: 「百年壽之大齊; 得百年者, 千無一焉。 設有一者, 孩抱以逮昏老, 幾居其半矣。 夜眠之所弭, 晝覺之所遣又同居其半矣。 痛疾哀苦, 亡失憂懼, 又幾居其半矣。 量十數年之中, 逌然而自得, 亡介焉之慮者, 亦亡一時之中爾。 則人之生也奚為哉? 奚樂哉? 為美厚爾, 為聲色爾。 而美厚復不可常厭足, 聲色不可常玩聞。 乃復為刑賞之所禁勸, 名法之所進退; 遑遑爾競一時之虛譽, 規死後之餘榮; 偊偊爾慎耳目之觀聽, 惜身意之是非; 徒失當年之至樂, 不能自肆於一時。 重囚累梏, 何以異哉? 太古之人, 知生之暫來, 知死之暫往, 故從心而動, 不違自然所好, 當身之娛, 非所去也, 故不為名所勸。 從性而游, 不逆萬物所好, 死後不名, 非所取也, 故不為刑所及。 名譽先後, 年命多少, 非所量也。」

Dương Chu bảo:

– Thọ nhiều lắm là trăm tuổi, mà ngàn người không có một người có tuổi đó. Có được chăng thì tuổi thơ phải bế bồng với tuổi già nua lẫm cẫm chiếm mất gần một nửa trăm năm đó rồi. Thời gian ban đêm ngủ, ban ngày bỏ phí, lại chiếm gần một nửa (chỗ còn lại) nữa. Ốm đau, buồn khổ, tán thất, lo sợ, lại mất một khoảng nửa (chỗ còn lại) nữa. Tính ra trong mươi năm còn lại (đáng lẽ) được sống ung dung vui vẻ thì những lúc không phải lo lắng chút nào, gom lại cũng không được một giờ!

Vậy thì con người sống để làm gì. Vui sướng ở đâu? Vui cái đẹp với cái ngon, vui cái thanh sắc, nhưng cái đẹp cái ngon không được hưởng thường cho tới chán, cái thanh sắc không được ngắm hoài, nghe hoài mà lại thêm nỗi người ta dùng cách thưởng phạt để khuyên ngăn; dùng danh vọng và pháp luật để cấm đoán.

Người ta canh cánh ganh đua nhau để được cái hư danh một thời, cầu cạnh cái hư vinh sau khi chết, cứ nhớ tới cái phải cái trái mà không dám cho tai mắt được theo sở thích của mình, làm mất cái cực lạc thú trước mắt, không được thoả thuê phóng túng một lúc nào cả, như vậy có khác gì bị gông bị cùm không?

Người thời thái cổ biết rằng đời sống chỉ là tạm, chẳng bao lâu rồi chết, cho nên hành động theo lòng mình, không trái những thị hiếu tự nhiên, không bỏ lỡ cái gì làm vui cho cuộc sống, không để cái danh nó quyến rũ; họ theo bản tính của họ, không làm trái với xu hướng của vạn vật; họ không màng tới cái danh sau khi chết; cho nên không nghĩ tới hình phạt. Danh tiếng hơn kém, tuổi thọ nhiều ít, họ không quan tâm tới.

楊朱曰: 「萬物所異者生也, 所同者死也; 生則有賢愚貴賤, 是所異也; 死則有臭腐消滅, 是所同也。 雖然, 賢愚貴賤, 非所能也; 臭腐消滅, 亦非所能也。 故生非所生, 死非所死, 賢非所賢, 愚非所愚, 貴非所貴, 賤非所賤。 然而萬物齊生齊死, 齊賢齊愚, 齊貴齊賤。 十年亦死, 百年亦死, 仁聖亦死凶愚亦死。 生則堯舜, 死則腐骨; 生則桀紂, 死則腐骨。 腐骨一矣, 熟知其異? 且趣當生, 奚遑死後?」

Dương Chu nói:

– Vạn vật sống thì khác nhau mà chết thì như nhau hết. Sống, có kẻ hiền người ngu, kẻ sang người hèn, thế là khác nhau; chết thì tan xác ra, hôi thối, tiêu diệt, ai cũng như ai. Hiền hay ngu, sang hay hèn, không phải mình muốn mà được; tan rã, hôi thối, tiêu diệt, cũng chẳng phải do ta muốn.

Cho nên sống không phải do mình, chết không phải do mình, hiền hay ngu không phải do mình, hèn hay sang không phải do mình. Mà vạn vật cùng sống cùng chết, cùng hiền cùng ngu, cùng sang cùng hiền cả.

Sống mười năm, hay trăm năm thì rồi cũng chết, thánh hiền cũng chết, ngu ác cũng chết. Sống là Nghiêu, Thuấn hay Kiệt, Trụ, chết là thịt rã xương mục. Đều là thịt rã xương mục thì ai mà phân biệt được là Nghiêu, Thuấn hay Kiệt, Trụ?

Thế thì cứ hưởng đời đi, nghĩ làm quái gì tới chuyện sau khi chết!

楊朱曰: 「伯夷非亡欲, 矜清之郵, 以放餓死。 展季非亡情, 矜貞之郵, 以放寡宗。 清貞之誤善之若此。」

Dương Chu bảo:

– Ông Bá Di không phải là không có thị dục, vì quá ham tiếng thanh khiết mà tới nỗi chết đói;

ông Triển Quí không phải vô tình, vì quá ham cái tiếng trong trắng mà mê muội con người tới mức đó!

楊朱曰: 「原憲窶於魯, 子貢殖於衛。 原憲之窶損生, 子貢之殖累身。」「然則窶亦不可, 殖亦不可, 其可焉在?」曰: 「可在樂生, 可在逸身。 故善樂生者不窶, 善逸身者不殖。」

Dương Chu bảo:

– Nguyên Hiến sống nghèo khổ ở nước Lỗ, mà Tử Cống thì buôn bán (làm giàu) ở nước Vệ. Nguyên Hiến vì nghèo mà tổn sinh, Tử Cống vì giàu mà luỵ thân, vậy thì nghèo đã không nên, giàu cũng không nên, nên làm sao đây?

 Đáp: Nên làm sao cho vui vẻ, an nhàn tấm thân. Kẻ biết sống vui thì tránh sự nghèo, kẻ biết sống an nhàn thì tránh sự làm giàu.

楊朱曰:

「古語有之: 『生相憐, 死相捐。 』此語至矣。

相憐之道, 非唯情也; 勤能使逸, 饑能使飽, 寒能使溫, 窮能使達也。 相捐之道, 非不相哀也; 不含珠玉, 不服文錦, 不陳犧牲, 不設明器也。」

Dương Chu nói:

– Lời xưa có câu:

“Nên thương người sống mà đừng nghĩ tới người chết”.

Lời đó chí lí.

Thương người sống không phải chỉ là việc tình cảm mà thôi, mà còn phải giúp người lao khổ được nghỉ ngơi, người đói được no, người rét được ấm, người khốn khổ được sung sướng.

Không nghĩ tới người chết, không phải chỉ đừng khóc lóc, mà còn đừng bỏ châu ngọc vào miệng người chết, đừng liệm bằng đồ gấm vóc, đừng dâng những vật hi sinh, đừng bày đồ tế tự.

晏平仲問養生於管夷吾。 管夷吾曰: 「肆之而已, 勿壅勿閼。」晏平仲曰: 「其目奈何?」夷吾曰: 「恣耳之所欲聽, 恣目之所欲視, 恣鼻之所欲抽, 恣口之所欲言, 恣體之所欲安, 恣意之所欲筆。 夫耳之所欲聞者音聲, 而不得聽, 謂之閼聰; 目之所欲見者美色, 而不得視, 謂之閼明; 鼻之所欲向乾椒蘭, 而不得嗅, 謂之閼顫; 口之所欲道者是非, 而不得言, 謂之閼智; 體之所欲安者美厚, 而不得從, 謂之閼適; 意之所為者放逸, 而不得行, 謂之閼往。 凡此諸閼, 廢虐之主。 去廢試之主, 熙熙然以俟死, 一日一月, 一年十年, 吾所謂養。 拘此廢虐之主, 錄而不捨, 慼慼然以至久生, 百年千年萬年, 非吾所謂養。」管夷吾曰: 「吾既告子養生矣, 送死奈何?」晏平仲曰: 「送死略矣, 將何以告焉?」管夷吾曰: 「吾固欲聞之。」平仲曰: 「既死, 豈在我哉? 夢之亦可, 沈之亦可, 瘞之亦可, 露之亦可, 衣薪而棄諸溝壑亦可, 袞衣衣繡裳而納諸石槨亦可, 唯所遇焉。」管夷吾顧謂鮑叔黃子曰: 「生死之道, 吾二人進之矣。」

Án Bình Trọng hỏi Quản Di Ngô về phép dưỡng sinh. Quản Di Ngô đáp:

– Cứ sống buông thả, đừng ngăn cản, cấm kỵ.

Án Bình Trọng hỏi:

– Cách thức ra sao?

Di Ngô đáp:

– Tai muốn nghe thì cứ nghe, mắt muốn nhìn thì cứ nhìn, mũi muốn ngửi thì cứ ngửi, miệng muốn nói thì cứ nói, thân thể muốn gì thì cứ tuỳ thích, lòng muốn làm thì cứ làm.

Tai thích nghe âm nhạc, mà không được nghe, thế là ngăn cấm thính quan; mắt muốn nhìn sắc đẹp mà không được nhìn, thế là ngăn cấm thị quan; mũi thích ngửi hương thơm (như mùi lan, mùi tiêu) mà không được ngửi, thế là ngăn cấm khứu quan; miệng muốn nói việc phải việc trái, mà không được nói, thế là ngăn cấm trí óc; thân thích đồ ngon, đồ đẹp, mà không được như nguyện, thế là ngăn cấm sở thích; lòng muốn phóng dật mà không được phóng dật, thế là ngăn cấm bản tính. Những sự ngăn cấm đó đều là chúa tàn bạo. Bỏ những chúa tàn bạo đó đi mà vui vẻ đợi chết, (dù sống) một ngày hay một tháng, một năm hay mười năm, tôi cũng cho là biết dưỡng sinh. Kẻ nào bị chúa những tàn bạo đó câu thúc, mà không cởi bỏ được, đau đáu lo lắng, thì dù có sống lâu trăm năm, ngàn năm, vạn năm, tôi cũng không cho là biết dưỡng sinh.

Quản Di Ngô nói thêm:

– Tôi giảng phép dưỡng sinh cho ông biết rồi, còn phép tống tử thì ông nên ra sao?

Án Bình Trọng đáp:

– Phép tống tử không quan trọng, có gì đâu mà bàn?

– Nhưng tôi cũng xin được nghe.

– Mình chết rồi, việc tống tử đâu có do mình nữa. Hoả táng cũng được, thả trôi sông cũng được, chôn cất cũng được mà phơi ra giữa trời cũng được, bó thây bằng cỏ mà liệng xuống cái hầm cái hố nào đó cũng được, liệm bằng áo lễ, áo thêu mà cho vào quách bằng đá cũng được, sao cũng được hết.

Quản Di Ngô quay lại bảo Bão Thúc:

– Hoàng Tử nói: “Cái đạo sinh tử, hai ta đều rõ rồi vậy”.

子產相鄭, 專國之政三年, 善者服其化, 惡者畏其禁, 鄭國以治。 諸侯憚之。 而有兄曰公孫朝, 有弟曰公孫穆。 朝好酒, 穆好色。 朝之室也, 聚酒千鐘, 積麴成封, 望門百步, 糟漿之氣逆於人鼻。 方其荒於酒也, 不知世道之爭危, 人理之悔吝, 室內之有亡, 九族之親疏, 存亡之哀樂也。 雖水火兵刃交於前, 弗知也。 穆之後庭, 比房數十, 皆擇稚齒婑媠者以盈之。 方其耽於色也, 屏親暱, 絕交遊, 逃於後庭, 以晝足夜; 三月一出, 意猶未愜。 鄉有處子之娥姣者, 必賄而招之, 媒而挑之, 弗獲而後已。 子產日夜以為戚, 密造鄧析而謀之曰: 「僑聞治身以及家, 治家以及國, 此言自於近至於遠也。 僑為國則治矣, 而家則亂矣! 其道逆邪? 將奚方以救二子? 子其詔之!」鄧析曰: 「吾怪之久矣! 未敢先言。 子奚不時其治也, 喻以性命之重, 誘以禮義之尊乎?」子產用鄧析之言, 因間以謁其兄弟而告之曰: 「人之所以貴於禽獸者智慮, 智慮之所將者禮義。 禮義成則名位至矣。 若觸情而動, 耽於嗜欲, 則性命危矣。 子納僑之言, 則朝自悔而夕食祿矣。」朝、穆曰: 「吾知之久矣, 擇之亦久矣, 豈待若言而後識之哉! 凡生之難遇, 而死之易及; 以難遇之生, 俟易及之死, 可孰念哉? 而欲尊禮義以誇人, 矯情性以招名, 吾以此為弗若死矣。 為欲盡一生之觀, 窮當年之樂, 唯患腹溢而不得恣口之飲, 力憊而不得肆情於色, 不遑憂名聲之醜, 性命之危也。 且若以治國之能誇物, 欲以說辭亂我之心, 榮祿喜我之意, 不亦鄙而可憐哉! 我又欲與若別之。 夫善治外者, 物未必治, 而身交苦; 善治內者, 物未必亂, 而性交逸。 以苦之治外, 其法可暫行於一國, 未合於人心; 以我之治內, 可推之於天下, 君臣之道息矣。 吾常欲以此術而喻之, 若反以彼術而教我哉?」子產忙然無以應之。 他日以告鄧析。 鄧析曰: 「子與真人居而不知也, 孰謂子智者乎? 鄭國之治偶耳, 非子之功也。」

Tử Sản làm tướng quốc nước Trịnh, cầm quyền được ba năm, người tốt thì vui vẻ chịu sự giáo hoá của ông, còn kẻ xấu thì sợ những nghiêm cấm của ông. Nhờ ông, nước Trịnh thịnh trị lên và được chư hầu kính nể.

Tử Sản có một người anh là Công Tôn Triêu và một người em là Công Tôn Mục. Triêu thích rượu mà Mục hiếu sắc.

Nhà của Triêu chứa ngàn hũ rượu, men rượu chất thành đống, cách nhà trăm bước đã thấy nồng nặc mùi hèm. Khi say, Triêu không còn biết thế đạo an hay nguy, tình lí phải hay trái, trong nhà có những gì, bà con họ hàng thân sơ ra sao, kẻ còn người mất, vui buồn ra sao, dù có tai hoạ lụt, cháy, binh đao ở trước mắt, cũng không biết nữa.

Phía sau nhà của Mục cất mấy chục phòng liền nhau, phòng nào phòng nấy đều chứa đầy những gái tơ mỹ miều. Khi đắm mình vào sắc dục thì Mục không tiếp xúc với người thân, không tiếp đãi bạn bè, trốn ở vườn sau, suốt ngày thâu đêm, ba tháng mới ra ngoài mà còn cho là chưa thoả. Thấy trong miền có gái tân nào diễm lệ, thì tặng đồ để mời lại, nhờ mối manh dụ dỗ, cho tới khi chiếm được mới thôi.

Tử Sản ngày đêm rầu rĩ vì ông anh và ông em đó, ngầm bàn tính với Đặng Tích, bảo:

– Kiều tôi nghe nói “Tu thân rồi mới trị được nhà, trị được nhà rồi mới trị được nước”, nghĩa là phải tiến từ gần tới xa. Kiều tôi trị nước cũng là được mà nhà thì loạn như vậy? Thế ngược đường sao? Làm cách nào cứu hai người đó được? Xin ông dạy cho?

Đặng Tích đáp:

– Điều đó từ lâu tôi đã lấy làm lạ, mà không dám nói ra. Tại sao ông không răn bảo hai người đó ngay từ đầu, nhắc họ phải coi tính mệnh là trọng, khuyên họ phải coi lễ nghĩa là quí?

Tử Sản nghe lời Đặng Tích, gặp lúc rảnh, lại thăm anh và em, mà bảo:

– Con người sở dĩ quí hơn cầm thú là nhờ biết suy nghĩ; suy nghĩ thì phải nhờ vào lễ nghĩa; có lễ nghĩa rồi mới có danh vị. Nếu tình ý phóng túng, đam mê thị dục thì nguy tới tính mệnh. Anh và chú mà nghe lời tôi thì sáng tự hối, tối đã được hưởng lộc (làm quan) rồi.

Triêu (và Mục) đáp:

– Chúng tôi đã biết lẽ đó từ lâu, đã lựa lối sống từ lâu, đâu có phải đợi chú giảng giải. Hạnh phúc ở đời là điều khó gặp mà cái chết thì dễ gặp. Đem cái hạnh phúc khó gặp mà đổi cái chết dễ gặp, nghĩ xem có nên không? Tôn trọng lễ nghĩa để khoe đức với người, làm trái tính tình của mình để cầu danh, thì bọn tôi cho là thà chết còn hơn. Bọn tôi muốn tận hưởng hạnh phúc ở đời trong khi còn sống, chỉ sợ bụng đầy rồi không ăn uống thêm được nữa cho khoái khẩu, sức kiệt rồi không hưởng sắc dục được nữa cho sướng thân, chẳng lo cái chuyện mang tiếng xấu hoặc nguy tới tính mệnh. Vả lại chú lấy tài trị nước mà khoe với đời, muốn biện thuyết để làm rối loạn lòng của bọn tôi, đem tước lộc để dụ bọn tôi, chẳng phải là bỉ ổi mà đáng thương sao! Để tôi giảng cho chú nghe này: người nào tự cho khéo trị ngoại vật, ngoại vật vị tất đã trị mà thân người đó đã khổ rồi; còn kẻ khéo trị nội tâm, thì ngoại vật chưa chắc đã loạn mà tính tình mình được yên vui. Cách trị ngoại vật của chú có thể tạm có kết quả trong một nước, nhưng chưa hợp với lòng người; còn cách trị nội tâm của bọn tôi, có thể áp dụng rộng ra khắp thiên hạ, (nếu theo đúng) thì không còn cái đạo vua tôi nữa. Bọn tôi đã tính giảng cho chú cái thuật đó, ngờ đâu ngược lại, chú đòi đem thuật của chú thuyết bọn tôi!

Tử Sản hoang mang không biết đáp sao. Hôm sau cho Đặng Tích hay, Đặng Tích bảo:

– Ông sống với những bậc chân nhân mà không hay, vậy mà người ta cứ khen ông là bậc trí. Nước Trịnh mà được thịnh trị là ngẫu nhiên đấy, đâu phải là công của ông.

衛端木叔者, 子貢之世也。 藉其先貲, 家累萬金。 不治世故, 放意所好。 其生民之所欲為, 人意之所欲玩者, 無不為也, 無不玩也。 墻屋臺榭, 園囿池沼, 飲食車服, 聲樂嬪御, 擬齊楚之君焉。 至其情所欲好, 耳所欲聽, 目所欲視, 口所欲嘗, 雖殊方偏國, 非齊土之所產育者, 無不必致之, 猶藩墻之物也。 乃其游也, 雖山川阻險, 途徑修遠, 無不必之, 猶人之行咫步也。 賓客在庭者日百住, 庖廚之下, 不絕煙火; 堂廡之上, 不絕聲樂。 奉養之餘, 先散之宗族; 宗族之餘, 次散之邑裡; 邑裡之餘, 乃散之一國。 行年六十, 氣干將衰, 棄其家事, 都散其庫藏、珍寶、車服、妾媵, 一年之中盡焉, 不為子孫留財。 及其病也, 無藥石之儲; 及其死也; 無瘞埋之資。 一國之人, 受其施者, 相與賦而藏之, 反其子孫之財焉。 禽骨釐聞之曰: 「端木叔狂人也, 辱其祖矣。」段干生聞之曰: 「端木叔達人也, 德過其祖矣。 其所行也, 其所為也, 眾意所驚, 而誠理所取。 衛之君子多禮教自持, 固未足以得此人之心也。」

Đoan Mộc Thúc, người nước Vệ, là dòng dõi Tử Cống, được hưởng gia tài tổ tiên, trong nhà có mấy vạn cân vàng, nhưng không quản trị sản nghiệp, mà chơi bời cho thoả chí.

Người đời muốn làm cái gì, muốn hưởng cái gì ông ta cũng làm, cũng hưởng cho đủ. Nhà cửa, lâu đài, vườn tược, ao hồ, ăn uống, xe ngựa, y phục, đờn ca, nàng hầu, thị nữ, đều không kém vua Tề, vua Sở. Lòng thích cái gì, tai muốn nghe cái gì, mắt muốn nhìn cái gì, miệng muốn nếm thứ gì, tuy xa xôi tận nước ngoài, nước Tề không có, ông ta cũng kiếm cho được, như thể những vật ở trong tường, trong hàng rào của ông vậy.

Khách khứa trong nhà ngày nào cũng có cả trăm người, bếp không lúc nào tắt, nhà giữa nhà bên không lúc nào im tiếng ca tiếng đờn. Thức ăn còn dư, phân phát cho hàng xóm, hàng xóm cũng ăn không hết thì phân phát cho cả nước.

Năm sáu mươi tuổi, khí lực gân cốt bắt đầu suy nhược; ông bỏ hết việc nhà, phân phát kho tàng, châu báu, xe ngựa, y phục, nàng hầu và thị nữ, chỉ trong một năm hết nhẵn, không để lại cho con cháu chút gì cả. Tới khi đau, không có thuốc uống, khi chết không có tiền chôn cất. Nhưng khắp trong nước những người mang ơn ông góp tiền mai táng ông, trả lại một số của cải cho con cháu ông nữa.

Cầm Cốt Li nghe chuyện đó bảo:

– Đoan Mộc Thúc là một người điên cuồng làm nhục tổ tiên.

Đoàn Can Sinh nghe vậy bảo:

– Mộc Thúc là bậc đạt nhân, có đức hơn tổ tiên. Những hành vi của ông ấy, mọi người lấy làm lạ, nhưng quả là chí lí. Hạng quân tử nước Vệ đa số giữ lễ giáo, cho nên chưa hiểu được lòng con người đó.

孟孫陽問楊子曰: 「有人於此, 貴生愛身, 以蘄不死, 可乎?」曰: 「理無不死。」「以蘄久生, 可乎?」曰: 「理無久生。 生非貴之所能存, 身非愛之所能厚。 且久生奚為? 五情好惡, 古猶今也; 四體安危, 古猶今也; 世事苦樂, 古猶今也; 變易治亂, 古猶今也。 既聞之矣, 既見之矣, 既更之矣, 百年猶厭其多, 況久生之苦也乎?」孟孫陽曰: 『若然, 速亡愈於久生; 則踐鋒刃, 入湯火, 得所志矣。 「楊子曰: 「不然。 既生, 則廢而任之, 究其所欲, 以俟於死。 將死則廢而任之, 究其所之, 以放於盡。 無不廢, 無不任, 何遽遲速於其間乎?」

Mạnh Tôn Dương hỏi Dương tử:

– Có người quí đời sống và yêu thân mình mà mong được bất tử, được không?

Đáp:

– Không có cái lẽ bất tử được.

– Mong kéo dài thêm đời sống, được không?

– Không có cái lẽ kéo dài thêm đời sống được. Đời sống, không phải cứ quí nó mà duy trì được nó, thân không phải yêu nó mà nó sống lâu được. Vả lại kéo dài thêm đời sống để làm gì? Cái tình yêu ghét, xưa cũng như nay; thân thể an hay nguy, xưa cũng như nay; trị hay loạn thay đổi nhau, xưa cũng như nay. Một khi đã nghe rồi, thấy rồi, trải qua rồi, thì sống trăm năm cũng đã chán, sống thêm làm chi cho khổ?

Mạnh Tôn Dương hỏi:

– Nếu vậy, thì chết sớm còn hơn sống lâu, mà nên nhảy vào lưỡi gươm, đám lửa ư?

Dương Chu đáp:

– Không phải vậy! Đã sinh ra thì cứ thản nhiên nhận cuộc sống, và thoả mãn hết thị hiếu của mình mà đợi lúc chết; sắp chết thì cứ thản nhiên nhận sự chết, sống hết đời mình cho tới khi tiêu diệt. Cái gì cũng thản nhiên, cái gì cũng chấp nhận thì còn mong gì nó tới sớm hay tới muộn nữa?

楊朱曰: 「伯成子高不以一毫利物, 舍國而隱耕。 大禹不以一身自利, 一體偏枯。 古之人, 損一毫一利天下, 不與也, 悉天下奉一身, 不取也。 人人有損一毫, 人人不利天下, 天下治矣。」禽子問楊朱曰: 「去子體之一毛, 以濟一世, 不汝為之乎?」楊子曰: 「世因非一毛之所濟。」禽子曰: 「假濟, 為之乎?」楊子弗應。 禽子出, 語孟孫陽。 孟孫陽曰: 「子不達夫子之心, 吾請言之。 有侵苦肌膚獲萬金者, 若為之夫?」曰: 「為之。」孟孫陽曰: 「有斷若一節得一國。 子為之乎?」禽子默然有間。 孟孫陽曰: 「一毛微於肌膚, 肌膚微於一節, 省矣。 然則積一毛以成肌膚, 積肌膚以成一節。 一毛固一體萬分中之一物, 奈何輕之乎?」禽子曰: 「吾不能所以答子。 然則以子之言問者聃、關尹, 則子言當矣; 以吾言問大禹、墨翟, 則吾言當矣。」孟孫陽因顧與其徒說他事。

Dương Chu bảo:

– Ông Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợi lông của mình để làm lợi cho thiên hạ, bỏ nước mà ở ẩn cày ruộng; còn ông Đại Vũ không hề nghĩ lợi riêng cho mình, (hi sinh cho tới nỗi) thân thể khô đét. Người xưa, mất một sợi lông mà làm lợi cho thiên hạ thì cũng không chịu, mà có ai đem cả thiên hạ phụng dưỡng thân mình thì cũng không nhận. Nếu mọi người đều không muốn làm lợi cho thiên hạ thì thiên hạ sẽ bình trị.

***

Cầm Tử hỏi Dương Chu:

– Nhổ một sợi lông của ông để cứu đời, ông chịu không?

Dương Chu đáp:

– Đời đâu có thể cứu được bằng một sợi lông.

– Cho rằng cứu được đi, thì ông chịu không?

Dương Chu không đáp.

Cầm Tử bước ra ngoài, kể lại với Mạnh Tôn Dương. Mạnh Tôn Dương bảo:

– Ông không hiểu được ý của Phu tử, để tôi giảng cho. Nếu để người ta cắt thịt mà được vạn cân vàng, ông chịu không?

– Chịu.

– Để cho người ta bẻ gãy tay chân mà được một nước thì ông chịu không?

Cầm Tử làm thinh.

Một lát sau, Mạnh Tôn Dương bảo:

– Một sợi lông không quan trọng bằng da thịt, da thịt không quan trọng bằng tay chân, điều đó hiển nhiên. Nhưng nhiều lông thì thành da thịt, nhiều da thịt thì thành tay chân; một sợi lông chỉ là một phần vạn của thân thể, nhưng tại sao lại khinh nó?

Cầm Tử đáp:

– Tôi không thể đáp lời ông được, nhưng đem lời của ông nói với Lão Đam, Quan Doãn thì hợp với họ, mà tôi đem lời của tôi nói với Đại Vũ, Mặc Địch thì cũng hợp với họ.

Mạnh Tôn Dương quay lại nói qua chuyện khác với môn đệ.

楊朱曰: 「天下之美歸之舜、禹、周、孔, 天下之惡歸之桀、紂。 然而舜耕於河陽, 陶於雷澤, 四體不得暫安, 口腹不得美厚; 父母之所不愛, 弟妹之所不親。 行年三直, 不告而娶。 乃受堯之禪, 年已長, 智已衰。 商鈞不才, 禪位於禹, 慼慼然以至於死: 此天人之窮毒者也。 鮌治水土, 績用不就, 殛諸羽山。 禹纂業事讐, 惟荒土功, 子產不字, 過門不入; 身體偏枯, 手足胼胝。 及受舜禪, 卑宮室, 美紱冕, 慼慼然以至於死: 此無人之憂苦者也。 武王既終, 成王幼弱, 周公攝天子之政。 邵公不悅, 四國流言。 居東三年, 誅兄放弟, 僅免其身, 慼慼然以至於死: 此天人之危懼者也。 孔子明帝王之道, 應時君之聘, 伐樹於宋, 削跡於衛, 窮於商周, 圍於陳蔡, 受屈於季氏, 見辱於陽虎, 慼慼然以至於死: 此天民之遑遽者也。 凡彼四聖者, 生無一日之歡, 死有萬世之名。 名者, 固非實之所取也。 雖稱之弗知, 雖賞之不知, 與株塊無以異矣。 桀藉累世之資, 居南面之尊, 智足以距群下, 威足以震海內; 恣耳目之所誤, 窮意慮之所為, 熙熙然從至於死: 此天民之逸蕩者也。 紂亦藉累世之資, 居南面之尊; 威無不行, 志無不從; 肆情於傾宮, 縱慾於長夜; 不以禮義自苦, 熙熙然以至於誅: 此天民之放縱者也。 彼二兇也, 生有縱慾之歡, 死被愚暴之名。 實者固非名之所與也, 雖毀之不知, 雖稱之弗知, 此與株塊奚以異矣。 彼四聖雖美之所歸, 苦以至終, 亦同於死矣。 彼二兇雖惡之所歸, 樂以至終, 亦同歸於死矣。」

Dương Chu bảo:

– Mọi tiếng tốt đẹp trong thiên hạ, dồn cả cho vua Thuấn, vua Vũ, Chu Công, Khổng Tử, còn mọi tiếng xấu qui cả cho Kiệt và Trụ. Thuấn cày ruộng ở Hà Dương, làm đồ gốm ở Lôi Trạch, chân tay không lúc nào được nghỉ, miệng không được ăn thức ngon; không được cha mẹ yêu, anh em chị em quí, ba mươi tuổi cưới vợ mà không thưa với cha mẹ, tới khi được vua Nghiêu truyền ngôi cho thì tuổi đã cao, trí đã suy. Con trai ông ta là Thương Quân bất tài, ông đã phải nhường ngôi cho ông Vũ, rồi rầu rĩ tới chết. Ông ta là con người khốn khổ cô độc nhất đời.

Ông Cổn, cha của ông Vũ, được giao phó cho việc đắp đập đào kinh, mà không thành công, bị xử tử ở núi Vũ Sơn. Ông Vũ phải tiếp tục công việc của cha, như vậy phải thờ kẻ thù của mình, đem hết sức ra khai hoang, có con mà không được âu yếm, săn sóc con, đi qua nhà mà không vô, thân thể khô đét, tay chân chai cộm; đến khi được vua Thuấn truyền ngôi cho, sống trong cung thất tồi tàn, đeo dây thao, đội mũ miện đẹp mà rầu rĩ tới chết. Ông ta là người lo lắng, lao khổ nhất đời.

Vua Vũ (nhà Chu) khi mất, con là Thành Vương còn nhỏ, ông Chu Công nhiếp chính, ông Thiệu Công không vui, khắp bốn phương đâu đâu cũng nổi lên lời chê, nên phải ra ở phía đông ba năm, giết anh, bỏ tù em, để tự cứu mình, sau sống rầu rĩ tới chết. Ông ta là con người khốn đốn, lo sợ nhất đời.

Khổng tử hiểu rõ cái đạo đế vương, hễ vua nào mời thì sẵn sàng tới giúp, mà khi ở nước Tống có lần người ta chặt cây hại ông, có lần phải lẻn trốn khỏi nước Vệ, có hồi bị cùng khốn ở Thương, Chu, bị vây ở Trần, Thái, bị Quí Thích xúc phạm, bị Dương Hổ làm nhục, sau rầu rĩ cho tới chết. Ông là người long đong xui rủi nhất đời.

Bốn ông thánh đó, sống không được một ngày vui, mà chết đi, để lưu danh lại vạn đời. Danh vốn không phải là thực mà bảo có thể hưởng được, tuy được người ta khen thưởng thì cũng không biết, trơ trơ khác chi khúc cây, cục đất.

Kiệt được hưởng kho tàng mấy đời tích luỹ, quay mặt về phương Nam mà giữ ngôi chí tôn, trí đủ để khiến bọn bề tôi không dám nhờn, uy đủ để khắp nước phải run sợ, tha hồ hưởng cái vui thanh sắc, muốn làm gì thì làm, mà sống vui vẻ cho tới chết. Ông ta là người phóng đãng nhất thiên hạ.

Trụ cũng được hưởng kho tàng mấy đời tích luỹ, cũng quay mặt về phương Nam mà giữ ngôi chí tôn, uy lan ra khắp nơi, muốn làm gì thì làm, phóng túng trong Khuynh Cung, dâm đãng trong cảnh “trường dạ”, không tự làm khổ mình bằng lễ nghĩa, vui vẻ sống cho tới khi bị (vua Chu Vũ Vương) giết. Ông ta là người phóng túng nhất thiên hạ.

Hai con người hung tàn đó, sống thì hưởng lạc cho thoả lòng, chết mang cái tên xấu là ngu bạo. Thực không phải là cái danh mà có thể tặng được, tuy bị người đời chê hay khen thì cũng không biết, trơ trơ khác chi khúc cây, cục đất.

Bốn ông thánh kia tuy được dồn cho mọi tiếng tốt, nhưng chịu khổ cho tới hết đời rồi cũng chết như mọi người vậy. Hai kẻ hung bạo kia phải chịu mọi tiếng xấu, nhưng được vui cho tới hết đời, rồi cũng chết như mọi người vậy.

楊朱見梁王, 言治天下如運諸掌。 梁王曰: 「先生有一妻妾, 而不能治; 三畝之園, 而不能蕓, 而言治天下如運諸掌, 何也?」對曰: 「君見其牧羊者乎? 百羊而群, 使五尺童子荷箠而隨之, 欲東而東, 欲西而西。 使堯牽一羊, 舜荷箠而隨之, 則不能前矣。 且臣聞之: 吞舟之魚, 不游枝流; 鴻鵠高飛, 不集污池。 何則? 其極遠也。 黃鐘大呂, 不可從煩奏之舞, 何則? 其音疏也。 將治大者不治細, 成大功者不成小, 此之謂矣。」

Dương Chu yết kiến vua nước Lương, bảo “trị thiên hạ như lật bàn tay”.

Vua Lương bảo:

– Tiên sinh có một bà vợ lớn, một bà vợ nhỏ mà không trị được, có ba mẫu vườn mà không giẫy cỏ, mà bảo trị thiên hạ dễ như lật bàn tay, sao vậy?

Đáp:

– Nhà vua thấy đứa chăn cừu không? Một bầy trăm con cừu, cho một đứa nhỏ cao năm thước (Tàu) cầm cây roi bằng cọng sen mà chăn, nó muốn dắt về phía Đông thì bầy cừu đi về phía Đông, dắt về phía Tây thì đi về phía Tây.

Nếu vua Nghiêu dắt một con cừu thôi, vua Thuấn cầm roi bằng cọng sen mà chăn thì chắc là con cừu không đi. Vả lại thần nghe nói con cá lớn có thể nuốt một chiếc thuyền thì không lội trong cái ngòi, cái lạch; con hồng hộc bay tít trên cao thì không đáp xuống cái ao đục.

Tại sao vậy? Tại các loài đó muốn lội, bay thật xa.

Cái hoàng chung và cái đại lữ, thì không dùng để tấu một khúc vũ tạp nhạp. Tại sao vậy? Tại thanh âm không hợp.

Người nào muốn làm việc lớn thì không làm việc nhỏ nhặt, muốn thành công lớn thì không màng tới thành công nhỏ nhen.

Đó ý thần là như vậy.

楊朱曰: 「太古之事滅矣, 孰誌之哉? 三皇之事, 若存若亡; 五帝之事, 若覺若夢; 三王之事, 或隱或顯, 億不識一。 當身之事, 或聞或見, 萬不識一。 目前之事或存或廢, 千不識一。 太古至於今日, 年數固不可勝紀。 但伏羲已來三十餘萬歲, 賢愚、好醜、成敗、是非, 無不消滅, 但遲速之間耳。 矜一時之毀譽, 以焦苦其神形, 要死後數百年中餘名, 豈足潤枯骨? 何生之樂哉?」

Dương Chu nói:

– Các việc lớn thời thái cổ đã dứt rồi, ai có thể ghi lại được? Hành vi của Tam Hoàng tới nay như còn như mất, hành vi của Ngũ Đế như tỉnh như mộng, hành vi của Tam Vương hoặc ẩn hoặc hiện, một ức việc không biết chắc được một việc. Ngay những việc đương thời ta đây, hoặc được nghe, hoặc được thấy mà vạn việc cũng không biết chắc được một việc; những việc trước mắt ta đây, hoặc còn hoặc mất, ngàn việc cũng không biết chắc được một việc.

Từ thời thái cổ tới nay, có cơ man nào là năm, mà từ thời Phục Hi tới nay, cũng đã trên ba ngàn năm rồi. Hiền ngu, gian ác, thành bại, thị phi, không có gì là không tiêu diệt, chỉ sớm hoặc muộn mà thôi.

Coi trọng tiếng khen tiếng chê một thời làm cho tinh thần, hình hài tiều tuỵ, muốn lưu lại cái danh hão mấy trăm năm sau khi chết, nhưng chết rồi có cách nào làm cho nắm xương tàn tươi lại, tái sinh mà hưởng lạc được không?

楊朱曰: 「人肖天地之類, 懷五常之性, 有生之最靈者人也。 人者, 爪牙不足以供守衛, 肌膚不足以自捍禦, 趨走不足以逃利害, 無毛羽以禦寒暑, 必將資物以為養, 性任智而恃力。 故智之所貴, 存我為貴; 力之所賤, 侵物為賤。 然身非我有也, 既生不得不全之; 物非我有也, 既有不得不去之。 身固生之主, 物亦養之主。 雖全生身, 不可有其身; 雖不去物, 不可有其物。 有其物有其身, 是橫私天下之身, 橫私天下之物。 其唯聖人乎! 公天下之身, 公天下之物, 其唯至人矣! 此之謂至至者也。」

Dương Chu nói:

– Con người bản chất giống trời đất, có đức tính của ngũ hành, là loài tối linh trong vạn vật, nhưng móng tay và răng không đủ để tự vệ, da thịt không đủ để kháng cự; chạy không đủ mau để trốn nguy; lại không đủ lông để che nắng tránh lạnh. Phải nhờ cậy ngoại vật để tự nuôi sống, nhưng dùng mưu trí chứ không ỷ vào sức mạnh được. Cho nên trí khôn quí ở chỗ nó bảo tồn được thân ta; mà sức mạnh đáng khinh ở chỗ nó tàn bạo với sinh vật khác.

Thân ta không phải của ta, nhưng đã sinh ra rồi thì không thể không bảo toàn nó được. Các sinh vật khác không phải là của ta, nhưng đã có chúng rồi thì không được diệt trừ nó đi.

Đời sống tuỳ thuộc thân ta, mà thức ăn của ta tuỳ thuộc vạn vật. Tuy bảo toàn được thân ta, nhưng không làm chủ hoàn toàn được nó; tuy không diệt trừ các sinh vật khác, nhưng không thể làm chủ hoàn toàn chúng được.

 Làm chủ vạn vật và làm chủ thân ta, tự ý muốn làm gì cho thân mình và cho vạn vật cũng được, hoạ may bậc thánh nhân mới được vậy.

Coi thân mình là vạn vật, coi vạn vật là thân mình, thì chỉ bậc chí nhân mới được vậy.

 Đó là tột bực của sự hoàn thiện.

楊朱曰: 「生民之不得休息, 為四事故: 一為壽, 二為名, 三為位, 四為貨。 有此四者, 畏鬼, 畏人, 畏威, 畏刑, 此謂之遁人也。 可殺可活, 制命在外。 不逆命, 何羨壽? 不矜貴, 何羨名? 不要勢, 何羨位? 興貪富, 何羨貨? 此之謂順民也。 天下無對, 制命在內, 故語有之曰: 人不婚宦, 情慾失半; 人不衣食, 君臣道息。

Dương Chu nói:

– Con người sở dĩ không được nghỉ ngơi (an nhàn) là vì bốn nguyên nhân:-

– ham sống lâu,

– ham danh,

– ham vị

– và ham tiền.

Vì ham bốn cái đó nên sợ quỉ, sợ người, sợ kẻ có quyền, sợ hình phạt.

Hạng người đó gọi là “trốn” (tự nhiên), vì họ sống hay chết, thì số mệnh họ cũng tuỳ ngoại vật (chứ không tuỳ họ).

Nếu thuận mệnh thì đâu còn cầu thọ; không ham quí hiển thì đâu còn cầu danh; không muốn có uy thế thì đâu thích địa vị; không ham giàu thì đâu quí tiền của. Hạng người như vậy gọi là thuận “tự nhiên”, trong thiên hạ không có gì ngang với họ được, số mạng họ tuỳ thuộc họ (chứ không tuỳ thuộc ngoại vật).

Cho nên ngạn ngữ có câu:-

“Người nào không lập gia đình, không làm quan thì tình dục mất đi một nửa, người nào không quan tâm tới cái ăn cái mặc thì chẳng có bổn phận vua tôi”.

周諺曰: 「田父可坐殺。 晨出夜入, 自以性之恆; 啜菽茹藿, 自以味之極; 肌肉粗厚, 筋節腃急, 一朝處以柔毛綈幕, 薦以梁肉蘭橘, 心病(換丙為肙)體煩, 內熱生病矣。 商魯之君與田父侔地, 則亦不勇一時而憊矣。 故野人之所安, 野人之所美, 謂天下無過者。 昔者宋國有田夫, 常衣緼黂, 僅以過冬。 暨春東作, 自曝於日, 不知天下之有廣廈隩室, 綿纊狐貉。 顧謂其妻曰: 『負日之暄, 人莫知者; 以獻吾君, 將有重賞。 』裡之富室告之曰: 『昔人有美戎菽, 甘枲莖芹萍子者, 對鄉豪稱之。 鄉豪取而嘗之, 蜇於口, 慘於腹, 眾哂而怨之, 其人大慚。 子此類也。 』」

Nước Chu có một ngạn ngữ: “Nông phu mà ở không lâu thì có thể chết”.

Sáng sớm ra đồng, tối mới về nhà, họ tự biết sống theo bản tính, họ ăn rau, ăn đậu tự cho là ngon. Bắp thịt gồng cứng, gân cốt rắn rỏi.

Một buổi sáng nào đó cho họ nằm giường êm màn thêu, ăn gạo ngon và thịt béo, lan, quít, thì tâm thần thể chất họ khó chịu, phát nhiệt mà sinh bệnh; còn các ông vua nước Thương nước Lỗ nếu sống như họ thì cũng không chịu nổi được một giờ. Cho nên, cái gì nông dân thích, thì họ cho là khắp thiên hạ không có gì hơn.

Xưa, nước Tống có một nông phu, suốt năm bận áo bố, mùa đông lạnh cũng rán chịu, qua mùa xuân thì sưởi nắng, không hề biết rằng trên đời có những lâu đài rộng rãi, những căn phòng ấm áp, những áo bằng gấm vóc, bằng lông chồn, lông hạc, cho nên bảo vợ:

– Không ai biết rằng ánh nắng sưởi ấm được lưng. Anh tâu với vua điều đó, chắc được hậu thưởng.

Một người giàu có trong làng bảo chú ta:

– Xưa có một người thích rau dại, rau gai ngọt, rau hành cần, và bèo, khen những thứ đó với một vị giàu có trong làng. Vị này nếm thử, cay miệng mà đau bụng, bị mọi người chế nhạo, chê bai mà xấu hổ. Chú thì cũng vậy.

楊朱曰: 「豐屋美服, 厚味姣色, 有此四者, 何求於外? 有此而求外者, 無厭之性。 無厭之性, 陰陽之蠹也。

Dương Chu nói:

– Nhà sang, áo đẹp, thức ăn ngon, vợ đẹp, có bốn thứ đó thì có cầu gì khác nữa?

Có bốn thứ đó rồi mà cầu thêm nữa, là tham lam vô độ, tham lam vô độ là loài mọt của âm dương (của trời đất).

楊朱曰:
忠不足以安君, 適足以危身; 義不足以利物, 適足以害生。 安上不由於忠, 而忠名滅焉; 利物不由於義, 而義名絕焉。 君臣皆安, 物我兼利, 古之道也。

Dương Chu nói:

– Trung với vua không đủ để làm cho vua được yên mà đủ để làm nguy cho bản thân mình; giữ nghĩa không đủ để làm lợi cho người mà đủ làm hại cho đời sống của mình.

Sự an ổn của người trên không nhờ đức trung (của người dưới), vậy nên bỏ tiếng trung đi; sự lợi ích của người khác không do ta giữ nghĩa, vậy nên bỏ tiếng nghĩa đi.

Vua tôi đều được yên ổn, người và ta đều được lợi, đó là đạo của cổ nhân.

鬻子曰: 『去名者無憂。 』老子曰: 『名者實之賓。 』而悠悠者趨名不已。 名固不可去? 名固不可賓邪? 今有名則尊榮, 亡名則卑辱; 尊榮則逸樂, 卑辰則憂苦。 憂苦, 犯性者也; 逸樂, 順性者也, 斯實之所繫矣。 名胡可去? 名胡可賓? 但惡夫守名而累實。 守名而累實, 將恤危亡之不救, 豈徒逸樂憂苦之間哉?」

Dục Tử nói:

– Từ bỏ cái danh thì khỏi phải lo nghĩ. Lão Tử nói: “Danh là khách của thực”. Mà người đời đau đáu chạy theo cái danh hoài.

Danh vốn không thể bỏ được, danh vốn không thể coi là khách được. Ngày nay ai có danh thì được tôn vinh, vô danh thì chịu hèn nhục; tôn vinh thì an dật sung sướng, hèn nhục thì lo lắng, khổ sở. Lo lắng khổ sở thì hại tới bản tính, an dật sung sướng thì thuận với bản tính, quả có liên hệ với nhau như vậy.

Vậy thì làm sao lại bỏ danh? Làm sao mà coi danh là khách? Ghét chăng là ghét sự giữ cái danh mà luỵ cái thực; giữ cái danh mà luỵ cái thực thì sẽ có lúc phải chịu nguy vong mà không có cách cứu, chứ đâu phải chỉ là chuyện an dật vui sướng với lo lắng, khổ sở mà thôi đâu.

楊朱曰: “行善不以為名而名從之; 名不與利期而利歸之; 利不與爭期而爭及之: 故君子必慎為善。 ”

Dương Chu nói:

– Làm điều lợi cho người thì được hậu quả tốt; làm điều oán cho người thì sẽ hại tới thân. Phát ở ta mà ứng ra ngoài, đó là tình đời (lẽ thường). Cho nên người hiền minh thì thận trọng về hành động của mình.

—————
***************   

XUNG HƯ CHÂN KINH

CHƯƠNG VIII

THUYẾT PHÙ

《沖虛真經》

說符 第八

子列子學於壺丘子林。 壺丘子林曰: 「子知持後, 則可言持身矣。」列子曰: 「願聞持後。」曰: 「顧若影, 則知之。」列子顧而觀影: 形枉則影曲, 形直則影正。 然則枉直隨形而不在影, 屈申任物而不在我, 此之謂持後而處先。
關尹謂子列子曰: 「言美則響美, 言惡則響惡; 身長則影長, 身短則影短。 名也者, 響也; 身也者, 影也。 故曰: 慎爾言, 將有和之; 慎爾行, 將有隨之, 是故聖人見出以知入, 觀往以知來, 此其所以先知之理也。 度在身, 稽在人。 人愛我, 我必愛之; 人惡我, 我必惡之。 湯武愛天下, 故王; 桀、紂惡天下, 故亡, 此所稽也。 稽度皆明而不道也, 譬之出不由門, 行不從徑也。 以是求利, 不亦難乎? 嘗觀之神農、有炎之德, 稽之虞、夏、商、周之書, 度諸法士賢人之言, 所以存亡廢興而非由此道者, 未之有也。」
嚴恢曰: 「所為問道者為富, 今得珠亦富矣, 安用道?」子列子曰: 「桀、紂唯重利而輕道, 是以亡。 幸哉餘未汝語也! 人而無義, 唯食而已, 是雞狗也。 疆食靡角, 勝者為制, 是禽獸也。 為雞狗禽獸矣, 而欲人之尊己, 不可得也。 人不尊己, 則危辱及之矣。」

Thầy Liệt Tử học với Hồ Khâu Tử Lâm. Hồ Khâu Tử Lâm bảo:

– Anh phải tập trung ở phía sau thì mới có thể nói rằng giữ được thân mình.

Liệt Tử hỏi:

– Xin thầy cho nghe thế nào là đứng ở phía sau.

Đáp:

– Quay lại nhìn cái bóng của anh thì biết.

Liệt Tử quay lại nhìn cái bóng của mình, hễ vặn thân mình thì cái bóng cong, đứng thẳng lại thì cái bóng cũng thẳng.

Vậy cong hay ngay là tuỳ thân thể chứ không tuỳ cái bóng. Biết co hay duỗi tuỳ vật chứ không tuỳ ta, như vậy là đứng ở phía sau mà được ở phía trước.

*

Quan Doãn bảo thầy Liệt Tử :

– Lời mà đẹp thì tiếng vang cũng đẹp, lời mà xấu thì tiếng vang cũng xấu, thân hình cao thì bóng dài, thân hình lùn thì bóng ngắn. Danh cũng như tiếng vang, thân hình cũng như cái bóng. Cho nên bảo: “Thận trọng lời nói thì người ta sẽ biết mình, thận trọng hành vi thì người ta sẽ theo mình”.

Bậc thánh nhân xét cái gì phát ra mà biết cái gì nhập vô, xét việc đã qua mà biết việc sắp tới, như vậy là tiên tri.

Đức độ hay không là ở ta, mà phán xét ta là ở người. Người ta yêu mình, thì tất là vì mình đã yêu người ta; người ta ghét mình thì tất là vì mình đã ghét người ta. Vua Thang, vua Vũ [9] yêu thích thiên hạ, cho nên được làm vua; Kiệt và Trụ ghét thiên hạ cho nên mất ngôi vua. Như vậy là sự phán xét của thiên hạ. Đã hiểu cái lẽ “đức độ” và “phán xét” rồi mà hành động không theo lẽ đó thì không khác gì muốn ra ngoài mà không do cửa, muốn đi mà không theo đường. Hành động như vậy mà mong có lợi, chẳng là khổ ư?

Xét đức Thần Nông Hữu Viêm, rồi tra khảo sử đời Ngu, Hạ, Thương, Chu, suy ngẫm lời các hiền nhân, pháp sĩ, cái lẽ tồn vong, hưng phế của thời trước không khi nào không theo cái đạo đó (tức đạo thương người thì được người thương lại, ghét người thì bị người ghét lại).

列子學射, 中矣, 請於關尹子。 尹子曰: 「子知子之所以中者乎?」以曰: 「弗知也。」關尹子曰: 「未可。」退而習之。 三年, 又以報關尹子。 尹子曰: 「子知子之所以中乎?」列子曰: 「知之矣。」關尹子曰: 「可矣, 守而勿朱也。 非獨射也, 為國與身, 亦皆如之。 故聖人不察存亡, 而察其的以然。」
列子曰: 「色盛者驕, 力盛者奮, 未可以語道也。 故不班白語道失, 而況行之乎? 故自奮則人莫不告。 人莫之告, 則孤而無輔矣。 賢者任人, 故年老而不衰, 智盡而不亂。 故治國之難, 在於知賢而不在自賢。」

Liệt Tử học bắn (may mà bắn trúng), hỏi Quan Doãn Tử.  Doãn Tử bảo:

– Anh biết tại sao anh bắn trúng không?

Đáp:

– Thưa không.

– Vậy thì chưa được.

Liệt Tử về tập bắn thêm ba năm nữa, rồi lại cho Quan Doãn Tử hay, Doãn Tử hỏi:

– Anh đã biết tại sao anh bắn trúng không?

– Thưa biết.

– Vậy thì được! Nhớ lấy, đừng quên. Chẳng phải riêng việc bắn như vậy đâu, việc trị nước và tu thân cũng vậy. Cho nên bậc thánh nhân không quan tâm tới sự tồn vong (đắc thất) bằng cái lẽ tại sao tồn vong.

宋人有為其君以玉為楮葉者, 三年而成。 鋒殺莖柯, 毫芒繁澤, 亂之楮葉中, 而不可別也。 此人遂以巧食宋國。 子列子聞之曰: 「使天地之生物, 三年而成一葉, 則物之葉者寡矣。 故聖人恃道化而不恃智巧。」

Một người nước Tống lấy ngọc chạm trổ thành lá dó, để dâng vua, ba năm mới xong. Đầu nhọn, chỗ mỏng, sống, cuốn, lông, gai đều tinh vi, láng bóng, để chung với các lá dó thật, không sao phân biệt được. Người đó nhờ tài khéo mà được vua Tống khen, cấp lương bổng cho.

Thầy Liệt Tử nghe nói, bảo: “Trời đất khi sinh vạn vật mà phải mất ba năm mới thành một cái lá thì ít cây cỏ lắm! Cho nên thánh nhân trông vào cái đạo để cải hoá chứ không trông vào trí xảo”.

子列子窮, 容貌有饑色。 客有言之鄭子陽者, 曰: 「列禦寇蓋有道之士也, 居君之國而窮。 君無乃為不好士乎?」鄭子陽即令官遺之粟。 子列子出, 見使者, 再拜而辭。 使者去。 子列子入, 其妻望之而拊心曰: 「妾聞為有道者之妻子, 皆得佚樂, 今有饑色, 君遇而遺先生食。 先生不受, 豈不命也哉?」子列子笑謂之曰: 「君非自知我也。 以人之言而遺我粟, 至其罪我也, 又且以人之言, 此吾所以不受也。」其卒, 民果作難, 而殺子陽。

Thầy Liệt Tử nghèo khổ, mặt xanh xao vì đói, một người khách cho Tử Dương nước Trịnh hay:

– Liệt Ngự Khấu là bậc sĩ đạt đạo, ở nước ông mà phải nghèo khổ, vậy ra ông không quí kẻ sĩ sao?

Tử Dương tức thì sai một ông quan đem lúa lại tặng Liệt Tử.  Liệt Tử ra tiếp, vái hai vái mà từ chối. Sứ giả về rồi, Liệt Tử trở vô. Bà vợ lườm ông, đập vào ngực, bảo:

– Thiếp nghe nói vợ con một người đạt đạo thì được vui vẻ sung sướng. Nay cả nhà đều đói, được tướng quốc biết mà cho lúa, thầy không nhận, thế không phải là làm trái với số mệnh sao?

Thầy Liệt Tử cười mà đáp:

– Tướng quốc đâu phải tự biết ta. Vì nghe lời người khác mà cho ta lúa, rồi thì cũng sẽ nghe người khác mà bắt tội ta. Vì vậy mà ta không nhận.

Rồi đột nhiên, dân trong nước nổi loạn, giết Tử Dương.

魯施氏有二子, 其一好學, 其一好兵。 好學者以術干齊侯; 齊侯納之為諸公子之傅。 好兵者之楚, 以法干楚王; 王悅之, 以為軍正。 祿富其家, 爵榮其親。 施氏之鄰人孟氏, 同有二子, 所業亦同, 而窘於貧。 羨施氏之有, 因從請進趨之方。 二子以實告孟氏。 孟氏之一子之秦, 以術干秦王。 秦王曰: 「當今諸侯力爭, 所務兵食而已。 若用仁義治吾國, 是滅亡之道。」遂宮而放之。 其一子之衛, 以法干衛侯。 衛侯曰: 『吾弱國也, 而攝乎大國之間。 大國吾事之, 小國吾撫之, 是求安之道。 若賴兵權, 滅亡可待矣。 若全而歸之, 適於他國。 為吾之患不輕矣。 「遂刖之而還諸魯。 既反, 孟氏之父子叩胸而讓施氏。 施氏曰: 「凡得時者昌, 失時者亡。 子道與吾同, 而功與吾異, 失時者也, 非行之謬也。 且天下理無常是, 事無常非。 先日所用, 今或棄之; 今之所棄, 後或用之。 此用與不用, 無定是非也。 投隙抵時, 應事無方, 屬乎智, 智茍不足, 使君博如孔丘, 術如呂尚, 焉往而不窮哉?」孟氏父子舍然無慍容, 曰: 「吾知之矣, 子勿重言!」

Họ Thi ở nước Lỗ có hai người con trai, một người hiếu học, một người thích việc binh. Người con hiếu học đem sở học của mình dâng Tề hầu, được Tề hầu dùng làm sư phó cho các công tử, người con thích việc binh đem binh pháp của mình dâng vua Sở, vua Sở mừng, cho coi việc quân. Gia đình nhờ lộc của họ mà giàu, cha mẹ nhờ tước của họ mà sang.

Một người láng giềng họ Mạnh cũng có hai người con, cũng lựa hai nghề đó, mà nghèo túng, muốn được giàu sang như họ Thi, qua hỏi nhờ cách nào mà tiến phát mau vậy. Hai người con họ Thi cứ thực mà kể.

Một người con họ Mạnh bèn đem sở học của mình dâng vua Tần. Vua Tần bảo:

– Thời nay, các chư hầu đều dùng võ lực mà tranh nhau, chỉ cần binh khí và lương thực thôi, nếu chúng ta dùng nhân nghĩa mà trị nước, thì là theo con đường diệt vong mất.

Rồi sai đem thiến, ít lâu sau thả ra.

Còn người kia qua nước Vệ, dâng binh pháp lên vua Vệ. Vua Vệ bảo:

– Nước mình nhỏ mà chung quanh là nước lớn. Nước nào lớn thì mình thờ, nước nào nhỏ thì mình vỗ về, đó là cách cầu an; trông vào binh lực thì mau diệt vong lắm. Nếu để cho hắn được toàn mệnh mà về, hắn qua nước khác, sẽ nguy lớn cho chúng ta.

Bèn chặt chân, trả về nước Lỗ.

Về tới nhà, cha con họ Mạnh đấm ngực mà oán trách họ Thi. Họ Thi bảo:

– Gặp thời thì thịnh, không gặp thời thì lụn bại. Con đường của các bác cũng là con đường của chúng tôi mà kết quả khác nhau, là tại không gặp thời chứ không phải là hành động sai. Vả lại, ở đời không có nguyên tắc nào luôn luôn đúng, không có việc nào luôn luôn sai. Cái mà thời trước người ta dùng thì có thể ngày nay bỏ đi; cái ngày nay bỏ đi, thì có thể sau này sẽ dùng. Dùng hay bỏ, điều đó không quyết định được là phải hay trái. Rình cơ hội, nắm lấy cơ hội, cái đó không có qui tắc nào cả, mà thuộc về lanh trí. Nếu không lanh trí thì có biết rộng như Khổng Khâu, có tài như Lữ Thượng, đi tới đâu cũng khốn thôi.

Cha con họ Mạnh yên lòng, không có vẻ giận nữa, bảo:

– Chúng tôi hiểu rồi, bác đừng nhắc lại nữa.

晉文公出, 會欲伐衛, 公子鋤仰天而笑。

公問何笑。

曰: 「臣笑鄰之人有送其妻適私家者, 道見桑婦, 悅而與言。 然顧視其妻, 亦有招之者矣。 臣竊笑此也。]

公寤其言乃止。 引師而還, 未至而有伐其北鄙者矣。

Vua Tấn Văn Công đi hội họp các chư hầu để tính đánh nước Vệ. Công tử Sừ ngửa mặt lên trời mà cười. Văn Công hỏi tại sao cười. Đáp:

– Thần cười người láng giềng của thần đưa vợ về thăm mẹ, giữa đường thấy một người đàn bà hái dâu, đâm mê mà đứng lại tán tỉnh. Nhưng khi quay lại nhìn vợ thì một chàng cũng vẫy vợ mình đi. Thần mỉm cười vì chuyện đó.

Văn Công tỉnh ngộ, thôi không đánh Vệ nữa, đem quân về, chưa tới nơi thì có tin giặc đánh ở biên cương phía bắc.

晉國苦盜, 有隙雍者, 能視盜之貌, 察其眉睫之間而得其情。 惡侯使視盜, 千百無遺一焉。 晉侯大喜, 告趙文子曰: 「吾得一人, 而一國盜為盡矣, 奚用多為?」文子曰: 「吾君恃伺察而得盜, 盜不盡矣, 且隙雍必不得其死焉。」俄而群盜謀曰: 『吾所窮者隙雍也。 「遂共盜而殘之。 晉侯聞而大駭, 立召文子而告之曰: 「果如子言, 隙雍死矣! 然取盜何方?」文子曰: 「周諺有言: 察見淵魚者不祥, 智料隱匿者有殃。 且君欲無盜, 莫若舉賢而任之; 使教明於上, 化行於下, 民有恥心, 則何盜不為?」於是用隨會知政, 而群盜奔秦焉。

Nước Tấn bị cái nạn trộm cướp.

 Một người tên là Khích Ung có tài nhận ra kẻ trộm, chỉ nhìn vào cái khoảng giữa lông mày và mí mắt mà biết được là kẻ trộm hay không.

Tấn Hầu sai người đó nhận diện kẻ trộm, trăm lần, ngàn lần không trật lần nào. Tấn hầu rất mừng, bảo Triệu Văn Tử:

– Ta kiếm được một người mà sẽ trừ hết được trộm cắp trong nước, đâu cần gì nhiều biện pháp.

Văn Tử tâu:

– Nhà vua dùng cách nhận diện kẻ trộm đó mà diệt trộm, thì không sao hết trộm được đâu. Khích Ung rồi sẽ bất đắc kì tử cho mà xem.

Chẳng bao lâu bọn trộm bàn tính với nhau:

– Chúng ta khốn đốn chỉ vì tên Khích Ung đó.

Rồi chúng âm mưu với nhau giết Khích Ung.

Tấn hầu nghe tin, hoảng sợ, lập tức vời Văn tử vô, bảo:

– Đúng như lời ông đoán, Khích Ung chết rồi. Có cách nào diệt trộm được bây giờ.

Văn tử tâu:

– Ngạn ngữ nước Chu có câu: “Dò kiếm cá dưới vực thẳm thì sẽ bất hạnh, tìm đoán những điều ẩn kín thì sẽ gặp tai ương”. Nhà vua muốn trong nước không có trộm cướp thì không gì bằng dùng người hiền mà giao cho trọng trách, người trên sẽ sáng suốt, người dưới sẽ nhờ vậy được cải hoá. Khi dân có lòng liêm sỉ thì làm gì còn trộm cướp nữa?

Tấn hầu nghe lời, cử Tuỳ Hội coi việc nước và bọn trộm cướp trốn qua nước Tần hết.

宋人有為其君以玉為楮葉者, 三年而成。 鋒殺莖柯, 毫芒繁澤, 亂之楮葉中, 而不可別也。 此人遂以巧食宋國。 子列子聞之曰: 「使天地之生物, 三年而成一葉, 則物之葉者寡矣。 故聖人恃道化而不恃智巧。」

Một người nước Tống lấy ngọc chạm trổ thành lá dó, để dâng vua, ba năm mới xong. Đầu nhọn, chỗ mỏng, sống, cuốn, lông, gai đều tinh vi, láng bóng, để chung với các lá dó thật, không sao phân biệt được. Người đó nhờ tài khéo mà được vua Tống khen, cấp lương bổng cho.

Thầy Liệt Tử nghe nói, bảo: “Trời đất khi sinh vạn vật mà phải mất ba năm mới thành một cái lá thì ít cây cỏ lắm! Cho nên thánh nhân trông vào cái đạo để cải hoá chứ không trông vào trí xảo”.

子列子窮, 容貌有饑色。 客有言之鄭子陽者, 曰: 「列禦寇蓋有道之士也, 居君之國而窮。 君無乃為不好士乎?」鄭子陽即令官遺之粟。 子列子出, 見使者, 再拜而辭。 使者去。 子列子入, 其妻望之而拊心曰: 「妾聞為有道者之妻子, 皆得佚樂, 今有饑色, 君遇而遺先生食。 先生不受, 豈不命也哉?」子列子笑謂之曰: 「君非自知我也。 以人之言而遺我粟, 至其罪我也, 又且以人之言, 此吾所以不受也。」其卒, 民果作難, 而殺子陽。

Thầy Liệt Tử nghèo khổ, mặt xanh xao vì đói, một người khách cho Tử Dương nước Trịnh hay:

– Liệt Ngự Khấu là bậc sĩ đạt đạo, ở nước ông mà phải nghèo khổ, vậy ra ông không quí kẻ sĩ sao?

Tử Dương tức thì sai một ông quan đem lúa lại tặng Liệt Tử.  Liệt Tử ra tiếp, vái hai vái mà từ chối. Sứ giả về rồi, Liệt Tử trở vô. Bà vợ lườm ông, đập vào ngực, bảo:

– Thiếp nghe nói vợ con một người đạt đạo thì được vui vẻ sung sướng. Nay cả nhà đều đói, được tướng quốc biết mà cho lúa, thầy không nhận, thế không phải là làm trái với số mệnh sao?

Thầy Liệt Tử cười mà đáp:

– Tướng quốc đâu phải tự biết ta. Vì nghe lời người khác mà cho ta lúa, rồi thì cũng sẽ nghe người khác mà bắt tội ta. Vì vậy mà ta không nhận.

Rồi đột nhiên, dân trong nước nổi loạn, giết Tử Dương.

魯施氏有二子, 其一好學, 其一好兵。 好學者以術干齊侯; 齊侯納之為諸公子之傅。 好兵者之楚, 以法干楚王; 王悅之, 以為軍正。 祿富其家, 爵榮其親。 施氏之鄰人孟氏, 同有二子, 所業亦同, 而窘於貧。 羨施氏之有, 因從請進趨之方。 二子以實告孟氏。 孟氏之一子之秦, 以術干秦王。 秦王曰: 「當今諸侯力爭, 所務兵食而已。 若用仁義治吾國, 是滅亡之道。」遂宮而放之。 其一子之衛, 以法干衛侯。 衛侯曰: 『吾弱國也, 而攝乎大國之間。 大國吾事之, 小國吾撫之, 是求安之道。 若賴兵權, 滅亡可待矣。 若全而歸之, 適於他國。 為吾之患不輕矣。 「遂刖之而還諸魯。 既反, 孟氏之父子叩胸而讓施氏。 施氏曰: 「凡得時者昌, 失時者亡。 子道與吾同, 而功與吾異, 失時者也, 非行之謬也。 且天下理無常是, 事無常非。 先日所用, 今或棄之; 今之所棄, 後或用之。 此用與不用, 無定是非也。 投隙抵時, 應事無方, 屬乎智, 智茍不足, 使君博如孔丘, 術如呂尚, 焉往而不窮哉?」孟氏父子舍然無慍容, 曰: 「吾知之矣, 子勿重言!」

Họ Thi ở nước Lỗ có hai người con trai, một người hiếu học, một người thích việc binh. Người con hiếu học đem sở học của mình dâng Tề hầu, được Tề hầu dùng làm sư phó cho các công tử, người con thích việc binh đem binh pháp của mình dâng vua Sở, vua Sở mừng, cho coi việc quân. Gia đình nhờ lộc của họ mà giàu, cha mẹ nhờ tước của họ mà sang.

Một người láng giềng họ Mạnh cũng có hai người con, cũng lựa hai nghề đó, mà nghèo túng, muốn được giàu sang như họ Thi, qua hỏi nhờ cách nào mà tiến phát mau vậy. Hai người con họ Thi cứ thực mà kể.

Một người con họ Mạnh bèn đem sở học của mình dâng vua Tần. Vua Tần bảo:

– Thời nay, các chư hầu đều dùng võ lực mà tranh nhau, chỉ cần binh khí và lương thực thôi, nếu chúng ta dùng nhân nghĩa mà trị nước, thì là theo con đường diệt vong mất.

Rồi sai đem thiến, ít lâu sau thả ra.

Còn người kia qua nước Vệ, dâng binh pháp lên vua Vệ. Vua Vệ bảo:

– Nước mình nhỏ mà chung quanh là nước lớn. Nước nào lớn thì mình thờ, nước nào nhỏ thì mình vỗ về, đó là cách cầu an; trông vào binh lực thì mau diệt vong lắm. Nếu để cho hắn được toàn mệnh mà về, hắn qua nước khác, sẽ nguy lớn cho chúng ta.

Bèn chặt chân, trả về nước Lỗ.

Về tới nhà, cha con họ Mạnh đấm ngực mà oán trách họ Thi. Họ Thi bảo:

– Gặp thời thì thịnh, không gặp thời thì lụn bại. Con đường của các bác cũng là con đường của chúng tôi mà kết quả khác nhau, là tại không gặp thời chứ không phải là hành động sai. Vả lại, ở đời không có nguyên tắc nào luôn luôn đúng, không có việc nào luôn luôn sai. Cái mà thời trước người ta dùng thì có thể ngày nay bỏ đi; cái ngày nay bỏ đi, thì có thể sau này sẽ dùng. Dùng hay bỏ, điều đó không quyết định được là phải hay trái. Rình cơ hội, nắm lấy cơ hội, cái đó không có qui tắc nào cả, mà thuộc về lanh trí. Nếu không lanh trí thì có biết rộng như Khổng Khâu, có tài như Lữ Thượng, đi tới đâu cũng khốn thôi.

Cha con họ Mạnh yên lòng, không có vẻ giận nữa, bảo:

– Chúng tôi hiểu rồi, bác đừng nhắc lại nữa.

晉文公出, 會欲伐衛, 公子鋤仰天而笑。

公問何笑。

曰: 「臣笑鄰之人有送其妻適私家者, 道見桑婦, 悅而與言。 然顧視其妻, 亦有招之者矣。 臣竊笑此也。]

公寤其言乃止。 引師而還, 未至而有伐其北鄙者矣。

Vua Tấn Văn Công đi hội họp các chư hầu để tính đánh nước Vệ. Công tử Sừ ngửa mặt lên trời mà cười. Văn Công hỏi tại sao cười. Đáp:

– Thần cười người láng giềng của thần đưa vợ về thăm mẹ, giữa đường thấy một người đàn bà hái dâu, đâm mê mà đứng lại tán tỉnh. Nhưng khi quay lại nhìn vợ thì một chàng cũng vẫy vợ mình đi. Thần mỉm cười vì chuyện đó.

Văn Công tỉnh ngộ, thôi không đánh Vệ nữa, đem quân về, chưa tới nơi thì có tin giặc đánh ở biên cương phía bắc.

晉國苦盜, 有隙雍者, 能視盜之貌, 察其眉睫之間而得其情。 惡侯使視盜, 千百無遺一焉。 晉侯大喜, 告趙文子曰: 「吾得一人, 而一國盜為盡矣, 奚用多為?」文子曰: 「吾君恃伺察而得盜, 盜不盡矣, 且隙雍必不得其死焉。」俄而群盜謀曰: 『吾所窮者隙雍也。 「遂共盜而殘之。 晉侯聞而大駭, 立召文子而告之曰: 「果如子言, 隙雍死矣! 然取盜何方?」文子曰: 「周諺有言: 察見淵魚者不祥, 智料隱匿者有殃。 且君欲無盜, 莫若舉賢而任之; 使教明於上, 化行於下, 民有恥心, 則何盜不為?」於是用隨會知政, 而群盜奔秦焉。

Nước Tấn bị cái nạn trộm cướp.

Một người tên là Khích Ung có tài nhận ra kẻ trộm, chỉ nhìn vào cái khoảng giữa lông mày và mí mắt mà biết được là kẻ trộm hay không.

Tấn Hầu sai người đó nhận diện kẻ trộm, trăm lần, ngàn lần không trật lần nào. Tấn hầu rất mừng, bảo Triệu Văn Tử:

– Ta kiếm được một người mà sẽ trừ hết được trộm cắp trong nước, đâu cần gì nhiều biện pháp.

Văn Tử tâu:

– Nhà vua dùng cách nhận diện kẻ trộm đó mà diệt trộm, thì không sao hết trộm được đâu. Khích Ung rồi sẽ bất đắc kì tử cho mà xem.

Chẳng bao lâu bọn trộm bàn tính với nhau:

– Chúng ta khốn đốn chỉ vì tên Khích Ung đó.

Rồi chúng âm mưu với nhau giết Khích Ung.

Tấn hầu nghe tin, hoảng sợ, lập tức vời Văn tử vô, bảo:

– Đúng như lời ông đoán, Khích Ung chết rồi. Có cách nào diệt trộm được bây giờ.

Văn tử tâu:

– Ngạn ngữ nước Chu có câu: “Dò kiếm cá dưới vực thẳm thì sẽ bất hạnh, tìm đoán những điều ẩn kín thì sẽ gặp tai ương”. Nhà vua muốn trong nước không có trộm cướp thì không gì bằng dùng người hiền mà giao cho trọng trách, người trên sẽ sáng suốt, người dưới sẽ nhờ vậy được cải hoá. Khi dân có lòng liêm sỉ thì làm gì còn trộm cướp nữa?

Tấn hầu nghe lời, cử Tuỳ Hội coi việc nước và bọn trộm cướp trốn qua nước Tần hết.

趙襄子使新稚穆子攻翟, 勝之, 取左人中人; 使遽人謁之。 襄子方食而有憂色。 左右曰: 「一朝而兩城下, 此人之所喜也; 今君有憂色, 何也?」襄子曰: 「夫江河之大也, 不過三日; 飄風暴雨不終朝, 日中不須臾。 今趙氏之德行, 無所施於積, 一朝而兩城下, 亡其及我哉!」孔子聞之曰: 「趙氏其昌乎! 夫憂者所以為昌也, 喜者所以為亡也。 勝非其難者也; 持之其難者也。 賢主以此持勝, 故其福及後世。 齊、楚、吳、越皆嘗勝矣, 然卒取亡焉, 不達乎持勝也。 唯有道之主為能持勝。」孔子之勁, 能拓國門之關, 而不步以力聞。 墨子為守攻, 公輸般服, 而不肯以兵知。 故善持勝者, 以強為弱。
宋人有好行仁義者, 三世不懈。 家無故黑牛生白犢, 以問孔子。 孔子曰: 「此吉祥也, 以薦上帝。」居一年, 其父無故而盲, 其牛又復生白犢。 其父又復令其子問孔子。 其子曰: 「前問之而失明, 又何問乎?」父曰: 「聖人之言先迕後合。 其事未究, 姑復問之。」其子又復問孔子。 孔子曰: 「吉祥也。」復教以祭。 其子歸致命。 其父曰: 「行孔子之言也。」居一年, 其子又無故而盲。 其後楚攻宋, 圍其城。 民易子而食之, 析骸而炊之; 丁壯者皆乘城而戰, 死者大半。 此人以父子有疾, 皆免。 及圍解而疾俱復。

Triệu Tương Tử sai Tân Trĩ Mục Tử đem quân đánh rợ Địch, thắng, chiếm được hai miền Tả nhân, Trung nhân. Tân Trĩ Mục Tử sai sứ giả về báo tin thắng trận.

Tương Tử đương ăn chay, hay tin có vẻ lo. Người chung quanh hỏi:

– Một buổi sáng chiếm được hai thành, ai cũng lấy vậy làm mừng, sao ngài lại có vẻ lo?

Tương Tử đáp:

– Nước sông dâng lên không quá ba ngày, gió lớn mưa dông không quá một buổi sáng, mặt trời đứng bóng chỉ một chốc lát. Họ Triệu tích đức không được nhiều, mà một buổi sáng hạ được hai thành, tôi sợ rằng sự suy vong sắp tới!

Khổng Tử nghe được bảo:

– Họ Triệu sẽ thịnh. Biết lo thì sẽ thịnh, vui mừng thì sẽ nguy.

Thắng không phải khó, giữ được mới khó. Bậc minh quân hiểu lẽ đó mà giữ được thắng lợi, để phúc lại cho con cháu. Các nước Tề, Sở, Ngô, Việt đều đã có lần thắng các chư hầu mà rốt cuộc đều bại vong, là vì không hiểu cái lẽ duy trì thắng thế. Chỉ ông vua nào đạt đạo mới duy trì được thắng thế.

Sức Khổng Tử mạnh đủ để nâng được cửa kinh đô, nhưng ông không muốn người ta biết sức mình; Mặc Tử có tài đánh thành, Công Thâu Ban phải thua, nhưng ông không muốn cho người ta biết tài cầm quân của mình.

Cho nên người nào biết duy trì thắng lợi thì tuy mạnh mà vẫn coi mình là yếu (không ỷ vào sức mạnh).

宋有蘭子者, 以技干宋元。 宋元召而使見其技, 以雙枝長倍其身, 屬其踁, 並趨並馳, 弄七劍, 迭而躍之, 五劍常在空中。 元君大驚, 立賜金帛。 又有蘭子又能燕戲者, 聞之, 復以干元君。 元君大怒曰: 「昔有異技干寡人者, 技無庸, 適值寡人有歡心, 故賜金帛。 彼必聞此而進, 復望吾賞。」拘而擬戮之, 經月乃放。

Nước Tống có người làm trò Sơn Đông xin diễn trò cho vua Nguyên (nước Tống) coi. Vua Nguyên gọi vô. Anh ta đứng trên hai cây cà khêu cao gấp hai anh ta, mà vừa chạy vừa nhảy. Rồi lấy bảy cây kiếm tung lên trời và bắt, lúc nào cũng có năm cây ở trên không. Vua Nguyên ngạc nhiên lắm, thưởng cho anh ta vàng và lụa.

Một người làm trò khác có tài đánh đu hay tin đó, tới xin làm trò cho vua Nguyên coi. Vua Nguyên nổi giận, bảo:

– Trước đã có một người làm trò lạ xin ta cho diễn. Trò đó vô dụng, nhưng gặp lúc ta vui vẻ cho nên thưởng hắn vàng, lụa. Tên này chắc nghe vậy mà lại, cũng mong được ta thưởng nữa đây. Bắt giam và làm nhục nó đi.

Một tháng sau hắn mới được thả.

秦穆公謂伯樂曰: 「子之年長矣, 子姓有可使求馬者乎?」伯樂對曰: 「良馬, 可形容筋骨相也。 天下之馬者, 若滅若沒, 若亡若失, 若此者絕塵弭轍。 臣之子皆下才也, 可告以良馬, 不可告以天下之馬也。 臣有所與共擔纏薪菜者, 有九方皋, 此其於馬, 非臣之下也。 請見之。」穆公見之, 使行求馬。 三月而反, 報曰: 「已得之矣, 在沙丘。」穆公曰: 「何馬也?」對曰: 「牝而黃。」使人往取之, 牡而驪。 穆公不說, 召伯樂而謂之曰: 「敗矣, 子所使求馬者! 色物、牝牡尚弗能知, 又何馬之能知也?」伯樂喟然太息曰: 「一至於此乎! 是乃其所以千萬臣而無數者也。 若皋之所觀, 天機也, 得其精而忘其粗, 在其內而忘其外; 見其所見, 不見其所不見; 視其所視, 而遺其所不視。 若皋之相馬, 乃有貴乎馬者也。」馬至, 果天下之馬也。

Vua Tần Mục Công bảo Bá Nhạc: –

– Ông đã già rồi, con cháu có người nào sai tìm ngựa tốt được không?

Bá Nhạc đáp:

– Ngựa tốt, coi hình dáng, gân cốt thì biết được. Nhưng con ngựa nhất thiên hạ thì có cái gì đó như ẩn như hiện, như có như không, cảm được chứ không thấy được, nó chạy thì không tung bụi lên (tuyệt trần), không để lại dấu xe nữa. Bầy con của thần đều bất tài, giảng cho chúng hiểu thế nào là ngựa tốt mà không giảng cho chúng nhận ra được con ngựa tuyệt trần. Thần có một người bạn cùng chở củi và rau, tên là Cửu Phương Cao, coi ngựa không kém thần, đại vương nên vời người đó tới.

Mục vương vời người đó tới, sai đi tìm ngựa. Ba tháng sau người đó về tâu:

– Được ngựa rồi, ở Sa Khâu.

Mục vương hỏi:

– Ngựa ra sao?

– Ngựa cái vàng.

Sai người đi bắt ngựa, thì là một con ngựa đực đen. Mục Công bất bình, vời Bá Nhạc tới bảo:

– Hỏng! Người ông giới thiệu đi tìm ngựa, không phân biệt nổi ngựa đực ngựa cái, màu đen màu vàng, thì làm sao biết được ngựa?

Bá Nhạc bùi ngùi, thở dài rồi tâu:

– Tới mức đó ư! Thế thì anh ấy hơn thần cả ngàn vạn lần rồi. Cái mà anh Cao xét là cái huyền vi của trời; anh ấy nhận thấy cái tinh thần mà quên cái thô thiển, xét ở trong mà quên cái ở ngoài; cái gì đáng thấy thì thấy, không đáng thấy thì thôi; cái gì đáng nhìn thì nhìn, không đáng nhìn thì bỏ. Cái thuật đó của anh Cao có phải chỉ để coi tướng ngựa mà thôi đâu, còn quí hơn vậy nữa.

Khi ngựa dắt về, quả nhiên không ngựa nào bằng.

狐丘丈人謂孫叔敖曰: 「人有三怨, 子知之乎?」孫叔敖曰: 「何謂也?」對曰: 「爵高者人妒之, 官大者主惡之, 祿厚者怨逮之。」孫叔敖曰: 「吾爵益高, 吾志益下; 吾官益大, 吾心益小; 吾祿益厚, 吾施益博。 以是免於三怨, 可乎?」
孫叔敖疾將死, 戒其子曰: 「王亟封我矣, 吾不受也, 為我死, 王則封汝。 汝必無受利地! 楚、越之間, 有寢丘者, 此地不利而名甚惡。 楚人鬼而越人禨, 可長有者唯此也。」孫叔敖死, 王果以美地封其子。 子辭而不受, 請寢丘。 與之, 至今不失。

Một vị trưởng lão ở Hồ Khâu bảo Tôn Thúc Ngao :

– Có ba cái oán ông biết không?

Tôn Thúc Ngao hỏi:

– Những cái nào vậy?

– Tước cao thì bị người ta ghen, chức lớn thì bị người ta ghét, lộc hậu thì bị người ta oán.

Tôn Thúc Ngao bảo:

– Tước tôi càng cao thì tôi càng tự hạ mình xuống, chức tôi càng lớn thì tôi càng cho là nhỏ, lộc của tôi càng hậu thì tôi phân phát càng nhiều, như vậy tránh được ba cái oán đó chăng?

***

Khi Tôn Thúc Ngao đau nặng sắp mất, răn con như sau:

– Nhà vua mấy lần phong đất cho cha, cha từ chối cả. Cha chết rồi, nhà vua chắc sẽ phong cho con. Con nhớ đừng nhận một đất phì nhiêu đấy. Ở chỗ biên giới Sở và Việt, có một chỗ tên là Tẩm Khâu, đất đó khô cằn, nghe cái tên nó ai cũng ghét, vì người Sở sợ ma mà người Việt thì thích những tên đẹp (báo điềm lành).

Tôn Thúc Ngao chết rồi, quả nhiên vua Sở đem một đất tốt phong cho con ông, người con từ chối, xin đất Tẩm Khâu, và giữ cho tới ngày nay.

牛缺者, 上地之大儒也, 下之邯鄲, 遇盜於耦沙之中, 盡取其衣裝車, 牛步而去。 視之, 歡然無憂吝之色。 盜追而問其故。 曰: 「君子不以所養害其所養。」盜曰: 「嘻! 賢矣夫!」既而相謂曰: 「以彼之賢, 往見趙君。 使以我為, 必困我。 不如殺之。」乃相與追而殺之。 燕人聞之, 聚族相戒, 曰: 「遇盜莫如上地之牛缺也!」皆受教。 俄而其弟適秦, 至關下, 果遇盜。 憶其兄之戒, 因與盜力爭; 既而不如, 又追而以卑辭請物。 盜怒曰: 「吾活汝弘矣, 而追吾不已, 跡將著焉。 既為盜矣, 仁將焉在?」遂殺之, 又傍害其黨四五人焉。

Ngưu Khuyết là một bậc đại nho sinh sống ở miền thượng, xuống Hàm Đan, gặp cướp ở tại Ngẫu Sa, mất hết quần áo, hành trang, xe và trâu, phải đi bộ mà nét mặt vẫn vui vẻ, không buồn tiếc.

 Bọn cướp chạy theo, hỏi tại sao vẫn vui vẻ. Ngưu Khuyết đáp:

– Người quân tử không vì những vật nuôi mình mà làm hại thân mình.

Bọn cướp bảo:

– Ôi! Thực là bậc hiền!

Rồi chúng bàn với nhau.

– Lão đó hiền minh như vậy mà gặp vua Triệu, vua Triệu dùng để trị bọn mình thì bọn mình nguy mất, không bằng giết phắt lão đi.

Rồi chúng đuổi theo giết Ngưu Khuyết.

Một người nước Yên nghe chuyện đó, họp bà con họ hàng lại khuyên:

– Nếu có gặp cướp thì đừng làm như ông Ngưu Khuyết ở miền thượng đấy.

Mọi người nghe lời. Chẳng bao lâu em người đó qua Tấn, tới cửa ải, quả nhiên gặp cướp, nhớ lời khuyên của anh, hết sức chống cự với cướp. Chống cự không nổi, rồi chạy theo chúng năn nỉ chúng trả lại hành lí. Bọn cướp nổi giận bảo:

– Tụi tao tha chết cho, là rộng lượng rồi! Mà mày còn chạy theo hoài, sẽ lộ tung tích tụi tao. Tụi tao đã làm cái nghề cướp bóc, đâu nghĩ tới nhân nghĩa.

Rồi chúng giết người đó, bốn năm người đi theo cũng bị thương lây.

東方有人焉, 曰爰旌目, 將有適也, 而餓於道。 狐父之盜曰丘, 見而下壺餐以餔之。 爰旌目三餔而後能視, 曰: 「子何為者也?」曰: 「我狐父之人丘也。」爰旌目曰: 「譆! 汝非盜耶? 胡為而食我? 吾義不食子之食也。」兩手據地而歐之, 不出, 喀喀然遂伏而死。 狐父之人則盜矣, 而食非盜也。 以人之盜, 因謂食為盜而不敢食, 是失名實者也。

Ở phương đông có một người tên là Viên Tinh Mục, đi xa, giữa đường gần chết đói. Một tên cướp ở Hồ Phủ, tên là Khâu trông thấy, đổ nước vào miệng và đút thức ăn cho. Ba lần như vậy, Viên Tinh Mục mới tỉnh, mở mắt nhìn thấy tên cướp, hỏi:

– Ông là ai vậy?

Đáp:

– Tôi là người Hồ Phủ, tên Khâu đây.

Viên Tinh Mục bảo:

– Ý, vậy anh là tên cướp hả? Sao lại cho tôi ăn uống? Ta trọng nghĩa, không nhận thức ăn của anh đâu.

Nói xong, hai tay chống xuống đất, người đó cố mửa thức ăn ra, không được, chỉ nghe thấy tiếng ọc ọc trong bụng, rồi ngã gục xuống, chết.

Người ở Hồ Phủ đúng là tên cướp, nhưng cứu sống người đời, không phải là hành vi cướp bóc.

Viên Tinh Mục lấy lẽ người đó là kẻ cướp mà không chịu ăn thức ăn của người đó (cho là bất nghĩa) như vậy là lầm danh với thực.

柱厲叔事莒敖公, 自為不知己者, 居海上。 夏日則食菱芰, 冬日則食橡栗。 莒敖公有難, 柱厲叔辭其友而往死之。 其友曰: 「子自以為不知己, 故去; 今往死之, 是知與不知無辨也。」柱厲叔曰: 「不然。 自以為不知。 故去; 今死, 是果不知我也。 吾將死之, 以醜後世之人主不知其臣者也。」凡知則死之, 不知則弗死, 此直道而行者也。 柱厲叔可謂懟以忘其身者也。

Trụ Lệ Thúc thờ Ngao công nước Cử, tự cho là Ngao công không biết dùng mình, nên bỏ về ở ẩn tại bờ biển, muà hè ăn củ ấu, mùa đông ăn hạt giẻ.

Tới khi Ngao công gặp bước nguy nan, Trụ Lệ Thúc từ biệt bạn bè mà hi sinh lại cứu. Bạn bè hỏi:

– Bác cho Ngao công không biết dùng bác nên bỏ đi; nay hi sinh tới cứu, như vậy không phân biệt hạng vua biết dùng và hạng vua không biết dùng bề tôi nữa.

Trụ Lệ Thúc đáp:

– Không phải vậy. Tôi tự cho nhà vua không biết dùng tôi, nên tôi bỏ về; ngày nay tôi hi sinh cho nhà vua để tỏ rằng quả thực nhà vua không biết dùng tôi. Tôi chết đây là để đời sau những ông vua không biết dùng bề tôi phải xấu hổ.

Nếu vua biết dùng mình thì mình hi sinh cho vua được, không biết dùng mình thì không lí gì để hi sinh, đó là con đường chính trực để theo.

Có thể bảo Trụ Lệ Thúc là người vì quá oán giận mà tự huỷ hoại mình như vậy.

楊朱之弟曰布, 衣素衣而出。

天雨, 解素衣, 衣緇衣而反。

其狗不知, 迎而吠之。

楊而怒將撲之。

楊朱曰: –

「子無撲矣! 子亦猶是也。 向者使汝狗白而往黑而來, 豈能無怪哉?」

Em của Dương Chu là Dương Bố, một hôm bận áo trắng đi chơi; khi gặp mưa thì cởi áo trắng ra, bận áo đen mà về.

Con chó trong nhà không nhận ra được, chạy ra sủa. Dương Bố giận, muốn đập.

Dương Chu bảo:

– Đừng đánh nó! Chú ở vào cảnh nó chú cũng hành động như nó.

Ví dụ con chó của chú, lúc đi lông đen, lúc về lông trắng, thì chú có lấy làm lạ không?

楊朱曰:

「行善不以為名而名從之; 名不與利期而利歸之; 利不與爭期而爭及之: 故君子必慎為善。」

[Dương Chu viết:-

“Hành thiện bất dĩ vi danh nhi danh tùng chi; danh bất dữ lợi kỳ nhi lợi qui chi; lợi bất dữ tranh kỳ nhi tranh cập chi. Cố quân tử tất thận vi thiện”.]

Dương Chu nói:-

– Người làm điều thiện không phải để cầu danh mà danh tự tới.

Danh không hẹn gì với lợi mà lợi theo nó.

Lợi không hẹn gì với sự tranh giành mà sự tranh giành cứ đến với nó.

Vì vậy người quân tử phải thận trọng mà làm điều thiện.

昔人言有知不死之道者, 燕君使人受之, 不捷, 而言者死。 燕君甚怒其使者, 將加誅焉。 幸臣諫曰: 「人所憂者莫急乎死, 己所重者莫過乎生。 彼自喪其生, 安能令君不死也?」乃不誅。 有齊子亦欲學其道, 聞言者之死, 乃撫膺而恨。 富子聞而笑之曰: 「夫所欲學不死, 其人已死, 而猶恨之, 是不知民以為學。」鬍子曰: 「富子之言非也。 幾人有術不能行者有矣, 能行而無其術者亦有矣。 衛人有善數者, 臨死, 以訣喻其子。 其子志其言而不能行也。 他人問之, 以其父所言告之。 問者用其言而行其術, 與其父無差焉。 若然, 死者奚為不能言生術哉?」

Xưa có một người cho rằng mình biết cái thuật bất tử. Vua Yên sai sứ giả lại đón. Sứ giả chậm trễ, chưa tới thì người đó chết rồi. Vua Yên giận lắm muốn đem giết sứ giả. Một bề tôi được vua yêu bèn can:

– Ai cũng sợ nhất là chết, quí nhất là sống. Mà người đó không tự cứu sống được mình thì làm sao có thể làm cho đại vương bất tử được?

Vua Yên thôi không giết sứ giả nữa.

Một người nước Tề cũng muốn biết thuật bất tử, hay tin người có thuật đó đã chết, tự vỗ ngực, tiếc vô cùng. Phú tử nghe nói, cười rằng:

– Muốn học thuật bất tử, nay người biết thuật đó chết rồi mà mình còn tiếc, thì rõ là không biết mình muốn học cái gì.

Hồ tử bảo:

– Phú tử nói vậy là sai. Vẫn có người biết thuật nào đó mà không biết thi hành; lại có người thi hành được mà không biết thuật.

Nước Vệ có một người giỏi môn toán, dạy cho con phép toán; người con nhớ lời cha dạy nhưng không làm toán được.

 Một người khác lại hỏi cách làm toán, người con đem đúng lời cha mà chỉ cho. Người kia theo mà làm được đúng như người quá cố.

Như vậy thì người biết thuật bất tử kia, trước khi chết có thể truyền lại cái thuật của mình được lắm chứ.

列子曰:

“色盛者驕, 力盛者奮, 未可以語道也。

故不班白語道失, 而況行之乎?

故自奮則人莫不告。

人莫之告, 則孤而無輔矣。

賢者任人, 故年老而不衰, 智盡而不亂。

故治國之難, 在于知賢而不在自賢。 ”

Liệt Tử nói:

– Dung nhan đẹp hơn người thì kiêu căng, sức mạnh hơn người thì hung hăng, chưa có thể nói đến đạo với hai hạng người đó được.

Người tóc đã hoa râm mà nói về đạo còn lầm, huống hồ là hành đạo!

Kẻ nào hung hăng (hiếu thắng) thì không được người ta khuyên bảo, không được ai khuyên thì cô độc, không có người giúp.

Người hiền biết dùng người, nên tuy già mà không suy, trí giảm mà không loạn.

Cho nên trị nước khó ở chỗ biết được người hiền, mà không tự cho mình là hiền.

邯鄲之民, 以正月之旦獻鳩於簡子, 簡子大悅, 厚賞之。

客問其故。 簡子曰: 「正旦放生, 示有恩也。」

客曰: 「民知君之慾放之, 競而捕之, 死者眾矣。

君如欲生之, 不若禁民勿捕。 捕而放之, 恩過不相補矣。」

簡子曰: 「然。」

Dân Hàm Đan có lệ ngày Nguyên đán đem chim cưu dâng Giản tử. Giản tử mừng lắm, thưởng họ rất hậu. Một người khách hỏi tại sao, ông đáp:

– Ngày Nguyên đán mà phóng sinh thì tỏ rằng mình có lòng thương loài vật.

Người khách nói:

– Dân chúng biết ông muốn phóng sinh, tất tranh nhau bắt chim cưu, và nhiều chim sẽ bị chết. Nếu ông muốn cho chim sống thì không gì bằng cấm dân đừng bắt; bắt rồi để mà phóng sinh thì lòng tốt của ông không đủ bù cái hại.

Giản tử đáp:

– Đúng vậy.

齊田氏祖於庭, 食客千人。 中坐有獻魚雁者。 田氏視之, 乃嘆曰: 「天之於民厚矣! 殖五穀, 生魚鳥, 以為之用。 眾客和之如響。 鮑氏之子年十二, 預於次, 進曰: 「不如君言。 天地萬物, 與我並生類也。 類無貴賤, 徒以小大智力而相制, 迭相食; 非相為而生之。 人取可食者而食之, 豈天本為人生之? 且蚊蚋噆膚, 虎狼食肉, 非天本為蚊蚋生人、虎狼生肉者哉?」

Họ Điền nước Tề tế thần đường sá (1) trong sân, thực khách tới số ngàn. Giữa bữa tiệc, có người dâng lên món cá và món chim nhạn. Họ Điền nhìn rồi thở dài:

– Trời hậu đãi loài người thật! Sinh ra ngũ cốc, cá chim để chúng ta ăn.

Mọi người khách đều tán thưởng ầm ĩ.

Một đứa con họ Bão mới mười hai tuổi, dự vào hàng dưới, tiến lên thưa:

– Không đúng như lời ngài nói. Vạn vật trong trời đất với chúng ta đều là sinh vật cả, không loài nào quí, không loài nào hèn. Chỉ dùng trí khôn và sức mạnh mà khuất phục lẫn nhau, ăn thịt lẫn nhau thôi, chứ không có loài nào sinh ra để cho loài khác ăn thịt. Loài người thấy cái gì ăn được thì ăn, trời đâu có vì người mà sinh ra các loài đó. Muỗi mòng kia đốt da ta, hổ lang kia ăn thịt ta, có thể nói rằng trời vì chúng mà sinh ra chúng ta không?

* Ghi chú:- (1) Trước khi đi xa, người ta cúng tế thần đường sá, gọi là “tế tổ”.

齊有貧者, 常乞於城市。 城市患其亟也, 眾莫之與。 遂適田氏之廄, 從馬醫作役, 而假食郭中。 人戲之曰: 「從馬知而食, 不以辱乎?」乞兒曰: 「天下之辱莫過於乞。 乞猶不辱, 豈辱馬醫哉?」

宋人有游於道, 得人遺契者, 歸而藏之, 密數其齒。 告鄰人曰: 「吾富可待矣。」

Một người nước Tống đi trên đường lượm được một khế ước (1) của ai đánh rơi, đem về nhà giấu kĩ, lén đếm những dấu khắc (chỉ số tiền ghi trong đó) trên khế ước.

Một hôm người đó bảo người láng giềng:

– Chẳng bao lâu tôi sẽ giầu, rồi bác coi. (thật đúng là hy vọng hảo huyền)

(1) Khế ước:- tờ giấy vay nợ

人有枯梧樹者, 其鄰父言枯梧之樹不祥。

其鄰人遽而伐之。 鄰人父因請以為薪。

其人乃不悅曰:

「鄰人之父徒欲為薪, 而教吾伐之也。 與我鄰若此, 其險豈可哉?」

Một người có một cây ngô đồng khô. Người láng giềng bảo:

– Cây ngô đồng khô là điềm gở đấy.

Người kia vội đốn đi. Cha người láng giềng bèn xin về làm củi. Người kia bất bình bảo:

– Người cha anh láng giềng đó muốn có củi nên xui mình đốn cây.

 Láng giềng với nhau mà hiểm như vậy, xấu quá!

人有亡鈇者, 意者鄰之子。

視其行步, 竊鈇也; 顏色, 竊鈇也; 言語, 竊鈇也; 作動態度, 無為而不竊鈇也。

俄而抇其穀而得其鈇, 他日復見其鄰人之子, 動作態度, 無以竊鈇者。

Một người đánh mất một chiếc rựa, ngờ con người láng giềng lấy, thấy dáng đi của nó đúng là đứa ăn trộm rựa, vẻ mặt nó đúng là đứa ăn trộm rựa, thái độ nó rõ ràng là đứa ăn trộm rựa.

Ít lâu sau đào đất trong hang ngẫu nhiên tìm lại được chiếc rựa. Hôm sau lại để ý nhìn đứa con người láng giềng thì hành động, thái độ nó không còn cái vẻ gì là ăn trộm rựa nữa.

昔齊人有欲金者, 清旦衣冠而之市, 適鬻金者之所, 因攫其金而去。

吏捕得之, 問曰: “人皆在焉, 子攫人之金何? ”

對曰: “取金之時, 不見人, 徒見金。 ”

Xưa, một người nước Tề ham vàng quá, sáng sớm mặc quần áo, đội khăn ra chợ, lại cửa hàng đổi vàng, chộp vàng rồi chạy.

Người coi chợ bắt được, hỏi:

– Giữa đám đông sao mà chú dám chộp vàng của người ta?

Đáp:

– Lúc tôi cướp vàng, tôi có thấy ai đâu, chỉ thấy vàng thôi.

楊子之鄰人亡羊, 既率其黨, 又請楊子之豎追之。

楊子曰: “嘻! 亡一羊何追者之眾?

”鄰人曰: “多歧路。 ”

既反, 問: “獲羊乎? ”

曰: “亡之矣。 ”

曰: “奚亡之? ”

曰: “歧路之中又有歧焉。 吾不知所之, 所以反也。 ”

楊子戚然變容, 不言者移時, 不笑者竟日。

門人怪之, 請曰: “羊賤畜, 又非夫子之有, 而損言笑者何哉? ”

楊子不答。 門人不獲所命。

弟子孟孫陽出, 以告以都子。

心都子他日與孟孫陽偕入而問曰: ‘昔有昆弟三人, 游齊、魯之間, 同師而學, 進仁義之道而歸。

其父曰: ‘仁義之道若何? ’

伯曰: ‘仁義使我愛身而後名。 ’

仲曰: ‘仁義使我殺身以成名。 ’

叔曰: ‘仁義使我身名并全。 ’彼三術相反, 而同出于儒。 孰是孰非邪? “

楊子曰: “人有濱河而居者, 習于水, 勇于泅, 操舟鬻渡, 利供百口, 裹糧就學者成徒, 而溺死者幾半。 本學泅不學溺, 而利害如此。 若以為孰是孰非? ”

心都子嘿然而出。 孟孫陽讓之曰: “何吾子問之迂, 夫子答之僻? 吾惑愈甚。 ”

心都子曰: “大道以多歧亡羊, 學者以多方喪生。 學非本不同, 非本不一, 而末異若是。 唯歸同反一, 為亡得喪。 子長先生之門, 習先生之道, 而不達先生之況也, 哀哉! ”

Người láng giềng của Dương Tử mất con cừu, đã sai tất cả người trong nhà đi tìm, lại xin Dương Tử cho trẻ tìm hộ nữa. Dương Chu hỏi :

– Ôi! Mất có một con cừu, sao mà cần nhiều người thế?

Người kia đáp:

– Vì đường có nhiều ngã rẽ.

Lại hỏi:

– Tìm được không?

– Không.

– Sao mà không tìm được?

Đáp:

– Theo một ngã rẽ lại gặp một ngã rẽ khác, không biết phải theo ngã nào, đành phải về.

Dương Chu rầu rầu nét mặt, không nói gì cả một hồi lâu và suốt ngày hôm đó không cười. Môn đệ lấy làm lạ, đáng bạo hỏi:

– Một con cừu có đáng gì đâu, mà con đó lại không phải của thầy, sao thầy rầu rĩ tới không nói, không cười như vậy.

Dương Chu không đáp và môn đệ không hiểu ý thầy ra sao.

***

Môn đệ Mạnh Tôn Dương trở ra nói với Tâm Đô tử. Hôm sau cả hai người cùng vô thưa với Dương tử:

– Xưa ba anh em nhà nọ đi chơi nước Tề, nước Lỗ. Cả ba cùng học một thầy, đạt được đạo nhân nghĩa rồi về. Người cha hỏi:

– Đạo nhân nghĩa ra sao?

Người con lớn đáp:

– Theo đạo nhân nghĩa thì con phải yêu cái thân của con mà coi thường cái danh.

Người con giữa đáp:

– Theo đạo nhân nghĩa thì con phải huỷ cái thân con để thành danh.

Người con thứ ba đáp:

– Theo đạo nhân nghĩa thì con phải giữ cho vẹn cả cái thân lẫn cái danh của con.

Ý kiến của ba người đó trái ngược nhau mà họ đều học chung một thầy nho cả, vậy biết ai phải ai trái?

Dương Tử đáp:

– Xưa có một người sống ở bờ sông, quen với nước, can đảm bơi lội, chở đò cho người qua sông, kiếm tiền nuôi được trăm miệng ăn. Nhiều người đem lương thực lại xin học, nhưng có tới một nửa chết đuối. Họ học lội chứ không học chết đuối, mà lại bị hại như vậy; theo anh thì ai phải ai trái?

Tâm Đô tử làm thinh bước ra. Mạnh Tôn Dương trách:

– Anh hỏi gì mà quanh co vậy? Và thầy trả lời làm sao mà khó hiểu thế? Tôi càng thêm hoang mang.

Tâm Đô tử đáp:

– Vì con đường lớn nhiều ngã rẽ cho nên không tìm được cừu.

Vì có nhiều ý kiến, cho nên hại cho người học đạo.

Sự học, gốc thì như nhau, là một, mà ngọn thì khác nhau.

Cho nên chỉ người nào biết quay về chỗ đồng nhất mới khỏi bị hại.

Anh làm môn đệ của thầy từ lâu, tập đạo của thầy mà không hiểu ý thầy, đáng buồn thật!

———– 

 

 

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI * 象 言 破 疑
TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI
TUONG NGON PHA NGHI
象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

NGỘ NGUYÊN LÃO NHÂN trước tác

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dịch

 
MỤC LỤC

Tượng ngôn phá nghi tự

QUYỂN THƯỢNG

Thuận nghịch thuyết
Dược Vật Thuyết
Hỏa Hầu thuyết

QUYỂN HẠ

Phá nghi thi
Huyền tẫn chân khiếu thuyết
Tu chân yếu quyết

—————————-

Tượng ngôn phá nghi tự

象 言 破 疑 序

Đơn kinh vạn quyển giai Tượng Ngôn dã. Tượng Ngôn giả phi Chân Ngôn, phi minh ngôn, phi không ngôn, phi dị ngôn, nãi hữu vật, hữu tắc ngôn chỉ hữu chứng, thủ tượng diễn trực chi ngôn. Hậu nhân bất cứu kỳ ý, chỉ chấp kỳ tượng. Tại Nho giả độc chi dĩ vi quái đản bất kinh, tại Đạo giả độc chi dĩ vi bao bì ngoại tượng. Thậm chí hữu chấp tượng sai nghi, bách ban tố tác, lưu ư khúc kính tà hành, tự thương Tính Mệnh giả bất khả mai cử. Hi! thị khởi cổ nhân tiên hiền, thủ tượng lập ngôn chi ý hồ.

Dịch viết: Pháp tượng mạc đại hồ thiên địa, biến thông mạc đại hồ tứ thời, huyền tượng trứ minh mạc đại hồ nhật nguyệt [1]. Đơn kinh giai bản Chu Dịch nhi tác. Kỳ Dược Vật, Hỏa Hầu câu tá Thiên Địa, nhật nguyệt, tứ thời dĩ phát huy kỳ áo diệu. Nhược dĩ Đơn Kinh Tượng Ngôn vi quái đản, vi bao bì. Dịch hữu phong vân, lôi điện, long hổ, ngưu mã, lộc dương, qui trĩ chi tượng.

Phù: Diễu năng thị, bí năng lý [2], Thừa kỳ Dung [3], Bằng hạp trâm [4], Phệ phu diệt tị [5], Khốn ư Chu Mộc [6], Tải quỉ nhất phương [7], Sĩ khuê dương vô huyết [8] đẳng tượng. Diệc tương dĩ vi quái đản bao bì hồ? Bi phù chính đạo thất truyền dĩ cửu, bất tự kim thủy. Dư tự ngộ Chân sư chi hậu, thủ chư gia đơn kinh, bỉ thử tham trước, thật hữu đắc hồ tượng ngôn chi ý. Nhân tương sở đắc ư sư giả, tận tiết ư tham ngộ xiển chân nguyên chỉ đẳng thư chi nội. Do khủng học giả nan ư quán thông, hựu trước Tượng Ngôn Phá Nghi nhất thư, hội đồ họa tượng, tế phân thị phi, tảo bàng môn nhi chỉ chính Đạo, tức tà thuyết nhi biện chân tông. Thử tắc Dư chi bản nguyện. Kiến thị thư giả, đương tư tử nhân diệc năng thuyết sinh thuật, vật dĩ tao phách tiếu khí vi hạnh thậm.

Thời:

Gia Khánh thập lục niên (1811), Tân Mùi, Xuân Vương Chính Nguyệt, Thê Vân Sơn Tố Phác Lão Tẩu, Ngộ Nguyên Tử Lưu Nhất Minh tự tự ư Tẩy Tâm Đình.

象 言 破 疑 序

丹 經 萬 卷 皆 象 言也 . 象 言 者 非 真 言, 非 明 言, 非 空 言, 非 異 言, 乃 有 物, 有 則 言 指 有 証, 取 象 演 直 之 言 後 人 不 究 其 意, 止 執 其 象. 在 儒 者 讀 之 以 為 怪 誕 不 經, 在 道 者 讀 之 以 為 包 皮 外 象. 甚 至 有 執 象 猜 疑 百 般 做 作, 流 於 曲 徑 邪 行, 自 傷 性 命 者, 不 可 枚 舉. 咦是 豈 古 聖 先 賢, 取 象 立 言 之 意 乎.

易 曰: 法 象 莫 大 乎 天 地, 變 通 莫 大 乎 四 時, 懸 象 著 明 莫 大 乎 日 月. 丹 經 皆 本 周 易 而 作. 其 藥 物 火 候 俱 借 天 地, 日 月, 四 時 以 發 揮 其 奧 妙. 若以 丹 經 象 言 為 怪 誕 為 包 皮. 易 有 風 雲, 雷 電, 龍 虎, 牛 馬, 鹿 羊, 龜 雉 之 象.

夫 眇 能 視, 跛 能 履, 乘其 墉, 朋 盍 簪, 噬 膚 滅 鼻, 困 於 株 木, 載 鬼 一 方, 士 刲 羊 無 血 等 象. 亦 將 以 為 怪 誕 包 皮 乎 ? 悲 夫 正 道 失 傳 以 久, 不 自 今 始.余 自 遇 真 師 之 後, 取 諸 家 丹 經, 彼 此 參 著, 實 有 得 乎 象 言 之 意.因 將 所 得 於 師 者, 盡 洩 於 參 悟 闡 真 原 旨 等 書 之 內. 猶 恐 學 者 難 於 貫 通, 又 著 象 言 破 疑 一 書 繪 圖 畫 像, 細 分 是 非, 掃 旁 門 而 指 正 道, 息 邪 說 而 辯 真 宗.此 則 余 之 本 願. 見 是 書 者, 當 思 死 人 亦 能 說 生 術, 勿 以 糟 粕 笑 棄 為 幸 甚.

嘉 慶 十 六 年 辛 未春 王 正 月 棲 雲 山 素 樸 老 叟 悟 元 子 劉 一 明 自 敘 於 洗 心 亭.

——————

Xem những chú thích ở: –

[1] Nguyễn Văn Thọ, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 3, Hệ Từ Thượng, Chương XI, tiết 7, tr. 489.

[2] Hào Lục Tam quẻ Lý, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 161.

[3] Hào Cửu Tứ quẻ Đồng Nhân, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 194.

[4] Hào Cửu Tứ quẻ Dự, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 225.

[5] Hào Lục Nhị quẻ Phệ Hạp, NVT, Dịch Kinh Đại Toàn, tập 2, tr. 269.

**********************         

QUYỂN THƯỢNG

Thuận nghịch thuyết
Dược Vật Thuyết
Hỏa Hầu thuyết

THÊ VÂN SƠN, NGỘ NGUYÊN LÃO NHÂN TRƯỚC

棲 雲 山 悟 元 老 人 著

MÔN NHÂN NGỤY DƯƠNG THÀNH KHAN TỬ

門 人 魏 陽 誠 刊 梓

HẬU HỌC LƯU BỐC VÂN TRÙNG KHAN

後 學 劉 卜 人 重 刊

Tu chân chi đạo, sách xưa thường nói tới đạo Vô Vi, mà ít nói tới Đạo Hữu Vi. Vả Đạo Vô Vi thì chỉ có những bậc thượng trí mới đốn ngộ viên thông nó được. Biết một thông trăm lập tức bước lên thánh vức. Còn những hạng Trung Hạ, thì Tính Chất Ngu Độn, căn trần nặng nề, kiến thức hẹp hòi, nếu theo đạo Vô Vi thì lực lượng không bắt kịp, nên ắt không thể vạn duyên câu không, trực đăng bỉ ngạn.

Ngụy Bá Dương tiên ông đời Hậu Hán chuẩn theo Kinh Dịch mà soạn ra bộ Tham Đồng Khế, dẫn dắt những người bậc Trung, bậc Hạ, lấy Hữu Tượng thí dụ vô tượng, lấy hữu hình dụ vô hình, nên bắt đầu mới có danh từ Kim Đơn, Duyên Hống, Sa Ngân, Ô Thố, Long Hổ, Anh Xá, Dược Vật, Lô Đỉnh, Phanh Luyện. v.v…

Phép Pháp Tượng bắt đầu từ đó, và thành ra như một Đạo. Các vị Chân Nhân đều lấy Tham Đồng Khế làm tổ kinh mà soạn ra Đơn Kinh, bàn rõ Diệu Lý. Ý các Ngài dạy cho Hậu Học thấy cái này suy ra cái kia, mượn cái này chứng cái nọ.

Nếu học giả không tìm hiểu ý của ngụ ngôn, không biết lý của phép thủ tượng, thấy nói Kim Đơn, Duyên Hống, Lô Đỉnh thì nghĩ ngay đến ăn uống (phục thực) và cứ lo về Lô Hỏa; thấy nói Ô Thố, Long Hổ thì nghĩ là Tạng Phủ, và chuyên lo Tồn Tưởng; thấy nó Nhà Người, Nhà Ta, Nam Nữ, thì tưởng là Khuê Đơn (chuyện phòng the) nên lo Thái Thủ; thấy nói Nghịch Thuận Điên Đảo thì nghĩ là Cưỡng Tác, và nghĩ đến Vận Chuyển; thấy nói Tu Tính Vô Vi chi thuyết, thì nghĩ ngay đến Tịch Diệt và chủ trương Ngoan Không; thấy nói Tu Mệnh là Hữu Vi chi thuyết thì nghĩ là Bãi Lộng, và lo Chấp Tướng v.v…

Tất cả đều là thấy hươu tưởng ngựa, thấy chim tưởng loan, không những vô ích cho Tính Mệnh, mà còn làm hại Tính Mệnh nữa. Đó đâu phải ý của tổ sư khi lập ra phép Thủ Tượng Dụ Ngôn đâu?

Tượng là Tượng Hình. Nói vật này mà tượng là vật khác, nói vật kia mà tượng vật này.

Ví dụ lấy chuyện mắt thấy nhãn tiền, mọi người đều hay biết mà luận, ví dụ như nấu nướng đồ ăn, thì cái Nồi là Đỉnh, Bếp là Lò. Trong nồi chứa nước, dưới bếp đốt lửa. Lửa bốc lên, nước chảy xuống. Để cho nước trong nồi ở trên, để cho lửa dưới bếp ở dưới. Thế là Thủy Hỏa điên đảo, hai bên tương tế, nhờ vậy mà đồ ăn mới chín. Phàm thủy phàm hỏa giúp nhau là như vậy.

Ở nơi con người cương tính thì khô táo và động. Cho nên động thời thuộc Hỏa.Nhu Tính thời hoãn và Tĩnh. Tĩnh thuộc thủy. Dùng Nhu để dưỡng Cương, dùng Cương để đến với Nhu. Cương Nhu tương đáng không táo không hoãn, trở về trung chính, đại đạo dễ thành.

Đó là cái lý của Thần Thủy Thần Hỏa tương tế. Lấy cái tượng của Phàm Thủy Phàm Hỏa tương tế mà ví dụ cái Lý của Thần Thủy Thần Hỏa tương tế, làm cho cái Lý ấy trở thành hiển nhiên vậy.

Lại như một người vốn có gia tài sản nghiệp phong phú, mà không biết an phận lại phá tán hết gia tài. Rồi hốt nhiên tự tri hối quá, khổ tâm lao lực trùng vụ sinh hoạt, dần dần tích tụ được tài vật, từ ít đến nhiều, cuối cùng tất phục hồi lại được gia nghiệp, thế là Hoàn Nguyên Phản bản được gia sản cũ.

Con người vốn có Tinh Thần, Linh Khí viên mãn, đầy đủ; khi giao vào Hậu Thiên, thuận chiều Tạo Hóa, phí Tinh, lao Thần, Nguyên Khí suy bại, Nguyên bản tiêu hao cho đến hết, nếu biết cải đầu hoán diện, trừng phẫn, trật dục, nhàn tà tồn thành, tiệm thứ dụng công, cuối cùng sẽ qui căn phục mệnh. Đó là Lý của Hoàn Nguyên Phản bản. Dùng cái tượng của Hoàn Nguyên Phản Bản, để ví dụ cái Lý của Hoàn Nguyên phản bản, làm cho cái Lý trở nên Hiển Nhiên vậy.

Lại như thế gian nam nữ tương phối, đôi bên hợp nhất, nên mới sinh con, sinh cháu. Thế là cái tượng Sinh Sinh của nhân loại, dùng để ví dụ cái Lý Sinh Sinh của Đơn Đạo, làm cho cái Lý trở nên hiển nhiên vậy.

Đơn Kinh chuyên dùng Tượng để ví dụ Lý, dạy người từ Tượng mà suy ra cái lý của sự việc, chứ không dạy người đi ngược với Chân Lý, rồi cứ bám vào tượng mà hoạt động, làm cho mọi người không chịu tìm cho ra nghĩa lý, chỉ nhận biết có tượng. Buồn thay!

Đơn kinh dùng Tượng thật nhiều. Học giả nên từ Tượng tìm cho ra nghĩa lý, mà được tượng thì phải quên lời, hiểy ý thì phải quên tượng, như vậy mới được.

Thuận nghịch thuyết:

Người thế gian chỉ biết Thuận hành mà không biết Nghịch Vận. Thế nào là Thuận? Thuận là thuận theo Tạo Hóa. Thế nào là Nghịch? Nghịch là đi ngược Tạo Hóa.

Tạo hóa là sinh nhân, sinh vật, sinh lão bệnh tử, luân hồi không ngừng, Nghịch Tạo Hóa là thành Tiên, thành Phật, bất sinh bất diệt, thọ cùng Trời Đất.

Con người từ khi thành thai sinh thân về sau, hai tám số đủ, giao vào Hậu Thiên, trong thì Thất tình Lục dục làm mê cái Chân, ngoài thì Vạn Duyên Vạn Sự làm mệt cái Hình, nhận Giả làm Chân, lấy Tà làm Chính, coi Khổ làm Sướng, thuận theo sở dục, không gì không làm, đem Tinh, Khí, Thần tam bảo bản lai của mình, tiêu hao cho hết. Làm cho Chân Tính viên minh của mình bị lu mờ đi. Đến khi khí nơi yết hầu bị đứt đoạn, mà cũng không biết ngừng nghỉ, cho nên bị Sinh Sinh, Tử Tử vạn kiếp trầm luân, cho nên nói Diêm La không gọi mà mình tự đến nộp mạng.

Còn những bậc Đại Trí Tuệ, thì nghịch vận Tạo Hóa, không để cho tạo hóa câu thúc, không để cho Âm Dương hun đúc, không để cho vạn vật khiên dẫn, không dễ cho vạn duyên khiên di, trong lửa trồng sen, trong bùn chèo thuyền, mượn thế pháp để tu đạo pháp, y nhân đạo để toàn Thiên Đạo, đem vạn kiếp căn trần vứt bỏ đi, quét sạch mọi khách khí, mệnh do ta làm chủ không do Trời, trở lại bộ mặt Càn Nguyên xưa của ta, thoát Luân Hồi siêu xuất Tam Giới, trở thành Kim Cương bất hoại chi vật.

Vả trong chiều Thuận của Tạo Hóa mà vẫn vận dụng được Chiều Nghịch, có khẩu truyền tâm thụ hẳn hoi, thì ắt phải có Chân Sư điểm hóa, không thể tự nhiên mà biết. Học giả thế gian tự phụ vào ánh sáng đom đóm của mình, lại nhìn qua ống quản, chỉ biết vài thoại đầu, nhớ vài Công Án, mà đã cho mình là Biết Đạo, không chịu hỏi han ai, chỉ dùng mấy lời loạn đàm nơi cửa mồm, như người mù dẫn bọn mù, thật là tội lỗi.

Lại như một kẻ hồ đồ, không nhận được Chân Sư, sáng nói Vương chiều nói Lý. Học với hạng Tiểu Thừa, mà cho mình là có Đạo, dù có người hay trước mắt cũng không chịu hạ mình cầu học, làm bậy làm bạ.

Hoặc coi Tâm Khí hạ giáng, Thận Khí thượng thăng là Nghịch Hành, hoặc vận khí Hậu Thăng Tiền Giáng làm Nghịch Hành, hoặc coi Hoàn Tinh Bổ Não làm Nghịch Hành, hoặc coi Bế Khí Định Thần làm Nghịch Hành, hoặc Thái Âm bổ Dương làm Nghịch Hành, hoặc đàn bà nằm trên, đàn ông nằm dưới là Nghịch Hành, cứ như thế, trăm đường nghìn nẻo đều là đi Nghịch Thánh Đạo, không phài là Thuận Nghịch Tạo Hóa, không phải là Chí Sinh chi Đạo.

Có biết đâu rằng Nghịch là trở về với Phụ Mẫu Sinh Thân chi sơ, như người bỏ nhà đi xa, nay lại trở về nhà. Tuy nói là Nghịch Hành nhưng kỳ thật là đi theo đúng lý (thuận lý nhi hành), đó chính là Nghịch trung chi Đại Thuận. Chỉ vì nó đi ngược với đường lối của thế nhân, nên gọi là Nghịch vậy.

Bàng môn tả đạo, vì hiểu lầm chữ Nghịch, nên bày vẽ ra trăm nghìn công tác cho cái thân xác thịt này, để rồi ra đọa lạc vào không vong, Thật là ngu si vậy.

Dược Vật Thuyết:

Đơn kinh Tử thư nói tới Thái Dược để phanh luyện Kim Đơn đều là Tiên Thiên Vô Hình Vô Chất chi chân, không phải là Thế Gian Hữu Hình Hữu Chất chi dược, cũng không phải là vật gì hữu hình hữu chất trong thân thể con người.

Bởi vì từ sau khi con người sinh ra, đã Nhận Giả và đã Thất Chân, đem viên ngọc quí mình vốn có thủa ban đầu, tiêu hao cho đến hết. Trong con nghì chỉ còn toàn Âm chất và Tà Khí, như người mắc bệnh, chỉ còn chờ chết, nếu không có Linh Dược Chân Chính, thì làm sao biến Âm thành Dương, làm sao bảo toàn được Tính Mệnh?

Chân Chính Linh Dược 真 正 靈 藥 là gì? Đó là Tiên Thiên Nhất Khí 先 天一 氣 vậy. Là Tiên Thiên Tinh Khí Thần Tam Bảo 先 天 精 氣 神 三 寶 vậy, Tiên Thiên Chân Nhất chi khí  先 天真 一 之 氣 còn gọi là Chân Chủng Tử 真 種 子.

Cái Khí này không rơi vào Sắc Tượng, nó là Chí Vô nhưng hàm Chí hữu, Chí Hư nhưng hàm Chí Thực, nó là Chân Không Diệu Hữu 真 空 妙 有.

Nó thống nhiếp Tinh Khí Thần Tam Bảo.

Tam Bảo này cũng không phải là Hữu Hình Chi Vật. Nó là Vô Hình Chi Chân 無 形 之 真.

Ngọc Thiềm Ông viết:

Cái Tinh này không phải là Giao Cảm Tinh, mà là nước rải của Ngọc Hoàng, cái Khí này không phải là cái Khí Hô Hấp, mà là cái khói của Thái Tố, cái Thần này không phải cái Thần Tư Lự, nhưng nó sánh được với Nguyên Thủy.

Tuy chia thành Ba Nhà nhưng vẫn qui lại là một Tiên Thiên Nhất Khí, Tam gia hợp nhi thành Nhất Khí, Nhất Khí Phân nhi thành Tam Gia. Hái thuốc chính là hái cái Nhất Khí Tam Bảo đó.

Dùng Chân Hỏa Đoàn Luyện nó sẽ thành Đơn, nó sẽ điểm hóa cho tất cả Âm Khí trong ta biến thành Thuần Dương. Thanh Tịnh không dính bụi bặm trần ai.

Như người có bệnh dùng thuốc trị liệu cho thành người thường. Gọi là Dược Vật, là dùng phép Tượng Hình.

Hậu thế học giả thấy đơn kinh nói về Dược Vật, lầm tưởng là cái gì Hữu Hình Hữu Chất chi vật 有 形 有 質之 物, nên đi vào núi hái dược thảo, phối hợp mà dùng mơ tưởng sẽ được trường sinh, hoặc lấy Ngũ Kim Bát Thạch luyện thành Đơn Dược mà dùng, mơ tưởng sẽ bay bổng lên Trời.

Có biết đâu rằng Thuốc hữu hình chỉ chữa được những bệnh hữu hình, không thể chữa những bệnh vô hình.

Muốn chữa những bệnh vô hình nếu không lấy được Tiên Thiên Chân Nhất chi khí thì không có thuật nào khác vậy.

Tham Đồng Khế viết: Đồng loại dị thi công hề, phi chủng nan vi xảo 同 類 易 施 工 兮 非 種 難 為 巧.

Ngộ Chân Thiên viết:

Trúc phá tu tương trúc bổ nghi,

竹 破須 將 竹 補 宜

Bão kê đương dụng noãn vi chi.

抱 雞當 用 卵 為 之

Vạn ban phi loại đồ lao lực,

萬 般非 類 徒 勞 力

Tranh tự Chân Diên hợp thánh ky.

爭 似真 鉛 合 聖 機

Dịch:-

Đồ tre, muốn sửa phải dùng tre,

Muốn gà cần trứng, mới nên nghe!

Đồng loại chẳng dùng, hao phí sức,

Phải có Chân Diên mới hành nghề.

Chân Diên chính là Tiên Thiên Chân Nhất chi khí.

Đọc đoạn này xong, mới thấy tưởng phàm dược là tiên dược thật là sai lầm vậy.

Hỏa Hầu thuyết:

Đơn Kinh Tử Thư đều nói đến Hỏa Hầu, để ví dụ Công Phu và Thứ Tự Chuẩn Tắc tu trì. Vì Công Phu Tu Trì có trước có sau, có nhanh có chậm, có tiến, có thoái. Đáng đi trước mà lại đi sau, đáng đi sau mà lại đi trước, đáng nhanh lại chậm; đáng chậm lại nhanh; đáng tiến, lại thoái, đáng thoái lại tiến; lại như lửa trong lò, có Văn Hỏa, có Vũ Hỏa, có lúc phải ngừng.

Cho nên cái thứ tự trong việc Tu Chân, nói theo Tượng thì là Hỏa Hầu. Vả dụng công Hỏa Hầu, không kể năm tháng, ngày giờ. Khắc khắc hành nó, đáng trước thì trước, đáng sau thì sau, đáng nhanh thì nhanh, đáng chậm thì chậm, đáng tiến thì tiến, đáng thoái thì thoái, tùy thời biến thông, tóc tơ không nhầm. Đáng trước thì trước nghĩa là trước hết phải nghiêm bên trong; đáng sau nghĩa là phải đề phòng bên ngoài; đáng nhanh là phải nhanh khi dụng công; đáng chậm là chậm khi ôn dưỡng; đáng tiến là khi Dương chưa đủ thì phải tiến; đáng thoái là khi Âm vừa sinh thì phải thoái Âm.

Đó là Thực Lý về Hỏa Hầu. Chứ không phải là như Công gia nói:Tí thời tiến Dương Hỏa, Ngọ thời thoái Âm Phù, Mão Dậu nhị thời nghi Mộc Dục; cũng không phải là Đông Chí tiến Dương Hỏa, Hạ Chí thoái Âm Phù; Xuân Phân Thu Phân thời Mộc Dục. Vả Trời có Tí Ngọ Mão Dậu; Người có Tí Ngọ Mão Dậu, chứ đâu phải Tí Ngọ Mão Dậu của Trời là Tí Ngọ Mão Dậu của người.

Trong con người lúc nào cũng có Tí Ngọ Mão Dậu.

Cổ Kinh nói: «Bất tất Thiên biên tầm Tí Ngọ, Thân trung tự hữu nhất Dương sinh» 不 必 天 邊 尋 子 午, 身 中 自 有 一 陽 生. Vả coi Dương sinh là Tí, coi Âm sinh là Ngọ, Dương với Âm hợp nhau là Mão, Âm với Dương hợp nhau là Dậu, nên gọi là Hoạt Tí, Ngọ, Mão, Dậu vậy. Đâu phài là Tí Ngọ Mão Dậu chết trên khung Trời đâu? Sách Kim Đơn Tứ Bách Tự viết: «Hỏa Hầu không có thời, Đông Chí không tại Tí, cũng như nói Mộc Dục là Mão Dậu chỉ là cách so sánh mà thôi.»

Ngộ Chân Thiên nói:

Tổng thức Chu Sa dữ Hắc Diên,

總 識朱 砂 與 黑 鉛

Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn,

不 知火 候 也 如 閑

Đại đô toàn tạ tu trì lực,

大 都全 藉 修 持 力

Hào phát sai thù bất kết đơn.[1]

毫 髮差 殊 不 結 丹

Dịch:-

Nếu biết Chu Sa với Hắc Đơn,

Hỏa hầu không biết cũng như không.

Chung qui toàn dụng tu trì lực,

Nếu sai tơ tóc, sẽ hỏng Đơn.

Nói Đông Chí không tại Tí, thì Mão Dậu cũng là cách so sánh chơi mà thôi. Nói Hào Phát Sai Thù Bất Kết Đơn, thì biết ngay là không phải Thiên Biên Tí Ngọ Mão Dậu vậy. Nếu như nói Thiên Biên Tí Ngọ là 12 giờ, như vậy chỉ có 4 giờ tu trì, còn dư 8 giờ khác thì bỏ đi không dùng, thì làm sao nói được là Hào phát vô sai được?

Nhập Dược Kính viết: Trong một ngày có 12 giờ thì Ý cũng có thể đến, và ta đều thấy đều biết. Niên nguyệt nhật thời khắc khắc dụng công tu trì, phòng nguy lự hiểm, hào phát không được sai lầm. Đến như Hỏa Hầu trong 64 quẻ cũng là để nói lên lẽ Âm Dương Tiến Thoái, dạy người tùy thời gia giảm biến thông dụng công vậy. Đâu phải là dạy người cứ theo thứ tự 64 quẻ mà hành động đâu?

Sách Ngộ Chân viết:

Quải trung thiết tượng bản nghi hình,

卦 中 設 象 本 儀 形

Đắc tượng vong ngôn ý tự minh,

得 象 忘 言 意 自 明

Cử thế mê đồ duy chấp tượng,

舉 世 迷 徒 唯 執 象

Khước hành quải khí vọng phi thăng.[2]

卻 行 卦 氣 望 飛 升

Từ quải vẽ nên tượng, ý, hình,

Biết tượng quên lời, ý tự minh.

Thế gian mê muội chuyên chấp tượng,

Mong hành quải khí với phi thăng.

Đọc sách phải biết cách Lập Ngôn Thủ Tựợng của người xưa, nên đã Đắc Ý thì phải Quên Tượng vậy.

Thiên kinh vạn quyển của Đạo Tu Chân chỉ là Tượng Ngôn mà thôi. Tuy cách Thủ Tượng không đồng nhất, nhưng chung qui đều cốt là phát minh lẽ Âm Dương thuận nghịch, Dược Vật Chân Gỉa, Hỏa Hầu Chuẩn Tác mà thôi. Ngoài ra không có thuyết nào khác.

Tôi (Lưu Nhất Minh) được thày chỉ vẽ cho biết phải tìm cho ra Ý trong Tượng, nên không dám dề cao mình.

Nguyện cùng các bậc tri âm đem những điều khẩn yếu của Đơn kinh vẽ thành đồ bản, phân tách thị phi để phá mọi nghi ngờ của các học giả. Còn các điều khác, suy ra sẽ thấy.[3]

Hình 1. Thai Trung Diện Mục 胎 中 面 目

(Trong Hình vẽ,Ta thấy có 1 hình tròn, trên có Chữ Vô Cực, phía Phải có chữ Vô Thanh Vô Xú, phía Trái có chữ Vô Hình Vô Sắc, Dưới có chữ Bản Sinh Thân Xứ. Ý nói Tâm ta từ thủa Sơ Sinh, vốn là Viên Đồng với Hư Vô, với Vô Cực. Nghĩa là Ta với Trời là Đồng Đẳng. Nên nhớ Trung Dung đã dùng 4 chữ Vô Thanh Vô Xú để chỉ Thượng Đế không tiếng, không hơi, nơi cuối sách Trung Dung). [4]

Khi con người chưa sinh ra đời, khi Nam Nữ Âm Dương nhị khí giao cảm nhau, trong lúc yểu minh đó có một điểm sinh cơ, từ Hư Vô trung tới, gọi là Tiên Thiên Chân Nhất Tổ Khí 先 天 真 一 祖 氣. Cái khí này, nhập vào trong Tinh Huyết, đào dung hun đúc nó thành một khối duy nhất. Vô hình rồi sinh hình, vô chất rồi sinh chất, trong thì là Ngũ Tạng, Lục Phủ, ngoài thì là Ngũ Quan, Bá Hài, biến chi, hóa chi, đều tự nhiên mà thành toàn. Ngay người phụ nữ có mang cũng không biết làm sao mà tự nhiên như vậy.

Học giả không biết lý này nên nghi rằng con người trong bào thai, nhờ cuống rốn mà thông với Mẫu Khí, nên mẹ thở vào thì con cũng thở vào, khi mẹ thở ra thì con cũng thở ra, từ từ thành hình vậy.

Thực ra không phải thế. Vì Khí Hô Hấp là Khí Hậu Thiên, mà Khí Hậu Thiên thì làm sao biến hóa tinh huyết cho thành hình được. Hơn nữa Khí Hô Hấp làm sao mà nhập vào bào thai? Có biết đâu rằng như trong bào thai của mẹ, chỉ có Tiên Thiên Nhất Điểm Tổ Khí 先 天 一 點 祖 氣, hồn hồn luân luân 渾 渾淪 淪, mới đầu thì Ngưng Thai, rồi Dưỡng Thai, cuối cùng thì Toàn Thai, từ đầu đến cuối đều nhờ Tổ Khí này mà thành tựu, không có chi khác.

Trong khi đó tuy có Nhân Hình nhưng chưa có Nhân Đạo. Thiên Địa Vạn Vật, thủy hỏa, đao binh đều không thể làm thương hại, thất tình lục dục ngũ tặc đều không tới gần. Suy đến kỳ cùng, thì chỉ có Một Hư Không mà thôi.

Cổ tiên dạy dân tu đạo, chính là dạy người trở lại cái Phụ Mẫu vị sinh thân dĩ tiền 父 母 未 生 身 以 前 đó, Diện Bạch là trở về cảnh giới Hư Không đó, cảnh giới Vô Thanh Vô Xú đó. Vô Thanh Vô Xú chính là Vô Cực. Không có Cực, tức là Vô vậy.

Hình 2. Anh Nhi diện mục 嬰 兒 面 目

(Hình này trong có Một vòng tròn trống, trên có chữ Thủy Cực, bên phải có chữ Hỗn Hỗn Độn Độn, bên trái có chữ Thanh Thanh Tĩnh Tĩnh, phía dưới có chữ Sinh Thân Chi Sơ.)

Con người từ trong bụng mẹ, 10 tháng thai viên, dưa chín rụng cuống, phá thai mà ra, chân hướng lên Trời, đầu hướng xuống đất, kêu oa một tiếng, mới tiếp hậu thiên chi Khí, từ mũi mồm xuống tới Khí Hải, hợp với Tiên Thiên Chi Khí.

Tiên Thiên là Thể; Hậu Thiên là Dụng. Hậu Thiên nhờ Tiên Thiên mà hô hấp lại qua; Tiên Thiên nhờ Hậu Thiên mà xúc dưỡng huyết mạch.

Không những thế: vừa thoạt kêu oa, thì Luân Hồi thức thần liền nhập vào Khiếu. Hợp với Tiên Thiên Nguyên Thần làm một. Nguyên thần nhờ Thức Thần mà tồn tại; Thức Thần nhờ Nguyên Thần mà Linh. Vả Anh Nhi vừa sinh, Tuy có Hậu Thiên Chi Khí, Hậu Thiên chi Thần. Và Tiên Thiên thống Hậu Thiên, Hậu Thiên thuận Tiên Thiên, hỗn thành Hỗn Hỗn Độn Độn, bất thức, bất tri, chỉ là Một Chân mà thôi.

Cổ Tiên dạy người Cùng Thủ Sinh Thân Xứ, tức là Cùng Thủ Nhân Sinh chi sơ, tức là Cùng Thủ Anh Nhi Diện Mục vậy.

Kẻ u mê không hiểu, nói bậy bạ rằng: Sinh Thân Xứ là Âm Hộ đàn bà. Không phải vậy. Sinh Nhân chi sơ là Anh Nhi Diện Mục, trắng trong không tì vết. Đó là Thánh Hiền Phôi Thai, Tiên Phật Căn Manh. Cho nên chim muông không bắt, tê hổ không làm tổn thương, vì nó Vô Tâm.

Vô Tâm nên sinh tử không ngại, như vậy thì làm gì có tai hoạn. Đó là tượng Thủy Cực. Thủy Cực là Thủy Chi Cực, chưa giao với Hậu Thiên. Tuy đã hỗn hợp với Hậu Thiên, nhưng vẫn hoàn toàn do Tiên Thiên quản sự. Nhân vì là tại Vô Chi Cực cho nên từ Vô mà bắt đầu.

Hình 3. Hài Nhi Diện Mục 孩 兒 面 目

(Hình có Ba Vòng Tròn Đồng Tâm. Phía trên có Chữ Thái Cực; phía phải có chữ Vô Tư Vô Dục; Phía trái có chữ Bất Sắc Bất Không; phía dưới có chữ Tiên Hậu Hợp Nhất.)

Con người từ đứa trẻ con (Anh Nhi) lớn lên, có thể đi, có thể chạy, có thể nói theo người chỉ dẫn, nên gọi là Hài Nhi, hay là Hài Đề Chi Đồng 孩 提 之 童. Anh Nhi thì vô thức vô tri (trẻ sơ sinh), Hài Nhi (trẻ con) thì hữu thức, hữu tri, như là một áng mây trên trời. Hữu Thức, Hữu Tri do từ Thủy Cực dần tới Thái Cực vậy.

 Thái Cực là Đại Chi Cực. Đã là Thái Cực thì cũng có khi rất nhỏ. Dương Cực thì cũng có lúc là Âm. Nhưng nhỏ chưa đến, Âm chưa sinh vậy. Nhỏ chưa đến, Âm chưa sinh, còn là lúc Tiên Thiên dụng sự, Hậu Thiên phục tàng. Tuy Hữu Thức, Hữu Tri, nhưng căn trần chưa phát, khách khí chưa sâm, đói ăn, lạnh mặc, hỉ lạc ai nộ tùy hưng tùy diệt, phú quí cùng thông bất tri bất hiểu, thuận kỳ Tự Nhiên, tuyệt nhiên không có tạp niệm.

Đó là Thánh Hiền Phôi Thai, Phật Tiên căn manh. Kẻ ngu coi Hài Nhi là Anh Nhi, thật là không phải. Anh Nhi là Xích Tử, Hài Nhi là Đồng Tử. Tuy nhiên vẫn có Thiên Chân đầy đủ, tuy hình hài cao thấp khác nhau, nhưng tri thức không có khác biệt.

Cho nên Cổ Tiên đã gọi Phản Bản Hoàn Nguyên là trở về Anh Nhi Diện Mục, chứ không phải Hài Nhi Ngoan Đồng diện mục vậy.[5]

Hình 4. Âm Dương Phân Phán 陰 陽 分 判

(Trong Hình Vẽ này, giữa là một hình tròn. Bên phải có chữ Nhị Bát Số Túc, bên trái có chữ Âm Dương Lưỡng Phân. Bên dưới có chữ: Linh Khiếu Khai, Thiện Ác Phân.)

Con người từ Hài Nhi lớn dần, và 2 khí Âm Dương túc mãn. Dương Cực Sinh Âm, sinh ra một Khiếu, Âm Dương phân chia, ở mỗi bên một phương. Trong Thực có Giả, như vậy mà Tri Thức mở mang dần, Thiện Ác phân biệt. Thế là Thái Cực phán mà Âm Dương sinh vậy.

Nói rằng Nhị Khí Túc, là như Mặt Trăng có Thượng Huyền Hạ Huyền, Lưỡng Huyền đó hợp nhau, ánh sáng tròn chĩnh, đày đủ. Nói thế nghĩa là Tiên Thiên Dương Cực là Thái Cực vậy. Dương Cực thì phải có Âm, như Thái Cực đã chia thì Âm Dương phân đôi vậy.

Người ngu không hiểu thế nào là Nhị Bát Sinh Âm, nên nghĩ rằng đến 16 tuổi là có Xuất Tinh. Không phải vậy: Cứ xem trong thế gian, có trẻ 14, 15 đã Xuất Tinh, cũng có trẻ 16, 17 tuổi mới Xuất Tinh, cũng có đứa 18,19 mới Xuất Tinh. Cho nên số có nhiều ít, nên biết vậy.

Cho nên nói Nhị Bát không phải là nói tuổi tác nào nhất định của con người, mà nói tới khi khí huyết con người sung mãn nhất vậy.

Hình 5. Ngũ Hành Phân Vị 五 行 分 位

(Hình vẽ ở giữa có Ngũ Hành phân phối như sau:

     Hỏa

Mộc  Thổ  Kim

     Thủy

Bên phải có chữ Thức Thần tiệm khởi. Bên trái có chữ Căn Trần tiệm sinh. Phía dưới có chữ Ngũ Hành tương tường [=giết])

Khi Âm Dương phân, thì Ngũ Hành cũng loạn. Ngũ Hành là Ngũ Khí Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ.

Ở Tiên Thiên thì Ngũ Hành là Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Ngũ hành bấy giờ là Nhất Khí, phát ra thành Ngũ Đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Ở Hậu Thiên thì Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Ngũ Hành tương sát lẫn nhau, phát ra thành Ngũ Tặc: Hỉ Nộ Ai Lạc Dục.

Ngũ Hành tương hợp thì Ngũ Đức bị, và Âm Dương hợp Nhất.

Ngũ hành mà phân tán thì Ngũ tặc hưng, và Âm Dương bị Bác Tạp.

Ngũ Hành phân thì Thức Thần tiệm khởi, căn trần tiệm phát. Chân giả thoái vị, Giả giả đương quyền, hài nhi diện mục cũng mất đi vậy.

Kẻ ngu cho rằng Ngũ Tạng là Ngũ Hành. Không phải vậy, vì Ngũ Tạng là Hữu Hình Hữu Chất chi trọc vật, là nơi quán xá của Hậu Thiên Ngũ Hành, chứ không phải là Đức Viên của Tiên Thiên Ngũ Hành. Nếu cho rằng Ngũ Tạng là Ngũ Hành, thì làm sao Ngũ Tạng có thể sinh, có thể hợp. Vả Ngũ Hành có Tiên Thiên, có Hậu Thiên. Tiên Thiên là khi con người chưa sinh thân thể, Hậu Thiên là sau khi con người đã có hình hài. Hai thứ Ngũ Hành tuy phân, nhưng chúng đều sống động, không có định vị, làm sao mà Ngũ Tạng là trọc vật lại có thể là Ngũ Hành được? [6]

Hình 6. Hậu Thiên dụng sự 後 天 用 事

(Hình này ở giữa có 2 vòng tròn trong đen ngoài trắng. Phía phải có chữ Khí Chất Chi Tính Phát. Phía trái có chữ Căn Tượng Chi Khí Nhập, Phía dưới có chữ Dương Trung Sinh Âm. Hình này dạy ta phải biết phân biệt rằng Con Người có 2 tính: Tính người là Khí Chất Chi Tính; Tính Trời là Thiên Địa Chi Tính hay Thiên Mệnh Chi Tính. Chúng ta phải bỏ cái Tính Khí Chất Chi Tính, nhưng phải chắt chiu, phải theo cái Thiên Địa chi Tính. Trung Dung nói Suất Tính Chi vị Đạo: Theo Tính Trời gọi là Đạo. Đạo Phật gọi Thiên Địa chi Tính là Chân Tâm, Khí Chất chi Tính là Vọng Tâm. Có hiểu vậy mới tìm ra con đường Đạo.)

Âm Dương phán, Ngũ Hành phân, là giao vào Hậu Thiên Tiên Thiên thoái vị. Lúc ấy là Khí Chất chi Tính phát sinh ra, ngoại lai tập nhiễm chi trần cũng sinh. Lục căn môn đầu cửa nào cũng chiêu địch, thất tình nghiệt chủng chủng chủng sinh tai, thuần bạch chi thể dần dần bị Âm Khí nhập vào. Âm Khí nhất nhập, Âm Khí tiệm trưởng, Dương khí tiệm tiêu. Trưởng rồi lại trưởng, tiêu rồi lại tiêu. Thuận theo lòng dục, tới đâu thì tới.

Ngu nhân vì không biết nên cho rằng Khí Chất chi Tính là Chân Tính. Đâu phải vậy. Chân Tính là Thiên Mệnh chi Tính, thuộc Tiên Thiên, hữu ích cho đời. Khí Chất chi tính là Nhân Sinh Chi Tính, thuộc Hậu Thiên, làm hại cho đời. Làm sao dám nói Hậu Thiên chi Tính là Tiên Thiên Chi Tính được.

Hình 7. Thuần Âm Vô Dương 純 陰 無 陽

(Có một Hình Tròn đen ở giữa. Bên phải viết: Dương Khí tiêu tận, phía trái viết: Âm Khí bất Thuần. Dưới cùng có chữ: Du hạc đăng diệt, Tủy Kiệt Nhân Vong.)

Đó là Hậu Thiên Dụng Sự, Âm Tiến Dương thoái. Ngày lại ngày, năm lại năm. Trong thì Vạn Niệm gây hại, ngoài thì Vạn Vật khiên dẫn. Nội ngoại Công Kích nên Dương Khí tiêu hết, nhất thân thuần Âm, tam bảo tiêu tận, hồn phách nan tồn, làm sao mà không chết cho được?

Người ngu không biết nên cho rằng Số tận, Mệnh tuyệt, và đổ cho Trời. Đâu phải vậy.

Con người sống được là nhờ Dương Khí giúp cho. Một điểm Dương Khí mà chưa tận thì chưa chết. Một điểm Âm khí mà chưa thuần hêt thì cũng chưa chết. Thuận theo Âm Khí tiêu diệt Dương Khí là tự mình tìm lấy tử lộ, đâu phải lỗi Trời.

7 đồ bản trên là Thuận Hành Tạo Hóa Sinh Nhân chi Đạo vậy.

Hình 8. Luyện Kỷ Trúc Cơ 煉 己 築 基

(Hình vẽ có một vòng tròn đen. Bên phải có chữ Trừng Phẫn Trật Dục, bên trái có chữ Khắc Kỷ Phục Lễ, phía dưới có các chữ: Điều Trần Tẩy Cấu, Nhàn Tà Tồn Thành.)

Đạo Tu Chân là Đạo Phản Hoàn. Phản là mình đã đi, nay trở lại. Hoàn là Dương đã mất, nay lại phục hồi. Đó chính là từ Thuần Âm phản hoàn về cái Bản Lai Chân Dương vậy. Con người từ Hậu Thiên dụng sự, trong người còn toàn Thuần Âm, và Tiên Thiên Dương Khí đã tiêu tận, nếu không nhờ công phu hoàn phản thì làm sao trở về với Vô được.

Muốn tìm lại được cái đã mất thì phải có công phu hoàn phản. Hoàn phản chính là Trúc Cơ Luyện Kỷ, là luyện cho sạch hết cái Lịch Kiếp Căn Trần, cái Khí Chất Thiên (thiên lệch) Tính. Nhất thiết tạp nhiễm khách khí, tức là công năng của Trừng Phẫn Trật Dục, Khắc Kỷ Phục lễ. Trừng phẫn trật Dục, Khắc Kỷ Phục Lễ, thời mới Vô Tư Vô Lự, bất động bất giao, căn bản mới kiên cố, cũng như làm nhà thì phải có nền móng vững chắc, gỗ lạt gạch ngói, do người làm ra sẽ đem đến tất cả, Luyện kỷ nằm trong Trúc cơ, Trúc Cơ cũnh không ngoài Luyện Kỷ.

Người ngu không biết lại chu rằng Luyện Kỷ là Thủ Tâm, Trúc Cơ là Bế Tinh. Không phải vậy.

Công phu luyện kỷ chỉ ngưng khi nào Âm tận, Dương thuần mà thôi. Nếu nói Thủ Tâm Bế Tinh là Luyện Kỷ Trúc Cơ, thì làm sao mà thành toàn kim đơn đại sự được, Cổ Tiên nói: Hoàn Đơn tại nhất thời, luyện kỷ tu thập nguyệt. Nói thế đủ biết Luyện Kỷ Trúc Cơ không phải là Thủ Tâm Bế Tinh vậy.[7]

Hình 9. Thiên Lương Chân Tâm 天 良 真 心

(Trong hình vẽ có 2 vòng tròn: Một trắng bên trong với 2 chữ Chân Tâm, và một đen bên ngoài. Bên phải có chữ: Trúc Cơ Thời, Tu Dụng Thác Thược. Bên trái có chữ: Luyện Kỷ Thời, Hoàn Yếu Chân Diên. Phía dưới có chữ: Hắc Trung Hữu Bạch, Thư Lý Hoài Hùng.)

Luyện Kỷ Trúc Cơ không phải là chuyện Cưỡng Chế, Cưỡng Tác. Nếu mà khổ lực dụng công, thì trước tiên phải nhận ra Thiên Lương, Chân Tâm. Nhờ Chân Tâm mà Luyện Kỷ, thì trong cảnh hắc ám đó có một điểm Dương Khí phát hiện, gọi là Chân Linh. Chân Linh đã hiện thì tà chánh phân minh, rõ ràng không bị vật dục kéo lôi, không bị trần duyên làm ô nhiễm.

Luyện kỷ rất dễ. Nếu không nhận biết Chân Tâm, thì không phân biệt được chính tà, không biết rõ thị phi. Thế là dĩ tâm chế tâm, dùng Nhân Tâm mà dụng công, cưỡng chế, cưỡng tác, cho nên nói:

Khước trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh, Xu hướng Chân Như diệc thị sai 卻 除 妄 想 重 增 病 趨 向 真 如 亦 是 差,

làm sao tới được Vô Kỷ Chi Xứ.

Ngu nhân không biết, nhận lầm nhân tâm là Chân Tâm. Không phải vậy.

Chân Tâm là Vô Tâm. Vô Tâm chi Tâm mới là Thiên lương chi tâm. Có được Thiên Lương chi tâm ấy, thì làm sao mà con người không Phục Lễ được?

Bách Tự Bi viết: Động tĩnh tri tông tổ, vô sự cánh tầm thùy? 動 靜 知 宗 祖 無 事更 尋 誰.

Hoàng Hạc Phú viết: Ly nội thất ban Chu Sa vô chân chủng, tắc thời thời nan lưu 離 內 七 般 朱 砂 無真 種 則 時 時 難 留.

Trương Tam Phong nói: Trúc cơ thời, tu dụng thác thược, Luyện kỷ thời hoàn yếu Chân Diên 築 基 時 須 用 橐 籥, 煉 己 時 還 要 真 鉛.

Tất cả đều là biệt danh của Thiên Lương Chân Tâm.

Ôi Thiên Lương Chân Tâm đâu có dễ biết? Nếu ai mà biết thì là Đắc kỳ Nhất nhi vạn sự tất.[8]

Hình 10. Dương trưởng, Âm tiêu 陽 長 陰 消

(Giữa có 2 vòng tròn. Vòng ngoài đen vòng trong trắng. Bên phải có chữ Dương Khí nhật tiệm tăng, bên phải có chữ Âm Khí nhập tiệm giảm. Phía dưới có chữ: Chấn Phát Đạo Tâm, Tiêu Hóa Nhân Tâm.)

Nhận biết Thiên Lương Chân Tâm là Chủ Nhân Ông. Điềm nhiên ngồi ngự tại Trung Ương, vi Đạo nhật diệt, vi Công nhật trương. Dương khí ngày một tăng, Âm Khí ngày một tiêu. Lớn thì càng ngày càng lớn, nhỏ thì càng ngày càng nhỏ. cứ thế cho đến khi không còn cách nào tiêu trưởng thêm được nữa, thế mới là Cực Công.

Ngu nhân không biết tưởng cứ Tĩnh tọa vô vi, tịch diệt, ngoan không, thì Dương Khí tự nhiên sẽ trưởng, Âm Khí tự nhiên sẽ tiêu. Không phải vậy. Vả Hoàn Đơn là từ Âm Trung trở về Dương vậy, Nếu lấy Tĩnh tọa Vô Vi, tịch dệt, ngoan không, mà muốn phục Dương thì làm sao mà Dương tự lai, Âm tự thoái được?

Ngộ Chân Thiên viết:

Túng thức Chu Sa dữ Hắc Diên,

總 識朱 砂 與 黑 鉛

Bất tri Hỏa Hậu dã như nhàn.

不 知火 候 也 如 閑

Đại đô toàn tạ tu trì lực,

大 都全 藉 修 持 力

Hào phát sai thù bất kết đơn.

毫 髮差 殊 不 結 丹

Nếu biết Chu Sa với Hắc Đơn,

Hỏa hầu không biết cũng như không.

Chung qui toàn dụng tu trì lực,

Nếu sai tơ tóc, sẽ hỏng Đơn.

Như vậy, sẽ hiểu thế nào là Tiến Dương Thoái Âm vậy.[9]

Hình 11. Toản Thốc Ngũ Hành 攢 簇 五 行

(Hình vẽ này ở giữa có Ngũ Hành phân phối như sau:

     Thủy

Kim Thổ  Mộc

     Hỏa

Bên phải có chữ: Ngũ Hành Nhất Khí, Bên trái có chữ: Tứ Tượng Hòa hợp. Phía dưới có chữ: Ngũ Đức câu bị, Tam Gia Qui Nhất.)

Dương Trưởng, Âm Tiêu cốt là biết Toản Thốc Ngũ Hành. Ngũ Hành Toản Thốc, thì đại Đạo có cơ thành.

Công phu Toản Thốc, là biết từ Hậu Thiên Ngũ Hành trở về Tiên Thiên Ngũ Hành. Hậu Thiên Ngũ Hành thì cái này khắc với cái kia, Tiên Thiên Ngũ Hánh thời cái này sinh cái nọ. Phản là từ Tương Khắc trở về Tương Sinh. Ngũ Hành tương sinh hồn nhiên Thiên Lý, thế là Ngũ Hành nhất khí, Tứ tượng hòa hợp vậy.

Người ngu không biết nghĩ rằng Lấy Ý dẫn khí Tâm Thận

Cho rằng trên dưới Tương Giao; vận Can Phế chi khí cho tả hữu gặp nhau, thế là Toản Thốc Ngũ Hành. Không phải vậy. Vì Khí của Ngũ Tạng là vật hữu hình. Vật hữu hình là vật Hậu Thiên vật chất nhơ bẩn, có thành có bại, thì làm sao mà ngưng kết được Mệnh Bảo vĩnh cửu Bất Hoại được? [10]

Hình 12. Âm Dương hỗn hợp 陰 陽 混 合

(Hình vẽ trên có 3 vòng tròn đồng tâm. Hình tròn ngoài cùng, ½ trái đen, ½ phải trắng. Hình tròn giữa ½ phải đen, ½ trái trắng. Hình tròn trong cùng hoàn toàn trắng. Trên vòng tròn có chữ Thái Cực. Phải có chữ Âm Trung Hữu Dương; Trái có chữ Dương Trung hữu Âm. Phía dưới có chữ Tức Anh Nhi Diện Mục.)

Ngũ Hành từ Âm Dương phân xuất. Ngũ Hành toản thốc là Ngũ Hành hiệp nhất, tức là Âm Dương hợp nhi vi Nhất. Âm Dương hỗn hợp, là Kim Đơn thành tượng, là Hài Nhi Diện Mục. Bất quá là Hậu Thiên chi khí, chưa Hóa tận; Chưa hóa tận, nay hoàn phục về với Tiên Thiên, và Hậu Thiên thuận theo Tiên Thiên, thì cũng không gây họa. Từ đó, thêm một lần công phu nữa, thì Kim Đơn thành vậy.

Kẻ ngu không biết hoặc nghĩ là Tâm Thận tương giao, hoặc Nhâm Đốc tương hội, hoặc Nam Nữ tương giao, là Âm Dương hợp nhất. Không phải vậy.

Vả Kim Đơn là Tiên Thiên Hư Vô chi Khí ngưng kết mà thành, chứ đâu phải là Hậu Thiên hữu hình chi vật có thể ngưng kết mà thành đâu.[11]

Hình 13. Hồn nhiên nhất Khí 渾 然 一 氣

(Trong Hình, giữa có Vòng tròn trắng chia đôi. Trên có chữ Thủy Cực. Bên phải có chữ: Cương Nhu Tất Hóa. Bên trái có chữ: Vật Ngã giai Không. Bên dưới có chữ Anh Nhi Diện Mục.)

Sau khi Âm Dương đã hoàn phản về Hỗn Thành Anh Nhi, liền vận Thiên Tiên Chân Hỏa để tẩy hết Hậu Thiên Dư Âm, và trở về địa vị Bất Thức, Bất Tri, Thần Tàng Khí Tụ, như nói là Đàn Ông Mang Thai vậy.

Sự mang thai này chính là Anh Nhi Diện Mục, Chính là Sinh Thân thụ Khí, là Thủy Cực, là Thái Ất hàm Chân khí.

Ngu nhân không biết cho là hái Hồng Diên, Chân Hống, là hái Mai Tử (quả Mai), mà ăn mà nuốt, tưởng thế là Kết Thánh Thai. Không phải thế. Nếu nó là Hồng Diên, Mai Tử kết thành Thánh Thai, thì cái thai đó chỉ là Súc Khối, Nhục Đoàn, là Xúc Tử Quỉ Thai mà thôi. Còn vọng tưỡng gì khác nữa.

Hình 14. Thái không Hư Vô 太 空 虛 無

(Trong hình, chính giữa có một vòng tròn trắng. Bên trên có chữ Vô Cực. Bên phải có chữ: Hữu Vô Bất lập; bên trái có chữ: Thiên Địa qui Không; phía dưới có chữ Vị Sinh Thân Diện Mục.)

Thánh Thai ngưng kết, thêm vào 10 tháng ôn dưỡng, dùng Thiên Nhiên Chân Hỏa huân chưng phanh luyện, từ bé đến lớn, từ mềm đến cứng, bác tận quần Âm, Thai viên, Đơn thành. Như dưa chín rụng cuống, hốt nhiên đả phá hỗn độn, sinh ra Thanh Tịnh pháp thân, nhảy vào cảnh Thái Không Hư Vô, và siêu xuất ra ngoài Tam Giới, tức là Vị Sinh Thân Dĩ Tiền Diện Mục, tức là Vô Cực Diện Mục, là Đạo qui Vô Cực, hình thần câu diệu, dữ Đạo hợp Chân, thế là chí bình sinh của Đại Trượng Phu đã thực hiện được rồi vậy.

Kẻ ngu không biết, hoặc Đối Kính Diễn Thần, hoặc Mặc Tưởng Đỉnh Môn, hoặc Diện Bích vong hình, xuất Âm Thần v.v… Không phải vậy, Kim Đơn Thoát Hóa chi thần, là Dương Thần, cái gì là Thần xuất ra nhờ Tĩnh Công đều là Âm Thần. Dương Thần thời vạn tải trường tồn, bất sinh, bất diệt. Còn Ân Thần thì chưa bị Hỏa Luyện, là Phao Thân, hoặc Nhập Thân thiên môn vạn hộ, nếu không được Kim Đơn Đại Đạo điểm hóa, thì tuy Âm Thần ra vào tự tại, thì vẫn chưa thoát Luân Hồi.

Cho nên nói: Nhiêu quân Thiên vạn kiếp, chung thị lạc Không vong 饒 君 千 萬 終 是 落空 亡.

Bảy đồ Hình trên đều là Nghịch Hành Tạo Hóa Tu Tiên Chi Đạo.

14 đồ hình trên đều bàn về Thuận Hành, Nghịch Vận.

Đại khái nên hiểu rằng phần dưới đây đều là đem Tượng Ngôn mà Phân phán tà chính, chỉ xuất thật nghĩa, Học giả nên loại suy mà tìm hiểu.[12]

******************         

CHÚ THÍCH

[1] Ngộ Chân Trực Chỉ, q.2, bài thơ 27.

[2] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 2, bài thơ 37.

[3] Bài Hỏa Hậu của Lưu Nhất Minh luận về hỏa hầu rất sơ sài. Tôi sẽ trở lại vấn đề.

[4] Các chú thich về Hình Vẽ và lời bàn của Dịch Giả trong quyển sách này đều được đánh chữ nghiêng và đặt trong ngoặc đơn.

[5] Tam giáo coi Trời là Vô Cực, là Xích tử Chi Tâm (Mạnh Tử, Ly Lâu Chươmg Cú Hạ, câu 12), là Anh Nhi Diện Mục (Tượng Ngôn Phá Nghi), là Bản Lai Diện Mục (Phật). là Vô. Suy ra, ta thấy rằng nếu trong ta có Vô Cực, thì Trời cũng luôn ở trong ta. Tam Giáo cho thấy Căn Nguyên ta là Trời, thì Mục Đích của ta cũng là Trời. Mà Trời thì Hoàn Thiện, nên Đại Học dạy ta Chỉ ư chí Thiện (nghĩa là phải Tiến tới Hoàn Thiện. Bức tranh Trời, tức là Vũ Trụ với Thiên Biến vạn Hóa được vẽ ngay trên Vô Cực. Vì thế, xét nguyên Vô Cực, thì nó là Vô. Bức tranh đó là tuồng Ảo Hóa, nên ta phải quên nó để trở về với Bản Thể ta là Vô Cực.

Cho nên Vô Cực chính là Khuôn Mẫu con người lý tưởng của chúng ta, đó chính là Vòng Tròn trắng toàn vẹn bên trong.

Chỉ nhìn vào mấy hình trên ta đã học được biết bao là bài học, đã tìm ra dược Chân Tướng, tìm ra được Căn Nguyên và Cùng Đích chân thực của cuộc đời chúng ta, đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời chúng ta: Chúng ta sinh ra để tiến hóa. Cái học này Mạnh Tử xưa gọi là cái học Tự Đắc (Mạnh Tử Ly Lâu hạ, tiết 14), mà lạ lùng thay cái mục đích mà chúng ta muốn vươn tới, cái mẫu người mà Chúng Ta muốn thực hiện, lại đã nằm sẵn trong chúng ta. Người xưa gọi thế là Qui Nguyên Phản Bản.

[6] Sống theo Ngũ Hành Tương Sinh, tức là sống theo Chiều Thuận của muôn vật, mới là Sống Đạo. Sống theo Ngũ Hành tương khắc, theo chiều Phá Tán, là sống theo Đời.

[7] Nói Chân Đạo là Đạo Hoàn Phản thật hết sức sâu xa. Nói Hoàn Phản là Hoàn Phản về với Bản Lai Diện Mục của mình, lại còn sâu xa hơn nữa.

[8] Chân Đạo là phải biết phân biệt Chân Tâm và Nhân Tâm hay Phàm Tâm. Chân Tâm là Lòng Trời, nhân Tâm là Lòng người. Biết dùng Lòng Trời để chế ngự lòng người, biết theo Quang Minh chính Đại (Lòng Trời, phối Thiên), biết chế ngự cái gì Tư Tà Hắc Ám (lòng người) thì sẽ dễ dàng đắc Đạo. Thế là luôn sống thuận theo tiếng của Lương Tâm, Lương Tri vậy.

[9] Đạo Lão, Đạo Khổng chung qui là Đạo Tự Nhiên dạy người: Khử Âm, Thoái Âm (Khử Nhân Dục), và Tiến Dương (Tồn Thiên Lý). Như vậy là một thứ công phu suốt đời.

[10] Học Dịch thì biết Ngũ Hành có hai chiều sinh khắc. Chứ chưa biết Ngũ Hành Tương Sinh là Chiều Sinh Thánh sinh thần, là Thiên Lý hồn nhiên bất hoại. Cũng không biết Ngũ Hành tương khắc là chiều hủy diệt, sinh nhân sinh vật. Xưa nay tôi luôn theo chiều thuận, và tránh mọi nghịch cảnh, nay nhờ Lưu Nhất Minh tôi mới thấu triệt nghĩa lý của Ngũ Hành Tương Sinh.

[11] Như vậy đạo Kim Đơn là đạo Ức Âm, tiến Dương. Khi tới Thuần Dương là Đơn Thành.

[12] Càng đọc tôi càng hiểu Tam Giáo tu hành cốt là dạy người thành Trời. Lúc đứng tuổi là lo làm người cho hẳn hoi. Lúc già là lo làm Trời, treo gương cho đời, tiến tới Chân Thiện Mỹ. Tiến tới Chân Thiện Mỹ, là thành Trời, là Tìm lại được Bản Lai diện Mục của mình, tìm ra được Xích Tử Chi Tâm của mình, hay Vô Cực, Thái Cực của mình. Tìm ra được Trời trong mình là tìm ra Niết Bàn trong Mình, tìm ra được Dương Thần. Bao lâu còn lo xuất Âm Thần, bỏ thân này lìa thân nọ, còn lo phao thân, là còn ở trong vòng Luân Hồi.

Cơ nói : Học là học để làm Trời, Có đâu kiếp kiếp làm người thế gian. Làm trời tức là Hình Thần câu diệu, dữ Đạo hợp chân vậy.

Chúng ta không nên lạc vào mê đồ trận từ ngữ của Phật Lão, mà phải có óc chất sáng suốt để nhận định.

Uổng thay, xưa nay không biết bao nhiêu người uổng phí thời gian, uổng phí tuổi già, vì không tìm ra được mục đích của con người. Theo tôi, thì Làm Trời cũng chính là làm Phật, làm Thánh, làm Tiên.

******************         

TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI

象 言 破 疑

QUYỂN HẠ

Hình 15. Kim Đơn
金 丹

(Hình giữa là Hình Tròn trống giữa. Bên phải có chữ Viên đà đà, quang chước chước; bên trái có chữ Tịnh khỏa khỏa, quang chước chước; phía dưới có chữ: Sắc Không Bất Chước, Thành Minh Kiêm Cai.)

Kim là Kiên Cương Vĩnh Cửu Bất Hoại chi vật. Đơn là Viên Mãn Quang Tịnh Vô Khuy chi vật. 金 者 堅 剛 永 久 不 壞 之 物. 丹 者 圓 滿 光 淨 無虧 之 物. (Kim giả kiên cương vĩnh cửu bất hoại chi vật. Đan  giả viên mãn quang tịnh vô khuy chi vật.)

Các Tiên xưa mượn tên Kim Đơn để ví dụ cái Tính Bản Lai Viên Minh Chân Linh. Cái Tính đó Nho Gia gọi là Thái Cực, Thích gọi là Viên Giác, Đạo gọi là Kim Đơn. Tên tuy chia Ba, nhưng chỉ là Một Vật. Nho tu theo thì gọi là Thánh, Thích tu theo thì gọi là Phật, Đạo tu theo thì gọi là Tiên. Tam giáo khi thành Đạo căn bản là tu được cái Bản Lai Chân Tính đó.

Kẻ ngu không biết nên dùng ngũ kim, bát thạch để đoàn luyện thành dược mà họ gọi là Kim đơn, không phải vậy.

Chân Tính là từ trong lò Đại Tạo lớn của Trời Đất, đã qua Lửa đoàn luyện thành đơn đồng trường cửu cùng trời đất, đồng quang minh với Nhật Nguyệt, như vậy há phải là vật hữu chất trong thế gian mà thành được đâu.[1]

Hình 16. Thiên Địa chi tâm 天 地 之 心

(Trong hình vẽ này, nơi chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài nửa trên trắng, có chữ Thiên. Nửa dưới đen, có chữ Địa. Vòng tròn trắng trống rỗng bên trong, có chữ Tâm. Phía phải có chữ Hắc Bạch Tương Phù. Bên phải có chữ Âm Dương tương hợp. Phía dưới có chữ Tịch Nhiên Bất Động, cảm nhi toại thông.)

Điều cần yếu nhất của Tu Chân là phải nhận ra được Thiên Địa chi Tâm. Thiên Địa chi tâm là Thiên Lương Chân Tâm đã nói trước đây.

Cái Tâm này, hoảng hốt tra minh, là một hiện tượng không nên coi thường. Nó có hiện tượng Hư Thất sinh bạch và đột nhiên sáng ra, làm lộ xuất đầu đuôi. Thiên thuộc Dương Địa thuộc Âm. Thiên Địa chi Tâm là Âm bất ly Dương, Dương bất ly Âm, là Âm Dương tương hợp chi tâm. Âm Dương hợp mới có Tâm này, Âm Dương ly không có Tâm này. Nó phi sắc phi không, tức sắc, tức không, phi Hữu, phi Vô, tức Hữu tức Vô, Sắc Không Vô Ngại, Hữu Vô Bất Lập, nó là Chân Không Trung chi diệu hữu.

Biết được Tâm này, giữ không để mất, thế là Đại Bản đã Lập, còn các chuyện khác sẽ dễ dàng.

Ngu nhân không biết, cứ tưởng cái tâm thịt ngoan không này là Thiên Địa chi Tâm, hay lấy Động Tâm hay Tĩnh Tâm là Thiên Địa chi tâm, hay coi cái Tâm ở Trung Cung là Thiên Địa chi tâm, tất cả đều không phải.

Vả Ngoan Tâm là Hậu Thiên tư dục chi tâm. Động tâm là vướng vào hữu, Tĩnh tâm là vướng vào vô, Chú Tâm là hướng vào Tượng, những cái Tâm ấy đâu phải là Thiên Địa chi Tâm.

Hai bên như Mây và Bùn, cho nên nói Thiên Địa chi tâm là cái gì Động Tĩnh như Một, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động, như thế thì đâu phải là Nhục Đoàn Ngoan Tâm? [2]

Hình 17. Yển Nguyệt Lô
偃 月 爐

(Chính giữa hình vẽ là một hình tròn, hầu như đen tuyền. Phía dưới có một hình trăng lưỡi liềm ngửa mặt lên trên [Yển Nguyệt Lô]. Phía phải có chữ: Tĩnh Cực, nhi Động. phía trái có chữ Âm Lý sinh Dương; phía dưới có chữ: Đạo Tâm Phát Động.)

Yển Nguyệt là Mặt Trăng ngửa có hình Mày Tằm. Mặt trăng sau ngày 30 sáng lại. Ví như con người Tĩnh Cực hốt nhiên thấy Thiên Căn Hiện Lộ, cũng gọi là Đạo Tâm, có hình tượng mặt trăng ngửa. Lô là Lò để chứa lửa, chính vì Đạo Tâm là Dương Quang, có thể đoàn luyện tẩy trừ hết Khí Âm trong con người, chơ nên gọi là Lò. Kỳ thật Đạo Tâm chính là Thiên Địa chi tâm. Thiên Địa chi Tâm là Thể, Đạo Tâm là Dụng, hai đằng tuy hai nhưng là một.

Kẻ ngu không biết, coi phía dưới Đơn Điền, phía trên xương hông là Yển Nguyệt Lô; hoặc nhìn chữ Tâm thấy nó cong cong hướng về phía trên, nên tưởng trái Tim con người là Yển Nguyệt Lô;, còn phái Thái Chiến thì lại coi Âm Hộ đàn bà là Yển Nguyệt Lô. Tất cả đều sai.

Yển Nguyệt Lô chính là ánh sáng của Đạo Tâm. Ánh Sáng này chiếu vào đâu, thì nơi đó không còn tà ngụy. Nó có thể sinh thánh sinh tiên.

Tử Dương Ông nói:

Hưu nê Đơn Táo phí công phu, Luyện Dược tu tầm Yển Nguyệt Lô

休 泥 丹 灶 費 功 夫煉 藥 須 尋 偃 月 爐 偃 月 爐:

[3] Khỏi dựng lò đơn phí công phu, Luyện Dược tìm sao được Đạo Tâm.

Lại nói:

Yển nguyệt lô trung Ngọc Nhụy sinh. Chu Sa Đỉnh lý Thủy Ngân bình, Chỉ nhân hỏa lực điều hòa hậu, Chủng đắc hoàng nha tiệm trưởng thành

中 玉 蕊 生 朱 砂 鼎 裡 水 銀 平 只 因 火 力 調 和 後 種 得 黃 芽 漸 長 成

(Yển Nguyệt lô trung Ngọc Nhụy sinh. Trong đỉnh Chu Sa thủy ngân bình. Chỉ nhân hỏa lực điều hòa hậu, Trồng được Hoàng Nha cứ lớn dần.) [4]

Như vậy sẽ hiểu được ý của Yển Nguyệt Lô.[5]

Hình 18. Chu Sa Đỉnh 朱 砂 鼎

(Hình vẽ này là 1 vòng tròn trắng với chữ Thần ở chính giữa.Bên phải có chữ Chí Hư Chí Linh, bên trái có chữ Hữu Cảm Hữu Ứng. Phía dưới có các chữ Nguyên Thần Thường Tồn, Thức Thần bất khởi.)

Chu Sa là màu của Lửa. Vì lửa có sức đoàn luyện chư vật, khứ cựu, hoán tân, cho nên con người coi cái Đỉnh là tượng hình cho lửa. Nó là vật Tối Linh Tối Thần, biến cải vạn sự, nên ví dụ nó là Thần Minh, chiếu khắp mọi nơi, thành tựu vạn sự. Vả Thần có Nguyên Thần cũng có Thức Thần. Thức Thần có thể Bại Đạo, Nguyên Thần có thể Thành Đạo.

Thức Thần thì là Lịch Kiếp Căn Trần, nhờ Nguyên Thần linh ứng nên thành vọng, nó hoạt động cho tới khi táng khứ Tính Mệnh mới ngừng. Người tu hành Đại Pháp phải biết dùng Nguyên Thần để chế ngự Thức Thần. Thức Thần mà không khởi thì Tà Hỏa sẽ diệt, và Chân Hỏa sẽ sinh, Khí Trời hòa hợp, Sinh Cơ bất tức, Đại Đạo có hi vọng thành tựu.

Kẻ ngu không biết, nhận cái Thức Thần Chiêu Chiêu Linh Linh làm Nguyên Thần là sai. Vì Nguyên Thần là Bất Thần chi Thần, hết sức Linh Diệu, hết sức Chân Thực, nó là Thần Linh thật vậy. Tuy nhiên tronh Linh có giả, cái Linh giả tạo chính là Luân Hồi chủng tử.

Cổ tiên xưa nói: Vô lượng kiếp lai sinh tử bản, Si nhân hoán tác Bản Lai Nhân

無 量 劫 來 生 死 本 痴 人 喚 作 本 來 人

(Cái gốc Sinh Tử từ Muôn Kiếp, người Ngu lại ngỡ Gốc con người).

Đó là Thức Thần vậy.[6]

Hình 19. Nguyên (Huyền) Tẫn chi môn 玄 牝 之 門

(Hình vẽ chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài chia thành 2 nửa: Nửa trắng bên phải, nửa đen bên trái. Bên phải có chữ: Âm Dương chi Môn; phía trái có chữ: Động Tĩnh chi quan. Phía dưới có chữ: Tứ đại bất chước xứ.)

Nguyên (Huyền) là Dương, là Cương, là Động. Tẫn là Âm, là Nhu là Tĩnh. Nguyên Tẫn chi Môn là Khiếu Âm Dương, là Cửa Cương Nhu, là cửa Động Tĩnh, nó vô phương, vô sở, vô hình, vô tượng, phảng phất, khúc tiếu, là một khiếu Hư Huyền, ở nơi Ngũ Hành không thể tới, tứ đại không thể vào, chí vô nhưng hàm chí hữu, đó là Âm Dương tương hợp nhất khiếu.

Kẻ ngu không biết, tưởng Mũi Mồm là Huyền Tẫn. Mũi Mồm là cửa ra vào của Hô Hấp, không phải là Cửa ra vào của Âm Dương. Âm Dương tương hợp thời sinh tiên sinh Phật, Mũi Mồm hô hấp đâu có sinh Tiên sinh Phật.

Ngộ Chân Thiên có thơ:

Huyền Tẫn chi Môn thế hãn tri,

玄 牝 之 門 世 罕 知

Mạc tương khẩu tị vọng thi vi. [7]

莫 將 口 鼻 妄 施 為

Huyền tẫn chi môn ít kẻ hay,

Phải đâu mũi miệng hít thở này.

Chính là vì vậy.[8]

Hình 20. Nguyên (Huyền) Quan Nhất Khiếu 元 關 一 竅

(Hình vẽ chính giữa có Vòng Tròn trắng chia thành Tứ Chính. Phía phải có Chữ: Thần Khí Chi Huyệt, phía trái có chữ: Khảm Ly Chi Tinh, phía dưới có chữ: Hữu Vô tương nhập xứ.)

Nguyên Quan (Huyền Quan) là quan khẩu chí Huyền, chí Diệu, cũng gọi là Sinh Tử Hộ, Sinh Sát Thất, Thiên Nhân giới, Hình Đức Môn, Hữu Vô Khiếu, Thần Khí Huyệt, Hư Thật Địa, Thập Tự Lộ v.v… Tất cả những danh từ đó cốt để hình dung cái Khiếu đó mà thôi. Nguyên quan cũng là biệt danh của Huyền Tẫn. Ví Âm Dương ở đó, cho nên gọi là Nguyên Tẫn Môn, vì nó Huyền Diệu bất trắc, nên gọi là Huyền Quan Khiếu. Kỳ thật chỉ là Khiếu này mà thôi.

Kẻ ngu không biết tưởng chỗ dưới Tim trên Thận là Huyền Quan, hoặc coi tim Rốn là Huyền Quan, hoặc coi Vĩ Lư là Huyền Quan, hoặc coi Giáp Tích Song Quan là Huyền Quan. Tất cả đều sai.

Huyền Quan thời vô định vị, có định vị thì sai. Trần Nê Hoàn gọi Huyền Quan là Niệm Đầu khởi Xứ (chỗ phát sinh ra Tư Tưởng). Tưởng là Đúng nhưng vẫn chưa phải. Niệm Đầu khởi Xứ là đã sa vào Hậu Thiên, đã là Hữu Hình chi vật thì làm sao đáng gọi là Huyền Quan.

Nay ta chỉ rõ nó cho đại chúng biết nó là ở chỗ Hoảng Hốt Tra Minh chi gian, là bờ cõi của Hữu Vô. Ngộ Chân Thiên viết:

Hoảng hốt chi trung tầm hữu tượng,

恍 惚之 中 尋 有 象

Yểu minh chi nội mịch Chân Tinh,

杳 冥 之 內 覓 真 精

Hữu Vô tòng thử tự tương nhập,

有 無 從 此 自 相 入

Vị kiến như hà tưởng đắc thành.[9]

未 見如 何 想 得 成

Linh tri phải tìm trong Hoảng Hốt.

Chân Tri phải thấy, tự Tra Minh.

Hữu Vô từ đó liền tương hợp.

Nếu không biết vậy, luyện sao thành?

Tứ Bách Tự Bi viết:

Thử Khiếu Phi phàm Khiếu,

此 竅非 凡 竅

Kiền Khôn cộng hiệp thành,

乾 坤共 合 成

Danh vi Thần Khí huyệt,

名 為神 氣 穴

Nội hữu Khảm Ly tinh.

內 有坎 離 精

Khiếu này chẳng phải Khiếu Phàm,

Kiền Khôn cộng lại mới hoàn thành nên.

Thần Khí Huyệt ấy chính tên,

Trong có Ly Khảm tinh nguyên đất trời.

Chính là để chỉ Khiếu này.[10]

Hình 21. Cốc Thần 谷 神

(Giữa hình vẽ trên, có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài chia thành 2 nửa: Nửa phải trắng, có chữ Cốc; nửa trái đen cũng có chữ Cốc. Hình tròn trắng giữa có chữ Thần. Phía phải có 4 chữ: Âm Dương tương hợp; phía phải có chữ: Cốc thần thường tồn; phía dưới có các chữ: Cốc đắc Nhất dĩ doanh.)

Cốc Thần là Thần ở trong Không Cốc. Hang tên là Nhai Oa Oa.

Vì 2 bên là núi cao, giữa có một hang. Người nói trong hang, phát thành tiếng vang, nên gọi là Cốc Thần.

Người tu Đạo mượn cảnh này để ví dụ thần Hư Linh trong con người.

Vì Tâm Hư thời Linh. Không Hư thì không Linh. Linh sinh ra từ Hư cho nên gọi là Cốc Thần.

Thần là Vô Hình Vô Tượng, linh không thể tưởng, cho nên nói: Tịch Nhiên Bất Động, Cảm Nhi Toại Thông, đó là Thần này. Ngưng kết Thánh Thai cũng là Thần này.

Kẻ ngu không biết, nên gọi Thần Tồn Thiên Cốc hay Thần Thủ Huỳnh Đình là Dưỡng Cốc Thần, không phải vậy.

Nói Thần Tồn Thiên Cốc hay Thần Thủ Huỳnh Đình, thì là thần bất hư, thì làm sao có thần. Bất hư là không có Thần, thì làm sao mà gọi là Cốc Thần được.

Ngộ Chân Thiên viết:

Yếu đắc Cốc Thần trường bất tử,

要 得谷 神 長 不 死

Tu bằng Huyền Tẫn lập căn ki.

須 憑元 牝 立 根 基

Chân tinh ký phản Hoàng Kim thất,

真 精既 返 黃 金 室

Nhất khỏa linh quang vĩnh bất ly.

一 顆靈 光 永 不 離

Muốn được Cốc Thần thường Bất Tử,

Huyền Tẩn phải lo lập căn ki.

Chân tinh về được Huỳnh Kim thất,

Một hạt Minh Châu chẳng hề ly.

Huyền Tẫn mà hợp thì giữa sẽ trống. Trống thì Chân Linh sẽ thường tồn, và sẽ không tối tăm. Chân Tinh, Linh Quang hay Cốc Thần đều là những tiếng ví dụ cái Chân Linh đó vậy.[11]

Hình 22. Kim Đỉnh, Ngọc Lô 金 鼎 玉 爐

(Hình này, trên có hai quẻ Kiền (đen), Khôn (trắng). Dưới quẻ Kiền có ghi: Kiền cương tác Đỉnh dược bất phi. Dưới quẻ Khôn có ghi: Khôn Nhu vi Lô hỏa bất táo.)

Kim Đỉnh là vật Cương Cường Kiên Cố. Dụ nhân chí niệm chuyên nhất, có thể Tải Đạo, lại còn gọi là Kim Đỉnh.

Ngọc Lô là Ôn Nhu Bình Tĩnh chi vật, dụ Công Phu tiệm tiến của con người, có thể Bền Xa, cũng còn gọi là Khôn Lô.

Kẻ ngu không biết, nên làm đỉnh sắt, đắp lò đất, để thiêu luyện kim thạch, mong luyên thành đơn, không phải vậy.

Vì Vạc hay Lò hữu hình thì chỉ có thể luyện hữu hinh phàm dược, chứ không luyện được Tiên dược vô hình.

Cổ Tiên nói:

Đỉnh đỉnh nguyên vô đỉnh, Lô lô diệc phi lô

鼎 鼎 原 無 鼎 爐 爐 亦 非 爐

(Đỉnh vốn không phải Đỉnh, Lô thật sự chẳng phải Lô).

Gọi là Lô Đỉnh là chỉ công phu của người Tu Đạo, biết sử dụng Cương Nhu để làm nên chuyện.

Cũng như các nhà nhiêu luyện gia nói:

Có Đỉnh không thể không có Lô, có Lô không thể không có Đỉnh. Có đủ Đỉnh Lô mới có thể thành dược vậy.

Hình 23. Ô Thố, Dược Vật 烏 兔 藥 物

(Hình vẽ này trên có 2 quẻ Ly và Khảm. Dưới chữ Ly có chữ Nhật, dười chữ Khảm có chữ Nguyệt. Các hào dương trong 2 quẻ Khảm Ly đều tô đen, các hào Âm đều tô trắng. Các Hình từ 23 đến 26 cũng theo một lối như vậy. Dưới quẻ Ly, có hàng chữ: Ký khu nhị vật qui Hoàng Đạo, dưới quẻ Khảm có hàng chữ: Trẩm đích Kim Đơn bất giải sinh.)

Trong Nhật, có Kim Ô, là Âm ở trong Dương, trong Nguyệt có Ngọc Thố, là Dương ở trong Âm. Ở nơi quẻ, thì Nhật là Ly, ngoài là Dương trong là Âm, ý muốn nói trong Cương có Nhu. Nguyệt ở quẻ là Khảm, ý muốn nói trong Nhu có Cương.

Đạo Kim Đơn chỉ cốt là lấy Nhu ở trong Cương, lấy Cương ở trong Nhu. Đó là hai vị Chân Âm Chân Dương của Đại Dược. Khi dung hóa chúng thành Nhất Khí thì gọi là Đơn.

Gọi là Dược Vật vì Chân Âm, Chân Dương có thể cải lão hoàn đồng, diên niên ích thọ vậy.

Đến như nói Qui Xà bàn kết, Thủy Hỏa tương tế, thì cũng là ý đó, thủ tượng đa đoan để nói lên Đạo Chân Âm Chân Dương hợp nhất.

Kẻ ngu không hiểu, thấy hai chữ Ô, Thố, thì dùng miệng đề húy Nhật Tinh, Nguyệt Hoa, hoặc dùng mắt để tiếp Nhật Tinh Nguyệt Hoa, như vậy là sai.

Vả Trời có Nhật Nguyệt của Trời, người có Nhật Nguyệt của người.

Chân Âm Chân Dương trong con người chính là Ô Thố, Nhật Nguyệt vậy.

Thiên biên Nhật Nguyệt Tinh Hoa, với ta rất xa, làm sao mà hái về được. Nếu như hái được thì chỉ là Ngoại Thân Tà Khí mà thôi.

Lâu ngày trong thì sẽ sinh bệnh cổ trướng, ngoài thì bị mù, không được ích lợi gì cả, chỉ bị tổn hại mà thôi.

Hình 24. Long Hổ tương hội 龍 虎 相 會

(Hình vẽ này có 2 quẻ Chấn Mộc, Đoài Kim. Dưới quẻ Chấn có hai hàng chữ: Long tòng Đông Hải lai, Hồ hướng Tây Sơn xuất. Dưới quẻ Đoài có hai hàng chữ: Lưỡng thú chiến nhất tràng, Hóa thành Thiên Địa Tủy.)

Long Tính Nhu chủ sinh Vật, thuộc Mộc, tại quẻ là Chấn, dụ là Nhu Tính con người.

Chấn vốn là Dương, nhưng lại có Tượng Nhu, vì là Dương Thiểu Âm Đa vậy.

Hổ Tính Cương chủ Sát vật, chủ Kim, ở nơi quẻ là Đoài, dụ là Cương Tình của con người.

Đòai vốn là Âm, nhưng lại có Tượng Cương, vì Âm Thiểu Dương Đa vậy.

Tính ấy, tình ấy, đôi bên xa cách nhau, đó là Khí Tính Trần Tình làm Thương Sinh. Nếu hai bên tương hợp thì là Chân Tính, Chân Tình và Ích Sinh. Long Hổ tương hội, thế là Dĩ Tính Cầu Tình, Dĩ Tình qui Tính, Tính Tình hợp nhất vậy. Đến như Đông Gia Nữ, Tây Xá Lang mà phối hợp thành phu thê, Trưởng Nam, Thiếu Nữ lưỡng gia hợp nhất, Kim Mộc tương tính, các tượng như vậy, đều là ví dụ cho cái Chân Tính Chân Tình giao hội.

Kẻ ngu không biết coi Gan là Long, coi Phổi là Hổ, vận Can Phế chi khí về tim Rốn (trung tâm của Rốn), hay về Đan Điền, hay về Huỳnh Đình, tưởng thế là Long Hổ Giao Cấu, như vậy là sai.

Có biết đâu rằng Can Phế chi khí là Hậu Thiên hữu hình chi khí, không thể đem về ngưng kết ở một nơi nào, thế là miễn cưỡng đoàn tụ, lâu ngày sẽ thành bệnh Cổ, không thuốc gì chữa nổi, làm cho mình chóng chết thật là ngu vậy.

Hình 25. Khảm Ly điên đảo 坎 離 顛 倒

(Hình vẽ này có quẻ Khảm ở trên, quẻ Ly ở Dưới (Thưỷ Hỏa Ký Tế). Bên phải có hàng chữ: Thủ tương Khảm vị Tâm Trung Thực; bên trái có hàng chữ: Điểm hóa Ly cung Phúc nội Âm; Phía dưới có chữ Thủy Hỏa tương tế.)

Quẻ Khảm Âm Ngoài, Dương trong; quẻ Ly Dương Ngoài, Âm Trong.

Dương trong là Thủy, Âm ngoài là Hỏa.

Đơn Đạo lấy hào Dương trong quẻ Khảm, thay cho hào Âm trong quẻ Ly.

Lấy nước giúp lửa, nên gọi là Thủy trên Hỏa dưới, là Thủy Hỏa Điên Đảo, hay Khảm Ly điên đảo.

Nói thế là muốn chỉ về Thần Thủy của Đạo Tâm Chân Tri, dùng để chế ngự Tà Hỏa của Nhân Tâm Linh Tri vậy.

Chân tri của ta, thì Ngoài Tối trong sáng, như quẻ Khảm ngoại Âm, nội Dương. Linh Tri của ta, thì Ngoài Sáng Trong Tối, như quẻ Ly, ngoại Dương, nội Âm. Dùng Chân Tri để chế Linh Tri, dùng Linh Tri để thuận Chân Tri, Chân Linh như nhất, ngưng kết thành Đơn, cũng y như Điên Đảo Khảm Ly, Thủy Hỏa tương tế vậy.

Đến như Anh Nhi, Xá Nữ, Hắc Diên, Hồng Cống cũng đều cốt hình dung Chân Tri, Linh Tri để cho hai bên hợp nhất vậy.

Kẻ ngu không biết, gọi Thận là Khảm, gọi Tim là Ly, vận thận khí giao lên Tâm, vận Tâm Khí giao xuống Thận, gọi thế là Điên Đảo Khảm Ly. Và còn có Thái Thủ Khuê Đơn. Gọi Nam nữ là Anh Nhi, Xá Nữ, gọi Đàn Ông nằm dưới, Đàn Bà nằm trên là Khảm Ly Điên Đảo. Các nhà Thiêu Luyện gia còn gọi là dùng Hắc Diên Chế Thủy Ngân, hoặc dưới Lò có Lửa, trong Vạc chứa nước, thế là Khảm Ly Điên Đảo, là Thủy Hỏa Tương Tế, những chuyện đó đều sai.

Phàm Đạo Tu Chân là chỉ tu những gì Chân Chính.

Cái gì là hữu hình là Vật Chất Cặn Bã đều không phải.

Cái gì là Giả là không Chân Thật thì làm sao có thể là Chân được.

Hình 26. Ngũ Hành Điên Đảo 五 行 顛 倒

(Hình này có 4 quẻ: Ly, Chấn ở phía phải, Khảm Đoài ở phía trái. Ở phía dưới bên phải có 2 hàng chữ: Ngũ Hành Bất Thuận Hành, Long tòng hỏa lý xuất; phía dưới bên trái có 2 hàng chữ: Ngũ Hành điên đảo thuật, Hổ hướng Thủy trung sinh.)

Ngũ Hành Thuận sinh là Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy.

Ngũ Hành Điên Đảo là Hỏa sinh Mộc, Thủy sinh Kim.             

Vì Gỗ mà đã sinh từ Lửa, thì là thứ gỗ không thể bị hủy hoại, như Mộc đã bị Hỏa đoàn luyện thành Khôi (tro), xuống đất thành thường tồn bất hoại.

Kim mà sinh xuất từ Nước thì sẽ thành loại Kim bất hoại. Như Tán Kim Lô Trung, hợp thành một khối, phía ngoài sáng láng.

Hỏa Sinh Mộc là ví dụ về Bản Tính Con Người, sinh ra từ lò Đại Tạo, là thứ Tính không hề bị Dao Động.

Thủy Sinh Kim là ví dụ Chân Tình Con Người, đã vượt qua bể dục, đã thoát ba đào, là thứ Tình không còn nhiễm Trần Cấu.

Cổ Tiên xưa nói:

Ngũ Hành Thuận Hành, Pháp Giới Hỏa Khanh, Ngũ Hành Điên Đảo, Đại Địa thất Bảo

五 行 順 行 法 界 火 坑 五 行 顛 倒 大 地 七 寶

chính là vì vậy.

Người ngu không biết nên vận Đông chuyển Tây, thái hạ, bổ thượng, lộn lạo trước sau, cho thế là Ngũ Hành Điên Đảo. Không phải vậy.

Có biết đâu rằng trong người ta là Thuần Âm, ngoài thì có Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, mà Nhãn Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, cũng đều là giả vật. Khi yết hầu đứt hơi, thì con người chỉ là một đống huyệt nhục xú uế. Có cái gì là Chân đâu. Dùng những giả vật như vậy mà mơ sẽ Liễu Tính, Liễu Mệnh, thì làm sao mà được?

Hình 27. Huỳnh Bà Môi Sính 黃 婆 媒 娉

(Hình vẽ có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn bên trong, nơi Tứ Chính có 4 chữ: Hỏa, Kim, Thủy, Mộc. Chính trung có chữ Mậu Kỷ, Phía dưới có 2 hàng chữ: Bên phải ghi: Ly Khảm hoàn vô Mậu Kỷ; bên trái ghi: Tuy hàm Tứ Tượng bất thành Đơn.)

Huỳnh Bà là trung ương thổ mẫu, có thể điều hòa Âm Dương, hòa hợp tứ tượng, cho nên gọi là Huỳnh Bà. Đơn Thư ví dụ đó là Chân Ý của Chân Tín, nó có thể hòa hợp Tính Tình, dưỡng Tinh Thần.

Chân Ý Chân Tín tức là Huỳnh Bà trong chúng ta. Gọi là Hoành Trung thông lý chính là vì thế.[12]

Kẻ ngu không biết dùng ý vận khí Ngũ Tạng, hội họp lại gọi là Huỳnh Bà Môi Sính. Lại còn có những kẻ tạo nghiệt coi một Bà Già biết nói, chuyên xui Nam Nữ hành dâm, lấy con gái trinh, lấy kinh nguyệt đầu tiên, lấy tinh huyết trai gái là Huỳnh Bà Môi Sính thật là quá sai vậy.

Chân Thổ thời Vô Vị, Chân Ý thời vô hình, Không vật nào mà không sinh, không lý nào mà không có, có thể Hội Tam Gia, hợp Ngũ Hành, nên gọi là Huỳnh Bà Môi Sính, chứ đâu phải là một Lão Phụ tác yêu, tác quái.

Hình 28. Nhị Bát Lưỡng Huyền 二 八 兩 弦

(Giữa Hình này có một vòng tròn đen trắng chia đôi: nửa phải trắng, nửa trái đen, phía phải có dòng chữ: Thượng Huyền Kim Bát Lạng, phía trái có chữ: Hạ Huyền Thủy Bán Cân; phía dưới có hai dòng chữ: Lưỡng Huyền hợp Kỳ Tinh, Kiền Khôn thể nãi thành.)

Mặt trăng giữa 2 ngày Hối Sóc thì tương giao với Mặt Trời.

Đến ngày mồng 3 thì đã hơi sáng, tới ngày mồng 8, thì Âm trung Dương bán như hình dây cung, nên gọi là Thượng Huyền.

Đến ngày 16 thì tròn đầy, có chút thai âm bên trong, Tượng có chút đen.

Đến ngày 23 thì Dương trung Âm bán, như hình dây cung. Thế là Hạ Huyền.

Thượng Huyền được Thủy Trung Chi Kim tám lạng. Hạ Huyền được Kim Trung Chi Thủy tám lạng. Hai Tám là Một Cân.

Kim Thủy cùng đình, là tượng Âm Dương tương hợp. Đơn Thư mượn thế để dụ Cương Nhu tương Đáng, bất Thiên bất Ỷ, chí Trung, chí Chính.

Kẻ ngu không hiểu cho rằng khi con trai 16 tuổi, thì nhị bát Lưỡng Huyền chi khí túc, phải lặc bế Âm tinh, hoặc cho rằng Hắc Diên bát lạng, Thủy Ngân nửa cân là Nhị Bát Lưỡng Huyền chi dược liệu, dùng để Thiêu Luyện, Phục Thực, đều không phải vậy.

Tứ Bách Tự viết:

Thượng Huyền Kim Bát lạng.

      上 弦金 八 兩

Hạ Huyền Thủy Bán Cân,

      下 弦水 半 斤

Lưỡng Huyền hợp kỳ Tinh,

      兩 弦合 其 精

Kiền Khôn Thể Nãi Thành.

      乾 坤體 乃 成

Lưỡng Huyền là Nhất Âm, Nhất Dương. Kiền Cương là Dương. Khôn Nhu là Âm. Âm Dương tương phối, Kiền Khôn Thể Thành.

Đơn Nguyên có tượng như vậy. Như vậy là hiểu được ý của Lưỡng Huyền.

Hình 29. Thử Mễ Châu 黍 米 珠

(Hình này chính giữa có một vòng tròn trắng. Chính giữa có chữ Châu, Trên dưới có hai chữ: Hồng Mông. Phía phải có chữ: Tiên Thiên, Tiên Địa; Phía trái có chữ: Bất Sắc, bất Không ; Phía dười có hàng chữ: Thái Ất hàm Chân Khí.)

Con người trước khi sinh ra, khi còn ở trong bào thai, khi còn Hỗn Hỗn, Độn Độn, hôn hôn, mê mê, chỉ có Hồn Nhiên Nhất Khí ban tòan, không có vật chi khác, nên gọi là Thái Ất hàm Chân Khí.

Khí này Chí Thần, Chí Diệu, Chí Hư Chí Linh; Chí Vô nhưng tàng Chí Hữu ; Tam Nguyên, Bát Quái, Tứ Tượng Ngũ Hành đều bao gồm ở bên trong. Nên tuy Vô Hình mà vẫn biến hóa vô cùng. Ngũ tạng,Lục Phủ, Cửu Khiếu, Bách Hài đều tự nhiên thành tựu.

Vì nó Chí Thần, Chí Diệu, Chí Hư, Chí Linh, nên còn gọi là Chân Linh, hay Bất Thần Chi Thần.

Khi còn trong lòng mẹ, một Khí Hàm Chân, gọi là Chân Khí.

Khi đã lọt lòng mẹ, thì Linh hàm Nhất khí nên gọi là Linh Khí. Một Khí làm thể, còn Chân Không, Chân Linh làm dụng, tức là Chân Khí, Chân Linh, Chân Không, Diệu Hữu. Tên tuy có khác, nhưng chỉ là Nhất Chân.

Cái Chân nàu vô hình, vô tượng, vô thanh, vô xú, không thể dùng lời mà truyền, không thể dùng bút mà vẽ. Nó phảng phất hìng dung chẳng qua chỉ nhỏ như một hạt lúa.

Cho nên Cổ Tiên xưa đều gọi cái Chân này là Thử Mễ Bảo Châu 黍 米寶 珠.  Tuy gọi là Thử Mễ, nhưng không có hình dáng của một hạt lúa. Vì nó có một điểm Linh khí ẩn tại Trung Ương, nên gọi là Thử Mễ. Vì nó có một điểm Linh Khí của một hạt lúa, nên hỗn độn hư không bao trùm tam giới, nên gọi là Thử Mễ Châu. Suy cho đến căn để, thì chỉ là Hồng Mông vị phán chi khí mà thôi.

Kẻ ngu không biết nên nghĩ rằng Nữ tử thủ Kinh trung Mai Tử là Thử Mễ Châu, còn các nhà Công Phu thì lài cho rằng tụ thần vào Ming Đường lâu sẽ thất ánh sáng tán ra là Thử Mễ Châu, tất cả đều sai.

Vả Hồng Mông vị phán chi Thử Châu là Sinh thánh, sinh Hiền, thành tiên, thành Phật chi Linh Bảo chứ đâu phải là Trọc Huyết, hay là Tồn Tưởng chi quang?

Sách Tứ Bách Tự nói: Hỗn Độn bao Hư Không, Hư Không bao Tam giới 混 沌包 虛 空 虛 空 包 三 界.

Tìm căn nguyên của Nhất Lạp Thử, Trương Tam Phong đời Tống nói:

Thùy bất tri, Thùy bất hội, Thùy bất hành, đô chỉ tại Hồng Mông vị phán nhất lạp thử mễ thượng mê

誰 不 知 誰 不 會 誰不 行 都 只 在 鴻 濛 未 判 一 粒 黍 米 上 迷

(Ai không hiểu, ai không hay, ai không hành, chỉ vì không hiểu Hồng Mông vị phán nhất lạp mễ châu mà thôi).

Hình 30. Hỏa Hầu quải tượng 火 候 卦 象

(Hình vẽ này, là một hình tròn trắng, trong có các chữ: Lục thập quải tại nội hành. Ở Tứ Chính có 4 chữ: Kiền, Khôn, Khản, Ly. Phía phải có chữ: Cương Nhu vi thể; phía trái có chữ: Hối Minh vi dụng; phía dưới có 2 dòng chữ: Dương Hỏa hữu Thời; Âm Phù hữu Hậu.)

Sách Đơn Kinh mượn 64 quẻ gọi là Dương Hỏa, Âm Phù chi pháp tượng.

Gọi Kiền Khôn là Đỉnh Lô vì coi Âm Dương Cương Nhu là Thể, gọi Khảm Ly là Dược Vật, vì chúng Cương Nhu Trung Chính nên là Dụng.

Gọi Phục Cấu là Âm Dương giao giới. Vì thấy Cương Nhu vận dụng có thời tiết.

Gọi Truân Mông là Tạo Hóa chi thủy, vì cho rằng khi đáng Tiến Dương Hỏa thì Dụng Cương, đáng Thoái Hỏa thì phải Dụng Nhu; gọi Ký Vị là Tạo Hóa chi Trung. Khi cần Dương Hỏa thí dụng Cương, nhưng không Thái Quá; Khi đáng Thoái Âm Phù thì Dụng Nhu, nhưng không được Bất Cập.

Kỳ dư còn 54 quẻ đều tùy vào các quẻ Kiền Khôn, Khảm Ly, Phục Cấu, Truân Mông, Ký Vị, mà vận dụng cho thật tự nhiên. Nói tóm lại, đều cốt sao cho Âm Dương tương đáng, hai bên hợp nhất, quay về Hỗn Thành Nhất Tượng mà thôi.

Kẻ ngu không biết, y cứ vào chuyện 64 quẻ có dính líu tới năm, tháng, ngày, giờ, mà cưỡng bách dụng công trên đó, thiệt là không phải.

Vả Âm Dương Tạo Hóa nhất khí lưu hành, chu nhi phục thủy, tuần hoàn vô đoan, chú đâu có vận hành theo 64 quẻ. 64 quẻ là do thánh nhân Quan Thiên, Tượng Địa, thể theo Âm Dương Tạo Hóa và vẽ thành 64 quẻ đề giải thích Âm Dương Tạo Hóa vậy.

Nhân Thân Tạo Hóa, với Thiên Địa Tạo Hóa tương hợp, thì tự nhiên cũng có 64 quẻ, cần gì phải nệ văn, chất tượng đâu?

Hình 31. Sinh Ngã chi Môn 生 我 之 門

(Hình vẽ này giữa có một hình tròn gần đen hết. Duy phía dưới có hình Vầng Trăng Lưỡi Liềm Yểm Nguyệt Lô. Bên phải có chữ: Dược Xuất Tây Nam thị Khôn Vị. Bên Trái có chữ: Dục tầm Khôn Vị, khởi ly nhân, phía dưới có chữ: Tây Nam Đắc Bằng.)

Mặt trăng khi đến Tây Nam thời hết sức Tối, và ánh sáng bắt đầu sinh.

Tây Nam thuộc Khôn, là Phương Thuần Âm.

Thuần Âm chi hạ, nhất Dương tiềm sinh, như vậy trên là quẻ Khôn, Dưới là quẻ Chấn, tại quẻ là Phục, tại mặt trăng là Yểm Nguyệt, đều muốn dụ rằng: Khi cực Tĩnh, thì Thiên Tâm hiện lộ, cũng gọi là Đạo Tâm, hay Thiên Lương Chân Tâm, như trước đã nói là Yển Nguyệt Lô.

 Nếu thấy được cái Tâm đó, bảo thủ nó không cho mất đi, mượn nó để Tiến Dương, thoái Âm, như mèo bắt chuột, thì Dương sẽ tiệm sinh, Âm sẽ tiệm thoái. Âm tận Dương Thuần, thế là thành Tiên. Nên gọi Tây Nam Khôn Vị là Sinh Ngã chi môn.

Kẻ ngu không biết, tưởng Âm Hộ đàn bà là Sinh Ngã chi môn.

Âm Hộ là chỗ sinh ra con người, làm sao mà sinh Tiên cho được?

Hình 32. Tử Ngã Chi hộ 死 我 之 戶

(Hình vẽ, có hình tròn, trên có Một vầng Trăng Lưỡi Liềm úp. Phía dưới là một vòng tròn gần đen tuyền. Phía Phải có chữ: Dương Khí tương Tận; Phía trái có chữ: Âm Khí tương Thuần. Phía dưới có chữ: Đông Bắc táng Bằng.)

Nguyệt từ Đông Bắc, Dương quang tận diệt.

Đông Bắc thuộc Cấn, Âm Khí tương thuần.

Dương quang còn một chút, nên có Tượng Thượng Cấn Hạ Khôn.

Ở nơi quẻ là quẻ Bác. Tại Mặt trăng thì là hình Phúc Uyển (Chén úp) đều muốn chỉ dụ Khách Khí muốn bác tiêu Khí Chân Nguyên.

Nếu có một Trượng Phu Siêu Việt, có một Dũng Mãnh Nam Tử mà biết đốn ngộ, hồi đầu, mượn vào một điểm Dư Dương đó mà phá tan được u ám bên ngoài, mà biết dụng công tu trì, thì cũng có thể Phản Bản Hoàn Nguyên.

Còn những kẻ Phàm Phu u mê không chịu giác ngộ, cứ thuận theo Âm Khí mà phá bác Dương Quang, thì Dương sẽ tận và Âm sẽ thuần, làm sao mà không chết cho được?

Dịch viết: Đông Bắc táng Bằng (Dịch Kinh Đại toàn, quẻ Khôn, Thoán truyện). Đơn kinh cũng gọi là Ngã tử chi hộ.

Kẻ ngu không biết, coi Âm Hộ đàn bà là Cửa Tử con người, đó là sai vậy.

Vả Sinh Môn, Tử Hộ đều là Vô Hình Vô tượng chi Môn Hộ. Nhân vì cho rằng Thuận Âm thời chết, Nghịch Dương thời Sinh, nên mới gọi là Sinh Môn, Tử Hộ, kỳ thật chì là Một Khiếu mà thôi. Cổ Tiên gọi nó là Sinh Tử quan. Tuy gọi là Quan, nhưng thực ra là Không Chốn, Không Nơi. Gọi cưỡng ép thôi.

Ngộ Chân Thiên nói:[13]

Tu tương Tử Hộ vi Sinh Hộ,

須 將死 戶 為 生 戶

Mạc chấp Sinh Môn hiệu Tử môn

莫 執生 門 號 死 門

Nhược hội Sát Cơ minh phản phục,

若 會殺 機 明 返 覆

Thủy tri hại lý khước sinh ân.

始 知害 裡 卻 生 恩

Phải biến Tử Hộ thành Sinh Hộ

Chớ chấp Sinh Môn gọi Tử Môn.

Gặp phải Sát Cơ, rành phản phục,

Mới hay trong Hại lại sinh Ân.

Như vậy, mới hiểu nghĩa của Sinh Môn, Tử Hộ.

Hình 33. Hữu Vi chi khiếu 有 為 之 竅

(Hình vẽ này chính giữa có 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn trong cùng được chia đôi theo chiều dọc. Vòng tròn ngoài, phía bên trong nơi Tứ Chính, có các chữ: Hỏa Thủy, Kim Mộc. Phía bên ngoài, cũng nơi Tứ Chính, có các chữ: Chu Sa, Xích Xà; Ô qui, Hắc Diên; Bạch Hổ, Kim Tinh; Thanh Long, Mộc Hống; Phía phải có hàng chữ: Nữu Chuyển Kiền Khôn; phía trái có hàng chữ: Thiết Đoạt Tạo Hóa.)

Hữu Vi chi Đạo, là công phu Hữu Dục Quan Kiếu 有 欲 觀 竅 (ĐĐK, Chương 1): Có Dục Tình thì chỉ thấy được những hình tướng vạn thù, sai biệt bên ngoài mà thôi.

Quan Kiếu là Quan Âm Dương Tạo Hóa chi Kiếu, nhờ Hậu Thiên phản Tiên Thiên, Hòa Hợp Tứ Tượng, Toản Thốc Ngũ Hành, Thái Dược từ Hoàn Đơn đến Kết Thai, công trình thứ tự đều đủ trong đó. Nếu không được Chân Sư khẩu truyền, tâm thụ, thì sẽ sai một ly, đi một dặm.

Kẻ ngu không biết, nên từ các thân Ảo Bì Nang điều động khí huyết lung tung, gọi thế là hành đạo Hữu Vi, như vậy là sai.

Đạo Kim Đơn là một học thuật Tiên Thiên, có thể xoay chuyển Âm Dương, thiết đoạt Tạo Hóa, nghịch hồi Khí Cơ, điên đảo Kiền Khôn, Đi trước Trời mà Trời không trách. Chứ đâu phải là hành hạ cái xác thân hữu hình hữu vật này mà thành Đạo ấy được?

Chính Dương Ông nói:

Thế, Thóa, Tân, Tinh, Khí, Huyết, Dịch, Thất ban Linh Vật tổng giai Âm, Nhược tương thử vật vi Đơn bản, Chẩm đắc phi thăng triêu Ngọc Kinh

涕 唾津 精 血 液 七 般 物 總 皆 陰 若 將 此 物 為 丹 本 怎 得 飛 升 朝 玉 經

(Nước mắt, rãi, bọt, tinh, khí, huyết, dịch, tất cả đều là Âm Chất, dùng những thứ ấy để luyện Đơn, thì làm sao lên chầu Ngọc Kinh được?)

Tử Dương Ông nói:[14]

Yết tinh, nạp khí thị nhân hành,

嚥 精 納 氣 是 人 行

Hữu dược phương năng tạo hóa sinh.

有 藥 方 能 造 化 生

Đỉnh trung nhược vô Chân Chủng Tử,

鼎 中 若 無 真 種 子

Do tương Thủy Hỏa chử không xanh.

猶 將 小 火 煮 空 鐺

Yết tân, nạp khí chuyện con người,

Phải có Chân Diên mới tạo thai.

Trong Đỉnh nếu không Chân Chủng Tử,

Thì là không thuốc ở trong nồi.

Ôi Kim Hà Mô, Ngọc Lão Nha, nhận ra được và làm bạn với chúng, Đạo Hữu Vi đâu có dễ biết.

Hình 34. Vô Vi chi Diệu 無 為 之 妙

(Hình vẽ này chính giữa có hình tròn trắng đề 2 chữ Thánh Thai, Bên phải có hàng chữ: Ôn Dưỡng Thập Nguyệt, Thần Đơn kết, bên trái có hàng chữ: Nam nhi hoài thai khởi đẳng nhàn; phía dưới có hàng chữ: Vô Dục dĩ quan kỳ Diệu.)

Đạo Vô Vi là công phu Vô Dục dĩ quan diệu 無 欲 以 觀 妙: Không có dục tình mới thấy được Bản Thể vi diệu của Đạo. Đó là chuyện phải làm khi Thánh Thai đã Ngưng Kết về sau. Thế là Tĩnh Quan Nhất Khí biến hóa chi diệu 靜 觀 一 氣 變 化 之 妙.

Sau khi Thánh Thai đã ngưng kết rồi, sau khi Hậu Thiên đã phản hoàn Tiên Thiên, thì chỉ còn dùng công phu Mộc Dục Ôn Dưỡng, vật vong, vật trợ (đừng có xao lãng, đừng có nong sức trưởng thành của công việc),[15] vận Thiên Nhiên Chân Hỏa để huân chưng biến hóa, thì tự nhiên vô hình sẽ sinh hình, vô chất sẽ sinh chất, Dưa chín sẽ rụng cuống, anh nhi sẽ xuất hiện, và công phu Phanh Luyện Vũ Hỏa trước kia, nay không còn phải dùng nữa.

Kẻ ngu không biết, chưa đi đến chỗ tuyệt cùng của Tính Mệnh, chưa biết Tính Mệnh là gì, chưa hiểu thế nào là Tu Đạo, học được vài điều lăng nhăng của bàng môn tả đạo, hoặc của tiểu thừa, rồi cũng vào núi tĩnh tọa, hay đóng cửa Định Thần, gọi thế là đạo Vô Vi, thật là sai vậy.

Phàm Tính Mệnh thì phải Song Tu, và công phu chia làm hai phần: Một là Hữu Vi để Liễu Tính, hai là Vô Vi để Liễu Mệnh. Chứ đâu phải là Không Không Tĩnh Tọa mà có thể Liễu Tính Mệnh được. Ngộ Chân nói:[16]

Vị luyện hoàn đơn mạc nhập sơn,

未 煉 還 丹 莫 入 山

Sơn trung nội ngoại tận phi Diên.

山 中 內 外 盡 非 鉛

Thử ban chí bảo gia gia hữu,

此 般 至 寶 家 家 有

Tự thị ngu nhân thức bất toàn.

自 是愚 人 識 不 全

Chưa luyện hoàn đơn chớ nhập sơn

Trong núi không hề có Chân Diên.

Quí ấy xưa nay ai cũng có,

Chỉ tại ngu si, hiểu chẳng toàn.

Cũng còn nói:

Thủy ư hữu tác vô nhân kiến,

始 於有 作 無 人 見

Cập chí Vô Vi chúng thủy tri.

及 至無 為 眾 始 知

Đãn kiến Vô Vi vi yếu diệu,

但 見無 為 為 要 妙

Khởi tri Hữu tác thị Căn Ki. [17]

豈 知有 作 是 根 基

Đầu tu Hữu Tác, người không biết,

Vào tới Vô Vi chúng mới hay.

Chỉ biết Vô Vi là yếu diệu,

Biết đâu Hữu Tác chính căn ki.

Như vậy có thể biết thế nào là Hữu Vi, Vô Vi. Nó có thời kỳ, và đều có tác dụng nhưng không giống nhau.

Hình 35. Hỗn tục hòa quang 混 俗 和 光

(Hình vẽ này giữa có một hình vuông, bao ngoài bằng một hình tròn trắng. Bên phải có hàng chữ: Viên dĩ ứng ngoại; Bên trái có hàng chữ: Phương dĩ trị nội. Phía dưới có hai hàng chữ: Hỗn tục nhân bất thức, Hòa quang Đạo dị thành.)

Hỗn tục hòa quang chính là phong cách: Đại Ẩn thị triền 大 隱 市 廛 (Đại Ẩn nơi chợ búa). Hỗn tục là: Sống giữa quần chúng mà người không ai hay. Hòa Quang là Hòa nhi bất đồng, tại Trần xuất trần vậy. Có thể Hỗn tục hòa quang, là ngoài thì tròn để thích ứng với mọi vật, trong thì vuông là trong thì có Chủ Tể. Theo Thế Pháp mà vẫn tu Đạo Pháp, sáng tối hay nghịch thuận không có gì trở ngại, nên hành Đạo dễ dàng.

Kẻ ngu không biết, lại tưởng rằng Hỗn Tục Hòa Quang, là ban ngày thời ứng sự, ban đêm thời tĩnh tu, không phải vậy.

Nếu đúng như vậy, thì nói Tòng Tục là đúng, nói Hỗn Tục là không đúng, nói Tế Quang (che Ánh sáng) thì đúng, chứ Hòa Quang thì không phải.

Vả cái Đạo Hỗn Tục Hòa Quang có thể đoạt Thiên Địa Tạo Hóa, ăn cắp Âm Dương Sinh Sát chi quyết, chứ nó đâu phải dễ biết dễ làm?

Hình 36. Dược qui Thổ Phủ 藥 歸 土 釜

(Hình vẽ này có một vòng tròn trắng chia đôi, nửa phải có chữ Dương, nửa trái có chữ Âm. Phía phải có 2 dòng chữ: Dòng trong là Huỳnh Đình, dòng ngoài là Bất Thiên Bất Ỷ. Phía trái cũng có 2 dòng chữ: Dòng trong là Hoàng Trung, dòng ngoài là Chí Trung Chí Chính, Phía dưới có 2 dòng chữ là: Tam Gia tương Hội, Nhất Khí Hồn Nhiên.)

Thổ Tính ôn nhu có thể Dưỡng Vật, Kim chủ Phanh Tiễn có thể Thành Vật. Phủ 釜 (Chõ) bằng đất để Dưỡng Vật, Thành Vật. Nó không phải là thứ đất tầm thường, không phải là thứ chõ tầm thường.

Dược qui thổ phủ cốt nói lên rằng đó là Âm Dương Tương Hợp, là Thánh Thai ngưng kết đã có công phu ôn dưỡng.

Ôn Dưỡng thánh thai cốt là ý không bị phát tán, bao giờ cũng Doãn Chấp Quyết Trung, Âm Dương tương đáng, bất thiên, bất ỷ 允 執 厥 中 陰 陽 相當 不 偏 不 倚. Nên cũng gọi đó là Thổ Phủ. Nó cho cùng chỉ là MỘT CHỮ TRUNG mà thôi.

Giữ được Trung này thì Âm Dương Hòa, Ngũ Hành Toản (hợp nhất), thánh Thai toàn. Đánh mất cái Trung này, thì Âm Dương thiên, ngũ hành phân, thánh thai thương. Cho nên Thủ Trung là diệu quyết để ôn dưỡng Thánh Thai vậy.

Kẻ ngu không biết nên đắp là Địa Lô để Dưỡng Chu Sa, lấy Thủy Ngân của Chu Sa, coi Địa Lô là Thổ Phủ, hoặc Nê Lô làm Khôi Trì. Thiêu Diên nhập Khôi Trì để phân Ngân, coi Khôi Trì là Thổ Phủ, tất cả đều sai.

Tử Dã nói:

 Chân Thổ vô vị, Chân Ý vô hình. Vì Thổ Phủ ở chính trung, vô hình vô tượng, vô phương vô sở, nên dùng nó để thành toàn Thánh Thai. Vì thế nên gọi là Phủ, chứ đâu phải là Chỗ Đất thật đâu.

Hình 37. Ngưng kết Thánh Thai 凝 結 聖 胎

(Hình vẽ này, chính giữa có 3 vòng tròn đồng tâm. Vòng tronh cùng trắng có 2 chữ Thánh Thai, Vòng giữa đen tuyền, vòng ngoài cùng trắng. Phía phải có 4 chữ: Hùng Lý Hoài Thư, phía trái có 4 chữ: Động cực nhi tĩnh; Phía dưới có 4 chữ: Chập thần tàng khí.)

Thánh thai là Thánh Nhân chi Thai 聖 人 之 胎.

Tức là Vô Thức, Vô Tri Anh Nhi Bản Diện 無 識無 知 嬰 兒 本 面.

Đạo mà tới chỗ Vô Thức, Vô Tri, Bách Thần Hội Tập, Vạn Duyên câu tức, hỗn hỗn độn độn, nhập vào cảnh hoảng hốt yểu minh, thế là từ Hữu Vi mà nhập vào Vô Vi vậy.

Ngu nhân không biết nên hoặc vận cho Tâm Dịch Thận Khí tương giao ư Huỳnh Đình là Thánh Thai, hoặc Thần Tồn Trung Cung là Thánh Thai, hoặc Vận Khí cho Hậu thăng tiền giáng trú ở Đan Điền là Thánh Thai, tất cả đều không phải.

Thánh thai là cái gì Vô Hình, Vô Chất. Tuy gọi là Thai, nhưng thực ra không làm gì có thai. Gọi là Thai, bất quá là muốn hình dung Chân Linh ngưng kết không tan mà thôi.

Lấy Khí Huyết cưỡng ngưng thành thai, thì là Tróc tử chi quỉ thai, chứ không phải là Trường Sinh Thánh Thai đâu!

Hình 38. Thập Nguyệt thai viên 十 月 胎 圓

(Hình vẽ này, giữa có một hình tròn trắng; Phía phải có chữ Thần Toàn, Khí túc; phía trái có chữ Âm Tận, Dương Thuần; Phía dưới có các chữ: Kim Dịch đại Hoàn Đơn.)

Thập Nguyệt Thai viên là Thần Toàn, Khí túc, căn trần khứ tận, Khách Khí tiêu hóa, Âm tận Dương thuần chi tượng. Y như đàn bà mang thai 10 tháng, mới thành Toàn Đơn.

Đơn Đạo lấy Thập Nguyệt Thai đồ, để mà chỉ dụ chuyện này.

 Lại muốn nói rằng, khi Thánh Thai đã ngưng kết, thì phải phòng nguy, lự hiểm, mộc dục, ôn dưỡng cho tới lúc viên thành, vô khuy mới được.

Không phải lấy 10 tháng làm định kỳ.

Kẻ ngu không biết cứ chấp vào hai chữ 10 tháng. Hoặc Vận Khí, hoặc Tồn Tưởng, hoặc Ngưng Thần, vọng tưởng kết thai, lấy 10 tháng làm Định Kỳ, thật không phải vậy.

 Tu chân chi đạo từ Thái Dược, đến Phanh Luyện, Kết Đơn, Kết Thai, cho đến khi Thoát Hóa phải tốn một thời gian và một Công Phu vô lượng, chứ đâu phải chỉ mất 10 tháng. Nói 10 tháng là nói bóng gió, là dùng từ ngữ cho vui mà thôi.

Hình 39. Anh Nhi xuất hiện 嬰 兒 出 現

(Hình này, chính giữa có 2 vòng tròn, Vòng trên trắng có chữ Pháp Thân, vòng dưới đen có chữ Sắc Thân. Bên phải có các chữ: Khiêu Xuất Tam Giới Ngoại. Bên trái có các chữ Bất Tại Ngũ Hành trung; phía dưới có các chữ: Thân Ngoại hữu Thân.)

Anh Nhi xuất hiện, Thánh Thai thoát hóa chính là Thánh Thai. Thánh thai là từ trong Sắc Thân con người lại có thêm một Pháp Thân vậy. Thoát hóa là từ trong Sắc Thân lại sinh ra một Pháp Thân vậy.

Nhân vì trong Sắc Thân lại sinh ra một Pháp Thân, như đàn bà sau 10 tháng thai nghén lại sinh ra một anh nhi, cho nên gọi Pháp Thân là Anh Nhi. Anh Nhi xuất hiện, là Thân Ngoại Hữu Thân, siêu xuất Tam Giới, không còn ở trong Ngũ Hành, thoát khỏi Luân Hồi, cùng Đất Trời đồng thọ, bền vững cùng Mặt Trời, Mặt Trăng.

Kẻ ngu không biết, cho rằng Khảm Trung Chân Dương 坎 中 真 陽 là Pháp Thân Anh Nhi 法 身 嬰 兒, hoặc cho rằng Thận Trung Tinh Khí 腎 中 精 氣 là Pháp Thân Anh Nhi. Không phải vậy.

Khảm Trung Anh Nhi 坎 中嬰 兒 là Âm Trung Chi Dương 陰 中 之 陽, còn Pháp Thân Anh Nhi là Âm Dương hỗn hợp chi chân. Đến như Thận Khí, đó là Thận Trung Tà Hỏa, chứ tuyệt nhiên không có nghĩa là Anh Nhi, thì làm sao mà gọi  là Hồn Luân, Hỗn Hợp được.

Ngộ Chân Thiên viết:

Anh Nhi thị Nhất hợp Chân Khí,

嬰 兒 是 一 合 真 氣

Thập nguyệt thai viên nhập Thánh Ki.[18]

十 月 胎 圓 入 聖 基

Anh Hài là Nhất hàm chân khí

Thập nguyệt hoài thai hợp Thánh Ki.

Tứ Bách Tự viết:

Phu Phụ giao hội thời,

夫 婦 交 會 時

Động phòng vân vũ tác.

洞 房雲 雨 作

Nhất tải sinh cá nhi,

一 載生 個 兒

Cá cá hội kỵ hạc.

個 個 會 騎 鶴

Vợ chồng giao hợp nhau,

Động Phòng mây mưa đổ

Mỗi năm sinh một con,

Con nào cũng cưỡi hạc.[19]

Như vậy là hiểu được thế nào là Pháp Thân Anh Nhi.[20]

Hình 40. Di Lô Hoán Đỉnh 移 爐換 鼎

(Hình vẽ này, chính giữa có Vòng Tròn trắng rỗng với Hai Chữ Hư Vô. Phía phải có dòng chữ: Hữu Vô câu bất lập. Phía trái có dòng chữ: Thiên Địa tất qui không, Phía dưới có 2 hàng chữ: Thái Hư chi Đỉnh, Vô vi chi Lô.)

Đại đạo viên thành, Thân Ngoại Hữu Thân, Hình Thần câu diệu. Khi đã đạt tới địa vị của Đại Thánh Nhân, thì Lô Đỉnh không còn công dụng nữa, thì làm gì còn có chuyện Di Lô Hoán Đỉnh nữa?

Sở dĩ còn phải Di Lô Hoán Đỉnh là cốt tiềm tàng mật dưỡng Pháp Thân nói trên. Phải Di cái Lô nào? phải Hoán cái Đỉnh nào? Phải lấy Thái Hư làm Đỉnh, lấy Vô Vi làm Lô, còn những Kiền Đỉnh, Khôn Lô, Chu Sa Đỉnh và Yểm Nguyệt lô, tất cả những dược vật đó đều không dùng nữa.

Chỉ còn dùng là Pháp Thân mà thôi. Pháp Thân đó tại Hư Vô chi Trung, sẽ tự biến, tự hóa, và sẽ dũ Hư, dũ Thần, dũ Vô, dũ Diệu, thần diệu bất trắc, biến hóa vô cùng.

Cho nên nói: Tử hựu sinh Tôn, Tôn hựu Chi.

Tới địa vị này lúc là lúc ngưng mọi công việc, và đã phá hư không, vượt lên trên Thiên La chi cảnh, như vậy mới đáng.

Kẻ hậu học nếu không gặp sư truyền, mà nghĩ Thân Ngoại Hữu Thân là tiến tới chỗ tận cùng của Đạo là sai vậy.

Sao Hào Ca 敲 爻歌 nói:

Nhất vật vô tùy hiển Đạo, Ngũ phương thấu xuất chân nhân mạo, tiên đồng tiên nữ thái vân nghinh, ngũ minh cung lý truyền Chân Cáo

一 物無 隨 顯 道 五 方 透 出 真 人 貌 仙 童 仙 女 彩 雲 迎 五 明 宮 裡 傳 真 誥

(Vật chi cũng truyền Đạo, năm phương hiện rõ Chân Nhân mạo, Tiên đồng, tiên nữ cưỡi mây chờ, Trong cung Ngũ Minh truyền Chân Cáo.) [21]

Xem thế, mới biết Pháp Thân thiên biến vạn hóa, như thế mới là cực điểm công phu vậy.

******************         

CHÚ THÍCH

[1] Kim Đơn như vậy là tìm lại được Tính Trời trong ta. Tính Trời đó chính Thiên Địa chi Tính, hay Bản Lai Viên Minh Chân Linh chi Tính, hay Thái Cực, hay Viên Giác, hay Kim Đơn. Đó chính là cái gốc cho mọi hoạt động chúng ta qui hướng về.

[2] Thiên Địa chi tâm chính là Lòng Trời, là Thái Cực, vì Thái Cực là Âm Dương tương hợp, là Hắc Bạch Tương Phù. Nói nôm na hơn thì đó chính la Lương Tâm con người (Thiên Lương Chân Tâm). Nếu ai cũng thấy được mình có Thiên Tâm có Lương Tri, thì thế gian n ày sẽ thành bồng lai lạc cảnh.

[3] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 2, thơ 3.

[4] Ngộ Chân Thiên, quyển 2, bài thơ 4.

[5] Yển Nguyệt Lô là Đạo Tâm là Thiên Tâm cũng là quẻ Phục. Vì nơi quẻ Phục có nói: Phục Kỳ Kiến Thiên Địa chi tâm hồ?

[6] Thức Thần là Thần con người, Nguyên Thần là Thần Trời.

[7] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 40.

[8] Huyền Tẫn chi Môn chính là Nê Hoàn Cung, chính là Cửa Trời, nơi Âm Dương Xuất Nhập.

[9] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 44.

[10] Ta nên nhớ vì vua Khang Hi (1662- 1723) tên là Tiểu Huyền Tử, nên dể tránh tên Húy của vua các chữ Huyền phải sửa lại thành Nguyên. Cho nên sách này viết Nguyên Tẫn chi Môn, Nguyên Quan Nhất Khiếu, nay ta đọc lại là Huyền Tẫn chi môn, Huyền Quan nhất Khiếu.

Huyền Quan Nhất Khiếu còn gọi là Thiên Nhân Giới, hay Hữu Vô Tương Nhập xứ thật là hết sức đẹp. Thiên Nhân giới là bờ cõi giữa Trời Người, giữa Hữu Vô.Thế là ở ngay trong đầu não ta, đã có biên giới giữa Trời Người. Điều đó đáng cho ta suy nghĩ kỹ.

[11] Trong ta có Cốc Thần tức là trong ta có thần Trời Đất. Nếu vậy Ta phải tìm về với Thần Trời Đất đó.

[12] Xem Văn Ngôn, Hào Lục Ngũ quẻ Khôn.

[13] Ngộ Chân Thiên, q. 2, bài thơ 62.

[14] Ngộ Chân Trực Chỉ, q.:, bài thơ 5.

[15] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tiết 2.

[16] Ngộ Chân trực Chỉ, q. 2, bài thơ 7.

[17] Ngộ Chân trực chỉ, q. 2, bài 42.

[18] Ngộ Chân Trực Chỉ, q. 1, bài thơ 14.

[19] Xem Tứ Bách Tự Bi của Trương Bá Đoan, Trung Quốc Khí Công Đại Thành, q. 2, tr. 605.

[20] Tin rằng mình có Tính Trời, Tính Phật là bước vào con đường Đạo; thấy rằng mình có Thiên Địa chi Tâm, là Giác Ngộ, là chính thức Thuận Thiên, là giác Ngộ, là đi vào quẻ Phục. Làm cho Thiên Địa chi tâm càng ngày càng trở nên hoàn hảo, là Anh Nhi xuất hiện, là Pháp Thân xuất hiện. Thế là trở về với Thể Tánh Chân Tâm thường trụ của Phật, và cũng là đạt Thập Trụ, Thập Hạnh trong kinh Lăng Nghiêm và Kinh Hoa Nghiêm.

Ngài Ôn Lăng nói: từ Phát Tâm Trụ cho đến Sinh quí Trụ gọi là Nhập Thánh Thai. Từ Phương Tiện Trụ cho đến Đồng Chơn Trụ thì gọi là nuôi lớn Thánh Thai. Công phu nuôi lớn đã thành tựu gọi là ra khỏi Thánh Thai.

… Trong kinh Hoa Nghiêm hàng Thập Trụ đầy đủ cùng với hàng Thập Địa thầm phù hợp (Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ trọn bộ, thiền sư Hàm Thị giải, Dịch giả Thích Phước Hảo, tr. 694.

[21] Xem Sao hào Ca, của Lữ Động Tân, Trung Quốc Khí Công Đại Thành, chủ biên: Trương Xuân Dương, q. 2, tr. 558.

******************         

PHÁ NGHI THI

破 疑 詩

Thất ngôn Tuyệt Cú Ngũ Thập thủ

七 言 絕 句 五 十 首

Bài 1: Ly thế 離 世

Thế sự thiên ban câu bất chân,

世 事 千 般 俱 不 真

Tục duyên ân ái tối thương thân.

俗 緣 恩 愛 最 傷 身

Nhất đao lưỡng đoạn vô khiên xả,

一 刀 兩 斷 無 牽 扯

Giải thoát tràng trung tác cá nhân.

解 脫 場 中 作 個 人

Thế gian muôn chuyện đều sai lạc

Tục duyên ân ái rất hại người,

Một dao chém đứt không luyến tiếc

Thành người giải thoát giữa cảnh đời

———————

Bài 2: Luyện Thụy 煉 睡

Thiểu thụy nguyên phi luyện Thụy Ma,

少 睡 原 非 煉 睡 魔

Vong sôn, phế tẩm trảm đằng la.

忘 飧 廢 寢 斬 藤 羅

Chư duyên tảo khứ tâm thanh tĩnh,

諸 緣 掃 去 心 清 靜

Trú dạ trường miên, phạ thậm ma?

晝 夜 長 眠 怕 甚 麼

Ít ngủ phải đâu luyện Thụy Ma,

Quên ăn, bỏ ngủ trảm đằng la.

Trong dạ khinh thanh vô nhất vật,

Đêm sẽ ngủ say, sợ chi mà.

******************         

Bài 3: Công hành 功 行

Tu hành tích đức, tối vi tiên,

修 行 積 德 最 為 先

Công đại hành thâm, cảm động Thiên.

功 大 行 深 感 動 天

Khả tiếu ngu nhân duy lợi kỷ,

可 笑 愚 人 惟 利 己

Vô công, thiểu hạnh, tưởng thành tiên.

無 功 少 行 想 成 仙

Tu hành: tích đức việc đầu tiên,

Công quả càng nhiều sẽ động Thiên

Nực cười kẻ dốt chuyên lợi kỷ

Không công, thiểu hạnh tưởng thành tiên.

Bài 4: Kim đơn 金 丹

Tiên Thiên bản tính hiệu vi Đơn,

先 天 本 性 號 為 丹

Bát quái lô trung luyện tác đoàn.

八 卦 爐 中 煉 作 團

Cử thế mê đồ tầm ngoại dược,

舉 世 迷 徒 尋 外 藥

Thôn san, vọng tưởng thượng vân đoan.

吞 飧 妄 想 上 雲 端

Tiên Thiên Bản Tính ấy Kim Đơn,

Mượn lò thân thể luyện thành toàn.

Những kẽ u mê tìm ngoại dược,

Ăn vào, mơ tưởng cưỡi mây ngàn.

Bài 5: Nguyên quan 元 關

Nguyên quan nhất khiếu thiểu nhân tri,

元 關 一 竅 少 人 知

Hoảng hốt yểu minh hàm Lưỡng Nghi.

恍 惚 杳 冥 含 兩 儀

Thuận khứ lưu qui phiền não lộ,

順 去 流 歸 煩 惱 路

Nghịch lai tiện thị thánh hiền ki.

逆 來 便 是 聖 賢 基

Một khiếu Huyền Quan ít kẻ hay,

Hoảng hốt tra minh, đủ Lưỡng Nghi.

Nếu theo chiều thuận là phiền não,

Còn như đi ngược: Thánh Hiền ki.

Bài 6: Thức Thần 識 神

Tư lự tinh linh hiệu Thức Thần,

思 慮 精 靈 號 識 神

Luân hồi chủng tử đới căn trần.

輪 迴 種 子 帶 根 塵

Ngu mê câu bả Du Hồn lộng,

愚 迷 俱 把 游 魂 弄

Đáo để thùy năng kiến chủ nhân.

到 底 誰 能 見 主 人

Tư lự hay ho, chính Thức Thần,

Ấy giống Luân Hồi nặng Căn Trần,

Kẻ ngu đều bị Du Hồn gạt,

Biết đến bao giờ thấy Chủ Nhân.[1]

******************         

Bài 7: Dương Tinh 陽 精

Dương Tinh nhất điểm bí hình sơn,

陽 精 一 點 秘 形 山

Nhận đắc Chân thời khả Trú Nhan.

認 得 真 時 可 駐 顏

Phi tại Tâm trung, phi tại Thận,

非 在 心 中 非 在 腎

Bất không bất sắc ẩn Nguyên Quan.

不 空 不 色 隱 元 關

Dương tinh một điểm dấu nơi đầu,

Nhận được điều này sẽ Sống Lâu.

Không ở nơi Tim không nơi Thận

Không phải Sắc Không, chính Huyền Quan.[2]

Bài 8: Tiên Thiên Khí 先 天 氣

Tiên Thiên Nhất Khí tại Hồng Mông,

先 天 一 氣 在 鴻 濛

Vô tượng vô hình bất lạc không.

無 象 無 形 不 落 空

Nhận đắc Sinh Sơ Chân Diện Mục,

認 得 生 初 真 面 目

Phương tri Ngã hữu Chủ Nhân Ông.

方 知 我 有 主 人 翁

Tiên Thiên Nhất Khí tại Hồng Mông,

Không tượng không hình, chẳng phải Không,

Ấy chính Bản Lai Chân Diện Mục,

Thế là biết được Chủ Nhân Ông.[3]

Bài 9: Tiên Hậu Thiên先 後 天

Vị sinh thân xứ hiệu Tiên Thiên,

未 生 身 處 號 先 天

Nhất xuất đầu lai Khí Chất liên.

一 出 頭 來 氣 質 連

Tiên Thánh Hậu Nhân phân lưỡng lộ,

先 聖 後 人 分 兩 路

Tu đương tử tế biện thiên toàn.

須 當 仔 細 辨 偏 全

Khi chửa Sinh Người gọi Tiên Thiên,

Vừa ló đầu ra: Khí Chất liền,

Tiên thánh Hậu Nhân chia hai nẻo,

Hãy suy cho kỹ thấy được liền.[4]

Bài 10: Thủ Kinh 首 經

Thủ Kinh bản thị Tiên Thiên bảo,

首 經 本 是 先 天 寶

Hoảng Hốt, Yểu Minh Chân Nhất Tinh.

恍 惚 杳 冥 真 一 精

Thuần bạch vô tì thanh tịnh vật,

純 白 無 疵 清 淨 物

Hưu tương trọc huyết mạo an danh.

休 將 濁 血 冒 安 名

Thủ Kinh ấy chính Tiên Thiên bảo.

Cũng còn gọi là Chân Nhất Tinh,

Nó vốn trong veo không tì vết,

Đừng nên coi là vật hữu tình.[5]

******************         

Bài 11: Tam Dược 三 藥

Đại dược Tam Ban: Tinh, Khí, Thần,

大 藥 三 般 精 氣 神

Hữu Hình bất thị bản lai chân.

有 形 不 是 本 來 真

Chí Thanh, Chí Túy, Hư Linh Vật,

至 清 至 粹 虛 靈 物

Luyện tựu Kim Cương Đại Pháp Thân.

煉 就 金 剛 大 法 身

Đại dược có ba: Tinh, Khí, Thần,

Hữu hình đâu phải Bản Lai Chân.

Chí Thanh, Chí Túy, Hư Linh Vật,

Luyện hóa Kim Cương Đại Pháp Thân.[6]

Bài 12: Tính Mệnh 性 命

Tính Mệnh nguyên phân Tiên Hậu Thiên,

性 命 原 分 先 後 天

Sinh thân, lạc địa định Thiên Toàn.

生 身 落 地 定 偏 全

Hậu Thiên Tính Mệnh tùy Thiên Vận,

後 天 性 命 隨 天 運

Tróc trú Tiên Thiên Ngã thao quyền.

捉 住 先 天 我 操 權

Tính Mệnh phân chia Tiên Hậu Thiên,

Ta dở, ta hay nó khiến nên

Hậu Thiên Tính Mệnh tùy Thiên Vận,

Nắm được Thiên Tiên, Ta nắm quyền.[7]

Bài 13: Thiên Địa Tâm 天 地 心

Thiên Địa chi Tâm thậm xứ tàng,

天 地 之 心 甚 處 藏

Âm Dương cảm kích hiện viên quang.

陰 陽 感 激 現 圓 光

Hư Vô đỉnh lý phanh tiễn thục,

虛 無 鼎 裡 烹 煎 熟

Vạn cổ thiên thu bất tổn thương.

萬 古 千 秋 不 損 傷

Thiên Địa chi tâm ẩn thật sâu,

Âm Dương cảm kích hiện viên quang.

Hư Vô đỉnh lý phanh tiễn thục,

Vạn cổ Thiên Thu chẳng tổn thương.[8]

Bài 14: Đạo Tâm, Nhân Tâm  道 心 人 心

Nhân Tâm tự Thiết, Đạo Tâm Kim (Câm),

人 心 似 鐵 道 心 金

Khả hướng Vi, Nguy tế chước châm.

可 向 微 危 細 酌 斟

Biến Hóa Linh Thông vô thượng hạ,

變 化 靈 通 無 上 下

Nguyên đầu hoạt thủy biệt Âm Dương.

源 頭 活 水 別 陰 陽

Nhân Tâm như Sắt, Đạo Tâm Kim,

Vi Nguy phân biệt cũng không cần.

Biến Hóa Linh Thông vô thượng hạ,

Lên tới ngọn nguồn biệt Âm Dương.[9]

Bài 15: Vị sinh thời 未 生 時

Vị sinh thân xứ hữu thùy tri,

未 生 身 處 有 誰 知

Tĩnh tĩnh, tiêu tiêu, hỗn độn thì.

靜 靜 悄 悄 混 沌 時

Tứ tượng, ngũ hành giai vị đáo,

四 象 五 行 皆 未 到

Hồn nhiên nhất khí một hùng thư.

渾 然 一 氣 沒 雄 雌

Vị Sinh Thân Xứ ít ai hay,

Ấy lúc hồn nhiên, hỗn độn thì.

Tứ Tượng Ngũ hành chưa phân biệt,

Nhất Khí hồn nhiên chừa phân kì.[10]

******************         

Bài 16: Sơ sinh thời 初 生 時

Sơ sinh diện mục sự như hà?

初 生 面 目 事 如 何

Tiên Hậu nhị Thiên Nhất Khí hòa.

先 後 二 天 一 氣 和

Vô thức, vô tri, vô điểm nhiễm,

無 識 無 知 無 點 染

Phật Tiên chủng tử thánh hiền oa!

佛 仙 種 子 聖 賢 窩

Sơ sinh diện mục thế nào đây?

Tiên Hậu Nhị Thiên một khí hòa.

Vô thức, vô tri, vô điểm nhiễm,

Phật tiên chủng tử, thánh hiền oa.[11]

Bài 17: Tha gia 他 家

Tha gia bất thị biệt nhân gia,

他 家 不 是 別 人 家

Ngộ nhận nhân gia tảo đại soa (sai).

誤 認 人 家 早 大 差

Ngã đích hài nhi mê thất ngoại,

我 的 孩 兒 迷 失 外

Nhất hô kiến diện tử tùy gia.

一 呼 見 面 子 隨 家

Tha gia cũng chẳng phải Nhà Người,

Không biết nhà mình thật quá sai.

Con cái vì mê nên thất ngoại,

Ta hô một tiếng chúng về ngay.

Bài 18: Bỉ Ngã 彼 我

Kinh ngôn Bỉ Ngã biệt Âm Dương,

經 言 彼 我 別 陰 陽

Phi sắc, phi không thanh tịnh hương.

非 色 非 空 清 淨 鄉

Thái Chiến Khuê Đơn tà thuật bối,

採 戰 閨 丹 邪 術 輩

Yên hoa trại lý hoại Thiên Lương.

煙 花 寨 裡 壞 天 良

Kinh dùng bỉ ngã biệt Âm Dương,

Phi sắc, phi không thanh tịnh hương.

Thái Chiến Khuê Đơn là tà thuật,

Mê thú yên hoa hại Thiên Lương.

Bài 19: Lữ Bạn 侶 伴

Lữ bạn tu phân nội ngoại nhân,

侶 伴 須 分 內 外 因

Thân trung lữ bạn lưỡng tam nhân.

身 中 侶 伴 兩 三 人

Ngoại biên Lữ Bạn đồng phù tá,

外 邊 侶 伴 同 扶 佐

Thoát tận Luân Hồi lịch kiếp trần.

脫 盡 輪 迴 歷 劫 塵

Bè bạn nên chia hai hạng người,

Bạn trong chỉ có một đôi người.

Bạn ngoài ai nấy đều giúp dập,

Giúp đỡ cho ta thoát Luân Hồi.

Bài 20: Ngoại hộ 外 護

Giai tầm ngoại hộ vọng thành công,

皆 尋 外 護 望 成 功

Mãi đỉnh, phanh diên, loạn tróc phong.

買 鼎 烹 鉛 亂 捉 風

Chẩm hiểu Thiên Cơ siêu tục pháp,

怎 曉 天 機 超 俗 法

Tá tha đại lực trấn ngu mông.

借 他 大 力 鎮 愚 幪

Chỉ cầu ngoại viện để thành công,

Mãi Đỉnh, phanh Lô loạn tróc phong.

Phải hiểu Thiên Cơ siêu tục pháp,

Nhờ công lực nó trấn ngu ông.

******************         

Bài 21: Cửu Đỉnh 九 鼎

Kiền Nguyên cửu số hiệu Thuần Dương,

乾 元 九 數 號 純 陽

Cửu Đỉnh hoàn đơn đoàn luyện phương.

九 鼎 還 丹 煆 煉 方

Tạo nghiệt mê đồ sai nữ đỉnh,

造 孽 迷 徒 猜 女 鼎

Quyết nhiên đả nhập thiết vi hương.

決 然 打 入 鐵 圍 鄉

Kiền Nguyên số 9 hiệu Thuần Dương,

Lập ra Cửu Đỉnh đoàn luyện phương.

Tạo Nghiệt mê đồ bày nữ đỉnh,

Dốc lòng nhập phá Thiết Vi Hương.

Bài 22: Chiêu Nhiếp 招 攝

Chiêu nhiếp Tiên Thiên hữu bí phương,

招 攝 先 天 有 秘 方

Cổ Cầm, xao trúc kiến Hư Hoàng.

鼓 琴 敲 竹 見 虛 皇

Sắc Thanh náo xứ vô phương ngại,

色 聲 鬧 處 無 妨 礙

Tùy thủ nữu hồi Bắc Đẩu quang.

隨 手 扭 回 北 斗 光

Chiêu nhiếp Tiên Thiên chẳng khó khăn,

Hư Tâm sẽ thấy được Hi Hoàng.

Sống giữa Sắc Thanh không hề hấn,

Tùy tiện thu hồi Bắc Đẩu quang.

Bài 23: Điên Đảo 顛 倒

Điên đảo Âm Dương hữu thậm nan,

顛 倒 陰 陽 有 甚 難

Đương ư tĩnh lý vận thần quan.

當 於 靜 裡 運 神 觀

Đạo Tâm bất muội, Nhân Tâm diệt,

道 心 不 昧 人 心 滅

Lập địa trực đăng bách xích can.

立 地 直 登 百 尺 竿

Điên đảo Âm Dương chẳng khó khăn,

Chỉ cần yên tĩnh vận thần quan.

Đạo Tâm sáng suốt, Nhân Tâm diệt,

Lập tức vượt lên Bách Xích Can.

Bài 24: Hỏa hậu 火 候

Vận hỏa công phu bản một thời (thì),

運 火 工 夫 本 沒 時

Triêu Kiền, tịch Dịch trảm Tam Thi.

朝 乾 夕 惕 斬 三 尸

Phòng nguy lự hiểm thường thanh Tĩnh,

防 危 慮 險 常 清 静

Ứng vật bất mê, tổn ích chi.

應 物 不 迷 損 益 之

Vận hỏa công phu, phải liên miên,

Lo diệt Tam Thi, sáng lẫn đêm.

Phòng nguy lự hiểm tâm thanh tĩnh,

Ưng vật không mê tồn ích chi?

Bài 25: Quải tượng 卦 象

Hỏa Hậu Kinh ngôn Chu Dịch quải,

火 候 經 言 周 易 卦

Thôi Hào, Chấp Tượng câu giai phi.

推 爻 執 象 俱 皆 非

Đại đô yếu hội Âm Dương lý,

大 都 要 會 陰 陽 理

Tiến thoái tùy thời nhiệm chỉ huy.

進 退 隨 時 任 指 揮

Kinh dạy: Hỏa Hầu dùng quẻ Dịch,

Thôi Hào, Chấp Tượng tổng giai phi.

Đại khái phải rành Âm Dương lý,

Tiến thoái tùy thời mặc sức thi.

******************         

Bài 26: Kiền Khôn Lô Đỉnh 乾 坤 爐 鼎

Kiền Đỉnh, Khôn Lô tại ngã thân,

乾 鼎 坤 爐 在 我 身

Hưu tòng ngoại diện vấn nguyên nhân.

休 從 外 面 問 原 因

Cương Nhu nhị sự vô gián cách,

剛 柔 二 事 無 間 隔

Đoàn xuất Tiên Thiên Nhất Khí chân.

煆 出 先 天 一 氣 真

Kiền Đỉnh, Khôn Lô tại ngã thân,

Khỏi tìm duyên cớ ở xa gần.

Cương Nhu đừng để cho xa cách,

Luyện được Tên Thiên Nhất Khí chân.

Bài 27: Yển Nguyệt Lô 偃 月 爐

Vấn Đạo hà vi Yển Nguyệt Lô,

問 道 何 為 偃 月 爐

Hắc trung hữu bạch, Hối nhi Tô.

黑 中 有 白 晦 而 蘇

Phân minh chỉ xuất Hoàn Đơn Mẫu,

分 明 指 出 還 丹 母

Khiếu tỉnh thời nhân thức dã vô.

叫 醒 時 人 識 也 無

Vấn Đạo chi là Yển Nguyệt Lô,

Trong đen có trắng Hối lại Tô.

Phân minh chỉ rõ Hoàn Đơn mẫu,

Đánh thức người đời hiểu chữ Vô.

Bài 28: Chu Sa Đỉnh 朱 砂 鼎

Tu Chân tạ lại Chu Sa Đỉnh,

修 真 藉 賴 朱 砂 鼎

Phi Thiết, phi Kim, phi thị Ngân.

非 鐵 非 金 非 是 銀

Nhận đắc Linh Minh tha tử vật,

認 得 靈 明 他 子 物

Thủ tân, Cách cố kiến Nguyên Nhân.

取 新 革 故 見 元 仁

Tu Chân vốn cậy Chu Sa Đỉnh,

Chẳng sắt, chẳng Vàng, chẳng Thủy Ngân.

Linh Minh chí Bảo mà biết được,

Đổi cũ, thay tân thấy nguyên nhân.

Bài 29: Thổ Phủ 土 釜

Thổ Phủ khởi do thổ tác thành,

土 釜 起 由 土 作 成

Trung Ương chính vị thị Chân danh.

中 央 正 位 是 真 名

Mộc Kim Thủy Hỏa giai toàn thử,

木金 水 火 皆 全 此

Dưỡng khỏa nguyên châu triệt dạ minh.

養 顆 元 珠 徹 夜 明

Thổ Phủ đâu do Đất tạo thành,

Trung Ương chính vị ấy Chân Danh.

Mộc Kim Thủy Hỏa luôn gom đủ,

Một hạt minh châu sáng liên canh.

Bài 30: Đẩu Bính 斗 柄

Nhân quan Đẩu Bính vận Chu Thiên,

因 觀 斗 柄 運 周 天

Thủy ngộ Sinh Cơ tại na biên.

始 悟 生 機 在 那 邊

Nữu chuyển cước căn phiên quá diện,

扭 轉 腳 根 翻 過 面

Đương thời Hỏa Lý hiện Kim Liên.

當 時 火 裡 現 金 蓮

Nhìn chuôi Bắc Đẩu vận Chu Thiên,

Mới biết Sinh Cơ tại na biên.

Níu kéo cước căn phiên quá diện,

Trong lửa nhìn vào thấy Kim Liên.

******************         

Bài 31: Lưỡng Huyền 兩 弦

Hạ Huyền thị Thủy, Thượng Huyền Kim (Câm),

下 弦 是 水 上 弦 金

Chỉ thị điều đình Dương dữ Âm.

止 是 調 停 陽 與 陰

Quả nhược Cương Nhu hòa hợp liễu,

果 若 剛 柔 和 合 了

Đương trung lộ xuất Niết Bàn tâm.

當 中 露 出 涅 槃 心

Hạ Huyền là Thủy, Thượng Huyền Câm (Kim),

Chỉ cốt điều đình Âm dữ Dương.

Nếu thấy Cương Nhu hòa hợp lại,

Bên trong sẽ lộ Niết Bàn Tâm.

Bài 32: Nhâm Quí 壬 癸

Nhâm thủy Dương hề Quí thủy Âm,

壬 水 陽 兮 癸 水 陰

Học nhân kỷ cá tế truy tầm.

學 人 幾 個 細 追 尋

Khu cơ động xứ phân chân giả,

樞 機 動 處 分 真 假

Khử trọc lưu thanh sản bạch câm (kim).

去 濁 留 清 產 白 金

Nhâm thủy là Dương, Quí Thủy Âm,

Học nhân ít kẻ chịu truy tầm.

Khu Cơ Động Xứ phân Chân Giả,

Khứ trọc lưu thanh, sản Bạch Câm (Kim).

Bài 33: Luyện Kỷ 煉 己

Tu hành luyện kỷ tối vi tiên,

修 行 煉 己 最 為 先

Tuyệt dục, vong tình, khước vạn duyên.

絕 欲 忘 情 卻 萬 緣

Lục tặc, Tam Bành giai tiễn diệt,

六 賊 三 彭 皆 剪 滅

Kiền Kiền, tịnh tịnh nhất Đơn Điền.

乾 乾 淨 淨 一 丹 田

Tu hành Luyện Kỷ chiếm ưu tiên,

Tuyệt dục, Vong Tình, xả Vạn Duyên.

Lục Tặc, Tam Bành trừ diệt hết,

Trong veo còn lại một Đơn Điền.

Bài 34: Trúc Cơ 築 基

Chí niệm kiên lao thị Trúc Ki (Cơ)

志 念 堅 牢 是 築 基

Thân Tâm bất động tối vi kỳ.

身 心 不 動 最 為 奇

Bằng tha họa hoạn dữ tai ách,

憑 他 禍 患 與 災 厄

Chỉ Thủy vô ba vạn hữu ly.

止 水 無 波 萬 有 離

Trí niệm kiên lao ấy trúc ki,

Thân Tâm Bất Động thật ly kỳ.

Xa rời họa hoạn cùng tai ách,

Nước yên, sóng lặng chẳng lo chi.

Bài 35: Diên Hống 鉛 汞

Chân Hống nguyên phi trần thế Hống,

真 汞 原 非 塵 世 汞

Chân Diên bất thị xuất sơn Diên.

真 鉛 不 是 出 山 鉛

Nhất Tình, Nhất Tính Tiên Thiên dược,

一 情 一 性 先 天 藥

Đoàn luyện qui căn liễu đại hoàn,

煆 煉 歸 根 了 大 還

Chân Hống phải đâu trần thế Hống,

Chân Diên chẳng phải Xuất Sơn Diên.

Một Tình, Một Tính là tiên dược,

Đoàn luyện qui căn được Đại Hoàn.

******************         

Bài 36: Anh Xá 嬰 奼

Xá Nữ tàng Ly bản bất chân,

奼 女 藏 離 本 不 真

Anh Nhi tại Khảm diệc nan tuân.

嬰 兒 在 坎 亦 難 遵

Nhi kim thuyết phá Âm Dương khiếu,

而 今 說 破 陰 陽 竅

Năng thực, năng hư sản Pháp Thân.

能 實 能 虛 產 法 身

Xá Nữ tàng Ly chẳng phải Chân,

Anh Nhi ở Khảm cũng khó tuân.

Nay ta nói rõ Âm Dương Khiếu

Có thể Thực Hư sản Pháp Thân.

Bài 37: Khảm Ly 坎 離

Khảm Ly mạc hướng Bắc Nam cầu,

坎 離 莫 向 北 南 求

Hỏa tính phi đằng, Thủy hạ lưu.

火 性 飛 騰 水 下 流

Nhị vật như năng điên đảo quá,

二 物 如 能 顛 倒 過

Thủy thăng Hỏa giáng kết đơn đầu.

水 升 火 降 結 丹 頭

Khảm Ly đừng hướng Bắc Nam cầu,

Hỏa tính bay cao, Nước hạ lưu.

Thủy Hỏa biết đường điên đảo lại,

Nước trên Lửa dưới kết Đơn Đầu.

Bài 38: Chấn Đoài 震 兌

Đoài phi Tây địa, Chấn phi Đông,

兌 非 西 地 震 非 東

Tính loạn tình mê Khí bất đồng.

性 亂 情 迷 氣 不 同

Hội đắc Tình lai qui Tính Pháp,

會 得 情 來 歸 性 法

Siếp thời kiến Ngã Chủ Nhân Ông.

霎 時 見 我 主 人 翁

Đoài chẳng ở Tây, Chấn chẳng Đông,

Tính loạn, Tình mê khí chẳng đồng.

Nếu được Tình lai qui Tính Pháp,

Tức thời biết được Chủ Nhân Ông.

Bài 39: Tí Ngọ 子 午

Tí Ngọ hưu tòng Nhật Dạ tầm,

子 午 休 從 日 夜 尋

Thân trung biệt hữu Chỉ Nam Châm.

身 中 別 有 指 南 針

Âm Dương Động Tĩnh tùy thời hữu,

陰 陽 動 靜 隨 時 有

Định lý thường thinh Thái Cổ Âm.

定 裡 常 聽 太 古 音

Tí Ngọ khỏi tìm nơi Nhật dạ,

Trong thân đã sẵn Chỉ Nam Châm.

Âm Dương động tĩnh luôn luôn có,

Ngồi lặng sẽ nghe Thái Cổ Âm.

Bài 40: Mão Dậu 卯 酉

Mộc Dục Kinh ngôn Mão Dậu thời,

沐 浴 經 言 卯 酉 時

Hình dung nhị khí một thiên tì.

形 容 二 氣 沒 偏 疵

Ngu Nhân bất hiểu Âm Dương Hội,

愚 人 不 曉 音 陽 會

Triêu tịch nhị phân tĩnh tọa chi.

朝 夕 二 分 靜 坐 之

Mộc Dục theo Kinh: Mão Dậu thời,

Mộc Dục là khi tẩy trần ai.

Người ngu không hiểu Âm Dương hội,

Sáng chiều tĩnh tọa sống lần hồi.

******************         

Bài 41: Huỳnh Bà 黃 婆

Thư Hùng thất phối yếu Huỳnh Bà,

雌 雄 匹 配 要 黃 婆

Mậu Kỷ thành Khuê tạo hóa oa.

戊 己 成 圭 造 化 窩

Nhược vấn Huỳnh Bà chân tín tức,

若 問 黃 婆 真 信 息

Nhất Thành cảm cách, Ngũ Hành hòa.

一 誠 感 格 五 行 和

Chồng Vợ nên đôi cậy Huỳnh Bà,

Huỳnh Bà: Mậu Kỷ, Tạo Hóa oa.

Muốn biết Huỳnh Bà là chi đó,

Chí Thành, Chí Thánh: Ngũ Hành Hòa.

Bài 42: Hoàn Đơn 還 丹

Tu Đơn vi thậm hiệu Hoàn Đơn,

修 丹 為 甚 號 還 丹

Ngũ Khí phân ly câu các đơn.

五 氣 分 離 俱 各 單

Minh Thiện phục sơ giai tụ hội,

明 善 復 初 皆 聚 會

Thân Tâm bất động đả thành đoàn.

身 心 不 動 打 成 團

Tu Đơn cốt để luyện Hoàn Đơn,

Chưa tu: Ngũ khí tán các phương.

Nay hiểu lẽ Trời qui tụ lại,

Thân Tâm bất động. kết thành Đoàn.

Bài 43: Đơn thục 丹 熟

Đơn dĩ hoàn thời, biệt hữu phương,

丹 已 還 時 別 有 方

Bất tu gia giảm tái tăng dương.

不 須 加 減 再 增 陽

Tự Nhiên Thần Hỏa, Lô trung luyện,

自 然 神 火 爐 中 煉

Bính xuất thông thiên nhất lạp quang.

迸 出 通 天 一 粒 光

Đơn đã luyện xong, rất huy hoàng,

Hết cần gia giảm, hết tăng Dương.

Thần Hỏa lò trung âm ỉ luyện,

Phóng lên trời thẳm một vừng quang.

Bài 44: Thánh Thai 聖 胎

Thánh Thai phi thị Hữu Hình Thai,

聖 胎 非 是 有 形 胎

Khí tụ Thần ngưng chân chủng tài.

氣 聚 神 凝 真 種 栽

Lự Hiểm Phòng Nguy thường cẩn thận,

慮 險 防 危 常 謹 慎

Nhược hoàn đại ý tất sinh tai.

若 還 大 意 必 生 災

Thánh thai không phải Hữu Hình Thai,

Khí Tụ Thần NgưngChân Chủng Tài.

Lự hiểm phòng nguy luôn cẩn thận,

Nếu như sơ sẩy sẽ sinh tai.

Bài 45: Thoát thai 脫 胎

Thánh Thai thoát hóa thủy toàn chân,

聖 胎 脫 化 始 全 真

Thập nguyệt công phu dưỡng Cốc Thần.

十 月 工 夫 養 谷 神

Dương Khí Cực Thuần, Âm Khí tận,

陽 氣 極 純 陰 氣 盡

Hư không khiêu xuất nhất Tiên Nhân.

虛 空 跳 出 一 仙 人

Thánh thai thoát hóa mới toàn Chân,

Mười tháng công phu dưỡng Cốc Thần.

Dương khí Cực Thuần, Âm Khí tận,

Từ chốn Hư Không hiện Tiên Nhân.

******************         

Bài 46: Hữu Vi 有 為

Hữu Vi khởi thị lộng bì nang,

有 為 豈 是 弄 皮 囊

Tố tác thiên ban tổng thụ thương.

做 作 千 般 總 受 傷

Chẩm hiểu Tâm Truyền Chân Diệu Quyết,

怎 曉 心 傳 真 妙 訣

Quỉ thần mạc trắc nữu Âm Dương.

鬼 神 莫 測 扭 陰 陽

Hữu Vi há phải khổ thân đâu?

Biến thiên bày vẽ chuyện thương đau.

Nếu hiểu Tâm Truyền Chân Diệu Quyết,

Sẽ biết Âm Dương hợp nhất mau.

Bài 47: Vô Vi 無 為

Vô Vi bất thị chước Ngoan Không,

無 為 不 是 著 頑 空

Hoàn đắc Vật Vong, Vật Trợ công.

還 得 勿 忘 勿 助 功

Bạt khứ Luân Hồi sinh tử chủng,

拔 去 輪 迴 生 死 種

Đương trung chỉ hữu nhất Thần Đồng.

當 中 只 有 一 神 童

Vô Vi đâu phải chước Ngoan Không,

Vật trợ, Vật Vong hãy ung dung.

Bỏ được Luân Hồi, Sinh Tử Chủng,

Trong Không chỉ có một Thần Đồng.

Hình 48: Phục Cấu 復 姤

Âm Cực Phục Dương tu tiến hỏa,

陰 極 復 陽 須 進 火

Dương thuần, tương Cấu vận Âm Phù.

陽 純 將 姤 運 陰 符

Âm Phù, Dương Hỏa vô sai thác,

陰 符 陽 火 無 差 錯

Đoàn xuất Tiên Thiên Thái Cực Đồ.

煆 出 先 天 太 極 圖

Âm Cực Phục Dương nên tiến hỏa,

Dương thuần, tới Cấu vận Âm Phù.

Âm Phù, Dương Hỏa không sai lỗi,

Đoàn xuất Tiên Thiên Thái Cực Đồ.

Bài 49: Văn Vũ 文 武

Mãnh lực hàng Ma vi Võ Luyện,

猛 力 降 魔 為 武 煉

Hư tâm dưỡng Khí thị Văn Phanh.

虛 心 養 氣 是 文 烹

Tri Hung hiểu Cát tùy thời biến,

知 凶 曉 吉 隨 時 變

Biến địa hoàng kim diệu nhỡn minh.

遍 地 黃 金 耀 眼 明

Mãnh lực Hàng Ma là Võ Luyện,

Hư Tâm dưỡng Khí ấy Văn Phanh.

Tri hung, hiểu cát tùy thời biến,

Khắp đất HoàngKim, diệu nhỡn minh.

Bài 50: Hòa quang 和 光

Hòa Quang Hỗn Tục bí Thiên Cơ,

和 光 混 俗 秘 天 機

Đại dụng Thần Công chân cá hi.

大 用 神 功 真 個 稀

Thường ứng, thường thanh thường tự tại,

常 應 常 清 常 自 在

Tùy thời thoát cựu hoán tân y.

隨 時 脫 舊 換 新 衣

Hòa Quang hỗn tục: Bí thiên cơ,

Đại dụng Thần Công rất hiếm khi.

Thường ứng, thường thanh, thường tự tại,

Tùy thời bỏ cũ mặc tân y.

—————–
*****************         

CHÚ THÍCH

[1] Thức Thần là Chủng Tử luân hồi. Nguyên Thần mới là nguồn gốc trường sinh.

[2] Dương Tinh là Huyền quan khiếu, là Nê Hoàn Cung nơi đầu não chúng ta.

[3] Cốt lõi con người chúng ta là Tiên Thiên Khí, nó hoàn mỹ như Trời cao. Ấy là Bản Lai Chân Diện mục của chúng ta. Biết vậy sẽ tìm ra được Chủ Nhân Ông trong ta.

Đạo Nho gọi gió là Xích Tử Chi Tâm. Mạnh Tử nói: «Đại Nhân giả, bất thất kỳ Xích tử chi tâm giả dã» chính là vì vậy. (Mạnh Tử, Ly Lâu chương cú hạ, câu 12. Xem James Legge, The Four Books, p.322 and note 12).

Mạnh tử cũng gọi Tiên Thiên khí là Khí Hạo Nhiên. (Xem Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Chương Cú Thượng, câu 2.)

[4] Khi chưa sinh thì là Tiên Thiên, khí vừa ló đầu sinh ra là Hậu Thiên. Hậu Thiên là Hữu Vi là đường lối của phàm phu. Tiên Thiên là Vô Vi, là Đường lối của Thánh Hiền. Suy ra thì sẽ thấy.

[5] Hai chữ Thủ Kinh là một tiếng ít thông dụng. Nó cũng có nghĩa như Tiên Thiên Khí.

[6] Tinh, Khí, Thần là bửu bối của Đạo Gia. Người Tu Luyện dùng nó để luyện cho Thành Thần, hoàn hư, phục qui Vô Cực.

[7] Đạo Lão chủ trương Tính Mệnh Song Tu. Tu Mệnh là tu Hữu Vi, là học làm người. Tu Tính là tu Vô Vi là học làm Trời.

[8] Thiên Địa chi tâm là cái gì quí báu nhất trong con người. Chúng ta có thể có may mắn thấy được Thiên Địa Chi Tâm trong Ta, khi chúng ta khoảng 37 tuổi. Dịch Kinh nơi quẻ Phục viết: «Phục kỳ kiến Thiên Địa chi Tâm hồ!» Thấy được Thiên Địa chi Tâm là lúc con người vừa Hồi Phục, khi vừa mới có: Nhất Dương sơ động xứ. Sau đó theo đà thời gian sẽ tiến mãi lên cho tới Chí Dương, Thuần Dương.

[9] Trong con người có Nhân Tâm và Đạo Tâm. Nhân Tâm như Chì, như Sắt; Đạo Tâm như Vàng. Kinh Thư viết: «Nhân tâm duy Nguy, Đạo tâm duy vi, Duy Tinh Duy Nhất, Doãn chấp quyết Trung.» (Lòng của Trời siêu vi Huyền ảo, lòng con người điên đảo ngả nghiêng. Tinh ròng, Chuyên Nhất ngày đêm, Ra công ra sức giữ nguyên Lòng Trời.) Và công phu tu luyện là dùng Đạo Tâm để chế Nhân Tâm, dùng Nhân Tâm để dưỡng Đạo Tâm. Cuối cùng sẽ đạt được Tâm Tử, Thần Hoạt, sẽ Phối Thiên.

[10] Lúc con người chưa sinh là lúc còn Hồn Nhiên Nhất Khí, chưa có thư hùng, chưa có Âm Dương, chưa có Tứ Tượng Ngũ Hành.

[11] Trời sinh ra con người, thật ly kỳ. Cái mẫu người lý tưởng, cái Bản Lai Chân Diện Mục, cái Tâm Xích Tử của con người lại phải tìm cho ra khi con người vừa mới sinh.
——————
******************         

PHỤ LỤC 1

HUYỀN TẪN CHÂN KHIẾU THUYẾT

玄 牝 真 竅 說

Kẻ học đạo muốn tu Đại Đạo, muốn liễu Tính Mệnh, thì trước hết phải biết Huyền Tẫn chi môn. Huyền Tẫn chi Môn chính là Huyền Quan Nhất Khiếu. Khiếu này có hai cánh cửa, một đóng một mở cao chín thước, rộng 3 thước, ngoài có Linh Quan bả trì, trong có Long Hổ hộ vệ.

Gian Trung đường ở chính giữa thì Tứ Thông Bát Đạt, Trong đó có Chân Nhân. Đầu bù, Chân đỏ, mặc áo ngũ sắc, lưng thắt dây tơ vàng, tay cầm Kim Quang như ý, ngồi rất tự nhiên. Phía sau giường không treo ảnh tượng.

Tường có treo đèn pha lê. Yên lặng, buông rèm, ngồi không nhúc nhích, con ngươi không động đậy, không mở miệng nói bừa, tả có Kim Đồng, Hữu có Ngọc Nữ. Cũng có lúc mắt sáng rực càn khôn, dù là Âm Ti tăm tối cũng chiếu sáng.

 Cũng có khi mở miệng nói thì khí sung vũ trụ, quỉ quái tà ma đều lo xa lánh. Nắm quyền Tạo Hóa, giữ máy Âm Dương, giữ sổ Sinh Tử, nắm giữ cán cân Tính Mệnh.

Nếu ai biết mà thành tâm lễ bái, sáng chiều phụng trì, không hề rời xa. Chân Nhân đó có Diên Mệnh Tửu, có Trường Thọ Đơn, Người nào đã nếm qua, sẽ thoát thai, hoán cốt, xuất tử, nhập sinh.

Nhưng thế gian này, ít trượng phu, ít liệt sĩ, không dám chịu vất vả, không chịu kiên tâm, lại không chịu nghiên cứu Căn Thể, Chính Lý, chỉ sống với cái thân hữu hình hữu tượng này mà thôi.

Giảng Huyền Quan, luận Huyền Tẫn, cứ chước không chấp tướng, theo bọn tiểu thừa, mà mong thành đạo. Buồn thay. Nếu quả là hào kiệt chân chính, thì phải Triệt Nhiên phóng hạ, vạn duyên giai không, phải chịu cầu Chân Sư, chịu kết giao với Lương Hữu.

Chết cũng không thay lòng đổi dạ, thì cuối cùng sẽ hiểu thế nào là Huyền Quan, sẽ thấy được Huyền Tẫn, sẽ liễu đạt Tính Mệnh. Học giả nên cố gắng.

******************         

TU CHÂN YẾU QUYẾT

修 真 要 訣

Đại đạo vô vi bản tự nhiên,

大 道 無 為 本 自 然

Công phu bất đáo, bất phương viên.

工 夫 不 到 不 方 圓

Tam xoa lộ khẩu, tầm Chân Chủng,

三 岔 路 口 尋 真 種

Bát quái Lô Trung luyện Tính Thiên.

八 卦 爐 中 煉 性 天

Một để pháp thuyền năng độ hải,

沒 底 法 船 能 渡 海

Tùy thân dược liệu khả diên niên.

隨 身 藥 料 可 延 年

Hình trung tàng Đức nhân nan trắc,

形 中 藏 德 人 難 測

Hại lý sinh Ân tâm yếu chuyên.

害 裡 生 恩 心 要 專

Tứ tượng điều hòa qui Bản Diện,

四 象 調 和 歸 本 面

Ngũ Hành toản thốc trưởng Kim Liên.

五 行 攢 簇 長 金 蓮

Hữu tăng hữu giảm phương vi diệu,

有 增 有 減 方 為 妙

Tri Cát, tri Hung thủy nhập huyền.

知 吉 知 凶 始 入 玄

Thoát tận khiên triền trần cấu vật,

脫 盡 牽 纏 塵 垢 物

Toàn thành phụ mẫu vị sinh tiền.

全 成 父 母 未 生 前

Tu tiên tác Phật giai do thử,

修 仙 作 佛 皆 由 此

Dư nhị Hư Huyền câu tẩu thiên.

餘 二 虛 懸 俱 走 偏

 *Dịch :-

Đại đạo Vô Vi vốn tự nhiên,

Công phu không đủ, khó phương viên.

Đứng giữa ngã ba, tìm nẻo chính,

Trong lò Bát Quái luyện Tính Thiên.

Pháp Thuyền không đáy năng vượt biển,

Đại Dược tùy thân khá diên niên.

Hình trung tàng Đức người khó biết,

Hại lý sinh Ân, tâm phải chuyên.

Tứ tượng điều hòa qui Bản Diện,

Ngũ Hành toản thốc, mọc Kim Liên.

Có tăng có giảm nên kỳ diệu,

Biết Cát, biết Hung mới nhập huyền.

Thoát hết phược triền trần cấu vật,

Hoàn thành phụ mẫu Vị Sinh Tiền.

Tu Tiên tác Phật đều do đó,

Ngoài ra tất cả: tổng Hư Huyền.

(xin xem Phần chính văn chữ Hán của TƯỢNG NGÔN PHÁ NGHI)

******************         

QUYỂN THƯỢNG

象言破疑

象言破疑序
 
    丹經萬卷皆象言也。象言者,非直言,非明言,非空言,非異言,乃有物有則,有指有證,取象演真之言。後人不究其意,止執其象,在儒者讀之,以為怪誕不經; 在道者讀之,以為包皮外象,甚至有執象猜疑,百般做作,流於曲徑邪行,自傷性命者,不可枚舉。咦!是豈古聖先賢取象立言之意乎?易曰:法象莫大乎天地,變 通莫大乎四時,懸象著明莫大乎日月。丹經皆本週易而作,其藥物火候,俱借天地、日月、四時以發揮其奧妙,若以丹經象言為怪誕,為包皮,易有風雲、雷電、龍 虎、牛馬、鹿羊、龜雉之象,與夫眇能視,跛能履,乘其墉,朋盍簮,噬膚滅鼻,困於株木,載鬼一車,刲羊無血等象,亦將以為怪誕包皮乎?悲夫!正道失傳已 久,不自今始。余自遇真師之後,取諸家丹經,彼此參看,實有得乎象言之意,因將所得於師者,盡洩於參、悟、闡真、原旨等書之內,猶恐學者難於貫通,又著象 言破疑一書,繪圖畫像,細分是非,掃旁門而指正道,息邪說而辯真宗,此則余之本願。見是書者,當思死人亦能說生術,勿以糟粕笑棄。為幸甚。
    時  嘉慶十六年,歲次辛未,春,王正月,棲雲山素樸老叟悟元子劉一明自敘於洗心亭。
 
象言破疑捲上
 
棲雲山悟元老人著 

門人魏陽誠刊梓  後學劉卜雲重刊

象言說
 
    修真之學,古經多言無為之道,而於有為之道罕言之,但無為之道,惟上智者頓悟圓通,一了百當,立躋聖域,其次中下之人,性質愚鈍,根塵深,識見小,若行無 為之道,力量不及,決不能萬緣俱空,直登彼岸。後漢魏伯陽仙翁,准易道而作參同契,度引中下之流,以有像譬無象,以有形喻無形,始有金丹之名,鉛汞、砂 銀、烏兔、龍虎、嬰姹、藥物、爐鼎、烹煉等等法象之說。自後成道群真皆祖參同而作丹經,以演妙理,其意皆欲後之學者,因此以參彼,借彼以證此耳。無如後之 學者,不究寓言之意,不推取象之理,見金丹鉛汞爐鼎之說,疑為服食,而遂流於爐火;見烏兔龍虎之說,疑為臟腑,而遂流於存想;見他家我家陰陽男女之說,疑 為閨丹,而遂流於採取;見逆順顛倒之說,疑為強作,而遂流於運轉;見修性無為之說,疑為寂滅,而遂流於頑空;見修命有為之說,疑為擺弄,而遂流於執相;等 等門戶,皆是以鹿為馬,以鳥作鸞,不但無益於性命,而且有害於性命,是豈祖師當年取象喻言之意乎?
    夫象者,像也。言其此物而像彼物,彼事而像此事也。試以眼前人人共見共知之事物論之,譬如烹煎飲食,鍋即鼎也,灶即爐也,鍋中貯水,灶底燒火,火本上焰,水本下流,今鍋中之水在上,灶底之火在下,水火顛倒,彼此相濟,而飲食熟成,此凡水凡火相濟之象也。
    人之剛性躁,多動,動則屬火,柔性緩,多靜,靜則屬水;用柔以養剛,以剛而就柔,剛柔相當,不躁不緩,歸於中正,大道易成,此神水神火相濟之理也。取凡水 凡火相濟之象,以喻神水神火相濟之理,而其理顯然矣。又如有人本來家業豐富,不守本分,化費財產將盡,忽然自知悔過,苦心勞力,重務生活,漸次積聚,財物 由少而多,終必家業復舊,此還元返本之象也。人身精神靈氣,本來充足圓滿,交於後天,順其造化,費精勞神,元氣衰敗,原本消耗殆盡,若知改頭換面,懲忿窒 慾,閒邪存誠,漸次用功,終有歸根覆命之時,此還元返本之理也。取世人還元返本之象,以喻修道還元返本之理,而其理顯然矣。又如世間男女相配,兩而合一, 即能生子生孫,此人道生生不已之象也。人身陰陽相當,兩而合一,即能生仙生佛,此丹道生生不已之理也。借人道生生之象,以喻丹道生生之理,而其理顯然矣。 丹經皆是借象以喻理,教人從象上辨別所行之理,非是教人背乎理而於象上做作也。
    今人不窮其理,只認其象,悲哉!丹經象言極多,學者須宜由象以窮理,得像忘言,得意忘象,其庶幾乎?

順逆說
 
    舉世之人,皆知順行之道,而不知逆運之道。何為順?順其造化也;何為逆?逆其造化也。順造化則生人生物,生老病死,輪迴不息;逆造化則成仙成佛,不生不滅,壽同天地。
    凡人自父母成胎,生身以後,二八數足,交於後天,內而七性六慾迷其真,外而萬緣萬事勞其形,認假為真,以邪為正,以苦為樂,順其所欲,無所不至,將本來精 氣神三寶,消化殆盡,將原有圓明真性,全然昧卻,不到咽喉氣斷之時,不肯休歇,以故生生死死,萬劫沉淪,所謂閻王不呌,自投其死也。若是大智慧人,逆運造 化,不為造化所拘束,不為陰陽所陶鎔,不為萬物所牽引,不為萬緣所牽移,在大火裡栽蓮,泥水中拖船,借世法而修道法,依人道而全天道,將歷劫根塵盡皆拔 去,把後起客氣一概掃無,命由自主,不由天主,復還當年乾元面目,躲去輪迴,超出三界,為金剛不壞之物矣。
    但這個順中逆運天機,有口傳心授之秘,必須真師指點,非可私猜而知。世間學人,恃自己螢火之明,管窺之見,記下幾句話頭,看過幾宗公案,自謂知道,再不求人,人前賣弄,滿口亂談,以己盲而引人盲,罪過罪過。
    又有一等糊塗漢,認不得真師,朝王暮李,學此小乘工夫,亦負有道,即有明人在前,不肯低心下氣,亂作亂為,或心氣下降,腎氣上升為逆行,或運氣後升前降為 逆行,或還精補腦為逆行,或閉氣定神為逆行,或採陰補陽為逆行,或男下女上為逆行,如此等類,千門萬戶,皆是背逆聖道,非是逆運造化;儘是取死之道,非是 至生之道。殊不知逆者,逆回於父母生身之初也,如人離家遠出,而又逆回於家之謂。
    雖雲逆行,其實是順理而行,乃逆中之大順,因其與常人所行相反,故謂是逆。旁門曲徑,惑於逆之一字,而遂在肉皮囊上萬般作為,到底落空,豈不愚哉!

藥物說
 
    丹經子書,所言採取藥物,烹煉金丹,皆是先天無形無質之真,非世間有形有質之藥,亦非人身有形有質之物,因其人自有生以後,認假失真,將本來圓成之寶,消化殆盡,一身純陰,滿腔邪氣,如大病臨身,待時而死,不有真正靈藥療治,如何返陰為陽,保全性命也?
    真正靈藥是何藥?先天真一之氣也,先天精氣神三寶也。先天真一之氣又名真種子,此氣不落於色象,至無而含至有,至虛而含至實,真空妙有,統攝精氣神三寶, 三寶亦非有形之物,乃無形之真。玉蟾翁云:其精不是交感精,乃是玉皇口中涎;其氣即非呼吸氣,乃知卻是太素煙;其神即非思慮神,可與元始相比肩。雖分三 家,總歸於先天一氣,三家合而成一氣,一氣分而為三家。採藥者,即采此一氣三寶,運真火煆煉成丹,點化一身萬般陰氣,歸於純陽清靜無垢無塵之原物,如人有 病,用藥醫治而成好人矣。所謂藥物者,譬象也;後世學者見丹經藥物之說,誤為有形有質之物,而遂採取山中草藥,配合服食,妄冀長生,或採五金八石,煆煉丹 藥服食,妄想飛昇,殊不知有形之藥,僅能治有形之病,而不能治無形之病,若欲治無形之病,非采先天真一之氣,余無他術矣。參同云:同類易施功兮,非種難為 巧。悟真云:竹破須將竹補宜,抱雞當用卵為之;萬般非類徒勞力,爭似真鉛合聖機。真鉛即先天真一之氣也。觀此一切,認凡藥為仙藥可以悟矣。

火候說
 
    丹經子書所言火候,乃喻其修持工夫次序之準則也。蓋修持功力有先後,有急緩,有進退之時候,不得宜先者而後,宜後者而先;不得宜急者而緩,宜緩者而急;不 得宜進者而退,宜退者而進;亦如爐火燒藥,有文武進退止足之時候,故修真用功次序,取象為火候也。但用功火候,不拘年月日時,刻刻行之,宜先而即先,宜後 而即後,宜急而即急,宜緩而即緩,宜進而即進,宜退而即退,隨時變通,毫髮不得有差。
    所謂宜先者,先嚴於內也;宜後者,後御其外也;宜急者,急於用功也;宜緩者,緩於溫養也;宜進者,陽未足而須進陽;宜退者,陰方生而須退陰;此即火候之實 理,非工家子時進陽火,午時退陰符,卯酉二時宜沐浴之說;亦非冬至進陽火,夏至進(當為退)陰符,春分秋分宜沐浴之說。夫天有天之子午卯酉,人有人之子午 卯酉,豈可以天之子午卯酉而即是人之子午卯酉乎?人身子午卯酉,刻刻皆有,古經云:不必天邊尋子午,身中自有一陽生。蓋以陽生即子,陰生即午,陽與陰合即 卯,陰與陽合即酉,所謂活子午卯酉也,豈是天邊死子午卯酉乎?金丹四百字云:火候不須時,冬至不在子,及其沐浴法,卯酉亦虛比。悟真篇云:縱識硃砂與黑 鉛,不知火候也如閒,大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。曰冬至不在子,曰卯酉亦虛比,曰毫髮差殊不結丹,可知非天邊子午卯酉矣。如雲是天邊子午卯酉,是十 二時只有四時修持,所餘八時棄之不用,豈能毫髮無差乎?入藥鏡云:一日內,十二時,意所到,皆可為。可見年月日時,刻刻用功修持,防危慮險,毫髮不容有 差;至於六十四卦火候之說,亦是指示陰陽進退之法,教人隨時加減,變通用功耳,豈是教人依六十四卦次序而行乎?悟真云:卦中設象本儀形,得像忘言意自明, 舉世迷徒惟執象,卻行卦氣望飛昇。讀書須要會的古人取象立言之意,意已得而像可忘矣。
    修真之道,千經萬典皆象言也,雖取象不一,總以發明陰陽順逆、藥物真假、火候準則而已,其外再無別說。予自得師指示,實悟的象中之意,不敢自私,願公諸知音之士,因將丹經緊要之條拈出,繪圖傳真,分析是非,以破學者之疑,其餘可類推而知。
 

胎中面目
 
    人當父母未生身以前,男女陰陽二氣交感之時,杳冥之中有一點生機自虛無中來,所謂先天真一祖氣者是也。此氣入於精血之內,陶鎔精血,混而為一,無形而即生 形,無質而即生質,內而五臟六腑,外而五官百骸,變之化之,皆自然而成全,雖懷胎之婦,亦莫知其所以然也。後學不知此理,或疑人在胎中,臍帶通於母氣,母 呼亦呼,母吸亦吸,漸次變化成形者,非也。夫呼吸之氣,乃後天之氣,後天之氣,焉能變化精血而成形?況呼吸之氣,焉能入於胞胎之中?殊不知母胎中,只有先 天一點祖氣,渾渾淪淪,始而凝胎,既而養胎,終而全胎,始之終之,皆此祖氣成就之,別無加雜。當斯時也,雖有人形而無人道,天地萬物,水火刀兵,俱不能 傷;七情六慾,五賊四相,俱不能近,究到實處,只一虛空而已。古仙教人修道,返於父母未生身以前面目者,即返於虛空之境,而無聲無臭也。無聲無臭,即是無 極,無極者,無之極,即是一無而已。

嬰兒面目
 
    人在母腹之中,十月胎圓,瓜熟蒂落,破胞而出,足向天,頭向地,”哇”的一聲,方接後天之氣,自口鼻而入,下於氣海,與先天元氣相合,先天為體,後天為 用,後天借先天而呼吸往來,先天借後天而蓄養血脈。不但此也,當”哇”的一聲時,歷劫輪迴識神,亦入於竅,而與先天元神混而為一,元神借識神而存,識神借 元神而靈,但嬰兒初生,雖有後天之氣,後天之神,而先天統後天,後天順先天,先後混成,混混沌沌,無識無知,一真而已。古仙教人窮取生身處,即窮取生身之 初,即窮取嬰兒面目也。迷人不知,妄言生身處是婦人產門者,非也。夫生身之初,嬰兒面目,純白無玷,是聖賢胚胎,仙佛根芽,故飛鳥不搏,虎兕不傷。蓋不搏 不傷者,以其無心也,無心而生死不礙,何災何患?此即始極之象。始極者,始之極,未交於後天,雖與後天相混,純是先天管事,因其在始之極,由無而方始也。

孩兒面目
 
    人自嬰兒漸長,能行能走,能言能語,隨人指引,名曰孩兒,又名孩提之童。嬰兒無識無知,孩兒已有識有知,未免浮雲點太空矣。能識有知,是由始極漸至太極 矣。太極者,大之極,大極則必小,陽極則必陰之時,但小未來,陰未生耳。小未來,陰未生,尚是先天用事,後天伏藏,雖有識有知,根塵尚未發,客氣尚未侵, 飲只食,寒只衣,喜怒哀樂,隨興隨滅;富貴窮通,不知不曉;順其自然,絕無雜念,亦是聖賢胚胎,仙佛根芽。愚人不知,以孩兒為嬰兒者,非也,嬰兒是赤子, 孩兒是童子,雖然皆俱天真,而身份高低不一,知識有無各別,故古仙皆以返本還元為嬰兒本來面目,不取孩兒頑童面目也。

陰陽分判
 
    人自孩兒漸長,二八氣足,陽極生陰,日鑿一竅,陰陽兩分,各居一方,真中有假,於是知識漸開,善惡分別,是太極判而陰陽分矣。所謂二八氣足者,如月上弦下 弦,兩弦合一,光渾圓滿之象;喻其先天陽極,如太極也,陽極必陰,如太極一判,而陰陽兩離矣。愚人不知,以二八生陰之說,疑為男子十六歲而陰精洩者,非 也,試觀世間男子,有十四五歲而洩精者,有十六七歲而洩精者,更有十八九歲而洩精者,歲精多寡不等;可知二八之數,不論人之年歲,乃言氣之盈滿也。

五行分位
 
    陰陽一分,於是五行亦亂矣。五行者,金木水火土之五氣也。五行在先天,則是土生金,金生水,水生木,木生火,火生土,五行一氣,發而為仁義禮智信之五德; 在後天則土克水,水克火,火克金,金克木,木克土,五行相戕,發而為喜怒哀樂欲之五賊。五行相合,則五德備而陰陽混一;五行分散,則五賊興而陰陽駁雜。五 行一分,識神漸起,根塵漸發,真者退位,假者當權,孩兒面目亦失矣。愚人不知,以五臟分五行者,非也。夫五臟者,有形有質之濁物,為後天五行之旅寓,非先 天五行之德園,若以五臟即是五行,五臟如何能分能合?且五行有先天后天之別,先天本於生身以前,後天出於生身以後;先天生聖,後天生人;兩個五行,雖分先 後,皆是活的,非有定位,豈可以五臟之濁物為五行乎?

後天用事
 
    陰陽判,五行分,後天一交,先天退位,於是秉受氣質之性發,外來習染之塵生。六根門頭,門門招賊;七情孽種,種種生災。純白之體,漸漸陰氣入內矣。陰氣一 入,陰氣漸長,陽氣漸消,長而又長,消而又消,順其所欲,無所不至矣。愚人不知,以氣質之性為真性者,非也。真性者,天命之性,屬於先天,有益於人;氣質 之性者,人生之性,出於後天,有損於人。豈可以後天之性即先天之性乎?

純陰無陽
 
    後天用事,陰進陽退,日復一日,年復一年,內而萬唸作殃,外而萬物牽引,內外加攻,陽氣消盡,一身純陰,三寶耗滅,魂魄難存,不死豈能之乎?愚人不知,以 數盡命絕,委之於天者,非也。夫人生所依賴者,陽氣也。一點陽氣,不盡不死,一點陰氣,不純亦不死。順其陰氣,消滅陽氣,自尋死路,與天何涉也?以上七 圖,皆順行造化,生人之道也。

煉己築基
 
    修真之道,返還之道也。返者,我已去而又來之謂;還者,陽已失而復得之義。是於純陰之內,而返還其本來真陽也。人自後天用事,一身純陰,先天陽氣消化殆 盡,不有返還之功,何能無者而復有,失者而仍得耶?返還之功莫先於煉己築基。煉己者,煉其歷劫根塵、氣質偏性,與夫一切習染客氣,即懲忿窒慾,克己復禮之 功。能懲忿窒慾,克己復禮,則無思無慮,不動不搖,根本堅固。即如起屋必先築基,基地堅固,木料磚瓦由人做作,無不負載也。煉己即在築基之中,築基不在煉 己之外。愚人不知,以煉己為守心,築基為閉精者,非也。夫煉己之功,為丹道始終之要著,直至陰盡陽純之後,而煉己之功方畢。若未到陰盡陽純之時,而煉己之 功不可歇。若謂守心閉精即是煉己築基,豈能全金丹之大事乎?古仙云:還丹在一時,煉己須十月。於此可知,非守心閉精矣。

天良真心
 
    煉己築基,非是強制強作、苦力用功,必要認的天良真心,借此真心以煉己。則黑暗之中,即有一點陽光發現,號曰真靈。真靈若現,是非邪正,判然分明,不為物 慾所牽,不為塵緣所染,煉己甚易。倘認不得真心,則邪正不分,是非罔辨,是以心制心,終是人心用事,強制強作。所謂卻除妄想重增病,趨向真如亦是差。如何 到無己之處?愚人不知,誤認人心為真心者,非也。夫真心無心,無心之心,方是天良之心。有此天良之心,何難於己之不能克去乎?百字碑云:動靜知宗祖,無事 更尋誰。黃鶴賦云:離內七般硃砂,無真種則時刻難留。三丰云:築基時須用槖籥,煉己時還要真鉛。祖宗真種、槖籥真鉛,皆天良真心之別名。噫!天良真心,豈 易知哉?若有知之者,則得其一,而萬事畢矣。

陽長陰消
 
    認的天良真心,主人公穩坐中央,為道日減,為功日增;陽氣漸長,陰氣漸消;長而又長,消而又消,直到無可長消處,方為極功。愚人不知,以靜坐無為、寂滅頑 空,妄想陽氣自長,陰氣自消者,非也。夫還丹者,陰中復陽也。若以靜坐無為、寂滅頑空而欲復陽,陽豈能自來,陰豈能自退?《悟真》云:”總識硃砂與黑鉛, 不知火候也如閒;大都全藉修持力,毫髮差殊不結丹。”於此可知進陽退陰之道矣。

攢簇五行
 
    陽長陰消,還要知的攢簇五行。五行攢簇,大道可望。攢簇之功是在後天五行中返出先天五行也。後天五行,彼此相剋也;先天五行,彼此相生也。返者,於相剋之 中而致相生也。五行相生,渾然天理,是五行一氣,四象和合也。愚人不知,以意引心腎之氣,上下相交,運肝肺之氣,左右相會為攢簇五行者,非也。夫五臟之 氣,皆有形之物,後天滓質,有成亦有壞,如何凝結永久不壞之命寶哉?

陰陽混合
 
    五行從陰陽中分出,五行攢簇,合而為一,即是陰陽合而為一。陰陽混合,金丹有像,仍是孩兒面目,但不過後天之氣,猶未化去耳。然雖是未化去,先天返還,後 天即順,亦是不能為禍,從此再下一重功夫,金丹可成矣。愚人不知,或心腎相交,或任督相會,或男女相交,為陰陽混合者,非也。夫金丹先天虛無之氣凝結而成 者,豈後天氣血有形之物所能凝結哉?

渾然一氣
 
    陰陽返還於混成,孩兒面目已復,從此運天然真火,鍛去後天余陰,歸於無識無知地位,神藏氣聚,所謂男兒有孕者是也。這個胎孕,即是嬰兒面目,即是生身受氣 處,亦即始極,亦即太一含真氣。愚人不知,采紅鉛,摘梅子,服食吞飡,相結聖胎者,非也。若謂紅鉛梅子能結聖胎,不過所結者血塊肉團,促死之鬼胎而已,其 他何望乎?

太空虛無
 
    聖胎凝結,再加十月溫養之功,運天然真火,熏烝烹煉,由微而著,由嫩而堅,群陰剝盡,胎圓丹成,瓜熟蒂落,忽的打破混沌,迸出清淨法身,跳入太空虛無之 境,超出乎三界之外矣。此即未生身以前面目,亦即無極面目。道歸無極,形神俱妙,與道合真,大丈夫之能事畢矣。愚人不知,或對鏡演神,或默想頂門,或面壁 忘形,出陰神之類者,非也。金丹脫化之神,乃為陽神,其一切靜功所出之神,乃為陰神;陽神萬載長在,不生而不滅;陰神未經火煉,拋身又入身。千門萬戶,若 不得金丹大道點化,雖能陰神出入自便,知前曉後,難逃輪迴,所謂饒君千萬劫,終是落空亡也。
 
以上七圖,皆逆行造化,修仙之道也。
 
十四圖中,順行逆運二事,大略可知,以下拈出緊要像言,分判邪正,指出實義,以示學者,諸如此類,可以意會矣。
——————————  
******************         

QUYỂN HẠ

象言破疑

卷下
 

金丹
 
    金者,堅剛永久不壞之物;丹者,圓滿光淨無虧之物。古仙借金丹之名,以喻本來圓明真靈之性也。此性在儒則名太極,在釋則名圓覺,在道則名金丹。名雖分三, 其實一物。儒修之則為聖,釋修之則為佛,道修之則為仙。三教聖人皆以本來真性為成道之本也。愚人不知,或用五金八石鍛鍊成藥為金丹者,非也;真性在大造爐 中,經火鍛鍊成熟,與天地同長久,與日月同光明,豈凡世有質之物能成哉?

天地之心
 
    修真第一要著,須要認得天地之心。天地之心即前所云天良真心也。此心恍惚杳冥,不輕現象,因有虛室生白,暗中忽明之時,方露端倪。天屬陽,地屬陰,天地之 心,乃陰不離陽,陽不離陰,陰陽相合之心。陰陽合,有此心,陰陽分,無此心;非色非空,即色即空,非有非無,即有即無,色空無礙,有無不立,乃真空中之妙 有也。識得此心,守而不失,則大本已立,其餘易事耳。愚人不知,皆在肉團頑心上揣摩,或以動心為天地之心,或以靜心為天地之心,或心住中宮為天地之心者, 皆非也。夫頑心者,後天私慾之人心,動心則著於有,靜心則著於無,住心又著於象,此等之心與天地之心雲泥相隔。蓋以天地之心,動靜如一,寂然不動,感而遂 通,感而遂通,寂然不動,豈肉團頑心之謂乎?

偃月爐
 
    偃月者,偃仰蛾眉之月。月晦極,下又生明,喻人至靜之中,忽有天根現露,號曰道心,有如偃月之象。爐者,運火之器,以其道心陽光,能以鍛鍊一身之陰氣,故 又喻之為爐,其實道心即天地之心。以體言,為天地之心;以用言,為道心。一物而二名也。愚人不知,以丹田之下橫骨上仰為偃月爐,或認心字一彎上仰,誤以肉 團心為偃月爐,又采戰家以婦女產門為偃月爐者,皆非也。夫偃月爐,乃道心之光輝,此光照處,諸邪皆滅,能以作聖,能以作仙。紫陽翁云:”休泥丹灶費工夫, 煉藥須尋偃月爐。”又云:”偃月爐中玉蕊生,硃砂鼎裡水銀平;只因火力調和後,種得黃芽漸長生。”於此可知偃月之義矣。

硃砂鼎
 
    硃砂者,火之色,因其火能鍛鍊諸物,去舊換新,故人以鼎象之。火之為物,最靈最神,無物不化,喻其神明無處不照,無事不成之義。但神有元神有識神,識神能 以敗道,元神能以成道。蓋識神帶有歷劫根塵,借元神之靈而生妄,不至喪去性命而不止。修行大法,須要以元神而制識神,識神不起,則邪火滅,邪火滅而真火 生,真火生而和氣氤氳,生機不息,大道可望。愚人不知,誤認昭昭靈靈之識神以為元神者,非也。夫元神者,不神之神,靈而最真,真而最靈;昭昭靈靈之神,乃 神而神者,雖靈有假,假中之靈為輪迴之種子。古仙云:”無量劫來生死本,痴人喚作本來人。”生死本,即識神之謂也。

元牝之門
 
    元為陽、為剛、為動,牝為陰、為柔、為靜,元牝之門乃陰陽之竅、剛柔之門、動靜之關,無方無所,無形無象,彷彿曲肖,虛懸一竅,在五行不到之處,四大不著 之境,至無而含至有,至虛而含至實,乃陰陽相合之中一竅。愚人不知,以口鼻為元牝者,非也。夫口鼻是呼吸出入之門,非陰陽出入之門,陰陽相合,生仙生佛, 口鼻呼吸之氣,豈能生仙生佛乎?悟真云:”元牝之門世罕知,莫將口鼻妄施為”者是也。

元關一竅
 
    元關者,至元至妙之關口,又名生死戶、生殺室、天人界、刑德門、有無竅、神氣穴、虛實地、十字路等等異名,無非形容此一竅耳。元關即元牝之別名,因其陰陽 在此,故謂元牝門;因其元妙不測,故謂元關竅,其實皆此一竅耳。愚人不知,或以心下腎上處為元關,或以臍心為元關,或以尾閭為元關,或以夾脊雙關為元關, 凡此皆非也。蓋元關無定位,若有定位即非元關。陳虛白以念頭起處為元關,似是而實非也。念頭起處已落於後天有形之物,如何稱為元關?吾今與大眾分明指出: 在恍惚杳冥之間,有無相入之際,悟真篇曰:”恍惚之中尋有像,杳冥之內覓真精,有無從此自相入,未見如何想得成?”又四百字云:”此竅非凡竅,乾坤共合 成,名為神氣穴,內有坎離精。”此實指元關一竅而言也。

穀神
 
    穀神者,空谷之神,俗名崖娃娃。因其兩山高聳,中間一谷,人聲喊叫,谷中傳聲,故名穀神。修道借此以喻人身虛靈之神。蓋心虛則靈,不虛不靈,靈出於虛,亦 名穀神。神者,無形無象,靈而不可測度之義。所謂寂然不動,感而遂通者,此神也;所謂凝結聖胎者,亦此神也。愚人不知,以神存天谷謂穀神,或神守黃庭謂穀 神者,皆非也。若神存於天谷,神守於黃庭,則是不虛,不虛焉得有神?不虛無神,何得名穀神?悟真云:”要得穀神長不死,須憑元牝立根基。真精既返黃金室, 一顆靈光永不離。”元牝合而中即虛,虛則真靈常存而不昧矣。真精靈光穀神,皆喻真靈之一物耳。

金鼎 玉爐
 
    金鼎者,剛強堅固之物,喻人志念專一,能以載道之義,又名乾鼎;玉爐者,溫柔平靜之物,喻人工夫漸進,能以久遠之義,又名坤爐。愚人不知,鑄造鐵鼎,做作 泥灶,燒煉金石,妄想成丹者,非也。蓋有形之爐鼎只能煉有形之凡藥,而不能煉無形之仙藥。古仙云:鼎鼎原無鼎,爐爐亦非爐。其所謂爐鼎者,以其修道之功, 剛柔兩用方能濟事,亦如燒煉家,有鼎不可無爐,有爐不可無鼎,鼎爐俱備,方能成藥也。

烏兔 藥物
 
    日中有金烏,為陽中之陰;月中有玉兔,為陰中之陽。日在卦為離,外陽內陰,喻其剛中有柔之義;月在卦為坎,坎外陰內陽,喻其柔中有剛之義。金丹之道,惟取 剛中之柔,柔中之剛,兩味真陰真陽大藥,熔化一氣而成丹。曰藥物者,以其真陰真陽能以返老還童,延年益壽也。至於龜蛇盤結,水火相濟,亦是此理,不過隨便 取象,以證真陰真陽合一之道耳。愚人不知,疑為烏兔二字,或口吸日精月華,或眼接日精月華者,非也。夫天有天之日月,人有人之日月,人身真陰真陽,即人之 烏兔日月也。天邊日月精華,與我相遠,怎能采來?如曰能采,則改採者身外邪氣,久必內得臌脹,外則失明,無益有損矣。

龍虎相會
 
    龍性柔,主生物,屬木,在卦為震,喻人之柔性。震本陽而取柔象者,陽少陰多也。虎性剛,主殺物,屬金,在卦為兌,喻人之剛情。兌本陰而取剛象者,陰少陽多 也。此性此情,彼此隔礙,則為氣性塵情而傷生;彼此和合,則為真性真情而益生。龍虎相會,是以性求情,以情歸性,性情合一之義。至於東家女、西舍郎,配為 夫妻,長男少女,兩家合一,金木相併等象,無非喻此真性真情交會之意。愚人不知,以肝為龍,肺為虎,運肝肺之氣於臍心,或於丹田,或於黃庭,以為龍虎交媾 者,非也。殊不知肝肺之氣皆後天有形之氣,不但不能凝結一處,即強團聚,積久成蠱,無法醫治,自促其死,豈不愚哉!

坎離顛倒
 
    坎卦外陰而內陽,離卦外陽而內陰。內陽為水,內陰為火。丹道取坎中之陽,以填離中之陰,以水濟火,是謂水上火下,水火顛倒,又名坎離顛倒,以喻道心真知之 神水,去制人心靈知之邪火也。吾之真知,外暗內明,如坎卦外陰內陽;吾之靈知,外明內暗,如離卦外陽內陰。以真知而制靈知,以靈知而順真知,真靈如一,凝 結成丹,亦如顛倒坎離,水火相濟也。至於嬰兒、姹女、黑鉛、紅汞之象,亦無非形容真知靈知兩而合一耳。愚人不知,指腎為坎,心為離,運腎氣上交於心,心氣 下降於腎為顛倒坎離;又有採取閨丹,以男女作嬰兒姹女,男下女上為坎離顛倒;又燒煉家以黑鉛制水銀,或爐下煨火,鼎上貯水,為坎離顛倒、水火相濟者。凡此 皆非也。夫修真之道,修其真也,一切有形滓質,邪行醜事之類,假而不真,何能成真哉!

五行顛倒
 
    五行順生,木生火,金生水;五行顛倒,火生木,水生金。蓋火生出之木,永為不朽之木,如木遇火,鍛鍊成炭,入地常存之類;水生出之金,永為不壞之金,如散 金爐中熔汁成塊,分外生明之類。火生木,喻人之本性在大造爐中,鍛鍊出來,永為不動不搖之性矣;水生金,喻人之真情在慾海波中,親渡過去,永為無塵無垢之 情矣。古仙所謂,五行順行,法界火坑,五行顛倒,大地七寶者是也。愚人不知,搬東弄西、採下補上、推前運後為五行顛倒者,非也。殊不知一身純陰,內而心肝 脾肺腎,外而眼耳鼻舌身,儘是假物,咽喉氣一斷,一堆臭穢骨肉,哪有一件是真?若以此假物妄想了性了命,烏乎能之?

黃婆媒娉
 
    黃婆者,中央土母,以其能調陰陽,能和四象,故名黃婆,丹書借此以喻人之真意中真信,能以和性情,養精神之義。真意真信即吾身中之黃婆,所謂黃中通理者是 也。愚人不知,以意運五臟之氣會合,為黃婆媒娉,又有造孽之輩,用能言老婦調戲男女行淫,取處女首經梅子,為黃婆媒娉者,大非也。夫真土無位,真意無形, 無物不生,無理不具,能以會三家、攢五行,故名黃婆媒娉,豈意念之意,作妖老婦之謂乎!

二八兩弦
 
    月自晦朔之間,與日相交,初三微光現象,至初八陰中陽半,有如弓弦,是為上弦,十六圓滿,一陰胎內微黑現象,二十三陽中陰半,有如弓弦,是為下弦;上弦得 水中之金八兩,下弦得金中之水八兩,二八一斤,金水相停,陰陽相合之象,丹書借此以喻剛柔相當,不偏不倚,至中至正之義。愚人不知,或以男子十六歲為二 八,兩弦之氣足,而遂勒閉陰精,或以黑鉛八兩,水銀半斤為二八兩弦之藥料,而燒煉服食者,皆非也。《四百字》云:上弦金八兩,下弦水半斤,兩弦合其精,乾 坤體乃成。兩弦者,一陰一陽也。乾剛為陽,坤柔為陰,陰陽相配,乾坤體成,丹元有像,於此可知兩弦之意矣。

黍米珠
 
    人當未生身之前,在胞胚之中,混混沌沌,昏昏迷迷,只有渾然一氣盤旋,別無他物,所謂太乙含真氣者是也。此氣至神至妙,至虛至靈,至無而藏至有,三元、八 卦、四象、五行皆包於內,故無形而能變化,所以變化無窮,五臟六腑、九竅百骸俱皆自然成就,因其至神至妙,至虛至靈,又名真靈,又名不神之神。當其在母腹 之中,一氣含真,名曰真氣,及其出母腹,靈含一氣,名曰靈氣,一氣為體,即是真空;真靈為用,即是妙有。真氣真靈,真空妙有,名雖有異,只是一真。此真無 形無象,無聲無臭,不可以言傳,不可以筆肖,仿彿形容,不過一黍米之微,故古仙皆稱此真為黍米寶珠。雖雲黍米,而實無黍米之形,因其有一點靈氣,隱於中 央,故名黍米;因其有一點黍米之靈,而混沌虛空,三界無一不包,故名黍米珠;究到實處,總是鴻濛未判之始氣也。愚人不知,以女子首經中梅子為黍米珠,又工 夫家神存明堂,久而眼光散外,為黍米珠,皆非也。夫鴻濛未判之黍珠,為生聖生賢,成仙成佛之靈寶,豈濁血之物、存想之光所可能哉!《四百字》云:混沌包虛 空,虛空包三界,及尋其根源,一粒黍米大。三丰翁云:誰不知,誰不會,誰不行,都只在鴻濛未判一粒黍米上迷。

火候卦象
 
    丹經皆借六十四卦為陽火陰符之法象,以乾坤二卦為鼎爐者,取其陽剛陰柔為體也;以坎離二卦為藥物者,取其剛柔中正為用也;復姤二卦為陰陽之交界,取其剛柔 運用各有時節也;屯蒙二卦為造化之始,取其當進火而須用剛,當退火而須用柔也;既未為造化之終,取其陽火而用剛,不可太過,陰符而用柔,不可不及也。其餘 五十四卦,皆隨乾坤坎離復姤屯蒙既未十卦運用,自然而然。約而言之,總以陰陽相當,兩而合一,歸於混成之象而後已。愚人不知,按六十四卦,在年月日時上強 做作用功者,非也。夫天地陰陽造化一氣流行,週而復始,循環無端,豈從六十四卦行哉?六十四卦是聖人觀天象地,體陰陽造化而作,六十四卦乃陰陽造化之解注 耳。人身造化與天地造化相合,自有六十四卦,豈可泥文執象哉!

生我之門
 
    月至西南,晦極而生明,西南屬坤,純陰之方。純陰之下,一陽潛生,有上坤下震之象,在卦為復,在月為偃月,皆喻其靜極之中,忽有天心現露之義;又名道心, 又名天良真心,即前所謂偃月爐。若見此心,保守不失,借之進陽退陰,如貓捕鼠,必至陽漸生,陰漸退,陰盡陽純,則仙矣。故以西南坤位為生我之門。愚人不 知,以婦人產門為生我之門者,非也。產門乃生人之處,何以能生仙哉?

死我之戶
 
    月至東北,陽光將滅,東北屬艮,陰氣將純,陽光些微,有上艮下坤之象,在卦為剝,在月為覆碗,皆喻其客氣剝消真元之義。若有出世丈夫,勇猛男子,頓悟回 頭,借此一點余陽,以明破暗,用功修持,亦不難於返本還元。一切凡夫,迷而不悟,順其陰氣剝陽,陽盡陰純,不死豈能之乎?易曰:東北喪朋,丹書又號死我之 戶。愚人不知,以婦女產門為死我之戶者,非也。夫生門死戶,皆無形無象之門戶,因其順陰則死,逆陽則生,故以生門死戶名之,其實只一竅耳。古仙號曰生死 關。雖名為關,亦無方無所,乃強名也。悟真云:須將死戶為生戶,莫執生門號死門。若會殺機明返覆,始知害裡卻生恩。於此可知生門死戶之義矣。

有為之竅
 
    有為之道即有欲觀竅之功。觀竅者,觀陰陽造化之竅,借後天返先天,和四象、攢五行、採藥進火,自還丹以至結胎,工程次序,皆在其內。若非真師口傳心授,毫 髮之差,千里之失。愚人不知,在後天幻皮囊上擺弄氣血,以為有為之道者,非也。夫金丹之道,先天之學,能以扭轉陰陽,竊奪造化,逆回氣機,顛倒乾坤,先天 而天弗違之道,豈做作後天一身有形有質之物所能成乎?正陽翁云:涕唾津精氣血液,七般靈物總皆陰。若將此物為丹本,怎得飛昇朝玉京。紫陽翁云:嚥精納氣是 人行,有藥方能造化生。鼎中若無真種子,猶將水火煮空鐺。噫!金蝦蟇,玉老鴉,認得真的是作家。有為之道豈易知哉!

無為之妙
 
    無為之道,即無慾觀妙之功,乃聖胎凝結以後之事,是靜觀一氣變化之妙。當聖胎凝結之後,後天已返為先天,只用沐浴溫養之功,勿忘勿助,運天然真火熏烝,變 化自然,無形生形,無質生質,瓜熟蒂落,嬰兒出現,而前之烹煉武火之功,皆棄而不用也。愚人不知未窮性命是何物,修道是何事,學些旁門曲徑小法乘,而便入 山靜坐,或閉關定神,以為無為者,非也。夫性命必須雙修,功夫還要兩段,兩段者,一有為而先了命,一無為而後了性,豈空空靜坐定神而能了性命哉?悟真云: 未煉還丹莫入山,山中內外盡非鉛,此般至寶家家有,自是愚人識不全。又云:始於有作無人見,及至無為眾始知。但見無為為要妙,豈知有作是根基。於此可知有 為無為,各有時節,各有作用,大不同也。

混俗和光
 
    混俗和光,及乃大隱市朝之作用。混俗者,混於俗中,使人不識也;和光者,和而不同,在塵出塵也。能混俗和光,外圓而能應物,內方而有主宰,依世法而修道 法,顯晦逆順,無阻無擋,行道至易。愚人不知,或疑混俗和光是日間應事,夜間修靜者,非也。果如是言,謂之從俗則可,謂之混俗則不可;謂之蔽光則可,謂之 和光則不可。蓋混俗和光之道,有奪天地造化之能,竊陰陽生殺之訣,豈容易而知,容易而行哉?

藥歸土釜
 
    土性溫柔,能以養物;釜主烹煎,能以成物。釜以土名,為養物成物之器,非尋常之土,非尋常之釜可比。藥歸土釜,是喻其陰陽相合,聖胎凝結溫養之功。溫養聖 胎,全在一意不散,允執厥中,陰陽相當,不偏不倚,故亦以土釜名之。究到實處,只一中字耳。守此中,則陰陽和,五行攢,聖胎全;失此中,則陰陽偏,五行 分,聖胎傷。然則守中為溫養聖胎之妙訣也。愚人不知,或挖地爐,養硃砂,取硃砂中水銀,以地爐為土釜;或泥爐作灰池,燒鉛入灰池分銀,以灰池為土釜者,皆 非也。子野云:真土無位,真意無形,特以中之土釜,無形無象,無方無所,因其能成全聖胎,故以釜名之,豈泥土之釜之謂乎?

凝結聖胎
 
    聖胎者,聖人之胎。即無識無知,嬰兒本面。道至無識無知,百神會集,萬緣俱息,混混沌沌,入於恍惚杳冥之境,自有為而入無為矣。愚人不知,或運心液腎氣相 交於黃庭為聖胎,或神存中宮為聖胎,或運氣後升前降,住於丹田為聖胎者,皆非也。聖胎無形無質,雖名為胎,而實無胎可見,所云胎者,不過形容真靈凝結不散 耳。若以氣血強凝成胎,是乃促死之鬼胎,非長生之聖胎也。

十月胎圓
 
    十月胎圓,乃神全氣足,根塵拔去,客氣消化,陰盡陽純之象;猶如婦人懷胎,十月方能成全。丹道以十月胎圓喻之者,取其聖胎凝結之後,必須防危慮險,沐浴溫 養,期必至於圓成無虧而後已,非以十月為定期也。愚人不知,疑於十月二字,或運氣,或存想,或凝神,妄想結胎,以十月為定期者,非也。修真之道,自採藥烹 煉結丹結胎,以至道成脫胎換化,要費無限功力,豈可以十月為期?可知十月乃象言耳。

嬰兒出現
 
    嬰兒出現,聖胎脫化之謂。聖胎者,色身中又懷一法身也;脫化者,色身中又生出一法身也。因其色身中又生出一法身,如凡婦十月懷胎生出一嬰兒,故以法身名嬰 兒。嬰兒出現,身外有身,跳出三界之外,不在五行之中,躲過輪迴,與天地同壽,與日月同庚矣。愚人不知,以坎中真陽為法身嬰兒,或以腎中精氣為法身嬰兒 者,非也。夫坎中嬰兒,乃陰中之陽,法身嬰兒,乃陰陽混化之真;至於腎氣,乃腎中之邪火,絕無嬰兒之義,豈得混論哉?悟真篇云:嬰兒是一含真氣,十月胎圓 入聖基。四百字云:夫婦交會時,洞房雲雨作,一載生個兒,個個會騎鶴。於此可知法身嬰兒之說矣。

移爐換鼎
 
    大道圓成,身外有身,形神俱妙,已到大聖人地位,而爐鼎無所用,更何有移換爐鼎之事乎?其所以移換爐鼎者,仍將此法身潛藏密養,變化神通耳。所移者何爐, 所換者何鼎?以太虛為鼎,無為為爐,而前之乾鼎坤爐、硃砂鼎、偃月爐,一概藥物,俱皆不用矣。只所用者,法身耳。法身在虛無之中,自變自化,愈虛愈神,愈 無愈妙,神妙不測,變化無窮,所謂子又孫孫又枝,到此地位,休歇罷功,打破虛空,跳上大羅之境,方為了當也。後之學人,未得真傳,或疑身外有身,已抵道之 盡頭路者,非也。敲爻歌云:一物無,隨顯道,五方透出真人貌,仙童仙女彩雲迎,五明宮裡傳真誥。觀此而知法身千變萬化,方為極功也。
 
 
破疑詩

七言絕句五十首

離世

世事千般俱不真,俗緣恩愛最傷身,一刀兩斷無牽扯,解脫場中作個人。

煉睡

少睡原非煉睡魔,忘飱廢寢斬藤蘿。諸緣掃去心清靜,晝夜長眠怕甚麼。

功行

修行積德最為先,功大行深感動天。可笑愚人惟利己,無功少行想成仙。

金丹

先天本性號為丹,八卦爐中煉作團。舉世迷徒尋外藥,吞飱妄想上雲端。

元關

元關一竅少人知,恍惚杳冥含兩儀。順去流歸煩惱路,逆來便是聖賢基。

識神

思慮精靈號識神,輪迴種子帶根塵。愚迷俱把遊魂弄,到底誰能見主人。

陽精

陽精一點秘形山,認得真時可駐顏。非在心中非在腎,不空不色隱元關。

先天氣

先天一氣在鴻蒙,無象無形不落空。認得生初真面目,方知我有主人公。

先後天

未生身處號先天,一出頭來氣質連,先聖後人分兩路,須當仔細辨偏全。

首經

首經本是先天寶,恍惚杳冥真一精。純白無疵清淨物,休將濁血冒安名。

三藥

大藥三般精氣神,有形不是本來真。至精至粹虛靈物,煉就金剛大法身。

性命

性命原分先後天,生身落地定偏全。後天性命後隨天運,捉住先天我操權。

天地心

天地之心甚處藏,陰陽感激現圓光。虛無鼎裡烹煎熟,萬古千秋不損傷。

道心人心

人心似鐵道心金,可向微危細酌斟。變化靈通無上下,源頭活水別陽陰。

未生時

未生身處有誰知,靜靜悄悄混沌時。四象五行皆未到,混然一氣沒雄雌。

初生時

初生面目事如何,先後二天一氣和。無識無知無點染,佛仙種子聖賢窩。

他家

他家不是別人家,誤認人家早大差。我的孩兒迷失外,一呼見面子隨爺。

彼我

經言彼我辨陰陽,非色非空清淨鄉,采戰閨丹邪術輩,煙花寨裡壞天良。

侶伴

侶伴須分內外因,身中侶伴兩三人,外邊侶伴同扶佐,脫盡輪迴歷劫塵。

外護

皆尋外護望成功,買鼎烹鉛亂捉風,怎曉天機超俗法,借它大力鎮愚慒。

九鼎

乾元九數號純陽,九鼎還丹鍛鍊方,造孽迷徒猜女鼎,決然打入鐵圍鄉。

招攝

招攝先天有秘方,鼓琴敲竹見虛皇。色聲鬧處無妨礙,隨手扭回北斗光。

顛倒

顛倒陰陽有甚難,當於靜裡運神觀。道心不昧人心滅,立地直登百尺竿。

火候

運火工夫本沒時,朝乾夕惕斬三屍。防危慮險常清靜,應物不迷損益之。

卦象

火候經言周易卦,推爻執象俱皆非。大都要會陰陽理,進退隨時任指揮。

乾坤爐鼎

乾鼎坤爐在我身,休從外面問原因,剛柔二事無間隔,鍛出先天一氣真。

偃月爐

問道何謂偃月爐,黑中有白晦而蘇。分明指出還丹母,叫醒時人識也無。

硃砂鼎

修真藉賴硃砂鼎,非鐵非金非是銀,認得靈明些子物,取新革故見元仁。

土釜

土釜豈由土作成,中央正位是真名。木金水火皆攢此,養顆元珠徹夜明。

斗柄

因觀鬥柄運周天,始悟生機在那邊。扭轉腳根翻過面,當時火裡現金蓮。

兩弦

下弦是水上弦金,止是調停陽與陰。果若剛柔和合了,當中露出涅槃心。

壬癸

壬水陽兮癸水陰,學人幾個細追尋。樞機動處分真假,去濁留清產白金。

煉己

修行煉己最為先,絕欲忘情卻萬緣。六賊三彭皆剪滅,乾乾淨淨一丹田。

築基

志念堅牢是築基,身心不動最為奇。憑它禍患與災厄,止水無波萬有離。

鉛汞

真汞原非塵世汞,真鉛不是出山鉛,一情一性先天藥,鍛鍊歸根了大還。

嬰姹

姹女藏離本不真,嬰兒在坎亦難遵,而今說破陰陽竅,能實能虛產法身。

坎離

坎離莫向北南求,火性飛騰水下流,二物如能顛倒過,水升火降結丹頭。

震兌

兌非西地震非東,性亂情迷氣不同。會得情來歸性法,霎時見我主人翁。

子午

子午休從日夜尋,身中別有指南針。陰陽動靜隨時有,定裡常聽太古音。

卯酉

沐浴經言卯酉時,形容二氣沒偏疵,愚人不曉陰陽會,朝夕二分靜坐之。

黃婆

雌雄匹配要黃婆,戊己成圭造化窩。若問黃婆真信息,一誠感格五行和。

還丹

修丹為甚號還丹,五氣分離俱各單,明善復初皆聚會,身心不動打成團。

丹熟

丹已還時別有方,不須加減再增陽,自然神火爐中煉,迸出通天一粒光。

聖胎

聖胎非是有形胎,氣聚神凝真種栽,慮險防危常謹慎,若還大意必生災。

脫胎

聖胎脫化始全真,十月功夫養穀神。陽氣極純陰氣盡,虛空跳出一仙人。

有為

有為豈是弄皮囊,做作千般總受傷,怎曉心傳真妙訣,鬼神莫測扭陰陽。

無為

無為不是著頑空,還得勿忘勿助功。拔去輪迴生死種,當中只有一神童。

復姤

陰極復陽須進火。陽純將姤運陰符。陰符陽火無差錯,鍛出先天太極圖。

文武

猛力降魔為武煉,虛心養氣是文烹。知凶曉吉隨時變,遍地黃金耀眼明。

和光

和光混俗秘天機,大用神功真個希,常應常清常自在,隨時脫舊換新衣。

—————–
PHỤ LỤC

元牝真竅說
 

    學人欲修大道,了性命,莫先於認元牝之門。元牝之門,即元關一竅,此竅有門兩扇,一開一合,高九尺,闊五尺,門外有靈官把守,門內有龍虎護衛;中堂一間, 四通八達,有真人居焉,蓬頭赤足,身穿五色納衣,腰繫黃綠長絛,手執金光如意,穩坐自然床,後靠無影壁,前懸玻璃燈,塞兌垂簾,不動不搖,等閒眼不輕睜, 口不妄開,左有金童,右有玉女,有時睜眼,光滿天地,黑暗陰司,無處不明;有時開口,氣充宇宙,鬼怪邪魔,盡皆遠避;掌造化之權,把陰陽之機,握生死之 簿,操性命之柄。人能見之,誠心禮拜,朝夕奉侍,須臾不離;真人有延命酒、長壽丹,得嘗之者,脫胎換骨,出死入生。但世間少大丈夫,真烈士,下不得苦力, 耐不得長久,又不窮究根本正理,專在一身上下有形有像處講元關,論元牝,做些著空執相小法乘,妄想成道,悲哉!果是個真正豪傑,截然放下,萬緣皆空,在切 身大事上留心,拜訪真師,結交良友,存至死不變念頭,元關終必知,元牝終必見,性命終能了,學者其勉之。
 
 
修真要訣

大道無為本自然,功夫不到不方圓。
三岔路口尋真種,八卦爐中煉性天。
沒底法船能渡海,隨身藥料可延年。
刑中藏德人難測,害裡生恩心要專。
四象調和歸本面,五行攢簇長金蓮。
有增有減方為妙,知吉知凶始入玄。
脫盡牽纏塵垢物,全成父母未生前。
修仙作佛皆由此,余二虛玄俱走偏。

——————-

HẾT

TRUNG DUNG TÂN KHẢO * 中 庸 新 考

TRUNG DUNG TÂN KHẢO * 中 庸 新 考

TRUNG DUNG TÂN KHẢO

TRUNG DUNG TÂN KHẢO
TRUNG DUNG TAN KHAO
中 庸 新 考

TRUNG DUNG TÂN KHẢO —

中 庸 新 考

—————–
ĐẠI CƯƠNG

Trung Dung (中庸 ) là một trong bốn cuốn của bộ Tứ Thư. Ba quyển còn lại là Đại Học (大學 ), Luận Ngữ (論語 ), Mạnh Tử(孟子 ).

Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra  trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ. Tử Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử.

Mục đích của sách Trung Dung là biểu thị rằng theo Trung Đạo có thể giúp chúng ta đạt được một trình độ cao của đạo đức.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.

Sách Trung Dung chia làm hai phần:

Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi.

Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ trung dung.

Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư.

*Tư tưởng chủ đạo:-

Sách Trung Dung (中庸) viết: “Sinh tri yên hành giả tri dã, học tri lợi hành giả nhân dã, khốn tri miễn hành giả dũng dã .(則生知安行者知也。學知利行者仁也。困知勉行者勇也) = Người nào biết ngay từ bẩm sinh, dễ làm đời, người ấy có sự biết; người nào cần học mới biết được, làm đời có lợi, người ấy có nhân ái; người nào khốn khổ mới biết được, cố gắng trong đời, người ấy có dũng “.

**************************         

TRUNG DUNG TÂN KHẢO

中 庸 新 考

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪

₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪

Mục lục

Tựa của ông Phạm Đình Tân (Đoàn trưởng Tinh Việt Văn đoàn).

Lời nói đầu của tác giả

QUYỂN I: TRUNG DUNG KHẢO LUẬN

Chương 1: Tàn tích và xây dựng
Chương 2: Bầu không khí đạo giáo thời thái cổ
Chương 3: Đạo thống Trung Dung
Chương 4: Chữ Tính, chữ Mệnh trong đạo Trung Dung
Chương 5: Tinh hoa Khổng giáo trong Tứ thư Ngũ kinh
Chương 6: Hai chữ Trung Dung
Chương 7: Xuất xứ và đại ý Trung Dung
Chương 8: Khai thác Trung Dung
Chương 9: Trung Dung và Dịch lý
Chương 10: Bản thể & hiện tượng luận theo Trung Dung & Dịch lý
Chương 11: Vũ trụ quan theo Trung Dung và Dịch lý
Chương 12: Nhân sinh quan theo Trung Dung và Dịch lý
Chương 13: Sử quan theo Trung Dung và Dịch lý
Chương 14: Những định luật chính chi phối con người và hoàn vũ  theo Trung Dung và Dịch lý
Chương 15: Di tích Trung Điểm và vòng Dịch trong hoàn vũ
Chương 16: Tổng luận

QUYỂN II: TRUNG DUNG BÌNH DỊCH

Tựa của Chu Hi

Chương 1: Thiên Đạo tại nhân tâm
Chương 2: Trung Dung là Đạo của quân tử
Chương 3: Đạo Trung Dung cao siêu
Chương 4: Trung Dung là Đạo của Thánh Hiền, không phải Đạo của phàm phu tục tử
Chương 5: Ít người theo được Đạo Trung Dung
Chương 6: Hai đường lối Đạo đời: Khôn ngoan và Xảo trá
Chương 7: Hai đường lối Đạo đời: Khôn ngoan và Xảo trá (tt)
Chương 8: Hai đường lối Đạo đời: Nhân đức và Tài cán
Chương 9: Hai đường lối Đạo đời: Nhân đức và Tài cán (tt.)
Chương 10: Hai đường lối Đạo đời: Sức mạnh tinh thần và Sức mạnh thể chất
Chương 11: Cư kính hành giản
Chương 12: Đạo Trời ẩn áo lại mênh mông
Chương 13: Đạo chẳng xa người
Chương 14: Quân tử lạc thiên tri mệnh
Chương 15: Tiên tu kỳ thân, hậu trị kỳ quốc
Chương 16: Trời chẳng xa người
Chương 17: Hạnh phúc của Thánh Nhân
Chương 18: Hạnh phúc của Thánh Nhân (tt.)
Chương 19: Hiếu là nối chí tổ tông
Chương 20: Sự hoàn thiện là lý tưởng của quốc gia, nhân quần, xã hội
Chương 21: Thiện Đạo và Nhân Đạo
Chương 22: Thánh Nhân cùng lý tận tánh
Chương 23: Phương pháp tu thân để tiến tới Thánh Hiền
Chương 24: Thánh Nhân tiên tri
Chương 25: Thánh Nhân trong ngoài trọn hảo
Chương 26: Thánh Nhân phối Thiên
Chương 27: Mênh mang là Đạo Thánh Hiền
Chương 28: Đạo Thánh Hiền phải hợp với Đạo cổ nhân
Chương 29: Đạo Thánh Nhân hợp tâm lý, lịch sử, thiên cơ
Chương 30: Thánh Nhân dữ Thiên đồng đức
Chương 31: Thánh Nhân là hiện thân của Thượng Đế
Chương 32: Thánh Nhân là bậc đại trí và hoàn hảo
Chương 33: Chân Đạo tại nhân tâm

QUYỂN III.- TRUNG DUNG YẾU CHỈ & PHỤ LỤC

TRUNG DUNG YẾU CHỈ

PHỤ LỤC

* Phụ lục 1:

A. Đạo thống Trung Dung của Mạnh Tử
B. Thánh Hiền Đạo thống truyền thụ tổng tự thuyết của Miễn Trai

* Phụ lục 2:

A. Bàn về chữ Tính theo Mạnh Tử
B. Luận về Tính theo Chu Hi 
       
* Phụ lục 3:

A. Ý niệm về Trời về Thượng Đế trong Tứ Thư Ngũ Kinh
B. Quan niệm Thiên nhân hợp nhất, Thiên nhân tương dữ trong Tứ Thư Ngũ Kinh
* Phụ lục 4: Trung đồ
* Phụ lục 5: Nguyên Đạo huấn của Hoài Nam Tử
* Phụ lục 6: Giải thích hình vẽ trong quyển I
* Phụ lục 7: Aperçu du Nouvel Essai sur le Centre Eternel
* Phụ lục 8: Glance on the New Essay of the Eternal Center
* Phụ lục 9: Tầm quan trọng của Trung Điểm trong Thiên văn và Địa lý
* Phụ lục 10: Trung Đạo chi truyền phú của Lương Gia Hòa ― Trung Dung Ca (phóng tác)

SÁCH THAM KHẢO

I * HÁN VĂN

– Âm Phù Kinh
– Cận tư lục tập chú (Chu Hi, Lã Tổ Khiêm, Giang Vinh tập chú)
– Chư Tử đích ngã kiến (Vương Xương Chỉ soạn)
– Chương phúc Ký giám bản Kinh Thi
– Chu Dịch xiển chân (Lưu Nhất Minh soạn)
– Cổ bản Ngũ Liễu tiên tông toàn tập.
– Dịch Kinh Lai chú đồ giải (Lai tri Đức, Lư Lăng Cao Tuyết Quân và Vĩnh Xuyên Lăng Hậu Tử soạn)
– Dịch Kinh đại toàn
– Hàm phân lâu bí cấp
– Hoàng Đế Nội Kinh
– Huỳnh Đình Kinh
– Kim Bích cổ văn
– Nhập Dược Kính (Thôi Hy Phạm soạn)
– Đạo gia trường sinh bí quyết (Vĩnh Gia Nhi soạn)
– Đạo Tạng tục biên [Kim Cái Sơn tàng bản]
– Pháp Bảo Đàn Kinh (Huệ Năng)
– Qui Nguyên trực chỉ (Đỗ Thiếu Lăng dịch)
– Tam Quốc Chí diễn nghĩa.
– Tham Đồng thiển chú
– Tham Đồng trực chỉ (Lưu Nhất Minh soạn)
– Thanh Tĩnh Kinh
– Thái cực quyền đồ thuyết (Trần thị)
– Thái Nhất Kim Hoa tông chỉ (Lữ Động Tân giáng bút)
– Thái Thượng bảo phiệt
– Thi Kinh
– Thư Kinh đại toàn
– Thông thiên bí thư
– Tiên học (Hứa Tiến Trung soạn)
– Tiên học tập cẩm (Cung Tùng Tiên soạn)
– Tính Lý tiết yếu (Bùi thị Nguyên Bản)
– Tính mệnh khuê chỉ (đệ tử của Doãn Chân Nhân soạn)
– Tính mệnh pháp quyết minh chỉ (Triệu Tị Trần soạn)
– Tống bản thập tam kinh (Dương Tứ Tôn chú sớ phụ hiệu khám ký)
– Tống Nguyên học án (Từ khê, Bằng Vân Hào soạn)
– Tứ Thư tạp chú [Ngữ quế đường thư cục]
– Tứ Thư tiết yếu (Hồ Quảng Dương Vinh)
– Trung Dung kim thích (Trần Bàn chú thích)
– Trung Dung văn ngôn đối chiếu [Hương Cảng Quảng Trí thư cục]
– Trung Quốc triết học sử (Tử Đồng Tạ Vô Lượng soạn)
– Trúc Song tùy bút
– Tu chân bất tử phương (Đạo Nhất Tử soạn)
– Uyên Giám loại hàm
– Vương Dương Minh toàn tập

2 * HÁN – ANH

– The Four Books (James Legge dịch)

3 * HÁN – PHÁP

– Les Annales de la Chine (Séraphin Couvreur dịch)
– Les Pères du Système Taoiste (Léon Wieger S.J.)
– Les quatre Livres (Séraphin Couvreur dịch)

4 * HÁN – LATIN

– Cursus Litteraturoe Sinicoe (P. Angelo Zottoli)
– Natitioe Linguoe Sinicoe (Josepho-Henrico Prémare. S.J.)

5 * HÁN – VIỆT

– Dịch Kinh tân khảo (Nguyễn Mạnh Bảo)
– Đạo Đức Kinh (Nghiêm Toản dịch)
– Đạo Đức Kinh (Nguyễn Duy Cần dịch)
– Trung Dung (Phan Khoang dịch)
– Tứ Thư (Đoàn Trung Còn dịch)

6 * ANH VĂN

– A source book in Indian philosophy (Sarvepalli Radha  Khrisnan and Charles A. Moore)
– Encyclopedia of Religion (Vergilius Ferm)
– Human destiny (Lecomte du Noüy)
– Mackey’s revised Encyclopedia
– Psychology and Alchemy (Carl Gustav Jung)
– Science and Civilisation in China (Joseph Needham and                                                                Wang Ling)
– The 13 principal Upanishads (Robert Ernest Hume trans.)
– The genetic code (Isaac Asimov)
– The I Ching or Book of Changes (R. Wilhelm & C.F.Baynes)
– The Sayings of Confucius (James R. Ware)
– The Secret of the Golden Flower (C.G. Jung & R. Wilhelm)
– The She King or the Book of Poetry (J.Legge trans.)
– The Symbols of Yi King, the Texts of Yi King (Z.D. Sung)

7 * PHÁP VĂN

– ABC illustré d’occultisme (Papus)
– Albert Schweitzer (Jacques Feschotte)
– Connaissance du Vietnam (P. Huard et M. Durand)
– De Confucius à Lénine (Robert Magnenoz)
– Dictionaire pratique des sciences occultes (Marianne Verneuil)
– Encyclopédie des citations (P. Dupré)
– Essais sur le Bouddhisme Zen (D.T. Suzuki)
– Grande encyclopédie illustrée des sciences occultes (D. Néroman) [éditorial Argentor, 278 Boulevard St Germain, Paris VII]
– Hatha-Yogin occidental (L. Ferrer)
– Histoire de la Philosophie (Esnerst d’Astier)
– Histoire de la Philosophie (Frédéric Copleston S.J.)
– Histoire de la philosophie chinoise (E.V. Zenker)
– Histoire des Croyances religieuses en Chine (Léon Wieger)
– Histoire et Philosophie du Caodaisme (Gabriel Gobron)
– Histoire générale des sciences [Presses Universitaire de France]
– Idées pour la philosophie de l’histoire de l’humanité (Herder)
– L’Âme de l’Iran (René Grousset, Louis Massignon, Henri Massé)
– L’Âme de la Chine (Amaury de Riencourt)
– L’enseignement de Ramakrishna (J. Herbert)
– L’évolution religieuse de l’humanité (Richard Kreglinger)
– L’Homme et le Zodiaque (Cyrille Wilckowski)
– L’homme et son devenir selon le Védanta (René Guenon)
– L’imitation de Jésus Christ (traduction de Lamennais)
– L’individuel chez Aristote (D. Badareu)
– La Bible de Jérusalem [Edition du Cerf]
– La Cabbale (Papus)
– La Civilisation chinoise (Marcel Granet)
– La conception Confucéenne de l’homme (Trần Văn Hiến Minh)
– La dignité humaine (Lecomte du Noüy)
– La doctrine secrète (H.P. Blavastsky)
– La Kabbale (H. Seroya)
– La magie des nombres (E.T. Bell)
– La Mathèse (Jean Malfatti de Montereggio)
– La pensée chinoise (Marcel Granet)
– La philosophie morale de Wang Yang Ming (Wang Tch’ang Tche)
– La religion essentielle (Illan de Casca Fuerte)
– La sagesse de Confucius (Lin Yu Tang)
– La Sainte Bible (Chanoime Crampon)
– La Symbolique (Olivier Beigbeder) [Que sais-je]
– La vie de Vivekanada (R. Rolland)
– Le chemin du Salut (Charles Gerber)
– Le Livre des cycles (Raoul Auclair)
– Le Lotus et le robot (Arthur Koestler)
– Le Symbolisme de la Croix (René Guenon)
– Le système solaire (A.E. Powell)
– Le Yoga pour soi (Edouard Longue)
– Le Zodiaque (M. Senard)
– Les fondements de la mystique tibétaine (Lama Govinda; traduction française de Charles Andrieu et Jean Hertbert)
– Les Grands Initiés (E. Schure)
– Les grands philosophes de l’Occident (F.Tomlin)
– Les Sept Vallées (Bahá ‘U’ lláh)
– Les vers dorés de Pythagore (Fabre d’Olivet)
– Nietzsche (André Cresson)
– Occultisme et Magie en Extrême-Orient (Louis Chochod)
– Oeuvres complètes (Sainte Thérèse de Jésus)
– Oeuvres spirituelles (Saint Jean de la Croix)
– Origines et histoire des religions (J. Murphy)
– Panorama des idées contemporaines (G. Picon)
– Présence du Bouddhisme (France Asie)
– Présence du Cambodge (France-Asie, no 114-115)
– Quelques aspects de la philosophie védantique (Swami Siddheswarânanda)
– Recherches sur les superstitions en Chine (Henri Doré)
– Sagesse chinoise et Philosophie chrétienne (Henri Bernard Maitre)
– St. Jean de la Croix et la nuit mystique (Yvonne Pellé-Douel)
– Tchou Hi, sa doctrine son influence (Stanislas Le Gall)
– Théosophie et Science (A. Tanon)
– Traité d’histoire des religions (Mircea Eliade)
– Transvaluation de la psychanalyse (Wilfried Daim)
– Vie et rénovation (Robert Godel)

8 * VIỆT VĂN

– Đại Thừa Chân Giáo (Chiếu Minh Đàn, Cao Đài giáo)
– Khổng học đăng (Phan Bội Châu)
– Lão Tử (Ngô Tất Tố)
– Nho giáo (Trần Trọng Kim)
– Pháp Hoa huyền nghĩa (Mai Thọ Truyền)
– Quan Thế Âm bồ tát tín luận (Hải Tín)
– Tống Nho (Bửu Cầm)
– Văn học đời Lý (Ngô Tất Tố)

9 * TẠP CHÍ

# Tạp chí tiếng Việt

– Bách Khoa tạp chí
– Đại Học tạp chí
– Hương Xa tạp chí
– Nam Phong tạp chí

# Tạp chí tiếng Anh

– The Divine Life [The Divine Life Society, P.O. Sivanandanagar Rishikesh U.P.]
– Mira [a monthly journal. Indian culture 10 Connaught Road Poona I, India]
GHI CHÚ: Các sách trên được xếp theo nhan đề. Tên soạn giả hay dịch giả ghi trong ngoặc tròn (…), tên thư cục hay nơi xuất bản ghi trong ngoặc vuông […].

**************************         

LỜI TỰA

Tác giả bộ Trung Dung tân khảo có nhã ý nhờ tôi đề tựa cuốn sách của ông. Tôi chẳng dám từ chối, trước để khỏi phụ lòng tin cậy của tác giả, sau vì tôi là một trong những người đầu tiên đã nhận thấy giá trị cuốn sách và đã trao tặng cho tác giả giải thưởng Lecomte du Noüy của Tinh Việt văn đoàn năm 1960-1961.

Tôi đã đọc bộ sách, và đã cùng với tác giả thảo luận về đề tài cũng như về những quan niệm của ông trình bày trong đó, vậy thiết nghĩ tôi có thể tóm lược vài nét đại cương về cuốn sách để giới thiệu nó với độc giả. Trước tiên, đọc sơ qua bộ Trung Dung tân khảo, ta thấy ngay tác giả chẳng những khảo cứu Trung Dung, mà còn xây dựng một học thuyết mới mẻ về Trung Dung nữa.

Tác giả đã khảo cứu Trung Dung về nhiều khía cạnh:

– Từ nguyên (étymologie)
– Ngữ nghĩa (sémantique)
– Tượng hình (symbolique)
– Triết học (philosophie)
– Sử học (Histoire)
– Đạo học (Religion)

Tác giả đã biến một đề tài rất khô khan, rất phức tạp, khó hiểu thành một đề tài linh động, hấp dẫn, sáng suốt. Được vậy, có lẽ vì tác giả đã tìm ra chìa khóa để mở kho tàng tư tưởng cổ nhân. Theo tác giả chìa khóa ấy đã dấu sẵn trong nhan đề sách, trong hai chữ Trung Dung và trong tượng hình của chữ Trung 中. Tác giả dịch Trung Dung là Trung điểm bất biến, và dùng hai chữ Trung Dung để tìm ra nguyên lý và cùng đích của cuộc đời. Cũng như trong hình học, trung điểm hay tâm điểm có thể sinh ra nhiều vòng tròn, thì trong Trời đất, một nguyên lý, một tâm điểm bất biến cũng có thể phát huy ra muôn vàn hình tượng tạo dựng nên muôn loài, muôn vật. Tác giả lại dựa vào định luật tuần hoàn, phản phúc của Trời đất, mà suy luận ngược lại rằng cùng đích cuộc đời của mỗi người chính là tìm ra tâm điểm bất biến của vũ trụ, của tâm hồn con người.

Tác giả dựa vào tượng hình, cho rằng chữ Trung 中 chẳng qua là một vòng tròn với tâm điểm ⊙, hay một tấm bia tròn với một mũi tên xuyên qua giữa hồng tâm ϕ. Như vậy chữ Trung cũng đã đủ để ám chỉ nguyên lý và cùng đích của cuộc đời. Trong tất cả bộ sách tác giả chứng minh bằng mọi phương cách, cố dẫn chứng bằng lời lẽ của các nhà hiền triết Nho giáo để chứng minh rằng Trung tâm, Trung điểm là ngôi vị của Thái cực, của Trời.

Cho nên, muốn tìm đạo, tìm Trời, tìm tinh hoa nhân loại phải tìm trong tâm khảm con người, trong trung tâm điểm của con người. Tất cả vấn đề là làm sao tìm ra được tâm con người. Muốn đạt mục đích ấy, tác giả đã dùng phương pháp đạo giáo đối chiếu (religions comparées), triết học đối chiếu (philosophies comparées), tượng hình đối chiếu (symboliques comparées) để xác định đâu là tâm khảm con người.

Dựa vào những chứng cớ trên, tác giả chủ trương tâm khảm con người không nằm trong lồng ngực như nhân gian thường chủ trương, mà chính là ở giữa não thất III, ở giữa não con người. Nhờ những quan niệm vừa giản dị, vừa độc đáo nói trên, tác giả đã tìm ra được những gì bí ẩn của Trung Dung.

Trong ba tập Trung Dung tân khảo, tác giả đã dùng nhiều phương pháp khác nhau cốt chứng minh Trung Dung là Trung đạo hay là một huyền học.

Trung đạo (ésotérisme) tức là giai đoạn «nhập thất» được truyền tâm pháp, và những lẽ huyền vi, khác với ngoại đạo (exotérisme) hay giai đoạn sơ bộ của các đạo giáo tức là giai đoạn mới được truyền thụ những điều thô thiển phù phiếm.
Chu Hi cũng đã nhận chân Trung Dung có mục đích tối hậu là đưa con người đến chỗ cùng huyền, cực thánh. Như đã nói trên, Trung đạo là một giai đoạn đạo giáo tối thượng, nên chỉ chú trọng đến những lẽ huyền vi cao diệu, vì thế còn gọi là huyền học (mysticisme). Nó đòi hỏi con người một tư chất thông minh đặc biệt, một cố gắng không ngừng, và một ân sủng đặc biệt của Thượng đế. Vì thế những người phàm trần khó bề thấu hiểu, tiến tới. Xưa ở cổng trường của Pythagore có dựng tượng thần Hermès, và bệ tượng có đề hai chữ: Eskato béléloï nghĩa là: «Phàm phu xin lùi gót.»

Dẫu sao, cũng nên bàn qua về Trung đạo, về huyền học để đọc giả dễ thông cảm với tác giả bộ Trung Dung tân khảo này. Trung đạo hay huyền học có nét đại cương sau đây:

1) Tin tưởng, và hơn thế nữa, cảm giác thấy một nguyên lý bất biến, hay nói nôm na là có Trời, có Thượng đế tiềm ẩn trong tâm hồn mình.

2) Tu sửa tâm hồn mình cho hết khuyết điểm dở dang, để nên giống khuôn thiêng bất biến, nên giống khuôn thiêng hoàn thiện của Trời nơi đáy lòng mình.

3) Mục đích tối hậu của công cuộc tu thân, của cuộc đời là để trở nên hoàn thiện như Trời, để kết hợp với Trời, đó là «phối Thiên» theo Trung Dung.

4) Phương tiện mục đích để đạt mục tiêu đó là học hỏi không ngừng để tìm ra nguồn gốc định mệnh hết sức cao quí của con người, triền miên suy tư để tìm ra những định luật Trời đất, những định luật tâm lý hầu giúp mình cải tiến, biến hóa tâm hồn, tiến tới tinh hoa, tiến tới hoàn thiện, tóm lại là cố gắng mãi mãi, cố gắng không ngừng, để lướt thắng mọi trở lực, băng qua mọi giai đoạn, và chỉ ngừng lại ở mức hoàn thiện. Đó là «Chỉ ư chí thiện» của Đại học.

5) Kết quả tối hậu mà con người sẽ gặt hái được tức là «Phối Thiên» tức là kết hợp với Trời, cùng đất Trời trường sinh bất tử.

Những quan niệm, những chủ trương nói trên đã được đề cập tới trong Trung Dung, và đã được đề cập tới một cách tinh vi tế nhị, kiến người ta phải suy tư nhiều mới nhận thức được. Những quan niệm này cũng không phải là di sản riêng tư của Trung Dung hay của Khổng thuyết, mà trái lại chúng là di sản của danh nhân, hiền triết mọi nơi, mọi đời: Lão Tử, Trang tử, Bồ đề đạt ma, Krishna, Orphée, Hermès, Pythagore, Platon, Jean de la Croix hay Eckhart cũng chẳng chủ trương chi khác lạ hơn… Dịch kinh cũng đã viết: «Thiên hạ lo gì nghĩ gì? đường đi khác nhau, nhưng mục đích là một, tư lự trăm chiều mà chân lý không hai.»

Bộ Trung Dung tân khảo gồm ba tập:

– Tập một: Trung Dung khảo luận
– Tập hai: Trung Dung bình dịch
– Tập ba: Trung Dung yếu chỉ và phụ lục.

Trong tập Trung Dung khảo luận, ta có dịp cùng tác giả đi chu du trong “rừng nho, biển thánh”, thưởng thức kinh Thi, tìm lại bí quyết tương truyền từ Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Vũ, Chu Công cho tới Khổng Tử, Mạnh Tử, khảo sát đường lối tư tưởng của danh nho danh sĩ Trung Hoa, cũng như của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, mở rộng tầm khảo sát ra cho tới các đạo giáo, các môn phái triết học, các phát minh tối tân của y học, khoa học. Tất cả những khảo sát đó cốt để tìm ra nguyên lý cuộc đời, tìm ra đường đi, nước bước của con người, của nhân loại tùy theo mỗi tuổi mỗi thời, và cũng là để tìm ra cùng đích cao sang tối hậu của con người.

Trong tập Trung Dung bình dịch, tác giả đã dùng các thể thơ lục bát, song thất lục bát và thơ mới để dịch toàn bộ Trung Dung. Vì dịch giả thấu triệt được mạch lạc ý tứ Trung Dung, nên thường dịch rất lưu loát. Tác giả lại còn toát lược đại ý mỗi chương mỗi đoạn để độc giả thấy rõ ý nghĩa mạch lạc Trung Dung. Ngoài ra, trong mỗi bài mỗi đoạn, tác giả còn trưng thêm nhiều danh ngôn, danh ý để đối chiếu, như muốn đem Trung Dung hòa tấu chung với bản nhạc tư tưởng mọi nơi mọi đời, vừa làm tăng thêm ý vị Trung Dung, vừa giúp độc giả hiểu thấu sâu rộng.

Trong tập Trung Dung yếu chỉ và phụ lục, tác giả thâu tóm vi ý Trung Dung bằng 200 câu thơ song thất lục bát, lời văn giản dị, nhẹ nhàng. Ngoài ra còn thêm một phần phụ lục rất dồi dào, tập trung lại nhiều thiên khảo luận có dính dấp tới Trung Dung, để mọi người rộng đường tham khảo.

Đọc bộ Trung Dung tân khảo, ta nhận thấy tác giả đã dày công nghiên cứu và làm sáng tỏ một vấn đề then chốt của đạo Nho. Tuy là một thiên khảo luận, một đề tài triết học và siêu hình học nhưng tác giả đã có một lối hành văn dễ hiểu, không nhàm chán.
Đằng khác, tác giả còn đưa ra nhiều quan điểm triết học, và nhân sinh quan rất mới mẻ, mặc dầu vốn đã tiềm tàng trong Tứ thư, Ngũ kinh. Thiết tưởng cũng nên nêu ra ít nhiều chủ trương của tác giả:

I. Về con người, tác giả phân tách ra nhiều tầng lớp, và chủ trương trong lớp nhân tâm phù phiếm, biến thiên còn có lớp đạo tâm, thiên tâm là khu nữu, làm tiêu chuẩn, chủ chốt. Mọi nơi mọi đời đều hướng về chân tâm ấy như là quê thật của mình. Đó là thiên địa chi tâm, đó là núi Côn Lôn với dân Trung Hoa, đó là núi Tu Di với dân Ấn Độ; đó là Jerusalem, là núi Sion đối với dân Do Thái, đó là Athènes, là Delphes là nơi chôn nhau cắt rốn (emphalos = ombilic) đối với dân Hy Lạp, v.v.

2. Tác giả dựa vào Trung Dung và Dịch kinh đưa ra một nhân sinh quan vô cùng biến hóa, luôn thích thời mà cũng luôn siêu thời trước thấp sau cao, trước trọng vật chất, sau trọng tinh thần, tuần tự nhi tiên đúng theo quẻ âm dương tiêu trưởng của Trời đất, để chung cuộc tiến tới hoàn thiện.

3. Tác giả cũng còn dựa vào vòng Dịch, để suy ra định luật tuần hoàn, và đưa ra một giả thiết mới mẻ về chu kỳ lịch sử nhân loại, gồm hai chiều xuôi ngược, từ tinh thần tiến ra vật chất, rồi từ vật chất trở lại tinh thần, và chủ trương rằng: lúc chung cuộc lịch sử, nhân loại sẽ sống hoàn thiện theo đúng thiên ý, phối hợp với Trời.

4. Tác giả còn đưa ra một giả thiết mới mẻ về y học, về cơ thể học (anatomie) khi chủ trương rằng trung tâm não bộ là chân tâm của con người, để đi đến một kết luận triết học, đạo học rằng Trời chẳng xa người mà tiềm ẩn trong ngay tâm khảm, trong đầu não con người.

5. Nhưng có lẽ một phát minh độc đáo nhất là tác giả chỉ dùng một tâm điểm và một hay nhiều vòng tròn đồng tâm để mà khám phá ra huyền cơ vũ trụ, khám phá ra các tầng lớp trong con người, khám phá ra các định luật chi phối con người, và vũ trụ. Lúc thì tác giả để vòng tròn đứng nguyên cho ta thấy một chân tâm và nhiều tầng lớp khác nhau bao bọc; lúc để vòng tròn di động cho ta trông thấy sự biến thiên chất chưởng của các tầng lớp bên ngoài, và sự bất biến hằng cứu của trung tâm, cũng như để suy ra các định luật «hiển-vi», «tụ-tán», những lẽ «vãng-phản», «tồn-vong», «doanh-hư» của vũ trụ, của con người. Tác giả cũng chỉ dùng có một hình tròn để làm như một chìa khóa tìm ra tinh hoa các đạo giáo; tìm ra trung điểm, trung đạo của các đạo giáo; dùng một tâm điểm và nhiều vòng tròn đồng tâm để phơi bày những tương đồng tương dị của các đạo giáo, dùng hình tròn để tìm ra nguyên ủy thủy chung của cuộc đời, dùng một tâm điểm và nhiều vòng tròn đồng tâm để thuyết minh hai chiều vãng phản của cuộc đời, để chủ trương rằng con người phải luôn tiến bước không được dừng chân đứng lại ở chặng đường nào, ở giai cấp nào, mà phải tiến tới trung tâm điểm, tiến tới hoàn thiện.

Đọc bộ Trung Dung tân khảo, chẳng những ta thâu thái được tinh hoa đạo Nho, mà còn lĩnh hội được quan điểm, tư tưởng của các bậc hiền triết mọi nơi mọi thời.

Đọc Trung Dung, ta liên tưởng tới những học thuyết Âu Á cổ kim đã lấy Trung điểm, lấy Trời làm khởi điểm và cùng điểm của vũ trụ, của con người.

Sách Zohar chẳng hạn cũng đã gọi khởi điểm đó là Yod. Tâm điểm tối thượng ấy dần dà biến thành nhiều tầng lớp, để phát sinh ra muôn vật, phát sinh ra vũ trụ; tầng trong tế vi, cao diệu tầng ngoài cục mịch thô sơ, như áo như vỏ hỗ trợ tầng trong.
Tâm điểm là Thượng đế, các tầng lớp bên ngoài là những lớp vỏ, lớp áo, là quần sinh vũ trụ. Lúc chung cuộc, đấng Tối Cao sẽ vứt bỏ mọi lớp áo xống bên ngoài, mà hiện ra trong vinh quang tuyệt đối; vả lại mọi sự cũng trở về cội gốc như đã phát sinh ra do cội gốc, như Henri Sérouya đã trình bày trong cuốn Kabbale.

René Guénon một nhà huyền học cận đại cũng đề cập nhiều đến Trung điểm, Trung Dung trong các sách của ông.
Nhà triết học trứ danh hiện đại là Carl G. Jung cũng đã dày công khảo cứu về Trung Dung, Trung điểm theo ý nghĩa huyền học.
Trong cuốn Jnana Yoga, ông Vivekananka nhà hiền triết Ấn Độ cũng chủ trương cần phải tìm cho ra tâm điểm bất biến của vũ trụ và của tâm hồn con người, rồi ra mới xác định được các tầng cấp giá trị. Ông quan niệm tâm điểm vũ trụ hay Thượng đế ở ngay trong tâm hồn con người, và quyết đoán rằng các hiền triết xưa nay đều quay về thâm tâm mình để tìm cho ra tâm điểm bất biến đó.

… Hai chiều tiến hóa, vãng phản của tâm thần mà tác giả luôn luôn đề cập tới trong bộ Trung Dung tân khảo làm chúng ta nhớ lại quan niệm của Pythagore về định luật «Âm dương tiêu tức» của Trời đất.

 Tóm lại, với công phu tìm tòi khảo sát, tác giả cuốn Trung Dung tân khảo đã khai thác được cả một kho tàng tư tưởng của cổ nhân, đã tìm ra được nhiều điều bí ẩn về thân thế và định mệnh con người, đã phơi bày ra được các tầng lớp trong con người, đã phác họa được vòng tuần hoàn của cuộc đời, vẻ ra được một con đường để con người có thể đi theo, xuyên qua vật chất trần thế để hoàn thiện mình, tiến tới Thượng đế, nguồn gốc của mọi vật.

Viết về một vấn đề cũ đã khó, viết về một đề tài cũ mà còn tìm ra được những cái hay, cái mới lại càng khó hơn. Tác giả cuốn Trung Dung tân khảo đã thành công về điểm sau này.

Người Nhật đã nói: «Ông Khổng tại Nhật Bổn là ông Khổng sống, ông Khổng tại Trung Hoa là ông Khổng chết.» Đó là vì người Nhật đã biết tìm cái mới, cái tinh hoa của Khổng học, trong khi người Trung Hoa chỉ biết truyền dạy cho nhau một chiều về tư tưởng người xưa từ mấy ngàn đời.

Ước gì cuốn Trung Dung tân khảo này sẽ gây cảm hứng cho nhiều tâm hồn thiện chí khác chịu khó tìm tòi khảo cứu Khổng thuyết, một học thuyết đã làm nền tảng cho văn hóa Á Đông, để vị Vạn thế thánh sư của Trung Hoa trở thành Đức Khổng sống trên đất Việt Nam, hầu mưu ích cho cá nhân và cho cả dân tộc.

Sài gòn, ngày kỷ niệm Khổng Tử 28-9-1963

PHẠM ĐÌNH TÂN

Đoàn trưởng Tinh Việt Văn đoàn

**************************         

LỜI NÓI ĐẦU

Ba tập Trung Dung tân khảo đều có mục đích:

Khảo sát một quan niệm then chốt mà đạo Khổng gọi là tâm pháp 心 法.

Quan niệm đó là:

1. Chẳng những tin có Trời, mà lại tin có Trời ngự trị ẩn áo nơi đáy lòng mình. Trong «Nhân tâm nghiêng ngửa» đa đoan còn có «Đạo tâm ẩn áo»: «Nhân tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi.» 人 心 惟 巍 道 心 惟 微.

2. Đạo tâm, ảnh tượng Trời ẩn áo đó chính là Tính (nature esprit, essence) hiểu theo nghĩa siêu hình.

3. Như vậy Tính sẽ là Nguồn sống thiêng liêng, là Tinh (Essence), là Nhất (Unité), là Thành, là Toàn thiện (Perfection).

4. Và là mệnh Trời (volonté divine: Thiên mệnh chi vị tính 天 命 之 謂 性).

5. Theo mệnh Trời đó chính là Đạo (Suất tính chi vị đạo 率 性 之 謂 道).

6. Niềm tin tưởng đó sẽ làm cho mình kính sợ, lo sửa tâm hồn để trở nên hoàn thiện.

7. Hoàn thiện là lên tới «Thái cực» tuyệt đỉnh công phu, kết hợp với Trời (Phối thiên).

8. Như vậy là đi từ «Thiên nhân tương dữ» (alliance) khởi thủy đến chỗ «Thiên nhân nhất quán» (Union mystique) tận cùng.

 TÓM LẠI:

Trời là trung tâm điểm nhân loại (Trung 中) bất biến trường tồn (Dung 庸). Mục đích Trung Dung là cố gắng tu luyện để đi từ biên khu trần thế, xác thân, lý trí, tâm hồn vào tới được trung tâm điểm đó, và từ chỗ biến thiên của cuộc đời vào tới chỗ bất biến trường tồn đó.

Nhưng dĩ nhiên đó là một công trình tuyệt khó. Chỉ có bậc chí thành, chí thiện mới gọi được là «đắc trung» 得 中. «Đắc trung» là «đắc Đạo» 得 道; «đắc Đạo» là «phối thiên» 配 天.

Trung Dung tức là giai đoạn «Huyền đồng» (tâm dữ Huyền đồng 心 與 玄 同 – Union de l’âme au Principe, Union mystique, mysticisme), điểm hội tụ của triết và đạo, là «cùng lý» của đời sống con người.

Nhân tử NGUYỄN VĂN THỌ cẩn chí

Saigon, ngày 1-4-1964

**************************         

Chương 1

TÀN TÍCH VÀ XÂY DỰNG

A. NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẠC VỀ TRUNG DUNG

Từ xưa đến nay, hai chữ Trung Dung đã thành sáo ngữ thông thường ở cửa miệng dân gian, Ai cũng cho rằng mình quán triệt đạo Trung Dung, tuy chẳng hiểu Trung Dung nói gì. Ai cũng cho rằng Trung Dung là không thái quá, không bất cập, một chủ nghĩa trung lập, nước đôi, lấp lửng giữa dòng, chẳng ra môn, mà cũng chẳng ra khoai, để rồi nhún vai ngâm lên hai câu thơ Xuân Diệu.

«Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.»

Nhưng nếu Trung Dung dễ dàng, thô thiển như vậy, thì tại sao danh nho ngàn đời dám cho nó là «tâm pháp» của Đạo Khổng, thì làm sao Chu Hi dám khen đó là một đạo tuyệt diệu Trời ban và không bao giờ thay đổi được.

Nhưng trước khi phục hồi Trung Dung, khảo sát Trung Dung, ta hãy nhỏ vài giọt lệ tâm tình khóc cho Trung Dung, vì Trung Dung cũng như học thuyết Khổng Tử đã bị nhiều học giả, vô tình hay hữu ý, buông lời phỉ báng tận tình.

Học giả Léon Wieger viết trong quyển Lịch sử đạo giáo và triết học Trung Hoa như sau:

«Đức Khổng đòi hỏi nơi vương giả, nơi hiền nhân, quân tử cái gì? Bác ái hay hy sinh. Ồ! Đâu phải thế… Ngài đòi hỏi một khối óc trung lập, một con tim lạnh lùng na ná như chủ trương của Hồng phạm, Cửu trù: Chẳng thương chẳng ghét, không thiên kiến, không tin tưởng chắn chắn, không chí bền bỉ, không bản ngã… Thoạt tiên, đừng vội khen hay chê, theo hay bỏ… Rồi sau khi đã suy xét, đừng có nghiên theo cực đoan nào vì thái quá hay bất cập đều hại. Phải theo đường Trung Dung, có thái độ chiết trung. Đừng hăng hái nhiệt thành, chớ thất vọng lạnh lùng, bao giờ cũng điềm đạm theo thời. Phải bắt chước Trời lạnh lùng, không tây vị, và lúc hành sự phải biết chần chờ khoan dãn, len lỏi nước đôi.» [1]

Bình luận học thuyết Khổng Tử, ông René Grousset viết:

«Tất cả những vấn đề cao cả, quan thiết đến định mệnh nhân loại đều bị hạ xuống thành chủ trương công ích hay tùy thời xử thế. Thiếu nền tảng siêu hình, luân lý Khổng Tử chỉ dựa vào những sự kiện xã hội.» [2]

Ông P.H. Bernard còn phán quyết hách dịch và dõng dạc gấp bội:

«Cái mà xưa ta gọi là triết học Khổng Tử chỉ là sự phủ quyết của triết lý. Đó là bất cứ cái gì: Xã hội học, kinh tế học, một cuốn sách dạy lịch sự thơ ngây và thành thực, chứ nhất định không phải là triết lý thực sự.» [3]

Đọc những lời phê bình đó chúng ta cảm thấy chua xót vì thấy lỗi lầm chung của chúng ta là không hiểu, đã vội phê phán người xưa, thấy trân châu tưởng lầm là mắt cá.

Ông Robert Magnenoz suy nghĩ về duyên do thắng lợi của chủ nghĩa Cộng Sản ở lục địa Trung Hoa đã viết đại khái như sau:

«Âu Châu và Mỹ Châu đã ra công phá vỡ những con đê ngàn đời từng ngăn ngọn thủy triều Đông Á, đã cố phá những cơ cấu, những truyền thống và những nguồn gốc triết học Đông Phương. Những thân cây dân tộc Á Đông vì thế mà héo hon. Nhân đó, chủ nghĩa Cộng Sản mới có thể tháp vào mà mọc lên như qua cát, sắn bìm, làm nghẹt hết chồi văn minh Đông Á.» [4]

**************************         

B. LÝ DO PHÁT SINH

Lời Ông Magnenoz thật hữu lý.

Sở dĩ có sự mạt sát đả kích như vậy là vì phê phán sai lầm. Những lời phê phán sai lầm ấy không nên làm ta bỡ ngỡ vì ngay ở Á Đông ta, xưa nay nhiều người cũng có luận điệu ấy.

Lý do tổng quát là vì:

1.  Họ sẵn là thành kiến.

2.  Có thành kiến rồi họ vặn vẹo lời thánh hiền cho ăn khớp với những thành kiến mình. Văn còn nguyên, ý đổi hết vì bị tách khỏi chương cú.

3.  Họ dịch sai hay căn cứ vào những bản dịch sai mà lập luận.

4.  Khi đã trót phê phán, phiên dịch sai lầm, họ không có gan cải chính.

5.  Không hiểu hết ý tứ thâm viễn cổ nhân.

6.  Thành thử, có những học thuyết Khổng Tử giả, những đạo Trung Dung giả lưu hành.

Các học giả dựa vào những tài liệu sẵn có mà lập luận phê phán. Nên khi phê bình, có thể họ đã phê bình những ý tưởng của ai ai; khi mạt sát, họ mạt sát những chủ trương chi chi, chứ thực không phải ý tưởng chủ trương của Đức Khổng. Nhiều khi họ mạt sát chính ý kiến sai lầm của họ.

Họ y như hiệp sĩ Don Quichotte đại chiến với những máy xay gạo có quạt gió, vì tưởng đó chính là một đoàn khổng lồ, nghịch tặc. Họ như Don Quichotte rất có tâm huyết, nhưng đã hoài công khai chiến với chính những ảo tưởng, ảo vọng của họ.

Dân chúng thiếu thời giờ đọc sách, xét suy. Không đọc được nguyên văn chính bản, họ chỉ có thể dùng những bản dịch, xem những bài bình luận. Đọc những bản dịch ngây ngô,xem những bài bình luận nông cạn, dân chúng kết luận tư tưởng thánh nhân xưa nông cạn, lập luận thánh nhân xưa ngây ngô, nên họ chán, chẳng muốn theo.

Dân đã chán, thì đạo nào cũng lụn bại. Dân đã có thành kiến thì khó mà bỏ được.

Các học giả bị tiêm nhiễm thiên kiến đang lưu hành trong dân gian thời đại mình, nên lúc khảo cứu rất dễ lầm lạc.

Lầm lạc lại được truyền bá.

Thế là vòng luẩn quẩn đi đi, lại lại, càng ngày càng to tát, nguy hại thêm.

Cho nên bao dang dở, bao chếch mác, bôi tro, trát trấu vào đạo Khổng nói riêng và các đạo nói chung là vì lầm lạc cả:

Hoặc giải thích nông cạn chẳng tinh tường,

Hoặc trình diễn nói năng không khúc chiết,

Hoặc sa vào vòng huấn hỗ, từ chương,

Hoặc không quán triệt hết điều hơn, lẽ thiệt.[5]

Mạnh Tử nói:

«Đừng vì văn hại chữ, đừng vì chữ hại nghĩa. Lấy ý mình đón ý tác giả, thế mới được.» [6]

C.TÔN CHỈ VÀ CHƯƠNG TRÌNH KHẢO CỨU

Vậy khảo sát đạo Trung Dung, ta cần rất thận trọng. Ta nên khảo sát đạo Trung Dung với tinh thần vô tư, gạt bỏ thành kiến, hòa mình vào quan điểm của tiền nhân, cố tìm cho ra ý tứ cao siêu mạch lạc, ẩn áo.

Chu Hi nói: Đạo Trung Dung là một đạo Trời ban. Đức Khổng cho ra rằng Trời ban đạo đó cho nhân loại từ thời vua Nghiêu, khoảng 1500 năm trước ngài. Mạnh Tử thời Chiến Quốc, Miễn Trai đời Tống[7] đã ghi lại rõ ràng chuỗi liên châu đạo thống, xác định những bậc thánh hiền đã được vinh hạnh cầm bó đuốc chân lý soi cho đời qua các thế hệ. Bao ẩn áo của đạo Trung Dung cũng đã được nghiên cứu qua các thời đại.

Vậy trong công trình khảo sát Trung Dung,chúng ta phải lần lượt đi từng bước một:

1.  Đọc Kinh Thi để tắm mình trong bầu không khí tín ngưỡng Trung Hoa thời cổ.

2.  Nương vào Mạnh Tử, Miễn Trai tiên sinh để dò ra đạo thống Trung Dung.

3.  Cố gỡ mối tơ vò siêu hình học của Trung Dung nói riêng và Khổng giáo nói chung. Mối tơ vò ấy là hai chữ Tính, Mệnh.

4.  Tìm tinh hoa Khổng giáo trong Tứ thư, Ngũ kinh.

5.  Tìm hiểu hai chữ Trung Dung.

6.  Trở về Trung Dung để tìm hiểu ý tứ, mạch lạc.

7.  So sánh Trung Dung và Dịch lý để suy ra bản thể và hiện tượng và những vũ trụ quan, nhân sinh quan, sử quan tương ứng, cũng như những định luật chính chi phối hoàn võ và con người. Tìm dấu vết Trung Dung và Dịch lý trong các thư tịch, đền đài khắp hoàn cầu để tìm ra mối tương đồng giữa các quốc gia các thế hệ…

8.  Cuối cùng chúng ta mới kết luận tổng quát.

Chúng ta phải vất vả như vậy, phải đi quanh quất trong rừng lịch sử,triết học, văn chương, như vậy mới có thể lên tới đạo Trung Dung được, vì nó quá cao, quá khó.

Chúng ta đừng sốt ruột; sốt ruột sẽ hỏng việc: mạ có thời gian mọc, mới thành cây lúa; nếu nương nó lên cho chóng dài, chóng lớn, nó sẽ chết.

Vậy muốn tìm cho ra manh mối đạo Trung Dung, ta phải ngang nhiên rong ruổi trên triền không gian và thời gian, lật gai góc cá học thuyết, mà tìm cho ra đường lớn của người xưa. Nhưng trước khi lên đường, chúng ta những muốn nói như Lý Thái Bạch:

Đường đi khó, tìm đường đi khó quá…

Rút kiếm bén, ngỡ ngàng trông đây đó,

Lòng hoang mang ta biết sẽ đi đâu?

Muốn qua Hoàng Hà, băng giá lấp sông sâu !

Muốn trèo non Thái, tuyết một mầu ảm đạm !

Muốn khuây khỏa, vừa ra khe buông câu tạm,

Đã mơ màng thuyền mộng lướt Trời mây !

Đường muôn ngả, đường muôn ngả đâu còn đây ?

Khó đi quá, tìm đường đi khó quá …

Nhưng gió lộng sẽ phá muôn tầm sóng cả,

Thổi buồm mây một lá tếch ngàn khơi,

Đại đạo lớn, lớn trùm cả khung Trời,

Mà bịn rịn, ta chưa ra đi nổi…[8]

Nhưng mà thôi, ta hãy ra đi …

Vì: «Đã sinh ra ở trần hoàn,

Phải tìm cho biết ngọn nguồn, lạch sông…»

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Ceci posé, du prince et de ses auxiliaires, de l’homme supérieur, de l’altruiste conçu à sa manière, Confucius exige quoi… la charité, le dévouement… Oh! pas du tout. Il exige la neutralité de l’esprit et cette froideur du cœur que nous avons vu préconisées par la Grande Règle. Pas de sympathie, pas d’antipathie, pas d’idée préconçue, pas de conviction ferme, pas de volonté tenace, pas de moi personnel… D’abord, à première vue, ne pas approuver, ne pas désapprouver, ne pas embrasser, ne pas repousser… En suite, après réflexion, ne jamais se déterminer pour un extrême, car excès et déficit sont également mauvais.

 Suivre toujours la voie moyenne, prendre une position moyenne. Jamais de chaud enthousiasme, jamais de désespoir glacé; toujours un calme opportunisme. Imiter la froide impartialité du Ciel, et, dans l’action, temporiser comme lui et louvoyer… (L. Wieger, Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine, p. 135.)

[2] Les plus hauts problèmes de la destinée humaine étaient ramenés à une question d’utilité ou mieux d’opportunité sociale. Dépourvue de base métaphysique, la morale de Confucius sera simplement fondée sur les faits sociaux. (Trần Văn Hiến Minh, La conception confucéenne de l’homme, p. 15)

[3] Ce qu’on appelait la philosophie confucianiste, dit-il, était la négation de la philosophie; c’était tout ce qu’on voudra: de la sociologie, de l’économie politique, un manuel de civilité naïve et honnête – tout, sauf une philosophie véritable. (Ibidem, p. 13)

[4] L’Europe, puis l’Amérique, se sont acharnées à rompre les digues séculaires des institutions, des traditions et des philosophies qui contenaient la marée asiatique. Le traumatisme que le XXè siècle a produit sur des civilisations qui étaient contemporaines des Pharaons, s’est développé en une prolifération artificielle d’idées qu’il aurait fallu au préalable adapter et non pas servir, à ces peuples politiquement jeunes, comme des panacées universelles.

 Le nationalisme d’abord, et son cousin germain, le communisme, entés sur des troncs étiolés, ont proliféré comme une liane parasite et menacent d’étouffer les vielles souches des civilisations asiatiques. C’est ce que récoltent les Blancs pour avoir soulevé le couvercle de la boîte à Pandore et laisser s’échapper des idées qu’eux seuls avaient réussi à domestiquer. C’est ce qu’ils récoltent aussi pour avoir oublié que celui qui sème le vent récolte la tempête. (De Confucius à Lénine – Préface)

[5] Hoặc thích yên nhi bất tinh. Hoặc ngữ yên nhi bất tường… Hoặc nịch ư huấn hỗ từ chương. Hoặc cấm độc thư cùng lý. 或 釋 焉 而 不 精, 或 語 焉 而 不 詳 […] 或 溺 於 訓 詁 辭 章, 或 禁 讀 窮 理. (Trung Dung phú)

[6] Mạnh Tử viết: Bất dĩ văn hại từ, bất dĩ từ hại ý, dĩ ý nghịch chí, thị vị đắc chi. 孟 子 曰: 不 以 文 害 辭, 不 以 辭 害 意, 以 意 逆 志, 是 謂 得 之 (Mạnh Tử – Vạn Chương chương cú thượng, số 4). Phan Bội Châu, Khổng học đăng II, tr. 620.

[7] Xem Phụ lục 1.

[8] … Bạt kiếm tứ cố, tâm mang nhiên !             
拔 劍 四 顧 心 茫 然

Dục độ Hoàng Hà, băng tắc xuyên,           
欲 渡 黃 河 冰 塞 川

Tương đăng Thái Hàng, tuyết ám thiên,     
將 登 太 行 雪 暗 天

Nhàn lai thùy điếu tọa khê thượng,             
閒 來 垂 釣 坐 溪 上

Hốt phục thừa chu mộng nhật biên.           
忽 復 乘 舟 夢 日 邊

Hành lộ nan ! Hành lộ nan !                         
行 路 難 行 路 難

Đa kỳ lộ, kim an tại?                                       
多 歧 路 今 安 在

Trường phong phá lãng, hội hữu thì,           
長 風 破 浪 會 有 時

Trực quải vân phàm tế thương hải.             
直 掛 雲 帆 濟 滄 海

Đại đạo nhược thanh thiên,                         
大 道 若 青 天

Ngã do bất đắc xuất…                                 
我 猶 不 得 出…

(Bài thơ «Hành lộ nan» 行 路 難 của Lý Thái Bạch 李 太 白)

**************************         

Chương 2

BẦU KHÔNG KHÍ ĐẠO GIÁO THỜI THÁI CỔ

Ðức Khổng nói trong Luận Ngữ:

«Ta trần thuật chứ không sáng tạo,

Tin cổ nhân, mộ đạo cổ nhân.» [1]

Trung Dung viết thêm: «Trọng Ni tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiến chương Văn, Võ.» (Đức Khổng nối tiếp đạo Thuấn, Nghiêu, làm sáng tỏ lối đường Văn Võ.)

Thế là ta phải đi ngược dòng sông lịch sử cho lên tới thời Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ mới hiểu được đạo Trung Dung được tường tận hẳn hoi, cũng y như:

«Muốn tắm mát thời lên ngọn cái con sông đào,

Muốn ăn sim chín thời vào rừng xanh.» (Ca dao)

Ta hãy cùng nhau dở kinh Thi, thiên Đại nhã cho lòng xô lùi về cảnh đời dĩ vãng, phiêu diêu lên tới dĩ vãng xa xăm, để sống với dân gian thời Trung Hoa thượng cổ:

Thuở xa xăm ấy, nhân loại như dây dưa, mọc lan man,[2] chưa có nhà cửa, sống trong hang hốc…

Nhưng họ tin sùng Thượng Đế và tin Thượng Đế sống rất gần vua, gần dân, gần quân sĩ:

Trong cuộc giao tranh quyết liệt với binh vua Trụ ở Mục Dã, Võ Vương muốn gây tinh thần nhuệ khí cho quân sĩ đã kêu lên: «Thượng đế ở với ba quân. Ba quân đừng nghi ngại.»

Kinh Thi viết:

Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,

Một rừng người chật cả sa tràng,

Cho ba quân thêm dạ sắt, gan vàng,

Võ Vương kêu: Thượng Đế ở cùng ta đó,

Ba quân hãy vững lòng, vững dạ.[3]

Lời kêu gọi đó đã làm binh sĩ nhà Chu hứng khởi, ào lên đánh tan quân Thương Ân trong có một buổi sáng.

Kinh Thi viết thêm:

Nơi Mục Dã mênh mang rộng rãi,

Xe bạch đàn chói chói, chang chang,

Ngựa tứ nguyên, phau phau đẹp rỡ ràng,

Khương Thượng phụ, trông oai phong lẫm lẫm,

Ngài như chim ưng, xòe tung đôi cánh,

Giúp Võ Vương, thế mạnh xiết bao.

Cả phá Thương, ba quân tiến ào ào,

Sau một sáng, Trời thanh quang trở lại.[4]

Thời buổi thô sơ ấy, nhân loại tin rằng Trời chiếu ánh sáng muôn trùng vào tâm hồn họ để làm khuôn phép, mẫu mực, để ra mệnh lệnh cho họ theo. Các vương giả, hiền nhân thời ấy cố sống sao đức hạnh tuyệt vời để kết hợp với Trời, để có thể được là vẻ sáng của Trời như Văn Vương. Họ mong muốn được đức hạnh như Trời (dữ thiên đồng đức).

Hễ thấy ai có:

«Đức sáng quắc, sáng choang ở dưới,

Họ liền biết:

«Mệnh hiển dương chói lọi ở trên.» [5]

Thời buổi ấy, các bậc trí thức vương giả, tin có ảnh tượng Trời trong đáy lòng mình. Văn Vương nói: Chẳng thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm, chẳng phải long đong, mà vẫn giữ được.[6]

**************************         

Văn Vương lên tới một trình độ đức hạnh siêu việt, nếu như vẻ sáng Thượng Đế. Vì thế gọi là Văn Vương, ý nói Thượng Đế là chất, mà ngài là văn, là vẻ sáng Trời được phát huy ra.

Kinh Thi viết:

Việc Trời chẳng tiếng, chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin.[7]

Kinh Thi viết thêm:

Văn vương trọn một lòng kính nể,

Làm chói chang thượng đế ra ngoài,

Muôn nghìn phúc lộc chiêu lai,

Một niềm nhân đức chẳng sai lòng vàng.[8]

Khi Văn Vương băng hà, Chu Công thuật lại công nghiệp Văn vương rằng:

Văn Vương ở trên Trời cao thẳm,

Trên Trời cao, rạng ánh sáng quang minh.

Nước Chu tuế nguyệt dư nghìn,

Nhưng mà thiên mệnh mới truyền từ đây.

Phải chăng vì Chu đầy vinh hiển,

Phải chăng vì Đế mệnh gặp thời,

Văn Vương lên xuống thảnh thơi,

Hai bên Thượng Đế tới lui thanh nhàn.[9]

Thời buổi thô sơ ấy, họ quan niệm rằng nối chí tổ tiên, giữ vẹn đạo Trời, ấy là hiếu kính.

Kinh Thi viết:

Muốn nhớ tới tổ tiên khi trước,

Hãy gắng công tích đức tu thân,

Mệnh Trời phối hiệp vào thân,

Muôn ngàn phúc lộc xa gần chiêu lai.

Thuở nhà Ân còn thời thịnh trị,

Đã từng cùng Thượng Đế tất giao .

Gương triều Ân hãy soi vào,

Mệnh Trời cao cả, lẽ nào dễ đâu.[10]

Thời buổi thô sơ ấy họ sống thuận mệnh Trời.

Kinh Thi viết:

Mệnh Trời ấy há đâu có dễ,

Muốn cho ta đừng kể tư nhân,

Biểu dương phóng phát thiện chân…  [11]

Tóm lại thời buổi ấy, những hiền nhân quân tử đã thông hiểu lẽ «Thiên nhân tương dữ», Trời người giao hảo, tình Trời người cá nước duyên ưa, thiên ý nhân tâm hòa hợp.

Thời buổi ấy những bậc thánh vương đã biết sống những ngày thanh bình, thảnh đãng, vô tư, như những bông hoa tắm mình trong ánh bình minh dịu dàng của muôn thế hệ.

Các bậc thánh hiền Trung Hoa về sau, nhân khảo sát lại nguồn tín ngưỡng cổ thời mà lập đạo, sáng tạo các lý thuyết triết học.

Lão Tử lập đạo Lão, một đạo huyền đồng (mysticisme), mong hòa mình với Trời, với Đạo để được trường sinh. Lão Tử bắt nguồn đạo mình lên tận Hoàng Đế.

Đức Khổng bắt nguồn đạo Trung Dung từ thời vua Nghiêu .

Khảo lại kinh Thi ta đã đoán được phần nào những thuyết «Thiên nhân tương dữ», «Thiên nhân nhất quán» của ngài, và ta sẽ thấy đạo Trung Dung cũng là một đạo huyền đồng (mysticisme).

Sau này, Mặc Tử cho bắt nguồn đạo mình từ thời nhà Hạ. Nhưng lòng tin Trời, kính Trời của các vị đó, chẳng ai nhường ai.

Nguồn tín ngưỡng sâu xa đó có lẽ cũng đã phát sinh ra những lý thuyết triết học:

– «Thể, Dụng»

– «Khinh danh, vụ thực» các đời sau.

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Tử viết: Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ. 子 曰: 述 而 不 作 信 而 好 古. Luận ngữ – Thuật nhi VII. 98.

[2] Miên miên qua điệt, dân chi sơ sinh… 綿 綿 瓜 瓞 民 之 初 生

Đào phục đào huyệt, vị hữu gia thất. 陶 復 陶 穴 未 有 家 室. (Kinh Thi, chương Đại minh)

[3] Ân Thương chi lữ                   
殷 商 之 旅

Kỳ hội như lâm                   
其 會 如 林

Thỉ vu Mục Dã                     
矢 于 牧 野

Duy dư hầu hâm                 
維 予 侯 興

Thượng đế lâm nhữ,         
上 帝 臨 汝

Vô nhị nhĩ tâm.                   
無 貳 爾 心

 (Kinh Thi, Văn Vương, thất chương, chương bát cú )

[4] Mục Dã dương dương           
牧 野 洋 洋

Đàn xa hoàng hoàng         
檀 車 煌 煌

Tứ Nguyên bành bành       
駟 騵 彭 彭

Duy Sư Thượng Phụ           
維 師 尚 父

Thời duy ưng dương           
時 維 鷹 揚

Lượng bỉ Võ Vương             
涼 彼 武 王

Tứ phạt Đại Thương           
肆 伐 大 商

Hội triêu thanh minh.           
會 朝 清 明

(Kinh Thi, Văn Vương thất chương, chương bát cú)

[5] Minh minh tại hạ                     
明 明 在 下

Hách hách tại thượng         
赫 赫 在 上

(Văn Vương thất chương, chương bát cú)

Xem thêm: Phúc âm thánh Matthieu V, 14-16: Các người là sự sáng thế gian, một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được, cũng không ai thắp đèn để dưới thùng, mà là để trên chân đèn soi cho mọi người trong nhà. Sự sáng các người hãy rạng sáng trước mắt nhân loại, để họ thấy những việc lành các người và ngợi khen cha các người trên Trời.

[6] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo. 不 顯 亦 臨, 無 射 亦 保 (Kinh Thi, Đại Nhã, Tư trai tứ chương, chương lục cú)

[7] Thượng thiên chi tải               
上 天 之 載

Vô thanh vô xú                     
無 聲 無 臭

Nghi hình Văn Vương         
儀 刑 文 王

Vạn bang tác phu.               
萬 邦 作 孚

(Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất)

[8] Duy thử Văn vương           
惟 此 文 王

Tiểu tâm dực dực             
小 心 翼 翼

Chiêu sự Thượng Đế     
昭 事 上 帝

Duật hoài đa phúc           
聿 懷 多 福

Quyết đức bất hồi           
厥 德 不 回

(Kinh Thi, Văn Vương thất chương bát cú)

[9] Văn Vương tại thượng, ô chiêu vu thiên. Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân. Hữu Chu bất hiển. Đế mệnh bất thời. Văn Vương trắc giáng. Tại Đế tả hữu. 文 王 在 上, 於 昭 于 天. 周 雖 舊 邦, 其 命 維 新. 有 周 不 顯. 帝 命 不 時. 文 王 陟 降. 在 帝 左 右. (Kinh Thi, Văn Vương)

[10] Vô niệm nhĩ tổ,                             
無 念 爾 祖

Duật tu quyết đức                       
聿 修 厥 德

Vĩnh ngôn phối mệnh                 
永 言 配 命

Tu cầu đa phúc                           
須 求 多 福

Ân chi vị táng sư                         
殷 之 未 喪 師

Khắc phối Thượng Đế               
克 配 上 帝

Nghi giám vu Ân                         
宜 鑒 于 殷

Tuấn mệnh bất dị                       
駿 命 不 易

[11] Mệnh chi bất dị                           
命 之 不 易

Vô át nhĩ cung                             
無 遏 爾 躬

Tuyên chiêu nghĩa văn…         
宣 昭 義 聞

Kinh Thi, Đại nhã tam – Văn vương chi thập tam chi nhất.

**************************         

Chương 3

ĐẠO THỐNG TRUNG DUNG   [1]

Sau khi quen thung thổ, quen đường đi, nước bước của dân Trung Hoa thời cổ, ta hãy thung dung cùng Miễn Trai tiên sinh, thả thuyền mộng cho xuôi dòng thời gian. Buồn quế, chèo mây của chúng ta sẽ từ từ lướt sóng qua thế hệ, lững thững từ thời Nghiêu xuôi xuống, để tìm ra chuổi liên châu đạo thống đạo Trung Dung.

Vua Nghiêu là đấng thánh nhân.[2] Ngài được Trời truyền đạo. Khi vua Nghiêu truyền đạo ấy cho vua Thuấn,[3] ngài khuyên:

«Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời.»

Vua Thuấn truyền tâm pháp ấy cho vua Vũ.

Ngài dạy:

«Lòng của Trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng.

Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời.» [4]

Vua Thang nhận đạo thống, suy nghĩ và phát minh ra phương pháp tiết dục. Ngài nói: «Lấy nghĩa chế sự, lấy lễ chế tâm.» [5]

Văn Vương lĩnh hội được tinh hoa thấm thúy của đạo Trung Dung đã bước lên tới một độ nhân đức cao siêu. Ngài luôn mường tượng như có Thượng đế ở trước mặt. Ngài nói: «Chẳng thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm, chẳng phải vất vả, nhưng vẫn giữ được.» [6]

Châm ngôn của Võ Vương là:

«Kính cẩn chăng dễ khinh,

Trọng nghĩa rẻ dục tình,

Thế là đường lối phải,

Thế là ý khuôn xanh.» [7]

Châm ngôn của Chu Công là:

«Kính xin ngay ngắn tâm hồn,

Theo đường nghĩa lý vuông tròn công tư.» [8]

Hơn 1500 năm sau thời vua Nghiêu, hơn 500 năm thời Văn Vương, đạo Trời lại ngưng đọng nơi Đức Khổng. Đức Khổng lại cảm thấy mình là vẻ sáng của Thượng Đế, Ngài lại bôn ba đi truyền dạy đạo Trời. Khi bị vây ở đất Khuông, Ngài nói: «Văn Vương đã thác, vẻ sáng nay chẳng ở đây sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì sau khi Văn Vương thăng hà đâu có ban cho ta. Nếu Trời không muốn mất vẻ sáng ấy, thì người đất Khuông làm gì được ta?» [9]

Thế là ta bắt được liên châu đạo thống đạo Trung Dung. Đạo ấy do Trời ban cho các thánh hiền. Quang huy ngài chiếu soi vào các thánh hiền thế hệ. Quang huy ấy đạo nho gọi là Tính. Tính là nguồn mạch hoàn thiện, linh diệu, huyền vi, phát sinh ra muôn điều cao siêu, đẹp đẽ.

Hội ý tiên nho, ta có thể phác họa lại cương lĩnh đạo thống Trung Dung bằng mấy vần thơ sau:

Trộm nghĩ rằng duyên do sinh bát quái, Lạc thư,

Làm tâm điểm cho cuộc Trời đất doanh hư,

Gồm Thái cực, cả hai bề động tĩnh,

Làm chủ chốt cho muôn điều chân chính,

Thao túng hết vi diệu của Hoàng Thiên,

Duyên do đó ngự trong tâm ta, ẩn áo, an nhiên,

Làm vua Nghiêu treo cao gương đức cả,

Làm Vua Thuấn kính tin vô tư lự,

Cho Đại Võ nương vào khi giáo hóa,

Cho Cao Dao lấy đó để dạy đời,

Thành Thang nhờ đó nên hiền thánh hơn người,

Y Doãn, Lai Châu nương vào nên nhân đức,

Văn Vương những ước mơ mà chưa thấy được,

Vũ Vương, Chu Công rong ruổi trên đường Ngài,

Ngài cho Đức Khổng biết chóng chậm, tiến lui,

Cái thuật ấy xưa nay ai vượt nổi?

Cảm thấy ngài cao, chắc, trước, sau, vươn khó tới,

Như Nhan Hồi thiên hạ dễ mấy mươi;

Đạo nhất quán thầy Tăng thấy nơi Người,

Mạnh Tử nhờ đức, tài bồi hạo nhiên chi khí. [10]

HÌNH 1

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Xem Thánh hiền đạo thống truyền thụ tổng tự thuyết của Miễn Trai và Mạnh Tử ở phần phụ lục I.

[2] Mạnh Tử viết: Nghiêu Thuấn tính chi dã. (Mạnh Tử, Tận tâm, chương cú hạ số 33, tr. 276)

[3] Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 188 và tiếp theo.

Mạnh Tử, Tận tâm, chương cú hạ số 38, tr. 284…

[4]   Nhân tâm duy nguy               
人 心 惟 危

Đạo tâm duy vi                       
道 心 惟 微

Duy tinh duy nhất                   
惟 精 惟 一

Doãn chấp quyết trung         
允 執 厥 中

Kinh Thư, III, Đại Vũ mô,15.

[5] Dĩ nghĩa chế sự, dĩ lễ chế tâm.
以 義 制 事, 以 禮 制 心.

[6] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo.
不 顯 亦 臨, 無 射 亦 保.

– Đại Nhã – Tư trai tứ chương, chương lục cú.

– Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 191.

[7]   Kính thắng đãi giả cát,           
敬 勝 殆 者 吉

Nghĩa thắng dục giả tùng.   
義 勝 欲 者 從

– Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 192.

[8] Kính dĩ trực nội. Nghĩa dĩ phương ngoại.
敬 以 直 內. 義 以 方 外. – Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 191.

[9] Tử úy ư Khuông viết: Văn vương ký một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dự ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã. Khuông nhân kỳ như dư hà? 子 畏 於 匡 曰: 文 王 既 沒, 文 不 在 斯 乎? 天 之 將 喪 斯 文 也. 後 死 者 不 得 輿 於 斯 文 也. 天 之 未 喪 斯 文 也. 匡 人 其 如 予 何? – Luận ngữ, Tử Hãn đệ cửu, tr. 134 (Bản dịch Đoàn Trung Còn)

[10] Phỏng dịch theo Trung Dung phú của Lương Gia Hòa:

Tưởng phù Hà xuất thiên bào                         
想 夫 河 出 天 苞

Lạc thổ địa phù                                                 
洛 吐 地 符

Ngũ thập cư trung                                           
五 十 居 中

Bị Thái cực chi động tĩnh                                 
備 太 極 之 動 靜

Trung chính vi chủ,                                           
中 正 為 主

Diệu Hoàng cực chi liễm phu,                         
妙 皇 極 之 斂 敷

Kỳ tại ư tâm.                                                       
其 在 於 心

Tắc Nghiêu chi khắc minh tuấn đức             
則 堯 之 克 明 峻 德

Thuấn chi kính giới vô ngu                               
舜 之 敬 戒 無 虞

Vũ chi thai nhi giáo cật                                     
禹 之 台 而 教 訖

Cao Doãn địch nhi trần mô,                           
皋 允 迪 而 陳 謨

Thang chấp chi dĩ lập hiền                             
湯 執 之 以 立 賢

Nhi Y Doãn, Lai Châu hàm kỳ đức               
而 伊 尹 萊 茱 咸 其 德

Văn vọng chi nhi vị kiến,                                 
文 望 之 而 未 見

Vũ Vương, Chu Công trì kỳ đồ.                       
武 王 周 公 馳 其 途

Sĩ, chỉ, cửu, tốc, Thánh chi thời,                     
仕 止 久 速 聖 之 時

Trọng Ni bất khả du dã.                                   
仲 尼 不 可 踰 也

Cao, kiên, tiền, hậu hữu sở lập                       
高 堅 前 後 有 所 立

Nhan thị kỳ thứ cơ hồ                                       
顏 氏 其 庶 幾 乎

Nhất quán chi đạo, Tăng cầu chư kỷ           
一 貫 之 道 曾 求 諸 己

Hạo nhiên chi khí, Mạnh thiện dưỡng ngô.   
浩 然 之 氣 孟 善 養 吾

Trung Dung phú của Lương Gia Hòa. Xem Cổ học tinh hoa, Quảng Nam, Thu Canh Tý 1960, tr. 21 (Xem Phụ lục 10).

**************************         

Chương 4

CHỮ TÍNH, CHỮ MỆNH TRONG ĐẠO TRUNG DUNG

Ðã biết đạo Thống Trung Dung, ta phải nghiên cứu lại hai chữ Tính, Mệnh. Đó là điều kiện thiết yếu để hiểu Trung Dung và Nho giáo.

Đầu Trung Dung, Tử Tư viết:

«Bản tính cũng chính là thiên mệnh

Đạo là noi theo tính bản thiên.»

Như vậy hai chữ Tính, Mệnh là đề tài then chốt của Trung Dung.

Đọc tựa Kinh Thư Đại Toàn ta thấy viết: «Xưa nay tâm pháp đều bắt nguồn ở hai chữ Tính Mệnh. Thánh hiền muôn đời không thay đổi được.» [1]

Mấy lời ấy tưởng đã đủ thôi thúc ta suy cứu cho ra mối manh hai chữ Tính Mệnh.

I. CHỮ TÍNH MỆNH TRONG DÂN GIAN

Trước tiên, chúng ta đừng lẫn lộn chữ Tính, chữ Mệnh trong Nho giáo với chữ Tính, chữ Mệnh trong dân gian, vì thực ra cũng một hình hài văn tự, mà ý nghĩa thì khác biệt nhau Trời vực.

Tính theo nghĩa dân gian là phản ứng thường gặp của cá nhân.

Mỗi người phản ứng một cách, nên tính cũng biến đổi theo người, vì thế, có câu «Bá nhân, bá tính».

Tính đó là tính nết, là thói quen. Tính đó là thường tình, là tâm tính.

Mệnh theo nghĩa dân gian là số mệnh, số phận. Số mệnh mỗi người mỗi khác, vì lệ thuộc vào thân thế và hoàn cảnh. Số mệnh có dở, có hay, có truân chuyên, có hạnh phúc. Nhiều người cho rằng số mệnh dở, hay đều do Trời tiền định:

Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần, phải phong trần,

Cho thanh cao, mới được phần thanh cao. (Kiều)

 Quan niệm có thể làm cho con người đi đến chỗ ù lì, hết phấn đấu:

«Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu.» (Kiều)

II. CHỮ TÍNH MỆNH THEO MỘT SỐ NHO GIA

Ta cũng sẽ không hiểu chữ Tính, chữ Mệnh, theo chủ trương của ít nhiều Nho gia.

Theo chủ trương này, thì mệnh là công trình nhập thế (Quan nguyệt quật 觀 月 窟), cải tạo hoàn cảnh, tượng trưng bằng nửa vòng Dịch đầu, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn, còn  Tính là công trình xuất thế (Kiến thiên căn 見 天 根), cải tạo tâm hồn, tượng trưng bằng nửa vòng Dịch sau, từ Phục đến Càn. [2]

                性 TÍNH      MỆNH 命

         
   
Ý muốn nói, con người cần phải dùng đời mình để cải tạo hoàn cảnh và để tu thân, có thế mới hoàn tất được Tính Mệnh mình.

Lời bàn giải trên thực cũng đã tinh vi tế nhị.

 III. CHỮ TÍNH MỆNH THEO KHỔNG GIÁO

Nhưng chữ tính, chữ mệnh trong Khổng giáo còn cao siêu huyền diệu gấp bội.

Ngay các cao đệ đức Khổng cũng không dễ được nghe ngài bàn tới.

Tử Cống nói:

«Văn chương bình luận phán phê,

Văn chương Phu Tử ta nghe thường rồi.

Còn như Tính với đạo Trời,

Mấy đời thầy giảng, mấy đời ta nghe.» [3]

Câu này tả nỗi sốt ruột của Tử Cống muốn được nghe thầy truyền tâm pháp mà chưa được. Chưa được nghe, vì chưa xứng đáng nghe: đường lối cổ nhân là vậy.

Về chữ mệnh, Đức Khổng khiêm tốn nói: «Ta bàn chữ Mệnh không nổi.» Tuy ngài có tài thuyết minh, biện bác trổi xa hơn Tể Ngã, Tử Cống.[4]

Lời nói đó làm ta liên tưởng tới một câu của Lão Tử:

«Đạo Trời ôm ấp một mình,

Còn hơn vất vả thuyết minh suốt đời.»[5]

Mấy lời Đức Khổng nói trên cốt để ta lưu tâm suy cứu về chữ Mệnh, đừng nông nổi hiểu lầm, vì hiểu được chữ Mệnh, ta sẽ đổi được lề lối sống.

Đức Khổng năm mươi tuổi mới biết mệnh Trời.[6]

Tăng Tử kết thúc quyển Luận Ngữ bằng một lời giáo hóa của Đức Khổng:

«Chẳng hiểu mệnh Trời, không đáng gọi là người quân tử.» [7]

Hai chữ Tính Mệnh của đạo Khổng nó khúc mắc vô biên, tuy khác nghĩa nhau mà vẫn dính liền nhau như Càn Khôn quyện. Nó rất quý báu, nó chính là Tính Mệnh ta, vì vậy ta cần phải tìm hiểu cho tường tận.

**************************         

A. Chữ Tính

Thời Khổng Tử, chữ Tính đã thông dụng, nhưng ít được bàn giải minh bạch. Mạnh Tử là người đầu tiên đề xướng thuyết tính thiện. Đến đời Tống, các danh nho mới bàn giải kỹ lưỡng về chữ Tính.

Cho nên muốn hiểu chữ Tính, phải tham khảo Tống nho.

Minh Đạo tiên sinh thường nói: «Tính cùng đạo Trời nếu không tự đắc thì không biết được.» [8]

Theo Hoành Cừ, Tính là lẽ chí thiện, chí mỹ của Trời đất.[9]

Trình Y Xuyên cho tính là chân nguyên, là Lý, là «Vật năng sinh».[10]

Ngũ Phong nói: «Tính là lẽ mà Trời đất sở dĩ thành lập, nên Tính là điều kín nhiệm của quỉ thần.» [11]

Lại nói: «Tính bản nhiên ấy chí thiện; đã bảo rằng chí thiện, tức là tuyệt đối.» [12]

Tính hay thiên tính, thiên lý là nguồn mạch sự sống, là chân, thiện, mỹ. Vì thế, Trung Dung định nghĩa «Tính» là hoàn thiện, quang minh.[13]

Theo Mạnh Tử và Chu Hi, tính hàm súc vạn lý, nhưng phân cương lĩnh lớn lao gồm bốn điều, mệnh danh là nhân, nghĩa, lễ, trí.[14]

Sự khảo sát này đưa đến một sự kiện rất quan trọng. Đó là sự phân biệt giữa tính và tâm. Theo quan điểm các đại hiền triết Nho giáo, thì tính và tâm khác nhau muôn trùng. Vì tính là thiên tính, thiên lý, không phải là tâm tính, tâm tình như ta thường hiểu.

Tuy nhiên, đôi đàng vẫn có liên hệ mật thiết với nhau. Chu Hi nói: «Tính như Thái cực, tâm như âm dương, tuy khác nhau Trời vực, như vẫn lồng vào nhau như bóng với hình, tuy một mà hai, tuy hai mà một.» [15]

Ta hãy dùng một thí dụ, để phân biệt tính với tâm, đồng thời xác định liên hệ giữa tính với tâm:

Thiên tính hay đạo tâm như mặt Trời muôn thuở, huy hoàng, viên mãn, tâm tình hay nhân tâm như vầng trăng, tròn khuyết, sáng tối với thời gian.

Đạo tâm muôn thuở, chiếu diệu ánh sáng nhân, nghĩa, lễ, trí xuống nhân tâm như mặt Trời soi sáng cho vầng trăng.

Nhưng những tia sáng muôn trùng đó lúc tỏa xuống tối nhân tâm đã dấu bớt rực rỡ, thu bớt quang huy để hòa mình cùng trần cấu nhân loại.

Lòng nhân từ (nhân 仁), bát ngát, mênh mông, ứng xuống lòng người, làm cho con người cảm thấy nỗi niềm, trắc ẩn, bất nhẫn trước mọi nỗi đau thương. Có lúc ta thương vay, xót mướn, thương vẩn, thương vơ:

«Thương con quốc rũ kêu mùa hạ,

Thương cánh bèo trôi dạt bể đông,

Thương vợ chồng Ngâu duyên chểnh mảng,

Thương cha mẹ nhện số long đong.»

Ta thương tự nhiên ta thương:

Thấy người hoạn nạn thì thương,

Thấy người tàn tật lại càng thương thay.

Chính nghĩa muôn thuở (Nghĩa 義), vẻ đẹp ngàn đời chiếu xuống lòng ta cô đọng lại thành lòng tu ố, lòng biết liêm sỉ: tự nhiên ta xấu hổ, ta ngượng nghịu vì những điều xằng bậy mình làm ghét những điều chếch mác, dở dang, chê những chuyện bạo tàn, bóc lột, thích những nghĩa cử:

«Anh hùng đã gọi tiếng rằng,

Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.» (Kiều)

Trật tự uy nghi muôn thuở (Lễ 禮) soi xuống tâm hồn ta, biến thành lòng từ nhượng, làm cho ta biết khiêm tốn,biết phục thiện, biết gò bó mình vào vòng lễ giáo, trong khi dục tình, như ngựa ô truy, luôn luôn muốn rong ruổi trên đường đời để gây can qua, máu lửa.

Trí quang minh, rực rỡ (Trí 智) chiếu xuống lòng ta sinh ra sự biết thị phi biết hay, biết dở, hay để làm, dở để tránh.

Tóm lại, tính là hoàn thiện tuyệt đối. Tính đó, tính quang Trời đó, vẫn lẩn trong tâm ta nhưng ta đâu có hay, có biết, cho nên tâm hồn ta vẫn điên đảo, ngả nghiêng.

«Lòng của Trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng người điên đảo, ngả nghiêng.»

Tính đó, nguồn chân, thiện, mỹ đó, là khuôn vàng, thước ngọc cho ta theo. Tính đó là đường đưa ta về với Trời, vì thế gọi là đạo, Tính đó là mệnh lệnh của Trời truyền. Ta phải theo chân «tính» đó, soi gương «tính» đó để hoàn thiện mình, y như đất noi theo gương Trời.  [16]

HÌNH  2

HÌNH 3

Mạnh Tử viết:

Thấu triệt lòng, sẽ hay biết tính,

Hay biết tính, nhất định biết Trời,

Tồn tâm, dưỡng tính chẳng rời,

Đó là giữ đạo thờ Trời chẳng sai.

Yểu hay thọ không thay lòng dạ,

Cứ tu thân một thuở đợi Ngài.

Đó là theo đúng mệnh Trời.

Mệnh Trời đó chớ rời gang tấc,

Theo ý Trời ta chắc không sai.

Cho nên kẻ biết mệnh Trời,

Tường long vách lở là nơi chẳng gần.

Sống trọn đạo đến cùng rồi chết,

Thế là theo đúng hết mệnh Trời,

Gông cùm chết uổng một đời,

Ấy đâu phải chính ý Trời muốn đâu.

Muốn có Ngài, tìm cầu sẽ có,

Muốn mất Ngài, cứ bỏ Ngài đi,

Những điều ích lợi tinh vi,

Lòng ta ta kiếm ta đi ta tìm,

Tìm cầu Ngài, ta liền có đạo.

Có được Ngài, trọn hảo mệnh Trời.

Tìm điều vật chất bên ngoài.

Ngoài mình tìm kiếm sẽ hoài mất công.[17]

Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành,

Kiện toàn, hoàn thiện, tinh anh,

Vui nào hơn được khi mình đang vui…

Cố đối với mọi người tử tế,

Muốn tìm Nhân ấy thế là Nhân.

Vẫn mang Ngài, mà thân chẳng hiển,

Vì quá quen nên khiến chẳng suy.

Suốt đời Ngài độ ta đi,

Nhưng mà dung tục biết chi đạo Ngài.
[18]

**************************         

Quan niệm về tính, sự phân biệt giữa tính và tâm của Khổng giáo đem đối chiếu với các chủ trương của các đại hiền triết Đông Tây sẽ không thấy sai biệt.

Các đại hiền triết Đông Tây cũng như danh nho lịch đại, đều cố tiến sâu vào đáy thẳm tâm hồn để tìm cho ra căn để tâm hồn mà các ngài cho là tuyệt đối thể, bất biến, trường tồn, vừa tế vi huyền diệu, vừa mênh mông bao quát vũ trụ.

Ý thức (conscience psychologique), hay nói cách khác, những hiện tượng tâm lý (phénomènes psychiques), góp lại dưới danh từ tâm hồn mới chỉ là những hiện tượng phù phiếm, chưa phải là toàn thể tâm hồn.

Dưới lớp ý thức phù phiếm còn có lớp tiềm thức mênh mông, làm căn bản cho tâm hồn.

Mỗi học thuyết triết học lại dùng những danh từ riêng để diễn tả căn bản tâm hồn ấy. Đó là:

– Atman (Đại ngã) trong triết học Bà la môn.

– A-lai-da thức, Đệ bát thức, Hàm tàng thức, chân như, Phật tính, bản lai diện mục, v.v… trong Phật giáo.

– Đạo, cốc thần, huyền tẫn, v.v. trong đạo Lão.

– Thần (Le «Nus») của Anaxagore

– Đạo (Le «Logos») của Philon và Plotin, của thánh Jean.

– Toàn nhất (L’Un-Tout) của Hartmann.

– Tuyệt đối thể (L’Absolu) của Shelling.

– Tự thể (Noumène) của Kant.

– Vô thức đại đồng (inconscient collectif) của Jung

– Thực thể (L’Être)

– Tâm đại đồng (conscience universelle)

– Thiên địa chi tâm (conscience cosmique) v.v…

trong siêu hình học Âu Châu.

**************************         

Các thánh hiền trong Khổng giáo chủ trương trong tâm có Tính, dưới lớp «nhân tâm nghiêng ngửa», còn có nền tảng «đạo tâm siêu vi» ẩn áo, thì các hiền thánh Đông Tây cũng chủ trương tương tự, nghĩa là tâm hồn ta có hai phần: một phần thẳm sâu, ẩn áo huyền vi, cao minh linh diệu, hoàn thiện tuyệt đói, hằng cửu bất biến, đó là bản thể, bản tính nhân loại; một phần là ta, là tâm hồn ta theo nghĩa thông tục, biến thiên, nhỏ nhoi, hèn mọn cần được uốn nắn, giũa mài.

Hai phần đó là:

Đại ngã, Tiểu ngã trong Bà la môn; Chân tâm, vọng tâm trong đạo Phật; Đạo và tâm trong đạo Lão, thần và hồn (Le Nus – La divine raison – et la Psukhê – l’âme) trong các học thuyết Âu Châu.

Sự phân biệt này giúp ta hiểu được những điều khúc mắc, ẩn áo, dung hòa được những mâu thuẫn giữa các môn phái triết học Đông Tây.[19]

Muốn hiểu chữ tính cho tường tận, tưởng nên trưng thêm một đoạn văn của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh:

Người chí thánh hòa mình với Đạo,

Dáng dấp người ẩn áo với Trời.

Trời sinh ra khắp muôn loài,

Phất phơ, phất phưởng ảnh Trời ở trong.

Ngỡ muôn loài tối tăm, u uẩn,

Tinh quang Trời vẫn lẩn trong tâm,

Tinh quang ấy thực thiên chân,

Khơi nguồn tín ngưỡng xa gần xưa nay.

Xưa và nay tên Ngài vẫn đó,

Tên Ngài còn mới có chúng sinh.

Ta hay dáng dấp «nguồn sinh»,

Là nhờ phương pháp thuyết trình trên đây.[20]

**************************         

B. Chữ Mệnh

Chữ mệnh vừa là mệnh Trời, vừa là định mệnh con người. Vậy Trời muốn gì, và định mệnh con người sẽ ra sao?

Đạo Nho cho rằng: Trời muốn con người tận thiện mình, hiển dương tính Trời để kết hợp với Trời, thông phần vinh hiển của Trời.

Kinh Thi viết:

«Mệnh Trời ấy há đâu có dễ:

Muốn cho ta đừng kể tư thân,

Biểu dương phóng phát thiện chân…» [21]

Tất cả kho Kinh Dịch cốt dạy ta thấu hiểu căn bản con người, để hoàn tất sứ mạng con người.[22]

Thiệu Khang Tiết chủ trương sự tiến hóa của vạn vật rồi ra cũng sẽ kết thúc bằng sự hoàn thiện. Ông viết: «Nhất biến thành vạn, rồi ra vạn lại trở về nhất; mà nhất chính là thiên địa chi tâm là tạo hóa chi nguyên.» [23]

Nhưng muốn hiểu mệnh Trời không phải dễ. Dịch nói: «Phải thông suốt lý lẽ, am tường bản tính, mới có thể thấu đáo được thiên mệnh.» [24]

Vì hiểu mệnh Trời, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn đã nên như những vị sao sáng, chiếu diệu tinh quang cho tới những thế hệ này. Vì hiểu mệnh Trời, nên Nghiêu, Thuấn đã:

«Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời.» [25]

Hiểu mệnh Trời, Thành Thang đã cố đạt tới tinh hoa nhân loại, tới Trung Dung, Hạ Vũ đã cố đạt tới hoàn thiện; sự hoàn thiện đó hoặc gọi là đức, là nhân, là kính, là thành, lời tuy khác nhưng ý là một, nghĩa là không ngoài sự làm sáng tỏa nguồn mạch kỳ diệu của tâm hồn.[26]

Vậy mệnh Trời là muốn cho ta tìm cho ra bản thể mình, theo tiếng lương tâm, phục tòng thiên lý, tận thiện mình để kết hợp với Trời.

Đó cũng chính là chủ trương «qui nguyên phục mệnh» của đạo Lão.

Muôn loài sinh hóa đa đoan,

Rồi ra cùng phải lai hoàn bản nguyên.

Hoàn bản nguyên, an nhiên phục mệnh,

Phục mệnh rồi trường vĩnh vô cùng.[27]

Nhà bác học Lecomte du Noüy gần đây cũng viết trong quyển Định mệnh con người: «Mọi người hãy ghi nhớ rằng định mệnh con người rất cao quý. Con người xin đừng bao giờ quên tàn lửa Trời trong thâm tâm mình. Con người có toàn quyền khinh miệt hay làm tiêu ma ngọn lửa thiêng đó, nhưng cũng có toàn quyền tiến tới gần Thượng đế bằng cách ra công ra sức hoạt động với Ngài và vì Ngài.» [28]

HÌNH 4: Tính mệnh song tu, âm dương hợp nhất: Phổ chiếu đồ. [29]

Như vậy theo tiên hiền, Tính thật là hoàn hảo, Mệnh thật là cao sang.

Tính mệnh là điểm Trời người gặp gỡ.

Trương Tử viết: «Tinh hoa Trời ban cho người, gọi là Mệnh; tinh hoa người thụ hưởng do Trời, gọi là Tính.» [30]

Ngô Thảo Lư viết: «Tính hay Mệnh đều là Thái cực.» [31]

Nhưng hai chữ Tính – Mệnh theo thời gian, đã trải mấy tang thương.

Đối với dân gian, như ta đã thấy, chữ Tính chữ Mệnh có ý nghĩa rất nghèo nàn, chật hẹp.

Thay vì có ý nghĩa phổ biến, phổ quát như xưa, hai chữ tính mệnh được đem áp dụng trong những trường hợp cụ thể, đặc thù, cho nên Tính trở nên chất chưởng, biến thiên, Mệnh trở nên đa đoan, bất định.

Nói đến theo «tính tự nhiên» ai cũng rùng mình, cho là vô lý, là trụy lạc. Nói tới Mệnh, mọi người liên tưởng đến gian lao, khổ sở hơn là sung sướng, thảnh thơi. Theo thời gian, chữ Tính toàn thiện, bao hàm thiên lý, thiên đạo đã bị pha phôi.

Ánh hào quang nguyên nghĩa đã mất; chữ Tính chỉ còn gợi ra những hình ảnh phù du, biến ảo của tâm trạng con người. Chữ Mệnh cao sang, toàn bích cũng đã bị tả tơi, bị chia sẻ vô hạn định như một tấm bản đồ gia phả quí báu đã rách nát. Chữ Mệnh nay đã phong trần chịu sánh vai cùng chữ số mệnh, số mệnh. Số phận, số mệnh chỉ còn là phân số nhỏ nhoi của định mệnh toàn bích, một trận đường trần gian trên con đường thiên lý.

Dở lại những trang sách cũ, ta mới thấy đối với các thánh hiền ngàn xưa, Tính Mệnh là ngọc châu vô giá. Tính là thiên tính, thiên lý, thiên lý, cho nên theo «tính tự nhiên» (suất tính) là lý tưởng của các ngài, là đạt tới định mệnh cao cả của con người, là thuận mệnh Trời.

Tóm lại hai chữ định mệnh chẳng qua là khởi điểm và cùng điểm của lịch sử nhân loại. Vì thông phần tính Trời, nhân loại sẽ thực hiện được mệnh Trời, nghĩa là đạt được sự hoàn thiện, lúc lịch sử nhân loại cáo chung.

Suy ra, thì lịch sử của nhân loại chính là sự diễn tiến của Tính Mệnh qua hoàn cảnh, và tâm tính. Muốn thực hiện được Tính Trời, qui phục Mệnh Trời, con người sẽ phải qua những giai đoạn phàm phu, sĩ, quân tử, hiền, và thánh.

Nói cách khác, những trạng thái nhân loại phô diễn trong không gian phàm phu, sĩ, quân tử, hiền, thánh cũng sẽ là những trạng thái nhân loại tuần tự diễn tiến trong thời gian, và động cơ lịch sử sẽ là hoàn cảnh, tâm, tính, và mệnh.[32]

Phàm phu là những người chỉ biết có tâm biến thiên, nên không tự chủ, tự cường được là luôn bị lôi cuốn theo hoàn cảnh, đồng hóa với hoàn cảnh.

Sĩ là những người chịu suy tư học hỏi để tìm cách chế ngự hoàn cảnh.

Quân tử là những người gắng gỏi học hành, cố công truy cứu để tìm cho ra Tính ẩn khuất sau tâm, mong sống thoát vòng cương tỏa của hoàn cảnh, tâm tình.

Hiền là những người đã tiến xa hơn, phân biệt rõ tính và tâm, phân định rõ ngôi chủ tớ, tâm hồn tự nhiên theo thiên tính, thiên lý, Đó là «suất Tính» để thuận mệnh Trời.

Thánh là những người mà đời sống hoàn toàn phù hợp thiên tính, thiên lý, đến nỗi lòng riêng chẳng còn, niềm tây đã sạch, trở nên một tấm gương phổ quát cho nhân thế soi chung. Đó là «phục mệnh» để «phối thiên» và hưởng trường sinh bất tử.

Nếu như vậy, lịch sử nhân loại cũng phải có những giai đoạn tương tự, nghĩa là có thời kỳ con người bị hoàn cảnh chi phối, có thời kỳ sẽ chế ngự được hoàn cảnh, có thời kỳ sẽ thám hiểm tầng sâu tâm hồn để tìm cho ra Tính ẩn khuất sau tâm, có thời kỳ sẽ tự động sống thuận Mệnh Trời, phục tòng thiên lý, và tới chung cuộc lịch sử, con người sẽ tiến tới hoàn thiện cả về tinh thần lẫn vật chất.[33]

Trên con đường thực hiện Thiên Tính để phục tòng Thiên Mệnh, con người có hai bảo vật, đó là chí thông minh và lòng dũng cảm. Tính Mệnh con người được bảo tòan chính là nhờ ở sự triền miên suy tư, và công trình gắng gỏi liên tục của con người.

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Tâm pháp chi nguyên ư tính mệnh giả tiên hậu đồng quỹ; bách thế chi thánh quân hiền phụ vị năng dịch dã. 心 法 之 源 於 性 命 者 先 後 同 揆;百 世 之 聖 君 賢 父 未 能 易 也. – Kinh Thư Đại Toàn, Quyển I – Tựa.

[2] Án chư thuyết tuy dị, kỳ dĩ dương sinh vi Thiên căn, âm sinh vi nguyệt quật, vô bất đồng dã. Cái Khang Tiết chi ý sở vị Thiên căn giả tính dã, sở vị nguyệt quật giả, mệnh dã. Tính mệnh song tu, Lão thị chi học dã. 案 諸 說 雖 異, 其 以 陽 生 為 天 根, 陰 生 為 月 窟, 無 不 同 也. 蓋 康 節 之 意 所 謂 天 根 者 性 也, 所 謂 月 窟 者 命 也. 性 命 雙 修 老 氏 之 學 也. – Tống Nguyên Học Án, q. X, tr. 11.

* (1 bis ) Vô vi dĩ tu nội, Hữu vi dĩ tu ngoại. Tu nội giả, tính dã; tu ngoại giả mệnh dã. Thượng đức giả tu tính, nhi mệnh tức lập, tự thành nhi minh dã. Hạ đức giả, tu tiên tu mệnh nhi hậu tu tính. Tự Minh nhi thành dã… 無 為 以 修 內, 有 為 以 修 外. 修 內 者, 性 也. 修 外 者, 命 也. 上 德 者 修 性, 而 命 即 立, 自 誠 而 明 也. 下 德 者 須 先 修 命 而 後 修 性. 自 明 而 誠 也. – Coi đoạn Đồ Thư hợp nhất (Chu Dịch Xiển Chân)

* Hà vị tính? Nhất linh khuếch triệt, viên đồng Thái Hư. Tức Thủy tuy nguyên Càn Nguyên dã. Hà vị mệnh? Nhất khí nhân uẩn. Chủ trì vạn hóa. Tức tư sinh chi Khôn Nguyên dã. 何 謂 性?一 靈 廓 徹, 圓 同 太 虛. 即 始 資 元, 乾 元 也. 何 謂 命? 一 氣 氤 蘊. 主 持 萬 化, 即 資 生 之 坤 元 也. – Tiên Học Tập Cẩm, tr.101.

[3] Tử Cống viết: Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn Tính dữ Thiên đạo bất khả đắc nhi văn dã. 子 貢 曰: 夫 子 之 文 章 可 得 而 聞 也. 夫 子 之 言 性 與 天 道 不 可 得 而 聞 也.- Luận Ngữ, Công Dã Tràng, V-12, tr. 70.

[4] Ngã ư từ mệnh, tắc bất năng dã 我 於 辭 命 則 不 能 也 – Mạnh Tử, Công Tôn Sửu, chương cú thượng số 2, tr. 92.

[5] Đa ngôn số cùng, bất như thủ trung. 多 言 數 窮 不 如 守 中.

[6] Ngũ thập tri thiên mệnh. 五 十 知 天 命 – Luận Ngữ. Vi chính II.

[7] Bất tri Thiên mệnh vô dĩ vi quân tử dã. 不 知 天 命 無 以為 君 子 也 – Luận Ngữ. quyển 10 – Nghiêu viết, 20-3, tr. 314.

[8] Tính dữ thiên đạo, phi tự đắc chi tắc bất tri. 性 與 天 道 非 自 得 之則 不 知.- Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 78.

[9] Theo Hoành Cừ, người ta ai cũng có hai tính: Một tính bản nhiên của Trời đất phú cho, thì ai cũng lành vì đó là lẽ chí thiện, chí mỹ của trời đất. Một tính bẩm thụ của khí chất, mà khí chất có dày mỏng, trong đục khác nhau, thành thử tính ấy tùy sự bất đồng của khí chất mà trở nên lành hay dữ. Kẻ bẩm thụ được khí chất tốt đẹp, trong trẻo thì thính thiện; kẻ bẩm thụ phải khí chất mỏng manh vẩn đục, thì tính ác. Tuy nhiên, dù một người hung ác đến bực nào, nếu biết mà biến đổi tính ác kia đi, sẽ giữ được nguyên cái tính lành là tính vốn có của mình. – Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 62.

[10] Chân nguyên tức là lý; lý là vật năng sinh, khí là vật sở sinh. Vật năng sinh có thể sinh sinh không ngừng, còn vật sở sinh cũng được cái lý chân nguyên sinh ra vô cùng tận. (Trình Y Xuyên) – Bửu Cầm, Tống Nho. tr. 89.

[11] Tính dã giả thiên địa chi sở lập dã. 性 也 者 天 地 之 所 立 也.- Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 114-115.

[12] Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 114-115, 119.

[13] Trung Dung, ch. XXI: Tự thành minh, vị chi tính. 自 誠 明 之 謂 性.

[14] – Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 140-141 – Mạnh Tư, Công Tôn Sửu chương cú thượng số 6, tr.104 và tiếp theo. – Xin đọc: Phụ lục 2.

[15] Tính do thái cực dã, tâm do âm dương dã. Thái cực chỉ tại âm dương chi trung, phi năng ly âm dương dã. Nhiên chi luận Thái cực, tắc Thái cực tự thị Thái cực, âm dương tự thị âm dương. Duy tính dữ tâm diệc nhiên, sở vị nhất nhi nhị, nhị nhi nhất dã. 性 猶 太極 也. 心 猶 陰 陽 也. 太 極 只 在 陰 陽 之 中, 非 能 離 陰 陽 也. 然之 論 太 極, 則 太 極 自 是 太 極, 陰 陽 自 是 陰 陽. 惟 性 與 心 亦 然, 所 謂 一 而 二, 二 而 一 也. – Le Philosophe Tchou-Hi, Sa doctrine, son influence, par le P. Stanislas le Gall S.J. p. 112.

[16] Thành tượng chi vị Kiền, hiệu pháp chi vị Khôn. 成 象 之 謂 乾, 效 法 之 謂 坤 – Dịch Kinh, Hệ từ thượng. Dịch Kinh Tân Khảo, tr. 3588.

[17] Mạnh Tử viết: «Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính giả. Tri kỳ tính, tắc tri Thiên hĩ. Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã, yểu thọ bất nhị, tu thân dĩ sĩ chi, sở dĩ lập mệnh dã. Mạc phi mệnh dã. Thuận thụ kỳ chính. Thị cố, tri Mệnh giả, bất lập hồ nham tường chi hạ. Tận kỳ đạo nhi tử giả chính mệnh dã. Trất cốc tự giả, phi chính mệnh dã. Cầu, tắc đắc chi. Xả, tắc thất chi. Thị cầu hữu ích ư đắc dã. Cầu tại ngã giả dã. Cầu chi hữu đạo, đắc chi hữu mệnh. Thị cầu vô ích ư đắc dã, cầu tại ngoại giả dã.»

孟 子 曰: 盡 其 心者 知 其 性 也. 知 其 性 則 知 天 矣. 存 其 心養 其 性 所 以 事 天 也. 殀 壽 不 貳, 修 身 以俟 之, 所 以 立 命 也. 莫 非 命 也. 順 受 其 正. 是 故 知 命 者 不 立 巖 牆 之 下. 盡 其 道 而 死 者 正 命 也. 桎 梏 死 者, 非 正 命 也. 求 則 得 之, 舍 則失 之. 是 求 有 益 於 得 也. 求 在 我 也. 求 之 有 道, 得 之 有 命. 是 求 無 益 於 得 也. 求 在 外 者 也.

[18] «Vạn vật giai bị ư ngã hĩ. Phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên. Cưỡng thứ nhi hành, cầu nhân mạc cận yên.» 萬 物 皆 備 於 我 矣. 反 身 而 誠 樂 莫 大 焉.

«Hành chi nhi bất trứ yên, tập chi nhi bất sát yên; chung thân do chi, nhi bất tri kỳ đạo giả, chúng dã.» 強 恕 而 行, 求 仁 莫 近 焉 行 之 而 不 著 焉. 習 之 而 不 察 焉. 終 身 由 之 而 不 知 其 道 者 眾 也. – Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng số 1 và 2 tr. 216.

[19] Ví dụ: ta có thể dung hòa được thuyết «nhất thể bất biến» (Monisme immobiliste) của phái Eléates, với thuyết «đa thể biến thiên» (pluralisme mobiliste) của Héraclite. – Xem: D. Badareu, L’individuel chez Aristote, tr. 9.

[20] Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng. Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt; hốt hề hoảng hề, kỳ trung hữu tượng, hoảng hề hốt hề, kỳ trung hữu vật. Ảo hề minh hề, kỳ trung hữu tinh. Kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín. Tự cổ cập kim, kỳ danh bất khứ, dĩ duyệt chúng phủ; ngô hà dĩ tri chúng phủ chi trạng tai. dĩ thử. 孔 德 之 容, 惟 道 是 從. 道 之 為 物, 惟 恍 惟 惚. 惚 兮 恍 兮, 其 中 有 象; 恍 兮 惚 兮, 其 中 有 物; 窈 兮 冥 兮, 其 中 有 精; 其 精 甚 真, 其 中 有 信. 自 古 及 今, 其 名 不 去, 以 閱 眾 甫. 吾 何 以 知 眾 甫 之 狀 哉? 以 此. – Đạo Đức Kinh, ch. 21.

[21] Mệnh chi bất dị, vô át nhĩ cung. Tuyên chiêu nghĩa văn. 命 之 不 易 無 遏 爾 躬. 宣 昭 義 聞. -Kinh Thi, đại nhã tam Văn Vương chi thập tam chi nhất.

[22] Kỳ vi thư dã, quản đại tất bị, dĩ thuận tính mệnh chi lý, thông u minh chi cố, tận sự vật chi tình, nhi khai vật thành vụ chi đạo. 其 為 書 也, 廣 大 悉 備. 以 順 性 命 之 理, 通 幽 冥 之 故, 盡 事 物 之 情 而 開 物 成 務 之 道. -Dịch Kinh Đại Toàn, Chu Dịch Trình Tử.

[23] Thiên địa vạn vật mạc bất dĩ nhất vi bản nguyên; ư nhất nhi diễn chi dĩ vi vạn, cùng thiên hạ chi số nhi phục qui ư nhất: nhất dã hà dã. Thiên địa chi tâm dã. Tạo hóa chi nguyên dã. 天 地 萬 物 不莫 不 以 一 為 本 原, 於 一 而 衍 之 以 萬, 窮 天 下 之 數 而 復 歸 於 一. 一 者 何 也. 天 地 之 心 也. 造 化 之 原 也.- Tống Nguyên học án, q.10, tr. 50.

[24] Duy tinh duy nhất. Doãn chấp quyết trung. 惟 精 惟 一 允 執 厥 中 – Kinh Thư.

[25] Cùng lý tận tính dĩ chí ư mệnh. – Dịch, Thuyết quái.

[26] «Tinh nhất chấp trung» Nghiêu Thuấn tương thụ chi tâm pháp dã, kiến «trung’ (Thang), «kiến cực» (Vũ). Thương, Thang, Chu, Vũ, tương truyền chi tâm pháp dã. Viết đức, viết nhân, viết kính, viết thành, ngôn tuy thù nhi lý tắc vô phi sở dĩ minh thử tâm chi diệu dã… 窮 理 盡 性 以 至 於 命 精 一 執 中 堯 舜 相 受 之 心 法 也. 建 中 (湯 )見 極 (武 ). 商 湯 周 武 相 傳 之 心 法 也. 曰 德, 曰 仁, 曰 敬, 曰 誠, 言 雖 殊 而 理 則 無 非 所 以 明 此 心 之 妙 也. – Kinh Thư Đại Toàn, q.1, chú.

[27] Đạo Đức Kinh, ch. XVI:

Phù vật vân vân,                       
夫 物 芸 芸

Các qui kỳ căn,                         
各 歸 其 根

Qui căn viết tĩnh                         
歸 根 曰 靜

Tĩnh viết phụng mệnh               
靜 曰 復 命

Phục mệnh viết thường.           
復 命 曰 常

[28] «Let every man remember that the destiny of mankind is incomparable… And let him above all never foget that the divine spark is in him, in him alone, and that he is free to disregard it, to kill it, or to come closer to God by showing his eagerness to work with Him, and for Him.» (Human Destiny- Preface)

[29] Đồ bản này linh mục Henri Doré phóng tác theo nguyên bản trong bộ Tính Mệnh Khuê Chỉ quyển 1 trang 20, và đã bỏ đi nhiều chi tiết, những chữ Hán viết nơi hình là: Xá nữ, Thủ linh, Xích thủy, Linh sơn; Linh quan; Linh đài; Tính hải; Tâm nguyên; Trung hoàng; Hoàng bà; Giá cá; Tây phương; Qui trung; Huỳnh đình; Bá bính; Huỳnh trung; Chân thổ; Hoa trì; Sinh môn; Huyền khiếu; Thổ phủ; Khí hải; Nguyên quan; Huyền minh. Gọi là Phổ chiếu vì nhìn được cả hai bề tương đối (Kiếu) và tuyệt đối của con người. (Diệu, kiếu tề quan, thị vị phổ chiếu).

[30] Trương Tử viết: Thiên thụ ư nhân tắc vi mệnh, nhân thụ ư thiên tắc vi tính…

.. Trình tử viết: Thiên sở phú vi mệnh, vật sở thụ vi tính. Tại thiên viết mệnh, tại nhân viết tính. Thiên chi phú dư chi vi mệnh, bẩm chi tại ngã chi vị tính. Kiến ư sự vật chi vị lý. Lý dã, tính dã, mệnh dã, tam giả vị thường hữu dị. Thiên mệnh do thiên tạo dã, dĩ kỳ dụng nhi ngôn chi, tắc vị chi mệnh, mệnh giả tạo hóa chi vị dã… (Wieger, Textes Philosophiques, tome II, p. 191-192)

[31] Đạo dã, lý dã, thành dã, thiên dã, đế dã, thần dã, mệnh dã, tính dã, đức dã, nhân dã, thái cực dã, danh tuy bất đồng kỳ thực nhất dã. 道 也 理 也 誠 也 天 也 帝 也 神 也 命 也 性 也 德 也 仁 也 太 極 也. 名 雖 不 同 其 實 一 也. (Tống Nguyên học án, q. 12, tr. 8)

[32] L’histoire est totalisation diachronique – c’est-à-dire, à travers le temps – et synchronique – c’est-à-dire dans le même moment. (Marxisme et Existentialisme, Tribune libre Plon, p.6)

[33] cf. Théorie diachronique et synchronique de l’histoire. L’histoire est totalisation diachronique – c’est-à-dire, à travers le temps – et synchronique – c’est-à-dire dans le même moment. (Marxisme et Existentialisme, Tribune libre Plon, p.8)

——————–
**************************         

Chương 5

TINH HOA KHỔNG GIÁO TRONG TỨ THƯ, NGŨ KINH

Muốn hiểu ý nghĩa một đoạn sách, cần biết chủ trương cả cuốn sách. Muốn hiểu ý nghĩa một cuốn sách, cần biết chủ trương toàn bộ sách.

Vậy muốn hiểu Trung Dung, tất nhiên ta phải duyệt qua những quan niệm then chốt, cốt cán trong Tứ Thư, Ngũ Kinh.

Nếu tạm gác những vấn đề thiên lý – chính trị thông thường sang một bên, ta có thể toát lược những tư tưởng nòng cốt trong Tứ Thư, Ngũ Kinh như sau:

1. Trời là chủ tể vũ trụ vạn vật.

Tứ Thư, Ngũ Kinh nhất là Thi, Thư luôn đề cập tới Trời, tới Thượng Đế.[1]

2. Trời là thực thể cho muôn loài, muôn vật dựa nương làm chủ chốt mọi biến hóa và là căn nguyên mọi hiện tượng.

Niềm tin tưởng này được cụ thể hóa bằng vòng Dịch tiên thiên, trong đó tâm điểm là thái cực, tượng trưng cho Trời bất biến, trường tồn, các hào quái bên ngoài tượng trưng cho muôn hiện tượng luân lưu biến hóa. Đó là quan niệm «thiên địa vạn vật nhất thể» của Nho giáo.[2]

3. Trời người quan hệ hết sức mật thiết với nhau:

Các thánh hiền nho giáo đều chủ trương thuyết «thiên nhân hợp nhất», «thiên nhân tương dữ».[3]

Trung Dung viết:

«Biết người trước phải biết Trời

Hiểu Trời chẳng nổi hiểu người làm sao.» [4]

Kinh Khi cũng viết:

«Trời xanh dẫn dắt chúng dân,

Như là tấu khúc nhạc huân nhạc trì.

Trời người đôi ngọc chương khuê,

Bên cho bên lấy đề huề biết bao.

Tay cầm, tay dắt, khéo sao,

Trời xanh dẫn dắt dân nào khó chi.» [5]

Thực ra quan niệm này là một di sản tinh thần lưu truyền từ thượng cổ mà cả Nho lẫn Lão đều thừa hưởng được.[6]

4. Trời luôn ẩn áo, ngự trị trong lòng người.[7]

Thiên mệnh, thiên lý, thiên đạo «một giây một phút chẳng rời khỏi ta”.[8]

Thiên mệnh, thiên lý chính là tính (bản tính), cách (cốt cách) con người.[9]

Như vậy tâm hồn con người tuy một mà hai:

Trong nhân tâm ngửa nghiêng, còn có đạo tâm siêu vi, ẩn áo.[10]

Dưới lớp nhân tính còn có thiên lý làm khuôn phép.[11]

Phần thiên lý, thiên tính, phổ quát chí thành, chí thiện ấy, Tứ Thư, Ngũ Kinh gọi là:

–   Dịch 易 [12]

–   Thần 神 [13]

–   Thái cực 太 極 [14]

–   Thiên địa chi tâm 天 地 之 心 [15]

–   Đạo tâm 道 心 [16]

–   Hoàng cực 黃 極 [17]

–   Trung 中 ( 衷 ) [18]

–   Di 彝 [19]

–   Tắc 則 [20]

–   Tính 性 [21]

–   Cách 格 [22]

5. Mọi người phải học hỏi để tìm cho ra bản tính chí thiện, cho ra cốt cách, căn nguyên ấy

Tìm ra được là trí tri, là đi tới cùng tột của hiểu biết.[23]

6. Muốn tìm đạo Trời, phải tìm trong đáy lòng.

Vì bản tính con người, vì thiên lý, thiên đạo tiềm ẩn đáy lòng, nên muốn tìm ra bản tính, muốn tìm ra thiên lý, thiên đạo cần phải «quay về ta mà tìm mà kiếm», Cần phải hồi tâm, tĩnh trí, tránh phóng đãng,[24] tập trung tư tưởng, mài miệt suy tư mới thành công được.[25]

Chu Hi viết:

«Những học giả muốn tìm đạo ấy

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.» [26]

Mạnh Tử cũng viết:

«Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành

Kiện toàn hoàn thiện tinh anh,

Vui nào hơn được vui mình đang vui.» [27]

7. Phải biết «kính cẩn», «khử nhân dục», «tồn thiên lý», hoàn thiện mình để kết hợp với Trời.

Khi đã tìm thấy Trời ẩn áo ngự trị trong lòng mình, con người phải kình cẩn[28] cố gắng hoàn thiện mình,[29] noi gương Trời,[30] rũ bỏ mọi tình ý riêng tây (vô ý),[31] thoát khỏi cái mình nhỏ nhoi, ti tiện (vô ngã)[32] để sống kết hợp với Trời,[33] Đó là phối thiên;[34] đó là cực điểm tiến hóa của con người,[35] đó là đạt thế trung hòa,[36] đạt tới trung tâm huyền diệu của vũ trụ và của lòng người.

8. Trong công cuộc tu thân cần phải luôn gắng gỏi công trình, luôn luôn học hỏi suy tư.

Học cho biết mình biết người, biết định luật vũ trụ biết Trời thế để xuất xử, hành tàng cho hợp thời, hợp cảnh. Đó là thời trung.[37]

Có học hỏi, có cố gắng mới phát huy được sự cao đại, huy hoàng, thiên mỹ tiềm ẩn nơi mình, mới có thể đạt thiên đức, thiên đạo, mới có thể tung mình qua không gian, thời gian phù phiếm, biến thiên, trở về trung cung, hằng cửu bất dịch.

Tất cả học thuyết Khổng Tử là cốt dạy cho ta tìm ra chân, thiện, mỹ, cao minh tinh vi, hằng cữu bất biến, đạt tới trung đạo, thiên đạo, thiên đức, chưa đạt mức chí thành, chí thiện, người quân tử chẳng thể nào dựng chân đứng lại…[38]

9. Tuy nhiên như đạo Trời có âm, có dương, đạo người cũng có hai chiều tinh thần, vật chất.

Người quân tử phải thu xếp thì giờ lo sao cho trong ngoài trọn vẹn hai bề.[39]

Nửa đời đầu, cố học hỏi để phát triển khả năng, tiến vào đới để mưu sinh, cải tạo hoàn cảnh, tô điểm gian sơn.

Nửa đời sau, khi mọi chuyện đời đã giải quyết êm thấm, sẽ quay về «đạo» , tu luyện bản thân, treo gương cho đời, cầu mong sau cho nên chí thành cí thiện, để kết hợp với Trời.[40]

Đó là ý nghĩa đầu đuôi của cuộc đời theo Ngũ Kinh.

10. Đạt tới mức chí thành, chí thiện, sẽ được mệnh danh là thiên tử, là hoàng, là đế.[41]

Đó là huy hiệu cố nhân tặng dữ cho các thánh vương như Phục Hi, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Văn, Võ.[42]

Những tư tưởng cao đẹp nói trên theo đà thời gian, đã bị trần ai thể hệ che lấp mất.

Tước vị thiên tử đem áp dụng quàng xiên. Chữ Hoàng, chữ Đế không còn dùng để chỉ những người có đức độ sánh đất Trời theo nguyên nghĩa nữa, mà dùng để tăng bốc, suy tôn bất kỳ vua chúa nào.

Mọi sự, từ tượng hình đến học thuyết, đến danh tự đều bị moi móc mất tinh hoa, mất nhân, mất tâm, chỉ còn lại cái võ vô vị bên ngoài, quay cuồn héo hon trong gió lốc thời gian.

Chữ tính, chữ mệnh như những hoàng tữ bị lưu đày đọa lạc, có vẻ mặt man mọi, bi thương.

Những chữ «thiên nhân tương dữ», «phối thiên», «phối mệnh» nằm ngơ ngác trên những trang sách như tàn tích một lâu đài cổ, dầu dãi gió sương chẳng còn ai ngó ngàng tới nữa.

Cho nên, khảo cứu một học thuyết, cũng như khảo cổ tìm di tích, cần tốn công phu, một đàng đào bới đất cát để tìm di tích cũ, một đàng đào bới tư tưởng để tìm cho ra vi ý tiến thân.

Cả đôi bên cần phải biết lọc lõi, biết tẩy trừ những hoen ố thời gian, nhân sinh, nhân thế mới có thể tìm ra được những gì quý báu của tiền nhân được.

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Xem Phụ lục 3 «Ý niệm về Trời, về Thượng đế trong Tứ Thư, Ngũ Kinh», trong đó đã ghi các chương tiết trong Tứ Thư, Ngũ Kinh đề cập Trời, Thượng Đế.

[2] Tây minh chi ý nhận thiên địa vi nhất gia dĩ, Dịch nhất thư ngộ thiên địa vi nhất dĩ… 西 銘 之 意 認 天 地 之 一 家 已. 易 一 書 悟 天 地 為 一 已 (Tăng Dập, Tống Nguyên học án, quyển 74 tr.15)

[3] Trung Quốc tự Đường, Ngu dĩ lai, tức hữu «thiên nhân hợp nhất»chi tư tưởng. Kính thiên tức sở dĩ ái nhân, ái dân tức sơ dĩ tôn thiên… Lịch đại thánh triết mạc bất kế tục hoành dương tử «thiên nhân hợp nhất»chi đạo. Lão tử tức kỳ nhất dã. 中 國 自 唐 虞 以 來, 即 有 天 人 合 一 之 思 想. 敬 天 即 所 以 愛 人, 愛 民 即 即 所 以 尊 天 歷 代 聖 哲 莫 不 繼 續 宏 揚 此 天 人 合 一 之 道 老 子 即 其 一 也. (Trương Kỳ Quân, Trung Hoa ngũ thiên niên sử).

[4] Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên. 思 知 人 不 可 以 不 知 天 (Trung Dung, ch. 20)

[5] Thiên chi dũ dân                     
天 之 牖 民

Như huân như trì                   
如 壎 如 箎

Như chương như khuê         
如 璋 如 圭

Như thủ như huề                   
如 取 如 攜

Huề vô viết ích,                     
攜 無 曰 益

Dũ dân khổng dịch               
牖 民 孔 易 (Thi bản)

[6] Xem phụ lục 3 «Quan niệm thiên nhân tương dữ trong Tứ Thư Ngũ Kinh».

[7] Thể vật nhi bất khả di. 體 物 而 不 可 移 (Trung Dung, ch. 26)

[8] Trung Dung, ch. 1.

[9] Trung Dung, ch. 1. Đại Học, ch. 1. Trí tri tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri trí. 致 知 在 格 物. 物 格 而 後 知 致.

[10] Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung. 人 心 惟 危 道 心 惟 微, 惟 精 惟 一 允 執 厥 中 (Thư, Đại Vũ Mô, 15)

[11] Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc, dân chi bỉnh di. hiểu thị ý đức. 天 生 蒸 民 有 物 有 則, 民 之 秉 彝. 好 是 懿 德. Kinh Thi, Đại Nhã, Chưng dân VI.

[12] Dịch Hệ từ thượng: Thiên địa thiết vị nhi dịch hành hồ kỳ trung hĩ. 天 地 設 位 而 行 乎 其 中 矣.

Dịch hệ từ hạ: Càn khôn thành liệt nhi dịch lập hồ kỳ trung hĩ. 乾 坤 成 列 而 易 立 乎 其 中 矣.

[13] Thần dã giả diệu vạn vật nhi vi ngôn giả dã. 神 也 者 妙 萬 物 而 為 言 者 也. (Thuyết quái)

[14] Thị cố dịch hữu Thái cực. 是 故 易 有 太 極 (Hệ từ thượng)

[15] Phục quái.

[16] Ngu thư.

[17] Chu thư, IV. Hồng Phạm 4.

[18] Thượng Thư, III thang cáo 2.

[19] Kinh Thi Đại Nhã, Đãng, Chưng dân VI, 11.

[20] Kinh Thi Đại Nhã, Đãng, Chưng dân VI, 11.

[21] Trung Dung, ch. I.

[22] Đại Học, ch. I.

[23] Trí tri tại cách vật, vật cách nhi hậu tri trí. 致 知 在 格 物. 物 格 而 後 知 致. (Đại Học, ch.I)

Trung tức chí lý, hà thường bất kiêm chí nghĩa. Đại học văn ngôn giai ngôn tri chí. Sở vị chí giả tức thứ lý dã. Ngữ độc Dịch giả viết năng tri thái cực tức thị tri chí. Ngữ độc Hồng Phạm giả viết năng tri hoàng cực tức tri chí; phù khởi bất khả, cái đồng chỉ thử lý tắc viết cực, viết trung, viết chí, kỳ thật nhất giả. 中 即 至 理, 何 常 不 兼 至 義. 大 學 文 言 皆 言 知 至. 所 謂 至 者 即 此 理 也. 語 讀 易 者 曰 能 知 太 極 即 是 知 至. 語 讀 洪 範 者 曰 能 知 黃 極 即 知 至; 夫 豈 不 可, 蓋 同 指 此 理 則 曰 極 曰 中 曰 至, 其 實 一 也. Phụ Chu Lục, Thái cực đồ thuyết biện. (Tống Nguyên học án, quyển 12, tr.6)

[24] Trung Dung, ch.1; ch.33. Bình luận của Chu Hi.

[25] Quân tử hoàng trung thông lý. (Dịch khôn quái)

[26] Trung Dung, ch.1. Chú thích của Chu Hi.

[27] Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng, 1-2, tr. 216.

[28] Trung Dung, ch.1.

[29] Trung Dung, ch. 30.

[30] Duy thiên vi đại, duy nghiêu tắc chi. 惟 天 為 大, 惟 堯 則 之. (Luận Ngữ, Thái Bá đệ bát 19)

– Lễ Ký, quyển I, Trọng Ni yến cư 仲 尼 宴 居, tr.10.

– Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. 天 行 健 君 子 以 自 強 不 息 (Dịch, Càn quái)

[31] Luận Ngữ, Tử Hãn, đệ cửu, 4.

[32] Luận Ngữ, Tử Hãn đệ cửu, 4.

[33] Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, Dị giản chi thiện phối chí đức. 廣 大 配 天 地, 變 通 配 四 時, 陰 陽 之 義 配 日 月. 易 簡 而 善 配 至 德.(Dịch Hệ từ thượng)

[34] Cố viết phối thiên. 故 曰 配 天 (Trung Dung)

[35] Hội kỳ hữu cực, qui kỳ hữu cực. 會 其 有 極 歸 其 有 極 (Hồng Phạm 13) – Duy hoàng tác cực. 惟 皇 作 極 (Hồng phạm 10)

– Trí quảng đại nhi tận tinh vi; cực cao minh nhi đạo trung dung. 致 廣 大 而 盡 精 微 極 高 明 而 道 中 庸 (Trung Dung, ch. 27)

[36] Trí Trung hòa 智 中 和 (Trung Dung, ch.1)

[37] Quân tử chi trung dung dã, quân tử nhi thời trung. 君 子 之 中 庸 也, 君 子 而 時 中.

[38] – Chỉ ư chí thiện 止 於 至 善 (Đại Học)

– Thung dung trung đạo: Thánh nhân dã. 從 容 中 道 聖 人 也 (Trung Dung, ch. 20)

– Trí quảng đại nhi tận tinh vi, cực cao minh nhi đạo trung dung. 致 廣 大 而 盡 精 微 極 高 明 而 道 中 庸 (Trung Dung, ch. 27)

– Cẩu bất cố thông minh, thánh trí, đạt thiên đức giả, kỳ thục năng tri chi. 苟 不 固 通 明 聖 智 達 天 德 者 其 孰 能 知 之 (Trung Dung, ch. 32)

[39] Thành kỷ nhân dã, thành vật trí dã, tính chi đức dã, hiệp hội ngoại chi đạo dã. Cố thì thố chi nghi dã. 成 己 人 也, 成 物 智 也, 性 之 德 也, 合 內 外 之 道 也 故 時 措 之 宜 也 (Trung Dung, ch. 25)

[40] Hội kỳ hữu cực, qui kỳ hữu cực 會 其 有 極 歸 其 有 極 (Hồng Phạm 13) – Duy hoàng tác cực 惟 皇 作 極 (Hồng Phạm 10)

– Cố viết: Phối thiên 故 曰 配 天 (Trung Dung, ch. 31)

[41] Đế 帝 : Đức hợp thiên giả xưng đế. 德 合 天 者 稱 帝 (Bạch Hổ Thông) (Khang Hi tự điển) Hoàng 皇 : Đại dã, thiên dã. 大 也 天 也 (Khang Hi tự điển)

[42] Xin đọc thêm: Trần Trọng Kim, Nho giáo, q., tr. 39–40, tr. 213–218; q. II, tr. 105.

**************************         

Chương 6

HAI CHỮ TRUNG DUNG

Viết sách khó, nhưng tìm nhan đề sách cũng chẳng phải dễ. Sách là nhan đề phân tán ra, nhan đề là sách cô đọng lại.

Tiền nhân xưa chắc đã lao tâm, khổ tứ nhiều mới tìm ra được hai chữ Trung Dung. Hơn nữa, với sự sâu sắc thâm trầm cố hữu, chắc các ngài cũng đã cố làm sao cho hai chữ Trung Dung được thật sâu sắc thâm trầm.

Ngược lại, ngày nay muốn tìm hiểu hai chữ Trung Dung cũng không phải là chuyện dễ. Phải khảo cứu từ nguyên, nghiên cứu tượng hình (symbole), căn cứ vào lời giải thích của các danh nhân danh sĩ lịch đại, mới mong tìm ra manh mối được.

Trung 中, theo từ nguyên[1] là một mũi tên bắn trúng hồng tâm.

Trung 中là giữa, là tâm điểm (centre); Dung 庸 là thường (permanent, éternel), là bất biến (immuable, invariable).[2]

 Hội những ý trên ta đã thấy mục đích Trung Dung là muốn tìm cho ra tâm điểm vũ trụ, tâm điểm cuộc đời, băng qua mọi biến thiên, để trở về tâm điểm bất biến hằng cửu ấy.

Xét về tượng hình (symbole), ta thấy trung điểm, trung cung từ Á sang Âu, tự cổ chí kim, luôn luôn tượng trưng cho ngôi vị tối thượng.

HÌNH 5: Trung Quốc tinh tòa khái lược đồ.

Để chứng minh điều ấy, chúng ta hãy nên phóng khoáng, đừng gò bó mình vào trong đời Xuân Thu, Chiến Quốc, trong biên giới Trung Hoa, hay phạm vi Nho giáo, mà hãy tạm cho lòng chu du khắp bốn phương, tung hoành trong lịch sử nhân loại để tìm hiểu chữ Trung.

Khảo sát thư tịch Nho giáo, ta thấy trung điểm, trung dung bao giờ cũng tượng trưng cho ngôi chí tôn vô đối. Đó là:

– Hoàng Cực trong thiên văn.[3]

– Thiên Trì trong la bàn địa lý.[4]

– Thái Cực trong thiên Tiên thiên bát quái.

– Ngũ thập trong Hà Đồ.[5]

– Ngũ trong Lạc Thư.

– Hoàng Cực trong Hồng Phạm Cửu Trù.

– Trung Cung trong Minh Đường.[6]

Dịch luôn đề cập đến Trung,[7] Trung Hành,[8] Trung Đạo.[9] 
   

HÌNH 6: Trung Điểm trong Đồ Thư.

Dịch chủ trương: Chính trung là ngôi vị của trời[10] và người quân tử phải thông hiểu nghĩa lý của chữ Trung.[11]

HÌNH 7: Đế xuất Chấn đồ

(Hình trích trong Dịch kinh lai chú đồ giải của Lô lăng Cao tuyết Quân và Vĩnh xuyên Lăng hậu tử.)

Trung điểm của bát quái đồ có viết chữ Đế 帝 và 5 chấm (Nơi dưới chú: «Vương Tạo hóa chi tôn xưng tức Thiên, Ngũ dã.» 王 造 化 之 尊 稱 即 天 五 也. Nghĩa là: Đế hay Vương là tiếng để tôn xưng đấng Tạo hóa tức Trung, tức ngũ.

Trong quyển Dịch kinh lai chú đồ giải có một đồ hình Hậu thiên bát quái, ở tâm điểm có chữ Đế.[12]

Lễ Ký cho rằng: Trung Dung là đạo của bậc vương giả.[13]

Đọc Mạnh Tử ta cũng thấy chữ Trung bao hàm nghĩa hoàn thiện.[14]

Đời Hán, Vương Thông cũng đề cập tới «trung thuyết» theo vi ý của Dịch và chủ trương:

«Mặc cho biến hóa muôn nghìn,

Trung tâm ta vẫn giữ nguyên chẳng rời.» [15]

Đến đời Tống, chữ Trung trở nên minh xác hơn.

Ngũ Phong (Hồ Hoằng, ?-+1163) định nghĩa Tính là tuyệt đối siêu việt trên các quan niệm thiện ác, và chủ trương Trung tượng cho Tính.[16]

Lam Điền Lữ Thị cũng cho rằng: «Trung chính là Tính, là Thiên đạo.» [17]

Nhưng đọc những lời tranh luận của Chu Hi và Lục Tượng Sơn chữ Trung và chữ Thái Cực[18] ta mới hiểu rõ ràng quan niệm của tiên nho về chữ Trung.

Chu Hi cho rằng Thái Cực ở trung tâm vạn vật nhưng Thái cực không phải là trung điểm. Trung như vậy chỉ là ngôi vị của Thái Cực.[19]

Ông viết: Gọi là cực để diễn tả sự chí cực của Lý ây, gọi là Trung để diễn tả sự không lệch lạc của Lý ấy. Tuy cùng một lý, nhưng danh nghĩa phải dùng cho tùy nghi, thích dáng.[20]

Lục Tượng Sơn phóng khoáng hơn, chủ trương dứt khoát rằng: Trung là cực. Ông viết: Cực cũng là Lý ấy, Trung cũng là Lý ấy.[21]

Lại nói: Gọi là Nhất hay Trung cũng vẫn là Thái Cực.[22]

Khảo sát nền văn học nước nhà, ta thấy Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) cũng đã thấu nghĩa chữ Trung, thấu hiểu định mệnh cao sang con người.

Năm Nhâm Thìn (1532)- lúc ấy Cụ 41 tuổi – nhân cùng các hương lão dạo chơi bến Trung Tân 中 津 bên sông Tuyết Giang, Cụ thấy hai chữ Trung Tân có thể bao quát đạo làm người nên cho xây một quán gọi là quán «Trung Tân», dựng một bia gọi là bia «Trung Tân» trên bến sông, để truyền sở học uyên nguyên lại cho hậu thế.

Cụ cắt nghĩa Trung là hoàn thiện, Tân là bến bờ, ý muốn nói con người chỉ được dừng chân nơi bến bờ hoàn thiện.[23]

Nhân sinh quan của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là nhân sinh quan của Trung Dung, Đại Học; nhân sinh quan của các bậc thánh hiền.

Tổng hợp các quan điểm thánh hiền Nho giáo, ta thấy Trung là ngôi vị của Thái Cực, của Hoàng Cực, bất thiên, bất ỷ, là nguồn gốc vạn vật, và là tuyệt đỉnh hoàn thiện làm tiêu chuẩn cho muôn loài, muôn vật vươn lên.

Mở rộng tầm khảo sát, ta sẽ thấy trung tâm, trung điểm bao giờ cũng tượng trưng cho căn nguyên, cho Tuyệt đối thể và Trung đạo là đạo «vô thượng», là đạo Huyền đồng (mysticisme), hay là Thiên đạo. Vì thế các nhà huyền học (mystiques), tự cổ chí kim, không phân đạo giáo, đều truyền thụ cho nhau một chữ Trung.

Huyền học Hồi giáo gọi trung điểm là thiên cung (station divine).[24] Huyền học Do Thái (Qabbalah hébraðque) gọi Trung điểm là «Thánh điện» (Saint Palais),[25] hay Trung cung (the Middle Chamber).[26]

Phật giáo cũng đề cập nhiều tới Trung Đạo (Majjhimā patipadā). Đức Phật Thích Ca đã tìm ra Trung Đạo và Trung Đạo đem lại cho con người viên giác thanh tịnh, niết bàn.[27]

Thiên Thai Tông gọi Thật Tướng là Trung Đạo.

Hoa Nghiêm Tông lấy Pháp Giới làm Trung Đạo.

Pháp Tướng Tông lấy Duy Thức làm Trung Đạo.

Trung là duy nhất, tuyệt đối, tuyệt đãi, là căn nguyên sinh vạn pháp.[28]

Trung Đạo, trung điểm ấy tức là điểm bất biến, là chân tâm nằm giữa mọi biến thiên. Quan niệm này được tượng hình bằng chữ Vạn 卍 và trục các bánh xe «Bát Chính Đạo», «Thập nhị nhân duyên», ý nói trong thân «Tứ đại giả hợp» vẫn có một điểm chân nguyên vĩnh cửu, trường tôn hay niết bàn bao giờ cũng nằm trong trung tâm luân hồi.

HÌNH 8: Oum mani padme hum = Ngọc châu viên giác chiếu diệu trong liên hoa tâm

= Tuyệt Đối Thể chiếu diệu ở trung tâm não bộ.

HÌNH 9: Oum (Trung điểm, Tuyệt Đối Thể) là con đường đại đồng. (Oum the the path of universality)

Nói cách khác, đó chính là ngọc châu viên giác chiếu diệu trong liên hoa tâm.[29]

Chu Hoành, tác giả quyển «Trúc song tùy bút», trong bài «Phát chân qui nguyên» cũng chủ trương chữ Trung của Trung Dung tức là Chân Nguyên của Phật giáo.[30]

Trong thư tịch đạo Lão, ta thường thấy đề cập đến Trung Đạo, Trung Cung. Trung Cung ấy được gọi là Huyền 玄, là Cốc Thần 谷  神, là Đạo 道, v.v…

HÌNH 10: Hình khắc vào đá để lưu truyền lời chú: «Oum mani padme Hum.»

 

HÌNH 11: Cốc Thần là Trung Điểm trong đạo Lão

 

HÌNH 12: Nê Hoàn Cung 泥 丸 宮 (Thời chiếu đồ 時 照 圖)

Lão Tử chỉ có một nguyện vọng, một lý tưởng là Thủ Trung bão Nhất 守 中 抱 一. Như trên trời, Thiên Tâm ở Bắc Cực, thì trong đầu não con người Thiên Tâm ở cung Nê Hoàn, mà Nê Hoàn ở trung tâm não bộ.[31]

HÌNH 13: Nê Hoàn Cung 泥 丸 宮 (Tẩy tâm thoái tàng đồ 洗 心 退 藏 圖)

Thiên tâm ấy không phải là Nhân tâm mà chính là Đạo.[32]

Sách Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ 太 乙 金 華 宗 旨 thường đề cập tới Trung điểm ấy dưới danh hiệu Trung Hoàng[33] và tất cả công phu tĩnh tọa, theo đạo Lão, là cốt tập trung tâm thần cho qui tụ về trung điểm ấy.[34]

Những nhận xét cổ kính của các đạo gia thực ra không đến quá viển vông như ta tưởng.

Các nhà sinh lý học Âu Mỹ tiên tiến hiện nay đang cố dùng các phương pháp khoa học để tìm cho ra «điểm hội tụ» trong đầu não mà họ gọi là «giác giới» (lieu de la compréhension) hay là «não tâm» (le foyer centrencéphalique, le foyer centrencéphalique d’integration) và cho rằng bản ngã ẩn áo sau điểm hội tụ ấy. Tuy nhiên, họ chưa xác định được trung điểm, trung cung là điểm hội tụ. Họ giả thiết: Hạ thị tằng (hypothalamus) là nơi các thần kinh giao hội.

Nhưng nếu ta áp dụng định luật tương tự (loi d’analogie: phép loại suy) ta sẽ phải nhận rằng Trung cung, trung điểm mới là điểm hội tụ, và Nê Hoàn cung của các đạo gia chính là não thất 3 (3e ventricule) trong đầu não con người; vì nơi ấy, phía dưới là giao tuyến của thần kinh mắt (chiasma optique), là nơi giao tiếp các mạch máu trong đầu, nơi ấy cũng là điểm hội tụ của các thần kinh, đồng thời cũng là «trung diểm hình học» của đầu não như các đồ hình giải phẫu, sinh lý và quang tuyến y học hiện đại chứng minh. triết học và đạo giáo, và đồng thời cũng là điểm hội tụ của muôn vạn nẻo đường suy tưởng.

Khảo sát phong tục, ta thấy dân gian bao giờ cũng trọng trung điểm: Chiếu giữa, gian giữa, trung ương đều là chỗ tôn trọng nhất.

HÌNH 14 A

Medical sagittal section of brain; Relationship of the central

sulcus and lateral frissure to the ventricules and skull.

HÌNH 14 B

 

HÌNH 14 C

HÌNH 14 D

HÌNH 14 E: Le Foyer centrencéphalique

 

HÌNH 15: Não thất 3 chụp thẳng

Nếu giả thuyết này được chấp nhận thì ta sẽ thấy  : tâm điểm não bộ sẽ là trung điểm tâm hồn, tuy nằm trong não mà chẳng phải là não; tâm điểm não bộ cũng sẽ là điểm gặp gỡ giữa khoa học thực nghiệm.

Nhưng mở rộng tầm quan sát ta thấy trung điểm còn nhiều kỳ bí, huyền diệu hơn: Đài hoa, nhụy hoa điều là tâm điểm của hoa; lúc hoa rơi cánh rã thì đài hoa vẫn còn và chứa đầy nguồn sống cho các thế hệ cây sau.

Nhân, hạt thường nằm trong giữa quả. Những cái vỏ bên ngoài dù có thối nát, thì nhân và hạt vẫn trường tồn với thời gian, để rồi ra đóng lại tấn kịch đời với quang âm, với gió mưa, đất nước.

Đặc biệt nhất là nếu ta dùng được những kính hiển vi tối tân mà nhìn vào đáy lòng vật chất, đáy lòng các tinh thể vi ti của vật chất, ta vẫn thấy Trung điểm uy nghi quen thuộc đó hiện ra bất biến hằng cửu giữa sự tuần hoàn, giao động của muôn nghìn nguyên tử. Ta vẫn thấy sau những biến thiên chất chưởng bên ngoài, còn có chủ chốt hằng cửu bền vững bên trong.

Xưa kia tuy chưa có những phương tiện khoa học tiến bộ như hiện nay nhưng có lẽ vì cứ tiến lên lần hồi trên các nấc thang suy luận mà hiền thánh xưa đã tìm ra Thượng Đế trong trung tâm vũ trụ và trung tâm con người.

Trung tâm vũ trụ, trung điểm tâm hồn chính là lò cừ tạo hóa, sẽ phối hợp mọi mâu thuẫn, khắc phạt.

Tinh thể nước đá dưới X-quang
 

Tinh thể Tungstène phóng đại 5 triệu lần.

HÌNH 16

Thay vì đứng theo một chiều nào trong tứ duy lục hợp, để bị quáng lòa vì bóng tối, bóng sáng tương tranh, ta vào trung điểm để nhìn bao quát trái phải, thấp cao, ta sẽ thấy mọi tương phản tan biến như mây khói.[35]

Thay vì chuyển vận bằng chân tay, bằng ngũ quan tri giác trong những nẻo đường vô tận của thời gian lịch sử, ta hãy dùng tâm thần một vút bay lên tới Thái Cực, trung tâm, chỗ phát xuất và hội tụ của không gian và thời gian. Ở đấy ta sẽ thấy mọi sự đều có lớp lang, tiết tấu, việc trước hỗ trợ việc sau, lớp ngoài bảo vệ lớp trong, tầng dưới nâng đỡ tầng trên. Tầng tầng lớp lớp bao quanh một tinh hoa duy nhất như muôn cánh hoa ấp ủ đài hoa với nhụy hoa.

Nếu đúng vậy thì đạo Trời cũng rất giản dị chỉ cần phá tan tấm màn vật chất ngu muội, dục tình bên ngoài là vầng dương muôn thủa sẽ hiện ra sáng quắc.[36]

Sau khi khảo sát ý nghĩa chữ Trung, sau khi đã tìm hiểu ý nghĩa của Trung điểm trong thiên văn, địa lý, trong các đồ bản, trong đầu não con người; ta có thể trở lại Nho giáo, trở lại với đề tài của ta.

Bây giờ chắc ta phải nhận chân rằng hai chữ Trung Dung thực là cao diệu. Trung là ngôi vị của Thái Cực, Hoàng Cực. Trung Dung, Trung Đạo chính là đạo «Phối thiên».

Có hiểu như vậy thì nhan đề sách mới hợp với ý nghĩa sách, và hai chữ Trung Dung sẽ nên ngọn đuốc sáng, soi rọi cho công trình khảo cứu của ta sau này.[37]

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Léon Wieger, Leçons étymologiques No 190, p. 290.

[2] Bất dịch chi vị dung. 不 易 之 謂 庸 (Trung Dung).

Dung giả thường nhi bất dịch chi lý. 庸 者 常 而 不 易 之 理 (Tống Nguyên Học Án, quyển 92, tr. 4)

[3] Trung Quốc tinh tòa khái lược đồ. 中 國 星 座 概 略 圖 (Trung Hoa ngũ thiên niên sử, quyển, tr. 49)

[4] a) Thiên Trì hư hàm Thái Cực bản Vô Cực dã. 天 池 虛 咸 太 極 本 無 極 也 (La kinh giải định, quyển I, tr. 2)

b) Coi hình la bàn (La kinh giải định, quyển II, tr. 12)

[5] – Ngũ theo từ nguyên viết là ㄨ, nghĩa là Ngũ hành (trung ương và bốn hướng) sau thêm hai nét trên dưới ( 二 ) mà thành , tượng trưng âm dương ngũ hành chuyển Vận giao phối trong trời đất.

– Thập cũng gồm đủ Ngũ hành (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung)

– Ngũ- Thập vì vậy ở trung ương nơi âm dương giao thái, ngũ khí triều nguyên, (cf. Wieger, Leçons étymologiques No 24A, No 39, p. 68, 109)

[6] Ainsi quand est fini le troisième mois de l’été, interrompt-il le travail qui lui permet de singulariser les diverses durées, il se vêt alors de jaune et cessant d’imiter la marche du soleil, va se poster au centre du Ming-t’ang 明 堂. S’il veut animer l’Espace, il faut bien qu’il ocupe cette place royale et dès qu’il s’y arrête, c’est d’elle qu’il semble animer le temps: il a donné un centre à l’année. (Marcel Granet, La pensée Chinoise, p. 103, 179, 180)

[7] Đọc các quẻ: Khôn, Nhu, Tụng, Tỉ, Đồng nhân, Đại hữu, Khiêm, Dự, Khuê, Kiển, Giải, Ích, Quải, Tỉnh, Chấn, Phong, Tiết, Trung phu, Tiểu quá, Vị tế. (Dịch kinh)

– Hệ từ hạ: Càn khôn thành liệt, nhi dịch lập hồ kỳ trung hĩ. 乾 坤 成 列, 而 易 立 乎 其 中 矣.

[8] Trung hành 中 行: đọc các quẻ: Thái (cửu nhị), Phục (lục tứ), Ích (lục tam; lục tứ), Quải (cửu ngũ) (Dịch kinh).

[9] Trung đạo 中 道 : đọc các quẻ: Cổ, Ly, Giải, Ký tế (Dịch kinh).

[10] Thiên vị dĩ chính trung dã. 天 位 以 正 中 也. (quẻ Nhu, lời soán)

[11] Quân tử hoàng trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã. 君 子 黃 中 通 理, 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 支, 發 於 事 業, 美 之 至 也.

[12] Xem hình: Đế xuất Chấn.

[13] Trung Dung dã, vương giả chi sở thường hành dã. 中 庸 也, 王 者 之 所 常 行 也 (Lễ Ký 禮 記 – Tang phục tứ chế, quyển 63, tr. 213)

[14] Mạnh Tử, Tận tâm [hạ], 37.

[15] Thiên biến vạn hóa, ngô thường thủ trung yên. 千 變 萬 化, 吾 常 守 中 焉 (Trung thuyết Chu công)

[16] Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 114, 115, 116.

[17] Hựu viết: Sở vị Trung giả, tính dữ thiên đạo dã. 又 曰: 所 謂 中 者 性 與 天 道 也. (Trung Dung hoặc vấn, tr. 22)

[18] Tống Nguyên học án, quyển 12. Phụ chú lục Thái cực đồ thuyết giải, tr. 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.

[19] Thù vấn cực chi vi ngôn. Cứu cánh chí cực bất khả hữu gia chi vị; dĩ trạng thử lý chí danh nghĩa tắc cử thiên hạ vô dĩ gia thử chi xưng dã. Cố thường tại vật chi trung, vi vật chi đích. Vật vô chi, tắc vô dĩ vi căn chủ nhi bất năng dĩ hữu lập. Cố dĩ vi tại trung chi nghĩa tắc khả nhi tiện vị cực vi trung tắc bất khả. 銖 問 極 之 為 言. 究 竟 至 極 不 可 有 加 之 謂; 以 狀 此 理 之 名 義 則 舉 天 下 無 以 加 此 之 稱 也. 故 常 在 物 之 中, 為 物 之 的. 物 無 之, 則 無 以 為 根 主, 而 不 能 以 有 立. 故 以 為 在 中 之 義 則 可 而 便 謂 極 為 中 不 可 (Stanislas Le Gall S.J., Tchou Hi: Sa doctrine, son influence, p. 116)

– Vấn Lưu Tử sở vị thiên địa chi trung, tức Chu Tử sở vị Thái Cực phủ. Viết chỉ nhất ban, đãn danh bất đồng. Trung chỉ thị kháp hảo xứ. Thư duy hoàng Thượng Đế, giáng trung ư hạ dân diệc chỉ thị kháp hảo xứ. Cực bất thị trung. Cực chi vi vật chỉ thị tại trung như giá cá chúc đài, trung ương trâm xứ tiện thị cực. 問 劉 子 所 謂 天 地 之 中, 即 周 子 所 謂 太 極 否. 曰 只 一 般, 但 名 不 同. 中 只 是 恰 好 處. 書 惟 皇 上 帝, 降 衷 於 下 民 亦 只 是 恰 好 處. 極 不 是 中. 極 之 為 物 只 是 在 中 如 這 個 燭 臺, 中 央 簪 處 便 是 極 (Ibidem, tr. 104)

[20] Chu viết: cực thị danh thử lý chi chí cực, trung thị trạng thử lý chi bất thiên, tuy nhiên đồng thị thử lý, nhiên kỳ danh nghĩa các hữu du đáng, tuy thánh hiền ngôn chi, diệc vị cảm hữu sở sai hỗ dã. 朱 曰: 極 是 名 此 理 之 至 極, 中 是 狀 此 理 之 不 偏 雖 然 同 是 此 理, 然 其 名 義 各 有 攸 當, 雖 聖 賢 言 之, 亦 未 敢 所 差 互 也 (Tống Nguyên học án, quyển 12, tr. 5)

[21] Lục viết: Cực diệc thử Lý dã, Trung diệc thử Lý dã. Ngũ cư Cửu Trù chi trung nhi viết Hoàng Cực, khởi phi dĩ kỳ trung nhi mệnh chi hồ. Dân thụ thiên địa chi trung dĩ sinh, nhi Thi ngôn lập ngã chưng dân, mạc phi nhĩ cực, khởi phi dĩ kỳ trung mệnh chi hồ. 陸 曰: 極 亦 此 理 也. 中 亦 此 理 也. 五 居 九 疇 之 中 而 曰 黃 極 豈 非 以 其 中 而 命 之 乎. 民 受 天 地 之 中 以 生 而 詩 言 立 我 烝 民 莫 非 爾 極, 豈 非 以 其 中 命 之 乎 (Tống Nguyên học án, q.12, tr. 5)

[22] Cái Cực giả Trung dã. 蓋 極 者 中 也 (Tống Nguyên Học Án, quyển 12, tr. 3) – Viết nhất trung tức Thái Cực dã. 曰 一 曰 中 即 太 極 也 (Ibidem, tr.2)

[23] Quán dĩ Trung Tân danh, hà sở thủ nghĩa. Dư ngữ chi viết: Trung giả trung dã, toàn kỳ thiện vi trung, bất toàn kỳ thiên tắc phi trung dã. Tri sở chỉ vi yếu tân, bất tri sở chỉ tắc mê tân hĩ. 館 以 中 津 名, 何 所 取 義. 余 語 之 曰: 中 者 中 也, 全 其 善 為 中, 不 全 其 善 則 非 中 也. 知 所 止 為 要 津, 不 知 所 止 則 迷 津 矣 (Trung Tân quán bi minh, Trạng Trình. Tài liệu viết tay của giáo sư Lê Hữu Mục)

[24] René Guenon, Le Symbolisme de la croix, p. 66.

[25] Ibidem, p. 72.

[26] Mackey’s revised Encyclopedia, volume 2, p. 665.

[27] Le Bouddha a découvert «la voie moyenne» qui procura la vue, qui donna la connaissance, qui conduit au calme, à la vue intérieure, à 1’éveil, au nibbanā. (Présence du Bouddhisme, p. 268-269)

[28] Pháp tướng dĩ duy thức vi Trung Đạo, Thiên Thai dĩ thật tướng vi Trung Đạo, Hoa Nghiêm dĩ pháp giới vi Trung Đạo. Trung giả bất nhị chi nghĩa, tuyệt đãi chi xưng, song phi song chiếu chi mục dã. 法 相 以 唯 識 為 中 道, 天 台 以 實 相 為 中 道, 華 嚴 以 法 界 為 中 道. 中 者 不 二 之 義, 絕 待 之 稱, 雙 非 雙 照 之 目 也. Trung Luận kệ viết: Nhân duyên sở sinh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc danh vi giả danh, diệc thị Trung Đạo nghĩa. 中 論 偈 曰: 因 緣 所 生 法, 我 說 即 是 空. 亦 名 為 假 名, 亦 是 中 道 義 (Phật học đại từ điển)

[29] «Oum mani padme hum» (Au cœur du Lotus brille le Joyau de la Sagesse) Cf. Sciences et Voyages, Aout 1962, No 200; Le Boutan, petit royaume himalayen của Francis Brunel.

Hình khắc vào đá để lưu truyền lời chú: «Oum mani padme Hum.»

[30] Hội thông nhu, thích giả vị trung tức chân nguyên dã. 會 通 儒, 釋 者 謂 中 即 真 元 也 (Phát chân qui nguyên – Trúc song tùy bút, tr. 35)

[31] (1a) Đầu hữu cửu cung, trung viết Nê Hoàn. 頭 有 九 宮 中 曰 泥 丸 (Kim đơn đại thành tập, tr. 4)

(1b) Thiên tâm chi cư ư Bắc Cực, vi tạo hóa chi khu cơ giả. Thử tâm dã, cố đẩu tiêu nhất vận, tứ thời ứng tiết, ngũ hành thuận tự, hàn thử trúng độ, âm dương đắc kỳ nghi hĩ. Tại nhân diệc nhiên. Thủ hữu cửu cung, thượng ứng cửu ngung, kỳ trung nhất cung viết thiên tâm, nhất viết tử phủ thiên uyên, thiên luân, thiên quan, thiên kinh, thượng đô quan, côn lôn đỉnh. Kỳ danh phả chúng. Tổng nhi ngôn chi, viết Huyền quang nhất khiếu… 天 心 之 居 於 北 極, 為 造 化 之 樞 機 者 此 心 也, 故 斗 杓 一 運, 四 時 應 節, 五 行 順 序 寒 暑 中 度 陰 陽 得 其 宜 矣. 在 人 亦 然, 首 有 九 宮, 上 應 九 隅 其 中 一 宮 曰 天 心 一 曰 紫 府, 天 淵, 天 輪, 天 關 天 京, 上 都 關, 崑 崙 頂 其 名 頗 眾, 總 而 言 之, 曰 玄 關 一 竅. (Kim đơn đại thành tập, tr. 2) (1c) Nê Hoàn cung đối chiếu với cơ thể học hiện đại là não thất 3 (3e ventricule). Cho tới nay chưa có giả thuyết y học nào nói Nê Hoàn cung hay não thất 3 là điểm hội tụ và phát xuất các ý tưởng và cảm giác. Trong quyển Vie et Rénovation các nhà sinh lý học Pháp giả thuyết là điểm hội tụ ở khoảng hypothalamus (minh đường hay hạ thi tằng).

[32] Năng tri vận dụng giả, dĩ đạo quán tâm, tâm tức đạo dã, dĩ tâm quán đạo, đạo tức tâm dã. Thị tâm dã phi nhân tâm chi tâm, nãi thiên tâm chi tâm dã. 能 知 運 用 者, 以 道 觀 心, 心 即 道 也, 以 心 觀 道, 道 即 心 也. 是 心 也 非 人 心 之 心, 乃 天 心 之 心 也 (Kim đơn đại thành tập, tr. 2)

[33] Cái dĩ «trung hoàng», tại nhân thân địa thiên chi chính trung. tức dịch chi Hoàng trung. Thích thị sở vị duyên trung. Ngô tông danh viết Huyền tẫn chi môn; nãi thị sinh thiên sinh địa sinh nhân chi huyền khiếu… 蓋 以 中 黃, 在 人 身 地 天 之 正 中, 即 易 之 黃 中. 釋 氏 所 謂 緣 中. 吾 宗 名 曰 玄 牝 之 門; 乃 是 生 天 生 地 生 人 之 玄 竅.

  http://nhantu.net/TonGiao/TrungDungTanKhao/hinh164.jpg

[34] Richard Wilhelm, The secret of the golden flower (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ), tr. 3: «One looks with both eyes at the end of the nose, sits upright and in a comfortable position and holds the heart to the center in the midst of conditions (on the fixed pole in the flight of phenomena). In Taoism, it is called the Yellow Middle, in Buddhism, the center in the midst of conditions… The two are the same. It does not necessarily mean the middle of the head. It is only a matter of fixing one’s thinking on the point which lies exactly between the two eyes. Then all is well.»

[35] Marcel Granet, La Pensée Chinoise, p. 316, 527, 528.

[36] … J’ai considéré notre âme comme un château, fait d’un seul diamant ou d’un cristal très pur. Tout comme au ciel il y a diverses demeures, ce château renferme plusieurs appartments: les uns en haut. les autres sont en bas, d’autres dans les ailes, enfin au centre, au milieu de tous, se trouve le principal, ou se passent les choses les plus secrètes entre Dieu et l’âme…

Vous savez comment la tige du palmier est fermée de plusieurs enveloppes, qui entourent et protègent la partie savoureuse, le cœur proprement dit de l’arbre; de même au centre du château se trouve la demeure du Roi et tout autour sont d’autres demeures.

Sainte Thérèse d’Avila, La religion essentielle, p. 166. cf. Sainte Thérèse de Jesus, ¬uvres complètes, Édition du Seuil. Le Château de l’Âme, p. 815, 825.

Phụ Lục 4 note 1/tr. 516: 1. Ngày 6/1/63, ông Kỹ Sư Trung Hoa Chương Dật Nguyên đã có nhã ý gửi cho tác giả quyển Chu Dịch Xiển Chân do Lưu Nhất Minh trước tác. Nhân thấy trong đó có bài Trung Đồ này, tư tưởng thâm trầm, văn chương khoáng đạt, nên trích dịch, để cống hiến độc giả làm tài liệu. Tr. 543: Phụ Lục 7, note 1.

[37] Toát lược Trung Dung bằng tiếng Pháp dành cho các thính giả người Pháp, ngày tác giả lĩnh giải thưởng văn chương Lecomte du Noüy 1960-1961. Tr. 550.

Phụ Lục 8, note 1. – Toát lược Trung Dung bằng tiếng Anh dành cho các thính giả người Anh, ngày tác giả lĩnh giải thưởng văn chương Lecomte du Noüy 1960-1961.

**************************         

Chương 7

XUẤT XỨ & ĐẠI Ý TRUNG DUNG

XUẤT XỨ

Trung Dung cũng như Đại Học là hai thiên trong Lễ Ký. Đến đời Tống, Chu Hối Am (Chu Hi 1130 1200) mới tách rời ra, cho hợp với Luận Ngữ, Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư.

Có nhiều người võ đoán: Trung Dung không phải của Tử Tư chép. Hồ Hoài Thâm, tác giả quyển Trung Quốc tiên hiền học thuyết, cho rằng:

Trung Dung có lẽ là của Đổng Trọng Thư thời Hán viết, vì Trung Dung chủ trương thuyết «Thiên nhân hợp nhất» mà thuyết này mãi tới thời Hán mới được Đổng Trọng Thư xiển minh.[1]

Nhưng như trên ta đã khảo sát, nhưng tư tưởng trong Trung Dung đã có sẵn trong Ngũ Kinh, và thuyết «thiên nhân hợp nhất» là một thuyết tối cổ, những chữ «phối mệnh», «khắc phối Thượng đế», «Thượng đế lâm nhữ» đã là những câu cửa miệng nhân gian thời Thương, Chu, như Kinh Thi đã cho biết. Vả ngay trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử đã cho biết «thị vị phối thiên, cổ chi cực» (Lý tưởng cao siêu của người xưa là được kết hợp với Trời).[2]

Cho nên ức đoán này không thể đứng vững.

H.J. Allen mới đây lại cho rằng Khổng Tử không phải là một nhân vật có thực, và quyển Trung Dung chỉ là một nguy thư do Phật tử Trung Hoa thời Hán đã chép.[3]

Giả thuyết này, chẳng ai cho là đứng đắn.

Cách đây mấy chục năm, Von Erkes cũng cho rằng Trung Dung không phải là một tác phẩm hoàn toàn thuộc Khổng giáo, mà chính có pha phách tư tưởng Lão giáo. Sách này, theo ông đã được viết đời Tần Thủy Hoàng, ngụ ý tán tụng Tần Thủy Hoàng và công nghiệp thống nhất đất nước của vua Tần.

Thực không gì mỉa mai hơn, nếu Trung Dung đã được viết để tán dương Tần Thủy Hoàng, vì trong sách toàn trích dẫn Khổng Phu Tử và cuối sách lại hết lời ca tụng Khổng Phu Tử một người mà bao sách vở trước tác đã bị Tần Thủy Hoàng cho vào lửa hết.[4]

Sở dĩ có những ức đoán quàng xiên, gượng gạo như vậy, vi người ta thường có thiên kiến rằng Khổng Tử chỉ là một nhà luân lý học tầm thường, vụ thực, trái ngược hẳn với Lão Tử đến khi đọc Trung Dung thấy những tư tưởng cao siêu, họ không biết ăn nói ra sao.[5]

Tuy nhiên những giả thuyết trên cũng cho cho ta thấy rằng Trung Dung là một triết thuyết cao siêu, chủ trương «thiên nhân hợp nhất»và tư tưởng Trung Dung không biên giới…

Trung Dung, theo truyền thống Nho giáo nói rằng đã được Tử Tư trước tác.

Tử Tư tên chữ là Khổng Cấp, cháu đích tôn của đưc Khổng. Ông sinh vào khoảng năm 500 tcn. Ông đã từng được thấy, được nghe đức Khổng cho tới khi ông hai ba mươi tuổi, vì đức Khổng mất vào năm 479. Có người cho rằng Tử Tư mất năm 440, có người cho rằng ông sống lâu hơn.[6] Điều đó không có gì là quan trọng…

ĐẠI Ý TRUNG DUNG

Trung Dung gồm 33 chương, nhưng tựu trung chỉ dùng một chữ là thâu tóm hết: đó là chữ «thành» 誠.

Rémusat, Wieger, P. Intorcetta và đa số học giả định «thành» là hoàn thiện.

Dựa theo lời chú giải của Chu Hi, một số học giả khác trong đó có James Legge, định «thành» là tinh hoàn, chân thực, hoàn toàn hợp nhất với chân lý, không còn pha phách tà ngụy.[7]

Chung quy «thành» vẫn là hoàn thiện, mà hoàn thiện là hợp nhất với bản tính, với thiên lý, thiên mệnh.

Theo Trung Dung, con đường đưa tới hoàn thiện, khởi đầu bằng chữ Kính, chữ Sợ. Kính sợ Trời tiềm ẩn trong lòng mình và sẽ trải qua các giai đoạn học hỏi, suy tư tu luyện, để kết thúc bằng sự «phối Thiên», sự hợp nhất với Trời.

Sự hoàn thiện ấy đã sẵn có nơi con người, đã tiềm ẩn trong «tính bản nhiên», nên công trình tu luyện con người là ở tại sự cố gắng phát huy mọi tiềm năng, tiềm lực, tiềm thức, tiềm chân, tiềm thiện cho tới chỗ hiện thực chí cùng chí cực, chí thành, chí thiện.

Chu Hi đã cho rằng sách bắt đầu bằng một lý rồi phân tán ra muôn ngàn, nhưng thâu tóm lại vẫn chỉ là một lý ấy, khác nhau chăng là ở hai thể ẩn hiện mà thôi.[8] Khi mục đích sách đã tỏ, thì sự kết cấu sách và sự liên lạc giữa các chương, cú cũng chẳng khó tìm.

Ta có thể phác họa đại ý Trung Dung như sau: Bản tính con người là thiên lý, thiên tính, thiên mệnh, thiên đạo.

Khuôn mẫu hoàn thiện ấy, đạo Trời ấy chẳng hề rời bỏ con người một phút giây.

Đạo người là noi theo tính bản nhiên ấy.

Bản tính con người khi chưa phát hiện là Trung, là thái cực tinh hoàn, bất nhiên, bất ỷ. Khi phát xuất ra nếu theo đúng lớp lang, tiết tấu sẽ đạt tới mức thái hòa, mức hoàn thiện. Cho nên, Trung hòa là gốc ngọn, đầu đuôi của lịch sử nhân loại (ch.1).[9]

Con đường hoàn thiện hay đạo Trung Dung là đạo của người quân tử, chẳng phải là đạo của kẻ tiểu nhân (ch.2).

Nó rất cao siêu, rất hoàn mỹ, nhưng cũng rất khó khăn nên ít người hiểu được, theo được (ch.3,4).

Muốn theo Trung Dung, muốn trở nên hoàn thiện phải phát huy ba đại đức: trí, nhân, dũng chứ không phải bon chen khoe tài, khoe trí với đời, chứ không phải bạo hỏ bằng hà, khinh thân, liều mạng (ch.6,7,8,9,10).

Muốn theo đạo Trung Dung, chẳng cần phải tìm hiểu quái dị, chỉ cần chuyên tâm, dốc trí theo trọn đạo Trời (ch.9).

Đạo Trời ấy tiềm ẩn ở đáy lòng, nhưng nếu biết phát huy ra, sẽ trở nên mênh mông, bao trùm vũ trụ (ch.12).

Cho nên chẳng phải đi đâu xa để tìm khuôn mẫu lý tưởng cho con người: khuôn mẫu ấy đã tìm ẩn sẵn trong lòng người (ch.13).

Vậy muốn trọn đạo Trời, chỉ cần lo tận thiện mình, yêu thương người khác như mình, lấy sự hoàn thiện làm khuôn phép cho mọi hành vi, cử chỉ mình, hướng dẫn đường lối giao tế của mình cho trọn niềm hiếu đễ, trọn nghĩa quân thần, vẹn tình bằng hữu. (ch.13).

Người quân tử sẽ vui sống trong mọi hoàn cảnh (ch.14), tuần tự tiến bước trên đường nhân, nẻo đức (ch.15), hiểu lẽ thiên nhân tương dữ (ch.16), sống sao cho đức hạnh chói chang sáng tỏ, thuận lòng Trời, được lòng người, như vua Thuấn, vua Văn, vua Vũ (ch.17, 18). Những lễ nghi tế tự tông miếu, Giao Xã, cổ nhân bày ra chẳng qua là để nhắc nhở rằng tổ tiên xưa đã thờ Trời, kính Trời, tu thân tích đức để trở nên hoàn thiện; cho nên người ngày nay phải hiểu thâm ý, phải nối được chí lớn của tổ tiên mới là vẹn hiếu (ch.19).

Nếu đạo làm người phải lấy Trời làm gốc, lấy chữ thành, chữ hoàn thiện làm chủ chốt, thì một nền chính trị lý tưởng cũng phải xây trên căn bản ấy.

Trong nước trên dưới phải một lòng lo bề tu đức lập thân.

Vua phải theo gương đức hạnh, dùng hiền tài trị dân, lo khuyến khích, vỗ về bách tính để cho nước thịnh, dân giàu, công nghệ mở mang. Dân phải giữ vững đạo con em, lo tròn phận sự. Tóm lại cá nhân cũng như xã hội đều có bổn phận phát huy mọi tìm năng mình để đi đến hoàn thiện (ch.20).

Vì Trời hoàn thiện, nên tiến tới hoàn thiện là lý tưởng của người quân tử. Muốn đạt tới mức hoàn thiện, cần học hỏi, suy tư, cố gắng mãi mãi, cố gắng không ngừng, sửa sang chếch mác, hoàn hảo bản thân rồi lại lo cái thiện mọi người, để quần sinh vũ trụ đều đạt được mức hoàn thiện (ch.21, 22, 23, 24, 25).

Cố gắng không ngừng, phát huy mọi tiềm năng, tiềm lực mình để tiến tới hoàn thiện, đó là theo đúng định luật tiến hóa của đất Trời (ch.25). Và khi đã hoàn thiện mình, người quân tử sẽ đạt tới mức chí thành chí thiện, thông phần vinh hiển Trời, trường sinh vĩnh cửu cùng Trời đất (ch.26, 27).

Đạo Trung Dung, như đã mô tả trên, thực cao siêu hoàn mỹ. Trời chỉ trao đạo đó cho các đấng thánh nhân (ch.27). Nó được xây dựng trên những nền tảng vĩnh cửu, có những tiêu chuẩn bất biến, hợp nhân tâm thế đạo, hợp định luật đất Trời. Dầu trong dĩ vãng xa xăm, dầu trong tương lai mờ mịt, nếu có vị thánh nhân nào ra đời cũng đều chủ trương như vậy cả (ch.29).

Theo Trung Dung, bậc chí thành là những người đạt đạo hoàn thiện. Những bậc ấy, trong số đó có đức Khổng sẽ như vầng nhật nguyệt soi sáng khắp nhân gian, vì các ngài thông phần vinh quang Trời, và mãi mãi sẽ được nhân loại suy tôn tán tụng (ch.30,31,32).

Trong đoạn kết, Trung Dung lại toát lược tâm pháp thánh hiền: «Kính sợ Trời, dầu ở nơi vắng vẻ, học cho thông suốt để biết tới cùng cực, rèn luyện mình cho tuyệt hết niềm tây, toàn thiện để thành tựu mình đến trọn vẹn (ch.33).

Đại ý Trung Dung là vậy, thế mà không biết vì sao đã mang tiếng lấp lửng, nước đôi?

————
**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Trung Quốc tiên hiền học thuyết, tr.147;148;149.

[2] Lão Tử Đạo Đức Kinh, ch.2, 68.

[3] H.J. Allen, Is Confucius a myth?

E.V. Zenker, Histoire de philosophie chinoise, tr.125.

[4] Edouard Erkes, Chinesische Literatur, Breslau 1922, p.39.

E.V. Zenker, Histoire de la philosophie chinoise, p.125.

[5] E.V. Zenker, Histoire de la philosophie chinoise, p.125.

[6] P. Léon Wieger S.J, Histoire des croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine, p. 221.

[7] L’ideal de l’humanité reallisé dans la personne du Saint la perfection absolue qui est son partage est bien ce qui signifie le terme 誠. Rémusat l’a rendu par «la perfection et la perfection morale»; le P. Intorcetta par «Vera solidaque perfectio» – Legge le traduit par «Sincerity, simplicity or singleness of Soul» the disposition to the capacity of what is good without any deteriorating element, with no defect of intelligence, or intromission of selfish thoughts. Ces derniers mots décrivent très bien les effets de 誠 signalés par Tchou Hi. 德 無 不 實 而 明 無 不 照 者 聖 人 之 德 所 性 而 有 者 天 道 也. Mais ils expriment pas assez clairement ce qu’il est en soi. Tchou Hi en donne cette définition: 誠 者 真 實 無 妄 謂. Cet état de conformité est le propre du saint. (Stanislas le Gall, Le Philosophe Tchou Hi, p.64 et ss)

[8] Tựa Trung Dung.

[9] Vị phát giả, Thái cực, chi tĩnh, dĩ phát giả Thái cực chi động 未 發 者 太 極 之 靜 已 發 者 太 極 之 動 (Chu Hi đáp Lã Tử Ước. Stanislas le Gall, Le Philosophe Tchou Hi, p.116.)

**************************         

Chương 8

KHAI THÁC TRUNG DUNG

Bây giờ đọc Trung Dung ta sẽ thấy nó rất hay rất rõ. Nó hay nó rõ, vì ta đã san bằng được mọi khó khăn về từ ngữ, ta đã gỡ được mối tơ vò tính mệnh, và nhất là ta đã nắm được chìa khóa Trung Dung của hai vua Nghiêu, Thuấn:

«Lòng của Trời siêu vi huyền ảo,

Lòng con người điên đảo ngả nghiêng.

Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời.»

Chu Hi đề tựa Trung Dung như sau:

«Trung ấy là không nghiêng, không ngửa,

Dung ấy là muôn thuở y nguyên.

Trung là đạo chính mọi niềm,

Dung kia là lý hiển nhiên mọi đời.

Tâm pháp này truyền nơi cửa Khổng,

Ông Tử Tư sợ chóng sai ngoa,

Bút thần tay thảo thiên hoa,

Muôn vàn truyền lại Mạnh Kha sách này.

Sách mới thoạt trình bày một lẽ,

Sau dần dần mới tỏe thành muôn,

Cuối cùng thu lại một nguồn.

Tung ra tản mạn khắp muôn phương Trời,

Thu cuốn lại dấu nơi ẩn áo,

Hay sao, hay kỳ ảo khôn cùng.

Đó là thực học chính tông,

Ai say tìm hiểu sẽ thông ý màu.

Thông ý màu rồi sau ứng dụng,

Dùng cả đời cũng chẳng hề vơi.»

Chu Hi đã cho ta thấy đại ý Trung Dung: «Thể duy nhất, dụng vạn thù». Căn nguyên chỉ một mà tác dụng hiệu quả muôn vàn.

Đồng thời Chu Hi cũng đã gợi cho biết Trung Dung là một triết học cao siêu, một phương pháp lý luận rất có mạch lạc. Ta có thể nói:

Thoạt tiên, Trung Dung dùng phương pháp diễn dịch như Descartes: Từ một duyên do căn bản suy ra ngàn vạn sự, ngàn muôn kết quả.[1]

Trong phần thứ hai của sách, có thể nói được là Tử Tư dùng phương pháp qui nạp như Bacon, đi từ những kết quả tạp thù vô số kể mà trở lại nguyên nhân cũ.

Nguyên nhân và kết quả đều gồm trong hai chữ Trời và Thành.[2]

Trời phát quang huy, chiếu ảnh tượng người vào đáy lòng nhân loại.[3] ảnh tượng ấy vừa là thực thể cho tâm hồn dựa nương, vừa là tính mệnh (vie) vừa là mệnh lệnh (ordre, loi), cũng vừa là đạo (voie). Ảnh tượng Trời đó hoàn thiện và quang minh tuyệt đối. Trung Dung đã khéo mô tả bằng hai chữ «thành, minh».[4]

Trong chương đầu Trung Dung, Tử Tư đã xác định căn bản tâm hồn con người; đồng thời dạy luôn cả đạo làm người:

«Bản tính cũng chính là thiên mệnh

Đạo là noi theo tính bản nhiên.

Giáo là cách giữ đạo nên.

Đạo Trời giây phút vẫn liền với ta.

Rời ta được đâu là đạo nữa.

Thế cho nên quân tử giữ gìn,

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng…» [5]

Trời xa, nhưng quyền phép ngài siêu việt, vẫn soi sáng tâm khảm của trần gian. Trời tuy xa nhưng vẫn giáng lâm, vẫn tại diện tiền không giây phút nào ngơi. Đó là niềm tin tưởng then chốt cốt cán của Đạo Nho, và của các thánh hiền Trung Hoa qua các thời đại. Tác giả Trung Dung nhắc tới lòng tin tưởng đó ở đầu, giữa, và cuối sách Trung Dung. Cả chương 16 của Trung Dung viện dẫn sự tin tưởng của muôn dân về thần quyền để minh chứng sự giáng lâm của Thượng đế.

Trung Dung viết:

«Quyền phép thần linh oai hùng khôn xiết,

Nhìn chẳng ra, nghe cũng chẳng thấy gì,

Nhưng vẫn lồng vào vạn vật chẳng phân ly,

Khiến chay tịnh tâm hồn, những chành áo xống,

Mời cho làm những việc tâm thành thờ phụng,

Man mác lẽ, như phảng phất ở trên,

Linh lung, như mường tường ở hai bên.

Thần giáng lâm lúc nào ta đâu có biết,

Cớ sao ta dám bơ thờ khinh miệt?

Thật siêu vi nhưng vẫn hiển hình,

Thật hoàn hảo, không giấu nổi oai linh.» [6]

Tác giả Trung Dung khuyên ta nên theo phương pháp loại suy (raisonnement par analogie) mà tìm ra căn bản tâm hồn ta, tìm cho ra đạo làm người, để cho nhân tâm hết ngả nghiêng, cho đạo tâm siêu vi được tận hiển dương, tiến tới thế trung hòa muôn thuở.

«Khi chưa phát vui, thương, mừng, giận,

Gọi là trung vì chẳng ngả nghiêng.

Phát ra đúng tiết, hợp duyên,

Ấy là hòa tấu ấm êm nhạc Trời.

Trung ấy chính muôn đời căn bản,

Hòa kia là đạo quán thiên thu,

Ước gì đạt thế trung hòa,

Ấm êm Trời đất, nhởn nhơ muôn loài.» [7]

Chu Hi bình giảng thêm:

«Nguồn đạo ấy phát từ Thượng đế.

Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời,

Hoàn toàn sẵn có nơi người,

Một giây một phút chẳng rời khỏi ta.» [8]

Và khuyên:

«Quay vào ta mà tìm đạo ấy

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.» [9]

Một khi con người được giác ngộ, tin có Trời ngự trị trong tâm khảm mình, chứng giám những điều ẩn áo nơi đáy lòng mình, và lo hoàn thiện mình để tiến tới sự phối hợp giữa tâm và tính, nhân tâm và đạo tâm, khi ấy con người sẽ trở thành quân tử.

Đức Khổng nói:

«Người quân tử Trung Dung một đạo,

Kẻ tiểu nhân trở tráo Trung Dung.

Trung Dung quân tử thời thường

Phản Trung Dung ấy là phường tiểu nhân,

Tiểu nhân chẳng thẹn, chẳng cần,

Chẳng còn sợ hãi, lần khân tháng ngày.» [10]

 Mục đích của đạo Trung Dung là phối hợp thiên ý với nhân tâm, tính với tình, nhân tâm và đạo tâm, cho nên là một đạo rất cao diệu. Đức Khổng nói:

«Đạo Trung Dung cao siêu, toàn mỹ,

Theo Trung Dung hồ dễ mấy ai.» [11]

 Theo đạo Trung Dung rất khó, khó vì nhiều lý do. Đức Khổng nói:

«Ta biết đạo Trung Dung thi hành khó,

Người sắc sảo, quá trớn đi đã lỡ,

Kẻ ngu đần, chậm chạp khó khuôn theo.

Ta biết đời chẳng hiểu đạo cao siêu:

Người hiền đức ỷ mình không suy xét,

Kẻ bất lương trông vào thì mù mịt.

Uống ăn kia ai cũng lấy làm thường,

Nhưng mấy ai sành mùi vị tinh tươm?» [12]

Mục đích Trung Dung là phát triển cho đến cực độ mầm mống hoàn thiện sẵn có nơi đáy lòng mình, theo thiên tính thiên lý sẵn có nơi mình mà phát huy ra ba đại đức, ba nguồn sáng tinh thần:

Trí – nhân – dũng

Trí là khôn ngoan. Khôn ngoan như vua Thuấn, biết Trời, biết Người, biết thăm dò xét hỏi, biết «ẩn ác dương thiện». Trí để phục vụ đạo lý, chứ không phải trí xảo của người đời.[13]

Đức Khổng nói:

«Ai cũng nói ta đây tài giỏi,

 Trên đường đời rong ruổi ngược xuôi;

 Sa vào cạm bẫy người đời,

 Sa hầm, sụp hố, thoát thôi dễ nào.

 Ai cũng ỷ tài cao, biết rộng,

 Theo Trung Dung chẳng đặng tháng Trời.» [14]

 Nhân là nhân đức nội tâm. Nhân như Nhan Hồi luôn lo lắng làm điều thiện, cho gương lòng vằng vặc sáng lên như đèn Trời, chứ không phải nhân đức lộ liễu bên ngoài của thế nhân. Những người có tài cán gan góc, vị tất đã là những người nhân đức, vị tất đã theo nổi đạo Trung Dung.

«Người có thể trị yên thiên hạ,

 Người có gan từ bả vinh hoa,

 Gươm trần người dám bước qua,

 Trung Dung đạo ấy khó mà người theo.» [15]

 Dũng không phải là cái dũng vũ phu, mà chính là cái dũng tinh thần của người quân tử, là cái dũng của bậc đạo hạnh: nếu «Xét thấy lương tâm mình ngay thẳng, thì dầu đối với hàng ngàn muôn người vẫn đi qua một cách an nhiên.» [16]

 Luôn êm đềm, khoan dung mà chỉ giáo,

 Người vô đạo ta không màng ác báo.

 Đó là hùng dũng kiểu Nam phương,

 Đó là lối đường người quân tử.

 Thích đao binh, mình kè kè giáp trụ,

 Chốn sa trường chết bỏ cũng không sao,

 Ấy hùng dũng Bắc, của chiến sĩ hùng hào.

 Người quân tử ôn hòa, không phụ họa,

 Hùng dũng thay, ôi hùng cường cao cả.

 Theo Trung Dung một dạ, chẳng ngả nghiêng,

 Ôi, hùng dũng kẻ sao xiết ngang nhiên.

 Nước có đạo lòng trung kiên chẳng đổi,

 Hàn vi hay hiển đạt vẫn không thay đường lối.

 Hùng dũng thay, kẻ sao xiết oai hùng.

 Lúc nước nhà vô đạo lao lung,

 Dẫu muôn thác cũng không rời đạo cả,

 Hùng dũng thay, ôi hùng cường khôn tả.» [17]

Ba đức «nhân, trí, dũng» đó đều mầm mống trong đáy lòng mọi người; chân lý muôn trùng hằng ẩn áo trong tâm khảm mọi người. Thánh hiền là những người có công khuếch sung trí nhân dũng cho tới mức cao siêu, tuyệt diệu. Vì thế đạo Trung Dung như hạt sồi của Lamartine,[18] lúc nhỏ chưa sinh sôi nảy nở thì rất tầm thường, nhưng khi đã triển dương tới mức độ lớn lao, thì trở nên thiệt uy nghi, cao đại.

Theo Trung Dung đạo Trời có hai đầu: Một đầu thì ẩn ảo huyền vi, tiềm ẩn ở tít tận đáy lòng, còn một đầu thì mênh mông bát ngát. lúc sơ phát thì ẩn áo siêu vi, nhưng lúc đạt đạo tới chỗ chí cùng, chí cực, thì vĩ đại.

«Đạo người quân tử mênh mông,

 Đồng thời ẩn áo, mông lung khó dò.» [19]

HÌNH 17: Thiên đạo, Nhân đạo, Vật đạo

Tác giả Trung Dung viện dẫn Kinh Thi để làm nổi bật những nét mênh mang và ẩn áo đó:

«Diều tung cánh sát từng mây biếc,

 Cá dương vây lặn miết đáy sâu.» [20]

 Rồi tác giả khuyên ta nên tung tầm mắt mà quan sát vạn vật đất Trời để tìm cho ra đại đạo. Quan sát đất Trời ta thấy gì? Ta sẽ thấy:

«Ngoài nội chim kia còn chấp cánh,

 Trên lương yến nọ chẳng lìa đôi

 Từng mây kết ngãi lưng Trời…» [21]

 Đôi chim ríu rít, đôi người chắt chiu.

Đầu Kinh Thi, ta đọc thấy:

 «Quan quan thư cưu, tại Hà chi châu,

 Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.» [22]

Trung Dung viết:

«Đạo quân tử từ nguồn phu phụ,

 Tung mãi ra trùm cả đất Trời.» [23]

Đạo phu thê là đạo phu xướng phụ tùy, để đi đến chỗ sắc cầm hòa hợp. Còn Trời đất thì lúc nào cũng quấn quít lấy nhau, hưởng ứng nhau. Trời che, đất chở, Trời sinh, đất dưỡng. Đầu đất là chân Trời. Vòng càn khôn lúc nào cũng hiện ra nơi nhãn giới. Suy ra, thì trong đạo làm người, tâm phải thuận theo tính, tâm phải biết phục mệnh. Nếu tâm theo tính, nếu nhân tâm phục tòng thiên mệnh, thì tức là theo đúng đạo xướng tùy, hòa hợp của đất Trời. Thế là Âm theo Dương, bóng tối nhường gót cho ánh sáng, sự chết nhường chỗ cho sự sống. Thế là Dương sinh, Âm dưỡng, Dương sinh, Âm trưởng. Tâm hồn sẽ tài bồi cho mầm tính nở tung muôn hoa đức hạnh, tâm hồn sẽ phả quang huy của vừng dương thiên tính, sẽ biến hóa theo đúng Đạo Trời.[24]

Khi đạt đạo, mảnh trăng lòng sẽ thoát ly hết mọi mây mù dục vọng, sẽ viên mãn, như vầng nguyệt hôm rằm, tung hết mọi làn ánh sáng đã thụ hưởng được của vừng dương thiên lý. Thế là Âm Dương phối hợp trong thế trung hòa của Thái cực. Thế là «nhật nguyệt đồng minh» thành chữ Dịch muôn đời.[25]

Vậy muốn hiểu đạo Trung Dung, phải hiểu chỗ thấp, chỗ cao, chỗ gần, chỗ xa. Chỗ đắc đạo, đạt đạo là Trung Dung, Trung đạo «dữ Thiên đồng đức», chí thành, chí thiện. Chỗ đạt đạo thì bao trùm hết không gian, thời gian, rực rỡ ngàn trùng.

Chỗ khởi điểm chỉ là một tàn lửa thiên lý, thiên chân, thiên mệnh, ẩn áo nơi đáy lòng. Chỗ đạt đạo thì chỉ bậc chí thánh mới vươn lên tới, nhưng con người đạo lý mở rộng chờ đón mọi người, và thực ra khởi điểm của nó cũng dung dị tầm thường, dầu ngu phu, ngu phụ cũng vẫn hay biết và có thể thi hành được như thường.[26]

Quan điểm Trung Dung phù hợp với Đạo Đức Kinh của Lão Tử:

«Muốn làm những việc khó khăn.

Phải từ chuyện dễ đi lần mới xong.

Muốn làm những việc kỳ công,

Phải từ việc nhỏ mới mong hoàn thành.» [27]

Vậy thì đạo Trời tuy rất khó, nhưng chính ra rất giản dị. Chúng ta chỉ việc làm những công việc thông thường hằng ngày, không cần lập dị, «sách ẩn hành quái».[28] Đối với mọi người thì nên khoan dung, độ lượng, mà uốn nắn cho qui hướng về đường thiện mỹ:

«Người quân tử khi lo giáo hóa,

Sửa trị người sẵn có khuôn người.

Thấy người giác ngộ thì thôi,

Đã chiều cải hóa, liệu bài ta ngưng.» [29]

Còn đối với mình, thì lúc nào cũng cúc cung tận tụy thi hành phận sự, coi người như mình; đối với ai cũng cố vẹn tình, vẹn nghĩa, hết lòng, hết dạ:

«Đối với người hết lòng, hết dạ,

Coi mọi người cũng cả như mình.

Thế là sắp tới tinh thành.

Việc mình thoái thác chớ dành cho ai…» [30]

Tìm bí ẩn làm điều quái dị.

Cốt mong cho hậu thế người khen

Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen,

Đã là quân tử chẳng thèm quan tâm.»

Muốn thành người quân tử, chúng ta phải:

«Tu đức hạnh, hành vi thường nhật,

Nói năng luôn đúng mực căn cơ.

Hành vi khiếm khuyết nên lo,

Nói năng thái hóa, liệu mà bớt đi.

Lời nói với hành vi phù hợp;

Nói làm sao, làm khớp như in;

Lòng người quân tử triền miên,

Thấp tha, thấp thỏm, mới nên công trình…» [31]

Nếu thời thường, lo hàm dưỡng tính tình, trau dồi óc chất như vậy, thì trí, nhân, dũng sẽ như ngọn lửa, ngày một lan cháy rực Trời, như nguồn lai láng, tràn ngập năm hồ bốn biển.[32]

Ngu phu, ngu phụ nếu ra công tu tâm, dưỡng tính cũng có thể nên người quân tử, nên gương cho nhân loại soi chung; nếu người quân tử biết tu thân, hàm dưỡng khuếch sung tính tình thì có thể nên những trang hiền thánh, chẳng kém gì Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ, Chu công.

«Đạo quân tử như in lữ thứ

Muốn đi xa phải tự chỗ gần.

Đạo người như cuộc đăng san,

Muốn lên tới đỉnh, đầu đàng là chân.» [33]

Chân là ngu phu, ngu phụ, mà đỉnh thì là đại thánh, đại hiền. ở gần là chuyện làm cho gia đình ấm êm, hòa hợp. Ở xa tít tắp là chuyện quốc chính, cai trị muôn phương, lo sao cho mọi người được sống những ngày thanh bình, tươi đẹp. Thấp là những chuyện tình ái thông thường giữa những vợ chồng, mà cao là nền luân lý phổ quát, bao gồm hết cương thường. Cao hơn nữa là đạo thánh hiền, «dữ Thiên đồng đức», vượt tầm không gian, thời gian, trường tồn cùng với càn khôn, vũ trụ.

Khởi điểm ở ngay thâm tâm, khởi điểm là chữ kính, chữ sợ:

«E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.» [34]

Cùng đích, mục phiêu sẽ là chỗ chí thành, chí thiện, treo gương cho khắp thế soi chung…

Nhờ sự tu thân tích đức, tâm hồn người hiền thánh rạng tỏ dần, và khi long vân gặp hội, khi đức cả đã cảm ứng được đất Trời, sẽ đạt tới địa vị cao sang tuyệt phẩm. Vì thế giữa sách, Trung Dung đề cập tới sự cao cả, vinh quang của các đấng đại thánh, đại hiền:

Trung Dung viết:

«Vua Thuấn là người trọn niềm hiếu thảo,

Đức sánh thánh hiền, vị cao sang ngôi báu;

Giàu vô biên, giàu bốn bể gồm thâu,

Tổ tiên nơi tôn miếu được cao dao,

Con con, cháu cháu đều nương vào tiếng cả.

Đức đã lớn, địa vị đâu có khó,

Bổng lộc theo, danh giá cũng chạy theo.

Sống lâu dài, tuổi thọ lại thêm nhiều.

Vì xưa nay Trời sinh ra muôn vật,

Đều chăm nom, vun sới tùy tài, tùy chất;

Đã tốt tươi chăm bẫm tốt tươi thêm,

Đã nghiêng ngả, phạt quang cho hết ngả nghiêng.» [35]

Luật Trời đất là như vậy: Đã tốt tươi, tài bồi cho thêm tươi tốt, đã tàn tạ thì sẽ bị vứt bỏ đi… Xưa nay bất kỳ ai đã vượt được thang tiến hóa lên tới mức đại trí, đại đức đều được kính tôn trọng vọng. Trung Dung cũng hết lời tán tụng Văn vương, Võ vương… Trời đã cho các bậc đại trí, đại hiền, đại đức đó ra đời, để làm vinh danh Thượng đế, để làm ích lợi cho chúng dân, và cũng là để treo gương sáng cho đời soi… Bổn phận hậu sinh là phải noi gương tiền bối như vậy mới thật là hiếu thảo…

**************************         

Trung Dung cho rằng hiếu thảo sáng suốt là biết noi theo đường lối sự nghiệp của cha ông. Người xưa lập ra những cuộc tế tự nơi tông miếu cốt là để thắt lại mối giây liên lạc họ hàng giữa các người còn sống, xác định lại tôn ti, trật tự, kẻ hèn, người sang trong gia tộc, tỏ tình thân ái với họ hàng, và cũng là để hun đúc lại khí thiêng truyền thống, tâm niệm bước theo lối đường của tổ tông xưa:

«Nghiệp xưa tôn tỏ mọi điều,

con người hiếu thảo y chiếu khuếch trương,

Xuân thu tới, sửa sang miếu mạo,

Bao đồ thờ xiêm áo bày ra,

Mùa nào thức ấy hương hoa,

Nhờ kỳ lễ tổ, nhận ra họ hàng.

Theo chức tước, biết sang, biết khó,

Theo phân công, tổ rõ hiền, ngu.

Rồi ra chén tạc, chén thù,

Dưới trên chuốc chén, nhỏ to đãi đằng,

Khi yến ẩm, mới phân già, trẻ,

Theo tóc răng, định lẽ dưới, trên.

Ngôi xưa, nối gót bước lên,

Lễ xưa tôn tổ, giữ nguyên chẳng rời.

Nhạc cha ông, không thôi hòa tấu,

Ngài yêu gì, ta cũng dấu, tôn.

Trước sau, mất cũng như còn,

Dẫu là sống thác, chẳng mòn tình thâm.

Lòng hiếu thuận, không phân sống chết,

Thế mới là trọn hết đạo con…» [36]

**************************         

Chí tổ tiên xưa là thờ Trời, kính sợ mệnh Trời, cho nên muốn trọn niềm hiếu thảo, tất nhiên cũng phải tin kính Trời. Trung Dung phân biệt rõ ràng: Thờ Trời và kính nhớ tổ tiên.[37] Muốn hiếu kính tổ tông phải biết thờ Trời:

Kinh Thi viết:

«Muốn nhớ tới tổ tông khi trước,

Hãy gắng công tích đức tu nhân,

Mệnh Trời phối hiệp vào thân,

Muôn ngàn phước lộc xa gần chiêu lai.

Thuở triều Ân còn thời thịnh trị,

Đã từng cùng Thượng đế tất giao,

Gương triều Ân hãy soi vào,

Mệnh Trời cao cả lẽ nào dễ đâu.» [38]

Hiếu kinh cũng cho rằng hiếu thảo chân chính là lập thân giữ đạo, lưu danh hậu thế…[39] Thế mới đúng là «sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn». kính nhớ tổ tiên thực ra khôn phải là xì xụp van vái. Như vậy Tử Tư muốn dùng lòng hiếu kính tổ tiên để lưu truyền đạo Trời mãi mãi…

Từ thiên «Ai công vấn chính» về sau, Trung Dung bắt đầu dùng phương pháp quy nạp. Trung Dung chủ trương rằng muốn cầm đầu giang sơn, sửa đổi giường mối chính trị vẫn không qua được lòng người, không qua được điều nhân nghĩa, không qua được vấn đề tu thân, không qua được Trời.

«Biết người, trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao.» [40]

Trời là căn để cho một nền chính trị hoàn hảo. Sự hoàn thiện vẫn là căn bản cho mọi động tác nhân loại. Tung tầm mắt ra khắp muôn phương, ta thấy ngũ luân là năm bổn phận cao cả nhất. Nhưng ngũ luân vẫn phải dựa vào ba đức là: Trí, Nhân, Dũng. Trí, Nhân, Dũng truy tới căn nguyên lại chính là biểu dương của chữ Thành, của sự toàn thiện muôn thuở.[41]

 Ai Công hỏi về chính trị, Khổng Tử trả lời:

«Phép chính trị vua Văn, vua Võ,

Nay hãy còn ghi ở sử xanh.

Người ngoan, chính trị thịnh hành,

Con người gian ác, tan tành quốc gia.

Người tài đức phun hoa chính trị,

Như đất mầu, trổ rễ cỏ cây.

Chính quyền lau lách, dắt dây,

Cầm quyền hành chính dở hay tại người.

Nếu muốn được nhân tài giúp sức

Mình cố sao tài đức hơn người.

Tu thân lấy đạo tài bồi,

Đạo tu trước phải rạng ngời đức nhân.

Người chân chính là nhân là ái,

Yêu từ nhà yêu mãi ra xa,

Nghĩa là mọi vẻ tinh hoa,

Muốn dân trọng nghĩa, trước ta tôn hiền.

Phân thân sơ, biết hay hèn,

Trọng nhân, trọng nghĩa, xây nền lễ nghi.» [42]

Như vậy, rút lại, ta phải để tâm khuếch sung Nhân, Trí, Dũng, cố gắng tiến tới chỗ chí thành, chí thiện. Ánh sáng Trời cao cả, sự hoàn thiện thiên nhiên nơi đáy lòng ta đó, có khi sinh ra đã biết, có khi nhờ học hỏi mới biết, có khi vì lao lung, cùng khốn mới biết, nhưng đã biết thì cũng chỉ là một như nhau. Có khi tự nhiên ta muốn trở nên hoàn thiện, có khi vì lợi lộc mà ta cố trở nên hoàn thiện, có khi vì bắt buộc mà ta trở nên hoàn thiện, nhưng kết quả trước sau vẫn là một.[43]

Muốn tiến tới hoàn thiện, điều kiện thiết yếu là phải biết gắng gỗi công trình.

«Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu thân phải gắng công lao,

Muốn nên hùng dũng anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.» [44]

Then chốt vạn sự, chung quy vẫn chỉ là một chữ Thành. Dẫu đứng đầu trăm họ, thống lãnh giang sơn, cũng vẫn phải lấy sự tu thân, sự cải thiện mình làm gốc. Bất kỳ quốc sách chân chính nào cũng phải xây trên căn bản toàn thiện.[45]

Tóm lại, con người sinh ra ở đời cốt để trở nên hoàn thiện:

«Hoàn toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.» [46]

Những bậc đại thánh trong thiên hạ tự nhiên có một đời sống thánh thiện, hành vi tự nhiên hoàn hảo, ý nghĩ tự nhiên sáng suốt. Còn những người phàm tục như chúng ta phải cố công cố sức đêm ngày mới mong trở nên hoàn thiện được.

Trung Dung viết:

«Còn những kẻ cố công nên thánh

Gặp điều lành phải mạnh tay co,

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, học cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, mới mang thi hành.

Đã định học, chưa thành chưa bỏ;

Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nôi,

Chưa ra manh mối, chưa rời xét suy,

Biện luận mãi tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua.

Đã làm, làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến thâu toàn thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh.

Người làm mười bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ ta ganh với người.

Đường lối ấy nếu ai theo được,

Dẫu u mê sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Sớm chày cũng sẽ ra lòng sắt son.» [47]

Nếu cố gắng, con người sẽ cải thiện hoàn toàn được mình, đó là luật tiến hóa của Trời đất: muôn vật đều tiến từ thô sơ tới tinh vi, từ mầm mống tới trưởng thành, từ hỗn độn tới quy mô tổ chức, từ tối tăm đến sáng láng. Như vậy con người cũng phải khuếch sung, tài bồi mầm mống đức hạnh nơi đáy lòng mình để tiến tới chỗ tinh vi cao diệu.

«Đạo trời đất một câu tóm hết,

Làm muôn loài nhất thiết một khuôn,

Nhưng mà sinh hóa khôn lường

Đất trời đường lối mênh mang rộng dày.

Cao minh trong sáng xưa nay,

Xa gần vĩnh cửu, đó đây khôn lường.

Kìa như trời vài nguồn sáng sáng,

Nhưng tới khi tản mạn vô cùng,

Lửng lơ nhật nguyệt hai vừng,

Muôn vàn tinh tú tưng bừng treo trên.

Trời còn che chở mọi miền.

Kìa như đất vài thưng bụi cát,

Nhưng một khi bát ngát rộng dày,

Hoa sơn nó chở như bay,

Muôn vàn sông biển hút ngay vào lòng.

Đất còn chở hết non sông.

Kìa núi non đá chồng mấy tảng,

Nhưng một khi khoáng đãng vươn cao,

Cỏ cây muôn khóm chen nhau,

Muông chim cầm thú nương vào ở ăn.

Núi còn biết mấy kho tàng.

kìa sông nước mấy ang, mấy gáo,

Nhưng một khi biến ảo mênh mông.

Sấu, rùa, cá, giải, giao long,

Sinh sinh, hóa hóa, vẫy vùng triền miên

Nước còn biết mấy nguồn tiền,

Biết bao hóa phẩm còn chìm bể sâu.

Việc Trời gẫm xiết bao huyền ảo,

Thực sâu xa, ẩn áo không cùng,

Thực là đáng mặt Hóa công.» [48]

Như vậy luật tạo hóa là muốn cho mọi người cải thiện, tiến hóa không ngừng. Như vậy con người phải cố gắng, tiến bước mãi trên con đường hoàn thiện, không lúc nào được dừng chân hay lui gót.

Khi đạt tới mức độ hoàn thiện, sẽ đạt đạo Trung Dung «dữ Thiên đồng đức», sẽ cùng Trời đất vững bền muôn thuở.

«Bậc chí thánh không hề ngơi nghỉ,

Không nghỉ ngơi nên sẽ vững bền.

Vững bền muôn vẻ trưng lên,

Trưng lên vang dội khắp miền gần xa.

Khắp gần xa ắt là dày rộng,

Đã rộng dày thời cũng cao minh.

Rộng dày để chở chúng sinh,

Cao minh che khắp sinh linh xa gần.

Trường cửu để tác thành muôn vật,

Rộng dày nên cùng đất sánh duyên.

Cao minh kết ngãi thanh thiên,

Vô biên, vô tận triền miên khôn cùng.

Được như vậy không trưng vẫn tỏ,

Tuy ở yên, biến hóa khôn lường,

Không làm mà vẫn thành công…» [49]

Khi đạt tới giai đoạn «Thiên nhân nhất quán», giai đoạn huyền đồng, thánh nhân sẽ được phối hợp với Trời, thông phần vinh hiển cao diệu của Trời.

Trung Dung viết:

«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí tuệ,

Y như thể có Trời ẩn áo giáng lâm,

Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần,

Y như có dung nhan Trời phất phưởng;

Phấn phát tự cường, kiên cương, hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng.

Trang trọng khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn,

Nói năng văn vẻ, rõ ràng, tường tận,

Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm, ứng hiện phải thì,

Mênh mang như khung Trời bao la, vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm…» [50]

Bậc chí thánh đó sẽ vì đời sang sửa đại kinh:

«Chỉ những đấng chí thánh trong thiên hạ,

Mới có thể vì đời sang sửa đại kinh.

Mới có thể xây căn bản cho xã hội quần sinh,

Mới thấu rõ luật đất Trời sinh hóa…» [51]

Các ngài sẽ tiên tri, tiên đoán, biết trước những công cuộc hưng vong, suy thịnh của quốc gia…[52]

 Đạo Trung Dung lúc đạt tới cùng cực, thực là mênh mông, bát ngát:

«Đạo thánh nhân to sao, to lớn quá,

Nó mênh mang, biến hóa chúng nhân.

Nó cao, cao vút tới Trời thẳm muôn tầm;

Nó rộng, rộng bát ngát khôn kể xiết.

Gồm thâu mọi điều lễ nghi, chi tiết.

Bao uy nghi quán triệt hết chẳng trừ.

Đợi thánh nhân, Trời mới phú thác cho,

Không đức cả, Trời không ngưng đạo cả.» [53]

 Đạo đó, con đường hoàn thiện đó là con đường cho quân tử noi theo:

«Nên quân tử dốc một lòng, một dạ,

Trọng kính Trời, quyết gắn bó học hành.

Tiến sao cho tới mức rộng rãi, tinh anh,

Mức cao sáng của Trung Dung đạo cả,

Ôn điều cũ, học thêm điều mới lạ,

Chuộng lễ nghĩa, sống đời sống nết na.

Ở ngôi cao, không có thói kiêu xa,

Ở cấp dưới, không làm điều trái nghịch,

Nước có đạo, chỉ một nhời làm tiến ích,

Nước đảo điên, lặng lẽ đủ dung thân…» [54]

Đạo thiên nhiên đó, đã được đức Khổng, nương theo các vua Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ, đem truyền dạy và phổ biến cho đời:

«Đức Khổng nối tiếp đạo Thuấn, Nghiêu,

Làm sáng tỏ lối đường Văn, Võ.» [55]

Tóm lại đạo quân tử mới đầu ngỡ tầm thường, giản dị, nhưng dần dần mới thấy nó thật chứa chan ý vị, đầy vẻ đẹp tươi, và mênh mông, bát ngát. Nó khởi điểm từ chỗ biết kính sợ e dè, dẫu ở một mình nơi thanh vắng cũng chẳng dám làm điều gì đáng để hổ ngươi, để tiến tới chỗ «dữ Thiên đồng đức» chỗ hoàn hảo tuyệt vời. Đó là đại ý đoạn kết sách Trung Dung:

«Thơ rằng:

Gấm mặc trong, ngoài phủ áo sa,

Là vì ngại gấm đầy hoa lòe loẹt,

Nên đạo quân tử ám nhiên ẩn ước,

Sau dần dà mới sáng rực mãi lên;

Đạo tiểu nhân mới ngó ngỡ là đèn,

Nhưng càng ngày càng tối đen, tối xẫm.

Đạo quân tử đạm thanh, không ngán ngẩm,

Đơn sơ nhưng chan chứa vẻ đẹp tươi;

Thuần phác nhưng lý sự chẳng kém ai.

Biết xa gần, biết nguyên lai bản mạt

Biết lẽ vi hiển, vừa rỡ ràng, vừa e ấp,

Là có thể bước vào nẻo đức đường nhân.

Thơ rằng:

Cá tuy lặn sâu thẳm mấy tầm,

Nhưng bóng dáng vẫn rõ ràng, hiển hiện.

Nên quân tử lo xét mình cho chín,

Đừng cho tội khiên làm u ám thâm tâm.

Người quân tử vượt trổi quá chúng nhân,

Chính ở chỗ mọi người trông chẳng đặng.

Thơ rằng:

Chái tây bắc một mình thanh vắng,

Cũng đừng làm chi đáng để hổ ngươi.

Nên quân tử không làm vẫn thu phục lòng người,

Chẳng nói năng, nhưng ai nấy đều tin tưởng.

Thần thánh giáng lâm, không một lời động dạng,

Nhưng mọi người tuyệt nhiên hết tranh giành.

Nên quân tử không thưởng, mà dân vẫn đua tranh,

Không giận dữ, mà người sợ hơn oai rìu búa.

Thơ rằng:

Văn Vương chẳng phô trương đức độ,

Nhưng chư hầu đâu đấy vẫn khuôn theo.

Người quân tử nếu dốc một dạ kính yêu,

Đạt đức cả, thiên hạ lẽ tất nhiên thịnh trị,

Thơ rằng:

Ta muốn đức rạng ngời, sáng tỏ,

Không cần chi lớn tiếng hay làm bộ ra oai.

Đức Khổng nói dùng miệng lưỡi, hay kiểu cách bên ngoài,

Cảm hóa dân, lối ấy rất nên thô thiển.

Thơ rằng:

Đức nhẹ như lông;

Lông còn có bề hơn kém,

Đức Trời cao, siêu việt chẳng tăm hơi,

Thực là hoàn hảo tuyệt vời.» [56]

Chu Hi bàn thêm:

«Tử Tư trên kia vừa nói tới điều chí cực,

Nay quay về nói lại chủ chốt căn nguyên.

Nhắc ta tu thân căn cốt ở kính tin.

Dẫu chiếc bóng cũng không làm điều tà khuất.

Suy rộng ra nếu ai cũng dốc một lòng chính trực,

Thì thiên hạ lo chi chẳng an bình.

Khen nhân đức khi đạt mức huyền linh,

Sẽ bát ngát, vô thanh và vô xú.

Một lời lẽ gồm biết bao tự sự,

Lòng thiết tha khẩn khoản muốn dạy người.

Bao ý tình thắm thiết biết mấy mươi,

Học giả ta lẽ nào không hết lòng hết sức.» [57]

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Descartes tự phụ có thể dùng phương pháp lý luận tiên thiên (a priori) mà chứng giải được trong Trời đất có một Đấng tuyệt đích có tính cách đặc biệt. Ông lại tự phụ nhân đó suy diễn được các phép tắc cốt yếu của các sức vận động trong vũ trụ, lại nhân các phép tắc ấy cũng giả thuyết ra mấy cái ức thuyết nữa mà có thể lý hội được cả vũ trụ… (Nam Phong số 119, tr.24: Triết học Âu châu ngày nay, Thượng Chi biên tập).

[2] Bacon cho là muốn biết mọi sự xảy ra phải bắt đầu quan sát đã. Tuy nhiên, hợp một mớ những sự vật đã quan sát lại chưa gọi là một khoa học được, nhà khảo cứu nghĩ ra một cái luật chung hay là một lý thuyết gì; nhưng cái luật hay cái thuyết nghĩ ra đó lại phải chứng nghiệm hẳn hoi xem có đích thực không, khi ấy mới gọi được là khoa học chân chính. (Nam Phong, số 119, tr.24: Triết học Âu châu ngày nay).

[3] Tại Thiên thành tượng. Tại địa thành hình. 在 天 成 象 在 地 成 形 (Dịch kinh Hệ Từ Thượng) – Bất hiển diệc lâm. 不 顯 亦 臨 (Bửu Cầm, Tống Nho, tr. 191)

[4] Tự thành minh vị chi tính. 自 誠 明 之 謂 性 (Trung Dung, ch.21, tr.74)

[5] Thiên mệnh chi vị tính… Suất tính chi vị đạo. Tu đạo chi vị giáo. Đạo dã giả bất khả tu du ly dã. Khả ly phi đạo dã. Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ. Khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. Mạc hiện hồ ẩn, Mạc hiển hồ vi. Cố quân tử thận kỳ độc dã. 天 命 之 謂 性; 率 性 之 謂 道; 修 道 之 謂 教 道 也 者, 不 可 須 臾 離 也;可 離, 非 道 也 是 故 君 子 戒 慎 乎 其 所 不 睹, 恐 懼 乎 其 所 不 聞 莫 見 乎 隱, 莫 顯 乎 微 故 君 子 慎 其 獨 也 (Trung Dung, ch.1)

[6] Quỉ thần chi vi đức, kỳ thịnh hĩ hồ ! Thị chi nhi phất kiến, thính chi nhi phất văn; Thể vật nhi bất khả di. Sử thiên hạ chi nhân, trai minh thịnh phục, dĩ thừa tế tự. Dương dương hồ, như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu ! Thi viết:”Thần chi cách tư, bất khả đạc tự; thản khả dịch tư”. Phù vi chi hiển, thành chi bất khả yểm như thử phù! 子 曰 鬼 神 之 為 德 其 盛 矣 乎 視 之 而 弗 見;聽 之 而 弗 聞;體 物 而 不 可 遺 使 天 下 之 人, 齊 明 盛 服, 以 承 祭 祀 洋 洋 乎, 如 在 其 上, 如 在 其 左 右 詩 曰 神 之 格 思, 不 可 度 思, 矧 可 射 思?夫 微 之 顯 誠 之 不 可 掩, 如 此 夫. (Trung Dung, ch.16, tr.58)

[7] Hỷ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung. Phát nhi giai trúng tiết, vị chi Hòa. Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. Hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên. 喜 怒 哀 樂 之 未 發 謂 之 中 發 而 皆 中 節, 謂 之 和 中 也 者, 天 下 之 大 本 也 和 也 者, 天 下 之 達 道 也 致 中 和, 天 地 位 焉, 萬 物 育 焉 (Trung Dung, ch.1)

[8] Đạo chi bản nguyên xuất ư Thiên, nhi bất khả dịch; Kỳ thực thể bị ư kỷ, nhi bất khả ly. 道 之 本 原 出 于 天, 而 不 可 易; 其 實 體 備 于 己, 而 不 可 離 (Trung Dung, ch.1, tr.40, 42)

[9] Cái dục học giả ư thử, phản cầu chư thân, nhi tự đắc chi, dĩ khử phù ngoại dụ chi tư, nhi sung kỳ bản nhiên chi thiện. 蓋 欲 學 者 于 此, 反 求 諸 身 而 自 得 之, 以 去 未 外 誘 之 私, 而 充 其 本 然 之 善 (Trung Dung, ch.1, tr.42)

[10] Quân tử Trung Dung; tiểu nhân phản Trung Dung. Quân tử chi Trung Dung dã, quân tử nhi thời trung; tiểu nhân chi phản Trung dung dã, tiểu nhân nhi vô kỵ đạn dã. 君 子 之 中 庸 也, 君 子 而 時 中 小 人 之 中 庸 也, 小 人 而 無 忌 憚 也 (Trung Dung, ch.2, tr.42)

[11] Trung Dung kỳ chí hĩ hồ ! Dân tiễn năng cửu hĩ. 子 曰 中 庸 其 至 矣 乎 民 鮮 能 久 矣 (Trung Dung, ch.3, tr.44)

[12] Tử viết: Đạo chi bất hành dã, ngã tri chi hĩ. Trí giả quá chi; ngu giả bất cập dã. Đạo chi bất minh dã, ngã tri chi hĩ. Hiền giả quá chi; bất tiếu giả bất cập dã. Nhân mạc bất ẩm thực dã, tiễn năng tri vị dã. 子 曰 道 之 不 行 也, 我 知 之 矣; 知 者 過 之; 愚 者 不 及 也 道 之 不 明 也, 我 知 之 矣; 賢 者 過 之; 不 肖 者 不 及 也 人 莫 不 飲 食 也 鮮 能 知 味 也 (Trung Dung, ch.4, tr.44)

[13] Tử viết: Thuấn kỳ đại trí dã dư ! Thuấn hiếu vấn nhi hiếu sát nhĩ ngôn, ẩn ác nhi dương thiện. Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân. Kỳ tư dĩ vi Thuấn hồ. 子 曰 舜 其 大 知 也 與 舜 好 問 以 好 察 邇 言 隱 惡 而 揚 善 執 其 兩 端, 用 其 中 于 民 其 斯 以 為 舜 乎 (Trung Dung, ch.6, tr.46)

[14] Tử viết: Nhân giai viết: Dư trí. Khu, nhi nạp chư cổ hoạch, hãm tinh chi trung; nhi mạc tri ty dã. Nhân giai viết: Dư trí. Trạch hồ Trung Dung, nhi bất năng cơ nguyệt thủ dã. 子 曰 人 皆 曰 予 知, 驅 而 納 諸 罟 獲 陷 阱 之 中, 而 莫 之 知 辟 也 人 皆 曰 予 知, 擇 乎 中 庸, 而 不 能 期 月 守 也 (Trung Dung, ch.7, tr.46)

[15] Thiên hạ, quốc gia khả quân dã; tước lộc khả từ dã; bạch nhẫn khả đạo dã; Trung Dung bất khả năng dã. 子 曰 天 下 國 家 可 均 也; 爵 祿, 可 辭 也; 白 刃, 可 蹈 也; 中 庸 不 可 能 也 (Trung Dung, ch.9, tr.48)

[16] Tích giả, Tăng tử vị Tử Tương viết: «Tử hiếu dũng hồ. Ngô thường văn đại dũng ư Phu tử hĩ.” Tự phản nhi bất súc, tuy hạt khoan bác, ngô bất chuy yên. Tự phản nhi súc, tuy thiên vạn nhân, ngô vãng hĩ.» 昔 者, 曾 子 謂 子 襄 曰 子 好 勇 乎?吾 常 聞 大 勇 於 夫 子 矣 自 反 而不 縮 雖 褐 寬 博 吾 不 惴 焉 自 反 而 縮 雖 千 萬 人 吾 往 矣 (Mạnh Tử, Công TônSửu, thượng–2, tr.86) (Ngày xưa Ông Tăng Tử nói, với Tử tương rằng: Ta thường nghe thầy ta nói về lối dũng cảm chính đại. Ngài dạy rằng “Nếu tự xét lấy mình có điều chẳng ngay thẳng, dẫu đối với kẻ thường dân mặc áo rộng bằng lông, mình há chẳng khiếp sợ. Nếu tự xét thấy mình có điều ngay thẳng, dẫu đối với hàng ngàn muôn người, mình cũng vẫn đi qua một cách an nhiên đó.)

[17] Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư? ức nhi cường dư? Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo: Nam phương chi cường dã; Quân tử cư chi. Nhẫm kim cách, tử nhi bất yếm: Bắc phương chi cường dã; nhi cường dã cư chi. Cố quân tử hòa nhi bất lưu. Cường tai kiểu ! Trung lập nhi bất ỷ. Cường tai kiểu ! Quốc hữu đạo, bất biến tắc yên. Cường tai kiểu ! Quốc vô đạo, chí tử bất biến. Cường tai kiểu! 子 曰 南 方 之 強 與, 北 方 之 強 與, 抑 而 強 與? 寞 柔 以 教, 不 報 無 道, 南 方 之 強 也 君 子 居 之 衽 金 革, 死 而 不 厭, 北 方 之 強 也 而 強 者 居 之 故 君 子 和 而 不 流; 強 哉 矯 中 立 而 不 倚; 強 哉 矯 國 有 道, 不 變 塞 焉; 強 哉 矯 國 無 道, 至 死 不 變; 強 哉 矯 (Trung Dung, ch.10, tr.48)

[18] Le Chêne (Harmonies poetiques et religieuses)

[19] Quân tử chi đạo phí nhi ẩn. 君 子 之 道, 費 而 隱 (Trung Dung, ch. 12, tr.50)

[20] Diên phi lệ thiến; Ngư dược vu uyên. 鳶 飛 戾 天; 魚 躍 于 淵 (Trung Dung, ch.12, tr.52)

[21] Tương Phố, Giọt lệ thu.

[22] Kinh Thi, Quốc phong, Chu Nam, Quan Cưu.

«Đôi thư cưu nó kêu quang quác,

Bãi sông Hà man mác chắt chiu.

Bên người thục nữ yêu kiều,

Bên người quân tử rập rìu duyên tơ.»

[23] Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kỳ chí dã, sát hồ thiên địa. 君 子 之 道, 造 端 乎 夫 婦; 及 其 至 也, 察 乎 天 地 (Trung Dung, ch.12, tr.52)

[24] Âm = Đất, bóng tối, đêm, chết, kém. Dương = Trời, ánh sáng, ngày, sống, hơn. (In, Iang: duo elementa quibus constant res universae. Elementum Iang referre solet perfectiorem et In imperfectiorem ex duabus rebus quoe inter se aut conveniunt aut opponuntur, quales sunt sol et luna, coelum et terra rex et subditus, mas et femina, actio et quies, dies et nox, lux et tenebroe… (Couvreur, Dictionnarium sinicum et Latinum, p.1100)

[25] Chữ Dịch thành bởi chữ Nhật 日 và chữ Nguyệt 月 (nguyệt biến thể). Trong cái luôn luôn biến dịch của mặt trăng (Trăng thay đổi hình mỗi ngày) lại có cái «Hằng» tượng trưng bằng mặt Trời luôn luôn tròn. Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt (Hệ từ Kinh Dịch) (Tạp chí Đại Học, số 15 tháng 5/1960: Một ý niệm về Trung Dung, tr.63; chú thích)

[26] Phu phụ chi ngu, khả dĩ dự tri yên. 夫 婦 之 愚, 可 以 與 知 焉 (Trung Dung, ch.12, tr.50). Phu phụ chi bất tiếu khả dĩ năng hành yên. 夫 婦 之 不 肖, 可 以 能 行 焉 (Trung Dung, ch.12, tr.52)

[27] Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế. Thiên hạ nan sự tất tác ư dị, thiên hạ đại sự tất tác ư tế. 圖 難 于 其 易 為 大 于 其 細 天 下 難 事, 必 作 于 易; 天 下 大 事, 必 作 于 細 (Lão Tử Đạo Đức Kinh, ch.63)

[28] Sách ẩn, hành quái, hậu thế hữu thuật yên; ngô phất vi chi hĩ. 素 隱, 行 怪, 後 世 有 述 焉;吾 弗 為 之 矣 (Trung Dung, ch.11, tr.50)

[29] Cổ quân tử dĩ nhân trị nhân, cải nhi chỉ. 故 君 子 以 人 治 人 改 而 止 (Trung Dung, tr.54)

[30] Trung thứ vi đạo bất viễn. Thi chư kỷ nhi bất nguyện, diệc vật thi ư nhân. 忠 怒 違 道 不 遠. 施 諸 己 而 不 愿, 亦 勿 施 於 人 (Trung Dung, ch.13, tr. 54)

[31] Dung đức chi hạnh, Dung ngôn chi cẩn, hữu sở bất túc, Bất cảm bất miễn, hữu dư, bất cảm tận. Ngôn cố hạnh, hạnh cố ngôn, quân tử hồ bất tháo tháo nhĩ? 庸 德 之 行, 庸 言 之 謹; 有 所 不 足, 不 敢 不 勉; 有 余, 不 感 盡 言 顧 行, 行 顧 言 君 子 胡 不 慥 慥 爾 (Trung Dung, ch.13)

[32] Phàm hữu tứ đoan ư ngã giả, tri giai khuếch nhi sung chi hĩ, nhược hỏa chi thủy nhiên, tuyền chi thủy đạt, Cẩu năng sung chi, túc dĩ bảo tứ hải… 凡 有 四 端 於 我 者, 知 皆 擴 而 充 之 矣 若 火 之 始 然, 泉 之始 達 苟 能 充 之, 足 以 保 四 海 (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu [thượng-6], tr.106)

[33] Quân tử chi đạo, thí như hành viễn, tất tự nhĩ; thí như đăng cao, tất tự ti. 君 子 之 道, 辟 如 行 遠 必 自 邇, 辟 如 登 高 必 自 卑 (Trung Dung, ch.15, tr.56)

[34] Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. 是 故 君 子 戒 慎 乎 其 所 不 睹 恐 懼 乎 其 所 不 聞 (Trung Dung, ch.1)

[35] Thuấn kỳ đại hiếu dã dư ! Đức vi thánh nhân, tôn vi Thiên tử. Phú hữu tứ hải chi nội Tông miếu hưởng chi; tử tôn bảo chi. Cố đại đức tất đắc kỳ vị, tất đắc kỳ lộc, tất đắc kỳ danh, tất đắc kỳ thọ. Cố thiên chi sinh vật, Tất nhân kỳ tài nhi đốc yên, Cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi. 舜 其 大 孝 也 與 德 為 聖 人, 尊 為 天 子, 富 有 四 海 之 內 宗 廟 饗 之, 子 孫 保 之 故 大 德, 必 得 其 位, 必 得 其 祿, 必 得 其 名, 必 得 其 壽 故 天 之 生 物 必 因 其 材 而 篤 焉 故 栽 者 培 之, 傾 者 覆 之 (Trung Dung, ch.17, tr.60)

[36] Phù hiếu giả, thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả dã. Xuân thu tu kỳ tổ miếu, trần kỳ tông khí, thiết kỳ thường y, tiến kỳ thời thực. Tông miếu chi lễ, sở dĩ tự chiêu mục dã. Tự tước, sở dĩ biện quí tiện dã. Tự sự, sở dĩ biện hiền dã. Lữ thù hạ vị thượng, sở dĩ đạt tiện dã. Yến mao, sở dĩ tự xỉ dã. Tiễn kỳ vị, hành kỳ lễ, tấu kỳ nhạc, kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã. 夫 孝 者, 善 繼 人 之 志, 善 述 人 之 事 者 也 春 秋, 修 其 祖 廟, 陳 其 宗 器, 設 其 裳 衣, 荐 其 時 食 宗 廟 之 禮, 所 以 序 昭 穆 也 序 爵, 所 以 辨 貴 賤 也 序 事, 所 以 辨 賢 也 旅 酬 下 為 上, 所 以 達 賤 也 燕 毛 所 以 序 齒 也 踐 其 位, 行 其 禮, 奏 其 樂, 敬 其 所 尊, 愛 其 所 親, 事 死 如 事 生, 事 亡 如 事 存, 孝 之 至 也 (Trung Dung, ch.19, tr.62)

[37] Giao, xã chi lễ, sở dĩ sự Thượng đế dã. Tông miếu chi lễ, sở dĩ tự hồ kỳ tiên dã. Minh hồ Giao Xã chi lễ, Đế Thường chi nghĩa, trị quốc kỳ như thị chư chưởng hồ. 郊 社 之 禮, 所 以 事 上 帝 也 宗 廟 之 禮, 所 以 祀 乎 其 先 也 明 乎 郊 社 之 禮, 禘 嘗 之 義, 治 國 其 如 示 諸 掌 乎 (Trung Dung, ch.19, tr.64)

[38] Vô niệm nhĩ tổ, duật tu quyết đức, vĩnh ngôn phối mệnh, tự cầu đa phúc. Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng đế. Nghi giám vu Ân, tuấn mệnh bất dị… 無 廿 爾 祖, 聿 修 厥 德, 永 言 配 命 自 求 多 福 殷 之 未 喪師 克 配 上 帝 宜 鑒 于 殷, 駿 命 不 易 (Kinh Thi, đại nhã tam, Văn vương chi thập tam chi nhất)

[39] Lập thân, hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung dã. 立 身 行 道 揚 名 於 後 世 以 顯 父 母, 孝 之 終 也 (Hiếu Kinh, Khai tông minh nghĩa).

[40] Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên. 思 知 人, 不 可 以 不 知 天 (Trung Dung ch.20, tr.66)

[41] Thiên hạ chi đạt đạo ngũ; sở dĩ hành chi giả tam. Viết: quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đệ dã, bằng hữu chi giao dã; ngũ giả thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí nhân dõng tạm giả, thiên hạ chi đạt đức dã. Sở dĩ hành chi giả nhất dã. 天 下 之 達 道 五, 所 以 行 之 者 三, 曰: 君 臣 也, 父 子 也, 夫 婦 也, 昆 弟 也, 朋 友 之 交 也 五 者, 天 下 之 達 道 也 知, 仁, 勇 三 者, 天 下 之 達 德 也. 所 以 行 之 者 一 也 (Trung Dung, ch.20, tr.68)

[42] Ai công vấn chính. Tử viết: Văn, Võ chi chính, bố tại phương sách, kỳ nhân tồn, tắc kỳ chính cử. Kỳ nhân vong, tắc kỳ chính tức. Nhân đạo mẫn chính; địa đạo mẫn thụ. Phù, chính dã giả, bồ lư dã. Cố vi chính tại nhân; thủ nhân dĩ thân; tu thân; dĩ đạo; tu đạo dĩ nhân. Nhân giả nhân dã, thân thân vi đại. Nghĩa giả nghi dã; tôn hiền vi đại. Thân thân chi sát, tôn hiền chi đẳng, lễ sở sinh dã. 哀 公 問 政 子 曰 文 武 之 政, 布 在 方 策 其 人 存, 則 其 政 舉; 其 人 亡, 則 其 政 息 人 道 敏 政, 地 道 敏 樹 夫 政 也 者, 蒲 盧 也 故 為 政 在 人 取 人 以 身 修 身 以 道 修 道 以 仁 仁 者, 人 也, 親 親 為 大 義 者, 宜 也, 尊 賢 為 大 親 親 之 殺, 尊 賢 之 等, 禮 所 生 也 (Trung Dung, ch.20, tr.66)

[43] Hoặc sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc khốn nhi tri chi. Cập kỳ tri chi nhất dã. Hoặc an nhi hành chi; hoặc lợi nhi hành chi; hoặc miễn cưỡng nhi hành chi. Cập kỳ thành công nhất dã. 或 生 而 知 之; 或 學 而 知 之; 或 困 而 知 之;及 其 知 之, 一 也 或 安 而 行 之; 或 利 而 行 之; 或 勉 強 而 行 之; 及 其 成 功, 一 也 (Trung Dung, ch.20)

[44] Hiếu học cận hồ trí. Lực hành cận hồ nhân. Tri sỉ cận hồ dũng. 好 學 近 乎 知. 力 行 近 乎 仁. 知 恥 近 乎 勇 (Trung Dung, ch.20, tr.68)

[45] Phàm vi thiên hạ quốc gia hữu cửu kinh; sở dĩ hành chi giả nhất dã. 凡 為 天 下 國 家 有 九 經, 所 以 行 之 者 一 也.  (Trung Dung, ch.20, tr.72)

[46] Thành giả, Thiên chi đạo dã, Thành chi giả, nhân chi đạo dã. 誠 者, 天 之 道 也 誠 之 者, 人 之 道 也 (Trung Dung, ch.20, tr.74)

[47] Thành chi giả, trạch thiện nhi cố chấp chi giả dã. Bác học chi, tham vấn chi, minh biện chi, đốc hành chi. Hữu phất học, học chi phất năng, phất thố dã. Hữu phất vấn, vấn chi phất tri, phất thố dã. Hữu phất tư, tư chi phất đắc, phất thố dã. Hữu phất biện, biện chi bất minh, phất thố dã. Hữu phật hành, hành chi phất đốc, phất thố dã. Nhân nhất năng chi, kỷ bá chi; nhân thập năng chi kỷ thiên chi. Quả năng thử đạo hĩ, tuy ngu tất minh, tuy nhu tất cường. 誠 之 者, 擇 善 而 固 執 之 者 也 博 學 之, 審 問 之, 慎 思 之 明 辨 之, 篤 行 之 有 弗 學, 學 之 弗 能, 弗 措 也 有 弗 問, 問 之 弗 知, 弗 措 也 有 弗 思, 思 之 弗 得, 弗 措 也 有 弗 辨, 辨 之 弗 明, 弗 措 也 有 弗 行, 行 之 弗 篤, 弗 措 也 人 一 能 之, 己 百 之 人 十 能 之, 己 千 之 果 能 此 道 矣, 雖 愚 必 明, 雖 柔 必 強 (Trung Dung, ch.20, tr.74)

[48] Thiên địa chi đạo, khả nhất ngôn nhi tận dã; Kỳ nhi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc. Thiên địa chi đạo bác dã, hậu dã, cao dã, minh dã, du dã, cửu dã. Kim phù thiên, tư chiêu chiêu chi dã, cấp kỳ vô cùng dã; nhật nguyệt tinh thần hệ yên; vạn vật phúc yên. kim phù địa nhất toát thổ chi dã, cập kỳ, quảng hậu, tải hoa nhạc nhi bất trọng; chấn hà hải nhi bất tiết; vạn vật tải yên. Kim phù sơn, nhứt nguyện thạch chi đa, cập kỳ quảng đại, thảo mộc sinh chi, cầm thú cư chi; bảo tàng hưng yên. Kim phù thủy, nhứt thược chi đa, cập kỳ bất trắc, nguyên, đà, giao, long, ngư, biếc xanh yên; hóa tài thực yên. Thi vân: «Duy Thiên chi mệnh, ô mục bất dĩ!» Cái viết: Thiên chi sở dĩ vi Thiên dã. 天 地 之 道 可 一 言 而 盡 也. 其 為 物 不 貳, 則 其 生 物 不 測 天 地 之 道, 博 也, 厚 也, 高 也, 明 也 悠 也, 久 也 今 夫 天 斯 昭 昭 之 多, 及 其 無 窮 也, 日 月 星 辰 系 焉, 萬 物 覆 焉 今 夫 地 一 撮 土 之 多, 及 其 廣 厚 載 華 岳 而 不 重, 振 河 海 而 不 洩, 萬 物 載 焉 今 夫 山 一 卷 石 之 多, 及 其 廣 大, 草 木 生 之, 禽 獸 居 之, 寶 藏 興 焉 今 夫 水, 一 勺 之 多, 及 其 不 測, 黿, 鼉 蛟, 龍, 魚, 鱉, 生 焉, 貨 財 殖 焉 詩 云 維 天 之 命, 于 穆 不 已 蓋 曰 天 之 所 以 為 天 也 (Trung Dung, ch.26, tr.82)

[49] Cố chí Thành vô tức. Bất tức tắc cửu; cửu tắc trưng, trưng tắc du viễn; du viễn tắc bác hậu; bác hậu tắc cao minh. Bác hậu, sở dĩ tải vật dã; cao minh, sở dĩ phủ vật dã; du cửu, sở dĩ thành vật dã. Bác hậu phối địa; cao minh phối thiên; du cửu vô cương. Như thư dã, bất hiện nhi chương; bất động nhi biến; vô vi nhi thành. 故 至 誠 無 息 不 息 則 久, 久 則 征 征 則 悠 遠 悠 遠, 則 博 厚 博 厚, 則 高 明 博 厚, 所 以 載 物 也 高 明, 所 以 覆 物 也 悠 久, 所 以 成 物 也 博 厚, 配 地 高 明, 配 天 悠 久, 無 疆 如 此 者, 不 見 而 章, 不 動 而 變, 無 為 而 成 (Trung Dung, ch.26, tr.78,80)

[50] Duy thiên hạ chí thánh, vi năng thông, minh, duệ, trí túc dĩ hữu lâm dã; khoan, dữ, ôn, nhu, túc dĩ hữu dung dã; phát, cường, cương, nghị, túc dĩ hữu chấp dã, trại trang trung chinh, túc dĩ hữu kính dã; văn, lý, mật, sát túc dĩ hữu biệt dã. Phổ bác, uyên tuyền, nhi thời xuất chi. Phổ bác như thiên, uyên tuyền như uyên. 唯 天 下 至 聖, 為 能 聰, 明, 睿 知, 足 以 有臨 也 寬, 裕, 溫, 柔, 足以 有 容 也 發, 強, 剛, 毅, 足 以 有 執 也 齊, 庄, 中, 正, 足 以 有 敬也; 文理, 密, 察, 足 以 有 別 也 溥 博, 淵 泉 而 時 出 之 溥 博 如 天; 淵 泉 如 淵 (Trung Dung, ch.31)

[51] Duy thiên hạ chí thành, vi năng kinh luân thiên hạ chi đại kinh, lập thiên hạ chi đại bản, tri thiên địa chi hóa dục. 唯 天 下 至 誠, 為 能 經 綸 天 下 之 大 經, 立 天 下 之 大 本, 知 天 地 之 化 育 (Trung Dung, ch.32, tr.92)

[52] Chí thành chi đạo khả dĩ tiên tri. Quốc gia tương hưng, tất hữu trinh tường; quốc gia tương vong, tất hữu yêu nghiệt… 至 誠 之 道 可 以 前 知 國 家 將 興, 必 有 禎 祥; 國 家 將 亡, 必 有 妖 孽 (Trung Dung, ch.24, tr.78)

[53] Đại tai thánh nhân chi đạo. Dương dương hồ, phát dục vạn vật; tuấn, cực vu thiên. Ưu ưu đại tai! Lễ nghi tam ba, oai nghi tam thiên. Đãi kỳ nhân nhi hậu hành, Cố viết: Cẩu bất chí đức, chí đạo bất ngưng yên. 大 哉 聖 人 之 道 洋 洋 乎, 發 育 萬 物, 峻 極 于 天 優 優 大 哉, 禮 儀 三 百 威 儀 三 千 待 其 人 而 后 行 故 曰 苟 不 至 德, 至 道 不 凝 焉 (Trung Dung, ch.27, tr.82)

[54] Cố quân tử tôn đức tính, nhi đạo vấn học. Trí quảng đại, nhi tận tinh vi; cực cao minh, nhi đạo Trung Dung; ôn cố, nhi tri tân; đôn hậu dĩ sùng lễ. Thị cố cư thượng, bất kiêu; vi hạ, bất bội. Quốc hữu đạo, kỳ ngôn túc dĩ hưng, quốc vô đạo, kỳ mặc túc dĩ dung. 故 君 子 尊 德 性, 而 道 問 學, 致 廣 大, 而 盡 精 微, 極 高 明, 而 道 中 庸 溫 故, 而 知 新, 敦 厚 以 崇 禮 是 故 居 上 不 驕, 為 下 不 倍 國 有 道, 其 言 足 以 興; 國 無 道, 其 默 足 以 容 (Trung Dung, ch.27, tr.83,84)

[55] Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn, Vũ. 仲 尼 祖 述 堯 舜, 憲 章 文 武 (Trung Dung, ch.30, tr.88)

[56] Thi viết: «Ý cẩm thượng quýnh», ố kỳ văn chi trứ dã; cố quân tử chi đạo, ám nhiên nhi nhật chương, tiểu nhân chi đạo, chước nhiên nhi nhật vọng; quân tử chi đạo đạm nhi bất yếm, giản nhi văn, ôn nhi lý. Tri viễn chi cận, tri phong chi tự, tri vi chi hiển, khả dữ nhập đức hĩ. Thi vân: «Tiềm tuy phục hĩ, diệc khổng chi chiêu», cố quân tử nội tỉnh bất cứu, vô ố ư chí. Quân tử chi sở bất khả cập giả, kỳ duy nhân chi sở bất kiến hồ. Thi vân: «Tướng tại nhĩ thất thượng bất quý vu ốc lậu», cố quân tử bất động nhi kính, bất ngôn nhi tín. Thi viết: «Tấu cách vô ngôn thời mị hữu tranh thị cố quân tử bất thưởng nhi dân khuyến, bất nộ nhi dân uy ư phủ việt. Thi viết: «Bất hiển duy đức, bách tích kỳ hinh chi», thị cố quân tử đốc cung nhi thiên hạ bình. Thi vân: «Dư hoài minh đức, bất đại thanh dĩ sắc.» Tử viết: «Thanh sắc chi ư dĩ hóa dân mạt dã.» Thi viết: «Đức thù như mao», mao do hữu luân, thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú, chí hĩ. 詩 曰 衣 錦 尚 絅, 惡 其 文 之 著 也 故 君 子 之 道, 闇 然 而 日 章; 小 人 之 道, 的 然 而 日 亡 君 子 之 道, 淡 而 不 厭, 簡 而 文, 溫 而 理 知 遠 之 近, 知 風 之 自, 知 微 之 顯 可 與 入 德 矣 詩 云 潛 雖 伏 矣, 亦 孔 之 昭 故 君 子 內 省 不 疚, 無 惡 于 志 君 子 之 所 不 可 及 者, 其 唯 人 之 所 不 見 乎 詩 云 相 在 爾 室, 尚 不 愧 于 屋 漏 故 君 子 不 動 而 敬, 不 言 而 信 詩 曰 奏 假 無 言, 時 靡 有 爭 是 故 君 子 不 賞 而 民 勸, 不 怒 而 民 威 于 鈇 鉞 詩 曰 不 顯 惟 德, 百 辟 其 刑 之 是 故 君 子 篤 恭 而 天 下 平 詩 云 予 懷 明 德, 不 大 聲 以 色 子曰 聲 色 之 于 以 化 民, 末 也 詩 云 德 輶 如毛 毛 猶 有 倫 上 天 之載, 無 聲 無 臭, 至 矣 (Trung Dung, ch.33, tr.92-94)

[57] Tử Tư nhân tiền chương cực trí chi ngôn, phản cầu kỳ bản; Phục tự hạ học vị kỷ cẩn độc chi sự suy nhi ngôn chi, dĩ tuần trí hồ đốc cung nhi thiên hạ bình chi thịnh. Hựu tán kỳ diệu, chí ư vô thanh vô xú, nhi hậu dĩ yên. Cái cử nhứt thiên chi yếu, nhi ước ngôn chi. Kỳ phản phúc đinh ninh thị nhân chi ý, chi thâm thiết hĩ. Học giả kỳ bất tận tâm hồ. 子 思 因 前 章 極 致 之 言, 反 求 其 本; 復 自 下 學 為 己 謹 獨 之 事 推 而 言 之, 以 馴 致 乎 篤 恭 而 天 下 平 之 盛 又 贊 其 妙, 至 于 無 聲無臭, 而 後 已 焉 蓋 舉 一 篇 之 要, 而 約 言 之 其 反 復 丁 寧 示 人 之 意, 至 深 切 矣 學 者, 其 可 不 盡 心 乎 (Trung Dung, ch.33, tr.96)

**************************         

Chương 9

TRUNG DUNG và DỊCH LÝ
[1]

Đem đối chiếu Trung Dung và kinh Dịch ta mới thấy rõ dụng tâm dụng ý cổ nhân.

Dịch kinh đưa ra định luật biến thiên, định luật tuần hoàn: Thái cực phân thành âm dương, biến hóa muôn vàn, tiến thoái qua hai chiều âm dương rồi dần dà trở lại trung cung Thái cực.

Trung Dung đề cao tâm điểm bất biến của vòng Dịch, tượng trưng cho Trời, là căn bản huyền diệu của hoàn võ [2] và là cùng đích chí thành, chí thiện cho muôn loài muôn vật vươn lên.[3]

Dịch kinh chỉ vẽ phương pháp biến thiên, tiến thoái theo đúng định luật âm dương tiêu trưởng, theo đúng tiết tấu trăng sao, nhịp điệu bốn mùa; Trung Dung nêu lên căn bản hoàn thiện và mục đích tối hậu, định mệnh cao sang con người.

Trung Dung là một cuốn sách cao siêu trong Khổng giáo, tương tự như Bhagavad Gita trong Bà La Môn giáo.

Ông Tử Tư, tác giả cuốn sách, với mục đích chọn người xứng đáng để trao truyền tâm pháp, chỉ muốn đàm thoại với những tâm hồn cao thượng đã quen thuộc với văn chương triết lý, với những tâm hồn đã được trau chuốt bằng nghệ thuật, văn chương, với những tâm hồn đã biết hướng thượng, biết khao khát những điều cao siêu, đẹp đẽ.

Cho nên lời văn rất hàm súc, ẩn ước. Mới đầu chính xác, tinh mật, sau dần dần trở nên uy nghi, trang trọng, cuối cùng tan biến vào sự tĩnh lãng toàn thiện của Trời.

Ý tưởng thì cao siêu, ẩn áo. Vì thế sách thay đổi vẻ mặt tùy theo người đọc.

Có người thấy nó sáng suốt, có người thấy nó tối tăm; có người cho Trung Dung là cao siêu, có người cho Trung Dung là vớ vẩn.

Người tầm thường cho đó là một chủ trương trung lập lừng chừng, các bậc chính nhân quân tử thì lại coi đó là một quyển sách dạy vẽ con đường hoàn thiện.

Sách bắt đầu bằng chữ Mệnh Trời, kết thúc bằng chữ đức độ Trời không tiếng, không hơi, tuyệt vời hoàn hảo.

Như vậy sách cho ta khởi điểm và cùng điểm của con đường Trời, của vòng càn khôn gặp nhau trong sự hoàn thiện, sau khi biến chuyển qua bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu cung điệu, bao nhiêu sắc thái của bốn mùa đời, của lịch sử nhân loại, lúc thì vùng vẫy, đấu tranh, hoạt động, lúc thì khinh khoát, lập chí, tu thân, đúng theo lẽ «Âm Dương tiêu trưởng» của Trời đất.

Ta hãy đọc lại mấy câu đầu sách Trung Dung:

«Bản tính cũng chính là thiên mệnh,

Đạo là noi theo tính bản nhiên,

Giáo là cách giữ đạo nên,

Đạo là sau trước vẫn liền với ta.

Rời ta được đâu là đạo nữa,

Thế cho nên quân tử giữ gìn,

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi, cho nên hãi hùng

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ.

Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều.

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng.» [4]

 Những lời lẽ đó thật cao siêu và ngạt ngào hương đạo đức.

Trung Dung bắc nhịp cầu nối kết Trời người bằng mấy chữ: «Tính người là mệnh Trời.»

Bản tính con người vì là thiên lý, thiên mệnh nên thuần túy chí thiện, như một giòng suối trong veo, vừa tung lên khỏi nguồn Trời, để rồi sẽ tung hỏa ra muôn muôn, ngàn ngàn mạch nước trường sinh, muôn muôn, ngàn ngàn khuôn thiêng thánh thiện, để rồi sẽ rót vào đáy thẳm, lòng sâu con người những âm thanh thầm kín, dạy vẽ cho con người biết thế nào là văn chương, nghệ thuật, thế nào là diệu pháp trường sinh, bất tử.

**************************         

Tác giả Trung Dung muốn ta đi ngược dòng đời để trở về nguồn mạch chí thiện ấy, khuyên ta cố gắng học hành để tìm cho ra nguồn mạch chí thiện ấy.

Tử Tư còn chỉ vẽ cho chúng ta biết: «Đạo Trời giây phút chẳng rời khỏi ta.»

Thoạt mới nghe, ta tưởng là câu nói viển vông, vô lý. Nhưng suy cho cùng, thì đạo Trời làm sao rời khỏi ta được?

Hiểu theo nghĩa tuyệt đối, siêu thời gian, thì đạo là Thái cực bất biến, ẩn áo nơi trung điểm tâm hồn con người. Nếu đem diễn tiến theo đà thời gian, thì đạo là đường đời gồm hai thời kỳ âm dương, tối sáng, và tận cùng trong trung điểm vô tận, vô biên.

Hệ Từ viết: «Nhất âm nhất dương chi vị đạo, Kế chi giả thiện dã, thành chi giả tính dã.» 一 陰 一 陽 之 謂 道,繼 之 者 善 也.誠 之 者 性 也.

Đường Trời có chiều âm, chiều dương, bước vào đã hay; đi tới cùng, sẽ thực hiện được «tính bản nhiên» mình.

Nếu ta coi trung tâm điểm lòng ta là Thái cực, là ảnh tượng Trời, là tinh thần, là ánh sáng Trời, thì chiều âm đoạn đường đi vào trong bóng tối vật chất sẽ là một sự tiến dần ra ngoài biên khu xác thân, gia đình, xã hội.

Trong giai đoạn này ta cố tiến ra hoàn cảnh, phóng ngoại để mưu sinh, đem tâm thần phục vụ gia đình, giang sơn, xã hội. Giai đoạn này sẽ giúp ta làm nảy nở thân xác, trí não, tính tình. Đó là thời kỳ ta rong ruổi trên đường trần hoàn để tìm sinh thú vật chất.

Thời kỳ này tương ứng với tuổi ấu thời và tuổi thanh niên. Lúc ấy, bao tinh hoa đều phát tiết ra ngoài, y như cây cỏ hai mùa xuân, hạ đâm chồi, nẩy lộc, sinh lá, sinh hoa, muôn hồng, nghìn tía đua tươi, y như những bầy chim vô tư lự một sớm rời tổ ấm, tung đôi cánh vô định về những phương Trời xa lạ.

Nhưng rồi ra bóng tối nhường bước dần cho ánh sáng. Mùa thu của cuộc đời trở về với mái tóc hoa râm, và chúng ta cũng dần dà bước vào giai đoạn thứ hai của cuộc đời, vào chiều dương, vào đoạn đường tở về ánh sáng tinh thần bằng cách thay đổi dần quan điểm, sở thích, chí hướng.

Thời kỳ này, bắt đầu khi con người bốn, năm mươi, «khi bóng dâu đã xế ngang đầu».

Lúc ấy, là lúc cần phải thu thập tinh hoa, phục hồi nhân cách, y như cỏ cây, sau mùa khai hoa kết quả, khi thu, đông tới, sẽ thu hồi dần sinh khí vào trong để sửa soạn một cuộc phục sinh, y như những cánh chim xạc xào tìm về tổ ấm khi hoàng hôn xế bóng.

Thời kỳ này là thời kỳ hồi tâm phản tỉnh, trở về với chính mình để tìm cho ra mình, thời kỳ suy tư, tu tâm, luyện chí, phục hồi lại tâm hồn nhân cách mà tuổi trẻ đã làm cho phá tán, lạc lõng.

Nhờ có những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời, nhờ luân lý, nghệ thuật, học vấn, nhờ sự suy tư, tu luyện, tâm hồn dần dần trở nên hoàn thiện, phục hồi lại được quang huy Trời.

Trong thời kỳ này, con người dần dần sẽ tháo gỡ được những dây nhợ đã trói buộc mình vào hoàn cảnh, vào những công chuyện phù du, tạm bợ, để cố gắng thần thánh hóa bản thân.

Một cuộc đời như vậy sẽ là một sự biến chuyển không ngừng để tìm về chân, thiện, mỹ, một cuộc đời tìm tường sinh vĩnh cửu, qua những cảnh phù du hư ảo.

Thời kỳ đầu là thời kỳ nhân tâm phát triển, thời kỳ sau là thời kỳ đạo tâm hiển dương, như đêm có vừng nguyệt, ngày có vừng dương, kế tiếp nhau theo đúng thiên ý, thiên mệnh.

Đó là phác họa lại hai thời kỳ của vòng Dịch tiên thiên. Thời kỳ đầu băng qua 32 quẻ âm từ Cấu đến Khôn, thời kỳ sau băng qua 32 quẻ dương từ Phục đến Càn. Mà Càn là thuần dương, biểu hiện sự hoàn thiện.

HÌNH 18: Đồ biểu tâm tính tương giao và Âm Dương thuận nghịch.

Hoàn thiện được mình, thực hiện được tính bản nhiên thuần túy, chí thiện, là trở lại được trung tâm điểm của vũ trụ, tiến lên tới Thái cực, là kết hợp với Trời (phối Thiên) là hòa tấu khúc nhạc Trời muôn thuở (Hòa). Lúc ấy sẽ «thung dung trung đạo» cùng đất Trời trường sinh bất tử.

Đề tài này cũng đã được đề cập một cách khác trong sách Đại Học. Đại Học chủ trương muốn tìm ra căn bản, tìm ra tính cách con người, thì phải biết tĩnh trí, biết cố gắng suy tư, biết triền miên nghiên cứu mới mong thành công được. Khi đã tìm ra được tính cách con người, sẽ có thể «chính tâm, thành ý» để đi đến chỗ toàn thiện, toàn mỹ.

«Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy,

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng.

Có mục phiêu rồi lòng mới định,

Lòng định rồi nhẹ gánh lo toan.

Hết lo lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng xét suy

Xét suy rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời ngành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Tức là gần đạo, gần Trời còn chi

Muốn đức sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa lo cải hóa dân mình,

Trị dân, trước trị gia đình

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên

Muốn sửa mình, tâm nên sửa trước,

Sửa tâm hồn trước cốt ý ngay.

Ý ngay phải học cho dày,

Học cho thấu triệt, mới hay «khuôn Trời» [5]

Hay «khuôn Trời», thoắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi, ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay, ta sẽ hóa hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên;

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình an.

Từ vua cho tới dân gian,

Tu thân một mực, lấy làm căn cơ…» [6]

Các hiền nhân, quân tử trong đạo Nho đã cố gắng bước theo «thiên đạo» trang nghiêm này. Mới đầu các ngài cố gắng học hỏi, suy tư cho tận tường, thấu đáo để tìm ra nguyên uỷ con người, tiếp đến các ngài ra công trau dồi đức độ, lúc nào cũng kính cẩn như thể có Trời ẩn áo giáng lâm, lấy sự hoàn thiện, lấy sự phối Thiên làm cùng đích đời mình: Tiền tài không mua chuộc được khí phách, gian lao không làm nao núng được tâm hồn. Cao siêu thay! quý trọng thay!

Trung Dung đã dài dòng mô tả những ân sủng Trời dành để cho các bậc thánh hiền. Lời lẽ Trung Dung phảng phất như lời lẽ Cựu Ước.[7]

Sự tương đồng, tương tự ấy thực là lạ, vì thời xưa các tư tưởng rất khó truyền bá: phương nào, phương ấy sống riêng tư, bí ẩn, cách biệt nhau bằng bao nhiêu tầng hào lũy, núi non, sông biển và từ ngữ.

Đọc Trung Dung, khảo sát lại tư tưởng thánh hiền qua Tứ Thư, Ngũ Kinh, ta phải sửng sốt lạ lùng vì lòng tin tưởng, vì sự thánh thiện các ngài, y như có quang huy Trời chiếu diệu qua đời sống, qua sách vở các ngài. Luận điệu Trung Dung cũng y thức như luận điệu thánh hiền mọi nơi, mọi đời.

Còn gì đẹp đẽ hơn là một chủ trương lấy Trời làm căn nguyên và cùng đích cho đời người, coi đời người như một khúc nhạc tuyệt vời khởi thủy và tận cùng đều bằng một âm điệu chân thiện mỹ, sau khi đã hòa tấu với muôn âm thanh của nhân quần, vũ trụ. Còn gì đẹp đẽ hơn là thôi thúc con người hăng hái tiến bước trên con đường hoàn thiện để cuối cùng đi đến chỗ tuyệt đỉnh công phu, Trời người gặp gỡ.

Phối hợp Trung Dung và Dịch kinh ta xác định lại bước đường tiến hóa nhân loại như sau:

1. Trước tiên là giai đoạn «phóng thể» («phóng tâm» theo Mạnh Tử) tức là âm đạo, lấy ngoại cảnh vật chất làm mục phiêu chính.[8]

2. Tiếp theo là giai đoạn «hồi thể» (hồi tâm), lấy nội cảnh tinh thần làm mục phiêu chính.[9] Đó là dương đạo.

3. Cuối cùng là giai đoạn «bản thể», «toàn thể»[10] tức là trung đạo, thung dung, thanh thả, vô tận, vô biên.

Dịch và Trung Dung đều mong muốn chỉ vẽ cho con người lối dường hoàn thiện, và đều có cùng đích là sự «chí thành, chí thiện» của con người.

HÌNH 19: TRUNG HÒA ĐỒ

Đồ bản này biểu thị ba giai đoạn tiến hóa:

1 Âm đạo để cải thiện vật chất,

2 Dương đạo để cải thiện tinh thần,

3 Trung đạo = Sự hoàn thiện.

(Trong hình Thái Cực, nửa trắng là Trung Đạo, nửa đen là Hoàn Thiện.)

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Từ chương 9 đến hết chương 16 tác giả sẽ quảng diễn hai chữ Trung và chữ Dịch, quảng diễn hai lẽ biến hằng của Trời đất. Có độc giả sẽ hỏi tại sao khảo cứu Trung Dung tự nhiên lại bàn ngang sang Dịch. Xin thưa: nếu không nghiên cứu các biến thiên thì làm sao hiểu được lẽ hằng cửu, không biết hai chiều âm dương biến hóa của Dịch thì làm sao biết được Trung điểm, Trung cung. Có độc giả sẽ lại vấn nạn rằng những ý tứ sau của tác giả đâu có thấy phô diễn rõ ràng mạch lạc trong Trung Dung và Dịch? Thưa: Tuy cổ nhân không nói lên lời, nhưng các hình vẽ đã mô tả ra đủ. Vả nếu mọi sự đã nói rõ, nói sẵn cả, thì chắc chắn tác giả đã không viết bộ sách này. Có độc giả sẽ vấn nạn rằng sao tác giả không ở trong khuôn khổ Nho giáo mà bàn luận, lại phải viện dẫn hết sách này sách nọ, như vậy những ý tưởng ấy đâu phải của Nho giáo của Trung Dung, và Dịch kinh. Xin thưa, nếu nhìn cái bác tạp bên ngoài, thì Đông Tây có khác, nhưng càng đi sâu vào tầng trong của tâm hồn càng tiến tới tinh hoa nhân loại thì càng thấy không còn Đông Tây, kim cổ. Cho nên, độc giả chắc cũng công nhận rằng chung quy chỉ có một đề tài là con người, nên càng viện dẫn nhiều sách vở, lại càng giúp độc giả hiểu vi ý Trung Dung, hiểu rõ vi ý cuộc đời. Đó chính là hoài bão của tác giả, mong chư vị tao nhân mặc khách thông cảm cho.

[2] Trung dã giả thiên hạ chi đại bản dã. 中 也 者 天 下 之 大 本 也.

[3] Hòa dã giả thiên hạ chi đạt đạo dã. 和 也 者 天 下 之 達 道 也 (Trung Dung, ch.1)

[4] Trung Dung, ch.1.

[5] Trung tức chí lý hà thường bất kiêm chí nghĩa. Đại học văn ngôn giai ngôn tri chí. Sở vị chí giả tức thử lý dã. Ngữ độc Dịch giả viết năng tri Thái cực tức thị tri chí; ngữ độc hồng phạm giả viết năng tri Hoàng cực tức thị tri chí. Phù khởi bất khả. Cái đồng chỉ thử lý tắc viết cực, viết trung, viết chí kỳ thực nhất dã… 中 即 至 理 何 嘗 不 兼 至 義. 大 學 文 言 皆 言 知 至. 所 謂 至 者 即 此 理 也. 語 讀 易 者 曰 能 知 太 極 即 是 知 至; 語 讀 洪 範 者 曰 能 知 皇 極 即 是 知 至. 夫 豈 不 可. 蓋 同 此 理 則 曰 極, 曰 中, 曰 至 其 實 一 也 (Tống Nguyên học án, q.12, tr.6: Liêm Khê học án)

[6] Đại Học, ch.1.

[7] Xin đọc các mục danh ngôn đối chiếu trong quyển II.

[8] Alinéation.

[9] Récupération.

[10] l’Etre, réalisation de l’Etre, de Dieu.

**************************         

Chương 10

BẢN THỂ VÀ HIỆN TƯỢNG LUẬN THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ

Theo Trung Dung và Dịch lý, chúng ta có thể minh xác tương quan giữa Trời và vạn vật, giữa Bản thể (noumène, substance) và hiện tượng (phenomènes, accidents).

BẢN THỂ LUẬN

Bất thiên chi vị Trung,

Bất dịch chi vị Dung

(Trung Dung)

Khảo sát các đồ bản Dịch, ta thấy Trung cung, Trung điểm tượng trưng cho bản thể (être), còn hào quái bên ngoài tượng trưng cho hiện tượng (phenomène).

Đạo, hay Bản thể, hay Trung điểm, hay thái cực, thần bí ẩn vi, nan trắc, khó hình dung, khó mô tả, nên phải mượn các hào quái để gợi vẽ ra.

Ẩn Quân Quách đời Tống đã cho rằng hào quái chỉ là tượng trưng bên ngoài cho Đạo, cho bản thể, nên cần phải biết đi từ hào quái trở về Trung cung, để nhận ra Bản thể, Đạo thể vô hình tích.[1]

Bản thể vô hình tích, nên dùng lời lẽ nào mô tả, cũng thấy bất xứng, vì thế mỗi triết gia, mỗi hiền thánh lại bày thêm ra một từ ngữ: nào Vô, nào Hữu, nào Vô cực, Thái cực, Hoàng cực, nào Thiên, nào Đế, nào Thần, nào Đạo, nào Lý, nào Trung… Thậm chí còn gọi là hư vô, Tịch diệt, vì bản thể vượt trên hình thức sắc tướng… Chung quy vẫn một phương pháp, một lối đường là dùng từ ngữ để cố hình dung Bản thể…

Bản thể tuy lồng trong vạn vật để làm căn cốt, làm nguồn sinh, làm động cơ vận dụng vạn hữu, nhưng vạn hữu đâu phải là Trời, là Bản thể… Vạn hữu chẳng qua như hào quái bên ngoài ôm ấp Bản thể hay trung điểm ở bên trong.

Vì Bản thể phát huy ra toàn thể hiện tượng, toàn thể từ ngữ, nên không thể dùng hình ảnh này, hình ảnh kia để phác họa được Bản thể, không thể dùng chữ này, chữ kia, tên này tên nọ mà gán ghép cho Bản thể.

Bản thể không thể giới hạn vào từ ngữ, vào hình ảnh; Bản thể là vô hạn định, vì thế Bản thể vừa là toàn bộ vừa là chân không (Tout et Rien).[2]

Cho nên, nhiều triết gia đã dùng những danh từ tương phản nhau để mô tả bản thể, hay Đạo[3] hay Hóa công.

Mượn ý tứ của Hoài Nam Tử, ta có thể mô tả Hóa công hay Bản thể đại khái bằng những luận điệu tương phản như sau:

«Hóa công chở đất che Trời,

Mênh mông bốn hướng, chơi vơi tám tầng

Cao, cao vô tận vô ngần,

Thẳm sâu , sâu mấy muôn tầm, đo sao !

Trùm Trời, mà đất cũng bao,

Vô hình, vô tượng, dễ nào hình dung.

Nguồn tung, suối tỏa tưng bừng,

Ngỡ là sắp cạn, bỗng dưng đầy tràn.

Ào ào, cuồn cuộn, vang vang,

Ngỡ là vẫn đục, vẫn hoàn trong veo.

Trồng lên đất ngợp Trời teo,

Tung ra , bốn biển có chiều mung lung.

Ra tay linh diệu khôn cùng,

Quang âm khôn cản dặm chừng vân du,

Khi tung, Trời đất chưa vừa,

Khi thu, nhỏ xíu lọt thừa nắm tay,

Tuy co, mà dãn như mây,

Tuy mờ, mà sáng như ngày nắng chang.

Tơ non mà rất cương cường,

Mềm nhung mà dắn in tuồng thép gang.

Tràn bốn hướng, cưu mang nhật nguyệt,

Ngất Trời mây, soi hết trăng sao.

Mịn màng, thắm thiết biết bao,

Tế vi tiêm tất tả sao cho cùng,

Núi nhờ thế mà tung cao vút

Vực dựa uy, sâu ngút mịt mùng.

Ngài cho thú chạy trong rừng,

Cho chim tung cánh chín tầng mây xanh

Ngài tô ánh quang minh nhật nguyệt,

Ngài rong cương ruổi hết tinh huy.

Kỳ lân đùa rỡn cũng vì,

Phượng loan, bay bổng, quyền uy không ngoài

Đời thái cổ, có hai Hoàng đế,

Nhờ ơn Ngài chỉ vẽ trước sau,

Mới nên nhân đức nhiệm màu,

Thần thông hóa dục, dẫn đầu muôn phương.

Quyền uy Ngài khôn lường khôn tả,

Rung chuyển Trời, lắng cả đất đai,

Quay cho Trời đất vần xoay,

Xô cho nước chảy đêm ngày chẳng thôi.

Thủy chung để sánh đôi muôn vật,

Thổi gió giông, ủ ấp ngàn mây.

Việc gì cũng có dúng tay,

Ầm ầm sấm động, mưa bay tỏa quyền…»  [4]

Cổ nhân còn hình dung Bản thể bằng vòng Thái cực gồm 2 mặt âm dương, điên đảo tung hoành trong tĩnh lãng, ôm ấp nhau thành một khối hồn nhiên duy nhất.

Ngoài ra Bản thể còn được tượng trưng bằng con số 5  [5] vì 5 là con số phối hợp âm dương,

1 + 4 = 5

2 + 3 = 5

12 + 22 = 5 (1×1) + (2×2) = 5

32 + 42 = 52 (3×3) + (4×4) = (5×5)

Vì số 5 ở ngôi vị chính trung giữa 1 và 9. [6]

Không phải nguyên Trung Hoa mới tượng trưng Bản thể bằng số năm, mà các triết gia Hi La, Ấn Độ cũng đã từng làm như vậy. [7]

Về từ ngữ, thì cổ nhân dùng chữ Trung, chữ Nhất, chữ Dịch, chữ Đơn để chỉ Bản thể:

Trung vì ở chính trung tâm điểm phát sinh vạn vật, và là cùng đích vạn vật hướng về.

Chữ Nhất vì chỉ có một Bản thể duy nhất mà ứng dụng thì muôn vàn. (Thể duy nhất dụng vạn thù). Chữ Dịch vì bao quát cả âm dương, cả 2 lẽ biến hằng. [8] Chữ Đơn vì Đơn cũng chính là âm dương hợp nhất. [9]

Ta có thể dùng trung điểm và các vòng tròn đồng tâm để vẽ ra mối liên hệ giữa Bản thể và hiện tượng cũng như để gợi ra Bản thể vừa là cực điểm vừa là trung điểm của vạn vật, vừa thật cao và vừa thật sâu.

THÁI CỰC, (TRUNG)

1. TÍNH

2. KHÍ

3. TÂM

4. TRÍ

5. XÁC

6. Xã hội – Gia đình

7. Hoàn cảnh vật chất
 

1. ĐẠO

2. ĐỨC

3. NHÂN

4. NGHĨA

5. LỄ

6. CHÍNH TRỊ

7. BÁCH NGHỆ

7. BÁCH NGHỆ

6. CHÍNH TRỊ

5. LỄ NGHI

4. GIÁO LÝ

3. LUÂN LÝ

2. NGHỆ THUẬT

1. TÍNH
 
 

7. Hoàn cảnh vật chất

6. GIA ĐÌNH

5. XÁC

4. TRÍ

3. VỌNG TÂM

2. VÔ MINH

1. CHÂN TÂM

(căn bản, căn nguyên, hoàn thiện)
 

(Đạo,Thần, Hư vô, Niết bàn, Vô hà hữu chi hương)

Các đồ bản chứng minh:

1. Trung = Cực = Căn bản = Tính = Đạo

2. Các tầng lớp con người với những hiện tượng tương ứng.

Tóm lại, các hình bóng, các từ ngữ bên ngoài, chẳng qua là những phương tiện giúp cho thần trí trực giác, lĩnh hội Bản thể tối cao; một khi tâm thần đã trực giác được Bản thể, được tuyệt đối, thì hình ảnh và từ ngữ trở thành vô dụng. Thần khí một khi đã thấu triệt Bản thể, đã trở về được với Bản thể, là đã vượt qua lãnh vực từ ngữ và hình sắc chẳng còn cố chấp nữa. [10]

Chữ nghĩa, hình dung là cốt dùng cho đại chúng. Còn những người đã được diễm phúc vượt khỏi lĩnh vực tương quan, đối đãi, những người đã hòa mình được với Tuyệt đối, sẽ lãng quên những bóng hình những từ ngữ, để cho thần trí thảnh thơi sảng khoái mặc tình phiếm du trong ánh vinh quang chân thiện mỹ …  [11]

**************************         

HIỆN TƯỢNG LUẬN

Dịch giả biến dịch dã. (Thập tam kinh, Chu Dịch, tr.1)

Dịch dã tượng dã. (Hệ Từ hạ)

Dịch dã dụng da. (Tống Nguyên học án, q.82, tr. 3)

Trung Dung và Kinh Dịch muốn vẽ lại trong muôn một hình bóng hình của tuyệt đối. Cũng như Thái cực ở trung cung, tung tỏa, phát sinh các hào quái biến thiên thành vòng Dịch bên ngoài. Bản thể Thái cực trong vũ trụ cũng phát sinh muôn vàn hiện tượng thiên văn địa lý, nhân sự.[12]

«Anh hoa chính khí đất Trời,

Khoác hình vật chất khắp nơi vẫy vùng.

Tràn mặt đất tưôn sông kết núi,

Vút Trời mây chói lói trăng sao.

Trần ai lẫn bóng anh hào,

Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh.»  [13]

Hiện tượng, tuy do một bản thể phát sinh, nhưng thực ra có muôn hình sắc, di động biến thiên, ảo hóa khôn luờng có một cuộc đời dài vắn tùy nghi, theo công dụng. [14]

Hiện tượng như những làn sóng rào rạt, tràn lan khắp vũ trụ. Bất cứ cái gì biến thiên cũng đều là hiện tượng. Cho nên từ ý tưởng, tình tứ, từ ngữ, vận động, hình sắc cho tới những biến thiên trong xã hội nhân quần, những vinh, khô, đại, tạ trong thảo mộc, những đấu tranh, sinh tồn giữa cầm thú, những tổ chức xã hội hay đạo giáo đều là hiện tượng cả.

Hiện tượng như làn sóng quang âm, hay như ngọn ba đào, có sinh có trưởng, có thăng, có trầm, không vĩnh cửu.

Hiểu số phận phù du của hiện tượng là hiểu được số phận vũ trụ, và các trạng thái xã hội khác.

Dầu một chủ nghĩa lan tràn và được suy tôn đến đâu, dầu một quốc gia hùng cường đến mức nào, rồi ra cũng theo số phận chung của hiện tượng là suy vong tàn tạ. Nhưng vị mọi sự biến thiên có nhanh có chậm, có chóng có lâu, nên bèo này mới chê bọt nọ là phù du chất chưởng, nào hay nghìn vạn năm cũng ví như một chớp mắt trên tấm phông vĩnh cửu.

Nhưng dưới những cảnh phù du biến ảo còn có Bản thể bất biến, còn có tinh thần bất biến.

«Từ biến chuyển nhìn ra Trời đất,

Thì đất Trời chớp mắt đã qua.

Từ trong vĩnh cửu nhìn ra,

Muôn loài muôn vật như ta vô cùng.»  [15]

Thấu lẽ huyền vi của đất Trời, các hiền thánh cố công dạy đời tìm ra Bản thể bất diệt, [16] tinh thần bất diệt lồng trong mọi biến thiên, dạy người lấy tâm địa vun trồng cây «Tính mệnh», đem phù du biến ảo tài bồi «Thiên địa chi tâm».

Nhưng người đời thường thiển cận, thay vì ôm ấp tinh thần bất diệt ấy, lại chạy theo xu phụng các hiện tượng bên ngoài, thù hằn chém giết nhau vì tư tưởng này, tư tưởng nọ, hình thức này hay hình thức kia, như thế khác nào thả mồi bắt bóng; khi bừng tỉnh lại, mới thấy mình tay trắng, trắng tay. [17]

Than ôi! Biết bao người đem tâm thần xu phụng hình hài và ngoại cảnh, để cho các hiện tượng bên ngoài mặc tình đẩy đưa, sai khiến.

Đời sống của họ dồn cả ra bên ngoài, đổi tâm thần lấy công danh, ngựa xe, áo sống. Thực đáng thương thay. [18]

Hiền thánh xưa, trái lại, phân biệt rõ phương diện phù du, và vĩnh cửu của cuộc đời, nên khi «công thành thì thân thoái»:

«Muốn được ấn phong hầu quí báu,

Cho bõ công bôn tẩu nhân gian.

Như khi công đã thành toàn,

Ta nên tìm chốn an nhàn tránh xa.

Nghêu ngao vui thú yên hà,

Áo bào cổi lại đó là trí trai.»  [19]

Nhưng rũ bỏ phù hoa, không phải là để nghêu ngao vui thú yên hà, mà chính là để tìm cầu chân lý, đạo lý, trở thành chân nhân, biết đường «quy nguyên phản bản».

«Chân chân sự đã rành rành,

Người trần chẳng biết thần linh xét cùng.

Dốc niềm phản bản, qui tông.

Nguyên tinh giữ chắc tấm lòng hẳn hoi.»  [20]

 Khi đắc đạo, con người sẽ sống một cuộc đời thảnh thơi, thảng đảng, linh diệu, huyền thông.

«Chàng kia có đạo thần linh,

Đi đâu cũng giắt trong mình đem đi.

Gặp người, thuyết pháp ra uy,

Để yên xem cũng nhiều bề hiển linh.»  [21]

Các hiện tượng như vậy có lớp lang tiết tấu và có ảnh hưởng lẫn nhau. Những hiện tượng tâm linh có thể biến dần thành những hiện tượng sinh lý, xã hội, vậy chất, hay ngược lại, những hiện tượng vậy chất có thể sinh ra những hiện tượng xã hội sinh lý, tâm lý hay siêu nhiên. Nhìn rộng ra, thì những hiện tượng ấy, thường xuyên diễn tiến trong hoàn võ và trong con người, kế tiếp nhau thành một vòng tuần hoàn vô tận của Trời đất.

Phân tách vũ trụ, phân tách con người thành nhiều tầng lớp, thành nhiều loại hiện tượng với những công dụng và những giá trị khác nhau, ta có thể mở rộng quan niệm ta về con người.

Thiết tưởng không thể quan niệm một cách hẹp hòi rằng con người chỉ nguyện có hồn, có xác, mà phải quan niệm con người có đủ Trời đất người trong mình. Phía trong thì liên kết với Thượng đế với thần linh, phía ngoài thì ràng buộc, chi phối bởi xác thân, gia đình, quốc gia, xã hội, hoàn cảnh, không gian và thời gian. Mọi biến cố bên trong hay bên ngoài con người đều có ảnh hưởng đến con người. Như vậy con người là Tất cả.

Dựa vào Nho giáo và các học thuyết Đông Tây ta có thể vẽ lại con người với các tầng lớp như sau:
 

Tính (Logos)

Khí (Esprit)

Tâm (Psyché)

Trí (Mental)

Xác (Corps)

Gia đình, xã hội (Famille, Société)

Hoàn cảnh vật chất (Milieu physique)

(NGƯỜI = tổng hợp những yếu tố trên)

Mỗi tầng lớp con người, mỗi một loại hiện tượng đều có thể thu hút cả đời sống con người; và tùy theo hoạt động ở bình diện nào, con người sẽ có một bộ mặt khác, một vai trò khác, một lề lối sống khác, một tầm mắt khác.

Cho nên ta đừng tưởng con người đều sống chung trong một thế giới, mà thực ra phải quan niệm họ sống trong nhiều thế giới khác nhau, có những tâm tư khác khác nhau, sở thích khác nhau, hoạt động khác nhau, tùy như họ đang sống trên bình diện nào, đang trút cả tâm thần ý chí vào loại hiện tượng nào.

Cũng vì thế, mà mỗi đạo giáo đều có nhiều phương diện để thích ứng với mọi hạng người.

Đối với phàm phu tục tử, thì bày ra lễ nghi, chuông trống đàn sáo, hương hoa bên ngoài; cho hạng sĩ tử, thì trưng ra một số lý thuyết, một số giáo lý, xếp đặt sao cho thành một hệ thống mạch lạc; cho hạng người muốn tu tâm, thì đưa ra một nền luân lý hay những nếp sống khổ hạnh tu trì. Nhiệm vụ của các giáo hội đến đây là chấm dứt…

Tiến sâu hơn nữa, tiến cao hơn nữa là thuộc phạm vi mỗi cá nhân. Con người còn có thể biến đời sống mình thành bài thơ, thành khúc nhạc, thành một nghệ phẩm (Esthétique, grâce). Đi tới bình diện này, con người đã tách dần khỏi đại chúng.

Nhưng con người còn có thể tiến hơn được nữa, tiến được đến tuyệt đỉnh, tuyệt đích, tiến tới hoàn thiện, tiến tới chỗ kết hợp với Trời, [22] tìm ra thanh bình trong hỗn loạn, tìm được vĩnh cửu giữa mọi biến thiên, tìm được sự hiệp hòa trong chia rẽ. Người xưa gọi thế là chân nhân, chí nhân, vì đã đạt được mục đích của đời sống, đạt được lý tưởng của con người.

Ta có thể mượn tạm lời Trang Tử trong chương Ưng Đế Vương của Nam Hoa Kinh mà mô tả những bậc chân nhân, chí nhân ấy như sau:

«Chân nhân rũ bỏ phù hoa, [23]

Vui trong Đạo cả cao xa tuyệt vời. [24]

Sống trong vị thủy chơi vơi, [25]

Cưỡi chim khinh khoát, bay ngoài lục hư. [26]

Làng Vô hà hữu ngao du,

Sống trong «vô hữu» lặng tờ tịch liêu, [27]

Vô vi như thể Trời cao,

Vô vi trác tuyệt nói sao cho cùng.

Bao trùm vô tận thinh không,

Mịt mù tông tích ai lùng cho ra. [28]

Tâm hồn gương sáng, sáng lòa,

Chiếu soi muôn vật đâu là riêng tây. [29]

Các ngài như Quảng Thành Tử tuy còn ở trần gian, mà vẫn sống trên thượng giới:

«Kìa xem vạn vật vân vi,

Rồi ra tro bụi trở về bụi tro.

Thôi ở lại, ta vô cùng cực,

Cửa vô cùng ta sắp vô chơi.

Cánh đồng vô tận chơi vơi,

Ta cùng nhật nguyệt sáng ngời hào quang.

Cùng Trời đất miên man sống mãi,

Mặc cho đời phải trái cạnh tranh.

Mặc người tử tử, sinh sinh,

Ta nay muôn kiếp siêu linh, trường tồn.»  [30]

Nhưng những hạng người sau đây, thường bị xã hội đương thời, những giáo hội đương thời phản đối hay hãm hại[31] một là vì tư tưởng các ngài quá siêu việt phóng khoáng, thoát ra mọi khuôn khổ chật hẹp thường dùng để giam giữ phàm nhân, hai là vì các ngài dùng những từ ngữ siêu phàm, xưng mình là Thiên tử, Thiên sứ. Ba là vì các ngài đưa ra đường lối ngược với thế nhân, dạy người tìm nước Trời, tìm Trời trong thâm tâm, như vậy là mặc nhiên phủ nhận giá trị những tổ chức hiện hữu bên ngoài, bốn là vì các ngài chủ trương con người có thể phối hợp hòa đồng với Thượng đế, đó là một điều chúng nhân cho là ngạo mạn, phạm thượng… hay ít ra cũng là điên cuồng , vu khoát…

**************************         

Nhưng thực ra, các ngài không phủ nhận giá trị các tổ chức hiện hữu, mà chỉ muốn đem hoàn thiện tới cho nhân loại. Các ngài xây dựng cho thêm hoàn tất chứ không phá bỏ.

Mục đích các ngài là mở đường dẫn lối cho hiền nhân quân tử muôn thế hệ biết rõ các nấc thang giá trị, biết rõ đầu đuôi gốc ngọn của cuộc đời, để đỡ phải lần mò vất vả.

Nói cách khác, các vị sáng lập đạo, đều đã sống trong sự hòa đồng cùng CHỖ  RỐT  RÁO, cố chỉ vẽ cho nhân loại diễm phúc tuyệt đối đó; nhưng, vì điều đó huyền vi ẩn áo, nên ít người thấu hiểu được. Vì thế, ta thấy liên tiếp nhau trong thời gian những nếp sống mới xuất hiện.

Hoặc là nghệ thuật (Esthétique, grâce).

Hoặc là tu trì nhặt nhiệm, luân lý, kỷ luật (Ascétisme, morale et réglements).

Hoặc là tôn sùng lý thuyết giáo lý (dogmatisme).

Hoặc là tôn sùng hình thức lễ nghi bên ngoài (formalisme).

Càng tiến ra là càng xuống thấp, mà càng xuống thấp thì càng dễ phổ cập vào đại chúng. Nhưng khi đã phổ cập tới đại chúng thì tinh hoa đạo lý đã mất, mà chỉ còn phảng phất lại chút dư hương, chỉ còn le lói một chút sáng thừa của vừng dương đã bị mây mờ che lấp hết. Càng lạc lõng vào hiện tượng càng lạc mất Bản thể, càng say mê cái phù hoa giả dối, càng xa lìa thuần phác chân chính mà khi con người đã bị hoàn cảnh thôi miên, đã bị trào lưu lôi cuốn , thì sao còn sáng suốt mà nhận định, sao còn tự chủ mà tìm được đúng hướng đi?

Lão Tử viết:

«Hễ đạo [32] mất, nặng tình với đức, [33]

Đức không còn lục tục theo nhân. [34]

Hết nhân có nghĩa [35] theo chân,

Nghĩa không còn nữa thấy thuần lễ nghi. [36]

Nên Nghi lễ là chi khinh bạc,

Cũng là mầm loạn lạc chia ly.

Bề ngoài rực rỡ uy nghi,

Bề trong tăm tối, ngu si, ngỡ ngàng.

Nên quân tử chỉ ham đầy đặn,

Chứ không ưa hào nháng phong phanh.

Chỉ cần thực chất cho tinh,

Không cần bóng bẩy lung linh bên ngoài.

Bắc cân khinh trọng cho tài,

Biết đường ôm ấp, biết bài dễ duôi.»  [37]

Đứng trên bình diện các hiện tượng và bình tâm mà xét, thì đạo giáo nào cũng có bấy nhiên tầng cấp, bấy nhiên phương diện, bấy nhiêu giai đoạn lịch sử. Từ hình thức lễ nghi, giáo lý [38] mà xét thì đạo nào cũng Hán Sở chia phôi, Đông Tây cách trở; từ tinh hoa thuần túy mà trông, thì thấy bốn bể đều vang lên một Nhã ca đồng nhất.

Cho nên, cái hay của con người không phải là ở chỗ theo đạo này hay đạo kia, [39] mà chính là ở chỗ biết biện phân cái chính cái tùy của mỗi đạo, để biết đường tiến lên, tiến mãi tới CỨU  CÁNH , cố gắng cho tâm thần mình ngày thêm rực rỡ đượm muôn ánh hào quang, sống phiêu diêu, khinh khoát giữa trần cấu cuộc đời, mở rộng tâm hồn để chứa đựng muôn phương, thâu tóm hết tinh hoa Trời đất, không gian và thời gian vào tấc dạ.

Dịch chủ trương: «Địa đạo» là đạo là vợ, là đạo bầy tôi.[40]

Nói cách khác, hoàn cảnh vật chất bên ngoài chỉ cốt là để hỗ trợ phụ bật, duy trì tinh thần bên trong, chứ không thể làm chủ chốt được.

Cho nên, người xưa cho rằng đem tâm thần vĩnh viễn làm tôi tớ vật chất hình hài[41] là một lầm lỗi lớn. Đã đành, lúc còn trẻ, con người vì miếng cơm manh áo, giang sơn, xã hội, vì còn mê muội,[42] nên đem tâm thần phục vụ hoàn cảnh là điều bắt buộc; nhưng khi đã luống tuổi, mà vẫn còn lận đận bon chen mãi, thì thực là uổng phí cuộc đời.[43]

Trang Tử nói «đừng lấy người giết Trời» cũng không ngoài ý ấy. [44]

Suy ra, con người lý tưởng phải biết sử dụng, biết làm chủ các hiện tượng bên ngoài, chứ không chịu làm nô lệ ngoại cảnh, chịu các hiện tượng bên ngoài sai khiến.

«Quân tử bất khí.» 君 子 不 器 [45]

Người quân tử lẽ nào là một khí cụ suông như cái xe, cái súng hay sao?

Nói tóm lại Dịch bàn đến hiện tượng, đến biến thiên, đến ứng dụng, Trung Dung bàn đến Tính mệnh, đến Bản thể. Con người mà không biến dịch, tiến hóa, thì là gỗ đá chứ chẳng phải người; con người tiến hóa mà chẳng có mục phiêu, sinh ra đời mà chẳng biết đầu đuôi gốc ngọn thì là mê, đâu phải tỉnh.

Dịch dọn đường cho Trung, thiên biến là đường đưa đến vĩnh cửu, hiện tượng là công cụ để tìm ra Bản thể. Có như vậy mới là biết lẽ u hiển, biết lẽ quân thần.[46]

Thế mới hay:

«Cái tạm bợ bao ngoài vĩnh cửu,

Áo thô sơ che dịu gấm hoa.

Rồi ra vàng ngọc chói lòa,

Trời người định vị, trung hòa vô biên.»

—————–

CHÚ THÍCH

[1] Quái dã, hoạch dã, tượng dã. Cái tự Đạo nhi nhất biến vi hoạch, nhân nhi thành tượng, hoạch tượng cụ nhi thành quái, sử vạn thế chi hạ, phục do quái dĩ tri tượng, do tượng dĩ tri hoạch, do hoạch dĩ minh đạo. Thử thánh nhân chi ý dã. 卦 也 畫 也 象 也. 蓋 自 道 而 一 變 為 畫, 因 而 成 象, 畫 象 具 而 成 卦 使 萬 世 之 下 復 由 卦 以 知 象 由 象 以 知 畫 由 畫 以 明 道. 此 聖 人 之 意 也 (Tống Nguyên học án, q.28, tr.5: Ẩn Quân Quách, Bạch Vân tiên sinh Ung)

[2] cf: Upanishads; Brih. 2.5.I9. Maitri 6.I7; Brih. 3.8,8; Katha 3.I5; Mund. I.I.6; katha 2.I3 I4; 6.8; Svet. 6.9; Svet. 6,II; Birh. 3.9.26; 4.2.4 Svet. 4.I9 20. Birh. 2.3.6.

[3] Đạo chi nhất tự, tức vũ trụ chi bản thể dã. 道 之 一 字 即 宇 宙 之 本 體 也 (Tử Đồng Tạ, Trung Hoa Triết học sử, q.II, tr.6)

[4] Phỏng dịch bài: «Nguyên đạo huấn» của Hoài Nam Tử (Vũ Tiên Lý, Chư tử văn túy, q.52, tr.1) (Đọc nguyên văn ở Phụ lục V cuối sách)

[5] Ngũ dã giả, Thái cực dã. 五 也 者 太 極 也 (Địa lý chính tông, tr.2)

[6] Án tam nhị chi hợp ngũ dã, nhất tứ chi hợp diệc ngũ dã, nhất nhất nhị nhị chi tích hựu ngũ dã, tam tam tứ tứ chi tích hựu ngũ chi tích dã, thử ngũ sở dĩ vi số chi hội nhị vị chi trung dư. 案 三 二 之 合 五 也, 一 四 之 合 亦 五 也, 一 一 二 二 之 積 又 五 也, 三 三 四 之 積 又 五 之 積 也, 此 五 所 為 數 之 會 而 位 之 中 與 (Dịch Kinh đại toàn, Chu tử đồ thuyết, tr.21)

…Oum = 5: Or Oum est une préclamation de toutce qui devient, un prototype du premier développement cosmogénésique un souffle de la vie originelle Le contenant de la vie à venir L’enveloppe de la scienci Le corps mystique de Brahm L’âme de tout avec et dans Bahm. (Jean Malfatti de Montereggio, La Mathèse, p.30 et ss)

[7] Plutaque: «Le nombre cinq embrasse d’abord tout, l’espèce de tout nombre, le nombre deux, premier nombre pair et le nombre trois, premier nombre impair, d’où on lui donne le nom de mariage, comme s’il résultait de l’union d’un homme et d’une femnme.

Anonymus: «On le dit cordial selon la ressemblance du cœur qui est placé au milieu chez tous les amimaux. Il est appelé aussi providence, justice parce qu’il rent égal ce qui était inégal. Le premier ton dans la musique est la quinte.

Macrobe: «Ce nombre désigne donc en même temps tout ce qui est supérieur et inférieur; en effet, il signifie ou bien le Dieu suprême ou l’esprit, né de Dieu dans lequel toutes les espèces sont contenues, ou l’âme du monde qui est la source de toutes les âmes, les choses célestes qui viennent jusqu’à nous, ou la nature terrestre; ainsi le nombre cinq est celui qui convient à tout. (La Mathèse, p.34)

[8] Bồ điền Trịnh thị viết: Dịch tòng nhật, tòng nguyệt, thiên hạ chi lý nhất cơ nhất ngẫu tận hĩ; thiên văn, địa lý, nhân sự, vật loại dĩ chí tính mệnh chi trưng biến hóa chi diệu, bĩ thái, tổn ích, cương nhu, đắc thất, xuất xử, ngữ mặc giai hữu đối địch, cố thiết nhất trường hoạch. Nhị đoản hoạch dĩ tổng quát chi, sở vị nhất âm nhất dương chi vị đạo giả thử dã. 莆 田 鄭 氏 曰 易 從 日 從 月, 天 下 之 理 一 奇 一 偶 盡 矣 天 文 地 理 人 事 物 類 以 至 性 命 之 徵 變 化 之 妙, 否 泰, 損 益, 剛 柔, 得 失, 出 處, 語 默 皆 有 對 敵, 故 易 設 一 長 畫. 二 短 畫 以 總 括 之, 所 謂 一 陰 一 陽 之 謂 道 者 此 也 (Dịch Kinh đại toàn; Chu dịch thượng kinh)

[9] Đơn tự nhật đầu nguyệt cước, trung gian nhất hoạch, hệ nhật nguyệt hợp nhất chi vị dã, kỳ nội nhất điểm, vi tinh khí hồn hợp, dĩ tượng nhất lạp kim đơn dã. 丹 字 日 頭 月 腳, 中 間 一 劃 係 日 月 合 一 之 謂 也, 其 內 一 點, 為 精 氣 渾 合, 以 像 一 粒 金 丹 也 (Tu chân bất tử phương 修 真 不 死 方, tr.26)

[10] Duy tâm duyên tướng, ly văn tự tướng, ly ngôn thuyết tướng. 惟 心 緣 相 離 文 字 相 離 言 說 相 (kinh Phật). Ngọc thư viết: nhất, tam, ngũ, thất, cửu. Đạo chi phân nhi hữu số. Kim mộc thủy hỏa thổ. Đạo chi biến nhi hữu tượng. Đông Tây nam bắc trung, Đạo chi liệt nhi hữu vị. Thanh bạch xích hoàng hắc, Đạo chi tán nhi hữu chất. Số quy ư vô số; tượng phản ư vô tượng; vị chí ư vô vị; chất hoàn ư vô chất… Vô số đạo chi nguyên dã, vô tượng Đạo chi thể dã; vô vị Đạo chi chân dã; vô chất Đạo chi diệu dã. 玉 書 曰: 一 三 五 七 九. 道 之 分 而 有 數. 金 木 水 火 土. 道 之 變 而 有 象. 東 西 南 北 中 道 之 列 而 有 位. 青 白 赤 黃 黑, 道 之 散 而 有 質. 數 歸 於 無 數;象 反 於 無 象; 位 至 於 無 位; 質 還 於 無 質… 無 數 道 之 源 也, 無 象 道 之 體 也; 無 位 道 之 真 也; 無 質 道 之 妙 也 (Linh bảo tất pháp, hạ quyển, tr.12). cf. Car aussi rapides que l’éclair, ils ont dépassé le royaume des noms et des qualifications, et ils habitent à l’ombre de l’Essence divine! comme dit le Hadith: «La véritable formule du monothéisme est de n’attribuer à Dieu aucune qualification.» — Les sept vallées Balla u’ lláh (tr.19)

[11]… Cf.: Baha’ u’lláh. Les Sept Vallées, p.32: La condition de ceux qui savent ne se dit que par le cœur. On ne peut la confier à nul homme ni la décrire dans aucune lettre. Je préfère me taire à cause de ma faiblesse.

Car mon discours insuffisant ne ferait qu’amoindrir la vérité…

… La Science était un point: les ignorants l’ont multiplié…

(Ibid. p.27)

… Si tu es un homme pieux et humble, envole-toi sur les ailes vigoureuses des saints, pour voir les mystères de l’ami et parvenir à la Lumière du Bien-Aimé. «Nous venons de Dieu et nous retournons à Lui.» (Ibidem, p.20)

… Et appelez-Le comme vous voudrez, car pour ceux qui savent, Il est le possesseur de tous les Noms.» (Ibidem, p.6)

cf. Maître Eckart. Cité par Illan de Casa Fuerte, La religion essentielle, p.143.

Saint Augustina dit que l’âme se transmute dans celle qu’elle aime; si elle aime les choses de de la terre, elle devient terrestre, si elle aime Dieu… eh bien, me demanderez-vous, devient-elle Dieu. Si je le disais, cela semblerait impossible à ceux dont le sens de ces choses est trop faible, et ils ne pourraient me comprendre. Je me tais, et préfère vous renvoyer aux Écritures; vous y lirez: «Vous êtes des Dieux.» (cf., Jean 10, 34 et Psaume 82, 6)

[12] Tư lý dã, ngưỡng tắc trứ vu thiên văn, phủ tắc hình ư địa lý, trung tắc ẩn ư nhân tâm, nhi nhân chi mê nhật cửu bất năng dĩ tự đắc dã, minh hành vu lợi hại chi vức, nhi mạc tri sở thượng. 斯 理 也, 仰 則 著 于 天 文, 俯 則 形 於 地 理 中 則 隱 於 人 心, 而 人 之 迷 日久 不 能 以 自 得 也, 冥 行 于 利 害 之 域 而 莫 知 所 尚 (Tống Nguyên học án, q.26, tr.1)

[13] Thiên địa hữu chính khí                   
天 地 有 正 氣

Tạp nhiên phú lưu hình                   
雜 然 賦 流 形

Hạ tắc vi hà nhạc                             
下 則 為 河 嶽

Thượng tắc vi nhật tinh                   
上 則 為 日 星

Ư nhân viết Hạo nhiên                   
於 人 曰 浩 然

Phái hồ tắc thương minh                 
沛 乎 塞 蒼 冥

(Chính khí ca 正 氣 歌 )

[14] cf. lllan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p.64: Dans l’Unité, tout nombre préexiste uniformément, en sorte que l’Unité contient en elle chacun des nombres particuliers et en même temps, tout te nombre se trouve rassemblé dans l’un; il est dans l’unité. Plus le nombre s’éloigne de l’Unité dont il provient plus il se divise, plus il devient multiple.

De même, tous les rayons du cercle, rassemblés par une même union, existent simultanément dans le Centre – Le point contient tous ces rayons uniformément réunis les uns avec les autres; tous ces rayons se trouvent conjoints dans le Centre, et joints au principe unique dont ils sont issus – Tant qu’ils s’éloignent peu du Centre, ils sont faiblement séparés les uns des autres; ils divergent davantage au fur et à mesure qu’augmente la dissance au Centre. (Denys, le pseudo – Aréopagite)

[15] Tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn, Tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận dã. 自 變 者 而 觀 之, 則 天 地 曾 不 能 以 一 瞬 自 其 不 變 者 而 觀 之, 則 物 與 我 皆 無 盡 也 (Tô Đông Pha, Tiền xích Bích phú).

[16] cf. Thủ lăng nghiêm kinh, q.2: Phật cáo «… nhữ tri thân trung hữu bất diệt da…» ¦汝 知 身 中 有 不 滅 耶 (Phật nói với vua Ba Tư Nặc: «Đại vương có biết trong thân có cái bất diệt không…»

[17] Marche ô âme bénie, sans s’attarder, dans la béatitude de la solitude intérieure. Vois, Dieu t’invite à rentrer dans ton centre intérieur, où il veut te renouveler, te changer, te remplir, te revêtir et te montrer le nouvel et céleste royaume, plein d’allégresse, de jouissance et de sérénité… (Michel Molinos, lllan de Casa Fuerte, La religion essentielle, p.178)

[18] cf. Spinoza cité par lllan de Casa Fuerte, Religion essentielle, p.182: «… L’ignorant outre qu’il est balloté de mille façons par les causes extérieures et qu’il ne possède jamais le vrai contentement de l’âme, vit dans une sorte d’inconscience de lui-même, de Dieu et des choses; et sitôt qu’il cesse de pâtir, il cesse aussi d’être.

Le sage, au contraire, considéré comme tel, sent à peine son âme troublée; mais ayant, par une certaine nécessité éternelle, conscience de lui-même, de Dieu et des chosses, il ne cesse jamais d’être, et il est toujours en possessior du vrai contentement de l’âme…

[19] Nam nhi nhược đắc phong hầu ấn   
男 兒 若 得 封 侯 印

Bất phụ nhân gian tẩu nhất tao         
不 負 人 閒 走 一 遭

Công thành thân thoái                         
功 成 身 退

Yên hà tiêu ngạo                                 
煙 霞 嘯 傲

Thoát khước tử la bào                         
脫 卻 紫 羅 袍

Phương thị nam nhi đạo.                   
方 是 男 兒 道

Bí ẩn Gia Cát thần số, bài 245.

[20] Chân chân chân                               
真 真 真

Nhân bất thức                                   
人 不 識

Chân chân chân                               
真 真 真

Thần hữu linh                                   
神 有 靈

Qui tông phân bản                           
歸 宗 反 本

Phương thị nguyên tinh                   
方 是 原 精

Bí bản Gia Cát thần số, bài 47.

[21] Nhất cá thần đạo, tùy nhĩ khứ hành, 一 箇 神 道 隨 爾 去 行. Phùng nhân thuyết pháp, đáo xứ hiển linh. 逢 人 說 法 到 處 顯 靈 Bí bản Gia Cát thần số 秘 本 諸 葛 神 數, bài 354.

[22] Qui autem adhoeret Domino unus spiritus est – (Celui qui s’unit au Seigneur n’est avec lui qu’un seul esprit- I Cor,VI,17 Bible de Jérusalem).

Celui qui s’approche de Dieu et s’attache à lui devient un même esprit avec lui. (Ste Thérèse, Le Château de l’âme, Edition du Seuil.

… Glorifiez et portez Dieu dans votre corps. I Cor 6, 19 (Bible de Jérusalem) Cf. aussi Ste Thérèse, Le Château de l’âme chapitre 3e.

[23] Điêu trác phục phác. 雕 琢 復 朴.

[24] Thể tận vô cùng, nhi du vô trẫm. 體 盡 無 窮, 而 遊 無 朕 .

[25] Tự dĩ vi vị thủy học nhi qui 自 以 為 未 始 學 而 歸.

[26] Thừa phù mãng diêu chi điểu, dĩ xuất lục cực chi ngoại, nhi du vô hà hữu chi hương. 乘 夫 莽 眇 之 鳥, 以 出 六 極 之 外, 而 遊 無 何 有 之 鄉.

[27] Lập hồ bất trắc nhi du ư vô hữu giả dã. 立 乎 不 測 而 遊 於 無 有 者 也.

[28] Vô vi danh thi, vô vi mưu phủ, vô vi sự nhiệm, vô vi tri chủ, thể tận vô cùng nhi du vô trẫm. 無 為 名 尸, 無 為 謀 府, 無 為 事 任, 無 為 知 主 體 盡 無 窮 而 遊 無 朕.

[29] Chí nhân chí dụng tâm nhược kính bất tương, bất nghịch, ứng nhi bất tàng. 至 人 之 用 心 若 鏡 不 將, 不 逆, 應 而 不 藏.

[30] cf Nam Hoa Kinh, chương Tại hựu, đoạn c: Kim phù bách xương, giai sinh ư thổ nhi phản ư thổ; cố dư tương khứ nhữ, nhập vô cùng chi môn, dĩ du vô cực chi dã. Ngô dữ nhật nguyệt tham quang. Ngô dữ thiên địa vi thường. Đương ngã mân hồ, viễn ngã hôn hồ. Nhân kỳ tận tử nhi ngã độc tồn hồ. 今 夫 百 昌 皆 生 於 土 而 反 於 土 故 余 將 去 女 入 無 窮 之 門, 以 遊 無 極 之 野 吾 與 曰 月 參 光 吾 與 天 地 為 常 當 我 緡 乎, 遠 我 昏 乎 人 其 盡 死 而 我 獨 存 乎.

[31] Điển hình nhất là chúa Jésus Christ và vụ án Al Hallâj bên phía Hồi giáo. Ông bị cầm tù từ năm 915 đến ngày 23. 03. 922 thì bị xử tử vì tội dám phối hợp lẫn lộn Trời người (confondre le divin et l’humain) gây hoang mang cho mọi người. (Cf. Henri Corbin Histoire de la philosophie islamique, p.277)

[32] Mysticisme.

[33] Esthétique, Grâce.

[34] Morale.

[35] Dogmatisme.

[36] Formalisme.

[37]…Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ; phù lễ giá trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả, Đạo chi hoa nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu, xử kỳ hậu bất cư kỳ bạc, cư kỳ thực bất cư kỳ hoa. Cố khứ bỉ thủ thử. 故 失 道 而 後 德, 失 德 而 後仁, 失 仁 而 後 義, 失 義 而 後 禮 夫 禮 者, 忠 信 之 薄, 而 亂 之 首 前 識 者, 道 之 華, 而 愚 之 始. 是 以 大 丈 夫 居 其 厚, 不 居 其 薄, 居 其 實, 不 居 其 華. 故 去 彼 取 此 (Đạo Đức Kinh, ch.38)

[38] Un dogme, c’est une cristallisation d’une pensée… Le dogme est une matérialisation et la matérialisation est un emprisonnement. Ce qu’il faut chercher, c’est l’essence, car seule l’essence est esprit. (lllan de Casa Fuerte, La religion essentielle, p.17)

[39] cf. Camille Debret, La vie de Gandhi, p.100:

… «Après une longue étude et une longue expérience, j’en suis venu à cette conclusion: toutes les religions sont vraies, toutes ont en elles quelque erreur. Toutes me sont aussi chères que mon propre Hindouisme. Ma vénération pour d’autres fois est la même que pour ma propre foi. Comment peut-on avoir une vraie fraternité, si on croit détenir une vérité supérieure.

ll ne faut pas dans ses prières dire à dieu: «Donne-lui la lumière que tu m’as donnée,» mais donne-lui toute la lumière et toute la vérite dont il a besoin pour son plus haut développement…

[40] Địa đạo dã, thế đạo dã, thần đạo dã. (Dịch khôn quái)

[41] Tâm vi hình dịch. 心 為 形 役.

[42] Tiên mê nhi hậu đắc chủ. 先 迷 後 得 主 (Dịch khôn quái)

[43] Lam làm rồi mới nghỉ ngơi

Lao lung rời mới thảnh thơi an nhàn

Do động nhi tĩnh, do lao nhi dật,

Ngộ đại Dịch doanh hư chi lý

(Văn ngôn truyện) – Tiểu học luận thuyết tinh hoa, Quảng Ích thư cục, q.2, tr.2)

[44] Vô dĩ nhân diệt Thiên. 無 以 人 滅 天 (Nam Hoa Kinh, Thu Thủy)

[45] Luận Ngữ, Vi Chính đệ nhị, 12.

[46] Cf Marc Semenoff, Pour connaitre la pensée du Bouddha, p.126:… Le corps est la somme de toutes les formes qui le constituent et qui ne connaît les composantes de son corps ne se connaît pas lui- même. Résultat exotérique: sa vie entière, il cherche Dieu et l’univers en dehors de lui, partout dans la nature, dans les temples, les églises, les soi – disant paradis, alors que le Divin l’habite, lui. Le Royaume des Cieux en vous, est une parole ésotérique…

Le salut est la réalisation en nous de Dieu, notre véritable moi.

——————-
**************************         

Chương 11

VŨ TRỤ QUAN THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ

Đặt Trung Dung, Trung điểm vào giữa vòng Dịch, đem hằng cửu lồng vào tâm khảm mọi di động biến thiên, ta có thể suy ra:

1. Một vũ trụ quan

2. Một nhân sinh quan

3. Một sử quan

4. Những định luật chính chi phối hoàn võ và con người.

Trong những trang sau, chúng ta sẽ dùng chữ Trung, chữ Dịch, dùng tâm điểm và vòng tròn, tung lên khung Trời vô hạn, cho thành Thái cực và vòng càn khôn, cho bao quát không gian vô tận và thời gian vô cùng, để nhìn cho thấu các lớp lang tiết tấu sinh sinh hóa hóa của đất Trời.

Chúng ta sẽ quay cho vòng Càn Khôn di động để phơi bày ra toàn thể lịch sử nhân loại, từ lúc con người khoác xác phàm phu luân lạc trong cỗi hồng trần, cho tới khi giải thoát hiển vinh, trở thành thần thánh cùng đất Trời trường sinh bất tử, nhân đó chúng ta có thể tìm ra huyền cơ Tạo hóa và những định luật bất biến chi phối trào lưu thăng trầm, tiến thoái của nhân quần …

Nho giáo chủ trương: «Thiên địa vạn vật nhất thể.» [1]

Bản thể đất Trời «duy nhất», nhưng hình tướng công dụng bên ngoài thì biến ảo muôn ngàn (Thể duy nhất, dụng vạn thù).

Đà diễn tiến của vũ trụ như sau: Vô cực [2] sinh Thái cực, Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, và cứ đà tiến ấy tạo dựng quần sinh vũ trụ. [3]

Nói cách khác: Trời sinh ánh sáng, ánh sáng sinh từ lực; từ lực tức nhị khí âm dương, sẽ tác dụng phối hợp nhau theo những phương thức khác nhau để sinh mây gió, nước lửa, núi non, Trời đất…

Theo quan niệm trên, thì vô hình dần dần dà cô đọng thành hữu hình, ánh sáng dần dần biến hóa thành thiên hình vạn trạng.

Ngược lại với giáo lý các đạo độc thần (Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Do thái giáo), Nho giáo chủ trương thuyết sinh hóa (émanation et transformation), một thuyết sinh hóa đặc biệt vì hết chu kỳ (cycle) biến dịch, lại trở về nguyên bản (Thiên địa tuần hoàn chung nhi phục thủy. Nguyên thủy phản chung). [4]

Thái cực hay Ánh sáng chí tôn ấy như vừng dương ngự giữa hoàn võ tung tỏa hào quang khắp nơi để duy trì sinh hóa. Đâu có sinh hóa đấy có Thái cực, trong mỗi vi trần đều có Thái cực, trong mỗi nhân thần đều có thái cực.[5]

Thái cực còn gọi là Trung, vì bất biến, làm khu nữu cho vũ trụ; gọi là Dịch vì làm cho vạn hữu biến hóa, gọi là Đạo, vì là nguyên động lực muôn loài…

Từ trước đến nay, ít người hiểu hai chữ Vô cực, Thái cực của cổ nhân, nên từ ngữ đã làm chết nghẹt tư tưởng, và vì vậy không sao tìm được điểm tương đồng giữa các học thuyết Âu Á.

Nhưng nếu hiểu vô cực là «Trời ẩn», Thái cực là «Trời hiện», thì ta sẽ biết ngay Thái cực là Đạo, là Hóa công, là Tạo hóa, như vậy Vô cực, Thái cực chỉ là hai phương diện ẩn, hiện (non-manifestation et manifestation) của Hóa Công.

Hai phương diện này là ta liên tưởng đến Brahman (Vô) và, Isvara (Hữu), Nirguna (vô tướng= sans qualité) và Saguna (Hữu tướng= avec qualité) trong kinh Vệ Đà. [6]

Đó cũng là quan điểm của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh.

«Hóa công hồ dễ đặt tên,

Khuôn thiêng hồ mà đem luận bàn,

Không tên, sáng tạo thế gian,

Có tên, là mẹ muôn vàn thụ sinh.

Tịch nhiên cho thấy uy linh,

Hiển dương cho thấy công trình vân vi.

Hai phương diện một Hóa nhi,

Huyền linh khôn xiết huyền vi khôn lường…

Người là «chúng diệu chi môn»,

Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.»  [7]

«Thiên địa vạn vật nhất thể» là một học thuyết chung cho nhiều đạo giáo Âu Á. [8]

Theo Thuyết này, thì chỉ tâm điểm là trường cửu, là duy nhất, còn vạn vật vạn hữu bên ngoài thì dị biệt, biến thiên. Cho nên nếu nhìn hẹp từng tầng, từng vật, thì thấy mọi sự đều chia phôi xa lạ, còn nếu nhìn bao quát cả toàn thể, thì thấy mọi sự đều như lá, như cành, như hoa, như quả cùng chung một gốc, và trong những lớp màng, lớp áo, lớp vỏ biến thiên bên ngoài, còn có một tinh hoa trường tồn vĩnh cửu.

Với tầm nhìn bao quát ấy Trang Tử đã nói:

«Ta và Trời đất cùng sinh,

Ta cùng muôn vật sự tình chẳng hai.»  [9]

Trang Tử còn chủ trương: Nếu nhìn chỗ «dị biệt» thì thấy gan, mật như Sở, Việt chia phôi, nếu biết nhìn điểm tương đồng thì vạn vật đều là một. [10]

Càng đi ra bên ngoài, càng thấy tôn ti, quí tiện đôi đường cách trở; càng tiến vào bên trong, càng tiến tới chỗ tương đồng, vào đến tâm điểm, đến Đạo, đến Thái cực thì hết phân quí tiện, vì vạn vật đều mang Thái cực. [11] Đó chính là chỗ «Tề vật» của Trang Tử.

Theo Alfarabi, một triết gia Ả Rạp thời Trung cổ, thì trong tác phẩm thần học (Théologie), Aristote cũng chứng minh sự hiện diện của Duy nhất trong lòng mọi tạp thù, dị biệt. [12]

Áo Nghĩa Thư (Upanishad) chủ trương: dưới lớp ảo hóa, biến thiên, dị biệt bên ngoài của vũ trụ, có một bản thể duy nhất, đó là tuyệt đối thể, là Brahman hay Atman, căn nguyên của vũ trụ, và chân tâm con người… [13]

… ‘như nhện giăng tơ, như lửa sinh tàn, từ chân tâm cũng phát xuất ra mọi nguồn sinh lực, mọi vũ trụ, mọi thần minh và vạn hữu…»  [14]

Sách Zohar (huyền học Do Thái) cũng đồng quan điểm khi chủ trương: Thượng đế là Trung điểm, vạn hữu bao bọc chung quanh thành nhiều vòng hay nhiều thế giới đồng tâm.

Thượng đế phát huy ra vũ trụ nên sự phát triển của vũ trụ tiến từ tầng trong ra tới tầng ngoài, và vô hạn giáng phàm dần xuống tới hữu hạn… Trong là thượng giới, ngoài là hạ giới, trong cùng là tinh thần, ngoài cùng là vật chất, vòng ngoài bao bọc hỗ trợ vòng trong như vỏ, như cùi bảo vệ cho nhân cho hạt. [15]

Kinh Hoa Nghiêm, theo Đào Hư Tử, cũng chủ trương: Vạn lý đều do một tính mà phát xuất ra. [16]

Kinh Lăng Nghiêm viết: các pháp đều do tâm biến hiện. [17]

Vũ trụ quan này đưa đến những kết luận sau:

1. Trời người tương quan mật thiết với nhau: Trời là nhân, người là quả, là vỏ bọc. [18]

2. Trời bất biến, người biến thiên. Đã biến thiên thì không vĩnh cửu. Vậy con người muốn vĩnh cửu, muốn trường sinh bất tử, phải kết hợp với Trời, nhân tâm phải kết hợp với Đạo tâm. Trường sinh bất tử không phải là một dữ kiện (fait donné) mà là một công trình (Oeuvre à réaliser).

Thực ra Cựu Ước cũng chủ trương: «Sự kết hợp với đức Minh Triết đưa ta đến chỗ bất diệt.»  [19]

Thế là:

Dục cầu nhân bất tử,

Tu tầm bất tử nhân. [20]

(Muốn cho người được trường sinh,

Phải tìm ra đấng huyền linh, trường tồn.)

3. Trời ví như căn bản, nguồn gốc; nhân loại quần sinh ví như những cành lá (mạt 末 ), Những dòng sông (lưu 流), Trời là thể 體 (essence), nhân loại quần sinh là những ứng dụng bên ngoài (dụng 用 : service); Trời thì vi ẩn, nhân loại quần sinh thì hiển hiện, nhưng đôi bên đều mật thiết tương quan với nhau.

Chu Hi viết: «Thể dụng nhất nguyên, hiển vi vô gián.»   體 用 一 源 顯 微 無 間.

«Thể với dụng đều chung gốc rễ,

Hiển cùng vi khôn lẽ chia phôi.»

4. Đi từ Trời xuống quần sinh, vũ trụ, từ tinh thần ra vật chất là trụy lạc là thoái hóa nhưng cũng là tạo tác; đi từ quần sinh vũ trụ lên tới Trời, từ vật chất về tinh thần là siêu thoát là tiến hóa, là thần thánh hóa bản thân. Đó là bí quyết: «Qui nguyên phản bản», [21] «Trở về gốc quay về nguồn», [22] «Âm dương điên đảo» của người xưa. [23]

5. Như vậy, sự tạo dựng trong vũ trụ chưa chấm dứt. Bao lâu còn biến thiên, bấy lâu còn tạo dựng. Bao lâu con người còn cần tu luyện, thì lò cừ tạo hóa chưa ngừng công việc được.

6. Vũ trụ quan trên xây nền tảng cho cả hệ thống đạo lý và siêu hình học:

Chỉ có Thái cực, có Đạo, có tuyệt đối mới là nguồn mạch sự sống, là chân lý bất biến, là điểm hội tụ tối hậu cho nhân loại; còn các hiện tượng hình sắc bên ngoài đều như tuồng ảo hóa.

Muốn trở nên thánh, hiền, tiên, phật, muốn trường sinh bất tử, điều kiện tiên quyết là phải biết «võng tượng», Lìa bỏ các hiện tượng, các hình ảnh, theo Trung đạo, «dữ Đạo hợp chân», cho tâm thần đạt tới, và sống trong Tuyệt đối thể.[24]

Các hiền thánh xưa đều muốn qui vạn thù về một mối, cho các trào lưu tư tưởng, ước mơ chảy ngược dòng để đổ về lại căn nguyên, đều muốn sống hòa đồng với Tuyệt đối thể, đến mực không còn cái «mình», cái «ta» nhỏ nhoi ti tiện nữa, lấy phương châm «vô ngã» làm mục đích tối hậu cho công phu tu luyện. [25]

7. Vũ trụ quan trên cho thấy tại sao con người phải tiến tới vô ngã phải hòa đồng với Đạo với Trời mới được trường sinh bất tử, mới mong tiến tới đại đồng (universalité). [26]

Lý do rất là giản dị: thì chỉ có Bản thể mới vĩnh cửu, còn ứng dụng thì biến thiên, theo thời, khi còn, khi mất, thăng trầm, chất chưởng. Đàng khác, Thái cực là toàn thể, quần sinh là phân số, là bộ phận; cho nên muốn tiến tới Đại đồng (universalité) phải tiến tới toàn thể. Theo Nho giáo, Thánh nhân cần phải có độ lượng tâm hồn mênh mông bằng tầm thước vũ trụ, nghĩa là cần phải trút bỏ hết mọi giới hạn, màu da, sắc áo, lối đường tư tưởng riêng biệt, gạt bỏ hết mọi nhỏ nhen ti tiện để tiến tới công chính cao đại, tôn quí… [27]

8. Tìm Trời tìm Đạo phải tìm trong đáy lòng.

Cổ nhân gọi đó là:

«Hồi tâm phản tỉnh»

«Phản thân nhi thành.» (Mạnh Tử)

 Và các phương pháp tham thiền, nhập định (contemplation, concentration et extase) cũng cốt là để kết hợp với đấng Tối Cao. [28]

9. Biết được Trời lòng ngay trong tâm khảm để làm khuôn phép mẫu mực, là căn cốt cho tâm hồn, tức là thấu triệt nghĩa lý, là hiểu biết tới căn để. Đó là «Cách vật trí tri» trong Đại học.

«… Dày công học vấn mới hay khuôn Trời;

 Hay khuôn Trời thoắt thôi thấu triệt

 Thấu triệt rồi ý thiệt lòng ngay

 Lòng ngay ta sẽ hóa hay…»  [29]

Đó là cái hiểu biết cao siêu nhất của nhân loại. [30]

10. Trở về với Trời, với Đạo,[31] với Thái cực tức là thông suốt lẽ huyền vi: «Tạo hóa qui trung chi diệu.»

 Công trình này người xưa gọi là:

– Kiến tố, bão phác. [32]                 
見 素 抱 朴

– Qui nguyên, phục mệnh               
歸 元 復 命       

– Phục qui Đạo [33]                         
復 歸 道

– Phục qui Anh nhi  [34]                 
復 歸 嬰 兒

– Phục qui Vô cực [35]                   
復 歸 無 極

– Phản kỳ chân  [36]                       
復 其 真

– Phục kỳ bản                                   
復 其 本

– Hoàn nguyên phản bản [37]       
還 原 返 本

– Dữ đạo hợp chân                         
與 道 合 真

– Toàn thốc ngũ hành                     
攢 簇 五 行

– Hội hợp bát quái                           
會 合 八 卦

– Tam hoa qui đỉnh,                       
三 華 歸 頂

– Ngũ khí triều nguyên [38]           
五 氣 朝 元

– Minh bạch nhập tố                       
明 白 入 素

– Vô vi phục phác                           
無 為 復 朴

– Thể tính, bão thần, v.v. [39]       
體 性 抱 神

Trở về với Trời, kết hợp với Trời, là đạt đạo, đạt đích (chí nhân 至 人 ) là trở thành «con người thật» (chân nhân 真 人). Đó là «Trung Dung trung đạo». [40]

Theo vũ trụ quan trên, thì vạn vật do Trời sinh, dù phiêu lãng mấy trên trùng dương thời khắc, chung qui cũng phải trở về với Trời, với đạo. [41]

Con người theo một qui luật như vũ trụ, nên trước sau cũng phải trở về với đấng tối cao. [42]

Trung Dung là cứu cánh của con đường đó. Đạt đạo Trung Dung sẽ trường sinh vĩnh cửu. Thanh Tĩnh Kinh giải thích vĩnh cửu trường tồn là Trung Dung (thường giả Trung Dung dã 常 者 中 庸 也). [43]

Người Âu thường công kích quan niệm trên và cho là «phiếm thần chủ nghĩa». Nhưng thay vì bàn cãi suông, nếu ta giở Thánh kinh, nếu ta khảo sát giáo lý hay nghiên cứu tư tưởng các thánh hiền Thiên chúa giáo, ta sẽ thấy những chủ trương tương tự. Các hiền thánh Thiên Chúa giáo cũng tin:

1. Thượng đế ở khắp nơi (omniprésence de Dieu)

2. Vạn vật đều do Ngôi hai sáng tạo. [44]

3. Con người là dòng dõi Thượng đế [45] có thể thông phần bản thể Thượng đế.[46]

4. Nước Trời ở đáy lòng. [47]

5. Vinh quang Trời ở trong lòng nhân loại. [48]

Hơn thế nữa, vài vị đại thánh còn nhận:

6. Trời là bản thể của muôn loài… [49]

Vả lại, nếu đã chấp nhận Thượng đế ở khắp nơi, sao lại không dám nghĩ rằng Thượng đế có ở đáy lòng nhân loại?

… Nếu đã chấp nhận nước Trời ở đáy lòng, thì Trời ở đâu, nếu không phải ở trong lòng nhân loại ?

Nếu Trời ở ngay trong thâm tâm nhân loại thì tìm Đạo, tìm Trời phải tìm ở đáy lòng, tìm trong suy tư thầm lặng, hay phải tìm Trời, tìm Đạo trong những tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng hát bên ngoài?

Và thế nào là người đạo hạnh, nếu không phải là người có Thiên Chúa hiện diện đáy lòng, và không còn ước mơ ngoại cảnh. [50]

Khi đã xác định Trời ở đáy lòng, nước Trời ở trong lòng, thì sự siêu thoát chắc chắn phải được thực hiện bằng sự thông suốt điều huyền nhiệm đó, và bằng những công cuộc tu luyện tâm thần, tham thiền nhập định, diệt dục, vong ngã để kết hợp với đấng Tối cao. Suy ra thì thượng giới ở ngay trong tâm hồn ta, mà hạ giới chính là thế gian ở ngoài ta.

Càng tiến ra bên ngoài, là càng đi vào tục lụy, càng bị lệ thuộc vào hoàn cảnh, không gian và thời gian. Càng tiến vào bên trong, càng thoát vòng cương tỏa của vật chất, của ngoại cảnh… cho nên muốn khinh thoát tự do, cần phải có một đời sống nội tâm dồi dào phong phú … [51]

Từ Vô cực, Thái cực tiến hóa xuống dần tới vạn hữu, là từ cao siêu đi dần xuống ti tiện, là bước dần xuống các nấc thang giá trị, cho tới kỳ cùng. Đi từ Vạn hữu trở về Thái cực, Vô cực, là tiến từ ti tiểu tới cao đại là bước lần lên các bậc thang giá trị, cho tới hoàn hảo siêu việt. [52] Đó là lẽ tồn vong, thăng trầm của vũ trụ …

Nhưng vì Vô cực, Thái cực ở ngay trong đáy lòng con người, nên nếu cứ để cho tâm hồn tản lạc phá tán theo các hiện tượng bên ngoài, thì sẽ đi đến chỗ trụy lạc tan rã; còn nếu biết đi trở ngược, từ hiện tượng, nhận ra tâm hồn, thần trí, Thái cực, Vô cực tìm ẩn trong đáy lòng thì sẽ tìm ra được con đường siêu thoát.[53]

Vũ trụ quan trên, cũng như toàn bộ Trung Dung, và Kinh Dịch chẳng qua cốt dạy con người đâu là nguồn mạch của mình, cũng như đâu là quê hương, cùng đích của mình …

Theo vũ trụ quan trên, thì không gian và thời gian cũng biến động, cũng có giãn khôn lường. Càng đi vô nội tâm, càng đi sâu vào tầng trong, thì không gian và thời gian càng co lại, tưởng chừng đi đến không điểm, [54] mà kỳ thực lại tiến tới vĩnh cửu trường tồn, càng tiến ra bên ngoài thì không gian và thời gian càng giãn ra, dài ra, tưởng chừng tiến tới vô cùng mà kỳ thực lại tiến tới phù du hư ảo; cho nên một giây phút trong tâm thần tương đương mấy nghìn vạn năm bên ngoài. Tinh thần cũng vì thế có thể nói được không tương lai và dĩ vãng, hằng cửu bất biến. Cho nên một cuộc đời vật chất bên ngoài nghĩ đi nghĩ lại cũng chỉ nhanh như một giấc mộng …

«Bôn ba đời nghĩ buồn rầu,

Hư không giấc mộng đêm thâu thấy gì.

Vô thường muôn việc bỏ đi,

Kíp hồi đầu lại kẻo khi lỡ làng.» [55]

Vũ trụ quan trên có thể nói là một quan niệm chính xác về vũ trụ, vì nó bộc lộ huyền cơ tạo hóa, quán thâu lẽ biến hằng của đất Trời; toát lược lịch sử nhân quần vũ trụ, cũng như phác họa cơ cấu nhân quần vũ trụ bằng một tâm điểm và một vòng tròn, bằng một chữ Trung và một chữ Dịch …

Mới hay Trung Dung và Kinh Dịch chủ trương dạy người một môn học cao siêu, có mục phiêu là «thấu suốt bản tính» và định mệnh mình để chung cuộc sẽ được kết hợp với Trời với Đạo. [56]

Thâm ý của thánh nhân là làm sao cho mọi người, kẻ trước người sau, ai ai cũng có thể đạt được trung điểm, đạt được «Thái cực», «Chí cực», «vô danh khả danh». [57]

Theo Dịch Kinh, khi người quân tử đã am tường Trung cung, Trung điểm khi Bản Thể đã ở đúng ngôi vị của nó – nói cách khác: khi con người đã đạt được Thiên vị, kết hợp được với Trời [58] thì bao nhiêu sự tốt tươi đẹp đẽ từ đáy thẳm lòng sâu tâm hồn sẽ tung tỏa ra khắp cơ thể, sẽ thấm nhuần khắp tứ chi, sẽ chói lọi trong sự nghiệp, thật là đẹp đẽ đến tuyệt vời vậy. [59]

Nhưng con người muốn trở về Trung cung Trung điểm, muốn được thông tuệ, diệu minh, cần biết suy tư, vì có suy tư mới biết huyền cơ Tạo hóa, mới có thể thần thánh hóa mình, và trở nên hoàn thiện được. [60]

Cao đại thay là căn nguyên con người, trọng vọng thay là định mệnh con người! Đẹp đẽ thay là mục phiêu công phu tu luyện của con người!

Còn gì là cho ta sung sướng hơn là cảm thấy Trời ở ngay trong lòng, là nguồn sống, và là cùng đích mình; có thần trí thông minh để nhận ra chân lý đó, có thời gian không gian vạn hữu làm phương tiện cho công phu tu luyện; để nên hoàn thiện như Trời, để rồi ra được kết hợp với Trời, thông phần bản tính và vinh quang Trời, trường sinh vĩnh cửu cùng Trời đất … [61]

Tóm lại, vũ trụ quan trên đây là kết tinh của một nền học vấn cao siêu tương truyền từ Đông sang Tây.

Nhờ vũ trụ quan này mà các hiền thánh muôn đời đã được «khai quang, điểm nhãn» [62] dùng mắt tinh thần nhìn nhận ra được Thượng đế ở khắp nơi, và thấy mình sống trong vinh quang Thượng đế. [63]

Gẫm cho cùng thì:

«Muôn loài sinh hóa đa đoan

Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên.

Hoàn bản nguyên, an nhiên phục mệnh,

Phục mệnh rồi, trường vĩnh vô cùng.»  [64]

Cổ nhân vì vậy dùng tâm điểm của vòng Dịch để tượng trưng cho Trời vừa là căn bản cho vũ trụ, vừa là mục đích tối hậu cho công cuộc tu luyện, tiến hóa của quần sinh vũ trụ.

Cho nên Trung Dung, chí cao chí đại vì đưa com người đến vinh quang tuyệt đối. Phải mở tầm mắt, phải mở tầm tâm hồn cho rộng rãi vô biên thì mới tìm ra được điểm Trung … [65]

————-
**************************         

CHÚ THÍCH

[1] cf. Wang Tch’ang Tche SJ., La philosophie morale de Wang Yang Ming, p.74,75.

… Considérer l’univers comme faisant un tout et où le désordre d’une partie se répercute dans le tout considérer encore l’homme au centre de cet univers et faire du cœur de l’homme le cœur de l’univers: telle est l’idée contenue dans les livres classiques et exprimée surtout par les philosophes des Song… Avec tous les penseurs chinois, il (Wang Yang Ming) répète que «l’homme c’est le cœur de l’univers; l’univers avec moi constitue un seul corps (untout)».

… Nhân giả, thiên địa vạn vật chi tâm dã. Tâm giả, thiên địa vạn vật chi chủ dã. Tâm tức Thiên. 人 者, 天 地 萬 物 之 心 也. 心 者, 天 地 萬 物 之 主 也. 心 即 天 (Ibidem, appendice 10)

[2] Lý bản vô hình, cố vị chi Vô cực. 理 本 無 形, 故 謂 之 無 極.

[3] cf. Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di. (Thái Nguyên Bồi, Tính học đại cương, q.1, tr.1)

[4] L’Extrême Orient ancien a fait partie d’un monde où la coexistence de grands courants spirituels (Zoroastre, Bouddha, Confucius, Laotseu, Platon) ne s’explique que par certaines idées communes unanimément admises de la Méditerranée au Pacifique. Toutes ces vieilles cultures eurasiaques se présentent comme des cosmologies pour lesquelles une même substance compose les choses créées. (Pierre Huard, Connaissance du Viet Nam, p.63)

Đạo sinh Nhất, Nhất vi Thái cực. Nhất sinh nhị vị lưỡng nghi; nhị sinh tứ vi tứ tượng; tứ sinh bát vi bát quái, bát sinh thập tứ. Lục thập tứ cụ nhi hậu thiên địa vạn vật chi đạo bị hĩ. Thiên địa vạn vật mạc bất dĩ nhất vi bản nguyên, vu nhất nhi diễn chi dĩ vi vạn; cùng thiên hạ chi số nhi phục qui vu nhất. Nhất giả hà dã. Thiên địa chi tâm dã, Tạo hóa chi nguyên dã. 道 生 一 一 為 太 極. 一 生 二 為 兩 儀. 二 生 四 為 四 象. 四 生 八 為 八 卦. 八 生 六 十 四. 六 十 四 具 而 後 天 地 萬 物 之 道 備 矣. 天 地 萬 物 莫 不 以 一 為 本 原, 于 一 而 衍 之 以 為 萬. 窮 天 下 之 數 而 復 歸 于 一. 一 者 何 也. 天 地 之 心 也. 造 化 之 原 也 (Bách Nguyên học án, Ngữ lục; Tống Nguyên học án, q.10, tr.62)

Cf. Mai Thọ Truyền, Pháp hoa huyền nghĩa, tr.30: «Tất cả là một, tất cả chúng sinh đều từ phổ quang minh trí (lumière omniprésente – intelligence éclairante) mà ra, thì tất cả sẽ trở về với ánh sáng trí tuệ ấy, tức là thành Phật.»

[5] Thái cực giả sở vị tượng đế chi tiên, tiên thiên địa sinh, năng sinh thiên địa vạn hóa chi tổ căn dã, bản vô hữu vật, vô tượng vô số, vô phương ngung, vô vãng bất tại. Ngôn Thái cực tắc Vô cực khả tri… Đại nhi thiên địa, tế nhi vạn vật mạc bất các hữu Thái cực. Vật vật nhất Thái cực. Nhất vật toàn cụ nhất thiên địa chi lý. 太 極 者 所 謂 象 帝 之 先, 先 天 地 生, 能 生 天 地 萬 化 之 祖 根 也, 本 無 有 物, 無 象 無 數, 無 方 隅, 無 往 不 在 言 太 極 則 無 極 可 知… 大 而 天 地, 細 而 萬 物 莫 不 各 有 太 極. 物 物 一 太 極. 一 物 全 具 一 天 地 之 理 (Địa lý chính tông, q.1, tr.4)

[6] cf. A source book in Indian philosophy, p.38.

[7] Đạo Đức Kinh, ch.1. — Lão Tử thủ chương ngôn vô danh Thiên địa chi thủy. Hữu danh vạn vật chi mẫu, nhi tốt đồng chi, thử Lão thị tông chỉ dã. Vô cực nhi Thái cực tức thị thử chỉ… 老 子 首 章 言 無 名 天 地 之 始. 有 名 萬 物 之 母, 而 卒 同 之, 此 老 氏 宗 旨 也. 無 極 而 太 極 即 是 此 旨 (Tống Nguyên học án, q.12, tr.3: Liêm Khê học án)

[8]… Aussi dans diverses traditions, voyons-nous la création partir d’un centre, parce que là se trouve la source de toute réalité, et partant, de l’énergie de la vie. II arrive même que les traditions cosmologiques expriment le symbole du centre dans des termes qu’on dirait empruntés à l’embryologie: «Le Très Saint a créé le monde comme un embryon. Tout comme l’embryon croýt à partir du nombril, de même Dieu a créé le monde par le nombril et de là, il s’est répandu dans toutes directions» (textes cités par Wensick, p.19). Yoma affirme: «Le monde a été créé en commencant par Sion.» (ibid., p.16). Aussi dans le Rig. Véda (p.ex: X,149) l’univers est conçu comme prenant son extension à partir d’un point central. (cf. le commetaire de Kirfel Cosmographie, p.18)- Mircéa Eliade, Traité d’histoire des religions, p.323.

[9] Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. 天 地 與 我 並 生, 而 萬 物 與 我 為 一 (Nam Hoa Kinh, Tề vật luận)

[10] Tự kỳ dị giả thị chi, can đởm Sở, Việt dã, tự kỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai nhất dã. 自 其 異 者 視 之, 肝 膽 楚 越 也, 自 其 同 者 視 之,萬 物 皆 一 也 (Nam Hoa Kinh, Đức sung phù)

[11] Dĩ đạo quan chi, vật vô quí tiện, dĩ vật quan chi, tự quí nhi tương tiện. 以 道 觀 之 物 無 貴 賤, 以 物 觀 之 自 貴 而 相 賤(Nam Hoa Kinh, Thu Thủy)

[12] Alfarabi (hay Ibn Tar Kan là một triết gia Ả Rập, sinh tại Farab chết năm 950). cf. La religion essentielle, p.107:… En son écrit, Théologie, Aristote démontre la présence de l’Un au sein de toute multiplicité….

… Etienne Geoffroy Saint-Hilaire, Vicq D’Azyr (1748-1794), Goethe (1749-1832), Herder (1744-1803) cũng chủ trương thuyết «nhất thể vạn thù» mà các ông gọi là «modèle primitif et général» hay «Urpflanze» (Herder, Idées pour la philosophie de l’histoire de l’humanité. p.18 et ss, 97 et ss…)

[13]… The Ultimate reality should be designated generally as Brahman… and as It or That.

… The paradoxical, transcendent, yet immanent unity underlying the diversity of the world.

(A source book in Indian philosophy, p.39)

… The one God hidden in all living beings,

The Living Witness biding in all hearts

The wise who seek and find Him in them-Self,

To them and none else is eternal joy.

The all pervading inner Self of all,

Who from His formlessness creates all forms,

The wise who see that one within them-Self,

To them alone belongs eteral joy.

(A prayer to the Supreme Being, translated from the Upanishads by Dr Bhagavan Das).

Wisdom Leight vol.7; March 1955 number 3, p.34

Cf. Chandogya Upanishad 6,3.–Taittiriya Up. 2,6.

[14]… as a spider might come out with his thread, as small sparka come forth from the fire, even so from soul come forth all vital energies (pràna), all worlds, all gods, all beings… (Brihad – aranyaka upanishad, 2-1-20)

[15] cf. H. Serouya, La Kabbale (chapitre: Esprit et Matière, p.270,271):… De la sorte, le développement de l’infini vers le fini porte en soi des dégradations du parfait vers l’imparfait.

… En ce sens, le développement des choses se fait du centre vers la périphérie, et par suite aux ordres successifs; ces ordres s’échelonnent comme des cercles concentriques…

L’univers créé tout entier n’est donc l’écorce du Ensof comme les pelures de l’oignon sont les vêtements du bulbe ou comme la coquille de la noix et le reste le vêtement de la graine…

[16] Độc Hoa Nghiêm Kinh, vạn lý do nhất tính nhi xuất. Độc Lăng Nghiêm Kinh, Quần nghi cứu nhất tính nhi không.讀 華 嚴 經 萬 理 由 一 性 而 出 讀 楞 嚴 經 群 疑 究 一 性 而 空 (Đào Hư Tử, Đông châu kỷ thượng ngữ, tr.3)

[17] «Ngã thường thuyết ngôn! sắc tâm chư duyên, cập tâm sở sử, chư sở duyên pháp, duy tâm sở hiện, nhữ thân, nhữ tâm giai thị diệu minh chân tinh diệu tâm trung sở hiện vật…» 我 常 說 言 色 心 諸 緣 及 心 楚 使 諸 所 緣 法, 惟 心 所 現 汝 身 心 皆 是妙 明 真 精 妙 心 中 所 現 物. Ta thường nói tâm pháp đều do tâm biến hiện cho đến thân và tâm ông ngày nay cũng đều là vật trong chân tâm hiện ra… (Thủ lăng nghiêm kinh, q.2) cf. Thủ lăng nghiêm, Hương đạo xb, tr.44)

[18] Thiên dữ nhân tương vi biểu lý. 天 與 人 相 為 表 里 (Tính lý, q.2, tr.54)

… Thiên tại nội, nhân tại ngoại. 天 在 內 人 在 外 (Nam Hoa Kinh, Thu Thủy)

… Tâm tức Thiên…. Lương tri tức Thiên (Vương dương Minh)- Wang Tch’ang Tche, La philosophie morale de Wang Yang Ming appendice 10.

… Thiên dã, nhân dã nhất nhi nhị, nhị nhi nhất dã. 天 也 人 也, 一 而 二, 二 而 一 也 (Thái thượng bảo phiệt đồ thuyết, tr.4).

… Thiên tính nhân dã, nhân tính cơ dã. Lập thiên chi đạo dĩ định nhân dã 天 性 人 也, 人 性 機 也. 立 天 之 道 以 定 人 也 (Âm phù kinh, tr.1)

[19] L’immortalité est le fruit de l’union avec la Sagesse. (Livre de la Sagesse, 8, 17)

[20] Dục cầu nhân bất tử, tu tầm bất tử nhân. (Tiên học, tr.102)

…Thiên nhân hợp đức vạn biến định cơ. 天 人 合 德 萬 變 定 基 (Âm phù kinh, tr.1)

[21] Dịch Kinh Đại toàn, Truyện tự.

[22] Minh tạo hóa chi diệu, tri phản hoàn chi cơ. 明 造 化 之 妙 知 返 還 之 機 (Tiên học, tr.21)

[23] Nhân tâm nhược dữ thiên tâm hợp. Điên đảo âm dương chỉ phiến thời. 人 心 若 與 天心 合. 顛 倒 陰 陽 只 片 時 (Tiên học, tr.7)

[24] Tuẫn tượng, chấp hữu, trục vật nhi thiên nhi Vô cực chi chân cảnh bất khả kiến hĩ. Thánh nhân dĩ tĩnh chi nhất tự phản bản qui nguyên, cái Tạo hóa nhân sự giai dĩ thu liễm vi chủ, phát tán thị bất đắc dĩ sự… 徇 象 執 有, 逐 物 而 遷 而 無 極 之 真 竟 不 可 見 矣. 聖 人 以 靜字 反 本 歸 元, 蓋 造 化 人 事 皆 以 收 斂 為 主, 發 散 是 不 得 已 事… (Tống Nguyên học án, q.12, tr.2)

[25] Các đại thánh thiên chúa giáo cũng không đi ra ngoài tôn chỉ ấy. Phúc âm dạy phải «bỏ mình» (Mathieu 16, 24, 25)

Các thánh hiền Thiên Chúa giáo đều mong muốn tâm hồn mình tan biến đi để kết hợp cùng Thượng đế. (cf. Prière de Saint Bonaventure:…en sorte que mon âme languisse et se fonde sans cesse d’amour et de désir pour vous seul. Qu’elle soupire après vous, et se sente défaillir à pensée de vos tabernacles, qu’elle n’aspire qu’à sa déliverance et à son union avec vous…) (Prière de Saint Bonaventure, Paroissien romain, p.58).

[26] Vô ngã nhiên hậu đắc chính kỷ chi tận: tồn thần nhiên hậu diệu ứng vật chi cảm. 無 我 然 後 得 正 己 之 盡 存 神 然 後 妙 應 之 感 (Thái Nguyên Bồi, Lý học, q.1, tr.4)

Đại đồng hồ hãnh minh. 大 同 乎 涬 溟 (Nam Hoa Kinh, Tại Hựu)

Hợp hồ đại đồng. Đại đồng nhi vô kỷ… 合 乎 大 同 大 同 而 無 己.

[27] Tống Trình Minh Đạo di thư viết: Nhân hữu đẩu sao chi lượng, hữu phủ hộc chi lượng, hữu chung đỉnh chi lượng, hữu giang hồ chi lượng. Giang hồ chi lượng cố đại hĩ nhiên hữu nhai sĩ diệc hữu thời chi mãn, duy thiên địa chi lượng tắc vô mãn; thánh nhân hữu thiên địa chi lượng dã. 宋 程 明 道 遺 書 曰: 人 有 斗 筲 之 量, 有 釜 斛 之 量, 有 鍾 鼎 之 量, 有 江 湖 之 量. 江 湖 之 量 故 大 矣 然 有 涯 涘 亦 有 時 而 滿, 惟 天 地 之 量 則 無 滿;聖 人 有 天 地 之 量 也. Uyên Giám loại hàm (Thánh (nhất), q.268, tr.4670)

[28] Cao Trung Hiến viết: Tâm dữ thiên nhất nhi dĩ hĩ. Tâm đại vô ngoại, thiên đại vô ngoại… Thế nhân chi tầm cốc vu kiến văn chi hiệp. Thánh nhân cùng lý dĩ tân kỳ tâm chi toàn thể, tắc tri tính, tri Thiên nhi vô hữu ngoại chi tâm hĩ. Bất manh vu kiến văn, bất nhân kiến văn chi manh dã. 高 中 憲 曰 心 與 天 一 而 已 矣. 心 大 無 外 天 大 無 外… 世 人 之 心 梏 于 見 聞 之 狹. 聖 人 窮 理 以 盡 其 心 之 全 體 則 知 性 知 天 而 無 有 外 之 心 矣. 不 萌 于 見 聞 不 因 見 聞 而 萌 也 (Tống Nguyên học án, q.17, tr.25)

… Thiên nhân bản vô nhị… 天 人 本 無 二. Tống Nguyên học án, q.13, tr.17: Liêm Khê học án)

cf. Thomas de Kempis: Ecoute, homme inconstant et vide, ce que tu cherches n’est pas au dehors mais au dedans de toi: Cesse donc de chercher et rentre en toi-même si tu veux trouver le Christ. (lllan de Casa Fuerte, La religion essentielle, p.162)

[29] Đại học, ch.1.

[30] cf. A source Book in Indian philosophy, p.59.

Om ! He who knows Brahman, attains the highest !

as to that this (verse) has been declared: He who knows Brahman as the real, as knowledge (jnàna), as the infinite, set down in the secret place (of the heart and in the highest heaven,

He obtains all desires,

Together with the intelligent Brahman…

(Taittiriya Upanishad 2.1)

Thiên thánh giai quá ảnh, lương tri nãi ngô sư. 千 聖 皆 過 影 吾 心 乃 吾 師. Vương Dương Minh — Wang Tch’ang Tche SJ, La Philosophie morale Yang Ming, Appendice 1.

Trí tri tức trí trung dã. 致 知 即 致 中 也.Vương Dương Minh.

[31] Thiên lý dã nhân chi lý dã, tuần lý tắc dữ Thiên vi nhất. Dữ Thiên vi nhất, ngã phi ngã dã, lý dã; lý phi lý dã, Thiên dã… 天 理 也 人 之 理 也, 循 理 則 與 天 為 一. 與 天 為 一, 我 非 我 也; 理 非 理 也, 天 也 (Tống Nguyên học án, q.24, tr.5: Cảnh vu học án)

[32] Tử Đồng Tạ, Trung Hoa Triết học sử, tr.13.

[33] Ibidem, tr.10.

[34] Ibidem, tr.11.

[35] Ibidem, tr.12.

[36] Nam Hoa Kinh, Thu Thủy.

[37] Thanh Tĩnh Kinh, tr.64.

[38] Thượng phẩm đơn pháp, tiết thứ, tr.10.

[39] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, ch.12, Thiên địa đoạn K.

… Tâm truyền Nội Giáo vô vi,

Là cơ xuất thế, hồi qui Đông Đào.

Chiếu Minh: Đại thừa Chơn Giáo, tr.92.

[40] Cf. Eckart le Jeune. (lllan de Casa Fuerte: La Religion essentielle p. 155):… Un arbre reçoit l’essence, la hauteur et la largeur de ses racines. Si tu veux savoir d’où tu viens, demande-le à ton fonds, à la racine, à ton intention. Regarde combien ta profondeur a été pénetrée, combien tu t’es fixé à Dieu, que tu ne tends réellement que vers la terre; si tu ne cherches ni toi-même, ni rien qui t’appartiene alors en vérité je te le dis: tu es déiforme et divin…

[41] cf Tử Đồng Tạ, Trung Hoa triết học sử, tr.16: Lão Tử dĩ vũ trụ vạn vật giai Đạo chi sở sinh, Kỳ cứu cực tắc qui ư Đạo chi bản thể… 老 子 以 宇 宙 萬 物 皆 道 之 所 生, 其 究 極 則 歸 於 道 之 本 體.

[42] cf. Tử Đồng Tạ, Trung Hoa triết học sử, tr. 29: Liệt Tử: Tất kỳ tâm phản ư xung mạc vô trẫm chi bản thể… 必 其 心 返 於 沖 漠 無 朕 之 本 體.

[43] cf. Thanh Tĩnh Kinh, Siêu thoát phẩm. Xem lời giải thích câu: chân thường chi đạo, ngộ giả tự đắc… 真 常 之 道, 悟 者 自 得.

[44] cf. Phúc âm thánh Joan – Phi Lộ.

[45] N’est-il pas écrit dans votre Loi: «J’ai dit: vous êtes des Dieux?» (Jean 10-34. Psaume – 82.6)

– C’est en lui (Dieu) que nous avons la vie, le mouvement et l’être… car nous sommes de sa race. (Acte des Apôtres 4.17,28)

[46] Ut per hoec efficiamini divinoe consortes naturoe. (II Pierre I.4)

[47] Car déjà le Royaume de Dieu est en vous. (Luc 17-21. Bible Crampon) — Le Royaume de Dieu est au dedans de vous dit le Seigneur (Regnum Dei intra vos est, dicit Dominus) Imitation de Jésus Christ Livre III, chap. 1.

[48] Toute sa gloire et toute sa beauté est intérieure, c’est dans le secret du cœur qu’il se plaît. (Ibid., Livre II, ch.1.1)

[49] Il est manifeste que Dieu est la substance de tous les corps et de toutes les âmes.

Notre intention est de rendre intelligibles aux Latins toutes les parties de cette Philosophie réelle. (Saint Albert le Grand)

Illan de Casca Fuerte, La Religion essentielle, p. 131.

… Il faut savoir que Dieu demeure en toutes les âmes, fut-ce celle du plus grand pécheur du monde et y est présent en substance. Et cette manière d’union est toujours entre Dieu et toutes les créatures, selon laquelle il les conserve en leur être, de sorte que si elle venait à leur manquer, elles s’anéantiraient aussitôt et ne seraient plus… (St Jean de la Croix, La montée du Carmel. Desclée et Brower, p.133-134)

… Omnia per ipsum facta sunt et sine ipso factum est nihil quod factum est (Evangelium Secundum Joannem. Prologus Caput. I.3)

[50] f. Avoir toujours Dieu présent au dedans de soi et ne tenir à rien au dehors, c’est l’état de l’homme intérieur. (Ambulare cum Deo intus, nec aliqua affectione teneri foris, status est interni hominis.) (L’imitation de Jésus Christ, ch. VI, 4)

… C’est une grande grâce que Dieu nous fait quand il nous aide à le chercher dans notre intérieur. (Sainte Thérèse d’Avila, cité par Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.167)

[51] Cf. Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.130:

Monter vers Dieu, c’est entrer en soi-même. Celui qui entre en lui-même et pénètre au fond de son âme, se dépasse et atteint vraiment Dieu… (Paroles d’Albert le Grand)

… L’homme qui s’est ainsi élevé au dedans de lui-même entre plus profondément dans son centre. (Paroles d’Albert le Grand)

… Le ciel est au dedans et non au dehors de chacun.

… Le ciel est dans l’homme.

(Emmanuel Svedenborg, cité par Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.183)

[52] cf. Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.13:

… De l’esprit partirait une courbe de matérialisation pour revenir en s’allégeant jusqu’au point d’extrême spiritualité doué de la densité la plus faible. Ce mouvement constituerait l’immense cercle du crée, la manifestation du circulus vital issu du Principe générateur éternel…

[53] Tự vô cực thuyết đáo vạn vật thượng, thiên địa chi thủy chung dã, tự vạn sự phản đáo Vô cực, thánh nhân chi chung nhi thủy dã. Thủy chung chi thuyết tức sinh tử chi thuyết nhi khai tịch hỗn độn thất xích chi khứ lưu bất dự yên, tri hồ thử giả khả dữ thuyết đạo hĩ. 自 無 極 說 到 萬 物 上, 天 地 之 始 終 也, 自 萬 事 反 到 無 極, 聖 人 之 終 而 始 也. 始 終 之 說 即 生 死 之 說 而 開 闢 混 沌 七 尺 之 去 留 不 與 焉, 知 乎 此 者 可 與 說 道 矣 (Tống Nguyên học án, q.12, tr.1: Chu Liêm Khê học án)

Do tượng thức tâm, tuẫn tượng táng tâm. 由 象 識 心 徇 象 喪 心 (Tống Nguyên học án, q.17, tr.26: Hoành Cừ)

[54] le Cinq ou le zéro métaphysico-mathématique. (La Mathèse, p.31)

[55] Bôn ba nhất thế, tổng thị hư phù,               
奔 波 一 世 總 是 虛 浮

Vô thường nhất đán, vạn sự hưu;             
無 常 一 旦 萬 事 休

Cấp tảo hồi đầu.                                           
急 早 回 頭

Bí bản Gia Cát thần số, bài 46.

[56] Cùng tính mệnh chi nguyên, tất dĩ thể thiên vi học vấn chi bản. 窮 性 命 之 源, 必 以 體 天 為 學 問 之 本 (Tống Nguyên học án, q.11, tr.10)

Cf. aussi Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.23: «…La recherche par l’homme et dans l’homme de sa propre divinisation, la recherche par l’homme et dans l’homme du Dieu un…»

[57] Thánh nhân chi ý chính dĩ kỳ cứu cánh «chí cực vô danh, khả danh» cố đặc vị chi Thái cực… 聖 人 之 意 正 以 其 究 竟 至 極 無 名, 可 名 故 特 謂 之 太 極 (Tống Nguyên học án, q.12, tr.4)

[58]… Thiên vị dĩ chính trung dã. 天 位 以 正 中 也 (Dịch, Nhu quái).

[59] Quân tử hoàng trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã. 君 子 黃 中 通 理, 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 支, 發 於 事 業, 美 之 至 也 (Dịch, Khôn quái)

[60] Bất tư tắc bất năng thông vi, bất duệ tắc bất năng vô bất thông; thị tắc vô bất thông sinh vô thông vi, thông vi sinh vu tư, cố tư giả thánh công chi bản dã. 不 思 則 不能 通 微, 不 睿 則 不 能 無 不 通, 是 則 無 不 通 生 無 通 微, 通 微 生 于 思, 故 思 者 聖 功 之 本 也 (Tống Nguyên học án, q.11, tr.5)

[61] Bác hậu phối địa, cao minh phối Thiên, du cửu vô cương. 博 厚 配 地, 高 明 配 天, 悠 久 無 彊 (Trung Dung, ch.26)

[62] Đại nhân giả dĩ thiên địa vạn vật vi nhất thể dã. Kỳ thị thiên hạ do nhất gia. Trung Quốc do nhất nhân yên. Nhược phù gián hình hài nhi phân nhĩ ngã giả, tiểu nhân hĩ. 大 人 者 以 天 地 萬 物為 一體 也. 其 視 天 下 猶 一 家. 中 國 猶 一 人 焉. 若 夫 間 形 骸 而 分 爾 我 者, 小 人 矣 (Vương Dương Minh, Đại học vấn)

[63] cf. Les sept vallées. Baha’u’lláh, tr.15; Gustave le Bon, L’Evolution de la matière, p.219: «Si tu cherches à l’intérieur de chaque atome; Au milieu, tu trouves un soleil…»

– «…Nous leur ferons voir nos signes dans le monde et en eux-mêmes, et ils voyagent sur la mer de «ils comprendront qu’il est Dieu» (Qur’an) Ibid. p.16.

… Vũ trụ quan nói trên cũng phảng phất tương tự như những vũ trụ quan của Buffon, Kant, Laplace, Carl von Weizsašcker, Gérard P. Kuiper hay Edouard Lemaître về định luật tụ tán áp dụng vào vũ trụ. Nhà toán học A. Friedmann khi giải lại những phương trình của Einstein, cũng kết luận vũ trụ có thể giãn và co được. (cf. G.Gamow, La création de l’univers, tr.xiv, xv, 25 et ss.).

… Cf: Âme de la Chine, p.263. Toát lược triết học Hegel…

[64] Đạo Đức Kinh, ch.16.

… Tout être qui connaît sa propre essence revient à son essence par un retour complet (liber de causis livre attribué à Aristote. Illan de Casca Fuerte, Le Religion essentielle, p.56)

[65] Cực kỳ đại nhi hậu Trung khả cầu. Chỉ kỳ Trung nhi hậu đại khả hữu. 極 其 大 而 後 中 可 求. 止 其 中 而 後 大 可 有 (Tống Nguyên học án, q.17, tr.29: Hoành Cừ học án)

**************************         

Chương 12

NHÂN SINH QUAN THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ

Vì không hiểu được tầm quan trọng và cao siêu của Trung Dung, nên người đời thường cho rằng Trung Dung đưa ra một tập sống trung bình, không thái quá, không bất cập, một nếp sống cầu an, không gây mâu thuẫn, để sống một cuộc đời thoải mái, an nhàn.

Chủ trương này gần đây đã được chính học giả Lâm ngữ Đường mượn lời thơ Lý Mật Am giới thiệu cùng đọc giả Âu Mỹ, đây là lập trường «Trung Dung» hiểu theo nghĩa lưng chừng, nước đôi đó:[1]

«Ta sống quá nửa đời phù phiếm,

Mới nhận ra huyền nhiệm Trung Dung.

Trung Dung hương vị khôn cùng,

Làm cho lòng dạ tưng bừng niềm vui.

Lúc mà cái con người sướng nhất,

Chính là khi tới cấp trung niên.

Quang hoa dùng dắng triền miên,

Như chờ như đợi, gót tiên tạm dừng.

Cõi trần lọt giữa chừng Trời đất,

Giữa tỉnh quê, ta cất nhà ta.

Thảnh thơi ta mở trại hoa,

Giữa chừng sông núi, la đà nước non.

Biết vừa đủ, tiền nong vừa đủ,

Vòng lợi danh, vương nửa tấm son

Không sang nhưng cũng dễ nom,

Không giàu nhưng cũng còn dòn hơn ai.

Nhà ta xây nửa đài nửa các,

Đồ đạc ta lác đác đủ chơi,

Áo ta cũ mới chơi vơi,

Uống ăn na ná như người bậc trung,

Vài tôi tớ không thông không dở,

Vợ con ta đơ đỡ ta ưng,

Nửa tiên nửa tục lừng chừng

Nửa cùng thần thánh, nửa cùng thê nhi,

Nửa bụng dạ lo vì con cái.

Nửa tâm hồn gởi lại Hoàng thiên,

Để khi thoát xác, ta yên,

Biết đường thưa gửi, biết niềm tới lui.

Ngà say là lúc ly bôi,

Đóa hoa hàm tiếu là thời mê ly.

Buồm nửa cánh, thuyền đi thanh thả.

Cương vừa giong, vó ngựa mới hay.

Quá giầu phiền lụy sẽ dầy,

Quá nghèo cuộc sống sẽ đầy truân chuyên.

Trần ai sướng với phiền khó tách,

Trong ngọt ngào pha phách đắng cay.

Hưởng đời đừng quá mê say,

Lừng chừng đại khái, tháng ngày tiêu dao.[2]

Nhưng nếu Đức Khổng và các danh nho chỉ đưa ra cho nhân loại một mục phiêu, một lý tưởng tầm thường, thì có gì đáng cho hậu thế kính tôn.

Nếu Trung Dung và Kinh Dịch đã được các danh nho, các tiên hiền Đông Á cho là tuyệt phẩm thì nó phải có gì cao siêu gấp bội. Hơn nữa đã là tinh hoa nhân loại, chắc chắn phải tế vi ẩn náo, đã là Duy Tinh, Duy Nhất thì phải tuyệt đỉnh công phu. Bác tạp dễ tìm, tinh hoa khó kiếm: kỳ hoa dị thảo đâu phải của mỗi sớm bán mua ngoài cửa chợ!

Cho nên, có tốn công nghiên cứu, truy tầm, mới mong tìm ra được vi ý của cổ nhân, tìm ra được đường lối của thánh hiền…

TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐI TÌM ĐƯỜNG LỐI CỔ NHÂN

Nhưng lấy đâu ra tiêu chuẩn để đi tìm đường xưa, lối cũ. Hãy giở Trung Dung, đường lối thánh hiền phải hợp với nhân tâm thế đạo, hợp định luật đất Trời. Trung Dung viết:

«…Đạo quân tử phát xuất tự thâm tâm,

Đem trưng bày phổ cập tới thứ dân.

Khảo chứng tam vương, không có chi lầm lỗi,

Sánh với luật đất Trời không phản bội.

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng hề có chê bai…

So quỷ thần, đường lối đúng không sai

Thế là đã biết lòng Trời đó,

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng chê bai,

Thế là đã biết lòng người to rõ.» [3]

 Dịch Kinh viết: «…. Thực là mênh mông rộng rãi sánh đất Trời, biến hóa tựa bốn mùa, theo đúng chiều âm dương, sánh với hai vầng nhật nguyệt, tốt lành giản dị, phối hợp với đức tối cao.» [4]

Hơn nữa con đường lý tưởng ấy đã đã được vẽ thành những đồ bản trong Dịch Kinh.

Vậy ta chỉ cần nghiên cứu tìm hiểu các đồ bản, để tìm ra con đường đạo lý. Sau đó, ta sẽ khảo sát xem con đường đạo lý ấy có hợp với nhân tình thể thái, với định luật đất Trời, với chu kỳ nhật nguyệt, tinh thần hay không.

Có những tiêu chuẩn như trên, ta sẽ tha hồ lưng túi gió trăng, buồm mây chèo quế, lãng du trong rừng Nho biển Thánh mà không lo lạc bước.

ĐƯỜNG ĐỜI THEO DỊCH VÀ TRUNG DUNG

Nghiên cứu các đồ bản Dịch, các họa bản Bát Quái, ta đều thấy ngôi Thái cực được đặt vào trung tâm điểm. Ý Cổ nhân muốn nói Dịch, hay Vô Cực, hay Thái Cực, hay nói nôm na là Trời, là Tạo Hóa ở ngay trung tâm huyền diệu của vũ trụ. Người là tiểu vũ trụ, tức thị, Trời cũng ở ngay trong tâm hồn để làm trung tâm (Trung) bất biến (Dung), làm chân tâm nuôi sống con người, làm giường cột (axe) cho con người dựa nương.

Ta thường thấy dân Á Đông treo bát quái trước nhà mong trừ tà ma, phải chăng đó là tục lệ xa xưa để tỏ lòng tôn kính Thái Cực ở trung tâm Bát Quái, tượng trưng cho Trời.

Cắt nghĩa như vậy thì Trung Dung lại là Thái Cực, Trung Dung lại là Hồng Tâm cho mọi người ngắm vào, lại là mục đích thâm viễn của cuộc đời. Còn Dịch sẽ bao quát mọi sự biến hóa của vũ trụ và của con người mà mục đích tối hậu là thực hiện được Trung điểm hoàn thiện đó.[5]

Hình 20: Phục hi bát quái phương vị đồ

Nếu hiểu rằng Trời ở ngay Trung Tâm huyền diệu của vũ trụ; ở ngay trong tâm khoản con người, thì ta sẽ hiểu bài toán cao siêu mà Trời ra cho Nhân loại: Đứng trong khoảng càn khôn biến hóa vô lường làm sao tìm ra được lối về Trung Tâm bất biến? [6]

Biên khu luân lạc từ bao,

Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung ?

Đường Trung Dung linh lung ẩn khuất

Nẻo Bồng Lai gai lấp lau che !

Phục Hi đã giải bài toán đó trước tiên bằng mấy họa bản không lời. Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Chu Tử đều lãnh hội được vi ý của Phục Hi đã cố giảng giải cho ta, nhưng bức màn bí mật vẫn còn như khép kín, vì lời lẽ quá cao làm ta lạc lõng.

Hình 21: Vũ trụ tòng trung khởi nguyên đồ

Thiệu Khang Tiết là người đầu tiên giải thích rõ ràng hơn, chỉ vẽ cho ta biết đâu là đường lối Trời, đâu là đường lối người bằng cách đánh số tám quẻ, và bằng bài thơ sau đây:
 

«Nhĩ mục thông minh nam tử thân

耳 目 聰 明 男 子 身

Hồng Quân phú dữ bất vi bần

洪 鈞 賦 予 不 為 貧

Tu tham nguyệt quật phương tri vật

須 探 月 窟 方 知 物

Vị nhiếp thiên căn khởi thức nhân.

未 躡 天 根 豈 識 人

Càn ngộ Tốn thời quan nguyệt quật,

乾 遇 巽 時 觀 月 窟

Địa phùng lôi xứ kiến thiên căn.

地 逢 雷 處 見 天 根

Thiên căn, nguyệt quật thường lai vãng,

天 根 月 窟 常 來 往

Tam thập lục cung đô thị xuân.»

三 十 六 宮 都 是 春

Tạm dịch như sau:

Tai mắt: nam nhi đứng cõi đời,

Lòng mang Tạo hóa há đâu chơi !

Quyết thăm nguyệt động cho hay vật,

Cố hiểu thiên căn để biết người.

Trời nổi gió giông thông động nguyệt,

Đất vang sấm chớp lộ căn Trời.

Căn Trời động nguyệt thường lai vãng,

Ba sáu cung xuân trọn vẹn đời.

Hội ý Thiệu Khang Tiết, ta thấy rằng công cuộc tạo hành vũ trụ luôn đi từ chỗ phác giản đến tần phiền theo hình vẽ sau:

 
1 ➔ 2 ➔ 3 ➔ 4 ➔ 5 ➔ 6 ➔ 7 ➔ 8

Còn công cuộc tu luyện con người phải chia làm hai giai đoạn:

1. Nửa đời đầu (5 ➔ 6 ➔ 7 ➔ 8), đi từ phác giản đến tần phiền, Tinh thần phải mạo hiểm vào trần hoàn và vật chất để tìm hiểu vũ trụ, để mưu sinh. Đó là giai đoạn hướng ngoại, giai đoạn nghịch mà tinh thần sẽ bị nô lệ hoàn cảnh rất nhiều (khuất 屈), đó là giai đoạn ra đi (khứ 去 ).

2. Nửa đời sau (4 ➔ 3 ➔ 2 ➔ 1), đi từ tần phiền đến phác giản, từ thô đến tinh, dùng vật chất để tài bồi cho tinh thần ngày thêm cao đẹp cho đến chỗ thuần túy chí thiện, nên như ảnh tượng Trời (Càn 乾), khả dĩ có thể kếr hợp với Trời, vào yên nghỉ được ở Trung tâm huyền diệu của Vũ trụ (Thái cực, Trung Dung). Đó là giai đoạn thuận, giai đoạn trở về (lai). Trong giai đoạn này tinh thần dần dần sẽ chế ngự được hoàn cảnh, sẽ được thảnh thơi thoải mái (thân 伸).

Hai giai đoạn trên được xác định bằng đồ bản sau đây:

Nên nhìn kỹ 32 quẻ thiên tiên bát quái phía hữu, ta thấy hào sơ (hào nằm trong cùng) toàn là hào Âm; còn nhìn sang 32 quẻ phía trái, ta thấy hào sơ (hào nằm phía trong cùng) đều là hào Dương. Vì thế Hệ Từ đã nói: Nhất âm nhất dương chi vị đạo… Đó là lẽ «Âm Dương đối trĩ» của Dịch Kinh.

Thánh hiền thiên cổ đã đem quẻ Cấu «phong trần» để tượng trưng bước đầu đường luân lạc của con người, và đem quẻ Phục «hồi phục» để đánh dấu giai đoạn trong sáng của những người đã thấy «Thiên địa chi tâm».[7]

Đường lối này là theo đúng lẽ Âm Dương tiêu trưởng của đất Trời.

Giai đoạn đầu là «Dương tiêu Âm trưởng» con người sa đọa, lạc lõng dần vào cảnh phù du hư ảo bên ngoài, đem tâm thần bán rẻ lấy bát cơm manh áo, đem thân làm tôi tớ cho hoàn cảnh xã hội, mà vẫn lấy thế làm vinh dự. Trong giai đoạn này, vật chất dần dần đóng vai trò tối thượng. Nhưng có giai đoạn này thì giang san mới được tô điểm, hoàn cảnh vật chất của quần chúng mới được cải thiện. Tinh thần trong giai đoạn này dần thu gọn lại như một ánh sao trên bầu trời vân vũ.

Hệ Từ viết: «Con sâu đo nó co để rồi nó duỗi. Con rồng, con rắn nó ẩn để bảo tồn tấm thân. Có hiểu kỹ càng mới thấy lợi ích lớn lao. Cầu an thân trước rồi mới có ngày sùng Đức cả.»[8]

Đó tức là:

«Anh hùng khi gặc khúc lươn

Khi cuộn thời ngắn khi vươn thì dài.» (ca dao)

Giai đoạn sau là «Âm tiêu, dương trưởng». Tinh thần đã biết hướng thượng, tìm ra nguồn mạch cao cả của mình, và sẽ dùng vật chất làm thang mây mà tiến lần về Trời.
 
Trong giai đoạn này, tinh thần dần dần đóng vai trò tối thượng. Nó thích hợp với những người đã tuổi, đã già, những con người đã biết quẳng gánh lo, thoát vòng danh lợi để quay về tu luyện bản thân nêu gương sáng soi cho đời, mong kết hợp với Trời để được trường sinh bất tử. Ngược lại, vật chất xuống giá dần để cuối cùng biến thành chiếc xe mây cho khách du rong ruổi trên đường «thiên lý» sáng trong như ngọc thạch.

Con đường lý tưởng này gồm cả hai bề vật chất, tinh thần uyển chuyển diễn tiến theo đà tuổi tác, như một bài thơ, một bản nhạc mà tiết tấu hòa nhịp với trăng sao.

ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG VỚI CHU KỲ NHẬT NGUYỆT TINH THÌN

Con người lý tưởng mong mỏi khi giã từ thế tục, tâm hồn sáng quắc như mặt trăng ngày rằm, như mặt trời chính ngọ, hay mặt Trời ngày Hạ chí. Mà kỳ diệu thay, nếu ta theo vòng Dịch trên mà đi tuần tự như vậy, thì ta sẽ thấy ta lúc thoát tục, cũng là trong lúc trăng tròn, hay lúc mặt trời chính ngọ.

Con người lý tưởng lúc sơ sinh cũng như vầng trăng vừa quá rằm đẹp đẽ. Nhưng dần dà lớn lên, lạc lõng vào cuộc đời tìm sinh kế, cũng như vầng trăng khuyết dần, mờ dần, đến lúc công danh ở đời rực rỡ, lợi lộc ở đời dồi dào, thì lại là lúc mà tinh thần nghèo nàn nhất.

Nhưng, con người lý tưởng không thể bị vật dục che mờ mãi; nhờ suy tư về sự chất chưởng bên ngoài, con người đó có ngày sẽ tìm lại được nguồn sống bên trong, sẽ dần dần tài bồi cho tâm hồn mình thêm hoàn bị, và lúc thoát ly cuộc đời, sẽ rực rỡ như trăng hôm rằm.

Con đường lý tưởng nói trên cũng vạch lại sự thăng trầm của vừng dương.

Sau ngày Hạ chí, mặt trời vào cung Cự Giải; ánh sáng và sức nóng một ngày một giảm cho tới cực độ ở ngày Đông chí.

Nhưng, từ ngày Đông chí trở đi, thì mặt trời lại nóng lên sáng lên dần mãi, đem ánh dương quang đượm nhuần cho hoa lá trổ sinh, tưng bừng rộn rã với ngày xuân, và dần dần trở lại ngôi vị tối thượng vào ngày Hạ chí.

Hình 22: Chu kỳ mặt trăng

Nếu xét vòng chu thiên trong một ngày đêm, thì cuộc đời lý tưởng của người quân tử lúc sơ sinh cũng đẹp y như mặt trời lúc quá ngọ. Lúc lớn lên, bị vật dục che mờ, người quân tử cũng như mặt trời trải qua những cảnh hoàng hôn và cảnh đêm dài tịch liêu u tối; nhưng rồi ra, con người lý tưởng ấy dần dà sẽ gỡ được mọi tần phiền, để cùng mặt trời, trang trọng hiện lên trên nhãn giới lúc bình minh muôn thủa cùng bình minh hứa hẹn một trời trong sáng mới và khi lìa thế sự, sẽ là «Nhật lệ trung thiên» sáng quắc cả bầu Trời…[9] Hơn nữa, con đường Hoàng Đạo mà người lý tưởng đi cũng là con đường mà Nhị Thập Bát Tú ruổi rong.

**************************         

ĐƯỜNG ĐỜI LÝ TƯỞNG VÀ LẼ BIẾN THÔNG CỦA 4 MÙA

– Đem sánh với bốn mùa, ta thấy con đường lý tưởng này hợp lẽ biến thông của thời tiết.

Lúc sơ sinh là lúc nhựa sống tràn đầy như muôn hoa khoe sắc trên cành sau ngày Hạ Chí. Lúc lớn lên bước dần vào cuộc đời, thấy làn tâm sự cũng dần ngã sang thu, và đến lúc hoa niên, khi đã tiêu pha hết vốn liếng tinh thần, khi đã:

«Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ,

Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu.»

Tâm hồn lắm lúc cảm thấy lạnh lùng, như băng giá. Nhưng có sương tuyết lạnh lùng mới có lại ngày xuân ấm áp: Trong những giờ phút con người chán ngán nhân tình thế thái lại là lúc con người thấy mở tung trong tâm khảm mình một nhãn giới vô biên.

Thế là khi mái tóc hoa râm, thì tinh thần lại đượm màu xuân sắc. Một nguồn thơ mộng mới dâng lên giữa những cảnh ngộ éo le của cuộc đời. Mùa xuân đầy hy vọng trở về với một nguồn sống tinh thần mới …

Và cũng như cây đâm chồi nảy lộc, vươn mãi lên khung Trời trong ngày xuân ấm áp, tâm hồn cũng vươn mãi lên cho tới vinh hoa cao đẹp. Cuối cùng lúc từ giã cuộc đời, tâm hồn vẫn còn chứa chan nhựa sống như Trời mùa hạ. Bao công lao sự nghiệp của cuộc đời bây giờ nở tung như muôn hoa tươi thắm để không bao giờ tàn phai…

CON ĐƯỜNG LÝ TƯỞNG VỚI NHÂN TÂM THẾ ĐẠO

Con đường lý tưởng đó cũng rất phù hợp với nhân tâm thế đạo.

Con người ta bao ngàn năm nay, vì không hiểu định luật thiên nhiên nên đã không đi theo đúng nhịp thời gian tuổi tác, gò bó mình vào những khuôn khổ chật hẹp, máy móc hóa một cuộc đời đáng lý là thơ mộng, hay lại quá phóng túng mình đến tan tác cả cuộc đời. Mặc dầu vậy, họ vẫn phác họa lại trong cuộc đời mình bóng dáng cuộc đời lý tưởng đó.

Bé thì thơ ngây, hồn nhiên vô tội; rồi dần dà trở nên phóng ngoại, trở nên tò mò, rồi cũng tranh đấu, xông xáo, cũng dấn thân vào phong trần vật chất như ai. Lúc mái tóc hoa râm, lắm lúc cũng thấy giật mình muốn đoạn tuyệt với cuộc đời phóng đãng của mình muốn «hồi tâm tu tỉnh». Khi trở về già thì không ai bảo ai, bất kỳ thuộc tôn giáo nào, con người cũng muốn quay về cùng Trời, Phật, Thần, Thánh, cũng kinh kệ tụng niệm như ai …

Càng dấn thân (engagement) vào đời phong vũ bao nhiêu lại càng mong muốn thoát thân (dégagement) ra ngoài vòng cương tỏa bấy nhiêu. Nếu như thấy được «Thiên địa chi tâm», tìm ra được ảnh tượng Trời trong đáy lòng mình là sẽ bước được vào con đường giải thoát.

Nói rộng ra, thì nhân loại cũng đang đi trên vòng càn khôn đó, nhưng chập chạp ….

Giai đoạn đầu là giai đoạn đạo hạnh phù phiếm xốc nổi bên ngoài, để rồi dần dần lạc lõng vào giai đoạn dị đoan mê tín. Càng phóng ngoại bao nhiêu, càng chạy theo cái học «Trục vật» bao nhiêu thì lại càng đi đến chỗ sa đọa tinh thần bấy nhiêu, càng «Nghịch thiên», «bối Thiên» bấy nhiêu. Nhưng chính nhờ giai đoạn sùng thượng vật chất này mà nhân loại đã giải quyết được những vấn đề mưu sinh, thích ứng với hoàn cảnh, nhân loại đã xây dựng được hạ tầng cơ sở cho vững chắc.

Nhưng, khi đã trưởng thành, khi đã quá đâm chém nhau, quá dè bỉu, ghen ghét nhau, quá bóc lột áp bức nhau, nhân loại sẽ dần dần trở lại sùng thượng các giá trị tinh thần vĩnh cửu. Hiểu cuộc đời theo lẽ Dịch nói trên sẽ mở một con đường tiến hóa bao la cho cá nhân cũng như cho nhân quần xã hội.

Cá nhân sẽ tùy theo tuổi tác mình, tùy theo «thời», tùy theo khuynh hướng của từng tuổi mà làm những công tác mình phải làm để cây đàn bản thân lúc nào cũng hòa âm đúng cung điệu tiết tấu gia đình, xã hội quốc gia, quốc tế, nhân loại và đất trời. Đó tức là biết «ứng biến theo trời».[10]

Nhân loại và cá nhân sẽ không ăn rễ sâu xa vào vật chất mà chỉ coi vật chất là phụ thuộc, văn minh vật chất là một chặn đường tiến hóa của mình, một lớp lang nhỏ bé trong tấn tuồng vĩ đại của Trời đất.

ÂU Á GẶP NHAU TRÊN ĐƯỜNG HOÀNG ĐẠO

Các nước cổ Ba Tư, Ai Cập, Chaldée không biết vòng Dịch chu thiên của Phục Hi, nhưng lại nghĩ ra vòng Hoàng Đạo với những ẩn ý tương tự vòng Dịch.

Vòng Hoàng Đạo cũng có 12 cung, ứng với 12 cung Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, v.v. của vòng Dịch. Cung Mùi là cung Cự Giải (cancer), cung Tý là cung Nhân Mã (Sagitaire), cung Sửu là cung Ma Yết (Capricorne), cung Ngọ là cung Song Tử (Gémeaux), v.v.

Hình 23: Vòng Hoàng Đạo đối chiếu với vòng Dịch

Thiệu Khang Tiết phân biệt hai chặn đường Cấu và Phục, thì Macrobe cũng cho rằng Cung Cự Giải là cửa người và Cung Ma Yết là cửa thần minh, đôi bên cách nhau một giải Ngân Hà. Giải Ngân Hà ấy phải chăng đã được tượng trưng bằng con đường lượn qua giữa vòng bát quái của Chu Dịch.[11]

Các sách cổ Á Đông dùng con rồng để tượng trưng các đấng thánh nhân, nên cũng cho con rồng biến hóa theo vòng Dịch trên: «Rồng có thể tối hay sáng, ngắn hay dài. Xuân phân bay bổng lên Trời, thu phân lặn sâu đáy vực.»[12]

Các sách cổ Ai Cập thì lại có câu chuyện thần thoại về thần Osiris (Thái Dương Thần) thay vào đó. Thần Osiris mới đầu cũng bị gian truân đọa đầy, sau Xuân Phân lại trở về ngôi cửu ngũ.[13]

Tóm lại, các Đồ Dịch cũng như vòng Hoàng Đạo, tuy không lời, nhưng chứa chan ý nghĩa.

Thiệu Khang Tiết nói: Đồ Dịch tuy không văn tự, nhưng ta nói suốt ngày cũng không ra ngoài được vấn đề, vì tất cả nghĩa lý của Trời đất muôn, muôn vật đều nằm trong đó.[14]

**************************         

Ý CỔ NHÂN

Thánh hiền Đông Á mượn chủ đề Dịch để biện minh thuyết «Nhất sinh vạn» và chỉ lối đường để ta có thể từ «Vạn qui nhất».[15]

Dịch gọi đó là phương pháp «Khai vật thành vụ»,[16] cho xem trước đầu đuôi chuyện đời rồi mới dạy cho biết cách hoàn thành lý tưởng.

Đường đời, theo Dịch Kinh, đều do một tâm điểm tung ra muôn vạn ngả. Ta có lao đao suốt đời cũng chẳng sao đi hết muôn vạn ngả đường. Càng phiêu lưu, càng lạc lõng. Càng đi sâu vào một con đường, càng thông tỏ chi tiết về một vấn đề, thì lại càng thấy mình bất lực kém cỏi, lại càng mù mờ về toàn thể vô biên. Đi ra vạn, phiêu lãng trên muôn vạn ngã đường, dù có thành công đến đâu, trong thâm tâm vẫn thấy mình như thân phận cánh bèo, bình bồng mặt nước chân mây, mà chẳng biết sẽ trôi dạt về đâu, bởi vì vạn chỉ là như một bóng hình hư ảo của nhất:

«Đồ tri tụ xứ ninh tri tán,

Đãn thức phù thời ná thức trầm?» (thơ chiếc bèo).

Trở lại được với NHẤT sẽ là con người lý tưởng. Người xưa gọi thế là chí nhân,[17] chân nhân. Đào Hư Tử cho thế là tâm hồn trở về đấng có trước đất trời.[18]

Lối đường do «vạn qui nhất» đã được xác định bằng các đồ Dịch của cổ nhân, theo đúng chiều ngũ hành tương sinh.

Chu Hi cũng vẽ con đường đó bằng cách tán phân bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh lên vòng càn khôn.

HAI NGẢ ĐƯỜNG ĐỜI

Con đường từ «Vạn qui nhất» trên vòng Dịch, mới trông tưởng là tròn trĩnh không kẽ hở. Nhưng thực ra con đường đó vẫn phân làm đôi ngả Âm Dương.

Nửa đời đầu, vì con người một ngày một chìm đắm vào bóng tối vật chất, nên Kinh Dịch gọi là Dương đạo, Thiên đạo, hay Càn đạo.[19]

Hệ từ viết: «Nhất âm nhất dương chi vị đạo. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả tính dã.» 一 陰 一 陽 之 謂 道. 繼 之 者 善 也,成 之 者 性 也.

Đường đời có 2 chiều: 1 chiều âm 1 chiều dương, bước vào đường đời đã là hay, đi cho đến cuối đường sẽ phục hồi được tính Trời.

Đi chiều âm, đi vào con đường vật chất sẽ tiến tới chỗ Bất nhân, chỗ không toàn thiện.

Đi chiều dương, đi vào con đường tinh thần: sẽ tiến tới chỗ Nhân chỗ toàn thiện.

Đức Khổng Tử nói: Đường có 2 ngả: «Nhân và bất nhân.» [20]

Đào Hư Tử, theo gợi ý đó, cũng đã viết: «Năm mươi năm đầu cuộc đời, là tiến số, là học để giúp đời; càng ngày càng phải tu nhân tích đức.» [21]

Luận ngữ viết: «Đến chừng bốn năm mươi, mà ta chưa nghe danh tiếng họ, chừng ấy ta chẳng còn sợ họ nữa.» [22]

Nhưng con người không phải quay cuồng mãi trong vũ trụ, mà ta cũng có lúc được vào Trung cung huyền diệu để làm chủ chốt vũ trụ. Bí quyết này được diễn tả bằng những hành động tượng trưng của Thiên tử xưa trong tòa Minh đường.

Mỗi năm, sau ngày Hạ chí vua sẽ vào Trung cung Minh đường, mặc hoàng bào và ở đó ít ngày, cốt tượng trưng quyền Thiên tử là khu hữu cho không gian và thời gian …[23]

KẾT LUẬN

Nghiên cứu các đồ Dịch chúng ta đã thấy các cổ nhân đã phơi bày lẽ «Càn khôn hạp tịch», đã tháo gỡ guồng máy Âm Dương, đem cài lên những bức họa không lời, để vẽ đường chỉ lối cho ta. Càng suy cứu vi ý cổ nhân, ta càng thấy lý thú. Đồ Dịch thiên nhiên còn phân ngôi chủ khách đem lẽ cát hung, thiện ác làm thành hai bức câu đối vĩ đại treo giữa đất Trời cho tao nhân mặc khách muôn đời thưởng thức.

Đôi câu đối này không đối chữ treo luật trắc bằng, nhưng đối quẻ, đối hào, đối ý, đối lý:

Cát吉      凶 Hung

Thiện善      惡 Ác

Chủ主      客 Khách

Tức là:

Đọc đôi câu đối trên, ta sẽ nghiệm ra phương pháp «xu cát tị hung», «ức âm tiến dương», «trưởng thiện tiêu ác» của người xưa, biết tới biết lui, biết tìm sự sống qua sự chết, biết tìm cái hay qua cái dở, tóm lại biết «Định luật tương đối» chi phối con người ra sao…

«Mới hay Không-Có chuyển vần,

«Dễ sinh ra Khó, Vắn nhân thành Dài.

«Thấp-Cao tùy ngó ngược xuôi

«Tiếng ca Trầm-Bổng giòng đời Trước-Sau.»[24]

Thế mới hay:

«Gẫm đạo lý có sau có trước ,

Lẽ âm dương có ngược có xuôi.

Ngược là gió cuốn bụi đời,[25]

Đẩy đưa vào chốn trần ai, cát lầm.

Có thử thách mới phân vàng đá,

Có lầm than mới rõ chuyện đời.

Khi xuôi sấm chớp tơi bời,[26]

Tầng sâu bày giải căn Trời nội tâm.[27]

Trông tỏ đích chí nhân, chí chính,

Biết mục phiêu sẽ định sẽ an.

Rồi ra suy xét nguồn cơn,

Con đường phối mệnh chu toàn tóc tơ …»

Hiểu thế ta sẽ tìm ra được vi ý cổ nhân, tìm ra được then chốt kho tàng sử sách Á Đông, ta ra được phương pháp khai thác kho tàng ấy.

Thật vậy, các thánh hiền Đông Á, từ Phục Hi, Hoàng đế, đến Nghiêu, Thuấn, Khổng Tử, Lão Tử khi soạn thảo sách vở, chỉ cốt xiển minh lẽ «Thiên nhân tương dữ» 天 人 相 與 (Trời người giao hảo), chỉ cốt tìm ra phương pháp thể hiện lý tưởng «Thiên nhân hợp nhất» 天 人 合 一 (Trời người hợp nhất) mà thôi.[28]

Cho nên cũng như Trung Dung chỉ cốt dạy con người biết kính sợ Trời tàng ẩn trong thâm tâm mình,[29] dạy con người đừng để cho tâm hồn tan tác, tả tơi trước gió giông hoàn cảnh, trước sự thử thách, cám dỗ bên ngoài, cải thiện bản thân đến chỗ hoàn thiện khả dĩ có thể sống kết hợp với Trời (Phối thiên) cùng đất trời trường sinh bất tử.

Nhưng Dịch và Trung Dung lại dạy ta đừng vội vàng; phải học đi trên đất rồi mới học bay lên trời, phải biết tìm miếng cơm trước khi tìm nghĩa lý, phải thực tiễn trước, lý tưởng sau. Thế mới biết là thời cơ, biết lẽ tiến thoái, biết uyển chuyển ứng phó với hoàn cảnh, biết biến thiên theo nhịp thời gian tuổi tác, để lúc nào đời cũng đẹp như thơ, lúc nào đời cũng nhịp nhàng tiết tấu như một khúc nhạc.[30]

Khúc nhạc đó thực tuyệt vời, có vui, có buồn, có nhanh, có chậm, lúc lâm li, lúc hùng tráng, lúc rạt rào như thác đổ đầu ghềnh, lúc khinh khoát, êm đềm như gió thu lướt qua hàng tơ liễu, lúc lặng lẽ như ánh tường vân lãng đãng xuôi Nam trên đường đời muôn dặm…

Thực là:

«Trời xanh dẫn dắt chúng dân

Như là tấu khúc nhạc huân nhạc trì

Trời, người, đôi ngọc chương khuê

Bên cho, bên lấy đề huề biết bao.

Tay cầm tay dắt khéo sao!

Trời xanh dẫn dắt dân nào khó chi!» [31]

————————–
**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Bản dịch Việt văn này theo bản Pháp văn trong quyển «L’importance de vivre» của Lin Yuntang, tr.123-124.

[2] J’ai déjà vu la plus grande moitié de cette vie flottante.

Ah qu’il y a un mot magique.

Ce mot moitié d’une portée si riche,

Il nous fait gouter plus de joie,

Que nous n’en pouvons posséder.

Le meilleur état de l’homme

Est à mi-chemin entre la vie,

Quand un pas ralenti lui permet le repos;

Le monde se trouve à mi chemin «entre la terre et le ciel»

Vivre à mi-chemin entre la ville et la campagne;

Avoir des fermes à mi-chemin entre les rivières et les montagnes;

Etre à demi savant, à demi châtelatin, à demi home d’affaires;

Vivre à moitié comme un noble,

Et à moitié comme le commun des gens;

Avoir une maison moitié belle, moitié laide

Moitié élégamment meublée et moitié nue;

Des vêtements moitié vieux, moitié neufs

Et une nourriture mi-rechercheé, et mi-simple;

Avoir des serviteurs ni trop intelligents, ni trop bêtes;

Une femme qui soit ni trop simple ni trop habile

Au fond, je me sens la moitié d’un Bouddha

Et presque la moitié d’un bienheureux taoiste.

La moitié de moi-même est tournée vers le Ciel,

L’autre moitié vers mes enfants,

Pensant à moitié comment assurer l’avenir de ma postérité,

Et à moitié comment me présenter devant Dieu,

Quand le corps sera laissé en repos.

Il est le plus sagement ivre, celui qui est à moitié ivre;

Et les fleurs à moitié en boutons sont les plus belles;

Les bateaux à demi voilés naviguent le mieux;

Et les chevaux avec les rênes à moitié tendues trottent le mieux.

Qui possède moitié trop est inquiet

Qui possède moitié trop peu désire posséder plus.

Puisque la vie est à la fois amère et douce

Celui qui n’en goute que la moitié est plus sage et plus intelligent.

Lin Yutang, L’Importance de vivre, p.123-124.

[3] Cố, quân tử chi đạo, bản chư thân, trưng chư thứ dân. Khảo chư tam vương nhi bất mậu; Kiến chư thiên địa nhi bất bội. Chất chư quỉ thần nhi vô nghi. Bách thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc. Chất chư quỉ thần nhi vô nghi, tri thiên dã. Bá thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc, tri nhân dã. 故 君 子 之 道, 本 諸 身, 征 諸 庶 民. 考 諸 三 王 而 不繆, 建 諸 天 地 而 不 悖. 質 諸 鬼 神 而 無 疑. 百 世 以 俟 聖 人 而 不 感. 質 鬼 神 而 無 疑 知 天 也. 百 世 以 俟 聖 人 而 不 感, 知 人 也 (Trung Dung, ch.29)

[4] Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời. Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, Dị giản chi thiện phối chí đức. 廣 大 配 天 地, 變 通 配 四 時. 陰 陽 之 義 配 日 月, 易 簡 之 善 配 至 德 (Hệ Từ Thượng)

[5] Trong khảo luận này, tác giả dùng chữ Trung để chỉ bất biến, chữ Dịch để chỉ biến thiên mà không dùng các nghĩa khác của chữ Dịch.

[6] Cf. Claude de Saint Martin, cité par Illan de Casa Fuerte, La Relligion essentielle, p.200: «… Le Principe suprême, source de toutes les puissances, soit de celles qui vivifient les pensées dans l’homme, soit de celles qui engendrent les oeuvres visibles de la nature matérielle; cet être nécessaire à tous les êtres germe de toutes les actions, de qui émanent (mot fatal, plume qui trahit) continuellement toutes les existences; ce terme fatal, vers lequel elles tendent, comme par un effort irrésistible, parce que toutes recherchent la vie; cet être dis-je, est celui que les hommes appellent généralement Dieu.

[7] Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ?                   
復 其 見 天 地 之 心 乎

Dương khí sinh lai trần mộng tỉnh                   
陽 氣 生 來 塵 夢 醒

Nhiếp tình hợp tính qui kim đỉnh                       
攝 情 合 性 歸 金 頂

Vận phù tam bách túc chu thiên                     
運 符 三 百 足 周 天

Phục khí tứ thời qui tĩnh định                           
伏 氣 四 時 歸 靜 定

Thất nhật thiên tâm dương vị phục                 
七 日 天 心 陽 未 復

Ngũ long bổng thánh côn lôn đỉnh                 
五 龍 捧 聖 崑 崙 頂

Huỳnh đình thập nguyệt sản linh đồng         
黃 庭 十 月 產 靈 童

Giá hạc lăng tiêu nhiệm du sính                     
駕 鶴 凌 霄 任 遊 騁

(Tiên thiên luận ngữ, tr.5)

[8] Xích quặc chi khuất, dĩ cầu thân dã. Long xà chi trập dĩ tồn thân dã. Tinh nghĩa nhập thần, dĩ chí dụng dã. Lợi dụng an thân dĩ sùng đức dã. 尺 蠖 之 屈, 以 求 伸 也. 龍 蛇 之 蟄 以 存 身 也. 精 義 入 神, 以 至 用 也. 利 用 安 身 以 崇 德 也 (Hệ Từ Hạ, V)

[9] Cours apparent du Soleil.

[10] Tri xu thời ứng biến. (Tính Lý, I,42)

[11] The Galaxy, Macrobius says, crosses the zodiac in two opposite points, Cancer and Capricorn, the tropical points in the sun’s course, ordinarily called the gates of the sun. These two tropics, before his time, corresponded with those constellations but in his day with Gemini and Sagittarius, in consequence of the procession of the equinoxes; but the signs of the Zodiac remained unchanged; and the Milky Way crossed at the signs Cancer and Capricorn though not at those constellations. Through these gates, souls were supposed to descend to earth and reascend to Heaven. One, Macrobius says, in his dream of Scipio, was styled the Gate of Men; and the other, the Gate of the Gods. Cancer was the former because souls decended by it to the earth; and Capricorn the latter, because by it they reascended to their seats of immortality, and because Gods… (Les Orphiques croyaient dans le Cancer le portail par où âmes entraient en incarnation sortant en multitude de la Voie Lactée…) (L’occultisme du Zodiaque, p.89)

….. Il est intéressant de voir que la naissance de l’univers se place tout au commencement du signe (Capricorne) était symbolisée par la naissance du Dieu solaire ou de l’enfant divin au solstice d’hiver, tandis que la dissolution de l’univers matériel, suivant les Écritures de l’Inde, se produit à la fin du signe… (ibid. 121)

[12] Năng u năng minh, năng tế năng cự, năng đoản năng trường. Xuân phân nhi thăng thiên, Thu phân nhi tiềm uyên. 能 幽 能 明, 能 細 能 巨, 能 短 能 長 春 分 而 升 天 秋 分 而 潛 淵 (Léon Wieger, Textes philosophiques. Le Dragon I,15)

[13] Soon they personnified the sun and worshipped him under the name of Osiris and transmuted the legend of his descent among the winter signs, into a fable of his descent into the infernal region, and his ressurrection.

[14] Đồ (Tiên thiên đồ dã) tuy vô văn, ngô chung nhật ngôn nhi vị thường ly hồ thị, cái thiên địa vạn vật chi lý tận tại kỳ trung hĩ. (Tính Lý 1: Kinh Thế, tr.58, 59)

[15] Trình Phu Tử viết: Tri vạn lý qui ư nhất lý nhi bất tri nhất lý tán ư vạn sự, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng, tự tha bất gián ư vi trần, thủy chung bất ly ư đương niệm, cùng huyền cực diệu, phi nhị thừa phàm phu chi sở năng tri dã. (Đạo dư lục 19).

[16] Thánh nhân chi ưu thiên hạ lai thế kỳ chí hĩ. Tiên thiên hạ nhi khai kỳ vật, hậu thiên hạ nhi thành kỳ vụ. (Dịch Kinh đại toàn, Dịch tự)

[17] Chí nhân chi tâm định vu nhất. 至 人 之 心 定 于 一 (Chẩm thượng ngữ, tr.1)

[18] Tâm phản vu tiên thiên chi tiên tắc siêu vụ hình số chi ngoại, xuất nhập sinh tử, bất vi hình số sở câu. 心 反 于 先 天 之 先 則 超 于 形 數 之 外, 出 入 生 死, 不 為 形 數 所 拘 (Chẩm thượng ngữ, tr.1)

[19] Cf. Dr. A. Besant, La Sagesse des Upanishads. p.92: Mais par la mort, s’ouvrent deux sentiers, le Pitriyâna ou sentier des Pitris, et le Devayâna ou sentier des Dieux. Ils nous sont très soigneusement, décrits dans quelques passages que je vais vous résumer, et que l’on trouve dans les Brihadaranyaka, Chândogya et Prasna Upanishads (Brah. Up. VI, II, 2-16; Chand. Up. V, II, Prasna I,9-10; Chand. 4. 15. 5; Chand. 5. 10. Bha. Gita 8,24-16)

Les mots indiquant obscurité tels que fumée, nuage, quinzaine sombre etc…) impliquent emprisonnement dans la matière et correspondent au retour sur la terre, par une nouvelle naissance; les mots signifiant lumière s’appliquent au triomphe du soi et correspondent au sentier des Dieux par lequel on ne retourne pas.

[20] Khổng Tử viết: Đạo nhị: nhân dữ bất nhân nhi dĩ hĩ. 孔 子 曰 道 二 仁 與 不 仁 而 已 矣 (Mạnh Tử, Ly lâu [thượng-2])

[21] Nhân sinh ngũ thập chi tiền vi tiến số, dụng thế chi học, đương nhất nhật chương nhất nhật. Ngũ thập dĩ hậu, vi thoái số, thùy thế chi học đương nhất nhật tích nhất nhật. 人 生 五 十 之 前 為 進 數, 用 世 之 學, 當 一 日 章 一 日. 五 十 以 後, 為 退 數, 垂 世 之 學 當 一 日 積 一 日.

[22] Tứ thập, ngũ thập nhi vô văn yên tư diệc bất túc úy dã dĩ. 四 十, 五 十 而 無 聞 焉 斯 亦 不 足 畏 也 已 (Luận Ngữ, Tử Hãn, câu 22)

[23] Cf: Marcel Granet, La Pensée Chinoise, p.103: Mais le Chef ne peut poursuivre indéfiniment sa circulation périphérique sous peine de ne jamais porter les insignes qui correspondent au centre qui sont l’apanage du suzerain – Aussi quand est fini le troisième mois de l’été interrompt-il le travail qui lui permet de singulariser les diverses durées. Il se vêt alors de jaune et cessant d’imiter la marche du soleil, va se poster au centre du Minh t’ang. S’il veut animer l’espace, il faut bien qu’il occupe cette place royale et dès qu’il s’y arrête, c’est d’elle qu’il semble animer le temps: il a donné un centre à l’année …

[24] Lão Tử, Đạo Đức Kinh, ch.2-2: Hữu vô tương sanh. Cao hạ chi tương khuynh. Nan dị chi tương thành. Âm thanh chi tương hòa. Trường đoản chi tương hình. Tiền hậu chi tương tùy. 有 無 相 生. 高 下 之 相 傾. 難 易 之 相 成. 音 聲 之 相 和. 長 短 之 相 形. 前 後 之 相 隨.

[25] Thiên phong 天 風 媾.

[26] Địa lôi phục 地 雷 復.

[27] Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ. 復 其 見 天 地 之 心 乎 (Dịch Kinh, Phục quái)

[28] Dịch chi vi thư, quảng đại tất bị, vô sở bất bao, nhi ngữ kỳ yếu quy, tắc vi minh: «Thiên nhân hợp nhất» chi đạo. 易 之 為 書, 廣 大 悉 備, 無 所 不 包, 而 語 其 要 歸, 則 為 明 天 人 合 一 之道 (Sách dịch thật mênh mông bao quát, nhưng đại khái là cốt xiển minh lẽ «Thiên nhân hợp nhất») cf. Chu Dịch – Trương Kỳ Quân, Trung Quốc ngũ thiên niên sử, đệ nhị sách – đệ thập nhị chương, Trung Quốc nhất chu, số 588.

Thánh nhân dĩ Dịch tẩy tâm, tự dữ thiên lý đồng lưu, Quân tử dĩ tâm thể Dịch, đương tri thiên lý đồng bản. (Đào Hư Tử, Chẩm thượng ngữ, tr.8)

… Trung Quốc tự Đường Ngu dĩ lai, tức hữu thiên nhân hợp nhất chi tư tưởng. Kính thiên tức sở dĩ ái nhân, ái dân tức sở dĩ tôn thiên. Lịch đại thánh triết, mạc bất kế tục hoành dương thử «thiên nhân hợp nhất» chi đạo. Lão Tử tức kỳ nhất dã. 中國 自 唐 虞 以 來, 即 有 天 人 合 一 之 思 想. 敬 天 即 所 以 愛 人, 愛 民 即 所 以 尊 天. 歷 代 聖 哲 莫 不 繼 續 宏 揚 此 天 人 合 一 之 道.老 子 即 其 一 也 (Lão Tử, Trương Kỳ Quân, Trung Quốc nhất chu, số 623, tr.21)

… Từ thượng cổ người Tàu đã có tư tưởng cho người ta sinh ra ai cũng bẩm thụ cái tính của Trời. Cái tính ấy là một phần thiên lý. Vậy Trời với người quan hệ với nhau rất mật thiết lắm. Bởi thế, mới lấy pháp tắc tự nhiên của Trời làm cái mô phạm của người và cho thiên luân, thiên đạo là nhân đạo… (Trần Trọng Kim, Nho giáo, tr.39)

[29] Dịch đại khái dục nhân khủng cụ tu tỉnh. (Dịch Kinh đại toàn cương lĩnh, tr.11) – Trung Dung, ch.1.

[30] Cf.: L’Ecclésiaste 3,1 15, Bible Crampon p.745:

Pour tout, Il y a un moment, un temps pour chaque chose sous le ciel: temps d’enfanter, et temps de mourir; temps de planter, et temps d’arracher les plants;

Temps de tuer, et temps de guérir; temps de démolir et temps de bâtir; temps de pleurer, et temps de rire; temps de se lamenter, et temps de danser;

Temps de jeter des pierres, et temps de ramasser des pierres;

Temps d’embrasser, et temps d’écarter les embrassements;

Temps de chercher, et temps de perdre;

Temps de garder, et temps de rejeter;

Temps de déchirer, et temps de coudre,

Temps de se taire et temps de parler; temps de d’aimer,

et temps de haïr, temps de guerre, et temps de paix.

Quel profit, pour le travailleur, de la peine qu’il se donne?

J’ai considéré les occupations auxquelles Dieu

a donné aux enfants des hommes de s’occuper.

Toute chose, il l’a faite bonne pour tout temps;

C’est aussi l’infinité du temps qu’il a mis dans leur cœur,

Sans que l’homme puisse découvrir l’oeuvre

Que Dieu fait, de bout en bout.

…Tri xu thời ứng biến (Chính mông, Tính lý 1, 42)

[31] Thiên chi dũ dân                 
天 之 牖 民

Như huân như trì                 
如 壎 如 箎

Như chương như khuê       
如 璋 如 圭

Như thủ như huề                 
如 取 如 攜

Huề vô viết ích                     
攜 無 曰 益

Dũ dân Khổng dị                 
牖 民 孔 易

– Le ciel persuade le peuple doucement et sans violence L’obéissance du peuple suit l’influence du ciel spontanément comme la flute répond à l’ocarine, comme les 2 moitiés d’une tablette d’investiture s’adaptent, comme l’action de recevoir et celle de donner. Le peuple ne résiste pas à sa douce influence Gagner le peuple est chose facile. (Léon Wieger, Textes philosophiques 1,45)

– Heaven enlightens the people, as the bamboo flute respond to the porcelain whistle; as two half maces form a whole one; as you take a thing, and bring it away in your hand, bringing it away without any more ado. The enlightenment of the people is very easy. (James Legge, The She King, p.502).

——————-
**************************         

Chương 13

SỬ QUAN THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ

Con người cần được đặt lại vào trung tâm vũ trụ, điểm xuất phát của con người. Xưa khi trình độ hiểu biết còn thấp kém, con người đã xa lìa, thì nay, trong tay sẵn có những kiến thức mới về không gian con người cần phải quay về trung tâm điểm ấy.[1]

Nghiên cứu Trung Dung và Dịch lý, chúng ta có thể tìm ra một sử quan mới mẻ.

Xưa nay, nhiều người vì có quan niệm «tĩnh» về vũ trụ, nên cho rằng con người, đời nào cũng giống đời nào sinh ra là để chịu khổ sở gian truân, ngõ hầu đền bù những tội ác xa xăm và hiện tại; cho đời là bể khổ, đầy châu lệ, chỉ muốn thoát ly đời; cho xác thân là thù địch; cố dày vò thân xác để được coi là nhân là đức; cúi đầu chịu mọi sự gian nan thống khổ, coi đó là những hình phạt của thần thánh; suốt đời nơm nớp lo âu, khẩn cầu thần nọ thánh kia hộ trì cho mình siêu thoát, một khi nước mắt tắt hơi.

Một quan niệm như vậy dĩ nhiên làm mất hết vẻ hiên ngang và hùng khí của con người, coi con người như một thứ đồ chơi để thần minh tha hồ dập vùi theo ý thích, thương thì để nguyên, giận lên thì phá phách cho tan tác thành tro bụi, coi lịch sử như đã đi đến tuyệt đích không còn gì để diễn tiến nữa; tô vàng son cho một dĩ vãng mình không tham dự; oán than chê bai cuộc sống hiện tại, cho rằng chẳng mấy huy hoàng…

Nhưng, nếu ta có một cái nhìn bao quát cởi mở hơn, nếu ta có một quan niệm «động» về lịch sử, ta sẽ thấy con người thực ra, đã, đang, và còn, sẽ tạo cho mình một lịch sử rất ly kỳ, lắm truân chuyên, nhưng cũng lắm vinh quang. Trên thực tế, con người luôn luôn tiến hóa ấy.

Nói đến tiến hóa, tức là phải nói đến chiều hướng và mục phiêu của cuộc tiến hóa đó. Cho nên đề cập sử quan nhân loại, là đề cập chiều hướng tiến hóa của nhân loại, những giai đoạn dĩ vãng và tương lai trên con đường tiến hóa ấy, cũng như mục đích và kết quả của công cuộc tiến hóa ấy.

Trung Dung đã cho ta biết căn bản của nhân quần, thì cũng chỉ luôn cho ta biết mục phiêu của nhân loại. Đâu là căn bản vũ trụ, nhân quần? Trung điểm, Trời … Đâu là mục phiêu của nhân loại của quần sinh? Cũng vẫn là Trời là trung điểm !

Vòng Dịch Phục Hi sẽ cho ta biết các chặng đường tiến hóa của nhân loại, từ ban sơ cho tới chung cuộc. Dịch Văn Vương phơi bày cho ta thấy cùng một lúc mọi giá trị của đất Trời.[2]

Ta thường thấy, trong Kinh Dịch, 64 quẻ xếp theo hình vuông, lồng trong 64 quẻ xếp theo hình tròn. Hình vuông tượng trưng cho không gian, cho các giá trị phô diễn đồng thời trong không gian. Hình tròn tượng trưng cho thời gian, cho các giá trị phô diễn liên tiếp trong thời gian.[3] Dịch là phản ảnh cuộc đời. Cho nên ta cứ việc nhìn bao quát các nếp sống của cá nhân và đoàn thể diễn ra cùng một lúc trong không gian hoàn vũ, là ta có thể suy ra được các lớp lang lịch sử của nhân loại liên tục diễn tiến trong thời gian….

Thực ra, vấn đề chiều hướng và giai đoạn của lịch sử không phải là một vấn đề mới mẻ.

Auguste Comte (1798-1857) trước đây, đã tìm ra ba giai đoạn của lịch sử:

1. Trạng thái thần quyền (état théologique).

2. Trạng thái siêu hình (état métaphysique).

3. Trạng thái thực tiễn (état positif).

Nhưng, ta thấy quan niệm trên chỉ cho ta biết dĩ vãng và một phần nào hiện tại, còn tương lai vẫn chìm đắm trong mơ hồ, bí ẩn.

Dựa vào Dịch và Trung Dung ta có thể tìm ra một chu kỳ lịch sử mênh mông bát ngát hơn nhiều.

Chúng ta, đại khái, có thể phác họa chu kỳ lịch sử nhân loại bằng chín giai đoạn sau:[4]

1. Giai đoạn thần quyền (Tốn)

2. Giai đoạn siêu hình (Khảm)

3. Giai đoạn thực tiễn (Cấn)

4. Giai đoạn vật chất (Khôn)

5. Giai đoạn giác ngộ (Chấn)

6. Giai đoạn nhân đạo (Ly)

7. Giai đoạn nghệ thuật đạo đức (Đoài)

8. Giai đoạn thiên đạo (Càn)

9. Giai đoạn toàn thiện toàn mỹ. (Giai đoạn huyền đồng, Thái cực)[5]

Chu kỳ lịch sử nhân loại khó ước lượng được là bao nhiêu năm. Thiệu Khang Tiết cho là 129.600 năm (360 x 360).[6]

Đã là diễn tiến của lịch sử cũng như của con người đều theo định luật doanh hư, tiêu tức, vãng lai, tiến thoái của đất Trời.

Trong nửa chu kỳ đầu, tinh thần dần dần suy, vật chất dần dà thịnh. Trong nửa chu kỳ sau, vật chất dần dà suy, tinh thần dần dà thịnh.[7]

Lẽ âm dương tiêu trưởng trong các học thuyết Âu Á

Nhịp điệu thăng trầm suy thịnh của lịch sử nhân loại cũng được áp dụng trong khúc hòa ca của vũ trụ và vạn vật.[8]

Lẽ âm dương tiêu tức vãng lai trong hoàn võ và trong con người

Đó là diễn tiến theo hai chiều âm dương của vòng Dịch.[9]

Dựa trên những hiện tượng lịch sử, thì nhân loại mới đang đi giữa giai đoạn thực tiễn và giai đoạn vật chất. Nghĩa là con đường tiến hóa của nhân loại còn xa lắc, xa lơ, tương lai nhân loại còn muôn vàn rực rỡ.

Con người còn phải lao lung vất vả, còn phải suy tư, lao tác, còn phải khám phá, còn phải khám phá, còn phải đào thải, còn phải lọc lõi nhiều mới tiến tới vinh quang được.

Đi đến hết giai đoạn vật chất, con người sẽ đi đến chỗ bế tắc, đến đầu đường; muốn khỏi tiêu diệt, tất nhiên phải quay lưng lại vật chất mà hướng về phía tinh thần, thế là Phục sinh, (Régénération Palingénésie), là Hồi phục (conversion). Dịch gọi thế là «Cùng tắc thông,» hay «cùng tắc biến».

Đi vào con đường vật chất tức là đi vào con đường trụy lạc, sa đọa tinh thần (dégénération, chute). Đi vào con đường tinh thần, là đi vào con đường giải thoát, phục sinh (rédemption, salut, régération).

Cổ nhân đã xác định thời kỳ hồi phục của con người. Thời kỳ ấy chính là thời kỳ đen tối nhất của nhân loại, tượng trưng bằng giờ Tý (nửa đêm); và bằng quẻ Khôn (hoàn toàn vật chất).[10]

Nhưng giữa tăm tối, ánh sáng sẽ hiện ra, giữa chết chóc sự tái sinh sẽ mầm mống; sau thời kỳ vật chất vô thần, con người sẽ hồi hướng và quay trở về với giá trị tinh thần.

Sự sinh lại ấy, người xưa ví như là con người được thai nghén lại một lần nữa, vì thế dùng chữ Tý 子  (Tý= Tử =Con), chữ Nhâm 壬 (đồng âm với chữ Nhâm  妊 có mang), chữ Thai 胎 để chỉ thời kỳ đó.[11]

Chu kỳ lịch sử tiên đoán bằng các Vòng Dịch, Can chi, và Trường sinh

Thời kỳ ấy là thời kỳ «Hồi Phục», vì nhân loại đã thấy được «thiên địa chi tâm».[12]

Theo sử quan này, thì con người mới đầu dĩ nhiên là phải gian truân, phải phong trần (Cấu = Phong trần), nhưng đến chung cuộc, sẽ được hiển vinh hạnh phúc (Càn = Trời, Đế Vương ; Bính đinh = Sáng sủa, rực rỡ, v.v.)[13] để rồi vào yên nghỉ trong Trung cung, trong Thái cực, Hoàng cực..

Mỗi cá nhân cũng phải đi theo đúng con đường đã vạch cho nhân loại và hoàn võ, nhưng tùy sự hiểu biết, tùy theo tốc độ của trí tuệ, tùy theo công phu tu luyện, thời gian trên trở nên co giãn vô hạn định:[14]

Vì:

– 129.600 cũng là một chu kỳ.

– 25.920 cũng là một chu kỳ.[15]

– Một năm cũng là một chu kỳ.

– Một tháng cũng là một chu kỳ.

– Một ngày cũng là một chu kỳ.

– Một hô một hấp cũng là một chu kỳ.

– Một chớp mắt cũng là một chu kỳ (vì cũng gồm hai chiều âm dương, động tĩnh, hạp tịch của Trời đất.)[16]

Con đường thăng trầm, gian lao ấy tức là con đường định mệnh của nhân loại. Theo từ ngữ Ấn Độ thì đấy là duyên nghiệp, duyên kiếp của con người (Karma). Tìm ra được vòng duyên nghiệp ấy mới biết đâu là con đường giải thoát…[17]

Mỗi giai đoạn lại cho con người trông thấy một khía cạnh của toàn thể bao la, mỗi giai đoạn lại làm cho con người giàu có thêm về một loại tư tưởng, lại khoác cho con người một bộ mặt mới.

Suy rộng ra, như trái đất có lúc xa lúc gần mặt trời, thì nhân loại cũng có lúc xa lúc gần Thượng đế, nhưng vòng tiến hóa con người đã vạch sẵn từ muôn thuở, cũng như vòng chu luân của trái đất và các vì sao đã được vạch sẵn khi chúng vừa được tạo dựng nên.

Thế tức là:

«Người tận thế, đất sét xưa nặn lại,

Hạt trường sinh gieo từ buổi hỗn mang,

Ngày khai thiên, Trời đã chép kỹ càng,

Toàn lịch sử của muôn nghìn thời đại.» [18]

Con người sinh ra đời, cần phải phát huy mọi khả năng của mình, thực hiện mọi giá trị tiềm ẩn trong mình, và chỉ được dừng chân đứng lại khi đã đạt mức chí thành, chí thiện[19] khi đã thoát mọi tình tướng, danh sắc hiện tượng bên ngoài, trở về được với hư vô, Diệu hữu,[20] vì mục đích của nhân loại cũng như của cá nhân là đạt tới toàn thể.

Nói tóm lại, Trung Dung, trung điểm vừa là khởi điểm vừa là cùng đích con người (alpha et omega), còn vòng Dịch với các hào quái tượng trưng cho sự thăng trầm, suy thịnh và các giai đoạn lịch sử con người.

————————–
**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Man must be put back at the center of the universe, when he once began, and from which he fell away at the beginnings of knowledges of space at hand. (Ray Bradbury – Remembrances of things future.)

[2] Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần, quí tiện vị hĩ. 天 尊 地 卑, 乾 坤 定 矣. 卑 高 已 陳, 貴 賤 位 矣 (Dịch – Hệ từ thượng)

[3] L’ordre des successions concrétise le temps;

L’ordre des coexistences concrétise l’espace..

Occultisme et Magie en Extrême-Orient, p.91

… Donc, ce qui est simultané dans l’espace sera successif dans le temps. Ainsi l’espace et le temps sont convertible. (Postulat de l’auteur)

[4] Sử quan này dựa trên sự khảo sát các Đồ Dịch và hai định lý sau của tác giả:

a/. Cuộc đời của cá nhân lý tưởng tương ứng với lịch sử nhân loại.

b/. Các mẫu người cùng có trong không gian, sẽ diễn ra liên tiếp trong thời gian. (Ce qui est simultané dans l’espace, sera successif dans le temps)

… Cũng có thể chia chu kỳ lịch sử làm 13 thời kỳ như sau Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn và Thái cực.

[5] Cf. André Towianski, cité par Illan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p.222:… Les époques chrétiennes futures, quand les lois du Christ seront de plus en plus connues et appliquées, verront l’homme s’allumer en lui, toujours plus fréquemment, le feu de Jésus Christ; grâce à la force de ce feu, il s’élèvera, il se sanctifiera, et les bienfaits de Dieu descendront toujours plus abondamment sur la terre, jusqu’à ce que, durant la dernière période, et conformément à l’exemple suprême donné par Jésus Christ, le but terminal de l’homme sera atteint: l’accomplissement du Verbe de Dieu, la victoire complète sur le mal, la vie totale du Royaume céleste réalisée par l’homme sur la terre…

[6] Các triết gia Ấn Độ phỏng định một chu kỳ lịch sử nhân loại là:

4.320.000 năm (12000×360=1 ngày Brahma) chia thành bốn thời đại:

a/ Krita-Yuga (thời đại vàng) 1.728.000 năm.

b/ Treta-Yuga (thời đại bạc) 1.296.000 năm.

c/ Dwapara-Yuga (thời đại đồng đen) 864.000 năm.

d/ Kaliyuga (thời đại sắt) 432.000 năm.

Theo tỷ lệ: 4/10 + 3/10 + 2/10 + 1/10 = 10/10 =1

Cf. Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême-Orient, p.119.

Chu kỳ lịch sử nhân loại, khác với chu kỳ lịch sử vũ trụ: Một chu kỳ sau theo triết gia Ấn Độ là 4.320.000.000 năm (ibid., tr.129)– (Xem thêm Raoul Auclair, Le Livre des Cycles, p.232; và Doctrine Secrète III 83 85; và A.E. Powell, Le système solaire, p.113)

[7] Cf. F. Tomlin, Les Grands Philosophes de l’Occident, p.210:

… Il (Fichte) affirme aussi que le but de l’humanité est la réalisation du moi. La chose en soi n’est pas inconnaissable; c’est notre propre ego, notre moi idéal. Prendre conscience de soi-même, c’est devenir libre. Mais la liberté ne s’atteint pas sans lutte, sans oppositon, sans conquête: le moi atteint donc la liberté en surmontant tout ce qui n’est pas lui-même – le non-moi, en fait, qu’il creé afin d’engager la lutte. Ce non-moi, c’est l’apparence, ce sont les phénomènes; et tandis que l’entendement perçoit le monde des phénomènes, concourt à le construire, la Volonté ou moi l’utilise, comme un ponton, improvisé pour découvrir la vérité qui se trouve au-delà. Agissante chez l’individu, cette dialectique l’est aussi dans la société, et vraiment, dans tout le cours de l’histoire. L’histoire n’est que histoire de la liberté, de la lute de l’homme pour la libération, l’histoire des vicissitudes de la liberté…

[8] Xem các đồ bản trang sau.

Cf. Ernest d’Aster, Histoire de la philosophie, p.124:

Origène: La création du monde, dans le temps, devient une creation éternelle qui, déjà, par ce changement, se rapproche fortement d’une émanation; derrière le Dieu fait Homme à une époque du monde, il (Origène) montre le Logos qui sort éternellement de Dieu; et pour les âmes elles-mêmes, il admet la préexistence.

… Par le retour de tous les êtres en Dieu, s’achève par conséquent un circuit – mais qui recommence et se renouvelle dans l’Eternité…

Grégoire de Nysse (né à Césarée en Cappodoce vers 335):

… Chez lui (Grégoire de Nysse) aussi, à la fin du mouvement circulaire, tous les êtres reviennent à Dieu…

Trông bao quát vòng lịch sử này, rồi đem áp dụng nó vào từng trường hợp mỗi quốc gia, các nhà chính trị có thể tùy thời mà thay đổi trọng tâm hoạt động để làm sao cho dân nước được sinh hoạt đều hòa, hạnh phúc. Khi dân chúng đói khổ, thì trọng tâm là khuếch trương canh nông kỹ nghệ, khi dân chúng yếu hèn, thì phải lo chấn chỉnh võ bị ngoại giao, khi dân chúng no đủ thì phải lo chấn hưng đạo đức, khuyến khích thuần phong mỹ tục, cổ vũ văn hóa tư tưởng cốt sao cho dân khỏi sa đọa vào vòng ăn chơi trụy lạc, tóm lại một quốc gia, cũng như một con người nó cũng có lúc sinh lúc trưởng, lúc mạnh lúc đau, lúc vinh lúc nhục, lúc sang lúc hèn, cái khóe của nhà cầm quyền là phải đoán xem nước mình đang ở giai đoạn nào trên con đường tiến hóa để tùy thời mà xử sự, tùy cơ mà ứng biến…

[9] … Et c’est le même mystère que celui de l’Involution et de l’Evolution, de l’Incarnation cosmique et de la rédemption universelle, ces deux versants conjugués du Cercle du Devenir.

(Raoul Anclair, Le livre des Cycles, p.238)

… Le temps éternel et indestructible comme la matière se divise en deux périodes: Utsarpini et l’Avasarpini.

Selon les Djaïns, l’Utsarpini est la période ascendante et l’Avasarpini la période descendante de la durée. (Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême-Orient)

… Phase de négativation (phase descendante): oui devient non-phase de positivation (phase ascendante): non devient oui.

Cf. Dr Jean Choain, La voie rationnelle de la médecine Chinoise.

… Le demi-cercle de gauche, représente l’ascension du soleil, le demi-cercle de droite la descente (Inn). Autrement dit, à gauche, le soleil va du Inn au Iang (le Iang monte et Inn descend); c’est la barque de Rà ascendant (mandjit) – à droite, il va «du Iang au Inn (le Iang descend et Inn monte). C’est la barque de Rà descendant (Sektet). (Ibid., p.125)

[10] Lúc ấy cũng là lúc con người tận dụng được vật chất (chí dụng).

[11] Xem các đồ bản trang sau.

1. Vòng tuần hoàn vạn vật theo thập nhị chi:

Vạn vật khóac hình hài, có mùi vị (未 = 味 ), thân thể (申 = 身也, 物 體 皆 成). Dần dà, lại thâu súc, thu liễm (酉 = 緧 縮 ), bị khắc sát, tàn vong 亥 = 刻 殺. 陰 氣 刻 殺 萬 物 ). Sau đó lại thai dưỡng (子 = 而 為 子 ), lọt lòng ra (丑 = 紐 ). Khai triển, diễn tiến 寅 = 演 ), tốt đẹp (卯 = 茂 ), phấn chấn (辰 = 震, 萬 物 盡 震 而 長 ), vươn mãi lên (巳 = 起, 物 畢 盡 而 起 ) đến chỗ trưởng đại (午 = 大 長 ).

2. Vòng tuần hoàn vạn vật theo thập can:

Vạn vật canh tân (庚 = 更 也. 辛 = 新 也 ) Rồi bế tàng, hoài thai, manh nha (壬 = 任 妊; 癸 = 揆 然 萌 芽 ). Rồi thoát khỏi vỏ, mà vươn lên (甲 =解 莩 甲 而 出. 乙 = 屈). Rồi sáng sủa rực rỡ (丙 丁 = 炳 然 著 現 ). Chung cuộc sẽ tốt đẹp, thành tựu. (戊 = 茂. 巳 = 起)

(Cf. Uyên hải tử bình, Cẩm Chương thư cục, Hương Cảng.) Cf. Maître Eckart cité par Illan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p.143: «Dieu avec toi» c’est alors qu’a lieu la naissance. Phục, kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ. (Dịch Kinh Phục quái)

[12] Phục quái. Dịch Kinh.

[13] Xem các đồ bản trang trước.

[14] … Cố năng niên trung thủ nguyệt, nguyệt trung thủ nhật, nhật trung thủ thời, thời trung thủ khắc. Xúc nhất niên tạo hóa ư nhất nhật chi nội, nãi ư nhất khắc chi nội hành nhất niên chi công. Đạo thiên địa, đoạt tạo hóa; thục hữu đại ư thử giả; thần thánh tai! nguyên diệu tai! 故 能 年 中 取 月, 月 中 取 日, 日 中 取 時, 時 中 取 刻. 蹙 一 年 造 化 於 一 日 之 內, 乃 於 一 刻 之 內 行 一 年 之 功. 盜 天 地, 奪 造 化, 孰 有 大 於 此 者; 神 聖 哉. 元 妙 哉 (Nhập dược kính 入 藥 鏡, tr.8)

… Toute la science du Yogin est d’enseigner aux hommes comment abréger, en intensifiant leur pouvoir d’assimilation, le temps nécessaire pour atteindre la perfection, au lieu de progresser lentement, d’étape en étape et d’attendre que toute la race humaine soit devenue parfait. (Marc Semenoff, Pour Connaître la pensée de Bouddha, p.167)

[15] Chu kỳ của mặt trời trên vòng Hoàng Đạo. Sau một chu kỳ 25.920 năm mặt trời lại ở vị trí cũ ngày xuân phân.

[16] Le rythme alchimique consistera dans la reproduction du rythme naturel, et la Grande oeuvre débutera à l’instant précis désigné par l’astrologie, celui où cesse la régression pour faire place à l’ascension (cf. Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ!…)

La seule différence sera qu’une fois en possession du grand secret, la marche de l’oeuvre ne parcourra plus les millénaires comme la nature elle-même mais se trouve réduite à quelques années, voire quelques mois. C’est donc bien une imitation de la nature dans son processus évolutoire que se propose l’alchimiste. (J. Chabosseau, Le Tarot, p.30).

[17] Définissons le Karma comme l’ensemble des étapes psychiques réalisées, en voie de réalisation et réalisables en vue de l’accomplissemet d’un cycle. En conséquence, nous prenons conscience de l’existence d’un Karma cosmique, d’un Karma universel, d’un Karma particulier à chaque élément manifesté dans la nature et par conséquence d’un Karma individuel humain. (L. Ferrer, Hatha – Yogin Occidental, p.38)

… La grande année, période entre deux conjonctions générales identiques, est finalement le multiple décimal de 432.000 soit 4.320.000 années solaires valant 12.000 années divines. (La science indienne antique – Histoire générale des sciences, Tome I, p.165). (Cf. Aussi: Cycles of time – Encyclopedia of religions, p.213).

[18] «Avec la première argile de la terre,

Ils pétrirent le dernier homme,

Et là ils ensemencèrent la graine de la moisson dernière.»

(Omar Khayam, cité par Eddington. Cyrill Wilczkowski, L’homme et le Zodiaque, p.35)

[19] Chỉ ư chí thiện 止 於 至 善.– Đại học, ch.I.

[20] L’absence abyssale de toute imagse rappelle le «Rien» de Boehm, le Vide (Shunya) du Véda, demeure de Brahman ou le Vide (Hsu Kung) du Taoïsme dont «le but ultime, le secret est l’union du soi avec le soi». (Dr Ervin Roussel, Seelische Forschung in lebenden Taoismus, Eranos Jahrbuch, 1933, p.151) — … Có lẽ sách Khải huyền (Apocalyse) cũng đã mô tả nhân loại lúc chung cuộc, khi đã đạt tới Thái cực huyền đồng (Apocalypse 21,1-27; 22,1,1-5).

————————–
**************************         

Chương 14

NHỮNG ĐỊNH LUẬT CHÍNH CHI PHỐI

CON NGƯỜI VÀ HOÀN VŨ THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ

Nghiên cứu Trung Dung, Hà đồ, Lạc thư và Dịch, ta có thể tìm ra được nhiều định luật chi phối hoàn vũ và con người.

Nhưng trước khi đề cập ít nhiều định luật, chúng ta hãy dùng ngọn bút Thái cực, và hai màu sắc Âm Dương, cố phác họa lại đáng dấp của tâm hồn con người, một tâm hồn mung lung huyền ảo, đến nỗi nhiều người hiện nay vẫn còn đang tự hỏi nó có hay không:

«Thái cực sinh lưỡng nghi»…

«Có Thái cực, có Âm Dương,

Biến hằng vạch sẵn, đôi đường tử sinh.»

Thái cực là Hóa công là chân tâm, Đạo tâm hằng cửu. Âm Dương là hai động lực biến hóa trong Trời đất và trong lòng con người.

Cho nên dùng nguyên lý Âm Dương mà khảo sát tâm hồn, ta nhận thấy ngay trên bình diện biến thiên, tâm hồn cũng là hai mặt sáng tối.

Thực là:

«Hai vẻ mặt, một con người,

Trung tâm lại có Trời soi vào lòng.» [1]

Chân tâm bất biến và hai vẻ sáng tối của môt tâm hồn ấy đã được diễn tả bằng từ ngữ sau:

                                             

THÁI CỰC

Dương        Âm
 

     THẦN

Qui hồn   Du hồn

                THẦN

   

Khí                       Tinh

               TÍNH

   

Khí                        Tinh
 

    THẦN

Hồn         Phách
 

NHẤT LINH CHÂN KHÍ

 

Hồn           Phách
 

Olov R.T. Jansé, trong quyển Nguồn gốc văn minh Việt Nam, dựa vào các bằng chứng khảo cổ, cho rằng: «Người Trung Hoa và người Việt Nam thời cổ, quan niệm con người có hai bản tính vô hình[2]: một khí thiêng và một hồn đeo huyết tính. Sau khi chết thì khí thiêng biến thành một vị thần linh hay một vị cao siêu giúp đỡ nòi giống, giúp đỡ con cháu làm ăn an lành. Sự thờ cúng tổ tiên theo quan niệm đặc biệt ấy mà ra.

«Còn cái hồn mang huyết tính thì sống một đời sống vô định, nhạt mờ và mong manh rồi cuối cùng tiêu mất.[3]

«Ngôn ngữ Âu Á có hai danh từ để gọi sự trạng đó. Trong tiếng Pháp có hai chữ Esprit và Âme. Trong tiếng Latin có: Spiritus, Anima. Trong tiếng Hy Lạp có: Pneuma, Psyché. Phải chăng là chữ Esprit tương xứng với chữ Esprit Souffle[4] (khí thiêng) còn chữ Âme tương xứng với chữ Âme de sang (hồn theo huyết tính) như chúng tôi vừa nói! Có thể vậy.» [5]

Âm dương là một ngẫu lực (couple de forces), cho nên hồn phách bao giờ cũng cộng tác với nhau trên đường đời. Hai bên theo nhau như bóng với hình, cùng chung nhau dự tấn kịch đời: bên này tiến thì bên kia lui; bên kia thắng bên kia bại; bên này thịnh bên kia suy; giao tranh mà vẫn cộng tác; ngoài như thù địch mà trong vẫn là tình cốt nhục; gần gũi nhau mà vẫn tưởng chia phôi; như Sâm Thương, như Psyché và Amour, như Orphée và Eurydice, một ẩn một hiện, không bao giờ lộ diện cùng một lúc.

«Có biết đôi cành sinh cùng gốc,

Mới hay con cháu có ngàn muôn.» [6]

Quan niệm này có lẽ soi sáng được mâu thuẫn giữa con người, và hai khả năng tương phản của con người, vừa có thể tiến được về phía tinh thần, vừa có thể tiến được về vật chất[7] và giải quyết được mối tranh chấp cố hữu giữa tinh thần và vật chất bằng cách thu xếp cho mỗi bên nhượng bộ nhau một thời: con người, nửa đời trước sẽ tiến ra vật chất, nửa đời sau sẽ hướng về tinh thần, theo đúng cơ Trời, để có thể luân phiên làm hai công việc mưu sinh và tu đạo:

«Trước Trời, Trời chẳng trách đâu,

Sau Trời cho hợp cơ mầu thời gian.» [8]

Nếu cố chấp một bề, là người thiển cận, không biết quyền biến.[9]

Sách Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ viết: «Nhất linh chân tính một khi đã sa xuống cung Càn, liền phân thành hồn phách. Hồn là dương (Animus) sống tại «Thiên tâm», là khí khinh thanh phơi phới, từ Thái hư giáng hạ, nên cùng một hình ảnh như nguyên thủy. Còn phách (Anima) là âm, là khí trầm trọc nặng nề, bám víu vào phàm thể. Hồn thích sống, phách chực chết. Phách say mê những hình sắc chuyển động bên ngoài. Đó chính là thức thần.» [10]

Quan niệm như trên về tâm hồn con người phù hợp với định luật đối xứng của Trời đất: nghĩa là có hai vế đối đãi nhau ở hai bên một tâm đối xứng (Centre de symétrie).[11]

Phải chăng những hình «lưỡng long triều nguyệt», «lưỡng long tranh châu» đã vô tình hay hữu ý [12] phản ảnh lại quan niệm trên?

1. Định luật biến, hằng

Nhìn vòng Dịch tiên thiên, ta thấy mọi sự đều biến thiên, luân lưu, ngoại trừ tâm điểm. Nói cách khác chỉ có Trời, có Đạo là bất biến, còn muôn loài thì đều bị đẩy đưa trên vòng biến dịch, ảo hóa.

Đạo thể từ trung điểm tung tỏa nguồn sống khắp nơi, phát huy ra quần sinh vũ trụ, như vầng dương phát huy muôn ánh quang hoa. Mọi vật, mọi sự trên vũ trụ là văn vẻ, hay trạng thái của Bản thể duy nhất.[13]

Hiểu định luật này là hiểu huyền cơ Tạo hóa, và ý nghĩa cuộc đời. Bao lâu con người còn chạy theo những ảo ảnh bên ngoài, chạy theo hiện tượng, còn sống cuộc đời xốc nổi phù phiếm bên ngoài, thì bấy lâu con người còn sống trong cảnh phù du, tang thương biến đổi (devenir). Muốn thực hiện bản thân (Etre), phải biết thoát ly hiện tượng, sống đời sống tinh thần, kết hợp với Thượng đế.[14]

Lẽ biến hằng này cũng được diễn tả trong Phật giáo bằng những danh từ nghiệp chướng và Hư vô, luân hồi và Niết bàn,[15] vô thủy sinh tử căn bản và vô thủy Bồ Đề Niết bàn, Nguyên thanh tịnh thể.[16]

2. Định luật thuận nghịch

Đường đời như một vòng tròn có hai chiều thuận nghịch. Nếu đi theo chiều thuận, từ vô hình tiến ra hữu hình, là đi theo chiều «sinh hóa, lao tác» của vũ trụ, sẽ tìm ra được nhiều ứng dụng mới mẻ cho cuộc đời, nhưng dần dà sẽ tiến tới chỗ phàm phu, tục lụy. Nếu đi theo chiều nghịch, từ hữu hình trở ngược về vô hình, là đi theo chiều «thành», của vũ trụ, sẽ tìm ra được chân lý và tinh hoa của nhân loại, và dần dà sẽ tiến tới bậc siêu phàm thánh thiện.

Kinh Dịch dạy bí quyết đi ngược dòng đời.[17]

Muốn hiểu rõ vi ý của Trung Dung và Dịch lý cần hiểu rõ định luật tuần hoàn có hai chiều vãng lai, tiêu tức hợp lại thành một vòng càn khôn, gồm hai phần thuận nghịch.

Chiều thuận là chiều sinh của đất trời, từ nhất tỏa lan tới vạn, từ trên đi xuống dưới, sinh sinh không cùng.

Chiều nghịch là chiều thành của trời đất, từ vạn qui về nhất, từ dưới vươn lên cao, từ một dương biến dần thành sáu dương, biến hóa tính mệnh, bảo hợp Thái hòa, trở về cùng Nguyên thủy.[18]

Theo lẽ thường của trời đất, thì có đầu rồi mới có đuôi, có thủy rồi mới có chung, có Dương rồi mới có Âm, có sống rồi mới có chết…

Nhưng Dịch lại dụng ý nói ngược lại hết. Dịch nói: «Âm Dương», «tử sinh», «chung thủy». Đó là dựa theo sự biến hóa vô biên của trời đất để xiển minh lẽ «cùng, thông», bày ra hai chiều ngược xuôi, qua lại cho chu toàn thiên ý, nhân tâm, cho vạn lẽ sinh thành.[19]

Thực đúng như thi hào Tagore đã viết trong Duy nhất sáng tạo: «Vô hạn vì muốn biểu hiện mình, đã hạ xuống trong thiên hình, vạn trạng của hữu hạn; và hữu hạn vì sự thực hiện mình phải vượt lên cái duy nhất của vô hạn,có như thế vòng chân lý mới hoàn thiện.» [20]

3. Định luật Âm Dương điên đảo

Cũng như muốn cho đất đai sinh sôi nảy nở, cần phải đào bới xới lộn, để không khí dễ dàng thâm nhập vào trong, con người muốn thần thánh hóa mình, cũng phải đem Trời, đem tinh hoa nhân loại lồng vào trong lòng mình.

Trời ở trên đất, thì đất sẽ bị đè nén (Thiên địa Bỉ ) Lửa cháy trên nước, thì nước nóng làm sao (Hỏa thủy Vị tế ). Nhưng nếu đất chứa trời trong tâm, nếu nước mà được lửa hun nấu phía dưới thì sẽ phát sinh lợi ích vô biên (Địa thiên Thái  ; Thủy hỏa Ký tế ).

«Được thủy hỏa hai đường tương tế,

Ấy Âm Dương, hai vế hiệp hòa

Nuôi muôn vật, giúp dân ta,

Tham Thiên tán địa, thực là công ta.» [21]

Cũng một lẽ, bao lâu nhân loại chưa hay trong lòng mình có Trời, có Đạo, bao lâu nhân tâm không có Đạo tâm làm chủ chốt bên trong, thì bấy lâu con người sẽ còn lao lung, luân lạc.[22]

Bao lâu còn ấu trĩ, con người sẽ tưởng rằng Trời, hay sự toàn thiện phải tìm kiếm ngoài mình, nhưng khi đã trưởng thành thì sẽ nghĩ ngược lại, và sẽ tìm Trời, tìm tinh hoa và toàn thiện trong lòng mình. Định luật Âm Dương điên đảo này chẳng những áp dụng cho cá nhân mà sẽ áp dụng cho lịch sử nhân loại. Đó cũng chính là một tiêu chuẩn chính xác để quyết đoán xem ta còn ấu trĩ hay đã trưởng thành về phương diện tâm thần….

4. Định luật Âm Dương thác tống

Định luật này phân tôn ti quí tiện của Âm Dương, của tinh thần và vật chất, và còn dạy người phải biết tùy thời, lúc trọng Âm, lúc trọng Dương cho hợp cơ trời.

«Tống» bày lẽ dưới trên, áp dụng cho không gian, cho trường hợp tĩnh.

«Thác» bày lẽ trước sau, áp dụng cho thời gian, cho trường hợp động.

Không gian cốt để phô bày, phân phối các giá trị, để cho tâm thần trông thấy hết các giá trị thấp cao, la liệt bày ra trước mắt, mà định hay dở.

Thời gian cốt là để cho tâm hồn có cơ hội lần lượt thu thập và hưởng dụng các giá trị đó. Biết dùng thời gian chinh phục không gian, thu thập các giá trị, biết lúc nào phải trọng dụng loại giá trị nào ấy là biết «thời trung», uyển chuyển theo thời cho hợp thiên cơ, làm rung lên hết cả các phím tơ của cây đàn muôn điệu.[23] Có như vậy cuộc đời mới đầy đủ ý nghĩa và lúc nào cũng thơ mộng uyển chuyển. Nói thế có nghĩa là con người phải biết nhập thế, xuất thế, biết nhập thể, biết nhập thần (Descente de l’âme dans la chair et son retour vers l’esprit).

Mới hay:

«Thiên nhiên tự tính uy linh

Trong ngoài hai mặt một mình quán thâu.» [24]

5. Định luật tụ tán

Nếu ta chấp nhận trung điểm tâm thần ta là tâm điểm phát quang, ta sẽ nhận thức được định luật tụ tán của trời đất.

Càng tiến ra xa, càng tiến ra bên ngoài, thì ánh sáng càng yếu, càng mờ, càng bị tản mạn. Nhưng nếu tâm thần không bị chia năm sẻ bảy, thì ánh sáng tinh thần ấy sẽ có thể tập trung lại và trở nên xán lạn.

Tỏa lan, chiếu diệu ra bên ngoài, là để ứng phó với hoàn cảnh, nhưng nếu suốt đời cứ để tản mác ánh sáng tâm thần ấy mãi, nó sẽ như đàn bướm tung bay, chẳng đem lại được kết quả gì vĩ đại.

Người xưa còn cho rằng:

«Anh hoa phát tiết ra ngoài

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.» (Kiều)

Còn nếu biết tập trung ánh sáng tinh thần ấy lại, con người sẽ có thể trở thành thần minh.

Cho nên xưa nay, công phu tu luyện của thánh hiền đều là «Hồi quang phản chiếu», tập trung ánh sáng tinh thần lại. Trước thời còn tập trung trên một đề tài gì, gọi là chuyên tâm, chú ý (attention, méditation, concentration) nhưng sau khi đã tu luyện tinh thần rồi, sẽ tập trung tinh thần mà không cần đối tượng, đó chính là xuất thần (extase). Lúc ấy sẽ nhìn thấy thấu đáo những lẽ huyền vi của trời đất.

Đó là phương pháp «Thoái tàng ư mật» của đạo Nho, «nhiếp tâm pháp» của đạo Lão.[25]

Tập trung tinh thần rốt ráo sẽ đạt tới điểm hội tụ, sẽ tới Trung điểm, Tuyệt điểm. Thế là đạt tới «Thiên địa chi tâm» là Đắc Trung là Phối Thiên, là đạt tới điểm «đồng qui nhất chí» của Nho giáo, tới chỗ «Vô cảnh», ôm giữ được thuần nhất theo Trang tử,[26] tới «Bát nhã bình đẳng», hay tới Niết bàn của Phật giáo.

Sự tập trung tinh thần còn có những ích lợi thực tế khác. Khi một con người biết trầm tĩnh, ít lời, sẽ hàm súc nghĩ lý, xử sự sẽ hữu hiệu hơn và sẽ được nhười khác kính nể hơn.

Vả lại biết tập trung tinh thần, thì thần xác đỡ bị kích thích, thác loạn, dày vò, sẽ được thảnh thơi thoải mái, như vậy sẽ đỡ tật bệnh và sống lâu hơn…

Định luật tụ tán này có một giá trị rất là phổ quát, có thể áp dụng vào mọi lãnh vực. Ví dụ, trong đời sống thường ngày ai cũng ghét những người phá tán dù là sinh lực, hay là tài nguyên. Tập trung là tăng cường, phá tán là suy nhược, cho nên trong binh pháp khi cần công phá thì tập trung, khi cần ẩn lủi thì phá tán.

Ngay vũ trụ cũng bị định luật tụ tán chi phối. Nhà toán học A. Friedmann khi giải lại những phương trình của Einstein cũng kết luận vũ trụ có thể tụ tán, co giãn được…[27]

Suy rộng ra, thì ngay sự sinh thành, tuần hoàn, phản phúc, thủy chung của vũ trụ cũng đã được bao hàm trong định luật tụ tán; chung qui, muôn vật đều cùng khuôn theo một định luật tụ tán: Nhất tán vạn, vạn qui nhất.[28]

6. Định luật tiến hóa

Từ sự biến thiên vô hạn định, Trung dung suy ra sự tiến hóa vô hạn định của hoàn võ và con người:

«Đạo trời đất một câu tóm hết.

Làm muôn loài chẳng biết hai khuôn,

Nhưng mà sinh hóa khôn lường.

Đất trời đường lối mênh mang rộng dày,

Cao minh, trong sáng xưa nay

Xa gần, vĩnh cửu đó đây khôn lường.» [29]

Cho nên, nhờ sự tu luyện, con người cũng có thể trở nên hoàn thiện, «dữ Thiên đồng đức», vĩnh cửu vô chung.

«Việc Trời ngẫm xiết bao huyền ảo,

Thực sâu xa, ẩn áo khôn cùng,

Thực là đáng mặt Hóa công.

Đức vua Văn tinh thuần chói lọi.

Thế cho nên đáng gọi là Văn,

Tinh ròng vĩnh cửu, vô chung.» [30]

**************************         

7. Định luật tự cường bất tức

Trung dung và Dịch kinh đều chủ trương con người có thể tiến hóa vô hạn, và như vậy cần bắt chước trời đất cố gắng không ngừng, hoạt động không ngừng để tiến tới hoàn thiện…

Nhờ sự cố gắng không ngừng, mà thánh nhân sẽ có ảnh hưởng bao trùm vũ trụ. Đó là theo được đường lối của đất trời:

«Bậc chí thánh không hề ngơi nghỉ

Không nghỉ ngơi nên sẽ vững bền,

Vững bền muôn vẻ trưng lên,

Trưng lên vang dội khắp miền gần xa

Khắp gần xa ắt là dày rộng,

Đã rộng dày thời cũng cao minh.

Rộng dày để chờ chúng sinh,

Cao minh che khắp sinh linh xa gần,

Trường cửu để tác thành muôn vật,

Rộng dày nên cùng đất sánh duyên

Cao minh kết ngãi thanh thiên,

Vô biên, vô tận triền miên không cùng.» [31]

 Các thánh hiền Nho giáo chủ trương trong nhân tâm còn có Đạo tâm.[32]

Gia Cát Võ Hầu giải chữ tâm như sau:

«Hai người đứng ở bên mình,

Thái dương chói lọi một vành trên cao.

Lòng người thẳng rọi chiếu vào,

Tiên cơ đã biết thế nào hay chưa.» [33]

 Nghiên cứu mối tương quan giữa Nhân tâm, Đạo tâm chúng ta sẽ hiểu những lẽ:

– Chính, tùy

– Tinh, thô

– Hằng, biến

– Ẩn, hiện

– Thể, dụng

– Bản, mạt

– Đại, tiểu

– Lý, khí, v.v…

Nhìn vào đồ bản Dịch tiên thiên tròn, ta thấy các hào, từ vòng trong nhìn ra vòng ngoài, biến thiên nhanh chậm khác nhau tùy theo tỉ số 1, 2, 3, 4, 8, 16, 32.

Suy ra thì những tín ngưỡng và tư tưởng nhân loại cũng biến đổi nhưng rất chậm, còn phong tục, hình thức, lễ nghi bên ngoài biến đổi mau hơn.

Dịch Kinh còn đưa ra 1 đồ bản có 2 tầng lớp:

– Tầng ngoài, 64 quẻ xếp vòng tròn.

– Tầng trong, 64 quẻ xếp hình vuông.

Tròn chỉ động dụng, chỉ biến thiên của vạn hữu (dynamisme et changement).

Vuông trong tròn chỉ sự tĩnh lãng, sự bất biến của bản thể (stabilité et immutabilité), mà vẫn hàm tàng mọi biến thiên của vạn hữu.[34]

Nhưng nếu hai hình vuông tròn được tách rời khỏi nhau thì ý nghĩa lại khác. Lúc ấy vuông lại tượng trưng cho vật chất, sự bất động, sự bảo thủ;[35] tròn lại tượng trưng cho tinh thần, sự biến thiên, và tiến hóa.

1. Quan niệm bất động (Fixisme)

Nếu có quan niệm bất động, bất biến về cuộc đời, ta sẽ ít đếm xỉa đến thời gian và sức biến hóa vô biên của vũ trụ và con người. Theo quan niệm này, cái gì quý sẽ quý mãi; cái gì hèn sẽ hèn mãi. Càn nhất định phải ở trên, Khôn nhất định phải ở dưới. Dương phải hơn, Âm phải kém, v.v.

«Nguyên lý đồng nhất» (Principe d’identité) sẽ là nền tảng cho mọi suy luận. Nghĩa là: A là A

«Con vua thì lại làm vua,

Con thằng sãi chùa thì quét lá đa.»

Con người cũng có sự «tự ti mặc cảm», cho mình là hèn kém, nên hết sức tôn trọng những phát minh sẵn có, cho đó là tuyệt đối, tuyệt hảo, ôm ấp lấy dĩ vãng, gò bó mình vào trong những khuôn khổ tinh thần vật chất chật hẹp, ghét mọi sự đổi thay, cho đó là nguy hại.

2. Quan niệm biến hóa (Dynamisme et changement)

Theo quan niệm này con người sẽ chủ trương, vũ trụ thăng trầm, không có gì hay mãi, không có gì dở mãi. Tùy nơi, tùy thời, tùy quan niệm hay có thể biến thành dở; dở có thể hóa thành hay. Tinh thần cũng có lúc bị vật chất chi phối, cái chính cũng có khi phải thua cái tà, nhưng rồi ra vật chất sẽ hàng phục tinh thần, tà khuất sẽ rút lui nhường chỗ cho công chính. Đó là chủ trương của Dịch Phục Hi.

Khi con người đã biết lồng thời gian vào cuộc đời, đã biết cưỡi lên mình rồng biến hóa, thì nguyên lý đồng nhất không còn áp dụng được nữa:

A sau một thời gian cũng có thể là B,

B sau một thời gian có thể là C, v.v.

Chủ trương bảo thủ, bất biến là chủ trương của đại chúng, của những tổ chức chánh trị, tôn giáo bên ngoài; nó hữu ích vì kìm hãm được sự ngông cuồng của đại chúng, giữ gìn được trật tự xã hội.

Quan niệm biến hóa là con đường của hiền thánh, của Trời đất; nó biến ảo, cao siêu bao la vô tận, khó lường, khó đoán được.

Trung Dung và Dịch có một quan niệm rất biến hóa, uyển chuyển, không đặt giới hạn nào ngăn cách Âm Dương, chia rẽ tinh thần vật chất, mà chủ trương Âm biến Dương, Dương biến Âm, tinh thần biến thành vật chất (dégradation, régression), vật chất hóa thành tinh thần (évolution, sublimation).[36]

Phương pháp để tìm ra các định luật

Nếu coi Trung Dung như tâm điểm, và Dịch như một hay nhiều vòng tròn đồng tâm ta sẽ tìm ra những lẽ: 
     – Ẩn, hiện

     – Quân, thần

     – Hằng, biến

     – Nhất, vạn, v.v.

Đi từ trung tâm ra biên thùy, ra các vòng ngoài, là đi ra ngọn,[37] là lìa bỏ chân tâm,[38] là ra đi,[39] là quay lưng lại Trời,[40] chối bỏ Trời.

Đi từ «biên thùy» hoàn cảnh xác thân trở về «trung tâm» tinh thần bản thể, là trở về nguồn[41] là trở về chân tâm.[42] là trở về,[43] là quay mặt lại Trời,[44] tuân phục Trời.

Đó là hai giai đoạn diễn dịch (déduction), và qui nạp (induction), bao quát cả trời đất.

Nếu cho vòng Dịch quay tròn, ta còn thấy nhiều định luật khác như:

– Định luật tuần hoàn (loi du movement cyclique) [45]

– Định luật tiệm tốc (loi de l’accelération progressive)[46]

– Định luật ly tâm, hướng tâm (mouvement centrifuge et mouvement centripète)

– Định luật vãng lai (mouvement de va-et-vient) [47]

– Định luật phản phúc (loi d’inversion), v.v.

Nếu nghiên cứu ngẫu lực Âm Dương, coi chúng như hai vâng nhật nguyệt, hay như đôi trai thanh, gái lịch, lúc ghét nhau, lúc ưa nhau, lúc ly tán lúc đoàn tụ, lúc làm hại lẫn nhau, lúc lại hy sinh cho nhau, lúc chống đối nhau, lúc lại giúp đỡ nhau, ta sẽ hiểu và sẽ suy ra nhiều định luật về «Âm Dương» «sinh, khắc, chế, hóa, thành», «Âm Dương tiêu trưởng doanh hư», Âm Dương tương thôi, tương đối, tương đãng, tương thừa v.v… Vì những định luật âm dương đã lồng vào vũ trụ và trong con người.[48]

Tóm lại muốn suy ra các định luật đất trời, định luật tâm lý, ta có thể dùng những yếu tố sau đây:

1. Nghiên cứu tâm điểm và nhiều vòng tròn đồng tâm, để đứng yên, hoặc cho di động.

2. Nghiên cứu hai đối tượng Âm Dương và cho vần xoay, đảo lộn, hợp tan, để tìm ra các biến hóa.[49]

3. Nghiên cứu sự tăng giảm của Âm Dương trên vòng Dịch.[50]

4. Nhìn xem vũ trụ thiên văn, địa lý, lịch sử, nhân quần, xã hội, các hiện tượng tâm lý, theo các khía cạnh thẻ và dụng, bản thể và hiện tượng, và các khía cạnh tương tranh, tương thừa của hai sức mạnhtinh thần, và vật chất, của «chính», «tà», v.v.

Hình A: Âm Dương tương hợp
 

Hình B: Âm Dương tương thôi

Hình 24

Ngoài ra, Trung dung và Dịch lý còn đưa ra những tiêu chuẩn để nhận xét thế nào là chân đạo, thế nào là thánh nhân.

Trung Dung viết:

«Đạo quân tử phát xuất tự thâm tâm,

Đem trưng bày phổ cập tới thứ dân.

Khảo chứng tiên vương không có chi lầm lỗi,

Sánh với định luật đất trời không phản bội.

So quỉ thần, thấy đường lối đúng không sai,

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng hề có chê bai.

So quỉ thần đường lối đúng không sai,

Thế là đã biết lòng Trời đó;

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng có chê bai,

Thế là đã biết lòng người tỏ rõ.» [51]

Thế là: để nhận xét chân lý và chân đạo, có những tiêu chuẩn được đưa ra:

– Tâm lý (critère psychologique)

– Xã hội (critère sociologique)

– Vũ trụ (critère cosmologique)

– Lịch sử (critère historique)

– Đại đồng phổ quát (critère d’universalité)

Tóm lại chân lý, chân đạo không phải là của riêng ai, mà là của chung hoàn võ, không lệ thuộc không gian, thời gian mà tiềm ẩn sẵn trong lòng mọi người, tản mạn khắp mọi nơi, ẩn hiện trong lịch sử. Nhưng chân lý, chân đạo như viên ngọc quí phải có nhiều thiện tâm, thiện chí, ra công tìm cầu mới mong chấp hữu được.

Còn thánh nhân, không phải là những người hy sinh vì chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ, hay có đức tính này, đức tính kia hơn người, mà là những người thông minh, duệ trí đem tư tưởng mình sáng soi muôn ngàn thế hệ; hoàn thiện, hồn nhiên, biết tiến thoái, biết lẽ tồn vong, uyển chuyển như bốn mùa, sáng láng như hai vầng nhật nguyệt, là những người đã đạt tới «thiên vị», «thiên đức», là những người có tâm hồn bao quát vũ trụ…[52]

Suy cho cùng, muốn tu thân, cần phải suy tư, tìm hiểu, phải quán triệt các định luật chi phối vũ trụ, thấu triệt bản thể tâm hồn mình.

Mục phiêu các thánh hiền xưa nay chỉ có một, lối đường thánh hiền xưa nay đi cũng chẳng có hai; tư tưởng của các ngài là những dấu, những mốc đã cắm trên con đường đó, cho hậu sinh khỏi lạc bước. Mục phiêu các ngài sau trước đều là tìm tuyệt đối thể đáy lòng. Con đường các ngài đi sau trước đều là con đường nội tâm, những nêu mốc đã cắm trên đường đó tức là tư tưởng các ngài; những phương pháp các ngài dùng chung qui chỉ là cố gắng học hỏi, suy tư, thoát sự kiềm tỏa của xác thân vật chất, sống trầm lặng, biết tập trung tinh thần, ôm ấp lấy Trời, lấy Đạo, lấy Tuyệt đối thể, đứng vững trên nền tảng bất biến ở trung tâm hoàn võ, trung tâm lòng người, nắm giữ tinh hoa, vứt bỏ phù phiếm bác tạp…

Muốn biết ta đã đi đến đâu trên con đường trời muôn dặm, ta hãy xem chí hướng của ta ra sao, tư tưởng ta thế nào, mong muốn của ta là gì, tầm mắt của ta đến đâu, độ lượng tâm hồn ta bao nhiêu, lòng ta rung động lên theo những loại giá trị gì… «Triết nhân tri kỷ».

Trung Dung viết:

«Biết xa gần, biết nguyên lai, bản mạt,

Biết lẽ vi hiển, vừa rỡ ràng vừa e ấp,

Là có thể bước vào nẻo đức, đường nhân.» [53]

Thiệu Khang Tiết viết: «Biết Dịch số là biết Trời, biết Dịch lý là biết Trời.» [54]

Hình 25: Vừng Thái dương tượng trưng Thượng Đế hay Thái Cực ngự giữa hoàn võ.

CHÚ THÍCH

[1] Vịnh chữ tâm của tác giả (xem tr.211).

[2] Từ ngữ của Olov R.T. Jansé.

[3] Cf. Saint Paul II Thessaloniciens 4, 23.

[4] L’esprit (ruah en hébreu, pneuma en grec, mot qui se rencontre 827 fois dans la Bible) c’est le souffle de vie qui est communiqué par Dieu… L’Âme (nephesch en hébreu, psuché en grec, mot mentionné 873 fois dans la Bible) désigne avant tout la vie individualisée, la vie passagère… (Charles Gerber, Le Chemin du Salut: L’homme est-il immortel).

[5] Cf.: Olov R. T. Jansé, Nguồn gốc văn minh Việt Nam, tr.13.

[6] Tu tri nhất bản sinh song cán, 須 知 一 本 生 雙 幹

Thủy tín thiên nhi dữ vạn tôn. 始 信 千 兒 與 萬 孫

Dịch Kinh đại toàn, quyển 1, tr.35.

[7] Dương chủ nhân, Âm chủ vật. 陽 主 人 陰 主 物.

Dịch Kinh đại toàn, quyển 1, tr.40. Xem hình 24, tr.268.

[8] Tiên thiên chi nhi Thiên phất vi. Hậu thiên nhi phụng Thiên thời. 先 天 之 而 天 弗 違. 後 天 而 奉 天 時 (Dịch, Khôn quái)

[9] Dương tượng trưng bằng Càn (3×3=9). Âm tượng trưng bằng Khôn (2×3=6). Sự toàn thiện của Trời đất gồm đủ sinh thành là 5+0 (Ngũ thập cư trung)= 15. Vậy con người phải có đủ hai mặt Âm Dương (9+6=15)

[10] «Nhất linh chân tính» ký lạc càn cung tiện phân hồn phách. Hồn tại Thiên tâm Dương dã, khinh thanh chi khí dã. Thử tự Thái hư đắc lai, dữ Nguyên thủy đồng hình. Phách âm dã, trầm trọc ư khí dã, phụ ư hữu hình chi phàm thế. Hồn hiếu sinh, phách vọng tử. Nhất thiết hiếu sắc khí động, giai phách chi sở vi; tức thức thần dã. Tử hậu hưởng huyết thực. Hoạt tắc đại khổ. Âm phản âm dã, dĩ loại tụ dã. Học nhân luyện tận âm phách tức vi thuần dương. 一 靈 真 性 既 落 乾 宮 便 分 魂 魄 魂. 在 天 心 陽 也 輕 清 之 氣 也. 此 自 太 虛 得 來 與 元 始 同 形. 魄 陰 也 沉 濁 之 氣 也 附 於 有 形 之 凡 體. 魂 好 生, 魄 望 死. 一 切 好 色 動, 氣 皆 魄 之 所 為. 即 識 神 也. 死 後 享 血 食. 活 則 大 苦. 陰 反 陰 也. 以 類 聚 也. 學 人 煉 盡 陰 魄 即 為 純 陽 (Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ, tr.4)

[11] Thực ra: đối xứng nhau về hình thức mà bất đối xứng trong thực tế.

[12] Cf. Hình Caducée. Théosophie et Science (A.Tanon), tr.499. Hình Thái cực Âm Dương của Ai Cập (I-SO) Papus La Cabbale, tr.95.

[13] Cf. Trang Tử, Tề vật luận: Bất dữ vật thiên, mệnh vật chi hóa, nhi thủ kỳ tông. 不 與 物 遷, 命 物 之 化 而 守 其 宗.

[14]..»L’idée de Dieu est une forme de l’idée de l’infini. Tant que le mystère de l’infini planera sur la pensée humaine, des temples seront élevés au culte de l’infini, que le Dieu s’appelle Brahma, Allah, Jéhova ou Jésus (Pasteur) Q.S. Janvier 1965, No 1, p.8.

[15] Au milieu est le Rien, dit Bouddha… autour nous prenons des formes diverses,… des personnalités diverses selon l’enchaýnment du déterminisme univesel… Le Karma est l’océan du tout; en lui, les formes qui ne sont rien, s’enchaýnent avec rigueur… En un mot, le Karma n’existe que dans les limites du moi et là, il existe, mais aussitôt que je suis sorti de là pour rentrer dans le Soi universel, il n’a plus de sens… (Marianne Verneul, Dictionnaire pratique des Sciences Occultes, Karma, p.236).

[16] Cf. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, q.1, Phật học nghiên cứu hội Linh Sơn xuất bản, tr.56: «A Nan! Ngươi muốn tu cho thành đạo thì phải biết hai thứ căn bản: một là căn bản của vô thủy sinh tử và hai là căn bản của vô thủy Niết bàn. Căn bản sinh tử tức là hiện nay ngươi và chúng sinh đều lấy tâm vọng tưởng mà nhận làm tự tính đó. Còn căn bản Niết bàn tức là cái «Thức thứ tám» vi tế tư tưởng của người hiện đang có ngày nay gọi là Thức tính đó.»

[17] – Dịch nghịch số dã… 易 逆 數 也 (Hệ từ hạ)

– Diên lưu tố nguyên 沿 流 溯 源 (Dịch kinh đại toàn, tr.76)

– Thuận tắc nhân, nghịch tắc tiên 順 則 人 逆 則 仙

 (Đạo Nhất Tử 道 一 子, Tu chân bất tử phương 修 真 不 死 方, tr.16)

– Thái hư thị viết: Đơn đạo thánh công bất ngoại hoàn phản. 太 虛 氏 曰: 丹 道 聖 功 不 外 還 返. Thượng phẩm đơn pháp 上 品 丹 法, tiết thứ 7.

[18] Cố viết: số vãng giả thuận, thuận kỳ thiên địa sinh lục tử, tự thượng há hạ, sinh sinh bất tức chi nguyên lý, vô thời hoặc vi, tri dĩ tàng vãng dã. Tri lai giả nghịch, nghịch dụng lục tử chi lực, hạ học thượng đạt, tự nhất dương, nhị dương, tam dương, tứ dương, ngũ dương nhi lục dương, biến hóa tính mệnh bảo hợp Thái hòa. 故 曰 數 往 者 順, 順 其 天 地 生 六 子, 自 上 下 下, 生 生 不 息 之 原 理 無 時 或 違, 知 以 藏 往 也 知 來 者 逆, 逆 用 六 子 之 力 下 學 上 達 自 一 陽 二 陽 三 陽 四 陽 五 陽 而 六 陽, 變 化 性 命 保 合 太 和 (Thái cực quyền bổng đô thuyết, tr.52)

… Thị cố Dịch nghịch số dã 是 故 易 逆 數 也 (Hệ từ hạ)

[19] Thiên đạo chi thường tiên dương nhi hậu hữu âm, tiên thủy nhi hậu hữu chung, tiên sinh nhi hậu hữu tử; kim Dịch sở ngôn nhi viết: Âm dương, viết: chung thủy; viết: tử sinh giả giai giáng nhất đẳng nhi thủ kỳ biến dã. Cái tự kỳ thường giả nhi ngôn chi đãn kiến kỳ tiên hậu lưỡng sự chi cùng yên. Tự kỳ biến giả nhi ngôn chi, tắc cùng nhi phục thông, vị thường dĩ dã… 天 道 之 常 先 陽 而 後 有 陰, 先 始 而 後 有 終, 先 生 而 後 有 死; 今 易 所 言 而 曰: 陰 陽 曰 終 始;曰 死 生 者 皆 降 一 等 而 取 其 變 也. 蓋 自 其 常 者 而 言 之 但 見 其 先 後 兩 事 之 窮 焉. 自 其 變 者 而 言 之, 則 窮 而 復 通, 未 嘗 已 也 (Tống Nguyên học án, q.62, tr.17: Thái Uyên)

[20] Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Đông Phương, q. III, tr.9.

[21] Thủy hỏa tương tế, Âm Dương tương khế, Dục vật tân dân, tham thiên tán địa. 水 火 相 濟, 陰 陽 相 契, 育 物 新 民, 參 天 贊 地 (Bí bản Gia cát thần số, bài 362)

[22] Dịch Càn hạ Khôn thượng vi Thái; ngoại Khảm nội Ly vi Ký tế. Dưỡng sinh gia chi thủ Khảm điền Ly, phản lão hoàn đồng giai thủ nghịch dã… Dịch nghịch số dã. Dương thượng, âm hạ nhi tất viết: nhất âm nhất dương chi vị đạo, âm tiên ư dương, chính bất trắc chi thần dã. 易 乾 下 坤 上 為 泰; 外 坎 內 離 為 既 濟. 養 生 家 之 取 坎 填 離, 返 老 還 童 皆 取 逆 也… 易 逆 數 也. 陽 上 陰 下 而 必 曰: 一 陰 一 陽 之 謂 道, 陰 先 於 陽, 正 不 測 之 神 也 (Nhiếp sinh tam yếu 攝 生 三 要, thượng, tr.4)

– Cf: Vương xương Chỉ, Chư tử đích ngã kiến tr.68: Thất kỳ chân tể, mang muội nhất sinh… 失 其 真 宰 茫 昧 一 生.

[23] Cf: Thác, Tống. (Dịch kinh lai chú đồ giải, q.I, tr.38, 39, 40, 41): Thác giả Âm Dương tương đối dã. Như Càn thác Khôn. Tống tự chi nghĩa tức chức bố bạch chi tống hoặc thượng hoặc hạ chi đảo chi giả dã; như Tốn Đoài, Cấn Chấn; như Truân Mông… 錯 者 陰 陽 相 對 也. 如 乾 錯 坤. 綜 字 之 義 即 織 布 帛 之 綜 或 上 或 下 之 倒 之 者 也, 如 巽 兌, 艮 震, 如 屯 蒙.

[24] Tính chi đức dã hợp nội ngoại chi đạo dã. 性 之 德 也 合 內 外 之 道 也 (Trung Dung, ch.14)

[25] Dư thường vị thử nhiếp tâm pháp; nhĩ tâm hữu sở y tắc định, tâm định tắc thần vương. 余 嘗 謂 此 攝 心 法, 爾 心 有 所 依 則 定, 心 定 則 神 王 (Hàm phân lâu bí cấp, tập 7. Tây sơn nhật ký)
 
[26] Nam Hoa kinh, Tề vật luận.

… Ngụ chư vô cảnh. 寓 諸 無 境.

… tham vạn tuế nhi nhất thành thuần. 參 萬 歲 而 一 成 純.

[27] Cf.: G. Gamow, La création du l’univers, tr. xiv, xv, 25 et ss.)

[28] Trình phu tử tri vạn lý qui ư nhất lý, nhi bất tri nhất lý tán ư vạn sự, trùng trùng vô tận vô tận trùng trùng, tự tha bất gián ư vi trần, thủy chung bất ly ư đương niệm, cùng huyền cực diệu, phi nhị thừa phàm phu chi sở năng tri dã. 程 夫 子 知 萬 理 歸 於 一 理, 而 不 知 一 理 散 於 萬 事, 重 重 無 盡 無 盡 重 重, 自 他 不 間 於 微 塵, 始 終 不 離 於 當 念, 窮 玄 極 妙, 非 二 乘 凡 夫 之 所 能 知 也 (Đào Hư Tử, Đạo dư lục, tr.19)

[29] Trung Dung, ch.26.

[30] Trung Dung, ch.26.

[31] Trung Dung, ch.26. Tất cả chương này đều đề cập sự tiến hóa của thánh nhân, cũng như của hoàn võ. Cf.: Chương XVI Tổng luận của sách này.

[32] Cf. G. Jung, Psychology and Alchemy, p.455, 456:… But if we try to understand the phenomenom from inside, i. e., from the standspoint of the psyche, we can start from a central position where many lines converge, however far apart they may be in the external world. We are confronted with the underlying human psyche which, unlike consciousness hardly changes at all in the cours of many kenturies. Here, a truth that is two thousand years old is still the truths to day – in others words, it is still alive and active. Here too, we find those fundamental facts that remain unchanged for thousand of years and will still be unchanged thousand of years hence…

[33] Lưỡng nhân tại bàng, Thái dương tại thượng, chiếu nhữ nhất thốn tâm, tiên cơ tằng minh phủ. 兩 人 在 旁, 太 陽 在 上, 照 汝 一 寸 心, 仙 機 曾 明 否 (Bí bản Gia Cát thần số, bài 353)

[34] Le carré signifie l’immuable stabilité du Principe. (Pierre Grison, Angkor ou l’univers manifesté, 114-115, p. 356.

[35]… Aspect statique ou terrestre du mandala. (Ibid., p.356)

[36] Âm cực sinh Dương, Dương cực sinh Âm. 陰 極 生 陽 陽 極 生 陰. Vô Dương tắc Âm vô dĩ sinh, vô Âm tắc Dương vô dĩ hóa. 無 陽 則 陰 無 以 生, 無 陰 則 陽 無 以 化.

[37] Tồ uỷ 殂 委.

[38] Ly tâm 離 心 (mouvement centrifuge)

[39] Vãng 往.

[40] Bối thiên 背 天.

[41] Qui nguyên 歸 原.

[42] Hướng tâm 向 心 (mouvement centripète)

[43] Lai 來, hoàn phản 還 返.

[44] Thuận thiên 順 天.

[45] Thiên địa tuần hoàn chung nhi phục thủy. 天 地 循 還 終 而 復 始.

[46] Từ Cấu đến Độn 16 quẻ. Độn đến Bĩ 8 quẻ. Bĩ đến Quan 4 quẻ. Quan đến Bác 2 quẻ. Bác đến Khôn 1 quẻ.

Lại từ: Phục đến Lâm 16 quẻ. Lâm đến Thái 8 quẻ. Thái đến Đại Tráng 4 quẻ. Đại Tráng đến Quải 2 quẻ. Quải đến Kiền 1 quẻ.

[47] Vãng lai giả dĩ nội ngoại ngôn, dĩ tiêu tức ngôn dã. Tự nội nhi ngoại vị chi vãng, tự ngoại nhi nội, vị chi lai. 往 來 者 以 內 外 言, 以 消 息 言 也 自 內 而 外 謂 之 往, 自 外 而 內 謂 之 來 (Tống Nguyên học án, q.37, tr.3)

[48] Cf. Jean Chabosseau, Le Tarrot, p.62:… Ce cycle des lois de la nature presénte l’analogie alchimique de l’ordre incressant des évolutions et des involutions atomiques et de leur désintégration consécutive à leur régrégation: les fluides s’échangent, les natures pénètrent, – la roue entre en mouvement, – «le Feu de la Roue», – les changements s’opèrent… l’inférieur s’élève vers le supérieur, le fixe va vers le volatil, et celui-ci descend dans la substance, «pour accomplir les miracles d’une seule chose».

Cf. C.G.Jung, Psychology and Alchemy, p.357:… The alchemical parallel to this antagonism is the double nature of Mercurius which shows itself most clearly in the Uroboros, the dragon that devours, fertilizes, begets, and slays itself and brings itself to life again. Being hemaphroditic it is compounded of opposites and is at the same time their uniting symbol, at once deadly poison, basilisk, scorpion, panacea and saviour…

[49] Nghiên cứu Dịch, ta thấy 64 quẻ là do tứ tượng chồng ba, phát sinh 4 x 4 x 4 = 64. Dưới đây xin trình bày một trong những phương pháp phát sinh 64 quẻ và sự tương ứng của chúng với 64 nucléotides trong khoa Génétique.

Ta đặt: Dương ━━━ và Âm ━ ━ .

 Âm Dương chỉ có 4 cách phối hợp: Thái Dương, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Thái Âm (xem hình).

(A = adenylic acid, G = guanilic acid, C = cytidylic acid, U = uridylic acid)

Nếu ta nhận như hình dưới đây :-

Và cho xếp chúng chồng lên nhau 3 lần ta sẽ có:

I. AAA, AAG, AAC, AAU, AGA, AGG, AGC, AGU

II. ACA, ACG, ACC, ACU, AUA, AUG, AUC, AUU

III. GAA, GAC, GAU, GGA, GGG, GGC, GGU

IV. GCA, GCG, GCC, GCU, GUA, GUG, GUC, GUU

V. CAA, CAG, CAC, CAU, CGA, CGG, CGC, CGU

VI. CCA, CCG, CCC, CCU, CUA, CUG, CUC, CUU

VII. UAA, UAG, UAC, UAU, UGA, UGG, UGG, UGU

VIII. UCA, UCG, UCC, UCU, UUA, UUG, UUC, UUU

I/ Tức là Càn, Quải, Đại hữu, Đại tráng, Tiểu súc, Nhu, Đại súc, Thái.

II/ Lý, Đoài, Khuê, Qui muội, Trung phu, Tiết, Tổn, Lâm, Đồng nhân, v.v.

Xem Isaac Asimov, The genetic code, tr.162, 163. Phải chăng hiện tượng sinh lý cũng theo định luật Dịch?)

[50] Sự tăng giảm này theo định luật Âm tiêu, Dương trưởng, và Dương tiêu Âm trưởng trong bát quái, và định luật Nhất trinh bát hối: 1 quẻ dưới đứng, tám quẻ trên thay, trong 64 quẻ.

[51] Cố quân tử chi đạo, bản chư thân, trưng chư thứ dn. Khảo chư tam Vương nhi bất mậu; kiến chư thiên địa nhi bất bội; chất chư quỉ thần nhi vô nghi; bá thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc. Chất chư quỉ thần nhi vô nghi: tri thiên dã. Bá thế dĩ sĩ thánh nhân nhi bất hoặc, tri nhân dã. 故 君 子 之 道, 本 諸 身, 征 諸 庶 民 考 諸 三 王 而 不 繆, 建 諸 天 地 而 不 悖 質 諸 鬼 神 而 無 疑 百 世 以 俟 聖 人 而 不 感 質 諸鬼 神 而 無 疑, 知 天 也 百 世 以 俟 聖 人 而 不 感, 知 人 也 (Trung Dung, ch.29)

[52] Thánh nhân ký đắc Thiên vị 聖 人 既 得 天 位 (Dịch, Càn quái, cửu ngũ, Truyện)

… Thánh nhân tri tiến thoái, tồn vong nhi vô quá. 聖 人 知 進 退 存 亡 而 無 過 (Dịch, Càn quái, thượng cửu, Truyện)

… Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, Âm Dương chi nghĩa phối nhật nguyệt, dị giản chi thiện phối chí đức. 廣 大 配 天 地, 變 通 配 四 時 陰 陽 之 義 配 日 月, 易 簡 之 善 配 至 德 (Dịch – Hệ từ thượng)

Cf.:… Si l’on vous demande ce qu’est un homme divin ou divinisé, vous répondrez: Celui qui est tout éclairé et resplendissant de la lumière éternelle et divine, tout embrasé de l’amour éternel et divin. Nous avons déjà parlé de la lumière, mais il faut savoir que la lumière c’est-à-dire la connaissance, n’est rien sans l’amour. (Théologie Germanique – La religion essentielle, p.161)

[53] Tri viễn, tri cận, tri phong chi tự, tri vi chi hiển, khả dữ nhập đức hĩ. 知 遠 之 近, 知 風 之 自, 知 微 之 顯 可 與 入 德 矣 (Trung Dung, ch.33)

[54] Vị Nghiêu phu viết: Tri dịch số vi tri thiên, tri Dịch lý vi tri Thiên. Nghiêu phu vân: Hoàn tri Dịch lý vi tri Thiên. 謂 堯 夫 曰: 知 易 數 為 知 天, 知 易 理 為 知 天 (Dịch kinh đại toàn, q.I, tr.64)

**************************         

Chương 15

DI TÍCH TRUNG ĐIỂM VÀ VÒNG DỊCH TRONG HOÀN VŨ

Một học thuyết chẳng qua là để xiển minh các vấn đề về Thượng đế, nhân loại, vũ trụ và những liên quan tương ứng.

Học thuyết cao cho nhìn thấy bao quát vấn đề, học thuyết thấp chỉ bàn giải về một vài khía cạnh. Một học thuyết cao còn có tính cách phổ quát, nghĩa là ta có thể dùng nó mà giải thích hết các học thuyết cổ kim; được vậy chính vì nó phát xuất từ căn nguyên và cũng là vì nó là tuyệt điểm tuyệt đích.

Khi đã hiểu vi ý Trung Dung, khi đã hiểu lẽ «đồng qui nhi thù đồ», khi đã xác định rằng Trung Dung là tâm điểm bất biến, mà Dịch là vòng tròn chu luân vạn hữu biến thiên, ta có thể dùng tâm điểm và vòng tròn làm chìa khóa để mở chốt then các học thuyết, làm kim chỉ nam để nghiên cứu các tượng hình, hoạ bản, đền đài miếu mạo Đông Tây mà tìm cho ra ẩn ý cổ nhân.

Mục đích là để:

«Rẽ sóng thời gian tìm nghĩa lý.

Khơi lòng trời đất lấy tinh hoa.»

Và cũng là để chứng minh rằng muôn vạn ngả đường đều gặp gỡ ở Trung tâm, và chủ trương, đường lối xưa nay của các thánh hiền trên hoàn vũ chẳng phải là sai ngoa vu khoát.

1. Ý nghĩa tâm điểm và vòng tròn trong các học thuyết Âu Á

Như trên đã chứng minh, đối với Nho giáo, thì tâm điểm, trung điểm là Trời là Thái cực, mà vòng tròn bên ngoài là các hào quái tượng trưng cho vạn hũu biến thiên.

Lạ thay, khi khảo sát lại các học thuyết cổ từ á sang Âu, ta đều thấy quan niệm này được lưu truyền với những tượng hình y thức như vậy.[1]

Đi ngược dòng thời gian, trở về với những văn minh tối cổ như Ai Cập, Chaldée, trở về với những học thuyết tối cổ như Vệ Đà, Pythagore,[2] Zoroastre,[3] đâu đâu ta cũng thấy tâm điểm tượng trưng Hóa công bất biến, và vòng bên ngoài chỉ sự luân lưu biến ảo của hiện tượng và vạn hữu.

Trong các di tích cổ Ai cập, ta thấy một hình vòng tròn trong tâm có chữ AUM, bên ngoài có hai con rắn song song tượng trưng quyền năng và trí tuệ Tạo hóa.

Chữ w.ee hay AUM hay Thủy Chung ở giữa vòng tròn là Thượng đế tuyệt đối toàn năng.[4]

Hình 26: Tâm điểm và vòng tròn trong huyền học Ai cập.

(Egyptian point within a circle)

… «Theo kinh Veda, thì trước khi muôn loài được tạo dựng, chỉ có Brahman, Bản thể thuần túy, không hình thức sắc tướng; đó là Mahâ Bindu, là Tuyệt điểm, là Thần, Khí… Tuyệt điểm ấy siêu hình, vô trụ, vô lượng, nhưng chính là căn nguyên phát huy muôn vật.

Tuyệt điểm ấy ví như trung tâm vòng Hoàng đạo phát sinh mười hai cung.

Tuyệt điểm ấy có thể sánh với Hư không của Veda (Shunya) vì chưa bị ảo ảnh bên ngoài khoác lên trên mình các lớp hình thức sắc tướng, hay có thể sánh với Hư vô của J. Boehme.[5]

… «Còn vòng tròn bên ngoài tượng trưng sự phát triển muôn mặt của Tâm Điểm, hay của Căn nguyên tuyệt đối… Thế tức là vòng tròn[6] tượng trưng cho Vô hạn hiển dương trong hữu hạn bằng biến chuyển tuần hoàn, vãng lai, tiêu trưởng…» [7]

Đứng về một phương diện khác, thì tâm điểm là tự do khinh khoát; còn vòng tròn bên ngoài là vòng định mệnh gồm đủ các ảnh hưởng chi phối con người.[8]

Bao lâu con người còn ở các vòng, lớp bên ngoài thì dĩ nhiên sẽ bị ngoại cảnh chi phối, bao lâu còn hòa mình với phù du ảo ảnh thì cũng sẽ bị tàn phai, hủy hoại như phù du ảo ảnh. Còn trái lại nếu biết thu hồi thần trí cho qui tụ về Tâm, thì sẽ trở nên một «lữ khách» trên con đường về Trung điểm, sẽ hòa mình với Trung điểm, Tuyệt điểm, và lúc ấy các duyên nghiệp bên ngoài không còn ảnh hưởng tới mình được nữa…

René Guénon, nhà huyền học Pháp cũng viết: «Sở cư của Brahma» chính là ở tâm điểm vũ trụ và nhân loại, còn hình thức sắc tướng có thể nói được là đều ở quanh bên ngoài, trên vòng «bánh xe vạn hữu».[9]

Thay vì dùng tâm điểm và vòng tròn, nhiều học thuyết dùng những hình tương đương thay thế: Trong các hình vẽ Trung Hoa thời cổ, thường có hình Phục Hi cầm «Qui» (compas) Nữ Oa cầm «Củ» (thước vuông).[10]

«Qui» để vẽ vòng tròn, «Củ» để vẽ 2 đường thẳng góc trong vòng, xác định tâm điểm. Vì thế, người xưa còn gọi Trung điểm là Thập tự nhai 十 字 街 .[11]

Hình 27: Hình Phục Hi cầm Qui, Nữ Oa cầm Củ

Hình 28: Biểu tượng Qui Củ của hội Tam Điểm

Dấu hiệu của hội Tam Điểm (Franc Maconnerie) là hình một chiếc «Qui= compas» xếp trên một hình thước thợ (Củ), ôm lấy chữ G vào trong, mà G, tức là God là Iod, là Thượng Đế.[12]

Hình 29: Hình Thái Cực (hay Lưỡng Nghi) cầm Qui Củ.

Khoa Huyền Học cũng thường vẽ hình Lưỡng Nghi (Rebis), một bên cầm Qui, một bên cầm Củ hợp nhất thành Thái Cực (Mercure).[13]

Biểu hiện của phái Rose-Croix, là một bông hồng (hình tròn đặt trên hình chữ thập.

René Guénon và C.G. Jung đều cho rằng những kiểu kính hoa hồng, hoa thị (rosace) ở Âu Châu cũng vẫn chỉ có một ngụ ý như tâm điểm và vòng tròn[14] hay hình hoa sen ở Á Châu.

Tóm lại, dẫu nói xa hay nói gần, nói thật thà chất phác, hay nói bóng gió, tất cả các hiền nhân, thánh triết đều truyền thụ cho nhau Trung Đạo cao siêu…

Nghiên cứu thuật luyện đan Âu Châu thời cổ, ta cũng thấy cổ nhân đã dùng tâm điểm và vòng tròn[15] để toát lược chủ trương, và kỹ thuật luyện kim, hay nói cho đúng hơn, phương pháp giải thoát con người, thần thánh hóa con người.

Tâm điểm chính là bản thể, là nguồn gốc con người, là tiên đan, là nguồn mạch trường sinh, là thiên địa chi tâm, là «ngọc châu viên giác» (lapis philosophorum) mà con người cần tìm cho ra.[16]

Ngoài những từ ngữ, cổ nhân còn dùng nhiều hình vẽ để xiển minh chân lý đó.[17]

C.G. Jung, sau khi đã nghiên cứu, trong vòng ba mươi năm, các «mandala» từ Đông sang Tây đã quả quyết chắc chắn là tâm điểm những họa bản ấy cốt để ám chỉ «trung tâm», «chân tâm», «đạo tâm» chứ không phải «vọng tâm», «nhân tâm», con người riêng tư, phù phiếm bên ngoài,[18] còn vòng tròn bên ngoài tượng trưng công trình tu luyện để tiến về tâm điểm đó.[19]

Như thế, mục đích các đan gia (alchimiste) chân chính chẳng qua đều cốt chỉ vẽ cho con người tìm ra bản thể mình;[20] dùng thời gian, vạn hữu, thân xác, tâm thần làm công cụ để tìm ra và tiến tới bản thể.[21]

Thế tức là tìm ra được kim đan,[22] thế tức là tìm được thuốc trường sinh bất tử…

3. Tâm Điểm và Vòng Hoàng Đạo

Muốn hiểu rõ thêm ý nghĩa của tâm điểm bên trong và vòng tròn bên ngoài, chúng ta hãy nghiên cứu các vòng Hoàng đạo, hay vòng Dịch.

Các nước Babylone, Ai Cập, Do Thái, Ba Tư, ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, các nước Hồi giáo v.v… đều có dùng vòng Hoàng Đạo với 12 cung gọi là vòng Zodiaque.

Chữ Zodiaque (Zoe = Sự sống, diakos = bánh xe) có nghĩa là Bánh xe sự sống,[23] hay vòng chu luân gồm các kiếp sống khác nhau, hay vòng tuần hoàn của các quần sinh vũ trụ.

Đại khái, vòng Hoàng Đạo gợi ra sự biến thiên, thăng (évolution), trầm (involution) không ngừng của quần sinh vũ trụ. Nó gợi ra muôn vàn nếp sống khác nhau thường xuyên diễn tiến trên hoàn vũ.[24]

Nhưng thực ra, tâm điểm mới là đầu giây mối nhợ. Tâm điểm hay Trung điểm của các vòng Hoàng đạo tượng trưng cho Tuyệt đối thể, vô hình tích, cho nguyên tinh, nguyên khí nguyên thần sẽ phát huy ra quần sinh vũ trụ. Đó là Đạo thể, là Hư vô, hư vô vì huyền diệu không thể suy cho thấu, nghĩ cho cùng được.

Tâm điểm ấy các nhà huyền học Cổ kim gọi bằng nhiều danh hiệu: Ether, Akasha, Brahma, Hư vô (Shunya), Chakravarti, kim đan, huyền cơ bất động (le moteur immobile d’Aristote) hay Chân Như, Bản lai diện mục, v.v.[25]

Tâm điểm ấy chính là Cực (Pôle), là điểm bất biến làm khu nữu cho vũ trụ xoay quanh; còn sự tuần hoàn của vũ trụ thường được tượng trưng bằng bánh xe.Đó là một quan niệm phổ quát thấy ở khắp các dân nước.[26]

Người Ai Cập gọi tâm điểm là Thượng đế duy nhất, đấng tạo thành vũ trụ quần sinh, hay là Tem nghĩa là chủ chốt khu nữu của sự vận chuyển các tinh cầu.[27]

Tâm điểm cũng còn được mệnh danh là thần Mercure, là Tạo hóa phát sinh muôn ngàn biến ảo.[28]

Trong hình vẽ le Tarot,[29] ta thấy ở tâm điểm của hoàn vũ có viết bốn chữ Yod he Vau He, nghĩa là Yahwe, là Thượng đế…

Vòng Hoàng đạo Phật giáo, hay nói đúng hơn, vòng luân hồi của Phật giáo thường gồm bốn vòng tròn đồng tâm.[30]

Vòng trong bỏ trống tượng trưng cho Hư vô (Sunya hay Sunyata)[31] hay có vẽ hình Phật Vairocana. Các vòng tròn bên ngoài tượng trưng cho tham, sân, si, lục đạo và thập nhị nhân duyên. Cho nên, vòng bên ngoài tức là vòng luân hồi, hay vòng thập nhị nhân duyên cốt mô tả những cuộc sống phù du, những ảo ảnh của cuộc đời:

Sự luân lạc của con người bắt đầu do dốt nát u muội, [32] để rồi hành động mù quáng chuốc mua oán nghiệt vào người, [33] chuyên lo tìm hiểu ngoại cảnh [34] để cho các hình ảnh phù du hư ảo bên ngoài [35] xâm nhập vào ngũ quan và ý chí, [36] đâm ra vấn vương [37] bịn rịn [38] khao khát say mê, [39] cố gắng tìm cầu cho được, [40] để làm của sở hữu riêng tư. [41] Mỗi lần say mê theo vật chất phù sinh như vậy là như bắt đầu sinh ra ở một kiếp người [42] để rồi tàn tạ già nua chết chóc [43] cùng với sự điêu tàn của ảo ảnh …

Suy nghiệm ra thì Vairocana 毗 盧 舍 耶 Tì lô xá gia) tức là Trung điểm, là Tuyệt đối, là Pháp thân, là Bản lai diện mục, là Tịnh mãn 淨 滿 , là «Biến nhất thiết xứ», là Đại Nhật Như lai, là nguồn sống muôn vật.

Khi đã đối chiếu các học thuyết, ta có thể kết luận như sau:

Cổ nhân dùng tâm điểm và vòng tròn để tượng trưng cho hai phương diện biến hằng của vũ trụ. Tâm điểm bất biến hằng cửu là căn bản, là Đạo, là Thể. Vòng tròn bên ngoài biểu hiện sự di động biến thiên, phần công dụng.[44]

Vòng tròn bên ngoài tức là:

– Vòng Dịch Nho giáo

– Vòng Sinh mệnh (Rota fati et generationis     của phái Orphisme)

– Vòng số mệnh (Khoa học Tarot)

– Vòng Luân hồi (Phật giáo)

– Chu kỳ Abred (học thuyết Bardisme)

– Vòng Hoàng đạo (chiêm tinh học)

– Ouroboros (con chu xà của Thông thiên học)

– Brahma luân (Brahma Wheel) trong Bà La Môn giáo[45]

Người ta còn dùng vòng tròn tượng trưng cho các tuần trăng, ngụ ý biến thiên phiêu lãng v.v…

Trong con người, thì vòng Dịch, hay vòng Hoàng Đạo gồm hai mạch: Nhâm (Âm, chạy phía trước), Đốc (Dương chạy phía sau lưng). Còn Trung điểm là Nê Hoàn Cung (xem hình 30). Nê hoàn cung hay Não thất ba (3è ventricule) cũng như nội tẩm trong các đền đài, là nơi Hóa Công ngự trị (Garbhagrita, chambre de l’Embryon), vì đó chính là trung tâm điểm vũ trụ, nơi mà căn nguyên tuyệt đối của mọi hiện tượng ngự trị.[46]

Hình 30: Tâm điểm và vòng Hoàng Đạo trong con người

Hình 31:-  Hai mạch Nhâm Đốc và Nê Hoàn Cung

     

Nhìn sang Ấn Độ giáo ta thấy: Sách Áo Nghĩa Thư chỉ đường về tâm điểm, trung điểm tâm thần như sau:

«Tâm người trăm linh mốt kinh,

Mà duy có một thượng đình đi lên.

Cứ theo đường ấy mà men,

Rồi ra ắt được tới miền trường sinh.» [47]

Nơi khác lại viết:

«Nơi nào mà mọi thần kinh,

Như đũa gặp trục trong vòng bánh xe.

Nơi thần kinh hội tụ về,

Là nơi Tuyệt đối chưa hề hóa thân.

Cố tìm Tuyệt đối, Chân Tâm,

Rồi ra sẽ thoát biển trần hôn mê…» [48]

Tóm lại, vòng chu luân, vòng dịch, vòng luân hồi, vòng Hoàng đạo, v.v. chẳng qua là cốt tượng trưng vạn hữu, tượng trưng hiện tượng và mọi sự biến thiên chất chưởng bên ngoài. Vòng chu luân hay xa luân ngoài ra còn chỉ: thăng (ascension), giáng (descente); trầm hiện (précipitation), siêu thăng (sublimation); Thượng đế xuống với con người, và con người lên cùng Thượng đế.[49] Còn tâm điểm thời học thuyết nào cũng dùng để chỉ Bản thể, hay Tuyệt đối.[50]

Suy ra thì con người cần phải biết dùng vạn hữu làm phương tiện để tiến về Tuyệt đối, nhìn hiện tượng để suy ra bản thể, thấy biến thiên chất chưởng bên ngoài để lập chí đi tìm trường tồn vĩnh cửu bên trong, bỏ tiểu tiết chi mạt, mà tìm cầu cho được đại thể, căn nguyên. Đó cũng chính là con đường muôn dặm con người phải đi để trở về cùng Thượng đế, đó cũng chính là một chương trình hoạt động vĩ đại mà Trời đã uỷ thác cho con người thực hiện, trước khi vào an nghỉ tại Trung cung…

Theo đà thời gian, con người sẽ phát huy dần dần hết mọi nguồn năng lực, và cuối cùng sẽ biết sử dụng thần lực của mình. Theo đà thời gian con người sẽ trừ khử được mọi sự ngộ nhận về thân thế mình, và đến chung cuộc sẽ nhận biết mình là ai, nghĩa là sẽ nhìn nhận ra bản thể tối hậu của mình, sự trường tồn vĩnh cửu mình trong Thượng đế… [51]

4. Tâm điểm và vòng tròn trong khoa Kiến trúc và Mỹ thuật

Mới đầu, người xưa thường coi những danh sơn, cao sơn là trung tâm điểm vũ trụ là nơi mà trục hoàn vũ xuyên qua trái đất, nơi đất trời gặp gỡ, nơi mà những người hiền lương nhờ ảnh hưởng trời đất giao hội có thể trở thành hiền thánh. Đó là những danh sơn, cao sơn như Côn Lôn, Phú Sĩ, Elbrouz, Thabor, hay Olympe.

Nhưng dần dà các đền đài miếu mạo lớn, những công trình kiến trúc lớn cũng được coi là trung tâm điểm vũ trụ như đền thờ Jerusalem, Kim Tự Tháp, v.v.[52]

Các nhà khảo cổ, quan sát các đền thờ, các thành thánh xưa (ví dụ như Angko-Thom) đã nhận thấy rằng khi xây cất các công trình vĩ đại ấy, cổ nhân muốn lấy gỗ, đá để xây lại một vũ trụ nhỏ, cho nên trung cung bao giờ cũng dành để thờ các đấng Tối cao, còn bên ngoài hoặc là trạm trổ tiên thánh, quần sinh, hoặc là có thành quách bao bọc, tượng trưng cho núi non; có hào lạch, tượng trưng cho sông biển. Con người muốn đi vào Trung cung muốn lên tới thần minh sẽ phải, trèo non, sẽ phải lướt thắng các trở ngại, sẽ phải đi quanh quất, tiến tới mãi mới đến được chứ không phải là chuyện dễ…[53]

Tâm điểm và vòng tròn với những ẩn ý sâu xa của nó (Hóa công và hoàn vũ)[54] còn là đề tài cho nhiều công trình kiến trúc, hay đền đài miếu mạo.

Chính điện trong khu đền Bayon ở Angkor-Thom là hình một Pháp luân lớn có tám tai hoa tỏa ra tám hướng như bông sen tám cánh, như bát chính đạo, ở giữa có chuyển luân Thánh Vương.[55] Ở Ấn Độ, các di tích bằng đá xếp vòng tròn, còn được thấy ở nhiều nơi. Di tích cổ nhất có lẽ là ở Dipaldiana.[56]

Trong những cổ tích của đạo Druidisme, ta cũng thấy nhiều tảng đá khổng lồ xếp thành vòng tròn như ở Stonehenge, và ở Avebury.[57]

Các đền thờ Druide cũng xếp theo hình tròn; ở trung tâm lại có đặt một tảng đá lớn, chắc chắn là tượng trưng cho đấng Tối cao (di tích «Y Cromlech» ở Pembroshire hay di tích ở gần Keswich trong vùng Cumberland nước Anh).

Đối với các dân miền Na Uy, Thụy điển thì đền thờ thần Odin gồm có 12 tòa xếp vòng tròn dành cho mười hai vị thần chính, có một chính tòa ở Trung cung dành cho chúa thần Odin. Những cổ tích này còn thấy ở Scania, Zeland, Jutland…[58]

Thật là:

«Một trời bát ngát trăng sao,

Vần xoay âu cũng nương vào Trung Cung,

Sen kia nghìn cánh nở tung,

Nhưng mà gốc gác vẫn cùng một tâm.» [59]

Khảo sát các truyền thuyết Do Thái,[60] Công Giáo,[61] Ba Tư,[62] Atlante,[63] hay Hi Lạp,[64] Ấn Độ,[65] v.v. ta đều thấy cây trường sinh, hay núi hạnh phúc đều ở trung tâm một khu vườn huyền diệu có bốn con sông chảy vào.

Áp dụng những truyền thuyết này vào công cuộc khảo sát con người, ta cũng thấy ở trung tâm não bộ, phía mặt dưới, có vòng Willis với bốn động mạch phát ra tứ phía não bộ.

Nếu đúng vậy, thì cây trường sinh, hay nguồn hạnh phúc cũng chẳng phải ở Doành Châu, Phương Trượng, mà đã ở sẵn ngay trong đầu não con người.[66]

Khảo sát khoa trang trí và hội họa từ Á sang Âu, ta thấy một loại hình ảnh rất đặc biệt mà C.G. Jung gọi là «Mandala». Những Mandala này hoặc vuông, hoặc tròn; tâm điểm thường có những hình Chúa, Phật, hay Shiva, ám chỉ căn nguyên vũ trụ; vòng ngoài là những thần nhân hay, thần vật tượng trưng tứ tượng.[67]

Bên ngoài chỉ ly tan, chia rẽ, hay là sân khấu để đóng tấn kịch đời, còn tâm điểm là nơi hòa hợp,[68] là «kim hoa», «kim thân», hay là «cố hương, cố quốc».

Các mandala ngụ ý dạy người tìm về gốc, trở về nguồn,[69] cốt giúp con người tìm ra chân tâm bất biến của mình. Mà chân tâm ấy chẳng ở đâu xa, nó ở ngay trong ta.[70]

5. Tầm quan trọng của Trung điểm trong thiên văn và địa lý

Copernic đã đặt mặt trời vào tâm điểm thái dương hệ, cho địa cầu và các hành tinh khác xoay trên các vòng tròn bên ngoài, khác hẳn với quan niêm của Ptolémée lấy trái đất làm tâm điểm vũ trụ.

Có thể nói rằng quan niệm của Copernic về thiên văn tương-ứng vói những quan niệm triết-học Đông Tây lấy «Đạo» (Logos) làm tâm điểm con người. Quan niệm Ptolémée tương ứng với những quan niệm triết học lấy «tâm hồn» (âme) làm tâm điểm con người.

Các dân tộc xưa thường coi tâm điểm, trung diểm là quê hương của họ. Theo Do thái thì trung điểm hoàn cầu là Jerusalem, là núi Sion.

Pindare, Sophocle, Tite Live, Ovide, v.v. chủ trương Athènes hay Delphes là trung tâm trái đất (omphales).[71] Người Trung Hoa thì lấy núi Côn Lôn làm trung điểm. Ấn Độ giáo và Phật giáo lấy núi Tu Di làm tâm điểm. Dân Babylone lấy thành Babylone làm tâm điểm hoàn cầu.

Nếu chỉ xem các hình vẽ không, ta sẽ tưởng người xưa thiển cận, chỉ biết nước mình mà không biết nước người, nhưng nếu hiểu theo nghĩa bóng, thì tất cả đều ngụ một ý: Tu-Di, Côn Lôn, tâm điểm địa cầu, tâm diểm vũ trụ chẳng có ở đâu xa, nó ở ngay trong lòng ta…[72]

6. Bí quyết tìm Đạo tìm trời

Chúng ta đã cùng nhau dùng thần trí đi chu du khắp hoàn vũ, chúng ta đã cùng nhau rong ruổi trên triền không gian thời gian của ngót sáu ngàn năm lịch sử nhân quần, đã bao quát các học thuyết Đông Tây, đã dùng chữ Trung làm chìa khóa mở kho tàng tư tưởng các hiền nhân quân tử mọi nơi mợi đời, chúng ta cần phải thâu lượm được một kết quả gì cụ thể và hữu ích.

Kết quả ấy là bí quyết tìm đạo, tìm Trời của người xưa.[73]

Cổ nhân đã lao tâm khổ tứ vẽ các tượng hình, xây các miếu mạo có dụng tậm dụng ý như trên, cốt là đã chỉ vẽ cho ta con đường trở về căn nguyên, con đường «hoàn nguyên phản bản».

Học thuyết nào cũng dạy ta tìm cho ra tâm điểm, trung điểm tức là tìm cho ra tuyệt đối thể, tìm cho ra chân thiện mỹ, tìm cho ra Trời ẩn áo trong đáy lòng vũ trụ và lòng người.

Trở về trung điểm là giải thoát vì tâm điểm tượng trưng cho tự do khinh khoát, còn vòng chu luân tượng trưng cho nghiệp chướng cho sự thằng thúc, sự chi phối.[74]

Trở về trung điểm tức là tìm được nguồn mạch trường sinh. Thông thiên học vẽ dấu hiệu chữ thập Ankh ở trung điểm, có ấn tín vua Salomon (âm dương thác tống) và con chu xà Ouroboros bao quanh (thiên địa tuần hoàn chung nhi phục thủy) cũng không ngoài ý đó, vì chữ thập Ankh tượng trưng cho sự sống.[75]

Theo «le Livre des morts» của Ai Cập thì trở về Trung cung, Trung điểm là kết hợp với thần Osiris, là phục sinh, đó là lên núi thánh Ament nơi thần Osiris ngự trị ở Trung cung, Trung điểm của hoàn vũ.[76]

 Trở về Trung điểm là đạt đạo Trung Dung, là đắc đạo, là phối thiên. Pho Kinh Dịch viết ra cũng không ngoài mục đích cao cả ấy. Vì Kinh Dịch cốt chỉ vẽ cho nhân loại đường trở về cùng Thượng đế.[77]

 Cho nên, nếu không tìm ra được Trung cung, trung điểm để kết hợp với Trời tức là phụ lòng các tiên hiền, tiên thánh:

«Đường về chẳng rõ tiêu hao

 làm sao biết được lối vào Trung cung

 Thế là bát quái thành không,

 Thế là vòng Dịch uổng công vẽ vời .

 Bên trong mù mịt tăm hơi,

 Làm sao biết được bên ngoài mà mong,

 Thế là bố trí như không,

 Ngũ hành thác loạn rối tung, rối bời.» [78]

Tìm được Trung cung, Trung điểm, tức là tìm ra tâm ấn, tâm pháp, tìm ra bí quyết tương truyền giữa các thánh hiền muôn thủa:

«Ta nay truyền dạy đạo trời,

 Nương theo Dịch lý dạy người điểm trung.

 Huyền quan ở chính giữa lòng,

 Giữ chừng tý ngọ, khơi giòng thần tiên.

 Hồi quang soi tỏ căn nguyên,

 Căn nguyên rạng rỡ ước nguyện thỏa thuê.» [79]

Tóm lại, nếu thực tình chúng ta có thiện tâm, thiện chí, muốn tìm Đạo, tìm Trời chúng ta phải đi vào nội tâm để mà tìm kiếm. Đạo, Trời không phải là chuyện bán mua, quảng cáo nơi ngã ba, đầu chợ;[80] nước Trời chẳng có đến rộn rã trong rước sách, trống chiêng, mà đến âm thầm, mà đã ẩn tàng ngay trong tâm hồn ta.[81] Vậy muốn tìm ra chân sư[82] bày tỏ cho mình các lẽ huyền vi, chỉ giáo cho mình phương pháp tu luyện trường sinh bất tử, ta phải như Tề Thiên đại thánh tìm về Phương Thốn Sơn, tìm tới ‘Tà nguyệt tam tinh động’, mà Phương Thốn Sơn[83] chính là ‘tấc lòng’ ta, mà tà nguyệt tam tinh động chính là tâm ta viết bằng ‘nửa vành trăng khuyết và ba sao giữa trời’.[84]

 Đi vào nội tâm, gạt cho hết mây mù dục vọng tăm tối, không sờn lòng, không lui gót, theo gương các hiền thánh muôn đời tiến bước, chắc chắn có ngày chúng ta sẽ thấy Trời, thấy Đạo hiện ra rực rỡ giữa tâm hồn ta.[85] Khi ta đạt được mục phiêu cao diệu ấy, ta cũng tự nhiên sẽ hấy thánh hiền sau trước chẳng hề có nói sai ngoa. Dịch và Trung Dung thực ra cũng không có bí quyết nào cao diệu hơn …

———–
**************************         

CHÚ THÍCH

[1] Cf. A.Tanon, Théosopie et Science, p.44 et ss., 48 et ss.:

… Symbole d’Isvara c’est le cercle avec un point au centre. Le centre universel n’est pas, dit-il (René Guénon) «nulle part» étant absolument transcendant par rapport à la manifestation tout en étant intérieur à toutes choses.

– C’est au contraire la circonférence qui est partout puisque tous lieux de l’espace, toutes choses manifestées ne sont que des éléménts du «courant des formes», des points de la circonférence de la «roue cosmique».

– Un texte taoïste (Tchoang Tseu) dit: «Le point qui est le pivot de la norme est le centre immobile d’une circonférence sur le contour de laquelle roulent toutes les contingences, les distinctions et les individualitiés.» (Cf. Tchoang Tseu, ch. 2, Traduction de Léon Wieger).

[2] Cf. René Guénon, Le Roi du Monde, p.18,19,20.

– Senard, Le Zodiaque Clef de l’ontologie appliqué à la psychologie, p.10 et ss.

– Dr R. Allendy, Le Symbolisme des Nombres, p.16,17.

– La Doctrine Secrète IV, 134, IV 123 et 133.

– Ezechiel I, 4, 15, 16, 18, 21.

– Théosophie et Science, p.48, 49.

[3] The Signet of Zoroaster. – the wise man of the East – the Point within the Circle… was hailed among all nations as the Beginning and the End, the Cause and Effect, the Principle of Life and Action which pervades, animates and governs the universe. (The New Age Magazine, March 1964, Vol.72, No3, p.39, 40)

[4] Point within a circle. Mackey’s revised encyclopedia, vol.II, p.187.

[5] Cf. Mr Senard, Le Zodiaque, Clef de l’ontologie appliqué à la psychologie, p.10.

… Avant la création, disent les textes védantins, il n’y avait rien que Brahman, l’être pur, le non-manifesté, l’indifférencié, Mahâ Bindu, le Point suprême, Energie-Conscience-Potentialité. Afin de nous donner une idée du Premier Principe, car nos facultés imparfaites ne nous permettent pas de concevoir adéquatement la Réalité en soi, ce Point peut être comparé au point métaphysique sans grandeur, ni position. Du Point Suprême il est dit qu’il est «la Source de toutes les directions de la Création».

Ce point peut être assimilé au Centre du Zodiaque d’où émanent ses douze rayons en direction des douze signes.

Il peut être comparé au Vide du Véda (Shunya) qui n’a aucune forme tant qu’il n’est pas encerclé par la Mâyâ (A. Avalon) ou encore au Rien de J. Boehme…

[6] Vòng tròn (le cercle) hoặc là Hình cầu (la Sphère) cũng vậy.

[7] Le Cercle symbolise l’extension dans toutes les directions possibles du Point ou Principe suprême se manifestant sur un plan ou en un cycle limité dont l’accomplissement prépare un cycle ultérieur de manifestation. La période involutive de la manifestation de l’Energie-Conscience (mouvement de haut en bas est représenté par l’hémi-cycle gauche du cercle et la période évolutive de cette manifestaion (mouvement de bas en haut par l’hémi-cycle droit.

Le Cercle symbolise donc l’Infini se manifestant dans le fini par un mouvement involutif – évolutif.

(Mr Senard, Le Zodiaque, Clef de l’Ontologie, appliqué à la psychologie, p.14)

[8] Cf. Senard, Le Zodiaque, p.36: Ce centre et cette circonférence expriment en outre le rapport de la liberté et de la nécessité… S’il (l’homme) s’identifie avec le monde manifesté et transitoire, alors il bubit le sort de ce monde. Mais si retirant son Energir. Soi – Conscience en son “Centre”, il devient un pèlerin de la “Voie du milieu”, puis cette Voie même; il se soustrait à la necessité qui règne à la circonférence et ke qui s’y passe ne peut plus l’atteindre. Vivant en l’essence, il est libre de participer ou non aux vissicitudes de la substance…

[9] Ce «séjour de Brahma» est véritablement le point Central, tant dans l’ordre cosmique que dans l’ordre humain, tandis que tout ce qui est de la manifestation et surtout de la manifestation formelle, est extérieur et «périphérique», si l’on peut s’exprimer ainsi, appartenant exclusivement à la circonférence de la «roue des choses». (René Guénon, L’homme et son devenir selon le Védanta, p.96)

… The Center of the Mandala corresponds to the calyx of the Indian lotus, seat and birthplace of the Gods. (C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.171)

[10] Trung Hoa ngũ thiên niên sử, q.1, tr.7.

[11] Xem Lưu Nhất Minh, Chu Dịch Xiển Chân, chương Trung Đồ. Bài này cũng đã được tục biên và phiên dịch nơi phụ lục IV sách này.

[12] «Yet I this forme of formeless Deity,

Drewe by the Square and Compasses of our creed.» (John Davies, Summa Totalis or All in All and the Same Forever, 1607. Mackey’s revised Encyclopedia, p.64.

The letter G then has in Freemasonry the same force and signification that the letter Yod had among the Cabaliste. It is only a symbol of the Hebrew letter and as that is a symbol of God. (Mackey’s revised Encyclopedia, p.385)

[13] C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.357.

[14] Cf.: René Guénon, Le roi du monde, p.19.

 C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.171.

[15] Habentibus symbolum facilis est transitus (for those who have the symbol the passage is easy). – An alchemical verbum magistri from Mylius. (Philosophia reformala, p.239; C.G. Jung Psychology and Alchemy, p.215-217)

[16] Tâm điểm, bản thể được gọi bằng nhiều danh hiệu trong khoa luyện đan Âu Châu; xin đan cử ít nhiều danh từ: Mercurius; Prima materia (nguyên thể); Archetype of the divine child (Hóa nhi); Anthropos (chân nhân), Hermès; philosophical gold (Kim đan), Quintessence (Tinh); Unum; Unica res; Monad (Nhất), Rebis (Thái Cực); the drug of immortality (thuốc trường sinh) v.v…

Đọc: C.G. Jung, Psychology and Alchemy, đoạn the Materia prima, tr.304-331.

… Các đơn gia Trung Hoa thời cổ cũng dùng tâm điểm và vòng tròn để toát lược thuật luyện đan. Tâm điểm cũng là kim đan (hay Đạo, hay Thái Cực hay Cốc thần), các quẻ xếp vòng tròn ngoài tượng trưng cho lô đỉnh (Càn, Khôn), dược vật (Khảm, Ly), hỏa hầu (60, sáu mươi quẻ còn lại).

Xem các hình trong quyển Chu Dịch Xiển Chân của Lưu Nhất Minh. Cụ Nguyễn Minh Thiện (Tam tông Miếu) đã dịch ra Việt văn phần đầu và xuất bản.

[17] Cf. Các hình trong: C.G. Jung, Psychology and Alchemy:

Hình 8, tr.47: Tâm điểm là vũ trụ chi tâm (The Anima mundi, guide of mankind, herself guided by God).

Hình 20, tr.62: Tâm điểm là nơi «Loan phụng đồng minh» (The red and white – hermaphroditic – double eagle).

Hình 23, tr.65: Tâm điểm là nơi «Âm Dương giao thái» (the mystic vessel where the two natures unite – Sol et luna caduceus – to produce the filius hermaphroditus).

Hình 25, tr.69: Tâm điểm là nguồn sống (the fountain of life as fons mercurialis).

Hình 31, tr.79: Tâm điểm là đế đô, là thánh điện (The symbolic city as center of the earth).

Hình 51, tr.104: Tâm điểm là ngọc cung (The lapis sanctuary).

Hình 112, tr.214: Tâm điểm là Bộ Lông cừu vàng (la Toison d’or), v.v.

[18] Unless everything deceives us, they (the mandala) signify nothing less than a psychic center of the personality not to be identified with the ego. (Jung, Psychology and Alchemy, p.97)

[19] The circumambulatio means as always concentration on the center. (C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.180)

… Rota or opus circulatorium which serves the same purpose of sublimation. (ibid., p.365)

… It is to be noted that the wheel is a favourite symbol in Alchemy for the circulating process, the circulatio… The contemporary moral allegories of the wheel emphasize that the ascensus and descensus are, among other things, God’s descent to man and man’s ascent to God… (Ibid., p.157)

… There is a circle surrounded by rays of light in the center of the square.

The Scholium gives the following explation: reduce your stone to the four elements… and unite them into one and you will have the whole magistery.

The circle in the middle is called a mediator, making peace between enemies or (the four) elements… circulation of spirits or circular distillation that is the outside to the inside, the inside to the outside, likewise the lower and the upper, and when they meet together in one circle, you could no longer recognize what was outside or inside or lower or upper but all would be one thing in one circle or vessel…

For this vessel is the true philosophical Pelican, and no other is to be sought for in all the universe. This process is elucidated by the accompanying drawing. The quartering or the exterius, four rivers in and out of the inner «Ocean». (Ibid., p.123)

[20] Res ex qua sunt res, est Deus invisibilis et immobilis (That from which things arise is the invisible and immovable God). C. G. Jung, Psychology and Alchemy, p.309.

[21] Presumably the leftward circumambulation… is one of those paths to the center of the non-ego, which were also trodden by the medieval investigators when producing the lapis. (Ibid., p.122)

… Transmutemini in vivos lapides philosophicos (Transform yourselve into living philosophiccal stones). (Ibid., p.141)

[22] I may define “self” as the totality of the conscious and unconscious psyche, but this totality transcends our vision; it is a veritable lapis invisibilitatis… (Ibid., p.172)

[23] Bánh xe là một biểu tượng quan trọng trong các học thuyết vì nó có nhiều ngụ ý:

(1) Nó chỉ sự biến động, biến dịch.

(2) Nó chỉ sự tuần hoàn (the circulation, the circulating process) và gợi ra được hai chiều thăng (ascensus), giáng (descensus) của vạn hữu.

(3) Nó ám chỉ sự Trời xuống với Người, người lên với Trời (Suo nobis descensu ac salubrem dedicavit ascensum, nhờ sự xuống thế, ngài đã chuẩn bị cho ta được lên trời hạnh phúc sung sướng. Thánh Bernard).

(4) Nó ám chỉ các đức tính trung kiên tùng phục, tiết lộ, bình thản, khiêm cung cần thiết cho công phu tu luyện.v.v…

(C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.157, 158)

[24] Sénard, Le Zodiaque: chef de l’ontologie appliqué à la psychologie. Collection de la Colonne Vendôme, p.16 et ss.

[25] Ibid., 10 et ss., 21 et ss.

[26] Cf. René Guenon, Le Roi du Monde, p.19: Le centre dont il s’agit est le point fixe que toutes les traditions s’accordent à désigner symboliquement comme le Pôle, puisque c’est autour de lui que s’effectue la rotation du monde, représenté généralement par la roue, chez les Celtes aussi bien que Chaldéens et chez les Hindous. Telle est la véritable signification du Swastika, ce signe que l’on trouve répandu partout de l’Extrême-Orient à l’Extrême-Occident et qui est essentiellement ‘Signe Du Pôle’… Le symbole celtique de la roue s’est conservé au Moyen Âge; on peut en trouver de nombreux exemples sur les églises romanes et la rosace gothique elle-même semble bien en être dérivée car il y a une relation certaine entre la rou et les fleurs emblématiques telles que la rose en Occident et le lotus en Orient…

[27] Ibid., p.21. – Eurel, Les Origines de la Genèse, p.128.

[28] Ibid., p.208.

[29] Papus, La Cabballe, p.94.

[30] A. Volguine. Cf: L’Esotérisme de l’Astrologie, tr.139; La Mystique tibétaine, tr.337 và tiếp theo.

[31] Hư vô không có nghĩa là tương đối hay vạn pháp, hay là hư không, mà trái lại nghĩa là tuyệt đối, hay là bản thể siêu việt…. cho nên chữ Hư vô (Sunyata) nên hiểu là tuyệt đối.

Empty (sunya) or emptiness (sunyata) is one of the most important notions in Mahayana philosophy and at the same time the most puzzling for non-Buddhists readers to comprehend. Emptiness does not mean «relativity» or «phenomenality» or «nothingness» but rather means the Absolute or something of transcendental nature… When Buddhists declare all things to be empty, they are not advocating a nihilistic view on the contrary an ultimate reality is hinted at, which cannot be subsumed under the categories of logic… Sunyata may thus often be most appropriately rendered by the Absolute. (D.T. Suzuki, Zen Buddhism, p.29)

[32] Vô minh (hình người đàn bà mù rờ rẫm)

[33] Hành = (hình thợ gốm)

[34] Thức = (hình khỉ leo cành)

[35] Danh sắc = (hình hai người ở chung một thuyền)

[36] Lục nhập = (hình sáu cửa sổ một căn nhà)

[37] Xúc = (hình cặp nhân tình nhìn nhau say đắm)

[38] Thụ = (hình người bị tên bắn vào mặt)

[39] Ái = (hình người uống rượu có đàn bà chuốc mời)

[40] Thủ = (hình người hái quả)

[41] Hữu = (hình hai người giao hoan)

[42] Sinh = (hình người đẻ)

[43] Lão tử = (hình người mang xác chết trên vai)

(Lama Govinda, Les fondements de la mystique tibétaine. Traduction française de Charles Andrieu et Jean Herbert, tr.333-347)

[44] La roue est un symbole du monde; la circonférence représente la manifestátion produite par les rayons émanés du centre.

Régénération, réalisation de l’harmonie universelle, l’évolution et le Karma sont les interprétations que l’on ne saurait éviter, surtout si l’on considère les deux figures, l’une préparée par les successions d’existence conscientes et raisonnées, est l’Elu, celui qui approche du terme de l’élevation finale; l’autre encore près de la matière attachée par yous les biens terrestres, échoué et devra recommencer ! ce sera pour elle l’obligation de rentrer dans le cycle. L’image de la Roue du samsara s’impose: du sein de ce tournoiement surgit l’espoir de l’être purifié qui s’élève en Brahma et demeure… Pour la théologie chrétienne, Dieu est au centre. (Jean Chabosseau, Le Tarot: Essai d’interprétation selon les Principes de l’Hermétisme, p.62)

[45] Svetasvatara Upanishad 1-6;6-1.

Brih. 6.2.15-16; Chand. 5,10; G.Bhagavah Gita 8.24-26.

[46] C’est ce centre du monde en effet qu’occupe l’Embryon d’or, Hiranyagarbha, figuration potentielle de toutes les possibilités, origine des expansions, foyer de rayonnment. Il est aussi ‘l’Hôte intérieur’ qui a son siège dans la caverne de ton cœur dont parle Shankarâchârya. Et parce qu’il n’est pas différent d’Agni, ‘Sache, dit la Katha Upanishad, que cet Agni qui est le fondement du monde éternel et par lequel celui-ci peut être atteint est caché dans la caverne (du cœur)’. (Pierre Grison, Angkor ou l’univers manifesté. France-Asie 114-115, p.357)

[47] There are a hundred and one channels of the heart.

One of these passes up to the crown of the head.

Going up by it, one goes to immortality Chandoguya 8. 6 – 6.

(Il sort du cœur 101 canaux. L’un deux communique avec la grande fontanelle. S’élevant par ce canal, l’homme (l’âme particulière) rejoint l’immortalité.)

[48] Where the channels are brought together

Like the spokes in the hub of a wheel

Therein He moves about,

Becoming manifold

Om! Thus meditate upon the Soul (Atman)

Success to you crossing to the farther Shore beyond darkness.

(Mundaka Up. 2. 2 – 6)

[49] C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.157.

[50] The Sidpe – Korlo or World Wheel represents the course of human existence in its various forms as conceived by the Buddhists…

… The mandalas (the ritual or magic circles) used in ceremonial are of great significance because their centers usually contain one of the highest religious figures: either Shiva himself – often in the embrace of Shakti- or Buddha, Amitabha, Avalokiteshvara or one of the great Mahayana teachers or simple the dorje, symbol of all the divine forces together, whether creative or destructive in nature.

The text of the Golden Flower, a product of Taoist syncretism, specifies, in addition, certain “Alchemical” properties of this center after the manner of the Lapis and the Elixir vitoe…

C.G.Jung, Psychology and Alchemy, p.93, 94, 95.

[51] En toi, mon Dieu, j’aurai ma solidité, ma fixité, mon être définitif (Saint Augustin).

[52] Le temple est aussi montagne, il est Centre du monde, à quoi tout se résume et se rallie: d’abord à Roluos, le Bakong; premier construit à Angkor, le Bahsei Chamkrong; puis Takeo, Baphuon, seront l’un et l’autre “montagnes d’or”. C’est qu’en effet le Kun Lun, le Fuji, l’Elbrouz, le Thabor et l’Olympe, ne sont pas les seuls centres du monde, mais aussi les tours babyloniennes et la Grande Pyramide, les tours précolombiennes et le temple de Salomon. Les uns et les autres sont le point où l’Axis Mundi – le Shambha du Veda-issu du Ciel, touche à la terre, projection sur le plan terrestre de l’activité divine, point d’aboutissement aussi du cheminement horizontal à partir duquel “l’homme” véritable” pourra s’élever à la condition de «l’Homme universel”…

(Pierre Grison, Angkor ou l’univers manifesté, France Asie No 114- 115, p.357) — Xin tham khảo: Mircea Eliade, Traité d’Histoire des religions – Epiphanies signes et formes p.191-207 et Espace sacré: temple, palais, “centre du monde” ib. 315 – 331.

[53] Dans l’Inde, l’intérieur comme l’extérieur des temples est un symbole du Cosmos et la cella qui renferme la divinité est assimilée au corps divin qui contient le germe sacré… mais chose curieuse, ce symbolisme hindou du temple-cosmos, représentation de l’univers se retrouve au Cambodge, non plus appliqué au temple lui-même mais à des ensembles, à des plans de ville (Angkor Thom), à des bassins (Néak Péan)…

… C’est ainsi que si le Bayon au Centre d’Angkor Thom symbolise le Méru… les remparts de la ville, le fossé qui les entoure, symbolisent les océans et les montagnes qui circonscrivent la terre…

(France Asie No114-115, Le Symbolisme des temples Hindous et Khmers, p.341 et ss)

… L’accès au centre royal du mandala est l’aboutissement d’un long voyage. Les enceintes sont autant de chaýnes de montagnes et les fossés des océans… (P.Grison, Angkor ou l’univers manifesté, France Asie, p.358)

[54] “The Signet of Zoroaster, the wise man of the East, the Point within the Circle, the Sign of the Sun is thus explained: As the sun is the ruler of the whole Terrestrial and Celestial world and the Source and Fountain of Light and Life to all the beings of Creation therein, in like manner as the Grand Architect of the Universe is the ruler and Source of Light and Life to the Whole Celestial and Terrestrial Universe, and as the Circle is the most comprehensive form possible in geometry, in which all other forms are contained, this signet is hailed among all nations as the Beginning and the End, the Cause and Effect, the Principle of Life and Action which pervades, animates and govern the Universe. (The New Age Magazine, March 1964, Vol.72, no3, p.39,40)

[55] Le massif central du Bayon s’épanouit, Dharmachakra à huit rayons, lotus à huit pétales, source des Huit sentiers de la voie, rose où concourent, de l’horizon, les huit directions de l’espace…

… Hiératique, Roi du monde au centre se l’Agartha régnant sur les quatre Lokapâlas, gardiens de souverain est l’immobile Chakravarti, ‘Monarque universel’, ‘Celui qui fait tourner la roue’. Il est en d’autres mots, vaishwânara, «l’Homme universel» lequel s’identifie à Hiranyagarbha: il est médiateur entre le Ciel et la terre. Cette fonction suprême est le signe de la connaissance: Elle seule conduit à la souveraineté. (Angkor ou l’univers manifesté, France-Asie 114-115, p.356 et ss.)

[56] Cf. Point within a circle. (Mackey’s revised Encyclopedia, vol.II, p.787.)

[57] Ibid., p.787.

[58] Ibid., p.787.

Cf. Léon Sprink, L’art sacré en Occident et en Orient, p.28:

… Au VIIe siècle, saint Maxime le Confesseur disait que par rapport à Dieu le cosmos est ordonné selon des cercles concentriques: au milieu il y a l’Eglise militante dont les membres deviennent fils de Dieu, mais le centre est formé par un cercle encore plus étroit: celui de l’Eglise triomphante, consommée dans l’union avec Dieu.

Chose significative: dans la même harmonie que les tracés des églises, nous trouvons les trois cercles dans une mosaïque du VIIe siècle qui est une figuration aniconographique de la Pentecôte sous la forme d’un triple crismon au baptistère d’Albenga en Italie…

[59] Nhất thiên tinh đẩu, vận dụng chỉ tại trung ương. Thiên biện liên hoa, căn đế sinh ư điểm trích. 一 天 星 斗 運 用 只 在 中 央 千 瓣 蓮 花 根 蒂 生 於 點 滴 (Tống: Ngô Cảnh Loan, Huyền không bí chỉ)

[60] Genèse, 2-8-14.

[61] Apocalypse de Saint Jean 22-1-2. Xem hình 67 tr.125 và hình 197 tr.354 trong Psychology and Alchemy của C.G. Jung về chúa Ki Tô ngự giữ 4 sông thiên đàng, giữa các thánh sử và giáo phụ, v.v.

[62] Mais très anciennement l’Iran, à qui nous devons le mot de ‘Paradis’, pardès qui signifie un jardin, avait adopté un troisième type, le vieux typesémitique du Tchahârbagh c’est-à-dire du Paradis des quatre fleuves, confluant au centre à l’intérieur d’une enceinte carrée très haute, dans un miroir d’eau qui devait faire l’objet de la contemplation. Les quatre fleuves arrivaient des quatre points cardinaux mais l’intérêt était au centre… (L’Âme de l’Iran, Editions Albin-Michel, p.97)

… Le maître du jardin est assis sur une terrasse devant un lac qui porte le nom de «l’eau de l’éternelle aurore» au milieu duquel s’élève une ýle inaccessible qui s’appelle «La Sainte Montagne des mille béatitudes.» (Ibid., p.95)

[63]… D’un massif montagneux central partant quatre fleuves coulant en direction des quatre points cardinaux. Ces quatre fleuves se déversent en quatre canaux qui les terminent en formant avec eux des angles droits. (Swastika= plan de l’Atlantide) — Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême-Orient, p.8.

[64] Kalypso était une des innombrables théophanies de la Grand Déesse qui se révélait ‘au centre du monde’, au côté de l’Omphalos, l’Arbre de Vie et les quatre sources. (Mircea Eliade, Traité d’histoire de religions, p.248)

[65]… Comparer la tradition indienne plaçant le centre du monde en un site élevé (région de l’Himalaya), d’où s’écoulent par quatre orifices en forme de tête d’animal les quatre fleuves (Sita, Gange, Indus, et Oxus) vers les quatre points cardinaux.

– cf.: Przyluski, La grande Déesse, 1950, p.66,67.

– Henri de Lubac, Aspects du Bouddhisme, p.163.

[66] cf.: C.G. Jung, Psychology and Alchemy:

… The ‘Os occiput’ is used in the work because ‘cerebrum est mansio partis divinoe. (The brain is the lodging house of the divine part). (‘Liber Platonis Quartuorum.’ 7, xxviii, p.124). The ‘occiput’ is the ‘vas cerebri’ (ibid., p.148). The brain is ‘…sedes animoe rationalis. Nam est triangulus compositione et est propinquius omnibus membris corporis at similitudiem simplicis…’ (…the seat of the rational soul. For it is triangular in composition (Shape) and is nearer to simplicity than all other parts of the body…) (ibid., p.127). It is the organ which is nearest to the simplicity of the soul, and is therefore the bridge to spiritual transformarion. (ibid., p.187)

[67] Just as the stupas preserve relics of the Buddha in their innermost Sanctuary, so in the interior of the lamaistic quadrangle, and again in the Chinese earth-square, there is a Holy of Holies with its magical agent, the cosmic source of energy, be it the God Shiva, Buddha, a bodhisatta or a great teacher. In China it is Kien-heaven – with the four cosmic forces radiating from it (fig. 61, Psychology and Alchemy).

And equally in the Western mandala of medieval Christendom the deity is enthroned at the center often in the form of the triumphant Redeemer together with the four symbolical figures of the evangelists. (ibid., fig. 62. C.G.Jung, Psychology and Alchemy, p.124)

[68] Mandala as symbol of unity. (C.G. Jung, Psychology and Alchemy, p.27)

[69]… the square corresponds to the temenos (fig.31, Psychology and alchemy), where a drama is taking place… The inside of the ‘Golden flower’ is a ‘seeding place’ where the ‘diamond body’ is produced. The synonymous term ‘the ancestral land’ may actually be a hint that this production is the result of integrating the ancestral stages. (Psychology and alchemy, p.124)

[70] Xem chú thích trang 282 của sách này.

Cf. The spirit of Prayer «Liberal and mystical writing of William Law», tr.14; Evelyn Underhill, Mysticism, tr.61:

… «there is a root or depth in thee», says Law, «from whence all these faculties come forth as lines from a center or as branches from the body of a tree. This depth is called the center, the fund or bottom of the soul. This dpth is the unity, the Eternity, I had almost said the infinity of the Soul for it is so infinite that nothing can satisfy it, or give it any rest, but the infinity of God…»

[71] Cf. Mircea Eliade, Traité d’histoire des religions, p.203: Ce que les habitants de Delphes appellent omphalos est fait en pierre blanche et considéré comme se trouvant au centre de la terre et Pindare, dans une une de ses odes confirme cette opinion…

[72] Xem chú thích ở các hình trong phụ bản IX.

[73] Theo Pythagore, tất cả mọi thế giới đều phát sinh từ một tâm điểm mà ông mệnh danh là “chân cảnh” (Plaine de vérité). Chân cảnh ấy hàm tàng khuôn mẫu, hình tượng muôn vật muôn đời. Từ nguồn mạch vĩnh cửu ấy, giòng suối thời gian sẽ chảy vào các thế giới bên ngoài. Thấy được các chân cảnh ấy, đối với nhân quần, là điều hy hữu ngàn vạn năm một thủa. Và tất cả các công trình học hỏi suy tư chính là để nhìn thấy chân cảnh đó với mọi sự đẹp đẽ ẩn áo bên trong… (… La plaine qui est au-dedans du triangle était le fondement et l’autel commun de tous ces mondes – qui s’appelait le champ ou la Plaine de vérité; dedans laquelle sont les desseins, les moules, les idées et les exemplaires de toutes ces choses qui furent onc et qui jamais seront; et à l’entour de ces idées étant éternité, le temps comme un ruisseau qui en sortait, coulait dedans ces mondes; et les âmes des hommes s’ils ont bien vécu en ce monde, en dix mille ans une fois les voient… toute la peine que l’on emploie à l’étude de la philosophie était pour parvenir à la vue de ces beautés-là, ou autrement c’était toute peine perdue) (Cf. De defectu oraculorum, Plutarque, 23. & Grande encyclopédie illustrée des sciences occultes – Dr. Néroman- Tome II chapitre V, page 97, 98, 99 – Nơi trang 99, D. Néroman có vẽ một họa bản để hình dung chân cảnh và 183 thế giới bao quanh chân cảnh ở trung điểm, còn 183 thế giới được xếp trên một vòng tròn bên ngoài.)

[74] Cf. Senard, Le Zodiaque, p.36; Cf. Ernest d’Aster, Histoire de la Philosophie, p.52.

… De Pythagore (580-500) nous savons qu’il fut un adepte de la doctrine de la transmigration des âmes. Né dans l’ýle de Samos, il se rendit plus tard dans l’Italie du Sud, la congrégation qu’il avait fondée à Crotone, et dont les rites et les règles de vie avaient pour but de libérer l’homme de la “roue de la fortune”…

[75] Cf. Philippe Eucausse, Sciences occultes, tr.106. Crux ansata – Mackey’s revised encyclopedia Vol.I.

[76] Cf. Le Zodiaque, p.251.

… Dans toute mystique, le but constant de l’être humain doit être l’élevation de l’esprit qui, se détachant de la contemplation de la l’homme extérieur, rejoint, par le canal interne et à travers la propre substance de l’homme, le Principe éternel, Dieu. (La religion essentielle, p.295)

… Le but le plus élevé de la religion c’est l’union la plus intime de l’homme avec Dieu, et cette union est même ici-bas déjà possible, mais elle ne l’est que par l’ouverture de notre sensorium intérieur et spirituel qui ouvre notre cœur pour le rendre susceptible de recevoir Dieu…

(Le Conseiller d’Eckhartshausen) La religion essentielle, p.203.

[77] Dịch chi vi thư, giáo nhân hồi thiên chi đại kinh, đại pháp dã. 易 之 為 書, 教 人 回 天 之 大 經 大 法 也 (Thái cực quyền đồ thuyết, tr.52)

[78] Bất tri lai lộ yên tri nhập lộ, bàn trung bát quái giai không. Vị thức nội đường, yên thức ngoại đường, cục lý ngũ hành tận thác. 不 知 來 路 焉 知 入 路, 盤 中 八 卦 皆 空 未 識 內 堂 焉 識 外 堂, 局 裏 五 行 盡 錯 (Ngô Cảnh Loan, Huyền không bí chỉ).

[79] Ngô kim lược thuyết tâm chân lộ. Hoàng trung thông lý tải đại Dịch. Chính vị cư thể thị huyền quan, Tí ngọ trung gian kham định tức. Quang hồi tổ khiếu, vạn thần an. 吾 今 略 說 尋 真 路. 黃 中 通 理 載 大 易. 正 位 居 体 是 玄 關. 子 午 中 間 堪 定 息. 光 回 祖 竅 萬 神 安 ( Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ, tr.15)

[80] Cf. Phúc âm Mathieu VI, 1-18,VII, 6, 13, 21, 22, 23.

[81] Cf. Phúc âm Luc XVII, 20-21.

[82] Cf. Wang Tch’ang Tche, Wang Yang Ming, Appendice 1.

Thiên thánh giai quá ảnh, lương tri tức ngô sư. 千 聖 皆 過 影 良 知 即 吾 師.

[83] Phương thốn 方 寸 = tấc vuông = tấc lòng.

[84] Tà nguyệt tam tinh động 斜 月 三 星 洞 = Tâm 心  .

[85] Cf. Paul Claudel, Sur la Présence de Dieu (1932), p.23: «Comme l’ont bien vu les bouddhistes, nous pouvons descendre jusqu’au fond de nous-mêmes par tous les échelons de l’introspection sans rencontrer autre chose qu’un élément fluide, volatile et inconsistant, le mouvement qui va de la puissance à l’acte, jusque nous mettions la main sur l’être même, sur cette image agissante de Dieu en nous qui est substance, cause, esprit et vie, et que les Livres saints appellent essentiellement firmamentum. Dieu, nous le livre des Rois a été fait mon firmament…» (Henri de Lubac, Aspects du Bouddhisme, p.152)

**************************         

Chương 16

TỔNG LUẬN

Sau khi đã phân tích, đã khai triển Trung Dung để nhìn cho rõ các khía cạnh, chúng ta hãy cùng nhau ước thúc, giản lược Trung Dung để làm nổi bật lên ít nhiều điểm chính. Trước hết, chúng ta sẽ khảo sát, giải thích lại hai chữ Trung Dung; sau đó, chúng ta sẽ đặc biệt chú trọng đến mấy vấn đề triết lý, đạo giáo và mấy định luật thiên nhiên đã được Trung Dung đề cập.

HAI CHỮ TRUNG DUNG

Muốn hiểu hai chữ Trung Dung cho minh xác, thiết tưởng phải đặt chữ Trung vào đúng ngôi vị của nó, tức là phải đặt chữ Trung vào trung tâm điểm các hoạ bản kinh Thư, kinh Dịch.

Hình 31: Trung là tâm điểm vòng Dịch.

Thực vậy, trong Hà đồ, Lạc thư, Bát quái, Cửu trù (Hồng phạm Cửu trù), trung điểm bao giờ cũng tượng trưng cho ngôi vị tối thượng sinh thành vạn vật.

Đó là:

– Ngũ, thập (sinh số, thành số) trong Hà Đồ

– Ngũ ( sinh số) trong Lạc Thư [1]

– Thái cực trong Bát quái

– Hoàng cực trong Cửu trù (Hồng phạm Cửu trù)

Thiệu Khang Tiết đã minh định rằng các đồ Dịch tiên thiên và hậu thiên đều do Trung tâm điểm phát sinh.[2] Đặt Trung vào tâm điểm các đồ Dịch, ta sẽ thấy Trung tượng trưng cho ngôi Thái cực bất biến trường tồn. Ta sẽ thấy Trung bất thiên, bất ỷ, không thái quá, không bất cập, muôn đời không biến dịch,[3] mặc dầu thiên biến, vạn hóa, luôn luôn tiến diễn bên ngoài.

Trung là nguồn gốc phát sinh vạn sự, vạn vật và cũng hàm tàng mọi hiện tượng. Trung là nguồn mạch, sống động bất diệt tung tỏa ra muôn muôn, vạn vạn chi nhánh quần sinh sau này.

Vì thế tiên hiền mới nói: Trung là gốc lớn thiên hạ,[4] vì thế Trung mới chí thành, chí thiện, bất biến trường tồn (Dung).

«Khi tung tràn ngập muôn phương,

Khi thu ẩn áo khó lường tăm hơi.» [5]

Nếu hiểu Trung là Thái cực, là Trời, ta sẽ vén được bức màn bí mật của Trung Dung và Kinh Dịch.

Các đồ bản Dịch cho ta thấy Trung điểm hay Thái cực vừa tạo thành muôn vật vừa ẩn áo trong đáy thẳm, lòng sâu muôn vật.

Trung hay Thái cực vừa chủ sinh vừa chủ thành: vừa sinh hóa tạo dựng, muôn loài, muôn vật, vừa là khuôn phép, đường lối cho muôn vật thành tựu hòan thiện mình. Và Trời chẳng ở đâu xa: Trời vốn ở ngay đáy lòng con người; nên nếu con người muốn hiểu nguyên do, muốn hiểu cùng đích đời mình, trước hết cần phải hiểu biết Trời.

Trung Dung viết:

«Biết người trước phải biết Trời,

 Hiểu Trời chẳng nổi hiểu người làm sao?» [6]

Hình 32

Hơn nữa, vì Trời ẩn áo huyền vi nơi đáy lòng người, nên con người cần biết phản tỉnh, biết tĩnh trí, hồi tâm mới có thể tìm ra mọi điều vi diệu của Hóa công được.[7]

Thiệu Khang Tiết viết:

 «Thiên hướng nhất trung phân tạo hóa,

 Nhân do tâm thượng khởi kinh luân.» [8]

 (Trời do Thái cực [9] phân tạo hóa,

 Người từ Thái cực phát kinh luân.) [10]

Quan niệm này làm ta liên tưởng đến Duy nhất (l’Un), đến Thần ngôn (Le Logos) của Plotin, của Philon,[11] đến Ngôi Hai Thiên Chúa trong bài phi lộ sách phúc âm thánh Jean.[12]

Nếu hiểu Trung là Thái cực, là Trời tiềm ẩn đáy lòng thì Trung Dung hiển nhiên là tâm pháp đạo Khổng như các tiên hiền đã chủ trương.

Hiểu Trung Dung theo nghĩa siêu hình như vậy, ta thấy Trung Dung là mục đích tối hậu cho mọi tâm hồn hướng về.

Hình 33: Vòng tuần hoàn của con người.

Lĩnh hội được vi ý Trung Dung và Dịch Kinh ta sẽ tìm ra đường lối tu thân của cổ nhân. Đường lối đó đại khái như sau:

Cổ nhân phân đời người làm hai giai đoạn chính: Nửa đời đầu, phải đem tinh thần khai thác hoàn cảnh vật chất để thích ứng với hoàn cảnh, để mưu sinh. Nửa đời sau, khi đời sống vật chất đã được bảo đảm, phải dùng những tiện nghi vật chất sẵn có, để hoàn hảo tâm thần mình, phục hồi phong thái cũ, suy nghiệm học hỏi để tìm ra Trời tiềm ẩn trong đáy lòng, để sống đời đạo đức ngõ hầu tiến tới mức chí thành, chí thiện, nên như vẻ sáng của Trời, sống kết hợp với Trời.

 Sách Trung Dung, vì chủ trương cao siêu như vậy, nên đã giữ địa vị tối thượng trong tứ Thư ngũ Kinh.

 TRIẾT LÝ

 Đề cập tính tình, phân tâm hồn thành hai phần tách biệt vẻn vẹn bằng mấy chữ ở trang đầu, Trung Dung đã phác ra cả một chương trình siêu hình học cho các triết gia hậu thế.

 Về sau, ngoài hai chữ tính tình, các triết gia đời Tống còn dùng thêm chữ Lý, Khí, hay Tính, Khí, nhưng đại khái các thánh hiền trước sau vẫn công nhận tâm hồn có hai phần: thể và dụng; thanh, trọc; động, tĩnh; tinh, thô rất đỗi khác nhau.

 Lúc hồn nhiên tĩnh lãng, thì là tính, thuần túy chí thiện phổ quát mọi nơi mọi đời. Lúc đã vương mùi tục lụy trần hoàn, bị ngọai vật công kích dụ dỗ, thì là tình, vấn vương giăng mắc vẩn đục, lôi thôi. Lúc dục tình đã đua nhau nổi sóng, thì ngon triều trong dạ sẽ rạt rào, chao động, mất hết tĩnh lãng hồn nhiên, tâm hồn sẽ mất tự do tự lập, mắc mối trăm nghìn duyên nợ. Vì thế con đường thiên đạo phổ quát là con đường ‘qui nguyên, phục mệnh’, trở lại sự tĩnh lãng, quang minh, hiệp hòa nguyên thủy, bỏ hết mọi tư tà, để tiến tới công chính ngàn thu.

Siêu hình học Trung Dung là thứ siêu hình giản ước như của thánh Jean de la Croix.[13]

Mục đích Trung Dung là gây cho chúng nhân một niềm tin tưởng vào sự giáng lâm, sự hiện diện của Thượng Đế, dạy người phát huy mầm mống hoàn thiện sẵn có nơi đáy lòng mình, để đi đến chỗ tuyệt diệu, tinh vi, chí thành, chí thánh, chí cao, chí mỹ.

Trung Dung đề cập công trình suất tính : theo tiếng lương tâm để tiến tới Trung Dung, tới thăng bằng hòa hợp, tới thế ‘nhất quán’ giữa Trời, người. Chủ trương này cũng là chủ trương ‘bão nguyên thủ nhất’ của Đạo Lão,[14] ‘Đả thành nhất phiến’ của Thiền tông.[15]

Nhân sinh quan của Trung Dung là cố gắng tiến tới hoàn thiện. Như vậy người ta sinh ra ở đời, không phải là để nhẫn nhục, khắc khổ vô ích, hay để tiêu dao hành lạc, mà chính là để thực hiện một sứ mạng cao siêu: thần thánh hóa bản thân bằng sự cố gắng thường xuyên, bằng sự tu luyện toàn diện.

Người quân tử của Trung Dung lúc nào cũng tận tâm, tận tình, tận trung, tận hiếu, tận nghĩa, lúc nào cũng khắc khoải thao thức, mong tiến tới chỗ chí thành, chí thiện.

Đời người như vậy thực đã có định hướng chứ không phải sinh ra để:

«Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem con tạo xoay vần ra sao!» (Kiều)

Đời người như vậy thực đầy ý nghĩa, rất đáng sống. Nhân loại đáng lý không thể phàn nàn:

«Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.»

(Nguyễn Công Trứ)

Trung Dung cũng như Kinh Dịch đề cập tới ba thế giới: Địa đạo, Nhân đạo, Thiên Đạo.[16]

Hình 34: Thiên đạo, Nhân đạo, Địa đạo.

Thế tức là đề cập tới ba đoạn đường trong đời sống nhân loại.

Trước tiên phải lưu tâm đến hoàn cảnh sinh hoạt, cải thiện đời sống vật chất, dùng trí óc tổ chức cho đời thêm đẹp tươi, cho giang sơn thêm cường thịnh. Đó là vật Đạo, địa đạo.

Tiếp đến, phải quay về bản tâm mà lo tu đức lập thân, phát huy ánh sáng nhân nghĩa trong nhân loại. Đó là nhân đạo.

Cuối cùng, nếu biết hồi quang phản chiếu, thu hồi ánh sáng tâm thần mà nhìn cho ra căn để, nguyên do của đời mình sẽ tiến tới giai đoạn giác ngộ, nhờ đó có thể đi vào nhãn giới thiên đạo.

Cơ tâm hay óc máy móc, tổ chức vẫy vùng trong thế giới vật chất, làm sáng choang thế giới hữu hình. Cái vẻ đẹp ấy là văn minh. Nhân tâm rong ruổi trong thế giới tinh thần, đem hương hoa nhân ái điểm tô cho nhân loại, đem bút thần lễ nghĩa vẽ nên những bức tranh nhân sự tuyệt vời, làm cho vẻ sáng nhân loại chói lói lên như muôn ánh trăng sao. Vẻ sáng tâm hồn đó là nhân văn hay văn hóa.

Thế giới tinh thần ấy thực man mác. Khi nó phát triển tới cực độ, tới chỗ siêu việt tinh hoa, sẽ bắt được tầm thiên đạo, hòa mình với vinh quang trời, nên thiên văn, và cung đàn của tâm hồn sẽ hòa điệu với cung đàn muôn thuở tuyệt vời của đất trời. Đó là Thiên Văn, Thiên đạo. Như vậy, nếu hiểu Trung Dung một cách chân chính, con người sẽ không lúc nào vừa lòng với chính mình, vừa lòng với hiện tại, mà luôn luôn cố gắng, cải thiện không ngừng để tiến tới cao minh cùng cực, tới Trung Dung.[17] Khi đã đạt tới chỗ tuyệt đỉnh công phu thì bao nhân dục, tư dục sẽ không còn nữa mà chỉ còn lại phần tinh hoa cao quí, là phần thiên lý chí công, chí chính.

**************************         

ĐẠO GIÁO

Đạo Trung Dung khởi điểm từ một lòng tín ngưỡng thành khẩn.

Không phải là tin có Trời suông, mà còn tin Trời giáng lâm mọi nơi mọi chỗ, soi xét mọi uẩn khúc của lòng người. Niềm tín ngưỡng ấy, các kinh văn thường nhắc tới bằng nhiều thể cách.

Kinh Thư viết: duy Thiên thông minh.[18]

Sách Nhật giảng quảng luận như sau: Trời trên tầng cao thăm thẳm, thật chí hư, chí công, chí thần, chí linh. Không cần nghe mà thông biết mọi sự, không cần nhìn mà thấy mọi điều. Chẳng những công cuộc hưng vong của các chính thể, vận hội thịnh suy của các dân tộc không thoát được sự chứng giám của Ngài, mà ngay muôn điều xảy ra trong những căn phòng tối tăm hẻo lánh, mắt thế nhân không dòm hành tới được, thì Trời vẫn thông suốt không sót một mảy may. Ấy Trời thông minh là vậy.[19]

Vì thế người quân tử trong Trung Dung e dè kính cẩn luôn:

«E dè cái mắt không nhìn,

 Tai nghe không nổi, cho nên hãi hùng.»[20]

Địch Nhân Kiệt, một văn nho đời Đường chỉ vì sực nhớ câu «Hoàng Thiên bất khả khi» mà không dám làm những điều thương luân, bại lý trong một quán trọ xa xăm, giữa một đêm thanh vắng. Ông lý luận: giấu người được, chứ giấu Trời sao được.[21]

Từ chữ kính, người quân tử sẽ cố vươn tới chỗ chí thành, chí thiện.

Với một lương tâm bình thản, với một dạ nhất quyết tu đạo lập thân, người quân tử luôn sống thung dung, tùy thời xử thế. Cũng có khi sống ẩn dật như chiếc quạt thời đông giá lạnh lùng,[22] như rồng còn ẩn kín dưới vực sâu,[23] cũng có khi ra tài Y Doãn,[24] đem khả năng, tài đức mưu toan điều ích quốc lợi dân,[25] cũng có khi âm thầm trau dồi kiến văn, đức độ, như rồng tập uốn mình nơi vực thẳm,[26] cũng có khi treo gương xán lạn cho muôn người soi chung, đó là khi đạt tới mức ‘nội thánh, ngoại vương’ của sách Đại Học, Trung Dung, hay hào cửu ngũ kinh Dịch.[27]

Trung Dung đã khéo trà trộn Trời vào trong đời sống nhân loại. Sách bắt đầu bằng chữ Thiên, và tận cùng bằng ‘Đức độ Trời’, một mục phiêu hoàn hảo tuyệt vời cho mọi người tiến tới.[28]

Bàn về chính trị, Trung Dung viết:

«Biết người trước phải biết Trời,

 Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao.» [29]

Có lẽ ngày nay, nhân loại cũng cần phải sống gần Trời hơn, cần tin tưởng Trời hơn.

C. Virgil Gheorghiu, một nhà văn chuyên mô tả những cái phi lý, bất nhân của chiến tranh, và sự độc tài tàn nhẫn của các cường quốc hiện tại đã viết trong quyển «La seconde chance»: «Hiện nay nhân loại đang cần một đồng minh trung kiên không bao giờ có thể bị ám sát, bị công an cảnh sát bắt được, không thể bị giam giữ được, tra tấn được, một đồng minh kín đáo, âm thầm, lặng lẽ, một đồng minh có một ngọn lưả thiêng đốt cháy được muôn tim, có thể biến mọi người thành anh hùng vô địch; đồng minh đó thường quá, hay được nhắc nhở tới nhiều quá, mà nhân loại vẫn không biết tên: Đồng minh đó là Thượng đế. (La Seconde chance, tr.432)

   
Mấy định luật thiên nhiên

a. Định luật tự cường (cố gắng)

Trung Dung cũng như kinh Dịch cho rằng bí quyết thành công là luôn gắng gỏi công trình.[30]

«Đã làm, làm tới tinh hoa,

 Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.»[31]

Con người sinh ra ai cũng tay không, cũng hèn yếu như nhau, nhưng dần dà mỗi người có một giá trị khác nhau, tùy ở sự cố gắng, tùy ở sự học hỏi, sự tu luyện của mình.

Do đó, con người sinh ra để bất mãn, bất mãn với mọi sự tầm thường, chếch mác, bất mãn với hiện tại, bất mãn với chính mình. Con người bao giờ cũng muốn vươn lên mãi, vươn lên tới chỗ cao sang, mênh mang, vĩ đại, bằng công trình gắng gỏi, bằng học vấn, bằng sự bền bỉ, bằng sự đào luyện tâm thần trí não, trí não và thể chất.

Phàm những anh hùng hào kiệt xưa nay, ai cũng đều chê bai những kẻ ăn không ngồi rỗi, ‘an thân dật lạc’.

Triệu Khuông Dẫn (Tống Thế Tổ) trong tương lai khi còn hàn vi đã biết khuyên người em kết nghĩa của mình là Trịnh Ân bỏ sự dật lạc ở miếu Hưng Long Trang để bước vào con đương lập thân đầy phong sương gian khổ như sau: «Phàm con người sinh ra phải ráng cho tận nhân lực, chẳng làm việc kia thì cũng việc nọ, cho có ích với đời, phòng để danh thơm tiếng tốt về sau. Như vậy trước là rực rỡ đức tổ tông, sau là hiển công sinh thành cha mẹ, mới gọi là chí khí trượng phu. Nếu ham việc vui sướng vô ích thì có khác chi phàm phu tục tử.» [32]

Người quân tử lúc nào cũng phải nói như Tăng tử: «Hai vai gánh nặng, mà đường thì xa.» [33]

Lịch sử cũng chứng minh rằng, một dân tộc nào cố gắng sẽ tiến tới cường thịnh, một dân tộc nào ăn chơi nhong nhóng sẽ sa đọa vào vực thẳm diệt vong; một cá nhân nào cố công lao tác sẽ tiến tới, một cá nhân nào lêu lổng ăn chơi sẽ lụn bại, sẽ hại cơm, hại áo của đất trời.

b. Định luật mô phỏng (Bắt chước)

Đường lối nhân loại, nền luân lý nhân loại đã được ghi vào thiên thư của trời đất, Con người chỉ việc trông lên trời, nhìn xuống đất là tìm được khuôn phép, mẫu mực, đường đi nước bước của mình. Nhân loại sinh ra để bắt chước, nhưng không phải là bắt chước loài vật, xâu xé lẫn nhau để tranh cướp mồi, mặc cho các thú tính ti tiện phát sinh mà không chút mảy may kìm hãm. Con người phải biết soi gương đất trời mà xử sự. Đất rộng và dày, con người cũng cố lo cho sự hiểu biết mình ngày thêm rộng, đạo đức phúc trạch mình ngày thêm dày.[34]

Đạo trời là hoàn thiện, là nguyên, là tuyền vẹn, thì mục tiêu của người quân tử cũng là sự toàn thiện.[35]

Trời vận hành không hề nghỉ ngơi: người quân tử cũng phải cố gắng không ngừng.[36]

Cuối thế kỷ 19, Nietzsche (1844-1900) đưa ra chủ nghĩa siêu nhân, và cho rằng ý chí quật cường (Volonté de puissance) là đặc tính của con người siêu nhân, nhân loại tiến bộ hay sa đọa là tùy sự tồn vong của ý chí quật cường đó.

Điểm này ăn khớp với Trung Dung nói riêng, và đạo Nho nói chung, vì Trung Dung cũng chủ trương phải cố gắng mới có thể đi đến chỗ chân, thiện, mỹ.

Nhưng từ khởi điểm ấy, Nietzsche cho ‘người hùng’ của mình được quyền gian ác, tàn bạo, để ‘bành trướng’, để tiến bộ: «Người siêu nhân của Nietzsche hiên ngang, xa quần chúng, gánh vác trách nhiệm lớn lao, tâm hồn bộc lộ hùng tráng như một dã thú; bản năng hiếu chiến, xâm lược, đầy nhiệt tình thù oán, mưu kế, giận dữ, khoái lạc, mạo hiểm, kiến thức rất mực uyên thâm…Tao nhã khôn ngoan, quật cường , uy nghi, sâu hiểm.» [37]

«Người anh hùng của Nietzsche là người anh hùng dữ tợn,… một loài dã thú hùng tráng, khát máu, đi tìm mồi, một giống nòi quí tộc đã để trên đường đi của họ những dấu tích man rợ, những cảnh khoái lạc dữ tợn, những hành động độc ác tàn nhẫn.[38]

Người anh hùng của Nietsche đã đề cao những thú tính tiềm ẩn trong con người, trong võ lực. có thể nói được Nietzsche đã đem luật cạnh tranh sinh tồn, đem cảnh xâu xé nhau để tranh cướp mồi của loài vật áp dụng vào xã hội loài người. Kết quả dĩ nhiên là chiến tranh, chém giết, và con người bị vật chất hóa, khí cụ hóa, mất hết mọi giá tri tinh thần.

Trái lại người quân tử trong đạo Trung Dung có một vẻ hùng tráng khác. Lòng họ thiết thạch, kiên cương, sống chết vì chính nghĩa và chân lý. Họ không kiêu sa, ích kỷ, độc ác, chỉ biết cúc cung tận tụy làm phận sự, phục vụ nhân loại.

Trời cao sang vô biên vô tận, thì người quân tử cũng cố vươn lên tới chỗ cao sang, vô biên vô tận, vĩnh cửu, trường tồn.[39]

Trong trời đất, chỉ có con người đầu đội trời, chân đạp đất, nên con người cần noi gương trời mà vươn lên, mà tiến tới mãi mãi. Tất cả lịch sử nhân loại, tất cả những công trình cổ kim, từ những Kim tự tháp cho tới Vạn lý trường thành, từ những cung vàng, điện ngọc cho tới những lăng tẩm âm u, bao la, bát ngát, từ những võ công hiển hách cho tới những văn nghệ phẩm tinh vi, những công trinh khoa học vĩ đại, nhất nhất đều cho ta thấy con người muôn thủa lúc nào cũng muốn vươn lên tới chỗ cao đại, tinh vi, huy hoàng hùng vĩ.

Đà vươn lên tới chỗ chí thành, chí thiện bất kỳ về một phương diện gì cũng xác định phẩm giá con người, phân định tôn ti, quý tiện.

c. Định luật tiến hóa

Như đã nói trên, Trung Dung từ ngót hai nghìn năm nay đã đề cập định luật tiến hóa trong vũ trụ, và đã biết áp dụng rất là khéo léo định luật này vào công cuộc tu thân.

Nhưng khác với chủ nghĩa duy vật cực đoan hiện đại, chối bỏ Thượng Đế và cho rằng vạn vật ngẫu nhiên sinh, và biến hóa do sự đấu tranh sinh tồn (Darwin) hay sự thích ứng với hoàn cảnh (Lamarck), Trung Dung chủ trương trời đất sinh muôn loài, nhưng mỗi loài vẫn có thể biến thiên thành nhiều thứ hạng.

Đọc Mạnh Tử ta thấy chủ trương này đã được các môn đệ đức Khổng đề cập và đem áp dụng vào công cuộc tu luyện tính tình:

«Hữu Nhược nói: Người năm bảy đấng,

Kìa kỳ lân vẫn giống thú rừng,

Phượng hoàng vẫn loại chim muông,

Thái sơn vẫn đúc theo khuôn đống gò.

Sông với biển vẫn nhà ngòi lạch,

Thánh với phàm một phách thế nhân.

Nhưng thánh phàm muôn phân, ngàn biệt,

Vì thánh nhân bạt thiệp, siêu quần.» [40]

Thánh với phàm khác nhau ở chỗ hiểu và không hiểu, hoàn thiện và không hoàn thiện mà thôi. Tóm lại khuôn người chỉ có một, nhưng tiến hóa thì vô hạn định, cho nên về phương diện tâm tính đức độ, thì con người chỉ khác nhau một dày một mỏng, một thô, một tinh, một tụ một tán mà thôi.

Như vậy Trung Dung vừa nhận công trình tạo dựng của trời đất, vừa dành công trình thành tựu về người, vì con người có thể tiến hóa mãi mãi.

Ai cũng tiến hóa được, nếu có thiện chí, nếu cố gắng bền bỉ. Nhan Hồi nói: Vua Thuấn là ai, mà ta là ai? Nếu ta cố gắng làm điều thiện thì ta cũng như ngài.[41] Đó chính là đề tài cho các văn gia ngâm vịnh về sau:

«Người là người mà tớ cũng là người,

Nhắm cho kỹ vẫn chênh vênh đầu dốc.»

(Phan Văn Ái)

Các nhà bác học hiện nay, như Lecomte du Nouy cũng nhận rằng định luật tiến hóa khi tới nhân loại đã chuyển hướng vào nội tâm. Ông viết trong quyển «Định mệnh nhân loại»: «Trong thời kỳ nhân loại này, sự tiến hóa vẫn tiếp tục, nhưng đã đổi chiều. Thay vì tiến hóa về phương diện sinh lý, hình thể, nhân loại tiến hóa về phương diện tinh thần và siêu nhiên.» [42]

Jean Rostand cũng chủ trương: «Suy nghiệm về con người, tôi nhận thấy sự hăng hái quyết tâm của nó luôn vượt cao hơn, muốn tiến triển hơn, vì lẽ đó tôi sẽ không cho rằng con người trong tình trạng hiện hữu đã tạm hoàn hảo, như bao người thường nghĩ. Tiền đề của tôi là con người phải có gắng vượt cao lên, phải rút ra ở bản thân mình một cái gì có giá trị hơn bản thân ấy.» [43]

Vậy con người sinh ra, có nhiệm vụ đạt tới chỗ tinh hoa tận dụng mọi khả năng mình, để tiến tới cao minh chính đại.

Hình 35: Con đường Trung Dung

Âu Dương Tử cho rằng tất cả cái học siêu vi là tìm ra những phương pháp để mài giũa, uốn nắn, thay đổi tính tình cho tới chỗ chí thành chí thiện.[44]

Tới chỗ chí thành chí thiện tức là tới chỗ thiên ý nhân tâm hòa hợp, tới chỗ tinh hoa thuần túy, tới chỗ hòa hiệp tuyệt đối của tính tình. Thế là ‘qui nguyên phục mệnh’ thế là bước vào thiên giới vĩnh cửu vô biên, phối hợp với Trời trong một tình siêu phàm tuyệt diệu. Chỗ tuyệt điểm của đạo Trung Dung chính là chỗ tuyệt điểm của các đạo giáo. Giai đoạn huyền đồng tức là đại đạo, là chỗ gặp gỡ của các thánh hiền muôn thủa.

Tóm lại, tinh túy Trung Dung có thể cô đọng lại trong mấy điểm sau:

1. Trong thâm tâm ta có ảnh tượng Trời. Người quân tử lĩnh hội được điều ẩn áo nên lúc nào cũng e sợ giữ gìn.

2. Ảnh tượng ấy hoàn thiện, đó là tính, là thiên mệnh, thiên lý thiên đạo.

3. Nhân loại phải noi gương hoàn thiện ấy, cố gắng tu thân để tiến tới chỗ chí thành chí thiện.

4. Tới mức chí thành chí thiện, tức là kết hợp với Trời, tức là phối Thiên, đạt mức Trung hòa, thực hiện sự hòa hợp quân bình giữa thiên lý, nhân tâm.[45]

Đó cũng có thể gọi được là tinh túy của các đạo giáo, và là chân lý thiên mệnh.

Vì thế cổ nhân cho rằng Trung Dung gồn tóm hết mọi vi diệu của thánh hiền, thâu tóm hết mọi tinh hoa của Kinh Dịch, của đạo Nho.

Chu Hi cho rằng: Phải học Đại Học trước, để biết qui mô, đường lối, rồi học Luận Ngữ để lập căn bản tu thân, kế đó học Mạnh tử để biết các giai đoạn tiến triển, sau cùng mới đọc Trung Dung để biết lẽ vi diệu của cổ nhân.[46]

Hội ý Trung Dung ta thấy con người có ba đời sống:

– Một đời sống vật chất: cần biết thích ứng và chế ngự hoàn cảnh để lo cuộc mưu sinh. Đời sống này bao trùm cả đời sống tư nhân, gia đình, xã hội con người.

– Một đời sống tâm hồn: Cần khuếch sung các đức tính để tâm hồn ngày một thêm đẹp tươi.

– Một đời sống tinh thần hay siêu nhiên: Mục đích là phối hợp vời Trời, trường tồn vĩnh cửu.

Dương Tử lý luận cách khác, và cho rằng: Thiên hạ có 3 cửa:

Theo dục tình, là bước vào cửa cầm thú.

Theo lễ nghĩa là bước vào cửa người.

Theo sự minh giác, là vào cửa thánh.[47]

Chúng ta liền hiểu rằng trong trời đất có định, có biến, có động, tĩnh; có doanh, hư; có phù du, mộng ảo, và có vĩnh cửu trường tồn.

Phàm cái gì thuộc hình hài vật chất đều thăng trầm, chất chưởng, đều có sinh, có tử có tươi thắm, có tàn phai; cho nên ta đừng ai oán thế sự biến ảo như cuộc cờ, đừng than trách cảnh đòi đổi thay như tuồng ảo hóa. Sự thăng trầm tròn khuyết, chẳng qua là định luật chung cho thế giới hữu hình.

Ta cũng đừng mải mê chạy theo những thú vui vật chất

«Rượu nồng đừng quá chén say,

Hoa thơm đừng hưởng tới ngày xác xơ.» [48]

Cảnh tang thương biến đổi ấy, lịch sử đã chứng minh rõ ràng. đầu sách Tam Quốc, có thơ sau:

«Trường giang về Đông cuồn cuộn chảy,

Làn sóng hoa đào thải hết anh hùng,

Dở hay, thành bại, cát hung,

Ngoảnh đi, ngoảnh lại, đều không còn gì.

Núi xanh biếc vẫn y nhiên đó,

Bóng tịch dương mấy độ tô son.

Bên sông phơ phất mái sương,

Ngư tiều quen thói vui phường gió trăng.

Một hồ rượu tương phùng vui chén,

Vui cười rồi nói chuyện cổ kim,

Cổ kim to nhỏ muôn nghìn,

Dốc vào mấy chén hàn huyên chuyện trò.» [49]

Nhưng dưới cái hình hài vật chất, dưới sự biến thiên phiến diện ấy, chúng ta còn có một phần vĩnh cửu trường tồn. Đó là phần tính lý, phần thiên mệnh, thiên lý, phần tinh hoa của tâm hồn.

Vậy chúng ta phải lĩnh hội chỗ vi diệu đó, để có thể tiến tới chỗ chí thành, chí thiện, trường tồn vĩnh cửu với đất trời.

Hiểu Trung Dung như vậy, biết cố gắng cải thiện mình như vậy, tức là học được cái học của Nhan Hồi, nối được cái chí Y Doãn,[50] tức là thông đạt được bí quyết của đạo thánh hiền xưa; đó tức là ‘tham tán tài thành’, trợ giúp đất trời, làm công cuộc tài bồi đức độ để thành tựu mình.

Thế tức là ‘ức âm tiến dương’: phá hết mây mù tăm tối cho vừng dương muôn thuở hiện ra; ‘trưởng thiện tiêu ác’: tài bồi mầm thánh thiện và làm tiêu ma hết mọi điều gian ác.[51]

Suy rộng ra, con đường Trung Dung tức là ‘Con đường hoàn thiện’ lên tới mức cao siêu sẽ tiến tới trung tâm huyền diệu vũ trụ, trở về Thái cực của bát quái, tiến vào bản nguyên ‘ngũ thập cư trung’ của Thái cực hà đồ,[52] phối hợp với Thượng Đế.[53]

Muốn được vậy, ta cần phải cố gắng, cố gắng không ngừng, cố gắng mãi mãi, cần phải ‘cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ’,[54] hết lòng, hết sức đến chết mới thôi.

Và để kết thúc tưởng nên nhắc lại một lần nữa châm ngôn của hai vua Nghiêu, Thuấn:

«Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng.

Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công ra sức giữ nguyên lòng trời.» [55]

**************************         

CHÚ THÍCH

[1] In Hebrew the name of God ㄇフ Jah, is equivalent to 15, because フ =10 and ㄇ =5, and 15 thus becomes a sacred number. (Mackey’s revised Encyclopedia, vol.II, p.22: Numeration by letters)

[2] Tiên thiên học tâm pháp dã. Đồ giai tùng trung khởi, vạn hóa vạn sự sinh vu tâm dã. 先 天 學 心 法 也, 圖 皆 皆 從 中 起, 萬 化 萬 事 生 于 心 也 (Tống Nguyên học án, q.10, tr.5: Thiệu Khang Tiết)

[3] Bất dịch chi vị dung. 不 易 之 謂 庸.

[4] Trung dã giả thiên hạ chi đại bản dã. 中 也 者 天 下 之 大 本 也 (Trung Dung, ch.1)

[5] Phóng chi tắc di lục hợp, quyển chi tắc thoái tàng ư mật. 放 之, 則 彌 六合, 卷 之, 則 退 藏 於 密 (Trung Dung, tựa)

[6] Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri thiên. 思 知 人 不 可 以 不 知 天.

[7] Cf: Le mysticisme spéculatif de Tauler, Histoire de la philosophie de Frédéric Copleston S.J., Tome 3, p.211: «L’image de Dieu réside au sommet en la partie la plus haute de l’âme, et c’est en se retirant en lui-même, par delà les images et les figures que l’homme trouve Dieu. Si le “Cœur” (Gemüt) de l’homme se tourne vers ce fondement de l’âme c’est-à-dire vers Dieu, ses facultés d’intelligence et de volonté fonctionnent comme il faut. Mais si son “cœur” se détourne du fondement de l’âme, du Dieu intérieur, ses facultés aussi se détournent de Dieu…

[8] Nhất vật kỳ lai hữu nhất thân,                 
一 物 其 來 有 一 身

Nhất thân hoàn hữu nhất càn khôn.     
一 身 還 有 一 乾 坤

Năng tri vạn vật bị ư ngã,                       
能 知 萬 物 備 於 我

Khẳng bả tam tài biệt lập căn.               
肯 把 三 才 別 立 根

Thiên hướng nhất trung phân tạo hóa, 
天 向 一 中 分 造 化

Nhân do tâm thượng khởi kinh luân.     
人 由 心 上 起 經 綸

Thiên nhân hà hữu lưỡng ban nghĩa,   
天 人 何 有 兩 般 義

Đạo bất hư hành chỉ tại nhân.               
道 不 虛 行 只 在 人

(Thơ: Quan Dịch của Thiệu tử. Tính lý, q.5, tr.47)

[9] Đạo sinh nhất, nhất vi Thái cực, nhất sinh nhị, nhị vi lưỡng nghi, nhị sinh tứ, tứ vi tứ tượng, tứ sinh bát, bát vi bát quái, bát sinh lục thập tứ; lục thập tứ cụ nhi hậu thiên địa, vạn vật chi đạo bị hĩ. Thiên địa vạn vật mạc bất dĩ nhất vi bản nguyên. Ư nhất nhi diễn chi dĩ vi vạn, cùng thiên hạ chi số nhi phục qui ư nhất. Nhất gia hà dã.Thiên địa chi tâm dã, tạo hóa chi nguyên dã. 道 生 一, 一 為 太 極 一 生 二, 二 為 兩 儀 二 生 四, 四 為 四 象 四 生 八, 八 為 八 卦 八 生 六 十 四 六 十 四 具 而 後 天 地 萬 物 之 道 備 矣 天 地 萬 物 莫 不 以 一 為 本 原, 於 一 而 衍 之 以 為 萬, 窮 天 下 之 數 而 復 歸 於 一 一 者 何 也 天 地 之 心 也, 造 化 之 原 也 (Bách nguyên học án, Ngữ lục: Tống Nguyên học án, q.10, tr.51)

[10] Thiên dĩ nhất vi Thái cực. Nhân dĩ tâm vi Thái cực. 天 以 一 為 太 極 人 以 心 為 太 極 (chú thích thơ Quan Dịch, Tính lý, tr.47)

[11] Ici c’est l’Un qui se trouve au sommet de la pyramide. II est l’absolu, la cause et la fin de toute réalité, mais il est indéfinissable, car toute définition est une limltation et l’Un est illimité, infini, susceptible seulement par conséquent de déterminations négatives… Maîtriser la chair, s’émanciper des préoccupations terrestres, vivre dans la pensée de l’Un une vie de pureté parfaite, tel est dès lors le but auquel tend Plotin…

Il croit (Philon d’Alexandrie) avec les Stoïciens au Logos partout présent mais dont l’homme est normalement inhabile à comprendre l’ordonnance. Eternel comme Dieu, le Logos extériorise sa pensée, il est à la fois la Raison et le Verbe où elle s’exprime; il est comme un souffle propageant à travers le monde la puissance créatrice de Dieu… (Trích: Richard Kreglinger, l’Evolution religieuse de l’humanité, tr.142-158)

[12] Au commencement était le Verbe le Verbe et le Verbe était auprès de Dieu et le Verbe était Dieu. Il était au commencement auprès de Dieu. Tout a été fait par lui et sans lui, rien n’a été fait de ce qui a été fait (Evangile de Saint Jean – Prologue l, l-3) Cf. Luc 17,20,21: Interrogé par les Pharisiens: «Quand va venir le royaume de Dieu?” Il leur répondit:”Le Royaume de Dieu ne doit pas venir ostensiblement. On ne dira pas non plus: “Le voici!” ou “le voilà!” car déjà le royaume de Dieu est en vous.”

Cf. Aussi Upanishads:

– Il est l’Un lumineux, le créateur de tout, le Mahatma. Toujours dans le cœur des peuples établi;

– Révélé par le cœur, par l’intuition, par l’intelligence.

– Celui qui le connaît devient immortel…

 (Camille Drevet, Pour connaître la Pensée de Gandhi, tr.108)

[13] Cf. La montée du Carmel (Les oeuvres spirituelles du Bien heureux Père Jean de la Croix. Desclée et Brower) p.133,134: «… Donc pour entendre quelle est cette union, dont nous traitons, il faut savoir que Dieu demeure en toutes les âmes, fut-ce celle du plus grand pécheur du monde et y est présent en substance. Et cette manière d’union est toujours entre Dieu et toutes les créatures, selon laquelle il les conserve en leur être, de sorte que si elle venait à leur manquer, elles s’aneantiraient âussitôt et ne seraient plus. Ainsi quand nous parlerons de l’union de l’âme avec Dieu, ce ne sera pas de cette union substantielle de Dieu qui est toujours en toutes les créatures mais de l’union et de la transformation de l’âme en Dieu qui n’est pas toujours faite mais qui se fait seulement quand il y a ressemblance d’amour et partant celle-ci se nomme union de ressemblance, comme l’autre s’appelle l’union essentielle ou substantielle. Celle-là est naturelle, celle-ci surnaturelle, qui est quand les deux volontés, à savoir celle de l’âme et celle de Dieu, sont conformes en un, n’y ayant aucune chose en l’une qui répugne à l’autre. Partant quand l’âme ôter entièrement de soi ce qui répugne et n’est pas conforme à la volonté divine, elle demeurera transformée en Dieu par amour.

[14] L. Wieger, Les pères du Système taoiste, p.34.

[15] Présence du Bouddhisme, p.637.

[16] Địa đạo mẫn thụ. Nhân đạo mẫn chính. 地 道 敏 樹, 人 道 敏 政 (Trung Dung, ch.20, tr.66)

… thành giả, phi tự thành kỷ nhi dĩ dã, sở dĩ thành vật dã. Thành kỷ, nhân dã, thành vật, trí dã. 誠 者 非 自 成 己 而 已 也 所 以 成 物 也 成 己 仁 也, 成 物 智 也 (Trung Dung, ch.25, tr.78)

Tử Tư thừa thượng chương, Phu tử Thiên đạo, Nhân đạo chi ý, nhi lập ngôn dã. 子 思 承 上 章, 夫 子 天 道 人 道 之 意 而 立 言 也 (Trung Dung, ch.21, tr.76)

[17] Trí quảng đại, nhi tận tinh vi. Cực cao minh, nhi đạo Trung Dung. 致 廣 大 而 盡 精 微. 極 高 明 而 道 中 庸 (Trung Dung, ch.27)

[18] Notitioe sinicoe, tr.168.

[19] Notitioe sinicoe, tr.168: Duy thiên cao cao tại thượng, chí hư, chí công, chí thần, chí linh, bất dụng thính nhi thông vô bất văn, bất nhu thị nhi minh vô bất kiến, bất duy chính lệnh chi đắc thất, dân sinh chi hưu thích, cử bất năng đào Thiên chi giám, tức ám thất ốc lậu chi trung, bất đổ bất văn chi địa, diệc giai chiêu nhiên sát vô di yên. Thiên chi thông minh như thử. 惟 天 高 高 在 上, 至 虛, 至 公, 至 神, 至 靈 不 用 聽 而 聰 無 不 聞 不 需 視 而 明 無 不 見, 不 惟 正 令 之 得 失, 民 生 之 休 戚, 舉 不 能 逃 天 之 鑒 即 暗 室 屋 漏 之 中, 不 睹 不 聞 之 地, 亦 皆 昭 然 察 無 遺 焉. 天 之 聰 明 如 此.

[20] Giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. 戒 慎 乎 其 所 不 睹 恐 懼 乎 其 所 不 聞 (Trung Dung, ch.1, tr.40)

[21] Phản Đường, tr.6,7.

[22] Vũ tuyết thê thê. Bá Di, Thúc Tề. 雪 雨 淒 淒 伯 夷 叔 齊 (Mạc Đĩnh Chi, Vịnh quạt)

[23] Sơ cửu tiềm long vật dụng. 初 九 潛 龍 勿 用 (Kinh Dịch, càn quái)

[24] Uẩn long trùng trùng, Y Doãn Chu Công. 蘊 隆 蟲 蟲 伊 尹 周 公 (Mạc Đĩnh Chi, Vịnh quạt)

[25] Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân. 現 龍 在 田 利 見 大 人 (Kinh Dịch, Càn quái)

[26] Cửu tứ: Hoặc dược tại uyên. 九 四 或 躍 在 淵 (Kinh Dịch, Càn quái)

[27] Cửu ngũ: Phi long tại thiên lợi kiến đại nhân. 九 五: 飛 龍 在 天 利 見 大 人 (Kinh Dịch, Càn quái)

[28] Đầu sách: Thiên mệnh chi vi tính 天 命 之 謂 性.

 Cuối sách: Thượng thiên chi tải vô thanh vô xú chí hĩ. 上 天 之 載 無 聲 無 臭 至 矣.

[29] Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên 思 知 人 不 可 以 不 知 天 (Trung Dung, ch.19)

[30] Lực hành cận hồ nhân. 力 行 近 乎 仁 (Trung Dung, ch.20, tr.68)

[31] Hữu phất hành. Hành chi phất đốc. Phất thố dã. 有 弗 行 行 之 弗 篤 弗 措 也 (Trung Dung, ch.20, tr.74)

[32] Phi Long, tr.237.

[33] Tăng Tử viết: «Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị. Nhậm trọng nhi đạo viễn.» 曾 子 曰: 士 不 可 以 不 弘 毅. 任 重 而 道 遠 (Luận Ngữ, Thái Bá – 8, tr.124)

[34] Bác hậu phối địa. 博 厚 配 地 (Trung Dung, ch.26, tr.80)

[35] Thành giả, Thiên chi đạo dã, Thành chi giả, nhơn chi đạo dã. 誠 者 天 之 道 也 誠 之 者, 人 之 道 也 (Trung Dung, ch.20, tr.74)

[36] Quân tử hồ bất tháo tháo nhĩ. 君 子 乎 不 慥 慥 爾 (Trung Dung, ch.13, tr.54) Chung nhật càn càn dĩ thời giai hành. 終 日 乾 乾 以 時 皆 行 (Kinh Dịch, quẻ càn, Dịch Kinh tân khảo) Tượng viết: Thiên hành kiện quân tử dĩ tự cường bất tức. 天 行 健 君 子 自 強 不 息 (Kinh Dịch, quẻ Càn. Dịch Kinh tân khảo, tr.602)

[37] Bách Khoa, tr.32, số 92 (01-11-1960)

[38] Bách Khoa, tr.31, số 92, Nietzsche.

[39] Thiên Địa chi đạo, Khả nhất ngôn nhi tận dã: kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc. 天 地 之 道 可 一 言 而 盡 也: 其 為 物 不 貳, 則 其 生 物 不 測 (Trung Dung, ch.26, tr.80)

[40] Hữu Nhược Viết: Khởi duy dân tại? Kỳ lân chi ư tẩu thú, phụng hoàng chi ư phi điểu, Thái sơn chi ư khâu diệt, hà hải chi ư hàng lạo, loại dã. Thánh nhân chi ư dân, diệc loại dã. Xuất ư kỳ loại, bạt hồ kỳ tụy. 有 若 曰: 豈 惟 民 在? 麒 麟 之 走 獸, 鳳 凰 之 於 飛 鳥 泰 山 之 於 丘 垤 河 海 之 於 行 潦, 類 也 聖 人 之 於 民, 亦 類 也. 出 於 其 類, 拔 乎 其 萃 (Mạnh Tử, Công tôn Sửu [thượng, 2] tr.98)

[41] Nhan Uyên viết: Thuấn hà nhân dã? Dư hà nhân dã? Hữu vi giả, diệc nhược thị. 顏 淵 曰: 舜 何 人 也?予 何 人 也?有 為 者 亦 若 是 (Mạnh Tử, Đằng Văn Công [thượng], tr.146)

[42] Evolution continues in our time, no longer on the physiological or anatomical plane but on the spiritual and moral plane. (Lecomte du Noüy, Human destiny, tr.79)

[43] Con người có thể sửa đổi được không? Bài của Jean Rostand, Hương xa, số 37. tr.21. Bài rút trong sách Can man be modified, 1959, The Curtis Publishing Company.

[44] Âu Dương Tử viết: Giáo học chi pháp bản ư nhân tính ma nhu thiên cách, xử xu ư thiện; chí ư lễ nhượng hành nhi phong tục thuần mỹ, nhiên hậu vi học chi thành. 歐 陽 子: 教 學 之 法 本 於 人 性 磨 揉 遷 革, 使 趨 於 善;至 於 禮 讓 行 而 風 俗 醇 美, 然 後 為 學 之 成 (Cận Tư Lục, I, Tựa)

[45] Cf.: En toi, mon Dieu, j’aurai ma solidité, ma fixité, mon être définitif (Saint Augustin) (Henri de Lubac, Aspects du Bouddhisme, notes 103, p.152)

– cf. Aussi: La montée du Carmel (Les oeuvres spirituelles du Bienheureux Père Jean de la Croix, Desclée de Brower, p.133,134):

«… Donc pour entendre quelle est cette union, dont nous traitons, il faut savoir que Dieu demeure en toutes les âmes, fut-ce celle du plus grand pécheur du monde et y est présent en substance. Et cette manière d’union est toujours entre Dieu et toutes les créatures, selon laquelle il les conserve en leur être, de sorte que si elle venait à leur manquer, elles s’aneantiraient âussitôt et ne seraient plus. Ainsi quand nous parlerons de l’union de l’âme avec Dieu, ce ne sera pas de cette union substantielle de Dieu qui est toujours en toutes les créatures mais de l’union et de la transformation de l’âme en Dieu qui n’est pas toujours faite mais qui se fait seulement quand il y a ressemblance d’amour et partant celle-ci se nomme union de ressemblance, comme l’autre s’appelle l’union essentielle ou substantielle. Celle-là est naturelle, celle-ci surnaturelle, qui est quand les deux volontés, à savoir celle de l’âme et celle de Dieu, sont conformes en un, n’y ayant aucune chose en l’une qui répugne à l’autre. Partant quand l’âme ôter entièrement de soi ce qui répugne et n’est pas conforme à la volonté divine, elle demeurera transformée en Dieu par amour.

[46] Chu Tử viết: Mỗ yêu nhân tiên độc đại học dĩ định kỳ qui mô, thứ độc Luận Ngữ dĩ lập kỳ căn bản, thứ độc Mạnh Tử dĩ quan kỳ phát việt. thứ độc Trung Dung dĩ cầu cổ nhân chi vi diệu. 朱 子 曰: 某 要 人 先 讀 大 學 以 定 其 規 模, 次 讀 論 語 以 立 其 根 本, 次 讀 孟 子 以 觀 其 發 越, 次 讀 中 庸 以 求 古 人 之 微 妙 (Minh thành tổ ngự chế tứ thư ngũ kinh, Tính lý đại toàn, Đại Học, tr.11)

[47] Thiên hạ hữu tam môn: Do ư dục tình, nhập tự cầm môn. Do ư lễ nghĩa, nhập tự nhân môn. Do ư độc tri, nhập tự thánh môn. 天 下 有 三 門: 由 於 欲 情 入 自 禽 門. 由 於 禮 義 入 自 人 門. 由 於 獨 知 入 自 聖 門 (Notitiӕ sinicӕ, p.176)

[48] Ẩm tửu mạc giao thành mính đính,       
飲 酒 莫 教 成 酩 酊

Khan hoa thận vật đáo ly phi.               
看 花 慎 勿 到 離 飛 .

[49] Cổn cổn Trường giang đông thệ thủy, 
滾 滾 長 江 東 逝 水

Lãng hoa đào tận anh hùng,                 
浪 花 淘 盡 英 雄

Thị phi, thành bại chuyển đầu không. 
是 非 成 敗 轉 頭 空

Thanh sơn y cựu tại.                               
青 山 依 舊 在

Kỷ độ tịch dương hồng.                           
幾 度 夕 陽 紅

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, 
白 髮 漁 樵 江 渚 上

Quán khan thu nguyệt phong.               
慣 看 秋 月 風

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.         
一 壺 濁 酒 喜 相 逢

Cổ kim đa thiểu sự,                                 
古 今 多 少 事

Đô phó tiếu đàm trung.                           
都 付 笑 談 中

(Tam Quốc, Hồi I).

[50] Chí Y Doãn chi sở chí, học Nhan tử chi sở học, quá tắc thánh, cập tắc hiền. 至 伊 尹 之 所 志, 學 顏 子 之 所 學, 過 則 聖, 及 則 賢 (Cận tư lục, II tr.1).

[51] Giá tiện thị nhất cá tham tán tài thành chi đạo; cái ức âm tiến dương, trưởng thiện nhi tiêu ác, dụng quân tử nhi thoái tiểu nhân. 這 便 是 一 簡 參 贊 栽 成 之 道; 蓋 抑 陰 而 進 陽, 長 善 而 消 惡, 用 君 子 而 退 小 人 (Cận tư lục, I, tr.3).

[52] Dịch Kinh tân khảo, I, tr. 20, 56, 60.

[53] Liêm Khê tiên sinh viết: thánh hi thiên, hiền hi thánh, sĩ hi hiền. 濂 溪 先 生 曰: 聖 希 天, 賢 希 聖 士 希 賢 (Cận tư lục, II, tr.1).

[54] Tam Quốc, hồi 97. Hậu xuất sư biểu của Gia Cát Lượng.

[55] Nhân Tâm duy nguy. Đạo tâm duy vi. Duy tinh duy nhất. Doãn chấp quyết trung. 人 心 惟 危. 道 心 惟 微. 惟 精 惟 一. 允 執 厥 中 (Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 15).

————————–
* Trân trọng cảm ơn quí vị
**************************         

Mạnh Tử quan niệm về nhân, nghĩa

Mạnh Tử quan niệm về nhân, nghĩa

Mạnh Tử quan niệm về nhân, nghĩa

Mạnh Tử quan niệm về nhân, nghĩa

Giáo sư Francois Jullien, Chủ tịch Viện quốc tế triết học là tác giả 10 tập chuyên luận so sánh triết học Trung Hoa và triết học Âu Châu đặc biệt chú ý là những công trình: xác lập cơ sở cho đạo đức, đối thoại của Mạnh Tử với một triết gia khai sáng (Grasset, 1995)… làm nổi bật vai trò cơ bản của triết học trong đối thoại giữa những nền văn hóa, đưa ra một phương pháp luận so sánh văn hóa Đông – Tây mới mẻ có thể trình bày vắn tắt như sau: “hiểu lý trí Châu Âu từ lý trí Trung Hoa và ngược lại”, “suy tư Trung Hoa bằng Châu Âu và ngược lại”. Sau đây là bản dịch Chương I của công trình xác lập cơ sở cho đạo đức.

Một ông vua băn khoăn không biết mình có đủ tài đức để bảo hộ dân chúng gây dựng nên nghiệp vương không. Để nhà vua tin ở khả năng của mình, một nhà hiền triết gợi nhắc lại một giai thoại về chính nhà vua. Một hôm vua đương ngồi trong đền bỗng thấy một người lôi một con bò qua cửa đền, con vật bị đưa đến noi hiến tế nó sẽ bị giết, đặng lấy máu làm lễ bôi chuồng. Trước bộ dạng nhớn nhác của con vật, giống như một kẻ vô tội bị giải tới nơi nhục hình, nhà vua không nỡ, bèn ra lệnh thả nó ra. Một viên quan hỏi: “Bỏ lệ lấy máu bôi chuồng sao”? Vua trả lời: “Sao lại bỏ? Hãy đem con dê mà thế vào”!

Chỉ chừng ấy, nhà hiền triết kết luận đủ để thấy rằng nhà vua có khả năng gây dựng nghiệp vương. Tuy vậy, giai thoại được kể mới nghe tưởng chừng như chọc vào nhà vua: với ý kiến đem con dê thay cho con bò, nhà vua bị chê là hà tiện và chính nhà vua chống chế một sự quy kết như vậy cũng thừa nhận cách xử sự của mình có chỗ không ổn. Bởi lẽ vì sao tha cho con bò mà lại không tha cho con dê, con này chẳng cũng vô tội như con kia hay sao? Nhà hiền triết lại phải làm sáng tỏ cái gì đã diễn ra trong lòng dạ nhà vua, điều này những người xung quanh và bản thân nhà vua không nhận biết được: nhà vua đã đề nghị một cách vô tư thay con bò bằng con dê, chẳng qua là vì ông đã “nhìn thấy” vẻ xớn xác của con bò còn con dê thì ông không “nhìn thấy”. Đích thân ông được chứng kiến sự khủng khiếp của con bò: nó xuất hiện ra đột ngột trước mắt ông mà ông chẳng có một dự phòng vào cả, trong khi đó số phận của con dê ở ông chi là một ý niệm. Một ý niệm vô danh, trừu tượng và do đó không có hiệu quả Không có tác động của sự hiện diện mặt đối mặt – mắt nhà vua đã trợn ngược nhìn thấy sự khủng khiếp của con bò và từ đó không nhắm lại dược nữa. Chính vì vậy việc con dê bị làm vật hy sinh không làm cho nhà vua xao xuyến , trước sau ông xem sự việc này cũng là lẽ thường vậy. Còn đối với con bò, sự nhìn thấy đủ làm cho ông xúc động và tình lý trong nội tâm ông trong chốc lát bị xao động. Như vậy, nhìn chiều sâu, sự không nhất quán trong cách ứng xử mà nhà vua lấy làm hổ thẹn trên thực tế lại bộc lộ một phẩm giá đáng quý ở ông: nhà vua “không nỡ” đứng “nhìn” sự đau khổ, ông không thể làm một người chứng kiến dửng dưng với số phận của kẻ khác, ngay cả khi kẻ khác đó là một con vật. Và phản ứng trực tiếp này của lòng không nỡ đủ để chứng tỏ tâm hướng đạo đức của ông.

Giai thoại nói trên được thuật lại theo lời của Mạnh Tử, một nhà triết học Trung Hoa thế kỷ IV trước CN. Mạnh Tử khái quát hóa: “Người quân tử đối với chim chóc và thú vật, đã trông thấy chúng nó sống thì chẳng nỡ nhìn xem chúng nó chết, đã nghe chúng kêu la thì chẳng nỡ ăn thịt chúng nó”. Châm ngôn này làm tôi nhớ đến: những con vịt thời bé chúng tôi đem thả vào một cái bể to, chúng tôi thích thú xem chúng nô giỡn, rồi một hôm một con chó cắn chết chúng và chúng tôi không nỡ đem vặt lông nấu ăn. Nhưng nhân danh cái gì mà không nỡ? Cái gì đã ngăn giữ chúng tôi không làm thịt những con vịt, sức mạnh nào đã đưa vào kinh nghiệm sống, sự phân định ranh giới cần thiết này, ranh giới này cũng tương đối thôi nhưng cuối cùng thi không thể chối từ được (và tác động của nó, một khi được minh định, trở thành điều căn cốt, hệ trọng). Tiếp theo giai thoại, Mạnh Tử có nhận xét “người quân tử nên ở xa nhà bếp và nơi mổ lợn, mổ gà” (nói một cách khác, lò sát sinh cần đặt nơi xa khuất). Nhận xét này xen vào đây (dễ bị lầm tưởng như một thành kiến của loại người sang trọng cao đạo) thực ra nhấn mạnh điều này: một khi có âm mưu đối với một sinh tồn khác (ngay cả một sinh tồn động vật) một khi có tác động của sự đối diện với sụ hiện hữu (dù là trong chốc lát) của một sinh tồn khác. Ta không thể nào dửng dưng được. Cũng phải thấy rằng trong lĩnh vực này, ví dụ được nêu lên không đơn thuần là một sự minh họa, nó có vai trò như hòn đá thử vàng: về chủ đề được tranh cãi quá nhiều này của đạo đức. chí có kinh nghiệm là bảo đảm cuối cùng và là căn cứ để sàng lọc các lý lẽ. Dĩ nhiên qua kinh nghiệm phải nắm được đạo đức trong sự căn cốt của nó và sự kiện được nêu lên phải là sự kiện không chối cãi được. Chính vì vậy Mạnh Tử có ý thức đưa ra một tình thế có tính điển hình: thấy một đứa trẻ con sắp té xuống giếng , ai cũng động lòng kinh sợ, thương xót, chạy bổ đến cứu đứa bé. Mà họ hành động như vậy “không phải vì tình giao kết với cha mẹ đứa trẻ mà muốn cho được thân thích hơn; cũng không phải vì muốn cho hàng xóm, bằng hữu khen tặng mình, lại cũng không phải vì tránh tiếng xấu là người bất nhân. Những đặc điểm của lòng không nỡ trước sự bất hạnh của người khác là: không có sự tính toán, không có sự nghĩ ngợi nào và sự phản ứng có tính chất tự phát. Không có lợi lộc nào xen vào động cơ, hành động cứu trợ ở ngoài sự giám sát của ý chí. Một tình thế như vậy đáng được nêu lên làm tình thế mẫu. Nó phơi trần ra một cách ứng xử tuyệt đối vô tư, trong đó cái cá nhân bị vượt qua: bất thần tôi không chủ động được nữa, tôi không làm chủ những cứu cánh ích ký của mình được nữa, chinh là bản thân sự sinh tồn, qua tôi, đương trỗi dậy vì người khác.

Như vậy được phơi bày ra ở trạng thái tự nhiên và tức thì điều mà không một lý lẽ nào có thể bác bỏ. Chứng cứ là những điều thuộc tập quán cổ xưa mà Mạnh Tử thuật lại, người đời xưa chưa có lệ chôn cất cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời, họ đem bỏ xác xuống hố. Ít hôm sau, đi qua, họ thấy chồn cáo xâu xé những cái thây, ruồi nhặng và ròi bọ đục khoét: toát mồ hôi trán, họ chỉ ngó nghiêng, không dám nhìn thẳng… Mồ hôi rịn ra trên mặt, “đó chẳng phải là tại họ xấu hổ với người khác”, Mạnh Tử bình luận, sự phản ứng là từ sâu thẳm lòng họ. Họ bèn quay về nhà, mang thúng mủng cuốc xẻng tới, họ đào đất mà lấp thây cha mẹ. Việc mai táng, Mạnh Tử kết luận, không chỉ là một ước lệ: nó bộc lộ một mối liên hệ giữa các sinh tồn mả ngay cái chết cũng không xóa bỏ được. Mạnh Tử còn đưa ra một điều tế nhị là đối với những người đã “hóa thân” không để cho đất cát,chạm da. Chúng ta không nỡ dửng dưng trước những gì đe dọa người khác ngay cả khi họ đã chết.

Những ví dụ như vậy khiến ta nghĩ đến tính phổ biến của nguyên tắc “Người ta ai cũng có lòng thương xót, lòng chẳng nỡ đối với việc này hoặc việc khác” (Đ.T.C Mạnh Tử, t.thượng tr.273) từ đó Mạnh Tử suy ra: đem tấm lòng chẳng nỡ ấy (đối với người khác) phổ cập đến những điều mình còn nỡ (còn đang tâm đối với người khác), đó là “nhân” vậy. Cá nghĩa là đối với ai cũng vậy, có cái gì đó khiến mình, trong cơn hoạn nạn của người khác, không thể dửng dưng và gây ra phản ứng. Sự không dửng dưng này có nghĩa là ta không thể nào bình thản, “thoải mái”, yên ổn” đứng trước nhũng gì bất hạnh đến với người khác (đối chiếu với cảm giác “bất an” trong lương tâm mà Khổng Tử đã từng nói đến). Đồng thời còn có khá nhiều điều bất hạnh trong cuộc sống người khác mà ta còn dửng dưng, thậm chí không hề quan tâm. Từ quan điểm Trung Hoa, luân lý đạo đức không đặt ra định đề nào cả, cũng không đưa ra giới luật và lời dạy nào cả, chẳng qua nó chỉ là sự mở rộng này: sự triển khai phản úng không nỡ (không chịu đụng nổi) tới tất cả những gì ta vẫn nỡ (vẫn đành chịu) trước sự cùng khốn của con người.

Mặt khác, với ai cũng vậy, có “những điều mình chẳng làm” (tức là mình không thèm làm): đem triển khai, mở rộng ý thức chẳng chịu làm, không thèm làm này tới những điều (đáng chê trách) mà mình vẫn cứ làm, đó là “nghĩa” vậy. Trên thực tế người không thèm “khoét vách”, “trèo tường” để ăn trộm hàng xóm rất có thể giống nịnh hót nhà vua, không còn biết chính trực là gì nữa: “lúc chẳng nên nói thì lại thưa thốt” hoặc “lúc đáng nói thì lại ngậm miệng”. Sự bất lương “thưa thốt, ngậm miệng” này thực ra là cùng một “ruột” với sự ăn trộm trắng trợn nhất. Ngược lại, với kẻ “có khả năng khuyếch sung hình thức lương tâm ngăn ngừa trộm cắp” thì nguồn nghĩa ở anh ta là “vô tận”.

Sự mở rộng này như là một nhân tố cấu thành của ý thức đạo đức được thực hiện theo hai chiều: trong bản thân chúng ta nó là sự triển khai của lòng không nỡ thỉnh thoảng ta cảm nhận được trước sự cùng khốn của người khác tới toàn bộ kinh nghiệm sống của chúng ta (hoặc đó là sự triển khai của những điều ta có sự quan tâm tới những người khác sang tất cả những gì ta chưa có sự quan tâm tới họ hoặc đó là sự triển khai tình cảm không chịu làm, không thèm làm tới tất cả những điều đáng chê trách mà ta vẫn cứ làm), ở ngoài chúng ta. nó là sự triển khai hướng tới những người khác, từ người gần nhất đến người xa nhất, bằng sự khuy ếch trương, bằng động tác của gương mẫu nêu lên cho họ (trước hết là gương mẫu được nêu lên từ bậc thiên tử). “Đẩy tới” (hoặc “triển khai”), “mở rộng khuyếch trương” (hoặc “khuyếch sung”) đó là những chức năng then chốt trong sách Mạnh Tử. Bởi lẽ ý thức đạo đức cũng giống như ngọn lửa “nhen nhúm sắp cháy bùng”, như dòng suối “phát tích sắp lưu thông”. Chính vì vậy chỉ mỗi sự phản ứng không nỡ ở nhà vua lần ông thấy vẻ xốn xác của con bò bị lôi đi tới nơi hiến tế- miễn là tình cảm không nỡ này được khuyếch sung đầy đủ cũng đủ để nhà vua bình thiên hạ.

Hoàng Ngọc Yến.
(Tạp chí Tia sáng)

KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y

KINH DỊCH VỚI ĐÔNG Y [1]

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

***

Dịch Kinh là một pho sách tối cổ của Trung Hoa đã được bốn vị đại thánh sau đây soạn thảo:-

– Phục Hi (c.2852) (vẽ tiên thiên bát quái)
– Văn Vương (1231- 1135) (vẽ Hậu thiên bát quái, viết Thoán từ)
– Chu Công (c.1100) (viết Hào từ)
– Khổng Tử (551- 479) viết Thập dực. Thập dực gồm: Thoán (thượng, hạ truyện), Tượng (Thượng, hạ truyện), Hệ từ (Thượng, hạ truyện), Văn ngôn truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện)
Dịch, theo từ nguyên, trên có chữ Nhật (chỉ sự thường hằng) dưới có chữ Nguyệt (chỉ sự biến thiên). Ý muốn nói: Dịch bao quát cả hai phương diện «biến, hằng» của vũ trụ.

*Vì thế, Dịch có ba nghĩa:
– Bất biến.
– Biến thiên.
– Dễ.(Dễ, vì nếu ta biết mọi khía- cạnh biến- hằng của hoàn- cảnh, sự- vật, thì sự đời cũng như công chuyện đối phó sẽ trở nên dễ dàng).

Dịch là một bộ sách triết học, dùng:

– Tượng (ký hiệu – Symboles)
– Từ (Lời lẽ – Paroles)
– Số (Nombres)

Để mô tả căn do cũng như sự sinh thành, sự biến hóa của vũ trụ, quần sinh, và mọi giai đoạn danh hư, tiêu trưởng của vạn hữu cốt là để theo dõi được mọi sự biến tiên va cũng là để đoán định cho ra điều hay, điều dở (cát, hung), do đó sinh ra (Chiêm = đoán)

Dịch coi:
– Thái cực là nguồn gốc sinh ra vạn tượng, vạn hữu, vũ trụ, quần sinh.
– Âm Dương là hai động lực vừa tương thừa (complémentaires) vừa tương khắc (opposées ou contraires) tác động lẫn trên nhau, mà sinh ra mọi biến hóa.
– Tứ tượng, ngũ hành là những trạng thái biến hóa chính của một nguyên khí. Nguyên thể khi trải qua các giai đọan, từ khinh thanh đến trọng trọc và ngược lại (du subtil au grossier et vice- versa), theo những chu kỳ cố định, diễn biến theo luật định: Sinh (naissance), trưởng (croissance), liễm (retrait), tàng (latence, mort).
– Bát quái tượng trưng cho vạn tượng, vạn hữu (êtres, phénomènes)
– Sáu mươi tư quẻ tượng trưng cho mọi hoàn cảnh (situations) mà vạn tượng, vạn hữu trrong khi gặp gỡ, giao dịch với nhau đã gây nên.

*Cho nên khi khảo sát sáu mươi tư quẻ, tượng trưng cho muôn vạn hoàn cảnh trên đời, ta thấy Dịch kinh chủ trương như sau:
1/ Muốn hiểu rõ hoàn cảnh, cần phải biết rõ những yếu tố đã tạo nên hoàn cảnh ấy, cũng như những đặc tính củatừng yếu tố ấy (Thoán). Vì thế Thoán tuyện bao giờ cũng phân tách quẻ kép (hoàn cảnh) ra thành những quẻ đơn (yếu tố cấu tạo nên hoàn cảnh), và tìm hiểu những đặc tính riêng biệt của chúng (quái đức, quái tượng, quái thể), ngõ hầu nắm vững được toàn thể hoàn cảnh và đoán định đại khái được những sự dở hay do nó xuất sinh.
2/ Đứng trước mỗi hoàn cảnh, phải xét xem nó có dạy ta được bài học luận lý gì (Tượng).
3/ Tìm xem hoàn cảnh sẽ diễn biến ra sao (sáu hào), tùy theo:
– Thời gian (trước, giữa, sau).
– Không gian (dưới, giữa, trên).
– Nhân sự, sang hèn, hay dở, cô đơn, hay có người phũ ủng (ứng).
– Cách cư xử, đối đãi, tiến, thoái của từng nhân vật.
4/ Như vậy sẽ đóan ra được sự thành, bại của mỗi hoàn cảnh để chiêu lành (xu cát), lánh dữ (tị hung).
Những nhận định của Dịch, gần đây, khi đem phối kiểm với các khái niệm tối tân nhất của khoa học và triết học hiện đại, đã trở nên hết sức chính xác và cao siêu.
Leibniz (1646- 1716), người phát minh ra khoa toán pháp nhị nguyên (arithmétique binaire ou dyadique) đã khảo cứu kinh Dịch vào khoảng những năm từ 1698 đến 1701, đã phải bỡ ngỡ vì thấy các quẻ Dịch tiên thiên từ Khôn đến Kiền có thể mã lại đúng y thứ tự 64 số của Toán pháp nhị nguyên, từ 0 đến 63. Thí dụ:[2]

                32   16   8   4   2   1
Khôn = 0 =   0   0   0   0   0   0
Bác = 1 =    0   0   0   0   0   1
Tỉ = 2 =    0   0   0   0   1   0
Quan = 3 =   0   0   0   0   1   1
Dự = 4 =   0   0   0   1   0   0
Tấn = 5 =    0   0   0   1   0   1
Tụy = 6 =   0   0   0   1   1   0
Bĩ = 7 =   0   0   0   1   1   1
Cấu = 31 =    0   1   1   1   1   1
Phục = 32 =    1   0   0   0   0   0
Kiền = 63 =   1   1   1   1   1   1

– Dịch nói: Âm Dương tương thôi nhi sinh biến hóa, thì Engels và Marx nói: Mâu thuẫn sinh ra mọi biến hóa.
– Dịch nói: trong âm có dương, trong dương có âm thì các nhà khoa học ngày nay nói:
– Ánh sáng vừa là ba động (onde) vừa là quang tử (photons)
– Điện tử (électrons), nguyên tử (atomes), phân tử (molécule) vừa là ba động (onde), vừa là phân tử (particule).
– Dịch nói: Âm biến Dương, Dương biến Âm, thì Einstein đã đưa ra phương trình E = M.c bình phương
– Trong đó E là năng lực.
 M là khối  lượng.
 c là vận tốc của ánh sáng.

Einstein cũng còn cho rằng ánh sáng (Dương) có trọng lượng (âm).
– Dịch nói «Tam thiên, lưỡng địa» 參 天 兩地 tức là dương 3 âm 2.

Các nhà toán học ngày nay đã tìm ra chuỗi số Fibonacci (série récurrente de Fibonacci) :
0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, v.v… và cho biết tỷ số giữa hai số liên tiếp của chuỗi số nói trên (série récurrente de Fibonacci) càng ngày càng tiến về con số vàng FI.

1  #   1   #  2  #   3   #   5   #   8    #   13   # …. √ 5- 1 = FI= 0,62
1       2        3       5        8        13         21                2
                                                             

Hoa lá trong thiên nhiên thường theo luật định này, trong cách xếp lá, xếp cánh hoa.

Hơn nữa, năm 1957, Dương Chấn Ninh, giáo sư đại học Princeton từ 1949; Lý Chính Đạo, giáo sư đại học Columbia từ 1951, dựa vào tỷ lệ âm dương của Dịch kinh nói trên đã làm một cuộc thí nghiệm tại Trung tâm thí nghiệm nguyên tử (National Bureau of Standards) ở Columbia, Hoa kỳ, và đã trình bày với ủy ban quốc tế tặng giải Nobel rằng lúc hạt nguyên tử nổ thì có phóng xạ. Những ly tử âm và dương hợp nhau lại (âm với âm), (dương với dương) thành ra hai tia sáng: tia dương dài bằng 3 đơn vị, tia âm dài bằng 2 đơn vị. Như vậy các ông đã đem định luật Cơ ngẫu (Loi de non- parité) của Dịch kinh, thay thế cho định luật song tiến (Loi de parité) xưa của khoa học. Hai nhà bác học Trung Hoa này, nhờ đó, đã được giải thưởng Nobel về Lý học năm 1957.-

Dịch cho rằng vạn sự, vạn vật đều theo định luật doanh, hư, tụ, tán, thì ngày nay các nhà thiên văn học như Lemaître, Gamow, đã chủ trương rằng vũ trụ đã được phát xuất và triển dương từ một nguyên thể (atome primitif). Sự khuếch tán (expansion) của vũ trụ ngày nay cũng đã được các nhà thiên văn học chứng minh và chấp nhận.
Tiến sĩ R.C Tolman thuộc viện kỹ thuật California, cũng chủ trương rằng, nếu vũ trụ hiện nay trong thời kỳ tán, thì trong một tương lai xa xăm sẽ có thời kỳ tụ; và tán rrồi tụ, tụ rồi tán, cứ thế mãi mãi vô cùng tận. [3]
Dịch kinh cho rằng vũ trụ này là Nhất thể, Vạn thù. Vạn tượng thu rút lại chỉ còn Âm Dương và Thái Cực.

Ngày nay, khoa học cũng nhận thấy sau bức màn hiện tượng, biến hóa chỉ có:
– Âm điện tử (–) (electrons).
– Dương điện tử (+) (Protons).
– Trung hòa tử (Neutrons).

Nhưng thu rút lại thì chỉ còn có một nguyên khí.[4]
Dịch kinh như vậy đã dùng phương pháp «dĩ nhất quán vạn» 以一 串 萬 để suy khảo về vạn vật.
Gần đây, Einstein cũng đã cố gắng để xây dựng «Thuyết nhất quán» (Théorie du Camp unitaire: Unified Field Theory) và ông cho rằng Thuyết nhất quán, nếu chứng minh được hoàn toàn, sẽ là cái gì cao siêu nhất.[5]
Dịch đã chủ trương «Thuyết nhất quán» tự ngàn xưa. Như vậy Dịch không cao siêu nhất sao?
Như vậy những gì mà tiền nhân đã trực giác, thì ngày nay dần dần nhân loại đã chứng minh và đã áp dụng được. Ta có thể nói dịch kinh đã gặp gỡ khoa học và triết học hiện đại.
Phần dẫn nhập trên, tuy hơi dài dòng nhưng rất quan trọng. Nó cho ta thấy tại sao Dịch kinh lại có một địa vị rất quan trọng trong nền học thuật Trung Hoa, và đã được áp dụng vào mọi ngành học như thiên văn, địa lý, y, bốc v.v… Đây chúng ta chỉ khảo cứu ảnh hưởng của Dịch kinh đối với y học Trung Hoa.

DỊCH KINH VỚI Y HỌC

Y học Trung hoa là một khoa học đặc biệt. Thay vì đi theo con đường thực nghiệm như ngày nay, nó đã đi theo con đường suy lý.
a/ Con đường thực nghiệm là quan sát thực tại kỹ càng để tìm ra những luật định: rồi từ những luật định, suy ra những lý thuyết, những nguyên lý.
Áp dụng vào y học, phương pháp thực nghiệm sẽ chú trọng đến mổ, xẻ, quan sát tạng phủ; cân lường, phân tách các cơ quan; huyết dịch v.v… để tìm hiểu bệnh trạng và tìm cách chữa chạy.
Y học Trung hoa thường không theo phương pháp thực nghiệm này.
Thỉnh thoảng cũng có thấy mổ xác chết, nhưng đó không phải là vấn đề cần yếu.
Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử y học Trung hoa, ta chỉ thấy: Vương Mãng (36 TCN – 23 CN) sai mổ xác tử tội để xem xét tạng phủ, huyết mạch.
Một lần mổ xác chết khác đã xảy ra vào năm 1106 mà sách Cổ kim y giám đã đề cập.[6]
Rồi mãi đến đời vua Nhân Tông nhà Thanh (1796- 1850) và vua Tuyên Tông (1820- 1851), mới lại có một lương y tên là Vương Thanh Nhiệm tự Huân Thần, người trực lệ chuyên chú về mổ xẻ xác chết để khảo cứu. Ông đã viết quyển Y lâm cải thác để cải chính các thuyết nói về lục phủ ngũ tạng.[7]
b/ Y học Trung hoa đã theo con đường suy lý, y như những ngưòi Hy Lạp xưa.
Phương pháp suy lý đi từ những nguyên lý đã được chấp nhận là đúng, để suy dần ra mọi hiệu quả, và áp dụng vào mọi trường hợp.
Đó là phương pháp của Dịch học và của toán học.[8]
Chính vì vậy mà cần phải biết Dịch để thấu hiểu về Đông y.
Các sách y học thường nói: «Học Dịch nhiên hậu khã dĩ ngôn y.» [9] 學 易 然後 可 以 言 醫.
Lãn Ông cho rằng phải học Dịch để biết thuốc. Nhưng không cần học Quái, Tượng, Hào, Từ, mà chỉ cần học lẽ Âm Dương biến hóa, Ngũ hành sinh khắc.[10]
1/ Nhân thân tiểu thiên địa.
Trước tiên dựa vào Dịch, Đông y quan niệm rằng: Nhân thân tức là tiểu thiên địa. Ta có:-

Đại  vũ trụ         Tiểu  vũ  trụ
Trời            Đầu (tròn)
Đất            Chân (vuông)
Ngũ hành         Ngũ tạng
Tứ tượng         Tứ chi
24 tiết khí         24 xương sống
12 tháng         12 đốt khí quản
360 ngày         360 xương
9 cửa trời         Cửu khiếu
Sông ngòi         Huyết mạch

*2/ Ngũ vận, Lục khí ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Chủ trương của Dịch là chủ trương Tam tài: Thiên, địa, nhân. Ap dụng nguyên tắc chính yếu ấy của Dịch, y học cho rằng con người không thể nào tách rời được khỏi ảnh hưởng của trời đất cho nên mọi sự biến hóa của khí tiết trong triền năm hoặc mọi sự biến hóa của thời khí theo vận niên, đều ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe con người.
Do đó mà Y học Trung hoa có một khoa riêng, đó là khoa Ngũ vận, Lục khí.
Nội kinh đề cập đến Ngũ vận Lục khí đầu tiên. Đến đời vua Đường Túc Tông (756- 763), Vương Băng, hiệu Khải huyền tử, đã giảng minh thuyết này rất kỹ, trong quyển Huyền châu mật ngữ.
Khuôn khổ bài này không cho phép bàn về Ngũ vận, Lục khí.

*Chỉ cần nhắc lại rằng: sau khi đã cân nhắc sự sinh khắc giữa:
– Chủ vận, khách vận.
– Chủ khí, khách khí.
– Khách vận, khách khí.
Người ta có thể đoán trước một năm lành dữ ra sao, bệnh tật nhiều hay ít dễ chữa hay khó chữav.v…[12]
3/ Quan niệm Thái cực áp dụng vào y học.
Khảo Đông y ta thấy tiền nhân ít khi bàn đến Thái cực trong y học.

Chu Hi, một thạc nho thời Tống, cho rằng: Người người đều có Thái cực.
Nhưng y gia lại sẻn lời về vấn đề này.
Có lẽ các ngài cho Tâm là Thái cực (khi thì hiểu là tâm hồn, khi thì hiểu là quả tim).[13]
Đường Tông Hải (c.1875) đời Thanh, cho rằng bào thai một tháng nơi con người là Thái cực.[14]
Triệu Dưỡng Quì (c.1680?), Phùng Thị (c.1702), Lãn Ông (1724- 1791) cho rằng:
Hệ thống thận (gồm thận và Mệnh môn) là Thái cực, vì thế có trước các tạng phủ.[15]
Phùng Thị nói: Ở nơi con người hai quả thận hợp thành Thái cực.[16]
Phùng Thị và Lãn Ông vì vậy đã coi Mệnh môn là căn bản con người trong khi trị liệu.
Gặp bệnh gì dai dẳng khó chữa, là quay về chữa căn bản; chữa Mệnh môn chân thủy chân hỏa, áp dụng câu Nội kinh, «trị bệnh tất cầu kỳ bản».
Riêng tôi tuy vẫn nghĩ rằng Thái cực là toàn thể con người khi mới phôi thai, nhưng từ 1960, đối chiếu đồ bản dịch Tiên Thiên với các hình thể họcc về đầu não con người, tôi nhận định thêm rằng:
Ở vòng dịch, Thái cực ở trung điểm. Ở nơi con người Thái cực ở trung tâm não bộ, hay não thất ba (3ème ventricule), mà đạo Lão gọi là Nê Hoàn Cung, mà đạo Phật gọi là Liên hoa tâm, mà ta có thể gọi là Trung điểm qui nguyên, phản bản (Foyer centrencéphalique de réintégration), theo từ ngữ của một nhóm sinh lý học gia ở Paris.[17]
Tôi đã khảo cứu kỹ càng về vấn đề này và đã đối chiếu các quan niệm đạo giáo, y học, khoa học và triết học để chứng minh quan niệm này trong quyển Trung Dung tân khảo của tôi (sắp xuất bản một ngày gần đây).
Hiểu vấn đề này sẽ giúp cho ta hiểu thêm về con người, về các đạo giáo, về cách tu luyện của các đạo gia v.v…
4/ Quan niệm âm dương của dịch học áp dụng vào y học [18]
Tố Vấn cho rằng: «Trong con người thì ngoài là dương trong là âm, bụng là âm, lưng là dương, tạng là âm, phủ là dương. Cho nên ngũ tạng: Tâm, can, tùy, phế, thận đều thuộc âm. Lục phủ: đởm, vị, đại tràng, tiểu tràng, bàng quang, tam tiêu đều thuộc dương.» [19]
Đối với y học Trung hoa thì Dương chủ khí, Âm chủ huyết.

Các mạch nơi cổ tay phải đều thuộc dương:
– Mạch thốn: Phổi (Kim)
– Mạch quan: Tì (Thổ).
– Mạch xích: Thận hỏa (Hỏa).
Các mạch nơi cổ tay trái đều thuộc âm:
– Mạch Thốn: Tim (Hỏa).
– Mạch quan: gan (Mộc).
– Mạch xích: Thận Thủy (Thủy).
– Người cũng chia thành ba hạng:
Dương tạng
Âm tạng.
Bình tạng.

Dương tạng là những người có khí lực mạnh mẽ, da nóng, mặt mũi hớn hở, tóc đen, rậm và tốt, tiếng nói to, hơi thở mạnh, ăn uống dễ tiêu, tính tình nóng nảy, sống lâu.[20]
Âm tạng là những người sợ lạnh, da mát và ướt, mặt mũi hơi xanh, tó mềm, lông thưa, người mau mệt, tiếng nói yếu ớt, hay đầy hơi, hay bị tiêu chảy, lộ hầu, thịt mềm nhẽo, tính tình trầm tĩnh v.v…

Bình tạng là những người cả hai khí huyết đều mạnh ngang nhau.[21]
– Về phương diện bện học (pathologie), người Trung hoa phân biệt Dương bệnh và Âm bệnh.
Dương bệnh là những bệnh ngoại cảm. Âm bệnh là những bệnh nội thương.
Dương bệnh cũng còn được gọi là Thực chứng. Âm bệnh cũng còn được gọi là Hư chứng.
Dương bệnh cũng có thể là những bệnh sinh ra vì huyết dịch hư hao hay thận thủy suy.

Khi con bệnh đã suy kiệt Dương khí, thời y học gọi là Dương thoát. Dương thoát có những triệu chứng như sau:
– Mạch hầu như đã tuyệt.
– Tứ chi giá lạnh.
– Trán vã mồ hôi.
– Thở hắt ra.
– Khó thở.
– Nấc.
– Hôn mê.
– Lưỡi co. v.v…

Khi con bệnh mà âm suy kiệt, huyết dịch suy kiệt, thời y học gọi là âm hư. Âm hư có những triệu chứng như sau:
– Mạch vi, mạch khẩn.
– Nhiệt độ cao.
– Mặt đỏ.
– Người khô đét như củi.
– Vật vã.
– Khát nước nhiều.
– Mê sảng.

Khi con bệnh mà khí huyết đều hao kiệt, thời y khoa gọi là Âm hư, Dương thoát. Triệu chứng như sau:
– Tứ chi giá lạnh.
– Trán vã mồ hôi.
– Hôn mê.
– Thở như suyễn.
– Nấc cụt v.v…
– Nguyên tắc chữa bệnh chính là bồi bổ Âm Dương, điều hòa Âm Dương. Dương thịnh thì bổ Âm để chết bớt dương quang.

Âm thịnh thì bổ Dương, để làm tiêu tan cái u uất của Âm.
Thế tức là:
– Bổ Thủy dĩ chế Dương quang.
– Bổ Hỏa dĩ tiêu Âm ế.
– Các vị thuốc đều chia thành Âm Dương hay Bình vị.
Dương dược là những vị thuốc nóng, có hiệu lực làm gia tăng sự tiêu hóa, kích thích sự hô hấp, sự tuần hoàn, bồi bổ khí lực.
Âm dược là những thuốc mát, thuốc hàn, có hiệu lực bổ huyết dịch, làm cho con người bớt nóng, bớt háo.

Những vị thuốc bình vị là những vị thuốc hòa hoãn, vừa bổ dương vừa bổ âm.
Phương dược dùng để trị liệu, điều hòa Âm Dương khí huyết có thể toát lược như sau:
a/ Trị liệu Dương khí, Dương hỏa
1/ Khi Dương khí gần tuyệt, người xưa thường cấp trị bằng Nhân sâm, hoặc Quế, Phụ.
2/ Khi dương khí hao tổn, giao động vừa phải, thời dùng:
– Bài Tứ Quân (để bổ khí).
– Bài bổ trung ích khí thang, hoặc Phụ tử lý trung thang để bổ tì vị.
3/ Khi Dương khí, Thận khí suy tổn đã lâu thời dùng:
– Bài Bát vị.
– Bài Sinh mạch.
b/ Trị liệu Âm huyết, Âm thủy
1/ Khi huyết dịch suy tổn, thời dùng: Bài Tú vật, bài Qui tì.
2/ Khi thận thủy suy tổn, thời dùng: Bài lục vị.
c/ Bình bổ
1/ Muốn bình bổ cả Âm lẫn Dương, cả khí lẫn huyết, người ta dùng bài Bát trân hay Thập toàn v.v…

Để nhận định được tầm quan trọng của Âm Dương, ta hãy đọc một đoạn sách của Cảnh Nhạc.
Trương Cảnh Nhạc viết: «Phàm chẩn bệnh, trị liệu, trước hết phải thẩm định Âm Dương. Đó là cương lĩnh của y học.
«Luận về Âm Dương không sai, thời trị bệnh làm sao mà sai được y học tuy phiền tạp, nhưng có thể bao quát bằng một câu Âm Dương mà thôi.
«Cho nên bệnh có Âm Dương, mạch có Âm Dương, thuốc có Âm Dương. Lấy bệnh mà nói, thời bệnh bên ngoài là Dương, bên trong là Âm; nhiệt là Dương, hàn là Âm: trên là Dương, dưới là Âm, động là Dương, tĩnh là Âm; nói nhiều là Dương, không nói là Âm; thích sáng là Dương, ưa tối là Âm, Dương yếu không thể thở ra, Âm yếu không thể hít vào: Dương bệnh khó cúi, Âm bệnh khó ngửa.

«Nói về mạch thì mạch phù, mạch mạnh, mạch hoạt, mạch xác là Dương; mạch trầm, mạch vi, mạch nhỏ, mạch rít là Âm.
«Nói về thuốc thì thăng tán là Dương, liễm giáng là Âm; tân nhiệt là Dương, khổ hàn là Âm. Chạy vào khí là Dương, chạy vào khí là Dương, chạy vào huyết là Âm. Tính động mà chạy là Dương, tính tĩnh mà giữ là Âm. Đó là đại pháp trong nghề thuốc…
«Dương đã mạnh mà còn bổ Dương, thời Dương càng bốc lên mạnh, Âm càng tiêu hao. Dương đã không đủ mà lại còn dưỡng Am, còn dùng Âm phương, thời Âm càng thịnh, mà Dương bị diệt vong vậy.
Nếu minh biện Âm Dương, thời dẫu y lý tuy huyền vi, nhưng cũng đã suy ra được quá nửa rồi vậy…»[22]

5/ Quan niệm ngũ hành áp dụng vào y học

Dịch trong chính kinh, không đề cập đến ngũ hành mà chỉ nói đến Tứ Tượng, nhưng ngũ hành đã tiềm ẩn trong Dịch, vì:
Thái Cực + Tứ Tượng = Ngũ hành.
Hà Đồ đã xếp các số theo phương vị ngũ hành như sau:-

     7/2
         |
8/3 — 5/10 — 4/9
         |
    1/6

Quan niệm ngũ hành, đến đời nhà Hán, mới được triệt để khai thác Phương vị của ngũ hành có thể được giản lược như sau:-

                   Nam (Hỏa)
                  |
Đông (Mộc) — Trung (Thổ) —Tây (Kim)
                  |
              Bắc (Thủy)

Trung thổ là Bản thể, là chốt ở giữa.
Mộc, Hỏa, Kim, Thổ là những hiện tượng, những giai đọan biến thiên ở bên ngoài. Cho nên Trung thổ chính là Tinh Túy, là Bản thể, là Tinh hoa. Âu Châu xưa gọi đó là Quinte essence (tinh túy thứ 5).
Ngũ hành là một quan niệm toàn bích, vì gồm cả Tứ Tượng bên ngoài và Thái cực bên trong.
Trung Hoa cũng như các dân tộc xa xưa tin rằng vũ trụ, vạn vật đều do một nguyên thể, một nguyên động lực phân tán, vận chuyển ra bốn phương, theo hai chiều kinh (dọc), vĩ (ngang), thành ra hai cặp ngẫu lực chính. Các ngẫu lực này hoạt động, ảnh hưởng lẫn nhau và dần dà sinh ra mọi loại năng lực.

– Đứng về phương diện nguyên liệu, chất liệu ngũ hành là năm yếu tố cấu tạo vũ trụ. Hành thổ ở Trung cung, là căn cơ và là cùng ích cho muôn vật. Chữ Thổ đây không nên hiểu là đất thường, mà nên hiểu là căn cơ, hay bản chất muôn vật. Vì thế mà sách Ngộ chân thiên có viết:
Tứ tượng, ngũ hành toàn tạ thổ. (Tứ tượng, ngũ hành toàn nhờ đất.) [23]
Quan niệm này tương tự như quan niệm Âu Châu, vì Âu Châu rằng bốn nguyên chất tạo thành vũ trụ, còn có «tinh túy thứ 5» (quintessence), mà họ còn gọi là Thái hư (éther), hay bản chất (Matière première).[24]
Ấn Độ, Tây Tạng và nhiều phái huyền học Âu Châu cũng chủ trương con người là «tiểu vũ trụ» và gồm ngũ hành, như đại vũ trụ bên ngoài. Họ hình dung hình người như sau:

– Xét về không gian, thì ngũ hành chính là năm vị trí chính yếu Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung.
– Xét về thời gian, thì ngũ hành chính là năm thời đại khác nhau bốn mùa biến thiên ở bên ngoài và một mùa hằng ccửu ở bên trong vừa là mùa hoàng kim khởi thủy, vừa mùa hạnh phúc lúc chung cuộc.
– Trung Hoa đã lấy ngũ hành làm tiêu chuẩn để phân loại mọi sự, từ màu sắc, khí, vị đến tính chất v.v…

Ngũ hành sinh khắc.
Người có thân và thù, thì ngũ hành cũng có tương sinh, tương khắc.

Ngũ hành tương sinh là:
Mộc sinh Hỏa.
Hỏa sinh Thổ.
Thổ sinh Kim.
Kim sinh Thủy.
Thủy sinh Mộc.
Ta có thể trình bày lẽ tương sinh đó bằng 2 cách như sau:

Ngũ hành tương khắc là:
– Mộc khắc Thổ.
– Thổ khắc Thủy.
– Thủy khắc Hỏa.
– Hỏa khắc Kim.
– Kim khắc Mộc.
Ta có thể trình bày lẽ tương khắc đó bằng 2 cách như sau:-

Sinh có thể hiểu được là sinh dưỡng, phù trợ, tác phúc, tóm lại bao gồm mọi ảnh hưởng tốt.
Khắc có thể hiểu được là kiềm chế, thù địch, lấn lát, xung khắc, tác hại, tóm lại bao gồm mọi ảnh hưởng xấu.
Mỗi một hành đều có liên lạc tốt xấu với các hành khác.
– Hai Sinh gọi là Phụ mẫu và Tử tôn.
– Hai Khắc gọi là Quan quỉ và Thê tài.
– Một Hòa gọi là Huynh đệ.
Người xưa đã lập thành như sau:
– Sinh ngã giả vi phụ mẫu (Sinh ra ta là phụ mẫu. Cái gì phù trị, ủng hộ, hy sinh cho ta là phụ mẫu).
– Ngã sinh giả vi Tử tôn (Ta sinh ra là tử tôn. Cái gì mà ta săn sóc, bao bọc, yêu đương, hộ trì, chắt chiu, thì gọi là tử tôn).
– Khắc Ngã giả vi Quan quỉ (Khắc ta thì gọi là quan quỉ. Cái gì đàn áp, ức hcế, bóc lột, lợi dụng, làm hại được ta, thì gọi là Quan quỉ).
– Ngã khắc giả vi Thê tài (Cái gì mà ta ức chế, đàn áp, lợi dụng, chi phối được thì gọi là Thê tài).
– Tỉ hòa giả vi Huynh đệ (Hòa với ta thì gọi là huynh đệ. Cái gì đối với ta có ảnh hưởng ngang ngửa, đồng đều thì gọi là huynh đệ).
Ví dụ: Nếu ta lấy Kim làm đương nhân, đương sự thì:
– Thổ sẽ là Phụ mẫu của Kim, vì Thổ sinh ra Kim.
– Thủy là Tử tôn của Kim, vì Hỏa khắc Kim.
– Hỏa là Quan quỉ của Kim, vì Hỏa khắc Kim.
– Mộc là Thê tài của Kim, vì Kim với Kim đồng đều, đồng loại.
Y học Trung hoa đã triệt để khai thác thuyết ngũ hành.
Quan niệm ngũ hành soi sáng y học Trung hoa về mọi phương diện bệnh lý (Quan niệm ngũ hành soi sáng y học Trung hoa về mọi phương diện Bệnh lý (Pathogénie), Dược học (Pharmacologie) và y lý trị liệu (thérapeutique).
Về phương diện bệnh lý chẳng hạn, Đông y chia năm thành ngũ vận.
Các năm Giáp, Kỷ thuộc Thổ.
Các năm Ất, Canh thuộc Kim.
Các năm Bính, Tân thuộc Thủy.
Các năm Đinh, Nhâm thuộc Mộc.
Các năm Mậu, Quý thuộc Hỏa.
Rồi lại nhân lẽ Âm Dương, Ngũ hành sinh khắc, bất cập, hay bình khí mà suy xem năm nào khí hậu sẽ ra sao, nóng lạnh, ấm khô, mưa gió ra sao, để biết những bệnh gì sẽ dễ sinh ra trong năm ấy.
Họ cho rằng:
Các năm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là những năm Dương. Vận khí những năm ấy sẽ quá vượng, quá thịnh, sẽ thừa, nên gọi là thái quá.
Các năm Ât, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là những năm Âm. Vận khí những năm ấy sẽ suy yếu, sẽ bất cập, mà khí của một hành đã suy, thì khí của hành tương khắc sẽ thịnh.
Ví dụ những năm Giáp (Dương Thổ), Thổ khí sẽ thái quá, như vậy sẽ mưa nhiều và sẽ ẩm thấp nhiều, do đó các bệnh thấp sẽ dễ sinh.
Những năm Kỷ (Âm thổ, Thổ khí sẽ bất cập), do vậy sẽ gió nhiều do đó các bệnh phong dễ sinh (vì Hành khắc là Mộc, mà Mộc sinh Phong).
Những năm Bính lạnh nhiều (Âm Thủy). Thủy khí bất cập, nên ẩm thấp nhiều và các bệnh Thấp sẽ dễ sinh (vì Hành khắc là Thổ, Thổ sinh Thấp v.v.) [25]

Tóm lại ta thấy:
Mộc thịnh sinh Phong.
Hỏa thịnh sinh Nhiệt.
Thổ thịnh sinh Thấp (Xem thí dụ năm Giáp).
Kim thịnh sinh Táo.
Thủy thịnh sinh Hàn (Xem thí dụ năm Bính).

Còn khi một Hành suy, thì Hành tương khắc sẽ thịnh, cho nên:
Mộc suy (bất cập) thời Táo sinh (vì Kim khắc Mộc).
Hỏa suy (bất cập) thời Hàn sinh (vì Thủy khắc Hỏa).
Thể suy (bất cập) thời Phong sinh (vì Mộc khắc Thổ).
Kim suy (bất cập) thời Nhiệt sinh (vì Hỏa khắc Kim).
Thủy suy (bất cập) thời hấp sinh (vì Thổ khắc Thủy). (Xem thí dụ năm Tân ở trên).[26]

– Dược học cũng dựa trên ngũ hành:
Đại khái: Các thuốc màu xanh, vị chua, chữa gan.
Các thuốc màu đỏ, vị đắng, chữa tim.
Các thuốc màu vàng, vị ngọt, chữa tì.
Các thuốc màu trắng, vị cay, chữa phổi.
Các thuốc màu đen, vị mặn, chữa thận v.v…

Phương pháp trị liệu cũng dựa trên quan niệm ngũ hành tương sinh, tương khắc, hoặc ngũ hành điên đảo.
Ví dụ:
a/ Tử hư bổ kỳ mẫu (Con hư, bổ mẹ).
Tỳ Thổ hư, uống thuốc ôn noãn (ấm) để bổ tâm hỏa (quân hỏa), Thận hỏa (tướng hỏa).
– Can mộc hư cho thuốc nhu nhuận để bổ thận thủy.
– Phế kim hư, cho thuốc cam (ngọt) noãn (ấm) để bổ tỳ thổ.
– Tâm hỏa hư, cho thuốc Toan (chua), thu (thu liễm), để thấm nhuần can mộc.
– Thuận Thủy hư, cho uống thuốc tân (cay) nhuận để bổ phế.[27]
Lãn Ông cho một vài ví dụ như sau:
«Nếu một người không chịu ăn uống tức là Dương minh (vị thổ đau phải bổ tái âm quả hỏa (Tim) và nên dùng thang Qui tì, bổ tâm hỏa để sinh Vị thổ.»
«Nếu như ăn được mà không tiêu, thế là Thái âm Tì thổ bị bệnh, nên bổ Thiếu dương Tướng hỏa (Thận hỏa), và nên dùng Bát vị hoàn (bổ thận hỏa để sinh Tì thổ), v.v.» [28]
b/ Mẫu thật tả tử.
Phế kim (mẹ) thực, phải tả, Thận Thủy (con).
Thận Thủy (mẹ) thực, phải tả, Can mộc (con).
Can mộc (mẹ) thực, phải tả, Tâm hỏa (con).
Tâm hỏa (mẹ) thực, phải tả, Tỳ thổ (con).
Tỳ thổ (mẹ) thực, phải tả, Phế kim (con).[29]
Đi sâu vào vấn đề ta thấy các y gia còn áp dụng lẽ ngũ hành điên đảo vào công việc điều trị. Nhưng nơi đây chúng ta cũng chẳng cần phải bàn rộng hơn về vấn đề này làm chi nữa. Người nào có tâm cầu học, tự nhiên sẽ tìm sách kê cứu lấy.[30]
6/ Quan niệm bát quái áp dụng vào y học.
– Các nhà chuyên môn về mắt chia mắt thành tám vùng (khuyếch) :
– Thiên khuyếch (Kiền) = Lòng trắng phía giữa mắt: Phổi và Đại trường.
– Địa khuyếch (Khôn) = Mi tên và dưới phía trong = Tì vị.
– Thủy khuyếch (Khảm) = Đồng tử = Thận.
– Hỏa khuyếch = Ly = Khóe mắt trong, ngoài = Tâm va Mệnh môn.
– Lôi khuyếch (Chấn) = Mi tên phía ngoài = Tiểu trường.
– Sơn khuyếch (Cấn) ) = Tròng đen = Đởm.
– Phong khuyếch = Tốn = Lòng trắng phía trong.
– Trạch khuyếch = Đoài = Mi dưới phía ngoài = Bàng quang.[31]

Y gia cũng cho tạng phủ phối hợp với bát quái như sau:
– Can = Chấn
– Đởm = Tốn
– Phế = Kiền
– Vị = Cấn
– Thận = Khảm
– Tiểu tràng = Đoài
– Tì = Khôn
Nếu trong người mà khí dương giáng, khí âm thăng, thì gọi là «Giao», ngược lại thì là «Bất giao».
«Giao» thời trong người khỏe mạnh, «bất giao» thời trong người bệnh hoạn.

*Cho nên:
a/- Nếu Tì khí (Khôn) thượng thăng, Kim khí (Phế = Kiền) hạ giáng, thì Âm Dương giao = Địa Thiên Thái: lúc ấy khí huyết điều hòa.
– Nếu Tì khí (Khôn) không thượng thăng, Phế Kim (Kiền) không thể hạ giáng, thì là Âm Dương gián cách, Thượng hạ bất thông. Đó là tượng quẻ Bĩ (Thiên Địa bất giao). Đó là bệnh Quan cách.
b/- Nếu Thủy (Thận) thăng, Hỏa (tâm) giáng, thì là Tâm thận tương giao, Thủy Hỏa Ký tế.
– Nếu Thủy không thăng, Hỏa không giáng, thì là Thủy Hỏa bất giao hay Hỏa Thủy vị tế…[32]
Định luật Âm thăng Dương giáng cũng được áp dụng vào 12 kinh mạch.
Thủ Dương kinh đi từ tay xuống đầu.
Túc Dương kinh đi từ đầu xuống chân.
Thủ âm kinh đi từ mình lên tay.
Túc âm kinh đi từ chân lên mình:[33]
7/ Các số trong kinh Dịch áp dụng vào y học
Các số trong kinh Dịch cũng thường được áp dụng vào y học. Số 8 để chia cuộc đời đàn ông thành nhiều thời kỳ, vì số 8 ứng vào quẻ Cấn, mà Cấn là thiếu nam.

Con trai:
8 tháng mọc răng.
8 tuổi thay răng.
8 x 2: Dậy thì.
8 x 8: Hết tình dục.

Số 7 để chia đời đàn bà thành nhiều giai đoạn, vì số 7 ứng vào quẻ Đoài, mà Đoài là thiếu nữ.
Con gái:
7 tháng mọc răng.
7 tuổi thay răng.
7 x 2: Dậy thì.
7 x 7: Tắt kinh.[34]

Y gia cho rằng Vinh khí và Vệ khí một ngày đêm đi khắp chu thân 50 vòng. Mà số 50 chính là số «Đại diễn» trong kinh Dịch. (1)

Ngoài ra ta thấy:
Số 4: Tứ quân, tứ vật, Tứ nghịch thang.
Số 5: Ngũ vị, ngũ tạng, ngũ khí, ngũ sắc…
Số 6: Lục phủ, lục khí, lục vị.
Số 8: Bát trận, Bát vị, Bát trân.
Số 10: Tập toàn v.v…

8/ Các từ ngữ Dịch áp dụng vào y học

Các từ ngữ Dịch thường được dùng để đặt tên cho các bài thuốc. Như: Thái cực hoàn, Lưỡng nghi cao, Khảm ly hoàn, Ký tế hoàn, Nhị khí đơn, Tráng thủy phương, Bổ âm liễm dương phươn, Dương hư ích hỏa phương, Cứu Dương thang, Tư kim tráng thủy phương, Bội thổ cố trung phương, Bổ âm ích dương phương, Phù âm ức dương phương, Tư âm giáng hỏa phương, Bổ âm tiết dương phương, Bảo âm phương, Bộ âm liễm dương, an thần phương v.v.[35]

9/ Định luật tam lưỡng áp dụng vào y học

Dịch cho rằng Dương 3, Âm 2, như vậy là Dương trọng hơn Âm và Dịch luôn chủ trương phù Dương, ức Am.
Vì thế Trương Cảnh Nhạc chê Chu Đơn Khê, vì họ Chu đã chủ trương bổ Âm.[36]
Gần đây, ông Oshawa (Sakurazawa Nyoichi: Anh Trạch Như Nhất) lại chủ trương:
Âm = 5
Dương = 1
Cho rằng âm là K (Potassium).
Dương là Na (sodium).
Và cho rằng cần phải ăn uống thế nào để giữ tỷ số:
Âm = K = 5
Dương = Na = 1
Không biết ông đã dựa vào đâu để đưa ra chủ trương trên, vì:
Dịch chủ trương: Âm = 2
 Dương 3
– Sinh lý học cho rằng, trong huyết tương:
Số lượng của K là 5 mEq/l hay 20mgr %.
Số lượng của Na là 143 mEq/l hay 330mgr %.
Như vậy:  K =  1 [37]
 Na 16

10/ Quan niệm Tiên thiên và Hậu thiên áp dụng vào y học

Y học cũng tường đề cập đến Tiên thiên và Hậu thiên.
Tiên thiên là khí bẩm thụ của mỗi người khi chưa sinh.
Hậu thiên là đời sống của mỗi người sau khi sinh.
Ta thường nói: «Tiên thiên bất túc, hậu thiên khuy tổn.» [38]
Triệu Dưỡng Quì cho rằng: «Y gia gọi Tiên Thiên là «Nhất điểm, Thủy hỏa vô hình» (Mệnh môn Thủy Hỏa) ; Gọi Hậu Thiên là «Hữu hình chi thể», từ tạng phủ đến huyết nhục, bì phu, tân dịch, v.v.»
Phùng thị, Lãn Ông cũng đều gọi:
Âm Dương Tiên Thiên là Chân Thủy, Chân Hỏa vô hình của Mệnh môn.
Âm Dương Hậu thiên là khí huyết, tạng phủ, hành nhiệt.[39]

11/ Ít nhiều dịch lý áp dụng vào y học

A/ Thầy thuốc phải có đức hiếu sinh
Dịch nói: «Sinh sinh chi vị dịch.» (Hệ Từ thượng, chương 5).
Một thầy thuốc có lương tâm cũng phải có đức hiếu sinh. Phải hết sức lo chữa cho người, đừng làm hại người vì sự dốt nát, cẩu thả, vô lương tâm của mình.
Phùng Thị khuyên thầy thuốc đừng đi ngao du sơn thủy, mà phải ở nhà, đề phòng có người bị bệnh nguy cấp đến nhờ mình chữa chạy.[40]

B/ Người biết dịch phải biết tìm gốc bệnh mà chữa.
Trị bản có thể hiểu được hai cách:
1/ Bản là Căn Bản con người.
Phùng thị, Lãn Ông cho rằng căn bản con người là Mệnh môn và Chân Thủy, Chân hỏa, nên mỗi khi gặp những bệnh kỳ quái, những bệnh dai dẳng là quay ra trị bản bằng Bát vị hay lục vị.[41]
2/ Bản thường được hiểu là nguyên nhân bệnh.
Muốn tìm được nguyên nhân bệnh, phải:
Vọng (Quan sát hình sắc bệnh nhân).
Văn (Nghe hơi thở, tiếng nói, tiếng rên của bệnh nhân).
Thiết (bắt mạch).
Vấn (Hỏi han bệnh nhân) cho kỹ càng.
Lại phải biết thế nào là Biểu (Bệnh ở ngoài bì phu, ngoại cảm) lý (bệnh đã đi vào tạng phủ, nội thương), nhiệt (nóng), Hàn (lạnh), Thực (Tả hữu dư). Hư (Chính bất túc) …
C/ Dịch cũng như y chủ trương «Bớt thừa, Thêm thiếu».
Tượng tuyện quẻ Khiêm viết: «Địa trung hữu sơn, khiêm; quân tử, biều đa, ích quả, xứng vật bình thi.» 地 中 有 山, 謙; 君 子 以 裒 多 益 寡, 稱 物 平 施.
*Tượng rằng:-

Núi trong lòng đất là Khiêm,
Hiền nhân nhiều bớt, ít thêm mới là.
Những gì chênh lệch quá đa,
Sửa sang cho bớt cho vừa thời thôi.

Trong thiên Nội kinh trị pháp, Kỳ Bá nói: «Cao thời nên xuống thấp thời nâng lên; Ôn thời làm mát, mát thời làm Ôn; tán thời thu, thu thời tán; táo thời nhuận; nhanh thời làm cho chậm; rắn làm mềm ra, mềm làm rắn lại, suy thời bổ, mạnh thời tả, v.v.» [42]
D/ Người hiểu lẽ dịch phải biết chừng mực, tiết độ.
Theo gương quẻ Tiết (Thủy Trạch Tiết), người biết lẽ Dịch phải biết tiết độ, chừng mực, chẳng nên lao tâm, lao lực sắc dục quá độ, chẳng nên nằm nhiều, ngồi nhiều, v.v…

Ngày nay, muốn khống chế con người, người ta thường bắt con người chịu đựng một hình phạt nào quá mức, quá lâu, như:
– Đứng nghiêm nhiều giờ.
– Nhịn đói, nhịn khát lâu ngày.
– Nhìn đèn quá sáng.
– Bắt thức mãi không cho ngủ v.v…
Cuối cùng con người sẽ bị gục ngã, chẳng những về thể chất mà còn về tinh thần nữa…

E/ Người biết Dịch bao giờ cũng phải có tầm mắt bao quát.
Vì thế nên khi chữa bệnh, thầy thuốc cần phải biết quá vãng của bệnh nhân di truyền của bệnh nhân, cách thức ăn, ở, làm lụng ở bệnh nhân, những mối ưu tư của bệnh nhân; như vậy chữa bệnh mới có hiệu quả. Lại phải chữa bệnh cho bệnh nhân làm sao để không di hại cho bệnh nhân về sau này.

F/ Người biết Dịch cần biết lẽ Phản phúc, chính phản.
Ta thấy trong kinh Dịch các sắp xếp 64 quẻ của Thượng kinh và Hạ kinh đều theo định luật «phản phúc», «chính phản»: Kiền ngược với Khôn, Mông ngược với Truân, Tụng ngược với Nhu v.v… Y gia cũng phải biết thế nào là Chính trị, thế nào là Phản trị.
– CHÍNH TRỊ hay NGHỊCH TRỊ là lấy Hàn trị Nhiệt, lấy Nhiệt trị Hàn, để chữa những thực chứng, để chữa ngoại tà.
– PHẢN TRỊ hay TÒNG TRỊ là dùng thuốc Ôn, Nhiệt trị «Giả nhiệt» thuốc Hàn, Lương trị giả Hàn để chữa Hư chứng, để lập lại thế quân bình của Nội cảnh (Milieu intérieur).
G/ Biết lẽ dịch phải biết biến hóa.
Thầy thuốc giỏi phải biết gia giảm, biến hóa cứ không chữa bệnh trần – trần theo những phương thuốc cố định sẵn có.
Phải biết lẽ sinh (Potentialisation, synergie), khắc (Incompatibilité ou Inhition) của các vị thuốc: phải biết thế nào là quân Thần Tá, Sứ để tùy nghi tăng giảm phân lượng các vị thuốc, tùy nghi gia giảm, tùy ngghi dùng thang, hoàn; ngõ hầu đạt tới hiệu năng tối đa của bài thuốc và giảm tời mức tối thiểu những độc tính của vị thuốc nếu có (Neutralisation, Inhibition de la toxicité).
Lại phải biết tùy bệnh dùng thuốc, tùy người cho thuốc, tùy bệnh nặng nhẹ, mới lâu mà cho thuốc: tùy thời tiết, thổ ngơi mà cho thuốc.
Thế mới gọi là biết biến hóa…

H/ Thầy thuốc giỏi phải lấy sự chữa bệnh, đoán bệnh là dễ.
Dịch cũng có nghĩa là Dễ.
Nếu chúng ta am tường sự biến chuyển của thời tiết, sự biến chuyển của bệnh tật, những phản ứng của bệnh nhân, biết những nguyên tắc căn bản của Dịch học và Y học, nếu ta biết giản dị hóa vấn đề, để bao giờ cũng có cái nhìn trong sáng, thì sự làm thuốc trở nên dễ dàng.
Đại phàm:
Người khỏe, ngẫu nhiên bị bệnh, đó là Thực chứng; đó là ngoại cảm: có thể dùng thuốc Công, Hạ để trục tà.
Người yếu, bị bệnh lay lắt, đó là hư chứng, đó là Nội thương, cần phải bổ, để lập lai thế quân bình giữa khí và huyết, giữa thủy và hỏa.
– Những bệnh mới mắc: Chữa khí huyết bằng Tứ quân (bổ khí), Tứ vật (bổ huyết).
– Những bệnh mắc lâu ngày, những ký bệnh quái bệnh, chữa Thân Thủy, Thân Hỏa bằng Bát vị (Chữa Chân Hỏa), Lục vị (Chữa Chân Thủy).

*Đại phàm:
Dược tính ôn là những khí Xuân sinh.
Nhiệt là như khí Hạ Trưởng.
Lương là như khí Thu Tàng (Liễm).
Hàn là như khí Đông Sát.

Vì thế nên:

Người khí bất túc, dùng cam ôn mà bổ.
Người khí bất túc thái quá dùng Tân nhiệt mà bổ.
Người mà nóng quá dùng thuốc thanh lương cho mát.
Tà khí mà thịnh mãn quá chừng, dùng thuốc bổ hàn mà Tả.
Cho nên thuốc cam, ôn đều là Bổ, Lương Hàng đều là Tả.
Người đã hư mà còn cho uống hàn lương tức là hại người, giết người vậy.[43]

Trần Tu Viên, trong Y học tam tự kinh, lại cho rằng chỉ cần biết rõ một chữ là làm thuốc được. Đó là chữ Nhân 人 là Người với hai nét Tả, Hữu tượng trưng cho Âm Dương; Dương khinh thanh, Âm trọng trọc; nhưng Âm Dương chẳng hề rời nhau… Biết điều hòa Âm Dương là biết làm thuốc vậy.[44]
Người biết lẽ dịch phải nên cẩn trọng.
Người biết dịch, khi làm thuốc phải biết đề phòng «phòng vi, đỗ tiệm» 防 微 覩 漸 (đề phòng cái nhỏ nhặt, lưu tâm đến cái dần dà) vì:

«Dịch rằng: Khi bước trên sương.
Hãy phòng băng cứng thời thường đến sau.» [45]

Lãn Ông viết trong Châu ngọc cách ngôn:

«Thật lớn thay! Làm nghề thầy thuốc giữ mạng sống nhân loại, phải thấy khi cái bệnh cơ nó chưa lộ ra; phải ngăn đón từ khi mới chớm phát; thấy cái bệnh thế khi nó chưa hiện hình, và phòng bị từ khi bệnh mới nhen nhúm. Như vậy sẽ không có cái chuyện là phải ôm bụng, cắn rốn mà ăn năn không kịp. Làm nghề thầy thuốc không gì xấu hơn là chuyện ấy.» [46]
Cho nên người làm thuốc bao giờ cũng phải cẩn trọng, lo lường, cố tránh hết mọi sơ hở có thể xảy ra, vì mạng người là trọng.
Phải luôn tự nhủ như lời Kinh Dịch:

«Rằng nguy, rằng hỏng mới là,
Khóm dâu vững chãi thiết tha buộc ràng.» [47]
K/ Lương y phải biết kiểm điểm hành vi và cách chữa bệnh của mình.

Người biết lẽ Dịch phải biết luôn tự kiểm điểm hành vi và lề lối chữa bệnh của mình, xem kết quả hay dở ra sao để mà sửa chữa những lỗi lầm có thể mắc phải của mình.
Các danh y đếu bình lại cách chữa bệnh của mình, tùy trường hợp.
Lãn Ông đã viết quyển Dương y án ghi những trường hợp đã chữa khỏi bệnh, và Âm y án, ghi những trường hợp và những lý do không chữa khỏi bệnh.

L/ Người hoc Dịch phải biết lẽ tương đối
Ở đời này cái gì suy ra cũng tương đối. Cho nên sách vở của các danh y xưa cũng tương đối, có chỗ đúng, có chỗ sai.
Nếu so với thực tế, thấy chỗ nào sai, cần sửa lại chớ nên bo bo, cố chấp, cho rằng cái gì của người xưa cũng là hay, là đúng.
Như vậy mới tiến bộ được. Đó cũng là quan điểm mà tác giả dùng để kết thúc bài này.

*Nguyễn Văn Thọ

*CHÚ THÍCH

[1] Đã đăng Tập san của Đại học Minh Đức, số 3, tháng 10 &11 năm 1972.
[2] Như ta đã biết:
Hệ thống thập phân (système décimal) có hàng một, hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn…
«Hệ thống toán pháp nhị nguyên» của Leibniz lại có hàng 1, hàng 2, hàng 4, hàng 8, hàng 16, hàng 32…
Gọi là nhị nguyên, vì chỉ dùng có hai ký hiệu là 0 và 1. 0 là không, 1 là 1, hay 2, hay 4, hay 8, hay 16, hay 32 tùy ở hàng nào.
[3] Xem: Lincoln Barnett, The Universe and Dr. Einstein (A Mentor Book) pp.107- 110,
Xem: Nguyễn văn Thọ, Lecomte du Noüy và học thuyết Viễn đích, tr.72, I2.
[4] De fait, il s’est avéré au cours des cinquante dernières années que les automes chimiques sont composés et qu’il sont constitués par seulement trois élements de base que nous appelons protons, neutrons et électrons… De ce fait, le nombre trois des éléments de base ce reduit encore une fois au nombre un. Il n’y a qu’une seule matière homogène mais celle- ci peut exister sous divers états discrets et stationnaires. Certains de ces états sont stables, à savoir proton, neuton et électrons et beaucoup d’autres sont instables.
– Werner Heisenberg, La nature dans la physique contemporaine, p.52, 54.
[5] The Unified Field Theory touches the «grand aim of all science» which, as Einstein once defined it, is «to cover the greatest number of empirica facts by logical deduction from the smallest possible numbe of hypothesis or axioms». The urge to consolidate premises, to unified concepts, to penetrate the variety and particularly of the manifest world to the undifferentiated unity that lies beyond is not only the heaven of science; it is the loftiest passion of the human intellect. The philosopher and mystic as well as the scientist, have always sought through their various disciplines of introspection to arrive at the knowledge of the ultimate immutable essence that undergirds the mutable illusory world. More than twenty- three hundred years ago Plato declared «The true lover of knowledge is always stirving after being… He will not rest at those multitudinous phenomena whose existence is appearance only.»
Lincoln Barnett, The Universe and Dr. Einstein, p.122
[6] Huard et Maurice Durand La Médicine sino- vietnamienne, p.28 (BSKELNS Tome XXVIII, No 3 2- e trimestre, 1953)
[7] Đỗ Đình Tuân, Đông y lược khảo, q. tr.37
[8] Le ationalistme le rationlisme grec en parrticulier, méprise les procédes inductifs de la science le souci des faits – paticuliers.
Cette attitude mépisante s’accompagne d’une préfeence pou les procédes déductifs; modelés sur les sciences matématiques, dans lesquelles selon une métode rigoureuse on pat de principes fondamentaux, génerraux, pour paveni à des théorèmes plus paticuliers et plus détailles tandis que dans les sciences natuelles modenes à partir des faits paticulierrs, on revient à des prrincipes géneraux.
A Wasserrtein; Le role des hypothéses, (Revue philosophique de la France et de l’Etranger (PUF) No I, Janvier Mars, 1972, p.7
[9] Cf. Y học nhập môn, tr.1
[10] Xem Lãn Ông Y gia quan niệm, Tiểu dẫn tr.1.

[11] Pierre Huard et Maurice Durand La Médicine sino- vietnamienne, p. 242 (B.S.E.I.N.S. Tome XXVIII, No 3,3e trimeste 1953).
[12] Đọc: «Ngũ vận, Lục Khí» trong:
Đỗ Đình Tuấn, Đông y lược khảo, q.1, tr. 88- 104.
Việt Cúc, Y gia yếu chỉ.
[13] Đọc Phùng Thị cẩm nang, q.1. Chương: Bình Triệu thị y quán thuyết, tr.47- 48
[14] Nhân chi ơ thai, nhất nguyệt vi phôi, diệc chỉ hồn nhiên nhất đoàn vi sinh nhân chi Thái cực.
Đường Tông Hải, Y dịch tường thuyết, bản chép tay của tác giả, tr.8.
[15] Xem: Phùng Thị cẩm nang, q.1, tr. 47- 48.
Lãn Ông, Huyền Tân phát vi, tr. 3- 8.
[16] Phùng Thị cẩm nang, q.2. chương Mệnh môn đồ thuyết, tr. 3- 8.
[17] Xem Roger Godel, Vie et Renovation (Gallimard) p. 34- 38.
[18] Xem Phùng Thị q.2, Âm Dương luận, tr. 16- 19.
[19] Xem Âm Dương luận của tác giả (bản Ronéo tr.22 tở đi)
Nhiệm Ứng Thu, Âm Dương ngũ hành, tr.29.
Lãn Ông y gia quan niệm Âm Dương tr.3- 7.
[20] Xem: Lãn Ông, Khôn hóa thái chân, tr. 13,14,15,16.
Huyền tẫn phát vi tr. 24- 27 – Y học tùng thư tr. 206- 207.

[21] Xem: Lãn Ông, khôn hóa thái chân, tr. 13,14,15,16.
Huyền tẫn phát vi tr. 24- 27 – Y học tùng thư tr. 206- 207.
[22] Xem Cảnh Nhạc toàn thư, Truyền Trung lục – Âm Dương thiên (Quyển 1, từ trang 18 trở đi).
[23] Chu dịch Tham đồng khế phát huy, q. thượng tr.4.
[24] Meckey’s Freemasonry encyclopedia, Tome II, p.615.
[25] Y học nhập môn, quyển thủ, chương Vận khí tr.40- 44.
[26] Ib. tr. 40- 44.
[27] Phùng Thị  cẩm nang, q.1, tr.21.
[28] Lãn Ông, khôn hóa, thái chân. Hậu thiên luận, tr.8.
[29] Thượng đức y học khai nguyên, tr.37- 43.

Trong Phùng Thị  cẩm nang (q.1, tr.24), ta còn thấy áp dụng ngũ hành theo chiều khắc vào công cuộc chữa bệnh như sau:
a/ Ngã thật, bổ kỳ khắc ngã.
Can mộc thật bổ Kim (Kim khắc Mộc) để bịnh Mộc.
Hỏa thật, bổ Thủy để bình Hỏa.
Thổ thật, bổ Mộc để bình Thổ.
Kim thật, bổ Hỏa để bình Kim.
Thủy thật, bổ Thổ để bình Thủy.
b/Ngã hư gia tả kỳ khắc ngã.
Kim bị Hỏa lấn át, tả Tâm (Hỏa) rồi sẽ bổ Phế.
Mộc bị Kim lấn át, bình Phế (Kim) rồi sẽ bổ gan.
Thổ bị Mộc lấn át, Tổn Can (Mộc) rồi mới sinh
Thủy bị Thổ lấn át, thanh Tì rồi mới an Thận.
Hỏa bị Thủy lấn át, ức Thận rồi mới bổ Tim.

[30] Xem Y pháp tâm truyền, chương Điên đảo ngũ hành, tr.2.
[31] Xem Trần Vu Viên, Nhãn khoa tiệp kính, tr.1.
Xem Huard et Wong, Chinese Medicine, World University Library, p.190.
Xem Định Ninh, Học Dịch y biên soạn (Bản viết tay), tr.18- 19.
[32] Lãn Ông Y gia quan niệm, tr.14.
– Phùng Thị cẩm nang, tạp chứng q.1, tr.48- 49.
– Lãn Ông, Hiệu phỏng tân phương, tr.14.
[34] Ib.p.64.
[35] Cf.Lãn Ông tâm đấc thần phương, và Hiệu phỏng tán phương v.v…
[36] Cf.Lãn Ông tâm đấc thần phương, và Hiệu phỏng tán phương v.v…
[37] Xem Cảnh Nhạc toàn thư Truyền trung lục thượng, tr.19.
– Lãn Ông, Y gia quan niệm, tr.26.
– Xem phương pháp Tân Dưỡng Sinh của Oshawa Anh Minh và Ngạn Ôn dịch tr.209.
[38] Hữu Thiên chi Thiên giả vị sinh ngã chi Thiên; sin ư vô nị do ổ thiên dã. Ưu nhân chi thiên giả vị thành ngã chi thiên, thành ư Hữu, nhi do hộ Ngã dã. Sin giả tại tiền thành giả tại hậu, nhi, Tiên Thiên Hậu Thiên chi nghĩa ư tư kiến hĩ.
Cảnh Nhạc toàn thư, Truyên tung lục trung, tr.42,42.
[39] Phùng Thị cẩm nang, q.1, tr.48- 56.
– Lãn Ông, Huyền tẫn phát vi, tr.9, khôn hóa thái chân, tr.3.
[40] Phùng Thị quyển thủ, tr.6b.

[41] Cảnh Nhạc toàn thư, truyền trung lục trung, Cầu bản luận tr.44.
[42] Cảnh Nhạc toàn thư, Truyền trung lục thượng, tr.36.
[43] Lãn Ông, Y gia quan niệm, tr.25.
[44] Tân Tu Viên, Y học tam tự kinh, tr.23.
[45] Xem quẻ Khôn, hào sơ lục, và văn ngôn.
[46] Xem Định Ninh, Châu Ngọc cách ngôn (bản dịch đánh máy Châu ngọc cách ngôn của Lãn Ông, tr.54).
[47] Xem Kinh Dịch, quẻ Bĩ, Hào cửu ngũ, và Hệ từ hạ, chương năm.

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

***

Trước khi vào các quẻ, để cho dễ hiểu tôi xin nói về:

1) Ít nhiều nhận định về Quẻ, Thoán, Hào.

2) Áp dụng những nguyên tắc của Dịch Kinh vào cuộc đời.

 I. ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ QUẺ, THOÁN, HÀO

1) Nhận định về quẻ

Quẻ có quẻ đơn và quẻ kép.

Quẻ Đơn. Quẻ Đơn gồm 8 quẻ; mỗi quẻ có 3 vạch (Hào):

Kiền (Càn), Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Quẻ Đơn tượng trưng cho Vạn Vật, Vạn Hữu

Quẻ Kép. Quẻ Kép gồm 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 Hào.

Quẻ Kép tượng trưng cho hết mọi biến hóa, mọi tình trạng, mọi hoàn cảnh mà Vạn hữu và Nhân quần gây nên trong khi giao tiếp với nhau. Thượng Kinh và Hạ Kinh viết lại 64 quẻ , tức là đưa ra 64 hoàn cảnh tượng trưng, để dạy con người phương pháp xử sự cho khéo léo, tùy theo mỗi hoàn cảnh mình gặp.

Quẻ Kép gồm 2 quẻ đơn, ta gọi:

—-Quẻ phía dưới là Nội Quái

—-Quẻ phía trên là Ngoại Quái

Vì mỗi hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều giai đoạn, nhiều nhân vật bị dính dấp ảnh hưởng, nên mỗi quẻ lại có 6 Hào. Sáu Hào cốt là để nói lên cho rõ ràng:

—*Mọi khía cạnh, mọi trạng thái biến thiên của hoàn cảnh.

—*Mọi giai đọan của một công trình.

—-*Mọi tầng lớp trong xã hội, đang cùng chia xẻ một hoàn cảnh

—-*Những trường hợp khác nhau, có thể xảy ra cho từng hạng người sống cùng chung một hoàn cảnh..

Bàn về mỗi quẻ Kép có:

A) Tự Quái. B) Thoán Từ. C) Thoán Truyện. D) Tượng Truyện. E) Hào Từ và Tiểu Tượng Truyện.

Muốn hiểu rõ mỗi quẻ, phải nghiên cứu tận tường:

A) Tự Quái có mục đích dạy ta khi gặp mỗi quẻ, tức là mỗi hoàn cảnh, phải xét xem nó duyên do tự đâu.

B) Thoán bàn luận tổng quát về sự hay dở của mỗi quẻ, tức là của mỗi hoàn cảnh.

Dịch Kinh dùng 11 chữ để xét đoán hay dở:

1) Nguyên = chí thiện,
= nguyên thủy (gốc gác vạn hữu)
= lớn, mạnh, hào hùng, cao đại.

2) Hanh = Thông suốt (hanh thông)
= Chí mỹ (Gia chi hội – Văn ngôn)

3) Lợi = Lợi, thuận nhân tâm, thích nghi, thích đáng.

4) Trinh = Chính, bền, thành đạt, bền vững, hằng cửu, chủ chốt, chủ đích của mọi việc.

5) Cát = Tốt, được, thành công.

6) Hung = Xấu, mất, thất bại.

7) Hối = Hối lận, ưu lự, băn khoăn.

8) Lận = Xấu hổ.

9) Lệ = Nguy hiểm.

10 & 11) Vô cữu là không có lỗi.

Tóm lại, một hoàn cảnh, một công tác hay, hay dở tùy ở chỗ thành hay bại, đắc hay thất, có làm cho mình phải hối hận, phàn nàn, xấu hổ hay không? Việc xấu mà không, hay chưa hối hận thời nguy hại, đã phàn nàn, cải quá thì không lỗi gì. Nhiều khi Dịch cũng dùng 2 chữ Trinh hung đi đôi với nhau. Chữ Vô Cữu nhiều khi phải giải là Không trách cứ ai được.

Thoán có Thoán Từ, Thoán Truyện:

—*Thoán Từ là của Văn Vương. Thoán Từ rất vắn tắt, cô đọng, nói đại ý toàn quẻ & sự hay dở tổng quát của toàn quẻ

—*Thoán Truyện là lời của Khổng Tử, dùng để giải thích Thoán Từ. Thoán Truyện nhiều khi viết có âm vận, và thường theo phương pháp sau đây: –

1) Giải thích tên quẻ mỗi khi cần.

2) Phân tích quẻ thành 2 quẻ Đơn (Quái Thể), rồi lấy 2 quẻ đơn ấy mà phân tích Thoán Từ (Dĩ Quái Thể thích Quái Danh, Quái Nghĩa)

3) Lấy đức tính của 2 quẻ đơn ấy để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Đức thích Quái Từ)

4) Dùng những hình ảnh do 2 quẻ đơn ấy gợi nên để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Tượng thích Thoán Từ)

5) Xem quẻ đương cuộc đã do quẻ nào sinh ra, là biến thể của quẻ nào, rồi lấy đó mà giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Biến thích Quái Từ)

6) Xem 2 quẻ đơn là Âm hay Dương, Cương hay Nhu, giao nhau hay không giao nhau để giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Tài thích Quái Từ)

7) Tìm hào chủ chốt của quẻ (Chủ Hào), rồi nhân đó cắt nghĩa Quái Từ, Quái Nghĩa. Hào chủ chốt thường là hào 2 và 5, nhưng cũng có khi là hào 1 như ở quẻ Truân, là hào 3 như ở quẻ Khiêm, hào 4 như ở quẻ Dự.

Có nhiều khi lời Thoán giống lời Hào chủ chốt.

Ví dụ: Thoán quẻ Truân có chữ Lợi kiến hầu, thì hào Sơ Cửu cũng có chữ Lợi kiến hầu.

8) Thoán Truyện thường nhắc lại để giải thích từng câu trong Thoán Từ.

9) Ngoài công việc chú giải Thoán Từ, Thoán Truyện còn đưa ra những nhận định tổng quát, những định luật của Trời Đất. Ví dụ:

—*Nơi quẻ Hàm, thì đề cập đến định luật cảm thông trong Trời đất

—*Nơi quẻ Khuê, thời nói về Âm Dương lưỡng dụng để đi tới đại thành.

—*Nơi quẻ Phong, thì bàn về lẽ Doanh, Hư, Tiêu tức của Trời đất.

—*Nơi quẻ Hằng thì bàn về sự bền vững là điều kiện để tiến tới vĩnh cửu, bất biến…

Vì vậy, hiểu được Thoán Từ là hiểu được quá 1/2 quẻ Dịch rồi (Trí giả quan kỳ Thoán Từ tắc tư quá bán hỹ – Hệ Từ hạ, Chương 9)

C) Hào

Trong 1 hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều nhân vật liên hệ, quẻ là một hoàn cảnh, nên cũng lấy các Hào mà tượng trưng cho sự diễn biến của hoàn cảnh, những khía cạnh khác nhau của hoàn cảnh, những nhân vật liên hệ đến hoàn cảnh. Hào có Hào Tài & Hào Vị.

—*Hào Tài là bản chất của từng Hào, tài đức của từng Hào. Hào Tài được diễn tả bằng Âm và Dương.

Âm Hào

tượng trưng cho những kẻ tiểu nhân, hoặc những người bất tài, nhu nhược.

Dương Hào

tượng trưng cho quân tử, người tài cán, cương nghị.

—*Hào Vị . Mỗi quẻ Kép có 6 vị ngôi, tức là 6 Hào

Mỗi một hào mang một số thứ tự tính từ dưới lên trên:  1, 2, 3, 4, 5, 6 có tên là Hào Sơ, Hào Nhị, Hào Tam, Hào Tứ, Hào Ngũ và Hào Thượng. Số lẻ 1, 3, 5 là vị Dương. Số chẵn 2, 4, 6 là vị Âm. Tùy Hào tài là Dương hay Âm, ta dùng thêm chữ Cửu hay Lục. Từ dưới lên trên ta xưng danh như sau:

Nếu là Dương Hào ta có: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu.

Nếu là Âm Hào ta có: Sơ Lục, Lục Nhị, Lục Tam, Lục Tứ, Lục Ngũ, Thượng Lục.

Hào Vị có nhiều công dụng:

a) Nó biểu dương không gian TRÊN, DƯỚI, GIỮA.

b) Thời gian: ĐẦU, GIỮA, CUỐI.

c) Các tầng lớp xã hội từ lê thứ, đến quan, vua, đến miếu mạo, triều ca.

d) Nó xác định ngôi vị của từng nhân vật.

e) Các giá trị tinh thần từ thấp đến cao.

f) Chiều hướng biến hóa từ trong ra ngoài, hoặc từ ngoài vào trong. Từ dưới lên trên là biến chuyển từ trong ra ngoài. Gặp trường hợp ấy nơi Thoán Truyện, dùng chữ Vãng. Biến chuyển từ trên xuống dưới là biến từ ngoài vào trong. Trường hợp này Thoán Truyện dùng chữ Lai.

Như trên đã nói, lối tính các Hào bao giờ cũng tính từ dưới lên trên, cho nên:

—-Hào dưới là thấp, Hào trên là cao.

—-Hào dưới thì là hạ tiện, là lê dân, Hào trên thời là tôn quí, là quan, là vua.

Đối với thân thể con người, thì dưới là chân, trên là mặt, là miệng, là đầu.

Đối với con vật, thì hào Sơ là đuôi, hào trên cùng là đầu, là sừng vv…

Đối với quá trình một công việc, thì dưới là khởi điểm công việc, khó biết, khó làm. Giữa là giai đoạn gian một vài qui ước đã được chấp thuận cho mỗi một Hào.

—*Hào Thượng: Thái miếu, Thái thượng hoàng, Thượng phu, ẩn sĩ thoát trần. Đó là hào hưu tức, ngoại vị, vô vị.

—*Hào Ngũ: Thiên tử, Quân vương.

—*Hào Tứ: Đại thần, cận thần, chư hầu.

—*Hào Tam: Công khanh, Tam công, là những người có thế lực trong nước.

—*Hào Nhị: Công thần, Đại phu.

—*Hào Sơ: Nguyên sĩ, là vạn dân, thứ dân. (Xem thêm nơi Hệ Từ hạ , Chương 9 )

TRUNG CHÍNH & BẤT TRUNG BẤT CHÍNH

—- Hào 2 và 5 là Trung Hào, nên gọi là Trung.

—- Hào 3, 4 chẳng hạn, không phải Hào giữa nên gọi là Bất trung.

—- Hào Dương cư Dương vị, hào Âm cư Âm vị gọi là Chính.

—- Hào Dương cư Âm vị, hào Âm cư Dương vị gọi là Bất chính.

Trung chính & Bất trung chính cốt để chỉ 2 sự kiện:

1) Trung là những người thành khẩn, trung thực, có lương tâm chức nghiệp, tận tụy vì công vụ.

2) Chính là những người được dùng vào những ngôi vị, những công việc xứng với tài đức của mình.

Bất trung chỉ những người gian ngoan, không thành khẩn.

Bất chính chỉ những người sống trong những địa vị bất xứng, không thích hợp với tài đức của mình, ví như dốt nát, bất tài mà lại ở địa vị cao (Âm cư Dương vị); hoặc có tài, có đức mà không được trọng dụng, không được đặt vào những chức vị xứng đáng (Dương cư Âm vị) Nhân đó ta suy ra được tình trạng hay dở rất nhiều.

ỨNG & TỈ

Mỗi người trong xã hội lại có một số người hỗ trợ, hay không hỗ trợ, Dịch kinh diễn tả sự kiện này bằng ỨNG HÀO . ỨNG HÀO thì

 1 ứng với 4

 2 ứng với 5

 3 ứng với 6

—*Âm ở dưới ứng Dương ở trên thì phải hiểu là tiểu nhân dựa thế quân tử, tiểu nhân dựa thế lực người có quyền thế ở trên, như vậy đâu có hay.

—*Dương ở trên ứng với Âm ở dưới thì phải hiểu là người trên hay, mà người dưới dở, không giúp ích được bao lâu.

—*Âm lại gặp Âm, Dương lại gặp Dương thì thường phải hiểu là một người hoạt động đơn độc, không người hỗ trợ.

—*Nhưng ở Hào ngũ, Hào nhị, nếu Cửu Ngũ mà lại gặp Cửu Nhị thì có thể hiểu là Minh quân lại gặp Hiền thần. (Xem Kiền)

TỈ:  là thân cận, là sống kế cận nhau.

ỨNG là nói 2 Hào cách xa nhau, TỈ là nói 2 Hào kề cận nhau. Phàm gần nhau phải giống tính, giống nết nhau mới tốt. Vì thế Âm cận Hào Âm mới tốt, Dương cận Hào Dương mới hay. Còn như Âm bên Dương, Dương bên Âm, vì một đằng Cương, một đằng Nhu, một đằng quân tử, một đằng tiểu nhân, một đằng hữu tài, một đằng vô tài, nên thường khủng khiểng, kèn cựa.

Nếu Âm ở dưới Dương, tức là kẻ bất tài nhường nhịn người có tài.

Nếu Âm ở trên Dương, tức kẻ vô tài mà lại trèo đầu, cưỡi cổ người có tài thì sẽ sinh lắm chuyện.

—- Trường hợp quị lụy, nhường nhịn, Dịch gọi là THỪA

—- Trường hợp đè đầu, cưỡi cổ, Dịch cũng gọi là THỪA.

Như vậy, để đoán định CÁT, HUNG, Dịch theo những tiêu chuẩn sau đây:

1) Địa vị phải xứng kỳ đức mới hay.

2) Làm việc gì phải có người hỗ trợ, hưởng ứng, phụ bật mới hay.

3) Không hợp nhau, mà xa nhau thì còn khả trợ, vì không giao tiếp với nhau. Nhưng đã không hợp nhau mà phải sống bên nhau, thật là căn cớ mọi hung họa.

4) Thành khẩn mà đối đãi nhau mới hay. Giả dối mà đối đãi với nhau thật là điều tai hại.

5) Và như vậy, cả bộ Dịch khuyên ta phải ở những nơi, giữ những công việc thích hợp với tài đức mình, giao thiệp với những người đồng tâm, đồng chí với mình.vv…

ÍT NHIỀU VÍ DỤ ĐỂ HIỂU VỀ 6 HÀO:

(Ta đi từ Hào Sơ cho tới Hào Thượng)

1) Ví dụ Quẻ Tỉnh:

Sáu Hào ở đây mô tả các loại giếng, và các công dụng khác nhau của những giếng.

Hào 1) Đáy giếng bùn = Tiểu nhân không nên dùng.

Hào 2) Giếng có ngách ngang hông, để mất hết nước.= Người không lý tưởng, không ích lợi gì.

Hào 3) Giếng tốt bỏ hoang không ai dùng = Người tài đức không được trọng dụng.

Hào 4) Giếng được xây sửa lại, tạm thời không dùng được = Công bộc Quốc Gia nhiều khi phải ngưng phục vụ để tu nghiệp lại.

Hào 5) Giếng trong có người ăn = Vị quốc quân có tài đức, thực ích lợi cho quốc dân.

Hào 6) Giếng nước ngon, có nắp đậy, lại đầy nước = Ở trên càng làm ích cho đời, càng nhiều cái hay.

2. Quẻ Đỉnh.

(Mô tả các phần và công dụng của cái đỉnh, cái vạc dùng để nấu thức ăn)

Hào 1) Đỉnh chổng chân (để rửa bụi bậm bên trong: bất kỳ hoàn cảnh nào, nhân vật nào mà ta biết lợi dụng vẫn hay)

Hào 2) Vạc đầy thức ăn (Không nên thân cận tiểu nhân)

Hào 3) Tai đỉnh (Vạc thay tai: Quân tử lúc đầu không được trọng dụng, sau sẽ được hòa hợp với vua)

Hào 4) Đỉnh gãy chân: (Dùng tiểu nhân vào chức trọng, sẽ hỏng việc.

Hào 6) Khoen đỉnh (Ở đời mà cương nhu hòa hợp, trên đưới một lòng, thì hay biết mấy)

3. Quẻ Hàm.

(Dùng các phần mình trong người để diễn tả sự cảm xúc, cảm
thông)

Hào 1) Cảm bằng ngón cái chân (Sức cảm hóa còn yếu ớt)

Hào 2) Cảm bằng bắp chân (Muốn cảm hóa người trên rất khó)

Hào 3) Cảm bằng vế đùi (Cảm hóa không phải là xu phụ quần chúng)

Hào 4) Cảm bằng tâm (Cảm hóa bằng cả tâm hồn mới tốt, không nên dùng thủ đoạn)

Hào 5) Cảm hóa bằng gáy vai (Cảm hóa mà hờn hợt sẽ không bền )

Hào 6) Cảm hóa bằng mép môi (Cảm hóa người bằng cửa miệng không hay)

4. Quẻ Tiệm.

(Dùng những cảnh trí thiên nhiên từ dưới bờ biển cho tới khung trời cao để mô tả sự tiệm tiến, tiệm thăng của chim Hồng hay của người Quân tử)

Hào 1) Chim Hồng đậu nơi bờ biển (Người quân tử mới vào đời, nếu chậm tiến chớ buồn)

Hào 2) Chim Hồng đậu nơi thạch bàn (Người Quân tử khi có địa vị vững chắc, đừng ăn không ngồi rồi, hãy làm điều gì ích quốc, lợi dân)

Hào 3) Chim Hồng đậu ở cao nguyên (Tiểu nhân muốn đốt giai đoạn mà tiến lên, vong ân bội nghĩa mà tiến lên thời đâu có hay. Quân tử sống kề cận với Tiểu nhân, nhưng nếu biết tự thủ, biết ngăn chặn tiểu nhân đừng bước vào đường tội lỗi, thời như ngăn được giặc vậy)

Hào 4) Chim Hồng đậu trên cây (Người ở địa vị cao mà biết nhu thuận, thì cao cũng không nguy)

Hào 5) Chim Hồng đậu núi cao. (Vua hay mà có hiền tài phụ bật, dầu gặp kẻ ly gián tạm thời hiểu lầm nhau, sau cũng sẽ hòa hợp)

Hào 6) Chim Hồng bay lên trên trời, lông rụng xuống vẫn có thể dùng (Thánh nhân siêu việt trần gian, nhưng vẫn làm ích cho đời)

5. Quẻ Sư.

(Mô tả mọi khía cạnh trong công cuộc hưng binh, động chúng)

Hào 1) Xuất quân phải có phép tắc.

Hào 2) Cầm quân phải có tướng tài.

Hào 3) Tướng dở cầm quân là đem quân vào chỗ chết, là đem xe chở thây.

Hào 4) Dùng binh có lúc phải biết thoái.

Hào 5) Điều động binh mã, có lúc là để bảo vệ sơn hà. Dùng tướng tài cầm quân, không được dùng tướng dở.

Hào 6) Khi đã khải hoàn, phải khen thưởng quân tướng cho hẳn hoi, nhưng không được dùng kẻ bất tài, dùng tiểu nhân vào chính quyền.

Cứ theo đường lối ấy mà nghiên cứu các Hào, ta sẽ thấy thường Hào nào cũng có nghĩa đen, nghĩa bóng. Tìm ra được thâm ý mỗi Hào, ta sẽ học được những bài học tiếp nhân xử kỷ rất là thâm thúy và khôn ngoan.

Thường mỗi quẻ chỉ nói đến một vấn đề, nhưng đôi khi cũng nói đến 2, 3 vấn đề. Cho nên gặp quẻ nào cũng phải hiểu xem quẻ ấy muốn đề cập đến vấn đề gì, nhiên hậu mới khỏi lạc lõng, khi nghiên cứu Thoán, Tượng, Hào.

Nếu ta đọc một quẻ mà không biết nó muốn nói những gì, nếu ta không tìm ra được mạch lạc nối liền Thoán, Tượng, Hào, mà ta chỉ hiểu nổi đại khái vặt vãnh, thì chắc chắn là ta chưa hiểu nổi Kinh Dịch.

II. ÁP DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA DỊCH KINH VÀO CUỘC ĐỜI:

Áp dụng nguyên tắc Dịch kinh để đoán định công việc ta làm hay, hay dở

Phàm một công việc ta làm, muốn biết là dở, hay hay, ta sẽ phân tách nó theo những tiêu chuẩn sau đây:

—-Lý: Minh chính hay tà khuất.

—-Tình: Thành khẩn hay giả dối, đắc ý hay không đắc ý. Ta thích làm hay làm miễn cưỡng.

—-Tài: Ta là người có chân tài hay không?

—-Đức: Ta là người có đức hay không?

—-Thời: Công việc ta làm có hợp thời hay không?. Có hợp với tuổi ta không?.

—-Vị: Địa vị và hoàn cảnh của ta chính đáng, hay không?, thích hợp với ta hay không?

—-Sự hiểu biết của ta về công việc: Ta có am tường công việc này hay không?

—-Sự chuẩn bị của ta: Làm công việc này ta có chuẩn bị chu đáo hay không?

—-Ứng: Ta làm công việc này có người giúp hay không, có người hưởng ứng hay không? Có bị ai phá phách, gàng quải hay không?

—-Cát Hung: Ta làm công việc này để thành công, hay là để thất bại?

—-Hối lận: Ta làm công việc này có bị lương tâm phiền trách hay không? Có bị người đời đàm tiếu hay không. Ta sung sướng, hãnh diện mỗi khi nghĩ đến công việc ta làm, hay trái lại nó làm ta xấu hổ.

—-Lệ, Vô Cữu: Khi làm công việc này, mỗi khi ta thấy ta sai đường, lạc lối, mỗi khi ta thấy ta lầm lẫn, ta sẽ có thực tình sửa đổi đường lối hay không?

Nếu xét từng tiêu chuẩn, mà ta thấy phải trả lời là không, thì việc của ta là không hay, đừng có làm. Như vậy, là ta theo đúng đường lối của Trời Đất, theo đúng Mệnh Trời.

MỖI KHI TA TÍNH TOÁN MỘT CÔNG VIỆC GÌ, MỖI KHI TA LÂM VÀO MỘT HOÀN CẢNH NÀO, ta phải:

1) Nghiên cứu, tìm hiểu công việc hay hoàn cảnh ta cho tận tường.

—-Tìm xem những yếu tố nào đã gây nên hoàn cảnh này.
—-Xem ai làm chủ chốt, ai làm chốt, làm nọc trong hoàn cảnh này.
—-Ta có can dự nào đối với hoàn cảnh. Trực tiếp bị ảnh hưởng, gián tiếp bị ảnh hưởng, hay không bị ảnh hưởng?

2) Nghiên cứu các lực lượng bạn và thù.

3) Nghiên cứu các vấn đề cần phải giải quyết.

4) Nghiên cứu xem các khó khăn vấp phải.

—-Vượt tầm giải quyết của ta.
—-Vừa tầm giải quyết của ta.
—-Ta có thể giải quyết dễ dàng với tài sức ta.

5) Hoàn cảnh ta gặp, công việc ta tìm đang ở vào thời kỳ nào: đầu hay đuôi.

6) Hoàn cảnh ta đang gặp, thuận lợi hay không thuận lợi đối với ta.

Tóm lại, Dịch Kinh muốn dạy ta những điều chính yếu sau đây trong cuộc sống hàng ngày:

—-Muốn làm việc gì phải thông suốt vấn đề, nghiên cứu tỉ mỉ, phân tách công việc ra thành từng giai đoạn, phải biết tiên liệu những đường đi, nước bước của mình, tiên đoán những trường hợp mình sẽ gặp phải, chương trình hoạt động của mình phải có mục phiêu sáng suốt rõ ràng, những phương thế để đạt mục phiêu ấy phải được hoạch định, nghiên cứu tỉ mỉ. Phải chọn người cộng tác có tài đức, khả dĩ thi hành được công việc cho đến thành công.

—-Muốn đối phó hoàn cảnh cho xuôi xắn, phải biết tùy thời xử thế. Lúc cương, lúc nhu, khi mạnh thì cương, khi yếu thời nhu, phải luôn luôn theo đường lối tự nhiên, công chính và phổ quát.

—-Trong khi hành sự, phải bình tĩnh, sáng suốt, bình dị, đừng có rối rắm, đừng có phức tạp cầu kỳ.

—-Đừng làm gì để cho lương tâm, người đời chê trách. Đừng làm gì để di hại đến tinh thần, thể xác, hoàn cảnh, sự nghiệp, danh giá của mình.

—-Gặp nguy biến, phải ẩn lánh để bảo toàn tấm thân.

—-Gặp lúc thuận tiện, phải đem tài năng, đức độ ra giúp nước, giúp dân.

—-Không cộng tác với bạo chúa, cường quyền.

—-Chỉ cộng tác với người tài đức, vì dân, vì nước.

—-Không thân cận với kẻ tiểu nhân, với người ác đức. Khi cần giao thiệp với họ, phải giữ gìn cho lắm.

—-Phải tránh những sự giao thiệp giả dối.

—-Đối với mọi người, cần sự thành khẩn.

—-Không có tài, đừng ham địa vị cao.

—-Không phải việc mình, đừng rây vào. Những nguy hiểm có thể tránh được thì nên tránh, đừng có dấn thân vào. Nếu chúng ta giữ được như vậy, thì công việc chúng ta thi hành thường được trôi chẩy, cuộc đời chúng ta luôn được vui tươi như ý.

Dịch Kinh đã dạy chúng ta những tôn chỉ chính xác, để hướng dẫn hành động chúng ta cho chúng ta trở nên hoàn bị. Có những tư tưởng sáng suốt, những tôn chỉ chính xác, mục phiêu cao cả, những hành vi, cử chỉ, tác phong hợp lý hợp nghĩa, tức là có những phương tiện để tiến tới hoàn thiện, trở thành Thánh Hiền.

HÌNH 64 QUẺ

THƯỢNG KINH: – 30 quẻ

 1

Bát Thuần Kiền

 2

Bát Thuần Khôn

 3

Thủy Lôi Truân

 4

Sơn Thủy Mông

 5

Thủy Thiên Nhu

 6

Sơn Thủy Tụng

 7

Địa Thủy Sư

 8

Thủy Địa Tỷ

 9

PhongThiên Tiểu Súc

 10

Thiên Trạch Lý

 11

Địa Thiên Thái

 12

Thiên Địa Bĩ

 13

Thiên Hỏa Đồng Nhân

 14

Hỏa Thiên Đại Hữu

 15

Địa Sơn Khiêm

 16

Lôi Địa Dự

 17

Trạch Lôi Tùy

 18

Sơn Phong Cổ

 19

Địa Trạch Lâm

 20

Phong Địa Quan

 21

Hỏa Lôi Phệ Hạp

 22

Sơn Hỏa Bí

 23

Sơn Địa Bác

 24

Địa Lôi Phục

 25

Thiên Lôi Vô Vọng

 26

Sơn Thiên Đại Súc

 27

Sơn Lôi Di

 28

TrạchPhong Đại Quá

 29

Bát Thuần Khảm

 30

Bát Thuần Ly

*********     

HẠ KINH: – 34 quẻ

 31

Trạch Sơn Hàm

 32

Lôi Phong Hằng

 33

Thiên Sơn Độn

 34

Lôi Thiên Đại Tráng

 35

Hỏa Địa Tấn

 36

Địa Hỏa Minh Di

 37

Phong Hỏa Gia Nhân

 38

Hỏa Trạch Khuê

 39

Thủy Sơn Kiển

 40

Lôi Thủy Giải

 41

Sơn Trạch Tổn

 42

Phong Lôi Ích

 43

Trạch Thiên Quải

 44

Thiên Phong Cấu

 45

Trạch Địa Tụy

 46

Địa Phong Thăng

 47

Trạch Thủy Khốn

 48

Thủy Phong Tỉnh

 49

Trạch Hỏa Cách

 50

Hỏa Phong Đỉnh

 51

Bát Thuần Chấn

 52

Bát Thuần Cấn

 53

Phong Sơn Tiệm

 54

Lôi Trạch Quy Muội

 55

Lôi Hỏa Phong

 56

Hỏa Sơn Lữ

 57

Bát Thuần Tốn

 58

Bát Thuần Đoài

 59

Phong Thủy Hoán

 60

Thủy Trạch Tiết

 61

Phong Trạch Trung Phu

 62

Lôi Sơn Tiểu Quá

 63

Thủy Hỏa Ký Tế

 64

Hỏa Thủy Vị Tế

Thượng Kinh: quẻ 1—30 ; Hạ Kinh: quẻ 31—64

HẾT

DỊCH KINH GIẢN LƯỢC

BÌNH GIẢNG QUẺ PHỤC

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

——————

Quẻ Phục 復 là một trong những quẻ quan trọng của Dịch Kinh, nói lên được lẽ Âm Dương tiêu trưởng, lẽ phản phục của đất trời và của tâm lý con người.

Từ trước đến nay, các nhà bình giải cũng đã nhận định được rằng: Quẻ Phục đề cập đến hai vấn đề:

—+ Sự hồi phục của khí Dương.

—+ Sự hồi phục của nhân tâm về cùng đạo lý.[1]

Ngày nay với sự tiến triển của khoa học, với sự phổ biến của các triết thuyết Á Âu, ta có thể bàn rộng thêm về lẽ phản phục của đất trời cũng như của lịch sử.

A. Phục đánh đấu một thời kỳ mà vũ trụ sẽ bắt đầu co lại. Vì nếu vũ trụ mà khuếch tán được, triển dương được[2] thì cũng có thể thâu súc được,[3] phản phục được.

Cũng một lẽ, thời gian cũng có thể phản phục được (réversibilité du temps), vì thời gian gắn liền với không gian. Không gian và thời gian lai vãng khuất thân, theo cùng một chiều hướng.

Cho tới ngày nay ít ai nghĩ được rằng thời gian cũng có hai chiều, hai hướng; cũng có thể vãng phục như không gian.

B. Phục, đứng về phương diện tiết khí, là lúc mà sinh khí phục hồi. Trong ngày Đông Chí, khi mà vạn vật bên trên mặt đất như đang muốn chết cóng vì gió sương, băng tuyết thì ở dưới lòng đất Dương khí phục sinh để chuẩn bị cho gian trần một mùa Xuân mới, để đem lại cho muôn loài một nguồn sinh khí mới.

C. Phục cũng vẽ lại con đường phiêu lãng của vầng Dương.

Phục xét về phương diện lịch số là ngày Đông Chí, là ngày mà vầng dương như dừng gót lại (Solstice) để trở về sống gần gũi với trái đất và vạn vật hơn, bỏ bộ mặt lạnh lùng để mặc lấy một hình dung, một thái độ đầm ấm hơn.

Các dân tộc xưa thường ăn mừng ngày Đông Chí để đánh dấu sự phục sinh của ‘ông Mặt Trời’, của ‘con Trời,[4] của thần Mithra. Từ thế kỷ IV, Giáo Hội La Mã cũng theo tục lệ của dân gian này mà ăn mừng Lễ Giáng Sinh ngày 15 tháng Chạp, tức là vài ngày sau tiết Đông Chí.

Quẻ Phục ứng vào khoa chiêm tinh học là cung Ma Yết (Le Capricorne). Sénard viết:

«Trong các hình thiên bàn xưa nay thì cung Ma Yết được viết bằng một trong những cổ tự sau đây:

«Tất cả những cổ tự này tuy khác nhau nhưng đều có một đặc điểm là nét chữ đều vòng trở lại. Có thể đó là biểu tượng sự phản phục về tư tưởng của Hóa Công và là biểu tượng sự hồi phục tâm hồn con người để vươn lên đến bình diện bao la của nội giới.[5]

«Dẫu sao thì cung Ma Yết cũng là giao điểm của hai luồng biến dịch có chiều hướng khác nhau. Nó vừa tượng trưng cho một giai đoạn khi mà vũ trụ hoàn toàn thành hình; và cho một giai đoạn cũng không kém quan trọng khi mà tâm hồn con người siêu thăng vào trong vô tướng nhờ công phu tu luyện.» [6]

Những lời lẽ của chiêm tinh học ấy có thể phác họa lại một cách rõ ràng những ý tưởng của tiền nhân hàm chứa trong quẻ Phục.

D. Xét về phương diện lịch sử thì khi tới quẻ Phục, nhân loại đã đạt tới một mức độ văn minh vật chất tuyệt đích, con người đã hoàn toàn chi phối được vật chất; nhưng mà con người thì vẫn còn sống trong đau khổ, lo âu; đau khổ do chính con người tạo ra cho mình; cũng như do chiến tranh, do tội ác, do nền luân lý suy đồi, do một đời sống nhục dục vật chất đầy đủ đem lại.[7]

Con người sẽ nhận thấy công trình của mình đều là hư ảo, đều là những căn nhà đã xây trên cát và phải bắt buộc phải nói như Einstein và như Ủy Hội các nhà bác học Nguyên tử như sau:

«Thế giới chúng ta đang bị đe dọa bởi một cuộc khủng hoảng mà tầm kích còn vượt trên quyền hạn của những người có quyền quyết định cái hay cái dở (cho nhân loại).

«Uy lực mà nguyên tử đã tạo ra, đã thay đổi hết, ngoại trừ lề lối tư tưởng của chúng ta và chúng ta đang trượt dần vào một đại họa không tiền khoáng hậu. Cần phải có một lề lối trông nhìn mới, nếu nhân loại muốn sống sót và vươn lên tới những bình diện cao hơn.» [8]

Khi ấy nhân loại sẽ đau khổ, và sẽ như là chết trong lòng. Nhưng mà lòng con người chết đi, cốt là để cho lòng trời xuất hiện. Cái nhân tâm càng nghiêng ngửa đảo điên bao nhiêu thì cái đạo tâm tế vi càng có cơ xuất hiện bấy nhiêu. Thế mới hay, nhân tâm như hạt gieo xuống đất hoàn cảnh, xác thân có chết đi thì thiên tâm mới như cây non nảy mộng phát sinh ra được.[9]

Nói tóm lại, thời kỳ Phục trong tương lai tức là thời kỳ mà lịch sử nhân loại chuyển hướng, bỏ những thông lệ đấu tranh để quay về những chủ trương nhân ái. Lúc đó, con người sẽ quay về thám sát các tầng sâu của lòng người và sẽ thấy hé mở cả một vũ trụ bao la vô cùng tận, sẽ nhận ra rằng dưới lớp nhân tâm phù phiếm hạn hẹp còn có lớp thiên địa chi tâm 天 地 之 心 thẳm sâu và không giới tuyến… Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ. 復 其 見 天 地 之 心 乎.

Các tôn giáo khi ấy cũng trở nên sâu sắc hơn, khoa học hơn, và sẽ chuộng những phương pháp tu luyện nội tâm hơn là nắm giữ những hình thức bên ngoài.

D. Quẻ Phục sẽ đánh dấu một kỷ nguyên mới, mà nhân loại sẽ cố khuôn theo định luật của lương tri, lương tâm.

 «Luật trời ghi tạc tâm can,

 Lương tri là luật trời ban cho người.» [10]

 – Tinh thần dần dà sẽ được trọng.

 – Nội tâm dần dà sẽ được trọng.

 – Quân tử dần dà sẽ được trọng mãi thêm…

E. Đối với con người, quẻ Phục là lúc con người trở nên minh giác, giác ngộ, biết được thiên mệnh, biết được rằng trong lòng mình vốn đã có sẵn lòng trời.[11]

 Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ.

 復 其 見 天 地 之 心 乎 .

Phục là lúc con người tự tri, tự giác. Tự giác để biết trời ở nagy trong lòng dạ.

 Phục là tri kỷ tận tường,

 (Tri tâm, tri tính, thời thường tri thiên.) [12]

Theo toán học cổ truyền, con người có thể giác ngộ vào khoảng tuổi 42, 43 tuổi.[13]

G. Quẻ Phục cũng còn nêu lên mấy vấn đề triết lý và đạo giáo khác, là:

– Con người khi nào sẽ kiến thiên địa chi tâm ?

– Và làm sao biết mình đã kiến thiên địa chi tâm ?

Các nhà bình giải thường cho rằng chỉ khi nào tâm hồn con người chí hư chí tĩnh mới thấy được thiên địa chi tâm.[14]

Nhưng thực ra nếu mình mài miệt tìm cầu, suy tư, khảo sát lâu tháng lâu ngày, thì cũng có thể có một ngày nào đó, sâu biến thành bướm, nước hóa thành hơi, và con người tìm ra được thiên địa chi tâm.[15]

Làm sao biết mình đã kiến thiên địa chi tâm ? Ta nhận định như sau:

Thiên tâm, đạo tâm là nguồn năng lực, là nguồn sinh hóa, cho nên khi kiến thiên địa chi tâm ta sẽ thấy tâm hồn chuyển động, nguồn sống trở nên dạt dào, cảm hứng trở nên sôi động, trí tuệ trở nên mẫn tiệp. Nói tóm lại ta đã trở thành con người mới.[16]

Chấp nhận lẽ phản phục của Dịch Kinh, chúng ta bắt buộc phải chấp nhận một quan niệm tuần hoàn, phản phục của vũ trụ, của lịch sử và của nhân quần.

Ngô Lâm Xuyên nói: «Thảo mộc không thu hút nhựa lại thì không thể nào mà trở nên tươi tốt lại được. Côn trùng mà không thu hình nép xác thì không thể nào mà trở lại hoạt động phấn chấn được. Vì thế con người trọng ở chỗ biết Phục, mà Phục cốt là ở chỗ Tĩnh. Tĩnh rồi mới có thể cảm. Đóng rồi mới có thể mở. Mùa Đông tàng nạp là mùa Phục của một năm; đêm trường tĩnh mịch là lúc Phục của một ngày; tình dục tĩnh lãng là lúc Phục của con người.[17]

Chấp nhận lẽ phản phục, ta mới thấy rằng: «Thủy chung như nhất».[18]

 α = ω

Và lịch sử nhân quần vũ trụ khởi điểm từ Thuần Thần rồi sẽ chung kết ở Thuần Thần.[19]

Phục chính là bước đầu của con đường trở lại.

Sau khi đã dùng khoa học, chiêm tinh, triết học, đạo lý, bàn rộng về quẻ Phục, chúng ta hãy trở lại với quẻ Phục với những lời bình giải của tiên nho.

Tiên nho kho bình tới quẻ Phục, chắc đã nhận chân được sức thiêng của sinh khí. Nó như tiếng sấm làm rung vang cả lòng đất bao la, và hứa hẹn tất cả những gì đẹp đẽ cho vũ trụ và cho nhân quần, sau những giờ phút đen tối, lạnh lùng của thời tiết và của lịch sử.

Chỉ có nơi quẻ Phục ta mới thấy các nhà bình giải cao hứng làm thơ.

Đây là bài thơ của Thiệu Khang Tiết:

Đông chí Tý chi bán,
冬 至 子 之 半

Thiên tâm vô cải di;
天 心 無 改 移

Nhất Dương sơ động xứ,
一 陽 初 動 處

Vạn vật vị sinh thì.
萬 物 未 生 時

Huyền tửu vị phương đạm,
玄 酒 味 方 淡

Thái Âm thanh chính hi,
太 陰 聲 正 希

Thử ngôn như bất tín,
此 言 如 不 信

Cánh thỉnh vấn Bao Hi.
更 請 問 包 羲

Tạm dịch:

 Đông Chí hàn băng, khí phục qui,

 Cơ trời vốn dĩ chẳng sai đi;

 Nhất Dương vừa thoạt manh nha động,

 Vạn vật còn trong bão dựng thì.

 Tiên tửu nếm qua nhường nhạt nhẽo,

 Thái Âm nghe thoạt tưởng li ti,

 Ví như lời ấy chưa tin đủ,

 Xim hãy tiềm tâm hỏi Phục Hi.[20]

Đây là bài thơ của Chu Hi:

Hốt nhiên dạ bán nhất thanh lôi,
忽 然夜 半 一 聲 雷

Vạn hộ thiên môn thứ đệ khai,
萬 戶 千 門 次 第 開

Thức đắc vô trung hàm hữu xứ,
識 得 無 中 含 有 處

Hứa quân thân kiến Phục Hi lai.
許 君 親 見 伏 羲 來

Phỏng dịch:

Nửa đêm bỗng thấy sấm rền trời,
Cửa rã muôn nghìn lớp lớp khai,
Hiểu được trong không đầy dẫy có,
Khác nào thấy được Phục Hi lai.

Xem hai bài thơ ấy, đủ thấy rằng quẻ Phục là một trong những quẻ đặc biệt của Dịch Kinh. Dịch Kinh đề cập đến quẻ Phục một cách đơn giản:

—+ Ở nơi Thoán thì dùng cho sự hồi phục của Dương khí.

—+ Ở nơi Tượng thì nói đến tục lệ thời xưa đã theo trong ngày Đông Chí.

—+ Ở nơi các hào thì bình luận các cung cách con người trở về cùng đạo lý.

CHÚ THÍCH

[1] Phục hữu lưỡng dạng: 1- Hữu thiện ác chi phục; 2- Hữu động tĩnh chi phục. 復 有 兩 樣: 有 善 惡 之 復 ;有 動 靜 之 復 .

Dịch Kinh Đại Toàn, Phục, Thoán (hoặc vấn), tr. 217.

… Hựu viết: Thiên địa chi khí, sở dĩ hữu Dương chi phục giả dĩ kỳ hữu Âm cố dã. Chúng nhân chi tâm sở dĩ hữu thiện chi phục giả, dĩ kỳ hữu ác cố dã. 又 曰:  天 地 之 氣,所 以 有 陽 之 復 者 以 其 有 陰 故 也 眾 人 之 心 所 以 有 善 之 復 者 以 其 有 惡 故 也. (Ibid., tr. 216)

[2] Sens involutif: expension et matérialisation.

[3] Sens évolutif: rétraction et sublimation.

Cf. M. Sénard, Le Zodiaque. Le capricorne, p. 376.

[4] Il est intéressant de voir que la naissance de l’univers se place tout au commencement du signe (Capricorne) était symbolisée par la naissance du Dieu solaire ou de l’enfant divin au solstice d’hiver… L’Occultisme du Zodiaque, p. 121

… Ngày Đông Chí thường là ngày 22 tháng Chạp (Décembre). Từ năm 354 Giáo Hội mới chỉnh đốn lại: ngày 25 tháng 12 được chọn làm lễ Giáng Sinh. Xem tạp chí Văn Đàn, số Giáng Sinh, 1962, tr.5.

[5] Dans les Zodiaques anciens comme dans modernes, les formes hiéroglyphiques du Capricorne sont variées: . Mais toutes présentant la particularité d’un retour du trait sur lui-même pour former un boucle. Faut-il y voir le symbole du retour sur elle même de le pensée du Démiurge créant l’Univers; comme aussi celui du repli de la conscience humaine sur elle même pour atteindre le plan infini du monde intérieur? — M. Sénard, Le Zodiaque, p. 373.

[6] Il se trouve que le Capricorne marque la phase de croisement de ces deux courants évolutifs dont la direction est inverse. Il représente à la fois la phase ou l’Univers va prendre forme et celle non moins critique où la conscience humaine va se sublimer dans l’informel par l’ascèse. (Ibid., p.373)

… Au point de vue de l’Univers, c’est la période de transition entre la Pensée une et sa multiplication sensible sur le plan Espace, Temps, Matière. Pour l’homme c’est la transition entre la conscience du sensible et celle du suprasensible et de la Pensée pure. (Ibid., p. 373)

[7] Il est plus facile de changer la nature du plutonium que l’esprit du mal chez l’homme… Le vrai problème est dans le cœur des homme. (Einstein, Science et la Vie, Oct. 1966, p. 155)

[8] Notre monde est menacé par une crise dont ampleur échappe encore à ceux qui possèdent le pouvoir de prendre des grandes décisions pour le bien et pour le mal. La puissance déchaýnée de l’atome a tout changé, sauf nos modes de pensée, et nous glissons ainsi vers une catastrophe sans précédent. Une nouvelle façon de voir est essentielle si l’humanité doit survivre et se mouvoir vers les plus plans élevés. — Cf. Science et Vie, Oct. 1966, p. 15. (Albert Einstein)

[9] Ta có thể so sánh nhân tâm và thiên tâm bằng đồ bản sau đây:

NHÂN TÂM
THIÊN TÂM

Nhân tâm

Esprit du mal

Corps physique

Âm

Nhân dục

Tư tâm

Chúng sinh

Thường nhân

Nhân, v.v…
Đạo tâm

Esprit du bien

Corps spirituel

Dương

Thiên lý

Công lý

Chính

Tiên

Phật

Thánh, v.v.

Cf. I Cor. 15-544: «Semé corps animal on ressucite corps spirituel.»

[10] Je mettrai ma loi au fond de leur être et je l’écrirai sur leur cœur (Jérémie, 31-33)

… Il (le Capricorne) est pour l’entité humaine l’achèvement de son expérience sur le plan sensible et son passage à l’expérience du plan suprasensible.

[11] The Light principle returns. Thus the hexagram counsels turning away from the confusion of external things, turning back to one’s inner light. There, in the depths of the soul, one sees the Divine, the One. (R. Wilhelm, The I Ching, vol II, p. 145.)

[12] Return leads to self-knowledge. (Ibid., p. 145) Phục dĩ tự tri 復 以 自 知 (Hệ Từ Hạ, chương 7)

… Chúng nhân vật dục hôn tế, tiện thị ác để tâm. cập kỳ phục dã nhiên hậu bản nhiên chi thiên tâm khả kiến. 眾 人 物 欲 昏 蔽, 便 是 惡 底 心 . 及 其 復 也 然 後 本 然 之 善 心 可 見.

Dịch Kinh Đại Toàn.

[13] Dans les temps modernes la doctrine des périodes de sept ans risquait de tomber en oubli, et c’est un grand mérite de Steiner que d’avoir parmis d’éviter ce danger. Il fait la même division qu’Agrippa.

Les trois premières périodes de sept ans structurent la triple corporalité de l’homme, l’homme subit, pour ainsi dire trois naissances au debut de chaque premièrepériode de sept ans. Durant les trois période suivantes a lieu la formation de trois membres psychiques correspondants que Steiner qualifie comme âme de sentiment, âme de raison et âme de conscience. On ne perçoit plus de façon aussi nette ce qui se trouve au delà de la sixième période, c’est-à-dire au delà de 42 ans, si l’homme dirige alors sa volonté du côté spirituel, il peut s’orieinter vers son essence supérieure, vers la partie de son essence générale, qui ne se révèle à l’humanité terreste que bien plus tard et dont la manifestation intérieure est l’esprit lui-même.

L. Bindel, Les Éléments spirituels des Nombres, p. 154.

[14] Trình Tử không đồng ý điều ấy. Ông viết: Nhân thuyết phục kỳ kiến thiên địa chi tâm, giai dĩ vi chí tĩnh, năng kiến thiên địa chi tâm dã. Duy mỗ ngôn động nhi kiến thiên địa chi tâm. 人 說 復 其 見 天 地 之 心 皆 以 為 至 靜 能 見 天 地 之 心 而 也 . 惟 某 言 動 而 見 天 地 之 心. Dịch Kinh Đại Toàn, Phục, Thoán.

[15] … Concentration aboutissant à l’illumination. — M. Sénard, Le Zodiaque, p. 377.

[16] Phục chi quái hạ diện nhất hoạch tiện thị động dã. An đắc vị chi tĩnh. Tự cổ Nhu giả giai ngôn tĩnh kiến thiên địa chi tâm. Duy mỗ ngôn động nhi kiến thiên địa chi tâm. Vấn: Mạc thị tử động xứ cầu tĩnh phủ? Viết: Cố thị nhiên tối nan. 復 之 卦 下 面 一 畫 便 是 動 也 .安 得 謂 之 靜 .自 古 儒 者 皆 言 靜 見 天 地 之 心 .惟 某 言 動 而 見 天 地 之 心 . 問:  莫 是 子 動 處 求 靜 否 ? 曰:  故 是 然 最 難 (Trình Tử) Dịch Kinh Đại Toàn, Phục, Thoán.

… Nhất Dương lai phục, kỳ thủy sinh thậm vi. Cố nhược tĩnh hĩ. Nhiên kỳ thực động chi cơ, kỳ thế nhật trưởng, nhi vạn vật mạc bất tư thủy yên. 一 陽 來 復,其 始 生 甚 微 .故 若 靜 矣 .然 其 實 動 之 機, 其 勢 日 長 而 萬 物 莫 不 資 始 焉 (Ibid.)

[17] Lâm Xuyên Ngô Thị viết: Thảo mộc bất liễm kỳ dịch tắc bất năng dĩ phu vinh; côn trùng bất trập kỳ thân tắc bất năng dĩ chấn phấn. Thử nhân chi sở dĩ quý ư Phục nhi Phục chi sở dĩ quý ư tĩnh dã. Tịch giả cảm chi triệu, hấp giả tịch chi căn. Đông chi tàng tuế chi Phục dã. Dạ chi tức nhất nhật chi Phục dã. Hỉ nộ ái lạc chi vị phát, tu du chi Phục dã. 臨 川 吳 氏 曰:  草 木 不 斂 其 液,則 不 能 以 敷 榮 ;昆 蟲 不 蟄 其 身 則 不 能 以 振 奮 .此 人 之 所 以 貴 於 復 而 復 之 所 以 貴 於 靜 也 .寂 者 感 之 召 ;翕 者 闢 之 根 .冬 之 藏 歲 之 復 也. 夜 之 息 一 日 之 復 也 .喜 怒 唉 樂 之 未 發 須 臾 之 復 也 . Dịch Kinh Đại Toàn, Phục, Thoán.

[18] There is coincidence of the beginning and the end.

(Radakrishnan). Grace E. Cairns, Philosophy of History, p.312

Nguyên thủy phản chung 原 始 反 終 (Dịch Kinh, Hệ Từ Thượng, chương 4). Nguyên thủy yếu chung 原 始 要 終 (Dịch Kinh, Hệ Từ Hạ, chương ).

[19] The process of history has come from the divine spirit and to the divine spirit it returns. (Radakhrishna). (Ibid., p. 312)

[20] Nguyễn Duy Tinh dịch trong Chu Dịch Bản Nghĩa (tr. 209):

Đông Chí nửa Tí rồi,

Lòng trời không đổi dời,

Nơi khí Dương mới động,

Muôn vật chưa sinh sôi.

Rượu ngon mùi đã nhạt,

Tiếng lớn ít lời thôi,

Câu ấy bằng không đúng,

Xin hỏi vua Phục Hi.

HẾT

BÌNH GIẢNG QUẺ TÙY

Quẻ Tùy với chữ Thời [1]

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

—————-

I. TÙY VỚI CHỮ THỜI

Quẻ Tùy là một trong 12 quẻ Dịch bàn về chữ Thời. Vì thế nơi quẻ Tùy ta hãy duyệt lại vấn đề chữ Thời, vấn đề thời gian trong Kinh Dịch cũng như trong cuộc đời.

Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề thời gian với những lời văn bình dị, những nhận xét bình dị, với một tâm hồn bình dị của một lữ khách cũng đang như ai thả thuyền đời trên giòng sông thời gian, nhưng không phải là để sống cuộc sống phiêu bạt giang hồ mà chính là dùng thời gian làm phương tiện chuyển vận tiến về căn nguyên vĩnh cửu.

Có thể nói được rằng thời gian sinh ra là do sự chuyển dịch, biến dịch của vạn hữu. Thời gian! Thời gian! Che dấu dưới bộ mặt hiền từ và đơn sơ của từ ngữ là biết bao bí ẩn của nhân sinh nhân thế, biết bao là cơ cấu và tự sự khác nhau!

—- Trước tiên, tinh cầu và địa cầu chuyển dịch trên vòm trời, tạo nên tháng năm và tuần tiết: dó là thời gian thiên văn (temps sidéral, astonomique, ou physique).

—- Các tế bào trong người ta sinh sinh hóa hóa, lúc thạnh lúc suy, lúc tụ lúc tán, cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là thời gian tuổi tác (temps biologique).

—- Tâm hồn ta chuyển dịch, biến thiên, vui vui buồn buồn, lúc thì bừng sáng như bình minh, lúc thì ảm đảm như bóng tối. Sự chuyển biến ấy cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là thời gian tâm lý (temps psychologique).

—- Tâm tư chí hướng, dân tình của mỗi dân, mỗi nước cũng biến thiên, tạo nên một thứ thời gian mới là thời gian lịch sử (temps historique).

—- Nếu thời gian là sự chuyển dịch thì những duyên cớ, những ý hướng gây nên sự chuyển dịch ấy chính là nguyên do sinh ra sự mất thăng bằng, sinh ra sự chuyển dịch, sinh ra thời gian. Mà đã chuyển dịch thì phải đưa đến một kết quả nào, cho nên thời gian chính là quá trình để ta thực hiện một công tác gì, một mục đích gì.

Vũ trụ dùng thời gian để làm hiện lên tất cả những gì đẹp tươi còn đang tiềm ẩn trong lòng vũ trụ.

Cá nhân chúng ta dùng thời gian để thực hiện ước mơ, thực hiện nguyện vọng của chúng ta.

Xã hội nhân quần dùng thời gian để thực hiện sự siêu thăng hóa của con người.

Thời gian như là động cơ mà không gian như là môi trường chuyển dịch.

Thời gian, không gian cũng có thể nói chung là hoàn cảnh mà tâm hồn ta sẽ băng qua, trên lộ trình đi tìm chân lý, đi tìm bản thể và tuyệt đối, hay nói cách khác, trên lộ trình thực hiện con người chân thực của ta.

Ngày nay thời gian và không gian cũng chỉ được coi là hai chiều động tĩnh của một thực thể, cho nên ta dùng chữ hoàn cảnh mà gọi thời gian cũng chẳng sai.

Trên đây ta đã dùng lời lẽ giăng dò đan lưới để bắt con thỏ thời gian, những lời lẽ ta, những định nghĩa ta chỉ cốt là để bắt thời gian và để sử dụng thời gian, chứ chúng ta không có cao vọng đi sâu vào thực chất của thời gian. Dò lưới bắt thỏ dĩ nhiên phải khác thỏ.

Hiểu thời gian là chuyển biến. hiểu thời gian là những hoàn cảnh khác biệt, những giai đoạn khác biệt mà tâm hồn mỗi người sẽ băng qua, hoặc là để thực hiện căn cốt bản tính của mình, hoặc là để thực hiện một hoài bão, một ước mơ hay một công trình nào đó sẽ làm cho ta thấy thời gian có chiều hướng.

Và mỗi tâm hồn, mỗi con người đều đang vẽ trên nền tĩnh lãng của vĩnh cửu một hay nhiều chu kỳ thời gian, để vẽ nên bộ mặt thực của mình, để diễn xuất một vai trò nào đó, trước sự quan chiêm của xóm giềng, của họ hàng, của quốc gia xã hội, của hoàn võ, vũ trụ và thần minh.[2]

Như vậy thời gian trở nên có ý nghĩa với con người và con người không còn phải than thở như Lamartine:

«Phiêu dạt mãi tới bến bờ xa lắc,
Trong đêm tăm lưu lạc biết về đâu;
Lênh đênh sống trên trùng dương thời khắc,
Chẳng buông neo dừng lại được ngay sao?» [3]

Muốn cho cuộc đời ta thêm ý nghĩa, ta phải phác họa đại khái cho ta những chiều hướng, những bước đường của ta sẽ đi, những giai đoạn mà ta sẽ muốn vượt, những công trình mà ta sẽ muốn làm từ đầu đến cuối cuộc đời. Được như vậy ta sẽ sống một cuộc đời thoải mái sung sướng và cuộc đời chúng ta sẽ là một mùa xuân bất diệt như lời Thiệu Tử:

«Nhĩ mục thông minh nam tử thân,

 耳 目 聰 明 男 子 身

Hồng Quân phú dữ bất vi bần.

 洪 鈞 賦 與 不 為 貧

Tu tham nguyệt quật phương tri vật,

 須 探 月 窟 方 知 物

Vị nhiếp Thiên Căn khởi thức nhân.

 未 躡 天 根 豈 識 人

Kiền ngộ Tốn thời quan nguyệt quật,

 乾 遇 巽 時 觀 月 窟

Địa phùng Lôi xứ kiến thiên căn.

 地 逢 雷 處 見 天 根

Thiên căn nguyệt quật thường lai vãng,

 天 根 月 窟 常 來 往

Tam thập lục cung đô thị xuân.»

 三 十 六 宮 都 是 春.[4]

Dịch:

Thông tuệ nam nhi đứng cõi đời,
Lòng mang tạo hóa há đâu chơi.
Quyết tham nguyệt quật cho hay vật,
Cố hiểu thiên căn để biết người.
Trời nổi gió giông thông động nguyệt,
Đất vang sấm chớp lộ căn trời.
Căn trời nguyệt động thường lai vãng,
Ba sáu cung xuân trọn vẹn đời.

Dịch cho rằng sự chuyển biến, chuyển dịch hay thời gian đã phát sinh từ một nguồn bất biến, bất dịch, và như con rồng sau khi đã triển dương thiên biến vạn hóa trên kịch trường không gian lại xoay trở về được với bất dịch, bất biến, vô vi, vô gián.

Vì vậy người quân tử khi đã hiểu lẽ Dịch phải biết cỡi 5 con rồng biến hóa của thời gian để trở lại cùng vĩnh cửu và tuyệt đối.

Lão giáo viết: «Ngũ long bổng thánh Côn Lôn đỉnh.» 五 龍 棒 聖崑 崙 頂.[5]

Trình Tử viết một cách giản dị hơn: «Tùy thời biến dịch dĩ tòng đạo.» 隨 時 變 易 以 從 道.[6]

Chữ tòng đạo ở đây cũng giống như chữ suất tính 率 性 của Trung Dung.

Nôm na hơn, ta nói rằng: Bổn phận người quân tử là phải dùng thời gian tuổi tác, lịch sử để tinh luyện tâm thần mình, để rốt ráo thực hiện được tuyệt đối. Và muốn biết định mệnh của mỗi một con người ta chỉ cần biết xem mục phiêu của họ, bình sinh chi chí của họ là gì, xem họ tùy thời biến dịch để tòng đạo hay tòng danh, tòng lợi, tòng nghĩa, tòng dục…

Cho nên chữ tùy thời thực là can hệ vậy.

Dịch là bàn về chữ Thời và dạy cách cư xử cho hay cho khéo trong mỗi giai đoạn, mỗi trường hợp. Nhưng đặc biệt có 12 quẻ bàn đến chữ Thời:

1. Bàn suông chữ Thời, có 4 quẻ:

—. Di.

—. Đại Quá.

—. Cách.

—. Giải.

2. Bàn đến Thời nghĩa tức là bàn ý nghĩa của chữ Thời và hoàn cảnh cũng như cách xử thế trong mỗi một khung cảnh thời gian, có 4 quẻ:

 —. Dự.

 —. Lữ.

 —. Cấu.

 —. Độn.

3. Bàn về ý nghĩa của sự Tùy Thời có quẻ Tùy.

4. Bàn về cách lợi dụng những hoàn cảnh đặc biệt nguy hiểm, có 3 quẻ:

 —. Khảm.

 —. Khuê.

 —. Kiển.

Ta bình giải chung đại khái như sau: Sống ở đời ta sẽ mục kích nhiều thời kỳ khác nhau:

—- Có lúc bình yên để cho mọi người nghĩ đến sự di dưỡng tâm thần và thể chất (quẻ Di).

—- Có những thời kỳ thay đổi toàn diện như cọp đổi lốt, báo thay da, để đem lại cái gì mới mẻ hơn (quẻ Cách).

—- Có thời kỳ cá nhân hay nhân loại phải lập nên những đại công, đại nghiệp đặc biệt phi phàm (quẻ Đại Quá).

—- Cũng có thời kỳ phải xây dựng lại trên những tàn tích cũ (quẻ Giải).

Về ý nghĩa của chữ Thời, ý nghĩa của ít nhiều giai đoạn trong cuộc đời, ta bình giải như sau:

— Chúng ta sở dĩ phải dấn thân vào chốn trần hoàn là cốt làm cho trần hoàn thêm đẹp, thêm tươi, chịu thử thách để cho mình thêm điêu luyện, tinh toàn (quẻ Cấu).

—- Tuy nhiên vì mục đích của chúng ta là Đạo, là Thái Cực, ta phải coi những chặng đường trần hoàn của ta như một cuộc lữ thứ đi qua ngoại cảnh (quẻ Lữ).

—- Mặt trời có lúc lặn lúc mọc, con người cũng có khi ẩn khi hiện. Khi thấy cơ nguy nên ẩn, nên độn mới hay. Thế mới là minh triết bảo thân (quẻ Độn).

—- Nếu ta dùng được trần hoàn để mà tinh luyện tâm thần, để tâm hồn rung cảm được với khúc đại hòa ca của vũ trụ, thì tuy sống trong trần ai tục lụy nhưng mà lòng ta bao giờ cũng vẫn vui tươi (quẻ Dự).

—- Tóm lại ta phải biết tùy thời xử thế, chấp nhận mọi hoàn cảnh như một cuộc thử thách, tìm mọi phương cách để lướt thắng, chế ngự hoàn cảnh, để rèn luyện giũa mài nhân tâm, nhân cách của ta; dùng hoàn cảnh làm bậc thang hay làm xe, làm ngựa, chở mình về Thái Cực, về tuyệt đỉnh tinh hoa mới là hiểu được nghĩa lý của hai chữ tùy thời (quẻ Tùy).

—- Đàng khác, nếu ta có tài thì ta có thể biến nghịch cảnh thành thuận cảnh, lợi dụng mọi hoàn cảnh để tô điểm cho đời ta thêm đẹp thêm tươi.

—+ Gặp núi non hiểm trở, địa thế kỳ khu, ta sẽ dùng làm bình phong phòng ngự cho kinh đô, cho quốc thổ (quẻ Khảm).

—+ Tinh thần hay vật chất đều có thể giúp ích cho tao nhân mặc khách. Hiểu được như vậy, vạn sự vạn vật đều thuộc quyền sử dụng của ta (quẻ Khuê).

—- Khi mà gặp hiểm nguy ở đời như người kẹt giữa khe cùng núi, ta hãy trở về tu luyện nội tâm, như vậy cũng sẽ hóa thông, hung sẽ hóa cát. Thế là hiểu được Dịch (quẻ Kiển).

Hiểu được thời gian như vậy, thời gian sẽ luôn luôn là công cụ cho ta dùng để thực hiện lý tưởng, chứ không phải là cái gì xa lạ đối với ta, để lúc thì muốn níu kéo lại, lúc thì muốn xua đuổi đi, như Lamartine làm bài thơ tình bên hồ nước:

Thời gian hỡi xin khoan đừng rong ruổi,

Giờ ái ân xin tạm hoãn đừng trôi.

Cho ta hưởng phút thần tiên ngắn ngủi,

Của những ngày thơ mộng nhất trong đời.

*

Trần hoàn nay bao người đang khỏ ải,

Van thời gian vì họ hãy trôi đi.

Trôi đi để xóa nhòa niềm oan trái,

Còn quên cho vì kẻ sống mê ly.

*

Nhưng thời khắc van xin đâu có được,

Thời gian trôi nghiệt ngã cứ trôi đi.

Ta tha thiết van xin đêm ngừng bước,

Nhưng bình minh tàn nhẫn chẳng diên trì. [7]

II. TÙY VỚI HAI CHỮ TÙY THỜI

Bây giờ ta trở về quẻ Tùy để giảng rộng hai chữ tùy thời.

Như trên đã nói, thời gian chỉ là những giai đoạn, những công cụ, những điều kiện cần thiết để chúng ta đào luyện xác thân, trí não, tâm thần, để con người trở nên hoàn hảo, toàn chân, toàn mỹ.

Như vậy ta cần phải xác định mục phiêu và chí hướng của ta. Sau đó phải biết quyền biến, tùy thời xử thế, tùy nghi tiến thoái để thực hiện mục phiêu ấy.

Nghĩa chữ thùy thời xử thế đã được Mạnh Tử hết sức tán dương. Mạnh Tử khen Khổng Tử là «Thánh chi thời», vì đã biết xử sự khéo léo tùy theo mỗi hoàn cảnh:

«Đức Khổng Tử khi ra khỏi nước Tề, gạo vừa vo xong, chưa kịp nấu chín, thế mà ngài tiếp lấy vội vã ra đi. Khi ngài ra khỏi nước Lỗ, ngài nói rằng: ‘Ta chầm chậm mà đi thôi.’ Đó là cách buộc lòng rời đất nước của cha mẹ vậy. Lúc cần đi gấp thì ngài đi gấp, lúc cần ở lâu thì ngài ở lâu. Khi nên lui về ở ẩn thì ngài lui về ở ẩn. Khi nên tiến lên làm quan thì ngài tiến lên làm quan. Đó là phong độ của Đức Khổng Tử vậy… Đức Khổng là bậc thánh có đức thời trung.» [8]

Về phương diện cá nhân, có thể nói sự nhận định về niềm tin tưởng của ta về cốt cách, về bản tính con người, có một ảnh hưởng quyết định trong công cuộc tùy thời biến dịch.

Bàn chung về cốt cách con người xưa nay, đại khái có 3 quan niệm khác nhau:

1. Montaigne cũng như các triết gia duy vật hiện nay cho rằng con người chỉ có vật cách, con người chỉ là con vật tiến hóa.[9] Nếu vậy thì đối với họ, thời gian chỉ có thể dùng mà tìm cầu, mà hưởng những lạc thú nhãn tiền.

2. Epictète cũng như các nhà huyền học Âu Châu xưa nay chủ trương con người có thiên cách, thần cách, tiên cách. Như vậy, thời gian và hoàn cảnh chính là lò cừ để luyện cho con người trở nên tinh ròng, thuần túy, toàn chân, toàn thiện.[12] Con người sinh ra phải dùng thời gian và hoàn cảnh, hay cũng như dở mà làm cho sáng tỏ, cho chói chang phẩm cách, thần cách, tiên cách của mình. Đó chính là tùy thời biến dịch dĩ tòng Đạo của Trình Tử.

3. Pascal và các giáo hữu Âu Mỹ hiện nay chủ trương con người chẳng phải là vật, cũng chẳng phải thần. Con người chỉ có nhân cách. Con người là một loài ở giữa thần và vật, một mâu thuẫn sống động, một quái tượng hay là một kỳ quan, mà chỉ có sự mặc khải, qua trung gian của ‘sự điên khùng của thánh giá’ [13] mới có thể giải thích và cứu rỗi được.[14] Trong trường hợp này con người chỉ được cứu rỗi do ân cứu chuộc và nếu giữ được các giới răn, các giáo điều, v.v. và thời gian trần thế trở nên một sự đền bù, phạt tạ, một cuộc chuẩn bị cho lai sinh hạnh phúc vô biên trên thiên quốc.

Sở dĩ ở quẻ Tùy chúng ta vừa phải bàn đến các quan niệm về cốt cách con người, về bản tính con người, cũng như đề cập đến thời gian, không gian và hoàn cảnh ngoại tại, chính là vì giá trị chân thực của chúng ta là một hàm số tùy thuộc nhiều biến số như tín ngưỡng, hoàn cảnh, tính tình, lập trường, quan điểm, chí hướng, trình độ giáo dục, trình độ hiểu biết, v.v. Khi mà những biến số chưa định được hết thì hàm số vẫn còn vô định. Có lẽ vì thế mà Tạp Quái gọi Tùy là Vô cố.

—- Tùy thời dẫu sao cũng vô cùng quan trọng, vì nhờ thời gian và hoàn cảnh với tất cả sự thách đố cám dỗ của chúng mà cốt cách của mỗi người dần dà theo đà thời gian sẽ được minh định bằng tầm hiểu biết, bằng cái yêu cái ghét, cái thích thú đặc biệt của mỗi người, niềm tin tưởng, chí hướng và sự quyết tâm thực hiện chí hướng ấy của mỗi người.

Mới hay: Tùy thời chi nghĩa đại hỉ tai !

—- Quẻ Tùy dạy ta một bài học rất lớn lao là sống phải biết thích ứng với thời gian hoàn cảnh, tuổi tác, và bất kỳ muốn hiểu ai, hiểu việc gì, phải đặt việc ấy, người ấy vào khung cảnh không gian và thời gian của nó.

—- Quẻ Tùy cũng dạy chúng ta rằng cái gì mà tự bản thân chúng ta làm mới đem lại cho chúng ta một nguồn vui thực.

—- Khi đã biết con người có nhiều khuynh hướng, nhiều tính cách khác nhau, ta mới biết cách xử thế hay nhất là tùy thời xử thế, nhập giang tùy khúc và ta mới thấy chữ khoan là trọng.

 Đạo Đức Kinh chương 29 viết:

Những muốn nặn, muốn nhào thiên hạ,

Suy cho cùng, chẳng khá được nào.

 Lòng người nghệ phẩm (thần khí) tối cao,

Ai cho ta nặn, ta nhào tự do.

Ngao ngán kẻ mưu đồ như vậy,

Chẳng chóng chày, hủy hoại lòng người.

 Lòng người ai nắm giữ hoài,

Già tay nắn bóp, bao đời tiêu ma.

Người trần thế (muôn hoa đua nở)

Có nhanh chân, cũng có chậm chân.

 Người nóng nảy, kẻ lần chần,

Người in gang thép, kẻ thuần đào tơ.

Người kiên gan, kẻ như cánh bướm.

Nên thánh hiền sùng thượng chữ khoan.

 Chỉ ngăn quá lạm cực đoan,

Quá giàu, quá chướng, quá ham tiền tài.

Quẻ Tùy trong là sống động, ngoài là vui tươigợi lên cho ta hình ảnh những nhà đạo học Á Đông, bên trong thì dạt dào nguồn sống, mặt ngoài thì hớn hở hồn nhiên, sống cảm thông với người, uyển chuyển linh động, không câu nệ, không chấp nhất, không cứng ỏi, một chiều, một gióng.

Hệ Từ cho rằng nhìn quẻ Tùy, người xưa đã nghĩ ra cách dùng trâu ngựa tải đồ. Hệ Từ viết:

Dùng trâu dùng ngựa tải xa,

Chở cỗ thiên hạ lợi là biết bao.

Ngựa trâu chuyên chở thấp cao,

Quẻ Tùy chỉ vẽ tiêu hao sự tình.

Ngày nay, trông quẻ Tùy và nhân hai chữ Tùy thời ta sẽ dùng thời gian và hoàn cảnh làm thần ngưu thần mã để ngao du lục nữ và để vượt lên đỉnh non thần Thái Cực.

III. QUẺ TÙY ÁP DỤNG VÀO THUẬT TRỊ DÂN

Dịch nơi quẻ Tùy dạy chúng ta một phương pháp trị dân rất là giản dị.

Xã hội chẳng qua chỉ là một tập thể con người. Cái tập thể ấy không nên dùng những luật pháp vô nhân, những biện pháp hà khắc để cai trị.

Trái lại phải tổ chức sao cho mọi người đều nhận định ra được thiện chân, thiện lý, nhận định ra rằng mỗi người sinh ra kẻ nhanh người chậm đều cốt là tạo cho mình một đời sống lý tưởng, gồm đủ chân thiện mỹ.

Phải lấy chân thiện mỹ làm mục phiêu để vươn lên, phải lấy sự công chính là cùng đích để đạt tới, rồi ra cuộc đời của mỗi người cũng được hanh thông, cũng được lợi ích thật sự.

Như vậy nhà vua cai trị dân không phải bằng ý riêng mình mà chính là bằng ý trời, đem luật trời hằng cửu mà ban cho dân, đem lý tưởng toàn thiện mà làm mục phiêu để cùng nhau tiến tới. Được như vậy là tùy Thiên thuận Thiên.

Phương châm thứ hai qua bậc lãnh đạo dân là phải biết tùy theo ý muốn của toàn dân, vì dân đã muốn cũng tức là trời muốn, dân đã muốn tức là trời sẽ theo.[15] Lẽ nào nhà lãnh đạo dân đi ngược lại? Đó cũng là chủ trương của Đại Học. Đại Học viết: «Vui sướng thay bậc quân tử cha mẹ dân, dân ưa thích điều gì, nhà cầm quyền cũng ưa thích theo. Dân chán ghét điều gì, nhà cầm quyền cũng chán ghét theo, vì biết thuận theo dân tâm, đó mới gọi là cha mẹ dân vậy.

Đó tức là:

 Sướng thay là bậc trị dân,

Cùng dân yêu ghét muôn phần chẳng sai.

 Đáng làm cha mẹ muôn người…[16]

Mà ước muốn của dân thật là giản dị: làm sao có được một đời sống bình an sung túc, đầm ấm thuận hòa, không bị quấy nhiễu bóc lột. Tóm lại, sống một cuộc đời đáng sống, không phải thở than, phải xót xa, phải cay đắng cơ cực.

Trị dân mà thuận lòng dân như vậy, thì bất kỳ đề xướng chuyêen gì, dân cũng vui theo, vì họ biết đó là vì họ, vì quyền lợi của họ, và của con cháu họ.

Nếu cai trị mà biết dạy cho dân biết tự động dùng thời gian và hoàn cảnh để cải tạo mình, để tiến tới công chính, tiến tới nguyên tuyền, hoàn thiện, thì còn ai dám trách một vị quân vương như vậy.

– Tượng lại bàn tiếp đến phương châm thứ ba là trị dân phải biết pháp Thiên nhi hành (bắt chước trời mà hành sự). Lúc cần động thì động, lúc cần tĩnh thì tĩnh. Không bắt dân làm gì trái thời trái tiết, để cho dân luôn sống hòa mình vào khối đại vũ trụ.

Đó là bí quyết của thiên Nguyệt Lệnh trong Lễ Vận và đó chính là sự áp dụng kỳ diệu của hai chữ tùy thời vào nghệ thuật trị dân.

Nếu vua trị dân mà biết tùy thời thì triều đình của vua chẳng những gồm có quần thần, mà nhật nguyệt tinh cầu, Nhị thập bát tú cũng đều trở nên những vị quân sư; năm tháng nóng lạnh nắng mưa cũng đều trở nên những quân hầu phục vụ dưới trướng.

Ta có thể dùng mấy vần thơ tóm tắt nghệ thuật tùy thời hành động của người xưa từ đời Nghiêu Thuấn như sau:

Xuân phân tinh đẩu đỉnh đầu,
Dân con nay đã rủ nhau ra ngoài.
Chim muông đẻ trứng, tìm đôi,
Ngày xuân ta chớ buông lơi việc làm.
Tới ngày Hạ Chí chói chang,
Đêm về sao Hỏa hiên ngang đỉnh đầu.
Chúng dân tản mạn dãi dầu,
Chim muông thôi cũng thay màu đổi lông.
Thu phân trú dạ tương đồng,
Sao Hư chập tối vời trông đỉnh đầu.
Dân con mát mẻ bảo nhau,
Chim muông lông lá ra màu tốt tươi.
Đông Chí ngày vắn đêm dài,
Đêm về sao Mão chơi vơi đỉnh đầu.
Dân con ít muốn đi đâu,
Chim muông lông lá trước sau thêm dài. [17]

Các hào tiếp tục bàn đến nghệ thuật tùy thời và thuận thiên, thuận nhân để trị dân.

1. Hào Sơ Cửu cho rằng trị dân phải có phương châm cao cả này là: Luôn luôn theo lẽ chính, luôn theo chính đạo, theo lý tưởng. Trị dân mà lâng lâng vẹn sạch niềm tây, treo gương chính nghĩa, tùy thuận nhân tâm thì còn gì hay hơn.

2. Hào Lục Nhị cho rằng người trị dân cvó hai con đường thuận nhân tâm. Một là theo bầy bọn tiểu nhân, theo thị dục thị hiếu của chúng. Theo tiểu nhân, kích thích nuông chiều thị dục thị hiếu của chúng, âu sẽ mất lòng những người quang minh chính đại, mất lòng những người hiền lương. Không thể nào được vừa lòng cả đôi bên.

3. Hào Lục Tam cho rằng: Nếu thuận theo ước vọng của những người hiền lương công chính thì những kẻ gian tà sẽ lánh mặt xa. Theo đường lối ấy cho cương quyết, cho bền gan, thì sau sẽ hay, sẽ lợi, vì có thể cảm hóa được bọn tiểu nhân tà ngụy.

4. Hào Cửu Tứ cho rằng cai trị thuận nhân tâm không phải là cai trị mị dân. Hơn nữa, một trọng thần mà được lòng dân yêu mến thì phải biết ăn ở cho phải đạo để sao cho lòng người luôn luôn giữ được sự tính thành, hành động luôn luôn hợp nghĩa lý, ngôi vị tuy cao trọng mà không mang tiếng lấn vị vua, quyền thế tuy to tát mà vẫn không đi quá trớn, thế mới là sáng suốt khéo léo. Đó chính là trường hợp Hưng Đạo Vương ba lần phá quân nguyên, phò vua giúp nước mà vẫn trọn được niềm thần tử.

5. Hào Cửu Ngũ: Còn nhà vua ở ngôi vị cao mà luôn luôn sống thuận theo đạo lý, bao giờ cũng tín thành hợp lễ nghĩa, sử xự luôn đúng theo hai chữ Chính Trung, như vậy còn gì đẹp đẽ hơn.

Trong bộ Kinh Thư Đại Toàn có viết: «Vua ở ngôi trung ương trong thiên hạ, tất phải có nhân đức tuyệt vời, mới lập ra tiêu chuẩn tối cao cho mọi người được.» [18]

Lễ Ký cũng viết: «Nhà vua cần phải có một tâm hồn thanh nhã, không chao động, mới có thể giữ gìn được sự công chính tuyệt hảo.» [19]

Nói thế tức là sống ở thời Tùy, khi mà chúng dân đã biết thuận Thiên thuận lý, thì nhà vua phải siêu phàm thoát tục, phải là một vị Chân thiên tử.

6. Hào Thượng Cửu cho rằng: Nếu quân vương cùng với bách quan ai nấy trước sau đều tha thiết một lòng thuận theo đạo lý, thuận theo chính nghĩa, chính đạo, thuận theo ước nguyện của dân, thuận theo nhân tâm mà trị dân, thì dĩ nhiên dân sẽ quy thuận, sẽ một dạ trung thành với vua, với chính quyền. Sự khắng khít gắn bó ấy dẫu chư thần cũng phải cảm động; như vậy lo chi mà giang sơn không bền vững. Đó là phương pháp lập nghiệp của Thái Vương xưa ở đất Kỳ Sơn vậy.

Đàng khác, Dịch nói tùy thời. Vậy khi mà dân đã no đủ, đã vui sướng, đã có một tâm hồn tinh khiết, thì nhà cầm quyền còn có chương trình gì nữa được thực hiện thêm cho họ? Thưa, lúc ấy phải chỉ cho họ con đường trời, phải hướng họ về tuyệt điểm tinh hoa, dạy họ sống một cuộc đời toàn chân, toàn diện, cho mọi người hướng về Hoàng Cực, hội nơi Hoàng Cực. Kinh Thư viết:

Đường trời nọ thẳng vo thẳng tắp,
Vút một lèo tới cực cao minh.[20]

Thế mới chính là ‘tùy thời biến dịch nhi tòng đạo’ cho mình và cho dân. Tòng đạo để các đạo cùng nhau tiến đến tinh hoa thuần túy, vĩnh cửu vô cương.

Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng toàn thể xã hội bao giờ cũng được sắp xếp theo định luật Dịch và đồ biểu Gauss, nghĩa là thượng thánh và hạ ngu thì rất ít, còn kẻ tầm thường thì chiếm đại đa số.

Nói theo Dịch ta có: (A+D) 6= A6 + 6A5D + 15A4D2 + 20A3D3 + 15A2D4 + 6AD5 + D6

Và theo đồ biểu Gauss ta có:

Biết như vậy ta mới hiểu tại sao Trung Dung nói:

Vua Thuấn thực thông minh sáng suốt,
Thích hỏi han, quan sát chuyện đời.
Rồi ra cân nhắc đầy vơi,
Xấu thời đậy điệm, lành thời phô trương.
Hai cực đoan ngài thường giữ lấy,
Chỉ xem điều vua phải dậy dân,
Thảo nào vua Thuấn tiếng tăm.[21]

************         

CHÚ THÍCH

[1] Trích từ phần bình luận quẻ TÙY trong quyển Chu Dịch Giảng Bình của Bs Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, quyển 2, sách Ronéo, Saigon, 1974, tr. 15-26.

[2] Tout Cycle parcouru par une âme est mesurée par un temps. mais tandis que le cycle de chacun des autres âmes est mesuré par un certain temps, le cycle de la première Âme qui soit soumise à la mesure du temps est mesuré par le temps total.

Comme tous les mouvements des ces âmes en effet, comportent succession, il en est de même de leurs cycles périodique, en sorte que ceux-ci sont mesurés par un temps, et le temps est cela même qui mesure tous les cycles périodiques des âmes.

La Religion essentielle, p. 101.

[3] Trích dịch bài thơ Le Lac của Lamartine.

[4] Dịch Kinh Đại Toàn, viên đồ, tr. 41

[5] Tiên Thiên Luận Ngữ 先 天 論 語 , 5.

[6] Đại Toàn, Chu Dịch Trình Tử truyện tự

[7] Xem Le Lac của Lamartine.

[8] Mạnh Tử, Vạn Chương [hạ], 1.

[9] … En effet, Montaigne le sceptique abaisie l’homme au niveau de la bête, lorsqu’il dénie à la raison la capacité de connaître la vérité, et par la même, ravale son orgueil.

La Table Ronde, No 171, Avril 1962, p.123.

[10] Xem Le Lac của Lamartine.

[11] Xem Le Lac của Lamartine.

[12] Epictète le Stoïcien, exalte l’homme au-dessus de lui-même, jusqu’à en faire un Dieu, un rival du Ciel, qui se suffit à lui même, et de lui-même se perd du se sauve, selon qu’il soit vivre ou non selon la raison. La Table Ronde, No171, Avril 1962, p. 125

[13] La langage de la croix est en effet folie pourceux qui se perdent, mais pour ceux qui se sauvent, il est puissance de Dieu.» I Cor. 1.18.

[14] Pascal se sert du scepticisme de Montaigne pour ‘abaisser’ ‘l’orgueil stoïcien, et de celui-ci pour élever l’homme au dessus de la bête… L’homme est contradiction vivante ‘monstre’ ‘prodige’ que la seule révélation, à traverse la ‘folie de la Croix’ peut expliquer et sauver…

La Table Ronde, No171, Avril 1962, p. 126

[15] Thiên thị tự ngã dân thị. Thiên thính tự ngã dân thính. 天 視 自 我 民 視 . 天 聽 自 我 民 聽. Thư Kinh, Thái Thệ, Trung, 7.

… Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi. 民 之 所欲 天 必 從 之. Thư Kinh, Thái Thệ, Thượng, 11.

[16] Xem Đại Học, chương 10.

[17] Xem Thư Kinh, Nghiêu Điển. Xem Nguyễn Văn Thọ, Khổng Học Tinh Hoa, tr. 229, 230, 231.

[18] Nhân quân cư thiên hạ chi trung, tắc tất hữu thiên hạ chi tuyệt đức, nhi hậu khả dĩ lập chí cực tiêu chuẩn. 人 君 居 天 下 之 中 , 則 必 有 天 下 之 絕 德 , 而 後 可 以 立 至 極 之 標 準. Kinh Thư Đại Toàn, quyển III, tr. 27

[19] Vương trung tâm vô vi dã, dĩ thủ chí chính. 王 中 心 無 為 也 , 以 守 至 正. Lễ Ký, Lễ Vận, tiết 2. Xem thêm Nguyễn Văn Thọ, Khổng Học Tinh Hoa, tr. 240.

[20] Kinh Thư, Hồng Phạm, tiết 1: Vương đạo chính trực; Hội kỳ hữu cực; Quy kỳ hữu cực. 王 道 正 直 ; 會 其 有 極 ; 歸 其 有 極.

[21] Trung Dung, chương 6.

************         

BÌNH GIẢNG QUẺ BÁC

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Quẻ Bác là một trong 12 quẻ dùng để chỉ sự vận chuyển tuần hoàn của guồng máy Âm Dương, của tiết khí, cũng như để mô tả sự doanh hư tiêu tức, sự thịnh suy, thăng trầm, tụ tán của vũ trụ và vạn vật. Mười hai quẻ đó là:

Cấu Độn Bĩ Quan Bác Khôn

—→ Âm trưởng – Dương tiêu →

Phục Lâm Thái Đại Tráng Quải Kiền

—→ Dương trưởng – Âm tiêu →

Ta nhận thấy ở nơi sáu quẻ trên (từ Cấu đến Khôn), Âm là chủ và Dương biến dần thành Âm. Ở nơi sáu quẻ dưới (từ Phục đến Kiền), Dương là chủ và Âm biến dần thành Dương. Đó là sự biến hóa hai chiều, hai mặt của một thực thể là Thái Cực mà ta có thể dùng phương trình của Einstein mô tả như sau:

E = m x C2

Nếu vẽ hình (đồ bản) để cho thấy rõ sự biến thiên, tuần tự, sự tiêu trưởng, tụ tán, ta sẽ có hai đồ bản như sau:

Đồ bản 1

Đồ bản 2

Thấu triệt hai đồ bản này, ta sẽ hiểu lẽ biến dịch, tiết tấu của vũ trụ, của lịch sử nhân quần, và của vạn vật.

Ta sẽ lần lượt tháo gỡ ít nhiều cơ vi huyền nhiệm của vũ trụ và của Dịch lý:

A. VỀ VŨ TRỤ

Ta thấy rằng vũ trụ có tụ có tán. Vũ trụ của chúng ta còn ở trong thời tán, và ngày nay đang tiến về phía biên.

Nhờ phương pháp thâu quang phổ (spectroscopie) và dựa vào định luật Doppler-Fizeau [1] các nhà thiên văn học khám phá ra rằng giải Ngân Hà đang đua nhau tiến về miền biên viễn, và vũ trụ y như cái bọt xà bông của trẻ con chơi đang được thổi phồng lên, theo lý thuyết của Georges-Lemaître, đã được Hubble và Eddington xác nhận.[2]

Sư kiện khuếch tán, nở nang này càng ngày càng đưa các vì sao xa dần trái đất; muôn triệu vì sao không còn đủ soi cho trái đất,[3] sức nóng của các vì sao không được dùng để sưởi ấm hay nung nấu trái đất.

Nhìn vào quang phổ, ta thấy quang phổ các giải ngân hà xê dịch dần về phía màu đỏ, y như tiếng còi tàu càng ngày càng thấp giọng, khi tàu trườn mình phóng mãi xa ta.

Khi tới một cực điểm nào đó, các vì sao sẽ có lúc quay gót trở về dần cùng trái đất. Và trong một tương lai xa xăm có lẽ những vì sao đã già nua tuổi tác ấy sẽ trở thành những ngọn đèn điện soi đêm cho nhân quần, sưởi ấm cho trần hoàn, để không còn những ngày giá băng, không còn có những đêm trường tăm tối.[4]

B. PHÁC HỌA SỰ BIẾN THIÊN CỦA TIẾT KHÍ, BỐN MÙA

Mười hai quẻ Dịch tiêu tức nói trên còn được dùng để phác họa lại bộ mặt biến thiên của khí tiết, của bốn mùa, từ những:

«Ngày xuân con én đưa thoi,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.» [Kiều]

cho đến:

«Rừng thu từng biếc chen hồng,

Nghe chim như nhắc tầm lòng thần hôn.» [Kiều]

Quẻ Bác là quang cảnh của tháng 9, tháng 10 âm lịch, từ Sương Giáng đến Tiểu Tuyết,[5] lúc trời đất đã đem sương pha tuyết phủ lên cỏ cây, làm cho «cây trơ trụi lá, cành xác xơ cành». Lúc ấy may mắn lắm mới còn được một vài quả lủng lẳng trên những cành cao; còn lại được là vì người muốn ăn mà ngại hái.

C. TRÀO LƯU LỊCH SỬ

Xét về trào lưu lịch sử thì Bác là lúc vật đạo thịnh, thiên đạo suy. Bao nhiêu cái đẹp cái hay đều chạy ra ngoài bì phu, dồn cả vào vật chất.

Đó là thời kỳ mà nhân loại chạy theo dục vọng, tiền tài, bỏ cái gốc là đức hạnh, mà chạy theo cái ngọn là danh lợi.[6]

Xét về phương diện vật chất thì đó là một thời kỳ huy hoàng, vàng son nhất, nhưng xét về phương diện tinh thần thì đó lại là thời kỳ sa đọa nhất. Đó là thời kỳ mà:

«Hình thời còn bụng chết đòi nau.»

Đó cũng là thời kỳ mà tiểu nhân thời gióng trống phất cờ, còn quân tử thì lao đao lận đận, chạy được miếng ăn cũng khó, giữ được thân là may.

Lịch sử chẳng qua là một sự diễn biến cộng đồng, theo định luật của toán xác suất từ tụ đến tán; từ trị đến loạn; từ chính đến tà; từ đức đến tài; từ nhất đến vạn; từ thiên đạo đến nhân đạo, đến vật đạo; từ tinh thần đến vật chất; từ thiên lý đến nhân dục; từ tinh thần đến thể xác; nội tâm đến hoàn cảnh; từ phúc đến họa; từ lạc đến bi. Hết vòng rồi quay ngược lại như nước thủy triều khi lên khi xuống, và con người thì như thân phận cánh bèo trôi dạt trên dòng thời gian, mặc tình cho ba đào thế sự dập vùi, không mấy khi tự mình điều khiển được gót lãng du phiêu bạt của mình.

Xét về chiêm tinh học thì quẻ Bác ứng với cung Ma Yết. Ma Yết là con bọ cạp, cũng có khi còn được đổi thành con phượng, con diều. Đó là thời kỳ mà tiểu nhân như con bọ cạp dùng nọc độc hại người, không còn phương sách ám muội đê hèn nào mà họ chẳng dùng, để thủ tiêu những người mà họ xét là chướng tai gai mắt.[7]

Con bọ cạp tượng trưng cho dục vọng, cho đấu tranh, cho xâm lăng, cho chinh chiến,[8] và thời kỳ này cũng là thời kỳ địa ngục của trần gian,[9] một thời kỳ lao lung khổ sở mà con người phải qua trước khi hồi tâm trở về cùng chân lý chân đạo.

D. THỜI GIAN CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Quẻ Bác đối với một con người thì là khoảng 30-35 tuổi, gần nửa đời, nửa đoạn, đang còn chạy theo những vật dục, những chuyện ăn mặc, hưởng thụ bên ngoài, như là đứa con hoang đàng đang xài phá đến mức hầu khánh tận cái gia tài tinh thần mà lúc sơ sinh trời đã phú thác cho.

Quẻ Bác như vậy cho ta thấy sự phá tán tinh thần của những hạng người ngoại quân tử nội tiểu nhân, ngoài thì hào nhoáng lộng lẫy mà trong lòng thì là hang ổ rắn rết, trộm cướp. Đứng về phương diện đạo lý, đó là những hạng người đang sống trong giấc mơ trần thế, bao nhiêu tình dục dồn cả ra ngoài, sống vong thân mà vẫn hỉ hả; sống trong mê loạn mà vẫn tưởng mình trong sáng, nhưng rồi ra:

«Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.» [Cung Oán]

Để lồng quẻ Bác vào trong khúc nhạc biến thiên của vũ trụ và của con người, ta hãy ghi lại tất cả những nhận xét trên vào trong một đồ bản sau đây:

Sau khi đã bình giải rộng về lẽ doanh hư tiêu tức của đất trời bằng 12 quẻ Dịch, ta cũng nên nhận định rằng 4 chữ doanh, hư, tiêu, tức thường được dùng để chỉ sự thịnh suy của Dương khí,[10] ta có thể vẽ lại như sau:

Để trở về quẻ Bác, ta có thể tóm tắt đại khái như sau:

Bác là tiêu hao, bác lạc; quần âm muốn tiêu ma, hủy diệt cho hết mọi hào Dương.

Bác ứng với thời kỳ quân tử suy, tiểu nhân thịnh, thời kỳ mà các tiêu chuẩn giá trị được dựa trên các căn bản thực dụng, vật chất và ngoại cảnh.

Bác ứng vào tháng 9 (kiến Tuất), ứng vào khoảng từ Sương Giáng đến Tiểu Tuyết.

Ta có thể bình đại khái về quẻ Bác như sau:

Bác là bác lạc suy tàn, âm khí tăng, dương khí giảm, tà thuyết thịnh, chính đạo suy. Đó là thời kỳ mà năng lực triển dương, khuếch tán của trời đất đã gần hao kiệt theo nguyên lý «năng lực tiêu hao»[11] của Carnnot Clausius… Đó là thời kỳ mà nơi kinh thành thì thiếu lãnh tụ anh minh, ngoài đồng nội vắng hiền nhân quân tử…

Đó là thời kỳ mà mọi người trở nên cao ngạo, nhố nhăng, không còn biết thế nào là phải là hay, sống gặp hay chăng chớ. Đó là thời kỳ nhiễu nhương ly loạn, sẻ nghé tan đàn, làm ta liên tưởng đến mấy vần Kinh Thi:

«Lạnh lùng gió bấc lọt da,
Bời bời mưa tuyết, tuyết sa đầy trời!
Ai ơi ai có yêu ai,
Dắt nhau ta kiếm một nơi đi cùng.
Còn gì là cái thung dung,
Sự đời đã giục bên lòng xiết bao !» [12]

Đạo trời tuần hoàn: đầy rồi lại vơi, vơi rồi lại đầy; thịnh rồi lại suy, suy rồi lại thịnh.
Bác đến cùng cực sẽ khốn khổ đến điều… Khốn khổ đến điều người ta sẽ xót xa, hối tiếc vì những lầm lỗi của mình vì đã chiêu lấy họa hoạn. Khi con người biết hối tiếc tức thì cơ trời sẽ xoay chuyển, và Dương sinh, và ánh sáng hạnh phúc thịnh trị sẽ dần dà trở lại với nhân quần.

Lý Long Sơn bình rằng:
«Doanh hư tiêu tức là do thời vận xui nên. Người quân tử nên trọng lẽ trời. Như thế, dẫu ở vào thời Bác cũng không đến nỗi phải thở than sầu muộn, cũng không đến nỗi phải đổi dạ thay lòng. Vì biết rằng sau thời Bác sẽ có thời Phục, nên bình tâm chờ đợi. Nếu không thế mà lại giận vì thấy tiểu nhân đắc thế, ra sức kình chống, ắt sẽ khiến cho bọ cạp xỉa ngòi độc ra mà đốt hại, đến nỗi phải thân tàn ma dại, không có thuốc nào cứu vãn được.» [13]

Bác theo Từ Nguyên là búa rìu đang ra sức chặt, chém cho cây trở nên xơ xác.[14]

Thoán Từ cho rằng đó là thời kỳ tiểu nhân hoành hành, còn người quân tử thì chẳng làm ăn dở dói gì được. Dịch Kinh an ủi người quân tử hãy nên nhẫn nhục, hãy nên biết cơ trời, thời trời, đừng có buồn, bởi vì:

«Sông có khúc, người có lúc.»

Hay: «Anh hùng mà gặp khúc lươn,
Khi cuộn thời ngắn, khi vươn thời dài.»

Tượng Từ thì tạm quên những chuyện phôi pha, bác lạc mà lại dạy ngược lại rằng: Khi người quân tử ở trên mà cầm quyền trị dân, phải biết chăm sóc cho dân, vì dân là nền tảng cho quốc gia; dân có hay thì mình mới vững; mình mà mất dân thì cũng như núi mất đất, sẽ không còn nơi nương tựa, và cảnh suy vong bác lạc sẽ theo sau.

Trong quẻ Bác, trên là một hào Dương liền, dưới là 5 hào Âm, trông chẳng khác gì cái giường có chân, có mặt; hay cái nhà có mái có vách.

Vì thế mà hào Sơ, hào Nhị, hào Tứ vẽ ra một cảnh phá giường. Hết chặt chân giường (hào Sơ) rồi lại phá tới khung giường (hào Nhị), hết thang giường rồi lại xoay tới cả đến người nằm bên trên (hào Tứ).

Ý nói rằng: Tiểu nhân có nhiều thủ đoạn để hãm hại người quân tử. Khi họ đắc thế, có bầy có bọn, mà quân tử thì lẻ bạn lẻ bầy, cô thân cô thế, họ sẽ tìm cách hại người quân tử. Họ làm cho người quân tử mất công mất việc, mất cơ sở sinh nhai, mất cả môi trường hoạt động, mất sự an lạc tĩnh lãng, hồn nhiên. Ví như người quân tử có cái giường, mà tiểu nhân đến chặt chân cho khập khiễng, đến phá thang, phá giát cho hư, cho gẫy (hào Sơ và Nhị). Chẳng những thế, họ còn muốn vạc da đẽo thịt người quân tử, làm cho lầm than điêu đứng, họ mới vui, mới thỏa (hào Tứ).

Tuy nhiên, không phải là ai cũng xấu. Có những người tuy bề ngoài về phe phái với tiểu nhân nhưng trong lòng vẫn hướng về người quân tử, vẫn muốn ám trợ người quân tử. Đó là Trần Bình không nỡ chuốc rượu cho Bái Công nơi Hồng Môn hội yến, để Bái Công khỏi say sưa mà thất thế; sau lại còn giúp cho Bái Công đào tẩu;[15] đó là Từ Thứ tuy bề ngoài về với Tào Tháo mà lòng vẫn hằng ám trợ cho Lưu Bang[16] (hào Tam).

Hơn thế nữa, có những người đã lên tới bậc lãnh tụ quần âm, đã thống suốt cả bầy cả đảng tiểu nhân, mà có khi còn biết xướng xuất dắt nhau về cùng chính nghĩa. Đó là như trường hợp của vua A Dục đem dân về cùng Phật Giáo, vua Constantin, vua Clovis đem dân về cùng Công giáo, v.v. (hào Ngũ).

Gặp thời Bác, tức là thời đảo điên ly loạn, thì số người quân tử còn lại cũng rất là thưa thớt, y như là một vài quả may ra còn sót lại đầu cành.

Tuy ít, nhưng đó chính là hứa hẹn cho sự phục sinh tinh thần sau này, và cũng chính là bằng chứng chính nghĩa chẳng bao giờ bị sức gì có thể làm suy vong tiêu diệt được. Mà lạ hơn nữa, người quân tử khi ấy vẫn được dân kính, dân tôn, vẫn có thể còn được lên xe xuống ngựa…

Kẻ tiểu nhân nếu cố tâm hủy diệt cho tận tuyệt quân tử, cho tận tuyệt chính nghĩa và đạo lý, thì có khác chi con người ngu dại tự nhiên đi kéo sập mái nhà mình đang ở, rồi ra sẽ lấy gì mà che nắng che mưa. Thế chính là Hàm huyết phún nhân tiên ô tự khẩu (Ngậm máu phun người trước dơ miệng mình) (hào Thượng Cửu).

*****

Thế mới hay:

Gặp thời điên Bác, phải khôn ngoan,

Phải biết dừng chân chớ tiến càn.

Trời đất doanh hư, người phúc họa,

Đừng vì cảnh ngộ loạn tâm xoang. [Thoán]

*

Núi kia nhờ đất mới vươn cao,

Vua phải nhớ dân mới vững trào.

Hãy biết thương dân, thương bách tính,

Lòng người tựa vững mới anh hào. [Tượng]

*

Tiểu nhân có lúc cũng lên hương,

Quân tử hãy lo chuyện phá giường.

Phá hoại chân giường, giường khập khiễng,

Sinh nhai trắc trở ắt tang thương.

[Sơ Lục: Bác sàng dĩ túc.]

*

Phá chân chưa thỏa, phá thang giường,

Độc ác bày chi cảnh nhiễu nhương?

Quân tử bơ vơ vương tủi hận,

Lầm than cám cảnh, nẫu can trường.

[Lục Nhị: Bác sàng dĩ biện]

*

Theo bọn tiểu nhân, chẳng tiểu nhân,

Cũng vì sinh kế mới vong thân.

Nhưng lòng chê chối phường đơn bạc,

Quân tử trước sau quyết đỡ đần.

[Lục Tam: Bác chi vô cữu.]

*

Tiểu nhân mà mạnh thế thời thôi,

Cái nạn Cao Cầu sắp tới nơi.

Quân tử có thân nên bảo trọng,

Kẻo không cùng khốn, cũng tơi bời.

 [Lục Tứ: Bác sàng dĩ phu.]

*

Thống suất quần âm bỏ nẻo tà,

Cải tà qui chánh mới vinh ba.

Như vì vương nữ đưa cung nữ,

Về với quân vương vẹn xướng hòa.

 [Lục Ngũ: Quán ngư.]

*

Gặp thời bác lạc thế chênh vênh,

Quân tử khác chi quả mót cành.

Quân tử lúc cùng dân vẫn trọng,

Tiểu nhân quá quắt ắt điêu linh.

 [Thượng Cửu: Thạc quả bất thực.]

——————-     

CHÚ THÍCH

[1] En 1842, un professeur de mathématiques autrichien, Christian Doppler, découvrit ce que nous connaissons sous le nom d’effet de Doppler.

… Les ondes de lumière nous paraissent plus longues lorsqu’elles nous proviennent d’un objet qui s’éloigne de nous; elles semblent plus courtes et entassées «si l’objet s’approche de nous… Les ondes lumineuses en provenance d’une source qui s’éloigne tendent donc à se porter vers la zone rouge du spectre; c’est ce qu’on appelle le décalage vers le rouge». Les astronomes en sont arrivés à la conclusion que ce décalage, observé dans le spectre lumineux d’un corps céleste, signifie que ce corps s’éloigne de l’observateur.

 Bruce Bliven, Pourquoi fait-il noir la nuit. Sélection du Reader’s Digest, Septembre 1963, p. 47.

[2] Georges Lemaître avait expose, avec une rigueur impeccable la théorie d’un univers en expansion… (Eddington) constata que Lemaître avait prédit le phénomène observé par Hubble, et que la fuite des néculeuses trahissait une expansion de l’univers. — Pierre Rousseau, Histoire de la Science, p. 769.

[3] Le ciel est noir la nuit parce que l’univers se dilate. (Dr. Olbers) Sélection, Septembre 1963, p.48.

[4] Il n’y aura plus de nuit: donc nul besoin de la lumière d’un flambeau ou de la lumière de soleil, car le Seigneur Dieu les illuminera et ils règneront pour les siècles des siècles. — Apocalypse, XXII, 5 (Bible de Crampon)

[5] Dương bác vu cửu nguyệt chi sương giáng nhi tận ư thập nguyệt chi tiểu tuyết. 陽 剝 于 九 月 之 霜 降 而 盡 於 十 月 之 小 雪. — Song Phong Hồ Thị, Chu Dịch Đại Toàn, quẻ Bác, Thượng Cửu.

[6] Đức giả, bản dã. Ngoại bản, nội mạt. Tranh dân, thi đoạt. 德 者 本 也 .外 本 , 內 末 .爭 民 , 施 奪. Đại Học, chương 10.

[7] Tiểu nhân chi dục khử quân tử, từ bất thuận, lý bất trực, tất thê phỉ tẩm nhuận dĩ xâm thực chi, sử chi nhật tiêu, nguyệt thước nhi bất tự tri, cố viết biến. 小 人 之 欲 去 君 子, 辭 不 順 , 理 不 直 , 必 萋 斐 浸 潤 以 侵 蝕 之 , 使 之 日 消 , 月 鑠 而 不 自 知 , 故 曰 變 . — Trần Long Sơn, Dịch Kinh Đại Toàn, quẻ bác, Tượng.

[8] Le Scorpion présidera non seulement au désir mais aussi à la destruction. Sur le plan physiologique, il gouverne non seulement les organes sexuels, mais aussi le processus de dégradation et de putréfaction. (Le Scorpion sera le champ de bataille du zodiaque) — Cyrille Wilczkowski, L’homme et le Zodiaque, p. 221.

[9] … L’enfer Scorpionique régénérateur, par lequel ils (les hommes) devront passer pour atteindre la réalisation ultime du Verseau. — Sénard, Le Zodiaque, p.295.

[10] Tiêu tức doanh hư, giai vi dương ngôn. Phục giả dương chi tức. Cấu giả dương chi tiêu. Kiền giả dương chi doanh. Khôn giả dương chi hư. 消 息 盈 虛 皆 為 陽 言 復 者 陽 之 息 姤 者 陽 之 消 乾 者 陽 之 盈 .坤 者 陽 之 虛 (Hồ văn Phong) Dịch Kinh Đại Toàn, quẻ Bác, Thoán.

[11] Lors de sa conversion en chaleur, il y a dégradation définitive de l’énergie… Le processus en question a été nommé par Clausius, Entropie (Entre Savoir et Croire Intro. XXIII).

[12] Tản Đà, Kinh Thi, Bắc Môn, tr. 131.

[13] Long Sơn Lý thị viết: Tiêu tức doanh hư nãi thời vận chi sử niên. Quân tử thượng chi dữ thời giai hành. Tuy xử Bác chi thời nhi bất chí ư tu ta thích ưu nhi biến kỳ sở thủ giả. Tri kỳ hậu chi tất phục, nhi bình tâm ninh nhi dĩ đãi chi dã. Bất nhiên, bất phẫn quần âm chi tiến, tận lực dĩ kháng chi, tất kích kỳ sãi vĩ chi độc, cam thụ kỳ tồi bác ma lạn chi họa, nhi bất khả cứu dược hĩ. 隆 山 李 氏 曰 消 息 盈 虛 乃 時 運 之 使 然 君 子 尚 之 與 時 偕行 雖 處 剝 之 時 而 不 至 於咨 嗟 戚 憂 而 變 其 所 守 者 知 其 後 之 必 復 而 屏 心 寧 而 以 待 之 也 不 然 , 不 憤 群 陰 之 進 , 盡 力 以 抗 之 , 必 激 其 蠆 尾 之 毒 , 甘 受 其 摧 剝 摩 爛 之 禍 而 不 可 救 藥 矣 . — Dịch Kinh Đại Toàn, Bác, Thoán.

[14] Bác hay 剝 tạo thành bởi các bộ phận: ♮ (Ký: rìu), nét 丿(chỉ sự chặt), nét | (cây), nét — (đã bị chặt đầu), nét >< (vỏ và lá rụng xuống quanh cây).

 Xem Léon Wieger, Leçons étymologiques, tr. 132 (Leçon 68F).

… Xem Mathieu 3, 10: «Déjà la cognée est à la racine des arbres…»

[15] Xem Tây Hán Chí, (Thanh Phong dịch), tr. 131.

[16] Xem Tam Quốc Chí, (tử Vi Lang dịch), tr. 653 và 869.

Design a site like this with WordPress.com
Get started