Ngồi thiền

Ngồi thiền

Ngoi thien, Ngồi thiền.
Ngồi thiền.
Thiền là những phương pháp giúp hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà chúng ta muốn và đang làm. Nó giúp điều chỉnh tình trạng mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh – hậu quả của quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng.
Có nhiều phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp người luyện tập tập trung chú ý vào một điểm ở trong hoặc ngoài cơ thể, tập trung vào một đề tài, hình ảnh hoặc câu “chú” nhất định nhằm đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh, trong tâm không còn bất cứ ý niệm nào. Các bước thông thường của một lần ngồi thiền bao gồm:
1. Chuẩn bị
Trước khi ngồi thiền, cần hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày để tư tưởng khỏi vướng bận. Tắm rửa sạch sẽ, nới lỏng quần áo, chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.
2. Tư thế
Có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông thường, ngồi bán già hoặc kiết già. Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được. 
Tư thế kiết già (thế hoa sen) đặc biệt thích hợp cho việc ngồi thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn tay nắm bàn chân phải từ từ gấp chân lại và đặt bàn chân lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng bàn chân ngửa lên trời. Kế tiếp, dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân vào sát bụng, bàn chân ngửa lên trời. 
Các đạo sư Yoga cho rằng, vị thế khóa nhau của hai chân trong tư thế kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa ở dưới cùng của cơ thể, khiến dòng năng lượng có khuynh hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực dọc theo cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh. Những thí nghiệm khoa học về Yoga cho thấy, chỉ cần ngồi tư thế hoa sen, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một sự thay đổi ở sóng não từ nhịp beta khoảng 20 chu kỳ mỗi giây xuống nhịp alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây. Nhịp alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh mẫn.
Kết quả trên cũng phù hợp với lý luận của y học cổ truyền, rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng chân trái đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao ở chân phải (chỗ lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng 6 cm). Như vậy, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt này sẽ được kích thích liên tục. Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm Tỳ, Can và Thận; nên kích thích này sẽ có tác dụng “thông khí trệ”, “sơ tiết vùng hạ tiêu” và điều chỉnh những rối loạn (nếu có) ở những kinh và tạng có liên quan. Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, bệnh nhân “âm hư hỏa vượng” hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều và những phụ nữ đang ở tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận được hiệu quả khi ngồi ở thế kiết già.
3. Giảm các kích thích giác quan
Một trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu. Người xưa gọi là “bế ngũ quan”.
Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy, chỉ cần nhắm mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50% các kích thích từ bên ngoài. Do đó, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền (mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt).
4. Giãn mềm cơ bắp
Ngày nay, khoa học đã biết rất rõ tác động qua lại giữa 2 yếu tố thần kinh và cơ. Khi thần kinh căng thẳng, trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Ngược lại, nếu điều hòa trương lực cơ bắp ở mức thư giãn thì thần kinh cũng sẽ được ổn định. Chúng ta dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát một người đang giận dữ. Khi tức giận, gân cổ nổi lên, cơ bắp căng cứng, bàn tay nắm chặt… Đó là lúc thần kinh quá căng thẳng. Ngược lại, hãy nhìn một người đang ngồi ngủ gật trên xe. Lúc người này thiếp đi là lúc thần kinh thư giãn, tâm không còn ghi nhận ý niệm gì cụ thể; cơ bắp cũng giãn mềm nên đầu dễ dàng ngoẹo sang một bên. Vì vậy, trong quá trình hành thiền, việc chủ động giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.
Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ bàn tay là đủ. Điều này căn cứ vào hai quy luật. Thứ nhất, mặt và hai bàn tay là những vùng phản chiếu, có các điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể. Do đó, nếu thư giãn được vùng mặt hay hai bàn tay thì sẽ thư giãn được toàn thân. Thứ hai, theo học thuyết Paplop, khi tập trung gây ức chế thần kinh một vùng hoặc một điểm ở vỏ não (qua hiệu ứng thư giãn) thì sự ức chế này sẽ lan tỏa gây ức chế toàn bộ vỏ não.
5. Tập trung tâm ý
Đây là giai đoạn chính của buổi hành thiền. Như đã nói ở phần trên, thiền chính là sự tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào. Để thư giãn thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình trạng tập trung vào này trong một thời gian nhất định. Điều quan trọng là nên tập đều đặn hằng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau một thời gian, khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền thì việc ngồi vào tư thế, nhắm mắt, việc đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp sẽ hình thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập vào trạng thái thiền định.
Về điểm để tập trung tư tưởng, nhiều trường phái thường chọn huyệt Đan điền (bụng dưới, cách dưới rốn khoảng 3 cm). Nên tập trung vào điểm này vì nhiều lẽ. Theo y học cổ truyền, “thần đâu khí đó”. Khi tập trung vào một điểm ở vùng dưới cơ thể thì khí và huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới, làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, dễ dẫn đến nhập tĩnh. Đan điền còn gọi là Khí hải hay Khí huyệt, ngụ ý là nơi “luyện thuốc”, là “bể chứa khí”. Đan điền là một huyệt quan trọng trong việc luyện dưỡng sinh của các đạo sĩ, các nhà khí công.
Những người tâm dễ xao động cần một phương pháp kiểm soát tâm chặt chẽ hơn. Nên kết hợp quan sát hơi thở với việc tập trung tại Đan điền bằng cách quan sát sự phồng lên và xẹp xuống tại bụng dưới. Lúc hít vào, bụng dưới hơi phồng lên; lúc thở ra, bụng dưới hơi xẹp xuống. Chỉ cần thở bình thường. Không cần quan tâm đến thở sâu hay thở cạn, đều hay không đều. Điều quan trọng ở đây là tập trung quan sát để biết rõ ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động phồng lên hay xẹp xuống ở bụng dưới. Sở dĩ chọn quan sát hơi thở ở bụng dưới mà không phải ở đầu mũi hoặc ở ngực là nhằm tạo quán tính thở sâu kết hợp với việc phát sinh nội khí ở Đan điền như đã nói ở phần trên. Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào. Điều này là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra thì tập trung trở lại Đan điền hoặc tiếp tục quan sát hơi thở vào ra là đủ. Lâu dần, những tạp niệm sẽ bớt đi, thời gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ hơn, cho đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi thở. Nếu thường xuyên đạt đến tình trạng này, có nghĩa người tập đã tiến được một bước rất dài.
6. Xả thiền
Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy, cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sống mũi, từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.
Việc xả thiền tùy thuộc vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.
Một vấn đề mà những người mới tập thiền thường thắc mắc là liệu ngồi thiền có gây nguy hiểm gì không? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào phương pháp và động cơ của việc ngồi thiền. Một số phương pháp thiền phối hợp với vận khí hoặc có sự hỗ trợ khai mở các trung tâm lực trong cơ thể nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sinh khí và gia tăng nội lực. Các phương pháp này có thể gây những nguy hiểm nếu người tập thiếu những kiến thức về khí công, về y học truyền thống, hoặc không có đạo sư hướng dẫn để vận dụng và kiểm soát kịp thời nguồn năng lực mới phát sinh. 
Trái lại, nếu ngồi thiền để đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm trí, thư giãn thần kinh và tăng cường sức khỏe, không vận khí, không bám víu vào bất cứ ảo giác, âm thanh hoặc hình ảnh nào thì không có gì nguy hiểm.
(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)

Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO

Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO 
Y HOC TRONG TU TUONG PHAT GIAO

Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO, Y HOC TRONG TU TUONG PHAT GIAO

Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO

 

Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO,
Y HOC TRONG TU TUONG PHAT GIAO
Y HỌC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO.
Loài người bước sang thế kỷ 21 với những tiến bộ vượt bực không ngừng của khoa học, kỹ thuật đã cải thiện rất nhiều về đời sống tiện nghi vật chất cho con người. Nhưng không hẳn ai nấy đều “ăn được ngủ được”, cho dù la liệt đủ loại thức ăn, thức uống bày ra khắp mọi nhà hàng, thêm vào sống giữa thời đại “fast food” có ngay, ăn ngay thử hỏi có bao nhiêu người để ý đến những cái gì nên ăn và những cái gì không nên ăn. Không những thế thường trực căng thẳng vì phải chạy đua với những thay đổi ào ạt của xã hội, vật lộn với đời sống vật chất, do đó không ít người mắc chứng bệnh thiếu ngủ, bệnh mất ngủ (insomnia) và nhiều chứng bệnh khác nữa. Có lẽ giấc ngủ hồn nhiên không mộng mị phải dành cho trẻ thơ hay những người không còn bị ràng buộc, cám dỗ bởi vật chất của thế gian này không chừng. Phải chăng để “thành tiên” vẫn còn là giấc mơ của con người hiện đại? Trong phạm vi giới hạn bài viết mạo muội phác họa qua nhãn quan nhà Phật nhìn thế nào về nguyên nhân bệnh trạng cũng như đưa ra cách chữa trị mang lại sức khỏe con người.
Sự sống cũng như sự chết là việc lớn, hệ trọng của kiếp nhân sinh và cũng từ thủa tạo thiên lập địa từ khi có con người trên hành tinh trái đất, để sinh tồn con người phải đối phó với những đe dọa thường xuyên từ bên ngoài như thiên tai, bão tố, động đất, thời tiết, dã thú, v.v song song với đó con người cũng phải luôn luôn trực diện với ốm đau, bệnh tật phát sinh từ bên trong cơ thể. Đây là một trong bốn cửa ải đoạn trường của kiếp nhân sinh Sinh, Lão, Bệnh, Tử mà bất cứ ai trong chúng ta dù già, trẻ, lớn bé đều phải trải qua. Đời sống xã hội loài người càng tiến bộ về khoa học, nhiều sáng tạo y học ra đời một số những bệnh được xem như nan y thủa xưa như bệnh đậu mùa, bệnh bại liệt thì nay không còn nữa, nhưng đồng thời nhiều bệnh trạng mới khác lại nảy sinh như các chứng bệnh ung thư, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer) mà vẫn chưa có phương thuốc chữa trị hoàn hảo. Vì thế làm sao có được thân thể khỏe mạnh không ốm đau với tâm hồn an nhiên thư thái, giấc ngủ ngon vẫn là vấn đề quan trọng cần thiết của đời sống con người.
Cách đây hơn 2500 năm một nhà tôn giáo, nhà tư tưởng siêu việt, nhà Tâm Lý Học, nhà Thiên Văn Học, nhà Xã Hội Học và cũng là nhà Y-sĩ đại tài vượt thời gian, không gian đã nhìn thấy vấn đề, gốc rễ, nguyên nhân sinh ra bệnh tật, và cũng đã đưa ra một toa thuốc để giúp con người vượt qua những đau khổ do bệnh sinh ra, xây dựng một đời sống lành mạnh, một thân thể kiện khang, yêu đời, tràn ngập sức sống, một xã hội an vui. Phải chăng đây cũng là mục đích sống con người trên hoàn vũ hằng mong muốn và cũng chỉ chính con người là chủ thể sáng tạo tạo dựng điều này không ai khác..
Vậy thì bệnh từ đâu mà đến? Theo Phật giáo bệnh phần lớn phát sinh từ bên trong con người do mất cân bằng hài hòa về tinh thần, tình cảm, dinh dưỡng có nghĩa do thân và tâm sinh ra hơn là do từ bên ngoài mang đến. “Chẳng hạn có người uống thuốc mong đổ mồ hôi nhưng không có hiệu quả. Thế mà khi sợ hãi âu lo thì mồ hôi tuôn ra, phải chăng là do tâm, do suy tư tác động gây ra. Không có thí dụ nào rõ ràng hơn câu chuyện ngày xưa ở bên Trung Quốc đời nhà Minh có ông Vi Đản người viết chữ rất giỏi thế mà vì phải theo lệnh nhà vua leo lên đỉnh đài Lăng Vân để khắc chữ , vì quá sợ viết xong lúc xuống mặt đất tóc đã bạc phơ.” Một cách tổng quát theo Phật giáo có ba loại bệnh đó là:
1. Thân bệnh
2. Tâm bệnh
3. Nghiệp bệnh
Từ cách nhìn như nêu trên cho thấy cách chẩn bệnh và chữa trị của Phật giáo khác biệt với y học tây phương ở điểm y học tây phương đưa ra thuốc chữa khi nào bệnh phát ra, có triệu chứng đau yếu bộ phận nào đó trên cơ thể và cho dù có đề cập đến việc phòng bệnh. Khi ấy thuốc chỉ có tác dụng làm bớt đi tình trạng đau đớn, chặn đứng phần nào sự lộng hành của vi khuẩn trong khoảng thời gian nào đó mà thôi, chứ nó không diệt hết căn nguyên, nguồn gốc sinh bệnh. Một phần bệnh nhân có tâm lý là muốn mau hết bệnh ngay, nhưng ít khi chịu tìm hiểu nguyên nhân sinh ra bệnh. Bởi vì bệnh phát sinh ra không phải một sớm một chiều mà do quá trình dài qua bao năm tháng rồi mới hình thành. Do đó không có triệu chứng không hẳn là không có bệnh.
Hơn nữa y học tây phương phần lớn dựa vào những cái gì cụ thể, chẳng hạn như hình ảnh do tia quang tuyến, những rọi chiếu qua các bộ máy y khoa chụp được. Nền y khoa hiện đại đổ dồn rất nhiều công sức trí tuệ, tài chánh vào trong những lãnh vực nghiên cứu như bệnh lý học, Dược phẩm học, Đề kháng học và Giải Phẫu Học cùng những dụng cụ y khoa hiện đại, tối tân trong mục đích tìm ra căn nguyên bệnh tật. Nhưng có điều lạ nhiều máy móc tối tân phát minh ra đời, nhiều loại thuốc tinh vi mắc tiền được điều chế ở những công ty dược phẩm nổi tiếng, thế mà số bệnh nhân không giảm thiểu, mà còn có chiều hướng gia tăng. Lý do tại sao? Phải chăng có những căn bệnh mà dụng cụ y khoa hiện đại vẫn không thể nhìn thấy được. Phải chăng nền y học hiện đại quá chú trọng vào triệu chứng, vào phần thân thể, mà quên đi phần tâm bệnh và nghiệp bệnh, quên đi hay xem nhẹ nguồn gốc sâu xa tạo ra bệnh tật nằm ngay trong tâm tư đời sống con người. Bệnh phát sinh từ nghiệp chướng từ lối nghĩ, cách tư duy, từ cách sống, lời nói, việc làm v.v. Có nghĩa thân, khẩu, ý chưa được thanh tịnh. Đây cũng là vấn đề mang tính chất thời đại một số nhà thức giả phương tây đã đang cố thử tìm tòi tính chất tương quan giữa niềm tin tôn giáo và sức khỏe.
Thân Bệnh: 
Đối với Phật giáo người đi tầm đạo hay hành giả việc quan trọng trước hết là để ý đến thân thể “rèn luyện, thận trọng chăm lo thân thể là điều căn bản trong việc tu hành Phật đạo. Hơn hết tất cả những gì khác, bước đầu tiên mang tính chất quyết định giải phóng chúng ta, đó là thoát ra khỏi ảo tưởng về bản ngã, đoạn tuyệt những cái quá si mê, quá yêu thương bản thân, chấp trước vào thân thể, và phải luôn luôn để ý đến thân thể” . Nói cách khác thường trực quan sát để ý thân thể đừng để cho có bệnh hoạn là điều tối ư quan trọng của người tu hành, vì chính xác thân là phương tiện duy nhất để đi đến giác ngộ.
Theo Phật giáo cơ thể con người nói riêng và toàn thể thiên nhiên vũ trụ do tứ đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) có nghĩa do đất, nước, gió và lửa kết hợp thành. Mỗi thành tố mang ý nghĩa đặc biệt và có tương quan với những bộ phận trong thân thể. Chúng ta hãy đi lượt qua tính chất mỗi thành tố này.
1. Thành tố đất mang đặc tính nặng, có trọng lượng gồm có các bộ phận như Não bộ, lá lách, bao tử. Khi thành tố này mất cân bằng sẽ sinh ra bệnh làm thân thể trở nên khô gầy, có đến 101 loại bệnh thuộc thành tố này.
2. Thành tố nước có đặc tính ẩm ướt, mang trạng thái lưu động, gồm có các cơ quan như thận, bàng quang và máu huyết. Khi cơ quan này mất cân bằng làm cho việc ăn uống không tiêu, việc tiêu hóa khó khăn, thì có thể sinh ra 101 loại bệnh.
3. Thành tố hỏa mang tính chất nóng, dùng để đốt cháy, có nhiệt độ cao, biểu tượng cho hệ thống vận chuyển máu, gồm có các cơ quan như gan và túi mật, mất cân bằng thành tố này hay sinh táo bón, lạnh nóng bất thường, hay đau khớp xương có thể sinh ra 101 loại bệnh.
4. Thành tố khí có đặc tính nhẹ như không khí, biểu tượng cho hệ thống hô hấp, và đây cũng chính là chiếc xe đưa trạng thái Tâm di động. Thành tố này chủ yếu hoạt động ở tim, phổi, ruột và hệ thống não bộ. Thành tố này mất cân bằng sẽ sinh ra 101 loại bệnh. Khí có chức năng tạo năng lượng di động khắp toàn thân, giúp cho máu vận chuyển điều hòa, duy trì sự sống hấp thụ chất dinh dưỡng tiêu hóa thức ăn đào thải chất độc ra ngoài, chuyển hoán tế bào, và giúp cho sự cảm nhận được trong sáng.
Chính vì những đặc tính nêu trên, một khi sự vận chuyển bốn thành tố không còn điều hòa khi có đó triệu chứng bệnh.
Nếu đi sâu vào phân tích bệnh trạng triệu chứng thân bệnh chắc hẳn cần nhiều giấy mực hơn nữa, ở đây xin chỉ lượt qua một số điểm quan trọng..
Thân bệnh phát sinh là do tích lũy những chất độc bao gồm ý nghĩa tinh thần là tham, sân, si và ý nghĩa vật thể là đem vào trong cơ thể những thức ăn hằng ngày không tốt cho cơ thể mà chúng ta không biết hay không để ý vì do tập quán hay thói quen. Rồi theo dòng thời gian những chất độc này không được đào thải hết ra ngoài tích lũy lại trong người và khi đó bệnh hình thành. Có câu hỏi được đặt ra tại sao những chất độc đó không tạo thành một loại bệnh? Câu trả lời là cơ thể mỗi con người chúng ta không ai giống ai, có người yếu về bộ phận này nhưng lại mạnh về bộ phận khác, một phần do yếu tố di truyền (genetic) từ cha mẹ truyền lại. Chất độc tụ lại trong người chỉ sinh bệnh khi nó vượt quá giới hạn nào đó mà cơ thể không còn chịu đựng được nữa mà thôi, cũng vì thế mà có người sinh ra bệnh về tim, về thận, về ruột vân vân và vân vân.
Do đó một khi chúng ta nhận chân thấy được nguyên nhân thân bệnh là do thiếu vận động, cẩu thả, bừa bãi trong việc ăn uống hằng ngày, đó là dấu hiệu tốt trong việc cải tố cách dinh dưỡng, ẩm thực.
Tâm Bệnh: 
Theo Phật giáo “Bệnh hoạn nơi tâm hồn chúng ta phần lớn là do thói quen ôm vào những cái không phải của chính mình như của chính mình. Bản tính con người chúng ta hay giành lấy những gì có thể nhìn thấy hay sờ mó được trên thế gian này. Từ những vật gọi là “của tôi” đi kèm theo nó là những trói buộc, từ đó con người dần dần xa rời bản ngã chân thực, thay vào đó con người phải trả cái giá cho nó là mang tâm trạng sợ hãi lo âu..”.
Khi nói đến tâm bệnh thì không thể nào không đề cập đến ba thứ độc hại tham, sân, si là những thứ luôn luôn tiềm ẩn trong con người chúng ta. Vậy thì những điều này gây ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe cũng như bệnh tật. Chúng ta hãy thử tìm hiểu từng yếu tố một.
Tham: 
Theo ý nghĩa tinh thần cũng như vật chất tham là trạng thái ham muốn thật nhiều vượt ra ngoài khả năng cũng như nhu cầu cần thiết. Chẳng hạn như ăn quá nhiều cũng có khả năng sinh bệnh. Đối với những người hay ăn và uống những thức ăn ngọt có nhiều đường rất dễ sinh ra bệnh tiểu đường hay ăn nhiều quá mà không vận động, tập thể thao cũng dễ sinh bệnh mập phì. Ngoài yếu tố lấy vào trong thân thể quá độ nguồn năng lượng, chất ngọt, người ta còn tìm thấy những người có nhiều ưu phiền, đau khổ tinh thần, căng thẳng quá độ về công việc, đời sống gia đình v.v cũng dễ sinh ra bệnh này, không kể đến yếu tố di truyền. Thêm vào đó mối ưu tư về tài chính do tiêu sài hoang phí quá độ chồng chất theo năm tháng cũng dễ sinh ra BỆNH.
Ngay như về mặt tri thức, người quá tham lam muốn nhồi nhét thật nhiều kiến thức, sự hiểu biết vào trong đầu trong khoảng thời gian ngắn cũng dễ sinh ra bệnh tâm thần. Với những người còn quá trẻ tu thiền chỉ đọc qua vài quyển sách, một số lý thuyết muốn thực hành để chứng ngộ ngay chưa hiểu rõ thấu đáo về ngay chính bản thân cũng rất dễ sinh tẩu hỏa nhập ma rồi đưa đến hủy hoại thân thể.
Ngoài ra chúng ta còn thấy những người sống buông thả chạy theo cảm xúc của ngũ quan một cách quá đáng cũng dễ sinh bệnh. Theo Phật giáo người quá đam mê vào hình tướng dễ sinh ra bệnh về gan, quá đam mê vào âm thanh dễ sinh bệnh về thận, quá đam mê vào mùi vị dễ sinh bệnh phổi, quá đam mê vào khẩu vị dễ sinh bệnh về tim và quá đam mê vào xúc giác dễ sinh bệnh thuộc về lá lách.
Vì thế cân bằng trong đời sống không quá độ cả về tinh thần lẫn vật chất là điều quan trọng trong tu hành theo Phật giáo.
Sân: 
Sân là trạng thái căm hận, ghét cay ghét đắng, giận dữ một trong những yếu tố gây tác động không nhỏ đến sức khỏe, nhất là cơ năng thuộc về tim và gan. Trong kinh Đại Bát Nhã (Mahaprajnaparamita) giảng rằng “sân hận là trạng thái cảm xúc độc hại nhất so với tham lam và ngu si”. Sự giận dữ gây tác hại vượt lên trên mọi tác hại khác. Theo kinh Đại Bát Nhã trong số 98 đau đớn gây ra, giận dữ là trạng thái khó chế ngự nhất. Về mặt tâm lý giận dữ cũng là tâm trạng khó chữa trị nhất.
Theo bệnh lý học người khi nổi giận sẽ tác động vào hệ thần kinh não, tạo mạch máu co cứng lại, đưa áp xuất máu tăng cao, từ đó dễ làm tim ngừng đập bất thình lình. Trạng thái giận dữ có thể phát xuất từ nhiều nguyên nhân như đời sống quá căng thẳng, cô đơn, ưu phiền, tâm trạng thù địch, gặp nhiều điều không vừa ý, nhìn cuộc đời với tâm trạng chán chường v.v. Cộng vào đó với tình trạng thiếu cân bằng dinh dưỡng, ăn quá nhiều chất béo, ít vận động cũng dễ gây bệnh tim.
Theo y học Đông phương nóng giận không chỉ gây tác động đến tim còn ảnh hưởng xấu đến gan bộ phận thuộc về tạng và mật thuộc về phủ. Chính vì thế trong ngôn ngữ Việt có câu “giận bầm gan tím ruột” có ý như thế không chừng.
Si: 
Về mặt chiết tự theo Hán ngữ chữ Si thuộc về bộ Nạch có nghĩa tật bệnh, kèm theo với chữ “nghi” có nghĩa là ngờ, lòng còn bán tín bán nghi chưa tin và theo Anh ngữ dịch là ignorance. Như vậy Si là trạng thái bệnh hoạn thuộc về trí não, ở trong điều kiện chưa hiểu thấu đáo, rốt ráo dễ rơi vào tâm trạng nghi ngờ, với trong hoàn cảnh nào đó cũng có nghĩa là ngu dốt. Danh từ này thường hay dùng trong Phật giáo có nghĩa trạng thái u mê, không sáng suốt. Khi con người rơi vào tình trạng đau ốm thì lại càng thiếu minh mẫn, và không nhìn thấy căn nguyên của bệnh tật, vả lại tâm lý người bệnh có khuynh hướng tìm phương cách chữa trị theo cách “mì ăn liền”, có nghĩa làm sao hết đau, hết bệnh ngay. Từ đó dễ đưa đến hành động nông nổi có hậu quả xấu cho sức khỏe.
Nhân đây cũng nói qua về chủ trương tu thân của nho gia, người muốn tu thân phải làm cho tâm ngay thẳng, muốn cho tâm ngay thẳng cần phải có Ý cho Thành, muốn cho Ý thành cần phải Trí Tri tức phải hiểu biết tường tận, muốn hiểu biết tường tận cần phải tìm rõ nguồn cội sự vật. Đây cũng là phương pháp để thoát ra khỏi trạng thái Si.
Nền y học hiện đại có khuynh hướng chú trọng vào cách chữa trị những đau đớn về thể xác, giải phẫu, thay ráp tim, thận v.v, điều chỉnh các cơ năng dường như mang tính chất sửa chữa một bộ phận nào đó trong một cỗ máy phức tạp, mà coi nhẹ căn bệnh có tính chất tâm lý, tình cảm hay tinh thần, thiếu cái nhìn toàn diện. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng, tác dụng hổ tương lẫn nhau. Các nhà Y khoa đều công nhận rằng trạng thái nóng giận, buồn bã, quá vui, quá buồn đều có tác dụng không tốt cho sức khỏe của thân thể. Theo những nghiên cứu y-học cho thấy những người ở trong tình trạng giận, buồn, không vui hay căng thẳng quá độ, não bộ tiết ra chất hormones gọi là độc tố adrenaline, nếu không là adrenaline đi nữa cũng là những độc tố có hại cho cơ thể. Do đó tình trạng mất thăng bằng về tình cảm kéo dài sẽ gây ra tai họa cho cơ thể, đưa đến tình trạng càng thêm khó khăn cho việc chữa trị. Trong khi đó cũng theo kết quả nghiên cứu khoa học, những người ngồi thiền định, hay trong trạng thái thư thái, tập trung tư tưởng hệ thống não bộ tiết ra chất hóa học giúp cho tâm hồn thật sự an bình, không còn căng thẳng, tiêu cực .
Nghiệp Bệnh: 
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa đích thực của nghiệp là gì? Nghiệp được dịch sang từ tiếng Phạn gọi là karma, có ý nghĩa hành vi, tư tưởng của mỗi cá nhân, từng con người trong tiền kiếp và hiện tại, từ đó hình thành con người ngày hôm nay. Người Việt thường hay nói “gieo gió gặt bão” hay là “nhân nào quả đó” phản ảnh phần nào quan niệm về “nghiệp”. Trong tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tàng” có câu kệ sau:
Đừng làm điều ác
Hãy làm điều lành
Ý trở lên thanh tịnh
Đó là lời dạy của Phật
Với những lời kệ đơn giản vừa hàm ý khuyên bảo vừa nói lên điểm quan trọng trong việc hình thành nhân cách, và cũng có thể gọi là nghiệp của mỗi con người là ý tưởng. Điều gì mang tính chất quyết định hình thành con người? Đó chính là thân, khẩu và ý. Đơn cử thí dụ, có người bày đặt chuyện dối trá người khác. Nếu như câu chuyện không thật đó không gây tổn thương đến người nghe thì cũng được đi, nhưng người nẩy ra ý tưởng, và nói điều đó ra đã tạo “nghiệp” cho chính bản thân, và đó cũng là nguồn gốc hình thành nhân cách. Nhưng nếu câu chuyện không thật đó gây tổn thương về mặt tinh thần hay vật chất đến người nghe, chắc hẳn hành vi này hay “nghiệp” đã tác động không chỉ bản thân người nói mà còn đến người nghe nữa. Nếu như mẫu chuyện đó tiếp tục ám ảnh cả người nói lẫn người nghe, có nghĩa do từ ý nghiệp đưa đến khẩu nghiệp đã tác động đến thân, và đó cũng là nguồn gốc của bệnh.
Trong “Chỉ Quán Tọa Thiền” có viết “Nếu nghiệp tội là sát sanh thì gan và mắt bệnh. Nếu nghiệp tội do uống rượu thì tim và miệng bệnh. Nếu nghiệp tội là dâm dục thì thận và tai bệnh. Nếu nghiệp tội nói dối thì lá lách và lưỡi bệnh. Nếu nghiệp tội là trộm cắp thì phổi và mũi bệnh.”.
Điều này nói lên tính chất tương quan mật thiết không thể nào tách rời giữa thân, khẩu và ý. Trong ba thành tố hình thành con người, thành tố ý là chủ đạo, là nguồn gốc để đưa đến lời nói, và sau đó là việc làm. Đức Phật cũng nêu thêm về yếu tố cha mẹ, tổ tiên, ẩm thực tức dinh dưỡng và tri thức.
Về yếu tố phụ mẫu, vì có cha có mẹ thì mới có chúng ta, đây cũng là cái ân cần phải báo đáp. Ngoài cái ân ra có những cái thừa hưởng từ cha mẹ, nói cách khác đó là yếu tố di truyền. Yếu tố này vượt ra ngoài tầm tay, khả năng, ý chí tự do lựa chọn của mỗi người, nó mang tính chất thụ động trong việc tạo dựng nhân cách cũng như nghiệp.
Khi nói đến ý thức là phải nói đến ngũ uẩn tức mắt, tai, mũi,miệng và cảm giác, có nghĩa chúng ta đã nhìn thấy cái gì, nghe điều gì, ngửi mùi gì v.v. những cảm giác này gây thành ý thức và cũng từ đó tác động đến yếu tố tạo thành con người. Khái niệm hình thành con người ngoài những yếu tố trên, còn có thêm tính chất ý chí tự do trong cuộc sống và kèm theo đó con người bị chi phối bởi quy luật nhân duyên, vô thường, vô ngã và nhân quả.
Trong Kinh Pháp Cú có nói:
“Làm điều ác tự chính bạn trở lên ô uế
Không làm điều ác, tự chính bạn trở lên thanh tịnh.
Tự mỗi người chúng ta làm cho chính chúng ta trở lên thanh tịnh, hay trở thành ô uế.
Không ai có thể làm người khác trở lên thanh tịnh”. 
Từ câu kinh trên cho thấy bệnh tật là do tự chính mỗi người chúng ta tạo thành chứ không ai khác, có thể do túc nghiệp hành vi trong quá khứ, hay trong hiện tại. Khi hiểu được nguyên nhân rồi, thì câu hỏi đặt ra là làm sao chữa trị căn bệnh.
Tái Tạo Nguồn Sinh Lực
Bệnh tật sinh ra gồm nhiều yếu tố tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe thân thể, cách tư duy, lối sống, tập quán, nơi sinh sống, môi trường xung quanh và còn phải kể thêm đời sống tâm linh, yếu tố di truyền, ẩm thực cũng như văn hóa xã hội đang sống. Khi những yếu tố nội ngoại mất cân bằng, mọi tình trạng quá độ, cuộc sống quá căng thẳng, âu lo cũng là nguyên nhân sinh ra bệnh. Do đó chúng ta cần biết điều hòa, cân bằng những điều nêu trên, nhìn một cách toàn diện tâm và thân, kèm theo phương pháp tu tập như thiền định, điều tức hằng ngày, dinh dưỡng đúng đắn sẽ giúp phòng ngừa bệnh tật, có cơ thể khỏe mạnh, đời sống lành mạnh, vui tươi.
Làm thế nào để có thể điều hòa những yếu tố bên ngoài với mọi bộ phận bên trong cơ thể là cơ cấu cực kỳ tinh vi, phức tạp không khác gì tiểu vũ trụ. Chẳng hạn tổng số chiều dài những mạch máu trong cơ thể là 96 ngàn triệu kilometers, có nghĩa dài gấp hai lần chu vi quả địa cầu. Điều này cho thấy cơ thể con người chúng ta cực kỳ vi diệu mọi bộ phận từ bé cho đến lớn liên hệ chằng chịt lẫn nhau vượt ra ngoài sức tưởng tượng bình thường. Chính vì lý do này hẳn nhiên phải có quy luật tự nhiên về sự sống để phối hợp điều hành mọi cơ quan những vận chuyển trong lẫn ngoài cơ thể .
Chúng ta tạm gọi quy luật tự nhiên đó là “sức sống” hay “sức sinh tồn”, người Ấn Độ gọi là Prana, người Hy Lạp gọi là Pneuma, người Nhật Bản gọi là Ki, người Trung Hoa gọi là Chi, và người Việt gọi là Khí. Nguồn “sức sống” này di động đi khắp toàn thân, mọi mạch máu, mọi tế bào của mọi bộ phận cung cấp dinh dưỡng, bảo vệ sự sinh tồn, tạo thành nguồn năng lực cho sự sống, và theo đó nó toát hiện ra bên ngoài thân thể trên bộ mặt, làn da v.v. Về mặt tinh thần sức sống mạnh làm nẩy nở những đức tính như can đảm, hy vọng, vị tha kèm theo lý tưởng có mục đích trong đời sống. Do tính chất quan trọng của “khí” trong sự sống mà trong y học Đông phương có nói: “Huyết giống như nước, khí giống như gió, nước di động là do sức đẩy của gió, huyết vận chuyển là do khí dẫn đi”. Quả đúng như thế, máu có vận chuyển điều hòa được hay không là nhờ vào hồng huyết cầu có cùng với oxygen từ phổi di động đến các tế bào một cách trôi chảy hay không. Đây là một chu kỳ tuần hoàn liên tục mãi mãi không ngừng nghỉ của Khí cũng có thể nói là dòng sinh mệnh.
Để cụ thể làm thế nào nguồn năng lực này sinh động điều hòa, Phật giáo đưa ra một số phương pháp tái lập cân bằng thân tâm, dinh dưỡng được xem như những liều thuốc chữa trị trong mọi hoàn cảnh đời sống.
Phật giáo rất chú trọng đến ẩm thực vì nó là nhu cầu cần thiết hằng ngày để nuôi dưỡng thân thể, thanh tịnh hóa thân xác, và đó cũng là yếu tố quan trọng hình thành con người, và cũng bởi vì chỉ có thân thể kiện khang mới có đời sống hữu ích giúp người, giúp đời.
I. Dinh Dưỡng
Thứ nhất phương pháp dinh dưỡng, người xưa thường nói:”Tai họa do lời nói sinh ra, bệnh tật do thức ăn mang từ mồm vào.” Hay trong kinh cũng có viết:”Khi ăn chúng ta phải tâm niệm thức ăn như những liều thuốc. Đừng ăn nhiều quá hay ít quá đều không tốt cho sức khỏe. Với lượng ăn tiết độ đủ để nuôi dưỡng thân thể, đừng để đói, đừng để khát sẽ tránh được bệnh tật.”. Người phương Tây cũng hay nói:”Tùy theo những gì bạn ăn, bạn sẽ là như thế” (you are what you eat). Do đó cả đông lẫn tây đều công nhận chất dinh dưỡng trong thức ăn đóng vai trò quan trọng tạo đời sống khỏe mạnh và trường thọ. Theo Phật giáo để có thân thanh tịnh, chúng ta nên ăn nhiều thực vật bao gồm ngũ cốc, rau, trái cây, bớt đi chất thịt động vật.
Nhân đây đơn cử vài lợi ích của việc ăn nhiều chất rau đã được khoa học thực chứng, theo kết quả nghiên cứu của Đại Học UCLA, những người thường ăn rau, ngũ cốc lượng nguyên tố Serotonin (5-hydraxytryptamine) tiết ra từ não bộ nhiều hơn những người ít hay không ăn rau, trái cây, và nguyên tố này giúp cho tinh thần lạc quan, ít lo lắng, không rối loạn và thư thái. Khi lượng nguyên tố này xuống thấp sẽ khiến con người hay dễ thất vọng, chán nản, buồn rầu .
Ngoài ra theo kết quả nghiên cứu của tạp chí The New England Journal of Medicine cho biết chất rau hay những chất xơ (fiber) có tác dụng giảm, loại trừ chất estrogen trong người phụ nữ giảm thiểu khả năng bị ung thư vú. Với chất rau (phytoestrogens) nhất là cà chua giúp chống lại ung thư nhiếp hộ tuyến ở nam giới. Đặc biệt loại rau súp lơ xanh (Brocolli) có chất hóa học gọi là sulforanphane mang tác dụng tống những chất độc trong máu và tế bào ra ngoài. Riêng đối với bệnh mất trí nhớ hiện nay chưa có loại thuốc nào chữa trị. Do đó có một số người đề nghị để tránh rơi vào bệnh này nên đổi cách dinh dưỡng bằng cách giảm lượng ăn thịt và những sản phẩm liên hệ đến thịt, thay vào đó là đồ biển như cá, rau, thực vật, trái cây.
Hơn nữa thực phẩm dựa vào ngũ cốc, rau, trái cây ngoài việc giúp cho sự tiêu hóa dễ dàng, còn giúp chống lại tình trạng oxidant các phân tử trong tế bào, có nghĩa làm trẻ ra và sống lâu.
II. Luyện Thân Tâm
Thứ hai là phương pháp tu dưỡng tinh thần, có nghĩa tu học Phật pháp, giáo lý giúp cho tư tưởng, ý nghĩ được thanh tịnh. Chúng ta có thể thâu tóm trong tinh thần Lục Ba La Mật gồm có Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, Thiền Định và Trí Tuệ.
(1) Hạnh Bố Thí nuôi dưỡng tình thương nghĩ đến người không may mắn, xấu số. Với đức tính này sẽ giúp và chữa trị cho lòng tham.
(2) Những người tu tại gia có một số giới luật căn bản như không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm, không sát sinh, không uống rượu. Nếu chúng ta tâm niệm duy trì những giới luật này trong đời sống hằng ngày sẽ chữa trị căn bệnh phạm pháp, cộng đồng, xã hội trở lên tốt đẹp và tâm hồn trở lên thanh tịnh. Hơn nữa người tu tập Phật giáo phải thường xuyên “suy ngẫm về thân thể mình, từ gót chân đi lên trên, từ tóc trên đầu đi xuống dưới, với lớp da bọc lấy thân thể đầy rẫy những vật ô uế. Trong thân xác này gồm có: Tóc trên đầu, lông trên thân thể, móng tay, răng, da, bắp thịt, khớp xương, tủy, thân; tim, gan, màng huyết thanh, lá lách, phổi; Ruột, màng ruột, bao tử, vật bài tiết, óc; Nước mật, dịch vị, máu mỡ, chất béo.” . Phương pháp quán tưởng này giúp chúng ta thấy cần phải tẩy uế, thanh tịnh hóa xác thân tránh xa những ý tưởng có hại cho sức khỏe.
(3) Hạnh nhẫn nhục phát triển đức tính khiêm cung, nhã nhặn, khai mở lòng bao dung tha thứ từ đó diệt trừ căn bệnh hận thù. từ đó giúp rất nhiều cho bộ phận gan.
(4) Hạnh thiền định quán tưởng được lý vô thường, mọi sự vật là Không, chữa trị tâm hồn bất an, dao động, sẽ cảm thấy những cảm xúc tạo ra bởi ngũ uẩn là không thực. Thiền định trong thế tĩnh giúp tăng cường sức khỏe đưa khí trời trong sạch (oxygen) vào trong người đồng thời đưa những chất thán khí (carbon dioxide) theo hơi thở ra ngoài. Ngoài ra chúng ta có thể thiền định trong thế động như Thái Cực Thiền Dưỡng Sinh vận động toàn thân.
(5) Hạnh tinh tiến giúp hành giả nhủ lòng cái học cái biết ngày hôm nay có thể sẽ lỗi thời không còn phù hợp cần phải thay đổi, chữa trị căn bệnh lười biếng, nỗ lực học tập tinh tấn không ngừng, làm việc giúp người.
(6) Hạnh trí tuệ nhận chân cái ngã chân thật bất diệt, thường hằng là người cầm cương dẫn dắt năm con ngựa tức ngũ uẩn đi đúng đường vượt qua những đoạn đường quanh co khúc khủy, mở đường khám phá cả thế giới chân trời mới nằm đằng trước mặt, giải phóng ra khỏi những ảo tưởng, thoát khỏi sự giam hãm do dục vọng tạo ra, chữa trị căn bệnh u mê, tăm tối đạt đến cảnh giới tự do tự tại.
Nói chung con người phiền não, đau khổ, thất vọng, chán chường, bất an, trống rỗng là vì có khuynh hướng hướng ngoại, phân biệt ta và người, hằng ngày nhìn trong gương thấy ta khác người, nhìn cái giả cho là thật. Ngay chính thân xác của chúng ta thay đổi từng giây từng phút, mỗi khoẳng khắc là hằng triệu tế bào chết đi, đào thải và hằng triệu tế bào mới sinh sản ngay trong cơ thể. Vì thế cần phải đẩy lui những phiền não, không thật ra ngoài để thăng hoa trở lên an vui thanh thản hạnh phúc trở về với chân ngã, là những cái nằm bên trong con người chứ không ở đâu khác. Khi con người rơi vào tình trạng u mê, vô minh, vọng động thì Phật giáo đề xuất phương cách giải quyết là quán tưởng cái lý vô thường của vạn vật, có nghĩa không quá đam mê và chấp trước hay bám víu vào nó. Vì mọi vật đều theo lý nhân duyên, nhân quả mà kết hợp thành và rồi cũng theo đó mà tan đi giống như cát bụi trở về cát bụi. Mọi hiện tượng xuất hiện trên thế gian này ngày hôm nay rồi sẽ biến mất đi nay mai, không một sự vật nào tồn tại mãi mãi. Vậy tại sao chúng ta bám víu vào nó để rối đau khổ và sinh bệnh. Một vị cao tăng đời nhà Minh bên Trung Quốc, Hàn Sơn Thập Đắc đã nói:”Không một ai sinh ra trên cõi đời này để già, bệnh và chết thay cho bạn. Những đau khổ này chính bạn phải nhận lấy. Mọi đắng cay ngọt bùi của cuộc đời phải tự chính bạn trải qua mà thôi.” Do đó tự mỗi người phải tự chính mình tỉnh thức, hiểu rõ căn nguyên sự vật để làm sao sống một đời sống không ốm đau bệnh tật.
Từ cổ chí kim, Đông cũng như Tây không một ai phủ nhận sức mạnh tinh thần trong việc chinh phục bệnh tật, duy trì sức khỏe, thăng hoa đời sống nội tâm và thành công trong cuộc đời. Người phương Tây thường hay nói “Bạn nghĩ gì bạn sẽ là như thế” (As you think, you become), nói lên sức mạnh vô song của tinh thần. Với sức mạnh gì Armstrong vô địch liên tục sáu lần đoạt giải quán quân huy chương vàng vòng đua xe đạp Tour de France song song với đó đã phải khắc phục, chiến thắng căn bệnh ung thư hằng ngày công phá cơ thể anh. Với đức tin nào mà những nhà sư chỉ với manh áo thô sơ có thể chịu đựng cái lạnh như cắt ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn quanh năm tuyết phủ. Với ý chí nào đã giúp con người Abraham Lincoln vượt qua bao chông gai thử thách cuộc đời xuất thân trong gia đình nghèo, mẹ mất sớm, không có tiền đi học phải làm đủ mọi nghề để mưu sinh, vừa làm vừa học, có lúc rơi vào cảnh tuyệt vọng, gia tài khánh tận. Cuối cùng với niềm tin sắt đá vào lý tưởng ông đã đắc cử trở thành vị Tổng Thống thứ 16 của Hợp Chủng Quốc, người đầu tiên tuyên bố giải phóng nô lệ, dù sau bao nhiêu lần thất bại trong những cuộc tranh cử vào tòa nhà Quốc Hội. Niềm tin, tinh thần lạc quan đóng vai trò không nhỏ trong đời sống.
Nếu khi chúng ta nhận biết và hiểu rõ lý vô thường của sự vật, về ngay chính con người mình với những thói hư, tật xấu cần phải thay đổi, những biến hóa thay đổi liên tục không ngừng từ thể xác cho đến tâm hồn, phân biệt được cái ta tạm thời và cái ta vĩnh cửu, bất diệt và những nỗi đau khổ không thể tránh được trên cuộc đời này với tâm bình thản là khi chúng ta đã có được liều thuốc thần dược, niềm hạnh phúc bất tận. Khi ấy chúng ta có khả năng điều chỉnh những nỗi cảm xúc, dằn nén cơn nóng giận, biết tha thứ cho tha nhân, tâm hồn trở nên trong sáng, tăng sức mạnh nội tâm, nguồn năng lực sống, có cái nhìn lạc quan, tin tưởng về cuộc đời. Khi ấy chúng ta biết cách giải quyết một cách ổn thỏa những dao động và từ đó cơn bệnh cũng sẽ giảm từ từ. Một người thực sự khỏe mạnh là người tràn ngập sức sống, năng động, yêu đời, yêu người và cũng từ đó toát ra một vẻ đẹp tự nhiên qua khuôn mặt. làn da và cả nụ cười.
Thân Tâm Nhất Như” tâm hồn và thể xác tuy hai mà một là tư tưởng trị liệu căn bệnh toàn diện hữu hiệu, là chiếc xe, đôi cánh đưa con người đến chân trời hạnh phúc, trường thọ thiếu một trong hai thứ trên không thể nào đạt được điều mong muốn. Tâm hồn là cái trường cửu mãi mãi cần phải đi đôi với cái “đại ngã” chứ không phải cái tôi nhỏ bé. Có nghĩa để cho “Tâm” đạt đến cảnh giới bất tử chúng ta cần phải thăng hoa cái “Thân” nhỏ bé như hạt cát trong biển cả vào cảnh giới thanh văn, bồ tát, khai mở tiềm lực vô hạn nằm sâu trong tiềm thức, vượt qua những ảo tưởng, dục vọng thế gian, và những trạng thái bất an, lo lắng, sợ hãi từ từ biến mất không còn nữa.
Một khi chúng ta áp dụng những nguyên tắc chữa trị y học theo Phật giáo thì lòng tham sẽ thay thế bằng tâm bố thí, giận dữ thay thế bằng tình thương, u mê thay thế bằng trí tuệ. Khi ấy mọi bệnh tật sẽ tiêu tan thay vào đó là sức khỏe. Khi chúng ta có được tâm hồn bình thản trong mọi trạng huống, có nghĩa những độc hại đã bị đẩy lui ra khỏi tâm trí và thân thể là khi ấy chúng ta có được sự hòa hợp giữa thân và tâm, và bệnh tật không còn nữa. Nói cách khác chúng ta có dũng cảm thay đổi cách sống, lối nhìn về cuộc đời với con mắt tích cực, yêu thương tha thứ, năng vận động thân thể, thay đổi cách dinh dưỡng ẩm thực toàn diện. Đây chính là cuộc cách mạng bản thân, và cũng theo đó mọi tế bào xấu, ung thối, chất độc sẽ từ từ bị đào thải ra ngoài cơ thể, và một thân thể kiện khang, một tâm hồn trong sáng, lành mạnh sẽ thành hình.
Lý tưởng của Y học đã được minh chứng qua lời tuyên thệ Hippocratic từ 2500 năm qua là tôn trọng sự sống, phục vụ lợi ích sức khỏe con người chứ không vì tư lợi, không dùng con người như vật thí nghiệm Tinh thần này nói lên phần nào tư tưởng Phật giáo, mục đích tu tập theo Phật giáo là để có sức khỏe trở thành Kim Cương Thân vì “Sức khỏe không chỉ là trạng thái không yếu đuối hay không bệnh tật mà còn là niềm hạnh phúc trọn vẹn mang tính chất xã hội bao gồm tinh thần lẫn vật chất” .
(trích bài từ Giọt phù du)
Trong Kinh Pháp Cú có nói:
“Làm điều ác tự chính bạn trở lên ô uế
Không làm điều ác, tự chính bạn trở lên thanh tịnh.
Tự mỗi người chúng ta làm cho chính chúng ta trở lên thanh tịnh,
hay trở thành ô uế.
Không ai có thể làm người khác trở lên thanh tịnh.”

 

 

 

 

NHẪN như thế nào? NHẪN NHỤC

NHẪN như thế nào? NHẪN NHỤC

NHẪN như thế nào? NHẪN NHỤC
NHAN nhu the nao – NHAN NHUC

NHẪN như thế nào? 

NHẪN NHỤC, 
NHAN nhu the nao – NHAN NHUC 

NHẪN như thế nào? NHẪN NHỤC, NHAN nhu the nao – NHAN NHUC

NHẪN như thế nào?

NHẪN NHỤC

Nhẫn nhục là nhịn thua người ta và chấp nhận điều sỉ nhục, không có ý trả hận.

“Thiên tử mà nhẫn thì nước không sanh hại,
Chư Hầu mà nhẫn thì sẽ mạnh lớn thêm,
Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ tăng tiến,
Anh em mà nhẫn thì gia đình giàu sang,
Chồng vợ mà nhẫn thì được trọn đời,
Bạn bè mà nhẫn thì tiếng tăm không mất,
Tự mình mà nhẫn thì không có hoạn họa.”
 “Thiên tử mà không nhẫn thì nước trống không, hư hỏng,
Chư Hầu không nhẫn thì thân mình phải mất,
Quan lại không nhẫn thì sẽ bị trách cứ bằng hình phạt,
Anh em không nhẫn thì bị chia rẽ mỗi người một nơi,
Chồng vợ không nhẫn thì tình ý xa nhau,
Tự mình mà không nhẫn thì tai họa chẳng dứt.”
(Đức Khổng Tử)

Tại hạ cũng theo Thiền Tông và cũng hằng tham thiền.
Trong quá trình “vọng tưởng” nghiệm ra một chữ giống chữ Nhẫn là chữ “Trụ”.
Trụ có thể bất động như Nhẫn – nhịn nhục như Nhẫn.
Thần giữ cột đá chống trời gọi là “Thần trụ trời”
Trụ im lìm như vách đá bên bờ biển hàng triệu năm…
Trụ như quả mìn nằm im lìm nhưng có thể phát nổ bất cứ lúc nào?
Trụ như viên đá bên đường mặc gió mưa nhưng cũng có khi là một món quà.
Trụ có vẻ tích cực hơn Nhẫn chăng…?

NHẪN như thế nào?

Nhẫn trong vinh nhục tấm thân yên,
Nhịn sự chua cay đở lụy phiền,
Nhịn kẻ tiểu nhân quân tử trí,
Nhịn điều dục vọng đắc thần tiên.

Xưa, Ông Quách-Tử-Nghi, đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu “Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải”. Nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn đến hỏi một Hòa-Thượng, vị Hòa-Thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông Quách-Tử-Nghi rằng mầy còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách-Tử-Nghi thấy vị Hòa-Thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm-hầm tím mặt. Lúc ấy vị Hòa-Thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Quách-Tử-Nghi biết rằng: Sự thịnh nộ của công-tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào biển khổ đó….

Ông Quách-Tử-Nghi hồi tâm tỉnh ngộ, bèn chấp tay tạ ơn vị Hòa-Thượng, đã dùng một cách gián-tiếp mà chỉ giáo cho mình. Ôi! Ở đời biết bao nhiêu luồng gió đen, hằng ngày lẩn-quẩn xung quanh mình của chúng ta, nếu chúng ta không hết sức lấy tấm lòng kiên-nhẫn ra chống chỏi, thì cơ hồ thân thể của chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia, có ngày chìm đắm vào trong bể khổ.

Trong Kinh Hoa-Nghiêm có câu rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”. Một phen nư giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệt chướng nảy sanh. Trong các kinh sách của Phật, Tiên, Thánh-Hiền hằng ngày dạy nhơn-sanh chữ nhẫn làm đầu, mà con người mơ-màng chưa tỉnh ngộ.

Chúng ta nhận xét qua một trận giông tố, ắt phải có cây ngã, nhà sập, thuyền tàu chìm đắm. Còn người trải qua những cơn thịnh nộ rồi, thường có xãy ra lắm điều tai ương hoạn-họa, khi biết tự-tỉnh ăn-năn thì việc đã muộn rồi.

Vậy mà có nhiều người trải qua biết bao nhiêu lần giông tố, mà cũng không biết kiên-nhẫn chút nào, thật cũng đáng buồn cho đó…

Ta thấy được hậu quả nếu ta không thể nhẫn: không nhẫn thì phát sinh đau khổ và tạo ra biết bao nghiệp chướng đôi khi ta không hề hay biết. Thế thì nhẫn nhục phải chăng là hèn nhát, thiếu dũng khí không? Chắc là không rồi. Thật vậy, nhẫn có thể đem lại hạnh phúc cho mình và cho nhiều người khác nữa.

Chữ Nhẫn được ghép từ hai chữ: Đao ở trên, Tâm ở dưới. Nếu Tâm (trái tim) mà không chịu yên, thì Đao (con dao) sẽ phập xuống ngay lập tức. Chẳng phải ngẫu nhiên mà chữ Nhẫn của người xưa lại có bộ Đao, như biểu hiện của những nỗi thống khổ sâu sắc, như dao nhọn có thể đâm vào tim làm con người đau đớn vô cùng.
Chữ Nhẫn tuy được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng không phải tất cả những nghĩa đó đều mang tính tích cực. Nhưng có một điều chắc chắn: Nhẫn không phải là chịu nhục, hạ mình, cam chịu.

NHẪN như thế nào?

Bạn thân mến, khuyên người “Nhẫn” thì dễ, tự mình “Nhẫn” thì khó hơn gấp bội. Tại hạ chưa bao giờ thấy tận mắt người nào sau khi ăn một cái tát gãy răng, vêu mỏ, phù mặt mà lại có cái “Nhẫn” để đưa nốt má bên kia cho người khác tát cả.
Trên dđ cũng thế, nhiều cao nhân tự xưng này nọ nhưng chỉ cần bị bài xích chút ít là “sân, si” cuồn cuộn.
Chứng tỏ nói về “Nhẫn” thì dễ, hành về “Nhẫn” thì khó.
Khuyên người “Nhẫn” thì dễ, tự mình “Nhẫn” thì khó.
Vợ chồng cãi nhau chút ít thì dễ “Nhẫn”, nhưng vợ đánh đề đến phải bán nhà để con cái ra đường ở thì cũng khó mà nhẫn nổi. Chồng dẫn gái về ngay nhà thì bà vợ cũng khó mà “Nhẫn” được….
Vì thế tại hạ mới tìm cho mình một chữ “Trụ”.
Tại hạ cho rằng “Trụ” ở trong “Nhẫn” nhưng có một người bạn lại cho rằng “Trụ” lớn hơn “Nhẫn” và “Nhẫn” ở trong “Trụ”.
Vì thế đành chia ra Trụ lớn và Trụ nhỏ.
Trụ lớn như cây cột chống trời, như vạn lý trường thành, như kim tự tháp… không gì chạm đến nổi, làm lung lay được.
Trụ lớn như người thầy vĩ đại đã mất, không còn gì sai sót, không thể gì so sánh nữa.
Trụ nhỏ là chính ta, ta có căn nhà của ta, ta còn nhà ở thì ta còn sống được, ta mất nhà thì cuộc sống bấp bênh, gạo không có mà ăn thì đâu có lên dđ “tám” nổi nữa.
Công việc của ta chính là “Trụ”.Việc tốt thì trụ vững, việc bấp bênh thì trụ phải nghiêng ngả, người phải lao đao.
Trụ của ta chính là thầy, gặp thầy tốt thì đường đạo tinh tấn, gặp thầy “đểu” thì xem như “móc bọc”.: ((: ((: ((
Trụ mà vững thì Nhẫn cũng dễ dàng hơn.
Trụ chính là Niềm Tin vào tôn giáo, tin một cách mù quáng hay sáng suốt đều là niềm tin… đánh mất niềm tin ấy là mất Trụ, còn niềm tin thì còn “Trụ”…

Đã nhiều phen trong cuộc đời nhận ra mình đã đánh mất quá nhiều thứ qúy giá và quan trọng hơn là đã đánh mất chính bản thân mình vì không biết nhẫn nhục để vượt qua. Kết quả là,… : ((: ((: (( thật là tệ hại nên lòng mong mỏi chia sẽ cùng các huynh đệ ta cùng nhau trau dồi đức hạnh này. Rất khó, cực kỳ khó làm nhưng vẫn cố gắng hết sức nha các huynh đệ.

Chữ Nhẫn được ghép từ hai chữ: Đao ở trên, Tâm ở dưới.

Chữ Nhẫn tuy được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng không phải tất cả những nghĩa đó đều mang tính tích cực. Nhưng có một điều chắc chắn: Nhẫn không phải là chịu nhục, hạ mình, cam chịu.

Thần giữ cột đá chống trời gọi là “Thần trụ trời”,
Trụ im lìm như vách đá bên bờ biển hàng triệu năm…
Trụ như quả mìn nằm im lìm nhưng có thể phát nổ bất cứ lúc nào?
Trụ như viên đá bên đường mặc gió mưa nhưng cũng có khi là một món quà.
Trụ có vẻ tích cực hơn Nhẫn chăng…?

Nhẫn: nói về thái độ đối phó với hoàn cảnh. Thuộc về Tâm.
Trụ: nói về sức sống trước hoàn cảnh. Thuộc về Trí.
Trụ do đó sẽ tích cực hơn Nhẫn một bước, bởi vì Trụ là tư thế chủ động, Nhẫn là tư thế bị động.
Trụ và Nhẫn quan hệ bổ sung cho nhau, Lý trí và Tình cảm không tách riêng ra được. Nhẫn tốt thì Trụ tốt, và Trụ tốt nhờ Nhẫn tốt.

Trong kinh điển, có một vị Sa môn chất vấn Đức Phật:
“Hà giả đa lực? Hà giả tối minh?”
Có nghĩa là: cái gì mạnh nhất? cái gì sáng nhất?

Đức Phật dạy: “Nhẫn nhục đa lực, bất hoài ác cố, kiêm gia an kiện. Nhẫn giả vô ác, tất vi nhân tôn. Tâm cấu diệt tận, tịnh vô hà uế, thị vi tối minh. Vị hữu thiên địa, đãi ư kim nhật, thập phương sở hữu, vô hữu bất kiến, vô hữu bất tri, vô hữu bất văn. Ðắc Nhất-thiết Trí, khả vị minh hỹ.”

Có nghĩa là: “Nhẫn nhục mạnh nhất, vì chẳng mang lòng ác, lại được thêm an kiện. Kẻ nhẫn nhục không ác, tất được người đời tôn kính. Cấu bẩn trong tâm diệt hết, sạch không còn vết dơ, đó là sáng nhất. Từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, bao nhiêu sự vật trong mười phương, không có gì là chẳng thấy, không có gì là chẳng biết, không có gì là chẳng nghe. Ðược Nhất-thiết Trí có thể gọi là sáng vậy.”

 

TƯ TƯỞNG TAM GIÁO — SỰ BẢN ĐỊA HÓA TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM

TƯ TƯỞNG TAM GIÁO — SỰ BẢN ĐỊA HÓA TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM

KHÁI LƯỢC VỀ LÃO GIÁO VIỆT NAM
NHÂN SINH PHÁT DIỆU
SỰ BẢN ĐỊA HOÁ PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM
TƯ TƯỞNG NHO HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM
TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM
TƯ TƯỞNG TAM GIÁO — SỰ BẢN ĐỊA HÓA TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM

 

TƯ TƯỞNG TAM GIÁO — SỰ BẢN ĐỊA HÓA TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM
TU TUONG TAM GIAO — SU BAN DIA HOA TAM GIAO TAI VIET NAM 

KHÁI LƯỢC VỀ LÃO GIÁO VIỆT NAM
NHÂN SINH PHÁT DIỆU 
SỰ BẢN ĐỊA HOÁ PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM
TƯ TƯỞNG NHO HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM 
TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM 
TƯ TƯỞNG TAM GIÁO — SỰ BẢN ĐỊA HÓA TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM
PHẦN QUAN TRỌNG–XIN XEM THẬT KỸ
TU TUONG TAM GIAO — SU BAN DIA HOA TAM GIAO TAI VIET NAM
TU TUONG NHO HOC & SU BAN DIA HOA TAI VIET NAM 
TU TUONG PHAT HOC & SU BAN DIA HOA TAI VIET NAM 
SU BAN DIA HOA PHAT GIAO TAI VIET NAM 
NHAN SINH PHAT DIEU 
PHAN QUAN TRONG–XIN XEM THAT KY
KHAI LUOC VE LAO GIAO VIET NAM

TƯ TƯỞNG NHO HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM

* Nhân tử Nguyễn Văn Thọ

*****

TƯ TƯỞNG NHO HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM

* Nhân tử Nguyễn Văn Thọ

*****

——————-
   
Đạo Khổng là một đạo rất hay, chỉ tiếc là khó hiểu, nhưng nếu ta mất công sưu tầm, sẽ tìm ra mạch lạc của nó.

 Chỗ cao siêu của Đạo, Đức Khổng không phải bất kỳ ai cũng truyền, mà chỉ truyền cho người có căn cơ, như Nhan Hồi.

 Tử Cống than: «Văn chương Thầy ta thì chúng ta đều được nghe. Còn về Bổn Tánh và Thiên Đạo, thì chúng ta chẳng được nghe Thầy ta dạy.» (Luận Ngữ, 5, 12)

 Ngài nói: «Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi» 吾 道 一 以 貫 之 (Luận Ngữ, 4, 15): Đạo ta, có thể thâu tóm bằng chữ Nhất. Như vậy, Nhất đây là thuyết: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể.

 Khi bình về Học Thuyết Khổng Tử, cụ Trần Trọng Kim đã viết: «Khổng Tử là một bậc thượng trí. Ngài nghĩ ngợi mà suy xét mọi việc rồi mới phát minh ra cái học thuyết, chủ lấy sự theo Thiên Lý làm căn bản. Ngài cho là trời đất và vạn vật đều có cái Lý ấy cả, tất là cùng đồng một thể, cho nên Ngài mới lấy chủ nghĩa THIÊN ĐỊA VẠN VẬT NHẤT THỂ làm thống hệ cho học thuyết của mình. Cái lý ấy là cái Nguyên Nhân của sự sinh hoá trong vũ trụ… Cái lý vô hình ấy… gọi là Thái Cực.» (Nho Giáo Trần Trọng Kim, q. 1, tr. 68)

Khảo Khổng Giáo, ta thấy Thái Cực, Nhất, Trung, Thiên Lý, Thiên Đạo, Thiên Tâm, hay Tính đều là một.

 Qui Nguyên Trực Chỉ, một quyển sách cổ từ thời nhà Tống có chủ trương Tam Giáo đồng nguyên, nơi chương 26 có viết: «Cái Chân Như Bản Tánh mà mỗi người đều có sẵn trước khi được cha mẹ mình sinh, nó là một cái Thể chân thiệt, không dối trá, gọi là Bổn Lai Diện Mục. Thiền Tông thì gọi nó là Chánh Pháp Nhãn Tạng. Liên Tông thì gọi nó là Bổn Tánh Di Đà. Đức Khổng thì gọi nó là Thiên Lý. Đức Lão Tử thì gọi nó là Cốc Thần. Dịch thì gọi nó là Thái Cực. Mỗi nơi kêu tên một khác, kỳ thiệt nó vẫn là một Chân Như Bản Tánh vậy.» (Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, chương 26, tr, 339)

 Cho thấy cái chốt, cái căn bản của Khổng Giáo chính là Thái Cực.

 Luận Ngữ viết: «Quân tử vụ bổn, bổn lập nhi đạo sinh.» 君 子 務 本, 本 立 而 道 生 (Luận Ngữ, ch. I, câu 2). Người quân tử chuyên lo CÁI GỐC. GỐC có vững, Đạo Lý mới sinh ra.

Vụ bổn như vậy là trọng gốc, là lưu tâm, lưu ý đến căn bản vũ trụ, quần sinh; là lưu tâm, lưu ý đến những vấn đề hệ trọng quan thiết đến vận mạng con người; là suy khảo về nguyên lý vũ trụ, quần sinh, về bản tính, về chân đạo, chân lý.

 Cái gì là căn bản vũ trụ quần sinh? Khổng giáo xưa nay vẫn chấp nhận rằng:
Thái Cực hay Trời làm căn bản vũ trụ quần sinh.
Đại Đỗng Chân Kinh, một sách của Đạo Lão viết:

 Muốn tìm căn bản, phải tìm nơi Thái Cực (Căn bản do lai Thái Cực tầm – Đại Đỗng chân kinh, tr. 4b).

Hệ từ viết: «Dịch hữu Thái cực. Thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái.» 易 有 太 極. 是 生 兩 儀. 兩 儀 生 四 象. 四 象 生 八 卦  (Dịch: Hệ Từ thượng)

* Dịch Kinh Đại Toàn cũng có một bài thơ, trong đó có câu:

Tu tri nhất bản sinh song cán,

須 知 一 本 生 雙 幹

Thủy tín thiên nhi dữ vạn tôn.

始 信 千 兒 與 萬 孫

*Dịch: –

Có hay một gốc đôi cành rẽ,

Mới thấy nghìn con, vạn cháu đông.

 *Một gốc là Thái Cực. Đôi cành là Âm Dương.

 Gốc hay Thái Cực thời trường tồn, bất biến.

 Âm Dương thời hư ảo, biến thiên.

 Trang Tử viết trong Nam Hoa Kinh như sau: «Hư Tĩnh, Điềm Đạm, Tịch Mạc, Vô Vi ấy chính là Gốc sinh ra vạn vật. Hiểu điều đó, nên Nghiêu làm vua thiên hạ, Thuấn trở nên hiền thần; ở ngôi trên, áp dụng được nó, nên Đế Vương, Thiên Tử; ở cấp dưới, áp dụng được nó, trở nên Huyền Thánh, Tố Vương.» (Nam Hoa Kinh, Thiên Đạo XIII, A).

 *Nhìn sang Triết Học Ấn Độ, ta thấy sách Áo Nghĩa Thư cũng có chủ trương tương tự.

 Shri Aurobindo toát lược Áo Nghĩa Thư đại khái như sau:

 «Áo Nghĩa Thư muốn lập căn bản vũ trụ quần sinh và đưa ra quan niệm Thực Thể duy nhất, bất biến, lồng trong mọi tạp thù, biến ảo, và là chủ chốt chi phối vũ trụ hình tướng, biến dịch bên ngoài.

«Áo Nghĩa Thư cho rằng: hai phương diện biến hằng của vũ trụ quần sinh, đều bao hàm trong những trạng thái động tĩnh của Brahman, Thực thể duy nhất, bất khả phân, và căn cơ của vũ trụ. Theo Áo Nghĩa Thư, Thực Thể duy nhất ấy thể hiện và hiển dương trong thế giới chuyển dịch và hình tướng này, qua trung gian những lớp lang, tiết tấu, những giai đoạn, những trình độ, những thời kỳ khác nhau.

 «Sự biến thiên, chuyển dịch cốt là để thực hiện lại Duy Nhất, cốt là để cho quần sinh phối hợp được với Duy Nhất.» (Shri Aurobindo, Trois Upanishads, p. 20 and ss.)

Tư Mã Thiên tóm tắt niềm tín ngưỡng tự nhiên của nhân loại bằng những lời lẽ mộc mạc sau đây: «Trời là thủy tổ của con người, cha mẹ là gốc gác của con người. Người ta khi cùng khổ sẽ quay về nguồn, về gốc, cho nên khi khổ sở, lao lung, cùng cực thời thường kêu Trời, thời thường kêu cha mẹ.» (Traduction Couvreur, Annales de la Chine, p. 110)
 Đức Khổng cũng tin rằng Trời là gốc gác muôn vật, quần sinh, gốc gác con người, nên muốn hiểu con người, trước phải biết Trời, vì Trời là gốc, mà con người là cành, là ngọn. Trung Dung viết:

Tư tri nhân, bất khả bất tri Thiên,
思 知 人 不 可 以 不 知 天.

Dịch:
Biết Trời, trước phải biết Người,
Hiểu Người chẳng nổi, hiểu Trời làm sao?
(Trung Dung, ch. XX)

 Những người vụ bản còn là những con người đi sâu được vào tầng lớp làm căn cơ, cốt cách con người, tìm ra được Đạo, được Trời ở đáy lòng.

 Ngày nay, người ta gọi những người đó là những người có «tâm địa ban sơ» (mentalité archaique), nghĩa là những tâm hồn sống kề cận với căn bản, với cốt cách con người (Arche). Đó là những con người hãy còn hồn nhiên, toàn vẹn, chưa bị pha phôi bởi vọng niệm, tư tâm, kiến văn, kiến thức. Nói thế, tức là con người vụ bản đi sâu được vào Vô thức. Vô thức đây không phải là thứ Tiềm thức hời hợt của Freud, chơi vơi giữa óc não và nhân tâm, nhưng Vô Thức đây chính là Vô Thức Đại Đồng của Jung, là Toàn Nhất của Hartmann, là Tự thể của Kant, là Tuyệt Đối của Schelling, hay Bản Tính của Carus.

 Đức Khổng gọi cái Vô Thức ấy là Tính (Trung Dung, I), Thiên Mệnh (Trung Dung, I), là Mệnh (Luận Ngữ XX, 3), là Đạo (Trung Dung I), là Thành (Trung Dung, XX, XXI), là Minh Đức (Đại Học, I), và suy luận ra rằng ý thức hay nhân tâm không phải là chủ trong con người, ngược lại chúng phải khuôn theo, thuận theo Vô Thức, thuận theo Thiên Tính để tiến tới hoàn thiện. Tìm ra được căn cơ, cốt cách, bản tính con người, tức là tìm thấy Đạo, thấy Trời trong tâm khảm mình.

 Ngô Thảo Lư viết: Đạo, Lý, Thành, Thiên, Đế, Thần, Mệnh, Tính, Đức, Nhân, Thái Cực, lời tuy có khác, nhưng ý chỉ có một. (Tống Nguyên học án, q. 12, tr. 8).

* Chính vì thế mà Mạnh Tử viết:

Thấu triệt lòng, sẽ hay biết Tính,

Hay biết Tính, nhất định biết Trời,

Tồn Tâm, dưỡng Tính chẳng rời,

Ấy là giữ Đạo thờ Trời chẳng sai…

(Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng I).

 *Đại Học viết:-

Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc Lương Tâm cương quyết phát huy,

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện, còn đi chưa ngừng.

Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan

Hết lo, lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đường xét suy.

Suy xét rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời, ngành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi.

Đã nói rằng Trời là căn cơ, gốc gác con người, thì con người chẳng thể lìa xa được khỏi Trời, dù là một phút giây, vì cành làm sao lìa khỏi gốc được? Vì thế Trung Dung viết: «Đạo dã giả bất khả tu du ly dã.» 道 也 者 不 可 須 臾 離 也.

 Quan niệm này đem so với quan niệm của các nhà minh triết Ấn Độ, ta thấy giống nhau hoàn toàn.

* Katha Upanishad viết:-

Chân Tâm chủ tể muôn loài,

Thể thời duy nhất, Hình thời ngàn muôn.

Biết Ngài ngự giữa tâm hồn,

Mới mong hạnh phúc trường tồn, vô chung,

Biết Ngài bất biến thung dung,

Lồng trong trời đất lao lung chuyển vần.

Biết Thần ngự giữa chúng Thần,

Biết Ngài duy nhất giữa quần sinh ban,

Bao nhiếu mơ ước chứa chan,

Biết Ngài phân phát cho toàn sinh linh.

Biết Ngài ngự giữa lòng mình,

Mới mong hạnh phúc siêu sinh trường tồn.

 (Katha Up. 5, 14. – Prasna 6, 5 – Brih. 4, 4 – 1- 2)

*Vì thế mà Kinh Thi mới viết:-

Chái Tây Bắc, góc nhà thanh vắng,

Đừng làm chi đáng để hổ ngươi.

Đừng rằng tăm tối chơi vơi,

Đừng rằng tăm tối, ai người thấy ta.

Thần giáng lâm ai mà hay biết,

Nên dám đâu khinh miệt, dể ngươi?

(Mao Thi, Đại Nhã, Ức Thiên)

 *Quan niệm trên cũng đã được Trung Dung nhắc lại nơi chương XVỊ

 Đức Khổng vì đã tìm ra được Trời, được Đạo tàng ẩn trong tâm khảm mình, nên đã sống một cuộc đời đạo hạnh chân thực, nghĩa là sống phối kết với Trời.

Trung Dung gọi thế là Phối Thiên (Trung Dung, ch. XXVI)

Thomas Mann gần đây cũng cho rằng đạo hạnh chân thực chính là sống phối kết với bản thể (L’Homme se sente directement branché sur le mystère profond de l’être.) (Critique, mars, 1961. No 166, p. 218).

Ngoài ra, Đức Khổng còn cho rằng mọi lề luật chi phối con người và quần sinh vũ trụ đều đã được ghi tạc ngay trong lòng con người, trong lòng quần sinh, vạn hữu.

*Trung Dung viết:-

Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa rời chúng nhân,

Hiếu kỳ, lập dị là nhầm.

(Trung Dung, ch. XXII)

*Kinh Thi viết:

Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào phép nấy định phân rành rành.

Lòng dân sẵn có căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành, tốt tươi.

(Kinh Thi, Chưng Dân).

—* Chính vì lĩnh hội được cái chân đạo ấy, mà Đức Khổng không câu nệ về những hình thức cầu đảo bên ngoài.

 Khi Ngài đau, Tử Lộ khuyên Ngài nên cầu đảo. Ngài trả lời: «Ta cầu đảo từ lâu rồi.» (Luận Ngữ, VII, 30). Ý Ngài muốn nói: tuy không cầu đảo theo thói thông thường, nhưng thực ra đời Ngài đã là cả một bài kinh nguyện trường thiên, vì luôn sống phối kết với Thượng Đế.

 Ngài khuyên mọi người nên học cho nhiều để tìm cho ra cốt cách, căn cơ của mình, tìm cho ra Trời, ra Đạo ở nơi tâm khảm mình, và cho rằng đó là điều kiện thiết yếu để sống cuộc đời đạo hạnh, chân thực.

—* Đại Học viết: –

Muốn đức sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa lo cải hóa dân mình.

Trị dân trước trị gia đình,

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên

Muốn sửa mình, Tâm nên sửa trước,

Sửa Tâm Hồn, trước cốt ý ngay.

Ý ngay, phải học cho dày.

Dày công học vấn sẽ hay Khuôn Trời.

Hay Khuôn Trời thoắt thôi thấu triệt

Thấu triệt rồi, ý thiệt, lòng ngay.

Lòng ngay, ta sẽ hóa hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên.

Nhà đã yên, nướữc liền thịnh trị.

Nước trị bình bốn bể bình an.

Từ dân cho tới vua quan,

Tu thân một mực lấy làm căn cơ.

 (Đại Học, I)

—* Ngài chủ trương dạy thiên hạ làm bừng sáng ngọn đuốc lương tâm, cố gắng cải thiện không ngừng, để tiến tới hoàn thiện.

—* Đại Học viết:-

Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc Lương Tâm cương quyết phát huy.

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng.

(Đại Học, I)

 Đó chính là chủ trương của các vị đại Thánh, đại Hiền trong thiên hạ.

***

Thời cổ xa xưa, Mahagourou, vị thánh Ai Cập, cũng đã dạy thiên hạ phát huy «ánh sáng nội tại ấy». Đó là ánh sáng soi cho mọi người sinh ra nơi trần thế. Ánh sáng ấy là «con người chân thực». Ánh sáng ấy tiềm tàng khắp nơi, ẩn áo ngay cả trong lòng nham thạch. Đối với con người… ánh sáng ấy gần gũi họ hơn mọi sự, ánh sáng ấy đã hiện diện trong lòng mọi người. Thực thể ấy gần gũi con người hơn mọi hình thức lễ nghi, vì con người chỉ cần hồi quang, quán chiếu là tìm thấy ngay ánh sáng ấy. Khi con người biết ra, mà vượt lên trên mọi lễ nghi hình thức, là con người lên được tới cùng Osiris, lên được tới ánh sáng. Ánh sáng ấy chính là thượng thần Amoun- Ra, căn nguyên và cùng đích mọi sự. (A.E. Powell, Le système solaire, p. 351)

 * Tóm lại, Đức Khổng chủ trương Chân Đạo phát xuất từ «thâm tâm con người». Trung Dung viết:

Nên đạo quân tử phát xuất tự «thâm tâm»,

Đem trưng bày phổ cập tới thứ dân,

Khảo chứng tiên vương không có chi lầm lỗi.

Sánh với luật đất trời không phản bội,

So quỉ thần đường lối đúng không sai,

Thánh nhân ngàn đời sau, chẳng có chê bai.

So quỉ thần đường lối đúng không sai,

Thế là đã biết lòng Trời đó,

Thánh nhân ngàn đời sau chẳng có chê bai,

Thế là đã biết lòng người tỏ rõ.

(Trung Dung, ch. XXIX)

* Những con người vụ bản là những con người hiếu cổ. Hiếu cổ không phải để mua vui, mà chính là để hướng về nguồn, mà chính là để dùng gương xưa, tích cũ, lèo lái cho công trình tạo tác thời nay, mà chính là để theo chân người xưa, khám phá và làm sống động lại các tầng lớp thẳm sâu của tiềm thức. Như vậy khảo cổ tức là khơi sâu, chẳng những khơi sâu thời gian và lịch sử, mà còn khơi sâu tâm khảm con người, làm cho con người mở rộng thêm tầm kích, sống thêm sâu xa linh diệu. Chính vì vậy mà Đức Khổng ưa khảo cổ. Ngài nói trong Luận Ngữ:-

Ta trần thuật chứ không sáng tạo,

Tin cổ nhân, mộ đạo cổ nhân.

(Luận Ngữ, Thuật Nhi, VII, 1)

 Trung Dung viết thêm: «Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn, Võ.» 仲 尼 祖 述 堯, 舜, 憲 章 文 武 (Trung Dung, ch. XXX).

 Các môn đệ Đức Khổng Nhiều người cũng tỏ ra hiếu cổ. Mạnh tử thuật lại rằng: «Các ông ấy có chí cả, và thường lớn tiếng nhắc đi, nhắc lại: ôi người xưa, ôi người xưa.» (Mạnh tử, Tận Tâm chương cú hạ, 37. Luận Ngữ. VII, 19. Luận Ngữ, IV, 21).

 Những người vụ bản còn có tâm hồn định tĩnh. Vì họ chú trọng đến các tầng lớp thẳm sâu trong tâm hồn, nên có đời sống nội tâm rồi rào.

 Các ngài ưa trầm tư, mặc tưởng, để tìm ra nguyên lý, tìm ra định luật chi phối vũ trụ

* Đại Học viết:

Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan.

Hết lo lòng sẽ bình an,

Bình an tâm trí, rộng đàng xét suy.

Suy xét rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời, ngành ngọn đầu đuôi.

Trước sau đã rõ khúc nôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi.

(Đại Học, I)

**********************         

Trang Tử cũng có chủ trương tương tự Ông viết: «Nước lặng sẽ chiếu soi thấy được râu mày, lại được thợ dùng để đánh thăng bằng. Nước lặng mà còn trong, huống chi là tinh thần? Lòng thánh nhân mà tĩnh lãng, thời sẽ nên gương soi trời đất, vạn vật.» (Nam Hoa Kinh, Thiên Đạo, XIII, A).

 Vì vậy mà Đức Khổng thường trầm tư, mặc tưởng (Luận Ngữ, XV, 30). Ngài cũng dạy các môn đệ năng xét mình, để trừ khử những điều không hay, không tốt, (Luận Ngữ, I, 3), để khiến cho tâm hồn trở nên như băng tuyết (Luận Ngữ II, 2).

 Chính nhờ sống một cuộc sống nội tâm sâu sắc như vậy mà đức Khổng thường ung dung thư thái (Luận Ngữ, VII, 4). Có thể nói được rằng ngày nay chúng ta thường buồn bực, khổ sở, bất mãn, một phần là vì đã bỏ quên mất nếp sống tâm hồn, mà sống phiến diện nơi óc não, nơi giác quan, hay vùi đầu vào ngoại cảnh, đem hết tâm lực chạy theo tiền bạc, lợi danh, hoặc thú vui nhục dục.

 Thế là trạng thái đánh mất tâm hồn mình, theo từ ngữ Thánh Kinh (Mat. 16, 26), hoặc theo từ ngữ của Harvey Cox trong cuốn The Feast of Fools (While gaining the whole world, Western men has been losing his own soul), hay làm thất lạc con tim theo Mạnh Tử (Mạnh Tử, Cáo Tử chương Cú thượng, 2).

 Nhờ vụ bản, mà Đức Khổng đã tìm ra được nguyên lý duy nhất, do đó suy ra vạn sự.

 Đức Khổng đã nói: Đạo ta là do một nguyên lý mà suy ra (Ngô đạo nhất dĩ quán chi 吾 道 一 以 貫 之, Luận Ngữ, IV 15), và Luận Ngữ, XV, 2).

 Nguyên lý duy nhất ấy chính là gốc, mọi sự khác chỉ là ngọn. Biết được nguyên lý duy nhất rồi sau sẽ suy ra các điều khác. Không biết được nguyên lý duy nhất thời mọi sự sẽ rối mù.

 Đoàn Trung Còn bình: Nhất dĩ quán chi là một môn học cao vi của nhà Nho. Người ta bắt đầu từ chỗ gần, mà xét tới chỗ xa, từ chỗ hiển mà đạt tới chỗ mật. Nhà học Đạo cần phải có tâm bình đẳng, đạt mức trung dung, do một mối mà phăng lần ra, thì có thể bắt từ ngọn mà đi đến gốc. Nhờ quan sát như vậy, nhà Đạo hiểu tâm tánh người đời. Cao hơn nữa, nhà Đạo biết ra lẽ bí mật trong vũ trụ vậy. (Đoàn trung Còn, Luận Ngữ, XV, 2)

 Chính vì thế mà Trang tử đã nói: «Thông vu nhất, nhi vạn sự tất.» 通 于 一 而 萬 事 畢 (Biết được nguyên lý, thời vạn vật cũng biết xong xuôi. (Nam Hoa Kinh, Thiên Địa XII, A). Ông cũng còn nói: «Đắc kỳ hoàn trung, dĩ ứng vô cùng.» 得 其 環 中 以 應 無 窮 (Trước hết phải nắm được tâm điểm, Sau đó sẽ ứng dụng được vô cùng.) (Nam Hoa Kinh, Tề vật luận II, C).

 Đức Khổng còn dùng nguyên lý duy nhất mà suy ra lẽ tuần hoàn biến hóa của mọi sự biến địch trong hoàn võ. Ngài cho rằng mọi sự biến hóa chung qui đều trở về lại căn nguyên, và sự tu luyện học hỏi của con người cũng cốt là để nhập thần, huyền hóa. Vì thế mà Ngài đã viết trong Hệ Từ, khi bình về Hào Cửu Tứ quẻ Hàm như sau:

Dạy rằng muôn sự trên đời,

Cần chi lo lắng, rối bời mà chi.

Muôn đường nhưng vẫn đồng qui,

Trăm chiều lo lắng qui về một căn.

Cần chi mà phải băn khoăn,

Việc gì mà phải bận tâm lo lường.

Vầng trăng đắp đổi vầng dương,

Vầng dương đắp đổi đài gương Quảng Hằng.

Mặt trời cùng với mặt trăng,

Luân phiên đắp đổi, nên hằng sáng soi.

Lạnh đi, nóng lại tới nơi,

Nóng đi, lạnh lại trở lui thay liền.

Hàn ôn đắp đổi thường xuyên,

Cho nên niên tuế miên triền sinh ra.

Trôi vào quá vãng là co,

Vị lai là giãn, giãn là triển dương.

Khuất thân, co giãn thời thường

Đôi bên cảm ứng, mở đường lợi sinh.

Sâu đo có lúc co mình,

Co mình cốt để duỗi mình dễ hơn.

Long xà đông tới chập chờn,

Ngủ vùi tháng lạnh, bảo tồn tấm thân,

Học sao tinh nghĩa nhập thần,

Rồi ra áp dụng muôn phần hay ho,

Đã rành đã tỏ hóa cơ,

Rồi ra lợi dụng ấm no thân mình.

Thân mình sung túc, an ninh,

Rồi ra nhân đức thi hành sùng tôn,

Băng chừng từ đó tiến lên,

Là vào tới cõi siêu nhiên, thánh thần.

Thần minh khế hợp vào tâm,

Hóa cơ đã tỏ, siêu nhân đã đành.

 (Hệ từ hạ, chương V)

 Đức Khổng đã áp dụng nguyên lý duy nhất ấy vào công cuộc tu thân, tề gia. trị quốc, bình thiên hạ.

 Sau khi đã định được căn bản của vũ trụ quần sinh là Thái Cực, là Trời. Mà Trời hay Thái Cực thời:

– Bất biến,

– Hằng cửu,

– Siêu vi. – Vừa lồng trong vạn vật, vừa siêu xuất vạn vật

– Vừa là căn cơ, vừa là cùng đích muôn loài.

– Lại hoàn thiện, tuyệt đối.

 Ở nơi con người thì Thái cực là Lương Tâm, Lương tri, tuyệt đối, hoàn thiện, nên chính là Tính con người, là phần Thiên nơi con người. Nó khác hẳn với nhân tâm, vì nhân tâm chỉ là thất tình, lục dục, luôn luôn biến thiến, thay đổi.

 Cho nên trong công trình tu luyện phải luôn theo tiếng Lương Tâm, giữ gìn cho Lương Tâm được luôn luôn trong trẻo, và phải trở về với Lương Tâm là mới trở về được với Đạo, với Trời.

Kinh Thư gọi Lương Tâm là Đạo Tâm. (Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 15)

Trung Dung gọi là Tính. (Trung Dung, I)

Đại Học gọi là Minh Đức. (Đại Học, I)

Kinh Dịch gọi là Thái Cực. (Dịch, Hệ Từ)

Mạnh Tử gọi là Xích tử chi tâm (Mạnh Tử, Ly Lâu hạ, 12).

 Ngoài ra chư Nho còn gọi là Nhất, là Trung, là Thành, là Mệnh v.v…Chính vì thế nên Bản Tính con người thời hoàn thiện. (Nhân chi sơ, Tính bản thiện). (Tam Tự Kinh)

 Chính vì thế mà trong công cuộc tu thân con người phải tiến tới hoàn thiện (Đại Học, I), tiến tới chí thành, chí thiện

Thành giả Thiên chi đạo dã,

Thành chi giả, nhân chi đạo dã.

*Dịch: –

Hoàn toàn là Đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.

 (Trung Dung, XX).

 Như vậy, cá nhân và xã hội đều phải theo một khuôn mẫu, là tiến tới chỗ hoàn thiện. Khổng tử nói: «Trò Sâm, Đạo ta do một nguyên lý mà suy ra. Tăng tử đáp: Dạ…Đạo Thày là đem hoàn thiện vào lòng mình và làm cho người khác trở nên giống mình.» (Luận Ngữ, Lý Nhân, IV, 15).

 Mạnh tử cũng nói: «Mạnh tử chỉ bàn về tính thiện, và không ngớt ngợi khen Nghiêu Thuấn… Đạo Lý chỉ có một mà thôi.» (Mạnh tử, Đằng văn Công chương cú thượng, 1)

 Chính trị chính là sửa sang mọi người và đưa mọi người về tới Hoàng Cực hoàn thiện.

 Trung Dung viết:-

Đạo quân tử có năm hình thức,

Nương ba chồi, thịnh đức sum sê.

Quân thần, phụ tử, phu thê,

Anh em cốt nhục, bạn bè tất giao.

Ấy năm đạo tối cao thiên hạ,

 Trí, Dũng, Nhân, đức cả 3 chồi,

Năm cành, ba cỗi tốt tươi,

Tinh thành do một gốc Trời trổ sinh.

(Trung Dung XX)

 *Trung Dung còn viết:-

Thành vốn dĩ tự mình hoàn thiện,

Đạo thời thường tự khiển, tự do.

Thành là cùng đích, duyên do,

Duyên do, cùng đích khắp cho muôn loài.

Bỏ nhẽ ấy khôn bài có vật,

Nên hiền nhân quí nhất chữ Thành.

Hoàn thành không những riêng mình,

Rồi ra hoàn thiện quần sinh muôn loài.

Hoàn thành mình là người nhân đức,

Tác thành vật, là bực thông minh.

Thiên nhiên tự tính uy linh,

Trong ngoài hai mặt, một mình quán thâu.

Nên quân tử biết câu sau trước,

Xếp thời giờ, tổ chức cho hay.

(Trung Dung XXV).

**********************         

Như vậy, về phương diện chính trị, phải liệu lý từ trong ra ngoài. Căn cơ có tỏ, thì tâm mới định; thần có linh, thì tâm mới thiện; Tâm có thiện, thì thân mới an; thân có an, thì gia đình mới tốt; gia đình có tốt, thì quốc gia mới thịnh; quốc gia có thịnh, thì thiên hạ mới mong bình. Mới hay có thấu đáo căn cơ, cốt cách của mình, thì thân mới tu, gia mới tề, quốc mới trị, thiên hạ mới bình. Cái gốc có vững, thì cái ngọn mới không xiêu.

 Ngày nay, thế giới trở nên đảo điên, suy vi, loạn lạc, chính là vì người ta đã trở nên vong bản, đã quên mất gốc, hoặc không biết rằng cái gốc hoàn thiện đã ở ngay trong tâm cơ con người. Thành thử, người ta cầu mong hòa bình mà chỉ thấy loạn lạc; người ta hứa hẹn an lạc, mà chỉ thấy toàn gian khổ, điêu linh. Tất cả những cái thống khổ, khốn nạn, tất cả những chén phiền não, tân toan mà con người đã, đang, và sẽ uống hằng ngày, đều là do đã lạc mất tâm, đã quên mất gốc.

 Chúng ta muốn an bình ư? Hãy tìm về gốc, trở về nguồn. Chúng ta muốn có một nền học vấn cao siêu ư? Hãy khảo về gốc, suy về nguồn. Chúng ta muốn tìm ra giải đồng thân ái, liên kết ta được với người, với chúng dân trong hoàn võ ư? Hãy tìm ra gốc, tìm ra nguồn.

 Căn cơ, nguồn gốc của chúng ta, chúng ta khỏi tìm ở khởi điểm lịch sử. Nguồn gốc vũ trụ nhân quần, chúng ta khỏi suy khảo cho tới phút lập địa, khai thiên. Muốn tìm về gốc nguồn chúng ta, chúng ta chỉ việc phạt quang hết những lau lách dục vọng hay tạp niệm nội tâm (M. T. Tận tâm chương cú hạ, 21), rồi ra chúng ta sẽ thấy hiện ra một con đường quang, đưa tới nguồn, tới gốc, rồi ra chúng ta sẽ thấy hiện ra trong Não Thất 3, tức là trong Nê Hoàn Cung chúng ta một viên ngọc quí sáng ngời, đó là Lương Tâm chúng ta, mà Đạo Lão gọi là Kim Đơn, mà khoa luyện đan Âu Châu gọi là Philosopher’s Stone. Đó là cái Đạo mà sáng nghe biết rồi, chiều chết cũng cam của Khổng giáo. (Triêu văn Đạo, tịch tử khả hĩ. Luận Ngữ, Lý Nhân IV, 8). Tìm ra Đạo này là một công trình khó khăn, nhưng thích thú.

 Tóm lại, Thái Cực hay Trời, khi sinh ra ta thì gọi là Căn Cơ, khi kêu ta về thì gọi là Cùng Đích. Như vậy Trời không ở đâu xa, mà đã nằm sẵn trong lòng sâu con người. Ta đã thấy bất kỳ đạo giáo chân chính nào trên thế giới cũng đều chủ trương như vậy.

 Sách Trung Dung đã viết theo kiểu này: Sách bắt đầu bằng chữ Thiên, rồi nở ra thành Tam Đức, Ngũ Luân, Cửu Kinh, đoạn khép lại thành Đạo Thánh Nhân, rồi lại trở về với Trời vô thanh, vô xú. Thật là hoàn hảo tuyệt vời.

Thế là:

Tung ra tản mạn khắp muôn phương trời,

Thu tóm lại dấu nơi ẩn áo.

Hay sao hay, kỳ ảo khôn cùng

Đó là thực học chính tông,

Ai hay tìm hiểu, sẽ thông ý mầu,

Thông ý mầu, rồi sau ứng dụng,

Dùng cả đời, cũng chẳng hề vơi.

 (Trung Dung, Chu Hi chương cú)

 Sau đây, chúng ta sẽ dùng Kinh Dịch để giải thêm thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

 Kinh Dịch chủ trương: Vũ trụ này do một đại thể duy nhất, một căn nguyên duy nhất phân hóa ra. Bản thể duy nhất ấy Dịch gọi là Thái cực, là Âm Dương hợp nhất, là Thổ, là Nhất, là 5, hay 15.

*Dịch trình bày tư tưởng trên bằng:

a) Hình vẽ Thái Cực, gồm Âm lẫn Dương.

b) Bằng chữ Dịch 易 gồm 2 chữ Nhật 日, và Nguyệt 勿 (月). Nhật thời Bất Biến, Nguyệt thời Biến Thiên.

易 =日 + 勿 = 日 + 月

c) Bằng chữ Thổ 土, gồm hai nét Âm Dương 二, và nét Sổ | hợp nhất.

d) Bằng số 5 vì năm là 3 (Dương) + 2 (Âm).

e) Bằng số 15 vì 15 là 9 (Dương) + 6 (Âm).

Thái Cực thời Bất Biến.

Âm Dương thời Biến Hóa vô cùng.

Bản Thể ấy đã sinh hóa, phóng phát ra vũ trụ, bằng cách phân hóa.

1 chia 2.

2 chia 4.

4 chia 8.

8 chia 16, chia 32, chia 64.

 Dịch diễn tả tư tưởng ấy bằng chữ: Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…

 Hoặc bằng hình vẽ:

a/ Bản thể vũ trụ và vạn hữu vẽ thành vòng Dịch tròn.

Lúc đó:

Tâm điểm là Thái Cực.

Vạn hữu là hào quải vây quanh bên ngoài..

Thái Cực hay Bản Thể như vừng dương sinh xuất muôn ánh hào quang vạn hữu.

b/ Bản thể vũ trụ (Thái Cực) và Vạn Hữu (Hào quái) xếp theo hình ngang. Lúc ấy, Bản Thể (Thái Cực) là gốc cây, vạn hữu (hào quái) như cành, như lá bên trên.

Vòng biến dịch tuần hoàn của vũ trụ được tượng trưng bằng:

a/ Vòng Dịch Tiên Thiên bát quái

Đồ hình này có 2 nửa phải, trái. Nửa phải có 4 quẻ là Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Hào trong cùng của 4 quẻ này đều là Hào âm. Hơn nữa, Hào Âm ngày càng tăng. Hào Dương càng ngày càng giảm: (Tốn có 1 hào Âm, Khảm có 2 hào Âm cách nhau, Cấn có 2 Hào Âm liền nhau, Khôn có 3 hào Âm), vì thế, chiều này gọi là chiều Âm trưởng, Dương tiêu.

Như vậy, ta thấy rằng, ở chiều này, Vật Chất ngày càng thịnh, Tinh Thần ngày càng suy

Nửa trái có 4 quẻ là Chấn, Ly, Đoài, Kiền. Hào trong cùng của 4 quẻ này đều là Hào Dương. Hơn nữa, Hào Dương ngày càng tăng, Hào Âm ngày càng giảm. (Chấn có 1 hào Dương, Ly có 2 hào Dương cách nhau, Đoài có 2 hào Dương liền nhau, Kiền có 3 hào Dương), vì thế chiều này gọi là chiều Dương trưởng, Âm tiêu. Như vậy ta thấy rằng ở chiều này Tinh Thần ngày càng thịnh, Vật Chất ngày càng suy.

b/ Bằng Vòng Dịch Tiên Thiên 64 quẻ.

Nơi vòng Dịch Tiên Thiên 64 quẻ, ta thấy nửa phải có 32 quẻ, từ Cấu đến Khôn. Tất cả các Hào trong cùng của 32 quẻ này đều là Hào Âm. Đó là Chiều Âm, vì Âm ngày càng thịnh, đó cũng gọi là chiều Thuận.

Nửa trái có 32 quẻ, từ Phục đến Kiền. Tất cả các hào trong cùng của 32 quẻ này đều là Hào Dương. Đó là Chiều Dương vì Dương ngày càng thịnh, đó cũng còn gọi là Chiều Nghịch.

Thế là:

Gẫm Đạo Lý có sau, có trước,

Lẽ Âm Dương có ngược, có xuôi.

Xuôi là gió cuốn bụi đời (Thiên Phong Cấu),

Đẩy đưa vào chốn trần ai, cát lầm,

Có thử thách mới phân vàng đá,

Có lầm than mới rõ chuyện đời.

Ngược là sấm chớp tơi bời (Địa Lôi Phục),

Tầng sâu bày giãi căn trời nội tâm,

Trông tỏ đích chí nhân, chí chính,

Biết mục phiêu sẽ định, sẽ an.

Rồi ra suy xét nguồn cơn,

Con đường phối mệnh chu toàn tóc tơ.

Dịch Kinh quí nhất chiều nghịch. (Dịch nghịch số dã. Kinh Dịch, Thuyết quái, chương III, câu 2), vì Chiều Nghịch là Chiều sinh Thánh, sinh Thần, còn chiều Thuận là Chiều sinh Nhân, sinh Vật.

c/ Hoặc giản dị hơn, bằng vòng Dịch Thập Nhị quái khí.

Thập Nhị quái Khí là 12 quẻ rút ra từ Vòng Dịch 64 quẻ nói trên.

Nửa phải có 6 quẻ là Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn. Đó là Chiều Âm.

Nửa trái có 6 quẻ là Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải, Kiền. Đó là chiều Dương.

d/ Hoặc bằng 1 đồ bản vẽ Thái cực nằm chính giữa, với 6 vòng tròn đồng tâm bên ngoài. Ngoài cùng có 12 quái khí.

Trông vào hình đồ trên ta thấy:

1/ Thái Cực ở Tâm Điểm.

2/ Vạn Hữu được tượng trưng bằng 6 vòng tròn bao quanh bên ngoài.

3/ Vòng biến dịch bắt đầu từ tâm điểm đi ra tới biên, rồi lại quay ngược trở về Tâm.

4/ Càng đi ra bên ngoài, âm càng thịnh, dương càng suy (âm từ 1 hào, dần dần tăng lên cho tới 6 Hào).

5/ Lúc vòng Dịch quay trở về được đánh dấu bằng quẻ Phục. (Quay trở lại)

 Như vậy, Phục là con đường hồi tâm, qui tâm, hồi hướng, hướng nội.

Phục cũng là Kiến Thiên Địa chi Tâm: Thấy được Tâm (Bản Thể) của Trời đất. Tâm của Trời đất cũng là Tâm của mình.

6/ Càng đi sâu vào tâm, càng trở nên trong sáng. Âm căn càng ngày càng giảm, Dương quang càng ngày càng tăng.

Vào đến vòng dịch thứ 6, là đạt thuần Dương, thuần Kiền.

7/ Vào tới Tâm Điểm là Đắc Đạo, đắc Nhất, đắc Thiên.

8/ Vòng biến dịch, tuần hoàn trên vẽ lại đời sống con người lý tưởng, cũng như đời sống nhân quần và toàn bộ lịch sử tiến hóa con người. Chẳng những thế, còn vẽ lại được vòng biến dịch luân lưu của mặt trời, mặt trăng, hay nói rộng hơn là toàn thể chu kỳ biến hóa của vũ trụ.

9/ Vòng biến dịch này có 2 chiều:

 Con người nói riêng, nhân loại nói chung, khi còn trẻ sẽ hướng ngoại, đem tinh thần phục vụ giang sơn, tổ quốc, cải thiện ngoại cảnh, đổi lấy miếng cơm, manh áo, đóng góp với đời…

 Khi đã luống tuổi, khi đã trở về già, sẽ hướng nội, qui tâm, sẽ dùng ngoại cảnh hỗ trợ cho tâm thần, tu luyện bản thân, tiến mãi trên con đường huyền hóa…

 Thiệu Khang Tiết viết: «Vạn Vật tòng Trung nhi khởi, tòng Trung nhi chung.» (Vạn Vật từ Trung Tâm sinh xuất, lại qui hoàn về Trung.)

 Dịch lại viết: «Nhất Âm, nhất Dương chi vị đạo. Kế chi giả, thiện dã, thành chi giả, tính dã.» 一 陰 一 陽 之 謂 道, 繼 之 者 善 也. 誠 之 者 性 也 (Hệ từ thượng, chương V).

 Một Âm, một Dương là Đạo (Đạo có 2 chiều: Âm trước, Dương sau: Vật chất trước, tinh thần sau). Theo đường đó thời tốt, đi tới cùng đường sẽ thực hiện được Tính Trời.

 Chỗ cao siêu của Dịch là cốt dạy con người: Tẩy Tâm, thoái tàng ư mật 洗 心 退 藏 於 密 (Hệ từ Thượng, ch. 11), tẩy rửa tâm hồn, trở về với tâm linh.

Các chính Tính, Mệnh, Bảo hợp Thái Hòa. 各 正 性 命 保 合 太 和 (Kiền Quái, Thuyết quái) Giữ cho Tính, Mệnh được ngay chính, bảo vệ, hiệp nhất được với Thái Hòa (Thái Cực).

Sau đây, tôi xin đi sâu thêm bằng cách lần lượt trình bày cùng quí vị những đóng góp của Tứ Thư, Ngũ Kinh vào công trình đi tìm Thượng Đế tiềm ẩn đáy lòng, tức là vào công trình xây đắp con đường Qui Nguyên Phản Bản, lý tưởng theo thánh hiền Nho Giáo.

Tôi sẽ dùng TÂM ĐIỂM và vòng TRÒN bên ngoài với hai chiều thuận nghịch để trình bày những tư tưởng then chốt của Tứ Thư, Ngũ kinh, đồng thời cũng để minh định rằng con đường quy nguyên phản bản cuả Nho Giáo chính là con đường hồi hướng, con đường quay về Tâm để mà tìm Đạo, tìm Trời hoặc quay về gốc, trở về nguồn.

Nhìn vào đồ hình này, ta sẽ thấy ngay chủ trương chính yếu của Nho Giáo có thể tóm tắt như sau:

1. Thái Cực, hay ĐẠO hay TRỜI hay THƯỢNG ĐẾ là bản thể tuyệt đối, là căn nguyên duy nhất, sinh suất ra quần sinh vũ trụ, vừa siêu suất (transcendent), vừa ẩn tàng (immanent) trong lòng sâu, trong TÂM ĐIỂM vạn hữu, nhân quần, để làm trục cốt, căn cơ, âm thầm chỉ huy, hướng dẫn mọi cuộc biến thiên, tiến thoái.

2. Vạn hữu, vạn tượng, vũ trụ, quần sinh, những hình tướng biến thiên, những công dụng biến thiên đa tạp cuả một bản thể tuyệt đối, của một Thái Cực hợp lại thành một vòng biến thiên Sinh Tử. Những Vòng Tròn biến thiên bên ngoài, tuy là biến thiên sinh tử, nhưng vẫn có vinh hạnh mang trong lòng mình một căn cơ, một nguồn sinh HẰNG CỬU, BẤT DIỆT.

3. Thượng Đế hay Thái Cực, ở nơi tâm điểm với vạn tượng, vạn hữu hay giữa các quẻ ở vòng tròn bên ngoài có liên lạc mật thiết với nhau:

– Từ tâm điểm,từ Thựơng Đế ra vòng tròn bên ngoài hay ra vạn tượng vạn hữu bên ngoài là chiều suy thoái, phóng phát ly tán, phân kỳ, hướng ngoại. Đó là chiều NHẤT TÁN VẠN, đó là chiều sinh Nhân sinh Vật.

– Từ TÂM ĐIỂM chuyển dịch, biến hóa ra vòng bên ngoài, rồi lại từ vòng bên ngoài chuyển dịch biến hóa quay trở về Tâm Điểm vẽ thành một vòng CHU DỊCH, hay một vòng biến hóa ĐẠI TUẦN HOÀN, hay ĐẠI CHU THIÊN.

Thế tức là VẠN VẬT TUẦN HOÀN CHUNG NHI PHỤC THỦY,để thực hiện điều Đại Huyền Kỳ của Trời Đất là Thủy Chung Như Nhất, mà Âu Châu gọi là Alpha = Omega (Alpha là đầu,là Thủy, vì chữ Alpha là chữ đầu trong mẫu tự Hi Lạp, Omega là chữ cuối cùng).

– Kinh Dịch gọi là:

Nguyên Thuỷ Yếu Chung (Dịch, Hệ Từ Hạ, chương IX)

Nguyên Thuỷ Phản Chung (Dịch, Hệ Từ Thượng, chương IV)

– Thiệu Khang Tiết viết: «Vạn Vật tòng trung nhi khởi, tòng trung nhi trung.»

– Văn Đạo Tử viết: «Mới đầu từ trong thuận hành mà sinh, cuối cùng lại trở lại để ẩn tàng tại trung điểm tại trung Hoàng Thái Cực tìm lại được Bản Lai Diện Mục của mình.» [1]

– Nguyễn Án Trường, tác giả quyển Tạo Hoá Thông cho rằng: «Thái Cực là Một vậy. Vạn vật bắt đầu từ một và kết thúc ở Một… Trang Tử gọi thế là: «Xuất cơ, nhập cơ» [2]

Cuộc biến dịch, tuần hoàn trong vũ trụ như vậy thực là có nhịp điệu, tiết tấu, chiều hướng, giai trình. Ta có thể theo dõi sự diễn biến ấy từ đầu đến đuôi được.Tất cả chỉ là một Nguồn sinh hóa diễn biến dần dà từ trung tâm ra tới các tầng lớp bên ngoài, rồi lại chuyển hoá, xoay mình băng qua các lớp biến thiên từ ngoài vào trong, cho tới Trung Tâm Nguyên Thủy, tạo thành một vòng biến thiên, một vòng sinh hoá có lớp lang, tiết tấu mạch lạc, có nguyên ủy thủy chung.

Vòng đại tuần hoàn này của vũ trụ chẳng qua cũng như tình non nước lúc tan lúc hợp, mà

** Tản Đà đã ngâm vịnh bằng những lời thơ thắm thiết như sau:

Cho dù sông cạn đá mòn,

Còn non còn nước hãy còn thề xưa.

Non cao đã biết hay chưa

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

Nước non hội ngộ còn luôn

Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

Nước kia dù hãy còn đi

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non, nước nước, chưa nguôi lời thề.

4- Trông vào đồ hình trên (tâm điểm và hình tròn), ta thấy về phương diện nhân sinh quan, Nho giáo chủ trương con đường lý tưởng cuả nhân loại có hai chiều, hai mặt khác nhau:

a/ Một chiều hướng ngoại, cốt phục vụ nhân sinh, điểm tô cho ngoại cảnh, cho gia đình, cho quốc gia, xã hội, cho xác thân,cho vấn đề cơm áo, vật chất. Dịch kinh gọi thế là chiều Âm.

b/ Một chiều hướng nội, cốt để tìm cho ra tinh hoa cốt cách con người,tìm cho ra con đường tâm linh, hướng nội để quy căn, phản bản,tìm cho ra Đạo, ra Trời tiềm ẩn nơi lòng mình. Dịch kinh gọi thế là chiều Dương.

Hai chiều hướng Đạo, Đời nói trên rất là quan yếu.

Kinh dịch nơi chương 5 Hệ Từ Thượng viết: «Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo. Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã.» 一 陰 一 陽 之 謂 道, 繼 之 者 善 也. 誠 之 者 性 也.

 *Tạm dịch: Một Âm một Dương là đạo. Theo được là tốt, thành toàn được là thực hiện được Thiên tính mình.

*
* *

Dĩ nhiên, tôi sẽ không đề cập đến chiều Âm, chiều phục vụ đời sống gian trần, chiều đem lại phú cường thái thịnh cho giang sơn đất nước, vì đó không phải là chủ đề nghiên cứu của chúng ta hiện nay. Tôi sẽ dùng Tứ thư, Ngũ kinh để đề cập đến chiều Dương, đến một vấn đề mà nhiều ngươì tưởng là sở đoản cuả Nho giáo, đó là con đường Đạo đức tâm linh, con đường qui nguyên – phản bản.

Những đóng góp của kinh Dịch

Kinh Dịch cho rằng:

– Học Dịch cốt là tìm cho ra tâm điểm của bất dịch, ở giữa lòng mọi biến thiên. (Lôi phong hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương. (xem Đại Tượng quẻ Hằng)

– Học Dịch cốt là để tìm cho ra Căn Cơ, Vĩnh Cửu, Tuyệt Đối, tiềm ẩn sẵn trong lòng mình, trở về được CHÍNH VỊ, THIÊN VỊ, sống hạnh phúc, thanh sảng. Để diễn tả ý ấy:

– Văn ngôn hào lục ngũ, quẻ Khôn có mấy câu bất hủ như sau: «Quân Tử Hoàng Trung thông lý. Chính vị cư thể. Mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp. Mỹ chi chí dã.» 君 子 黃 中 通 理, 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 支, 發 於 事 業, 美 之 至 也.

Dịch:

Hiền nhân thông lý Trung Hoàng

Tìm nơi chính vị mà an thân mình,

Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh mỹ miều,

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.

– Học Dịch cốt là: CÙNG LÝ, TẬN TÍNH, CHÍ MỆNH. (Thuyết Quái, chương I)

Cùng lý: Là hiểu biết rành rẽ về nguyên lý sự vật.

Tận tính: Là hiểu biết rành rẽ về Bản Tính cao cả của con người.

Chí mệnh: Là thực hiện được định mệnh sang cả của con người, trở thành thánh nhân sáng láng như hai vừng nhật nguyệt, cao xa như trời đất, uyển chuyển tiết tấu như bốn mùa trời. (Phù Đại nhân giả dữ Thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự, dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung… – xem Kiền quái, Văn ngôn, hào cửu ngũ.).

Văn Đạo Tử, gần đây cũng chủ trương rằng học Dịch cốt là để tìm cho ra căn cốt tinh hoa của mình, tìm cho ra định mệnh sang cả của mình, tìm cho ra lẽ phản bản hoàn nguyên, chứ không phải vụ chuyện bói toán, sấm vĩ. (xem Văn Đạo Tử, Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, trang 9, quyển I.- Xem Dịch Học Nhập Môn của tác giả).

Dịch Kinh dạy chúng ta phải «Tẩy rửa tâm hồn, rút lui về nơi tâm linh ẩn náu». (Tẩy Tâm, thoái tàng ư mật 洗 心 退 藏 於 密 – Hệ Từ Thượng chương XI).

Dịch Kinh dạy cho chúng ta biết lẽ đời, lẽ Đạo hết sức là rõ ràng:

Thuận thì sinh nhân, sinh vật,

Nghịch thì sinh Thánh, sinh thần [3]

Tán thời sinh nhân, sinh vật (THÁI CỰC = ÂM + DƯƠNG)

Tụ thời sinh thánh, sinh thần (ÂM+DƯƠNG = THÁI CỰC)

KHÍ + THẦN = ĐƠN [4]

NHÂN + THIÊN = ĐẠO, NHẤT.

Và như vậy: Nương theo dịch lý, Chúng ta có thể khẳng định rằng: Không biết hướng nội, không biết hướng tâm, không biết thu thần định trí, suốt đời hướng ngoại, để cho tâm thần tản lạc vào những công việc vụn vặt, bên ngoài thì không thể nào thành thánh, hiền, tiên, phật được.

Thái Hư thị cũng đã nói: «Đơn Đạo, thánh công, không ngoài công trình hoàn phản». [5]

Những đóng góp của Kinh Thư

Kinh Thư nơi thiên Đại Vũ Mô, tiết 15, cho ta khẩu quyết để thành thánh hiền:

Nhân tâm duy nguy                 
人 心 惟 危

Đạo tâm duy vi                         
道 心 惟 微

Duy tinh duy nhất                     
惟 精 惟 一

Doãn chấp quyết trung             
允 執 厥 中

Dịch:

Lòng của trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng,

Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức, giữ nguyên lòng Trời.

Những đóng góp của Kinh Thi

Nơi thiên Đại Nhã đã cho chúng ta thấy cả một hoạt cảnh của dân chúng Trung Hoa thời cổ sơ, với niềm tín ngưỡng rất lạ lùng.

Thủa xa xăm ấy, dân chúng như dây dưa mọc lan man, chưa có nhà cửa sống trong hang cốc (Kinh Thi, chương Đại minh, Miên miên qua điệt)

Họ tin sùng Thượng Đế là tin rằng Thượng Đế sống rất gần gũi với con người.Trong cuộc giao tranh quyết liệt vơí binh sĩ vua Trụ ở Mục Dã, Võ Vương muốn gây tinh thần cho quân sĩ mình đã kêu lên: Thượng Đế ở với ba quân, ba quân đừng nghi ngại.

Kinh Thi viết:

Quân Thương Ân bạt ngàn Mục Dã,

Một rừng người chật cả sa tràng,

Cho ba quân thêm dạ sắt gan vàng,

Võ Vương kêu: Thượng Đế ở cùng ta đó,

Ba quân hãy vững lòng, vững dạ. [6]

Lời kêu gọi đó làm cho binh sĩ nhà Châu, hứng khởi, ào lên đánh tan quân Thương Ân trong có một buổi sáng.

Kinh Thi viết thêm:

Nơi Mục Dã mênh mang rộng rãi,

Xe bạch đàn chói chói chang chang,

Ngựa tứ nguyên phau phau đẹp rỡ ràng,

Khương thượng phụ trông oai phong lẫm lẫm,

Ngài như chim ưng xoè tung đôi cánh,

Giúp Võ Vương thế mạnh xiết bao,

Cả phá Thương, ba quân tiến ào ào,

Sau một sáng, trời thanh quang trở lại. [7]

Thời buổi thô sơ ấy, nhân loại đã tin rằng Trời từ đáy thẳm lòng sâu tâm hồn, chiếu diệu ánh sáng muôn trùng ra để làm khuôn phép mẫu mực, để ra mệnh lệnh. Các bậc vương giả, hiền nhân thời ấy cố sống sao đức hạnh tuyệt vơì, để kết hợp với Trời, để có thể nên vẻ sáng của Trời như Văn Vương. Họ mong muốn được được đức hạnh như Trời (dữ Thiên, đồng đức).

Hễ thấy ai:

Đức sáng quắc sáng choang ở dưới,

Họ liền biết:

Mệnh hiển dương, chói lọi ở trên. [8]

Thời buổi thô sơ ấy, các bậc thánh hiền, vương giả đều tin rằng có Trời ngự trị trong lòng mình. Văn Vương nói:

Chẳng thấy nhãn tiền, nhưng vẫn giáng lâm,

Chẳng phải long đong nhưng vẫn giữ được. [9]

Văn Vương lên tới trình độ đức hạnh siêu việt, nên như vẻ sáng của Thượng Đế, vì thế goị là Văn Vương, ý nói Thượng đế là chất mà ngài là Văn, là vẻ sáng Trời được phát huy ra.

Kinh Thi viết:

Việc Trời chẳng tiếng, chẳng tăm,

Nên dùng dạng thức vua Văn hiển hình,

Cho muôn dân thấy mà tin. [10]

Kinh Thi viết thêm:

Văn Vương trọn một niềm kính nể,

Làm chói chang Thượng đế ra ngoài,

Muôn nghìn phúc lộc chiêu lai,

Một lòng nhân đức chẳng phai lòng vàng. [11]

Thời buổi thô sơ ấy, dân chúng quan niệm rằng giữ vẹn đạo Trời, ấy là nối chí tổ tiên, ấy là hiếu kính. Mà giữ vẹn đạo Trời chính là sống một cuộc đời vẹn hảo, phối kết tất giao với Thượng đế.

Kinh Thi viết:

Muốn nhớ tới tổ tiên khi trước,

Hãy gắng công tích đức tu thân,

Mệnh trời phối hiệp vào thân,

Muôn ngàn phước lộc xa gần chiêu lai,

Thủa nhà Ân còn thời thịnh trị,

Đã từng Thượng Đế tất giao,

Gương nhà Ân hãy soi vào,

Mệnh Trời cao cả nhẽ nào dễ đâu. [12]

Kinh Thi viết thêm:

Mệnh Trời ấy há đâu có dễ

Muốn cho ta đừng kể tư thân,

Biểu dương phóng phát thiện chân … [13]

Tóm lại thời buổi ấy, những hiền nhân quân tử đã thông hiểu nhẽ: «Thiên Nhân tương dữ», tình Trời người cá nước duyên ưa, thiên ý, nhân tâm hòa hợp. Trời người cùng tấu khúc nhạc hòa hài.

Kinh Thi viết:

Trời xanh dẫn dắt chúng dân,

Như là tấu khúc nhạc huân, nhạc trì,

Trời, Người, đôi ngọc chương khuê,

Bên cho, bên lấy, đề huề, xiết bao,

Tay cầm, tay giắt, khéo sao,

Trời xanh, dẫn dắt dân nào khó chi. [14]

Những đóng góp của Kinh Lễ

Xuyên qua Kinh Lễ, ta thấy Nho giáo chủ trương:

Thời nào cũng như thời nào, con người sinh ra ở đời, không thể tự do muốn làm gì thì làm, mà phải tuân theo các định luật tự nhiên, các định luật sinh lý, tâm lý, nhân sinh, các định luật giao tế, xã hội. Tuân theo các định luật thiên nhiên ấy, ta mới có thể tạo cho mình một đời sống lý sự, đẹp, tươi vui, tạo cho mọi người và xã hội an vui, hòa hợp. Đó là điều kiện căn bản để tiến tới Chân, Thiện Mỹ.

Những định luật tự nhiên ấy đã được gắn liền ngay vào cơ cấu, ngay vào bản chất muôn loài, muôn vật, đã được gắn liền vào mọi động tác, mọi hành vi, mọi biến hóa để định thế nào là hay, là phải.

Nhưng, muồn tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy không phải là chuyện dễ.

Ta có thể tìm cho ra những định luật thiên nhiên ấy hoặc bằng trực giác, hoặc bằng phương pháp loại suy, hoặc bằng cách khảo sát lại lịch sử, quan sát hiện tại, hiện tình, hay dùng Dịch Lý mà suy diễn ra.Thế tức là: Muốn tìm ra những định luật thiên nhiên, phải hiểu vật, hiểu người, biết nay, biết xưa, khảo sát lại hiến chương của đờøi trước, tham khảo lại sự thành bại đời nay. (Bác vật, Thông nhân, tri kim, ôn cổ, khảo tiên đại chi hiến chương, tham đương thời chi đắc thất. — Lễ ký chính nghĩa, tựa, tr. I. Xem Tống Bản Thập Tam Kinh, Lễ Ký).[15]

Nhận định trên rất quan trọng về phương diện đạo giáo, về phương diện tu thân, hoàn nguyên phản bản, vì lẽ nó xác định rằng: ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN chính là LUẬT TRỜI. Luật Trời ấy đã được ghi tạc ngay trong LƯƠNG TÂM con người, trong tâm khảm con người.

Những định luật gì không phải là thiên nhiên đều là nhân vi, nhân tạo, và không thể nào đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, Chân, Thiện, Mỹ, thật cho hoàn vũ.

Chính vì vậy mà nếu ta muốn qui nguyên phản bản mà lại phóng ngọai, mà hưóng ngoại tìm cầu, thì chẳng khác nào mò trăng đáy nước, bắt cá ngọn cây.

Những đóng góp của kinh Xuân Thu

Kinh Xuân Thu, theo Đổng Trọng Thư, đưa ra hai ý niệm triết lý và đạo giáo sau đây:

– Trời Người có quan hệ mật thiết với nhau,

– Con người đúng với danh nghĩa của no,ù phải toàn thiện, hoàn hảo như Trời.

Đổng Trọng Thư cho rằng sách Xuân Thu cốt là để xiển minh cái quan niệm THIÊN NHÂN TƯƠNG DỮ, Nghĩa là Trời và Người có quan hệ mật thiết với nhau. Trời là Tổ của vạn vật, là tổ của con người. (Xem Trần Trọng Kim, Nho Giáo,II, tr.35).

Cho nên, khi ta mới sanh, chưa phải là người, vì con người xứng đáng với danh hiệu nó phải hoàn toàn như Trời. (Trần Trọng Kim, Nho giáo II, tr.35.)

Thế tức là, trong con người đã sẵn có Thiên Chân, Thiên tính, và đã sẵn có mầm mộng hoàn thiện. Con người có bổn phận làm triển dương mầm mộng hoàn thiện ấy, cho tới tinh vi cao đại. Chính trị, có bổn phận hướng dẫn, giáo hóa dân, thành tòan sứ mệnh cao cả ấy.

**********************         

* Những đóng góp của sách Đại Học

Nho giáo trước sau vẫn chủ trương rằng: Trời chính là căn bản,là gốc gác con người. Cái gốc gác, căn bản ấy lại tiềm ẩn, sâu xa, trong đáy lòng nhân loại, để làm Bản tính nhân quần.

Bản tính Trời, ấy là Gốc, mọi việc khác như tâm tư, thân xác gia đình quốc gia,xã hội thiên hạ, sư. v.v… là thân là cành, là ngọn. Không biết được gốc, làm sao mà trị được ngọn, không hiểu được Trời, làm sao hiểu nổi người. (Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên. 思 知 人, 不 可 以 不 知 天. – Trung Dung, chương XX.) [16]

Cho nên Đại Học chủ trương rằng người quân tử phải cố gắng học hỏi, mài miệt suy tư, để tìm cho ra cái khuôn Trời, cái Gốc Trời nơi mình. (cách vật) [17]. Đó là cái học cao siêu nhất, rốt ráo nhất (trí tri) rồi ra mới có thể « chính tâm, thành ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.»

Tất cả chủ trương trên, đã được trình bày ngay ở đầu sách Đại Học.

Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy,

Dậy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng,

Có mục phiêu rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan,

Hết lo, lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng sét suy,

Suy xét rộng, tinh vi thấu trọn,

Thấu sự đời, nghành ngọn đầu đuôi,

Trước sau đã rõ khúc nhôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi,

Muốn Đức sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa, lo cải hóa dân mình,

Trị dân, trước trị gia đình,

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên,

Muốn sửa mình, Tâm nên sửa trước,

Sửa tâm hồn trước cốt Ý hay,

Ý hay phải học cho dày,

Dày công học vấn sẽ hay KHUÔN TRỜI. [18]

Hay Khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay ta sẽ hóa hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên,

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình an,

Từ vua cho tới dân gian,

Tu thân, một mực lấy làm căn cơ… (Đại Học, I).

* Những đóng góp của sách Luận Ngữ

Xuyên qua đời sống đức Khổng, xuyên qua tâm tư, ý nguyện, xuyên qua những lời giảng giáo của đức Khổng trong Luận Ngữ, ta sẽ rút tiả ra được những bài học sau đây:

1.Con người phải có niềm tin vững mạnh về định mệnh sang cả của mình. Khi bị vây ở đất Khuông đức Khổng đã nói:

‘Văn Vương đã thác rồi, vẻ sáng ấy chẳng ở lại nơi ta sao? Nếu Trời muốn để mất vẻ sáng ấy, thì khi Văn Vương đã thác, chẳng có ban nó cho ta. Bằng Trời chưa muốn mất vẻ sáng ấy, thì người dất Khuông làm được gì ta (Luận ngữ IX, 5)

2. Người quân tử phải biết lẽ Nhất quán của Trời Đất.

Đức Khổng nói: Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi 吾 道 一 以 貫 之. (Luận Ngữ, IV, 15).

Thế tức là có thể dùng chữ Nhất, mà tổng hợp, mà quán xuyến hết cả đạo Nho.

Nhất, như trên đã trình bày:

Là căn nguyên muôn loài, muôn vật,

Nhất là nguồn gốc mọi biến hóa.

Nhất là cùng đích muôn loài.

Con người từ Nhất từ Trời mà ra,

Chung cuộc lại trở về phối hợp với Nhất với Trời.

Đó chính là cái đạo Phối Thiên, đó chính là Trung Đạo (Luận Ngữ, XIII, 21) đó chính là Thiên Đạo, là cái Đạo mà sáng được nghe, chiều chết cũng cam. (Luận Ngữ, IV, 8)

3. Người đạo hạnh thực sự chỉ cần sống thuận thiên lý. [19]

Nghe, nhìn, nói, làm, luôn luôn phù hợp với định luật tự nhiên của đất trời. [20]

4. Người đạo hạnh thực sự phải biến đời mình thành một bài kinh trường thiên.

Đó chính là câu: Khâu chi đảo cửu hĩ 丘 之 禱 久 矣 của đức Khổng (Luận Ngữ VII, 34)

5. Người hành đạo thực sự phải sống phối kết với Trời, phải bắt trước Trời mà hành sự.

Đức Khổng nói: «Ta muốn thôi không nói nữa» Tử Cống nói: «Nếu thày chẳng nói, bọn đệ tử chúng tôi làm sao đem lời dặy của thày mà truyền lại đời sau cho được?» Đức Khổng đáp: «Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn vần xoay, vạn vật luôn sinh hóa. Trời có nói gì đâu?» (Luận Ngữ, XVII,18).

6. Người đạo hạnh thực sự sẽ đạt tới tứ tuyệt 四 絕 như Khổng tử. (Luận Ngữ, IX, 4)

Vô ý 毋 意:  Không còn tình ý riêng tây.

Vô tất 毋 必:  Không còn bị ngoại cảnh gò bó.

Vô cố 毋 固:  Không cố chấp, mà cởi mở, mà khoan quảng, hòa đồng.

Vô ngã 毋 我:  Không còn cái tiểu ngã, không còn cái mình nhỏ nhoi ti tiện, mà hoàn toàn bác hậu phối địa, cao minh phối thiên 博 厚 配 地 高 明 配 天. (Xem Trung Dung, chương XXVI)

*Những đóng góp của sách Mạnh Tử:

 Mạnh tử là người đóng góp khá nhiều vào công trình khám phá cho ra con đường Qui nguyên phản bản của đạo Nho.

1.Ông dứt khóat chủ trương phải quay về tâm mà tìm đạo, tìm Trời. Nơi chương Tận tâm thượng ông viết:

«Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành.

Kiện toàn, hoàn thiện tinh anh,

Vui nào hơn được vui mình đang vui. [21]

2. Ông cho rằng trong thâm tâm ta đã sẵn có con đường đưa tới Đạo tới Trời, nhưng con đường ấy đã bị lau lách dục tình vùi lấp mất. (Kim mao tắc tử chi tâm hĩ. 今 茅 塞 子 之 心 矣 – Mạnh Tử, Tận Tâm Chương Cú Hạ.)

3. Ông khuyên mọi người thu hồi con tim phóng đãng luân lạc nơi ngoại cảnh trở về (Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ. 學 問 之 道 無 他, 求 其 放 心 而 已. – Mạnh Tử, Cáo Tử, chương cú thượng, câu II)

4. Ông chủ trương rằng: Đi sâu về phía tâm linh, sẽ tìm ra được Thiên tính, sẽ tìm thấy Thượng đế tiềm ẩn sẵn trong lòng con người. Nơi chương Tận Tâm Thượng ông viết: «Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính, tắc tri thiên hĩ. 盡 其 心 者, 知 其 性 也. 知 其 性 則 知 天 矣.» Tạm dịch:

 Thấu triệt lòng, sẽ hay biết tính,

Hay biết tính, nhất định biết Trời. [22]

 5. Ông cho rằng: Bảo toàn được tinh hoa cốt cách con người, bảo toàn được thiên tính, đó là chân đạo, đó là cách phụng sự Thượng đế tốt đẹp nhất. Ông viết: «Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã. 存 其 心, 養 其 性, 所 以 事 天 也.» Tạm dịch:

Tồn tâm dưỡng tính chẳng rời,

Ấy là giữ đạo, thờ Trời chẳng sai… [23]

6. Vì ông trực giác được rằng Bản thể tuyệt đối, đã tiềm ẩn sẵn trong đáy lòng con người, vì ông trực giác được rằng Thượng đế đã tiềm ẩn trong đáy lòng nhân loại để làm căn cơ gốc gác cho con người để làm khuôn phép, mẫu mực cho con người, nên ông mạnh dạn chủ trương:

BẢN TÍNH CON NGƯỜI THỜI HOÀN THIỆN (Mạnh Tử Cáo Tử thượng, 2) [24]

7. Mạnh Tử cũng là một trong những triết gia Nho giáo đã phân tách được rằng:

Dưới lớp nhân tâm còn có Thiên tính,

Dưới lớp Nhân dục, còn có Thiên lý làm chủ chốt.

Nhân tâm thời bất toàn.

Thiên tính thời vẹn hảo.

Nhân tâm mới chỉ là mầm mộng cuả sự toàn thiện, mới chỉ gồm có những mối manh hoàn thiện, như lòng trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi.

Thiên tính mới là sự hoàn thiện tuyệt vời, gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (Mạnh Tử Công Tôn Sửu thượng câu 6) [25]

8. Bồi dưỡng nhân tâm, cho nhân tâm triển dương tới mức độ tuyệt vời của thiê tính, khế hợp được với thiên tính, đó chính là công trình tu thân mà Mạnh Tử chỉ vẽ cho chúng ta… (Mạnh Tử Công Tôn Sửu thượng, 6) [26]

* Những đóng góp của sách Trung Dung

Xưa nay ai cũng công nhận rằng Trung Dung là tâm pháp của Nho giáo. Sách bắt đầu bằng chữ Thiên. Từ đó suy diễn ra Tam Đức (NHÂN, TRÍ, DŨNG), Ngũ Luân (Quân thần, phụ tử, phu phụ, côn đệ, bằng hữu) Cửu kinh (chín phép trị nước) Xem Trung Dung chương I,XX). Sau đó lại dùng Cửu kinh, Ngũ luân, Tam đức như là những bậc thang thần giúp cho con người triển dương, tiến hóa đến cùng cực tinh hoa (T.D 1) [27], đến Trung Dung, Trung Đạo [28], đến chỗ kết hợp với Trời mà Trung Dung gọi là Phối Thiên.[29] Như vậy sách Trung Dung cũng kết thúc bằng chữ Thiên, vô thanh, vô xú.

Sách rất cao siêu, nhưng cũng khó hiểu. Chính vì thế mà chúng ta cũng nên đặc biệt để tâm khai thác những điều huyền nhiệm mà Trung Dung tàng trữ bấy lâu, để đóng góp vào công trình đi tìm con đường Qui nguyên phản bản…

1. Hai chữ Trung Dung:

Chữ Trung, theo từ nguyên, là một mũi tên bắn trúng hồng tâm. Hội ý tiên nho, nhất là Trình Tử và Chu Hi,tôi đã giải hai chữ Trung Dung như sau:

Trung là tâm điểm,

Dung là hằng cửu, bất biến.

Như trên tôi đã trình bày, trong vòng biến thiên ảo hóa của vũ trụ, vạn hữu chỉ một tâm điểm bất biến, hằng cửu, ấy là Bản thể tuyệt đối, là Thái cực, là Đạo, là Trời.

Chính vì thế mà Kinh Dịch đã vẽ Thái cực ở tâm điểm vòng Dịch, còn các quẻ tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng biến thiên bên ngoài thì vẽ lên vòng tròn bên ngoài, lên vòng biến dịch bên ngoài.

Tâm điểm vì ở giữa vòng biến thiên của vạn hữu, nên không hề nghiêng lệch bên nào. Tâm điểm, vì là cơ cấu, là căn cơ gốc gác muôn loài, nên cũng không dựa nương vào đâu. Chính vì thế mà Trình Tử mới nói: Trung là Bất Thiên, Bất Ỷ.

Muôn loài, muôn vật biến thiên, ắt phải có một căn do bất biến hằng cửu làm chủ chốt. Chính vì thế mà Trình Tử giải: DUNG là Bất Dịch. Thế tức là chỉ với hai chữ TRUNG DUNG, đức Khổng đã vạch ra cho chúng ta cả một chương trình hành động, cả một con đường giải thóat.

Nghĩa là:

Sống trong muôn ngàn hiện tượng biến thiên, chúng ta phải tìm cho ra căn cơ bất biến.

Ở đâu có biến thiên, ở đấy có căn cơ làm chủ chốt.

Ở nơi con người ta, có đày dãy mọi hiện tượng biến thiên. Như vậy trong con người chúng ta, phaỉ có một căn cơ bất biến làm chủ chốt.

Mà như trên đã trình bày, chỉ có trời có Đạo, có Thái cực mới bất biến. Suy ra: trong ta, chắc chắn phải có Đạo, có Trời, có một nguồn sống siêu nhiên vĩnh cửu làm chủ chốt.

Cái gì còn biến thiên thì còn ở trong vòng sanh tử. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên sanh tử. Thế nên, nếu con người muốn thoát vòng sinh tử, Phải đạt cho được tới TÂM ĐIỂM BẤT BIẾN, đạt tới TRUNG DUNG.

Đức Phật cũng đã nói: «Hỡi các tỳ khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao giải thoát được cái sinh, thành, ỷ, tạp.» [30]

Vivekananda cũng đã viết: Chúng ta trước hết phải đi tìm cho ra một tâm điểm phát sinh ra mọi bình diện sinh hoạt khác. Khi đã tìm ra được tâm điểm rồi, chúng ta mới mong tìm ra được một giải pháp. Đó là chương trình của chúng ta. Tâm điểm ấy ở đâu? Thưa nó ở ngay trong lòng ta. Các hiền triết cổ thời đã tìm sâu mãi vào tâm con người, cho đến khi khám phá ra được rằng TÂM KHẢM CON NGƯỜI CHÍNH LÀ TRUNG TÂM VŨ TRỤ.

Tất cả mọi bình diện khác đều xoay quanh tâm điểm duy nhất ấy, và chỉ từ đó, chúng ta mới tìm ra được giải pháp chung cho mọi người.» [31]

Văn Đạo Tử cho rằng: TÂM ĐIỂM chính là Thiên Đạo.

Vào được tâm điểm của lòng người, tức là vào được tâm điểm của vòng Dịch, tức là thoát luân hồi sinh tử, tức là vào được trục pháp luân theo danh từ của Phật giáo.

Ta hãy nghe Văn Đạo tử Tử trình bày: « Thiên đạo cư trung lập cực, nên vận chuyển muôn loài không sai thất, cũng như trong bánh xe, các vành xe và tai hoa xe vận chuyển không ngừng là nhờ trục xe. Nếu ta giữ vững được Trung điểm, tận dụng được Thái Cực, thì có thể chuyển vận vạn vật và có thể góp phần được với trời đất trong công trình hóa dục.

Cho nên người quân tử tu nhân đạo để hợp thiên đạo. Hợp thiên đạo tức là vào được trục của vòng Dịch, thóat ra ngòai vòng kiểm tỏa của hiện tượng, hỗ trợ muôn vật mà không tơ vương dính bén muôn vật, xoay chuyển vòng biến Dịch mà chẳng chuyển dịch với bánh xe biến thiên luân hồi.» [32]

Hoàng đế nói:  «Vũ trụ ở trong tay, vạn hóa sinh trong mình.»

Phật nói:  «Thu bể khơi vào trong sợi lông, đem núi TU DI lồng vào trong hạt cải, đâu phải là thuật lạ. Bất qúa là các ngài đã nắm được trục của pháp luân. Ôi vi diệu thay, trục của pháp luân, hỏi mấy ai đã biết? Chẳng rõ được trục mà chỉ biết nói pháp luân, luôn vận chuyển, thì chóng thì chày cũng bị vận chuyển theo pháp luân, làm sao thoát vòng sinh tử được?»

Như vậy nếu ta hiểu Trung Dung là Tâm Điểm Bất Biến, Nếu ta đặt hai chữ Trung Dung vào Tâm điểm vòng tròn, ta sẽ có ngay một chià khóa thần để mở các chốt then Đạo Giáo, thấu triệt được huyền cơ vũ trụ và con người. Thực vậy, nếu ta nhận định rằng Tuyệt đối hằng cửu bất biến ở tâm điểm vòng biến dịch, ta sẽ định ngay được rằng Tuyệt Đối Hằng Cửu ở ngay tâm điểm, ở ngay Trung Tâm Điểm não bộ ta, vì đầu ta chính là một hình tròn, vì não bộ ta chứa đựng muôn biến hóa. Lão Giáo gọi trung tâm não bộ là HUYỀN QUAN KHIẾU, là CỐC THẦN, là NÊ HOÀN. Phật giáo Tây Tạng với lời chú: Oum Mani Padme Hum đã xác nhận rằng giữa bông hoa sen nghìn cánh, naõ bộ con người đã có sẵn ngọc châu viên giác…

Học giả Lilian Silburn, trong tác phẩm Instant et Cause đã viết: «Tìm ra được chân tâm tương đương với Brahman Thượng đế, vừa là tâm điểm của lòng mình, vừa là tâm điểm của vũ trụ, là một khám phá lớn lao của các vị đạo sĩ Bà La Môn, sự khám phá này đã dẫn tới sự hình thành cuả bộ Áo Nghĩa Thư.» [33]

2. Những nét đặc thù của Trung Dung:

A. Con người với Trời có đồng một bản tính..

Trung Dung với mấy chữ vắn vỏi:

Thiên mệnh chi vị Tính nơi đầu sách đã cho chúng ta thấy rằng: Con người muốn bước vào Thiên đạo, muốn phản bản hoàn nguyên, trước hết phải có một nhận thức nghiêm chỉnh về bản thể mình, về bản tính mình.Trung Dung cho rằng bản tính con người là Thiên tính. Nói nôm na Bản tính con người và bản tính Trời là một.

Thế tức là sau những bộ mặt nạ hóa trang mà sân khấu đời đã bắt ta mang, sau những lớp bùn đất thời gian, ngoại cảnh, của những con nguời thực tại (Le moi empirique), còn đang luân lạc trong chốn hồng trần, còn có bộ mặt vô cùng xinh đẹp của con người lý tưởng (Le moi idéal ) ẩn khuất ở bên trong. Bộ mặt đó, người Á Đông thường gọi là Bản Lai Diện Mục.

Từ khi tôi khám phá ra được điều quan trọng này, tôi đã dùng nó như một kim chỉ nam để tìm cho ra đại Đạo khuất lấp trong những cánh rừng sâu tôn giáo và triết học trên thế giới.

Gần đây, có dịp đọc quyển Lịch Đại Cao Tăng Cổ Sử, tôi thấy đại sư Đạo Sinh, sống vào thời đại Nam Bắc triều bên Tàu, đời Lưu Văn Đế (424- 453) Cũng đã có chủ trương y hệt tôi. Đạo Sinh qủa quyết rằng: Nhà Nho gọi là Thiên Mệnh, thì nhà Phật gọi là Phật tính, mà Phật tính tức là Thiên tính. [34]

Bà La Môn cũng cho rằng: con người chân thực trong chính ta là Atman, là Brahman Thượng dế.Phật giáo nhất là trong kinh Đại Niết Bàn đã chủ trương rằng: Mọi người đều có Phật tính.

Thánh Kinh Công giáo cũng có một câu làm tôi hết sức sung sướng đó là: Thượng đế chính là sự sống của bạn. [35]

Nếu Thượng đế là sự sống của chúng ta, thì chắc chắn ngài là bản thể của ta vậy.

Hội nghị Thông thiên học quốc tế họp tại Salzbourg nước Áo, năm 1966, cũng có những lời tuyên ngôn hết sức nãy lửa. ví dụ:

– Trong ta có một vô cùng. [36]

– Giác ngộ tâm linh sẽ mặc khải cho thấy yếu tố thần linh duy nhất trong tâm thần mọi người. [37]

– Thời buổi này cần phải nhận chân rằng trong mọi người có một tàn lửa Thiên Chân, và những khả năng vô tận, vô biên. [38]

Tôn giáo xưa cho rằng Trời và người xa cách nhau, phẩm và chất xa cách nhau. Thông Thiên ngày nay dạy rằng: Trời Người là Một. [39]

B.- Nhân tâm thuận tòng Thiên tính, Thiên lý thế là chân đạo. (Suất tính chi vị đạo).

Theo Trung Dung đạo Trời thật chí giản chí dị. Muốn theo đạo Trời, muốn theo Thiên lý, con người chỉ cần lắng nghe tiếng gọi của Lương Tâm. Trung Dung gọi thế là Suất Tính.

Lương tâm luôn luôn dạy ta làm điều cao đại minh chính, luôn luôn dạy ta Từ Bi Hỉ Xả, Coi người như mình, trọng lễ nghĩa, khinh lợi.

Còn tâm tư chúng ta luôn luôn làm những điều tà ngụy, bất trung, bất chính, ích kỷ, hại nhân, luôn luôn muốn vọng hành, vọng niệm.

Như vậy thuận tòng thiên lý, tức là gạt bỏ những điều tà ngụy, để tiến tới công chính, từ bỏ mọi điều ti tiện cục cằn để vươn lên tới tinh hoa cao đại.

Bà H.P Blavastsky, trong quyển Mật giáo (Doctrine Secrète) đã viết: Chỉ có nguyên lý tuyệt đối, bất khả tư nghị, căn nguyên vạn hữu mới đáng có đền thờ và bàn thờ trong khu đất thiêng liêng và u tịch của long ta. Nguyên lý ấy mình không thấy, bắt không được, mung lung huyền ảo, nhưng ta vẫn có thể cãm thấy được qua trung gian tiếng nói thầm lặng của lương tâm. Kẻ nào thờ phượng Nguyên lý tuyệt đối ấy, phải thờ trong yên lặng và trong sự u tịch thiêng liêng ấy cuả tâm hồn mình. [40]

Bà Blavastsky còn viết: «Atman, Đại ngã … sẽ tỏ quyền năng cho kẻ nào có khả năng nghe được tiếng nói thầm lặng của lương tâm… Từ thủa ban sơ cho đến thời hiện đại, không một triết gia chân chính nào mà không mang trong đền đài u tịch của tâm hồn mình chân lý cao đại và huyền diệu đó. Nếulà trường hợp người được điểm đạo, thì sự học biết về lương tâm lại trở thành một khoa học thiêng liêng» [41]

C. Trời, luật trời, Đạo trời chẳng hề rời xa con người một phút giây.
Đọc câu Đạo dã giả bất khả tu du ly dã 道 也 者 不 可 須 臾 離 也 nơi đầu sách Trung Dung tôi đã tìm ra được ba nhận định hết sức quan trọng của người xưa về đạo giáo.

1. Một là trời chẳng hề xa con người.

2. Hai là luật trời chẳng hề có ở ngoài con người, mà đã được ghi tạc ngay trong tâm khảm, thâm tâm con người.

3. Ba là Chân đạo hay là con đường dẫn người tới Trời đã có sẵn ngay trong tâm hồn mỗi một người.

Tôi cho rằng đó là những quan niệm hết sức xác đáng.

Trời chẳng hề xa con người.

Nếu trời là căn cơ gốc gác con người, thì Trời làm sao mà rời xa con người được?. Chính vì tin rằng Trời chẳng lià xa mình, nên người quân tử trong đạo Nho luôn luôn e dè kính cẩn, dẫu là khi ở một mình.

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn náo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng

(Trung Dung chương I)

Luật Trời chẳng lià xa con người.

Chương XII Trung Dung viết:

Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa rời chúng dân,

Hiếu kỳ lập dị là nhầm.

Kinh Thi viết:

Đẽo cán rìu có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn cố đấu cho in.

Ngắm đi, ngắm lại liền liền,

Đẽo lui đẽo tới mắt xem chưa vừa,

Nên người quân tử, khi lo giáo hóa,

Sửa trị người sẵn có khuôn người,

Thấy người giác ngộ thời thôi,

Đã chiều cải hóa liệu bài ta ngưng.

4.- Con đường từ người dẫn đến Trời đã có sẵn trong tâm thân con người.

Nhận định này chỉ là một sự suy diễn tự nhiên của quan niệm Trời chẳng xa người đã đề cập ở nơi trên.Thực vậy đạo chẳng qua là sự tìm ra được Trời ngự trị trong lòng mình, tìm lại được bản tính thần minh sang cả cuả mình, bắc được nhịp cầu giữa lòng mình với Thần Trời trong mình, phạt quang được gai góc, lách lau của thất tình, lục dục, phá tan được lớp sương mù dày đặc của sự ngu si mê vọng. Cho nên con đường trở về Thiên quốc, con đường quy nguyên phản bản Nho giáo, không thể nào tìm thấy được trên muôn vạn nẽo đường của trần ai ngọai cảnh, của muôm dặm thinh không mà chính là đã có sẵn trong tâm thần chúng ta.

Chu Hi khi bình chương nhất Trung Dung viết:

Tử Tư nương ý chân truyền,

Trung Dung hạ bút nói liền duyên do,

Nguồn đạo ấy phát từ Thượng Đế,

Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời,

Hoàn tòan đầy đủ nơi người,

Một giây một phút chẳng rời khỏi ta.

Rồi bàn tiếp chi là cần thiết, lẽ Dưỡng, Tồn, Tỉnh, Sát v.v. Cuối cùng, tác giả luận bàn,

Sức thiêng biến hóa thánh thần uy linh.

Những học giả muốn tìm đạo ấy,

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai,

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.

(chương nhất, lời bình của Chu Hi).

Thông Thiên học cũng chủ trương phải tìm Đạo, tìm Trời ngay trong lòng mình. Ông Joy Mills, trong một bài thuyết trình tại đại hội Thông thiên quốc tế ở Salzbourg, có trích dẫn một đoạn Upanishad như sau:

Có một ánh sáng chiếu soi khắp cùng trời đất, đó là ánh sáng chiếu soi trong lòng chúng ta. Có một nhịp cầu nối liền thời gian và vĩnh cưủ, và nhịp cầu ấy là Thần con người. Trên cầu ấy, chẳng có ngày đêm, chẳng có lão tử, chẳng có sầu muộn ưu tư.

Một khi đã tìm thấy nhịp cầu ấy, con người sẽ nhìn thấy rõ tương lai và sẽ khỏi hết thương tích, bệnh tật. Đối với ai đã vượt được qua cầu ấy, đêm sẽ trở thành như ngày, vì trong thế giới thần linh, có một ánh sáng vĩnh cửu. [42]

Đại hội Thông Thiên ở Salzbourg còn nhận định rằng: «Người ta thấy được Thượng Đế trong tạo vật Ngài. Ngay trong lòng mình, con người có thể tìm thấy đời sống Thượng đế. Về phương diện đạo giáo, sự khám phá này cũng vĩ đại như sự khám phá ra nguyên tử năng. Nó cho con người quyền lực tinh thần không bờ bến, cũng như nguyên tử năng đã cho con người một sức mạnh kỳ diệu.» [43]

C. Những phương pháp tổng quát để tiến tới Trung Dung, tới tuyệt điểm tinh hoa.
Sau khi đã vạch rõ cho con người thấy rằng mình có một căn cơ hết sức sang cả, đó là Thiên tính, sau khi đã cho con người thấy rằng, Trời và định luật Trời, con đường đưa về Trời dã có sẵn cả trong tâm, Trung Dung đề ra ba phương pháp chính yếu để giúp con người tiến tới hoàn thiện.

Mở mang trí tuệ để đi đến chỗ đại trí, đại giác. Đó là TRÍ.

Luôn luôn thực thi những điều hay, để trở nên hoàn thiện. Đó là NHÂN.

Cố gắng không ngừng để đi đến chỗ tinh vi cao đại. Đó là DŨNG.

Trung Dung (ch. XX) viết:

Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu nhân phải gắng công lao,

Muốn nên hùng dũng, anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.

Trí, Nhân, Dũng, tu thân ấy lý,

Biết tu thân ắt trị nổi người,

Trị người hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa…

Muốn phát huy những năng lực nội tại, những đức tính nội tại, con người không cần phải vào thâm sâu cùng cốc, mà chỉ việc vui sống với mọi hoàn cảnh mình gặp trên bước đường đời (Trung Dung XIV), mà chỉ cần kiên gan bền chí, đừng bán đồ nhi phế (Trung Dung XI).

D. Mục đích của con đường phản bản hoàn nguyên là PHỐI THIÊN.
Sau khi đã dùi mài học hỏi, suy tư đến mức khai thông được trí huệ, sau khi đã tha thiết thực thi những điều hay, điều phải đến mức Nhân Đức vẹn toàn, sau khi đã cố gắng phát huy được những năng lực tinh thần, để có thể tiến tới mức tinh vi cao đại, đến chỗ chí cao, chí mỹ, chí thành, chí thiện lúc ấy con người sẽ đạt đích.

Trung Dung gọi sự đắc đạo, đạt đích là đạt tới Trung Dung. Trung Đạo, là «Thung dung Trung Đạo», là PHỐI THIÊN, là sống phối kết, hợp nhất với THƯỢNG ĐẾ.

Trung Dung (ch. XXXI) phác họa bậc thánh nhân ấy như sau:

Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh trí huệ,

Y như thể có Trời ẩn náo, giáng lâm,

Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần,

Y như thể có dung nhan Trời phất phưởng,

Phấn phát tự cường, kiên cương, hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng,

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng đôi phân kính cẩn,

Nói năng văn vẻ, rỡ ràng, cẩn thận,

Y như là đã chia được phần thông suốt, tinh vi.

Mênh mang sâu thẳm ứng dụng phải thì

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực, muôn trùng sâu thăm thẳm,

Thấy bóng Ngài dân một dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động muôn dân đều hoan lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài,

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được trời che, và đất chở,

Đâu còn có nhật nguyệt hai vầng tở mở,

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người.

Ở nơi đó, Ngài vẫn được tôn sùng qúy báu,

Thế nên gọi là «CÙNG TRỜI PHỐI NGẪU».

**********************         

* Phần đúc kết

Trên đây tôi đã dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh phác họa lại con đường phản bản, hoàn nguyên. Tôi đã đi vào nhiều chi tiết, viện dẫn nhiều chương cú, để trình bày cặn cho kẽ các khía cạnh, các giai đọan của con đường đó. Trong khi làm công việc đó, tôi sợ đã làm tản mạn tâm tư của qúy vị. Để đền bù lại, tôi xin toát lược thực giản dị lập trường và chủ trương của Nho giáo về vấn đề Qui Nguyên Phản Bản như sau:

Muốn phản bản hoàn nguyên, phải nhận ra được rằng mình có Thiên tính, mình là dòng dõi Trời, là những vì thiên tử, những vì con của Thượng Đế luân lạc xuống cõi hồng trần này, cho nên phải phấn đấu để phục hồi nguyên vị cũ, trở lại quê hương cũ.

Thứ đến phải nhận định được rằng Trời hay Đạo chẳng có ở đâu xa, mà đã tiềm ẩn ngay trong lòng con người. Như vậy liền biết được ngay là muốn tìm Đạo, tìm Trời phải trở về nơi tâm mà tìm kiếm.

Vì trong ta có Trời, có thiên tính, cho nên muốn trở về với Trời phải rũ bỏ phàm tâm, nhân tâm để mặc lấy Thiên tâm, Thiên tính.

Mà nhân tâm là những gì bất toàn, những gì qui ước, những gì nhân vi nhân tạo, những gì phản ảnh lại hoàn cảnh lịch sử, điạ dư, chủng tộc, phong hóa, tập quán bên ngòai.

Mà Thiên tính là những gì tòan hảo, chí công, chí chính, siêu không gian và thời gian, những gì thiên nhiên, thiên tạo.

Rũ bỏ nhân tâm, phàm tâm. Mặc lấy Thiên tâm tức là vượt lên trên những gì biến thiên, để đi vào vĩnh cửu, vượt lên trên sinh tử, để đi vào trường sinh, vượt lên trên những gì ti tiện, để trở về tinh hoa, cao đại, vượt lên trên khiếm khuyết, bất tòan, để thực hiện viên mãn, toàn hảo.

Có làm song được công trình này mới mong hợp nhất được với Thượng Đế, Phối Thiên, Phối mệnh, Thung dung Trung Đạo, duy Nhất, duy Tinh.

Cách đây hơn hai mươi năm, trong khi soạn thảo Trung Dung, tôi đã đúc kết lại Tinh hoa đạo Nho bằng ít vần thơ lục bát. Những vần thơ ấy đồng thời cũng phác họa lại con đường Phản Bản Hoàn Nguyên của Nho giáo, nay xin đem cống hiến quí vị và cũng là để tổng kết lại đề tài này:

Luân lạc mãi tới bến bờ xa lắc,

Trong đêm tăm, phiêu dạt biết về đâu,

Lênh đênh sống trên trùng dương thời khắc,

Chẳng buông neo, dừng lại được ngày sao?

Biên khu luân lạc từ bao,

Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung,

Đường Trung Dung linh lung ẩn khuất,

Nẻo Bồng Lai gai dấp, lau che, (Mạnh Tử Tận tâm chương cú hạ)

Bao giờ mới tỉnh giấc mê,

Bao giờ tâm tư mới hướng về tinh vi?

Bao giờ cái thế nguy mới hết,

Biết bao giờ Nhân hiệp với Thiên?

Bao giờ Thiên mệnh sáng lên,

Trời mây khắp chốn ấm êm, hiệp hòa

Gẫm cho kỹ Tính là thiên mệnh, (Trung Dung I)

Là tinh hoa, là chính đạo Trời,

Vừng trăng minh đức sáng ngời,

Mà mây nhân dục lấp vùi mất trăng.

Nhưng trăng sáng muôn năm vẫn sáng,

Mây dù che, chẳng phạm đến trăng,

Chỉn e trần thế tối tăm,

Con đường phiêu lãng muôn phần gian lao.

Trời cao cả nhẽ nào chẳng sợ,

Trời chẳng xa, trời ở đáy lòng.

Cho nên nội kính, ngoại cung, (Trung Dung I)

Mắt nhìn chẳng thấy, tưởng chừng kề bên,

Trời tuy thị vô biên, vô tận,

Nhưng mà trời vẫn lẩn trong tâm.

Thật là kỳ ảo khôn cùng,

Không hơi không tiếng vẫn lừng uy danh.

Khuôn phép Trời chí thành chí thiện,

Tiếng của Trời là tiếng lương tâm,

Mới hay trong chốn cát lầm,

Muôn ngàn đã sẵn vô ngần ngọc châu,

Mới hay giữa sông sâu, núi thẳm,

Vẫn có đường bằng phẳng thênh thênh,

Đường Trời rong ruổi mặc tình,

Không xiên, không vẹo, không vênh, không tà,

Đường Trời nọ bao la thảng đãng,

Không quanh co, không vặn, không xiên,

Đường Trời phẳng lặng êm đềm,

Không hề tráo trở, đảo điên vạy vò,

Đường Trời nọ thẳng vo thẳng tắp,

Vút một lèo tới cực cao minh,

Đó là duy Nhất, duy Tinh, (Kinh Thư, Đại Vũ Mô)

Đó là Thái cực tinh thành xưa nay.

Cuộc phù thế chớ say danh lợi,

Bả lợi danh phất phới, hão huyền,

Chớ mê những cái đảo điên,

Mà quên mất cái vững bền ngàn thu,

Sông thế sự hãy ưa chèo ngược,

Chèo ngược dòng lên tuốt căn nguyên.

Căn nguyên là chính THANH THIÊN,

Vô biên vô tận triền miên không cùng.

Bỏ phù phiếm tìm tông, tìm tích,

Dương cung thần ngắm đích Thân Tâm,

Bắn vào Trung điểm Tâm Thần,

Ấy là thoát cõi hồng trần lầm than,

Như trăng sáng băng ngàn trần thế,

Rẽ Đẩu Ngưu, đượm vẻ thần tiên.

Ấy là tâm pháp thánh hiền,

Ấy là Trung Đạo tương truyền xưa nay.

Máy tạo hóa phơi bày trước mắt,

Lẽ huyền vi đâu bặt tăm hơi,

Mới hay muôn sự tại người,

Một lòng vàng đá, thì Trời cũng thua.

Hãy học hỏi cho ra gốc ngọn,

Hãy cố công làm trọn mệnh Trời,

Tim kia lạc lõng tả tơi,

Thu về đừng để vãi rơi ngoài đường, (Mạnh tử, Cáo tử thượng,câu 2)

Tính Trời ấy khuôn vàng thước ngọc.

Phải chắt chiu bao bọc ngày đêm.

Tồn tâm dưỡng tính cho chuyên,

Tơ hào nhân dục, chớ hoen gương Trời. (Mạnh Tử Tận Tâm thượng I)

Lòng băng tuyết thảnh thơi, thãng đãng,

Sống đơn sơ, kết bạn vô biên,

Rộng dày cùng đất sánh duyên,

Cao minh kết ngãi thanh thiên muôn nghìn. (Trung Dung XXVI)

Mỗi động tác phải nên gương mẫu,

Mỗi hành vi nên dấu nên khuôn, (Trung Dung XXIX)

Lời lời, ngọc nhả châu phun,

Lưu cho hậu thế muôn ngàn dài lâu.

Gẫm đạo lý có sau có trước,

Lẽ Âm Dương có ngược có xuôi.

Xuôi là gió cuốn bụi đời (Thiên Phong Cấu)

Đẩy đưa vào chốn trần ai, cát lầm

Có thử thách mới phân vàng đá,

Có lầm than mới rõ chuyện đời.

 Ngược là sấm chớp tơi bời, (Địa Lôi Phục)

Tầng sâu bày giải căn trời nội tâm.

Trông tỏ đức chí nhân chí chính,

Biết mục tiêu sẽ định, sẽ an.

Rồi ra suy xét nguồn cơn,

Con đường Phối Mệnh chu tòan tóc tơ.

Vốn hoàn thiện quang hoa mọi nhẽ,

Ấy tính trời muôn vẻ tinh anh,

Quang minh rồi mới tinh thành, (Trung Dung XXI)

Ấy nhờ giáo hóa tập tành mà nên.

Đã hoàn thiên tất nhiên thông tuệ,

Thông tuệ rồi ắt sẽ tinh thành.

Việc gì tính trước cũng linh, (Trung Dung XX)

Không toan tính trước âu đành dở dang.

Lời xếp trước hoang mang khôn nhẽ,

Việc tính rồi, hồ dễ rối ren,

Hành vi đã sẵn chốt then,

Sẽ không vấp vướng, sẽ nên tinh thành.

Đạo làm người có rành duyên cớ,

Sẽ mênh mang muôn thủa muôn đời..

Hoàn toàn là đạo của Trời, (Trung Dung XX)

Trở nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy, cũng đúng chẳng sai,

Thung dung Trung Đạo tháng ngày,

Ấy là vị thánh từ ngay lọt lòng.

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành phải mạnh tay co,

Ra công học hỏi thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, mới mang thi hành.

Đã định học chưa thành chưa bỏ,

Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nhôi,

Chưa ra manh mối, chưa rời xét suy.

Biện luận mãi tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua,

Đã làm làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến thân tòan thắng lợi,

Ta tốn công dở dói trăm khoanh,

Người làm mười bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ ta ganh với người.

Đường lối ấy nếu ai theo được,

Dẫu u mê, sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Rồi ra cũng sẽ ra lòng sắt son. (Trung Dung  XX)

Đạo quân tử như in lữ thứ,

Muốn đi xa phải tự chỗ gần.

Đạo người như cuộc đăng san,

Muốn lên tới đỉnh, đầu đàng là chân. (Trung Dung XV)

Việc trời thực muôn phần huyền ảo,

Thực sâu xa, ẩn náo khôn cùng,

Cho hay đức nhẹ như lông,

 Nhưng lông chưa thoát được vòng trọng khinh, (Trung Dung XXXIII

Đức Trời thực uy linh siêu việt,

Không tiếng tăm trác tuyệt vô cùng.

Cho người cái đạo Trung Dung,

THIÊN NHÂN NHẤT QUÁN, thần thông diệu huyền.

Khủng cụ rồi, phối thiên phối mệnh. [44] (Trung Dung I, XXV, XXXI)

Ấy đầu đuôi, động tĩnh phù trầm.

Nguyên lai, bản mạt, thiển thâm,

Hiển vi tụ tán, xa gần, ngược xuôi. [45]

Cái tạm bợ bao ngoài vĩnh cửu,

Áo thô sơ che dịu gấm hoa. (Trung Dung XXXIII)

 Rồi ra vàng ngọc chói lòa,

Trời người định vị, trung hoà vô biên.

******

Trên đây tôi đã khai triển Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể. Nó chỉ gồm có mấy chữ: Nhất thể tán Vạn Thù, Vạn Thù qui nhất Thể, hay nói gọn hơn là Nhất Thể Vạn Thù. Bản thể thì có Một, Hiện Tượng hay Ứng Dụng bên ngoài thì muôn vàn, Tất cả những Hiện Tượng, những Ứng Dụng ấy lúc chung cuộc lại trở về Nhất. Thế là Nguyên Thuỷ phản chung, thế là Qui Nguyên Phản Bản.

Con đường Sinh Hoá của Trời Đất là con đường Phát Tán, con đường chúng ta Qui Nguyên Phản Bản là con đường Hội Tụ, Hiệp Hoà.

Quan niệm Nhất thể vạn thù đã đưa đến những hệ quả sau đây:

—*1. Các bậc danh nho như Mạnh Tử, như Vương Dương Minh đều tin vào thuyết Thiên địa vạn vật nhất thể, tin rằng mình có thể sống kết hợp với Đạo, với Trời.

 Trình Y Xuyên (1033- 1107) nói: «Dịch giả, Thiên Nhân Hợp Nhất nhi dĩ hĩ.» (Dịch chỉ là Người và Trời hợp nhất mà thôi).

 Trương kỳ Quân, tác giả bộ Trung Quốc ngũ thiên niên sử đã viết: «Dịch chi vi thư quảng đại tất bị, vô sở bất bao, nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi minh Thiên Nhân hợp nhất chi đạo.» (Sách Dịch mênh mông bao quát, nhưng nói cho ngay, chỉ dạy nhẽ Thiên Nhân hợp nhất mà thôi).

 Ngày nay người ta đọc sách Nho, xưng mình là Nho Học, nhưng ít người hiểu được rằng Tính con người chính là Thái Cực, thật là vẹn hảo. Con người không biết chuyện đó, chính vì xã hội đã làm cho họ sai lầm mà thôi.

—*2. Hai nữa, người ta không biết rằng con người có 2 tính: một là Tính Trời hay Thiên địa chi Tính, hai là tính người, hay Khí Chất chi tính. Tính người chính là thất tình, lục dục cần phải gột bỏ. Tính Trời thì quang minh chính đại, nó là ngọn đuốc Lương Tâm, luôn luôn ở trong con người, để soi sáng cho con người. Chính vì thế mà Nho Gia sau trứớc chỉ dạy: Khử nhân dục (Nhân tâm), tồn Thiên Lý (Thiên Tính hay Thái Cực) mà thôi.

—*3. Ngày nay người ta hay chê mình là kẻ xấu, kẻ hèn mọn, tội lỗi. Những người có tư tưởng sai lầm như vậy, dẫu tu suốt đời cũng không sao tiến bộ được. Thực là uổng phí cuộc đời.

Người ta cũng không biết rằng: Tuy vạn tượng thời biến hóa khôn lường, nhưng Bản thể hay Bản Tính chúng ta thời trường tồn bất biến. Nên nếu chúng ta muốn trường sinh bất tử phái rũ bỏ những gì biến thiên, tức là Vọng tâm hay Nhân tâm, mà chắt chiu cái gì vững bền muôn thủa, đó là Thái Cực hay Thiên Tâm, Thiên tính của chúng ta.

Dịch kinh nơi quẻ Hằng đã viết: Thiên địa chi Đạo hằng cửu nhi dĩ dã. Quan kỳ sở Hằng, Thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ. Đạo Trời thời thường hằng vĩnh cửu. Hiểu nhẽ đó, sẽ biết tình ý của muôn loài. Tiếc thay nay có ai hiểu thế nào là Hằng, Biến đâu.

Dịch gọi Hằng cửu đó là Thái Cực. Nó đã nằm sẵn trong lòng sâu con người. Dịch gọi đó là Điểm Trung Hoàng. Tìm ra được nó, nhiên hậu mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp.

Văn Ngôn hào Lục Ngũ quẻ Khôn viết:

Hiền Nhân thông lý Trung Hoàng,

Tìm nơi chính vị mà an thân mình.

Đẹp từ tâm khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh, mỹ miều.

Phát ra sự nghiệp cao siêu.

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.

Trung Dung là sách dạy ta tìm về Tâm Điểm bất biến đó của vũ trụ. Trung Dung gọi đó là Đạo Trung Dung, hay đạo Trời.

Trung ấy là không nghiêng, không ngửa,

Trung ấy là muôn thuả y nguyên.

Trung là Đạo chính mọi miền.

Dung kia là lý hiển nhiên mọi đời.

Tâm pháp này truyền nơi cửa Khổng,

Ông Tử Tư sợ chóng sai ngoa,

Bút thần tay thảo thiên hoa,

Truyền cho Mạnh tử thành pho sách này.

Sách mới thoạt trình bày một lẽ,

Sau dần dần mới tỏe thành muôn.

Tung ra tản mạn khắp muôn phương trời,

Thu tóm lại, dấu nơi ẩn áo,

Hay sao hay, kỳ ảo khôn cùng.

Đó là thực học chính tông,

Ai say tìm hiểu sẽ thông ý mầu,

Thông ý mầu rồi sau ứng dụng,

Dùng cả đời cũng chẳng hề vơi.

(Trung Dung, Chu Hi chương cú).

—*4. Trung Dung chia con người thành ba phần:

Tính (Thiên tính, Thiên Tâm, Lòng Trời = Thiên đạo).

Tâm (Nhân tâm, nhân dục, khí chất chi tính, lòng người =Nhân Đạo).

Xác (vật chất = Vật đạo).

Và như vậy con người cũng có 3 thứ Đạo:

a.- Thiên Đạo, nghĩa là con người phải trở thành thần, thánh. (Trung Dung XX, XXI, XXV, Dịch, Hệ Từ hạ,X)

b.- Nhân đạo, nghĩa là con người phải ăn ở cho xứng đáng với danh nghĩa con người.

c.- Vật đạo, nghĩa là con người phải được no ấm, hẳn hoi khoẻ mạnh. (Trung Dung, chương 20, chương 21, chương 25, chương 31; Dịch kinh, Hệ Từ hạ, chương X)

 Vua Nghiêu, vua Thuấn xưa cũng chủ trương như vậy.

 *Kinh Thư, thiên Đại Vũ Mô, 15 viết:

Nhân tâm duy nguy                 
人 心 惟 危

Đạo tâm duy vi                         
道 心 惟 微

Duy tinh duy nhất                     
惟 精 惟 一

Doãn chấp quyết trung             
允 執 厥 中

Dịch:

Lòng của Trời siêu vi, huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng.

Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời.

Lòng Trời thì bất biến, lòng con người thì biến thiên. Thế là thấy được lẽ Biến, Hằng trong ta vậy.

Bất kỳ là theo đạo giáo nào, không hiểu những điều căn bản trên là không biết gì về Đạo (Thái Cực), về duyên do và cùng đích của Đạo, của con người.

—*5. Đạo Khổng đã tìm ra Thiên Đạo và đã mô tả cái Đạo Phối Thiên, cái Đạo Huyền Đồng (Mysticism) trong thiên Văn Vương, Đại Nhã, Kinh Thi.

—*6. Đạo Khổng, theo Kinh Dịch cũng mô tả sự Tiến Hoá con người, và lịch sử, qua 2 chiều Tinh Thần và Vật Chất. Con người từ Trung điểm vòng Dịch đi ra vòng biến dịch ngoại cảnh, thoạt đầu sẽ đi vào con đường vật chất, qua sáu giai đoạn là Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn. Khôn là giai đoạn Vật Chất cực thịnh. Sau đó con người đi vào Tinh Thần, tìm hiểu và xây dựng Tinh Thần qua sáu giai đoạn: Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải, Kiền.

Phục là giai đoạn hồi phục, bỏ Chiều Âm sang chiều Dương, là lúc con người thấy mình có Thiên Địa chi tâm (Xem Dịch Kinh, quẻ Phục.) và là lúc con người khoảng 35, 40 tuổi.

Kiền là giai đoạn Tinh Thần cực thịnh.

Sau đó con người bước vào Giai Đoạn Thái Cực bất biến, ở Trung Cung, Trung Điểm vòng Dịch.

Chính vì thế mà Thiệu Khang Tiết mới nói: Vạn vật tòng Trung nhi khởi, tòng Trung nhi chung.

Có đi hết các giai đoạn biến dịch này, ta mới hiểu được lẽ Trời, ý Trời, hiều được bản tính chí thiện cũa con người, và mới hiểu được Mệnh Trời, là tiến hóa đến hoàn thiện để trở về kết hợp với Trời, Cao Minh Phối Thiên.Vì thế mà Dịch mới nói: Cùng lý, tận Tính dĩ chí ư Mệnh. (Dịch, Thuyết Quái, chương I) hoặc: Kiền Nguyên dụng cửu: Thiên hạ trị dã. Hay Kiền Nguyên dụng cửu, nãi kiến Thiên tắc. (Quẻ Kiền, Hào Dụng Cửu):

Kiền Nguyên biến hóa xong rồi,

Bấy giờ thiên hạ nơi nơi trị bình.

Hay:

Kiền nguyên biến hóa xong rồi,

Bấy giờ mới thấy luật Trời hiện ra.

—*7. Con người thực sự có hai chiều hướng tiến hóa, suy tư: Hướng ngoại (Extroversion, Extrovert), và Hướng nội (Introversion, introvert). Nho gia gọi Introversion là Phản cung, hay Phản thân. Nhưng người xưa ít ai biết thế nào là Phản thân. Có lẽ Chu Hi đã tìm hiểu thuyết Cùng Lý ở ngoài tâm, còn Lục Tượng Sơn và Vương Dương Minh đã đi vào Tâm mà tìm hiểu thuyết Cùng Lý.

—*8. Nho gia đã đề cao Lương Tâm, và coi Lương Tâm chính là Trời. Tôi cũng nhận xét rằng Lương Tâm chính là Phật Tính là Bản Lai Diện Mục, là Đạo, là Trời trong ta. Cho nên ăn ở theo đúng Lương Tâm chính là Chân Đạo. Thật là giãn dị vậy.

—*9. Thực ra, con người là một phân bộ trong thống thể vũ trụ, nên có liên quan mật thiết đến vũ trụ.

 Trình Minh Đạo (1032- 1065) viết: «Vạn vật dữ ngã nhất thể dã.» (Ta và vạn vật đều chung một bản thể.)

 Lục Tượng Sơn (1140- 1192) viết: «Việc ở trong vũ trụ chính là việc trong bổn phận mình; việc ở trong bổn phận mình, tức là việc ở trong vũ trụ.» (Phan Bội Châu, Khổng học Đăng II, tr. 715)

 Linh Mục Vương Xương Chỉ, trong quyển Triết Học Luân Lý của Vương Dương Minh đã viết: «Tin rằng vũ trụ này là một thống thể, trong đó sự thác loạn của một bộ phận có ảnh hưởng đến toàn bộ vũ trụ, tin rằng con người là tâm điểm vũ trụ, tâm con người là tâm vũ trụ, đó là tư tưởng hàm tàng trong kinh điển, và đã được các triết gia thời Tống chủ trương. Cũng như các triết gia Trung Hoa khác, Vương Dương Minh (1472- 1528) cũng nhắc lại: Con người là tâm điểm vũ trụ. Vũ trụ và ta là một thống thể.» [46]

 Linh Mục Matteo Ricci (1552- 1610) sang giảng đạo bên Trung Hoa vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 đã nhận định như sau: «Trào lưu tư tưởng mà nhiều người đã theo hiện nay, theo tôi có lẽ đã vay mượn ở một giáo phái tà thần từ 500 năm nay (Tống Nho). Quan niệm ấy là: Thiên địa vạn vật nhất thể. Hóa công cùng với trời đất, người vật, cỏ cây, tứ tượng đều hợp thành một phân bộ. Từ quan niệm nhất thể ấy, họ rút ra nhiệm vụ bác ái đối với mọi người, và chủ trương mọi người đều có thể trở nên giống Trời.» [47]

 Một học thuyết cao siêu như vậy, mà một nhà truyền giáo trứ danh như Ricci lại cho là tà giáo, tà thần, thì thật là đáng thương cho Ricci vậy.

—*10. Mọi người đếu giống nhau về phương diện bản thể.

Mạnh tử nói: «Phàm những vật đồng loại thì bản tính giống nhau. Tại sao riêng về nhân loại, người ta lại nghĩ rằng bản tính chẳng tương tự? Những bậc thánh nhân với chúng ta đều cùng một loại…» (Mạnh tử, Cáo tử chương cú thượng, tiết 7).

—*11. Con người có thể tiến tới Đại thể, có thể hoà đồng với Đại Thể vũ trụ. Đó chính là chủ trương: Cao minh phối Thiên, Bác hậu phối địa của Trung Dung, (Trung Dung, XXVI)

 Trình tử cũng cho rằng: «Thánh nhân phải có một tầm kích mênh mông như vũ trụ.» (Thánh nhân hữu Thiên Địa chi lượng dã.- Uyên Giám loại hàm, nơi chữ Thánh, tr. 4670).

—*12. Thế giới là một nhà, người trong bốn biển đều là anh em.

 Trương Hoành Cừ (1020- 1077) làm bài Tây Minh tóm tắt đại khái nhân sinh quan mình như sau: «Lấy thế giới làm một nhà, Trời đất làm cha mẹ, nhân loại làm anh em, vạn vật làm đồng loại của mình. Vì xem thế giới là một nhà, trời đất là cha mẹ, nên người ta phải giữ cho tròn bổn phận làm người, vì xem nhân loại đều là anh em, vạn vật đều là đồng loại, nên người ta phải rộng lòng nhân ái.»

Lễ Ký nơi thiên Lễ Vận đã đề ra một thế giới đại đồng.

Kinh Dịch, nơi quẻ Đồng Nhân, cũng đã đưa ra một viễn tượng đại đồng mai hậu.

Thế mới hay đức Khổng là vị thánh nhân. Ngài chẳng những dạy con người phải tổ chức một đời sống quốc gia xã hội cho hoàn hảo, để mọi người sống trong an bình, hạnh phúc, tương thân, tương ái, mà còn truyền dạy đạo Trời, hay đạo Trung Dung, một thứ Đạo huyền đồng, mà Kinh Thi đã trình bày trong Đại Nhã, mà Luận Ngữ đã khen là «sáng mà nghe biết, chiều chết cũng cam» (Luận Ngữ IV, 8).

 Tôn chỉ đạo ấy là:

a- Trong Tâm ta còn có Thần Trời, nghĩa là trong Nhân Tâm còn có Đạo tâm.

b- Con người có bổn phận dùng đời mình để siêu xuất phàm tâm, phối hợp với Thiên Tâm.

 Mục đích của công phu tu luyện của cuộc đời đạo hạnh chân chính là sống phối kết với Thượng Đế.

 Tất cả tôn chỉ ấy đã được cô đọng trong mấy câu khẩu quyết mà xưa vua Nghiêu đã truyền cho vua Thuấn:

Nhân tâm duy nguy                 
人 心 惟 危

Đạo tâm duy vi                         
道 心 惟 微

Duy tinh duy nhất                     
惟 精 惟 一

Doãn chấp quyết trung             
允 執 厥 中

(Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 15)

Lòng của Trời siêu vi huyền ảo,

Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng.

Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời.

—*13. Trong đạo Nho có mấy chữ hết sức khó hiểu: Đó là chữ CÁCH VẬT, và chữ THÀNH.

Danh Nho xưa nay như Chu Hi, Vương Dương Minh dịch mỗi người một cách. Rất là khó hiểu.

Tôi dịch: CÁCH VẬT là KHUÔN TRỜI. Trong tiếng Việt có chữ Cốt Cách trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu:

Bình dẫu phá, còn lề cốt cách.

Câu sách Đại Học: «Trí tri tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri chí» tôi dịch như sau:

Dày công học vấn sẽ hay Khuôn Trời

Hay Khuôn Trời ắt thôi thấu triệt.

Chữ THÀNH xưa nay dịch là Thành Thật.

Tôi thấy không đúng, và tôi dịch THÀNH là Hoàn Thiện.

Cho nên câu Trung Dung: Thành giả, Thiên chi đạo dã, Thành chi gỉa nhân chi đạo dã (Trung Dung XX), tôi dịch là:

Hoàn toàn là Đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.

Dịch đúng câu văn trở nên linh động và trong sáng hơn nhiều.

Như vậy tôi đã dùng Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể, Nhất Tán Vạn, Vạn qui Nhất để trìng bày Đạo Khổng. Lối trình bày của tôi còn vụng về, nhưng mong quí vị thấy được Lẽ Nhất Quán của trời đất khi tôi trình bày Phật, Lão, Khổng, và cho chúng ta thấy rằng rõ ràng là chúng ta có một con đường về với Chân Tâm, với Đạo, với Trời. Đó là con đường Hướng Nội, con đường đi vào Tâm Linh, từ Vọng Tâm lên tới Chân Tâm (Phật), từ Tâm lên tới Đạo (Lão), từ Nhân Tâm lên tới Thiên Tâm (Khổng). Con người sau trước cũng tiến tới Chân Thiện Mỹ, vì đó là cùng đích nhân loài. Đó là định luật Tiến Hoá vậy.

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

**********************         

SỰ BẢN ĐỊA HOÁ NHO HỌC TẠI VIỆT NAM

(Trích sách Con Đường Tam Giáo Việt Nam của Lê Anh Dũng, Nxb Tp HCM, 1999, từ tr. 2 đến tr. 7)

Nho giáo du nhập vào Việt Nam trong thời Bắc Thuộc qua ba thời kỳ như sau:

+ 111 tcn- 39: Các đời Tây Hán và Đông Hán (Bắc Thuộc lần thứ I);

+ 43- 544 các đời Đông Hán, Tam Quốc,Tấn, Nam Bắc Triều. (Bắc thuộc lần thứ 2)

+ 608- 939 các đời Tùy, Đường, Ngũ Quí. (Bắc Thuộc lần thứ 3, 4, 5)

Mười thế kỷ đầu Công Nguyên, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầng lớp nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội. Thành phần trí thức ưu tú bấy giờ là những nhà tu, đặc biệt là những cao tăng. Thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các sư tiếp thu luôn Nho học. Thế nên khi nước vừa được độc lập, kể từ Ngô (939- 965), Đinh (968- 979), Lê (980- 1009), trí thức ra giúp triều đình là các đạo sỉ và thiền sư.

Nho học V.N. phát triển từ thế kỷ XI, sang đời Nguyễn thì suy. Nho học mở đường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử, nhồ đó thúc đẩy văn học phát triển, văn hóa được nâng cao. Không ít tiên Nho V.N. đã đi sâu vào Triết Nho. Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp đốt quá nhiều, tư tưởng học thuật của Tiên Nho hầu như không còn lưu lại gì cho đời sau nghiên cứu. Nên nói đến Nho Giáo V.N., cái nổi bật hình như không phải là tư tưởng triết học mà là vân chương khoa cử, và vai trò chính trị của sĩ phu trong lịch sử. (Con Đường Tam Giáo Việt Nam, Lê anh Dũng, thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 2). Nói thế có nghĩa là Nho gia Việt Nam không có ai là triết gia hay tư tưởng gia lỗi lạc nào, mà chỉ có vân gia hay chính trị gia mà thôi.

I. NHO HỌC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI

Đời Lý (1010- 1225)
Nho học mới hưng phát. Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu, làm tượng thờ Chu Công, Khổng Tử và bảy mươi hai tiên hiền (1070)

Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên tên là Tam Trường (1075), mở Quốc Tử Giám (1076), lập Hàn Lâm Viện (1086), tuyển Mạc Thiên Tích làm hàn lâm học sĩ. Danh Nho triều Lý có Lý đạo Thành, Trương Bá Ngọc, Tô Hiến Thành.

Đời Trần (1225- 1400)
Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh (1232); khoa tam giáo (1247) và mở khoa tam khôi (1247) tuyển trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa; mở quốc học viện (1253) giảng tứ thư, ngũ kinh. Vua Trần Duệ Tông dổi khoa thi Thái học sinh thành tiến sĩ (1374).

Đời Trần Nghệ Tông, Hồ quý Ly soạn sách Minh Đạo (1302), dịch thiên Vô dật ở kinh Thư(1394) dạy thái tử (sau lên ngôi là Thuận Tông), dịch kinh Thi dạy nội cung (1396).

Đời Thuận Tông, Hồ Qúy Ly làm Thái Sư, nắm quyền phụ chính, caỉ cách thi cử, ấn định lương bổng của các quan dạy học ở địa phương.

Văn học đời Trần rất thịnh, nhờ khoa cử thúc đẩy. Danh Nho có Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn (viết Giới Hiên toàn tập), Trương Hán Siêu, Lê Lập, Phạm Sư Mạnh (viết Hiệp Thạch tập), Chu An (viết Tứ Thư thuyết ước, Tiều Ẩn thi), Hàn Thuyên…

Đời Hồ (1400- 1407), Hậu Trần (1407- 1413), Minh thuộc (1414- 1427)

Hồ Qúy Ly thay nhà Trần, lập nên nhà Hồ. Nước loạn, quân Minh xâm lăng, cướp sách vở đưa về Kim Lăng; Những gì không đem được thì đốt, thiệt hại không kể xiết. Nhà Minh đưa Tống Nho vào Việt Nam.

Đời Hậu Lê (14281788)

Nho học rất được chú trọng, được tôn là quốc học. Khoa cử thúc đẩy, hình thành tầng lớp nho sĩ trí thức đông đảo. Kinh đô có Quốc tử giám, Thái học viện. Vua Lê Thánh tông chia nước làm mười ba đạo, hầu hết các đạo ở đồng bằng đều lập trường công, ấn định quy chế thi cử. Năm 1463 có chừng 1400 người thi Hội ở Thăng Long; năm 1475: khoảng 3000 người. Từ triều Lê, người thi đậu rất vẻ vang: có lễ xướng danh, lễ vinh quy, lễ khắc tên tiến sĩ vào bia đá ở Văn miếu.

Danh Nho đời Lê có Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, ThÂn Nhân Trung, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Nguyễn Mậu Nghi, Phạm Công Trứ, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, Phạm Đình Trọng, Lê Quý Đôn, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên…

Đời Tây Sơn (1788- 1802)
Sau khi đánh bại quân Thanh giữa năm Kỷ dậu (1879), vua Quang Trung lập Sùng chính viện, cử La Sơn Phu tử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng, với trọng trách chấn chỉnh lại Nho học Việt Nam. La Sơn Phu tử dịch xong các sách Tiểu học, Tứ thư và Ngũ kinh ra chữ Nôm, chưa kịp cải cách thì vua Quang Trung mất.

Đời Nguyễn (18021945)
 Nền học thuật gắn liền khoa cử ngày càng suy. Thực dân Pháp xâm chiếm đất nước. Cái học theo phương Tây khởi sự chen vào. Nền Nho học cử nghiệp cổ truyền dần dần mai một, chấm dứt năm 1915 ở miền Bắc, rồi 1918 ở miền Trung.

II. CÁC TÁC PHẨM TRIẾT HỌC CỦA NHO GIA VIỆT NAM

Nhà nho có danh đời nào cũng xuất hiện, tên tuổi còn ghi lại nhiều. Ngoài công lao kinh bang tế thế, tiên nho Việt Nam còn giúp vào việc giáo hóa, trứ tác thơ văn nhiều loại. Riêng về mặt triết học, cũng rất phong phú, không những phô diễn đạo lý cổ truyền Khổng Mạnh, Trình Chu mà còn bày tỏ ít nhiều quan điểm riêng của người Việt, thể hiện hoặc tinh thần độc lập hoặc ý thức đối kháng với tư tưởng Trung Hoa. Tiếc thay, sách vở đã bị thất tán, tiêu hủy sau bao thế kỷ binh lửa.

Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và Tìm hiểu kho sách Hán- Nôm của Trần Văn Giáp là hai trong những tài liệu quý hiếm, kể ra được một phần nào sách vở còn giữ lại hay còn ghi nhận được, nhờ đó cũng giúp đời sau có cái nhìn khái lược về tư tưởng triết học của nhà nho Việt Nam đời trước.

Căn cứ hai tài liệu ấy, qua một số tác phẩm mang tính triết học, giáo dục của người Việt, có thể dẫn lại một ít nhan đề tiêu biểu như sau:

1. Tứ thư thuyết ước, mười quyển, Chu An (?1370) đời Trần soạn, nay không còn.

2. Chu dịch quốc âm giải nghĩa, hai quyển, cũng gọi Chu dịch quốc âm ca [quyết], Đặng Thái Phương [hay Bàng] (1674?) đời Hậu Lê soạn xong trước năm Quý hợi (1743). Ông dùng thơ lục bát giải nghĩa từng hào (diễn ca); như quẻ Càn, hào sơ cửu Tiềm long vật dụng (rồng ẩn náu chớ nên dùng) diễn ca là:

Sơ cửu hào nghĩa tiềm long,

Bé còn ở dưới mà dùng làm chi.

3. Tứ thư ngũ kinh toản yếu, mười lăm quyển, Nguyễn Huy Oánh (17131798) đời Hậu Lê soạn.

4. Tính lý toản yếu, hai quyển, Nguyễn Huy Oánh soạn. Quyển này và quyển trên nhằm tóm tắt các sách Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lý, tiện lợi cho nho sinh chuẩn bị thi cử.

5. Thánh mô hiền phạm lục, mười hai quyển, Lê Quý Đôn (17261784) đời Hậu Lê soạn.

Ông trích lục nguyên văn các lời nói của thánh hiền, xếp loại, chia thành mười hai đề mục, ghi rõ xuất xứ từng câu đã trích trong Dịch, Thi, Thư, Xuân thu Tả truyện, Lễ ký, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Gia ngữ, Hiếu kinh, Mạnh tử, Chu tử, Quốc sách, Quốc ngữ, Sử truyện, Tiên nho cách ngôn…

6. Thư kinh diễn nghĩa, ba quyển, Lê Quý Đôn soạn.

7. Dịch kinh phu thuyết, năm quyển, Lê Quý Đôn soạn.

8. Âm chất văn chú, hai quyển, Lê Quý Đôn soạn.

9. Vân đài loại ngữ, bốn quyển, Lê Quý Đôn soạn.

10. Chu huấn toản yếu, năm quyển, do Phạm Nguyễn Du (1739- 1787) đời Hậu Lê soạn.

Mô phỏng theo sách Cận tư lục của Chu Hy và Lữ Tổ Khiêm đời Tống, lấy toàn văn của Chu Hy chia thành loại, xếp thành tiết mục, hơn sáu trăm điều.

11. Xuân thu quản kiến, mười hai quyển do Ngô Thời Nhiệm (17461803) đời Hậu Lê soạn.

12. Nhân thế tu tri, tám quyển, do Cao Xuân Dục (18421923) đời Nguyễn soạn.

 Nho giáo Việt Nam không phải chỉ là trích cú tầm chương, khoa cử, phú thi xướng họa. Có một luồng tư tưởng của người Việt, nó hòa hợp đạo Nho với Phật, Lão và văn hóa bản địa Việt Nam. Hiện nay, mọi việc nghiên cứu lại Nho giáo Việt Nam đều còn phải khởi sự, mà khó khăn lớn nhất vẫn chính là sự thất lạc tác phẩm của tiên nho qua các triều đại.

—————————————————

CHÚ THÍCH

[1] Thuỷ chi tự trung thuận hành nhi sinh, chung nhi phục nghịch tàng, qui ư Trung Hoàng Thái Cực nhưng kiến phụ mẫu vị sinh chi tiền chi diện mục. 始之 自 中 順 行 而生, 終 而 復 逆 藏 歸 於 中 黃 太 極, 仍 見 父 母 未 生 之 前 之 面 目. ― Văn đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 101.

[2] Thái cực thuỷ vu Nhất nhi chung vu Nhất dã. Vạn vật thuỷ vu Nhất nhi chung vu Nhất, tức Trang tử xuất cơ, nhập cơ chi nghĩa. 太 極 始 于 一 而 終 于 一 也. 萬 物 始 于 一 而 終 于 一, 即 莊 子 出 機 入 機 之 義 . ―  Nguyễn Ấn Trường, Tạo hoá thông, tr. 52.

[3] Nghịch nhi thành tiên, thuận khứ sinh nhân, sinh vật. 逆 而 成 仙, 順 去 生 人, 生 物. Đạo Nguyên tinh vi ca, q.hạ, tr. 9b. ― Xem Trung Dung Tân khảo của tác giả, tr. 251.

[4] Đơn tự nhật đầu nguyệt cước, trung gian nhất hoạch hệ Nhật Nguyệt hợp nhất chi vị dã. Kỳ nội nhất điểm vi tinh khí hỗn hợp dĩ tượng nhất lạp kim đơn hĩ. 丹 字 日 頭 月 腳 中 間 一 劃 係 日 月 合 一 之謂 也 . 其 內 一 點 為 精 氣 混 合 以 象 一 粒 金 丹 矣. ― Tu Chân bất tử phương, tr. 26.

[5] Thái Hư thị viết: Đơn đạo, thánh công bất ngoại hoàn phản. 太 虛 氏 曰﹕ 丹 道 聖 功 不 外 還 返. ― Thượng Phẩm đơn pháp tiết yếu, tr. 7.

[6] Thương Ân chi lữ, kỳ hội như lâm, thỉ vu Mục Dã, duy dư hầu hâm, Thượng đế lâm nhữ, vô nhị nhĩ tâm.(J. Legge, The She King, tr. 435) ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, thất chương.

[7] Mục dã dương dương, Đàn xa hoàng hoàng, Tứ nguyên bành bành, Duy sư Thượng phụ, Thời duy ưng dương, Lượng bỉ Võ Vương, Tứ phạt Đại Thương, Hội chiêu thanh minh. ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Đại minh, bátt chương. (J. Legge, the She king, p. 436)

[8] Minh minh tại hạ, hách hách tại thượng. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Đại minh nhất chương.(J. Legge, the She King, p. 432)

[9] Bất hiển diệc lâm, vô dịch diệc bảo. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Tư Trai, tam chương. (J. Legge, the She King, p. 447)

[10] Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú, nghi hình Văn Vương, Vạn bang tác phu. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Văn vương, thất chương, (J. Legge, The She King, p. 431)

[11] Duy thử Văn Vương, Tiểu tâm dực dực, Chiêu sự Thượng Đế, Duật hoài đa phúc, quyết đức bất hồi. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Đại Minh, tam chương, (J. Legge, p. 433)

[12] Vô niệm nhĩ tổ, Duật tu quyết đức, Vĩnh ngôn phối mệnh, Tự cầu đa phúc, Ân chi vị táng sư, khắc phối Thượng Đế, Tuấn mệnh bất dị. (J. Legge, p. 431) ― Kinh Thi, Đại Nhã, Văn Vương, Văn vương, lục chương.

[13] Mệnh chi bất dị, Vô át nhĩ cung, Tuyên chiêu nghĩa văn… — Kinh Thi, Đại Nhã,Văn Vương, Văn vương, thất chương.(J. Legge, the She King, p. 431)

[14] Thiên chi dũ dân, Như huân như trì, Như chương như Khuê, Như thủ như huề, Huề vô viết ích, Dũ dân khổng dịch. ― Kinh Thi, Đại Nhã,Sinh Dân, thập chương, Bản, lục chương. (Legge tr. 502)

[15] Lễ Ký, Lễ Vận, chương VII, tiết IV, mục 5, 6, 7. ― Nguyễn văn Thọ, Chân Dung Khổng tử, chương XI. ― Couvreur, Liki I, Introduction, p. IX. ― Nho Giáo, Trần trọng Kim I, tr. 147 và tiếp theo. ― Lễ Ký, Lễ Vận, 7. ― Couvreur Liki I, tr. 527, 528 chú thích. ― Lễ Ký, Lễ Vận tr. 4.

[16] Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri thiên. Trung Dung chương XX.

Tôi đã dịch thoát câu này như sau:

Biết người, trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao?

[17] Hai chữ Cách vật của sách Đại học đã là một đề tài tranh luận của Nho Gia từ trước đến nay.

Ta cũng đã biết có 2 quan niệm khác nhau về vấn đề này: Một là của Chu Hi, hai là của Vương Dương Minh. Riêng tôi, tôi giải Cách Vật là tìm ra Cốt Cách muôn loài, muôn vật, tìm cho ra Khuôn Trời trong muôn loài, muôn vật. Trong bài Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu: «Bình dẫu phá còn lề cốt cách,

Gương dù tan vẫn sạch trần ai.» Chữ Hán cũng có câu: «Bình phong tuy phá, cốt cách do tồn, Quân tử tuy bần, lễ nghĩa thường tại..»

[18] Tôi dịch Cách là Khuôn Trời (ở nơi muôn vật) vì hiểu Cách là Cốt cách.

Trung dung cũng cho rằng trời dựng nên muôn loài chỉ có một khuôn. «Thiên địa chi đạo, nhất ngôn khả dĩ tận chi, kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc.» (Trung Dung, chương 26.)

[19] Khắc kỷ phục lễ… Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. 克 己 復 禮 […] 非 禮 勿 視, 非 禮 勿 聽, 非 禮 勿 言, 非 禮 勿 動. ― Luận Ngữ XII, 1)

[20] Khắc kỷ phục lễ… Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động. 克 己 復 禮 […] 非 禮 勿 視, 非 禮 勿 聽, 非 禮 勿 言, 非 禮 勿 動.― Luận Ngữ XII, 1)

[21] Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành; lạc mạc đại yên. 萬 物 皆 備 於 我 矣. 反 身 而 誠 樂 莫 大 焉― Mạnh Tử, Tận Tâm Chương cú thượng, 4.

[22] Mạnh tử viết: Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ Tính tắc tri Thiên hĩ.  ― Mạnh tử, Tận tâm chương cú thượng,1.

[23] Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự Thiên dã. ― Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú thượng,1.

[24] Nhân tính chi thiện dã, do thủy chi tựu hạ dã. ― Mạnh tử Cáo tử thượng, 2.

[25] Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; Tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; Từ nhượng chi tâm, Lễ chi đoan dã; Thị phi chi tâm, trí chi đoan dã…Nhân chi hữu thị tứ đoan, do kỳ tứ thể dã. (Mạnh Tử, Công tôn Sửu, chương cú thượng, 6)

…Chu Hi bình giải về chữ Tính của Mạnh tử như sau: «…Tính là Bản thể của Thái Cực, khó dùng lời lẽ mà mô tả được. Tuy Tính hàm súc vạn lý nhưng đại khái có 4 cương lĩnh lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí.»

Dịch theo Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19 (Hối Ông học án.)

[26] Phàm hữu tứ đoan ư ngã giả, tri giai khuếch nhi sung chi hĩ, nhược hoả chi thuỷ nhiên, tuyền nhi thuỷ đạt. Cẩu năng sung chi, túc dĩ bảo tứ hải; cẩu bất sung chi, bất túc dĩ sự phụ mẫu. ― Mạnh tử, Công Tôn Sửu, chương cú thượng, 6

Chu Hi bình: Nên, theo Mạnh Tử, thì căn cứ vào nhân tình, ta có thể suy ra điều thiện – thiện đây là tính thiện – ý nói đi ngược dòng tình cảm, sẽ hay biết Tính vậy

Dịch theo. Tống Nguyên Học Án, q. 48, tr. 19 (Hối Ông học án)

[27] Thị cố quân tử tôn đức tính, nhi đạo vấn học, trí quảng đại nhi tận tinh vi, cực cao minh nhi đạo Trung Dung.  ― Trung Dung XXVII.

[28] Cực cao minh nhi đạo Trung Dung. ― Trung Dung XXVII.

[29] Cố viết Phối Thiên. ― Trung Dung XXXI.

[30] «Ô moines, il y a un état non-né, non-devenu, non-conditionné, non- composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non- né, non- devenu, non-conditionné, non-composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion possible de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composé.» ― Présence du Buddhisme,p. 268- Udana, p. 129, Colombo, 1929.

[31] Nous devons donc trouver, quelque part, un centre d’òu partent pour ainsi dire tous les autres plans de l’existence. Une fois là, nous devons essayer de trouver une solution. Voilà le programme. Où est ce cente? Il est en dedans de nous. Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers ce seul point; il est leur terrain commun et c’est seulement en nous placant là que nous pourrons trouver une solution commune…» ― Vivekananda, Jnana Yoga, p. 138.

[32] Xem Văn Đạo Tử, Giảng đạo tinh hoa lục, tr. 36b.

[33] La découverte du Centre du Soi, qui coincide avec Brahman, et qui correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres qui permettent au sacrificiant d’échapper à l’espace et au temps, est la grande découverte des Brahmanes, celle qui mène à l’orée de l’Upanishad. ― Lilian Silburn, L’Instant et Cause, p. 103.

[34] Sở vị Phật tính, tựu thị Thiên Tính. Dã tựu thị Nhu Gia sở vị Thiên Mệnh, sở vị Đạo Liễu. Nan quái Khổng tử viết: Chiêu văn Đạo, tịch tử khả hỹ. 所 謂 佛 性, 就 是 天 性. 也 就 是 儒 家 所 謂 天 命, 所 謂 道 了. 難 怪 孔 子 曰﹕ 昭 聞 道, 夕 死可矣 彤. Lịch đại Cao Tăng cổ sử, q. 7, tr. 30.

[35] Dieu, dit l’Ecriture, est la vie de l’homme. Ipse est vita tua. (Deutéronome,XXX, 20. Texte de la Vulgate cité par St Thomas D’Aquin, Summa Theologica, Ia- IIae,q. 110 a.I, obj. 2) et Saint Augustin a souvent affirmé que Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle- même est la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin, Confessions, VII, 1,2 et X, 6, 10). Cf Émile Gilson, Théologie et Histoire de la Spiritualiteù, Paris, Librairie philosophique, J. Vrin. 1943, p. 10.

[36] Il y a un Infini en nous.

Florilège de la pensée théosophique moderne, Lotus Bleu, 72 Année, no II, Novembre 1967, p.293.

[37] L’illumination spirituelle révèle l’Élément unique qui est dans l’esprit et dans le cœur de tout être humain. ― Florilège de la pensée théosophique moderne, Lotus Bleu, 72 Année, Août- Septembre 1967, p.235.

[38] Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine, et des possibilités infinies. –(Ibidem, p. 235).

[39] Pour la Religion, Dieu et l’ Homme, la Qualité et la Forme étaient séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont un. ― Lotus Bleu, 72e Année, Décembre, 1967, p. 326.

[40] Seul l’inconnaissable et incognoscible Karana, La Cause sans Cause de toutes les Causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le terrain sacré et solitaire de notre cœur – invisible, insaississable, indistinct, sauf par la petite voix silencieuse’ de notre conscience spirituelle. Ceux qui l’adorent devraient le faire dans le silence de la solitude sanctifiée de leurs âmes. ― Lotus Bleu, Janvier 78, p. 17.

[41] « L’Atman, le Soi…montrait toute sa puissance à celui qui était capable de reconnaitre la petite voix silencieuse’. Depuis les jours de l’homme primitif…jusqu’à notre âge moderne, il n’y a pas eu un philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire silencieux de son coeur, la grande mystérieuse vérité. Si c’était un Initié, il l’apprenait comme une science sacrée. ― Doctrine Secrète, vol. 5, p. 67. Lotus Bleu, 75e Année, No I, p. 18.

[42] Il est une lumière qui brille au delà de toutes les terres, sur terre au- delà de nous tous, au- delà des cieux vraiment les plus hauts. C’est une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y a un pont entre le temps et l’éternité et ce pont est l’Esprit dans l’homme. ni le jour ni la nuit ne traversent ce pont; ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin… Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que dans le monde de l’Esprit, il y a une lumière qui est éternelle. ― Lotus Bleu, 72e Année, 4 Avril. 1967, p. 115.

[43] On trouve Dieu dans sa création… Dans le cœur même de l’homme, on peut trouver la vie divine. En religion, cette découverte est aussi révolutionnaire que la découverte atomique. Elle place dans la main de l’homme un pouvoir spirituel sans limite, comme l’énergie atomique lui a donné un prodigieux pouvoir physique. (Lotus Bleu, 72e Année, Déc. 1967, p. 327.)

[44] Trước thời kính sợ Trời tiềm ẩn đáy lòng. Sau trở nên hoàn thiện phối hợp với Trời. Thếù là đầu đuôi của công cuộc tu trì.

[45] Đặt Trời vào Tâm Điểm con người, sẽ hiểu rõ lẽ:

Động (Người) ~ Tĩnh (Trời)

Phù (nổi = Người) ~ Trầm (chìm = Trời)

Nguyên (nguồn gốc = Trời) ~ Lai (phóng xuất ra = Người)

Bản (gốc = Trời) ~ Mạt (ngọn = Người)

Thiển (nông = Người) ~ Thâm (sâu = Trời)

Hiển (hiển lộ = Người) ~ Vi (vi ẩn =Trời)

Tụ (tụ lại = về với Trời) ~ Tán (tán ra = lìa xa Trời)

v.v…

[46]…Considérer l’Univers comme faisant un tout et où le désordre d’une partie se répercute dans le Tout; considérer encore l’homme comme au centre de cet Univers et faire du coeur de l’homme le coeur de l’Univers telle est l’idée contenue dans les livres classiques et exprimée surtout par les philosophes des Song… Avec tous les penseurs chinois, il (Wang Yang Ming) répète que l’homme c’est le coeur de l’Univers, l’Univers avec moi constitue un seul corps. ―  Wang Tch’eng Chi, S. J., La philosophie morale de Wang Yang Ming, pp. 74- 75.

[47]. Mais l’opinion la plus suivie actuellement et qui me parait (pare) empruntée à la secte des idoles depuis 500 ans (Philosophie de Song) c’est que tout ce monde est fait d’une seule substance, et que le Créateur du monde avec le Ciel et la Terre, les hommes et les animaux, les arbres et les végétaux, et les quatre éléments forment un corps continu dont les divers êtres sont les membres.

C’est de cette unité de substance que l’on déduit le devoir de la charité envers les hommes et la possibilité pour tous de devenir semblables à Dieu. ―  Henri Bernard Maitre, Sagesse Chinoise et Philosophie chrétienne, p. 108.

*LÊ  ANH  DŨNG

(hết bài Nho Giáo)
**********************         

TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM

*Nhân tử Nguyễn Văn Thọ

**************

   
Đạo Phật là một đạo giải thoát. Nó muốn giải thoát con người cho khỏi bức màn Vô Minh, che lấp Chân Như Bản Thể con người, để con người nhìn thấy Bản Lai diện mục của mình, thoát khỏi mọi đau khổ, tìm ra được Niết bàn trường tồn hạnh phúc vô biên, vốn tiềm tàng sẵn trong con người mình.

Nói thế có nghĩa là chúng ta sống mà chưa hiểu gì về con người chúng ta. Chúng ta chỉ mới sống một phần nào của con người chúng ta, chứ chưa thực sống toàn diện, chúng ta chỉ mới biết những hiện tượng về con người, chứ chưa biết về Bản Thể, về Tính con người.

Dưới đây, xin trình bày cách Phật và các tiên hiền Việt Nam giải quyết các vấn đề trên.

SƠ LƯỢC VỀ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

Khảo sát cuộc đời đức Phật, ta học được với Đức Phật nhiều bài học:

– Trước hết là sức mạnh tinh thần phi thường, để có thể rũ bỏ được mọi công danh, lợi lộc, quyền quí, địa vị và mọi lạc thú gian trần để phát tâm cầu đạo giải thoát vô thượng.

– Thứ nữa là trước khi thành đạo, Ngài đã học hỏi với nhiều thày. Như vậy ta đừng nên ngại chuyện: Tầm sư, học đạo.

– Trong khi cầu đạo, tu đạo, Ngài cũng thấy cần phải có bạn đạo.

– Ngài cũng có thể lầm lẫn, Ngài cũng có thể tu lầm đường, cũng đã hành hạ thân thể quá mức. Nhưng khi đã biết mình lầm, ngài lập tức sửa sai.

– Ngài cũng đã được rất nhiều người trợ giúp.

– Sau cùng Ngài cho chúng ta thấy rằng, muốn tìm cho ra chân lý, cần phải biết tập trung tinh thần, và mài miệt suy tư.

Theo tôi sau khi đắc đạo, Ngài đã đạt tới Chân tâm hằng cửu của vũ trụ và của Con Người. Ngài gọi đó là cảnh giới Niết Bàn.

Như vậy, Ngài cho thấy rằng: Dưới những lớp lang hiện tượng biến thiên của vũ trụ và của tâm thân con người, sinh sinh diệt diệt, khổ ải lao lung, biến thiên chất chưởng, còn có Chân Tâm hằng cửu của trời đất, bất sinh, bất diệt.

Chân Tâm ấy, Niết Bàn ấy không ở đâu xa, mà đã khuất lấp ngay sau hình hài con người, tâm tư con người.

Con đường đưa tới Chân tâm đó chính là Trung Đạo; phương tiện để thực hiện Lý tưởng đó là Chính đạo, hay Bát Chính đạo.

Con đường Trung Đạo của Phật là tránh cực đoan: Không phóng túng nhưng cũng không hành xác.

Đến đây tôi liên tưởng đến Đạo Khổng với hai chữ TRUNG, CHÍNH của Dịch Kinh và của Nho giáo:

TRUNG là luôn luôn sống cho hay cho phải, cho hợp lý, hợp định luật thiên nhiên, thực hiện tinh hoa Trời, hằng giây, hằng phút. CHÍNH là CHỈ NHẤT, là CHỈ Ư CHÍ THIỆN: Luôn luôn vươn lên cho tới TINH HOA HOÀN THIỆN. Đem Tinh Hoa trời đất vào trong lòng mình (TRUNG), sau đó làm cho người khác trở nên giống mình (THỨ).

Có thể Đức Phật, tuỳ căn cơ tùng đệ tử đã tiến hành song song hai phương pháp giảng giáo: Đối với quần chúng Ngài dạy Hiển Giáo hay Quyền Giáo, tức là dạy về phần Hình, Danh, Sắc, Tướng của vũ trụ và của con người.

Còn đối với những đệ tử có thượng căn, Ngài dạy Mật Giáo hay Thực Giáo, tức là dạy về Chân Tướng vũ trụ và con người. [1]

Muốn hiểu rõ giáo lý của Đức Phật, ta cũng nên bàn qua về bối cảnh lịch sử tư tưởng Ấn Độ đương thời.

Phan Văn Hùm viết trong quyển Triết Học Phật Giáo, Phật Học Viện quốc tế xuất bản năm 1984 như sau: «Trước thời Phật giáo ra đời ở Ấn Độ có những nền triết học sâm si chẳng đều nhau, cùng chủ trương phiếm thần luận như nhau. Brahma là căn bản vũ trụ. Nhất thiết sự vật đều là hình thái của Brahma. Vạn hữu đều ở Brahma mà sinh ra. Lúc trụ thời ở tại Brahma. Lúc diệt trở về Brahma. Brahma như thế nó vô thỉ vô chung. Sống đây là sống gởi. Chết sẽ trở về Brahma, đời đời khoái lạc.» (sách trích dẫn, tr. 135).

Đại Thừa Phật giáo tư tưởng luận, tác giả là Bác Sĩ Nhật Bản Kimura Taken, dịch giả là Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Phật Học viện quốc tế xuất bản năm 1986, nơi trang 148, có ghi như sau: «…Đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân con người, người ta cảm thấy cần phải so sánh đối chiếu giữa cái chân tướng và giả tướng của vạn vật. Và do cái ý hướng muốn xa lìa giả tướng để trở về với chân tướng, mà đã phát sinh ra tư tưởng giải thoát. Song tại Ấn Độ, cái thời đại mà sự đối chiếu giữa chân tướng và giả tướng được bộc lộ một cách rõ ràng, đồng thời vấn đề giải thoát được luận cứ một cách rộng rãi, dĩ nhiên là thuộc thời đại U Ba Ni Sát Đàm (Upanishads). Do đó, vấn đề giải thoát được thiên hạ đặc biệt chú ý và đưa ra thảo luận vẫn là thuộc thời đại Upanishads (800-500 trước kỷ nguyên). Đến thời này, giải thoát quan mới thật sự được qui định thành hình. Upanishads nói: «Cái bản tính của Tự Ngã cùng với Thật Tại của vũ trụ tức Phạm Thiên (Brahman) là đồng nhất, bản lai thanh tịnh, không nhơ nhớp, là cảnh giới diệu lạc, vĩnh viễn bất biến. Nhưng vì mê mờ không thấy được cái chân tướng ấy, nên con người bị tách khỏi cái tính đồng nhất kia để rồi phải lăn lộn trôi dạt trong bể khổ sinh tử, bị đắm chìm và trói buộc mất hết tự do». Cũng vì thế mà cái lý tưởng cứu cánh của con người là làm thế nào để thoát ly được cảnh giới sinh tử trói buộc này, để trở về với bản tính đồng nhất của Phạm Thiên. Nền giáo lý Upanishads tuy rất mông mênh, nhưng cái qui kết tối hậu thì không ngoài tư tưởng này…»

Đem những tư tưởng trên soi rọi vào đời sống Đức Phật, ta có thể suy ra được khi Ngài giác ngộ, Ngài đã chứng được những gì?

Phật Học Tinh Yếu, Thích Thiền Tâm soạn, Phật Học Viện quốc tế xuất bản 1984, nơi trang 142-143 có ghi: «…Và đến lúc sao mai mọc lên, Ngài chứng được lậu tận minh, dứt sạch phiền não, rõ hết đầu mối nghiệp duyên, tâm thể lặng yên sáng suốt. Bấy giờ Ngài đã thành Phật.

Nội dung của sự giác ngộ chân chính này, có thể giải đáp vấn đề nhơn sanh một cách mỹ mãn. Trước kia Ngài thắc mắc về hai yếu điểm:

1– Già, bịnh, chết và tất cả sự ràng buộc của kiếp người do đâu mà có?

2– Làm thế nào để giải thoát những điều ấy?

Và đây là lời giải đáp:

1– Do vô minh làm mê mờ bản thể, nên mới có sanh, già, bệnh, chết, lo thương buồn rầu.

2– Muốn được giải thoát phải có chính kiến, dứt trừ phiền não, trở về bản tính, tức là phải tu theo con đường Bát chánh…»

Sau khi Đức Phật thành đạo, điều mà Ngài muốn đem truyền dạy cho các đệ tử và cho thiên hạ chính là Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Bát Chính Đạo. Ngài chú trọng dạy người phương pháp tu trì, khuyên mọi người tìm cho ra những định luật tự nhiên vĩnh cửu của đất trời để mà theo mà giữ, dạy tăng chúng sống một cuộc đời thanh thản, trang nghiêm, kỷ luật và hòa hiệp. Ngoài ra Ngài không thích bàn cãi những vấn đề triết học ngoài tầm hiểu biết của quần chúng. Tôi vẫn nghĩ rằng ngay từ khi đức Phật còn sinh tiền, giới luật được coi trọng hơn cả. Các đẳng cấp trong hàng tăng chúng được xác định bằng số giới luật mà mỗi người tình nguyện giữ.

Ví dụ thiện nam (ưu bà tắc), tín nữ (ưu bà di) muốn tu tại gia, thì thọ ngũ giới (chẳng sát sinh, chẳng trộm đạo, chẳng tà dâm, chẳng vọng ngữ, chẳng uống rượu); hoặc bát giới (năm giới trên cộng với chẳng dùng hoa phấn dầu; chẳng xem hát xướng, kỹ nhạc; chẳng nằm giường cao, nệm rộng). Ngày nay gọi thế là thọ bát quan trai, hay bát giới trai.

Sa di giữ 10 giới.

Sa di ni giữ Thập giới.

Tỳ kheo (tăng) Đại thừa giữ 250 giới (Cụ túc giới); Tiểu thừa 227 giới.

Tỳ Kheo ni (ni) giữ 348 giới (Cụ túc giới).

Ngoài ra muốn tu hành Bồ Tát Giới tại gia thì giữ 6 giới trọng, 28 giới khinh.

Muốn tu hành Bồ Tát xuất gia, thì tăng ni nguyện giữ 10 giới trọng, 48 giới khinh. Muốn tường các giới luật đó, xin đọc Phật học từ điển Đoàn Trung Còn nơi các chữ Ưu Bà Ni giới, Ưu Bà Tắc giới, Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới, Bồ tát ưu Bà tắc giới; Bồ tát giới v.v…

*Chính Đức Phật đã qui định các vật sở hữu mà một tì kheo có thể có:

1– Giày.

2– Bồ đoàn, hay tọa cụ (giống như chiếu).

3 & 4– Hai khăn mặt trắng.

5– Y(ba áo: áo trong, áo ngoài, áo choàng)

6– Bình bát.

7– Trượng.

8– Một cái lọc nước.

9– Dao con.

10– Chỉ

11– Kim.

12- Cái chuông.

13– Quạt.

(Tối thiểu là 8 vật dụng, tối đa là 13 vật dụng nói trên). [2]

Khi Đức Phật nhập diệt rồi, hai lần kết tập đầu tiên đều bàn cãi về giới luật, chứ không bàn cãi về giáo lý, và cũng vì có những chủ trương khác nhau về cách hành trì giới luật mà Phật giáo nguyên thủy chia thành Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ, như sau ta sẽ đề cập đến…

Tóm lại vì đạo Phật mới đầu mở rộng để đón mọi hạng người, mọi căn cơ, mọi giai cấp, nên dạy trọng giới luật, dạy tu hành là điều phổ cập nhất, thực tế nhất, dễ cho đại chúng thi hành nhất.

*Để giản dị hóa vấn đề giới luật, ta có thể toát lược như sau:

Con người sinh ra ở đời, phải giữ cho tròn Thân Khẩu Ý

Thân là hành động cho hay (good deeds).

Khẩu là nói lời cho hay (good speeches).

Ý  là có tư tưởng cho hay (good thoughts).

*Phật giáo  có bài  kệ:

«Chư ác mạc tác,

Chư thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật giáo.»

* Dịch:-

Không làm ác,

Cố làm lành.

Giữ lòng thanh,

Phật dạy thế.

Có một điều lạ là trong suốt đời Đức Phật, Ngài đã tránh né không trả lời, hoặc không đưa ra một lập trường dứt khoát về những vấn đề triết học trọng đại như:

– Vũ trụ vô cùng hay hữu hạn;

– Vũ trụ vô thủy chung, hay hữu chung thủy;

– Như Lai sau khi nhập Niết Bàn, có còn hay không còn;

– Con người có ngã hay không có ngã.

Đối với những vấn đề trên, Ngài thường hoàn toàn yên lặng, khi có người chất vấn.

Về phương diện hiện tượng, về phương diện hình danh, sắc tướng, thì tất cả đều là sai biệt, đều chỉ là phiền tạp. đều trôi nổi trên triền không gian thời gian, đều bị hạn hẹp, đều bị giam hãm trong những hình danh sắc tướng. Đó là những gì hữu hạn, những gì biến thiên, những gì vô thường vô định. Đó chính là những bức tranh vân cẩu, những cảnh tang thương được vẽ vời trong khoảnh khắc trên bức khung bao la, vô tận của Bản Thể. Đó chính là những cái mà ta gọi là NGŨ UẨN, LỤC TRẦN, VỌNG TÂM, VỌNG NGÃ. Chúng hoàn toàn chịu những định luật của sinh tử, luân hồi (luân hồi đây nên hiểu là biến thiên vô thường, vô định); đây chính là địa bàn hoạt động của mọi tục lụy, khổ đau, tranh chấp, THAM, SÂN, SI dưới mọi hình thức.

Có thể gọi chúng là VÔ NGÃ, vì đây chính là những tập hợp biến thiên, của Tứ Đại, Ngũ Uẩn, Lục Trần. Chúng chính là những phiên chợ đời, tập hợp nhau trong khoảnh khắc, ồn ào trong khoảnh khắc, bả lả, mặn nồng trong khoảnh khắc, nhưng rồi ra lại sẽ chia tay, để «Anh đi đường anh, tôi đường tôi».

Gọi chúng là KHÔNG, vì chúng không có thực thể. Gọi chúng là VÔ THƯỜNG vì nằm trong ảnh hưởng biến hóa của không gian, thời gian, và các nhân duyên đa tạp của hồng trần. Gọi chúng là TIỂU NGÃ vì chúng là hình hiện của những gì thấp hèn, ti tiểu. Gọi chúng là VỌNG NGÃ, vì chúng chẳng qua chỉ là những bộ mặt nạ hóa trang, đeo lên trên BẢN LAI DIỆN MỤC, khi đóng những tấn kịch đời…Đó là thế giới của VẠN, của ĐA TẠP.

Bản thể và Hiện tượng luôn luôn ở trong thế cài răng lược. Không Bản Thể, Hiện Tượng không chỗ dựa nương. Không Hiện Tượng, Bản Thể sẽ u tịch, không thể tìm cho ra vết tích.

Bản thể và Hiện Tượng nơi con người, theo nhãn quan Phật giáo sẽ là Niết Bàn và Khổ Hải; Niết Bàn và Luân Hồi; Thường và Vô Thường.

Con người sinh ra ở đời này phải theo những định luật thiên nhiên vĩnh cửu, và một trong những định luật đó là phải vươn từ HỮU HẠN, lên tới VÔ HẠN; vươn từ TỐI TĂM lên tới ÁNH SÁNG; vươn từ PHÙ SINH lên tới TRƯỜNG SINH, vươn từ KHỔ HẢI lên tới NIẾT BÀN.

Và như vậy NIẾT BÀN, hay CHÂN TÂM hay BẢN THỂ đều thực sự đã chẳng hề lìa xa con người…

Con đường dẫn từ LUÂN HỒI lên tới NIẾT BÀN chính là GIỚI, ĐỊNH, TUỆ.

GIỚI là đi tìm những định luật thiên nhiên vĩnh cửu mà theo mà giữ.

ĐỊNH là biết tập trung TINH THẦN để càng ngày càng có thêm THẦN THÔNG, THẦN LỰC.

TUỆ chính là phát được ĐẠI GIÁC, ĐẠI HUỆ. Mở TUỆ GIÁC để nhìn thấy cái BẢN THỂ. NIẾT BÀN xét về phương diện LUÂN LÝ, NGHỆ THUẬT thì chính là Lý Tưởng mà con người cần phải liễu đạt. Cho nên nếu BÁT CHÍNH ĐẠO là con đường đưa tới NIẾT BÀN, thì BÁT CHÍNH ĐẠO có thể tóm tắt lại bằng lời khuyên sau:

Luôn luôn hãy sống cho hay, cho đẹp, cho tuyệt vời, bất kỳ trong giây phút nào, trong hoàn cảnh nào. Nho giáo gọi thế là THỜI TRUNG…

Phật giáo gọi thế là QUI Y PHẬT, lấy Phật làm lý tưởng tối cao để qui định hành vi của mình.

Nếu chúng ta học đạo Phật không phải là để thỏa mãn cái trí tò mò, mà cốt là theo gương Phật, bắt chước Phật, mong trở thành Phật, tu trì tinh tiến, mong sớm được đại giác, đại ngộ, đem lòng từ bi vô lượng, thương xót chúng sinh, nguyện làm lợi ích cho nhân quần, cho xã hội, nếu mọi người ai cũng quyết tâm như vậy, thì Tịnh Thổ, Cực Lạc, Niết Bàn, trước sau cũng sẽ hình hiện để thay thế cho trần ai tục lụy này.

Thực ra thì tùy trình độ, tùy căn cơ, tùy công phu thiền định, tùy sự tập trung tinh thần của mỗi người, tùy công phu suy cứu của mỗi người, mà mỗi người lại có một quan niệm khác, suy tư khác về những lời Phật dạy.

Đã từ ngót 40 năm nay, tôi đã cố gắng đi tìm cái lẽ NHẤT QUÁN trong các đạo giáo thiên hạ, sau khi đã đi sâu vào đáy lòng mình để tìm ra thân thế, giá trị và định mệnh con người. Nói cách khác, tôi khảo sát các đạo giáo, các triết học Đông Tây, kim cổ cốt là để kiểm chứng những điều tôi đã quán chiếu và chiêm nghiệm mà thôi. Tôi đã đến với Phật giáo sau khi đã thâm cứu Khổng giáo, Lão giáo, Bà La môn giáo, Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi Giáo v.v… Năm 1965, tôi đã viết một tiểu luận nhan đề là TINH HOA PHẬT GIÁO.

 Đi vào đạo Phật, tôi đã giữ một thái độ thành khẩn, lễ độ nhưng đồng thời cũng không đánh mất cái tính tự tín, tự cường, tự lập của mình.

 *Trước hết cái điều mà tôi rất kính phục ở nơi Đức Phật chính là thái độ hiên ngang của Ngài đã dám gạt bỏ mọi thần thánh, mọi lễ nghi van vái, mọi kinh sách ra một bên, để chỉ vẽ cho mọi người thấy rằng:

 1– Cái gì vô thường, cái gì biến thiên, cái gì ở trong vòng Sinh Diệt, là nguồn gốc mọi sự khổ đau.

 2– Ngài lại dạy thêm rằng đừng có tin suông vào lời Ngài, mà hãy tự mình kiểm nghiệm lại những điều Ngài nói, xem có đúng sự thực không.

 3– Ngài dạy chúng ta hãy hồi quang quán chiếu vào tận đáy lòng mình, để trực giác được rằng mình cũng chính là Phật. [8]

Với những lời khuyên đó như chỉ nam, chúng ta liền hiểu được vi ý của Tứ Diệu Đế; Ngũ Uẩn, Thập Nhị Nhân Duyên, và Bát Chính Đạo.

 TỨ DIỆU ĐẾ

1– Khổ đế: Đời là khổ.

2– Tập đế: Nguồn gốc sự khổ: Tham

3– Diệt đế: Cách Diệt khổ: Vào Niết Bàn.

4– Đạo đế: Đường đưa tới giải thoát, tới Niết Bàn: Bát chính đạo. [9]

 1– Cái nhận xét đầu tiên: Đời là khổ, thì hầu như ai cũng chịu là đúng.

 2– Cái nhận xét thứ hai cho rằng Tham dục là nguồn gốc sự khổ như dân gian thường nghĩ chưa đủ sâu sắc:

 Đức Phật khi giảng về Ngũ Uẩn -Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức- đã cho biết thêm:

 Ngũ uẩn do nhân duyên sinh ra, nên đều là những gì bị chi phối. Chúng có những đặc tính sau đây: Vì chúng do nhân duyên huân tập mà nên, và chịu định luật sinh, trụ, hội (tử), cho nên căn bản chúng là biến thiên, vô thường, vô ngã… Ngũ Uẩn là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã. [10] Tóm lại, cái gì biến thiên là khổ, và vô ngã. Nhận xét này mới thật phong phú, Suy ra thì không được theo đuổi, không được cưu mang cái gì biến thiên, dù nó ở ngoại cảnh, ở hình hài, ở trí lự, hay tâm tư ta.

 Cảnh giới vô thường, vô ngã, biến thiên chính là cảnh giới của Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức; của Ngũ Uẩn; của Thập Nhị Nhân Duyên. Dần dần chúng ta sẽ duyệt lại từng vấn đề.

 3– Theo dân gian, nhận xét thứ ba là muốn thoát khổ phải trừ diệt nguồn gốc sự khổ. Mà nguồn gốc sự khổ là Tham Dục. Vậy muốn thoát khổ, phải diệt dục. Dẹp xong tham dục sẽ vào cảnh giới Niết Bàn.

 Tôi giải Diệt Đế như sau: Nếu sống trong vòng biến thiên, hiện tượng, là sống trong vòng Ngũ Uẩn, trong vòng sinh diệt, khổ đau, thì muốn thoát khổ, phải đạt được cảnh giới Bản thể, cảnh giới Chân tâm. Chỉ có cảnh giới này mới gọi được là cảnh giới Niết Bàn.

 Đức Phật không bình giải về cảnh giới này, chắc là để ta tự chứng ngộ lấy.

 Nhưng ta có thể dễ dàng luận ra được cảnh giới Niết Bàn.

 Trước hết, vì cõi Ta Bà chúng ta là bể khổ, thì dĩ nhiên Niết Bàn phải là cảnh giới Hạnh Phúc.

 Chúng ta ở trong cõi BIẾN THIÊN, SINH DIỆT thì dĩ nhiên Niết Bàn phải là cảnh giới BẤT SINH, BẤT DIỆT, VĨNH CỬU, THƯỜNG HẰNG.

 Nếu cảnh giới Ta Bà là cảnh giới Vô Ngã, Vọng Ngã, thì NIẾT BÀN phải là cảnh giới của CHÂN NGÃ.

 Nếu Hồng Trần Tục Lụy là cõi ngoại giới, cõi hình hài, tâm tư trí lự, thì Niết Bàn phải là cõi nội giới, nằm sau lớp trí lự, tâm tư. Sở dĩ chúng sinh không tìm ra được CHÂN TÂM, hay NIẾT BÀN chính là vì ĐỊNH, TUỆ chưa đủ, nên chưa xuyên thấu được bức màn VÔ MINH ngăn cách giữa hai cảnh giới CHÂN và VỌNG.

 Tóm lại như trên đã chứng minh rằng Đức Phật đã cho thấy KHỔ ĐAU nằm gọn trong Ngũ Uẩn, mà Ngũ Uẩn chính là hình hài ta, trí lự ta, tâm tư ta. Nếu vậy thì Niết Bàn chắc chắn cũng đã nằm sẵn trong tầng sâu cùng tột của tâm hồn ta, mà chỉ vì ta ngu si, ta phù phiếm xốc nổi, ta không chịu thu thần định trí mà quán chiếu, nên mới nhìn chẳng ra, hiểu chẳng nổi mà thôi. Đối với tôi, chúng ta dù là trong muôn kiếp, bao lâu còn thở than rằng chúng ta khổ, chúng ta hèn, chúng ta sống phù du như bèo trôi, mây nổi, thì bấy lâu chúng ta vẫn lạc lõng trong Luân Hồi, Sinh Tử. Nhưng nếu có một ngày nào, một phút nào, ta bừng mở được con mắt tâm linh để nhìn thấy Chân Tâm, Chân Bản Thể của chúng ta, một Chân tâm vô biên tế như vũ trụ, một Chân tâm quang minh hơn nhật nguyệt, một Chân tâm thanh tịnh hơn nước hồ thu, thì ngay lúc ấy ta sẽ lập tức triển dương được thần uy, thần lực tiềm tàng từ muôn thủa trong ta, và ngay lúc ấy có một sự chuyển biến vô hạn trong ta, làm cho chúng ta từ hữu hạn trở thành vô biên, từ u minh trở thành nguồn sáng, và ta sẽ cảm nghiệm được sự tĩnh lãng siêu tuyệt của đất trời hiện tiền trong tâm linh ta.

 Thực ra, Đức Phật không định nghĩa Niết Bàn, nhưng thường xuyên nói đến một vài đặc tính của nó. Ngài quả quyết rằng các vị La Hán đã đạt được hạnh phúc không tả xiết (Udana- Tự Thuyết- 8. 10); rằng Niết Bàn là hạnh phúc (Anguttara-Tăng nhất A Hàm- 4. 414; rằng Ngài đã đạt tới Bất Tử, và các tì kheo cũng có thể đạt tới như vậy: «Các bạn có thể chứng kiến chuyện này ngay khi còn sống, các bạn sẽ sống và mang Bất tử trong mình» (Majjhima N. -Trung A Hàm- 1. 172). Bậc La Hán ngay trong kiếp này, đã rũ bỏ mọi phiền trược, nhập Niết Bàn, hưởng hành phúc nơi mình, và sống với Brahman… (Anguttara-Tăng Nhất A Hàm- 1. 206; Majjhima Nikya-Trung A Hàm-1. 341).

 Những câu trên đã được học giả Pháp là Vallée-Poussin sưu tầm.

 Ông Vallée-Poussin luôn tiện còn so sánh những tư tưởng trên của Đức Phật với một câu trong thánh kinh Bhagavad Gita của Ấn Giáo:

 «Một vị đạo sư mà không tìm thấy được hạnh phúc, nguồn vui và ánh sáng ở đâu khác ngoài tâm mình, vị đó đồng hóa mình với Brahman, đạt tới Niết Bàn, mà Niết Bàn là Brahman.» [11]

 Nhân đọc những câu kinh sách trên do học giả Vallée-Poussin sưu tầm tôi chợt nhớ lại một sự nhận định của tôi về chữ Niết Bàn như sau: Số là năm 1956, khi tôi khảo về đạo Khổng và đạo Lão -lúc ấy tôi chưa khảo về đạo Phật- tôi thấy Trung Dung chương XXVI có câu: «Cao minh phối Thiên», và Đạo Đức Kinh chương 68 có câu: Thị vị Phối thiên cổ chi cực (Sống kết hợp với Trời là cực điểm của người xưa), tôi liền suy luận ra rằng nếu Khổng, nếu Lão chủ trương Phối thiên là đạt đích của con người, thì chữ Nirvana của Ấn Giáo, Phật giáo cũng phải hiểu được là Phối Thiên. Để kiểm chứng sự suy luận của tôi, tôi hỏi một Thiếu Tá người Ấn Độ, thời ấy làm trong ủy Hội Đình Chiến xem trong tiếng Ấn Độ chữ Nirvana nghĩa là gì? Ông trả lời tôi là «Union with God» (Phối Thiên).

Tôi liền suy ra rằng xưa nay thánh hiền tiên phật, lúc đắc đạo đều có một luận điệu như nhau và đều cho thấy rằng các Ngài đã thể nhập với Bản thể của Vũ Trụ, Căn Nguyên và Cùng Đích của vũ trụ…

 Thế là chưa vào Bà La Môn giáo và Phật giáo, mà đã suy ra được cái đạt đích thâm viễn của hai tôn giáo nói trên. Cái hay của khoa Tôn Giáo đối chiếu chính là ở chỗ đó…

 Tối hôm 4/6/89, nhân muốn tìm lại xuất xứ của hai chữ Phối Thiên trong Lão Trang, tôi dở quyển Les Pères du Système Taoiste, của Léon Wieger, thì tự nhiên một đoạn của Nam Hoa Kinh (Chương Tại Hựu 11) đập vào mắt tôi: Đó là cuộc đối thoại giữa Quảng Thành Tử chân nhân với Hoàng đế. Đoạn đó như sau:

 Theo ta đến Cực Dương,

 Lại theo đến Âm Cực.

 Cùng ta vượt Âm Dương,

 Nhập vào trong Thái Nhất.

 Âm Dương có gốc nguồn,

 Đất trời có chủ chốt.

 Để ý gìn bản thân,

 Tự nhiên sẽ khỏe mạnh.

 Ta sống trong Thái Hòa,

 Ấp ôm gìn Thái Nhất.

 Nên dẫu nghìn năm qua,

 Ta đây vẫn tươi tắn.

 * Hoàng Đế khen Quảng Thành:

 Ngài chính là Trời vậy.

 Quảng Thành vẫn điềm nhiên,

 Truyền Hoàng đế nghe tiếp:

 Cái đó vốn vô cùng,

 Con người tưởng hữu hạn.

 Cái đó khó tư lường,

 Con người lầm có cực.

 Nếu hiểu nổi đạo ta,

 Vua chúa làm như bỡn.

 Như không hiểu đạo ta,

 Chẳng qua sống phàm tục.

 Căn bản mà quên đi,

 Bụi đất hoàn bụi đất.

 Nay ta tương biệt ngươi,

 Vào cửa Vô Cùng Cực.

 Ta chơi trong Vô Biên,

 Ta sáng như nhật nguyệt.

 Đời ta sẽ vô cùng,

 Vĩnh cửu như trời đất.

 Người theo hay không theo,

 Riêng ta ta không chấp.

 Mọi người đều chết đi,

 Riêng ta vô cùng cực…[12]

 Tôi ghi lại đoạn này để giúp hiểu thêm về đời sống trong cõi Niết Bàn của các vị Chân Nhân…

 Sau khi suy tư về những nhận định của Đức Phật về Niết Bàn, tôi suy tư tiếp:

 Niết Bàn như vậy là Bản Thể chân thực của ta, của quần sinh và vũ trụ.

 Niết Bàn là hạnh phúc.

 Niết Bàn ở sẵn trong tâm khảm con người.

 Niết bàn là Chân Thường, Hằng Cửu.

 Niết Bàn là một trạng thái tĩnh lãng, bất biến.

 Niết bàn có thể thực hiện ngay trong cõi đời này.

 Như vậy Niết Bàn là trạng thái mà ta có thể tự tạo cho ta, ban bố cho ta, chứ không do một vị Thần Phật ngoại tại nào. Tại sao vậy? Thưa chính là vì ta đã nhập thể với Bản Thể vũ trụ, nguồn sinh xuất ra vũ trụ, và chư Phật, chư Thần.

 Đến đây tôi sực nhớ lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, câu 276: «Các ngươi hãy nỗ lực lên. Như Lai chỉ dạy cho con đường giác ngộ, chứ không giác ngộ thế cho ai được. Sự trói buộc của ma vương sẽ tùy sức thiền định của ngươi mà được cởi mở.»

 Mới hay công trình tu trì, giải thoát của con người cũng đã chịu một định luật thiên nhiên chi phối. Đó là: LINH TẠI NGÃ, BẤT LINH TẠI NGÃ (Hay tại ta, dở cũng tại ta).

 Nếu Niết Bàn là hạnh phúc, là bất biến, là trạng thái có thể thực hiện ngay ở đời này, thì dĩ nhiên là nếu có được hạnh phúc bây giờ, thì hạnh phúc ấy cũng không thua kém hạnh phúc hưởng được sau khi nhắm mắt tắt hơi. Nhận định này hết sức quan trọng, và làm cho chúng ta hết những mơ ước viển vông về những thiên đường mai hậu, bởi vì ngay từ trong cuộc sống hiện tiền của chúng ta, chúng ta có thể đạt được một trạng thái cao siêu nhất mà trời đất có thể dành để cho chúng ta.

Nhận định thứ tư là: Có nẻo vào Niết Bàn, có phương pháp để thực hiện Niết Bàn: Đó là Bát Chính Đạo.

 Khi tôi suy tư về những nhận định trên của Đức Phật, tôi thấy ngay được mạch lạc tư tưởng của Ngài, mà tôi tóm lại như sau:

 Nếu cái gì là hiện tượng, cái gì là hình danh sắc tướng, cái gì là suy tư, niệm lự, cái gì là thất tình lục dục, tất cả những cái đó đều là những gì biến thiên (vô thường), vô ngã, sinh diệt, và là nguồn gốc khổ đau.

 Muốn chữa bệnh Sinh, Lão, Bệnh, Tử thì phải có cái gì bất sinh, bất bệnh, bất lão, bất tử.

 Muốn vượt khổ hải, tất nhiên phải có Niết Bàn, là nơi vô ưu, vô khổ, có vậy công trình ta mới có ý nghĩa.

 Muốn vượt qua các cảnh giới biến thiên, ắt phải có cảnh giới trường cửu, như vậy sự vươn vượt của chúng ta mới có ý nghĩa.

 Nếu tu mà muốn diệt Vọng Tâm, thì ắt là phải muốn đạt tới Chân Tâm.

 * Tôi chứng minh những điều tôi nói bằng những lời của Đức Phật.

 Phật cho rằng sống trong biến thiên, chất chưởng, tương đối, dĩ nhiên là sẽ phải lệ thuộc, sẽ không thể nào được hạnh phúc bền bỉ. Như vậy muốn được tự do, hạnh phúc trường tồn, tất nhiên phải tìm cho ra tuyệt đối, hằng cửu, bất biến.

 Phật nói: «Hỡi các tì khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao giải thoát được cái sinh, thành, ỷ, tạp. Nhưng vì có thực trạng ấy, nên có đường thoát cho cái: Sinh, Thành, Ỷ, Tạp.» [13]

 Khi Đức Phật mới ra giảng giáo, có 30 chàng thanh niên nhân đi tìm một cô bạn gái, đến hỏi thăm đức Phật xem Ngài có thấy cô bạn gái đó không? Đức Phật hỏi lại: «Theo ý các con thì nên tìm một người phụ nữ hay nên tự tìm ra mình là hơn?»

 – Bạch Ngài tự tìm ra mình hẳn là hơn

 – Vậy hãy ngồi lại đây Như Lai sẽ giảng giáo lý cho các con.

 – Chúng con xin vâng.

… Sách kể ba mươi thanh niên đó đều đã xuất gia theo Phật.

 Đọc truyện này, dĩ nhiên phải hiểu là Đức Phật dạy tìm Chân Ngã hằng cửu nơi con người. Chứ chẳng nhẽ ngài lại dạy chúng thanh niên đó đi tìm Con người hư ảo, biến thiên trong người họ hay sao. Nếu một mặt Ngài dạy đi tìm Tự Tâm, Tự Tính, rồi một mặt khác Ngài lại dạy rằng cái Tự Tâm, Tự Tính ấy cũng chẳng hằng cửu, thì chung qui Ngài không thể giúp họ giải thoát, và như vậy Ngài đã làm một chuyện vô ích…[14]

 Sau khi thành đạo, Đức Phật tuyên bố:» Cửa Vô Sanh, Bất Diệt đã mở cho chúng sinh. Hãy để cho ai có tai muốn nghe, đặt trọn niềm tin tưởng.» [15] Tôi hiểu VÔ SINH BẤT DIỆT là VĨNH CỬU TRƯỜNG TỒN, và lại càng tin chắc là Đức Phật vừa thấy Biến Thiên, vừa thấy Hằng Cửu.

 Tôi hết sức ngạc nhiên vì thấy Phật Giáo Tiểu Thừa từ trước tới nay luôn luôn chủ trương rằng theo Đức Phật, thì trong thế giới này tất cả đều biến thiên. Bản thể vũ trụ này biến thiên, Chân tâm, Đại Ngã nhất nhất đều biến thiên.

 Tôi không bao giờ đồng quan điểm với Tiểu Thừa được, vì nếu tất cả đều biến thiên, thì tất cả là khổ lụy, và con người không còn có cõi nào để mà giải thoát, và Niết Bàn cũng chỉ là hư danh, vì cũng vẫn luẩn quẩn ở trong vòng biến thiên sinh diệt.

 Có lẽ Tiểu Thừa đã làm như vậy để tôn vinh Đức Phật và cho rằng Ngài đã hoàn toàn không có vay mượn gì của Bà La Môn. Đối với Bà La môn, thì Bản Thể của Vũ trụ, Bản thể của con người, Bản thể của quần sinh là một. Bản thể của vũ trụ là BRAHMAN, bản thể của con người là ATMAN. Và con người tu luyện cốt là trở thành ATMAN vô biên tế. Chúng ta biết rằng ATMAN, BRAHMAN đây không còn là những vị tối thượng thần hữu ngã, mà chính là Nguồn sinh của vũ trụ quần sinh. Kinh Bà La Môn là Áo Nghĩa Thư chuyên giảng về ATMAN; nên Tiểu Thừa đã chủ xướng ANATMAN (hay Nairatmya). Nói thế có nghĩa là đối với Áo Nghĩa Thư, dưới các lớp lang biến ảo của vũ trụ quần sinh, còn có một căn cơ bất biến vĩnh cửu làm chủ chốt. Cái căn cơ đó được hài danh là ATMAN. Còn đối với Tiểu Thừa thì cho rằng nói như vậy là điều tối ư sai lạc, vì trong vũ trụ này không có gì là cốt lõi, không có gì là vĩnh cửu không có gì là Chân Tâm. [16]

 *Là người đứng bên ngoài Phật giáo, tôi nhận định lại một lần nữa về vấn đề Atman/Anatman như sau:

 Đức Phật đúng là một vị đại cách mạng: Ngài coi thường những thần thánh Ấn Độ vì cho rằng nếu các vị thần thánh đó mà có ngôi, có vị, có danh, tướng, thì cũng chưa thể nào bất diệt được (có nghĩa là cũng còn ở trong vòng luân hồi). Ngài không lệ thuộc vào các Thánh Kinh Veda, Upanishads. Ngài chống lại sự phân chia giai cấp trong xã hội Ấn Độ. Ngài coi thường các lễ nghi hình thức bên ngoài. Nhưng Ngài vẫn còn dùng những danh từ của Bà La Môn, như Vô Minh, như Nghiệp Báo, như Luân Hồi, như Giác Ngộ. như Giải Thoát, như Niết Bàn. Nói như vậy, tức là Ngài đã loại trừ hết mọi tệ đoan, mọi ô trọc của Bà La Môn mà chỉ giữ lấy tinh hoa.

 Tôi nghĩ rằng bất kỳ ai, bất kỳ một Phật tử nào, nếu vô tư, vô chấp cũng sẽ tán đồng đường lối lý luận của tôi.

*
* *

 Bây giờ tôi tiến thêm một bước nữa, và cho thấy rằng từ lâu đã có những học giả Âu Mỹ, những Phật tử Âu Mỹ lỗi lạc như bà Rhys Davids cũng đã có một quan điểm như tôi.

 Bà Rhys Davids là một người rất giỏi tiếng Pali, và đã để cả đời nghiên cứu về Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) mà chủ trương chính yếu là không làm gì có «hồn vĩnh cửu». Bà đã lẩy ra rất nhiều đoạn kinh Tiểu Thừa để chứng minh rằng Đức Phật không hề dạy rằng Chân Ngã con người là hư ảo, mà chỉ dạy rằng không thể tìm thấy Chân Ngã đó, không thể tìm thấy được Chân Thường hằng cửu, trong cái thân phiến diện kết cấu bởi Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, bởi Ngũ Uẩn biến thiên.

 Bà Rhys Davids và ông Humphreys đã chứng minh rằng trong Kinh Tạng viết bằng tiếng Pali, nhất là trong Pháp Cú Kinh (Dhammapada), Đức Phật đã dạy rằng con người có hai thứ Ngã: Đại Ngã và Tiểu Ngã, và không hề dạy rằng Đại Ngã là hư ảo. Bà Rhys và ông Humphreys cho rằng thuyết An-Atman (không có Ngã = Not-Self) là do một sự hiểu lầm của nhiều người theo Tiểu Thừa.

 Bà Rhys Davids tóm tắt sứ mạng của Đức Phật như sau:

 «Ngài bắt đầu sứ mạng Ngài bằng cách khuyên mọi người tìm cho ra Chân Tâm, Chân Ngã (Atman), sau đó kết thúc bằng lời chỉ dạy con người phải lấy Chân Tâm, Chân Ngã mình, làm đèn soi, và làm nơi nương tựa cho mình.» Và bà dẫn chứng bằng hai câu kinh Pháp Cú: «Đại Ngã là Chúa của tiểu ngã, và là mục đích của nó.» [17]

 Tôi đã trình bày vấn đề này một lần trước đây, khi bàn về Luân Hồi, Chuyển Kiếp trong tạp chí Hoa Sen, số 6: tháng 1&2. 1989.

 Quí vị nào muốn biết thêm chi tiết về vấn đề quan trọng này, xin đọc:

 The Central Philosophy, Buddhism T.R.V. Murti, Mandala Books, Unwin Paperbacks, London, Boston, Sydney, 1980, pp. 18, 20ff v.v…

 Joseph Heads & S.L. Cranston, Reincarnation, The Phænix Fire Mystery, Julian Press, New York, 1977, p. 436.

 Hoa Sen, số 6; Tháng 1 & 2. 1989. tr. 52, 72, 73.

 Những nhận định của tôi trở thành chân lý, khi chúng ta đọc các kinh sách của Đại Thừa như Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già, Kim Cương, Diệu Pháp Liên Hoa, Hoa Nghiêm, Pháp Bảo Đàn Kinh v.v…

 Trong bộ Phật Học Phổ Thông, Phật Học Viện Quốc tế xuất bản, 1982, nơi Khóa X, XI, có một bài nhan đề: Tâm Chân Như; Tâm sinh diệt; Trở về Chân Tâm.

 Như vậy, vấn đề tôi bàn trên đã trở thành một vấn đề của đại  chúng từ lâu…

NGŨ UẨN = SÀO HUYỆT CỦA KHỔ ĐAU

 Một vị tướng soái, trước khi muốn đánh địch cần phải biết rõ vị trí của địch, nội tình của địch. Đức Phật cũng vậy, trước khi dạy ta «diệt khổ», cần phải cho ta biết rõ khổ đau nằm tại nơi đâu. Nếu như dùng từ ngữ bình dân mà nói, thì có lẽ Đức Phật đã nói: Đau khổ nằm sẵn trong:

 1– Ngoại cảnh.

 2– Hình hài thân xác ta.

 3– Trí lự ta.

 4– Tâm tư ta.

 5– Cách thức ta đối phó với ngoại cảnh.

 Thay vì nói nôm na như vậy, Đức Phật đã dạy: Ngũ uẩn là địa bàn của đau khổ, vì Ngũ uẩn có đủ những đặc tính sau đây là: biến thiên, vô ngã, và đau khổ (xem chú thích 2 nơi trên).

 Ngũ Uẩn hay Ngũ âm (Skandas, – Five Aggregates) được hiểu là Năm món tích tụ, hòa hiệp lại thành thân, tâm con người, và chúng sinh.

 Ngũ Uẩn gồm có: Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức.

 – Sắc (rupas- Forms or corporeality): Sắc là cái gì hữu tướng hữu hình, được cấu tạo bởi Tứ Đại (the four great elements: Đất, Nước, Gió, Lửa), bởi Ngũ Trần (Sắc, thanh hương, vị, súc), Ngũ Căn (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân).[18]

 Như vậy Sắc là ngoại cảnh, và xác thân ta.

 – Thụ (Vedana– Sensations– Feelings): ‘Thụ’ bao gồm tất cả những cảm giác được sinh ra khi ngũ quan (ngũ căn) tiếp xúc với ngoại cảnh (ngũ trần).

 – Tưởng (Sanjna– Perceptions– Cognitive phenomena– Notions): ‘Tưởng’ là tri giác bao quát tất cả những hình ảnh, những dữ kiện mà tâm tư, trí não đã thu thập được từ ngoại cảnh.

 – Hành (Samskaras– Psychic constructions, including both conscious and unconscious activity– Volitions– Impressions): ‘Hành’ bao gồm tất cả những hoạt động của trí lự, tâm tư hữu ý hay vô tình.

 – Thức (Vijnana– thoughts– Knowledge), Thức có 6 loại: Nhãn thức, nhĩ thức, Tị thức, Thiệt thức, thân thức, ý thức.

 Như vậy: Sắc bao quát ngoại cảnh và thân xác, ngũ quan con người.

 Thọ, Tưởng, Hành, Thức bao quát tâm tư, trí lự con người.

 Ngũ uẩn vẽ ra hình ảnh một con người hướng ngoại, chỉ lo ứng phó với ngoại cảnh. Ngũ uẩn làm tôi liên tưởng đến bộ máy computer hiện giờ. Sắc Thụ là giai đoạn thu thập dũ kiện; hành là giai đoạn biến hóa dữ kiện; tưởng là giai đoạn áp dụng dữ kiện để giải quyết công việc thường nhật.

 Nếu hiểu Ngũ Uẩn như vậy, thì bất kỳ ai nếu chỉ sống bằng Ngũ Uẩn, trong Ngũ Uẩn, người ấy chỉ mới là một con người dung phu, dung tục, hướng ngoại, hết sức lệ thuộc vào ngoại cảnh, tùy nghi độ nhật, mưu sinh, chưa có gì là cao đại.

*Vô Cấu Tử có kệ:

Ngũ Uẩn sơn đầu nhất đoạn không,

Đồng môn xuất nhập bất tương phùng.

Vô kượng kiếp lai nhẫm ốc trú,

Đáo đầu bất thức Chủ Nhân Ông.

Tạm dịch:

Đầu non Ngũ Uẩn một vừng Không,

Vào ra cùng cửa chẳng tương phùng.

Từ bao nhiêu kiếp thuê nhà ở,

Tới nay, nào biết Chủ Nhân Ông.

Ngũ Uẩn chính là con người phù du, hư ảo, chính là cái Vọng Tâm, tà ngụy, biến thiên, chính là nguồn gốc sinh tử, khổ đau. Khi đã rõ bộ mặt thực của nó là biến thiên, sinh tử, giả tạo, khổ đau, thì nhất định chúng ta không thể nào còn muốn ôm ấp, chắt chiu, tu sửa, dùi mài gì nó được. Nó chính là giặc cướp hóa trang làm con cái trong nhà. Chỉ có một giải pháp là vứt bỏ nó cho mau, để vươn vượt tới Con Người Chân Thực, tới Chân tâm quang minh, hằng cửu, tĩnh lãng, hạnh phúc. Thế chính là Diệt Ngã để nhập Niết Bàn, để khế hợp với Chân tâm…

Phật Học Từ Điển, Đoàn Trung Còn, nơi chữ Bổn Ngã, cũng ghi nhận đại khái rằng ‘Bổn Ngã’, hay Ngã, hay Cái ta, tức là Ngũ Uẩn tạm hiệp, và luận tiếp rằng: Nhà đạo học chân chánh phải cho rằng cái bổn ngã tức thân tâm là giả, vốn không. Tưởng quyết như vậy mới dứt các mối tríu mến, phiền não, mới dễ bề đắc đạo…

Kinh Tạp A Hàm – Samyutta Nikaya – bình về Ngũ uẩn như sau: «Giả sử sông Hằng chảy xuôi với những bọt nước bồng bềnh trôi nổi bên trên, lại giả sử có một người biết nhận xét tinh tế đứng quan sát cảnh tượng đó, người đó sẽ thấy bọt nước là rỗng không, không có thực tướng. Cũng như thế, thể xác vì là sắc tướng nên là giả tạo, không có thực chất. Bốn uẩn kia cũng vậy:» Sắc là bọt nổi; Thọ là bong bóng nước; Tưởng là ảo ảnh; Hành như cây chuối xốp; và Thức như bóng ma. Đã hẳn rằng cái gì có sinh tất phải có diệt…[19]

Ngũ uẩn như vậy là những hiện tượng biến thiên, nên nhất định là bị hủy hoại. Muốn trường sinh, bất tử chắc chắn chúng ta phải vượt lên trên cảnh giới của Ngũ Uẩn, nghĩa là phải vào cảnh giới Niết Bàn.

Nếu thật sự Ngũ Uẩn nó xấu xa như vậy, tại làm sao mà con người lại không chịu vứt bỏ nó, tại làm sao con người lại cứ ôm ấp nó để mãi mãi luân lạc trong cảnh luân hồi sinh tử?

Phật giải câu hỏi trên bằng Thập Nhị nhân duyên, và cho rằng sở dĩ thế chính là vì con người ngu dốt.

**********************         

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

(Doctrine of Dependent Origination, which stressed the conditionality, relativity and interdependence of all the factors that compose what we call man): CĂN DO CỦA LUÂN HỒI SINH TỬ.

 Dưới đề mục Thập Nhị Nhân Duyên, Đức Phật đại khái luận về cái thế giới hiện tiền, biến thiên sinh diệt, cái thế giới của các nhân duyên tương liên, tượng hợp; tương giao, tương tùy; tương hô, tương ứng; tương khắc, tương thừa; tương sinh, tương diệt. Cái thế giới này bao quát cả ngoại cảnh, đến hình hài, đến tâm tư, trí lự con người. Cái thế giới biến thiên ảo hóa ấy chung qui vẫn là ở trong vòng luân hồi, sinh tử…

 Con người bị luân hồi sinh tử, chính là vì chỉ biết nhìn thấy cái Hiện Tượng nhãn tiền, phiến diện bên ngoài, mà không nhìn thấy cái Bản Thể vi diệu bên trong, chính là vì NGU SI, DỐT NÁT.

 Con người bị luân hồi sinh tử chính là vì tham luyến, vì ôm ấp trần ai, tục lụy, chính là vì đã chạy theo giả cảnh, biến thiên bên ngoài, mà bỏ quên mất cái Chân thường Vi Diệu bên trong.

 Đức Phật trình bày quan niệm trên bằng Thập Nhị Nhân Duyên.

 Thập Nhị Nhân Duyên (Pratitya samutpada– dvadasanga pratityasamutpada) là:

 1. Vô Minh – 2. Hành – 3. Thức – 4. Danh Sắc – 5. Lục Nhập – 6. Xúc – 7. Thụ – 8. Ái – 9. Thủ – 10. Hữu – 11. Sinh – 12. Lão, Tử.

 Các sách thường giải Thập Nhị Nhân Duyên chính là căn do làm cho con người luân lạc trong cõi sinh tử luân hồi. Họ giải Vô Minh, Hành là nhân trong kiếp trước; Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu là quả trong kiếp này; còn Sinh, và Tử là hậu quả cho kiếp sau.

 Tôi thấy giải thích kiểu này có vẻ bất ổn, nhất là chỉ cho nó có ảnh hưởng trong ba kiếp.

 Ngoài ra ta còn thấy Phật giáo Tây Tạng thường vẽ Thập Nhị Nhân Duyên chung vào một hình cùng với Tham Sân Si, và Lục Đạo, Tam Đồ.

 Vòng tròn trong cùng là Tham, Sân Si, tượng trưng bằng hình con Gà (Tham); Con Rắn (Sân), Con Lợn (Si). Ba con cắn đuôi nhau. Tham Sân si chính là Vọng Tâm.

 Vòng tròn giữa có hình Lục đạo: Thiên (Tiên)– Atula (Thần)– Nhân (Người)– Địa Ngục– Ngạ quỉ (Ma đói)– Súc sinh– Súc vật.

 Vòng ngoài cùng là vòng Thập Nhị Nhân Duyên: Có 12 hình vẽ: 1. Bà lão mù (Vô Minh)– 2. Hình thợ gốm (Hành)– 3. Hình con khỉ (Thức)– 4. Hình chiếc thuyền (Danh Sắc)– 5. Hình cái nhà (Lục Nhập)– 6. Hình trai gái ngồi với nhau (Xúc)– 7. Hình một người bị tên (Thụ)– 8. Hình người đang uống rượu (Ái)– 9. Hình người hái quả (Thủ)–10. Hình trai gái yêu nhau (Hữu)– 11. Hình người đang sinh con (Sinh)– 12. Hình bà lão chống gậy hay hình hai người khiêng cái xác (Lão, Tử).

 Ngoài cùng có hình Ma Vương (Mara– Tử Thần).

 Ngụ ý toàn hình: ôm ấp Vọng tâm, coi đó là Mình; Ngu muội ám tâm, luyến trần, luyến cảnh đó chính là duyên do đưa con người vào cảnh sinh tử, luân hồi.

 Cắt nghĩa như vậy, thật hết sức sáng tỏ.

 Trở lại Thập Nhị Nhân Duyên (Pratityasamutpada – The formula of Dependent Origination – Doctrine of Causality – Dependently Coordinated Origination):

 1. Vô Minh (Avidya – Ignorance): Sự ngu dốt chính là nguồn gốc, là căn do đưa con người vào trần ai tục lụy. Ngu dốt chính là vì đã không nhìn thấy Bản Thể vi diệu, sang cả của con người, nên đành dấn thân vào con đường trần ai, tục lụy.

 2. Hành (Samskara – Karnic Formations – Action – Activity – Conceptions – Dispositions). Con người sinh ra vốn có khuynh hướng hoạt động, nên nếu không hướng nội, sẽ hướng ngoại, nếu không biết được cái cao siêu, vĩnh cửu, thì sẽ dồn nỗ lực vào công cuộc mưu sinh bên ngoài.

 3. Thức (Vijnana): Rồi ra sẽ tò mò tìm hiểu ngoại cảnh.

 4. Danh sắc (namarupa – Names and forms). Danh sắc là Hình, Danh, Sắc, Tướng bên ngoài, tức là ngoại cảnh. Từ đây con người bắt đầu ứng đối, giao tiếp với cảnh trí bên ngoài.

 5. Lục nhập (Sadayatana – The six sense-organs – The six bases of Consciousness). Lục nhập là ngũ quan và ý của con người.

 6– Xúc (Sparsa – contact) Xúc là sự tiếp xúc giữa con người và ngoại cảnh.

 7– Thụ (Vedana – Feelings, sensations): Ảnh hưởng ngoại cảnh bắt đầu xâm nhập vào ý thức tâm tư con người qua lối đường cảm giác.

 8– Ái (Trsna. Yêu, ước muốn). Do đó nảy ra lòng ham muốn, thèm khát.

 9– Thủ (Upadana – laying hold of, grasping). Tức thời sinh ra lòng muốn chiếm đoạt.

 10– Hữu (Bhava – being, existing, becoming – life i. e. various conscious activities): Chiếm đoạt để làm của sở hữu, và cuộc đời cứ thế chảy trôi. Hết danh, đến lợi, đến tình, lặn ngụp mãi trong vòng hưởng thụ. Và cứ như thế, tầm nhìn lối nghĩ hẹp mãi dần, thần trí hôn quyện dần…

 11– Sinh (Jati – Birth) và cứ thế sinh sinh…

 12– Lão, Tử (Jana – Marana – old age and dealth) rồi lão, tử.

 Đối với tôi, Thập Nhị Nhân Duyên chính là một cuốn phim chiếu chậm lại để mô tả hình ảnh một con người, vì mê lạc, nên đã chạy theo hình danh sắc tướng bên ngoài, chạy theo biến thiên, ảo hóa. Mà gieo gì sẽ gặt nấy, những người xốc nổi phù phiếm như vậy sẽ gặt hái được phù du, hư ảo. Hướng đi của Thập Nhị Nhân Duyên là hướng đi ra TRẦN CẢNH, TỤC LỤY bên ngoài. Cứu cánh sẽ chỉ là toàn sinh, với diệt, toàn là những khổ với đau.

 Sau khi đã luận về Niết Bàn, về Vô Minh, về Ngũ Uẩn, về Chân tâm, Vọng tâm, về Tứ Diệu Đế, về Thập Nhị Nhân Duyên, ta thấy Đức Phật hoàn toàn khảo sát về con người và về các tầng lớp trong con người, nên tới đây tôi thiết nghĩ nên vẽ ra một sơ đồ về con người, để cho thấy đâu là Chân Tâm, đâu là bức màn Vô Minh, đâu là Vọng tâm, đâu là Ngũ Uẩn, Lục Trần, Lục Căn, đâu là Thập Nhị Nhân Duyên, đâu là Luân Hồi, đâu là Niết Bàn v.v…

 Sơ đồ đó như sau:

– Vòng tròn trong cùng là Chân tâm, là Cảnh giới Niết Bàn, là Ba La Mật Tâm.

 – Giữa Vòng trong cùng, và vòng thứ 2, có một vòng đen, tượng trưng cho bức màn Vô Minh. Nó ngăn cách Chân Tâm và Vọng Tâm. Nó cũng thường được ví như là một biển khơi, có hai bờ: Bờ Mê, và Bến Giác. Bờ phía Chân Tâm là Bờ Bên Kia, là Bến Giác. Bờ phía Vọng Tâm (vòng thứ 2) là Bờ Bên Này, là Bờ Mê. Muốn vượt biển Vô Minh phải dùng «Tuệ Giác» tức là Con Thuyền Bát Nhã, nói theo tiếng Phật Giáo.

 – Vòng thứ 2 là Vọng Tâm, gồm đủ thất tình, lục dục, trí lự, tâm tư.

 – Vòng ngoài cùng là xác thân, với Ngũ Quan.

 – Vòng tròn 2 và 3 (vọng tâm, thân xác) cộng với Ngoại Cảnh sẽ tạo thành Ngũ Uẩn.

 – Cảnh giới Luân Hồi chính là ở trong ngoại cảnh đó. Thập Nhị Nhân Duyên cũng hoạt động ở trong các môi trường Ngũ Uẩn, và Lục Trần (Ngoai cảnh).

 Vậy muốn vào Niết Bàn, chỉ có một phương thế duy nhất là biết rõ hướng đi dẫn tới Niết Bàn (tức là đi sâu vào nội tâm); lặng lẽ vượt qua được các trạm kiểm soát, các chướng ngại ngoại cảnh, xác thân, ý thức, tâm tư; tìm ra được tới bờ biển Vô Minh; sắm được một con thuyền Bát Nhã, và làm một cuộc hải trình tâm linh đơn độc; cố sang tới Bờ Bên Kia. Sang tới Bờ Bên Kia tức là thoát Luân Hồi, vào tới Chân Tâm, tới cảnh giới Niết Bàn.

 Chúng ta có thể áp dụng kinh nghiệm «Vượt Biên», để thoát Luân Hồi mà vào Niết Bàn.

 Còn như nói theo từ ngữ triết học, Phật học thì ta sẽ rằng: Muốn tìm ra con đường giải thoát, tìm ra lối vào cảnh giới Niết Bàn, con người phải thay đổi, tầm nhìn, lối nghĩ, thay đổi chiều hướng, thay đổi lối sống thường nhật. Đó là BÁT CHÍNH ĐẠO

BÁT CHÍNH ĐẠO = CON ĐƯỜNG DẪN TỚI NIẾT BÀN

 Bát Chính Đạo (Aryastangamarga – The Eight Fold Paths) là:

 – Chính kiến (right view): Hãy có cái nhìn cho đúng.

 Phật giáo xưa nay đặt nặng chữ Giác Ngộ, chữ Huệ. Nên Đức Phật dạy muốn vào Niết Bàn điều kiện tiên quyết là phải nhìn nhận cho đúng.

 Nếu chúng ta cho rằng cuộc đời này là vô thường, là biến thiên, là vô ngã, là khổ đau, ngoài ra chẳng có cái gì gọi là chân thường, là bất sinh bất tử, thì chúng ta sẽ kết luận rằng: Sống trên đời, hưởng thụ được gì, cứ việc hưởng, rồi ra buông hai tay xuôi, thế cũng là xong.

 Nhưng nếu chúng ta nhìn thấy rằng ngoài cái biến thiên, sinh tử, còn có cái gì bất sinh bất tử; Ngoài con người phù phiếm bên ngoài của chúng ta, một con người đang bềnh bồng trên trùng dương thời khắc, còn có một con người vĩnh cửu mà ta có thể thực hiện được; ngoài cái khổ đau, sinh tử bên ngoài, chúng ta còn có thể tìm được cõi Niết Bàn ẩn áo bên trong, thì dĩ nhiên ta sẽ có hành động khác.

 Cái đau khổ, biến thiên, chất chưởng bên ngoài chúng ta ai cũng nhìn thấy. Nhưng cái con người vĩnh cửu, chân thực vô biên tế trong ta, cõi Niết Bàn vĩnh cửu trong ta thì không ai nhìn thấy. Chúng ta tránh né không dám dùng những chữ Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, mà chỉ dám coi Niết Bàn như là cái gì Tịch Diệt. Chúng ta hãy thay đổi tầm nhìn lối nghĩ, và hãy nhận định rõ ràng rằng Niết Bàn chính là hạnh phúc trường tồn, là trạng thái thoát vòng Sinh, Lão, Bệnh, Tử, thoát vòng biến thiên, thoát vòng lệ thuộc của thời gian. Đức Phật đã thấy như vậy, đã dạy như vậy. Thánh, Hiền, Tiên, Phật xưa nay đều tin như vậy, đều dạy như vậy. Không nhận định, không tin tưởng như vậy, sẽ không có đủ hùng tâm, dũng chí mà tiến tới.[20]

 2– Chính Tư Duy (Right Thought– Right Resolve– Right purpose or aspiration). Có học giả dịch chính tư duy là suy nghĩ cho đúng; có học giả lại dịch là quyết định cho đúng. Tôi cũng hiểu là quyết định cho đúng.

 Tôi nghĩ rằng muốn nhìn cho đúng, tất nhiên là đã phải nghĩ cho đúng rồi. Nên đối với tôi, muốn vào Niết Bàn, phải quyết tâm, phải lập đại nguyện. Đó là một điều kiện tiên quyết để làm nên những đại công, đại nghiệp.

 Đức Phật đã hạ quyết tâm nếu không tìm ra được chân lý rốt ráo, sẽ không đứng dậy, sẽ không rời gốc Bồ Đề.

 3– Chính ngữ (right speech): Nói năng cho hẳn hoi.

 4– Chính nghiệp (right action– right conduct): Hành vi cho hẳn hoi.

 5– Chính mệnh (right livelihood): Sống một cuộc sống hẳn hoi.

 Các thánh hiền xưa nay đều giảng dạy mọi người phải có tư tưởng hay, phải có lời nói cho hay, phải có hành động cho hay.

 Bái Hỏa Giáo cho rằng nghĩ hay, nói hay, hành hay là như ba lớp lông của cánh chim thần. Nhờ chúng mà con người có thể bay về với Tối Thượng Thần Ahura Madza.

 Trung Hoa xưa có thơ:

 Minh kính chỉ thủy dĩ tồn tâm,

 Thái sơn kiều nhạc dĩ lập thân,

 Thanh thiên bạch nhật dĩ ứng sự,

 Thanh phong, minh nguyệt dĩ đãi nhân.

 Dịch:

 Lòng như nước lắng, gương trong,

 Thân như non Thái, phong long cao vời,

 Thanh thiên bạch nhật đối đời,

 Trăng trong gió mát với người ở ăn.

 Trung Dung chương 29 có câu:

 Mỗi động tác quân tử đều nên như mẫu mực,

 Mỗi hành vi là khuôn phép chúng dân theo.

 Mỗi lời nói, thiên hạ đời sau sẽ nương vào,

 Người xa ngưỡng vọng, người gần không hề chán…

 Mượn ý đó, nên trong tập Trung Dung Yếu Chỉ, tôi đã viết:

 Mỗi động tác phải nên gương mẫu,

 Mỗi hành vi nên dấu, nên khuôn.

 Nhời nhời ngọc nhả châu phun,

 Lưu cho hậu thế muôn ngàn dài lâu…

 Hệ Từ Thượng, khi bình giải Hào Cửu Nhị quẻ Trung Phu, cũng đã viết:

 Khi người quân tử nói lời,

 Nói ra ảnh hưởng đến đời, đến dân.

 Hành vi phát động tuy gần,

 Nhưng mà ảnh hưởng dần dần lan xa.

 Việc nhời ấy chính động cơ,

 Động cơ đã phát, hãy chờ nhục vinh.

 Mới hay quân tử ngôn hành,

 Làm cho trời đất rung rinh mấy hồi.

 Cho nên trong việc, trong lời,

 Cố sao thận trọng đáng người hiền nhân.

 6– Chính tinh tiến: (right effort). Cố gắng vươn vượt. Không cố gắng, không vươn vượt, sẽ không tiến tới được.

Trung Dung chương XX viết:

 Còn những kẻ cố công nên thánh,

 Gặp điều lành, phải mạnh tay co.

 Ra công học hỏi thăm dò,

 Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

 Đắn đo suy nghĩ kỹ càng,

 Biện minh thấu triệt, quyết mang thi hành.

 Đã định học, chưa thành chưa bỏ,

 Đã hỏi han, chưa tỏ chưa thôi.

 Đã suy, suy hết khúc nhôi,

 Chưa ra manh mối chưa rời xét suy.

 Biện luận mãi tới khi vỡ lẽ,

 Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua.

 Đã làm làm tới tinh hoa,

 Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

 Người một chuyến, thâu toàn thắng lợi,

 Ta tốn công, dở dói trăm khoanh.

 Người làm mười bận đã thành,

 Ta làm nghìn thứ ta ganh với người.

 Đường lối ấy, nếu ai theo được,

 Dẫu u mê, sau trước sẻ thông.

 Dẫu rằng mềm yếu như không,

 Sớm chầy, cũng sẽ ra lòng sắt son.

 7– Chính niệm (right kind of awariness or mindfulness: You must think about it incessantly). Tôi giải chữ Niệm theo từ nguyên là «kim tâm»: Lúc nào cũng sẵn có trong tâm, và tôi giải chính niệm là: Muốn thành Phật, muốn vào Niết Bàn, thời ngày đêm phải luôn luôn tâm niệm đến công trình đó, có thể đến quên ăn, quên ngủ. Có vậy mới thành công!

 8– Chính định (right concentration): Tôi hiểu chính định là biết định tĩnh tâm thần; biết thu thần định trí; là giữ cho tâm thần tĩnh lãng, an nhiên, tự tại.

 Có định mới phát huệ, có phát huệ mới nhìn ra được Bản thể siêu việt nơi mình, mới thấy Niết Bàn là gần kề trong gang tấc!

 Nhìn ra được nẻo về, lập đi nguyện thành Thánh, thành Phật ngay từ kiếp này, luôn luôn giữ gìn cho thân, khẩu, ý được toàn hảo, cố gắng vươn lên siêu tuyệt, vươn tới lý tưởng; không lúc nào ngừng nghỉ, luôn luôn canh cánh bên lòng, nhất định thực thi đi nghiệp; giữ cho tâm hồn, điềm đạm hư vô, an nhiên định tĩnh, thì làm sao mà không đạt được tới Niết Bàn, ngay từ kiếp này.

Thế là lời Phật dạy không có ngoa vậy.

Có một điều ta nên chú ý là Đạo Phật đề cao sự Giác ngộ của con người. Phật giáo tuy hay, nhưng nếu con người không Giác ngộ được nó, và thể nhập được nó vào trong mình, thì ảnh hưởng cũng không được bao lăm.

Thế nào là Giác ngộ: Giác ngộ là phá được bức màn vô minh che phủ con người thực tại và con người giả tạo của chúng ta để trở thành con người viên mãn, toàn diện..

Giác ngộ là một sự chuyển hóa tâm hồn hết sức thần kỳ, xảy đến hết sức thình lình, không sao biết trước được. Richard Maurice Bucke, M. D. tác giả quyển Cosmic Consciousness xác định nó thường xảy ra vào khoảng từ 30 tới 50 tuổi. (Xem Sđd., tr. 81). Cũng có người sớm hơn hay muộn hơn. Đó là 1, vài ngoại lệ. Vì thế Đạo Khổng, Đạo Lão gọi khi đó là Hoạt Tí Thời.

Tuy nó chỉ xảy ra trong phút giây nhưng sẽ hoàn toàn thay đổi con người chúng ta. Khi chúng ta chưa giác ngộ, khi còn là chúng sinh, còn là một thiền sinh, theo lời Suzuki, «thực chẳng khác nào một con chó quèn, lang thang đầu đường xó chợ, nguẩy đuôi, ăn mày đầu tôm, xương cá và cả tình thương, và bị trẻ con đánh đuổi không tiếc tay, giờ đây biến thành sư tử lông gáy vàng, một khi rống lên là khiếp đảm tất cả các tâm hồn hèn yếu…(Thiền Luận bản dịch Trúc Thiên, quyển thượng tr. 392. – Hoa sen số 8, Nguyễn văn Thọ, Suy Tư về Thiền, tr. 16-48. – Hoa Sen, số 23, Mạn đàm về Thiền, của Nguyễn Văn Thọ, tr.129-164)

**********************         

TỐI THƯỢNG THỪA PHẬT GIÁO

 A. Những nguyên tắc tu thân căn bản.

1. Băng qua Vạn Pháp biến thiên, trở về với Chân Như Bản Thể.

 Khi nhận thấy rằng chỉ có một Bản Thể duy nhất bao trùm không gian và thời gian, bao trùm cả vạn hữu, khi đã chấp nhận rằng Bản Thể ví như Đại Dương, hiện tượng và quần sinh ví như muôn nghìn sóng cả, hay như những bọt nước bồng bềnh trên mặt, thì điều kết luận dĩ nhiên sẽ là:

 a. Bản Thể thì trường tồn, vĩnh cửu.

 b. Hiện Tượng, quần sinh thì phù du, hư ảo.

 c. Cho nên, phải bỏ phù du, để trở về với vĩnh cửu; bỏ hiện tượng để tìm về Bản Thể Chân Như. [21]

 Phật xưa đã ba lần chuyển Pháp Luân:

 Lần thứ Nhất: Giảng kinh Hoa Nghiêm, để chỉ vẽ gốc rễ, căn bản con người.

 Lần thứ hai: thuyết kinh A Hàm, Bát Nhã, Phương Đẳng, để chỉ vẽ chi mạt, ngọn ngành con người.

 Lần thứ ba: thuyết kinh Pháp Hoa, Niết Bàn để dạy đời thu nhiếp ngọn ngành để trở về cội gốc, bỏ Hiện Tượng để trở về với Bản Thể, Chân Như. Đó là thành Phật, thành Đạo, đó là vào Niết Bàn.[22]

  2. Tìm ra Chân Tâm, Chân Như Bản Thể dưới lớp Vọng Tâm, Vọng Ngã.

  Sau khi đã dùng hai chữ Bản Thể và Hiện Tượng để bao quát hết mọi lớp lang đại vũ trụ từ vô hình đến hữu hình, ta trở lại tiểu vũ trụ là con người chúng ta.

 Như trên đã nói, trong vũ trụ, một Bản Thể Duy Nhất phát sinh muôn ngàn hiện tượng, nay trở lại con người, ta cũng thấy vẫn một Bản Thể Duy Nhất, Tuyệt đối ấy phát sinh ra muôn vàn hiện trạng, điều động mọi suy tư, hướng dẫn mọi hành động. Bản thể ấy, theo từ ngữ Phật Giáo, chính là Phật Tính, làm căn cốt cho mọi người, cũng như làm căn cốt cho vũ trụ và muôn vật, vì thế nói: Chúng sinh đều có Phật Tính (Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tính).

 Cũng như vũ trụ có hai phương diện Biến Thiên và Hằng Cửu, mỗi một người chúng ta cũng có hai bộ mặt, hai con người. Bộ mặt bên ngoài, con người bên ngoài thì nhem nhuốc, biến thiên chịu định luật thành, trụ, dị, không của thời gian; một bộ mặt, một con người bên trong thì uy nghi, rực rỡ, siêu thoát trên mọi hình, thức, sắc, tướng, và không điêu tàn với quang âm, tuế nguyệt.[23]

 Vì thế mà Phật giáo mới phân Chân Tâm, Vọng Tâm, Chân Ngã, Vọng Ngã.

 Vọng Tâm, Vọng ngã gồm tất cả những trạng thái biến thiên của tâm hồn, gồm thất tình, lục dục, tri giác, cảm giác, hoài bão, lý luận, tư tưởng, sinh sinh, diệt diệt với các hiện tượng bên ngoài.

 Còn Chân Tâm, Chân Ngã thời tế vi, huyền diệu, bất biến trường tồn.

 Chân Tâm, Chân Ngã còn gọi là Đại Ngã. Vọng tâm, Vọng Ngã gọi là Tiểu Ngã. Đại Ngã là có. Tiểu Ngã là không.[24]

 Con người tưởng chừng hữu hạn, tưởng chừng lao lung, tưởng chừng tảo vong, yểu tử, mà kỳ thực đã chứa đựng sẵn vô biên, vô tận, đã sẵn có hạnh phúc, đã sẵn có trường sinh, bất tử.

 Có như vậy, mới cắt nghĩa được con người tại sao luôn mơ ước vô biên, luôn tìm cầu hạnh phúc, luôn mong mỏi trường sinh bất tử.

 Tìm ra được Chân Tâm tiềm ẩn dưới lớp Vọng Tâm, các hiền triết Phật Giáo mới chủ trương con người thay vì có ngũ quan và ý thức, lại còn có đến tám thức: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Mạt Na thức, A lại Da thức.[25]

 Ý thức là Vọng Tâm, mà A Lại Da chính là Chân Tâm. Còn Mạt Na ở giữa đóng vai môi giới.

Khi mê thì Mạt na đóng vai vô minh chỉ liên lạc được một chiều từ Chân Tâm ra Vọng Tâm, thành thử Vọng Tâm không bao giờ nhìn nhận ra được Chân Tâm. Khi Ngộ thì Mạt Na đóng vai Bát Nhã, thành con thuyền đưa người từ bến bờ Vọng Tâm cho tới bờ bến Chân Tâm, lúc ấy sự liên lạc sẽ hoàn tất cả hai chiều, không còn Sâm Thương đôi ngả.

 Duy thức Tông có thơ:

 Đệ huynh bát cá, nhất nhân si,

 Độc hữu nhất cá, tối linh lại,

 Ngũ cá môn tiền tố mãi mại,

 Nhất cá gia trung tác chủ y.[26]

 (Tu tâm, tr. 21)

 Anh em tám kẻ, một người si (mạt na = Ngã si)

 Duy có một chàng rất linh ly. (ý thức)

 Năm người buôn bán ngoài cửa ngõ (Ngũ quan)

 Một vị trong nhà đứng chỉ huy. (A Lại Da)

 Các sách thường chủ trương khi giác ngộ, Thức sẽ biến thành Trí. Và A Lại Da sẽ biến thành Đại Viên Cảnh Trí. Chủ trương này xét ra cũng chính xác, vì nếu trong A Lại Da thức còn có chút tì ố nào, thì chưa phải là Chân Tâm.

 Có sách lại chủ trương còn có Đệ Cửu Thức gọi là Bạch Tịnh Thức, mà Đệ Cửu Thức mới là Căn Nguyên Tuyệt Đối. [27]

Khám phá ra được rằng, sau những lớp lang tâm tư biến ảo, còn có Tuyệt Đối Chân Tâm, sau bộ «mặt nạ» tiểu ngã hóa trang, còn có «bộ mặt Bản lai diện mục», «bộ mặt Đại Ngã»; khám phá ra được rằng: dưới làn sóng vô thường, vô ngã, tràn ngập vũ trụ, tràn ngập lòng mình, dưới lớp ba đào trùng điệp ấy, còn có Giác Hải Chân Như tĩnh lãng, ấy là Giác ngộ.

 Đại Ngã là Phật Tính, là Chân Như, là căn cốt của tạo vật và của con người; vĩnh cửu, trường tồn, chân thường, bất biến, bất hoại.

 Còn Tiểu ngã là vọng tâm của mỗi người, kết cấu bằng những tầng lớp hình ảnh, tư tưởng, dục tình, biến thiên, vô thường, vô định.[28]

 «Lạc trong muôn tứ, nghìn tình,

 Soi gương, nào biết tướng mình thế nao?»

 Trở về Đại Ngã Đại Đồng, Chân Ngã vô tướng, tức là không còn cái mình nhỏ nhoi, hèn mọn nữa, và sẽ trở thành Pháp Thân uy nghi, trang trọng, phổ biến, phổ quát. Đạt tới Đại Ngã là đạt tới Niết Bàn. Vì thế Niết Bàn được định nghĩa là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

Bà Blavatsky viết: «Bao giờ Thần con người hoàn toàn không còn tơ vương chút vật chất nào, không còn chút hình tượng nào, sẽ trở thành Linh Khí hoàn toàn. Khi ấy, nó mới vào được Niết Bàn vĩnh cửu, bất biến, trường tồn, đó là Niết Bàn vĩnh cửu thật sự. Linh Khí ấy là Thần, là Không, vì nó là mọi sự. Nó hoàn toàn vô hình tướng; nhưng về phương diện thuần Thần, thì nó là chính Bản Thể. Khi hồn con người đã thành thần thì được gọi là Nhập vào Bản Thể Đại Đồng, hay là phối hợp với Bản Thể chứ không bao giờ có nghĩa là hủy diệt, vì hủy diệt là vĩnh cửu chia ly.» [29]

 Nhiều người theo Phật giáo chỉ chú trọng đến vô thường, vô ngã mà quên biến mất Chân Thường, Chân Ngã. Như vậy mới là biết Biến Thiên chưa biết Hằng Cửu, mới biết hiện tượng chưa biết Bản Thể, mới biết Luân Hồi chưa biết Niết Bàn. [30]

 Biết Vô Thường, Vô Ngã mới là biết Biến Thiên, Khổ Ải, Luân Hồi, mà chưa biết Niết Bàn. [31]

 Biết Vạn Pháp là Vô Thường, Vô Ngã mới là biết hiện tượng phù phiếm, biến thiên; chưa biết Bản Thể bất biến, chưa biết được Thực Tại trường tồn. [32]

 Biết Hiện Tượng, chưa biết Bản Thể gọi là Mê; thấy Bản Thể mà không thấy hiện tượng cũng chưa gọi được là Ngộ. [33]

 Giác Ngộ là phải thông suốt lẽ biến hằng, thông suốt hai phương diện thể dụng trong trời đất và lòng người. [34]

 Người theo đạo Phật mà chỉ nói Vô Ngã, Vô Thường, mà không biết Chân Ngã, Chân Thường, thì cũng y như người học Dịch mà chỉ biết hào quải bên ngoài, chưa biết Vô Cực, Thái Cực bên trong…

 Nhiều người khảo cứu về Đạo Phật rất bạo dạn khi nói về thuyết vô ngã Anatta,[35] Anatman,[36] nhưng không dám đả động đến Chân Ngã. Nhưng may thay, cũng còn có nhiều người dám bàn về Chân Ngã,[37] nhưng may thay trên nhiều cổng chùa, còn có viết bốn chữ đại tự: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: «Thất nhữ Nguyên Thường, cố thụ luân chuyển.» 失 汝 元 常 故 受 輪 轉 (Không biết căn nguyên vĩnh cửu nên bị luân chuyển).[38]

Kinh Đại Niết Bàn viết: «Kiến nhất thiết Không, bất kiến bất Không, bất danh Trung Đạo, nãi chỉ kiến nhất thiết Vô Ngã, bất kiến Ngã giả, bất danh Trung Đạo. Trung Đạo giả, danh vi Phật Tánh.» 見 一 切 空, 不 見 不 空, 不 名 中 道. 乃 只 見 一 切 無 我, 不 見 我 者, 不 名 中 道. 中 道 者, 名 為 佛 性.

«Thấy tất cả đều là ‘Không’, mà chẳng thấy cái ‘chẳng Không’, thì chẳng gọi là Trung Đạo, thấy tất cả là ‘Vô Ngã’ mà chẳng thấy có ‘Ngã’ thì cũng chẳng gọi là Trung Đạo. Trung Đạo ấy gọi là Phật Tánh.» [39]

 Không hiểu trong con người có hai thứ Ngã (Đại Ngã, Tiểu Ngã), có hai thứ căn nguyên (Niết Bàn, Sinh Tử), có phân ngôi Chủ khách (Hằng, Biến), thì không sao hiểu được giáo lý đạo Phật, không sao thành Phật được, dù tu luyện mấy muôn kiếp.

 Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết:

«Phật bảo A Nan: Từ muôn kiếp tới nay, chúng sinh bị lao lung, điên đảo, các nghiệp chướng sinh ra đầy dẫy như trái ác xoa. Còn những người tu hành chẳng thành được vô thượng Bồ Đề lại thành ra bực thanh văn, duyên giác, và các thứ ngoại đạo, các Trời và ma vương, ma quyến, đều là vì không biết hai thứ căn bản, tu luyện cuồng xiên, thác loạn, y như đòi nấu cát thành cơm, thì có đến ngàn muôn kiếp cũng chẳng được.

Thế nào là hai thứ căn bản, hỡi A Nan! Một là căn bản tử sinh từ muôn kiếp, y như nay ngươi và chúng sinh lấy tâm vọng tưởng (tâm phan duyên) làm tự tính.

Hai là căn bản «vô thủy Bồ Đề Niết Bàn Nguyên Thanh Tịnh Thể» đó ở nơi ngươi, chính là «Thức Tinh Nguyên Minh«có thể sinh ra vạn duyên, vạn sự, mà đã bị trần duyên làm mất bỏ. Cũng vì chúng sinh đã bỏ mất cái căn nguyên sáng láng ấy, cho nên hằng ngày tuy vẫn luôn luôn dùng mà chẳng tự biết được nó, rồi ra lăn lộn, đắm đuối vào các thú vui, uổng phí cả cuộc đời. [40]

 Bỏ cái «nguyên thường» trường cửu, mà theo cái vô thường biến dịch, coi vọng tưởng mà lầm là «chân tính» thì có khác gì nhận giặc làm con, làm sao thoát khỏi Luân Hồi, khổ ải?

 Phật bảo A Nan: «Cái đó là vọng tưởng do lục trần bên ngoài mà sinh, nên gọi là vọng tưởng; nó làm hoặc loạn chân tíng ngươi. Bởi vì từ xưa tới nay, ngươi nhận giặc làm con, bỏ mất tính chân thường của ngươi, nên ngươi bị luân chuyển, luân hồi.» [41]

Làm sao phân biệt được Chân Tâm, Vọng Tâm nơi con người?

Phật cho rằng; cái gì từ bé đến già mà chẳng đổi thay là Chân Tâm. Theo đà thời gian, đầu ta tuy bạc, mặt ta tuy nhăn, nhưng cái Tính Thấy ấy chẳng hề nhăn, chẳng hề bạc,[42] mà đã không nhăn, không biến thì làm gì có sinh, có diệt? [43] Suy ra, trong con người, cái gì bất động, bất biến là Chân Tâm.

Đã bất biến, thường trụ thời là Chủ Nhân, đã trừng tịch bất động thời là «Không».[44]

Trái lại, cái gì thay đổi, biến thiên trong con người, cái gì giao động thì là Vọng Tâm. Mà đã giao động, biến thiên, thì chẳng qua là trần ai, hay khách qua đường mà thôi.

 Cho nên Vọng Tâm chính là hiện tượng sẽ bị sinh, diệt; còn Chân Tâm mới là Bản Thể bất sinh, bất diệt.[45]

Bỏ mất bản tâm, mà lại nhận lầm duyên trần, nhận vật làm mình, nhận giao động biến thiên làm Chân Tâm, Chân Cảnh, thì làm sao mà chẳng bị quay cuồng trong ngọn lốc Luân Hồi lưu chuyển.[46]

 Không ý thức được quan niệm căn bản ấy, đã mất Chân Tâm, bản tâm rồi, thì dẫu «có đem thân xuất gia, lòng vẫn chẳng nhập đạo, chẳng khác nào đứa con bỏ cha ra đi, ắt bị lao lung, khổ ải. Tu trì như thế, làm sao mà chứng quả được, cũng ví như nghe người nói chuyện uống ăn, thì làm sao mà no được.» [47]

 Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn bảo Lục Tổ Huệ Năng: «Kẻ nào chẳng biết Bổn Tâm, thì học đạo vô ích. Nếu ai biết Bổn Tâm, thấy Bản Tánh tự nhiên, tức thị là Trượng Phu, là thày của Trời, Người, là Phật.» [48]

  3. Bỏ Vọng Tâm để sống theo Chân Tâm, hay diệt ngã để khế hợp với Chân Như Bản Thể.

 Nếu không phân biệt Chân Tâm, Vọng Tâm, thì không sao hiểu được đạo Phật. Phật giáo chủ trương Vô Ngã, rồi lại dạy Diệt Ngã. Nếu chỉ có Vọng Tâm, mà không có Chân Tâm, thì chủ trương như vậy rất vô lý, vì đã Vô Ngã thì còn gì mà diệt; vả lại tu mà đi đến tận diệt, thì tu để làm gì? Nhưng trái lại, nếu biết sau Vọng Ngã, còn có Chân Ngã, thì vấn đề sẽ sáng tỏ ngay.

 Chủ trương Phật giáo chính là: con người hữu hạn hàm tàng Chân Như vô hạn. Như vậy, phương châm và mục đích tu luyện sẽ được vạch rõ:

 Từ Vọng Ngã nhỏ hẹp ta sẽ phát huy Đại Ngã rộng lớn, mênh mông;[49] trong sắc thân phàm tục, ta sẽ cố phát huy pháp thân siêu việt; trong phàm thân dễ bị hủy hoại, sẽ cố phát huy kim cương thân bất khả tiêu diệt; trong u minh, ta sẽ làm bừng sáng lên ngọn đuốc Chân Tâm.

Chữ Diệt Ngã, hiểu cho đứng đắn, là phá tan mọi hình tướng để tìm ra Chân Tính (khiển tướng, chứng tính);[50] làm lu mờ tan biến mọi nhỏ nhen, ti tiện cho quang minh chính đại hiện ra (ẩn liệt, hiển thắng).[51] Mục đích tối hậu là khế hợp với Tuyệt Đối,[52] là hoà hợp với Bản Thể Tuyệt Đối.

Thế là đi từ Hữu Vi, Hữu lậu trở về Vô Vi, Vô lậu; rũ bỏ hết mọi phiền trược, buộc ràng, mà sống ung dung tự tại; vất bỏ hết mọi giả tạo, để tìm ra Chân Thực trường tồn (khiển hư, tồn Thực);[53] rũ bỏ mọi tạp thù, để giữ nguyên thuần tuý (xả lạm, lưu thuần);[54] bỏ ngọn nghành, chi mạt, để trở về gốc gác, căn nguyên (nhiếp mạt, lưu bản).[55]

 Đạo Nho gọi thế là Khử Nhân Dục, tồn Thiên Lý, vì theo qui luật «phục, khởi» của Kinh Dịch, thì «Nhân dục thắng, Thiên Lý vong» và ngược lại «Nhân dục tận, Thiên Lý hiện», hay Âm tận thì Dương thuần. Nhân dục và Thiên Lý không thể lưỡng lập.

 Đạo Lão gọi thế là «tâm tử, thần hoạt» (tâm có chết đi, thần mới sống được.)

 Suy ra thì nhẽ Phản Bản, Qui Nguyên trước sau chỉ là một, từ ngữ tuy thay đổi, cách diễn tả tuy không đồng nhất, nhưng tinh thần muôn đời vẫn chẳng có hai.

B. Con đường giải Thoát: Tìm Chân Tâm ở đáy lòng.

Hướng ngoại mà tìm cầu,

 Tất cả đều ngoan si.

 Hướng nội mà tùy xứ tiện nghi,

 Tất cả đều là chân thật.

 (Lâm tế lục thị chúng,  ĐĐ Thiên Ân, Triết học Zen, tr.103)

 Tất cả các kinh sách Phật Giáo, các môn phái Phật Giáo đều có mục đích chỉ vẽ Chân Tâm.

 Như trên đã nói: Chân Tâm là Phật Tánh, là Chân Như bất biến, hằng cửu lồng ngay trong vạn hữu và trong tâm hồn ta, chẳng ở đâu xa.

 Kỳ lạ thay là thân thế con người: thân thế con người, tuy lao lung, chất chưởng, nhưng chính đã được gắn liền vào trường sinh, tuyệt đối, như sóng gắn liền với nước.[56]

 Như vậy, con đường giải thoát không phải là đường sông, đường biển, đường Tây Trúc xa xăm, mà chính là con đường nội tâm của mỗi người.

 Phải đi sâu vào đáy lòng mới tìm ra Chân Tâm, mới tìm ra Niết Bàn, mới tìm ra hạnh phúc, tự do, giải thoát.

 Lục Tổ Huệ Năng nói: «Tự mình tu, tự mình hành, thấy Pháp Thân của mình, thấy Phật ở Tự Tâm mình, độ lấy mình mới được.» [57]

 Như vậy châm ngôn để đi tìm chân lý sẽ là:

 Con đường hướng nội tiến cho sâu,

 Càng sâu, càng thấy lắm nhiệm mầu.

 Tâm khảm bao la không bờ bến,

 Vũ trụ mênh mông đã thấm đâu.

 Tâm con người càng tìm hiểu, càng thấy kỳ diệu. Phiến diện, thì lao lung, chất chưởng, biến thiên,[58] đầy tràn trần ai, nghiệp chướng, mà trái lại, căn cốt thì vô biên, tuyệt đối.

 Như vậy, mỗi người đã sẵn có bảo châu vô giá giấu trong vạt áo, sao không cố tìm kiếm cho ra, mà cứ an phận sống một cuộc đời khổ ải.[59]

 Như vậy, mỗi người có thể ví như một hoàng tử lưu vong, mà bụi phong trần đã phủ kín hết các nét hào hoa, phong nhã, mà cuộc đời luân lạc đã làm cho lầm than, chìm nổi, cho đến quên khuấy cả dòng dõi sang cả mình, quên hết căn nguyên huy hoàng, quên hết cả đến định mệnh siêu việt đang chờ đón mình trong những bước đường tương lai.[60]

Phật đã nhắc nhở con người về dòng dõi sang cả, cũng như về định mệnh cao quí cuả con người.

Phật khi đắc đạo đã nhận định rằng: «Đạo quả chân thật giải thoát không phải do hành hạ xác thân, không thể nương vào kẻ khác và cũng không phải tìm kiếm đâu xa ngoài chính mình.» [61]

 Vậy muốn tìm Chân Tâm, muốn tìm Phật Tính, phải tìm ngay trong người mình, trong lòng mình.

 Phật bảo A Nan: Chân Tính đã ở nơi ngươi mà ngươi chẳng tin, lại theo nơi miệng ta mà tìm Chân Tính, vậy ngươi đã lầm chưa? [62]

 Tây Du Ký cũng đã vạch rõ đâu là động phủ để tầm sư học Đạo: Muốn tìm Chân Đạo, muốn gặp Chân Sư, Tề Thiên Đại Thánh phải tìm về Phương Thốn Sơn, vào Tà Nguyệt Tam Tinh Động; Mà Phương Thốn Sơn là Tấc Vuông, hay Tấc Lòng, còn Tà Nguyệt Tam Tinh Động, chính là chữ TÂM, viết bằng nửa vành trăng khuyết và ba sao rực rỡ. [63]

* Trong Hồi 85 của Tây Du, tác giả còn nhắc lại: Tìm Phật phải tìm ở đáy lòng:

 «Phật ở Linh Sơn, vốn chẳng xa,

 Linh Sơn kỳ thực, tại lòng ta.

 Người người đều có Linh Sơn tháp,

 Tu tại Linh Sơn, mới khéo là.» [64]

 Thiền Tông tha thiết chủ trương: «Trực Chỉ Nhân Tâm, kiến Tính thành Phật.» [65]

 Các tổ sư thiền học giúp các đệ tử đả thông vấn đề này bằng câu thoại đầu:

 «Bính Đinh đồng tử lai cầu hỏa.» (Thần lửa Bính Đinh đến xin lửa.)[66]

Lục Tổ Huệ Năng thường đề cập tới bí quyết: «tìm Phật ở đáy lòng.» Ngài nói:

«Phật tự Tính trung tác,

Mạc hướng thân ngoại cầu.»

Phật do trong Tính khởi lên,

Chớ đừng vất vả, kiếm tìm ngoài thân.[67]

Trong Phẩm Sám Hối, Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ lại nói: « Qui y Phật, thì Phật ở nơi đâu? Nếu không thấy Phật, thì không biết nơi nao tìm về.

Hoa Nghiêm Kinh viết: «Quy y với Phật của mình, chớ chẳng quy y với Phật khác.» [68]

 Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ, vị sáng lập Thiền Tông tại Trung Quốc, là người tha thiết nhất với vấn đề đi vào nội tâm để tìm Phật Tính, tìm Bồ Đề, Niết Bàn.[69]

 Quyển Đạt Ma Huyết Mạch Luận [70] đã ký thác hoài bão Ngài. Ngài chủ trương:

 Bất lập văn tự,

 Trực chỉ nhân tâm,

 Kiến Tính thành Phật.

 Lĩnh hội vi ý sách Đạt Ma huyết mạch luận, [71] ta có thể thâu tóm tư tưởng của Ngài Bồ Đề Đạt bằng mấy vần thơ sau:

Chân tâm bao quát đất Trời,

Xưa nay, chư Phật chẳng ngoài Chân Tâm.

Chẳng cần lập tự, lập văn,

Xưa nay chư Phật, tâm tâm tương truyền.

Tâm ta gồm mọi nhân duyên,

Mọi đời sau trước, mọi miền gần xa.[72]

Tâm ta là chính Phật Đà,

Phật Đà ở tại tâm ta chẳng rời.

Niết Bàn, Viên Giác, Như Lai,

Ngoài tâm tìm kiếm, công toi, ích gì?

Ngoài tâm, tìm kiếm được chi?

Niết Bàn đâu có lối về ngoài tâm.

Tự Tâm trí chính, chí chân,

Tự Tâm là Phật, Tự Tâm, Niết Bàn.[73]

Ngoài tâm, tìm kiếm đa đoan,

Tay không bắt gió, mơ màng hư vô.

Tâm ta tạo Phật cho ta,

Bỏ tâm tìm Phật, hỏi là tìm đâu,

Phật tâm, tâm Phật trước sau,

Ngoài tâm, tìm Phật, hỏi sao chẳng lầm.

Cho nên phải biết hồi tâm,

Nội quan, quán chiếu mà tầm siêu linh.

Bản Lai Diện Mục của mình,

Muốn tìm thì phải ly hình, nhập tâm.[74]

 Khi đã biết rõ căn bản cao siêu của mình, khi đã nhận thức được Pháp Thân trường tồn trong mình; khi đã biết rõ bộ mặt thật của vọng tâm, biết rõ thân phận mây trôi, bèo nổi của vọng tâm, các bậc Chân Tu mới ra công «diệt ngã». «Diệt Ngã» là «diệt Tiểu Ngã», cho Chân Như Đại Ngã hiện ra.[75]

 «Diệt Ngã» đây cốt là để:

 —Hoà hợp với Bản Thể tuyệt đối.[76]

 —Nhất trí với thực tại. [77]

 —Đồng thể với Di Đà.[78]

 —Khế hợp với Chân Như tuyệt đối. [79]

Diệt Ngã là cốt diệt trừ hết những vọng tưởng, vọng niệm, diệt trừ hết mọi dây rợ luyến ái bên ngoài, thoát ly hết mọi giây triền phược, trói buộc mình vào hoàn cảnh và vật chất. Đây là một thái độ tinh thần trừu tượng, chứ không phải là một sự trốn tránh, thoát ly vật chất cụ thể. Cho nên, ta có thể Diệt Ngã ngay giữa lòng đời, ngay trong chốn phồn hoa, đô hội. Đó tức là sự thanh tịnh, tự do, tự tại về tinh thần, đó tức là«đắc thiên hạ nhi bất dự yên.» [80]

Diệt ngã là vén mây mù tăm tối cho vừng dương muôn thủa hiện ra, bỏ Sắc Thân mà hiển «Pháp Thân»;[81] bỏ Phàm Thể mà mặc Thánh Thể. [82]

Như trên đã nói: Chân Như là Bản Thể, là Như Lai siêu xuất trên hình thức, sắc tướng, siêu xuất trên mọi vọng tưởng, vọng niệm, cho nên muốn thấy Bản Thể phải lìa bỏ hình tướng, đi ngược lại dòng tư tưởng, niệm lự; đi sâu vào chỗ dục tình chưa phát xuất; chỗ tư tưởng chưa manh nha; hư không, trạm tịch mới chứng quả được. [83]

Mượn ý kinh Kim Cương và Đạt Ma Huyết Mạch Luận, ta phác họa phương pháp Tu thân Kiến Tính, Thành Phật như sau:

 Hãy rũ bỏ phù vân sắc tướng, [84]

 Hãy cố tìm vô thượng Bồ Đề,

 Niết Bàn muốn rõ nẻo về,

 Đừng nên chấp trước, đam mê lụy trần.

 Con đường giải thoát nội tâm,

 Cố suy, cố nghĩ, cố tầm cho ra.[85]

 Vọng Tâm cố vén mây mù,[86]

 Băng qua hình tướng, vào toà Như Lai,[87]

 Nơi Vô Trụ là nơi an lạc, [88]

 Pháp Vô Vi là Pháp Thánh Hiền. [89]

 Chớ đừng dính líu sự duyên,

 Đừng đem thanh sắc mà phiền Như Lai. [90]

 Hãy nhớ kỹ hình hài, sắc tướng,

 Đều là tuồng mộng tưởng, mau qua.

 Đều là bào ảnh, quang hoa,

 Sương vương ngọn cỏ, chớp loà chân mây. [91]

 Như Lai chẳng ở đây, ở đó,

 Chẳng đi đâu, chẳng có đến đâu. [92]

 Như Lai ở sẵn lòng sâu,

 Vào sâu tâm khảm mà cầu Như Lai.

 Tóm lại, trước sau, chư vị Phật, chư vị Đạt Trí, Đại Giác đều công nhận rằng: Không thể nào tìm ra được Bản Thể Tuyệt Đối ngoài vũ trụ và ngoài tâm mình. Bản Thể ấy, Chân Tâm ấy đã lồng ngay trong lòng vũ trụ, và trong lòng con người. Sự giác ngộ cũng bắt đầu từ đó, và sự chứng quả cũng tận cùng ở đó.

 Cho nên ta có thể mượn lời Đạt Ma tổ sư mà kết thúc như sau:

Tâm, tâm, tâm,

Tâm kia sao khó, khó sao tầm,

Khi rộng, rộng trùm muôn pháp giới,

Khi thu, thu nhỏ, khó lọt châm.

Ta chỉ tìm tâm, không tìm Phật,

Rũ không tam giới, mới hết lầm.

Phật kia, muốn chứng, muốn tầm,

Muốn tầm ra Phật, ngoài tâm chớ hòng.

Tâm ấy Phật, chớ không đâu nữa,

Phật tính nào, đời thủa ngoài tâm

Tâm sinh, sinh cả cát lầm,

Tâm sinh, tội cũng âm thầm sinh theo.[93]

—————-
(Hết phần Tư tưởng Phật học–Xem tiếp phần Bản địa hóa Phật học)

**********************         

SỰ BẢN ĐỊA HOÁ PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM

(Trích sách Con Đường Tam Giáo Việt Nam của Lê Anh Dũng, Nxb Tp HCM, 1999, từ tr. 8 đến tr. 10)

Phật giáo đã có ở Việt Nam khá sớm. Gần cuối thế kỷ II, Việt Nam có một trung tâm Phật học lớn ở vùng Dâu (Hà Bắc). Bấy giờ Việt Nam đang bị nhà Hán xâm chiếm, tên nước bị giặc đổi là Giao Chỉ Bộ. Năm 203, Hán Hiến đế lại đổi là Giao Châu.

Phật học vào Việt Nam trước tiên bằng đường biển, từ phương Nam lên, do các nhà sư Ấn Độ theo thuyền buôn. Luy Lâu (vùng Dâu, Hà Bắc) có thể là cửa ngõ để từ Việt Nam, các nhà sư, nhà buôn viễn xứ mượn đường đi vào đất Hán.

Theo Thiền uyển truyền đăng tập lục, Pháp sư Đàm Thiên trong khi đàm đạo với vua nhà Tùy (thế kỷ VI? VII) cho biết Giao Châu có đường thông thương với Ấn Độ, nên khi ở Giang Đông (Trung Quốc) đạo Phật hãy còn xa lạ thì tại thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có trên hai mươi chùa Phật, hơn năm trăm nhà sư, đã biết đến mười lăm bộ kinh.

Có lẽ Phật giáo đã từ Việt Nam vào Trung Quốc trước khi Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam. Thế kỷ III, Ngô Tôn Quyền ở Giang Đông đã được sư Khương Tăng Hội từ Giao Châu sang truyền đạo, Tôn Quyền đã cho cất chùa Kiến sơ vào dịp này.

Đại Việt sử ký toàn thư và Ngô chí (viết vào thế kỷ IV) chép lại lá thư của một người Hán là Viên Huy, gửi cho Thượng thư lịnh Tuân Úc năm 207, trong thư kể rằng Thái thú Sĩ Nhiếp ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều có các nhà sư Ấn Độ theo xe, xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáo.

Do miền Bắc sớm trực tiếp gặp Phật giáo Ấn Độ nên người người miền Bắc có từ bụt. Bụt do gốc tiếng Ấn buddha (phật đà, giác giả: người đã giác ngộ).

Về sau, việc truyền đạo trực tiếp từ Ấn sang giảm bớt dần, trong lúc theo đường bộ đạo Phật từ phương Bắc du nhập chiếm ưu thế hơn. do ảnh hưởng từ phương Bắc xuống, hay Bắc tông, Phật giáo Việt Nam chủ yếu thuộc ngành đại thừa. Trái lại, do ảnh hưởng từ phương Nam lên, hay Nam tông, các lân bang như Lào, Căm Pu Chia, Thái thuộc ngành tiểu thừa.

I. TỪ THẾ KỶ III ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIII

Trong các hệ phái Phật giáo ở nước Nam, Thiền tông phát triển mạnh nhất và có nhiều đặc sắc, khởi đầu với sư Khương Tăng Hội (đầu thế kỷ III). Sư có công khai sáng Thiền học Việt Nam và là người đầu tiên đem đạo Phật từ Việt Nam truyền sang người Hán. Phật giáo Việt Nam lúc này đã là đại thừa vì Sư đã cùng các cao tăng khác dịch kinh Bát nhã, rồi sư Chi Cương Lương Tiếp dịch kinh Pháp hoa tam muội.

Tư liệu về thế kỷ IV còn khiếm khuyết.

Thế kỷ V, theo Tục cao tăng truyện, có Thiền sư Huệ Thắng, là môn đồ của sư Đạt Ma Đề Bà. Sư Huệ Thắng nhiều lần sang Trung Quốc hoằng giáo.

Từ thế kỷ VI đến hết triều Lý, Việt Nam có ba dòng Thiền lớn.

1. Phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi

Năm 580 sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Việt Nam, trụ trì mười bốn năm ở chùa Pháp vân (Bắc Ninh), liễu đạo năm 594. Phái này truyền được mười chín đời. Đời chót có Thiền sư Y Sơn (liễu năm 1213).

2. Phái Vô Ngôn Thông

Năm 820 sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, trụ trì chùa Kiến sơ (Bắc Ninh), liễu năm 826. Phái này truyền được mười bảy đời. Vua Lý Thái tông (1028-1054) là môn đệ đời thứ tám.

3. Phái Thảo Đường

Sư Thảo Đường từ Trung Quốc sang Chiêm Thành. Năm 1069, vua Lý Thánh tông đánh thắng quân Chiêm, đưa Sư về Thăng Long, phong làm Quốc sư. Sư trụ trì chùa Khai quốc.

Phái này truyền được sáu đời. Trong hàng đệ tử có chín nhân vật đáng kể như: vua Lý Thánh tông (1054-1072), đời thứ hai; quan Tham chính Ngô Ích, đời thứ ba; vua Lý Anh tông (1138-1175) và quan Thái phó Đỗ Vũ, đời thứ tư; quan Thái phó Đỗ Thường, đời thứ năm; vua Lý Cao tông (1176-1210) và quan Quản giáp Nguyễn Thức, đời thứ sáu.

II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐỜI TRẦN

Đầu thế kỷ XIII, ba phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường dần dần sáp nhập, đưa tới sự lớn mạnh của phái thiền Yên tử để thành một phái duy nhất đời Trần là phái Trúc Lâm.

Phái Yên tử xuất hiện từ núi Yên tử. Tổ khai sơn là Thiền sư Hiện Quang (liễu năm 1220). Tổ thứ hai là thầy của vua Trần Thái tông, được tôn là Trúc Lâm Quốc sư, pháp hiệu Đạo Viên, có tên khác là Viên Chứng.

Trong hai mươi ba vị tổ của phái Trúc Lâm, tổ đời thứ sáu là vua Trần Nhân tông, pháp hiệu Trúc Lâm Đầu đà.

Trong hoàng tộc có một thiền sư lẫy lừng là Tuệ Trung Thượng sĩ. Ngài tên thật là Trần Quốc Trung, tước Hưng ninh vương, con cả của An sinh vương Trần Liễu, và là anh ruột của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn. Khóa hư lục của vua Trần Thái tông và Ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ là hai kiệt tác trong thiền học đời Trần.

Đời Trần cũng noi theo Lý, mở khoa thi Tam giáo để chọn nhân tài ra giúp nước (đời Lý: 1195; Trần: 1247).

III. TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX

Nhà Hồ (1400-1407) rồi nhà Hậu Trần (1407-1413) mất, quân Minh xâm chiếm Việt Nam (1413-1427). Loạn lạc liên miên, đạo Phật suy yếu. Đuổi xong giặc, vua Lê Thái tổ (1428-1433) tổ chức khảo sát trình độ các sư, đạo sĩ. Ai kém phải hoàn tục.

Nhà Hậu Lê suy; ngoài Bắc, chúa Trịnh thao túng; trong Nam, chúa Nguyễn tung hoành. Phật giáo suy. Đầu thế kỷ XVIII, thống nhất xong đất nước, vua Quang Trung (1788-1792) theo gương đời Lê, lo chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn lại việc cất chùa, chỉ đạo cất các chùa lớn có quy củ, gạn lọc các phần tử kém phẩm chất ra khỏi cửa thiền, buộc hoàn tục.

Từ thế kỷ XV trở đi tuy không còn rực rỡ như hai triều Lý, Trần nhưng đời nào cũng có cao tăng, chân tu xuất hiện. Một số dòng thiền khác được ghi nhận như: phái Tào động, gốc từ Trung Quốc, triều Lê Thế tông (1573-1599); phái Liên tông, triều Lê Hy tông (1676-1705). Hai phái này ở miền Bắc. Miền Trung có phái Liễu Quán và phái Nguyên Thiều. Phái Nguyên Thiều có từ triều Lê Huyền tông (1663-1671), gốc từ Trung Quốc, là hệ phái của dòng thiền Lâm Tế…

Ngày 01.9.1858, phát súng đầu tiên của hải quân Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh loạn lạc, đạo Phật bị ảnh hưởng, suy thoái dần.

Đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo đã lần lượt dấy lên ở nhiều nơi. Lúc này, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một số tôn giáo mới, chẳng hạn như đạo Cao đài. Các hội nghiên cứu Phật học, các giảng khóa lần lượt được tổ chức. Các cao tăng bấy lâu ẩn dật đến lúc nhập thế hoằng dương Phật pháp. Các tạp chí nghiên cứu đạo Phật nhờ phương tiện in tiến bộ đã có thể phổ biến rộng rãi hơn. Có những cư sĩ trí thức đã đổi mới lại cách giảng dạy cổ truyền của nhà thiền. Các ông Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (chùa Quán sứ, Hội Phật học Bắc Kỳ), Chánh Trí Mai Thọ Truyền (chùa Xá lợi, Hội Phật học Nam Việt)… đều có nhiều công lao đóng góp. Sau này, việc đào tạo tăng ni tại Việt Nam đã có quy củ với các hệ cao đẳng, đại học cũng nhờ sự quật khởi từ những thập niên đầu thế kỷ XX.

**********************         

CHÚ THÍCH

[1] 1. Historically, it must be said that Buddha preached his phenomenological doctrines in an «Exoteric Form» to the people and his ontological doctrine in the «Esoteric Form» was reserved only for advanced or brilliant. Teachings on both these lines proceeded simultaneously without implying any periodical or chronogical divisions. However, from the doctrinal point of view, the former is the more expedient (upaya) doctrine, while the latter is the real doctrine. This order equates well with the inherent natural law in the spiritual domain. Here the former or «exoteric» must come first and the later or «esoteric» would come next.

The terms Hinayana and Mahayana etc, p. 60, T.R.V. The Central Philosophy of Buddhism, Mandala Books, Unwin Paperbachs, London, Boston, Sidney, p. 50 note 1.

[2] Edited by Heinz Bechewart and Richard Gombrich, The World of Buddhism,, Facts on File Publications, Mew York, Bicester, England, 1985, pp. 14-41; 56-57.

[3] Xem T.R. V. Murti, The Central Philosophy of Buddhism, Mandala Books, Unwin paperbacks, London, Boston, Sidney 1980, pp. 36-54, Chapter II: The Silence of the Buddha and the beginning of the Dialectics

Xem thêm Narada Maha Tera, Đức Phật và Phật Pháp. Người dịch: Phạm Kim Khánh, Chùa Pháp Vân, 850 W. Phillips Boulevard, Pomona, CA 91766, nơi các trang 305-308.

[4] In the article «Buddhism teaches rebirth», Humphrey relates that Mrs. Rhys Davids, in her day, the leading Pali scholar in the West, once made a list of «ten things which the Gautama the Buddha would not have taugh.» The first is «that the man, the very man; self, spirit, soul, purusa is not real.»Mrs Rhys Davids, a life student of Theravada Buddhism –the very school that lay so much stress on No Soul Idea-adds that in reality Buddha begins his mission by advising man to seek thouroughly for the Atma, and ended by bidding Men lives as having Atma for their lamp and refuge. The Buddha concerns, she said, was with the wayfarer upon the way. «How to waufare from this to That; here was life problem.» And this was a long journey. Mr. Humphrey asks:

 Are there then two types of self in the Pali Canon. Ms. I. B. Horner, a pupil of Mrs Rhys Davids and the present president of the Pali Text Society, shows that this is so..In the famous article reprinted in «The Middle Way» (Vol. 27, p. 76),she lists some seventeen passages from the Pali Canon which make this clear. The «lesser self» and the «greater Self» are clearly distinguished, and the «grater self» is described as «a dweller in the incommensurable». But the Dhammapada, the most famous text in the Canon, will itself suffice.»Self is the lord of self, what other lord could there be,»Anh again «Self is the lord of self, and self «bourn» i. e. the very goal of all endeavour. If it is possible to lift the Buddha teaching nearer still to the Hindu original, look at: «The Self in thee knows what is true and what is false.»Every mystic since the world began would agree.

 «If «, Humphreys continues, «the Buddha then taugh Atta, as his brilliant predecessors in the field of Indian thought, what did he says was Not-Self, An-Atta? He is quite specific. It is the five skandhas, the constituents of personality in which there is no permanent self to be found…But the monks would not leave the statement alone. Attacking the concept of Atman as degraded in the Buddha’s day to a thing…the size of a thumb, in the human heart, they swung to far. «No self, no self, they cried, and in time, produced the joyless, cramping doctrine, a drearily proclaimed to day, «especially in Theravada Buddhism».

Elsewhere Humphreys concedes that the attacks of the Thersavada monks, or bhiskkus, is legimately «directed against the concept of unchanging individuality, a separate self, distinct from the vast totality of Life, and its illimitable forms. « However, he adds, «the Bhikkus ignore the «Unborn, Unoriginated, Unformed» of their Scriptures, as inherent in every manifested thing.»Clearly the phenomenal self, whether called ego, shadow, or the evolving soul, is changing all the time,» but this does not means «no soul, no self at all.» – Joseph Head & S. L. Cranston, Reincarnation, the Phœnix Fire Mystery, Juylian Press, New York, 1977 pp. 63; 75-76)

[5] Buddha, according to Mrs Rhys Davids, did not deny the soul or self outright, but only that the body, the sense-organs etc., were the self.:The words’ body is not the self,’ can not rationally be said to imply that there is no self or soul or’realman’. As soon might I be held to be denying the existence of the captain, if I said on looking at two sailors,’you are not the skipper’.Yet this is just the inference that Buddhism has come to draw from this monition! This belongs to the after- history…

«…Gautama was both teaching and expanding the Immanent Cult of his day.» Accepting the Upanishadic ideal of the self as the ultimate value, Buddha taugh how to release it, how to become that. He insisted on conduct (sila), works, concentration (samadhi) and insight (panna) and dependence on oneself than on the ritual or knowlegde…

Mrs. Rhuys Davids quotes…the ‘Mahaparinibbana (Kinh Đại Niết Bàn) passage «attadipa attasarana» etc…and translates it:»Live as they who have the self for a lamp, the self for a refuge; as they who have dharma for a lamp, dharma for a refuge, and none other’

T.R. V. Murti, The Central Philosophy of Buddhisn,Mandala Books, Unwind Phperback, London, Boston, Sydney, 1989, p. 21 and note 1 page 23.

[6] His (Buddha’s) position was not Nihilism, even in an implicit form. Neither Buddha nor any Buddhistic system ever took this to be so. Buddha avers in the most explicit terms the existence of Nirvana as an implication of his doctrine and the spiritual discipline. Numerous are the passages in which Nirvana is spoken of in positive terms as a reality beyond all suffering and change, as unfading, still, undecaying, taintless, as peace, blissful. It is an island, the shelter, the refuge and the goal. In a celebrated Udana (Tự Thuyết) passage, Buddha says:»There is a not-born, a not-become, a not-created, a not-formed. If there were not this not-born, not-become…there would not be the escape, the way out of this bondage.

 Buddha did not doubt the reality of Nirgvana (Absolute), only he would not allow us to characterize and clothe it in empirical terms as being, non-being etc…His silence can only be interpreted as meaning the consciousness of the undescribable nature of the Unconditioned Reality. Professor Radhakhrishnan unerringly indicates the nature of Buddha’s silence in his works thus: «If the Buddha declined to define the nature of the Absolute or if he contended himself with negative definitions, it is only to indicate that absolute being is above determinations. Why then, did Buddha not admid in express terms the reality, the legitimacy of which he was the first to contest in others. The absolute is not a matter of empirical observation. The world of experience does not reveal the Absolute anywhere within its limits.»

     (Ib. pp. 47-48)- Udana pp. 80-81.)

[7] He follows no one, save the eternal life within his own heart; he trusts no other Saviour except the saving power resident within his soul. Thus in the words of the Gospel of Phillip, the Gnostics become not only a Christian, but a Christ,

Robert’s Ellwood Jr. Religious and Spiritual Groups in Modern America, Prentice Hall Inc. Englewood Cliffs, New Jersey, 1973, pp. 120-121.

[8] Much of Buddhism’s powerful influence may have had its source in the deliberate avoidance and claims to exclusive Truth, adherence to inflexible dogma, or the authority of any final, sacrosaint, theocratic hierarchy. The «Come and see for yourself» attitude of the original Great Teacher, Siddhartha Gautama, who became the Buddha, the Enlightened One, his pragmatic insistence on «Don’t take my work for it. Try it yourself!» the unswerving challenge of his famous aphorism, «Look within, thou art the Buddha.»

 Nancy Wilson Ross, Buddhism A Way of Life and Thought,Alfred A. Knopf New York 1980, p.4.

[9] The Dharma, that is, the Buddhist Doctrine, is condensed in the Four Noble Truths (Aaryasatya) expounded by the Buddhas, and especially by Sakyamuni in his Discourse at Benares (Vinayapitaka -Luật tạng- ed. H. Oldenberg, 5 vols, London 1879-83, I. 10; The Gilgit Manuscript of the Sanghabhedavastu ed. R. Gnoli, 2 vols, Rome 1977-78, I, 137-8):

            (1) Everything is suffering (duhkha).

            (2) The origin of suffering (duhkhasamudaya) is desire (trsna).

            (3) There exists a Nirvana, an end to suffering (duhkhanirodha).

            (4).- A Path, defined by the Buddha, leads to Nirvana.

 The World of Buddhism, Ed. by Heinz Bechert and Richard Gombrich, Facts On File publications, New York, 1984, p.47.

[10] The Five Aggregates, inasmuch as they arise from causes and conditions, are conditioned things (Samskrta dharma), also referred to as Formations (samskara). They are endowed with the three or four characteristics of conditioned things (samskrta laksana)- arising (upada), disappearance (vyaya), duration-and-change (sthity-anyathatva) – by the terms of which they arise, endure and disappear (A. I, 152; S, III, 37; NidSa. 139).

 Each Formation (samskara) has its own essential nature (svabhava) or particular characteristic (svalaksana), but all are marked by the seal of impermanence, suffering and impersonality (M. I, 138,9; S. II,244-6; M. III, 271-3)…

A. = Anguttara-Nikaya (Tăng Nhất A Hàm) ed. R. Morris and E. Hardy, 5 vols, London 1885-1900.-

S. = Samyutta-Nikaya (Tạp A Hàm) ed. L. Feer, 5 vols, London 1884-98).

NidSa. = C. Tripathi Funfundzwanzig Sutra des Nidana-samyukta Berlin 1962.

M. = Mijjhima Nikaya (Trung A Hàm) ed. V. Trenckner and R. Chalmers 3 vgol, London 1888-99.

The World of Buddhism, ed. by Heinz Bechert and Richard Gombrich, Facts On File Publications, New York, Bicester, England, p.49-50.

As we shall see, the Buddha reduces the «self» to a combination of five aggragates(shandhas) of the physical and psychic forces. And he states that dukkha is, in the last analysis, the five aggregates.

 Mircea Eliade, A History of Religious Ideas, Vol.2: From Gautama to the Triumph of Christianity, pp. 93-94.

[11] The Buddha does not put forth a definition of nirvana, but he constantly returns to some of its attributes. He affirms that the arhats (the delivered Saints) «have attained unshakable happiness» (Udana 8. 10); that nirvana is bliss» (Anguttara 4. 414); that he, the Blessed One, has attained the Immortal» and that the monks can attain it too: «You will make yourselves present even in this life; you will live possessing this Immortal» (Majjhima N. 1. 172). The arhat, even in this life, cut off, nirvanaized (nibbuta), feeling happiness in himself, spends his time with Brahman.»

…Texts cited by Vallée-Poussin, who compares Bhagavad Gita 5. 24: «He who finds no happiness, joy, light except within, the yogin identified with brahman.» Another Buddhist text thus describes the delivered saint: «Of this monk I say that he will go neither east nor south nor west…; even in this life he is detached, nirvanized, chilled, identified with Brahma (Brahma-Bhutta) (cited by VallÍe-Poussin, p. 73, n. 1).

[12] Ngã vị nhữ toại ư đại minh chi thượng hĩ, chí bỉ chí Dương chi nguyên dã; vị nhữ nhập ư ảo minh chi môn hĩ; chí bỉ chí Âm chi nguyên dã. Thiên địa hữu quan, Âm Dương hữu tàng. Thận thủ nhữ thân, vật tương tự tráng. Ngã thủ kỳ Nhất, dĩ xử kỳ hoà. Cố ngã tu thân thiên nhị bách tuế hĩ, ngô hình vị thường suy. Hoàng đế tái bái kê thủ viết: Quảng Thành Tử chi vị Thiên hĩ. Quảng Thành Tử viết: Lai, Dư ngữ nhĩ: Bỉ kỳ vật vô cùng, nhi nhân giai dĩ vi chung. Bỉ kỳ vật vô trắc, nhi nhân giai dĩ vi cực. Đắc Ngô Đạo giả, thượng vi Hoàng, hạ vi vương. Thất Ngô đạo giả, thượng kiến quang, nhi hạ vi thổ. Kim phù bách xương giai sinh ư thổ, nhi phản ư thổ. Cố Dư tương khứ nhĩ, nhập vô cùng chi môn, dĩ du Vô Cực chi dã. Ngô dữ nhật nguyệt tham quang, Ngô dữ thiên địa vi thường.Đương Ngã dân hồ, viễn Ngã hôn hồ. Nhân kỳ tận tử, nhi Ngã độc tồn hồ.  –  Léon Wieger, Les Pères du Système Taoiste, Catharsia, 35 Rue de Sèvres, Paris, VIe, 1913, pp. 287-289.

[13] «Ô moines, il y a un état non-né, non devenu, non-conditionné, non composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non-né, non-devenu, non-conditionné, non-composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné et ce qui est composé. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné et de ce qui est composé.»  – Udana, p. 139, Colombo 1929. – Présence du Bouddhisme, p. 238.

[14] Narada Mara Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Ký Viên Tự Saigon, 1982, tr. 127.

[15] Ib. tr. 80.

[16] For the Upanishads, the self is a reality; for the Buddha it is a primordial wrong notion, not real…

 The fundamental difference between Buddhism and the Upanishads seems to be about the metaphysical reality of an immutable substance, which is the true self of man as well…It is true that Buddha finds no centre of reality or principle of permanence in the flux of life and the whirl of the world, but it does not follow that there is nothing real in the world at all except the agitation of forces…

 The Upanishads and Buddhism belong to the same spiritual genus, they differ as species; and the differentia are the acceptance or rejection of the atman (permanence substance). –  T.R.V. Murti, The Central Philosophy, Buddhism, Mandala Books, Unwin Paperbacks, London, Boston, Sydney, 1980, pp. 19, 20.

[17] In reality Buddha begins his mission by advising men to seek thoroughly for the Atma, and ended by bidding men live as having Atma for their lamp and refugee…». – «Self is the lord of self, and self’s bourn». –  Joseph Head and S. L. Cranston, Reincarnation, the Phœnix Fire Mystery, Julian Press, New York, 1077, pp. 63, 75, 76.

[18] Xem Phật học từ điển Đoàn Trung Còn nơi chữ Ngũ Uẩn.

 Xem The World of Buddhism, Ed. by Heinz Bechert and Richard Gombrich, Facts On File Publications, New York, 1984, p. 47).

[19] Let us suppose the Ganges sweeps long a mass of foam and that a man with keen sight perceives, observes and attentively examines it. He will find that the ball of foam is empty and insubstantial, with no real essence. In the same way, if it is observed, corporeality will be seen to be empty and insubstantial, with no real essence, and it is the same with the other four Aggregates: ‘Form is like a mirage, volition is like the trunk of a banana tree [i.e. without a core, like an onion] and consciousness is like a ghost’ (S. III, 140-2). It is undeniable that all that is subject to arising is also subject to destruction (S. IV, 47).

[20] Nirvana is supreme happiness (param sukha). Secure from birth, disease, old-age-and-death, Nirvana is supreme happiness (M. I, 508)… Nirvana is unconditioned (asamskrta). Free from arising, disappearance, endure and change, aggregates which arise, disappear, endure and change. Earthly Buddhism accepted the reality of conditioned things and hence deduced the reality of the unconditioned, especially Nirvana – which led to the saying: «There is an unborn, unarisen, uncreated, unconditioned; if there were no unborn, there would be no release for what is born, arisen, created, conditioned» (It. 37).

 M.= Majjhima-Nikya ed. V. Trenckner and R. Chalmers, 3 vols, London 1888-99.

 It. = Itivuttaka ed. E. Windisch, London 1899.

Cf. The World of Buddhism, ed. by Heinz Bechert and Richard Gombrich, Facts on File Publications, New York, 1984, p.52.

 So the Buddha teaches that Nirvana is «visible here below,» «manifest,» «actual,» or «of this world.» But he emphasizes the fact that only he among the yogins «sees» and possesses nirvana (by this we must understand that he means both himself and those who follow his path, his method). «Vision,» called in the canon «the eye of the saints» (ariya cakkhu), allows «contact» with the unconditioned, «the non-constructed» with nirvana. Now this transcendental «vision» is obtained by certain contemplative techniques, that were practiced even from Vedic times and parallels to which are found in ancient Iran…

 (A distinction must, however, be made between the ‘visible’ nirvana, the one that is accessible during life, and the paranirvana, which is realized at death.)

 Mircea Eliade, A History of Religious Ideas, Vol. 2: From Gautama Buddha to the Triumph of Christianity, translated by Willard R. Trask, The University of Chicago Press, Chicago and London, 1982 pp. 99-100 and note 9, p. 99.

[21] La formule «se tirer de l’impermanence, obtenir la permanence» avait été le point d’orgue final de tous les discours du Bouddha Sakyamuni. – Léon Wieger, Histoire des Croyances religieuses… p. 438.

[22] Tam chuyển Pháp Luân: 1 Căn Bản Pháp Luân: thuyết Hoa Nghiêm. 2 Chi mạt pháp luân: Thuyết A Hàm chí Phương Đẳng; 3 Nhiếp mạt qui bản: Thuyết Pháp Hoa.

Phật Học Chỉ Nam, tr. 11.

[23] Phân biệt Nhất Tâm Chân Như, Nhất Tâm Sinh Diệt là chủ đích của kinh Lăng Già.

[24] Đại Ngã the greater self, or the true personality 真 我 (chân ngã). Hinayana (tiểu thừa) is accused of only knowing and denying the common idea of a self, or soul, whereas there is a greater self, which is a nirvana self. It specially refers to the Great Ego, the Buddha, but also to any Buddha… Trung Anh Phật Học từ điển, tr. 89.

[25] 阿 賴 耶 識 A Lại Da Thửc Alaya Vijnana «The receptacle intellect or consciousness; «the originating of receptacle intelligence»; basic consciousness (keith)… It is called 第 一 識 Đệ Nhất Thức the prime or supreme mind or consciousness… 無 垢 識 Vô Cấu Thức unsullied consciousness when considered in the absolute i. e. the Tathagata and đệ bát thức 第 八 識 as the last vijnana. There has been much discussion as to the meaning and implication of the Alaya- Vijnana. It may be also termed the unconscious, or unconscious absolute, out of whose ignorance or unconsciousness arises all consciousness. –  Trung Anh Phật Học Từ Đỉển, tr. 292.

[26]  弟 兄 八 箇 一 人 痴

 只 有 一 箇 最 伶 俐

 五 箇 門 前 做 買 賣

 一 箇 家 中 作 主 依

Tính Mệnh Khuê Chỉ, I, tr. 41.

[27] Xem Bát thức qui nguyên đồ, Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. I, tr, 41.

[28] Phật tính thị thường, thiện ác chư pháp nãi chí Bồ Đề Tâm, giai thị vô thường. (Niết Bàn kinh, Pháp Bảo Đàn Kinh, Đoàn trong Còn phiên dịch), Đốn tiệm phẩm, tr. 118.

[29] Lorsque l’Entité Spirituelle s’affranchit pour toujours de toute particule de matière, de substance ou de forme et redevient un souffle spirituelle. C’est alors seulement qu’elle entre dans le Nirvana éternel qui ne change jamais et qui dure, aussi longtemps que le cycle de vie a duré: une éternité vraiment. Et ce souffle qui existe en Esprit, n’est rien, parce qu’il est tout; comme forme ou comme apparence quelconque, il est complètement anéanti; mais comme Esprit Absolu, il Est, car il est devenu l’Être même. Lorsqu’il s’agit de «l’ââme», prise dans le sens d’Esprit, l’expression:  «absorbée dans l’Essence Universelle», signifie «union avec»…il ne peut jamais être question d’annihilation, car cela voudrait dire séparation éternelle. – H. P. Blavatsky. La Clé de la Théosophie, p. 162.

[30] Soit dit en passant que pour avoir ignoré l’importance de la connexion de ces deux ordres (le phénoménal et le transcendant, le samsara et le Nirvana) qu’on a si mal compris le Bouddhisme. Car il faut noter que si le Bouddha a jeté l’anathème sur l’existence terrestre dans son ensemble (tout est douleur, tout est impermanent, tout est sans-soi Sarvam Duhkha, sarvam anita, sarvam anatman), il s’est tout entier tendu vers ce qu’il appelait l’Autre Rive, le Nirvana. – Nguyễn Văn Trung, La Conception Bouddhique du devenir, p. 66.

[31] Toutes les choses conditionnées sont impermanentes…toutes les choses conditionnées sont dukka (khổ)… tous les dhammas sont sans soi… – Walpola Rahula, L’Enseignement du Bouddha, p. 84.

[32] Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 177-178.

[33] Chấp trước vũ trụ chi hiện tướng nhi bất kiến Bản Thể giả vị chi Mê. Kiến Bản Thể nhi bất kiến hiện tướng giả, diệc bất đắc vị chi Ngộ. – Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa.

[34] Hải tín cư sĩ, Quán thế Âm Bồ tát tín luận, tr. 36.

[35] Walpola Rahula, l’Enseignement du Bouddha, Chapitre 6: La doctrine du Non-Soi.

[36] Nguyễn Văn Trung, La Conception bouddhique du devenir, article 3, L’Anatman, ou l’explication bouddhique du devenir.

… Thuyết Vô Ngã đã được bàn cãi sâu rộng trong «Na tiên tì kheo kinh» (khoảng thế kỷ V sau công nguyên). đó là đề tài đối thoại giữa vua Di Lan (Milanda) và tì khưu Na Tiên (Nagasena). – Cf. Léon Wieger, L’Histoire des Croyances et des opinions philosophiques en Chine, pp. 445, 446.

[37] «Cái ta» có nhiều nghĩa là «giả ta», «cái ta» không có tới 2 nghĩa là «Thật ta»…Nhờ đứng trên cái thuyết vô ngã này, mà người tu giải thoát được những tướng khổ của «Giả ta». Bởi cớ sao? Nhận được cái «ta chân thật bất diệt» là không còn bám víu chạy theo những cái «Ta giả và sinh diệt» nữa. – Cư sĩ Hải Tín, Quán Thế Âm Bồ tát tín luận, tr. 42.

[38] Thủ Lăng Nghiêm kinh. Việt Nam Phật Tử hội xuất bản, tr. 65.

[39] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 119-120.

[40] Thủ Lăng Nghiêm kinh quyển I. (Việt Nam Phật Tử hội xuất bản, tr. 22-23); Thủ Lăng Nghiêm, Linh Sơn phật học nghiên cứu hội, tr. 55-56.

[41] Phật cáo A Nan: «Thử thị tiền trần hư vọng tướng, tưởng hoặc nhữ Chân tính; do nhữ vô thuỷ chí ư kim sinh, nhận tặc vi tử, thất nhữ nguyên thường, cố thụ luân chuyển».

Thủ Lăng Nghiêm kinh, q. I, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 25.

Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 55-56.

[42] Phật ngôn: «Đại Vương, nhữ diện tuy trứu, nhi thử kiến tính vị tằng trứu; trứu giả vi biến, bất trứu phi biến, biến giả thụ diệt, bỉ bất biến giả nguyên vô sinh diệt». – Thủ Lăng Nghiêm kinh q. II, tr. 5. hoặc Linh Sơn, tr. 75.

[43] Trụ danh chủ nhân. 住 名主 人. – Thủ Lăng Nghiêm kinh, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 33, hoặc Linh Sơn, tr. 75.

[44] Trần chất giao động, hư không tịch nhiên. Như thị tư duy: trường tịch danh Không, giao động danh trần.

Thủ Lăng Nghiêm, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 34. và Linh Sơn tr. 75-76.

[45] Nguyện văn Như Lai hiển xuất thân tâm, chân vọng, hư thực, hiện tiền sinh diệt dữ bất sinh diệt nhị phát minh tính. –  Thủ Lăng Nghiêm kinh q. 2, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 1. – Linh Sơn, tr. 80.

[46] Dĩ động vi thân, dĩ động vi cảnh…tính tâm thất chân, nhận vật vi kỷ, luân hồi thị trung, tự thủ luân chuyển. – Thủ Lăng Nghiêm, q. I, Việt Nam Phật Tử Hội xb, 36; & Linh Sơn, tr. 80.

[47] Thất ngã Bổn Tâm, tuy thân xuất gia, tâm bất nhập đạo, thí như cùng tử, xả phụ đào thệ, kim nhật nãi từ. Tuy hữu đa văn, nhược bất tu hành, dữ bất văn đẳng, như nhân thuyết thực, chung bất năng bão. – Thủ Lăng Nghiêm, Việt Nam Phật Tử Hội xb, tr. 28-29; Linh Sơn, tr. 66-67.

[48] Tổ chi ngộ Bản tính vị Huệ Năng viết: « Bất thức Bản Tâm, học pháp vô ích, Nhược thức tự Bản Tâm, kiến tự Bản Tánh, tức danh Trượng Phu, Thiên, Nhân sư, Phật.»

[49] Thích Đạo Quang, Đại cương Triết học Phật Giáo, tr. 55.

[50] Ibidem, tr. 93-94.

[51] Ibidem, tr. 94.

[52] Ibidem, tr. 56 – tr. 94.

[53] Ibidem, tr. 93.

[54] Ibidem, tr. 93.

[55] Ibidem, tr. 93.

[56] 現 相 之 我 與 本 體 之 佛, 猶 如 水 與 波. 此 本 體 謂 之 真 如, 亦 謂 之 佛. Hiện tượng chi Ngã dữ Bản Thể chi Phật do như thuỷ dữ ba. Thử Bản Thể vị chi Chân Như, diệc vị chi Phật. (Ngã hiện tượng với Phật Bản Thế là như sóng và nước. Phật Bản Thể ấy gọi là Chân Như, là Phật.) – Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses et des opinions philosophiques en Chine, p. 546.

[57] Pháp Bảo Đàn Kinh (Đoàn trung Còn dịch), Sám Hối Phẩm, tr. 61.

[58] Tam điểm như tinh tượng, 
三 點 如 星 象

 Hoành câu tự nguyệt tà   
 橫 鉤 似 月 斜

 Phi mao tòng thử đắc       
 披 毛 從 此 得

 Tác Phật cánh vô tha.       
 作 佛 更 無 他

 Long lanh ba chấm tựa sao,

 Mình cong vầng nguyệt, tiêu hao xế tà.

 Muông chim nguồn ấy phát ra,

 Duyên do Thần Phật cũng là đấy thôi.

[59] Diệu Pháp liên hoa quyển thứ 4. Phẩm ngũ bá đệ tử thụ ký, kệ của A Nhã Kiều Trần Như. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Liên Hải Phật Học đường, tr. 243.

[60] Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Tín Giải. Kệ của Ma Ha Ca Diếp. Người cùng tử của Ông Trưởng giả). Diệu Pháp Liên Hoa, Liên Hải Phật Học đường, từ tr. 145 đến 153.

[61] ĐĐ Thiên Ân, Triết Học Zen I, tr. 162.

[62] 云 何 自 疑 汝 之 真 性, 性 汝 不 真,  取 我 求 實. Vân hà tự nghi nhữ chi Chân Tính, Tính nhữ bất chân, thủ Ngã cầu thực. – Thủ Lăng Nghiêm kinh (V.N. P. T. hội xuất bản), q. II, tr. 16-17.- Thủ Lăng Nghiêm, -Linh Sơn, Phật Học, tr. 113-114.

…O Ananda, soyez des lampes pour vous-même, soyez un refuge pour vous-même; ne cherchez pas d’autre refuge. Prenez la vérité comme lampe, prenez la vérité comme refuge. Ne cherchez pas d’autre refuge qu’en vous-même. (Mahaparinibhana sutta- Niết Bàn kinh – Présence du Bouddhisme, p. 539.)

[63] 十 箇 大 字 乃 是:  靈 檯 方 寸 山, 斜 月 三 星 洞. Giá cá Thập Đại Tự nãi thị: Linh Đài Phương Thốn Sơn, Tà Nguyêt Tam Tinh Động. (Tây Du, hồi 1)

[64] Phật tại Linh Sơn, mạc viễn cầu     
佛 在 靈 山 莫 遠 求

 Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.         
 靈 山 只 在 汝 心 頭

 Nhân Nhân hữu cá Linh Sơn tháp,
 人 人 有 箇 靈 山 塔

 Hảo hướng Linh Sơn tháp tự tu.     
 好 向 靈 山 塔 自 修.

Tây Du ký, hồi 85.

[65] Không nên hướng ngoại mà tìm cầu, trái lại, cần phải hướng về nội Tâm để tìm Phật Tính. (Truyền Tâm Pháp của Hoàng Bích Thiền Sư. ĐĐ. Thích Thiên Ân, Triết học Zen II, tr. 25)

…Tự Tâm của ngươi là Phật, Phật là tự tâm của ngươi. Tâm và Phật không sai biệt, vì thế cổ nhân nói: Tự Tâm tức Phật. (Truyền Tâm Pháp Yếu. Cf. ĐĐ Thích Thiên Ân, Triết học Zen, II, tr. 54.)

…Trong Tâm Tính của mọi loài chúng sinh vốn đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai. Nhưng nếu không thật tu, thì không bao giờ hiển hiện, không thật chứng, không thể nào hoạch đắc.

Chánh Pháp Nhãn Tàng, Biện Đạo thoại. ĐĐ. Thiên Ân, Triết học Zen, II, tr. 87.

…Giáo Lý đã nói: Chân ở trong Vọng. Vậy tìm Chân Tâm ở ngoài thân và tư tưởng của mình, là không thể được. –  Hải Tín Cư Sĩ, Quan thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr. 46.

[66] 丙 丁童 子 來 求 火. – ĐĐ Thích Thiên Ân, Triết Học Zen, II, tr. 55 và tiếp theo.

[67] 佛 自 性 中 作, 莫 向 扶 外 求. – Quyết Nghi Phẩm, Pháp Bảo Đàn Kinh, Đoàn trung Còn dịch.

 本 性 是 佛, 離 性 無 別 佛. – Pháp Bảo Đàn Kinh, Bát Nhã Phẩm, Đoàn trung Còn dịch, tr. 28.

[68] Nhược nhiên qui y Phật, Phật tại hà xứ? Nhược bất kiến Phật, bằng hà sở qui… Kinh văn phân minh ngôn tự qui y Phật, bất ngôn qui y tha Phật. 若 然 歸 依 佛, 佛 在 何 處. 若 不 見 佛, 憑 何 所 歸. 經 文 分 明 言: 自 歸 依 佛, 不 言 歸 依 他 佛. – Pháp Bảo Đàn Kinh, Sám Hối Phẩm, Đoàn trung Còn dịch, tr. 64-65.

[69] Le Nibbana «doit être réalisé par les Sages au-dedans d’eux-mêmes. (paccattam veditabbo vinnuhi).- Présence du Bouddhisme, p. 268.

[70] Xin xem Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine, p. 524 et ss.

[71] Tài liệu viết tay của Tam Tông Miếu (phần phiên Âm), và Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses… p. 524 et ss.

[72] 三 界 本 起 同 歸 ㄧ 心. 先 佛 後 佛 以 心 傳 心 不 立 文 字… 從 無 始 曠 大 劫 來, 乃 至 施 為 運 動 ㄧ 切 時 中, ㄧ 切 處 所 皆 是 汝 本 心, 皆 是 汝 本 佛. Tam giới bổn khởi đồng qui nhất tâm. Tiên Phật, hậu Phật dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự…Tòng vô thuỷ khoáng đại kiếp lai, nãi chí thi vi, vận dộng, nhất thiết thời trung, nhất thiết xứ sở, giai thị nhữ bổn tâm, giai thị nhữ bổn Phật. – Đạt Ma huyết mạch luận. (Tài liệu viết tay của Tam Tông Miếu)

… Le monde tout entier est pensé dans le cœur. Tous les Bouddhas, passés et futurs ont été et seront formés dans le cœur. La connaissance se transmet de cœur à cœur, par la parole. A quoi bon, tous les écrits? Le cœur de chaque homme communie à ce qui fut tous les temps, à ce qui est tous les lieux. – Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses…p. 524.

[73] 即 心 是 佛, 亦 復 如 是. 除 此 心 外, 覓 菩 提, 涅 槃 無 有 是處. 自 性 真 實, 非 因 非 果 法, 即 是 心 義. Tức tâm thị Phật, diệc phục như thị. Trừ thử tâm ngoại, mích Bồ Đề, Niết Bàn vô hữu thị xứ. Tự Tính chân thật, phi nhân, phi quả pháp, tức thị tâm nghĩa. – Đạt Ma huyết mạch luận.

…Le cœur est le bouddha. Il n’y a pas de Bouddha en dehors du cœur. Considérer l’illumination et le nirvana comme des choses extérieures au cœur, c’est une erreur. Il n’y a pas d’illumination en dehors du cœur vivant. Il n’y a pas de lieux où se trouvent des êtres nirvanés. Hors la réalité du cœur, tout est imaginaire…Il n’y a pas de causes, il n’y a pas d’effets. Il n’y a d’activité que la pensée du cœur, et son repos, c’est le Nirvana. Chercher quelque chose en dehors de son cœur, serait vouloir saisir le vide. Le Bouddha, chacun le crée dans son cœur par sa pensée. Le cœur est Bouddha, Bouddha c’est le cœur.

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses…p. 524.

[74] 若 言 心 外 有 佛, 求 菩 提 可 得 無 有 是 處. 佛 及 菩 提 皆 在 何 處? 譬 如 有 人 以 手 提虛 空, 得 否 … 除 此, 心 外 見 佛, 終 不 得 也… 心 即 是 佛, 佛 即 是 心. 心 外 既 無 佛, 何 起 佛 見? 際 相 誑 惑… 若 欲 見 佛, 見 性 即 是 佛 Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật, cầu Bồ Đề khả đắc, vô hữu thị xứ. Phật cập Bồ Đề giai tại hà xứ? Thí như hữu nhân, dĩ thủ đề hư không, đắc phủ. .. Trừ thử, tâm ngoại kiến Phật, chung bất đắc dã…Tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm, tâm ngoại ký vô Phật, hà khởi Phật kiến? Tế tương cuống hoặc… Nhược dục kiến Phật, kiến tính tức thị Phật. – Đạt Ma huyết mạch luận.

…Imaginer un Bouddha en dehors du cœur, se figurer qu’on le voit en un lieu extérieur, c’est du délire. Donc il faut tourner son regard, non vers le dehors, mais vers le dedans, il faut le concentrer en soi-même, et contempler en soi sa bouddhaité. – Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses, p. 524.

[75] Ở nơi mỗi người, nếu cái Vọng Tâm sinh, thì cái Chân Tâm phải ẩn, nhưng nó lại ẩn trong cái Vọng Tâm. Còn khi cái Chân Tâm hiện ra, thì cái Vọng Tâm phải mất, nhưng nó lại mất trong Chân Tâm. – Hải Tín Cư Sĩ, Quán Thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr. 46.

…Trong cái bản ngã nhỏ hẹp, chúng ta phát huy cái Đại Ngã rộng lớn. – Thích Đại Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 55.

[76] Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 56.

[77] Ibidem, tr. 54.

[78] Di Đà đồng thể. Ibidem, tr. 54.

[79] Ibidem, tr. 94.

[80] Luận Ngữ, Thái Bá đệ Bát, tiết 18.

[81] Pháp Thân = Corps mystique. –  Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses… p. 525.

 … Sư viết: Ký nhược bất biệt, tức thử thân thị nhữ bổn Pháp Thân; tức thử nhữ bổn Pháp Thân thị nhữ bổn tâm.

 Thử tâm tòng vô thỉ khoáng đại kiếp lai, dử như kim bất biệt; vị thường hữu sinh tử; bất sinh, bất diệt; bất cấu, bất tịnh; bất hảo, bất ác; bất lai, bất khứ; diệc vô thị phi; diệc vô nam, nữ tướng; diệc vô tăng tục, lão thiếu; vô thánh, vô phàm; diệc vô Phật; diệc vô chúng sinh; diệc vô tu chứng; diệc vô nhân quả; diệc vô cân lực, diệc vô tướng mạo; do như hư không; thủ bất đắc; xả bất đắc; sơn hà thạch bích, bất năng vi ngại; xuất một, vãng lai, tự tại, thần thông… – Đạt Ma huyết mạch luận.

[82] Thánh Thể = Le Saint Corps. – Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses… p. 526.

…Nhược trí huệ minh liễu, thử tâm hiệu danh Pháp Tính, diệc danh Giải Thoát Sinh Tử, Bất Câu Nhất Thiết Pháp, Câu Đà Bất Đắc; thị danh Đại Tự Tại Vương Như Lai, diệc danh Bất Tư Nghị; diệc danh Thánh Thể; diệc danh Trường Sinh Bất Tử; diệc danh Đại Tiên. Danh tuy bất đồng, Thể tức thị nhất.

 Thánh nhân chủng chủng phân biệt, giai bất ly Tự Tâm. – Đạt Ma huyết mạch luận.

[83] Phật cáo Tu Bồ Đề: Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai. .. (Phật bảo Tu Bồ Đề: Phàm cái gì có tướng đều là hư dối. Nếu thấy các tướng chảng phải tướng, tức là thấy Như Lai.) – Kim Cương Kinh, Đoạn V.

…Ly nhất thiết tướng, tức danh chư Phật. (Thoát ly mọi hình thức, sắc tướng tức gọi chư Phật.) – Kim Cương Kinh, đoạn XIV.

…Như Lai bất ưng dĩ cụ túc sắc thân kiến. – Kim Cương kinh, XX.

[84] Phật cáo Tu Bồ Đề: Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.

[85] Tự tâm thị Niết Bàn. Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật, cầu Bồ Đề khả đắc, vô hữu thị xứ. – Đạt Ma Huyết Mạch Luận.

[86] Minh tâm kiến Tánh, nhược bất kiến Tánh, đắc thành Phật Đạo, vô hữu thị xứ. – Đạt Ma Huyết Mạch Luận.

[87] Ly nhất thiết chư tướng, tức danh chư Phật. – Kim Cương Kinh, đoạn V.

[88] Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. – Kim Cương Kinh, X.

[89] Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp, nhi hữu sai biệt. – Kim Cương Kinh, VII.

[90] Nhược dĩ sắc kiến Ngã, dĩ âm thanh cầu Ngã, thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai. – Kim Cương Kinh, XXVI.

[91] Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, bào ảnh, như lộ, diệc như điện, ưng tác như thị quán. (Tất cả các pháp hữu vi như mộng huyễn, bọt bóng, như sương và như chớp, nên quan sát như thế.) – Kim Cương Kinh, XXXII.

[92] Như Lai giả vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai. (Như Lai không từ đâu đến, cũng không đi đâu, nên gọi là Như Lai. = Pháp Thân là Bản Lai Thường Trụ, không chỗ xuất hiện, không chỗ nhập diệt) Kim Cương Kinh, XXIX.

[93]  心 心 心

 心 難 可 尋

 寬 時 遍 法 界

 隙 也 不 容 針

 我 本 求 心 不 求 佛

 了 知 三 界 空 無 物

 若 欲 求 佛 但 求 心

 只 這 心 這 心 是 佛

 我 本 求 心 心 自 知

 求 心 不 得 待 心 知

 佛 性 不 從 心 外 得

 心 生 便 是 罪 生 時

 Tâm, tâm, tâm,

 Tâm nan khả tầm,

 Khoan thời biến pháp giới,

 Khích dã bất dung châm.

 Ngã bổn cầu tâm, bất cầu Phật,

 Liễu tri tam giới, không vô vật.

 Nhược dục cầu Phật, đãn cầu tâm,

 Chỉ giá tâm; giá tâm thị Phật.

 Ngã bổn cầu Tâm, tâm tự tri,

 Cầu Tâm bất đắc, đãi Tâm tri,

 Phật tính bất tòng tâm ngoại đắc,

 Tâm sinh tiện thị tội sinh thì.

 (Đạt Ma huyết mạch luận. Đoạn kết.)

*Hết bài Tư tưởng Phật học — Xin xem Tư tưởng Đạo học)

******************       

TƯ TƯỞNG LÃO HỌC & SỰ BẢN ĐỊA HOÁ TẠI VIỆT NAM

* Nhân tử Nguyễn Văn Thọ
     
Xưa nay, có rất nhiều người thường cho rằng các đạo giáo Á Đông, các triết thuyết Á Đông hết sức là mơ hồ, huyền ảo. Khảo về các học thuyết Á Đông nhiều người cảm thấy như mình lạc vào một mê đồ trận, hay vào một khu rừng rậm giữa đêm tăm, không còn biết đầu đuôi, phương hướng ra sao. Cho nên muốn khảo sát các đạo giáo Đông phương, ta cần phải nắm vững ít nhiều tư tưởng then chốt của Tam Giáo…

1. Đầu tiên có Nhất Thể

Trước hết các đạo giáo Đông Phương đều xác tín rằng có một thực thể tuyệt đối, một Bản Thể duy nhất, uyên nguyên, vô hình vô ảnh, nhưng lại linh động, biến hóa vô cùng. Bản Thể ấy, Lão Giáo gọi là ĐẠO.

ĐẠO vì là Bản Thể của vũ trụ, tuyệt đối, vô biên tế nên không thể dùng danh hiệu để tuyên xưng, không thể dùng ngôn từ để mô tả.

Đạo có 2 thế: Thế tiềm ẩn, và thế hiển dương.

Trước khi sinh ra vũ trụ, Đạo ở thế tiềm ẩn. Sau khi sinh ra vũ trụ, Đạo ở thế hiển dương. Vũ trụ này xét về phương diện Bản Thể thì hư tĩnh, vi diệu; xét về phương diện hình tướng, thì có giới hạn, có hình danh, sắc tướng.

Muốn hiểu rõ vũ trụ, thì phải bao quát cả hai mặt:

― Bản thể (Diệu), Hằng.

― Hình tướng (Khiếu), Biến của nó.

Đạo gia gọi đó là Diệu Khiếu Tề Quan.

Các ý tưởng trên đã được Lão Tử nói lên nơi chương I, Đạo Đức Kinh:

 Hóa Công hồ dễ đặt tên,

 Khuôn Thiêng hồ dễ mà đem luận bàn.

 Không tên, sáng tạo thế gian,

 Có tên, là mẹ muôn vàn thụ sinh.

 Tịch nhiên cho thấy uy linh,

 Hiển dương cho thấy công trình vân vi.

 Hai phương diện, một hóa nhi,

 Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường,

 Đó là Chúng diệu chi môn,

 Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.

Đạo khi chưa sinh hóa ra vũ trụ còn được gọi là:

Hư, Hư Vô, Hồng Mông, Hỗn Độn, Hư Không, Đạo, Vô Cực v.v…Hư Vô, Hư Không không phải là Hư Ảo mà là Thực Thể Bất Khả Tư Nghị, vô biên tế của vũ trụ.

Vì thế, Lão Tử nói: Thiên Hạ vạn vật sinh ư Hữu, Hữu sinh ư Vô (ĐĐK, chương 41).

Trang Tử cũng nói: Đầu trước hết có Vô, không hiện hữu, không tên tuổi. (Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Thiên Địa). Hai chữ Vô Cực được Lão Tử đề cập nơi chương 28, Đạo Đức Kinh.

Các danh từ Không, hay Hư Vô cũng được các Đạo Gia thường dùng. Sách Xướng Đạo Chân Ngôn viết: Vạn vật bắt đầu từ Không. Thái Cực là Không. Không sinh ra Nhất, Nhất sinh ra Vạn, Vạn trở về Không. Không là Thủy Tổ muôn loài. Học giả cần biết Chân Không, cần phân biệt Linh Không với Ngoan Không. [1]

Xướng Đạo Chân Ngôn còn gọi Hư Vô là Vô Cực, là Đơn, là Đạo, là Bản Thể của Trời Đất. Sách viết: «Đơn là Bản Thể của vạn vật. Đơn là Đạo, Đạo là Bản Thể của Hư Vô. Hư Vô không thể đặt tên, nên Thánh Nhân tạm gọi là Đạo. Hư sinh Nhất, Nhất sinh Vạn, Vạn hoàn Nhất, Nhất hoàn Hư.» [2]

Sách viết thêm: «Đạo gia gọi là Hư, Phật gia gọi là Không. Hư Không nghe biết, nhìn biết mọi sự… Cho nên khi một người suy nghĩ, người cùng nhà không hay biết, mà Hư Không vô lượng đã biết, đã hay…Vì thế Nho Gia thận độc, úy không (cẩn thận khi ở một mình, sợ cái Không).» [3]

Đạo sinh ra vũ trụ bằng sự hiển dương phóng phát, tức là bằng Đức[4] và cũng bằng sự phân liệt chia phôi.

Bản Thể ấy sinh xuất ra vũ trụ hiện tượng, hữu hình, hữu tướng này. Đó là thuyết THIÊN ĐỊA VẠN VẬT NHẤT THỂ.

2. Nhất Thể biến vạn thể

Bản thể duy nhất vô sinh, vô diệt, vô thủy vô chung ấy là căn nguyên sinh xuất ra vũ trụ hữu hình, hữu sinh, hữu diệt, hữu thủy, hữu chung này; nó mang muôn ngàn danh hiệu. Dưới đây chỉ đan cử ít nhiều danh hiệu để rọi sáng vào ít nhiều tính cách của Bản Thể uyên nguyên ấy.

3. Danh hiệu của Nhất Thể

Bản Thể ấy trước hết được gọi là NHẤT vì cũng như số Một sinh ra mọi con số khác, Bản Thể ấy cũng sinh mọi hiện tượng, mọi sinh linh.

Bản Thể ấy cũng còn được gọi là Trung, vì nó lồng trong mọi hiện tượng, mọi sinh linh, để làm Chân Tâm, làm Khu Nữu, làm Cốt Lõi, nâng đỡ giữ gìn vạn sự, vạn loài.

Trung này vừa vô định tại, vô phương sở, vì bao trùm vũ trụ, vì là bản thể vũ trụ; vừa hữu định tại, hữu phương sở, vì nằm trong lòng sâu muôn loài, muôn vật, từ tinh tú, nhật nguyệt, đến vi tử, vi trần.

* Phật giáo gọi Bản Thể ấy là:

Tâm Địa vì sinh xuất vạn loài.

Bồ đề vì đó là sở đắc của chư Phật.

Pháp Giới vì dung nhiếp vạn tượng.

Niết Bàn vì tịch nhiên thường lạc.

Bất lậu vì không tì ố, bợn nhơ.

Chân Như vì vô vọng, bất biến.

Phật Tính vì siêu xuất thị phi

Viên giác vì phá sạch quần mê.

Như Lai vì hàm nhiếp vạn linh.

Mật nghiêm quốc vì siêu việt, huyền bí.

Bản Lai diện mục vì là bộ mặt thật của con người muôn thủa.

Kim Cương vì là Bản Thể bất diệt, trường tồn, vĩnh cửu nơi con người.

* Lão giáo gọi Bản Thể đó là:

Đạo vì là đường đi, nước bước của nhân quần.

Tạo hóa chi nguyên vì là căn cơ sinh hóa.

Tiên thiên chủ nhân vì sẽ tạo dựng ra trời đất, vạn hữu,

Vạn tượng chủ tể vì sinh xuất mọi hiện tượng.

Huyền tẫn chi môn vì bao quát âm Dương (Huyền = Dương; Tẫn = âm).

Tổ Khiếu vì là nơi phát xuất muôn loài.

Cốc Thần vì ở sẵn ngay trong đầu não con người.

Chân Nhất Xứ vì Bản Thể ấy duy nhất.

Trung hoàng cung vì là Tâm điểm vạn hữu.

Mậu Kỷ môn vì là Tâm Điểm vạn hữu.

Chân Thoå vì là Tâm Điểm vạn hữu.

Huỳnh đình vì là Tâm Điểm vạn hữu.

Qui Trung vì là tâm điểm vạn hữu.

Ngưng kết chi sơû vì có Đắc Nhất thì luyện đơn mới thành.

Qui căn khiếu, Phục Mệnh quan vì đó là cùng đích muôn loài.

Huyền quan Khiếu vì là cửa sinh xuất muôn loài v.v…

* Khổng giáo gọi Bản Thể đó là:

Vô Cực. Thái Cực. Nhất. Trung
Và Dịch Kinh cũng chỉ triển khai mấy quan niệm đó…

Nhất Thể đó khi thì được đạo Lão coi như là Vô Ngã và được hài danh bằng những danh từ như Đạo, Hư Vô, Hư, Vô, Vô Cực, Đơn, Tiên Thiên Nhất Khí, Thái Hòa Nguyên Khí, Hạo Thiên chi khí v. v… Lão Tử, Trang Tử theo chủ trương này.

Đó cũng chính là chủ trương của Phật, của các đại hiền triết Hy lạp cổ thời như Pythagoras, Héraclitus, Parmenides, Plato, Anaximander v. v…

Đó là quan niệm Nhất Nguyên Vô Ngã theo danh từ Triết Học ngày nay.

Cũng Nhất Thể ấy, khi thì được đạo Lão coi như là Hữu Ngã và được gọi là Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đó là Quan niệm Nhất Nguyên Hữu Ngã tương đương với quan niệm Đại Nhật Như Lai trong Phật Giáo, và Thượng Đế trong các đạo giáo.

Đạo Lão có khi còn dung thông 2 quan niệm trên làm một và gọi Bản Thể vũ trụ là Tiên Thiên Nhất Khí, Thái Thượng Lão Quân.

4. Tâm điểm và vòng tròn

Nó tượng trưng cho Nhất Thể vạn thù. Quan niệm Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể, Nhất thể tán vạn thù, vạn thù qui Nhất Thể còn được Dịch Kinh và các đạo gia, đạo sĩ xưa biểu hiệu tượng trưng bằng Tâm Điểm và Vòng Tròn.

Tâm điểm tượng trưng cho Bản Thể, căn nguyên, gốc gác, cùng đích muôn loài.

Vòng tròn bên ngoài tượng trưng cho hiện tượng, cho luân lưu biến hóa. Trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh, do Tử Hà, Hàm Hư Tử chú, nơi tr. 4a, có một câu hết sức ý vị:

Nhất Thần chính vị nhi trung lập,

Vạn Thần triều củng nhi hoàn trần.

Huỳnh Đình chi thể dụng bị hĩ.

Nghĩa là:

Một Thần chính vị nơi Trung Điểm,

Vạn thần chầu chực thành vòng quanh

Thể và dụng của Huỳnh Đình đầy đủ trong hai câu đó.

5. Nhất thể, vạn thù ở hai thế giới đối đỉnh

Từ hình vẽ TÂM ĐIỂM và vòng tròn chúng ta dễ dàng suy diễn ra được rằng: Vũ trụ này gồm có hai phần:

a.- Một thế giới của Bản Thể, của Thực Thể, lý tưởng siêu việt, thế giới của Chân, Thiện, Mỹ, vĩnh cửu trường tồn. Đó là thế giới khinh thanh, bao la, tiềm ẩn, đồng đẳng, vô phân biệt. Đó là Chân Như Môn theo danh từ Phật Giáo, đó là Vô Vi, là Diệu, theo danh từ Lão Giáo, là Thể theo Nho Giáo.

b.- Một thế giới của hiện tượng, của giác quan, của thiên nhiên, của những gì phù du, biến ảo, những gì trọng trọc, những gì chất chưởng, những gì hữu hạn, những gì bị chi phối bởi sự duyên. Ở nơi con người nó bao quát hết cả tâm tư, trí não giác quan, hình hài ta, tóm lại tất cả cái gì là vọng tâm, vọng ngã, cái gì là Tứ Đại Giả hợp, theo Phật giáo. Đó cũng chính là Sinh Diệt Môn theo danh từ Phật giáo, là Hữu Vi, là Khiếu theo danh từ Lão giáo, là Dụng theo Khổng giáo.

Phàm nhân thì sống phù phiếm, lênh đênh chìm nổi trên cái thế giới hiện tượng ấy, chỉ biết những gì là sắc tướng, chỉ thích những gì là phù hoa, chỉ mê những gì là hào nhoáng bên ngoài; lạc lõng trong muôn ngàn sai biệt; bị ngoại cảnh chi phối, thất tình lục dục đẩy đưa, từ ngữ tư tưởng ám nhãn, manh tâm, thu hẹp con người vô hạn của mình vào trong gông cùm của không gian thời gian, hình hài sắc tướng hữu hạn.

Thánh nhân trái lại đã xuyên qua được bức màn hiện tượng ấy để vào thế giới chân tâm, vô biên vĩnh cửu, thế giới bản thể vĩnh cửu, trường tồn: xuyên qua được tâm thức, để vào tới cõi Hư Vô, Chân thể, đồng đẳng với Thái Hư.

Chính vì thế mà sách Tham Đồng Khế có câu:

Chân nhân tiềm thâm uyên,

Phù du thủ qui trung

 *Tạm dịch:

Chân nhân sống rất thâm trầm,

Phởn phơ khinh khoát, ôm cầm Khuôn thiêng.

 (Lý Lạc Cầu, Tiên Học diệu tuyển, tr. 86)

*Tính Mệnh Khuê Chỉ có câu:

Ly chủng chủng biên,

Doãn chấp quyết trung

 *Tạm dịch:

Lìa xa hết mọi vòng ngoài,

Trung Tâm giữ vững chẳng rời tấc gang.

6. Nhất thể vạn thù với hai chiều thuận nghịch.

Tâm điểm và vòng tròn còn giúp ta nhìn được hai chiều thuận nghịch, biến hóa của trời đất và của con người.

Ở nơi trời đất, thì chiều đi từ Bản Thể đi ra hiện tượng, đi từ Vô đến Hữu, chiều từ Tâm ra Biên, chiều từ Nhất sinh Vạn, là chiều Thuận, là chiều sinh hóa ra Vạn Hữu.

Đó là chiều Ly Tâm và đồng thời cũng là chiều đi xuống, chiều thoái hóa, từ Khinh Thanh ra dần, xuống dần đến Trọng Trọc, từ Phác Giản ra dần, xuống dần đến Tần Phiền.

Ở nơi con người, thì chiều Thuận chính là chiều Ly Tâm, là chiều Phóng Ngoại, Hướng Ngoại, từ Thần ra dần đến Tâm Tư, Ý Thức, Hình Hài, Ngoại Cảnh.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ thì ở nơi con người chiều Thuận sẽ được phác họa như sau:

TÍNH ➔ TÂM ➔ Ý ➔ TÌNH ➔ VỌNG (MÊ VỌNG).

(Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh tr. 8)

Ở nơi trời đất thì chiều biến hóa từ Biên trở về Tâm Điểm, chiều từ Vạn qui hoàn về Nhất, là Chiều Nghịch, là chiều Thăng Hoa sinh Thánh sinh Thần. Đó là chiều Đi Vào, Chiều Hướng Tâm, đồng thời cũng là Chiều Đi Lên, Chiều Tiến Hóa từ Trọng Trọc trở lại dần tới Khinh Thanh, từ Tần Phiền trở lần về tới Phác Giản.

Ở nơi con người thì Chiều Nghịch đó chính là Chiều Hướng Tâm, là Chiều Hồi Hướng, là Chiều Hướng Nội, chiều từ Hình Hài quay về với Thiên Tính, với Thần Linh, với Đạo Tâm, Chân Tâm nội tại.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ, thì ở nơi con người, chiều Nghịch sẽ được phác họa như sau:

VỌNG (MÊ VỌNG) ➔ TÌNH ➔ Ý ➔ TÂM ➔ TÍNH.

(Tính Mệnh Khuê Chỉ, Thuận Nghịch Tam Quan Đồ, q. Nguyên tr. 13a).

Chiều Nghịch này mới là chiều quan trọng.

Cuối cùng, mọi sự lại trở lại Hư Vô.

Vòng tuần hoàn, biến dịch của vũ trụ, được Trang Tử toát lược bằng một câu: «Vạn vật giai xuất ư cơ, giai nhập ư cơ.» Vạn vật đều xuất ở Cơ ra, rồi lại đều trở về Cơ. (Nam Hoa Kinh, Chí Lạc).

Đạo Đức Kinh viết: Phù vật vân vân, các qui kỳ căn, qui căn viết tĩnh, tĩnh viết phục mệnh, phục mệnh viết thường. (ĐĐK, chương XVI).

Dịch:

Muôn loài sinh hóa đa đoan,

Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên.

Hoàn bản nguyên an nhiên phục mệnh,

Phục mệnh rồi trường vĩnh vô cùng.

Ở nơi vòng DỊCH, thì chiều Thuận là chiều Quan Nguyệt Quật theo từ ngữ của Thiệu Khang Tiết, từ quẻ CẤU đến quẻ KHÔN.

Còn chiều Nghịch là chiều Kiến Thiên Căn theo Thiệu Khang Tiết, từ quẻ PHỤC đến quẻ KIỀN, rồi vào TRUNG CUNG THÁI CỰC. Thế là Quân tử HOÀNG TRUNG THÔNG LÝ, CHÍNH VỊ CƯ THỂ.

Dịch chủ trương Chiều Nghịch mới là chiều quan trọng, và Thánh Hiền xưa đã định nghĩa Dịch là Nghịch số. (Dịch Kinh, Thuyết quái, chương 3)

Liệt Tử viết trong Xung Hư Chân Kinh:

Hình thanh, vị, sắc đều do Vô Vi mà sinh ra.

Hình, thanh, vị, sắc khi còn, khi mất, khi có, khi không. Vô vi không bao giờ có cùng.

Hình, thanh, vị, sắc hình hiện ra bên ngoài, mà Vô Vi thì không bao giờ hình hiện.

Tất cả hình, thanh, sắc, tướng đều là chức năng của Vô Vi.

Vô Vi có thể Âm, có thể Dương, có thể mềm, có thể cứng, có thể vắn, có thể dài, có thể tròn, có thể vuông, có thể làm cho sống, có thể khiến cho chết, có thể nóng, có thể lạnh, có thể nổi, có thể chìm, có thể là Cung, có thể là Thương, có thể ẩn, có thể hiện, có thể đen, có thể vàng, có thể ngọt, có thể đắng, có thể tanh, có thể thơm. Tưởng không biết, không hay, mà cái gì cũng biết, cũng hay.

Liệt Tử còn viết: Xưa Thánh Nhân lấy Âm Dương bao quát trời đất, mà hữu hình thời sinh ra từ vô hình, nên trời đất dần dà mới có. Cho nên nói: Có Thái Dịch, có Thái Sơ, có Thái Thủy, có Thái Tố.

Thái Dịch là giai đoạn chưa có Khí.

Thái Sơ là giai đoạn Khí bắt đầu có.

Thái Thủy là giai đoạn Hình bắt đầu có.

Thái Tố là giai đoạn Chất bắt đầu có.

Khí, Hình, Chất có đủ, nhưng chưa chia lìa nhau. Cho nên gọi là Hồn Luân. Hồn Luân là khi vạn vật còn trà trộn, chưa phân ly… Nhìn không thấy, nghe không ra, theo không được nên gọi là Dịch. Dịch không giới hạn, không bến bờ. Dịch biến thành Nhất, Nhất biến thành Thất, Thất biến thành Cửu. Cửu là biến hóa đến cùng cực. Thế rồi lại trở về Nhất.[5]

Sách Linh Bảo Tất Pháp có một đoạn tương tự như vậy, mà tôi đã chuyển thành thơ như sau:

Tự Đạo phân chia số mới thành,

Ngũ Hành hình tượng: Đạo nha manh.

Năm phương vũ trụ: Thần phân liệt,

Chất sắc năm màu: đạo tán sinh.

Số từ Vô Số xuất sinh,

Trở về Vô Số mới thành vãng lai.

Tượng từ Vô Tượng an bài,

Trở về Vô Tướng trong ngoài ấm êm.

Vị hoàn Vô Vị mới nên,

Chất hoàn Vô Chất, tinh tuyền trước sau.

Chớ chia Đạo Thể nhiệm màu,

Số kia bám víu vào đâu sinh thành.

Muốn trừ cho hết tượng hình,

Ngừng cơ biến hóa, mối manh tiêu liền.

Vị ngôi muốn hết dưới trên,

Thời đừng phân biệt bản nguyên làm gì.

Đạo không phát tán, chia ly,

Thời thôi vật chất biến đi từ đời.

Đạo là Vô Số, Vô Ngôi,

Vô Hình, Vô Chất, chia phôi nhẽ nào.

Đạo Trời vi diệu biết bao… [6]

7. Con đường trở về Nhất Thể phải là con đường qui tâm hướng nội
Hiểu được hai chiều tiến hóa ngược xuôi ấy, ta sẽ thấy ngay:

*Đi ra Ngoại Cảnh là đi Ra Đời… Bất kể ngoại cảnh ấy là đền đài miếu mạo, Thần Phật hay chi chi nữa.

*Đi vào nội Tâm mới là đi Vào Đạo.

Có vậy, ta mới hiểu lời lẽ sau đây của Tính Mệnh Khuê Chỉ:

Muốn thoát Luân Hồi, phải thể hợp với Chí Đạo, muốn thể hợp với Chí Đạo, tất phải quán chiếu bản tâm, muốn quán chiếu bản tâm, tất phải nhắm mắt hồi quang, nhìn vào hư không, đem ánh sáng Tuệ Quang chiếu diệu vào nơi Thất Tình chưa nhen nhúm, nơi mà Bản Thể chưa bị Bát Thức làm ô nhiễm; ngoài thì tuyệt hết chư duyên, trong thì tuyệt hết chư Vọng, hợp Nhãn quang, ngưng Nhĩ vận, điều Tị tức, khóa Thiệt khí, tứ chi bất động, để cho Ngũ Thức của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân quay trở về gốc gác, như vậy tinh, thần, hồn, phách, ý sẽ an vị: suất cả 12 giờ trong ngày, mắt luôn nội quan quán chiếu nhìn vào Khiếu ấy, tai trở ngược lại lắng nghe Khiếu ấy, đầu lưỡi thường phong bế Khiếu ấy, vận dụng, thi vi, niệm niệm không rời khỏi Khiếu ấy… Khiếu ấy chính là Bản Thể Thần Linh của con người.

Đó là Bản Thể tuyệt đối mà chúng ta đã đề cập tới trong suốt cả chương này.

Thái Thượng nói: Ta từ vô lượng kiếp quan tâm đắc đạo, và tới được Hư Vô. (Thái Thượng viết: Ngô tòng vô lượng kiếp, quan tâm đắc đạo nãi chí Hư Vô.) (Tính Mệnh Khuê Chỉ, Hanh, tr. 3a).

Hiểu được Bản Thể là hiểu được Căn Nguyên, Cùng Đích vũ trụ và con người.

Hiểu được hai chiều Thuận, Nghịch nói trên là hiểu được nhẽ biến dịch tuần hoàn của vũ trụ, vạn hữu và của con người.

8. Chung qui, Hiểu chữ Nhất là hiểu được tinh hoa đạo giáo Á Đông nói chung, Lão Giáo nói riêng

Dù đứng trên lập trường Vô Ngã hay Hữu Ngã mà nhìn vào Nhất Thể, dù gọi Nhất Thể đó là Khí, là Thể, là Thần, là Lão, là Thiên, thì khái niệm cơ bản vẫn là:

Nhất thể đó linh minh, huyền diệu, có khả năng sinh xuất biến hóa ra vạn sự vạn hình.

Nhất Thể đó có thể hóa thành Tam Thể, Vạn Thể.

Nhất Khí đó có thể hóa thành Tam Khí, Vạn Khí.

Nhất Thần đó có thể hóa thành Tam Thần, Vạn Thần.

Nhất Lão đó có thể hóa thành Tam Lão, Vạn Lão.

Nhất Thiên đó có thể hóa thành Tam Thiên, Vạn Thiên.

Thế tức là hiểu Lẽ Một, sẽ hiểu được Căn Cơ, Gốc Gác của muôn loài, muôn vật, và có thể đi đến một kết luận hết sức triết học và khoa học sau đây: «Thiên, Địa, Nhân, Vật Nhất Tính, Đồng Thể.» (Tính Mệnh Khuê Chỉ, Nguyên, tr. 6a)

Suy ngược lại sẽ có:

Nếu Nhất Thần hóa Chúng Thần, thì Chúng Thần sẽ qui Nhất Thần; Nhất khí hóa Vạn Khí thì Vạn Khí cũng qui Nhất Khí.

Nếu trong con người có Chúng Thần, thì cũng có Nguyên Thần, có Nhất Thần.

Nếu trong con người có Vạn Khí, Ngũ Khí, Tam Khí, thì ắøt cũng có Chân Nguyên Nhất Khí hay Nguyên Khí.

Vì hiểu lẽ Một cho nên người đạo sĩ:

Chọn cái Tinh Hoa, bỏ cái Bác Tạp.

Chọn cái Giản dị, bỏ cái Tần Phiền.

Chọn Chân Tâm mà bỏ Thất Tình, Lục dục, Tam Thi, Tứ Đại, Âm Dương đối đãi.

Vì hiểu lẽ Một cho nên người đạo sĩ biết mình là Tiên Thiên Nhất Khí hóa thân, nghĩa là có đồng bản tính với Thượng Thần trong trời đất.

Vì biết lẽ Một cho nên hiểu rằng Chân Thần trong mình và Chân Thần trời đất là Một. Mình đây chẳng qua là Hóa Thân của Chân Thần đó mà mình chẳng hay.

Họa sĩ Wyzewa đã viết từ năm 1893:

Cái mà ta gọi là Thực Tại chẳng qua chỉ là hình ảnh của Bản Thể thầm kín nơi ta, phóng phát ra hư cảnh bên ngoài mà thôi. [7]

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

Vì thế nói: Thánh Nhân tẩy rửa tâm hồn, trở về náu ẩn trong nơi thầm kín. Trong đó vốn đã có Bản Thể uyên nguyên cùng với Thái Hư hỗn thành nhất khối. Vì thế nói: Thánh Nhân đồng thể với Thái Hư. [8]

Lão Giáo vì thế chủ trương Thủ Trung Bão Nhất, giữ Trung ôm Nhất.

Khổng giáo vì thế chủ trương: Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi, Đạo ta dùng chữ Nhất bao quát tất cả.

Tính Mệnh Khuê Chỉ có chép: «Khi Hoàng Đế lên núi Nga Mi, gặp Thiên Chân Hoàng Nhân ở Ngọc Đường và hỏi về cái đạo Chân Nhân. Hoàng Nhân đáp: Đó là cái đạo quí trọng nhất của Đạo Gia. Kinh của Đạo này, Thượng đế giấu trong 5 thành núi Côn Lôn (đầu não con người), cất trong hòm ngọc ( Trong sọ người), viết vào thẻ vàng, phong bằng bùn tím (Nê Hoàn), đóng ấn bằng chữ Trung (Trung Tâm đầu não con người).

Nhất đó ở Thái Uyên Bắc Cực (đầu), trước có Minh Đường (Trán), sau có Ngọc Trẩm (ót), trên là Hoa Cái (Đỉnh Đầu), dưới là Giáng Cung…» [9]

Với những lời lẽ mập mờ đó, Ta thấy ngay rằng Hoàng Nhân đã muốn nói như sau:

Muốn tìm Trời, tìm Đạo, tìm Nhất, tìm Trung, phải tìm nơi Trung Điểm đầu não con người.

Trước đó vài dòng Tính Mệnh Khuê Chỉ đã khéo léo đề cập tới Nê Hoàn Cung và trích dẫn Kinh Huỳnh Đình:

Nê Hoàn Cửu Chân giai hữu phòng,

Phương Viên Nhất Thốn xứ thử trung.

Đồng phục tử y, phi la thường,

Đãn tư nhất bộ thọ vô cùng.

Dịch:

Nê Hoàn Cửu Chân đều có phòng,

Vuông Tròn Một Tấc tại Não Trung.

Áo tía, quần là đều rỡ ràng,

Tâm tồn Cửu Chân, thọ vô cương.

(Huỳnh Đình Kinh chương 7 và Tính Mệnh Khuê Chỉ q. Lợi tr. 9a).

Nhập Dược Kính viết:

Nê Hoàn nhất khiếu đạt Thiên Môn,

Trực thượng Hư Hoàng Ngọc Đế Tôn.

Thử thị Chân Nhân lai vãng lộ,

Thời thời khóa hạc, khứ triều nguyên.

(Nhập Dược Kính, tr. 10b)

Nê Hoàn một khiếu thấu cửa Trời,

Ngọc Hoàng Thượng Đế ấy tòa ngôi.

Thánh hiền lui tới, duy đường ấy,

Cưỡi hạc băng chừng thẳng tới nơi.

Viết đến đây, tôi liên tưởng đến lời chú của Phật Giáo Tây Tạng: Um Mani Padme Hum, ôi Ngọc Châu Viên Giác nằm tại Liên Hoa Tâm, mà Liên Hoa Tâm theo lời bình giải của các đạo sư Tây Tạng, thì chính là Trung Tâm Đầu Não con người.

Tôi mở đầu đoạn này bằng Bản Thể Uyên Nguyên của vũ trụ và của con người, kế đến bàn về hai chữ Trung và chữ Nhất, cuối cùng kết thúc bằng chữ Nhất và đem chữ Nhất ấy vào Trung Tâm Đầu Não con người, vào Nê hoàn Cung, nơi mà từ vô lượng kiếp Đức Thái Thượng đã dạy đạo cho chúng ta, đúng như lời kinh Huỳnh Đình: Thị tích Thái Thượng cáo ngã giaû… (Huỳnh đình Kinh chương 17), thiết tưởng cũng đã phát quang được gai góc và để lộ ra con đường Đại Đạo…

VŨ TRỤ THÁM VI

(TÌM HIỂU HUYỀN CƠ VŨ TRỤ)

Người xưa chỉ dùng Thần (tuệ giác = illumination, intuition), Trí (raisonnement), Giác quan để quan sát, suy tư và trực giác về vũ trụ, để tìm cho ra những điều vi ẩn của vũ trụ.

Lão giáo cũng như các Đạo khác ở Đông Phương xác tín rằng có một Thượng Đế Tuyệt Đối, một Bản Thể Duy Nhất, uyên nguyên, vô hình, vô ảnh, nhưng lại linh động, biến hoá vô cùng, đã sinh xuất ra vũ trụ hiện tượng hữu hình, hữu tướng này. Đó là Thuyết Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể.

Bản Thể vô sinh, vô diệt, vô thuỷ, vô chung này, đạo Lão đã hài danh bằng nhiều danh hiệu, đại khái là:

a. Khi chưa có Trời Đất, thì Đạo hay Bản Thể tuyệt đối còn ở trong thế tiềm ẩn, chưa hiển dương, nên được gọi bằng những danh từ như: Hư Vô, Hư Không, Hồng Mông, Hỗn Độn, Vô Cực, Vô Vi, hoặc được tượng trưng bằng con số 1, hay bằng vòng tròn không có tâm điểm. Tất cả đều nói lên sự viên dung, toàn mãn, hoàn hảo, đồng đẳng tuyệt đối, không tịch tuyệt đối, hư tĩnh tuyệt đối.

b. Khi bắt đầu hiển dương, thì gọi là Đạo, là Thái Cực, là Tổ Khiếu, là Cốc Thần, là Huyền Quan Khiếu, hay Huyền Tẫn chi môn, là 5, là 15, và được tượng trưng bằng vòng tròn có chấm ở giữa, hay bằng đồ hình Thái Cực mà ta vẫn thường thấy.

c. Khi đã có Trời đất, thì Bản Thể ấy tiềm ẩn dưới các lớp lang hiện tượng, và được gọi là Trung, là Đạo, là Tổ Khiếu, là Cốc Thần v.v… hay được tượng trưng bằng vòng Dịch với:

– Thái Cực ở giữa, tượng trưng cho Bản Thể duy nhất.

– Các hào quải bên ngoài tượng trưng cho vạn hữu, vạn tượng luân lưu biến hoá.

Ta vẽ lại, trình bày lại 3 quan điểm trên thành sơ đồ sau:

 Tiên Thiên (Chưa hiển dương): Đạo, Nhất, Hỗn Độn, Hư Vô, Hồng Mông, Thường, Hằng, Căn Nguyên, Vô vi, Tiên Thiên, Trường Sinh Bất tử.

Thuỷ Chung.  Tổ Khiếu. Đạo, Thái Cực, Huyền Tẫn, Huyền Quan, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan.   

 Hậu Thiên (Đã hiển dương): Vạn Hữu, Vạn Tượng, Dị Biệt, Tạp Thù, Biến thiên, Ảo hoá, Lưu Mạt, Hũu Vi, Hậu Thiên, Sinh Diệt, Phù Sinh.

 Nhờ những đồ hình và những quan niệm khái quát trên, ta hiểu được một điều rất trọng đại này là:

 Vũ Trụ hữu hình này sở dĩ có là do sự phóng phát, tán phân của một thực thể duy nhất.

 Thuyết Phóng Phát của hiền, thánh muôn phương khác với Thuyết Tạo Dựng của các Đạo Giáo Công Truyền Tây Phương (Công Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo) như sau:

Thuyết Phóng Phát (Emanation)

1. Vũ Trụ Hữu Hình này là những phân thể của một Toàn Thể.

2. Vạn hữu đồng căn, dị dạng, nhất thể vạn thù.

3. Thượng Đế tiềm ẩn trong lòng sâu vạn hữu (Immanent)

4. Chung cuộc là Hoà Hài, Hợp Nhất, Siêu Thăng, Hoà Giải.

5. Lịch sử vũ trụ chuyển hoá 2 chiều, vãng lai, thuận nghịch, phản phục, thành một chu kỳ. 

Thuyết Sáng Tạo (Creationism).

1.  Vũ trụ Hữu Hình này là do quyền năng của Thượng Đế sáng tạo từ không.

2. Vạn hữu nhất nhất đều có bản thể riêng biệt.

3. Thượng Đế siêu việt, tách rời khỏi vạn hữu. (Transcendent).

4. Chung cuộc là Tan vỡ, kinh hoàng, là Tận Thế.

5. Lịch sử vũ trụ và con người chuyển biến một chiều, theo đường thẳng.

 Dựa vào Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể của Lão Giáo, ta suy ra:

1. Vạn Hữu đồng căn, dị mạt. Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể. [10](Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 6a).

Người xưa cũng nói:

Thiên, Nhân nhất Lý.

Ngã Vật đồng nguyên

2.Vạn vật hữu hình biến hoá có chu kỳ, theo 2 chiều tán tụ.

 -Chiều Tán:

Chiều phân hoá, giáng bản, qui mạt (Đi từ gốc tới ngọn).

Chiều giáng (từ Căn Nguyên Thái Cực xuống vạn vật, quần sinh, hào quái), chiều đi ra (từ nội tâm ra ngoại cảnh), chiều thuận (thuận theo dòng đời, thuận theo dục vọng), chiều ly tâm (từ hợp nhất ra phát tán chi ly.

 – Chiều Tụ:

Chiều hoà hợp, qui nguyên, phản bản, thăng, lai, nghịch, hướng tâm.

Hai chiều biến hoá thuận nghịch nói trên là 2 chiều biến hoá từ vô tướng ra hữu tướng, rồi lại từ hữu tướng trở về vô tướng.

Đạo đức Kinh và Kinh Dịch đều đề cao chiều Nghịch hay chiều Phục.

Dịch Kinh viết: Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch. Thị cố Dịch nghịch số dã. (Dịch kinh, Thuyết quái, chương 3, tiết 2)

 Dịch:

 Tìm ra quá vãng là thường,

 Tương lai tiên đoán tỏ ràng mới cao.

 Dịch kinh có số ngược chiều,

 Ngược chiều thời thế khinh phiêu về nguồn.

Đạo Đức Kinh nơi chương 16 viết: «Phù vật vân vân, các qui kỳ căn, qui căn viết tĩnh, phục mệnh viết trường.»

Dịch:

 Muôn loài sinh hoá đa đoan,

 Rồi ta cũng phải lai hoàn bản nguyên,

 Hoàn bản nguyên, an nhiên phục mệnh,

 Phục mệnh rồi, trường vĩnh vô cùng.

Chương 29 viết: «Thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.»

Chương 14 viết: «Phục qui ư vô cực.»

3. Vạn hữu vì là sự hiển dương của Đạo, của Bản Thể tuyệt đối, nên rất có giá trị.

4. Vạn hữu vì là phân thể của một đại thể, nên không có vật nào, người nào toàn mãn, mà phải dựa vào nhau, cái nọ bổ sung lẫn cái kia.

5. Mọi sự thay đổi trong vũ trụ đều có ảnh hưởng chẳng ít, thì nhiều, đến chung quanh.

 Liệt tử đã viết trong Xung Hư Chân Kinh, chương 3, đoạn C: «Nhất thể chi doanh hư, tiêu tức giai thông ư Thiên Địa, ứng ư vạn loại.» 一 體 之 盈 虛 消 息 皆 通 於 天 地, 應 於 萬 類.

Dịch: Mỗi một sự thay đổi, đầy vơi, tăng giảm nơi sự vật, đều thông với trời đất, ứng với muôn vật.

Người xưa còn nói:

Lạc hồng bất thị vô tình vật,

Hoá tác xuân nê, cánh bộ hoa

Dịch:

Hồng rơi chẳng phải vô tình,

Hoá thành bùn lại nuôi cành hoa xuân.

Nếu ta đồng ý dùng Tâm điểm và vòng tròn để tượng trưng cho Bản Thể và Hiện Tượng, ta sẽ thấy vũ trụ này gồm 2 phần:

a. Một Thế giới của Bản Thể, của Thực Thể, lý tưởng, siêu việt, thế giới của Chân, Thiện, Mỹ, vĩnh cửu, trường tồn (Tâm Điểm). Đó là thế giới khinh thanh, bao la và đồng đẳng, vô phân biệt. Đạo Lão gọi đó là Đạo, là Tiên Thiên, là Vô Vi, là Hư, là Diệu.

b. Một Thế giới của Hiện Tượng, của giác quan, của Biến Thiên, của những gì phù du, biến ảo, những gì trọng trọc, những gì chất chưởng, những gì hữu hạn, những gì bị chi phối bởi sự duyên. Đạo Lão gọi đó là Hậu Thiên, là Hữu Vi, là Khiếu (Vòng tròn bên ngoài).

 Người học Đạo, hiểu Đạo phải biết nhìn thấy cả hai mặt Biến, Hằng, Hữu Hạn và Vô Hạn, của một Bản Thể, một Thực Thể duy nhất. Có vậy, mới gọi được là Diệu, Khiếu Tề Quan.

 Người học Đạo cũng còn phải biết nhìn thấy Đạo Thể vô biên tế xuyên qua các lớp lang hiện tượng, các bức màn hình, thanh, niệm, dục.

 Thế mới hay: «Đắc Nhất vạn sự tất» 得 一 萬 事 畢. (Trang Tử, Nam Hoa Kinh, ch. Thiên Địa: Thông Nhất, nhi vạn sự tất.)

  Trên đây đưa ra 5 vấn đề rất quan trọng:

– Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

– Thuyết Vạn Vật tương ứng, tương thừa, tương giao, tương tiếp.

– Thuyết Vạn Vật biến dịch, tuần hoàn.

– Thuyết Phóng Phát, Tán Phân (Emanation and division) thành vũ Trụ.

– Thuyết Thượng Đế ẩn tàng trong lòng sâu vạn hữu (God Immanent). Có như vậy,Thượng Đế mới ở khắp mọi nơi và thông biết mọi sự.

NHÂN SINH PHÁT DIỆU

(VI DIỆU CỦA CUỘC ĐỜI)

 Từ trước đến nay, người ta thường học con người dưới những khía cạnh phiến diện, đa đoan, nên càng học càng lìa xa Chân, Diện, Mục con người, càng sao lãng cái Tinh Hoa Chí Bảo nơi con người.

 Cho nên, muốn học về con người cho thấu đáo, cho có cơ sở triết học, khoa học vững chắc, ta phải dựa vào:

 – Thuyết Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể.

 – Thuyết Nhất Thể tán vạn thù, vạn thù qui nhất thể.

 – Thuyết Đạo nội tại, Thái Cực nội tại, Thượng đế nội tại. [11]

 1. Nơi con người có 2 phần Chân, Giả, Biến, Hằng.

 Trước hết, nếu ta chấp nhận thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể, mà Nhất Thể đó ta đã biết là Đạo, là Thái Cực, là Thượng Đế, thì dĩ nhiên trong ta phải có phần Thiên, có Thái Cực, có Thượng Đế.

Như vậy, nhận định sơ bộ về con người đã cho thấy rằng: Trong ta có 2 phần:

– Một phần vĩnh cửu, bất biến, bất sinh, bất diệt. Đó là phần Thiên.

– Một phần Biến Thiên, ảo hoá. Đó là phần Nhân.

  a. Phần Thiên, phần vĩnh cửu, bất biến: Đạo Lão gọi phần Vĩnh Cửu, Bất Biến đó là: Đạo, Cốc Thần, Thái Cực, Thiên, Đạo Tâm, Thiên Tâm, Thiên Địa chi tâm, Chủ Nhân Ông, Đơn v.v…

Châm thạch tử viết: Thiên Tâm giả, Bản Thể dã, Chủ Nhân Ông dã. 天 心 者 本 體 也, 主 人翁 也.[12]

 Vì biết mình có Đạo bất biến, vĩnh cửu ẩn tàng bên trong, nên Trang Tử mới nói:

«Thiên Địa dữ ngã tịnh sinh,   
天 地 與 我 並 生

Nhi vạn vật dữ ngã vi nhất.» 
而 萬 物 與 我 為 一 [13]

 Dịch:

Ta và Trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.

Từ Viên Tiên Sư viết:

Đương thời vị hữu tinh hà đẩu,         
當 時 未 有 星 河 斗

Tiên hữu Ngô, đương hậu hữu thiên.
先 有 吾 當 後 有 天 [14]

Dịch:

Trước khi Thiên Hán, quần tinh có,

Trước có ta, sau mới có Trời.

Và:

Ngã thể bản đồng Thiên địa lão, 
我 體 本 同 天 地 老

Tu Di sơn đảo, tính do tồn.       
須 彌 山 倒 性 猶 存[15]

Dịch:

Tính ta vốn thọ cùng trời đất,

Tu di sơn đảo, tính do tồn.

b. Phần Nhân, phần biến thiên, ảo hoá nơi con người: gồm Nhục thân (xác) với lục căn (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý), Nhân Tâm (Hồn), với Thất Tình (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục).

Chia con người thành 2 phần biến, hằng như vậy, chẳng những hiểu được tinh hoa Đạo Lão, mà còn hiểu được các Đạo Giáo Á Đông, các Mật giáo Âu Châu.

Âm Phù Kinh viết:

Thiên tính nhân dã, 
天 性 人 也

Nhân Tâm cơ dã.   
人 心 機 也

Lập Thiên chi đạo 
立 天 之 道

Dĩ định nhân dã     
以 定 人 也

Dịch:

Thiên Tính là người,

Nhân Tâm là máy.

Lập ra Thiên Đạo,

Để định con người

 Sách Tiên Học Tập Cẩm của Cung Tùng Tiên, có đoạn như sau:

«Cái Thân ảo hoá là Nhục Thân (Xác). Cái Tâm ảo hoá là Nhân Tâm.

Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý đều do ảo thân mà ra.

Mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, muốn đều do Nhân Tâm mà ra.

Lục căn (Ảo Thân) mỗi mỗi đều đủ để làm hại sinh mệnh.

Thất tình, vọng niệm (Nhân Tâm) mỗi mỗi đều có thể đưa đến cõi chết.

Còn như cái Thân chân chính đó là Pháp Thân.

Cái Tâm Chân Chính đó là Thiên Tâm.

Ngũ tính nhân duyên (tức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), nơi Pháp Thân đều là những mầm mống giúp ta thành Đạo.

Ngũ Ban chí Bảo (tức là Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần, Nguyên Tánh, Nguyên Tình nơi Thiên Tâm), đều là vật liệu giúp ta luyện đơn.

Đem dùng những chất liệu ấy mà tu luyện, sẽ khởi tử, hoàn sinh, cải lão, hoàn đồng.

Vì con người không biết mình có Pháp Thân và Thiên Tâm, nên Pháp Thân mai một, Ảo Thân dụng sự, Thiên Tâm thoái vị, Nhân Tâm đương quyền.

Thiên Tâm bất cấu, bất tịnh, chí hư, chí linh, cảm nhi toại thông, đó là nơi nương tựa của Tính.» [16]

 Có người hỏi Doãn Chân Nhân về Lý Thái Cực. Chân Nhân đáp: «Thái Cực là Thiên Tâm nơi ta. Thích thị gọi là Viên Giác, Đạo gọi là Kim Đơn, Nho gọi là Thái Cực.

Gọi là Vô Cực rồi Thái Cực, có nghĩa là Siêu Việt tuyệt đối. Con người khi chưa bẩm sinh, thoạt kỳ thuỷ có điểm linh quang ấy, để làm chủ hình hài sau này, đó chính là Thái Cực.

Trước khi cha mẹ chưa sinh ra ta, cũng một điểm Thái Cực đó, vì chưa thuộc về hình hài, nên gọi là Vô Cực.

 Muốn biết Bản Lai Chân Diện Mục,

 Một vầng sáng láng lúc chưa sinh…» [17]

Phàm nhân thì sống phù phiếm, lênh đênh, chìm nổi, trên cái thế giới hiện tượng ấy, chỉ biết những gì là sắc tướng, chỉ thích những gì là phù hoa, chỉ chuộng những gì là phù phiếm bên ngoài, lạc lõng trong muôn sai ngàn biệt, bị ngoại cảnh chi phối, thất tình lục dục đẩy đưa; bị từ ngữ, tư tưởng ám nhãn, manh tâm; thu hẹp con người vô hạn của mình vào trong gông cùm của không gian, thời gian, hình hài, sắc tướng hữu hạn.

 Thánh nhân trái lại, xuyên qua được bức màn hiện tượng ấy, vào tới được thế giới Chân Tâm vô biên, vĩnh cửu, thế giới của vĩnh cửu, trường tồn; xuyên qua được tâm thức để vào tới Hư Vô, Chân Thể, đồng đẳng với Thái Hư.

Chính vì vậy mà sách Tham Đồng Khế có câu:

Thánh Nhân tiềm thâm uyên 
聖 人 潛 深 淵

Phù du thủ qui trung         
浮 游 守 規 中. [18]

Dịch:

 Chân Nhân sống rất thâm trầm,

 Nhởn nhơ, khinh khoát, ôm cầm khuôn thiêng.

Tính Mệnh Khuê Chỉ có câu:

Ly chủng chủng biên, 
離 種 種 邊

Doãn chấp quyết Trung.   
允 執 厥 中 [19]

Dịch:

Lìa xa hết mọi vòng ngoài,

Trong Tâm giữ vững, chẳng rời tấc gang.

Con người có 3 phần. Thần, Hồn, Xác. Thần thời Bất biến. Đó là phần Thiên. Đó là Thái Cực trong ta. Còn Hồn, Xác là phần biến thiên, luân hồi, sinh tử.

 Chúng ta hay Lão Tử, hay Trang Tử, Liệt Tử hay chư Tiên trong Đạo Lão, cũng đều có một Thái Cực, một Thần, một Đạo như nhau nơi căn cốt. Mọi người khác nhau là từ ở các tầng lớp biến thiên nơi hồn phách, trí não, lục phủ, ngũ tạng bên ngoài.

 Chúng ta khác với Lão, Trang, chẳng những vì tâm hồn, thể phách khác nhau, mà còn khác hơn nữa là vì Lão, Trang thời biết trở về khế hợp với Đạo, với Thái Cực nơi tâm, biết:

Phục qui ư Vô Cực. (ĐĐK, tr. 28)

Phối Thiên (ĐĐK, tr. 68)

Hưu hồ Thiên Quân (yên nghỉ trong Trời) (Nam Hoa Kinh, ch. 2, C).

Đắc kỳ hoàn trung (vào được trung điểm vũ trụ) (Nam Hoa Kinh, ch. 2, C).

Còn chúng ta thì cứ luẩn quẩn nơi các vòng sinh, tử, hiện tượng, ái, ố bên ngoài, vì thế không thoát được sự hấp dẫn của vạn hữu (Attraction Universelle, Attraction électro-magnétique), và vì thế không thể băng mình tới cõi siêu việt được…

Đã biết trong ta có Đạo, làm sao tìm cho ra, làm sao mà kiểm chứng?

1. Người xưa cho rằng: Muốn tìm cho ra Đạo, ra Thái Cực trong con người, phải trở về Nguyên Thuỷ, Gốc Gác, vì thế nên phải tìm Đạo khi con người thoạt sinh thân, thụ khí.

Tử Dương Ông viết: «Khuyến quân cùng thủ sinh thân xứ.»  勸 君 窮 守 生 身 處.

Lại viết:

Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ, 
窮 守 生 身 受 氣 初

Hạo quái thiên cơ câu tiết tận         
皓 怪 天 機 俱 洩 盡 [20]

Trương Cảnh Hoà có thơ:

Hỗn nguyên nhất khí thị Tiên Thiên:   
混 元 一 氣 是 先 天

Nội diện hư vô, lý tự nhiên.                   
內 面 虛 無 理 自 然

Nhược hướng vị sinh tiền kiến đắc,     
若 向 未 生 前 見 得

Minh tri tất thị Đại La Tiên.             
明 知 必 是 太 羅 仙 [21]

Dịch:

Hỗn Nguyên nhất khí ấy Tiên Thiên,

Tịnh tĩnh, hư vô, khớp tự nhiên.

Từ trước sinh ra, tìm mới thấy,

Hiểu thông nhẽ ấy, chính Chân Tiên.

2. Người xưa chỉ thêm rằng khi ta đã sinh ra, thì Đạo ở nơi sinh xuất ra mọi niệm lự. Người xưa gọi thế là «Niệm Đầu Động Xứ»

 Trần Nê Hoàn nói: «Niệm đầu động xứ vi Huyền Tẫn». [22]

3. Dẫu sao, thì Trời, thì Đạo cũng ở trong ta. Trang Tử viết: «Thiên tại nội, Nhân tại ngoại.» [23]

Sách Thượng Phẩm Đơn Pháp Tiết Yếu cũng quyết rằng Đơn, hay Đạo, hay Huyền Quan Khiếu, hay Tổ Khiếu chắc chắn là ở trong ta:

 Tại Nhân thân trung     
 在 人 身 中

 Mạc hướng ngoại cầu. 
 莫 向 外 求

và viện dẫn Kim Đơn Tứ Bách Tự cũa Trương Tử Dương:

 Thử khiếu phi phàm khiếu,
 此 竅 非 凡 竅

 Càn Khôn cộng hiệp thành     
 乾 坤 共 合 成 [24]

4. Tống tiên sinh trong bài Giải Mê Ca cho biết:

«Đạo đã ở sẵn trong Nê Hoàn nơi óc não con người (Nê Hoàn, Niết Bàn, Tâm):

 Đạo bất viễn, tại Nê Hoàn. 道 不 遠, 在 泥 丸 [25]

5. Để giản dị hoá, và phổ thông hoá, cách thấy Đạo, thấy Trời, tôi cho rằng: Lương Tâm là Tiếng Trời. Lương Tâm là Đạo, là Trời.

 Nghe được tiếng Lương Tâm là nghe được tiếng của Đạo, của Trời, là chứng minh được rằng trong Thân có Đạo, có Trời.

 Lương Tâm thời hằng cửu, bất biến, Đông Tây, kim cổ ai cũng như ai, mà chỉ có Thái Cực, có Trời trong ta mới hằng cửu, bất biến, nên chắc chắn Lương Tâm là Thiên Tâm.

Còn Nhân Tâm thời biến thiên, nên chắc chắn đó là Vọng Tâm, là Tư Tâm.

Đạo Học Từ Điển bình về Lương Tâm như sau:

«Đó là Thiên Tâm chi Tâm, bổn lai chi linh tính. Ai ai cũng đều có đủ, lương tâm nào cũng hoàn mỹ, viên thành. Nho nói: Không nghĩ sái quấy, tức là nhận được tiêu chuẩn hoàn thiện của Lương Tâm. Thích nói: Ly nhất thiết vọng tâm tức kiến Như Lai. Như Lai tức Lương Tâm vậy.Đạo nói: Trừ nhất thiết phiền não, sẽ được tâm thanh tịnh.»

 Nói đến Lương Tâm, không thể nào không nhắc tới một danh nho thời Minh là Vương Dương Minh (1472-1528) với Học Thuyết về Lương Tri của Ông. Trong phần phụ lục, sẽ sao lại những bài thơ bất hủ của Ông về Lương Tri, Lương Tâm.

6. Hai chiều Thuận, Nghịch nơi con người.

Nếu ở trong vũ trụ có 2 chiều tiến thoái, thuận nghịch, vãng lai, thì ở nơi con người cũng có 2 chiều tiến thoái thuận, nghịch đó.

Tưởng cũng nên nhắc lại:

Chiều Thuận là chiều từ Bản Thể sinh xuất ra hiện tượng.

Chiều Nghịch là chiều từ Hiện Tượng, vạn hữu quay trở về Bản Thể.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ thì ở nơi con người, chiều Thuận được phác hoạ như sau:

TÍNH – TÂM – Ý – TÌNH – VỌNG (Mê Vọng).

Và chiều Nghịch:

VỌNG – TÌNH – Ý – TÂM – TÍNH. (Bản Thể). [26]

Nhiều sách khác cho rằng: Chiều Thuận là chiều Thần sinh Khí, Khí sinh Tinh.

Chiều Nghịch là chiều Tinh hoá khí, Khí hoá Thần, Thần hoàn Hư, phục qui Vô Cực.

Cũng nên ghi nhận rằng: Trong chiều Thuận thời Thần Tán, Khí Sơ 神 散 氣 疏. Trong chiều Nghịch thì Thần Ngưng. Khí Tụ 神 凝 氣 聚 [27]

Chiều Thuận sinh nhân, sinh vật.

Chiều Nghịch sinh Tiên, sinh Thần, Thánh, Phật.

Tiên học từ điển định nghĩa:

Thuận là từ Vô nhập Hữu, Nghịch là từ Hữu nhập Vô, và đưa ra những câu:

Thuận sinh nhân, Nghịch sinh đơn (Trương Tam Phong).

Thuận vi Phàm, Nghịch vi Tiên, chỉ tại trung gian điên đảo điên. (Vô Căn Thụ).

Thuận tắc sinh Phàm, Nghịch tắc sinh thánh.

Thị tắc sinh Nhân, sinh Đơn, lý vô nhị trí dã.

Nói cho rõ hơn, chiều Thuận là chiều hướng ngoại, đi ra ngoại cảnh. Chiều Nghịch là chiều hướng nội, đi vào nội tâm.

– Đi ra ngoại cảnh là đi vào Đời, bất kể ngoại cảnh ấy là đền đài, miếu mạo, Thần, Phật, chi chi đi nữa.

– Đi vào nội tâm, mới là vào Đạo, mới là đi Đạo.

Có vậy mới hiểu được lời đức Thái Thượng: «Ta từ vô lượng kiếp quan tâm đắc Đạo, và tới được Hư Vô.» [28]

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: «Muốn thoát luân hồi, phải thể hợp với Chí Đạo, muốn thể hợp với Chí Đạo, tất phải quán chiếu Bản Tâm. Muốn quán chiếu Bản Tâm, tất phải dắm mắt hồi quang,nhìn vào Hư Không, đem ánh sáng Tuệ Quang chiếu diệu vào nơi mà Thất Tình chưa nhen nhúm, nơi mà Bản Thể chưa bị Bát Thức làm ô nhiễm, ngoài thì tuyệt hết chư duyên, trong thì tuyệt hết chư vọng. Hợp nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tỵ tức, khoá thiệt khí. Tứ chi bất động để cho ngũ thức của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân quay về gốc gác, như vậy tinh, thần, hồn, phách, ý sẽ yên vị, suốt cả 12 giờ trong ngày, mắt luôn nội quan, quán chiếu, nhìn vào Khiếu ấy; tai trở ngược lại lắng nghe Khiếu ấy; đầu lưỡi thường phong bế Khiếu ấy. Vận dụng, thi vi, niệm niệm không rời Khiếu ấy.» [29]

7. Tìm Đạo nơi Nhất niệm bất sinh.

Như vậy, đã biết Đạo ở nơi đâu, ta sẽ tìm được Đạo.

Người xưa biết rằng Đạo ở «niệm đầu động xứ», nên đã nói:

 Nhất niệm bất sinh, toàn thể hiện, 
 一 念 不 生 全 體 現

 Lục căn tài động, bị vân già.                   
 六 根 栽 動 被 雲 遮 [30]

 Dịch:

 Một niệm chưa sinh toàn thể hiện,

 Lục căn vừa động bị mây che.

(Tú Tài Trương Chuyết)

*Tùng Giang, Vương Cảnh Dương Duy Nhất nói:

Yếu tri Tính Mệnh an thân xứ, 
要 知 性 命 安 身 處

Ý vị manh thời hợp Thái Hoà.       
意 未 萌 時 合太 和 [31]

Dịch:

Biết nơi Tính Mệnh sinh thân xứ,

Lúc ý chưa sinh, hợp Thái Hoà.

Lại nói:

Dục niệm vị trừ, không học Đạo,

Tham tâm bất đoạn, mạc cầu Tiên. [32]

Dịch:

Dục niệm chưa trừ, không học Đạo (học Đạo uổng công),

Tham tâm chưa tuyệt, uổng cầu Tiên.

Tiêu Dao Đại Sư viết:

«Nếu mà một niệm không sinh tức thoát sinh tử. Tới được một nơi một niệm không sinh, là thấy được Bản Lai Diện Mục.» [33]

Hoài Nam Tử viết: «Thanh tĩnh vô vi, nhập ư Thiên môn». [34]

Chúng ta kết luận đoạn này bằng 2 bài thơ tứ tuyệt:

Học Đạo, tu cùng Thiên Địa Tâm,   
學 道 須 窮 天 地 心

Hãn văn thế thượng, hữu tri âm.       
罕 聞 世 上 有 知 音

Đô duyên thử lý nan khinh tiết,         
都 緣 此 理 難 輕 洩

Tận hướng bàng hề, khúc kính tầm. 
盡 向 旁 兮 曲 徑 尋 [35]

Dịch:

Học Đạo phải rành Thiên Địa Tâm,

Ít nghe trần thế có tri âm,

Toàn vì nhẽ ấy, không khinh tiết,

Đường tà, nẻo vạy, mới đâm sầm.

Duy Giác Thiền Sư viết:

Khuyến quân học Đạo, mạc tham cầu,
勸 君 學 道 莫 貪 求

Vạn sự vô tâm, Đạo hợp đầu,               
萬 事 無 心 道 合 頭

Vô tâm thuỷ thể Vô Tâm Đạo,               
無 心 始 體 無 心 道

Thể đắc Vô Tâm Đạo dã hưu.         
體 得 無 心 道 也 休 [36]

Dịch:

Khuyên ai học Đạo chớ tham cầu,

Vạn sự vô tâm, hiệp Đạo mầu.

Vô Tâm khế hợp Vô Tâm Đạo,

Khế hợp Vô Tâm, Đạo mới cao.

******************       

PHẦN QUAN TRỌNG–XIN XEM THẬT KỸ

Chỗ cao siêu nhất của Đạo Lão là dạy con người Phối Thiên.

Lão Tử trong chương 68 Đạo Đức Kinh đã viết: Phối Thiên là cực điểm của người xưa.

Các đạo sĩ lớn xưa nay cũng coi mình là Vô Cực, là Thái Cực, là Trời.

Đạo học cầu chân, chương X, viết:

Hướng tiền, thần tụ, đồng Vô Cực,

Kim tán, trần ai mãn thế đồ.

Dục qui Chính Vị Hoàng Trung Lý,

Nê hoàn vạn vựng kíp hồi qui.

Dịch:

Khi xưa Thần Tụ, đồng Vô Cực,

Nay tán:Trần ai mãn thế đồ.

Muốn về Nguyên Vị Hoàng Trung Lý,

Nê Hoàn vạn vựng kíp hồi qui.

Lão giáo chủ trương rằng khi ta chưa sinh ra, thì là Trời, là Thuần Kiền. Nhưng khi ta đã sinh ra, thì chúng ta biến thành Ly. Mà quẻ Ly là quẻ Kiền bị thay ruột bằng một hào Âm. (Ngã sinh chi tiền, Thiên vi chủ, Ngã sinh chi hậu, Tâm vi chủ). Nên tất cả công trình tu luyện là phải biết dùng Hào Dương của quẻ Khảm để biếân Ly, thành Kiền. Đó là Khầu quyết Dĩ Khảm Điền Ly, biến Ly thành Kiền.

Nam Hoa Kinh viết: Thiên tại nội, Nhân tại ngoại. (Nam Hoa Kinh, chương XVII, Thu Thuỷ, cuối đoạn A) (Trời ở trong, người ở ngoài)..

Vì trong ta có Trời, nên tu luyện cốt là bỏ được cái Lốt Người, mà giữ nguyên được cái Cốt Trời.
Đạo Lão gọi thế là Tâm Tử Thần Hoạt, Tâm con người có chết đi, thì Thần bên trong mới sống động.
Trang Tử gọi thế là Dữ Thần vi Nhất. Nên Một với Thần (Nam Hoa Kinh, Khắc Ý, cuối phần B).

Các vị Đạo Sĩ xưa đi theo hai con đường:

1. Một là Đạo Học của Lão Tử, Liệt Tử, Trang Tử v… v với chủ trương Thanh Tĩnh, Vô Vi, Thủ Trung Bão Nhất.

Đạo Đức Kinh chương LXII viết:

Đạo là bí quyết muôn loài,

Là châu, là báu của người hiền lương.

Đạo còn là chốn dựa nương,

Cho người bạc đức có đường dung thân.

Lời hay, ý đẹp gian trần,

Đều do nguồn đạo tinh thuần phát ra.

Mấy đời những kẻ gian tà,

Mong nhờ lượng cả khỏi ra thân tàn.

Cho nên đã tiếng vua quan,

Phải đâu rỡn ngọc, đùa vàng trêu ngươi.

Phải đâu tứ mã rong chơi,

Vua quan cốt để Tiến Trời vào thân.

Người xưa chuộng Đạo muôn phần,

Vì khi Đắc Đạo luỵ trần tiêu tan,

Đạo là vật báu thế gian,

 2. Hai là Tiên Học, đặt cho mình mục tiêu phản lão, hoàn đồng, trường sinh bất lão.

Nguỵ bá Dương (thế kỷ 2) tác giả bộ Tham Đồng Khế, là người đã xây nền tảng Tiên Học. Nhưng Tiên Học hay Nội Đơn (Esoterical Alchemy) hưng thịnh từ thời nhà Hán.

Đó là chủ trương, từ thời nhà Hán, của Hán Chung Ly, của Lữ Đồng Tân (798-) cho tới các vị tổ Tiên Học sau này như Lưu Thao, Trương Bá Đoan (984-1082), Tiết Đạo Quang, Trần Nam, Bạch Ngọc Thiềm (Nam Tông), Vương Trùng Dương (1112-1170) với bảy đệ tử là Khưu Xử Cơ (1148-1227), Lưu Xử Huyền, Đàm Xử Đoan (1123-1185), Mã Ngọc (1123-1183), Hách Đại Thông (1140-1212), Vương Xử Nhất (1142-1217), và Tôn Bất Nhị (1119-1182); (Bắc Tông); Lục Tiềm Hư (1520-1606) (Đông Phái); Lý Hàm Hư (đời Thanh) (Tây Phái); Lý Đạo Thuần (đời Nguyên) (Trung Phái) với những hậu duệ trứ danh như Doãn Chân Nhân sư đệ, Huỳnh Nguyên Cát, Lưu Nhất Minh v.v…

Phái Tiên Học đóng góp rất nhiều cho tư tưởng nhân loại:

 * Chẳng hạn họ đã tìm ra được rằng: Nê Hoàn Cung trong trung tâm đầu não con người chính là Bản Thể con người, chính là Căn Nguyên và Cùng Đích con người. Họ gọi đó là Thiên Đường, là Thiên Tâm, là Bồng Lai v.v… (xem Chú Thích 17 của chương này) )

 * Họ chủ trương Tính Mệnh Song Tu. Mà Tính là Thái Cực là Tuyệt đối. Mệnh là Âm Dương, là Tương Đối. Chân Mạch Tử cho rằng: Thần là Tính, Tức (Khí, Hơi) là Mệnh (Tiên Học, tr. 35). Ngộ Chân Trực Chỉ viết: Tính là Pháp Thân thượng sự, Mệnh là Ảo Thân thượng sự. Tính là Vô Vi chi đạo, Mệnh là Hữu Vi chi đạo (Ngộ Chân trục chỉ, tr. 1).

 * Họ dạy con người phải biết thở qua 2 Mạch Nhâm Đốc. Như vậy con người có 2 cách thở. Một là Thở bằng Mũi mà người xưa gọi là Phàm Tức, và Thở qua 2 Mạch Nhâm Đốc mà người xưa gọi là Chân Tức. Khi biết thở bằng Chân Tức, thì thở bằng mũi sẽ đình. Huỳnh Nguyên Kiết gọi thế là Phàm Tức đình nhi Chân Tức hiện.

Tôi đã bỏ ra nhiều thì giờ để luyện tập lối thở qua hai Mạch Nhâm Đốc, và kiểm chứng được rằng người xưa nói thật không ngoa. Có điều là lối luyện tập trên rất là nguy hiểm, và rất khó luyện, vì không có thày truyền. Cho nên từ khi sang Mỹ tôi đã bỏ không còn luyện tập như xưa nữa, vì sợ sẽ Thọ Cùng Thiên Địa nhất ngu phu (là một kẻ ngu phu sống lâu cùng trời đất).

* Họ biết rằng 2 mạch Nhâm Đốc là một vòng Từ Tuyến đứt quãng, nên lúc thở qua Nhâm Đốc, phải biết Khoá Lưỡi (Để) và Khép Chặt Hậu Môn (Toát).

Tiên gia có khẩu quyết: Hậu Thăng tiền Giáng Định Nhất Chu (Trước xuống sau lên, định một vòng). Mạch Đốc là Thăng là Tiến Dương Hoả, Mạch Nhâm là Giáng, là Thoái Âm Phù.

*Thiết tưởng nên nói thêm về 2 Mạch Nhâm Đốc và Nê Hoàn Cung trong con người.

Ở ngoài vũ trụ thì Vòng Hoàng Đạo là vòng Đại Chu Thiên. Quần tinh đều xoay quanh vòng Hoàng Đạo này. Tâm Điểm bất biến của vũ trụ là sao Bắc Thần hay nói đúng hơn là khoảng không cách sao Bắc Thần 1 độ. Nhà Thiên Văn Tổ Hằng Chi (430-501) đã khám phá ra chuyện này.

Còn trong con người thì 2 Mạch Nhâm Đốc là Vòng Tiểu Chu Thiên, còn Nê Hoàn Cung hay Tổ Khiếu là Trung Cung Thái Cực trên đầu. Huyệt Vĩ Lư là quẻ Phục, Huyệt Bá Hội là quẻ Kiền. Huyệt Thừa Tương, chỗ lõm dưới môi dưới là quẻ Cấu, Huyệt Hội Âm là quẻ Khôn. Thần dẫn Khí qua tủy sống lên Nê Hoàn (Thần Tức tương y), rồi lại từ Nê Hoàn chuyển qua Thừa Tương xuống Hội Âm. Cứ như vậy hoài. Khi Thần khí lên tới Nê Hoàn, thì con người có thể ngưng thở (Định Tức). Đó là đi vào Đại Định (samadhi). Đại Định tức là Thai tức (respiration embryonnaire). Xưa có những người nhập định được cả giờ hay nhiều giờ; người xưa tính giờ bằng thắp tàn mấy nén nhang. (Xem Thái Thanh Trung Hoàng Chân Kinh, tr. 7a, Pháp Quyết Minh Chỉ, tr. 10b, quyển 4. Tiên Thiên Chính Lý Trục Luận, tr. 33a, Đạo Nguyên Tinh Vi Ca quyển thượng,tr. 15a, Sao Kiểu Động Chương, quyển Hạ, tr. 8a, Pháp Quyết Minh Chỉ, q. 5, tr. 17a, q. 8, tr. 15a, q. 9, tr. 6a, Tiên học diệu tuyển tr. 345 v.v…).

Tuy nhiên nhiều đạo gia thường lấy Hạ Đơn Điền (huyệt Khí Hải phía dưới Rốn) làm nơi thu thần, định khí. (Xin đọc Tính Mệnh Khuê Chỉ). Tôi không bàn thêm.

 Như vậy Đạo Lão đã tìm thấy Trời, thấy Đạo, thấy Thái Cực trong Tâm, và tìm ra cách phối Thiên, ngay trong con người. Tôi không muốn đi sâu thêm vào vấn đề phức tạp này.

Cách hô hấp đặc biệt của Đạo Lão trên đây đã trở thành môn Khí Công, hay Nội Công của Trung Hoa (Xin đọc bộ Phương Xuân Dương, Trung Quốc Khí Công Đại Thành Tập, Cát Lâm Khoa Học Kỹ Thuật xuất bản xã).

 *Tiên Gia còn đề cao Mạch Âm Kiều. Các sách Tiên Học còn gọi nó là Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan, Sinh Tử Lộ hay Sinh Tử Khiếu, Hư Nguy Huyệt, Tẫn Môn, Tử Lộ v.v…

Âm Kiều cắt 2 mạch Nhâm Đốc nơi khỏang giữa Hội Âm (Nhâm Mạch) và Trường Cường, Vĩ Lư (Đốc Mạch). Âm Kiều dưới thông tới gót chân, trên thông tới Tình Minh (mắt).

Nó giải thích được câu của Trang Tử trong Nam Hoa Kinh, Đại Tông Sư: Thánh Nhân chi tức dĩ chủng (Thánh Nhân thở bằng gót chân.).

Tôi giải thích thêm vế Nhâm Đốc và Âm Kiều như sau:

Huyệt Hội Âm của Mạch Nhâm là quẻ Khôn. Huyệt Vĩ Lư của Mạch Đốc là quẻ Phục. Âm Kiều cắt chính giữa 2 mạch Nhâm Đốc nên gọi là Sinh Tử Lộ, Phục Mệnh Quan, vì đó là nơi mà con người thoát vòng Sinh Tử (tượng trưng bằng Mạch Nhâm), và được Trời gọi về, sau khi đã làm trọn Mệnh Trời, và trở về được với Căn Trời (Qui Căn Khiếu). Sau đó con người sẽ vào được Cửa Trời (Vĩ Lư). Vĩ Lư chính là cái Cổng Trời, Đạo Bà La Môn cũng gọi Vĩ Lư là Cửa Trời (Brahma’s Gate) (Xem Hồ Phu Thâm, Trung Hoa Đạo giáo Đại Từ Điển tr. 1173, 1174, 1175).

 * Tiên gia sáng lập ra Đơn Đạo

Dưới khía cạnh Triết Học, Đơn Đạo chung qui là tất cả những công trình suy tư, tìm hiểu về Bản Thể Chân Thực của con người, cũng như tất cả các phương pháp các giai trình để thực hiện Bản Thể ấy. Đơn đạo chẳng qua là những áp dụng của Dịch vào phương pháp tu trì.

Theo Dịch, thì Bản Thể vũ trụ là Thái Cực duy Nhất, duy Tinh. Thái Cực này đã sinh xuất ra vũ trụ và con người, bằng cách phóng phát, tán phân (Émanation), và vẫn luôn luôn tiềm ẩn trong lòng sâu con người.

 Suy tư tìm kiếm cốt là tìm ra Căn Bản ấy.

 Tu luyện cốt là để trở về với Căn Bản ấy.

 Trường sinh bất tử chính là khế hợp với Căn Bản ấy.

Nếu Thái Cực đã phóng phát ra con người và ra quần sinh vũ trụ, thì con đường về với Thái Cực là con đường nội tâm, phương pháp tu luyện để trở về với Thái Cực là phương pháp Thu Nhiếp, Ngưng Tụ, Hoà Hài. Con đường Nội Tâm chính là chiều nghịch của vòng Dịch. Nếu Thái Cực đã tiềm ẩn đáy lòng, thì Trường Sinh Dược, mục đích của khoa Luyện Đan cũng đã sẵn có ở nơi Thân, Tâm con người.

Dưới khía cạnh Đạo Giáo, thì Đơn Đạo chính là công trình để tìm cho ra Thượng Đế tiềm ẩn đáy lòng.

Mục đích tối hậu của Đơn Đạo chính là đi đến chỗ hợp nhất với Thiên Tâm, với Thượng đế.

Tất cả các phương pháp tu luyện chung qui là sửa sang cho Tâm Thần trở nên xứng đáng với Toà Ngôi của Thượng Đế chí tôn.

*
* *

 Sau đây, xin bàn qua về khoa Luyện Đơn của Đạo Lão.

1. Trước hết, ta tìm hiểu về chữ Đơn 丹

– Chữ Đơn, đầu tượng Nhật, chân tượng Nguyệt.

Chấm ở giữa là Thử Châu (Thái Cực)

Nét ngang là « Được».

Trước thời Hán, thì gọi là Đạo 道, sau thời Hán thì gọi là Đơn 丹 [37]

Thế nghĩa là: Đơn chính là Thái Cực, bao quát Âm Dương, đã tiềm ẩn sẵn trong lòng mọi người, và thu gọn lại ở thế cực tiểu, như hạt vừng (Thử) theo từ ngữ Trương Tam Phong. Tu Đơn Đạo cốt là để đắc Thái Cực, đắc Đạo, vì Đơn chính là Đạo, là Thái Cực vậy.

Đơn chính là Độc Nhất. Chỉ có Đạo là Độc Nhất Vô Nhị, cho nên gọi là Đơn.

Trời được Một thời trong xanh, đất được Một thời đầy đặn, người được Một thời Trường Sinh. [38]

Định nghĩa này cho thấy: Muốn trường sinh phải Đắc Đơn, Đắc Đạo, Đắc Nhất.

 – Kết Đơn chi Đạo chỉ là Nhất mà thôi. Mà Nhất chẳng qua chỉ là Hư mà thôi. [39]

 Định nghĩa này đưa ta trở về với Hư với Vô Cực.

 Định nghĩa này còn cho thấy Đơn là Thái Cực tiềm ẩn trong thân.

 – Tâm là Đơn, Đơn là Tâm. [40]

 – Đơn là Đạo, Đạo là Đơn. [41]

 – Đơn là Bản Thể, là gốc gác của Trời đất, vạn vật.

Cái gì là Gốc của Trời đất, vạn vật? Đó là Đơn, là Đạo. Nó Hư Vô không thể đặt tên, nên tạm gọi là Đạo. Hư sinh Một, Một sinh Vạn, Vạn qui Nhất, Nhất qui Hư. [42]

Định nghĩa này lại càng cho thấy: Đơn là Thái Cực và sách Đại Động chân kinh cũng cho rằng:

Muốn tìm gốc gác phải tìm nơi Thái Cực.[43]

Xướng Đạo Chân Ngôn còn cho rằng: khi con người bừng tỉnh, nhận ra được Thái Cực nơi Tâm, tức là nhìn thấy Bản Lai Diện Mục của mình, thấu triệt được Căn Nguyên của mình. [44]

Những danh từ như:

– Cùng thủ sinh thân, thụ khí sơ. [45]

– Thử mễ bảo Châu. [46]

– Nhất lạp Kim Đơn. [47]

– Nhất lạp túc [48]

đều là những danh từ để chỉ Thái Cực tiềm ẩn nơi Tâm.

– Kim Đơn: Kim là Pháp Thân bất hoại. Đơn là Thực Tướng Viên Mãn. [49]

Định nghĩa này cho thấy: Đơn của Lão Giáo tức là Pháp Thân của Phật Giáo.

– Đơn Đạo dạy con người con đường Hoàn Phản, Phản Bản, Hoàn Nguyên. Chính vì thế mà người xưa định nghĩa:

Thất phản là Phản Bản.

Cửu Hoàn là Hoàn Nguyên.[50]

2. Muốn phản bản hoàn nguyên phải đi theo chiều nghịch. chiều hướng nội.
-Muốn phản bản, hoàn nguyên phải đi theo chiều nghịch, chiều qui tâm, hướng nội.

 «Thuận sinh nhân, nghịch sinh Đơn.» (Trương Tam Phong).

 «Thuận vi phàm, nghịch vi tiên.» [51]

 « Phải hồi tâm, mới có thể hướng Đạo. [52]

Tôn Bất Nhị viết:

 Thuận kỳ cơ, để hành nhân đạo. [53]

 Nghịch kỳ cơ, để hành Tiên Đạo. [54]

 Sinh cơ ngoại phát, gọi là Thuận. [55]

 Sinh cơ nội liễm, gọi là Nghịch. [56]

Tiên Học Diệu Tuyển viết: «Kim đơn Đại Đạo từ Hữu Vi nhập Vô Vi, tức là Liễu Mệnh (lo cho thân thể khang cường) (Nguyễn Văn Thọ), kiêm Liễu Tính (tu tâm, luyện Thần ) (Nguyễn Văn Thọ), có như vậy Thần Hình mới song toàn, viên mãn.» [57]

 Xướng Đạo Chân Ngôn viết:

 «Tâm nội quan tâm, mịch bản tâm,

 Tâm tâm câu tuyệt, kiến Thiên Tâm.

 Chân Tâm minh triệt, thông tam giới,

 Ngoại đạo, thiên ma bất cảm sâm.» [58]

 Dịch:

 Rong ruổi trong tâm, kiếm bản tâm,

 Phàm tâm diệt tích, kiến Chân Tâm.

 Chân Tâm minh triệt, thông tam giới,

 Ngoại đạo, thiên ma chẳng dám sâm.

«Xưa nay, thánh hiền cầu Đạo, đều không hướng ngoại tìm cầu. Chỉ tĩnh định mà cầu ở nơi nhất tâm…trong đó có đủ mọi sự.» [59]

 Tôn Bất Nhị còn gọi công trình đi từ Hậu Thiên trở về Tiên Thiên là Cửu Chuyển hoàn đơn, hay Phản Hoàn, Nghịch Chuyển. [60]

 Kim Đơn Đại Đạo trọng tại Nghịch Chuyển Tạo Hoá, cho nên nếu Tạo Hoá phát tán đi từ Nhất ra Vạn, để sinh hóa ra vạn hữu, thì Tu Đơn phải đi từ Vạn trở về Nhất, phải thu nhiếp, hòa hài, tập hợp để trở về với Thái Cực Tiên Thiên. [61]

Trương Bá Đoan cũng lý luận tương tự như vậy. Ông viết: «Nhận rằng Đạo từ Hư Vô sinh xuất vạn vật, theo chiều Thuận, còn Tu Nội Đơn thời đi ngược lại: Phải trở về Hư Vô, phải hợp nhất với Đạo.

Luyện Đơn diệu dụng, theo Kiền Khôn,

Kiền Khôn vận chuyển, sinh Ngũ Hành.

Ngũ Hành thuận chuyển sinh sống chết,

Ngũ Hành nghịch chuyển hoá Kim Đơn.»  [62]

3. Phải thu nhiếp tất cả về Một.

– Thu nhiếp Ngũ Khí, Ngũ Hành (Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý) trở về Thái Cực.

Người xưa gọi thế là Toàn Thốc Ngũ Hành hay Ngũ Khí Triều Nguyên.

– Thu nhiếp Tứ Tượng (tinh thần, hồn, phách) về với Thái Cực. Người xưa gọi thế là: Tứ Tổ qui gia.

– Thu Nhiếp Tam Tài về cùng Thái Cực (Tinh, Khí, Thần). Tam Hoa qui đỉnh.

– Thu Nhiếp Lưỡng Nghi về cùng Thái Cực (Lưỡng Nghi đây là Thần Khí). Và tới đây, thì các danh từ trở nên vô cùng hùng hậu, bởi vì thay vì dùng 2 chữ Thần Khí, thì người ta nói Long Hổ: Anh Nhi, Xá Nữ; Kim Ô, Ngọc Thố; Diên, Hống; Hắc Qui, Xích Xà; Khảm Ly; Thủy Hỏa; Âm Dương; Kim tinh, Mộc dịch; Mã Ngưu; Thần Thủy, Hoa Trì v.v…

4. Thu Nhiếp tất cả về Thái Cực, Trung Cung.
– Muốn thu nhiếp, phải thu nhiếp về một nơi nào. Nguyên tắc là thu nhiếp về Trung Cung, Thái Cực. Lúc ấy, Trung Cung Thái Cực được gọi là Huỳnh Bà Xá, Trung Cung, Trung Hoàng, Mậu Kỷ Môn, Phục Mệnh quan, v.v…

Nhưng trên thực tế là thu nhiếp về 1 Đơn Điền nào đó trong con người (hoặc Thượng, Trung, Hạ). Nhưng chung qui, thường là thu nhiếp về Thượng Đơn Điền hay Nê Hoàn Cung.

Tính Mệnh Khuê Chỉ tóm tắt bằng câu sau: «Tứ Tượng, Ngũ Hành toàn thốc ư nhất đỉnh. Hồn hữu linh ư Thiên Cốc, Lý Ngũ Khí ư Nê Hoàn.» [63]

Nếu ta dùng quan niệm Đạo Giáo mà tìm hiểu khoa Luyện Đơn, ta sẽ thấy một chiều hướng thứ 2, với những nét chính yếu sau đây:

 Trong tâm ta có Đạo, có Trời, mà ta chẳng biết, chẳng hay. Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 11a có thơ:

 Tá vấn Chân Nhân hà xứ lai?

 Tòng tiền nguyên chỉ tại Linh Đài.

 Tích niên, vân vụ, thâm già tế,

 Kim nhật tương phùng, đạo nhỡn khai.

Dịch:

 Chân Nhân ướm hỏi tới từ đâu?

 Tâm khảm tiềm tàng sẵn đáy sâu.

 Thủa trước Linh Đài vân vụ phủ,

 Ngày nay gặp gỡ hết xa nhau.

 Như vậy, con người phải tu tâm, luyện kỷ, định tĩnh, thanh hư, để mong thấy Đạo, thấy Trời hiện ra trong tâm khảm mình.

 Tam Mao Chân Quân có thơ:

 Linh Đài trạm trạm tự băng hồ,

 Chỉ hưá Nguyên Thần lý diện cư.

 Nhược hướng thử trung lưu nhất vật,

 Khởi năng chứng Đạo, hợp Hư Vô.

Dịch:

 Tâm linh vằng vặc tự băng hồ,

 Chỉ khứng Nguyên Thần lý diện cư.

 Nếu để vật chi vương vấn đó,

 Làm sao chứng Đạo, hợp Hư Vô.

5.Thế nào là Đơn thành.

Đây là một vấn đề có thể làm chúng ta điên đầu. Tiên hiền cho rằng sẽ luyện thành Nhất lạp Thử Châu, hay luyện thành Thánh Thai. Tôi suy tư về vấn đề này rất nhiều, và thấy nếu hiểu theo nghĩa đen thì không ổn vì luyện đơn là trở thành Thái Cực, mà Thái Cực thì vô hình tượng, vô thanh, vô xú, nên chúng ta phải hiểu theo nghĩa bóng.

Tôi giải vấn đề như sau:

Đạo Lão chũ trương con người có 3 phần, là:

Tinh (Xác).

Khí (Hồn)

Thân (Thần)

Có Xác thì chúng ta phải làm ăn, và phải luyện xác cho khoẻ mạnh.

Có Hồn, thì chúng ta phải làm người, và phải luyện hồn cho thành một con người xứng đáng với danh vị con người.

Có Thần nên phải làm Thần, Phật, Thánh, Tiên.

Cho nên đơn thành là khi con người bỏ được lốt người, mà mặc lấy cốt Tiên, cốt Trời. Biết mình chính là Tiên, là Phật tại thế.

Sách Thái Thượng Bảo Phiệt viết: «Văn Đạo Tử một hôm gặp một đạo sĩ, liền mời vào nhà đãi đằng, xong mới hỏi đâu là Huyền Môn Diệu Chỉ. Đạo Sĩ đáp:

Tâm tức thị Đạo,

Đạo tức thị Tâm.

Tâm dữ Đạo ly,

Tắc tạo Lục Đạo Tam Đồ,

Tâm dữ đạo hợp,

Tắc tạo Bồng Lai Tam Đảo. [64]

Dịch:

Tâm là Đạo, Đạo là Tâm,

Bỏ Tâm tìm Đạo, hỏi tầm đâu ra.

Tâm kia và Đạo lìa xa,

Thì là Lục Đạo, Tam Đồ chẳng sai.

Tâm Kia mà hợp Đạo Trời,

Bồng Lai, Tam Đảo tức thời hiện ra.

Cuối sách Tính Mệnh Khuê Chỉ có một bức tranh, với bài thơ sau của Mã Ngữ:

Tụng Kinh, Trai Giới tổng giai không,

Hà tất tham thiền, uổng phí công.

Kham tiếu danh sơn bôn tẩu khách,

Bất tri Phật tại kỷ tâm trung.

Dịch:

Tụng Kinh, Trai giới thảy đều không,

Khỏi phải tham thiền uổng phí công.

Nực cười thiên hạ tìm trong núi,

Chẳng hay rằng Phật tại tâm trung.

Như vậy là người xưa nhiều người đã tin rằng mình chính là Phật, là Trời. Tiếc rằng chúng ta không có cái nhìn sáng tỏ như vậy.

Người xưa còn nói:

Dữ Đạo vi thể, siêu xuất Thiên Địa. (Có Đạo làm Bản Thể mình, sẽ siêu xuất Thiên Địa).

Chân Nhân khế Đạo cố viết Chí Nhân (Chân Nhân là người kết hợp với Đạo, cho nên gọi là Chí Nhân,)

Tham Đồng Khế cho rằng Đơn thành là thành Phật (Xem Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. 3, chương Linh Đơn nhập đỉnh, trường dưỡng Thánh Thai, tr.376-377), và nuốt được Kim Đan là thoát vòng sinh tử.

Thâu Thạch Giản viết:

Nhất lạp xan hề, Thiên Địa thọ,

Tử sinh, sinh tử bất tương can. [65]

Nuốt hạt Kim Đơn, thọ vô cùng,

Từ nay sinh tử đã thoát vòng,

Thiết tưởng nên nhấn mạnh rằng phải sống sao cho thật tự nhiên. Lão tử dạy trong chương 25 Đạo đức Kinh: «Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên Pháp Đạo, Đạo pháp Tự Nhiên.» (Người khuôn theo phép đất đai, Khuôn Trời Đất lấy, Đạo cai quản Trời. Tự Nhiên, Đạo cứ thảnh thơi.)

 NHỮNG BIẾN THÁI CỦA ĐẠO LÃO QUA CÁC THỜI ĐẠI

Như chúng ta đã thấy, Đạo Lão theo đà thời gian đã khoác nhiều bộ mặt khác nhau:

– Biến thái thứ 1 là từ một triết thuyết, một nghệ thuật sống, một đạo huyền đồng siêu việt, dành cho một ít ẩn sĩ siêu phàm, đạo Lão đã trở thành một tôn giáo ẩn sâu vào lòng quần chúng với những tín ngưỡng, những phù chú ma thuật, những đền miếu, những lễ nghi thờ phụng.

Đạo, hay Nguyên lý tối cao lúc ban đầu dần dần được hình dung hóa, nhân cách hóa thành Thái Nhất, Nguyên Thủy Thiên Tôn hay Ngọc Hoàng Thượng đế. Lão Tử được suy tôn thành Thái Thượng Lão Quân và được tôn sùng như là hiện thân của Thượng đế từ đời nhà Hán.

Đó là công trình của các vua nhà Hán như Hán Văn Đế (179-156) Hán Vũ Đế (140-86) các vua nhà Đường như Đường Cao Tổ, Lý Uyên (620-627), Đường Huyền Tông (713-756), Hiến Tông (806-820), Mục Tông (821-825), Vũ Tông (841-847), các vua nhà Tống như Tống Chân Tông (998-1023), Tống Huy Tông (1101-1126), các vị Thiên sư, cái vị đạo sĩ như Trương Đạo Lăng, Trương Giác, Trương Lỗ, Trương Tu, Trịnh Tư Viễn, Khấu Khiêm Chi, Bão Phác Tử v.v… Về phương diện Đạo giáo, Đạo Lão đã đặt nặng vấn đề giao tiếp với thần tiên, cầu trường sinh bất tử.

– Biến thái thứ 2 của Đạo Lão là bùa chú, phù thủy môn, hô phong, hoán võ, hô thần, trừ quỉ v.v… Đó là những bí thuật của các thầy phù thủy pháp môn, mà ngày nay rất ít người biết được.

– Biến thái thứ 3 của Đạo Lão là các phương thuật dưỡng hình, dưỡng sinh với thủ thuật, công phu như:

. Đạo dẫn, ma sát.

. Võ công như Bát Đoạn Cẩm, Lục Đoạn Cẩm, Thập Nhị Đoạn Cẩm, Thái cực quyền.

. Khí công tức là vận khí điều tức.

. Tĩnh công tức là đặt nặng vấn đề giữ yên tâm thần, định hồn phách.

– Biến thái thứ 4 là đi tìm các phương dược để bổ dưỡng thân tâm.

Chính vì thế mà đã có một số đạo sĩ đã trở thành những y sư danh tiếng như Đào Hoằng Cảnh (452-536), Cát Hồng (281-340), Tôn Tư Mạc (581-682) v.v.

– Biến thái thứ 5 của đạo lão là chủ trương sống thoát vòng cương tỏa của xã hội, sống tùy ý, tùy thích. Đó là chủ trương của Trúc Lâm Thất Hiền thời Tam quốc gồm các nhân vật như Nguyễn Tịch, Kê Khang, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Sơn Đạo, Hướng Tú, Vương Nhung…

– Biến thái thứ 6 của đạo Lão là luyện nội đan để cầu trường sinh bất tử mà người chủ xướng là Ngụy Bá Dương thời Hán (thế kỷ 2), tác giả bộ Tham Đồng Khế.

Phương pháp luyện nội đơn này chẳng qua là vận khí, điều tức, tập trung tâm thần để đi đến chỗ xuất thần huyền hóa. Cho nên, tuy dùng những thuật ngữ đặc biệt, nhưng bộ mặt thực của khoa luyện nội đơn cũng chỉ là tu luyện tâm thần để đi đến chỗ phối kết với Trời với Đạo, mà ta đã đề cập đến rất nhiều ở bên trên.

– Biến thái thứ 7 của đạo Lão là những phương thuật luyện ngoại đơn, gồm tất cả các phương thức làm cho thân xác trở nên khinh phiêu bất tử.

Từ thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch, Tống Vô Kỵ học trò Tiện Môn Tử Cao đã có chủ trương rằng con người có thể thoát xác để trường sinh. Rồi tiếp đến có Bão Phác Tử một người đã dùng cả đời để luyện thuốc trường sinh. Công cuộc cầu trường sinh này gồm:

– Phương pháp Tịch cốc để cho cơ thể trở nên nhẹ nhàng, tinh khiết.

– Hấp thụ khí âm dương tinh hoa của trời đất. Tắm ánh sáng mặt trời để hấp thụ khí dương. Uống sương móc hứng giữa thinh không lúc ban đêm để hấp thụ tinh hoa của khí Âm.

– Dùng những loại kim thạch, tinh hoa của âm dương để luyện thành kim đơn mà uống.

Người xưa cho rằng Lưu Hoàng (Soufre) và Vàng là tinh hoa của Dương. Những chất liệu trên không thể dùng thẳng được nên cần phải chuyển biến tinh luyện.

Muốn ăn Lưu Hoàng người ta dùng Đơn Sa hay Chu Sa hay Thần Sa (Cinabre) tức là một hợp chất gồm Thủy ngân và Lưu Hoàng (S2Hg).

Muốn điều chế vàng nhân tạo người ta dùng Chì có pha bạc hay Thạch tín (Plomb argentifère hay arsénifère). Điều chế chất chì này người ta được Hùng hoàng (Sulfure d’arsenic rouge) hay Thư Hoàng (Sulfure d’arsenic jaune) mà người ta coi như là vàng nhân tạo.

Đơn Sa, Chu Sa, Thần Sa và Hùng Hoàng, Thư Hoàng sau này được coi là linh đơn, hay ít nữa là được coi là những chất liệu chính dùng để chế linh đơn.

Đọc những thành phần các chất liệu dùng để luyện linh đơn như thấy trong bài Bát quỳnh đơn[66] hay Cửu chuyển hoàn đơn,[67] ta thấy chúng toàn là những loại kim thạch tối độc cho cơ thể con người. Hậu quả là các vua chúa đã uống qua linh đơn đều trở nên điên cuồng hay chết non ví dụ:

+ Ai Đế nhà Đông Tấn (361-366)

+ Đường Hiến Tông (805-820)

+ Đường Mục Tông (820-824)

+ Đường Vũ Tông (840-847)

Vị tiên ông chuyên luyện thuốc trường sinh là Cát Hồng Bão Phác tử cũng chỉ hưởng thọ có 61 tuổi.

Sau khi thấy các linh đơn rất là nguy hiểm, các vua chúa đã có những phản ứng khác nhau như sau:

1. Ra lệnh hành quyết hết các thầy luyện đan như đời vua Đường Y Tông (860).

2. Nhận thuốc trường sinh, nhưng chỉ sẽ uống lúc hấp hối như vua Văn Tuyên Đế nhà Bắc Tề (550-559).

3. Bắt các tử tội phải thí nghiệm thuốc trường sinh như trường hợp vua nước Ngụy là Đạo Vũ Đế đã làm năm 400.

Nhà văn hào Tô Đông Pha được biếu thuốc trường sinh, đã viết thư cho bạn như sau: «Mới đây đệ có nhận được một ít chu sa thần dược màu tuyệt đẹp, nhưng đệ không đủ can đảm dùng linh đan ấy.» (Xem Trần Văn Tích, Tư tưởng Lão Trang trong Y thuật Đông phương, tr. 141).

 NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA CÓ THỂ HỌC NƠI LÃO TRANG

Những trình bày và nhận xét trên đã cho chúng ta thấy:

+ Phương pháp luyện ngoại đơn đã hoàn toàn thất bại.

+ Chủ trương xác thân con người có thể nhờ dược liệu, nhờ công phu tu luyện mà trở nên bất tử được chỉ là một ảo vọng, vì hễ là hợp chất, tạp chất thời trước sau cũng phải ly tan. Mà Á Đông vẫn cho thân này là Tứ đại giả hợp thì làm sao mà trường cửu được cho cam?

+ Những chuyện con người có thể bạch nhật thăng thiên cũng là những chuyện huyền thoại hoang đường.

+ Những ma thuật phù chú sẽ dần dần đưa dân chúng vào một thế giới nghi kỵ lẫn nhau, và sợ hãi lẫn nhau. Đời xưa khi vua Hán Vũ Đế lâm bệnh, triều đình đã giết trước sau cả vạn người vì nghi là đã trù ếm vua.

+ Chủ trương con người có thể tịch cốc để cho xác thân trở nên phiêu bồng bất tử cũng đi ngược lại với định luật thiên nhiên.

* Còn như nói rằng con người cần phải dưỡng sinh, cần phải phòng bệnh, ăn ở cho sạch sẽ, ăn uống cho có tiết độ, lao tác sống động cho có chừng mực, đừng quá lao tâm lao lực, giữ cho lòng mình ung dung thoải mái, hồn nhiên khinh khoát, để sống cho khỏe mạnh, để sống cho trọn tuổi đời thì là những bài học hết sức là khôn ngoan và hữu lý, rất đáng cho chúng ta theo.

* Quan niệm vui sống, vui chết là một quan niệm hết sức là hào sảng. Thái độ này sẽ làm cho chúng ta sống bình thản hồn nhiên hết mọi lo âu, sợ hãi.

* Lão Trang lại còn chủ trương sống theo thiên nhiên, rũ bỏ nhân tạo. Đó là một chủ trương hết sức đẹp đẽ, cao siêu, nếu hiểu và áp dụng cho đúng đắn, nhất là vào thời buổi văn minh này, con người đang bị đủ mọi thứ gông cùm ngoại cảnh, lý thuyết, xã hội, tập quán, chính trị, văn minh vật chất buộc ràng, những bậc thức giả cũng nên rũ bỏ bớt những gì nhân vi, nhân tạo, rũ bỏ những gì giả tạo, bôi bác mà sống một cuộc sống đơn thuần, thành khẩn, an nhiên.

* Lão Trang có cái đẹp là từ thời Tuỳ, Đường đến nay nhất là từ Vương Trùng Dương và các đệ tử (đời Tống) đều nhất luật chủ trương Tam Giáo Đồng Nguyên, Tam Giáo Hợp Nhất. Đời Minh Gia Khánh 1562, Lâm Triệu Ân soạn quyển Tam Giáo Hội Biên cũng theo chiều hướng đó. Đời Minh Vĩnh Lạc có người soạn quyển Tam Giáo Nguyên Lưu Sưu Thần Đại Toàn, vẽ 181 hình Thánh, Tiên, Phật v.v.. (Xem Ho àPhu Thâm,Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Trung Quốc Xã Hội Khoa Học xuất bản xã, 1995, các trang 1768, 468, 421.)

* Cao siêu nhất là lời kêu gọi của Lão Trang khuyên ta tìm về với Thiên Chân, trở về với Đạo với Trời.

Thiết tưởng chúng ta nên nghe theo lời kêu gọi đó mà rũ bỏ bớt những kiến thức đa đoan phù phiếm của tiểu trí để mà có cái nhìn bao quát của những bậc đại trí, đại huệ, thấy rằng mình hồn dung liên kết với Đạo, với Trời với vũ trụ vạn hữu, để mà sống cho khinh phiêu siêu thoát, tẩy rửa tâm tư cho sạch những tà tâm tà niệm, trở nên thuần nhất, tinh toàn, dữ Đạo hợp chân, dữ Thiên tương phối ….

Tôi nghĩ bàn về Đạo Lão như vậy, đã quá nhiều. Người xưa có câu:

Nhất ngôn bán cú tiện thông huyền,

Hà dụng đơn kinh thiên vạn biên.

*Dịch:-

Thông Huyền một chữ cũng thông,

Đơn kinh lọ phải thuộc lòng ngàn pho [68]

*Nguyễn Văn Thọ

******************       

KHÁI LƯỢC VỀ LÃO GIÁO VIỆT NAM

(Sự bản địa hóa)

(Trích sách Con Đường Tam Giáo Việt Nam của Lê Anh Dũng, Nxb Tp HCM, 1999, từ tr. 11 đến tr. 18)

Cái học Lão Trang trong sáu, bảy thế kỷ trước công nguyên ở Trung Quốc (thời Xuân thu Chiến quốc) là một học thuật tư tưởng. Các đạo gia không chủ trương những điều huyền bí, trước cảnh thiên hạ đại loạn họ chọn cuộc sống ẩn dật, di dưỡng thiên chân. Từ thế kỷ I, thời Đông Hán (Hậu Hán), với Trương Đạo Lăng 張 道 陵, cái học Lão Trang biến thành một tôn giáo, gọi là Đạo giáo, Lão giáo.

Đạo giáo phát triển muôn vẻ. Các đạo sĩ (phương sĩ 方 士) chuyên tâm vào bùa chú (phù chú 符 咒 hay phù lục 符 籙 ), luyện đan. Họ được gọi là phái thần tiên đan đỉnh 神 仙 丹 鼎 và phù lục. Toàn bộ kinh điển Đạo giáo rất phức tạp, gồm 5.485 quyển, gọi chung là Đạo tạng 道 藏, gồm Chính Đạo tạng, Tục Đạo tạng. Đạo giáo có nhiều môn phái, rất phức tạp, một số phái chủ yếu:

– Phái Chính nhất (Thiên sư đạo), phát triển mạnh ở phương Nam, tôn Trương Đạo Lăng làm Thiên sư; con cháu họ Trương đời đời làm thủ lãnh. Các đạo sĩ không xuất gia, gọi là hỏa cư đạo sĩ.

– Phái Toàn chân, xuất hiện thời Liêu Kim, phát triển rộng ở phương Bắc, có cả đạo sĩ và đạo cô, đều xuất gia, gọi là mao sơn đạo sĩ.

Có thể Lão giáo du nhập Việt Nam khoảng thế kỷ II, bấy giờ đã mang màu sắc Đạo giáo. Nguyên vì ở Trung Quốc, sau khi Hán Linh đế mất (năm 189), xã hội đại loạn, người Hán chạy sang Giao Châu lánh nạn rất đông, trong đó có nhiều đạo sĩ tịch cốc (nhịn ăn), luyện pháp trường sinh.

Quan lại Trung Quốc sang đô hộ nước Nam hầu như đều sính phương thuật. Theo Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書, quyển 3, Thái thú Sĩ Nhiếp lâm bịnh, chết đã ba ngày, lại được một đạo nhân là Đổng Phụng đến cho thuốc cải tử hoàn sinh. Lại chép việc Thứ sử Trương Tân (sang Giao Châu từ năm 201) hay đội khăn đỏ, đọc kinh sách Đạo giáo. Đời Đường, năm 865, Cao Biền sang nước Nam đàn áp các cuộc khởi nghĩa của dân Việt. Cao là một thuật sĩ có hạng, chuyên về phong thủy ­嗣水, ráo riết tìm phá long mạch, trấn yểm các nơi anh linh tú khí của nước Nam, cốt ý cho nước Nam không còn sinh ra nhân tài, anh hùng hào kiệt, sẽ phải lệ thuộc dưới ách đô hộ của phương Bắc đời đời.

Đạo Lão Việt Nam cũng khá phức tạp, vừa mang màu sắc Đạo giáo, vừa chịu ảnh hưởng các Đạo gia, và đồng thời cũng kết hợp với Thần đạo 神 道 của người Việt; vì thế, đạo Lão ở Việt Nam có nhiều khuynh hướng.

I. CÁC KHUYNH HƯỚNG TIÊU BIỂU CỦA LÃO GIÁO VIỆT NAM

1. Khuynh hướng phù chú và bạo động

Bùa chú trong một thời gian dài có ảnh hưởng trong các sinh hoạt xã hội. Chẳng hạn, cọp được coi là loài thú tính dương, nên có thể khu trừ tà ma (tính âm), do đó nhiều nhà dán bùa vẽ hình cọp trước cửa để che chở gia đình, và lá bùa ấy có tên trừ tà trị bệnh, trấn trạch bình an.

Đạo giáo có sức lôi cuốn nông dân vào các hội bí mật, hoặc để tương trợ nhau chống lại cường hào ác bá, hoặc để mưu đồ quốc gia đại sự. Đời Trần Phế đế, ở lộ Bắc Giang có Nguyễn Bổ, năm 1379 xưng vương, hiệu Đường lang Tử y. Đời Hồ có Trần Đức Huy cũng dùng phương thuật thu hút đông người theo, bị Hồ Quý Ly dẹp năm 1403. Thời kháng Pháp có đạo sĩ Trần Cao Vân (1866-1916), tên thật là Trần Công Thọ, hiệu Hồng Việt, quê làng Tư Phủ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Miền Nam có Thiên địa hội 天 地 會 lôi cuốn hàng ngàn người. Có Phan Phát Sanh (Phan Xích Long) xưng hoàng đế, nổi lên đánh Pháp (cuối tháng 3.1913); nghĩa quân đeo bùa, mang giáo mác, gậy gộc, bất chấp súng đạn của giặc. Còn rất nhiều những phong trào như thế khắp cả nước, như Mạc Đình Phúc (miền Bắc), Võ Trứ (miền Trung), Nguyễn Hữu Trí (miền Nam)…

2. Khuynh hướng phong thủy và sấm ký

Khoa phong thủy (địa lý) ở nước Nam và việc tiên tri loan truyền sấm ký rất được quần chúng ưa thích. Đời Trần?Hồ ở lộ Tân Hưng có Trần Quốc Kiệt làm quan chức an phủ sứ, soạn Hình thế địa mạch ca. Đời Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), hiệu Bạch Vân Cư sĩ 白 雲 居 士, đời gọi Trạng Trình, nổi tiếng vì nhiều tiên tri ký bí. Đời vua Lê chúa Trịnh ở làng Tả Ao, tỉnh Nghệ An, có Nguyễn Đức Huyên vang danh nhờ khoa địa lý. Đời Tây Sơn ở huyện La Sơn, tỉnh Hà Đông có Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu tử) cũng nổi tiếng về phong thủy.

Sấm ký cũng được nhiều cao tăng sử dụng. Làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh, trong phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi có nhiều nhân vật lừng lẫy: sư Định Không (thế kỷ VIII, đời thứ tám); sư La Quý An (852-939, đời thứ mười); sư Vạn Hạnh (thế kỷ XI, đới thứ mười hai)…

3. Khuynh hướng trường sinh bí thuật

Vua Trần Dụ tông (1341-1369) cầu đạo trường sinh với đạo sĩ Huyền Vân tu ở núi Niết (núi Phụng Hoàng), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đời Trần Thuận tông (1388-1398) có quan tri huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, tên Từ Thức, người Hóa Châu. Đời Trần?Hồ ở xã Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, có Trần Tu vào ẩn tu ở núi Nưa (Na Sơn). Đời vua Lê chúa Trịnh ở huyện Đông Thành có Phạm Viên…

Triều Lê Cảnh hưng có Nguyễn Hoãn, làng Lan Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, làm quan Lại bộ thượng thư, Viện quốc công, Quốc sư Quốc lão. Gia phả họ Nguyễn, mục Tiên khảo đạo tu lục cho biết ông tu tiên từ năm ba mươi ba tuổi (Ất sửu 1745), đọc Đạo đức kinh. Năm bốn mươi bốn tuổi lập tĩnh thất để tu luyện ngay trong nhà. Năm bốn mươi tám tuổi thờ thần Ngũ Nhạc. Sau lại xây thêm tháp mười hai tầng để luyện khí âm dương… Vì cuồng vọng, ông về sau đi lạc sang tà đạo. Mất năm 1792, thọ tám mươi tuổi.

4. Phương hướng thanh tĩnh, nhàn lạc

Triết lý vô vi thanh tĩnh của Lão-Trang ảnh hưởng giới Nho sĩ rất nhiều, tạo cho con người xu hướng ẩn dật, ưa thích gần thiên nhiên, tìm cái thú nhàn lạc bên chén rượu cuộc cờ, tiêu dao với ngón đàn, vần thơ, hay nét thư họa… Xu hướng này thích hợp khi con người không gặp thời, hoặc khi đã chán cuộc đời phồn tạp. Vì thế, Nho sĩ Việt Nam thời xưa luôn luôn trang bị cho bản thân tư tưởng xuất xử. Gặp thời hay, được thi thố tài năng thì xuất 出, tham gia việc nước. Lúc bất đắc chí, khi tuổi già hay chán quan trường thì xin bỏ về điền dã; đó là xử 處.

Đời Trần, Nguyễn Phi Khanh viết:

Bách niên phù thế nhân giai mộng,

Bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên.

(Cuộc đời nổi trôi trăm năm kiếp người như giấc mộng, Ăn trộm được cái nhàn nửa ngày thì ta cũng là tiên).

Đời Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

Nhưng trong mọi việc đà ngoài hết,

Được một ngày là tiên một ngày.

Hay là:

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,

Nhìn xem thế sự tựa chiêm bao.

Đời Lê-Mạc, có Nguyễn Hãng, quê xã Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây, thi đậu hương cống nhưng không làm quan, về ẩn tu ở xã Đại Đồng, phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang. Ông lấy hiệu Nại Hiên. Triều Lê (khi trung hưng) phong tặng là Thảo Mao Dật sĩ. Ông sáng tác những bài phú như Đại Đồng phong cảnh phú, Tam Ngung động phú, Tịch cư ninh thể phú… Những bài này ca ngợi thú ở ẩn non cao.

Đời Tây Sơn, có Phan Huy Ích (1750-1822), quê ở Nghệ An, lấy hiệu Bảo chân Đạo nhân. Năm 1796 ông dựng nhà tại kinh thành Thăng Long, đặt tên là Bảo chân quán. Trong bài ký do ông sáng tác để nói về Bảo chân quán, ông bày tỏ mục đích là để sớm hôm quanh quẩn ở đó, khi dựa bao lơn uống trà, khi đến dòng sông buông câu, khi khảy đàn nhắp rượu, khi ngâm vịnh tùy hứng… Đời Nguyễn có Nguyễn Công Trứ (1778-1858), người xã Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là một con người độc đáo, tiêu biểu chi lối sống xuất xử vẹn toàn của nhà Nho. Ông từng tự hào:

Tri túc, tiện túc; đãi túc, hà thời túc?

Tri nhàn, tiện nhàn; đãi nhàn, hà thời nhàn?

Cầm kỳ thi tửu với giang san,

Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế?

Khuynh hướng thanh tĩnh, nhàn lạc còn thấy được qua thú chơi cây kiểng và hòn non bộ. Người ta chơi một gốc cây sù sì, nho nhỏ, uốn cành sửa lá theo ý riêng, hoặc bày vài hòn đá con con, chông chênh trên một bể nước cạn. Thêm vào vài nhánh lá, chiếc cầu, con thuyền, lác đác một hai tượng sành tí xíu hình lão tiều, ông câu, hay đôi bạn đang đánh cờ… Đó là cả một thế giới riêng của con người đem thu nhỏ lại từ hình ảnh thật của thiên nhiên bao la. Chơi cây kiểng và hòn non bộ từ lâu đời vẫn được coi như thú tiêu khiển thanh tao, giúp con người di dưỡng tánh tình. Nó được xếp hạng không kém bốn thú tài tử cầm, kỳ, thi, họa. Người sành chơi, khi đứng trước một chậu kiểng đẹp, một hòn non bộ khéo đắp, có thể dễ mê mẫn tâm hồn, đắm mình trong sức tưởng tượng phong phú, và quên cả thực tại phồn tạp bên ngoài.

II. LÃO GIÁO KẾT HỢP VỚI THẦN ĐẠO VIỆT NAM

Từ lâu đời, người Việt có một đức tin sâu sắc vào sự trường cữu của anh linh những công thần, hào kiệt. Lúc sống, làm rường cột chống đỡ sơn hà xã tắc, cứu dân giúp nước. Khi thác, trở thành thần thánh, hiển hích, âm phò mặc trợ cho đồng bào. Thần đạo Việt Nam giản dị như vậy, và đó cũng là một truyền thống yêu nước và lòng kính trọng nghìn đời của dân tộc đối với các vị anh hùng, những bậc kỳ tài của đất nước. Cái đình làng, tục thờ thành hoàng, đền thờ hay lăng, miếu các danh tướng lương thần đều là nét tín ngưỡng Thần đạo của người Việt.

Đạo Lão cũng như đạo Phật đã khéo dung hợp, hòa nhập với những tín ngưỡng cổ truyền trong lòng xã hội Việt Nam. Đế quốc phong kiến phương Bắc đã thất bại khi tìm cách dập tắt tín ngưỡng bản địa này của người Việt. Trong lúc nước mất chủ quyền, chính tín ngưỡng Thần đạo đã nuôi dưỡng ý thức quốc gia, khơi lòng yêu nước, để khi thời cơ đến thì gây phong trào khởi nghĩa, đánh đuổi ngoại xâm.

Trong toàn bộ lịch sử lâu dài vừa đấu tranh giữ nước vừa ra sức dựng nước, dân tộc Việt Nam đã chiến đấu bất khuất, không phải chỉ với phương tiện vật chất hữu hình, mà còn có cả sức mạnh vô hình là đức tin mãnh liệt vào khí thiêng sông núi, tin rằng có biết bao thế hệ anh linh tiền nhân dân tộc đang cùng đứng chung chiến tuyến với chính nghĩa của dân tộc để bảo vệ sự độc lập, thống nhất, trường tồn của Việt Nam.

Chính Thần đạo Việt Nam cũng thể hiện tình yêu nước Việt Nam. Người Việt theo đạo Lão nhưng vẫn không hề mất bản sắc của mình. Do đó, bên cạnh các vị thần tiên của đạo Lão theo kinh điển Trung Quốc truyền sang, dân Việt vẫn thờ chung các vị thần của người Việt. Thí dụ, Thông thánh quán ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì) đã thờ thần sông Tam Giang là vị phúc thần của địa phương. Các đạo quán khác thờ thần núi Tản Viên (núi này ở tỉnh Sơn Tây), gồm ba ngọn cao ngất, nên cũng gọi là núi Ba Vì), thờ thần sông Tô Lịch, Lý Ông Trọng… Từ đời Trần, đức Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn được thờ ở Vạn Kiếp, Chí Linh, rồi lan truyền nhiều nơi. Đời Hậu Lê, có đền thờ bà chúa Liễu Hạnh. Các nữ thần khác cũng được dân gian thờ phụng khắp trong nước.

III. MỘT SỐ ĐẠO QUÁN NỔI TIẾNG

1. Thông thánh quán
Ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì), dựng khoảng năm 650-655, đến thế kỷ XIV thì không còn.

2. Thái thanh cung
Cung được dựng ở kinh thành Thăng Long, bên trái. Bên phải là chùa Vạn tuế. Vua Lý Thái tổ (1010-1028) cho cất cung và chùa này khi mới dời đô về Thăng Long.

3. Trấn vũ quán
Cũng được xây dựng lúc vua Lý Thái tổ vừa dời đô về Thăng Long (1010), hiện nay nằm ở góc đường Quan Thánh và đường Thanh Niên, khu phố Ba Đình, Hà Nội. Quán thờ đức Huyền thiên Trấn vũ để hộ trì mặt phía bắc của thành Thăng Long. Quán này còn được gọi là đền Trấn vũ hay Chân vũ. Đời vua Lê Hy tông (1676-1704), tượng đức Trấn vũ được đúc bằng đồng đen cao 3,96 mét, nặng 4 tấn. Năm 1893, lại xây thêm một bệ đá cho tượng. Bệ này cao 1,20 mét.

4. Ngọc thanh quán
Quán nằm trên núi Đại Lai (Thanh Hóa). Năm 1398, Hồ Quý Ly mưu việc dứt ngôi nhà Trần, ép vua Trần Thuận tông (1388-1398) thoái vị, và cưỡng bách vua về tu tiên ở quán này.

5. Nghinh tiên quán (hay Vọng tiên quán)
Nguyên vua Lê Thánh tông chơi Hồ Tây, gặp một thiếu nữ xinh đẹp, xướng họa thơ rất ưng ý nên vua Lê rước lên xe đưa về cung. Khi đến cửa Đại Hưng thành Thăng Long (nay là cửa Nam Hà Nội), thiếu nữ bay lên trời, biến mất. Vua cho cất tại cửa Đại Hưng lầu Vọng tiên để kỷ niệm, sau chốn này thành quán Vọng tiên hay Nghinh tiên nằm ở phố Hàng Bông, Hà Nội.

6. Tiên tích tự
Vua Lê Hiển tông chơi hồ Kim Âu phía nam thành Thăng Long gặp hai cô tiên, nên cho cất Tiên tích tự ở đấy làm kỷ niệm. Hồ Kim Âu nay ở vị trí nhà ga đường sắt Hà Nội.

7. Đền Ngọc sơn
Đền nằm trên một gò đất nổi lên ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm. Thoạt đầu nơi đây thờ đức Quan thánh Đế quân, sau trùng tu lại, thờ Phật, gọi là chùa Ngọc sơn. Năm 1841, biến thành đền thờ đức Văn xương Đế quân. Về sau lại thờ thêm đức Lữ tổ và đức Trần Hưng đạo.

8. Bảo chân quán
Do Phạm Huy Ích cất tại Thăng Long năm 1796.

IV. THƯỢNG SƯ NỘI ĐẠO

Đây là một đạo trường lớn của đạo Lão ở Việt Nam thời xưa. Đời Hậu Lê, Trần Toàn là người làng Yên Đông, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê (thời gian 1527-1529), ông từ quan về quê tu hành, đắc đạo, được Thiên đình phong chức Thượng sư, lo trừ tà khử quái suốt hai vùng châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái (Nghệ An). Thượng sư đến làng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa mở đạo trường. Vua Lê Thần tông (1619-1662) ban cho trường tên là Nội đạo trường. Lúc Thượng sư thoát xác, Vua lại truy phong là Phục ma Thượng đẳng Phúc thần và cho lập đền thờ.

Thượng sư có ba con trai là Nhật Quang, Nguyệt Quang, và Ngọc Quang, đều tinh thông đạo pháp của Thượng sư truyền dạy. Ba vị nổi danh lừng lẫy, đời xưng tán, gọi là Tam thánh Nội đạo. Sau khi Thượng sư về Trời, Ngọc Quang kế tục đạo nghiệp của cha, lãnh phần điều khiển Nội đạo trường.

Triều đình đã công nhận đạo trường này. Nó có uy thế rất lớn. Chi nhánh của Nội đạo trường xuất hiện khắp nơi, nào là làng Từ Quang (tức Từ Minh trước kia, huyện Hoằng Hóa), là làng Yên Đông (huyện Quảng Xương), đều ở tỉnh Thanh Hóa; hoặc ở tỉnh Nghệ An, ở hạt Huệ Lai, tỉnh Hưng Yên; hay ở Nhật Tảo (tỉnh Hải Dương), ở làng Giảng Võ (gần Hà Nội)…

Về sau, Nội đạo trường thờ cả bà chúa Liễu Hạnh, đức Trần Hưng đạo, đức Phù đổng Thiên vương, thần núi Tản Viên, thần Bạch Mã…

V. THI LÃO HỌC

Triều Lý Cao tông (1195) và triều Trần Thái tông (1247) đều mở khoa thi Tam giáo. Riêng về nội dung thi Lão giáo, Nguyễn Đổng chi đã sưu tầm được một đề thi và một bài trả lời các câu hỏi ra trong đề đó. Nghiên cứu tài liệu này, có thể hiểu được phần nào sự học Lão của người Việt đời trước. Sau đây là bài thi:

1. PHÁP MÔN LÀ GÌ?
Mọi pháp quy tôn, muôn đời chẳng đổi, muôn thánh ngàn thần, một môn đồng hội, ấy gọi là pháp môn vậy.

2. PHÙ THỦY LÀ GÌ?
Khí âm khí dương hỗn hợp mà thành ra thiêng, dùng nước đại bi phun cho ma sợ, ấy gọi là phù thủy vậy.

3. PHÁP MÔN LẤY AI LÀM THÁNH?
Pháp môn do Thái thượng Lão quân lập ra cho nên tôn Ngài làm Thánh.

4. PHÙ THỦY LẤY AI LÀM THẦY?
Phù thủy do Chân vũ Tiên sinh lập ra cho nên tôn Ngài làm Thầy.

5. TỨ THÁNH, TỨ GIÁC, TỨ TUNG, TỨ DUY LÀ Ý THẾ NÀO?
Thiên bồng, Thiên du, Bảo đức, Hắc sát gọi là Tứ thánh. Càn, Khôn, Tốn, Cấn gọi là Tứ giác. Thiên hoa, Địa hoa, Lão hạc, Đồng trụ gọi là Tứ tung. Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là Tứ duy.

6. TAM GIỚI, TAM THANH, TAM ĐỘNG, TAM TY LÀ THẾ NÀO?
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới ấy là Tam giới. Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, ấy là Tam thanh. Động chân, Động huyền, Động vi ấy là Tam động. Lôi đình, Linh bảo, Thái huyền ấy là Tam ty.

7. ÔN, HOÀNG, DỊCH, LỆ SINH VÀO BUỔI NÀO?
Vua Hoàng Đế có bốn người con bất tài tên là, Ôn, Hoàng, Dịch, Lệ sinh vào đời Chuyên Húc.

8. TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI SINH ĐƯỢC MẤY CON?
Tốn sinh ra được bốn con là Đông, Tây, Nam, Bắc. Ly sinh được chín con từ Nhất bạch, Nhị hắc đến Bát bạch, Cửu tử. Khôn sinh ra sáu con tức là Thái âm, Lục khí. Đoài sinh ra bảy con tức là Bắc đẩu Thất tinh. Ấy là Tốn, Ly, Khôn, Đoài có hai mươi sáu con vậy.

9. HÀNH MÃN TAM THIÊN SỐ, THỜI ĐƯƠNG TỨ VẠN NIÊN LÀ GÌ?
Số Trời thành 1.000, số đất thành 1.000, số người thành 1.000, ấy là hành mãn tam thiên số. Từ Thái dịch đến Thái sơ là 10.000 năm, từ Thái sơ đến Thái thủy 10.000 năm, từ Thái thủy đến Thái tố 10.000 năm, từ Thái tố đến Thái cực 10.000 năm. Ấy là thời đương tứ vạn niên.

10. ĐẠO CẠO LONG HỔ PHỤC, ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH CHỈ VỀ THẦY NÀO?
Đạo chí cao không thể vượt qua được, mà rồng là dương tinh, cọp là âm tinh đều phục đạo cao. Đức chí hậu không thể vượt qua được, mà quỷ là khí tán, thần là khí tinh đều sợ đức trọng. Ấy là Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh, chính là chỉ sư Phổ Am vậy.

11. PHÉP BẮT TÀ TRÓI QUỶ DÙNG LINH PHÙ NÀO? ĐỌC THẦN CHÚ NÀO?
Nếu được đàn tràng cho chỉnh túc, pháp tịch cho hẳn hoi, niệm thấy tam giới mà muôn thánh đều đến, trống đánh ba hồi mà muôn thần đều nhóm họp, trước phải gọi tướng, thứ phải sai đi. Tưởng đến thiên võng mà kín đáo ra bùa, bắt tay ấn mà thiêng liêng chú bút, bốn chữ thánh đè năm chữ quỷ, chữ (…?) hợp với vạn linh. Dùng những bùa thiêng Bạch xà, Độc cước, đọc những thần chú Thái thượng, Tề thiên.

12. MUỐN CHO ĐỜI NÀY, DÂN NÀY ĐỀU VÀO TRONG ĐÀI XUÂN, CÙNG BƯỚC LÊN CÕI THỌ THÌ PHẢI DÙNG THUẬT GÌ?
Nếu trước hết chính tâm thì bọn tà mị không thể rục rịch. Trước hết chính thân thì khí tà không thể xâm phạm. Tâm chính rồi thì lấy đó ra ơn cho dân. Thân chính rồi thì lấy đó mà giúp chúng.

Qua bài làm của thí sinh đời trước, cùng với cách ra câu hỏi như thế, có thể phỏng đoán rằng trọng tâm cái học Lão giáo đời xưa nặng về Đạo giáo (Taoist religion) hơn là Đạo học (Taoist philosophy).

VI. CẦU TIÊN

Cầu tiên là một phương tiện liên lạc, tiếp xúc (thông công) giữa cõi người hữu hình với các đấng tiên thánh trong cõi vô hình. Người cầu tiên có thể do nhiều mục đích khác nhau: hoặc mượn thơ phú xướng họa để tiêu khiển thanh tao, hoặc xin thuốc chữa bịnh, hoặc hỏi việc tương lai hậu vận, hoặc hỏi thiên cơ quốc sự, hoặc để học hỏi trực tiếp đạo lý với thần tiên. Thông thường các đấng thiêng liêng tùy duyên hóa độ, cũng vì từ bi, cho nên mượn những mục đích bình thường của thế nhân (thơ phú, xin thuốc…) để gây đức tin, rồi dẫn dắt đến chỗ học đạo thánh hiền.

Thời kỳ Việt Nam còn dưới ách thực dân Pháp, ở tỉnh Nghệ An có nhiều nơi cầu tiên, gọi là Thiện đàn. Ở miền Nam, đầu thế kỷ XX nhiều địa danh và các đàn tiên đã gắn liền với lịch sử khai đạo Cao đài như đàn ở Miễu Nổi (Bình Lợi, Gò Vấp), ở chùa Ngọc hoàng (Đất Hộ, tức Đa Kao), đàn Minh thiện (Thủ Dầu Một), đàn Hiệp minh (Cái Khế, Cần Thơ), đàn ở núi Thạch Động (Hà Tiên), đàn ở chùa Quan âm (núi Dương Đông, Phú Quốc), đàn ở phố Hàng Dừa (đường Arras, Sài Gòn, nay là Cống Quỳnh).

Qua mười chín thế kỷ, đạo Lão hầu như dần dần vắng bóng ở Việt Nam. Cho đến đầu thế kỷ XX, khi đạo Cao đài ra đời, dường như có những mối liên hệ gần gũi với đạo Lão. Đạo Cao đài thờ Ngọc hoàng Thượng đế (cũng là Cao đài Tiên ông), Diêu trì Kim mẫu, Thái thượng Lão quân, v.v… cũng là các đấng vốn được sùng bái, tôn thờ trong đạo Lão cổ truyền. Bản thân các tín đồ Cao đài vẫn coi mình là học trò Tiên, tu đạo Tiên. Phương tiện cơ bút là một điểm tương đồng khác giữa đạo Lão xưa và đạo Cao đài nay. Việc dạy giáo lý qua hình thức thơ phú trong Cao đài cũng cho thấy đường nét của văn hóa Lão-Trang. Như vậy, phải chăng sau mười chín thế kỷ, đạo Lão ở Việt Nam không hoàn toàn biến mất? Phải chăng đã có một sự hồi phục đạo Lão xưa trong một nền tôn giáo mới là Cao đài? Trả lời thích đáng câu hỏi này cần có sự tiếp tục nghiên cứu trong một chuyên khảo khác về Tam giáo Việt Nam, kể từ đầu thế kỷ XX trở đi.

——————————————–

Phụ Lục:

Mấy bài thơ về Lương Tâm, Lương Tri của Vương Dương Minh.

1. Nhĩ thân các các hữu Thiên Chân,

Bất dụng cầu nhân, cánh vấn nhân.

Đãn trí Lương Tri thành chức nghiệp,

Mạc tòng cố chỉ phí tinh thần.

Thân anh ai nấy có Thiên Chân,

Khỏi phải cầu nhân, phải vấn nhân.

Hãy dựa Lương Tri, tu đức nghiệp,

Giấy cũ đọc chi, phí tinh thần.

2. Lương tri tức thị độc tri thì,

Thử tri chi ngoại cánh vô tri.

Thuỳ nhân bất thức Lương Tri tại,

Tri đắc Lương Tri khước thị thuỳ?

Lương tri thấy được lúc độc tri,

Ngoài biết ấy ra há biết gì?

Ai ai cũng có Lương Tri sẵn,

Hồ dễ mấy ai biết Lương Tri?

Cá cá nhân tâm hữu Trọng Ni,

Tự tương văn kiến khổ già mê,

Nhi kim chỉ dữ chân đầu diện,

Chỉ thị Lương Tri cánh mạc nghi.

Trong tâm ai cũng có Trọng Ni,

Kiến văn trùm lấp, mới u mê,

Nay ta đem chỉ Chân Đầu Diện,

Chính thực Lương Tri chớ khá nghi.

4. Vấn quân hà sự nhật động đồng,

Phiền não trường trung thố dụng công.

Mạc dạo Thánh Môn vô khẩu quyết.

Lương Tri lưỡng tự thị Tham Đồng.

Sao anh suốt buổi chạy Tây, Đông,

Trong vòng phiền não, uổng dụng công.

Đừng nói Thánh Môn không khẩu quyết,

Hai chữ Lương Tri chính Tham Đồng.

(Hai chữ Lương Tri trong đạo Khổng cũng có giá trị như bộ sách Tham Đồng Khế của Đạo Lão.)

5. Nhân nhân tự hữu định bàn châm,

Vạn hoá căn nguyên, bản tại Tâm.

Khước tiếu tòng tiền điên đảo kiến,

Chi chi diệp diệp ngoại đầu tầm.

Trong ta ai cũng sẵn Nam Châm,

Căn nguyên vạn hoá sẵn nơi Tâm.

Nực cười ta trước nhìn lộn ngược,

Ngoại cảnh chi li vất vả tầm.

6. Vô thanh vô xú độc tri thì,

Thử thị Kiền Khôn, vạn hữu ki.

Phao khước tự gia vô tận tạng,

Diên môn trì bát, hiệu bần nhi.

Vô thanh, vô xú lúc độc tri,

Ấy thực Kiền Khôn, vạn hữu ki.

Vứt bỏ cửa nhà kho vô tận,

Từng cửa ăn xin, thực thảm thê.

Léon Wieger, Textes Philosophiques, tr. 259-260.

******************       

CHÚ  THÍCH

[1] Phàm vật giả thủy ư Không, Thái Cực giả Không dã. Không năng sinh Nhất, Nhất năng sinh Vạn, dĩ Vạn hoàn Nhất, Nhất phục hoàn Không.

Không giả, vạn vật chi tổ dã. Học giả yếu kiến Chân Không, vật kiến Giả Không, Yếu kiến Linh Không, vật kiến Ngoan Không… ―  Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 2, tr. 9.

[2] Đơn giả thiên địa chi bản dã. Hà dĩ vi Thiên Địa vạn vật chi bản. Đơn giả, Đạo dã. Hư Vô chi thể dã. Hư Vô bất khả lập danh. Cố thánh nhân dĩ Đạo danh chi. Hư sinh Nhất, Nhất sinh Vạn. Vạn hoàn Nhất, Nhất hoàn Hư. ―  Xướng đạo Chân Ngôn, q. 3, tr. 19.

[3] Đạo Gia vị chi Hư, Phật gia vị chi Không. Không năng vô sở bất biến, vô sở bất văn. Không vô sở cách, Không bản vô lượng, vô biên. Cố nhân phát nhất niệm, đồng thất chi nhân bất tri, nhi vô lượng vô biên Hư Không tri chi. Nhu gia chi thận độc uý không cố dã. ―  Xướng đạo chân ngôn, q. 5, tr. 31.

[4] Đạo tán vi Đức: Les produits divers du Principe sont les manifestations de sa Vertu. Đức vi Đạo chi kỷ dã: La chaine infinie de ses manifestations, de la Vertu du Principe, peut s’appeler le dévidage du Principe. ―  Les Pères du Système Taoiste, Léon Wieger p. 29.

[5] Léon Wieger, Les Pères du Système Taoiste, Xung Hư Chân Kinh, chương I.

[6] Ce que nous appelons la Réalité n’est que la projection au néant externe de l’image de notre Essence intime. ―  Pierre Francestel, Art et Technique, p. 198.

[7] Ngọc thư viết: Nhất, tam, ngũ, thất, cửu, Đạo chi phân nhi hữu số. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Đạo chi biến nhi hữu tượng. Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung, Đạo chi liệt, nhi hữu vị. Thanh, bạch, xích, hoàng, hắc, Đạo chi tán nhi hữu chất. Số qui ư Vô Số, Tượng phản ư Vô Tượng, Vị chí ư Vô Vị, Chất hoàn ư Vô Chất. Dục Đạo chi vô số, bất phân chi tắc vô số hĩ. Dục Đạo chi vô Tượng, bất biến chi tắc vô tượng dã. Dục Đạo chi vô Vị, bất liệt chi, tắc vô Vị hĩ. Dục Đạo chi vô Chất, bất tán chi, tắc vô Chất hĩ. Vô Số, Đạo chi nguyên dã, Vô tượng Đạo chi Bản dã, Vô Vị Đạo chi Chân dã. ―  Linh Bảo Tất Pháp,  tr. 12a.

[8] Cố viết: Thánh Nhân dĩ thử tẩy tâm thoái tàng ư mật, kỳ trung Bản Hư Nguyên dữ Thái Hư hỗn nhi vi Nhất. Cố viết: Thánh Nhân dữ Thái Hư đồng thể.  ―  (Xem Tính Mệnh Khuê Chỉ, nơi hình Trung Tâm Đồ, q. Nguyên Tr. 10b)

[9] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Lợi, tr. 9b.

[10] Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

Vũ Trụ này do Nhất Thể phóng phát ra, đã được chứng minh là một học thuyết dành cho các cao nhân, danh phái, còn quần chúng thì tin và Thuyết Tạo Dựng, mà các Đạo giáo Công Truyền Âu Châu như Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo giảng dạy. (Xem trang 11 và 12 chương này.)

Trong tập Khảo Luận về Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể của tôi, tôi đã chứng minh rằng có nhiều hiền thánh Công Giáo (mystiques) như John of the Cross, Teresa of Avila, và nhiều hiền thánh Do Thái giáo thuộc Mật Tông Kaballah, hay nhiều Hiền Thánh Hồi Giáo thuộc môn phái Sufism (Bạch Y) cũng theo Thuyết Phóng Phát, Tán Phân, và chủ trương Thượng Đế ở trong lòng sâu vạn hữu.

***

Đây xin trưng thêm 1 tài liệu về một học thuyết của một vị thánh hiền Hồi Giáo mới chết năm 1934: Đó là Ông Cheikh Ben Aliona. Tài liệu này được đăng tải trong Lotus Bleu, Paris, số 39, tr. 89-106, và trong Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, tr. 92.

Nội dung như sau:

Học Thuyết của Ben Aliona như thế nào?

Aliona chủ trương: Thượng Đế duy nhất và Nhất Thể. Thế giới hữu hình, hữu hạn này chỉ là những màn che «barzakh» làm cho chúng ta không trông thấy thế giới chân thực (Thế giới vô cùng).

Thế giới này do Thượng Đế phóng phát ra, ngược lại với Thánh Thư Hồi giáo Coran. Coran chủ trương thế giới này đã được tạo dựng. Chủ trương thế giới này được tạo dựng dành cho quần chúng (Focara), còn cái Vi Diệu (Le Sirr= caché), thì chỉ dành cho một số môn đệ hiểu được áo nghĩa (bathen). Thuyết Phóng Phát ăn khớp với Thuyết «Thượng Đế nội tại». Ai hiểu được Chân Thể mình sẽ biết Thượng đế; ai thăm dò Chân Thể đó sẽ tới gần Thượng Đế). «Thuyết Thượng Đế nội tại» cũng không loại trừ «Thuyết Thượng Đế siêu việt.»

*Nguyên văn chữ Pháp:

Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un exemple de voiles» barzakh» nous cachant le monde réel: l’infini), Univers émané de Dieu, à l’inverse du Coran créationiste pour la masse des Focara, croyants ordinaires; le Sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le «Bathen» (le sens occulte), émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance…

Quyển Histoire du Caodaisme, nơi tr. 91, khi mô tả lại đời sống của Ben Aliona, có những dòng bất hủ sau đây:

«Nhờ ở phái Soufisme (Bạch Y), ông biết được Mật giáo của Hồi Giáo, và nhờ Mật giáo đó, ông có được khuymh hướng vươn lên tới Đại Đạo (bao quát Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, v.v…) Tất cả những mặc khải trước sau đều bổ sung lẫn nhau, và tất cả đều cùng do một nguồn mặc khải siêu việt:»Các đấng tiên tri, dẫu là vạn người – theo một ngạn ngữ của môn phái Soufisme – cũng chỉ là Một, cũng chỉ là những tia lửa của một thứ lửa duy nhất.

[11] Thiên địa vị phân, Thái Cực tại thiên địa chi thuỷ; Thiên địa ký phân, Thái Cực tại Thiên địa chi trung. ― Huỳnh Nguyên Kiết, Lạc Dục Đường ngữ lục, tr. 50.

[12] Tiên Học, tr. 30.

[13] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận.

[14] Từ Viên Tiên sư chân kinh, tr. 39a.

[15] Ibidem, tr. 17a.

[16] Ảo hoá chi thân, nhục thân dã. Ảo hoá chi tâm, nhân tâm dã. Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý, câu ảo thân chi sở xuất. Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, giai Nhân Tâm chi sở xuất. Lục căn môn đầu, dạng dạng túc dĩ táng mạng. Thất tình, vọng niệm, kiện kiện năng dĩ chí tử. Chí ư Chân Chính chi thân, Pháp Thân dã. Chân Chính chi tâm, Thiên Tâm dã. Ngũ tính nhân duyên, câu giai thành Đạo chi chủng. Ngũ ban chí bảo, tận hệ luyện đơn chi tài. Thái chi, tu chi, khởi tử, hồi sinh, phản lão, hoàn đồng.

Đãn thử thân «Thiên Tâm», nhân đa bất thức, sở dĩ Pháp Thân mai một, ảo thân dụng sự; Thiên Tâm thoái vị, Nhân Tâm đương quyền.

Thử Thiên Tâm bất cấu, bất tịnh, chí hư, chí linh, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông. Thị tính chi sở ký dã. ― Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 215.

[17] Thỉnh vấn Thái Cực chi lý.

Sư viết: Thái Cực giả ngô thân chi Thiên Tâm dã. Thích Thị viết: Viên giác, Đạo viết: Kim Đơn, Nho viết: Thái Cực.

Sở vị Vô Cực nhi Thái Cực giả, bất khả cực nhi cực chi chi vị dã. Phàm nhân thuỷ sinh chi sơ, chỉ thử nhất điểm Linh Quang. Sở dĩ chủ tể hình hài giả, tức thử Thái Cực dã. Phụ mẫu vị sinh chi tiền, nhất phiến Thái Cực, nhi kỳ sở dĩ bất thuộc hồ hình hài giả, nãi vi Vô Cực dã.

 Dục thức Bản Lai Chân Diện Mục,

 Vị sinh thân xứ, nhất luân minh.

Liêu Dương diện mục vấn đáp thiên. tr. 2b.

[18] Lý Lạc Cầu, Tiên Học diệu tuyển, tr. 86.

 Nguỵ Bá Dương, Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy. tr. 18a.

 Nguỵ Bá Dương giải Chân Nhân là Nguyên Thần, và Giải Thâm Uyên là Thái Uyên, là Nê Hoàn Cung, là Thiên Cốc, là Thiên Đường,v.v…

Sách viết: Chân Nhân tức Nguyên Thần dã. Thâm Uyên tức Thái Uyên dã. Dị danh chúng đa, kim thí cử nhi ngôn chi viết:

Nê Hoàn Cung, Lưu Châu Cung, Ngọc Thanh Cung, Thuý Vi Cung, Thái Vi Cung, Thái Ất Cung, Thái Huyền quan, Huyền Cung, Huyền Môn, Huyền Thất, Huyền Cốc, Huyền Điền, Sa Môn, Đệ Nhất Quan, Đô Quan, Thiên Quan, Thiên Môn, Thiên Cốc, Thiên Điền, Thiên Tâm, Thiên Luân, Thiên Trục, Thiên Nguyên, Thiên Trì, Thiên Căn, Thiên Đường, Thiên Cung, Kiền Cung, Kiền Gia, Giao Cảm Cung, Ly Cung, Thần Cung, Thần Thất, Thần Quan, Thần Phòng, Thần Đô, Huyền Đô, Cố Đô, Cố Hương, Cố Khưu, Cố Lâm, Cố Cung, Tử Phủ, Tử Kinh Thành, Tử Kim Đỉnh, Cống đỉnh, Ngọc Đỉnh, Ngọc Thất, Ngọc Kinh, Ngọc Vũ, Dao Phong, Đệ Nhất Phong, Tối Cao Phong, Chúc Dung Phong, Côn Lôn Đỉnh, Không Động Sơn, Bồng Lai, Thượng Đảo, Thượng Cung, Thượng Kinh, Thượng Huyền, Thượng Nguyên, Thượng Cốc, Thượng Thổ Phủ, Thượng Đan Điền. Kỳ danh tuy chúng, kỳ thật tắc nhất dã.

Thuý Hư Thiên vân: Thiên hữu thất tinh, địa thất bảo. Nhân hữu thất khiếu quyền qui não.

Thái Cổ tập vân: Kim đơn vận đáo Nê Hoàn Huyệt, Danh tính tiên tương ký Thiên Đô, thị dã.

Cố Đế Nhất hồi nguyên chi Đạo, tố lưu bách mạch, thượng bổ Nê Hoàn. Não thực tắc Thần toàn, Thần toàn tắc hình toàn dã.

Kim Nguỵ Công vị Chân Nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung giả, tuỳ chân tức chi vãng lai, nhiệm chân khí chi thăng giáng. Tự chiêu chí mộ, Nguyên Thần thượng thê ư Nê Hoàn dã. Huỳng Đình Kinh vân: Tử dục bất tữ tu Côn Lôn. Tĩnh trung ngâm vân: Ngã tu Côn Lôn đắc Chân Quyết. Phục Mệnh Thiên vân: Hội hướng ngã gia viên lý, tài bồi nhất mẫu Thiên Điền. Hoàn nguyên Thiên vân: Ngộ Đạo hiển nhiên minh khuếch lạc, nhàn nhàn đoan toạ vận Thiên Quan.

Thử nãi chí giản chí dị chi đạo…

Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy, tr. 18a.

[19] Tính Mệnh Khuê Chỉ, tr. 8b.

[20] Kim Đơn yếu quyết, tr. 1b.

[21] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 11a.

[22] Tiên Học Từ Điển, tr. 76. ―  Thượng Phẩm Kim Đơn bí quyết, tr. 2b.

[23] Nam Hoa Kinh, XVII, Thu Thuỷ, A.

[24] Thượng phẩm Đơn Pháp Tiết Yếu, tr. 2b.

[25] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 139.

[26] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 13. Chương Thuận Nghịch Tam quan Đồ.

[27] Tiên học Diệu Tuyển, tr. 184.

[28] Thái Thượng viết: Ngô tòng vô lượng kiếp lai, quan tâm đắc Đạo nãi chí Hư Vô. 太 上 曰: 吾 從 無 量 劫 來 觀 心得 道, 乃 至 虛 無. ― Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 3a.

[29] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 2.

[30] Trương Chuyết tú tài. ― Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 5.

[31] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 121.

[32] Ib. tr. 139.

[33] Nhược nhất niệm bất sinh tức thoát sinh tử. Hướng thử nhất niệm bất sinh xứ, tức kiến Bản Lai Diện Mục. ― Tiên Học diệu tuyển, tr. 141.

[34]. P. Léon Wieger, Textes Philosophiques, Confucianisme, Taoisme, Bouddhisme, Hien Hien 1930, tr. 333.

[35] Tùng giang, Dương cảnh Dương Duy Nhất, Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 140.

[36] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 4b.

[37] Đơn tự, đầu tượng Nhật, cước tượng Nguyệt. Trung Nhầt điểm vi thử Châu. Nhất hoạch vi đắc. Hán dĩ tiền vị chi Đạo, Hán dĩ hậu, vị chi Đơn. ― Tiên Học Từ Điển, tr. 62.

[38] Đơn giả, đơn dã. Duy Đạo vô đối, cố viết Đơn. Thiên đắc Nhất dĩ thanh, địa đắc nhất dĩ doanh, nhân đắc Nhất dĩ trường sinh.

[39] Kết Đơn chi đạo, Nhất nhi dĩ hĩ…Nhất vô tha…Hư nhi dĩ hĩ. ― Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 2, tr. 11.

[40] Tâm tức Đơn, Đơn tức Tâm. ― Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 231.

[41] Đơn tức Đạo dã, Đạo tức Đơn dã. ― Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 263.

[42] Đơn giả, Thiên Địa vạn vật chi bản dã, hà vị dĩ vi Thiên Địa vạn vật chi bản, viết: Đơn giả, Đạo dã. Đạo giả, Hư Vô chi thể dã. Hư Vô bất khả lập danh, cố thánh nhân cưỡng dĩ Đạo danh chi. Hư sinh Nhất, Nhất sinh Vạn, Vạn qui Nhất, Nhất qui Hư. ― Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 3, tr. 19a.

[43] Căn bản do tòng Thái Cực tầm. ― Đại Đỗng chân kinh, tr. 4b.

[44] Đỗng kiến Bản Lai Diện Mục, chứng triệt Nguyên Căn. ― Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 1, tr. 2b.

[45] Kim đơn yếu quyết, tr. 1b.

[46] Trương Tam Phong, Đạo thuật hối tông, q. 3, tr. 101.

[47] Xướng Đạo Chân Ngôn, q.2, tr. 8.

[48] Nhất lạp túc trung tàng thế giới. ― Tiên học, tr. 30.

[49] Kim giả, bất hoại chi Pháp Thân, Đơn giả, viên thành chi thực tướng. ― Tiên Học, tr. 9.

[50] Thất phản giả, phản bản. Cửu hoàn giả, hoàn nguyên. ― Hoàn Nguyên Thiên, tr. 4a. Hậu tự.

[51] Trương Tam Phong Đạo thuật hối tông, q. 2, tr. 59.

[52] Trương Tam Phong Đạo thuật hối tông, q. 2, tr. 56.

[53] Thuận kỳ cơ nhi hành nhân đạo. ― Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 20.

[54] Nghịch kỳ cơ, nhi hành Tiên Đạo. ― Ib. tr. 20.

[55] Sinh cơ ngoại phát vi Thuận. ― Ib. tr. 20.

[56] Sinh cơ nội liễm vi Nghịch. ― Ib. tr. 20.

[57] Kim đơn Đại Đạo tòng hữu vi nhi nhập vô vi, tức Liễu Mệnh nhi kiêm Liễu Tính, phương thị Thần Hình câu diệu. ― Tiên học diệu tuyển, tr. 99.

[58] Tiên Học diệu tuyển, tr. 383.

[59] Cố tòng thượng thánh hiền cầu Đạo, đô bất hướng ngoại trì cầu, tĩnh nhi cầu chi ư nhất tâm, vô bất cụ túc. ― Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 4, tr. 35.

[60] Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 13-14.

[61] Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 14.

[62] «Nhận vi Đạo tự Hư Vô sinh vạn vật, thị thuận sinh quá trình, nội đơn tu luyện tắc phản thử. Đương phục qui Hư Vô, dữ Đạo hợp nhất.

Đại Đơn diệu dụng pháp Kiền Khôn,

Kiền Khôn vận hề, ngũ hành phân.

Ngũ Hành thuận hề, thường Đạo hữu sinh hữu tử,

Ngũ hành nghịch hề, đơn thể thường linh, thường tồn.»

認 為 道 自 虛 無 生 萬 物, 是 順 生 過 程. 內 丹 修 鍊 則 反 此, 當復 歸 虛 無, 與 道 合 一.

大 丹 妙 用 法 乾 坤,

冢坤 運 兮 五 行 分.

眇行 順 兮, 常 道 有 生 有 死.

眇行 逆 兮, 丹 體 常 靈 常 存.

Trung Quốc Đạo Giáo, Khanh Hi Thái chủ biên, tr. 305.

[63] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 10a.

[64] Xem Thái Thượng bảo Phiệt, q. Hiếu tr. 16.

[65] Tính Mệnh Khuê chỉ, tr. 372.

[66] Bát quỳnh đơn: 1. Đơn sa (Chu sa): Sulfure de Mercure – 2. Hùng hoàng: Réalgar, Sulfure d’Arsenic rouge – 3. Thư Hoàng: Sulfure d’arsenic jaune – 4. Lưu Hoàng: Soufre – 5. Nhung diêm: Borate de Soude – 6. Vân Mẫu: Mica – 7. Tiêu Thạch: Salpêtre – 8. Không thanh (Sulfate de Cuivre).

[67] Cửu chuyển hoàn đơn gồm 14 vị. Ngoài tám vị của bài Bát quỳnh đơn còn có 6 vị khác là: Bạch thạch anh (quartz blanc) – 2. Tử thạch anh (quartz violet) – 3. Thanh đại (Plombagine) – 4. Dương khởi thạch (Actiolite) – Kim nha thạch (dent de tigre) – 6. Hồ phấn (Céruse). (Xem Henri Doré, Variétés sinologiques, No 66, Chapitre II, Section B, Art. V. La pilule d’immortalité.

[68] Tiên Học diệu Tuyển tr. 9.

————————
*LÊ  ANH  DŨNG
————————

Quan niệm Tam Tài với con người:

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Dưới nhan đề này, tôi sẽ dùng quan niệm Tam Tài để tìm hiểu về con người và đề phân loại các Ðạo giáo. Bàn về con người tuy là một vấn đề hết sức thông thường, quen thuộc, nhưng không bao giờ vô ích.

I.- Thuyết Tam Tài với con người:-

Soplocles xưa đã nói: «Dầu trong vũ trụ này có gì đáng quí báu, đáng tôn sùng nhất đi chăng nữa, thì cũng chẳng có gì đáng quí báu, đáng tôn sùng hơn con người.» [1]
Nhưng nếu con người đáng quí báu, đáng tôn sùng nhất, thì con người cũng là cái gì khó hiểu nhất từ xưa đến nay. Từ bao thế hệ nay, chúng ta am hiểu về con người, nhưng cho đến nay, con người vẫn còn là một vấn đề khó hiểu. Thật đúng như câu ca dao: –

“Sông kia còn có kẻ đo,
Lòng người, ai dễ mà dò sâu nông.”

Chúng ta thực ra chẳng ai dám nói là đã biết rõ mình. Ta thấy mặt mũi người khác, bóng dáng người khác, nhưng mà oái oăm thay, mặt mũi ta, bóng dáng ta, ta phải mượn gương, mượn nước, mượn máy ảnh, mới nhìn ra được.
Như thế tức là, ngay con người phiến diện của ta đã hết sức xa lạ với ta rồi. Chúng ta dùng nó hằng ngày, mà thực ra chẳng biết nó hính thù ra sao, hoạt động ra sao. Ðọc câu ca dao sau đây sẽ rõ: –

“Ðàn ông năm, bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người !”

Ðến như óc, chất trí não, tâm tư chúng ta, thì ta lại càng mù tịt. Cho đến cuối thế kỷ 20, người ta vẫn tưởng rằng, chúng ta yêu bằng tim – bằng con tim thịt nằm trong lồng ngực – vì thấy nó hồi hộp, khi ta rung động, cảm xúc. Nhưng bây giờ thấy trong các bệnh viện, người ta thay tim rầm rầm, thay bằng tim thật, tim giả, thay van tim, mới vỡ lẽ ra rằng mình đã lầm. Gần đây, triết học Âu Châu còn khám phá ra rằng dưới lớp ý thức, còn có vô thức – hoặc là tiềm thức, hoặc là Vô thức đại đồng. Khám phá mới mẻ này thật ra chỉ mới mẻ cho Âu Châu, chứ Á Châu, từ mấy ngàn năm nay đã bàn hoài về vấn đề này, dưới những danh từ khác như: Ðại Ngã, Tiểu Ngã; Chân Tâm, Vọng Tâm; Nguyên Thần, Thức Thần;Thiên địa chi tính, khí chất chi tính, v.v.
Tóm lại, ta quả thật là một con người xa lạ đối với ta. Hằng ngày, ta sống kề cận với ta, với tâm tư ta, mà ta chẳng biết tâm tư ta ra sao.
Hằng ngày, ta khoe ta thế này, ta thế nọ, nhưng đến khi hỏi ta là ai, ta là gì, thì ta đành chịu không biết trả lời ra làm sao.
Chính vì thế, khi đem quan niệm Tam Tài, để soi rọi vào vấn đề con người, tôi thấy mình đã không làm một chuyện vô ích. Ðó chính là một cách suy tư, tìm hiểu về mình. Mà có chịu suy tư, tìm hiểu về mình, mới có thể biết mình, biết Trời.

*Mạnh Tử viết:-

Thấu triệt lòng, sẽ hay biết Tính
Hay biết Tính, nhất định biết Trời.
Tồn tâm dưỡng tánh chẳng rời,
Ấy là giữ đạo, thờ Trời chẳng sai. [2]

*Trung Dung cũng viết: –

Biết người, trước phải biết Trời.
Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu Người làm sao? [3]

Chia con người thành 3 phần, chỉ là một cách chia để tiện việc học hỏi. Khi cần tôi cũng có thể chia con người thành 7, thành 10. Nhưng dẩu sao, thì chia con người làm ba thành phần cũng đã giúp cho chúng ta có một cái nhìn khá chính xác, khá đứng đắn về con người.

Trước đây trong bài THÂN THẾ VÀ ÐỊNH MỆNH CON NGƯỜI trong Đất Nước Tôi số 13, tôi đã kể lại hành trình của tôi từ quan điểm nhị nguyên – con người có Hồn có Xác – đến quan niệm Tam Tài – con người  có Xác, Hồn, Thần. Ðại khái tôi đã kể lại rằng: tôi đã tìm ra được quan niệm Tam Tài trong mấy giây đồng hồ giác ngộ tâm linh và từ khi biết được trong lòng có Ðạo có Trời, cuộc đời tôi đã chuyển hóa hết sức là mãnh liệt.
Quan niệm Nhị Nguyên, tôi học được do truyền thống xã hội; Quan niệm Tam Tài tôi học được do giác ngộ tâm linh. Nhưng nói cho đúng hơn, lẽ Nhất Quán của Trời đất mới là điều rốt ráo mà tôi đã lĩnh hội được.
Sau khi nhận ra rằng con người có ba phần: Tính (Thần), Hồn, Xác, tôi lại thấy được rằng: Các tôn giáo, tuy khác nhau bề ngoài, nhưng chung qui là đưa con người tới Thiên Ðạo, tới Ðại Ðạo. Thiên Ðạo, Ðại Ðạo hoàn toàn ở trong nội tâm ta, nó chính là đường đi từ Hồn, đến Thần, biến hóa Hồn con người thành Thần trời đất.

Trời, Ðạo Trời hằng tiềm ẩn trong lòng ta, và không hề rời ta một phút giây.
Những quan niệm trên đã đến với tôi hết sức là bất ngờ, nhưng hết sức là mãnh liệt. Và riêng tôi, tôi coi đó là một đại hồng ân mà Thượng Ðế đã ân tứ cho tôi.
Tôi nhận định thêm rằng từ trước tới nay, tôi đã đánh mất chiều kích sâu xa, cao đại của con người, mà chỉ mới sống hời hợt trên bình diện nhân tâm, chưa hề có ý tưởng, hay ước mơ sống vươn vượt lên trên cái Nhân tâm, chưa hề có ý tưởng đạt tới Thiên tâm. Và tôi tự nhủ rằng từ trước đến nay tôi đã sống mơ màng, ù cạc, không biết được chính bản thân mình.

Tuy nhiên, theo đúng tinh thần khoa học, tôi thấy những điều tôi vừa lãnh hội được khi ấy, nếu đem chia sẻ với chúng nhân, thì sẽ bị coi như là một giả thuyết. Nên tôi thấy nó còn cần được chứng minh.
Như quí vị đã thấy: Ðiều tôi được truyền dạy là:
Dưới lớp nhân tâm, còn có Thiên tâm, Thiên tính. Cho nên con người thực ra có 3 phần chính yếu:
Ði từ trong ra đến ngoài, ta có: –

1- Phần Tính, phần Thiên Tính, hay phần Thiên, phần Trời phần Thần vĩnh cửu, làm căn cốt.
2- Phần Tâm, hay phần Nhân Tâm, tức là phần Nhân, phần Người, phần Hồn gồm trí lự, thất tình lục dục, bao phủ bên ngoài phần Thiên.
3- Phần ngoài cùng là phần xác, phần Ðịa, phần Ðất, phần vật, đóng vai trò hỗ trợ, bao bọc cho các phần cao quí bên trong, chẳng khác nào phần vỏ bên ngoài nơi cây, nơi quả.

Mục đích chân chính và cao siêu nhất của các đạo giáo là làm sao dạy con người rũ bỏ được phần xác, phần hồn, biến thiên, luân lạc trong vòng sinh tử, và chỉ giữ lại phần Thiên, vĩnh cửu và bất tử, y thức như một vệ tinh nhân tạo, càng lên cao, càng phải vất đi dần dần những phần phụ thuộc không còn cần thiết, mới có thể thoát vòng áp lực của khí quyển, mà đi vào không gian.
Hôm nay, khi viết đến vấn đề rất quan trọng này, một vấn đề đi ngược lại với quan điểm của quần chúng, tôi liền cầu chứng  thánh hiền. Phép cầu chứng thánh hiền muôn thủa của tôi rất giản dị. Tôi nhìn quanh quất thấy một quyển sách nào mà mắt tôi nhìn thấy, liền cầm lên, và dở ra đọc. Trong trường hợp này, tôi rút ra quyền Thiền học, bộ thượng, do Suzuki viết và Trúc Thiên dịch. Tôi dở ra trúng vào trang 276, mà tôi chưa từng đọc, thấy có đoạn viết như sau:
Một thầy Bà la môn tên là Móng Tay Ðen mang đến cúng Phật hai cây bông nguyên cành rễ khổng lồ, thầy dùng phép thần thông nắm chặt mỗi tay một cây. Phật gọi tên, thầy dạ. Phật liền bảo: «Buông xuống đi». Thầy Bà la môn bỏ cây hoa tay trái xuống trước mặt Phật. Phật lại bảo buông xuống nữa , thầy bỏ luôn cả cây hoa tay mặt. Phật lại bảo buông nữa .Thầy Bà la môn bạch: «Tôi có gì đâu nữa mà buông bỏ. Phật muốn dạy gì?» Phật đáp: «Tôi không hề bảo thầy buông hết mấy cây hoa, tôi bảo thầy bỏ là bỏ sáu căn, sáu trần, sáu thức. Khi thầy bỏ được hết đến không có gì nữa để bỏ, đó là lúc thầy thoát ly tất cả ràng buộc của sanh tử, luân hồi…»
Như vậy cái nhìn của tôi bây giờ chính là cái nhìn mà Phật xưa đã có, và ý nghĩ của tôi đã được sự soi sáng , sự đồng vọng của Tiên Phật muôn đời.
Sau đó, ngẫu nhiên tôi lại đọc một đoạn của Ðại sư Paramahansa Yogananda tự thuật lại kinh nghiệm của một lần ông xuất thần đầu tiên. Ông tả rằng: «…Tôi thấy rằng từ Trung điểm thiên cung, tức là từ trung điểm Linh đài tôi, tung tỏa ra muôn ánh hào quang soi cùng Vũ trụ. Nguồn sống vĩnh cửu, như quỳnh tương tiên tửu rạo rực trong tôi. Âm thanh sáng tạo của Thượng Ðế, tôi nghe thành chữ Aum chuyển rung trời đất…Nhưng bỗng đâu phổi tôi bắt đầu thở lại. Tôi rất thất vọng vì thấy rằng, cái bao la vô cùng tận của tôi đã mất. Tôi lại trở về cái xác thân hữu hạn của tôi, chẳng xứng chút nào với Thần con người. Tôi như một đứa con hoang đàng đã từ bỏ đại thể vô biên, mà giam mình vào trong tiểu thể hữu hạn…» [4]
 Tôi cho đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà chính là khi lòng mình mà thành sẽ cảm động được trời đất, khi ý mình mà thành, thì thần minh sẽ phụ họa. Trở lại vấn đề, điều mà tôi cần chứng minh là con người có ba phần Thần, Hồn, Xác. Ðể chứng minh vấn đề này, tôi sẽ dùng thánh thư các đạo giáo kỳ thư bí điển trong thiên hạ văn chương triết học và ngôn ngữ Ðông Tây. Sự tương đồng tìm ra sẽ là ấn chứng cho một chân lý phổ quát, đại đồng.

******************       

II.- Thuyết Tam Tài với Khổng giáo: –

Nhờ dùng chìa khóa Tam Tài tôi mới mở ra được kho tàng Khổng giáo. Khổng giáo nhận con người có 3 phần: Xác, Hồn, Thần. Nhưng danh từ Khổng giáo dùng hơi khác:
– Xác
– Tâm, Nhân tâm, Nhân dục, Khí chất chi tính.
– Tính, Thiên tính, Thiên tâm, Thiên địa chi Tính, Ðạo tâm, Trung.
Kinh Thư, Thiên Ðại Vũ Mô, kể lại rằng khi vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, đã truyền luôn cả tâm ấn sau:

Nhân tâm duy nguy,       
人 心 惟 危
Đạo tâm duy vi,               
道 心 惟 微
Duy tinh, duy nhất,           
惟 精 惟 一
Doãn chấp, quyết trung. 
允 執 厥 中

Tôi dịch:

Lòng của Trời siêu vi, huyền ảo,
Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng.
Tinh ròng, chuyên nhất ngày đêm,
Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời

*Mạnh Tử cũng phân biệt Tâm và Tính.
Trong sách Mạnh Tử, chương Tận tâm hạ, ông đã viết: «Tận kỳ tâm giả tri kỳ Tính dã; tri kỳ Tính tắc tri Thiên hĩ.»  盡 其 心 者 , 知 其 性 也 . 知 其 性 , 則 知 天 矣.

Dịch:
Thấu triệt lòng sẽ hay biết Tính,
Hay biết Tính nhất định biết Trời.

Chính vì Khổng tử và Mạnh tử hiểu rằng con người có Thiên tính nên đã chủ trương: Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tống Nho sau này, hay dùng chữ Thiên địa chi tính để chỉ Thiên Tính, và Khí chất chi tính để chỉ nhân tâm, nhân dục.

III.- Thuyết Tam Tài với Bà La Môn giáo: –

Bà La Môn giáo từ xa xưa vốn đã chia con người ra làm ba thành phần:-

– Xác (thô thân)
– Nhân tâm (Jiva) (tế thân)
– Brahman, Atman, Ngã tuyệt đối (Absolute Self, Metaphysical Self).

Bà La Môn gọi hồn con người là Tiểu Ngã, Thần con người là Ðại Ngã hay Atman.
Atman hay Thượng Ðế ngự trị trong tâm khảm con người cũng chính là Brahman, Tuyệt đối thể trong vũ trụ. Ðối với Bà La Môn; con người chân thực của ta không phải là Tiểu Ngã nhỏ nhoi, mà là Ðại Ngã vô biên tế. Tat tvam Asi = Con chính là Cái Ðó; nghĩa là con chính là Atman, là Ðại Ngã bất khả tư nghị.
Katha Upanishad viết: «Ðại Ngã trổ cửa giác quan ra phía ngoài, cho nên người ta nhìn ra ngoài, mà không biết nhìn vào trong lòng mình. Có vài kẻ khôn ngoan trong khi đi tìm trường sinh, bất tử, nhờ nội quan quán chiếu, đã trực diện quan chiêm được Ðại Ngã.» [5]
Chandogya Upanishad viết: «Bao quát mọi hoạt động, bao quát mọi ước mơ, bao quát mọi hương vị, bao quát cả hoàn võ nầy, mà vẫn vô ngôn, vô ý, đó là Ðại Ngã của tôi, lồng trong tâm khảm tôi, đó là Brahman Thượng Đế. Sau khi từ biệt cõi trần này, tôi sẽ thể nhập vào trong Ngài…» [6]
Radhakrishnan, cựu Tổng Thống ấn Ðộ, cũng là một đại triết gia lừng danh quốc tế, đã viết: «Chân thể, lồng trong tâm khảm muôn loài, chính là tinh hoa tâm hồn con người. Bé hơn hết mọi sự, mà cũng lớn hơn hết mọi sự, tinh hoa âý tiềm ẩn trong tâm vạn hữu. Cái học thuyết làm cho bộ kinh ÁO NGHĨA THƯ được nhiều người trên thế giới hay biết, đó là học thuyết TA T TVAM ASI (Con Là Cái Ðó). VĨNH CỬU đã ở ngay trong con người, THẦN LINH đã ngự trị nơi tâm khảm con người. Vị THỦY TỔ Muôn Loài, mà ngũ quan chẳng biết, chảng hay, mà bao lớp lang hiện tượng như những bức màn vân vụ đã làm khuất lấp; vị Thủy Tổ ấy vẫn ngự trị, vẫn sống động trong tâm hồn con người…» [7]

IV.- Thuyết Tam Tài với Phật giáo: –

Phật giáo cũng phân biệt nơi con người có Thân, Vọng tâm và Chân tâm.
Vọng tâm hay Vọng ngã tức là Nhân tâm, gồm thất tình, lục dục sinh diệt, biến thiên; Chân tâm, hay Bản Lai diện mục, thời trường tồn vĩnh cửu.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm cho rằng có tìm ra được phần chân thường nơi con người thì mới mong thoát bến mê, bể khổ; bằng cứ chấp nhất nơi phần vọng tâm, vọng ngã, thì muôn đời luân lạc trong muôn kiếp phù sinh.
Phật nói với vua Ba Tư Nặc: «Ðại vương có biết trong thân có cái Bất Diệt không?» [8]
Phật lại dạy A Nan: «A Nan, ngươi muốn tu cho thành Ðạo, thì phải biết hai thứ căn bản: Một là căn bản vô thủy sinh tử, tức là hiện nay, ngươi và chúng sinh đều lấy cái tâm vọng tưởng mà nhận làm tư tính đó. Hai là Căn bản Niết Bàn tức là Thức Thứ Tám, vi tế tư tưởng của ngươi đang có, ngày nay gọi là Thức tinh nguyên minh đó. Bởi đem cái Thức tinh nguyên minh bỏ đi, nên tuy hằng ngày vẫn dùng đến, mà chẳng biết đặng cái thể của Bổn minh Tư Tính, đến nỗi lặn lội vào các thú mà thọ nghiệp sinh tử, luân chuyển, Thiệt là uổng thay?» [9]
Ðại đức Thích Chân Giám, khi bình đoạn này, đã viết: «Phải biết rằng chỗ thủ thắng của kinh này là toàn phá nơi Thức tâm, mà hiểu rành Căn Tánh, vì dùng theo Thức tâm mà tu, thì dầu trải qua trần hà sa số kiếp cũng không đặng đạo Bồ Ðề; còn do nơi Căn Tánh mà vào, thì trong lúc vừa khảy móng tay, cũng vượt lên đặng bậc Vô Học. Cho nên muốn quyết định thành chánh giác và chứng Niết Bàn, thì cứ lấy Căn Tính mà làm cái Tâm “nhân địa” rồi sau mới có thể viên thành được cái Giác ở nơi “quả địa”.»  [10]

V.- Thuyết Tam Tài với Lão giáo: –

Nhìn sang phía Lão Trang, ta cũng thấy rằng các Ngài chủ trương trong tâm còn có Ðạo, có Trời Tâm thì ở trong vòng tương đối, biến thiên, hữu vi, hữu tướng. Ðạo thì tuyệt đối, hàng cửu, vô vi, vô tướng, bất khả tư nghị. Muốn tu trì, dĩ nhiên là phải xây căn cơ trên Ðạo, phải hiểu thấu đáo về Ðạo phải siêu lên trên cõi hữu vi, hữu tướng, nhân vị, nhân tạo, mà đi vào cõi Vô vi, Tuyệt đối.
Chính vì coi Ðạo là căn cốt muôn loài, nên ngay đầu sách Ðạo Ðức kinh, Lão Tử đã dành một chương nói về Ðạo.

Hóa công hồ dễ đặt tên,
Khuôn thiêng hồ dễ mà đem luận bàn.
Không tên, sáng tạo thế gian,
Có tên, là mẹ muôn ngàn thụ sinh.
Tịch nhiên cho thấy uy linh,
Hiển dương cho thấy công trình vân vi,
Hai phương diện, một Hóa Nhi,
Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường,
Ấy là chúng diệu chi môn,
Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.

Trang Tử, chính vì thấy rằng trong tâm mình còn có Ðạo, có Trời, có Bản thể bất sinh, bất tử, nên đã nói trong thiên Tề vật luận, Nam Hoa kinh:

Ta và Trời đất cùng sinh,
Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.[11]
Âm Phù Kinh viết:
Thiên tính Nhân dã,   
天 性 人 也
Nhân tâm cơ dã.       
人 心 機 也
Lập Thiên chi đạo,   
立 天 之 道
Dĩ định nhân dã.       
以 定 人 也

Dịch:
Thiên tính là Người,
Nhân tâm là máy.
Lập ra Thiên đạo,
Ðịnh mực phiêu Người.

Trong bài tựa quyển Huyền Diệu Cảnh của đức Lã Ðộng Tân ta thấy Thiên đạo, Nhân đạo được định nghĩa như sau:
Thế nào là Thiên đạo? Thiên đạo là tu tính, dưỡng mệnh, vượt tình trạng con người mà hợp với Trời. Thế nào là Nhân đạo?. Nhân đạo là giữ tròn ngũ luân, ngũ sự (giữ trọn nhân luân)
Tóm lại Ðạo Lão cũng cho rằng con người có Thiên tính, và đắc đạo là «Hợp Thiên». Theo Ðạo Lão, lúc mới đầu con người còn mê muội, chưa biết được rằng Ðạo, hay Trời đã ở sẵn trong tâm, nên phải «tầm sư, học Ðạo», «tầm sư cầu Ðạo». Khi đã chứng Ðạo, sẽ thấy được rằng Ðạo đã ở sẵn trong lòng mình. Thế là đắc Ðạo, mà Ðắc Ðạo là Ðắc Thiên. Khi đã biết rằng Ðạo là căn cốt của mình, tự nhiên con người sẽ trở nên hồn nhiên, tiêu sái. Người xưa khen là có Tiên phong, Ðạo cốt. Ðối với người Trung Hoa Ðạo là Thiên, là Thần…
Cho nên, khi phiên dịch câu Phúc Âm Thánh John: «Ðầu trước hết có Ngôi Hai, Ngôi Hai ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Hai là Thiên Chúa», người Trung Hoa đã viết: «Thái sơ hữu Ðạo, Ðạo dữ Thần đồng tại, Ðạo tức thị Thần.»

VI.- Thuyết Tam Tài với Hồi giáo: –

Hồi gláo cũng chủ trương con người có ba phần. Trong hội nghị tôn giáo tại Lahore, Pakistan, tháng 12, năm 1896, ông Harzat Ahmad, đại diện chính thức của Hồi giáo đã dùng thuyết Tam Tài để giải thích và toát lược thánh thư Koran. Ông cho rằng thánh thư Koran chủ trương con người có 3 bình diện:
– Bình diện vật chất hay Naf-Ammara.
– Bình diện tâm hồn hay Nafs-lawwama.
– Binh diện siêu nhiên hay Nafs-matmainnah. [12]
Koran cũng xác nhận một, cách khéo léo rằng:
– Thượng Ðế chẳng hề xa con người. [13]
– Thượng Ðế đã truyền Thần Ngài vào trong con người. [14]
– Thượng Ðế thực sự đã tràn ngập con người từ trong ra đến ngoài. [15]

VII.- Thuyết Tam Tài với Công giáo & Tin Lành: –

Công giáo, xét về phương diện giáo lý công truyền, thì chỉ chủ trương con người có hai phần: Hồn, Xác.
– Hồn thì thiêng liêng, bất tử; xác thì tử vong. Khi còn sống, thì hồn, xác kết hợp mật thiết với nhau thành một con người, và sau này khi tới ngày tận thế và tới ngày phán xét chung, xác mọi người sẽ sống lại, hợp cùng với hồn để được thưởng hay chịu phạt đờì đời.
 Công đồng Latran IV (1215) và Vatican I (1869-1870) đã xác định con người chỉ có hai phần; hồn, xác và không chấp nhận quan niệm Tam Tài về con người của Plato, của phái Gnosticism, Manicheism, Apollinarianism.
 Công đồng chung thứ 8, họp tại Constantinople (869-870) phi bác lý thuyết cho rằng con người có hai hồn, và đã xác định con người chỉ có một linh hồn biết nghĩa lý.
 Ngược lại, Thánh kinh Công giáo lại chủ trương thuyết Tam Tài về con người.
 Trong quyển Con đường cứu rỗi (Le chemin du Salut) của Charles Gerber, một tác giả thuộc giáo phái Cơ Ðốc Phục Lâm, đã cho thấy:
– Chữ Thần được nhắc đến 827 lần trong Thánh kinh.
– Chữ Hồn được nhắc đến 873 lần trong Thánh kinh. [16]
 Giáo phái chứng nhân của Jehovah, sau khi lấy Thánh kinh để chứng minh rằng hồn con người thường được chỉ bằng những danh từ Psyché (Hi Lạp) hay Nephesch (Do Thái), còn lấy Thánh kinh để chứng minh rằng hồn con người không bất tử, nhất là dựa vào câu Ezechiel: «Hồn nào phạm tội, sẽ chết.» (Ezechiel, 18:24)
 Quyển The Secret Teachings of all ages (Vạn đại bí chỉ) cũng đã dùng Thánh kinh để chứng minh rằng hồn thì tử vong, mà Thần thì bất tử. [17]
 Vua David, đã nói trong Thi Thiên (Psalm) 82, câu 6: «Ta đã nói: Các người là Thần, và tất cả đều là Con Ðấng Tối Cao.»
 Chúa Giêsu phán trong Phúc Âm Yoan, chương 4, câu 24: «Thiên Chúa là Thần, nên những kẻ thờ phượng Ngài, phải thờ phượng bằng Thần, và sự thật.» Ngài lại chủ trương muốn vào nước Trời, phải được sinh lại bằng Thần, phải có Thần (Yoan, 3:4 -8). Nói thế có nghĩa là nếu con người mà không có Thần sẽ không thờ phượng Thiên Chúa một cách chân chính hữu hiệu được; nếu không có Thần không vào được Nước Trời. Quan niệm Tam Tài về con người đã được thánh Paul chủ trương hết sức rõ ràng. Trong thánh thư I gửi giáo đoàn Thessalonica, chương V, câu 23, Ngài viết: «Ước gì toàn thân anh em Thần, Hồn, Xác được giữ vẹn, không chê trách được, cho tới ngày Chúa Giêsu Kitô chúng ta đến.» Trong thư gửi cho giáo đoàn Do Thái, Ngài viết: «Vì lời Chúa sống động, linh nghiệm, sắc bén hơn bất kỳ gươm hai lưỡi nào, nó có thể thấu vào tới chỗ phân chia của Hồn và Thần.» (He. 4:12).
 Bản Bible de Jerusalem (Bản Thánh kinh Jerusalem) bình rằng đối với thánh Paul, TÂM phải nhường bước cho THầN, thì con người mới có thể sống một đời sống thần minh. [18]
 Nếu vậy thì chủ trương của thánh Paul có khác gì chủ trương của Ðạo Lão đâu! Ðạo Lão Tử xưa đã dạy: «Tâm tử, Thần hoạt.» (Tâm con người phải chết đi, cho Thần được sống động).
 Paul Tillich, một thần học gia Thiên Chúa Giáo nổi tiếng hoàn cầu hiện nay, đã thuyết giảng một bài làm chấn động dư luận. Ðó là bài «Chiều kích sâu thẳm của đời sống con người». Bài giảng đó đã được đăng tải vào trong Tuyển tập của ông nhan đề là The Shaking of the Foundations, phát hành năm 1949 tại Anh Quốc. Trong bài này, Tillich đưa ra một nhận định hết sức mới mẻ về Thượng Ðế. Thay vì chủ trương Thượng Đế là một đấng ngự trên trời cao thẳm, mà mọi người cố tin là có, ông lại cho rằng Ngài chính là Căn Cơ, Gốc Gác con người.
 Ông viết: «Tên gọi của Căn Cơ sâu thẳm của muôn loài được gọi là Thượng Ðế. Danh từ Thượng Đế chính là để chỉ chiều kích sâu thẳm đó. Nếu danh từ này chưa có ý nghĩa gì với bạn, bạn hãy chuyển dịch danh từ đó thành chiều kích sâu thẳm của cuộc đời bạn, thành nguồn gốc bản thể bạn, điều quan thiết tối hậu của bạn, và là điều mà bạn chú trọng nhất. Có lẽ, để làm được như vậy, bạn phải quên đi những gì mà truyền thống đã dạy bạn về Thượng Đế, phải quên ngay đi cả danh từ Thượng Đế. Vì nếu bạn hiểu đư’ợc rằng Thượng Đế là chiều kích sâu xa của cuộc đời bạn, bạn đã hiểu được rất nhiều về Thượng Đế. Hiểu Thượng Đế như vậy, không thể rằng bạn là vô thần hay vô tín ngưỡng. Vì bạn không thể nghĩ hay nói được rằng: Sự sống không có chiều sâu; sự sống chỉ là nông cạn, hời hợt; bản thể chỉ là phiến diện, Nếu bạn thực tình đã thốt ra những câu như trên, thì bạn là kẻ vô thần; bằng không, thì bạn đâu phải vô thần. Ai hiểu biết được chiều sâu, tức là hiểu biết Thiên Chúa.» [19]
Giám mục John A. T. Robinson, Giám mục giáo phận Woolwich tạl Anh quốc, tác giả cuốn sách nhan đề là Honest to God tả lại rằng khi ông đọc bài giảng trên, ông đã mở mắt ra và mục kích sự chuyển hóa của truyền thống giáo lý từ chiều cao thành chiều sâu.
 Nhiều môn phái Tin Lành, như Transcendentalists (T), Anabaptists (A), Quakers (Q), và Liberal Theology (LT) đều đồng thanh chủ trương Thượng Đế ngự trị trong lòng chúng sinh và muôn vật.
 Emerson (T) cho rằng: «Mặc khải cao siêu nhất cho thấy rằng Thượng Đế đã ngự sẵn trong lòng mọi ngườ.» [20]
Storch và Munstzer (A) tin rằng đấng Christ ở trong lòng mọi người… Chẳng những con người có thể kết hợp với Thượng Đế, lại còn có thể trở nên như Thượng Đế. [21]
 Niềm tin cốt cán của Giáo phái Quakers chính là trong con người đã có Linh Quang Nội Tại (Inner Light), đã có đấng Christ, đã có Thượng Đế. Chính vì vậy mà họ coi mọi người là anh em, và cố gắng làm những công cuộc cứu trợ, để làm vơi nỗi khổ của nhân loại. [22]
 Schleieremacher (LT) và phái Thần Học Tự Do cấp tiến, cũng đồng ý trong tâm có Trời, cho nên tôn giáo đối với họ chính là sự trực tiếp nhận ra rằng trong Hữu Hạn có Vô Cùng; trong Dị Biệt, Tạp Thù, có Ðồng Nhất Bất Phân.[23]

******************       

VIII.- Thuyết Tam Tài với Mật tông, Mật giáo Ðông phương: –

Mật tông, Mật giáo cho rằng các pháp môn tu luyện tuy nhiều, nhưng có thể thâu tóm lại thành 3 loại:
Luyện xác (Hatha Yoga)
Luyện tâm (Lana Yoga)
Luyện thần (Raja Yoga)
tương ứng với ba phần xác, hồn, thần trong con người.[27]
Như vậy các Huyền Môn Tây Tạng, và Mật Tông Ðông Phương cũng chấp nhận quan niệm Tam Tài về con người.

IX.- Thuyết Tam Tài với Thông Thiên Học: –

Thông Thiên Học, tuy chia con người thành 7 bình diện chính, 49 bình diện phụ, nhưng vẫn chấp nhận quan niệm Tam Tài về con người. Trong bài khảo cứu về Thánh ngữ AUM, do ông Fr. Mylne biên soạn theo tài liệu của ông, Arthur M. Coon, và đã được đăng tải trong tập san Tìm hiểu Thông Thiên Học, 1965, số Xuân Ất Tị, ta thấy nơi chú thích 1, trang 62, ghi như sau:

Theo Giáo lý Thông Thiên Học, con người gồm có:
– CHÂN THẦN hay Ðiểm Linh Quang của Ðức Thượng Ðế vô cùng tinh anh, ngự trị tại cõi Niết Bàn.
– CHÂN NHÂN hay là Tam Thể Thượng gồm có Tiên Thể, Thánh Thể, và Thượng Trí, hoạt động ở trong những cõi Niết Bàn, Bồ Ðề và Thượng Thiên.
– PHÀM NHÂN hay Tam Thể Hạ, gồm hạ trí, thể vía, và xác thân hoạt động ở những cỏi hạ thiên, trung giới và hồng trần.

Nhưng theo tôi, cái điều quan trọng của Thuyết Tam Tài là trong con người, dưới lớp Phàm Ngã, còn có Chân Ngã; dưới lớp Nhân Tâm, còn có Thượng Đế làm chủ chốt.
Ðiều này cũng chính là niềm tin của Thông Thiên Học.

Trong Theosophia 3, do Thông Thiên Học Việt Nam, chi bộ Phụng Sự phát hành, từ trang 13 đến 34, ông Lê Thiện Duyên, một hội viên Thông Thiên Học, khi giải thích dấu hiệu Thông Thiên Học đã viết:

«Ấn Tín Salomon, tức là hình ngôi sao sáu cánh cài lên nhau, chính là biểu tượng:
Thượng Đế và Con người; Thượng Đế nội tâm (tức là Chân Ngã) và Phàm Ngã.
Chân Ngã và Phàm Ngã, hay nói cách khác, Thượng Đế và Tâm hồn con người, liên lạc với nhau hết sức là mật thiết, như hai hình tam giác xuôi, ngược, trong ấn tín Salomon, được cài lên nhau, hết sức là gắn bó, đến nỗi không thể nào gỡ ra được, rứt ra được.
Tam giác có đầu quay lên, tượng trưng cho Thượng Đế, hay con người thiêng liêng hay Chân ngã hay Chân Thần.
Tam giác đầu quay xuống tượrng trưng cho Phàm Ngã.

Như vậy ý nghĩa tổng quát của ấn tín Salomon, có ý muốn nói rằng hành giả nào muốn tìm đến thập tự Tau, tức cửa Ðạo, thì điều kiện tiên quyết là phải hợp nhất giữa mình và Thượng Đế. Ðiều này chỉ có thể đến, khi con người sống thuận theo Thiên Cơ và đồng thời khi thuận Thiên, tức nhiên nơi con người có sự hòa hợp giữa Chân Ngã và Phàm Ngã. Trong Phàm Ngã luôn luôn hiện diện tinh thần của Chân Ngã để nhờ đó, ta soi sáng bước đường hiệp nhất giữa con người và Thượng Ðế.»
Như vậy tôi đã chứng minh được điều mà tôi muốn chứng minh. Ðó là đối với Thông Thiên, trong Hồn còn có Thần; trong Nhân tâm còn có Thượng Đế làm chủ chốt.

X.- Thuyết Tam Tài trong Văn chương và triết học: –

 Ảnh Aristotle

Dante, một văn sĩ Ý thời Trung Cổ (1265-1321), cũng công nhận thuyết Tam Tài về con người. Nền nhân bản của ông coi vũ trụ là một toàn thể, và con người là nhãn giới tiếp giáp giữa Thượng Đế và vạn vật, là một thực thể duy nhất, nhưng nối kết với:
– Thế giới vật chất bằng ngũ quan.
– Thế giới tư tưởng bằng tâm tư.
– Thế giới huyền vi bằng Thần.[28]
Averroès (l126- l198), một triết gia Ả Rập ở Tây Ban Nha, đồng thời cũng là một nhà học giả Hồi giáo trứ danh, đã từng bình giải các tác phẩm của Aristotle, cũng chủ trương rằng hồn con người có liên lạc mật thiết với khối óc, và sẽ chết theo khối óc; nhưng, trong con người còn có Lý, tức là Nguyên căn vĩnh cửu. Tu luyện Lý ấy con người sẽ có thể kết hợp với Lý Sống Ðộng, với Ðại Trí vĩnh cửu phổ quát. [29]
 Môn phái Valentinian (thành lập vào khoảng năm 140 do Valentinus ở Alexandria, (cũng cho rằng con người có thể chia thành ba hạng:
– Phàm phu tục tử, xác đất vật hèn (Hyliques)
– Con ngườl có nhân cách (Psychiques)
– Con người có tiên cách (Spirituels) [30]
 Theo Papus, thì các triết gia huyền học hiện đại, khoa học huyền bí hiện đại, môn phái thần bí Allen Kardec và một số môn nhân Rosi-Crucians, cổ giáo Ai cập, mật giáo Kabbalah Do Thái, Pythagoras, Paracelsus và thánh Paul đều chủ trương thuyết Tam Tài với con người. [31]

********************         

XI.-  Từ ngữ với Thuyết Tam Tài: –

*Nhị tổ điều tâm – tranh Thạch Khác 石 恪 (Ngũ Đại)

 Khảo từ ngữ các nước, ta thấy nước nào cững có những tiếng để chỉ Hồn và Thần và cũng phân biệt Lương Tâm và Nhân Tâm.

 Ta có thể viết:

 Thần = Lương Tâm
 Hồn = Nhân Tâm

 Như vậy, phần Thiên, phần Thần nơi chúng ta là Lương tâm, phổ quát vĩnh cửu; còn phần Nhân nơi ta là Nhân Tâm, biến thiên hạn hẹp.
 Lương tâm thời phi nhân, phi ngã.
 Nhân tâm thời mang sắc thái riêng tư của mỗi người. Nó là những bộ mặt hóa trang, mà mỗi người đã đeo lên trên Lương tâm – Chân diện mục – của con người.
 Khi ta làm điều gì xấu, thì Lương Tâm oán trách ta.
 Còn Tâm hồn ta thì xấu hổ, phàn nàn, hối hận.
 Tiếng Pháp, tiếng Anh gọi Lương tâm là Conscience. «Con-» là «cùng», «Science» là «biết», mà đã «cùng biết», thì phải là HAI chứ là MỘT làm sao? .

 XII.- Những cảm nghĩ của tôi về Xác, Hồn, Thần: –

Quan niệm Tam Tài về con người giúp tôi nhìn tỏ về con người. Theo huyền học Kabbalah Do Thái, thì bình diện Tâm Hồn cũng được gọi là bình diện tinh tú (Astral plane).
 Ông Desbarolles, tổ sư khoa xem chỉ tay Âu Chãu, cũng đã theo truyền thống Kabbalah mà chia con người thành ba bình diện:
– Bình diện thần minh.
– Bình diện tâm hồn hay bình diện Tinh tú.
– Bình diện vật chất hay bình diện phàm trần.[32]
 Cũng có người lại chia Hồn thành Hồn Nước (âme liquide); Hồn Khí (âme aérienne).[33]
 Tôi vẫn cho hồn là KHÍ. Nhưng nhìn sâu sắc hơn lại thấy hồn có hai phương diện:
– Hồn Trọc = Phách (cấu tạo bằng trọc khí). Ðây là sở cư của thất tình lục dục, mà các nền luân lý của các Ðạo giáo cố công tìm cách kềm chế, chuyển biến.
– Hồn Thanh – Thanh Khí = Hồn (Cấu tạo bằng thanh khí). Lòng yêu chuộng nghệ thuật cũng từ nơi đây phát sinh.
 Dù Hồn là thanh khí, hay trọc khí cũng vẫn là cái gì hữu hạn, biến thiên, nên nó chính là cơ sở tạo nên cá nhân, cá tính, tạo nên phân biệt.
 Vì hữu hạn, nên bao giờ cũng khao khát, cũng khắc khoải. Vì biến thiên, nên vẫn ở trong vòng sinh tử, luân hồi. Vì mang đầy cá nhân, cá tính, nên còn hết sức là ti tiểu.
 Á Ðông mỗi khi kể chuyện người chết hiện hồn về đều mô tả như là một làn sương khói, tuy vẫn thấy hình, nhưng sờ nắm không còn được nữa. Ðại khái vẫn như là một «làn KHÍ» tụ lại…
 Thần, đối với tôi là một Linh Quang. Gọi là Linh quang vì nó tỏa lan khắp vũ trụ. Nó là một loại ánh sáng vi tế hơn «vũ trụ tuyến», có thể xuyên thấu mọi sự, chứ không phải thứ ánh sáng thông thường có tốc độ 300.000 ngàn cây số một giây, mà mắt phàm ta nhìn thấy được.
 Vì tỏa lan khắp nơi, xuyên thấu mọi sự, nên được gọi là ở khắp nơi, «vô sở bất tại». Vì thế Dịch kinh viết: «Thần vô phương, nhi Dịch vô sở.» Vì xuyên thấu mọi sự nên có năng lực vô biên. Vì là Linh Quang nên thông sáng vô cùng tận. Người xưa cho Thần là thông minh vô cùng, phép tắc vô cùng, ở khắp mọi nơi chính là vì vậy.
 Lúc mà THẦN đã thông, không còn bị kẹt trong sa mù nam châm của khí, của hồn; và trong vòng trọng trọc của vật chất, xác thân, lúc ấy Thần sẽ vô biên, sẽ khinh khoát, sẽ vĩnh cửu. Người xưa gọi thế là Giải thoát.
 Hiểu Thần, Hồn, Xác như vậy, mới có thể hiểu nghĩa đích thực của các đạo giáo, và về các vấn đề hữu hạn, vô hạn; tù túng, giải thoát; biến thiên và hằng cửu.
 Thần trong quan niệm Tam Tài của tôi phải được hiểu là Tuyệt đối thể vô biên vô tận. Nơi đây không còn Thanh và Sắc… Nơi đây là nơi vắng lặng không hư, chỗ qui tụ, hòa hài của thánh hiền, Tiên, Phật muôn thủa, muôn nơi… Ðược vậy, chính là vì đây là «Nơi không Nơi», «không đây, không đó».
 Quan niệm Tam Tài về con người đề cao giá trị của con người. Nó giúp chúng ta thấy rằng tuy các bình diện bên ngoài, các bình diện xác hồn con người thì biến thiên, sinh tử, nhưng bình diện căn cốt của con người lại trường sinh, vĩnh cửu.
Mới hay: –

“Cái tạm bợ bao ngoài vĩnh cửu,
Áo thô sơ che dịu gấm hoa!
Rồi ra vàng ngọc chói lòa,
Trời người hợp nhất, Trung Hòa vô biên.”
 – Vì con người có Xác, nên mới có Ngũ Quan để tiếp xúc với ngoại cảnh.
 – Vì con người có Hồn, cho nên có thất tình lục dục, có trí lự để suy tư, để yêu cái này, ghét cái nọ.
 – Vì con người có Thần nên có Linh giác, Linh cảm, Linh Tri, Linh Tính, hay Tuệ giác, để tiếp xúc với Thần Linh, để khám phá ra những bí nhiệm của Trời đất.
Bên Á Châu cho rằng cái hiểu biết cao siêu, toàn bích là do Tuệ giác, Linh tri, Linh Giác. Bên Âu Châu thì cho là do Thượng Đế mặc khải. Càng ngày các bậc thượng trí, thượng nhân trong thiên hạ đều chủ trương rằng Linh Tri, Linh Giác hay Mặc khải không phải là hồng ân dành cho một số người nào đặc biệt, cho một thời đại nào đặc biệt, mà bất kỳ ai, nếu dày công tu luyện, sẽ đạt tới Linh Giác. Người ta thường cho rằng chỉ có đại thánh, đại hiền mới được diễm phúc đối thoại với Thượng Đế. Riêng tôi, tôi thấy chúng ta thường xuyên đối thoại với Thượng Đế, qua tiếng Lương Tâm, mà chúng ta không hề hay biết…
 Các tôn giáo công truyền xưa nay quan niệm hết sức sơ sài về Thần, Hồn, Xác. Hỏi bản tính Thượng Đế là gì, của Thần là gì, thì nói là tính thiêng liêng. Hỏi bản tính của hồn là gì cũng trả lời là tính thiêng liêng. Nhưng nếu hỏi thêm thiêng liêng có bản chất là gì, chắc là không trả lời được Khi biết mù mờ về con người, sẽ bế tắc khi nói về trường sinh, và giải thoát, và cũng sẽ rất hồ đồ về phương pháp tu luyện. Ðối với tôi truy nguyên về bản tính của Thần, Hồn, Xác là một vấn đề tuyên quyết, một vấn đề căn bản. Chúng ta hãy đi từ cái thô thiển nhất, trang trọng nhất, để tiến lên dần tới cái khinh thanh nhất và tế vi nhất.
 Xác dĩ nhiên là trọng trọc và thô thiển. Xác là vật chất hữu hình. Xác gắn liền với ngoại cảnh, với vật chất, với đất. Xác có ngũ quan để liên lạc với ngoại cảnh. Cỏ cây thảo mộc, cầm thú đều có sinh, có hủy. Xác con người cũng có sinh, có hủy. Chết đi xác con người lâu dần sẽ đồng hóa với đất đai. Ai là người mà đã chẳng chứng kiến cảnh tan rã, hủy hoại của thân xác con người?. Xác như vậy là Ðất, là Nước.

 Hồn con người, xét về bản tính, là KHÍ. Khảo từ ngữ Nhật Bản, ta thấy có điều lạ lùng này, là chữ Khí trong tiếng Nhật tương đương với chữ Hồn. Người Nhật rất chú trọng đến phần KHÍ trong con người, vì nó liên quan đến sức khỏe con người, tâm trạng con người. Họ cũng cho rằng bầu khí quyển bên ngoài mà biến chuyển, thì tâm trạng con người cũng biến chuyển.Vì thế khi viết thư từ cho nhau, bao giờ cũng bàn về thời tiết trước tiên. Ví dụ họ viết: «Ten ki ga ii desu.» (Khí Trời tốt), «Ten ki ga warui desu.» (Khí trời xấu) Khi muốn hỏi thăm sức khỏe nhau họ nói: «Ki bun ga ikaga desu ka?» (Khí phận Ngài hôm nay ra sao?) Tâm trạng vui buồn trong con người, hay dở trong con người, được coi như là khí khi tốt, khi xấu trong con người.

– Ki bun ga ii desu = Khí phận tốt – Vui = Sảng khoái – dễ chịu.
– Ki bun ga warui desu = Khí phận xấu = Bực bội, khó chịu.

 Có điều Khí đây là thứ Khí đặc biệt: Ðó là những «ions» + và «ions» – , nên luôn luôn phát sinh ra một từ lực và một từ trường. Khi gặp nhau, từ lực, từ trường của mỗi người đan quyện với từ trường từ lực của mọi người; rồi từ lực, từ trường của mình lại đan quyện với từ lực từ trường của quần sinh, vũ trụ. Chính vì vậy mà các đạo giáo Ðông Phương cho rằng con người bị «nhân duyên triền phược» và con người tự giam hãm mình vào trong những vòng cương tỏa gian trần.
 Dịch nói: «Tại thiên thành tượng.» Ở nơi tâm hồn, ta thấy đầy dẫy những ảnh tượng mà gian trần , mà xã hội đã in vào. Những ảnh tượng này thường ảnh hướng rất nhiều đến tâm trạng con người. Và những bão tố trong tâm hồn bên trong cũng y như những bão tố từ trường nơi vũ trụ bên ngoài. Ý niệm của chúng ta cũng bắt đầu hình thành ở nơi đây. Âu Châu có nhiều môn phái coi tính chất của hồn tương đương với tính chất các vì tinh tú, nên gọi thể hồn là ASTRAL (thể tinh tú).
 Nó đề cao giá trị con người, vì cho thấy Thần con người và Thần Trời đất là Một… Nó chỉ vẽ cho con người con đường đạo giáo chân thường: đó là đi vào nội tâm mà tìm Ðạo tìm Trời. Nó lại dạy con người một bí quyết hết sức nhiệm mầu khác là một khi đã đạt Thần, đạt Ðạo, đạt Thiên, lập tức phải rũ bỏ những gì biến thiên, tử sinh, hư ảo: đó là vật chất xác thân, đó là nhân tâm, tiểu ngã nếu chẳng vậy không thể nào thực hiện được khẩu quyết: «Ta và Cha Ta là Một.» (Yoan 17: 20-21)
 Cho nên, tu luyện thời mới đầu là lo cho thân xác được thoải mái, khoẻ mạnh; rồi lo cho tâm hồn ngày một nên tế vi, tinh khiết, tỉnh lãng, thanh cao.
 Cuối cùng là đạt trạng thái thần linh, tức là sống một cuộc đờl huyền hóa với trời đất, hồn nhiên, vô vi, vô dục, khoáng đãng, hư linh bất muội. Thế chính là đạt đạo, đắc đạo, phổ quát, bất biến, trường tồn, vĩnh cửu.
 Thực tế hơn, thì phải nói ta có thể cảm thấy xác thân, cảm thấy hồn dễ dàng, vì xác thân nằm trong phạm vi giác quan chúng ta, vì tâm hồn chúng ta có thất tình lục dục, có những thú thanh cao thuộc về thi ca, nghệ thuật. Nhưng còn Thần, còn Trời nơi ta, ta nghĩ rằng ta không sao cảm thấy được.
 Tuy nhiên, ta vẫn có trong tầm tay ta một phương tiện để cảm thấy Trời, thấy Thần trờl đất nơi ta. Thực vậy Trời chẳng ở đâu xa, Trời đã ở ngay trong tâm hồn ta. Trời chính là Lương tâm chúng ta.
 Tâm tư con người hằng giây, hằng phút biến thiên; Lương tâm con người muôn đời bất biến. Lương tâm con người vượt tầm không gian, thời gian; đã hiện diện ở nơi con người đầu tiên trên mặt đất, và sẽ hiện diện y như vậy nơi con người sau chót. Nó mới chính là Lời Chúa, nó mới chính là Thánh kinh, nó mới không sai lầm, nó mới vĩnh cửu.
 Lương tâm chính là cái gì cao quí nhất, đẹp đẽ nhất của nhân quần. Sống hoàn toàn thuận theo lương tâm, tức là sống hoàn toàn thuận theo Thiên Lý, và như vậy sẽ là một vị Thánh, Hiền, Tiên, Phật ngay từ khi còn ở gian trần này. Phật, Thánh xưa nay chẳng qua là những hiện thân của Lương tâm, của Thượng Đế…
 Pierre Abelard, một triết gia Pháp, thời trung cổ (1079- 1142) đã nói rằng: «Con người phạm tội là khi nào làm điều trái nghịch với lương tâm. Cái lề luật thiên nhiên ấy đã có trước sự mặc khải của các đạo giáo. Trước Moses, con người đã biết sống theo thiên lý. Socrates và Plato còn có đời sống thánh thiện hơn những người Công giáo sau này. Người Công giáo, người Do Thái và nhà triết học khi đàm thoại với nhau đã gặp nhau ở điểm tương đồng này, là lấy lương tâm làm kim chỉ nam cho luân lý và cho nhân loại…» [34]
 Tôi đã dùng thuyết Tam Tài, để nghiên cứu sự diễn biến của Văn Hóa, của Ðạo giáo và của Lịch sử trên triền thời gian.
 Thời Thượng cổ, nhân loại sống theo chữ Thiên, và đã tin rằng con người gồm đủ Tam Tài: Thần, Hồn, Xác. Nền đạo giáo cao siêu nhất của thời đại ấy là Thiên đạo, mà Thiên đạo là luyện Thần để sống phối hợp vớl Thượng Đế. Ðạo Lão gọi thế là Luyện Thần hoàn Hư, phục qui Vô Cực.
 Không thể nói được là ai đã lập ra Thiên đạo, vì Thiên đạo từ muôn thủa đã bàng bạc trong vũ trụ, và đã ẩn áo trong tâm linh con người Thánh, hiền, Tiên, Phật là những người có công khám phá ra Thiên đạo, và đã thực hiện Thiên đạo. Cho nên đối với tôi, Thiên đạo là «Ðạo vũ trụ», là «tôn giáo vũ trụ» (cosmic religion). Nó là của chung của muôn phương, và đã dành sẵn cho những tâm hồn thành khẩn nhất, đẹp đẽ nhất, hào sảng nhất. Nó có mục đích tối hậu là làm cho con người trở thành Thần, Phật, chứ không chủ trương van vái, lạy lục Thần, Phật.
 Thời Trung cổ, nhân loại theo quan niệm «lưỡng nguyên», và chỉ còn tin rằng con người có xác, có hồn. Nên cái đạo phổ biến nhất của thời ấy là đạo «tu tâm», sống sao cho công bằng, bác ái. Thời Trung cổ sống theo chữ Nhân. Các Ðạo giáo được sáng lập phần lớn là trong thời đại này. Chúng là những «Ðạo giáo lịch sử» (historical religions), nghĩa là có người sáng lập hẳn hoi, có khuôn phép, lễ nghi hẳn hoi. Tuy nhiên, chúng chỉ dạy rằng con người là con người. Con người không thể nào trở thành thần minh. Ðạo giáo lập ra cốt là để ca tụng thần minh, thờ phụng Thần minh, van vái thần minh để cầu phúc, nhương tai. Chúng có mục đích dạy con người thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế là đạo giáo đặt trọng tâm đi vào đời, để cải thiện đời, cải thiện xã hội. Ðạo giáo trong thời đại này, với hai chủ trương chính yếu là thờ phượng Thần Linh và yêu mến tha nhân, đã trở nên phóng ngoại, và dần dần đánh mất chiều kích tâm linh. Chủ trương của tôn giáo trong thời kỳ này là con người không bao giờ có thể nên bằng Thần Linh, không bao giờ có thể trở thành Thần Linh. Như vậy, con người đã từ chối giá trị siêu việt của mình, và đành mang lấy thân phận tôi đòi, đối với Thần Linh. Thật là: –

 “Ra vào theo lũ thanh y,
 Dãi dầu tóc rối, da chì quản bao.” (Kiều)

 Thời Cận kim, nhân loại chạy theo chủ nghĩa Duy vật, chỉ tin rằng con ngườl duy có xác. Hồn chỉ là hư danh, hay phụ tượng không đáng kể. Và cái đạo phổ quát nhất là cái đạo hình thức bên ngoài; là những công trình khai thác ngoại cảnh. Trào lưu được sùng thượng là xu phụ xác thân, tiền tài, danh lợi, hưởng thụ khoái lạc nhãn tiền.
*
* *
 Nhưng theo lẽ Dịch, cái gì cùng cũng sẽ biến; cái gì «vãng», cũng có lúc «phản». Vì thế nên trong tương lai, ta có thể tin chắc chắn rằng nhân loại sẽ đi lại ba chặng đường Tam Tài, nhưng sẽ đi theo chiều ngược, nghĩa là sẽ đi từ Vật đạo, tới Nhân đạo, rồi cuối cùng sẽ trở về Thiên đạo. Như vậy thuyết Tam Tài cho chúng ta một cái nhìn toàn bích về vai trò các đạo giáo, và ý nghĩa lịch sử nhân quần. Quan niệm Tam Tài cho thấy con người có 3 thứ đạo phải theo, phải giữ.
1. Vì có xác nên con người có Vật đạo. Vật đạo là lo khai thác ngoại cảnh, thích ứng với ngoại cảnh, để cho xác thân được no ấm, khỏe mạnh.
2. Vì có hồn, con người phải theo Nhân đạo. Nhân đạo dạy tu tâm, luyện tính, ăn ở xứng đáng với danh nghĩa con người, đối đãi với nhau cho vẹn tình, vẹn nghĩa, vẹn niềm kính ái, thủy chung, cốt sao cho tâm tư an lạc, gia đình đầm ấm, xã hội hòa ái.
3.Vì có Thần, nên con người phải theo Thiên đạo. Thiên đạo có mục đích tìm ra Chân Thần khuất lấp sau những bức màn hiện tượng tâm tư dầy đặc, trở thành Thần Linh, siêu xuất sinh tử. Như trên đã nói, hồn là phần biến thiên trong con người mà đã biến thiên ắt phải ở trong vòng sinh tử. Thần mới là phần bất biến trong con người. Mà đã bất biến, mới bất sinh, bất tử.
Mục đích tối hậu của con người là rũ bỏ cái xống áo biến thiên, sinh tử bên ngoài, để mà thể hiện cái Bản thể Thần Linh bất tử bên trong.
Nho gia gọi thế là: Khử nhân dục, tồn Thiên Lý.
Lão Trang gọi thế là: Tâm tử, Thần hoạt.
Bà La Môn gọi thế là: Tat Tvam Asi: Con là Cái Ðó.
Phật giáo gọi thế là thoát vọng tâm, thể hiện Chân tâm; siêu sinh tử, nhập Niết Bàn.
Không chấp nhận mình có Thần, vĩnh viễn không bao giờ vào được Nước Trời. (Yoan, 3:5-6), vĩnh viễn không bao giờ trở thành Tiên, Phật. Thần trong con người là hạt giống Tiên, Phật, Thần, Thánh. Không có Thần, dẫu tu muôn đời cũng không thoát được kiếp người… Ấp trứng gà, làm sao nở ra lại thành chim phượng?.

**************         

XIII.- KẾT LUẬN

Quan niệm Tam Tài, mà tôi đã trình bày như trên, có một tầm kích hết sức quan trọng,
Nó giúp chúng ta đi sâu vào chiều sâu tâm hồn, để tìm cho ra Thần Linh vỉnh cửu, tiềm ẩn bên trong. Nó vạch lại cho chúng ta thấy con đường mà hiền thánh xưa nay đã dùng, để bước vào cửa Ðạo, cửa Trời.
Nó không phải là một cuộc thăm dò, bàn cãi suông, mà chính là một công cuộc thăm dò để tìm hiểu về thân thế và định mệnh con người, với mục đích đem lại một sự biến chuyển nội tâm hoàn toàn, một sự tái tạo, phục sinh không tiền, khoáng hậu. Nó cũng sẽ làm đảo lộn quan niệm thông thường về đạo giáo. Thay vì vụ vào những hình thức thờ phụng, cúng quải, van vái bên ngoài, nó thôi thúc chúng ta hướng nội, quay về với bản tâm, để tìm cho ra Thần Trời đất, tìm cho ra Thượng Đế làm căn cốt bên trong. Có vậy mới mong khế hợp nhất như với Thượng Đế, mới mong giải thoát thật sự.
Xưa có một người hỏi Ðốn Ngộ thiền sư. Thế nào là Phật?
Thiền sư trả lời: «Gánh nước bán đầu sông.» Nghĩa là trong ta đã có một dòng sông linh thiêng, vĩnh cửu, đã có một vị Phật vô biên, mà ta không biết, lại vất vả, chen chúc nhau, đi cầu Phật ở bên ngoài, cầu Chúa ở bên ngoài; đi mua những thứ nước đục, mà người ta ngạo nghễ đem bán cho chúng ta với một giá rất đắt, ngay bên bờ sông tâm linh của chúng ta…

 Câu chuyện trên làm ta liên tưởng đến lời Thiên Chúa, ghi trong Jeremiah 2:13, đã trách dân Do Thái:-

«Dân ta lầm lỗi hai đàng,
Bỏ ta suối mát, đào quàng giếng khơi,
Nước thời chẳng thấy tăm hơi,
Giếng dò, giếng nứt, ôi thôi, khốn nàn !»

*Vương Dương Minh xưa cũng có những lời, những ý tương tự. Tôi mượn ý, mượn lời ông phóng tác thành bài thơ sau: –

“Sao thắc mắc lo suốt ngày, suốt buổi?
Sao học hành, bàn cãi mãi mà chi?
Bao nghi nan, mâu thuẫn của vấn đề,
Dùng trực giác, phá tan trong chốc lát.
Lòng con người có chỉ nam từ sơ phát,
Trong lòng người đã sẵn đấng muôn trùng.
Có mọi sự trong kho báu đáy lòng,
Sao ta vẫn ăn xin từng cửa ngõ ?” [35]

Ước mong bài khảo luận về thuyết Tam Tài này sẽ giúp quí vị, trong muôn một, tìm ra được Thần Linh nơi tâm khảm, vượt qua trần hoàn này trong vinh quang, và thực hiện được Bản thể tối hậu của mình, dữ Thiên đồng nhất.

*Nhân Tử  NGUYỄN  VĂN  THỌ

______________________

*CHÚ THÍCH: –

[1] Un penseur de l’antiquité, Soplocle, je crois, dit: «Quelles que soient les choses admirables qu’il y ait dans le monde, rien n’est plus admirable que l’homme.» – Henri Montherlant. Nouvelles littéraires, No 2399 du 17 au 23 Septembre 1973, p. 12.
[2] Mạnh Tử, Tận tâm chương cú hạ.
[3] Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên. (Trung Dung, XX)
[4] «I recognized the center of the empyrean as a point of intuitive perception in my heart. Irradiating splendor issued from my nucleus to every part of the universal structure. Blissful amrita, the nectar of immortality, pulsed through me with a quicksilvelike fluidity. The creative voice of God I heard resounding as A um,. the vibration of the Cosmic Motor. Suddenly the breath returned to my lungs. With the disappointment almost unbearsble, I realiled that my infinite immensity was lost. Once more I was limited to the humiliating cage of the body, not easily accomodative to the Spirit. Like a prodiga child, I had run away from my macrocosmic home and lmprisoned my self in a narrow microcosm.» – Paramahamsa Yogananda, Autobiography of a yogi (Los Angeles: Self Realization Fellowship). pp. l49-l5l, 1946.
[5] Katha Up. IV, 1-4. 10-11. Cf. A Source Book of Indian Philosophy, p.47.
[6] Chandogya Up. III,XIV. 1-2, 4. A Source Book of Indian Philosophy, p.65.
[7] Radhakrishnan, East & West, Some Reflections, Harper and Brothers, Publishers. New York. 1956, p. 22.
[8] Thủ Lăng Nghiêm, diễn dịch Hán văn ra Việt ngữ và giải thích. Linh Sơn Phật Học Nghiên Cứu Hội phát hành. q.II, tr. 90.
[9] Ib. tr. 56.
[10] Ib. tr. 69.
[11] Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất.
[12] Harsat Ahmad, The philosophies of the teachings of Islam, 1959, p. 19.
[13] But we created man, and we know what his soul whispers; for we are nigher to him than his jugular vein! (The Qur’ ân, L. 50)
[14] And when I have fashloned it, and breathed into it of my spirit… ( The Qur’ân XV. 30)
[15] He is the first and the last; and the outer and the inner… ( The Qur’ân, LVII. 30)
[16] L’Esprit (Ruah en hébreu. Pneuma en Grec, mot qui se rencontre 827 fois dans la Blile) c’est le souffle de vie qui est communiqué par Dieu… L’ âme (Nephesch en Hébreu, Psuche en Grec, mot mentionné 873 tois dans la Bible) désigne avant tout la vie individuelle, la vie passagère. Of Charles Gerbier. Le Chemin du Salut, chapitre: L’Homme est-il immortel?)
[17] According to the Scriptures, Spirit is indestructible, but soul is destructible. Obviously then, they are not synonymous. It is clearly stated that the soul that sinneth, it shall die; but the Spirit shall return to God who gave it. Cf. Manly Palmer Hall, The Secret Teachings of all Ages, p. clv.
[18] Bible de Jerusalem, p. 1525, note a.
[19] The first of these in date tor me (though not in composition) was a sermon by Paul Tillich, which appeared in his collection The Shaking of the Foundations, publlshed ln England in 1949. lt was called The Depth of Existence’ and it opened my eyes to the transtormation that seemed to come over so much of the traditional religious symbolism,when it was transposed from the heights to the depths. God. Tillich was saying, is not a projection ‘out there’,an Other beyond the akies, of whose existence we have to convince ourselves, but the Ground of our very being.
The name of this infinite and inexhaustible depth and ground of all being is God. That depth is what the word God means. And if that word has not much meaning for you, transiate it, and speak of the depth of our life, of the source of our being, of your ultimate concern, of what you have taken seriously without any reservtion. Perhaps, in order to do so,you must forget evrything traditional that you have learned about God, perhaps even that word it self. For you know that God means depth, you know much about him. You cannot call yourself an atheist or unbeliever. For you cannot think or say: Life has no depth! Life is shallow. Being itself is surface only. If you could say this in complete seriousness, you would be an stheist; but otherwise you are not. He who knows about depth, knows about God.
John A. T. Robinson, Bishop of Woolwich, Honest to God, The Westminster Press Philadelphia, 1963. pp. 21. 22.
[20] Emerson thought that the «highest revelation» was that God was in every person… (Paul F. Boller, Jr., American Transcendentalism, 1830-1860, G.P. Putnam’s sons, New York, Capricorn Books, New York, 1974, p.78.
[21] Storch spoke of the mystics’ belief in the indwelling of the Christ in man… Not only could the individual be united with God through; his suffrerings; he could become as God… ( Jack Gratus, The False Messiahs, Taplinger Publishing company, New York, 1976. p. 93)
[22] They spoke of the light Within, or of Christ within, even of God within… In the world at large, Quaker concern early manifested itself in the alleviation of suffering and in philanthropic works.
John Dillenberger and Claude Weich, Protestant Christianity, Charles Scribner’s sons, New York. 1954. pp. 119&121.
[23] Religion, more precisely, is the immediate apprehension of the Infinite in the finite, of the unity in the diversity. Ib. p.184.
[24] Xem Ðại Thừa Chơn Giáo, các trang 56, 61. Cao Ðài Giáo Lý, số 74, tháng Giêng. năm Nhâm Tí, tr.5. Cao Ðài Giáo Lý, Kỷ niệm Rằm tháng hai, Mậu Ngọ, tr. 20.
[25] Ðàn cơ Nam Thành Thánh Thất, giờ Ngọ, Mùng l, tháng Giêng, năm Kỷ Dậu. Xem Cao Ðài Giáo Lý, số 91,tr. 31.
[26] Lịch sử Cao Ðài, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ độ, Ðồng Tân, quyển 2, Phần phổ độ, 1926-1927. Cao Hiên xuất bản. 1972. tr. 97.
[27] Autant que le Dhyana Yoga est commun à tous les Yogas, on pourrait réduire cette classification à trois, c’est-à-dire: Hatha Yoga. Lana Yoga et Raja Yoga. Chacun conduit à la perfection et au contrôle indomptable de l’un des trois asvects de l’homme: le vremier. celui de l’homme phvsique; le second, celui de l’homme mental: et le troisième celui de l’homme spirituel…
Le Yoga, comme un tout unifié, peut être conidéré comme une méthode efficace et scientifique de développer la triple nature de l’homme par le moyen de la concentration mentale sur les diverses fonctions psycho-physiques, les pouvotrs mentaux, et les forces spirituelles expérimentées par et au moyen de l’organisme humain. (Le Yoga Tibétain et les Doctrines Secrète, Édité par le Dr W. Y. Evans Vents, M.A.D. Litt. D.Sc. de Jesus College, Oxford- Traduction francaise de Marguerite la Fuente, pp. 44-45)
[28] The result, as Dante. a leading scholar puts it, is a humanism that can accept the Cosmos as a whole and yet see in MAN the horison between God and Nature, a being utterly one and yet linked by his senses to the world of matter, by his mind to the world of thoughts and by his spirit to the world of Mystery. The Cultural Approach to History, p. 210.
[29] II (Averròes) pensait que l’ âmê humaine est étroitement assoclée avec le cerveau et meurt avec cet organ, mais qu’ il existe en l’homme un, Raison, Principe dotê d’ immortalité, en cultivant ce Principe, on peut s’unir à la Raison Active, à l’Intellect, agent universel et éternnel…
E. Royston Pike, Dictionnaire des Religions, p. 34.
[30] Serge Hutin. Lee Gnostics, Éd. PUF. p. 79.
[31] Cf. Papul. ABC Illustré de I’ Occultisme, p.196.
[32] Le Mens; le corps sidéral; le corps terrestre. C’est toujours le monde divin, le monde abstrsctif, le monde instinctif. Le corps terrestre, fait de matière et qui doit nécessairement retourner à la matière, est porté vers les jouissances de la matière, il cherche à séduire et à corrompre, par l’attrait des plaisirs sensuels, le Mens deatinê à le dominer et à le conduire, il a pour auxiliaires les passion, surtout la volupté.
Le corps sidéral est l’intermédiaire entre l’âme et le corps matériel. II sert de lien entre le coeur, source de la vie du corps, et le cerveau, siège de la vie, de l’âme.
Le Mens, l’âme. est l’étincelle divine qui vit en nous: C’est notre guide, notre conscience, notre flambeau, pendant notre séjour sur la terre…
Desbarolles, Mystères de la main, p. 27.
[33] Cette âme (âm liquide) est le siège de notre «individualité» présente, mais elle est destinée à se dissoudre dans le Léthé comme le corps dans la Terre. L’autre âme, c’est le PNEUMA, le char de l’esprit, ainsi que l’appelait Platon, le noyau sans cesse grossi de l’immortalité de l’âme, l’embryon du corps glorieux. Raoul Auclair, Le Livre des Cycles, p. 143-144.
[34] II n’y a de péché que lorsque l’homme agit contrairement à sa propre conscience. La loi naturelle précède la révélation surnaturelle (avant Moise, déjà les hommes ont vécu selon Dieu. Socrate et Platon avaient plus de foi chrétienne que bien des chrétiens qui ont vécu après eux) et le Chrétien, le Juif et le philosophe qui discutent dans son dialogue, se rencontrent sous l’égide de la loi morale et de l’humanité. Paul Sander, Histoire de la Dialectique, Nagel, p. 67.
[35] Vấn quân hà sự nhật đồng đồng,
Phíền não trường trung thố dụng công.
Mạc đạo thánh môn vô khẩu quyết,
Lương tri lưỡng tự thị Tham Ðồng.
Nhân nhân tự hữu định bàn châm.
Vạn hóa căn nguyên bản tại tâm.
Khước tiếu tòng tiền điên đảo kiến,
Chi chi diệp diệp ngoại đầu tầm.
***
Vô thanh vô xú. độc tri thì.
Thử thị Kiền Khôn vạn hữu ki,
Phao khước tự gia vô tận tạng,
Diên môn trì bát, hiện bần nhi.

P. Léon Wieger, Textes Philosophiques, Imprimerie de Hien Hien,1930, p. 260.

* Hết

**************         

 

 

 

 

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT

QUAN NIEM VO VI GIUA LAO TU VA DAO PHAT

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT.

 

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT. 

QUAN NIEM VO VI GIUA LAO TU VA DAO PHAT,

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT. 

QUAN NIEM VO VI GIUA LAO TU VA DAO PHAT

QUAN NIỆM VÔ VI GIỮA LÃO TỬ VÀ ĐẠO PHẬT.

DẪN NHẬP:
Hơn hai ngàn năm trước, trong khi châu Âu còn nằm trong bóng tối của sự man rợ, Hy Lạp đang mở rộng ảnh hưởng chính trị và văn hóa của mình thì Trung Hoa đã là một xã hội tổ chức tương đối có kỷ cương với nếp sinh hoạt văn hóa cao nhất từ trước tới nay. Đó là nhận định được nhiều học giả phương Tây cùng chia sẻ.
Thời Xuân Thu của Trung Hoa kéo dài từ năm 722 tới năm 481 trước công nguyên. Trong tình trạng triền miên tao loạn của Trung Hoa, xuất hiện nhiều triết gia với nhiều lý thuyết khác nhau, được gọi là Bách gia chư tử. Vượt lên trên các triết gia ấy, Lão Tử — cùng Khổng Tử — là hai nhân vật nổi bật nhất. Với cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử là người đầu tiên tại Trung Hoa đưa ra một quan niệm về vũ trụ. Những lời trong cuốn sách nhỏ ấy của ông thấm sâu vào dân tộc Trung Hoa, làm cốt lõi của văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao nhân quân tử vừa như một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng.
Nền minh triết của Đạo Đức Kinh cũng được khai triển bởi các danh gia tự xem là môn đệ của Lão Tử, về sau trở thành một nền học thuật rồi dần dà biến thành một tôn giáo thần bí. Tại phương Tây, từ khoảng một trăm năm nay, Lão Tử ngày càng có mặt trong phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở các đại học, cho tới các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và sống thanh thoát giữa lòng xã hội bị cơ khí hóa và mê thích tiêu thụ. Hơn bao giờ hết xã hội càng văn minh thì con người càng đánh mất chính mình. Sự tranh giành về quyền lợi, vật chất đã làm cho con người ngày càng mất dần những giá trị đạo đức. Quan niệm vô vi của Lão Tử đã trở nên quan trọng cũng như quan niệm vô vi của Phật giáo đã góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Vì thế mà người viết đã chọn đề tài “So sánh tư tưởng vô vi của Lão Tử với tư tưởng vô vi của đạo Phật”.
Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài này.

NỘI DUNG:
1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC THỜI XUÂN THU:
Thời Xuân Thu (khoảng 770 – 475 tr.CN). Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, còn gọi là thời Đông Chu, do Chu Bình Vương dời đô về phía Đông (Lạc Dương, Hà Nam ngày nay).

1.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ:
Đồ sắt phát triển khá phổ biến, kỹ thuật canh tác phát triển. Nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế đã có tác động mạnh đến hình thức sở hữu ruộng đất, kết cấu và địa vị kinh tế của các giai tầng trong xã hội.

1.2. ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRỊ:
Thời Xuân Thu, mệnh lệnh của Thiên tử nhà Chu không còn được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia minh tranh” (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh.

1.3. ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC:
Thứ nhất là nền triết học nhấn mạnh tinh thần nhân văn. Trong tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, tư tưởng liên quan đến con người như triết học nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt.
Thứ hai là chính trị đạo đức, các triết gia Trung Hoa đều tập trung vào lĩnh vực luân lý đạo đức, xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội.
Thứ ba là nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Các nhà triết học nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà các mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết các vấn đề.
Thứ tư là tư duy trực giác. Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy triết học cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm. Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi vậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng. Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, “lấy tâm để bao quát vật”.[1]
Chính vì những đặc điểm về kinh tế chính trị và tư tưởng triết học nên đã ảnh hưởng đến tư tưởng vô vi của Lão Tử.

2. TIỂU SỬ VÀ CUỘC ĐỜI CỦA LÃO TỬ:
2.1. TIỂU SỬ:
Lão Tử (老子) là một nhân vật chính trong Triết học Trung Quốc, sự tồn tại của ông trong lịch sử hiện vẫn đang còn được tranh cãi. Theo sử ký của Tư Mã Thiên, Lão Tử họ Lý tên Nhĩ, hiệu là Bá Dương, thụy là Đam. Có người nói đó là Thái sử Đạm, Lão Lai Tử. Theo truyền thuyết Trung Quốc, ông sống ở thế kỷ thứ 6 TCN. Nhiều học giả hiện đại cho rằng ông sống ở thế kỷ thứ 4 TCN, Có người còn đưa thời điểm cụ thể về cuộc đời của Lão Tử, cho rằng ông chào đời rồi tạ thế trong khoảng 580-500 trước công nguyên, cuối thời Xuân Thu. Ông sinh ra ở huyện Khổ (苦縣) nước Sở (楚), hiện nay là Lộc Ấp (鹿邑) thuộc tỉnh Hà Nam. Lão Tử được coi là người viết Đạo Đức Kinh (道德經) – cuốn sách Đạo giáo có ảnh hưởng lớn, và ông được công nhận là Khai tổ của Đạo giáo (Đạo tổ 道祖).[2]

2.2. CUỘC ĐỜI:
Lão Tử đã trở thành một anh hùng văn hoá quan trọng đối với các thế hệ người Trung Quốc tiếp sau. Một số truyền thuyết nói rằng khi sinh ra tóc ông đã bạc trắng, vì ông đã nằm trong bụng mẹ tám hay tám mươi năm, điều này giải thích cho cái tên của ông, có thể được dịch thành “bậc thầy già cả” và “đứa trẻ già”.
Theo truyền thống, và một tiểu sử gồm cả trong cuốn sử của Tư Mã Thiên, Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử và sinh trước hay sau vài chục năm. Nếu đúng thế tức là khoảng thời gian thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, cùng thời với các triết gia Hy Lạp tiền Socrates như Heraclitus và Pythagoras. Lão Tử là người làm chân giữ sách trong thư viện triều đình nhà Chu. Khổng Tử đã có ý định hay đã tình cờ gặp ông ở Chu, gần nơi hiện nay là Lạc Dương, nơi Khổng Tử định đọc các cuốn sách trong thư viện. Theo những câu chuyện đó, trong nhiều tháng sau đó, Khổng Tử và Lão Tử đã tranh luận về lễ nghi và phép tắc, vốn là những nền tảng của Khổng giáo. Lão Tử phản đối mạnh mẽ những nghi thức mà ông cho là rỗng tuếch. Truyền thuyết Đạo giáo kể rằng những cuộc tranh luận đó có ích cho Khổng Tử nhiều hơn so với những gì có trong thư viện.
Sau này, Lão Tử nhận thấy rằng chính sự của vương quốc đang tan rã và quyết định ra đi. Ông đi về phía Tây trên lưng một con trâu nước qua nước Tần và từ đó biến mất vào sa mạc rộng lớn. Truyền thuyết kể rằng có một người gác cửa tên Doãn Hỷ ở cửa phía tây của ải Hàm Cốc thuyết phục Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc. Cho tới lúc ấy, Lão Tử mới chỉ nói ra các triết thuyết của ông mà thôi, và giống như trường hợp của Jesus, Phật, và Khổng Tử (những cuốn văn tuyển của họ hầu như được hoàn thành bởi các đệ tử). Theo yêu cầu của người lính đó, Lão Tử đã viết để lại cuốn “Đạo Đức Kinh”. Nhiều cuốn ghi chép và bức tranh về Lão Tử còn lại đến ngày nay, thường thể hiện ông là một người già hói đầu với một chòm râu trắng hay đen và rất dài; ông thường cưỡi trên lưng một con trâu nước.
Khi ông đã khuất bên kia cửa ải, người đời không còn biết tung tích ông. Khảo chứng của người đời sau cho rằng bài viết về Lão Tử trong Sử ký hẳn do hậu thế thêm vào, còn lời cảm khái của Khổng Tử là do một đạo gia nào đó bịa ra để tôn vinh sư tổ của mình. Như thế, hình ảnh ông thầy già cưỡi trên lưng một con trâu nước đi ra quan ải và con rồng bay liệng trên không cũng chỉ ở trong cõi huyền thoại. Chúng tạo thêm vẻ thần bí mông lung, như hàng trăm câu chuyện khác về hành trạng và hoàn cảnh sáng tác của văn thi sĩ Trung Hoa thời cổ. Nhưng dù gì đi nữa, ngụ ngôn ấy cũng làm nổi bật thêm giá trị tư tưởng, cuộc sống lãng đãng và phong thái phiêu hốt của tác giả và làm hình ảnh của Lão Tử càng thêm huyền thoại.

3. LÃO TỬ VỚI ĐẠO ĐỨC KINH:
Đạo đức kinh là cuốn sách chỉ khoảng 5000 chữ, gồm hai phần. Thượng là Đạo Kinh gồm 37 chương, bàn về Đạo lớn của vũ trụ. Hạ là Đức Kinh gồm 44 chương bàn về Đức. Lão Tử đã viết theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, giàu âm điệu và đọc lên nghe như thơ tự do thời nay. Súc tích. Không chấm câu. Không lý luận. Không chứng minh dài dòng. Thể được dùng là cổ văn, một loại văn ngắn gọn, dễ thuộc lòng nhưng không dễ hiểu. Vì thế, nó có vẻ như chỉ gợi ý và bắt người đọc phải ngẫm nghĩ, tưởng tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ lòng mình. Và người đọc có rất nhiều cơ hội tiếp nối quá trình sáng tạo, tư duy, cho tác phẩm sinh động, thấm sâu, được triển khai thêm theo mỗi lần đọc.
Ngoại trừ hai vấn đề chính là Đạo và Đức, sách còn trình bày kiến thức sơ lược về binh pháp, thiên văn, dưỡng sinh… Có người dựa vào nội dung, cắt nghĩa rằng mục đích của Lão Tử là truyền thông điệp trị quốc, một loại triết lý chính trị. Có người lại nhấn mạnh tới phẩm chất tâm linh đạo học của nó.
Các bản lưu truyền từ hơn hai ngàn năm nay có khác nhau đôi chút về một số chữ hoặc cách chấm câu. Năm 1973, tại Trường Sa, ngành khảo cổ học tìm thấy một bản bạch thư dưới một mộ cổ đời Hán, trong đó phần Đức Kinh được đem lên trước phần Đạo Kinh. Bản khai quật này có giá trị tham khảo rất lớn vì hơi khác các bản hiện hành. Cho tới nay, Đạo Đức Kinh có tới cả trăm bản dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, v.v. Riêng trong tiếng Việt có các bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Nghiêm Toản, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tôn Nhan…

4. SO SÁNH TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA LÃO TỬ VỚI TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA PHẬT GIÁO:
4.1. TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA LÃO TỬ:
Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là không nên làm gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng làm mà như không làm, và không làm những điều không nên làm. Ông cũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớn thì có thể làm lở cả đất đá. Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước. Quan niệm vô vi của ông được đề cập với nhiều lĩnh vực mà ta sẽ bắt gặp trong Đạo Đức kinh.

4.1.1. TƯ TƯỞNG VÔ VI ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ TRỊ QUỐC:
Tương tự như Khổng Tử, Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên rất ưu tư về vấn đề quốc trị. Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị,”.. “thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.” Và vì nhận xét như vậy cho nên Lão Tử chủ trương rằng người lãnh đạo quốc gia phải áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu thì mới có thể an bang tế thế.
“Phản phục (trở về) là cái động của đạo”. “Động mà không động, không động mà động”, yếu mềm là cái dụng của đạo. Ông cho rằng với đường lối vô vi: lo cho dân no ấm, mạnh khỏe và dạy cho dân sống tự nhiên hợp với môi trường chung quanh, không suy nghĩ hay thèm thuồng mỹ vật. Một khi dân được ấm no, không bệnh tật và không ham chuộng của quý vật lạ cũng như không có nhu cầu khoe tài hay ganh đua để được lãnh tụ yêu mến thì dân đã thấm nhuần tinh thần vô vi (không làm); và khi đã theo vô vi rồi thì dẫu có kẻ tài trí, tham lam xách động nhân dân nổi loạn thì họ cũng không làm (vô vi). Như vậy, nếu muốn lòng dân không loạn thì người lãnh tựu của quốc gia phải biết lo cho dân, không đặc ra sưu cao thế nặng, không bóc lột.
Lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân, không thể chỉ đặt ra luật lệ và đợi dân làm sai rồi hành hạ, giam cầm, xử trảm. Lãnh tụ quốc gia có nhiệm vụ chỉ bảo nhân dân hướng thiện theo đạo chứ không thể đem cái chết ra hăm dọa nhân dân. Tương tự như con thú khi bị dồn vào chân tường thì cắn lại, nhân dân khi bị bóc lột, khổ sở hết mức thì hết sợ chết; mà khi nhân dân hết sợ chết thì sự dọa nạt của lãnh tụ trở nên vô dụng. Kẻ nào dùng bạo lực để trị quốc thì “hiếm khi không bị thương ở tay”. Thương dân thì phải lo cho dân no ấm, tránh sưu thuế cao và không ép buộc dân phục dịch. Nếu kẻ ở trên sống xa xỉ, thâu sưu thuế cao mà còn bắt dân phục dịch thì nhân dân chỉ có thể chịu đựng đến một mức độ nào đó rồi trở nên loạn bởi vì họ không còn sợ chết nữa. “Thánh nhân vi phúc, bất vi mục” (Thánh nhân vì cái bụng mà không vì con mắt). Lãnh tụ quốc gia không nên đam mê cái bề ngoài xa xỉ mà ngược lại phải biết thương dân, lo cho dân no bụng và tránh những hành động ép dân vào cái thế khinh tử.
Bậc thánh nhân chủ trương trị quốc theo phương pháp vô vi nhằm giảm thiểu phép tắc vốn được đặt ra để áp bức và trừng phạt nhân dân. Lãnh tụ quốc gia theo đạo sẽ hướng dẫn nhân dân noi theo gương của mình, dùng cái thanh liêm của mình để dạy dỗ dân bỏ đi lòng tham dục cũng như các hành động xấu. Dần dần nhân dân trở thành thuần hậu và sống theo tự nhiên, chất phác mà không bị phép tắc chính trị gò bó. Luật lệ hà khắc được đặt ra (hữu vi) nhằm khiến người ta sợ nhưng hiếm khi tiêu diệt hết được các tệ nạn xã hội; trong khi đó đường lối vô vi không dựa trên phép tắc rườm rà lại có thể cảm hóa nhân dân để họ theo con đường thiện hợp với cái đạo của tạo hóa.
Lão Tử không chủ trương dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược đạo trị (vô vi) để vạn vật phát triển tự nhiên (không bày ra phép tắc, xảo thuật để gò ép nhân dân). Theo ông, nếu muốn hướng thiện thì đừng trừng phạt kẻ xấu mà nên dùng tư cách thánh nhân để cảm hóa kẻ xấu.
Chính sách quốc trị cao nhất là đạo trị, rồi mới đến đức trị (nhân trị), và rồi đến pháp chế; chính sách xảo trị (dùng xảo thuật để cầm quyền) là phương pháp thấp nhất vì lãnh tụ không còn được nhân dân tin tưởng nữa mới dùng đến xảo thuật. Lãnh tụ không tin dân cho nên mới bày kế để gò ép dân; dân không tin lãnh tụ cho nên phải đóng kịch sợ sệt hay cung kính để lừa gạt lãnh tụ. Hai bên đều dùng bề ngoài xảo trá để làm bình phong che giấu sự bất tín.
Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không muốn tư dục, không ganh đua bề  ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi. Trong quốc gia lý tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên; bởi vì hài lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia có thể “giũ áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình.[3]

4.1.2. TƯ TƯỞNG VÔ VI VỚI TỰ NHIÊN:
“Vũ trụ bao la vô cùng tận Nhân sinh tự cổ vốn Vô Thường”,
Trong Đạo Đức kinh Lão Tử viết: “vạn vật trong trời đất sanh từ có (hữu), (hữu) có sanh từ không (vô). Hữu vô đều từ thiên đạo”.
“Không tức thị Có,
Có tức thị Không,
Có có, Không không,
Không không, Có có,
Có rồi lại Không,
Không rồi lại Có,
Có cũng như không,
Không tốt hơn có,
Không có mà Có,
Có vẫn hơn Không,
Có Không, Không Có”
Hữu vô trong thể nghiệm của Lão Tử không có gì bằng nguồn gốc căn bản trước đó của vạn vật [4].  Trong sách Lão Tử viết: “vô, danh, thiên địa chi thỉ; hữu, danh vạn vật chi mẫu” ­­[5]. Vô là sự bắt đầu của trời đất , hữu là mẹ của vạn vật. Lão Tử tiếp tục khẳng định: “Cái bắt đầu trong thiên hạ, là mẹ của vạn vật trong nhân gian”­­[6]­­ . Thiên đạo là nguồn gốc của sự bắt đầu, là mẹ của sự sanh thành, là cái vô siêu việt, lại là cái hữu nội tại; Thiên đạo độc lập, không thay đổi và tồn tại khắp nơi. Theo lập trường của Lão Tử: Thiên đạo không phải là vạn vật nếu không các nhược điểm của vạn vật thiên đạo đều có. Thiên đạo không thể tách rời vạn vật nếu không thì không thể duy trì sự tồn tại của mọi vật trong mọi lúc mọi nơi. Từ quan điểm “Thiên đạo không phải là vạn vật” có thể nói thiên đạo là vô Từ quan điểm “Thiên đạo không thể tách rời vạn vật” có thể nói thiên đạo là hữu. Vô là tách hữu hạn không phải là vạn vật, hữu là hữu cùng tồn tại với vạn vật; Hữu vô đều là “đạo”.
Theo Lão Tử: con người vô vi, tự nhiên vô bất vi, thánh nhơn vô vi, bách tánh vô bất vi, thiên địa vô vi, trừ đi sai lầm của “hành động tạo tác của con người”, thì sẽ trở về với sự tốt đẹp của tự nhiên, đây cũng là ý “vô vi nhi bất vi của Lão Tử”. Bản chất của vô vi là vô bất vi, trong hạn định các khó khăn của nhơn sanh, cần có trí tuệ để nhìn nhận về sanh mạng có thể phá trừ chấp trước và hóa giải hành vi tạo tác của con người, sanh mạng con người là tạm thời, tự nhiên mới là trường cửu , cơ thể con người có thể bị hủy hoại nhưng thiên đạo thì vĩnh hằng. Theo Lão Tử thái độ sống “vô vi” của con người đó là con đường duy nhất trừ đi “tạo tác của con người” để trở về với tự nhiên. Con đường này chính là “đạo pháp tự nhiên” cũng chính là vô vi.[7]
Tại Trung Hoa, trước Lão Tử, chưa Triết gia nào khởi xướng vũ trụ luận. Học thuyết trọng tâm của Lão Tử là Đạo và Đức.
Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Lão Tử đếm vài con số rồi phán như thế, và ta hiểu ý của ông cho rằng không thể định nghĩa Đạo, nhưng Đạo có trước vũ trụ và Đạo là nguồn gốc của vũ trụ. Theo Lão Tử, trời đất muôn vật do Đạo mà sinh thành. Đạo là cái hỗn mang chưa phân, là cái nguyên thủy và là sự vận động hằng cửu mà ta không thể cảm, không thể biết. Đạo vô danh vô hình, là căn nguyên và cốt lõi của muôn vật. Muôn vật đều khởi đi từ Đạo, đi theo Đạo và quay về Đạo.
Còn Đức? Chữ Đức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo lối luân lý thông thường, mà là phải hiểu theo nghĩa của Lão Tử. Đức là “mầm sống ngấm ngầm” trong vạn vật. Đạo thì sinh ra còn Đức thì nuôi nấng. Người sống có Đức là sống theo Đạo. Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên.
Tới đây, ta chớm hiểu. Cái Đạo “phi thường Đạo” được Lão Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức sống và sự vận hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên hoặc thiên lý. Và Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lưu hành. Trong cái Đạo của vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập hợp thành cái trụ cốt, cái bản thể, còn đất trời và sinh linh, v.v. là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên. Đạo ấy chỉ được biết bằng trực quan, không bằng lý trí. Lão Tử không lập luận về Đạo vì ông chống lý trí. Theo ông, lý trí khiến ta nhìn cuộc đời với con mắt nhị nguyên, phân chia thế giới nội tâm và ngoại lai, con người với thiên nhiên, thế gian với vũ trụ, thiện và ác, vinh và nhục, đúng và sai, cao và thấp…, làm ta xa lìa đạo. Lão Tử không mất công giảng giải về Đạo, ông chống tri thức và trí năng. Ông cho rằng tri thức không giúp cho người ta sống theo Đạo và Đức. Nó chỉ làm cuộc sống thêm phức tạp; nó chế tạo cơ khí khiến sinh ra “cơ tâm”; nó bày đặt lý thuyết này nọ khiến đưa tới xung khắc… Trí năng khiến người ta phân biệt cái hay cái dở nên sinh ra ham muốn. Ông chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống mộc mạc, tự nhiên. Lão Tử không chịu nói nhiều về Đạo vì ông hiểu rõ giới hạn truyền đạt của ngôn ngữ. Tóm lại, Đạo, cái lý tự nhiên trong con người và vũ trụ, thì hư vô, mênh mông, sâu thẳm và ngập tràn tới độ nằm ngoài tầm nắm bắt của lý trí, nhận biết của tri thức và diễn đạt của ngôn từ. Lão Tử nhìn sự vật thường xuyên biến đổi và nhận ra luật mâu thuẫn nơi vẻ ngoài của vạn vật, “cái yên tĩnh là chủ của cái xáo động, cái quí lấy cái tiện làm gốc, cái cao lấy cái thấp làm gốc, cái thật đầy thì giống như trống không, con người thật khôn khéo thì trông giống như vụng về…”
Ông còn nhận ra luật phản phục ở bên trong vũ trụ, “vật gì phát tới cực điểm thì phản hồi, hễ tăng rồi thì phải hao giảm — trăng tròn rồi khuyết, hết mùa đông tới mùa xuân… Cùng tắc biến, biến tắc thông….” Trong cùng một lúc, bị chi phối bởi luật mâu thuẫn và luật phản phục, vũ trụ vận hành với Đạo, vạn vật đều nương tựa vào nhau mà sinh tồn và tương tác tạo điều kiện cho nhau “có và không cùng sinh; khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùng hình, cao và thấp cùng nghiêng, thanh và âm cùng họa, trước và sau cùng theo”. Tuy Đạo không thể hiểu, không thể bàn, không thể nói nhưng Lão Tử cho rằng loài người chỉ tự mình phục vụ mình tốt nhất bằng việc đi trên con đường Đạo. Để xoay xở trong tình cảnh nghịch lý đó thì có Đức. Sống có Đức tức là sống không phân biệt nhị nguyên, không khiên cưỡng, sống tự nhiên, vi vô vi — làm một cách tự nhiên — và đi đúng con đường vận hành của Đạo.

4.2. TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA ĐẠO PHẬT:
Nếu nhận định nghiêm túc thì khái niệm vô vi chỉ có ở Lão học, nó không giống với với khái niệm “vô của tánh không trung đạo duyên khởi”. “Vô của tánh không trung đạo duyên khởi” của triết lý Trung Quốc có nguồn gốc từ tư tưởng kinh “Bát Nhã” và luận “Duy thức” của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ và được truyền vào Trung Quốc. Tư tưởng “vô của tánh không trung đạo duyên khởi” ở Trung Quốc được duy trì và phát triển mạnh để sau đó trở thành một thái độ và triết sống của con người Trung Quốc. Triết lý mà người ta hay nói là “vô vi của đạo Phật” đó là triết lý “tánh không của Bát Nhã”, tánh không này chẳng phải không làm gì cả mà là tánh không trung đạo duyên khởi, không để cho các vọng niệm sai lầm mê chấp của con người ảnh hưởng và tác đọng đến sự tồn tại của vạn sự vạn vật mà tiếp nhận sự tồn tại và không tồn tại của vạn vật theo các nhân duyên sanh khởi và hoại diệt của bản thân sự vật. Khi nhân duyên hòa hợp đủ thi các pháp sanh thì gọi là hữu nhưng tánh chất của pháp được gọi là hữu đó là không thật, nó chịu sự chi phối của luật sanh – trụ- dị – diệt và biến đổi tùy theo nhân duyên. Khi các nhân duyên không đầy đủ thì không có sự xuất hiện của các pháp và cái không xuất hiện này không phải là “vô” là “không” trống rỗng mà không có tác dụng tạo tác của ý thức và cũng không có sự hòa hợp của các nhân duyên nên pháp không xuất hiện. Sự xuất hiện tồn tại của vạn vật trong mối tương quan của tánh không trung đạo duyên khởi này không phải là “vô” và “ không” mà là không có tánh chất cố định thật mà tùy theo nhân duyên mà sanh hay diệt. Cái bản chất duy trì huệ mạng của con người và vạn vật để vận hành và tồn tại theo quy luật “ vô của tánh không trung đạo duyên khởi” đó không phải là ý thức mà là trí tuệ của Như Lai Tạng. Mọi con người đều có sẵn trí tuệ này nhưng mạt na thức chấp trước sanh ra các thứ ngã chấp về thâm căn con người, trần cảnh của thế giới mà sanh ra vô số sanh vọng ảo tưởng. Khi con người nhận thức được bản chất vạn pháp là không thật có, là duyên khởi thì các thức điên đảo được chuyển thành trí tuệ sáng suốt và cứu cánh viên mãn của tầm nhìn về trí tuệ đó là Phật tánh, là Như Lai Tạng, là Niết Bàn
Chú ý: Cần kết hợp nội dung “bát nhã tánh không trung đạo và quá trình vận hành của các pháp theo chiều thuận và nghịch từ tâm sanh chấp có ra vạn pháp”, ngay từ vạn pháp có cái nhìn sáng suốt không chấp trước để đưa thức trở lại với bản tánh thanh tịnh của Như Lai, quá trình kết hợp không của “bát bất trung đạo” và bách pháp duy thức để triển khai ý “vô của tánh trung đạo duyên khởi”. Triển khai được “vô của tánh không trung đạo” thì mới rõ được điểm gần giống và khác nhau của vô vi của Lão Tữ và vô vi – “vô của tánh không trung đạo duyên khởi” của Phật học
Tham khảo từ giáo trình triết học Trung Quốc bản tiếng Hán của Đại Hoc Quốc Lập Không Trung Đài Loan do nhóm giáo sư Dương Tổ Hán biên soạn. Chú ý cần kết hợp tốt phần ghi chép nội dung bài giảng của giảng viên bộ môn, không quá tin vào tài liệu tham khảo này.

5. SO SÁNH VỀ HAI TƯ TƯỞNG:
Tư tưởng vô vi của Lão giáo vẫn ở trong cuộc đời dù không bon chen, tranh dành, nhưng khi có vẫn nhận hưởng, còn tư tượng Phật Giáo bắt đầu từ chữ “Không” và có khuynh hướng xuất thế.
Phật – Lão – Nho là 3 triết thuyết lớn ảnh hưởng quan trọng tới đời sống tinh thần của người phương đông trong đó có người Việt chúng ta. Ngã Phật từ bi, Lão chủ vô vi, Nho dụng hữu vi mà độ, mà răn, mà tế thế. Chủ thể của Nho là người quân tử, đối tượng của Lão là các bậc đế vương, còn Phật gia chỉ mong độ chúng sanh đạt thành Phật đạo. Bàn về vô vi thì luận trong tư tưởng của Lão giáo và Phật giáo đều có đề cập. Thật sự có khác nhau về cơ bản trong tư tưởng vô vi của hai giáo, đó là sự chấp nhận “cái nguyên lý ban đầu” của Lão không giống “nhân duyên” của Phật còn hành xử vô vi thì giống nhau.
Lão viết : “Đại Đạo phế hữu nhân nghĩa” , lại viết: “hành vô vi chi Đạo” tức là Lão tin rằng có một quyền năng rất lớn bao trùm thế giới đó là Đạo, Đạo có sức mạnh lan tỏa khắp vũ trụ ảnh hưởng tới thịnh suy của mọi đời người, mọi thời cuộc. Đó là cái nguyên lý ban đầu mà Lão Tử đã đưa ra như là một đấng Toàn năng điều khiển thế giới, đó là nguyên lý “hữu thần” trong hầu hết giáo lý của các tôn giáo ngoại trừ Phật giáo. Phật chỉ ra rất nhiều thế giới thần linh nhưng tất cả đều bị chi phối của luật nhân quả , nên dưới góc nhìn của Phật giáo chúng thần, thiên, nhơn, atula, v.v… cũng chỉ là quảng đại chúng sanh cần phải tu tập, tuyệt nghiệp mới thành Phật đạo. Phật nói “ta là Phật, các ngươi sẽ là Phật” tức chỉ ra nhơn duyên sanh quả Phật do tu đắc mà thành, chứ không có vị Phật nào của các vị Phật điều khiển sự “thành Phật” của chúng sanh, hay nói khác đi là sự thịnh suy của mọi đời người, mọi thời cuộc do chính nhân duyên của đời người đó, thời cuộc đó quyết định. Đây là nguyên lý “vô thần” của Phật giáo và nó là sự khác nhau cơ bản về tư tưởng so với các tôn giáo khác trong đó đó Lão giáo.
“Hành vô vi chi Đạo” nghĩa đen là không làm gì cả, có nghĩa là bảo ta không làm cái không nên làm chứ không phải là bảo ta làm biếng, các bậc đế vương thấy được cái không nên làm để không làm tức là Thánh đế, nhưng lẽ thường người đời thường xảo biện nên Đạo lớn của Lão tử khó thành.
Lão Tử than: “Đại Đạo phế hữu nhân nghĩa, huệ trí xuất hữu đại ngụy …”. Loài người càng khôn ngoan hơn thì sự dối trá càng nhiều hơn và dùng “Lễ” để che đậy khéo léo hơn , và cái sự làm “cái không nên làm” ngày càng nhiều hơn , chính vì thế mà Lão vô cùng khinh “Lễ” đặt nó xuống cùng trong trật tự xếp đặt của Ngài đó là Đạo-Đức-Nhân-Nghĩa-Lễ. Có lẽ không đắc thời để phổ biến thuyết Đại Đạo của mình nên Lão làm cái nên làm của mình là mất đi, mặc cho hậu thế bình phẩm. Cũng đúng thôi vì Lão chỉ dùng vô vi để dạy cách làm vua, mong trên đời xuất hiện nhiều Thánh đế – một chuyện khó xảy ra vì mấy ai không tư lợi hám giành quyền lực – nhờ Nho học hữu vi các vị quân vương mới được bảo vệ bằng bình phong lễ giáo rất hữu hiệu, nào là Tam cương, Ngũ thường, thuyết Thiên mệnh v.v… Nói như vậy không có nghĩa là không tồn tại Lão giáo, mà tư tưởng Lão giáo luôn phát triển, góp phần giáo dục nhân sinh quan cho từng cá nhân, luôn tự răn mình phải làm người tốt, không để ảo ảnh hữu vi lôi kéo cám dỗ, lịch sử đã minh chứng có nhiều tấm gương hành vô vi chi sự mà tên tuổi lưu mãi nghìn thu. Đạo Phật thường bảo “không gây nghiệp chướng thì không phải trả nghiệp”, lời răn này thấy sao giống lời của Lão bảo “đừng làm cái không nên làm” vì thế nói về lối hành xử vô vi thì Phật -Lão tương đối giống nhau , có khác chăng chỉ là mục đích cuối cùng của hai đạo.
Các bậc minh sư của nhà Phật ở nước ta phần lớn đều am tường Đạo pháp, trước khi đến với kinh kệ Phật giáo các Ngài đều là học trò của Khổng Lão, nhờ tứ thư ngũ kinh mới có vốn chữ Nho để nghiên cứu Kinh-Luật-Luận, vì thế Nho học và Lão học ảnh hưởng rất lớn về mặt nhận thức của các vị. Kết hợp nhuần nhuyễn sự tương đồng trong hành vô vi chi sự, các ngài đã sáng lập nhiều tông phái giáo chúng rất đông tín đồ, ví như ngài Trần Nhân Tông bỏ ngôi vua nhưng không mong thành thánh đế, ngài hành vô vi theo kiểu nhà Phật, lấy từ bi làm gốc để độ chúng, sáng lập thiền phái Trúc Lâm truyền đời đến tận ngày nay.
Không những thế đạo Lão còn quan niệm về cái tâm của con người:
Tướng do tâm sanh,
Tâm tịnh Thần sáng,
Thần sáng Trí minh,
Tâm bất tịnh, Thần suy,
Thần bất tịnh Trí bất minh,
Cũng tương tự như Phật giáo với quan niệm “Nhất thiết duy tâm tạo” , tất cả đều do tâm này làm chủ tạo tác những thiện nghiệp hoặc ác nghiệp. Nó tương ứng với những hành nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo thiện hay bất thiện mà hiện tướng “thần minh trí sáng”. Có thể nói hai quan điểm về tâm của hai tư tưởng tương tự nhau, đó là điểm tương đồng. Ông khuyên tri nhân giả trí, tự tri giả minh, nghĩa là biết người khác chỉ mới là trí, nhưng tự biết mình thì mới là sáng. Như vậy ông chú trọng đến việc tự chinh phục bản thân hơn là chinh phục kẻ khác. Nên bằng lòng với cái mình có, “tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời nhàn”, nghĩa là biết đủ thì đủ và lúc nào cũng đầy đủ cả, biết nhàn thì nhàn và lúc nào cũng nhàn cả. Một đặc tính căn bản của sách lược vô vi của Lão Tử là tiết kiệm. Thánh nhân không phí sức, phí công thi triển tài năng, mà ngược lại thì tằn tiện trong mọi trường hợp để bồi bổ, nuôi dưỡng ngay cả trong lúc phải thi thố tài năng. Sự sung mãn, dồi dào đến từ nỗ lực tiết kiệm lâu dài sẽ đem đến thắng lợi. Đạo Phật cũng khuyên người nên biết đủ với những gì mình đã có, không lãng phí mà biết giữ gìn phước về sau. Sự tạo phước rất khó khăn nên phải biết tích trữ phước, nếu không khi phước không còn thì ắt phải bị đọa lạc.
Với những quan niệm và những diễn giải tổng hợp và biện chứng về tư tưởng vô vi, Lão giáo đã sản sinh ra một hệ thống triết học đặc biệt gắn một cách lôgích nhận thức luận với bản thể luận. Chính vì thế mà học thuyết về vô vi của Lão Tử đã được đồng nhất với giáo thuyết của đạo Phật.

KẾT LUẬN:
Tác phẩm của Lão Tử, cuốn Đạo Đức Kinh, là một trong những cuốn chuyên luận đáng chú ý nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc. Nó là kiệt tác của ông, đụng chạm tới nhiều vấn đề của triết học từ tính chất duy linh của cá nhân và động lực giữa các cá nhân cho đến các kỹ thuật chính trị. Lão Tử đã phát triển khái niệm “Đạo”, với nghĩa là “Con Đường”, và mở rộng nghĩa của nó thành một trật tự vốn có hay tính chất của vũ trụ: “(đạo là) cách thức của thiên nhiên”. Ông nhấn mạnh khái niệm vô vi, hay “hành động thông qua không hành động”. Điều này không có nghĩa là người ta chỉ nên ngồi một chỗ và không làm gì cả, mà có nghĩa là ta phải tránh các mục đích rõ rệt, các ý chí mạnh, hay thế chủ động; ta chỉ có thể đạt tới hiệu quả thực sự bằng cách đi theo con đường của mọi vật, tự động tăng và tự động giảm. Những hành động được thực hành theo Đạo rất dễ dàng và có hiệu quả hơn mọi cố gắng để chống lại nó. Lão Tử tin rằng cần phải tránh bạo lực khi có thể, và rằng một chiến thắng quân sự nên là dịp để đau buồn thay vì ăn mừng chiến thắng.
Tương đạo Phật tư tưởng vô vi được đề cập thông qua hệ thống kinh Bát Nhã và một số tư tưởng về vô vi của Lão Tử đã tương đồng nhưng bên cạnh đó cũng có các điểm khác nhau. Cách giải thích tư tưởng của Lão Tử luôn sử dụng sự nghịch biện, loại suy, sử dụng các câu nói từ trước, lặp lại, đối xứng, vần và chuỗi sự kiện lặp lại. Những đoạn văn được cho là của ông rất giống thơ và khó hiểu. Chúng được coi là những điểm khởi đầu cho sự suy xét về vũ trụ học hay quan sát nội tâm. Nhiều lý thuyết mỹ học trong nghệ thuật Trung Quốc bắt nguồn từ những ý tưởng của ông và người kế tục nổi tiếng nhất của ông là Trang Tử. Có thể nói tư tưởng vô vi của Trang Tử và tư tưởng vô vi của của đạo Phật đã gặp nhau ở một điểm nào đó.

[1] Đặc điểm triết học Trung Hoa cổ trung đại,
[2] Khổng Tử và Đạo đức kinh
[3] (Trích từ Diển Đàn Dân Chủ – Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996
[4] Lão Tử chương 40
[5] Lão Tử chương 1
[6] Lão Tử chương 52
[7] Đạo đức kinh, Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Duy Cần

THÍCH PHÁP NHƯ.

 

 

 

 

Tư tưởng Đạo gia 道家思想

Tư tưởng Đạo gia 道家思想

Tu tuong Dao gia 道家思想 Tư tưởng Đạo gia
Tư tưởng Đạo gia

道家思想

Lê Anh Minh dịch

 

Tư tưởng Đạo gia 
道家思想 
● Lê Anh Minh dịch

Tu tuong Dao gia 道家思想 Tư tưởng Đạo gia
Tư tưởng Đạo gia

道家思想

Lê Anh Minh dịch

Tư tưởng Đạo gia

道家思想

● Lê Anh Minh dịch

MỤC LỤC

> TỰ NHIÊN

1- Vũ trụ – thiên địa

2- Tồn tại – quy luật

3- Nhân vật – thần tiên

> LẬP THÂN

4- Tuân Đạo – quý Đức

5- Dưỡng sinh – tị hại

6- Tri mệnh – thủ nhất

7- Hư tĩnh – cầu chân

> TU DƯỠNG

8- Tu luyện – dưỡng thân

9- Tu kỷ – đãi nhân

10- Khiêm cẩn – bất tranh

11- Quả dục – nhu nhược

> XỬ THẾ

12- Thế thái – nhân tình

13- Chính trị – chiến tranh

14- Tư khảo – trị thế

15- Danh lợi – đắc thất

16- Hoạ phúc – sinh tử

> TRIẾT LÝ

17- Biện chứng – thắng bại

18- Chung thuỷ – hữu vô

19- Kiên bạch – đồng dị

———————
*********************

1.- Vũ trụ 宇 宙 – Thiên địa 天 地

001. Thiên địa chi gian, kỳ do thác thược hồ? Hư nhi bất khuất, động nhi dũ xuất. [Đạo Đức Kinh, chương 5]

 天地之間,  其猶橐籥乎?  虛而不屈, 動而愈出。 《道德經 • 第五章》

【Dịch】 Khoảng trời đất giống như ống bễ thợ rèn. Trống không mà không hao kiệt;  càng động, hơi càng ra.

002. Cốc thần bất tử thị vị Huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn thị vị thiên địa căn. Miên miên nhược tồn. Dụng chi bất cần. [Đạo Đức Kinh, chương 6]

谷神不死, 是謂玄牝。 玄牝之門, 是謂天地根。 綿綿若存, 用之不勤。 《道德經 • 第六章》

【Dịch】 Cốc thần bất tử, đó là Huyền tẫn. Cửa Huyền tẫn chính là gốc rễ trời đất. Miên man trường tồn, dùng không bao giờ hết.

003. Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường danh. Vô danh, thiên địa chi thủy;  Hữu danh, vạn vật chi mẫu. Cố thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu;  Thường hữu, dục dĩ quan kỳ kiếu. Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn. [Đạo Đức Kinh, chương 1]

道可道, 非常道。 名可名, 非常名。 無名, 天地之始。 有名, 萬物之母。 故常無, 欲以觀其妙。 常有,  欲以觀其徼。 此兩者同出而異名。 同謂之玄。 玄之又玄。 眾妙之門。 《道德經 • 第一章》

【Dịch】 Đạo mà có thể giảng giải được thì không phải là cái đạo thường hằng. Tên mà có thể gọi được thì không phải là cái tên thường hằng. Không tên là khởi đầu của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật. Cho nên thường không để nhìn thấy cái có vi diệu trong cái không. Thường có để nhìn thấy cái không vi diệu trong cái có. Hai cái đó cùng một nguồn gốc, nhưng tên khác nhau, đều gọi là huyền. (Cái) huyền ấy thâm sâu hơn cả những gì thâm sâu;  chính là cửa phát sinh ra mọi điều huyền diệu.

004. Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải. Chu hành nhi bất đãi. Khả dĩ vi thiên hạ mẫu. Ngô bất tri kỳ danh;  tự chi viết Đạo, cưỡng vi chi danh viết Đại. Đại viết thệ;  Thệ viết viễn;  Viễn viết phản. Cố Đạo đại, thiên đại, địa đại, nhân diệc đại. [Đạo Đức Kinh, chương 25]

有物混成, 先天地生。 寂兮寥兮, 獨立而不改, 周行而不殆, 可以為天下母。 吾不知其名, 字之曰道, 強為之名曰大。 大曰逝,  逝曰遠, 遠曰反。 故道大, 天大, 地大, 人亦大。 《道德經 • 第 25 章》

【Dịch】 Có một vật hỗn độn, sinh thành trước trời đất;  yên lặng, trống không;  đứng một mình mà chẳng thay;  đi khắp nơi không dừng;  có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên của nó, nên đặt tên nó là Đạo. Gượng gọi tên đó là Lớn. Lớn là đi, đi là xa;  xa là trở lại. Cho nên Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn.

005. Thị chi bất kiến viết Di, Thính chi bất văn viết Hi, Bác chi bất đắc viết Vi. Thử tam giả bất khả trí cật. Cố hỗn nhi vi nhất. Kỳ thượng bất kiểu. Kỳ hạ bất muội. Thằng thằng bất khả danh, phục qui vu vô vật. Thị vị vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng. Thị vi hốt hoảng, nghinh chi bất khiếm kỳ thủ. Tùy chi bất kiến kỳ hậu. [Đạo Đức Kinh, chương 14]

視之不見曰夷。 聽之不聞曰希。 搏之不得曰微。 此三者, 不可致詰, 故混而為一。 其上不皎, 其下不昧, 繩繩不可名, 復歸於無物。 是謂無狀之狀, 無物之象, 是為惚恍。 迎之不欠其首, 隨之不見其後。 《道德經 • 第十四章》

【Dịch】 Nhìn mà không thấy, gọi là Di (thuần tuý, tố phác). Nghe mà không thấy, gọi là Hi (âm thanh ít). Nắm mà không được, gọi là Vi (nhỏ bé). Ba điều ấy [ta chỉ có thể lấy tâm mà lĩnh hội chứ] không thể suy cứu đến cùng. Cho nên cả ba hợp lại làm Một (tức là Đạo). Trên nó không sáng. Dưới nó không mờ. Miên man dằng dặc mà không thể đặt tên. Rồi lại trở về chỗ không có gì. Đó là trạng thái của cái không trạng thái. Hình tượng của cái không có vật chất. Nó tinh tế mơ hồ;  [ta] đón trước thì không thấy đầu, [ta] theo sau thì không thấy đuôi.

006. Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt. Hốt hề, hoảng hề, kỳ trung hữu tượng. Hoảng hề, hốt hề kỳ trung hữu vật;  ảo hề minh hề, kỳ trung hữu tinh. Kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín. [Đạo Đức Kinh, chương 21]

道之為物, 惟恍惟惚。 惚兮恍兮, 其中有象;  恍兮惚兮, 其中有物;  窈兮冥兮, 其中有精;  其精甚真, 其中有信。 《道德經 • 第廿一章》

【Dịch】 Đạo có đủ đặc tính của vật chất;  trạng thái mơ hồ của Đạo là trạng thái duy nhất. Chính trong trạng thái mơ hồ ấy vẫn có hình tượng có thể nghe và thấy được. Cũng chính trong trạng thái mơ hồ ấy vẫn có vật thể mà ta có thể nắm bắt được. Trong trạng thái mơ hồ ấy vẫn có một thứ tinh tế. Thứ tinh tế ấy rất chân thực, mà trong sự chân thực đó lại có sự tồn tại vật chất.

007. Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề tự vạn vật chi tông. Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần. Trạm hề tự hoặc tồn. Ngô bất tri thùy chi tử. Tượng đế chi tiên. [Đạo Đức Kinh, chương 4]

道沖而用之或不盈。 淵兮似萬物之宗。 挫其銳, 解其紛, 和其光, 同其塵。 湛兮似或存。 吾不知誰之子。 象帝之先。 《道德經 • 第四章》

【Dịch】 Đạo rỗng không mà dùng không hết. Đạo sâu xa man mác tựa hồ như là tổ tông của vạn vật. Đạo làm nhụt đi sự bén nhọn, tháo gỡ rối rắm, pha trộn ánh sáng, hòa mình cùng bụi bặm. Đạo chìm lắng [trong vạn vật], mà tựa như hiện hữu. Ta không biết Đạo là con của ai;  hình như có trước Trời.

008. Phù Đạo, hữu tình hữu tín, vô vi vô hình;  khả truyền nhi bất khả thụ, khả đắc nhi bất khả kiến;  tự bản tự căn, vị hữu thiên địa, tự cổ dĩ cố tồn;  thần quỷ thần đế, sinh thiên sinh địa;  tại Thái Cực chi tiên nhi bất vi cao, tại Lục Cực chi hạ nhi bất vi thâm, sinh thiên địa nhi bất vi cửu, trưởng vu thượng cổ nhi bất vi lão. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

夫道, 有情有信, 無為無形;  可傳而不可受, 可得而不可見;  自本自根, 未有天地, 自古以固存;  神鬼神帝, 生天生地;  在太極之先而不為高, 在六極之下而不為深, 先天地生而不為久, 長于上古而不為老。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Đạo thì chân thực và đáng tin cậy. Nó vô vi (= chẳng cố ý làm gì) và vô hình. Người ta chỉ có thể lấy tâm truyền tâm chứ không thể dạy bằng lời (= chỉ có thể tâm truyền 心傳 chứ không thể khẩu thụ 口授). Người ta có thể đạt được Đạo chứ không tận mắt thấy được nó. Đạo là gốc (bản căn) của chính nó. Nó đã hiện hữu trước khi có trời đất. Nó đã tồn tại tự thuở xa xưa cho đến nay. Nó sinh ra quỷ, thần, thượng đế, trời, đất. Nó ở trên Thái Cực mà không cho là cao. Nó ở dưới Lục Cực mà không cho là sâu. Nó sinh trước trời đất mà không cho là lâu dài. Nó sinh trưởng trước thời thượng cổ mà không cho là già.

009. Tề vạn vật dĩ vi thủ, viết:  «Thiên năng phúc chi nhi bất năng tải chi, địa năng tải chi nhi bất năng phúc chi, Đại Đạo năng bao chi nhi bất năng biện chi.» Tri vạn vật giai hữu sở khả, hữu sở bất khả, cố viết:  «Tuyển tắc bất biến, giáo tắc bất chí, đạo tắc vô di giả hĩ.» [Trang Tử, Thiên hạ]

齊萬物以為首, 曰:  天能覆之而不能載之, 地能載之而不能覆之, 大道能包之而不能辨之。 知萬物皆有所可, 有所不可, 故曰:  選則不遍, 教則不至, 道則無遺者矣。 《莊子 • 天下》

【Dịch】 [Họ] xem quan niệm «mọi vật bình đẳng với nhau» là nguyên tắc đầu tiên, và nói:  «Trời có thể che phủ vạn vật nhưng không chở được chúng. Đất có thể chở vạn vật nhưng không che phủ được chúng. Đại Đạo có thể bao hàm vạn vật nhưng không thể phân biện rõ chúng.» [Họ] biết vạn vật đều có chỗ sở năng và chỗ bất sở năng, nên nói:  «Hễ tuyển chọn cái gì, tức là không đạt được toàn thể [tức là có sự thiên vị];  hễ truyền dạy cái gì, tức là không đạt tới tất cả. [Nhưng] hễ noi theo Đạo, tức là không bỏ sót cái gì cả [vì Đạo bao hàm tất cả].»

010. Cố sinh vật giả bất sinh, hoá vật giả bất hoá. Tự sinh tự hoá, tự hình tự sắc, tự trí tự lực, tự tiêu tự tức. [Liệt Tử, Thiên thụy]

故生物者不生, 化物者不化。 自生自化, 自形自色, 自智自力, 自消自息。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Cho nên, cái sinh ra vạn vật thì không bị vật khác sinh ra;  cái khiến cho vạn vật biến hoá thì không bị vật khác làm cho biến hoá. Vạn vật đều tự nhiên sinh ra, tự nhiên biến hoá, tự nhiên xuất hiện hình thể và chủng loại, tự nhiên phát huy trí tuệ và năng lực, tự nhiên suy diệt và sinh trưởng.

011. Phù Đạo, vu đại bất chung, vu tiểu bất di, cố vạn vật bị. Quảng quảng hồ kỳ vô bất dung dã, uyên uyên hồ kỳ bất khả trắc dã. [Trang Tử, Thiên Đạo]

夫道, 于大不終, 于小不遺, 故萬物備。 廣廣乎其無不容也, 淵淵乎其不可測也。 《莊子 • 天道》

【Dịch】 Xét về phương diện lớn thì Đạo không có chỗ tận cùng;  xét về phương diện nhỏ thì Đạo không bỏ sót vật nào. Cho nên tất cả vạn vật cả lớn lẫn nhỏ đều có đầy đủ Đạo. Đạo rộng lớn thay! Không có thứ gì mà Đạo không dung chứa. Đạo sâu thẳm thay! Không ai có thể đo lường được Đạo.

012. Phù Đạo giả, phúc thiên tải địa, khuếch tứ phương, thác bát cực, cao bất khả tế, thâm bất khả trắc;  bao khỏa thiên địa, bẩm thụ vô hình;  nguyên lưu tuyền bột, xung nhi từ doanh;  hỗn hỗn cốt cốt, trọc nhi từ thanh. Cố thực chi nhi tắc vu thiên địa, hoành chi nhi di vu tứ hải, thí chi vô cùng nhi vô sở triêu tịch;  thư chi mịch vu lục hợp, quyển chi doanh vu nhất ốc;  ước nhi năng trương, u nhi năng minh, nhược nhi năng cường, nhu nhi năng cương;  hoành tứ duy nhi hàm âm dương, hoành vũ trụ nhi chương tam quang;  thậm náo nhi ca, thậm tiêm nhi vi. Sơn dĩ chi cao, uyên dĩ chi thâm, thú dĩ chi tẩu, điểu dĩ chi phi, nhật nguyệt dĩ chi minh, tinh thần dĩ chi hành, lân dĩ chi du, phượng dĩ chi tường. [Hoài Nam Tử, Nguyên Đạo]

夫道者, 覆天載地, 廓四方, 柝八極, 高不可際, 深不可測;  包裹天地, 稟授無形;  原流泉浡, 沖而徐盈;  混混滑滑, 濁而徐清。 故植之而塞于天地, 橫之而彌于四海, 施之無窮而無所朝夕;  舒之幎于六合, 卷之盈于一屋;  約而能張, 幽而能明;  弱而能強, 柔而能剛;  橫四維而含陰陽, 紘宇宙而章三光;  甚淖而滒, 甚纖而微。 山以之高, 淵以之深, 獸以之走, 鳥以之飛, 日月以之明, 星辰以之行, 麟以之游, 鳳以之翔。 《淮南子 • 原道》

【Dịch】 Đạo có thể che trời chở đất, mở rộng bốn phương tám hướng;  cao thì không có chỗ ranh giới, sâu thì không có chỗ tận cùng;  bao bọc lấy trời đất, sinh thành vạn vật mà không để lại dấu tích. Đạo như thể nguồn nước phún ra, chảy qua chỗ trống rỗng rồi từ từ làm đầy tràn;  thế nước chảy cuồn cuộn, nước đục rồi từ từ trong trẻo lại. Cho nên, để thẳng đứng thì Đạo làm đầy trời đất;  để nằm ngang thì lấp đầy bốn biển;  vận dụng Đạo thì vô tận, không kể ngày đêm;  mở rộng ra thì Đạo bao phủ lục hợp (trên, dưới, bốn phương), cuộn tròn lại thì Đạo [chưa] đầy một nắm tay;  Đạo ước thúc nhưng cũng có thể triển khai;  Đạo thâm u mà sáng rỡ;  Đạo nhu nhược mà cương cường;  Đạo là mối giềng giữ lấy trời đất mà bao hàm âm dương;  Đạo là mối giềng giữ lấy vũ trụ mà làm sáng tam quang (nhật, nguyệt, tinh);  Đạo dày đặc mà uyển chuyển, rất nhỏ mà tế vi;  núi nhờ đó mà cao, vực nhờ đó mà sâu, thú nhờ đó mà chạy, chim nhờ đó mà bay, mặt trời mặt trăng nhờ đó mà sáng;  các tinh tú nhờ đó mà vận hành;  lân nhờ đó mà rong chơi, phượng nhờ đó mà lượn múa.

013. Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sinh, cố năng trường sinh. [Đạo Đức Kinh, ch.7]

天長地久。 天地所以能長且久者, 以其不自生, 故能長生。 《道德經 • 第七章》

【Dịch】 Trời dài, đất lâu. Trời đất sở dĩ dài lâu chính vì không tư dục, không mong cầu sự sống riêng tư, vì thế nên trường sinh.

014. Tích giả, thánh nhân nhân âm dương dĩ thống thiên địa. Phù hữu hình giả sinh vu vô hình, tắc thiên địa an tùng sinh? Cố viết:  «Hữu Thái Dịch, hữu Thái Sơ, hữu Thái Thủy, hữu Thái Tố.» [Liệt Tử, Thiên Thụy]

昔者, 聖人因陰陽以統天地。 夫有形者生于無形, 則天地安從生? 故曰:  有太易, 有太初, 有太始, 有太素。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Ngày xưa thánh nhân dùng hai khí âm dương để thuyết minh sự sinh hoá của vũ trụ vạn vật. Nếu cái hữu hình sinh ra từ cái vô hình, thì trời đất từ nơi nào mà sinh ra? Cho nên nói:  «[Thiên địa vạn vật trước khi sinh thành thì phải trải qua bốn giai đoạn, đó là] Thái Dịch, Thái Sơ, Thái Thủy, Thái Tố.»

015. Thái Dịch giả, vị kiến khí dã;  Thái Sơ giả, khí chi thủy dã;  Thái Thủy giả, hình chi thủy dã;  Thái Tố giả, chất chi thủy dã. [Liệt Tử, Thiên Thụy]

太易者, 未見氣也;  太初者, 氣之始也;  太始者形之始也;  太素者, 質之始也。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Thái Dịch là [giai đoạn] khí chưa được thấy (tức là trạng thái hỗn độn trước khi trời đất sinh thành);  Thái Sơ là [giai đoạn] nguyên khí vừa xuất hiện [nhưng chưa định hình];  Thái Thủy là [giai đoạn] khí bắt đầu có hình trạng;  Thái Tố là [giai đoạn mà] hình trạng và tính chất của nguyên khí cơ bản được hình thành.

016. Nhất giả, hình biến chi thủy dã. Thanh khinh giả thướng vi thiên, trọc trọng giả há vi địa, xung hòa khí giả vi nhân;  cố thiên địa hàm tinh, vạn vật hóa sinh. [Liệt Tử, Thiên thụy]

一者, 形變之始也。 清輕者上為天, 濁重者下為地, 沖和氣者為人;  故天地含精, 萬物化生。
《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Một là khởi đầu của biến dịch. Cái trong và nhẹ thì đi lên làm trời. Cái đục và nặng thì đi xuống làm đất. Khí xung hòa thì biến thành người. Cho nên, trời đất hàm chứa tinh khí;  vạn vật nhờ đó mới biến hoá và sinh thành.

017. Vô tắc vô cực, hữu tắc hữu tận. … Vô cực chi ngoại phục vô vô cực, vô tận chi ngoại phục vô vô tận. [Liệt Tử, Thang vấn]

無則無極, 有則有盡。 … 無極之外復無無極, 無盡之外復無無盡。 《列子 • 湯問》

【Dịch】 Không gian thì vô hạn;  sự vật thì vô tận. […] Ngoài cái vô hạn của không gian thì không có cái vô hạn nữa;  ngoài cái vô tận của sự vật thì không có cái vô tận nữa.

018. Tử Liệt Tử viết:  «Thiên địa vô toàn công, thánh nhân vô toàn năng, vạn vật vô toàn dụng. Cố thiên chức sinh phúc, địa chức sinh tải, thánh chức giáo hóa, vật chức sở nghi. Nhiên tắc thiên hữu sở đoản, địa hữu sở trường, thánh hữu sở phủ, vật hữu sở thông. Hà tắc? Sinh phúc giả bất năng hình tải, hình tải giả bất năng giáo hóa, giáo hóa giả bất năng vi sở nghi, nghi định giả bất xuất sở vị. Cố thiên địa chi Đạo, phi âm tắc dương;  thánh nhân chi giáo, phi nhân tắc nghĩa;  vạn vật chi nghi, phi nhu tắc cương. Thử giai tùy sở nghi nhi bất xuất sở vị giả dã. Cố hữu sinh giả, hữu sinh sinh giả;  hữu hình giả, hữu hình hình giả;  hữu thanh giả, hữu thanh thanh giả;  hữu sắc giả, hữu sắc sắc giả;  hữu vị giả, hữu vị vị giả. Sinh chi sở sinh giả tử hĩ, nhi sinh sinh giả vị thường chung;  hình chi sở hình giả thực hĩ, nhi hình hình giả vị thường hữu;  thanh chi sở thanh giả văn hĩ, nhi thanh thanh giả vị thường phát;  sắc chi sở sắc giả chương hĩ, nhi sắc sắc giả vị thường hiển;  vị chi sở vị giả thường hĩ, nhi vị vị giả vị thường trình:  giai vô vi chi chức dã. Năng âm năng dương, năng nhu năng cương, năng đoản năng trường, năng viên năng phương, năng sinh năng tử, năng thử năng lương, năng phù năng trầm, năng cung năng thương, năng xuất năng một, năng huyền năng hoàng, năng cam năng khổ, năng thiên năng hương. Vô tri dã, vô năng dã, nhi vô bất tri dã, nhi vô bất năng dã.» [Liệt Tử, Thiên Thụy]

子列子曰:  天地無全功, 聖人無全能, 萬物無全用。 故天職生覆, 地職生載, 聖職教化, 物職所宜。 然則天有所短, 地有所長, 聖有所否, 物有所通。 何則? 生覆者不能形載, 形載者不能教化, 教化者不能違所宜, 宜定者不出所位。 故天地之道, 非陰則陽;  聖人之教, 非仁則義;  萬物之宜, 非柔則剛。 此皆隨所宜而不出所位者也。 故有生者, 有生生者;  有形者, 有形形者;  有聲者, 有聲聲者;  有色者, 有色色者;  有味者, 有味味者。 生之所生者死矣, 而生生者未嘗終;  形之所形者實矣, 而形形者未嘗有;  聲之所聲者聞矣, 而聲聲者未嘗發;  色之所色者彰矣, 而色色者未嘗顯;  味之所味者嘗矣, 而味味者未嘗呈:  皆無為之職也。 能陰能陽, 能柔能剛, 能短能長, 能圓能方, 能生能死, 能暑能涼, 能浮能沈, 能宮能商, 能出能沒, 能玄能黃, 能甘能苦, 能羶能香。 無知也, 無能也, 而無不知也, 而無不能也。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Thầy Liệt Tử nói:  «Trời đất không có công năng tuyệt đối, thánh nhân không có khả năng toàn diện, vạn vật không có công dụng trên mọi phương diện. Cho nên, chức năng của trời là che phủ sinh linh;  chức năng của đất là chở chuyên vạn vật;  chức năng của thánh nhân là giáo hóa thế nhân;  mỗi sự vật đều có chức năng tương ứng vốn có của nó. Thế nhưng trời có sở đoản (chỗ vụng), đất có sở trường (chỗ hay), thánh nhân có khi bế tắc, sự vật có lúc hanh thông. Tại sao thế? Bởi vì trời che phủ vạn vật nhưng không chở chuyên được chúng, đất chuyên chở chúng nhưng không giáo hóa được chúng, thánh nhân giáo hóa chúng nhưng không vi phạm được cái tính năng vốn có của chúng. Sư vật gì đã bị ấn định tính năng như vậy rồi thì không thể vượt ra khỏi địa vị của nó. Cho nên, đạo của trời đất nếu không âm thì dương, sự giáo hóa của thánh nhân nếu không nhân thì nghĩa, tính năng vốn có của sự vật nếu không nhu thì cương:  Tất cả đều noi theo tính năng vốn có mà không vượt ra địa vị của mình. Cho nên, hễ có sự sống tất có cái đã tạo ra sự sống;  hễ có hình thể tất có cái đã tạo ra hình thể;  hễ có âm thanh tất có cái đã tạo ra âm thanh;  hễ có màu sắc tất có cái đã tạo ra màu sắc;  hễ có mùi vị tất có cái đã tạo ra mùi vị. Cái do sự sống tạo ra sẽ chết, nhưng cái tạo ra sự sống (tức Đạo) thì chưa hề cùng tận;  cái do hình thể tạo ra thì có thực, nhưng cái tạo ra hình thể thì chưa hề có thực;  cái do âm thanh tạo ra thì nghe thấy, nhưng cái tạo ra âm thanh thì chưa hề phát thanh;  cái do màu sắc tạo ra thì phô bày, nhưng cái tạo ra màu sắc thì chưa hề hiển lộ;  cái do mùi vị tạo ra thì thưởng thức được, nhưng cái tạo ra mùi vị thì chưa hề hiển lộ:  Tất cả đều có chức năng vô vi. Cái vô vi này có thể âm, có thể dương, có thể nhu, có thể cương, có thể dài, có thể ngắn, có thể tròn, có thể vuông, có thể sinh, có thể tử, có thể nóng, có thể lạnh, có thể nổi, có thể chìm, có thể trầm (như nốt fa:  cung), có thể bổng (như nốt sol:  thương), có thể có thể hiện, có thể có thể mất, có thể đen, có thể vàng, có thể ngọt, có thể đắng, có thể hôi, có thể thơm. Cái vô vi thì vô tri (không biết) và vô năng (không thể), nhưng không gì là không biết, không gì là không thể làm được.

019. Đại tiểu tương hàm, vô cùng cực dã. Hàm vạn vật giả diệc như hàm thiên địa. Hàm vạn vật dã, cố bất cùng;  hàm thiên địa dã, cố vô cực. [Liệt Tử, Thang vấn]

大小相含, 無窮極也。 含萬物者亦如含天地。 含萬物也, 故不窮;  含天地也, 故無極。 《列子 • 湯問》

【Dịch】 Lớn và nhỏ bao hàm lẫn nhau, nên vô cùng vô tận. Bao hàm vạn vật cũng như bao hàm trời đất. Bao hàm vạn vật nên không có chỗ cùng tận. Bao hàm trời đất nên không có chỗ giới hạn.

020. Hữu thực nhi vô hồ xứ giả, vũ dã;  hữu trường nhi vô bản tiêu giả, trụ dã. [Trang Tử, Canh Tang Sở]

有實而無乎處者, 宇也;  有長而無本剽者, 宙也。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Cái có thực mà không xác định được nơi chốn thì gọi là vũ (không gian). Cái lâu dài mà không truy được gốc ngọn thì gọi là trụ (thời gian).

021. Chí đại vô ngoại, vị chi đại nhất;  chí tiểu vô nội, vị chi tiểu nhất. Vô hậu, bất khả tích dã, kỳ đại thiên lý. Thiên dữ địa ti, sơn dữ trạch bình. [Trang Tử, Thiên Hạ]

至大無外, 謂之大一;  至小無內, 謂之小一。 無厚, 不可積也, 其大千里。 天與地卑, 山與澤平。
《莊子 • 天下》

【Dịch】 Cái cực đại thì không có gì bên ngoài nó nữa và nó được gọi là Đại Nhất (Một Lớn). Cái cực tiểu thì không có gì bên trong nó nữa và nó được gọi là Tiểu Nhất (Một Nhỏ). Cái không có độ dày thì không thể bị cái khác chồng chất lên, nhưng nó rộng lớn tới ngàn dặm. [Nếu so sánh với cái tuyệt đối hay cái vô hạn thì] trời cũng thấp như đất và núi non cũng ngang bằng với ao đầm.

————————–
**************************

 2. TỒN TẠI 存 在 – QUY LUẬT 規 律

022. Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên. [Đạo Đức Kinh, chương 25]

人法地, 地法天, 天法道, 道法自然。 《道德經 • 弟二十五章》

【Dịch】 Người noi theo phép tắc của Đất, Đất noi theo phép tắc của Trời, Trời noi theo phép tắc của Đạo, còn Đạo thì noi theo phép tắc tự nhiên.

023. Phù thiên nhân chi sinh địa, hình nhân vu khí, khí nhân vu hòa, hòa nhân vu thần minh, thần minh nhân vu đạo đức, đạo đức nhân vu tự nhiên, vạn vật dĩ tồn. [Nghiêm Quân Bình, Đạo Đức Chỉ Quy, quyển 8]

夫天人之生地, 形因于氣, 氣因于和, 和因于神明, 神明因于道德, 道德因于自然, 萬物以存。 《嚴君平 • 道德指歸 • 卷八》

【Dịch】 Về sự sinh tồn của trời và người, thì hình thể thuận theo nguyên khí, nguyên khí thuận theo sự hài hòa, sự hài hòa thuận theo thần minh, thần minh thuận theo đạo đức, đạo đức thuận theo tự nhiên;  vạn vật [theo nguyên tắc đó mà] tồn tại.

024. Thiên địa chi đạo, sinh sát chi lý, vô khứ vô tựu, vô đoạt vô dữ, vô vi vi chi, tự nhiên nhi dĩ. [Nghiêm Quân Bình, Đạo Đức Chỉ Quy, quyển 12]

天地之道, 生殺之理, 無去無就, 無奪無與, 無為為之, 自然而已。 《嚴君平 • 道德指歸 • 卷十二》

【Dịch】 Đạo của trời đất và lẽ sinh tử tồn vong thì không bỏ đi cũng không giữ lấy, không giật mất cũng không cho tặng;  cứ theo lẽ vô vi mà vận hành, chỉ theo lẽ tự nhiên mà thôi.

025. Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi, ngô kiến kỳ bất đắc dĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 29]

將欲取天下而為之, 吾見其不得已。 《道德經 • 第二十九章》

【Dịch】 Ai muốn nắm lấy thiên hạ để cai trị và cố thực hiện điều đó thì ta thấy họ sẽ không đạt được ý đồ ấy.

026. Kỳ an dị trì, kỳ vị triệu dị mưu. Kỳ thúy dị phán, kỳ vi dị tán. Vi chi vu vị hữu, trị chi ư vị loạn. Hợp bão chi mộc, sinh vu hào mạt, cửu tằng chi đài, khởi vu lũy thổ. Thiên lý chi hành thủy vu túc hạ. Vi giả bại chi, chấp giả thất chi. Thị dĩ thánh nhân. Vô vi cố vô bại, vô chấp cố vô thất. Dân chi tùng sự, thường vu cơ thành nhi bại chi. Thận chung như thủy tắc vô bại sự. Thị dĩ, thánh nhân dục bất dục;  bất quý nan đắc chi hoá;  học bất học, phục chúng nhân chi sở quá. Dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên nhi bất cảm vi. [Đạo Đức Kinh, chương 64]

其安易持, 其未兆易謀, 其脆易泮, 其微易散。 為之于未有, 治之于未亂。 合抱之木, 生于毫末。 九層之臺, 起于累土。 千里之行, 始于足下。 為者敗之﹔執者失之。 是以, 聖人無為, 故無敗。 無執, 故無失。 民之從事, 常于幾成而敗之。 慎終如始, 則無敗事。 是以聖人欲不欲, 不貴難得之貨, 學不學, 復眾人之所過, 以輔萬物之自然而不敢為。 《道德經 • 第六十四章》

【Dịch】 Vật ở yên thì dễ cầm;  vật chưa hiện điềm báo hiệu thì dễ lo liệu;  vật giòn thì dễ vỡ;  vật nhỏ thì dễ phân tán. Hành động trước khi sự việc xảy ra;  trị an trước khi loạn lạc nổi lên. Cây to một ôm sinh trưởng từ mầm nhỏ bé;  đài cao chín tầng khởi từ mô đất;  cuộc viễn hành nghìn dặm bắt đầu từ nơi ta đang đứng. Làm thì hỏng, giữ thì mất. Cho nên thánh nhân không làm nên không hỏng, không giữ nên không mất. Người dân làm việc, khi sắp thành tựu thì thất bại. Nếu cẩn thận trước sau như một ắt sẽ không thất bại. Cho nên, thánh nhân muốn điều [thiên hạ] không muốn;  không chuộng những thứ khó tìm;  học điều [thiên hạ] không học;  phản phục cái gốc mà chúng dân bỏ qua để giúp vạn vật phát triển tự nhiên, nhưng ngài không dám tự ý tạo tác.

027. Đạo ẩn vô danh, phù duy Đạo thiện thải thả thành. [Đạo Đức Kinh, chương 41]

道隱無名夫唯道善貸且成。 《道德經 • 第四十一章》

【Dịch】 Đạo ẩn, không tên. Chỉ có Đạo là giỏi phú bẩm cho vạn vật và giúp chúng thành tựu.

028. Vô vi nhi vô bất vi, thủ thiên hạ thường dĩ vô sự. Cập kỳ hữu sự bất túc dĩ thủ thiên hạ. [Đạo Đức Kinh, chương 48]

無為而無不為。 取天下常以無事。 及其有事, 不足以取天下。 《道德經 • 第四十八章》

【Dịch】 Không [cố ý] làm [vì tư dục] nhưng không gì mà không làm;  muốn trị thiên hạ phải dùng vô vi;  dùng hữu vi không đủ để trị thiên hạ.

029. Phù từ cố năng dũng, kiệm cố năng quảng, bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng. [Đạo Đức Kinh, chương 67]

夫慈故能勇, 儉故能廣, 不敢為天下先, 故能成器長。 《道德經 • 第六十七章》

【Dịch】 Khoan từ nên hùng dũng. Tiết kiệm nên rộng rãi. Khiêm hư (không dám ở trên trước người khác) nên [được xem là] người xuất chúng.

030. Dũng vu cảm tắc sát. Dũng vu bất cảm tắc hoạt. [Đạo Đức Kinh, chương 73]

勇于敢則殺, 勇于不敢則活。 《道德經 • 第七十三章》

【Dịch】 Mạnh mà dám làm [ngang ngược] thì chết, mạnh nhưng chẳng dám làm [vì khiêm hư, vô vi] thì sống.

031. Thiên chi đạo bất tranh nhi thiện thắng, bất ngôn nhi thiện thắng, bất ngôn nhi thiện ứng, bất triệu nhi tự lai, thản nhiên nhi thiện mưu. Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất. [Đạo Đức Kinh, chương 73]

天之道不爭而善勝, 不言而善應, 不召而自來, 坦然而善謀。 天網恢恢, 疏而不失。 《道德經• 第七十三章》

【Dịch】 Đạo Trời không tranh mà thành, không nói mà người hưởng ứng, không mời mà người tự tới, khoan thai mà mưu sự vẫn hay. Lưới Trời lồng lộng, thưa mà chẳng lọt.

032. Bỉ chính chính giả, bất thất kỳ tính mệnh chi tình. Cố hợp giả bất vi biền, nhi chi giả bất vi kỳ;  trường giả bất vi hữu dư, đoản giả bất vi bất túc. Thị cố phù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu;  hạc hĩnh tuy trường, đoạn chi tắc bi. Cố tính trường phi sở đoạn, tính đoản phi sở tục, vô sở khử ưu dã. [Trang Tử, Biền Mẫu]

彼正正者, 不失其性命之情。 故合者不為駢, 而枝者不為跂; 長者不為有餘, 短者不為不足。 是故鳧脛雖短, 續之則憂; 鶴脛雖長, 斷之則悲。 故性長非所斷, 性短非所續, 無所去憂也。 《莊子• 駢拇》

【Dịch】 Người hay sự vật chí phải thì không bao giờ đánh mất bản tính tự nhiên mà mình được phú bẩm. [Ngón chân] hợp lại đừng xem là ngón dính;  mọc nhánhra thì đừng xem là ngón thừa. Cái dài thì đừng xem là dư;  cái ngắn thì đừng xem là thiếu. Cho nên, chân vịt tuy ngắn nhưng nếu ta nối dài thêm thì nó khổ;  chân hạc tuy dài nhưng nếu ta chặt ngắn đi thì nó sầu. Vậy, bản tính dài thì chớ làm ngắn lại;  bản tính ngắn thì chớ nối dài thêm. Bản tính như vậy, có gì đáng ưu phiền đâu mà phải khử bỏ đi.

033. Thả phù đãi câu thằng qui củ nhi chính giả, thị tước kỳ tính giả dã;  đãi thằng ước giao tất nhi cố giả, thị xâm kỳ đức dã;  khuất chiết lễ nhạc, hu du nhân nghĩa, dĩ ủy thiên hạ chi tâm giả, thử thất kỳ thường nhiên dã. Thiên hạ hữu thường nhiên. Thường nhiên giả, khúc giả bất dĩ câu, trực giả bất dĩ thằng, viên giả bất dĩ qui, phương giả bất dĩ củ, phụ ly bất dĩ giao tất, ước thúc bất dĩ mặc sáchương Cố thiên hạ dụ nhiên giai sinh, nhi bất tri kỳ sở dĩ sinh;  đồng yên giai đắc, nhi bất tri kỳ sở dĩ đắc. Cố cổ kim bất nhị, bất khả khuy dã. [Trang Tử, Biền Mẫu]

且夫待鉤繩規矩而正者, 是削其性也; 待繩約膠漆而固者, 是侵其德也; 屈折禮樂, 呴俞仁義, 以慰天下之心者, 此失其常然也。 天下有常然。 常然者, 曲者不以鉤, 直者不以繩, 圓者不以規, 方者不以矩, 附離不以膠漆, 約束不以纆索。 故天下誘然皆生, 而不知其所以生; 同焉皆得, 而不知其所以得。 故古今不二, 不可虧也。 《莊子• 駢拇》

【Dịch】 Khi cần dùng đến cái móc, dây nhợ, compa, êke để sửa cho đúng tiêu chuẩn nào đó, chính là làm tổn hại bản tính tự nhiên của sự vật. Khi cần dùng đến dây và keo sơn để làm cho kiên cố, chính là xâm phạm tới đức (phẩm chất) của sự vật. Uốn nắn con người bằng lễ nhạc, anủi con người bằng nhân nghĩa, tức là làm mất bản tính thường nhiên của sự vật. Ai ai cũng có tính thường nhiên. Thường nhiên tức là khi cong thì không cần móc, khi thẳng thì không cần dây, khi tròn thì không cần compa, khi vuông thì không cần êke, khi dính chắc thì không cần keo sơn, khi cột chắt thì không cần dây nhợ. Cho nên thiên hạ tự nhiên sinh ra nhưng không biết tại sao mà sinh trưởng;  cùng đạt được mục tiêu khác nhau của mình nhưng không hiểu tại sao mà đạt được. Nguyên lý này xưa nay vẫn vậy, không thể bị tổn hại.

034. Vong hồ vật, vong hồ thiên, kỳ danh vi vong kỷ. Vong kỷ chi nhân, thị chi vị nhập vu thiên. [Trang Tử, Thiên Địa]

忘乎物, 忘乎天, 其名為忘己。 忘己之人, 是之謂入于天。 《莊子• 天地》

【Dịch】 Quên sự vật, quên thiên nhiên, đó gọi là quên bản ngã của mình (vong ngã). Người vong ngã mới có thể tiến nhập vào cảnh giới phù hợp với đạo trời.

035. Phù minh bạch vu thiên địa chi đức giả, thử chi vị đại bản đại tông, dữ thiên hòa giả dã;  sở dĩ quân điều thiên hạ, dữ nhân hòa giả dã. Dữ nhân hòa giả, vị chi nhân lạc;  dữ thiên hòa giả, vị chi thiên lạc. [Trang Tử, Thiên Đạo]

夫明白于天地之德者, 此之謂大本大宗, 與天和者也; 所以均調天下, 與人和者也。 與人和者, 謂之人樂; 與天和者, 謂之天樂。 《莊子• 天道》

【Dịch】 Hiểu rõ đức tính của trời đất chính là nắm được cái tông chỉ căn bản nhất và sẽ hoà hợp với cõi tự nhiên. Cho nên quân bình và điều hòa đượcthiên hạ cũng như con người. Hòa với người thì gọi là niềm vui với người, hòa với cõi tự nhiên thì gọi là niềm vui với cõi tự nhiên.

036. Phù hộc bất nhật dục nhi bạch, ô bất nhật kiềm nhi hắc. Hắc bạch chi phác, bất túc dĩ vi biện;  danh dự chi quán, bất túc dĩ vi quảng. Tuyền hạc, ngư tương dữ xứ vu lục, tương hu dĩ thấp, tương nhu dĩ mạt, bất nhược tương vong vu giang hồ. [Trang Tử, Thiên Vận]

夫鵠不日浴而白, 烏不日黔而黑。 黑白之朴, 不足以為辯; 名譽之觀, 不足以為廣。 泉涸, 魚相與處于陸, 相呴以濕, 相濡以沫, 不若相忘于江湖。 《莊子• 天運》

【Dịch】 Con thiên nga đâu tắm mỗi ngày vậy mà nó vẫn trắng;  con quạ đâu nhuộm mỗi ngày mà nó vẫn đen. Trắng đen là bản sắc tự nhiên của chúng, đâu cần phải biến đổi. Sự quán tưởng đến danh dự đâu có làm cho mình lớn hơn. Khi suối cạn, cá chen chúc vớinhau trong bùn. Ở đó phun nhớt dãi làm ướt nhau, sao bằng ở sông hồ mà quên nhau.

037. Phù túy giả chi trụy xa, tuy tật bất tử. Cốt tiết dữ nhân đồng nhi phạm hại dữ nhân dị, kỳ thần toàn dã. Thừa diệc bất tri dã, trụy diệc bất tri dã, tử sinh kinh cụ bất nhập hồ kỳ hung trung, thị cố ngộ vật nhi bất nhiếp. Bỉ đắc toàn vu tửu nhi do nhược thị, nhi huống đắc toàn vu thiên hồ? Thánh nhân tàng vu thiên, cố mạc chi năng thương dã. [Trang Tử, Đạt Sinh]

夫醉者之墜車, 雖疾不死。 骨節與人同而犯害與人異, 其神全也。 乘亦不知也, 墜亦不知也, 死生惊懼不入乎其胸中, 是故遻物而不懾。 彼得全于酒而猶若是, 而況得全于天乎? 聖人藏于天, 故莫之能傷也。 《莊子• 達生》

【Dịch】 Như trường hợp kẻ say rượu và té xe:  tuy bị thương chứ không chết. Xương và đốt xương của hắn cũng như người khác, nhưng sự tổn hại thì khác họ vì thần của hắn toàn vẹn. Ngồi trên xe cũng không biết, mà té xe cũng chẳng hay. Sống chết hay sợ hãi không xâm nhập vào lòng hắn. Cho nên gặp phải sự vật mà chẳng sợ. Kẻ giữ được thần do ảnh hưởng củarượu mà còn như vậy, nói gì đến người chịu ảnh hưởng của Trời. Thánh nhân giữ lòng hợp với đạo Trời, nên không vật gì làm hại nổi.

038. Ngư xử thủy nhi sinh, nhân xử thủy nhi tử. Bỉ tất tương dữ dị, kỳ háo ố cố dị dã. Cố tiên thánh bất nhất kỳ năng, bất đồng kỳ sự. Danh chỉ vu thực, nghĩa thiết vu thích, thị chi vị điều đạt nhi phúc trì. [Trang Tử, Chí Lạc]

魚處水而生, 人處水而死。 彼必相與異, 其好惡故異也。 故先聖不一其能, 不同其事。 名止于實, 義設于適, 是之謂條達而福持。 《莊子• 至樂》

【Dịch】 Cá ở trong nước thì sống, người ở trong nước thì chết. Người với cá khác nhau, vì cái ưa và ghét vốn khác nhau. Cho nên thánh nhân thuở xưa không đòi hỏi vạn vật phải có năng lực như nhau, không đòi hỏi công việc của chúng phải giống nhau. Danh phải phùhợp thực tế, nghĩa phải đặt chỗ thích hợp. Như vậy mới gọi thông tình đạt lý, trong lòng vui sướng, mà giữ được hạnh phúc.

039. Bất khai nhân chi thiên, nhi khai thiên chi thiên. Khai thiên giả đức sinh, khai nhân giả tặc sinh. Bất yếm kỳ thiên, bất hốt vu nhân, dân kỷ hồ dĩ kỳ chân. [Trang Tử, Đạt Sinh]

不開人之天, 而開天之天。 開天者德生, 開人者賊生。 不厭其天, 不忽于人, 民幾乎以其真。 《莊子• 達生》

【Dịch】 Không khai mở cái trí xảo của người, nhưng khai mở cái thiên tính tự nhiên. Bởi vì khai mở cái thiên tính tự nhiên thì đức sinh ra, còn khai mở cái trí xảo củangười thì tàn hại sinh ra. Không ghét thiên tính, cũng không lơ là [cái trí xảo của] người, như vậy dân chúng sẽ gần với bản chân của họ.

040. Phù thủy chi vu chước dã, vô vi nhi tài tự nhiên hĩ, chí nhân chi vu đức dã, bất tu nhi vật bất năng ly yên. Nhược thiên chi tự cao, địa chi tự hậu, nhật nguyệt chi tự minh, phù hà tu yên! [Trang Tử, Điền Tử Phương]

夫水之于汋也, 無為而才自然矣, 至人之于德也, 不修而物不能離焉。 若天之自高, 地之自厚, 日月之自明, 夫何修焉! 《莊子• 田子方》

【Dịch】 [Thử xem] nước chỗ phún vọt lên kêu ra tiếng, nó đâu có làm gì, mà tự nhiên thế thôi. Bậc chân nhân đối với đức của mình cũng vậy:  ngài chẳng cần tu sửa đức của ngài mà vạn vật vẫn không thể lìa xa ngài. Như thể cái cao vốn có của trời, cái dày vốn có của đất, cái sáng vốn có của mặt trời mặt trăng. Có cần tu sửa gì đâu?

041. Tri thiên chi sở vi, tri nhân chi sở vi giả, chí hĩ. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

知天之所為, 知人之所為者, 至矣。 《莊子• 大宗師》

【Dịch】 Biết được hành vi của trời, biết được hànhvi của người, thế là đạt đến chỗ tối cao của tri thức.

042. Hình lao nhi bất hưu tắc tệ, tinh dụng nhi bất dĩ tắc lao, lao tắc kiệt. [Trang Tử, Khắc Ý]

形勞而不休則弊, 精用而不已則勞, 勞則竭。 《莊子• 刻意》

【Dịch】 Hình thể lao nhọc mà không chịu nghỉ ngơi, ắt sẽ sinh điều tệ hại. Tinh lực sử dụng không biết dừng, ắt sẽ lao tổn, hễ lao tổn thì tinh lực sẽ cạn kiệt.

043. Thuần tuý nhi bất tạp, tĩnh nhất nhi bất biến, đạm nhi vô vi, động nhi dĩ thiên hành, thử dưỡng thần chi đạo dã. [Trang Tử, Khắc Ý]

純粹而不雜, 靜一而不變, 惔而無為, 動而以天行, 此養神之道也。 《莊子• 刻意》

【Dịch】 Thuần tuý mà không pha tạp, hư tĩnh chuyên nhất mà không biến đổi, điềm đạm mà vô vi, hành động thì noi theo qui luật vận hành của trời (qui luật của tự nhiên), đó mới là cái đạo nuôi dưỡng tinh thần.

044. Chí lạc vô lạc, chí dự vô dự. [Trang Tử, Chí Lạc]

至樂無樂, 至譽無譽。 《莊子• 至樂》

【Dịch】 Vui tột cùng không phải là cáivui theo thói đời, vinh dự tột bậc không phải là cái vinh dự theo thói đời.

045. Khâu sơn tích ti nhi vi cao, giang hà hợp tiểu nhi vi đại;  đại nhân hợp tịnh nhi vi công. [Trang Tử, Tắc Dương]

丘山積卑而為高, 江河合小而為大; 大人合并而為公。 《莊子• 則陽》

【Dịch】 Gò và núi nhờ tích lũy các thứ thấp thỏi nên mới cao;  sông ngòi nhờ tích hợp các dòng nước nhỏ nên mới rộng lớn;  bậc đại nhân nhờ dung hợp được chúng nhân nên mới công chính.

046. Tứ thời thù khí, thiên bất tứ, cố tuế thành. Ngũ quan thù chức, quân bất tư, cố quốc trị. Văn vũ thù tài, đại nhân bất tứ, cố đức bị. Vạn vật thù lý, đạo bất tư, cố vô danh. [Trang Tử, Tắc Dương]

四時殊氣, 天不賜, 故歲成。 五官殊職, 君不私, 故國治。 文武殊材, 大人不賜, 故德備。 萬物殊理, 道不私, 故無名。 《莊子• 則陽》

【Dịch】 Bốn mùa có khí hậu khác nhau, trời chẳng thiên vị mùa nào, thế mới thành năm. Năm chức quan có chức trách khác nhau, vua chẳng thiên vị ai, nên quốcgia thịnh trị. Tài năng của quan văn và quan võ khác nhau, bậc đại nhân không thiên vị ai, nên đức của ngài được đầy đủ. Vạn vật có tính chất khác nhau, Đạo không thiên vị ai, nên gọi là Vô danh.

————————–
**************************

3. NHÂN VẬT 人 物 – THẦN TIÊN 神 仙

047. Đạo đại, thiên đại, địa đại, nhân diệc đại. Vực trung hữu tứ đại nhi nhân cư kỳ nhất yên. [Đạo Đức Kinh, chương 25]

道大, 天大, 地大, 人亦大。 域中有四大而人居其一焉。 《道德經 • 第二十五章》

【Dịch】 Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn. Trong thiên hạ có bốn thứ lớn, mà người là một.

048. Ngô vị thường dĩ thử tự đa giả, tự dĩ tỉ hình vu thiên địa, nhi thụ khí vu âm dương, ngô tại vu thiên địa chi gian, do tiểu thạch tiểu mộc chi tại đại sơn dã. Phương tồn hồ kiến thiểu, hựu hề dĩ tự đa? Kế tứ hải chi tại thiên địa chi gian dã, bất tự lỗi không chi tại đại trạch hồ? Kế Trung Quốc chi tại hải nội, bất tự đề mễ chi tại đại thương hồ? Hiệu vật chi số vị chi vạn, nhân xử nhất yên;  nhân tốt Cửu Châu, cốc thực chi sở sinh, chu xa chi sở thông, nhân xử nhất yên. Thử kỳ tỉ vạn vật dã, bất tự hào mạt chi tại vu mã thể hồ? [Trang Tử, Thu Thủy]

吾未嘗以此自多者, 自以比形于天地, 而受氣于陰陽, 吾在于天地之間, 猶小石小木之在大山也。 方存乎見少, 又奚以自多? 計四海之在天地之間也, 不似礨空之在大澤乎? 計中國之在海內, 不似稊米之在大倉乎? 號物之數謂之萬, 人處一焉; 人卒九州, 谷食之所生, 舟車之所通, 人處一焉。 此其比萬物也, 不似毫末之在于馬體乎? 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Ta chưa hề khoe khoang;  ta gởi gấm hình hài của mình trong trời đất, và nhận lãnh khí âm dương. Giữa nơi trời đất, ta như hòn đá nhỏ hay cái cây cỏn con trên núi lớn. Vì hiểu phận nhỏ nhoi, có gì đâu mà khoe khoang tự đắc? Xét xem bốn biển đối với trời đất, khác gì những lỗ nhỏ trong đống đá đối với ao đầm lớn? Xét xem Trung Quốc đối với bốn biển, khác gì hạt gạo nhỏ trong kho lẫm lớn? Vạn vật muôn loài, con người chỉ là một chủng loại trong đó. Chúng dân trong Cửu Châu (tức Trung Quốc), sống bằng lúa gạo, đi lại bằng thuyền xe, mỗi cá nhân thuộc số đó. So với vạn vật, khác gì sợi lông trên mình ngựa đâu?

049. Ngô thân phi ngô hữu dã. Thục hữu chi tai? Viết:  thị thiên địa chi ủy hình dã. Sinh phi nhữ hữu, thị thiên địa chi ủy hòa dã;  tính mệnh phi nhữ hữu, thị thiên địa chi ủy thuận dã;  tôn tử phi nhữ hữu, thị thiên địa chi ủy thoái dã. [Trang Tử, Trí Bắc Du]

吾身非吾有也。 孰有之哉? 曰﹕是天地之委形也。 生非汝有, 是天地之委和也; 性命非汝有, 是天地之委順也; 孫子非汝有, 是天地之委蛻也。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 «Thân tôi chẳng phải là của tôi, vậy là của ai?» [Ông Thừa] đáp:  «Nó là cái hình hài mà trời đất cho anh. Sự sống không phải của anh, nó là sự hài hòa âm dương mà trời đất cho anh. Tính mệnh không phải của anh, nó cũng là sự hài hòa âm dương mà trời đất cho anh. Con cháu không phải của anh, chúng là sự lột xác mà trời đất cho anh.»

050. Thiên địa nhất chỉ dã, vạn vật nhất mã dã. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

天地一指也, 萬物一馬也。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Trời đất [tuy lớn cũng chỉ] bằng một ngón tay;  vạn vật [dù nhỏ cũng] bằng một con ngựa.

051. Kỳ phân dã, thành dã;  kỳ thành dã, hủy dã. Phàm vật vô thành dữ hủy, phục thông vi nhất. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

其分也, 成也; 其成也, 毀也。 凡物無成與毀, 復通為一。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Vạn vật có phân ly, ắt có thành tựu. Có thành tựu, ắt có hủy diệt. Vạn vật [thực chất] không có thành tựu và không có hủy diệt, bởi vì tất cả đều trở về với Một (tức là Đạo).

052. Cổ chi nhân, kỳ tri hữu sở chí hĩ. Ô hồ chí? Hữu dĩ vi vị thủy hữu vật giả, chí hĩ, tận hĩ, bất khả dĩ gia hĩ. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

古之人, 其知有所至矣。 惡乎至? 有以為未始有物者至矣, 盡矣, 不可以加矣。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Ngày xưa có người hiểu biết tới chỗ tột cùng. Chỗ tột cùng ấy ở đâu? Có kẻ cho rằng:  lúc vũ trụ ban sơ chưa hình thành sự vật mới là chỗ tột cùng, tận cùng, không thể thêm gì được nữa.

053. Thiên địa mạc đại vu thu hào chi mạt, nhi đại sơn vi tiểu;  mạc thọ vu thương tử, nhi Bành Tổ vi yểu. Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

天下莫大于秋毫之末, 而大山為小; 莫壽于殤子, 而彭祖為夭。 天地與我并生而萬物與我為一。
《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Thiên hạ không có gì lớn bằng cái đầu chiếc lông của chim và thú vào mùa thu;  còn núi Thái thì nhỏ. Không có gì sống lâu bằng đứa trẻ chết non;  còn ông Bành Tổ thì chết yểu. Trời đất với ta cùng sinh ra;  vạn vật với ta là một.

054. Tích giả Trang Chu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ điệp dã. Tự dụ thích chí dư! Bất tri Chu dã. Nga nhiên giác, tắc cừ cừ nhiên Chu dã. Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư? Hồ điệp chi mộng vi Chu dư? Chu dữ hồ điệp tắc tất hữu phân hĩ. Thử chi vị vật hóa. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

昔者莊周夢為蝴蝶, 栩栩然蝴蝶也。 自喻適志歟! 不知周也。 俄然覺, 則蘧蘧然周也。 不知周之夢為蝴蝶歟? 蝴蝶之夢為周歟? 周與蝴蝶則必有分矣。 此之謂物化。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Có lần Trang Chu tôi mộng thấy mình biến thành bướm, bay lượn khoái chí, tôi chẳng biết nó là Chu. Đột nhiên tôi tỉnh dậy, biết mình đích thực là Chu. [Tôi không biết trước đó] Chu mộng thấy biến thành bướm, hay bướm mộng thấy biến thành Chu? Nhưng giữa Chu và bướm ắt phải có sự phân biệt. Đó gọi là sự chuyển hoá qua lại giữa sự vật.

055. Phù thiên hạ dã giả, vạn vật chi sở nhất dã. [Trang Tử, Điền Tử Phương]

夫天下也者, 萬物之所一也。 《莊子 • 田子方》

【Dịch】 Trong thiên hạ, vạn vật đồng nhất nhau.

056. Trang Tử dữ Huệ Tử du vu hào lương chi thượng. Trang Tử viết:  «Điều ngư xuất du tùng dung, thị ngư chi lạc dã.» Huệ Tử viết:  «Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?» Trang Tử viết:  «Tử phi ngã, an tri ngã bất tri ngư chi lạc?» [Trang Tử, Thu Thủy]

莊子與惠子游于濠梁之上。 莊子曰: 『鰷魚出游從容, 是魚之樂也。』惠子曰: 『子非魚, 安知魚之樂?』 莊子曰: 『子非我, 安知我不知魚之樂?』 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Trang Tử cùng Huệ Tử dạo chơi trên cầu sông Hào. Trang Tử nói:  «Bầy cá nhỏ bơi lội tung tăng nhởn nhơ, đó là niềm vui của cá.» Huệ Tử vặn:  «Ông không phải là cá, sao lại biết cá đang vui?» Trang Tử vặn lại:  «Ông không phải là tôi, sao biết tôi không biết được niềm vui của cá?

057. Thiên địa hữu đại mỹ nhi bất ngôn, tứ thời hữu minh pháp nhi bất nghị, vạn vật hữu thành lý nhi bất thuyết. [Trang Tử, Tri Bắc Du]

天地有大美而不言, 四時有明法而不議, 萬物有成理而不說。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Trời đất vận hành theo qui cách tuyệt vời nhưng trời đất có nói gì đâu, bốn mùa có phép tắc rõ ràng nhưng chúng có nghị luận gì đâu, vạn vật đều có lý lẽ sinh thành riêng nhưng chúng có nói gì đâu.

058. Cố vạn vật nhất dã, thị kỳ sở mỹ giả vi thần kỳ, kỳ sở ố giả vi xú hủ;  xú hủ phục hóa vi thần kỳ, thần kỳ phục hóa vi xú hủ. [Trang Tử, Tri Bắc Du]

故萬物一也, 是其所美者為神奇, 其所惡者為臭腐; 臭腐復為神奇, 神奇復化為臭腐。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Vạn vật chỉ là một. Cái mà thiên hạ khen ngợi là sự thần kỳ. Cái mà thiên hạ chán ghét là sự thối nát. [Nhưng] thối nát biến hóa trở lại thành thần kỳ;  thần kỳ biến hóa trở lại thành thối nát.

059. Cổ chi chân nhân, tri giả bất đắc thuyết, mỹ nhân bất đắc lạm, đạo nhân bất đắc kiếp, Phục Hi Hoàng Đế bất đắc hữu. [Trang Tử, Điền Tử Phương]

古之真人, 知者不得說, 美人不得濫, 盜人不得劫, 伏羲黃帝不得友。 《莊子 • 田子方》

【Dịch】 Bậc chân nhân ngày xưa không bị kẻ trí thuyết phục, không bị người đẹp làm cho dâm loạn, không bị kẻ xấu trộm cướp, không kết giao với Phục Hi và Hoàng Đế.

060. Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh. [Trang Tử, Tiêu Dao Du]

至人無己, 神人無功, 聖人無名。 《莊子 • 逍遙游》

【Dịch】 Bậc chí nhân thì quên mình để thuận ứng theo sự vật, thần nhân thì không mong cầu công lao, thánh nhân thì không mong cầu danh tiếng.

061. Cổ chi chân nhân, bất nghịch quả, bất hùng thành, bất mô sĩ. Nhược nhiên giả, quá nhi phất hối, đáng nhi bất tự đắc dã. Nhược nhiên giả, đăng cao bất lật, nhập thủy bất nhu, nhập hỏa bất nhiệt. Thị tri chi năng đăng giả vu đạo giả dã nhược thử. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

古之真人, 不逆寡, 不雄成, 不謨士。 若然者, 過而弗悔, 當而不自得也。 若然者, 登高不栗, 入水不濡, 入火不熱。 是知之能登假于道者也若此。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Bậc chân nhân ngày xưa không chê ít, không cậy thành công, không mưu tính. Được như vậy, dù có lỗi lầm cũng không hối hận, dù làm điều chính đáng cũng không tự đắc. Được như vậy, dù leo cao cũng không run sợ, dù vào nước cũng không ướt, dù vào lửa cũng không nóng. Chỉ có người đạt đạo mới như thế.

062. Cổ chi chân nhân, kỳ tẩm bất mộng, kỳ giác bất ưu, kỳ thực bất cam, kỳ tức thâm thâm. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

古之真人, 其寢不夢, 其覺不憂, 其食不甘, 其息深深。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Bậc chân nhân ngày xưa lúc ngủ không mộng mị, lúc thức không ưu tư, lúc ăn không cầu món ngon, lúc thở thì thở sâu.

063. Cổ chi chân nhân, bất tri duyệt sinh, bất tri ố tử;  kỳ xuất bất hân, kỳ nhập bất cự;  tiêu nhiên nhi vãng, tiêu nhiên nhi lai nhi dĩ hĩ. Bất vong kỳ sở thủy, bất cầu kỳ sở chung. Thụ nhi hỉ chi, vong nhi phục chi. Thị chi vị bất dĩ tâm tổn đạo, bất dĩ nhân trợ thiên, thị chi vị chân nhân. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

古之真人, 不知說生, 不知惡死; 其出不欣, 其入不距; 翛然而往, 翛然而來而已矣。 不忘其所始, 不求其所終。 受而喜之, 忘而復之。 是之謂不以心損道, 不以人助天, 是之謂真人。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Bậc chân nhân thuở xưa không ham sống ghét chết;  sinh ra không cảm thấy vui, lúc chết thì không kháng cự nó;  ung dung tự tại lúc chết cũng như lúc sinh;  không quên gốc gác của mình, không mong cầu cái chết;  được cái gì thì vui [nhưng] mất nó [thì chẳng buồn] vì biết nó trở về với thiên đạo. Thế gọi là không lấy tư tâm để làm hại đạo, không lấy [sự tạo tác] của người để giúp trời. Đó gọi là chân nhân.

064. Thánh nhân chi sinh dã thiên hành, kỳ tử dã vật hoá. Tĩnh nhi dữ âm đồng đức, động nhi dữ dương đồng ba. Bất vi phúc tiên, bất vi họa thủy. Cảm nhi hậu ứng, bách nhi hậu động, bất đắc dĩ nhi hậu khởi. Khứ tri khứ cố, tuần thiên chi lý. Cố vô thiên tai, vô vật lụy, vô nhân phi, vô quỷ trách, kỳ sinh nhược phù, kỳ tử nhược hưu. [Trang Tử, Khắc Ý]

聖人之生也天行, 其死也物化。 靜而與陰同德, 動而與陽同波。 不為福先, 不為禍始。 感而後應, 迫而後動, 不得已而後起。 去知去故, 循天之理。 故無天災, 無物累, 無人非, 無鬼責。 其生若浮, 其死若休。 《莊子 • 刻意》

【Dịch】 Sự sống của thánh nhân cũng theo sự vận hành của thiên đạo, cái chết của ngài cũng như sự biến hoá của vạn vật. Khi ngài tĩnh lặng thì cùng tĩnh với âm;  khi động thì cùng động với dương. Ngài không xem việc tạo phúc hay gây họa là vấn đề trước tiên. Khi bị tác động mới phản ứng, khi bị bức bách mới ra tay, bất đắc dĩ mới khởi sự. Bỏ trí tuệ và tập quán mà thuận theo thiên lý (lẽ trời). Vì thế, ngài không bị trời giáng tai họa, không bị vật chất làm hệ lụy, không bị tiếng đời thị phi, không bị quỷ thần trách phạt. Cuộc sống của ngài phiêu bồng khinh khoát, cái chết của ngài như sự nghỉ ngơi.

065. Cổ chi trị đạo giả, dĩ điềm dưỡng tri;  tri sinh nhi vô dĩ tri vi dã. Vị chi dĩ tri dưỡng điềm. [Trang Tử, Thiện Tính]

古之治道者, 以恬養知; 知生而無以知為也。 謂之以知養恬。 《莊子 • 繕性》

【Dịch】 Người xưa tu đạo thì lấy sự điềm đạm để nuôi dưỡng trí tuệ. Trí tuệ sinh ra nhưng không lấy nó để thi hành hay tạo tác gì cả. Đó gọi là lấy trí tuệ để nuôi dưỡng điềm đạm.

066. Sinh vô tước, tử vô thụy, thực bất tụ, danh bất lập, thử chi vị đại nhân. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

生無爵, 死無謚, 實不聚, 名不立, 此之謂大人。 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 [Cho nên ngài] sống không cần tước vị;  chết không màng tên thụy;  không gom góp tích trữ của nả;  không cầu danh tiếng. Đó gọi là bậc đại nhân.

067. Cổ chi đắc đạo giả, cùng diệc lạc, thông diệc lạc. Sở lạc phi cùng thông dã, đạo đức vu thử, tắc cùng thông vi hàn thử phong vũ chi tự hĩ. [Trang Tử, Nhượng Vương]

古之得道者, 窮亦樂, 通亦樂。 所樂非窮通也, 道德于此, 則窮通為寒暑風雨之序矣。 《莊子 • 讓王》

【Dịch】 Bậc đắc đạo ngày xưa khi khốn cùng vẫn vui, khi hanh thông vẫn vui. Niềm vui ấy chẳng phải tuỳ thuộc vào khốn cùng hay hanh thông. Đạo và đức đạt tới mức ấy thì cùng khốn hanh thông cũng như lạnh nóng hay mưa gió nối tiếp nhau thôi.

068. Sinh dân chi bất đắc hưu tức, vi tứ sự cố:  nhất vi thọ, nhị vi danh, tam vi vị, tứ vi hóa. [Liệt Tử, Dương Chu]

生民之不得休息, 為四事故: 一為壽, 二為名, 三為位, 四為貨。 《列子 • 楊朱》

【Dịch】 Người đời không thể yên tâm nghỉ ngơi;  có bốn nguyên do:  một là muốn sống lâu, hai là muốn danh tiếng, ba là muốn có địa vị, bốn là muốn có nhiều tài sản của cải.

069. Cổ ngữ hữu chi:  «Sinh tương lân, tử tương tổn.» Thử ngôn chí hĩ. [Liệt Tử, Dương Chu]

古語有之: 『生相憐, 死相損。』此言至矣。 《列子 • 楊朱》

【Dịch】 Lời xưa có nói:  «Sống thì thương xót nhau, chết thì làm tổn hại nhau.» Lời ấy chí phải.

070. Thổ địa các dĩ kỳ loại sinh. Thị cố sơn khí đa nam, trạch khí đa nữ, chướng khí đa âm, phong khí đa lung. […] Từ thạch thượng phi, vân mẫu lai thủy, thổ long trí vũ, yến nhạn đại phi. […] Kiên thổ nhân cương, nhược thổ nhân phì, lô thổ nhân đại, sa thổ nhân tế, tức thổ nhân mỹ, hao thổ nhân sửu. Thực thủy giả thiện du năng hàn, thực thổ giả vô tâm nhi huệ, thực mộc giả đa lực nhi bị, thực thảo giả thiện tẩu nhi ngu, thực diệp giả hữu ti nhi nga, thực nhục giả dũng cảm nhi hãn, thực khí giả thần minh nhi thọ, thực cốc giả trí huệ nhi yểu, bất thực giả bất tử nhi thần. [Hoài Nam Tử, Trụy Hình Huấn]

土地各以其類生。 是故山氣多男, 澤氣多女, 障氣多喑, 風氣多聾。 …磁石上飛, 雲母來水, 土龍致雨, 燕雁代飛。 …堅土人剛, 弱土人肥, 壚土人大, 沙土人細, 息土人美, 耗土人丑。 食水者善游能寒, 食土者無心而慧, 食木者多力而奰, 食草者善走而愚, 食葉者有絲而蛾, 食肉者勇敢而悍, 食氣者神明而壽, 食谷者知慧而夭, 不食者不死而神。 《淮南子 • 墜形訓》

【Dịch】 Đất vì tính chất bất đồng nên sản sinh vật loại bất đồng. Cho nên, khí núi nhiều thì sinh con trai, khí ao đầm nhiều thì sinh con gái, chướng khí nhiều thì sinh con câm, phong khí nhiều thì sinh con điếc. […] Đá nam châm bay lên, đá vân mẫu dự tri nước mưa xuống, rồng đất dẫn mưa đến, chim én chim nhạn thay người truyền đi tin tức. […] Chỗ đất cứng thì cư dân cương cường, chỗ đất yếu thì cư dân béo phì, chỗ đất đen cứng thì cư dân cao lớn, chỗ đất cát thì cư dân tinh tế, chỗ đất màu mỡ thì cư dân xinh đẹp, chỗ đất cằn thì cư dân xấu xí. Loài uống nước thì bơi giỏi và chịu lạnh giỏi, loài ăn đất thì vô tâm mà thông tuệ, loài ăn gỗ thì mạnh mà lớn, loài ăn cỏ thì chạy giỏi mà ngu, loài ăn lá thì nhả tơ và hóa bướm, loài ăn thịt thì dũng cảm mà dữ tợn, loài ăn không khí thì có thần mà sống lâu, loài ăn ngũ cốc có trí huệ và xinh đẹp, còn kẻ không ăn gì cả thì bất tử và trở thành thần tiên.

071. Tam khí hợp tịnh vi thái hòa dã. Thái hòa tức xuất thái bình chi khí. Đoạn tuyệt thử tam khí, nhất khí tuyệt bất đạt, thái hòa bất chí, thái bình bất xuất. Âm dương giả, yếu tại trung hòa. Trung hòa khí đắc, vạn vật tư sinh, nhân dân điều hòa, vương trị thái bình. [Thái Bình Kinh]

三氣合并為太和也。 太和即出太平之氣。 斷絕此三氣, 一氣絕不達, 太和不至, 太平不出。 陰陽者, 要在中和。 中和氣得, 萬物滋生, 人民調和, 王治太平。 《太平經》

【Dịch】 Ba thứ khí (của tam tài) hợp lại thì ra thái hòa. Thái hòa là khí sinh ra thái bình. Nếu tuyệt dứt ba khí này, hoặc chỉ cần một khí không thông đạt, thì thái bình không xuất hiện. Về âm dương thì cũng phải trung hòa. Nếu khí âm dương trung hòa thì vạn vật sinh sôi, dân chúng điều hòa, vua cai trị thái bình.

072. Thiên địa gian sự lý nãi bất khả hạn, dĩ hung ức nhi tầm chi, thử u hiển trung đô thị hữu tam bộ, giai tương quan loại dã. Thượng tắc tiên, trung tắc nhân, hạ tắc quỷ. Nhân thiện giả vi tiên, tiên trích chi giả cánh vi nhân, nhân ác giả cánh vi quỷ, quỷ phúc giả cánh vi nhân. Quỷ pháp nhân, nhân pháp tiên, tuần hoàn vãng lai, xúc loại tương thông, chính thị ẩn hiển tiểu tiểu chi cách dã. [Đào Hoằng Cảnh, Chân Cáo].

天地間事理乃不可限, 以胸臆而尋之, 此幽顯中都是有三部, 皆相關類也。 上則仙, 中則人, 下則鬼。 人善者為仙, 仙謫之者更為人, 人惡者更為鬼, 鬼福者更為人。 鬼法人, 人法仙, 循環往來, 觸類相通, 正是隱顯小小之隔也。 《陶弘景 • 真誥》

【Dịch】 Sự vật và đạo lý giữa cõi trời đất thực là không có giới hạn nhất định. Lấy bụng dạ mà suy tìm, ở giữa hai cõi u hiển gồm có ba bộ phận mà thứ loại có liên quan với nhau:  lớp trên là tiên, lớp giữa là người, lớp dưới là quỷ. Người làm việc thiện thì thành tiên, tiên phạm lỗi thì bị đọa xuống trần gian làm người, người làm ác thì thành quỷ, quỷ tạo phúc cho thế gian thì thành người. Quỷ bắt chước theo người, người bắt chước theo tiên. Tuần hoàn qua lại như vậy. Chủng loại tiếp xúc thì thông với nhau, cái ranh giới giữa hai cõi u hiển thật rất nhỏ nhặt vậy.

073. Phù vạn vật dĩ nhân vi quý, nhân dĩ sinh vi bảo, sinh chi sở lại, duy thần dữ khí. [Lục Tu Tĩnh, Thuyết quang chúc giới phạt đăng chúc nguyện nghi]

夫萬物以人為貴, 人以生為寶, 生之所賴, 唯神與氣。 《陸修靜 • 說光燭戒罰燈祝愿儀》

【Dịch】 Vạn vật xem được làm người là tôn quý, người xem sự sống là quý báu. Chỗ nương cậy của sự sống, chỉ là thần và khí.

074. Phàm chất tượng sở kết, bất quá hình thần, hình thần hợp thời, thị nhân thị vật;  hình thần nhược ly, tắc thị linh thị quỷ. [Đào Hoằng Cảnh, Đáp triều sĩ phỏng tiên phật lưỡng pháp thể tướng thư]

凡質象所結, 不過形神, 形神合時, 是人是物; 形神若離, 則是靈是鬼。 《陶弘景 • 答朝士訪仙佛兩法體相書》

【Dịch】 Nói chung, sự kết hợp giữa bản chất và hình tượng chẳng qua là ở hình và thần. Khi hình và thần hợp lại thì thành người hay vật. Nếu hình và thần rời nhau, ắt thành thần linh hay ma quỷ.

075. Phù thần nhân tức kim sở vị thánh nhân dã. Phù thánh nhân tuy tại miếu đường chi thượng, nhiên kỳ tâm vô dị vu sơn lâm chi trung, thế khởi thức chi tai? Đồ kiến kỳ đái hoàng ốc, bội ngọc tỷ, tiện vị túc dĩ anh phất kỳ tâm hĩ;  kiến kỳ lịch sơn xuyên, đồng dân sự, tiện vị túc dĩ tiều tụy kỳ thần hĩ. Khởi tri chí chí giả chi bất khuy tai? [Quách Tượng, Trang Tử-Tiêu Dao Du chú]

夫神人即今所謂聖人也。 夫聖人雖在廟堂之上, 然其心無異于山林之中, 世豈識之哉? 徒見其戴黃屋, 佩玉璽, 便謂足以纓紱其心矣; 見其歷山川, 同民事, 便謂足以憔悴其神矣。 豈知至至者之不虧哉? 《郭象 • 莊子逍遙游注》

【Dịch】 Nói chung, thần nhân tức là bậc mà nay chúng ta gọi là thánh nhân. Thánh nhân tuy ngồi trong cung điện mà lòng tự tại có khác chi ở chốn núi rừng. Người đời sao lại chẳng biết điều ấy vậy? Họ chỉ thấy thánh nhân ngồi xe lọng vàng, mang ấn ngọc, bèn nói rằng bấy nhiêu đủ để ràng buộc cái tâm của ngài. Thấy ngài kinh lịch chốn núi non sông nước, lại bảo bấy nhiêu cũng đủ làm cái thần của ngài tiều tụy. Sao họ chẳng biết sự không hao tổn của người đạt đạo vậy?

————————–
**************************

4. TUÂN ĐẠO 遵 道 – QUÝ ĐỨC 貴 德

075 B. Đại Đạo phiếm hề, kỳ khả tả hữu. Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất tử. Công thành bất danh hữu. Ái dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ, thường vô dục khả danh ư tiểu;  vạn vật qui chi nhi bất vi chủ, khả danh ư đại. Thị dĩ thánh nhân, chung bất vi đại, cố năng thành kỳ đại. [Đạo Đức Kinh, chương 34]

大道氾兮, 其可左右。 萬物恃之而生不辭, 功成不名有。 愛養萬物而不為主, 常無欲, 可名于小; 萬物歸焉而不為主, 可名于大。 是以聖人終不為大, 故能成其大。 《道德經 • 第 34 章》

【Dịch】 Đại Đạo trôi nổi, nó có thể đi sang trái hay phải. Vạn vật nương vào nó mà sinh, nhưng nó không từ chối vạn vật. Sự đã thành, nhưng nó không tự xưng là có. Thương yêu nuôi dưỡng muôn loài nhưng nó không cho mình là chủ, và thường không ham muốn. Có thể gọi tên nó là nhỏ;  muôn vật trở về nó mà nó không coi mình là chủ, nên có thể gọi tên là lớn. Thánh nhân suốt đời không cho mình là lớn, cho nên thành được việc lớn của mình.

076. Thiên chi Đạo, kỳ do trương cung dư? Cao giả ức chi, hạ giả cử chi, hữu dư giả tổn chi, bất túc giả bổ chi. Thiên chi Đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc. Nhân chi đạo tắc bất nhiên, tổn bất túc nhi phụng hữu dư. Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ? Duy hữu đạo giả. Thị dĩ thánh nhân, vi nhi bất thị. Công thành nhi bất xử, kỳ bất dục kiến hiền. [Đạo Đức Kinh, chương 77]

天之道, 其猶張弓與? 高者抑之, 下者舉之, 有餘者損之, 不足者補之。 天之道, 損有餘而補不足。 人之道, 則不然:損不足以奉有餘。 孰能有餘以奉天下? 唯有道者。 是以聖人為而不恃, 功成而不處, 其不欲見賢。 《道德經 • 第七十七章》

【Dịch】 Đạo Trời như giương cung. Cao thì ép xuống, thấp thì nâng lên. Thừa thì bớt đi, không đủ thì bù vào. Đạo Trời bớt dư bù thiếu. Đạo người chẳng vậy, bớt thiếu bù dư. Ai đem chỗ dư bù đắp cho thiên hạ? Phải chăng chỉ có người có Đạo? Cho nên thánh nhân làm mà không cậy công. Công thành không ở lại;  không muốn ai thấy tài mình.

077. Cổ chi thiện vi đạo giả, vi diệu huyền thông, thâm bất khả thức. Phù duy bất khả thức, cố cưỡng vi chi dung. Dự yên nhược đông thiệp xuyên. Do hề nhược úy tứ lân. Nghiễm hề kỳ nhược kháchương Hoán hề nhược băng chi tương thíchương Đôn hề kỳ nhược phác. Khoáng hề kỳ nhược cốc. Hỗn hề kỳ nhược trọc. Thục năng trọc dĩ chỉ, tĩnh nhi từ thanh. Thục dĩ an dĩ cửu động nhi từ sinh. Bảo thử Đạo giả bất dục doanh. Phù duy bất doanh cố năng tế, bất tân thành. [Đạo Đức Kinh, chương 15]

古之善為道者, 微妙玄通, 深不可識。 夫唯不可識, 故強為之容:豫焉, 若冬涉川;  猶兮, 若畏四鄰;  儼兮, 其若客;  渙兮, 其若冰之將 釋;  敦兮, 其若朴;  曠兮, 其若谷;  混兮, 其若濁。 孰能濁以止, 靜而徐清。 孰以安以久動而徐生。 保此道者,

不欲盈。 夫唯不盈, 故能蔽, 不新成。 《道德經 • 第十五章》

【Dịch】 Bậc đắc đạo ngày xưa thì tinh vi, huyền diệu, thông đạt;  thâm thúy khôn lường. Vì khó lường nên gượng tả hình dung. Các ngài thận trọng như mùa đông đi qua sông;  các ngài e dè sợ láng giềng bốn bên;  kính cẩn như khách;  lạnh lùng như băng tan;  mộc mạc chất phác như chưa đẽo gọt;  man mác như hang núi;  hỗn mang như nước đục. Ai có thể đục mà nhờ tĩnh lại dần dần trong. Ai có thể yên mà nhờ động lại dần dần linh hoạt. Kẻ giữ đạo không muốn đầy. Chỉ vì không muốn đầy, nên mới che giấu và chẳng đổi mới.

078. Trí hư cực, thủ tĩnh đốc. Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục. Phù vật vân vân, các qui kỳ căn. Qui căn viết tĩnh. Tĩnh viết phục mạng. Phục mạng viết thường. Tri thường viết minh. Bất tri thường, vọng tác, hung. Tri thường dung, dung nãi công, công nãi vương, vương nãi thiên. Thiên nãi Đạo. Đạo nãi cửu. Một thân bất đãi. [Đạo Đức Kinh, chương 16]

致虛極, 守靜篤。 萬物并作, 吾以觀其復。 夫物芸芸, 各歸其根。 歸根曰靜, 靜曰復命。 復命曰常, 知常曰明。 不知常, 妄作, 凶。 知常容, 容乃公, 公乃王, 王乃天, 天乃道, 道乃久, 沒身不殆。 《道德經 • 第十六章》

【Dịch】 Hư không cùng cực, hết sức yên tĩnh. Vạn vật đua sống, ta nhân đó xem chúng trở về (nguồn). Vạn vật trùng trùng đều trở về cội. Trở về cội rễ là tĩnh;  tĩnh là phục mệnh;  phục mệnh tức là trường cửu. Biết «trường cửu» mới là sáng suốt. Không biết trường cửu sẽ làm càn và gây hung họa. Biết «trường cửu» sẽ thung dung như công hầu vương tước, sẽ hợp với Trời với Đạo. Hợp Đạo rồi sẽ trường cửu:  thân có mất đi, cũng chẳng nguy hại gì.

079. Tích chi đắc nhất giả. Thiên đắc Nhất dĩ thanh. Địa đắc Nhất dĩ ninh. Thần đắc Nhất dĩ linh. Cốc đắc Nhất dĩ doanh. Vạn vật đắc Nhất dĩ sinh. Hầu vương đắc Nhất dĩ vi thiên hạ trinh. [Đạo Đức Kinh, chương 39]

昔之得一者:天得一以清;  地得一以寧;  神得一以靈;  谷得一以盈;  萬物得一以生;  侯王得一以為天下貞。 《道德經 • 第 39 章 》

【Dịch】 Những vật xưa được Đạo:  Trời được Đạo, nên trong. Đất được Đạo, nên yên. Thần được Đạo, nên linh. Hang được Đạo, nên đầy. Vạn vật được Đạo, nên sống. Hầu vương được Đạo, nên trị vì thiên hạ.

080. Đạo giả, vạn vật chi áo thiện nhân chi bửu, bất thiện nhân chi sở bảo. Mỹ ngôn khả dĩ thị tôn. Mỹ hạnh khả dĩ gia nhân. Nhân chi bất thiện hà khí chi hữu. Cố lập thiên tử, trí tam công tuy hữu củng bích dĩ tiên tứ mã bất như tọa tiến thử Đạo. Cổ chi sở dĩ quí thử Đạo giả hà? Bất viết:  dĩ cầu đắc, hữu tội dĩ miễn da? Cố vi thiên hạ quí dã. [Đạo Đức Kinh, chương 62]

道者, 萬物之奧。 善人之寶, 不善人之所保。 美言可以市尊, 美行可以加人。 人之不善, 何棄之有。 故立天子, 置三公, 雖有拱璧以先駟馬, 不如坐進此道。 古之所以貴此道者何? 不曰:以求得, 有罪以勉邪? 故為天下貴也。 《道德經 • 第62章》

【Dịch】 Đạo là bí quyết muôn loài, là kho báu của người tốt, là chỗ bảo bọc cho người không tốt. Nhờ Đạo mà những lời hay được tăng giá trị, được trọng vọng;  mà những việc đẹp tăng phẩm cách con người. Nhờ Đạo mà những kẻ bất lương không bị ruồng rẫy. Cho nên lập thiên tử, lập tam công tuy tay cầm ngọc bích, tuy thân ngồi xe tứ mã, nhưng vẫn không bằng ngồi mà đưa Đạo vào bản thân mình và vào người khác. Người xưa quí Đạo là vì sao? Há chẳng có lời rằng:  Cầu Đạo thời được, có tội thời được khỏi sao? Cho nên Đạo quí nhất thiên hạ.

081. Hữu thiên đạo, hữu nhân đạo. Vô vi nhi tôn giả, thiên đạo dã. Hữu vi nhi lụy giả, nhân đạo dã. Chủ giả, thiên đạo dã. Thần giả, nhân đạo dã. Thiên đạo chi dữ nhân đạo dã, tương khứ viễn hĩ, bất khả bất sát dã. [Trang Tử, Tại Hựu]

有天道, 有人道。 無為而尊者, 天道也; 有為而累者, 人道也。 主者, 天道也。 臣者, 人道也。 天道之與人道也, 相去遠矣, 不可不察也。 《莊子 • 在宥》

【Dịch】 Có đạo trời cũng có đạo người. Vô vi mà tôn quý, đó là đạo trời. Hữu vi [lao tác] mà lụy thân, đó là đạo người. Cái chính yếu là đạo trời, cái phụ trợ là đạo người. Đạo trời và đạo người xa nhau. Điều đó không thể không xem xét rõ vậy.

082. Đạo giả, vạn vật chi sở do dã. Thứ vật thất chi giả tử, đắc chi giả sinh. Vi sự nghịch chi tắc bại, thuận chi tắc thành. Cố đạo chi sở tại, thánh nhân tôn chi. [Trang Tử, Ngư Phụ]

道者, 萬物之所由也。 庶物失之者死, 得之者生。 為事逆之則敗, 順之則成。 故道之所在, 聖人尊之。 《莊子 • 漁父》

【Dịch】 Đạo là khởi nguyên của vạn vật. Vật nào mất đạo thì chết, được đạo thì sống, nghịch đạo thì thất bại, thuận đạo thì thành công. Cho nên, thánh nhân rất quý trọng sự hiện hữu của Đạo.

083. Đạo cố bất tiểu hành, đức cố bất tiểu thức. Tiểu thức thương đức, tiểu hành thương đạo. Cố viết:  Chính kỷ nhi dĩ hĩ. Lạc toàn chi vị đắc chí. [Trang Tử, Thiện Tính]

道固不小行, 德固不小識。 小識傷德, 小行傷道。 故曰:  正己而已矣。 樂全之謂得志。 《莊子 • 繕性》

【Dịch】 Đạo vốn không hợp với hành vi nhỏ mọn;  đức vốn không hợp với thành kiến hẹp hòi. Thành kiến hẹp hòi làm hại đức;  hành vi nhỏ mọn làm hại đạo. Cho nên nói:  Phải sửa mình, thế thôi. Bảo toàn được chân tính để vui sướng gọi là đạt được chí nguyện.

084. Tri đạo giả tất đạt vu lý, đạt vu lý tất minh vu quyền, minh vu quyền giả bất dĩ vật hại kỷ. [Trang Tử, Thu Thủy]

知道者必達于理, 達于理必明于權, 明于權者不以物害己。

《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Người biết đạo ắt sẽ thông đạt sự lý. Người thông đạt sự lý sẽ hiểu rõ sự quyền biến. Người hiểu rõ sự quyền biến ắt không để vật chất làm hại thân.

085. Đạo thường vô vi nhi vô bất vi. Thánh nhân thể đạo. Phù hà vi tai? Bất dữ vật tranh nhi thiên hạ mạc năng tranh yên. Thử vô tha, tích thiện thành đức nhi thần minh tự đắc, cố ngỗ vật nhi bất quái. [Đạo Tạng, Tây Thăng Kinh]

道常無為而無不為。 聖人體道, 夫何為哉? 不與物爭而天下莫能爭焉。 此無他, 積善成德而神明自得, 故忤物而不怪。 《道藏 • 西升經》

【Dịch】 Đạo thường vô vi nhưng không gì không làm. Thánh nhân ôm ấp đạo trong lòng. Nguyên do ở đâu? Vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình. Không có gì khác. Tích chứa điều thiện để thành đức, thì mình sẽ trở thành thần minh. Cho nên, dù có ai xung đột gây gỗ với mình thì mình cũng không trách họ.

086. Đạo chung bất khả đắc, bỉ khả đắc giả danh đức bất danh đạo;  đạo chung bất khả hành, bỉ khả hành giả danh hành bất danh đạo. Thánh nhân dĩ khả đắc khả hành giả, sở dĩ thiện ngô sinh;  dĩ bất khả đắc bất khả hành giả, sở dĩ thiện ngô tử. [Đạo Đức, Vô thượng diệu đạo Văn Thủy chân kinh, Vũ thiên]

道終不可得, 彼可得者名德不名道; 道終不可行, 彼可行者名行不名道。 聖人以可得可行者, 所以善吾生; 以不可得不可行者, 所以善吾死。 《道德 • 無上妙道文始真經 • 宇篇》

【Dịch】 Đạo rốt cuộc là không thể đắc. Cái có thể đắc thì gọi là đức chứ không gọi là đạo. Đạo rốt cuộc là không thể vận dụng. Cái có thể vận dụng được thì gọi là hành chứ không gọi là đạo. Thánh nhân có thể vận dụng cái khả đắc (tức là đức) và cái khả hành (tức là hành) nên giỏi về sự sống. Thánh nhân có thể vận dụng cái bất khả đắc bất khả hành (tức là đạo) nên giỏi về sự chết.

087. Chân đại đạo dĩ khổ tiết nguy hành vi yếu, bất vọng cầu vu nhân, bất kính xỉ vu kỷ, thứ cơ tuẫn thế khoa tục vi bất cảm giả. [Đạo Viên Học Cổ Lục, Nhạc Công bi]

真大道以苦節危行為要, 不妄求于人, 不敬侈于己, 庶幾徇世夸俗為不敢者。 《道園學古錄 • 岳公碑》

【Dịch】 [Người có] đạo lớn và chân thực lấy thì tiết tháo khắc khổ và hành vi chính trực làm điều quan trọng;  không vọng cầu ở người khác;  không tự tôn mà phóng túng;  chỉ mong là người không dám buông trôi theo đời và đắm say thế tục.

088. Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quí đức. Đạo chi tôn, đức chi quí, phù mạc chi mệnh, nhi thường tự nhiên. Cố đạo sinh chi, đức súc chi, trưởng chi, dục chi, thành chi, thục chi, dưỡng chi, phú chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, thị vị huyền đức. [Đạo Đức Kinh, chương 51]

道生之, 德畜之, 物形之, 勢成之。 是以萬物莫不尊道而貴德。 道之尊, 德之貴, 夫莫之命而常自然。 故道生之, 德畜之。 長之, 育之, 成之, 熟之, 養之, 覆之, 生而不有, 為而不恃, 長而不宰, 是謂玄德。 《道德經 • 第五十一章》

【Dịch】 Đạo sinh vạn vật, đức dưỡng chúng, vật chất cho chúng hình, hoàn cảnh tác thành chúng. Cho nên vạn vật đều tôn đạo, quí đức. Sự cao trọng của đạo đức chẳng nhờ ai ban, mà đạo đức tự nhiên vốn đã cao trọng. Cho nên đạo sinh, đức dưỡng, làm cho vạn vật lớn lên;  dưỡng nuôi vạn vật, tác thành che chở vạn vật. Sinh ra vạn vật mà không nhận chúng là sở hữu của mình;  làm mà không cậy công;  làm cho chúng phát triển mà không đòi làm chủ tể. Đó gọi là đức sâu dày.

089. Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức. Hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức. Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi. Hạ đức vi chi nhi hữu dĩ vi. Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi. Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi. Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng. Tắc nhương tý nhi nhưng chi. Cố thất đạo nhi hậu đức. Thất đức nhi hậu nhân. Thất nhân nhi hậu nghĩa. Thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu xử kỳ hậu bất cư kỳ bạc. Xử kỳ thực, bất cư kỳ hoa. Cố khứ bỉ thủ thử. [Đạo Đức Kinh, chương 38]

上德不德, 是以有德;  下德不失德, 是以無德。 上德無為而無以為;  下德為之而有以為。 上仁為之而無以為;  上義為之而有以為。 上禮為之而莫之應, 則攘臂而扔之。 故失道而後德, 失

德而後仁, 失仁而後義, 失義而後禮。 夫禮者, 忠信之薄, 而亂之首。 前識者, 道之華, 而愚之始。 是以大丈夫處其厚, 不居其薄;  處其實, 不居其華。 故去彼取此。 《道德經 • 第38章》

【Dịch】 Bậc thượng đức không tỏ ra là có đức, nên có đức. Người hạ đức câu nệ vào đức, nên vô đức. Bậc thượng đức thì vô vi và không lụy sự việc. Người hạ đức có lao tác và lụy sự việc. Bậc thượng nhân có lao tác nhưng không lụy sự việc. Bậc thượng nghĩa có lao tác nhưng lụy sự việc. Bậc thượng lễ có lao tác;  nhưng hễ không được người khác hưởng ứng, thì xắn tay áo lôi kéo người theo. Cho nên mất đạo thì xét đến đức. Mất đức thì xét đến nhân. Mất nhân thì xét đến nghĩa. Mất nghĩa thì xét đến lễ. Mà lễ là lòng trung tín đã đi đến chỗ mỏng manh, và là khởi đầu cho loạn lạc. Không biết mà nói rằng biết, đó là hào nhoáng của đạo và là khởi đầu của ngu si. Cho nên bậc đại trượng phu ở chỗ dày dặn mà tránh chỗ mỏng mảnh, ở chỗ thực mà tránh chỗ hào nhoáng. Đó là bỏ cái kia (hào nhoáng, mỏng mảnh) mà giữ cái này (dày dặn, thực chất).

090. Hàm đức chi hậu, tỷ vu xích tử. Độc trùng bất thích, mãnh thú bất cứ, cược điểu bất bác. [Đạo Đức Kinh, chương 55]

含德之厚, 比于赤子。 毒虫不螫, 猛獸不據, 攫鳥不搏。 《道德經 • 第五十五章》

【Dịch】 Người đức dày, [tâm hồn nhiên] như trẻ sơ sinh. Độc trùng không cắn, thú dữ không ăn, chim ưng chẳng bắt.

091. Nhược phù bất khắc ý nhi cao, vô nhân nghĩa nhi tu, vô công danh nhi trị, vô giang hà nhi nhàn, vô đạo dẫn nhi thọ, vô bất vong dã. Đạm nhiên vô cực nhi chúng mỹ tùng chi, thử thiên địa chi đạo, thánh nhân chi đức dã. Cố viết:  phù điềm đạm tịch mịch, hư vô vô vi, thử thiên địa chi bình nhi đạo đức chi chất dã. Cố viết:  Thánh nhân hưu hưu yên tắc bình dị hĩ, bình dị tắc điềm đạm hĩ. Bình dị điềm đạm, tắc ưu hoạn bất năng nhập, tà khí bất năng tập, cố kỳ đức toàn nhi thần bất khuy. [Trang Tử, Khắc Ý]

若夫不刻意而高, 無仁義而修, 無功名而治, 無江河而閑, 不道引而壽, 無不忘也。 淡然無極而眾美從之, 此天地之道, 聖人之德也。 故曰:  夫恬淡寂寞, 虛無無為, 此天地之平而道德之質也。 故曰:  聖人休休焉則平易矣, 平易則恬淡矣。 平易恬淡, 則憂患不能入, 邪氣不能襲, 故其德全而神不虧。 《莊子 • 刻意》

【Dịch】 Nếu không khắc chế tâm mà tính cách vẫn cao thượng, không bàn nhân nghĩa mà vẫn có sự tu dưỡng, không có công danh mà thiên hạ vẫn thịnh trị, không ngao du sông hồ mà vẫn nhàn tản, không luyện hô hấp mà vẫn sống lâu, quên hết mà vẫn có đủ, điềm đạm và tĩnh lặng cực độ mà mọi điều tốt đẹp tuân theo mình;  người như thế đã đạt được đạo của trời đất và đức của thánh nhân. Cho nên nói:  «Điềm đạm, tĩnh lặng, hư vô, vô vi, đều là các đức tính nhằm duy trì sự quân bình của trời đất, mà chúng cũng là tính chất của đạo và đức.» Cho nên nói:  «Thánh nhân nghỉ ngơi ắt tâm sẽ bình dị (quân bình dễ chịu). Bình dị ắt sẽ điềm tĩnh. Bình dị và điềm tĩnh ắt sẽ không lo lắng và bệnh hoạn, tà khí sẽ không xâm nhập. Do đó, đức của ngài toàn vẹn và thần của ngài không thương tổn.»

092. Chí đức giả, hỏa phất năng nhiệt, thủy phất năng nịch, hàn thử phất năng hại, cầm thú phất năng tặc. Phi vị kỳ bạc chi dã, ngôn sát hồ an nguy, ninh vu họa phúc, cẩn vu khứ tựu, mạc chi năng hại dã. Cố viết:  Thiên tại nội, nhân tại ngoại, đức tại hồ thiên. Tri thiên nhân chi hành, bản hồ thiên, vị hồ đắc, địch trục nhi khuất thân, phản yêu nhi ngữ cực. [Trang Tử, Thu Thủy]

至德者, 火弗能熱, 水弗能溺, 寒暑弗能害, 禽獸弗能賊。 非謂其薄之也, 言察乎安危, 寧于禍福, 謹于去就, 莫之能害也。 故曰:  天在內, 人在外, 德在乎天。 知天人之行, 本乎天, 位乎得, 蹢噣而屈伸, 反要而語極。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Bậc chí đức vào lửa không nóng, vào nước không chìm, nóng lạnh không hại được, cầm thú không hại chết nổi. Nó không có nghĩa là ngài coi thường những thứ ấy, mà nghĩa là ngài xem xét rõ giữa an và nguy, điềm tĩnh trước phúc và họa, cẩn thận khi tiến thoái. Cho nên không thứ gì có thể hại được ngài. Do đó nói:  «Trời bên trong, người bên ngoài. Đức ở trời. Nếu ai biết sự vận hành của trời và người thì lấy trời làm gốc mà lập thân ở đức, thì người đó có thể tiến thoái, co duỗi, trở về cái thiết yếu mà luận bàn sự cực hạn của đạo.»

093. Chí đạo giả bất dĩ phủ trệ nhi cải đồ, thủ chính giả bất dĩ mạc thưởng nhi cẩu hợp. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, chương Quảng Thí]

志道者不以否滯而改圖, 守正者不以莫賞而苟合。 《葛洪、抱朴子 • 廣譬》

【Dịch】 Bậc chí tâm theo đạo không vì những nghịch cảnh mà thay đổi chí hướng của mình;  người giữ sự thuần chính không vì không được tán thưởng khen ngợi mà cẩu thả tự buông trôi theo thế tục.

————————-
**************************

5. DƯỠNG SINH 養 生 – TỊ HẠI 避 害

094. Cái văn thiện nhiếp sinh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ;  nhập quân bất bị giáp binh. Hủy vô sở đầu kỳ giác;  hổ vô sở thố kỳ trảo;  binh vô sở dung kỳ nhận. Phù hà cố ? Dĩ kỳ vô tử địa. [Đạo Đức Kinh, chương 50]

蓋聞善攝生者, 陸行不遇兕虎, 入軍不被甲兵。 兕無所投其角, 虎無所措其爪, 兵無所容其刃。 夫何故? 以其無死地。 《道德經 • 第五十章》

【Dịch】 Nghe nói rằng người khéo giữ gìn sự sống đi trên đường không gặp tê giác và hổ;  vào trong quân lữ không cần mang áo giáp và binh khí. Vì tê giác không có chỗ nào để húc;  hổ không có chỗ nào để vấu;  binh khí không có chỗ nào để chém. Tại sao? Vì họ không có chỗ chết.

095. Ngũ sắc lịnh nhân mục manh Ngũ âm lịnh nhân nhĩ lung. Ngũ vị lịnh nhân khẩu sảng. Trì sính điền liệp Lịnh nhân tâm phát cuồng. Nan đắc chi hóa, lịnh nhân hành phương. Thị dĩ thánh nhân vị phúc bất vị mục. Cố khứ bỉ thủ thử. [Đạo Đức Kinh, ch.12]

五色令人目盲;  五音令人耳聾;  五味令人口爽;  馳騁田獵, 令人心發狂;  難得之貨, 令人行妨。 是以聖人為腹不為目, 故去彼取此。 《道德經 • 第十二章》

【Dịch】 Năm màu khiến người mù mắt. Năm âm thanh khiến người điếc tai. Năm vị khiến người tê lưỡi. Ruổi rong săn bắn, khiến lòng người hóa cuồng. Của cải hiếm khiến bản thân bị hại khi đi đường. Bởi vậy, sự đối trị của thánh nhân là vì bụng, không vì mắt. Nên bỏ cái kia, lấy cái này.

096. Thánh nhân khứ thậm, khứ xa, khứ thái. [ĐĐK, ch.29]

聖人去甚, 去奢, 去泰。 《道德經 • 第二十九章》

【Dịch】 Thánh nhân từ bỏ sự cực đoan, xa xỉ, và cao sang.

097. Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn, chung thân bất cần. Khai kỳ đoài, tế kỳ sự, chung thân bất cứu. Kiến tiểu viết minh, thủ nhu viết cường. Dụng kỳ quang, phục qui kỳ minh, vô di thân ương, thị vi tập thường. [Đạo Đức Kinh, chương 52]

塞其兌, 閉其門, 終身不勤。 開其兌, 濟其事, 終身不救。 見小曰明, 守柔曰強。 用其光, 復歸其明, 無遺身殃, 是為襲常。 《道德經 • 第五十二章》

【Dịch】 Nhắm mắt và ngậm miệng, suốt đời không vất vả. Mở miệng và hoàn thành sự việc, suốt đời không cứu được. Thấy được tế vi mới là minh, giữ được mềm yếu mới là cường. Dùng ánh sáng của đạo, để quay về sự quang minh của đạo, thân không sợ tai ương, đó là tìm về vĩnh cửu.

098. Chí đạo chi tinh, yểu yểu minh minh;  chí đạo chi cực, hôn hôn mặc mặc. Vô thị vô thính, bão thần dĩ tĩnh, hình tương tự chính. tất tĩnh tất thanh, vô lao nhữ hình, vô dao nhữ tinh, nãi khả dĩ trường sinh. Mục vô sở kiến, nhĩ vô sở văn, tâm vô sở tri, nhữ thần tương thủ hình, hình nãi trường sinh, thận nhữ nội, bế nhữ ngoại, đa tri vi bại. […] Thiên địa hữu quan, âm dương hữu tàng. Thận thủ nhữ thân, vật tương tự tráng. [Trang Tử, Tại Hựu]

至道之精, 窈窈冥冥; 至道之極, 昏昏默默。 無視無聽, 抱神以靜, 形將自正。 必靜必清, 無勞女形, 無搖女精, 乃可以長生。 目無所見, 耳無所聞, 心無所知, 女神將守形, 形乃長生, 慎女內, 閉女外, 多知為敗 … … 天地有官, 陰陽有藏。 慎守女身, 物將自壯。 《莊子 • 在宥》

【Dịch】 Cái tinh túy của chí đạo (đạo cực cao) thì mịt mịt mờ mờ, cái tột đỉnh của chí đạo thì thâm u lặng lẽ. Đừng thấy gì, đừng nghe gì, và hãy giữ cho thần tĩnh lặng, thì hình thể của ngươi sẽ tự chỉnh lý đúng đắn. Hãy giữ sự thanh tĩnh đó, đừng lao nhọc thân xác, đừng dao động tinh thần thì ngươi sẽ trường sinh. Mắt không thấy, tai không nghe, tâm không biết, thì thần của ngươi sẽ giữ được hình thể, rồi hình thể sẽ trường sinh. Cẩn thận hoạt động nội tâm của ngươi, ngăn bế những gì từ ngoại giới xâm nhập vào ngươi, nhiều tri thức sẽ thất bại. […] Trời đất có các cơ quan chưởng quản, âm dương có chỗ tàng chứa. Hãy cẩn thận giữ gìn thân thể, mọi thứ trong ngươi sẽ tự lớn mạnh.

099. Kim ngô cáo tử dĩ nhân chi tình:  mục dục thị sắc, nhĩ dục thính thanh, khẩu dục sát vị, chí khí dục doanh. Nhân thượng thọ bách tuế, trung thọ bát thập, hạ thọ lục thập, dư bệnh sấu tử táng ưu hoạn, kỳ trung khai khẩu nhi tiếu giả, nhất nguyệt chi trung bất quá tứ ngũ nhật nhi dĩ hĩ. Thiên dữ địa vô cùng, nhân tử giả hữu thời. Tháo hữu thời chi cụ, nhi thác vu vô cùng chi gian, hốt nhiên vô dị kỳ ký chi trì quá khích dã. Bất năng thuyết kỳ chí ý, dưỡng kỳ thọ mệnh giả, giai phi thông đạo giả dã. [Trang Tử, Đạo Chích]

今吾告子以人之情:  目欲視色, 耳欲聽聲, 口欲察味, 志氣欲盈。 人上壽百歲, 中壽八十, 下壽六十, 除病瘦死喪憂患, 其中開口而笑者, 一月之中不過四五日而已矣。 天與地無窮, 人死者有時。 操有時之具, 而托于無窮之間, 忽然無異騏驥之馳過隙也。 不能說其志意, 養其壽命者, 皆非通道者也。 《莊子 • 盜跖》

【Dịch】 Nay ta nói về thói đời cho ngươi nghe:  mắt ưa nhìn nữ sắc, tai muốn nghe âm nhạc, mồm thích nếm mỹ vị, chí khí muốn thỏa mãn. Con người thượng thọ là 100, trung thọ là 80, hạ thọ là 60. Trừ đi những lúc bệnh, suy nhược, chết chóc, tang ma, âu lo, hoạn nạn, còn lại là những lúc có thể mở miệng cười thì trong một tháng giỏi lắm là vui cười được bốn năm ngày. Trời và đất vô cùng, kiếp người hữu hạn. Đem cái hữu hạn mà gởi gấm khoảng vô cùng, khác gì cái hình ảnh ngựa kỳ ngựa ký chạy vút qua khe cửa. Kẻ không thể thỏa mãn được ý chí và không biết bảo dưỡng cho trường thọ thì không phải là người thông hiểu đạo vậy.

100. Năng tôn sinh giả, tuy quý phú bất dĩ dưỡng thương thân, tuy bần tiện bất dĩ lợi lụy hình. Kim thế chi nhân cư cao quan tôn tước giả, giai trọng thất chi. Kiến lợi khinh vong kỳ thân, khởi bất hoặc tai! [Trang Tử, Nhượng Vương]

能尊生者, 雖貴富不以養傖身, 雖貧賤不以利累形。 今世之人居高官尊爵者, 皆重失之。 見利輕亡其身, 豈不惑哉。 《莊子 • 讓王》

【Dịch】 Kẻ coi trọng sinh mệnh, tuy phú quý nhưng không để sự cung dưỡng làm hại thân, tuy bần tiện nhưng không để cái lợi làm lụy hình hài. Người đời nay làm quan cao tước lớn, coi trọng sự mất chức tước. Thấy cái lợi mà khinh suất để mất thân mình, như vậy không phải là mê muội hay sao?

101. Đạt sinh chi tình giả, bất vụ sinh chi sở vô dĩ vi;  đạt mệnh chi tình giả, bất vụ tri chi sở vô nại hà. Dưỡng hình tất tiên chi dĩ vật, vật hữu dư nhi hình bất dưỡng giả hữu chi hĩ. Hữu sinh tất tiên vô ly hình, hình bất ly nhi sinh vong giả hữu chi hĩ. Sinh chi lai bất năng khước, kỳ khứ bất năng chỉ. Bi phù! Thế chi nhân dĩ vi dưỡng hình túc dĩ tồn sinh, nhi dưỡng hình quả bất túc dĩ tồn sinh, tắc thế hề túc vi tai? Tuy bất túc vi nhi bất khả bất vi giả, kỳ vi bất miễn hĩ? Phù dục miễn vi hình giả, mạc như khí thế. Khí thế tắc vô lụy, vô lụy tắc chính bình, chính bình tắc dữ bỉ cánh sinh, cánh sinh tắc cơ hĩ. [Trang Tử, Đạt Sinh]

達生之情者, 不務生之所無以為; 達命之情者, 不務知之所無奈何。 養形必先之以物, 物有余而形不養者有之矣。 有生必先無離形, 形不離而生亡者有之矣。 生之來不能卻, 其去不能止。 悲夫! 世之人以為養形足以存生, 而養形果不足以存生, 則世奚足為哉? 雖不足為而不可不為者, 其為不免矣? 夫欲免為形者莫如棄世。 棄世則無累, 無累則正平, 正平則與彼更生, 更生則幾矣。 《莊子 • 達生》

【Dịch】 Kẻ thông hiểu được sự sống thì không mong cầu cái vô dụng cho sự sống;  kẻ thông hiểu được vận mệnh thì không mong cầu cái vượt ngoài phạm vi hiểu biết. Muốn nuôi thân trước tiên phải có lương thực. Nhưng có người điều kiện vật chất sung túc mà hình thể vẫn không nuôi dưỡng tốt. Để có sự sống thì trước hết không được rời bỏ hình. Nhưng có kẻ không rời bỏ hình mà vẫn mất sự sống. Sự sống bắt đầu thì ta không thể từ khước, khi sự sống mất đi thì ta không thể ngăn nó lại. Buồn thay! Người đời cứ cho rằng hễ nuôi dưỡng thân thể là giữ được sự sống. Nếu nuôi thân thể mà không đủ để giữ được sự sống, sự đời còn gì đáng làm đâu? Tuy nó không đáng làm mà ta không thể không làm, thế là không tránh khỏi khổ lụy. Muốn tránh việc nuôi dưỡng thân thể thì chẳng gì bằng từ bỏ thế gian. Từ bỏ thế gian thì khỏi khổ lụy. Không khổ lụy thì tâm sẽ quân bình thuần chính. Quân bình thuần chính thì sẽ có sự sống mới. Có sự sống mới là tiếp cận với đạo.

102. Phù thiên hạ sở tôn giả, phú quý thọ thiện dã;  sở lạc giả, thân an hậu vị mỹ phục hảo âm thanh dã;  sở hạ giả, bần tiện yểu ác dã;  sở khổ giả, thân bất đắc an dật, khẩu bất đắc hậu vị, hình bất đắc mỹ phục, mục bất đắc hảo sắc, nhĩ bất đắc âm thanh. Nhược bất đắc giả, tắc đại ưu dĩ cụ, kỳ vị hình dã diệc ngu tai! Phù phú giả, khổ thân tật tác, đa tích tài nhi bất đắc tận dụng, kỳ vị hình dã diệc ngoại hĩ! Phù quý giả, dạ dĩ kế nhật, tư lự thiện phủ, kỳ vi hình dã diệc sơ hĩ! Nhân chi sinh dã, dữ ưu câu sinh. Thọ giả hôn hôn, cửu ưu bất tử, hà khổ dã! Kỳ vị hình dã diệc viễn hĩ! [Trang Tử, Chí Lạc]

夫天下之所尊者, 富貴壽善也; 所樂者, 身安厚味美服好色音聲也; 所下者, 貧賤夭惡也; 所苦者, 身不得安逸, 口不得厚味, 形不得美服, 目不得好色, 耳不得音聲。 若不得者, 則大憂以懼, 其為形也亦愚哉! 夫富者, 苦身疾作, 多積財而不得盡用, 其為形者亦外矣! 夫貴者, 夜以繼日, 思慮善否, 其為形也亦疏矣! 人之生也, 與憂俱生。 壽者惛惛, 久憂不死, 何苦也! 其為形也亦遠矣。 《莊子 • 至樂》

【Dịch】 Nói chung, cái mà thiên hạ tôn quý là giàu có, sang trọng, sống lâu, điều thiện. Cái mà họ vui thích là yên thân, vị ngon, quần áo đẹp, sắc đẹp, âm thanh hay. Cái mà họ khinh bỉ là sự nghèo túng, hèn hạ, chết yểu, điều ác. Cái mà họ đau khổ là thân không được an nhàn, miệng không thưởng thức vị ngon, thân không mặc quần áo đẹp, mắt không trông thấy sắc đẹp, tai không nghe được âm thanh hay. Kẻ nào không có được các thứ ấy thì lo buồn sợ sệt. Cứ vì thân thể như vậy thật là ngu xuẩn. Kẻ giàu có, lao khổ thân xác, làm lụng miệt mài, tích lũy nhiều của nả mà không được hưởng hết. Cứ vì thân thể như vậy là lo cái bề ngoài. Kẻ sang trọng, hết đêm tới ngày lo toan nghĩ ngợi chuyện tốt xấu, hay dở. Cứ vì thân thể như vậy là xa đạo thường hằng. Cuộc đời mỗi người cùng đi đôi với lo rầu. Dù sống lâu thì thần trí cũng lú lẫn, mụ mẫm vô dụng, lại buồn mãi vì sống lâu thế mà không chết đi. Ôi sao mà khổ vậy! Cứ vì thân thể như vậy cũng là xa đạo thường hằng.

103. Bi lạc giả, đức chi tà dã;  hỉ nộ giả, đạo chi quá dã;  hảo ố giả, đức chi thất dã. Cố tâm bất ưu lạc, đức chi chí dã;  nhất nhi bất biến, tĩnh chi chí dã;  vô sở vu ngỗ, hư chi chí dã;  bất dữ vật giao, đàm chi chí dã;  vô sở vu nghịch, túy chi chí dã. Cố viết:  Hình lao nhi bất hưu tắc tệ, tinh dụng nhi bất dĩ tắc lao, lao tắc kiệt. [Trang Tử, Khắc Ý]

悲樂者, 德之邪也; 喜怒者, 道之過也; 好惡者, 德之失也。 故心不憂樂, 德之至也; 一而不變, 靜之至也; 無所于忤, 虛之至也; 不與物交, 惔之至也; 無所于逆, 粹之至也。 故曰:  形勞而不休則弊, 精用而不已則勞, 勞則竭。 《莊子 • 刻意》

【Dịch】 Buồn vui làm hại đức;  mừng giận làm hại đạo;  yêu ghét làm mất đức. Cho nên tâm chớ âu lo hay vui mừng, đó là chí đức. Tinh ròng chuyên nhất không thay đổi, đó là chí tĩnh. Không xung đột với ai, đó là chí hư. Không giao tiếp sự vật, đó là chí đàm (vô cùng yên lặng). Không chống đối ai, đó là chí túy (rất tinh tuý). Cho nên nói:  Lao nhọc thân xác miệt mài thì sinh ra điều tệ hại;  tinh lực dùng liên tục thì lao tổn. Hễ lao tổn thì kiệt quệ.

104. Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai. Dĩ hữu nhai tuỳ vô nhai, đãi dĩ! Dĩ nhi vi tri giả, đãi nhi dĩ hĩ! Vi thiện cận vô danh, vi ác vô cận hình, duyên đốc dĩ vi khinh, khả dĩ bảo thân, khả dĩ toàn sinh, khả dĩ dưỡng thân, khả dĩ tận niên. [Trang Tử, Dưỡng Sinh Chủ]

吾生也有涯, 而知也無涯。 以有涯隨無涯, 殆已! 已而為知者, 殆而已矣! 為善近無名, 為惡無近刑, 緣督以為經, 可以保身, 可以全生, 可以養親, 可以盡年。 《莊子 • 養生主》

【Dịch】 Đời người hữu hạn, mà tri thức thì vô hạn. Lấy cái hữu hạn mà truy cầu cái vô hạn, nguy hại thay! Biết thế mà vẫn cứ truy cầu tri thức, như vậy càng nguy. Làm thiện thì không nổi danh, làm ác thì bị trừng phạt. Noi theo cái trung dung mới là thường đạo (chính đạo);  nhờ đó ta có thể bảo thân, giữ vẹn sinh mệnh, phụng dưỡng song thân, và hưởng trọn tuổi già.

105. Thiện dưỡng sinh giả, nhược mục dương nhiên, thị kỳ hậu giả nhi tiên chi. [Trang Tử, Đạt Sinh]

善養生者, 若牧羊然, 視其後者而鞭之。 《莊子 • 達生》

【Dịch】 Người giỏi dưỡng sinh giống như kẻ chăn dê:  quan sát con nào lạc phía sau và quất roi vào chúng.

106. Khí sự tắc hình bất lao, di sinh tắc tinh bất khuy, phù hình toàn tinh phục, dữ thiên vi nhất. [Trang Tử, Đạt Sinh]

棄事則形不勞, 遺生則精不虧, 夫形全精復, 與天為一。 《莊子 • 達生》

【Dịch】 Bỏ việc đời, thân xác sẽ không lao nhọc;  quên cuộc sống, tinh thần sẽ không hao tổn. Hình thể được bảo toàn và tinh thần được hồi phục thì thiên nhân hợp nhất.

107. Nhất nhân chi thân, nhất quốc chi tượng dã, hung phúc chi thiết do cung thất dã, chi thể chi vị do giao cảnh dã, cốt tiết chi tác do bách quan dã, thấu lý chi gian do tứ cù dã, thần do quân dã, huyết do thần dã, khí do dân dã. Cố chí nhân năng trị kỳ thân, diệc như minh chủ năng trị kỳ quốc. Phù ái kỳ dân, sở dĩ an kỳ quốc;  ái kỳ khí, sở dĩ toàn kỳ thân. Dân tệ quốc vong, khí suy thân tạ. Thị dĩ chí nhân thượng sĩ nãi thi dược vu vị bệnh chi tiền, bất truy tu vu ký bại chi hậu. Cố tri sinh nan bảo nhi dị tán, khí nan thanh nhi dị trọc. Nhược năng thẩm cơ quyền, khả dĩ chế thị dục, bảo toàn tính mệnh. [Đạo Tạng-Bão Phác Tử, chương Dưỡng Sinh Luận]

一人之身, 一國之象也, 胸腹之設猶宮室也, 支體之位猶郊境也, 骨節之作猶百官也, 腠理之間猶四衢也, 神猶君也, 血猶臣也, 氣猶民也。 故至人能治其身, 亦如明主能治其國。 夫愛其民, 所以安其國; 愛其氣, 所以全其身。 民弊國亡, 氣衰身謝。 是以至人上士乃施藥于未病之前, 不追修于既敗之後, 故知生難保而易散, 氣難清而易濁。 若能審機權, 可以制嗜欲, 保全性命。 《道藏 • 抱朴子 • 養生論》

【Dịch】 Thân thể con người khác nào một đất nước:  ngực và bụng là cung điện phòng thất, tứ chi là ngoại thành, xương cốt và các quan tiết là bách quan, nếp nhăn trên da là các ngã tư đường, thần là vua, máu huyết là bầy tôi, khí là dân chúng. Cho nên bậc chí nhân trị được thân mình cũng như minh quân cai trị được đất nước. Hễ yêu quý dân thì yên định đất nước, hễ yêu quý khí thì bảo toàn được thân. Dân khốn khổ điêu linh thì vong quốc, khí suy nhược thì thân tàn tạ. Cho nên bậc chí nhân thượng sĩ dùng thuốc trước khi bị bệnh, chứ không để sau khi bị nguy hại rồi mới tìm cách chạy chữa. Thế mới biết:  sinh mệnh khó bảo toàn mà dễ mất, khí khó trong thanh mà dễ đục. Nếu có thể tra xét và tùy cơ ứng biến, thì có thể khắc chế thị dục và bảo toàn tính mệnh.

108. Thiện dưỡng sinh giả, tiên trừ lục hại, nhiên hậu khả dĩ diên trú vu bách niên. Hà giả thị da? Nhất viết bạc danh lợi, nhị viết cấm thanh sắc, tam viết liêm hoá tài, tứ viết tổn tư vị, ngũ viết trừ nịnh vọng, lục viết khử trở tật. Lục giả bất trừ, tu thân chi đạo đồ thiết nhĩ? [Đạo Tạng – Bão Phác Tử, Dưỡng Sinh Luận]

善養生者, 先除六害, 然後可以延駐于百年。 何者是耶? 一曰薄名利, 二曰禁聲色, 三曰廉貨財, 四曰損滋味, 五曰除佞妄, 六曰去沮嫉。 六者不除, 修身之道徒設爾? 《道藏 • 抱朴子 • 養生論》

【Dịch】 Người giỏi dưỡng sinh, trước tiên phải trừ khử sáu mối hại, sau đó mới có thể sống lâu trăm tuổi. Sáu cái hại là gì? [và cần phải làm gì?] Một là phải coi thường danh lợi;  hai là phải cấm chỉ âm nhạc và nữ sắc;  ba là chớ tham lam của cải tiền bạc;  bốn là phải giảm bớt thức ngon vị béo;  năm là phải trừ bỏ lời nói khéo léo xảo trá;  sáu là phải trừ khử sự ganh ghét đố kỵ. Sáu điều hại không trừ khử, thì phép tu dưỡng thân tâm chỉ vô hiệu thôi.

109. Sở dĩ bảo hòa toàn chân giả, nãi thiểu tư, thiểu niệm, thiểu tiếu, thiểu ngôn, thiểu hỉ, thiểu nộ, thiểu lạc, thiểu sầu, thiểu háo, thiểu ố, thiểu sự, thiểu cơ. Phù đa tư tắc thần tán, đa niệm tắc tâm lao, đa tiếu tắc tạng phủ thượng phiên, đa ngôn tắc khí hải hư thoát, đa hỉ tắc bàng quang nạp khách phong, đa nộ tắc thấu lý bôn huyết, đa lạc tắc tâm thần tà đãng, đa sầu tắc đầu phát tiều khô, đa háo tắc chí khí khuynh dật, đa ố tắc tinh sảng bôn đằng, đa sự tắc cân mạch can cấp, đa cơ tắc trí lự trầm mê. Tư nãi phạt nhân chi sinh, thậm vu cân phủ, tổn nhân chi mệnh, mãnh vu sài lang. [Đạo Tạng-Bão Phác Tử, chương Dưỡng Sinh Luận]

所以保和全真者, 乃少思, 少念, 少笑, 少言, 少喜, 少怒, 少樂, 少愁, 少好, 少惡, 少事, 少機。 夫多思則神散, 多念則心勞, 多笑則臟腑上翻, 多言則氣海虛脫, 多喜則膀胱納客風, 多怒則腠理奔血, 多樂則心神邪蕩, 多愁則頭髮憔枯, 多好則志氣傾溢, 多惡則精爽奔騰, 多事則筋脈乾急, 多機則智慮沉迷。 斯乃伐人之生, 甚于斤斧, 損人之命, 猛于豺狼。 《道藏 • 抱朴子 • 養生論》

【Dịch】 Cho nên để bảo vệ sự hài hoà và giữ vẹn chân tính thì phải:  ưu tư ít, vọng niệm ít, cười ít, nói ít, vui ít, giận ít, sướng ít, sầu ít, ham ít, ghét ít, việc ít, cơ mưu ít. Hễ ưu tư nhiều thì thần tán loạn, vọng niệm nhiều thì tâm lao tổn, cười nhiều thì phủ tạng lộn ngược, nói nhiều thì khí hải thoát hết tinh, vui nhiều thì bàng quang bị tà phong chướng khí bên ngoài xâm nhập, giận nhiều thì mặt da xuất huyết, sướng nhiều thì tâm thần tà vạy phóng đãng, sầu nhiều thì đầu tóc tiều tụy khô héo, ham nhiều thì chí khí phát tiết dễ sinh tà niệm, ghét nhiều thì tinh hư hoại chạy mất, việc nhiều thì gân mỏi mạch khô cạn, mưu nhiều thì trí lự chìm đắm mê muội. Các thứ đó chặt đứt sinh mệnh con người, sắc bén còn hơn rìu búa, làm tổn hại sinh mệnh con người còn dữ tợn hơn sài lang.

110. Vô cửu tọa, vô cửu hành, vô cửu thị, vô cửu thính, bất cơ vật cưỡng thực, vật khát vật cưỡng ẩm. Bất cơ cưỡng thực tắc tỳ lao, bất khát cưỡng ẩm tắc vị trướng, thể dục thường lao, thực dục thường thiểu, lao vật quá cực, thiểu vật chí cơ. Đông triêu vật không tâm, hạ dạ vật bão thực. Tảo khởi bất tại kê minh tiền, vãn khởi bất tại nhật xuất hậu. tâm nội trừng tắc chân thần thủ kỳ vị, khí nội định tắc tà vật khứ kỳ thân. Hành khi trá tắc thần ố, hành tranh cạnh tắc linh trở. Khinh vũ vu nhân đương giảm toán, sát hại vu vật tất thương niên. Hành nhất thiện tắc hồn thần lạc, cấu nhất ác tắc phách thần hoan (phách thần lạc tử, hồn thần hiếu sinh). Thường dĩ khoan thái tự cư, điềm đạm tự thủ, tắc thân nhất an tĩnh, tai hại bất can. Sinh lục tất thư kỳ danh, tử tịch tất tước kỳ cữu, dưỡng sinh chi lý tận vu thử hĩ. Chí vu luyện hoàn đan dĩ bổ não, hóa kim dịch dĩ lưu thần, tư nãi thượng chân chi diệu đạo, cái phi thực cốc đạm huyết giả việt phân nhi tu chi, vạn nhân chi trung, đắc giả thù thiểu, thâm khả giới yên! Lão Quân viết:  Tồn ngô thử đạo, thượng sĩ toàn tu diên thọ mệnh, trung sĩ bán tu vô tai bệnh, hạ sĩ thời tu miễn yểu hoành, ngu giả thất đạo bấn kỳ tính, kỳ tư chi vị dư. [Đạo Tạng-Bão Phác Tử, chg. Dưỡng Sinh Luận]

無久坐, 無久行, 無久視, 無久聽, 不飢勿強食, 不渴勿強飲。 不飢強食則脾勞, 不渴強飲則胃脹, 體欲常勞, 食欲常少, 勞勿過極, 少勿至飢。 冬朝勿空心, 夏夜勿飽食。 早起不在雞鳴前, 晚起不在日出後, 心內澄則真神守其位, 氣內定則邪物去其身。 行欺詐則神惡, 行爭競則靈沮。 輕侮于人當減算, 殺害于物必傷年。 行一善則魂神樂, 構一惡則魄神歡(魄神樂死, 魂神好生)。 常以寬泰自居, 恬淡自守, 則身一安靜, 災害不干。 生錄必書其名, 死籍必削其咎, 養生之理盡于此矣。 至于煉還丹以補腦, 化金液以留神, 斯乃上真之妙道, 蓋非食谷啖血者越分而修之, 萬人之中, 得者殊少, 深可誡焉! 老君曰:  存吾此道, 上士全修延壽命, 中士半修無災病, 下士時修免夭橫, 愚者失道擯其性, 其斯之謂歟。 《道藏 • 抱朴子 • 養生論》

【Dịch】 Đừng ngồi lâu, đừng đi bộ lâu, đừng nhìn lâu, đừng nghe lâu, không đói thì chớ cố ép ăn, không khát thì chớ cố ép uống. Không đói mà cố ép ăn thì tỳ lao tổn;  không khát mà cố ép uống thì bao tử trướng. Thân thể phải thường lao động;  ăn phải thường ăn ít. Lao động chớ quá độ;  ăn ít chớ để tới đói. Sáng mùa đông đừng để bụng rỗng;  tối mùa hạ đừng ăn no. Dậy sớm thì đừng dậy trước khi gà gáy;  dậy trễ thì chớ dậy sau khi mặt trời mọc. Tâm có quán xét sửa chữa thì chân thần mới giữ nguyên vị trí (không đi mất). Khí có định thì các thứ xấu mới xuất ra khỏi thân thể. Hành vi lừa dối trí trá thì quỷ thần ghét, hành vi cạnh tranh thì linh tánh bị ngăn trở. Khinh khi và làm nhục người khác thì tuổi thọ bị giảm nhiều ngày. Giết hại loài vật thì tuổi thọ giảm nhiều năm. Làm một việc thiện thì hồn vui;  làm một việc ác thì phách vui vẻ (vì phách thích chết, hồn ham sống). Thường ăn ở khoan thai, điềm đạm giữ gìn, thì thân an tĩnh, tai ương họa hại sẽ không liên can với mình. Tên mình sẽ được ghi vào Sổ Sinh và tội lỗi mình được xoá đi trong Sổ Tử. Cái nguyên tắc dưỡng sinh chỉ có vậy thôi. Nếu như có thêm luyện đan, hoàn đan bổ não, biến hoá kim dịch để lưu giữ thần, thì đó là phép tắc huyền diệu thượng thừa. Trái lại, nếu ăn ngũ cốc và huyết nhục mà tu luyện, trong vạn người thì chỉ có rất ít kẻ đắc đạo. Hãy hết sức giữ giới! Lão Quân nói:  «Nếu giữ đạo này của ta, bậc thượng sĩ sẽ sống thọ, bậc trung sĩ tu một nửa sẽ tránh tai họa bệnh tật, bậc hạ sĩ sẽ tránh được tai ương. Còn kẻ ngu không nắm được đạo này nên đánh mất tính mệnh. Ta chỉ nói bấy nhiêu thôi.»

111. Tài sở bất đãi, nhi khốn tư chi, thương dã;  lực sở bất thắng, nhi cưỡng cử chi, thương dã;  bi ai tiều tụy, thương dã;  hỉ lạc quá sai, thương dã;  cấp cấp sở dục, thương dã;  cửu đàm ngôn tiếu, thương dã;  tẩm tức thất thời, thương dã;  tổn cung dẫn nỏ, thương dã;  trầm túy ẩu tả, thương dã;  bào tẩu suyễn phạp, thương dã;  hoan hô khốc khấp, thương dã;  âm dương bất giao, thương dã;  tích thương chí tận tắc tảo vong, tảo vong phi đạo dã. Thị dĩ dưỡng sinh chi phương, thóa bất cập viễn, hành bất tật bộ, nhĩ bất cực thính, mục bất cửu thị, tọa bất chí cửu, ngọa bất cập bì, tiên hàn nhi ý, tiên nhiệt nhi giải, bất dục cực cơ nhi thực, thực bất quá bão, bất dục cực khát nhi ẩm, ẩm bất quá đa. Phàm thực quá tắc tích tụ, ẩm quá tắc đàm tích. Bất dục thậm lao thậm dật, bất dục khởi vãn, bất dục hãn lưu, bất dục đa thụy, bất dục bôn xa tẩu mã, bất dục cực mục viễn vọng, bất dục đa đạm sinh lãnh, bất dục ẩm tửu đương phong, bất dục sổ sổ mộc dục, bất dục quảng chí viễn nguyện, bất dục quy tạo dị xảo, đông bất dục cực ôn, hạ bất dục cùng lương, bất lộ ngọa tinh hạ, bất miên trung hiện kiên, đại hàn đại nhiệt, đại phong đại vụ, giai bất dục mạo chi. Ngũ vị nhập khẩu, bất dục thiên đa, cố toan đa thương tỳ, khổ đa thương phế, tân đa thương can, hàm đa thương tâm, cam đa thương thận, thử ngũ hành tự nhiên chi lý dã. Phàm ngôn thương dã, diệc bất tiện giác dã, vị cửu tắc thọ tổn nhĩ. Thị dĩ thiện nhiếp sinh giả, ngọa khởi hữu tứ thời chi tảo vãn, hưng cư hữu chí hòa chi thường chế;  điều hòa cân cốt, hữu yển ngưỡng chi phương;  đỗ tật nhàn tà, hữu thôn thổ chi thuật;  lưu hành vinh vệ, hữu bổ tả chi pháp;  tiết nghi lao dật, hữu dữ đoạt chi yếu. Nhẫn nộ dĩ toàn âm khí, ức hỉ dĩ dưỡng dương khí. Nhiên hậu tiên tương phục thảo mộc dĩ cứu khuy khuyết, hậu phục kim đan dĩ định vô cùng, trường sinh chi lý, tận vu thử hĩ. [Bão Phác Tử-Nội Thiên, chương Cực Ngôn]

才所不逮, 而困思之, 傷也; 力所不勝, 而強舉之, 傷也; 悲哀憔悴, 傷也; 喜樂過差, 傷也; 汲汲所欲, 傷也; 久談言笑, 傷也; 寢息失時, 傷也; 損弓引弩, 傷也; 沉醉嘔吐, 傷也; 飽食即臥, 傷也; 跑走喘乏, 傷也; 歡呼哭泣, 傷也; 陰陽不交, 傷也; 積傷至盡則早亡, 早亡非道也。 是以養生之方, 唾不及遠, 行不疾步, 耳不極聽, 目不久視, 坐不至久, 臥不及疲, 先寒而衣, 先熱而解, 不欲極飢而食, 食不過飽, 不欲極渴而飲, 飲不過多。 凡食過則積聚, 飲過則痰癖。 不欲甚勞甚逸, 不欲起晚, 不欲汗流, 不欲多睡, 不欲奔車走馬, 不欲極目遠望, 不欲多啖生冷, 不欲飲酒當風, 不欲數數沐浴, 不欲廣志遠願, 不欲規造異巧, 冬不欲極溫, 夏不欲窮涼, 不露臥星下, 不眠中見肩, 大寒大熱, 大風大霧, 皆不欲冒之。 五味入口, 不欲偏多, 故酸多傷脾, 苦多傷肺, 辛多傷肝,  咸多傷心,  甘多傷腎, 此五行自然之理也。 凡言傷也, 亦不便覺也, 謂久則壽損耳。 是以善攝生者, 臥起有四時之早晚,  興居有至和之常制; 調利筋骨, 有偃仰之方;  杜疾閑邪, 有吞吐之術;  流行榮衛, 有補瀉之法; 節宜勞逸, 有與奪之要。 忍怒以全陰氣, 抑喜以養陽氣。 然後先將服草木以救虧缺,  後服金丹以定無窮, 長生之理, 盡于此矣。 《抱朴子 • 內篇 • 極言》

【Dịch】 Tài năng chưa tới mà khổ sở mong tìm là làm hại;  sức lực không đủ mà gượng thi hành là làm hại;  buồn rầu ai oán đến nỗi tiều tụy là làm hại;  vui sướng quá độ là làm hại;  bôn ba vì dục vọng là làm hại;  cười nói vui đùa lâu là làm hại;  đi ngủ và nghỉ ngơi không đúng giờ là làm hại;  ráng sức giương cung nỏ là làm hại;  say mèm đến nỗi nôn mửa là làm hại;  ăn no đi nằm ngay là làm hại;  chạy nhảy để hơi thở khò khè hổn hển là làm hại;  reo vui khóc lóc là làm hại;  âm dương không giao hợp là làm hại;  tích lũy các điều hại này quá mức sẽ chết sớm;  chết sớm đâu phải là đạo dưỡng sinh. Cho nên, phương pháp dưỡng sinh là:  không phun nước bọt ra xa, không đi bộ nhanh, tai không ráng nghe, mắt không nhìn lâu, không ngồi quá lâu, không nằm cho đến mỏi mệt, mặc thêm áo trước khi mùa lạnh đến, cởi bớt áo trước khi mùa nóng đến, chớ để rất đói rồi mới ăn, chớ ăn no quá, chớ để thật khát rồi mới uống, chớ uống quá nhiều. Hễ ăn nhiều thì đầy bụng, uống nhiều thì sinh đàm. Chớ lao nhọc quá mà cũng chớ rảnh rang nhiều quá, chớ thức dậy muộn, chớ để đổ mồ hôi, chớ ngủ nhiều quá, chớ cỡi xe cỡi ngựa nhanh, đừng ráng căng mắt nhìn xa, chớ ăn những món sinh lạnh bụng, chớ uống rượu trước luồng gió, chớ tắm nhiều lần trong ngày, chớ có chí nguyện quá xa xôi, chớ có chế tạo những đồ vật kỳ dị tinh xảo, mùa đông chớ để quá ấm, mùa hè chớ để quá mát, đừng nằm ngoài loã thể dưới trăng sao, nằm ngủ chớ để lộ vai, chớ mạo hiểm đi lúc thời tiết xấu như rất rét, rất nóng, hay nhiều sương mù. Năm vị vào miệng thì chớ dùng thái quá bởi vì chua quá hại tỳ, đắng quá hại phổi, cay quá hại gan, mặn quá hại tim, ngọt quá hại thận;  đó là cái lý tự nhiên của ngũ hành vậy. Tất cả những cái gọi là làm hại này, cũng không thể nhận biết ngay được, nhưng về lâu về dài mới thấy chúng làm tổn thọ. Người giỏi bảo dưỡng thân thể có giờ giấc đi ngủ và thức dậy sớm trễ khác nhau tùy theo bốn mùa, sinh hoạt ban ngày có chế độ luôn điều hòa;  biết điều dưỡng gân cốt thư thái, có phép tắc vận động;  ngăn chận tật bệnh và xua trừ tà khí, có phép tắc nuốt nhả [thổ nạp, đạo dẫn] giúp khí huyết lưu thông tuần hoàn, có phép dùng thuốc bổ hư và tả thực;  tiết chế sự lao động và nghỉ ngơi, có yếu quyết tăng giảm. Dằn cơn giận để bảo toàn âm khí, nén vui mừng để bảo dưỡng dương khí. Sau đó uống thuốc từ thảo mộc để bổ khuyết những tổn mất, rồi uống kim đan để trường thọ, nguyên lý trường sinh chỉ như vậy thôi.

112. Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn? [Đạo Đức Kinh, ch.13]

吾所以有大患者, 為吾有身, 及吾無身, 吾有何患? 《道德經 • 第13章》

【Dịch】 Sở dĩ ta phải lo âu nhiều bởi vì ta có thân. Nếu không có thân, ta đâu có lo lắng gì.

113. Phù duy bất tranh, cố vô vưu. [Đạo Đức Kinh, ch.8]

夫唯不爭, 故無尤。 《道德經 • 第八章》

【Dịch】 Chính vì không tranh với ai, nên không ai oán trách.

114. Sơn mộc, tự khấu dã;  cao hỏa, tự tiễn dã. Quế khả thực, cố phạt chi;  tất khả dụng, cố cát chi. Nhân giai tri hữu dụng chi dụng, nhi mạc tri vô dụng chi dụng dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

山木, 自寇也; 膏火, 自煎也。 桂可食, 故伐之; 漆可用, 故割之。 人皆知有用之用, 而莫知無用之用也。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 [Vì có ích nên] cây trên núi tự khiến nó bị đốn;  [vì cháy được nên] mỡ tự khiến nó bị đốt sạch. Quế ăn được nên cây quế bị đốn. Cây sơn có ích nên thân bị khắc rạch [để lấy nhựa]. Ai cũng biết lợi thế của sự hữu dụng;  mấy ai biết lợi thế của sự vô dụng.

115. Phù hàm xa chi thú, giới nhi năng ly sơn, tắc miễn vu võng cổ chi hoạn;  thôn chu chi ngư, đãng nhi thất thủy, tắc nghị năng khổ chi. Cố điểu thú bất yếm cao, ngư miết bất yếm thâm. Phù toàn kỳ hình sinh chi nhân, tàng kỳ thân dã, bất yếm thâm miểu nhi dĩ hĩ. [Trang Tử, Canh Tang Sở]

夫函車之獸, 介而能離山, 則不免于網罟之患; 吞舟之魚, 碭而失水, 則蟻能苦之。 故鳥獸不厭高, 魚鱉不厭深。 夫全其行生之人, 藏其身也, 不厭深眇而已矣。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Con thú lớn dù ngoạm được một cỗ xe, nếu một mình rời khỏi núi, sẽ không tránh được hiểm họa bị đánh lưới Con cá lớn dù nuốt được một con thuyền, nếu rời nước lên cạn, sẽ bị kiến bu cắn. Cho nên điểu và thú không ghét nơi cao, cá và ba ba không ghét chỗ sâu. Ai muốn bảo toàn thân thể và sinh mệnh của mình, thì nên ẩn thân;  chớ ghét nơi thâm u diệu viễn thì mới được.

116. Trang Tử hành vu sơn trung, kiến đại mộc, chi diệp thịnh mậu. Phạt mộc giả chỉ kỳ bàng nhi bất thủ dã. Vấn kỳ cố, viết:  «Vô sở khả dụng.» Trang Tử viết:  «Thử mộc dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên.» Phu tử xuất vu sơn, xá vu cố nhân chi gia. Cố nhân hỉ, mệnh thụ tử sát nhạn nhi phanh chi. Thụ tử thỉnh viết:  «Kỳ nhất năng minh, kỳ nhất bất năng minh, thỉnh hề sát?» Chủ nhân viết:  «Sát bất năng minh giả.» Minh nhật, đệ tử vấn vu Trang Tử viết:  «Tạc nhật sơn trung chi mộc, dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên;  kim chủ nhân chi nhạn, dĩ bất tài tử. Tiên sinh tương hà xử?» Trang Tử tiếu viết:  «Chu tương xử hồ tài dữ bất tài chi gian. Tài dữ bất tài chi gian, tự chi nhi phi dã, cố vị miễn hồ lụy. Nhược phù thừa đạo đức nhi phù du tắc bất nhiên, vô dự vô tý, nhất long nhất xà, dữ thời câu hóa, nhi vô khẳng chuyên vi. Nhất thượng nhất hạ, dĩ hòa vi lượng, phù du hồ vạn vật chi tổ. vật vật nhi bất vật vu vật, tắc hồ khả đắc nhi lụy da? Thử Thần Nông, Hoàng Đế chi pháp tắc dã. Nhược phù vạn vật chi tình, nhân luân chi truyền tắc bất nhiên:  hợp tắc ly, thành tắc hủy, liêm tắc tõa, tôn tắc nghị, hữu vi tắc khuy, hiền tắc mưu, bất tiếu tắc khi. Hồ khả đắc nhi tất hồ tai! Bi phù, đệ tử chí chi, kỳ duy đạo đức chi hương hồ!» [Trang Tử, Sơn Mộc]

莊子行于山中, 見大木, 枝葉盛茂。 伐木者止其旁而不取也。 問其故, 曰:  『無所可用。』莊子曰:  『此木以不材得終其天年。』夫子出于山, 舍于故人之家。 故人喜, 命豎子殺雁而烹之。 豎子請曰:  『其一能鳴, 其一不能鳴, 請奚殺?』  主人曰:  『殺不能鳴者。』明日, 弟子問于莊子曰:  『昨日山中之木,  以不材得終其天年; 今主人之雁, 以不材死。 先生將何處?』  莊子笑曰:  『周將處乎材與不材之間。 材與不材之間,  似之而非也,  故未免乎累。 若夫乘道德而浮游則不然,  無譽無訾,  一龍一蛇, 與時俱化,  而無肯專為。 一上一下,  以和為量, 浮游乎萬物之祖。 物物而不物于物,  則胡可得而累邪! 此神農、黃帝之法則也。 若夫萬物之情, 人倫之傳則不然:  合則離, 成則毀,  廉則挫,  尊則議,  有為則虧,  賢則謀,  不肖則欺。 胡可得而必乎哉!  悲夫, 弟子志之, 其唯道德其鄉乎!』  《莊子 • 山木》

【Dịch】 Trang Tử [và đệ tử] đi trong núi, thấy một cây lớn, cành lá sum suê. Người đốn cây đứng bên cạnh nó nhưng không đốn nó. Trang Tử hỏi tại sao, hắn trả lời:  «Cây này chẳng dùng được vào việc gì.» Trang Tử bảo [đệ tử]:  «Cây đó nhờ vô dụng mà an hưởng trọn tuổi trời.» Ra khỏi núi, Trang Tử ghé nhà một bạn cũ. Người bạn mừng rỡ, sai đứa ở giết ngỗng nấu đãi khách. Đứa ở hỏi:  «Có con kêu, có con không biết kêu. Bẩm ông, giết con nào?» Chủ nhà trả lời:  «Con nào không biết quang quác thì giết.» Hôm sau, đệ tử hỏi Trang Tử:  «Hôm qua, cây trên núi nhờ vô dụng mà hưởng trọn tuổi trời. Nay con ngỗng của chủ nhà này vì không biết quang quác mà bị làm thịt. Thầy muốn ở hoàn cảnh nào?» Trang Tử cười đáp:  «Chu này muốn ở chỗ trung dung giữa hữu dụng và vô dụng (giữa tài và bất tài). Nhưng chỗ trung dung đó cũng chưa phải gần với đạo, nên vẫn chưa tránh khỏi hệ lụy. Nếu ai cỡi trên đạo đức mà tiêu dao thì sẽ không như vậy. Họ sẽ vượt khỏi sự khen ngợi hay chê bai;  có thể vùng lên như rồng hay lẩn tránh như rắn;  tùy thời biến hóa, mà không khẳng định mình chuyên vào một thứ gì;  địa vị dù lên cao hay xuống thấp, họ đều lấy sự hài hòa mà độ lượng mọi việc xung quanh. Họ phiêu bồng nơi tổ tiên của vạn vật (tức đạo), , như vậy thì làm sao mà bị hệ lụy cho được? Đó là phép tắc của Thần Nông và Hoàng Đế vậy. Còn như cái tình của vạn vật và truyền thống của nhân luân thì lại khác:  hợp rồi tan, thành công rồi thất bại, liêm khiết bị dè bỉu, tôn quý bị dị nghị, hành vi tích cực bị tổn hại, hiền tài bị mưu hại, bất tài bị khinh rẻ. Các tình huống đó có chi là chắc chắn? Đáng buồn thật! Các ngươi hãy ghi nhớ:  chỉ có cảnh giới của đạo và đức là tốt đẹp thôi.»

117. Kim dĩ cương chiết, thủy dĩ nhu toàn. Sơn dĩ cao si, cốc dĩ ti an. Thị dĩ chấp thư tiết giả vô tranh hùng chi họa. [Bão Phác Tử-Ngoại Thiên, chương Quảng Thí]

金以剛折, 水以柔全。 山以高眵, 谷以卑安。 是以執雌節者無爭雄之禍。 《抱朴子、外篇 • 廣譬》

【Dịch】 Kim loại vì cứng mà gãy, nước nhờ mềm yếu mà vẹn toàn. Núi cao nên đổ lở, giòng nước giữa hai ngọn núi vì thấp nên bình an. Cho nên ai giữ đức tính âm nhu thì sẽ không bị tai họa do tranh giành với người khác.

118. Hàm đức chi hậu giả ưu hoạn bất năng nhập, tà khí bất năng xâm, cố vật mạc năng thương yên. Trang Tử viết:  «Nhân năng hư kỷ dĩ tị thế, kỳ thục năng hại?» [Đạo Tạng, Tống Huy Tông ngự giải Đạo Đức Chân Kinh]

含德之厚者憂患不能入, 邪氣不能侵, 故物莫能傖焉。 莊子曰:  人能虛己以避世, 其孰能害? 《道藏 • 宋徽宗御解道德真經》

【Dịch】 Người hàm chứa đức dày thì ưu hoạn và tà khí không thể xâm nhập nổi. Cho nên không có vật gì gây thương tổn cho mình được. Trang Tử nói:  «Kẻ đã vô ngã và lánh đời, thì ai mà hại cho được?»

**********************

6. TRI MỆNH 知 命 – THỦ NHẤT 守 一

120. Tri kỳ bất khả nại hà nhi an chi nhược mệnh, đức chi chí dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

知其不可奈何而安之若命,  德之至也。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Biết sự tình đã hết cách sửa đổi mà lòng vẫn cứ vui vẻ chấp nhận nó, vậy là người chí đức.

121. Tử Dư dữ Tử Tang hữu. Nhi lâm vũ thập nhật, Tử Dư viết:  «Tử Tang đãi bệnh hĩ!» Khoả phạn nhi vãng tự chi. Chí Tử Tang chi môn, tắc nhược ca nhược khốc, cổ cầm viết:  «Phụ da! Mẫu da! Thiên hồ? Nhân hồ!» Hữu vô nhậm kỳ thanh nhi xu cử kỳ thi yên. Tử Dư nhập, viết:  «Tử chi ca thi, hà cố nhược thị?» Viết:  «Ngô tư phù sử ngã chí thử cực giả nhi phất đắc dã. Phụ mẫu khởi dục ngô bần tai? Thiên vô tư phúc, địa vô tư tải, thiên địa khởi tư bần ngã tai? Cầu kỳ vi chi giả nhi bất đắc dã? Nhiên nhi chí thử cực giả, mệnh dã phù!» [Trang Tử, Đại Tông Sư]

子輿與子桑友。 而霖雨十日, 子輿曰:  『子桑殆病矣!』 裹飯而往食之。 至子桑之門, 則若歌若哭, 鼓琴曰:  『父邪! 母邪! 天乎? 人乎!』 有不任其聲而趨舉其詩焉。 子輿入, 曰:  『子之歌詩, 何故若是?』 曰:  『吾思夫使我至此極者而弗得也。 父母豈欲吾貧哉? 天無私覆, 地無私載, 天地豈私貧我哉? 求其為之者而不得也? 然而至此極者, 命也夫!』  《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Tử Dư và Tử Tang là bạn. Mưa dầm suốt mười ngày, Tử Dư thốt:  «Tử Tang ắt khốn quẫn rồi!» Bèn mang một bao lương thực đến tặng. Đến tới cửa, Tử Dư liền nghe có tiếng như ca như khóc ở bên trong. Nghe vỗ đàn và tiếng hát rằng:  «Cha ơi! Mẹ ơi! Trời ư? Người ư?» Giọng bị đuối, lời ca gấp gáp. Tử Dư bước vào, hỏi:  «Tại sao anh ca hát như thế?» Tử Tang đáp:  «Tôi nghĩ mãi mà vẫn không hiểu vì sao tôi bị cùng cực thế này. Cha mẹ tôi lẽ nào lại muốn tôi nghèo như vầy? Trời che phủ vạn vật đâu có tư vị ai. Đất chở vạn vật cũng đâu có tư vị ai. Trời đất lẽ nào lại khiến riêng tôi phải nghèo? Tôi cứ tìm mãi nguyên nhân của cái nghèo mà tìm không ra. Tôi cùng cực thế này là do số mệnh ư?»

122. Tử sinh tồn vong, cùng đạt bần phú, hiền dữ bất tiếu, hủy dự, cơ khát hàn thử, thị sự chi biến, mệnh chi hành dã. Nhật dạ tương đại hồ tiền, nhi bất tri năng quy hồ kỳ thủy giả dã. Cố bất túc dĩ cốt hòa, bất khả nhập vu linh phủ. [Trang Tử, Sung Phù]

死生存亡, 窮達貧富, 賢與不肖, 毀譽, 饑渴寒暑, 是事之變, 命之行也。 日夜相代乎前, 而不知能規乎其始者也。 故不足以滑和, 不可入于靈府。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Chết và sống, còn và mất, khốn cùng và hanh thông, nghèo và giàu, hiền tài và bất tài, phỉ báng và khen ngợi, đói và khát, lạnh và nóng, tất cả các biến đổi của sự vật này đều là sự vận hành của thiên mệnh. Ngày đêm chúng luân phiên thay nhau, mà ta không nhìn thấy được đầu mối của chúng. Chúng chưa đủ để khuấy rối sự yên tĩnh của ta, hoặc xâm nhập vào tâm linh của ta.

123. Thiên hạ hữu đại giới nhị:  kỳ nhất mệnh dã, kỳ nhất nghĩa dã. Tử chi ái thân, mệnh dã, bất khả giải vu tâm;  Thần chi sự quân, nghĩa dã, vô thích nhi phi quân dã, vô sở đào vu thiên địa chi gian. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

天下有大戒二:  其一命也, 其一義也。 子之愛親, 命也, 不可解于心; 臣之事君, 義也, 無適而非君也, 無所逃于天地之間。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Đời có hai phép tắc:  mệnh và nghĩa. Con yêu thương cha mẹ, đó là mệnh;  lòng con không thể xao lãng. Bầy tôi phụng sự vua, đó là nghĩa;  họ đi đâu cũng có vua [cai trị], không thể nào chạy thoát trong cõi trời đất.

124. Tử sinh, mệnh dã, kỳ hữu dạ đán chi thường, thiên dã. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

死生, 命也, 其有夜旦之常, 天也。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Chết và sống là do số mệnh;  sự thường hằng của đêm và ngày là do trời vậy.

125. Tri cùng chi hữu mệnh, tri thông chi hữu thời, lâm đại nạn nhi bất cụ giả, thánh nhân chi dũng dã. [Trang Tử, Thu Thủy]

知窮之有命, 知通之有時, 臨大難而不懼者, 聖人之勇也。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Biết rằng khốn cùng là định mệnh, biết rằng hanh thông là do gặp thời, lâm đại nạn mà không sợ hãi, đó là cái dũng của thánh nhân.

126. Đạt sinh chi tình giả khôi, đạt vu tri giả tiếu, đạt đại mệnh giả tuỳ, đạt tiểu mệnh giả tao. [Trang Tử, Liệt Ngự Khấu]

達生之情者傀, 達于知者肖, 達大命者隨, 達小命者遭。 《莊子 • 列御寇》

【Dịch】 Hiểu tình lý của cuộc sống vĩ đại, hiểu tri thức con người nhỏ bé, hiểu đạo thuận lợi, hiểu việc đời trắc trở.

127. Mạc tri kỳ sở chung, nhược chi hà kỳ vô mệnh dã? Mạc tri kỳ sở thủy, nhược chi hà kỳ hữu mệnh dã? [Trang Tử, Ngụ Ngôn]

莫知其所終, 若之何其無命也? 莫知其所始, 若之何其有命也? 《莊子 • 寓言》

【Dịch】 Không ai biết mình sẽ chết khi nào, thì dựa vào đâu mà nói là không có số mệnh? Không ai biết sự sống của mình đã bắt đầu thế nào, thì dựa vào đâu mà nói là có số mệnh?

128. Tri bất khả nại hà giả mệnh dã nhi an chi, tắc vô ai vô lạc, hà dị thi chi hữu tai? Cố minh nhiên dĩ sở ngộ vi mệnh, nhi bất thi tâm vu kỳ gian;  dẫn nhiên dữ chí đương vi nhất, nhi vô hưu thích vu kỳ trung. [Quách Tượng, Trang Tử, Nhân Gian Thế chú]

知不可奈何者命也而安之, 則無哀無樂, 何易施之有哉? 故冥然以所遇為命, 而不施心于其間; 泯然與至當為一, 而無休戚于其中。 《郭象 • 莊子 • 人間世注》

【Dịch】 Hiểu được sự việc không thể cải đổi là do định mệnh an bài, thì thản nhiên mà chấp nhận nó;  đã thế thì không lo buồn hay vui sướng. Như thế có gì mà phải thay đổi định mệnh ấy? Cho nên cứ lặng lẽ xem những gì mình gặp phải đều là định mệnh, và không động tâm giữa hai cực đoan;  cứ một lòng hợp nhất với đạo, không vui sướng hay lo buồn.

129. Mệnh phi kỷ chế, cố vô sở dụng kỳ tâm dã. Phù an vu mệnh giả vô vãng nhi phi tiêu dao hĩ. Cố tuy Khuông, Trần, Dũ lý, vô dị vu tử cực nhàn đường dã. [Quách Tượng, Trang Tử, Thu Thủy chú]

命非己制, 故無所用其心也。 夫安于命者無往而非逍遙矣。 故雖匡、陳 、羑里, 無異紫極閑堂也。 《郭象 • 莊子 • 秋水注》

【Dịch】 Định mệnh đâu phải cái mà ta tạo ra, nên ta không cần dụng tâm biến đổi. Cho nên kẻ an mệnh (vâng theo mệnh trời) đi đâu cũng cảm thấy tiêu dao tự tại. Tuy bị giam hãm nơi nước Khuông, nước Trần (như Khổng Tử) hay lao lung nơi Dũ lý (như Văn Vương) thì cũng [cảm thấy] chẳng có gì khác giữa chốn cung điện và nơi lao tù.

130. Thánh nhân bão nhất vi thiên hạ thức [Đạo Đức Kinh, chương 22]

聖人抱一為天下式。 《道德經 • 第二十二章》

【Dịch】 Thánh nhân ôm giữ cái Một (Đạo), để làm mẫu mực cho thiên hạ.

131. Nhân chi sinh dã tâm tải hồn phách, hồn thị dương thần, dương thần dục nhân sinh;  phách thị âm quỷ, âm quỷ dục nhân tử. Cố Lão Tử giáo nhân doanh vệ chi pháp. Doanh vệ chi pháp bất sử vọng xuất cấu họa dã. Doanh vệ chi pháp vô quá bão nhất. Nhất, chuyên nhất dã. Bão chuyên nhất chi tâm, phách cố vô do ly thân, hậu vu tiền cảnh dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Kinh tân chú]

人之生也心載魂魄, 魂是陽神, 陽神欲人生; 魄是陰鬼, 陰鬼欲人死。 故老子教人營衛之法。 營衛之法不使妄出構禍也。 營衛之法無過抱一。 一專一也。 抱專一之心, 魄故無由離身, 後于前境也。 《道藏 • 道德經新注》

【Dịch】 Trong sự sống của con người, tâm chuyên chở hồn và phách. Hồn là dương thần, dương thần muốn con người sống. Phách là âm quỷ, âm quỷ muốn con người chết. Cho nên Lão Tử dạy con người cách hộ vệ. Cách hộ vệ này nhằm ngăn cho vọng tâm khởi xuất và gây họa. Cách hộ vệ này chẳng qua là giữ lấy một. Một là chuyên nhất. Một lòng ôm giữ sự chuyên nhất, thì phách không có lý do gì để rời khỏi thân con người, tức là con người không thể chết.

132. Duy nhất năng tồn tinh, duy tinh năng tập thần. Nhất giả hà dã? Thành cơ thị dĩ. Nhất chi tinh thông, thần cố tự toàn, hữu thần cố tự toàn, hữu tinh nhi hậu thần tùng chi dã. Duy thiên hạ chi chí tinh, năng vi thiên hạ chi chí thần, bão nhất nhi dĩ, thánh nhân tận thử hĩ. Nhất nhi bất biến giả, tắc thậm chân chi tinh nội bảo nhi bất đãng. [Đạo Đức Chân Kinh sớ nghĩa]

惟一能存精, 惟精能集神。 一者何也? 誠幾是已。 一之精通, 神固自全, 有神固自全, 有精而後神從之也。 惟天下之至精, 能為天下之至神, 抱一而已, 聖人盡此矣。 一而不變者, 則甚真之精內保而不蕩。 《道德真經疏義》

【Dịch】 Chỉ khi nào ta có Một thì mới bảo tồn được tinh. Chỉ khi nào ta có tinh thì mới tập trung được thần. Một là gì? Đó là sự tiếp cận được chân tâm. Thông hiểu được Một thì thần kiên cố và tự bảo toàn. Nói có thần kiên cố và tự bảo toàn tức là nói phải có tinh rồi sau thần mới kiên cố. Chỉ khi nào người ta có chí tinh thì mới có thể có chí thần, tức là việc ôm giữ Một đã thành. Thánh nhân nhờ đã giữ Một mà thành thánh nhân. Một không thay đổi, thì cái tinh rất chân thuần sẽ được bảo tồn bên trong và sẽ không phóng túng tiết lậu ra ngoài.

133. Tất dục toàn nhữ hình nhi vô dao nhữ tinh, quả hà đạo nhi chí chi hồ? Thật tại vu trí nhất dĩ chuyên chi, bão nhất dĩ bảo chi, thủ nhất dĩ cố chi, nhiên hậu hình toàn thần phục, dữ thiên vi nhất, tinh dữ thần hợp nhi bất ly hĩ. «Dịch» viết ngôn trí nhất dã. Trí nhất tắc dụng chí bất phân dã, cố bất nhị. «Kinh» viết:  bão nhất năng vô ly hồ? Bão nhất tắc thiện bão bất thoát hĩ, cố bất ly. Trang Tử viết:  Ngã thủ kỳ nhất dĩ xử kỳ hoà, thủ nhất tắc tĩnh chuyên nhi bất lưu hĩ, cố bất thiên. Tri thử tam giả, tư khả dĩ đắc nhất. Nhiên đắc chi phi gian, tri kỳ nhất chi vi gian, năng tri nhất tắc vô nhất chi bất tri, sở vị thiểu tắc đắc thị dã;  bất năng tri nhất tắc vô nhất chi năng tri, sở vị đa tắc hoặc thị dã. Tích chi đắc nhất giả, thể thiên hạ chi chí tinh, hợp thiên hạ chi chí thần siêu nhiên độc lập vu vạn vật chi thượng, vật vô đắc nhi ngẫu chi giả, giai bất ly vu nhất nhi dĩ. [Đạo Đức Chân Kinh sớ nghĩa]

必欲全汝形而無搖汝精, 果何道而致之乎? 實在于致一以專之, 抱一以保之, 守一以固之, 然後形全神復, 與天為一, 精與神合而不離矣。 易曰言致一也, 致一則用志不分也, 故不二。 經曰:  抱一則無離乎? 抱一則善抱不脫矣, 故不離。 莊子曰:  我守其一以處其知, 守一則靜專而不流矣, 故不遷。 知此三者, 斯可以得一。 然得之非艱, 知其一之為艱, 能知一則無一之不知, 所謂少則得是也; 不能知一則無一之能知, 所謂多則惑是也。 昔之得一者, 體天下之至精, 合天下之至神超然獨立于萬物之上, 物無得而偶之者, 皆不離于一而已。 《道德真經疏義》

【Dịch】 Ngươi tất muốn bảo toàn hình thể và không dao động tinh của mình, quả thực có cách thức nào để đạt được điều đó không? Thực tế, ngươi phải chuyên tập trung vào Nhất, ôm giữ nó để bảo toàn nó. Ôm giữ Nhất để củng cố nó, rồi sau đó hình thể sẽ toàn vẹn và thần sẽ phục hồi, sẽ hợp nhất với trời, tinh và thần sẽ hợp lại và không lìa nhau nữa. Kinh Dịch nói:  «Đạt được Nhất.» Đạt được Nhất thì dụng tâm sẽ không bị phân tán, nên gọi là «không có hai» (bất nhị). Đạo Đức Kinh hỏi:  «Phải chăng ôm giữ Nhất thì không phân ly?» Ôm giữ Nhất thì thì giỏi giữ lấy không cho nó thoát, cho nên gọi là «không phân ly» (bất ly). Trang Tử nói:  «Ta giữ lấy Nhất để ở chỗ thái hòa.» Giữ nhất ắt sẽ bình tĩnh và chuyên chú, và nó không trôi mất, cho nên gọi là «không di dời» (bất thiên). Biết được 3 điều đó (bất nhị, bất ly, bất thiên), thì ngươi sẽ được Nhất (tức đắc đạo). Tuy nhiên, được Nhất thì không khó, biết được Nhất mới là khó. Hễ biết Nhất, thì cái gì cũng biết. Cho nên nói «biết ít thì sẽ được» là vậy. Không biết được Nhất, thì mọi thứ gì cũng không biết. Cho nên nói «biết nhiều thì bị nghi hoặc» là vậy. Bậc đắc đạo ngày xưa, thể hiện sự chí tinh của thiên hạ, hợp được sự chí thần của thiên hạ, siêu vượt cõi tự nhiên, và đứng một mình trên cả vạn vật. Vạn vật không đắc Nhất mà đứng thành đôi thành cặp, tuy nhiên chúng cũng không xa lìa Nhất (tức Đạo).

134. Ngôn nhân năng bão nhất sử bất ly thân, tắc trường tồn. Nhất giả, đạo thủy sở sinh, thái hòa chi tinh khí dã, cố viết nhất, Nhất bố vu thiên hạ, thiên đắc nhất dĩ thanh, địa đắc nhất dĩ ninh, hầu vương đắc nhất dĩ vi chính. [Lão Tử, Hà Thượng Công chú]

言人能抱一使不離身, 則長存。 一者, 道始所生, 太和之精氣也, 故曰一。 一布于天下, 天得一以清, 地得一以寧, 侯王得一以為正。 《老子河上公注》

【Dịch】 Đó là nói người ôm giữ được Nhất và không để nó lìa xa mình, thì sống lâu. Nhất vốn do đạo sinh ra đầu tiên, nó là thứ tinh khí thái hòa, nên gọi là Nhất. Nhất rải khắp thiên hạ. Trời nhờ được nhất mà trong trẻo, đất nhờ được Nhất mà yên ổn, hầu và vương nhờ được Nhất mà cai trị được thiên hạ.

135. Phù thủ nhất giả, khả dĩ độ thế, khả dĩ tiêu tai, khả dĩ sự quân, khả dĩ bất tử, khả dĩ lý gia, khả dĩ sự thần minh, khả dĩ bất cùng khốn, khả dĩ lý bệnh, khả dĩ trường sinh, khả dĩ cửu thị. […] Tử tri nhất, vạn sự tất hĩ. [Thái Bình Kinh Thánh Quân bí chỉ]

夫守一者, 可以度世, 可以消災, 可以事君, 可以不死, 可以里家, 可以事神明, 可以不窮困, 可以里病, 可以長生, 可以久視。 …子知一, 萬事畢矣。 《太平經聖君秘旨》

【Dịch】 Ai giữ được Nhất thì cứu độ được thế gian, tiêu trừ được tai họa, phụng sự được vua, không thể chết nổi, cai trị được gia đạo, phụng sự được thần minh, không thể nào khốn cùng, trị được bệnh, trở nên trường sinh bất tử. […] Ngươi biết được Nhất, thì sẽ biết hết mọi sự.

136. Thủ nhất tồn chân, nãi năng thông thần;  thiểu dục ước thực, nhất nãi lưu tức;  bạch nhận lâm cảnh, tư nhất đắc sinh;  tri nhất bất nan, nan tại vu chung;  thủ chi bất thất, khả dĩ vô cùng. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, chương Địa Chân]

守一存真, 乃能通神; 少欲約食, 一乃留息; 白刃臨頸, 思一得生; 知一不難, 難在于終; 守之不失, 可以無窮。 《葛洪 • 抱朴子 • 地真》

【Dịch】 Hễ giữ được Nhất và bảo tồn Chân tính, ta sẽ giao tiếp được với thần minh. Hễ giảm dục vọng và tiết chế ăn uống, Nhất sẽ lưu lại nơi ta. Khi bị dao bén kề cổ, nghĩ đến Nhất thì ta sẽ sống. Biết Nhất không khó, chung cuộc mới là khó. Hễ giữ Nhất đừng để mất, ta sẽ không bao giờ cùng tận.

137. Đạo khởi vu nhất, kỳ quý vô ngẫu, các cư nhất xứ, dĩ tượng thiên, địa, nhân. Cố viết tam nhất dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, chương Địa Chân]

道起于一, 其貴無偶, 各居一處, 以象天地人, 故曰三一也。 《葛洪 • 抱朴子 • 地真》

【Dịch】 Đạo khởi từ Nhất, sự tôn quý của nó thì không gì sánh bằng. Mọi thứ ở trong Nhất được phân thành ba đối tượng là trời, đất, và người. Cho nên mới gọi là «ba trong một» (tam nhất).

138. Đạo thuật chư kinh sở tư tồn niệm tác, khả dĩ khước ác phòng thân giả, nãi hữu sổ thiên pháp. Như hàm ảnh tàng hình, cập thủ hình vô sinh, cửu biến thập nhị hoá, nhị thập tứ sinh đẳng, tư kiến thân trung chư thần, nhi nội thị lịnh kiến chi pháp, bất khả thắng kế, diệc các hữu hiệu dã. Nhiên hoặc nãi tư tác sổ thiên vật dĩ tự vệ, suất đa phiền nan, túc dĩ đại lao nhân ý. Nhược tri thủ nhất chi đạo, tắc nhất thiết trừ khí thử bối. Cố viết «Năng tri nhất tắc vạn sự tất» giả dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, chương Địa Chân]

道術諸經所思存念作, 可以卻惡防身者, 乃有數千法。 如含影藏形, 及守形無生, 九變十二化, 二十四生等, 思見身中諸神, 而內視令見之法, 不可胜計, 亦各有效也。 然或乃思作數千物以自衛, 率多煩難, 足以大勞人意。 若知守一之道, 則一切除棄此輩, 故曰:  能知一則萬事畢者也。 《抱朴子 • 地真》

【Dịch】 Những đạo thuật được chỉ dẫn trong Đạo kinh thì rất nhiều, có mấy ngàn phép thuật, mà nhờ việc tập trung tư tưởng người ta có thể xua tà quái và hộ thân. Thí dụ như phép ẩn độn giấu mình, phép giả chết, phép biến hình (9 biến 12 hoá), phép chuyển sinh (24 lần sinh), v.v… cho đến phép tồn tưởng để nhìn thấy chư thần cư ngụ trong thân thể của ta. Các phép này nhiều vô kể, mà phép nào cũng hiệu nghiệm. Nhưng đôi khi cái ý nghĩ mượn vô số ngoại vật để hộ thân đều là phiền phức, làm lao nhọc tâm trí con người. Nếu như ta biết đạo «thủ Nhất» thì các phép nói trên đều vất đi hết. Cho nên mới nói hễ biết được Nhất thì sẽ biết hết mọi thứ là vậy.

139. Nhân năng thủ nhất, nhất diệc thủ nhân. Sở dĩ bạch nhận thố kỳ nhuệ, bách hại vô sở dung kỳ hung, cư bại nhi thành, tại nguy độc an dã. Nhược tại quỷ miếu chi trung, sơn lâm chi hạ, đại dịch chi địa, trủng mộ chi gian, hổ lang chi tẩu, xà phúc chi xứ, thủ nhất bất đãi, chúng ác tiến viễn. [Bão Phác Tử, chương Địa Chân]

人能守一, 一亦守人。 所以白刃措其銳, 百害無所容其凶, 居敗而成, 在危獨安也。 若在鬼廟之中, 山林之下, 大疫之地, 冢墓之間, 虎狼之藪, 蛇蝮之處, 守一不怠, 眾惡遠進。 《葛洪 • 抱朴子 • 地真》

【Dịch】 Người giữ được Nhất, thì Nhất cũng giữ được người. Thế thì gươm đao sắc bén không có chỗ để thi thố sự sắc bén của nó, trăm nguy hại không có chỗ để dung chứa sự hung ác của chúng. Ta đang ở chỗ thất bại thì sẽ thành công, đang ở chỗ nguy hiểm thì riêng mình bình an. Dù đang ở miếu quỷ, nơi núi cao rừng thẳm, trong vùng bệnh dịch, ở gò mả tha ma, trong hang cọp hay chó sói, hay nơi rắn rít độc xà, mà ta vẫn một lòng giữ Nhất, mọi tai họa hung dữ sẽ tránh xa ta.

140. Tam nhất quyết vân:  tu luyện nguyên khí chân thần, tam nhất tồn chí giả, tức tinh hoá vi thần, thần hoá vi anh nhi, anh nhi hoá vi chân nhân, chân nhân hoá vi xích tử, xích tử nãi chân nhất dã. [Vân Cấp Thất Thiêm, Nguyên Khí Luận]

三一訣云:  修煉元氣真神, 三一存至者, 即精化為神, 神化為嬰兒, 嬰兒化為真人, 真人化為赤子, 赤子乃真一也。 《雲笈七簽 • 元氣論》

【Dịch】 Bí quyết Ba-Một là:  phải luyện nguyên khí và chân thần. Hễ giữ bí quyết Ba-Một đến mức tối cao, thì tinh sẽ hoá ra thần, thần sẽ hoá ra anh nhi, anh nhi sẽ hoá ra chân nhân, chân nhân sẽ hoá ra xích tử;  mà xích tử tức là chân nhất (tức là Đạo).

141. Trường sinh phi tiên tắc duy kim đan, thủ hình khước lão tắc độc chân nhất, cố tiên nhân trọng yên. Phàm chư tư tồn, nãi hữu thiên sổ dĩ tự vệ, suất đa phiền tạp lao nhân. Nhược tri thủ nhất chi đạo, tắc nhất thiết bất tu dã. [Vân Cấp Thất Thiêm, Nhiếp Sinh Chẩm Trung chú, Thủ Nhất]

長生飛仙則唯金丹, 守形卻老則獨真一, 故仙人重焉。 凡諸思存, 乃有千數以自衛, 率多煩雜勞人。 若知守一之道, 則一切不須也。 《雲笈七簽 • 攝養枕中注 • 守一》

【Dịch】 Muốn trường sinh thành tiên thì chỉ có ăn kim đan;  còn muốn giữ được hình hài, trừ khử già nua thì chỉ có chân nhất. Chúng là các thứ mà người học đạo tiên coi trọng. Dưỡng sinh ích thọ thì có hàng ngàn phương pháp, nhưng đại đa số là gây phiền tạp và lao nhọc. Nếu biết đạo Thủ Nhất, mọi phương pháp kia đều không cần nữa.

142. Nhất vô hình tượng, vô dục vô vi. Cầu chi nan đắc, thủ chi dị thất. Thất do thức ám, bất năng thời minh;  tham dục trệ tâm, trí chiêu suy lão;  đắc hỉ thất sân, trí chiêu tật bệnh;  mê trước bất cải, trí chiêu tử một. Suy hoạn cập lão, tam nhất sở diên;  trị cứu bảo toàn, duy tiên thủ nhất. Phi nhất bất cứu, phi nhất bất thành. Thủ nhất điềm đạm, di tâm tịch mịch, tổn dục chiết sân, phản mê nhập chính, khuếch nhiên vô vi, dữ nhất vi nhất, thử nãi thượng nhân, tiên thân tích đức sở trí dã. [Vân Cấp Thất Thiêm, Bí yếu Quyết Pháp, Thủ Nhất]

一無形象, 無欲無為。 求之難得, 守之難失, 失由識暗, 不能時明; 貪欲滯心, 致招衰老; 得喜失嗔, 致招疾病; 迷著不改, 致招死歿。 衰患及老, 三一所延; 治救保全, 惟先守一。 非一不救, 非一不成。 守一恬淡, 夷心寂寞, 損欲折嗔, 返迷入正, 廓然無為, 與一為一, 此乃上人, 先身積德所致也。 《雲笈七簽 • 秘要訣法 • 守一》

【Dịch】 Nhất không có hình tượng. Nhất thì vô dục, vô vi. Ta cầu mong thì khó được;  nếu có giữ lấy thì cũng dễ mất. Mất đi là do kiến thức tối tăm, do không hiểu chữ thời. Lòng đầy tham dục sẽ dẫn đến lão suy;  vui do được và giận do mất sẽ dẫn đến tật bệnh;  mê muội không sửa đổi sẽ dẫn đến tử vong. Suy kiệt, bệnh hoạn, và già nua, ba thứ ấy Nhất có thể làm trì hoãn. Muốn cứu chữa để bảo toàn thân thể, trước tiên ta thủ Nhất (giữ Một). Ngoài Nhất ra thì không có gì cứu chữa nổi. Ngoài Nhất ra thì không có gì thành tựu nổi. Ta thủ Nhất và điềm đạm, lòng an bình tĩnh mịch, bỏ ham muốn và sân giận, bỏ mê vọng mà quay về chân chính. Tâm rỗng không, vô vi, hợp nhất với Nhất. Như thế sẽ thành bậc thượng nhân. Được như thế là do trước tiên tích đức, sau mới tu luyện thân xác.

143. Cổ kim yếu đạo, giai ngôn thủ nhất khả dĩ trường tồn nhi bất lão. Nhân tri thủ nhất, danh vi vô cực chi đạo. Nhân hữu nhất thân, dữ tinh thần thường hợp tịnh dã. Hình giả nãi chủ tử, tinh thần giả nãi chủ sinh. Thường hợp tắc cát, khứ tắc hung. Vô tinh thần tắc tử, hữu tinh thần tắc sinh. Thường hợp tức vi nhất, khả dĩ trường tồn dã. Thường hoạn tinh thần ly tán, bất tụ vu thân trung, phản chi sử tùy nhân niệm nhi du hành dã. Cố thánh nhân giáo kỳ thủ nhất, ngôn đương thủ nhất thân dã. Niệm nhi bất hưu, tinh thần tự lai, văn bất tương ứng, bách bệnh tự trừ, thử tức trường sinh cửu thị chi phù dã. [Thái Bình Kinh kinh sao, bộ Nhâm]

古今要道, 皆言守一可以長存而不老。 人知守一, 名為無極之道。 人有一身與精神常合并也。 形者乃主死, 精神者乃主生。 常合則吉, 去則凶。 無精神則死, 有精神則生。 常合即為一, 可以長存也。 常患精神離散, 不聚于身中, 反之使隨人念而游行也。 故聖人教其守一, 言當守一身也。 念而不休, 精神自來, 聞不相應, 百病自除, 此即長生久視之符也。 《太平經經鈔 • 壬部》

【Dịch】 Cái yếu chỉ của sự tu luyện xưa nay đều nói hễ Thủ Nhất thì có thể trường sinh bất lão. Người biết Thủ Nhất, gọi nó là đạo vô cực. Người ta có một thân, cùng hợp với tinh thần. Hình thể làm chủ sự chết, còn tinh thần làm chủ sự sống. Hình thể và tinh thần hợp lại thì tốt, tách ra thì xấu. Không có tinh thần thì ta chết. Có tinh thần thì ta sống. Thường hợp với nhau nên gọi là Nhất, có thể trường tồn. Thường lo nghĩ thì tinh thần ly tán, không tụ trong thân, trái lại còn nương theo ý nghĩ của ta mà rong chơi. Cho nên thánh nhân dạy phải Thủ Nhất, nói là phải giữ tinh thần và thể xác hợp nhất. Luôn có ý niệm đó thì tinh thần tự quay về, không bị ngoại vật (kiến văn) quấy nhiễu, trăm bệnh tự hết. Đó là đạo trường sinh cửu thị vậy.

——————
**********************

7. HƯ TĨNH 虛 靜 – CẦU CHÂN 求 真

144. Chí hư cực, thủ tĩnh đốc. Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục. Phù vật vân vân, các qui kỳ căn. Qui căn viết tĩnh. Tĩnh viết phục mạng. Phục mạng viết thường. Tri thường viết minh. Bất tri thường, vọng tác, hung. Tri thường dung, Dung nãi công, Công nãi vương, Vương nãi thiên. Thiên nãi Đạo. Đạo nãi cửu. Một thân bất đãi. [Đạo Đức Kinh, chương 16]

至虛極, 守靜篤。 萬物并作, 吾以觀其復。 夫物芸芸, 各歸其根。 歸根曰靜, 靜曰復命。 復命曰常, 知常曰明。 不知常, 妄作, 凶。 知常容, 容乃公, 公乃王, 王乃天, 天乃道, 道乃久, 沒身不殆。 《道德經 • 第十六章》

【Dịch】 Hãy đạt sự hư không tới cực độ, và giữ sự yên tĩnh rất kiên định. Vạn vật cùng sinh, ta nhân đó xem chúng trở về. Vạn vật trùng trùng đều trở về cội. Trở về cội là tĩnh;  tĩnh là phục mệnh;  phục mệnh tức là thường hằng. Biết thường hằng mới là sáng suốt. Không biết thường hằng sẽ làm càn và gây hung họa. Biết thường hằng sẽ bao dung;  bao dung thì công chính không tư vị;  công chính không tư vị là vua;  vua tức là Trời;  Trời là Đạo;  [hợp với] Đạo thì trường cửu, thân dù mất đi cũng chẳng nguy hại gì.

145. Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo quân. [Đạo Đức Kinh, chương 26]

重為輕根, 靜為躁君。 《道德經 • 第二十六章》

【Dịch】 Nặng là gốc của nhẹ. Tĩnh là chủ của động.

146. Bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự định. [Đạo Đức Kinh, chương 37]

不欲以靜, 天下將自定。 《道德經 • 第三十七章》

【Dịch】 Không ham muốn để yên tĩnh, do đó thiên hạ sẽ tự ổn định.

147. Táo thắng hàn. Tĩnh thắng nhiệt. Thanh tĩnh vi thiên hạ chính. [Đạo Đức Kinh, chương 45]

躁勝寒, 靜勝熱, 清靜為天下正。 《道德經 • 第四十五章》

【Dịch】 Động thắng lạnh, tĩnh thắng nóng. Thanh tĩnh vô vi là chuẩn tắc của thiên hạ.

148. Nhược nhất chí, vô thính chi dĩ nhĩ nhi thính chi dĩ tâm;  vô thính chi dĩ tâm nhi thính chi dĩ khí. Thính chỉ vu nhĩ, tâm chỉ vu phù. Khí dã giả, hư nhi đãi vật giả dã. Duy đạo tập hư. Hư giả, tâm trai dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

若一志, 無聽之以耳而聽之以心; 無聽之以心而聽之以氣。 聽止于耳, 心止于符。 氣也者, 虛而待物者也。 唯道集虛。 虛者, 心齋也。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Ngươi hãy tập trung tâm trí, loại trừ tạp niệm. Đừng nghe bằng tai, mà phải nghe bằng tâm. Sau đó chớ nghe bằng tâm, mà phải nghe bằng khí. Tai không nghe âm thanh bên ngoài. Tâm không tưởng đến sự vật bên ngoài. Khí vốn hư không, nên lấy nó mà tiếp đãi sự vật. Chỉ có Đạo tập trung trong hư không. Hư không là tâm trai (chay lòng).

149. Thánh nhân chi tĩnh dã, phi viết tĩnh dã thiện, cố tĩnh dã;  vạn vật vô túc dĩ nhiêu tâm dã, cố tĩnh dã. Thủy tĩnh tắc minh chúc tu mi, bình trúng chuẩn, đại tượng thủ pháp yên. Thủy tĩnh do minh, nhi huống tinh thần! Thánh nhân chi tâm tĩnh hồ? Thiên địa chi giám dã, vạn vật chi kính dã. Phù hư tĩnh điềm đạm, tịch mịch vô vi giả, thiên địa chi bình nhi đạo đức chi chí dã. Cố đế vương thánh nhân hưu yên. Hưu tắc hư, hư tắc thực, thực tắc luân hĩ. Hư tắc tĩnh, tĩnh tắc động, động tắc đắc hĩ. Tĩnh tắc vô vi, vô vi dã, tắc nhậm sự giả trách hĩ. [Trang Tử, Thiên Đạo]

聖人之靜也, 非曰靜也善, 故靜也; 萬物無足以饒心者, 故靜也。 水靜則明燭鬚眉, 平中準, 大匠取法焉。 水靜猶明, 而況精神! 聖人之心靜乎? 天地之鑒也, 萬物之鏡也。 夫虛靜恬淡, 寂寞無為者, 天地之平而道德之至也。 故帝王聖人休焉。 休則虛, 虛則實, 實則倫矣。 虛則靜, 靜則動, 動則得矣。 靜則無為, 無為也, 則任事者責矣。 《莊子 • 天道》

【Dịch】 Sự tĩnh lặng của thánh nhân không phải do quan niệm tĩnh lặng là tốt mà do vạn vật không quấy nhiễu nổi tâm của họ. Mặt nước tĩnh lặng soi rõ được râu và chân mày con người. Sự tĩnh lặng của mặt nước trở thành tiêu chuẩn cho người thợ làm việc. Nước tĩnh lặng còn soi sáng được huống hồ tinh thần. Tâm của thánh nhân tĩnh lặng thì thế nào? Đó là tấm gương soi của trời đất và của vạn vật. Nói chung, sự hư tĩnh, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là sự bình lặng của trời đất và là sự tối cao của đạo đức. Cho nên đế vương và thánh nhân yên tĩnh, yên tĩnh thì hư, hư thì thực, thực là đạo lý tự nhiên. Hư thì tĩnh, tĩnh thì động, động thì được. Tĩnh thì vô vi, vô vi thì người nhận trách nhiệm sẽ có trách nhiệm.

150. Thường năng khiển kỳ dục nhi tâm tự tĩnh, trừng kỳ tâm nhi thần tự thanh. [Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh]

常能遣其欲而心自靜, 澄其心而神自清。 《太上老君說常清靜經》

【Dịch】 Thường xuyên trừ bỏ dục vọng thì tâm tự yên tĩnh, làm cho tâm tĩnh lặng thì thần tự trong trẻo.

151. Phù đạo giả, hữu thanh trọc, hữu động tĩnh. Thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh. Nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh. Giáng bản lưu mạt, nhi sinh vạn vật. Thanh giả trọc chi nguyên, trọc giả thanh chi cơ. Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy. [Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh]

夫道者, 有清濁, 有動靜。 天清地濁, 天動地靜。 男清女濁, 男動女靜。 降本流末, 而生萬物。 清者濁之源, 濁者清之基。 人能常清靜, 天地悉皆歸。 《太上老君說常清靜經》

【Dịch】 Đạo có trong có đục, có động có tĩnh. Trời trong đất đục, trời động đất tĩnh. Nam trong nữ đục, nam động nữ tĩnh. Đạo giáng xuống, và âm dương giao nhau sinh thành vạn vật. Trong là nguồn của đục, đục là cơ sở của trong. Ta thường thanh tĩnh thì vạn vật đều trở về trong ta.

152. Bất tạp nhi thanh, bão thần nhi tĩnh, thiên hạ tương tự chính. [Tống Huy Tông ngự giải Đạo Đức Chân Kinh, chương 45]

不雜而清, 抱神而靜, 天下將自正。 《宋徽宗御解道德真經 • 第四十五章》

【Dịch】 Không tạp niệm mà trong trẻo, giữ lấy thần mà ninh tĩnh. Thiên hạ sẽ tự trở nên công chính.

153. Hữu đạo chi sĩ, tức động nhi tĩnh, thời sính nhi yêu, kỳ túc định nhi năng ứng, chí vô nhi cung kỳ cầu. Cố tĩnh chi từ thanh, nhi vật mạc năng trọc;  động chi từ sinh, nhi vật mạc năng an. “Dịch” viết:  Lai từ từ giả, an hành nhi tự thích chi ý. Chí nhân chi dụng tâm, phi tĩnh chỉ vi thiện nhi hữu ý vu tĩnh, phi dĩ sinh xuất vi công nhi hữu vi vu sinh dã. Nhân kỳ cố nhiên phó chi, tự nhĩ nhi vô truật bách chi tình, hoàng cự chi lao yên, cố viết từ. Tĩnh chi từ thanh, vạn vật vô túc dĩ nhiễu kỳ tâm, cố thục năng trọc. Động chi từ sinh, vạn vật vô túc dĩ hệ kỳ lự, cố thục năng an. An hữu chỉ chi ý;  vi vạn vật sở hệ tắc chỉ hĩ, khởi năng ứng vật nhi bất thương. [Tống Huy Tông ngự giải Đạo Đức Chân Kinh, chương 15]

有道之士, 即動而靜, 時騁而要, 其宿定而能應, 至無而供其求。 故靜而徐清, 而物莫能濁; 動之徐生, 而物莫能安。 易曰:  來徐徐者, 安行而自適之意。 至人之用心, 非靜止為善而有意于靜, 非以生出為功而有為于生也。 因其固然付之, 自爾而無怵迫之情, 遑遽之勞焉, 故曰徐。 靜之徐清, 萬物無足以繞其心, 故孰能濁。 動之徐生, 萬物無足以系其慮, 故孰能安。 安有止之意; 為物所系則止矣, 豈能應物而不傷。 《宋徽宗御解道德真經 • 第十五章》

【Dịch】 Bậc có đạo, tuy động mà lại tĩnh, tuy rong ruổi mà khống chế được, tuy giữ an định mà vẫn ứng phó được, tuy không có gì mà vẫn cung ứng được yêu cầu của ngoại giới. Cho nên hễ ta yên tĩnh thì từ từ thanh trong, ngoại vật không thể làm cho ta đục. Hễ ta động thì từ từ phát sinh, nhưng ngoại vật không thể làm ta an định. Dịch Kinh nói:  “Người đến từ từ, đi đứng an nhiên mà tự thích ứng.” Sự dụng tâm của bậc chí nhân, không phải tĩnh vì cho rằng tĩnh là tốt, không phải động vì cho rằng sinh xuất là có công, mà chỉ là vận dụng cái bản tính tự nhiên để đối đãi động và tĩnh, tự bản thân không bị tình cảm lôi kéo vì lợi hay hại, và cũng không phải lao nhọc gấp gáp. Do đó mới nói là từ từ. Họ an tĩnh rồi từ từ thanh trong, vạn vật không quấy nhiễu nổi tâm họ, cho nên ai mà làm đục họ cho được? Họ động rồi từ từ phát sinh, vạn vật không khiến cho họ âu lo được, cho nên ai mà làm cho họ an định được? An định là ngụ ý dừng lại, vì vạn vật làm cho hệ lụy nên mới dừng lại. Lẽ nào đối ứng ngoại vật lại không bị tổn thương?

154. Mạc quý hồ hư, mạc thiện hồ tĩnh, hư tĩnh giả vạn vật chi bản dã. Hư cố túc dĩ thụ quần thực, tĩnh cố túc dĩ ứng quần động. Cực giả, chúng hội nhi hữu sở chí;  đốc giả, lực hành nhi hữu sở chí. Chí hư nhi yếu kỳ cực, thủ tĩnh nhi chí vu đốc, tắc vạn thái tuy tạp nhi ngô tâm thường triệt, vạn biến tuy thù nhi ngô tâm thường tịch, thử chi vị thiên lạc, phi thể đạo giả bất túc dĩ dữ thử. [Tống Huy Tông ngự giải Đạo Đức Chân Kinh, chương 15]

莫貴乎虛, 莫善乎靜, 虛靜其萬物之本也。 虛故足以受群實, 靜故足以應群動。 極者, 眾會而有所至; 篤者, 力行而有所至。 至虛而要其極, 守靜而至于篤, 則萬態雖雜而吾心常澈, 萬變雖殊而吾心常寂, 此之謂天樂, 非体道者不足以與此。 《宋徽宗御解道德真經 • 第十五章》

【Dịch】 Không có gì quý bằng hư, không có gì tốt bằng tĩnh. Hư tĩnh là căn bản của vạn vật. Hư nên đủ để tiếp nhận mọi cái có thực, tĩnh nên đủ để ứng phó với mọi cái động. Cái gọi là cực chính là chỗ tột cùng mà mọi thứ bất đồng hội tụ. Cái gọi là đốc chính là chỗ tột cùng mà mọi thứ cố gắng truy cầu. Chí hư thì phải đến chỗ tột cùng, giữ an tĩnh thì cũng phải đến chỗ tột cùng, thế thì muôn hiện tượng dù phức tạp nhưng tâm ta vẫn thấu triệt, muôn sự biến đổi dù khác nhau nhưng tâm ta vẫn tĩnh lặng. Đó gọi là niềm vui của trời, không phải là người đắc đạo thì không thể có được niềm vui này.

155. Phù đạo dĩ vô tâm vi thể, vong ngôn vi dụng, nhu nhược vi bản, thanh tĩnh vi cơ. Tiết ẩm thực, tuyệt tư lự, tĩnh tọa dĩ điều tức, an tẩm dĩ dưỡng khí, tâm bất trì tắc tính định, hình bất lao tắc tinh toàn, thần bất ưu tắc đan kết, nhiên hậu diệt thanh vu hư, ninh thần vu cực, bất xuất hộ đình, nhi diệu đạo hạnh hĩ. [Cam Thủy Tiên Nguyên Lục, Mã Đan Dương Đạo Hạnh Bi]

夫道以無心為体, 忘言為用, 柔弱為本, 清靜為基。 節飲食, 絕思慮, 靜坐以調息, 安寢以養氣, 心不馳則性定, 形不勞則精全, 神不憂則丹結, 然後滅清于虛, 寧神于極, 不出戶庭, 而妙道行矣。 《甘水仙源錄 • 馬丹陽道行碑》

【Dịch】 Đạo lấy vô tâm làm thể, lấy vong ngôn (quên lời) làm dụng, lấy mềm yếu làm gốc, lấy thanh tĩnh làm cơ sở. Hãy tiết chế ăn uống, dứt tư lự, khi tĩnh tọa phải đều hòa hơi thở, ngủ yên để dưỡng nguyên khí, tâm không chạy rong thì tính an định, hình thể không lao nhọc thì tinh giữ vẹn, thần không ưu lự thì kim đan sẽ kết thành, sau đó diệt dục đến chỗ hư không, tinh thần sẽ rất an tĩnh. Tuy không ra khỏi cửa mà vẫn đắc đạo kỳ diệu.

156. Chân giả, tinh thành chi chí dã. Bất tinh bất thành, bất năng động nhân. Cố cưỡng khốc giả, tuy bi bất ai;  cưỡng nộ giả, tuy nghiêm bất uy;  cưỡng thân giả, tuy tiếu bất hòa. Chân bi vô thanh nhi ai, chân nộ vị phát nhi uy, chân thân vị tiếu nhi hòa. Chân tại nội giả, thần động vu ngoại, thị sở dĩ quý chân dã. Kỳ dụng vu nhân lý dã, sự thân tắc từ hiếu, sự quân tắc trung trinh, ẩm tửu tắc hoan lạc, xử tang tắc bi ai. Trung trinh dĩ công vi chủ, ẩm tửu dĩ lạc vi chủ, sự thân dĩ thích vi chủ. Công thành chi mỹ, vô nhất kỳ tích hĩ;  sự thân dĩ thích, bất luận sở dĩ hĩ;  ẩm tửu dĩ lạc, bất tuyển kỳ cụ hĩ;  xử tang dĩ ai, vô vấn kỳ lễ hĩ. Lễ giả, thế tục chi sở vi dã;  chân giả, sở dĩ thụ vu thiên dã, tự nhiên bất khả dịch dã. Cố thánh nhân pháp thiên quý chân, bất câu vu tục. Ngu giả phản thử. Bất năng pháp thiên nhi tuất vu nhân, bất tri quý chân, lộc lộc nhi thụ biến vu tục, cố bất túc. [Trang Tử, Ngư Phụ]

真者, 精誠之至也。 不精不誠, 不能動人。 故強哭者雖悲不哀; 強怒者雖嚴不威; 強親者雖笑不和。 真悲無聲而哀, 真怒未發而威, 真親未笑而和。 真在內者, 神動于外, 是所以貴真也。 其用于人理也, 事親則慈孝, 事君則忠貞, 飲酒則歡樂, 處喪則悲哀。 忠貞以功為主, 飲酒以樂為主, 事親以適為主。 功成之美, 無一其跡矣; 事親以適不論所以矣; 飲酒以樂不選其具矣; 處喪以哀無問其禮矣。 禮者世俗之所為也; 真者所以受于天也, 自然不可易也。 故聖人法天貴真, 不拘于俗。 愚者反此。 不能法天而恤于人, 不知貴真, 祿祿而受變于俗, 故不能足。 《莊子 • 漁父》

【Dịch】 Chân là sự tinh thành rất mực. Không tinh thành thì không cảm động được người khác. Cho nên hễ khóc vờ thì bi thảm mà không đau buồn, hễ giận vờ thì nghiêm mà không có uy, hễ thân thiết vờ thì tươi cười mà không hoà đồng. Sự chân thực là ở trong tâm, tinh thần động mà phát ra ngoài, cho nên sự chân thực là quý. Vận dụng nó vào đạo lý con người thì thờ cha mẹ phải kính hiếu, thờ vua phải trung trinh, uống rượu phải vui, có tang phải đau buồn. Trung trinh lấy công trạng làm đầu, uống rượu lấy vui vẻ làm đầu, thờ cha mẹ lấy tùy thuận làm đầu. Sự tốt đẹp của thành công không chỉ có một đường lối;  thờ cha mẹ phải tùy thuận, bất kể phải làm gì;  uống rượu phải vui, không kén ấm chọn tách;  có tang phải đau buồn, không quan tâm nghi lễ. Nghi lễ là hành vi thế tục. Chân thực là nhận lãnh từ trời, nó tự nhiên mà không thể thay đổi. Cho nên thánh nhân noi theo trời mà quý sự chân thực, không câu nệ tục lệ. Kẻ ngu thì ngược lại, họ không noi theo trời, mà chỉ lo không hợp với người đời. Họ không biết quý sự chân thực. Cứ thay đổi một cách tầm thường cho hợp với đời, cho nên họ không có giá trị.

157. Ngưu mã tứ túc, thị vị thiên;  lạc mã thủ, xuyên ngưu tỵ, thị vị nhân. Cố viết:  Vô dĩ nhân diệt thiên, vô dĩ cố diệt mệnh, vô dĩ đắc tuẫn danh. Cẩn thủ nhi vật thất, thị vị phản kỳ chân. [Trang Tử, Thu Thủy]

牛馬四足, 是謂天; 落馬首, 穿牛鼻, 是謂人。 故曰:  無以人滅天, 無以故滅命, 無以得殉名。 謹守而勿失, 是謂反其真。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Trâu hoặc ngựa có bốn chân, đó là tự nhiên;  cột dây vào đầu ngựa và xỏ dây vào mũi trâu, đó là nhân tạo. Cho nên mới nói:  đừng lấy cái nhân tạo mà tiêu diệt sự tự nhiên, đừng vì sự việc mà tiêu diệt cái đã định, đừng vì muốn có danh mà chết vì danh. Giữ kỹ chớ quên ba điều ấy chính là quay về chân tính của mình.

158. Đạo ô hồ ẩn nhi hữu chân ngụy? Ngôn ô hồ ẩn nhi hữu thị phi? Đạo ô hồ vãng nhi bất tồn? Ngôn ô hồ tồn nhi bất khả? Đạo ẩn vu tiểu thành, ngôn ẩn vu vinh hoa. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

道惡乎隱而有真偽? 言惡乎隱而有是非? 道惡乎往而不存? 言惡乎存而不可? 道隱于小成, 言隱于榮華。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Đạo bị che lấp nơi đâu, khiến có chân và ngụy? Lời bị che lấp nơi đâu, khiến có thị và phi? Đạo đi đâu khiến nó không còn nữa? Lời ở đâu khiến nó không sao hiểu được? Đạo bị sự vụn vặt che lấp. Lời bị sự hoa mỹ sáo rỗng che lấp.

———————
**********************

8. TU LUYỆN 修 煉 – DƯỠNG THÂN 養 身

159. Tâm giả, nhất thân chi chủ thần chi soái dã, tĩnh nhi sinh huệ hĩ, động tắc sinh hôn hĩ. Học đạo chi sơ, tại vu phóng tâm ly cảnh, nhập vu hư vô tắc hợp vu đạo yên. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

心者, 一身之主神之帥也, 靜而生慧矣, 動而生昏矣。 學道之初, 在于放心離境, 入于虛無則合于道焉。 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Tâm là chủ của thân, thống lãnh thần. Tĩnh thì sinh trí huệ, động thì sinh hôn ám. Người bắt đầu học đạo, cần buông xả tâm, lìa ngoại cảnh, thì mới nhập vào hư vô, tức là hợp với đạo.

160. Tâm giả, phù thí mục yên, tiêm hào nhập mục tắc vị hữu năng an giả dã. Ngưu mã gia súc dã, túng chi bất mục tắc hãn đột nan ngự, ưng dao dã điểu, nhất vi hệ bạn tắc tự nhiên điều thục, ngô chi tâm diệc do thị dư? [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

心者, 夫譬目焉, 纖毫入目則未有能安者也。 牛馬家畜也, 縱之不牧則悍突難馭, 鷹鷂野鳥, 一為系絆則自然調熟, 吾之心亦猶是歟? 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Bàn về tâm, có thể lấy mắt làm thí dụ. Hễ một vật tế vi lọt vào mắt là ta cảm thấy rất khó chịu. Trâu và ngựa là gia súc. Hễ thả lỏng chúng, không chăn giữ, ắt chúng sẽ hung hãn lung tung, khó cỡi. Chim ưng, chim dao là loài hoang dã. Nếu cột trói chúng, lâu ngày ta sẽ khiến chúng thuần thục. Tâm ta cũng như thế thôi.

161. Học đạo chi sơ, yếu tu an tọa, thu tâm ly cảnh, trụ vô sở hữu, bất trước nhất vật, tự nhập hư vô, tâm nãi hợp đạo. […] Sở hữu kế niệm, tòng vọng tâm sinh, nhược khô thể hôi tâm, tắc vạn bệnh câu mẫn. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

學道之初, 要須安坐, 收心離境, 住無所有, 不著一物, 自入虛無, 心乃合道。 … … 所有計念, 從妄心生, 若枯体灰心, 則萬病俱泯。 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Bước đầu học đạo, cần phải ngồi yên, thu tâm, lìa ngoại cảnh, trụ vào chỗ không có, tâm không nghĩ đến một vật gì, như vậy tự nhiên sẽ nhập cõi hư vô, tâm sẽ hợp đạo. […] Những toan tính và tạp niệm là do vọng tâm sinh ra. Nếu thân như cây khô, lòng như tro lạnh, thì muôn bệnh ắt sẽ hết sạch.

162. Chính tâm tắc dũng sĩ dã, nhân trí quan sát tắc lợi binh dã, ngoại lụy tất trừ tắc chiến thắng dã. Trạm nhiên thường lạc tắc vinh lộc dã. Ngô bất vi thử quan, thị do ngộ địch khí giáp nhi đào. phản thụ kỳ cữu hĩ. Thị dĩ định giả trí đạo chi sơ cơ, tập tĩnh chi thành công, trì an chi tất sự dã. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

正心則勇士也, 因智觀察則利兵也, 外累悉除則戰勝也, 湛然常樂則榮祿也, 吾不為此觀, 是猶遇敵棄甲而逃, 反受其咎矣。 是以定者致道之初基, 習靜之成功, 持安之畢事也。 《道樞 • 坐忘篇上 》

【Dịch】 Ai làm cho tâm thuần chính mới là bậc dũng sĩ. Vận dụng trí huệ để quan sát, đó là binh khí sắc bén. Lòng thanh tĩnh thường lạc, đó là vinh hoa phúc lộc. Nếu ta không dùng trí huệ để quan sát, khác gì gặp quân địch thì ném binh khí mà chạy trốn;  kết cục thay vì tốt thì lại xấu. Cho nên, an định tức là cơ sở của sự đạt đạo, là sự thành công của việc luyện tập thanh tĩnh. Giữ được an định, việc gì cũng xong.

163. Tu đạo thành chân giả, tất tiên khử tà tịch chi hành, ngoại sự bất can vu tâm, đoan tọa nội quán, niệm khởi tắc diệt chi. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

修道成真者, 必先去邪僻之行, 外事不干于心, 坐內觀, 念起則滅之。 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Người tu đạo để thành chân nhân, trước hết phải dứt bỏ các hành vi tà vạy, việc đời chớ bận lòng, phải ngồi ngay ngắn, quán xét nội tâm, hễ một ý niệm nào phát khởi thì diệt nó ngay.

164. Chế nhi vật trước, phóng nhi bất động, thị vi chân định giả dã. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

制而勿著, 放而不動, 是為真定者也。 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Khống chế tâm nhưng đừng chấp trước, buông xả tâm nhưng đừng vọng động, đó là sự an định chân chính.

165. Định trung cầu huệ tắc thương vu định, định tắc vô huệ hĩ. Định phi cầu huệ nhi huệ tự sinh giả dã. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

定中求慧則傷于定, 定則無慧矣。 定非求慧而慧自生者也。 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Khi nhập định mà mong cầu huệ, ắt sẽ làm hại định, định đó sẽ không phát sinh huệ. Khi nhập định mà chẳng mong cầu huệ, thì huệ sẽ phát sinh.

166. Tĩnh tư kỳ chân, tắc chúng diệu cảm hội;  nội quán hình ảnh, tắc thần khí trường tồn;  thể hiệp đạo đức, tắc vạn thần chấn phục, họa diệt cửu âm, phúc sinh thập phương. [Tam Động Châu Nang, Tọa Vong Tinh Tư Phẩm]

靜思期真, 則眾妙感會; 內觀形影, 則神氣長存; 体洽道德, 則萬神震伏, 禍滅九陰, 福生十方。 《三洞珠囊 • 坐忘精思品》

【Dịch】 Trong thời kỳ tĩnh tọa cầu chân, mọi điều kỳ diệu sẽ cảm ứng mà hội tụ;  ta nội quán hình ảnh chư thần trong thân thể thì khí của các thần sẽ trường tồn;  hình thể ta sẽ dung hợp đạo đức, như vậy mọi thần linh sẽ quy phục ta;  ta sẽ không bị tai hoạ nơi cõi âm ti, mà hưởng phúc lạc nơi nơi.

167. Câu hồn môn, chế phách hộ, danh viết ác cố, dữ hồn phách an môn hộ dã. Thử cố tinh minh mục, lưu niên hoàn hồn chi pháp, nhược năng chung nhật ác chi, tà khí bách độc bất đắc nhập. [Vân Cấp Thất Thiêm, Đạo Dẫn Án Ma]

拘魂門, 制魄戶, 名曰握固, 與魂魄安門戶也。 此固精明目, 留年還魂之法, 若能終日握之, 邪氣百毒不得入。 《雲笈七簽 • 導引按摩》

【Dịch】 Khống chế nẻo ra vào của hồn và phách, gọi là «nắm chặt» (ác cố), kỳ thực là giữ cho hồn phách yên chỗ cửa nẻo đó. Đó là cách làm cho hồn trở về để giữ chắc tinh khí, làm cho mắt sáng, và trường thọ. Nếu suốt ngày thi hành phép «nắm chặt» (ác cố) thì tà khí và trăm thứ độc hại không xâm nhập được ta.

168. Tồn tưởng giả hà dã? Tồn giả, tồn ngã chi thần dã;  tưởng giả, tưởng ngã chi thân dã. Phù hà dĩ năng nhiên hồ? Bế mục tắc tự kiến kỳ mục dã, thu tâm tắc tự kiến kỳ tâm dã. Tâm mục giai bất ly vu thân, bất thương vu thần, thử kỳ tiệm dã. Phàm nhân chung nhật thị tha nhân, tắc tâm diệc ngoại tẩu hĩ;  chung nhật nhi tiếp tha sự, tắc mục diệc ngoại chiêm hĩ. Doanh doanh chi phù quang, vị thường phục chiếu, an đắc bất tật thả yểu da? [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]

存想者何也? 存者, 存我之神也; 想者, 想我之身也。 夫何以能然乎? 閉目則自見其目也, 收心則自見其心也。 心目皆不離于身, 不傷于神, 此其漸也。 凡人終日視他人, 則心亦外走矣; 終日而接他事, 則目亦外瞻矣。 營營之浮光, 未嘗復照, 安得不疾且夭耶? 《道樞 • 坐忘篇上》

【Dịch】 Tồn tưởng là gì? Tồn là bảo tồn thần của ta, tưởng là tưởng nghĩ đến thân của ta. Làm sao đạt được điều đó? Nhắm mắt lại thì thấy được mục quang của mình, thu tâm lại thì thấy được tâm cảnh của mình. Tâm cảnh và mục quang đều không lìa thân, thì không làm hại thần, việc này dần dần sẽ đạt được. Kẻ phàm suốt ngày chỉ nhìn người khác, tâm họ ắt bôn tẩu ra ngoài;  suốt ngày chỉ tiếp đãi sự vật bên ngoài, mắt họ cũng chỉ nhìn ra ngoài. Cái ánh sáng rực rỡ [của Đạo] chưa từng chiếu ngược vào trong thì làm sao mà họ tránh được bệnh tật và chết yểu?

169. Huy chi thể, truất thông minh, ly hình khử trí, đồng vu đại thông, thử vị tọa vong. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

墮支体, 黜聰明, 離形去智, 同于大通, 此謂坐忘。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Phế trừ [sự liên hệ với] thân mình và tứ chi, truất bỏ thông minh, lìa hình thể vật chất, bỏ tri thức, để đồng nhất với đại đạo. Đó gọi là phép tọa vong.

170. Lập ngã giả tất tự hồ vô ngã giả, ngụy hồ trần muội, tỳ hồ vật tế, chấp hồ ngã giả, hại đạo giả dã. Cố vật ngã câu vong nhi vi nhất, nhất hựu diệt chi nhi nhập vu vô chi vực, hoát nhi đạt, huệ nhi thông, thân vô tương dã, tâm vô tư dã, ngã tính chi suất khả dĩ trí đạo, chấp chi nhi vật bất năng đoạt, thủ chi nhi ngoại bất năng đạo hĩ. [Đạo Xu, Huyền Trục thiên]

立我者必自乎無我者, 偽乎塵昧, 疵乎物蔽, 執乎我者, 害道者也。 故物我俱忘為一, 一又滅之而入于無之域, 豁而達, 慧而通, 身無相也, 心無思也, 我性之率可以致道, 執之而物不能奪, 守之而外不能盜矣。 《道樞 • 玄軸篇》

【Dịch】 Muốn lập chân ngã cần phải vô ngã. Cái chân ngã của ta bị sự mông muội trần thế làm cho giả dối, bị ngoại vật làm cho tỳ vết, bị giả ngã làm cho chấp trước, tức là những thứ làm hại đạo vậy. Do đó, ta và vật phải quên hết để hợp thành một. Rồi phải tiêu diệt cái một ấy để nhập cảnh giới hư vô, bấy giờ sẽ hoát nhiên giác ngộ, trí huệ thông đạt, thân thể vô hình tướng, tâm không tư lự, tính của ta sẽ đạt đạo. Bám vào nó mà ngoại vật không đoạt được, giữ lấy nó mà thế lực bên ngoài không cướp được.

171. Xuy hu hô hấp, thổ cố nạp tân, hùng kinh điểu thân, vi thọ nhi dĩ hĩ. Thử đạo dẫn chi sĩ, dưỡng hình chi nhân, Bành Tổ thọ khảo giả chi sở hiếu dã. [Trang Tử, Khắc Ý]

吹呴呼吸, 吐故納新, 熊經鳥申, 為壽而已矣; 此導引之士, 養形之人, 彭祖壽考者之所好也。 《莊子 • 刻意》

【Dịch】 Hít thở dài sâu;  nhả hơi cũ, hít vào hơi mới;  đu treo mình lên như gấu;  duỗi mình như chim để sống lâu. Đó chỉ là cách thức mà kẻ sĩ đạo dẫn và bọn luyện dưỡng thân thể ưa thích để được sống lâu như ông Bành Tổ.

172. Phàm hành khí dĩ tỵ nạp khí, dĩ khẩu thổ khí. Vi nhi dẫn chi, danh viết trường tức. Nạp khí hữu nhất, thổ khí hữu lục. Nạp khí nhất giả, vị hấp dã. Thổ khí lục giả, vị xuy, hô, hi, ha, hư, hứ, giai xuất khí dã. Phàm nhân chi tức, nhất hô nhất tức nguyên hữu, thử số dục vi trường tức. Thổ khí chi pháp, thời hàn khả xuy, thời ôn khả hô. Ủy khúc trị bệnh, xuy dĩ khử nhiệt, hô dĩ khử phong, hi dĩ khử phiền, ha dĩ hạ khí, hư dĩ tán trệ, hứ dĩ giải cực. [Vân Cấp Thất Thiêm, Phục Khí Liệu Bệnh]

凡行氣以鼻內氣, 以口吐氣。 微而引之, 名曰長息。 內氣有一, 吐氣有六。 內氣一者, 謂吸也。 吐氣六者, 謂吹, 呼, 唏, 呵, 噓, 呬, 皆出氣也。 凡人之息, 一呼一息元有, 此數欲為長息。 吐氣之法, 時寒可吹, 時溫可呼。 委曲治病, 吹以去熱, 呼以去風, 唏以去煩, 呵以下氣, 噓以散滯, 呬以解極。 《雲笈七簽 • 服氣療病》

【Dịch】 Nói chung, hành khí là lấy mũi nạp khí vào, lấy miệng nhả khí ra. Việc này tiến hành nhẹ nhàng, gọi là hơi thở dài (trường tức). Nạp khí có một cách, còn nhả khí có 6 cách. Một cách nạp khí là hít hơi vào. Sáu cách nhả khí là:  xuy, hô, hi, ha, hư, hứ;  đều là cho hơi ra. Thở ra một, hít vô một y như cách thở xưa nay, nhưng thời gian phải lâu. Cách nhả khí thì:  trời lạnh ta dùng xuy, trời ấm ta dùng hô. Khi bệnh, ta dùng xuy để khử nhiệt, dùng hô để khử gió, dùng hi để giải phiền, dùng ha để hạ khí, dùng hư để trừ mệt nhọc.

173. Lục khí giả hư ha hứ xuy hô hi thị dã. Khí các thuộc nhất tạng, dư nhất khí thuộc tam tiêu. Hứ thuộc phế, phế chủ tỵ. Hữu hàn nhiệt bất hòa cập lao cực, y hứ thổ nạp kiêm lý bì phu sang giới hữu thử tật tắc y trạng lý chi lập dũ dã. Ha thuộc tâm, tâm chủ thiệt. Khẩu can thiệt sáp, khí bất thông cập ngữ tà khí, ha dĩ khử chi. Đại nhiệt đại khai khẩu, tiểu nhiệt tiểu khai khẩu. […] Hô thuộc tỳ, tỳ chủ trung cung. Như vi nhiệt bất hòa, phúc vị trướng mãn khí, muộn bất duệ dĩ hô tự khí lý chi. Xuy thuộc thận, thận chủ nhĩ. Yêu đổ lãnh, Dương đạo suy, dĩ xuy tự khí lý chi. Hi thuộc tam tiêu. Tam tiêu bất hòa, hi dĩ trị chi. Khí tuy các hữu sở trị, đản ngũ tạng tam tiêu, lãnh nhiệt lao cực phong tà bất điều đô thuộc vu tâm. Tâm chủ ha, ha sở trị chư tật giai dũ bất tất lục khí dã. Hư thuộc can, can chủ mục. Xích thũng hôn huyễn đẳng giai dĩ hư trị chi. [Vân Cấp Thất Thiêm]

六氣者噓呵呬吹呼嘻是也, 氣各屬一藏, 餘一氣屬三焦。 呬屬肺, 肺主鼻。 有寒熱不和及勞極。 依呬吐納兼理皮膚瘡疥有此疾則依狀理之立愈也。 呵屬心, 心主舌。 口乾舌澀氣不通及語邪氣。 呵以去之。 大熱大開口, 小熱小開呵若須作意是宜理之。 呼屬脾。 脾主中宮。 如微熱不和腹胃脹滿氣悶不洩以呼字氣理之。 吹屬腎, 腎主耳, 腰肚冷, 陽道衰, 以吹字氣理之。 嘻屬三焦。 三焦不和, 嘻以治之氣雖各有所治, 但五藏三焦, 冷熱勞極風邪不調都屬于心。 心主呵, 呵所治諸疾皆愈不必六氣也。 噓屬肝, 肝主目。 赤腫昏眩等皆以噓治之。 《雲笈七簽》

【Dịch】 Lục khí là [thở 6 chữ] hư, ha, hứ, xuy, hô, hi. Mỗi khí [trong 5 khí] thuộc một tạng, còn khí thứ 6 thì thuộc tam tiêu. Hứ thuộc phổi, phổi là chủ của mũi. Nếu lạnh nóng không điều hòa và quá lao nhọc thì hãy theo cách thở chữ hứ, cũng đồng trị mụn nhọt ghẻ lở ngoài da, nếu có bệnh này thì cứ theo bệnh trạng mà trị thì khỏi ngay. Ha thuộc tim, tim là chủ của lưỡi. Nếu miệng khô lưỡi nhám, khí không thông và nói chuyện có mùi hôi, thì lấy ha để trừ bệnh. Nóng nhiều thì mở miệng lớn, nóng ít thì mở miệng nhỏ. […] Hô thuộc tỳ, tỳ là chủ của trung cung. Xuy thuộc thận, thận là chủ của tai. Nếu thắt lưng và bụng lạnh, Dương đạo suy, thì lấy cách thở chữ xuy để trị. Hi thuộc tam tiêu, tam tiêu không điều hòa, thì ấy cách thở chữ hi để trị. Khí tuy mỗi thứ có cách trị riêng nhưng ngũ tạng và tam tiêu bị lạnh nóng hay lao nhọc quá hay bị gió độc không điều hòa đều thuộc về tim. Tim có cách thở chủ yếu là ha. Ha chủ trị hết các bệnh tật, không nhất thiết phải thở hết 6 chữ. Hư thuộc gan, gan là chủ của mắt. Đỏ phù [thân thể] mờ mịt [tinh thần] v.v. đều lấy cách thở chữ hư để trị.

174. Phù thổ cố nạp tân giả, nhân khí dĩ trưởng khí, nhi khí tại suy tắc nan trường cửu dã. Phục thực thảo dược giả, do huyết dĩ ích huyết, nhi huyết thùy kiệt giả tắc nan ích. [Cát Hồng, Bão Phác Tử]

夫吐故納新者, 因氣以長氣, 而氣在衰則難長久也。 服食草藥者, 由血以益血, 而血垂竭者則難益。 《葛洪 • 抱朴子》

【Dịch】 Cái gọi là nhả hơi cũ nạp hơi mới chính là lấy cái khí bên ngoài để tăng trưởng cái khí bên trong. Nếu nguyên khí của ta mà suy, sinh mệnh ta khó mà kéo dài được. Dùng thảo dược là dùng chất bổ dưỡng từ cây cỏ rễ lá để bồi bổ máu huyết. Nếu máu huyết của ta suy kiệt thì cũng khó mà bồi bổ được.

175. Can nhược hư thời dụng mục trừng tinh, phế tri hứ khí song thủ kính, tâm ha đỉnh thượng liên xoa thủ, thận xuy bão thủ tất đầu bình, tỳ bệnh hô thời tu nhiếp khẩu, tam tiêu khách nhiệt ngọa hi ninh. [Lãnh Khiêm, Tu Linh Yếu Chỉ]

肝若噓時用目瞪睛, 肺知呬氣雙手擎, 心呵頂上連叉手, 腎吹抱取膝頭平, 脾病呼時須攝口, 三焦客熱臥嘻寧。 《冷謙 • 修齡要旨》

【Dịch】 Trị gan thì thở ra theo hư, mắt trợn trừng. Trị phổi thì thở ra theo hứ, hai tay nâng lên cao. Trị tim thì thở ra theo ha, hai bàn tay đan các ngón đặt tên đỉnh đầu. Trị thận thì thở ra theo xuy, lòng bàn tay ôm đầu gối và hai đầu gối nằm ngang. Trị tỳ thì thở ra theo hô, mà ngậm miệng. Trừ nóng bên ngoài xâm nhập tam tiêu thì nằm thở ra theo hi để yên ổn.

176. Hoặc khuất thân, hoặc phủ ngưỡng, hoặc hành ngọa, hoặc ỷ lập, hoặc trịch trục, hoặc từ bộ, hoặc ngâm hoặc tức, giai đạo dẫn dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Biệt Chỉ]

或屈伸, 或俯仰, 或行臥, 或倚立, 或躑躅, 或徐步, 或吟或息, 皆導引也。 《葛洪 • 抱朴子 • 別旨》

【Dịch】 Hoặc co và duỗi, hoặc cúi và ngẩng, hoặc đi và nằm, hoặc dựa và đứng thẳng, hoặc đi đứng dùng dằng, hoặc đi từ từ, hoặc ngâm nga và lặng thinh, tất cả đều là phép đạo dẫn.

177. Đạo dẫn chi pháp, thâm năng ích nhân diên niên. Dữ điều khí tương tu, lịnh huyết mạch thông, trừ bách bệnh. [Vân Cấp Thất Thiêm, Đạo Dẫn Tạp Thuyết]

導引之法, 深能益人延年。 與調氣相須, 令血脈通, 除百病。 《雲笈七簽 • 導引雜說》

【Dịch】 Phép đạo dẫn rất có ích cho ta sống lâu. Nó và phép điều khí bổ túc nhau, khiến cho huyết mạch thông suốt, trừ được trăm thứ bệnh.

178. Phù nhân sở dĩ tử giả, chư dục sở tổn dã, lão dã, bách bệnh sở hại dã, độc ác sở trúng dã, tà khí sở thương dã, phong lãnh sở phạm dã. Kim đạo dẫn hành khí, hoàn tinh bổ não, thực ẩm hữu độ, hưng cư hữu tiết, tương phục dược vật, tư thần thủ nhất, trụ thiên cấm giới, đái bội phù ấn, thương sinh chi đồ nhất thiết viễn chi, như thử tắc thông, khả dĩ miễn thử lục hại. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Chí Lý]

夫人所以死者, 諸欲所損也, 老也, 百病所害也, 毒惡所中也, 邪氣所傷也, 風冷所犯也。 今導引行氣, 還精補腦, 食飲有度, 興居有節, 將服藥物, 思神守一, 柱天禁戒, 帶佩符印, 傷生之徒一切遠之, 如此則通, 可以免此六害。 《葛洪 • 抱朴子 • 至理》

【Dịch】 Sở dĩ con người chết là do các dục vọng làm hại, do lão hoá, do trăm bệnh làm hại, do trúng chất độc, do tà khí làm hại, do gió lạnh xâm nhập. Ngày nay người ta luyện đạo dẫn hành khí, hoàn tinh bổ não, ẩm thực điều độ, làm việc và nghỉ ngơi chừng mực, dùng thuốc bổ dưỡng, tồn thần thủ nhất, giữ gìn giới cấm, mang đeo phù ấn, xa lánh bọn xấu làm hại sinh mệnh ta, nếu thông suốt được các điều ấy thì mới tránh được sáu nguyên do gây hại đã nói trên.

179. Phục dược tuy vi trường sinh chi bản, nhược năng kiêm hành khí giả, kỳ ích thậm tốc. Nhược bất năng đắc dược, đản hành khí nhi tận kỳ lý giả, diệc đắc sổ bách tuế. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Chí Lý]

服藥雖為長生之本, 若能兼行氣者, 其益甚速。 若不能得藥, 但行氣而盡其理者, 亦得數百歲。 《葛洪 • 抱朴子 • 至理》

【Dịch】 Phục dược (dùng thuốc) tuy là cơ sở của thuật trường sinh, nhưng nếu có thể cùng luyện thêm hành khí, thì ích lợi của nó càng thêm nhanh chóng. Nếu không kiếm được thuốc mà chỉ luyện hành khí thôi, nhưng ta luyện hành khí đúng theo lý thuyết, thì cũng có thể sống vài trăm tuổi.

180. Sơ học hành khí, tỵ trung dẫn khí nhi bế chi, âm dĩ tâm sổ, chí nhất bách nhị thập, nãi dĩ khẩu vi thổ chi. Cập dẫn chi, giai bất dục lịnh kỷ nhĩ văn kỳ khí xuất nhập chi thanh. Thường lịnh nhập đa xuất thiểu, dĩ hồng mao trước tỵ khẩu chi thượng, thổ khí nhi hồng mao bất động vi hầu dã. Tiệm tập chuyển tăng kỳ tâm sổ, củu củu khả dĩ chí thiên. Chí thiên tắc lão giả cánh thiểu, nhật hoàn nhất nhật hĩ. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Thích Trệ]

初學行氣, 鼻中引氣而閉之, 陰以心數, 至一百二十, 乃以口微吐之。 及引之, 皆不欲令己耳聞其氣出入之聲。 常令入多出少, 以鴻毛著鼻口之上, 吐氣而鴻毛不動為候也。 漸習轉增其心數, 久久可以至千。 至千則老者更少, 日還一日矣。 《葛洪 • 抱朴子 • 釋滯》

【Dịch】 Lúc ta mới học hành khí, hít khí bằng mũi rồi bế khí. Im lặng đếm 120 nhịp tim đập thì nhả nó ra chút ít bằng miệng. Khi hít thở, chớ để tai nghe thấy âm thanh của hơi thở mình ra vào. Thường phải luôn hít vào nhiều, thở ra ít. Lấy chiếc lông hồng đặt trước mũi và miệng, hơi thở ra không làm nó động đậy. Luyện tập dần, rồi tăng thời gian bế khí lâu đến một ngàn nhịp tim. Một khi bế khí đạt được một ngàn nhịp tim, thì ta cải lão hoàn đồng từng ngày một.

181. Phù hành khí đương dĩ sinh khí chi thời, vật dĩ tử khí chi thời dã. Cố viết tiên nhân phục lục khí, thử chi vị dã. Nhất nhật nhất dạ hữu thập nhị thời, kỳ tòng bán dạ dĩ chí nhật trung lục thời vi sinh khí, tòng nhật trung chí dạ bán lục thời vi tử khí. Tử khí chi thời, hành khí vô ích dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Thích Trệ]

夫行氣當以生氣之時, 勿以死氣之時也。 故曰仙人服六氣, 此之謂也。 一日一夜有十二時, 其從半夜以至日中六時為生氣, 從日中至夜半六時為死氣。 死氣之時, 行氣無益也。 《葛洪 • 抱 朴子 • 釋滯》

【Dịch】 Ta phải hành khí vào mỗi giờ khi khí sống, đừng hành khí khi khí chết. Cho nên mới nói tiên nhân phục lục khí. Trọn mỗi ngày lẫn đêm có 12 giờ [đôi]. 6 giờ từ nửa đêm đến giữa trưa là lúc khí sống;  từ giữa trưa đến nửa đêm là lúc khí chết. Khi khí chết, hành khí vô ích.

182. Hựu nghi tri phòng trung chi thuật, sở dĩ nhĩ giả, bất tri âm dương chi thuật, lũ vi lao tổn, tắc hành khí nan đắc lực dã. Phù nhân tại khí trung, khí tại nhân trung, tự thiên địa chí vu vạn vật, vô bất tu khí dĩ sinh giả dã. Thiện hành khí giả, nội dĩ dưỡng thân, ngoại dĩ khước ác. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Chí Lý]

又宜知房中之術, 所以爾者, 不知陰陽之術, 屢為勞損, 則行氣難得力也。 夫人在氣中, 氣在人中, 自天地至于萬物, 無不須氣以生者也。 善行氣者, 內以養身, 外以卻惡。 《抱朴子 • 至理》

【Dịch】 Người ta cũng phải biết thuật phòng trung để đạt được số năm sống lâu thêm đó. Nếu không biết thuật âm dương nam nữ, mà cứ lũ lượt làm hao tổn tinh khí, tất sẽ khó có đủ sức lực để vận hành khí. Người ở trong khí, khí ở trong người. Từ trời đất cho đến vạn vật, chẳng có thứ nào không có khí mà sống cả. Kẻ giỏi hành khí, bên trong là dưỡng thân, bên ngoài là trừ khử tà ác tấn công mình.

183. Hành khí chi pháp, mật thị bế hộ, minh mục cương ngọa, chẩm cao tam thốn, vô văn vô kiến vô tư, bất động hỉ nộ ưu hoạn, bế khí sổ tức. Sơ thời tam tức, ngũ tức, cửu tức, … chí vu thiên tắc cận hồ tiên hĩ. [Vân Cấp Thất Thiêm, quyển 33]

行氣之法, 密視閉戶, 瞑目僵臥, 枕高三寸, 無聞無見無思, 不動喜怒憂患, 閉氣數息。 初時三息, 五息, 九息, … 至于千則近乎仙矣。 《雲笈七簽 • 卷三十三》

【Dịch】 Khi hành khí phải đóng cửa để người khác không thấy, mắt nhắm, nằm im, gối cao 3 thốn, không nghe, không thấy, không nghĩ ngợi, không xúc động vui giận lo buồn, bế khí (nín hơi) và đếm hơi thở. Ban đầu bế khí lâu 3 nhịp tim, rồi tới 5, tới 9, v.v… Bế khí lâu tới 1000 nhịp tim là gần thành tiên.

184. «Phục khí kinh» viết:  Đạo giả, khí dã, bảo khí tắc đắc đạo, đắc đạo tắc trường tồn. [Vân Cấp Thất Thiêm, quyển 32]

服氣經曰:  道者氣也, 保氣則得道, 得道則長存。 《雲笈七簽 • 卷三十二》

【Dịch】 Sách Phục Khí Kinh nói:  «Đạo là khí, bảo tồn được khí là đắc đạo, đắc đạo thì trường tồn.»

185. Phàm hành khí dục trừ bách bệnh, tuỳ sở tại tác niệm chi, đầu thống niệm thống, túc thống niệm túc, hòa khí trú công chi, tòng thời chí thời, tiện tự tiêu hĩ. [Vân Cấp Thất Thiêm, Phục Khí Liệu Bệnh]

凡行氣欲除百病, 隨所在作念之, 頭痛念痛, 足痛念足, 和氣住攻之, 從時至時, 便自消矣。 《雲笈七簽 • 服氣療病》

【Dịch】 Nói chung, muốn thông qua hành khí để trừ bách bệnh, thì phải dùng ý niệm mà nghĩ đến chỗ bị bệnh. Đau ở đầu thì nghĩ đến đầu, đau ở chân thì nghĩ đến chân. Rồi vận khí tấn công chỗ đó. Trị liệu như vậy một thời gian thì bệnh sẽ hết.

186. Dục cầu thần tiên, duy đương đắc kỳ chí yếu, chí yếu giả tại vu bảo tinh hành khí, phục nhất đại dược tiện túc, diệc bất dụng đa dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Thích Trệ]

欲求神仙, 唯當得其至要, 至要者在于寶精行氣, 服一大藥便足, 亦不用多也。 《抱朴子 • 釋滯》

【Dịch】 Muốn thành thần tiên, chỉ cần có bí quyết luyện tập cơ bản nhất, đó là phải trân quý tinh khí, hành khí, và dùng đại dược (kim đan). Vậy là đủ, không cần dùng nhiều.

187. Hành khí hoặc khả dĩ trị bách bệnh, hoặc khả dĩ nhập ôn dịch, hoặc khả dĩ chỉ sang huyết, hoặc khả dĩ cư thủy trung, hoặc khả dĩ hành thủy thượng, hoặc khả dĩ tịchcơ khát, hoặc khả dĩ diên niên mệnh hĩ. Kỳ đại yếu giả, thai từc nhi dĩ. Đắc thai tức giả, năng bất dĩ tỵ khẩu hư hấp, như tại bào thai chi trung, tắc đạo thành hĩ. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Thích Trệ]

行氣或可以治百病, 或可以入瘟疫, 或可以禁蛇虎, 或可以止瘡血, 或可以居水中, 或可以行水上, 或可以辟飢渴, 或可以延年命矣。 其大要者胎息而已。 得胎息者能不以鼻口噓吸, 如在胞胎之中, 則道成矣。 《葛洪 • 抱朴子 • 釋滯》

【Dịch】 Hành khí giúp ta trị được bách bệnh, không cần trốn tránh ôn dịch, làm mê được hổ và rắn độc, cầm được vết thương không chảy máu, có thể ở trong nước và đi trên mặt nước, không bị đói khát, và kéo dài tuổi thọ. Nhưng điều quan trọng nhất của hành khí chỉ là thực hiện được thai tức. Ai đạt được thai tức, nghĩa là không dùng mũi và miệng mà vẫn thở được giống như bào thai trong tử cung, thì sẽ đắc đạo.

188. Nhân chi sở thủ uý giả, nhẫm tịch chi thượng, ẩm thực chi gian, nhi bất tri vi chi giới giả, quá dã. [Trang Tử, Đạt Sinh]

人之所取畏者, 衽席之上, 飲食之間, 而不知為之戒者, 過也。 《莊子 • 達生》

【Dịch】 Chỗ đáng sợ của con người là chuyện chăn gối và ẩm thực vô độ mà không biết răn mình, thực là lầm lỗi vậy.

189. Tĩnh nhiên khả dĩ bổ bệnh, tý diệt khả dĩ hưu lão, ninh khả dĩ chỉ cự. [Trang Tử, Ngoại Vật]

靜然可以補病, 眥可以休老, 寧可以止遽。 《莊子 • 外物》

【Dịch】 Tĩnh tâm có thể điều dưỡng bệnh tật, xoa đuôi mắt để phòng ngừa lão suy, trấn tĩnh để chận đứng sự bồn chồn sợ hãi.

190. Tự xá chi hạ bất khả dĩ tọa, ỷ tường chi bàng bất khả dĩ lập. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

沮舍之下不可以坐, 倚牆之旁不可以立。 《淮南子 • 說山訓》

【Dịch】 Không thể ngồi trong căn nhà hư nát;  không thể đứng cạnh tường vách nghiêng xiêu.

———————-
**********************

 9. TU KỶ 修 己 – ĐÃI NHÂN 待 人

191. Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện giả bất minh;  tự thị giả bất chương;  tự phạt giả vô công;  tự căng giả bất trường. Kỳ ư Đạo dã, viết dư thực chuế hành, vật hoặc ố chi. Cố hữu Đạo giả bất xử. [Đạo Đức Kinh, chương 24]

企者不立;  跨者不行;  自見者不明;  自是者不彰;  自伐者無功;  自矜者不長。 其於道也, 曰餘食贅行, 物或惡之, 故有道者不處。 《道德經 • 第二十四章》

【Dịch】 Nhón chân lên, không đứng được. Xoạc chân ra không đi được. Tự coi là sáng nên không sáng. Tự xem là phải nên không hiển dương. Tự kể công nên không có công. Tự khoe mình nên không trường tồn. Về phương diện Đạo mà nói, đó là các thứ thừa thải. Có người ghét chúng. Nên người có Đạo không màng.

192. Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường. Tri túc giả phú, cường hành giả hữu chí. Bất thất kỳ sở giả cửu. Tử nhi bất vong giả thọ. [Đạo Đức Kinh, chương 33]

知人者智, 自知者明;  勝人者有力, 自勝者強。 知足者富。 強行者有志。 不失其所者久。 死而不亡者壽。 《道德經 • 第 33 章》

【Dịch】 Biết người là trí. Biết mình là sáng. Thắng người là kẻ có vũ lực;  tự thắng mình là mạnh. Biết đủ thì giàu;  Kiên trì là có ý chí. Không đánh mất điểm tựa sẽ vững bền. Chết mà không mất là trường thọ.

193. Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn dĩ chí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi. [Đạo Đức Kinh, chương 48]

為學日益, 為道日損。 損之又損, 至於無為。 無為而無不為。 《道德經 • 第四十八章》

【Dịch】 Theo đuổi việc học thì ngày một biết thêm;  đi theo Đạo thì ngày một bớt đi [nhân dục]. Bớt rồi lại bớt cho đến mức [điềm đạm] vô vi. Vô vi nhưng không có gì là không được làm.

194. Vi vô vi, sự vô sự, vị vô vị. Đại tiểu, đa thiểu;  báo oán dĩ đức. Đồ nan ư kỳ dị. Vi đại ư kỳ tế. Thiên hạ nan sự tất tác ư dị. Thiên hạ đại sự tất tác ư tế. Thị dĩ thánh nhân chung bất vi đại, cố năng thành kỳ đại. Phù khinh nặc tất quả tín. Đa dị tất đa nan. Thị dĩ thánh nhân do nan chi, cố chung vô nan. [Đạo Đức Kinh, chương 63]

為無為, 事無事, 味無味。 大小多少, 報怨以德。 徒難於其易為大於其細。 天下難事, 必作於易;  天下大事, 必作於細。 是以聖人終不為大, 故能成其大。 夫輕諾必寡信, 多易必多難。 是以聖人猶難之, 故終無難。 《道德經 • 第六十三章》

【Dịch】 Hãy hoạt động vô vi;  hãy theo sự việc không lăng xăng;  hãy thưởng thức thứ vô vị;  hãy làm cái bé thành lớn và cái ít thành nhiều;  hãy lấy ân đức mà báo oán;  hãy ấn định các kế hoạch cho sự hoàn thành của việc khó trước khi nó trở nên khó;  hãy làm việc lớn từ lúc nó còn nhỏ. Các việc khó khăn trong thiên hạ, đều bắt đầu từ việc dễ. Các việc lớn trong thiên hạ, đều bắt đầu từ việc nhỏ. Cho nên, thánh nhân vì chưa hề cố gắng tỏ ra vĩ đại mà trở thành vĩ đại. Những kẻ hứa bừa bãi, sẽ khó giữ được lời. Coi cái gì cũng dễ, sẽ gặp nhiều cái khó. Do đó, thánh nhân thậm chí xem gì cũng là khó. Vì lẽ ấy mà cuối cùng không gặp khó.

195. Tri bất tri, thượng. Bất tri tri, bệnh. Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh. Thánh nhân bất bệnh, dĩ kỳ bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh. [Đạo Đức Kinh, chương 71]

知不知, 上。 不知知, 病。 夫唯病病, 是以不病。 聖人不病, 以其病病, 是以不病。 《道德經 • 第七十一章》

【Dịch】 Biết mà làm như không biết, thế là hay. Không biết mà làm như biết, thế là dở. Hễ biết cái điều dở ấy là dở tức là không dở. Thánh nhân không dở vì biết điều dở là dở, do đó mà không dở.

196. Giám minh tắc trần cấu bất chỉ, chỉ tắc bất minh dã. Cửu dữ hiền nhân xử tắc vô quá. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

鑒明則塵垢不止, 止則不明也。 久與賢人處則無過。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Gương sáng là do bụi không bám. Hễ bụi bám thì gương không sáng nữa. Thân cận với người hiền lâu ngày thì ta sẽ không còn lỗi lầm gì.

197. Vô vi danh thi, vô vi mưu phủ, vô vi sự nhậm, vô vi tri chủ. Thể tận vô cùng, nhi du vô trẫm. Tận kỳ sở thụ hồ thiên nhi vô kiến đắc, diệc hư nhi dĩ! Chí nhân chi dụng tâm nhược kính, bất tương bất nghinh, ứng nhi bất tàng, cố năng thắng vật nhi bất thương. [Trang Tử, Ứng Đế Vương]

無為名尸, 無為謀府, 無為事任, 無為知主。 体盡無窮, 而游無朕。 盡其所受乎天而無見得, 亦虛而已! 至人之用心若鏡, 不將不迎, 應而不藏, 故能勝物而不傷。 《莊子 • 應帝王》

【Dịch】 Vô vi làm chủ danh tiếng, chứa mưu lược, tuỳ thuận công việc, và làm chủ trí tuệ. Sự thể hiện của vô vi thì vô cùng nhưng không để lại dấu vết. Người vô vi hoàn thành thiên mệnh với tâm hư vô. Bậc chí nhân dụng tâm như chiếc gương soi, chẳng mong chờ cũng chẳng nghinh đón ai hay vật gì. Phản chiếu người hay vật trước nó, nhưng nó không lưu giữ các hình ảnh đó. Vì thế ngài siêu vượt trên mọi sự vật và không gây hại cho ai.

198. Đại nhân chi hành:  bất xuất hồ hại nhân, bất đa nhân ân;  động bất vị lợi, bất tiện môn lệ;  hoá tài phất tranh, bất đa từ nhượng;  sự yên bất tá nhân, bất đa thực hồ lực, bất tiện tham ô;  hành thù hồ tục, bất đa tịch dị;  vi tại tòng chúng, bất tiện nịnh siểm;  thế chi tước lộc bất túc dĩ vi khuyến, lục sỉ bất túc dĩ vi nhục;  tri thị phi chi bất khả vi phân, tế đại chi bất khả vi nghê. văn viết:  Đạo nhân bất văn, chí đức bất đắc, đại nhân vô kỷ. [Trang Tử, Thu Thủy]

大人之行:  不出乎害人, 不多仁恩; 動不為利, 不賤門隸; 貨財弗爭, 不多辭讓; 事焉不借人, 不多食乎力, 不賤貪污; 行殊乎俗, 不多辟異; 為在從眾, 不賤佞諂; 世之爵祿不足以為勸, 戮恥不足以為辱; 知是非之不可為分, 細大之不可為倪。 聞曰:  道人不聞, 至德不得, 大人無己。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Bậc đại nhân dù không có hành vi hại người nhưng cũng không khoe nhân và ân;  hoạt động dù không vụ lợi nhưng cũng không xem bọn gia nô là hạ tiện;  dù không tranh giành hoá tài nhưng cũng không từ nhượng;  dù không nhờ người giúp để xong việc nhưng cũng không khoe sự nỗ lực của bản thân và cũng không khinh miệt bọn tham ô;  dù đức hạnh khác tục nhưng cũng không khoe mình khác đời;  dù lẫn trong đám đông nhưng cũng không khinh miệt bọn dua nịnh. Tước lộc thế gian không làm ông xiêu lòng;  hình phạt và sỉ nhục của đời không làm nhục được ông. Ông biết rằng điều đúng với điều sai không phân biệt được;  điều tế vi với điều vĩ đại không có tiêu chuẩn gì. Nghe nói rằng:  bậc có đạo thì vô danh, bậc chí đức thì bất đắc, bậc đại nhân thì vô kỷ.

199. Chí lễ hữu bất nhân, chí nghĩa bất vật, chí tri bất mưu, chí nhân vô thân, chí tín tịch kim. Triệt chí chi vật, giải tâm chi mậu, khử đức chi lụy, đạt đạo chi tắc. Quý phú hiển nghiêm danh lợi lục giả, bột chí dã;  dung đông sắc lý khí lục giả, mậu tâm dã;  ố dục hỉ nộ ai lạc lục giả, lụy đức dã;  khử tựu thủ dữ tri năng lực giả, tắc đạo dã. Thử tứ lục giả bất đãng hung trung tắc chính, chính tắc tĩnh, tĩnh tắc minh, minh tắc hư, hư tắc vô vi nhi vô bất vi dã. [Trang Tử, Canh Tang Sở]

至禮有不人, 至義不物, 至知不謀, 至仁無親, 至信辟金。 徹志之勃, 解心之謬, 去德之累, 達道之塞。 貴富顯嚴名利六者, 勃志也; 容動色理氣意六者, 謬心也; 惡欲喜怒哀樂六者, 累德也; 去就取與知能六者, 塞道也。 此四六者不蕩胸中則正, 正則靜, 靜則明, 明則虛, 虛則無為而無不為。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Chí lễ thì không kính trọng riêng ai;  chí nghĩa thì không phân biệt sự vật;  chí trí thì không mưu tính gì;  chí nhân thì không tỏ ra thân thiết;  chí tín thì không dùng kim tiền thế chấp. Triệt bỏ sự xung động của chí, giải trừ sự sai lầm của tâm, khử bỏ sự hệ lụy của đức, làm thông sự bế tắc của đạo. 6 thứ làm xung động chí là:  quý (quý), phú (giàu), hiển (phân biệt rõ), nghiêm (trang nghiêm), danh (danh tiếng), lợi (lợi nhuận). 6 thứ làm tâm sai lầm là:  dung (dung mạo), động (động thái), sắc (háo sắc), lý (luận lý), khí (khí), ý (ý). 6 thứ làm lụy đức là:  ố (ghét), dục (muốn), hỉ (mừng), nộ (giận), ai (bi ai), lạc (vui sướng). 6 thứ làm bế tắc đạo là:  khứ (từ khước), tựu (chấp nhận), thủ (nhận lãnh), dữ (tặng cho), tri (tri kiến), năng (năng lực). Bốn nhóm sáu này nếu không náo động ta thì tâm ta sẽ chính, chính thì tĩnh, tĩnh thì sáng, sáng thì hư không, hư không thì vô vi. Vô vi nhưng không gì mà không được làm.

200. Lâm ngưng kết nhi năng đoán, thao thằng mặc nhi vô tư giả, cán nhân dã. [Cát Hồng, Bão Phác Tử, Phẩm Hạnh]

臨凝結而能斷, 操繩墨而無私者, 干人也。 《抱朴子 • 品行》

【Dịch】 Gặp việc rắc rối nan giải mà phán đoán được, nắm phép tắc mà không có lòng riêng tư, thế là người tài cán.

201. Phi đạm bạc vô dĩ minh đức, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn, phi khoan đại vô dĩ kiêm phúc, phi từ hậu vô dĩ hoài chúng, phi bình chính vô dĩ chế đoán. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]

非淡薄無以明德, 非寧靜無以致遠, 非寬大無以兼覆, 非慈厚無以懷眾, 非平正無以制斷。 《淮南子 • 主術訓》

【Dịch】 Không đạm bạc thì không thể làm sáng đức, không ninh tĩnh thì không thể tiến xa, không quảng đại thì không thể rải khắp ân trạch, không hiền từ đôn hậu thì không thể an ủi vỗ về chúng dân, không công bình chính trực thì không thể quyết đoán.

202. Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sinh, cố năng trường sinh. Thị dĩ thánh nhân, hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phi dĩ kỳ vô tư da? Cố năng thành kỳ tư. [Đạo Đức Kinh, chương 7]

天長地久。 天地所以能長且久者, 以其不自生, 故能長生。 是以聖人後其身而身先, 外其身而身存。 非以其無私耶? 故能成其私。 《道德經 • 第七章》

【Dịch】 Trời dài, đất lâu. Trời đất sở dĩ dài lâu chính vì không sống cho mình, vì thế nên trường tồn. Cho nên thánh nhân để thân ở sau [thiên hạ] mà thân ở phía trước [họ];  để thân ra ngoài [phép tắc] mà thân còn. Phải chăng vì vô tư, nên vẫn thành tựu được cái riêng tư?

203. Thánh nhân bất tích. Ký dĩ vi nhân, kỷ dũ hữu. Ký dĩ dữ nhân, kỷ dũ đa. [Đạo đức Kinh, chương 81]

聖人不積, 既以為人, 己愈有, 既以與人, 己愈多。 《道德經 • 第八十一章》

【Dịch】 Thánh nhân không tích trữ. Càng vì người, mình càng có. Càng cho người mình càng thêm nhiều.

204. Phương chu nhi tế vu hà, hữu hư thuyền lai xúc chu, tuy hữu biển tâm chi nhân bất nộ. Hữu nhất nhân tại kỳ thượng, tắc hô trương hấp chi. Nhất hô nhi bất văn, tái hô nhi bất văn, vu thị tam hô da, tắc tất dĩ ác thanh tùy chi. Hướng dã bất nộ nhi kim dã nộ, hướng dã hư nhi kim dã thực. Nhân năng hư kỷ dĩ du thế, kỳ thục năng hại chi! [Trang Tử, Sơn Mộc]

方舟濟于河, 有虛船來觸舟, 雖有惼心之人不怒。 有一人在其上, 則呼張歙之。 一呼而不聞, 再呼而不聞, 于是三呼邪, 則必以惡聲隨之。 向也不怒而今也怒, 向也虛而今也實。 人能虛己以游世, 其孰能害之! 《莊子 • 山木》

【Dịch】 Có hai chiếc thuyền cùng đi qua sông, một chiếc là thuyền không người và va vào chiếc kia. Người chủ thuyền kia dù hẹp hòi mấy cũng không nổi giận. Nhưng nếu thuyền nọ có một người, thì chủ thuyền kia sẽ la lên để thuyền nọ dạt ra. Nếu la một tiếng mà người nọ không nghe, thì chủ thuyền la thêm lần nữa, và tiếng la lần thứ ba ắt toàn là lời thoá mạ. Lần trước không giận mà lần này lại giận là vì lần trước thuyền không, lần này thuyền có người. Ai có thể lấy hư tâm mà trải đời, thì không ai hại mình được.

205. Phù dĩ lợi hợp giả, bách cùng họa hoạn hại tương khí dã;  dĩ thiên thuộc giả, bách cùng họa hoạn hại tương thu dã. Phù tương thu chi dữ tương khí dịec viễn hĩ, thả quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ. Quân tử đạm dĩ thân, tiểu nhân cam dĩ tuyệt, bỉ vô cố dĩ hợp giả, tắc vô cố dĩ ly. [Trang Tử, Sơn Mộc]

夫以利合者, 迫窮禍患害相棄也; 以天屬者, 迫窮禍患害相收也。 夫相收之與相棄亦遠矣, 且君子之交淡若水, 小人之交甘若醴。 君子淡以親, 小人甘以絕, 彼無故以合者, 則無故以離。 《莊子 • 山木》

【Dịch】 Vì lợi mà hội tụ, đến khi nghèo túng, hoạn nạn, tai họa, thì sẽ bỏ nhau. Vì thiên tính mà hội tụ, đến khi nghèo túng, hoạn nạn, tai họa, thì sẽ giúp nhau. Giữa đoạn tuyệt và tương trợ khác biệt rất lớn. Sự giao du của người quân tử thì nhạt như nước lã;  sự giao du của kẻ tiểu nhân thì ngọt nồng [vồ vập] như rượu ngọt mới cất. Nhưng cái nhạt của người quân tử sẽ dẫn đến thân tình, còn cái ngọt nồng vồ vập của kẻ tiểu nhân sẽ dẫn đến tuyệt giao. Hội tụ vô cớ thì sẽ ly tan vô cớ.

206. Cố thánh nhân hữu sở du, nhi tri vi nghiệt, ước vi giao, đức vi tiếp, công vi thương. Thánh nhân bất mưu, ô dụng tri? Bất chước, ô dụng giao? Vô táng, ô dụng đức? bất hoá, ô dụng thương? Tứ giả, thiên chúc dã. Thiên chúc giả, thiên thực dã. Ký thụ thực vu thiên, hựu ô dụng nhân! Hữu nhân chi hình, vô nhân chi tình. Hữu nhân chi hình, cố quần vu nhân;  vô nhân chi tình, cố thị phi bất đắc vu thân. Miểu hồ tiểu tai, sở dĩ thuộc vu nhân dã;  ngao hồ thiên tai, độc thành kỳ thiên. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

故聖人有所游, 而知為孽, 約為膠, 德為接, 工為商。 聖人不謀, 惡用知? 不斫 惡用膠? 無喪, 惡用德? 不貨, 惡用商? 四者, 天鬻也。 天鬻者, 天食也。 既受食于天, 又惡用人! 有人之形, 無人之情。 有人之形, 故群于人; 無人之情, 故是非不得于身, 眇乎小哉, 所以屬于人也; 謷乎天哉, 獨成其天。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Thánh nhân đã tiêu dao, nên thấy trí huệ là nghiệt căn, giao ước với người là ràng buộc, đức là thuật giao tiếp, kỹ năng là hàng hoá đổi chác. Thánh nhân chẳng toan tính gì nên đâu cần trí;  chẳng trau chuốt gì nên đâu cần gò bó;  chẳng mất nên đâu cần được;  chẳng có hàng hoá nên đâu cần mua bán. Bốn điều đó là do trời nuôi (phú bẩm). Trời nuôi tức là lương thực trời cho. Đã được trời phú bẩm, còn thiết gì đến người nữa? Thánh nhân tuy có hình thể như thế nhân, nhưng tâm tình khác thế nhân. Vì có hình thể như thế nhân nên phải chung đụng với họ. Vì tâm tình khác thế nhân, nên không màng chuyện thị phi ở đời. Thánh nhân nhỏ bé vì chung đụng với người nhưng vĩ đại vì đồng thể với trời.

207. Dĩ đức phân nhân vị chi thánh, dĩ tài phân nhân vị chi hiền. Dĩ hiền lâm nhân, vị hữu đắc nhân giả dã;  dĩ hiền hạ nhân, vị hữu bất đắc nhân giả dã. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

以德分人謂之聖, 以財分人謂之賢。 以賢臨人, 未有得人者也; 以賢下人, 未有不得人者也。 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 Chia sẻ đức cho kẻ khác là bậc thánh;  chia sẻ tài sản cho người khác là bậc hiền. Lấy cái hiền mà hạ cố xuống kẻ khác thì không được lòng người. Lấy cái hiền mà khiêm hạ trước người khác thì sẽ luôn được lòng người.

208. Dữ vật cùng giả, vật nhập yên;  dữ vật thả giả, kỳ thân chi bất năng dung, yên năng dung nhân! Bất năng dung nhân giả vô thân, vô thân giả tận nhân. Binh mạc thảm vu chí, mạc da vi hạ;  khấu mạc đại vu âm dương, vô sở đào vu thiên địa chi gian. Phi âm dương tặc chi, tâm tắc sử chi dã. [Trang Tử, Canh Tang Sở]

與物窮者, 物入焉; 與物且者, 其身之下能容, 焉能容人! 不能容人者無親, 無親者盡人。 兵莫憯于志, 鏌鎁為下; 寇莫大于陰陽, 無所逃于天地之間。 非陰陽賊之, 心則使之也。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Hễ thấu suốt tận tường sự vật thì chúng quy về ta. Hễ cách trở với sự vật và bản thân ta không dung thứ chúng, thì làm sao ta dung thứ được người? Không thể dung thứ được người thì không ai thân cận. Không ai thân cận là ta bị họ từ tuyệt. Chẳng có binh khí thứ nào tàn khốc bằng ý chí;  so với ý chí thì bảo kiếm Mạc Da chỉ là thuộc hạng chót. Chẳng có kẻ trộm cắp nào lớn bằng âm dương;  trong cõi trời đất chẳng có nơi nào cho ta chạy thoát khỏi chúng. Chẳng phải âm dương trộm cắp, mà chính tâm ta sai chúng trộm cắp.

209. Phàm nhân tâm hiểm vu sơn xuyên, nan vu tri thiên. Thiên do hữu xuân thu đông hạ đán mộ chi kỳ, nhân giả hậu mạo thâm tình. Cố hữu mạo nguyện nhi ích, hữu trường nhược bất tiếu, hữu thận hoàn nhi đạt, hữu kiên nhi man, hữu hoãn tắc hạn. Cố kỳ tựu nghĩa nhược khát giả, kỳ khử nghĩa giả nhiệt. Cố quân tử viễn sử chi nhi quan kỳ trung, cận sử chi nhi quan kỳ kính, phiền sử chi nhi quan kỳ năng, tốt nhiên vấn yên nhi quan kỳ tri, cấp dữ chi kỳ nhi quan kỳ tín, ủy chi dĩ tài nhi quan kỳ nhân, cáo chi dĩ nguy nhi quan kỳ tiết, tuý chi dĩ tửu nhi quan kỳ tắc, tạp chi dĩ xử nhi quan kỳ sắc. Cửu trưng chí, bất tiếu nhân đắc hĩ. [Trang Tử, Liệt Ngự Khấu]

凡人心險于山川, 難于知天。 天猶有春秋冬夏旦暮之期, 人者厚貌深情。 故有貌愿而益, 有長若不肖, 有慎懁而達, 有堅而縵, 有緩則釬。 故其就義若渴者, 其去義若熱。 故君子遠使之而觀其忠, 近使之而觀其敬, 煩使之而觀其能, 卒然問焉而觀其知, 急與之期而觀其信, 委之以財而觀其仁, 告之以危而觀其節, 醉之以酒而觀其則, 雜之以處而觀其色。 九徵至, 不肖人得矣。 《莊子 • 列御寇》

【Dịch】 Lòng người nói chung là sâu hiểm hơn sông núi, khó biết hơn trời, vì trời còn có hạn kỳ:  xuân, hạ, thu, đông, sớm mai, chiều tối, nhưng người thì bề ngoài kín đáo mà tình cảm sâu thẳm khó dò. Thế nên có nhiều kẻ bề ngoài đôn hậu mà ngầm kiêu căng tự mãn;  bề ngoài giỏi giang nhưng bản chất bất tài;  bề ngoài thận trọng cố chấp mà thấu tình đạt lý;  bề ngoài kiên cường nhưng bản chất nhu nhược;  bề ngoài hoà hoãn nhưng bản chất hung hãn. Do đó, nhiều kẻ truy cầu điều nghĩa như khát khao mà rồi vất nó như bị bỏng. Cho nên bậc quân tử sai khiến họ đi xa để xem họ có trung thành không;  giao việc ở gần để xem họ có kính cẩn không;  bắt họ nhọc nhằn để xem họ có năng lực không;  chất vấn họ bất ngờ để xem họ có thông minh không;  cho họ một kỳ hạn gấp rút để xem họ có giữ tín không;  giao phó tiền bạc cho họ để xem họ có đức nhân không;  báo trước nguy cơ cận kề để xem họ có giữ tiết tháo không;  chuốc rượu cho say để xem họ có giữ được phép tắc không;  cho họ chung chạ nam nữ để xem họ có háo sắc không. Thử thách 9 điều đó mới có thể xác định được kẻ nào bất tài vô hạnh.

210. Quân tử bất vi hà sát, bất dĩ thân giả vật. [Trang Tử, Thiên Hạ]

君子不為苛察, 不以身假物。 《莊子 • 天下》

【Dịch】 Quân tử không đòi hỏi khe khắt nơi người khác và không để bản thân bị ngoại vật ràng buộc.

211. Độ tại thân, kê tại nhân. Nhân ái ngã, ngã tất ái chi;  nhân ố ngã, ngã tất ố chi. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

度在身, 稽在人。 人愛我, 我必愛之; 人惡我, 我必惡之。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Bản thân ta tỏ ra lễ độ và lấy đó để xét kẻ khác. Ai yêu ta, ta yêu họ. Ai ghét ta, ta ghét họ.

212. Cứu đấu giả đắc thương. [Hoài Nam Tử, Thuyết Lâm]

救斗者得傷。 《淮南子 • 說林》

【Dịch】 Khuyên can người khác, mình bị vạ lây.

213. Phù phú đương chẩn bần, quý đương lân tiện. [Lão Tử, Hà Thương Công chú chương 9]

夫富當賑貧, 貴當憐賤。 《老子 • 河上公注 • 第九章》

【Dịch】 Nói chung, hễ giàu nên phát chẩn cho người nghèo;  hễ sang nên thương xót kẻ hạ tiện.

214. Yểm ác dương thiện, quân tử sở tông. [Tây Thăng Kinh, Đạo Sinh]

【Dịch】 Không bới móc lỗi lầm của người mà chỉ tuyên dương điều hay tốt của họ. Đó là điều mà người quân tử coi trọng.

掩惡揚善, 君子所宗。 《西升經 • 道生》

215. Tự thụ tệ bạc, hậu kỷ tiên nhân, thiên hạ kính chi. [Lão Tử, Hà Thượng Công chú chương 22]

自受弊薄, 後己先人, 天下敬之。 《老子 • 河上公注 • 第 22章 》

【Dịch】 Tự nguyện nhận lãnh cái cũ nát mỏng manh và đứng sau kẻ khác;  như thế thì ai ai cũng kính trọng mình.

———————-
**********************

10. KHIÊM CẨN 謙 謹 – BẤT TRANH 不 爭

216. Bất tự hiện, cố minh. Bất tự thị, cố chương. Bất tự phạt cố hữu công. Bất tự căng, cố trường. Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. [Đạo Đức Kinh, chương 22]

不自見故明;  不自是故彰;  不自伐故有功;  不自矜故長。 夫唯不爭故天下莫能與之爭。 《道德經 • 第二十二章》

【Dịch】 Không phô trương, nên sáng;  không tự cho mình đúng, nên hiển dương ở đời;  không kể công, nên có công;  không kiêu căng, nên [không bị ai hại, nhờ đó mà] trường tồn. Vì không tranh với ai, nên không ai tranh với mình.

217. Thánh nhân tự tri bất tự hiện, tự ái bất tự quý. [Đạo Đức Kinh, chương 72]

聖人自知不自見, 自愛不自貴。 《道德經 • 第七十二章》

【Dịch】 Thánh nhân tự biết mình mà không tự phô trương, yêu mình mà không xem mình là tôn quý.

218. Tri chỉ, khả dĩ bất đãi. [Đạo Đức Kinh, chương 32]

知止, 可以不殆。 《道德經 • 第三十二章》

【Dịch】 Biết lúc phải dừng mới không gặp nguy hại.

219. Công thành nhi phất cư. Phù duy phất cư, thị dĩ bất khứ. [Đạo Đức Kinh, chương 2]

功成而弗居。 夫唯弗居, 是以不去。 《道德經 • 第二章》

【Dịch】 Công trạng đã hoàn thành nhưng không ở lại an hưởng. Vì không ở lại an hưởng nên không bị vong thân.

220. Khúc tắc toàn;  uổng tắc trực;  hóa tắc doanh;  tệ tắc tân;  thiểu tắc đắc;  đa tắc hoặc. [Đạo Đức Kinh, chương 22]

曲則全, 枉則直, 窪則盈, 敝則新, 少則得, 多則惑。 《道德經 • 第二十二章》

【Dịch】 Cái khiếm khuyết sẽ được toàn vẹn. Cái cong sẽ được ngay. Cái trũng sẽ được làm đầy. Cái cũ nát sẽ được làm mới. Ít sẽ được nhiều. Nhiều sẽ u mê.

221. Trì nhi doanh chi bất như kỳ dĩ. Sủy nhi nhuệ chi bất khả trường bảo. Kim ngọc mãn đường, mạc chi năng thủ. Phú quí nhi kiêu, tự di kỳ cữu. Công thành, danh toại, thân thoái, thiên chi đạo. [Đạo Đức Kinh, chương 9]

持而盈之, 不如其已。 揣而銳之, 不可長保。 金玉滿堂, 莫之能守。 富貴而驕, 自遺其咎。 功成名遂身退, 天之道。 《道德經 • 第九章》

【Dịch】 Giữ và đổ đầy mãi, không bằng dừng lại. Mài cho nhọn sắc, không giữ được lâu. Vàng ngọc đầy nhà, chẳng thể giữ được. Giàu sang mà kiêu căng, sẽ tự chuốc họa. Công đã thành, danh đã toại, thì hãy rút lui;  đó là đạo Trời.

222. Đông Hải hữu điểu yên, kỳ danh viết ý đãi. Kỳ vi điểu dã, phân phân trật trật, nhi tự vô năng;  dẫn viện nhi phi, bách hiệp nhi thê;  tiến bất cảm vi tiền, thoái bất cảm vi hậu;  thực bất cảm tiên thưởng, tất thủ kỳ tự. Thị cố kỳ hàng liệt bất xích, nhi ngoại nhân tốt bất đắc hại, thị dĩ miễn vu hoạn. [Trang Tử, Sơn Mộc]

東海有鳥焉, 其名曰意怠。 其為鳥也, 翂翂翐翐, 而似無能; 引援而飛, 迫脅而棲; 進不敢為前退不敢為後; 食不敢先嘗, 必取其緒。 是故其行列不斥, 而外人卒不得害, 是以免于患。 《莊子 • 山木》

【Dịch】 Biển Đông có loài chim tên là ý đãi. Loài chim này bay chậm và thấp, tựa như bay dở. Khi bay thì theo bầy để tiếp kéo nhau. Khi đậu thì đâu sát bên nhau. Khi tiến tới nó không dám xông ra trước;  khi thoái lui nó không dám lùi ra sau. Khi ăn thì không dám ăn trước con khác, chỉ ăn đồ thừa của chúng. Cho nên trong bầy đoàn nó không bị xua đuổi, và cuối cùng người ngoài cũng không hại được nó, do đó mà tránh được tai họa.

223. Thiên địa hữu đại mỹ nhi bất ngôn, tứ thời hữu minh pháp nhi bất nghị, vạn vật hữu thành lý nhi bất thuyết. Thánh nhân giả, nguyên thiên địa chi mỹ nhi đạt vạn vật chi lý. Thị cố chí nhân vô vi, đại thánh bất tác, quan vu thiên địa chi vị dã. [Trang Tử, Tri Bắc Du]

天地有大美而不言, 四時有明法而不議, 萬物有成理而不說。 聖人者, 原天地之美而達萬物之理。 是故至人無為, 大聖不作, 觀于天地之謂也。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Trời đất có những điều rất tốt đẹp nhưng trời đất chẳng nói gì. Bốn mùa có phép tắc rõ ràng nhưng chúng đâu nghị luận gì. Vạn vật có lý do cấu thành nhưng chúng đâu thuyết giảng gì. Thánh nhân trở về cái đẹp của trời đất và thông đạt lý lẽ của vạn vật. Cho nên bậc chí nhân thì vô vi, bậc đại thánh thì không làm. Họ quan sát toàn cõi trời đất.

224. Vi bất thiện hồ hiển minh chi trung giả, nhân đắc nhi tru chi;  vi bất thiện hồ u gian chi trung giả, quỷ đắc nhi tru chi. Minh hồ nhân, minh hồ quỷ giả, nhiên hậu năng độc hành. [Trang Tử, Canh Tang Sở]

為不善乎顯明之中者, 人得而誅之; 為不善乎幽間之中者, 鬼得而誅之。 明乎人, 明乎鬼者, 然後能獨行。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Công khai làm ác sẽ bị người đời trừng phạt;  lén lút làm ác sẽ bị quỷ thần trừng phạt. Ai hiểu sự liên quan giữa mình với cả con người lẫn quỷ thần thì dù ở một mình cũng không làm điều ác.

225. Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư Đạo. Cư thiện địa, tâm thiện uyên, dữ thiện nhân, ngôn thiện tín, chính thiện trị, sự thiện năng, động thiện thời. Phù duy bất tranh, cố vô vưu. [Đạo Đức Kinh, chương 8]

上善若水。 水善利萬物而不爭, 居眾人之所惡, 故几于道。 居善地, 心善淵, 與善仁, 言善信, 政善治, 事善能, 動善時。 夫唯不爭, 故無尤。 《道德經 • 第八 章》

【Dịch】 Sự trọn lành giống như nước. Nước khéo làm lợi vạn vật mà không tranh với ai, ở chỗ chẳng ai ưa, nên gần Đạo. Ở thì lựa nơi chốn;  tâm hồn thì thâm trầm sâu sắc;  giao tiếp với người thì nhân ái;  nói năng thì thành tín;  lâm chính thì cai trị an bình;  làm việc thì có năng lực;  hoạt động thì hợp thời. Chính vì không tranh, nên không lỗi lầm.

226. Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kỳ thiện hạ chi. Cố năng vi bách cốc vương. Thị dĩ dục thượng dân tất dĩ ngôn hạ chi. Dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi. Thị dĩ thánh nhân xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất hại. Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm, dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. [Đạo Đức Kinh, chương 66]

江海所以能為百谷王者, 以其善下之, 故能為百谷王。 是以欲上民必以言下之。 欲先民必以身後之。 是以聖人處上而民不重, 處前而民不害。 是以天下樂推而不厭, 以其不爭, 故天下莫能與之爭。 《道德經 • 第六十六章》

【Dịch】 Sông biển sở dĩ làm vua trăm thung lũng chính vì khéo ở chỗ thấp, vì thế nên làm vua trăm thung lũng. Do đó, muốn ngồi trên dân, ắt phải lấy lời mà hạ mình;  muốn đứng trước dân, ắt phải để thân mình ra sau. Cho nên, thánh nhân ở trên dân mà dân không thấy nặng, ở trước dân mà dân không thấy hại. Cho nên thiên hạ hân hoan ủng hộ ngài mà không chán. Vì không tranh với ai, nên không ai tranh với mình.

227. Thiện vi sĩ giả bất vũ. Thiện chiến giả bất nộ. Thiện thắng địch giả bất dữ. Thiện dụng nhân giả vi chi hạ. Thị vị bất tranh chi đức. Thị vị dụng nhân chi lực. Thị vị phối Thiên, cổ chi cực. [Đạo Đức Kinh, chương 68]

善為士者不武。 善戰者不怒。 善勝敵者不與。 善用人者為之下。 是謂不爭之德, 是謂用人之力, 是謂配天, 古之極。 《道德經 • 第六十八章》

【Dịch】 Tướng giỏi không dùng vũ lực. Người chiến đấu giỏi không giận dữ. Người thắng giỏi không giao tranh với địch. Khéo dùng người là hạ mình dưới họ. Đó là cái đức của không tranh. Đó là dùng sức người. Đó là phối hợp với Trời, vốn là điều rất quan trọng của người xưa.

228. Dụng binh hữu ngôn, ngô bất cảm vi chủ, nhi vi khách. Bất cảm tiến thốn nhi thoái xích. Thị vị hành vô hành, nhương vô tý nhưng vô địch, chấp vô binh. Họa mạc đại ư khinh địch khinh địch cơ táng ngô bảo. Cố kháng binh tương gia, ai giả thắng hĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 69]

用兵有言:吾不敢為主, 而為客。 不敢進寸而退尺。 是謂行無行, 攘無臂, 扔無敵, 執無兵。 禍莫大於輕敵, 輕敵幾喪吾寶。 故抗兵相加, 哀者勝矣。 《道德經 • 第六十九章》

【Dịch】 Dụng binh có câu:  «Làm khách chớ không làm chủ. Lui một thước chớ không dám tiến một tấc.» Cho nên thánh nhân đi mà chẳng đi, xắn tay áo mà không dùng tay, bắt địch mà không đối địch, cầm binh khí mà không có binh khí. Không tai họa nào cho bằng khinh địch, khinh địch là gần mất mạng. Cho nên khi hai phe giao chiến, ai thương xót binh sĩ thì sẽ thắng.

229. Thiên chi đạo bất tranh nhi thiện thắng. [Đạo Đức Kinh, chương 73]

天之道不爭而善勝。 《道德經 • 第七十三章》

【Dịch】 Đạo Trời không tranh mà vẫn giỏi khuất phục thiên hạ.

230. Thiên chi đạo, lợi nhi bất hại. Thánh nhân chi đạo, vi nhi bất tranh. [Đạo Đức Kinh, chương 81]

天之道, 利而不害;  聖人之道, 為而不爭。 《道德經 • 第 81 章 》

【Dịch】 Đạo trời làm lợi chứ không gây hại. Đạo thánh nhân thi hành mà không tranh với ai.

231. Chúng nhân thượng lực bất thượng đức nhi cầu thắng nhân, cố nhân giai thủ tiên. Thánh nhân bất cảm vi thiên hạ tiên nhi đạo hậu kỳ thân, cố kỷ độc xử hậu. Kỷ độc xử hậu, tắc tri bạch nhi thủ hắc, tri vinh nhi thủ nhục, vinh nhục nhất thị, bất dĩ tự háo lụy kỳ tâm, thị vị thụ thiên hạ chi cấu. Nhược nhiên, tắc dĩ nhu nhược khiêm hạ vi biểu, dĩ không hư bất hủy vạn vật vi thực, xử hồ bất tranh chi địa, tích chúng tiểu bất thắng vi đại thắng dã. Thường xử bất tranh chi địa, vật thục năng dữ chi tranh hồ! [Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa, chương 22]

眾人尚力不尚德而求勝人, 故人皆取先。 聖人不敢為天下先而道後其身, 故己獨處後。 己獨處後, 則知白守黑, 知榮守辱, 榮辱一視, 不以自好累其心, 是謂受天下之垢。 若然, 則以濡弱謙下為表, 以空虛不毀萬物為實, 處乎不爭之地, 積眾小不勝為大勝也。 常處不爭之地, 物孰能與之爭乎? 《道德真經疏義 • 第二十二章》

【Dịch】 Mọi người đều trọng thế lực, không trọng đức, nên luôn mong cầu vượt hơn người khác. Cho nên họ đều muốn giữ phần trên trước. Thánh nhân không dám ở trên trước thiên hạ, nên mới nói là để thân ra sau. Vì thế mà một mình ở phía sau. Một mình ở phía sau tức là biết trắng nên giữ lấy đen, biết vinh nên giữ lấy nhục;  xem vinh nhục chỉ là một, không lấy cái sở thích của mình để làm hệ lụy tâm;  đó gọi là nhận lấy sự sỉ nhục của thiên hạ. Nếu đúng vậy, tức là bên ngoài thể hiện sự nhu thuận, mềm yếu, khiêm hạ;  xem sự trống rỗng và không hủy hoại vạn vật là điều thực tế;  sống ở chỗ không tranh chấp;  tích chứa cái nhỏ nhặt và không hơn người để làm cái thắng lớn. Thường sống ở chỗ không tranh chấp, nên không ai tranh với ngài!

232. Tranh, nghịch đức dã. Trí giả dĩ điềm hòa tương dưỡng, lý xuất vu tính, hà sự can tranh. Đức đãng hồ danh, bỉ diệc dĩ danh thắng ngã hĩ;  trí xuất hồ tranh, bỉ diệc dĩ trí dữ ngã tranh hĩ. Duy tài toàn nhi đức bất hình giả, du tâm hồ đức chi hòa, vật thị kỳ sở nhất nhi bất kiến kỳ sở táng, nhiên hậu vô danh tranh chi lụy yên. Hà vị tài toàn? Bất cốt kỳ hoà nhi dữ vạn vật vi xuân. Hà vi đức bất hình? Vật thất kỳ tính nhi đức đồng vu sơ, độc lập hồ bất tranh chi địa, vị thường tiên nhân nhi thường tùy nhân. Nhược ai đài tha chi hòa nhi bất xướng, thị tất tài toàn nhi đức bất hình giả dã. Cố Trọng Ni viết:  Vị thường hữu văn kỳ xướng giả, thường hòa nhân nhi dĩ hĩ, phi bất tranh chi đức hà dĩ dữ thử. [Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa, chương 68]

爭, 逆德也。 智者以恬和相養, 理出于性, 何事干爭。 德蕩乎名, 彼亦以名勝我矣; 智出乎爭, 彼亦以智與我爭矣。 惟才全而德不形者, 游心乎德之和, 物視其所一而不見其所喪, 然後無名爭之累焉。 何謂才全? 不滑其和而與萬物為春。 何為德不形? 勿失其性而德同于初, 獨立乎不爭之地, 未嘗先人而常隨人。 若哀駘他之和而不唱, 是必才全而德不形者也。 《道德真經疏義 • 第六十八章》

【Dịch】 Tranh chấp là nghịch với đức. Người trí thì lấy điềm đạm và hoà ái mà tu dưỡng nhau;  tình lý của họ phát xuất từ thiên tính, việc gì mà phải tranh chấp? Phóng túng đức mà tranh danh thì kẻ khác cũng lấy danh mà thắng ta;  dùng trí mà tranh chấp thì kẻ khác cũng lấy trí để tranh với ta. Chỉ có người tài cán toàn diện và không phóng túng đức mới yên tâm trong cõi thái hòa của đức, xem vạn vật như một, không quan tâm sự mất mát của chúng, như thế sẽ không khổ lụy vì tranh danh. Tài cán toàn diện là gì? Tức là không làm rối loạn sự an tĩnh nội tâm và cùng thư thái với vạn vật. Không phóng túng đức là gì? Tức là đừng đánh mất chân tính và hãy giữ cho đức vẫn nguyên vẹn như ban sơ. Tự mình ở vị thế không tranh chấp, không hề đứng trên trước ai, mà tuỳ theo họ. Đối với sự bình hoà của người khác nếu thấy xúc động thì cũng không nói ra. Người như thế nhất định là tài cán toàn diện và không phúng túng đức.

233. Nhân giả vô địch, tuy bất tranh nhi bất thắng. Thi viết:  «Thời mỹ hữu tranh, phù duy bất tranh, cố nhân diệc nhĩ kỳ tranh.» [Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa, chương 69]

仁者無敵, 雖不爭而不勝。 詩曰:  時靡有爭, 夫惟不爭, 故人亦弭其爭。 《道德真經疏義 • 第六十九章》

【Dịch】 Người nhân ái sẽ không có đối thủ, tuy không tranh với ai mà không ai có cách nào thắng được. Thơ xưa chép:  «Bấy giờ không tranh chấp;  chỉ khi ta không tranh chấp thì người khác cũng không tranh với ta.»

234. Thuận nhi bất nghịch, kỳ động nhược thủy;  ứng nhi bất tàng, kỳ tĩnh nhược giám;  hoạ nhi bất xướng, kỳ ứng nhược hưởng. Tuy vi dã, nhi vi xuất vu vô vi, thể thiên nhi dĩ, hà tranh chi hữu? Tư đức dã nhi đồng hồ đạo. [Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa, chương 81]

順而不逆, 其動若水; 應而不藏, 其靜若鑒; 和而不唱, 其應若響。 雖為也, 而為出于無為, 体天而已, 何爭之有? 茲德也而同乎道。 《道德真經疏義 • 第八十一章》

【Dịch】 Thuận theo mà không nghịch lại, tức là hành động giống như nước;  đáp ứng mà không ẩn tàng, tức là tĩnh lặng như gương soi;  phụ họa mà không ca hát, tức là sự phản ứng như tiếng dội. Tuy hành động, nhưng hành động phát xuất từ vô vi, chỉ là thể hiện thiên đạo thôi, nào có tương tranh với ai? Cái đức đó đồng nhất với đạo.

235. Thiên chi đạo lợi nhi bất hại, nhân chi đạo vi nhi bất tranh, cố dữ thời tranh giả xương, dữ nhân tranh giả vong. Thị dĩ tuy hữu giáp binh vô sở trần giả, dĩ kỳ bất tranh dã. [Vân Cấp Thất Thiêm, Thất Bộ Danh Số Yếu Ký]

天之道利而不害, 人之道為而不爭, 故與時爭者昌, 與人爭者亡。 是以雖有甲兵無所陳者, 以其不爭也。 《雲笈七簽 • 七部名數要記》

【Dịch】 Đạo trời làm lợi vạn vật chứ không gây hại;  đạo người là hành động nhưng không tranh. Cho nên hễ cạnh tranh với thời gian thì tốt, còn cạnh tranh với người thì bị vong mạng. Do đó, kẻ tuy có vũ khí cũng không đem ra uy hiếp ai, là do không ai tranh với hắn.

236. Vi giả tranh chi đoan, hữu vi tắc tất hữu tranh, thánh nhân chi đạo tuy vi nhi bất tranh, dĩ bất vi nhi vi chi, thị dĩ bất tranh. [Đạo Tạng, Đạo Đức Kinh chú]

為者爭之端, 有為則必有爭, 聖人之道雖為而不爭, 以不為而為之, 是以不爭。 《道藏 • 道德經注》

【Dịch】 Làm là đầu mối của tranh chấp, có làm (hữu vi) ắt sẽ có tranh chấp. Đạo thánh nhân tuy có làm nhưng không tranh chấp;  lấy cái ‘không làm’ để làm, nên không tranh ai.

237. Phù bất tường giả nhân sở bất tranh, cấu nhục giả nhân sở bất dục. Năng thụ nhân sở bất dục giả tắc túc hĩ, đắc nhân chi sở bất tranh giả tắc ninh hĩ. [Vân Cấp Thất Thiêm, Thất Bộ Danh Số Yếu Ký]

夫不祥者人所不爭, 垢辱者人所不欲。 能受人所不欲者則足矣, 得人之所不爭者則寧矣。 《雲笈七簽 • 七部名數要記》

【Dịch】 Nói chung, thiên hạ xem sự bất tranh là không tốt;  xem sự bất dục là sỉ nhục. Ai nhận được cái mà thiên hạ không ham thì sẽ có đầy đủ;  ai có được cái mà thiên hạ không tranh giành thì sẽ yên ổn.

**********************

11. QUẢ DỤC 寡 欲 – NHU NHƯỢC 柔 弱

238. Tội mạc đại vu khả dục, họa mạc đại vu bất tri túc, cữu mạc đại vu dục đắc. Cố tri túc chi túc thường túc hĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 46]

罪莫大于可欲, 禍莫大于不知足, 咎莫大于欲得。 故知足之足常足矣。 《道德經 • 第四十六章》

【Dịch】 Không tội nào lớn bằng có dục vọng;  không họa nào lớn bằng không biết đủ;  không hại nào lớn bằng mong có. Cho nên biết mình có đủ, thì luôn đủ.

239. Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục, tuyệt học vô ưu. [Đạo Đức Kinh, chương 19]

見素抱朴, 少私寡欲, 絕學無憂。 《道德經 • 第十九章》

【Dịch】 Hãy thể hiện sự trinh nguyên và ôm giữ sự chất phác;  hãy bớt sự tư lợi và giảm ham muốn;  hãy dứt tuyệt học vấn và chớ lo âu.

240. Danh dã giả, tương yết dã;  tri dã giả, tranh chi khí dã. Nhị giả, hung khí, phi sở dĩ tận hành dã. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

名也者, 相軋也; 知也者, 爭之器也。 二者, 凶器, 非所以盡行也。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Do cầu danh mà người ta chèn ép nhau;  mưu trí trở thành vũ khí để tương tranh;  danh và mưu trí đều là khí cụ không tốt vì làm hại phẩm hạnh.

241. Kỳ thị dục thâm giả, kỳ thiên cơ thiển. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

其嗜欲深者, 其天機淺。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Ai thị dục sâu đậm thì bản chất tự nhiên của hắn nông nổi.

242. Doanh thị dục, trưởng háo ố, tắc tính mệnh chi tình bệnh hĩ. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

盈嗜欲, 長好惡, 則性命之情病矣。 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 Thị dục càng tràn đầy, yêu ghét càng gia tăng, thì tính mệnh sẽ lâm nguy.

243. Đa dục khuy nghĩa, đa ưu hại trí, đa cụ hại dũng. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]

多欲虧義, 多憂害智, 多懼害勇。 《淮南子 • 繆稱訓》

【Dịch】 Dục vọng nhiều làm hại nghĩa, âu lo nhiều làm hại trí, sợ hãi nhiều làm hại dũng khí.

244. Tỉnh sự chi bản tại tiết dục. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]

省事之本在節欲。 《淮南子 • 詮言訓》

【Dịch】 Căn bản của sự xem xét sự vật là ở việc hạn chế dục vọng.

245. Giám minh giả, trần cấu phất năng mai;  thần thanh giả, thị dục phất năng loạn. [Hoài Nam Tử, Xúc Chân Huấn]

鑒明者, 塵垢弗能薶; 神清者, 嗜欲弗能亂。 《淮南子 • 俶真訓》

【Dịch】 Gương sáng, bụi bặm không làm dơ bẩn được;  thần thanh trong, thị dục không làm cho rối loạn được.

246. Mục vọng thị tắc dâm, nhĩ vọng thính tắc hoặc, khẩu vọng ngôn tắc loạn. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]

目妄視則淫, 耳妄聽則惑, 口妄言則亂。 《淮南子 • 主術訓》

【Dịch】 Mắt thấy điều quấy ắt dâm, tai nghe điều quấy ắt nghi hoặc, miệng nói điều quấy ắt loạn.

247. Nhật nguyệt dục minh, phù vân cái chi;  hà thủy dục thanh, sa thạch uế chi;  nhân tính dục bình, thị dục hại chi. [Hoài Nam Tử, Tề Tục Huấn]

日月欲明, 浮雲蓋之; 河水欲清, 沙石穢之;  人性欲平, 嗜欲害之。 《淮南子 • 齊俗訓》

【Dịch】 Mặt trời và mặt trăng muốn sáng nhưng bị mây che khuất;  sông ngòi muốn trong vắt nhưng bị cát đá làm ô uế;  nhân tính muốn an bình nhưng bị thị dục làm hại.

248. Thiểu tư tắc bất thác hoặc dĩ trước vật, quả dục tắc bất đạo túng nhi táng kỷ, tư giả nhược phi khử loạn tính chi bản hà dĩ tai. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]

少思則不錯惑以著物, 寡欲則不盜縱而喪己, 斯者若非去亂性之本何以哉。 《道藏 • 道德真經解》

【Dịch】 Giảm bớt tư lự thì sẽ không bị lỗi lầm và nghi hoặc mà chấp trước ngoại vật;  giảm bớt dục vọng thì sẽ không phóng túng và trộm cắp để bị vong mạng;  hai thứ đó (tức tư lự và dục vọng) nếu không trừ khử, thì cái gốc của sự rối loạn chân tính làm sao hết?

249. Tự doanh vi tư, nhi dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục. Thiểu tư quả dục, tắc định hồ nội ngoại chi phân, biện hồ chân ngụy chi quy, đức toàn nhi phục. Tế vu nhất kỷ tắc thất kỳ đại đồng, cố tự doanh vi tư. Khiên vu lợi dục tắc cốt kỳ thanh tĩnh, cố dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục dã. Tư dã dục dã, giai ngoại du thị vụ, nhi phi nội quán;  giai nhân ngụy thị tư, nhi phi tính chân. Duy thiểu tư quả dục nhi hậu năng định hồ nội ngoại chi phân, nhi tri sở khinh trọng;  biện hồ chân ngụy chi quy, nhi minh vu bản mạt. Bất thiên kỳ đức nhi đức toàn, bất dâm kỳ tính nhi tính phục. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh giải]

自營為私, 而養心莫善于寡欲。 少思寡欲, 則定乎內外之分, 辨乎真偽之歸, 德全而復。 蔽于一己則失其大同, 故自營為私。 牽于利欲則汩其清靜, 故養心莫善于寡欲也。 私也欲也, 皆外游是務, 而非內觀; 皆人偽是滋, 而非性真。 惟少思寡欲而後能定乎內外之分, 而知所輕重; 辨乎真偽之歸, 而明于本末。 不遷其德而德全, 不淫其性而性復。 《道藏 • 道德真經疏義》

【Dịch】 Mưu cầu cho mình vì tư lợi;  nhưng dưỡng tâm thì không gì tốt bằng bớt dục vọng. Giảm suy tư và bớt dục vọng tức là xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, là phân biệt được chỗ quay về của thật với giả;  đức sẽ toàn vẹn và phục hồi.
Che đậy bản ngã tức là đánh mất sự đại đồng, tức là mưu cầu cho mình vì tư lợi. Bị cái lợi và dục vọng lôi kéo thì làm rối loạn sự thanh tĩnh, nên dưỡng tâm không gì tốt bằng bớt dục vọng.
 Hễ tư lợi thì ham muốn, đều là hướng ra ngoại giới chứ không phải là nhìn vào bên trong;  đều là cái giả dối và bẩn đục của con người chứ không phải là sự chân thật của thiên tính.
Chỉ có thiểu tư quả dục mới xác định sự phân cách giữa nội tâm với ngoại giới, và biết nặng với nhẹ;  chỉ có phân biệt được chỗ quay về của thật với giả, và hiểu rõ gốc với ngọn.
Không dời chuyển đức của mình thì đức toàn vẹn;  không sử dụng quá mức thiên tính của mình thì thiên tính phục hồi.

250. Chúng nhân kiến vật bất kiến đạo, cố sở kiến vô phi dục giả;  thánh nhân kiến đạo bất kiến vật, cố sở kiến vô khả dục giả. Sở kiến vô khả dục giả, tắc dĩ sở kiến thắng sở đổ giả dã, thị dĩ linh đài hữu trì nhi cốt cử tiêu;  sở kiến vô phi dục giả, tắc dĩ sở đổ thắng sở kiến dã, thị dĩ trục vật vong phản, thất chân trạm ngụy. Cái mục chi vu sắc, nhĩ chi vu thanh, khẩu chi vu vị, tỵ chi vu xú, thị chi sở dục dã.
Vọng dung chi nhân, bất tri ngũ sắc loạn mục, ngũ thanh loạn nhĩ, ngũ vị trọc khẩu, ngũ xú huân tỵ, quyết tính mệnh chi tình dĩ tranh chi, nhương kỳ đản man, vô sở bất chí, lụy vu hậu lợi giả, dĩ thân tuẫn lợi;  lụy vu danh cao giả, dĩ thân tuẫn danh. Nhược Bá Di dữ Đạo Chích, nhất tắc tử danh, nhất tắc tử lợi, phàm dĩ kiến danh lợi chi khả dục cố nhĩ. Kỳ nhiệt tiêu hỏa, đắc chi tắc hỉ;  kỳ hàn ngưng băng, thất chi tắc cụ, bất năng tháo chi nhi tồn kỳ tâm, chí vu quán loạn phẫn kiêu nhi bất khả hệ, thị do dĩ Tùy Hầu chi châu đạn thiên nhận chi tước dã, khởi bất hoặc tai! Thánh nhân dị hồ thử, bất tựu lợi, bất tỵ hại, tri lợi hại chi đồng nguyên;  bất vinh thông, bất sửu cùng, dĩ cùng thông nhất trí. Dục lự bất manh, nhất hào bất anh, ngô tâm trạm nhiên, vật mạc năng dao, cảm nhi toại thông. Năng định năng ứng, chỉ nhi vô sở ngại, bất giao vu tĩnh;  động nhi vô sở trục, bất lưu vu động. Phúc khước vạn phương, trần hồ tiền bất đắc dĩ nhập kỳ xá, thục năng loạn chi. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]

眾人見物不見道, 故所見無非欲者; 聖人見道不見物, 故所見無可欲者。 所見無可欲者, 則以所見勝所睹者也, 是以靈台有持而滑舉消; 所見無非欲者, 則以所睹勝所見也, 是以逐物忘返, 失真湛偽。 蓋目之于色, 耳之于聲, 口之于味, 鼻之于臭, 是之所欲也。 妄庸之人, 不知五色亂目, 五聲亂耳, 五味濁口, 五臭薰鼻, 訣性命之情以爭之, 攘奇誕謾, 無所不至, 累于厚利者, 以身徇利; 累于名高者, 以身徇名。 若伯夷與盜跖, 一則死名, 一則死利, 凡以見名利之可欲故爾。 其熱焦火, 得之則喜; 其寒凝冰, 失之則懼, 不能操之而存其心。 至于摜亂僨驕而不可系, 是猶以隋侯之珠彈千仞之雀也, 豈不惑哉! 聖人異乎此, 不就利, 不避害, 知利害同源; 不榮通, 不丑窮, 以窮通為一致。 欲慮不萌, 一毫不攖, 吾心湛然, 物莫能搖, 感而遂通。 能定能應, 指而無所礙, 不膠于靜; 動而無所逐, 不流于動。 覆卻萬方, 陳乎前得以入其舍, 孰能亂之。 《道藏 • 道德真經疏義》

【Dịch】 Mọi người chỉ thấy vật chất chứ không thấy đạo, nên cái thấy đó có dục vọng;  thánh nhân chỉ thấy đạo chứ không thấy vật chất, nên cái thấy đó vô dục.
Cái thấy mà vô dục thì tri kiến vượt trội cái được thấy, do đó linh đài (tâm linh) được gìn giữ và các sự nhiễu loạn bị tiêu trừ.
Cái thấy mà có dục vọng thì cái được thấy vượt trội tri kiến, nên người ta chỉ truy đuổi ngoại vật mà quên mất đường trở về, đánh mất cái chân thực mà ham mê cái giả dối.
Mắt người vụ sắc đẹp, tai người vụ âm thanh, miệng người vụ vị ngon, mũi người vụ mùi thơm, đó là ham muốn. Người tầm thường và mê lầm thì không biết rằng 5 sắc loạn mắt, 5 thanh loạn tai, 5 vị làm dơ miệng, 5 mùi làm ngạt mũi;  nên họ bất chấp tính mệnh mà trành giành các thứ đó, lừa dối nhau, không chỗ nào không tới. Kẻ lụy vì lợi dày sẽ đem thân chết vì lợi;  kẻ lụy vì danh cao sẽ đem thân chết vì danh;  giống như Bá Di và Đạo Chích – người chết vì danh, kẻ chết vì lợi – tức đều là vì danh và lợi mà nảy sinh dục vọng.

Danh lợi như cái nóng sinh ra lửa, được chúng thì vui;  danh lợi như cái lạnh làm đóng băng, mất chúng thì lo buồn;  họ không thể làm chủ được tâm, đến nỗi rối tâm loạn trí, kiêu căng phóng túng, không kiềm chế được;  giống như lấy viên ngọc châu cực quý làm đạn bắn con chim sẻ bay cao mấy ngàn thước. Đó chẳng phải là sai lầm sao!

Thánh nhân thì khác. Ngài không vụ lợi, không tránh hại, biết lợi và hại cùng nguồn gốc;  không lấy sự thông đạt làm vinh, không lấy sự khốn cùng làm nhục, xem khốn cùng và thông đạt như nhau.
Ngài không khởi tâm vì dục vọng và tư lự, một tí xíu cũng không bị rối loạn;  nội tâm luôn thanh tĩnh sáng láng, không dao động vì ngoại vật;  cảm ứng mà thông đạt. Tâm ngài an định và đáp ứng được, tĩnh mà không có chỗ trở ngại, không kết dính vào tĩnh;  động mà không có chỗ truy đuổi, không trôi theo động.

Vạn vật trước mắt thánh nhân dù biến hoá muôn phương cũng không thể xâm nhập vào nội tâm (linh đài) của ngài, như vậy chẳng có gì nhiễu loạn ngài được

251. Manh vu tâm giả, danh viết hành nghiệp, hành nghiệp sở tháo, danh viết thiện ác, cố túng dục vi ác, tức tham vi thiện. Thiện giả, năng vi tế tục xuất trần chi ích;  ác giả, tất tác bại đức nhiễm uế chi tư. Cố thánh nhân tri vô hình nhi dụng giả, tâm dã;  hình bất tự vận giả, thân dã. Nhiên tâm bất ký vu thân tắc bất năng hiển năng bị dụng, thân bất tạ vu tâm tắc vong diệt bất khởi. Cố thân tâm thể dị nhi lý phù, trí dụng vạn thiện nhi thú nhất. Cố năng biểu lý vi dụng, động tĩnh tương trì. Thân vô độc tại, vi tâm sở sử, tâm bất thị tĩnh, duy dục phan duyên. Thân lượng vô nhai, nạp hành bất tức. Cố tâm vi phàm thánh chi căn, thân vi khổ lạc chi tụ. Thánh nhân tri hoạn sin vu tâm, khiên tất do kỷ, thị dĩ thanh tâm trừ hoạn, khiết chí tiêu khiên. Phàm dục chi lưu, kỳ tức bất nhiên, tứ tình túng dục, bất tri dục xuất vu tâm;  vũ mạn căng xa, bất tri mạn sinh vu kỷ. [Vân Cấp Thất Thiêm, Chúng Chân Ngữ Lục]

萌于心者, 名曰行業, 行業所操, 名曰善惡, 故縱欲為惡, 息貪為善。 善者, 能為濟俗出塵之益; 惡者, 必作敗德染穢之資。 故聖人知無形用者, 心也; 形不自運者, 身也。 然心不記于身則不能顯能備用, 身不藉于心則亡滅不起。 故身心体異而理符, 致用萬善而趣一。 故能表里為用, 動靜相持。 身無獨在, 為心所使, 心不示靜, 惟欲攀緣。 身量無涯, 納行不息。 故心為凡聖之根, 身為苦樂之聚。 聖人知患生于心, 愆必由己, 是以清心除患, 潔志消愆。 凡欲之流, 其即不然, 肆情縱欲, 不知欲出于心; 侮慢矜奢, 不知慢生于己。 《雲笈七簽眾真語錄》

【Dịch】 Cái từ trong tâm manh động phát ra thì gọi là tạo nghiệp, cái chi phối sự tạo nghiệp gọi là thiện ác. Cho nên phóng túng dục vọng là ác, đình chỉ tham lam là thiện. Điều thiện là ích lợi cứu giúp người đời và siêu thoát thế tục. Điều ác là tạo tác bại hoại đức hạnh và tiêm nhiễm cái xấu.

Cho nên thánh nhân hiểu rõ một thứ tuy vô hình nhưng công dụng rất lớn, đó là tâm;  và cũng hiểu rõ một thứ hữu hình nhưng không tự vận động được, đó là thân. Tất nhiên nếu tâm không gởi vào thân thì không thể hiện mọi công dụng;  và thân nếu không nương nhờ tâm thì sẽ diệt vong, không khởi động được.

Cho nên tâm và thân tuy thể khác nhau nhưng lý thì phù hợp, có thể tận dụng mọi điều tốt để hướng đến một mục tiêu. Do đó ngoài và trong hỗ tương tác dụng, động và tĩnh cùng phối hợp nhau. Thân không thể độc lập tồn tại, mà nó do tâm sai khiến. Tâm không an tĩnh là do dục vọng gây ra.

Sức chịu đựng của thân thì vô hạn mà hành vi tạo tác thì không ngưng. Cho nên tâm là căn bản của phàm và thánh. Thân là chỗ hội tụ của khổ và sướng. Thánh nhân hiểu hoạ hoạn do tâm mà phát sinh, lỗi lầm là do bản thân tạo tác. Do đó thanh trừng tâm thì trừ được họa hoạn;  làm thuần khiết ý chí thì hết lỗi lầm.

Bọn người tầm thường thì không thế;  họ phóng túng tình dục, không biết dục vọng phát sinh do tâm;  họ kiêu căng ngạo mạn, không biết sự ngạo mạn là do bản thân tạo tác.

252. Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh, nhu nhược thắng cương cường. [Đạo Đức Kinh, chương 36]

將欲歙之, 必固張之﹔將欲弱之, 必固強之﹔將欲廢之, 必固興之﹔將欲奪之, 必固與之。 是謂微明。 柔弱勝剛強。 《道德經 • 第三十六章》

【Dịch】 Muốn nó co lại, tất phải giương nó thẳng. Muốn nó yếu, tất phải làm nó mạnh lên. Muốn phế bỏ nó đi, tất phải làm cho hưng vượng. Muốn đoạt nó cái gì, tất phải cho nó cái khác. Thế gọi là «làm cho cái sáng trở nên tế vi».

253. Phản giả Đạo chi động. Nhược giả Đạo chi dụng. [Đạo Đức Kinh, chương 40]

反者道之動﹔弱者道之用。 《道德經 • 第四十章》

【Dịch】 Trở lại là cái động của đạo. Yếu đuối là cái dụng của đạo.

254. Nhân chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy kỳ tử dã khô cảo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ, nhu nhược giả sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc chiết. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng. [Đạo Đức Kinh, chương 76]

人之生也柔弱, 其死也堅強。 萬物草木之生也柔脆, 其死也枯槁。 故堅強者死之徒, 柔弱者生之徒。 是以兵強則不勝, 木強則折, 強大處下, 柔弱處上。 《道德經 • 第七十六章》

【Dịch】 Khi sống [thể chất] người ta mềm yếu;  lúc chết thì [thi thể] cứng đơ. Vạn vật và thảo mộc khi sống thì mềm yếu;  lúc chết thì khô héo. Cho nên cứng mạnh cùng một bọn với chết;  mềm yếu cùng một bọn với sống. Thế nên, quân đội mạnh thì không thể thủ thắng;  cây khoẻ thì phải bị búa rìu đốn;  cái cứng mạnh chiếm địa vị thấp hơn;  cái nhu nhược chiếm địa vị cao hơn.

255. Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng, dĩ kỳ vô dĩ dịch chi. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Thiên hạ mạc bất tri, mạc năng hành. [Đạo Đức Kinh, chương 78]

天下莫柔弱於水, 而功堅強者莫之能勝, 以其無以易之。 柔勝剛, 弱勝強, 天下莫不知 , 莫能行。 《道德經 • 第七十八章》

【Dịch】 Trên đời chẳng có gì mềm yếu bằng nước. Để công phá cái cứng mạnh thì chẳng gì hơn nước. Đó là vì không có cái gì thay thế nó được. Ai cũng biết yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng;  nhưng chẳng ai biết thi hành điều đó.

256. Chuyên khí trí nhu, năng anh nhi hồ? [Đạo Đức Kinh, chương 10]

專氣致柔, 能如嬰兒乎? 《道德經 • 第十章》

【Dịch】 Luyện khí một cách chuyên nhất thân hình sẽ mềm mại. Ngươi có thể [tập luyện để thân xác và tinh thần] giống như trẻ thơ không?

257. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu thường bất thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo viết nhu;  thường bất thắng chi đạo viết cường. Nhị giả dị tri, nhi nhân vị chi tri. Cố thượng cổ chi ngôn:  Cường, tiên bất kỷ nhược giả;  nhu, tiên xuất vu kỷ giả. Tiên bất kỷ nhược giả, chí vu nhược kỷ, tắc đãi hĩ. Tiên xuất vu kỷ giả, vong sở đãi hĩ. Dĩ thử thắng nhất thân nhược đồ, dĩ thử nhậm thiên hạ nhược đồ, vị bất thắng nhi tự thắng, bất nhậm nhi tự nhậm dã. [Liệt Tử, Hoàng Đế]

天下有常勝之道, 有常不勝之道。 常勝之道曰柔; 常不勝之道曰強。 二者易知, 而人未之知。 故上古﹕強, 先不己若者; 柔, 先出于己者。 先不己若者, 至于若己, 則殆矣。 先出于己者, 亡所殆矣。 以此勝一身若徒, 以此任天下若徒, 謂不勝而自勝, 不任而自任也。 《列子 • 黃帝》

【Dịch】 Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Hai cách thức này rất dễ biết thế mà người ta không hề biết. Cho nên lời xưa có nói:  mạnh là kẻ chiến thắng người không bằng mình;  yếu là kẻ tự thắng mình.

Kẻ chiến thắng người không bằng mình, đến khi gặp đối thủ hơn mình, ắt sẽ bị nguy hiểm. Kẻ tự thắng mình, không bị nguy hiểm gì;  lấy lý lẽ đó để tự thắng bản thân và ứng phó với thiên hạ. Thế gọi là không cố ý thắng mà tự nhiên thắng;  không cố ý ứng phó mà tự nhiên ứng phó được.

258. Thiên hạ hữu thường thắng chi đạo, hữu bất thường thắng chi đạo. Thường thắng chi đạo tại nhu, bất thường thắng chi đạo tại cương. Duy phù thường thắng chi đạo tại nhu, thử cổ chi bác đại chân nhân tất dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu dã. Dĩ nọa nhược khiêm hạ vi biểu, tắc dĩ thâm vi căn, tất sự bất kiên, dĩ kiên tắc hủy cố dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]

天下有常勝之道, 有不常勝之道。 常勝之道在柔, 不常勝之道在剛。 惟夫常勝之道在柔, 此古之博大真人必以懦弱謙下為表也。 以懦弱為表, 則以深為根, 必事不堅, 以堅則毀故也。 《道藏道德真經疏義》

【Dịch】 Thiên hạ có cách thức luôn chiến thắng và cách thức luôn chiến bại. Cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại;  cách thức luôn chiến bại nằm ở sự mạnh mẽ. Chính vì cách thức luôn chiến thắng nằm ở sự mềm mại, cho nên các bậc chân nhân minh triết thuở xưa luôn tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ. Tỏ ra dáng vẻ mềm yếu và khiêm hạ là lấy sự thâm sâu làm gốc, tức là sự việc không nên kiên cường vì kiên cường dẫn đến hủy diệt.

259. Tự sự ngôn chi, cương cường túc dĩ thắng nhu nhược;  tự đạo ngôn chi, nhu nhược túc dĩ thắng cương cường. Tích vu nhu tắc cương;  tích vu nhược tắc cường. Dục cương tất dĩ nhu thủ chi, dục cường tất dĩ nhược bảo chi. Nhu chi thắng cương, nhược chi thắng cường, kỳ đắc thường thắng chi đạo dư! [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Sớ Nghĩa]

自事言之, 剛強足以勝柔弱; 自道言之, 柔弱足以勝剛強。 積于柔則剛; 積于弱則強。 欲剛必以柔守之, 欲強必以弱保之。 柔勝之剛, 弱之勝強, 其得常勝之道歟? 《道藏道德真經疏義》

【Dịch】 Về phương diện sự việc, cứng mạnh thắng mềm yếu;  về phương diện đạo, mềm yếu thắng cứng mạnh. Mềm được chất chứa lâu ngày sẽ thành cứng;  yếu được chất chứa lâu ngày sẽ thành mạnh. Muốn cứng, tất phải giữ lấy mềm;  muốn mạnh tất phải bảo hộ yếu. Mềm thắng cứng và yếu thắng mạnh, đó là cái đạo để luôn đắc thắng vậy.

260. Tính chi hư dã, hữu dĩ nạp thiên hạ chi chí biến;  hình chi vô dã, hữu dĩ địch thiên hạ chi chí đại, đạm túc vạn vật bất dĩ vi hữu, sung tắc tứ hải bất dĩ vi doanh, cơ chất tuy tiểu nhi thiên hạ mạc năng thần, vạn vật quy chi nhi bất vi kỳ chủ. Thử đạo chi nhu nhược, thục khả thắng tai? Sĩ đạo giả ninh bất ty dĩ tự xử, hoà nhi tự nhược, hựu doanh dĩ đãi kỷ, thường khiêm dĩ phụng nhân, hữu công nhi bất hữu, hữu năng nhi bất thị, bất tranh yên nhi thiên hạ dĩ vi tiên, bất căng yên nhi thiên hạ dĩ vi năng, thử sĩ đạo chi nhu nhược diệc bất khả thắng hĩ. Phản dĩ đại nhi khuất tiểu, cao nhi nhục ty, cầu vi cương cường dĩ thắng nhu nhược, thử cái bất tri đạo dã. [Đạo Tạng, Đạo Đức Chân Kinh Giải]

性之虛也, 有以納天下之至變; 形之無也, 有以敵天下之至大, 澹足萬物不以為有, 充塞四海不以為盈, 基質雖小而天下莫能臣, 萬物歸之而不為其主, 道之柔弱, 孰可勝哉? 仕道者寧不卑以自處, 和而自弱, 又盈以待己, 常謙以奉人, 有功而不有, 有能而不恃, 不爭焉而天下以為先, 不矜焉而天下以為能, 此仕道之柔弱亦不可勝矣。 反以大而屈小, 高而辱卑, 求為剛強以勝柔弱, 此蓋不知道也。 《道藏 • 道德真經解》

【Dịch】 Sự không hư của bản tính có thể dung chứa được mọi biến hoá kịch liệt của thiên hạ. Cái vô hình đó có thể đương đầu với cái cực đại của thiên hạ;  nó làm cho vạn vật sung túc nhưng không xem là mình có được;  lấp đầy bốn biển nhưng không xem là mình đã làm đầy. Bản chất tuy nhỏ nhưng nó không lệ thuộc thiên hạ;  vạn vật quy tụ về nó nhưng nó không xem mình là chủ. Đó là sự mềm yếu của đạo. Ai có thể thắng được nào?

Kẻ học đạo thà lấy cái không thấp thỏi để tự xử mình, nhưng đối với người thì tỏ ra hoà ái nhu nhược;  lấy cái tràn đầy để tự đòi hỏi nơi mình, nhưng đối đãi kẻ khác thì tỏ ra khiêm hạ;  có công lao nhưng không tự cho là có;  có tài năng nhưng không ỷ mình tài;  không tranh với ai nên được thiên hạ tôn kính là bậc trên;  không kiêu căng nên được thiên hạ xem trọng là nhân tài.

Cái nhu nhược của kẻ học đạo không ai có thể thắng được. Trái lại, ai ỷ lớn hiếp nhỏ, cậy cao khinh thấp, mong cầu cứng mạnh để thắng người, đều là những kẻ không hiểu đạo.

261. Thánh nhân chi khuất giả, dĩ cầu thân dã, uổng giả, dĩ cầu trực dã. Cố tuy xử tà tịch chi đạo, hành u muội chi đồ, tương dục hưng đại đạo, thành đại công. [Hoài Nam Tử, Thái Tộc]

聖人之屈者, 以求伸也, 枉者, 以求直也。 故雖處邪辟之道, 行幽昧之途, 將欲以興大道, 成大功。 《淮南子 • 泰族》

【Dịch】 Thánh nhân co lại là mong duỗi ra;  gấp cong lại là mong thẳng ra. Cho nên tuy ở chỗ ngược ngạo không chính đáng và đi trên đường tối tăm mà lòng vẫn hằng mong chấn hưng đại đạo và hoàn thành đại công.

———————–
**********************

12. THẾ THÁI 世 態 – NHÂN TÌNH 人 情

262. Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa. Trí huệ xuất, hữu đại ngụy. Lục thân bất hòa, hữu hiếu tử. Quốc gia hôn loạn, hữu trung thần. [Đạo Đức Kinh, chương 18]

大道廢, 有仁義﹔智慧出, 有大偽﹔六親不和, 有孝慈﹔國家昏亂, 有忠臣。 《道德經 • 第十八章》

【Dịch】 Khi đại đạo bị phế thì mới có nhân và nghĩa;  khi trí huệ xuất hiện thì mới có đại giả trá ngụy biện;  khi lục thân bất hòa thì mới có hiếu kính và từ ái;  khi quốc gia hôn ám rối loạn thì mới có trung thần.

263. Đại Đạo thậm di nhi dân háo kính. Triều thậm trừ, điền thậm vu, thương thậm hư, phục văn thái, đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư, thị vị đạo khoa, phi Đạo dã tai. [Đạo Đức Kinh, chương 53]

大道甚夷, 而民好徑。 朝甚除, 田甚蕪, 倉甚虛, 服文彩, 帶利劍, 厭飲食, 財貨有餘, 是謂盜夸。 非道也哉。 《道德經 • 第53 章》

【Dịch】 Đại đạo giản dị, thế mà con người lại thích bàng môn tả đạo. Triều đình lộng lẫy, ruộng nương hoang vu, kho lẫm trống hoác. Ăn mặc xênh xang, mang kiếm bén, ăn uống chán chê, đó gọi là đạo tặc khoe khoang, không phải là [noi theo] đại đạo.

264. Trực mộc tiên phạt, cam tỉnh tiên kiệt. [Trang Tử, Sơn Mộc]

直木先伐, 甘井先竭。 《莊子 • 山木》

【Dịch】 Cây thẳng bị đốn trước, giếng ngọt bị cạn trước.

265. Phù chí đức chi thế, đồng dữ cầm thú cư, tộc dữ vạn vật tịnh, ô hồ tri quân tử tiểu nhân tai! Đồng hồ vô tri, kỳ đức bất ly;  đồng hồ vô dục, thị vị tố phác. Tố phác nhi dân tính đắc hĩ. Cập chí thánh nhân, biết tát vi nhân, trĩ kỳ vi nghĩa, nhi thiên hạ thủy nghi hĩ. Thiền mạn vi lạc, trích tịch vi lễ, nhi thiên hạ thủy phân hĩ. Cố thuần phác bất tàn, thục vi hi tôn! Bạch ngọc bất hủy, thục vi khuê chương! Đạo đức bất phế, an thủ nhân nghĩa! Tính tình bất ly, an dụng lễ nhạc! Ngũ sắc bất loạn, thục vi văn thái! Ngũ thanh bất loạn, thục ứng lục luật! Phù tàn phác dĩ vi khí, công tượng chi tội dã;  hủy đạo đức dĩ vi nhân nghĩa, thánh nhân chi quá dã. [Trang Tử, Mã Đề]

夫至德之世, 同與禽獸居, 族與萬物并, 惡乎知君子小人哉! 同乎無知, 其德不離; 同乎無欲, 是以素朴。 素朴而民性得矣。 及至聖人, 蹩躠為仁, 踶跂為義, 而天下始疑矣。 澶漫為樂, 摘僻為禮, 而天下始分矣。 故純朴不殘, 孰為犧尊! 白玉不毀, 孰為珪璋! 道德不廢, 安取仁義! 性情不離, 安用禮樂! 五色不亂, 孰為文釆! 五聲不亂, 孰應六律! 夫殘朴以為器, 工匠之罪也; 毀道德以為仁義, 聖人之過也。 《莊子 • 馬蹄》

【Dịch】 Trong thời chí đức, loài người sống lẫn với cầm thú, đồng đẳng với vạn vật [như một nhà], nào có phân biệt quân tử với tiểu nhân? Vạn vật vô tri như nhau, không rời bỏ đức tính tự nhiên của mình;  họ cùng vô dục như nhau, nên gọi là chất phác. Chất phác tức là bản tính của dân chúng còn giữ được. Đến khi thánh nhân xuất hiện, tận tâm gắng sức làm điều nhân và nghĩa, thế là dân chúng bắt đầu rối tâm loạn trí. Thánh nhân cũng phóng túng âm nhạc và câu nệ nghi lễ, thế là dân chúng bắt đầu chia rẽ nhau. Nếu sự thuần phác không bị đẽo gọt thì sao có tửu khí để cúng? Nếu không hủy phá ngọc trắng thì sao có ngọc khuê ngọc chương [làm quai các cốc rượu để cúng]? Nếu đạo đức không bị phế thì sao có nhân nghĩa? Nếu tính và tình không phân ly thì sao dùng được lễ nhạc? Nếu năm màu không loạn thì sao có kiểu trang sức này nọ? Nếu năm thanh không rối thì sao có luật tắc âm nhạc? Tạc đẽo gỗ để làm vật dụng là tội ác của thợ khéo tay. Hủy bỏ đạo đức để thi hành nhân nghĩa đó là lỗi lầm của thánh nhân.

266. Phù Hách Tư thị chi thời, dân cư bất tri sở vi, hành bất tri sở chi, hàm bộ nhi nhiên, cổ phúc nhi du, dân năng dĩ thử hĩ! Cập chí thánh nhân, khuất chiết lễ nhạc dĩ khuông thiên hạ chi hình, huyện kỳ nhân nghĩa dĩ ủy thiên hạ chi tâm, nhi dân nãi thủy trĩ kỳ háo tri, tranh quy vu lợi, bất khả chỉ dã. Thử diệc thánh nhân chi quá dã. [Trang Tử, Mã Đề]

夫赫胥氏之時, 民居不知所為, 行不知所之, 含哺而然, 鼓腹而游, 民能以此矣! 及至聖人, 屈折禮樂以匡天下之形, 縣跂仁義以慰天下之心, 而民乃始踶跂好知, 爭歸于利, 不可止也。 此亦聖人之過也。 《莊子 • 馬蹄》

【Dịch】 Thời vua Hách Tư, dân chúng ở trong chỗ trú ẩn mà không biết mình làm gì;  đi ra khỏi chỗ ở mà không biết mình đi đâu;  vui thích với thức ăn trong miệng;  ăn no thì vỗ bụng đi chơi. Khả năng họ chỉ thế thôi. Đến khi thánh nhân xuất hiện, uốn nắn lễ nhạc để khuôn định hành vi và cử chỉ của con người, đề xướng nhân nghĩa để xoa dịu tâm họ. Từ đó dân chúng mới gắng sức ham trí xảo, tranh giành nhau chỉ vì tư lợi, không ai ngăn họ được nữa. Đây cũng là lỗi lầm của thánh nhân vậy.

267. Phù xuyên kiệt nhi cốc hư, khâu di nhi uyên thực. Thánh nhân dĩ tử, tắc đại đạo bất khởi, thiên hạ bình nhi vô cố hĩ! Thánh nhân bất tử, đại đạo bất chỉ. Tuy trọng thánh nhân nhi trị thiên hạ, tắc thị trọng lợi đạo chích dã. Vi chi đấu hộc dĩ lượng chi, tắc tịnh dữ đấu hộc nhi thiết chi;  vi chi nhân nghĩa dĩ kiểu chi, tắc tịnh dữ nhân nghĩa nhi thiết chi. Hà dĩ tri kỳ nhiên da? Bỉ thiết câu giả tru, thiết quốc giả vi chư hầu, chư hầu chi môn nhi nhân nghĩa tồn yên, tắc thị phi thiết nhân nghĩa thánh tri da? Cố trục vu đại đạo, yết chư hầu, thiết nhân nghĩa tịnh đấu hộc, quyền hành, phù tỷ chi lợi giả, tuy hữu hiên miện chi thưởng phất năng khuyến, phủ việt chi uy phất năng cấm. Thử trọng lợi đạo chích nhi sử bất khả cấm giả, thị nãi thánh nhân chi quá dã. [Trang Tử, Khư Khiếp]

夫川竭而谷虛, 丘夷而淵實。 聖人已死, 則大盜不起, 天下平而無故矣! 聖人不死, 大盜不止。 雖重聖人而治天下, 則是重利盜跖也。 為之斗斛以量之, 則并與斗斛而竊之; 為之權衡而稱之, 則并與權衡而竊之; 為之符璽以信之, 則并與符璽而竊之; 為之仁義以矯之, 則并與仁義而竊之。 何以知其然邪? 彼竊鉤者誅, 竊國者為諸侯, 諸侯之門而仁義存焉, 則是非竊仁義聖知邪? 故逐于大盜, 揭諸侯, 竊仁義并斗斛、權衡、符璽之利者, 雖有軒冕之賞弗能勸, 斧鉞之威弗能禁。 此重利盜跖而使不可禁者, 是乃聖人之過也。 《莊子 • 胠篋》

【Dịch】 Khi suối cạn, thung lũng trống;  khi gò bị san bằng, ao sâu cạnh nó sẽ bị lấp đầy. Khi thánh nhân chết, bọn trộm lớn sẽ không nổi dậy;  thiên hạ yên bình và không còn rối loạn nữa. Khi thánh nhân chưa chết thì bọn trộm lớn còn hoài. Thánh nhân càng trị thiên hạ thì bọn trộm như Đạo Chích càng thêm lợi. Nếu chế tạo cho thiên hạ cái đấu cái hộc để đo lường, thì thậm chí bằng thứ đấu hộc ấy ta đã dạy họ trộm cắp. Nếu chế tạo cho thiên hạ cái cân và quả cân, thì thậm chí bằng thứ cân và quả cân ấy ta đã dạy họ trộm cắp. Nếu chế tạo cho thiên hạ các tín vật như lệnh phù và ấn triện, thì thậm chí bằng thứ lệnh phù và ấn triện ấy ta đã dạy họ trộm cắp. Nếu qui định nhân nghĩa cho thiên hạ để uốn nắn họ, thì thậm chí bằng thứ nhân nghĩa ấy ta đã dạy họ trộm cắp. Làm sao ta biết được nó như thế? Kẻ trộm cắp một cái móc gắn đai lưng thì bị giết;  kẻ trộm cắp một nước thì thành chư hầu. Ở môn hộ của chư hầu ta thấy tồn chứa nhân nghĩa, đó chẳng phải là trộm cắp nhân và nghĩa, thánh và trí hay sao? Cho nên họ vội trở thành bọn trộm lớn, làm chư hầu, trộm cắp nhân nghĩa với mọi lợi lộc từ việc sử dụng đấu hộc, cái cân, lệnh phù ấn triện. Thậm chí các tước lộc (xe, mũ) của quan cũng không ảnh hưởng đến họ [để họ đi sang nẻo khác];  và uy lực của các thứ hình cụ như rìu búa cũng không làm họ sợ mà chùn tay. Cái lợi này thật lớn đối với kẻ trộm như Đạo Chích, cho nên không ai cấm chỉ được chúng. Đây là lầm lỗi của thánh nhân.

268. Dĩ xảo đấu lực giả, thủy hồ dương, thường tốt hồ âm, thái chí tắc đa kỳ xảo;  dĩ lễ ẩm tửu giả, thủy hồ trị, thường tốt hồ loạn, thái chí đa kỳ lạc. Phàm sự diệc nhiên, thủy hồ lượng, thường tốt hồ bỉ;  kỳ tác thủy dã giản, kỳ tương tất dã tất cự. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

以巧斗力者, 始乎陽, 常卒乎陰, 泰至則多奇巧; 以禮飲酒者, 始乎治, 常卒乎亂, 泰至多奇樂。 凡事亦然, 始乎諒, 常卒乎鄙; 其作始也簡, 其將畢也必巨。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Kẻ dùng trí xảo để thắng đối phương trong cuộc đấu sức, ban đầu thì đấu công khai đàng hoàng, nhưng kết cục thì thường dùng mưu mẹo, khi trận đấu lên đến cao trào thì họ dùng quỷ kế. Kẻ lấy lễ để uống rượu, ban đầu thì uống nghiêm chỉnh, nhưng kết cục thì thường hỗn loạn. Khi tiệc rượu lên đến cao trào thì họ cũng vui sướng cực điểm [và tung hê tất cả]. Sự đời cũng đúng như thế. Khởi đầu là thành tín, kết thúc là dối lừa;  khởi đầu là nhỏ nhặt, kết thúc là lớn chuyện.

269. Dự sinh tắc hủy tùy chi, thiện hiện tắc oán tòng chi. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]

譽生則毀隨之, 善見則怨從之。 《淮南子 • 詮言訓》

【Dịch】 Khen ngợi phát sinh thì phỉ báng nối tiếp theo sau. điều thiện xuất hiện thì oán hận nối tiếp theo sau.

270. Lương tuấn bại vu chuyết ngự, trí sĩ chất vu ám thế. [Bão Phác Tử Ngoại Thiên, Quan Lý]

良駿敗于拙御, 智士躓于暗世。 《抱朴子外篇 • 官理》

【Dịch】 Ngựa giỏi bị hỏng vì tay xa phu kém;  kẻ sĩ tài trí bị khốn đốn vì thời thế hôn ám.

271. Tân kiếm dĩ trá khắc gia giá, tệ phương dĩ ngụy đề hiện bảo. [Bãõo Phác Tử Ngoại Thiên, Quân Thế]

新劍以詐刻加價, 弊方以偽題見寶。 《抱朴子 • 外篇鈞世》

【Dịch】 Kiếm mới nhờ chữ khắc giả mạo trên nó mà tăng thêm giá trị;  thang thuốc dở nhờ ghi giả mạo tên họ danh y lên nó mà trở thành thuốc quý.

272. Phù lưỡng hỉ tất đa dật mỹ chi ngôn, lưỡng nộ tất đa dật ác chi ngôn. Phàm dật chi loại vọng, vọng tắc kỳ tín chi dã mạc, mạc tắc truyền ngôn giả ương. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

夫兩喜必多溢美之言, 兩怒必多溢惡之言。 凡溢之類妄, 妄則其信之也莫, 莫則傳言者殃。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Nếu hai bên đều vui vẻ hả hê, tất họ tha hồ tâng bốc nhau;  còn như giận nhau, tất họ tha hồ khuếch đại điều xấu của nhau. Hễ quá mức ắt là sai lệch;  lời sai lệch ắt không đáng tin;  như thế kẻ truyền đạt lại lời nói ấy sẽ bị tai họa.

273. Tương vi khư khiếp, thám nang, phát quỹ chi đạo nhi vi thủ bị, tắc tất nhiếp giam đằng, cố quýnh quyết, thử thế tục chi sở vị tri dã. Nhiên nhi cự đạo chí, tắc phụ quỹ, yết khiếp, đảm nang nhi xu, duy khủng giam đằng, quýnh quyết chi bất cố dã. Nhiên tắc hương chi sở vị tri giả, bất nãi vi đại đạo tích giả dã? [Trang Tử, Khư Khiếp]

將為胠篋、探囊、發匱之盜而為守備, 則必攝緘滕, 固扃鐍, 此世俗之所謂知也。 然而巨盜至, 則負匱、揭篋、擔囊而趨, 唯恐緘滕、扃鐍之不固也。 然則鄉之所謂知者, 不乃為大盜積者也。 《莊子 • 胠篋》

【Dịch】 Đề phòng bọn trộm chuyên cạy tráp, moi đãy, mở tủ, tất ta dùng dây cột chặt, dùng khoá móc và then cài. Như thế người đời gọi là khôn. Nhưng khi một tên trộm lớn đến, hắn vác tủ, khuân tráp, đeo đãy chạy mất;  hắn chỉ sợ dây nhợ và móc khoá không được chắc thôi. Vậy thì cái ban đầu được xem là khôn bây giờ chẳng phải là giúp cho kẻ trộm khuân đi trọn hay sao?

274. Nhân tâm bài hạ nhi tiến thượng, thượng hạ tù sát, xước ước nhu hồ cương cường, liêm quế điêu trác, kỳ nhiệt tiêu hỏa, kỳ hàn ngưng băng, kỳ tật phủ ngưỡng chi gian nhi tái phủ tứ hải chi ngoại. Kỳ cư dã, uyên nhi tĩnh;  kỳ động dã, huyện nhi thiên. Phẫn kiêu nhi bất khả hệ giả, kỳ duy nhân tâm hồ! [Trang Tử, Tại Hựu]

人心排下而進上, 上下囚殺, 淖約柔乎剛疆, 廉劌雕琢, 其熱焦火, 其寒凝冰, 其疾俯仰之間而再撫四海之外。 其居也, 淵而靜; 其動也, 縣而天。 憤驕而不可系者, 其唯人心乎! 《莊子 • 在宥》

【Dịch】 Lòng người ghét bỏ địa vị thấp mà mong tiến lên địa vị cao. Vì địa vị cao thấp mà người ta tận dụng tâm cơ, vất vả khác nào bị giam cầm bức bách. Mềm yếu phục tòng cứng mạnh;  góc cạnh nhọn bén bị đẽo gọt mất. Lòng người hễ nồng nhiệt thì như lửa cháy hừng hực, hễ nguội lạnh thì như giá băng. Sự nhanh lẹ của tâm là trong thời gian cúi và ngẩng đầu, nó phóng vượt ra ngoài bốn bể rồi quay về. Khi ở yên, tâm tĩnh như vực sâu [khó dò];  khi động, tâm [lung linh huyền diệu khôn lường] như treo trên trời. Sự hưng phấn và kiêu ngạo của tâm thì không thể nào kiềm chế được. Nhân tâm chỉ vậy thôi!

275. Thế tục chi nhân, giai hỉ nhân chi đồng hồ kỷ nhi ố nhân chi dị hồ kỷ dã. Đồng vu kỷ nhi dục chi, dị vu kỷ nhi bất dục giả, dĩ xuất hồ chúng vi tâm dã. Phù dĩ xuất hồ chúng vi tâm giả, hạt thường xuất hồ chúng tai? [Trang Tử, Tại Hựu]

世俗之人, 皆喜人之同乎己而惡人之異乎己也。 同于己而欲之, 異于己而不欲者, 以出乎眾為心也。 夫以出乎眾為心者, 曷常出乎眾哉? 《莊子 • 在宥》

【Dịch】 Người thế tục đều thích kẻ đồng ý với mình mà ghét kẻ khác ý với mình. Việc thích và ghét này là do lòng họ muốn vượt trội hơn kẻ khác. Nhưng kẻ có tâm địa như vậy đã từng vượt trội được người khác hay sao?

276. Trí sĩ vô tư lự chi biến tắc bất lạc;  biện sĩ vô đàm thuyết chi tự tắc bất lạc;  sát sĩ vô lăng toái chi sự tắc bất lạc:  giai hữu vu vật giả dã. Chiêu thế chi sĩ hưng triều, trung dân chi sĩ vinh quan, cân lực chi sĩ căng nan, dũng cảm chi sĩ phấn hoạn, binh cách chi sĩ lạc chiến, khô cảo chi sĩ túc danh, pháp luật chi sĩ quảng trị, lễ giáo chi sĩ kính dung, nhân nghĩa chi sĩ quý tế. Nông phu vô thảo lai chi sự tắc bất tỷ, thương cổ vô thị tỉnh chi sự tắc bất tỷ, thứ nhân hữu đán mộ chi nghiệp tắc khuyến, bách công hữu khí giới chi xảo tắc tráng. Tiến tài bất tích tắc tham giả ưu, quyền thế bất vưu tắc khoa giả bi, thế vật chi đồ lạc biến. Tao thời hữu sở dụng, bất năng vô vi dã, thử giai thuận tỷ vu tuế, bất vật vu dị giả dã. Trì kỳ hình tính, tiềm chi vạn vật, chung thân bất phản, bi phù! [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

知士無思慮之變則不樂; 辯士無談說之序則不樂; 察士無凌誶之事則不樂:  皆囿于物者也。 招世之士興朝, 中民之士榮官。 筋力之士矜難, 勇敢之士奮患, 兵革之士樂戰, 枯槁之士宿名, 法律之士廣治, 禮教之士敬容, 仁義之士貴際。 農夫無草萊之事則不比, 商賈無市井之事則不比, 庶人有旦暮之業則勸, 百工有器械之巧則壯。 錢財不積則貪者憂, 權勢不尤則夸者悲, 勢物之徒樂變。 遭時有所用, 不能無為也, 此皆順比于歲, 不物于易者也。 馳其形性, 潛之萬物, 終身不反, 悲夫! 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 Kẻ trí sĩ nếu không thấy các thay đổi của sự tư lự của mình thì không vui;  kẻ biện sĩ nếu lời đàm thuyết của mình không sắp xếp có lớp lang thì không vui;  kẻ giám sát nếu không bới ra vụ việc gì để thị uy khiển trách thì không vui:  Bọn họ đều bị ngoại vật vây khổn. Kẻ muốn đời chú ý thì tự làm nổi bật ở triều đình;  kẻ muốn dân trọng thì xem quan tước là vinh hiển;  kẻ đại lực sĩ khoe khoang mình làm được việc khó;  kẻ dũng cảm phấn đấu trong hoạn nạn;  kẻ mang binh giáp thích chiến đấu;  kẻ sức tàn gối mỏi bấu víu vào cái danh tiếng đã từng có;  kẻ giỏi luật pháp mong quảng bá pháp trị;  kẻ chuyên lễ nhạc chú trọng đức hạnh;  kẻ nhân nếu không có việc đồng áng [trừ cỏ dại] thì không xứng hợp với công việc;  thương nhân nếu không có việc chợ búa thì không xứng hợp với công việc;  thường dân nếu có công việc hôm sớm thì mới động viên nhau siêng năng;  thợ thuyền nếu sử dụng thành thạo đồ nghề thì cảm thấy mạnh mẽ. Tiền tài không gia tăng, kẻ tham ắt buồn;  quyền thế không tăng, kẻ bon chen sẽ rầu. Gặp thời thì có chỗ dùng, không thể vô vi được. Họ đều thuận theo cách riêng của mình như các mùa trong năm, và không thay đổi như sự vật. Họ rong ruổi xác thân và bản tính, chìm đắm dưới sức ép của sự vật, suốt đời không thể phục hồi chân ngã. Như thế chẳng đáng buồn sao?

277. Ngoại vật bất khả tất, cố Long Phùng tru, Tỷ Can lục, Cơ Tử cuồng, Ác Lai tử, Kiệt Trụ vong. Nhân chủ mạc bất dục kỳ thần chi trung, nhi trung vị tất tín, cố Ngũ Viên lưu vu Giang, Trường Hoằng tử vu Thục, tàng kỳ huyết, tam niên nhi hoá bích. Nhân thân mạc bất dục kỳ tử chi hiếu, nhi hiếu vị tất ái, cố Hiếu Kỷ ưu nhi Tăng Sâm bi. [Trang Tử, Ngoại Vật]

外物不可必, 故龍逢誅, 比干戮, 箕子狂, 惡來死, 桀紂亡。 人主莫不欲其臣之忠, 而忠未必信, 故伍員流于江, 萇弘死于蜀, 藏其血, 三年而化碧。 人親莫不欲其子之孝, 而孝未必愛, 故孝己憂而曾參悲。 《莊子 • 外物》

【Dịch】 Sự vật bên ngoài ta thì ta không thể cố mong cầu cho bằng được. Thế nên Quan Long Phùng bị giết, Tỷ Can bị hại, Cơ Tử hoá cuồng, Ác Lai chết, Kiệt và Trụ bị diệt. Không kẻ lãnh đạo nào mà không muốn có bầy tôi trung thành, nhưng lòngï trung thành đó chắc gì được tin? Cho nên thi thể Ngũ Tử Tư bị thả trôi theo giòng Dương Tử và Trường Hoằng phải chết ở đất Thục. Máu của Trường Hoằng sau ba năm tàng trữ đã hoá thành ngọc bích. Không cha mẹ nào mà không muốn có hiếu tử, nhưng có hiếu tâm chắc gì được cha mẹ yêu thương? Thế nên Hiếu Kỷ phải đau khổ mà chết, còn Tăng Sâm phải sầu tủi [vì bị cha ghét bỏ].

278. Thân phụ bất vi kỳ tử môi. Thân phụ dự chi, bất nhược phi kỳ phụ giả dã. Phi ngô tội dã, nhân chi tội dã. Dữ kỷ đồng tắc ứng, bất dữ kỷ đồng tắc phản. Đồng vu kỷ vi thị chi, dị vu kỷ vi phi chi. [Trang Tử, Ngụ Ngôn]

親父不為其子媒。 親父譽之, 不若非其父者也, 非吾罪也, 人之罪也。 與己同則應, 不與己同則反。 同于己為是之, 異于己為非之。 《莊子 • 寓言》

【Dịch】 Làm cha [phải nhờ người ngoài, và] đừng đích thân mai mối cho con. Hễ cha khen con ắt sẽ không công bằng như người ngoài khen con mình. Đó không phải lỗi của người cha, mà là lỗi của người đời. Hễ giống như mình thì mình tán đồng;  hễ khác với mình thì mình phản đối. Hễ giống mình tất phải đúng;  hễ khác mình tất phải sai.

279. Sở kiến thiểu, tắc sở quái đa, thế chi thường dã. [Bão Phác Tử, Luận Tiên]

所見少, 則所怪多, 世之常也。 《抱朴子 • 論仙》

【Dịch】 Thói đời, hễ ai kiến thức ít ỏi thì sẽ thấy lắm thứ đáng ngạc nhiên.

280. Minh vu thiên đạo, sát vu địa lý, thông vu nhân tình, đại túc dĩ dung chúng, đức túc dĩ hoài viễn, tín túc dĩ nhất dị, tri túc dĩ tri biến giả, nhân chi anh dã. [Hoài Nam Tử, Thái Tộc]

明于天道, 察于地理, 通于人情, 大足以容眾, 足以懷遠, 信足以一異, 知足以知變者, 人之英也。 《淮南子 • 泰族》

【Dịch】 Hiểu đạo trời, thấu triệt mọi hoàn cảnh xã hội, thông đạt tình người, lòng quảng đại đủ để bao dung mọi người, đức hạnh đủ để vỗ về quy phục kẻ viễn phương, sự thành tín đủ để thống nhất những kẻ có lòng khác, trí tuệ đủ để biết quyền biến. Ai như vậy chính là bậc anh tài trong thiên hạ.

——————–
**********************

13. CHÍNH TRỊ 政 治 – CHIẾN TRANH 戰 爭

281. Thiên hạ hữu đạo, khước tẩu mã dĩ phẩn. Thiên hạ vô đạo, nhung mã sinh vu giao. [Đạo Đức Kinh, chương 46]

天下有道, 卻走馬以糞。 天下無道, 戎馬生于郊。 《道德經 • 第四十六章》

【Dịch】 Thiên hạ có Đạo thì tuấn mã bị đưa vào canh tác. Thiên hạ không Đạo thì ngựa chiến sinh sống ở biên cương.

282. Dân chi cơ, dĩ kỳ thượng thực thuế chi đa, thị dĩ cơ. [Đạo Đức Kinh, chương 75]

民之飢, 以其上食稅之多, 是以飢。 《道德經 • 七十五章》

【Dịch】 Dân đói. Bởi vì người trên thu thuế nhiều, nên dân mới đói.

283. Dĩ chính trị quốc. Dĩ kỳ dụng binh. Dĩ vô sự thủ thiên hạ. [Đạo Đức Kinh, chương 57]

以正治國, 以奇用兵, 以無事取天下。 《道德經 • 第五十七章》

【Dịch】 Lấy ngay thẳng để trị nước;  lấy mưu trí để dùng binh;  lấy vô sự để được thiên hạ.

284. Đại quốc giả, hạ lưu, thiên hạ chi tẫn dã, thiên hạ chi giao dã. Tẫn hằng dĩ tĩnh thắng mẫu. [Đạo Đức Kinh, chương 61]

大國者, 下流, 天下之牝也, 天下之交也。 牝恆以靜勝牡。 《道德經.第六十一章》

【Dịch】 Một quốc gia rộng lớn giống như vùng hạ lưu của một con sông;  mang tính chất âm nhu (nữ tính) của thiên hạ;  và là nơi thiên hạ giao hội. Nhờ bản chất tĩnh mà nữ thường thắng nam.

285. Phù từ dĩ chiến tắc thắng, dĩ thủ tắc cố. [Đạo Đức Kinh, chương 61]

夫慈, 以戰則勝, 以守則固。 《道德經 • 第六十一章》

【Dịch】 Lấy khoan từ để tranh đấu ắt sẽ thắng, để cố thủ ắt sẽ vững.

286. Dụng binh hữu ngôn, ngô bất cảm vi chủ, nhi vi khách. Bất cảm tiến thốn nhi thoái xích. Thị vị hành vô hành, nhương vô tý nhưng vô địch, chấp vô binh. Họa mạc đại ư khinh địch khinh địch cơ táng ngô bảo. Cố kháng binh tương gia, ai giả thắng hỹ. [Đạo Đức Kinh, chương 69]

用兵有言:吾不敢為主, 而為客。 不敢進寸而退尺。 是謂行無行, 攘無臂, 扔無敵, 執無兵。 禍莫大於輕敵, 輕敵幾喪吾寶。 故抗兵相加, 哀者勝矣。 《道德經 • 第六十九章》

【Dịch】 Dụng binh có câu:  «Làm khách chớ không làm chủ. Lui một thước chớ không dám tiến một tấc.» Cho nên thánh nhân đi mà chẳng đi, xắn tay áo mà không dùng tay, bắt địch mà không đối địch, cầm binh khí mà không có binh khí. Không tai họa nào cho bằng khinh địch, khinh địch là gần mất mạng. Cho nên khi hai phe giao chiến, ai thương xót binh sĩ thì sẽ thắng.

287. Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu. [Đạo Đức Kinh, chương 5]

天地不仁, 以萬物為芻狗。 聖人不仁, 以百姓為芻狗。 《道德經 • 第五章》

【Dịch】 Trời đất không có lòng nhân, coi bách tính như chó rơm. Thánh nhân không có lòng nhân, coi bách tính như chó rơm.

288. Dân bất úy tử, nại hà dĩ tử cụ chi? Nhược sử dân thường úy tử, nhi vi kỳ giả, ngô đắc chấp nhi sát chi, thục cảm. Thường hữu tư sát giả sát. Phù đại tư sát giả sát. Thị vị đại đại tượng trác. Phù đại đại tượng trác giả, hi hữu bất thương kỳ thủ hĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 74]

民不畏死, 奈何以死懼之? 若使民常畏死, 而為奇者, 吾得執而殺之, 孰敢? 常有司殺者殺。 夫代司殺者殺, 是謂代大匠斲。 夫代大匠斲者, 希有不傷其手矣。 《道德經 • 第七十四章》

【Dịch】 Khi dân không sợ chết, sao lấy cái chết làm cho họ sợ được? Nếu ta khiến dân thường sợ chết, hễ ai phạm pháp thì ta có quyền bắt kẻ ấy giết đi. Như vậy, không ai dám phạm pháp nữa. [trên trời] thường có vị Tư sát, được quyền giết người [phạm lỗi]. Nay ta lại thay ngài mà giết, thì có khác nào [thợ rởm] muốn đẽo gỗ thay thợ giỏi đâu? Muốn thay thợ giỏi mà đẽo gỗ, ắt khó tránh thương tật.

289. Phù vi thiên hạ giả, diệc hề dĩ dị hồ mục mã giả tai! Diệc khử kỳ hại mã giả nhi dĩ hĩ! [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

夫為天下者, 亦奚以異乎牧馬者哉! 亦去其害馬者而已矣。 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 Kẻ trị thiên hạ nào khác gì kẻ chăn ngựa! Chỉ cần trừ khử cái làm hại ngựa mà thôi.

290. Quân vi chính yên vật lỗ mãng, trị dân yên vật diệt liệt. [Trang Tử, Tắc Dương]

君為政焉勿鹵莽, 治民焉勿滅裂。 《莊子 • 則陽》

【Dịch】 Ngài tham chính thì chớ lỗ mãng, cai trị dân thì chớ khinh suất.

291. Ngô nguyện khử quân chi lụy, trừ quân chi ưu, nhi độc dữ đạo du vu đại mạc chi quốc. [Trang Tử, Sơn Mộc]

吾愿去君之累, 除君之憂, 而獨與道游于大莫之國。 《莊子 • 山木》

【Dịch】 Tôi nguyện khử bỏ mối vướng bận của ngài, trừ đi cái ưu tư của ngài, để ngài một mình tiêu dao với Đạo trong cõi mênh mông tịch mịch.

292. Cổ chi súc thiên hạ giả, vô dục nhi thiên hạ túc, vô vi nhi vạn vật hoá, uyên tĩnh nhi bách tính định. [Trang Tử, Thiên Địa]

古之畜天下者, 無欲而天下足, 無為而萬物化, 淵靜不百姓定。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Thời xưa, người nuôi dưỡng thiên hạ vô dục mà thiên hạ đầy đủ;  vô vi mà thiên hạ biến hoá;  yên lặng như vực sâu mà bách tính ổn định.

293. Hiếu tử bất du kỳ thân, trung thần bất siểm kỳ quân, thần tử chi thịnh dã. [Trang Tử, Thiên Địa]

孝子不諛其親, 忠臣不諂其君, 臣子之盛也。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Con hiếu không a dua cha mẹ, tôi trung không siểm nịnh vua, đó là điều tốt nhất của phận làm tôi và làm con.

294. Thiên địa tuy đại, kỳ hoá quân dã;  vạn vật tuy đa, kỳ trị nhất dã;  nhân tốt tuy chúng, kỳ chủ quân dã. Quân nguyên vu đức nhi thành vu thiên. [Trang Tử, Thiên Địa]

天地雖大其化均也; 萬物雖多其治一也, 人卒雖眾, 其主君也。 君原于德而成于天。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Trời đất tuy lớn nhưng trời đất chuyển hoá vạn vật một cách quân bình;  vạn vật tuy nhiều nhưng chúng đều bị thống trị một cách thống nhất;  dân chúng tuy đông nhưng chủ của họ là vua. Ông vua này đặt nền tảng nơi Đức và được hoàn thiện nơi Trời.

295. Bỉ dân hữu thường tính, chức nhi y, canh nhi thực, thị vị đồng đức. Nhất nhi bất đảng, mệnh viết thiên phóng. [Trang Tử, Mã Đề]

彼民有常性, 織而衣, 耕而食, 是謂同德。 一而不黨, 命曰天放。 《莊子 • 馬蹄》

【Dịch】 Dân có bản tính bất biến. Họ tự dệt vải để mặc, tự cày cấy để ăn. Đức của họ giống nhau. Họ thống nhất, mà không kéo bè kết đảng. Đó gọi là tuân theo tự nhiên.

296. Minh vương chi trị, công cái thiên hạ nhi tự bất tự kỷ, hoá hoá vạn vật nhi dân phất thị. Hữu mạc cử danh, sử vật tự hỉ. [Trang Tử, Ứng Đế Vương]

明王之治, 功蓋天下而似不自己, 化貨萬物而民弗恃。 有莫舉名, 使物自喜。 《莊子 • 應帝王》

【Dịch】 Minh vương cai trị thiên hạ, công trạng bao trùm thiên hạ mà tựa như không nhận là công lao của mình;  giáo hoá vạn vật nhưng dân chúng không cảm nhận sự nương tựa đó;  tuy công trạng nhiều nhưng minh vương không kể công, khiến vạn vật ai cũng có niềm vui.

297. Nhữ du tâm vu đạm, hợp khí vu mạc, thuận vật tự nhiên nhi vô dung tư yên, nhi thiên hạ trị hĩ. [Trang Tử, Ứng Đế Vương]

汝游心于淡, 合氣于漠, 順物自然而無容私焉, 而天下治矣。 《莊子 • 應帝王》

【Dịch】 Ngươi hãy để tâm an vui tự tại trong cõi hư vô tịch mịch;  hãy giữ cho khí bình hoà yên tĩnh;  hãy thuận theo sự tư nhiên của vạn vật và chớ có thành kiến riêng. Như vậy thiên hạ sẽ thịnh trị.

298. Lai thế bất khả đãi, vãng thế bất khả truy dã. Thiên hạ hữu đạo, thánh nhân thành yên;  thiên hạ vô đạo, thánh nhân sinh yên. Phương kim chi thời, cận miễn hình yên! Phúc khinh hồ vũ, mạc chi tri tái;  hoạ trọng hồ địa, mạc chi tri tỵ. Dĩ hồ, dĩ hồ! Lâm nhân dĩ đức. Đãi hồ, đãi hồ! Hoạ địa nhi xu. Mê dương mê dương, vô thương ngô hành. Ngô hành khích khúc, vô thương ngô túc. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

來世不可待, 往世不可追也。 天下有道, 聖人成焉; 天下無道, 聖人生焉。 方今之時, 僅免刑焉! 福輕乎羽, 莫之知載; 禍重乎地, 莫之知避。 已乎, 已乎! 臨人以德。 殆乎, 殆乎! 畫地而趨。 迷陽迷陽, 無傷吾行。 吾行郤曲, 無傷吾足。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Kỳ vọng chi ở đời sau, cứu vãn chi ở đời trước? Thiên hạ có đạo, thánh nhân thành tựu sự nghiệp;  thiên hạ vô đạo, thánh nhân chỉ mong giữ được thân. Đời nay chỉ mong tránh được hình phạt. Phúc nhẹ như lông hồng mà không ai biết mang;  hoạ nặng như đất mà không ai biết tránh. Thôi đi! Thôi đừng đem đạo đức đến với người đời! Nguy rồi! Nguy vì tự vẽ một vòng tròn trên mặt đất và chạy lẩn quẩn trong đó. Gai góc, gai góc! Ta đi, đừng làm ta đau. Đường ta đi khúc khuỷu, đừng làm chân ta đau!

299. Chí đức chi thế, bất thượng hiền, bất sử năng, thượng như tiêu chi, dân như dã lộc. Đoan chính nhi bất tri dĩ vi nghĩa, tương ái nhi bất tri dĩ vi nhân, thực nhi bất tri dĩ vi trung, đương nhi bất tri dĩ vi tín, xuẩn động nhi tương sử bất dĩ vi tứ. [Trang Tử, Thiên Địa]

至德之世, 不尚賢, 不使能, 上如標枝, 民如野鹿。 端正而不知以為義, 相愛而不知以為仁, 實而不知以為忠, 當而不知以為信, 蠢動而相使不以為賜。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Thời chí đức người hiền không được quý trọng, tài năng họ không được dùng. Kẻ cai trị được xem như nhánh cây trên cao. Dân chúng như bầy nai hoang dã. Họ đoan chính mà không hề biết đó là nghĩa;  họ thương yêu lẫn nhau mà không hề biết đó là nhân;  họ thành thực mà không hề biết đó là trung;  họ đảm đương việc mà không hề biết đó là tín;  họ hành động chất phác và sử dụng lẫn nhau mà không hề biết đó là ban tặng.

300. Thiện tri xạ giả bất quý kỳ trúng, quý kỳ sở dĩ tất trúng dã;  thiện tri lý quốc lý thân giả diệc bất quý kỳ tồn, quý kỳ sở dĩ tất tồn. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

善知射者不貴其中, 貴其所以必中也; 善知理國理身者亦不貴其存, 貴其所以必存。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Người thiện xạ không quý sự bắn trúng mà quý lý do tại sao lại bắn trúng;  người trị nước và tu thân cũng không quý sự tồn vong mà quý cái lý lẽ tại sao lại tồn vong.

301. Thiện trì thắng giả dĩ cường vi nhược. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

善持勝者以強為弱.《列子 • 說符》

【Dịch】 Người giỏi giữ gìn thắng lợi thì biết xem cái mạnh là cái yếu.

302. Trị quốc chi nan tại vu tri hiền nhi bất tại tự hiền. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

治國之難在于知賢而不在自賢。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Cái khó trong việc cai trị nước là ở chỗ nhận ra ai là người hiền trong dân chúng, chứ không phải ở chỗ người cai trị tự xem mình là người hiền.

303. Thần vị thường văn thân trị nhi quốc loạn giả dã, hựu vị thường văn thân loạn nhi quốc trị giả dã. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

臣 未嘗聞身治而國亂者也, 又未嘗聞身亂而國治者也。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Hạ thần chưa từng nghe nói bản thân [vua] có tu dưỡng mà quốc gia lại loạn lạc, và cũng chưa từng nghe nói bản thân [vua] thác loạn mà quốc gia lại thịnh trị bao giờ.

304. Cẩu lợi vu dân, bất tất pháp cổ;  cẩu chu vu sự, bất tất tuần cựu. [Hoài Nam Tử, Phạm Luận Huấn]

苟利于民, 不必法古; 苟周于事, 不必循舊。 《淮南子 • 氾論訓》

【Dịch】 Nếu có lợi cho dân, thì không cần noi theo phép xưa;  nếu sự việc phù hợp, thì không cần tuân theo lệ cũ.

305. Thượng cầu tài, thần tàn mộc;  thượng cầu ngư, thần can cốc. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

上求材, 臣殘木; 上求魚, 臣干谷。 《淮南子 • 說山訓》

【Dịch】 Vua mong muốn gỗ thì thần dân tàn phá cây;  vua mong muốn cá thì thần dân tát cạn sơn cốc.

306. Vô phúc sào, sát thai yểu. [Hoài Nam Tử, Thời Tắc Huấn]

毋覆巢, 殺胎夭。 《淮南子 • 時則訓》

【Dịch】 Đừng lập úp tổ chim và đừng giết các thứ cầm thú sơ sinh.

307. Thủy trọc giả ngư nghiệm, lịnh hà giả dân loạn, thành tiễu giả tất băng, ngạn sanh giả tất đà. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]

水濁者魚噞, 令荷者民亂, 城峭者必崩, 岸崝者必陀。 《淮南子 • 繆稱訓》

【Dịch】 Nước đục, cá ắt ngoi lên mặt nước để thở;  lệnh vua hà khắc, dân ắt nổi loạn;  thành quách cao chót vót ắt đổ lở;  bờ sông cao ắt sụp lở.

308. Khí loạn tắc trí hôn, trí hôn bất khả dĩ vi chính. [Hoài Nam Tử, Tề Tục Huấn]

氣亂則智昏, 智昏不可為政。 《淮南子 • 齊俗訓》

【Dịch】 Khí loạn thì trí tuệ hôn ám, trí tuệ hôn ám thì không thể xử lý việc chính trị được.

309. Bệnh khốn nãi trọng lương y;  thế loạn nhi quý trung trinh. [Bão Phác Tử, Quảng Thí]

病困乃重良醫; 世亂而貴忠貞。 《抱朴子 • 廣譬》

【Dịch】 Bệnh tình nguy khốn mới quý trọng thầy thuốc giỏi;  đời loạn mới quý trọng bầy tôi trung trinh.

310. Thát đa tắc thủy nhiễu, ưng chúng tắc điểu loạn. [Bão Phác Tử, Cật Bào]

獺多則魚擾, 鷹眾則鳥亂。 《抱朴子 • 詰鮑》

【Dịch】 Rái cá nhiều, loài cá ắt hỗn loạn;  chim ưng nhiều, loài chim ắt hỗn loạn.

311. Minh vương chi dụng binh dã, vi thiên hạ trừ hại, nhi dữ vạn dân cộng hưởng kỳ lợi. Dân chi vi dụng, do tử chi vi phụ, đệ chi vi huynh, uy chi sở gia, nhược băng sơn quyết đường, địch thục cảm đương! [Bão Phác Tử, Binh Lược]

明王之用兵也, 為天下除害, 而與萬民共享其利。 民之為用, 猶子之為父, 弟之為兄, 威之所加, 若崩山決塘, 敵孰敢當!  《抱朴子 • 兵略》

【Dịch】 Minh vương dùng binh là để trừ tai hoạ cho thiên hạ, và chung hưởng lợi ích với muôn dân. Do đó, khi vua sử dụng dân, dân giống như con phục vụ cho cha, em phục vụ cho anh. Uy lực quân đội gia tăng đến mức này có thể làm cho đổ lở núi, sụp bờ đê;  địch quân có ai dám ra tay!

312. Tác tranh giả hung, bất tranh giả diệc vô thành công. [Thập Lục Kinh, Ngũ Chính]

作爭者凶, 不爭者亦無成功。 《十六經 • 五政》

【Dịch】 Gây chiến tranh ắt phải có sự hung tàn nguy hiểm, [nhưng khi đang tiến hành chiến tranh] kẻ nào không đánh ắt sẽ không thành tựu sự nghiệp.

———————-
**********************

14. TƯ KHẢO 思 考 – TRỊ THẾ 治 世

313. Bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự định. [Đạo Đức Kinh, chương 37]

不欲以靜, 天下將自定。 《道德經 • 第三十七章》

【Dịch】 Không ham muốn dễ được yên tĩnh, do đó thiên hạ sẽ ổn định.

314. Trị đại quốc, nhược phanh tiểu tiên. [Đạo Đức Kinh, chương 60]

治大國, 若烹小鮮。 《道德經 • 第六十章》

【Dịch】 Cai trị một nước lớn giống như nấu con cá nhỏ.

315. Kỳ an dị trì kỳ vị triệu dị mưu. Kỳ thúy dị phán, kỳ vi dị tán. Vi chi ư vị hữu, trị chi ư vị loạn. [Đạo Đức Kinh, chương 64]

其安易持, 其未兆易謀, 其脆易泮, 其微易散。 為之於未有, 治之於未亂。 《道德經 • 第六十四章》

【Dịch】 Vật ở yên thì dễ cầm;  vật chưa hiện điềm báo hiệu thì dễ lo liệu;  vật giòn thì dễ vỡ;  vật nhỏ thì dễ phân tán. Hành động trước khi sự việc xảy ra;  trị an trước khi loạn lạc nổi lên.

316. Dân chi nan trị, dĩ kỳ thượng chi hữu vi, thị dĩ nan trị. [Đạo Đức Kinh, chương 75]

民之難治, 以其上之有為, 是以難治。 《道德經 • 第七十五章》

【Dịch】 Dân khó trị, là do người trên thích chuyện hữu vi, cho nên dân khó trị.

317. Thiên đạo vô thân, hằng dữ thiện nhân. [Đạo Đức Kinh, chương 79]

天道無親, 恆與善人。 《道德經 • 第七十九章》

【Dịch】 Thiên đạo không thiên ái, mà thường ban ân cho người lành.

318. Tiểu quốc quả dân, sử hữu thập bách nhân chi khí nhi bất dụng. Sử dân trọng tử nhi bất viễn tỷ. Tuy hữu chu dư, vô sở thừa chi. Tuy hữu giáp binh, vô sở trần chi. Sử dân phục kết thằng nhi dụng chi. Cam kỳ thực, mỹ kỳ phục, an kỳ cư, lạc kỳ tục. Lân quốc tương vọng. Kê khuyển chi thanh tương văn, Dân chí lão tử, bất tương vãng lai. [Đạo Đức Kinh, chương 80]

小國寡民。 使有十百人之器而不用﹔使民重死而不遠徙。 雖有舟輿, 無所乘之﹔雖有甲兵, 無所陳之。 使民復結繩而用之。 甘其食, 美其服, 安其居, 樂其俗。 鄰國相望, 雞犬之聲相聞 , 民至老死, 不相往來。 《道德經 • 第八十章》

【Dịch】 Nước nhỏ, dân ít. Dù có khí giới đủ cho 10 hay 100 người thì cũng không dùng đến. Dạy dân coi trọng cái chết để họ khỏi đi xa. Tuy có xe thuyền, mà chẳng khi dùng. Tuy có giáp binh, mà chẳng phô trương. Khiến dân trở lại việc thắt nút mà dùng. Ăn thấy ngon, mặc thấy đẹp, ở thấy yên, sống thấy sướng. Tuy các nước cận kề, nhìn thấy nhau, gà kêu chó sủa ở nước này thì nước kia đều nghe, nhưng người dân cho đến lúc già chết cũng chẳng qua lại thăm nhau.

319. Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc. Bất dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc. [Đạo Đức Kinh, chương 65]

民之難治, 以其智多。 故以智治國, 國之賊﹔不以智治國, 國之福。 《道德經 • 第六十五章》

【Dịch】 Dân khó trị là vì họ lắm mưu trí. Cho nên dùng mưu trí trị nước tức là hại nước;  không dùng mưu trí trị nước tức là ích nước.

320. Quý dĩ thân vi thiên hạ giả, tắc khả ký vu thiên hạ. Ái dĩ thân vi thiên hạ giả, nãi khả dĩ thác vu thiên hạ. [Đạo Đức Kinh, chương 13]

貴以身為天下者, 則可寄于天下。 愛以身為天下者, 乃可以托于天下。 《道德經 • 第十三章》

【Dịch】 Ai quý bản thân hơn việc thống trị thiên hạ thì người ta có thể gởi gấm thiên hạ cho. Ai yêu bản thân hơn việc thống trị thiên hạ thì người ta có thể gởi gấm thiên hạ cho.

321. Đại thánh chi trị thiên hạ dã, dao đãng dân tâm, sử chi thành giáo dịch tục, cử diệt kỳ tặc tâm nhi giai tiến kỳ độc chí. Nhược tính chi tự vi, nhi dân bất tri kỳ sở do nhiên. Nhược nhiên giả, khởi huống Nghiêu Thuấn chi giáo dân minh hãnh nhiên đệ chi tai? Dục đồng hồ đức nhi tâm cư hĩ! [Trang Tử, Thiên Địa]

大聖之治天下也, 搖蕩民心, 使之成教易俗, 舉滅其賊心而皆進其獨志。 若性之自為, 而民不知其所由然。 若然者, 豈兄堯舜之教民溟涬弟之哉? 欲同乎德而心居矣。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Bậc đại thánh cai trị dân thì cổ vũ tâm trí của họ, khiến họ thi hành các giáo huấn của ngài mà thay đổi thói xưa, diệt bỏ lòng hung ác của họ và giúp họ tiến bước theo ý chí riêng của họ. Họ tự làm như thể phát xuất từ bản tính mình nhưng họ không hiểu nguyên do tại sao. Nếu vậy, đâu cần gì cách dạy dân của Nghiêu Thuấn hay các sự xếp đặt hỗn độn? Chỉ mong hoà đồng với đức và tâm an tĩnh trong đó mà thôi.

322. Phù dân bất nan tụ dã, ái chi tắc thân, lợi chi tắc chí, dự chi tắc khuyến, trí kỳ sở ác tắc tán. [Trang Tử, Từ Vô Quỷ]

夫民不難聚也, 愛之則親, 利之則至, 譽之則勸, 致其所惡則散。 《莊子 • 徐無鬼》

【Dịch】 Ngày nay dễ dàng tụ tập dân chúng. Yêu dân, thì họ sẽ yêu lại ngươi;  làm lợi cho họ thì họ sẽ đến với ngươi;  khen ngợi họ thì họ sẽ phấn khởi và làm vui lòng ngươi;  hễ khiến họ làm cái mà họ ghét thì họ sẽ phân tán.

323. Bình giả, thủy đình chi thịnh dã. Kỳ khả dĩ vi pháp dã, nội bảo chi nhi ngoại bất đãng dã. Đức giả, thành hòa chi tu dã. Đức bất hình giả, vật bất năng ly dã. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

平者, 水停之盛也。 其可以為法也, 內保之而外不蕩也。 德者 , 成和之修也。 德不形者, 物不能離也。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Cái bằng phẳng là sự yên tĩnh của mặt nước. Nó có thể là phép tắc cho ta noi theo. Bên trong thì nó bảo toàn yên ổn, bên ngoài thì không gì làm nó xao động. Đức là sự tu dưỡng để hoà thuận tự nhiên. Đức vô hình mà không vật nào lìa khỏi nó được.

324. Lễ nghĩa pháp độ giả, ứng thời nhi biến giả dã. [Trang Tử, Thiên Vận]

禮義法度者, 應時而變者也。 《莊子 • 天運》

【Dịch】 Lễ nghĩa và phép tắc phải tuỳ thời mà thay đổi.

325. Lao nhi vô công, thân tắc hữu ương. [Trang Tử, Thiên Vận]

勞而無功, 身必有殃。 《莊子 • 天運》

【Dịch】 Đã lao nhọc vô ích mà còn hại thân nữa.

326. Tuyệt thánh khí trí, nhi thiên hạ đại trị. [Trang Tử, Tại Hựu]

絕聖棄知, 而天下大治。 《莊子 • 在宥》

【Dịch】 Hãy vất thánh bỏ trí, thiên hạ sẽ thịnh trị.

327. Tuyệt thánh khí trí, đại đạo nãi chỉ;  trích ngọc hủy châu, tiểu đạo bất khởi;  phần phù phá tỷ, nhi dân phác bỉ;  phẫu đấu chiết hành, nhi dân bất tranh;  đạn tàn thiên hạ chi thánh pháp, nhi dân thủy khả dữ luận nghị. [Trang Tử, Khư Khiếp]

絕聖棄知, 大盜乃止; 擿玉毀珠, 小盜不起; 焚符破璽, 而民朴鄙; 掊斗折衡, 而民不爭; 殫殘天下之聖法, 而民始可與論議。 《莊子 • 胠篋》

【Dịch】 Vất thánh nhân bỏ trí tuệ, sẽ dứt bọn trộm lớn;  ném ngọc đập châu, bọn trộm vặt sẽ không xuất hiện;  đốt hổ phù đập ngọc tỷ, dân sẽ chất phác;  phá cái đấu bẻ gãy cái cân, dân sẽ không tranh chấp;  phế bỏ các phép tắc của thánh nhân áp đặt lên thiên hạ, mới có thể luận bàn với dân chúng.

328. Cố đức hữu sở trưởng, nhi hình hữu sở vong. Nhân bất vong kỳ sở vong, nhi vong kỳ sở bất vong, sở vị thành vong. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

故德有所長, 而形有所忘。 人不忘其所忘, 而忘其所不忘, 此 謂誠忘。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Cho nên khi đức của ai mà lớn, ngoại hình khiếm khuyết của hắn sẽ được người ta quên đi. Khi người ta không quên cái đáng quên (= ngoại hình) và quên cái không đáng quên (= đức), đó gọi là quên hết thật sự.

329. Vô lạc vô tri, thị chân lạc chân tri;  cố vô sở bất lạc, vô sở bất tri, vô sở bất ưu, vô sở bất vi. [Liệt Tử, Trọng Ni]

無樂無知, 是真樂真知; 故無所不樂, 無所不知, 無所不憂, 無所不為。 《列子 • 仲尼》

【Dịch】 Không vui và không biết mới là vui thật và biết thật;  cho nên không gì mà không cảm thấy vui, không gì mà không biết, không gì mà không buồn, không gì mà không làm.

330. Sở quý thánh nhân chi trị, bất quý kỳ độc trị, quý kỳ năng dữ chúng cộng trị. [Doãn Văn Tử, quyển thượng]

所貴聖人之治, 不貴其獨治, 貴其能與眾共治。 《尹文子 • 卷上》

【Dịch】 [Đối với việc cai trị quốc gia] cần coi trọng cách cai trị của thánh nhân, không coi trọng cách cai trị của bản thân nhà vua, phải coi trọng cách cai trị trên cơ sở là sự hợp tác giữa cá nhân nhà vua với dân chúng.

331. Hữu lý nhi vô ích vu trị giả, quân tử phất ngôn;  hữu năng nhi vô ích vu sự giả, quân tử phất vi. [Doãn Văn Tử, quyển thượng]

有理而無益于治者, 君子弗言; 有能而無益于事者, 君子弗為。 《尹文子 • 卷上》

【Dịch】 Điều có lý nhưng không có ích cho việc trị nước thì bậc quân tử không nói ra;  điều có thể làm nhưng chẳng ích lợi vào việc gì thì bậc quân tử không làm.

332. Quân, thiên hạ chi chí lý dã, liên vu hình vật diệc nhiên. [Liệt Tử, Thang Vấn]

均天下之至理也, 連于形物亦然。 《列子 • 湯問》

【Dịch】 Quân bình là điều rất đúng đắn của thiên hạ, đối với sự vật hữu hình cũng đúng như thế.

333. Trị quốc giả nhược nậu điền, khử hại miêu giả nhi dĩ. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

治國者若鎒田, 去害苗者而已。 《淮南子 • 說山訓》

【Dịch】 Việc trị nước giống như việc trừ cỏ dại ở ruộng, chỉ cần trừ các thứ làm hại mạ và lúa non là được.

334. Thượng đa sự tắc hạ đa thái, thượng phiền nhiễu tắc hạ bất định, thượng đa cầu tắc hạ giao tranh. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]

上多事則下多態, 上煩擾則下不定, 上多求則下交爭。 《淮南子 • 主術訓》

【Dịch】 Kẻ cai trị nếu sinh sự lắm điều, nhân dân có thái độ giả dối;  kẻ cai trị nếu quấy nhiễu nhân dân, nhân dân không yên;  kẻ cai trị nếu tham cầu, nhân dân cạnh tranh nhau.

335. Trị quốc thí nhược trương sắt, đại huyền căng, tắc tiểu huyền tuyệt hĩ. [Hoài Nam Tử, Mậu Xứng Huấn]

治國譬若張瑟, 大弦緪, 則小弦絕矣。 《淮南子 • 繆稱訓》

【Dịch】 Trị nước giống như lên dây đàn;  dây lớn căng quá thì dây nhỏ đứt.

336. Thượng nhân thiên thời, hạ tận địa tài, trung dụng nhân tài. [Hoài Nam Tử, Chủ Thuật Huấn]

上因天時, 下盡地財, 中用人才。 《淮南子 • 主術訓》

【Dịch】 [trị nước thì] trên phải dựa theo thiên thời, dưới phải lợi dụng tài vật của đất, giữa phải sử dụng nhân tài.

———————

**********************

15. DANH LỢI 名 利 – ĐẮC THẤT 得 失

337. Danh dữ thân thục thân, thân dữ hóa thục đa. Đắc dữ vong thục bệnh. Thị cố, thậm ái tắc thậm phí. Đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi. Khả dĩ trường cửu. [Đạo Đức Kinh, chương 44]

名與身孰親? 身與貨孰多? 得與亡孰病? 是故, 甚愛必甚費, 多藏必厚亡。 知足不辱, 知止不殆, 可以長久。 《道德經 • 第四十四章》

【Dịch】 Danh với thân, cái nào quý hơn? Thân với của, cái nào trọng hơn? Được với mất, cái nào khổ hơn? Cho nên, yêu lắm ắt hao phí nhiều. Chứa lắm ắt mất nhiều. Biết đủ sẽ không nhục. Biết dừng sẽ không nguy. Có thể trường cửu.

338. Hoặc sính vu Trang Tử, Trang Tử ứng kỳ sứ viết:  «Tử kiến phù hy ngưu hồ? Ý dĩ văn tú, tự dĩ sô thúc. Cập kỳ khiên nhi nhập vu đại miếu, tuy dục vi cô độc, kỳ khả đắc hồ!» [Trang Tử, Liệt Ngự Khấu]

或聘于莊子, 莊子應其使曰﹕子見夫犧牛乎? 衣以文繡, 食以芻叔。 及其牽而入于大廟, 雖欲為孤犢, 其可得乎! 《莊子 • 列御寇》

【Dịch】 Có vua nọ mời Trang Chu [ra làm quan], Trang Chu trả lời sứ giả:  «Ông có từng thấy con bò để tế không? Người ta mặc vải thêu hoa cho nó, cho nó ăn cỏ và đậu lớn. Rồi ngày kia nó bị dắt đến nhà Thái Miếu [để cúng tế]. Bấy giờ dù nó có muốn trở lại làm con bê cô đơn, liệu có thể được chăng?»

339. Cử thế nhi dự chi nhi bất gia khuyến, cử thế nhi phi chi bất gia trở, định hồ nội ngoại chi phân, biện hồ vinh nhục chi cảnh, tư dĩ hĩ. [Trang Tử, Tiêu Dao Du]

舉世而譽之而不加勸, 舉世而非之不加沮, 定乎內外乎分, 辯乎榮辱乎境, 斯已矣。 《莊子 • 逍遙游》

【Dịch】 Dù cả thế gian khen ngợi, ông cũng không nỗ lực thêm;  dù cả thế gian chê bai ông cũng không thối chí nản lòng;  ông đã phân biệt được giữa trong và ngoài, đã xác định được ranh giới giữa vinh và nhục. Ông ta đã như thế rồi.

340. Tử Trương vấn vu Mãn Cẩu Đắc viết:  «Cái bất vi hạnh? Vô hạnh tắc bất tín, bất tín tắc bất nhiệm, bất nhiệm tắc bất lợi. Cố quan chi danh, kế chi lợi, nhi nghĩa chân thị dã. Nhược khí danh lợi, phản chi vu tâm, tắc phu sĩ chi vi hạnh, bất khả nhất nhật bất vi hồ!» Mãn Cẩu Đắc viết:  «Vô sỉ giả phú, đa tín giả hiển. Phù danh lợi chi đại giả, cơ tại vô sỉ nhi tín. Cố quan chi danh, kế chi lợi, nhi tín chân thị dã. Nhược khí danh lợi, phản chi vu tâm, tắc phu sĩ chi vi hạnh, bão kỳ thiên hồ!» [Trang Tử, Đạo Chích]

子張問滿苟得曰:  『蓋不為行? 無行則不信, 不信則不任, 不任則不利。 故觀之名, 計之利, 而義真是也。 若棄名利, 反之于心, 則夫士之為行, 不可一日不為乎!』  滿苟得曰:  『無恥者富, 多信者顯。 夫名利之大者, 几在無恥而信。 故觀之名, 計之利, 而信真是也。 若棄名利, 反之于心則夫士之為行, 抱其天乎!』  《莊子 • 盜跖》

【Dịch】 Tử Trương hỏi Mãn Cẩu Đắc:  «Sao anh không tu dưỡng phẩm hạnh? Không có phẩm hạnh thì anh không được ai tin;  không được ai tin, thì anh không được giao việc;  không được giao việc thì anh đâu có lợi lộc gì. Cho nên, xét về danh và lợi, thì nghĩa mới là điều đúng. Nếu vất bỏ danh lợi, chỉ phản tỉnh nơi tâm, sẽ thấy kẻ sĩ tu dưỡng phẩm hạnh đâu chỉ có một ngày.»

Mãn Cẩu Đắc đáp:  «Kẻ vô sỉ thì giàu, kẻ lắm người tin tưởng thì nổi danh. Do đó cái lớn lao của danh lợi gần như phát xuất từ vô sỉ và được tin tưởng. Cho nên xét theo danh và lợi thì được tin tưởng mới là điều đúng. Nếu vất bỏ danh lợi, chỉ phản tĩnh nơi tâm, sẽ thấy kẻ sĩ tu dưỡng phẩm hạnh chỉ ôm giữ được thiên tính mà thôi.»

341. Tri Hoà viết:  «Bình vi phúc, hữu dư vi hại giả, vật mạc bất nhiên, nhi tài kỳ thậm giả dã. Kim phú nhân, nhĩ doanh chung cổ quản dược chi thanh, khẩu khiếm vu sô hoạn lao lễ chi vị, dĩ cảm kỳ ý, di vong kỳ nghiệp, khả vị loạn hĩ;  cai nịch vu bằng khí, nhược phụ trọng hạnh nhi thượng bản, khả vị khổ hĩ;  tham tài nhi thủ uỷ, tham quyền nhi thủ kiệt, tĩnh cư tắc nịch, thể trạch tắc bằng, khả vị tật hĩ;  vi dục phú tựu lợi, cố mãn nhược đổ nhĩ nhi bất tri tỵ, thả bằng nhi bất xả, khả vị nhục hĩ;  tài tích nhi vô dụng, phục ưng nhi bất xả, mãn tâm thích tiêu, cầu ích nhi bất chỉ, khả vị ưu hĩ;  nội tắc nghi kiếp thỉnh chi tắc, ngoại tắc úy khấu đạo chi hại, nội chu lâu sơ, ngoại bất cảm độc hành, khả vị úy hĩ. Thử lục giả, thiên hạ chi chí hại dã, giai di vong nhi bất tri sát. cập kỳ hoạn chí, cầu tận tính kiệt tài đan dĩ phản nhất nhật chi vô cố nhi bất khả đắc dã. Cố quan chi danh tắc bất kiến, cầu chi lợi tắc bất đắc. Liêu ý tuyệt thể nhi tranh thử, bất diệc hoặc hồ!» [Trang Tử, Đạo Chích]

知和曰:  『平為福, 有餘為害者, 物莫不然, 而財其甚者也。 今富人, 耳營鐘鼓管龠之聲, 口嗛于芻豢醪醴之味, 以感其意 , 遺忘其業, 可謂亂矣; 侅溺于馮氣, 若負重行而上阪, 可謂苦矣; 貪財而取慰, 貪權而取竭, 靜居則溺, 体澤則馮, 可謂疾矣; 為欲富就利, 故滿若堵耳而不知避, 且馮而不舍, 可謂辱矣; 財積而無用, 服膺而不舍, 滿心戚醮, 求益而不止, 可謂憂矣; 內則疑劫請之賊, 外則畏寇盜之害, 內周樓疏, 外不敢獨行, 可謂畏矣。 此六者, 天下之至害也, 皆遺忘而不知察。 及其患至, 求盡性竭財單以反一日之無故而不可得也。 故觀之名則不見, 求之利則不得。 繚意絕体而爭此, 不亦惑乎!』

《莊子 • 盜跖》

【Dịch】 Tri Hoà nói:  «Quân bình là phúc, có dư là họa, vật nào cũng thế, nhất là đối với tài sản.

Ngày nay lỗ tai bọn nhà giàu ù tiếng đàn sáo chuông trống, miệng sặc mùi vị thịt thà và rượu ngọt nồng;  chúng làm hại ý chí, khiến công việc bỏ bê. Đó gọi là loạn!

 Ăn nhiều nghẹn họng, đầy hơi, đi đứng vất vả như vác nặng mà leo dốc núi. Đó gọi là khổ!

Tham tiền tài tới mức lâm bệnh;  tham quyền tới mức hao kiệt tinh thần;  ở yên thì chìm đắm;  thân thể béo ú phải vịn nương. Đó gọi là bệnh!

Muốn làm giàu thì phải kiếm lợi, nên có đầy đủ mà bít tai [không nghe lời đàm tiếu] và không biết tránh né;  cứ bám vào đó mà không buông xả. Đó gọi là nhục!

Tiền tài tích chứa cho đầy mà không dùng hết, canh cánh trong lòng không buông xả;  lòng đầy phiền não;  mong ích lợi mãi không thôi. Đó gọi là ưu phiền!

Lại lo trong nhà có trộm đạo và bọn cướp bên ngoài đánh vào;  nên trong nhà thì làm cửa nẻo có lưới bao bọc;  còn ra ngoài thì không dám đi một mình. Đó gọi là sợ hãi!

Sáu điều đó [loạn, khổ, bệnh, nhục, ưu phiền, sợ hãi] là hết sức nguy hại trong thiên hạ, nhưng họ đều quên mà không biết xem xét;  cho đến lúc hoạn nạn lại mong đánh đổi hết tất cả để mong một ngày yên ổn cũng không được.

Cho nên xét về danh thì không thấy, xét về lợi thì không được. Tâm thần mê loạn, gắng sức để tranh giành đến nỗi như vậy, chẳng phải là lầm lẫn hay sao?»

342. Trang Tử viết:  «Tần vương hữu bệnh triệu y. Phá ung hội toà giả đắc xa nhất thặng, thỉ trĩ giả đắc xa ngũ thặng, sở trị dũ hạ, đắc xa dũ đa.» [Trang Tử, Liệt Ngự Khấu]

莊子曰:  『秦王有病召醫。 破癰潰痤者得車一乘, 舐痔者得車五乘, 所治愈下, 得車愈多。』 《莊子。 列御寇》

【Dịch】 Trang Tử trả lời:  «Khi vua Tần bị bệnh, thái y được vua triệu đến phá một cái ung hay nặn một cái mụn thì được một cỗ xe;  ai liếm trĩ của vua thì được năm cỗ xe. Cách trị càng hèn hạ thì càng có nhiều xe.»

343. Cổ chi sở vị đắc chí giả, phi hiên miện chi vị dã, vị kỳ vô dĩ ích kỳ lạc nhi dĩ hĩ. Kim chi sở vị đắc chí giả, hiên miện chi vị dã. Hiên miện tại thân, phi tính mệnh dã, vật chi thưởng lai, ký giả dã. Ký chi, kỳ lai bất khả ngữ, kỳ khứ bất khả chỉ. Cố bất vi hiên miện tứ chí, bất vi cùng ước xu tục, kỳ lạc bỉ dữ thử đồng, cố vô ưu nhi dĩ hĩ! [Trang Tử, Thiện Tính]

古之所得志者, 非軒冕之謂也, 謂其無以益其樂而已矣。 今之所謂得志者, 軒冕之謂也。 軒冕在身, 非性命也, 物之儻來, 寄者也。 寄之, 其來不可圉, 其去不可止。 故不為軒冕肆志, 不為窮約趨俗, 其樂彼與此同, 故無憂而已矣! 《莊子 • 繕性》

【Dịch】 Ngày xưa gọi là ‘đắc chí’ chẳng phải là việc có chức tước và bổng lộc;  mà là không làm tăng niềm vui cho mình nữa. Ngày nay gọi là ‘đắc chí’ chính là việc có chức tước và bổng lộc. Nhưng chức tước và bổng lộc thuộc về thân xác;  chẳng liên quan gì đến tính mệnh ta. Ngoại vật ngẫu nhiên đến, chỉ là tạm thời;  vì tạm thời nên khi chúng đến ta không chế ngự chúng được và khi chúng đi ta không ngăn chận chúng được. Do đó, chúng ta không nên vì chức tước bổng lộc mà khoái chí, cũng đừng vì cùng khốn mà buông theo thói đời.

344. Dương Chu viết:  «Hành thiện bất dĩ vi danh, nhi danh tòng chi;  danh bất dữ lợi kỳ, nhi lợi qui chi;  lợi bất dữ tranh kỳ, nhi tranh cập chi;  cố quân tử tất thận vi thiện.» [Liệt Tử, Thuyết Phù]

楊朱曰:  『行善不以為名, 而名從之; 名不與利期, 而利歸之; 利不與爭期, 而爭及之; 故君子必慎為善。』 《列子 • 說符》

【Dịch】 Dương Chu nói:  «Làm việc thiện không phải vì danh, mà danh sẽ đi theo nó;  danh không mong lợi, nhưng lợi sẽ quy tụ về;  lợi không mong tranh chấp, nhưng tranh chấp sẽ đến;  do đó bậc quân tử phải thận trọng khi làm việc thiện.»

——————————-
*******************************

16. HỌA PHÚC 禍 福 – SINH TỬ 生 死

345. Họa hề phúc chi sở ỷ. Phúc hề họa chi sở phục. Thục tri kỳ cực. Kỳ vô chính. Chính phục vi kỳ, thiên phục vi yêu. Nhân chi mê, kỳ nhật cố cửu. Thị dĩ thánh nhân, phương nhi bất cát, liêm nhi bất quế, trực nhi bất tứ, quang nhi bất diệu. [Đạo Đức Kinh, chương 58]

 禍兮, 福之所倚, 福兮, 禍之所伏。 孰知其極? 其無正。 正復為奇, 善復為妖。 人之迷, 其日固久! 是以聖人方而不割, 廉而不劌, 直而不肆, 光而不耀。 《道德經 • 第五十八章》

【Dịch】 Họa là chỗ dựa của phúc;  phúc là chỗ dựa của họa. Nào ai biết đâu là điểm cực hạn? Không có sự công chính sao? Công chính rồi lại thành gian tà;  thiện rồi trở thành ác. Con người u mê đã quá lâu rồi! Cho nên thánh nhân tuy vuông vức mà không hại ai, tuy góc cạnh mà không tổn thương ai, tuy ngay thẳng nhưng không khắc nghiệt với ai, tuy sáng rỡ nhưng không chói lòa mắt ai.

346. Họa mạc đại vu bất tri túc. Cữu mạc đại vu dục đắc. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ. [Đạo Đức Kinh, chương 46]

禍大于不知足﹔咎莫大于欲得。 故知足之足, 常足矣。 《道德經 • 第四十六章》

【Dịch】 Không có họa nào lớn bằng không biết đủ. Không có rủi nào lớn bằng tham cầu. Cho nên hễ biết đủ thì người ta sẽ luôn đầy đủ vậy.

347. An nguy tương dịch, họa phúc tương sinh. [Trang Tử, Tắc Dương]

安危相易, 禍福相生。 《莊子 • 則陽》

【Dịch】 An và nguy biến đổi qua lại;  phúc và họa nối tiếp nhau.

348. Bất vi phúc tiên, bất vi họa thủy. [Trang Tử, Khắc Ý]

不為福先, 不為禍始。 《莊子 • 刻意》

【Dịch】 [Thánh nhân] không là nguyên do tạo phúc hay gây họa.

349. Phúc khinh hồ vũ, mạc chi tri tái;  hoạ trọng hồ địa, mạc chi tri tị. [Trang Tử, Nhân Gian Thế]

福輕乎羽, 莫之知載; 禍重乎地, 莫之知避。 《莊子 • 人間世》

【Dịch】 Phúc nhẹ như lông hồng mà không ai biết mang;  hoạ nặng như đất mà không ai biết tránh.

350. Họa dữ phúc đồng môn, lợi dữ hại vi lân. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]

禍與福同門, 利與害為鄰。 《淮南子 • 詮言訓》

【Dịch】 Họa và phúc [ra vào] cùng một cửa;  lợi và hại là láng giềng của nhau.

351. Duy bất cầu lợi giả vi vô hại, duy bất cầu phúc giả vi vô họa. [Hoài Nam Tử, Thuyên Ngôn Huấn]

惟不求利者為無害, 惟不求福者為無禍。 《淮南子 • 詮言訓》

【Dịch】 Chỉ ai không cầu lợi mới không bị hại;  chỉ ai không cầu phúc mới không bị họa.

352. Hoạn sinh vu đa dục, hại sinh vu phất bị. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]

患生于多欲, 害生于弗備。 《淮南子 • 繆稱訓》

【Dịch】 Hoạn nạn phát sinh do dục vọng nhiều;  tai hại phát sinh do không phòng bị.

353. Sát kiến uyên ngư giả bất tường, trí liệu ẩn nặc giả hữu ương. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

察見淵魚者不祥, 智料隱匿者有殃。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Săm soi cá ở vực sâu sẽ không tốt lành;  biết rõ chuyện kín của thiên hạ sẽ gặp tai họa.

354. Hoạ mạc đại vu tử, phúc mạc đại vu sinh. Thị dĩ hữu danh chi danh táng ngã chi thác, vô danh chi danh dưỡng ngã chi trạch;  hữu hoá chi hoá táng ngã chi tặc, vô hoá chi hoá dưỡng ngã chi phúc. [Vân Cấp Thất Thiêm, Thất Bộ Danh Giáo Số Yếu Ký]

禍莫大于死, 福莫大于生。 是以有名之名喪我之橐, 無名之名養我之宅; 有貨之貨喪我之賊, 無貨之貨養我之福。 《雲笈七簽 • 七部名教數要記》

【Dịch】 Không cái hoạ nào bằng cái chết;  không cái phúc nào bằng sự sống. Cho nên, danh tiếng là cái túi chôn ta;  vô danh là chỗ nuôi ta;  tài hoá (tiền bạc của cải) là cái hại thân ta;  không có tài hoá là cái phúc để nuôi thân ta.

355. Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập hữu tam. Tử chi đồ, thập hữu tam. Nhân chi sinh, động chi tử địa diệc thập hữu tam. Phù hà cố ? Dĩ kỳ sinh sinh chi hậu. [Đạo Đức Kinh, chương 50]

出生入死。 生之徒, 十有三﹔死之徒, 十有三﹔人之生, 動之死地, 亦十有三。 夫何故? 以其生生之厚。 《道德經 • 第50章》

【Dịch】 Hễ sinh ra là bắt đầu chết. Có 13 nguyên do sống và chết. Con người sinh ra liền bị 13 nguyên do khiến phải chết. Tại sao thế? Vì con người muốn sống cho hết mức.

356. Phúc chi vi họa, họa chi vi phúc, hoá bất khả cực. [Hoài Nam Tử, Nhân Gian Huấn]

福之為禍, 禍之為福, 化不可極。 《淮南子 • 人間訓》

【Dịch】 Phúc chuyển thành họa, họa chuyển thành phúc, chúng chuyển hoá khôn cùng.

357. Thủ phi nghĩa chi tài, bất tị oán hận, thí nhược dĩ lậu phụ cứu cơ, trấm tửu giải khát, phi bất tạm bão nhi tử diệc cập chi hĩ! [Bão Phác Tử Nội Thiên, Vi Chỉ]

取非義之財, 不避怨恨, 譬若以漏脯救饑, 鴆酒解渴, 非不暫飽而死亦及之矣! 《抱朴子內篇 • 微旨》

【Dịch】 Giữ của cải phi nghĩa [để làm giàu] cũng giống như dùng thịt độc rượu độc để đỡ đói đỡ khát, nhưng chẳng tạm no lòng mà khiến cái chết xảy đến cho mình.

358. Nhân chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy kỳ tử dã khô cảo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ, nhu nhược giả sinh chi đồ. [Đạo Đức Kinh, chương 76]

人之生也柔弱, 其死也堅強。 萬物草木之生也柔脆, 其死也枯槁。 故堅強者死之徒, 柔弱者生之徒。 《道德經 • 第七十六章》

【Dịch】 Khi sống [thể chất] người ta mềm yếu;  lúc chết thì [thi thể] cứng đơ. Vạn vật và thảo mộc khi sống thì mềm yếu;  lúc chết thì khô héo. Cho nên cứng mạnh cùng một bọn với chết;  mềm yếu cùng một bọn với sống.

359. Tử sinh, mệnh dã, kỳ hữu dạ đán chi thường, thiên dã. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

死生, 命也, 其有夜旦之常, 天也。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Sống và chết là số mệnh;  sự kế tục mãi mãi giữa ngày và đêm là do trời.

360. Nhất thụ kỳ thành hình, bất vong dĩ đãi tận. Dữ vật tương nhận tương mỹ, kỳ hành tận như trì nhi mạc chi năng chỉ, bất diệc bi hồ! Chung thân dịch dịch nhi bất kiến kỳ thành công, niết nhiên bì dịch nhi bất tri kỳ sở qui, khả bất ai da! Nhân vị chi bất tử, hề ích! Kỳ hình hoá, kỳ tâm dữ chi nhiên, khả bất vị đại ai hồ! Nhân chi sinh dã, cố nhược thị mang hồ? Kỳ ngã độc mang, nhi nhân diệc hữu bất mang giả hồ? [Trang Tử, Tề Vật Luận]

一受其成形, 不亡以待盡。 與物相刃相靡, 其行盡如馳而莫之 能止, 不亦悲乎! 終身役役而見其成功, 苶然疲役而不知其所歸, 可不哀邪! 人謂之不死, 奚益! 其形化, 其心與之然, 可不謂大哀乎! 人之生也, 固若是芒乎? 其我獨芒, 而人亦有不芒者乎? 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Hễ ta có được hình hài rồi thì đến khi chết ta mới mất nó. Khi thân ta và ngoại vật va nhau hay cọ xát nhau, nó vận động hết mức như ngựa phi mà không gì cản nổi. Không buồn sao được! Suốt đời mãi vất vả mà chẳng thấy thành công, lại còn khốn đốn mỏi mệt, không biết về đâu.

Đáng thương quá! Người ta cho rằng họ không chết, [nhưng sống mà như thế] liệu có ích gì? Khi hình hài lão hoá, tinh thần cũng suy theo. Không phải là quá buồn hay sao?

Một kiếp người khó nói là có ngu muội hay không. Hay chỉ riêng tôi ngu muội, còn kẻ khác thì không?

361. Cận tử chi tâm, mạc sử phục dương dã. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

近死之心, 莫使復陽也。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Tâm con người lúc gần chết thì không có gì khiến nó hồi dương được nữa.

362. Phù đại khối tái ngã dĩ hình, lao ngã dĩ sinh, dật ngã dĩ lão, tức ngã xuất tử. Cố thiện ngô sinh giả, nãi sở dĩ thiện ngô tử dã. […] thiện yểu thiện lão, thiện thủy thiện chung. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

夫大塊載我以形, 勞我以生, 佚我以老, 息我出死。 故善吾生者, 乃所以善吾死也。 …善妖善老, 善始善終。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Trời đất cho ta hình hài, cho ta sống để lao nhọc, cho ta già để an nhàn, cho ta chết để an nghỉ. Cho nên sự sống của ta là tốt thì cái chết của ta cũng tốt. […] yểu hay thọ, sinh hay tử đều tốt.

363. Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên nhi dĩ. Chú nhiên bột nhiên, mạc bất xuất yên;  do nhiên liêu nhiên, mạc bất nhập yên. Dĩ hoá nhi sinh, hựu hoá nhi tử, sinh vật ai chi, nhân lũ bi chi. Giải kỳ thiên thao, huy kỳ thiên trật. Phân hồ uyển hồ, hồn phách tương vãng, nãi thân tòng chi. Nãi đại qui hồ! [Trang Tử, Tri Bắc Du]

人生天地之間, 若白駒之過郤, 忽然而已。 注然勃然, 莫不出焉; 油然漻然, 莫不入焉。 已化而生, 又化而死。 生物哀之, 人婁悲之。 解其天韜, 墮其天帙。 紛乎宛乎, 魂魄將往, 乃身從之。 乃大歸乎! 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Đời người giữa cõi trời đất khác nào bóng câu qua khe cửa, thoắt hiện thoắt mất. Vạn vật đột nhiên xuất hiện rồi đột nhiên quay vào. Do chuyển hoá mà sinh ra, rồi lại do chuyển hoá mà chết. Sinh vật lấy đó mà buồn rầu;  con người lấy đó mà đau khổ. Cái chết chẳng qua là sự giải thoát khỏi sự bó buộc (như lấy cái cung ra khỏi bao cung hay lấy đồ vật ra khỏi cái túi trời). Khi chết, người ta phân vân hoảng loạn;  hồn phách xuất đi và thân xác cũng chết theo. Chết là chuyến trở về quê cũ rất vĩ đại đấy thôi!

364. Dư ô hồ tri duyệt sinh chi phi hoặc da! Dư ô hồ tri ố tử chi phi nhược táng nhi bất tri qui giả da! Lệ chi cơ, ngải phong nhân chi tử dã. Tấn quốc thủy đắc chi dã, thế khấp triêm khâm. Cập kỳ chí vu vương sở, dữ vương đồng khuông sàng, thực sô hoạn, nhi hậu hối kỳ khấp dã. Dư ô hồ tri phù tử giả bất hối kỳ thủy chi kỳ sinh hồ? [Trang Tử, Tề Vật Luận]

予惡乎知說生之非惑邪! 予惡乎知惡死之非弱喪而不知歸者邪! 麗之姬艾封人之子也。 晉國始得之也, 涕泣沾襟。 及其至于王所, 與王同筐床, 食芻豢, 而後悔其泣也。 予惡乎知夫死者不悔其始之蘄生乎? 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Làm sao tôi biết ham sống chẳng phải là mê lầm? Làm sao tôi biết ghét chết chẳng phải là tâm trạng của đứa trẻ đang trở về nhà mà cứ tưởng mình bị lạc đường? Nàng Lệ Cơ – con gái quan trấn biên cương đất Ngải (của nước Lệ Nhung) mà vua Tấn Hiến Công cướp về làm thiếp – đã khóc ướt đẫm vạt áo. Đến khi về cung vua, cùng vua vui hưởng giường chiếu êm ấm và các món thịt thà ngon béo, bấy giờ nàng mới tiếc cho những giọt lệ ngày trước. Làm sao tôi biết kẻ chết không hối tiếc trước kia đã từng ham sống?

365. Bỉ dĩ sinh vi phụ chuế huyền vưu, dĩ tử vi quyết hoàn hội ung. Phù nhược nhiên giả, hựu ô tri tử sinh tiên hậu chi sở tại? [Trang Tử, Đại Tông Sư]

彼以生為附贅縣疣, 以死為決(疒+丸)潰癰。 夫若然者, 又惡知死生先後之所在? 《莊子。 大宗師》

【Dịch】 Họ coi sự sống [nặng nề] như cái bướu dính vào thân lâu ngày, và xem cái chết [thoải mái] như cái ung nhọt bị vỡ. Nếu quả đúng như vậy, làm sao họ biết được giữa sống và chết cái nào có trước cái nào có sau?

366. Sinh dã tử chi đồ, tử dã sinh chi thủy, thục tri kỳ kỷ? Nhân chi sinh, khí chi tụ dã. Tụ tắc vi sinh, tán tắc vi tử. Nhược tử sinh vi đồ, ngô hựu hà hoạn? Cố vạn vật nhất dã. [Trang Tử, Tri Bắc Du]

生也死之徒, 死也生之始, 孰知其紀? 人之生, 氣之聚也。 聚則為生, 散則為死。 若死生為徒, 吾又何患? 故萬物一也。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Sự sống tiếp nối cái chết và cái chết khởi đầu sự sống, nhưng nào ai biết qui luật của chúng? Đời người chỉ là sự tích tụ của khí. Khí tụ lại thì ta sống, khí phân tán thì ta chết. Đã biết sống và chết tiếp nối nhau, ta còn lo lắng chi? Do đó vạn vật cùng một thể.

367. Thục năng dĩ vô vi thủ, dĩ sinh vi tích, dĩ tử vi khao;  thục tri tử sinh tồn vong chi nhất thể giả, ngô chi hữu hĩ! [Trang Tử, Đại Tông Sư]

孰能以無為首, 以生為脊, 以死為尻; 孰知死生存亡之一体者 , 吾之友矣。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Ai có thể xem hư vô là đầu, sự sống là xương sống, cái chết là mông đít? Ai mà biết được sống-chết và còn-mất chỉ là một thì người đó là bạn của ta.

368. Minh hồ thản đồ, cố sinh nhi bất duyệt, tử nhi bất hoạ;  tri chung thủy chi bất khả cố dã. [Trang Tử, Thu Thủy]

明乎坦涂, 故生而不說, 死而不禍; 知終始之不可故也。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Ai hiểu được con đường bằng phẳng rồi thì khi sống không cảm thấy vui mà lúc chết cũng không cho là tai họa. Họ biết rằng kết thúc (tử) và khởi đầu (sinh) nào có cố định đâu.

369. Tử sinh diệc đại hĩ. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

死生亦大矣。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Chết và sống cũng là vấn đề lớn.

370. Nhân chi sinh dã, dữ ưu câu sinh. [Trang Tử, Chí Lạc]

人之生也, 與憂俱生。 《莊子 • 至樂》

【Dịch】 Con người khi sinh ra là sinh cùng với ưu sầu.

371. Nhân tư tri sinh chi lạc, vị tri sinh chi khổ;  tri lão chi bị, vị tri lão chi dật;  tri nhân chi ố, vị tri tử chi tức dã. Án Tử viết:  «Thiện tai, cổ chi hữu tử dã, nhân giả tức yên, bất nhân giả phục yên.» Tử dã giả, đắc chi kiểu dã. Cổ giả vị tử nhân vi qui nhân, phù ngôn tử nhân vi qui nhân, tắc sinh nhân vi hành nhân hĩ. Hành nhi bất tri qui, thất gia giả dã. Nhất nhân thất gia, nhất thế phi chi;  thiên hạ thất gia, mạc tri phi yên. [Liệt Tử, Thiên Thụy]

人胥知生之樂, 未知生之苦; 知老之備, 未知老之佚; 知人之惡, 未知死之息也。 晏子曰: 『善哉, 古之有死也, 仁者息焉, 不仁者伏焉。』死也者, 德之徼也。 古者謂死人為歸人, 夫言死人為歸人, 則生人為行人矣。 行而不知歸, 失家者也。 一人失家, 一世非之; 天下失家, 莫知非焉。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Người đời đều biết sống là vui mà chưa biết sống là khổ;  đều biết già là suy nhược mà chưa biết già là an vui;  đều biết cái người ta ghét là chết mà chưa biết chết là nghỉ ngơi. Án Tử nói:  «Tốt thay, từ xưa [đến nay] đã có cái chết, để người nhân đức được nghỉ ngơi và khiến kẻ bất nhân phải chịu báo ứng.» Cái chết là cái đạt được sau cùng. Người xưa gọi kẻ chết là «qui nhân» (người trở về). Đã gọi kẻ chết là «qui nhân» ắt kẻ đang sống là «hành nhân» (kẻ lữ hành). Bôn ba tha phương không biết quay về, tức là kẻ mất nhà. Nếu chỉ có một người mất nhà, người đời sẽ chê hắn là sai;  nhưng nếu cả thiên hạ đều mất nhà, nào ai biết là sai?

372. Nhân tự sinh chí chung đại hoá hữu tứ:  Anh hài dã, thiếu tráng dã, lão mạo dã, tử vong dã. Kỳ tại anh hài, khí chuyên chí nhất, hoà chi chí dã, vật bất thương yên, đức mạc gia yên;  kỳ tại thiếu tráng, tắc huyết khí phiêu dật, dục lự sung khởi, vật sở công yên, đức cố suy yên;  kỳ tại lão mạo, tắc dục lự nhu yên, thể tương hưu yên, vật mạc tiên yên, tuy vị cập anh hài chi toàn, phương vu thiểu tráng gian hĩ;  kỳ tại tử vong dã, tắc chi vu tức yên, phản kỳ cực hĩ. [Liệt Tử, Thiên Thụy]

人自生至終大化有四﹕嬰孩也, 少壯也, 老耄也, 死亡也。 其在嬰孩, 氣專志一, 和之至也, 物不傷焉, 德莫加焉; 其在少壯, 則血氣飄溢, 欲慮充起, 物所攻焉, 德故衰焉; 其在老耄 , 則欲慮柔焉, 体將休焉, 物莫先焉, 雖未及嬰孩之全, 方于少壯間矣; 其在死亡也, 則之于息焉, 反其極矣。 《列子 • 天瑞》

【Dịch】 Con người từ khi sinh ra đến lúc chết phải trải qua bốn sự chuyển hoá lớn:  ấu thơ, trưởng thành, tuổi già, chết. Người ta khi ấu thơ, tâm chí chuyên nhất, khí huyết thông sướng, đạt tới sự hài hoà cao nhất, nên ngoại vật không làm hại được, đức không phải thêm. Người ta khi trưởng thành, khí huyết rất mạnh, ham muốn và tư lự nhiều, nên bị ngoại vật tác động, đức vì thế mà suy. Người ta khi già, ham muốn và tư lự bớt đi, thân thể suy nhược, ngoại vật không tranh hơn, tuy chưa thuần chân hoàn toàn như hồi ấu thơ nhưng cũng ngang với giai đoạn ấu thơ và trưởng thành. Người ta khi chết, tức là nghỉ ngơi, trở về nơi cuối cùng.

373. Khả dĩ sinh nhi sinh, thiên phúc dã;  khả dĩ tử nhi tử, thiên phúc dã;  khả dĩ sinh nhi bất sinh, thiên phạt dã;  khả dĩ tử nhi bất tử, thiên phạt dã. Khả dĩ sinh, khả dĩ tử, đắc sinh đắc tử, hữu hĩ;  bất khả dĩ sinh, bất khả dĩ tử, hoặc tử hoặc sinh, hữu hĩ. Chung nhi sinh sinh tử tử, phi vật phi ngã, giai mệnh dã, trí chi sở vô nại hà. Cố viết:  yểu nhiên vô tế, thiên đạo tự hội;  mặc nhiên vô phân, thiên đạo tự vận. Thiên địa bất năng phạm, thánh trí bất năng can, quỷ mị bất năng khi, tự nhiên giả mặc chi thành chi, bình chi ninh chi, tương chi nghinh chi. [Liệt Tử, Lực Mệnh]

可以生而生, 天福也; 可以死而死, 天福也; 可以生而不生, 天罰也; 可以死而不死, 天罰也。 可以生, 可以死, 得生得死, 有矣。 不可以生, 不可以死, 不可以死, 或死或生, 有矣。 終而生生死死, 非物非我, 皆命也, 智之所無奈何。 故曰﹕窈然無際, 天道自會; 漠然無分, 天道自運。 天地不能犯, 聖智不能干, 鬼魅不能欺自然者默之成之, 平之寧之, 將之迎之。 《列子 • 力命》

【Dịch】 Phải sống mà sống hoặc phải chết mà chết, đó đều là phúc trời. Dở sống dở chết, đó là sự trừng phạt của trời. Có thể sống, có thể chết, được sống, được chết, điều đó có xảy ra. Không thể sống, không thể chết, hoặc sống, hoặc chết, điều đó có xảy ra. Sống hay chết, không phải là do ngoại vật khiến vậy hay do bản thân muốn vậy, mà đều là do số mệnh. Biết thế mà chẳng làm gì được. Cho nên nói:  mịt mờ không ranh giới, qui luật tự nhiên tự tụ hội, tĩnh lặng không phân biệt, qui luật tự nhiên tự vận chuyển. Trời đất không thể mạo phạm nó, trí tuệ thánh nhân không thể can thiệp nó, quỷ quái không thể khinh thường nó. Qui luật tự nhiên thanh tĩnh mà tạo thành vạn vật;  an bình, yên ổn mà không gì không làm;  thuận ứng vạn vật không chút sơ sót.

374. Sinh phi quý chi sở năng tồn, thân phi ái chi sở năng hậu;  sinh diệc phi tiện chi sở năng yểu, thân diệc phi khinh chi sở năng bạc. Cố quý chi hoặc bất sinh, tiện chi hoặc bất tử, ái chi hoặc bất hậu, khinh chi hoặc bất bạc, thử tự phản dã, phi phản dã, thử tự sinh tự tử, tự hậu tự bạc. Hoặc quý chi nhi sinh, hoặc tiện chi nhi tử, hoặc ái chi nhi hậu, hoặc khinh chi nhi bạc, thử tự thuận dã, phi thuận dã, thử diệc tự sinh tự tử, tự hậu tự bạc. Chúc Hùng ngứ Văn Vương viết:  «Tự trường phi sở tăng, tự đoản phi sở tổn, toán chi sở vong nhược hà?» Lão Đam ngứ Quan Doãn viết:  «Thiên chi sở ố, thục tri kỳ cố?» Ngôn nghinh thiên ý, sủy lợi hại bất như kỳ dĩ. [Liệt Tử, Lực Mệnh]

生非貴之所能存, 身非愛之所能厚, 生亦非賤之所能夭, 身亦非輕之所能薄。 故貴之或不生, 賤之或不死, 愛之或不厚, 輕之或不薄, 此似反也, 非反也, 此自生自死, 自厚自薄。 或貴之而生, 或賤之而死, 或愛之而厚, 或輕之而薄, 此似順也, 非順也, 此亦自生自死, 自厚自薄。 鬻熊語文王曰:  『自長非所增, 自短非所損, 算之所亡若何?』 老聃語關尹曰: 『天之所惡, 孰知其故?』 言迎天意, 揣利害不如其已。 《列子 • 利命》

【Dịch】 Không phải vì ta quý sự sống mà ta sống;  không phải vì ta yêu cái thân này mà nó mạnh. Không phải vì ta tởm cuộc sống mà ta chết non;  không phải vì ta khinh cái thân này mà nó yếu. Cho nên có khi ta quý sự sống mà không sống, có khi ta tởm nó mà không chết;  có khi ta yêu cái thân mà nó không mạnh, có khi ta khinh nó mà nó không yếu. Điều này tưởng nghịch lý nhưng lại không. Nó tự sống tự chết, tự mạnh tự yếu. Có khi quý sự sống mà sống, tởm nó mà chết;  yêu thân mà mạnh, khinh nó mà yếu. Điều này tưởng thuận lý nhưng lại không. Nó cũng tự sống tự chết, tự mạnh tự yếu. Chúc Hùng bảo Văn Vương:  «Muốn dài vị tất đã dài, muốn ngắn vị tất đã ngắn, tính toán mà có làm được gì đâu.» Lão Tử bảo Quan lệnh Doãn Hỉ:  «Cái mà trời ghét, nào ai biết duyên cớ?» Ý nói ta phải đón trước thiên ý, suy xét lợi hại mà không theo cách thức chúng đã xảy ra.

375. Sinh tương lân, tử tương tổn. [Liệt Tử, Dương Chu]

生相憐, 死相損。 《列子 • 楊朱》

【Dịch】 Con người khi sống thì thương xót nhau, khi chết thì làm đau lòng nhau.

—————————–
*******************************

17. BIỆN CHỨNG 辯 證 – THẮNG BẠI 勝 敗

376. Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ;  giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện hĩ. Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy. [Đạo Đức Kinh, chương 2]

天下皆知美之為美, 斯惡已﹔皆知善之為善, 斯不善矣。 故有無相生, 難易相成, 長短相形, 高下相傾, 音聲相和, 前后相隨。 《道德經 • 第二章》

【Dịch】 Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, là vì đã có cái xấu;  đều biết tốt là tốt, là vì đã có cái không tốt. Cho nên có và không sinh ra nhau, khó và dễ thành tựu cho nhau, dài và ngắn tạo hình thể cho nhau, cao và thấp làm nghiêng nhau, âm và thanh hoà nhau, trước và sau theo nhau.

377. Khúc tắc toàn;  uổng tắc trực;  hóa tắc doanh;  tệ tắc tân;  thiểu tắc đắc;  đa tắc hoặc. [Đạo Đức Kinh, chương 22]

曲則全, 枉則直, 窪則盈, 敝則新, 少則得, 多則惑。 《道德經 • 第二十二章》

【Dịch】 Cái gì khiếm khuyết sẽ được làm cho toàn vẹn. Cái gì cong sẽ được làm cho ngay. Cái gì trũng sẽ được làm cho đầy. Cái gì cũ sẽ được làm cho mới. Có ít sẽ được thêm. Có nhiều sẽ mê muội.

378. Trọng vi khinh căn. Tĩnh vi táo quân. [Đạo Đức Kinh, ch. 26]

重為輕根, 靜為躁君。 《道德經 • 第二十六章》

【Dịch】 Nặng là gốc của nhẹ. Tĩnh là chủ của xao động.

379. Thiện hành vô triệt tích. Thiện ngôân vô hà trích. Thiện số bất dụng trù sách. Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai. Thiện kết vô thằng ước, nhi bất khả giải. [Đạo Đức Kinh, chương 27]

善行, 無轍跡﹔善言, 無瑕謫﹔善數, 不用籌策﹔善閉, 無關楗而不可開﹔善結, 無繩約而不可解。 《道德經 • 第二十七章》

【Dịch】 Giỏi đi thì không lưu dấu vết xe. Giỏi nói thì không để bị chỉ trích. Giỏi đếm thì không dùng que đếm. Giỏi đóng cửa dù không có then chốt mà không ai mở được. Giỏi thắt dây dù không có dây nhợ mà không ai cởi được.

380. Vật tráng tắc lão. [Đạo Đức Kinh, chương 30]

 物壯則老。 《道德經 • 第三十章》

【Dịch】 Vật lớn mạnh ắt già.

381. Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. [Đạo Đức Kinh, chương 36]

將欲歙之, 必故張之﹔將欲弱之, 必故強之﹔將欲廢之, 必故興之﹔將欲奪之, 必故與之。 《道德經 • 第三十六章》

【Dịch】 Muốn làm cho cái gì chùng, trước hết phải căng nó ra cho thẳng. Muốn làm cho cái gì suy yếu, trước hết phải giúp cho nó mạnh thêm. Muốn vứt bỏ cái gì, trước hết phải làm cho nó hưng vượng. Muốn tước đoạt cái gì của nó, trước hết phải tặng nó cái gì đó.

382. Quí dĩ thiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ. [Đạo Đức Kinh, chương 39]

貴以賤為本, 高以下為基。 《道德經 • 第三十九章》

【Dịch】 Sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền.

383. Minh Đạo nhược muội. Tiến Đạo nhược thoái. Di Đạo nhược lỗi. Thượng Đức nhược cốc. Đại bạch nhược nhục. Quảng đức nhược bất túc. Kiến đức nhược thâu. Chất chân nhược du. Đại phương vô ngung;  đại khí vãn thành;  đại âm hi thanh;  đại tượng vô hình. Đạo ẩn vô danh. [Đạo Đức Kinh, chương 41]

明道若昧, 進道若退, 夷道若纇, 上德若谷, 大白若辱, 廣德若不足, 建德若偷﹔質真若渝, 大方無隅, 大器晚成, 大音希聲﹔大象無形。 道隱無名。 《道德經 • 第四十一章》

【Dịch】 Đạo sáng, dường như tăm tối. Đạo tiến, dường như thoái lui. Đạo bằng phẳng, dường như gồ ghề. Đức cao tột dường như hang cốc. Trắng tinh dường như hoen ố. Đức dầy dăn dường như khiếm khuyết. Đức chắc khoẻ dường như mềm yếu. Chất phác trinh thuần dường như biến đổi. Hình vuông lớn không góc. Vật dụng lớn lâu hoàn thành. Tiếng lớn nghe không thấy. Tượng lớn không có hình. Đạo ẩn nơi không tên.

384. Chính phục vi kỳ, thiện phục vi yêu. [Đạo Đức Kinh, chương 58]

 正復為奇, 善復為妖。 《道德經 • 第五十八章》

【Dịch】 Cái ngay thẳng lại biến thành gian trá, cái thiện lại biến thành gian tà.

385. Phù khinh nặc, tất quả tín. Đa dị tất đa nan. [Đạo Đức Kinh, chương 63]

夫輕諾必寡信, 多易必多難。 《道德經 • 第六十三章》

【Dịch】 Những kẻ hứa hẹn bừa bãi, sẽ khó giữ được lời. Coi cái gì cũng dễ, sẽ gặp nhiều cái khó.

386. Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. [Đạo Đức Kinh, chương 66]

以其不爭, 故天下莫能與之爭。 《道德經 • 第六十六章》

【Dịch】 Chính vì thánh nhân không tranh với ai, nên trong thiên hạ không có ai tranh với ngài.

387. Duy vô dĩ thiên hạ vi giả khả dĩ thác thiên hạ dã. [Trang Tử, Nhượng Vương]

唯無以天下為者可以托天下也。 《莊子 • 讓王》

【Dịch】 Chỉ ai không màng cai trị thiên hạ là mới đáng được giao thiên hạ cho mà thôi.

388. Đại bạch nhược nhục, thịnh đức nhược bất túc. [Trang Tử, Ngụ Ngôn]

大白若辱, 盛德若不足。 《莊子 • 寓言》

【Dịch】 Trắng tinh phải làm như bị hoen ố;  đức dày phải làm như còn khiếm khuyết.

389. Chung thân ngôn, vị thường ngôn;  chung thân bất ngôn, vị thường bất ngôn. [Trang Tử, Ngụ Ngôn]

終身言, 未嘗言; 終身不言, 未嘗不言。 《莊子 • 寓言》

【Dịch】 Cả đời nói, mà chưa từng nói gì;  cả đời không nói, mà chưa từng không nói gì.

390. Nhất xích chi chủy, nhật thủ kỳ bán, vạn thế bất kiệt. [Trang Tử, Thiên Hạ]

一尺之捶, 日取其半, 萬世不竭。 《莊子 • 天下》

【Dịch】 Gậy dài một thước, mỗi ngày chặt một nửa, chặt hoài suốt đời cũng không hết cây gậy này.

391. Trường giả bất vi hữu dư, đoản giả bất vi bất túc. [Trang Tử, Mã Đề]

長者不為有餘, 短者不為不足。 《莊子 • 駢拇》

【Dịch】 Cái đã dài thì ta đừng cho là quá dài;  và cái đã ngắn cũng đừng cho là quá ngắn.

392. Vật vật giả dữ vật vô tế, nhi vật hữu tế giả, sở vị vật tế giả dã. Bất tế chi tế, tế chi bất tế giả dã. [Trang Tử, Trí Bắc Du]

物物者與物無際, 而物有際者, 所謂物際者也。 不際之際, 際之不際者也。 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Cái tạo ra vật (tức Đạo) không có sự hạn chế với vật, nhưng vật có sự hạn chế. Đó gọi là sự hạn chế của vật. Cái giới hạn của cái không giới hạn là cái không giới hạn của cái giới hạn.

393. Phàm ngoại trọng giả nội chuyết. [Trang Tử, Đạt Sinh]

凡外重者內拙。 《莊子 • 達生》

【Dịch】 Ai có bề ngoài trịnh trọng thì bên trong vụng về kém cỏi.

394. Tự kỳ dị giả thị chi, can đảm Sở Việt dã;  tự kỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai nhất dã. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

自其異者視之, 肝膽楚越也; 自其同者視之, 萬物皆一也。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Về mặt khác nhau mà xét thì vạn vật [khác nhau] ví như gan với mật, hay nước Sở với nước Việt. Về mặt giống nhau mà xét thì vạn vật đều là một.

395. Khả dĩ ngôn luận giả, vật chi thô dã;  khả dĩ ý trí giả, vật chi tinh dã;  ngôn chi sở bất năng luận, ý chi sở bất năng sát giả, bất kỳ tinh thô yên. [Trang Tử, Thu Thủy]

可以言論者, 物之粗也; 可以意致者, 物之精也; 言之所不能論, 意之所不能察者, 不期精粗焉。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Cái mà ta bàn luận được là phần thô của vật;  cái mà ta dùng ý niệm để đạt được là phần tinh tuý của vật. Cái không thể bàn luận được của lời nói và cái không thể đạt được của ý niệm thì không liên can phần tinh hay thô của vật.

396. Dĩ đạo quan chi, vật vô quý tiện;  dĩ vật quan chi, tự quý nhi tương tiện;  dĩ tục quan chi, quý tiện bất tại kỷ. Dĩ sai quan chi, nhân kỳ sở đại nhi đại chi, tắc vạn vật mạc bất đại;  nhân kỳ sở tiểu nhi tiểu chi, tắc vạn vật mạc bất tiểu. [Trang Tử, Thu Thủy]

以道觀之, 物無貴賤; 以物觀之, 自貴而相賤; 以俗觀之, 貴賤不在己。 以差觀之, 因其所大而大之, 則萬物莫不大; 因其所小而小之, 則萬物莫不小。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Theo phương diện Đạo mà xét, vật chẳng quý chẳng tiện. Từ bản thân của vật mà xét, mỗi vật tự cho mình quý và coi vật khác là tiện. Từ quan điểm thế tục mà xét, quý và tiện không nằm tại bản thân sự vật. Từ sự khác biệt của vật mà xét, do tầm cỡ lớn mà cho rằng chúng lớn thì vạn vật chẳng thứ nào mà không lớn;  do tầm cỡ nhỏ mà cho rằng chúng nhỏ thì vạn vật chẳng thứ nào mà không nhỏ.

397. Chí tinh vô hình, chí đại bất khả vi. [Trang Tử, Thu Thủy]

至精無形, 至大不可圍。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Cái cực tinh tế thì vô hình, cái cực lớn thì không thể bị [cái khác] vây bọc được.

398. Niên bất khả cử, thời bất khả chỉ. Tiêu tức doanh hư, chung tắc hữu thủy. [Trang Tử, Thu Thủy]

年不可舉, 時不可止。 消息盈虛, 終則有始。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 [Chỉ có] thời gian trôi đi thì không thể bắt đầu lại và không thể dừng lại, [còn các thứ nào] tiêu vong và phát khởi, đầy và rỗng, hễ chúng tận cùng thì sẽ trở lại ban đầu.

399. Nhân kỳ sở nhiên nhi nhiên chi, tắc vạn vật mạc bất nhiên. Nhân kỳ sở phi nhi phi chi, tắc vạn vật mạc bất phi. [Trang Tử, Thu Thủy]

因其所然而然之, 則萬物莫不然。 因其所非而非之, 則萬物莫不非。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Theo xu hướng thiên hạ cho điều gì là đúng mà ta bảo là đúng, thì vạn vật cái gì cũng đúng;  theo xu hướng thiên hạ cho điều gì là sai, thì vạn vật cái gì cũng sai.

400. Đa nam tử tắc đa cụ, phú tắc đa sự, thọ tắc đa nhục. [Trang Tử, Thiên Địa]

多男子則多懼, 富則多事, 壽則多辱。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Càng nhiều con trai, càng thêm lo sợ. Càng giàu có, càng lắm sự sinh. Càng sống lâu, càng thêm nhục.

401. Tri kỳ ngu giả, phi đại ngu dã;  tri kỳ hoặc giả, phi đại hoặc dã. [Trang Tử, Thiên Địa]

知其愚者, 非大愚也; 知其惑者, 非大惑也。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Biết mình ngu tức không phải là quá ngu;  biết mình bị dối lừa tức không bị lừa dối nhiều.

402. Thiên chi tiểu nhân, nhân chi quân tử;  nhân chi quân tử, thiên chi tiểu nhân dã. [Trang Tử, Đại Tông Sư]

天之小人, 人之君子; 人之君子, 天之小人也。 《莊子 • 大宗師》

【Dịch】 Tiểu nhân của Trời là quân tử của người;  quân tử của người là tiểu nhân của trời.

403. Nhân mạc giám vu lưu thủy nhi giám vu chỉ thủy, duy chỉ năng chỉ chúng chỉ. [Trang Tử, Đức Sung Phù]

人莫鑒于流水而鑒于止水, 唯止能止眾止。 《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Người ta không soi bóng vào mặt nước trôi chảy, mà chỉ soi bóng vào mặt nước yên tĩnh. Chỉ có nước yên tĩnh mới có thể làm mọi người dừng lại để tìm sự yên tĩnh.

404. Phương sinh phương tử, phương tử phương sinh;  phương khả phương bất khả, phương bất khả phương khả;  nhân thị nhân phi, nhân phi nhân thị. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

方生方死, 方死方生; 方可方不可, 方不可方可; 因是因非,  因非因是。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 [Bất cứ vật gì] đang sống là đang chết, đang chết là đang sống;  có thể là không thể, không thể là có thể. Nguyên do đúng là nguyên do sai, nguyên do sai là nguyên do đúng.

405. Phân dã giả, hữu bất phân dã;  biện dã giả, hữu bất biện dã. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

分也者, 有不分也;  辯也者, 有不辯也。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Trong mỗi sự phân tích có cái không phân tích được;  trong mỗi sự biện luận có cái không biện luận được.

406. Xử minh giả bất kiến ám trung nhất vật, xử ám giả năng kiến minh trung khu sự. [Quan Doãn Tử, Nhất Vũ]

處明者不見暗中一物, 處暗者能見明中區事。 《關尹子 • 一宇》

【Dịch】 Người ở nơi sáng sủa không thấy được vật gì trong bóng tối;  người ở nơi tối có thể thấy được sự vật rất bé nhỏ trong ánh sáng.

407. Chuyên dụng thông minh, tắc công bất thành;  chuyên dụng hối muội, tắc sự tất bội;  nhất minh nhất hối, chúng chi sở tái. [Doãn Văn Tử Dật Văn]

專用聰明, 則功不成; 專用晦昧, 則事必悖; 一明一晦, 眾之 所載。 《尹文子佚文》

【Dịch】 Chỉ thuần thông minh sẽ không thành công;  chỉ thuần tối tăm sẽ gặp việc trái ý muốn. Vừa sáng vừa tối là cách làm mọi việc.

408. Mục tương miểu giả, tiên đổ thu hào;  nhĩ tương lung giả, tiên văn nhuế phi, […] cố vật bất chí giả tắc bất phản. [Liệt Tử, Trọng Ni]

目將眇者, 先睹秋毫; 耳將聾者, 先聞蚋飛, …故物不至者則不反。 《列子 • 仲尼》

【Dịch】 Mắt sắp mờ thì trước tiên hãy nhìn vật cực bé, tai sắp điếc thì trước tiên hãy nghe tiếng muỗi bay vo ve. […] Cho nên sự vật chưa phát triển đến chỗ cùng cực thì chưa quay trở lại.

409. Dục cương, tất dĩ nhu thủ chi;  dục cường, tất dĩ nhược bảo chi. [Liệt Tử, Hoàng Đế]

欲剛必以柔守之; 欲強必以弱保之。 《列子 • 黃帝》

【Dịch】 Muốn nó cứng thì lấy mềm giữ nó;  muốn nó mạnh thì lấy yếu bảo vệ nó.

410. Thiên hạ lý vô thường thị, sự vô thường phi. Tiên nhật sở dụng, kim hoặc khí chi;  kim chi sở khí, hậu hoặc dụng chi. [Liệt Tử, Thuyết Phù]

天下理無常是, 事無常非。 先日所用, 今或棄之; 今之所棄,  後或用之。 《列子 • 說符》

【Dịch】 Sự và lý trong thiên hạ không bao giờ đúng mãi hay sai mãi. Có thứ ngày trước áp dụng mà nay có người bỏ đi;  cái ngày nay bỏ đi thì ngày sau có người áp dụng.

411. Đắc điểu giả, la nhất mục;  nhất mục chi la, bất khả đắc điểu. [Doãn Văn Tử]

得鳥者, 羅一目; 一目之羅, 不可得鳥。 《尹文子》

【Dịch】 Bắt được chim là nhờ ở một mắt lưới;  nhưng cái lưới chỉ có một mắt lưới thì không thể bắt được chim.

412. Nhập thủy tăng nhu, hoài xú cầu phương, bất khả đắc dã. [Doãn Văn Tử]

入水憎濡, 懷臭求芳, 不可得也。 《尹文子》

【Dịch】 Vào nước ghét bị ướt, ôm giữ cái hôi thối cầu mong được thơm tho, điều đó là không thể.

413. Nhật bất tri dạ, nguyệt bất tri trú, nhật nguyệt vi minh nhi phất năng kiêm dã. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]

日不知夜, 月不知晝, 日月為明而弗能兼也。 《淮南子 • 繆稱訓》

【Dịch】 Mặt trời không biết đến đêm tối, mặt trăng không biết đến ban ngày. Mặt trời và mặt trăng cho ánh sáng nhưng không thể cùng biết ban ngày và ban đêm của nhau.

414. Thủy tuy bình, tất hữu ba;  hành tuy chính, tất hữu sai. [Hoài Nam Tử, Thuyết Lâm Huấn]

水雖平必有波; 衡雖正必有差。 《淮南子 • 說林訓》

【Dịch】 Nước mặc dù yên tĩnh nhưng cũng có lúc gợn sóng, cái cân mặc dù thăng bằng nhưng cũng có lúc sai lệch.

415. Đắc vạn nhân chi binh, bất như văn nhất ngôn chi đáng;  đắc Tuỳ Hầu chi châu, bất nhược đắc sự chi sở do;  đắc Oa thị chi bích, bất nhược đắc sự chi sở thích. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

得萬人之兵, 不如聞一言之當; 得隋侯之珠, 不若得事之所由 ; 得咼氏之璧, 不若得事之所適。 《淮南子。 說山訓》

【Dịch】 Có được quân binh vạn người không bằng nghe được một lời nói đúng đạo lý;  có được ngọc châu Tùy Hầu không bằng có được nguyên do của sự việc;  có được ngọc bích của họ Hoà không bằng có được sự thích đáng của sự việc.

416. Hoặc dự nhân nhi thích túc dĩ bại chi, hoặc hủy nhân nhi nãi phản dĩ thành chi. [Hoài Nam Tử, Nhân Gian Huấn]

或譽人而適足以敗之, 或毀人而乃反成之。 《淮南子 • 人間訓》

【Dịch】 Có khi tán dương ai mà làm cho hắn bị thất bại;  có khi hủy báng ai mà làm cho hắn được thành công.

417. Sự hoặc đoạt chi nhi phản dữ chi, hoặc dữ chi nhi phản thủ chi. [Hoài Nam Tử, Nhân Gian Huấn]

事或奪之而反與之, 或與之而反取之。 《淮南子 • 人間訓》

【Dịch】 Sự đời, có khi tước đoạt ai cái gì thì trái lại làm cho họ được tặng cái khác;  có khi cho ai cái gì thì trái lại ta nhận được cái khác.

418. Sơn sinh kim, phản tự khắc;  mộc sinh đố, phản tự thực;  nhân sinh sự, phản tự tặc. [Hoài Nam Tử, Thuyết Lâm Huấn]

山生金, 反自刻; 木生蠹, 反自食; 人生事, 反自賊。 《淮南子 • 說林訓》

【Dịch】 Núi sinh vàng, trái lại nó bị tổn hao (do người ta khai thác vàng);  gỗ sinh mối mọt, trái lại nó bị mọt ăn mòn;  người phát sinh sự rắc rối, trái lại tự làm hại bản thân.

419. Dĩ cận luận viễn, dĩ tiểu tri đại. [Hoài Nam Tử, Phạm Luận Huấn]

以近論遠, 以小知大。 《淮南子 • 氾論訓》

【Dịch】 Căn cứ cái gần mà suy luận ra cái xa xôi, căn cứ việc nhỏ mà biết việc lớn.

420. Nhất điều chi khô, bất tổn phồn lâm chi ông ái. [Bão Phác Tử, Bác Dụ]

一條之枯, 不損繁林之蓊藹。 《抱朴子 • 博喻》

【Dịch】 Một cây khô không làm mất dáng vẻ sum suê um tùm của rừng cây dày đặc.

421. Giang hà chi lưu, bất năng doanh vô để chi khí dã. [Bão Phác Tử, Cực Ngôn]

江河之流, 不能盈無底之器也。 《抱朴子 • 極言》

【Dịch】 Nước sông ngòi không thể đổ đầy một đồ vật để chứa nước mà không có đáy.

422. Tiểu tì bất túc dĩ tổn đại khí. [Bão Phác Tử, Bác Dụ]

小疵不足以損大器。 《抱朴子 • 博喻》

【Dịch】 Tì vết nhỏ không đủ để làm hại đồ vật lớn.

423. Tục hữu kiến du vân tây trì, nhi vị nguyệt chi đông hành. [Bão Phác Tử, Tắc Nan]

俗有見游雲西馳, 而謂月之東行。 《抱朴子 • 塞難》

【Dịch】 Kẻ kiến thức thiển lậu hễ thấy mây bay về hướng tây thì nói mặt trăng đi về hướng đông.

*******************************

18. CHUNG THỦY 終 始 – HỮU VÔ 有 無

424. Thiên hạ hữu thủy, dĩ vi thiên hạ mẫu. Ký đắc kỳ mẫu, dĩ tri kỳ tử. Ký tri kỳ tử phục thủ kỳ mẫu. Một thân bất đãi. [Đạo Đức Kinh, chương 52]

天下有始, 以為天下母。 既得其母, 以知其子。 既知其子, 復守 其母, 沒身不殆。 《道德 經 • 第五十二章 》

【Dịch】 Thiên hạ có khởi điểm. Khởi điểm ấy là mẹ thiên hạ. Đã được mẹ thì biết con. Đã biết con thì trở về giữ mẹ. Cho đến chết, thân cũng không gặp nguy.

425. Thận chung như thủy tắc vô bại sự. [Đạo Đức Kinh, chương 64]

慎 終如始, 則無敗事。 《道德經 • 第六十四章》

【Dịch】 Cẩn thận lúc cuối như lúc đầu, sẽ không hư việc.

426. Hữu thủy dã giả, hữu vị thủy hữu thủy dã giả, hữu vị thủy hữu phù vị thủy hữu thủy dã giả. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

有始也者, 有未始有始也者, 有未始有夫未始有始也者。 《莊子。 齊物論》

【Dịch】 Có cái khởi đầu. Có cái khởi đầu trước cái khởi đầu đó. Có cái khởi đầu trước cái khởi đầu trước khi có cái khởi đầu đó.

427. Nhiễm Cầu vấn vu Trọng Ni viết:  «Vị hữu thiên địa khả tri da?» Trọng Ni viết:  «Khả. Cổ do kim dã.» Nhiễm Cầu thất vấn nhi thoái. Minh nhật phục kiến, viết:  «Tích giả ngô vấn ‘vị hữu thiên địa khả tri hồ?’ Phu tử viết, ‘Khả. Cổ do kim dã.’ Tích nhất ngô chiêu nhiên, kim nhật ngô muội nhiên, cảm vấn hà vị dã?» Trọng Ni viết:  «Tích chi chiêu nhiên chi, thần giả tiên thụ chi;  kim chi muội nhiên dã, thả hựu vi bất thần giả cầu da? Vô cổ vô kim, vô thủy vô chung, vị hữu tử tôn nhi hữu tử tôn, khả hồ?» [Trang Tử, Trí Bắc Du]

冉求問于仲尼曰:  『未有天地可知邪?』 仲尼曰:  『可。 古猶今也。』冉求失問而退。 明日復見曰: 『昔者吾問 «未有天地可知邪? »』夫子曰: 『可。 古猶今也。 昔日吾昭然, 今日吾昧然, 敢問何謂也?』 仲尼曰: 『昔之昭然之, 神者先受之; 今之昧然也, 且又為不神求邪? 無古無今, 無始無終, 未有子孫而有子孫, 可乎?』 《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Nhiễm Cầu hỏi Khổng Tử:  «[Thưa thầy], ta có thể biết trước khi có trời đất thì thế nào không?» Khổng Tử đáp:  «Biết được. Xưa và nay cũng như nhau.» Nhiễm Cầu không hỏi thêm, và rút lui. Tuy nhiên, hôm sau ông gặp Khổng Tử và hỏi:  «Hôm qua con hỏi thầy rằng ta có thể biết trước khi có trời đất thì thế nào không. Thầy trả lời là biết được, xưa cũng như nay. Hôm qua con dường như hiểu rõ thầy, nhưng hôm nay con tăm tối. Con xin thầy giải thích điều này.» Khổng Tử đáp:  «Hôm qua anh dường như hiểu rõ ta vì cái thần của anh đoán được câu trả lời của ta. Hôm nay anh dường tăm tối vì anh không ở trong trạng thái có thần và cố tìm ý nghĩa. Trong vấn đề này, không có xưa cũng không có nay, không có khởi đầu cũng không có chấm dứt. Lẽ nào có con cháu trước khi có con cháu khác?»

428. Hữu thủy giả tất hữu tốt, hữu tồn giả tất hữu vong. [Bão Phác Tử, Luận Tiên]

有始者必有卒, 有存者必有亡。 《抱朴子 • 論仙》

【Dịch】 Có khởi đầu phải có kết thúc, có sống phải có chết.

429. Vô danh thiên địa chi thủy;  hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu;  thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu. [Đạo Đức Kinh, chương 1]

無名, 天地之始﹔有名, 萬物之母。 故常無欲, 以觀其妙;  常有欲, 以觀其徼。 《道德經 • 第一章》

【Dịch】 Không tên là gốc của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật. Cho nên thường không có dục để nhìn thấy chỗ vi diệu của sự vật. Thường có dục, để nhìn thấy chỗ giới hạn của sự vật.

430. Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô. [ĐĐK, chương 40]

天下萬物生於 有, 有生於 無。 《道德經 • 第四十 章》

【Dịch】 Vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ Có, và Có sinh ra từ Không.

431. Hữu vô tương sinh. [Đạo Đức Kinh, chương 2]

有無相生。 《道德經 • 第二章》

【Dịch】 Có và Không sinh ra lẫn nhau.

432. Hữu hữu dã giả, hữu vô dã giả, hữu vị thủy hữu vô dã giả, hữu vị thủy hữu phù vị thủy hữu vô dã giả. Nga nhĩ hữu vô hĩ, nhi vị tri hữu vô chi quả thục hữu thục vô dã. Kim ngã tắc dĩ hữu vị hĩ, nhi vị tri ngô sở vị chi kỳ quả hữu vị hồ? Kỳ quả vô vị hồ? [Trang Tử, Tề Vật Luận]

有有也者, 有無也者, 有未始有無也者, 有未始有夫未始有無也者。 俄爾有無矣, 而未知有無之果孰有孰無也。 今我則已有謂矣, 而未吾所謂之其果有謂乎? 其果無謂乎? 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Vũ trụ có Hữu, có Vô, có Cái-trước-khi-có-Vô, có cái trước khi có Cái-trước-khi-có-Vô. Trong một khoảnh khắc có Hữu có Vô nhưng chưa biết giữa Hữu và Vô này rốt cuộc cái nào đích thực là Hữu, cái nào đích thực là Vô. Như bây giờ tôi đã nói một lời, nhưng chưa biết cái lời tôi đã nói rốt cuộc là có lời nói hay không có lời nói?

433. Quang Diệu vấn hồ Vô Hữu viết:  «Phu Tử hữu hồ? Kỳ vô hữu hồ?» Quang Diệu bất đắc vấn, nhi thục thị kỳ trạng mạo:  yểu nhiên không nhiên. Chung nhật thị chi nhi bất kiến, thính chi nhi bất văn, bác chi nhi bất đắc dã. Quang Diệu viết:  «Chí hĩ, kỳ thục năng chí thử hồ! Dư năng hữu vô hĩ, nhi vị năng vô vô dã. Cấp vi vô hữu hĩ, hà tòng chí thử tai?» [Trang Tử, Tri Bắc Du]

光曜問乎無有曰:  『夫子有乎? 其無有乎?』 光曜不得問, 而孰視其狀貌﹕窅然空然。 終日視之不見, 聽之而不聞, 搏之而不得也。 光曜曰 «至矣, 其孰能至此乎! 予能有無矣, 而未能無無也。 及為無有矣, 何從至此哉? »《莊子 • 知北游》

【Dịch】 Quang Diệu hỏi Vô Hữu:  «Thưa ngài, ngài tồn tại hay không tồn tại?» Không thấy Vô Hữu trả lời, Quang Diệu bèn nhìn dung mạo của Vô Hữu:  đó là một sự trống rỗng mờ mịt. Suốt ngày Quang Diệu nhìn nó nhưng không thấy gì, lắng nghe nó nhưng không nghe thấy gì, tóm chặt nó nhưng không nắm được gì. Quang Diệu bèn hỏi:  «Hay lắm! Ai có thể đạt tới điều này? Tôi có thể có ý niệm về Vô và Hữu, nhưng tôi chưa có ý niệm về Vô Vô (cái Không không tồn tại). Vậy ắt vẫn còn có Vô Hữu (cái Có không tồn tại). Làm sao đạt được điều này?»

434. Thái sơ hữu vô, vô hữu vô danh. Nhất chi sở khởi, hữu nhất nhi vị hình. [Trang Tử, Thiên Địa]

泰初有無, 無有無名。 一之所起, 有一而未形。 《莊子 • 天地》

【Dịch】 Thời hết sức xa xưa chỉ có Vô, không có Hữu, và không có tên. Từ Vô đến Hữu thì Một sinh ra trước hết. Một tuy tồn tại nhưng không có hình dáng.

435. Nhân kỳ sở hữu nhi hữu chi, tắc vạn vật mạc bất hữu;  nhân kỳ sở vô nhi vô chi, tắc vạn vật mạc bất vô. [Trang Tử, Thu Thủy]

因其所有而有之, 則萬物莫不有; 因其所無而無之, 則萬物莫不無。 《莊子 • 秋水》

【Dịch】 Căn cứ vào cái nó vốn có mà nói nó có, thì vạn vật không gì là không có;  căn cứ vào cái nó vốn không có mà nói nó không có, thì vạn vật không gì là không không có.

436. Hữu hồ sinh, hữu hồ tử;  hữu hồ xuất, hữu hồ nhập. Nhập xuất nhi vô kiến kỳ hình, thị vị Thiên Môn. Thiên Môn giả, vô hữu dã. Vạn vật xuất hồ vô hữu. Hữu bất năng dĩ hữu vi hữu, tất xuất hồ vô hữu, nhi vô hữu nhất vô hữu. Thánh nhân tàng hồ thị. [Trang Tử, Cang Tang Sở]

有乎生, 有乎死; 有乎出, 有乎入。 入出而無見其形, 是謂天門。 天門者, 無有也。 萬物出乎無有。 有不能以有為有, 必出乎無有, 而無有一無有。 聖人藏乎是。 《莊子 • 庚桑楚》

【Dịch】 Có sinh, có tử, có xuất, có nhập. Xuất nhập nhưng không thấy hình thể, đó gọi là Thiên Môn (Cửa Trời). Thiên Môn là Vô Hữu (Không Có). Vạn vật phát sinh từ Vô Hữu. Cái có không thể phát sinh từ Hữu, mà phát sinh từ Vô Hữu. Nhưng chính Vô Hữu cũng không có. Thánh nhân giấu tâm trong cái Vô Hữu này.

437. Hữu chi vi hữu, thị vô dĩ sinh;  sự nhi vi sự, do vô dĩ thành. Phù đạo chi nhi vô ngữ, danh di nhi vô danh, thị chi nhi vô hình, thính chi nhi vô thanh, tắc đạo chi toàn yên. [Hà Án, Đạo Luận]

有之為有, 恃無以生; 事而為事, 由無以成。 夫道之而無語, 名 之而無名, 視之而無形, 聽之而無聲, 則道之全焉。 《何晏道論》

【Dịch】 Cái có sở dĩ có là nhờ cậy cái không mà sinh ra. Sự việc sở dĩ có là do cái không mà thành. Hễ có thể nói mà không dùng lời, gọi tên mà không cần tên, xem mà không cần hình thể, nghe mà không cần âm thanh, thì bấy giờ Đạo được toàn vẹn.

438. Thiên hạ chi vật, giai dĩ hữu vi sinh, hữu chi sở thủy, dĩ vô vi bản. [Vương Bật, Đạo Đức Kinh chú, chương 40]

天下之物, 皆以有為生, 有之起始, 以無為本。 《王弼 • 道德經注 • 第四十 章》

【Dịch】 Vạn vật trong thiên hạ đều sinh từ cái có, mà cái khởi đầu của có chính là không, tức là lấy không làm gốc.

439. Vô hình vô danh giả, vạn vật chi tông dã. [Vương Bật, Đạo Đức Kinh chú, chương 14]

無形無名者, 萬物之宗也。 《王弼道德經注 • 第十四章》

【Dịch】 Cái vô hình và vô danh là tông tổ (tổ tiên, gốc gác) của vạn vật.

440. Vạn vật vạn hình, kỳ qui nhất dã, hà do trí nhất? Do vu vô dã. Do vô nãi nhất, nhất khả vị vô. [Vương Bật, Đạo Đức Kinh chú, chương 42]

萬物萬形, 其歸一也, 何由致一? 由于無也。 由無乃一, 一可謂無。 《王弼道德經注 • 第四十二 章》

【Dịch】 Vạn vật có muôn hình trạng, nhưng chúng đều trở về Một. Làm sao để đạt tới cái Một này? Phải thông qua Vô mới thực hiện được điều đó. Từ Vô mà sinh ra Một, Một có thể gọi là Vô.
————————-
*******************************

19. KIÊN BẠCH 堅 白 – ĐỒNG DỊ 同 異

Kiên bạch là một học thuyết thời Chiến Quốc. Bấy giờ có hai phái:  một phái gọi là «Ly kiên bạch» (cứng và trắng cách ly nhau), đứng đầu là Công Tôn Long. Ông phân tích «kiên bạch thạch» (đá trắng cứng) rằng kiên và bạch cách biệt nếu ta chạm vào hoặc nhìn vào hòn đá.

Còn phái kia gọi là «Doanh kiên bạch» (cứng và trắng bất khả phân), đứng đầu là Mặc Tử. Ông cho rằng kiên và bạch đều là thuộc tính của đá, nên chúng bất khả phân.

441. Bỉ phi sở minh nhi minh chi, cố dĩ kiên bạch chi muội chung. [Trang Tử, Tề Vật Luận]

 彼非所明而明之, 故以堅白之昧終。 《莊子 • 齊物論》

【Dịch】 Người khác không hiểu mà cố làm cho họ hiểu, tức là giống như lấy cái thuyết «kiên bạch» để đẩy họ vào chỗ tối tăm.

442. Trang Tử đối Huệ Tử viết:  «Kim tử ngoại hồ tử chi thần, lao hồ tử chi tinh, ỷ thụ nhi ngâm, cứ cảo ngô nhi minh, thiên tuyển tử chi hình, tử dĩ kiên bạch minh.» [Trang Tử, Đức Sung Phù]

莊子對惠子曰: 『今子外乎子之神, 勞乎子之精, 倚樹而吟, 據槁梧而瞑, 天選子之形, 子以堅白鳴。』《莊子 • 德充符》

【Dịch】 Trang Tử bảo Huệ Thi:  «Nay ông đã sử dụng cái thần của mình như thể nó ở ngoài thân, đã lao nhọc tinh lực của mình;  cứ dựa cây mà ngâm nga;  cứ bám gốc cây ngô đồng mục nát mà ngủ. Trời đã lựa cho ông tấm thân này, thế mà ông cứ tranh tranh cãi cãi nào là kiên với bạch.»

443. Kê tam túc. Dĩnh hữu thiên hạ. Khuyển khả dĩ vi dương. Mã hữu noãn. Đinh Tử hữu vĩ. Hoả bất nhiệt. Sơn xuất khẩu. Luân bất niễn địa. Mục bất kiến. Chỉ bất chí, chí bất tuyệt. Qui trường vu xà. Củ bất phương, qui bất khả dĩ vi viên. Tạc bất vi nhuế. Phi điểu chi ảnh vị thường động dã. Thốc thỉ chi tật nhi hữu bất hành, bất chỉ chi thời. Cẩu phi khuyển. Hoàng mã ly ngưu tam. Bạch cẩu hắc. Cô câu vị thường hữu mẫu. Nhất xích chi chủy, nhật thủ kỳ bán, vạn thế bất kiệt. [Trang Tử, Thiên Hạ]

雞三足。 郢有天下。 犬可以為羊。 馬有卵。 丁子有尾。 火不熱。 山出口。 輪不碾地。 目不見。 指不至, 至不絕。 龜長于蛇。 矩不方, 規不可以為圓。 鑿不為枘。 飛鳥之影未嘗動也。 鏃矢之疾, 而有不行、不止之時。 狗非犬。 黃馬驪牛三。 白狗黑。 孤駒未嘗有母。 一尺之棰, 日取半, 萬世不竭。 《莊子 • 天下》

【Dịch】 Gà có ba chân. Kinh đô Dĩnh [của nước Sở] gồm thâu thiên hạ.

Chó có thể là dê.

Ngựa có trứng.

Cóc nhái có đuôi.

Lửa không nóng.

Núi phát ra từ miệng.

Bánh xe không lăn trên mặt đất.

Mắt không thấy.

Ngón tay chỉ đồ vật nhưng không chạm nó.

Nơi anh đến không phải là kết thúc.

Rùa dài hơn rắn.

Cái ê-ke thợ mộc không vuông.

Cái com-pa không thể tròn.

Cái đục không xoay quanh cái mộng.

Bóng chim đang bay chưa từng động.

Mũi tên bay nhanh, có lúc nó không bay cũng không dừng.

Chó không là chó.

Ngựa vàng và bò đen là ba con.

Chó trắng thì đen.

Ngựa mồ côi thì không bao giờ có mẹ.

Cây gậy dài một thước, mỗi ngày lấy đi một nửa, thì muôn đời cũng không lấy hết.

444. Chí đại vô ngoại, vị chi đại nhất;  chí tiểu vô nội, vị chi tiểu nhất. Vô hậu, bất khả tích dã, kỳ đại thiên lý. Thiên dữ địa ti, sơn dữ trạch bình. Nhật phương trung phương nghễ, vật phương sinh phương tử. Đại đồng nhi dữ tiểu đồng dị, thử chi vị «tiểu đồng dị»;  vạn vật tất đồng tất dị, thử chi vị «đại đồng dị». Nam phương vô cùng nhi hữu cùng. Kim nhật thích việt nhi tích lai. Liên hoàn khả giải dã. Ngã tri thiên hạ chi trung ương, Yên chi bắc Việt chi nam thị dã. Phiếm ái vạn vật, thiên địa nhất thể dã. [Trang Tử, Thiên Hạ]

至大無外, 謂之大一; 至小無內, 謂之小一。 無厚, 不可積也, 其大千里。 天與地卑, 山與澤平。 日方中方睨, 物方生方死。 大同而與小同異, 此之謂 «小同異»; 萬物畢同畢異, 此之謂 «大同異»。 南方無窮而有窮。 今日適越而昔來。 連環可解也。 我知天下之中央, 燕之北 、越之南是也。 泛愛萬物, 天地一体也。 《莊子 • 天下》

【Dịch】 Cái cực lớn và không có gì ở ngoài nó thì gọi là Đại Nhất. Cái cực nhỏ và không có gì ở trong nó thì gọi là Tiểu Nhất. Cái không có bề dày và không thể bị chồng lên thì lớn một ngàn dặm. Trời thấp như đất. Núi ngang với đầm. Mặt trời đứng bóng thì nghiêng. Vật vừa sinh là vừa chết. Sự đại đồng (giống nhau nhiều) khác với sự tiểu đồng (giống nhau ít), đó gọi là «tiểu đồng dị» (sự khác biệt của sự giống nhau ít). Mọi vật hoàn toàn giống nhau hay hoàn toàn khác nhau, đó gọi là «đại đồng dị» (sự khác biệt của sự giống nhau nhiều). Phương nam vô cùng tận mà lại cùng tận. Hôm nay tôi đến nước Việt và hôm qua tôi đến đó. Vật liên kết có thể bị tách rời ra. Tôi biết trung ương của thiên hạ:  nó ở phía bắc nước Yên và phía nam nước Việt. Hễ yêu khắp vạn vật, thì trời và đất hợp thành một thể.

445. Hợp dị dĩ vi đồng, tán đồng dĩ vi dị. [Trang Tử, Tắc Dương]

合異以為同, 散同以為異。 《莊子 • 則陽》

【Dịch】 Kết hợp các điểm khác biệt thì thành sự đồng nhất, phân tán sự đồng nhất thì thành các điểm khác biệt.

446. Nịch giả nhập thủy, chửng chi giả diệc nhập thủy. Nhập thủy giả tắc đồng, sở dĩ nhập thuỷ giả tắc dị. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

溺者入水, 拯之者亦入水。 入水者則同, 所以入水者則異。 《淮南子 • 說山訓》

【Dịch】 Người chết đuối đã vào trong nước;  kẻ cứu vớt hắn cũng vào trong nước. Hàng động vào trong nước là giống nhau, nhưng nguyên nhân thì khác nhau.

447. Hàn giả đàn, cụ giả diệc đàn, thử đồng danh nhi dị thực dã. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]

寒者顫, 懼者亦顫, 此同名而異實也。 《說山訓》

【Dịch】 Lạnh cũng run rẩy, sợ cũng run rẩy. Hai việc này cùng tên gọi mà thực trạng thì khác nhau.

448. Vật hữu đồng nhi dị, hữu dị nhi đồng, hữu phi nhi thị, hữu thị nhi phi. Thử quân tử chi sở dĩ vô hoạn, nhi chúng thứ chi sở dĩ ưu bi dã. [Đạo Đức Chỉ Quy Luận, Thiên Hạ Vị Ngã Thiên]

物有同而異, 有異而同, 有非而是, 有是而非。 此君子之所以無患, 而眾庶之所以憂悲也。 《道德指歸論 • 天下謂我篇》

【Dịch】 Sự vật tuy khác mà giống, tuy giống mà khác;  tuy sai mà đúng, tuy đúng mà sai. Cái mà người quân tử không lo rầu thì người bình thường lại lo rầu.

HẾT
*******************************

SÁCH THAM KHẢO CHÍNH

1- Cố Cửu (dịch chú), Cát Hồng Bão Phác Tử Nội Thiên, Quý Châu xuất bản xã (= xbx), 1995.

2- Cổ Đại Hán Ngữ Từ Điển biên tả tổ, Cổ Đại Hán Ngữ Từ Điển, Thương Vụ Ấn thư quán, Bắc Kinh, 2000.

3- Doãn Chấn Hoàn, Bạch Thư Lão Tử Dữ Lão Tử Thuật, Quý Châu xuất bản xã, 2000.

4- Hàn Sinh (tuyển dịch), Đạo Gia Châm Ngôn Lục, Nội Mông Cổ Nhân Dân xbx, Bắc Kinh, 1997.

5- Khâu Phượng Hiệp (chú dịch), Bão Phác Tử Nội Thiên Kim Dịch, Trung Quốc Xã Hội Khoa Học xbx, Bắc Kinh, 1996.

6- Ngô Phong (chủ biên), Trung Hoa Đạo Học Thông Điển, Nam Hải Xuất bản công ty, Hải Nam, 1994.

7- Ninh Chí Tân (chủ biên), Đạo Giáo Thập Tam Kinh, Hà Bắc Nhân Dân xbx, 1994.

8- Sử Đông, Giản Minh Cổ Hán Ngữ Từ Điển, Vân Nam Nhân Dân xbx, 1999.

9- Từ Căng – Phương Hú – Mục Lân (chú giải), Trung Quốc Khí Công Tứ Đại Kinh Điển, Chiết Giang Cổ Tịch xbx, 1989.

10- Vương Lực (chủ biên), Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển, Thương Vụ Ấn thư quán, Bắc Kinh, 1993.

11- Vu Thạch – Vương Quang Hán – Từ Thành Chí (chủ biên), Thường Dụng Điển Cố Từ Điển, Thượng Hải Từ Thư xbx, 1985.

12- Nguyễn Hiến Lê (dịch), Trang Tử, Nhà xuất bản Văn Hoá, 1994.

13- D.C. Lau (trans.), Lao Tzu Tao Te Ching, Penguin Books, 1967.

14- James Legge (trans.), Chuang Tzu, (arr. by Clae Waltham), New York, 1971.

15- James R. Ware (trans.), Alchemy, Medicine, Religion in the China of A.D. 320:  The Nei P’ien of Ko Hung, The MIT Press, 1966.

16- James R. Ware (trans.), The Sayings of Chuang Chou, A Mentor Classic, 1963.

17- Robert G. Henricks (trans.), Lao-Tzu Tao Te Ching:  A new translation based on the recently discovered Ma-Wang-Tui texts, Ballantine Books, New York, 1989.

HẾT

*******************************

 

LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH

LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH

LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH, LAO TU – CON DUONG HUYEN NHIEM TAM LINH

LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH
LAO TU – CON DUONG HUYEN NHIEM TAM LINH
LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH

 

LÃO TỬ – CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH

ĐỨC LÃO TỬ VÀ CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH

*Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Sử gia Tư Mã Thiên thuật lại lời đức Khổng nhận định về đức Lão Tử như sau: «Con chim, ta biết nó có thể bay, con cá, ta biết nó có thể lội, con thú, ta biết nó có thể chạy. Chạy, thời có thể chăng dò; lội, thời có thể chăng lưới; bay, thời có thể bắn tên; đến như rồng, thời ta không thể biết: Nó cưỡi mây mà lên trời. Hôm nay ta gặp Lão Tử, Ngài thực là rồng vậy.»
Và tôi nhớ lại sách xưa bàn về rồng như sau: «Rồng có thể tối hay sáng, nhỏ hay to, ngắn hay dài. Xuân phân bay bổng lên trời, Thu phân lặn sâu đáy vực.»
Như vậy, tức là rồng thiên biến vạn hóa, tức là đức Lão Tử thiên biến vạn hóa. Đã thiên biến vạn hóa, thì chúng ta khó có được một cái nhìn toàn bích về Ngài. Quí vị cùng tôi, chúng ta đều được mục kích cái thiên biến vạn hóa ấy, nhưng mỗi người chúng ta chỉ nhìn thấy một khía cạnh. Tôi hôm nay mạo muội đem trình bày những khía cạnh, những nhãn quan của tôi về Lão Tử, chỉ cốt mong là để làm giàu thêm cho những khía cạnh, những nhãn quan mà quí vị đã có về đức Lão Tử, chỉ vậy thôi.

*Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ lần lượt trình bày:

I. ĐỨC LÃO TỬ LÀ AI?
Với những phụ tiết:
1. Đức Lão Tử qua văn liệu và niềm tín ngưỡng dân gian
2. Nhận định và giải thích các quan điểm trên
3. Ít nhiều nhận định riêng tư về đức Lão Tử
II. CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH CỦA ĐỨC LÃO TỬ
Với những phụ tiết:
1. Thế nào là con đường huyền nhiệm
2. Những giai đoạn, những chặng đường trên lộ trình đó
III. KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

I. ĐỨC LÃO TỬ LÀ AI?

1. Đức Lão Tử qua văn liệu và tín ngưỡng dân gian :-

Tiểu sử đức Lão Tử thật ra rất mơ hồ ẩn ước, trong đó thực tế xen lẫn với huyền thoại, nên khó mà có được một ý niệm chính xác.
a. Có người cho rằng Lão Tử sinh ra trước Khổng tử, và đã có lần gặp đức Khổng. Cũng có những học giả dựa vào Tư Mã Thiên và Chiến quốc sách, lại cho rằng Ngài sinh sau Đức Khổng và đã sống vào khoảng những năm 300 tcn.[2]
b. Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương 3 – Dưỡng sinh chủ, cho rằng đức Lão Tử đã chết.
c. Học giả Henri Doré, dựa vào sách Phật tổ thông tải đã toán ra rằng: Đức Lão sinh năm 584 gặp đức Khổng năm 526 (tức là năm Ất Hợi, năm Cảnh Vương thứ 19) và mất năm năm sau khi ngài 84 tuổi, tức là năm Kỷ Mão tức tây lịch 500 tcn.[3]
d. Tư Mã Thiên cho rằng, sau khi rời ải Hàm Cốc, không còn biết hành tung Ngài ra sao.[4]
e. Tư Mã Thiên cho rằng: Đức Lão Tử cũng là một người như ai, có vợ, có con. Con Ngài tên Tông làm tướng nước Ngụy ở xứ Đoạn Can. Tư Mã Thiên kể danh tính con cháu đức Lão Tử đến 11 đời, tức là đến khoảng đời Tư Mã Thiên, để cho thấy rằng những lời ghi chép của ông về đức Lão Tử là chính xác.
g. Biên Thiều, tác giả Lão Tử minh (tức là bia nói về đức Lão) thời Hán Văn đế (năm 165 Công Nguyên) đã ghi rằng: đối với dân chúng, Lão Tử đã có từ muôn kiếp. Như vậy Ngài là Người Trời.
h. Hoá Hồ kinh, do Vương Phù viết vào khoảng đầu thế kỷ thứ 4 (đời vua Hán Huệ đế 290-306), cho rằng Lão Tử sau khi rời Hàm Cốc, đã đi về các nước rợ vùng Tarim, rồi sang Ấn Độ để dạy đạo cho đức Phật. Sách còn chủ trương rằng: đức Phật Thích Ca chính là hậu thân hay đồ đệ của đức Lão. Quyển sách này đã gây nên không biết bao nhiêu là cuộc bút chiến, khẩu chiến giữa các Phật tử và các đạo sĩ suốt các đời Lương (năm 520 Vũ Vương thời Lương), đời Đường trong các đời vua Cao Tông (668) và Vũ Hậu (696), thời Nguyên đời Mông Ca (1252) và Nguyên Thế tổ (1280-1294) – (Xem Léon Wieger, Textes historiques, p.1420).
i. Biến Hoá kinh, viết vào khoảng năm 612 sau CN (thời Tùy Dạng Đế) cho rằng Lão Tử chẳng những có từ muôn thuở, mà Ngài chính là Thượng Đế. Ngài đã giáng trần nhiều lần, để cứu độ muôn dân.
k. Khảo thư tịch đạo Lão, ta thấy dân gian tin rằng đức Lão Tử là một trong 3 ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ba ngôi đó là:
– Nguyên Thủy Thiên tôn, hay Thiên Bảo quân hay Ngọc Hoàng ở cung Ngọc Thanh.
– Linh Bảo Thiên tôn, hay Linh Bảo quân ở cung Thượng Thanh.
– Thần Bảo Thiên tôn, hay Lý Lão Quân hay Lão Tử ở cung Thái Thanh.
Ba Ngôi tuy danh hiệu khác nhau, nhưng đồng một Bản Thể.[5]
1. Sách Thăng Huyền kinh (viết vào khoảng thể kỷ 3 hay 4 CN) cũng cho rằng: tuy gọi là Ba Ngôi nhưng thực ra vẫn là Một Vị.[6]
2. Khảo tín ngưỡng dân gian, thư tịch đạo Lão, khảo các đàn cơ,  ta thấy dân chúng xưa nay thường coi đức Lão Tử là đức Thái Thượng Lão Quân giáng trần. Mà đức Thái Thượng Lão Quân theo danh từ Lão giáo, chính là Thượng Đế.

1. Thái Thượng Lão Quân là Thượng đế.
2. Lão Tử chính là đức Thái Thượng Lão Quân phân tánh giáng phàm.
Hai điểm này có lẽ cũng sẽ đáp ứng lại được phần nào những mong đợi của tín hữu Cao Đài nơi thuyết trình viên ngày lễ vía đức Thái Thượng đạo quân hôm nay.
1. Thái Thượng Lão quân là Thượng đế
Khảo thư tịch Đạo Lão, ví dụ như quyển Tính Mệnh khuê chỉ, hay quyển Huỳnh Đình nội cảnh, do Tử Hà chú giải,[7] ta sẽ thấy những danh từ khác nhau như:
– Nguyên Thủy Tổ Khí,
– Vũ trụ chi tể,
– Huyền Tẫn chi môn,
– Thiên Địa linh căn.[8]
– Tiên Thiên nhất khí,
– Tiên Thiên nhất khí Thái Thượng Lão Quân,
– Thái Thượng Lão Quân,
– Lão Quân,
– Lão Quân nhất khí,[9]

Đó đều là những danh xưng khác nhau để chỉ Thượng Đế: hoặc Thượng Đế vô ngã (Dieu impersonnel), hoặc Thượng Đế hữu ngã (Dieu personnel), hoặc Thượng Đế vô ngã – hữu ngã tương dung (Dieu à la fois impersonnel et personnel).[10]
Phân tách bốn chữ Thái Thượng Lão Quân, ta thấy:
– Thái Thượng là rất cao, hay tối cao. Đấng Rất Cao chính là danh từ mà Âu Châu hiện nay dùng để chỉ Thượng Đế (Le Très Haut).
– Lão Quân, là vị Vua già. Có trước đất trời, làm chủ tể quần sinh, mà gọi là Vua già là Lão Quân, thì chẳng xứng đáng hay sao?
* Thái Thượng Đạo Tổ cũng có khi xưng mình là Thầy, từ cung Đâu Suất giáng đàn. Ví dụ trong quyển Thượng Thừa Chân Pháp, Hỏa Diệm Hồng Liên do Cao Minh Quang, Trường Chân Đạo, xuất bản năm 1969, nơi tr. 242, trong bài đàn cơ Tí thời ngày 15/2 năm Đinh Mùi 1967, tức cũng là ngày thánh đản đức Thái Thượng Lão quân, hay Lý Lão Tổ mà ta mừng hôm nay, có bài thơ bát cú, với 8 chữ khoán thủ là: ĐẠO TỔ THÁI THƯỢNG GIÁNG CUNG ĐÂU XUẤT, như sau:-

ĐẠO pháp hoằng khai độ vạn linh,
TỔ quang chiếu lộ bóng không hình.
THÁI dương chiếu sáng càn khôn định,
THƯỢNG hạ âm dương tượng lý tình.
GIÁNG điển thanh thiên truyền diệu lý,
CUNG trời tá thế luyện thông minh.
ĐÂU ngôi ứng hiện, Thầy phân tánh,
XUẤT nhập trò tu mấy bộ kinh.

*Và một bài trường thi, trong đó có 4 câu đầu như sau:-

Ngôi Đâu Xuất, Thượng Tôn Thầy giáng,
Cảnh Tiên Cung trước án giờ đây;
Thái Thượng Đạo Tổ là Thầy,
Mở khai quan khiếu đủ đầy ánh linh…

*Đạo Cao Đài có bài kinh Tiên Giáo chí tâm qui mạng lễ. [11] Một phần của kinh ấy như sau:-

Tiên thiên khí hóa,                     
Thái Thượng đạo quân,             
Thánh bất khả tri,                     
Công bất khả nghị.                   
Vô vi cư Thái cực chi tiền,       
Hữu thủy siêu quần chân chi thượng.
Diệu Hóa Tam thanh.                   
Đức hoán hư linh,                         
Pháp siêu quần thánh.               
Nhị nguyệt thập ngũ,                 
Phân tánh giáng sanh,             
Nhất thân ức vạn,                         
Diệu huyền thần biến,                   
Tử khí Đông lai,                               
Quảng truyền Đạo Đức… [12]
   
先 天 氣 化
太 上 道 君
聖 不 可 知
功 不 可 議
無 為 居 太 極 之 前
有 始 超 群 真 之 上
妙 化 三 清
德 煥 虛 靈
法 超 群 聖
二 月 十 五
分 性 降 生
一 身 億 萬
妙 玄 神 變
紫 氣 東 來
廣 傳 道 德
……………

Tôi thấy kinh này rất quan trọng về phương diện giáo lý :-
Phần trên từ câu: «Tiên thiên khí hóa…» đến câu: «Pháp siêu quần thánh» chứng minh Thái Thượng đạo quân, hay Thái Thượng Lão Quân chính là Thượng Đế.
Nếu không phải Thượng Đế sao dám nói là:
– Vô vi có trước Ngôi Thái cực.
– Hữu thủy, siêu xuất quần chân?
Nếu không phải là Thượng Đế, thì sao tự xưng là:
– Một khí Nguyên thủy,
– Diệu hóa Tam Thanh.
– Đức của mình hoán chuyển được hư linh,
– Pháp của mình vượt trội muôn thần vạn thánh.
Nếu không phải Thượng Đế, sao lại nói được:
– Nhất thân mà hóa ra được thành muôn ức,
– Biến hóa diệu huyền.
Vả chăng, trong sách Lao-Tse et le Taoisme (Lão Tử và Lão giáo) của L.M. Henri Doré, nơi chương: Vũ trụ luận của Lão giáo, có đoạn sau: «Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, trong khi giải thích Đạo tạng cho chúng thần, đã kể lại sự khởi nguyên của vạn hữu như sau: Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, đấng huyền nguyên vô thủy, đã dùng khí mình mà sinh ra Tam thanh và chúng thần.» [13]

– Còn nơi chương I của Huỳnh Đình nội cảnh, do Tử Hà chân nhân giải, có lời chú giải về Tam thanh như sau:
«Tam thanh đều là một Khí hóa ra, chia thành: Tam Thiên, Tam Cảnh, Tam Bảo, Tam Nguyên, Tam quân:
(1) Ngọc Thanh Thánh cảnh, Nguyên thủy Thiên Bảo quân;
(2) Thượng Thanh Chân cảnh, Ngọc thần Linh Bảo quân;
(3) Thái Thanh Tiên cảnh, Đại Đức Thân Bảo quân…
– Sách Cửu Thiên sinh thần khí cho rằng: «Tam hiệu tuy khác nhau, nhưng cùng một Bản Thể.»
– Sách Đỗng Chương cho rằng: «Lão Quân nhất khí hóa Tam thanh…»
– Sách Thái Thượng Đỗng Huyền vô lượng độ nhân thượng phẩm kinh bàn rằng: «Lão Quân nhất khí đã hóa sinh chư thiên, đã khai minh ra Tam cảnh. Lão Quân tự sinh nên không tiên tổ. Ngài lấy Đạo làm thân thể mình. Lão Quân là Thủy tổ Đạo khí, là nguồn gốc vạn hóa.» [14]
So sánh các kinh sách trên, ta thấy:
– Thái Thượng Lão Quân sinh Tam Thanh và vạn hữu. (Kinh Tiên giáo, qui tâm, chí mạng lễ)
– Nguyên Thủy Thiên Tôn sinh Tam Thanh và vạn hữu. (Lao-Tse et le Taoisme)
– Tiên Thiên nhất khí sinh Tam Thanh và vạn hữu.
– Lão Quân sinh Tam Thanh và vạn hữu. (Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú)
Ta dễ dàng đi đến kết luận: Thái Thượng Lão Quân là Nguyên Thủy Thiên Tôn, là Lão quân, là Tiên Thiên nhất khí.
Mà thực ra cũng phải tìm đâu xa để chứng minh. Đàn cơ đã có lần long trọng tuyên xưng: «Thái Thượng Lão Quân chính là Thượng đế.» Bài Thánh giáo giáng cơ đó là:-

«Nhiên Đăng Cổ Phật thị ngã,   
燃 燈 古 佛 是 我
Thích Ca Mâu Ni thị ngã,           
釋 迦 牟 尼 是 我
Thái Thượng Nguyên Thủy thị ngã,
太 上 元 始 是 我
Kim viết Cao Đài.» [15]                 
今 曰 高 臺

2. Đức Lão Tử chính là đức Thái Thượng Lão Quân phân tính giáng phàm :-

Nơi đây chúng ta cũng nên ghi nhận sự khác biệt rất xa nhau về từ ngữ.
– Nói rằng đức Thái Thượng Lão Quân giáng phàm làm đức Lão Tử thì khác.
– Nói rằng Ngài phân tánh, phân thân để giáng phàm mặc hình hài đức Lão Tử thì khác.
Hai đàng rộng hẹp hết sức khác nhau… Là một nhà sưu khảo, tôi chỉ biết thâu lượm tài liệu liên quan đến vấn đề nay, còn sự khai thác là tùy quyền tùy ý quí vị.
Bài kinh Tiên Giáo chí tâm qui mạng lễ ghi rõ rằng:-

Nhị nguyệt thập ngũ             
二 月 十 五
Phân tánh giáng sinh           
分 性 降 生
Nhất thân ức vạn                 
一 身 億 萬
Diệu huyền thần biến           
妙 玄 神 變
Tử khí Đông lai                     
紫 氣 東 來
Quảng truyền Đạo đức…     
廣 傳 道 德

Đạo Trưởng Huệ Lương,  giải thích đoạn trên rằng: «Đời Châu Mục Vương năm thứ 52, ngày rằm chia tánh giáng sanh…» [16]
Trong quyển Tiểu sử Ngũ giáo thánh nhân, Tam trấn và đức Khương Thái Công của Đạo Trưởng Huệ Lương xuất bản năm 1964 nơi trang 25, ta thấy ghi: «Trong quyển Thanh Tĩnh kinh, công nghiệp của Đức Thái Thượng Lão Quân chẳng phải chỉ có một kiếp Ngài lâm phàm lấy tên là Lão Tử mà thôi đâu. Ngài thiên biến vạn hóa lâm phàm nhiều kiếp, kể không xiết. Từ đời hỗn độn sơ khai cho tới bây giờ, không có đời nào mà Ngài không hạ thế…» [17]
Nhưng đến khi tôi đọc các bài thơ do Cơ bút, thì không thấy bài nào nói lên được rằng Lão Tử là phân thân của đức Thái Thượng, mà chỉ toàn thấy đồng hóa đức Thái Thượng với đức Lão Tử. Nếu có chư vị nào có được bài Cơ bút nào, bài thi văn nào  xác minh thêm được rằng Lão Tử là phân tánh, phân thân của đức Thái Thượng đạo tổ, thì xin vì công ích mà bổ sung cho bài thuyết trình nầy.
Tuy nhiên, chỉ cần dựa vào kinh Tiên Giáo chí tâm qui mạng lễ , ta cũng có thể kết luận rằng:
– Giáo hữu đa số chỉ coi đức Lão Tử là phân tánh, phân thân của đức Thái Thượng Lão Quân.
– Có thể cũng có người coi đức Lão Tử chính là đức Thái Thượng Lão Quân giáng phàm, nhưng chắc là số ít.
Sau những lời minh xác trên, tôi xin cống hiến quí vị mấy bài thơ do cơ bút, liên quan đến đức Thái Thượng Lão Quân và đức Lão Tử:
– Trong quyển kinh Thượng Thừa Chân Giáo, nơi tr. 28 có bài thơ Bát cú có khoán trung: ĐẠO TỔ LÃO ĐAM, THÁI THƯỢNG TIÊN ÔNG.

Tam Kỳ ĐẠO mở, độ quần sinh,
Thanh tịnh TỔ truyền chỉ nẻo lành.
Bửu cá LÃO lai đời mạt hậu,
Điện tiền ĐAM dạy chớ đua tranh.
Giáo khai THÁI cực qui nguyên bổn,
Lý chánh THƯỢNG thừa để luyện phanh.
Đạo pháp TIÊN thiên thâu hấp dẫn,
Chân ngôn ÔNG dụng kiết nhi anh.

– Đạo Trưởng Chí Thuần cũng cho tôi mượn một bài thơ  không rõ xuất xứ, nhưng rất hay vì ghi rõ Thái Thượng Lão Quân là đức Lão Tử với khoán thủ: TIÊN THIÊN KHÍ HÓA THÁI THƯỢNG ĐẠO QUÂN; Và khoán trung: NGÃ DANH LÃO TỬ GIÁO CHỦ ĐẠO TIÊN.
Bài thơ đó như sau:

TIÊN tri NGÃ giáng lập Long Hoa,
THIÊN đạo DANH lưu vạn quốc hòa.
KHÍ mãn LÃO đồng vô ẩm thực,
HÓA nhi TỬ thánh đạo chương tòa.
THÁI hoàng GIÁO huấn đời an lạc,
THƯỢNG trí CHỦ tâm mối đạo nhà.
ĐẠO chánh, ĐẠO trời qui bá đạo,
QUÂN ban TIÊN tịch hội kỳ ba.

Khảo thư tịch Đạo Lão thấy người xưa đã xưng tụng đức Lão là:-

– Hỗn Nguyên Thánh,
– Thái Thượng Hỗn Nguyên Lão Tử,
– Thái Thượng Lão Quân,
và đã có những sách xuất bản dưới nhan đề là:
– Hỗn Nguyên Thánh kỷ,
– Thái Thượng Lão Quân niên phả yếu lược.
– Thái Thượng Hỗn Nguyên Lão Tử sử lược.[18]

Nhân tiện đây cũng xin đề cập đến một vấn đề hết sức nan giải. Đó là năm đức Thái Thượng Lão Quân phân tánh giáng phàm làm Lão Tử, nói cách khác, năm đức Lão Tử đản sinh là năm nào?
Ngày tháng sinh của Ngài, ta đã biết. Đó là ngày rằm tháng 2 và hằng năm kỷ niệm, đó cũng chính là ngày lễ vía hôm nay mà chúng ta mừng. Còn năm sinh của đức Lão là khó mà xác định.
Có rất nhiều ý kiến:-

1. Sách Đạo Tạng tập yếu Do Long truyện và Sưu Thần ký cho rằng đức Lão sinh ngày 15 tháng 2 năm Canh Thìn năm thứ 9 đời vua Vũ Đinh nhà Thương, tức là năm 1316 tcn.[19]
2. Sách Tục Văn Hiến thông khảo và Thần Tiên thông giám lại cho rằng Ngài sinh năm 1291 tcn tức là năm thứ 34 đời vua Vũ Đinh (năm Canh Thìn).[20]
3. Sách  của Đạo Trưởng Huệ Lương cho rằng Ngài sinh đời Châu Mục Vương thứ 52, tức 910 tcn, ngày 15/2. (Sách trích dẫn, tr. 70)
4. Bộ Uyên giám Loại Hàm cho rằng Ngài sinh năm Ất Mão năm thứ 42 đời Châu Tuyên Vương, tức là năm 786 tcn.[21]
5. Có người lại chủ trương Ngài sinh vào khoảng đời vua Định Vương nhà Châu vào những khoảng năm 605-585,[22] tức là đồng thời với Đức Khổng, niên kỷ nầy cắt nghĩa được sự kiện hai Ngài gặp nhau vào khoảng các năm:
– 526, năm Cảnh Vương thứ 19, theo sách Phật tổ thông khảo.[23]
– 518, năm Bình Vương thứ 1, theo thư tịch Khổng giáo.
– 503, năm Nhâm Tuất tức năm 17 đời vua Châu Kính Vương[24] theo thư tịch đạo Lão như:
. Hỗn Nguyên Thánh kỷ.
. Thái Thượng Lão Quân niên phả yếu lược.
. Thái Thượng Hỗn Nguyên Lão Tử yếu lược.[25]
6. Henri Doré dựa vào sách Phật tổ thông khảo, toán ra rằng đức Lão Tử sinh năm 584, mất năm 500 (xem chú thích 1 nơi trang 2 ở trên).
7. Học giả M.H. Dubs dựa vào Sử Ký Tư Mã Thiên và Chiến Quốc Sách, đã cho rằng đức Lão Tử đã sinh sống vào khoảng những năm 300 tcn. Như vậy, so lại các năm sinh của Ngài là thấy xê xích nhau từ 300 đến 600, đến 1000 năm, thật là ly kỳ hết sức.
8. Khi đã nhận định được rằng dân chúng xưa nay thường coi đức Lão Tử là Thái Thượng Lão Quân phân tính giáng trần, là Thượng Đế giáng trần, chúng ta sẽ không lấy làm lạ, khi đọc thấy Chân Loan, trong quyển Tiếu Đạo Luận, đã chủ trương rằng đức Lão Tử đã phân thân mình để tạo dựng nên trời, nên đất, nên vạn hữu. Sách viết: «Đức Lão Tử hóa thân. Mắt trái Ngài thành mặt trời, mắt phải Ngài thành mặt trăng, đầu Ngài thành núi Côn Lôn, râu Ngài thành Ngũ hành tinh và Nhị thập bát tú. Thịt Ngài biến thành muông thú, ruột Ngài biến thành các loại rắn, bụng Ngài biến thành biển cả, các ngón tay Ngài thành Ngũ Nhạc, lông Ngài thành cỏ cây, trái tim Ngài thành chòm sao Hoa Cái, và hai trái thận Ngài hợp lại thành Chân yếu phụ mẫu của Thực Tại.» [26]
Huyền thoại nầy cũng tương đương như Huyền thoại Bàn Cổ, hay Purusha phân thân thành vũ trụ.
9. Cũng nên ghi nhận rằng ở Việt Nam cũng có nhiều người chủ trương rằng đức Lão Tử chỉ là một phân thân của Thượng đế, một sứ giả của Thượng đế.[27]
Sau khi đã trình bày khái quát những nhận định của thế nhân về thân thế đức Lão qua triền không gian và thời gian, hôm nay, nhân ngày thánh đản, để tưởng niệm Ngài tôi sẽ trình bày tiểu sử Ngài, phác họa lại chân dung Ngài cho rõ ràng hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và để cho đượm màu quang hoa tuế nguyệt tôi sẽ mượn lời của Tư Mã Thiên, của Biên Thiều và của tác giả Biến Hóa kinh để mô tả Ngài.

* Lược sử đức Lão Tử theo Tư Mã Thiên

Lão Tử là người thôn Khúc Nhân 曲 仁, làng Lệ 厲,[28] huyện Khổ 苦, nước Sở 楚.[29] Ngài họ Lý 李, tên Nhĩ 耳, tự Bá Dương 伯 陽, thụy là Đam 聃. Làm quản thủ thư viện nhà Chu.
Khổng Tử đến Chu, hỏi Lão Tử về lễ, Lão Tử nói: «Những người mà ông đề cập tới, đã hóa ra người thiên cổ từ lâu. Nay chỉ còn lại những lời nói của họ. Người quân tử khi đắc thế, thời đi xe; khi thất thế thời đi chân mặc rách. Tôi nghe nói rằng một con buôn giỏi tất nhiên thu sâu, dấu kín, hình như không có gì. Người quân tử đạo đức cao dày thường có vẻ ngoài như kẻ ngu si. Ông hãy từ bỏ sự kiêu căng và dục tình. Hãy từ bỏ những kiểu cách bên ngoài lòe loẹt và những tham vọng. Những cái đó chỉ làm hại cho ông. Đó là những gì tôi muốn nói.» [30]
Khổng Tử ra về nói với đệ tử rằng: «Con chim ta biết nó có thể bay; con cá, ta biết nó có thể lội; con thú, ta biết nó có thể chạy. Chạy thời có thể chăng dò, lội thời có thể đánh lưới, bay thời có thể bắn tên; đến như rồng, thời ta không thể biết; nó cưỡi mây mà lên trời. Hôm nay ta gặp Lão tử, ngài thực là rồng vậy.»
Lão Tử tu đạo đức. Cái học của ngài trọng ẩn dật, vô danh. Ở Chu lâu năm, sau thấy nhà Chu suy, liền ra đi. Tới quan ải, quan lệnh là Doãn Hỉ nói: «Ngài sắp đi ẩn, xin cố vì tôi viết sách.»
Lão Tử bèn viết Đạo đức kinh chia thành hai thiên gồm hơn năm nghìn chữ, đoạn đi, không biết sau ra sao.
Có người nói rằng: [Lão Lai tử chính là Lão Tử.] Lão Lai tử cũng là người nước Sở, viết sách mười lăm thiên, nói về chuyện đạo gia, đồng thời Khổng Tử.
Có người cho rằng Lão Tử biết cách tu dưỡng nên đã thọ 160 hay 200 tuổi. Lão Tử là một vị ẩn cư. Con ngài tên Tông 宗. Tông làm tướng nước Ngụy 魏, ở xứ Đoạn Can 段 干. Tông có con tên là Chú 注. Chú có con tên là Cung 宮. Cháu sáu đời của Cung tên là Giả 假, làm quan đời Hán Văn đế (179-156). Con của Giả tên là Giải 解, làm quan thái phó cho vua Ấn nước Tề, ở xứ Giao Tây.
Người học Lão Tử thời châm biếm đạo Nho; người theo đạo Nho thời châm biếm Lão tử. Thế mới hay: Chẳng đồng đạo, thì chẳng cộng tác với nhau được. Lý Nhĩ vô vi để tự hóa; thanh tĩnh để tự chính.[31]

* Lược sử Lão Tử theo Lão Tử minh 老 子 銘 (Bia khắc chuyện Lão Tử) [32]

Ngày Giáp Tí năm Diên Hi thứ tám, tức là ngày 8/8 tức ngày 24, 9/165 sau Công nguyên, Biên Thiều được lệnh Hán Hoàn Đế khắc bia kỷ niệm đức Lão và dựng tại đền thờ Ngài ở Khổ huyện. Xin được dẫn ít đoạn trong bi ký đó:

Sau khi lược thuật lại cuộc sống gian truân của đức Lão, Biên Thiều viện dẫn tư tưởng của những người sùng Đạo, mà luận về đức Lão Tử như sau:-

Ngài cùng với Hỗn nguyên ly hợp,
Với tam quang, ngài vượt thời gian.
     Trông trời, đoán vận trần hoàn,
Bảy vì tinh đẩu, nhẹ nhàng xuống lên.
Cùng với ngày, biến thiên chín bận,
Tùy theo mùa, khi giảm khi tăng.
     Tinh huy, qui củ chuẩn thằng,
Tứ linh, tứ tượng vốn hằng chầu bên.
Ngưng thần khí, đơn điền não bộ,
Cung nê hoàn mấy độ tiêu dao.
     Sánh vai Thái nhất ra vào,
Đạo thành, thân thoát, từ bao độ đời.
Từ Hi, Nông, đến thời hiện tại,
Bao thánh hiền, ngài mãi là thầy…

*Sau đó Biên Thiều dùng tư tưởng Đạo đức kinh phác họa lại đời sống Lão Tử như sau:-

Đức Lão Tử sinh thời Chu mạt.
Yêu hư vô, mà bạn thanh nhàn,
Không cầu danh với thế gian,
Không ưa những thói phô phang đức tài.
Coi chức trọng là nơi nguy hiểm,
Vui sống trong chốn kém, chốn hèn,
Tặng cho đức Khổng lời khuyên,
Giã từ thế tục, lâm tuyền ẩn cư.
Thay họ mạc cũng như danh tánh,
Sợ đời hay, nên lánh chuyện đời.
Vừng dương sáng tối lần hồi,
Vầng trăng tròn khuyết đầy vơi tương tùy.
Thêm với bớt thịnh suy ấy gốc,
Và trên đời họa phúc theo nhau,
Trời kia nào thích đầy đâu,
Mà thương những kẻ gót đầu khiêm cung.
Theo Lão tử, lao lung vất vả,
Định giang sơn mấy nả mà mong?
Vì dân xin chớ kể công,
Công lênh rôt cuộc cũng không ích gì.
Ngài nay được tôn suy, sùng thượng,
Chính vì xưa chẳng tưởng công danh,
Một ngày một giảm công trình,
Sống trong hư tĩnh, siêu linh tuyệt vời.
Rằng ngài trước đất trời sinh xuất,
Chính vì ngài chẳng mất lòng son,
Thiên chân giữ được vẹn tròn,
Cho nên ngũ phúc chẳng còn thiếu chi.
Nên tôi mạn mà ghi tiếp tục:
IV. Đức độ ngài rất mực cao siêu,
Hư không, thanh tĩnh đến điều,
Ưa nơi thấp kém, chê chiều quang hoa.
Giây khi thẳng, thời đà thẳng dẵng,
Nhưng đem khoanh cũng chẳng ngại cong,
Trời làm chấn động ba sông,
Can vua, vả khiến cho lòng dân an.
Nếu Âm chẳng lăng loàn lấn át,
Át Dương kia, tan tác sao sinh?
Cơ suy vừa lộ mối manh,
Thời đà rũ áo, ẩn mình từ đây.
Người nài nỉ: ra tay sáng tạo,
Đạo đức kinh di cảo dạy đời.
Nhẹ nhàng chỉ trích đương thời,
Đem điều sáng sủa soi nơi mịt mùng.
Cùng Thái nhất thủy chung bầu bạn,
Treo cho đời gương sáng chính trung.
Dặn dầy, chân thực thời ưng,
Mỏng manh hào nháng thời không ngó ngàng.
Ưa cốt cách, bạc vàng rẻ rúng.
Bao dục tình chặn đứng mới nghe.
Trở về trạng thái Anh nhi,
Mái sương vượt quá hạn kỳ trần gian.
Hành tung ngài, khó toan, khó luận,
Luật gian trần chẳng bận niềm riêng,
Khinh phiêu phơi phới tự nhiên,
Vô vi, vô dục biến thiên mặc tình.
Tiến hay thoái phiêu linh tùy tiện,
Tùy thời cơ thiên biến vạn năng.
Xá chi kiến thức gian trần,
Dẫu đầy mà vẫn ngỡ rằng còn vơi.
Bậc đại nhân siêu thời xuất thế,
Kẻ phàm phu, hồ dễ mà hay.
Uổng công xếp hạng nọ này,
Miệng phàm hồ dễ xấu lây danh người.
Cùng nhật nguyệt chói ngời sáng láng,
Cùng ngũ tinh chiếu rạng quang huy.
Vào ra nơi chốn đan trì,
Huỳnh đình lên xuống muôn bề khinh phiêu.
Cùng lưu tục chẳng điều quyến luyến,
Dấu phong quang làm biến hình hài.
Chắt chiu ôm ấp tính trời,
Muôn nghìn biến hóa theo đòi thần minh.
Hô hấp khí khinh thanh thuần túy,
Trong trần hoàn hồ dễ ai hay,
Vĩnh sinh ấy chính là ngài,
Đời rằng ngài với đất trời trường sinh.
Vua tế tự linh đình bày biện,
Để oai ngài trình hiện muôn nơi,
Tôi nay muốn để tiếng Người.
Cho nên ghi tạc những lời ngợi khen.

* Lược sử Lão Tử theo Biến Hóa Kinh:-

Biến Hóa kinh do Vương Trù chép và được một đạo sĩ Huyền Đô xem lại. Chép ngày 14/8 Âm lịch năm Đại Nghiệp thứ 8 đời Tùy Dạng Đế (605-618), tức là 14/9 năm 612 . Bản kinh này viết rất khó hiểu lại có đôi khúc mắc. Ông M.Yshioka và ông M.Obuchi có đề cập bản kinh này nhưng không sửa lại. Bà Anna K.Seidel đã lược dịch kinh này trong quyển La Divinisation de Lao tseu dans le Taoisme des Hán. Tôi đã dịch thoát kinh này và trình bày nơi đầu quyển Đạo đức kinh của tôi.
Biến Hóa Kinh dứt khoát chủ trương rằng đức Lão Tử là Thượng đế, có từ muôn thủa, và đã giáng trần nhiều lần để cứu độ chúng sinh, nên đã dành cho đức Lão những lời lẽ hết sức là kính tôn, đẹp đẽ.

*Biến Hóa Kinh viết:-

     Những từ có trước đất trời,
Vui trong thái thủy tuyệt vời ngao du.
     Thung dung từ thủa thái sơ,
Khi còn chưa có bến bờ đục trong.
     Tịch nhiên tiêu sái, vô song,
Trước trời, trước đất thung dung vui hòa.
     Hai bề ẩn, hiện lại qua,
Ẩn là Thái nhất, hiện ra là người.
     Đục trong biến chuyển dòng đời,
Thần ngài mới mượn hình hài thế nhân.
     Mượn lòng Lý mẫu giáng trần,
Bảy hai năm chẵn gửi thân mẹ lành.
     Mượn nơi đất Sở giáng sinh,
Môi dày, miệng rộng, thiên đình nở nang.
     Có văn tam ngũ rõ ràng,
Hai vừng nhật nguyệt ẩn tàng quang hoa;
     Mũi hai sống, lỗ tai ba,
Chân hai chữ ngũ, tay hoa số mười.
     Thiên nhiên vô dục tính trời,
Vô vi ấy chính nết người ở ăn.
     Giúp trời lại giúp thánh quân.
Tam hoàng âu cũng nhờ ân hộ trì.
     Đời người ẩn ước ly kỳ,
Biến thiên ảo hóa huyền vi khôn lường.
     Gặp khi vận nước nhiễu nhương,
Hôn quân vô đạo tìm đường ẩn thân,
     Giã từ nước Sở, lánh trần,
Cưỡi con bạch lộc băng chừng Côn Lôn,
     Dặm Tần mù mịt nguồn cơn,
Người xưa vết cũ, nay còn thấy đâu.
     Tinh hoa trời đất gồm thâu.
Đạo trời đạo đất gót đầu chốt then.
     Sinh cơ chủ chốt diệu huyền,
Muôn thần, vạn thánh mọi miền, quản cai.
     Âm dương mặc sức phân phôi,
Là hồn, là phách muôn loài thụ sinh.
     Hư vô chưởng quản mặc tình,
Biến thiên huyền hóa siêu linh tuyệt vời.
     Bao trùm khắp tám phương trời,
Đất thời lo chở, trời thời lo treo.
     Ruổi rong nhật nguyệt khinh phiêu,
Tinh huy vận chuyển muôn chiều chẳng ngơi.
     Chư thần Lục Giáp nương hơi,
Càn khôn cũng mặc ý người ruổi rong.
     Tứ thời chuyển biến thong dong,
Hai chiều nóng lạnh mặc lòng xở xoay.
     Tiêu phù cầm gọn nơi tay,
Chữ vàng, thẻ ngọc sẵn bày từ khi.
     Lão quân sáng tối tùy nghi
Tồn vong, đại tiểu, cao đê tung hoành.
     Khuất thân, tiến thoái mặc tình,
Không gì thoát khỏi uy linh của người.
     Đi vào nước lửa như chơi,
Dầu lâm họa hoạn, pha phôi nhẽ nào.
     Gặp cơn bức bách chẳng sao,
Vương thương, vết tích tơ hào chẳng khi.
     Trường sinh chẳng có hạn kỳ,
 Tiêu thân, diệt thể, quyền uy vô ngần.
     Sánh đôi mà vẫn đơn thân,
Cô đơn mà vẫn chẳng phần lẻ loi.
     Ngài luôn gần gũi con người.
Không ai có thể sánh tài vô vi,
     Chẳng ai mà chẳng phải tùy,
Người người đều dõi bước đi của ngài.
     Hành vi Lão tử để đời,
Lời ngài giảng dạy, mấy người tinh thông.
     Ngài sinh ngoài cõi cửu trùng,
Những điều biến hóa mung lung khôn lường…

Biến Hóa kinh cho rằng từ thời Phục Hi cho đến thời Hán đức Lão Tử đã giáng trần 17 lần, và nguyên trong khoảng 20 năm từ năm 132  đến năm 155  Ngài đã hiển linh, đã hiện ra nơi nọ nơi kia 5 lần để cứu độ chúng sinh.
Biến Hóa kinh chép:

     Ngài sinh cùng với Hư vô,
Tùy thời ly hợp trầm phù tiến lui.
     Khi lui, nguyên thể tài bồi,
Đến khi tiến bước, dạy đời, dạy vua.
     Thời Phục Hi, tên Ôn Sủng tử,[33]
Thời Thần Nông, lấy chữ Xuân Thành;[34]
     Thời Chúc Dung, gọi Quảng Thành,[35]
Đến đời Chuyên Húc, Xích Tinh là người.[36]
     Thời Đế Cốc, tên ngài Chân tử,[37]
Thiên Lão khi cộng sự Hiên Viên;[38]
     Thời Nghiêu, tên gọi Mạo Thiềng,[39]
Thời Thuấn, Quách Thúc là tên của ngài.[40]
     Thời Hạ Võ, tên thời Lý Nhĩ,[41]
Thời Ân Thang, đích thị Tư Cung.[42]
     Đời Văn, ngài thủ thư tàng,[43]
Đến đời vua Võ, tên mang Vệ Thành.[44]
     Đời Thành vương, tên Thành gọi lại,[45]
Nguyên Khang 5, lại tái giáng trần;[46]
     Trong lòng mẹ bảy hai năm,
Ra đời mới gọi tên bằng Lý Đam.
     Ngài cũng có Bá Dương là tự.
Và từng là quản thủ thư tàng;
     Bảy trăm tuế nguyệt chứa chan,
Băng chừng Sở quốc, lai hoàn cố hương.
     Lại gặp khi Bình vương ngoan cố.
Đạo đức trời tới độ suy vi.
     Ngài liền bỏ Sở ra đi,
Băng chừng tây tiến lâm ly dặm trường.
     Đến Hàm Cốc, gặp quan Doãn Hỉ,
Đạo đức kinh ngài ký thác cho;
     Thời Tần, Kiển Thúc cũng là,[47]
Tên ngài Phù Khánh [48] thời Hồ nhiễu nhương.
     Thời nhà Hán, Vương Phương Bình gọi,[49]
(Mỗi khi cần, ngài mỗi hiện ra;)
     Năm đầu niên hiệu Dương Gia,[50]
Thành đô núi Tước hiện ra đường hoàng.
     Năm đầu niên hiệu Kiến Khang,
Đỉnh non Bạch Lộc, rỡ ràng quang hoa.[51]
     Năm đầu niên hiệu Thái Sơ,
Nơi đền Bạch Lộc hiện ra với đời.[52]
     Kiến Hòa vào khoảng năm 2,
Lão quân lại hiện cửa ngoài Thành đô.[53]
     Năm đầu Vĩnh Thọ hiện ra,
Đầu non Bạch Lộc xưng là Bộc Nhân.[54]
     Những là lẳng lặng trầm ngâm,
Dẫu ai gạn hỏi cũng không trả lời.
     Đời sau lập miếu thờ ngài,
Xưng ngài Thiên Phó, tên ngài hiển linh.[55]
               Ngài rằng:
     Ta vui trong cảnh Thái thanh,
Quang hoa xử sự, tinh thành trị dân.
     Nhiệm huyền biến hóa tấm thân,
Lấy tuần lâm tử, làm tuần phục sinh.
     Chu du bốn biển phiêu khinh,
Tứ thời bát tiết Huỳnh đình vào ra.
     Dòng đời khinh khoát vượt qua,
Tam hoàng mỗi bước ta đà theo chân.
     Tam thai ta đội làm khăn,
Áo ta đã được dệt bằng Hư vô.
     Phàm phu sao biết được ta,
Tử sinh, phản phục, biết là bao phen.
     Dân ta đông đảo muôn miền,
Phàm phu ngoài mặt, mà tiên đáy lòng.
     Quang huy thu liễm vào trong,
Tinh thần sung mãn bởi không hao gầy.
     Ai về ta tưởng đêm ngày,
Ta luôn phù trợ phút giây chẳng rời.
     Ai mà mơ đến ta hoài,
Hiển linh, ta sẽ vì người hiện ra.
     Cơ đồ nhà Hán phôi pha,
Xót vì, ta lại sinh ra ở đời.
     Phàm phu nhảy nhót dể duôi,
Nhưng mà trí giả nghe lời bảo ban.
     Đất trời nghiêng ngửa nguy nàn,
Ta bèn chuyển hóa mà toan cứu đời.
     Nay ta lựa chọn hiền tài,
Người hay người phải, ta thời nhận ra.
     Những ai mà muốn tìm ta,
Sách ta hãy đọc cho qua vạn lần,
     Tội khiên phải biết tự tân,
Làm người tri kỷ, tri thân mới là.
     Ta đây chẳng ở đâu xa,
Thần người cùng với Thần ta khác nào.
     Cha con tưởng nhớ gần sao,
Bằng không nhớ tưởng, xa bao dặm đường.
     Chớ nên biếng nhác buông tuồng,
Biếng lười, thần có cũng nhường như không.
     Theo ta mau mắn mới mong,
Mới mong ta tháo gỡ tung buộc ràng.
     Trắng, xanh ngoài mặt ngỡ ngàng,
Vàng, đen ẩn áo tiềm tàng bên trong.
     Sinh ta, màu đỏ ấy công,
Ta sinh từ Nhất, từ trong điểm vàng.
     Rượu nồng người chớ có ham,
Để ta đem đạo, chỉ đàng nẻo cho.
     Tu thân người phải nên lo,
Tâm thần an tĩnh, lòng hồ như vơi!
     Vô vi, vô dục thảnh thơi,
Lầm than, hoạn nạn có đời nào đâu !
     Cốc thần khăng khít trước sau,
Con đường giải thoát cơ mầu là đây.
     Lìa ta, suy tưởng dông dài,
Tâm thần lạc lõng, càng ngày càng mê.
     Cương nhu cân nhắc mọi bề,
Hai chiều thành bại, đi về do ta.
     Tả biên sinh khí mới là,
Hữu biên tử khí, giữa là Hoàng trung.
     Giữa là Hoàng khí mung lung,
Nguyên dương nghi ngút muôn trùng cửu tiêu.
     Khuyên chư đồng tử sớm chiều,
Tiềm tâm tu luyện, để theo Đạo mầu.
     Ta đà căn dặn từ lâu,
Kim tinh lệch lạc thì cầu tới ta.
     Mau mau rong ruổi mới là,
Gặp ta Nam Nhạc, sẽ qua nguy nàn.
     Chớ đừng bịn rịn tơ vương,
Xuân ngày Quí tỵ nên thương thả tù.
     Đâu đâu dân cũng âu lo,
Bệnh tình chất ngất, ngã cơ đầy đường.
     Ta nay hoán cải mối giường,
Cơ đồ nhà Hán tan hoang từ rày.
     Dân ta đã biết, đã hay,
Tránh điều vạ gió, tai bay sá nào.
     Những người thành khẩn thanh cao,
Việc ta thông tỏ tơ hào khó chi.
      Ý ta hiền thánh minh tri,
Phàm phu nào biết vân vi gót đầu.
     Bao lần giáng thế trước sau,
Theo dòng lịch sử cơ mầu biến thiên.
     Hiểu ta hỏi mấy thánh hiền,
Chê ta, vô số phàm hèn bấy nay.[56]

2. Nhận định và giải thích các quan điểm trên :-

Khảo các tiểu sử về đức Lão Tử và những huyền thoại về Lão Tử, những quan điểm dân gian về đức Lão Tử trên đây đã trình bày, ta có thể qui lại thành 5 điểm như sau:

(1) Ngài có một cuộc thai sinh kỳ bí: ở trong lòng mẹ 72 năm, khi sinh ra đã bạc đầu.[57]
(2) Ngài là một người trời, sống vĩnh cửu cùng với đất trời.
(3) Ngài chính là Thượng Đế giáng trần nhiều lần để cứu độ chúng sinh.
(4) Ngài là một phân thân của Thượng đế.
(5) Ngài là một sứ giả của Thượng đế.

1. Về cuộc thai sinh kỳ bí của Lão Tử, ta không nên lấy làm lạ, vì dân gian xưa nay đều thêu dệt rất nhiều huyền thoại quanh cuộc thai sinh của vị giáo chủ mình.

2. Một đặc điểm khác trong tiểu sử của đức Lão Tử cho thấy rằng Ngài có từ trước đất trời và sống vĩnh cửu cùng trời đất. Đây cũng không phải là một dữ kiện gì mới mẻ trong hiện tượng đạo giáo:
– Đối với Phật giáo, thì đức Phật cũng đã có từ muôn kiếp.
– Đối với Công giáo, thì chúa Jesus cũng đã có từ muôn kiếp.
– Hơn thế nữa, Trang tử còn dám nói:
   Ta và trời đất cùng sinh,
Ta và vạn vật sự tình chẳng hai.[58]
Quyển Từ Viên tiên sư chân kinh, có các câu thơ sau:

«Đương thời vị hữu tinh, hà, đẩu,
Tiên hữu ngô, đương hậu hữu thiên.»

Dịch:-

Trước khi Thiên Hàn, quần linh có,
Trước đã có Ta, mới có trời.
Và:
«Ngã thể bản đồng thiên địa lão,
Tu Di sơn đảo, Tính do tồn.» [59]
Dịch:
Tính ta vốn thọ cùng trời đất,
Tu Di nghiêng đổ, Tính vẫn còn.

Tất cả những sự kiện trên chỉ có thể hiểu được, nếu ta chấp nhận rằng con người có 2 phần:
1. Phần Thiên, phần Thần, bất sinh, bất tử, có từ muôn thủa, mà Lão Tử gọi là Đạo, Nho gia gọi là Thái cực, Bà la môn gọi là Atman, Phật giáo gọi là Chân như, hay Bản Lai diện mục…
2. Phần Nhân, phần Tâm, phần Hồn, có sinh có tử mà ta thường gọi là phàm tâm, vọng tâm, hay vọng ngã, tiểu ngã.
Như vậy, thì chẳng cứ gì Lão Tử và các vị giáo chủ mà cả mọi người trong chúng ta đều có cái phần vĩnh cửu, các phần bất sinh, bất tử ấy. Có mà không biết, có của quí trong tay, mà vẫn cho rằng mình khó, mình hèn, chuyên đi xưng tụng người khác, thèm thuồng số phận người khác. Thật là câu chuyện hết sức trái khoáy, hết sức ly kỳ.
Đúng như lời kinh Dịch chê nơi quẻ Di: «Xả nhĩ linh qui, Quan ngã đóa di.» 舍 爾 靈 龜, 觀 我 朵 頤 (Mình có sẵn linh qui thì lại bỏ, để đi nhìn mồm người khác ăn mà thèm thuồng. (Xem Quẻ Di 頤, hào sơ cửu).

3. Một sự kiện cần được giải thích nơi đức Lão Tử là chuyện người được dân chúng nhất là từ thời nhà Hán coi như là Thượng Đế giáng trần, chẳng những một lần mà nhiều lần.
Khảo về các đạo giáo, ta thấy ở nhiều dân, nhiều nước đã có nhiều vị chân nhân được dân chúng coi như là hiện thân của Thượng đế, như là Thượng Đế giáng trần.
Ấn Độ coi Rama Krishna, và gần đây coi Ramakrishna như là Thượng Đế giáng trần.
Âu Châu tin rằng chúa Jesus là Thượng Đế giáng trần.
Lịch sử cho thấy có nhiều người đã xưng mình là Thượng Đế giáng trần. Xưng mình là hiện thân của Thượng đế.
Ví dụ Al-Hallaj, một thánh nhân Hồi giáo thường xưng mình là Thượng Đế, là Chân lý, nên đã bị cầm tù từ năm 915 đến ngày 23/3/922, thì bị xử tử, chặt tay chân, đoạn treo trên thập giá, mấy ngày sau mới chém đầu, vì tội dám phối hợp lẫn lộn trời người, gây hoang mang cho mọi người.
Al-Hallaj đã nói: «Ta là đấng ta yêu, đấng ta yêu là ta. Chúng ta là hai thần trong một xác. Nếu Bạn thấy ta, Bạn sẽ thấy Ngài, nếu Bạn thấy Ngài, Bạn sẽ thấy ta.»
Ta có thể dịch lại lời trên thành thơ như sau:
     «Ta cùng với đấng ta yêu,
Hai đàng là một, khôn chiều qua phân.
     Một thân mà có hai thần,
Thấy ta, thấy Chúa cũng ngần ấy thôi.» [60]
Chúa Jesus cũng xưng mình là Thượng đế, và trong Phúc Âm, cũng có một lời tuyên bố tương tự như lời Al-Hallaj Chúa phán: «Ai đã thấy ta, tức là thấy Cha. Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi? Ngươi há không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta hay sao?» (Jean, 14, 9-10)
Chúng ta có thể giải thích sự kiện trên như sau:
– Xưa nay các bậc thượng trí, thượng nhân đều tin rằng Trời chẳng xa người, mà đã ngự ngay nơi tâm khảm con người, Trời chính là cốt lõi, là tin hoa, là bản thể, là trục cốt là căn cơ của con người.
– Thiên đạo, hay Huyền học chỉ cốt dạy con người chân lý thiết yếu ấy.
– Thánh nhân, chân nhân là những người đã đạt đạo. Mà đạt đạo tức là sống phối kết với Thượng Đế, ngay từ ở gian trần nầy, nên đã được đồng hóa với Thượng Đế trong hào quang tình yêu và lòng xót mến.
Cũng có thể giải sự kiện này bằng thuyết Nhất thể tán vạn thù, vạn thù qui nhất của Á Đông. Nếu chấp nhận nhất thể tán vạn thù, thì ai trong chúng ta lại chẳng là một điểm linh quang từ Thượng Đế tung tỏa, chiếu diệu xuống cõi hồng trần này. Nếu chấp nhận Vạn thù qui nhất thể thì kẻ trước người sau, ai trong chúng ta mà lại sẽ không trở về nhập thể lại với vừng dương muôn thủa, trở về kết hợp với Thượng Đế:
Theo nhãn quan này, thì Phật, Lão Tử, Chúa Jesus, Khổng Tử dù được ca tụng đến đâu, thần thánh hóa đến đâu, cao sang đến đâu, cũng chỉ là những tiền thân của chúng ta. Con đường các Ngài đi, chúng ta sau trước cũng sẽ đi lại. Những trạng thái các Ngài đã kinh qua, rồi đây chúng ta cũng sẽ kinh qua. Cho nên bàn về thân thế quá vãng các Ngài, chính là bàn về thân thế tương lai của chúng ta. Có được thái độ như vậy, thì chúng ta vẫn xưng tụng các Ngài, vẫn suy tôn các Ngài, và vẫn giữ được giá trị siêu việt của chúng ta.

4. Còn như coi đức Lão Tử như là một phân thân của Thượng Đế sứ giả của Thượng đế, giáng trần với sứ mạng dạy dân, dạy đời, thì là một quan điểm hợp tình, hợp lý, chẳng có gì đáng chỉ trích…

3. Ít nhiều nhận định riêng tư về đức Lão Tử :-

Trên đây, tôi đã trình bày để quí vị thấy rằng xưa nay có rất nhiều nhận định về đức Lão Tử, nhiều quan điểm về đức Lão Tử. Các quan điểm ấy khác nhau, tùy theo lập trường của mỗi người.
– Người thì cho rằng đức Lão Tử chỉ là một vị ẩn tu, ẩn sĩ.
– Người thì cho rằng Ngài là một người trời có từ muôn thủa.
– Người thì cho rằng Ngài chính là Thượng Đế giáng trần.
– Người thì cho rằng Ngài chỉ là một phân thân của Thượng Đế, sứ giả của Thượng Đế.
Và tôi đã cố gắng giải thích các quan điểm trên. Tiện đây, tôi mạo muội cũng xin trình bày một vài nhận định riêng tư về đức Lão Tử.

*Trước hết tôi nhận định rằng:

(1) Đức Lão Tử là một con người hiếu cổ

Thực ra đức Lão Tử không phải là người đầu tiên đã khám phá được chân lý, chân đạo. Nhiều bậc Chân nhân trước Ngài đã tìm ra được và thực hiện được chân lý, chân đạo.
Khi nghiên cứu Đạo Đức kinh, tôi đã thấy rằng đức Lão Tử đã học rất nhiều điều của người xưa.
Trương Kỳ Quân, trong quyển Trung Hoa ngũ thiên niên sử, quyển 3, nơi chương nói về Lão Tử cũng có chủ trương y thức như tôi. Ông đưa ra 9 bằng cớ để chứng minh rằng trong khi viết Đạo Đức kinh, Lão Tử đã tham bác các tác phẩm các học thuyết của người xưa, nhất là của Sử Dật.
Dẫu sao thì trong Đạo Đức kinh, đức Lão Tử nhiều lần đã long trọng tuyên dương đường lối và đời sống cao siêu của người xưa, những phương châm cao đại của người xưa, mục đích cao đại của người xưa.

Ngài đã để cả chương XV để ca tụng đời sống huyền diệu của các nhà huyền học thời xưa, các bậc chân nhân thời xưa. Ngài viết:

Ai người xưa, khuôn theo đạo cả,
Sống huyền vi, rất khó tri tường;
Nay ta gạn ép văn chương,
Hình dung, dáng dấp liệu đường phác ra.
Họ e ấp như qua băng tuyết,
Họ ngỡ ngàng như khiếp láng giềng;
Hình dung phong thái trang nghiêm,
Băng tan, tuyết tán, như in lạnh lùng.
Họ đầy đặn in chừng mộc mạc,
Nhưng khinh phiêu man mác hang sâu;
Hỗn mang ngỡ nước đục ngầu,
Đục ngầu lắng xuống một màu trong veo.
Ngỡ ù cạc một chiều an phận,
Nào ai hay sống động khôn lường.
Phù hoa gom góp chẳng màng
Đã say đạo cả, coi thường phù hoa.
Sống ẩn dật, không phô thanh thế.
Việc thế gian hồ dễ đổi thay…

Nơi chương 41, Ngài viết:
«Lời xưa đã từng khi truyền tụng,
Biết đạo thời như vụng như đần;
Tiến lên mà ngỡ lui chân
Tới bên Đạo cả mà thân tưởng hèn…»
Nơi chương 42 Ngài nhắc lại phương châm người xưa:
«Người xưa dạy câu này chí lý,
Ta cũng đem ta chỉ cho đời;
Xin đừng bạo động ai ơi!
Ai mà bạo động, chết thôi bạo tàn.
Đó là then chốt ta ban…»

Nơi chương 68, Ngài viết: «Sống kết hợp với Trời, là tuyệt điểm của người xưa.»
Liệt Tử cho rằng câu: «Cốc thần bất tử, thị vị Huyền tẫn.» 谷 神 不 死 是 謂 玄 牝 đã có trong Hoàng đế thư.[61]
Trang Tử cho rằng: «Câu thất đạo nhi hậu đức 失 道 而 後 德… Thất nghĩa nhi hậu lễ 失 德 而 後 禮 … v.v…» là lời của Hoàng Đế.[62]
Hàn Phi Tử cho rằng câu: «Tương dục hấp chi, tất cố trương chi.» 將 欲 歙 之,必 故 張 之 v.v… là lời của Chu thư.[63]
Các chương 22, 46, 57, 69, 78 của Đạo Đức kinh đều trích dẫn cổ thư .[64]

Xem như vậy thì Lão Tử:
– Chuộng cổ nhân.
– Mộ đạo cổ nhân.
– Yêu nếp sống thiên nhiên của cổ nhân.
– Đã đạt tới tinh hoa mà cổ nhân đã đạt.

– Muốn làm sống lại đời sống đạo đức, nếp sống thanh đạm, giản dị, mộc mạc, khinh phiêu, của cổ nhân, về phương diện cá nhân cũng như về phương diện chính trị.
Cho nên về phương diện hiếu cổ, hoài cổ, ta thấy đức Lão Tử hoàn toàn giống đức Khổng Tử. Trong Luận Ngữ, đức Khổng cũng đã nói:

«Ta trần thuật nhưng không sáng tạo,
Tin cổ nhân, độ đạo cổ nhân.» [65]

Như vậy, người xưa phải có cái gì đẹp đẽ siêu việt cho nên các bậc thánh hiền sau này mới ra công khai thác, bảo vệ và lưu lại cho hậu thế.
– Cái tinh hoa siêu việt của người xưa là gì?

a. Người xưa sống gần Đạo, gần Trời.

Đã đành không phải mọi người xưa đều có cái diễm phúc sống gần Đạo, gần Trời, nhưng chắc chắn là đã có nhiều bậc chân nhân đã đạt tới cực điểm tinh hoa đó.

b. Người xưa đã trực giác được rằng Đạo thể hay Thượng đế, hay Đạo tâm đã tiềm ẩn trong lòng sâu vạn hữu, trong lòng sâu con người.
Cho nên muốn tìm Đạo, tìm Trời, phải tìm nơi sâu thẳm đáy lòng, phải tìm nơi trung tâm điểm đầu não con người.
Càng đi sâu vào đáy lòng, vào trung tâm đầu não con người, càng thấy hiện rõ lên Đạo thể huy hoàng, sán lạng. Và khi vào đến tâm điểm đầu não con người, sẽ nhận chân được rằng nơi đó có đủ Tam Thanh, Tam Cảnh, nơi đó chính là động phủ thần tiên, sở cư của Cốc Thần bất tử…, nơi đó chính là nguồn mạch huyền vi mà Bản thể đã tung tỏa ra muôn ngàn hiện tượng.
Tính Mệnh Khuê Chỉ chép: «Xưa Hoàng đế lên núi Nga mi gặp Thiên Chân Hoàng Nhân ở Ngọc Đường và hỏi về cái đạo Chân Nhất. Hoàng Nhân đáp: Đó là điều quí trọng nhất của Đạo gia. Kinh của Đạo này Thượng Đế giấu trong năm thành của núi Côn Lôn, cất trong hòm ngọc, viết vào thẻ vàng, phong bằng bùn tía, đóng ấn bằng chữ Trung. Nhất đó ở Thái Uyên Bắc cực, trước có Minh Đường, sau có Ngọc Chẩm, trên là Hoa Cái, dưới là Giáng Cung.» [66]

Với những lời lẽ mập mờ, ẩn hiện đó, ta thấy Hoàng Nhân muốn nói như sau: Muốn tìm Đạo, tìm Trời, tìm Chân Nhất, tìm Trung, phải tìm nơi Tâm điểm đầu não con người.
Hiểu được điều này, ta sẽ lần ra được chuỗi liên châu đạo thống nối liền cổ kim:
– Lão Tử, nơi chương 6 Đạo Đức Kinh, nói: «Cốc thần bất tử thị vị Huyền Tẫn, Huyền Tẫn chi môn thị vị thiên địa căn.» 谷 神 不 死, 是 謂 玄 牝 玄 牝 之 門, 是 謂 天 地 根. Liệt tử bình rằng: Câu này đã có trong Hoàng Đế thư, tức là từ đời thượng cổ.[67]
– Huỳnh Đình ngoại cảnh viết: «Tử dục bất tử tu Côn Lôn.» 子 欲 不 死 修 崑 崙 (Ch.6) Mà Côn Lôn chính là đầu não con người.
– Tính Mệnh Khuê chỉ nơi quyển Hanh, tr.21b, có câu: «Đầu hữu cửu cung, trung hữu Nê Hoàn.» 頭 有 九 宮 中 有 泥 汍.
– Đạo Trưởng Huệ Lương ghi lại một đoạn cơ bút như sau: «Huyền quan nhất khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn cung, gom trọn chơn dương chánh đạo. Hai con mắt các con là nhục nhãn, tức là Âm với Dương. Thì cũng như Thái Cực là Thiên Nhãn, còn lưỡng quang là Nhật, Nguyệt hằng soi sáng khắp Càn Khôn, cứ toàn hoàn mãi, hết ngày đến đêm, hết đêm lại ngày, không bao giờ dứt được sự tuần hoàn của Tạo Hóa.»
Mới hay xác định được Nê Hoàn cung là tìm ra manh mối tất cả. Thảo nào mà người xưa dùng lẫn lộn hai chữ Niết Bàn với Nê Hoàn. (Xem Phật học từ điển Đoàn Trung Còn, nơi chữ Nê Hoàn.)

c. Người xưa cho rằng: Cực điểm tinh hoa là Phối Thiên (Đạo Đức Kinh, ch. 68)

d. Người xưa sống trong cảnh tĩnh lãng buổi ban sơ có một tâm thần hồn nhiên tiêu sái; họ không bị dục vọng cuốn lôi, không bị lợi danh dụ dỗ, không phải lo đấu tranh để sinh tồn là bao nhiêu, không bị tập tục, qui ước, luật lệ xã hội gò bó, thằng thúc, chính vì vậy mà họ thảnh thơi, khinh khoát. Đó chính là nếp sống lý tưởng mà đức Lão Tử đã phác họa lại trong Đạo Đức Kinh.

(2) Lão Tử là một chân nhân đắc đạo, một nhà Huyền học :-

Tôi cũng chủ trương rằng: Đức Lão Tử là một bậc chân nhân đã sống phối kết với Đạo, với Trời. Theo danh từ quốc tế hiện đại, thì Ngài là một nhà Huyền Học.
Nói như vậy, tức là Ngài không phải là Thượng Đế giáng trần để cứu nhân loại như người Trung Hoa thời xưa đã chủ trương, mà Ngài chính là một con người nhờ công phu tu luyện, học hỏi, đã liễu đạt được chân tính con người, đã sống phối kết với Trời với Thượng đế.
Suy tôn Ngài là Thượng Đế giáng trần chẳng những một lần, mà nhiều lần để cứu nhân loại như Biến Hóa kinh đã chủ trương, hay như một con người bất tử đã sang cả Ấn Độ để dạy đạo cho đức Phật như Hóa Hồ kinh chủ trương, thực ra cũng chẳng có lợi gì cho chúng ta, vì như vậy chúng ta không có cách gì để tìm cho ra được đường lối của Ngài.
Ngược lại, coi Ngài là một người vì học vấn, vì công phu tu luyện, đã tìm ra được chân đạo, đã đạt tới trạng thái cực cao minh linh diệu của con người, sẽ giúp ta hiểu đạo Ngài, và giúp ta biết đường theo chân nối gót Ngài.

Cát Hồng tiên sinh viết: «Các học giả có óc chật hẹp hòi đã coi Lão Tử là một người Trời siêu xuất quần sinh và khuyên các thế hệ tương lai bắt chước Ngài; nhưng làm như thế tức là ngăn cản không cho mọi người tin được rằng nhờ học hành mà tìm ra được bí quyết trường sinh bất tử.” Thực vậy, nếu Lão Tử là một hiền nhân đã đắc đạo, thì mọi người phải hết sức để theo gương Ngài, bắt chước Ngài, nhưng nếu ta nói rằng: đó là một nhân vật đặc biệt, có thiên tính, thì ta không thể nào bắt chước Ngài được nữa.[68]
Mạnh Tử cũng viết: «Phàm những vật đồng loại, thì bản tính giống nhau. Tại sao riêng về nhân loại, người ta lại nghi rằng bản tính chẳng tương tợ. Những vị thánh nhân và chúng ta đồng một loại …» [69]
Nói Lão Tử là một nhà huyền học, nhiều người tưởng rằng làm như vậy đã giảm giá đức Lão Tử. Trái lại, nếu chúng ta hiểu thế nào là huyền học, ta sẽ thấy đó là một huy hiệu rất cao siêu.
Huyền học (mystique) là một danh từ tặng dữ cho những ai có một đời sống siêu nhiên mãnh liệt, y thức như đã tiếp xúc được với nguồn huyền lực vô biên của vũ trụ.

Những nhà huyền học là những người:
– Có tâm thần hết sức thông minh, tinh tế.
– Nhìn thấy được tấn tuồng biến thiên, ảo hóa của vũ trụ cũng như của lịch sử nhân quần.
– Cố tu luyện, cố thanh lọc tâm thần để đi đến chỗ cao minh linh diệu.
– Sống phối kết với Trời, coi mình là hiện thân, là biểu dương của Trời, của Thượng Đế …

Các nhà huyền học Đông cũng như Tây đều tin tưởng rằng sau bức màn hiện tượng biến thiên chất chưởng, còn có một Bản thể siêu việt, Tuyệt đối. Các Ngài không biết dùng danh từ gì để mô tả Tuyệt đối thể ấy cho hay cho xứng, cho nên hoặc là tuyên bố mình bất lực trước Tuyệt đối thể vô biên ấy, hoặc là dùng những danh từ tiêu cực, mơ hồ để diễn tả, để đề cập tới.

Các Ngài cho rằng con người sinh ra phải tìm về cho được nguồn mạch linh thiêng huyền diệu ấy, và tất cả các biến hóa của vũ trụ lúc chung cuộc cũng kết thúc trong đại thể vô biên tế ấy.
Mà nguồn mạch linh thiêng huyền diệu ấy đã tiềm ẩn ngay trong lòng con người. Con người chỉ việc lắng lòng lại, chỉ việc thu thần định trí, nhìn sâu vào tâm khảm mình sẽ tìm ra được Bản thể siêu việt, huyền diệu ấy …
Tìm ra được rồi, chỉ việc sống một đời sống khiêm cung, giản dị, hồn nhiên, tiêu sái, hạnh phúc. Từ nay không còn lo âu, không còn háo hức, vì biết rằng ngoại cảnh chẳng qua là những tấn tuồng phù du biến ảo. Từ nay, sẽ thoải mái, hạnh phúc, vì biết rằng mình đã nắm giữ được một cái gì quí báu nhất trần gian …

II. CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM TÂM LINH CỦA ĐỨC LÃO TỬ

1. Thế nào là con đường huyền nhiệm tâm linh?

Như trên đã chứng minh, đức Lão Tử là con người thực hiện được Thiên Chân, đã tìm ra được con đường huyền nhiệm. Chính vì thế mà Ngài trở thành vị Tiên phong, hướng đạo, soi đường cho chúng ta bước vào con đường huyền nhiệm, con đường dẫn tới Thiên chân, Đạo thể.
Tôi nghĩ rằng tất cả giá trị Đạo Đức Kinh cũng như của đạo Lão chính là ở chỗ đã vạch cho chúng ta con đường nội tâm, với những giai đoạn, những công phu tu luyện để trở về phối kết với Đạo thể, Đạo tâm.
Henri Maspero có lẽ là một học giả Âu Châu đầu tiên đã nhận định về Lão Trang một cách hết sức đúng đắn, tinh tế, sâu sắc. Ông nói: «Thực hiện một đời sống huyền đồng, đó là một khám phá mới lạ nhất của môn phái Lão Trang. Họ là những người đầu tiên ở Trung Hoa đã đi trên con đường đó, và đã mô tả những giai đoạn của đường đó.» [70]

*Tại sao gọi là con đường huyền nhiệm?

Thưa vì con đường dẫn tới Đạo tới Trời mà Lão Tử sẽ đưa chúng ta đi, sẽ không phải là một con đường lộ liễu bên ngoài. Nó không băng qua Đạo đường, đạo quán, không băng qua ảnh tượng, lễ nghi, mà thực ra đã ẩn áo trong mỗi con người.

*Tại sao gọi là con đường huyền nhiệm tâm linh?

Vì con đường đạo hạnh này sẽ không xuyên qua núi non, sông biển, để đi đến một non Bồng, nước Nhược nào ở bên ngoài, cũng không phải là một con đường băng qua thinh không, vượt qua Ngưu, Đẩu, để lên tới một cảnh giới thiên đường xa xăm nào, mà chính là con đường băng qua hình hài, hướng thẳng tới nội tâm, băng từ biên khu thân xác, hình hài, qua óc não, phách hồn, vào thẳng tới tâm khảm con người nơi Đạo, nơi Thần, nơi Nhất ngự trị.

– Đã đề cập tới một con đường, thì chúng ta phải xác định:
. Đâu là khởi điểm
. Đâu là đích điểm
. Các giai đoạn trên lộ trình đó ra sao.

Cho nên, trước khi bàn về các giai đoạn trên lộ trình đó, tôi sẽ đề cập đến khởi điểm và đích điểm.
– Xin quí vị hãy tạm thời cùng tôi chấp thuận:
. Khởi điểm là Ngũ quan, tứ chi, bá hài mà nơi đây tôi tượng trưng bằng đôi mắt. Đôi mắt đây, cũng là Âm Dương, mà Âm Dương ám chỉ tất cả những gì thuộc về Thế giới hiện tượng, hữu hình, mâu thuẫn, tương đối.
. Đích điểm là Đạo, là Trời, là Thiên Nhãn, theo danh từ Cao Đài. Mà ở trên đây tôi đã dùng các bài cơ bút xác định được vị trí là ở Tâm điểm não bộ, ở nơi Nê Hoàn Cung.[71] Mà Đạo, Trời, Thiên Nhãn là gì nếu không phải là Bản thể con người, là Căn nguyên, trục cốt của con người và đồng thời cũng là Căn nguyên, Trục cốt của vũ trụ? Vả chăng chúng ta cũng biết Đạo, Trời, Thiên Nhãn thời Tuyệt Đối, thời siêu việt, thời Hằng Cửu, thời Chân thực.
Nếu quí vị chấp nhận đích điểm và khởi điểm mà tôi vừa trình bày trên, quí vị chẳng những thực sự vẽ lại được một con đường. Hơn thế nữa, quí vị còn thấy con đường huyền nhiệm tâm linh này dẫn:
– Từ thấp tới cao,
– Từ hèn tới quí,
– Từ phù sinh đến vĩnh cửu,
– Từ giả đến chân,
– Từ tăm tối đến ánh sáng,
– Từ hiện tượng đến bản thể,
– Từ hữu vi, hữu tướng tới Vô vi, vô tướng.
– Từ tương đối, tới tuyệt đối,
– Từ vạn, từ đa tạp, tới Nhất, tới Thuần thể.

Vả lại, con đường này ngắn ngủi chứ chẳng có xa xăm, diệu vợi.
Hai mắt và Thiên Nhãn hợp với nhau thành một hình tam giác đều. Đường nối hai đồng tử mắt là đáy hình tam giác. Thiên Nhãn là đỉnh hình tam giác.
Khoảng cách giữa hai mắt ta đo được: Nó dài khoảng chừng 3 tấc ta, tức là khoảng bề ngang 4 ngón tay xếp khép liền.
Như vậy thì từ Nhục Nhãn tới Thiên Nhãn, khoảng cách cũng như vậy. Vả ta biết được rằng Thiên Nhãn hay Đạo hay Cốc Thần là ở trung điểm Nê Hoàn cung như trên đây đã dùng kinh điển xác minh.

***
Đoạn đường ấy gần thì thật gần, vì biết đi, thì chẳng đi đã tới, như lời Đạo Đức Kinh, chương 47; nhưng xa thì cũng thiệt là xa, vì chẳng biết đường đi thì muôn năm cũng chẳng tới nơi.
Đoạn đường nầy, gần thì thực gần, nhưng phàm thánh xưa nay đều quanh quẩn ở điểm này, điểm nọ trên khoảng đường ấy mà thôi, chẳng khác nào Tề Thiên Đại Thánh, khi đã nhảy lên bàn tay Phật, thi triển thần thông, ruổi rong muôn vạn dặm đường, mà đến khi kiểm điểm lại, vẫn thấy mình còn đứng trên ngón tay giữa của Phật.
Vả con đường này thường cũng chẳng có thông suông, vì như lời Mạnh Tử, lau lách dục tình đã lấp kín con đường nội tâm này rồi. Mạnh Tử nói: «Kim mao tắc tử chi tâm hĩ.» 今 茅 塞 子 之 心 矣 (Nay lau lách đã lấp kín tâm hồn bạn rồi.)[72]
Chính vì thế mà trong tập Trung Dung yếu chỉ tôi đã viết:-

     Biên khu luân lạc từ bao!
Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung.
     Đường Trung Dung linh lung ẩn khuất,
Nẻo Bồng Lai, gai lấp lau che … .

Trên đã nói: Đích điểm là Đạo. Khởi điểm là thế giới phù sinh. Mà nơi đây tôi quán xuyến bằng đôi con mắt. Chính vì vậy mà nơi chương đầu Đạo đức kinh, đức Lão Tử bàn về Đạo, tức là về Bản Thể, căn cơ con người, đồng thời cũng là đích điểm con người. Nhận định rằng Đạo chính là Hóa Công, là Trời, là Khuôn thiêng đã tạo ra muôn loài, muôn vật, đồng thời cũng là đích điểm, là mục phiêu của công trình phản bản hoàn nguyên, nên tôi đã mạo muội dịch Đạo là Hóa Công, là Khuôn thiêng.
Lão Tử viết:

     Hóa Công hồ dễ đặt tên,
Khuôn thiêng hồ dễ mà đem luận bàn.
     Không tên sáng tạo thế gian,
Có tên là mẹ muôn vàn thụ sinh.
     Tịch nhiên cho thấy uy linh,
Hiển dương cho thấy công trình vân vi.
     Hai phương diện, một Hóa Nhi,
Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường.
     Ngài là Chúng diệu chi môn,
Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi …

Tiếp theo ngay nơi chương 2, đức Lão Tử bàn về sự phù du, chất chưởng, mâu thuẫn, tương đối của kiếp phù sinh, hiện tượng này. Ngài viết:

     Người đời thấy đẹp biết khen,
Thế là cái xấu đã chen vào rồi.
     Điều hay đã rõ khúc nhôi,
Thời đà dang dở, lôi thôi sinh dần.
     Mới hay không, có chuyển vần,
Dễ sinh ra khó, ngắn nhân thành dài.
     Thấp, cao tùy ngó ngược, xuôi,
Tiếng ca trầm, bổng, dòng đời trước sau.
     Thánh nhân khinh khoát tầng cao,
Vô vi, thầm lặng tiêu hao dạy đời.
     Kìa xem muôn vật thảnh thơi,
Im lìm sinh hoạt, một lời cũng không.
     Ngày đêm chẳng kể công,
Công thành phơi phới, tuyệt không bận lòng.
     Không nấn ná lúc thành công,
Cho nên tồn tại mãi cùng thiên thu …

Khi đã cho ta thấy rõ, Cùng điểm và Khởi điểm của con đường Huyền nhiệm tâm linh, đức Lão Tử khuyên mọi người đi vào con đường Qui Căn, Phản Bản. Ngài viết nơi chương 16:

Thử tách khỏi dòng đời luân chuyển,
Để lặng thinh ngắm chuyện trần hoàn;
Muôn loài sinh hóa đa đoan,
Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên.
Hoàn Bản Nguyên an nhiên phục mệnh,
Phục mệnh rồi trường vĩnh vô cùng;
Biết truờng tồn, mới là thông,
Trường tồn không biết, ra lòng tác yêu.
Biết trường tồn muôn đời thư thái,
Lòng ung dung hưởng khoái công hầu;
Công hầu, vương tước xa đâu,
Vượt thang thần thánh lên bầu trời cao.
Lên trời thẳm, hòa vào Đạo cả,
Cùng đất trời, muôn thủa trường sinh,
Xác tan, chẳng hại chi mình …

Bước được vào con đường huyền nhiệm nội tâm ấy, tuy ngồi nhà mà vẫn hay thiên hạ sự. nơi chương 47, đức Lão Tử viết:

     Ở nhà chẳng bước đi đâu,
Thế mà thiên hạ gót đầu vẫn hay.
     Tuy rằng cửa đóng then gài,
Thế mà vẫn hiểu đạo trời vân vi.
     Con đường phiêu lãng càng đi,
Càng xa, càng lạc, biết gì nữa đâu.
     Cho nên hiền thánh trước sau,
Không đi mà đến, không cầu mà nên.
     Cần chi vất vả bon chen,
Không làm mà vẫn ấm êm, vuông tròn …

2. Những giai đoạn, những chặng đường trên lộ trình đó :-

Từ nhiều năm nay, tôi đã hình dung ra được các chặng đường trên con đường Huyền nhiệm tâm linh, nhờ đọc chương 38 của đức Lão Tử.
Chương 38 có một đoạn sau đây:

Hễ ĐẠO mất nặng tình với ĐỨC,
ĐỨC không còn, lục tục theo NHÂN;
Hết NHÂN, có NGHĨA theo chân,
NGHĨA không còn nữa, thấy thuần LỄ NGHI.
Nên NGHI LỄ là chi khinh bạc,
Cũng là mầm loạn lạc chia ly;
Bề ngoài rực rỡ uy nghi,
Bề trong tăm tối, ngu si ngỡ ngàng.
Nên quân tử chỉ ham đầy đặn,
Chứ không ham hào nhoáng phong phanh;
Chỉ cần thực chất cho tinh,
Không cần bóng bẩy lung linh bên ngoài.
Bắc cân khinh trọng cho tài,
Biết đường ôm ấp, biết bài rẻ khinh.

Nghiên cứu kỹ chương này, tôi thấy đức Lão Tử đã cho biết từ xưa, đến nay, tôn giáo đã suy thoái qua 5 giai trình:

ĐẠO ⇨ ĐỨC ⇨ NHÂN ⇨ NGHĨA ⇨ LỄ

Đạo là giai trình cao nhất. Lễ là giai trình thấp nhất.
Tôi liền đặt ngược lại vấn đề: Muốn tiến tới Trời, tới Đạo, chúng ta cũng phải băng qua 5 giai trình:

LỄ ⇨ NGHĨA ⇨ NHÂN ⇨ ĐỨC ⇨ ĐẠO

Từ nhiều năm nay, tôi đã cụ thể hóa 5 giai trình trên, bằng cách gắn liền chúng, phối hợp chúng với các tầng lớp tương ứng trong con người, và với các hiện tượng đạo giáo. Và như vậy, con đường huyền nhiệm tâm linh sẽ có 5 giai trình, 5 chặng đường từ thấp đến cao, từ gần đến xa.

1. Chặng đường thứ nhất: Chặng đường LỄ

Chặng đường LỄ, hay NGHI LỄ này tương ứng với giác quan, với thân thể, tứ chi, bá hài.
Về phương diện tôn giáo, nó bao quát hết mọi hình thức LỄ NGHI (Formes extérieures du culte), thanh âm, hương sắc…
Về phương diện tu trì, nó bao quát hết mọi phần động công, tĩnh công, có liên quan đến giác quan và cơ thể.
Chặng đường này là chặng đường thấp nhất, dễ nhất trên con đường tu luyện.
Người đạo sĩ chỉ cần làm sao làm chủ được thân xác, ngũ quan, đừng để cho những thú vui giác quan làm tản thần, hao khí, đừng để cho chúng buông lung, làm cho tâm hồn trở nên bất định, không còn hoàn toàn chuyên chú được vào công trình trọng đại nhất, đó là thực hiện THIÊN CHÂN.
Chính vì vậy mà nơi chương 12 Đạo Đức Kinh, đức Lão Tử viết:

Sắc, năm màu là ta choáng mắt,
Thanh, năm cung ngây ngất lỗ tai;
Năm mùi tê lưỡi nếm sai,
Ruổi rong săn bắn, lòng người hóa điên.
Của, hiếm có ngả nghiêng nhân đức,
Khinh giác quan giữ chắc lòng son;
Thánh nhân hiểu lẽ mất còn…

2. Chặng đường thứ hai: Chặng đường NGHĨA

Chặng đường thứ hai là Chặng đường NGHĨA hay NGHĨA LÝ. Chặng đường này gắn liền với óc não, với tiểu trí.
Về phương diện Đạo giáo, nó bao quát hết mọi GIÁO LÝ, TÍN ĐIỀU (dogmes).
Về phương diện tu trì, nó bao quát hết mọi công trình suy tư, học hỏi. Người đạo sĩ phải học, phải hỏi để biết đạo mình, đạo người, để mở rộng kiến văn, kiến thức, nhưng đừng bao giờ nên có thái độ khép kín, thái độ bất tương dung. Nhất là phải nhận chân được rằng đa số tín lý, giáo điều của các đạo giáo thường chỉ có giá trị qui ước, tương đối. Chính vì vậy mà đừng bao giờ nên vì giáo lý, tín điều mà làm thương tổn niềm hòa khí, lòng bác ái, vị tha.
Đức Lão Tử thực ra không coi trọng cái tiểu học, tiểu trí. Nơi chương 29 Đạo Đức Kinh, Ngài viết:

Dứt bỏ thánh, khinh thường tiểu trí,
Trong dân gian lợi sẽ gấp trăm;
Nơi chương 30, Ngài viết:
Rũ tục học, sẽ quên lo lắng,
Dạ với ơi, khác đặng bao lăm…
Nơi chương 48, Ngài viết:
Học nhiều càng lắm rườm rà,
Càng gần Đạo cả, càng ra đơn thuần.
Giản phân rồi lại giản phân,
Tần phiền rũ sạch còn thuần Vô Vi…

3. Chặng đường thứ ba: Chặng đường NHÂN

Chặng đường này tương ứng với Trung Não (diencéphal) gồm các Thể Lam (Thalamus), Thể Hạ Lam (Hypothalamus) và Não đế (Mésencéphale và myélencephale), nghĩa là với TINH PHÁCH, với Phần Âm của Nhân tâm. Theo khoa học hiện đại, thì các Thể Lam, Thể Hạ Lam và Não đế có liên quan nhiều đến vấn đề cảm giác, cảm xúc. Chính vì thế mà tôi nghĩ rằng nơi đây hàm chứa thất tình, lục dục.
Về phương diện tôn giáo, giai trình này tương ứng với các giới luật tu trì, với luân lý.
Giai đoạn này chính là giai đoạn tẩy tâm, theo từ ngữ Dịch kinh, hay là hàng phục kỳ tâm, theo từ ngữ Kim Cương kinh. Nó tương ứng với công trình luyện tinh hóa khí của Lão giáo.
Ở giai trình này, người đạo sĩ phải học chế ngự phàm tâm, chế ngự thất tình, lục dục…
Chương 48, Lão Tử viết: «Vi Đạo nhật tổn.» 為 道 日 損. Thế nghĩa là, nếu chúng ta muốn đi tìm Đạo, tìm Trời chúng ta phải đi vào con đường rũ bỏ:

– Chúng ta phải rũ bỏ lòng tư kỷ, tư dục.
– Chúng ta phải từ bỏ lòng ham lợi, ham danh.
– Chúng ta phải rũ bỏ tà tâm, tà niệm.
– Chúng ta phải rũ bỏ tất cả những gì làm xao xuyến tâm hồn, làm mất sự tĩnh lãng của tâm hồn.
– Chúng ta phải rũ bỏ hết mọi nhân dục.

Lý Long Uyên cho rằng: «Khi mà nhân dục đã hủy hết, thiên lý sẽ trở nên thuần hoàn. Khi mà tính đã yên như ngọc lưu ly không còn vấn vương một chút chi ô nhiễm, không còn bợn một chút chi nhơ bẩn, lúc ấy bản thể sẽ hiện ra sáng láng, cái chân tu tâm tu tại, cái bản lai diện mục của chúng ta sẽ hiển lộ ra rõ ràng, và lúc ấy Vô Cực Chân Nhân mới để lộ dung quang.» [73]
Chương 50, đức Lão Tử viết:

Nẻo đường sống chết đôi nơi
Bên nào sống chết cũng thời mười ba.
Kiếp phù sinh phôi pha tàn úa,
Truy kỳ nguyên cũng có mười ba;
Kiếp người tàn úa phôi pha,
Chung qui là tại quá ưa hưởng đời…

Lý Long Uyên bình rằng: «Căn do chết chóc có 13: Đó cũng chính là thất tình lục dục. Đối với người tu, thì đó là cửu đưa vào cõi sống, đối với người phóng túng, thì đó là cửu đưa vào cõi chết. Muốn biết một người hướng về sống chết ra sao, chỉ cần xem người ấy sử dụng tấm thân ra sao…» [74]
Như vậy, nếu phóng túng dục tình, để cho thất tình lục dục làm băng hoại tấm thân, sẽ đi vào cõi chết.
Nếu biết tu tâm, luyện khí, hàm dưỡng tính tình, bảo toàn được tinh hoa của trời đất, sẽ trở thành Chân nhân, sẽ trường sinh cùng trời đất. Trường sinh đây phải hiểu về phương diện tâm thần. Đức Lão Tử cũng đã nói:

«Tử nhi bất vong giả thọ.» 死 而 不 亡 者 壽 (Chết vẫn còn, là thọ muôn đời). (Đạo Đức Kinh, ch.33)

Nơi chương 26, Ngài cũng viết:

Buông tuồng là mất căn nguyên,
Lo toan trăm mối là quên mất Trời.

輕 則 失 根, 躁 則 失 君 (Khinh tắc thất căn, táo tắc thất quân…)

4. Chặng đường thứ tư là chặng đường ĐỨC

Đức là gì? Đức đây chính là vẻ sáng của Thượng Đế, của Đạo. Giai đoạn này tương ứng với Hồn, với Nguyên khí trong con người. Lúc này người tu Đạo y như đã vào được cung trời Chân Thanh.
Về phương diện Đạo giáo, giai đoạn ĐỨC này tương ứng với đời sống hồn nhiên tiêu sái. Thiên Chúa giáo dùng chử Ân Sủng, chữ Thiên ân để mô tả tình trạng con người lúc nầy. Mà Ân Sủng, mà Thiên ân chữ Pháp là Grâce. Grâce chính là Duyên dáng. Lúc này, nguồn mạch linh thiêng sống động đã bắt đầu tung tỏa vào trong tâm hồn con người, làm cho con người trở nên hồn nhiên hơn, sảng khoái hơn, duyên dáng hơn, và đã bắt đầu tỏa ra được một thần lực nào đó để cảm hóa người khác… Cuộc sống trở thành một cuộc sống vui, sống hồn nhiên, sống nghệ thuật.
Về phương diện tu trì, đây chính là giai đoạn luyện khí hóa thần. Mà luyện khí hóa thần chính là thanh lọc dần mãi cho hết tà tâm tà niệm, là tĩnh định để đi đến chỗ thanh tĩnh.
Người tu đạo, khi lên tới giai trình này sẽ thấy:

– Lòng thanh tĩnh,
– Tâm thần sảng khoái,

Tiên học diệu tuyển (tr.198) có câu: «Tức điều, tâm tĩnh khả dĩ nhập đạo.» 息 調 心 靜 可 以 入 道. (Thở đều, tâm tĩnh có thể vào Đạo.)
«Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai qui.» 人 能 常 清 靜 天 地 必 皆 歸 (Người mà luôn thanh tĩnh được, trời đất ắt chầu về.) [Sđd, tr.27]
Người xưa cũng nói: «Thần tiên vô biệt pháp, Chỉ sinh hoan hỉ, mạc sinh sầu.» 神 仙 無 別 法, 只 生 歡 喜, 莫 生 愁 (Thần tiên phép lạ nào đâu; Chỉ sinh vui vẻ, chớ sầu chẳng sinh.) [Sđd, tr. 311]
Thế tức là đã «Thánh» thì không «Sầu»; Đã «Sầu» thì không «Thánh».
Đạo Đức Kinh nơi chương 38 viết:

Người đức cả, coi thường tục đức,
Thế cho nên thơm phức hương nhân.
Phàm phu nệ đức phàm trần,
Cho nên xơ xác thêm phần xác xơ…
Người đức cả, vô vi khinh khoát,
Kẻ phàm phu lao tác tây đông…;

Cũng có thể dùng chương 52 để mô tả những đại đức trên như sau:

     Âm thầm ấp ủ tấc sen,
Một đời trần cấu, chẳng mòn mỏi ai,
     Mặc ai đày đọa hình hài,
Một đời tất tưởi, phí hoài tấm thân…
     Quang minh là thấu vi phân,
Cương cường là biết giữ phần mềm non.
     Hãy dùng ánh sáng ngàn muôn,
Đem về soi tỏ gốc nguồn chói chang.
     Thế là thoát mọi tai ương,
Thế là biết sống cửu trường vô biên.

5. Chặng đường thứ năm: Chặng đường ĐẠO.

Chặng đường Đạo; cũng là đích điểm. Đây là giai đoạn huyền đồng, sống hợp nhất với trời với đạo. Lão giáo gọi thế là: Vô Vi, là Đắc Nhất, là Thủ trung bão nhất, là Trí hư cực thủ tĩnh đốc, là Đắc Đạo…
Tới đây là thành tiên, đắc đạo, là thành Phật, thành Thánh. Tới đây là đạt tới Đạo, tới Bản thể tuyệt đối, thực hiện được Bản Lai diện mục, trở về với Thiên Tâm, với Trạng thái thuần phác nguyên thủy…
Đại Thừa Chân Giáo nơi trang 56, cho rằng lúc này là lúc linh hồn con người phá được Thiên Môn để nhập vào Thượng Thanh Cung.
Mà Thiên Môn chính là Nê Hoàn Cung, chính là Cái Khiếu Nê Hoàn Cung. Và Thượng Thanh chính là Nguyên Thần.
– Đây là giai đoạn huyền đồng, lúc mà các vị Chân Nhân đều gặp nhau trong Bản Thể Tuyệt đối của Thượng đế.
– Đây là giai đoạn vô ngã, vô nhân, mà người xưa cho rằng Dịch kinh đã đề cập bằng hai câu trong quẻ Cấn: «Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân. Hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân.» 艮 其 背, 不 獲 其 身. 行 其 庭, 不 見 其 人. Khi dịch bộ Kinh Dịch, tôi đã dịch cho hết sức thoát ý hai câu trên như sau:

     Cấn là dừng lại sau lưng,
(Dừng nơi chí thiện) quên thân, (quên người).
     (Bản thân khi đã quên rồi,)
Trong sân đi lại quên người lỗi chi.

– Đó là giai đoạn mà Thần Hội gọi là Vô Niệm. Người xưa cho rằng: Nhất Niệm bất sinh, toàn thể hiện. 一 念 不 生 全 體 現.
– Lão giáo mô tả giai đoạn này là: Hư Cực Tĩnh đốc hay Hư Tâm. Chương 10, Đạo Đức Kinh viết:

     Làm sao đem hết xác hồn,
Hòa mình với Đạo chẳng còn lìa xa.
     Làm sao giữ vẹn tinh hoa,
Sống đời thanh thản như là Anh Nhi.
     Làm sao rũ sạch hà tì,
Gương lòng vằng vặc, quang huy vẹn tuyền.

Nơi chương 20, đức Lão Tử có mô tả trạng huống tâm thần của người đắc Đạo, và kết luận người đắc đạo khác người thường vì không còn rời xa MẸ THIÊN NHIÊN. Ngài viết:

     Người vui như hưởng cỗ bàn,
Vui như trẩy hội đăng đàn tiết xuân.
     Riêng ta nín lặng tần ngần,
Như tuồng trẻ nít, không phân biệt gì.
     Ta ngơ ngẩn biết đi đâu tá,
Người giàu sang, ta há bị quên;
     Lòng ta ngu độn thấp hèn,
Người đời sáng suốt sao riêng ta đần.
     Người xét nét, biện phân mọi lẽ,
Chỉ riêng ta quạnh quẽ trông suông;
     Mênh mang trên mặt trùng dương,
Mặc cho gió cuốn sóng vương không ngừng.
     Ai cũng có chỗ dùng ích lợi,
Chỉ riêng ta thô kệch ương hèn.
     Nay ta sống khác trần gian,
Vì không xa Mẹ muôn ngàn thụ sinh …

3. Ít nhiều tư tưởng chỉ nam khái quát.

Sau khi phác họa ra con đường huyền nhiệm tâm linh, hay là con đường hồi quang phản chiếu, đi vào Tâm mà tìm Đạo tìm Trời của Lão giáo, ta thấy con đường này chẳng qua là con đường Qui Nguyên Phản Bản, con đường Phản Phác Hoàn Thuần mà Á Đông thường đề cập tới. Đây cũng chính là con đường Hoàn Thiện, con đường Trung Dung mà Khổng Mạnh thường đề cập tới.
Chu Hi, khi chú thích chương I Trung Dung đã viết:

     Những học giả muốn tìm Đạo ấy,
Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai;
     Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,
Căn lành sẵn có, đồng thời khuếch sung.[75]

Mạnh Tử viết:

     «Cả vạn vật ở trong ta đó,
Quay về ta, ta cố tinh thành;
     Kiện toàn hoàn thiện tinh anh,
Vui nào hơn được vui mình đang vui…» [76]

– Theo đức Lão Tử, thì con đường huyền nhiệm tâm linh, chẳng qua là con đường phản phác hoàn thuần, rũ bỏ phù phiếm trở về với tinh hoa. Nơi chương 19 Ngài viết:

Ra chi phù phiếm vẻ văn,
Cốt sao nắm giữ được phần tinh hoa.
Hiển dương Đạo, sống cho phác thiệt,
Ít đam mê, và ít riêng tây.
– Muốn trở về với Đạo, với Trời, phải sửa sang cho hết những gì chếch mác dở dang nơi con người. Thiết tưởng đó là một định lý mà chắc chắn đạo giáo nào cũng phải chấp nhận.
Nơi chương 22 Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết:

Bao dang dở làm cho tươm tất,
Bao cong queo hãy nắn cho ngay;
Hãy san chỗ trũng cho đầy,
Cũ càng đổi mới, mới ngay tức thì.
Đạm thanh sẽ thỏa thuê đầy đủ,
Phiền toái nhiều, trí lự ám hôn;
Thánh nhân một dạ sắt son,
Hòa mình với Đạo, treo gương cho đời.
Ít phô trương, (nhưng) rạng ngời sáng quắc,
Chẳng khoe khoang, (nhưng) vằng vặc trăng sao.
Chẳng vênh váo, vẫn cao công nghiệp,
Chẳng huênh hoang ngồi tít tầng cao;
Không tranh ai nỡ tranh nào,
Lời người xưa nói nhẽ nào sai ngoa ….
Bao dang dở làm cho tươm tất,
Tươm tất rồi ắt sẽ về Ngài ….

– Điều quan trọng nhất của đời sống vẫn là giữ sao cho vẹn Thiên chân, đừng để ngoại cảnh làm cho hư hạo phá tán.
Nơi chương 28 Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết:

     Thiên chân phân tán, vãi vương,
Sẽ thành đồ đạc để nương, để dùng;
     Thánh nhân nếu lâm vòng hữu dụng,
Bất quá làm trưởng thượng bách quan;
     Mới hay phép lớn mênh mang,
Không chia, không cắt, vẹn toàn mới hay …

– Hơn nữa người tu đạo cũng nên sống thuần phác, thao quang ẩn tích. Nơi chương 56, đức Lão Tử viết:

     Biết thời xẻn tiếng, xẻn lời,
Những người không biết thường thời huênh hoang.
     Âm thầm đóng khóa ngũ quan,
Mà cho sắc sảo, mà san tần phiền …
     Hòa mình trong đám dân đen,
Cho mờ ánh sáng, cho nhem phong trần.
     Ấy là đạo cả huyền đồng …
Nơi chương 8 ĐĐK, đức Lão Tử nói:
Người trọn hảo giống in làn nước,
Nuôi muôn loài chẳng chút cạnh tranh;
Ở nơi nhân thế rẻ khinh,
Nên cùng Đạo cả, mặc tình thảnh thơi.
Người trọn hảo, chọn nơi ăn ở,
Lòng trong veo cố giữ đức nhân;
Những là thành tín nói năng,
Ra tài bình trị chúng dân trong ngoài.
Mọi công việc an bài khéo léo,
Lại hành vi mềm dẻo hợp thời;
Vì không tranh chấp với ai,
Một đời thanh thản ai người tranh ta …

Nhìn bao quát lại năm chặng đường huyền nhiệm tâm linh này, ta sẽ thấy nó đi từ biên cương thân xác, giác quan hình hài, băng qua óc não, phách, hồn, vào tới Nê Hoàn, tới Tâm khảm nơi Đạo, nơi Trời ngự trị.
Bến chặng đầu, có thể gọi là tu luyện hình hài và tâm hồn mà đạo gia, tiên gia thường gọi là tu hữu vi, hay tu mệnh.
Chặng sau cùng, chính là giai đoạn huyền đồng, sống phối kết với Đạo với Trời, giai đoạn Ngưng thần.
Hư tâm, mà Đạo gia, Tiên gia gọi là tu vô vi, hay tu tính. Tất cả các giai trình hợp lại thời là Tính mệnh song tu, vạn thần khuê chỉ, theo từ ngữ của Doãn Chân nhân, tác giả bộ Tính mệnh khuê chỉ.
*
**
Trên đây tôi đã nói: Thiên Nhãn (tức là Thái Cực) và hai con mắt (tức là Âm Dương) trong con người hợp lại thành một hình tam giác đều.

1. Từ Thiên Nhãn ra mắt hữu, từ mắt hữu sang mắt tả, từ mắt tả trở về Thiên Nhãn, là toàn thể vòng Đại Chu Thiên là toàn thể vòng Dịch.
2. Từ Thiên Nhãn ra mắt hữu, là con đường phóng ngoại con đường của các Linh Quang giáng thế, giáng phàm.
3. Từ mắt phải sang mắt trái, tượng trưng cho con đường hồng trần mà mọi người chúng ta phải băng qua, để mà phục vụ, để mà thương yêu, để mà giúp đỡ, để mà bao bọc đồng loại, để mà làm các nhiệm vụ đối với gia đình, quốc gia xã hội, với giang sơn tổ quốc, với toàn thể nhân quần…
4. Từ mắt trái trở về Thiên Nhãn chính là con đường HUYỀN NHIỆM TÂM LINH, con đường QUI NGUYÊN PHẢN BẢN, con đường HỒI QUANG PHẢN CHIẾU, con đường PHẢN PHÁC HOÀN THUẦN, mà tôi vừa phác họa lại cùng quí vị với các giai trình.

Nói rõ ra thế, để quí vị hiểu tại sao còn nhiều vấn đề mà bài thuyết trình này chưa đề cập tới…
– Trong khi trình bày về 5 giai trình này, quí vị đã thấy tôi hoặc là trình bày một cách rõ ràng, hay là đề cập tới một cách hàm ngụ, mấy ý niệm sau đây:

+ TINH TIẾN,
+ VƯƠN VƯỢT,
+ RŨ BỎ,
+ GIẢN DỊ HÓA MÃI MÃI để trở về tinh hoa, thuần phác.

Trang Tử nơi thiên Đại Tông Sư cũng có chủ trương tương tự như vậy. Và đây là đại khái tư tưởng của Trang Tử.

Đời trần thế là đời mộng ảo,
Tỉnh với mê lộn lạo khác chi;
Tử sinh như ở với đi,
Như thay hình tướng có chi bận lòng…
Dù Nam, Bắc, Tây, Đông cũng vậy,
Trời bảo sao ta hãy vui theo;
Mặc cho ngoại cảnh xoay chiều,
Giữ lòng Tạo Hóa khinh phiêu mặc tình…
Đem thân gửi mênh mông bát ngát,
Thời thân này mất mát làm sao;
Muốn tìm ra Đạo chí cao,
Mà không suy tưởng lẽ nào tìm ra,
Hãy thâu lượm tinh hoa sử sách,
Hãy khơi tung nguồn mạch đáy lòng;
Hư Vô khi đã khai thông,
Rồi ra sẽ được Huyền đồng chẳng sai.
Tìm Trời phải quên đời quên cảnh,
Quên phù sinh ảo ảnh bên ngoài;
Tâm hồn khi hết pha phôi,
Mới mong rực rỡ ảnh trời hiện ra.
Đã thấy Đạo đâu là kim cổ,
Hết cổ kim vào chỗ trường sinh;
Ham sinh thời lại điêu linh,
Phù sinh chẳng chuộng, thần linh ấy là.
Hãy cố gắng vượt qua nhân nghĩa,
Hãy quên đi nghi lễ của đời;
Quên mình, quên cả hình hài,
Thông minh trí tuệ gác ngoài tâm linh.
Hãy hợp với vô hình, vô tượng,
Cùng Đại Thông vô lượng sánh đôi;
Thế là được Đạo được Trời,
Thoát vòng biến hóa muôn đời trường sinh.
Ai chỉ vẽ sự tình sau trước,
Ấy là Thầy ta, đại lược cho ta;
Thầy ta muôn vật điều hòa,
Mà nào kể nghĩa với là kể ơn…
Ban phúc trạch cho muôn thế hệ,
Mà chưa hề lấy thế làm nhân;
Trường tồn đã mấy muôn năm,
Mà chưa hề thấy có phần già nua…
Thầy ta chở cùng che trời đất,
Lại ra tay điêu khắc muôn loài;
Thế mà một mực thảnh thơi,
Chưa hề có bảo là tài là hay…
(Đại tông sư, các đoạn G,H,I,K).

III. KẾT LUẬN

Trong bài đức Lão Tử và con đường huyền nhiệm tâm linh này, tôi đã trình bày xong cùng quí vị 3 vấn đề:

– Đức Thái Thượng Lão Quân là ai?
– Đức Lão Tử là ai?

– Con đường huyền nhiệm tâm linh mà Ngài đã vạch ra cho chúng ta là thế nào?
Dĩ nhiên là bài thuyết trình của tôi còn có nhiều thiếu sót, và tôi cũng hết sức mong đợi được quí vị ưu ái bổ khuyết cho. Nhưng dù sao, tôi cũng đã hết sức cố gắng, và hết sức thành khẩn trong khi trình bày vấn đề.

Ước mong bài thuyết trình bày giải tỏa được phần nào những thắc mắc của quí vị về đức Thái Thượng Lão Quân, và về đức Lão Tử, cũng như bồi bổ thêm được phần nào cho những sự hiểu biết về đạo giáo, và kinh nghiệm tâm linh của quí vị.

Kính thưa quí vị,
Kỷ niệm ngày thánh đản của một vị Giáo chủ bao giờ cũng là điều tốt. Nhưng học hỏi về đạo của Ngài lại còn tốt hơn, nếu lại đem đạo ấy ra mà thi hành thì lại càng tốt hơn nữa.
Chính vì vậy mà, thay vì trình bày nguyên về thân thế đức Lão Tử, tôi đã mạo muội toát lượt tinh hoa học thuyết, tinh hoa đạo giáo của Ngài.

Chính đức Lão Tử cũng ước mong chúng ta hiểu Ngài, bắt chước Ngài. Nơi chương 70 Đạo Đức Kinh, Ngài viết: «Tri Ngã giả hi. Tắc Ngã giả quí.» 知 我 者 希,則 我 者 貴 (Kẻ hiểu biết ta thời ít. Kẻ bắt chước ta thời quí.)

Ước gì quí vị đứng trong hàng ngũ những người hiếm, người quí ấy.
Ước gì chúng ta sẽ bước vào và sẽ tiến mãi trên con đường THỰC HIỆN THIÊN CHÂN mà từ ngàn xưa đức Lão Tử đã vạch ra cho nhân quần.
Ước gì chúng ta sẽ: «Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế” 徒 難 於 其 易, 為 大 於 其 細 theo đúng chủ trương của đức Lão Tử nơi chương 63 Đạo Đức Kinh. Và tôi cũng xin mượn luôn lời đức Lão Tử nơi chương 63 để làm lời kết thúc cho bài thuyết trình này như sau:

     Thảnh thơi ta sống thảnh thơi,
Đời ta chẳng chút lôi thôi tần phiền.
     Đời ta thơm phức hương tiên,
Bao nài lớn nhỏ, sá xem ít nhiều,
     Cởi giây thù oán chẳng đeo,
Ta đem đức độ, đổi điều gian ngoan.
     Khó gì ta cũng cứ làm,
Bắt đầu từ dễ chuyển sang khó dần.
     To gì ta cũng chẳng cần,
Bắt đầu từ nhỏ ta lần sang to.
     Đời người vạn sự gay go,
Đều đi từ dễ lần mò mãi ra.
     Những điều cao đại xưa giờ,
Đều từ nhỏ nhặt đem vo cho thành.
     Cho nên những bậc tinh anh,
Chẳng cần lớn lối vẫn dành cao sang.
     Những ai hứa hẹn muôn ngàn,
Tình suông rồi sẽ bẽ bàng đơn sai.
     Những ai khinh thị cuộc đời,
Càng ngờ dễ dãi, càng vời khó khăn.
     Cho nên những bậc thánh nhân,
Biết e cái khó, khó khăn chừa người…
(Đạo Đức Kinh, chương 63)

* Đề tài thuyết trình tại: Hội trường Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý trong ngày lễ thánh đản đức THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN rằm tháng 2 Định Tị (3/4/1977).

*PHỤ  LỤC :-

.PHỤ LỤC

I. Lược sử đức Lão Tử theo Tư Mã Thiên

☸ Nguyên văn chữ Hán:

老 子 者, 楚 苦 縣 厲 鄉 曲 仁 里 人 也 姓 李 氏, 名 耳, 字 伯 陽 諡 曰 聃 周 守 藏 室 之
史 也 孔 子 適 周, 將 問 禮 於 老 子 老 子 曰: «子 所 言 者, 其 人 與 骨 皆 已 朽 矣, 獨
其 言 在 耳 且 君 子 得 其 時 則 駕, 不 得 其 時 則 蓬 累 而 行 吾 聞 之,
良 賈 深 藏 若 虛,君 子 盛 德, 容 貌 若 愚 去 子 之 驕 氣 與 多 欲, 態 色 與 淫 志,
是 皆 無 益 於 子 之 身 吾 所 以 告 子, 如 此 而 已.»
孔 子 去 謂 弟 子 曰: «鳥 吾 知 其 能 飛 魚 吾 知 其 能 游 獸 吾 知 其 能 走 走 者
可 以 為 罔, 游 者 可 以 為 綸, 飛 者 可 以 為 矰 至 於 龍, 吾 不 能 知 其 乘 風 雲
而 上 天 吾 今 日 見 老 子 其 猶 龍 耶.»
老 子 修 道 德 其 學 以 自 隱 無 名 為 務 居 周 久 之,見 周 之 衰, 乃 遂 去 至 關,
關 令 尹 喜 曰: «子 將 隱 矣, 強 為 我 著 書.» 於 是 老 子 乃 著 書 上 下 篇, 言 道
德 之 意 五 千 餘 言, 而 去, 莫 知 所 終. 或 曰 老 萊 子 亦 楚 人 也 著 書 十 五 篇,
言 道 家 之 用, 與 孔 子 同 時 云 蓋 老 子 百 六 十 餘 歲, 或 言 二 百 餘 歲 以 其
修 道 而 養 壽 也.
老 子 隱 君 子 也 老 子 之 子 名 宗 宗 為 魏 將 封 於 段 干 宗 子 注 注 子 宮 宮 玄
孫 假 假 仕 於 漢 文 帝 而 假 之 子 解 為 膠 西 王 印 太 傅, 因 家 於 齊 焉 世 之
學 老 子 者 絀 儒 學 儒 學 則 絀 老 子 道 不 同 不 相 為 謀 豈 謂 是 耶 老 子 無
為 自 化, 清 靜 自 正.

☸ Phiên âm:

Lão Tử giả, Sở Khổ huyện, Lệ hương, Khúc Nhân lý nhân dã. Tính Lý thị, danh Nhĩ, tự Bá Dương. Thụy viết Đam. Chu thủ tàng thất chi sử dã. Khổng Tử thích Chu, tương vấn lễ ư Lão tử. Lão Tử viết: «Tử sở ngôn giả, kỳ nhân dữ cốt giai dĩ hủ hĩ. Độc kỳ ngôn tại nhĩ. Thả quân tử đắc kỳ thời, tắc giá; bất đắc kỳ thời, tắc bồng lụy nhi hành. Ngô văn chi, lương cổ thâm tàng nhược hư; quân tử thịnh đức dung mạo nhược ngu. Khứ tử chi kiêu khí dữ đa dục, thái sắc dữ dâm chí. Thị giai vô ích ư tử chi thân. Ngô sở dĩ cáo tử như thử nhi dĩ.» [77]
Khổng Tử khứ vị đệ tử viết: «Điểu ngô tri kỳ năng phi, ngư ngô tri kỳ năng du; thú ngô tri kỳ năng tẩu. Tẩu giả khả dĩ vi võng, du khả giả dĩ vi luân, phi giả khả dĩ vi tăng. Chí ư long, ngô bất năng tri kỳ thừa phong vân thượng thiên. Ngô kim nhật kiến Lão tử, kỳ do long da?»
Lão Tử tu đạo đức. Kỳ học dĩ tự ẩn vô danh vi vụ. Cư Chu cửu chi, kiến Chu chi suy, nãi toại khứ. Chí quan, quan lệnh Doãn Hỉ viết: «Tử tương ẩn hĩ, cưỡng vi ngã trứ thư.» Ư thị Lão Tử nãi trứ thư thượng hạ thiên, ngôn đạo đức chi ý, ngũ thiên dư ngôn, nhi khứ, mạc tri sở chung.
Hoặc viết: «Lão Lai tử diệc Sở nhân dã, trứ thư thập ngũ thiên, ngôn đạo gia chi dụng, dữ Khổng Tử đồng thời vân.»
Cái Lão Tử bách lục thập dư tuế, hoặc ngôn nhị bách dư tuế dĩ kỳ tu đạo nhi dưỡng thọ dã.
Lão Tử ẩn quân tử dã. Lão Tử chi tử danh Tông. Tông vi Ngụy tướng phong ư Đoạn Can. Tông tử Chú. Chú tử Cung. Cung huyền tôn Giả. Giả sĩ ư Hán Văn đế. Nhi Giả tử Giải vi Giao Tây vương Ấn thái phó, nhân gia ư Tề yên.
Thế chi học Lão Tử giả tắc chuyết Nho học. Nho học tắc chuyết Lão tử. Đạo bất đồng bất tương vi mưu. Khởi vị thị da? Lão Tử vô vi tự hóa, thanh tĩnh tự chính.

II. Lược sử Lão Tử theo Lão Tử Minh 老 子 銘 (Bia khắc chuyện Lão Tử)

☸ Nguyên văn chữ Hán:

第 一 段
老 子 姓 李 字 伯 陽 楚 相 縣 人 也. 春 秋 之 後 周 分 為 二 稱 東 西 君 晉 六 卿
專 征 與 齊 楚 並 僭 號 為 王 以 大 并 小 相 縣 虛 荒 今 屬 苦. 故 城 猶 在 在 賴
鄉 之 東 渦 水 處 其 陽 其 土 地 鬱 螉 高 敝 宜 生 有 德 君 子 焉. 老 子 為 周 藏
室 史.當 幽 王 時 三 川 實 震 以 夏 殷 之 季, 陰 陽 之 事 鑒 喻 時 王 孔 子 以 周
靈 王 廿 (混 元 作 二 十 一 ) 年 生. 至 景 王 十 年 年 十 有 七 學 禮 於 老 聃 計
其 年 紀 聃 時 以 一 百 餘 歲 聃 然 老 耄 也. 孔 子 卒 後 百 廿 九 年 或 謂 周 太
史 為 老 子 莫 知 其 所 終

第 二 段

其 二 篇 書 稱 天 地 所 以 能 長 且 久 者 以 不 自 生 也 厥 初 生 民 遺 體 相 續
其 死 生 之 義 可 知 也 或 有 谷 神 不 死 是 謂 玄 牝 之 言 由 是 世 之 好 道 者
觸 類 而 長 之 與 老 子 離 合 於 混 沌 之 氣 與 三 光 為 終 始 觀 天 作 讖 降 升
斗 星 隨 日 九 變 與 時 消 息 規 矩 三 光. 四 靈 在 旁 存 想 丹 田 太 一 紫 房 道
成 身 化 蟬 蛻 渡 世. 自 羲 農 以 來 為 聖 也 作 師 班 固 以 老 子 絕 聖 棄 智 禮
為 亂 首 與 仲 尼 道 違 述 漢 書 古 今 人 表. 檢 以 法 度 抑 而 下 之 與 楚 子 西
同 科 材 不 及 荀 卿 孟 軻. 二 者 之 論 殊 矣 所 謂 道 不 同 不 相 為 謀 也.

第 三 段

延 熹 八 年 八 月 甲 子 皇 上 尚 德 弘 道 含 閎 光 大 存 神 養 性 意 在 凌 雲 是
以 僭 心 黃 軒 同 符 高 宗 夢 見 老 子 尊 而 祀 之 于 時 陳 將 邊 韶 典 國 之 禮
材 薄 思 淺 不 能 測 度 至 人 辯 是 與 非 按 據 書 籍 以 為 老 子 生 於 周 之 末
世 玄 虛 守 靜 樂 無 名 守 不 德 危 高 官 安 下 位 遺 孔 子 以 仁 言 避 世 而 隱
居 變 易 姓 名 惟 恐 見 知 夫 日 以 幽 明 之 節 月 以 虧 盈 自 成 損 益 盛 衰 之
原 倚 伏 禍 福 之 門 天 道 惡 盈 而 好 謙 蓋 老 子 勞 不 定 國 功 不 加 民 所 以
見 隆 崇 于 今 為 時 人 所 以 享 祀 乃 昔 日 逃 祿 處 微 損 之 又 損 之 之 餘 昨
也 顯 虛 無 之 清 寂 云 先 天 地 而 生 乃 守 真 養 壽 獲 五 福 之 所 致 也 敢 演
而 明 之.

第 四 段

其 辭 曰 : 於 惟 玄 德 抱 虛 守 清 樂 居 下 位 祿 執 不 盈 為 繩 能 直 屈 之 可 縈.
三 川 之 對 舒 憤 散 逞. 陰 不 填 陽 孰 能 滯 并. 見 機 而作 需 郊 出 坰. 肥 遁 之
吉 避 世 隱 聲. 見 迫 遺 言 道 德 之 經. 譏 時 微 喻 尋 顯 推 冥. 守 一 不 失 為 天
下 正. 處 厚 不 薄 居 實 含 榮. 稽 式 為 重 金 玉 是 輕. 絕 嗜 去 欲 還 歸 嬰 兒 皓
然 歷 載 莫 知 其 情. 頗 違 法 言 先 民 之 程. 要 以 無 為. 大 化 用 成 進 退 無 恆.
錯 綜 其 貞. 以 智 為 愚 充 而 不 盈. 大 人 之 度 非 凡 所 訂. 九 等 之 敘 何 足 累
名. 同 光 日 月 合 之 五 星. 出 入 丹 爐 呼 吸 至 精. 世 不 能 原 仰 其 永 生. 天 人
秩 祭 以 昭 厥 靈. 羨 彼 延 期 勒 石 是 旌.

☸ Phiên âm:

ĐỆ NHẤT ĐOẠN
Lão Tử tính Lý, tự Bá Dương, Sở Tương huyện nhân dã. Xuân thu chi hậu, Chu phân vi nhị, xưng Đông, Tây quân. Tấn lục khanh chuyên chinh, dữ Tề Sở tịnh tiếm hiệu vi vương. Dĩ đại tính tiểu, Tương huyện hư hoang, kim thuộc Khổ. Cố thành do tại. Tại Lại hương chi đông oa thủy xứ kỳ dương, kỳ thổ địa uất ông cao tệ, nghi sinh hữu đức quân tử yên. Lão Tử vi Chu tử tàng thất sử. Đương U vương thời, tam xuyên thật chấn dĩ Hạ Ân chi quí, âm dương chi sự, giám dụ thời vương. Khổng Tử dĩ Chu Linh vương trấp (Hỗn nguyên tác: nhị thập nhất) niên sinh. Chí Cảnh vương thập niên, niên thập hữu thất, học Lễ ư Lão Đam. Kế kỳ niên kỷ, Đam thời dĩ nhất bách dư tuế. Đam nhiên lão mạo dã. Khổng Tử tốt hậu bách trấp cửu niên, hoặc vị Chu thái sử vi Lão tử, mạc tri kỳ sở chung.

ĐỆ NHỊ ĐOẠN
Kỳ nhị thiên thư xưng: thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ bất tự sinh dã. Quyết sơ sinh dân, di thể tương tục, kỳ tử sinh chi nghĩa khả tri dã. Hoặc hữu Cốc thần bất tử, thị vị Huyền tẫn chi ngôn. Do thị thế chi hiếu đạo giả, xúc loại nhi trưởng chi, dĩ Lão Tử ly hợp ư hỗn độn chi khí, dữ tam quang vi chung thủy, quan thiên tác sấm, giáng thăng đẩu tinh. Tùy nhật cửu biến, dữ thời tiêu tức, qui củ tam quang. Tứ linh tại bàng, tồn tưởng đan điền. Thái nhất tử phòng, đạo thành thân hóa. Thiền thoát độ thế. Tự Hi Nông dĩ lai, vi thánh giả tác sư. Ban Cố dĩ Lão Tử tuyệt thánh khí trí lễ vi loạn thủ, dữ Trọng Ni đạo vi, thuật Hán thư cổ kim nhân biểu, kiểm dĩ pháp độ, ức nhi hạ chi, dữ Sở Tử Tây đồng khoa, tài bất cập Tuân Khanh Mạnh Kha. Nhị giả chi luận thù hĩ. Sở vị đạo bất đồng bất tương vi mưu dã.

ĐỆ TAM ĐOẠN
Diên Hi bát niên, bát nguyệt Giáp Tí, Hoàng thượng, thượng đức hoằng đạo, hàm hoằng quang đại, tồn thần dưỡng tính, ý tại lăng vân. Thị dĩ tiềm tâm Hoàng Hiên, đồng phù Cao tông, mộng kiến Lão tử, tôn nhi tự chi. Vu thời Trần tướng Biên Thiều, điển quốc chi lễ, tài bạc tư thiển, bất năng trắc độ chí nhân, biện thị dữ phi, án cứ thư tịch, dĩ vi Lão Tử sinh ư Chu chi mạt thế, huyền hư thủ tĩnh, lạc vô danh, thủ bất đức, nguy cao quan, an hạ vị.
Di Khổng Tử dĩ nhân ngôn, tị thế nhi ẩn cư. Biến dịch tính danh duy khủng kiến tri. Phù nhật dĩ u minh vi tiết, nguyệt dĩ khuy doanh tự thành, tổn ích thịnh suy chi nguyên, ỷ phục họa phúc chi môn. Thiên đạo ố doanh nhi hiếu khiêm. Cái Lão Tử lao bất định quốc, công bất gia dân. Sở dĩ kiến long sùng vu kim, vi thời nhân sở dĩ hưởng tự, nãi tích nhật đào lộc xử vi, tổn chi hựu tổn chi chi dư tạc dã. Hiển hư vô chi thanh tịch, vân tiên thiên địa nhi sinh, nãi thủ chân dưỡng thọ, hoạch ngũ phúc chi sở trí dã. Cảm diễn nhi minh chi.

ĐỆ TỨ ĐOẠN
Kỳ từ viết: Ư duy huyền đức bão hư thủ thanh, lạc cư hạ vị, lộc chấp bất doanh, vi thằng năng trực, khuất chi khả oanh. Tam xuyên chi đối, thư phẫn tán trình. Âm bất điền Dương, thục năng trệ tính. Kiến cơ nhi tác, nhu giao xuất quynh. Phì độn chi cát tị thế ẩn thanh. Kiến bách di ngôn, đạo đức chi kinh. Ky thì vi dụ, tầm hiển suy minh. Thủ nhất bất thất, vi thiên hạ chính. Xử hậu bất bạc, cư thật hàm vinh. Kê thức vi trọng, kim ngọc thị khinh. Tuyệt thị khứ dục, hoàn qui anh nhi. Hạo nhiên lịch tải mạc tri kỳ tình. Phả vi pháp ngôn, tiên dân chi trình. Yêu dĩ vô vi. Đại hóa dụng thành, tiến thoái vô hằng. Thác tống kỳ trinh. Dĩ trí vi ngu, sung nhi bất doanh. Đại nhân chi độ, phi phàm sở đính. Cửu đẳng chi tự, hà túc lụy danh. Đồng quang nhật nguyệt, hợp chi ngũ tinh. Xuất nhập đơn lô, hô hấp chí tinh. Thế bất năng nguyên, Ngưỡng kỳ vĩnh sinh. Thiên nhân trật tế, dĩ chiêu quyết linh, tiện bỉ diên kỳ, lặc thạch thị tinh.

☸ Dịch:

I. Lão Tử tính lý, tự Bá Dương, người huyện Tương nước Sở. Sau thời Xuân thu, Chu triều chia làm hai gọi là Đông quân, Tây quân. Lục khanh nước Tấn tự ý động binh gây chinh chiến. Tấn cùng với Tề, Sở tự xưng vương. Nước lớn thôn tính nước nhỏ. Huyện Tương trở nên hoang vu, ngày nay thuộc Khổ. Thành lũy cũ nay hãy còn. Phía đông làng Lại có con sông chảy qua. Vùng này là một cao nguyên cỏ cây tươi tốt, dễ sinh ra một bậc thượng nhân tài đức. Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua. Khổng Tử sinh năm 20 thời Linh vương. Đến năm Cảnh vương thứ mười, Khổng tử, mới 17 tuổi, đến học lễ với Lão Đam. Nếu ta tính tuổi, thì khi ấy Lão Đam đã hơn 200 tuổi. Đam nghĩa là đạo mạo, lão mạo. Có người quả quyết rằng, 129 năm sau khi đức Khổng mất Chu Thái sử Đam cũng chính là Lão tử. Nhưng không ai biết Ngài mất bao giờ.

II. Trong quyển sách chia làm hai thiên của ngài có chép: «Nếu trời đất trường cửu, chính là vì không vì mình sống.” Từ khi có loài người đến nay, thể xác nối tiếp nhau. Như vậy là biết ngài (Lão tử) nghĩ thế nào về tử sinh. Vì trong sách ngài có câu: «Cốc thần bất tử, thị vị Huyền tẫn.” cho nên những người yêu Đạo mới nhân đấy mà luận về Lão Tử như sau:

 Ngài cùng với Hỗn nguyên ly hợp,
Với tam quang, ngài vượt thời gian.
Trông trời, đoán vận trần hoàn,
Bảy vì tinh đẩu, nhẹ nhàng xuống lên.
 Cùng với ngày, biến thiên chín bận,
Tùy theo mùa, khi giảm khi tăng.
Tinh huy, qui củ chuẩn thằng,
Tứ linh, tứ tượng vốn hằng chầu bên.
Ngưng thần khí, đơn điền não bộ,
Cung nê hoàn mấy độ tiêu dao.
Sánh vai Thái nhất ra vào,
Đạo thành, thân thoát, từ bao độ đời.
Từ Hi, Nông, đến thời hiện tại,
Bao thánh hiền, ngài mãi là thầy…

Ban Cố [78] vì thấy Lão Tử khinh thường kiến văn, coi nghi lễ là đầu mối loạn, không cùng đường lối với đức Khổng, nên khi lập đồ biểu liệt kê nhân vật cổ kim trong Hán thư đã hạ Lão Tử xuống ngang hàng với Tử Sản nước Sở, và dưới hàng Mạnh tử, Tuân tử. Như vậy hai bên (phe của Ban Cố, phe của Lão giáo) có quan niệm khác nhau, chính là vì «khác đạo với nhau thì không cộng tác với nhau được.»

III. Năm Diên Hi thứ 8, tháng 8, ngày Giáp tý,[79] Hoàng thượng, vì chuộng đức, ước mong tiến tới chỗ tinh hoa cao đại, nên đã tồn thần dưỡng tính, để vươn lên đến chốn cửu tiêu. Chính vì thế nên Ngài đã tiềm tâm học đạo Hoàng Hiên[80] Ngài như Cao tông đã nằm mộng thấy Lão Tử nên đã tôn sùng và tế lễ Lão tử. Lúc này Biên Thiều tôi, đang làm tướng nước Trần, nên chủ sự cuộc tế lễ ở đây. Tôi tài hèn trí mọn không thấy hiểu được bậc chí nhân cũng không biết biện phân phải trái, nên chỉ dựa vào thư tịch mà chủ trương:

Đức Lão Tử sinh thời Chu mạt.
Yêu hư vô, mà bạn thanh nhàn,
Không cầu danh với thế gian,
Không ưa những thói phô phang đức tài.
Coi chức trọng là nơi nguy hiểm,
Vui sống trong chốn kém, chốn hèn,
Tặng cho đức Khổng lời khuyên,
Giã từ thế tục, lâm tuyền ẩn cư.
Thay họ mạc cũng như danh tánh,
Sợ đời hay, nên lánh chuyện đời.
Vừng dương sáng tối lần hồi,
Vầng trăng tròn khuyết đầy vơi tương tùy.
Thêm với bớt thịnh suy ấy gốc,
Và trên đời họa phúc theo nhau,
Trời kia nào thích đầy đâu,
Mà thương những kẻ gót đầu khiêm cung.
Theo Lão tử, lao lung vất vả,
Định giang sơn mấy nả mà mong?
Vì dân xin chớ kể công,
Công lênh rôt cuộc cũng không ích gì.
Ngài nay được tôn suy, sùng thượng,
Chính vì xưa chẳng tưởng công danh,
Một ngày một giảm công trình,
Sống trong hư tĩnh, siêu linh tuyệt vời.
Rằng ngài trước đất trời sinh xuất,
Chính vì ngài chẳng mất lòng son,
Thiên chân giữ được vẹn tròn,
Cho nên ngũ phúc chẳng còn thiếu chi.
Nên tôi mạn mà ghi tiếp tục:
Đức độ ngài rất mực cao siêu,
Hư không, thanh tĩnh đến điều,
Ưa nơi thấp kém, chê chiều quang hoa.
Giây khi thẳng, thời đà thẳng dẵng,
Nhưng đem khoanh cũng chẳng ngại cong,
Trời làm chấn động ba sông,
Can vua, vả khiến cho lòng dân an.
Nếu Âm chẳng lăng loàn lấn át,
Át Dương kia, tan tác sao sinh?
Cơ suy vừa lộ mối manh,
Thời đà rũ áo, ẩn mình từ đây.
Người nài nỉ: ra tay sáng tạo,
Đạo đức kinh di cảo dạy đời.
Nhẹ nhàng chỉ trích đương thời,
Đem điều sáng sủa soi nơi mịt mùng.
Cùng Thái nhất thủy chung bầu bạn,
Treo cho đời gương sáng chính trung.
Dặn dầy, chân thực thời ưng,
Mỏng manh hào nháng thời không ngó ngàng.
Ưa cốt cách, bạc vàng rẻ rúng.
Bao dục tình chặn đứng mới nghe.
Trở về trạng thái Anh nhi,
Mái sương vượt quá hạn kỳ trần gian.
Hành tung ngài, khó toan, khó luận,
Luật gian trần chẳng bận niềm riêng,
Khinh phiêu phơi phới tự nhiên,
Vô vi, vô dục biến thiên mặc tình.
Tiến hay thoái phiêu linh tùy tiện,
Tùy thời cơ thiên biến vạn năng.
Xá chi kiến thức gian trần,
Dẫu đầy mà vẫn ngỡ rằng còn vơi.
Bậc đại nhân siêu thời xuất thế,
Kẻ phàm phu, hồ dễ mà hay.
Uổng công xếp hạng nọ này,
Miệng phàm hồ dễ xấu lây danh người.
Cùng nhật nguyệt chói ngời sáng láng,
Cùng ngũ tinh chiếu rạng quang huy.
Vào ra nơi chốn đan trì,
Huỳnh đình lên xuống muôn bề khinh phiêu.
Cùng lưu tục chẳng điều quyến luyến,
Dấu phong quang làm biến hình hài.
Chắt chiu ôm ấp tính trời,
Muôn nghìn biến hóa theo đòi thần minh.
Hô hấp khí khinh thanh thuần túy,
Trong trần hoàn hồ dễ ai hay,
Vĩnh sinh ấy chính là ngài,
Đời rằng ngài với đất trời trường sinh.
Vua tế tự linh đình bày biện,
Để oai ngài trình hiện muôn nơi,
Tôi nay muốn để tiếng Người.
Cho nên ghi tạc những lời ngợi khen.

III. Tiểu sử đức Lão Tử theo LÃO TỬ BIẾN HÓA KINH [81]

LÃO TỬ BIẾN HÓA KINH  老 子 變 化 經

☸ Nguyên văn chữ Hán:

立 大 始 端 行 乎 大 之 原 浮 熬 幽 靈 空 之 入 窈冥 之 先 門 親 乎 皆 誌 之 未 別 和 清
 濁 之 外 彷 彿 之 與 切 古 慌 忽 之 廓 然 衝 撞 而 之 容 [?] 同 門 之 先 邊 印 步 宙 天
門 其 生 無 騷 獨 立 而 無 倫 行 乎 古 昔 在 天 地 之 前 乍 匿 還 歸 存 亡 則 為 先 成
則 為 人 慌 忽 天 濁 化 變 其 神 託 形 李 母 胎 中 易 身 優 命 腹 中 七 十 二 年 中, 現
楚 國 李 口 序 與 肩 頰 有 參 午 大 理 日 角 月 玄 鼻 有 雙 柱, 耳 有 三 門 足 (蹈) 二 年
(五) 手 把 天 關 其 性 無 欲 其 行 無 為 欲 天 輔 佐, 三 皇 倚 徙 觀 之 匿 見 無 常 本 皆
由 此 彌 歷 久 長 國 將 衰, 王 道 崩 毀, 則 去 楚 國, 北 之 崑 崙 以 乘 白 鹿, 訖 今 不 還
此 皆 自 然 之 至 精, 道 之 根 蒂 為 乘 之 父 母, 為 天 地 之 本 根, 為 生 梯 端 為 神 明
之 帝 君, 為 陰 陽 之 祖 首, 為 萬 物 之 魂 魄 條 暢 靈 無 造 化 應 因 挨 帝 八 極 載 地
懸 天 遊 騁 日 月, 迴 走 日 辰 呵 投 六 甲 此 乾 坤 紀 易 四 時 推 移 寒 溫 手 把 仙 錫
玉 簡 今 字 稱 以 銀 人 喜 初 鳳 頭, 絕 聖 父 制, 物 屋 命 直, 父 為 之 生 焉 老 子 能 明
能 冥, 能 亡 能 存, 能 大 能 小, 能 屈 能 申, 能 高 能 下 能 縱 能 橫, 能 反 能 覆 ; 無 所
不 施 無 所 不 能 在 火 不 燋 在 水 不 寒 ; 逢 惡 不 疾 ; 觸 禍 不 患 厭 之 不 苦, 傷 之
無 槃 長 生 不 死, 須 滅 身 形 偶 而 不 雙, 隻 而 不 奇 附 而 不 離, 莫 于 其 無 為 也 莫
能 不 隨 世 (之) 此 老 子 之 行 也 嚴 誡 眇 矣 誠 難 知 矣 老 子 既 生 九 重 之 外 形 變
化 自 然 子 知 吾 九 人 何 優 仙 夫 為 生 道, 甚 易 難 子 學 吾 生 道, 無 如 中 止, 卅 日
共 月 道 畢 滄 第 一 姓 李 名 老 字 元 陽 第 二 姓 李 名 聃 字 伯 陽 第 三 姓 李 名 中 字
 伯 光 第 四 姓 李 名 石 字 子 光 第 五 姓 李 名 石 字 子 文 第 六 姓 李 名 宅 字 子 長
第 七 姓 李 名 元 字 子 始 第 八 姓 李 名 願 字 子 生 第 九 姓 李 名 德 字 伯 文 老 子
合 元 沰 元 混 成 隨 世 沉 浮 退 則 養 精 進 帝 王 師 皇 苞 羲 時 號 曰 溫 爽 子 皇 神 農
時 號 曰 春 成 子, 一 名 陳 豫 皇 祝 融 時 號 曰 廣 成 子 帝 顓 頊 時 號 曰 赤 精 子 帝 嚳
時 號 曰 真 子 名 黃 帝 時 號 曰 天 老 帝 堯 時 號 曰 茂 成 子 帝 舜 時 號 曰 廓 叔 子 化
形 舜 立 壇 春 秋 祭 祀 之 夏 禹 時 老 子 出 號 曰 李 耳, 一 名 禹 師 殷 湯 時 號 曰 斯 宮
周 父 皇 時 號 曰 先 王 國 柱 下 吏 武 王 時 號 曰 衛 成 子 成 王 時 號 曰 成 子 如 故 元
康 五 年 老 子 入 婦 女 腹 中 七 十 二 年 生 託 母 姓 名 聃 字 伯 陽, 為 柱 下 吏 七 百 年
還 變 楚 國 而 平 王 高 蹇 不 從 諫 道 德 不 流 則 去 楚 而 西 度 咸 谷 關 以 五 千 文 上
下 二 篇 授 關 長 尹 喜 秦 時 號 曰 蹇 叔 子 大 胡 時 號 曰 浮 慶 君 漢 時 號 王 方 平 陽
加 元 年 始 見 城 都 為 鶣 爵 鳴 山 建 康 元 年 化 於 白 鹿 山 託 澗 太 初 元 年 復 出 白
鹿 廟 中 治 崔 號 曰 仲 伊 建 和 二 年 於 崩 山 卒 出 城 都 左 里 城 門, 壞 身 形 為 真 人
漢 知 之 改 為 照 陽 門 楚 國 知 之 生 司 馬 照 永 壽 元 年 復 還 白 鹿 山, 號 曰 僕 人
大 賢 問 閉 口 不 言, 卅 年 建 廟 白 鹿 為 天 傅 老 子 曰 : 吾 敖 以 清 吾 事 以 明, 吾 證
以 成 吾 變 易 身 形 託 死 更 生, 周 流 四 海 時 出 黃 庭 經 歷 渡 踐 履 三 皇 戴 冒 三 台,
被 服 無 形 愚 者 不 知 死 復 更 生 儽 至 為 身 僮 兒 為 群 外 為 亡 僕, 內 自 為 真 自 屋
俱 澋, 自 有 精 神 晝 夜 念 我, 吾 不 忽 云 味 夢 想 吾, 我 自 見 信 吾 發 動 官 漢 令 自
易 身 愚 者 踊 躍, 智 者 受 訓 天 地 事 絕, 吾 自 移 運 當 世 之 時, 簡 擇 良 民, 不 須 自
去, 端 質 守 身 吾 自 知 之 翁 養 文 鱗 欲 知 吾 處, 讀 五 千 文 過 萬 變 首 自 知 身 急 來
詣 我 吾 與 精 神 子 當 念 父, 父 當 念 子 怡 忽 想 忘 去 之 萬 里, 所 治 解 怠, 神 不 為
使, 疾 來 遂 我 我 絕 綱 紀 青 白 為 表, 黃 黑 為 裡 赤 為 生 我, 從 一 而 始, 中 有 黃 氣,
可 絕 酒, 教 子 為 道, 先 當 修 己, 恬 泊 靜 寧 (穿), 撿 其 滿 手, 無 為 無 欲, 不 憂 患 谷
(苦), 道 來 附, 身 可 度 矣 精 思 放 我 神 為 走 使 吾 衡 剛, 吾 更 勝 負 生 氣 在 左, 原 氣
在 右 中 有 黃 氣 元 陽 為 上, 通 無 極 九 宮 僮 子 精 之, 思 之, 可 以 成 己 一 僶 道 成
教 告 諸 子 吾 六 度 太 白 橫 流, 疾 來 逐 我, 南 嶽 相 求, 可 以 度 危, 恐 子 稽 留, 立 春
癸 巳 放 縱 罪 囚 五 榖 驚 起, 人 民 有 憂, 疾 病 欲 至 餓 者 縱 橫 吾 轉 衝 撞 漢 事 吾
民 聞 之 自 有 志 棄 鄙 自 凍 無 姓 字 因 漢 自 識, 萬 民 見 端 直 實 心 乃 知 吾 事 合
知 聖 者 習 吾 意, 邪 心 狠 性 謂 我 何 人 吾 以 度 數 出 有 時 節 而 化 知 吾 者 少 非 吾
者 多 老 子 變 化 經 大 業 八 年 八 月 十 四 日, 經 生 王 儔 寫 用 紙 四 張 玄 都 玄 壇 道
士 覆 校 裝 潢 人 秘 書 省 寫.

☸ Phiên âm:

[1] Lập đại thủy đoan, hành hồ đại chi nguyên. Phù ngao u linh không chi. [2] Nhập yểu minh chi tiên môn. Thân hồ giai chí chi vị biệt.[82] Hòa thanh trọc chi ngoại.[83] [3] Phảng phất chi dữ thiết cổ hoảng hốt chi khuếch nhiên sung tràng nhi chi dung. [4] (?) đồng môn chi tiên. Biên ấn bộ trụ thiên môn. Kỳ sinh vô tao. Độc lập nhi vô luân. [5] Hành hồ cổ tích, tại thiên địa chi tiền. Sạ nặc hoàn qui tồn [6] vong tắc vi tiên, thành tắc vi nhân. Hoảng hốt thiên trọc.[84] Hóa biến kỳ thần. [7] Thác hình Lý mẫu thai trung. Dịch thân ưu mệnh. Phúc trung thất thập nhị niên trung, hiện [8] Sở quốc. Lý khẫu tự dữ [85] kiên giáp hữu tam ngọ đại lý.[86] Nhật giác, nguyệt huyền. [9] Tị hữu song trụ, nhĩ hữu tam môn; túc [87] [10] nhị niên (ngũ). Thủ bá thiên quan.[88] Kỳ tính vô dục; Kỳ hành vô vi. Dục thiên phụ. [11] tá, tam hoàng ỷ tỉ. Quan chi nặc kiến vô thường bản giai do thử. Di lịch [12] cửu trường. Quốc tương suy, vương đạo băng hủy, tắc khứ Sở quốc, bắc chi Côn lôn [13] dĩ thừa bạch lộc, cật kim bất hoàn. Thử giai tự nhiên chi chí tinh, Đạo chi [14] căn đế. Vi thặng chi phụ mẫu, vi thiên địa chi bản căn, vi sinh thê đoan [15] vi thần minh chi đế quân, vi âm dương chi tổ thủ, vi vạn vật chi hồn [16] phách. Điều sướng linh vô [89] Tạo hóa ứng nhân, sĩ đế bát cực [90] tải địa huyền thiên.[91] [17] Du sính nhật nguyệt, hồi tẩu nhật thần. Ha đầu lục giáp.[92] Thử Kiền Khôn [93] Kỷ dịch [18] tứ thời. Suy di hàn ôn. Thủ bả tiên tích [94] ngọc giản kim tự. Xưng dĩ ngân [19] nhân. Thiện sơ phụng đầu; tuyệt thánh phụ chế, vật ốc mệnh trực, phụ vi chi sinh [20] yên. Lão tử năng minh, năng minh; năng vong năng tồn, năng đại năng tiểu, năng khuất [21] năng thân; năng cao năng hạ; năng tung năng hoành; năng phản năng phúc; vô sở bất [22] thi, vô sở bất năng; tại hỏa bất tiêu; tại thủy bất hàn, phùng ác bất tật; [23] xúc họa bất hoạn. Yểm chi bất khổ,[95] thương chi vô bàn.[96] Trường sinh bất tử, tu diệt [24] thân hình. Ngẫu nhi bất song, chích nhi bất cơ. Phụ nhi bất ly mạc vu kỳ [25] vô vi dã. Mạc năng bất tùy chi.[97] Thử Lão tử chi hành dã. Nghiêm giới miểu [26] hĩ. Thành nan tri hĩ. [27] Lão tử ký sinh cửu trùng chi ngoại. Hình biến hóa tự nhiên. Tử tri ngô cửu [28] nhân hà ưu tiên. Phù vi sinh đạo, thậm dị nan. Tử học ngô sinh đạo, vô [29] như trung chỉ, trấp nhật cộng nguyệt đạo tất thương. [30] Đệ nhất tính Lý, danh Lão Đam tự Nguyên Dương. [31] Đệ nhị tính Lý, danh Đam, tự Bá Dương. [32] Đệ tam tính Lý, danh Trung, tự Bá Quang. [33] Đệ tứ tính Lý, danh Thạch, tự Tử Quang. [34] Đệ ngũ tính Lý, danh Thạch, tự Tử Văn. [35] Đệ lục tính Lý, danh Trạch, tự Tử Trường. [36] Đệ thất tính Lý, danh Nguyên, tự Tử Thủy. [37] Đệ bát tính Lý, danh Nguyện, tự Tử Sinh. [38] Đệ cửu tính Lý, danh Đức, tự Bá Văn. [39] Lão tử hợp nguyên đát, nguyên hỗn thành. Tùy thế trầm phù thoái tắc dưỡng tinh. [40] Tiên đế vương sư. [41] Hoàng Bao Hi thời, hiệu viết Ôn Sảng tử. [42] Hoàng Thần Nông thời, hiệu viết Xuân Thành tử, nhất danh Trần Dự. [43] Hoàng Chúc Dung thời, hiệu viết Quảng Thành tử. [44] Đế Chuyên Húc thời, hiệu viết Xích Tinh tử. [45] Đế Cốc thời, hiệu viết Chân tử danh Bích. [46] Hoàng đế thời, hiệu viết Thiên Lão. [47] Đế Nghiêu thời, hiệu viết Mậu Thành tử. [48] Đế Thuấn thời, hiệu viết Quách Thúc tử hóa hình. Thuấn lập đàn xuân thu tế tự [49] chi. [50] Hạ Vũ thời, Lão tử xuất, hiệu viết Lý Nhĩ, nhất danh Vũ sư. [51] Ân Thang thời, hiệu viết Tư Cung. [52] Chu phụ hoàng thời, hiệu viết tiên vương quốc trụ hạ lại. [53] Võ vương thời, hiệu viết Vệ Thành tử. [54] Thành vương thời, hiệu viết Thành tử như cố. [55] Nguyên Khang ngũ niên, Lão tử nhập phụ nữ phúc trung. Thất thập nhị niên [56] sinh. Thác mẫu tính lý danh Đam, tự Bá Dương, vi Trụ hạ lại, thất bách niên [57] hoàn biến Sở quốc, nhi Bình vương cao kiển bất tòng gián. Đạo đức bất lưu, tắc. [58] khứ Sở nhi Tây. Độ Hàm cốc quan, dĩ ngũ thiên văn dĩ thượng hạ nhị thiên, thụ [59] quan trưởng Doãn Hỉ. [60] Tần thời, hiệu viết: Kiển Thúc tử. [61] Đại Hồ thời hiệu viết Phù Khánh quân. [62] Hán thời, hiệu Vương Phương Bình. [63] Dương gia nguyên niên thủy hiện Thành Đô vi Biển Tước Minh Sơn. [64] Kiến Khang nguyên niên hóa ư Bạch Lộc sơn thác táng giản. [65] Thái sơ nguyên niên phục xuất Bạch Lộc miếu trung, trị thôi hiệu viết Trọng Y. [66] Kiến Hòa nhị niên ư Băng Sơn tốt xuất Thành Đô tả lý thành môn, hoại thân [67] hình vi chân nhân. Hán tri chi, cải vi Chiếu Dương môn. Sở quốc tri chi sinh. [68] Tư Mã Chiếu. [69] Vĩnh Thọ nguyên niên phục hoàn Bạch Lộc Sơn. Hiệu viết Bộc Nhân đại hiền. Vấn [70] bế khẩu bất ngôn, trấp niên kiến miếu Bạch Lộc, vi Thiên phó. [71] Lão tử viết: ngô ngao dĩ thanh, ngô sự dĩ minh. Ngô chính dĩ thành ngô biến [72] dịch thân hình. Thác tử cánh sinh. Chu lưu tứ hải, thời xuất Huỳnh đình. Kinh lịch [73] độ, tiễn lý Tam hoàng, đới mạo tam thai, bị phục Vô hình. Ngu giả bất tri [74] Tử phục cánh sinh. Lụy chí vi thân, đồng nhi vi quần. Ngoại vi vong bộc, nội [75] tự vi chân. Tự ốc câu cảnh, tự hữu tinh thần; trú dạ niệm ngã, ngô bất [76] hốt vân. Vị mộng tưởng ngô ngã tự kiến tín, ngô phát động quan Hán, lệnh tự [77] dịch thân. Ngu giả dũng dược trí giả thụ huấn. Thiên địa sự tuyệt, ngô tự di [78] vận. Đương thế chi thời, giản trạch lương dân, bất tu tự khứ, đoan chất thủ thân. [79] ngô tự tri chi, ông dưỡng văn lân. Dục tri ngô xứ, độc ngũ thiên văn quá. [80] vạn biến. Thủ tự tri thân. Cấp lai nghệ ngã, ngô dữ tinh thần. Tử đương niệm [81] phụ, phụ đương niệm tử, di hốt tương vong. Khứ chi vạn lý sở trị giải đãi, thần bất vi sứ; tật lai toại ngã, ngô tuyệt cương kỷ. Thanh bạch vi biểu, hoàng [83] hắc vi lý. Xích vi sinh ngã, tòng nhất nhi thủy. Trung hữu hoàng khí, khả tuyệt [84] tửu, giáo tử vi đạo, tiên đương tu kỷ, điềm bạc tĩnh ninh (xuyên), kiểm kỳ mãn thủ, [85] vô vi vô dục, bất ưu hoạn cốc (khổ) Đạo lai phụ, thân khả độ hĩ. Tinh tư [86] phóng ngã, thần vi tẩu sứ. Ngô hành cương, ngô canh thắng phụ. Sinh khí tại tả, [87] nguyên khí tại hữu, trung hữu hoàng khí Nguyên dương vi thượng, thông Vô cực cửu cung. [88] Đồng tử tinh chi, tư chi, khả dĩ thành kỷ. Nhất mẫn đạo thành, giáo cáo chư [89] tử; ngô lục độ. Thái bạch hoành lưu, tật lai trục ngã, nam nhạc tương cầu, khả [90] dĩ độ nguy. Khủng tử kê lưu, lập xuân Quí tị phóng túng tội tù, ngũ cốc [91] kinh khởi, dân nhân hữu ưu, tật bệnh dục chí. Ngạ giả tung hoành, ngô chuyển [92] xung chàng Hán sự. Ngô dân văn chi, tự hữu chí khí, bỉ tự đống vô tính [93] tự. Nhân Hán tự thức, vạn dân kiến đoan trực thực tâm, nãi tri ngô sự. [94] Hợp tri thánh giả tập ngô ý, tà tâm, ngận tính vị ngã hà nhân; ngô dĩ [95] độ số, xuất hữu thời tiết nhi hóa. Tri ngô giả thiểu, phi ngô giả đa. [96] Lão tử biến hóa kinh. [97] Đại nghiệp bát niên, bát nguyệt, thập tứ nhật, Kinh Sinh, Vương Trù tả [98] dụng chỉ tứ trương [99] Huyền đô, Huyền đàn đạo sĩ phúc hiệu. [100] Trang Hoàng nhân. [101] Bí thư tỉnh tả.

☸ Dịch nghĩa:

1. Những từ có trước đất trời,
Vui trong thái thủy tuyệt vời ngao du.
2.  Thung dung từ thủa thái sơ,
Khi còn chưa có bến bờ đục trong.
4. Tịch nhiên tiêu sái, (5.) vô song,
Trước trời, trước đất thung dung vui hòa.
Hai bề ẩn, hiện lại qua,
6.  Ẩn là Thái nhất, hiện ra là người.
Đục trong biến chuyển dòng đời,
Thần ngài mới mượn hình hài thế nhân.
7. Mượn lòng Lý mẫu giáng trần,
Bảy hai năm chẵn gửi thân mẹ lành.
8. Mượn nơi đất Sở giáng sinh,
Môi dày, miệng rộng, thiên đình nở nang.
Có văn tam ngũ rõ ràng,
Hai vừng nhật nguyệt ẩn tàng quang hoa;
9. Mũi hai sống, lỗ tai ba,
10. Chân hai chữ ngũ, tay hoa số mười.
Thiên nhiên vô dục tính trời,
Vô vi ấy chính nết người ở ăn.
Giúp trời lại giúp thánh quân.
11. Tam hoàng âu cũng nhờ ân hộ trì.
Đời người ẩn ước ly kỳ,
Biến thiên ảo hóa huyền vi khôn lường.
12. Gặp khi vận nước nhiễu nhương,
Hôn quân vô đạo tìm đường ẩn thân,
Giã từ nước Sở, lánh trần,
Cưỡi con bạch lộc băng chừng Côn Lôn,
Dặm Tần mù mịt nguồn cơn,
13. Người xưa vết cũ, nay còn thấy đâu.
Tinh hoa trời đất gồm thâu.
14. Đạo trời đạo đất gót đầu chốt then.
      Sinh cơ chủ chốt diệu huyền,
15. Muôn thần, vạn thánh mọi miền, quản cai.
Âm dương mặc sức phân phôi,
Là hồn, là phách muôn loài thụ sinh.
16. Hư vô chưởng quản mặc tình,
Biến thiên huyền hóa siêu linh tuyệt vời.
Bao trùm khắp tám phương trời,
Đất thời lo chở, trời thời lo treo.
17. Ruổi rong nhật nguyệt khinh phiêu,
Tinh huy vận chuyển muôn chiều chẳng ngơi.
Chư thần Lục Giáp nương hơi,
Càn khôn cũng mặc ý người ruổi rong.
18. Tứ thời chuyển biến thong dong,
Hai chiều nóng lạnh mặc lòng xở xoay.
Tiêu phù cầm gọn nơi tay,
Chữ vàng, thẻ ngọc sẵn bày từ khi.
20. Lão quân sáng tối tùy nghi
Tồn vong, đại tiểu, cao đê tung hoành.
21. Khuất thân, tiến thoái mặc tình,
22. Không gì thoát khỏi uy linh của người.
Đi vào nước lửa như chơi,
Dầu lâm họa hoạn, pha phôi nhẽ nào.
23. Gặp cơn bức bách chẳng sao,
Vương thương, vết tích tơ hào chẳng khi.
Trường sinh chẳng có hạn kỳ,
24. Tiêu thân, diệt thể, quyền uy vô ngần.
Sánh đôi mà vẫn đơn thân,
Cô đơn mà vẫn chẳng phần lẻ loi.
Ngài luôn gần gũi con người.
25. Không ai có thể sánh tài vô vi,
Chẳng ai mà chẳng phải tùy,
Người người đều dõi bước đi của ngài.
Hành vi Lão tử để đời,
26. Lời ngài giảng dạy, mấy người tinh thông.
27. Ngài sinh ngoài cõi cửu trùng,
Những điều biến hóa mung lung khôn lường.
Biết ta chín kiếp nhân lương,
28. Đời ta mà biết lối đường ta hay.
29. [Không dịch] [98]
Ta là chín vị sau đây.
30-38.
Họ 姓   Tên 名   Tự 字 
1. Lý 李
2. Lý 李
3. Lý 李
4. Lý 李
5. Lý 李
6. Lý 李
7. Lý 李
8. Lý 李
9. Lý 李   Lão Đam 老聃
Trung 中
Thạch 石
Thạch 石
Trạch 宅
Nguyên 元
Nguyện 願
Đức 德
Nguyên Dương 元陽
Bá Dương 伯 陽
Bá Quang 伯 光
Tử Quang 子 光
Tử Văn 子 文
Tử Trường 子 長
Tử Thủy 子 始
Tử Sinh 子 生
Bá Văn 伯 文
   
39. Ngài sinh cùng với Hư vô,
Tùy thời ly hợp trầm phù tiến lui.
Khi lui, nguyên thể tài bồi,
40. Đến khi tiến bước, dạy đời, dạy vua.
41. Thời Phục Hi, tên Ôn Sủng tử, [99]
42. Thời Thần Nông, lấy chữ Xuân Thành;[100]
43. Thời Chúc Dung, gọi Quảng Thành,[101]
44. Đến đời Chuyên Húc, Xích Tinh là người.[102]
45. Thời Đế Cốc, tên ngài Chân tử,[103]
46. Thiên Lão khi cộng sự Hiên Viên;[104]
47. Thời Nghiêu, tên gọi Mạo Thiềng,[105]
48. Thời Thuấn, Quách Thúc là tên của ngài.[106]
50. Thời Hạ Võ, tên thời Lý Nhĩ,[107]
51. Thời Ân Thang, đích thị Tư Cung.[108]
52. Đời Văn, ngài thủ thư tàng,[109]
53. Đến đời vua Võ, tên mang Vệ Thành.[110]
54. Đời Thành vương, tên Thành gọi lại,[111]
55. Nguyên Khang 5, lại tái giáng trần;[112]

Trong lòng mẹ bảy hai năm,
56. Ra đời mới gọi tên bằng Lý Đam.
Ngài cũng có Bá Dương là tự.
Và từng là quản thủ thư tàng;
Bảy trăm tuế nguyệt chứa chan,
57. Băng chừng Sở quốc, lai hoàn cố hương.
Lại gặp khi Bình vương ngoan cố.
Đạo đức trời tới độ suy vi.
58. Ngài liền bỏ Sở ra đi,
Băng chừng tây tiến lâm ly dặm trường.
59. Đến Hàm Cốc, gặp quan Doãn Hỉ,
Đạo đức kinh ngài ký thác cho;
60. Thời Tần, Kiển Thúc cũng là,[113]
61. Tên ngài Phù Khánh [114] thời Hồ nhiễu nhương.
62. Thời nhà Hán, Vương Phương Bình gọi,[115]
(Mỗi khi cần, ngài mỗi hiện ra;)
63. Năm đầu niên hiệu Dương Gia,[116]
Thành đô núi Tước hiện ra đường hoàng.
64. Năm đầu niên hiệu Kiến Khang,
Đỉnh non Bạch Lộc, rỡ ràng quang hoa.[117]
65. Năm đầu niên hiệu Thái Sơ,
Nơi đền Bạch Lộc hiện ra với đời.[118]
66. Kiến Hòa vào khoảng năm 2,
Lão quân lại hiện cửa ngoài Thành đô.[119]
69. Năm đầu Vĩnh Thọ hiện ra,
Đầu non Bạch Lộc xưng là Bộc Nhân.[120]
Những là lẳng lặng trầm ngâm,
Dẫu ai gạn hỏi cũng không trả lời.
70. Đời sau lập miếu thờ ngài,
Xưng ngài Thiên Phó, tên ngài hiển linh.[121]
71. Ngài rằng:
Ta vui trong cảnh Thái thanh,
Quang hoa xử sự, tinh thành trị dân.
72. Nhiệm huyền biến hóa tấm thân,
Lấy tuần lâm tử, làm tuần phục sinh.
Chu du bốn biển phiêu khinh,
Tứ thời bát tiết Huỳnh đình vào ra.
Dòng đời khinh khoát vượt qua,
73. Tam hoàng mỗi bước ta đà theo chân.
Tam thai ta đội làm khăn,
Áo ta đã được dệt bằng Hư vô.
Phàm phu sao biết được ta,
74. Tử sinh, phản phục, biết là bao phen.
Dân ta đông đảo muôn miền,
Phàm phu ngoài mặt, mà tiên đáy lòng.
75. Quang huy thu liễm vào trong,
Tinh thần sung mãn bởi không hao gầy.
Ai về ta tưởng đêm ngày,
76. Ta luôn phù trợ phút giây chẳng rời.
Ai mà mơ đến ta hoài,
Hiển linh, ta sẽ vì người hiện ra.
Cơ đồ nhà Hán phôi pha,
77. Xót vì, ta lại sinh ra ở đời.
Phàm phu nhảy nhót dể duôi,
Nhưng mà trí giả nghe lời bảo ban.
Đất trời nghiêng ngửa nguy nàn,
78. Ta bèn chuyển hóa mà toan cứu đời.
Nay ta lựa chọn hiền tài,
79. Người hay người phải, ta thời nhận ra.
Những ai mà muốn tìm ta,
80. Sách ta hãy đọc cho qua vạn lần,
Tội khiên phải biết tự tân,
Làm người tri kỷ, tri thân mới là.
Ta đây chẳng ở đâu xa,
Thần người cùng với Thần ta khác nào.
81. Cha con tưởng nhớ gần sao,
Bằng không nhớ tưởng, xa bao dặm đường.
Chớ nên biếng nhác buông tuồng,
82. Biếng lười, thần có cũng nhường như không.
Theo ta mau mắn mới mong,
Mới mong ta tháo gỡ tung buộc ràng.
Trắng, xanh ngoài mặt ngỡ ngàng,
83. Vàng, đen ẩn áo tiềm tàng bên trong.
Sinh ta, màu đỏ ấy công,
Ta sinh từ Nhất, từ trong điểm vàng.
84. Rượu nồng người chớ có ham,
Để ta đem đạo, chỉ đàng nẻo cho.
Tu thân người phải nên lo,
Tâm thần an tĩnh, lòng hồ như vơi!
85. Vô vi, vô dục thảnh thơi,
Lầm than, hoạn nạn có đời nào đâu !
Cốc thần khăng khít trước sau,
Con đường giải thoát cơ mầu là đây.
86. Lìa ta, suy tưởng dông dài,
Tâm thần lạc lõng, càng ngày càng mê.
Cương nhu cân nhắc mọi bề,
Hai chiều thành bại, đi về do ta.
Tả biên sinh khí mới là,
87. Hữu biên tử khí, giữa là Hoàng trung.
Giữa là Hoàng khí mung lung,
Nguyên dương nghi ngút muôn trùng cửu tiêu.
88. Khuyên chư đồng tử sớm chiều,
Tiềm tâm tu luyện, để theo Đạo mầu.
89. Ta đà căn dặn từ lâu,
Kim tinh lệch lạc thì cầu tới ta.
Mau mau rong ruổi mới là,
90. Gặp ta Nam Nhạc, sẽ qua nguy nàn.
Chớ đừng bịn rịn tơ vương,
Xuân ngày Quí tỵ nên thương thả tù.
91. Đâu đâu dân cũng âu lo,
Bệnh tình chất ngất, ngã cơ đầy đường.
Ta nay hoán cải mối giường,
92. Cơ đồ nhà Hán tan hoang từ rày.
Dân ta đã biết, đã hay,
Tránh điều vạ gió, tai bay sá nào.
93. Những người thành khẩn thanh cao,
Việc ta thông tỏ tơ hào khó chi.
94. Ý ta hiền thánh minh tri,
Phàm phu nào biết vân vi gót đầu.
95. Bao lần giáng thế trước sau,
Theo dòng lịch sử cơ mầu biến thiên.
Hiểu ta hỏi mấy thánh hiền,
Chê ta, vô số phàm hèn bấy nay.
*
**
 CHÚ THÍCH

[1] Bài thuyết trình tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Việt Nam, nhân ngày lễ vía đức Thái Thượng Đạo Tổ, Rằm tháng 2 năm Đinh Tị (03-04-1977)
[2] Năm 1941, ông M.H. Dubs dựa vào Sử ký Tư Mã Thiên và Chiến Quốc Sách để quyết đoán như vậy. Lý do là vì Sử ký Tư Mã Thiên có ghi: Con đức Lão Tử tên là Tông, làm tướng nước Ngụy ở Đoạn Can. Mặt khác Chiến Quốc Sách ghi là Sùng đã ký hòa ước với Tấn năm 273 tcn. Như vậy thì Lão Tử phải sống vào khoảng năm 300. (Xem Anna K. Seidel, La divinisation de Lao-tseu dans le Taoisme des Han, tr. 11).
[3] Le «Fou tsou t’ong tsai» K. IV, p.22. Cette ouvrage donne les dates suivants: L’entrevue de Confucius et de Lao-tse Lao Tan 老 聃 à la cour des Tcheou 周, et lieu là 19è année de King Wang 景 王, l’année I hai 乙 亥 526 avant J.C. Confucius avait alors 26 ans, et Lao Tan avait 79 ans accomplis. Lao Tse mourur 5 ans après, c’est à dire l’année Ki mao 己 卯, 522 à l’âge de 84 ans. D’après les documents des ouvrages Taoistes, l’entrevue de Confucius et de Lao Tse aurait lieu en 503. S’il est vrai qu’il soit mort en sa 84è année, il aurait donc vécu de 584 à 500. Confucius aurait eu 48 ans lors de l’entrevue. Cette date paraýt vraisemblable. (xem Henri Doré, Variété sinologique, no 66 Lao -tse et le Taoisme, A. Chap. II, art 110 –bản đánh máy của Ngọc Huệ Chơn, tr. 58).
[4] Xem Sử ký Tư Mã Thiên, Lão Trang, Thân Hàn liệt truyện.
[5] Tam hiệu tuy thù, bản đồng nhất dã (LéonWieger, Taoisme, Tome I, p. 20).
[6] Henri Maspero dịch đoạn trên của Thăng Huyền kinh như sau: «L’immortel Teou Tseu Minh (Đậu Tử Minh) demanda: «Bien que j’observe respectueusement la pratique de «garder» les Trois Uns, je n’ai jamais pu comprendre. Je souhaite que vous me l’expliquiez, pour que désormais je l’étudie et puisse connaýtre l’essentiel. Le maýtre de la Loi dit: Les Trois Uns c’est juste Un seulement. (C’es parce que) dans les trois lieux différents où il réside) on lui donne des noms (différents) qu’on appelle les Trois Uns.» (Henri Maspéro, Le Taoisme, p. 140).
[7] Tử Hà sinh khoảng năm 1956, tức là năm Vạn Lịch thứ 27 đời vua Thần Tông nhà Minh.
[8] Tính Mệnh Khuê chỉ, các tr. 8b và 9a, Q.Hanh, nơi chương: An thần tổ khiếu, hấp tụ Tiên thiên.
[9] Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú, Ch.I, tr. 2a.
[10] Quand je pense à l’Etre suprême comme inactif, ne créant pas, ne conservant pas, je l’appelle Brahman ou Puru sha, Dieu impersonnel. Quand je pense à lui comme actif, créant conservant, de truisant, je l’applle Cakti, ou Maya, ou Prakriti, Dieu Bersonnel, Mais la distinction entre eux ne comporte aucune différence. L’impersonnel et le personne sont le même Etre. Tel le lait et sa blancheur; tel le diamant et son éclat; tel le serpent et sa reptation. On ne peut penser à l’un sans l’autre. La mère divine et Brahman sont Un. (Xem Romain Rolland, la Vie de Ramakrishna, Paris 1952, p. 73).
[11] Tôi nghĩ rằng Kinh Tiên Giáo chí tâm qui mạng lễ, mà tín hữu Cao Đài thường trì tụng mỗi ngày, đã được đức Ngọc Lịch Nguyệt, Vĩnh Nguyên tự, phỏng theo bản chính kinh: Chí tâm qui mạng lễ trong bộ Huỳnh Đình nội cảnh, do Tử Hà chú và in năm Dân quốc thứ 5, tức năm Bính Thìn (1916), 10 năm trước khi Cao Đài giáo ra đời. (Hiện bản kinh chữ Hán này Tam Tông miếu có). Khảo 2 bản kinh, ta thấy có chỗ giống, chỗ khác, tỏ ra là đức Ngọc Lịch Nguyệt chỉ dựa đại khái vào chính bản để soạn ra bản kinh mới.
– Bản kinh cũ chẳng hạn ghi: Thiên thiên hóa khí, Thái Thượng Lão quân. Bản kinh mới ghi: Tiên thiên khí hóa, Thái Thượng Đạo quân.
– Bản kinh cũ ghi: Tử khí Đông Lai, truyền Đạo Đức ư Quan Doãn. Bản kinh mới ghi: Tử khí Đông Lai, quảng truyền Đạo Đức (xem Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú, tr. 2a, 2b).
– Bản kinh cũ chẳng hạn ghi: Thiên thiên hóa khí, Thái Thượng Lão quân. Bản kinh mới ghi: Tiên thiên khí hóa, Thái Thượng Đạo quân.
– Bản kinh cũ ghi: Tử khí Đông Lai, truyền Đạo Đức ư Quan Doãn. Bản kinh mới ghi: Tử khí Đông Lai, quảng truyền Đạo Đức (xem Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú, tr. 2a, 2b).
[12]  Xem: Kinh Thiên đạo, thế đạo, 1952, tr.21, 22.
Huệ Lương, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Sài Gòn 1963, tr. 67, 68.
Huệ Lương, Tiểu sử Ngũ giáo Thánh nhân Tam trấn, 1964, tr. 23, 24.
[13]  «Yuen Che T’ien-tsuen 元 始 天 尊 expliquant le Grand Véhicule taoiste devant l’assemblée des génies, raconte comme il suit l’origine des êtres. Yuen Che T’ien-tsuen, l’Être, sans origine, produisit de son souffle les Trois Pur San Ts’ing 三 清 et touts les génies.» (Xem Henri Doré, Varitétés sinologiques, No 66, Lao-Tse et le Taoism, B. – Chap. II: La cosmogonie Taoiste. – Bản đánh máy chép lại, sách nầy của Ngọc Huệ Chơn)
[14] Tam Thanh giả, Nhất Khí sở hóa giả dã, Phân Tam Thiên, Tam Cảnh, Tam Bửu, Tam Nguyên, Tam quân: – Ngọc Thanh Thánh Cảnh, Nguyên Thủy Thiên Bảo quân. – Thượng Thanh Chân Cảnh, Ngọc Thần Linh Bảo quân. – Thái Thanh Tiên Cảnh, Đạo Đức Thần Bảo quân. Cửu thiên sinh thần khí kinh vân: «Tam hiệu tuy thù, bản đồng nhất dã.” Đỗng chương vân: «Lão quân nhất khí hóa Tam Thanh. Hựu Thái Thượng Đỗng Huyền vô lượng độ nhân thượng phẩm diệu kinh vân: Hóa sinh chư thiên, khai minh Tam Cảnh, Thượng vô phục tổ, duy Đạo vi thân… Phù Lão quân giả, Đạo khí chi tổ, vạn hóa chi tông… 三 清 者.一 氣 所 化 者 也.分 三 天,三 境,三 寶,三 元,三 君 玉 清 聖 境,元 始 天 寶 君,上 清 真 境.玉 宸 靈 寶 君 太 清 仙 境.道 德 神 寶 君.九 天 生 神 氣 經 云 :三 號 雖 殊 本 同 一 也 洞 章 云 :老 君 一 氣 化 三 清 又 太 上 洞 玄 無 量 度 人 上 品 妙 經 云 :化 生 諸 天.開 明 三 境 上 無 復 祖,惟 道 為 身 夫 老 君 者,道 氣 之 祖,萬 化 之 宗 (Xem Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú, tr. 1b và 2a)
[15] Đàn cơ ngày 7 Avril 1926 tại Vĩnh Nguyên Tự. Xem Thánh Ngôn hiệp tuyển bổn thứ nhất, Sài Gòn 1964, tr. 9. Xem thêm Đại Thừa Chân Giáo (Thượng Thừa chân pháp), tr. 33, 38, 39.
[16] Xem sách trích dẫn, tr. 70.
[17] Xem sách trích dẫn, tr. 25.
[18]  Henri Doré, Variété sinologique, No 66, Lao-tse et le Taoisme, 1938, Chap.11 Lao-tse après Confucius. – Livre dactylographié p. 58.
[19]  Henri Doré, Variété sinologique, No 66, Lao-tse Tome XVIII, A. Chap. 11, Art. 2, A quelle époque vécut Lao-tse (xem bản Lao-tse et le Taoisme, bản đánh máy của Ngọc Huệ Chơn, tr. 57) Thực ra năm 1316, năm 9 Vũ Đinh là năm Ất Sửu.
[20] Thực ra năm thứ 34 đời Vũ Đinh là năm Canh Dần. (Xem sách của Henri Doré, chương đoạn như trên, và bản đánh máy của Ngọc Huệ Chơn tr. 57).
[21] Như trên, các chương, đoạn và trang 57.
[22] Sách trích dẫn như trên, các chương đoạn như trên.
[23] Năm ấy đức Khổng mới 26 tuổi. Xem Henri Doré, Lao-tse et le Taoisme, A. Chap. 11, Art. 2. tr.58.
[24] Xem Nguyễn Văn Thọ, Chân Dung Khổng tử, tr. 41. Năm ấy đức Khổng 34 tuổi.
[25] Năm ấy đức Khổng đã 48 tuổi như vậy không đúng. Xem Henri Doré, Lao-tse et le Taoisme, A. Chap. 11, Art. 2. Xem Lao-tse et le Taoisme, bản đánh máy của Ngọc Huệ Chơn, tr. 58.
[26] Lao-Tseu transforma son corps. Son oeil gauche devint le soleil, son oeil droit devint la lune; sa tête devint le mont Kunlun, sa barbe devint les planètes et les mansions; ses os devinrent les dragons; sa chair devint les quadrupèdes; ses intestins devinrent les serpents; son ventre devint la mer; ses doigts devinrent les Cinq Pics, ses poils devinrent les arbres et les herbes; son cœur devint (la constellation du) Dais-Fleuri et ses deux reins, s’unissant, devinrent le Père et Mère du Réel ou Zhenyao fumu (Chân yếu phụ mẫu). – (Henri Maspéro, le Taoisme, p.108).
[27]  Trong khi tôi viết bài nầy, tôi cũng đã tham khảo ý kiến những giáo hữu Cao đài mà tôi quen biết, để xem quan điểm của các vị về đức Lão Tử ra sao. Tôi ghi nhận mấy ý kiến sau đây:

A. Về đức Thái Thượng:
1. Đức Thái Thượng Lão Quân là Thượng Đế.
2. Đức Thái Thượng Lão Quân là ai, không dám quyết.
3. Có thể Ngài là Đức Hồng Quân Lão Tổ. (Xem Thượng thừa Chân Pháp, tr.245)
4. Có thể Ngài là đức Đông Phương Chưởng Quản vì đức Đông Phương Chưởng Quản chuyên dạy Pháp cho Cao Đài.

B. Về đức Lão:
1. Ngài là đức Thái Thượng Lão Quân giáng trần.
2. Ngài là phân tính của đức Thái Thượng Lão Quân giáng trần.
3. Ngài là phân tính của Thượng Đế giáng trần.
4. Ngài là sứ giả của Thượng Đế.
Vấn đề này cần được khai thác sâu rộng thêm.
[28] Có tiểu sử khác đọc là Lại 賴.
[29] Có sách cho rằng Khổ huyện trước thuộc nước Trần, sau mới thuộc nước Sở.
[30] Trong Lễ ký 禮 記 nơi thiên Tăng tử vấn 曾 子 問 có ghi nhận Lão tử đã dạy Khổng tử về tang lễ, táng lễ (xem Couvreur, Li Ki, t. 1, pp. 434-435, 457-459, 460, 461, 463). Trong Không tử gia ngữ 孔 子 家 語, chương 3, tr. 1a, đức Khổng nhận đức Lão tử đã dạy ngài về nguồn gốc lễ, nhạc.
[31] Tư Mã Thiên coi Lão tử là một ẩn sĩ, là một hiền triết. Đúng với luận điệu của một sử gia ông không quyết Lão tử đã sống lâu, mà chỉ nói «Có người cho rằng Lão tử biết cách tu dưỡng nên đã thọ 160 hay 200 tuổi.» Tư Mã Thiên kể con cháu của Lão tử cho đến mãi đời ông (Tư Mã Thiên sống khoảng 145 đến 86 tcn) để tỏ ra ông viết chính xác.
[32] Bia này do Biên Thiều 邊 韶, quan cai xứ Trần 陳 khắc ngày Giáp tí năm Diên Hi 延 熹 thứ 8 (24.9.165) đời vua Hán Hoàn đế 漢 桓 帝 (147-168) và được dựng tại đền thờ Lão Tử, tại Khổ huyện. Có thể chia Lão Tử minh thành bốn phần:

1. Đời sống gian trần của Lão Tử
2. Tín ngưỡng của những người theo đạo Lão. Họ coi:
– Lão Tử là Thượng đế có trước đất trời.
– Lão Tử là chẩn nhân đắc đạo.
– Lão Tử đem đạo dạy người.
3. Trong trường hợp nào đã khắc bia này
4. Bi ký thực sự.
Ghi chú : Ta thấy văn chương của bi ký này lắm đoạn rất tầm thường.
[33] Thời Phục Hi 伏 羲 ngài tên Ôn Sảng tử 溫 爽 子.
[34] Thời Thần Nông 神 農, ngài tên Xuân Thành tử 春 成 子 hay Trần Dự 陳 豫.
[35] Thời Chúc Dung 祝 融, ngài tên Quảng Thành tử 廣 成 子.
[36] Thời Chuyên Húc 顓 頊, ngài tên Xích Tinh tử 赤 精 子.
[37] Thời Đế Cốc 帝 嚳, ngài tên Chân tử 真 子.
[38] Thời Hoàng đế 黃 帝, ngài tên Thiên Lão 天 老.
[39] Thời Nghiêu 堯, ngài tên Mậu Thành tử 茂 成 子.
[40] Thời Thuấn 舜, ngài tên Khoách Thúc tử 廓 叔 子.
[41] Thời vua Vũ 禹 nhà Hạ 夏, ngài tên Lý Nhĩ 李 耳.
[42] Thời vua Thang 湯 nhà Ân 殷, ngài tên Tư Cung 斯 宮.
[43] Thời vua Văn 文 nhà Chu 周, ngài giữ chức «Tiên vương quốc trụ hạ sử.» 先 王 國 柱 下 吏.
[44] Đời Võ vương 武 王, ngài tên Vệ Thành tử 衛 成 子.
[45] Đời Thành vương 成 王, ngài tên Thành tử 成 子.
[46] Năm Nguyên Khang 元 康 thứ 5 (đời Khang Vương năm 1075).
[47] Thời Tần 秦, tên ngài là Kiển Thúc tử 蹇 叔 子.
[48] Thời Đại Hồ 大 胡, tên ngài là Phù Khánh quân 浮 慶 君.
[49] Thời Hán, tên ngài Vương Phương Bình 王 方 平.
[50] Năm Dương Gia 陽 加 thứ 4 (132 công nguyên) ngài hiện ra ở Thành Đô 成 都, trên núi Biển Tước Minh 鶣 爵 鳴 山.
[51] Năm Kiến Khang nguyên niên 建 康 元 年 (144 công nguyên) ngài biến hóa trên núi Bạch Lộc 白 鹿.
[52] Năm Thái Sơ nguyên niên 太 初 元 年 (146 công nguyên) ngài hiện ra ở đền Bạch Lộc, tên ngài là Trọng Y 仲 伊.
[53] Năm Kiến Hòa 建 和 thứ 2 (148 công nguyên) ngài hiện ra nơi cửa đông Thành đô 城 都.
[54] Năm Vĩnh Thọ nguyên niên 永 壽 元 年 (155 công nguyên) ngài hiện ra trên núi Bạch Lộc 白 鹿 xưng là Bộc Nhân đại hiền 僕 人 大 賢.
[55] Ba mươi năm sau người ta dựng miếu tại núi Bạch Lộc thờ ngài và xưng ngài là Thiên Phó.
[56] Xem phụ lục nguyên bản chữ Hán và phiên âm cuối bài này.
[57] Henri Maspéro, Le Taoisme, p.177.
[58] Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. 天 地 與 我 並 生 而 萬 物 與 我 為 一 – Nam Hoa kinh, Ch.2, Đoạn E.
[59] Từ Viên tiên sư chân kinh, tr. 39a và 37a.
[60] Xem Marijan Molé, Les mystiques muslmans, p.70.
[61] Xem Lão Tử Đạo Đức Kinh, ch.VI. Liệt Tử, Xung Hư chân kinh, Thiên đoan chương.
[62] Xem Trang Tử Nam Hoa kinh, ch.22, tiết A. ĐĐK, ch.38.
[63] Xem Hàn Phi Tử, Thuyết lâm. Xem Trung Hoa ngũ thiên niên sử, Q.3, tr.199. Xem Lão Tử Đạo Đức Kinh, ch.36.
[64] Xem Trung Hoa ngũ thiên niên sử, Q.3, tr.199 Xem James Legge, The Texts of Taoism, p.47 và tiếp theo.
[65] Luận Ngữ ,Thuật nhi VII.
[66] Tích Hoàng đế (khoảng 2600 năm tcn) thướng Nga Mi sơn kiến Thiên Chân Hoàng Nhân ư Ngọc Đường. Thỉnh vấn Chân Nhất chi đạo. Hoàng Nhân viết: Thử đạo gia chi chí trọng, kỳ kinh Thượng đế bí tại Côn Lôn ngũ thành chi nội, tàng dĩ Ngọc hàm, khắc dĩ kim trát, phong dĩ tử nê, ẩn dĩ Trung chương. Ngô văn chi kinh vân: Nhất tại Bắc cực Thái Uyên chi trung, tiền hữu Minh Đường, hậu hữu Ngọc chẩm, thượng hữu Hoa Cái hạ hữu Giáng Cung.

昔 黃 帝 上 峨 眉 山 見 天 真 皇 人 於 玉 堂.  請 問 真 一 之 道 皇 人 曰 此 道 家 之 至 重 其 經 上
帝 秘 在 崑 崙 五 城 之 內 藏 以 玉 函,刻 以 金 札 封 以 紫 泥 , 印 以 中 章 吾 聞 之 經 云 一 在 北
極 太 淵 之 中 前 有 明 堂,後 有 玉 枕 上 有 華 蓋 下 有 絳 宮. (Tính Mệnh khuê chỉ, Lợi tr.9a)

[67] Xem Liệt tử, Xung Hư Chân kinh, ch. 1.
[68] Matgioi, La Voie rationnelle, p. 19.
[69] Mạnh tử, Cáo tử, chương cú thượng, tiết 7.
[70] Henri Maspero, Le Taoisme, Tome II, p. 23.
[71] (Xem chú thích trang trước). Huyền Quan nhất khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Hoàn Cung, gom trọn chơn dương, chánh đạo. (Xem Huệ Lương, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
[72] Mạnh Tử, Tận tâm chương cú hạ, câu 21.
[73] Lý Long Uyên, Đạo Đức Kinh giảng nghĩa, Q. Hạ, ch. 48, tr.16.
[74] Tống Long Uyên, Đạo Đức Kinh giảng nghĩa, Q. Hạ, tr.19.
[75] Cái dục học giả ư thử, phản cầu chư thân nhi tự đắc chi, nhi sung kỳ bản nhiên chí thiện.
[76] Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên. 萬 物 皆 備 於 我, 反 身 而 誠, 樂 莫 大 焉. Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng.
[77] Sự tích Khổng Tử tới vấn lễ Lão Tử cũng được ghi nơi: Khổng Tử thế gia 孔 子 世 家; Lễ ký Tăng Tử vấn 禮 記 曾 子 問; Trang tử Nam hoa kinh 莊 子 南 華 經, Ngoại vật thiên 外 物 篇 và Thiên vận 天 運, đoạn F; Đại Đới ký, Tăng Tử chế ngôn thượng. (Xem Tưởng Bá Tiềm, Chư tử thông khảo 諸 子 通 考, tr. 169).
[78] Ban Cố 班 固 sinh năm 32 chết năm 92 công nguyên, đời Hán Minh đế 漢 明 帝.
[79] 24 tháng 9 năm 165 công nguyên.
[80] Hoàng đế 黃 帝 (Hiên Viên).
[81] Lão tử biến hóa kinh. (Manuscrit de Touen hoang MS. Stein Londres) 2295, do Vương Trù 王 儔 chép và được một đạo sĩ ở Huyền Đô xem lại. Ngày 14 tháng 8 âm lịch, năm Đại Nghiệp thứ 8 đời Tùy Dương đế (605-618) tức là ngày 14.9.612 Công nguyên. Bản kinh này viết rất khó hiểu, nhiều khúc lại mất. Ông M. Yosioka và ông M. Obuchi có đề cập bản kinh này nhưng không sửa lại. A. K. Seidel đã lược dịch trong sách La divinisation de Lao Tseu dans le Taoisme des Han (tr. 60-73). Bản văn cũng được chụp lại nơi cuốn sách trích dẫn. Đây tôi cũng chỉ dịch thoát nghĩa đại khái mà thôi.

[82] Quan hồ hỗn hợp chi vị biệt 觀 乎 混 合 之 未 別.
[83] Khuy thanh trọc chi vị phân 窺 清 濁 之 未 分.
[84] Hoảng hốt thanh trọc 慌 忽 清 濁.
[85] Phương khẩu hậu thần 方 口 厚 唇.
[86] Kiên ngạch hữu tam ngũ đại lý 肩 額 有 三 五 大 理.
[87] Túc đạo 足 蹈.
[88] Thủ bả thập văn 手 把 十 文.
[89] Đào dã hư vô 陶 冶 虛 無.
[90] Khâm đới bát cực 衿 帶 八 極.
[91] Thiên phúc địa tải 天 覆 地 載.
[92] Hô hấp lục giáp 呼 吸 六 甲.
[93] Xá ngự Kiền Khôn 吒 御 乾 坤.
[94] Thủ bả tích trượng 手 把 錫 杖.
[95] Nguyên văn là chữ 槃.
[96] Anna K. Seidel chữa thành chữ bàn  ( 疒 + 槃 ), tức là có thêm bộ «nạch» trùm lên.
[97] Nguyên văn là chữ thế 世.
[98] Câu 29 này đại khái nói: phải mất hai mươi chín ngày hay một tháng mới thực hành được «sinh đạo» 生 道 của Lão tử.
[99] Thời Phục Hi 伏 羲 ngài tên Ôn Sảng tử 溫 爽 子.
[100] Thời Thần Nông 神 農, ngài tên Xuân Thành tử 春 成 子 hay Trần Dự 陳 豫.
[101] Thời Chúc Dung 祝 融, ngài tên Quảng Thành tử 廣 成 子.
[102] Thời Chuyên Húc 顓 頊 , ngài tên Xích Tinh tử 赤 精 子.
[103] Thời Đế Cốc 帝 嚳, ngài tên Chân tử 真 子.
[104] Thời Hoàng đế 黃 帝, ngài tên Thiên Lão 天 老.
[105] Thời Nghiêu 堯, ngài tên Mậu Thành tử 茂 成 子.
[106] Thời Thuấn 舜, ngài tên Khoách Thúc tử 廓 叔 子.
[107] Thời vua Vũ 禹 nhà Hạ 夏, ngài tên Lý Nhĩ 李 耳.
[108] Thời vua Thang 湯 nhà Ân 殷, ngài tên Tư Cung 斯 宮.
[109] Thời vua Văn 文 nhà Chu 周, ngài giữ chức «Tiên vương quốc trụ hạ sử.» 先 王 國 柱 下 吏.
[110] Đời Võ vương 武 王, ngài tên Vệ Thành tử 衛 成 子.
***
***
ĐẠO  ĐỨC  KINH
(Chánh văn và Bản dịch)

***

A.- CHÁNH  VĂN:-

老子道德經

  老子道德經第一章

        「道可道,非常道,名可名,非常名。無名,天地之始,有名,萬物之母
        。故常無欲以觀其妙,常有欲以觀其徼,此兩者同出而異名,同謂之玄
        ,玄之又玄,眾妙之門。」

  老子道德經第二章
        「天下皆知美之為美,斯惡已。
          皆知善之為善,斯不善已。
          故有無相生,難易相成,長短相形,高下相傾,音聲相和,前後相隨;
          是以聖人處無為之事,行不言之教,萬物作焉而不辭;
          生而不有,為而不恃,功成而弗居;
          夫唯弗居,是以不去。」
  老子道德經第三章
        「不尚賢,使民不爭;不貴難得之貨,使民不為盜;不見可欲,使民心不
        亂;是以聖人之治,虛其心、實其腹、弱其志、強其骨。常使民無知無欲
        ,使夫智者不敢為也。為無為,則無不治。」
  老子道德經第四章
        「道沖而用之,或不盈。淵兮似萬物之宗;挫其銳、解其紛、和其光、同
        其塵,湛兮似或存。吾不知誰之子,象帝之先。」
  老子道德經第五章
        「天地不仁,以萬物為芻狗;
        聖人不仁,以百姓為芻狗。
        天地之間,其猶橐籥乎!
        虛而不屈、動而愈出,
        多言數窮,不如守中。」
  老子道德經第六章
        「谷神不死是謂玄牝
        玄牝之門是謂天地根
        綿綿若存用之不勤」
  老子道德經第七章
        「天長地久,天地所以長且久者,
        以其不自生,故能長生。
        是以聖人後其身而身先,
        外其身而身存。
        非以其無私耶!
        故能成其私。」
  老子道德經第八章
        「上善若水,水善利萬物而不爭,處眾人之所惡,故幾於道。
        居善地,心善淵、與善仁、言善信、正善治、事善能、動善時。
        夫唯不爭,故無尤」
  老子道德經第九章
        「持而盈之,不如其已;揣而銳之,不可長保;
        金玉滿堂,莫之能守;富貴而驕,自遺其咎。
        功成身退,天之道」
  老子道德經第十章
        「載營魄抱一,能無離乎?
        專氣致柔,能嬰兒乎?
        滌除玄覽,能無疵乎?
        愛國治民,能無為乎?
        天門開闔,能為雌乎?
        明白四達,能無知乎?
        生之蓄之,生而不有,為而不恃,長而不宰,
        是謂玄德。
  老子道德經第十一章
        「三十輻,共一轂,當其無,有車之用。
        埏埴以為器,當其無,有器之用。
        鑿互牖以為室,當其無,有室之用。
        故有之以為利,無之以為用。」
  老子道德經地十二章
        「五色令人目盲,
        五音令人耳聾,
        五味令人口爽,
        馳騁田獵,令人心發狂;
        難得之貨,令人行妨;
        是以聖人為腹不為目;
        故去彼取此。」
  老子道德經第十三章
        「寵辱若驚,貴大患若身。
        何謂寵辱若驚?寵為上、辱為下,
        得之若驚,失之若驚,是謂寵辱若驚。
        何謂貴大患若身?吾所以有大患者,為吾有身。
        及吾無身,吾有何患?
        故貴以身為天下,若可寄天下;
        愛以身為天下,若可託天下。」
  老子道德經第十四章
        「視之不見名曰夷,
        聽之不聞名曰希,
        搏之不得名曰微,
        此三者不可致詰,故混而為一。
        其上不皦,其下不昧,
        繩繩不可名,復歸於無物。
        是謂無狀之狀,無物之象,是謂惚恍。
        迎之不見其首,隨之不見其後。
        執古之道,以御今之有。
        能知古始,是謂道紀。」
  老子道德經第十五章
        古之善為道者,微妙玄通,深不可識。
        夫唯不可識,故強為之容。
        豫兮若冬涉川,猶兮若畏四鄰,
        儼兮其若客,渙兮若冰之將釋,
        敦兮其若樸,曠兮其若谷,渾兮其若濁。
        孰能濁以靜之徐清,孰能安以動之徐生。
        保此道者不欲盈,夫唯不盈,故能蔽而新成。
  《老子道德經》第十六章
        致虛極,守靜篤。
        萬物並作,吾以觀復。
        夫物芸芸,各復歸其根,
        歸根曰靜,是謂復命。
        復命曰常,不知常,妄作凶。
        知常容、容乃公,
        公乃全,全乃天,
        天乃道,道乃久,
        沒身不殆。
  《老子道德經》第十七章
        「太上,不知有之;
        其次,親而譽之;
        其次,畏之;
        其次,侮之;
        信不足焉,有不信焉。
        悠兮其貴言。
        功成、事遂,
        百姓皆謂:我自然。」
  《老子道德經》第十八章
        「大道廢,有仁義;
        智慧出,有大偽;
        六親不和有孝慈,
        國家昏亂有忠臣。」
  《老子道德經》第十九章
        「絕聖棄智,民利百倍;
        絕仁棄義,民復孝慈;
        絕巧棄利,盜賊無有。
        此三者以為文不足,
        故令有所屬。
        見素抱樸,
        少私寡欲。」
  《老子道德經》第二十章
        「絕學無憂,
        唯之與阿,相去幾何?
        善之與惡,相去若何?
        人之所畏,不可不畏。
        荒兮其未央哉!
        眾人熙熙,如享太牢,如春登臺。
        我獨泊兮其未兆,如嬰兒之未孩。
        儡儡兮若無所歸!
        眾人皆有餘,而我獨若遺。
        我愚人之心也哉,沌沌兮!
        俗人昭昭,我獨昏昏。
        俗人察察,我獨悶悶。
        澹兮其若海,飂兮若無止。
        眾人皆有以,而我獨頑且鄙。
        我獨異於人,而貴食母。
  《老子道德經》第廿一章

        「孔德之容,唯道是從。
        道之為物,唯恍唯惚,
        惚兮恍兮,其中有象;
        恍兮惚兮,其中有物。
        窈兮冥兮,其中有精,
        其精甚真,其中有信。
        自古及今,其名不去,
        以閱眾甫。
        吾何以知眾甫之狀哉?以此!」
  《老子道德經》第廿二章
        「曲則全,枉則直,
        窪則盈,敝則新,
        少則得,多則惑。
        是以聖人抱一為天下式,
        不自見故明,
        不自是故彰,
        不自伐故有功,
        不自矜故長。
        古之所謂曲則全者,豈虛言哉?
        誠全而歸之。」
  《老子道德經》第廿三章
        「希言自然,
        故飄風不終朝,驟雨不終日。
        孰為此者?天地。
        天地尚不能久,而況於人乎?
        故從事於道者,同於道;
        德者,同於德;
        失者,同於失。
        同於道者,道亦樂得之;
        同於德者,德亦樂得之;
        同於失者,失亦樂得之。
        信不足焉,有不信焉!
  《老子道德經》第廿四章
        「企者不立,跨者不行。
        自見者不明,自是者不彰;
        自伐者無功,自誇者不長。
        其於道也,曰:餘食贅行。
        物或惡之,故有道者不處。」
  《老子道德經》第廿五章
        「有物混成,先天地生。
        寂兮寥兮,獨立而不改,周行而不殆,可以為天下母。
        吾不知其名,字之曰道,強為之名曰大。
        大曰逝,逝曰遠,遠曰反。
        故道大、天大、地大、人亦大。
        域中有四大,而王居其一焉!
        人法地,地法天,天法道,道法自然」。
  《老子道德經》第廿六章
        「重為輕根,靜為躁君;
        是以聖人終日行不離輜重,
        雖有榮觀,燕處超然。
        奈何萬乘之主,而以身輕天下?
        輕則失根,躁則失君。」 
  《老子道德經》第廿七章
        「善行無轍跡,
        善言無瑕謫,
        善數不用籌策,
        善閉無關鍵而不可開,
        善結無繩約而不可解。
        是以聖人常善救人,故無棄人;
        常善救物,故無棄物。 是謂襲明。
        故善人者,不善人之師;
        不善人者,善人之資。
        不貴其師,不愛其資;
        雖智大迷,是謂要妙。」
  《老子道德經》第廿八章
        「知其雄,守其雌,為天下谿;
        為天下谿,常德不離,復歸於嬰兒。
        知其白,守其黑,為天下式。
        為天下式,常德不忒,復歸於無極。
        知其榮,守其辱,為天下谷。
        為天下谷,常德乃足,復歸於樸。
        樸散則為器,聖人用之,則為官長。故大制不割。」
  《老子道德經》第廿九章
        「將欲取天下而為之,吾見其不得已。
        天下神器,不可為也,不可執也。
        為者敗之,執者失之。
        故物或行或隨,或歔或吹,
        或強或羸,或載或隳。
        是以聖人去甚、去奢、去泰。」

  《老子道德經》第三十章
        「以道佐人主者,不以兵強天下;其事好還。
        師之所處,荊棘生焉!
        大軍之後,必有凶年。
        善者果而已,不敢以取強。
        果而勿矜,果而勿伐,果而勿驕。
        果而不得已,果而勿強。
        物壯則老,是謂不道,不道早已。」
  《老子道德經》第三十一章
        「夫佳兵者,不祥之器。物或惡之,故有道者不處。
        君子居則貴左,用兵則貴右。
        兵者,不祥之器,非君子之器。
        不得已而用之,恬淡為上。
        勝而不美,而美之者,是樂殺人。
        夫樂殺人者,不可得志於天下。
        吉事尚左,凶事尚右。偏將軍居左,上將軍居右。
        言以喪禮處之,殺人眾多,以悲哀泣之。戰勝以喪禮處之。」
  《老子道德經》第三十二章
        「道常無名,樸,雖小,天下莫能臣也。
        侯王若能守之,萬物將自賓。
        天地相合,以降甘露,民莫之令而自均。
        始制有名,名亦既有,夫亦將知止;知止,可以不殆。
        譬道之在天下,猶川谷之與江海。」
  《老子道德經》第三十三章
        「知人者智,自知者明;
        勝人者有力,自勝者強;
        知足者富,強行者有志;
        不失其所者久,死而不亡者壽。」
  《老子道德經》第三十四章
        「大道氾兮,其可左右。
        萬物恃之而生而不辭,
        功成不名有,衣養萬物而不為主。
        常無欲,可名於小;
        萬物歸焉而不為主,可名為大。
        以其不自為大,故能成其大!」
  《老子道德經》第三十五章
        「執大象,下下往;
        往而不害,安平泰。
        樂與餌,過客止。
        道之出言,淡兮其無味。
        視之不足見,聽之不足聞,用之不足既。」
  《老子道德經》第三十六章
        「將欲歙之,必固張之;
        將欲弱之,必固強之;
        將欲廢之,必固舉之;
        將欲奪之,必固與之;是謂微明。
        柔勝剛,弱勝強。
        魚不可脫於淵,國之利器,不可以示人!」
  《老子道德經》第三十七章
        「道常無為而無不為,
        侯王若能守之,萬物將自化;
        化而欲作,吾將鎮之以無名之樸。
        夫亦將無欲,無欲以靜,天下將自定。」
  《老子道德經》第三十八章
        「上德不德,是以有德。
        下德不失德,是以無德。
        上德,無為而無以為;
        下德,為之而有以為;
        上仁為之而無以為。
        上義為之而有以為。
        上禮為之而莫之應,則攘臂而扔之。
        故失道而後德,失德而後仁,失仁而後義,失義而後禮;
        夫禮者,忠信之薄,而亂之首。
        前識者,道之華,而愚之始。
        是以大丈夫處其厚,不居其薄,
        處其實,不居其華,故去彼取此。
  《老子道德經》第三十九章
        「昔之得一者:
        天得一以清,地得一以寧,
        神得一以靈,谷得一以盈,
        萬物得一以生,侯王得一以為天下正。
        其致之也,謂天無以清將恐裂,地無以寧將恐廢,
        神無以靈將恐歇,谷無以盈將恐竭,
        萬物無以生將恐滅,侯王無以貴高將恐蹶。
        故貴以賤為本,高以下為基,
        是以侯王自謂孤寡不穀,此非以賤為本邪?非乎!
        故致數譽無譽,不欲琭琭如玉,珞珞如石。」
  《老子道德經》第四O章
        「反者,道之動,
        弱者,道之用,
        天下萬物生於有,
        有生於無。」
  《老子道德經》第四十一章
        「上士聞道,勤而行之;
        中士聞道,若存若亡;
        下士聞道,大笑之,不笑不足以為道。
        故建言有之,明道若昧,進道若退,
        夷道若纇,上德若谷,
        大白若辱,廣德若不足,
        建德若偷,質真若窬,
        大方無隅,大器晚(免)成,
        大音希聲,大象無形
        道隱無名,夫唯道善貸且成。」
  《老子道德經》第四十二章
        「道生一,一生二,二生三,三生萬物;
        萬物負陰而抱陽,沖氣以為和。
        人之所惡,唯孤寡不穀,而王公以為稱;
        故物或損之而益,或益之而損;
        人之所教,我亦教之。
        強梁者不得其死,吾將以為教父。」
  《老子道德經》第四十三章
        「天下之至柔,馳騁天下之至堅。
        無有入無間, 吾是以知無為之有益。
        不言之教,無為之益,天下希及之。」
  《老子道德經》第四十四章
        「名與身孰親?
        身與貨孰多?
        得與亡孰病?
        是故甚愛必大費,
        多藏必厚亡。
        知足不辱,知止不殆,可以長久!」
  《老子道德經》第四十五章
        「大成若缺,其用不弊;
        大盈若沖,其用不窮;
        大直若屈,大巧若辯,
        躁勝寒,靜勝熱,
        清靜為天下正。」
  《老子道德經》第四十六章
        「天下有道,卻走馬以糞;
        天下無道,戎馬生於郊;
        禍莫大於不知足,咎莫大於欲得;
        故知足之足,常足矣!」
  《老子道德經》第四十七章
        「不出戶,知天下;
不窺牖,見天道;
        其出彌遠,其知彌少;
        是以聖人不行而知,不見而名,不為而成。」
  《老子道德經》第四十八章
        「為學日益,為道日損,
        損之又損,以至於無為;
        無為而無不為。
        取天下常以無事,
        及其有事,不足以取天下。」
  《老子道德經》第四十九章
        「聖人常無心,以百姓心為心。
        善者吾善之,不善者吾亦善之,德善。
        信者吾信之,不信者吾亦信之,德信。
        聖人在天下,歙歙為天下渾其心。
        百姓皆注其耳目,聖人皆孩之。」
  《老子道德經》第五O章
        「出生入死,生之徒,十有三;
        死之徒,十有三;人之生,動之死地,亦十有三。
        夫何故?以其生生之厚。
        蓋聞善攝生者,陸行不遇兕虎,入軍不被甲兵,
        兕無所投其角,虎無所措其爪,兵無所容其刃,
        夫何故?以其無死地!」
  《老子道德經》第五十一章
        「道生之,德蓄之,物形之,勢成之。是以萬物莫不遵道而貴德。
        道之生,德之貴,夫莫之命而常自然。
        故道生之,德蓄之,長之育之,亭之毒之,養之覆之。
        生而弗有,為而弗恃,長而弗宰,是謂玄德。」
  《老子道德經》第五十二章
        「天下有始,以為天下母。
        既得其母,以知其子,
        既知其子,復守其母;沒身不殆。
        塞其兌,閉其門,終身不勤。
        開其兌,濟其事,終身不救。
        見小曰明,守柔曰強,
        用其光,復歸其明;
        無遺身殃,是謂習常。」
  《老子道德經》第五十三章
        「使我介然有知,行於大道,唯施是畏。
        大道甚夷,而民好徑。
        朝甚除,田甚蕪,倉甚虛,
        服文采,帶利劍,厭飲食,貨財有餘,
        是謂盜夸,非道也哉!」
  《老子道德經》第五十四章
        「善建者不拔,善抱者不脫,子孫以祭祀不輟。
        修之於身,其德乃真;
        修之於家,其德乃餘;
        修之於鄉,其德乃長;
        修之於邦,其德乃豐;
        修之於天下,其德乃普。
        故以身觀身,以家觀家,以國觀國,以天下觀天下,
        吾何以知天下之然哉,以此!」
  《老子道德經》第五十五章
        「含德之厚,比於赤子;
        毒虫不螫,猛獸不據,攫鳥不搏;
        骨弱筋柔而握固,未知牝牡之合而晙作,精之至也。
        終日號而不嗄,和之至也;
        知和曰常,知常曰明,
        益生曰祥,物壯則老,謂之不道,不道早已!」
  《老子道德經》第五十六章
        「知者不言,言者不知,
        塞其兌,閉其門,
        挫其銳,解其紛,
        和其光,同其塵。
        是謂玄同。
        故不可得而親,不可得而疏,
        不可得而利,不可得而害,
        不可得而貴,不可得而賤,
        故為天下貴!」
  《老子道德經》第五十七章
        「以正治國,以奇用兵,以無事取天下;
        吾何以知其然哉,以此!
        天下多忌諱,而民彌貧;
        人多利器,國家滋昏;
        人多伎巧,奇物滋起;
        法令溢彰,盜賊多有;
        故聖人云:我無為而民自化,
        我好靜而民自正,
        我無事而民自富,
        我無欲而民自樸!」
  《老子道德經》第五十八章
        「其政悶悶,其民淳淳;
        其政察察,其民缺缺;
        禍兮福之所倚,福兮禍之所伏;
        孰知其極,其無正。
        正復為奇,善復為妖。
        人之迷,其日固久,
        是以聖人方而不割,廉而不劌,直而不肆,光而不耀。」
  《老子道德經》第五十九章
        「治人事天莫若嗇,夫唯嗇是謂早服;
        早服謂之重積德,重積德則無不克;
        無不克則莫知其極,莫知其極可以有國;
        有國之母可以長久,是謂深根固柢,長生久視之道。」
  《老子道德經》第六O章
        「治大國,若烹小鮮;
        以道蒞天下,其鬼不神;
        非其鬼不神,其神不傷人;
        非其神不傷人,聖人亦不傷人;
        夫兩不相傷,故德交歸焉!」
  《老子道德經》第六十一章
        「大國者下流,天下之交,天下之牝。
        牝常以靜勝牡,以靜為下。
        故大國以下小國,則取小國。
        小國以下大國,則取大國。
        故或下以取,或下而取。
        大國不過欲兼畜人
        小國不過欲入事人。
        夫兩者各得其所欲,大者宜為下。」
  《老子道德經》第六十二章
        「道者,萬物之奧。
        善人之寶,不善人之所保。
        美言可以市尊,美行可以加人。
        人之不善,何棄之有。
        故立天子,置三公,雖有拱璧,以先駟馬,不如坐進此道。
        古之所以貴此道者,何也。
        不曰:求以得,有罪以免耶,故為天下貴。」
  《老子道德經》第六十三章
        「為無為,事無事,味無味。
        大小多少,報怨以德。
        圖難於其易,圖大於其細。
        天下難事,必作於易。
        天下大事,必作於細。
        是以聖人終不為大,故能成其大。
        夫輕諾必寡信,多易必多難;
        是以聖人猶難之,故終無難矣!」
  《老子道德經》第六十四章
        「其安易持,其未兆易謀。
        其脆易泮,其微易散。
        為之於未有,治之於未亂。
        合抱之木,生於毫末。
        九層之臺,起於累土。
        千里之行,始於足下。
        為者敗之,執者失之。
        是以聖人無為故無敗,無執故無失。
        民之從事,常於幾成而敗之。
        慎終如始,則無敗事。
        是以聖人欲不欲,不貴難得之貨;
        學不學,復眾人之所過,以輔萬物之自然而不敢為。」
  《老子道德經》第六十五章
        「古之善為道者,非以明民,將以愚之。
        民之難治,以其智多,
        故以智治國,國之賊!
        不以智治國,國之福。
        知此兩者,亦稽式;
        常知稽式,是謂玄德。
        玄德深矣遠矣!與物反矣,然後乃至大順。」
  《老子道德經》第六十六章
        「江海所以能為百谷王者,以其善下之,故能為百谷王。
        是以欲上民必以言下之,欲先民必以身後之。
        是以聖人處上而民不重,處前而民不害。
        是以天下樂推而不厭,
        以其不爭,故天下莫能與之爭。」
  白話譯文:
        「汪洋江海之所以能成為百川眾谷之王,因為它善處卑下,故能成為百川
        眾谷之王。
        因此,統治天下的聖人想要居於人民之上,必得以謙卑的言語來取得人民的信賴;
        想要人民站出來,那麼聖人必得把自己退到後面去!
        因此,聖人處在上面而人民不覺得有沉重的壓力,站在前頭領導而人民不
        覺得有妨害!
        這樣一來,天下人都樂意推戴他,而不會厭棄他;
        這是因為聖人不與人相爭,因而天下人沒有人能與他相爭!」
  《老子道德經》第六十七章
        「天下皆謂我道大似不肖。
        夫唯大故不肖,若肖久矣,其細也夫。
        我有三寶,持而保之,一曰慈、二曰儉、三曰不敢為天下先。
        慈故能勇,儉故能廣,不敢為天下先,故能成器長。
        今舍慈且勇,舍儉且廣,舍後且先,死矣!
        夫慈以戰則勝,以守則固,天將救之,以慈衛之。」
  《老子道德經》第六十八章
        「善為士者不武,
        善戰者不怒,
        善勝敵者不與,
        善用人者為之下,
        是謂不爭之德,
        是謂用人之力,
        是謂配天,古之極也。」
  《老子道德經》第六十九章
        「用兵有言曰:吾不敢為主,而為客;
        吾不敢進寸而退尺,
        是謂行無行,攘無臂,執無兵,扔無敵。
        禍莫大於輕敵,輕敵幾喪吾寶;
        故抗兵相加,哀者勝矣!」
  《老子道德經》第七O章
        「吾言甚易知,甚易行。
        天下莫能知,莫能行。
        言有宗,事有君。
        夫唯無知,是以不我知。
        知我者希,則我者貴;
        是以聖人被褐懷玉」。
  《老子道德經》第七十一章
        「知不知,上;不知知,病。
        夫唯病病,是以不病;
        聖人不病,以其病病,是以不病。」
  《老子道德經》第七十二章
        「民不畏威,則大威至。
        無狹其所居,無厭其所生。
        夫唯不厭,是以不厭,
        是以聖人自知不自見,
        自愛不自貴,故去彼取此。」
  《老子道德經》第七十三章
        「勇於敢則殺,勇於不敢則活。
        此兩者或利或害。
        天之所惡,孰知其故?
        是以聖人猶難之。
        天之道不爭而善勝,不言而善應,不召而自來,
        繟然而善謀,天網恢恢,疏而不失。」
  《老子道德經》第七十四章
        「民不畏死,奈何以死懼之。
        若使民常畏死,而為奇者。
        吾得執而殺之,孰敢!
        常有司殺者殺。
        夫代司殺者殺,是謂代大匠斲。
        夫代大匠斲者,希有不傷其手矣!」
  《老子道德經》第七十五章
        「民之飢,以其上食稅之多,是以飢。
        民之難治,以其上之有為,是以難治。
        民之輕死,以其求生之厚,是以輕死。
        夫唯無以生為者,是賢於貴生。」
  《老子道德經》第七十六章
        「人之生也柔弱,其死也堅強。
        萬物草木之生也柔脆,其死也枯槁。
        故堅強者死之徒,柔弱者生之徒。
        是以兵強則不勝,木強則兵,強大處下,柔弱處上。」
  《老子道德經》第七十七章
        「天之道,其猶張弓與!
        高者抑之,下者舉之,有餘者損之,不足者補之。
        天之道,損有餘而補不足。
        人之道則不然,損不足以奉有餘。
        孰能有餘以奉天下?唯有道者。
        是以聖人為而不恃,功成而不處,其不欲見賢。」
  《老子道德經》第七十八章
        「天下莫柔弱於水,
        而攻堅強者莫之能勝,其無以易之。
        弱之勝強,柔之勝剛,
        天下莫不知、莫能行。
        是以聖人云:受國之垢,是謂社稷主;
        受國不祥,是為天下王。
        正言若反。」
  《老子道德經》第七十九章
        「和大怨,必有餘怨,安可以為善;
        是以聖人執左契而不責於人。
        有德司契,無德司徹,天道無親,常與善人。」
  《老子道德經》第八O章
        「小國寡民,使有什伯之器而不用,
        使民重死而不遠徙,
        雖有舟輿,無所乘之;
        雖有甲兵,無所陳之;
        使人復結繩而用之,
        甘其食、美其服、安其居、樂其俗,
        鄰國相望,雞犬之聲相聞,民至老死不相往來。」
  《老子道德經》第八十一章
        「信言不美,美言不信;
        善者不辯,辯者不善;
        知者不博,博者不知;
        聖人不積,既以為人己愈有,既以與人己愈多。
        天之道,利而不害;
        聖人之道,為而不爭。」

*作者簡介:
*林安梧 
國立台灣師範大學國文學系教授、國立台灣大學哲學博士、國際儒學聯合會理事、通識教育學會理事、東方人文基金會董事;曾任清華大學通識教育中心主任、南華大學哲學所所長、《思與言》學刊主編、《鵝湖》主編暨社長,最關心的哲學論題是「人存在的異化及其歸復之道」,著有《台灣、中國:邁向世界史》、《存有、意識與實踐》、《中國宗教與意義治療》、《教育哲學講論》、《中國近現代思想觀念史論》、《當代新儒家哲學史論》、《儒學革命論:後新儒家哲學的思維向度》、《台灣文化治療:通識教育現象學引論》、《台灣解咒﹕從「主奴意識」到「公民社會」》,現正從事於「後新儒學理論的締造工作」。)

*Xem tiếp phần B : – Bản dịch

*PHẦN  B

BẢN DỊCH

ĐẠO  ĐỨC  KINH

Lão  Tử

Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là ” ĐẠO ”  . Đạo mà diễn tả được thì đó không còn là đạo bất biến nữa, tên mà gọi ra được thì đó không còn là tên bất biến nữa.
(Ta gọi tiếng “trâu” để chỉ con trâu là do quy ước từ xưa đến nay, tiếng “trâu” không phải là tên bất biến. Nếu từ xưa ta quy ước gọi tiếng “bò” để chỉ con trâu thì ta sẽ gọi con trâu là “bò”. Đạo thì không như vậy. Đạo bất biến nên ta không thể diễn tả rõ ràng được, chỉ có thể dùng trực giác để hiểu).
     
  Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự chuyển động, bình thản vô tâm mà khéo sắp đặt mọi việc. Đạo trời không thiên vị ai, luôn giúp đỡ cho người lương thiện. Lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó lọt (Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất).<câu tủ của Bao Công!>

  Không tên là gốc trời đất, có tên là mẹ vạn vật. Đạo trời ví như cánh cửa khép mở, vạn vật từ đó đi ra rồi lại trở về đó. Đạo có tính chất trừu tượng, nó không có hình thù cụ thể, không thể nắm rõ, không sáng ở nơi rực rỡ, không mờ ở nơi tối tăm và cũng không có tiếng động. Đạo vĩnh viễn không có tên gọi. Vạn vật chuyển động theo một vòng tròn khép kín. Tất cả bắt đầu từ “có”, có lại bắt đầu từ “không”. Lời nói hợp đạo nghe như ngược đời.
  Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu thảo, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung. Đạo ức chế vật cao, nâng đỡ vật thấp. Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt. Đạo người thì lấy của người nghèo mà thêm cho người giàu, đây chính là nguồn gốc của sự hỗn loạn. Người khôn ngoan chỉ muốn một điều là không muốn gì cả.

   Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đế vương có đạo mà được thiên hạ.
   Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mĩ thì không chân thật. Người thiện thì không mắc lỗi nên không cần phải biện bạch, người nào phải biện bạch cho mình là người “không thiện”. Người biết thì không nói, người nói là người không biết [tri bất ngôn, ngôn bất tri].

  Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng lại. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết đi thì lại khô cứng. Cho nên cứng rắn, cáu giận là biểu hiện của chết, mềm yếu, khiêm nhường là dấu hiệu của sống. Binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì lại bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềm yếu lại được ở trên.
   Mạnh về dám làm [can đảm, cương cường] thì chết, mạnh về không dám làm [thận trọng, nhu nhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnh mẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tại sao trời lại ghét cái quả cảm, cương cường ? Danh dự với sinh mệnh, cái nào mới thật sự quý ? Người khôn ngoan không bao giờ vì trọng cái danh hão mà xem nhẹ tính mạng mình.

  Lời hứa dễ dàng thì khó tin, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp cái gì khó. “Không” có nghĩa là “không có gì” nhưng phải “có cái gì” thì mới có cái “không có”. Trong tự nhiên, ngay cả những việc khó khăn nhất cũng có thể thực hiện theo cách dễ dàng, việc lớn thành tựu từ những hành động nhỏ hơn. Người khôn ngoan đạt những thành tựu vĩ đại là nhờ biết chia nhỏ hành động của mình.

  Cái gì ở yên thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phân tán. Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình. Cây lớn sinh ra từ một cái mầm nhỏ; tháp cao chín tầng khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân. Thường gần tới lúc thành công thì lại dễ thất bại, vì không cẩn thận như lúc ban đầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.

  Người hiểu đạo trị thiên hạ theo chính sách “vô vi” (taking no action), luôn giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên người đắc đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn. Người đắc đạo làm việc mà không tư lợi.

   Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh thần bất nhân, coi trăm họ như chó rơm [Luật thiên nhiên không có tình thương của con người, cứ thản nhiên, vô tâm với vạn vật, mùa xuân tươi tốt, mùa đông điêu tàn…].
Khoảng giữa trời đất như cái ống bễ lò rèn; hư không mà không kiệt, càng chuyển động hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự yên tĩnh.

  Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng cương cường.

  Người đánh xe giỏi không xông bừa tới trước. Người chiến đấu giỏi không giận dữ, khéo thắng địch là không tranh với địch, khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Đó là cái đức của sự không tranh, đó là cái khéo của sự dùng người, đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời.
   Ngũ sắc làm người ta mờ mắt; ngũ âm làm người ta ù tai; ngũ vị làm người ta tê lưỡi, hưởng thụ làm cho người ta mê muội, vàng bạc làm cho hành vi người ta xấu xa. Cho nên bậc đắc đạo cầu no bụng mà không cầu vui mắt, bỏ cái xa xỉ, đa dục mà chọn cái chất phác, vô dục. Bậc đắc đạo bận áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.

  Trời đất vĩnh cửu. Trời đất vĩnh cửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trường sinh được.
  Người đắc đạo đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳng phải vì họ không tư lợi mà thành được việc riêng của mình ư?
   Người cực khéo thì dường như vụng. Người nói giỏi thì dường như ấp úng. Cử động thì thắng được lạnh. Nhưng yên tĩnh thì thắng được nóng. Vậy cứ thanh tĩnh thì mọi vật sẽ đâu vào đấy.
   Người quân tử gặp thời thì mặc áo gấm mà ngồi xe ngựa, không gặp thời thì mặc áo vải thô mà đi chân đất. Người tốt thật sự không ý thức được tính thiện trong việc làm của mình, trái lại kẻ dại dột (the foolish) luôn cố gắng tỏ ra là mình tốt.

  Không trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cắp, không phô bày cái gợi ham muốn để lòng dân không loạn.
  Chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, không ham muốn, không tranh giành, xương thì mạnh.
  Khiến cho dân không biết, không muốn, bọn thông minh, mưu trí thì không dám hành động. Theo chính sách “vô vi” thì mọi việc đều yên ổn.

  Không học thì không phải lo. Đem cái hữu hạn xét cái vô hạn, há chẳng phải là ngốc lắm sao? Càng theo học thì mỗi ngày dục vọng, lòng “hữu vi” càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dục vọng càng giảm, lòng “vô vi” càng tăng.
 Con người có ba vật báu mà tôi ôm giữ cẩn thận, một là lòng nhân ái, hai là tính tiết kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ. Vì nhân ái mà sinh ra dũng cảm, vì tiết kiệm mà sinh ra sung túc, rộng rãi, vì không dám đứng trước thiên hạ mà làm chủ được thiên hạ.

  Nếu không nhân ái mà mong được dũng cảm, không tiết kiệm mà mong được rộng rãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏng việc. Trời muốn giúp ai thì cho người đó lòng nhân ái để tự bảo vệ, lấy lòng nhân ái mà giúp người đó.

  Người sáng suốt nghe đạo thì cố gắng mà thi hành, người thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tối tăm nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa ?!

  Vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực mềm, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được. Đạo cũng ví như nước vậy.
  Yếu thắng được mạnh, mềm thắng được cứng, ai cũng biết như vậy nhưng không ai thực hành được.

  Vật bén nhọn thì dễ gẫy. Giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén thì lại không bén lâu. Nghèo hèn chính là gốc của giàu sang.  Vàng ngọc đầy nhà [kim ngọc mãn đường], sao mà giữ nổi ? Nên biết khi nào là đủ [tri túc]. Giàu mà kiêu căng, khoe khoang là tự rước họa vào thân.

  Ba mươi nan hoa cùng qui vào một cái bánh xe, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà cửa nhà mới dùng để ra vào được, nhờ có cửa sổ mà nhà không tối.
Vậy ta tưởng cái “hữu” [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thực ra cái “vô” mới làm cho cái “hữu” có ích.

  Vinh hay nhục thì lòng cũng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn. Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rối loạn [mừng rỡ mà!]; mất thì lòng rối loạn [rầu rĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinh ra rối loạn. Vậy phải làm sao ? Chúng ta sỡ dĩ sợ vạ lớn là vì chúng ta có cái thân. Nếu chúng ta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng rối loạn nữa ?!
   Cho nên người nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ, thì có thể tin cậy vào kẻ đó được.

 Người nào giữ được đạo thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được. Khi xem xét sự vật, không được quên mặt đối lập của nó. Nghĩ đến cái hữu hạn thì đừng quên cái vô hạn.

  Đứng một chân thì không thể đứng được lâu, giang chân ra thì không thể đi được, tự biểu hiện thì không bao giờ chói lọi, tự kể công thì không có công, tự phụ thì chẳng khuyên bảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trường tồn. Thái độ đó được ví như thức ăn thừa, ung nhọt, người người đều ghét. Thiên bất dung gian.

  Cho cái đẹp là đẹp do đó mới có cái xấu; cho cái thiện là thiện do đó mới có cái ác. Là vì “có” và “không” sinh ra lẫn nhau, “dễ” và “khó” tạo nên lẫn nhau, cao thấp dựa vào nhau mà tồn tại.

  Biết người là khôn, tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiên cường. Biết thế nào là đủ là người giàu; biết gắng sức là người có chí. Kẻ nào không rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâu dài, chết mà không mất là trường thọ. Người hiểu đạo làm việc tuân theo quy luật tự nhiên, chỉ làm những việc cần thiết cho bản thân.

  Hồn nhiên vô tư, vô dục như đứa trẻ mới sanh là có đức dày, ai cũng yêu quý. Đứa trẻ mới sinh độc trùng không chích, mãnh thú không ăn thịt, ác điểu không vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gào hét mà giọng không khản, như vậy là khí cực hòa.
   Tuyệt thánh, bỏ mưu trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân trở nên hiếu hòa; dứt trí khôn, bỏ lợi lộc, không còn trộm giặc.
  Ba cái đó (mưu trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì chỉ là cái vẻ bên ngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộc mạc, trong thì giữ sự đơn giản, giảm tư tâm bớt dục vọng mới là tích cực.
  Giọng kính trọng khác với giọng xem thường bao nhiêu ? Thiện với ác khác nhau như thế nào ? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Vũ trụ thật rộng lớn, không thể nào hiểu hết được.
  Mọi người hớn hở như dự bữa tiệc lớn, như mùa xuân dạo chơi; bậc đắc đạo điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ chưa biết gì, thản nhiên mà đi như không có nơi để về. Mọi người có thừa, riêng bậc đắc đạo như thiếu thốn, trong lòng thì trống rỗng! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng bậc đắc đạo luôn bảo thủ. Người hiểu đạo khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo).
  Vạn vật tuần hoàn, trong dương có âm, âm cực dương sinh, có sinh ắt có tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biến đổi rồi trở về với đạo. Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu biết được vạn vật ? Là nhờ đạo.
  Có câu: “Khiêm tốn là gốc của cao quý”. Người khôn ngoan giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải nên mới chói lọi, không tự kể công nên mới là có công, không tự phụ cho nên mới hơn người. Vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.
  Có câu: “Cong (chịu khuất phục) thì sẽ được bảo toàn”, há phải hư ngôn! Nên chân thành giữ lấy đạo mà về với nó. Trong trời đất có bốn cái vĩ đại là Đạo, tự nhiên, trời đất và con người. Luật con người nên bắt chước tự nhiên, luật tự nhiên bắt chước luật của trời đất, luật trời đất bắt chước Đạo.
  Ít nói thì hợp với tự nhiên. Cơn gió lớn không thể thổi suốt buổi sáng, cơn mưa lớn không kéo dài suốt ngày. Ai làm ra những cái ấy? Chính là do trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống chi là con người ? Người hiểu đạo biết rằng không ai có thể đoán trước những gì tương lai nắm giữ.
   Vũ khí là vật gây lo sợ, ai cũng ghét cho nên người hiểu đạo không dùng binh khí. Chỉ dùng đến nó khi bất đắc dĩ, khi bảo vệ hòa bình, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Chiến thắng mà vui mừng tức là thích giết người. Thích giết người thì không trị được thiên hạ. Chỗ nào đóng quân thì gai góc mọc đầy. Sau cuộc chinh chiến tất có mất mùa.
  Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng thương tiếc mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử. Thắng mà không bức người, vì vật mạnh thì có lúc suy. Nếu không như vậy thì là trái Đạo. Trái Đạo thì sớm bị tiêu diệt. Trị nước phải được tiến hành cẩn thận, giống như việc nấu cá nhỏ. Người khôn ngoan làm việc mà không bao giờ xảo trá, tư lợi.

*Source:- ([url]http://thuonghylenien.com/daohoc/index.php[/url])

KINH SÁCH CÁC TÔN GIÁO

KINH SÁCH CÁC TÔN GIÁO

KINH SÁCH CÁC TÔN GIÁO,
KINH SACH CAC TON GIAO. 

万古皈盤朝聖母,
萬穐丹果亼神仙,
Vạn Cổ Quy Bàn Chiêu Thánh Mẫu,

Muôn Thu Đan Quả Tập Thần Tiên,

KINH SÁCH CÁC TÔN GIÁO :

万古皈盤朝聖母

萬穐丹果亼神仙

Vạn Cổ Quy Bàn Chiêu Thánh Mẫu

Muôn Thu Đan Quả Tập Thần Tiên

Kinh sach dang am thanh mp3:

KINH SÁCH TÔN GIÁO:

ĐỨC THIÊN CHÚA TRỜI CHRIST

ĐẠI ĐẠO CAO ĐÀI

ĐẠO PHẬT

TÔN GIÁO HÒA HẢO

ĐẠO TAM GIÁO

Kinh sách dạng âm thanh mp3:

The following audio mp3 books is freely contribution and distribution.
Press to enter the audio mp3 folder

万古皈盤朝聖母
萬穐丹果亼神仙
Vạn Cổ Quy Bàn Chiêu Thánh Mẫu
Muôn Thu Đan Quả Tập Thần Tiên

-vi Đại-Đạo định Càn-Khôn,

Cực-Lạc là nơi sống vĩnh tồn,

Từ-ái nặng lòng cơn loạn-lạc,

Tôn-ty nhẹ bước buổi hoàng hôn.

Kim-Loan nhớ trẻ vòng siêu đọa,

Bàn-điện thương con cảnh vịnh cồn,

Phật, Thánh, Thần, Tiên đều giáng thế,

Mẫu dìu con trẻ dại nên khôn.

Phật, Thánh, Thần, Tiên đều giáng thế,
Mẫu dìu con trẻ dại nên khôn.

Quay gót mau về nơi cựu vị
Thôi đừng dan díu kiếp phù sinh.

Phù sinh bách tuế đa như mộng,
Thế cuộc nhất trường khả tợ vô,

Dấn thân trong nẻo hoạn đồ,
Kim-lòng ai biết, cả-hồ ai hay.
…   …

Hỡi ai có trí có tài,
Vẫy-vùng thân-thế ra ngoài trầm-luân.
Buổi tánh thị ưng lưu dục hải,
Minh tâm hề giải thoát mê đồ.
Muốn về đến cảnh hư vô,
Trường Tiên nẻo Phật ra vô cõi trời.
…   …

Về nơi bến giác trọn bề,
Để xa bến mụi sông mê cuộc đời.

Con ôi! Giữ vững tinh thần,
Trau-giồi đạo hạnh, kề gần Phật Tiên.
Phật tức Tâm, Tâm hiền tức Phật,
Phàm tánh do tánh xuất phi phàm,
Muốn tìm cho gặp Lão ĐAM,
Non Bồng nước nhược phải cam lối vào.
…   … 
…   … 
…   … 
…   … 
…   … 
…   … 

*******     

Hỡi con trẻ Cung Son có nhớ,
Chốn Diêu-Cung trẻ nỡ quên sao?
Dẫu khi mang sứ mạng vào,
Dẫu khi bị đọa trần-lao đền bù,
Thì cũng nhớ mùa Thu năm ấy,
Mẹ dặn dò con hãy ghi lòng,
Vào đời độ chúng lập công,
Rồi quày trở lại hiệp cùng Mẹ con.

Dẫu thân tục mất còn, giàu có,
Dẫu xác phàm sướng khổ vui buồn,
Nhẫn-kiên chịu đựng qua truông,
Mót bòn công quả vai tuồng nhơn-sanh.

Thì phải nhớ căn lành trở lại,
Thì phải gìn nhơn-nghĩa âu lo,
Xả thân làm Bát-Nhã đò,
Độ đời nào xá cam-go bụi trần.
Con có nhớ non nhân, nước trí,
Mẹ thường thường thủ-thỉ dặn dò,
Nguyên căn há dễ cơ hồ,
Vô-vi trở lại, Hà-đồ dời chân.

Nhưng khi con vào trần tục lụy,
Rồi buông theo chẳng nghĩ, chẳng suy,
Vào đời mê cái hữu-vi,
Lăn theo mãi-mãi chẳng khi nào rời.

Luật tiến-thoái con ôi có biết,
Nghiệp luân-hồi càng siết càng căng,
Bánh xe luân chuyển dặm ngàn,
Xuống lên mãi-mãi con đàng tử sanh.
Ngàn muôn kiếp loanh-quanh trần-cấu,
Như kiến bò miệng chậu khôn ra,
Nào là chủng-tộc quốc-gia,
Nào con vợ đẹp, cửa nhà xinh tươi.

Nào lạc thú vui cười danh lợi,
Nào hơn thua khi tới, khi lui,
Nào ngon-ngọt, nào béo bùi,
Thập tam lấp lững mãi vùi thân con.

Nào có biết mất còn thế sự,
Nào có tường lành dữ nghiệp duyên,
Dây oan trói buộc triền-miên,
Trong vòng nhân-quả dây chuyền xuống lên.
Con hỡi con! Xây nền đạo hạnh,
Con hỡi con! Tu tánh, tu công,
Đừng mê-luyến hẳn hồng-trần,
Nương đời mà biết lập công trở về.

Sớm tránh khỏi sông mê bể khổ,
Tầm thuyền từ Mẹ độ các con,
Tu đi, méo sửa ra tròn,
Tu đi cho nhẹ linh hồn của con.

Đó là giữ vẹn tròn lời Mẹ,
Tình Mẫu-tử cặn-kẻ phân qua,
Đệ-huynh giữ được chữ Hòa,
Dắt dìu nhau chốn Ta-bà tu công.

NGÂM
Con mong đến Hội Hoa-Long,
Để xem thế sự quay mồng đổi thay,
Hởi con! Con có phúc dày,
Để hầu chịu đựng những ngày đổi thay.
Đất Trời rung chuyển Núi bay,
Bao nhiêu đêm tối chẳng ngày con ôi!
Giữa cơn hỗn-độn rối bời,
Biết đâu Ma-quỉ, Đất Trời, Phật Tiên,

Nếu con thiểu đức vô-duyên,
Đừng mong tồn-tại ở yên cõi nầy.
Phật Tiên xác đổi hồn thay,
Lập đời Thượng-đức, lập ngày Thuấn, Nghiêu.

Lọc-lừa sàng-sảy tiêu điều,
Là ngày dữ ít lành nhiều đó con.
Để con sống hưởng vuông tròn,
Một đời hạnh-phúc nước non dịu hiền.
Khỏi cơn đời Đạo đảo-điên rối cuồn.
Con ôi! Hãy lãnh vai tuồng,
Độ đời nào nệ vui buồn thế gian.
Kiên tâm bền chí bền gan,
Luyện-phanh tâm nội minh-quang tháng ngày.

THI
Tháng ngày bền chí với bền công,
Khảo-thí gian lao chớ nản lòng,
Việc khó cố làm nên giá bửu,
Kiếp người sứ mạng phải cho xong.
THI
Cho xong mới trở lại ngôi xưa,
Trần-cấu dặn lòng chớ thích ưa,
Nghiệp quả rán lo mau trả hết,
Tập lần thanh-nhã muối cùng dưa.
…   …   …

***********       
…  …   … 

16. Vì Tình Thương Vô-Cực, Mẹ Phải Đến Thế-Gian Thức Tỉnh Các Con Thánh-Tịnh Ngọc-Minh-Đài, Tuất thời Rằm tháng Mười BínhNgọ (26/11/66)
Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Từ-Tôn, Mẹ mừng các con.

THI: 
Nhớ đến con thơ dưới cõi trần,
Trong khi đời Đạo chịu gian truân,
Lập công quyết giữ lòng son sắc,
Ân huệ dành riêng đã sẵn phần.

Giờ nầy, Mẹ giáng đàn đến cùng các con trong lúc thời thế loạn ly, đem sự an-ủi vỗ-về trên bước đường hành đạo để các con vững niềm tin hầu thoát qua những cơn bảo tố phong ba, giữa cõi trần ai đang tiến diễn. Mẹ miễn lễ, các con đồng an tọa.
Hỡi các con! Cõi Thiên Đường là nơi bất sanh, bất diệt, không phiền lụy nghiệp oan, không trả vay, vay trả.
Nhưng các con đã trót rời cảnh Thiên Đường để thác sanh vào nơi thế tạm, mang một sứ mạng tạo lập nên cõi dinh hoàn, đâu phải là Thượng-Đế đưa các con vào nơi đọa lạc, mà chính đó là đức háo sanh tạo thành trung giới vạn vật để vũ-trụ thêm một phần của sự mầu nhiệm vô biên. Nào hay đâu, khi con vào cõi hồng trần, chẳng vững vàng giữ bổn nguyên chơn tánh, để bụi trần che lấp điểm Linh-quang, rời xa linh tánh tức là Đạo.
Con ôi! Trong khi ấy nguyên thỉ hóa sanh là Mẹ, Mẹ phải đem huyền năng thâm diệu, hầu cầu khẩn với Chí-Tôn để đến thế gian vạch rõ đường đi nước bước nhắc nhở tiền kiếp, hậu lai, và cũng để các con thức tỉnh mà nhìn thấy nguyên nhân của mình hầu quày gót trở về nơi Khối Đại-Linh-Quang và sẽ chuyển luân trong đức háo sanh chí trọng.
Trong khi đem Đạo đến thế gian, Chí-Tôn đã phải phân thân nhiều kiếp hầu hoằng khai chánh Đạo để con được đem Chánh-pháp mà tìm lại cái Đạo của con đã mang đến hồng trần tự ngàn xưa.
Đến thời kỳ nầy là buổi cuối cùng Hạ-Nguơn Mạt kiếp, theo vận số tuần huờn. Con ôi! Mẹ rất thương hại cho các con trong lúc thiếu thời, cường tráng, sáng suốt thông minh lại phải “Thông minh phản bị thông minh ngộ”.
Cho đến lúc con chợt tỉnh giấc nồng vì một tiếng chuông cảnh giác hay một tiếng sấm sét trong thời hỗn độn, các con đến với Mẹ hay hành đạo trong sức hầu mòn, tuổi hầu tàn, mà lại đã mang biết bao nhiêu là trái oan duyên nghiệp, tội lỗi chất chồng, nên chi khả năng phải tùy theo cảnh mà xuất dụng, trí huệ tùy theo cảnh mà ứng hiện, sức lực tùy theo cảnh mà tiến thối, luôn luôn nguyện cầu tha thiết những điều con muốn, con ham, con thích, tựa hồ như thuở tráng niên.
Ôi! Thiêng liêng cũng hết sức hộ trì, sự ân xá cũng ngập tràn ban bố, nhưng chỉ trong sự giới hạn của sự nhân quả đền bù, chớ không vượt khỏi luật công bình của Tạo-Hóa.
Hỡi các con! Điều Mẹ giải dẫn hôm nay là để các con tự xét mình hay nhìn lại bản thân và tâm trí của mình để làm một tấm gương cho mai hậu của đoàn măng non mà chính các con đã gây tạo ra.
Đây Mẹ nói rõ hơn nữa, là hồng ân võ lộ lúc nào cũng chan rưới cơn nắng hạ thâu tàn ví như ban Đạo-pháp, dạy công quả, giúp phần tiến triển hành sự, ủng trợ vô-vi, các con có nhận thấy chăng? Mặc dầu, những con nào biết thì đỡ khi thân phàm bị bộc phát bởi căn nghiệp tiền khiên, bởi súc-tích dòng ô trược, bằng con nào không biết suy nghĩ thì phải chịu trong chỗ đền bồi, chớ tình Vô-Cực Mẫu-Tử tương quan làm sao mà Mẹ quên được sự đau khổ của mỗi con. Bởi thế, Mẹ khuyên các con phải tự giác và độ dẫn đoàn sau cũng như các con đã từng lãnh trách nhiệm trong Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Luật Trời đất âm-dương phối ngẫu, Thiên Đạo, Nhơn Đạo hai đàng đã song song. Tuy nhiên, nếu các con muốn trở nên Thánh Hiền Tiên Phật thì phải xử thế vào mức độ thanh cao, rèn tâm luyện tánh cho đúng nghĩa-nhân đạo-lý, thì cơ luân chuyển trường tồn âu cũng trong đức háo sanh, mà con không đến nỗi phải vào nơi phong đô ngục thất. Con ôi!

THI: 
Sớm biết lo thân độ lấy thân,
Oan khiên nghiệp chướng cổi lần lần,
Gieo mầm đạo đức cho mai hậu,
Hột giống nguyên nhân được trọn phần.
Về phần tâm lý nhơn sự, con ôi! Tránh làm sao khỏi, vì các con mở cửa trước lúc bình-minh, thì trước thềm đã có thị phi ở ngõ sau. Cõi thế gian nầy là vậy. Phương chi, thời kỳ hỗn loạn điên nguy mà các con muốn mỗi mỗi đều hoàn hảo toàn chân cũng khó mà được đó các con. Nếu các con hiểu lời Mẹ nói hôm nay.

BÀI: 
Vô Ma khảo bất thành Đại Đạo,
Ngọc có giồi giá bảo mới nên,
Đường trường biết sức ngựa bền,
Hỡi con mài sắt nên kim đâu là.
Tu con sửa cái Ta trước nhứt,
Tu con vun cội đức sau nầy,
Cõi trần tỉnh tỉnh say say,
Đạo là phương pháp chữa ngay bịnh trần.
Nếu con mãi lo thân lo thế,
Mẹ e rằng sanh tệ sanh hư,
Chẳng quen tìm đến cửa từ,
Phải về nẻo đọa bây giờ mong ai.
Lời tha thiết hôm nay con nhớ,
Giữa thâm canh dạy dỗ mọi điều;
Cái tình mẫu-tử cao siêu,
Con nên con hưởng con liều Mẹ đau.
Nay Cơ-Quan đề cao trách nhiệm,
Mai con hiền đặng hiển thân danh;
Đoàn viên nơi cõi Thiên-Đình,
Hưởng an Cực-Lạc thế tình rời xa.
Dầu con có bảy ba lo liệu,
Dầu con toan nắm níu lợi danh;
Trăm năm dễ mấy thân sanh,
Áo quan một cổ bao quanh một đời.
Con để lại bao lời nhắc nhở,
Cùng tầm thường một thuở nhơn sanh,
Có chi bảng ngọc đề danh,
Thánh Hiền Tiên Phật lập thành muôn thu.
Các con gắng công phu công quả,
Nhờ Thiêng-liêng ân xá phước ban,
Để con biết nẻo rõ ràng,
Biết lo chọn lọc thau vàng từ nay.
Đêm hầu tàn tình dài đăng đẳng,
Giờ khắc qua lòng chẳng thỏa lòng,
Ước chi con thoát trần hồng,
Trở vể Diêu Điện Non Bồng vui say.
Thôi căn kiếp đọa đày âu phải,
Thôi nghiệp duyên trang trải cho rồi,
Kiếp nầy cố gắng con ôi!
Vượt cho qua khỏi luân hồi thế gian.
Mẹ thương con trước đàn dạy dỗ,
Con nhớ lời tìm chỗ hiểu xa,
Giả con Mẹ lại Diêu Tòa,
Hẹn ngày hội ngộ đài hoa dắt dìu.
Mẹ ban ơn chung các con.

TOÁT-YẾU: 
Thượng-Đế cho con người xuống thế gian với sứ mạng tạo lập nên cõi vinh hoàn, đâu phải Thượng-Đế đưa con người vào nơi đọa lạc, để vũ-trụ thêm một phần của sự mầu nhiệm vô biên. Nào dè con người vào cõi hồng trần chẳng vững vàng giữ bổn nguyên chơn tánh để bụi trần che lấp điểm Linh-quang, rời xa linh tánh tức là Đạo. Nay đã đến thời buổi cuối cùng Hạ Nguơn Mạt Kiếp, vì thương con đức Mẹ mới đến thế gian vạch rõ đường đi nước bước, nhắc nhở tiền kiếp để con thức tỉnh mà nhìn đến nguyên nhơn của mình, hầu quày gót trở về với khối Đại Linh Quang là Thượng-Đế. Đức Mẹ lúc nào cũng chan rưới hồng ân võ lộ ví như dạy lập công quả và ban Đạo-pháp cho các con, trong tình Vô-Cực Mẫu-Tử tương quan. Đức Mẹ lưu-ý: “Nếu các con muốn trở nên Thánh Hiền Tiên Phật, thì phải xử thế vào mức độ thanh cao rèn tâm luyện tánh cho đúng nghĩa nhân đạo lý. Mẹ cũng khuyên về phần tâm lý nhơn sự, tránh làm sao những điều thị phi ngang trái, vì cõi thế gian nầy là như vậy.
Vô Ma khảo bất thành Đại-Đạo,
Ngọc có giồi giá bảo mới nên…
Và tu phải lo xử cái Ta trước nhứt, cái Ta phàm ích kỷ độc tôn và phải lo vun bồi đạo đức, cố gắng kiếp nầy cho vượt qua khỏi kiếp luân hồi ở thế gian.

…  …   …

***********     
…   …   …

9. Đời Đạo Song Tu:

Thánh Thất Bình Hòa, Tuất thời Rằm tháng 8 Nhâm Tý (22/9/1972) 
DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ-CỰC TỪ-TÔN. Mẹ linh hồn các con nam nữ.
THI
Thương con cực nhọc bấy nhiêu ngày,
Góc biển ven Trời hội đến đây,
Dự lễ Trung-Thu chầu Đức-Mẹ,
Thế nên Mẹ trở lại đàn nay.
THI
Lắm kiếp nhiều đời đã xuống lên,
Mang nhiều quốc-tịch, tuổi và tên,
Loanh-quanh trong bánh xe luân-chuyển,
Vì bởi quên căn với móng nền.
THI
Móng nền đạo-lý dạy con hiền,
Tôn-giáo khai-minh Phật, Thánh, Tiên,
Cạn mực, bút mòn thiên vạn điển,
Nhưng con học hỏi có bao siêng.
THI
Vì thế nên gây lắm nghiệp trần,
Mấy đời mấy kiếp dấn vào thân,
Trả vay, vay trả hoài chưa rảnh,
Sanh tử, tử sanh với nợ trần.
THI
Tu một rồi con tạo nghiệp hai,
Thế nên phá sản chốn Thiên-Đài,
Khi lâm trần-thế toàn căn thiện,
Vì vậy chuyển-luân mãi thế hoài.
THI
Tam-Kỳ nay đã gióng hồi chuông,
Cho kẻ nguyên-căn tỉnh mộng hồn,
Cho kíp quay về đừng lạc-lõng,
Để cho lòng Mẹ ngóng trông buồn.
THI
Thương buồn con trẻ đã say mê,
Lặn hụp trần lao chưa chịu về,
Tứ khổ bốn đường giam trẻ mãi,
Làm cho quên mất những lời thề.
THI
Thề rằng xuống thế luyện linh-đơn,
Hành Đạo giúp đời tế trợ nhơn,
Công-quả, công-trình tu-luyện kỷ,
Vẹn tròn phận-sự phục lai huờn.
THI
Thế mà con trẻ nhớ chi đâu!
Tạo nghiệp oan gia mãi dãi dầu,
Nhỏ lớn rồi già đau lại chết,
Xuống lên lên xuống cảnh đau sầu.
THI
Ngày nay con trẻ chớ say mê!
Thức tỉnh lo tu sớm trở về!
Tém vén việc đời cho gọn gọn,
Song tu đời Đạo mới an bề.
THI
Đừng rằng: “Tại, bị” lắm nghe con!
Việc méo, khéo tu cũng được tròn,
Tên tuổi các con đừng để mất,
Diêu-Cung Mẹ sẵn bút và son.
THI
Để ghi tên tuổi trẻ tu hiền,
Hành Đạo, giúp đời cần-mấn siêng,
Sớm, tối, Đạo, đời toan liệu gánh,
Sao cho khỏi hổ mặt trò Tiên.
THI-BÀI
Thu Nhâm-Tý mấy dòng Mẹ kể,
Cho các con trần-thế ghi lòng,
Tu là lóng đục tầm trong,
Phân thanh, khử trược từ lòng đến thân.
Con hỡi con! Phong-trần nặng nợ,
Con hỡi con! Chớ ở lâu dài!
Dầu rằng có luyến trần-ai,
Đừng gây nghiệp xấu dông dài nghe con!
Hãy làm phước tu bòn công-đức!
Hãy làm nhân góp sức chung công!
Việc chi mình chẳng hài lòng,
Đừng làm kẻ khác trong vòng thế-gian.
Lựa việc tốt ngay đàng thẳng lối,
Chọn việc lành thúc hối nhau làm,
Việc đời con đã quá ham,
Còn đâu giờ giấc con làm công-phu?
Con hỡi con! Lo tu kíp kíp!
Con hỡi con! Cho kịp quay về!
Về nơi Bến Giác trọn bề,
Để xa bến Mụi, sông Mê cuộc đời.
THI
Mẹ từ Diêu-Điện đến trần-gian,
Chẳng có Bồ-Đào để xách mang,
Hầu đặng đãi con cho phỉ dạ,
Nên dùng bạch-thủy điển ân ban.
THI
Ban ơn con trẻ khắp trung đàn,
Đồng ẩm hồng ân Đức Mẹ ban,
Để trợ thân tâm cho mẫn tuệ,
Vượt bao thử-thách của trần-gian.
NGÂM
Ban ân con trẻ trung đàn,
Chí tâm hành Đạo! Thiêng-Đàng Mẹ lui.
…   ….   …
**************         
…   ….   …

10. Phải Truyền Chánh Pháp Của Thầy Ra Năm Châu…
Hườn-Cung-Đàn, Tuất thời 29 tháng 8 Ất-Tỵ (24/9/65)
Vô-Cực Từ-Tôn Diêu-Trì Kim-Mẫu, Mẹ linh hồn các con. Mẹ mừng các con nam nữ.
THI
Từ thử dạy khuyên đã quá nhiều,
Hỡi con còn nhớ được bao nhiêu?
Nỗi đời nỗi Đạo hai vai chít,
Lỡ đệ lỡ thầy một bước xiêu.
Đứa dở bôn chôn ngay buổi sáng,
Người hay luộm-thuộm đến ban chiều,
Non đoài ác lặn chuông linh giục,
Bớ trẻ đường ngay kíp dắt-dìu.

Các con nam nữ! Mãi đến hôm nay, qua khỏi ngày lễ kỷ niệm khai Đạo một tuần. Mẹ mới giáng đàn nơi đây, để kiểm điểm lại cho quá trình cơ Đạo, làm một bài học chung, để các con ghi nhớ ngày kỷ niệm đó. Mẹ miễn lễ, toàn tất các con an tọa.
Các con ôi! Đến nay cơ Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đã trải qua ngót bốn mươi thu, sự phổ truyển chánh-giáo hướng dẫn quần linh buổi Hạ-Nguơn trên bước đường tu học, các con đóng góp một phần công quả rất lớn trong sử Đạo. Vể phương diện thế Thiên hành hóa, các con đã được một điểm son, nhưng còn về phương diện hiệp nhứt qui-nguyên một thể thống Đạo tại nước nhà các con còn vấp phải bao nhiêu trở ngại, nhưng dầu sớm, dầu muộn, những trở ngại đó các con sẽ vượt qua, có như vậy, phương thức hành đạo, kinh điển, đạo-luật mới có cơ hội soạn thảo duy nhứt, từ đó mới có thể phổ-truyền năm-châu bốn biển. Còn như trước hiện trạng, các con chưa thể làm gì được hầu thực hiện sứ mạng cao cả đó.
Giả thử hiện giờ, nếu có một ngoại nhơn từ phương Trời Âu, Mỹ, Úc đến hỏi sự tổ chức trong Đạo Cao-Đài, các con phải nói làm sao? Giải thích làm sao? Dựa vào tiêu chuẩn đạo luật nào để giải thích cho ngoại nhơn đó khỏi thắc mắc lầm lẫn một khi được hỏi đến một con thứ hai ở chi phái khác.
Hôm nay, các con hãy bình tâm cùng Mẹ kiểm điểm, ôn lại trong quá trình với những sứ mạng thế Thiên hành hóa, gồm mấy lãnh vực và mấy xu hướng trong hàng huynh đệ các con.
Cũng thời một cõi lòng thiết tha thương Thầy mến Đạo, con nào cũng muốn sáng danh Thầy, rạng danh Đạo, nhưng chính trong mỗi con còn thiếu những điều kiện và hoàn cảnh, do đó là một trở ngại rất lớn.
Con có đứa khi đặt mình vào Đạo, hầu muốn đem chánh pháp, đạo luật, kinh điển phổ truyền khắp nơi để cho nhơn sanh tỉnh thức tu học, để tạo lập một cõi Thiên Đường ở thế gian toàn là hiền nhơn đạo đức. Cũng có đứa nóng lòng vì việc Đạo, bước xa hơn một bước, là tạo thế lực bên đời để dễ bề phổ truyền chánh Đạo, nhưng không hay rằng mình đã vướng chân trong lưới rập thường tình của thế nhân. Cũng có đứa nóng lòng vì quốc gia đại sự, muốn chen chơn vào đó để làm phương tiện hoạt động phổ biến Đạo Trời. Cũng có đứa vì tiền đồ Đại-Đạo và danh nghĩa Đạo-Giáo, giữa buổi thế sự phân tranh, muốn được tiếng nói Đạo Thầy làm trung gian để giải hòa mọi mặt. Cũng có đứa muốn tại gia tu học, gìn-giữ tân-pháp, cũng có đứa thường xuyên đi đến Chùa, Thất để học hỏi điều hay lẽ phải trong hàng huynh đệ tiền phong. Cũng có đứa trong tâm chẳng muốn đi đâu, nhưng lại sợ e vắng mặt lâu ngày rồi huynh đệ cho mình là ngã Đạo, nên ngày Sóc Vọng rán trổi bước đến Chùa, Thất cho có lệ. Cũng có đứa không quản của, công, đem đóng góp vào Cơ-quan Đạo để được hưởng phúc hồng Thầy Mẹ rưới chan. Cũng có đứa vào Đạo để thọ Thiên phong vào hàng anh lớn đợi ngày lâm chung, tuổi tên được vào sử Đạo.
Nhưng rồi các con ôi! Ai là bực xứng đáng thay mặt Chí-Tôn để nói lên được tiếng nói duy nhứt của Đạo CaoĐài? Ai là người xứng đáng nói lên tiếng nói để cảnh tỉnh các lãnh tụ chi phái Đạo để cùng vạch một đường hướng chung cho bước tiến Đạo Trời.
Bởi trong hàng huynh đệ các con, có những điều kiện không đồng nhứt. Con thì có thành tích công quả với sử Đạo, nhưng thiếu tài cán hoạch định đường lối tiến cho nhơn sanh.
Cũng có con đức tài vẫn có nhưng thiếu thông minh hoạt bác, lỗi lạc, để diễn tả hết những tối thượng siêu đẳng của Đạo Trời. Cũng có con tài đã có hoạt bác đã hay, nhưng thiếu thiện tâm thiện chí hoằng dương Thiên Đạo.
Cũng có con tài có, thông minh có, thiện chí có, nhưng thiếu về thành tích tiền bối khai minh Đại-Đạo. Cũng có con thừa tài, dư đức, thiện chí có đủ, thành tích sử Đạo có sẵn, nhưng vì hai chữ nghèo nàn về vật chất, mà tiếng nói trung kiên chẳng được ai nghe, chẳng được lưu ý đến. Cũng có con chẳng có những điều kiện trên, chỉ có một mảnh tâm trung thương Thầy mến Đạo, chất phác hồn niên, như như mộc mạc, mà chính là những con đó đã đóng góp cả của lẫn công rất nhiều với cơ Đạo, đã hy sinh đặt mình dưới sự sai khiến hướng dẫn của đàn anh hướng đạo. Nhưng ai là người xứng đáng để lãnh nhiệm vụ hướng dẫn đó hỡi các con?
Các con tự hỏi mình đặt thân vào cửa Đạo để làm chi? Có phải để tự giác tự tu, tự nhận làm những việc thiện, việc nhân nghĩa để trả lần bao nghiệp oan khiên tiền khiếp, nhẹ mình hầu sớm để hưởng đời Thượng Nguơn Thánh Đức, an cư lạc nghiệp, đất Thuấn Trời Nghiêu, sau ngày viên mãn phủi sạch nợ trần, điểm linh quang được trở về hiệp nhứt cùng Thầy Mẹ hay chăng?
Đó là điều mà Chí-Tôn và các Đấng Thiêng-liêng đã dạy ngay từ buổi khai Đạo.
Khai Đạo để cứu đời, chớ không phải làm nhăng cho đời, mà cứu bằng cách nào vậy hỡi con?
Chính các con phải tự cứu mình trước rồi mới có phương tiện và điều kiện cứu kẻ khác. Tự cứu mình như thế nào đó các con?
Trước nhứt phải thành thật với lòng mình, tự đóng khung mình trong kỷ-luật Đạo, gội rửa hết những tánh ích kỷ xấu xa, ý nghĩ đen tối, tánh nết ganh hiền ghét ngõ, tập lần đức bác ái, vị tha, tinh thần phục thiện, thực hiện được đường lối công bình, bác ái, từ bi. Ba điểm đó là sơ khởi người mới giữ Đạo phải tập làm cho được.
Từ bi là mình phải bất nhẫn, thương tâm trước những sự đau khổ của kẻ khác, cốt làm sao giác-ngộ và tạo mọi hoàn cảnh để giúp kẻ khổ sớm thoát ra vòng tội-lỗi đen tối.
Bác ái là xót thương tất cả, chẳng những nhơn loại, mà thương luôn đến loài thú cầm thảo mộc, bò bay máy cựa. Tha thứ những kẻ có lỗi với mình để cảm hóa họ lại gần với mình hầu hướng dẫn lần họ vào đường tu hành chánh Đạo. Từ- bi, Bác-ái, khi con làm được xong, cũng phải nhớ đến Công-bình.
Chính sự chay lạt của các con đã gắn liền với hai chữ công-bình, vì không thể ngon miệng với cao lương mỹ vị trên cái đau khổ chết chóc của loài khác. Mình muốn Trời, Phật, Thánh, Thần hộ-độ, khoan dung, dìu dắt mình tai qua nạn khỏi, sớm ngộ Đạo, thì mình cũng hộ-độ, dìu dắt những kẻ khác và khoan dung công bình với kẻ khác. Dầu kẻ đó là người nghịch, cũng phải tạo cho được lòng thương đối với họ. Chính trong chữ tự tu, tự cứu, các con phải làm được điều sơ đằng đó rồi mới nói những việc khác.
Người tu tại gia là một đơn vị tín-đồ, nếu chưa làm được bực hướng đạo, cũng phải cho xứng đáng một người tín đồ. Khuyên người làm từ bi, bác ái, công bình mà chính mình không làm được thì sự khuyên đó không đem lại kết quả gì hết.
Các con đừng mong vọng Thiêng-liêng thố lộ Thiên cơ cùng thời cuộc. Mong vọng đó là kẻ hở, là chỗ yếu để cho mị tà lợi dụng sở thích đó, hướng dẫn các con xa Thầy, xa Đạo.
Hỡi các con! Muốn biết để làm chi? Giả thử Thiêngliêng cho biết đời Thượng-Nguơn Thánh-Đức sẽ lập vào
năm, tháng, ngày giờ nào đó, rồi các con phải làm gì cho thích hợp, nếu khi các con thiếu công quả thiếu những đức tính của người tu. Tai hại hơn nữa, khi các con biết được Thiên cơ thời sự, bản tánh háo danh, hiếu kỳ sẵn có, tiết lậu đầu đường xó chợ, đó là mầm tai họa nẫy nỡ trong người các con.
Các con chỉ biết có một đường lối tu chơn tích đức, công quả phổ giáo Đạo Trời, cảnh tỉnh sanh linh. Hễ mỗi người thực hiện được tình thương, hễ thương thì không còn giết hại lẫn nhau, đời thái bình thạnh trị dầu không cầu mong cũng đến.
Ngày mới khai minh Đại-Đạo, những tiên tri đã có cơ tiền định đã được hé mở đôi phần, nhưng chúng sanh không được lưu-ý, vì đương hưởng cảnh an cư, mấy ai nghĩ đến cơ cuộc, sẽ diễn biến như ngày nay. Nước đến trôn, tâm hồn rối loạn, chạy đến cầu xin Thượng-Đế cứu rỗi cho mình. Thượng-Đế thương tất cả chúng sanh, nhưng nếu chúng sanh không tu, không tự cứu, Thượng Đế cũng chẳng biết làm sao.
THI
Các con hãy lần tay đếm lại,
Đạo Trời khai đã mấy mươi thu,
Con nào quyết chí lo tu,
Con nào nương ẩn bóng dù tạo cơ.
Lời Thánh-dụ phú thơ còn đó,
Bao thi văn dạy dỗ khuyên răn,
Mong cho thế sự ăn năn,
Tự tu, tự tỉnh, lần phăn đường về.
Cõi trần là sông mê bể khổ,
Tạm thời gian con ở nơi đây,
Biết bao những việc quấy rầy,
Lo ăn, lo mặc, dỡ hay đủ điều.
Việc phải trái sớm chiều đây đó,
Việc nghĩa nhân khắp ngõ cùng đàng,
Tình thương lẫn với thù hằn,
Khi hờn, khi giận cố dằn cho qua.
Xuân Hạ đến Thu tà Đông chí,
Việc đói no cũng chỉ đấy thôi,
Tai Trời ách nước than ôi!
Thương con trong cảnh quả nhồi thế gian.
Quanh năm cảnh cơ hàn túng thiếu,
Nghèo với giàu đồng chịu ngang nhau,
Nghiệp chung mấy kiếp biết sao,
Hẹn ngày để trả cho mau tại trần,
Vì thương con bao lần mở Đạo,
Vì thương con Đạo-giáo khai minh,
Miễn con giữ được chân tình,
Kỳ ba ân xá siêu sinh dễ-dàng.
Con hỡi con! Mau toan lo liệu,
Con hỡi con! Gây lại tình thương,
Kêu nhau chung bước một đường,
Đừng phân màu sắc khác thường trắng đen.
Con phải cố khêu đèn chơn lý,
Cho người đời để ý nhìn theo,
Nữ nam chẳng luận giàu nghèo,
Tình thương bủa rộng nhắm vào hành y.
Đêm thanh vắng Mẹ ghi mấy đoạn,
Kêu con hiền phải rán nghe qua,
Chinh chinh bóng nhựt xế tà,
Hẹn ngày hội ngộ canh gà gáy tan.
THI
Tang thương cuộc thế biết mà chi,
Xáo trộn tâm trung mệt ích gì,
Những việc nghĩa nhân tua gắn bó,
Đề tài chính xác ở khoa thi.
Khoa thi tuyển chọn bực nhân hiền,
Những kẻ căn tu hữu huệ duyên,
Thánh Đức, Thượng-Nguơn Trời chuyển lập.
Thế trần chung hưởng cõi Thần Tiên.
NGÂM
Dạy con cũng kể khá nhiều,
Đem về dành để sớm chiều lần xem,
Siêng năng học hỏi chị em,
Những điều chưa biết, biết thêm để làm,
Thế trần giả tạm đừng ham,
Quả công khuya sớm siêng làm cho tinh,
Ban ơn con trẻ tất tình,
Thế gian tu học, Thiên Đình Mẹ lui.
TOÁT-YẾU: Đại khái đức Mẹ dạy:
1. Đến nay Cơ Đạo đã trải qua 40 năm dư, Mẹ nhận xét côngquả của các con tín-đồ trên phương-diện qui-nguyên hiệp nhứt còn vấp phải bao nhiêu trở ngại, nhưng dầu sớm hay muộn gì cũng sẽ vượt qua mới có thể phổ-truyền Chánh-giáo của Thẩy ra năm Châu bốn biển với một Giáo-lý duy-nhứt cho toàn Đạo. Giữa các Chi Phái khác nhau đừng để ngoại nhân từ các nước Âu, Mỹ, Úc phải thắc-mắc lầm lẫn về nền tổ-chức và Giáo-lý của Đạo.
2. Đức Mẹ kiểm điểm lại các hàng tín-đồ Đại-Đạo có nhiều tình trạng và tâm tư khác nhau nhưng tựu trung không ngoài mụcđích là vào cửa Đạo là để tự giác và giác tha để khi công viên quả mãn, lìa cõi đời, được trở về hiệp nhứt cùng Thầy Mẹ. Trước là lo tự tu, tự cứu lấy mình, sau lo cứu người. Mà tự cứu lấy mình như thế nào? Mẹ hỏi và Mẹ cũng trả lời dùm:
Xin đọc đoạn Mẹ dạy rất rõ: “Trước hết phải thành thật với lòng mình… thực hiện được đường lối CÔNG-BÌNH, BÁC-ÁI, TỪ-BI. Ba điểm đó là sơ khởi người mới giữ Đạo phải tập làm cho được. Và đức Mẹ giải thích dùm ba điểm đó rất cụ thể.
TỪ-BI là mình phải thương tâm trước những đau khổ của kẻ khác, cốt làm sao giác ngộ và tạo mọi hoàn cảnh để giúp kẻ khổ sớm thoát ra vòng tội lỗi đen tối.
BÁC-ÁI là xót thương tất cả, chẳng những nhơn loại, mà thương đến cả loài thú cầm thảo mộc, bò bay máy cựa. Tha thứ những kẻ có lỗi với mình để cảm hóa họ lại gần với mình hầu hướng dẫn lần họ vào đường tu hành chánh Đạo.
CÔNG-BÌNH là chính sự chay lạt cũng gắn liền với hai chữ Công-Bình, vì không thể ngon miệng trên cái đau khổ chết chóc của loài khác. Mình muốn Trời Phật, Thánh, Thần hộ-độ khoan-dung dìu-dắt cho mình tai qua nạn khỏi, thì mình cũng phải hộ-độ dìudắt khoan-dung và công bình với kẻ khác, dầu kẻ đó là người nghịch cũng phải thương họ.
Đó là ba điều sơ đẳng các con phải thực hiện trước khi bước sang việc khác.
3. Mẹ khuyên đừng mong Thiêng-liêng thố lộ Thiên-cơ vì đó là kẻ hở để cho tà mị lợi dụng sở thích mà hướng dẫn các con xa Thầy xa Đạo. Vã sử như các con biết được Thiên-cơ, rồi vô-ý tiết lộ, đó là mầm tai họa sẽ đến với các con. Ngày mới khai Đạo, Thiêngliêng cũng đã hé mở đôi phần, nhưng chúng sanh không mấy ai lưu ý để tự tỉnh lo tu hành, để đến ngày nay cơ cuộc xảy đến, tâm hồn rối loạn, chạy đến cầu xin Thượng-Đế cứu rỗi cho mình. ThượngĐế thương tất cả chúng sanh, mở Đạo cho chúng sanh tu để tự cứu và cứu kẻ khác, nếu chúng sanh không tu, không tự cứu,
Thượng-Đế cũng chẳng biết làm sao!
…   ….   …

*****************           
…   ….   …

11. Đạo Pháp Rất Huyền-Bí: 
Vạn-Quốc-Tự (Chơn-Lý-Đàn), Tuất thời 20 tháng 11 Ất-Tỵ (12/12/65)
Diêu-Trì Kim-Mẫu, Mẹ mừng các con. 
THI: 
Nhớ đến con thơ chốn cõi trần,
Nặng lòng Từ-Mẫu vội dời chân,
Thăm con lớn nhỏ trong đàn nội,
Căn dặn con gìn vẹn đức ân.
Giờ nầy Mẹ đến trần gian, để cùng các con dạy qua
những điều cần thiết:
Các con ôi! Đã từ lâu tu niệm, các con mong một ngày đắc quả thành công. Mẹ miễn lễ các con an tọa. Nhưng Mẹ thương các con sống trong vòng trần lụy, biết bao nhiêu sự cám dỗ của trò đời, đến khi vào cửa Đạo lại chịu nhiều thử thách cam go, nhiều điều quyến rủ của tà thần chước quỉ, nên lắm lúc các con tự thấy mình chán Đạo và chán sự tu hành. Con ôi! Cũng bởi không chịu minh định bản tâm để lắng dịu các điều dục vọng, hầu trông thấy ánh sáng của khiếu linh quang, hầu suy tưởng điều tà lẽ chánh, cứ mãi vui say bầy bạn tách phái phân chi, để rồi chị gạt em, em lầm chị. Trong cảnh cốt nhục tương tàn, mà các con lại chẳng buồn than vẫn vui cười cho đến khi gặp cảnh đương đầu thọ nạn. Chừng ấy, con mới nhìn lại, thì bạn bè xa vắng, mà đường lối lại có nẻo vào mà không có nẻo ra, phải lẩn quẩn trong kiếp nạn chúng sanh, rồi rốt cuộc luân hồi nghiệp quả. Mẹ rất thương xót các con. Mẹ giải thích một điều nầy con ghi nhớ:
Đạo rất huyền bí cao siêu, nhưng Đạo cũng rất trống không dễ thấy. Sở dĩ truyền Đạo mà phải khẩu khẩu tâm truyền như lúc trước, là vì e con chưa dứt lòng phàm, công phu trật lối sai lạc bổn căn, rồi phải rước họa vào thân, nên do đó mới có việc tương truyền Đạo-pháp.
Sự thật, kỳ ba ân-xá, thì tất cả con nào trai kỳ thập nhựt, đều được thọ bửu-pháp tu thân, dẫu rằng cấp bực vẫn phân làm trung, thượng, hạ nhưng các con rán cũng được dự phần. Hiện phải để cho một vài con tu luyện Đạo-pháp cho được tinh-thông, sẽ dìu dắt các con trong thời kỳ nầy, để các con đồng đều thọ pháp, hầu gìn-giữ thân tâm giữa lúc sài-lang óng-dậy hổ báo chực rình. Chỉ có một điều là mấy con nào dục vọng mong dùng bửu pháp để làm lợi khí cho mình, thì sẽ bị trừng phạt vô hình, Mẹ không cứu vãn được.
Kìa con hiểu rằng: Lẽ Đạo sâu kín, nhưng đối với lòng con thành ý chánh tâm tu kỷ, thì vẫn sáng tỏ như thường. Ví như lời nói: “Nhựt Nguyệt tuy minh, nan chiếu phúc bồn chi hạ”. Mặc dầu ánh sáng mặt Nhựt mặt Nguyệt tuy tỏ, không soi chậu úp. Nhưng đó là ánh sáng, chớ thật cái lý đương nhiên của chậu úp thì vẫn tỏ rỏ như thường.
Con có hiểu vì sao chăng? Vì sao chậu úp lại được sáng tỏ, các con đồng thưa một vài biện pháp cho Mẹ nghe? Các con hiểu thế nào thì bạch thế ấy…
Cười… Các con đã từng cầm một vật gì úp xuống hay chăng? Nếu có thì các con muốn hiểu lý sáng tỏ của chậu  úp ấy, tất nhiên các con phải hiểu người chủ sử trong khi úp cái chậu lại, đó là lý sáng tỏ của chậu úp mà ánh sáng của mặt Trời, mặt Trăng bao quát cả thế gian cũng không bì được. Đạo nơi chỗ ấy các con hiểu chăng?
Nếu các con hiểu lời Mẹ thì trên đời nầy không còn vật chi là tuyệt đối tất cả, mà chỉ có cái lý đương nhiên của Vũ-trụ Càn-khôn với lòng các con khi chủ động một việc gì phát tiết ra là tồn tại, là nhân quả, là nghiệp duyên đó thôi.
Hôm nay Mẹ dẫn giải để các con tìm học đừng thắc mắc, đừng chán nản và còn phải học rất nhiều trên đường hành đạo để đoạt được đến mục-đích chơn lý của Đại-Đạo  mới tìm về đến Mẹ.
TOÁT-YẾU: 
Trong bài nầy Đức Mẹ lưu ý đến phần Đạo-pháp. Đạo-pháp rất huyền bí cao siêu, sỡ dĩ truyền Đạo-pháp phải khẩu khẩu tương truyền (là truyền bằng lời nói thẳng giữa Vị truyền Pháp và người thọ Pháp, chớ không nói công khai hoặc viết trên giấy) là vì các con chưa dứt phàm tâm, công phu trật lối rước họa vào thân và xác nhận như Thánh Ngôn đức Chí-Tôn đã có dạy trước khi mới khai Đạo. (TNHT của Tòa Thánh) con nào trai kỳ được 10 ngày thì được thọ bửu pháp tu thân vì kỳ ba ân-xá dễ-dàng hơn xưa, theo cựu Luật điều kiện khó khăn hơn nhiều. Thọ Pháp để gìn giữ thân tâm giữa lúc sài-lang óng-dậy, hỗ báo chực rình. Các con đừng nên dục vọng dùng bửu pháp để làm lợi khí cho mình, thì sẽ bị trừng phạt vô-hình. Mẹ không cứu vãn được. Thiêng liêng cũng có thường nhắc nhở chớ nên khinh thường Đạo-pháp, vì khi phạm trọng tội cũng bị tam đổ bất nan thoát tục, đừng nên dễ ngươi thí nghiệm Pháp-môn.

…  …   …

***********       
…   …   …

20.Huấn-Từ Trước Cảnh Loạn-Ly Tang-Tóc…
Thánh-Tịnh Ngọc-Minh Đài, Tuất thời Rằm tháng Tư MậuThân (11/5/68)
Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Từ-Tôn, Mẹ mừng các con!
THI:
Con đến trần gian chịu khổ nàn,
Mẹ nơi Diêu-Điện dễ nào an,
Mây sầu đỡ gót lâm trần thế,
Bút lệ nương cơ tả mấy hàng.

Giờ này Mẹ đến với các con để chan rưới ân lành cho các con được bình tâm trước cảnh loạn ly tang tóc.
Mẹ miễn lễ các con đồng an tọa.
Hỡi các con! Thế sự đảo điên, nhân loài thống khổ, kề bên con những trạng huống bi đát thương tâm! Đó có phải là thâm tình cốt nhục cùng điểm linh quang với các con chăng? Rồi các con nhìn lại Huynh Đệ, Tỷ, Muội và con đang sống trong tâm hồn thanh cao, mặc dầu giữa cảnh hổn loạn nguy vong nhưng các con vẫn được bằng an đến với Mẹ và thực hành được nhiều công tác, công quả từ thiện đạo-đức. Đó chẳng cách nhau xa mà đã thấy hai cương vị khác nhau, hai tâm hồn khác nhau là do nơi đâu hỡi con?
Mẹ rất thương tâm cho toàn cả con cái của Mẹ đang chịu chuyển luân trong kiếp nạn chúng sanh mà từ ngàn xưa các con đã gây tạo. Cũng từ ngàn xưa, các Đấng Giáo Chủ lâm trần Khai Đạo đã thức tỉnh các con nhưng các con vẫn chịu nhiều trọng nghiệp trên mảnh đất cỏn con nầy là vì các con không tìm đúng Chơn-lý Đạo và tìm con đường giải thoát chánh trung. Tôn-giáo chỉ là một nhà trọ để các con đụt mưa trốn nắng hay làm nơi nghỉ chân cho các con trong khi chùn bước thế lộ công danh. Ảnh hưởng vật-chất hữu-hình đè nặng tâm linh, con người chịu ảnh hưởng ấy mờ tối điểm linh-quang để lý trí bị sự chế ngự chú trọng khuynh hướng theo tư-dục lợi-quyền, nên Đạo Đời phải một phen hỗn loạn mà các con của Mẹ đều trong kiếp nạn kỳ ba.
Con ôi! Dầu Đông-Tây Âu-Á, dầu Nam Bắc Mỹ, Phi, tất cả vạn-vật trên thế gian đều được ở vào tình thương Vô-Cực của Mẹ. Chỉ có các con, các con phải nhớ lại điều hiểu Đạo duy-nhứt đối với Từ-Mẫu. Thế tục cũng như Thiêng-liêng, tình thương sẽ đến với tất cả các con, tất cả vạn vật đồng trong Tam Nguơn Vận-Hội. Tiếc vì đời người bị chi phối trong tư dục, chia ra nhiều ngăn nhiều ngõ, nhiều mẫu, nhiều khuôn, nhiều hình nhiều tướng, rồi con nào giữ phạm vi ấy. Nếu giữ để mà tu học thì cũng chẳng đến nỗi nào, trái lại, giữ để mà tranh đấu, mà lấn chen, dại khôn cao thấp, thì trách sao phải chịu một đời hệ lụy trong cõi vô thường!!!

THI:
Con hỡi! Trần gian cõi tạm chung,
Đến đây rồi hãy trở về cùng;
Sao con tránh Mẹ đi đường khác,
Đến nỗi tang thương chịu não nùng?
BÀI:
Con ôi! Thế sự điêu linh,
Trông người rồi lại nghĩ mình ra sao?
Cũng là cốt nhục đồng bào,
Đứt chưn tay lại không đau sao đành!
Bao nhiêu nỗi khổ chúng sanh,
Nhờ nơi đứa dại lập thành đứa khôn,
Đời không lâm trận mê hồn,
Các con khó được thế tôn Thánh Hiền;
Vì đời chịu nỗi đảo điên,
Mới cho con đến phổ truyền Đạo cơ.
Vì đời đen tối mịt mờ,
Cho con xuống thế trong giờ loạn ly.
Vì đời giữa lúc khuynh nguy,
Mới cho con đến trong kỳ Long-Hoa.
Nguyên nhân đắm đuối ái hà,
Mẹ cho con đến để mà gọi kêu.
Rồi đây trước cảnh tiêu điều,
Lòng con với Mẹ phải nhiều đau thương!!!
Thì giờ đang lúc khẩn trương,
Chính là vàng bạc là đường lập công.
Con ôi! Từ-Mẫu đợi trông,
Tin lành sứ-mạng khi Đông sắp tàn.
Dầu cho trải mấy gian nan,
Bên con Mẹ đã sẵn-sàng liệu lo.
Đường trần lắm nẻo quanh co,
Lắm điều trở ngại lắm trò điêu ngoa.
Nhiều nơi chước quỉ mưu tà,
Nhiều phương trì kéo biết ra, ngỡ ngàng!
Cứu đời trước phải vững vàng,
Tinh thần đạo-đức can tràng hy-sinh.
Nhìn vào mục đích chí tinh,
Hướng vào tôn-chỉ uy linh Đạo Trời.
Đạo là thực hiện con ôi!
Tình thương nhơn loại giữa thời điên nguy.
Đạo là chánh tín tu trì,
Ở nơi con đó và vì tha nhân.
Rồi đây hỗn loạn phong trần,
Thiên tai chiến họa dần-dần giảm tan.
Nếu con đem được Đạo Vàng,
Cho nhơn sanh biết về đàng chánh chơn.
Người đời nào có gì hơn,
Cõi này cõi tạm đặt chơn qua ngày.
Bóng tà đã trở về Tây,
Không lo thiên hạ không đầy tấm thân.
Một mai tai nạn đến gần,
Muộn màng trễ bước trách phần số ư!
Con ơi! Hữu phước chớ từ,
Cũng đừng tận hưởng rồi dư họa liền.
Trong khi thế sự đảo huyền,
Mà con vẫn được ân Thiên hộ trì.
Mở lòng bác-ái, từ bi,
Cứu con mà cũng cứu nguy cho đời.
Rán lên hỡi các con ơi!
Trong khi tận thế cơ Trời chuyển xây.
Kìa con tháng lại qua ngày,
Quẩn quanh trong chốn sắc tài lợi danh.
Sớm chiều lo lắng đua tranh,
Sương rơi mái tóc có thành chi chi.
Dầu cho phú túc mọi bề,
Dầu cho ấm tử vinh thê đủ điều.
Kìa cho lửa Hạ đốt thiêu,
Bao nhiêu sự nghiệp bao nhiêu lệ tràn!
Trước đây con đặng an nhàn,
Nghe lời Từ-Mẫu thở than sau cùng.
Sanh ra hình vóc nam trung,
Mày râu gánh lấy chí hùng đạo tâm.
Hỡi con cơ hội rán làm,
Hiệp nhau cứu trợ tình thâm hóa hoằng.
Đó là đạo đức sở năng,
Đừng tìm Núi thẳm Non bằng ích chi.
Con ơi! Máy Tạo huyền vi,
Trong tình Tạo-hóa trong kỳ Hạ-Nguơn.
Chỉ vào mục đích lý chơn,
Đa ngôn lộng ngữ thiệt hơn khó thành.
Các con tiến thẳng đường lành,
Hồng ân Mẹ đã sẵn dành mỗi con.
Nhân loài là máu một hòn,
Xẻ chia từng mảnh nhưng còn tình thân.
Hôm nay lời Mẹ định phân,
Ngày mai con phải góp phần lo âu.
Hiệp nhau chống Bát-Nhã đò,
Biển trần rước khách lần dò thoát nguy.
Hỡi con! Đây Mẹ Diêu-Trì!
Các con Phổ-Độ Tam-Kỳ làm gương.
Con đem rải khắp tình thương,
Mọi người chung hưởng là đường thành công.
Dầu sanh ra kiếp má hồng,
Cũng là Thiên Địa trong vòng âm-dương.
Nặng nề muôn việc muôn phương,
Tương lai cũng đó, cột rường là đây.
Con ơi! Ngày lại qua ngày,
Rán lo kẻo trể thời kỳ Long-Hoa.
Đem thân tô điểm nước nhà,
Đỡ nâng nòi giống cùng hòa vạn dân.
Diêu-Trì Kim-Mẫu đã phân,
Con lo trách nhiệm hồng ân sẵn dành.
Mẹ ban ơn các con nam nữ, Mẹ hồi Cung.

TOÁT-YẾU:
Đức Mẹ rất đau lòng và thương xót con cái trước cảnh loạn ly tang tóc vì cộng nghiệp chiến tranh trên mảnh đất Việt Nam. Do trọng nghiệp chúng ta đã gây tạo từ nhiều kiếp trước, nay phải chịu trả dứt trong buổi Hạ-Nguơn Mạt-kiếp. Tất cả chúng sanh trên thế gian nầy đều là con của Mẹ, đều được ở vào tình thương Vô-Cực của Mẹ, Mẹ dạy chúng ta là người hữu phước ở ngoài nạn tai chiến họa, hãy thương tưởng đến những con đang chịu lầm than khổ nạn mà cứ giúp:
“Con ơi! Hữu phước chớ từ,
“Cũng đừng tận hưởng rồi dư họa liền.
và:…
“Vì đời chịu nỗi đảo điên,
“Mới cho con đến phổ-truyền Đạo cơ…
và:…
“Hỡi con, cơ hội rán làm,
“Hiệp nhau cứ trợ tình thâm hóa-hoằng.
và:…
“Sông mê lái Bát-Nhã đò,
“Vượt qua bến giác công trò mới nên.

…  …   …

*************   ———–   *************

…  …   …

THI BÀI: (tiếp theo)
Đừng trông thấy trên nền Trời sáng,
Bóng Nguyệt soi chói rạng đêm khuya;
Ngẩn ngơ trong giấc mộng hòe,
Nhìn đèn leo lét mà chia tấc lòng.
Cái tâm đăng mới hồng vĩnh cửu,
Vật vô tri thành tựu chi con;
Phận ai thì nấy lo tròn,
Trông Nam ngó Bắc không còn chủ tâm.
Mỗi mỗi đều ân thâm chan rưới,
Người người trong cơ hội vẫy vùng,
Phận nào thì nấy lo xong,
Xong rồi một việc là công một phần.
Cơ-Quan vốn Thiên ân đại xá,
Mở con đường khắp cả giao thông,
Muốn cho sớm đặng tương đồng,
Khoan dung bác-ái dặn lòng đừng quên.
Thiên cơ chuyển kề bên các trẻ,
Luật công bình san-sẻ mọi nơi,
Ở cho đúng phận con Trời,
Ngày mai chắc đặng vui tươi sum hòa.

Vì các con nữ phái còn thiếu phận sự trong những ngày Xuân, vậy Mẹ nhắn bảo con ái-nữ phải lo tu thân hành đạo để kịp lúc hoằng dương giáo-lý trong năm Kỷ-Dậu.
THI BÀI:  (tiếp theo)
Hỡi các con đàng xa cố gắng,
Kìa ven Trời lố dạng Thái-dương,
Rủ nhau kịp bước lên đường,
Đem tài học tập khoa trường ứng thi.
Ban ơn chung trong khi Xuân đến,
Gội nhuần đi thoát bến mê đồ;
Chờ tin, Mẹ vẫn ra vô,
Đường Tiên cõi tục hoạn đồ dạy con.
Xuân Xuân sắc điểm son tô ngọc,
Xuân Xuân hương ngào-ngạt khắp nơi,
Các con hưởng cảnh Xuân Trời,
Vững bền muôn thuở con người Chơn-Nhơn.
Mẹ ban ơn tất cả các con nam nữ đàn tiền, Mẹ hồi Cung.

TOÁT-YẾU:
Đức Mẹ dạy: Các con phải biết thưởng Xuân sắc thiên nhiên Tạo-Hóa, để ngăn đón mọi vọng thức rạc-rào, tâm tư bối rối, chế ngự tất cả ngoại cảnh thường tình để cho thời gian, không gian được chan hòa cùng thiên-nhiên Tạo-Vật, mới hy vọng thấy được:
“Thân, Dậu niên lai kiến thái bình” mà tâm tư chúng ta thường hoài bảo.

Mẹ dạy thêm:
Kỳ đại ân-xá đức Thượng-Đế cùng tất cả chư Tiên Phật Thánh Thần đồng giáng trần để cứu rỗi quần sanh, mỗi chúng ta đều là mỗi chơn-linh cùng có một sứ-mạng của Thượng-Đế không riêng gì hàng Thiên-phong Giáo-phẩm, đừng nên quan ngại.
Con người dầu cho văn-minh tiến-bộ đến đâu cũng không thể cướp quyền Tạo-Hóa, có bao giờ đem tài ba trí dõng để tắt được ánh sáng trước giờ Dậu (chiều) và kéo ánh sáng lại được sau giờ Dậu. Bao nhiêu sự tiến bộ của loài người không thể không nhìn nhận quyền Tạo-Hóa chở che bao la bát-ngát, dầu cho có tranh đua bay nhảy hơn thua rồi cũng tự hủy diệt lấy nhau trong vòng trần tục.
Đạo là cứu cánh tất cả nhơn loài trở về nẻo Thiên-Đàng thuần chánh. Các con đừng thấy sự phân chia ngăn cách Chi Phái nầy, tổ-chức nọ rồi các con buồn chán, không phải đó là điều mà làm cho các con không học được cái Đạo đâu con.

…  …   …

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ 

TINH HOA CAC DAO GIAO – NHAN TU NGUYEN VAN THO

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ
TINH HOA CAC DAO GIAO – NHAN TU NGUYEN VAN THO

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ, TINH HOA CAC DAO GIAO – NHAN TU NGUYEN VAN THO

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ  

TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO – NHÂN TỬ NGUYỄN VĂN THỌ, TINH HOA CAC DAO GIAO – NHAN TU NGUYEN VAN THO

*************           

*Lời giới thiệu:
Trong bài nầy, quí vị sẽ nhận ra chỗ sâu sắc của mỗi tôn giáo, mà không phải mất nhiều thời gian tìm hiểu. Từ đó, chúng ta sẽ có cái nhìn bao quát hơn, vô tư hơn về các tôn giáo, xóa bỏ thành kiến “chấp chặc chân lý của mình”. (kiến thủ)
Thầy tôi, Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ (sinh 1921) đã bỏ nhiều công sức cô đọng phần tinh hoa nhất để giúp cho lớp người sau đở phải vất vả. Con xin kính tri ân Thầy và hân hạnh giới thiệu cùng quí huynh đệ.

————————–
TINH HOA CÁC ĐẠO GIÁO
————————–

MỤC LỤC

 Chương 1: Tinh Hoa Thiên Chúa Giáo (Phần Mật Truyền).

 Chương 2: Sơ lược về Bà La Môn giáo.

 Chương 3: Từ Veda đến Bhagavad—Gita.

 Chương 4: Các môn phái Triết Học Ấn Độ Giáo

 Chương 5: Tinh Hoa Bà La Môn Giáo

 Chương 6: Lão Giáo — Đạo Đức Chân Chuyên. Đạo đức là gì

 Chương 7: Vũ Trụ Thám Vi. Tìm hiểu Huyền Cơ Vũ Trụ

 Chương 8: Nhân Sinh Phát Diệu. Vi Diệu Cuộc Đời

 Chương 9: Dịch Kinh Yếu Chỉ — Cốt Tủy Kinh Dịch

Chương 10: Thân Học Minh Tuyên – Tìm Hiểu Về Con Người

Chương 11: Tính Mệnh Song Tu – Tu Thể Xác Lẫn Thần Hồn

Chương 12: Đơn Đạo Mạn Đàm – Bàn Về Luyện Đơn

Chương 13: Quần Kinh Diệu Tuyển — Kinh Sách Đạo Lão

Chương 15: Quy Nguyên Phản Bản. Trở Về Nguồn Gốc

Chương 16: Điều Kiện Tiên Quyết Để Khảo Cứu Phật Giáo Cho Có Hiệu Quả

Chương 17: Siêu Hình Học Phật Giáo

Chương 18: Tối Thượng Thừa Phật Giáo

Chương 19: Đạo Khổng – Chân Dung Khổng Phu Tử

Chương 20: Tinh Hoa Khổng Giáo Theo Tứ Thư, Ngũ Kinh

Chương 21: Vũ Trụ Quan (Theo Trung Dung Và Dịch Lý)

Chương 22: Nhân Sinh Quan (Theo Trung Dung Và Dịch Lý)

Chương 23: Sử Quan (Theo Trung Dung Và Dịch Lý)

Chương 24: Hai Chữ Tính Mệnh Theo Khổng Giáo

Chương 25: Tiểu Nhân, Quân Tử, Thánh Nhân

Chương 26: Thuyết Thiên Nhân Tương Dữ Và Thiên Nhân Hợp Nhất Trong Nho Giáo

Chương 27: Quan Niệm Tu Thân Theo Nho Gia

Chương 28: Con Đường Huyền Nhiệm Trung Dung

Chương 29: Tinh Hoa Cao Đài Giáo

Chương 30: Tinh Hoa Hồi Giáo

Chương 31: Tinh Hoa Do Thái Giáo: Kabbala

Chương 32: Tinh Hoa Phật Giáo Hòa Hảo

CHƯƠNG I

TINH HOA THIÊN CHÚA GIÁO.

(PHẦN MẬT TRUYỀN TRONG THIÊN CHÚA GIÁO).

(Một phần tài liệu này đã được trích ra từ bộ LA DOCTRINE ESOTERIQUE À TRAVERS LES ÂGES, gồm 2 cuốn của Ernest Bosc, Chamuel Editeur, Paris 1889, nơi các trang 22—44, Tập II, thuộc Chương XXVII, nhan đề ÉSOTÉRISME CHRÉTIEN).

*
* *

Đã từ lâu, tôi để tâm suy cứu về những đoạn Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, có thể nói là TINH HOA. Cách đây khoảng 20 năm, nhân đọc bộ La Doctrine ésotérique à travers les âges của Ersnest Bosc, tôi thấy nên đúc kết lại, hệ thống hoá lại, xiển minh lại bằng các lời trích dẫn trong các sách Phúc Âm, và Thánh Thư, để thân tặng những ai có lòng thành khẩn và tha thiết tìm cầu Chân, Thiện, Mỹ.

Nói rằng Công Giáo có phần Mật Truyền, ắt nhiều người sẽ bỡ ngỡ. Nhưng thực tế, có như vậy. Vả lại, không phải cứ theo Đaọ là nắm được tinh hoa của Đạo, là biết được điều thâm sâu của Đạo.

Chính thánh Paul đã viết: “Hỡi Anh Em, phần tôi, tôi đã không thể nói với Anh Em, như nói được với những người có linh cơ siêu thoát, mà là nói như thể với những người phàm tục, với những trẻ thơ trong đấng Kitô. Tôi đã cho Anh Em ăn sữa, chứ không cho những của ăn rắn đặc vì Anh Em không chịu nổi…(I Cor. 3,1)

Vậy phần Mật Giáo nội truyền đó có thể được trình bày như sau:—

1. Con người có Thiên Tính hay Thiên Chúa hằng ngự trị trong tâm hồn mọi người.

2. Nước Trời đã ở ngay trong tâm khảm con người.

3. Mọi người đều có đấng Kitô trong tâm khảm.

4. Hai phương diện một con người: TÂM và THẦN.

5. Ý nghĩa cuộc tiến hoá quần sinh:

—Từ phàm phu con người sẽ trở thành Thần Linh.

—Từ phàm phu, con người sẽ tiến hoá, sẽ triển dương tới tuyệt đỉnh, để trở nên những con Thiên Chúa, để đạt đúng tầm kích như Chúa Kitô.

6. Đại Đạo chân truyền:

—Đi vào Tâm mà tìm Đạo, tìm Trời.

—Tỉnh giảm mọi lễ nghi, hình thức.

—Tìm cho ra luật lệ Trời ghi tạc trong tâm can.

—Sống kết hợp với Thiên Chúa.

I. Con người có Thiên Tính hay Thiên Chúa hằng ngự trong tâm hồn mọi người.

Thánh Paul viết:”Chỉ có một Thiên Chúa là cha chung mọi loài. Ngài ở trên mọi loài, xuyên thấu mọi sự, mọi loài, và ở trong mọi người chúng ta”[1]

Ngài lại nói:” Nhưng cũng chỉ là một Thiên Chúa tác động mọi sự trong mọi người. Mọi người đều được một phần hiển dương của Thần Chúa để góp phần vào ích chung.”[2]

Ngài cũng nói: “Anh Em há chẳng biết Anh Em là đền thờ. Chúa và Thần Chúa ở trong anh em sao?”[3]

Ngài viết thêm:”Anh em chẳng phải sống bằng xác mà bằng Thần, vì Thần Chúa ở trong anh em.”[4]

2. Nước Trời đã ở ngay trong tâm khảm con người.

“Nước Trời kề cận. [5]

“Nước Trời không đến một cách lộ liễu, và không thể nói được: Nước Trời ở đây, nước Trời ở đó, vì anh em hãy biết: Nước Trời ở trong anh em.” [6]

Tiếc thay những câu đó xưa nay được hiểu như là Nước Trời đã gần tới…Nước Trời ở giữa Anh em.

Vả lại niềm tin rằng nước Trời ở ngay trong tâm khảm mỗi người, chỉ là một hệ luận tự nhiên của niềm tin rằng: Chúa, Thần Chúa đã ngự trị trong tâm khảm mỗi người, như đã chứng minh ở trên.

3. Mọi người đều có đấng Kitô trong tâm khảm.

Ernest Bosc gọi đó là Huyền Nhiệm Đấng Kitô (le mystère du Christ) hay là Huyền Nhiệm Phúc Âm (mystère de l’évangile)[7]

Như vậy, theo Ernest Bosc, hiểu được huyền nhiệm đấng Kitô, nghĩa là linh cảm được rằng mình có Chúa Kitô trong lòng mình, là sẽ hiểu được tinh hoa Phúc Âm, nắm được cốt tuỷ Phúc Âm.

Ernest Bosc cho rằng: không nên hiểu Đấng Kitô là Ngôi Hai chỉ giáng trần một lần duy nhất trong Chúa Giêsu, mà phải hiểu đó chính là Ánh Linh Quang tiềm ẩn sẵn trong lòng mọi người, Ánh Linh Quang phát xuất từ Đại Linh Quang bao quát toàn thể vũ trụ. Như vậy trong mỗi người đều có sẵn đấng Kitô, mỗi con người đều là một Tiểu Linh Quang, một phần tử bất khả ly của Đại Linh Quang.[8]

Thánh Paul viết: “Anh em há chẳng biết thể xác anh em là thân thể đấng Kitô…Anh em hãy ngợi khen và mang Thiên Chúa trong thể xác anh em.”[9] Câu Kinh Thánh trên là dịch nguyên văn từ Thánh Kinh Vulgate, nguyên bản Latinh. Trong các bản Thánh Kinh sau này, bất kỳ bằng tiếnh Anh, Pháp hay Việt, đều bỏ không dịch mấy chữ hãy mang thiên chúa trong thể xác anh em.

Thánh Paul cho rằng: Cái điều huyền diệu trên đây, từ bao thế kỷ trước ngài, người ta đã quên khuấy mất, và Ngài có trách nhiệm tuyên xưng lại điều ấy. Đó là: Đấng Kitô ở trong Anh Em.[10]

Chính là vì trong mỗi người chúng ta, có cái Mầm Mộng Kitô đó, cho nên thánh Paul mới chủ trương rằng chúng ta có thể triển dương tới viên mãn, để thực sự đạt tới tầm kích của đấng Kitô. [11]

Như vậy, cái điều huyền diệu, cái điều bí ẩn của Phúc Âm chính là chỉ vẽ cho mọi người biết rằng: Trong lòng họ có Thượng đế hiện diện. Hồng ân này không rành riêng cho ai. Người Do Thái hay người muôn phương cũng được diễm phúc đó đồng đều như nhau. [12]

Thánh Paul cho rằng: Ngài đã chịu đau khổ, chịu vất vả để cho đấng Kitô được hình thành trong tâm hồn các giáo hữu.[13]

Như vậy lúc thì Phúc Âm nói: Trong ta có Thiên Chúa, lúc thì nói trong ta có đấng Kitô, lúc thì nói trong ta có Thần Chúa . Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa há đã chẳng mãi mãi ngự trị trọn vẹn trong tâm hồn ta hay sao?

Đây là lời Thánh Paul về Thần Chúa hiện diện trong ta: “Chính vì chúng ta có Thần Chúa, nên chúng ta mới có thể gọi Chúa là Cha. [14] và mới có thể cộng hưởng gia nghiệp Thượng Đế như Chúa Giêsu.” [15] “Chính vì chúng ta có Thần Chúa, nên chúng ta mới có sự hiểu biết về Chúa.”[16]

Thánh John cũng chủ trương: “Chúng ta biết được rằng: ta ở trong Chúa và Chúa ở trong ta, chính là vì Ngài đã cho chúng ta Thần Chúa.” [17]

Riêng tôi, từ lâu đọc Thánh Kinh, tôi thấy rằng, nếu Phúc Âm là một Tin Mừng, thì Tin Mừng ấy sẽ là như sau:

*Anh em chẳng phải là nhửng kẻ phàm hèn, chẳng phải là con nuôi, con nhặt, con đòi, mà anh em cũng y thức như tôi, chúng ta là con một Cha Chung. Vì thế mà Ngài mới lập ra Kinh Lạy Cha Chúng Tôi. [18]

*Nước Trời đã ở ngay trong lòng chúng ta.[19]

*Nếu Nước Trời ở trong ta, thì dĩ nhiên Vua Nước Trời không thể sống lưu vong ngoài nước Ngài, mà chắc chắn là phải sống động trong lòng chúng ta.

*Như vậy anh em chính là đền thờ của Ngài. [20]

*Như vậy, việc gì phải xây cất những đền đài, những thánh đường, thánh thất nguy nga cho Ngài ở, vì Ngài đâu có thèm ở trong những đền đài đó. Thánh Stephen, vị thánh tử đạo đầu tiên, và Thánh Paul, một trong những vị sáng lập ra Đạo Thiên Chúa đã long trọng tuyên xưng: Chúa Trời Đất chẳng bao giờ ở trong những đền đài do tay người tạo dựng nên.[21]

*Nếu Chúa ở trong mọi người, thì dĩ nhiên yêu người là mến Chúa. Cho nên Chúa Giêsu chung qui, chỉ dạy mến Chúa và yêu người, và bao giờ cũng chủ trương yêu người là mến Chúa.[22]

*Hơn thế nữa, con người chẳng bao giờ có thể tách rời Thiên Chúa dù là một phút, một giây. [23]

4. Hai phương diện trong một con người: Tâm và Thần.

Bí quyết này xưa nay chưa hề được giảng giải. Ernest Bosc tuy có đề cập đến vấn đề này, nhưng giải thích chưa được rõ ràng. [24]

Tôi cảm thấy có bổn phận làm sáng tỏ lại vấn đề.

Giáo lý Công Giáo công truyền chấp nhận rằng con người chỉ có 2 phần: XÁC VÀ HỒN (Công đồng LATRAN IV, 1215.—VATICAN I, 1870), còn Thánh Kinh Công Giáo thì trái lại chấp nhận con người có 3 phần: Thần, Hồn, Xác. [25]

Thần và Hồn hoàn toàn khác biệt nhau. [26]

*Thánh Paul và thánh Jude phân biệt 2 hạng người:

1—Một hạng phàm phu, tục tử, sống lệ thuộc vào thất tình, lục dục. Đó là những ngưởi sống bằng Tâm Hồn (Êtres psychiques).

2—Một hạng người sống bằng Thần (Êtres Spirituels)

Những hạng phàm phu, tục tử sống theo thất tình, lục dục (theo xác thịt), là những hạng người hay chia rẽ, [27] đĩ thoã, dâm tà, tin vơ thờ quấy, ghen ghét, chia rẽ, hay ghen, hay giận, hay cãi cọ, tham ăn, tục uống, chè chén, say sưa . [28]

Họ không sao hiểu được những gì siêu linh. [29]

Những con người như thế làm sao mà được nước Trời? [30]

Còn những con người siêu linh, tức là những người sống bằng Thần sẽ: nhân từ, vui tươi, khoan quảng, thích giúp người, có từ tâm, tin cậy nơi người khác, hiền từ, biết tự chủ, [31] và tùy nghi, những người đó, vì công ích, có thể trở nên khôn ngoan, hiểu biết, làm được phép lạ, chữa được bệnh tật, nói được tiên tri. [32]

Chỉ những người đó mới thông thần, mới hiểu được những điều huyền diệu của Chúa, biết được ý Chúa. [33]

Và quan trọng nhất là chỉ có những hạng người siêu linh ấy mới được TRƯỜNG SINH VĨNH CỬU. [34]

Trong thư viết cho bổn đạo thành Corinth, [35] thánh Paul có một đại luận “thần sầu, quỉ khốc” về hai phần Tâm (Hồn= corps psychique) và Thần (Corps spirituel).

Nhưng tiếc vì nó quá cao siêu, nên xưa nay chẳng mấy ai hiểu nổi, chẳng mấy ai để ý tới, chẳng mấy sách dịch được cho ra hồn.

Ngài cho rằng: phần Tâm (Hồn) hiện ra trước, phần Thần hiện ra sau. [36]

Ai có một chút kinh nghiệm đời sống tâm linh sẽ hoàn toàn đồng ý. Khi chưa giác ngộ, thì cái Thần trong con người chưa hiện, chưa hoạt động. Lúc ấy, Thần trong ta còn ngủ, chỉ mới có cái hồn là sống động.

Cái Hồn đó chẳng qua là phần bao bì, phần Địa, biến thiên, sinh tử. Như vậy, dĩ nhiên, nó không thể nào hưởng được Nước Trời, không thể nào được trường sinh vĩnh cửu, không thể nào trở nên bất hủ.[37]

Nó chẳng khác nào như những phần tuỳ thuộc của hạt lúa mì, cốt là để hỗ trợ cho cái mầm sống trong hạt lúa mì nảy nở ra cây lúa mì. Cũng như vậy, nó sẽ đóng vai hỗ trợ để cho cái phần Thần được trở nên sống động, triển dương.

Thế tức là gieo giồng cái Tâm Hồn, mà sẽ nảy nở ra cái Thần Linh. Gieo giồng cái biến thiên, sinh tử, để sản sinh ra cái trường sinh; gieo giồng cái yếu hèn, ti tiện, sẽ nảy nở ra cái huy hoàng và mãnh liệt. [38]

Thánh Paul tha thiết khuyên ta rằng:

Đã biết sống bằng Tâm Hồn, còn phải biết sống bằng Thần Linh nữa.

Cái phần Hồn chẳng qua là cái phần Đất, sẽ bị huỷ hoại. [39]

Cái phần Thần mới là cái phần Trời, siêu linh, vĩnh cửu. [40]

Tôi toát lược phần trình bày về Tâm và Thần của thánh Paul như sau:

THÁNH, PHÀM hai nét ghép thành NHÂN,

Phàm: ấy Nhân Tâm; Thánh: ấy Thần.

Tâm hình hiện trước, Thần kế tiếp,

Thần: Trời; Tâm: Đất, nhẽ tương phân.

Tâm, Đất dĩ nhiên vương sinh diệt,

Thần, Trời nên mới thoát chuyển luân.

Tâm, Đất tử vong, đành số kiếp,

Bất tử, trường sinh, chỉ có Thần.

5. Ý nghĩa cuộc tiến hoá quần sinh.

*Từ phàm phu con người sẽ tiến tới Thần Linh.

*Từ phàm phu con người sẽ tiến hoá, sẽ triển dương tới tuyệt đỉnh để trở nên Những Con Thiên Chúa, để đạt đúng Tầm Kích của Chúa Kitô. [41]

Cả vũ trụ, quần sinh như đang chờ sự hiển dương của những Con Thiên Chúa. [42]

“Cho tới ngày ấy, vạn vật như quằn quại trong cơn đau đẻ. Và không phải chỉ tạo vật mới như thế. Ngay đến như chúng ta, vì có Mầm Mộng Thần Linh, chúng ta cũng như thấy thâm tâm đang rên rỉ chờ ngày được nhận là Con Thiên Chúa. “[43]

Tiến hoá như vậy chính là lột bỏ đời sống phàm phu, đời sống theo thất tình, lục dục. Tức là rũ bỏ con người cũ, sống theo con người mới, lề lối mới, đạt dần tới sự hiểu biết chân thực, khuôn dần theo được đúng như chân tướng của Hoá Công. [44]

Muốn tiến hoá trên bình diện tinh thần, trước hết phải rũ bỏ cái lốt phàm phu, tục tử, phải rũ bỏ cái Hồn đầy thất tình, lục dục. Ôm ấp nó, o bế nó, muốn cưu mang, cứu chuộc nó thì làm sao mà mong được cứu rỗi. Chúa Giêsu đã nói rõ ràng trong Matthew II, 39: “Ai muốn cứu linh hồn mình, thì sẽ mất; ai mà mất linh hồn mình vì ta, thì sẽ được nó.” [45]

Lão giáo nói: Tâm tử, Thần hoạt. Phật giáo dạy:

Diệt Tiểu Ngã, trở về với Đại Ngã cũng tương tự như vậy. Ý nói: Hồn có chết đi, thì Thần mới sống động được. Tiểu Ngã có chết đi, thì Đại Ngã mới triển dương được.

Cái tâm hồn phàm tục ấy cần phải chết đi, để chúng ta được sống lại một lần nữa, sống lại bằng Thần. [46]

*Vì Chúa là Thần, cho nên chúng ta không thờ Chúa bằng môi miệng, [47] cũng không phải bằng Hồn, vì Hồn đầy thất tình lục dục, không hiểu nổi được Chúa,[48] mà phải thờ Chúa bằng Thần. [49]

Lạ lùng thay trong Cựu Ước có nhiều nơi chép rõ rằng Hồn không bất tử. [50]

Charles Herbert, một tác giả thuộc Cơ Đốc Phục Lâm, một giáo phái thành lập năm 1862, trong quyển Le Chemin du Salut của Ông, đã cho thấy:

Chữ Thần được nhắc 827 lần trong Thánh Kinh.

Chữ Hồn được nhắc 873 lần trong Thánh Kinh.[51]

Sống bằng Thần, siêu phàm, thoát tục, mới có thể hợp nhất với Thiên Chúa, [52] mới có thể có cùng một Thần với Thiên Chúa. [53]

Chúng ta chẳng cần đợi tới lai sinh mới được hưởng nước Trời siêu việt ấy, mà ngay từ khi còn ở gian trần này. [54]

Có như vậy, sau này mới đáng được ngồi cùng một toà với Thiên Chúa. [55]

Ta cũng có thể mượn lời linh mục Henry Le Saux khi ông bình câu I Cor 15, 14 và tiếp theo để bàn về cuộc tiến hoá con người như sau:

Cũng là một sinh linh mà trước kia thì là:

Phàm phu, tục tử; phàm tâm, phàm thể.

Nhưng ngày nay, và mãi mãi về sau, sẽ là Thần Linh, là Thiên Thể, sẽ là Siêu Phàm. [56]

6. Đại Đạo chân truyền.

* Đi vào tâm mà tìm Đạo, tìm Trời.

Phúc Âm gọi thế là “khi cầu nguyện, hãy vào buồng, đóng cửa lại, cầu cùng Cha ở đó, ở trong nơi thầm kín, và Cha ngươi, nhìn thấu nơi thầm kín, sẽ trả công cho ngươi.” [57]

Ernest Bosc chủ trương rằng: Thiên Chúa nói cùng mỗi người chúng ta, trong buồng thầm kín của tâm hồn, chẳng cần qua trung gian; trung gian chỉ làm giảm tia sáng giữa tạo vật và tình yêu Ngài. [58]

* Tỉnh giảm lễ nghi hình thức bên ngoài.

Chính Chúa Giêsu đã khuyên: Đọc kinh làm chi cho nhiều. Đừng bắt chước lối ngoại giáo. [59]

Đừng quá chú trọng những lễ nghi, hình hạc, giả tạo bên ngoài, những lời giảng giáo, nhân vi, nguỵ tạo. [60]

“Những linh mục ngày nào cũng đứng cầu kinh, dâng lễ, làm đi, làm lại một lễ hiến dâng, nào có xin tha được tội lỗi cho ai?” Đó chính là nguyên văn lời thánh Paul trong thư cho người Do Thái. [61]

* Tìm cho ra lề luật Trời ghi tạc trong tâm can.

Như vậy, tinh hoa đạo giáo không cốt tại những lễ nghi, hình thức bên ngoài, những lễ dâng để xin xá tội. [62]

Mà chính là để tìm cho ra luật Trời đã ghi tạc sẵn trong tâm can mình, [63] để tìm cho ra Thiên Ý, để mà theo, mà giữ. [64]

* Sống kết hợp với Thiên Chúa.

Sống kết hợp với Thiên Chúa chính là phần thưởng dành cho những người đã biết sống siêu phàm, thoát tục, đã rũ bỏ được phần Nhân, phần Hồn đầy thất tình, lục dục, đã sinh lại được bằng Thần, [65] đã đọc được Thiên Ý, [66] đã nói được như Thánh Paul: “Tôi sống, chẳng còn là tôi sống, mà là Chúa sống trong tôi.” [67] “Tôi có Thần Chúa” [68] “Tôi đã nắm được tư tưởng chúa Kitô.” [69] “Tôi cũng có một Thần như Chúa.”[70]

Tóm lại, Chân Đạo trước sau chỉ có một chủ trương: “Hãy bỏ lề thói sống của con người cũ, điêu tàn theo đà thời gian, với muôn nghìn dục vọng hoàng lương, hãy sống một đời sống Thần Linh mới, hãy mặc lấy con người mới, con người đã được tạo dựng nên đúng theo Thiên Ý, trong công chính, trong thánh thiện của Chân Lý.” [71].

CHÚ THÍCH

[1] Unus et Deus et Pater omnium, qui est super omnes, et per omnia, et in omnibus nobis. Eph. IV, 4,5,6.

[2] Mais c’est le même Dieu qui opère tout en tous. À chacun, la manifestation de Dieu est donnée en vue du bien commun. I Cor. XII 6,7.

[3] Ne savez—vous pas que vous êtes un temple de Dieu et que l’Esprit de Dieu habite en vous? I Cor. III,16.

[4] Vous, vous n’êtes pas dans la chair, mais dans l’Esprit, puisque l’Esprit de Dieu habite en vous? Rom. VIII, 9

[5] Le Royaume de Dieu est tout proche. Mc I, 15. Mat. 3, 2.

[6] Lk 17, 21.

[7] Ernest Bosc, La Doctrine Ésotérique, tome 2, trang 26, 34—44.

[8] On désigne sous cette expression, la présence en l’homme de ce Rayon du Verbe, de cette étincelle de L’Esprit de Dieu qui est dénommé Christ. Le Christianisme et la Théosophie ne donnent pas à ce terme, la même signification; celle—ci prétend que l’échelle des êtres est infinie, que de l’homme à l’émanation première de l’Absolu, nous venons de le voir, de l’homme au Logos (Christ Universel), il existe un nombre considérable de degrés de développement et que cette énorme distance ne saurait être franchie d’une facon arbitraire. Le corps du Logos (du Christ) c’est l’univers tout entier et toutes les qualités de cet Univers, toutes les potentialités de matières (visibles et invisibles), que nous nommons des êtres qui ont pour cause cet ESPRIT UNIVERSEL, dans lequel nous vivons,et nous nous mouvons…

Ernest Bosc, La Doctrine Ésotérique, p. 34—35. Xem thêm I Cor.XII, 6—11. Acts 17—28.

[9] Nescitis quoniam corpora vestra membra sunt Christi…Glorificate et portate Deum in corpore vestro. I Cor VI, 15—20

[10] Col. I, 25—27.

[11] Eph. IV, 13.

[12] Eph. III, 3—6.—Rom. III, 29.

[13] Ga IV, 19.

[14] Rom VIII, 14, 17.

[15] Rom VIII, 8, 17.

[16] I Cor 2, 12.

[17] I John, IV, 12—13.

[18] Mat 5, 45 và 9, 14.

[19] Lk 17, 21

[20] I Cor, 3, 16—17

[21] Ac 7, 48—49.—Ac 17, 24.—He 9, 24.

[22] Mat 5, 43.—Mat 22, 37—40.—Mk 9, 37.—Mk 12, 29—34.

[23] Jn 15, 5.

[24] Ernest Bosc La Doctrine ésotérique II, trang 31—40.

[25] I Th, 5, 22.

[26] He 4, 12.

[27] Ga 5, 18—25.—I Cor 2, 13—14.—Jd 19.

[28] Ga 5, 19—21.

[29] L’Homme psychique n’accueille pas ce qui est de l’Esprit de Dieu: C’est folie pour lui et il ne peut le connaitre. I Cor 2, 14.

[30] Ga 5, 21.

[31] Ga 5, 22—23.

[32] I Cor 12, 4—7.

[33] I Cor 2, 1—16.

[34] Ga 6, 7—9.

[35] I Cor 15, 35—53.

[36] I Cor 15, 46.

[37] I Cor 15, 50.

[38] I Cor 15, 35—44.

[39] I Cor 15, 50.

[40] I Cor 15, 49—53.

[41] Eph 4, 13

[42] Rom 8, 19.

[43] Rom 8, 23.

[44] Co 3, 6—16

[45] Qui enim voluerit animam suam salvam facere, perdet eam; qui autem perdiderit animam suam propter me, inveniet eam. Mat. 2, 39.—Mat. 16, 25.

[46] Jn 3, 7—8.—Mat 2, 38.—Mat 16, 25.

[47] Mk 7, 6—7.

[48] L’Homme psychique n’accueille pas ce qui est de L’Esprit de Dieu.

La Sainte Bible (Bible de Jérusalem.) I Cor 2, 14

[49] Jn 4, 24.

[50] * L’âme qui pèche, c’est elle qui mourra. Ez 18—4.

* C’est pourquoi je lui assignerai une part avec les grands. parce qu’il aura livré son âme à la mort. Isaie 53, 10—12, La Sainte Bible par J. N. Darby.

Vulgate dịch như sau: Pro eo quod tradidit in mortem animam suam.

*Puisque le Fils de l’homme n’est pas immortel. Si 17, 20.

[51] L’Esprit (Ruah en Hébreu, Pneuma en Grec, mot qui se rencontre 827 fois dans la Bible) c’est le souffle de vie qui est communiqué par Dieu…

L’âme (Néphesh en Hébreu, Psuché en Grec, mot mentionné 873 fois dans la Bible) désigne avant tout la vie individualisée, la vie passagère…

Charles Gerber, le Chemin du Salut, Chapitre: L’Homme est—il immortel?

[52] Jn 17, 21.—I Jn 4, 12.

[53] I Cor 6, 16—17.

[54] Mat 16—28.

[55] Rev 3, 21—22.

[56] Ce fut le même être qui fut—Animalis, psychikon, “psychique” , “naturel”—qui maintenant est, et à jamais sera spiritualis, pneuma—tikon, spirituel.

I Cor 15, 44 and ss.—Henri le Saux, La Rencontre de l’Hindouisme et du Christianisme, Édition du Seuil, Paris, 1966, p. 29.

[57] Mat 6,6.

[58] Le Maitre Divin parle à chacun de nous dans la chambre secrète du coeur, sans qu’il soit nécessaire d’intermédiaire oblitérateur de son rayon entre sa créature et son amour.

Ernest Bosc, La Doctrine ésotérique II, p. 43.

[59] Mat 6, 7.

[60] Mk 7, 6—7.

[61] He 10, 11.

[62] He 10, 5—7.

[63] He 10, 16.

[64] He 10, 10.

[65] Jn 3, 5.

[66] I Cor 2, 16.

[67] Ga 2, 20

[68] I Cor 7, 40.

[69] I Cor 2, 16.

[70] I Cor 6, 16—17.

[71] Eph 4, 24.

Cựu Ước.

Ecclesiasticus (Sirach)
 Si.

Ezekiel
 Ez.

Isaiah
 Is.

Tân Ước.

Acts
 Ac

Colossians
 Co

I Corinthians
 I Cor

II Corinthians
 II Cor

Ephesians
 Eph

Galatians
 Ga

Hebrews
 He

John
 Jn

I John
 I Jn

II John
 II Jn

III John
 III Jn

Jude
 Jd

Luke
 Lk

Mark
 Mk

Matthew
 Mt

Revelation
 Rev

Romans
 Ro

I Thessalonians
 I Th

II Thessalonians
 II Th

***************

CHƯƠNG II

SƠ LƯỢC VỀ BÀ LA MÔN GIÁO

A. Ít nhiều nhận định về Ấn Độ: —

Ấn độ xưa nay đối với chúng ta luôn luôn khoác một vẻ huyền bí với những danh từ Tây Thiên, Tây Trúc, với những hình ảnh các vị thần linh thiên thủ, thiên nhãn, nhựng đạo sĩ lang thang không nhà, với những Fakirs chôn sống không chết.

Mà thực Ấn Độ là một xứ lạ lùng.

Ấn Độ xưa chia xã hội làm bốn thành phần chính:

1.Giai cấp tăng lữ (Brahmana) coi về tế tự, giáo hoá.

2.Giai cấp chiến sĩ (Kshatriya), làm vua, làm quan, làm tướng.

3.Giai cấp thương nhân (Vaishya) làm nông, thương.

4.Giai cấp công nhân (Shudras) làm công việc tay chân.

Ngoài bốn giai cấp chính ấy ra, còn có những người sống ngoài lề xã hội. Đó là:

—Những tu sĩ không nhà (Sanyasins)

—Những người cùng tiện (Paria)

—Những người ngoại quốc (Mlecchas)

Gandhi, lúc còn sinh thời, hết sức bênh vực những người cùng tiện. Hiến pháp Ấn, năm 1949, đã bỏ lệ phân giai cấp, và cho nam nữ bình quyền.

Ấn Độ chia cuộc đời con người thành bốn thời kỳ:

—Thời kỳ thanh khiết và học tập (Brahmacharya).

—Thời kỳ lập gia đình (Garhasthya)

Kiếm tiền (Arthra)

Hưởng tình (Kama)

Sống hẳn hoi, đạo đức (Dharma)

—Thời kỳ vào rừng ẩn cư (Vanaprasta)

—Thời kỳ thoát tục, vô gia cư (Sannyassa)

Trong thời kỳ này, con người rũ bỏ hết mọi dây rợ gian trần, sống khất thực, vô vi, vô trụ. Họ sống, nhưng sống kết hợp với Đại Ngã Thường Trụ. [1]

Heinrich, trong quyển Les Philosophes de L’Inde, còn cho rằng Ấn Độ có 4 môn học:

Ba môn đầu dạy làm người (Trivarga).

1. Môn học cầu danh, tranh lợi (Arthacastra), mục đích tìm tài lợi, công danh. (Philosophie du Succès).

2. Môn học Ái tình (Kamacastra), mục đích hưởng thụ khoái lạc thể chất. (Philosophie du Plaisir)

3. Môn học làm người (Dharmacastra) sống theo nhân luân. (Philosophie du Devoir)

4. Môn học cầu giải thoát. (Moksa)

Đó là mục đích của Triết Học Ấn Độ. Minh Triết tức là học để biết mình có Bản Thể Thần Minh, và Hành là để trở thành Thần Minh.[2]

B. Tôn Giáo Ấn Độ.

Tôn giáo Ấn Độ là Bà la Môn (Brahmanism) hay Ấn Độ Giáo (Hinduism). Ấn Giáo rải rắc khắp hoàn cầu. Tổng số theo thống kê nay là: 689.205.100.[3]

Tôn giáo Ấn thật là đa diện.

Thấp thì đi dâng hương cúng thần, tắm cho thần, mặc cho thần, hoặc đi hành hương Benares, đi tắm sông Hằng (Gangus).

Cao thì vào rừng ẩn tu, sống siêu thoát, vượt lên trên các lễ nghi, chiêm bái, mà chỉ còn chuyên chú, tĩnh tâm, suy nghiệm cầu giải thoát.

Quan niệm về thần minh cũng muôn sắc thái, đi từ chỗ thấp nhất, đến cao nhất.

Khi thì nó đa thần, thờ vô số thần, coi như có quyền lực ngang nhau. (Polytheism)

Khi thì nó cho các thần luân phiên nhau giữ ngôi bá chủ (henotheism hay Kathenotheism).

Khi thì nó chủ trương độc thần (Monotheism).

Khi thì nó chủ trương Nguyên Lý Sáng Tạo Vô Ngã (Impersonal Monism).

Đối với Ấn Độ, các chủ trương trên đều hữu lý vì:

—Nó phản ảnh mọi trình độ tiến hoá từ ngu si đến minh triết của dân gian.

—Thần minh dù là đa tạp, hay đơn thuần, cũng chỉ là những hiển dương của một nguyên lý tối sơ.

Ấn Độ cho rằng mình có 330.000.000 vị thần. Dưới đây là ít nhiều vị thần chính:

1. Trước hết là Tam Vị Thượng Thần: Brahma, Vishnu, Shiva.

Brahma là thần sáng tạo, có bốn đầu, ngự trên đỉnh núi huyền thoại Meru (Tu Di), với vợ là nữ thần văn nghệ Sarasvati, thường cưỡi con công thần.

(Ảnh Brahma)

Vishnu là thần bảo trì vũ trụ, thường nằm trên mình con rắn chín đầu Ananta. Ngài thường với vợ là Laksmi, sống trên thiên đỉnh Meru. Ngài thường cưỡi con nhân điểu Garuda, trong khi vân du thượng giới.

Vishnu có tất cả 10 hoá thân: Cá, rùa, lợn rừng, người, sư tử, người lùn Vanana, Parashu-Rama, Ông hoàng Rama, ông hoàng Krishna, đức Phật và thần Kalki trong tương lai.

Krishna có người tình là Radha.

Rama có vợ là Sita, và có thần khỉ Hanuman phụ tá.

(Ảnh Vishnu)

Shiva là thần phá huỷ, sống trên núi Kailas. Ngài hay cưỡi bò, và có nhiều vợ như Parvati, Uma, Durga, Kali, Shakti v. v…

Con ngài là Karttikaya, thần chiến tranh và Ganesha, thần đầu voi.

(Ảnh Shiva)

2. Thứ đến, là những trung đẳng thần, như:

*Ashvin, song thần, y sĩ của chúng thần.

*Usha, nữ thần bình minh, cưỡi xe có bảy con bò kéo, tượng trưng cho bảy ngày trong tuần.

*Surya, thần mặt trời, cưỡi trên cỗ xe, có bảy con ngựa kéo.

*Agni, hoả thần.

*Indra, thần thinh không và bầu trời, thần sét, thần chiến tranh.

*Chadra, thần mặt trăng.

*Varuna, thần trời, cưỡi trên lưng con quái thú Makars.

*Vayu, thần gió.

*Maruts, thần phong ba.

3. Cuối cùng là những hạ đẳng thần, như:

*Yakshinis và Yakshas các tiểu quỉ, hầu hạ thần phú quí Kabera.

*Ravana, quỉ vương đã cướp đoạt vợ Ông hoàng Rama, và đã cùng chúng yêu là Rahshasas, chống lại Rama.

*Manu, đã được một con cá thần cứu thoát khỏi Hồng Thuỷ.

*Soma, tửu thần.

*Yama, tử thần.

*Kinnaras, các nhạc thần trên trời.

*Apsarases, nữ thuỷ thần và Nagas, xà thần v.v…

Với những quan niệm tiên khởi trên, thiết tưởng chúng ta đã được chuẩn bị để đi vào triết học và đạo giáo Ấn Độ.

——————–

CHÚ THÍCH

[1] Vit s’identifiant au Soi éternel et ne considère rien d’autre. Heinrich Zimmer, Les Philosophes de L’Inde, Payot, Paris, 106, Boulevard St Germain, 1953, p. 129.

[2] Heinrich Zimmer, Les Philosophes de L’Inde, p. 35.

Les 4 buts de la vie:

La Philosophie s’achève par l’accession à un état divin, en ce monde et dans l’autre. (ib. p. 52).

Le Philosophe est quelqu’un dont la nature a été transformée, re—formée en un type de nature vraiment surhumaine du fait qu’il a été traversé par le pouvoir magique de la vérité . (ib. p. 52).

[3] Britannica Book of the Year, 1990, p. 375

***************

CHƯƠNG III

Từ Veda đến Bhagavad-Gita.

Trước khi học về các Thánh Kinh Bà La Môn giáo, tưởng cũng nên nói đại lược về Bà La Môn giáo.

Bà La Môn giáo (Brahmanism) hay Ấn Độ Giáo (Hinduism) là một tôn giáo lớn mà đa số người Ấn Độ tôn sùng. Nó là một đạo giáo cổ nhất còn tồn tại tới ngày nay.

Họ tôn thờ Thượng Đế Nhất Thể Tam Vị. Đó là:

*Brahma, đấng sáng tạo vũ trụ.

*Vishnu, đấng bảo tồn.

*Shiva, đấng phá huỷ.

Vishnu đã giáng trần nhiều lần để cứu độ nhân quần. Rama, Krishna, Đức Phật là vài vị trong những hiện thân của Ngài.

Thần Shiva có vợ là Kali. Hai vị này còn được thờ dưới những hình tượng Lingam (Dương) và Yoni (Âm).

Ngoài ra, dân Ấn còn thờ nhiều vị thần khác, như đã đề cập ở chương trước.

Dân Ấn không giết bò, không ăn thịt bò, và rất trọng bò. Bò có thể đi nhởn nhơ trong các thành phố lớn, làm cản trở lưu thông mà vẫn không sao…

Đạo Bà La Môn ngày nay được thế giới chú ý tới nhiều, không phải vì những hình thức, lễ nghi bên ngoài, mà chính vì những bộ Thánh Kinh của họ, và phương pháp Yoga.

*Thánh Kinh Ấn Giáo gồm có:

1/ Veda (Samhita hay Mantra) (Các thế kỷ từ 15 đến 10 trước Công Nguyên), với các bộ kinh:

—Rig Veda (Độc Tụng Vệ Đà).

—Sama Veda (Ca vịnh Vệ Đà).

—Yajur Veda (Tế Tự Vệ Đà)

—Yajur trắng (Lời Kinh).

—Yajur đen (Lời Kinh và chú giải).

—Atharva Veda (Nhương tai Vệ Đà—Bùa chú khẩu quyết)

—Brahmana (10 quyển. Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 7 trước C.N).

—Aranyaka (Lâm Tuyền Ca) (Bộ này không mấy đặc sắc, nên ít được bàn tới) .

2/ Upanishads (Áo nghĩa thư) (Khoảng thế kỷ 7 đến 5 trước C.N.).

3/ Bhagavad Gita (Thế Tôn Ca), rút ra từ bộ Anh Hùng Ca Mahabharata.

Người Âu Châu đã dịch và khảo sát rất nhiều về các Thánh Thư nói trên. Trong quyển Triết Sử Ấn Độ I của L.M. Hoàng Sĩ Quý (Hưng Giáo Văn Đông Xuất Bản, 161 Yên Đổ, Saigon), chúng ta có một thư mục rất đày đủ về các công trình phiên dịch và sưu khảo Thánh Thư Ấn Độ (Xem các trang 158—162 sách trích dẫn).

Sau đây là sơ lược và nhận định về các Thánh Thư nói trên.

A/ Veda

Trong 4 bộ Veda, bộ Rig Veda là quan trọng nhất.

1/ Rig Veda:
chia làm 10 quyển, có tất cả 1017 bài thơ gồm 20.000 câu thơ.

Các bài thơ trên đại khái tán tụng, cầu khẩn các thần minh, như thần:

— INDRA (thần mưa, thần sét, thần chiến tranh, thần tổ của dân Aryen)

— AGNI (thần lửa), (200 bài thơ).

— VISHNU, SURYA, PUSAN, MITRA (Các thần mặt trời).

— USHA (thần bình minh).

— VARUNA (thần trời).

— SOMA (tửu thần), (cả quyển IX).

Ngoài ra, còn mấy bài thơ rất quan trọng, nói về khởi nguyên của vũ trụ. Đó là:

Vô Hữu Tán Ca (Rig Veda X, 129).

Sinh Chủ Thần Tán Ca (Rig Veda X, 121).

Nguyên Nhân Tán Ca (Purusa Sukta) (Rig Veda X, 90).[1]

Rig Veda phản ánh lại sự cố gắng của con người đi tìm Chân Thể của vũ trụ, qua mọi dạng thức thần minh (Đa thần, độc thần).

Nhờ quan sát, họ nhận thấy rằng các hiện tượng thiên nhiên như mặt trời, mặt trăng, gió, mưa, sấm, sét, bão táp, rượu, lửa v.v…đều có một động lực, một năng lực, một thứ sức mạnh, có thể làm ích hay làm hại mọi người.

Sức mạnh ấy do đâu phát sinh?

Mới đầu, họ cho rằng nguồn năng lực, nguồn sức mạnh ấy do nơi chư thần phát sinh (Indra, Mitra, Varuna, Agni, Soma, Pudra v.v…)

Dần dà, họ cho rằng nguồn năng lực thiên nhiên ấy do một vị thần, do một vị Hoá Công sinh xuất ra. (Vị Hoá Công đó có thể có nhiều tên như Prajapati, Brahmanaspati, Visvakarman v.v…).

Cuối cùng họ cho rằng nguồn năng lực đó do Chân Bản Thể Duy Nhất của Vũ Trụ phát sinh.

Họ tạm gọi Chân Bản Thể Vũ Trụ đó là:

— Brahman (Thượng Đế Vô Ngã, khác với Brahma, Thượng đế Hữu Ngã).

— Cái Ấy (Giá Cá)

— Bỉ Nhất (Cái Nhất ấy, Cái Một ấy).

— Bỉ (Ấy).

Chỉ có Chân Thể này mới chân thường, hằng hữu, mới là:

Chân Thể (Sat).

Chân Trí (Cit).

Chân Phúc (Ananda).

Còn các hiện tượng bên ngoài, và cả đến chư thần, đến độc thần, vẫn còn nằm trong vòng HÌNH, DANH, SẮC, TƯỚNG, khả hình, khả danh, khả tư, khả nghị, và vì vậy, còn ở trong vòng luân hồi, sinh tử, biến thiên, khổ não.

Nếu ta gọi thế giới hữu hình, hữu tướng này là THỬ (cái này), và Chân Thể là BỈ (cái kia), ta sẽ hiểu được tinh hoa Bà La Môn, khi họ nói Con là Cái Đó’ (TAT TVAM ASI), và tinh hoa đạo Phật khi họ gọi Giác Ngộ là Bỉ Ngạn, hoặc gọi Luân Hồi là Thử Ngạn, Niết Bàn là Bỉ Ngạn.

Vũ trụ quan, theo Rig Veda cũng đa tạp. Có thể đưa chúng về 2 đề mục sau:

A. Nhất nguyên Thuyết:

Vũ trụ này đã từ một Nguyên Thể xuất sinh. Nguyên thể ấy là:

— Nước (Rig Veda X, 190).

— Khí (Rig Veda X, 168)

— Vô Hạn (Aditi) (Rig Veda X, 72).

— Hoặc do Thượng Đế phân thân để sinh ra vũ trụ. (Rig Veda, X, 90).

Đọc Thánh Thư Ấn Độ, ta càng ngày càng thấy thuyết THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ, hoặc NHẤT THỂ TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUI NHẤT THỂ, ngày một hiện rõ ra, hoặc nói bằng Huyền Thoại: (Lửa sinh tàn, nhện sinh tơ, v.v…), hoặc bằng Thần Thoại: (Purusa phân thân thành vũ trụ).

B. Nhị Nguyên thuyết:

Vũ trụ này đẵ được Thượng Đế (Rig Veda X, 121), hoặc chư thần tạo ra, từ một chất liệu sẵn có. (Rig Veda VII, 86; III, 32, 80; X, 81, 2; X, 72,2; X, 121, 1).

Rig Veda tin rằng vũ trụ này đã được chi phối bởi những định luật vĩnh cửu, mà họ gọi là Rita hay Dharma.

Về lai sinh, Rig Veda mới đề cập đến Thiên Đàng, Địa Ngục. (Rig Veda, VI, 10; XI, 1, 2 ; I, 25, 6; X, 132; IV, 5, 5; IX, 73, 8; X, 152, 4).

Các quan niệm Luân Hồi, Nghiệp Báo chưa rõ rệt (Rig Veda IV, 2, 10; IV,26, 1; IV, 27, 1; X, 16, 3).

2/ Sama Veda

Sama Veda gồm những bài hát để các thày chủ tế (Urgart) hát khi hành lễ.

3/ Yajur Veda

Yajur Veda trắng và đen gồm các kinh kệ, các khẩu quyết, các lời chỉ dẫn cho các thày phó tế (Hort hay Adhvaryu) trì tụng khi đang hành lễ. Ví dụ các lời kinh đọc khi nhóm lửa, khi ép rượu, dâng rượu Soma, hoặc khi giết các sinh vật để hiến tế.

4/ Atharva Veda

Atharva Veda là một quyển sách dạy các bài thần chú, các bùa phép ma thuật, y như quyển Vạn Pháp Qui Tông của Lão giáo.

*Ví dụ: Thần chú chữa ho . (Sacred books of the East, t. 2, p. 8), Thần chú mọc tóc (Charles Braden, les livres sacrés de l’humanité, p. 85), thần chú cầu lấy được chồng (Như trên. 2, 3), cầu vợ (6, 82), thần chú cho được trai yêu (7, 38), gái yêu (6, 8) v.v.. [2]

Shri Aurobindo nhận định về Veda như sau:

“…và đây là tư tưởng sâu sắc nhất của những bậc hiền thánh đã soạn nên bộ Veda:

“Con người sống trong lòng đất mẹ, và thường chỉ biết có cái thế giới chết chóc này. Nhưng ngoài cuộc sống đó, còn có Siêu Thức chứa đựng các thế giới thần minh, trong một bí ẩn sáng láng. Và dưới bộ mặt phiến diện của những ấn tượng khi tỉnh thức, còn có Tiềm Thức hay Vô Thức. Từ đêm tăm Vô Thức ấy, đã sinh ra vũ trụ mà con người thấy được… Con người luôn luôn có những liên lạc thầm kín với các thế giới đó. Con người nếu muốn, có thể minh giác mà vào trong những thế giới đó, sinh ra trong những thế giới đó…

Con người có thể lên cho tới những thế giới quang minh chân lý, vượt qua những cánh cửa Siêu Thức, để bưởc vào ngưỡng cửa Siêu Việt. Các cửa trời sẽ mở ra, đón chào các tâm linh đang đà triển dương. Sự Siêu Thăng đó của con người có thể thực hiện được, vì mọi người đang mang sẵn trong mình, tất cả những gì mà con mắt giác quan nhìn thấy được như là ở bên ngoài mình.

“…Và nếu các Thần minh đã xây dựng ra được một hệ thống vũ trụ, thì các Ngài cũng đã xây dựng ra trong tâm thức con người một hệ thống đẳng cấp, thứ bậc hẳn hoi, triển dương từ thân phận tử vong, cho đến bất tử viên mãn.

“Sự tương phản giữa tử vong và bất tử mà ta có thể vươn lên tới được, chính là chìa khoá, giúp ta hiểu biết tư tưởng, và hành động của Veda.

“Veda là Phúc Âm cổ sơ nhất cho biết về sự bất tử của con người. Những ca khúc của nó chứa đựng tâm thuật của những bậc minh giác đã khám phá ra được con đường trường sinh bất tử…

“Hiểu Veda cho đứng đắn, nó sẽ không còn là một tập bài ca tối tăm, hỗn loạn, man rợ, mà nó sẽ trở thành một bài ca ca lên những nguyện vọng cao siêu nhất của nhân loại. Các bài ca của nó là những giai đoạn trong bản hùng ca rạt rào tình tứ của tâm hồn nhân loại, trên con đường tiến tới bất diệt.

“Ít nhất, nó là thế. Ngoài ra, ta còn có thể tìm thấy những gì nó chứa đựng về khoa học cổ xưa, về những kiến thức đã mất, và về những truyền thống tâm lý, vật lý xa xưa…” [3]

Radhakrishnan, trong quyển Indian Philosophy I, nơi phần kết luận về Veda, đã nhận định đại khái rằng:

“Veda, vì nói về Tế Lễ, nên Brahmana đã được viết ra.

Vì có phần triết học, nên đã sinh xuất ra Áo Nghĩa Thư.

Vì nói về thần Trời Varuna, nên đã gợi cảm cho Bhagavad Gita với chủ trương Độc Thần. Vì nói đến RITA, đến định luật đất trời, nên đã sinh xuất ra quan niệm Quả Báo sau này (làm hay, sẽ gặp quả tốt, làm dở, sẽ gặp quả xấu).

Vì có quan niệm Nguyên Thần Hyranyagarbha bềnh bồng trên mặt Nước Nguyên Thuỷ, nên đã đưa tới Nhị Nguyên Luận (Thần—Vật; Purusa—Prakiti) của triết phái Samkhiya sau này.

Vì đề cập đến ảnh hưởng của lời kinh, tiếng hát, của rượu thần Soma có thể làm cho con người xuất thần, nên có liên quan đến các vấn đề xuất thần sau này của môn phái Yoga.[4]

5/ Brahmanas.

Brahmana là sách nặng về các lễ nghi, hình thức, nên cũng đại loại như Yajur Veda, Sama Veda.

Ở Rig Veda, thì đạo giáo còn hồn nhiên, đầm ấm, rạo rực tình người. Đến thời đại Brahmanas (1000—700 trước C.N.) đạo giáo trở nên lạnh lẽo, khô khan, và bị gò bó trong những lễ nghi, hình thức cố định, phức tạp, phiền toái.

Và đây là những chủ trương chính yếu của Brahmanas:

— Vishnu, Shiva bắt đầu xuất hiện (Kausitaki Brahmana VI, 1, 9)

— Brahman là Nguyên Lý vũ trụ (Satapatha Br. XI, 2,3).

— Kinh kệ, lễ nghi trở nên quan trọng, cần yếu (Satapatha Br. III, 1, 4, 3 -Aiterya Br. II, 1, 1).

— Giới tăng lữ trở thành trọng yếu, trở thành siêu phàm (Satapatha Br. II, 2, 2, 6 -II, 4, 3, 14).

— Veda trở thành Thiên Thư (Aiterya Br. VII, 9).

— Brahmanas đề cao đời sống nhân luân: không tà dâm (Sat Br. II, 5, 2, 20), không nói dối (Sat. Br. I, 2, 4). Con người có bổn phận với thần linh, với tổ tiên, với thánh hiền, với tha nhân, với loài vật. [5]

— Xã hội thời Brahmanas được chia thành giai cấp (Atharva Veda V, 17, 8 —RV VII, 103, 1.7. và 8. Sat. Br. VIII,1, 4, 10).

— Đời sống xã hội được chia thành bốn thời kỳ (Brih. Up. III, 5, 1 —Apastamba Sutras II, 9. 21. 1 —Gautama Sutras III, 2 —Bodhanya II, 6, 11, 12 —Manu V. 137 —Vasistha VII, 2—A. Veda V, 17, 8 —RV. VII, 103, 1,7 và X, 88, 19—Sat. Brah. VIII, 1, 4,10).

— Lành, dữ đều được tái sinh để hưởng thụ quả kiếp trong thế giới này và thế giới khác. [6]

— Vấn đề Luân Hồi chưa được bàn cãi rõ rệt. [7]

***************

Có thể nhận định chung về Brahmanas, Yajur Veda và Atharva Veda như sau: Brahmanas, Yajur Veda, tuy nặng về hình thức lễ nghi, Atharva Veda tuy nặng về bùa chú, ma thuật, nhưng đã đánh dấu một sự suy tư lớn của con người muôn thủa, đó là:

Làm sao để XU CÁT, TỊ HUNG; CẦU PHÚC, NHƯƠNG TAI ?

Muốn được vậy con người phải dựa vào tha lực, dựa vào thần linh (Cầu khẩn, bùa chú, cúng lễ, ma thuật), hoặc vào tự lực (ma thuật, bùa chú), hay là cố quan sát các hiện tượng để tìm ra những định luật tự nhiên, vĩnh cửu chi phối các hoạt động con người; nghiên cứu phong tục, dể tìm ra đường lối lý tưởng phải theo, phải giữ. Chính những định luật tự nhiên ấy (Ritadharma) mới giải thích được tại sao con người được phúc (xử sự theo đúng định luật tự nhiên, giải quyết sự việc theo đúng đường lối khoa học), hoặc bị hoạ, bị tai (Suy luận sai, nhận định sai, hành động sai).

B. Upanishads.

Upanishads có rất nhiều bộ. Đây chỉ xin nói sơ lược nội dung chính yếu của 13 quyển chính.

1. Isa Upanishad.

Bàn về phong thái vô tất, vô cố của người đạo sĩ.

2. Kena Upanishad.

Ai thực sự điều hành vũ trụ?

Thưa đó là Atman = Brahman.

3. Katha Upanishad.

Chân Ngã Bất tử, không thể biết được bằng Lý Trí mà bằng Trực Giác. Xác thân là xe tải Chân Ngã.

4. Prasna Upanishad.

Đưa ra 6 câu hỏi về vũ trụ, về cá tính, về nhân bản con người. (căn cơ, gốc gác con người).

5. Mundaka Upanishad.

Con người có 2 thứ biết:

—Cao (biết về Bản Thể).

—Thấp (biết về Hiện Tượng).

Tu tâm quan trọng hơn tế lễ, công quả bên ngoài.

6. Mandukya Upanishad.

Bốn bình diện, bốn trạng thái của một con người:

—Trạng thái thức.

—Trạng thái ngủ.

—Trạng thái ngủ không mơ.

—Trạng thái siêu việt (Turita).

7. Taittitya Up.

Bàn về năm tầng lớp nơi con người:

—Vỏ áo cơm (Food): Nhục thể, thô thân. (trạng thái thức).

—Vỏ khí (breath): Tế thân (Subtil body).

—Vỏ tâm tư (mind): hồn. Trạng thái ngủ mơ.

—Vỏ lý trí (intellect): Duyên thân, nhân thân.

—Vỏ Hạnh Phúc: Trạng thái ngủ không mơ. Vô minh (Avidya).

Sau 5 lớp vỏ áo đó, mới tới cốt lõi Atman, AUM.[8]

8. Aitareya Up.

Bàn về lai sinh.

9. Chandogya Up.

Cho rằng Chân Ngã nơi con người, Atman là Chân Ngã Vũ Trụ Brahman. Atman=Brahman.

Đưa ra công thức Tat Tvam Asi (Con là cái đó; Con là Bản thể Vũ Trụ).

Bàn về chữ Om.

Om = Aum.

A (Thức).

Aum = Turiya: U (Mộng).

M (ngủ không mơ).

OM (Aum) là tinh hoa của Thanh Âm, Từ Ngữ. Và Thanh Âm, Từ Ngữ là Tinh Hoa con người. Con người là Tinh Hoa Vạn Hữu. Vậy OM là tinh hoa con người và vạn hữu…

Chandogya là 1 Upanishad rất nên đọc.

10. Brihah Aranyaka Up.

Bàn về Chân Ngã Atman, siêu vi, phổ quát, duy nhất, bất phân.

11. Kaushitaki Up.

Bàn về Luân Hồi và Giải thoát.

12. Svetasvara Up.

Bàn về Tuyệt Đối Thể lồng trong vạn hữu và trong con người.

13. Maitri Up.

Điều nguyện ước cao siêu nhất là ao ước Hiểu Biết Chân Ngã.

Yoga là phương pháp đưa tới sự phối hợp với Chân Ngã.

Tổng luận về Upanishads.

A. Chủ đề của Upanishads là Chân Ngã, là Bỉ Nhất (Brahman).

B. Upanishads đưa ra 2 phương pháp đi tìm Chân Ngã. Phương pháp ngoại quan (Quan sát ngoại giới) và phương pháp nội quan (Quán chiếu nội giới).

C. Dùng mọi phương pháp mô tả Brahman:

—Phương pháp khẳng định (Affirmative Method): Brahman là mặt trời, là mặt trăng, là không gian, là trí, là khí, là thần chủ trì trong các hiện tượng thiên nhiên.

—Phương pháp phủ định: (Negative Method): Neti, Neti, không phải vậy, không phải vậy.

—Phương pháp mâu thuẫn (Paradoxical Method): Brahman vừa to, vừa nhỏ, vừa xa, vừa gần, vừa tĩnh, vừa động…

—Phương pháp ngậm miệng, làm thinh: Lặng thinh, vì Brahman bất khả tư nghị.

D. Upanishads chủ trương vũ trụ cũng như con người, đều từ một Nguyên Thể phóng phát, sinh xuất ra.

Vạn hữu này đã từ Bất Tử xuất sinh,

Như tơ nhện nhả ra từ lòng nhện,

Như cây cối từ đất đai xuất hiện,

Như tóc lông từ thân xác trổ ra,

Như tia lửa, phát từ đám lửa chói loà.

Ngàn muôn tia, vẫn lửa hồng không chi khác.

Vạn hữu tuy ngàn muôn sai khác,

Đều từ lòng Bất Tử xuất sinh,

Rồi lại về đó khi hết giai trình biến hoá… [9]

Atman, Chân Ngã lúc nào cũng tiềm ẩn sẵn trong con người, chẳng khác nào như BƠ vẫn tiềm ẩn sẵn trong SỮA. [10]

Đó chính là Chủ Trương Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

E. Con người có nhiều tầng lớp, nhưng cốt lõi vẫn là Chân Ngã Atman vô đối.

F. Như vậy trong chúng ta, có 2 con người:

—Con người hữu hạn, sinh tử, khổ đau.

—Con người, vô hạn, bất biến, thường lạc.

Và hai thứ hiểu biết:

— Huệ (Intuition), và Trí (Intellect).

G. Upanishads dạy con người cố gắng tìm cho ra Chân Ngã, Chân Thể ấy. Thế là Trí Tri, là Cái Biết cùng Tột. Nó cũng dạy ta tu luyện để thực hiện Chân Thể ấy. (Yoga).

H. Upanishads coi nhẹ lễ nghi, hình thức, và tin có Luân Hồi, Nghiệp Báo.

I. Upanishads là tinh hoa của Veda. Và vì nó là phần sau chót trong bộ Veda, nên còn được gọi là Vedanta. (Vedanta sau này cũng còn là tiếng để chỉ môn phái triết học của Samkara, hay Nhất Nguyên Tuyệt Đối Luận.)

Upanishads như vậy chứa đựng một Mật Giáo.

Bí mật huyền diệu này, trước kia không được truyền cho ai ngoài đệ tử, ngoài con cái, cũng không được truyền cho kẻ nào mà lòng chưa định tĩnh. [11]

Anquetil Duperron là người đầu tiên dịch Upanishad từ tiếng Ba Tư sang tiếng Latinh năm 1775, và cho xuất bản sách năm 1801—1802. Anquetil toát lược Upanishads bằng 1 câu bất hủ như sau: “Ai biết Chúa, sẽ trở thành Chúa.” [12]

Schopenhauer, đại triết gia Đức, sau khi đọc bản dịch trên đã hết lời xưng tụng. Ông nói:

“Hàng, hàng lời lẽ đều cao đẹp, câu câu tư tưởng rất cao siêu, toàn sách tràn ngập 1 tinh thần cao siêu, thánh thiện, đứng đắn…Trong cả thế giới này, không có cái học nào cao siêu hơn, lợi ích hơn là cái học Oupanikhat (trừ bản văn nguyên thuỷ ra). Oupanikhad là nguồn yên ủi tôi khi sống và là nguồn yên ủi tôi khi chết…” [13]

Giáo Sư Deussen, giáo sư triết học Đại Học Kiel rất sung sướng vì đã khảo sát xong Upanishads và Vedanta. Ông thấy chúng rất lý thú. Trong 1 bài diễn văn tại Bombay Branch of The Royal Asiatic Society, trước khi từ giã Ấn Độ, ông nói: “Vedanta, nếu dịch cho đứng đắn, sẽ bảo vệ luân lý, sẽ yên ủi ta khi sống và khi chết. Dân Ấn hãy giữ lấy nó.” [14]

C. Bhagavad Gita.

Bhagavad Gita là một tập sách nhỏ gồm 18 chương, rút từ thiên Anh Hùng Ca Mahabharatha của đạo sĩ Vyasa, ghi những lời lẽ của thần Krishna, hiện thân của thần Vishnu, đối thoại với vương tử Arjurna.

Về phương diện đạo giáo, Bhagavad Gita chủ trương bao dung, phổ độ.

Thực vậy, trong khi Upanishad thiên về chủ trương Nhất Nguyên Vô Ngã, thì Bhagavad Gita chủ trương Thượng đế vừa Vô Ngã, vừa Hữu Ngã. Upanishad đề cao Giác Ngộ như là một phương tiện giải thoát, thì Bhagavad Gita cho rằng con người có thể giải thoát bằng:

—Giác Ngộ.

—Lòng sốt mến, kính thờ.

—Hành động vô cầu.

Bhagavad Gita dung hoà mọi khuynh hướng đạo giáo, tu trì của Ấn Độ Giáo:

—Không chê phương pháp lễ nghi, trì tụng của Veda.

—Chủ trương Thượng đế vừa Vô Ngã như Upanishad, vừa Hữu Ngã.

—Vừa chủ trương Thiên Địa Vạn Vật Nhất thể, nhưng cũng không chê Chủ trương Vũ Trụ Nhị Nguyên của triết học Samkhya (Purusha —Prakriti tinh thần và vật chất đều hằng cửu.)

—Dung hoà Samkhya với Yoga, đồng thời đề cao phương pháp tu trì của Yoga. Chính vì thái độ bao dung, cởi mở đó mà Bhavagad Gita được mọi tầng lớp mến yêu, xưng tụng.

Swami Pavitrananda viết: “Chỉ cần thay tên Khrishna bằng chữ Thượng Đế, là tác phẩm Gita sẽ trở thành cuốn thánh kinh của nhân loại.” [15]

Ước gì 2 bộ Upanishad và Bhadgavad Gita được dịch ra tiếng Việt, và được nhiều người tìm đọc. Hiện ở Việt Nam có bản dịch 3 Upanishads Isha, Kena và Mundaka và bản dịch Bhagavad Gita của Thạch Trung Giả.

***************

CHÚ THÍCH:

[1] Charles S. Braden, Les Livres Sacrés de l’Humanité, Payot, Paris, 1955, tr. 79—81.

 Hoàng Sĩ Quí, Triết Sử Ấn Độ I, tr. 102—103.

 Hoàng Sấm Hoa, Ấn Độ Triết Học Sử Cương, Chân Thiện Mỹ xuất bản, 1966, tr. 17)

[2] Charles S. Braden, Les livres Sacrés de l’humanité, p. 86.

[3] Dịch từ Hymns of the Atris (Arya, II, 45—47, và 97—112).

Xem J. Herbert, La Spiritualité Hindoue, p. 294).

[4] Rhadakhrisnan, Indian Philosophy I, p. 116.

[5] Radhakrishnan, Indian Philosophy I, p. 131

[6] Như trên. I, p. 134.

[7] Như trên. I. p. 135—136.

[8] Taitt. Up. II, 5 —Taitt. Up. Baysa, Sankara II, 1.

Heinrich Zimmer, Les Philosophies de L’Inde, p. 136.

[9] Mundaka Up. I, 1, 7.—Brihad—Upa. 2.1.20—The thirteen Principal Upanishads, Robert Ernest Hume, Second Edition Rivised, 1887, p. 31, p. 22, p. 37, p. 39 etc…

[10] Mundaka Up. I, 1, 7.—Brihad—Upa. 2.1.20—The thirteen Principal Upanishads, Robert Ernest Hume, Second Edition Rivised, 1887, p. 31, p. 22, p. 37, p. 39 etc…

[11] Mundaka Up. I, 1, 7.—Brihad—Upa. 2.1.20—The thirteen Principal Upanishads, Robert Ernest Hume, Second Edition Rivised, 1887, p. 31, p. 22, p. 37, p. 39 etc…11 With the illustration at hand of a man awaking from sleep, that into which one goes to sleep and from which one wakes again. The conclusion is: “As a spider might come out with his thread, as small sparks come forth from fire, even so from this Soul come forth all vital energies, all worlds, all gods, all beings. The Mystic meaning (upanishad) thereof is “The REAL of the real”.

The thirteen Principal Upanishads, Robert Ernest Hume, 1887, p. 18.

[12] Maitri Up. VI, 29 —Svet. Up. VI, 22.13. In the title to his Latin translation ‘Oupnekhat’, Anquetil Duperron set this sentence as the summary of the contents of the Upanishads:  ‘Quisquis Deum intelligit, Deus fit’ ‘Whoever knos God, becomes God.’

[13] How does every line display its firm, definite and throughout harmonious meaning. From every sentence deep, original, and sublime thoughts arise, and the whole is pervaded by a high and holy and earnest spirit…In the whole world, there is no study except that the original, so beneficial and so elevating as that of the Oupanikhat. It has bên the solace of my life, it will be the solace of my death…”

Dasgupta Surendranath, A History of Indian Philosophy, London Cambridge University Press, Vol I, 1922, p. 40.

Robert Ernest Hume, The Thrirteen Principal Upanishads. 1887, p. 3—4.

[14] Robert Ernest Hume, The Thirteen Principal Upanishads, p. 4.

[15] Enseignement de la Gita, France—Asie No 14, Saigon Novembre, 1949.

Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ, tr. 172.

***************

CHƯƠNG IV

CÁC MÔN PHÁI TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ GIÁO

******

* Triết học Ấn Độ có:

—6 chính phái (Orthodox systems).

—3 biệt phái (Heterodox systems)

***

* 6 chính phái.

Gọi là chính phái vì đều công nhận:

— Giá trị của Veda.

— Xã hội được chia làm 4 giai cấp.

— Đời người có 4 giai đoạn.

— Đời người có 4 mục tiêu:

—Công danh, tài lợi.

—Tình ái.

—Sống một đời sống hẳn hoi.

—Tìm cầu giải thoát.

*Có 6 chính phái (khoảng từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 5)

—NYASA: Nhân minh luận (Chính luận).

—VAICESIKA: Thắng luận (Vệ thế sư luận, Tỳ thế sư luận).

—SAMKHYA: Số luận.

—YOGA: Du Già Luận.

—MIMAMSA: Thanh thường trú luận.

—VEDANTA: Thánh kinh huyền nghĩa luận.

* 3 Biệt phái:

Gọi là Biệt phái vì:

—Không chấp nhận Hoá Công, tách biệt khỏi vũ trụ, tạo nên vũ trụ.

—Không công nhận giá trị của Veda.

—Không chấp nhận lễ nghi, kinh kệ.

—Không chấp nhận lối phân chia giai cấp.

* 3 Biệt Phái là:

—Triết học Duy Vật Carvaka.

—Kỳ Na Giáo (Jainism).

—Phật giáo (Buddhism).

Trừ phái Duy Vật Carvaka ra, ta thấy triết học Ấn Độ (Phật, Ấn, Kỳ Na) có những điểm tương đồng sau đây:

—Vũ trụ này được chi phối bởi những định luật vĩnh cửu.

—Đạo nào cũng chủ trương không nên mê luyến ngoại cảnh gian trần.

—Chủ trương sống cho hẳn hoi.

—Cần tu luyện để thoát vòng luân hồi, nghiệp chướng.

Sáu Chính Phái.

6 Chính Phái đều đề cao sự hiểu biết, vì chỉ có sự hiểu biết mới khai phóng được con người, và giúp con người thoát mê lầm, giác ngộ, giải thoát.

1. Nyaya (Nhân minh luận, chính luận phái):

Nyaya dạy cách suy luận, hiểu biết cho đúng đắn, hẳn hoi. Nó tương đương với Luận Lý Học (Logic) Tây Phương.

2. Vaicesika (Thắng luận phái):

Vaicesika khảo sát về các yếu tố, cấu tạo nên vũ trụ hữu hình. Người ta thường gọi phái này là Nguyên Tử Đa Nguyên Phái. Gọi là Đa Nguyên vì Kanada, người sáng lập ra môn phái cho rằng vũ trụ này đã do 9 yếu tố vĩnh cửu sáng tạo nên. 9 yếu tố đó là:

Địa (đất), thuỷ (nước), hoả (lửa), phong (khí), không (thái hư), thời (thời gian), phương (không gian), Thần (Thượng Đế và các hồn thiêng. Thực ra, môn phái này, thoạt đầu chỉ chấp nhận có các hồn thiêng vô số kể, nhưng không chấp nhận có Thượng Đế. Ý niệm Thượng Đế dần dà mới được thêm vào.)[1] Cuối cùng là Ý (cơ quan suy tưởng, mana, organ of thought).

Chín yếu tố đó vĩnh cửu, như vậy đối với Vaicesika, vũ trụ này là thật chứ không phải là giả.

Vaicesika tức là Nguyên Tử Luận của Âu Châu.

Tóm lại phái Vaicesika chủ trương:

—Vũ trụ này được cấu tạo bằng 9 yếu tố vĩnh cửu.

—Các nguyên tố ấy hợp thì thành vũ trụ, tan thì huỷ vũ trụ.

—Các linh hồn vĩnh cửu.

—Thượng đế (nếu có) thì chỉ điều khiển cho các nguyên tố ấy ly hợp cho phải phép, chỉ trông coi cho các duyên nghiệp được hoạt động đứng đắn, chứ không tạo nên các nguyên tố, cũng như không dựng nên các linh hồn.

—Muốn giải thoát khổ đau, phải biết cho đúng, hành cho phải, và rũ sạch duyên nghiệp.

3. Samkhya.

Samkhya bàn về các yếu tố cấu tạo nên các thế giới tinh thần và vật chất, và phân biệt 2 bình diện vũ trụ:

—Một bình diện hiện tượng của Prakriti.

—Một bình diện siêu việt của Purusa.

Sáng lập viên là Kapila.

Vaicesika là Đa Nguyên Vô Thần Luận, còn Samkhya là Nhị Nguyên Vô Thần Luận, hay Nhị Nguyên Nhị Thập Tam Đế Luận.

Tại sao Samkhya là vô thần? Thưa vì không đề cập đến Thượng Đế trong học thuyết.

Tại sao gọi là Nhị Nguyên? Thưa vì chủ trương vạn hữu này đã được tạo dựng nên từ 2 Nguyên Lý Vĩnh Cửu. Đó là:

Purusa = Thần Ngã.

Prakriti = Tự Tính.

Thần Ngã là những linh hồn cá thể (nhiều vô số), không trực tiếp tạo thành vũ trụ.

Prakriti thực ra không đơn thuần, nhưng gồm có 3 hợp chất, ba tính:

—Tuệ Tính (Sattva) (khinh thanh, vi tế, quang minh).

—Động tính (Rajas) (Động tính, hoạt lực, năng lực).

—Hôn Tính (Tamas) (Trọng trọc, thô thiển, hôn ám)

Nếu ba tính đó (Gunas) ở thế quân bình, thì Prakriti ở trạng thái tĩnh, lúc ấy không có vũ trụ.

Nếu ba tính đó mất quân bình, tác dụng lẫn nhau, thì Prakriti dần dần sinh thêm 23 yếu tố mới, đi từ tế vi, đến trọng trọc, thô thiển để tạo thành vũ trụ.

*23 yếu tố mới hay Nhị Thập Tam đế là:

1. Purusa.

2. Đại hay Giác (Mahat, Buddhi)

3. Ngã mãn, ngã chấp (Ahamkara)

4. Ý Căn (Mana)

5-9 Ngũ Tri Căn (5 Buddhindryas): Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý.

10-14 Ngũ tác căn (5 Kormendrya): Thiệt, thủ, túc, cơ quan sinh dục, cơ quan bài tiết.

15-19 Ngũ Duy (5 Tanmatras) là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc.

20-24 Ngũ Đại (5 Mahabhutas) là: Không, phong, hoả, thuỷ, địa.

Ngũ tri căn, ngũ tác căn thuộc nội giới.

Ngũ duy, ngũ đại thuộc ngoại giới.

Theo Samkhya, thì con người được phác hoạ như sau:

A. Purusa: Phần thần, vĩnh cửu, bất biến

B. Phần Nhân Tâm gồm:

— Giác (Buddhi).

— Ngã mạn (Ahamkara).

— Mana

— Ngũ tri căn + Ngũ tác căn.

Phần Nhân Tâm này còn được gọi là Tế Thân (subtil body), hay phần Hồn (Soul) theo từ ngữ Âu Châu, hay Hồn Phách theo từ ngữ Trung Hoa.

C. Phần Xác (Thô Thân, Nhục Thể) tương ứng với Ngũ Đại.

*Tóm lại:

—Giác, Ngã Mạn, Ngũ Tri Căn, Ngũ Tác Căn, Ngũ Duy, Ngũ Đại hợp lại thành Nhị Thập Tam Đế, do Prakriti biến hiện ra. Chúng tạo thành toàn thể hiện tượng biến thiên.

—Như vậy, Luân Hồi là khi Tam Tính (3 gunas) loạn động, tạo duyên, tạo nghiệp, làm ta luẩn quẩn trong vòng hiện tượng biến thiên. Chỉ có Phần Nhân Tâm bị Luân Hồi; phần Thần không bị Luân Hồi.

—Buddhi là Giác, nhưng Giác được là nhờ ảnh hưởng Purusha. Giác này nếu thuần là Sattva, thì sẽ tĩnh lãng, trong trẻo. Nhưng nếu bị Rajas (Động tính) Tamas (trọng tính, hôn tính) pha phách, trộn lộn vào, sẽ làm cho loạn động, ám hôn. Tu trì là cốt gột rửa cho Buddhi khỏi mọi hôn ám, định tĩnh cho buddhi được hết loạn động.

—Giải thoát là khi tam tính quân bình, Thần Ngã (Purusha) tách rời khỏi Tự Tính (Prakriti), khỏi Buddhi.

* Samkhya chủ trương Nhị Nguyên chẳng khác nào Trung Hoa chủ trương ÂM DƯƠNG tạo thành Vũ trụ.

* Tam Tính (3 Gunas) cũng giúp ta hiểu thuyết Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân Trung Hoa.

Nó giúp ta trông rõ đâu là Thần, đâu là Hồn, cái gì là Tế Thân, cái gì là Thô Thân, V. V…

Bồ Đề (Buddhi) của Samkhya tương ứng với Bồ Đề Tâm của Phật Giáo.

Mạt Na (Ý Căn) là Mạt Na thức của Phật giáo.

Ngũ Tri Căn (Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý) sau này được Phật Giáo gọi là Ngũ Căn.

Ngũ Đại sau này Phật Giáo gọi là Ngũ Cảnh, hay Ngũ Trần.

*Phái Samkhya có nhiều điểm tương đồng với Phật Giáo, ví dụ:

—Coi cuộc sống là khổ đau.

—Không trọng lễ nghi, hình thức.

—Không tin có Thượng đế chủ trì, chủ trương như Veda.

—Tin vũ trụ biến thiên.

—Coi hành hạ xác thân quá lẽ là vô lý. [2]

***************

4. Yoga (Du già phái).

Do Patanjali sáng lập.

Yoga áp dụng các khám phá của Samkhya vào công cuộc tu thân, và dạy con người cách thức chế ngự xác thân, tâm chí, để vươn vượt từ bình diện hiện tượng lên tới bình diện siêu việt.[3]

Yoga phái, ngoài nhị thập ngũ đế (như Samkhya), còn tin có Thượng Đế mà họ gọi là Isvara.

Yoga phái chủ trương rằng Thần Ngã (Purusha) bị giam cầm trong màng lưới xe bằng ba sợi dây Tam Tính (Gunas: Sattva, Raja, Tama) của Prakriti, bị giam trong vòng tâm tư, xác thân, ngoại cảnh.

Mục đích của Yoga là làm sao cho Thần Ngã thoát khỏi những mối dây phiền trược đó.

Như vậy, muốn giải thoát, trước hết phải xác tín rằng trong thân mình, có Thần Ngã Cao Cả, Vĩnh Cửu, Trường Tồn, Khinh Khoát, Thảnh Thơi, Tự Tại.

Sau đó, phải biết những phương pháp, để chế ngự xác thân, chế ngự tâm tư, định thần, phát huệ.

Khi đạt tới trạng thái xuất thần (Thần thoát khỏi sự vấn vương Tâm và Cảnh), con người sẽ đạt tới cảnh giới THẦN LINH, SIÊU VIỆT, HUYỀN DIỆU, đồng thời cũng thoát khỏi những khuôn sáo lý luận thông thường, gác bỏ mọi thị phi, thiện ác, để sống hồn nhiên, tiêu sái, thanh thản.

Trước hết Yoga nhận định rằng: Sở dĩ con người không được tự do, tự tại, thoải mái vì không nhận ra Chân Tướng, Chân Thể của mình. Khi ấy, Tâm Thần bị mê hoặc (Blundered), loạn động (turbulent), tản mác (dissipated), bị ngoại cảnh trói buộc, tù túng.

— Loạn động, mê hoặc chính là vì Tam cách, Tam Đức (Gunas) trong con người mất quân bình. Raja, Tama quấy nhiễu, bức bách Sattva.

— Mê hoặc bởi ngoại cảnh, cho nên không nhận ra được Thần Ngã nơi mình.

— Tâm hồn bị tản mạn, phiền trược vì:

— Vô minh (ngu dốt):  (Avidya).

— Chấp Ngã (Asmita):  lấy tiểu ngã làm trọng.

— Ái (Raja):  Yêu sắc tướng bên ngoài (Attraction).

— Ố (Dvesa): Ghét sắc tướng bên ngoài (Repulsion)

— Ham sống (Adhinivrca)

Yoga còn đưa ra 8 phương pháp sau đây để diệt trừ phiền trược, thanh tâm, tĩnh trí, điều thần, mà người Trung Hoa dịch là Bát Chi Hành Pháp, mà tôi dịch là Bát Đại huyền Công.

*Bát Đại Huyền Công là:

1. Ngũ Giới (Yama):

Không sát sinh, không trộm đạo, không tà dâm, không nói dối, không tham lam.

2. Ngũ luật (Niyama), Năm điều khuyên:

—Sạch sẽ thể xác (Sauca), Thanh tịnh.

—Tri túc (Samtosa = Contenment).

—Khổ luyện, tu luyện để gia tăng nội lực (Tapas).

—Học tụng (Svadyaya). Học tập, trì tụng Veda.

—Kính mến Thượng đế (devotion to God): Isvara—Pranidhana.

3. Toạ pháp (Asana) Posture:

Thực hành ít tư thế ngồi để định thần.

4. Điều tức (Respiration control).

Điều hoà hơi thở.

5. Chế cảm (Withdrawal of senses organs from the objects): Lục căn thu nhiếp, để tâm thần khỏi bị ngoại cảnh quấy nhiễu.

6. Chấp trì = Bất động tâm (Fixation of thoughts): Chuyên tâm, chú ý về một vấn đề gì, hay về một điểm gì trong ngoài con nguời.

7. Tĩnh lự (Dyana = Meditation): Thiền na, thiền định, quán tưởng, tham thiền.

Tinh thần càng ngày càng tập trung, càng ngày càng định tĩnh.

8. Đẳng trì (Xuất thần = Samadhi): Chỉ quán, Tam muội, Tam ma địa, định huệ, thiền định.

Thần hoàn toàn được tập trung và thoát ly khỏi vòng kiềm toả của thân tâm.

* Về phương diện Sinh Lý Học, Yoga đã hết sức chú trọng đến:

—Xương Sống, đến Tuỷ Xương Sống, nhất là đến đường kinh chạy qua Tuỷ Xương Sống (Sudhuma Nadi).

—Đường kinh chạy qua tuỷ xương sống được gọi là Brahma nadi = Con đường dẫn tới Tuyệt Đối Thể.[4]

—Cuối xương sống (huyệt Vĩ Lư) được gọi là Cánh Cửa của Brahma (Brahmadvara: Brahma gate, la porte de Brahma [5]

—Chung quanh tuỷ sống có 2 đường thần kinh Âm Dương, Ida (Dương) và Pindala (Âm) quấn quanh.

—Đường thần kinh giữa tuỷ sống lên cho tới Luân Xa Sahasrara (Não thất Ba = Third Ventricle). Sahasrara, hay bông hoa sen nghìn cánh, chính là nơi mà nhà đạo sĩ Yogi sống kết hợp với Thượng Đế. [6]

Thóp nơi đỉnh đầu được gọi là Thượng Đế Huyệt (Trou de Brahman, Brahma’s cave = Brahmarandhra)[7]

Từ Xương Cùng cuối xương sống, lên tới Não thất Ba, có tất cả bảy Luân Xa chính. Luân Xa là những tụ điểm của Chân Khí qui tụ về để vào tuỷ xương sống. [8]

Nhà Đạo Sĩ Yogi, phải biết cách vận chân khí qua tuỷ xương sống, để đưa lên đỉnh não. Âu Châu, Ấn Độ gọi là Đánh thức Con Hoả Xà, Trung Hoa gọi là Đả Thông Nhâm Đốc. [9]

* 7 Xa Luân đó có vị trí, hình dáng, và tên gọi như sau:

1. Muladhara (Soutien de la Base, bulbe de la Base; Mula means root, adhara support.) Nó tương ứng với Thổ Đại. Có hình hoa sen 4 cánh. Nó ở cuối xương sống, tương ứng với huyệt Vĩ Lư Trung Hoa).

2. Svadhistana (Siège de Soi; Sva means “that which is its self; which belong to which self”, and Dhistana means “its actual place”. Hình bông sen 6 cánh. Giữa đốt xương cùng và thắt lưng. Tương ứng với Thủy Đại, và huyệt Khí Hải.

3. Manipura (Abondance de joyau; city of jewels), hình bông sen 10 cánh. Tương ứng với Hoả Đại, tương ứng với huyệt Trung Uyển.

4. Anahata (intact; unbeater). Hình sen 12 cánh. Ngang Tim. Tương ứng với Khí Đại, và Huyệt Chiên Trung.

5. Visuddha (le purifié à la gorge; pure). Hình bông sen 16 cánh. Ngang cổ. Tương ứng với Không Đại và huyệt Thiên Đột.

6. Ajna (commandement au palais; command). Hình bông sen hai cánh. Giữa trán. Tương ứng với Thức Đại và Huyệt Ấn Đường.

Sáu huyệt trên tổng cộng có 50 cánh sen. Mỗi cánh có một chữ trong mẫu âm tiếng Phạn. Như vậy gồm đủ các mẫu âm.

7. Sahasrara (mille pétales; Thousand —petaled lotus). Hình bông sen nghìn cánh. Khoảng Não Thất Ba, giữa các xoang não). Đó chính là Nê Hoàn Cung của Đạo Lão. Sahasrara tương ứng với Kiến Đại.

Bông sen nghìn cánh là tượng trưng cho óc não con người. Mà Luân Xa này nằm ở giữa bông sen nghìn cánh. Đó chính là nơi Thần Trời và Thần người kết hợp, như đã đề cập tới ở trên. Và 1000 cánh sen tức là gấp 20 lần tổng số cánh sen của sáu Luân Xa trước (20 x 50 =1000).[10]

7 Chakras trên, xếp từ dưới lên trên, theo tỉ trọng từ nặng đến nhẹ, từ trọng trọc đến khinh thanh. Đất >Nước>Lửa> Khí>Không>Thức> Kiến. Thật là khéo léo.

* Về phương diện đạo giáo, Yoga có thể được coi như là đường đưa tới Phối Thiên, kết hợp với Thượng Đế, hay là con đường tìm lại Bản Thể Thần Minh của Con Người, qua các tầng lớp Thân, Tâm …

*Như vậy, Giải Thoát, đối với Yoga, chính là:

Sống phối kết với Thượng Đế, hay là sự Thoát Ly của Thần Ngã nơi con người, ra khỏi sự phiền trược, ám chướng của vật thể, của Tâm, Thân, nói tóm lại của màng lưới tam tài Prakriti…

Yoga áp dụng các định luật tự nhiên vào công cuộc tu thân.

Người thường thì Hướng Ngoại, tâm thần bị ngoại vật làm hôn mê, ô trọc, tán loạn, động dao.

Đạo sĩ Yogi thì Hướng Nội, tâm thần thoát khỏi vòng kiềm toả của ngoại cảnh, thanh sảng, định tĩnh, tĩnh lãng…

* Yoga muốn phát huy con người toàn diện, nên có nhiều hình thức Yoga: —

A. Hatha Yoga: Phương pháp điều hoà thân xác.

B. Laya Yoga: Phương pháp điều hoà tâm tư.

C. Raya Yoga: Phương pháp tập trung thần trí.

Tóm lại, muốn phát huy con người toàn diện, phải biết định thần, điều khí, giữ gìn thân xác khoẻ mạnh, tâm hồn thanh sảng, tinh thần khinh khoát.

Yoga chỉ cho ta con đường giải thoát và hạnh phúc, đó là sống phối kết với Thượng Đế, hay sống bằng Thần Ngã.

Yoga là thuỷ tổ của Thiền Tông. Các tư thế ngồi Thiền, cách điều tức, định Thần của Yoga, Thiền Tông đều dùng.

Chữ Dhyana (tịnh lự) sau này được Phật Học Tự Điển dịch là Thiền Na, Thiền Định, Quán Tưởng, Toạ Thiền.

Phép vận chân khí qua tuỷ xương sống của Yoga rất giống với phương pháp vận chân khí qua mạch Nhâm, Đốc của Đạo Lão.

Yoga cho rằng nơi Xa Luân Sahasrara (Nê hoàn cung) là nơi Trời, Người phối kết, thì Đạo Lão cũng chủ trương y thức như vậy.

* Nhập Dược Kính, đạo Lão có thơ:

Nê hoàn nhất khiếu đạt Thiên Môn,

Trực thượng Hư Hoàng, Ngọc Đế Tôn.

Thử thị Chân Nhân lai vãng lộ,

Thời thời khoá hạc khứ triều nguyên.

Nhập dược Kính, tr. 108.

*Dịch:—

Nê Hoàn một khiếu đạt Thiên Môn,

Thẳng tới Hư Hoàng, Ngọc Đế Tôn.

Ấy chính Chân Nhân lai vãng lộ,

Thời thời cưỡi hạc để triều nguyên.

***
Yoga chủ trương thu nhiếp, định tĩnh, thì Đạo cũng chủ trương y thức như vậy. Và khi giảng về Đạo Lão, tôi thường nhắc đến bài thơ sau:

Hướng tiền, Thần tụ, đồng Vô Cực,

Kim tán, trần ai mãn thế đồ,

Dục qui Chính Vị Hoàng Trung Lý,

Nê Hoàn vạn vựng, tốc hồi qui.

Đạo Học Cầu Chân, Chương X.

Dịch:

Xưa kia, Thần tụ đồng Vô Cực,

Nay tán: trần ai mãn thế đồ,

Muốn về Nguyên Vị, Hoàng Trung Lý,

Nê hoàn, vạn tượng kíp hồi qui.

 * Có so sánh như vậy ta mới thấy lẽ Nhất Quán của các đạo giáo.

5. Mimansa (thanh thường trụ phái)

Mimansa do Jamini sáng lập. Mimansa có muc đích:

A. Giải thích, bảo vệ Veda.

B. Giải thích, tìm hiểu vi ý của lễ nghi trong Veda.

C. Tìm tòi những định luật nhân sinh đã được Veda đề cập tới.

D. Cho rằng tiếng Sanscrit dùng để viết nên Veda đã được phát sinh từ những âm thanh vĩnh cửu của Bản Thể từ muôn thủa phát ra, vì thế những lời chú trong Veda có một huyền lực đặc biệt. Chính vì chủ trương này mà Mimamsa được gọi là phái Thanh (Thanh Âm) Thường Trụ (Vĩnh Cửu).

E. Chủ trương muốn được giải thoát, phải làm những gì Veda dạy làm, lánh những gì mà Veda cấm.

G. Giải thoát là lên đến cảnh giới Thần Linh.

Cố gắng của Mimamsa là đi tìm những định luật tự nhiên chi phối các hành vi con người, qua các lễ nghi, phong tục, cũng y thức như cố gắng của Đạo Nho, trong công cuộc đi tìm các lễ nghi. Mà Lễ chính ra đối với Đạo Nho cũng như Mimamsa, cần phải là những hoạt động lý tưởng, những đường lối lý tưởng, mà con người phải theo, phải giữ, để mà tinh tiến.

Không biết định luật đất trời thì làm sao mà biết tu trì tinh tiến?

Trời đất đã được chi phối bởi những định luật vĩnh cửu mà hai định luật lớn nhất là VÃNG (TÁN = PRAVITI) và LAI (TỤ= NIVRITI).

Có biết đi vào con đường Lai, mới đi vào được con đường giải thoát.

Mimamsa gọi những định luật vĩnh cửu đó là Dharma.

Dharma chính là vòng tuần hoàn của vũ trụ. Nó có chiều đi ra và chiều đi vô. Chiều đi ra là chiều phát tán sinh hoá ra muôn vật, chiều đi vô, mới là chiều qui nguyên, phản bản, sinh Thánh, sinh Thần. Đi theo chiều ra và chiều vô chính là theo định luật trời đất. Nhưng đi theo được chiều vô cho tới kỳ cùng, là Tham Tán Tài Thành cùng Trời Đất. Theo Dharma, như vậy là sẽ tìm thấy hạnh phúc chân thực. Xin đọc thật kỹ lời chú giải sau đây, sẽ hiểu rõ Dharma.[11]

Hiểu Mimamsa là một cố gắng đi tìm định luật của đất trời là vạch ra cho nhân quần hiện tại và mai hậu một con đường lớn để khoa học hoá đạo giáo…

6. Vedanta.

Phái này chủ trương phát huy tinh hoa và huyền nghĩa của Veda và Upanishads.

Phái này vạch rõ đích điểm (Anta: cùng đích) của Veda, là tìm hiểu về Brahman, bản tính của Brahman, nhờ đó đạt tới Brahman và được giải thoát.

Theo phái này, thì chỉ có Brahman hay Atman là thực thể duy nhất; còn tâm tư, tiểu ngã, vũ trụ biến thiên bên ngoài, chỉ là những áo, những vỏ bên ngoài, hay nói một cách mạnh mẽ hơn, chỉ là những phóng ảnh, hay ảo ảnh (Maya) của Brahman mà thôi.

* Brahman hay Atman được che lấp nơi con người bằng 5 lần vỏ:

1.Vỏ ngoài cùng là Vỏ Thức Ăn (Annamayakoca. Anna = thức ăn; Maya = làm bằng; Koca = vỏ).

2.Vỏ Sinh khí (Pranamayakoca. Prava= Sinh Khí.)

3.Vỏ Tâm Tư (Manamayakoca. Mana= Tâm trí.)

4.Vỏ Trí Tuệ (Vijnanamayakoca. Vinana= Trí Tuệ)

5.Vỏ hạnh phúc (Anandamayakoca. Ananda = hạnh phúc).

Trong cùng là Đại Ngã nằm khuất sau bức màn Vô Minh (Avidya).[12]

* Vedanta cũng còn phân biệt nơi con người: —

A. Atman hay Brahman, Ngã Tuyệt đối, Bất biến, Hằng cửu nơi con người (Absolute Self, Metaphysical subject).

Atman ở trong con người, Brabman ở ngoài con người. Nhưng 2 đằng là một. Nên ta viết Atman=Brahman.

Atman hay Brahman vừa là căn cốt, vừa là Bản Thể con người, vừa là bản thể vạn hữu. Ngài là đấng chứng giám (Witness self).

B. Jiva hay Nhân tâm, gồm thất tình, lục dục. Đó là con người tâm tư (Psychological Self), con người hoạt động, thụ hưởng (Active and enjoying individual), biến thiên tương đối. [13]

Như vậy càng đi ra bên ngoài, thì càng ngày càng đi xa Atman. Càng tiến sâu vào nội tâm, thì càng gần tới Atman. Giải thoát là đạt tới Atman nội tại.

Cũng một lẽ, vũ trụ này chẳng qua là do một Căn Nguyên Duy Nhất, Brahman vô ngã phát sinh, biến hoá ra. Chính vì thế mà vũ trụ này được coi là một hiến tế (sacrifice) vĩ đại, mà chủ tế và lễ hiến dâng đều là Brahman. (Trong cuộc tế lễ, vật hi sinh tế thần, đã được cắt chặt ra để dâng thần, thì trong cuộc tạo dựng, Brahman chính đã như phân thân, xả thân để phóng phát, xuất sinh ra vũ trụ, vì thế vũ trụ được coi như là một cuộc hiến tế.)

Brahman căn nguyên vũ trụ thời siêu không gian, thời gian. Còn vũ trụ hữu hình này thì nằm trong không gian, thời gian, và định luật nhân quả.

 *****

Vedanta đại cương là như vậy, và ta thấy Vedanta phản ảnh lại thuyết Thiên Địa vạn vật đồng nhất Thể với các cách suy luận, các phương thức áp dụng của nó vào công cuộc tìm hiểu vũ trụ và con người. Nhất Thể Tán Vạn Thù là phương trình tạo dựng. Vạn Thù Qui Nhất Thể là phương trình giải thoát. Đó là Đạt Đạo của Vedanta và Upanishads.

Tuy nhiên Vedanta không đồng nhất về chủ trương như ta tưởng. Có 4 môn phái với tư tưởng khác nhau ít nhiều:

a. Sankara (788—820) chủ trương Nhất Nguyên Thuần Tuý, hay Nhất Nguyên Vô Biệt (Monisme Absolu). Đó chính là thuần tuý chủ trương Thiên Địa Vạn Vật Nhất Thể của Upanishads, mà Gaudapada khoảng năm 600 đã bắt đầu xiển minh, chủ xướng. Ấn Độ gọi thuyết này là Avisista—advaita).

Nếu như vậy, thì Brahman hoàn toàn đơn thuần, không có gì phân biệt nơi Brahman, mà cũng không có gì ở ngoài Brahman. Cho nên sự vật, con người, vũ trụ, vạn hữu, xét cho cùng chỉ là ảo ảnh giả tạo, chỉ khác nhau ở chỗ hình danh, sắc tướng.

Đối với Sankara, giải thoát là đồng nhất với Brahman, không còn cái tiểu ngã nhỏ nhoi nữa.

Theo tôi, chủ trương của Sankara là cao siêu và hay nhất. Sankara là một người đắc đạo sớm nhất. Trên 10 tuổi đã đi giảng đạo…

b. Ramanuja (1017—1137) chủ trương; Cục hạn Nhất Nguyên. Nghĩa là Brahma tuy là nhất thể, tuy thể hiện trong lòng vạn hữu, nhưng tâm hồn con người, vạn hữu chỉ là ngoại thân của Thượng Đế, của Brahman. Và như vậy, tâm hồn con người cũng như vạn vật vừa đồng nhất, vừa khác biệt với Brahman.

Khi giải thoát, linh hồn sẽ được bản tính Chúa làm bản tính mình, nhưng không tan biến hoàn toàn vào Chúa. Tóm lại, lúc ấy tuy được kết hợp với Chúa nhưng cái Ta vẫn còn.

c. Madhava chủ trương Chúa, Hồn, Chất hoàn toàn khác biệt. Thế là ông chủ xướng Tam Nguyên.

Chủ thuyết của Ông là Duy Phân: Theo đó thì các hồn và vạn vật đều phân biệt với Chúa và với nhau.Tất cả đều có Bản Thể riêng biệt, nhưng đều dựa vào Chúa.

d. Vallaba (1481—1553) cho rằng: Chỉ có Chúa là viên mãn, còn vạn hữu đều bất toàn. Chúa thì gồm đủ Chân (sat), tri (cid), hạnh (ananda). Vật chất chỉ có Sat; con người chỉ có Sat, Cid.

******

BA BIỆT PHÁI

Sau khi đã trình bày sáu Chính Phái, đáng lẽ phải trình bày luôn cả Ba Biệt Phái là Carvaka, Kỳ Na giáo và Phật giáo. Nhưng vì chương VI sách này sẽ dài giòng trình bày về Phật giáo, nên nơi đây chỉ nói sơ lược về Carvaka và Kỳ Na giáo mà thôi.

A. Phái Carvaka (Duy Vật).

Chủ thuyết của phái này là Lokayata. Chỉ có vũ trụ này mà thôi (Loka); ngoài ra không còn gì khác. Phái này không tin có lai sinh, cho rằng con người biết được là nhờ tri giác (perception), còn suy luận thời không có giá trị.

Cơ cấu rốt ráo của Vũ Trụ này là Tứ Đại: Thuỷ, Hoả, Khí, Địa.

Hồn con người chỉ là những biến hoá do các nguyên tố này tạo nên, khi kết hợp với nhau. Cho nên, khi các nguyên tử này chia lìa nhau, thì hồn cũng tan biến. Học phái này chia làm 4 chi, tuỳ theo nhận định về linh hồn.

—Chi thì cho rằng: Hồn chỉ có xác, có trí khôn.

—Chi thì cho rằng: Hồn là Giác quan.

—Chi thì cho rằng: Hồn là hơi thở.

—Chi thì cho rằng: Hồn là cơ quan suy tư.

Đối với phái này, thì Thượng Đế, đạo giáo, tự do, trường sinh, bất tử chỉ là ảo tưởng vu vơ, tính con người chẳng tốt cũng chẳng xấu. Sống ở đời cốt sao thoát khổ và được sung sướng.

Dĩ nhiên là phái Carvaka cũng không tin rằng Veda là có giá trị. Đó cũng là chủ trương của Kỳ Na giáo và của Phật Giáo.

B. Kỳ Na Giáo (Jainism).

Giáo chủ là Mahavira.

(Tượng Giáo Chủ Mahavira)

Đối với Kỳ Na Giáo thì Mahavira là một trong 25 vị Tirthankara (Hướng Đạo nhân loại; Faiseuse de passage) đã có từ trước tới nay.

Mahavira không nhận có Thượng Thần nào làm chủ tể vũ trụ, cấm nói về Thần minh, cấm cầu xin, tế tự, kinh kệ.

Theo Kỳ Na Giáo, vũ trụ này là do một Đại thể Duy Nhất đã phóng phát ra từ muôn thủa, và Con Người Vũ Trụ ấy, Đại thể ấy với vũ trụ là Một, nên phi bác các quan niệm về sự khởi nguyên cũng như về chung cuộc của vũ trụ.

Quần sinh cũng là những cá thể thiêng liêng (monade) nằm trong những vỏ tế vi, bị duyên nghiệp chi phối.

Tuỳ theo làm lành hay làm dữ, mà cái vỏ vi tế của mỗi người đổi màu: Trắng, vàng, hay hồng, đỏ thẫm, xám, xanh thẫm, đen.

Càng trong trẻo thì càng khinh thanh, và càng nổi lên cao trong thân đại vũ trụ. Càng đen đủi, thì càng trọng trọc, và càng sa xuống các tầng lớp dưới trong thân hình đại vũ trụ.

Vũ trụ này chẳng qua là một lò cừ để vạn vật tự thanh lọc mình để đi từ thô đến tinh. Giải thoát là thoát số kiếp con người, trở thành thần minh, trở về với Bản Thể Nguyên Thuỷ, thanh cao, thuần tuý của mình.

Mỗi hành vi con người lập tức có ảnh hưởng đến vi thể, không cần là có ý hay không có ý. Ví dụ, một tu sĩ ăn nhầm phải một miếng thịt, thì lập tức vi thể bao quanh nguyên thể bị ô uế, không cứ là phải minh tri, cố phạm. Gosala, một triết gia Kỳ Na Giáo đã có lần chủ trương muôn loài trước khi được giải thoát đều phải trải qua 84.000 kiếp, từ vật đến thần, và tu trì hay không tu trì không ảnh hưởng gì hết.

Tuy nhiên Kỳ Na Giáo vẫn tin rằng tu trì có thể được giải thoát mau hơn. Một tu sĩ Kỳ Na Giáo phải khổ hạnh, khiêm nhường, không làm hại ai, không thù oán ai. Kỳ Na Giáo tin rằng vạn hữu, từ đất, nước, cỏ, cây, hoa, lá, đến muông chim, đến con người, tất cả đều sống động, và như vậy, người tu sĩ phải hết sức tránh không được giết hại hay quấy nhiễu sinh linh, để tránh làm cho vạn vật tổn thương; thở thì thở qua miếng vải thưa, có té xuống sông, cũng không được vùng vẫy, mà cứ nằm cho nước đưa dần vào bờ. Tu sĩ Jain đi đâu cũng đem theo một cây chổi để quét đất trước khi tiến bước. Như vậy, để tránh khỏi phải dẵm vào những sinh vật ở dưới chân. Đồ đạc họ cũng được sơn bóng, để dễ nhìn thấy những sinh vật bò ở trên.

Mahavira đả kích sự chia xã hội thành nhiều giai cấp.

Ai muốn tu trì, thì được nhận vào đoàn thể tăng lữ, sống chung với nhau.

Mahavira cho rằng phụ nữ là căn do mọi tội lỗi trong xã hội. Tuy nhiên, ông cũng chấp nhận cho họ đi tu, và sống trong những đoàn thể ni lữ.

Tam Bảo của Kỳ Na Giáo là Tri Thức (Knowledge), Thành Tín (Faith) Chính Hạnh (Right Behavior). Tam Bảo ấy sẽ dẫn đến giải thoát. Giái thoát cũng được gọi là Moksha, hay Nirvana, là trạng thái hạnh phúc, mà tâm hồn con người đạt được, khi thoát khỏi mọi tiền oan, nghiệp chướng.

* Jain nghĩa là Kẻ Chiến thắng (Người đã chiến thắng mọi dục vọng). Họ cho rằng Đạo họ mới là chân đạo. Còn Ba La Môn đã đánh mất phần tinh hoa của Chân Đạo. Họ cũng cho rằng Đạo họ mới là Đạo có từ muôn thủa. Họ chủ trương không bạo động, không dùng vũ lực, (Ahimsa), không bao giờ giết hại sinh linh. Một sinh vật nào, dù hèn mọn đến đâu, cũng giá trị như một con người cao quí nhất. Họ trường chay. Moksha như vậy không phải là nhập thể với Brabman, vì họ không tin có Brahman. Đạo Jaism thật ra cũng rất cao siêu.

****************       

CHÚ THÍCH

[1] Radhakrishnan, Indian Philosophy, vol. II, p. 226.

*Notes 1 &2 là của phái Samkhya.

[2] Heinrich Zimmer, Les Philosophies de L’Inde, p. 262

*Notes 1 &2 là của phái Samkhya.

[3] Le terme Yoga désigne donc ces exercices physiques et psychiques utilisés pour découvrir l’essence intime de l’ homme, qui est le Suprême.

Arthur Avalon, La Puissance du Serpent, p. 179.

… Et c’est pour cette raison que l’homme est accaparé par le monde, et leurré par Maya, prend son corps et son petit moi pour son Soi réel; ainsi tourne la roue de la vie en son cycle sans fin de naissances et de morts…

Như trên. p. 236.

The universe consisting of both the decaying

And undecaying states,

the manifested and the unmanifested forms,

is held by the Lord of the universe (God)

it is He Himself,

who for enjoying His own creation,

imprisons himself in every being.

He again after knowimg his own true self,

frees himself from all fetters

(of this mortal world)

Upanishads for All, p. 89.

Keith Sherwood, Chakra therapy, for personal Growth and Healing, Llewellyn Publications, St Paul Minnasota 55164—0383, USA, P. 129.

[4] Brahma nadi —the path toward the Supreme Being.

Swami Vishnu Devananda, The Completed illustrated Book of Yoga, Pocket Book, N. Y. p. 326.

[5] Arthur Avalon (Sir John Woodroffe), La puissance du Serpent, (the Serpent Power) Lyon , Paul Derain, 128, rue Vauban, 1959, p. 114

[6] Sahasrara Chakra—thousand petal lotus; the symbolic expression of the highest Center in the brain, wherein the Yogi attains union between his individual self and God.

The Complete illustrated Book of Yoga, p. 249, 266, 274, 325, 327, 330, 408.

[7] Renou, l’Inde Classique, t. II, p. 160—161.

[8] Cakhras = Carrefours des souffles où ils convergent et sont canalisés dans le Susuma.

Renou et Fillozat, L’Inde Antique, T. II, pp.160—161.

[9] A yogi tries his levels best to make his Prana or Vital Air flow in the Susuma.

The complete illustrated book of Yoga, p. 326.

…Réveil de la Kundalini:

La méthode consiste à réveiller le serpent, à le faire passer de cercle en cercle (c’est le Satcakrabeda). Le brisement des six cercles poussé par le souffle vers la fontanelle. Des moyens préliminaires sont mis en oeuvre, enseigné par le Yoga: pression exercée sur le ventre, bloquage des souffles dans le corps par obstruction des orifices et compression. L’élevation de température produite éveille le Kundalini, l’attire vers le haut, en montant elle résorbe” les éléments” de chaque cercle (layakrama: processus de résorption) qu’elle émettra en redescendant (srstikrama: processus d’émission). Le rite s’appelle Kundaliyoga ou Layayoga: Yoga de résorption. On dit aussi: Crividya “Science sacrée”, une forme réduite symbolique est la Bhuthacuddhi.

Renou et Fillozat, L’ Inde Classique, t. II, p. 599.

[10] Renou, L’Inde Classique, t. II, p. 160—161.

La puissance du Serpent, phần phụ lục.

… By awakening the AJNA center, a person has achieved wholeness through the process of psychospiritual integration. He has transcended fear, identified himself as the I AM, and experienced unconditional joy. His development is not complete because although he knows himself in his multiplicity, his experience of self is stilldifferentiated from the All. There is still duality. The final step which is the merging of a person’s personal energy field with the universal field (the merging of the I Am with the All), only takes place when the thousand—petaled lotus blossoms and the Kundalini arrives and fully awakens Sahasrara.

Subject, object and God

The Inspirer of the Both

All three are (formed in) Brahma

And nothing but Brahma.

Knowing this, one should try to realize HIM in

one’s own Being.

Nothing remains to be known after this.

Keith Sherwood, Chakra Therapy,1965, Llwellyn Publications, St Paul, Minnesots 55164—0383, USA, p. 155.

Upanishads for All, Svetasvararopanishad 12, p. 91.

..Aum —may all the parts of my body,

My eyes, ears, speech and life, all the strengh

Of my senses get nourishment in Him.

All beings are actually Brahma…

The Upanishads.

Keith Sherwood, Chakra Therapy, p. 103.

[11] Le mot Dharma qui comprend à la fois la morale et la religion, mais possède aussi des significations plus étendues, vient de la racine Dhri “soutenir” et c’est donc à la fois le soutien et l’action de soutenir. L’univers est soutenu (Dharyate) par le Dharma et le Seigneur qui est son Soutien Suprême est incarné dans la loi éternelle et il est la Béatitude qu’assure l’accomplissement de celle—ci. Dharma est donc la loi qui gouverne l’évolution universelle, ou Voie de la Sortie (Pravritti), et l’involution, ou Voie de Retour (Nivritti). Et seuls peuvent atteindre à la délivrance à laquelle conduit la seconde Voie, ceux qui par leur fidélité à Dharma collaborent à l’accomplissement du dessein universel. C’est la raison de cette belle parole:” Faire le Bien aux autres, est le devoir suprême” …

(Arthur Avalon, la Puissance du Serpent, p. 184).

…Cette grandiose conception du Dharma englobe donc sous ce nom toutes ces lois (dont la “religion” ne représente qu’une) qui maintiennent la cohésion de l’univers . C’est la loi inhérente à tout être manifesté. Ainsi c’est la Loi de la Forme , dont l’essence est au—delà de Dharma et d’Adharma. Comme la douleur suit l’acte mauvais, le Vaisheshita Dharshana décrit Dharma comme “ce par quoi l’on obtient le bonheur en ce monde et dans l’autre, et met un terme aux naissances et aux souffrances (Mokshadharma)”.

La Puissance du Serpent, p. 184, note 455.

[12] Taitt. Up. Bhasya của Sankara II, 1; Taitt. Up. II, 1.5; Chandogya Up. VIII, 7, 2.

Heinrich Zimmer, Les Philosophies de L’Inde, p. 326.

D’après un résumé introductoire cette doctrine présentée de manière pertinente, dans le Vedantasara, par le moine Sadananda, au XVème siècle, le Soi se dissimule sous cinq enveloppes, cinq couches psychosomatique superposées.

La première, la plus substantielle, s’appelle Annamayakoca; “l’enveloppe (koca) faite (maya) de nourriture (anna). C’est naturellement Le Corps Grossier et son univers de matière grossière. Elle correspond au plan de la conscience éveillée, décrite dans la Mundukya Up.

La seconde enveloppe, Pranamayakoca, “L’enveloppe faite des forces vitales (prana” et la troisième Manamayakoca, “l’enveloppe faite de l’esprit (et des sens) (manas)”, en même temps que la Quatrième Vijnamayakoca “L’enveloppe faite d’intelligence” (Vijnana), composent le Corps Subtil qui correspond au plan de la conscience de Rêve, tandis que la Cinquième, Anandamayakoca. “l’enveloppe faite de félicité” (Anandâ), qui répond au plan du sommeil profond, décrit dans la Mandukya Up. forme ce qu’on appelle le Corps Causal.

C’est un très sombre et très profond revêtement d’ignorance (Avidya), gaine intérieure fondamentale, de tout le monde créé. C’est seulement, quand on l’aura arrachée qu’on connaitra le Soi —ce Silence serein au delà de la syllabe AUM, qui du point de vue du Vedanta, non dualiste de Sankara, est la seule activité, la seule réalité. Enveloppé des cinq gaines, écrit Cankara, dans son

Vivekacudamani, produites par son propre pouvoir, le Soi ne se montre pas comme l’eau dans un étang recouvert de masses interrompu de roseaux (produites par son propre pouvoir). Mais quand le roseau a été écarté complètement, l’eau claire devient visible à l’homme, elle allège les souffrances de la soif et confère le bonheur au plus haut degré.

La nescience (avidya), la ‘faiseuse” (maya) de roseaux, n’est pas un simple manque d’intuition, un principe négatif, c’est aussi un pouvoir positif (cakti) qui projette ou produit l’illusion du monde et des cinq gaines. Dans sa fonction négative, la nescience cache le Soi, “tout comme un pan de nuage cache le soleil”, mais dans sa capacité positive, elle donne naissance à la multiplicité du cosmos, submergeant toutes nos facultés de jugements, excitant nos sens et nos pouvoirs mentaux, nos passions de désir et de dégout, de crainte, d’accomplissement et de désespoir, causant la souffrance et fascinant notre conscience troublée, stupide, avec des inanités transitoires de jouissances.

Zimmer, Les Philosophies de L’Inde, p. 326—327.

[13] Radhakrishnan, Indian Philosophy, II, p.601—603.

****************       

CHƯƠNG V

Tinh Hoa Bà La Môn Giáo

Veda là Upanishads chứa đựng tất cả những điều chúng ta cần biết về Thiên Đạo, về Đại Đạo. Cho nên nói về Tinh Hoa Bà La Môn giáo, túc là nói đến Tinh Hoa Veda và Upanishads, mà nói dến Tinh Hoa Veda và Upanishads là nó dến Tinh Hoa Thiên Đạo, Đại Đạo.

Bà La Môn giáo, về phương diện Đại Đạo, được xây dựng trên Nhất Thể Brahman, túc là trên thuyết:

Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể,

Nhất Thể Tán Vạn Thù; Vạn thù Qui Nhất Thể.

Linh Mục Hoàng Sĩ Quý, trong quyển Triết Sử Ấn Độ của Ông, đã nhận định: “Có điều là, dù khác nhau đến đâu, thì các Upanishads cũng có chung một số điểm chính yếu. Đó là:

—Nhất Nguyên Thuyết.

—Tên Nhất Nguyên: Brahman—Atman.

—Mục đích nhằm: Giải Thoát.

—Đường dẫn tới mục đích: Minh Minh Trí (Jnana) [1].

Tất cả các quan niệm chính yếu nói trên của Upanishads và Veda sau này đã được môn phái Triết Học Vedanta làm sống động lại. Và người đại diện lỗi lạc của môn phái là Samkara (778—820) đã toát lược bằng mấy chữ Nhất Nguyên Thuần Tuý (Absolute Monism).

Brahman, Nhất Nguyên Thuần Tuý, Căn Nguyên Vũ Trụ là Thực Thể Duy Nhất, Bất Khả Phân, tràn ngập vũ trụ.

Vũ trụ hữu hình này, chẳng qua là do Brahman, tán phân, phóng phát ra, theo trình tự từ Vô Tướng, đến Hữu Tướng; từ Khinh thanh, đến trọng trọc; từ Vi Tế đến Thô Thiển, Hiển Lộ.[2]

Nếu dùng lời lẽ Huyền Thoại, thì ta sẽ kể vũ trụ này là do thượng thần Purusa phân thân mình ra để mà tạo dựng nên. [3]

Nếu dùng cung cách ví von, so sánh, thì Veda và Upanishads cho rằng vũ trụ này đã từ lòng Brahman sinh ra, phóng phát ra, chẳng khác nào:

—Tơ nhện từ lòng nhện sinh ra,

—Cây cối từ lòng đất sinh ra,

—Lông tóc từ thân thể sinh ra,

—Tàn lửa từ lửa sinh ra. [4]

Nhưng sự tạo dựng không phải lập tức đã Tinh Toàn, Hoàn Thiện, vì Phóng Phát, Tán Phân sẽ đưa tới Thác Loạn, Tử Vong cho nên Thượng Đế (Prajapati), theo sách Brahmanas, đã dựng nên Lễ Nghi để củng cố lại vũ trụ, và mang lại trật tự, chính danh, định phận lại muôn vật.[5]

Như vậy, con người có bổn phận lật ngược lại thế cờ, hoặc là để tìm lại cái gì đã mất mát, tản lạc đi, theo Brahmanas, hoặc là phải siêu lên trên Hình, Thức, Sắc Tướng để trở về với Atman căn nguyên của mình, theo môn phái Vedanta.[6]

Nói cách khác, nếu Brahman đã dùng phương thức Phóng Phát, Tán Phân, để tạo thành vũ trụ hình, danh, sắc, tướng bên ngoài, và tâm tình, trí lự, tứ chi, bá hài, nơi con người, thì muốn tìm lại được Brahman, phải biết siêu việt lên trên, hay phá tan những lớp vỏ, áo, hình, danh, sắc, tướng, vỏ, áo hiện tượng bên ngoài, vỏ, áo xác thân, tâm tình, trí lự bên ngoài, thì mới trở về được với Brahman, Căn Nguyên vụ trụ.

—Phóng Phát, Tán Phân để tạo thành vũ trụ đó là Nhất Thể Tán Vạn Thù.

—Tập trung thần trí, để băng qua các lớp lang hiện tượng, cả nội giới lẫn ngoại giới, để trở về Nguyên Thể Brahman. Đó là Vạn Thù Qui Nhất Thể.[7]

Có lấy học thuyết Nhất Bản Tán Vạn Thù, Vạn Thù Qui Nhất Bản làm cơ sở suy luận, ta mới tìm ra được các định luật vĩnh cửu chi phối mọi cuộc biến thiên trong hoàn võ, nhân quần. Những Định Luật Vĩnh Cửu ấy Ấn Giáo gọi là Rita hay Dharma. Xin đan cử ít nhiều định luật:

—Định luật Tụ tán, Vãng lai, Phản phục, Xuất (Evolution), Nhập (Involution).

—Định luật Loạn động sinh Hôn Trầm.

—Định luật Định Tĩnh sinh Tuệ Giác v.v…

Yoga đã áp dụng những định luật ấy vào công cuộc tu trì, giải thoát. Đối với Ấn Giáo, Hướng Ngoại, Xuất Cơ (Evolution) là ra đi đến tản mạn, thác loạn, tử vong. Hướng nội, Nhập cơ (Involution) mới là chiều hướng Giải thoát. [8]

Về phương diện con người, Ấn Độ Giáo đã cố gắng hết sức để tìm hiểu và chủ trương đại khái rằng: Con người có nhiều lớp áo vỏ (Poka, Upadhi), nhưng căn cốt bên trong vẫn là Atman, là Brahman duy nhất, bất khả phân.

Con người tuy sống trên nhiều bình diện khác nhau, trong nhiều trạng huống khác nhau, nhưng căn cơ, thực chất vẫn là Atman, là Brahman tuyệt đối.

Nếu ta vẽ một hình tròn để tượng trưng con người, thì:

A. Tâm Điểm sẽ là Atman, là Chân Tâm, hằng cửu bất biến.

Còn các tầng lớp bên ngoài như:

B. Giác, Đại (Buddhi) sẽ là Nguyên Thân (Causal Body).

C. Ngã mạn, Ý căn (manas), thập căn (Ngũ tri căn + Ngũ tác căn) là Tế Thân (Subtil Body, psychical Body) (gồm: Vỏ Trí, Tâm, Khí) . Đó là Phàm Tâm (Vọng Ngã, Tiểu Ngã)

D. Xác thân Thô Thân, Nhục Thể) (Gồm Ngũ Duy, Ngũ Đại).Khi chết, xác thân sẽ tan rã, Tế Thân, Nguyên Thân sẽ tuỳ nghiệp luân hồi.

Con người có thoát Phàm Tâm, mới mong giải thoát.

Cho nên, Buddhi, nếu theo chiều hướng ngoại, bị Raja (động), Tama (Hôn) khiên dẫn, sẽ bị Mê. Còn khi biết tập trung, biết hướng nội, mà rũ bỏ được các trạng thái hôn trầm, thác loạn, sẽ trở thành Giác. Lúc ấy, Buddhi sẽ là con thuyền Bát Nhã (nói theo tiếng Nhà Phật sau này), giúp ta sang bờ bên kia, sang bến bờ Giải Thoát.

Xác thân chúng ta với ngũ quan, tiếp xúc với Ngũ Đại (Không, Thuỷ, Hoả, Phong, Địa) sẽ làm cho chúng ta bị ngoại cảnh phiền trược.[9]

Các tầng lớp bên ngoài từ Buddhi (Nguyên Thân) trở ra cho đến Nhục Thể, cho đến Ngũ Duy, Ngũ Đại, tức là các Hiện Tượng ngoại giới, đều ở trong vòng:

Hình danh, sắc tướng (Nama—rupa)

Luân hồi (Samsara)

Vòng phiền trược của Tam Tài (3 gunas: Sattva, Raja, Tama)

Mê (Avidya, Maya).

Hí trường (Lila) của Tạo Hoá.

Và đó chính là vòng Biến Thiên, Sinh Tử.

Sau đây là ít nhiều quan niệm then chốt giúp ta trong công trình: Tầm đạo, Tu Đạo, Đạt Đạo.

1. Công thức:

Brahman = Atman.

Phạm Thiên = Tự Ngã.

Brahman.

Chúng ta bàn về Brahman trước, và Atman sau:

Brahman là Tuyệt Đối Thể, là Căn Nguyên sinh Thần, Thánh, Vạn Vật. [10]

Brahman duy nhất nhưng có nhiều danh hiệu:

Ngài là:

— Đấng Bất Tử (The Imperishable). (Brihah. Up. 8. 8. 3. 9) Brahmanasti (RV 10. 2. 2)

— Visvakarman (Tạo hoá; The All maker) (RV 10. 61)

— Purusha (Chân Nhân) (RV 10.90)

— Prajapati (Chúa Tể Càn Khôn; Lord of Creatures)

— Hiranyagarbha (Kim đơn; Kim Nhân = Golden Germ) (RV 10. 121. 1)

Brahman là đấng bất khả tư nghị, [11] nhưng các Upanishads vẫn cố hình dung, mô tả Ngài. [12]

Ngài quán thâu cả hai bề động, tĩnh của hoàn võ, quán thâu cả 2 phương diện hằng cửu và thời gian, [13] cả 2 phần Thể Dụng của Vũ Trụ. [14]

Ngài là căn nguyên duy nhất của muôn loài.

Cho nên mô tả Ngài, Áo Nghĩa Thư cùng toàn những từ ngữ tương phản.

Isa Up. viết:

“Duy Nhất đứng, vẫn nhanh hơn thần trí,

Vẫn vượt xa, lướt trước các quan năng.

Dẫu muôn loài dong duổi, cũng chẳng bằng,

Tuy là đứng, mà vẫn đi, đi rất lẹ”. [15]

Isa viết tiếp:

Chuyển vần, mà chẳng chuyển vần,

Tuy xa mà vẫn kề gần lạ sao,

Trong lòng muôn vật ẩn sâu,

Mà ngoài muôn vật, vẫn bao, vẫn trùm. [16]

Ngài ở khắp nơi nhưng không tìm đâu ra dáng dấp:

“Làm sao mà gặp được Ngài,

Trên cao, dưới thấp, trong ngoài, tìm đâu?

Dung quang, dáng dấp ngài sao?

Chỉ hay vinh hiển tối cao, tên Ngài.” [17].

“…Dung quang Ngài khó mà cầu,

Mắt trần sau trước thấy sao được Ngài.

Biết Ngài trong dạ mấy ai?

Tâm thần biết thế, muôn đời trường sinh.” [18]

Trần gian tưởng hay biết Ngài mà thực ra đâu có biết, còn những người được diễm phúc biết Ngài, lại cảm tưởng mình chẳng biết, chẳng biết, chẳng hay.

Tưởng biết Ngài, mà đâu có biết,

Ngỡ không hay, mà thiệt đã hay.

Cố suy, mờ mịt Đông Tây,

Ngỡ rằng chẳng hiểu, hiểu ngay được Ngài. [19]

Không có chi vĩ đại như Ngài, và Người nào hiểu thế sẽ thành người Hiền và đáng trọng nhất trong loài người. [20]

Brahman dựng nên muôn vật mà vẫn lồng trong muôn vật. [21]

****************       

Atman.

Brahman không những bao trùm vũ trụ, mà còn ngự trị ẩn áo, huyền vi trong tâm khảm con người. Tuyệt đối Thể ở ngoài vũ trụ là Brahman, Tuyệt Đối Thể trong tâm khảm con người là Atman, là Đại Ngã.

“…Ngã, Atman ở trong tim tôi nhỏ hơn hạt thóc, nhỏ hơn hạt mì, nhỏ hơn hạt cải, nhỏ hơn hạt kê, nhỏ hơn nhân hạt kê. Cũng Atman ở trong tim tôi, lại lớn hơn trái đất, hơn không gian, hơn trời, hơn muôn ngàn vũ trụ. [22]

Đó là Chân Tâm trong lòng tôi. Đó chính là Brahman. [23]

Atman như vậy cũng vô lượng như Tuyệt Đối Thể.

Atman = Brahman. [24]

2. Công thức:

So’Ham = Tôi là cái đó.

Tat tvam Asi तत् त्वं असि = Cái đó chính là Con
.

Một quan niệm then chốt của Áo Nghĩa Thư là: Trong lòng con người, có đấng Vô Cùng. Con người không phải cô đơn, khổ ải, lao lung một mình trên bước đường đời, mà trái lại, lúc nào cũng có người bạn muôn trùng sang cả ám trợ bên trong. Cho nên, nếu con người giác ngộ, nhận ra được Đấng Muôn Trùng trong lòng mình, cố gắng tu luyện, sẽ trở thành Atman.

Hai chim cùng đậu cây Thân,

Keo sơn kết ngãi, chẳng phân, chẳng lìa.

Một chim ăn quả thoả thuê,

Một chim lặng ngắm chẳng hề uống ăn.

Một người sống ở cây Thân,

Suy vi, não nuột, âm thầm oán than,

Ngẩng lên, thấy đấng Thanh Nhàn,

Vinh quang, sang cả, liền tan tần phiền.

Hoá Công mà thấy nhãn tiền,

Nhãn tiền mà thấy căn nguyên trần hoàn.

Dữ lành, dũ sạch tinh toàn,

Rồi ra trong trắng, cao sang in Trời. [25]

Áo Nghĩa Thư đưa ra đại công thức Tat Tvam Asi = Cái đó, chính là Con.

“Sự thật, con ơi, cái thực thể tế vi mà con người tự giác được, chính là cái thực thể tế vi mà cây vả này đã mọc lên. Con ơi, con hãy tin rằng: cái thực thể tế vi ấy đã tạo thành cả thế giới, toàn thể vũ trụ. Đấy là thực tại. Đấy là Atman. Con chính là cái ấy. Tat tvam Asi. [26]

3. Cho nên, mục đích đời người là cốt bắn vào trúng hồng tâm ấy, cốt là chinh phục đấng vô cùng.

“Hỡi thanh niên ưu tú, hãy khôn ngoan, dùng cung thần, lắp tên bản ngã đã được mài nhọn bằng lòng sốt mến, kính thờ, hãy bắn đi với tất cả tâm trí, miệt mài, chăm ngắm vào Ngài, hãy bắn trúng đích, hãy bắn vào Đấng Vô Cùng.” [27]

Chuyển thơ:

Ngài là đích điểm phải coi,

Phải nhìn, phải ngắm, chớ lơi lòng vàng.

Thánh Thư là cánh cung dương,

Mũi tên Thần Trí ta mang lắp vào.

Bạn ơi ngắm đích đi nào,

Dương cung hãy ngắm trúng vào Thiên Tâm,

Oum là chính chiếc cung thần,

Mũi tên là Bạn, hồng tâm là Trời,

Hãy nhìn ngắm đích chớ lơi,

Như tên, bạn phóng vào Trời cho sâu.

Đấng làm trục cốt hoàn cầu,

Khí, Thần, trời đất trước sau nương nhờ.

Bạn ơi, đừng có nghi ngờ,

Đó là Chân Ngã, đó là chính anh.

Nhịp cầu bắc tới trường sinh,

Những lời vừa nói, bắc thành chẳng sai.

Quên đi tạp thuyết trên đời,

Chào mừng bạn đã là người quá giang.

Từ nay bến giác đã sang,

Bờ mê, nhìn lại mơ màng, âm u. [28]

4. Cho nên học vấn cao siêu nhất là học vấn để tìm ra đấng Vô Cùng:

Biết rằng trong dạ có Trời,

Rối ren, ngu muội tức thời tiêu tan… [29]

5. Công phu tu luyện siêu việt nhất là kết hiệp được với Atman, với Trời:

Từ nay âu đã thành Thần,

Từ nay mơ ước hồng trần tiêu tan.

Người phàm nay đã siêu phàm,

Lòng trần nay đã biến sang lòng Trời. [30]

6. Nhưng con đường tu luyện chẳng có dễ dàng:

Con đường tu luyện khó sao,

Như lưỡi dao bén nhẽ nào vượt qua. [31]

7. Vả lại, tìm ra được Atman, được Tuyệt đối Thể đâu phải chuyện dễ:

Chân Tâm học chẳng tìm ra,

Thông minh, uyên bác cũng là công toi,

Biết Trời, âu cũng duyên Trời,

Trời kia chỉ hiển cùng người hữu duyên.[32]

8. Tìm Tuyệt Đối Thể không phải là lìa đời, không phải vào thâm sơn cùng cốc, vì Tuyệt đối Thể ở ngay trong lòng con người, ngay trong tâm khảm con người:

Chân Nhân nhỏ tựa ngón tay,

Nằm trong tâm khảm muôn loài thụ sinh,

Tâm thần, trí lự bao quanh,

Ai mà biết được trở thành Thần Tiên. [33]

9. Nhưng đâu là Tâm con người? Upanishad chỉ đường về Tâm như sau:

“Tâm người trăm linh mốt kinh,

Mà duy có một, Thượng Đình đi lên.

Cứ theo đường ấy mà men,

Rồi ra ắt được tới miền trường sinh. [34]

*Như vậy, thì Tâm ấy ở trong đầu con người, nơi các giây thần kinh giao hội, hội tụ về:—

Nơi nào mà mọi thần kinh,

Như đũa gặp trục trong vành bánh xe.

Nơi thần kinh hội tụ về,

Là nơi Tuyệt Đối chưa hề hoá Thân.

Cố tìm Tuyệt Đối, Chân Tâm,

Rồi ra sẽ thoát biển trần hôn mê.

Ngài là toàn giác, toàn tri,

Trần hoàn vinh hiển, ai bì, ai đương,

Ngài đương ngự giữa Thiên Đường [35]

Trời cao là chính Đế Hương của Ngài.

Chỉ huy thần trí trong ngoài,

Chính Ngài chi phối lòng người thường xuyên.

Biết Ngài những bậc Thánh Hiền,

Biết Ngài nhờ ánh tâm huyền phát huy. [36]

Tâm khảm ấy chính là Nê Hoàn Cung, là Não Thất Ba theo khoa học hiện đại. [37]. Upanishad còn viết:

Kìa xem trong chốn Thiên Đường,

Có cung nho nhỏ, nhỏ dường Liên Hoa,

Bên trong là một tiểu toà,

Trong toà ai đó tìm ra mới tình…

Tuy là một khoảng tâm linh,

Nhưng mà Trời Đất trong mình gồm thâu.

Gồm thâu gió lửa, tinh cầu,

Hai vầng nhật nguyệt cũng đâu có ngoài.

Gồm thâu muôn sự trên đời,

Gồm thâu ngàn vạn khúc nhôi sự tình…[38]

10. Đạt đạo sẽ là đạt tới Viên Mãn, không còn phải ước mơ, tìm hiểu chi nữa, vì viên mãn là lạc thú, viên mãn là trường sinh, viên mãn là bao quát vũ trụ. [39]

Đạt đạo sẽ được hạnh phúc vô biên.

Chân tâm chủ tể muôn loài,

Thể thời duy nhất, hình thời ngàn muôn.

Biết Ngài ngự giữa tâm hồn,

Mới mong hạnh phúc trường tồn vô chung.

Biết Ngài bất biến, thung dung,

Lồng trong trời đất, lao lung chuyển vần.

Biết Ngài Thần giữa chúng thần,

Biết Ngài duy nhất, giữa quần sinh ban.

Bao niềm mơ ước chứa chan,

Biết Ngài phân phát cho toàn sinh linh.

Biết Ngài ngự giữa lòng mình,

Mới mong hạnh phúc, siêu sinh trường tồn. [40]

Lòng không vướng mắc tơ hào,

11. Đạt đạo sẽ tiến tới vô ngã, đại đồng.

Kìa sông tới biển thời tiêu,

Hết danh, hết sắc, hết điều riêng tây.

Trở thành biển cả từ nay,

Gọi là biển cả mảy may, khác gì.

Con người, nhìn lại cũng y,

Khi “mười sáu bộ” đã qui về Ngài.

Còn đâu danh tướng lôi thôi,

Rồi ra cũng chỉ là ngôi Chân Thần.

Thế là vĩnh cửu bất phân,

Chẳng còn bộ phận, còn thuần tinh hoa.

Đã điều qui tụ, hiệp hoà,

Như đũa liền trục, ắt là Chân Nhân.

Chân Nhân là chính Chân Thần,

Tử sinh thôi hết bận tâm lo lường.[41]

12. Đạt đạo sẽ thành Brahma Thượng Đế. [42]

Ai mà biết được Trời cao,

Rồi ra nên giống Trời nào, khác chi.

Gia đình không kẻ u mê,

Cháu con đều biết hướng về Brahma.

Sầu tình khinh khoát băng qua,

Băng qua tội lệ, khéo là làm sao.

Con người thể ấy ắt vào trường sinh.[43]

13. Vòng Luân Hồi trong Áo Nghĩa Thư chẳng qua là thế giới vạn hữu, thế giới hiện tượng, trong đó con người như một lữ khách ruổi rong; gần mục đích mà vẫn tưởng xa muôn vạn dặm; cùng dòng dõi với Hoá Công, mà vẫn ngỡ mình kém hèn, sa đoạ. Bước trên những hiện tượng ảo hoá, biến thiên ấy, con người sẽ tiến dần về Bản Thể, về Đại Đồng, và khi nhận được Hoá Công là chính Bản Thể mình, sẽ trở nên bất tử. [44]

14. Ngoài ra Upanishads còn đưa ra một phương pháp diệt trừ Luân Hồi, Nghiệp Chướng rất giản dị. Theo Áo Nghĩa Thư, nếu Luân Hồi, Nghiệp Chướng phát sinh do tâm tưởng con người, do sự dính bén trần ai, tục luỵ, thì diệt trừ mọi tâm tư, rũ bỏ mọi luyến ái, dục tình, sẽ được giải thoát.

Như lửa cháy, hết dầu sẽ tắt,

Tâm tưởng ta, lìa vật sẽ ngưng.

Tâm thần vắng lặng, không không,

Là vì đa õbiết gia công tìm Trời.

Để ngũ tặc [45], tơi bời đưa đẩy,

Thời trần ai, xa xảy, lầm than,

Luân Hồi, Nghiệp Chướng đa đoan,

Tâm tư ta tạo, tâm can ta bày.

Hãy cố gắng mà thay, mà đổi,

Kiếp Luân Hồi thoát khỏi, mới hay.

Cơ Trời ẩn áo khó bày,

Tưởng sao, thành vậy, xưa nay lẽ thường.

Giữ tâm khảm đừng vương tư tưởng,

Thời trần ai, nghiệp chướng sẽ tan. [46]

Lâng lâng vẹn sạch, tinh toàn,

Lòng trời vui hưởng muôn ngàn thảnh thơi,

Để thanh sắc cuốn lôi, giăng mắc,

Thời tâm Thần dính chặt trần ai,

Một niềm gắn bó với Trời,

Dây oan dù mấy, thôi thời cũng tiêu.

Tâm thường có 2 chiều, 2 vẻ,

Vẻ phàm phu, và vẻ thanh cao.

Phàm phu, dục vọng dạt dào,

Thanh cao, thì chẳng xuyến xao tâm Thần.

Lòng cố giữ thập phần tĩnh lãng,

Đừng ù lì phá tán lòng ai.

Hoà đồng hiệp nhất với Trời,

Ấy là Tuyệt Đối trên đời mấy ai.

Lòng chớ để pha phôi lạc lõng,

Tội tình chi lóng ngóng đông tây,

Đáy lòng giải thoát là đây,

Giác minh vô tận ở ngay đáy lòng.

Hãy cố gắng tập trung thần trí,

Thời oan khiên, phiền luỵ, tiêu tan.

Hoà đồng, phối hiệp Atman,

Ấy là hạnh phúc muôn ngàn tả sao.

Diễm tuyệt ấy lời nào tả xiết,

Chỉ tâm thần, mới biết, mới hay,

Nước kia, nước nọ hoà hài,

Lửa phừng trong lửa ai người biện phân…

Khí pha khí, ai lần manh mối,

Đã hiệp hoà khó nỗi chia ly.

Tâm Thần mà nhập huyền vi,

Thời thôi trần cấu còn chi bận lòng.

Lẽ giải kết ở trong hoàn võ,

Đều do Tâm, dây rợ mối manh.

Luỵ là: Bám vứu sự tình,

Tâm không luỵ vật: đã đành thần tiên.[47]

 ***

*Tóm lại, tinh hoa Đạo học và Triết học Bà La Môn có thể toát lược như sau:

“…Áo Nghĩa Thư chủ trương mỗi cá nhân đều thông phần bản thể của Thượng Đế, nên có Tuyệt Đối Thể trong đáy lòng. Nó mặc khải cho mỗi tâm hồn biết: Chúa Tể trời đất, vũ trụ, đấng được đề cập tới trong kinh Veda, đấng ấy lại chính đồng bản thể và ý thức như con người. Tat Tvam Asi, Đấng tối cao ấy, con chính là đấng tối cao ấy”. [48]

Áo Nghĩa Thư bao hàm tất cả những sự suy nghiệm về Atman, về Chân Ngã, hay về Thực Tại, Thực Tướng, về “Chân chi Chân” theo định nghĩa của Atharva Veda.

Nói rõ hơn, Atman chính là cùng đích của một nền siêu hình học đi tìm Thượng Đế trong con người, và cuối cùng là tìm ra được Thượng đế, phối hợp, hoà đồng được với Thượng Đế. [49]

————————————————————————
*Hết chương 5

****************       

PHỤ LỤC

CHÍ TÔN CA TRÍCH DIỄM.

(EXCERPTS from the BHAGAVAD GITA).

A. Chân tâm (the Self).

1. Chân tâm thời hằng cửu, bất hoại và vô lượng. Các hình hài của chân thể thời hữu hạn. [50]

2. Ngài vô thuỷ, vô chung, vô vãng, vô lai, tự hữu, trường sinh, vĩnh cửu, cổ sơ. Ngài chẳng bị giết, khi xác thân bị giết. [51]

3 Ngài được gọi là vô hình tích, bất khả tư nghị, bất khả biến dịch, cho nên biết Ngài là thế, bạn đừng còn lo buồn. [52]

B. ĐỜI ĐẠO HẠNH: —

1. Hỡi Dhananjaya, hãy hoạt động, nhưng vẫn sống trong sự phối hợp với Thiên Chân, đừng còn tơ vương, dính bén, hãy bình thản, luôn trong thành công, cũng như trong thất bại. Thung dung, bình thản ấy là Đạt Đạo.[53]

2. Các thánh hiền, sống phối hợp với Chân Lý, nên hoạt động không cầu mong lợi lộc, kết quả; và thoát ly khỏi vòng sinh tử, các Ngài sẽ lên toà Hạnh Phúc. [54]

3. Khi thần trí con người hết bị lạc lõng vì kinh kệ, khi thần trí con định được vào sự chiêm ngưỡng [Atman], lúc ấy con sẽ Đắc Đạo, phối Thiên. [55]

4. Hỡi Partha, khi một người rũ bỏ mọi dục vọng của tâm hồn và chỉ thoả mãn trong Chân Ngã bởi Chân Ngã, người ấy là người đã được định trí.

…Người mà tâm trí được thảnh thơi không lo sợ trong đau khổ; thanh thản, không bị lôi cuốn giữa các lạc thú; thoát vòng phiền trược của dục tình, của sợ hãi, của giận dữ, người ấy, được gọi là Thánh Hiền có định trí. [56]

5. Kẻ rũ bỏ được mọi ước mơ, và tiến bước ung dung, không bị dục vọng chi phối, vô tư, vô ngã, kẻ ấy đi vào an lạc.

Hỡi con của Pritha, đó là một trạng thái hằng cửu. Đạt tới đó, không còn bị huyễn hoặc nữa.

Ai mà ngay lúc chết vẫn còn ở trong trạng thái đó, sẽ vào Niết Bàn của Hằng Cửu. [57]

6. Người đạt Đạo, luôn luôn kết hợp với Chân Ngã, lòng trí hết lao lung, người đạt Đạo sẽ đạt tới An Lạc vô biên. Hạnh phúc ấy ở trong Ta (Thượng đế). [58]

7. Hỡi Krishna, tôi đã coi Ngài như Bạn,

Đã coi Ngài như Bạn hay rắc rối, tơ vương,

Ngài oai nghi, mà tôi cứ ngỡ tầm thường

Tôi sơ xuất, vì tôi đã yêu Ngài nhiều quá.

Tôi đùa cợt và đã tỏ ra sàm sỡ,

Khi chơi đùa, khi ăn uống, hoặc nghỉ ngơi.

Hoặc một mình, hoặc trước mặt bạn tôi.

Xin Duy Nhất thứ tha cho vì lầm lỡ.

Ngài là Cha sinh vũ trụ, sinh biến hằng vạn thủa,

Oai nghi Ngài, thiên hạ hỏi ai đương?

Quyền phép Ngài chấn động khắp muôn phương,

Trước mặt Ngài, bằng thể xác tôi, tôi cúi lạy.

Xin Ngài thương giáng phúc cho tràn lan, đầy rẫy,

Như Cha, Con, xin Ngài đối với tôi,

Như bằng hữu, như những kẻ yêu nhau ở trên đời,

Van xin Ngài, hãy đối với tôi như thế…[59]

****************       

CHÚ THÍCH

[1] Hoàng sĩ Quý, Triết Sử Ấn Độ, tr. 100.

[2] Vô Hữu Tán Ca: Rig Veda X, 1, 9. Tạo Nhất Thiết Thần Ca: Rig Veda X, 82; Nguyên Nhân Tán Ca: Rig Veda X, 90; Yajur Veda: VS XXXI và XXXII; Atharvaveda XIX, 6 và X, 2;

Hoàng Sĩ Quý, Triết Sử Ấn Độ, p. 102.

Revue de l’Histoire des Religions, p. 4,6, 69, PUF.

Hoàng Sĩ Quý, Le Mythe Indien de l’Homme Cosmique dans son contexte culturel et dans son Évolution, pp. 134, 135, 140, 141, 154.

Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Đông Phương, q. 3, các tr. 37, 38, 39.

[3] Nguyên Nhân Tán Ca, Rig Veda X, 90.

Hoàng Sĩ Quý, Triết Sử Ấn Độ, tr. 100.

[4] Brihadaranyaka Up. I, 1,7: Mundaka Up. 11.1,1.

[5] La création ne fut pourtant pas parfaite du premier coup. Par le même mouvement d’émanation et d’extension, elle tend à la dispersion, au désordre et à la mort. Prajapati dut alors créer des rites —thème brahmanique —pour consolider l’univers et mettre de l’ordre en toutes choses par l’attribution des noms et des formes précises.

Le Mythe Indien de l’homme cosmique par Hoàng Sĩ Quý, in Revue de l’Histoire des Religions, 4, 6, 69, PUF, p. 150.

[6] Tout comme L’Univers structuré, l’autel ne désigne que la partie manifestée du Créateur, il reste de lui une “partie perdue”. La plus grande et l’essentielle, qu’on doit restaurer, par le sable répandu de tous côtés et en quantité indéfinie, pour que Prajapati soit restauré dans sa totalité et dans sa forme naturelle. Outre ce procédé, il en existe d’autres qui s’expriment comme un complément rituel par la récitation murmurée ou par le silence. Le Silence ne veut pas dire une interruption de la Parole sacrificielle, mais une intériorisation de cette Parole. Comme la Parole articulée représente la partie manifestée . Cette partie la plus grande et la plus fondamentale, dans les Brahmanas, devient en d’autres traditions, la partie transcendante du Purusa (Tel que dans RV. X, 90), l’Esprit, comme opposé à la Matière (Prakriti) (chez les Samkhyens), et la Réalité Unique, subsistant sous le Nom et la Forme (tel que le concoit le Vedanta).

Hoàng Sỹ Quý, Le mythe Indien de l’homme cosmique, p. 151—152)

—thème brahmanique de l’agencement du monde, par le Nom et la Forme. C’est Le Nom et la Forme qui constitue chaque chose en elle—même, en tant que telle. La réaction mystique du Védanta réduira le Nom et la Forme (Nama—rupa) à l’illusion (maya) et ne conservera que la Substance Transcendante (Atman) qui existe sous le Nom et la Forme.

ib. p. 150, note 2.

[7] Whether you look upon God, with the savage, as an Angry or Offended Man, or with the civilized, as a Merciful, and Compassionate Being, the Judge of all the earth, the Author and Controller of the world. It is a weak conception that cannot endure criticism. The Anthropomorphic Ideas must vanish. They give us Subtitutes for God, but not the true Living God. We must believe in God, the Center of Life, and not his shadow as reflected in men’s mind. God is the inexhaustible light surrounding us 0n all sides. Prano virat (“life is immense”). It includes Thoughts no less than Things. The Same reveals Itself under differents Aspects. It is One, Uniform, Eternal, Necessary, Infinite and All—powerful. From It, All flows out; to It, All returns.

Radhakhrishnan, Indian Philosophy, Tome I, p. 94.

[8] Dharma est donc la Loi qui gouverne l’Évolution Universelle, ou voie de la Sortie (Pravritti), et l’Involution ou voie du Retour (Nivritti). Et seuls peuvent atteindre à la Délivrance à laquelle conduit la seconde Voie, ceux qui par leur fidélité à Dharma, collaborent à l’accomplissement du dessein universel.

Arthur Avalon, La Puissance du Serpent, p. 104.

[9] Phật giáo sau này gọi Ngũ Tri Căn (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân) là Ngũ Căn, gọi Ngũ Duy là Ngũ Cảnh hay Ngũ Trần (Sắc, thanh, Hương, Vị, Xúc). Ngũ Căn gặp Ngũ Trần sẽ sinh ra Ngũ Thức (Nhãn thức, Tị Thức, Nhĩ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức). Và Ngũ Uẩn do đó mà sinh. Ngũ Uẩn là Sắc (ngũ căn+ngũ trần), Thọ (Cảm giác), Tuởng (Tri Giác), Hành (tâm trạng), Thức (ý niệm).

[10] Brih. 1. 4. 10—11.

 Maitri 6. 17.

 Tait. 2.6.

[11]Brih. 2.36; 3. 9. 26; 4. 24.

[12] Svet. 4. 19—20; Tait. 2. 4. 9f; Katha 6.12; Svet. 5.1; Mundaka. 2. 2. 1; Kena 3; Isa 9. 10; Brih. 4. 1—2; Brih. 2. 3. 6; 3. 9. 26.

[13] Maitri Up. 6.16; 6.22 ; Brih. 2.3.1; 2.1. 20.

[14] Mund. 2.2. 8; Prasna 5.2; Svet. 1. 13; Mund. 1. 4—5.

[15]

Unmoving, the One is swifter than the mind,

The sense—powers reached not It, speeding on before

Past others running, this goes standing. (Isa 4)

[16]

It moves. It moves not,

It is far and It is near,

It is within all this,

And it is outside of all this. (Isa 5).

[17]

Not above, not across,

Nor in the miđle has one grasped Him.

There is no likeness of Him,

Whose name is Great Glory. (Svetas. 4, 19).

[18]

His form is not to be beheld,

No one soever sees Him with the eye.

They who thus knows Him with heart and mind,

As abiding in the heart, become immortal.

Svetasvatara Up. 4. 20.

[19] It is conceived of by him whom It is not conceived of.

He by whom It is conceived of, knows It not,

It is not understood by those who (say they) understand It,

It is understood by those who (say they) understand It not.

Kena Up. 13 (3)

[20] Satapathabrahmana 1, 3, 5, 7—12.

Triết Học Nhập Môn, Trần Thái Đỉnh, tr. 16.

[21] Tait. 2.6; Chand. 6.3.

[22] This Soul of mine within the heart is smaller than a grain of rice, 0r a barly—corn, or a mustard—seed, or a grain of millet, or the kernel of a grain of millet; this Soul of mine within the heart is greater than the earth, than the atmosphere, greater than the sky, greater than these worlds.

Chandogya Up. 3. 14. 3.

[23] Containing all works, containing all desires, containing all odors, containing all tastes, encompassing this whole world, the unspeaking, the unconcerned —this is the SOUL of mine within the heart. THIS IS BRAHMA. Into him, I shall enter on departing here.

Chandogya Up. 3. 14. 4.

[24] Brih. 2.5.1; Mundaka 2. 2. 9; Nguyễn đăng Thục, Lịch Sử Triết học Đông Phương, III, tr. 141.

[25]

Two birds, fast bound companions,

Clasp close the self—same tree.

Of these two, the one eats sweet fruit;

The other look without eating.

On the same tree a person, sunken,

Grieves for his impotence, deluded,

When he sees the other, the Lord contented,

And his greatness, he becomes freet from sorrow.

When a seer sees the brilliant,

Maker, Lord, Person, the Brahma—source,

Then, being a knower, shaking of good and evil,

Stainless, he attains supreme identity [with Him].

Mundaka Up. 3.1.1—3.

[26] Then he said to him: ‘Verily my dear, that finest essence, which you do not perceive —verily, my dear, from that finest essence this great Nyagrodha (sacred fig) tree thus arises. Believe me, my dear,’ said he’ that which is the finest essence —this whole world has that as its soul. That is Reality. That is Atman (Soul). That art Thou, Svedaketu.

Chandogya Up 6. 12. 2 —3.

[27] Taking as a bow the great weapon of the Upanishad, One should put upon it an arrow sharpened by meditation. Streaching it with a thought directed to the essence of that. Penetrate that Imperishable as the mark, my friend. the Mystic syllable Om (pranava) as the bow, the arrow is the soul (Atman), Brahma is said to be the mark.

Mundaka Up. 2.2. 3—4.

[28]

C’est Lui, la cible qu’il faut viser. Ami, vise droit au but.

Prends entre les mains, l’arc splendide des Oupanishads,

Sur lui, place la flèche

Aiguisée dans la méditation.

De ton esprit, tendu vers l’unité, bande ton arc.

Ami, vise ce but, c’est Lui, l’Immuable,

Oum, le Pravana, voilà ton arc,

La flèche, c’est le Soi,

C’est toi—même.

La cible, c’est Brahman.

Vise—la, sans te laisser distraire.

Fixe toi, là toi—même, comme la flèche en sa cible.

Celui sur qui tout ce monde est fixé,

Cieux comme terre, souffle comme Esprit,

Sache que c’est cela même, l’unique Soi: C’est toi.

Tous les autres mots, laisse—les aller,

Le pont qui mène à la non—mort, c’est celà.

Salut à toi, qui passe à l’autre rive,

Au—delà de la ténèbre,

Brahman, en vérité, c’est tout cela, c’est Tout.

Devant, Brahman ! derrière, Brahman!

À droite Brahman! à gauche Brahman!

Au—dessus, Brahman! au—dessous Brahman!

Brahman, seul en vérité.

En tout, et partout.

Mundaka Up. 2.2. 3—5; 2.2. 11.

Henri le Seau, la Rencontre de l’Hindouisme et du Christianisme, Éditions du seuil, p. 156.

[29] He who knows that, set in the secret place (of the heart), he here on earth, my friend, rends asunder the knot of ignorance.

Mundaka Up. —2.1. 10

[30]

Being very Brahman, he goes to Brahman.

..When are liberated all

The desires that lodge in one’s heart,

Then a mortal becomes immortal

Therein he reaches Brahman.

Brih. Up. 4.4.6; 4.4.7

[31]

A sharpened edge of a razor, hard to traverse,

A difficult path is this —poets declare.

 Katha Up. 3. 14.

[32]

This Soul (Atman) is not to be obtained by instruction,

Nor by intellect, nor by much learning,

He is to be obtained only by the one whom he chooses,

To such a one, that Soul (Atman) reveals his own person.

Mundaka Up. 3.2.3.

[33]

A Person of the measure of a thumb, is the inner Soul (antaratman),

Ever seated in the heart of creatures,

He is frame by the heart, by the thought, by the mind,

They who know that, become immortal.

Svetasvatara Up. 3. 13.

[34] There are a hundred and one channels of the heart,

One of these passes up to the crown of the heart.

Going up by it, one goes to immortality

 Chandogya Up. 8. 6. 6.

Bản dịch Pháp:

Il sort du coeur 101 canaux,

L’un d’eux communique avec la grande fontanelle,

S’élevant par ce grand canal, l’homme (l’âme particulière)

Rejoint l’immortalité.

[35] Xác thân con người.

[36] Where the channels are brought together,

Like the spokes in the hub of a wheel.

Therein he moves about,

Becoming manifold.

Om!-thus meditate upon the Soul (Atman).

Success to you, in crossing the farther shore beyong darkness.

He who is all-knowing, all-wise,

Whose in this greatness on the earth-

He is in the divine Brahma city

And in the heaven established! The Soul (Atman)

Consisting of mind, leader of the life-breath and of the body,

He is established on food, controlling the heart,

By this knowledge the wise perceive

The blissful Immortal that gleams forth.

Mundaka Up. 2. 2. 6-7.

[37] L’opération du Yoga est un mouvement de retour à la Source, l’inverse du mouvement créateur de cette Source… Le Siège de la Source étant dans le corps humain, le cerveau, où se trouve la plus grande manifestation de la conscience, le siège du mental, est entre les sourcils et les sièges de la matière dans les cinq centres qui s’échelonnent de la gorge à la base de la colonne épinière.

Arthur Avalon, La Puissance du Serpent, p. 85.

… Le Centre où se réalise la conscience endormie est le sommet du cerveau ou Sahasrara, d’où chez le Yogi, le Prana s’échappe, au moment de la mort par la fissure appelée Bramarandhra (Fontanelle)

Như trên. p. 57.

[38] Om! Now what is here in this City of Brahma (the body) is an abode, a small lotus—flower (the heart). Within that is a small space. What is within that should be searched out; that assuredly, is what one should desire to understand… As far, verily, as this world—space extends, so far extends the space within the heart. Within it, indeed, are contained both heaven and earth, both fire and wind, both sun and moon, lightning and the stars, both what one possesses here and what one does not possess; everything here is contained within it.

Chandogya Up. 8. 1.1—2.

[39] Where one sees nothing else, hears nothing else, understands nothing else – that is Plenum.

Chandogya Up. 7. 24.

… Verily, the Plenum is the same as pleasure

Chandogya Up. 7. 23.

… Verily, the Plenum is the same as immortal.

Chandogya Up. 7. 23.

It, indeed, is the whole world.

Chandogya Up. 7. 25; Tait. 2. 4; Katha 5. 14.

[40] The Inner Soul of all things, the one Controller,

Who makes his one form manifold.

The wise who perceive Him as standing in oneself,

They, and no others, has eternal happiness.

Him who is the Constant among the inconstant, the Intelligent among intelligences,

The One among many, who grant desires —

The wise who perceive Him as standing in oneself,

They, and no others, has eternal peace.

Katha Up. 5. 14; Prasna Up. 6.5; Brih. 4.4.1.2.

[41] As these flowing rivers that tend toward the ocean, on reaching the ocean, disappear, their name and form (nama—rupa) are destroyed, and it is called simply “the ocean” —even so of this spectator these sixteen parts that tend toward the Person, on reaching the Person, disappear, and it is called simply “the Person.” That one continues without parts, immortal! As to that there is verse:

—Whereon the parts rest firm

Like the spokes on the hub of a wheel—

Him I know as the Person to be known!

So let death disturb you not.

Prasna Up. 6.5.6; Brihad 4. 4. 1—2.

[42] Brih. 4.4. 25; Prasna 4. 10; Svet. 1.7.

[43] He, verily, who knows the Supreme Brahma, becomes very Brahma. In his family, no one ignorant of Brahma arises. He crosses over sorrow. He crosses over sin. Liberated from the knots of the heart, he becomes immortal (Mundaka 3.2.9.)

[44] Dans cette infinie Roue de Brahma, demeure de tous les êtres, erre le Hamsa, s’imaginant que le Soi et l’Ordonnateur sont différents.

Svet. 1.6. Annie Besant, La Sagesse des Upanishads, p. 74.

[45] Ngũ quan.

[46] As fire, of fuel destitude,

Becomes extinct in its own source,

So thought by loss of activeness,

Becomes extinct in its own source.

Becomes extinct in its own source,

Because the Mind the Real seeks!

For one confused by things of sense,

There follow action’s false controls.

Samsara is just one’s own thought,

With effort he should cleanse it, then.

What is one’s thought, that he becomes;

This is the eternal mystery.

For by tranquillity (prasada) of thought,

Deeds (Karman), good and evil, one destroys.

With soul serene, stayed on the Soul,

Delight eternal one enjoys!

Maitri 6. 34.

[47] As firmly as the thought of man,

Is fixed within the realm of sense –

If thus on Brahma it were fixed,

Who would not be released from bond?

The mind is said to be twofold:

The pure and also the impure;

Impure —by union with desire;

Pure —from desire completely free!

By making mind all motionless,

From sloth and from distraction freed,

When upon mindlessness one comes,

Then that is the supreme estate !

So long the mind should be confined,

Till in the heart its meets its end.

That is both knowledge and release!

All else is vut a string of world!

With mind’s stains washed away by concentration,

What may his joy be who has enter Atman –

Impossible to picture then in language!

Oneself must grap it with the inner organ.

In water, water; fire in fire;

In air, air one could not discern.

So he whose mind has entered in –

Released is he from everything!

The mind, in truth, is for mankind

The means of bondage and release:

For bondage, if to objects bound;

From object free – that’s called release!

Maitri Up. 6.34.

[48] Elle pose, en principe, que chaque individu participe au Brahman et par conséquent, possède l’Absolu en lui même. Elle révèle à chaque conscience que le grand Dieu cosmique, par lequel furent comme éclipsés les Dieux du Véda, lui est consubtantiel et identique. Tat Tvam Asi “Cet Absolu, tu l’es!”

P. Marson Oursel, L’Inde Antique et la Civilisation Indienne, p. 138.

[49] Les Upanishads constituent un ensemble de considérations philosophiques au sujet de l’Atman, au concept du Moi, ou encore “réalité de la réalité” selon la définition ésotérique de l’Atharva Veda.

Disons, pour être clair, que “l’Atman” désigne le terme suprême d’une métaphysique recherchant Dieu dans l’homme et finissant par l’y trouver.

Occultisme et Magie en Extrême—Orient, Louis Chochod p. 102.

[50] These bodies of the embodied One, who is eternal, indestructible, and immeasurable are known as finite.

Second Discourse, p. 19. Bản dịch của Annie Besant.

[51] He is not born, nor doth he die, not having been ceased, He any more to be, unborn, perpetual, eternal, ancient, he is not slain, when the body is slaughtered.

Second Discourse, p. 20

[52] Unmanifest, unthinkable, immutable, he is called; therefore, knowing Him as such, thou should not grieve.

Second Discourse, p. 25.

[53] Perform action, O Dhananjaya, dwelling in union with the divine, renouncing attachments and balanced evenly in success and failure; equilibrium is called Yoga.

Second Discourse, p. 48

[54] The sages, united with the Pure Reason, renounce the fruit which action yieldeth , and liberated from the bonds of birth, they go to the blissful seat.

Second Discourse, p. 51.

[55] When thy mind, bewildered by the Scriptures shall stand immovable, fixed in contemplation, then shalt thou attain into Yoga (To union with Atman, the Self: Yoga implies with the divine will)

Second discourse, p. 53, bản dịch của Annie Besant.

At present, your intellect is bewildered by conflicting interpretations of the Scriptures. When it can rest, steady you will reach union with Atman.

Bản dịch của Swami Prabhavananda. cf. The song of God: Bhagavad Gita —A Mentor Book, p. 41.

[56] When a man abandoneth , O Partha, all the desires of the heart and is satisfied in the Self by the Self, then he is called stable in mind.

Second Discourse, p. 55

He whose mind is free from anxiety amid pain, indifferent amid pleasures, loosed from passion, fear and anger, is called a Sage of stable mind.

Second Discourse, p. 56.

[57] Who so forsaketh all desires and goeth onwards free from yearnings, selfless and without egoism, he goes to Peace.

This is the Eternal State, o son of Prita. Having attained thereto, none is bewildered. Who, even at the death hour is established therein, he goeth to the Nirvana of the Eternal.

Second Discourse, p. 71—72.

[58] The Yogi, ever united with the Self, with the mind controlled, goeth to Peace, to the Supreme Bliss, that abideth in Me.

Sixth Discourse, p. 15.

[59] If thinking Thee but friend, importunate,

O Krishna! Or O Yadava! O friend,

I cried, unknowing of Thy majesty,

And careless in the fondness of my love.

If jesting I irreverence showed to Thee,

At play, reposing, sitting or at meals,

Alone, O sinless One, or with my friends,

Forgive me my error, O Thou, boundless One.

Father of worlds, of all that moves and stands,

Worthier of reverence than the Guru’s self,

There is none like Thee, who passed Thee?

Pre—eminent Thy power in all the world,

Therefore I fall before Thee, with my body

I worship as it fitting; bless Thou me,

As Father with the Son, as friend with friend,

With the Beloved as lover, bear with me.

Eleventh Discourse , 41, 42, 43, 44. Trích trong The Bhagavad Gita or Lord’s Song with the text in Devanagari, and an English translation.

——————————-

****************       

CHƯƠNG VI

LÃO GIÁO

ĐẠO ĐỨC CHÂN THUYÊN

***

ĐẠO ĐỨC LÀ GÌ?

Muốn học Đạo Lão, trước hết phải hiểu hai chữ Đạo Đức.

A. ĐẠO.

Đạo chính là Tuyệt Đối Thể, là Bản Thể thường hằng đã sinh xuất ra vũ trụ, vạn hữu, và luôn tiềm ẩn trong đáy lòng vạn hữu.

Vì là Tuyệt Đối Thể, nên Đạo không thể bàn cãi được. không thể danh xưng được. Tất cả mọi nghị luận về Đạo, tất cả mọi danh xưng về Đạo, vì nằm trong hình, danh, sắc, tướng, nên đều cưỡng ép, bất xứng, chỉ có thể cho ta thấy ít nhiều khía cạnh của Đạo.

—Đạo chính là nguồn gốc sinh xuất Vũ Trụ, quần sinh.

—Đạo có thể ở vào một trong hai trạng thái sau đây:

—a. Tĩnh tức là trạng thái chưa hiển dương, chưa sinh xuất ra vũ trụ, quần sinh (Tiên Thiên, Vô Vi, Diệu).

—b. Động, tức là trạng thái đã hiển dương, đã sinh xuất vũ trụ (Hậu Thiên, Hữu Vi, Kiếu).

Chưa hiển dương thì hết sức minh linh, ảo diệu.

Đã hiển dương thời có công trình vân vi, hình thanh, danh sắc, độ số.

Nhưng Đạo, dầu chưa hay đã hiển dương, cũng vẫn chỉ là một Thực thể siêu vi, duy nhất. Danh hiệu tuy khác, nhưng thực thể vẫn một.

Đạo thể siêu vi ấy chính là Cửa Thiêng sinh xuất mọi nguồn huyền vi, áo diệu trong hoàn võ.

Những tư tưởng then chốt trên đã được trình bày nơi Chương I, Đạo Đức Kinh, như sau:

Đạo khả Đạo phi thường Đạo
 道 可 道 非 常 道

Danh khả danh phi thường danh
 名 可 名 非 常 名

Vô danh thiên địa chi thủy
 無 名 天 地 之 始

Hưũ danh vạn vật chi mẫu
 有 名 萬 物 之 母

Thường vô dục dĩ quan kỳ Diệu
 常 無 欲 以 觀 其 妙

Thường hữu dục dĩ quan kỳ Kiếu
 常 有 欲 以 其 徼

Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh
 此 兩 者 同 出 而異 名

Đồng vị chi huyền
 同 謂 之 玄

Huyền chi hựu huyền
 玄 之 又 玄

Chúng diệu chi môn
 眾 妙 之 門

Dịch:

Hoá Công hồ dễ đặt tên,

Khuôn Thiêng hồ dễ mà đem luận bàn.

Không tên, sáng tạo thế gian,

Có tên, là mẹ muôn ngàn thụ sinh.

Tịch nhiên cho thấy uy linh,

Hiển dương cho thấy công trình vân vi.

Hai phương diện một hóa nhi,

Huyền linh khôn xiết, huyền vi khôn lường,

Ấy là chúng diệu chi môn,

Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi.

*Lưu Tư, tác giả cuốn Bạch Thoại Dịch Giải Lão Tử, có toát lược và phân loại các lời bình luận của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh như sau:

1. Khi gọi tên Đạo, Lão Tử dùng những chữ:

— Đạo (chương 1, 4, 21, 24 v.v…)

— Nhất (chương 10, 22).

— Cốc Thần (chương 6).

— Huyền Tẫn (chương 6).

2. Khi mô tả hình dáng của Đạo, Lão Tử nói:

—Hoảng hề, hốt hề (chương 21)

—Ảo hề, minh hề (chương 21)

—Vô trạng chi trạng (chương 14)

—Thị chi bất khả kiến (chương 14)

—Thính chi bất khả văn (chương 14)

—Bác chi bất khả đắc (chương 14)

—Nghinh chi bất kiến kỳ thủ (chương 14)

—Tùy chi bất kiến kỳ hậu (chương 14)

3. Khi mô tả đến gốc Đạo, Lão tử nói:

—Đế tượng chi tiên (chương 5)

—Tiên Thiên Địa sinh (chương 25).

4. Khi đề cập đến sự vận hành của Đạo, Lão Tử nói:

—Độc lập nhi bất cải (chương 25)

—Chu hành nhi bất đãi (chương 25)

—Kỳ thượng bất kiểu (chương 14)

—Kỳ hạ bất muội (chương 14)

5. Khi nói về cái dụng của Đạo, Lão tử viết:

—Uyên hề tự vạn vật chi tông (chương 14)

—Dĩ duyệt chúng phủ (chương 21)

—Hầu vương nhược năng thủ chi, vạn vật tương tự tân (chương 32)

—Vạn vật đặc chi nhi sinh (chương 34)

—Đạo thường vô vi nhi vô bất vi (chương 3)

—Thiên đắc Nhất dĩ thanh, thần đắc Nhất dĩ linh, Cốc đắc Nhất dĩ doanh, địa đắc Nhất dĩ ninh, hầu vương đắc Nhất nhi thiên hạ trinh. (chương 39)

—Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. (chương 42)

* Chữ Đạo theo từ nguyên:

Có rất nhiều sách đã phân tích, tìm hiểu chữ Đạo, ví dụ:

—Tu Chân tiệp kính, nơi tr. 1a.

—Tu chân bất tử phương, nôi tr. 12.

—Tiên học từ điển, tr. 150 v.v…

Đại khái ta thấy rằng: Chữ Đạo 道 gồm 2 phần chính:

—Một chữ Thủ 首 (đầu)

—Một chữ Sước (Khi đi, khi ngừng)

*Chữ Thủ gồm:

a. 2 nét trái phải: tượng trưng cho Âm Dương.

b. Chữ Nhất tượng trưng cho Thái Cực.

c. Chữ Tự 自 (mình). Ý nói Thái cực bao quát Âm Dương ấy, đã sẵn có nơi mình.

Tất cả hợp thành chữ Thủ. Ý nói: Thái Cực hay Đạo đã tiềm ẩn ngay trong đầu não ta.

Sách Tu Chân Tiệp Cảnh viết: Đầu là nơi tối cao trong con người, thống toàn thân Dương khí. Khí Dương nơi người đều hội tụ nơi đó, y như vị Nguyên thủ quốc gia, tôn trưởng trong nhà. Đã thế, trong đầu còn tàng ẩn một Huyền Khiếu. Đạo từ Hư Vô mà sinh ra Hữu cũng bắt đầu từ đó. Từ Hữu phản về Hư, cũng không thể bỏ khiếu đó mà cầu nơi đâu xa lạ. [1]

—Chữ Sước gồm chữ Sách hay Khuể là nửa bước, là bước đi và chữ Chỉ là ngừng lại.

Ý nói: Đã hiểu Đạo thời phải hành trì, phải xử sự cho thuận tự nhiên, khi đáng làm, thời làm, khi đáng nghỉ, thời nghỉ.

René Guénon giải rằng: Đạo vì gồm chữ Thủ và chữ Sước, tức là Đầu và Chân, nên tượng trưng cho cả Thuỷ lẫn Chung. [2]

* Dựa vào Từ Nguyên của chữ Đạo, ta có thể vịnh chữ Đạo như sau: —

Nhất thể hoành không, thống vạn thù
 一 體 橫 空 統 萬 殊

Bao quát Âm Dương, quán Thái Hư
 包 括 陰 陽 貫 太 虛

Ẩn tại hình sơn, đầu não lý
 隱 在 形 山 頭 腦 裡

Giáo nhân hành chỉ hợp nguyên sơ
 教 人 行 止 合 元 初

Các tác giả Âu Châu đã dịch chữ Đạo là Voie (Đường) là Principe (Nguyên thủ) v.v…

Gần đây Đạo Thiên Chúa cũng dùng chữ Đạo để dịch chữ Logos, tức Ngôi Hai Thiên Chúa. Ví dụ: Nơi chương Nhất thánh John ta đọc: Thái Sơ hữu Đạo, Đạo dữ Thần (Thượng Đế) đồng tại, Đạo tức thị Thần (Thượng Đế). [3]

Ít Nhiều danh xưng tương ứng với chữ Đạo.

Chữ Đạo có nhiều danh từ tương đương:

a. Tiên Thiên.

Đạo, Vô Cực, Hư, Hư Vô, Hộng Mông, Hỗn Độn, Khí, Tiên Thiên chi khí.

b. Hậu Thiên.

1. Khởi Thuỷ:

Đạo, Thái Cực, Nhất, Thái Hoà, Nguyên Khí, Hạo Nhiên Chi Khí, Tổ Khí, Tổ Khiếu, Huyền Tẫn Môn, Huyền Quan Khiếu, Cốc Thần.

2. Trung cuộc Biến Hoá Tuần Hoàn.

Lúc ấy, Đạo hay Thái Cực ẩn tàng trong lòng sâu vạn hữu, để làm căn cơ, chủ chốt.

Huỳnh Nguyên Kiết viết: Thiên Địa vị phân, Thái Cực tại thiên chi thuỷ. Thiên địa ký phân, Thái Cực tại Thiên Địa chi trung. [4]

Đạo, Trung, Thiên Địa chi trung, Thiên Khu,[5] Căn Nguyên, Căn Cơ, Căn Bản, Thần, Trung Hoàng cung, Huỳnh Bà Xá, Qui Trung, Viên Trung, Mậu kỷ Môn, Huyền Tẫn Môn, Chủ Nhân Ông, Tử Đơn, Xích Thành Đồng tử, Nê Hoàn Phu Nhân.

Tuy lồng trong giữa mọi biến thiên, nhưng tính chất của Đạo lúc ấy vẫn là Hư Cực Tĩnh Đốc, Bất biến.

3. Chung Cuộc.

Đạo, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan, Đơn. [6]

****************       

B. ĐỨC: —

Nếu Đạo là Bản Thể, là Căn Nguyên thì Đức là sự hiển dương của Đạo, là mọi Hiện Tượng trong trời đất này. Nó bao gồm:

—Vạn hữu.

—Mọi sự biến thiên trong trời đất, nhân quần.

Wieger, nơi trương 14 Đạo Đức Kinh chú giải chữ Đức như sau:

Đạo tán vi Đức
 道 散 為 德

Đức giả, Đạo chi kỷ dã.
 德 者 道 之 紀 也

(Đạo tán ra thành Đức, nếu Đạo như cuộn tơ, thì Đức như là cuộn tơ xổ lần ra, và cuộn dần lại.)

*Sự Xổ lần cuộn tơ Tạo Hoá đó, Âu Châu gọi là: Developpement, Evolution, Catabase, Déroulement, Enwichtlung.

Trang Tử gọi đó là Xuất Cơ: Sự tiến ra Hữu Hình (Sortie dans le Manifesté).

Trung Dung gọi là: Phóng chi tắc di lục hạp (Tung ra tản mạn khắp muôn phương Trời).

Sự Cuộn dần cuộn tơ Tạo Hoá đó, Âu châu gọi là: Enveloppement, Enroulement, Involution, Anabase,

Trang Tử gọi đó là Nhập Cơ (Rentrée dans le non—manifesté).

Trung Dung gọi đó là: Quyển chi tắc thoái tàng ư mật (Thu cuốn lại, dấu nơi ẩn áo).

*Đạo Đức Kinh đã dùng 2 chữ Thượng Đức để mô tả vị Chân Nhân đạt Đạo. (Đạo Đức Kinh, chương 38).

Điều đó hợp lý, vì người đạt Đạo, là người có được Đạo hiển linh trong tâm hồn mình, và biết dùng đời mình để làm hiển dương Chân, Thiện, Mỹ của Đạo.

ĐẠO và ĐỨC

1. Tóm lại, Đạo là Căn Nguyên sinh xuất vũ trụ.

2. Khi chưa có vũ trụ thời chỉ có Đạo. Lúc ấy, Đạo ở thể tĩnh, thể tiềm ẩn.

3. Khi đã có trời đất, thì Đạo ẩn tàng trong lòng sâu vạn hữu và hiển dương bằng Đức.

Đức bao quát mọi biến hoá, cho nên Đức là quyền năng vô biên của Đạo. Thấy được Đạo và sự biến hoá vô biên của Đạo là thấy được cả 2 bề động tĩnh của đất trời. Đạo Lão gọi thế là Diệu Khiếu Tề Quan.

René Guénon, trong quyển Le Symbolisme de la Croix, nơi chương VII: La Révolution des Oppositions, đã bình luận hết sức là sâu sắc, xác đáng về 2 chữ Đạo Đức. Nên tham khảo.

* Mấy câu sách nên ghi nhớ.

1. Dữ Đạo vi thể, siêu xuất thiên địa. [7]

2. Chân Nhân khế Đạo, cố viết chí nhân. [8]

Sách Thái Thượng Bảo Phiệt chép:

Văn Đạo Tử một hôm gặp một Đạo sĩ, liền mời vào nhà đãi đằng, xong mới hỏi đâu là Huyền Môn Diệu Chỉ. Đạo sĩ đáp:

心 即 是 道, 道 即 是 心。 心 與 道 離, 則 入 六 道 三 途, 心 與 道 合, 則 造 蓬 來 三 島。

Tâm tức thị Đạo, Đạo tức thị Tâm. Tâm dữ Đạo ly, tắc tạo Lục Đạo Tam Đồ. Tâm dữ Đạo hợp tắc tạo Bồng Lai, Tam Đảo.

Tâm là Đạo, Đạo là Tâm,

Bỏ Tâm tìm Đạo, hỏi tầm đâu ra.

Tâm kia và Đạo lìa xa,

Thì là Lục Đạo, Tam Đồ chẳng sai.

Tâm kia mà hợp Đạo Trời,

Bồng Lai, Tam Đảo tức thời hiện ra.9

Những câu vắn tắt trên có tính cách thức tỉnh con người, ta nên học thuộc.

*Người xưa nói:

Nhất ngôn, bán cú tiện thông huyền
 一 言 半 句 便 通 玄

Hà Dụng đơn kinh, thiên vạn biên
 何 用 丹 經 千 萬 編

Thông Huyền một chữ cũng Thông,

Đơn kinh lọ phải thuộc lòng ngàn pho. [9]

 ***

Chương này có mục đích giúp chúng ta nhận ra được Thiên Căn, Đạo Cốt trong ta, giúp ta sống đời đạo đức, trở nên vẻ sáng của Trời, sự hiển dương của Đạo.

Nó cũng cho ta thấy rằng: Sống phải phối kết với Trời, “dữ Đạo hợp chân”. Đó mới chính là nguyện vọng của các đạo gia chân chính.

*HẾT CHƯƠNG 6
—————————————-

CHÚ THÍCH

[1] Thủ cư nhân thể tối cao địa vị, thống toàn thân chi Dương nhi hội tụ chi, do quốc chi nguyên thủ, gia chi tôn trưởng. Cánh dĩ kỳ trung, ẩn tàng Huyền Khiếu. Đạo tự Hư Vô nhi hữu, thực thuỷ ư thử xứ. Do Hữu hoàn Vô, bất năng xả thử nhi tha cầu dã…

Tu Chân Tiệp Cảnh, tr. 1a, 1b.

[2] Le mot Tao, littéralement “Voie” qui désigne le Principe. est représenté par un caractère idéographique qui réunit les signes de la tête et des pieds, ce qui équivaut au symbole de l’’Alpha et de l’Oméga dans les traditions occidentales.

René Guénon, Le Symbolisme de la Croix, 3ème Édition, Véga, Paris, 1957, p. 50, note 10.

[3] Tân Ước Toàn Thư, Thánh Thư Công Hội Hương Cảng ấn hành.

[4] Huỳnh Nguyên Kiết, Lạc Dục Đường Ngữ Lục, tr. 50.

[5] Hiện Đại Đạo gia tu luyện bảo điển, tr. 113.

[6] Nguyễn Văn Thọ, Thái Cực Luận, tr. 217—258.

[7] 與 道 為 體, 超 出 天 地

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 6a.

[8] 真 人 契 道, 故 曰 至 人。

Động Huyền Linh Bảo Tất Pháp, tr. 2b.

[9] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 9.

****************       

CHƯƠNG VII

VŨ TRỤ THÁM VI.

TÌM HIỂU HUYỀN CƠ VŨ TRỤ

Người xưa chỉ dùng Thần (tuệ giác = illumination, intuition). Trí (raisonnement), Giác quan để quan sát, suy tư và trực giác về vũ trụ, để tìm cho ra những điều vi ẩn của doanh hoàn.

Lão giáo cũng như các Đạo khác ở Đông Phương xác tín rằng có một Thượng Đế Tuyệt Đối, một Bản Thể Duy Nhất, uyên nguyên, vô hình, vô ảnh, nhưng lại linh động, biến hoá vô cùng, đã sinh xuất ra vũ trụ hiện tượng hữu hình, hữu tướng này. Đó là Thuyết Thiên Địa Vạn Vật đồng nhất thể.

Bản Thể vô sinh, vô diệt, vô thuỷ, vô chung này, đạo Lão đã hài danh bằng nhiều danh hiệu, như nơi Chương IX, ta đã nói rõ điều đó, khi bàn đến danh từ Đạo.

* Đại khái là:

a. Khi chưa có Trời Đất, thì Đạo hay Bản Thể tuyệt đối còn ở trong thế tiềm ẩn, chưa hiển dương, nên được gọi bằng những danh từ như: Hư Vô, Hư Không, Hồng Mông, Hỗn Độn, Vô Cực, Vô Vi, hoặc được tượng trưng bằng con số 1, hay bằng vòng tròn không có tâm điểm. Tất cả đều nói lên sự viên dung, toàn mãn, hoàn hảo, đồng đẳng tuyệt đối, không tịch tuyệt đối, hư tĩnh tuyệt đối.

b. Khi bắt đầu hiển dương, thì gọi là Đạo, là Thái Cực, là Tổ Khiếu, là Cốc Thần, là Huyền Quan Khiếu, hay Huyền Tẫn chi môn, là 5, là 15, và được tượng trưng bằng vòng tròn có chấm ở giữa, hay bằng đồ hình Thái Cực mà ta vẫn thường thấy.

c. Khi đã có Trời đất, thì Bản Thể ấy tiềm ẩn dưới các lớp lang hiện tượng, và được gọi là Trung, là Đạo, là Tổ Khiếu, là Cốc Thần v.v… hay được tượng trưng bằng vòng Dịch với:

—Thái Cực ở giữa, tượng trưng cho Bản Thể duy nhất.

—Các hào quải bên ngoài tượng trưng cho vạn hữu, vạn tượng luân lưu biến hoá.

Ta vẽ lại, trình bày lại 3 quan điểm trên thành sơ đồ sau:

—Tiên Thiên (Chưa hiển dương)
Đạo, Nhất, Hỗn Độn, Hư Vô, Hồng Mông, Thường, Hằng, Căn Nguyên,
Vô vi, Tiên Thiên, Trường Sinh, Bất tử.

—Thuỷ-Chung Tổ Khiếu.
Đạo, Thái Cực, Huyền Tẫn, Huyền
Quan, Qui Căn
Khiếu, Phục Mệnh Quan

—Hậu Thiên (Đã hiển dương)
Vạn Hữu, Vạn Tượng, Dị Biệt, Tạp
Thù, Biến thiên, Ảo hoá, Lưu Mạt, Hũu Vi, Hậu Thiên, Sinh Diệt, Phù Sinh

—Nhờ những đồ hình và những quan niệm khái quát trên, ta hiểu được một điều rất trọng đại này là:

Vũ Trụ hữu hình này sở dĩ có là do sự phóng phát, tán phân của một thực thể duy nhất (Émanation).

Thuyết Phóng Phát của hiền, thánh muôn phương khác với Thuyết Tạo Dựng của các Đạo Giáo Công Truyền Tây Phương (Công Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo) như sau:

(a)Thuyết Phóng Phát (Emanation)

(b)Thuyết Sáng Tạo (Creationism).

(a)1. Vũ Trụ Hữu Hình này là những phân thể của một Toàn Thể.
(b)1. Vũ trụ Hữu Hình này là do quyền năng của Thượng Đế sáng tạo từ không

(a)2. Vạn hữu đồng căn, dị dạng, nhất thể vạn thù.
(b)2. Vạn hữu nhất nhất đều có bản thể riêng biệt.

(a)3. Thượng Đế tiềm ẩn trong lòng sâu vạn hữu (Immanent)
(b)3. Thượng Đế siêu việt, tách rời khỏi vạn hữu. (Transcendent).

(a)4. Chung cuộc là Hoà Hài, Hợp Nhất, Siêu Thăng, Hoà Giải.
(b)4. Chung cuộc là Tan vỡ, kinh hoàng, là Tận Thế.

(a)5. Lịch sử vũ trụ chuyển hoá 2 chiều, vãng lai, thuận nghịch, phản phục, thành một chu kỳ.
(b)5. Lịch sử vũ trụ và con người chuyển biến một chiều, theo đường thẳng.

Dựa vào Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể của Lão Giáo, ta suy ra:

1. Vạn Hữu đồng căn, dị mạt.

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể. (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 6a).

Người xưa cũng nói:

Thiên, Nhân nhất Lý. 天 人 一 理

Ngã Vật đồng nguyên. [1] 我 物 同 原

****************       

2.Vạn vật hữu hình biến hoá có chu kỳ, theo 2 chiều tán tụ.

—Chiều Tán:

Chiều phân hoá, giáng bản, qui mạt (Đi từ gốc tới ngọn).

Chiều giáng (từ Căn Nguyên Thái Cực xuống vạn vật, quần sinh, hào quái), chiều đi ra (từ nội tâm ra ngoại cảnh), chiều thuận (thuận theo dòng đời, thuận theo dục vọng), chiều ly tâm (từ hợp nhất ra phát tán chi ly).

—Chiều Tụ:

Chiều hoà hợp, qui nguyên, phản bản, thăng, lai, nghịch, hướng tâm.

Hai chiều biến hoá thuận nghịch nói trên là 2 chiều biến hoá từ vô tướng ra hữu tướng, rồi lại từ hữu tướng trở về vô tướng.

Đạo đức Kinh và Kinh Dịch đều đề cao chiều Nghịch hay chiều Phục.

Dịch Kinh viết: Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch. Thị cố Dịch nghịch số dã.[2]

Dịch:

Tìm ra quá vãng là thường,

Tương lai tiên đoán rõ ràng mới cao.

Dịch kinh có số ngược chiều,

Ngược chiều thời thế khinh phiêu về nguồn.

*Đạo Đức Kinh nơi chương 16 viết:

“Phù vật vân vân, các qui kỳ căn, qui căn viết tĩnh, phục mệnh viết trường.”

Dịch:

Muôn loài sinh hoá đa đoan,

Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên,

Hoàn bản nguyên, an nhiên phục mệnh,

Phục mệnh rồi, trường vĩnh vô cùng.

Chương 29 viết:

“Thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.”

Chương 14 viết:

“Phục qui ư vô cực.”

Sách Linh Bảo Tất Pháp cũng bàn về lẽ vãng phản như sau:

Tự Đạo phân chia số mới thành,

Ngũ hành hình tượng, Đạo nha manh.

Năm phương vũ trụ, Thần phân liệt,

Chất, sắc năm màu, Đạo tán sinh.

Số từ Vô Số xuất sinh,

Trở về Vô Số mới thành vãng lai.

Tượng từ Vô Tượng an bài,

Trở về Vô Tượng, trong ngoài ấm êm.

Vị hoàn Vô Vị mới nên,

Chất hoàn vô chất, tinh tuyền trước sau.

Chớ chia Đạo Thể nhiệm màu,

Số kia bám víu vào đâu sinh thành?

Muốn trừ cho hết Tượng Hình,

Ngừng cơ biến hoá, mối manh tiêu liền.

Vị ngôi muốn hết dưới trên,

Thời đừng phân biệt Bản Nguyên làm gì.

Đạo không phát tán, chia ly,

Thời thôi vật chất biến đi từ đời.

Đạo là Vô Số, Vô Ngôi,

Vô hình, vô chất, chia phôi nhẽ nào?

Đạo Trời vi diệu xiết bao? [3]

3. Vạn hữu vì là sự hiển dương của Đạo, của Bản Thể tuyệt đối, nên rất có giá trị.

4. Vạn hữu vì là phân thể của một đại thể, nên không có vật nào, người nào toàn mãn, mà phải dựa vào nhau, cái nọ bổ sung lẫn cái kia.

5. Mọi sự thay đổi trong vũ trụ đều có ảnh hưởng chẳng ít, thì nhiều, đến chung quanh.

Liệt tử đã viết trong Xung Hư Chân Kinh, chương 3, đoạn C:

“Nhất thể chi doanh hư, tiêu tức giai thông ư Thiên Địa, ứng ư vạn loại”:

一 體 之 盈 虛 消 息 皆 通 於 天 地, 應 於 萬 類。

Dịch:

Mỗi một sự thay đổi, đầy vơi, tăng giảm nơi sự vật, đều thông với trời đất, ứng với muôn vật.

Người xưa còn nói:

 Lạc hồng bất thị vô tình vật, 落 紅 不 是 無 情 物

 Hoá tác xuân nê, cánh bộ hoa 化 作 春 泥 更 哺 花

Dịch:

Hồng rơi chẳng phải vô tình,

Hoá thành bùn lại nuôi cành hoa xuân[4]

Nếu ta đồng ý dùng hình tròn để tượng trưng cho Bản Thể và Hiện Tượng, ta sẽ thấy vũ trụ này gồm 2 phần:

a. Một Thế giới của Bản Thể, của Thực Thể, lý tưởng, siêu việt, thế giới của Chân, Thiện, Mỹ, vĩnh cửu, trường tồn. Đó là thế giới khinh thanh, bao la và đồng đẳng, vô phân biệt. Đạo Lão gọi đó là Đạo, là Tiên Thiên, là Vô Vi, là Hư, là Diệu.

b. Một Thế giới của Hiện Tượng, của giác quan, của Biến Thiên, của những gì phù du, biến ảo, những gì trọng trọc, những gì chất chưởng, những gì hữu hạn, những gì bị chi phối bởi sự duyên. Đạo Lão gọi đó là Hậu Thiên, là Hữu Vi, là Kiếu.

Người học Đạo, hiểu Đạo phải biết nhìn thấy cả hai mặt Biến, Hằng, Hữu Hạn và Vô Hạn, của một Bản Thể, một Thực Thể duy nhất. Có vậy, mới gọi được là Diệu, Kiếu Tề Quan.

Người học Đạo cũng còn phải biết nhìn thấy Đạo Thể vô biên tế xuyên qua các lớp lang hiện tượng, các bức màn hình, thanh, niệm, dục.

Ta cũng nên minh định thêm rằng: Bản Thể siêu việt sinh xuất ra vũ trụ hữu hình này, khi thì được Đạo Lão coi như là:

a. Vô Ngã, và hài danh bằng những danh từ như Đạo, Hư, Hư Vô, Vô Cực, Đơn, Tiên Thiên Nhất Khí, Thái Hoà Nguyên Khí, Hạo Nhiên chi khí.

Lão Tử, Trang Tử theo chủ trương này. Đó cũng chính là chủ trương của Phật, của các đại hiền triết Hi Lạp cổ thời như Pythagore, Héraclite, Parménide, Platon, Anaximandre v.v… [5]

Đó là quan niệm Nhất Nguyên Vô Ngã theo danh từ Triết Học ngày nay.

b. Cũng Nhất Thể ấy, khi thì được Đạo Lão coi như là Hữu Ngã, và được gọi là Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đó là Quan Niệm Nhất Nguyên Hữu Ngã, tương đương với quan niệm Đại Nhật Như Lai, trong Phật Giáo, và Thượng Đế trong các đạo giáo.

c. Đạo Lão còn có khi dung thông hai quan niệm trên làm một, và gọi Bản Thể Vũ Trụ là Tiên Thiên Nhất Khí, Thái Thượng Lão Quân. [6]

Dù đứng trên lập trường vô ngã hay hữu ngã mà nhìn vào Nhất Thể, dù gọi Nhất Thể đó là Khí, là Thể, là Thần, là Lão, là Thiên, khái niệm cơ bản vẫn là Nhất Thể đó linh minh, huyền diệu, có khả năng biến hoá, sinh xuất, biến hoá ra vạn sự, vạn hình.

Nhất Thể đó có thể hoá thành Tam Thể, Vạn Thể.

Nhất Khí đó có thể hoá thành Tam Khí, Vạn Khí.

Nhất Thần đó có thể hoá thành Tam Thần, Vạn Thần.

Nhất Lão đó có thể biến thành Tam Lão, Vạn Lão.

Nhất Thiên đó có thể biến thành Tam Thiên, Vạn Thiên.

*Thế tức là: Hiểu lẽ Một, sẽ hiểu được căn cơ, gốc gác muôn loài, muôn vật, và có thể đi đến một kết luận hết sức là Triết Học và Khoa Học sau đây: “Thiên Địa, vạn vật nhất tính, đồng thể.” (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 6a).

Suy ngược lại, ta sẽ có:

—Nếu Nhất Thần sinh Chúng Thần, thì Chúng Thần sẽ qui về Nhất Thần.

—Nếu Nhất Khí hoá Vạn Khí, thì Vạn Khí sẽ qui về Nhất Khí.

—Nếu trong con người có chúng Thần, thì cũng có Nguyên Thần, có Nhất Thần.

—Nếu trong con người có Vạn Khí, Ngũ Khí, Tam Khí, thì ắt cũng có Chân Nguyên Nhất Khí, hay Nguyên Khí.

Vì hiểu lẽ Một của Trời Đất cho nên người Đạo Sĩ sẽ:

—Chọn cái Tinh Hoa, bỏ cái Bác Tạp.

—Chọn cái Giản Dị, bỏ cái Tần Phiền.

—Chọn cái Chân Tâm, Đạo Tâm, mà bỏ cái Thất Tình, Lục Dục, Âm Dương đối đãi.

Vì hiểu lẽ Một của Trời Đất, nên người Đạo Sĩ biết rằng mình là Tiên Thiên Nhất Khí hoá thân, nghĩa là Đồng Bản Thể với Tối Thượng Thần trong trời đất.

Vì hiểu lẽ Một, nên hiểu rằng Chân Thần trong mình và Chân Thần trong Trời Đất là Một. Mình và Chân Thần trời đất cũng là một. Mình đây chính là Hoá Thân của Chân Thần đó mà mình chẳng biết, chẳng hay.

Thế mới hay:

“Đắc Nhất vạn sự tất” 得一 萬 事 畢。

(Trang Tử, Nam Hoa Kinh, ch. Thiên Địa: Thông Nhất, nhi vạn sự tất.)

Chương này đưa ra 5 vấn đề rất quan trọng:

—Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể. [7]

—Thuyết Vạn Vật tương ứng, tương thừa, tương giao, tương tiếp.

—Thuyết Vạn Vật biến dịch, tuần hoàn.

—Thuyết Phóng Phát, Tán Phân (Emanation and division) thành vũ Trụ.

—Thuyết Thượng Đế ẩn tàng trong lòng sâu vạn hữu (God Immanent.) Có như vậy, Thượng Đế mới ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự.

* (Hết chính văn C.7)

****************       

CHÚ THÍCH

[1] Huỳnh Nguyên Cát, Lạc Dục Đường ngữ lục, q. 4, tr. 6a.

[2] Dịch Kinh, Thuyết quái, chương 3.

數 往 者 順, 知 來 者 逆。 是 故 易 逆 數 也。

[3] Ngọc Thư viết:

Nhất, Tam, Ngũ, Thất, Cửu, Đạo chi phân nhi hữu Số,

Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, Đạo chi biến nhi hữu Tượng.

Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung, Đạo chi liệt, nhi hữu Vị,

Thanh, Bạch, Xích, Hoàng, Hắc, Đạo chi tán nhi hữu Chất.

Số qui ư Vô Số, Tượng phản ư Vô Tượng, Vị chí ư Vô Vị, Chất hoàn ư Vô Chất.

Dục Đạo chi Vô Số, bất phân chi tắc Vô Số hĩ.

Dục Đạo chi Vô Tượng, bất biến chi tắc Vô Tượng hĩ.

Dục Đạo chi Vô Vị, bất liệt chi, tắc Vô Vị hĩ.

Dục Đạo chi Vô Chất, bất tán chi tắc vô chất hĩ.

Vô Số, Đạo chi nguyên dã, Vô Tượng Đạo chi bản dã, Vô Vị Đạo chi chân dã.

Linh Bảo Tất Pháp q. hạ, tr. 12a.

Hai chiều Biến Hoá vãng lai để thành một chu kỳ, chính là một định luật thiên nhiên, chi phối sự biến hoá, tuần hoàn của nhiều chất trong vũ trụ.

Ví dụ Khí biến thành Nước, nước biến trở lại thành Khí.

Ví dụ chu kỳ Azote.

Thiên Văn Học ngày nay bắt đầu công nhận rằng vũ trụ này đang nở ra, khuếch tán ra…và nghĩ rằng trong tương lai xa xăm, vũ trụ này sẽ thu liễm lại, hội tụ lại.

[4] Nguyễn Hữu Lương, Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông Phương, tr. 170.

Trương Kỳ Quân, Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử, q. 2, tr. 135.

[5] Nghiêm Xuân Hồng, Nguyên Tử, Hiện Sinh, và Hư Vô, Đông Phương Xuất Bản, 1969, q. thượng.

[6] Phù Lão Quân giả, Đạo Khí chi tổ, vạn hoá chi tông. Tòng tiên Thiên, tiên địa, không động, Hư Vô trung sinh xuất nhất khí, danh viết Đạo Khí. Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh Cửu, Cửu sinh Vạn. Vạn khí sinh Vạn Thần. Cố trì thánh hiệu viết:”Tiên Thiên nhất khí, Thái Thượng Lão Quân…”

Tử Hà, Huỳnh Đình Nội Cảnh Kinh tường chuù, tr. 2a.

[7] Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

Vũ Trụ này do Nhất Thể phóng phát ra, đã được chứng minh là một học thuyết dành cho các cao nhân, danh phái, còn quần chúng thì tin và Thuyết Tạo Dựng, mà các Đạo giáo Công Truyền Âu Châu như Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo giảng dạy. (Xem trang 11 và 12 chương này.)

Trong tập Khảo Luận về Thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể của tôi, tôi đã chứng minh rằng có nhiều hiền thánh Công Giáo (mystiques) như John of the Cross, Teresa of Avila, và nhiều hiền thánh Do Thái giáo thuộc Mật Tông Kaballah, hay nhiều Hiền Thánh Hồi Giáo thuộc môn phái Sufism (Bạch Y) cũng theo Thuyết Phóng Phát, Tán Phân, và chủ trương Thượng Đế ở trong lòng sâu vạn hữu.

Đây xin trưng thêm 1 tài liệu về một học thuyết của một vị thánh hiền Hồi Giáo mới chết năm 1934: Đó là Ông Cheikh Ben Aliona. Tài liệu này được đăng tải trong Lotus Bleu, Paris, số 39, tr. 89—106, và trong Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, tr. 92.

* Nội dung như sau:

Học Thuyết của Ben Aliona như thế nào?

Aliona chủ trương: Thượng Đế duy nhất và Nhất Thể. Thế giới hữu hình, hữu hạn này chỉ là những màn che “barzakh” làm cho chúng ta không trông thấy thế giới chân thực (Thế giới vô cùng).

Thế giới này do Thượng Đế phóng phát ra, ngược lại với Thánh Thư Hồi giáo Coran. Coran chủ trương thế giới này đã được tạo dựng.

Chủ trương thế giới này được tạo dựng dành cho quần chúng (Focara), còn cái Vi Diệu (Le Sirr= caché), thì chỉ dành cho một số môn đệ hiểu được áo nghĩa (bathen). Thuyết Phóng Phát ăn khớp với Thuyết “Thượng Đế nội tại”. Ai hiểu được Chân Thể mình sẽ biết Thượng đế; ai thăm dò Chân Thể đó sẽ tới gần Thượng Đế). l“Thuyết Thượng Đế nội tại” cũng không loại trừ “Thuyết Thượng Đế siêu việt.”

* Nguyên văn chữ Pháp:

Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un exemple de voiles ”barzakh” nous cachant le monde réel: l’infini), Univers émané de Dieu, à l’inverse du Coran créationiste pour la masse des Focara, croyants ordinaires; le Sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le “Bathen” (le sens occulte), émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance…

* Quyển Histoire du Caodaisme, nơi tr. 91, khi mô tả lại đời sống của Ben Aliona, có những dòng bất hủ sau đây:

“Nhờ ở phái Soufisme (Bạch Y), ông biết được mật giáo của Hồi Giáo, và nhờ mật giáo đó, ông có được khuynh hướng vươn lên tới Đại Đạo (bao quát Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, v.v…) Tất cả những mặc khải trước sau đều bổ sung lẫn nhau, và tất cả đều cùng do một nguồn mặc khải siêu việt:” Các đấng tiên tri, dẫu là vạn người —theo một ngạn ngữ của môn phái Soufisme —cũng chỉ là Một, cũng chỉ là những tia lửa của một thứ lửa duy nhất.

****************       

CHƯƠNG VIII

NHÂN SINH PHÁT DIỆU.

(VI DIỆU CỦA CUỘC ĐỜI)

Từ trước đến nay, người ta thường học con người dưới những khía cạnh phiến diện, đa đoan, nên càng học càng lìa xa Chân, Diện, Mục con người, càng sao lãng cái Tinh Hoa Chí Bảo nơi con người.

Cho nên, muốn học về con người cho thấu đáo, cho có cơ sở triết học, khoa học vững chắc, ta phải dựa vào:

—Thuyết Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể.

—Thuyết Nhất Thể tán vạn thù, vạn thù qui nhất thể.

—Thuyết Đạo nội tại, Thái Cực nội tại, Thượng đế nội tại. [1]

1. Nơi con người có 2 phần Chân, Giả (Biến Hằng).

Trước hết, nếu ta chấp nhận thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể, mà Nhất Thể đó ta đã biết là Đạo, là Thái Cực, là Thượng Đế, thì dĩ nhiên trong ta phải có phần Thiên, có Thái Cực, có Thượng Đế.

Như vậy, nhận định sơ bộ về con người đã cho thấy rằng: Trong ta có 2 phần:

—Một phần vĩnh cửu, bất biến, bất sinh, bất diệt. Đó là phần Thiên.

—Một phần Biến Thiên, ảo hoá. Đó là phần Nhân.

a. Phần vĩnh cửu, bất biến:

Đạo Lão gọi phần Vĩnh Cửu, Bất Biến đó là: Đạo, Cốc Thần, Thái Cực, Thiên, Đạo Tâm, Thiên Tâm, Thiên Địa chi tâm, Chủ Nhân Ông, Đơn v.v…

*Châm Thạch Tử viết:

Thiên Tâm giả, Bản Thể dã, Chủ Nhân Ông dã. 天 心 者 本 體 也, 主 人翁 也。[2]

Vì biết mình có Đạo bất biến, vĩnh cửu ẩn tàng bên trong, nên Trang Tử mới nói:

“Thiên Địa dữ ngã tịnh sinh,
 天 地 與 我 並 生

Nhi vạn vật dữ ngã vi nhất.”
 而 萬 物 與 我 為 一

Dịch:

Ta và Trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật sự tình chẳng hai. [3]

Từ Viên Tiên Sư viết:

Đương thời vị hữu tinh hà đẩu,
 當 時 未 有 星 河 斗

Tiên hữu Ngô, đương hậu hữu thiên.
 先 有 吾 當 後 有 天 [4]

Dịch:

Trước khi Thiên Hán, quần tinh có,

Trước có Ta, sau mới có Trời.

Và:

Ngã thể bản đồng Thiên địa lão,
我 體 本 同 天 地 老

Tu Di sơn đảo, tính do tồn.
須 彌 山 倒 性 猶 存 [5]

Dịch:

Tính ta vốn thọ cùng trời đất,

Tu di sơn đảo, tính do tồn.

b. Phần Biến Thiên, ảo hoá nơi con người:

Gồm Nhục thân (xác) với lục căn (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý), Nhân Tâm (Hồn), với Thất Tình (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục).

Chia con người thành 2 phần biến, hằng như vậy, chẳng những hiểu được tinh hoa Đạo Lão, mà còn hiểu được các Đạo Giáo Á Đông, các Mật giáo Âu Châu.

Âm Phù Kinh viết:

Thiên tính nhân dã,
 天 性 人 也

Nhân Tâm cơ dã.
 人 心 機 也

Lập Thiên chi đạo
 立 天 之 道

Dĩ định nhân dã
 以 定 人 也

Dịch:

Thiên Tính là người,

Nhân Tâm là máy.

Lập ra Thiên Đạo,

Để định con người.

*Sách Tiên Học Tập Cẩm của Cung Tùng Tiên, có đoạn như sau:

“Cái Thân ảo hoá là Nhục Thân (Xác). Cái Tâm ảo hoá là Nhân Tâm.

Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý đều do ảo thân mà ra.

Mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, muốn đều do Nhân Tâm mà ra.

Lục căn (Ảo Thân) mỗi mỗi đều đủ để làm hại sinh mệnh.

Thất tình, vọng niệm (Nhân Tâm) mỗi mỗi đều có thể đưa đến cõi chết.

Còn như cái Thân chân chính đó là Pháp Thân.

Cái Tâm Chân Chính đó là Thiên Tâm.

Ngũ tính nhân duyên (tức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), nơi Pháp Thân đều là những mầm mống giúp ta thành Đạo.

Ngũ Ban chí Bảo (tức là Nguyên Tinh, Nguyên Khí, Nguyên Thần, Nguyên Tánh, Nguyên Tình nơi Thiên Tâm), đều là vật liệu giúp ta luyện đơn.

Đem dùng những chất liệu ấy mà tu luyện, sẽ khởi tử, hoàn sinh, cải lão, hoàn đồng.

Vì con người không biết mình có Pháp Thân và Thiên Tâm, nên Pháp Thân mai một, Ảo Thân dụng sự, Thiên Tâm thoái vị, Nhân Tâm đương quyền.

Thiên Tâm bất cấu, bất tịnh, chí hư, chí linh, cảm nhi toại thông, đó là nơi nương tựa của Tính.” [6]

* Có người hỏi Doãn Chân Nhân về Lý Thái Cực. Chân Nhân đáp:

“Thái Cực là Thiên Tâm nơi ta. Thích Thị gọi là Viên Giác, Đạo gọi là Kim Đơn, Nho gọi là Thái Cực.

Gọi là Vô Cực rồi Thái Cực, có nghĩa là Siêu Việt tuyệt đối. Con người khi chưa bẩm sinh, thoạt kỳ thuỷ có điểm linh quang ấy, để làm chủ hình hài sau này, đó chính là Thái Cực.

Trước khi cha mẹ chưa sinh ra ta, cũng một điểm Thái Cực đó, vì chưa thuộc về hình hài, nên gọi là Vô Cực.

Muốn biết Bản Lai Chân Diện Mục,

Một vầng sáng láng lúc chưa sinh…” [7]

Phàm nhân thì sống phù phiếm, lênh đênh, chìm nổi, trên cái thế giới hiện tượng ấy, chỉ biết những gì là sắc tướng, chỉ thích những gì là phù hoa, chỉ chuộng những gì là phù phiếm bên ngoài, lạc lõng trong muôn sai ngàn biệt, bị ngoại cảnh chi phối, thất tình lục dục đẩy đưa; bị từ ngữ, tư tưởng ám nhãn, manh tâm; thu hẹp con người vô hạn của mình vào trong gông cùm của không gian, thời gian, hình hài, sắc tướng hữu hạn.

Thánh nhân trái lại, xuyên qua được bức màn hiện tượng ấy, vào tới được thế giới Chân Tâm vô biên, vĩnh cửu, thế giới của vĩnh cửu, trường tồn; xuyên qua được tâm thức để vào tới Hư Vô, Chân Thể, đồng đẳng với Thái Hư.

Chính vì vậy mà sách Tham Đồng Khế có câu:

Thánh Nhân tiềm thâm uyên
 聖 人 潛 深 淵

Phù du thủ qui trung
 浮 游 守 規 中。[8]

Dịch:

Chân Nhân sống rất thâm trầm,

Nhởn nhơ, khinh khoát, ôm cầm khuôn thiêng.

* Tính Mệnh Khuê Chỉ có câu:

Ly chủng chủng biên,
 離 種 種 邊

Doãn chấp quyết Trung.
 允 執 厥 中 [9]

Dịch:

Lìa xa hết mọi vòng ngoài,

Trong Tâm giữ vững, chẳng rời tấc gang.

****************       

* Để hiểu rõ con người, ta phân tích như sau:

1.— Thái Cực

*Các tên: —
 Thần
*Tính chất: —
 Tiên Thiên nhất khí Chân, Vô vi, Tính, Vô Dục, Tuyệt đối, Bất sinh, Bất tử.

2.— Âm Dương
*Các tên: —
 Hồn/ Phách
 Khí (Chân Khí)
 Phách (Tinh)
*Tính chất: —
 Vọng, Hữu Vi, Sinh, Tử, Luân Hồi

3.—Tứ Tượng
*Các tên: —
Ngũ Hành
Lục Phủ (Xác)
Ngũ tạng (Xác)
Ngũ Vị
Tinh Hoa ngũ cốc.
*Tính chất: —
 Vọng, Hữu Vi, Sinh, Tử, Luân Hồi

Nhìn vào phân tích trên, ta thấy con người có 3 phần: Thần, Hồn, Xác.

Thần thời Bất biến. Đó là phần Thiên. Đó là Thái Cực trong ta.

Còn Hồn, Xác là phần biến thiên, luân hồi, sinh tử.

Chúng ta hay Lão Tử, hay Trang Tử, Liệt Tử hay chư Tiên trong Đạo Lão, cũng đều có một Thái Cực, một Thần, một Đạo như nhau nơi căn cốt. Mọi người khác nhau là từ ở các tầng lớp biến thiên nơi hồn phách, trí não, lục phủ, ngũ tạng bên ngoài.

Chúng ta khác với Lão Trang, chẳng những vì tâm hồn, thể phách khác nhau, mà còn khác hơn nữa là vì Lão, Trang thời biết trở về khế hợp với Đạo, với Thái Cực nơi tâm, biết:

Phục qui ư Vô Cực. (ĐĐK, tr. 28).

Phối Thiên (ĐĐK, tr. 68).

Hưu hồ Thiên Quân (yên nghỉ trong Trời) (Nam Hoa Kinh, ch. 2, C).

Đắc kỳ hoàn trung (vào được trung điểm doanh hoàn) (Nam Hoa Kinh, ch. 2, C).

Còn chúng ta thì cứ luẩn quẩn nơi các vòng sinh, tử, hiện tượng, ái, ố bên ngoài, vì thế không thoát được sự hấp dẫn của vạn hữu (Attraction Universelle, Attraction électro-magnétique), và vì thế không thể băng mình tới cõi siêu việt được…

* Đã biết trong ta có Đạo, làm sao tìm cho ra, làm sao mà kiểm chứng?

1. Người xưa cho rằng: Muốn tìm cho ra Đạo, ra Thái Cực trong con người, phải trở về Nguyên Thuỷ, Gốc Gác, vì thế nên phải tìm Đạo khi con người thoạt sinh thân, thụ khí.

Tử Dương Ông viết:

Khuyến quân cùng thủ sinh thân xứ.
 勸 君 窮 守 生 身 處

 Lại viết:

Cùng thủ sinh thân thụ khí sơ,
 窮 守 生 身 受 氣 初

Hạo quái thiên cơ câu tiết tận
 皓 怪 天 機 俱 洩 盡.[10]

*Trương Cảnh Hoà có thơ:

Hỗn nguyên nhất khí thị Tiên Thiên:
 混 元 一 氣 是 先 天

Nội diện hư vô, lý tự nhiên.
 內 面 虛 無 理 自 然

Nhược hướng vị sinh tiền kiến đắc,
 若 向 未 生 前 見 得

Minh tri tất thị Đại La Tiên.
 明 知 必 是 太 羅 仙 [11]

Dịch:

Hỗn Nguyên nhất khí ấy Tiên Thiên,

Tịnh tĩnh, hư vô, khớp tự nhiên.

Từ trước sinh ra, tìm mới thấy,

Hiểu thông nhẽ ấy, chính Chân Tiên.

2. Người xưa chỉ thêm rằng khi ta đã sinh ra, thì Đạo ở nơi sinh xuất ra mọi niệm lự. Người xưa gọi thế là “Niệm Đầu Động Xứ”

Trần Nê Hoàn nói: “Niệm đầu động xứ vi Huyền Tẫn”. [12]

3. Dẫu sao, thì Trời, thì Đạo cũng ở trong ta. Trang Tử viết: “Thiên tại nội, Nhân tại ngoại.” [13]

Sách Thượng Phẩm Đơn Pháp Tiết Yếu cũng quyết rằng Đơn, hay Đạo, hay Huyền Quan Khiếu, hay Tổ Khiếu chắc chắn là ở trong ta:

Tại Nhân thân trung
 在 人 身 中

Mạc hướng ngoại cầu.
 莫 向 外 求

và viện dẫn Kim Đơn Tứ Bách Tự của Trương Tứ Dương

Thử khiếu phi phàm khiếu,
 此 竅 非 凡 竅

Càn Khôn cộng hiệp thành
 乾 坤 共 合 成 .[14]

4. Tống tiên sinh trong bài Giải Mê Ca cho biết:

“Đạo đã ở sẵn trong Nê Hoàn nơi óc não con người (Nê Hoàn, Niết Bàn, Tâm):

Đạo bất viễn, tại Nê Hoàn. 道不 遠, 在 泥 丸。[15]

5. Để giản dị hoá, và phổ thông hoá, cách thấy Đạo, thấy Trời, tôi cho rằng: Lương Tâm là Tiếng Trời. Lương Tâm là Đạo, là Trời.

Nghe được tiếng Lương Tâm là nghe được tiếng của Đạo, của Trời, là chứng minh được rằng trong Thân có Đạo, có Trời.

Lương Tâm thời hằng cửu, bất biến, Đông Tây, kim cổ ai cũng như ai, mà chỉ có Thái Cực, có Trời trong ta mới hằng cửu, bất biến, nên chắc chắn Lương Tâm là Thiên Tâm.

Còn Nhân Tâm thời biến thiên, nên chắc chắn đó là Vọng Tâm, là Tư Tâm.

* Đạo Học Từ Điển bình về Lương Tâm như sau:

“Đó là Thiên Tâm chi Tâm, bổn lai chi linh tính. Ai ai cũng đều có đủ, lương tâm nào cũng hoàn mỹ, viên thành. Nho nói: Không nghĩ sái quấy, tức là nhận được tiêu chuẩn hoàn thiện của Lương Tâm. Thích nói: Ly nhất thiết vọng tâm tức kiến Như Lai. Như Lai tức Lương Tâm vậy. Đạo nói: Trừ nhất thiết phiền não, sẽ được tâm thanh tịnh.”

Nói đến Lương Tâm, không thể nào không nhắc tới một danh nho thời Minh là Vương Dương Minh (1472—1528) với Học Thuyết về Lương Tri của Ông. Trong phần phụ lục, sẽ sao lại những bài thơ bất hủ của Ông về Lương Tri, Lương Tâm.

2. Hai chiều Thuận, Nghịch nơi con người.

Nếu ở trong vũ trụ có 2 chiều tiến thoái, thuận nghịch, vãng lai, thì ở nơi con người cũng có 2 chiều tiến thoái thuận, nghịch đó.

Tưởng cũng nên nhắc lại:

Chiều Thuận là chiều từ Bản Thể sinh xuất ra hiện tượng.

Chiều Nghịch là chiều từ Hiện Tượng, vạn hữu quay trở về Bản Thể.

Theo Tính Mệnh Khuê Chỉ thì ở nơi con người, chiều Thuận được phác hoạ như sau:

TÍNH ——> TÂM —> Ý ——> TÌNH ——> VỌNG (Mê Vọng).

Và chiều Nghịch:

VỌNG ——>TÌNH ——> Ý ——> TÂM ——> TÍNH. (Bản Thể). [16]

Nhiều sách khác cho rằng: Chiều Thuận là chiều Thần sinh Khí, Khí sinh Tinh.

Chiều Nghịch là chiều Tinh hoá khí, Khí hoá Thần, Thần hoàn Hư, phục qui Vô Cực.

Cũng nên ghi nhận rằng: trong chiều Thuận thời Thần Tán, Khí Sơ 神 散 氣 疏. Trong chiều Nghịch thì Thần Ngưng. Khí Tụ 神 凝 氣 聚 [17]

Chiều Thuận sinh nhân, sinh vật.

Chiều Nghịch sinh Tiên, sinh Thần, thánh, Phật.

Tiên học từ điển định nghĩa:

Thuận là từ Vô nhập Hữu, Nghịch là từ Hữu nhập Vô, và đưa ra những câu:

Thuận sinh nhân, Nghịch sinh đơn (Trương Tam Phong).

Thuận vi Phàm, Nghịch vi Tiên, chỉ tại trung gian điên đảo điên. (Vô Căn Thụ).

Thuận tắc sinh Phàm, Nghịch tắc sinh thánh.

Thị tắc sinh Nhân, sinh Đơn, lý vô nhị trí dã.

Nói cho rõ hơn, chiều Thuận là chiều hướng ngoại, đi ra ngoại cảnh. Chiều Nghịch là chiều hướng nội, đi vào nội tâm.

—Đi ra ngoại cảnh là đi vào Đời, bất kể ngoại cảnh ấy là đền đài, miếu mạo, Thần, Phật, chi chi đi nữa.

—Đi vào nội tâm, mới là vào Đạo, mới là đi Đạo.

Có vậy mới hiểu được lời đức Thái Thượng:

“Ta từ vô lượng kiếp quan tâm đắc Đạo, và tới được Hư Vô.” [18]

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

“Muốn thoát luân hồi, phải thể hợp với Chí Đạo, muốn thể hợp với Chí Đạo, tất phải quán chiếu Bản Tâm. Muốn quán chiếu Bản Tâm, tất phải nhắm mắt hồi quang, nhìn vào Hư Không, đem ánh sáng Tuệ Quang chiếu diệu vào nơi mà Thất Tình chưa nhen nhúm, nơi mà Bản Thể chưa bị Bát Thức làm ô nhiễm, ngoài thì tuyệt hết chư duyên, trong thì tuyệt hết chư vọng. Hợp nhãn quang, ngưng nhĩ vận, điều tỵ tức, khoá thiệt khí. Tứ chi bất động để cho ngũ thức của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân quay về gốc gác, như vậy tinh, thần, hồn, phách, ý sẽ yên vị, suốt cả 12 giờ trong ngày, mắt luôn nội quan, quán chiếu, nhìn vào Khiếu ấy; tai trở ngược lại lắng nghe Khiếu ấy; đầu lưỡi thường phong bế Khiếu ấy. Vận dụng, thi vi, niệm niệm không rời Khiếu ấy.” [19]

3. Tìm Đạo nơi Nhất niệm bất sinh.

Như vậy, đã biết Đạo ở nơi đâu, ta sẽ tìm được Đạo.

Người xưa biết rằng Đạo ở “niệm đầu động xứ”, nên đã nói:

Nhất niệm bất sinh, toàn thể hiện,
 一 念 不 生 全 體 現

Lục căn tài động, bị vân già.
 六 根 栽 動 被 雲 遮[20]

Dịch:

Một niệm chưa sinh toàn thể hiện,

Lục căn vừa động bị mây che.

Tùng Giang, Vương Cảnh Dương Duy Nhất nói:

Yếu tri Tính Mệnh an thân xứ,
 要 知 性 命 安 身 處

Ý vị manh thời hợp Thái Hoà.
 意 未 萌 時 合太 和 [21]

Dịch:

Biết nơi Tính Mệnh sinh thân xứ,

Lúc ý chưa sinh, hợp Thái Hoà.

Lại nói:

Dục niệm vị trừ, không học Đạo,

Tham tâm bất đoạn, mạc cầu Tiên. [22]

Dịch:

Dục niệm chưa trừ, không học Đạo,

Tham tâm chưa tuyệt, uổng cầu Tiên.

Tiêu Dao Đại Sư viết:

“Nếu mà một niệm không sinh tức thoát sinh tử. Tới được một nơi một niệm không sinh, là thấy được Bản Lai Diện Mục.” [23]

*Hoài Nam Tử viết:” Thanh tĩnh vô vi, nhập ư Thiên môn”. [24]

Chúng ta kết luận bài này bằng 2 bài thơ tứ tuyệt:

Học Đạo, tu cùng Thiên Địa Tâm,
 學 道 須 窮 天 地心

Hãn văn thế thượng, hữu tri âm.
 罕 聞 世 上 有 知 音

Đô duyên thử lý nan khinh tiết,
 都 緣 此 理 難 輕 洩

Tận hướng bàng hề, khúc kính tầm.
 盡 向 旁 兮 曲 徑 尋 [25]

Dịch:

Học Đạo phải rành Thiên Địa Tâm,

Ít nghe trần thế có tri âm,

Toàn vì nhẽ ấy, không khinh tiết,

Đường tà, nẻo vạy, mới đâm sầm.

Duy Giác Thiền Sư viết:

Khuyến quân học Đạo, mạc tham cầu,
 勸 君 學 道 莫 貪 求

Vạn sự vô tâm, Đạo hợp đầu,
 萬 事 無 心 道 合 頭

Vô tâm thuỷ thể Vô Tâm Đạo,
 無 心 始 體 無 心 道

Thể đắc Vô Tâm Đạo dã hưu.
 體 得 無 心 道 也 休 [26]

Dịch:

Khuyên ai học Đạo chớ tham cầu,

Vạn sự vô tâm, hiệp Đạo mầu.

Vô Tâm khế hợp Vô Tâm Đạo,

Khế hợp Vô Tâm, Đạo mới cao.

*Hết chương nầy

************         

CHÚ THÍCH

[1] Thiên địa vị phân, Thái Cực tại thiên địa chi thuuỷ; Thiên địa ký phân, Thái Cực tại Thiên địa chi trung.

Huỳnh Nguyên Kiết, Lạc Dục Đường ngữ lục, tr. 50.

[2] Tiên Học, tr. 30.

[3] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận.

[4] Từ Viên Tiên sư chân kinh, tr. 39a.

[5] Như trên, tr. 17a.

[6] Ảo hoá chi thân, nhục thân dã. Ảo hoá chi tâm, nhân tâm daõ. Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý, câu ảo thân chi sở xuất. Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, giai Nhân Tâm chi sở xuất. Lục căn môn đầu, dạng dạng túc dĩ táng mạng. Thất tình, vọng niệm, kiện kiện năng dĩ chí tử. Chí ư Chân Chính chi thân, Pháp Thân dã. Chân Chính chi tâm, Thiên Tâm dã. Ngũ tính nhân duyên, câu giai thành Đạo chi chủng. Ngũ ban chí bảo, tận hệ luyện đơn chi tài. Thái chi, tu chi, khởi tử, hồi sinh, phản lão, hoàn đồng.

Đãn thử thân “Thiên Tâm”, nhân đa bất thức, sở dĩ Pháp Thân mai một, ảo thân dụng sự; Thiên Tâm thoái vị, Nhân Tâm đương quyền.

Thử Thiên Tâm bất cấu, bất tịnh, chí hư, chí linh, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông. Thị tính chi sở ký dã.

Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 215.

[7] Thỉnh vấn Thái Cực chi lý.

Sư viết: Thái Cực giả ngô thân chi Thiên Tâm dã. Thích Thị viết: Viên giác, Đạo viết: Kim Đơn, Nho viết: Thái Cực.

Sở vị Vô Cực nhi Thái Cực giả, bất khả cực nhi cực chi chi vị dã. Phàm nhân thuỷ sinh chi sơ, chỉ thử nhất điểm Linh Quang. Sở dĩ chủ tể hình hài giả, tức thử Thái Cực dã. Phụ mẫu vị sinh chi tiền, nhất phiến Thái Cực, nhi kỳ sở dĩ bất thuộc hồ hình hài giả, nãi vi Vô Cực dã.

Dục thức Bản Lai Chân Diện Mục,

Vị sinh thân xứ, nhất luân minh.

Liêu Dương diện mục vấn đáp thiên. tr. 2b.

[8] Lý Lạc Cầu, Tiên Học diệu tuyển, tr. 86.

Nguỵ Bá Dương, Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy. tr. 18a.

Nguỵ Bá Dương giải Chân Nhân là Nguyên Thần, và Giải Thâm Uyên là Thái Uyên, là Nê Hoàn Cung, là Thiên Cốc, là Thiên Đường,v.v…

Sách viết: Chân Nhân tức Nguyên Thần dã. Thâm Uyên tức Thái Uyên dã. Dị danh chúng đa, kim thí cử nhi ngôn chi viết:

Nê Hoàn Cung, Lưu Châu Cung, Ngọc Thanh Cung, Thuý Vi Cung, Thái Vi Cung, Thái Ất Cung, Thái Huyền quan, Huyền Cung, Huyền Môn, Huyền Thất, Huyền Cốc, Huyền Điền, Sa Môn, Đệ Nhất Quan, Đô Quan, Thiên Quan, Thiên Môn, Thiên Cốc, Thiên Điền, Thiên Tâm, Thiên Luân, Thiên Trục, Thiên Nguyên, Thiên Trì, Thiên Căn, Thiên Đường, Thiên Cung, Kiền Cung, Kiền Gia, Giao Cảm Cung, Ly Cung, Thần Cung, Thần Thất, Thần Quan, Thần Phòng, Thần Đô, Huyền Đô, Cố Đô, Cố Hương, Cố Khưu, Cố Lâm, Cố Cung, Tử Phủ, Tử Kinh Thành, Tử Kim Đỉnh, Cống đỉnh, Ngọc Đỉnh, Ngọc Thất, Ngọc Kinh, Ngọc Vũ, Dao Phong, Đệ Nhất Phong, Tối Cao Phong, Chúc Dung Phong, Côn Lôn Đỉnh, Không Động Sơn, Bồng Lai, Thượng Đảo, Thượng Cung, Thượng Kinh, Thượng Huyền, Thượng Nguyên, Thượng Cốc, Thượng Thổ Phủ, Thượng Đan Điền. Kỳ danh tuy chúng, kỳ thật tắc nhất dã.
Thuý Hư Thiên vân: Thiên hữu thất tinh, địa thất bảo. Nhân hữu thất khiếu quyền qui não.

Thái Cổ tập vân: Kim đơn vận đáo Nê Hoàn Huyệt, Danh tính tiên tương ký Thiên Đô, thị dã.

Cố Đế Nhất hồi nguyên chi Đạo, tố lưu bách mạch, thượng bổ Nê Hoàn. Não thực tắc Thần toàn, Thần toàn tắc hình toàn dã.

Kim Nguỵ Công vị Chân Nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung giả, tuỳ chân tức chi vãng lai, nhiệm chân khí chi thăng giáng. Tự chiêu chí mộ, Nguyên Thần thưởng thê ư Nê Hoàn dã. Huỳng Đình Kinh vân: Tử dục bất tữ tu Côn Lôn. Tĩnh trung ngâm vân: Ngã tu Côn Lôn đắc Chân Quyết. Phục Mệnh Thiên vân: Hội hướng ngã gia viên lý, tài bồi nhất mẫu Thiên Điền. Hoàn nguyên Thiên vân: Ngộ Đạo hiển nhiên minh khuếch lạc, nhàn nhàn đoan toạ vận Thiên Quan.

Thử nãi chí giản chí dị chi đạo…

Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy, tr. 18a.

[9] Tính Mệnh Khuê Chỉ, tr. 8b

[10] Kim Đơn yếu quyết, tr. 1b.

[11] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 11a.

[12] Tiên Học Từ Điển, tr. 76.

Thượng Phẩm Kim Đơn bí quyết, tr. 2b.

[13] Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, Saigon, 1962 ,VII , Thu Thuỷ, tr. 486 .

[14] Thượng phẩm Đơn Pháp Tiết Yếu, tr. 2b.

[15] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 139.

[16] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Nguyên, tr. 13. Chương Thuận Nghịch Tam quan Đồ.

[17] Tiên học Diệu Tuyển, tr. 184.

[18] 太 上 曰﹕ 吾 從 無 量 劫 來 觀 心 得 道,乃 至 虛 無。

Thái Thượng viết: Ngô tòng vô lượng kiếp lai, quan tâm đắc Đạo nãi chí Hư Vô.

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 3a.

[19] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 2.

[20] Trương Chuyết tú tài.

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 5.

[21] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 121.

[22] Như trên. tr. 139.

[23] Nhược nhất niệm bất sinh tức thoát sinh tử. Hướng thử nhất niệm bất sinh xứ, tức kiến Bản Lai Diện Mục.

Tiên Học diệu tuyển, tr. 141.

[24] P. Léon Wieger, Textes Philosophiques, Confucianisme, Taoisme, Bouddhisme, Hien Hien 1930, tr. 333.

[25] Tùng giang, Dương cảnh Dương Duy Nhất, Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 140.

[26] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 4b.

* Phụ Lục mấy bài thơ về Lương Tâm, Lương Tri của Vương Dương Minh.

1. Nhĩ thân các các hữu Thiên Chân,

Bất dụng cầu nhân, cánh vấn nhân.

Đãn trí Lương Tri thành chức nghiệp,

Mạc tòng cố chỉ phí tinh thần.

Thân anh ai nấy có Thiên Chân,

Khỏi phải cầu nhân, phải vấn nhân.

Hãy dựa Lương Tri, tu đức nghiệp,

Giấy cũ đọc chi, phí tinh thần.

2. Lương tri tức thị độc tri thì,

Thử tri chi ngoại cánh vô tri.

Thuỳ nhân bất thức Lương Tri tại,

Tri đắc Lương Tri khước thị thuỳ?

Lương tri thấy được lúc độc tri,

Ngoài biết ấy ra há biết gì?

Ai ai cũng có Lương Tri sẵn,

Hồ dễ mấy ai biết Lương Tri?

Cá cá nhân tâm hữu Trọng Ni,

Tự tương văn kiến khổ già mê,

Nhi kim chỉ dữ chân đầu diện,

Chỉ thị Lương Tri cánh mạc nghi.

Trong tâm ai cũng có Trọng Ni,

Kiến văn trùm lấp, mới u mê,

Nay ta đem chỉ Chân Đầu Diện,

Chính thực Lương Tri chớ khá nghi.

4. Vấn quân hà sự nhật động đồng,

Phiền não trường trung thố dụng công.

Mạc dạo Thánh Môn vô khẩu quyết.

Lương Tri lưỡng tự thị Tham Đồng.

Sao anh suốt buổi chạy Tây, Đông,

Trong vòng phiền não, uổng dụng công.

Đừng nói Thánh Môn không khẩu quyết,

Hai chữ Lương Tri chính Tham Đồng .

(Hai chữ Lương Tri trong đạo Khổng cũng có giá trị như bộ sách Tham Đồng Khế của Đạo Lão.)

5. Nhân nhân tự hữu định bàn châm,

Vạn hoá căn nguyên, bản tại Tâm.

Khước tiếu tòng tiền điên đảo kiến,

Chi chi diệp diệp ngoại đầu tầm.

Trong ta ai cũng sẵn Nam Châm,

Căn nguyên vạn hoá sẵn nơi Tâm.

Nực cười ta trước nhìn lộn ngược,

Ngoại cảnh chi li vất vả tầm.

6. Vô thanh vô xú độc tri thì,

Thử thị Kiền Khôn, vạn hữu ki.

Phao khước tự gia vô tận tạng,

Diên môn trì bát, hiệu bần nhi.

Vô thanh, vô xú lúc độc tri,

Ấy thực Kiền Khôn, vạn hữu ki.

Vứt bỏ cửa nhà kho vô tận,

Từng cửa ăn xin, thực thảm thê.

Léon Wieger, Textes Philosophiques, tr. 259—260.

************         

CHƯƠNG IX

DỊCH KINH YẾU CHỈ

(CỐT TUỶ KINH DỊCH.)

Học Dịch muốn cho có kết quả, phải tâm niệm rằng Dịch không phải là sách dạy bói toán, sấm vĩ, như người thường tưởng, mà chính là một cuốn sách Triết học, Đạo học, sâu sắc. Tác giả quyển: Thái Cực quyền bổng viết:

“Dịch là một phương pháp, một con đường đưa ta về với Trời.”

(Dịch chi vi thư, giáo nhân hồi Thiên chi đại kinh, đại pháp dã.

易 之 為 書 教 人 回 天 之 大 經 大 法 也。)

Thái Uyên, một nho gia đời Tống, cho rằng:

“Người quân tử học Dịch, để tiến tới Thần minh.”

(Quân tử học Dịch chi chí ư Thần dã. [1] 君 子 學 易 之 至 於 神 也)

Trương Kỳ Quân, một học giả Trung Hoa hiện đại, tác giả bộ Trung Hoa ngũ thiên niên sử, đã viết:

“Dịch là một sách học cả về Trời lẫn Người, khảo về nguồn gốc sự sáng tạo vũ trụ, để rõ lẽ kiết hung, tiêu trưởng, tiến thoái, tồn vong. Nó là sách căn bản dạy Tu, Tề, Trị, Bình, nhớn như là kinh luân quốc gia, nhỏ như là Tu thân xử thế. Nếu thâm đạt tinh hoa Dịch, mà đem áp dụng thì tất cả đều ở trong kinh đó.” [2]

*Ông viết thêm:

“Sách Dịch là sách rộng rãi, bao quát, nhưng nói đại ý, nó chỉ cốt dạy: Trời, người hợp nhất.” [3]

Tiên Nho cho rằng: “Dịch là một sách đứng đầu mọi kinh”. [4]

“Dịch là nguồn gốc Ngũ Kinh” [5]

Dịch kinh nơi Thuyết quái truyện cũng viết:

“Dịch là một sách dạy cùng lý muôn vật, thấu suốt tính người, giúp con người đạt tới định mạng (sang cả) của mình.” [6]

A. Bốn tác giả kinh Dịch.

Dịch có 4 tác giả:

— Phục Hi (c. 2852) vẽ Tiên Thiên Bát Quái.

(Tiên Thiên Bát Quái)

(Phục Hi và Tiên Thiên Bát Quái Đồ)

— Văn Vương (1231—1135), vẽ Hậu Thiên Bát Quái, viết Thoán Từ.

(Hậu Thiên Bát Quái)

— Chu Công (c. 1100) viết Hào từ.

— Khổng Tử (551—479) viết Thập Dực. Thập Dực gồm: Thoán (Thượng, Hạ Truyện),

— Tượng (Thượng, Hạ Truyện)

— Hệ Từ (Thượng Hạ Truyện)

— Văn Ngôn Truyện.

— Tự Quái.

— Thuyết quái

— Tạp quái.

B. Chìa khoá mở cửa Dịch: —

Ta có một chìa khoá giản dị để mở cửa Dịch. đó là:

Vòng tròn với Tâm Điểm và hai chiều Vãng, Lai, Xuất Nhập.

Nếu ta chấp nhận:

1. Tâm Điểm là Thái Cực, là Bản Thể.

2. Vòng tròn bên ngoài là Vạn Hữu, Hình Tướng đa tạp, biến thiên, ta sẽ hiểu được ý nghĩa Hà Đồ, Lạc Thư, và vòng Dịch tiên thiên, hậu thiên.

Ta sẽ thấy nơi Hà Đồ:

5, 10 ở Trung Điểm là Thái Cực.

1, 2, 3. 4 bên ngoài là Tứ Tượng.

6, 7, 8, 9 là Biến Hoá.

7———> 9 = Dương tiến.

8———> 6 = Âm thoái.

Vạn Hữu chẳng qua là phân thể của Thái Cực:

2+ 3 = 5

1+ 4 = 5

Vạn Hữu nhờ có Thái Cực (5) mới biến hoá được:

1 + 5 = 6

2 + 5 = 7

3 + 5 = 8

4 + 5 = 9

Vạn Vật biến Hoá để trở về Thái Cực (10):

1+ 2 + 3 + 4 = 10

Lưu Nhất Minh viết:

Thái Cực là một điểm ở chính giửa Hà Đồ. Nhân bởi cái Tâm Điểm này là cái gốc rễ của Trời Đất, cội nguồn của Tính Mạng. [7]

Văn Đạo Tử viết: “Số 5 tượng trưng Thái Cực hàm tứ tượng. Điểm giữa của 5 điểm lại tượng trưng cho Thái Cực hàm Nhất Khí.” [8]

Toàn Du Diễm, nhà bình giải Tham Đồng Khế, bình về Hà Đồ như sau:

“Ngũ tán ra tứ phương, thành 6, 7, 8. 9; thế là Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim đều nhờ đó mà thành. Nếu lấy các số 1, 2, 3, 4 ở tứ phương đem về Trung Ương sẽ thành 10. Thế tức là Thuỷ, Hoả, Kim, Mộc đều phản bổn, hoàn nguyên, và hợp tại nơi Trung Thổ. Ôi! huyền diệu thay!”

Ngộ Chân Thiên viết:

Lưỡng vật tổng nhân nhi sản mẫu,
 兩 物 總 因 兒 產 母

Ngũ hành toàn yếu nhập Trung ương.”
 五 行 全 要 入 中 央 [9]

Hồn Nguyên Bảo Chương vấn:

Tứ vị phân minh điên đảo dụng,
 四 位 分 明 顛 倒 用

Ngũ hành đồng khởi, phục đồng qui.
 五 行 同 起 復 同 歸 [10]

*Như vậy thì ở Lạc Thư, số 5 ở Trung Điểm cũng là Thái Cực, căn nguyên và cùng đích vạn hữu (10/15)

 4 3 8
 9 5 1
 2 7 6

(Lạc Thư)

8 ô bên ngoài là Vạn Hữu biến thiên.

Ta nhận thấy: trong Lạc Thư, 2 số đối đỉnh cộng lại đều thành 10. Các số ngang, cọc, chéo cộng nhau để thành 15, mà ta biết:

5 là Thượng đế lúc khởi nguyên.

10 là Thượng đế lúc chung cuộc.

15 là Thượng Đế thuỷ chung như nhất.

Lưu Nhất Minh cho rằng:” Trời có đức hiếu sinh, mượn con Thần Qui mà tiết lộ Đạo Phản Hoàn cho con người biết Qui Gia Nhận Tổ, giữ gìn Căn Bản Tính Mệnh của mình. Căn Bản tại chỗ nào? Ấy là tại một vạch tại Trung Cung của con số 5, chỗ gọi là Cửa Huyền Tẫn là nơi đó:

Bởi vì tại nơi đó có một cái gốc của đất Trời…[11]

Văn Đạo Tử, trong quyển Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, cũng cho rằng: “Năm gạch ở giữa tượng trưng cho Thái Cực; một vạch ở giữa lại tươợng trưng Thái Cực hàm nhất khí.” [12]

Sách Dịch Vĩ, nơi quyển Hạ tr. 3b. (Càn Tạc Độ, q. hạ) chép đại khái như sau:

“Thái Nhất là Thần Danh của Bắc Thần. Lúc ở Trung Cung, thì gọi là Thái Nhất. Lúc tuần du nơi Tám Quẻ thì gọi là Thiên Nhất. Có người nói Thái Nhất ra vào, dong chơi, nghỉ ở Tử Cung (Cung Tía, Trung Cung). [13]

Tử Cung như vậy là Đế Đô. Tám cung bên ngoài như là Cung Quán của Thiên Tử nghỉ ngơi, khi đi tuần du. Cứ 4 cung lại trở về Trung Cung. Ta thấy:

Nhất Khảm, Nhì Khôn, Tam Chấn, Tứ Tốn,

Ngũ Trung,

Lục Kiền, Thất Đoài, Bát Cấn, Cửu Ly.
[14]

Ở nơi Tiên Thiên hay Hậu Thiên bát quái, ta thấy 2 quẻ đối xứng cộng với nhau bao giờ cũng thành 15. (Nơi Tiên Thiên bát quái, Tâm là Đối Xứng, nên 2 quẻ đối đỉnh cộng vào với nhau thành là 15. Ta chấp nhận vạch Dương là 3, vạch Âm là 2.)

Nơi Hậu Thiên Bát Quái, thì trục đối xứng là trục Đông Tây.

Bát quái, có khi thì có vẽ hình Thái Cực bên trong, có khi thì không. Mà Không lại cao siêu hơn có, vì Thượng Đế chính là Vô Hình.

Cho nên Bát Quái Tiên hay Hậu Thiên hoặc có hoặc không có hình Thái Cực ở giữa, đều tượng trưng cho Thượng Đế và Vạn Hữu, Vạn Tượng. Cho nên, mới giải thích được tục lệ xa xưa ở Việt Nam cũng như ở Việt Nam và Trung Hoa là việc treo hình Bát Quái trước cửa nhà, để trừ tà ma.

Học Dịch mà biết được huyền nghĩa của Trung Cung, Trung Điểm là biết được nửa pho Dịch rồi.

Mà như là từ trên xuống tới đây, ta đã thấy dù là ở Hà Đồ hay ở LạcThư, ở Tiên Thiên hay Hậu Thiên Bát Quái, hay Lục Thập Tứ Quái, bao giờ Trung Cung, Trung Điểm cũng là Thái Cực, là Trời. Trời bao giờ cũng ẩn tàng trong lòng sâu vạn hữu, để làm căn cơ, làm trụ cốt, làm cốt lõi, để chủ trì tất cả mọi biến hoá. Sau này, khi học đến con người, ta sẽ thấy áp dụng của Trung Cung, Trung Điểm, của Dịch Lý vào nơi con người, để tìm cho ra Căn Cơ Trời trong Ta.

Mới hay Trung Cung hết sức là quan trọng.

Thuý Hư Thiên viết: “Trung ương chính vị sản huyền châu.” [15]

Phục Mệnh Thiên viết: “Tứ tượng bao hàm qui Mậu Kỷ.” [16]

Kim Đơn Đại Thành viết: “Phân Minh biến hoá tại Trung ương.” [17]

Học Dịch mà biết được rằng VẠN VẬT TÒNG TRUNG NHI KHỞI, TÒNG TRUNG NHI CHUNG thời đã là quí lắm rồi. [18]

*Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ viết, nơi chương 13: —

Ngô kim lược thuyết tầm chân lộ,
 吾 今 略 說 尋 真 路

Hoàng trung thông lý tải đại Dịch,
 黃 中 通 理 載 大 易

Chính vị cư thể thị Huyền Quan,
 正 位 居 體 是 玄 關

Tí Ngọ trung gian, kham định tức.
 子 午 中 間堪 定 息

Quang hồi tổ khiếu, vạn Thần an. [19]
 光 回 祖 竅 萬 神 安

* Dịch:

Ta nay truyền dạy đạo Trời,

Nương theo Dịch Lý dạy người điểm Trung.

Huyền quan ở chính giữa lòng,

Giữa chừng Tí Ngọ khơi dòng Thần Tiên.

Hồi quang soi tỏ căn nguyên,

Căn nguyên rạng rỡ, ước nguyền thoả thuê.

 *Sách Huyền Không bí chỉ của Ngô Cảnh Loan viết:

Bất tri lai lộ, yên tri nhập lộ,
 不 知 來 路 焉 知 入

Bàn trung bát quái giai không.
 盤 中 八 卦 皆 空

Vị thức nội đường,
 未 識 內 堂

Yên thức ngoại đường
 焉 識 外 堂

Cục lý ngũ hành tận thác. [20]
 局 裡 五 行 盡 錯。

*Dịch:

Đường về chẳng rõ tiêu hao,

Làm sao biết được lối vào Trung cung.

Thế là Bát Quái thành không,

Thế là vòng Dịch uổng công vẽ vời.

Bên trong mù mịt tăm hơi,

Làm sao biết được bên ngoài mà mong.

Thế là bố trí như không,

Ngũ hành thác loạn, rối tung, rối bời.

2. Hai chiều vãng lai của Dịch cho thấy vòng Dịch biến hoá có chu kỳ, thăng giáng, vãng lai, có thời tiết.

* Lục Tượng Sơn (1139—1192) bình:

“Đạo Dịch là nhất Âm, nhất Dương có vậy thôi. Trước, sau; đầu, cuối; động, tĩnh; sáng, tối; trên, dưới; tiến, lui; đi, về; đóng, mở; đầy, vơi; tiêu, tức; tôn, ti; quí, tiện; biểu, lý; ẩn, hiện; hướng, bối; thuận, nghịch; còn, mất; được, thua; ta, vào; làm, cất, đi đâu mà chẳng có một Âm, một Dương.” [21]

Như vậy, là nắm được Dịch Lý rồi vậy.

* Suy ra thì chiều biến hoá của Dịch đúng là có 2 chiều: —

1/— Một chiều Tán, chiều Vãng, chiều Hướng Ngoại, chiều Giáng.

Từ Lý ra Khí, ra Hình tượng, ra Chất.

Từ Thái Cực ra Âm Dương, ra Tứ Tượng, ra Bát Quái. Đó là chiều sinh Nhân, sinh Vật. Trong chiều này, nói theo danh từ Khoa Học bây giờ, thời:

—Khí lực ngày một suy.

—Ba động ngày một lớn.

—Tần số ngày một giảm.

Đó là chiều từ Vô Hình vào Hữu Hình.

2/— Một chiều Tụ, chiều Lai, chiều Hướng Nội, chiều Thăng.

Trong chiều này:

—Khí lực ngày một tăng.

—Ba động ngày một ngắn.

—Tần số ngày một cao.

Đó là chiều từ Hữu Hình trở về Vô Hình.

Hai chiều này hoàn toàn ngược nhau.

* Bát quái tiên thiên và Lục Thập Tứ Quái Tiên Thiên cho thấy rất rõ ràng 2 chiều biến hoá xuôi ngược này.

Nếu ta chia vòng Dịch tiên thiên thành 2 nửa theo trục Bắc Nam, ta sẽ thấy:

Nửa phải là chiều Âm trưởng, Dương tiêu.

Nửa trái là chiều Âm tiêu, Dương Trưởng.

Và 2 quẻ 2 bên mà đối đỉnh nhau thì sẽ hoàn toàn Âm Dương ngược nhau, thành thử chỉ cần biết 1/2 vòng Dịch tiên Thiên, ta sẽ suy ra được 1/2 vòng bên kia.

Số như vậy, chia làm 2 thành phần:

Vãng, chiều đi ra, Dịch gọi là chiều Thuận (Sinh Nhân, sinh Vật); Lai chiều đi vào, Dịch gọi là chiều Nghịch (Sinh Thánh, sinh Thần). Dịch quí chiều Nghịch hơn chiều Thuận. Chính vì thế mà Thuyết quái Truyện nơi chương 3, viết:

Số vãng giả Thuận, tri lai giả Nghịch, thị cố Dịch nghịch số dã.

* Dịch:

Dịch Kinh có số Ngược chiều,

Ngược chiều thế sự, khinh phiêu về nguồn.

************         

C. Sơ lược về Dịch Kinh: —

1. Dịch có nhiều nghĩa:

Bất Dịch, Biến Dịch, Giao Dịch, Dễ.

Bất Dịch khi đề cập đến Bản Thể Vũ Trụ là Vô Cực, Thái Cực.

Biến Dịch như khi bàn về hào quải biến thiên, vạn vật luân lưu, biến hoá. Ví dụ: Tốn biến hai hào Dương thành quẻ Khôn, Cấn biến 2 hào Âm thành quẻ Kiền.

Giao Dịch tức là trao đổi lẫn nhau, ví dụ hiện tượng mua bán. Ví dụ quẻ Kiền và quẻ Khôn trao đổi lẫn nhau hào giữa, thành Khảm Ly. Khảm, Ly trao đổi lẫn nhau Hào Dương trên cùng và hào Âm dưới cùng biến thàng Chấn Đoài.

Từ Âm Dương, đến Tứ Tượng, Bát Quái…lục thập tứ quái biến hoá đều theo 1 phương pháp: Đó là Gia Nhất Bội Nhị.

Ví dụ: Âm Dương muốn sinh ra Tứ Tượng, Ta viết: Âm hai lần, Dương 2 lần. Ta có:

rồi viết chồng lên trên 1 Âm, 1 Dương. Ta có:

Ví dụ:  muốn từ Tứ Tượng lập thành Bát Quái, ta viết mỗi tượng thành hai.

Trên mỗi Tượng, ta thêm 1 Âm, hay 1 Dương (Gia Nhất), ta có:

Từ 8 quẻ, đến 64 quẻ, muốn lập thành cho nhanh, ta theo phương pháp Nhất Trinh Bát Hối: một quẻ nằm, tám quẻ chạy. Nghĩa là ta vẽ một vòng tròn, chia thành 8 ô đều nhau. Mỗi ô, ta viết lại 8 Kiền, 8 Đoài, 8 Ly, 8 Chấn, 8 Tốn, 8 Khảm, 8 Cấn, 8 Khôn. Sau đó, trên mỗi 8 quẻ trong mỗi ô đó, ta viết lại đủ 8 quẻ Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Nếu ta thay:  Kiền=1; Đoài=2; Ly=3; Chấn= 4; Tốn= 5; Khảm= 6; Cấn=7; Khôn= 8, ta sẽ có đồ bản sau:

2. Dịch kinh có ba loại ngôn ngữ:  —

Từ = Từ Ngữ.

Tượng = Hình ảnh.

Số = Các con số.

Ba loại từ ngữ ấy bổ túc lẫn nhau.

Ví dụ, muốn trình bày tư tưởng: Thái Cực, Bản Thể Duy Nhất của Vũ Trụ. Tuy là Duy Nhất, nhưng thực ra đã bao hàm cả Âm, lẫn Dương. Tuy là Nhất Nguyên nhưng lưỡng Cực.

Dịch Kinh đã trình bày tư tưởng này bằng:

a) Hình vẽ Thái Cực.

b) Bằng chữ Dịch 易 . Dịch gồm Nhật 日 + 勿 = 月 Nguyệt, tượng trưng cho Âm, Dương.

c) Bằng Số 5 (3+2) hay 15 (9+6).

* Ví dụ, khi muốn trình bày tư tưởng: Thái Cực tạo dựng nên vũ trụ bằng phương pháp phóng phát, sinh hoá, qua phân, Dịch Kinh trình bày như sau: —

a) bằng từ ngữ: “Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát quái”.

b) Bằng Số: 1 chia 2, 2 chia 4, 4 chia 8, 8 chia 16, 16 chia 32, 32 chia 64.

c) Bằng Hình ảnh:—

1) Vòng Dịch hình tròn.

Trong đó, Thái Cực ở Trung Điểm, như vầng Dương tung toả ra muôn ngàn hào quái, muôn ngàn hiện tượng, vạn linh, vạn hữu bên ngoài.

2) Dịch xếp theo hình dài.

Trong đó, Thái Cực như một gốc cây duy nhất ở dưới, Vạn Hữu như muôn cành lá xum xuê ở bên trên.

3. Đại ý Dịch Kinh.

Dịch bàn về 2 chiều, 2 mặt biến hằng của vũ trụ.

Dịch chủ trương:

— Thái Cực là nguồn gốc sinh ra vạn tượng, vạn hữu, vũ trụ quần sinh.

— Âm Dương là 2 động lực tương thừa, tương khắc, tương chế, tương thành, tạo nên mọi biến hoá.

Âm Dương cho ta thấy cấu trúc sơ khởi của vạn tượng. Dịch nói Âm Dương, thì khoa học ngày nay nói électron (Âm), proton (Dương). Phân tử (molécule) vừa là ba động (onde), vừa là phân tử (particule). Phân tử, xét về phương diện cơ cấu, thời gồm có 2 phần chính: Đó là:

1) Khinh tử (Leptons) gồm protons 0, neutron 0, électron 1, méson 2069.

2) Trọng tử (baryons) gồm:

protons: 1836, 12

a) Nucleons: (neutrons 1838, 65)

b) Hyperons: Lambda 2182.

Sigma + 2328.

Sigma —2342.

Sigma 0 2330.

Ksi —2383.

Ksi 0 5579 v.v…

Âm Dương cũng cho thấy hai chiều: động, tĩnh; vãng, phản; doanh, hư; tiêu, tức; phục, khởi (latence & dominance), thăng trầm của một nguyên khí khi biến hoá.

************         

* Tứ Tượng cho ta thấy 4 yếu tố chính tạo nên muôn vật. Đó là:

Hoặc là 4 thứ acides cơ bản (A = Adenine; G: Guanine: C = Cytosine; T = Thymine), sẽ tạo thành ra 64 thứ Nucleotides trong mọi cơ thể sinh vật sau này.

Có cái lạ là Dịch chủ trương: Tứ tượng chồng lên nhau từng Ba một sẽ tạo thành 64 quẻ, thì theo Génétique (Di Truyền học) cũng chủ trương nếu lấy 4 thứ acides nói trên, chồng lên nhau, từng Ba một, sẽ tạo nên 64 nucleotides.

Nếu ta nhận:

và chồng lên nhau Ba lần, ta sẽ có đồ bản sau, và chỉ cần thay A, G, C, T bằng các ký hiệu Thái Dương, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Thái Âm, ta sẽ có 64 quẻ Dịch theo đúng thứ tự của 64 quẻ Dịch Tiên Thiên Phục Hi:

1. AAA AAG AAC AAT AGA AGG AGC AGT

2. ACA ACG ACC ACT ATA ATG ATC ATT

3. GAA GAG GAC GAT GGA GGG GGC GGT

4. CCA CCG GCC GCT GTA GTG GTC GTT

5. CAA CAG CAC CAT GGA GGG GGC CGT

6. CCA CCG CCC CCT CTA CTG CTC CTT

7. TAA TAG TAC TAT TGA TGG TGC TGT

8. TCA TCG TCC TCT TTA TTG TTC TTT

(Xem Isaac Azimov, The Genetic Code, tr. 162—163. Phải chăng những hiện tượng sinh lý cũng đúng y như những định luật Dịch?)

Tứ Tượng cũng cho ta thấy định luật:

Sinh, Trưởng, Liễm, Tàng.

Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.

Định Luật Âm, Dương, Tiêu, Trưởng, cùng như định luật Tứ Tượng: Sinh Trưởng, Liễm, Tàng, có thể vẽ thành đồ biểu sau:

Và như vậy chúng ta có định luật Ba Động (loi ondulatoire) chi phối mọi sự biến hoá trong Trời Đất.

Bát quái thời tượng trưng cho vạn tượng, vạn hữu (Êtres, Phénomènes).

64 quẻ, thời tượng trưng cho muôn vàn hoàn cảnh trong vũ trụ, do vạn vật hoà với nhau hay bất hoà với nhau mà gây nên.

Những hoàn cảnh này, một khi có, sẽ mang ngay tính chất CÁT, HUNG, HƯU, CỮU.

Người quân tử hiểu Dịch, muốn XU CÁT, TỊ HUNG, thời phải biết nghiên cứu thế đứng của mình, nghiên cứu vị trí của mình trong xã hội, tuỳ mỗi giai đoạn tiến triển của hoàn cảnh, mà tìm cách đối phó cho linh hoạt, khi cương, khi nhu, khi tiến, khi thoái, để tránh cái DỮ, được cái HAY.

Thế là không cần bói toán, mà tự nhiên CÁT HUNG hình hiện. Không cần CẦU PHÚC, NHƯƠNG TAI mà tự nhiên TAI TIÊU, PHÚC CHÍ.

D. Tiên Thiên và Hậu Thiên: —

Học Dịch cũng nên hiểu 2 chữ Tiên Thiên và Hậu Thiên

a/— TIÊN THIÊN và HẬU THIÊN có thể hiểu được là TUYỆT ĐỐI (Thái Cực), khi chưa có đất trời hình hiện, và TƯƠNG ĐỐI (Âm Dương), khi đã có đất trời, vạn hữu hình hiện.

b/— Nhưng TIÊN THIÊN và HẬU THIÊN còn mang một nghĩa khác:

Ta thấy HÀ ĐỒ và TIÊN THIÊN BÁT QUÁI thuộc TIÊN THIÊN.

HÀ ĐỒ có hình Tròn, theo chiều Thuận, chiều Ngũ Hành tương sinh. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI khảo về Âm Dương nhị khí biến thiên.

LẠC THƯ và HẬU THIÊN BÁT QUÁI chủ HẬU THIÊN.

LẠC THƯ có 9 cung, vẽ theo hình Vuông, theo chiều Nghịch, chiều Ngũ Hành Tương Khắc. HẬU THIÊN BÁT QUÁI lụân về sự thăng trầm, vượng tướng của hình hài, phong thái bên ngoài.

HẬU THIÊN là PHÁ THỂ, TIÊN THIÊN là TOÀN THỂ (Ly thay cho Kiền, Khảm thay cho Khôn).

Vì thế, học Dịch cần phải biết từ PHÁ THỂ trở về TOÀN THỂ. Đó là thuyết: Dĩ Khảm Điền Ly, mà sau này ta sẽ có dịp đề cập tới lại.

Hậu Thiên vẽ lại cuộc sống thưc tế của con người, trong cảnh sống hình hài, cụ thể, tiếp xúc với môi trường bên ngoài, trong một thế giới đảo điên, tương đối, tương khắc

Hậu Thiên nương theo mặt trời, tức là nương theo 4 mùa. Ngày thời bắt đầu từ Dần, năm thời bắt đầu bằng mùa Xuân. Chiều buông được đánh dấu bằng vừng dương gác non Đoài, bằng giờ Dậu; cũng như cuộc sống trong nhà được đánh dấu bằng mùa Thu.

Hậu Thiên Bát Quái lấy bằng trục Chấn Đoài, hay trục Đông Tây làm trục đối xứng, lấy Chân Trời, Mặt Đất làm địa bàn hoạt động.

TIÊN THIÊN tượng trưng cho cuộc sống hồn nhiên bên trong, cuộc sống tâm linh. Cuộc sống tâm linh này được tượng trưng bằng HÀ ĐỒ vì HÀ ĐỒ theo Ngũ Hành Tương Sinh, và bằng Tiên Thiên Bát Quái hay Tiên Thiên Lục Thập Tứ Quái.

Vòng Dịch Tiên thiên lấy Tâm Điểm làm Tâm đối xứng, lấy trục TÍ, NGỌ, tức là Trục Trời, Đất làm giới hạn phân Âm Dương. 1/2 Âm phía phải vẽ lại 1/2 đời đầu con người. Khi ấy con người dấn thân vào ngoại cảnh. 1/2 Dương phía Trái vẽ lại 1/2 đời sau con người, vẽ lại hành trình con người càng ngày càng tiến sâu vào nội tâm, để trở về Tâm Điểm, về Thái Cực Nguyên Căn.

Đó cũng chính là La Kinh sống động mà Trời trao cho con người, vì La Kinh hay La Bàn cũng lấy Tâm Điểm Thiên Trì làm Tâm, lấy Kim Châm hay hướng Tí Ngọ làm Kim Chỉ Nam.

Ở nơi con người, thì trục Đông Tây của Hậu Thiên có thể coi như là Hoành Cách Mô, còn trục Tí Ngọ chính là Tuỷ Xương Sống. Tâm Điểm, hay Thiên Tâm, Thiên Trì, Thái Cực chính là ở Tâm Điểm Nê Hoàn Cung.

TIÊN THIÊN chủ KHÍ, HẬU THIÊN chủ HÌNH. Một đằng lo chuyện hình hài, xác thân; một đằng lo chuyện Tâm linh, hồn phách, với mục đích phản bản, hoàn nguyên, siêu phàm, nhập thánh.

TIÊN THIÊN, HẬU THIÊN không vì thế mà xa lìa nhau: Hậu Thiên như vỏ, như áo, hỗ trợ bên ngoài, Tiên Thiên như Tinh, như Hoa hoạt động bên trong. Hai bên hợp lại thành khúc hoà ca tuyệt diệu…

E. NHỮNG BÀI HỌC CHÍNH YẾU CỦA DỊCH KINH: —

Dịch Kinh có những áp dụng hết sức là đa dạng:

— Nhà toán học trông vào, thấy: —

Âm + Dương:  A + B

Tứ Tượng:  (A+B)2 = A2 + 2AB+ B2.

Bát quái:  (A+B)3 = A3+ 3A2B+ 3AB2+ B3

64 Quái:  (A+B)6 = A6+ 6A5B+ 15A4B2+ 20A3B3+ 15 A2B4+ 6AB5+ B6

* LEIBNITZ nhìn thấy 64 quẻ từ KHÔN đến KIỀN là 64 số từ 0 đến 63, mã theo Toán Học nhị nguyên.

* Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo và nữ Bác Sĩ Ngô Kiện Hùng đã dùng định luật Dịch 3/2, để đo những phóng xạ của hạt nguyên tử khi nổ. Lúc ấy, những ly tử Âm và Dương hợp nhau lại thành ra 2 tia sáng, tia Dương dài bằng 3 đơn vị, tia Âm dài bằng 2 đơn vị, và các Ông đã đem định luật CƠ NGẪU BẤT ĐỒNG ĐẲNG của Dịch Kinh thay cho định luật ĐỒNG ĐẲNG (loi de parité) xưa của Khoa Học Âu Mỹ. Sự kiện này xảy ra năm 1957, và các nhà Bác Học đó đã được giải thưởng Nobel về Lý Học.

Ta cũng có thể dựa vào định luật Tụ Tán của Dịch Kinh để theo rõi những giả thuyết mới nhất của Thiên Văn Học, đó là sự khuếch tán hiện thời của vũ trụ, và sự thu xúc của vũ trụ, trong tương lai.

Ta cũng có thể đem thuyết “Âm Dương hỗ vi kỳ căn” để sánh với phương trình E= MCbình phương , trong đó, E là Energie, là Năng Lượng; M là Masse, là Vật Chất, C2 là vận tốc của ánh sáng lên bình phương.

Nhưng ta còn có thể dùng Dịch, để chứng minh tìm hiểu những vấn đề quan trọng hơn thế nữa, ví dụ: Đâu là Trung Cung, Trung Điểm nơi con người? Thế nào là Phản Bản, Hoàn Nguyên? Thế nào là Đơn Đạo? Thế nào là Tiên Thiên, Hậu Thiên nơi con người? Những vấn đề này, sau đây, ta sẽ cố đề cập tới.

Hiện nay, ta nhận định sơ khởi rằng Dịch dạy chúng ta nhiều bài học.

a. Dịch dạy chúng ta đối thoại với Trời, với Thiên Nhiên.

Mỗi một hiện tượng bên ngoài là một bài học mà Trời dạy chúng ta. Dịch nói: “Thiên thuỳ tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi” (Hệ Từ Thượng, XI). “Trời rủ hiện tượng xuống, cho cát hung hiện ra, thánh nhân lấy đó mà làm gương, mà bắt chước.”

Đại Tượng Truyện quẻ Kiền viết: “Thấy Trời hoạt động không ngừng nghỉ, người quân tử cũng phải cố gắng không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.)

Dịch kinh dạy: Cương kiện trung chính (Văn ngôn quẻ Kiền: Đại tai Kiền hề, cương kiện, trung chính, thuần tuý tinh dã.)

Phải có một sức mạnh tinh thần mãnh liệt; phải biết xử sự theo đúng lẽ phải, xử sự cho thích đáng.

b. Dịch Kinh chẳng những dạy con người biết XU CÁT, TỊ HUNG, mà còn dạy lấy CÁT, HUNG, ĐẮC, THẤT, HỐI, LẬN mà xét xem mình đi đúng, hay đi sai với đường lối Trời, Đất, Người.

Phương pháp XU CÁT, TỊ HUNG của Dịch có thể toát lược như sau: Nhận định rằng con người lệ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh, nên nếu ta biết rõ hoàn cảnh, là biết được 1 phần lớn số phận cá nhân.

Hoàn cảnh hay dở khác nhau tuỳ năm, tuỳ tháng, tuỳ mùa, tuỳ ngày, tuỳ giờ, tuỳ tâm trạng quần chúng, tuỳ tình trạng chính trị, xã hội, tuỳ như ở chỗ quân tử thắng hay tiểu nhân thắng, tinh thần làm chủ hay vật chất làm chủ.

Tuy nhiên, trong cũng một hoàn cảnh, mỗi người lại có hay, có dở khác nhau, tuỳ tâm tư, chí hướng, tuỳ hoài bão, tuỳ tài đức, tuỳ địa vị xã hội, tuỳ tuổi tác, tuỳ như có người giúp hay không có người giúp, tuỳ như ở gần quân tử, quí nhân, hay tiểu nhân, tiện nhân.

Hành động ta có dở, có hay.

Hành động hay sẽ đem lại cho ta lợi ích (cát, đắc). Hành động hay là hành động hợp đạo lý, hợp tình, hợp cảnh (Nguyên, Trinh), đem lại hanh thông (hanh), ích lợi (lợi), không làm cho ta phải xấu hổ (lận). hay hối hận, phàn nàn (hối), không làm cho ai chê trách ta được (vô cữu).

Hành động dở sẽ đem lại cho ta hung hoạ (hung, thất), làm cho ta băn khoăn, hối hận (hối), hay xấu hổ (lận).

Những hung hoạ ta gặp phải một phần lớn phát sinh vì:

— Chúng ta làm những công việc không thích hợp với tài cán, và ý thích chúng ta.

— Chúng ta cộng tác hay sống gần gũi những người không đồng tình, đồng ý, đồng quan niệm với chúng ta.

— Chúng ta cộng tác với kẻ tiểu nhân, với những người sống bừa phứa, không có lý tưởng.

— Chúng ta sống trong những hoàn cảnh không thuận tiện.

Vậy muốn sống đời sống lý tưởng, phải thuận theo đạo lý, tức là phải theo những định luật tự nhiên, không được gàng quải với thời gian, tuổi tác, với trời đất, với tha nhân. Phải tìm những hoàn cảnh thuận tiện mà sống, giao thiệp với những người mình thích, làm những công việc mình ưa.

Rồi lại phải tránh hung họa ngay từ lúc chúng còn chưa chớm phát, nghĩa là phải biết tiên liệu, đề phòng, phải biết tổ chức, xắp xếp, thêm bạn, bớt thù. Luôn luôn xét mình, xét trạng thái tâm hồn, xét hậu quả công việc, định mức cát hung, để biết rõ mình đi đúng hay đi sai với định luật trời đất, định luật thiên nhiên…

Dịch Kinh gọi thế là CÁT HUNG SINH ĐẠI NGHIỆP (Hệ từ thượng, chương XI).

Nhưng bài học cao siêu nhất mà Dịch dạy chúng ta, như Trương Kỳ Quân đã nói là: THIÊN NHÂN HỢP NHẤT.

c. Dịch đã cho thấy là giữa lòng mọi biến thiên đều đã ẩn tàng sẵn Thái Cực. Nếu vậy, thì giữa lòng mọi biến thiên của hình hài, tâm tư, trí não chúng ta, phải có Thái Cực. Biết rằng trong ta có Thái Cực, có căn cốt Trời, chúng ta sẽ có cơ tinh tiến vô biên vô tận.
Học Dịch như vậy, mới gọi được là:

Tinh nghĩa nhập thần dĩ trí dụng dã. (Hệ từ hạ, chương V).

Học cho tinh nghĩa, nhập thần,

Rồi ra áp dụng muôn phần hay ho…

*Hết chính văn

************         

PHỤ LỤC

* Bài thơ để nhớ 64 quẻ Tiên Thiên: —

1. Ô Kiền:

Kiền I/1, Quải I/2, hồ thỉ Hữu (Đại hữu) I/3 Tráng (Đại Tráng) I/4 hoài,

Súc (Tiểu súc) I/5, Nhu I/6, Súc (Đại Súc) I/7, Thái I/8. thỉ đầu thôi.

2. Ô Đoài:

Lý II/1, Đoài II/2, Khuê II/3,, Muội II/4, Trung Phu II/ 5, Tiết II, 6.

Bất Tổn II, 7, Lâm II, 8 tiền trạch bạn lai.

3. Ô Ly.

Đồng Nhân III/1, Cách III/2, diện Hoả Đông Ly III/ 3,

Náo nhập Phong III/4, Gia (Gia Nhân) III/5, Tế (Ký Tế) III/ 6, Bí III/ 7, Di (Minh Di) III/ 8.

4. Ô. Chấn.

Vô Vọng IV/ 1, Tuỳ IV/2, nhân, Phệ Hạp III/ 3,

Chấn, IV/ 4

Ích, IV/5 Truân, IV/6 Di, IV/7 dạ, Phục IV/8, lôi phi.

5. Ô. Tốn,

Cấu V/1, quân, sơ Quaù (Đại quá) V/2, Đỉnh,V/3 lô Hằng,V/4

Tốn V/5, TỉnhV/6, phong thanh, CổV/7 nguyệt Thăng V/8.

6. Ô Khảm.

Tụng VI/1, Khốn VI/2, Vị (Vị Tế) VI/3 tri Giải VI/4, Hoán VI/5, Khảm VI/6,

Mông VI/7, Sư Vi/8 chỉ xuất ngọc hồ băng.

7. Ô Cấn.

Độn VII/1, Hàm VII/2, Lữ VII/3, Quá (Tiểu Quá) VII/4, tửu gia liêm,

Tiệm VII/5, Kiển VII/6 sơn đầu, ngộ Cấn VII/7, Khiêm VII/8.

8. Ô Khôn.

Bĩ VIII/1, Tuỵ VIII/2 khả kham Tần Tấn VIII/3 địa,

Dự VIII/4ï, Quan VIII/5, Tỉ VIII/6, Bác VIII/7, địa Khôn VIII/8 chiêm.

* Giải thích: Trên đây là 4 bài thơ tứ tuyệt cho ta thứ tự 64 quẻ Tiên Thiên.

— 2 quẻ thành 1 bài thơ. Bài thơ 1, cho 2 quẻ Kiền, Đoài, Bài thơ sau cho 2 quẻ Ly, Chấn, v.v…

— Số La Mã I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII chỉ tám quẻ nội quái (quẻ nằm dưới):  Kiền = I, Đoài = II, Ly = III, Chấn= IV, Tốn = V, Khảm = VI, Cấn =VII, Khôn = VIII.

— 8 số Ả Rập 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 chỉ 8 quẻ ngoại quái (quẻ nằm trên): Kiền = 1, Đoài = 2, Ly = 3, Chấn = 4, Tốn = 5,

Khảm = 6, Cấn = 7, Khôn = 8.

Nên III/3 sẽ là quẻ Ly; V/7 sẽ là quẻ Cổ v.v…

2. Hai bài thơ để nhớ vị trí 64 quẻ Hậu Thiên trong Kinh Dịch:

a/— Thượng Kinh: —

Kiền, Khôn, Truân, Mông, Nhu, Tụng, Sư,

Tỉ, Tiểu Súc hề Lý, Thái, Bĩ.

Đồng nhân, Đại Hữu, Khiêm, Dự, Tuỳ,

Cổ Lâm, Quan hề, Phệ Hạp, Bí,

Bác, Phục, Vô Vọng, Đại Súc, Di,

Đại Quá, Khảm, Ly, tam thập bị.

b/— Hạ Kinh: —

Hàm, Hằng, Độn hề cập Đại Tráng,

Tấn dữ Minh Di, Gia Nhân, Khuê,

Kiển, Giải, Tổn, Ích, Quải, Cấu, Tuỵ,

Thăng, Khốn, Tỉnh, Cách, Đỉnh, Chấn, kế,

Cấn Tiệm, Qui Muội, Phong, Lữ, Tốn,

Đoài, Hoán, Tiết hề, Trung Phu chí,

Tiểu Quá, Ký Tế, kiêm Vị Tế.

Trong 2 bài thơ trên ta thấy 8 quẻ có gạch phía dưới. Đó là: Kiền, Khôn, Di, Đại Quá, Khảm, Li, Trung Phu, Tiểu Quá, là 8 quẻ Thác. Thác là những quẻ lộn xuôi, ngược vẫn như nhau không đổi. Còn 56 quẻ hay 28 cặp còn lại là quẻ Tống. Tống là những quẻ hễ lộn lên sẽ thành quẻ khác. Ví dụ: Truân lộn lên sẽ thành Mông, Nhu lộn lên sẽ thành Tụng, v.v… 8 quẻ Thác cộng với 28 quẻ Tống là 36, vì thế Thiệu Khang Tiết mới nói: Tam thập lục cung đô thị xuân.

—————————————

* 64 quẻ, ý nghĩa, cách tìm ra 64 quẻ: —

—Bĩ (Vận Bĩ, Bế Tắc) VIII/1; 12. (Thiên Địa Bĩ)

—Bác (bóc lột hết Dương) VII/7; 23. (Sơn Địa Bác)

—Bí (Vẻ Đẹp) III/ 7, 22 (Sôn Hoả Bí)

—Cấn (Núi; Ngừng Nghỉ) VII/7, 52 (Bát thuần Cấn)

—Chấn (Sấm) IV/4, 51 (Bát thuần Chấn).

—Cách (Thay đổi) III/2, 49 (Trạch Hoả Cách).

—Cấu (Gặp Gỡ) V/1, 44 (Thiên Phong Cấu).

—Cổ (Hỏng, hủ bại), V/7, 18 (Thiên Phong Cổ).

—Dự (Đề Phòng), VIII/4, 16 (Lôi Địa Dự).

—Di (Má, nuôi dưỡng), IV/7, 27 (Thiên, Lôi Di).

—Đại Quá (Cái hay, cái lớn nhiều quá) V/2 , 28 (Trạch Phong Đại Quá).

—Đại Súc (Hàm chứa nhiều) I/7. 26 (Sơn Thiên Đại Súc).

—Đại Hữu (Có nhiều, có lớn) I/3, 14 (Hoả Thiên Đại Hữu)

—Độn (Trốn Ẩn) VII/1, 33 (Thiên Sơn Độn)

—Đồng Nhân (Hoà Đồng với người) III/1 13 (Thiên Hoả Đồng Nhân).

—Đỉnh (Thay cái mới vào) V/3, 50 (Hoả Phong Đỉnh)

—Đại Tráng (Mạnh mẽ nhiều) I/4, 34 (Lôi Thiên Đại Tráng).

—Đoài (Trầm, Đầm) II/2, 58 (Bát Thuần Đoài).

—Giải (Giải thoát) VI/4, 40 (Lôi Thuỷ Giải).

—Gia Nhân (Gia Đạo) III/5, 37 (Phong Hoả Gia Nhân)

—Hàm (Cảm ứng) VII/2, 31 (Trạch Sơn Hàm)

—Hằng (Hằng Cửu) V/4, 32 (Lôi Phong Hằng)

—Hoán (Tiêu Tán, phá tán) VI/5, 59 (Phong Thuỷ Hoán).

—Ích (Thêm cho) IV/5, 42 (Phong Lôi Ich)

—Kiền (Trời) I/1 , 1 (Bát thuần Kiền).

—Ký Tế (Đã thành tựu) III/6, 63 (Thuỷ, Hoả Ký Tế).

—Khuê (Gàng Quải) II/3, 38 (Hoả Trạch Khuê)

—Kiển (Bế tắc) VII/6, 39 (Thuỷ Sơn Kiển).

—Khôn (Đất) VIII/8, 2 (Bát thuần Khôn).

—Khốn (Khốn nạn) VI/2, 47 (Trạch Thuỷ Khốn).

—Khảm (Nước, nguy hiểm) VI/6, 29 (Bát Thuần Khảm)

—Khiêm (Khiêm tốn) VII/8, 15 (Địa Sơn Khiêm)

—Lâm (Người trên đến với người dưới) II/8, 19 (Địa Trạch Lâm)

—Ly (Lửa, bám víu) III/3 , 30 (Bát Thuần Ly).

—Lý (bước lên trên, theo định luật tự nhiên) II/1, 10 (Thiên Trạch Lý)

—Lữ (Lữ Thứ) VII/3, 56 (Hoả Sơn Lữ)

—Minh Di (Ánh Sáng bị lu mờ) III/8, 36 (Địa Hoả Minh Di)

—Mông (trẻ thơ, mê muội, giáo hoá) VI/6, 4 (Sơn Thuỷ Mông)

—Nhu (Chờ đợi, ăn uống) I/6, 5 (Thuỷ Thiên Nhu).

—Phong (Thịnh Vượng) III/4, 55 (Lôi Hoả Phong).

—Phục (Trở lại) IV/8, 24 (Địa Lôi Phục)

—Phệ Hạp (Nghiền đứt để hoà hợp) IV/3, 21 (Hoả Lôi Phệ Hạp).

—Quan (Nhìn xem, quan sát) VIII/5 , 20 (Phong Địa Quan)

—Quải (Quyết Định) I/2 , 43 (Trạch Thiên Quải)

—Qui Muội (Gái về nhà chồng) II/4, 54 (Lôi Trạch Qui Muội).

—Sư (Quân Sự) VI/8, 7 (Địa Thuỷ Sư).

—Tỉ (Qui Dân Tụ Chúng để lập nước) VIII/6, 8 (Thuỷ Địa Tỉ)

—Thái (Thái Thịnh) I/8, 11 (Địa Thiên Thái)

—Tiệm (lớn từ từ, tiến triển từ từ) VII/5, 53 (Sơin Phong Tiệm)

—Trung Phu (Sự Thành Tín) II/5, 61 (Phong Trạch Trung Phu).

—Tổn (Bớt đi) II/7, 41 (Sơn Trạch Tổn)

—Tốn (Gió, thấm nhập) V/5, 57 (Bát thuần Tốn)

—Tuỳ (Theo) IV/2 , 17 (Trạch Lôi Tuỳ)

—Tấn (Tiến Lên) VIII/3, 35 (Hoả Địa Tấn)

—Tuỵ (Tụ Họp) VIII/2, 45 (Trạch Địa Tuỵ)

—Tụng (Kiện Tụng) VI/1, 6 (Thiên Thuỷ Tụng)

—Tiểu Quá (Quá Mức ít nhiều) VII/4, 62 (Lôi Sơn Tiểu Quá)

—Tiểu Súc (Chứa Đựng ít, nuôi dưỡng ít, trở lực nhỏ) I/5, 9 (Phong Thiên Tiểu Súc).

—Tỉnh (Giếng) V/6, 48 (Thuỷ Phong Tỉnh)

—Thăng (lớn lên, tiến lên) V/8, 46 (Địa phong Thăng)

—Truân (Truân chuyên, Vất vả) IV/6, 3 (Thuỷ Lôi Truân).

—Tiết (Tiết Độ) II/6, 60 (Thuỷ Trạch Tiết)

—Vô Vọng (Không Nhầm, hồn nhiên, vô tội) IV/1, 25 (Thiên Lôi Vô Vọng)

—Vị Tế (Chưa thành tựu) VI/3, 64 (Hoả Thuỷ Vị Tế).

——————————————-

* Bị Chú: — Cách dùng 64 quẻ trên.

64 quẻ trên đây cho thấy cách thức vạch ra thành quẻ, bất kỳ là quẻ nào. 64 quẻ xếp theo ABC, nên dễ kiếm.

Mới đầu cho tên các quẻ, tiếp đến cho nghĩa quẻ, tiếp đến cho biết quẻ ấy nằm trong ô nào: I Kiền, II Đoài , III Ly, IV Chấn, V Tốn, VI Khảm, VII Cấn , VIII Khôn, và là quẻ thứ mấy trong ô đó: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.

Vậy cặp số La Mã và Ả Rập đi với nhau, vừa cho biết quẻ nằm trong ô nào, vừa là quẻ thứ mấy, và cho biết cách xếp thành quẻ.

Muốn vạch thành quẻ, trước hết:

Đổi số La Mã ra thành quẻ viết xuống dưới (nội quái), rồi đổi số Ả Rập ra thành quẻ, viết chồng lên trên. (ngoại quái).

Ví dụ: Ta thấy Vô Vọng IV/1, 25, ta biết ngay Vô Vọng là ở trong Ô Chấn và là quẻ thứ I,

Ta đổi IV thàng Chấn, viết xuống dưới. (nội quái, hạ quái).

Ta đổi 1 thành Kiền và viết chồng lên trên. (ngoại quái, thượng quái).

Con số 25 sau chỉ cho biết quẻ Vô Vọng là quẻ thứ mấy trong bộ Kinh Dịch. Nếu ta ghi nhớ Kinh Dịch có Thượng Kinh và Hạ Kinh. Thượng Kinh có 30 quẻ, Hạ Kinh có 34 quẻ, thì ta thấy ngay quẻ Vô Vọng là ở gần cuối Thượng Kinh, vì là quẻ thứ 25. Các quẻ khác cũng như vậy mà suy ra.

* Cuối cùng, cho biết cách đọc quẻ và vẽ quẻ theo lối người xưa. Nếu ta biết rằng:—

Kiền vi Thiên.

Đoài vi Trạch.

Ly vi Hoả.

Chấn vi Lôi.

Tốn vi Phong.

Khảm vi Thuỷ.

Cấn vi Sơn.

Khôn vi Địa.

Thì ta cũng vẽ được thành quẻ.

*Ví dụ, ta thấy Thiên Lôi Vô Vọng, thì ta liền biết quẻ Vô Vọng, phía trên là quẻ Kiền, phía dưới là quẻ Chấn. Như vậy ta sẽ vẽ ngay được.

 * Thiên lôi vô vọng
 Kiền
 Chấn

———————————————–

CHÚ THÍCH

[1] Trùng biên, Tống Nguyên Học Án, q. 3. tr. 878.

[2] Dịch chi vi thư cùng Thiên, Địa, Nhân chi tế; cứu tạo hoá chi nguyên, dĩ minh cát, hung, tiêu trưởng, tồn vong chi đạo, tu tề, trị, bình chi bản, đại nhi kinh luân quốc gia, tiểu nhi lập thân, xử thế, thể nhi dụng chi, vô bất tại thị.

Trương kỳ Quân, Trung Hoa Ngũ Thiên niên sử, q. 2. chương 12: Chu Dịch tr. 123.

[3] Dịch chi vi thư, quảng đại tất bị, vô sở bất bao, nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi minh Thiên Nhân hợp nhất chi Đạo.

Như trên, tr. 123.

[4] Dịch quán quần kinh chi thủ.

易 冠 群 經 之 首。

Như trên. tr. 123.

[5] Dịch vi ngũ kinh chi nguyên. 易 為 五 經 之 元。

[6] Dịch chi vi thư, cùng lý tận tính, dĩ chí ư mệnh.

易 之 為 書 窮 理 盡 性 以 至 於 命。

Dịch kinh, Thuyết quái, chương 1, tiết ba.

[7] Chu Dịch Xiển Chân, Tam Tông Miếu xuất bản, tr. 21.

[8] Trung ngũ điểm hựu tượng Thái Cực hàm Tứ Tượng, Trung nhất điểm hựu tượng Thái Cực hàm Nhất Khí.

中 五 點 又 象 太 極 含 四 象。 中 一 點 又 象 太 極 含 一 氣。

Văn Đạo Tử giảng đạo tinh hoa lục, tr. 9a.

[9] Tham Đồng Khế phát huy, tr, 24b.

[10] Như trên, tr. 24b, 25a.

[11] Lưu Nhất Minh, Chu Dịch Xiển Chân, Tam Tông Miếu xuất bản, tr. 29—30.

[12] Trung ngũ văn hựu tượng trưng Thái Cực, Trung nhất văn hựu tượng trưng Thái Cực hàm nhất khí.

中 五 文 又 象 徵 太 極。 中 一 文 又 象 徵 太 極含 一 氣。

Văn Đạo Tử gỉang Đạo Tinh Hoa Lục, tr. 11a.

[13] Thái Nhất giả Bắc Thần chi Thần Danh dã. Cư kỳ sở viết Thái Nhất, thường hành ư Bát Quái, nhật thần chi giao, viết Thiên Nhất.

Hoặc viết: Thái Nhất xuất nhập sở du, tức ư Tử Cung chi nội. ngoại kỳ tinh nhân dĩ vi danh yên. Cố Tinh Kinh viết: Thiên Nhất, Thái Nhất chủ khí chi thần, hành do đãi dã.

Tứ chính, tứ duy do bát Quái, Thần sở cư cố diệc danh chi viết Cung. Thiên Nhất hạ hành do Thiên Tử xuất, tuần thú tinh phương nhạc chi sự. Mỗi xuất tắc phục.

Dịch VI, q. hạ, tr. 3b.

[14] Thái Nhất hạ hành Bát Quái chi cung, mỗi Tứ nãi hoàn ư Trung Ương. Trung Ương giả, Bắc Thần chi sở cư, cố nhân vị chi Cửu Cung. Thiên Số đại phân, dĩ Dương xuất, Âm nhập. Dương khởi ư Tý, Âm khởi ư Ngọ. Thị dĩ Thái Nhất hạ cửu cung, tòng Khảm cung Thuỷ. Khảm Trung Nam Thuỷ diệc ngôn vô thích dã. Tự thử nhi tòng ư Khôn Cung, Khôn mẫu dã. Hựu tự thử nhi tòng Chấn Cung, Chấn trưởng nam dã. Hựu tự thử nhi tòng Tốn cung. Ký hựu tự thử nhi tòng Kiền cung. Kiền phụ dã. Tự thử nhi tòng Đoài Cung. Đoài thiếu nữ dã. Hựu tự thử nhi tòng ư Cấn cung. Cấn thiếu nam dã. Hựu tự thử nhi tòng ư Ly cung. Ly trung nữ dã. Hành tắc chu dã. Thượng du tức ư Thiên Nhất, Thái Nhất chi cung nhi phản ư Tử Cung. Tòng Khảm cung thuỷ, chung ư Ly cung.

Xem Dịch VI.

[15] Như trên. tr. 4a

[16] Như trên. tr. 3a.

[17] Như trên. tr. 11a.

[18] Văn Đạo Tử giảng đạo tinh hoa lục, tr. 9b.

[19] Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ, tr. 15.

[20] Ngô Cảnh Loan, Huyền Không bí chỉ.

[21] Dịch chi vi thư, nhất Âm, nhất Dương nhi dĩ. Tiên hậu, thuỷ chung. động tĩnh, hối minh, thượng hạ, tiến thoái, vãng lai, hạp tịch, doanh hư, tiêu trưởng, xuất nhập, hành tàng, hà thích chi nhi nhất Âm, nhất Dương tai?

Trương Kỳ Quân, Trung Quốc Ngũ Thiên Niên Sử, q. 2, tr.

************         

CHƯƠNG X

THÂN HỌC MINH TUYÊN.

(TÌM HIỂU VỀ CON NGƯỜI)

Hai chữ Thân Học thực ra không phải là chữ mới mẻ. Nó được rút ra từ quyển Huỳnh Đình Ngoại Cảnh do Tung Ẩn Tử chú, xuất bản năm 1793, nơi quyển Thượng, tr. 15a.

Chương này có mục đích trình bày tách bạch về con người, về cơ thể con người, để hiểu rành về con người, như vậy mới hiểu được cung cách tu luyện của đạo Lão.

Thất Chân Nhân Quả nơi đầu chương II, có thơ:

Liễu ngộ do như dạ đắc đăng,
 了 悟 猶 如 夜 得 燈

Vô song, ám thất, hốt quang minh
 無 窗 暗 室 忽 光 明

Thử thân bất hướng kim sinh độ,
 此 身 不 向 今 生 渡

Tiện hướng hà thời độ thử thân?
 便 向 何 時 渡 此 身

Dịch:

Ngộ rồi, như tối có ngọn đèn,

Nhà tuy không cửa, sáng chưng lên,

Thân này, chẳng tính kiếp này độ,

Đợi đến kiếp nào, độ cho nên?

* Nhân Thân Tiểu Thiên Địa: —

Đạo Lão cho rằng con ngưỡi là tiểu thiên địa. Tiên Học Từ Điển nơi chữ Nhân, Thiên có viết:

“Nhân thân là 1 tiểu thiên địa. Trên trời, những vì tinh tú có thể đếm được là 84.000. Nhân thân có 84.000 ngàn lỗ chân lông.

Trời đất cách nhau 84.000 dặm, Tâm Thận cách nhau 8 tấc 4 phân.

Trời đất lấy 12 tháng làm 1 năm, nhân thân lấy 12 kinh làm 1 vòng.

Trời đất có Lục Khí, nhân thân có Lục Phủ.

Trời đất có Ngũ Hành, nhân thân có Ngũ Tạng.

Trời đất có Nhật Nguyệt, nhân thân có 2 mắt.

Trời đất có Gió Mây. Khí Gió Mây 1 ngày, 1 đêm lên xuống 25.500 độ. Nhân thân có khí Hô Hấp, Thổ Nạp, một ngày, một đêm tiến xuất 25.500 lần. Mỗi phút có 16 tức (hô+hấp), 24 giờ có 1440 phút. Như vậy 1 ngày, 1 đêm có 23.040 tức.

Trời đất có Thiên Hà tiếp Hoàng Hà. Con người có Thiên Căn (Nê Hoàn) tiếp Địa hộ (Hội Âm= Vĩ Lư).

Trời đất có Mây, Mưa, Nhân Thân có Khí, Dịch.

Nguyên Hoà Tử cho rằng: Nhân Thân đại để đồng Thiên địa.

Chính vì thế mà Trời đất có Tam Thanh: Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh, thì trong con người cũng có Tam Đơn:

— Nê Hoàn hay Thượng Đơn Điền là Ngọc Thanh Cung.

— Giáng Cung hay Trung Đơn Điền là Thượng Thanh Cung.

— Khí Hải là Hạ Đơn Điền hay Thái Thanh Cung. [1]

Trời có 9 cung, thì đầu con người cũng có 9 cung.

Trời có Thiên Môn, thì trong con người Nê Hoàn là Thiên Môn.

* Nhập Dược Kính có thơ:

Nê Hoàn nhất khiếu đạt Thiên môn.
 泥 丸一 竅 達 天 門

Trực Thượng Hư Hoàng Ngọc Đế Tôn.
 直 上 虛 皇 玉 帝 尊

Thử thị Chân Nhân lai vãng lộ,
 此 是 真 人 來 往 路

Thời thời khoá hạc khứ triều nguyên. [2]
 時 時 跨 鶴 去 朝 元

Dịch:

Nê Hoàn một khiếu đạt Thiên Môn,

Thẳng tới Hư Hoàng Ngọc Đế Tôn.

Ấy chính Chân Nhân lai vãng lộ,

Cưỡi hạc băng chừng hướng phản hoàn. .

* Trời có Bắc Đẩu Thất Tinh (Thiên Cương):

1. Dublé:  Khu Tinh, Khôi Tinh, Tham Lang,

2. Merak:  Tuyền Tinh, Cự Môn.

3. Phecda:  Ky Tinh, Lộc Tồn.

4. Megrez:  Quyền Tinh, Văn Khúc.

5. Alioth:  Hành Tinh, Liêm Trinh.

6. Mizar: Khai Dương, Vũ Khúc.

7. Alkaid: Giao Quang, Phá Quân.

Bốn sao trên hợp lại là Khôi; ba sao dưới hợp là là Cương (Tiêu), hay Đẩu Bính (Chuôi sao Bắc Đẩu) [3].

* Ứng với Bắc Đẩu Thất Tinh, thì nơi con người có Thất Khiếu: 2 mắt, 2 tai, hai lỗ mũi, 1 mồm. Thất Khiếu còn được gọi là Thất Nguyên, hay Thất Khổng.

* Trên trời có Tử Vi Viên là Hậu Cung hay Hậu Tẩm của Thiên Hoàng Thượng Đế. Trong con người có Nê Hoàn, Động Phòng ở trung điểm đầu não.

* Ở trên trời có Thái Vi Viên . Thái Vi Viên là Minh Đường, là Thiên Đình, là nơi Thượng Đế ra thiết triều, thì nơi con người Trán cũng được gọi là Thiên Đình. Từ Trán vào 1 tấc là cung Minh Đường.

* Trên Trời có Nhật, Nguyệt, Ngũ Tinh:

—Nhật = Thái Dương, Kim Ô.

—Nguyệt = Thiềm Thừ, Ngọc Thố, Thiềm Cung, Quảng Hàn, Hằng Nga.

—Hoả Tinh (Mars) = Huỳnh Hoặc, Phạt tinh, Vân Hán, Chấp Pháp, Thiên chi Sứ. Chu Kỳ: 2 năm.

—Kim Tinh (Venus) = Khải minh, Sao Mai, Trường Canh hay Sao Hôm, Huỳnh Tinh hay Thái Bạch. Chu Kỳ: 1 năm.

—Thuỷ Tinh (Mercure)= Thần Tinh, Tiểu Chính, Thuỷ Diệu. Chu Kỳ: 1 năm.

—Mộc Tinh (Jupiter)= Tuế Tinh, Trùng Hoa, Kỷ Tinh, Mộc Đức. Chu Kỳ: 12 năm.

—Thổ Tinh (Saturne) = Trấn Tinh, Thổ Tú. Chu Kỳ: 28 năm.

* Nơi con người: —

Mắt trái là Thái Dương, Nhật .

Mắt phải là Thái Âm, Nguyệt.

Trán là Hoả Tinh.

Mũi là Thổ Tinh.

Tai trái là Mộc Tinh.

Tai phải là Kim Tinh.

Mồm là Thuỷ Tinh.

Trên Trời có vòng Hoàng Đạo. Trên vòng Hoàng Đao đó có 28 cung sao gọi là Nhị Thập Bát Tú (Cũng ví như 28 cột Kilomet, để chỉ xem Nhật, Nguyêt, Ngũ Tinh đang di chuyển ở chổ nào trên đường Hoàng Đạo.)

Nhị Thập Bát Tú có 28 vì sao chia thành 4 chòm Thanh Long (chòm 7 sao phía Đông, Chu Tước (chòm 7 sao phía Nam), Bạch Hổ (chòm 7 sao phía Tây), Huyền Võ (chòm 7 sao phía Bắc), và có tên như sau:

1.— Ngũ Hành, Nhật+Nguyệt
Mộc
Kim
Thổ
Nhật
Nguyệt
Hoả
Thuỷ

2.— Chòm sao Thanh Long
7 sao phía đông
Giác M. Giao
Cang—K—Long
Đê —T—Lạc
Phòng—N—Thố
Tâm—N—Hồ
Vĩ —H—Hổ
Cơ —T—Báo

3.— Chòm sao Huyền Vũ
7 sao phía Bắc
Đẩu—M—Giải
Ngưu —K—Ngưu
Nữ —T—Bức.
Hư—N—Thử
Nguy—N—Yến
Thất—H—Trư
Bích—T—Du

4.— Chòm sao Bạch Hổ.
7 sao phía Tây.
Khuê—M—Lang
Lâu—K—Cẩu.
Vị—T——Trĩ
Mão—N—Kê
Tất—N—Ô
Chuỷ—H—Hầu
Sâm—T—Viên
5.— Chòm sao Chu Tước
7 sao phía Nam
Tỉnh—M—Cang
Quỉ—K—Dương
Liễu—T—Chương
Tinh—N—Mã
Trương—N—Lộc
Dực—H—Xà
Chẩn—T—Dẫn.

6.—Ngày Thứ trong tuần:—
 5
 6
 7
Chủ Nhật
 2
 3
 4

* Bị Chú: 28 con thú trong 28 tú cũng dựa vào 12 con giáp và những con thú tương tự theo thứ tự sau đây:

Giao (le crocodile), Long (le dragon); Lạc (le hérisson, Con nhím), Thố (le lièvre) Hồ (le renard), Hổ (le tigre); Báo (le léopard), Giải (le licorne, Con Kỳ Lân, con giải trại); Ngưu (le boeuf), Bức (la chauve—souris); Thử (le rat)û, Yến (l’hirondelle); Trư (le porc), Du (le pangolin, Con Tê Tê); Lang (le loup, Chó Sói), Cẩu (le chien); Trĩ (le faisan), Kê (le coq; Ô (la corneille), Hầu (le grand singe); Viên (le petit singe), Cang (le chien sauvage, Chó rừng); Dương (le bélier), Chương (le grand cerf, loại Hươu lớn); Mã (le cheval), Lộc (le petit cerf); Xà (le Serpent), Dẫn (le ver—de—terre, Con Giun). Sách Tam Nguyên Đại Lược của Lê Văn Nhàn, nơi trang 56 cho nhiều tên khác với bảng này, nhưng tôi không theo. Bảng của tôi theo Gustave Schlegel. Theo tôi, ai thích gọi gì, thì gọi. Không nên cố chấp.

* Nhị thập bát tú là: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ. Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm. Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Chương, Dực, Chẩn. Quyển Uranographie Chinoise cuả Gustave Schlegel, T. 1, từ tr. 583 đến tr. 595, có đề cập đến 28 con thú cuả Nhị Thập Bát Tú.

Nhìn vào đồ bản trên, sau chữ Giác chẳng hạn, có viết tắt chữ M= Mộc. Các chữ viết tắt khác là K= Kim, T= Thổ, N= Nhật, N= Nguyệt, H=Hoả, T=Thuỷ . Trông vào bảng trên, ta thấy bao giờ các Sao Phòng, Hư Mão, Tinh cũng vào Chủ Nhật. Các ngày có sao: Giác, Đẩu, Khuê, Tỉnh cũng là thứ 5 v.v..

Ở nơi con người, thì 2 mạch Nhâm, Đốc hợp lại thành vòng Hoàng Đạo, và Nhị Thập Bát Tú cũng ở trên 2 mạch đó. Ở nơi quyển Sao Kiểu Động Chương, quyển Hạ, trong 8a, có một đồ hình vẽ con người với Nhị Thập Bát Tú rải rắc trên 2 mạch Nhâm, Đốc. Ví dụ: Nơi Hội Âm là 2 sao Hư Nguy. nơi Vĩ Lư là sao Ngưu Đẩu. Nơi Giáp Tích là Đê, Phòng, Tâm, nơi đỉnh đầu là Liễu, Tinh, Trương; nơi trán là Tỉnh, Quỉ; nơi ngực là Chuỷ Sâm; nơi Tỳ là Vị, Mão, Tất; nơi Hạ Đơn Điền là Khuê, Lâu v.v…

Đằng khác, trong con ngưới cũng có Ngũ Nhạc:

—Nam Nhạc: Hành Sơn là Trán.

—Trung Nhạc: Tung Sơn là Mũi.

—Đông Nhạc: Thái Sơn là Má trái.

—Tây Nhạc: Hoa Sơn là Má phải.

—Bắc Nhạc: Hằng Sơn là Cằm. [4]

Con người có Tứ Độc (Bốn sông):

—Tai là Giang (sông Giang).

—Miệng là Hoài (sông Hoài).

—Mắt là Hà (sông Hà)

—Mũi là Tể. (sông Tể)

—Đốc Mạch được gọi là Hoàng Hà.

—Nhâm Mạch là Tào Khê.

Trong con người cũng không thiếu gì biền: Khí Hải, Tuỷ Hải, Huyết Hải; suối: Dũng Tuyền; hang động: Thiên Cốc, Cốc Thần, Tiến Cốc; ao: Ngọc trì, Thiên Trì; giếng: Kiên Tỉnh; ngòi lạch: Hậu Khê, Thiếu Trạch, Thuỷ Cấu; đống, gò: Thương Khưu, Lương Khưu v.v…

Quan niệm Tam Tài về con người.

Đạo Lão quan niệm con người có 3 phần chính: Đó là: TINH, KHÍ, THẦN.

Có khi TINH, KHÍ, THẦN còn được gọi bằnh danh từ khác là: THÂN, TÂM, Ý.

Đạo Lão gọi THÂN, TÂM, Ý là TAM THỂ hay TAM BẢO.

Tiên Học Từ Điển nơi câu THÂN, TÂM, Ý TAM THỂ viết: Tinh thì sinh ở Thân, Khí thì tàng ở Tim, Thần thì ẩn trong Ý.

Thân mà bất động thời TINH hoá.

Tâm mà bất động thời KHÍ hoá.

Ý mà bất động thời THẦN hoá.

Não BỘ và Nê Hoàn.

Khảo về Đạo Lão, ta thấy các Đạo Gia rất chú trọng đến óc não, đến Nê Hoàn.

Trong quyển Huỳnh Đình Kinh chú giải, tôi đã bàn rất nhiều về Nê Hoàn Cung và Não Bộ. Hôm nay, tôi chỉ tóm lại vắn tắt rằng:

Nê Hoàn chính là Thiên Tâm, nơi Thượng Đế ngự trị trong con người. Đó chính là nơi mà con người có thể siêu thăng, có thể hợp nhất với Thượng Đế.

Trong quyển Tham Đồng Khế phát huy, Toàn Dương Tử, Duy Diễm, khi bình về câu: Chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ qui trung, đã viết:

“Chân nhân là Chân Thần, Thâm Uyên là Thái Uyên, là Nê Hoàn Cung”.[5]

Có điều đáng chú ý là các Đạo Gia Ấn Độ cũng chủ trương y thức như vậy. Họ gọi Nê Hoàn Cung là Sahasrara Chakra (Bông Hoa Sen nghìn cánh). Và cho rằng, nơi Liên Hoa Tâm đó, người Đạo Sĩ có thể kết hợp với Thượng Đế. [6]

Óc não cũng chiếm một địa vị rất quan trọng trong Đạo Lão.

Các Đạo Gia thường nói: Hoàn tinh, bổ não.

Các Đạo Gia hiện đại, dựa vào khoa học ngày nay mà suy thêm rằng: Gian Não (Diencéphale) nếu suy, thì con người sẽ già đi. Cho nên tu luyện cốt là bồi bổ Gian Não, cho con người CẢI LÃO HOÀN ĐỒNG.

Tiên học diệu tuyển, nơi trang 197 viết:

“Phép dưỡng sinh là tiềm thần nội thị, cho khí ngũ tạng tụ về Đan Điền. Từ Đan Điền, khí được huấn tập, vào trong giữa Não. Não được gọi là Côn Lôn, ở trên tượng Trời. Bổ Thiên tức là Bổ Não, theo Huỳnh Đình Kinh. Cho nên Huỳnh Đình Ngoại Cảnh viết: Tử dục bất tử tu Côn Lôn, chính là vì vậy.[7]

Tĩnh Trung Ngâm có câu: “Ngã tu Côn Lôn đắc Chân quyết.”

Phục Mệnh Thiên có câu:

“Hồi hướng ngã gia viên lý,

Tài bồi nhất mẫu Thiên Điền.”

Dịch:

Nhà xưa, vườn cũ quay về,

Thiên Điền một mẫu, lo bề chăm nom…

Hoàn Nguyên Thiên có câu:

Ngộ Đạo hiển nhiên minh khuếch lạc,

Nhàn nhàn đoan toạ, vận Thiên Quan.

Dịch:

Ngộ Đạo dĩ nhiên tường đoan đích,

Thung dung ngồi thẳng vận Thiên Quan.[8]

* Ngày nay, thế giới có lập ra nhiều viện nghiên cứu về Não Bộ. Liên Hiệp Quốc cũng có Tổ Chức Nghiên Cứu Não Bộ Quốc Tế (International Brain Research Organisation, IBRO). Mong rằng các tổ chức này sẽ phối hợp với các Đạo Gia, để chứng minh tầm quan trọng của Gian Não (Diencéphale), của Nê Hoàn (troisième Ventricule), và của các Xoang não (Ventricules)

************         

* Tam Đan Điền
.

Đạo Lão chủ trương nơi con người có Tam Đan Điền: Thượng Đan Điền, Trung Đan Điền, Hạ Đan Điền.

—Thượng Đan Điền thì mọi người đều công nhận là Nê Hoàn. Còn Trung Đan Điền và Hạ Đan Điền thì từ danh xưng, đến vị trí đều thay đổi tuỳ theo các Đạo Sĩ.

Tầm quan trọng của Tam Đan Điền cũng vậy. Người thì cho Thượng Đan Điền là Nhất, người thì cho Hạ Đan Điền là Nhất.

Nơi đây ta sẽ bàn kỹ lại vị trí của Tam Đan Điền.

Thượng Đan Điền hay Nê Hoàn Cung:

Là nơi Luyện Thần Hoàn Hư.

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

Hồn Bách Linh ư Thiên Cốc,

Lý ngũ khí ư Nê Hoàn.[9]

Còn có những câu thông thường như: Tam hoa qui đỉnh, Ngũ khí triều nguyên tưởng đã đủ để nói lên tầm quan trọng vô song của Nê Hoàn.

—Trung Đan Điền.

a—Nơi khoảng giữa 2 huyệt Chiên Trung. Tương ứng vơí Plexus cardiaque.

b—Ngay dưới tim.

c—Giáng cung. Sách Trúc Cơ Tham chủng, nơi tr. 89 coi Giáng Cung là Chấn Thủy.

—Nơi Chấn Thủy (ngang Huyệt Trung Uyển), cũng còn gọi là Huỳnh Đình.

—Khoảng Tì (Tì Thổ trung ương chi vị)

—Giữa Tâm và Thận. Tức là cách Tim 3 tấc 6, cách Thận 3 tấc 6, còn Trung Đan Điền vuông vắn 1 tấc 2. Tổng cộng là 8 tấc 4. Tương ứng với khoảng cách giữa Trời và Đất. Khoảng này tương ứng vớí Plexus Solaire.

—Hạ Đan Điền.

a—Nơi rốn.

b—Khoảng trống sau rốn và trước xương sống.

c—Dưới rốn 1 tấc 3 phân.

d—Dướí rốn 1 tấc rưỡi (Theo Châm Cứu).

e—Dưới rốn 2 tấc 4 phân (Bão Phác Tử)

g—Dưới rốn 3 tấc (Huỳnh Đình Nội Cảnh chương 3: Hoành Tân tam thốn Thần sở cư). Khoảng này tương ứng với Plexus Hypogastrique) [10]

Theo Khoa Học ngày nay, thì các Trung Đan Điền, Hạ Đan Điền vì tương ứng vơí các Tùng Thần Kinh Tự Trị trong con người, nên có thể được coi như là những bình tụ điện (Batteries). Nếu nhờ vận khí, điều tức, mà biết tụ điện vào đó, rồi lại biết cách dẫn điện, dùng điện từ đó mà ra, thì sẽ khoẻ mạnh, sẽ chữa được bệnh cho người khác. [11]

************         

* HAI MẠCH NHÂM ĐỐC

Đạo Lão chuyên chú vận khí.

Khi còn ở những giai đoạn thấp, người tu đạo chỉ biết hít thở thông thường, vận khí hô hấp thông thường, tụ khí vào Trung Đơn Điền, hay Hạ Đơn Điền. Lúc này, chỉ thở phàm khí mà thôi, qua phổi.

Nhưng tới mức Thượng Thừa, phải biết vận Chân Khí, hay Tiên Thiên Khí, qua hai mạch Nhâm Đốc. Khi đã biết vận Chân Khí qua 2 mạch Nhâm Đốc, thì phàm tức nơi phổi dần dần đình lại. Huỳnh Nguyên Kiết nói: Phàm tức đình, nhi Chân tức hiện. [12] Lúc ấy mới thật sự là Luyện Nội Đan.

Chính vì thế, mà hai mạch Nhâm Đốc được gọi là: Tu đan đạo lộ —Chu Thiên —Đan trình —Trường thành—CHÂN TỨC ĐẠO —Hà xa lộ —Vô tự kinh.

Mạch Đốc khởi từ huyệt Vĩ Lư, cuối xương sống, ăn thông qua tủy xương sống và Nê Hoàn, Bá Hội, vòng qua đỉng đầu và tận cùng nơi huyệt Ngân Giao (tức là nơi tiếp giáp phía trong môi trên và lợi trên.)

Mạch Nhâm khởi từ huyệt Thừa Tương, nơi chỗ lõm, phía môi dưới, chạy thẳng theo lằn giữa cổ, ngực, bụng, và tận cùng ở huyệt Hội Âm (giũa cốc đạo và Âm hành).

Mạch Đốc vận Chân Khí lên Nê Hoàn.

Mạch Nhâm vận Chân Khí từ Nê Hoàn xuống Hạ Đan Điền.

Mạch Đốc còn có những tên: Ngân Hà, Hoàng Hà, Hoàng Đạo, Hắc Đạo, Dương Đạo, Khí Lộ, Khí quản, Thiên Kinh.

Mạch Nhâm còn có những tên: Thủy cấu, Xích đạo, Thần Lộ, Hồng Khê, Tào Khê. [13]

Hai mạch Nhâm Đốc như vậy không liền nhau: Trên thì hở nơi mồm, dưới thì hở nơi Giang Môn, cốc đạo. Nên lúc vận chân khí, phải đưa khoá lươĩ, nghĩa là đưa lưỡi lên cúa, gọi là Lập Thượng Thước Kiều, và khép chặt Giang Môn, gọi là Bắc Hạ Thước Kiều.

Tiền Tam Quan, Hậu Tam Quan. Đó là những quan ải đặt trên 2 mạch Nhâm, Đốc.

* Tiền Tam Quan.

a. Thượng Quan: (nơi trán) Ấn Đường —Mi Tâm—Thiên mục —Thiên môn —Thiên Đình —Sơn căn —Hồn môn —Khuyết đình —Hoàng Khuyết —Thiên Thê —Kim Kiều—Thượng Thước Kiều.

b. Trung Quan: (nôi cồ họng, cuống họng): Trùng Lâu —Trùng đường —Trùng Hoàn —Hầu Lùng —Quan Âm.

c. Hạ Quan: (nơi tim) Giáng Cung —Tâm Điền —Tâm Cung—Giáng Thất —Chính Thất —Đan Điền—Xích Huyện —Linh Đài —Linh Thủ —Linh Khuyết —Linh Sơn Tháp —Thủ quan —Huyền Hương —Thủ Linh —Lư Gian —Ôn Khang.

* Hậu Tam Quan.

a. Thượng Quan (nơi chỗ xương gồ sau ót): Ngọc Chẩm—Tú Đài —Thiết Bích —Ngọc Kinh Sơn —Thiên Cốc Quan.

b. Trung Quan (Khoảng đốt xương sống lưng, onzième dorsale): Giáp Tích —Song Quan —Tích Trung —Tích Du —Thiên Địa Quan—Lộc Lô Quan —Thượng Thiên Thê.

c. Hạ Quan (cuối xương cụt) Vĩ lư —Hàm Trì —Huyết Hải —Nhân Môn —Cấm Môn —Huyền Cốc —Trường Cốc —Trường Cường —Âm Đoan —Hội Dương —Quỉ Lộ —Cốc Đạo —Phách hộ —Đào Khang —Quyết Cốt —Tích Vĩ —Khí Khích —Quảng Hàn —Địa Dung —Địa Trục —Tam Xoá Khẩu —Bình Dị Lộ —Sinh Tử Quan —Thái Huyền Quan —Hà Xa Lộ —Tào Khê Lộ —Triều Thiên Đỉnh —Khí Hải Môn—Hạ Thước Kiều —Tàng Kim Đẩu —Tam xoá cốt —Cưủ trùng Thiết Cổ —Tam túc Kim Thiền —Âm Dương Biến Hoá chi hương. [14]

************         

LỤC PHỦ —— NGŨ TẠNG: —

Lục Phủ: Tam Tiêu (Thượng Tiêu, Trung Tiêu, Hạ Tiêu), (Vị, Đại Trường, Tiểu Trường, Đởm, Bàng Quang).

Ngũ Tạng: Tâm (tàng Thần), Phế (tàng Phách), Can (tàng Hồn), Tì (tàng Ý), Thận (tàng Trí).

Ngày nay, khi mà Khoa học đã thay Tim, cắt Gan, cắt Phôỉ, cắt Thận, thì thuyết trên ắt là đứng không vững. Trong quyển Huỳnh Đình Nội Cảnh bình giải của tôi, tôi đã chứng minh Thần, Hồn, Phách, Ý, Chí đều ở trong đầu não con người.

* Thập nhị Kinh Lạc: —

Trong con người có 12 Kinh 6 kinh Âm, 6 kinh Dương, 6 Kinh Thủ, 6 kinh Túc.

* Ba Kinh Dương:

—Thái Dương.

—Thiếu Dương.

—Dương Minh.

* Ba Kinh Âm:

—Thiếu Âm.

—Quyết Âm.

—Thái Âm.

(Ba kinh Dương xếp theo thứ tự từ Mạnh nhất đến Yếu nhất. Ba kinh Âm, xếp theo thứ tự từ Yếu nhất đến Mạnh nhất). Ta thấy hai kinh Âm Dương biểu lý với nhau bao giờ cũng theo định luật Dương Mạnh nhất đi vối Âm Yếu nhất, và ngược lại, còn Dương mạnh vừa thì đi cặp với Âm mạnh vừa, theo như đồ biểu trên. 12 Kinh có tên như sau:—

Âm Dương

Thái Âm xxx Dương Minh o
Quyết Âm xx Thiếu Dương oo
Thiếu Âm x Thái Dương ooo

12 kinh như sau: —

Tên Kinh Số huyệtThịnh Suy Thủ Thái Âm Phế kinh 11 Dần MãoThủ Dương Minh Đại Tràng kinh 20 Mão Thìn Túc Dương Minh Vị kinh 45 Thìn Tỵ Túc Thái Âm Tì kinh 21 Tỵ Ngọ Thủ Thiếu Âm Tâm kinh 09 Ngọ Mùi Thủ Thái Dương Tiểu Tràng kinh 19 Mùi Thân Túc Thái Dương Bàng Quang kinh 67 Thân Dậu Túc Thiếu Âm Thận kinh 27 Dậu Tuất Thủ Quyết Âm Tâm Bào kinh 09 Tuất Hợi Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu kinh 23 Hợi Tí Túc Thiếu Dương Đởm kinh 44 Tí Sửu Túc Quyết Âm Can kinh 14 Sửu Dần
(Châm bổ Kinh, vào giờ Kinh thịnh, châm tả Kinh vào giờ Kinh suy. Muốn nhớ thứ tự 12 kinh, học thuộc lòng mấy câu sau: Phế, Đại, Vị, Tì, Tâm, Tiểu, Bàng, Thận, Bào, Tiêu, Đởm, Can.)

Muốn biết đường Kinh chạy ra sao, từ đâu đến đâu, ta có đồ bản sau:

KỲ KINH BÁT MẠCH

Kỳ Kinh bát mạch là Nhâm, Đốc, Dương Duy, Âm Duy, Dương Kiều, Âm Kiều, Xung mạch, Đới mạch.

Đạo Lão chỉ đề cập đến mạch Âm Kiều, và chỉ dùng Huyệt Hội Âm. Hai mạch Nhâm Đốc lại trở nên quan trọng vô cùng. Còn các mạch khác như Xung, Đới ít khi đề cập tới. Châm cứu mới chỉ vẽ tường tận Kỳ Kinh Bát Mạch.

* Ít nhiều thuật ngữ Cơ Thể Học nên biết:

— Huyền ưng huyệt = Huyệt nước bọt nơi cổ họng.

— Thập nhị trùng lâu (hầu lùng) = Cuống họng, vừa thực quản, vừa khí quản.

— Ngọc Trì = Mồm.

— Ngọc Dịch, Lễ Tuyền, Ngọc Tân, Ngọc Tuyền, Đề Hồ, Tiên Tửu, Cam lộ, Kim Lễ= Nước bọt.

— Lưỡng mi gian = Khoảng giữa 2 làm mi.

— Sơn căn = Khoảng giữa 2 khoé mắt.

* Bị Chú:— Huỳnh Đình Kinh cho rằng đầu não, tạng phủ con người đều có thần ngự trị, cai quản. Đó cũng là một quan niệm đặc biệt cuả Đạo Lão. [15]

Chương này dĩ nhiên không thể bàn thật kỹ lưỡng về Thân Học. Vả như ta đã thấy: Thân đây chỉ là Cơ Thể, chỉ mơí là ảo thân, là Căn Nhà. Còn Chân Nhân ngôi nhà mới là Chủ Nhân Ông. Học về xác thân, về căn nhà bên ngoài cốt là giúp cho ta tìm cho ra Chủ Nhân Ông.

* Vậy có thơ rằng:

Tinh tinh nhất cá Chủ Nhân Ông,

Tịch nhiên bất động tại Linh Cung.

Đãn đắc thử trung vô quái ngại,

Thiên nhiên Bản Thể tự Hư Không.

Dịch:

Tỉnh tao một vị Chủ Nhân Ông,

Thanh Tĩnh Vô Vi tại Linh Cung.

Linh Cung thanh thản không vướng mắc,

Thiên Nhiên Bản Thể lộ chân dung.

*Lại có thơ rằng:

Ngũ uẩn sơn đầu, nhất đoạn không,

Đồng môn xuất nhập, bất tương phùng.

Vô lượng kiếp lai, nhẫm ốc trú,

Đáo đầu bất thức Chủ Nhân Ông.

Dịch:

Đầu non ngũ uẩn 1 vừng không,

Vào ra cùng cửa, chẳng tương phùng,

Từ vô lượng kiếp, thuê nhà ở,

Mà nào, có biết Chủ Nhân Ông… [16]

Chủ Nhân Ông là ai? Làm sao tìm ra được Chủ Nhân Ông? Những vấn đề đó, sẽ bàn nơi chương: Nhân sinh phát diệu, phía sau.

*Hết chính văn

************         

CHÚ THÍCH

[1] Huỳnh Đình nội cảnh, Tử Hà chú, tr. 2b.

[2] Nhập dược Kính, tr. 19b.

[3] Lưu Nhất Minh, Ngộ Đạo Lục, tr. 27.

Địa Lý Chính Tông, tr. 1, q. 6.

Đạo học từ Điển tr. 3.

[4] Ma Y Thần Tướng , đồ hình nơi trang 3.

[5] Tham Đồng Khế phát huy, Du diễm, q. trung, tr. 8b.

[6] Swami Vivekananda, The Complete Illustrated Book of Yoiga, Pocket Book, Simon and Shuster, dep. 5—54, 630 Fifth Avenue, New York 10020, Lulian Press edition, May 1960, pp. 249, 266, 325, 337—332, 408.

[7] 養 生 之 法 潛 神 內 視, 則 五 藏 之 氣, 聚 於 丹 田,

自 丹 田 薰 蒸, 達 於 腦 中。 腦 謂 崑 崙, 居 上 象 天,

補 天 即 黃 庭 經 之 補 腦。 所 謂 ﹕ 子 欲 不 死 修 崑 崙, 是 也。

Tiên học Diệu Tuyển, Lý Lạc Cầu biên, tr. 197.

[8] Du Diễm, Chu Dịch Tham Đồng Khế phát huy, q. trung, tr. 18.

[9] Nê hoàn: Nê thuộc Mậu Kỷ Thổ; Hoàn thị cửu tự gia nhất điểm. Cửu số Tiên Thiên thuộc Ly, hựu vi Dương Kim chi số. Nhất giả Tiên Thiên thuộc Khảm, hựu vi Chân Nhất chi Khí. Phi Cữu, phi Nhất thật chỉ Khảm Ly chi quan khiếu hợp thành thử Nê Hoàn dã.

Tu Chân Bất Tử Phương tr. 155.

… Tiên Thiên địa sinh, vị Nê Hoàn nhất huyệt, nãi nhất thân vạn khiếu chi Tổ Khiếu. Thử khiếu khai, tắc vạn khiếu tề khai dã. Nguy nguy cao tôn, vị Nê Hoàn Cung , tại Côn Lôn Phong đỉnh, nãi Nguyên Thần sở cư chi vị, thượng ứng Huyền Đô. Thị vạn thần hội tập chi hương dã.

Tham Đồng Khế phát huy, q. thượng, tr. 14b, 15a.

[10] Huỳnh Đình Kinh, Nguyễn Văn Thọ chú, nơi Chương 3, Chương 4 phần Khảo Luận và Chương 7 phần Bình Dịch.

Swami Vivekananda, The Complete illustrated Book of Yoga, p. 324.

[11] Prana can be stored up in the body, especially, in the solar plexus, as in a storage battery.

Swami Vivekananda, The Complete Illustrated Book of Yoga, p. 241.

…When one inhales, he is taking the prana, and storing in various nerve centers, especially in the solar plexus.

Như trên. p. 246.

…During pranayama exercises (yogic breathing exercises), prana vayu is generated by the intaking of breath, and apana vayu is generated by the exhaling process. The prana vayu is the efferent impulse that moves away from the brain and nerve centers.

During retention time (retention of breath) in pranayama, the Yogi unites these prana vayu and apana vayu (afferent and efferent nerve impulses) at the Muladhara Chakra (pelvic plexus). When the two impulses are united at this basic center (pelvic plexus), then this center will act like a dynamo, sending tremendous amount of pranic energy to stimulate the coiled power Kundalini, lying dormant in this center.

Như trên. p. 252.

[12] 此 即 凡 息 停 而 真 息 現。

Huỳnh Nguyên Kiết, Lạc Dục Đường ngữ lục, tr. 84.

Xem thêm:

—* 必 要 呼 吸 息 斷, 元息 始 行。 Như trên. tr. 34.

—* 息 凡 氣 而 見 胎 息。 Như trên. tr. 40.

—* 一 朝 凡 息 已 停, 真息 自 露。Như trên. tr. 43.

—* 人 心 不 死, 道 心 不生, 凡 息 不 停 , 胎 息 不 動 。 Như trên. tr. 140 v.v…

Xem thêm: Huỳnh Đình Nội Cảnh, Nguyễn Văn Thọ bình giảng, chương 20, chương Chân khí.

[13] Tiên Học từ điển tr. 2.

[14] Tiên Học Từ Điển , tr. 2, 3

[15] Nhân thân nhất tiểu Thiên Địa. Nguyên thủ tượng thiên, nãi Dương Thần sở thê. Nê Hoàn Cưủ Cung, Chư Thiên Đế Quân, sở đô chi cảnh. Đơn tượng dĩ Thủ vi Kiền, vi Đỉnh…Cưủ chuyển đơn thành, Dương Thần phá Đỉnh nhi xuất. Tức vi Thiên Tiên.

Địa Lý hợp bích trang 167.

Nhân bản Nguyên Dương, tàng Thần Nê Hoàn. Nê Hoàn Cửu Cung, Thiên Đế trạch yên. Vi Kiền vi Đỉnh, luyện tất thành tiên.

Địa Lý hợp bích trang 166.

[16] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 4b.

************         

CHƯƠNG XI

TÍNH MỆNH SONG TU

(TU THỂ XÁC LẪN THẦN HỒN.)

Về phương diện tu trì, tất cả các môn phái Đạo Lão đều chủ trương TÍNH MỆNH SONG TU. Vậy chúng ta cần nghiên cưú vấn đề.

Trong chương này, ta sẽ lần lượt khảo sát:

1. Tính Mệnh là gì?

2. Thế nào là Tu Tính?

3. Thế nào là Tu Mệnh?

4. Thế nào là Tính Mệnh Song Tu?

1. TÍNH MỆNH LÀ GÌ?

A. Theo đại đa số, thì Tính là Thái Cực, là Tuyệt đối, Mệnh là Âm, Dương là Tương đối.
Sách Tiên Học Tập Cẩm viết: “Thái Cực là Tính, Lưỡng Nghi là Mệnh. Tuy có 2, nhưng thực ra thời Tính làm chủ. Tính không sinh diệt, còn Mệnh thời không sinh diệt. Tính vô thuỷ chung, mà Mệnh thời có thủy chung.” [1]

Khưu Xử Cơ, trong quyển Đại Đơn Trực Chỉ viết:” Bí quyết Kim Đơn là tại hai chữ TÍNH, MỆNH mà thôi.

TÍNH là Trời, thường tiềm ẩn nơi đỉnh đầu, Mệnh là Đất, thường tiềm ẩn ở rốn. Đỉnh Đầu là TÍNH CĂN, rốn là MỆNH CĂN. 1 căn, 1 đế là căn nguyên, là tổ trời đất. TÍNH ở trong Đầu, là Diên, là Hổ, là Nước, là Kim. MỆNH ở nơi rốn, là Cống, là Long, là Hỏa, là Rễ…” [2]

Tào Văn Dật nữ chân nhân viết:

Thần thị Tính hề, Khí thị Mệnh,

Thần bất ngoại trì, Khí tự định.

Bản lai nhị vật, cánh thùy thân.

Thất khước tương hà vi bản tính?

Dịch:

Thần ấy TÍNH kia, Khí ấy MỆNH,

THẦN chẳng ngoại trì, Khí tự định.

Tính Mệnh chẳng thân, thân chi khác?

Mất Tính, Mệnh đi, âu sính vính.[3]

Chân Thạch Tử cho rằng: Thần là Tính, Tức (Khí, Hơi) là Mệnh. [4]

Ngộ Chân Trực Chỉ viết:

Tính là Pháp Thân thượng sự

Mệnh là Ảo Thân thượng sự.

Tính là Vô Vi chi đạo,

Mệnh là Hữu Vi chi đạo. [5]

Viên Giới Khuê cho rằng: “Tính là Trong, Mệnh là Ngoài. Lấy trong tiếp ngoài, thời Đại Đạo thành vậy.” [6]

Ngộ Chân Thiên và Xiển U (tức Ngộ Chân Thiên Xiển U) cho rằng: “Nội Dược liễu Tính, Ngoại Dược liễu Mệnh. Nội Dược là Tiên Thiên, Vô Tư, Vô Chứng. Ngoại dược là hữu vi, hữu tác, tự Hậu Thiên hoàn phản Tiên Thiên.” [7]

Tiên Học Tập Cẩm bàn về Tính Mệnh như sau:

Tính là gì?
— Tính là không hay, không biết, thuận theo luật Trời (thế tức là sống hồn nhiên,tiêu sái).

— Tính là cái gì:

— Tròn vành vạnh.

— Sáng chói chói.

— Sạch lâng lâng.

— Đỏ hây hây. (Thế nghiã là Tính là Bản Thể).

— Tính là Vô Dục để xem thấy Diệu (thấy những gì Vi Diệu).

Mệnh là gì?

Mệnh là nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh.

Mệnh là Có Dục để nhìn thấy Kiếu (thâý những gì hữu tướng, hữu hạn). [8]

Tiên Học Diệu Tuyển cho Tính là Chân Tâm. [9]

Tiên Học Diệu Tuyển còn viện dẫn Thiền Sư Huyền Diệu Hòa Thượng, mà cho rằng Tính là Chân Như Bản Tính, là Tự Tính Thanh Tịnh Tâm, là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.[10]

Huyền Diệu Hoà Thượng cho rằng: Tính là Tuyệt Đối. [11]

Tính cũng có Khi được coi là Lý, và Mệnh là Khí. [12].

Tiên Học viết: “Âm Dương, Tính Mệnh chủng chủng dị danh, yếu ngôn chi, bất ngoại Thần Khí.” “Âm Dương, Tính Mệnh, nhiều tên khác nhau, chung qui vẫn không ngoài 2 chữ Thần, Khí.” [13]

B. Cũng có 1 số Đạo Gia cho rằng: Tính là Dương, Mệnh là Âm.
Viên Đốn Tử viết:

“Nhất là Đạo, Đắc Nhất là Đắc Đạo, Đạo là Vô Cực. Nhị là Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi là Âm Dương. Âm Dương là Tính Mệnh. Tính Mệnh là Thần, Khí.” [14].

C. Cũng có vài người chủ trương Tính Mệnh đều là Tuyệt Đối.

Tính là Nguyên Thuỷ Chân Như, Mệnh là Tiên Thiên Nhất Khí. [15]

Lưu Ngộ Nguyên viết: “Tính Mệnh bất tại nhãn,nhĩ, tị,thiệt, thân, bất tại Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, bất tại tam bách lục thập cốt tiết, bất tại tứ chi, bách mạch, huyết dịch biệt hữu cá, vô phương, vô sở, vô hình, vô tượng, đích bí mật vật sự, bất tại nội, bất tại ngoại, chính tại Hư Vô, Tịch Liêu chi cảnh…[16]

D. Tổng Luận.

Tham khảo các Đạo gia, các Thiền Sư danh tiếng, ta đi đến kết luận như sau:

Tính là Tuyệt Đối, Mệnh là Tương Đối.

Con người có 3 phần: Thần, Hồn, Xác hay Tinh, Khí, Thần, thì Thần là Bất biến, là Tuyệt Đối.

Còn Hồn hay Tiểu Ngã thì đầy thất tình, lục dục, biến thiên, tương đối, nên cần phải tu.

Xác con người cũng biến thiên như vậy, và cũng cần phải gìn giữ cho mạnh khoẻ, hẳn hoi, cũng cần tu luyện nữa.

Thần là Tính.

Mệnh là Xác, Hồn.

Các Tông Phái Đạo Lão đều chủ trương Tính Mệnh song tu. Nhưng Bắc Tông thời lo Tu Tính nhiều hơn, họ chủ trương: “Tam phân mệnh công, Thất phân Tính học”, “Luyện kỷ, hoàn Hư”. Họ có nhiều sách như Trùng Dương Toàn Chân Tập, Đơn Dương Chân Nhân ngữ lục, Đại Đơn trực chỉ, Bàn Khê Tập, Thanh Thiên ca chú v.v…

Còn Nam Tông thời:” Ngôn Mệnh giả đa, ngôn Tính xứ thiểu.” Họ thường: “Tường vu Mệnh, nhi lược vu Tính.” (Nói rõ về Mệnh, nói sơ về Tính), hay Tiên Mệnh hậu Tính.

Họ muốn “Tính Mệnh Song Tu, hình Thần câu diệu.”

Họ có 7 giai đoạn tu luyện như sau: Ngưng Thần Định Tức, Vận Khí khai Quan, Bảo Tinh luyện Kiếm, Thái Duợc trúc Cơ, Hoàn Đơn Kết Thai, Hỏa Phù Ôn Dưỡng, Bão Nguyên Thủ Nhất. Họ ưa đọc: Ngộ Chân Thiên, Hoàn Nguyên Thiên.

Vì thế tôi dịch: “Tính Mệnh song tu” là “Tu xác Thân lẫn Thần Hồn”.[17]

Theo Lưu Nhất Minh, thì “tu Tính Mệnh xong rồi, chỉ còn Thiên Lý, thì mới thấy được Bổn Lai Diện Mục. Theo Nho, thì gọi là “Minh thiện phục sơ”, Đạo thì gọi là “Hoàn Nguyên Phản Bản.” (Dưỡng Chân Tập trọn bộ và Châu Dịch Xiển Chân, Nguyễn Minh Thiện, Ấn hành tại Hoa Kỳ,1994, tr. 13 Chu Dịch Xiển Chân.)

**************     

2. THẾ NÀO LÀ TU TÍNH.

Nếu ta biết Tính là Tuyệt Đối, thì Tu Tính đòi hỏi 1 điều kiện tiên quyết là Giác Ngộ được Bản Tính ấy.

Chính vì vậy mà các Đạo Gia thường nói: “Mệnh yếu truyền, Tính yếu ngộ, Hay Tính khả tự ngộ, Mệnh yếu sư truyền.”

Khi bàn đến Tu Tính, người xưa thường nói: “Vô tu, vô chứng, Thiên nhiên cụ túc.” “Chẳng có gì mà Tu, chẳng có gì mà chứng. Thiên nhiên đã đầy đủ” [18]

Tu Tính tức là sống hồn nhiên vô tư, thảnh thơi trong lòng tạo hoá: Đó chính là: “Bất thức, bất tri, thuận Đế chi tắc.” [19]

Chính vì thế mà Châm Thạch Tử cho rằng: “Một khi đã mở Đạo Nhỡn, thời vạn năm là một niệm, một niệm là vạn năm, làm theo sở thích, cái gì cũng được.” [20]

Cũng được, là cái gì cũng đúng theo luật Trời, như Luận Ngữ đã nói: “Tòng Tâm sở dục, nhi bất du củ” (Luận Ngữ . 11,4)

Cốc Dương Tử viết: Bất thủ khiếu, bất điều tức, hư cực, tĩnh đốc, nhất niệm bất sinh, thử thượng thừa chi công phu dã. [21]

Đạo Sĩ Hồ Hỗn Nhiên bình luận về Tu Tính như sau: “Vô vi là luyện kỷ, là Tính Công, là khử Tam Tâm, diệt Tứ Tướng, tuyệt Lục Dục, đoạn thất tình, không còn bận tâm lo lường thế sự. “[22]

Viên Giới Khuê cho rằng: “Tu Tính là tức lự, vong cơ, hợp tự nhiên.” [23] “Dẹp bỏ lo lường, thoát cơ duyên, thung dung vui sống, hợp tự nhiên.”

Văn Đạo Tử cho rằng: “Tính là Thiên, là Đạo, cho nên Minh Tính là Minh Thiên, Minh Đạo…Giữ cho Tính được vẹn toàn là Hợp Đạo, là Đạt Thiên.” [24]

Ông chủ trương: “Tu Tính là thanh tâm, quả dục, thanh tĩnh, vô vi…lòng luôn hướng về Thượng Đế,” [25]

Tóm lại, Tu Tính là Hư Tâm, Nhập Định, Xuất Thần, Hoàn Hư, là Đại Giác, Đại Ngộ, là xuyên qua được bức màn hiện tượng, hình hài, tâm tư, đạt tới Chân Tính Hư Vô Diệu Giác, dữ Thiên Địa đồng thọ, [26] là Đạt Thiên, hợp Đạo .[27]

Nói theo danh từ của Đạo Lão, thì Liễu Tính tức là: Đắc Thai Tiên. [28]

Và vào được Trung Cung Mậu Kỷ của vũ trụ và của lòng con người, [29] là “Cùng thủ sinh thân, thụ khí sơ”, là khế hợp được với Thiên Tâm. [30]

Khảo về Tính, tôi thấy các Đạo Gia xưa đã tìm ra được cái gì chí quí chí bảo của Con Người vì Tính con người là Tuyệt Đối, là Pháp Thân, là “Vạn cổ trường tồn chi Thân”, là Hư Vô Diệu Giác, trường sinh cùng Trời Đất. (Xem chú 26).

Lại còn chỉ rõ Tính ở Nê Hoàn, Mệnh ở Khí Huyệt. [31] Thật là huyền diệu!

3. THẾ NÀO LÀ TU MỆNH.

Có người hỏi Văn Đạo Tử thế nào là Tu Mệnh. Ông đáp: “Đó là Tịch Cốc, Đạo Dẫn, là Bế Tức, Vận Khí, là Phục Thực Kim Thạch, Dược Vật, là Phòng Trung Thái Thủ Nguyên Âm”.[32]

Như vậy là Văn Đạo Tử trong có mấy chữ đã bao quát hết tất cả các phương pháp Tu Mệnh.

Tu Mệnh chính cũng là đại khái phép Luyện Đan thịnh hành từ thời nhà Hán với Ngụy Bá Dương và thời nhà Tấn với Bão Phác Tử.

Tu Mệnh đại khái được xây dựng trên niềm tin rằng: Nếu Tâm, Thân con người biết tu luyện cho đúng phương pháp, sẽ trở nên:

—Khang kiện.

—Trường sinh.

—Bất lão, bất tử.

Phương pháp tu Mệnh rất là đa tạp, nhưng nếu ta hiểu tu Mệnh là tu ảo thân, là tu những gì biến thiên nơi con người, thì ta thâý nó vẫn không ngoài những gì gọi là:

—Tu Tâm cho an định, sảng lạc.

—Tu Thân cho kiện khang, linh hoạt.

Tu Tâm như giới sân nộ (tức giận), giới sắc dục…

Tu Tâm tức là Thiểu Tư, Quả Dục theo chủ trương Lão Tử.

(Kiến tố, bão phác, thiểu tư, quả dục. Lão Tử, Đạo Đức Kinh, ch. 19)

Dịch:

Hiển dương Đạo, sống cho phác thiệt,

Ít đam mê, và ít riêng tây. (ĐĐK. chương 19.)

Nơi chương 37 ĐĐK, ta thấy Lão Tử cũng dạy y như vậy:

Kìa gương cao cả tầng cao,

Vô danh, thuần đức, nhẽ nào chẳng theo.

Sống phác giản,chẳng đeo danh lơị,

Lòng thênh thang, sạch mọi tham lam,

Không tham, lòng sẽ bình an,

Tự nhiên, thiên hạ thái khang an bình.[33]

*Tu Tâm là “Địch trừ huyền lãm, năng vô tì hồ?” ĐĐK chương X.

Dịch:

Làm sao rũ sạch hà tì,

Gương lòng vằng vặc, quang huy vẹn tuyền.

*Tu Tâm là: Khử phàm tâm, độc tồn Chân Tính.

Dịch:

Tạp khoáng Phàm Tâm, trừ sạch hết,

Cho vàng Chân Tính hiển lộ ra…[34]

Tu Tâm là diệt trừ vọng niệm, bởi vì:

Vọng Niệm tài hưng, thần tự thiên,

Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền,

Tâm điền ký loạn,tâm vô chủ,

Lục Đạo luân hồi, tại mục tiền.[35]

Dịch:

Vọng niệm vừa sinh, thần tự thiên,

Thần thiên, lục tặc loạn tâm điền,

Tâm điền đã loạn, thân vô chủ,

Lục Đạo luân hồi trước mắt liền.

Tu Tâm là thu nhiếp tâm thần, không cho ngoại trì, phóng đãng. Chính vì vậy mà người xưa nói:

“Đạo quí thu liễm, bất quí phát tiết.” [36]

Tiên Học Diệu Tuyển viết: Tâm vừa trì tán, lập tức thu hồi. [37] Tu Tâm quí tại Hư Tâm, quí tại vô niệm.

*Tam Mao Chân Quân có thơ:

Linh Đài trạm trạm tựa băng hồ,

Chỉ hứa Nguyên Thần, lý diện cư.

Nhược hướng thử trung lưu nhất vật,

Khởi năng chứng đạo, hợp Hư Vô. [38]

Dịch:

Tâm Linh vằng vặc tưạ băng hồ,

Chỉ khứng Nguyên Thần lý diện cư.

Nếu để vật chi vương vấn đó,

Làm sao chứng Đạo, hợp Hư Vô?

 * Ngoài phương pháp Tu Tâm ra, còn thấy rất nhiều phương pháp tu luyện cho thân thể trở nên khang kiện. Xin liệt kê như sau:

a. Điều Hoà Ngũ Tạng, bằng cách ăn uống thanh đạm, khởi cư hữu thường, dùng các thuốc điều hòa ngũ tạng, bồi bổ ngũ tạng.

b. Khai thông Huyết Mạch, thông thấu cốt tiết, bằng những phương pháp:

— Án Ma, Ma Sát (Massage, kinésithérapie). [39]

— Tập Bát Đoạn Cẩm, Thập Nhị Đoạn Cẩm. (Xem phụ lục cuối chương)

— Quán Khái tạng phủ, bằng phép nuốt nước bọt, gọi là Yết Tân, Thấu Yết. (Xem Huỳnh Đình Kinh giải, Nguyễn Văn Thọ, nơi chương Ba).

— Thổ cố, nạp tân; thổ trọc, nạp thanh. (Thở hơi xấu, cũ ra, hít khí trời thanh khiết vào). (Xin đọc Lục Tự Quyết, nơi chương 6, Huỳnh Đình Kinh giải của tác giả).

c. Khai thông kinh mạch.

Người xưa gọi thế là:

— Đạo Dẫn, hay Vận Khí, Điều Tức. (Xem Huỳnh Đình Kinh giải, chương 20)

— Phục Khí. Hấp thụ Tiên Thiên Khí để nuôi dưỡng thân tâm. (Xem Huỳnh Đình Kinh Giải, chương XXX.)

Tất cả các phương pháp nói trên, dĩ nhiên là có mục đích làm cho cơ thể khang kiện.

Chúng cũng có năng lực chữa được nhiều bệnh kinh niên. Chúng cũng có thể làm cho con người sống thọ, sống khỏe, sống minh mẫn. Nhưng chắc chắn nó không thể làm cho con người Trường Sinh, Bất tử được.

Tu Mệnh là Ngoại Đạo. Tu Tính mới là Nội Đạo.

Tính Mệnh song tu.

Chính vì vậy, mà Đạo Lão, nhất là từ thời Tống, thời Nguyên đến nay, đều chủ trương tính mệnh song tu.

Người xưa có thơ:

Mệnh yêú truyền, Tính yếu ngộ,

Nhập thánh, siêu phàm do nhữ tố.

Chỉ tu Tính, bất tu Mệnh,

Thử thị tu hành đệ nhất bệnh.

Chỉ tu Tổ Tính, bất tu đơn, [40]

Vạn kiếp Âm Linh, nan nhập Thánh.

Đạt Mệnh Tông, mê Tổ Tính,

Kháp tự giám dung, vô bửu kính.

Thọ cùng Thiên Địa, nhất ngu phu,

Quyền ốc gia tài, vô chủ bính,

Tính, Mệnh Song Tu, huyền hựu huyền,

Hải để hồng ba, giá pháp thuyền.

Sinh cầm, hoạt tróc giao long thủ,

Thủy tri tượng thủ bất hư truyền. [41]

Dịch:

Mệnh phải truyền, Tính phải ngộ,

Siêu phàm, nhập thánh chính do ta.

Chỉ tu Tính, không tu Mệnh,

Đó là tu hành đệ nhất bệnh,

Chỉ tu Tổ Tính, chẳng tu Đơn,

Vạn kiếp Âm Linh, khó thành Thánh.

Đạt Mệnh Tông, mê Tổ Tính,

Khác nào soi gương, không bửu kính,

Thọ cùng Trời Đất, nhất ngu phu.

Tuy được gia cơ, dùng chẳng biết.

Tính Mệnh Song Tu, huyền thật huyền.

Sóng thần đáy biển, đẩy Pháp Thuyền.

Giao long vùng vẫy, tay không bắt,

Mới hay tay thợ chẳng hư truyền.

Muốn hiểu thêm về Tính Mệnh Song Tu, chúng ta hãy đọc thêm ít nhiều nhận định của người xưa:

*Tào Văn Dật, nữ Chân Nhân viết:

Thần thị Tính hề, Khí thị Mệnh,

Thần bất ngoại trì, Khí tự định. [42]

*Lữ Tổ toàn thư có những câu:

—Dưỡng Khí an Thần thị bí quyết. [43]

—Thần định khí hòa, khí hòa đơn kết. [44]

—Chân Đạo dưỡng Thần, ngụy Đạo dưỡng hình. [45]

—Hành, trú, tọa, ngọa, duy định, hư, linh. [46]

—Tọa tĩnh giả, thu kỳ Khí, thủ kỳ Thần dã.

—Thu kỳ phù động chi khí, nhi kỳ Khí nãi sinh.

—Thủ kỳ tán loạn chi thần, nhi Chân Thần tự hiện. [47]

Đọc mấy câu này, ta thấy ngay khi nói Tính Mệnh Song Tu, thì chữ Tính và Chữ Mệnh được hiểu là Thần, Khí, là Âm, Dương tương đối, như nơi đây Lữ Đồng Tân giải: Thủ kỳ Thần là Thủ kỳ tán loạn chi Thần.

*Tính Mệnh Song Tu có thể tóm tắt bằng mấy chữ:

Thủ Trung, Bão Nhất, Điều Tức, Ngưng Thần. [48]

Khí tụ, Thần ngưng tắc hoạt, Khí tán thần ly tắc tử. [49]

* Sách Trúc Trai Đạo Ngữ có ghi:

Tu tính là công trình luyện Tâm, Tu Mệnh là cải biến khí chất. [50]

Nhận định như vậy, là các vấn đề trở nên sáng tỏ.

Châm Thạch Tử viết: “Thần vi Tính, Tức vi Mệnh. Quang phong, tễ nguyệt, Tính Công dã. Chân tức miên miên, Mệnh Công dã”. [51]

“Thần là Tính, Tức (Hơi Thở) là Mệnh. Tâm như gió mát, trăng trong, đó là Tu Tính. Hơi thở điều hòa, liên tục, đó là Tu Mệnh.”

Tính Mệnh Song Tu chung qui chỉ là điều tức, ngưng Thần (Trương Tam Phong). [52]

* Mã Hợp Dương nhận định về Tu Tính, Tu Mệnh như sau: “Nho gia nói: Dưỡng Tiểu Thể nơi mình là Tiểu Nhân; dưỡng Đại Thể nơi mình là Đại Nhân. Cái Bản Lai Tính Mệnh nơi mình là Đại Thể, không chốn,không nơi, thông thiên, triệt địa. Còn cái Nhục Thể hậu thiên và Vọng Niệm nơi ta là cái Tiểu Thể hèn hạ nhất. Đại Nhân thơì ức vạn niên không hủy hoại, tiểu nhân thời sinh tử, luân hồi”. [53]

Nếu trên quá trình tu luyện, mà con người biết suy tư như vậy, thì còn gì hay hơn?

Nhận định tổng quát về Tính Mệnh Song Tu.
Trên đây, ta đã trình bày 1 cách trung thực về thế nào là Tính, thế nào là Mệnh, thế nào là Tính Mệnh Song Tu.

Thiết tưởng cần phải nhận định hẳn hoi về vấn đề này:

A. Trước hết, ta thấy các bậc Chân Nhân trong Đạo Lão, có nhiều vị đã không bận tâm đến những công trình tu luyện xác thân, như ta đã thấy mô tả nơi trên. Đó lại là những bậc sáng lập ra Đạo Lão, hay những tao nhân, mặc khách nổi danh 1 thời. Đó là Lão Tử, Trang Tử, Thiệu Khang Tiết, Tô Đông Pha, Đào Tiềm v.v…[54]

Trang tử nhận định như sau: “Suy bào, hô hấp, thổ cố nạp tân”, (làm những động tác như) gấu trèo, chim lượn, chỉ cốt là để tăng tuổi thọ. Đó là những ngươì thuộc phái đạo dẫn (Vận khí điều tức), muốn sống lâu như Bành Tổ…

Thánh Nhân không cần khắc ý mà vẫn cao nhân đức, không câu nệ Nhân Nghĩa mà vẫn tu, không màng công danh mà vẫn trị, không chu du sông biển mà vẫn ở khắp nơi, không đạo dẫn mà vẫn thọ, quên mọi sự mà vẫn có mọi sự, điềm nhiên vô cực mà mọi vẻ đẹp vẫn theo. Đó là đạo Trời Đất, đó là đức của Thánh Nhân…

Cho nên nói: Điềm đạm, tịch mịch, hư vô, vô vi là sự thảnh thơi của Trời Đất, là chất liệu của đạo đức. Cho nên Thánh Nhân thảnh thơi và bình dị, bình dị nên điềm đạm. Bình dị, điềm đạm nên ưu hoạn không thể xâm nhập, tà khí không thể tập kích, cho nên đức toàn mà Thần vẹn. Thánh nhân sống thời Thiên Hành (Hành Động tự nhiên), mà chết là Vật hóa (chịu định luật biến hóa chi phối hình hài). [55]

Thiệu Khang Tiết có thơ:

“An lạc ngũ thập niên,

Nhất đán cảm trọng tật,

Nhưng tại thịnh hạ trung,

Phục trẩm cơ bách nhật.

Biêm cứu dữ dược thạch,

Bách liệu hiệu vô nhất,

Dĩ mệnh thính vu Thiên,

Ư tâm hà sở thất? [56]

 Dịch:

An lạc năm mươi năm,

Một hôm lâm bệnh nặng.

Gặp tiết Hạ nấu nung,

Liệt giừơng gần bách nhật.

Châm cứu đủ mọi cách,

Mà không công hiệu gì,

Sống thác phó mặc Trời,

Tâm ta đâu mất mát.

Như vậy có nghĩa là: Thánh Nhân, Chân Nhân một khi đã tìm ra được Bản Lai Diện Mục của mình, khi đã tìm ra được Thiên Tâm rồi, thì sống tự nhiên, bình dị. Chính vì vậy, mà Nhập Dược Kính có thơ:

Đại Đạo hư vô, pháp tự nhiên,

Tự nhiên chi ngoại, cánh vô huyền.

Trí nhu, chuyên khí anh nhi dạng,

Cơ tức cầu san, khốn tức miên. [57]

Dịch:

Hư vô, đạo phỏng tự nhiên,

Ngoài ra còn có phép huyền nào đâu.

Sống đời thanh thản, tiêu dao,

Đói ăn, khát uống, khác nào anh nhi.

B. Xác Thân con người có thể trường sinh, bất lão.

Sau này, có nhiều người lại đảo ngược vấn đề. Thay vì tin rằng: Chỉ có Nguyên Thần, Nguyên Thần trong con người là Bất tử, họ lại chủ trương xác thân này nếu biết tu luyện, có thể trở nên bất tử. Sách Hiện Đại Đạo Gia Tu Luyện Bảo Điển gọi chủ trương này là: Nhục Thể chi trường sinh bất lão. Dĩ nhiên là đã có nhiều người tin như vậy, và bên Trung Hoa đã có thời thịnh hành phong trào luyện thuớc trường sinh. Ta cũng nên nhớ: Tần Thủy Hoàng đã sai Từ Phúc, Hán Vũ Đế đã sai An Kỳ Sinh vượt thuyền ra Đông Hải để tìm thuốc trường sinh bất lão. Và chủ trương này, dĩ nhiên, được gắn liền vơí các phương pháp Tu Mệnh đa đoan, mà ta đã đề cập đến ở trên.

Chỉ nên nhận định rằng: Xác Thân không thể nào trường sinh bất tử được, cho nên Tu Mệnh chỉ có thể Diên Niên Tăng Thọ, làm ta sống thêm ít tuổi mà thôi. Mà Diên Niên, Tăng Thọ không được coi là Đạo. Chính vì vâỵ mà các Đạo Gia thường cho rằng: Cái mà chúng ta mệnh danh là Tu Xác Thân chỉ là Ngoại Đạo, chỉ là Bàng Môn Tả Đạo.

Lữ Đồng Tân cũng đã viết: Chân Đạo dưỡng Thần, Ngụy Đạo dưỡng hình.[58]

Trương Tử Dương trong sách Ngộ Chân Thiên viết:

Yết tân, nạp khí thị nhân hành,

Hữu dược phương năng Đạo Hoá sinh. [59]

Trương Bình Thúc có thơ:

Huyền Tẫn chi môn, thế hãn tri,

Hưu tương khẩu vị, vọng thi vi.

Nhiêu quân thổ nạo kinh thiên tải,

Tranh đắc Kim Ô, nạch thố nhi. [60]

Dịch:

Huyền Tẫn chi môn, chẳng hiểu gì,

Mới đem mũi miệng, vọng tác vi.

Dẫu anh thổ nạp, ngàn năm suốt,

Tiên đan đoạt được, dễ dầu chi.

Nếu ta hiểu tu là làm cho con người trở nên hoàn hảo, thì nói Tính Mệnh Song Tu tức là chấp nhận Tính và Mệnh, Thần và Khí đều ở tronh vòng Hậu Thiên, tương đối. Mà đã nói Tương Đối thời phải nói Biến Thiên, sinh tử. Cho nên ta phải hiểu công phu tu luyện Tính Mệnh nói trên là cốt để từ Hậu Thiên phản hoàn lại Tiên Thiên.

Và để chúng ta thấy rõ đường hướng Tính Mệng Song Tu, ta ghi nhớ:

1. Tu Mệnh (tu xác) cho thân thể khang cường.

2. Tu Mệnh (tu phàm tâm) để diệt trừ vọng tâm, vọng niệm.

3. Mục đích tối hậu là làm sao cho Thiên Tâm hiện ra, làm sao cho Tâm Tử, Thần Hoạt. (Tu Tính).

Chính vì thế mà Tung Ẩn Tử đã viết:

—Giữ cho tâm bình thản, thì sẽ tuyệt được niệm lự, du tư. (Tu Mệnh, tu phàm tâm).

—Ngồi ngay ngắn thân hình, giữ cho không còn thiên kiến. (Tu Mệnh, tu xác thân).

—Như vậy, Linh Đài sẽ thanh tĩnh và Nguyên Thần tự nhiên sẽ tới. (Tu Tính) [61]

Cao sĩ thời Tu Tính trước, Hạ sĩ thời Tu Mệnh trước.

Mục Đích của Tính Mệnh Song Tu chính là phát huy tất cả các tiềm năng, tiềm lực trong con người, và chính là công trình vĩ đại đi tìm và làm hiện ra Thượng Đế Nội Tại, mà Đạo gia gọi là Nguyên Thần, Thiết Hán, Bất tử Nhân hay Bản Lai Diện Mục.

*Hết chính văn

***********       

CHÚ THÍCH

[1] Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 57.

[2] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phù Sâm chủ biên, tr. 49.

[3] Tiên học diệu tuyển, tr. 243.

[4] 神 為 性, 息 為 命。 Tiên Học, tr. 15

 一 神 一 氣, 即 是 一 陰一 陽 。

Liễu Hoa Dương, Kim Đơn Chính Luận. Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, tr. 1128.

凡 學 道 之 , 能 認 神 氣 之 道, 即 是 陰 陽 性 命 之道 也。

Lý Hàm Hư, Đạo Cùng Đàm. Như trên. tr. 1128.

後 天 之 道, 神 气 也。先 天 之 道, 性 命 也。ib. 1128.

[5] 性 為 法 身 上 事, 命 為 幻 身 上 事, 性 乃 無 為 之 道, 命 乃 有 為 之 道。

Ngộ Chân trực Chỉ, q. 3, tr. 1.

[6] Tính giả nội dã, Mệnh giả, ngoại dã. Dĩ nội tiếp ngoại, tất Đại Đạo thành hĩ.

Viên Tử, Tiên Học diệu tuyển, tr. 340.

[7] Thông bộ Ngộ Chân Thiên vô phi chỉ điểm nội ngoại nhị dược. Nội dược thuộc Tiên Thiên. Ngoại dược khước tu tòng hậu thiên phản Tiên Thiên. Cái vô tu, vô chứng, thiên nhiên cụ túc giả, vị chi nội dược. Hữu tác, hưũ vi, phản hoàn bản nguyên giả, vị chi ngoại dược. Nội dược liễu tính, thể cụ trung hoàng. Tức Nguyên Thần , nhi nhiếp tinh khí giả dã. Ngoại dược liễu Mệnh, dụng ký Khảm, Ly, tức Thân Tâm nhi hợp Chân Ý dã,

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 135.

[8] Hà vị Tính? Bất thức, bất tri, thuận Đế chi tắc, tức thị Tính. Viên đà đà, quang trước trước, tịnh khỏa khỏa, xích xái xái, tức thị Tính. Vô dục dĩ quan kỳ diệu.

Hà vị Mệnh? Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh, tức thị Mệnh.

Hữu dục dĩ quan kỳ Khiếu. Thị vị Mệnh.

Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 216.

[9] Tính giả Chân Tâm dã.

Tiên học diệu tuyển, tr. 142.

[10] Vô Thượng chính đẳng chính giác tức thị Chân Như Bản Tính, diệc danh Tự Tính Thanh Tịnh Tâm (Huyền Diệu Hòa Thượng, tác giả Thích Thủy Tập).

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 433.

[11] Chí Tuyệt Đối cảnh giới, tức thị chứng Tính. Chứng Tính tu yếu Vô Niệm. Niệm giả, phân biệt tâm dã. Hữu phân biệt tâm, tức lạc ư đối đãi.

Dục kiến Bản Tính, tất ly danh, tuyệt tướng, phá kỳ ngã kiến.

Như trên. tr. 433.

[12] Cái “Lý Thiên” giả, Tính dã, “Khí Thiên” giả, Mệnh dã. Tại Tiên Thiên, Tính Mệnh bất phân, cưỡng biệt chi vi Lý dữ Khí. Tại Hậu Thiên, tất tu Tính Mệnh Song Tu.

Phỏng Đạo Ngữ Lục, tr. 399.

[13] Tiên Học, tr. 90.

[14] Phỏng Đạo Ngữ Lục, tr. 291.

[15] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 232.

[16] Hiện Đại Đạo Gia Tu Luyện, tr. 27.

[17] Trung Hoa Đạo Giáo Đại từ Điển, Hồ Phù Sâm chủ biên tr. 48—50.

[18] Tiên Học Từ Điển, Tục tập. tr. 25.

[19] Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 216.

[20] Tiên Học, Hưá Tiến Trung, tr. 30.

[21] Phỏng Đạo ngữ lục, Lý Lạc Cầu biên tập, tr. 146.

[22] Vô Vi giả , luyện kỷ dã, Tính công dã. Khử Tam Tâm, diệt tứ tướng, tuyệt lục dục, đoạn thất tình, nhất thiết tục lự câu vong dã.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 173.

[23] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 191.

[24] Tri Thiên xuất ư Đạo, Tính thọ ư Thiên, cố Minh Tính tức thị Minh Thiên, Minh Thiên tức thị Minh Đạo… Bảo kỳ Tính, toàn kỳ sinh, nhi đạt Thiên, hợp Đạo dã.

Văn Đạo Tử giảng đạo tinh hoa lục, q. 1, tr. 1b.

Năng toàn kỳ Tính Thiên, vị chi tận Tính hợp Thiên.

Như trên. q. 1, tr. 2a

[25] Vấn kỳ sở vị tu Tính giả, tắc viết: Thành Tâm quả dục, thanh tĩnh vô vi dã. Mặc tư sở dĩ triều Thượng Đế dã.

Như trên, q. 3, tr. 51.

[26] Duy hữu trung gian, nhất điểm Chân Thường, trạm tịch, nãi Ngã bất sinh bất diệt, trường tồn vạn cổ chi thân. Quả ngoại bất nhiễm nhất trần, nội bất tạp nhất niệm, thường giác Ngã Thanh Tịnh Liễu Linh, tắc Hư Vô Diệu Giác chi Tính Chân, tự dữ Thiên Địa Đồng kỳ chung thủy.

Cung Tùng Tiên, Tiên Học Tập Cẩm, tr. 58, 59.

[27] Văn Đạo Tử giảng đạo tinh hoa lục, q. 1, tr. 1b.

[28] Đãn an Thần tức, tức thị Thai Tiên.

Tiên Học, tr. 192.

[29] Thần tức, tức thị thai tức, diệc tức Mậu Kỷ dã

Tiên Học, tr. 192.

[30] Cùng thủ sinh thân, thụ Khí sơ, tức Thiên Tâm dã, Chủ Nhân Ông dã.

Như trên. tr. 78.

[31] Tính khiếu ngoại vi Tín môn (cái thóp), nội vi Nê Hoàn. Mệnh Khiểu ngoại vi Tề luân (Rốn), nội vi Khí huyệt.

Tiên Học Từ Điển, Tục Tập tr. 25.

Xem thêm Triết tự của 2 chữ Tính Mệnh (Tính Mệnh tự nghĩa) củng nơi tr. 25 này.

[32] Vấn kỳ sở vị Tu Mệnh giả, tắc viết: Tịch cốc, đạo dẫn dã, phục thực kim thạch, dược vật dã, phòng trung thái thủ Nguyên Âm dã.

Văn Đạo Tử, Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, q. 3 tr. 52.

[33] Hóa nhi dục tác, dĩ vô danh chi phác, Vô danh chi phác, diệc tương vô dục, bất dục dĩ tịnh, thiên hạ tương tự định.

Đạo Đức Kinh, chương 37, Bản Dịch Nguyễn Văn Thọ.

[34] Thượng Phẩm Đơn Pháp Tiết yếu. tr. 2a.

[35] Doãn Chân Nhân,Tính Mệnh Khuê Chỉ. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 381.

[36] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 293.

[37] 心 若 馳 散, 即 便 攝 來T

Tâm nhược trì tán, tức tiện nhiếp lai.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 380.

[38] Tống Long Uyên, Đạo Đức Kinh Giảng Nghĩa, tr. 14.

[39] Xem Huỳnh Đình Kinh của tác giả, tr. 6.

[40] Như vậy ta thấy Tu Đơn có thể được hiểu là Tu Mệnh. Sách Tiên Học Tập Cẩm, nơi tr. 229, có nói: Tu Kim Đan dĩ liễu Mệnh. 修 金 丹 以 了 命。

[41] Tiên Học Từ Điển, tr. 110, nơi bài Sao hào ca .

[42] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 243.

[43] Như trên. tr. 230.

[44] Như trên. tr. 232.

[45] Như trên tr. 232

[46] Như trên. tr. 232.

[47] Như trên. tr. 236.

[48] Như trên, 332

[49] Khí tụ, Thần ngưng tắc hoạt, khí tán thần ly, tắc tử.

Tiên Học, tr. 5.

[50] Tu Tính thị tâm lý thượng đích công phu, Tu Mệnh thị cải biến khí chất.

Tiên học, tr. 66.

[51] Tiên Học, tr. 43.

[52] Tam Phong viết: ”Điều tức, ngưng Thần, ngưng Thần, điều tức”

Tiên Học Tập Cẩm, tr. 63.

[53] Tiên Học, cuối tr. 67.

[54] Tiên Học, tr, 93, 94.

[55] Nam Hoa Kinh, Khắc Ý, đoạn A và B.

[56] Tiên Học, tr. 94

[57] Nhập Dược Kính tr. 6b.

[58] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 232.

[59] Huỳnh Đình Nội Cảnh, Tử hà chú, tr. 6.

[60] Tính Mệnh Khuê Chỉ, Hanh, tr. 13b.

[61] Thản bình kỳ tâm, tắc tuyệt vô niệm lự, du tư. Đoan chính kỳ thân, bất dĩ nhất thiên chi kiến, tắc Linh Đài thanh tĩnh, Nguyên Thần tự hiện.

Huỳnh Đình ngoại cảnh, Tung Ẩn Tử chú, q. thượng, tr. 11.

——————————————–

****************         

CHƯƠNG XII

ĐƠN ĐẠO MẠN ĐÀM.

(BÀN VỀ LUYỆN ĐƠN)

Đơn đạo là một vấn đề hết sức phức tạp, khó hiểu. Lý do là vì:

— Chính vấn đề đã khó.

— Người viết thì giữ bí mật, không chịu công truyền. [1]

— Người không biết, thì luận xằng, nghĩ bậy, rồi cũng viết sách để đời, thành thử vàng thau lẫn lộn, mắt cá lộn sòng với chân trâu,

Trong chương này, chúng ta sẽ cố gắng:

— Nhìn bao quát về Đơn Đạo.

— Tìm hiểu đơn đạo cho có mạch lạc.

— Kiểm điểm và nhận định về đơn đạo.

Ít dòng lịch sử.

Trước khi đi vào chi tiết, tưởng cũng nên sơ phác ít dòng lịch sử về đơn đạo.

Đơn Đạo manh nha từ thời Chiến Quốc, [2] hình hiện vào thơì nhà Hán, [3] thời Tấn nhờ:

—Ngụy Bá Dương, thời Đông Hán, người Cối Kê, tác gỉa bộ Tham Đồng Khế.

—Cát Hồng, Bão Phác Tử, chết năm 61 tuổi đời vua Tấn Thành Đế, trong niên hiệu Hàm Hòa (284—344). Tác giả Bão Phác Tử nội ngoại thiên.

Đơn Đạo hoành dương vào thời Đường, thời Tống nhờ:

—Chung Ly Quyền thời Đường mạt Ngũ Đại, sư phụ của Lữ Đồng Tân, Trịnh Văn Thúc, Vương Lão Chí. Tác giả: Hoàn Đơn Ca, Phá Mê Chính Đạo Ca v.v…

—Lữ Đồng Tân [4] sinh đời Đường Đức Tông, Nguyên Trinh niên gian (798—?). Truyền thuyết cho rằng năm 862, khi ấy Ông đã 64 tuổi, mới gặp được Chung Ly Quyền.

—Trương Bá Đoan (987—1082) và đồ đệ (Nam Tông Phái chủ). (Tống)

—Vương Trùng Dương (1112—1170) và đồ đệ (Bắc Tông Phái Chủ. (Cuối thời Tống).

Thời Tần, Hán các đạo sĩ chuyên luyện ngoại dược, nghiã là dùng những chất liệu bên ngoài.

Từ Chung Ly Quyền và Lữ Đồng Tân, đơn đạo mới chuyển ngược hướng, và cho rằng trong con người đã sẵn có các chất liệu để luyện thuốc trường sinh. [5]

Đến thời Minh, thời Thanh, ta thấy có thêm ít nhiều môn phái mới xuất hiện. Tuy nhiên, môn phái nào cũng cho mình là đệ tử chân truyền của Chung, Lữ nhị tổ. Các môn phái mới đó là:

—Lục Trường Canh tự Tiềm Hư (Đông Tông phái chủ) (Minh).

—Lý Tây Nguyệt tự Hàm Hư (Tây Tông phái chủ) (Thanh).

—Lý Đạo Thuần (Trung Phái chủ)

I. Cái nhìn bao quát vỀ Đơn ĐẠo.
Lý Đạo Thuần (Trung phái chủ) đã cho ta một cái nhìn khái quát về Đơn Đạo, Nó toát lược cho ta khuynh hướng chính yếu của các môn phái, và đồng thời cũng giúp ta đánh giá các khuynh hướng đó.

Tài liệu này đã đăng tải trong phần Phụ Lục của quyển Đại Thành Tiệp Kính, nơi các tr. 135—142 của Dương Thanh Lê. Tôi toát lược như sau:

Đơn Đạo có thể chia làm 3 loại chính:

— Bàng Môn Cửu Phẩm.

— Tiệm Pháp Tam Thừa.

— Tối thượng nhất thừa.

Chúng ta sẽ đi sâu thêm vào tính chất, phương pháp, quan niệm của mỗi loại tu trì, với các phân phái của nó.

1. Bàng Môn tả đạo cửu phẩm: —

Gồm chín loại: Tà đạo (thượng, trung, hạ), Ngoại đạo (thượng, trung, hạ), Bàng Môn (thượng, trung, hạ).

a. Tà Đạo (Thượng, Trung, Hạ).

Chủ trương: Phòng trung thái chiến. Lấy vấn đề giao hoan, luyến ái làm bí thuật trường sinh..

b. Ngoại Đạo (Thượng, Trung, Hạ).

Chủ trương:

— Hưu lương, tịch cốc.

Hoặc:

— Sái bối (phơi nắng lưng)

— Ngọa băng (nằm trên băng)

*Hoặc muốn nuôi thân bằng cách:

—Thôn hà (nuốt mây Trời)

—Phục Khí (nuốt khí Trời)

—Nuốt ánh sáng các vì sao, nuốt Khí ngũ phương, hấp thụ tinh hoa của hai vầng nhật, nguyệt v.v…

c. Bàng Môn (thượng, trung, hạ)

*Chú trọng:

1 Các phương pháp vận động để luyện tập thân thể như:

—Bát đoạn cẩm.

—Thổ nạp.

—Lục tự chú [6].

—Ma sát (massage)

—Chuyển vận con người.

—Chuyển vận xương sống.

*Hoặc Tồn Thần, Chú Ý vào:

—Đơn Điền (thủ đơn điền)

—Rốn (thủ tễ luân)

—Ấn đường (lưỡng mi gian) (Thủ ấn đường)

—Mặc triều Thượng đế (Yên lặng triều kính Thượng Đế).

* Bị Chú. Ta thấy các môn phái trên giống nhau ở chỗ:

—Lệ thuộc vào ngoại cảnh, ngoại vật rất nhiều.

—Dùng những phương tiện phi lý như nuốt mây trời, nuốt ánh sáng các vì sao v.v…

Vả lại, tôn chỉ của Đạo Lão là cố sống cho thật tự nhiên, theo đúng các định luật tự nhiên, cho nên những gì tần phiền, phức tạp, là Đạo Lão hết sức tránh.

Cho nên xếp những hạng người trên vào Tà Đạo hay Ngoại Đạo thật không oan.

2. Tiệm Pháp Tam Thừa. (ba hạng tiệm tu):

—An lạc pháp môn.

—Dưỡng mệnh pháp môn.

—Diên sinh pháp môn.

* Hạ Thừa Đơn Pháp hay An Lạc Pháp Môn.

Chú trọng:

—Luyện Tinh

—Điều hòa ngũ tạng.

—Tu luyện xác thân.

*Trung thừa Đơn Pháp hay Dưỡng Mệnh Pháp Môn.

Chú trọng:

—Luyện khí.

—Điều hòa Tinh, Thần, Hồn, Phách.

* Thượng thừa Đơn Pháp hay Diên Sinh Pháp Môn (tăng Thọ)

Chú trọng:

—Luyện Tâm.

—Trừng phẫn (nén giận), trật dục (trừ dục).

—Diệt trừ vọng niệm.

* Bị Chú.

Ta thấy khuynh hướng 3 môn phái này là đi dần dần vào Tâm.

3. Tối thượng thừa (hay Vô Thượng Chí Chân Đại Đạo).

Chủ trương:

—Tẩy Tâm, địch lự.

—Định, Tuệ.

—Thanh Tĩnh, Vô Vi.

—Khế hợp với Thái Hư, Thái Cực.

*Bị Chú: Đó chính là Thiên Tiên Chi Đạo.

****************         

II. Tìm hiểu Đơn Đạo cho có mạch lạc: —

Muốn hiểu Đơn Đạo cho có mạch lạc, trước hết chúng ta phải nhìn nó dưới 2 khía cạnh:

—Triết Học.

—Đạo Giáo.

a. Nhìn Đơn Đạo dưới khía cạnh Triết Học.

Dưới khía cạnh triết học, Đơn Đạo chung qui vẫn là tất cả công trình suy tư về Bản Thể Chân Thực của con người, cũng như tất cả các phương pháp, các giai trình để thực hiện Bản Thể Chân Thực ấy.

Đơn Đạo chẳng qua là những áp dụng của Kinh Dịch vào phương pháp tu trì.

Theo Dịch, thì Bản Thể vũ trụ là Thái Cực, duy nhất, duy tinh.

Thái cực này đã sinh xuất ra vũ trụ và ra con người bằng cách phóng phát, tán phân, và luôn tiềm ẩn trong lòng con người.

—Suy tư, tìm kiếm cốt là để tìm ra căn bản ấy.

—Tu luyện cốt là để trở về với căn bản ấy.

—Trường sinh, bất tử chính là khế hợp với căn bản ấy.

Nếu Thái Cực đã phóng phát ra con người, và ra quần sinh, vũ trụ, thì con đường về với Thái Cực là con đường nội tâm, phương pháp tu luyện để trở về với Thái Cực là phương pháp Thu Nhiếp, Ngưng Tụ và Hoà Hài (Thu Thần, nhập định, ngưng Thần, tụ Khí, hoà hài Âm Dương. Con đường Nội Tâm chính là Chiều Nghịch của vòng Dịch. Nếu Thái Cực đã tiềm ẩn đáy lòng, thì Trường Sinh Dược, mục đích của khoa Luyện Đơn cũng đã sẵn có nơi Thân, Tâm con người.

b. Nhìn Đơn Đạo dưới khía cạnh Đạo Giáo.

Nói theo từ ngữ Đạo giáo, từ ngữ Huyền học (mysticism), thì Đơn Đạo chính là công trình tìm Thượng Đế nơi đáy lòng. Đông, Tây đều ước muốn tìm ra con đường này. Ngày nay, người ta gọi đó là Con Đường huyền nhiệm, hay đạo huyền đồng (mysticism).

Mục đích tối hậu của đơn đạo chính là đI đến chỗ Khế Hợp với Thiên Tâm, với Thượng Đế. Đạo Đức Kinh, chương 68, gọi thế là Phối Thiên. Lão Giáo gọi thế là Thiên Nhân hợp Nhất. Phối Thiên là Trường Cửu. Nó chính là Niết Bàn của Phật Giáo.

Tất cả các phương pháp tu luyện chung qui là sửa sang cho Tâm thần trở nên xứng đáng làm tòa ngôi của Thượng Đế Chí Tôn.

Những nhận định trên đây của tôi hết sức là trung thực, không thiên về một Đạo Giáo nào, vì đó là kho tàng chung của nhân loại.

c. Áp dụng những quan niệm trên để tìm hiểu Đơn Đạo.

Với những quan niệm trên làm kim chỉ nam, ta sẽ đi vào Đơn Đạo một cách hết sức thoải mái.

1. Trước hết, ta tìm hiểu về chữ Đơn.

Chữ Đơn, đầu tượng Nhật, chân tượng Nguyệt.

Chấm ở giữa là Thử Châu (Thái Cực)

Nét ngang là “Được”.

Trước thời Hán, thì gọi là Đạo, sau thời Hán thì gọi là Đơn. [7]

Thế nghĩa là: Đơn chính là Thái Cực, bao quát Âm Dương, đã tiềm ẩn sẵn trong lòng mọi người, và thu gọn lại ở thế cực tiểu, như hạt vừng (Thử) theo từ ngữ Trương Tam Phong. Tu Đơn Đạo cốt là để Đắc Thái Cực, Đắc Đạo, vì Đơn chính là Đạo, là Thái Cực vậy.

—Đơn chính là Độc Nhất. Chỉ có Đạo là Độc Nhất Vô Nhị, cho nên gọi là Đơn. Trời được Một thời trong xanh, đất được Một thời đầy đặn, người được Một thời Trường Sinh. [8]

Định nghĩa này cho thấy: Muốn trường sinh phải Đắc Đơn, Đắc Đạo, Đắc Nhất.

—Kết Đơn chi Đạo chỉ là Nhất mà thôi. Mà Nhất chẳng qua chỉ là Hư mà thôi. [9]

Định nghĩa này đưa ta trở về với Hư với Vô Cực.

Định nghĩa này còn cho thấy Đơn là Thái Cực tiềm ẩn trong thân.

—Tâm là Đơn, Đơn là Tâm. [10]

—Đơn là Đạo, Đạo là Đơn. [11]

—Đơn là Bản Thể, là gốc gác của Trời đất, vạn vật.

Cái gì là Gốc của Trời đất, vạn vật? Đó là Đơn, là Đạo. Nó Hư Vô không thể đặt tên, nên tạm gọi là Đạo. Hư sinh Một, Một sinh Vạn, Vạn qui Nhất, Nhất qui Hư. [12]

Định nghĩa này lại càng cho thấy: Đơn là Thái Cực và sách Đại Đỗng chân kinh cũng cho rằng:

Muốn tìm gốc gác phải tìm nơi Thái Cực.[13].

Xướng Đạo Chân Ngôn còn cho rằng: khi con người bừng tỉnh, nhận ra được Thái Cực nơi Tâm, tức là nhìn thấy Bản Lai Diện Mục của mình, thấu triệt được Căn Nguyên của mình. [14]

Những danh từ như:

—Cùng thủ sinh thân, thụ khí sơ. [15]

—Thử mễ bảo Châu. [16]

—Nhất lạp Kim Đơn. [17]

—Nhất lạp túc [18],

đều là những danh từ để chỉ Thái Cực tiềm ẩn nơi Tâm.

—Kim Đơn.

Kim là Pháp Thân bất hoại

Đơn là Thực Tướng Viên Mãn. [19]

Định nghĩa này cho thấy: Đơn của Lão Giáo tức là Pháp Thân của Phật Giáo.

—Đơn Đạo dạy con người con đường Hoàn Phản, Phản Bản, Hòan Nguyên. Chính vì thế mà người xưa định nghĩa:

Thất phản là Phản Bản.

Cửu Hoàn là Hoàn Nguyên.[20]

2. Muốn phản bản hoàn nguyên phải đi theo chiều nghịch. chiều hướng nội.

Muốn phản bản, hoàn nguyên phải đi theo chiều nghịch, chiều qui tâm, hướng nội.

“Thuận sinh nhân, nghịch sinh Đơn.” (Trương Tam Phong).

“Thuận vi phàm, nghịch vi tiên.” [21].

“Phải hồi tâm, mới có thể hướng Đạo.: [22]

Tôn Bất Nhị viết:

Thuận kỳ cơ, để hành nhân đạo. [23]

Nghịch kỳ cơ, để hành Tiên Đạo.[24]4

Sinh cơ ngoại phát, gọi là Thuận. [25]

Sinh cơ nội liễm, gọi là Nghịch. [26]

Tiên Học Diệu Tuyển viết:

“Kim đơn Đại Đạo từ Hữu Vi nhập Vô Vi, tức là Liễu Mệnh (lo cho thân thể khang cường NVT), kiêm Liễu Tính (tu tâm, luyện Thần NVT), có như vậy Thần Hình mới song toàn, viên mãn.” [27]

Xướng Đạo Chân Ngôn viết:

“Tâm nội quan tâm, mịch bản tâm,

Tâm tâm câu tuyệt, kiến Thiên Tâm.

Chân Tâm minh triệt, thông tam giới,

Ngoại đạo, thiên ma bất cảm sâm.” [28]

Dịch:

Rong ruổi trong tâm, kiếm bản tâm,

Phàm tâm diệt tích, kiến Chân Tâm.

Chân Tâm minh triệt, thông tam giới,

Ngoại đạo, thiên ma chẳng dám sâm.

“Xưa nay, thánh hiền cầu Đạo, đều không hướng ngoại tìm cầu. Chỉ tĩnh định mà cầu ở nơi nhất tâm…trong đó có đủ mọi sự.” [29]

Tôn Bất Nhị còn gọi công trình đi từ Hậu Thiên trở về Tiên Thiên là Cửu Chuyển hoàn đơn, hay Phản Hoàn, Nghịch Chuyển. [30]

Kim Đơn Đại Đạo trọng tại Nghịch Chuyển Tạo Hoá, cho nên nếu Tạo Hoá phát tán đi từ Nhất ra Vạn, để sinh hóa ra vạn hữu, thì Tu Đơn phải đi từ Vạn trở về Nhất, phải thu nhiếp, hòa hài, tập hợp để trở về vơí Thái Cực Tiên Thiên. [31]

Trương Bá Đoan cũng lý luận tương tự như vậy. Ông viết:

“Nhận rằng Đạo từ Hư Vô sinh xuất vạn vật, theo chiều Thuận, còn Tu Nội Đơn thời đi ngược lại: Phải trở về Hư Vô, phải hợp nhất với Đạo.

Luyện Đơn diệu dụng, theo Kiền Khôn,

Kiền Khôn vận chuyển, sinh Ngũ Hành.

Ngũ Hành thuận chuyển sinh sống chết,

Ngũ Hành nghịch chuyển hoá Kim Đơn.” [32]

3. Phải thu nhiếp tất cả về Một.

—Thu nhiếp ngũ khí, ngũ hành (Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý) trở về Thái Cực.

Người xưa gọi thế là Toàn Thốc Ngũ Hành hay Ngũ Khí Triều Nguyên.

—Thu nhiếp tứ tượng (tinh thần, hồn, phách) về vơí Thái Cực. Người xưa gọi thế là: Tứ Tổ qui gia.

—Thu Nhiếp Tam Tài về cùng Thái Cực (Tinh, khí Thần).

—Tam Hoa qui đỉnh.

—Thu Nhiếp Lưỡng Nghi về cùng Thái Cực (Lưỡng Nghi đây là Thần Khí). Và tới đây, thì các danh từ trở nên vô cùng hùng hậu, bởi vì thay vì dùng 2 chữ Thần Khí, thì người ta nói Long Hổ: Anh Nhi, Xá Nữ; Kim Ô, Ngọc Thố; Diên, Hống; Hắc Qui, Xích Xà; Khảm Ly; Thủy Hỏa; Âm Dương; Kim tinh, Mộc dịch; Mã Ngưu; Thần Thủy, Hoa Trì v.v…

4. Thu Nhiếp tất cả về Thái Cực, Trung Cung.

—Muốn thu nhiếp, phải thu nhiếp về một nơi nào. Nguyên tắc là thu nhiếp về Trung Cung, Thái Cực. Lúc ấy, Trung Cung Thái Cực được gọi là Huỳnh Bà Xá, Trung Cung, Trung Hoàng, Mậu Kỷ Môn, Phục Mệnh quan v.v…

Nhưng trên thực tế là thu nhiếp về 1 Đơn Điền nào đó trong con người (hoặc Thượng, Trung, Hạ). Nhưng chung qui, thường là thu nhiếp về Thượng Đơn Điền hay Nê Hoàn Cung.

Tính Mệnh Khuê Chỉ tóm tắt bằng câu sau:

“Tứ Tượng, Ngũ Hành toàn thốc ư nhất đỉnh. Hồn hữu linh ư Thiên Cốc, Lý Ngũ Khí ư Nê Hoàn.” [33]

Nếu ta dùng quan niệm Đạo Giáo mà tìm hiểu khoa Luyện Đơn, ta sẽ thấy 1 chiều hướng thứ 2, với những nét chính yếu sau đây:

Trong tâm ta có Đạo, có Trời, mà ta chẳng biết, chẳng hay. Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 11a có thơ:

Tá vấn Chân Nhân hà xứ lai?

Tòng tiền nguyên chỉ tại Linh Đài.

Tích niên, vân vụ, thâm già tế,

Kim nhật tương phùng, đạo nhỡn khai.

Dịch:

Chân Nhân ướm hỏi tới từ đâu?

Tâm khảm tiềm tàng sẵn đáy sâu.

Thủa trước Linh Đài vân vụ phủ,

Ngày nay gặp gỡ hết xa nhau.

Như vậy, con người phải tu tâm, luyện kỷ, định tĩnh, thanh hư, để mong thấy Đạo, thấy Trời hiện ra trong tâm khảm mình.

Tam Mao Chân Quân có thơ:

Linh Đài trạm trạm tự băng hồ,

Chỉ hưá Nguyên Thần lý diện cư.

Nhược hướng thử trung lưu nhất vật,

Khởi năng chứng Đạo, hợp Hư Vô.

Dịch:

Tâm linh vằng vặc tự băng hồ,

Chỉ khứng Nguyên Thần lý diện cư.

Nếu để vật chi vương vấn đó,

Làm sao chứng Đạo, hợp Hư Vô.

****************         

5. Tu Luyện phải Kiến Thiên Tâm, mới là Giác Ngộ. Đó là vào được quẻ Phục trong con người.

Tu luyện mà tự nhiên kiến Thiên Tâm, thời là lúc giác ngộ. Người xưa gọi là Hoạt Tí Thời. Thời kỳ này sẽ cho ta chứng kiến được những thay đổi, những chuyển biến hết sức quan trọng, lớn lao trong tâm hồn. Gọi là Hoạt Tí, vì nó thay đổi tùy người không nhất định. Chúng ta khi đi tới 1/2 cuộc đời, vào khoảng 36 tuổi, là lúc có thể Kiến Thiên Địa chi Tâm, là lúc có thể giác ngộ. Đức Phật và Huệ Năng chẳng hạn giác ngộ năm 36. Có nhiều người chậm hơn. Đức Khổng giác ngộ năm 50, Lữ Đồng Tân cũng vậy.[34]

Dịch Kinh viết: Phục kỳ kiến Thiên Địa chi Tâm hồ? (Xem quẻ Phục).

Tiên Học từ điển nơi tr. 78 có ghi:Thiên Tâm kiến, Hoạt Tí hiện. (Châm Thạch Tử).

Người xưa ghi lại những biến chuyển quan trọng của Tâm Hồn mình, khi Kiến Thiên Tâm bằng những vần thơ sau:

Bách tự Bi của Lữ Đồng Tân có câu:

Âm dương sinh phản phúc,

Phổ hoá nhất thanh lôi.

(Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 16)

Thiệu khang Tiết có thơ:

Hốt nhiên, dạ bán, nhất thanh lôi.

Vạn hộ thiên môn thứ đệ khai. (Như trên. tr. 16)

Chung Ly Quyền có thơ:

Đạt nhân thái đắc Tiên Thiên Khí,

Nhất dạ lôi thanh bất tạm đình.

(Những chữ Nhất dạ lôi thanh, bán dạ nhất thanh lôi đều mượn ý nơi quẻ Phục, vì Phục là Địa Lôi Phục: Sấm rung lòng đất là Phục. Ở Trời Đất, tình trạng quẻ Phục xảy ra vào ngày Đông Chí, lúc nưả đêm. Ở nơi con người nó xảy ra khi lòng con người Hư Tĩnh, chính vì vậy mà quẻ Phục ứng với chòm sao Hư trong Thiên Văn.

6. Sống kết hợp với Đạo, với Trời, mới thành Thiên Tiên.

Nhân Tâm nhược dữ Thiên Tâm hợp,

Điên đảo Âm Dương chỉ phiến thời. (Cổ Thi)

Dịch:

Nhân Tâm cùng với Thiên Tâm hợp,

Điên đảo Âm Dương ấy chính thời.

(Điên đảo Âm Dương là thời khí từ Khôn, thuần Âm, sang quẻ Phục, là quẻ “nhất Dương”.)

Sách Tiên Học Từ Điển định nghĩa Thiên Tiên như sau:

Thiên Tiên về Bản Thể cũng đồng một thể Thái Hư như Trời.

Về Đức, cũng như Trời, che chở muôn vật.

Về Ý, cũng Vô Cực như Thiên Tâm.

Siêu việt lên trên 33 tầng Trời.

Chung Ly Quyền viết:

Kham ta vô hạn học tiên giả,

Tổng dữ Thiên Tiên đạo dị môn.

Dịch:

Buồn thay vô số kẻ học Tiên,

Cùng với Thiên Tiên khác nỗi niềm.[35]

Chính vì vậy, mà những ngươì vô đức không bao giờ học được đạo Thiên Tiên. Lý do là vì những người vô đức thời lòng họ xa cách Trời muôn trùng. Cho nên chỉ những kẻ hữu đức mới mong khế hợp với Trời, mới mong hiểu biết được Thiên Cơ, được bí quyết luyện đơn.

Chung Ly Quyền viết:

“Nhược phi phù khế Thiên duyên sự,

Thuỳ bả Thiên cơ quyết dữ công.”

Dịch:

“Lòng không phù khế Thiên duyên sự,

Thiên cơ hồ dễ được truyền tâm.” [36]

7. Các giai đoạn của Phương Pháp Luyện Đơn.

Như vậy, luyện đơn gồm nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ hữu vi đến vô vi, từ xác thân, đến tâm tư, đến Nguyên Thần.

Nếu ta chấp nhận con người có 3 phần:

a. Phần Thiên: Thần, Nguyên Thần, Thái Cực, Thái Hư, Thiên Tâm, Đạo.

b. Phần Nhân: Nhân Tâm, Phàm Tâm, gồm thất tình, lục dục, vọng niệm, thức thần.

c. Phần Địa: Xác thân.

Và nếu ta đảo ngược ba phần trên lại, để đi từ thấp đén cao, từ hữu vi đến vô vi, từ hữu hình đến vô tướng, từ ngoài thân xác, hình hài vào đến Trung Điểm Tâm Thần, ta sẽ thấy khoa luyện đơn gồm:

1. Các phương pháp luyện thân xác cho khang kiện:

Dưới đề mục này, ta có thể xếp các phương pháp:

—Dinh dưỡng, ẩm thực.

—Cư trú.

—Dược vật.

—Thể thao (động công: Bát Đoạn Cẩm, Thập Nhị Đoạn Cẩm).

—Ma sát, Án Ma.

—Yết Tân.

—Thổ nạp.

—Vận Khí điều tức:

—Hô hấp thông thường (Ngoại hô hấp)

—Hô hấp qua 2 mạch Nhâm, Đốc. (Nội hô hấp)

Chung qui, vận khí điều tức là vấn đề then chốt của khoa luyện đơn.

Những người căn cơ thấp thường chỉ luẩn quẩn trong những loại công phu này.

2. Các phương pháp tu luyện tâm hồn.

—Trừng phẫn trật dục. (trừ giận bỏ ham muốn)

—Thu nhiếp phóng tâm.

—Tiêu trừ vọng niệm.

—Tĩnh định.

—Hư tâm.

3. Giai đoạn luyện Thần, đắc Nhất, đắc Đạo, đắc Thiên.

Giai đoạn này là giai đoạn chứng ngộ Bản Thể. Đây mới chính là giai đoạn Đơn Thành.

Mới hay:

“Khuyến quân cùng thủ Sinh Thân Xứ,

Phản Bản Hoàn Nguyên, thị dược vương.” [37]

Dịch:

“Khuyên anh trở lại Nguồn Gốc cũ,

Phản bản, hoàn Nguyên ấy Tiên Đơn.”

III. KIỂM ĐIỂM VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐƠN ĐẠO: —

Trước hết ta nhận định rằng:

1. Ngoại dược không thể đem lại Trường Sinh, vì nêú có như vậy, thì các vua chúa, các người giàu có trên thế gian này, không ai chết cả.

2. Trường sinh là Trường sinh về phương diện Thần, Nguyên Thần chứ không phải Trường Sinh bằng hình hài. Nếu mà Nguỵ Bá Dương đã Trường Sinh bằng xác thân, thì Ông đã siêu việt trên cả Phật Thích Ca, hơn cả Lão Tử, Trang Tử, hơn cả Chúa Giêsu.

3. Khoa Luyện Đơn thực ra phải diễn biến theo đúng qui luật tiến hóa tự nhiên của Trời Đất.

Trần Nê Hoàn viết:

Thần Tiên pháp độ chân tự nhiên. (Tiên học diệu tuyển)

4. Trong thân ta, vì có Thái Cực, nên đã có đủ dược liệu để luyện thuốc trường sinh.

Chỉ Huyền Thiên viết:

“Chân chính đại dược tại Thân trung cầu chi, bất tại ngoại thủ.” [38].

Sau đây là những nhận định về 3 giai đoạn luyện đơn:

a. Nhận định về Tu luyện xác thân.

Phương pháp tu luyện xác thân như ta đã kể trên, rất là đa đoan, phức tạp. Nhưng phương pháp trọng yếu nhất của Khoa Luyện Đơn là Hô Hấp.

—Không phải luyện Hô Hấp thường bằng phổi (respiration pulmonaire), mà người xưa gọi là Hậu Thiên Hô Hấp hay Ngoại Hô Hấp.

—Mà còn hô hấp qua tuỷ xương sống (respiration médullaire) tức là: vận chuyển Chân Khí có sẵn trong tủy xương sống, từ Vĩ Lư lên Nê Hoàn (qua mạch Đốc), rồi lại từ Nê Hoàn qua Mạch Nhâm, xuống cho tới Sinh Tử Quan (Hội Âm, Âm Kiều, Hải Để). [39]

—Chẳng những dạy chuyển vận Chân Khí mà còn dạy cách ngưng Thần ở Nê Hòan. Người xưa gọi thế là Thai Tức (tôi dịch là: respiration embryonnaire).

—Bế khí, ngưng Thần ở Nê Hoàn, nghĩa là hoàn toàn đình tức (arrêt respiratoire), đồng thời nhập Đại Định (ngưng Thần= Samadhi).

Tôi đã đề cập đến vấn đề quan trọng này trong quyển Huỳnh Đình Kinh bình giải cuả tôi, một cách cặn kẽ hơn, nơi chương 20 và 30.

Nó quan trọng đến nỗi người xưa gọi các Đơn Gia là Khí Sĩ. [40]

Nó quan trọng đến nỗi nếu hiểu được 2 chữ Thần, Khí là hiểu được Dược Vật, Hỏa Hầu, hiểu được đại bộ phận của Khoa Luyện Đơn.[41]

Bạch Ngọc Thiềm viết:

“Thần là Hoả, Khí là Dược.” [42]

“Dùng thần ngự khí thời sẽ thành Đạo”.[43]

Bạch Ngọc Thiềm viết thêm:

“Cái vi diệu của khoa Luyện Đơn là do biết Ngưng Thần. Thần Ngưng thì Khí tụ. Khí tụ tức Đơn thành”. [44]

Huỳnh Nguyên Cát viết:

“Đơn Đạo chẳng ngoài Thần Khí. Mới đầu thời Thần Khí xa cách nhau. Ta đem Thần điều Khí, dùng Khí ngưng Thần, cuối cùng Thần Khí dung hoá trong Hư Không, hợp thành một đoàn, to như Thử Mễ Chi Châu, treo ở nơi Tứ Đại Ngũ Hành không vương vấn được.” [45]

Sách Trúc Cơ Tu Chứng viết: “Đình tức ư Nê Hoàn” (Ngưng thở ở Nê Hoàn). [46]

Tiên Học Diệu Tuyển nơi tr. 162 có ghi lời Cao Cái Sơn Nhân, Ngô Ngộ như sau:

“Nội đơn chính là Tồn Thần, bế tức. Nếu lại còn Hư Tâm, Tuyệt Lự thì hoàn toàn giống Thiền Định.” [47]

Mới hay Luyện Mệnh, Luyện Hình, Luyện Thần không gì bằng Hô Hấp Tiên Thiên. Không gì bằng: Vận Khí, điều Tức.

Muốn diên niên, không gì bằng đem được Thần Khí về Nê Hoàn.

Ngũ Tổ nói:

“Hiểu rành Hô Hấp sẽ thành Tiên.” [48]

b. Nhận định về giai đoạn Tu Tâm.

Giai đoạn này có thể tóm tắt bằng 2 chữ: Định, Tĩnh.

Tiên Học Diệu Tuyển tr. 162 có viết:

“12 bộ Tam Tạng (Phật giáo) chỉ nói về chữ Định; vạn quyển Đơn kinh (Lão Giáo) chỉ nói về chữ Tĩnh mà thôi.” [49]

Mã Đơn Dương nói:

“Tâm thanh, ý tĩnh tam đơn kết”

Thạch Hạnh Lâm viết:

“Tâm có định, đơn mới thành. Tâm không định Đơn không kết.” [50]

Bạch Ngọc Thiềm nhận định:

“Người học Đạo lấy Dưỡng Tâm làm chủ. Tâm mà động, thời Thần mệt. Tâm mà định, thời Thần nhàn. Thần mệt thì Đạo ẩn, thần nhàn thì Đạo sinh.” [51]

Kinh Vân: “Nhân năng thường thanh tĩnh, Thiên Địa tất giai qui”. [52]

Kiến Tính Tụng viết:

“Tâm thanh, ý tĩnh, Khí hoà, Thần định, Chân tức miên miên, Linh quang oánh oánh.” [53]

Phương Đại Tâm viết: “Nếu con người có thể sống thanh hư, đạm bạc, tự nhiên sẽ thấy Bản Lai chi Tính Thiên”. [54]

Tự Nhiên Cư Sĩ có thơ:

Tâm như minh kính liên thiên tịnh,

Tính tự hàn đàm, chỉ thủy đồng.

Thập nhị thời trung, thường giác chiếu,

Hưu giao muội liễu chủ nhân Ông.[55]

Dịch:

Tâm như gương sáng mây trời vắng,

Tính tưạ hồ thu nước lắng trong.

Suốt ngày tuệ giác thường chói lói,

Đừng làm mờ mất Chủ Nhân Ông.

Tóm lại:

Dược vật chỉ từ Hư Vô hái,

Đại đơn toàn tại Định trung thiêu.[56]

c. Nhận định về giai đoạn luyện Thần hoàn hư, phục qui Vô Cực.

Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn tìm ra được Chân Tướng của con người, tìm ra đựơc đoan đích, tìm ra được đầu giây, mối rợ của khoa Luyện Đơn.

Đó là giai đoạn tìm ra được Thái Cực, được Trời, được Đạo tiềm ẩn trong Tâm.

Đến đây, ta mới hiểu tại sao Đơn lại là Trường Sinh Dược. Đơn chính là Đạo, chính là Thái Cực. Mà Thái Cực hay Đạo thời trường sinh, vĩnh cửu, nên Đắc Đạo, Đắc Nhất, Đắc Đơn, Đắc Thiên sẽ được Trường Sinh.

Đứng từ trên đỉnh thẳm này, nhìn bao quát lại công trình của khoa luyện đơn, ta sẽ thấy rằng:

Thái Cực, Đạo, Trời là căn cơ, là then chốt, là mục tiêu tối hậu của khoa Luyện Đơn.

Không biết có Thái Cực trong thân, không thể Luyện Đơn.

* Trương Tam Phong có thơ:

Tầm chân phỏng Đạo, hữu hà nan,

Chỉ yếu nhân tâm thức đảo điên.

Hưu hướng ngoại thân tầm chí dược,

Tất tu thân nội, mịch chân diên. [57]

Dịch:

Tầm Chân, phỏng Đạo khó chi đâu,

Chỉ cốt nhân tâm hướng nội cầu.

Thôi đừng thân ngoại, tìm chí dược,

Hãy lo thân nội đoạt Thử Châu (Thái Cực)

Mới hay:

Nhất Linh Chân Tính là Đơn,

Mượn lò Tứ Đại, luyện đoàn thử coi.

Chân Như ấy chính Dược Tài,

Ảo thân lò ấy, giúp người luyện Đơn,

Công phu liên tục, lan man,

Từ trong Định Tĩnh, chu toàn Thánh Thai. [58]

KẾT LUẬN

Nói về khoa Luyện Đơn không biết bao giờ cho cùng. Cho nên, trong bài này, tôi đã cố tránh các thuật ngữ, cố bàn về đại cương mà không đi vào chi tiết, cố tìm cho ra con đường giản dị mà đi, chứ không đâm sầm vào các đường quanh phiền tạp.

Tới đây, tôi liên tưởng đến 2 câu thơ của 1 vị Tống Triết danh tiếng là Lục Tượng Sơn:

Giản dị công phu chung cửu đại,

Chi li sự nghiệp cánh phù trầm.[59]

Dịch:

Giản dĩ công phu mà cửu đại,

Chi ly sự nghiệp lại phù trầm.

* Tôi cũng không muốn nói nhiều hơn về đơn đạo vì:

Đã thông, một tiếng đủ rồi,

Đã mờ, nói mãi rối bời, ích chi? [60]

* Tôi kết luận chương này bằng mấy yếu quyết:

—Ngưng Thần, điều tức, điều tức, ngưng Thần. (Giai đoạn I) [61].

—Thần thanh, khí sảng, thân tâm hòa sướng. (Giai đọan I, & II) [62]

—Tức điều, Tâm tĩnh, khả dĩ nhập Đạo. (Giai đoạn I & II, chuẩn bị cho giai đoạn III.) [63]

—Thần hình câu diệu, dữ Đạo hợp chân (Đúc kết cả 3 giai đoạn) [64]

——————————————
*Hết chính văn chương 12

****************         

CHÚ THÍCH

[1] Khẩu quyết yên năng chỉ thượng minh.

口 訣 焉 能 紙 上 明?

Tiên học từ Điển tr. 40.

[2] Nam Hoa kinh; chương Khắc Ý, đoạn A và B.

[3] Hán dĩ tiền vị chi Đạo, Hán dĩ hậu vị chi đơn.

Tiên Học từ Điển, tr. 62.

[4] Đường đại sư tổ Chung Ly Quyền, Lữ Đồng Tân xuất.

Đạo gia trường sinh bí quyết, tr. 63.

[5] Như trên. tr. 63.

[6] Huỳnh Đình Kinh giải, chương 6

[7] Đơn tự, đầu tượng Nhật, cước tượng Nguyệt. Trung nhất điểm vi Thử Châu. Nhất hoạch vi đắc. Hán dĩ tiền vị chi Đạo, Hán dĩ hậu, vị chi Đơn.

Tiên Học Từ Điển, tr. 62.

[8] Đơn giả, đơn dã. Duy Đạo vô đối, cố viết Đơn. Thiên đắc Nhất dĩ thanh, địa đắc Nhất dĩ doanh, nhân đắc Nhất dĩ trường sinh.

[9] Kết Đơn chi đạo, Nhất nhi dĩ hĩ…Nhất vô tha…Hư nhi dĩ hĩ.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 2, tr. 11.

[10] Tâm tức Đơn, Đơn tức Tâm.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 231.

[11] Đơn tức Đạo dã, Đạo tức Đơn dã.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 263.

[12] Đơn giả, Thiên Địa vạn vật chi bản dã, hà vị dĩ vi Thiên Địa vạn vật chi bản, viết: Đơn giả, Đạo dã. Đạo giả, Hư Vô chi thể dã. Hư Vô bất khả lập danh, cố thánh nhân cưỡng dĩ Đạo danh chi. Hư sinh Nhất, Nhất sinh Vạn, Vạn qui Nhất, Nhất qui Hư.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 3, tr. 19a.

[13] Căn bản do tòng Thái Cực tầm.

Đại Đỗng chân kinh, tr. 4b.

[14] Đỗng kiến Bản Lai Diện Mục, chứng triệt Nguyên Căn.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 1, tr. 2b.

[15] Kim đơn yếu quyết, tr. 1b.

[16] Trương Tam Phong, Đạo thuật hối tông, q. 3, tr. 101

[17] Xướng Đạo Chân Ngôn, q.2 , tr. 8.

[18] Nhất lạp túc trung tàng thế giới.

Tiên học, tr. 30.

[19] Kim giả, bất hoại chi Pháp Thân, Đơn giả, viên thành chi thực tướng.

Tiên Học, tr. 9.

[20] Thất phản giả, phản bản. Cửu hoàn giả, hoàn nguyên.

Hoàn Nguyên Thiên, tr. 4a. Hậu tự.

[21] Trương Tam Phong Đạo thuật hối tông, q. 2, tr. 59.

[22] Trương Tam Phong Đạo thuật hối tông, q. 2, tr. 56.

[23] Thuận kỳ cơ nhi hành nhân đạo.

Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 20

[24] Nghịch kỳ cơ, nhi hành Tiên Đạo.

Như trên. tr. 20.

[25] Sinh cơ ngoại phát vi Thuận.

Như trên. tr. 20.

[26] Sinh cơ nội liễm vi Nghịch.

Như trên. tr. 20.

[27] Kim đơn Đại Đạo tòng hữu vi nhi nhập vô vi, tức Liễu Mệnh nhi kiêm Liễu Tính, phương thị Thần Hình câu diệu.

Tiên học diệu tuyển, tr. 99.

[28] Tiên Học diệu tuyển, tr. 383.

[29] Cố tòng thượng thánh hiền cầu Đạo, đô bất hướng ngoại trì cầu, tĩnh nhi cầu chi ư nhất tâm, vô bất cụ túc.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 4, tr. 35.

[30] Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 13—14.

[31] Tôn Bất Nhị nữ đơn thi chú, tr. 14.

[32] “Nhận vi Đạo tự Hư Vô sinh vạn vật, thị thuận sinh quá trình, nội đơn tu luyện tắc phản thử. Đương phục qui Hư Vô, dữ Đạo hợp nhất.

Đại Đơn diệu dụng pháp Kiền Khôn,

Kiền Khôn vận hề, ngũ hành phân.

Ngũ Hành thuận hề, thường Đạo hữu sinh hữu tử,

Ngũ hành nghịch hề, đơn thể thường linh, thường tồn.”

認 為 道 自 虛 無 生 萬 物, 是 順 生 過 程。 內 丹 修 鍊 則 反 此,

當復 歸 虛 無, 與 道 合 一。

大 丹 妙 用 法 乾 坤

乾 坤 運 兮, 五 行 分

五 行 順 兮, 常 道 有 生 有 死,

五 行 逆 兮, 丹 體 常 靈 常 存。

Trung Quốc Đạo Giáo, Khanh Hi Thái chủ biên, tr. 305.

[33] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 10a.

[34] Ngũ thập tri thiên mệnh (Luận Ngữ, II, 4)

 Ngô đắc Đaọ niên ngũ thập.

Trung Quốc Đạo Giáo, tr. 296, khi nói về Lữ Đồng Tân.

[35] Thể đồng Thiên thanh chi hư, Đức đồng Thiên chi phú trù, Ý đồng Tiên Tâm chi vô cực, siêu việt hồ tam thập tam thiên chi ngoại giả… Chung tổ viết: “Kham ta vô hạn học Tiên giả, Tổng dữ Thiên Tiên Đạo dị môn.”

Tiên Học Từ Điển, tr. 46.

[36] Cái vô đức giả, dử Thiên tương cách quá viễn. Hữu đức giả tất hợp ư Thiên. Tắc Thiên Nhân dĩ hợp nhất, kỳ cơ tự nhiên thấu. Chung tổ viết:” Nhược phi phù khế Thiên duyên sự, Thùy bả Thiên cơ quyết dữ công.

Tiên học từ điển, tr. 47. Nơi chữ Thiên Cơ.

[37] Trương Tử Dương, Ngộ Chân Thiên. Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 101.

[38] Tiên Học từ Điển, tr. 93.

[39] Huỳnh Đình Kinh Giải, Nguyễn Văn Thọ, chương 20)

[40] Tu luyện giả danh vi Khí Sĩ.

Tiên Học Tập Cẩm, tr. 311.

[41] Nếu ta thay 2 chữ Thần,Khí bằng các danh từ tương đương như Âm Dương, Long Hổ; Diên Hống; Anh Nhi, Xá Nữ; Ô Thố; Hắc Qui, Xích Xà; Kim Tinh, Mộc Dịch; Thần Thủy, Hoa Trì; Hỏa, Dược, ta sẽ đọc các sách luyện Đơn dễ dàng.

Nhân tiện giải 2 chữ Hoả Hầu. Hầu có nghĩa là Lúc. Hỏa Hầu là vận chuyển Chân Khí cho đúng lúc, đúng phép (hợp phù), đáng mạnh thì mạnh (Vũ Hỏa), đáng nhẹ thì nhẹ (Văn Hỏa), đáng ngừng, thì ngừng (Chỉ Hỏa). Thế tức là Vừa Vặn, hẳn hoi (Kháp Đáo Hảo Xứ).

[42] Thần tức hỏa dã, Khí tức Dược dã.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 261.

[43] Dĩ Thần ngự Khí nhi thành Đạo. Dĩ hoả luyện dược nhi thành Đơn.

以 神 御 氣 而 成 道, 以 火 鍊 藥 而 成 丹。

Tiên Học Từ Điển, tr. 53—54.

[44] Luyện hình diệu tại hồ ngưng Thần,Thần ngưng tức Khí tụ. Khí tụ tức Đơn thành.

鍊 形 妙 在 乎 凝 神。 神 凝 即 氣 聚。 氣聚 即 丹 成。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 261.

[45] Đơn đạo bất ngoại Thần Khí. Thủy nhi Thần dữ Khí ly, Ngã tức dĩ Thần điều Khí dĩ Khí ngưng Thần. Chubg tắc Thần Khí dung hoá ư Hư Không, kết thành nhất đoàn, đại như Thử Mễ chi Châu, huyền ư Tứ Đại Ngã Hành bất trước chi xứ.”

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 261.

[46] Trúc Cơ tu chứng, tr. 85.

[47] Nội đơn chi thuyết, bất quá tồn Thần, bế tức, như năng vong cơ, tuyệt lự, vãng vãng dữ Thiền Định tương đồng.

內 丹 之 說 不 過 存 神 閉 息。 如 能 忘 機 絕 慮, 往 往 與 禪 定 相 同。

Tiên học Diệu Tuyển, tr. 162.

[48] Hô Hấp phân minh liễu khước Tiên.

呼 吸 分 明 了 卻 仙。

Tiên học , tr. 26.

[49] Tam tạng thập nhị bộ, đãn ngôn nhất Định tự, Đơn kinh vạn quyển đãn ngôn nhất Tĩnh tự nhi dĩ.

三 藏 十 二 部 但 言 一定 字。 丹 經 萬 卷 但 言 一 靜 字而 已。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 162.

[50] Hạnh Lâm Tổ Sư viết: Định lý kiến đơn thành, bất Định đơn bất kết.

Tiên Học Từ Điển, tr. 63.

[51] Học Đạo chi nhân dĩ dưỡng tâm vi chủ. Tâm động, Thần bì, Tâm định Thần nhàn. Bì tắc Đạo ẩn, nhàn tắc Đạo sinh.

Tiên học diệu tuyển, tr. 257.

[52] Tiên học Diệu Tuyển, tr. 272.

[53] 見 性 頌 云﹕ 心 清 意 靜, 氣 和 神 定。 真 息 綿 綿, 靈 光 瑩瑩

Tiên Học, tr. 55.

[54] Nhân năng thanh hư đạm bạc, tự nhiên kiến kỳ Bản Lai chi Tính Thiên.

人 能 清 虛 淡 泊, 自 然 見 其 本 來 之 性 天。

Tiên Học, tr. 104.

[55] 心 如 明 鏡 連 天 淨

 性 似 寒 潭 止 水 同。

 十 二 時 中 常 覺 照

 休 教 昧 了 主 人 翁。

Tiên học diệu tuyển, tr. 380.

[56] 藥 物 只於 無 裡 採, 大 丹 全 在 定 中 燒。

Dược vật chỉ ư Vô lý thái, Đại đơn toàn tại Định trung thiêu.

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 279.

[57] 尋 真 訪 道 有 何 難

 只 要 人 心 識 倒 顛

 休 向 外 身 尋 至 藥

 必 修 身 內 覓 真 鉛

Tiên Học Từ Điển, phần Phụ Lục tr. 3

[58] Nhất linh chân tính vị chi Đơn, Tứ Đại giả hợp vị chi Táo. Ảo thân vi Đơn Táo, Chân Như thị Dược Tài. Công phu thường bất gián, Định lý kết Linh Thai.

一 靈 真 性 謂 之 丹, 四 大 假 合 謂 之 灶。 幻 身 為 丹 灶,

真 如 是 藥 材。 工 夫 常 不 間, 定 裡 結 靈 胎。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 283.

[59] 簡 易 工 夫 終 久 大, 支 離事 業 更 浮 沈

Kim Công Lượng, Trung Quốc Triết Học Sử, tr. 151.

[60] 知 其 要 者 一 言 而 終, 不 知 其 要 者 流 散 無 窮。

Nội Kinh.

[61] Tiên học diệu tuyển, tr. 240.

[62] Tiên học diệu tuyển, tr. 268

[63] Tiên học diệu tuyển, tr. 198.

[64] Tiên học diệu tuyền, tr. 268.

—————————————-

****************         

CHƯƠNG XIII

QUẦN KINH DIỆU TUYỂN

(KINH SÁCH ĐẠO LÃO)

Chương này với một tên rất kêu, lại có một mục đích hết sức khiêm tốn.

Nó sẽ không đi vào chi tiết vô số kinh tạng, mà chỉ muốn làm nổi bật ít nhiều tư tưởng then chốt của kinh tạng. Nó không muốn đem 1 mớ không ngôn, nhồi nhét vào đầu não con người, mà chỉ muốn đánh thức Nguyên Thần, kích động Thái Cực trong thâm tâm mỗi một người, chỉ vụ Tinh chứ không vụ Đa. Vả rườm lời để làm gì, trong khi người xưa đã nói:

“Nhất ngôn, bán cú tiện thông huyền, Hà dụng Đơn Kinh thiên vạn thiên.”

Dịch:

Một tiếng, nửa câu đủ thông huyền,

Chẳng cứ đơn kinh, nghìn vạn thiên.

Trong chương này ta sẽ:

1. Nhìn bao quát kinh tạng Đạo Giáo.

2. Trình bày cốt tuỷ tinh hoa kinh tạng Đạo Lão.

***

1. Nhìn bao quát kinh tạng Đạo Lão.

Kinh sách Đạo Lão xưa nay đã được sưu tầm và in thành bộ Đạo Tạng.

Đạo Tạng đã được in đi, in lại nhiều lần, mỗi lần lại mang 1 tên khác.

Ví dụ ta có:

—Khai Nguyên Đạo Tạng (713—741) in trong những năm Khai Nguyên, đời Đường Huyền Tông, gồm 5300 quyển).

—Kim Ngân Tự Đạo tạng. Thời Đường mạt Ngũ Đại.

—Đại Tống Thiên Cung Bảo Tạng. Tống Thái Tông, Đoan Cung nhị niên, Thuần Hoá ngũ niên 989—994 và Tống Chân Tông, Thiên Hi Tam Niên (1019)

—Chính Hòa Vạn Thọ Đạo tạng. (1113—1114) Đời Tống Huy Tông, trong những năm Chính Hoà .

—Đại Kim Huyền Đô Bảo tạng. Kim Tông Liệt Quang Cảnh,, trong những năm Minh Xương (1190—1193) .Gồm 6455 quyển.

—Nguyên Khan Huyền Đô Bảo Tạng. In xong năm 1244 đời Nguyên. (Năm 1281, toàn bộ Đạo Tạng bị Nguyên Thế Tổ ra lệnh đốt sau vụ đấu lý giữa Phật và Lão về quyển Hóa Hồ Kinh)

—Chính thống Đạo Tạng hoàn tất đời Minh Anh Tông, năm Chính Thống thứ 9. (1444)

—Bộ Đạo tạng này được Đài Loan in lại năm 1977.

—Bắc Kinh Văn Vật Xuất Bản Hội in lại năm 1988, có sự hợp tác của Thượng Hải Thư Điếm và Thiên Tân Cổ Tịch Xuất Bản Xã.

Đạo Tạng gồm khỏang 4115 bộ. (Nhật Bản cung nội sảnh bản tồn) [1]

Như vậy số sách cũng thay đổi tùy theo mỗi ấn bản. Tuy nhiên, sách Đạo Lão cũng khoảng trên 5000 bộ.

Ngoài ra còn có những Bộ như Đạo Tạng Khuyết Kinh Mục Lục, Đạo Tạng Mục Lục tường chú, Đạo Tạng Tập Yếu v.v…

Đời Vũ Tông (1506—1521), và Thế Tông (1522—1566) nhà Minh, đạo Lão cho in lại toàn bộ Đạo Tạng, gồm 1464 bộ lớn nhỏ. Mỗi bộ gồm từ 1 quyển đền 300, 400 quyển.

Lý Kiệt chia Đạo Tạng thành 12 tiểu mục:—

1. Bản văn (Les Textes fondamentaux).

2. Thần Phù (Les Textes efficaces).

3. Ngọc quyết (les commentaires et amplifications).

4. Linh Phù (Les graphies efficaces, diagrammes, dessins)

5. Phả Lục (Histoires et Traditions).

6. Giới luật (morales et ascétisme).

7. Uy nghi (ascétisme).

8. Phương Pháp (Pratiques, manipulations).

9. Chúng thuật (diététique, alchimie, astres, nombres, etc…)

10. Kỳ truyện (Mythologies, légendes).

11. Tán Tụng (liturgie, hymnes, adresses).

12. Biểu tấu (documents, pétitions aux empereurs, édits recus d’eux).[2]

* Trịnh Tiêu, thế kỷ XII, đã chia Đạo Tạng thành 25 tiểu mục sau đây:

1. Lão Tử.

2. Trang Tử.

3. Chư Tử.

4. Âm phù Kinh.

5. Huỳnh Đình Kinh.

6. Tham đồng Khế.

7. Mục lục (les catalogues)

8. Truyện (les légendes).

9. Ký (histoires).

10. Luận (les dissertations).

11. Thư (les graphies).

12. Kinh (les textes).

13. Khoa nghi (disciplines et rites).

14. Phù Lục (formules et Talismans).

15. Thổ nạp (aérothérapie, photothérapie).

16. Thai Tức (entretien du Principe vital).

17. Nội quan (soins particuliers).

18. Đạo Dẫn (Massage).

19. Tịch cốc (Abstinence)

20. Nội Đơn (cures morales).

21. Ngoại Đơn (cures chimiques).

22. Kim Thạch dược (médecine et Pharmacie).

23. Phục Nhị (diète des candidats à l’immortalité)

24. Phòng Trung (hygiène sexuelle).

25. Tu Dưỡng (Hygiène physique et morale) [3]

Ở Trung Hoa, sách vở về Đạo Lão thời vô vàn vô số như vậy, còn ở Việt Nam, ta chỉ thấy lèo tèo vài bộ kinh như Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Âm Phù Kinh, Huỳnh Đình Kinh. Như vậy, tỏ ra xưa nay, rất ít người Việt Nam để tâm nghiên cứu kinh sách Đạo Lão.

* Ước mong sau này, những sách sau đây sẽ được bình dịch:

—Âm Phù Kinh của Hoàng Đế.

—Tham Đồng Khế của Ngụy Bá Dương.

—Ngộ Chân Thiên, và Kim Đơn tứ bách tự của Trương Tử Dương.

—Bách tự Bi của Lữ Đồng Tân.

—Nhập dược kính của Thôi Hi Phạm.

—Chỉ Huyền Thiên của Lữ Đồng Tân.

—Xướng Đạo Chân Ngôn của Hạc Cù Tử.

—Đại Động Chân Kinh của Văn Xương Đế Quân.

—Huỳnh Đình Nội Cảnh, và Huỳnh Đình Ngoại cảnh.

—Tính Mệnh Khuê Chỉ của Doãn Chân Nhân + sư đệ.

—Linh Bảo Tất Pháp của Chung Ly Quyền.

—Kim đơn đại thành tập của Tử Hư Chân Nhân.

—Phục Mệnh Thiên của Tiết Đạo Quang.

—Thúy Hư Thiên của Trần Nê Hoàn.

—Hoàn Nguyên Thiên của Hạnh Lâm Thạch Thái.

—Đơn Đạo Bí Thư, của Tôn Bất Nhị .

—Ngộ Chân Thiên của Trương Bá Đoan.

—Tiên Thiên Chính Lý trực luận của Xung Hư Tử, Ngũ Thủ Dương v.v…

****************         

2. Trình bày cốt tủy kinh điển của Đạo Lão: —

a. Quan niệm Thái Cực và công cuộc đi tìm trường sinh và chân lý

Quan niệm Thái Cực đã xây nền, đắp tảng cho công cuộc tu thân, đi tìm chân lý, và trường sinh của Đạo Lão.

Vì tin rằng Thái Cực là Bản Thể vũ trụ, vạn hữu, là Đạo, là Căn Nguyên, là cốt cách con người, [4] vì tin rằng Thái Cực vĩnh cửu trường tồn, [5] vô thanh vô xú, nhưng lại tiềm ẩn ngay trong đáy lòng con người,[6] nên các bậc chính nhân, quân tử, sau khi thấu hiểu Dịch Kinh, đã hồi tâm, phản tỉnh, đã trở vào Tâm Thần mình mà tìm Đạo, tìm Trời.

—Thái Cực là Huyền Quan Khiếu hay Huyền Tẫn chi môn. [7]

—Thái Cực là Cái Đó (Na Ta Tử —Ta Tử—Giá Cá.) [8]

—Thái Cực là Căn Bản. [9]

—Thái Cực là Bản Lai Diện Mục. [10]

—Thái Cực là Chân Như Bản Tánh. [11]

—Thải Cực là Kim Cương Thân. [12]

—Thái Cực là Thiên Tâm, là Thiên Địa chi tâm. [13].

Thông Thiên Bí Thư, quyển 4, tr. 9b, viết đại khái rằng:

“Trong con người có 1 Khiếu gọi là Huyền Tẫn. Đó là nơi Tam Tài tương dung. Tinh, thần, hồn, phách tương hội ở huyệt đó. Đó là Căn cơ cho công trình luyện Kim Đơn, hoàn phản. Đó cũng là nơi mà Thần Tiên ngưng kết Thánh Thai.. Cổ nhân gọi đó là cái gốc Thái Cực, cái chuôi Tiên Thiên, cái mối Hư Vô, cái nguồn Tạo Hóa, cái gốc Hỗn Độn, cái Hang Thái Hư, cái Khiếu Qui Căn, cái cửa Phục Mệnh, cái cửa Mậu Kỷ, cái xứ Chân Nhất, cái cung Trung Hoàng, cái phủ Đơn Nguyên, cái Đàn Thủ Nhất, cái Lò Luyện Đơn, cái Đỉnh Chu Sa, cái huyệt Long Hổ, cái nhà Huỳnh Bà, cái Lò Cừ, cái Thổ Phủ (Chõ Đất), Thần Thủy, Hoa Trì, Đế Ất, Thần Thất, Linh Đài, Giáng Cung…Ta được Diệu Quyết vì chỗ Thành Tiên, chứng Thánh đó gọi là Qui Trung, là nơi Thủy Hỏa giao cấu, là Thiên Địa chi chính Trung trong con người…[14]

Tất cả chỉ là Thái Cực dưới những danh hiệu khác nhau: Nào Đao Khuê,[15] nào Hồng Mông, nào Hỗn Độn, nào Hư Vô. Tất cả đều là Thái Cực, [16] Mà Thái Cực là Kim Đơn.

Xướng Đạo Chân Ngôn viết: Đơn là gì? Là Thái Cực nơi con người. [17]

b. Thái Cực tiềm ẩn ngay trong lòng con người.

Mà lạ lùng thay, Thái Cực đã ở sẵn ngay trong con người, nên dù cầu Đạo hay luyện Đơn, cũng phải quay về trong Thân Tâm mà tìm kiếm.

Chính vì vậy mà Hoàn Nguyên Thiên viết:

Luân hồi, Ngọc Thố dữ Kim Ô

Đạo tại nhân thân, thế thượng mê. [18]

Liễu Mệnh Thiên viết:

Thân trung tận hữu diên niên dược,

Khả tiếu ngu nhân hướng ngoại tầm. [19]

Tử Dương Tổ viết:

Diệu Đạo bất ly tự gia thân,

Khởi tại thiên sơn, vạn thủy tính. [20]

Chỉ Huyền Thiên viết: “Chân chính đại dược chỉ tại thân trung cầu chi, bất tại ngoại thủ.” [21]

Tham Đồng Khế phát huy còn viết: “Nhìn mà chẳng thấy, gần nên dễ cầu.”

Toàn Dương Tử Du Diễm bình: “Kim đơn Đại Đạo chỉ ở trước mắt, thế nên Đại Đạo chẳng phải là gần sao? Tại sao, nhìn không thấy, bắt không được, tuy gần mà vẫn là xa vậy. Nếu biết đường lối, phép tắc mà cầu, thì chỉ mất công chốc lát, mà Hoàng Hoa đã hiển lộ sáng lòa. Thế thì đâu có xa”.

Ngộ Chân Thiên viết:

Công phu dung dị, dược phi dao,

Thuyết phá, nhân tu thất tiếu.

Dịch:

Công phu dung dị, thuốc đâu xa,

Nói ra, người ắt phải cười xòa.

Phục Mệnh Thiên viết:

Phân minh chỉ tại mục tình tiền,

Chỉ tại thời nhân bất kiến Thiên,

Dịch:

Phân minh đã sẵn trước con ngươi,

Chỉ tại thế nhân chẳng thấy Trời.

“Vì không thấy, không hay, nên người ta đã bỏ trong tìm ngoài. Có người hái nhật tinh, nguyệt hoa (tinh hoa mặt trời, mặt trăng), có người luyện kim thạch thảo mộc, có người hành phòng trung chi thuật, thật đúng là Đạo thì ở gần mà cầu nơi xa, sự việc dễ mà cầu chuyện khó, buồn thay.” [22]

Thất Chân Nhân Quả có thơ:

Ý ngoại cầu Tiên, lộ tựu soa,

Thủy trung nguyệt ảnh, kính trung hoa.

Tiên Thiên diệu lý, quân tri phủ,

Chỉ tại nhất tâm tiện khả khoa.

Dịch:

Thân ngoại cầu tiên ắt lạc đường.

Mò trăng đáy nước, hái hoa gương.

Tiên Thiên diệu lý, hay chăng tá,

Chỉ tại tâm điền, há viễn phương.

Thái Cực ở trong ta tức là ở trong thế Cực Tiểu, Thái Cực ở ngoài vũ trụ là ở trong thế Cực Đại.

Xướng Đạo Chân Ngôn viết:

“Trung Dung nói: Nói lớn ra thì Thiên Địa không đủ để mang chứa. Đó là Thái Cực bao trùm vạn vật vậy. Nói nhỏ lại, thì thiên hạ không thể phá được. Đó là Thái Cực nhập vào trong vạn hữu vậy.” [23]

—Trương Tam Phong gọi Thái Cực ở trong thế Cực Tiểu là Thử Mễ Bảo Châu (Bảo Châu hạt vừng) [24], hay Thử Mễ. [25] hay Nhất lạp thử mễ. [26]

—Tử Dương Chân Nhân thì gọi đó là Huyền Châu.

“Hổ dược long đằng phong lãng thô,

Trung ương chính vị sản Huyền Châu.” [27]

—Lữ Đồng Tân gọi là: Nhất lạp túc (Một hạt thóc) [28]

—Trương tử Dương, trong quyển Kim Đơn tứ bách tự đã đề cập đến Thái Cực trong thân bằng thơ sau:

Thử khiếu phi phàm khiếu,
 此 竅 非 凡 竅

Kiền Khôn cộng hiệp thành,
 乾 坤 共 合 成,

Danh vi Thần Khí Huyệt,
 名 為 神 氣 穴,

Nội hữu Khảm, Ly tinh.
 內 有 坎 離 精。

—Thượng Dương Tử cũng xác quyết rằng Thái Cực đã tiềm ần trong thân ta, bằng thơ:

Thử Khiếu phân minh tại nhỡn tiền
 此 竅 分 明 在 眼 前

Hạ sĩ văn chi đại tiếu yên.
 下 士 聞 之 大 笑 焉 [29]

****************         

c. Nếu Thái Cực tiềm ẩn trong ta, thì tiềm ẩn nơi đâu?

Tiên Gia đã trả lời: Tại Nê Hoàn Cung, tức là tại trung tâm đầu não con ngườì. Về tầm quan trọng của Nê Hoàn Cung, tôi đã đề cập đến trong nhiều sách như Trung Dung Tân Khảo, Huỳnh Đình Kinh bình Dịch (nơi chương 3, 4 phần khảo luận). Nơi đây chỉ nhắc lại: Nê Hoàn ở trung cung đầu não, như Thái Cực ở giữa Cửu Cung, như Thiên Tâm ở giữa các cung Trời. Nê Hoàn là Thiên Cốc, Nê Hoàn là Cốc Thần. Mà ta đã biết: Cốc Thần là Thái Cực.

—Kim Đơn Đại thành viết:

Đầu hữu Cửu Cung, trung hữu Nê Hoàn. [30]

—Đại Động Chân Kinh viết:

Nhân đầu hữu cửu cung,do Thiên hữu Cửu Tiêu. [31]

—Kim Đơn Đại Thành còn viết: “Đầu có 9 cung ứng với Chín Cung Trời. Chính giữa có một cung gọi là Thiên Tâm, Tử Phủ, Thiên Uyên, Thiên Luân, Thiên Quan, Thiên Kinh, Thượng Đô quan, Côn Lôn Đỉnh. Tên rất là nhiều, nhưng chung qui chỉ là Huyền Quan Nhất Khiếu.” [32]

—Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

Đầu hữu Cửu Cung, trung Nhất Cung danh viết Cốc Thần. [33]

—Huỳnh Nguyên Cát (1271—1355) viết:” Người ta đầu có 9 cung, ở giữa có một nơi gọi là Thiên Cốc, thanh tịnh không vương bụi trần. Nếu có được Nguyên Thần vào an ngự nơi đó, không phát tán ra ngoài, thời thành Tiên, thành Thánh. Huỳnh Đình Kinh nói: Nếu Bạn muốn bất tử, hãy tu Côn Lôn. Mới hay Thiên Cốc thật là vô cùng huyền diệu. [34]

Người xưa có thơ:

Hướng tiền Thần tụ đồng Vô Cực,
 向 前神 聚 同 無 極

Kim tán, vi trần mãn thế đồ.
 今 散 微 塵 滿 世 途

Dục qui nguyên vị Hoàng Trung lý,
 欲 歸 元 位 黃 中 裡

Nê Hoàn vạn vựng tốc hồi qui.
 泥 丸 萬 彙 速 回 歸 [35]

Dịch:

Trước kia, Thần tụ đồng Vô Cực,

Nay tán, trần ai ngập thế đồ.

Muốn về Nguyên Vị Hoàng Trung cũ,

Nê Hoàn vạn vựng kíp hồi qui.

Thay vì bàn thêm nhiêù về Nê Hoàn, tôi xin cống hiến một số danh hiệu thêm về Nê Hoàn. Đọc những danh hiệu ấy, tự nhiên ta sẽ thấy những nhận định, những suy tư cuả ngưới xưa về Nê Hoàn.

Nhân bàn câu: Chân Nhân tiềm thâm uyên của Nguỵ Bá Dương trong sách Tham Đồng Khế, Du Diễm bình như sau:

“Chân Nhân tức là Nguyên Thần. Thâm Uyên là Thái Uyên. Nó có rất nhiều tên gọi, xin thử kể ra: Nê Hoàn Cung, Lưu Châu Cung, Ngọc Thanh Cung, Thúy Vi Cung, Thái Vi Cung, Thái Ất Cung, Thái Huyền Quan, Huyền Môn, Huyền Cung, Huyền Thất, Huyền Cốc, Huyền Điền, Sa Điền, Đệ Nhất Quan, Đô Quan, Thiên Quan, Thiên Môn, Thiên Cốc, Thiên Điền, Thiên Tâm, Thiên Luân, Thiên Trục, Thiên Nguyên, Thiên Trì, Thiên Căn, Thiên Đường, Thiên Cung, Kiền Cung, Kiền Gia, Giao Cảm Cung, Ly Cung, Thần Cung, Thần Thất, Thần Quan, Thần Phòng, Thần Đô, Huyền Đô, Cố Đô, Cố Khâu, Cố Lâm, Cố Cung, Tử Đỉnh, Tử Kim Đỉnh, Chu Sa Đỉnh, Cống Đỉnh, Ngọc Đỉnh, Ngọc Thất, Ngọc Kinh, Ngọc Vũ, Dao Phong, Đệ Nhất Phong, Tối Cao Phong, Chúc Dung Phong, Côn Lôn Đỉnh, Không Động, Bồng Lai Thượng Đảo, Thượng Kinh, Thượng Cung, Thượng Huyền, Thượng Nguyên, Thượng Cốc, Thựơng Thổ Phủ, Thượng Đơn Điền. Tên thật nhiều, nhưng chung qui chỉ có một. [36]

Chính vì thế mà không vị Tiên Gia nào mà lại không biết giá trị của Nê Hoàn.

Thái Cổ Tập vân:

Kim Đơn vận đáo Nê Hoàn huyệt,

Danh Tính tiên tương ký Ngọc Đô. [37]

Dịch:

Kim Đơn vận tới Nê Hoàn Huyệt,

Danh tính đã ghi tại Ngọc Đô.

Huỳnh Đình Kinh viết: Tử dục bất tử tu Côn Lôn,

Luận Tĩnh Trung Ngâm có câu:

Ngã tu Côn Lôn đắc chân quyết.

Phục Mệnh Thiên viết:

Hồi hướng ngã gia viên lý,

Tài bồi nhất mẫu Thiên Điền. [38]

Dịch:

Nhà xưa vườn cũ quay trở lại,

Một mẫu Thiên Điền cố chăm nom.

Hoàn Nguyên Thiên viết:

Ngộ Đạo hiển nhiên minh khuếch lạc,

Nhàn nhàn đoan toạ vận Thiên Quan. [39]

Dịch:

Ngộ Đạo tự nhiên tỏ lối đàng,

Thảnh thơi ngồi thẳng vận Thiên Quan.

d. Đã biết Thái Cực ở nơi đâu, lập tức suy ra đựơc con đựng phản bản hồi hướng.

Nhập Dược kính có thơ:

Nê Hoàn nhất khiếu đạt Thiên Môn,

Trực thượng Hư Hoàng, Ngọc Đế tôn.

Thử thị Chân Nhân lai vãng lộ,

Thời thời khóa hạc khứ triều nguyên. [40]

Dịch:

Nê Hoàn một khiếu đạt Thiên Môn,

Thẳng tới Hư Hoàng Ngọc Đế Tôn.

Ấy chính Chân Nhân đường lui tới,

Thời thời cưỡi hạc để triều nguyên.

 *****

Còn phương pháp để trở về với Thái Cực, thì Tiên Gia nhất luật chủ trương: Định, Tĩnh.

—Tiên Kinh vân: Tiên Thiên (Thái Cực) thời Thu Nhiếp.

Hậu Thiên (Thân Tâm) thời biến hóa để trở nên xứng đáng Dữ Đạo Hợp Chân. [41]

—Dịch Kinh viết: Thánh Nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật.

Thánh Nhân tẩy rửa tâm thân cho sạch tục lụy trần ai, và rút lui vào chốn ẩn áo trong lòng mình.[42]

—Đạo đức Kinh viết: Trí hư cực, thủ tĩnh đốc, [43]

—Lại viết: “Tĩnh vi tháo quân.” (tĩnh là vua của hoạt động). [44]

—Bạch Ngọc Thiềm viết: “Nhân năng hư tâm, Đạo tự qui chi.” [45]

—Lý Đạo Thuần viết: “Nhân năng thường thanh tĩnh, Thiên hạ tất giai qui,” [46]

Lại nói:

“Trí hư tri diệu bản,

Tĩnh cực kiến Thiên Tâm.” [47]

 —Mã đơn Dương viết:

“Thanh Tĩnh tiện thị Trường Sinh quyết” [48]

—Tự Nhiên Cư Sĩ viết:

“Tâm như minh kính liên thiên bích,

Tính tự hàn đàm chỉ thủy đồng.”

Dịch:

Tâm như gương sáng chiếu thinh không,

Tâm tựa hồ thu nước lắng trong. [49]

—Tam Mao Chân Quân viết:

Linh Đài trạm trạm tựa băng hồ,

Chỉ hứa Nguyên Thần lý diện cư,

Nhược hướng thử trung lưu nhất vật,

Khởi năng chứng Đạo hợp Hư Vô?

Dịch:

Tâm Linh vằng vặc tựa băng hồ,

Chỉ khứng Nguyên Thần lý diện cư.

Nếu để vật chi vương vấn đó,

Làm sao chứng Đạo hợp Hư Vô? [50]

Và dĩ nhiên, khi đã biết được Thái Cực là điểm đồng qui, hội tụ, thì chỉ việc thu nhiếp thân tâm về nơi Trung Hoàng Mậu Kỷ đó.

Người xưa có thơ:

Ly khảm, tinh thần, Nam hội Bắc,

Hổ Long, Hồn Phách hợp Tây Đông,

Tổng qui Mậu Kỷ thường tương hội,

Tận tại Huyền Quan nhất khiếu trung. [51]

Thạch Hạnh Lâm viết:

Ý mã qui thần thất,

Tâm viên thủ Động Phòng.

Tinh, Thần, Hồn, Phách, Ý,

Luyện tác Tử Kim Sương, [52]

*** Nếu ta kết hợp được với Thái Cực, với Trời, với Đạo trong tâm hồn ta, đó là:

—Đắc Đạo.

—Qui căn, phản bản.

—Tìm lại được Bản Lai Diện Mục của mình.

—Tìm lại được Kim Cương Thân,

—Luyện được Kim Đơn.

Tiên gia gọi thế là:

—Uống được Đao Khuê.

—Uống được rượu Hồng Mông.

—Khai phá được Hỗn Độn.

Mới hay:

Nhất lạp Đao Khuê luyện nhập Thần,

Đại như Thử Mễ, trị thiên câm,

Chỉ tiêu bán trản Hồng Mông tưủ,

Ẩm xứ hà tu cánh cổ cầm.

Dịch:

Một hạt Đao Khuê luyện nhập Thần,

Hạt vừng to tựa, giá thiên câm (thiên kim).

Chỉ cần nửa chén Hồng Mông tưủ,

Lúc uống cần chi phải cổ cầm (gảy đàn). [53]

Mới hay:

Hỗn Độn nếu chẳng tạc khai,

Hồng Mông nếu không bổ vỡ,

Bảo Châu trời đất sao thấy toû? [54]

Để kết thúc chương này, ta mượn 2 câu thơ của Mã Đơn Dương tặng Triệu Công:

“Thành tiên chỉ thị Thần Quang,

Thiên Cung vô dụng xú bì nang.”[55]

Dịch:

Thành Tiên âu chỉ cốt Thần Quang,

Thiên cung sá kể cái xác phàm…

****************         

CHÚ THÍCH

[1] Xem Đạo Tạng, trong Trung Quốc Đạo Giáo, Khanh Hi Thái chủ biên, q. 2, tr. 11—40.

Xem Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, tr. 227—231.

Xem Trung Quốc Đạo Giáo Đại Sự niên biểu, Trung Quốc Đạo Giáo, q. IV, tr. 293—322.

[2] Lý Kiệt, Trương Vĩnh Tường, Mạnh Chí Tài, Đạo tạng mục lục tường chú, in năm Đạo Quang thứ 35 (1885).

Xem Wieger, Taoisme, T. 1, p. 23

[3] Xem Wieger, Taoisme, T. I, Bibliographie générale, p. 24.

[4] Khổng tử tắc viết: Thiên Lý, Lão Tử tắc viết Cốc Thần, Dịch tắc viết:  Thái Cực. Danh tuy hữu dị, kỳ thực, đồng nhất Chân Như bàn thể dã.

Qui Nguyên Trực Chỉ q. trung, tr. 360.

…Đạo vi Thái Cực.

Tạ Vô Lượng, Trung Quốc Triết Học sử, đệ Tam Thiên thượng, tr. 14.

Thái Cực tức Đạo, Đạo tức Đơn dã.

Tiên Học từ Điển, tr. 64.

[5] Hữu vật tiên Thiên Địa,

 Vô hình bản tịch liêu,

 Năng vi vạn tượng chủ,

 Bất trục tứ thời điêu.

Đỗ Thiéu Lăng, Qui Nguyên Trực Chỉ, q. trung, tr. 370.

[6] 丹 者 何 也, 人 中 之 太 極 也。

Đơn giả, hà dả. Nhân trung chi Thái Cực dã.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q. 2, tr. 8a.

[7] Phù Vô Cực O giả, Thái Cực O dã. Đãn hữu cá thử Huyền Quan Nhất Khiếu nhi Vô Cực, Thái Cực chi danh do thử phân. Kỳ thực vô khả phân dã.

夫 無 極 O 者, 太 極 O 也 。但 有 個 此 玄 關 一 竅 而 無 極, 太 極 之 名 由 此 分。其 實 無 可 分 也.

Vô Cực là Thái Cực, chỉ vì có Huyền Quan Nhất Khiếu mà Vô Cực, Thái Cực chia thành 2 tên. Kỳ thực không thể phân vậy.

Xướng Đạo Chân Ngôn, q.2, tr. 8a.

…Nguyên Quan tức Nguyên Tẫn chi biệt danh, nhân kỳ Âm Dương tại thử, cố vị Nguyên Tẫn môn. Nhân kỳ Nguyên Diệu bất trắc, cố vị Nguyên Quan Khiếu, kỳ thực giai thử Nhất Khiếu nhĩ.

…Huyền Quan tức là Huyền Tẫn chi môn. Vì gồm đủ Âm Dương nên gọi là Huyền Tẫn môn. Vì huyền diệu bất trắc, nên gọi là Huyền Quan Khiếu. Kỳ thật, chỉ là một khiếu.

Tượng Ngôn Phá Nghi q. hạ, tr. 2a.

** (Thời nhà Thanh, vì vua Khang Hi tên là Huyền, nên vì kiêng tên huý của vua, nên các chữ Huyền đổi thành Nguyên hết. Nay ta đổi ngược lại: Các chữ Nguyên đổi lại thành Huyền. Tượng Ngôn phá Nghi là của Lưu Nhất Minh (1734—1821) viết thời nhà Thanh. Ông mất năm Tuyên Tông Thành Hoàng Đế, Đạo Quang 1.)

…Huyền quan giả, chí huyền chí diệu chi cơ quan dã. tức nhân thân trung chi Thái Cực thị dã.

…Huyền Quan là một cơ quan chí huyền, chí diệu, đó là Thái Cực trong con người vậy.

Tính Mệnh Pháp Quyết minh chỉ, q. 7, tr. 2.

[8] Na ta tử sở vị Huyền Quan Khiếu dã.

那 些 子 所 謂 玄 關 也。

Na Ta Tử là Huyền Quan Khiếu.

Đàm Dưỡng Ngô, Địa Lý Hợp Bích, tr. 106.

Ta Tử, Ngũ Trung dã 些 子 五 中 也.

Như trên. tr. 106.

Đại Đạo vô đa, chỉ tranh Na Ta Tử. Cố viết: Bất ly hồ giá cá. Nhân Thân hữu thử Nhất Khiếu. Thiên Địa hữu thử nhất Khiếu. Địa lý gia tu nhận thử Âm Dương chi khiếu.

大 道 無 多, 只 爭 那 些 子。 故 曰﹕ 不 離 乎 這 個。人 身 有 此 一 竅。

天 地 有 此 一 竅。 地 理 家 須 認 此 陰 陽 之 竅。

Đại Đạo chẳng qua là Cái Đó. Cho nên nói: Không lìa Cái Đó. Con người có khiếu ấy. Trời Đất cũng có khiếu ấy. Các nhà Địa Lý cần nhận thức được Âm Dương khiếu ấy.

Như trên. tr. 105.

[9] Căn bản do lai Thái Cực tầm.

根 本 由 來 太 極 尋。

Đại Động Chân Kinh tr. 4b.

[10] Chân Như Bản Tánh giả, phụ mẫu vị sinh tiền, nhất chân vô vọng chi thể, vị chi Bổn Lai Diện Mục. Thiền Tông tắc viết: Bổn Tánh Di Đà. Khổng Tử tắc viết: Thiên Lý. Lão tử tắc viết: Cốc Thần. Dịch Đạo tắc viết: Thái Cực. Kỳ thật đồng nhất Chân Như Bản Tính dã.

真 如 本 性 者, 父 母 未 生 前, 一 真 無 妄 之 體, 謂 之 本 來面 目。

 禪 宗 則曰﹕ 本 性 彌 陀。 孔 子 則 曰﹕ 天 理。 老 子 則 曰﹕谷 神。

 易 道 則 曰﹕ 太 極. 其 實 同 一 真 如 本 體 也。

Đỗ Thiếu Lăng, Qui nguyên trực chỉ, quyển Trung, tr. 369.

[11] như 10, như 8

[12] Dục cầu Trường Sinh, tu thức sở sinh chi bổn, dục cầu bất tử, đương minh Bất tử chi nhân. Cố viết: Nhận đắc bất tử nhân, phương tài nhân bất tử. Na bất tử Nhân, đạo gia hô vi Thiết Hán,Thích Thị hoán tác Kim Cương. Tức thế nhân Bản Lai diệu Giác Chân Tâm thị dã.

欲 求 長 生, 須 識 所 生 之 本。 欲 求 不 死, 當 明 不 死 之 人。

 故 曰﹕ 認 得 不 死 人, 方 才 人 不 死。 那 不 死 人 ,道 家 呼 為 鐵 漢。

 釋 氏 喚 作 金 剛。 即 世 人 本 來 妙 覺 真 心 是 也。

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 2a.

[13] Thái cực giả, ngô tâm chi Thiên Tâm dã.

太 極 者 吾 心 之 天 心 也。

Liêu Dương Điện vấn đáp thiên, Thiên nhất tr. 2b.

[14] Phù thân trung nhất khiếu danh viết Huyền Tẫn, khí dĩ sinh, thức vi phủ thần, Tam Nguyên sở trú cánh vô phân biệt. Tinh Thần Hồn Phách hội tại thử huyệt. Nãi Kim đơn hoàn phản chi căn. Thần Tiên ngưng kết Thánh Thai chi địa. Cổ Nhân vị chi Thái Cực chi đế, Tiên Thiên chi Bính, Hư vô chi hệ, Tạo hoà chi nguyên, Hỗn Độn chi căn, Hư Vô chi cốc, Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan, Mậu Kỷ Môn, Chân Nhất Xứ, Trung Hoàng Cung, Đơn Nguyên Phủ, Thủ Nhất Đàn, Yến Đơn Lô, Chu Sa Đỉnh, Long Hổ Huyệt, Huỳnh Bà Xá, Dung Lô, Thổ Phủ, Thần Thủy, Hoa Trì, Đế Ất, Thần Thất, Linh Đài, Giáng Cung. Ngã đắc diệu quyết, danh viết Qui Trung…Khảm, Ly thủy Hỏa Giao Cấu chi hương, Nhất Thân Thiên Địa chi chính Trung.

Thông Tiên Bí Thư, q. 4. tr. 9b.

[15] Nhập dược Kính viết:

Ẩm Đao Khuê, khuy Thiên xảo,

Biện sóc vọng, tri hôn hiểu.

飲 刀 圭, 窺 天 巧,

辨 朔 望 知 昏 曉。

Tiên Học Từ Điển, tr. 24.

[16] Đả phá hỗn Độn, khiêu nhập Hư Vô.

打 破 混 沌, 跳 入 虛 無。

Tứ bách tự giải, tr. 86.

Nhất kiếm tạc khai Hỗn Độn,

Lữơng thủ phách liệt Hồng Mông.

一 劍 鑿開 混 沌,

摳手 擘裂 鴻 濛。

Tham đồng Khế phát huy, q. trung, tr. 9a.

[17] 丹 者 何 也? 人 中 之 太 極 也。

Xướng Đạo Chân Ngôn.

[18] 輪 迴 玉 兔 與 金 烏

 道 在 人 心, 人 自 迷。

Tiên Học từ Điển, tr. 93

[19] 身 中 儘 有 延 年 藥

 可 笑 愚 人 向 外 尋。

Tiên Học từ Điển, tr. 93

[20] 妙 道 不 離 自 家 身

 豈 在 千 山 萬 水 并。

Tiên Học từ Điển, tr. 93

[21] Như trên. tr. 93.

[22] Thị chi bất kiến, cận nhi dị cầu.

視 之 不 見, 近 而 易 求。

Kim đơn Đại dược chỉ tại mục tiền, khởi bất cận da? Nại hà thị chi bất kiến, bác nhi bất đắc, tuy cận, do viễn dã. Nhược đắc pháp độ cầu chi, tắc phiến hướng công phu, tiện hữu mãn mục hoàng hoa hiển lộ. Phù hà viễn chi hữu. Ngộ Chân Thiên vân:

“Công phu dung dị, dược phi dao, thuyết phá, nhân tu thất tiếu”.

工 夫 容 易 藥 非 遙, 說 破 人 須 失 笑。

Tiếu giả dã, tiếu kỳ cận nhi dị cầu, nhi nhân tự sách chi ư cao viễn dã. Phục Mệnh Thiên vân:”

Phân minh chỉ tại mục tình tiền, tự thị thời nhân bất kiến Thiên”.

分 明 只 在 目 睛 前, 自 是 時 人 不 見 天。

Duy kỳ bất kiến dã, ư thị xả nội, vụ ngoại. Hoặc thái Dương tinh, Nguyệt hoa, hoặc luyện kim thạch, thảo mộc, hoặc hành phòng trung chi thuật, . Chính sở vị: Đạo tại nhĩ, nhi cầu chư viễn, sự tại dị nhi cầu chư nan. Bi hĩ.

Tham đồng Khế phát huy, quyển thượng, tr. 12b.

[23] Trung Dung viết: ngứ đại , thiên hạ mạc năng tải, Thái Cực bao hồ Thiên Địa chi ngoại dã. Ngứ tiểu, thiên hạ nạc năng phá, Thái Cực nhập hồ vạn vật chi trung dã.

中 庸 曰﹕ 語 大 天 下 莫 能 載, 太 極 包 乎 天 地 之 外。

 語 小, 天 下 莫 能 破, 太 極 入 乎 萬 物 之 中 也。

Xướng Đạo Chân Ngôn, tr. 8b

[24] Trương Tam Phong, Đạo Thuật hối tông, q.3, tr. 101.

[25] Tiên Học Từ Điển, tr. 143.

[26] Trương Tam Phong, Đạo Thuật hối tông, q.4, tr. 160.

[27] 虎 躍 龍 騰 風 浪 麤,

 中 央 正 位 產 玄 珠.

Tiên Học Từ Điển, tr. 143.

[28] 一 粒 粟 中 藏 世 界。

Tiên Học Từ Điển, tr. 331.

[29] Tiên Học Từ Điển, tr. 76.

[30] 頭 有 九 宮, 中 有 泥 丸。

Kim đơn đại thành, tr. 4.

[31] Đại động Chân Kinh, tr. 7a.

[32] Thủ hữu Cửu Cung, thượng ứng Cửu Ngung, kỳ trung Nhất Cung viết: Thiên Tâm, viết Tử Phủ, Thiên Uyên, Thiên Luân, Thiên Quan, Thiên Kinh, Thượng Đô quan, Côn lôn đỉnh. Kỳ danh phả chúng. Tổng nhi ngôn chi viết: Huyền Quan Nhất Khiếu.

首 有 九 宮 上 應 九 隅, 其 中一 宮 曰﹕天 心, 曰 紫 府, 天 淵, 天 輪,

天 關,天 京,上 都 關,崑 崙 頂。 其 名 頗 眾。 總 而 言 之 曰﹕ 玄 關 一 竅。

 Kim Đơn Đại Thành tr, 2a.

[33] 頭 有 九 宮, 中 一 宮 名 曰 谷 神。

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 21b.

[34] Đầu hữu cửu cung, trung hữu nhất sở, danh viết Thiên Cốc, thanh tĩnh vô trần. Năng tương Nguyên Thần an trí kỳ trung, hào bất ngoại trì tức thành Chân, chứng Thánh, túc tại thị hĩ. Huỳnh Đình Kinh vân: Tử dục bất tử tu Côn Lôn… Khả kiến thủ thử Thiên Cốc, hữu vô hạn chi diệu dã.

頭 有 九 宮, 中 有 一 所, 名 曰 天 谷,

 清 靜 無 塵。 能 將 元 神 安 置 其 中, 毫 不 外 馳,

 息 成 真 證 聖, 即 在 是 矣。 黃 庭 經 云﹕

子 欲 不 死 修 崑 崙。。。可 見 守 此 天 谷 有 無 限 之 妙 也。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 298.

[35] Đạo Học Cầu Chân, chương X.

[36] Tham Đồng Khế phát huy, q, trung, trang 18b.

[37] Tham Đồng Khế phát huy, q, trung, trang 18b.

[38] Tham Đồng Khế phát huy, q, trung, trang 18b.

[39] Tham Đồng Khế phát huy, q, trung, trang 18b.

[40] Nhập Dược Kính, tr. 10b.

[41] Tiên Kinh vân: Tiên Thiên bất đắc Hậu Thiên, vô dĩ chiêu nhiếp. Hậu Thiên bất đắc Tiên Thiên, vô dĩ biến hóa.

仙 經 云﹕ 先 天 不 得 後 天 無 以 招 攝 。 後 天 不 得 先 天 無 以 變 化。

Tiên Học Từ Điển, trang 20, phần Phụ Lục.

[42] Dịch, Hệ Từ Thượng, chương XI.

[43] Đạo Đức Kinh, chương XVI.

[44] Đạo Đức Kinh, ch. 28.

[45] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 261.

[46] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 272.

[47] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 273.

[48] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 350.

[49] Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 380.

[50] Tính Mệnh Khuê Chỉ q. Hanh, tr. 4a.

[51] Nhập dược Kính, tr. 14b

[52] Nhập dược Kính, tr. 15a.

[53] 一 粒 刀 圭 鍊 入 神

 大 如 黍 米 值 千 金

 只 消 半 盞 鴻 濛 酒

 飲 處 何 須 更 鼓 琴

Nhập dược Kính, tr. 13b.

[54] Cẩu bất tạc khai Hỗn Độn, phách liệt Hồng Mông, tắc hà dĩ khuy Thiên Địa chi chí bảo. 苟 不 鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛,則 何 以 窺 天 地 之 至 寶。

Nhập dược kính, tr. 14a

Tạc khai Hỗn Độn, phách liệt Hồng Mông, phương kiến Kim Đơn.

鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛, 方 見 金 丹。

Nhập dược kính, tr. 14a

[55] 成 仙 只 是 神 光 ,天 宮 無 用 臭 皮 囊。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 360.

————————————–
****************         

CHƯƠNG XIV

CAO NHÂN, DANH PHÁI CỦA ĐẠO GIA

Đạo Lão, thoạt nhìn, thật là đa đoan phức tạp, nhưng nếu ta tiềm tâm suy cứu, cũng có thể tìm ra được những đường nét chính yếu, những phương hướng chính yếu.

Đạo Lão, khởi điểm, là một khoa Huyền Học (Mysticism) có mục đích là sống phối kết với Đạo,với Trời. Nó biến dạng dần dần, hoặc để thành phương thuật cầu Trường Sinh Bất Tử, hoặc trở thành một đạo giáo thu hút quần chúng.

Như vậy, ta sẽ khảo cứu các Cao Nhân, Danh Phái, dưới ba khía cạnh:

1. Đạo học (Huyền Học): Tìm Trời để phối kết với Trời.

2. Tiên Học (Đơn Đạo) (Phương thuật Nội Đơn cầu Trường Sinh, Bất Lão).

3. Đạo giáo nhân gian.

Dĩ nhiên là chúng ta chỉ có thể đề cập đến các Cao Nhân, Danh Phái một cách đại lược. Tuy nhiên, chương này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về Đạo Lão, và sẽ không còn bỡ ngỡ, khi nghe thấy người khác đề cập đến môn này, phái nọ của Đạo Lão.

I. ĐẠO HỌC (Huyền học).

— Tu Tính: Đặt nặng vấn đề giác ngộ, thấy Đạo, thấy Trời nơi tâm mình. Đặt nặng vấn đề học hỏi, suy tư, sư phụ chỉ điểm, thanh tĩnh, vô vi, dữ Đạo hợp chân.

Dĩ nhiên, chỉ có những bậc Thượng Căn, mới đi vào được con đường này. Nó tương đương với chủ trương Đốn Ngộ của Phật Giáo.

Ít nhiều Cao Nhân tiêu biểu cho Đạo Học.

— Quảng Thành Tử: (khoảng 2600 thời Hoàng Đế). Chúng ta còn có được Quảng Thành Tử Luận Đạo Ngữ. [1]

— Lão tử. Khoảng thế kỷ VI trước Công Nguyên.

(Lý Nhĩ, tự Bá Dương. Người xứ Trần.) Viết: Đạo Đức Kinh.

—Trang Tử . Khoảng 330 trước Công Nguyên.

(Trang Chu, Trang Tử, Trang Sinh, người đất Lương). Viết: Nam Hoa Kinh.

—Liệt tử: (Liệt Ngự Khấu). Khoảng thế kỷ thứ IV, trước Công Nguyên. Viết: Xung Hư Chân Kinh.

—Văn Thủy Phái. Tổ sư: Quan Doãn Tử (làm quan thái phu, đời Châu. Gặp đức Lão Tử tại Hàm Cốc. Chủ trương: Thanh tĩnh, Vô vi.). Sách: Văn Thủy Chân Kinh.

—Ma Y (Lý danh Hoa). Thần tướng.

—Trần Hi Di (Khoảng 900, cuối thời Ngũ Đại, và đầu thời Tống) (Đồ Nam, Trần Đoàn). Sáng lập môn Tử Vi.

—Hỏa Long Chân Nhân.

II. Tiên Đạo (Đơn Đạo) (Phương Thuật Luyện Nội Đơn cầu Trường Sinh, Bất Lão—-Thiếu Dương Phái—Toàn Chân Phái).

—Gọi là Tiên Học, vì đặt cho mình mục tiêu phản lão, hoàn đồng, trưỡng sinh, bất lão, Dương Thần thoát xác, bạch nhật thăng Thiên. [2]

—Tiên Học khác với Đạo học, vì Đạo học muốn có Đức Hạnh phối Thiên Địa, tham tán hóa dục, góp công, góp sức vào công cuộc hóa sinh của Trời Đất, thể hợp với Hư Vô. Như vậy, Đạo Học có mục đích Phối Thiên.

—Gọi là đơn đạo, vì chủ trương Luyện Thuốc Trường Sinh . Gọi là Nội Đơn, vì không dùng tha vật, ngoại vật, ngọc thạch, kim loại để Luyện Thuốc Trường Sinh như phái Luyện Ngoại Đơn. [3]

—Gọi là Thiếu Dương Phái, vì đều suy tôn Đông Hoa Đế Quân, Vương Huyền Phủ làm Lão tổ của Tông Môn.

—Gọi là Toàn Chân vì các phân phái của Phái này đều chủ trương Tính Mệnh Song Tu, vừa tu xác thân, vừa luyện Tâm, Thần.

Tiên Học chính là phương pháp tiệm tu, đi từ thấp tới cao, từ thô tới tinh, từ ngoài vào trong, từ nông đến sâu, từ Hữu Vi đến Vô Vi. Cho nên tuyệt đỉnh của Tiên Học sẽ bắt gặp tuyệt đỉnh của Đạo học.

Tu Tiên Đạo mới đầu sẽ cho chúng ta một xác thân khang kiện, sẽ trừ khử được những chứng bệng xác thân, và tâm hồn. Dần dà sẽ đem lại cho chúng ta một thân tâm an lạc, và cuối cùng sẽ mở tuệ giác cho chúng ta và dẫn đến chỗ huyền hóa cùng trời đất, hay Thiên Nhân hợp nhất. Nhưng gặt hái được gì thì lại là một vấn đề khác. Nó biến đổi theo từng người. Tu Tiên cho có kết quả, ngoài căn cơ, trí tuệ ra còn phải có lòng chân thành. Người xưa nói: Tinh Thành sở chí kim thạch vi khai, chính là vì vậy.

Để hiểu rõ Tiên Học chúng ta lần lượt bàn về:

a. Ba thuỷ tổ của Tiên Học:

b. Các tông phái Tiên Học.

A. Ba thủy tổ Tiên Học.

Đã đành Tiên Học cũng như Đạo Học đều tôn thờ đức Lão Tử, nhưng 3 vị Thủy Tổ trực tiếp của Tiên Đạo là Đông Hoa Đế Quân, Hán Chung Ly (Chung Ly Quyền), và Lữ Đồng Tân.

1. Đông Hoa Đế Quân;

Họ Vương, tên Huyền Phủ, 王 玄 甫 học trò Bạch Vân Thượng Chân 白 雲 上 真,sống vào thời Hán (25—190) sau CN.

Dân gian gọi Ngài là Lý Thiết Quải 李 鐵拐 .[4]

Từ bé ông đã có cốt cách thanh kỳ. Bạch Vân Chân Nhân, gặp Ông, liền thương, và khen Ông là vị trích tiên. Bèn đưa Ông lên núi, truyền thụ cho sách Xích Phù Ngọc Triện, Kim khoa Linh Văn, Đại Đơn bí quyết, Chu Thiên Hỏa Hầu, Thanh Long Kiếm Pháp. Ông cố công học tập trong ba năm. Sau lui về Động Yên Hà, núi Côn Lôn tu luyện.

Phái Toàn Chân tôn Ông làm Đệ Nhất Tổ trong số Ngũ Tổ của Bắc Phái.

2. Chung Ly Quyền 鍾 離 權.

Cuối thời Đông Hán. Húy Quyền, tự Vân Phòng, hiệu Chính Dương Tử. Người Kinh Triệu, Hàm Dương. Mới đầu học văn, làm quan Tả Luyện Nghệ Đại Phu. Khi nhà Hán bị diệt, Ông sang làm quan bên nước Tấn. Lãnh binh đi chinh phạt. Sau thất bại, ông trốn vào núi hoang. Được Vương Huyền Phủ truyền cho các sách Xích Phù Ngọc Triện, Kim Khoa Linh Văn, Đại Đơn Bí Quyết, Chu Thiên Hỏa Hầu, Thanh Long Kiếm Pháp.

Theo truyền thuyết, vào năm Đường Văn Tông Khai Thành 636—640, ông đi chơi Lô Sơn, thì gặp Lữ Đồng Tân, và truyền cho Ông Thiên Độn Kiếm Pháp, và Chung Lữ truyền Đạo tập.

Năm Tống Khâm Tông Tịnh Khang (1126—1127), ông được phong là: Chính Dương Chân Nhân.[5]

Đời Nguyên, trong những năm Chí Nguyên, (1264—1294) ông được phong làm: Chính Dương Khai Ngộ Truyền Đạo Chân Quân. Phái Toàn Chân phong Ông làm: Chính Dương Tổ Sư. Ông đứng đầu Bát Tiên. [6]

*Sách: — Chung Lữ Truyền Đạo Tập, Phá Mê Chính Đạo Ca.

3. Lữ Đồng Tân. (798—) 呂 洞 賓。

(Húy: Nham, Tự: Đồng Tân; hiệu: Thuần Dương Tử.) Người Bồ Bản, Hà Trung Phủ, Vĩnh Lạc, Nhâm cầm thôn. Được Hán Chung Ly truyền đạo.

*Sách: —Dao Đầu Phôi Ca, Sao Hào Ca, Chỉ Huyền Thiên, Bách Cú Chương, Chân Kinh Ca, Thẩm Xuân Viên, Bách Tự Bi, Lữ Tổ Toàn Thư.

Tiên Học Diệu Tuyển đã in lại những tiết mục chính yếu của các sách trên nơi các tr. 201—231.

Ông là đồ đệ của Hán Chung Ly. Lúc nhỏ theo Nho, Mặc (đạo Nho và đạo của Mặc tử). Có lần định thi Tiến Sĩ. Sau này Ông lấy Từ Bi làm đạo dạy đời, goị phương thuật Đơn Diên và Hoàng Bạch làm Nội Đơn (tức là bỏ các phương pháp luyện Ngoại Dược để đi tìm Trường Sinh, mà dạy Nội Đơn thay thế vào). Thay vì dạy Kiếm Thuật, Ông dạy dùng Trí Huệ để đoạn trừ tham si, ái dục và phiền não. Ảnh hưởng Ông rất lớn vào thời Tống. Năm Tuyên Hoà đời Tống Huy Tông (1119), Ông được phong làm Diệu Thông Chân Nhân. Năm Chí Nguyên thứ sáu đời Nguyên Thế Tổ (1269) Ông được phong làm Thuần Dương Diễn Chính Cảnh Hoá Chân Quân. năm Vũ Tông Chí Đại (1310) đời Nguyên, được gia phong: Thuần Dương Diễn Chính Cảnh Hóa phu hựu đế quân. Ông là một trong số Ngũ Tổ của Phái Toàn Chân, và là một trong Bát tiên. [7]

****************         

B. Các Tông Phái Tiên Học.

Tiên Học có nhiều môn phái. Trước hết là 5 tông phái chính, theo địa dư gọi là Bắc, Nam, Tây, Đông, Trung Phái.

Ngoài ra lại còn các môn phái khác như Trương Tam Phong phái, Huỳnh Nguyên Cát Phái v.v… Ta sẽ lần lượt bàn đến như sau:

Nam Tông.

—1. Lưu Thao 劉 操。

(Hải Thiềm Tử, Thanh Thành Trượng Nhân), tướng quốc nước Yên. Được Chung Ly Quyền truyền Đạo năm 911. Ông là sư Phụ của Trương Bá Đoan.

Viết: Ngộ Kim Thiên, Hoàn Đơn Phá Mê Ca, Hoàng đế Âm Phù Kinh tập giải. [8]

—2.Trương Bá Đoan 張 伯 端 (984—1082) đời Tống.

(tự Bình Thúc, Hiệu Tử Dương. Người Triết giang, Thiên Thai Huyện, Anh Lạc Nhai). Được Thanh Thành Đạo Nhân người Ba Thục truyền Đạo năm 1069.

Sách Ngộ Chân Thiên, Kim Đơn Tứ Bách Tự, Ngọc Thanh kim tứ thanh hoa bí văn kim thất nội luyện đơn quyết.

Sáng lập ra Nam Tông. Ông là một người hết sức thông minh, lảu thông tam giáo, bác lãm quần thơ. Vì gặp họa Hỏa Thiêu Văn Sách Luật, nên bị đày đi Lĩnh Nam. Tương truyền năm Hi Ninh thứ 2, đời vua Tống Thần Tông (1069), Ông gặp Lưu Hải Thiềm ở Thành Đô, và được Ông này truyền cho khẩu quyết Kim Dịch Hoàn Đơn. Năm Hi Ninh thứ VIII (1075) ông viết Ngộ Chân Thiên, áp dụng Thuyết Thiên Nhân hợp Nhất vào khoa Luyện Đơn, coi thân thể con người là vũ trụ, coi Tinh, Khí trong thân là Dược Vật, coi Thần là Hỏa Hầu. Dạy giữ sao cho Tinh, Khí Thần ngưng tụ, không tan, kết thành Kim Đơn, và nói nếu muốn học kim đơn thì phải học cho tới rốt ráo. “Học Tiên chỉ thị học Thiên Tiên, Duy hữu kim đơn tối đích đoan,”. Lại cho rằng con người sở dĩ có Sinh Tử là vì đi theo chiều thuận của trời đất, còn nếu biết theo chiều nghịch mà luyện Đơn, thì có thể Trường sinh. “Ngũ hành thuận hề, thường Đạo hữu sinh, hữu tử, Ngũ hành nghịch hề, đơn thể thường linh, thường tồn.” Và khuyên mọi người phải tìm cho ra Bản Nguyên Chân Giác chi tính (cũng giống Chân Như). Nếu con người biết: Sát tâm, quan tính, thì bản thể viên minh đó tự hiện, và con người sẽ đốn siêu Niết Bàn. Ông coi Tam Giáo như một và nói: “Giáo tuy phân tam, Đạo nãi qui Nhất.”

Ảnh hưởng Ông rất lớn.

Nam Tông tôn xưng Ông là Nam Ngũ Tổ chi thủ. Người đứng đầu Ngũ Tổ. [9]

Các Môn đệ các đời kế tiếp:

3. Thạch Hạnh Lâm. 石 杏 林

Thạch Thái tự Đắc Chi. Người Giang Tô, Thường Châu. Viết: Hoàn Nguyên Thiên.

4 Tiết Đạo Quang 薛 道 光

Sách Phục Mệnh Thiên.

5. Trần Nê Hoàn 陳 泥 丸。

Trần Nam, hiệu Thúy Hư. Người Quảng Đông, Huệ Châu, Bắc La Huyện, Bạch Thủy Nham.

Sách: Thúy Hư Thiên gồm: Tử Đình Kinh, La Phù ngâm (viết năm 1200), Đơn cơ qui nhất quyết. Kim đơn thi quyết.

6. Bạch Ngọc Thiềm (1194—1229) 白 玉 蟾

Tên Trường Canh, sau đổi là Ngọc Thiềm. Hiệu: Hải Quỳnh Tử. Theo học Trần Nam 9 năm, hấp thụ được tinh hoa, bí quyết. Thu Bành Cử và Lưu Nguyên Trường làm đệ tử. Được sắc phong:Tử Thanh Minh Đạo Chân Nhân.

Sách: Hải Quỳnh Vấn Đạo Tập, Hải quỳnh Truyền Đạo Tập, Tu Đạo chân ngôn, Tử Thanh chỉ Huyền Tập, Vũ Di Tập, La phù Sơn chí, Kim Hoa Sung Bích Đơn Kinh Bí Chỉ, Hải Quỳnh Bạch Chân Nhân ngữ lục, Âm Phù Kinh giảng Nghĩa, Ngộ Chân Thiên Giảng Nghiã, Dịch ngoại biệt truyền, Du Diễm đích Tham Đồng Khế phát huy. 10

7. Bành Hạc Lâm.彭 鶴 林 (BànhTỷ 彭 耜)

Ta thường đọc là Bành Cử, hiệu Quí Ích, con nhà quyền quý, học trò Bạch Ngọc Thiềm. Được truyền cho các bộ Thái Ất Đao Khuê Hỏa Phù, Cửu Đỉnh Kim Sa Cống thư. Ẩn cư Hạc Lâm Sơn, tự xưng là Hạc Lâm Sơn Nhân, chuyên khảo Lão Trang, tuyệt giao với mọi người. Sau mất tại Phúc Châu. Theo Nam Tông.

Sách viết: Kim Hoa Sung Bích Đơn Kinh. Đạo Đức Chân Kinh Tập Chủ, Hạc Lâm Phú. [10]

Trương Bá Đoan, Thạch Thái, Tiết Đạo Quang, Trần Nam, Bạch Ngọc Thiềm là Nam Tông Ngũ Tổ.

Nam Tông cũng chủ trương Tính Mệnh Song Tu, nhưng ”Tiên Mệnh, Hậu Tính”, “Ngôn Mệnh xứ đa, ngôn Tính xứ thiểu”. [11]

Bắc Tông.

Giáo chủ là Vương Trùng Dương,người Hàm Dương. Sáng lập Bắc Tông năm 1167, và truyền Đạo cho 7 đệ tử là: Khưu, Lưu, Đàm, Mã, Hách, Vương, Tôn.

1. Vương Trùng Dương. (1112—1170). 王 重 陽。

Họ Vương, tên Triết, tự Tri Minh. Đạo Hiệu: Trùng Dương Tử. Người Đại Ngụy, thôn đất Hàm Dương. Được Chung Lữ nhị Tiên truyền đạo năm 1158. Thu đồ đệ năm 1167—1168. Các đồ đệ Ông là: Mã Đơn Dương, Tôn Bất Nhị, Đàm Xứ Đoan, Khưu Xứ Cơ, Hách Đại Thông, Vương xứ Nhất, Lưu Xứ Huyền.

Sách: Trùng Dương toàn chân tập.

Vương Trùng Dương chủ trương Nho, Thích, Đạo bình đẳng, hợp nhất. Ông nói: “Tam Giáo tòng lai nhất tổ phong.” 三 教 從 來 一 祖 風。

Dùng Đạo Đửc Kinh, Hiếu Kinh, Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh làm sách tu luyện. Chủ trương Tu Đạo là Tu Tâm, và tu hành là giữ tâm thanh tĩnh.

Năm 1269, Nguyên Thế Tổ phong Ông làm “Trùng Dương Toàn Chân Khai Hóa Phụ Cực Đế Quân.”

Toàn Chân Giáo tôn Ông làm thủy tổ. [12]

2. Khưu Xử Cơ 丘 處 機. (1148—1227).

Tên Xử Cơ, tự Thông Mật, hiệu Trường Xuân Tử, người Phủ Đăng Châu, Huyện Thể Hà, tỉnh Sơn Đông. Được Vương Trùng Dương nhận làm Đệ tử. Sau khi Vương Trùng Dương qua đời, ông vào ẩn cư tại huyệt Bàn Khê trong vòng 6 năm.

Năn 1188, vua Thế Tông nước Kim triệu Ông vào Yến Kinh (Bắc Kinh) hỏi ông về Chí Đạo (Đạo cao nhất),và cho ông chủ trì lễ đàn Vạn Xuân tiết. Năm 1190, vua Chương Tông nhà Kim ra lệnh cấm bãi Toàn Chân đạo giáo, buộc vào tội “Cảm chúng, loạn dân.”. Năm 1207, vợ Vua Chân Tông tặng Ông bộ Đại Kim Huyền Đô Bửu Tạng, năm 1208 tặng cho đạo quán của Ông chữ Thái hư và Thái hòa.

Sau này Thành Cát Tư Hãn nhà Nguyên cũng mời Ông đến Tuyết Sơn gặp mặt, và gọi Ông là Thần Tiên, là Đại Tông Sư. Nhân dịp này học trò Ông là Lý Chí Thường đã viết bộ Trường Xuân Chân Nhân Tây Du Ký. [13]

Năm 1224, Nguyên Thái Tổ mời Ông về Yến Kinh (Bắc Kinh), cho Ông chưởng quản thiên hạ đạo giáo.

Ông mất tháng 7 năm 1227.

Năm 1269, Nguyên Thế Tổ phong Ông làm “Trường Xuân Diễn Đạo Giáo Chân Nhân”

Năn 1310, Nguyên Vũ Tông phong Ông làm “Trường Xuân Toàn Đức thần hóa minh đức Chân Quân.”

Khưu Xứ Cơ theo đúng tôn chỉ Toàn Chân giáo, chủ trương: Tam Giáo bình đẳng, tương thông, hỗ dung, người tu đạo phải xuất gia, đoạn tuyệt trần duyên, thanh tâm quả dục. Đó là căn bản để thành Tiên.

Ông viết: Đại đơn trực chỉ, Minh Đạo Tập, Nhiếp Sinh Tiêu Tức luận, Bàn Khê Tập. [14]

3. Lưu Xử Huyền.劉 處 玄。

Tên Xử Huyền, tự Thông Huyền, hiệu Trường Sinh Tử.

Người Sơn Đông, Lai Châu Phủ, Dịch Huyện, Vũ Cung trang. Được Vương Trùng Dương nhận làm đồ đệ năm 1169.

Sách: Tiên nhạc tập, Đạo đức kinh chú, Âm Phù Kinh chú, Chí Chân Ngữ Lục, Huỳnh Đình Kinh Chú.

Năm 1198, vua Chương Tông mời vào gặp mặt, tiếp đãi ân cần. Năm 1199, tặng cho 2 chữ Linh Hư. Ông mất năm Thái hòa thứ 3 (1203). Sáng lập Tuỳ Sơn Phái. Năm Chí Nguyên thứ 6, (1269) được Nguyên Thế Tổ phong: Trường Sinh Phụ Hóa Minh Đức Chân Nhân. [15]

4. Đàm Xử Đoan (1123—1185) 潭 處 端.

Tên: Xử Đoan, tự Thông Chính, hiệu Trường Chân Tử. Người Ninh Hải, Sơn Đông. Được Vương Trùng Dương thu nhận năm 1167, đời vua Kim Thế Tông Hoàng Nhan Ung, năm Đại Định 2. Chết năm 63 tuổi (1185).

Sách Vân Thủy Tập (khoảng 1000 bài thơ)

Được Nguyên Thế Tổ, năm Chí Nguyên (1269), phong làm Trường Chân Vân Thủy Uẩn Đức Chân Nhân. [16]

5. Mã Ngọc 馬 鈺。(1123—1183)

Tên Ngọc, tự Huyền Bảo, hiệu Đơn Dương. Người tỉnh Sơn Đông, phủ Đăng Châu, huyện Ninh Hải. Được Vương Trùng Dương thu nhận năm 1167.

Khai sáng môn phái: Ngộ Tiên Phái. Chủ trương: Thanh Tĩnh.

Năm Chí Nguyên thứ 6 (1269), Nguyên Thế Tổ phong tặng Ông làm: Đơn Dương Bão Nhất Vô Vi Chân Nhân.

Sách: Động Huyền Kim Ngọc Tập, Đơn Dương Thần Quang Sán, Tiệm Ngộ Tập. [17]

6 Hách Đại Thông 郝 大 通 (1140—1212)

Tên Đại Thông, tự Thái Cổ, hiệu Quảng Ninh Tử. Người tỉnh Sơn Đông, Phủ Đăng Châu, huyện Ninh Hải.

Tự xưng là Thái Cổ Đạo Nhân. Có truyền thuyết cho rằng đêm Ông nằm mộng thấy thần nhân truyền dạy Chu Dịch. Nên sau ông học bói Dịch. Năm 1168, ông theo Vương Trùng Dương. Năm 1182, mỗi lần Ông thuyết giảng, xa gần có cả trăm người tới nghe. Ông mất năm 73 tuởi,

Năm 1269, Ông được phong tặng làm: Quảng Ninh Thông Huyền Thái Cổ Chân Nhân.

Sách: Thái Cổ tập (4 quyền), Thái Dịch đồ. [18]

7. Vương Xử Nhất 王 處 一 (1142—1217)

Tên Xử Nhất, tự Ngọc Dương, hiệu Kim Dương Tử. Được Vương Trùng Dương nhận làm đồ đệ năm 1168. Năm 1187, Kim Thế Tổ cho vời, Ông ứng đối vừa lòng vua. Năm 1188, lại mời lên kinh, chủ tọa lễ Vạn Xuân Tiết. Năm 1207, được bà Nguyên Phi tặng bộ: Huyền Đô Bảo tạng. Năm Chí Nguyên thứ 6, nhà Nguyên, Ông được phong: Ngọc Dương Thể Huyền Quảng Độ Chân Nhân.

Sách: Vân Quang Tập (hơn 600 bài thơ), Tây Nhạc Hoa Sơn Chí, Thanh Chân Tập.[19]

8. Tôn Bất Nhị 孫 不 二 (1119—1182).

Vợ Mã Đơn Dương. Tên Bất Nhị, hiệu Thanh Tịnh Tán Nhân. Có 3 con là Đình Trân, Đình Thuỵ, Đình Khuê. Năm 1167, được Vương Trùng Dương nhận làm đồ đệ.

Năm 1169, sau khi Mã Đơn Dương xuất gia, bà quyết tâm bỏ 3 con, đi tu theo Vương Trùng Dương. Trùng Dương truyền cho bà Thiên Phù Vân Triện Bí Quyết. Năm Đại Định 15, bà vào động Phong Tiên Cô ở Lạc Dương tu đạo.

Năm Chí Nguyên thứ 6 (1269), bà được phong làm: Thanh Tịnh Uyên Chân Thuận Đức Chân Nhân. Năm Chí Đại (1308) được gia phong: Thanh Tịnh Uyên Trinh Huyền Hư Thuận Hóa Nguyên Quân.

*Sách: Tôn Bất Nhị Nữ Đơn Thi, Tôn Bất Nhị Nguyên Quân Truyền Thuật Đơn Đạo bí thư, Tôn Bất NhịNguyên Quân Pháp Ngữ. [20]

Bắc Tông còn được gọi là Toàn Chân Phái, hay Kim Liên Chính Tông Phái.

Chủ trương của Bắc Tông:

“Toàn Chân nhi tiên”

Thanh Tĩnh.

Thức tâm Kiến Tính

Luyện Tâm, luyện kỷ.

Tức là: “thức tâm kiến tính toàn chân giác, Tri Cống, thông Diên kết thiện nha.” 識 心 見 性 全 真 覺, 知 汞 通 鉛 結 善 芽。

Bắc Tông thời Tiên Tính Hậu Mệnh, Nam Tông thời Tiên Mệnh Hậu Tính.

Bắc Tông: Thanh Tĩnh luyện Tính.

Mã Đơn dương 馬 丹 陽 viết: “Thanh tĩnh giả, thanh vi thanh kỳ tâm nguyên; tịnh vi tịnh kỳ khí hải. Tâm nguyên thanh, tắc ngoại vật bất năng nhiễu, cố tình định nhi thần minh sinh yên. Khí hải tĩnh, tắc tà dục bất năng can, cố tinh toàn nhi phúc thật yên. Thị dĩ trừng tâm như trừng thủy, dưỡng khí như dưỡng nhi, khí tú tắc thần linh, nãi thanh tịnh sở chí dã.”

“Thanh tĩnh là làm trong Tâm Nguyên, tịnh là làm yên Khí hải. Tâm Nguyên trong thì ngoại vật không làm phiền, nên tình định và thần minh sinh ra. Khí hải yên thì tà dục không can phạm, nên tinh toàn và bụng no. Cho nên phải lắng lòng như lắng nước, phải nuôi Khí như nuôi con thơ. Khí đẹp thì Thần linh, thế là thanh tịnh tuyệt mức vậy.”

Vương Trùng Dương viết:

Chư công như yếu chân tu hành,
 諸 公 如 要 真 修 行

Cơ lai cật phạn, thụy lai hợp nhãn.
 飢 來 吃 飯 睡來合眼

Mạc đả tọa, mạc học Đạo,
 莫 打 坐 莫 學 道

Chỉ yêu trần nhũng sự bính trừ.
 只 要 塵 冗 事 屏 除 [21]

Bắc Tông thì: “Tam phân Mệnh Công, thất phân tính học”. 三 分 命 功, 七 分 性 學。

Nam Tông thì: “Ngôn Mệnh giả đa, ngôn tính xứ thiểu”.  言 命 者 多, 言 性 處 少。

Các đồ đệ của Vương Trùng Dương ai cũng lập môn phái, nhưng chỉ có Ngộ Tiên Phái của Mã Đơn Dương và Long Môn phái của Khưu Trường Xuân là bền vững.

*Ngộ Tiên Phái của Mã Ngọc, đến đời Nguyên Thuận Đế (khoảng 1343) thời đứt mạch.

*Trái lại, Long Môn Phái còn tồn tại đến ngày nay. Long Môn Phái có những Đạo gia nổi tiếng như:

—Phù Dương Tổ Sư.

—Trương Tĩnh Hư Chân Nhân (Minh triều, Gia Tĩnh) (1522—1567)

—Lý Hư Am (được truyền Đạo năm 1587).

—Ngũ Xung Hư (Đệ tử đời thứ tám, đựơc truyền đạo năm 1624.)

—Liễu Hoa Dương (đệ tử đời thứ 9 sống vào đời vua Càn Long (1736—1798).

—Liễu Không Đại Sư (đệ tử đời thứ 10).

Ngũ Xung Hư và Liễu Hoa Dương viết bộ:

Ngũ Liễu Tiên Tông gồm: Tiên Thiên Chính lý trực luận, và Tiên Phật hợp tông

Thiên Phong Lão Nhân, Triệu Tị Trần. (đệ tử đời thứ 11, được truyền đạo năm 1921.)

Ông viết bộ: Tính Mệnh Pháp quyết Minh Chỉ, năm 1932.

Đông phái.

Do Lục Tiềm Hư sáng lập năm Long Khánh (1567) đời Minh Mục Tông.

Lục Tiềm Hư. 陸 潛 虛 (1520—1606)

Tên Lục Tây Tinh, tự Trường Canh, hiệu Tiềm Hư.

Người Dương Châu. Thủa nhỏ học Nho, nhiều lần thi Hương không đỗ. Bèn đi tu. Lập môn phái riêng. Vì hoạt động tại vùng Giang, Triết nên xưng là Đông phái. Nhưng kỳ thực là một chi nhánh của Nam Tông, lấy Ngộ Chân Thiên làm căn bản. Gọi Khảm, là Chân Khí là Diên, là con gái, là Nguyệt. Gọi Ly là Chân Tinh, là Cống, là Con trai, là Nhật. Như vậy đơn đạo chẳng qua chỉ là Âm Dương mà thôi. Đó là thuyết Thủ Khảm Điền Ly. Như vậy phái này Chủ Trương Âm Dương Nam Nữ song tu. Phái này chủ trương:” Đồng loại tương hợp nhi thành: Trúc phá, trúc bổ; nhân phá nhân bổ v.v… Có sách ghi khi Ông ẩn cư ở trong núi, Lữ Đồng Tân hiện ra và trú ở Bắc Hải Thảo Đường của Ông 20 ngày, truyền thụ cho Ông đơn quyết. Tu luyện thêm 20 năm, đến năm 1564, thời giác ngộ.

Viết: Kim Đơn tựu chính thiên, phương hồ ngoại sử tùng biên, Tử Dương Kim Đôn Tứ Bách Tự Trắc sớ. Kim Đơn Chân truyền, Chứng Đạo Bí Sách Thập Thất chủng. Chu Dịch Tham Đồng Khế trắc sớ. [22]

Tây phái.

Do Lý Hàm Hư đời Thanh Hàm Phong (1851) sáng lập.

Lý Hàm Hư 李 涵 虛。

Tên: Lý Tây Nguyệt, tự Hàm Hư, Hiệu Bế Dương.

Ngừơi Tứ Xuyên, Đông Sơn.

Tự xưng đã gặp Trương Tam Phong, sau lại gặp Lữ Đồng Tân ở Thiền viện và được chân truyền. Ta nên nhớ Trương Tam Phong và Lữ Đồng Tân đã chết từ lâu.

Chủ trương Thanh Tĩnh Tự Nhiên, Âm Dương hỗ dụng.

Môn phái này khó theo hơn Đông phái và không giản dị bằng Đông phái.

Sách viết: Đạo khiếu Đàm. Tam Xa bí chỉ, Cửu tằng luyện tâm pháp, Hậu Thiên quán thuật, Vô Căn thụ đạo tình chú giải. Văn trung kinh, Thái thượng thập tam kinh, Tính Mệnh yếu chỉ, Giáo ngoại tâm pháp.[23]

Trung Phái.

Do Lý Đạo Thuần sáng lập đời Nguyên.

Lý Đạo Thuần 李 道 純:

Tên: Đạo Thuần, hiệu Thanh Am hay Oánh thiềm Tử.

Ông là đệ tử Bạch Ngọc Thiềm, nhưng cũng theo Toàn Chân Phái. Tuy nhiên môn phái Ông vốn không tên và chỉ đề cao chữ Trung. Doãn Chân Nhân Sư Đệ và Huỳnh Nguyên Cát, Lưu Nhất Minh, cũng được xếp vào Trung Phái.

Trung của Ông là Trung của Trung Dung, Mục đích là: “Trí Trung Hòa vu nhất thân”, thế là thành Tiên vậy. Trung tức là:” Huyền Quan Nhất Khiếu”, Phật gia gọi đó là Bản Lai Diện Mục, Đạo Gia gọi đó là Niệm Đầu Bất Khởi Xứ, Nho Gia gọi thế là: Hỉ nộ ai lạc chi vị phát. Doãn Chân Nhân sư đệ gọi thế là Tính Mệnh chi căn, hay Vô Cực hay Chân Trung. Huỳnh Nguyên Cát gọi thế là: “Trung Hoàng trực thấu”, Dịch kinh gọi thế là Hoàng Trung Thông Lý v.v… Đó chính là “Giáo Ngoại biệt truyền.”

Sách: Trung Hòa Tập, Oánh Thiềm Tử ngữ lục, Tam Thiên Dịch thể.

Sách của Doãn Chân Nhân sư đệ: Tính Mệnh Khuê Chỉ.

Sách của Huỳnh Nguyên Cát: Lạc Dục Đường ngữ lục, Lão tử Đạo Đức Kinh tinh Nghĩa, Đạo Môn ngữ yếu.

Sách của Lưu Nhất Minh: Chu Dịch Xiển Chân, Đạo thư thập nhị chủng.

Chủ trương của môn phái này rất hay và rất cao. [24]

Trương Tam Phong phái.

Do Trương Tam Phong 張 三 丰 (1314—1320) sáng lập.

Trương Tam Phong hiệu Lạp Tháp Đạo Nhân, người Liêu Đông, sống vào khoảng thời Cuối Nguyên, đầu Minh.

Sách: Kim Đơn trực chỉ, Kim Đơn bí quyết, Đại Đạo yếu chỉ, Trương Tam Phong đạo thuật hối tông. [25]

(Trương Tam Phong)

Huỳnh Nguyên Cát 黃 元 吉 (1269—1324) phái.

Tự: Hi Văn, người Dự Chương, Phong Thành, ngày nay thuộc tỉnh Giang Tây, huyện Phong Thành.

Sách: Lạc dục Đường ngữ lục, Đạo đức Kinh tinh nghĩa.

************       

III. Đạo Giáo nhân gian

Đạo Lão thoạt kỳ thủy là một khoa triết học, huyền học, một nghệ thuật sống, một phương pháp tu luyện giải thoát của ít nhiều ẩn sĩ. Nhưng đến đời Hán (206 trước Công Nguyên và 220 sau Công Nguyên), với sự canh tân của Trương Đạo Lăng (34—156), 張 道 陵 tự Phụ Hán, người đất Phong, nước Bái, [26], Đạo Lão trở thành một đạo giáo quần chúng với các kinh kệ, bùa chú, phương thuật, tế lễ, sám hối công cộng v.v…

Trương Đạo Lăng mất khoảng năm 156. Ông là cháu 8 đời của Trương Lương 張 良 và thuộc dòng dõi Trương Giác, 張 角, Trương Bảo 張 寶, Trương Lương 張 梁 thời Tam Quốc.

Sau ông được hậu thế phong làm Trương Thiên Sư.

*Trương Đạo Lăng (Trương Thiên Sư)

* Các vua chúa nhà Đường (618—907) nhận Lý Lão Quân làm tổ phụ, vì thế nên rất trọng vọng các đạo sĩ. Các ngài lập đền thờ Thái Nhất, đền thờ Ngũ Đế và Lý Lão quân (Lão Tử), lại cố gắng lên núi, lên non tế lễ hầu mong được tiếp xúc với Thần Linh. Nhiều vua nhà Đường đã uống linh đan để được trường sinh, bất tử. Nhưng thay vì được trường sinh, bất tử, các vua Hiến Tông (806—821), Mục Tông (821—826), Vũ Tông (841—847), Tuyên Tông (847—860) đã điên loạn hay yểu tử, vì linh đơn của các đạo sĩ.

*Các vua chúa đời Tống (960—1278) cũng rất trọng các đạo sĩ, và Đạo Lão. Năm 1015, vua Tống Chân Tông phong cho Trương Chính Tùy, cháu chắt của Trương Đạo Lăng làn Thiên Sư, và ân tứ cho cả vùng Long Hổ Sơn ở Giang Tây.

Con cháu của Trương Đạo Lăng từ đó được kế thế làm Thiên Sư, và được thừa hưởng vùng Long Hổ Sơn. Vùng này mãi đến thời Trung Hoa Dân Quốc mới bị quốc hữu hóa.

Nguyên Thế Tổ năm 1275 cũng phong cho Trương Tông Diễn làm Thiên Sư. Nhưng đến năm 1281, nhân vụ tranh tụng giữa Phật Giáo và Lão Giáo về quyển Hóa Hồ Kinh của Vương Phù (thế kỷ 4), vua đã ra lệnh đốt hết các sách Đạo lão, ngoại trừ Đạo Đức Kinh.

Hoá Hồ Kinh đại khái chủ trương rằng sau khi qua cửa ải Hàm Cốc, Lão tử đã sang Thiên Trúc dạy đạo cho đức Phật.

Nhà Minh (1368—1628) cũng không ủng hộ Đạo Lão bao nhiêu. Thời vua Vũ Tông (1506—1521), và vua Thế Tông (1522—1566), đạo Lão đã cho in lại toàn bộ Đạo Tạng, gồm 1464 bộ lớn nhỏ.

Đến đời nhà Thanh đạo Lão cũng không được trọng dụng.

Ngày nay, ở Đài Loan Đạo Lão còn rất thịnh hành.

*Có tất cả 86 giáo phái hoặc tổ chức Lão Giáo được chính quyền hỗ trợ. Nhưng có 6 môn phái nổi bật . Đó là:

1. Phái Chính Nhất, hay phái Thiên Sư, thuộc Long Hổ Sơn. Phái này cho mình là chính thống.

2. Phái Mao Sơn với 2 loại pháp môn: Nội luyện theo kinh Huỳnh Đình, và võ công theo Kỳ Môn Độn Giáp.

3. Phái Thái Cực thuộc Võ Đương Sơn, với pháp môn tu luyện theo truyền thống Trương Tam Phong, và pháp môn võ thuật trừ tà ma.

4. Phái Toàn Chân, tu luyện theo tôn chỉ của Vương Trùng Dương.

5. Phái Thần Tiên với những trò bình dân như leo thang gươm 36 lưỡi trần, biểu diễn dặm vào giữa những lễ nghi, để thu hút quần chúng.

6. Phái Lư Sơn thiên về bí thuật, giống như phái Chân Ngôn của Phật Giáo.

Dĩ nhiên các môn phái này cũng còn có tại Trung Hoa Lục Địa. [27]

KẾT LUẬN.

Chương này có tính cách khảo cứu và lịch sử. Nó rất cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu sâu rộng về Đạo Lão. Ta có thể dùng nó làm cái sườn để xây dựng một đề tài khảo cứu các vấn đề trên cho sâu rộng hơn, chi tiết hơn.

Nó cũng đánh giá được đạo Lão từ thấp đến cao, và cuối cùng, nó cũng có thể dùng như là một tấm gương để chúng ta tự soi xem chúng ta đang ở giai trình nào, đương chạy theo quần chúng hay đang theo chân, nối gót các bậc tiên trưởng trong đạo Lão.

***************         

PHỤ LỤC.

1. Nam Ngũ Tổ.

Trương Bá Đoan, Thạch Thái, Tiết Đạo Quang, Trần Nam, Bạch Ngọc Thiềm.

Đều cho rằng: Nho, Thích, Đạo đồng nguyên, Tam giáo nhất lý.

Lấy Luyện Nội Đơn, hay tu tính mệnh làm chủ.

Nam Tông cũng còn gọi là Tử Dương phái.

2. Bắc Ngũ Tổ.

a. Đông Hoa Thiếu Dương, Vương Huyền Phủ,

b. Chung Ly Chính Dương,

c. Lữ Nham Thuần Dương,

d. Lưu Hải Thiềm Thuần Hựu,

e. Vương Trùng Dương Thuần Hữu.

3. Bắc Thất Chân. (Toàn Chân Thất Tử)

Bắc Thất Chân đều là đệ tử Vương Trùng Dương.

— Mã Ngọc (sáng lập Ngộ Tiên phái),

— Đàm Xử Đoan (sáng lập Nam Vô phái),

— Lưu Xử Huyền (sáng lập Tùy Sơn phái),

— Khưu Xử Cơ (sáng lập Long Môn phái),

— Vương Huyền Nhất (sáng lập Luân Sơn Phái),

— Hách Đại Thông (sáng lập Hoa Sơn Phái),

— Tôn Bất Nhị (sáng lập Thanh Tĩnh Phái).

Tất cả đều đề xướng Tam Giáo hợp nhất, đều chủ trương Thanh Tĩnh Quả Dục, luyện Khí, dưỡng Khí, Nhẫn sỉ, hàm trần, Khổ kỉ, lợi nhân. (忍 恥, 含 塵,苦 己 利 人 Tức là khi bị xỉ nhục thì nhịn chịu, nuốt hận, chịu khổ người được lợi.)

4. Bát tiên:

Hán Chung Ly, Lữ Đồng Tân, Hà Tiên Cô, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cựu, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Lam Thái Hòa.

(Bát Tiên Quá Hải)

5. Quan 觀。(Quán)

Chỗ ở của Đạo Sĩ, như Hạo Thiên Quan hay Bạch Vân quan của Lưu Xử Cơ.

6. Thất Hiền hay Trúc Lâm Thất Hiền.

Kê Khang, Nguyễn Tịch, Tử Hàm, Sơn Đào, Hướng Tú, Vương Nhung, Lưu Linh 稽 康, 阮 藉, 子 咸 , 山 濤, 向 秀, 王 戎, 劉 伶。

Có mấy ông bị Tư Mã Chiêu giết như Kê Khang, Lưu Linh vì tội tuyên truyền Hư Vô, khinh lễ giáo.

——————————————

CHÚ THÍCH

[1] Xem Nam Hoa Kinh, thiên Tại Hựu, XI, C.

Xem Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 157.

[2] Ít nhiều tài liệu dùng để viết chương này: Liệt Tiên Truyện (Đạo tạng); Thần Tiên Truyện (Đạo Tạng), Phỏng Đạo Ngữ Lục (tr. 196—200), Đạo Gia Trường sinh bí điển (tr. 29—33 và 90—91), Thiên Cơ bí văn (tr. 108—111), Kim Liên Chính Tông Ký, Tiên Học Diệu Tuyển các tr. 1—9, Đạo giáo Văn Hóa từ điển, Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển.

[3] Ở chương này , cho vấn đề được sáng tỏ, tôi không trực tiếp nghiên cứu Phương Pháp tu ngoại đơn để cầu trường sinh của Ngụy Bá Dương thời Đông Hán, và của Cát Hồng, Bão Phác Tử (tự Trĩ Xuyên, quê ở Đơn Dương, Giang Tô) (283—363).

Ngụy Bá Dương viết bộ Tham Đồng Khế, hết sức là thời danh. Cát Hồng viết cuốn Bão Phác Tử.

Cũng vì lý do trên, mà sách này không đề cập đến phương thuật Chỉ Đá Hoá Vàng (Hoàng Bạch, Luyện Kim Thuật).

Sách Đồng Phù Thiết Khoán, Chân Thiện Mỹ xuất bản, đã đề cập đến thuật này.

Hình như Hán Chung Ly và Trương Tam Phong biết thuật này.

[4] Kim Liên Chính Tông Ký.

Xem Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, Trương Chí Triết, Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 1992, tr. 159.

[5] Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, Trương Chí Triết, tr. 168.

[6] Ib. 159.

[7] Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, Trương Chí Triết, tr. 199.

[8] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 112.

[9] Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, Trương Chí Triết, tr. 229.

[10] Đạo Giáo Văn Hóa Từ Điển, tr. 219

Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 127.

[11] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 131

[12] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 141.

[13] Quyển Tây Du Ký này kể lại hành trình của Ông đi gặp Thành Cát Tư Hãn. Có nhiều người lầm cho rằng Khưu Xứ Cơ đã viết bộ Tây Du Ký. Thật ra, bộ Tây Du Ký là của Ngô Thừa Ân.

[14] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 146.

[15] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 146.

[16] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 142.

[17] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 142.

[18] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 144.

[19] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 145.

[20] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 141.

[21] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, tr. 48.

[22] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, Trung Quốc Khoa Học Xã Hội Xuất bản xã, Bắc kinh, 1995. tr. 50.

Trung Quốc Đạo Giáo, q. 1, , Khanh Hi Thái , 1961, Đông Phương Xuất Bản Trung Tâm. Tr. 387.

[23] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, Trung Quốc Khoa Học Xã Hội Xuất bản xã, Bắc kinh, 1995. tr. 51.Trung Quốc Đạo Giáo, q. 1, , Khanh Hi Thái , 1961, Đông Phương Xuất Bản Trung Tâm. Tr. 401

[24] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, Trung Quốc Khoa Học Xã Hội Xuất bản xã, Bắc kinh, 1995. tr. 50.

Trung Quốc Đạo Giáo, q. 1, , Khanh Hi Thái , 1961, Đông Phương Xuất Bản Trung Tâm. Tr.354.

[25] Trung Hoa Đạo Giáo Đại Từ Điển, Hồ phu Sâm, Trung Quốc Khoa Học Xã Hội Xuất bản xã, Bắc kinh, 1995. tr. 186..

Trung Quốc Đạo Giáo, q. 1, , Khanh Hi Thái , 1961, Đông Phương Xuất Bản Trung Tâm. Tr. 374.

[26] Thần Tiên truyện, tr. 16.

[27] Léon Wieger, Taoisme, Tome 1, Bibliographie Générale, Hiên Hiên, 1911, tr. 25—26.

—Nguyệt San Phương Đông, số 25, bài: Thử tìm một phương pháp để khảo sát Đạo Lão của Michael Saso, Nguyễn Văn Thọ bình chú và dịch thuật.

***************         

CHƯƠNG XV

QUI NGUYÊN PHẢN BẢN.

(TRỞ VỀ GỐC NGUỒN)

Chương này với nhan đề Qui Nguyên phản bản (Dữ Đạo hợp Chân) có thâm ý chỉ vẽ rằng: Tất cả công trình học hỏi, suy tư, công trình tu luyện của chúng ta đều phải qui hướng về một mục đích. Đó là:

—Dữ Đạo Hợp Chân (Tiên Học diệu tuyển, tr. 268).

—Phối Thiên (Đạo Đức Kinh ch. 68.)

—Đạt Thiên, hợp Đạo (Văn Đạo Tử Giảng Đạo Tinh Hoa Lục, q. 1, tr. 1b)

Mà người xưa gọi là:

Qui nguyên phản bản hay Qui Căn phản bản.

Chương này có rất nhiều kỳ vọng:

1. Trước hết nó muốn phản ảnh lại chủ trương Phối Thiên của Lão cũng như của Khổng, đúc kết lại tinh hoa đạo giáo của mấy nghìn năm lịch sử Trung Hoa và Việt Nam.

Đối với Trung Hoa và Việt Nam từ xưa đến nay, thời chủ trương: Thiên Nhân Hợp Nhất, Thiên Nhân Hợp Phát, Phối Thiên, Dữ Thiên Đồng Đức là cực điểm tinh hoa của Đạo Giáo.

Lão Tử nơi chương 68 Đạo Đức Kinh đã viết: Thị vị Phối Thiên cổ chi cực. (Phối Thiên, kết hợp với Trời là cực điểm của người xưa).

Trung Dung nơi chương 26, có câu: Cao Minh Phối Thiên, và chương 30 có câu: Cố viết: Phối Thiên.

Trương Kỳ Quân, 1 học giả Trung Hoa đương thời, viết trong quyển Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử (q. 3, chương Lão Tử, tr. 229):

Trung quốc từ thời Nghiêu Thuấn đến nay, vốn có tư tưởng: “Thiên Nhân hợp Nhất”. Kính Trời nên yêu người. Yêu người để kính Trời. Lịch đại Thánh Triết đều nối tiếp nhau hoằng dương Đạo Thiên Nhân Hợp Nhất. Lão tử là 1 người trong số đó. “[1]

“Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư nói rất nhiều về Trời, về Thần, về Thượng Đế. Khi nói tới Bản Thể thì dùng chữ Thiên, khi nói về Chủ tể vạn vật thì dùng chữ Thần, chữ Đế. Trong sách của Lão Tử cũng vậy. Cũng lấy Trời làm gốc gác vạn vật.” [2]

Nơi đây Trương Kỳ Quân cũng muốn tóm tắt kinh Dịch. Cũng trong bộ Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử, Trương Kỳ Quân viết:

“Kinh Dịch là một cuốn sách bao quát mọi vấn đề, nhưng mà cốt yếu vẫn là để xiển minh đạo Thiên Nhân hợp Nhất.” [3]

Đạo Lão cũng thường bàn về nhẽ Thiên Nhân cảm ứng, Thiên Nhân hợp Nhất. Trong quyển Trung Hoa Đạo giáo đại Từ Điển do Hồ Phu Sâm chủ biên, Trung Phu Tử bàn về Thiên Nhân hợp Nhất như sau:

“…Xuân thu chiến Quốc thời kỳ, tư tưởng Thiên Nhân cảm ứng và quan niệm Thiên Nhân hợp Nhất đã được đạo Nho và đạo Lão phát huy”.

Nho gia nhấn mạnh về mặt xã hội. Mạnh Kha, Đổng Trọng Thư cho rằng Trời ban quyền cho vua, và trời cảnh cáo vua bằng tai dị, lại nhận rằng: Thiên Đức ngụ trong lòng người, còn nhân tính thì căn bản nơi Thiên Đạo. Thiên mệnh quyết định nhân sự, phải Tận Tâm Tri Mệnh mới hợp Thiên.

Đạo Lão đề cao Tự Nhiên.

Trang Tử viết trong Tề Vật luận: Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ Ngã vi nhất.

Nơi chương Sơn Mộc, Nam Hoa Kinh, Ông còn nói: Thiên dữ Nhân nhất dã…

Trời và người hợp thành: Đạo tự nhiên vô vi; đạo thông vu Nhất, nên kêu là Thiên Nhân hợp nhất. (Trung phu Tử) [4]

Khoảng năm 1958, tôi nhân thấy “đức Khổng khuyên con là Bá Ngư nên đọc Kinh Thi, nên tôi đã cùng một cự nho ở Đà Nẵng dịch toàn bộ Kinh Thi, xem trong đó ẩn dấu điều gì bí mật. Sau khi dịch xong Quốc Phong sang tới Đại Nhã, tôi mới khám phá ra được một chuyện mà xưa nay không ai biết. Đó là Chân Đạo Nội Tâm, hay Đạo Thần Linh mà ta có thể tìm ra trong lòng ta. Ngày nay, người ta gọi là Đạo Huyền Đồng (mysticism), hay Phối Thiên, hay Thiên Nhân Tương Dữ, Thiên Nhân Nhất Quán, Thiên Nhân Hợp Nhất. Xưa Nghiêu Thuấn, thành Thang, Văn Vương, Võ Vương đã đi được vào Đạo cao siêu này…” [5]

Như vậy chứng tỏ là Trương Kỳ Quân đã nhận xét rất đúng.

2. Thứ đến, chương này cũng muốn đúc kết lại cực điểm tinh hoa đạo giáo, chỉ cho thấy chỗ Đồng qui nhi thù đồ.

Thánh Paul nói: “Tôi sống chẳng phải là tôi sống, mà là Chúa sống trong tôi.” (Galates, 2, 20)

Đạo Sinh, một vị đại sư thời Nam Bắc Triều (372—432 tức Đông Tấn Giản Văn Đế, Hàm An nhị niên và Tống Văn Đế, Nguyên Gia cửu niên) đã cho rằng Đức Phật được thành chính đẳng, chính giác, chính là nhờ đã khế hợp được với Thiên Tâm. [6]

Chữ Niết BÀN (Nirvana) của Ấn Độ, chính có nghĩa là Phối Thiên. Giám Mục Thệ Phản, người Thụy Điển, Nathan Soderblom, trong quyển La vie future d’après le Madzéisme, đã dành 1 chương nói về Nirvana. Ông chủ trương:

a. Trước thời đức Phật đã có chữ Nirvana.

b. Chữ Nirvana, ngoài nghĩa Triết Học là Không Tịch, Thanh Hư, Vô Sinh, Vô Tướng, còn có nghĩa Đạo Giáo là Phối Thiên. [7]

3. Sau hết, chương này cũng muốn đúc kết lại tất cả tư tưởng của chín chương trên, cho thấy mối nhất quán của đề tài, và cũng là để liễu đạt mục tiêu của toàn tập này là Đạo Học Cầu Chân: theo ven sườn non của Đạo Lão để lên đến đỉnh Chân Lý.

Thực vậy, chủ trương Phản Bản, Hoàn Nguyên đã phát xuất từ một niềm tin rằng vũ trụ này đã từ một toàn thể phóng phát, tán phân ra. Toàn Thể ấy là Vô Cực, là Thái Cực. (Chương I)

Đạo hay Thái Cực, sau khi đã phóng phát, đã tán phân ra vũ trụ, quần sinh, lại tiềm ẩn ngay trong lòng sâu quần sinh, vạn hữu. Vì thế cho nên, ở nơi vũ trụ cũng như ở nơi con người, Trung Tâm thời Trường Sinh, Vĩnh Cửu, Bất Biến, còn Ngoại Vi thời di động, biến thiên, tử tử, sinh sinh.

Thánh hiền là những người đã biết đi từ ngoại vi biến thiên của ngoại cảnh, hình hài, tâm tư, thất tình, lục dục trở về Thiên Tâm hằng cửu. Còn thường nhân thì chìm nổi, vật vờ ngoài biên khu tâm, cảnh.Thường nhân, phàm phu, tục tử thời bị ngọn cuồng phong sự duyên thổi bạt từ Trung Tâm ra Biên Khu, Ngoại Cảnh, còn Thánh Hiền thì dùng phép Định Tĩnh để thoát sự chi phối của nhân duyên, và trở về được với Trung Tâm Hằng Cửu.

Thế tức là: Thuận sinh Phàm, Nghịch sinh Tiên. (các Chương 2, 3, 4).

Nơi con người, thì Trung Tâm Hằng Cửu, hay Thái Cực hay Huyền Quan Khiếu đã ở sẵn nơi Trung Tâm Đầu Não con người. Hiểu rõ về con người sẽ giúp ta dễ dàng hành Đạo hơn, vì công trình Qui Nguyên, Phản Bản chính là công trình đi sâu mãi vào Tâm Khảm, đi sâu mãi vào Nê Hoàn Cung, để tìm Đạo, tìm Trời, Dữ Đạo Hợp Chân. (Chương 5)

Chủ trương Qui Nguyên Phản Bản thực ra đã hàm ngụ trong chủ trương Tính Mệnh Song Tu: Tu Mệnh trước cho thân xác khỏe mạnh, cho tăng tuổi thọ, rồi tu Tính, để Hư Tâm, Định Tĩnh, Dữ Đạo Hợp Chân. (Chương 6).

Chủ trương Qui Nguyên Phản Bản, thực ra cũng là con đường đi từ Hữu Vi đến Vô Vi, từ Hữu Tướng về Vô Tướng, từ Hậu Thiên trở về Tiên Thiên của Đơn Gia, Tiên Gia (Chương 7).

Kinh sách Đạo Lão chung qui chỉ xây quanh mấy vấn đề: Luyện xác, Luyện Tâm, luyện Thần để Qui Nguyên Phản Bản mà thôi. (Chương 8).

Các Cao Nhân, Danh Phái trong Đạo Lão chính là những người tiêu biểu cho tất cả các giai trình:

—Từ Vô Vi ra Hữu Vi, rồi lại từ Hữu Vi về Vô Vi.

—Từ Đơn Thuần ra Bác Tạp, từ Nhất ra Vạn, rồi lại từ Bác Tạp về Đơn Thuần, từ Vạn về Nhất.

—Từ Thần ra Cảnh rồi lại từ Cảnh về Thần.

Hai chiều Thuận Nghịch đó đều có tiêu biểu: Một đằng là Đạo Giáo dân gian, một đằng là Tiên Gia, Đạo Gia. (Chương 9).

Tới Chương X này chính là lúc chúng ta phải:

“Dùng Tuệ Kiếm, Phanh Phui Hỗn Độn,

Ra tay Thần, Banh Bửa Hư Vô.” [8]

để tìm cho ra Trời, ra Đạo, tiềm ẩn sau những lớp lang hiện tượng, tìm được cái gì chí quí, chí bảo của trời đất.

Và chúng ta hãy cùng nhau dở những kinh tạng của Đạo Lão, xem Thánh Hiền Đạo Lão xưa nay đã nói gì về Qui Nguyên, Phản Bản. Để nắm vững được vấn đề, và cũng là để tiện bề theo dõi, chúng ta sẽ trình bày vấn đề này dưới ba đề mục:

—Hoàn phản là gì? Hoàn phản về đâu?

—Làm sao để hoàn phản?

—Hoàn phản đem lại lợi ích gì?

*************           

I.  Hoàn Phản là gì? Hoàn phản về đâu?

Trên đây, chúng ta đã thấy các Tiên Gia, Đạo Gia chủ trương:

—Lẽ Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể.

—Lẽ Tuần Hoàn, phản phục.

Như vậy ta thấy ngay rằng, khi nói đến Qui Nguyên Phản Bản là nói đến vấn đề quay về với Vô Cực, Thái Cực, với Đạo, với Trời, với Hư, với Trung, với Nhất.

Danh từ tuy đa đoan, nhưng chung qui chỉ có một ý nghĩa: Con người, muốn liễu Đạo, muốn Trường Sinh, bất tử, phải quay về với Bản Tính mình, phải kết hợp nhất như với Đạo, với Trời. Xưa nay, ước mơ cuả Thánh Hiền Đạo Lão là:

“Phục ngã bản lai chi Thiên Chân,
 復 我 本 來 之 天 真

Hoàn ngã Vô Cực chi Tạo Hóa.”
 還 我 無 極 之 造 化

Dịch:

Phục Hoàn Thiên Chân ta vốn có,

Quay về Vô Cực vốn dĩ ta.

Hoàn Nguyên như vậy là trở về Quê Hương Vô Cực. [9]

Đại Động Chân Kinh viết: Căn bản do lai Thái Cực tầm. (Căn bản phải tìm nơi Thái Cực) [10]

Trương Tam Phong cho rằng: Hoàn Nguyên tức là trở lại với Bản Tính của mình, “Hoàn ngã Tì Lư Tính Hải.” [11]

Huỳnh Nguyên Cát nói: Phản hoàn Vô Cực chi chân. [12]

Đã đành Hoàn Nguyên, Phản Bản cũng là Qui Hư, Qui Nhất nhu6ng chữ Hư, chữ Nhất đây phải được hiểu cho đứng đắn là Vô Cực, là Đạo, là Trời.

Chính vì vậy mà Xướng Đạo Chân Ngôn viết: “Cái cốt yếu của Đại Đạo vốn là:

1. Từ Hư Vô sinh ra Hưũ. Nho gia gọi thế là: Bắt đầu nói tới một Lý, sau tán thành vạn sự (Xem Trung Dung, tựa).

2. Rồi lại từ Hữu qui Vô, đi trở về với cái Căn Bản Nguyên Sơ của chúng ta. Đó là: Hư Vô nhất thể. Tức như Phật Giáo nói: Vạn Pháp qui Nhất, Nhất qui ư Vô vậy.” [13]

Chính vì vậy, mà nhiều Tiên Gia sau khi nói: Luyện Thần Hoàn Hư, còn thêm Phục Qui Vô Cực, cốt là để tránh quần chúng khỏi rơi vào Ngoan Hư, Ngoan Không.

Thủy Khưu Tử có thơ:

“Đả phá Hư Không vạn ức kiếp,

Ký đăng bỉ ngạn xả chu tiếp.

Quan tận Đơn Kinh, vạn vạn thiên,

Mạt hậu nhất cú vô nhân thuyết.”

Dịch:

“Đả phá Hư Không vạn vạn đời,

Đã lên bờ giác, mái chèo lơi.

Đọc hết Đơn Kinh muôn vạn quyển,

Còn câu sau hết chẳng vẽ vời..” [14]

 Lý Chân Nhân chỉ vẽ câu sau chót bằng bài thơ sau:

“Dục thuyết vị thuyết, kim tương thuyết,

Tức ngoại, tức nội, hoàn Hư Tịch.

Khí huyệt vi lô, lý tự nhiên,

Hành mãn công phu, hoàn Vô Cực.”

Dịch:

“Này điều chưa nói, nói ra,

Trong ngoài đem cả về tòa Hư Vô.

Huyền Quan ấy chính lò cừ,

Công thành, Vô Cực bây chừ là thân.”

Trương Tam Phong còn ghi rõ thêm:

“Hoàn Hư là để hợp Đạo.”[15]

Tiên gia còn có những lời lẽ đanh thép hơn như sau:

“Nhất kiếm tạc khai hỗn độn,

Lưỡng thủ phách liệt Hồng Mông.”

Dịch:

“Một kiếm phanh phui Hỗn Độn,

Hai tay banh bửa Hồng Mông.” [16]

Nhập Dược Kính còn viết:

“Có phanh phá Hồng Mông, Hỗn Độn,

Mới rỡ ràng thấy đựơc Kim Đơn.”[17]

Hoặc:

“Chẳng phanh phá Hỗn Độn, Hồng Mông,

Sao thấy được bảo châu Trời đất ?” [18]

Khưu Xử Cơ có câu:

“Hư cực phấn toái, dĩ lộ Toàn Chân.”

Dịch:

“Nghiền tan Hư Cực, để lộ Toàn Chân.” [19]

Cũng nên ghi nhận rằng: Những câu như Ẩm Đao Khuê (Nhập dược Kính tr, 13b), Ẩm Hồng Mông Tửu (Nhập Dược Kính, tr. 13b), Cùng Thủ Sinh Thân Thụ Khí Sơ, hay Khuyến quân cùng thủ sinh thân xứ (Kim Đơn yếu quyết, tr. 1b) đều ngụ ý Qui Nguyên Phản Bản, Dữ Đạo Hợp Chân.

Vì Đạo Lão vốn chủ trương Thái Cực, hay Đạo, hay Trời đã có sẵn ở Trung Điểm Vòng Dịch, Trung Điểm vũ trụ, và Trung Điểm con người, cho nên Qui Nguyên cũng là Qui Trung.

Dịch Kinh viết:

“Hiền Nhân thông lý Trung Hoàng,

Tìm nơi chính vị mà an thân mình.

Đẹp từ Tâm Khảm xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh, mỹ miều.

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thế là đẹp đẽ đến điều còn chi.”[20]

Đại Động Chân Kinh viết: “Căn bản vốn tại Trung Tâm… Suy cho cùng Bản Thể là tại Trung Tâm. Các hiện tượng bên ngoài đều bắt nguồn từ bên trong. Các ứng dụng hiển lộ ra bên ngoài cũng đều từ bên trong sinh xuất…” [21]

Văn Đạo Tử viết: “Bắt đầu từ Trung Điểm, kết cục cũng tại Trung Điểm. Đầu đuôi vẫn chỉ là một khí lưu hành bất tức.” [22]

Văn Đạo Tử Tinh Hoa Lục còn cho rằng: Tiên Phật chẳng qua là những người đã vào được Trung Cung, Trung Điểm và có thơ sau:

“Số, Văn dụ Đạo, Đạo tài thông,

Hà, Lạc huyền vi tại Chính Trung.

Luân chuyển tuần hoàn, quan trục cốc,

Biến thiên, thăng giáng hệ tâm cung.

Căn chi, bản mạt minh đoan đích,

Tụ tán, hiển vi, thức thủy chung.

Tri chỉ, tức nhiên tri giải thoát,

Phật, Tiên bất quá đắc hoàn trung.”

Tôi dịch thoát như sau:

Đạo cả siêu vi khó luận bàn,

Lấy lời, lấy số tả lan man.

Huyền vi Hà, Lạc nơi Tâm điểm,

Trục chuyển vành xe mới vẹn toàn.

Trục chuyển vành xe, mới vẹn toàn,

Trần hoàn biến chuyển hệ Tâm Xoang.

Ngọn ngành, gốc rễ thông đầu cuối,

Tụ tán, hiển vi, chẳng ngỡ ngàng. [23]

Qui Căn, Phản Bản cũng chính là công trình đi từ Hậu Thiên trở về Tiên Thiên, là thu nhiếp Hậu Thiên qui tụ về Tiên Thiên.

Hai bài thơ tứ tuyệt sau đây cho thấy ý nghĩa đó:

Tiên Thiên nhất Khí tức Chân Diên,

Sản tại Hư Vô, Thái Cực tiền,

Hoảng hốt, yểu minh trung hữu tượng,

Phương tri Tạo Hóa huyền hựu huyền.

Hậu Thiên chi Khí vi Chân Cống,

Bản dữ Tiên Thiên nhất khiếu sinh.

Đãn đắc Cống Diên qui nhất xứ,

Tự nhiên khoảnh khắc sản Chân Tinh.

Dịch:

Tiên Thiên nhất Khí ấy Chân Diên,

Sinh tại Hư Vô Thái Cực tiền.

Phảng phất, mơ mòng, trong có tượng,

Mới hay Tạo Hóa thật diệu huyền.

Hậu Thiên chi Khí là Chân Cống,

Vốn với Tiên Thiên một khiếu sinh,

Đem được Cống, Diên về một chỗ,

Tự nhiên chốc lát, sản Chân Tinh. [24]

Tiên Kinh viết:

Tiên Thiên không có Hậu Thiên, lấy gì mà thu nhiếp? Hậu Thiên không có Tiên Thiên, nhờ đâu mà biến hoá? [25]

Nhưng mà thiết thực nhất, đối với chúng ta, Qui Căn, Phản Bản vẫn chính là tin rằng: có Trời, có Đạo ngự trị ngay trong Nê Hoàn Cung, trong Trung Tâm Đầu Não con người, và Phản Bản, Hoàn Nguyên chính là đem hết tâm thần quay trở về phối hợp với Trời, với Đạo tại đó.

Chính vì vậy, mà Tham Đồng Khế phát huy gọi Nê Hoàn Cung là:” Nơi xưa, chốn cũ, cố hương, cố đô, cố quận.”

Nhập Dược Kính có câu:

Qui căn khiếu, phục mệnh quan,

Quán Vĩ Lư, thông Nê Hòan. [26]

Như vậy, tức là muốn ám chỉ Nê Hoàn Cung là Qui Căn Khiếu, Phục Mệnh Quan.

Muốn chứng minh điều đó một cách đích xác hơn, ta lý luận như sau:

Kim Đơn Đại Thành viết:

“Đầu hữu cửu cung, trung viết Nê Hoàn.” [27]

Tính Mệnh Khuê chỉ viết:

“Đầu hữu cửu cung. Trung nhất cung, danh viết Cốc Thần.” [28]

Đạo đức Kinh (chương VI), và Nhập dược Kính đều cho rằng: “Cốc Thần bất tử, thị vị Huyền Tẫn, Huyền Tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa căn”. Nhập dược Kính lại cho rằng: “Huyền Tẫn chi môn, vi Qui Căn Khiếu…Tri Qui Căn Khiếu tắc tri Phục Mệnh Quan hĩ.” [29].

Như vậy, ta kết luận 1 cách vững chắc rằng: Nê Hoàn là Qui Căn Khiếu, là Phục Mệnh Quan, vì nơi đó có Cốc Thần là Căn Nguyên sinh ra trời đất…

Nhập Dược Kính viết thêm: “…Đem Thần về an vị tại Nê Hoàn. Thần mà an vị tại Nê Hoàn thời vạn Thần sẽ triều hội.”

Huỳnh Đình Kinh vân: Tử dục bất tử tu Côn Lôn.[30]

Giá trị của Nê Hoàn Cung chính là vì ở đó có Thái Cực, có Đạo, có Trời ngự trị. Mà Thái Cực, hay Đạo, hay Trời thời gồm thâu Trời Đất.

Mới hay:

“Tu luyện phải hay Phục Mệnh Quan,

Không hay khiếu ấy, uổng lo toan.

To trùm trời đất không bờ bến,

Nhỏ cuộn đất trời, dấu “thử” gian.” [31]

Đạo Học Cầu Chân có thơ:

Hướng tiền Thần tụ, đồng Vô Cực,

Kim tán trần ai mãn thế đồ.

Dục qui Chính Vị Hoàng Trung lý,

Nê Hoàn vạn vựng kíp hồi qui.

Dịch:

Trước kia, Thần tụ, đồng Vô Cực,

Nay tán, trần ai ngập thế đồ.

Muốn về nguyên vị Hoàng Trung cũ,

Nê Hoàn vạn vựng kíp hoàn qui. [32]

************         

II. Làm sao để hoàn phản?

Muốn Qui Nguyên Phản Bản, phải đi chiền Qui Tâm, chiều Hồi Hướng, chiều Nghịch.

Thế nào là chiều Thuận, thế nào là chiều Nghịch?

Chiều Thuận là:

a. Chiều từ Nhất sinh ra Vạn, sinh sinh vô cùng…

b. Là chiều Hướng Ngoại.

c. Là chiều tinh thần suy thoái.

d. Là chiều phá tán.

Chiều Nghịch là:

a. Chiều từ Vạn trở về Nhất, hóa hóa vô tận…

b. Là chiều Hướng Nội.

c. Là chiều tinh thần siêu thăng.

d. Là chiều Thu Liễm, thu nhiếp, qui tàng…

Tu Chân Tiệp Kính viết:

“Thuận là Nhân Tâm.

Nghịch là Đạo Tâm…Nhân Tâm mà chết, thì Đạo Tâm mới sinh… có biết chiều Nghịch mới biết Con Đường Sống…

Đi chiều Nghịch sẽ sống vô cùng.

Đi theo chiều Thuận sẽ sống hữu hạn.

Chỉ một Thuận, một Nghịch mà xa cách nhau…như trời, với đất…

Đi chiều Thuận, Pháp giới hóa hỏa hào.

Đi chiều Nghịch, mãn địa là châu báu.” [33]

Cao Thượng Ngọc Hoàng Tâm Ấn Kinh cho hay:

“Tụ thời phú hữu, tán thời linh lạc. Thánh nhân đi chiều Nghịch, đem Tam Nguyên (Tinh, Khí, Thần) qui tụ về Nhất, còn phàm nhân thì theo chiều phá tán.” [34]

—Đi theo chiều nghịch, thu liễm ngũ hành, tứ tượng, bát quái, là đem Tinh, Thần, Hồn, Phách qui tụ về Trung Cung, Tiên Thiên, Thái Cực, thế tức là Đắc Đạo, thế tức là Đơn thành.

Nhập Dược Kính gọi công phu đó là:

“Đạo Thiên Địa, đoạt Tạo Hóa, toàn Ngũ Hành, hội Bát quái. .. Tức viết: Tạo Hóa qui trung chi diệu.” [35]

“Thiết thủ tinh hoa Trời Đất, đoạt quyền Tạo Hóa, thu nhiếp Ngũ Hành, hội hợp Bát Quái.”

Tiên Học từ điển cho rằng:

“Hoàn hư là giai đoạn tối hậu của công phu luyện đơn, đem vũ trụ vạn hữu qui về Hư, và đồng thể với Thái Hư.”[36]

—Muốn Quy Nguyên, Phản Bản phải tha thiết, phải thành khẩn ao ước được kết hợp với Đạo, với Trời.

Tiên kinh viết: “Tử dục trường sinh, thủ Nhất đương minh. Tư Nhất chí cơ, Nhất dữ chi lương. Tư nhất chí khát, Nhất dữ chi tương.”

Dịch:

“Ấy ai mà muốn trường sinh,

Thủ Chân, Bão Nhất, phải rành mới hay.

Suy tư về Nhất suốt ngày,

Đói thời lấy Nhất, của này nuôi thân.

Suy tư về Nhất miên man,

Khát thời lấy Nhất đó làm quỳnh tương.” [37]

—Muốn phản hoàn, phải mở được tuệ giác, vì có mở được tuệ giác, mới Thông Thiên, Thông Thần, mới thấy được Bản Lai Diện Mục của mình.

Trương Tam Phong viết:

“Tuệ nhật chiếu hôn cù,

Năng kiến Bản Lai Diện Mục.” [38]

Dịch:

“Vừng Dương Tuệ chiếu soi đường tối,

Mới nhìn ra Diện Mục Bản Lai.”

Có Tuệ Giác rồi mới có thể:

“Minh vô tướng ư hữu hình chi hậu,

Tri Hư Cực ư vị triệu chi tiên.” [39]

Dịch:

“Thấy Vô Tướng xuyên qua màn hiện tượng,

Hoàn Hư Vô từ thủa trước đất trời.”

—Muốn Phản Hòan phải Hư Tâm, Định Tĩnh. Mã Đơn Dương cho rằng: “Đại Đạo gồm nguyên 6 chữ: Tự Nhiên, Thanh Tịnh, Vô Vi.” [40]

—Có nhập định mới về tới được Hư Vô. [41]

—Sống tự nhiên cũng rất là quan trọng để tìm ra Đạo, ra Trời.

“Đạo vốn Vô Vi, Hữu Vi không phải Đạo.” [42]

Nhập Dược Kính có 2 bài thơ sau:

“Vạn ban tác dụng mạn thi công,

Tổng dữ Kim Đơn sự bất đồng.

Đãn yếu chí thành vô gián đoạn,

Tự nhiên Đại Đạo tại kỳ trung”

Dịch:

“Sở xoay cho lắm thực luống công,

Đều với Kim Đơn sự chẳng đồng,

Một dạ chí thành không gián đoạn,

Tự nhiên Đại Đạo ở sẵn trong.”

“Đại Đạo vô vi pháp tự nhiên,

Tự nhiên chi ngoại cánh vô huyền.

Trí nhu, chuyên khí anh nhi dạng,

Cơ tức cầu tôn, khốn tức miên.”

Dịch:

“Đại đạo vô vi, hợp tự nhiên,

Ngoài sống tự nhiên, chẳng có huyền.

Hồn nhiên, chất phác như con trẻ,

Đói ăn, mệt ngủ, chính là tiên… [43]

—Công trình Phản Bản hoàn Nguyên mất bao lâu?

Không biết ra thời ngàn vạn năm chưa đủ. Biết ra thời vài phút cũng đã thừa.

Nhập dược Kính viết:

“Nhân Tâm nhược dữ Thiên Tâm hợp,

Điên đảo Âm Dương chỉ phiến thời.” [44]

Dịch:

“Nhân Tâm mà hợp Thiên Tâm,

Con đường hoàn phản chỉ cần phút giây.”

III. Phản bản hoàn nguyên được lợi ích gì?
Huỳnh Nguyên Cát cho rằng:

“Muốn cho sắc thân lâu bền, thế nào cũng phải tu luyện cho tinh kiên, khí hòa. Cơ sở có được xây đắp vững, mới mong sống lâu.

Muốn cho Pháp Thân trường cửu, phải luyện Thần hoàn hư, luyện Hư hợp Đạo. Sau đó mới chứng được quả Thần Tiên.” [45]

—Công trình Phản Bản, Hoàn Nguyên cốt là để rũ bỏ phàm tâm, mặc lấy Thiên Tâm.

Tiên Học nơi tr. 67, có ghi lời Trúc Trai như sau:

“Tâm có nguồn, thân có gốc. Chuyển hóa cho tiêu tan đi cái tâm hình tướng, chuyển hóa cho tiêu tan đi cái hình tướng giả tạo, thế là Hoàn Nguyên. Vận dụng cái Nguyên Khí không bờ bến, để điểm hóa cái thân tứ đại giả hợp của ta này, thế là Phản Bản…Phản Bản, Hoàn Nguyên là Tu Chân.” [46]

—Phần thưởng của công trình Qui Nguyên, Phản Bản là Dữ Đạo hợp Chân, thể hợp với Thiên địa chi tâm, trở thành Tiên, Phật, Thánh, Thần. [47]

Hán Chung Ly cho rằng:

“Phản Bản, Hoàn Nguyên là trở về được với Vô Cực, với Thái Hư, cho nên sẽ biến hóa vô cùng, tụ thời thành hình, mà tán sẽ thành Khí.” [48]

—Một khi đã vứt bỏ được Phàm Thân, mặc lấy được Pháp Thân Vô Cực, thời sẽ trường sinh vĩnh cửu cùng Trời Đất.

Xuất hữu nhập vô không trở ngại,

Bồng lai, Tam Đảo rộng đường mây.

Kinh qua kiếp kiếp trăm nghìn vạn,

Mấy độ bể dâu, ta vẫn đây. [49]

TỔNG KẾT LUẬN

Gọi là tổng kết luận, vì chẳng những muốn đúc kết lại chương này, mà còn muốn đúc kết toàn tập khảo luận này.

Thay vì đem ý riêng mà bàn, tôi sẽ mượn lời và ý Trang Tử nơi chương Tề Vật Luận mà phác họa lại bóng hình một vị Chân Nhân đạt Đạo như sau:

Ta và trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật sự tình chẳng hai. [50]

Ta nào biết vắn, dài, nhĩ, ngã,

Lòng muôn phương muôn ngả tỉnh say. [51]

Thênh thang chèo quế, buồm mây,

Lòng trời lạc nẻo, chốn này là đâu? [52]

Nhạc trời tấu vui sầu muôn điệu, [53]

Bóng quang huy, phiểu diểu mung lung,

Nơi đây ta dứt lòng trần,

Bạn cùng thần thánh, muôn phần hân hoan. [54]

Triều nổi sóng muôn ngàn ta mặc,

Lửa ngất Trời phần phật ta khinh. [55]

Ta nay đã thoát điêu linh,

Thoát vòng sinh tử, tử sinh của đời. [56]

Ta sống giữa vòng Trời vĩnh cửu,

Ta sống trong khu nữu muôn loài. [57]

Vời trông thế sự vần xoay,

Ta nào còn biết bên này bên kia?

Tranh chấp hết, thị phi cũng hết,

Thị với phi phân biệt uổng công. [58]

Đã vào tới điểm Đại Đồng,

Trông ra trời đất mênh mông một mầu.

Lớn với nhỏ in nhau một lứa,

Sống vắn, dài, một thủa phù sinh.

Sợi lông bát ngát, mênh mông,

Mà xem non Thái như tình cỏn con.

Kẻ chết yểu: sống hơn trăm kiếp,

Còn Lão Bành: yểu triết, tảo vong. [59]

Nay ta xếp mọi tơ lòng,

Hết niềm nhĩ, ngã sống trong lòng trời. [60]

Nguồn mạch ấy chẳng vơi, chẳng cạn,

Mà tràn lan, lai láng rạt rào,

Kho trời đã rõ tiêu hao,

Tiêu sao cho hết, dùng sao cho cùng. [61]

Mặc tôm cá sống cùng tôm cá,

Mặc hươu nai gá nghĩa hươu nai.

Mặc cho khỉ vượn sánh đôi,

Mặc cho trai gái sánh đôi tương phùng. [62]

Ta tìm Đạo trong lòng vũ trụ, [63]

Trong lòng ta, ta cố tìm Trời.

Thương cho nhân thế miệt mài,

Lao đao, lận đận, suốt đời uổng công. [64]

Những bôn tẩu mơ mòng ảo ảnh,

Khiến cho đời hiu quạnh gian chuân.

Nào hay ở giữa lòng trần,

Tấc thành đã sẵn, muôn phần quang hoa. [65]

Nơi chốn ấy, chói lòa ánh sáng [66]

Cũng là nơi tĩnh lãng siêu nhiên [67]

Là nơi sực nức hương Tiên,

Rườm rà ta bỏ, tần phiền ta quăng. [68]

Đừng biện luận nói năng chi nữa,

Biết nói sao, biết tả làm sao? [69]

Mênh mông, bát ngát, rạt rào,

Im hơi, lặng tiếng, mới cao, mới tài. [70]

Ta quên hết hình hài, ngôn ngữ,

Quên rằng ta còn có hay không. [71]

Lạ thay! phong thái huyền đồng,

Làm sao cho sạch tơ lòng mới nghe. [72]

Sống khinh khoát muôn bề khinh khoát,

Cùng trăng sao bát ngát xa chơi.

Lòng mang vũ trụ, đất trời,

Cùng chư thần thánh muôn đời sống chung. [73]

Sống mãi mãi, vô cùng, vô tận,

Mặc trời mây, chuyền vận quanh ta,

Mặc cho trần thế bôn ba,

Vì ta đã được tinh hoa đất trơì. [74]

Thử ướm hỏi nơi đâu dừng bước,

Đâu là nơi cùng tột phải đi?

Ta nay truyền nhẽ huyền vi,

Được Trời, lập tức hết kỳ bôn ba,

Được Trời, Đạo, ấy là đạt đích,

Hết lần mò, tầm mịch lăng nhăng. [75]

Được Trời, là được Thiên Chân,

Thiên Chân, phải có Thiên Quân đáy lòng. [76]

*************           

CHÚ THÍCH

[1] 中 國 自 唐 虞 以 來, 即 有 天 人 合 一 之 思 想。 敬 天 即 所 以 愛 人,

 愛 人 即 所 以 尊 天。 歷 代 聖 晢 莫 不 繼 續 弘 揚 此 天 人 合 一 之 道 也。

 老 子 即 其一 也。

Trung quốc tự Đường Ngu dĩ lai, tức hữu Thiên Nhân hợp nhất chi tư tưởng. Kính Thiên tức sở dĩ ái nhân. Ái nhân tức sở dĩ tôn Thiên. Lịch đại Thánh Triết mạc bất kế tục hoằng dương thử Thiên Nhân Hợp Nhất chi đạo dã. Lạo tử tức kỳ nhất dã.

Trung Hoa ngũ thiên niên sử, q. 3, Chương Lão Tử, tr. 229.

[2] 易, 詩, 書 多 言 天, 言 神, 言 上 帝 。

 大 體 言 之﹕ 其 言 本 體 之 時 曰 天, 其 言 主 宰 萬 物 之 時 曰 神,

 曰 帝。 老 子 書 中 亦 然。 以 天 為 萬 物 之 根。

Dịch, Thi, Thư đa ngôn Thiên, ngôn Thần, ngôn Thượng Đế. Đại thể ngôn chi: Kỳ ngôn Bản Thể chi thời viết Thiên, kỳ ngôn chủ tể vạn vật chi thời viết Thần, viết Đế. Lão tử thư trung diệc nhiên. dĩ Thiên vi vạn vật chi căn.

Như trên. tr. 229.

[3] 易 之 為 書 廣 大 悉 備, 無 所 不 包, 而 語 其 要 歸, 則 為 明 天 人 合 一 之 道。

Dịch chi vi thư, quảng đại tất bị, vô sở bất bao. Nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi Thiên Nhân hợp nhất chi đạo.

Như trên. q. 2, tr. 123.

[4] . 春 秋 戰 國 時 期, 天 人 感 應 思 想 和 天 人 合 一 觀 念

 在 儒 道 兩 家 都 有 發 悅 。。。

孟 軻, 董 仲 舒 發 展 為 天 賦 君 權 , 災 異 遣 告 學 說,

 認 為 天 德 寓 于 人 心, 人 性 本 于天 道。 天 命 決 定 人 事, 要 求 盡 心 知 命 而 合 天。

道 家 強 謂天 自 然 的 屬 性。 莊 子 齊 物 論 ﹕天 地 與 我 並 生,

萬 物 與 我 為 一。 天 與 人 一 也 (山 木) 。。。天 和 人 皆 合 于 自 然 無 為

之 道, 道 通 于 一, 故 稱 天 人 合 一。

Xuân Thu Chiến quốc thời kỳ, Thiên Nhân cảm ứng tư tưởng, hoà Thiên Nhân Hợp Nhất quan niệm tại Nhu, Đạo lưỡng gia đô hữu phát triển. ..Mạnh Kha, Đổng Trọng Thư phát triển vi Thiên phú quân quyền, tai dị khiển cáo; nhận vi Thiên Đức ngụ vu nhân tâm, nhân tính bản vu Thiên Đạo. Thiên mệnh quyết định nhân sự. Yêu cầu tận tâm, tri mệnh nhi hợp Thiên.

Đạo gia cưỡng vị Thiên tự nhiên đích thuộc tính. Trang tử, Tề vật luận: Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất. Thiên dữ nhân nhất dã (Sơn mộc)…Thiên hoà nhân giai hợp vu tự nhiên vô vi chi đạo, Đạo thông vu Nhất, cố xưng: Thiên Nhân hợp nhất. (Trung phu tử).

Trung quốc Đạo giáo đại từ điển, Hồ phu Sâm, tr.452—453.

[5] Dịch Kinh Đại toàn, Nguyễn Văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê, q.1, tr. 16—17.

[6] 佛 祖 阿,爾 正 見, 正 覺, 實 在 契 合 天 心 的。

Phật tổ a, nhĩ chính kiến, chính giác, thực tại khế hợp Thiên Tâm đích.

Lịch Đại Cao Tăng cố sự, tập Đạo Sinh, tr. 1.

[7] Ni le mot, ni le contenu du Nirvana, n’ont été inventés par Gautama. Ils existaient bien avant lui (p. 356).

…Le Nirvana, a, dans l’idéalisme de Mahabharata, le Samkya Yoga, désigné l’ union avec le Brahman (p. 361)

…Lorsque le Bouddhisme appelle son idéal, son Nirvana, le non—créé, l’infini, l’éternel, sans forme, l’invisible, cela ne s’explique que par le fait que toute cette conception a été empruntée à un système où ces prédicats étaient attribués à un Être métaphysique, le Brahman, l’Atman. Ils sont en effet attribués au Brahman dans le Brihad—Aranyaka—Upanishad et le Chandogya Upanishad longtemps avant d’être employés comme des synonymes de Nirvana bouddhiste p. 362.

Le Nirvana avait signifié l’union avec le Brahman (Tat Tvam Asi) avant d’êre prêché par Gautama, comme la délivrance pure et simple, sans but positif, sans préoccupation métaphysique. (p. 362—363)

Nathan Soderblom, La vie future d’après le Madzéisme.

[8] 一 劍 鑿 開 混 沌, 兩 手 擘 裂 虛 無。

Nhất kiếm tạc khai Hỗn Độn, Lưỡng thủ phách liệt Hư Vô.

Tham Đồng Khế phát huy, tr. 9a.

鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛, 方 見 金 丹。

Tạc khai Hỗn Độn, Phách liệt Hồng Mông, phương kiến Kim Đan.

Nhập Dược Kính tr, 14a,

苟 不 鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛, 則 何 以 見 天 地 之 至 寶?

Nhập dược kính, tr. 14b.

[9] 返 於 無 極 之 鄉。

Phản ư Vô Cực chi hương.

Trương Tam Phong đạo thuật hối tông, tr. 90.

[10] Đại Động Chân Kinh, q. thượng, tr. 4b

[11] 澴 我 毘 盧 性 海。

Trương Tam Phong đạo thuật hối tông, q. 2, tr. 43.

[12] 返 澴 無 極 之 真。

Huỳnh Nguyên Cát, Lạc Dục Đường Ngữ Lục, tr. 169.

[13] 夫 大 道 之 要 原 自 虛 無 而 生 有 , 其 儒 者 之 所 謂 ﹕

 始 言 一 理 終 散 為 萬 豕鑠者 乎。 既 則 自 有 而 歸 無, 以 澴 我

太 虛 一 體 之本 初。即 釋 氏 所 謂﹕ 萬 法歸 一, 一 歸 於無 之說。

Phù đại Đạo chi yếu, Nguyên tự Hư Vô nhi sinh Hữu, kỳ Nhu giả chi sở vị: Thủy ngôn nhất Lý, chung tán vi vạn sự giả hồ. Ký tắc tự Hữu nhi qui Vô, dĩ hoàn ngã Thái Hư nhất thể chi bản sơ. Tức Thích Thị sở vị: Vạn Pháp Qui Nhất, Nhất qui ư Vô chi thuyết.

Xướng Đạo Chân Ngôn, Bạt, tr. 1b.

[14] 打 破 虛 空 萬 億 劫,

 既 登 彼 岸 舍 周 楫

 觀 盡 丹 經 萬 萬 篇

 潼 後 一 句 無 人 說。

Tiên học diệu tuyển, tr. 491.

[15] 澴 虛 合 道。

Trương Tam Phong đạo thuật hối tông, tr. 92.

[16] 一 劍 鑿 開 混 沌, 兩 手 擘 裂 虛 無。

Nhất kiếm tạc khai Hỗn Độn, Lưỡng thủ phách liệt Hư Vô.

Tham Đồng Khế phát huy, tr. 9a.

[17] 鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛, 方 見 金 丹。

Tạc khai Hỗn Độn, Phách liệt Hồng Mông, phương kiến Kim Đan.

[18] Nhập Dược Kính tr, 14a,

苟 不 鑿 開 混 沌, 擘 裂 鴻 濛, 則 何 以 見 天 地 之 至 寶?

Cẩu bất tạc khai Hỗn Độn, phách liệt Hồng Mông, tắc hà dĩ kiến Thiên Địa chi chí bảo?

Nhập dược kính, tr. 14b

[19] 虛 極 粉 碎, 以 露 全真。

Tiên học diệu tuyển, tr. 401.

[20] 君 子 黃 中 通 理, 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 支,

 發 於 事 業, 美 之 至 矣。

Quân tử Hoàng Trung thông lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí hỹ.

Dịch kinh. Văn Ngôn hào Lục Ngũ, quẻ Khôn.

Dịch Kinh Đại Tòan, Nguyễn Văn Thọ, Huyền Linh Yến Lê, q. 2 tr. 69.

[21] 根 本 元 由 中。。。究 其 根 本 實 由 於 中。

現 乎 外 者, 本 乎 內。 昭 乎 用 者, 由 乎 體 也。

Căn bản nguyên do Trung,,, Cứu kỳ căn bản thực do ư Trung. Hiện hồ ngoại giả, bản hồ nội. Chiêu hồ Dụng giả, do hồ Thể dã.

Đại Động Chân Kinh, q. hạ, tr. 11b

[22] .從 中 而 始, 從 中 而 終。 始 之 終 之, 無 非 一 氣, 流 行 不 息。

Tinh Hoa Lục, tr. 10

[23] 數 文 喻 道, 道 才 通,

 河 洛 玄 微 在 正 中。

 輪 轉 循 澴 觀 軸 轂,

 變 遷 升 降 係 心 宮。

 根 支 本 末 明 端 的,

 聚 散 顯 微 識 始 終,

 知 止 即 然 知 解 脫,

 佛 仙 不 過 得 環 中。

Bài thơ rất hay.

Tinh Hoa Lục, tr. 36.

[24] Nhập dược kính, tr. 1b

[25] 先 天 不 得 後 天 無 以 收 攝, 後 天 不 得 先 天 無 以 變 化。

Tiên Học từ điển, phần Phụ Lục, tr. 20.

[26] 歸 根 竅, 復 命 關, 貫 尾 閭, 通 泥 丸。

Nhập dược Kính

[27] 頭 有 九 宮, 中 曰 泥 丸。

Kim Đơn Đại Thành, tr. 4a.

[28] 頭 有 九 宮。 中 一 宮 名 曰 谷 神。

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 12b.

[29] 玄 牝 之 門 為 歸 根 竅。。。知 歸 根 竅 則 知 復 命 關 矣。

Nhập dược kính, tr. 10a, 10b.

[30] 神 居 泥 丸 為 本 宮, 則 有 萬 神 朝 會。

 故 曰﹕ 貫 尾 閭 通 泥 丸 也。 黃 庭 經 云﹕ 子 欲 不 死 修 崑 崙。。。

Nhập dược kính, tr. 10a.

[31] 修 鍊 須 知 復 命 關

 知 此 竅 亦 如 閒。

 大 包 天 地 無 邊 祭

 細 納 乾 坤 黍 米 間。

Nhập dược kính, tr. 10b

[32] 向 前 神 聚 同 無 極

 今 散 塵 埃 滿 世 途。

 欲 歸 正 位 黃 中 裡

 泥 丸 萬 彙 速 迴 歸。

Đạo học cầu chân, chương X.

[33] 順 為 人 心, 逆 為道 心, 人 心 死 則 道 心 生。 有 逆 方 有 生。。。逆 中 之 生 無 窮, 順 中 之 生 有 限。一 逆, 一 順, 天 地 玄 遠。古 經 云﹕

行 順 生 法 界 火 炕。 五 行 顛 倒, 地 地 室 寶。

Thuận vi Nhân Tâm, Nghịch vi Đạo Tâm. Nhân Tâm tử, tắc Đạo Tâm sinh. Hữu Nghịch phương hữu sinh. Nghịch trung chi sinh vô cùng, Thuận trung chi sinh hữu hạn. Nhất nghịch, nhất thuận, thiên địa huyền viễn. Cố kinh vân: Hành thuận sinh, Pháp Giới hỏa khanh.

Ngũ hành điên đảo, địa địa thất bảo.

Tu Chân tiệp Kính, tr. 22.

[34] 其 聚 則 有, 其 散 則 伶。 聖 人 逆 而 聚 之 , 常 人 順 而 散。

Kỳ tụ tắc hữu, kỳ tán tắc linh, Thánh Nhân nghịch nhi tụ chi, thường nhân nghịch nhi tán.

Cao Thượng Ngọc Hoàng Tâm Ấn Kinh, tr. 2a.

[35] 盜 天 地, 奪 造 化, 攢 五 行, 會 八 卦。 即 是 造 化 歸 中 之 妙。

Nhập dược kính, tr. 7a

[36] 還 虛 為 鍊 丹 最 後 一 段 功 夫﹕ 宇 宙 萬 化 ,一 歸 於 虛, 與 太 虛 同 體。

Hoàn Hư vi luyện đơn tối hậu nhất đoạn công phu. Vũ trụ vạn hóa, Nhất quy ư Hư, dữ Thái Hư đồng thể.

Tiên Học Tự Điển, tr. 163.

[37] 子 欲 長 生,守 一 當 明。思 一 至 飢,一 與 之 糧。思 一 至 渴,一 與 之 漿。

Tiên Học Diệu Tuyển, tr. 17.

[38] 慧 日 照 昏 衢, 能 見 本 來 面 目。

Trương Tam Phong đạo thuật hối thông, tr. 69.

[39] 明 無 相 於 有 形 之 後, 知 虛 極 於 未 兆 之 先。

Động Huyền Linh Bảo Định Quan Kinh Chú, tr. 3.

[40] 大 道 都 來 六 字﹕ 自 然, 清 淨, 無 為。抉丹 陽。

[41] 入 定 歸 於 虛 無。

Tiên Học Tập Cẩm, tr. 88.

[42] 道 本 無 為, 有 為 則 非 道 也。

Nhập Dược Kính, tr. 6b.

[43] 萬 般 作 用 謾 施 功

 總 與 金 丹 事 不 同。

 但 要 至 誠 無 間 斷,

 自 然 大 道 在 其 中。

 大 道 無 為 法 自 然,

 自 然 之 外 更 無 玄。

 致 柔專 氣 嬰 兒 樣,

 飢 即 求 飧 困 即 眠。

Nhập dược kính, tr. 6b.

[44] 人 心 若 與 天 心 合,

 顛 倒 陰 陽 只 片 時。

Nhập dược kính, tr. 7a.

[45] 欲 求 色 身 久 固, 離 不 得 保 精 裕 氣,築 固 基 址。 然 後 可 得 人 世 天 年。欲 求 法 身 悠 遠,又 離 不 得 鍊 神 還 虛,鍊 虛

合 道, 然 後 可 證 神 仙 之 果。

Huỳnh Nguyên Cát, Lạc dục đường ngữ lục, tr. 30.

[46] 心 有 元, 身 有 本。 化 去 有 形 有 相 之 心, 有 形 有 相 之 心,

有 形 有 相 之 假, 即 還 原 矣。運 取 無 邊 無 捱 之 元 氣, 點 化 我 四 大 假

合 之 形 軀, 即 返 本 矣。返 本 即 是 修 真。

Tâm hữu Nguyên, thân hữu bản. Hóa khứ hữu hình hữu tướng chi tâm, hữu hình hữu tướng chi giả, tức Hoàn Nguyên hĩ.

Vận thủ vô biên, vô nhai chi nguyên khí, điểm hóa ngã tứ đại chi hình khu, tức Phản Bản hĩ. Phản bản tức thị Tu Chân.

Tiên học, tr. 67.

[47] 就 是 與 道 合 真。。。故 聖 賢 仙 佛 體 天 地 之 心。

Tu chân tiệp cảnh, tr. 9b.

[48] 換 骨 回 陽 身 不 朽, 九 還 七返 化 真 形。 辛 苦 都 來 十

筒 月,內 外 虛 明 表 裡 真。 聚 則 成 形 散 則 氣, 返

本 還 元 歸 太 清。變 化 往 來 人 莫 測, 祖 祖 相 傳 古 至 今。

Hoán cốt hồi Dương thân bất hủ,

Cửu Hoàn, Thất Phản hoá chân hình.

Tân khổ đô lai thập đồng nguyệt,

Nội ngoại hư minh biểu lý chân.

Tụ tắc thành hình, tán tắc Khí,

Phản bản, hoàn nguyên qui Thái Thanh.

Biến hóa vãng lai nhân mạc trắc,

Tổ tổ tương truyền cổ chí câm.

Phá mê chính Đạo ca.—Tiên học, tr. 124

[49] 出 有 入 無 無 阻 礙,

 蓬 萊 三 島 任 飛 行

 縱 經 百 千 萬 年 劫

 海 變 桑 田 貌 不 更。

Tiên Học, tr. 124

[50] Thiên địa dữ Ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ Ngã vi nhất.

Nam hoa Kinh, Tề vật luận, 2 E. Xem Léon Wieger, Les Pères du Système Taoiste, Tchoang tseu, chapitre 2, E… p. 220.

[51] Ký dĩ vi nhất, thả đắc hữu ngôn hồ. Chapitre 2, E. p. 220

Thị cố hoạt nghi chi diệu, thánh nhân chi sở đồ dã. D p. 220

Phương khả, phương bất khả, phương bất khả, phương khả. Nhân thị, nhân phi, nhân phi, nhân thị…

Tề Vật Luận, C. p. 218

[52] Thục tri bất ngôn chi biện, bất Đạo chi Đạo. 2 E. p. 222

[53] Nhĩ văn địa lại, nhi vị văn thiên lại phù. 2 A p. 214

[54] Thánh nhân bất tòng sự ư vụ…nhi du hồ trần cấu chi ngoại. 2 G. p. 222—223

Thánh Nhân ngu truân, tham vạn tuế, nhi nhất thành thuần 2 G p. 224

[55] Đại trạch phàn nhi bất năng nhiệt, hà hán hộ nhi bất năng hàn. 2 F, p. 224.

[56] Nhi du hồ tứ hải chi ngoại, tử sinh vô biến ư kỷ. 2 F, p. 222.

[57] Bỉ thị mạc đắc kỳ ngẫu, vị chi Đạo Khu. Khu thủy, đắc kỳ Hoàn Trung dĩ ứng vô cùng. 2 C, p. 218

[58] Thĩ dĩ Thánh Nhân hoà chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên Quân, thị chi vị lưỡng hành. 2 C, tr. 218.

[59] Thiên hạ mạc đại ư thu hào chi mạt, nhi đại sơn vi tiểu. Mạc thọ hồ thương tử, nhi Bành Tổ vi yểu. 2 E, p. 220.

[60] Vong niên, vong nghĩa, chấn ư vô cảnh, cố ngụ chư vô cảnh, 2 H, p. 226.

[61] Nhược hữu năng tri, thử vị chi Thiên Phủ, chú yên nhi bất mãn, chước yên nhi bất kiệt, nhi bất tri kỳ sở do lai, thử chi vị Bảo Quang, 2 E, p. 222.

[62] Viên biên thư dĩ vi thư, mê dữ lộc giao, thu dữ ngư du, Mao Tường, Lệ Cơ, nhân chi sở mỹ dã, ngư kiến chi thâm nhập, điểu kiến chi cao phi, mê lộc kiến chi quyết sậu.

2 F, p. 222.

[63] Thị dĩ Thánh Nhân hoà chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên Quân.

2 C, p. 218.

—Thiên tại nội, nhân tại ngoại, ..vô dĩ nhân diệt Thiên. Ch. 17, Tại hựu, A, p. 342

[64] Chung thân dịch dịch nhi bất kiến kỳ thành công, niết nhiên bì dịch nhi bất tri kỳ sở quy, khả bất ai da? 2 B, p. 216.

[65] Phù tùy kỳ thành tâm nhi sư chi, thùy độc thả vô sư hồ? 2 B, tr. 216.

[66] Thử chi vị Bảo Quang . 2E, p. 222

[67] Hóa thanh chi tương đãi, nhược kỳ bất tương đãi, hóa chi dĩ Thiên Nghê. 2 H,p. 226.

[68] Vong niên, vong nghĩa, chấn ư Vô Cảnh. 2 I, 226.

[69] Phù Đại Đạo bất xưng, đại biện bất ngôn. 2 E, tr. 222

[70] Thục tri bất ngôn chi biện, bất đạo chi Đạo. 2 E, tr.222

[71] Kim giả, ngô táng ngã. 2 A, p. 214.

[72] Thánh nhân bất tùng sự ư vụ, bất tựu lợi, bất vi hại, bất hỉ cầu. 2 G, p. 222—224.

[73] Nhược nhiên giả, thừa vân khí, kỵ nhật nguyệt nhi du hồ tứ hải chi ngoại, tử sanh vô biến ư kỷ. 2 E, tr. 222.

Hề bàng nhật nguyệt, hiệp vũ trụ vi kỳ vẫn hợp. 2 G, tr. 224.

[74] Chúng nhân dịch dịch, thánh nhân ngu truân, tham vạn tuế nhi nhất thành thuần. 2 G, tr. 224.

[75] Xem 2 D, từ Cổ chi nhân tri hữu sở chí hĩ….đến vị thủy hữu thị phi dã. p. 218.

[76] Thánh Nhân hòa chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên Quân. 2 C, p. 218.

*************           

CHƯƠNG XVI

ĐẠI CƯƠNG ĐẠO PHẬT

Đạo Phật, cũng như mọi Đạo có một có một quá trình lịch sử lâu dài, tuy do một Giáo chủ khởi xướng, nhưng kỳ thực là công trìnhcủa biết bao con tim, khối óc, trải qua bao thời đại.

Cho nên Đạo Phật, cũng như các Đạo, dần dà trở thành muôn mặt, cái hay chen cái dở, cái thấp lẫn cái cao, phản ảnh đúng mọi sắc thái, mọi trình độ của con người muôn mặt.

Bởi thế, trong công trình khảo cứu Phật giáo, nếu muốn tìm tòi, lượm lặt ít nhiều khía cạnh phiến diện thì dễ, nhưng nếu muốn đi tìm tinh hoa Phật Giáo mà không có bí quyết thì cũng ví như mò trăng đáy nước, hái sao trên Trời.

Không có những tiêu chuẩn chắc chắn để khảo cứu Phật Giáo, ta sẽ quanh quất, lạc lõng trong rừng thư tịch Phật Giáo, mà chẳng còn biết đâu là lối thoát, nẻo ra; sẽ chuốc mua, đeo đẳng vào thân muôn dây rợ tu trì, mà chẳng sao gỡ được ra; sẽ nghiện ngập, say sưa lời kinh, câu kệ, mà không sao chinh phục được tự do, khinh khoát.

Nhưng nếu ta có kim chỉ nam mà đi vào học thuyết Phật giáo, ta sẽ ung dung lui tới, tung hoành dọc ngang mà chẳng sợ lạc đường, lạc đích, ta sẽ dễ dàng gạt bỏ những phù hoa, bác tạp bên ngoài, mà thâu thái lấy tinh hoa, vi diệu bên trong.

Chúng ta sẽ khảo sát:

A.Những điều kiện tiên quyết để khảo cứu Phật giáo cho có hiệu quả.

B.Siêu hình học Phật Giáo.

C.Tối thượng thừa Phật giáo.

ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐỂ KHẢO CỨU PHẬT GIÁO
CHO CÓ HIỆU QUẢ.

1. Muốn khảo cứu Phật Giáo cho tới căn để, cần phải thông minh, linh lợi, và cần có một nền tảng học vấn vững chãi.

Triết lý Phật giáo cao siêu, nếu không thông minh, linh lợi, không học nhiều, biết rộng, làm sao thấu triệt được?

2. Cần có một tinh thần vô tư, vô uý khi khảo sát Phật Giáo.

Phật nói trong kinh Kalamasutta: “Đừng nên vội tin những lời đồn thổi, những lời truyền tụng lưu lai tự cổ thời; những phong thanh, những lý lẽ, những suy luận hữu lý, những hình thức bên ngoài; những dư luận, trào lưu đang được sùng thượng, những giả thuyết, những ức đoán; và cũng đừng tin bởi cho ta là sư phụ. Nhưng nếu kinh nghiệm bản thân chư vị thấy điều chi là xấu, điều chi làm cho chư vị tần phiền, khổ cực, thì hãy vứt bỏ nó đi. Còn nếu chư vị thấy điều nào là hay, là hoàn toàn không chê trách được, và sẽ đem lại cho chư vị thảnh thơi, giải thoát, thì chư vị hãy đem thực thi, áp dụng.” [1]

3.Thế tức là Phật dạy phải lấy lương tâm, lương tri mình làm đuốc sáng soi cho mình, phải trọng lương tâm, lương tri mình, hơn mọi sách vở, mọi truyền thống.

Thế mới hay:

“Thần thánh ngàn xưa đều quá vãng,

Tâm ta, mới thực chính thầy ta” [2]

4.Phật bảo A Nan: “…Các Ông là nam tử, đã học rộng, biết nhiều, mà trở lại chấp chỗ thấy, nghe suông, chẳng biết tiến tu, sao tự khinh mình đến thế!” [3].

Như vậy, ta phải biết tự tôn, tự trọng, đừng quá khinh khi mình và đừng quá tán dương Phật. [4]

Phật nói: “Bạn là Phật đang thành, Ta là Phật đã thành” [5], chứ Phật không hề nói: “Hỡi loài người mê muội kia, từ nay hãy thờ lạy ta, vì ta đã được siêu thoát, giác ngộ…”

5.Phải có thành tâm thiện chí, cố gắng khảo sát, để tìm tinh hoa, để tìm những điều huyền vi, áo diệu, chứ không phải để thu lượm thêm ít nhiều sáo ngữ, thêm vài khái niệm phù phiếm, hay thêm ít câu chuyện làm quà.

6.Muốn giải thoát, cần phải hiểu đường lối, tôn chỉ, cần phải giác ngộ, cần phải chuyển hoá tâm hồn, hồi quang phản chiếu, tập trung tinh thần cho thoát ly hình tướng, chứ không phải hành hạ xác thân, tụng niệm đến rát cổ, bỏng họng.

Phật nói: “Bao lâu con người còn ở trong lưới mê vọng, sẽ chẳng sao mà được thanh tịnh, mặc dầu khảo cứu thánh thư, cúng dường thần thánh, ăn chay, nằm đất, thức đêm, thức hôm, hay trì tụng kink kệ.”

“Bố thí cho kẻ tu hành, hành hạ thân xác, lễ bái, cúng quải, cũng không làm cho thanh tịnh được những kẻ mà lòng còn đầy ham muốn vị kỷ. Chẳng phải do ăn thịt cá, mà con người trở nên ô trọc, nhưng chính ô trọc vì say sưa, ương bướng, cố chấp, gian lận, ghen tuông, kiêu căng, tự thị, khinh khi, hay có đầy ác ý.” [6]

7. Phải tìm hiểu từ ngữ Phật Giáo.

Nếu không hiểu từ ngữ, làm sao quán triệt được ý nghĩa.

Kinh Lankavatara-Sutra viết: “Những kẻ ngu muội sa lầy trong từ ngữ, như voi sa lầy trong đống bùn.” [7]

8.Khảo cứu Phật Giáo muốn cho thấu đáo, cần mở con tim, khối óc cho rộng rãi; cần phải am tường các học thuyết Đông Tây, kim cổ, để phối kiểm, để tìm cho ra chỗ đồng qui, nhất trí; cần hiểu cho thấu đáo về con người, vì không có học thuyết nào vượt quá được con người toàn diện. [8]

9.Nhiều người chỉ hiểu Phật giáo một cách tiêu cực.

Họ cho rằng: đời là bến mê, bể khổ nên cần thoát ly đời. Họ cho rằng: sinh ra đời là cái tội nợ, hứng lấy biết bao luân hồi, nghiệp chướng, coi thân tứ đại giả hợp là ô trọc, cho nên họ sợ đời, sợ mình; bè bạn cùng khói hương kinh kệ, cố làm cho lòng mình héo hon, cô quạnh, xác thân mình ốm o, gầy mòn, tưởng thế là đắc đạo, thành Phật. Họ muốn đi tìm tự do, hạnh phúc, mà thực tình đã tự rước cho mình biết bao giây rợ, trói buộc, khổ đau. Thực đáng thương thay!

Nhưng thực ra, chủ trương của Phật đâu có âu sầu, ảm đạm, trì trệ, tiêu cực như vậy.

Phật, cũng như các Thánh Triết mọi nơi, mọi đời, đã cố gắng vạch cho nhân loại con đường vinh quang và hạnh phúc, một nếp sống vô biên, vô tận, vĩnh cửu, trường tồn.

Tuy sống giữa phù hoa của cuộc đời vương giả, Phật đã cảm thấy sâu xa sự chất chưởng của vinh quang, phú quí bên ngoài; Phật muốn đi tìm một cái gì cao siêu và vĩnh cửu.

Sống trong biến thiên, tương đối, Phật đã phát nguyện tìm cho ra hằng cửu, tuyệt đối.

Nhìn thấy mọi nỗi đau thương chết chóc của nhân quần, Phật đã phát nguyện tìm cho ra hạnh phúc và trường sinh.

Thấy con người bị trói buộc, nô lệ, Phật đã phát nguyện tìm cho ra tự do, giải thoát.

Vậy ta sẽ theo lối đường của Phật mà đặt lại những vấn đề then chốt của cuộc đời.

10. Như trên đã nói, sống trong biến thiên,, chất chưởng, tương đối, dĩ nhiên sẽ phải lệ thuộc, sẽ không thể nào được hạnh phúc bền bỉ, như vậy, muốn được tự do, hạnh phúc, trường tồn, tất nhiên phải tìm cho ra tuyệt đối hằng cửu, bất biến.

Phật nói: “Hỡi các tì kheo, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao giải thoát được những cái sinh, thành, ỷ, tạp. Nhưng vì có thực trạng ấy, nên có đường thoát cho những cái sinh, thành, ỷ, tạp.” [9]

Vậy chúng ta phải tìm cho ra thực trạng ấy. Nó sẽ là Chân Lý tuyệt đối, chân lý rốt ráo, nó sẽ gỉai thoát ta. Đó là chính Niết Bàn ta tìm kiếm. [10]

*************           

CHÚ THÍCH

[1] Présence du Bouddhisme, p. 245.

[2] Thiên thánh giai quá ảnh,

Lương tri nải ngô sư. (Vương dương Minh)

 千 聖 皆 過 影

 良 知 乃 吾 師

[3] Thủ Lăng Nghiêm , Hướng Đạo xuất bản, tr. 121.

[4] Các bậc Như Lai chỉ có làm cái việc là chỉ đường thôi: mỗi người phải tự mình đi đến chứ không ai đi thế cho ai được cả.

Phật học tinh hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 59

Vous devez faire votre travail vous—mêmes, les Tathagata enseignent seulement le chemin.

Présence du Bouddhisme, p. 261; Dhammapada XX, 4.

[5] Nhữ thị đương thành Phật, ngã thị dĩ thành Phật. 汝 是 當 成 佛 ; 我 是 已 成佛

Phật học tinh hoa, Nguyễn Duy Cần, p. 54.

[6] “L’homme pris dans le filet de l’aveuglement ne sera jamais purifié par la simple étude des Écritures Saintes, ou par des sacrifices aux dieux, non plus que par les jeunes ou par le sommeil sur la terre nue, par des veillées difficiles et fatigantes ou par la répétition des prières…”

“Ni les donations aux moines, ni le châtiment de soi—même, ni l’accomplissement de rites et de cérémonies ne sauront purifier celui dont le coeur connait encore le désir égoiste. Ce n’est certainement pas par la consommation de la viande ou du poisson qu’un homme devient impur mais bien par ivresse, obstination, bigoterie, fraude, envie, exaltation de soi—même, mépris des autres et mauvaises intentions. C’est par ces choses—là que l’homme devient impur…”

Présence du Bouddhisme, p. 245.

[7] Les ignorants se laissent engluer dans les mots comme un éléphant dans la boue.

[8] Cáo Thần Tông viết: “Tiên Thánh, hậu thánh, nhược hợp phù tiết; phi truyền Thánh Nhân chi Đạo; truyền Thánh Nhân chi tâm dã; phi truyền Thánh Nhân chi tâm dã; truyền kỷ chi tâm dã. Kỷ chi tâm quảng đại vô hạn, vạn thiện giai bị. Dục Thánh Nhân chi Đạo, khuếch sung thử tâm yên nhĩ.”

告 神 宗 曰﹕ 先 聖 後 聖 若 合 符 節; 非 傳 聖 人

之 道 ,傳 聖 人 之 心 也; 非 傳 聖 人

之 心 也,傳 己 之 心 也。 己 之 心 廣 大 無 限, 萬 善 皆 備。

欲 聖 人 之 道 , 擴 充 此 心 焉 爾 。

Trùng biên, Tống Nguyên Học Án, q. 1, tr. 144.

Thiên Thánh nhất Tâm, vạn cổ nhất Đạo.

千 聖 一 心, 萬 古 一 道.

Tính Mệnh khuê chỉ, q. 2, tr. 1

Đạo (tức Chân Lý). Giá cá đông tây thị chỉ năng hữu nhất cá đích. Cao Hoàng đàm luận Nhu, Phật, Đạo tam giáo thời thuyết: Thiên hạ vô nhị Đạo, Thánh Nhân vô nhị tâm.

… 道(即 真 理) 。 這 箇 東 西 是 只 能 有 一 箇 的。

高 皇 談 論 儒 佛 道 三 教 時 說 ﹕ 天 下 無 二 道 ; 聖 人 無 二 心.

Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. 1. tr. 15.

[9] “O moines, il y a un état non-né, non-devenu, non-conditionné, non-composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non—né, non-devenu, non-conditionné, non—composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné, et ce qui est composé”

“Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné et de ce qui est composé.”

Udana, p. 129. Colombo, 1929. Présence du Bouddhisme, p. 268.

[10] “O moines, le Nibbana qui est la Réalité, est l’ultime Noble Vérité…”

… “il n’y a plus de places ici pour les quatre éléments , solidité, fluidité, énergie, mouvements; les notions de longueur et de largeur, de subtil et de grossier, de bon et de mauvais, de Nom et de Forme, sont absolument détruites; on n’y trouve les notions ni de ce monde, ni de l’autre, ni de venir, ni de partir, ni de rester, ni de mort, ni de naissance, ni des objets des sens.”

Digha-nikaya I, p. 172 (Colombo 1921);

Udana page 128 (Colombo 1929); Présence du Bouddhisme p. 267.

*************           

CHƯƠNG XVII

SIÊU HÌNH HỌC PHẬT GIÁO

A. Chân lý tuyệt đối:  Chân Như Bản Thể.[1]

Chánh Pháp Nhãn Tàng
 正 法 眼 藏

Niết Bàn diệu tâm
 涅 槃 妙 心

Thật tướng vô tướng
 實 相 無 相

Pháp môn vi diệu
 法門 微 妙

Bất lập văn tự
 不 立 文 字

Giáo ngoại biệt truyền
 教 外 別 傳

Trực chỉ nhân tâm
 直 指 人 心

Kiến tính thành Phật.
 見 性 成佛

 (Kinh Đại Phạm Thiên-Vương ; Vấn quyết)

Dưới mắt phàm nhân, đời là một cuộc phiêu lưu, biến ảo, vô định hướng

Trên dòng nước lũ thời gian và hoàn cảnh, con người cảm thấy mình như hoa trôi, bèo gịat, bềnh bồng mặt nước, chân mây mà chẳng biết tấm thân phù du sẽ trôi nổi về đâu.

Nhưng thực ra, đời đâu chỉ có thế. Thay vì ngồi than thân, trách phận, ta hãy cố nhìn cho sâu vào đáy lòng ta và đáy lòng vũ trụ, ta sẽ thấy dưới những lớp lang hiện tượng, và tâm tư biến ảo không cùng, còn có một Bản Thể duy nhất, vi diệu, bất biến.

Đó là một khám phá vĩ đại mà từ những thời đại xa xưa, cùng tịt, các thánh hiền, các bậc thượng trí, thượng nhân đạ truyền thụ lẫn cho nhau.

Phật là một trong những vị Đại Hiền đã tìm lại được Bản Thể của Vũ trụ và Bản Thể của con người.

Bản Thể hay Tuyệt Đối Thể ấy có trước muôn vật, vắng vẻ, nhiệm mầu qua muôn kiếp vẫn trường tồn, cho dầu muôn nghìn thế giới có ngả nghiêng, tan rã, cũng không hề suy suyển.[2]

Người xưa có thơ:

Hữu vật tiên thiên địa
 有 物 先 天 地

Vô hình bản tịch liêu
 無 形 本 寂 廖

Năng vi vạn tượng chủ
 能 為 萬 象 主

Bất trục tứ thời điêu
 不 逐 四 時 凋 [3]

Tạm dịch:

Ấy chi có trước đất trời,

Vô hình, vô tượng, tuyệt vời tịch liêu.

Chủ trương vạn tượng, vạn điều,

Quang hoa điên đảo, chẳng siêu, chẳng rời.

Tuyệt đối thể, Bản Thể toàn chân, không hư vọng đó, Phật Giáo gọi là Chân Như . Đó cũng là Chánh Pháp Nhãn Tàng (Thiền Tông), Bản Tính Di Đà (Liên Tông), tương ứng với những danh từ Thái Cực, Thiên Lý trong Khổng giáo và Kinh Dịch, Cốc Thần trong Đạo Lão.[4]

Chân Như duy nhất, không bóng hình, không danh hiệu, nhưng những hình bóng để mô tả Chân Như, những danh hiệu để mô tả Chân Như thì vô vàn, vô số.

Nhưng thực ra, nhân loại luôn cảm thấy mình bất lực, bất xứng để hình dung mô tả Chân Như.

Cũng vì vậy, mà đứng trước vấn đề trọng đại ấy, nhiều triết gia đành ngậm miệng, gác bút, vì cho rằng như vậy mới thành thực với mình, vì như vậy mới là thái độ chính đáng đối với Chân Như tuyệt đối, siêu việt trên mọi hình thức, sắc tướng, không lời lẽ nào mô tả cho xiết, không giấy bút nào diễn xuất cho cùng. [5]

Cũng có khi Chân Như được đề cập tới bằng những từ ngữ hết sức tiêu cực như Hư Vô, Tịch Diệt, như Hư, Không v.v…vì lẽ Chân Như hư linh, bất muội, vô ảnh, vô hình, không mê vọng, không chấp trước, tịch nhiên, bất động giữa mọi biến thiên, mà vẫn làm cho muôn vật thành tựu. Giáo lý của Đức Phật nói: Từ cái gốc của Vô Trụ dựng nên tất cả các pháp. [6]

Hư không, hay Chân Không đây không phải là “không có”, “không không” theo nghĩa thông tục, mà chính là “diệu hữu hàm tàng muôn vật” [7]

Suzuki viết: “Không” là một trong những vấn đề quan trọng nhất của triết học Đại Thừa, và là một chữ rắc rối nhất, khó hiểu nhất, cho những người không phải là Phật Tử: “Không” không có nghĩa là “tương đối, tương đãi” hay là sắùc tướng, hay là hư vô, hư không mà chính là Tuyệt đối, tuyệt đãi, siêu việt, bất khả tư nghị. Nó chính là Chân Như Bản Thể. [8]

Nhưng vì Chân Như Bản Thể rất quan thiết với nhân loại, nên cần dùng hình dung, từ ngữ để đem Chân Như xuống tới tầm suy tư của con người. Do đó, theo đà thời gian, Chân Như đã được mô tả bằng đủ loại danh từ: triết học, toán học, hình học, văn học, thậm chí còn được nhân cách hoá thành Đại Nhật Như Lai (Vairocana) [9], hay Chuyển Luân Thánh Vương (Cakravartin), [10] điều động bánh xe vạn hữu.

Tóm lại, Chân Như không bóng hình, mà vẫn cho con người thấy dáng dấp linh lung phiểu diểu, trong muôn ánh hào quang từ ngữ.

Để khỏi bỡ ngỡ khi tham khảo kinh sách Phật Giáo, ta có thể ghi lại ít nhiều danh hiệu của Chân Như bằng mấy vần thơ sau:

Niết Bàn, [11] Nguyên Thanh Tịnh Thể, [12] Như,[13]

Bản lai Diện Mục, [14] A Lại Da, [15]

Thực tướng, [16] Pháp Thân, [17] Bản, [18] Bát Nhã, [19]

Yểm ma la thức, [20] A đà Na, [21]

Trung Đạo, [22] Phật Tánh, [23] Tâm Bình Đẳng, [24]

Đại Viên Cảnh Trí,[25] Chân Tính, [26] A, [27]

Chân Thiện Diệu Sắc, [28] Hàm Tàng Thức, [29]

Không, Như Lai Tạng,[30] Tâm Chân Như. [31]

Thường trụ Chân Tâm, [32] Nguyên Thường, [33],Pháp,[34]

Viên Thành Thực Tính, [35] Bản Tâm, [36] Hư, [37]

Lý, [38] Tất cảnh không, [39] Như Lai Tạng, [40]

Thường trụ Chân Như Tâm, [41]Thực Tế, [42]

Chánh Pháp Nhãn Tàng, [43] Tính, [44] Chân Như, [45]

Bồ Đề, [46] Thắng Nghĩa, [47] Như Lai, [48] Tướng, [49]

Chân Thiện, [50] Chân Đế, [51] Thể, [52] Nhất Như [53]

Lục Đại, [54] Chân Tâm, [55] Vô, [56] Giác Tính, [57]

Nhất Tâm Pháp Giới, [58] Không, [59] Như Như, [60]…

Trên đây là mới tạm ghi ít nhiều danh hiệu Chân Như, nếu có công suy cứu thêm, chắc là còn vô số. [61]

Ở trong hoàn võ, Chân Tâm hay Tự Tính ấy sinh ra vạn pháp, sinh ra mọi hiện tượng; còn ở trong con người, cũng một Chân Tâm ấy sinh ra tất cả các tư tưởng, cảm giác, sinh ra giác quan, v.v…[62]

Chân tâm là tất cả. Ngược lại, không thể nói cái gì là Chân Tâm, hay Chân Tâm ở đâu, vì Chân Tâm là Tất Cả, vì Chân Tâm đã ở khắp nơi. [63]

Chân Tâm này chính là Brahma, là Tuyệt Đối Thể trong kinh Áo Nghĩa Thư, vì đọc các định nghĩa về Brahma trong Áo Nghĩa Thư, ta thấy y thức như các định nghĩa về Chân Tâm trong các kinh Phật. [64]

Thực ra, sau khi đã bàn giải về Chân Tâm, Chân Như, các kinh sách lại cho rằng Chân Tâm không thể nào bàn giải được, vì Chân Tâm bao gồm tất cả các từ ngữ, sắc tướng, thì biết nói sao, tả sao cho nổi Chân Tâm được; đã mô tả được, đã hình dung được, thời nhất định chẳng phải là Chân Tâm nữa. [65]

B. Vạn Pháp = Hình ảnh biến thiên của Chân Như.

Nhưng ngoài Chân Như hằng cửu, tế vi, mà chỉ tâm thần mới lĩnh hội được, mà chỉ những bậc thượng trí, thượng nhân mới trực giác được, còn có vạn vật hữu hình, sinh sinh, hoá hoá, còn có muôn ngàn trạng thái tâm tình, còn có muôn dòng tư tưởng đổi đổi, thay thay. Các triết gia Phật giáo gọi thế là Vạn Pháp.

Nói cách khác, Vạn Pháp là tất cả những gì biến thiên, sinh diệt. Nó bao quát tất cả những gì ta hình dung được, nhận thức được, cảm giác được, kể từ những tâm tư bí ẩn, những tư tưởng, những hoài bão, cho đến thất tình, lục dục, cho đến xác thân, cho đến mọi loài, mọi vật hữu hình, hữu tướng.

Vạn Pháp biến thiên không ngừng, nay còn, mai mất, phù du, chất chưởng như những bức tranh vân cẩu, lúc hoàng hôn. Vạn Pháp chẳng qua là những biến hoá, những trạng thái vô thường của Bản Thể Chân Như, y thức như những ngọn sóng bạc đầu, rung rinh, nhào lộn trên trùng dương Bản Thể vĩ đại.

Vạn Pháp có thể nói được là những trạng thái nhất thời, là hình tướng nhất thời của Bản Thể Chân Như.

Chúng sở dĩ có là nhờ Chân Như Bản Thể, chứ chúng không có Bản Thể riêng biệt. Chúng biến thiên, nên không thể nào vĩnh cửu.

Vì thế mới nói:

Chư pháp vô ngã.

Chư hạnh vô thường. [66]

Vạn Pháp biến thiên, nhưng thực ra theo những định luật cố định là:

— Định luật Nhân quả (loi de causalité)

— Định luật: Sinh (thành), trụ, hoại, không.

— Định luật Tuần Hoàn (loi du cycle).

— Định luật Tụ Tán, Vãng Lai, Phản Phục, Doanh Hư, Tiêu Tức.[67]

Vì thế, có thể nói được là Vạn Pháp ở trong vòng Luân Hồi, trong vòng Sinh Tử, Tử Sinh, còn mất, vô thường.

C. Tương quan giữa Bản Thể và Hiện Tượng.

Vì quan niệm vũ trụ hay vạn pháp chỉ là sự thể hiện của Chân Như, chỉ là những ứng dụng của Bản Thể, hay là những trạng thái biến thiên của một Thực Tại duy nhất, cho nên Phật Giáo thấy không cần đặt vấn đề tạo thành vũ trụ. Phật nói: “Này các vị, đừng thắc mắc rằng thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, cõi đời này là hữu cùng hay vô cùng. Dù nó là hữu hạn hay vô hạn, hữu cùng hay vô cùng, thì điều mà các vị phải thừa nhận trước hết vẫn là, cuộc đời đang đầy rẫy những đau khổ.” (Kinh A Hàm)

Thực ra, sau này, cũng có nhiều triết thuyết cắt nghĩa những cung cách Bản Thể biến hiện ra hiện tượng như sau:

—Thuyết nghiệp cảm duyên khởi.

—A Lại Da duyên khởi.

—Chân Như duyên khởi.

—Pháp giới duyên khởi.

—Lục đại duyên khởi v.v…

Nhưng thiết tưởng không nên bận tâm vì những giả thuyết ấy, trước là vì chúng cũng như các giả thuyết khác về sự sáng tạo vũ trụ khó có thể kiểm nhận bằng thực nghiệm, hoặc đã bị sụp đổ, vì những khám phá mới về địa chất học, hay về nhân chủng học; sau là vì những giả thuyết ấy chỉ làm bận tâm, rối trí ta và không soi sáng được gì cho ta cả.

Mục đích của chúng ta là chuyển hoá cuộc đời, chuyển hoá bản thân, giải thoát mình cho khỏi vòng vô minh, dục vọng để đạt đến an lạc, trí tuệ, chứ không phải là đi tìm tên tuổi của trăng sao, hay lạc lõng vào những lý thuyết vô vị.

Vả lại đã chấp nhận Bản Thể biến hiện ra hiện tượng, thì khỏi cần phải thắc mắc tại sao Bản Thể biến hiện ra Hiện Tượng, biến hiện cách nào, tự bao giờ và cho đến bao giờ.

Một sự khảo sát về tương quan đối đãi giữa Bản Thể và Hiện Tượng, có lẽ sẽ hữu ích hơn. Nếu chúng ta dùng con mắt phân biệt mà nhìn Bản Thể và Hiện Tượng, thì ta thấy đôi đàng khác nhau như trời với vực, như sáng với tối…

Chân Như trường tồn, bất sinh, bất diệt, tuyệt đối, vừa là nguyên nhân, vừa là cứu cánh; vừa là thực tại, vừa là lý tưởng, là Thanh Tịnh, là Niết Bàn. [68]

Còn Vạn Pháp đều vô thường, vô ngã, biến thiên, uế tạp, luân hồi. [69]

Cái nhìn phân tích giữa Bản Thể và Hiện Tượng.

Chân Như—Bản Thể Vạn Tượng—Vạn Pháp (Réalité—Être) (Manifestations—Phéno— (Natura naturans) mènes) Natura naturata) 1.—Bản thể—Tiềm thể 1.—Hình thức—Sắc tướng 2.— Viên Giác 2.— Mê vọng 3.—Niết Bàn 3.—Khổ hải—Sinh tử 4.—Nhất nhất—Như như 4.—Vạn hạnh—Vạn pháp 5.—Chân Tâm 5.—Vọng Tâm 6.—Vô Vi 6.—Hữu Vi 7.—Vô Lậu 7.—Hữu Lậu 8.—Vô trụ—Vô trước 8.—Chấp trước 9.—Chân Như Môn 9.—Sanh Diệt Môn 10.—Cảnh giới tịch diệt 10.—Cảnh giới vô thường 11.—Lý 11.—Sự 12.—Ngã 12.—Vô ngã 13.—Thường 13.—Vô thường 14.—Tịnh độ 14.—Uế độ 15.—Giải thoát 15.—Phiền trược 16.—Không 16.—Sắc 17.—Bồ—Đề 17.—Phiền não 18.—Đại Dương 18.—Ba lãng (Sóng) 19.—Tuyệt đối 19.—Tương đối 20.—Bình đẳng giới 20.—Sai biệt giới 21.—Tuyệt đối giới 21.—Tương đối giới 22.—Chân 22.—Giả v.v… v.v…
Những phân tách đó chỉ là giả tạo; phân tách cốt là để nhìn cho thấy thấu đáo thực tế, để biết đường phản bản qui nguyên, khế hợp cùng tuyệt đối. Nhưng khi đã thấu đáo, đã giác ngộ, thì ngược lại, phải có cái nhìn bao quát, phối hợp, vì Chân Như Bản Thể hằng lồng trong Vạn Pháp, Vĩnh Cửu luôn ẩn áo dưới lớp BiếnThiên; vì không thể tách rời Chân Như Bản Thể với Hiện Tượng ứng dụng được.

Vì thế có thể nói được:

—Chân Như tức Vạn Pháp. [70]

—Bản thể tức Hiện Tượng.

—Hiện Tượng là Bản Thể.

—Sinh tử là Niết Bàn.

—Phiền Não tức Bồ Đề. [71]

—Chư Pháp tức thị Chân Tướng.[72]

—Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.

—Nhất Đa tương dung. [73]

Thượng sĩ đời Trần có thơ:

Tòng Vô, hiện Hữu, Hữu, Vô thông,

Hữu, Hữu, Vô, Vô, tất cảnh đồng.

Phiền não, Bồ Đề nguyên bất nhị,

Chân Như, Vọng Niệm tổng giai không.

Tạm dịch:

Từ không, ra Có, Có Không thông,

Có Có, Không, Không mọi cảnh đồng.

Phiền Não, Bồ Đề nguyên vẫn một,

Chân Như, Vọng niệm, thảy đều không. [74]

Triết học Zen cũng có câu: Tâm vật nhất như, thân tâm nhất thể, [75] chẳng qua cũng không ngoài ý đó…

Cái nhìn bao quát thực tại:

—Chân Như tức Vạn Pháp.

—Bản thể là Hiện Tượng.

—Hiện Tượng là Bản Thể.

—Sinh tử là Niết Bàn.

—Phiền Não là Bồ Đề.

—Chư Pháp tức thị Chân Tướng.

—Sắc tức thị Không; Không tức thị Sắc.

—Tâm vật nhất như, thân tâm nhất thể.

—Tâm tức Phật, Phật tức Tâm v.v…

—Nhất đa tương dung.

—Lý Sự vô ngại. [76]

—Chủ Bạn cụ túc. [77]

Khi có cái nhìn viên dung ấy, thì Bản Thể và Hiện Tượng sẽ không còn phân ly chống đối nhau nữa. Chân Như sinh xuất ra Vạn Hữu, Vạn Hữu qui hướng về Chân Như; một trong, một ngoài, một ẩn, một hiện; tương dung, tương ứng, hoà hợp vô cùng. Hiện tượng sẽ đóng vai trò hỗ trợ, phụ bật bên ngoài. Chân Như Bản Thể chủ trì sinh hoá bên trong: thật là Lý Sự Vô Ngại; [78] và dưới mắt người có cái nhìn bao quát, vũ trụ và nhân quần sẽ trở thành những vần thơ, điệu nhạc, biến ảo khôn cùng; càng biến ảo lại càng tăng vẻ thần kỳ, linh hoạt; vạn hữu sẽ trở thành những âm thanh huyền ảo, những kỷ vật hữu tình, nhắc nhớ tới Bản Thể tuyệt đối; nhắc nhớ tới sứ mạng cao cả của con người là tiến tới bậc đại trí, đại giác. Hơn nữa, chúng sẽ trở thành những ngọc châu nạm trên con đường muôn dặm của con người trở về cùng Bản Thể tuyệt dối.

Đạo Lão gọi thế là Phổ Chiếu, nghĩa là “Diệu Kiếu Tề Quan”, nhìn thấy rõ cả cái Vi diệu Tuyệt Đối, cả cái Biến Thiên, hữu hạn. [79] Nho gọi thế là “Thể Dụng nhất Nguyên, Hiển Vi vô gián”. [80]

Hiểu được Chân Tâm, Vọng Tâm, hay Chân Như, Vạn Pháp, hay Bản Thể và Hiện Tượng, sẽ hiểu được 2 chữ Có, Không, Không Có của Phật giáo.

Hiện Tượng, hay Vạn Pháp, hay ở nơi con người là Vọng Tâm, là muôn nghìn suy tư, ước muốn, tình tứ, cảm giác, tưởng như là có, vì hữu hình, hữu tướng, mà kỳ thực lại là không, nếu xét về phương diện siêu hình, vì thế Vạn Hữu lại là không.

Trái lại, Bản Thể hay Chân Tâm, vì nghe không ra, nhìn không thấy, không sắc, không hình, tưởng là “không”, mà thực chính là “có”. Cái “không”, không hình, không sắc này mới chính là cái “có thật”.

Còn muôn sự ở đời “có” mà lại là “không”, vì chất chưởng, biến thiên nay còn mai mất, như giấc mộng. Thế mới hay:

Có thì có tự mảy may,

Không thì cả thế gian này cũng không.

Kìa xem bóng nguyệt giòng sông,

Rồi ra mới biết có không là gì. [81]

*************           

D. Bờ Mê, Bến Giác.

Hiểu Chân Tâm, Vọng Tâm, Bản Thể và Hiện Tượng, ta sẽ hiểu được đâu là Bờ Mê, đâu là Bến Giác.

Bờ Mê là cõi phù sinh, ảo ảnh, là hình thức, sắc tướng, là những sự giao động của tinh thần, vật chất.

Bến giác, tức là Bến Bờ tĩnh lãng của Bản Thể vô biên, nơi mà tục luỵ, hồng trần không sao lọt vào được.

Con người chỉ được giác ngộ, chỉ trở nên toàn giác, khi lĩnh hội được Bản Thể vô biên, Chân Ngã hằng cửu, khi khế hợp được với Chân Như tuyệt đối, không còn có những cái nhìn thiển cận, thiên lệch, hẹp hòi; không còn tư tình, tư dục; khi đã bỏ được hết tạp thù, thác loạn.

Con người sẽ lạc lõng Bến Mê, bao lâu chưa nhận ra được toàn thể vô biên, bao lâu còn chạy theo những cảnh phù du, biến ảo, bao lâu còn chạy theo những điều ti tiện, chi mạt, bao lâu còn sống những kiếp sống sốc nổi, giả tạo.

Con người còn mê lú, bao lâu chưa nhận ra được Chân Tướng mình, bao lâu chưa biết giòng giõi cao sang, và định mệnh cao cả mình. Con người còn mê lú khi còn là đứa con lãng tử, ở trong nhà Cha mà chẳng nhận ra được Cha, [82] cam thân làm nô lệ; khi còn là người khách tha phương, khổ sở, lao lung, mặc dầu ngay trong tà áo vẫn có viên ngọc quí. [83]

Con người giác ngộ là con người nhận ra được địa vị cao cả của mình, nhìn thấy Chân Tâm sau lớp Vọng Tâm, nhìn thấy hằng cửu, dưới các lớp lang biến ảo.

Từ Mê đến Ngộ, tuy cách nhau gang tấc, nhưng vẫn xa muôn trùng; lúc thấy, thì thấy ngay ở trước mắt; lúc chẳng nhìn ra, thì cách trở muôn phương.

Để con tim, khối óc phóng đãng, phiêu lưu ra các tầng lớp bên ngoài, tức là đi vào Bến Mê, tức là đi vào hồng trần, tục luỵ. Thu thập tinh thần, hồi quang phản chiếu, để khám phá ra các điều vi diệu nội tâm, để tìm ra Tuyệt Đối Chân Tâm, là căng buồm Bát Nhã thẳng tiến đến Bến Giác, tức là rời bỏ phù sinh mà đi vào biên cương vĩnh cửu.

Giác, Mê âu cũng tại lòng người; chuyển theo hướng này hay hướng kia âu cũng tại lòng người; nhưng khi hướng đời đã định, thì “sai một ly, đi một dặm”; khi đã vào guồng máy Trời, thì tất nhiên chịu vận chuyển, lao lung theo những định luật cố định, khỏi than van.

Cho nên, ở đời không phải làm công kia việc nọ là hay, nhưng cần phải biết công kia, việc nọ có mục đích gì; nói cách khác, cái quan hệ là ở chỗ biết hay không biết mà thôi.

E. Luân Hồi và Niết—Bàn.

Sau khi đã hiểu rõ Chân Như, Vạn Pháp; Chân Tâm, Vọng Tâm; sau khi đã hiểu rõ 2 phương diện Biến Hằng của một Chân Lý vô biên, thì tất nhiên cũng sẽ hiểu hai vấn đề then chốt khác là Luân Hồi, và Niết Bàn trong Phật giáo.

Vì thật ra, tuy danh hiệu đổi thay, nhưng vòng Luân Hồi chẳng qua cũng vẫn chỉ gồm thâu các hiện tượng biến thiên, và Niết Bàn cũng chỉ là Chân Như Bản Thể. Nói cách khác, Luân Hồi chẳng những bao hàm ý nghĩa biến thiên, mà còn gợi nên các cảnh phiền sầu, khổ não; còn Niết Bàn thì ngược lại, chẳng phải là Bản Thể không, mà còn bao hàm ý nghĩa hạnh phúc, tuyệt đối, vô biên.

Tuy nhiên, cũng nên bàn kỹ lại hai vấn đề Luân Hồi và Niết Bàn, vì xét ra chúng cũng là những mối tơ vò cho vô số hạng người.

1. Luân hồi.

Luân Hồi là vòng biến dịch, vòng biến thiên của vạn hữu. Con người sinh ra là phải sống trong cảnh biến thiên, ảo hoá ấy.

Con người có thể để biến thiên, ảo hoá lôi cuốn, đắm chìm. Nhưng con người cũng có thể dùng Vạn Hữu, biến thiên làm công cụ tu luyện, để đạt mục đích cao cả của mình: Đó là Đạt Tới Tuyệt Đối.

Thường người ta nghĩ Luân Hồi là thay hình, đổi xác, hết làm loài này lại quay sang làm loài khác, cứ như vậy vô cùng, chứ ít ai biết rằng Luân Hồi cũng là thay đổi tâm tư, nguyện vọng, thay đổi lối sống, lối nhìn.

Con người sinh ra là để đi tìm Tuyệt Đối, qua các biến thiên tương đối, nên lúc nào cũng đi tìm kiếm, ao ước vật này, vật nọ; mơ mộng thế này, thế kia; ao ước thì tìm cầu; ao ước thì để tâm, để trí; lúc nào cũng căng thẳng, hướng về mục tiêu; lúc nào cũng như rót, như trút cả tâm hồn vào trong mục đích. Đạt đích thì sung sướng; thất bại thì âu sầu. Cái cảnh thiên đàng, địa ngục lâu chóng kèm theo ngay với mọi thành bại.

Các bậc thượng nhân nhìn bao quát cuộc đời, nhìn bao quát các nếp sống, nên cảm thấy sâu xa rằng chạy theo biến thiên, chạy theo tương đối, hư ảo là vô lý, vô vị.

Chắc chắn rằng con người phải có định mạng cao sang hơn, chắc chắn rằng sau những biến thiên, phải có căn nguyên hằng cửu. Căn nguyên hằng cửu ấy sinh ra con người, sinh ra vạn hữu, thì lại sui khiến cho con người khao khát trở lại căn nguyên hằng cửu ấy. Thế là căn nguyên lại trở thành cứu cánh, trở thành lý tưởng. Con người một khi đã thấy mục đích cao cả, định mệnh cao cả của mình, thì tâm thần một vút sẽ hướng tới vô cùng, không còn dính líu trần duyên, như đứa trẻ đang chơi mấy đồ chơi vụn vặt, chợt trông thấy mẹ hiền, liền vứt bỏ đồ chơi chạy ra ôm mẹ. Còn nếu không biết mục đích sang cả của mình, thì cứ chạy theo hết ảo ảnh này đến ảo ảnh nọ, không bao giờ cùng. Con người ta ở đời ai cũng trải qua nhiều kiếp sống mà không biết.

Mỗi một lần ước mơ là một lần thay kiếp sống, là một lần thay cuộc đời; ngắn thì vài phút, vài giây, dài thì nhiều năm, nhiều tháng: chung qui, dài vắn cũng đều là ảo mộng, cũng đều là giấc mộng hoàng lương.

Vòng Luân Hồi, hay vòng Sinh Tử, tức là vòng biến Thiên. Cái gì đổi thay, tức là có sinh, có tử, tức là có bắt đầu (sinh) và có hết (tử), bởi thế nên nói được “mỗi tư tưởng đổi thay, là một đời Luân Hồi”. [84]

Cho nên, cái hay không phải là nhìn thấy quang cảnh tử, sinh bên ngoài, không phải là nhìn thấy những trạng thái sai biệt bên ngoài, mà chính là nhìn thấy những trạng thái sai biệt bên trong tâm hồn.

Những trạng thái sai biệt của tâm hồn luân phiên tiếp diễn trên trùng dương tâm hồn, như những trạng thái sai biệt luôn tiếp diễn trên biển cả, lẽ dĩ nhiên không phải là biển cả bên ngoài, mà là biển cả Chân Tâm.

Những biến thiên ấy còn mất không thường, nên không đem lại cho con người hạnh phúc hoàn toàn vĩnh cửu được, cho nên có thể nói “cái gì vô thường đều là khổ ải” [85]. Nói cách khác, cái gì biến thiên sẽ không hoàn toàn, cái gì biến thiên chỉ là hiện tượng, chỉ là trạng thái; mà đã là trạng thái, tất nhiên không có Bản Thể, vì thế có thể gọi được là Vô Ngã.

Lắng lòng lại, cố dùng con mắt nội tâm mà quan sát sẽ phân tách được Hiện Tượng và Bản Thể nơi tâm hồn, sẽ nhìn thấy Luân Hồi khi mới phát sinh, nghĩa là thấy tâm tưởng khi vừa chớm nở.

“Người ta được hạnh phúc hay không là do tư tưởng mình. Tư tưởng của mình thay đổi là đời mình thay đổi ngay trong lúc đó rồi.” [86]

Cho nên cần phải biết gột rửa tư tưởng, tẩy trừ cho hết những quan niệm quàng xiên, thấp kém, và phải có những quan niệm chính xác, cao thượng, phổ quát, hằng cửu.

Lại nữa, phải biết thay đổi tâm trạng. Cần phải diệt trừ những tâm trạng đen tối và luôn giữ tâm trạng bình tĩnh, an vui, thanh tịnh, trong sáng.

Thế là băng qua Luân Hồi mà vào Niết Bàn; thế là bước dần lên các nấc thang giá trị tinh thần, để càng ngày càng tiến tới tinh vi, tới cao đại, tới hoàn thiện. Thế là càng ngày càng tiến sâu vào tâm khảm, càng vươn lên tới tinh hoa của con người. Lên tới tinh hoa, đạt tới huyền vi, tức là thoát vô thường, vào chân thường, thoát vòng biến thiên, ảo hoá, tử sinh, mà vào Niết Bàn trường tồn, vĩnh cửu.

2. Niết Bàn.

Bỏ mọi tâm trạng biến thiên mà vào Chân Tâm hằng cửu, đó là vào Niết Bàn. [87]

Cho nên Niết Bàn không ở đây, ở đó, mà đã tàng ẩn ngay trong thâm tâm con người; nhưng con người cần phải khai thác tâm hồn, cần phải lọc lõi, trừ khử hết mọi bức màn dục vọng, tư tưởng biến thiên bên ngoài, mới thực hiện Niết Bàn được. [88]

Vì vậy, Niết Bàn cần được thực hiện ngay trong thâm tâm mỗi một người. [89]

Phá hết mọi vọng niệm, vọng tưởng, mới tìm ra được Chân Lý. Siêu xuất trên mọi hình, thức, sắc, tướng, mới thấy được Bản Thể, cho nên Niết Bàn cũng được định nghĩa là Chân Lý tối hậu, [90] hay Thực Thể trường tồn. [91]

Niết Bàn vì là Bản Thể, [92] nên Niết Bàn cũng bất khả tư nghị. [93]

Niết Bàn là hạnh phúc.[94]

Con người sinh ra ở đời, thường tự giam mình vào vòng hiện tượng, thường chạy theo ngoại cảnh.

Lý do là vì bức màn vô minh trong tâm khảm còn trùng trùng, điệp điệp làm cho con người không trông thấy Chân Như, Niết Bàn. Thế rồi, tâm hồn bắt đầu rung cảm, chiêu vời những ảnh hưởng đồng vọng, ứng đối bên ngoài, thay đổi nếp sống thiên nhiên thành thiên hình vạn trạng. Bị ảnh hưởng tha nhân và hoàn cảnh, ý tưởng con người tạo ra cho con người nhiều vai trò khác lạ, và khi con người gò bó mình vào những vai trò ấy, tức là gò bó mình vào giả tạo, mê lầm. Hơn nữa, con người bị các ảnh hưởng bên ngoài cuốn lôi, dụ dỗ, bức bách, hấp dẫn đến nỗi mất hết bản ngã, mất hết tự do.

Để Bản Lai Diện Mục bị che lấp bởi những bộ mặt giả tạo, là chuốc mua đau khổ, là lao lung cùng khốn, khi trong người vẫn mang ngọc quí.

Các giá trị thay đổi hết: Thay vì con người làm chủ hoàn cảnh, hoàn cảnh lại làm chủ con người; con người, miệng nói tự do, tự tại, mà kỳ thực sống trong thằng thúc, triền phược, hết sức là bi đát; con người nói tự do tư tưởng, mà thực sự vẫn lập luận theo những khuôn mẫu, những lối đường mà trào lưu đương thời, hay trào lưu đương thịnh đã vạch sẵn, không bao giờ dám dể cho các tư tưởng từ nguồn lòng rào rạt tuôn ra.

Niết Bàn không phải là tư tưởng, mà là nguồn gốc tư tưởng. Niết bàn không phải là hạnh phúc mà là nguồn gốc hạnh phúc. Con người phải định tâm, thoát bỏ mọi niệm lự, thoát bỏ mọi tư tưởng, thoát bỏ mọi mầu sắc không gian, thời gian mới nhập Niết Bàn.

Có người nói nếu thoát hết, thì còn gì mà hưởng, thế thì hơn gì gỗ đá vô tri. [95]

Không, thoát hết đây là thoát hết bác tạp để còn nguyên toàn giác, toàn tri; thoát ly đây là vượt lên trên mọi cái hư vọng, để sống trong toàn Chân; là thoát ly thời gian biến thiên để vào trong vĩnh cửu.

*************           

CHÚ THÍCH

[1] 真 = 真 實 (Chân = Chân thực) The real.

如 = 如 常 (như= như thường) thus always or eternally so. Reality as contrasted with 虛 妄 như vọng), unreality, or appearance and 不 變 不 改 (bất biến, bất cải), unchanging or immutable as contrasted with form and phenomena… the word is fundamental to Mahayana philosophy, implying the Absolute, the Ultimate Source and character of All phenomena, it is the all. It is also called 自 性 清 淨 心 (tự tính thanh tịnh tâm) self—existent pure mind; 佛 性 (Phật tính) Buddha nature; 法 身 (pháp thân) Dharmakaya; 法 性 (pháp tính) Dharma—nature; 如 來 藏 (như lai tạng) Tathagatha—garba or Buddha—treasury); 實 相 (thực tướng) reality; 法 界 (pháp giới) dharma—realm; 圓 誠 實 性 (viên thành thực tính) the complete and perfect Nature..¡
A Dictionary of Chinese bouddhist terms, p. 331.
Như vậy Chân Như là Tuyệt đối, là Thực Thể hằng cửu, là Căn nguyên sinh vạn pháp, là Viên Mãn, là Toàn Thể. Cũng còn gọi là Tự Tính thanh Tịnh Tâm, Phật Tính, Như Lai Tạng, Thực Tướng, Pháp Tánh, Viên Thành Thực tướng.

[2] 此 性 虛 而 靈, 寂 而 妙, 天 地 未 分, 先 有 此 理。 歷 塵 劫 而 不 朽, 世 界 壞 而 不 遷.

Thử tính hư nhi linh, tịch nhi diệu, thiên địa vị phân, tiên hữu thử lý. Lịch trần kiếp nhi bất hủ; thế giới hoại nhi bất thiên.

Qui nguyên trực chỉ, Đỗ Thiếu Lăng, quyển trung, tr. 370.

[3] Như trên. trang 369—370
[4] 真 如 本 性 者, 父 母 未 生 前 一 真 無 妄 之 體 , 謂 之 本 來 面 目。 禪 宗 則 曰﹕ 正 法 眼 藏。 蓮 宗 則 曰﹕本 性 彌 陀。 孔 子 則 曰﹕天 理。 老 子

則 曰 谷 神。 易 則 曰﹕ 太 極。 各 雖 有 異, 其 實 同 一 真 如 本 性 也。

Chân Như Bản Tính giả, phụ mẫu vị sinh tiền, nhất chân vô vọng chi thể, vị chi Bản Lai diện mục. Thiền Tông tắc viết: Chính Pháp Nhãn Tàng; Liên Tông tắc viết: Bản tính Di Đà; Khổng tử tắc viết: Thiên Lý; Lão tử tắc viết: Cốc Thần; Dịch tắc viết: Thái Cực. Danh tuy hữu dị, kỳ thật đồng Nhất Chân Như Bản Tính dã.
Qui Nguyên trực Chỉ, chương 26.

[5] Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 48

“Phế thuyên đàm chỉ “(Pháp tướng tông)

“Ngôn vong, lự tuyệt” (Tam luận tông)

“Bách phi giai khiển, tứ cú giai ly” (Thiên thai tông)

“Lý tại tuyệt ngôn” Trung Anh Phật học từ điển, tr. 360.

“Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” (Thiền Tông)

“Xuất quá ngôn ngữ đạo”(Chân ngôn tông)

“Quá phần bất khả thuyết” (Hoa Nghiêm tông)

“Bất khả xưng, bất khả thuyết, bất khả tư nghị” (Tịnh độ tông)

“Tịch diệt, ly ngôn” (Liên hoa kinh, tr. 558)

“Ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, ly văn tự tướng “(Thủ Lăng Nghiêm, Hướng Đạo xuất bản tr. 62)

[6] Dĩ thật ngôn chi, tắc hư vô, tịch diệt, thị vạn hữu chi mẫu, xuất sinh thiên địa, nhân vật, động thực, phi tiềm nhi chí vạn pháp giả dã. Phật giáo viết: tòng vô trụ bản, lập nhất thiết pháp.

Qui nguyên trực chỉ, q. hạ, tr. 563.

以實言 之,則 虛 無 寂 然 滅 ,是 萬 有 之 父 母,出 生 天 地 人 物, 動 植 飛 潛 , 而 至 萬 法 者 也。 佛 教 曰﹕ 從 無 住 本, 立 一 切 法。

Theo cái nghĩa thật mà nói Hư Vô, Tịch Diệt, thì nó là mẹ đẻ của vạn hữu, sinh trời, đất, người, vật, động vật, thực vật, chim, cá, cho đến cả muôn pháp nữa. Giáo lý của Phật nói: Từ cái gốc Vô Trụ dựng nên các pháp

…”Vô” ở đây, tức là không nhân, không pháp, không mình, không người, không mê vọng chấp trước, “không” cho đến cả cái “không” nữa. Đó tức là “bình đẳng tâm”, là “trung đạo”, là “đệ nhất nghĩa đế” và cũng là “Phật tính thường trụ” của mọi loài chúng sinh…Đại đức Thiên Ân, Đoàn văn Ân, Triết học Zen I, tr. 157.
懾 (không)= the permanent reality behind all phenomena, the entity void of ideas and phenomena, neither matter nor mind , but the root of both. A dictionary of Chinese Buddhist term, p. 276.

[7] Tự tính Chân Không (Pháp Bảo đàn kinh; Bát nhã phẩm)

Bản tính do như Hư Không (pháp Bảo đàn kinh; Cơ duyên phẩm)

[8] Empty (Sunya) or emptiness (sunyata) is one of the most important notions in Mahayana philosophy and at the same time the most puzzling for non Buddhist reader to comprehend—Emptiness does not mean “relativity” or “phenomenality” or “nothingness” but rather means the absolute or something of transcendental nature, although this rendering is also misleading as we shall see later … When Buddhist declare all thing to be empty, they are not advocating a nihilistic view; on the contrary , an ultimate reality is hinted at, which cannot be subsumed under the categories of logic.

Dr Suzuki, Manual of Zen Buddhism, p. 29.

…L’Absolu est ineffable, l’Absolu transcende toute spéculation, l’Absolu est simple et offre partout une saveur unique, mais plus précisément il est “Non—Substantialité, Vacuité sans début, ni fin, Vacuité d’inexistence, Vacuité Absolue, Vacuité immuable…

Sandhinnirmocana—Sutra, trad. Lamotte pp. 173—198, 224—227

[9] Tiếng Phạn là Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) nghĩa là Biến Chiếu (soi khắp)…Cho nên xưa dịch là Đại Nhật Như Lai…Như Lai ấy là Bản Nguyên của vũ trụ, Thực Thể của vạn hữu. Giáo lý của giáo phái Chân Ngôn căn cứ vào ý nghĩa đó, mà thành lập…

Thích Đạo Quang, Đại Cương triết học Phật giáo, tr. 46.

[10] Présence du Bouddhisme, tr. 281

[11] Bạch Thế Tôn: Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tính, Yểm Ma La Thức, Không Như Lai Tạng và Đại Viên Cảnh Trí, bảy danh từ tuy khác, chớ cũng đồng là quả Phật, là Kim Cương Vương, thường còn, không hoại…

(Thế Tôn, như quả vị trung: Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh, Yểm Ma La Thức, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, thị thất chủng danh, xưng vị tuy biệt, thanh tịnh viên mãn, thể tính kiên ngưng, như Kim Cương Vương thường trụ, bất hoại…)

世 尊!如 果 位 中,菩 提 ,涅 槃,真 如, 佛 性, 奄 摩 羅 識, 空 如 來 藏,

 大 圓 鏡 智, 是 七 種 名 稱,謂 雖 別, 清 淨 圓 滿,本 性 堅 凝,

如 金 剛 王§` 住 不 壞。

Thủ Lăng Nghiêm, Hướng Đạo xuất bản, tr. 134.

Thủ Lăng Nghiêm, Việt Nam Phật Tử, q. 4, tr. 4.

Thủ Lăng Nghiêm, Linh Sơn, tr. 308—309.

[12] Pháp Hoa Kinh, Liên Hải, tr. 209.

[13] 如 (Như) is termed 真 如 (Chân Như) Bhutatathata, the Real so, or Suchness, or Reality, the Ultimate or The All (Trung Anh Phật Học Từ Điển, tr. 210)

[14] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 185.

[15] A Lại Da thức chính thị nhất thiết nhân duyên đích chủng tử.

Nhập Phật chỉ nam, tr. 75.

L’Alaya c’est chacun de nous, c’est chaque chose et c’est l’Incommensurable Tout.

Le Bouddhisme du Bouddha,Alexandra Néel, p. 271.

Xem Phật Học tinh hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 142.

Thực ra trong Phật Giáo ít người nhận A Lại Da là đồng nhất với Chân Như như Nam Đạo Phái của Tuệ Quang chủ xướng (Xem Các Tông Phái của Đạo Phật tr. 215)

Nhưng chủ trương rằng A Lại Da là Thức, nên A Lại Da phải biến thành Trí, thành Đại Viên Cảnh Trí mới là đạt đạo.

Hàm tàng thức cũng trong tình trạng đó.

[16] Phật Học Chỉ Nam , tr. 75

[17] Pháp Thân = Dharmakaya.

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50

[18] “Táng bản, thụ luân”

Thủ Lăng Nghiêm (Việt Nam Phật Tử Hội xuất bản) q. II, tr. 13.

[19] Người trong đời cả ngày miệng niệm Bát Nhã, mà chẳng biết Bát Nhã là Tính tự nhiên của mình.

Pháp Bảo Đàn Kinh, Phẩm Bát Nhã, tr. 29. Đoàn trong Còn dịch thuật,

[20] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo), tr. 134.

[21] 阿 陀 那 (A Đà Na) Nhập Phật Chỉ Nam, tr. 76:
Đà La vi tế thức là biệt danh của thức thứ tám A Lại Da.

Thủ Lăng Nghiêm (Linh Sơn) tr. 327, chú 1.

Adana= Alaya vijnana= the originating or receptacle intelligence; basic consciousness. It is the store or totality of consciousness both absolute and relative; impersonal in the whole, temporally personal or individual in its separated part.

A Dictionary of Chinese Buddhist terms, pp. 292, 384b, 293b, 345b.

[22] Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[23] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 184.

[24] Như trên, tr. 194.

[25] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo) tr. 134.

[26] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 184.

[27] 阿 字 本 不 生 不 滅 的 真 理。 A Tự bản bất sinh bất diệt đích chân lý.

Nhập Phật chỉ nam, tr. 53. (Kim cương đỉnh kinh)

[28]Nhập Phật Chỉ Nam, tr. 53.

[29] Hàm Tàng Thức = A lại da

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 40.

Tự Tính năng hàm vạn pháp, danh Hàm Tàng Thức (Pháp Bảo Đàn kinh. Phó chúc phẩm).

筄性 能 咸 萬 法, 名 咸 藏 識

[30] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo), tr. 134.

[31] Tâm sinh Diệt thì hiển lộ luôn, mà Tâm Chân Như thì khuất lấp mà không thấy.

Thủ Lăng Nghiêm , Linh Sơn Phật Học Nghiên Cứu Hội xuất bản, tr. 161.

Xem thêm Chu Hối Am quan tâm thuyết. Trùng Biên, Tống Nguyên học Án, q. 2:

Phù vị nhân tâm chi nguy giả, nhân dục chi manh dã, đạo tâm chi vi giả, thiên lý chi áo dã.

夫 謂 人 心 之 危 者,人 欲 之 萌 也。 道 心 之 微 者, 天 理 之 奧 也。

[32] Thủ Lăng Nghiêm (Việt Nam Phật Tử Hội), q. 1, tr. 6

[33] Như trên, q. 1, tr. 25.

[34] Kiến Pháp—Tiên Pháp nhi hậu Phật, Tăng (Luận về đồng điểm Tam Giáo: Lập Thuyết Minh Lý Tam Tông Miếu, tr. 3—4)

[35] Nhập Phật chỉ nam, tr. 73—74.

[36] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo), tr. The 134.

[37] the immaterial Universe behind all phenomena. Trung Anh Phật Học Từ Điển, tr. 389.

[38] Lý tức Phật.

Giáo quán cang yếu—Ngẫu Ích Sa Môn Trí Húc, Bài Lục Tức. Luận về Đồng điểm tam gíao, (Lập thuyết Minh Lý Tam Tông Miếu) tr. 14

理 (Lý)= Universal basis, essential element. Trung Anh Phật Học từ điển, tr. 360.

[39] Phật Học Chỉ Nam, tr. 40.

[40] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 185.

[41] Thủ Lăng Nghiêm (Linh Sơn). Tựa.

[42] Phật Học Chỉ Nam, tr. 41

[43] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng phiên dịch, q. trung, tr. 369.

[44] The Buddha—nature imminent in all beings. Trung Anh Phật Học Từ Điển, tr. 288.

[45] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo), tr. 134.

[46] Thủ Lăng Nghiêm (Hướng Đạo), tr. 134.

[47] Phan Văn Hùm, Phật Giáo Triết Học, tr. 78.

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[48] Phan Văn Hùm, Phật Giáo Triết Học, tr. 78.

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[49] Ly Tâm duyên tướng (Thủ Lăng Nghiêm—Hướng Đạo tr. 62)

[50] Phan Văn Hùm, Phật Giáo Triết Học, tr. 72.
Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[51] Phan Văn Hùm, Phật Giáo Triết Học, tr. 72.
Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[52] Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 178.

[53] Phan Văn Hùm, Triết Học Phật Giáo, tr. 72

[54] Phan Văn Hùm, Triết Học Phật Giáo, tr. 72; Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[55] Chân Tâm (Như trên tr. 72 & 50.)

[56] A tự Thích vân Vô, hựu vân Chân Không, tức thị Bát Nhã Thật Tướng chi Bản Thể.

 阿 字 釋 云 無, 又 云 真 空, 即 是 般 若 實 相 之 本 體。

Nhập Phật Chỉ Nam, tr. 120

[57] Phan Văn Hùm, Phật Giáo Triết Học, tr. 72

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50

[58] Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50

[59] 空 (không) = The Universal, the Absolute, complete abstraction without relativity. (Trung Anh Phật Học Từ Điển, tr. 276)

[60] Phan Văn Hùm, Triết Học Phật Giáo, tr. 72; Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 50.

[61] Dưới đây xin đan cử ít nhiều danh hiệu khác của Chân Như theo các Tông Phái Phật Giáo: Bản Lai Diện Mục (Thiền Tông); Tự Tâm Hiện Lượng, Viên Thành Thực Tính (Duy Thức Tông); Thường Tịch Quang Độ (Tịnh Độ Tông); Tự Tính, Thực Tướng (Thiên Thai Tông); Nhất Chân Pháp Giới (Hoa Nghiêm Tông); Thực Tướng Bát Nhã (Tam Luận Tông); Bản Nguyên Tự Tính, Kim Cương Bửu Giới (Luật Tông).

Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 185.

Thủ Lăng Nghiêm cũng dùng rất nhiều từ ngữ để chỉ Chân Như ví dụ:

Bản Như Lai Diệu Tạng Diệu Chân Như (Thủ Lăng Nghiêm, Việt Nam Phật Tử, q. 4. tr. 1), Thường Trụ Chân Tâm, Tĩnh Tịnh Minh Thể (Như trên. q. 1, tr. 29), Tịch Thường Tâm Tính (Như trên. q. 1, tr. 29); Bồ Đề Diệu Tịnh Minh Thể (Như trên, q. 2, tr. 28), Viên Diệu Minh Tâm, Bảo Minh Diệu Tính (Thủ Lăng Nghiêm, Linh Sơn, tr. 96); Thanh Tịnh Diệu Tịnh Minh Tâm (Như trên. tr. 60); Bồ Đề Niết Bàn Nguyên Thanh Tịnh Thể (Như trên. tr. 55); Diệu Chân Như Tính (Như trên. tr. 192); Bản Diệu Giác Tâm (Như trên. tr. 375); Phật Tâm (Như trên. tr. 393); Thường Trụ Chân Như Tâm (Thủ Lăng Nghiêm, Linh Sơn, Tựa); Diệu Minh Nguyên Tâm (TLN,Việt Nam Phật Tử, II, tr. 11)

Trong Kinh Lăng Già, ta thấy có nhiều danh từ thêm về Chân Như, cũng như trong bài Chân Tâm, Vọng Tâm, của Hoà Thượng Thích Thanh Từ trong tạp chí Hoa Sen, ta thấy có thêm rất nhiều danh từ về Chân Như. Xin tìm xem.

Trung Anh Phật Học từ Điển, tr. 332, chú thích Chân Ngã là The Real or Nirvana Ego.

Trong Tính Mệnh Khuê Chỉ, ta cũng thấy nhiều danh từ mới chỉ Chân Như: Tì Lư Thanh Tịnh Thân (Hoa Nghiêm Kinh) Tính Mệnh Khuê Chỉ q. II, tr. 13; Bất Nhị Pháp Môn; Thậm Thâm Pháp Giởi; Hư Không Tạng; Tịch Diệt Hải; Chân Thật Địa; Tổng Trì Môn; Bỉ Ngạn; Tịnh Thổ; Chân Cảnh; An Lạc Quốc; Xá Lợi Tử; Bồ Tát Địa; Quang Minh Tạng; Viên Giác Hải; Bát Nhã Ngạn; Pháp Vương Thành; Tây Phương; Thiên Dương; Không Trung; Chân Tế; Giá Cá; Tam Ma Địa; Hoa Tàng Hải; Đà La Ni Môn; Bất Động Đạo Tràng; Ba La Mật Địa. (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. 1, tr. 4—5).

[62] Chân Tâm này cũng tức là tất cả các Pháp, tức là Tâm, tức là đất, nước, gió lửa, và hư không: tức là Nhãn, Nhĩ, Thị, Thiệt, Thân, Ý; tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới; tức là Tứ Đế; tức là Thập Nhị Nhân Duyên; tức là Lục Độ; tức là Phật và bốn đức Niết Bàn. Nói chung Chân Tâm là các Pháp ở thế gian và xuất thế gian.

Thủ Lăng Nghiêm, Hướng Đạo xuất bản, tr. 114.

[63] Thân này, Tâm này cho đến núi sông, thế giới và hư không đều là vật trong Chân Tâm hiện ra. Cái Chân Tâm rộng lớn như vậy, các Ông lại bỏ đi không nhận, trở lại chấp cái Vọng Tâm này cho là thật của mình, cũng như toàn thể bể cả rộng khơi, trong trẻo kia không nhận, trở lại chấp một hòn bọt nhỏ nhen cho là toàn thể bể cả, thật là điên đảo.

Thủ Lăng Nghiêm, Hướng Đạo xuất bản, tr. 46.

[64] Brihah. 5.1. Brahma is ether—the ether primeval. Brahma is a void.

Chand. 4. 10. 5.

Brih. 2. 1. 20.

Kaush. 4. 19.

Brih. 4. 1. 2.

Chand. 7. 1.

Tait. 3. 1.

Tait. 2. 6.

Brih. 1. 4.

Katha. 5. 2.

Mund. 2.2. 11

Tait. 2. 8. 3. 10. 4.

Maitri. 6. 17. 7. 7.

[65] A Nan, ông phải biết: Cái Thấy này nó không phải là nhân, không phải là duyên, không phải tự nhiên, cũng không phải “không tự nhiên”; không cái phi, không cái bất phi; không cái “thị”; không cái phi thị. Nó rời tất cả tướng, túc là tất cả Pháp. Như thế thời Ông làm sao để tâm suy nghĩ cho tới; dùng lời nói luận bàn cho kịp, và gọi nó bằng thứ gì được. (Ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, ly danh tự tướng). Thủ Lăng Nghiêm, Hướng Đạo, tr. 62.

[66] Histoire des Croyances religieuses…en Chine, Léon Wieger, p. 546.

—The Dukkhata/Dukkhata (khổ) as phenomenal existence is imperfect ans to be trancendented. It has three interdependent characteristics:

a. Anicca/anitya = impermanent.

b. Dukkha/dukkha = imperfect.

c. Anatta/Anatman = essentially unsubstantial, non independent.

These features also apply to sentient beings which function psychologically as individuals and coexist collectively as groups or societies; they consist of five aggregations of being (Ngũ Uẩn):  Rupa (Sắc= Material qualities), vedana (thọ= feeling), sanna/ samjna (tưởng= perception), sankhara/ samskara (hành= coefficients of consciousness), and vinnana (thức = consciousness).

Richard A. Gard, Bouddhism, p. 110.

[67] Thành, trụ, hoại, không hay Sinh, trưởng, tử, vong, hay Sơ, thành, suy, tử, hay Sinh, trụ, dị, hoại.

成 住 壞 空, 生 長 死 亡, 初 成 衰 死, 生 住 異 壞。

Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophique en Chine, Léon Wieger, p. 546.

[68] Chân Như giả, chỉ Vũ Trụ chi bản thể, nãi bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, vô thuỷ, vô chung giả dã. Vạn pháp giả, nãi Vũ Trụ chi hiện tượng, hữu sinh diệt, hữu tăng giảm, hữu thuỷ chung.

真 如 者, 指 宇 宙 之 本 體, 乃 不 生 不 滅, 不增 不 減, 無 始 無 終 者 也。虜U 法 者, 乃 宇 宙 之 現 相, 有 生 滅,有 增 減, 有 始 終。

Le Tchenn Jou, essence universelle, ne nait ni ne meurt, ne croit ni ne diminue, n’a pas eu de commencement et n’auta pas de fin. L’univers apparent et tout ce qu’il contient, nait et meurt, croit et diminue, a eu un commencement et aura une fin; laquelle fin ne sera pas l’ anéantissement, mais le recommencement d’une nouvelle série de phénomènes.

Léon Wieger, Histoire des Croyances religieuses…p. 548.

Tchenn jou, la réalité cosmique est 絕 對 (tuyệt đối) absolue, est 平 等 (bình đẳng) une; est 無 限 (vô hạn) infinie, est 自由 (tự do) autonome, est 獨(độc) unique, est l’eau de l’océan de l’êre.

Như trên, p. 549.

[69] Vạn pháp giả, nãi Vũ Trụ chi hiện tượng,hữu sinh diệt , hữu thuỷ chung. (Xem chú thích 68 trên).

Như trên, tr. 548.

Wan Fa , la fantasmagorie mondiale (ou plutôt: le monde phénoménal) donne l’impression d’ êtres 相 對 (tương đối) relatifs, 差 別 (sai biệt) distincts, 有限 (hữu hạn) finis, 不 自 由 (bất tự do) dépendantes, 雜 多 (tạp đa) multiples. Vaines apparences! 波 (ba), une houle à la surface des êtres.

Như trên, p. 349.

…Vũ trụ chi hiện tượng hữu sinh, hữu diệt, hữu thuỷ, hữu chung, nhiên kỳ Bản Thể tắc bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm. Thử Bản Thể vị chi Chân Như. Hiện Tượng vị chi Vạn Pháp. Chân Như giả dịc phi vô thường, diệc phi vô ngã. Như trên, tr. 548.

[70] Wieger, Histoire des Croyances…tr. 548.

[71] Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh hoa, tr. 119.

Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết học Phật Giáo, tr. 100.

[72] Nhập Phật Chỉ Nam, tr. 134.

[73] Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh hoa, tr. 213.

[74] Trần Triều, dật tôn phẩm điển lục, Thượng Sĩ ngữ lục, tr. 28. (Khảo Cổ Viện tồn bản)

…Lục Tổ Đàn Kinh vân: Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ Đề. Tiên niệm mê, tức phàm phu; hậu niệm ngộ, tức Phật. Tiên niệm trước cảnh, tức phiền não; hậu niệm ly cảnh tức Bồ Đề.

Tính Mệnh khuê chỉ, q. 4, tr. 5.

[75] Đại Đức Thích Thiên Ân, Triết học Zen I, tr. 136

[76] Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 210.

[77] Như trên, tr. 211.

[78] Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 210, 211, 212, 213, 214.

[79] Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. I, Chương Tà Chính Luận, từ tr. 15 đến 20. (妙 竅 齊 觀.)

[80] Chí vi giả Lý dã; chí trứ giả Tượng dã. Thể Dụng nhất nguyên, hiển vi vô gián.

至 微 者, 理 也; 至 著 者, 象 也。 體 用 一 源,顯 微無 間。

Tôn Bổ Ngự Án Dịch Kinh Đại toàn. Chu Dịch, Trình Tủ, Truyện tự, tr. 6.

[81]

Tác Hữu, trần sa Hữu
 作有 塵 沙 有。

Vi Không, nhất thiết Không
 為 空 一 切 空。

Hữu Không như thuỷ nguyệt
 有 空 如 水 月。

Vật trước Hữu, Không, Không
 物 著 有 空 空。

 (Bài thơ Hữu, Không của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh).

[82] Xem dụ “Người cùng tử” trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Tín Giải.

[83] Xem Dụ “Gã nghèo hèn có châu báu trong vạt áo”. Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Ngũ Bá Đệ Tử thọ ký.

[84] Quan Thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr. 63.

[85] Dukka…comporte évidemment le sens courant de “souffrances”, mais en plus, il implique les notions plus profondes d’imperfection, d’impermanence, de conflit, de vide, de non—substantialité.

Walpola Rahula, L’enseignement du Bouddha, p. 39.

[86] Quan thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr, 63.

[87] The ceasing of becoming is nibbana,,, In other respects of Niroda = Nibbana/Nirvana, it should be mentioned that there are various views between and with the principal Buddhist Schools: for example, Nibbana as Peace according to the Theravada; Nirvana as Sunyata 空 (không) (Relativity as the rational view; Absolute or the experiential view); Dharma—kaya 真 如 = Chân Như (Essence of the Buddha); Tathata (Ultimate Actuality); Dharma —Dhatu 法 界 = Pháp giới (Ultimate Reality) etc…according to the Madhdyamika 三 論 = Tam Luận, and Yogacara. 瑜 迦 = Du Già.

Richard A. Gard, Bouddhism, p. 122.

[88] La cessation de la continuité et du devenir, c’est le Nibbana.

Walpola Rahula, L’enseignement du Bouddha, p. 61.

[89] Le Nibbana doit être réalisé par les Sages au—dedans d’eux—mêmes.

Présence du Bouddhisme, p. 268

[90] Nibbana est vérité.

L’enseignement du Bouddha, p. 64—65.

Le Nirvana est la vérité ultime. Vérité ou Réalité éternelle. Présence du Bouddhisme, p. 268.

[91] Réalité éternelle. (Như trên 268)

…En somme, le nirvana ne serait pas le néant, mais la substance cosmique amorphe, quelque chose comme “l’atome du monde, d’où tout procède et où tout revient”.

Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême Orient, p. 144.

[92] La vérité est, le nirvana est.

Walpola Rahula, L’enseignement du Bouddha, p. 65.

…Car, pour être annihilé par son “moi”, la personnalité humaine n’en existe pas moins quant à la racine dont elle est sortie par évolutions succesives.

En effet, “cette racine subsiste; c’est la chose simple et sans forme, l’élément du monde, la substane universelle, le non—fait, le non—ajusté, terme qui d’après le Dharmapada (Pháp cú kinh) même est l’équivalent du Nirvana.”

Schoebel, le Bouddhisme, p. 250 .—Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême Orient, p. 145.

[93] Le Nirvana est au—delà de la logique et du raisonnement. Như trên. p. 69

[94] Sariputta a dit une fois: “O oui, le Nirvana est le bonheur, le Nirvana est le bonheur. “Như trên, p. 68

[95] Du point de vue du plus élémentaire bons sens, le Nirvana ne peut s’entendre comme signifiant le néant, “Comment supposer en effet “remarque très justement G. de Lafont , dans sa remarquable étude sur le Bouddhisme (Cf. G. de Lafont, Le Bouddhisme, p. 179), “que le Bouddha ait dit dans ses prédication à la foule qu’il voulait convertir: “Nous sommes ici—bas exposés à une foule de maux, et l’existence n’est que douleur; imposez—vous par surcroit des privations de toutes sortes, supprimez le peu de jouissances que ce monde peut vous offrir, et je vous offre en retour le néant pour récompense. Je doute qu’il eut fait beaucoup de prosélyte.”

C’est aussi l’avis d’Émile Burnouf. “Une philosophie qui prêcherait le néant’, dit—il, et promettrait comme but de la science, et comme récompense des vertus les plus hautes et les plus pénibles à acquérir, l’anéantissement final et absolu, ne deviendrait jamais la religion de plusieurs centaines de millions d’hommes et n’eut pas duré déjà vingt quatre siècles.

E. Burnouf, Introduction à l’Histoire du Bouddhisme indien, p. 455.

Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême Orient, p. 144.

…Vous ne demanderez ce qui reste après toutes ces éliminations, une fois que vous vous êtes retirés de toutes ces choses, que vous avez détruit tout ce qui n’est pas essentiel? Je vais vous le dire. Il reste un esprit serein et un coeur qui ne peut être troublé, qui est plein d’énergie et d’enthousiasme. Ils sont équilibrés, forts, assurés, clairs et purs, pleins d’extase, pleins de résolution et de détermination, le coeur et l’esprit qui a rejeté toutes ces choses. Ainsi réussi dans cette tâche, vous pourrez vous revêtir de ce qui est éternel, mais pas avant. Vous ne pourrez devenir incorruptible tant qu’il reste dans votre coeur la moindre parcelle corruptible.

Kristnamurti, Bulletin international de l’Étoile No 1, Octobre 1929, p. 16.

—————————–

CHƯƠNG XVIII.

TỐI THƯỢNG THỪA PHẬT GIÁO.

A. NHỮNG NGUYÊN TẮC TU THÂN CĂN BẢN.

1. Băng qua Vạn Pháp biến thiên, trở về với Chân Như Bản Thể.

Khi nhận thấy rằng chỉ có một Bản Thể duy nhất bao trùm không gian và thời gian, bao trùm cả vạn hữu, khi đã chấp nhận rằng Bản Thể ví như Đại Dương, hiện tượng và quần sinh ví như muôn nghìn sóng cả, hay như những bọt nước bồng bềnh trên mặt, thì điều kết luận dĩ nhiên sẽ là:

a. Bản Thể thì trường tồn, vĩnh cửu.

b. Hiện Tượng, quần sinh thì phù du, hư ảo.

c. Cho nên, phải bỏ phù du, để trở về với vĩnh cửu; bỏ hiện tượng để tìm về Bản Thể Chân Như.[1]

Phật xưa đã ba lần chuyển Pháp Luân:

Lần thứ Nhất: Giảng kinh Hoa Nghiêm, để chỉ vẽ gốc rễ, căn bản con người.

Lần thứ hai: thuyết kinh A Hàm, Bát Nhã, Phương Đẳng, để chỉ vẽ chi mạt, ngọn ngành con người.

Lần thứ ba: thuyết kinh Pháp Hoa, Niết Bàn để dạy đời thu nhiếp ngọn ngành để trở về cội gốc, bỏ Hiện Tượng để trở về với Bản Thể, Chân Như. Đó là thành Phật, thành Đạo, đó là vào Niết Bàn.[2]

2. Tìm ra Chân Tâm, Chân Như Bản Thể dưới lớp Vọng Tâm, Vọng Ngã.

Sau khi đã dùng 2 chữ Bản Thể và Hiện Tượng để bao quát hết mọi lớp lang đại vũ trụ từ vô hình đến hữu hình, ta trở lại tiểu vũ trụ là con người chúng ta.

Như trên đă nói, trong vũ trụ, một Bản Thể Duy Nhất phát sinh muôn ngàn hiện tượng, nay trở lại con người, ta cũng thấy vẫn một Bản Thể Duy Nhất, Tuyệt đối ấy phát sinh ra mưôn vàn hiện trạng, điều động mọi suy tư, hướng dẫn mọi hành động. Bản thể ấy, theo từ ngữ Phật Giáo, chính là Phật Tính, làm căn cốt cho mọi người, cũng như làm căn cốt cho vũ trụ và muôn vật, vì thế nói: Chúng sinh đều có Phật Tính (Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tính).

Cũng như vũ trụ có 2 phương diện Biến Thiên và Hằng Cửu, mỗi một người chúng ta cũng có 2 bộ mặt, 2 con người. Bộ mặt bên ngoài, con người bên ngoài thì nhem nhuốc, biến thiên chịu định luật thành, trụ, dị, không của thời gian; một bộ mặt, một con người bên trong thì uy nghi, rực rỡ, siêu thoát trên mọi hình, thức, sắc, tướng, và không điêu tàn với quang âm, tuế nguyệt. [3]

Vì thế mà Phật giáo mới phân Chân Tâm, Vọng Tâm, Chân Ngã, Vọng Ngã.

Vọng Tâm, Vọng ngã gồm tất cả những trạng thái biến thiên của tâm hồn, gồm thất tình, lục dục, tri giác, cảm giác, hoài bão, lý luận, tư tưởng, sinh sinh, diệt diệt với các hiện tượng bên ngoài.

Còn Chân Tâm, Chân Ngã thời tế vi, huyền diệu, bất biến trường tồn.

Chân Tâm, Chân Ngã còn gọi là Đại Ngã. Vọng tâm, Vọng Ngã gọi là Tiểu Ngã. Đại Ngã là có. Tiểu Ngã là không. [4]

Con người tưởng chừng hữu hạn, tưởng chừng lao lung, tưởng chừng tảo vong, yểu tử, mà kỳ thực đã chứa đựng sẵn vô biên, vô tận, đã sẵn có hạnh phúc, đã sẵn có trường sinh, bất tử.

Có như vậy, mới cắt nghĩa được con người tại sao luôn mơ ước vô biên, luôn tìm cầu hạnh phúc, luôn mong mỏi trường sinh bất tử.

Tìm ra được Chân Tâm tiềm ẩn dưới lớp Vọng Tâm, các hiền triết Phật Giáo mới chủ trương con người thay vì có ngũ quan và ý thức, lại còn có đến tám thức: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, A lại Da thức.

Ý thức là Vọng Tâm, mà A Lại Da [5] chính là Chân Tâm. Còn Mạt Na ở giữa đóng vai môi giới.

Khi mê thì Mạt na đóng vai vô minh chỉ liên lạc được 1 chiều từ Chân Tâm ra Vọng Tâm, thành thử Vọng Tâm không bao giờ nhìn nhận ra được Chân Tâm. Khi Ngộ thì Mạt Na đóng vai Bát Nhã, thành con thuyền đưa người từ bến bờ Vọng Tâm cho tới bờ bến Chân Tâm, lúc ấy sự liên lạc sẽ hoàn tất cả hai chiều, không còn Sâm Thương đôi ngả.

Duy thức Tông có thơ:

Đệ huynh bát cá, nhất nhân si,

Độc hữu nhất cá, tối linh ly,

Ngũ cá môn tiền tố mãi mại,

Nhất cá gia trung tác chủ y.[6]

(Tu tâm, tr. 21)

Anh em tám kẻ, một người si (mạt na = Ngã si)

Duy có một chàng rất linh ly. (ý thức)

Năm người buôn bán ngoài cửa ngõ (Ngũ quan)

Một vị trong nhà đứng chỉ huy. (A Lại Da)

Các sách thường chủ trương khi giác ngộ, Thức sẽ biến thành Trí. Và A Lại Da sẽ biến thành Đại Viên Cảnh Trí. Chủ trương này xét ra cũng chính xác, vì nếu trong A Lại Da thức còn có chút tì ố nào, thì chưa phải là Chân Tâm.

Có sách lại chủ trương còn có Đệ Cửu Thức gọi là Bạch Tịnh Thức, mà Đệ Cửu Thức mới là Căn Nguyên Tuyệt Đối. [7]

Khám phá ra được rằng, sau những lớp lang tâm tư biến ảo, còn có Tuyệt Đối Chân Tâm, sau bộ “mặt nạ” tiểu ngã hoá trang, còn có “bộ mặt Bản lai diện mục”, “bộ mặt Đại Ngã”; khám phá ra được rằng: dưới làn sóng vô thường, vô ngã, tràn ngập vũ trụ, tràn ngập lòng mình, dưới lớp ba đào trùng điệp ấy, còn có Giác Hải Chân Như tĩnh lãng, ấy là giác ngộ.

Đại Ngã là Phật Tính, là Chân Như, là căn cốt của tạo vật và của con người; vĩnh cửu, trường tồn, chân thường, bất biến, bất hoại.

Còn tiểu ngã là vọng tâm của mỗi người, kết cấu bằng những tầng lớp hình ảnh, tư tưởng, dục tình, biến thiên, vô thường, vô định. [8]

“Lạc trong muôn tứ, nghìn tình,

Soi gương, nào biết tướng mình thế nao?”

Trở về Đại Ngã Đại Đồng, Chân Ngã vô tướng, tức là không còn cái mình nhỏ nhoi, hèn mọn nữa, và sẽ trở thành Pháp Thân uy nghi, trang trọng, phổ biến, phổ quát. Đạt tới Đại Ngã là đạt tới Niết Bàn . Vì thế Niết Bàn được định nghĩa là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

Bà Blavatsky viết: “Bao giờ Thần con người hoàn toàn không còn tơ vương chút vật chất nào, không còn chút hình tượng nào, sẽ trở thành Linh Khí hoàn toàn. Khi ấy, nó mới vào được Niết Bàn vĩnh cửu, bất biến, trường tồn, đó là Niết Bàn vĩnh cửu thật sự. Linh Khí ấy là Thần, là Không, vì nó là mọi sự. Nó hoàn toàn vô hình tướng; nhưng về phương diện thuần Thần, thì nó là chính Bản Thể. Khi hồn con người đã thành thần thì được gọi là Nhập vào Bản Thể Đại Đồng, hay là phối hợp với Bản Thể chứ không bao giờ có nghĩa là huỷ diệt, vì huỷ diệt là vĩnh cửu chia ly.“[9]

Nhiều người theo Phật giáo chỉ chú trọng đến vô thường, vô ngã mà quên biến mất Chân Thường, Chân Ngã. Như vậy mới là biết Biến Thiên chưa biết Hằng Cửu, mới biết hiện tượng chưa biết Bản Thể, mới biết Luân Hồi chưa biết Niết Bàn. [10]

Biết Vô Thường, Vô Ngã mới là biết Biến Thiên, Khổ Ải, Luân Hồi, mà chưa biết Niết Bàn. [11]

Biết Vạn Pháp là Vô Thường, Vô Ngã mới là biết hiện tượng phù phiếm, biến thiên; chưa biết Bản Thể bất biến, chưa biết được Thực Tại trường tồn. [12]

Biết Hiện Tượng, chưa biết Bản Thể gọi là Mê; thấy Bản Thể mà không thấy hiện tượng cũng chưa gọi được là Ngộ. [13]

Giác Ngộ là phải thông suốt lẽ biến hằng, thông suốt hai phương diện thể dụng trong trời đất và lòng người. [14]

Người theo đạo Phật mà chỉ nói Vô Ngã, Vô Thường, mà không biết Chân Ngã, Chân Thường, thì cũng y như người học Dịch mà chỉ biết hào quải bên ngoài, chưa biết Vô Cực, Thái Cực bên trong…

Nhiều người khảo cứu về Đạo Phật rất bạo dạn khi nói về thuyết vô ngã Anatta [15], Anatman [16], nhưng không dám đả động đến Chân Ngã. Nhưng may thay, cũng còn có nhiều người dám bàn về Chân Ngã, [17] nhưng may thay trên nhiều cổng chùa, còn có viết 4 chữ đại tự lớn; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: “Thất nhữ Nguyên Thường, cố thụ luân chuyển.” [18] (không biết căn nguyên vĩnh cửu, nên bị luân chuyển)

Kinh Đại Niết Bàn viết: “Kiến nhất thiết Không, bất kiến bất Không, bất danh Trung Đạo, nãi chỉ kiến nhất thiết Vô Ngã, bất kiến Ngã giả, bất danh Trung Đạo. Trung Đạo giả, danh vi Phật tánh. 見 一 切 空, 不 見 不 空, 不 名 中 道。 乃 只 見 一 切 無 我,

 不 見 我 者, 不 名 中 道。 中 道 者,名 為 佛 性 。”

“Thấy tất cả đều là “Không”, mà chẳng thấy cái ”chẳng Không”, thì chẳng gọi là Trung Đạo; thấy tất cả là ”Vô Ngã” mà chẳng thấy có “Ngã’ thì cũng chẳng gọi là Trung Đạo. Trung Đạo ấy gọi là Phật Tánh.” [19]

Không hiểu trong con người có 2 thứ Ngã (Đại Ngã, Tiểu Ngã), có 2 thứ căn nguyên (Niết Bàn, Sinh Tử), có phân ngôi Chủ khách (Hằng, Biến), thì không sao hiểu được giáo lý đạo Phật, không sao thành Phật được, dù tu luyện mấy muôn kiếp.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết:

“Phật bảo A Nan: Từ muôn kiếp tới nay, chúng sinh bị lao lung, điên đảo, các nghiệp chướng sinh ra đầy dẫy như trái ác xoa. Còn những người tu hành chẳng thành được vô thượng Bồ Đề lại thành ra bực thanh văn, duyên giác, và các thứ ngoại đạo, các Trời và ma vương, ma quyến, đều là vì không biết 2 thứ căn bản, tu luyện cuồng xiên, thác loạn, y như đòi nấu cát thành cơm, thì có đến ngàn muôn kiếp cũng chẳng được.

Thế nào là 2 thứ căn bản, hỡi A Nan! Một là căn bản tử sinh từ muôn kiếp, y như nay ngươi và chúng sinh lấy tâm vọng tưởng (tâm phan duyên) làm tự tính.

Hai là căn bản “vô thuỷ Bồ Đề Niết Bàn Nguyên Thanh Tịnh Thể” đó ở nơi ngươi, chính là “Thức Tinh Nguyên Minh”có thể sinh ra vạn duyên, vạn sự, mà đã bị trần duyên làm mất bỏ. Cũng vì chúng sinh đã bỏ mất cái căn nguyên sáng láng ấy, cho nên hằng ngày tuy vẫn luôn luôn dùng mà chẳng tự biết được nó, rồi ra lăn lộn, đắm đuối vào các thú vui, uổng phí cả cuộc đời. [20]

Bỏ cái “nguyên thường” trường cửu, mà theo cái vô thường biến dịch, coi vọng tưởng mà lầm là “chân tính” thì có khác gì nhận giặc làm con, làm sao thoát khỏi Luân Hồi, khổ ải?

Phật bảo A Nan: “Cái đó là vọng tưởng do lục trần bên ngoài mà sinh, nên gọi là vọng tưởng; nó làm hoặc loạn chân tính ngươi. Bởi vì từ xưa tới nay, ngươi nhận giặc làm con, bỏ mất tính chân thường của ngươi, nên ngươi bị luân chuyển, luân hồi.” [21]

Làm sao phân biệt được Chân Tâm, Vọng Tâm nơi con người?

Phật cho rằng: cái gì từ bé đến già mà chẳng đổi thay là Chân Tâm. Theo đà thời gian, đầu ta tuy bạc, mặt ta tuy nhăn, nhưng cái Tính Thấy ấy chẳng hề nhăn, chẳng hề bạc, [22] mà đã không nhăn, không biến thì làm gì có sinh, có diệt? [23] Suy ra, trong con người, cái gì bất động, bất biến là Chân Tâm.

Đã bất biến, thường trụ thời là Chủ Nhân, đã trừng tịch bất động thời là “Không”. [24]

Trái lại, cái gì thay đổi, biến thiên trong con người, cái gì giao động thì là Vọng Tâm. Mà đã giao động, biến thiên, thì chẳng qua là trần ai, hay khách qua đường mà thôi.

Cho nên Vọng Tâm chính là hiện tượng sẽ bị sinh, diệt; còn Chân Tâm mới là Bản Thể bất sinh, bất diệt.[25]

Bỏ mất bản tâm, mà lại nhận lầm duyên trần, nhận vật làm mình, nhận giao động biến thiên làm Chân Tâm, Chân Cảnh, thì làm sao mà chẳng bị quay cuồng trong ngọn lốc Luân Hồi lưu chuyển. [26]

Không ý thức được quan niệm căn bản ấy, đã mất Chân Tâm, bản tâm rồi, thì dẫu “có đem thân xuất gia, lòng vẫn chẳng nhập đạo, chẳng khác nào đứa con bỏ cha ra đi, ắt bị lao lung, khổ ải. Tu trì như thế, làm sao mà chứng quả được, cũng ví như nghe người nói chuyện uống ăn, thì làm sao mà no được.” [27]

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn bảo Lục Tổ Huệ Năng:”Kẻ nào chẳng biết Bổn Tâm, thì học đạo vô ích. Nếu ai biết Bổn Tâm, thấy Bản Tánh tự nhiên, tức thị là Trượng Phu, là thày của Trời, Người, là Phật.” [28]

3. Bỏ Vọng Tâm để sống theo Chân Tâm, hay diệt ngã để khế hợp với Chân Như Bản Thể.

Nếu không phân biệt Chân Tâm, Vọng Tâm, thì không sao hiểu được đạo Phật. Phật giáo chủ trương Vô Ngã, rồi lại dạy Diệt Ngã. Nếu chỉ có Vọng Tâm, mà không có Chân Tâm, thì chủ trương như vậy rất vô lý, vì đã Vô Ngã thì còn gì mà diệt; vả lại tu mà đi đến tận diệt, thì tu để làm gì? Nhưng trái lại, nếu biết sau Vọng Ngã, còn có Chân Ngã, thì vấn đề sẽ sáng tỏ ngay.

Chủ trương Phật giáo chính là: con người hữu hạn hàm tàng Chân Như vô hạn. Như vậy, phương châm và mục đích tu luyện sẽ được vạch rõ:

Từ Vọng Ngã nhỏ hẹp ta sẽ phát huy Đại Ngã rộng lớn, mênh mông; [29] trong sắc thân phàm tục, ta sẽ cố phát huy pháp thân siêu việt; trong phàm thân dễ bị huỷ hoại, sẽ cố phát huy kim cương thân bất khả tiêu diệt; trong u minh, ta sẽ làm bừng sáng lên ngọn đuốc Chân Tâm.

Chữ Diệt Ngã, hiểu cho đứng đắn sẽ là phá tan mọi hình tướng để tìm ra Chân Tính (khiển tướng, chứng tính), [30] làm lu mờ, tan biến mọi nhỏ nhen, ti tiện cho quang minh chính đại hiện ra (ẩn liệt, hiển thắng). [31] Mục đích tối hậu là khế hợp với Tuyệt Đối, [32] là hoà hợp với Bản Thể tuyệt đối.

Thế là đi từ Hữu Vi, Hữu Lậu trở về Vô Vi, Vô Lậu; rũ bỏ hết mọi phiền trược, buộc ràng, mà sống thung dung, tự tại; vất bỏ mọi giả tạo, để tìm ra Chân Thực trường tồn (khiển Hư, tồn Thực); [33] rũ bỏ mọi tạp thù, để giữ lấy nguyên thuần tuý (xả lạm, lưu thuần); [34] bỏ ngọn ngành, chi mạt, để trở về gốc gác, căn nguyên (nhiếp mạt, lưu bản). [35]

Đạo Nho gọi thế là Khử Nhân Dục, tồn Thiên Lý, vì theo qui luật “phục, khởi” (伏 起) của Kinh Dịch, thì “Nhân dục thắng, Thiên Lý vong” và ngược lại “Nhân dục tận, Thiên Lý hiện”, hay Âm tận thì Dương thuần. Nhân dục và Thiên Lý không thể lưỡng lập.

Đạo Lão gọi thế là “tâm tử, thần hoạt” 心 死 神 滑. (tâm có chết đi, thần mới sống được.)

Suy ra thì lẽ Phản Bản, Qui Nguyên trước sau chỉ là một, từ ngữ tuy thay đổi, cảch diễn tả tuy không đồng nhất, nhưng tinh thần muôn đời vẫn chẳng có hai.

B. Con đường giải Thoát: — TÌM CHÂN TÂM Ở ĐÁY LÒNG

“Hướng ngoại mà tìm cầu,

Tất cả đều ngoan si.

Hướng nội mà tuỳ xứ tiện nghi,

Tất cả đều là chân thật.”

(Lâm tế lục thị chúng, ĐĐ Thiên Ân, Triết học Zen, tr.103)

Tất cả các kinh sách Phật Giáo, các môn phái Phật Giáo đều có mục đích chỉ vẽ Chân Tâm. Như trên đã nói: Chân Tâm là Phật Tánh, là Chân Như bất biến, hằng cửu lồng ngay trong vạn hữu và trong tâm hồn ta, chẳng ở đâu xa. Kỳ lạ thay là thân thế con người: thân thế con người, tuy lao lung, chất chưởng, nhưng chính đã được gắn liền vào trường sinh, tuyệt đối, như sóng gắn liền với nước. [36]

Như vậy, con đường giải thoát không phải là đường sông, đường biển, đường Tây Trúc xa xăm, mà chính là con đường nội tâm của mỗi người.

Phải đi sâu vào đáy lòng mới tìm ra Chân Tâm, mới tìm ra Niết Bàn, mới tìm ra hạnh phúc, tự do, giải thoát. Lục Tổ Huệ Năng nói: ”Tự mình tu, tự mình hành, thấy Pháp Thân của mình, thấy Phật ở Tự Tâm mình, độ lấy mình mới được.” [37]

Như vậy châm ngôn để đi tìm chân lý sẽ là:

Con đường hướng nội tiến cho sâu,

Càng sâu, càng thấy lắm nhiệm mầu.

Tâm khảm bao la không bờ bến,

Vũ trụ mênh mông đã thấm đâu.

Tâm con người càng tìm hiểu, càng thấy kỳ diệu. Phiến diện, thì lao lung, chất chưởng, biến thiên, [38] đày tràn trần ai, nghiệp chướng, mà trái lại, căn cốt thì vô biên, tuyệt đối.

Như vậy, mỗi người đã sẵn có bảo châu vô gía dấu trong vạt áo, sao không cố tìm kiếm cho ra, mà cứ an phận sống một cuộc đời khổ ải. [39]

Như vậy, mỗi người có thể ví như một hoàng tử lưu vong, mà bụi phong trần đã phủ kín hết các nét hào hoa, phong nhã, mà cuộc đời luân lạc đã làm cho lầm than, chìm nổi, cho đến quên khuấy cả giòng giõi sang cả mình, quên hết căn nguyên huy hoàng, quên hết cả đến định mệnh siêu việt đang chờ đón mình trong những bước đường tương lai.

Phật đã nhắc nhở con người về giòng giõi sang cả cũng như về định mệnh cao quí của con người. [40]

Phật khi đắc đạo đã nhận định rằng: “Đạo quả chân thật giải thoát không phải do hành hạ xác thân, không thể nương vào kẻ khác và cũng không phải tìm kiếm đâu xa ngoài chính mình.” [41]

Vậy muốn tìm Chân Tâm, muốn tìm Phật Tính, phải tìm ngay trong người mình, trong lòng mình.

Phật bảo A Nan: Chân Tính đã ở nơi ngươi mà ngươi chẳng tin, lại theo nơi miệng ta mà tìm Chân Tính, vậy ngươi đã lầm chưa? [42]

Tây Du Ký cũng đã vạch rõ đâu là động phủ để tầm sư học Đạo: Muốn tìm Chân Đạo, muốn gặp Chân Sư, Tề Thiên Đại Thánh phải tìm về Phương Thốn Sơn, vào Tà Nguyệt Tam Tinh Động, mà Phương Thốn Sơn là Tấc Vuông, hay Tấc Lòng, còn Tà Nguyệt Tam Tinh Động, chính là chữ TÂM, viết bằng nửa vành trăng khuyết và ba sao rực rỡ. [43]

Trong Hồi 85 của Tây Du, tác giả còn nhắc lại: Tìm Phật phải tìm ở đáy lòng:

“Phật ở Linh Sơn, vốn chẳng xa,

Linh Sơn kỳ thực, tại lòng ta.

Người người đều có Linh Sơn tháp,

Tu tại Linh Sơn, mới khéo là.”[44]

Thiền Tông tha thiết chủ trương: “Trực Chỉ Nhân Tâm, kiến Tính thành Phật.” [45]

Các tổ sư thiền học giúp các đệ tử đả thông vấn đề này bằng câu thoại đầu:

“Bính Đinh đồng tử lai cầu hoả”, Thần lửa Bính Đinh đến xin lửa. [46]

Lục Tổ Huệ Năng thường đề cập tới bí quyết: “tìm Phật ở đáy lòng.” Ngài nói:

“Phật tự Tính trung tác,

Mạc hướng thân ngoại cầu.”

Phật do trong Tính khởi lên,

Chớ đừng vất vả, kiếm tìm ngoài thân. [47]

Trong Phẩm Sám Hối, Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ lại nói: “Qui y Phật, thì Phật ở nơi đâu? Nếu không thấy Phật, thì không biết nơi nao tìm về. Hoa Nghiêm Kinh viết:” Quy y với Phật của mình, chớ chẳng quy y với Phật khác”. [48]

Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ, vị sáng lập Thiền Tông tại Trung Quốc, là người tha thiết nhất với vấn đề đi vào nội tâm để tìm Phật Tính, tìm Bồ Đề, Niết Bàn.[49]

Quyển Đạt Ma Huyết Mạch Luận [50] đã ký thác hoài bão Ngài. Ngài chủ trương:

Bất lập văn tự
 不 立 文 字

Trực chỉ nhân tâm
 直 指 人 心

Kiến Tính thành Phật
 見 性 成 佛。

Lĩnh hội vi ý sách Đạt Ma huyết mạch luận, [51] ta có thể thâu tóm tư tưởng của Ngài Bồ Đề Đạt bằng mấy vần thơ sau:

Chân tâm bao quát đất Trời,

Xưa nay, chư Phật chẳng ngoài Chân Tâm.

Chẳng cần lập tự, lập văn,

Xưa nay chư Phật, tâm tâm tương truyền.

Tâm ta gồm mọi nhân duyên,

Mọi đời sau trước, mọi miền gần xa.[52]

Tâm ta là chính Phật Đà,

Phật Đà ở tại tâm ta chẳng rời.

Niết Bàn, Viên Giác, Như Lai,

Ngoài tâm tìm kiểm, công toi, ích gì?

Ngoài tâm, tìm kiếm được chi?

Niết Bàn đâu có lối về ngoài tâm.

Tự Tâm chí chính, chí chân,

Tự Tâm là Phật, Tự Tâm, Niết Bàn.[53]

Ngoài tâm, tìm kiếm đa đoan,

Tay không bắt gió, mơ màng hư vô.

Tâm ta tạo Phật cho ta,

Bỏ tâm tìm Phật, hỏi là tìm đâu,

Phật tâm, tâm Phật trước sau,

Ngoài tâm, tìm Phật, hỏi sao chẳng lầm.

Cho nên phải biết hồi tâm,

Nội quan, quán chiếu mà tầm siêu linh.

Bản Lai Diện Mục của mình,

Muốn tìm thì phải ly hình, nhập tâm. [54]

Khi đã biết rõ căn bản cao siêu của mình, khi đã nhận thức được Pháp Thân trường tồn trong mình; khi đã biết rõ bộ mặt thật của vọng tâm, biết rõ thân phận mây trôi, bèo nổi của vọng tâm, các bậc Chân Tu mới ra công “diệt ngã”. “Diệt Ngã” là “diệt Tiểu Ngã”, cho Chân Như Đại Ngã hiện ra. [55]

“Diệt Ngã” đây cốt là để:

—Hoà hợp với Bản Thể tuyệt đối. [56]

—Nhất trí với thực tại. [57]

—Đồng thể với Di Đà. [58]

—Khế hợp với Chân Như tuyệt đối. [59]

Diệt Ngã là cốt diệt trừ hết những vọng tưởng, vọng niệm, diệt trừ hết mọi dây rợ luyến ái bên ngoài, thoát ly hết mọi giây triền phược, trói buộc mình vào hoàn cảnh và vật chất. Đây là một thái độ tinh thần trừu tượng, chứ không phải là một sự trốn tránh, thoát ly vật chất cụ thể. Cho nên, ta có thể diệt ngã ngay giữa lòng đời, ngay trong chốn phồn hoa, đô hội. Đó tức là sự thanh tịnh, tự do, tự tại về tinh thần, đó tức là”đắc thiên hạ nhi bất dự yên” [60]

Diệt ngã là vén mây mù tăm tối cho vừng dương muôn thủa hiện ra, bỏ Sắc Thân mà hiển “Pháp Thân” [61] bỏ phàm thể mà mặc Thánh Thể. [62]

Như trên đã nói: Chân Như là Bản Thể, là Như Lai siêu xuất trên hình thức, sắc tướng, siêu xuất trên mọi vọng tưởng, vọng niệm, cho nên muốn thấy Bản Thể phải lìa bỏ hình tướng, đi ngược lại dòng tư tưởng, niệm lự; đi sâu vào chỗ dục tình chưa phát xuất; chỗ tư tưởng chưa manh nha; hư không, trạm tịch mới chứng quả được. [63]

Mượn ý kinh Kim Cương và Đạt Ma Huyết Mạch Luận, ta phác hoạ phương pháp Tu thân Kiến Tính, Thành Phật như sau:

Hãy rũ bỏ phù vân sắc tướng,[64]

Hãy cố tìm vô thượng Bồ Đề,

Niết Bàn muốn rõ nẻo về,

Đừng nên chấp trước, đam mê luỵ trần.

Con đường giải thoát nội tâm,

Cố suy, cố nghĩ, cố tầm cho ra. [65]

Vọng Tâm cố vén mây mù, [66]

Băng qua hình tướng, vào toà Như Lai. [67]

Nơi Vô Trụ là nơi an lạc,[68]

Pháp Vô Vi là Pháp Thánh Hiền. [69]

Chớ đừng dính líu sự duyên,

Đừng đem thanh sắc mà phiền Như Lai.[70]

Hãy nhớ kỹ hình hài, sắc tướng,

Đều là tuồng mộng tưởng, mau qua.

Đều là bào ảnh, quang hoa,

Sương vương ngọn cỏ, chớp loà chân mây. [71]

Như Lai chẳng ở đây, ở đó,

Chẳng đi đâu, chẳng có đến đâu. [72]

Như Lai ở sẵn lòng sâu,

Vào sâu tâm khảm mà cầu Như Lai.

Tóm lại, trước sau, chư vị Phật, chư vị Đạt Trí, Đại Giác đều công nhận rằng: Không thể nào tìm ra được Bản Thể Tuyệt Đối ngoài vũ trụ và ngoài tâm mình. Bản Thể ấy, Chân Tâm ấy đã lồng ngay trong lòng vũ trụ, và trong lòng con người. Sự giác ngộ cũng bắt đầu từ đó, và sự chứng quả cũng tận cùng ở đó.

Cho nên ta có thể mượn lời Đạt Ma tổ sư mà kết thúc như sau:

Tâm, tâm, tâm,

Tâm kia sao khó, khó sao tầm,

Khi rộng, rộng trùm muôn pháp giới,

Khi thu, thu nhỏ, khó lọt châm.

Ta chỉ tìm tâm, không tìm Phật,

Rũ không tam giới, mới hết lầm.

Phật kia, muốn chứng, muốn tầm,

Muốn tầm ra Phật, ngoài tâm chớ hòng.

Tâm ấy Phật, chớ không đâu nữa,

Phật tính nào, đời thủa ngoài tâm

Tâm sinh, sinh cả tốt lành,

Tâm sinh, tội cũng âm thầm sinh theo.[73]

*************           

PHỤ LỤC

MỘT SỐ THI, HỌA TRUYỀN TÂM ẤN.
I.—

Bồ Đề Bản Tính bản như như
 菩 提 本 性 本 如 如

Vạn Pháp thông hề thấu Thái Hư
 萬 法 通 兮 透 太 虛

Tự hữu linh minh khai Bát Nhã
 自 有 靈 明 開 般 若

Cơ giam lộ xứ hiện Chân Như
 機 緘 露 處 現 真 如

 (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. Hanh, tr. 1)

Bồ Đề Bản Tính vốn như như

Vạn pháp suốt qua thấu Thái Hư.

Sẵn có linh minh khai Bát Nhã,

Phanh phui then chốt, lộ Chân Như.

II.—

* Không Chiếu Thiền Sư vân:
空 照 禪 師 云﹕

Giá cá phân minh giá cá đồng
 這 箇 分 明 這 箇 同

Năng bao Thiên Địa vận hư không
 能 包 天 地 運 虛 空

Ngã kim trực chỉ chân tâm địa
 我 今 直 指 真 心 地

Không tịch linh tri thị bản tông.
 空 寂 靈 知 是 本 宗

(Tính Mệnh khuê chỉ, q. Hanh, tr. 9)

Chân Như tính ấy, thế nhân đồng,

Bao trùm trời đất, chuyển hư không.

Ta nay chỉ thẳng Chân Tâm địa,

Vắng lặng linh tri, ấy bản tông.

III.——

* Trí Giác Thiền Sư vân: 智 覺 禪 師 云﹕

Bồ tát tòng lai bất ly chân
 菩 薩 從 來 不 離 真

Tự gia muội liễu bất tương thân
 自 家昧 了 不 相 親

Nhược năng tĩnh tọa hồi quang chiếu
 若 能 靜 坐 回 光 照

Tiện kiến sinh tiền cựu chủ nhân
 便 見 生 前 舊 主 人

 Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 10.

Bồ tát từ xưa chẳng lìa chân,

Tại mình mê muội chẳng thân gần.

Nếu hay tĩnh tọa, hồi quang chiếu,

Liền thấy sinh tiền cựu chủ nhân.

IV.—

* Vô Cấu Tử kệ vân: 無 垢 子 偈 云﹕

Ngũ uẩn sơn đầu nhất đoạn không
 五 蘊 山 頭 一 段 空

Đồng môn xuất nhập bất tương phùng
 同 門 出 入 不 相 逢

Vô lượng kiếp lai. nhẫm ốc trú
 無 量 劫 來 賃 屋 住

Đáo đầu bất thức chủ nhân ông.
 到 頭 不 識 住 人 翁

(Tính Mệnh Khuê Chỉ q.2, tr. 11.)

Đầu non ngũ uẩn một vừng không,

Vào ra cùng cửa chẳng tương phùng.

Từ bao nhiêu kiết thuê nhà ở,

Tới nay nào biết Chủ Nhân Ông.

V.——

*Chí Công hoà thượng vân: 志 公 和 尚 云﹕

Đốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng
 頓 悟 心 原 開 寶 藏

Ẩn hiển linh tung hiện chân tướng
 隱 顯 靈 蹤 現 真 相

Độc hành độc tọa thường nguy nguy
 獨 行 獨 坐 常 巍 巍

Bá ức hoá thân vô số lượng.
 百 億 化 身 無 數 量

(Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 11)

Đốn ngộ nguồn tâm mở bảo tàng,

Bóng hình Chân Tướng hiện diểu mang,

Một mình đi đứng thường nghiêm chỉnh,

Vạn ức hoá thân chẳng thể lường.

VI.—

* Khải Đường thiền sư vân: 凱 堂 禪 師 云 ﹕

Ưng vô sở trụ sinh kỳ tâm
 應 無 所 住 生 其 心

Khuếch triệt viên minh, xứ xứ chân.
 廓 徹 圓 明 處 處 真

Trực hạ đỉnh môn, khai chính nhãn
 直 下 頂 門 開 正 眼

Đại Thiên sa giới, hiện toàn thân.
 大 天 沙 界 現 全 身。

(Tính Mệnh Khuê chỉ, q. II, tr. 11.)

Nên từ Vô Trụ khởi sinh tâm,

Sáng láng bao la xứ xứ chân.

Ngay dưới đỉnh đầu, khai chính nhãn,

Trăm nghìn thế giới hiện trong thân.

VII.—

*Duy Khoan Thiền Sư vân: 惟 寬 禪 師 云﹕

Khuyến quân học Đạo, mạc tham cầu
 勸 君 學 道 莫 貪 求

Vạn sự vô tâm, đạo hợp đầu.
 萬 事 無 心 道 合 頭

Vô Tâm, thuỷ thể vô tâm Đạo
 無 心 始 體 無 心 道

Thể Đạo Vô Tâm, Đạo dã hưu
 體 道 無 心 道 也 休

(Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 11)

Khuyên ai học Đạo chớ tham cầu,

Đem tâm vô sự hợp Đạo mầu.

Vô Tâm hợp với Vô Tâm Đạo,

Hợp Đạo Vô Tâm, Đạo mới sâu.

VIII.—

* Phật quốc Thiền Sư vân: 佛 國 禪 師 云﹕

Tâm, Tâm tức Phật, Phật tâm, tâm
 心 心 即 佛 佛 心 心

Phật, Phật, Tâm, Tâm tức Phật tâm
 佛 佛 心 心 即 佛 心

Tâm Phật, ngộ lai vô nhất vật
 心 佛 悟 來 無 一 物

Tướng quân chỉ khát vọng mai lâm.
 將 君 止 渴 望 梅 林

(Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 10)

Tâm Tâm là Phật, Phật là Tâm,

Phật, Phật, Tâm, Tâm, tức Phật Tâm.

Tâm Phật hiểu rồi, còn chi nữa,

Tướng quân đỡ khát, ngó mai lâm.

IX.—

*Viên Ngộ Thiền Sư vân: 圓 悟 禪 師 云﹕

Phật Phật Đạo đồng, đồng chí Đạo
 佛 佛 道 同 同 至 道

Chân Tâm chân khế, khế Chân Tâm.
 真 心 真 契 契 真 心

Khuếch nhiên thấu xuất uy âm ngoại
 廓 然 透 出 威 音 外

Địa cửu, thiên trường, hải cánh thâm
 地 久 天 長 海 更 深

 (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 12)

Phật Đạo vô vi, chí Đạo đồng,

Tâm Tâm khế hợp với Chân Không.

Mang nhiên siêu xuất uy âm ngoại,

Trời đất lâu lai, biển thẳm lòng.

X.—

* Trung Phong Thiền Sư vân: 中 峰 禪 師 云﹕

Tùng lai, chí Đạo dữ tâm thân
 從 來 至 道 與 心 親

Học đáo vô tâm, đạo tức chân
 學 到 無心 道 即 真

Tâm Đạo hữu vô câu mẫn tuyệt
 心 道 有 無 俱 泯 絕

Đại thiên thế giới nhất nhàn thân
 大 天 世 界 一 閒 身

 (Tính Mệnh Khuê Chỉ, q. II, tr. 14.)

Xưa nay Chí Đạo với tâm gần,

Học tới Vô Tâm, đạo mới Chân.

Tâm Đạo hữu vô đều rũ sạch,

Muôn ngàn thế giới, một nhàn thân.

XI.—

* Cao tăng Diệu Hư vân: 高 僧 姚 虛 云﹕

Hoàng hoàng nhất cá Chủ Nhân Ông
 惶 惶 一 箇 主 人 翁

Tịch nhiên bất động tại Linh Cung.
 寂 然 不 動 在 靈 宮

Đãn đắc thử trung vô quải ngại
 但 得 此 中 無 掛 礙

Thiên nhiên bản thể tự hư không
 天 然 本 體 自 虛 空

Phảng phất mơ màng ấy chủ nhân,

Im lìm, lặng lẽ tại linh cung,

Miễn sao thông tỏ trung tâm ấy,

Thiên nhiên Bản Thể hợp hư không.

——————————————

HỌA BẢN I

Tứ Đại chuyển vần, vạn vật xoay,

Hình hài, tâm tưởng phút giây thay.

Cố tìm trường tịch trong hư ảo,

Cố tìm bất biến, giữa chuyển lay.

HỌA BẢN II.

(Hình Pháp Luân)

Giữa muôn hình tướng có Chân Như

Hình tướng hư hoài, Thể chẳng hư.

Tìm thấy Chân Như trong ảo ảnh,

Ấy là Giác Ngộ, thoát phù du.

HỌA BẢN III.

(Hoa Sen [74])

Cánh hoa tuy đẹp, tuy xinh,

Nhưng mà nhân quả, trường sinh ở đài.

Trường sinh chẳng ở hình hài,

Chẳng trong tâm vọng, chẳng ngoài tâm chân.

HỌA BẢN IV.

Liên Tâm ở sẵn trong đầu,

Niết Bàn chớ có tìm đâu ngoài lòng.[75]

HỌA BẢN V.

Sư đệ tứ mục
 師 弟 四 目

Tuệ nhãn tương giao
 慧 眼 相 交

Ấn chứng Như Lai
 印 証 如 來

Truyền y tự tổ
 傳 衣 飼 祖

Bốn mắt nhìn nhau chẳng nói năng,

Truyền nhau tuệ nhãn, gửi nhau lòng.

Như Lai siêu xuất trên từ ngữ,

Tâm Ấn tương truyền, “không bất không”.[76]

****************

CÁC SÁCH THAM KHẢO

1.—Pháp Văn.

Présence du Bouddhisme.
 France—Asie.

Le Bouddhisme contemporain.
 A. Russel

Le Bouddhisme Zen.
 A. W. Watts

L’Enseignement du Bouddha.
 Walpola Rahula

Les Grandes Religions.
 E. Aegerter

Aspects du Bouddhisme
 Henri de Lubec

Origine et Histoire des Religions.
 J. Murphy.

Entretiens du Maitre Dhyana,

Chen Houei du Ho Tao.
 J. Gernet

La conception bouddhique.

du devenir
 N. V. Trung.

Des Opinions Philosophiques

en Chine.
 Léon Wieger.

La Connaissance Transcendentale.
 David Néel (A)

La Pensée Du Bouddha.
 Séménoff (M.)

Bouddhisme Chinois.
 Léon Wieger.

Les grands penseurs de L’Inde.
 Albert Schweitzer

Le mental Cosmique.
 Yun (Hsi)

 2.— Anh Văn

Buddhism in translation.
 Henri Clarke Warren

The teaching of the Compassionate Bouddha.
 E. A. Burtt

Buddhism.
 Christmas Humphreys

Manuel of Zen Buddhism.
 D. T. Suzuki.

How the great religious began.
 Joseph Gaer

Buddhism today (Monthly Magazine).
 Buddhism today Association

Trung Anh Phật học từ điển (A dictionary of Chinese Buddhist terms).

Foundation of the Tibetan.

Mysticism.
 Anagarika Govinda

3.— Hán Văn.

Tính Mệnh Khuê Chỉ.

Phật Học Chỉ Nam.
 Phi Mại Phẩm

Qui Nguyên Trực Chỉ.
 Hà Nam—Tế Xuyên, Bảo Kham Tự Tàng Bản.

Vô lượng nghĩa kinh.
 Tiêu Tề

Kinh Xuyên.
 Ẩn Sĩ Lưu Cầu.

Diệu pháp liên hoa kinh.
 Đường Chung Nam Sơn

Thích Đạo Tuyên thuật.

Ngự Chế Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh.

Hoa Nghiêm Kinh

Lăng già kinh

Cầu Na Bạt Đà La dịch

Duy Ma Cật sở thuyết kinh.

Kim Cương kinh giảng luận.
 Giáng Vị Nông Cư Sĩ di trước

Bồ đề Đạt Ma huyết mạch luận.
 Tài liệu viết tay của cụ Nguyễn Minh Thiện Tam Tông Miếu.

4.— Việt Hán

Qui Nguyên trực chỉ.
 Đỗ Thiếu Lăng dịch.

Nhất cá khoa học giả.
 Uông trí Biểu nghiên cứu.

Phật kinh đích báo cáo.
 Đồ Nam dịch.

Kim Cương Kinh.
 Thiều Chửu biên dịch

5.— Việt Văn

Đại cương Triết học Phật Giáo.
 Thích Đạo Quang dịch

Triết học Zen.
 ĐĐ Thích Thiên Ân.

Qui Nguyên trực chỉ.
 Đoàn trung Còn dịch

Diệu Pháp liên hoa kinh.
 Thích Trí Tịnh dịch.

Phật Học Tinh Hoa.
 Nguyễn Duy Cần

Lịch sử Triết học Đông Phương.
 Nguyễn Đăng Thục.

Thủ Lăng Nghiêm kinh.
 ĐĐ Thích Chân Giác.

Pháp Hoa huyền nghĩa.
 Chánh Trí Mai thọ Truyền

Kinh Dược Sư.
 Thiều Chửu dịch.

Kinh Viên Giác.
 Tuệ Quang

Phật Giáo.
 Trần Trọng Kim.

Phật Giáo triết học.
 Phan Văn Hùm.

Toạ thiền tam muội.
 Thích Thanh Từ.

Làn sóng tôn giáo trên đất Việt.
 Tâm Ngọc.

Phật giáo xưa và nay.
 Trần Trọng Kim.

Văn học đời Lý.
 Ngô tất Tố.

Văn học đời Trần.
 Ngô Tất Tố.

Quan thế Âm bồ tát tín luận.
 Hải Tín Cư Sĩ.

Triết Lý Đạo Phật.
 Thích Thiện Hoa.

(Đại Cương Thủ Lăng Nghiêm).

Đường vào ánh sáng Đạo Phật.
 Tịnh Mặc.

Tạp chí Vạn Hạnh.

Minh Lý Đạo.
 Nguyễn Minh Thiện (T. T. M.)

*************           

CHÚ THÍCH

[1] La formule “se tirer de l’impermanence, obtenir la permanence” avait été le point d’orgue final de tous les discours du Bouddha Sakyamuni.

Léon Wieger, Histoire des Croyances religieuses… p. 438.

[2] Tam chuyển Pháp Luân: 1 Căn Bản Pháp Luân: thuyết Hoa Nghiêm. 2 Chi mạt pháp luân: Thuyết A Hàm chí Phương Đẳng; 3 Nhiếp mạt qui bản: Thuyết Pháp Hoa.

Phật Học Chỉ Nam, tr. 11.

[3] Phân biệt Nhất Tâm Chân Như, Nhất Tâm Sinh Diệt là chủ đích của kinh Lăng Già.

[4] 大 我 (đại Ngã) the greater self, or the true personality 真 我 (chân ngã). Hinayana (tiểu thừa) is accused of only knowing and denying the common idea of a self, or soul, whereas there is a greater self, which is a nirvana self. It specially refers to the Great Ego, the Buddha, but also to any Buddha…

Trung Anh Phật Học từ điển, tr. 89.

[5] 阿 賴 耶 識 A Lại Da Thức Alaya Vijnana “The receptacle intellect or consciousness; “the originating of receptacle intelligence”; basic consciousness (keith)… It is called 第 一 識 Đệ Nhất Thức the prime or supreme mind or consciousness…無 垢 識 Vô Cấu Thức unsullied consciousness when considered in the absolute i. e. the Tathagata and đệ bát thức 第 八 識 as the last vijnana. There has been much discussion as to the meaning and implication of the Alaya—Vijnana. It may be also termed the unconscious, or unconscious absolute, out of whose ignorance or unconsciousness arises all consciousness.

Trung Anh Phật Học Từ Đỉển, tr. 292.

[6] 弟 兄 八 箇 一 人 痴

 只 有 一 箇 最 伶 俐

 五箇 門 前 做 買 賣

 一 箇 家 中 作 主 依。

Tính Mệnh Khuê Chỉ, I, tr. 41.

[7] Xem Bát thức qui nguyên đồ, tính Mệnh Khuê Chỉ, q. I, tr, 41.

[8] Phật tính thị thường, thiện ác chư pháp nãi chí Bồ Đề Tâm, giai thị vô thường. (Niết Bàn kinh, Pháp Bảo Đàn Kinh, Đoàn trung Còn phiên dịch), Đốn tiệm phẩm, tr. 118.

[9] Lorsque l’Entité Spirituelle s’affranchit pour toujours de toute particule de matière, de substance ou de forme et redevient un souffle spirituelle. C’est alors seulement qu’elle entre dans le Nirvana éternel qui ne change jamais et qui dure, aussi longtemps que le cycle de vie a duré: une éternité vraiment. Et ce souffle qui existe en Esprit, n’est rien, parce qu’il est tout; comme forme ou comme apparence quelconque, il est complètement anéanti; mais comme Esprit Absolu, il Est, car il est devenu l’Être même. Lorsqu’il s’agit de l’”âme”, prise dans le sens d’Esprit, l’expression:  “absorbée dans l’Essence Universelle”, signifie “union avec”…il ne peut jamais être question d’annihilation, car cela voudrait dire séparation éternelle.

H. P. Blavatsky. La Clé de la Théosophie, p. 162.

[10] Soit dit en passant que pour avoir ignoré l’importance de la connexion de ces deux ordres (le phénoménal et le transcendant, le samsara et le Nirvana) qu’on a si mal compris le Bouddhisme. Car il faut noter que si le Bouddha a jeté l’anathème sur l’existence terrestre dans son ensemble (tout est douleur, tout est impermanent, tout est sans—soi Sarvam Duhkha, sarvam anita, sarvam anatman), il s’est tout entier tendu vers ce qu’il appelait l’Autre Rive, le Nirvana.

Nguyễn Văn Trung, La Conception Bouddhique du devenir, p. 66.

[11] Toutes les choses conditionnées sont impermanentes…toutes les choses conditionnées sont dukka 苦 (khổ)… tous les dhammas sont sans soi…

Walpola Rahula, L’Enseignement du Bouddha, p. 84.

[12] Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, tr. 177—178.

[13] Chấp trước vũ trụ chi hiện tướng nhi bất kiến Bản Thể giả vị chi Mê. Kiến Bản Thể nhi bất kiến hiện tướng giả, diệc bất đắc vị chi Ngộ.

Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa.

[14] Hải tín cư sĩ, Quán thế Âm Bồ tát tín luận, tr. 36.

[15] Walpola Rahula, l’Enseignement du Bouddha, Chapitre 6: La doctrine du Non—Soi.

[16] Nguyễn Văn Trung, La Conception bouddhique du devenir, article 3, L’Anatman, ou l’explication bouddhique du devenir.

… Thuyết Vô Ngã đã được bàn cãi sâu rộng trong “Na tiên tì kheo kinh” (khoảng thế kỷ V sau công nguyên). đó là đề tài đối thoại giữa vua Di Lan (Milanda) và tì khưu Na Tiên (Nagasena).

Cf. Léon Wieger, L’Histoire des Croyances et des opinions philosophiques en Chine, pp. 445,446.

[17] “Cái ta” có nhiều nghĩa là “giả ta”, “cái ta” không có tới 2 nghĩa là “Thật ta”…Nhờ đứng trên cái thuyết vô ngã này, mà người tu giải thoát được những tướng khổ của “Giả ta”. Bởi cớ sao? Nhận được cái “ta chân thật bất diệt” là không còn bám víu chạy theo những cái “Ta giả và sinh diệt” nữa.

Cư sĩ Hải Tín, Quán Thế Âm Bồ tát tín luận, tr. 42.

[18] 失 汝 元 常, 故 受 輪 轉。

Thủ Lăng Nghiêm kinh. Việt Nam Phật Tử hội xuất bản, tr. 65.

[19] Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, tr. 119—120.

[20] Thủ Lăng Nghiêm kinh quyển I. (Việt Nam Phật Tử hội xuất bản, tr. 22—23); Thủ Lăng Nghiêm, Linh Sơn phật học nghiên cứu hội, tr. 55—56.

[21] Phật cáo A Nan: ”Thử thị tiền trần hư vọng tướng, tưởng hoặc nhữ Chân tính; do nhữ vô thuỷ chí ư kim sinh, nhận tặc vi tử, thất nhữ nguyên thường, cố thụ luân chuyển.”

Thủ Lăng Nghiêm kinh, q. I, V.N. P. T. H xuất bản, tr. 25.

Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Linh Sơn Phật Học tr. 55—56.

[22] Phật ngôn: “Đại Vương, nhữ diện tuy trứu, nhi thử kiến tính vị tằng trứu; trứu giả vi biến, bất trứu phi biến, biến giả thụ diệt, bỉ bất biến giả nguyên vô sinh diệt.

Thủ Lăng Nghiêm kinh q. II, tr. 5. hoặc Linh Sơn, tr. 75.

[23] Trụ danh chủ nhân. 住 名 主 人Thủ Lăng Nghiêm kinh, V. N. P. T. H. tr. 33, hoặc Linh Sơn, tr. 75.

[24] Trần chất giao động , hư không tịch nhiên. Như thị tư duy: trường tịch danh Không, giao động danh trần.

Thủ Lăng Nghiêm, V.N. P. H 34. và Linh Sơn tr. 75—76.

[25] Nguyện văn Như Lai hiển xuất thân tâm, chân vọng, hư thực, hiện tiền sinh diệt dữ bất sinh diệt nhị phát minh tính.

Thủ Lăng Nghiêm kinh q. 2, V.N. P. H. tr. 1. —Linh Sôn, tr. 80

[26] Dĩ động vi thân, dĩ động vi cảnh…tính tâm thất chân, nhận vật vi kỷ, luân hồi thị trung, tự thủ luân chuyển.

Thủ Lăng Nghiêm, q. I, V.N. P. H 36; & Linh Sôn, 80.

[27] Thất ngã Bổn Tâm, tuy thân xuất gia, tâm bất nhập đạo, thí như cùng tử, xả phụ đào thệ, kim nhật nãi từ. Tuy hữu đa văn, nhược bất tu hành, dữ bất văn đẳng, như nhân thuyết thực, chung bất năng bão.

Thủ Lăng Nghiêm , V.N.P. H. tr. 28—29; Linh Sôn, tr. 66—67.

[28] Tổ chi ngộ Bản tính vị Huệ Năng viết: “Bất thức Bản Tâm, học pháp vô ích, Nhược thức tự Bản Tâm, kiến tự Bản Tánh, tức danh Trượng Phu, Thiên , Nhân sư, Phật.”

[29] Thích Đạo Quang, Đại cương Triết học Phật Giáo, tr. 55.

[30] Như trên, tr. 93—94.

[31] Như trên, tr. 94.

[32] Như trên, tr. 56 —tr. 94.

[33] Như trên, tr. 93.

[34] Như trên, tr. 93.

[35] Như trên, tr. 93.

[36] 現 相 之 我 與 本 體 之 佛, 猶 如 水 與 波。 此 本 體 謂 之 真 如, 亦 謂 之 佛¡

Hiện tượng chi Ngã dữ Bản Thể chi Phật do như thuỷ dữ ba. Thử Bản Thể vị chi Chân Như, diệc vị chi Phật.

Ngã hiện tượng với Phật Bản Thế là như sóng và nước. Phật Bản Thể ấy gọi là Chân Như, là Phật.

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses et des opinions philosophiques en Chine, p. 546.

[37] Pháp Bảo Đàn Kinh (Đoàn trung Còn dịch), Sám Hối Phẩm, tr. 61.

[38]

Tam điểm như tinh tượng
 三 點 如 星 象

Hoành câu tự nguyệt tà
 橫 鉤 似 月 斜

Phi mao tòng thử đắc
 披 毛 從 此 得

Tác Phật cánh vô tha.
 作 佛 更 無 他。

Long lanh ba chấm tựa sao,

Mình cong vầng nguyệt, tiêu hao xế tà.

Muông chim nguồn ấy phát ra,

Duyên do Thần Phật cũng là đấy thôi.

[39] Diệu Pháp liên hoa quyển thứ 4. Phẩm ngũ bá đệ tử thụ ký, kệ của A Nhã Kiều Trần Như. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Liên Hải Phật Học Trường, tr. 243.

[40] Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Tín Giải. Kệ của Ma Ha Ca Diếp. Người cùng tử của Ông Trưởng giả). Diệu Pháp Liên Hoa, Liên Hải

Phật Học đường, từ tr. 145 đến 153

[41] ĐĐ Thiên Ân, Triết Học Zen I, tr. 162.

[42] 云 何 自 疑 汝 之 真 性, 性 汝 不 真, 取 我 求 實。

Vân hà tự nghi nhữ chi Chân Tính, Tính nhữ bất chân, thủ Ngã cầu thực.

Thủ Lăng Nghiêm kinh (V.N. P. T. hội xuất bản), q. II, tr. 16—17.—Thủ Lăng Nghiêm, —Linh Sơn, Phật Học, tr. 113—114.

…O Ananda, soyez des lampes pour vous—même, soyez un refuge pour vous—même; ne cherchez pas d’autre refuge. Prenez la vérité comme lampe, prenez la vérité comme refuge. Ne cherchez pas d’autre refuge qu’en vous—même. (Mahaparinibhana sutta—Niết Bàn kinh —Présence du Bouddhisme, p. 539.)

[43] 十 箇 大 字 乃 是 ﹕靈 檯 方 寸 山, 斜 月 三 星 洞。

Giá cá Thập Đại Tự nãi thị: Linh Đài Phương Thốn Sơn, Tà Nguyêt Tam Tinh Động. (Tây Du, hồi 1)

[44]

Phật tại Linh Sơn, mạc viễn cầu
 佛 在 靈 山 莫 遠 求

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
 靈 山 之 在 汝 心 頭

Nhân Nhân hữu cá Linh Sơn tháp
 人 人 有 箇 靈 山 塔

Hảo hướng Linh Sơn tháp lý tu.
 好 向 靈 山 塔 裏 修.

Tây Du ký, hồi 85.

[45] Không nên hướng ngoại mà tìm cầu, trái lại, cần phải hướng về nội Tâm để tìm Phật Tính. (Truyền Tâm Pháp của Hoàng Bích Thiền Sư. ĐĐ. Thích Thiên Ân, Triết học Zen II, tr. 25)

…Tự Tâm của ngươi là Phật, Phật là tự tâm của ngươi. Tâm và Phật không sai biệt, vì thế cổ nhân nói: Tự Tâm tức Phật. (Truyền Tâm Pháp Yếu. Cf. ĐĐ Thích Thiên Ân, Triết học Zen, II, tr. 54.)

…Trong Tâm Tính của mọi loài chúng sinh vốn đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai. Nhưng nếu không thật tu, thì không bao giờ hiển hiện, không thật chứng, không thể nào hoạch đắc.

Chánh Pháp Nhãn Tàng, Biện Đạo thoại. ĐĐ. Thiên Ân, Triết học Zen, II, tr. 87.

…Giáo Lý đã nói: Chân ở trong Vọng. Vậy tìm Chân Tâm ở ngoài thân và tư tưởng của mình, là không thể được.

(Hải Tín Cư Sĩ, Quan thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr. 46.)

[46] 丙 丁童 子 來 求 火。

ĐĐ Thích Thiên Ân, Triết Học Zen, II, tr. 55 và tiếp theo.

[47] 佛 自 性 中 作, 莫 向 身 外 求。

Quyết Nghi Phẩm, Pháp Bảo Đàn Kinh, Đoàn trung Còn dịch.

本 性 是 佛, 離 性 無 別 佛。

Pháp Bảo Đàn Kinh, Bát Nhã Phẩm, Đoàn trung Còn dịch, tr. 28.

[48] Nhược nhiên qui y Phật, Phật tại hà xứ? Nhược bất kiến Phật, bằng hà sở qui… Kinh văn phân minh ngôn tự qui y Phật, bất ngôn qui y tha Phật.

若 然 歸 依 佛, 佛 在 何 處。 若 不 見 佛, 憑 何 所 歸。 經 文 分 明 言﹕ 自 歸 依 佛, 不 言 歸 依 他 佛。

Pháp Bảo Đàn Kinh, Sám Hối Phẩm, Đoàn trung Còn dịch, tr. 64—65.

[49] Le Nibbana “doit être réalisé par les Sages au—dedans d’eux—mêmes. (paccattam veditabbo vinnuhi).—Présence du Bouddhisme, p. 268.

[50] Xin xem Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine, p. 524 et ss.

[51] Tài liệu viết tay của Tam Tông Miếu (phần phiên Âm), và Léon Wieger , Histoire des Croyances Religieuses… p. 524 et ss.

[52] 三 界 本 起 同 歸 ㄧ 心。 先 佛 後 佛 以 心 傳 心 不 立 文 字。。。 從 無 始 曠 中j 劫 來, 乃 至 施 為 運 動 ㄧ 切 時 中, ㄧ 切 處 所 皆 是 汝 本 心, 皆 是 汝 本 佛。

Tam giới bổn khởi đồng qui nhất tâm. Tiên Phật, hậu Phật dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự…Tòng vô thuỷ khoáng đại kiếp lai, nãi chí thi vi, vận dộng, nhất thiết thời trung, nhất thiết xứ sở, giai thị nhữ bổn tâm, giai thị nhữ bổn Phật.

Đạt Ma huyết mạch luận. (Tài liệu viết tay của Tam Tông Miếu)

…Le monde tout entier est pensé dans le coeur. Tous les Bouddhas, passés et futurs ont été et seront formés dans le coeur. La connaissance se transmet de coeur à coeur, par la parole. A quoi bon, tous les écrits? Le coeur de chaque homme communie à ce qui fut tous les temps, à ce qui est tous les lieux..

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses …p. 524.

[53] 即 心 是 佛,亦 復 如 是。 除 此 心 外, 覓 菩 提,涅 槃 無 有 是 處。 自 性 真 凳瞗A非 因 非 果 法, 即 是 心 義。

Tức tâm thị Phật, diệc phục như thị. Trừ thử tâm ngoại, mích Bồ Đề, Niết Bàn vô hữu thị xứ. Tự Tính chân thật, phi nhân, phi quả pháp, tức thị tâm nghĩa.

Đạt Ma huyết mạch luận.

…Le coeur est le bouddha. Il n’y a pas de Bouddha en dehors du coeur. Considérer l’illumination et le nirvana comme des choses extérieures au coeur, c’est une erreur. Il n’y a pas d’illumination en dehors du coeur vivant. Il n’y a pas de lieux où se trouvent des êtres nirvanés. Hors la réalité du coeur, tout est imaginaire…Il n’y a pas de causes, il n’y a pas d’effets. Il n’y a d’activité que la pensée du coeur, et son repos, c’est le Nirvana. Chercher quelque chose en dehors de son coeur, serait vouloir saisir le vide. Le Bouddha , chacun le crée dans son coeur par sa pensée. Le coeur est Bouddha, Bouddha c’est le coeur.

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses …p. 524.

[54] 若 言 心 外 有 佛, 求 菩 提 可 得 無 有 是 處。 佛 及 菩 提 皆 在 何 處?

譬 如 有 人 以 手 提 虛 空, 得 否? 除 此 , 心 外 見 佛, 終 不 得 也。。。

心 即 是 丞佛,佛 即 是 心。 心 外 既 無 佛, 何 起 佛 見? 際 相 誑 惑。。。

若 欲 見 佛 見 性 即 是 佛。

Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật, cầu Bồ Đề khả đắc, vô hữu thị xứ. Phật cập Bồ Đề giai tại hà xứ? Thí như hữu nhân, dĩ thủ đề hư không, đắc phủ. .. Trừ thử , tâm ngoại kiến Phật, chung bất đắc dã…Tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm, tâm ngoại ký vô Phật, hà khởi Phật kiến? Tế tương cuống hoặc… Nhược dục kiến Phật, kiến tính tức thị Phật.

Đạt Ma huyết mạch luận.

…Imaginer un Bouddha en dehors du coeur, se figurer qu’on le voit en un lieu extérieur, c’est du délire. Donc il faut tourner son regard , non vers le dehors, mais vers le dedans, il faut le concentrer en soi—même, et contempler en soi sa bouddhaité.

Léon Wieger, Histoire Des Croyances Religieuses, p. 524.

[55] Ở nơi mỗi người, nếu cái Vọng Tâm sinh, thì cái Chân Tâm phải ẩn, nhưng nó lại ẩn trong cái Vọng Tâm. Còn khi cái Chân Tâm hiện ra, thì cái Vọng Tâm phải mất, nhưng nó lại mất trong Chân Tâm.

Hải Tín Cư Sĩ, Quán Thế Âm Bồ Tát Tín Luận, tr. 46.

…Trong cái bản ngã nhỏ hẹp, chúng ta phát huy cái Đại Ngã rộng lớn.

Thích Đại Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 55.

[56] Thích Đạo Quang, Đại Cương Triết Học Phật Giáo, tr. 56.

[57] Như trên, tr. 54.

[58] Di Đà đồng thể. Như trên, tr. 54.

[59] Như trên, tr. 94.

[60] Luận Ngữ, Thái Bá đệ Bát, tiết 18.

[61] Pháp Thân = Corps mystique.

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses… p. 525.

… Sư viết: Ký nhược bất biệt, tức thử thân thị nhữ bổn Pháp Thân; tức thử nhữ bổn Pháp Thân thị nhữ bổn tâm.

Thử tâm tòng vô thỉ khoáng đại kiếp lai, dữ như kim bất biệt; vị thường hữu sinh tử; bất sinh, bất diệt; bất cấu, bất tịnh; bất hảo, bất ác; bất lai, bất khứ; diệc vô thị phi; diệc vô nam, nữ tướng; diệc vô tăng tục, lão thiếu; vô thánh, vô phàm; diệc vô Phật; diệc vô chúng sinh; diệc vô tu chứng; diệc vô nhân quả; diệc vô cân lực, diệc vô tướng mạo; do như hư không; thủ bất đắc; xả bất đắc; sơn hà thạch bích, bất năng vi ngại; xuất một, vãng lai, tự tại, thần thông…

Đạt Ma huyết mạch luận.

[62] Thánh Thể = Le Saint Corps.

Léon Wieger, Histoire des Croyances Religieuses… p. 526.

…Nhược trí huệ minh liễu, thử tâm hiệu danh Pháp Tính, diệc danh Giải Thoát Sinh Tử, Bất Câu Nhất Thiết Pháp, Câu Đà Bất Đắc; thị danh Đại Tự Tại Vương Như Lai, diệc danh Bất Tư Nghị; diệc danh Thánh Thể; diệc danh Trường Sinh Bất Tử; diệc danh Đại Tiên. Danh tuy bất đồng, Thể tức thị nhất.

Thánh nhân chủng chủng phân biệt, giai bất ly Tự Tâm.

Đạt Ma huyết mạch luận.

[63] Phật cáo Tu Bồ Đề: Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai. .. (Phật bảo Tu Bồ Đề: Phàm cái gì có tướng đều là hư dối. Nếu thấy các tướng chảng phải tướng, tức là thấy Như Lai.)

Kim Cương Kinh, Đoạn V.

…Ly nhất thiết tướng, tức danh chư Phật. (Thoát ly mọi hình thức, sắc tướng tức gọi chư Phật.)

—Kim Cương Kinh, đoạn XIV.

…Như Lai bất ưng dĩ cụ túc sắc thân kiến.

Kim Cương kinh, XX.

[64] Phật cáo Tu Bồ Đề: Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.

[65] Tự tâm thị Niết Bàn. Nhược ngôn tâm ngoại hữu Phật, cầu Bồ Đề khả đắc, vô hữu thị xứ.

Đạt Ma Huyết Mạch Luận.

[66] Minh tâm kiến Tánh, nhược bất kiến Tánh, đắc thành Phật Đạo, vô hữu thị xứ.

Đạt Ma Huyết Mạch Luận.

[67] Ly nhất thiết chư tướng, tức danh chư Phật.

Kim Cương Kinh, đoạn V.

68 Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.

Kim Cương Kinh, X.

[69] Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp, nhi hữu sai biệt.

Kim Cương Kinh, VII.

[70] Nhược dĩ sắc kiến Ngã, dĩ âm thanh cầu Ngã, thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai.

Kim Cương Kinh, XXVI.

[71] Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, bào ảnh, như lộ, diệc như điện, ưng tác như thị quán. (Tất cả các pháp hữu vi như mộng huyễn, bọt bóng, như sương và như chớp, nên quan sát như thế.)

Kim Cương Kinh, XXXII.

[72] Như Lai giả vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai. (Như Lai không từ đâu đến, cũng không đi đâu, nên gọi là Như Lai. = Pháp Thân là Bản Lai Thường Trụ, không chỗ xuất hiện, không chỗ nhập diệt)

Kim Cương Kinh, XXIX.

[73] 心, 心, 心 難 可 尋,

寬 時 遍 法 界, 隙 也不 容 針

我 本求 心, 不 求 佛

了 知 三 界 空 無 物。

若 欲 求 佛, 但 求 心, 只 這 心

這 心 是 佛。

我 本 求 心, 心 自 知,

求 心 不 得, 待 心 知。

佛 性 不 從 心 外 得,

心 生 便 是 罪 生 時。

Tâm, tâm, tâm,

Tâm nan khả tầm,

Khoan thời biến pháp giới,

Khích dã bất dung châm.

Ngã bổn cầu tâm, bất cầu Phật,

Liễu tri tam giới, không vô vật.

Nhược dục cầu Phật, đãn cầu tâm,

Chỉ giá tâm; giá tâm thị Phật.

Ngã bổn cầu Tâm, tâm tự tri,

Cầu Tâm bất đắc, đãi Tâm tri,

Phật tính bất tòng tâm ngoại đắc,

Tâm sinh tiện thị tội sinh thì.

Đạt Ma huyết mạch luận. Đoạn kết.

[74] Hình hoa sen phóng tác nhân bài thơ

Linh Sơn niêm hoa
 靈 山 黏 花

Tung Sơn đắc tủy
 嵩 山 得 髓

Hoàng Mai truyền y,
 黃 梅 傳 衣

Đông Sơn diên thọ
 東 山 延 壽。

 Chánh Pháp Nhãn Tàng —Diên Thọ.

Dịch: “Niêm hoa ở núi Linh Sơn, Ngộ Đạo ở núi Tung Sơn, truyền y bát ở đất Hoàng Mai, trực tiếp diên thọ ở núi Đông Sơn.”

Thiên Ân, Đoàn văn Ân, Triết Học Zen, I, tr. 67.

Trong kinh Đại Phạm Thiên, vấn Phật quyết nghi, có chép: “khi mà Phật ở trên Pháp Hội Linh Sơn (Grdhrakuta), có vị Đại Phạm Thiên (Mahabrahman: cõi trời thứ ba trong sơ thiền) có dâng hoa sen sắc vàng, cầu thỉnh Phật thuyết Pháp. Nhưng Phật chỉ nắm hoa không nói một câu nào. Đại chúng trong Pháp Hội đó không ai hiểu ý Phật, nên tất cả đều im lặng, và chỉ có Ông Ma Ha Ca Diếp mỉn cười. Phật dạy: Ta có Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn Diệu Tâm phó thác cho Ông Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa).” “Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn Diệu Tâm” là Diệu Tâm (Chân Trí), nhận rõ Diệu Lý (Chân Lý) của vũ trụ.

Thích Đạo Quang, Triết học Phật Giáo, tr. 129.

[75] Hình trích trong quyển Foundation of the Tibetan Mysticism của Anagarita Govinda —Charles Andrieu đã dịch ra Pháp Vân, dưới nhan đề Les Fondements de la Mystique Tibétaine.

Hình vẽ ngụ ý: Ngọc châu viên giác hay Tuyệt Đối Thể ở sẵn ngay trong Liên Hoa, tức là trong Trung Tâm Não Bộ con người.

[76] Chữ Nho 2 bên:

Bên trái, dòng 1: Tam thế Phật tổ truyền Tâm Ấn, tứ mục tương cố thái phân minh.

Dòng 2: Viên Đồng Thái Hư.

Bên Phải, dòng 3: Bồ Đề Tâm Ấn.

Bên Phải, dòng 4: Thái Hư nhất bản, vạn trường linh, tâm ấn nhân nhân nguyên tự thành.

Tài liệu và hình vẽ rút trong quyển: Trần Triều Dật Tôn Phật Điển lục. Thượng sĩ Ngữ lục (Trúc Lâm Thượng sĩ ngữ lục) tr. 6. Việt Nam Phật Điển tùng khan. Thư Viện Khảo cổ, số VD 2/6b.

Đó cũng là Tâm Ấn của Thiền Tông trong Thập Ngưu Đồ, nhan đề là Song Dẫn, (Phật Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần tr. 303). Đó tức là đã tiến tới “Tất cảnh Không”, hoà đồng, hợp nhất với Chân Nguyên (Chân Tâm) không còn chút chi phân biệt.

——————————–
********************************           

CHƯƠNG XIX

ĐẠO KHỔNG

CHÂN DUNG KHỔNG PHU TỬ.

Nói tới đạo Khổng ai cũng hay. Nói tới đức Khổng ai cũng biết. Nhưng biết đạo Khổng cho rành, hiểu đạo Khổng cho đúng, hồ dễ mấy ai? Vậy trước khi tìm hiểu về Đạo Khổng, chúng ta hãy tìm hiểu về Đức Khổng.

Tìm hiểu về chân dung, chân tướng Đức Khổng đem lại cho ta nhiều lợi ích.

1. Trước hết chúng ta hiểu rõ về Đức Khổng.

2. Thứ hai, chúng ta sẽ nắm được đại cương học thuyết của Ngài một cách tự nhiên, linh động.

3. Thứ ba, chúng ta sẽ biết được một mẫu người lý tưởng. Qua mẫu người này, chúng ta sẽ nhận ra bóng hình một con người lý tưởng muôn thủa. Chúng ta sẽ đi sâu vào căn cốt con người, và nhờ vậy, chúng ta cũng sẽ tìm ra được chân dung, chân tướng của chúng ta, chúng ta sẽ tìm ra được định mạng sang cả của chúng ta.

Hiểu được Đức Khổng không phải là chuyện dễ.

Chính Ngài cũng đã vói:” Ôi! đời chẳng biết ta.”

Tử Cống hỏi: “Tại sao, thầy than rằng: Chẳng ai biết Thầy.”

Đức Khổng đáp: “Ta không oán Trời, ta không trách Người. Còn về đạo lý, thì ta khởi học từ mức thấp, để đạt lên mức cao. Biết ta chăng, chỉ có Trời.” (Luận Ngữ, XIV, 37).

Sách Vựng Uyển có chép:” Tề Cảnh Công hỏi Tử Cống: “Đức Khổng có phải hiền nhân chăng”

Tử Cống đáp:” Ngài là một vị Thánh Nhân.”

Tề Cảnh Công hỏi: “Sự thánh thiện Ngài ra sao?”

Tử Cống đáp: “Tôi không biết.”

Tề Cảnh Công biến sắc nói: “Mới đầu thời Ông nói: Khổng Tử là thánh nhân, nay lại nói: Không biết.”

Tử Cống đáp: “Tử này suốt đời đội trời, mà chẳng biết Trời cao bao nhiêu. Suốt đời đạp đất, mà chẳng biết đất dày bao nhiêu. Tử này, theo thày Phu Tử, cũng y như kẻ khát nước, đem gáo, đem bình ra sông, ra bể, để múc nước uống. Uống no bụng, xong rồi đi, mà chẳng biết sông, biển sâu là bao nhiêu.” [1]

Các cao đệ Ngài cho rằng:

“Phàm nhân sở dĩ không hiểu nổi Ngài vì chưa đủ khả năng, chưa đủ tầm kích mà hiểu Ngài, y như một người đi ở ngoài đường, bị bức tường cao ngăn chặn, không sao nhìn thấy được những đồ trần thiết quí báu bên trong nhà.” [2]

Chính vì vậy, mà đã có rất nhiều sự ngộ nhận về Đức Khổng cũng như về Đạo Khổng. Có nhiều người thường nghĩ rằng Đức Khổng bất quá chỉ dạy 2 chữ Hiếu Trung. Đạo Khổng chẳng qua chỉ là một thứ Đạo nhập thế, dạy con người Nhân Đạo, tức là ăn ở cho xứng đáng với danh hiệu con người. Đạo Trung Dung chẳng qua là một thứ Đạo, dạy sống cho đúng mức, không thái quá không bất cập.

Nói như vậy, chẳng qua là biết sơ lược một vài khía cạnh thứ yếu của Khổng Giáo chẳng khác nào như sẩm sờ voi, không biết được toàn diện của Đạo Nho.

Nếu Đức Khổng xuống thế, cốt dạy Hiếu với Trung, thì Ngài hơn gì Mẫn Tử Khiên, Tử Lộ, môn đệ Ngài, là những người chí hiếu; Ngài hơn gì Cơ Tử, Tỉ Can xưa là những người chí trung,

Nếu Ngài thật sự chủ trương Trung Quân, thì tại sao đã âm thầm bỏ vua nước Lỗ, bỏ chức Nhiếp Tướng Sự, chỉ vì vua Lỗ đã tỏ ra ham mê thanh sắc của bọn ca vũ, để ra đi dấn thân vào con đường lưu vong mười mấy năm trời, [3] và 2 lần bỏ Vệ Linh Công, vua nước Vệ ra đi, chỉ vì Vệ Linh Công có thái độ thờ ơ, bất kính đối với Ngài? [4]

Như vậy, chủ trương Ngài rõ ràng là Vua thời phải ra Vua, bề tôi phải cho ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con. [5]

Từ nền tảng ấy, sau này, Mạnh Tử đã đắp xây cả một học thuyết chính trị Nho Giáo với khẩu hiệu bất hủ:

“Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.”

“Dân là quí, nhì đến đất nước, vua là phụ.” [6]

Có nhiều người cho rằng Đạo Khổng chỉ dạy nhân đạo, mà không đề cập đến Thiên Đạo, chỉ biết dạy nhập thế, không biết dạy xuất thế, cho nên thường quan niệm rằng: Nhất Phật, nhì Đạo, ba Nho.

Qui Nguyên trực chỉ viết: “Chỗ không giống nhau giữa Nho, Thích là: nhà Nho chỉ nói cái phép ở đời, họ Thích (Phật) lại nói cái phép ra khỏi đời. Nhà Nho chỉ nói một đời, rồi gom về Trời. Họ Thích biết rõ gốc ngọn của nghiệp duyên nhiều đời chồng chất, đó là chỗ đôi đằng không giống nhau vậy.” [7]

Chương XXIV sách này viết: “Người học Nho chết rồi thì hết, chẳng qua trong khoảng 100 năm mà thôi. Người học Đạo (Lão) vụ cầu sống mãi, chẳng qua muôn ngàn năm mà thôi. Người học Phật dứt mãi với sống chết, trong trẻo hoài hoài, chẳng qua trải khắp cái số kiếp nhiều như cát bụi, mà không có cùng tận vậy.” [8]

Rồi lại có nhiều người tưởng rằng: Đạo Khổng dạy Trung Dung là sống nước đôi, không thái quá, không bất cập. Đọc những lời bình luận thiển cận như vậy thật rất buồn lòng và liên tưởng đến lời Tào Tháo chê Trần Cung:” Yến tước an tri hồng hạc chí tai.” (Phận gi sẻ làm sao biết được chí chim hạc, chim hồng).

Tuy nhiên, vẫn còn có những lời nhận định rất đứng đắn về Nho Giáo. Cụ Minh Thiện, trong quyển Minh Lý Yếu Giải, nơi tr. 52, có viết: “Đến khi chứng quả, thành chân, người theo phái Thích thì gọi là Phật, người theo phái Đạo thì gọi là Tiên, người theo phái Nho thì gọi là Thánh. Phật, Tiên, Thánh là những danh từ khác nhau nhưng đồng chỉ 1 bực người chứng đặng tính hoàn toàn sáng suốt mà thôi, gọi chung là Chân Nhân…” [9]

Như vậy, mới đúng với tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, Vạn Giáo Nhất Lý…

Vì Đức Khổng là con người đa năng, đa dạng, nên muốn hiểu Ngài, ta phải nghiên cứu Ngài dưới nhiều khía cạnh.

1. Đức Khổng là con người nhiệt thành đi tìm chân lý.

Thế nhân thường cho rằng: đã là Thánh Nhân, đã là Giáo Chủ thì phải là Thánh Nhân ngay từ trong bụng mẹ; phải có những cách thai sinh kỳ bí, thoát khỏi các định luật và trật tự chi phối vũ trụ, nhân quần, lại thông minh tuyệt mức, sinh nhi tri chi, không cần học hỏi suy tư gì mà đã biết hết mọi sự trên trời, dưới đất, quá khứ, vị lai ngay từ tấm bé. Nói thế, chẳng khác nào nói rằng có những cây vừa mọc đã cao vút từng mây, đã sinh hoa, kết quả sum suê, hay có những người vừa sinh ra, đã trưởng thành ngay, không cần cúc dục, cù lao, không cần thời gian, tuổi tác.

Thiết tưởng, muốn tìm hiểu Thánh Hiền, ta không nên bắt chước lối phàm tục đó, mà phải tìm ra những tiêu chuẩn chính xác để giúp cho sự suy khảo của chúng ta. Tuân Tử nói: “Quân tử thời nói điều chân thường, hợp lý, còn tiểu nhân nói điều kỳ quái,” [10]

Mạnh Tử nói: “Phàm những vật đồng loại thì bản tính giống nhau. Tại sao, riêng nhân loại, người ta lại nghĩ rằng bản tính chẳng tương tự? Những vị Thánh Nhân và chúng ta đều cùng một loại.” [11]

Khảo về đời sống và những lời giảng giáo của các bậc giáo chủ, ta thấy:

A. Sự khôn ngoan, thông thái các Ngài cũng cần phải có thời gian, tuổi tác, mới phát triển được.

B. Nhiều khi các Ngài cũng phải học hỏi với các bậc tiền bối đương thời mới trở nên minh giác.

C. Học thuyết các Ngài, tư tưởng các Ngài cũng có nhiều vay mượn ở nơi các học thuyết hoặc các luồng tư tưởng khác.

D. Các Ngài có công ở chỗ là làm cho tư tưởng cũ kỹ trở nên linh động, có thần lực tác động, lôi cuốn, hoán cải được tâm hồn quần chúng.

Nhờ những quan niệm lành mạnh, chính xác trên hướng dẫn, ta có thể vạch lại được bước đường tìm cầu đạo lý của Đức Khổng.

Ngài tâm sự:

—Hồi 15 tuổi, ta để hết tâm trí vào sự học.

—Đến 30 tuổi, ta vững chí mà tiến lên con đường đạo đức.

—Đến 40 tuổi, tâm tư ta sáng suốt, hiểu rõ việc trái phải, đạt được sự lý chẳng còn chi nghi hoặc.

—Đến 50 tuổi, ta biết mạng Trời. (Tức là biết căn cốt, biết Đạo Trời, biết định mệnh con người).

—Đến 60 tuổi, lời tiếng chi lọt vào tai ta, thì ta hiểu ngay, chẳng cần suy nghĩ lâu dài.

—Đến 70 tuổi, dầu có muốn sự chi cũng chẳng hề sai phép. [12]

Đức Khổng không bao giờ nhận Ngài sinh nhi tri tri. Ngài nói:” Ta chẳng phải là người sinh ra đã biết. Thực ta là người hâm mộ tinh hoa đạo lý cổ nhân và mê mải tìm cầu tinh hoa đạo lý ấy mà thôi.” [13]

Đức Khổng luôn tỏ ra mình là một con người hiếu học, chịc trông, chịu nhìn, chịu quan sát, chịu hỏi, chịu học, chịu suy tư.

Từ nhỏ đến 34 tuổi, Ngài học hỏi ở quê nhà, sưu khảo các sách vở như Dịch Tượng, Xuân Thu, Thi, Nhạc, trong tàng thư nước Lỗ. [14]

Năm 34 tuổi, Ngài sang kinh đô nhà Châu (Lạc Dương) để cầu học. Ngài phỏng vấn đức Lão Tử về Lễ, Trành Hoàng về Nhạc, đi xem các địa điểm tế Giao, tế Xã, khảo sát về phép tắc của tòa Minh Đường. xem cách tổ chức nơi Tông Miếu, và học hỏi được nhiều bài học về chính trị, và cách tu thân, tiếp nhân, xử thế, và hiểu được lý do tại sao nhà Châu xưa đã cường thịnh. Sự cường thịnh ấy chính là do tinh thần trách nhiệm, tài lãnh đạo tổ chức của các bậc quân vương, lòng trung liệt của các vị trọng thần, của các bậc thần tử, sự đoàn kết nhất trí giữa các tầng lớp nhân dân.

Nhưng mãi đến năm 50 tuổi, Ngài mới trực giác được Thiên Mệnh, biết được Thiên Đạo. Từ đấy cho đến chết, Ngài hoàn toàn là một con người khác, luôn luôn hoạt động, luôn luôn cải hóa thiên hạ, khi thì chu du liệt quốc, khi thì ở nhà dạy học, viết sách. Các sách Ngài soạn thảo có thể nói được là từ 58 tuổi trở đi. Dẫu sao, thì từ trước tới sau, ta thấy Ngài luôn luôn tỏ ra thiết tha đi tìm chân lý, thiết tha suy tư, cầu học.

Tấm lòng thiết tha cầu học Đạo ấy đã được Ngài xác quyết khi Ngài 63 tuổi. Diệp Công hỏi Tử Lộ về Đức Khổng. Tử Lộ không đáp. Đức Khổng nói: “Tại sao ngươi không nói thế này: Đó là người hăng say suy tư, đến quên ăn; khi được Chân Lý thì vui sướng đến quên hết mọi nỗi buồn lo; chuyên tâm về Đạo, đến nỗi tuổi già sắp đến mà chẳng biết.” [15]

Và cũng vì lòng tha thiết, luôn luôn cầu học, cầu tiến, mà ngay khi gần chết, Ngài vẫn còn học Dịch, đến bật cả lề sách đến ba lần. [16]

Nhờ có sự cố gắng học hỏi, suy tư như vậy, mà Đức Khổng đã có một kiến thức hết sức sâu rộng khiến mọi người bỡ ngỡ. [17]

Nhưng quí báu nhất là nhờ sự thành khẩn tìm cầu Chân, Thiện, Mỹ, mà Chân, Thiện, Mỹ đã đến với Ngài, đã nhập thể vào Ngài. Thế tức là:” Ngã cầu Nhân, nhi Nhân chí hĩ.” [18]

2. Đức Khổng, con người rất cũ và rất mới.

Đức Khổng là con người siêu không gian, thời gian, nên vừa rất cũ vừa rất mới.

—Rất cũ, vì rất hiếu cổ, viết Ngũ Kinh thâu tóm tinh hoa nhân loại từ thời Nghiêu, Thuấn cho đến đời Ngài, tức là ròng rã khỏang 2000 năm lịch sử.

Ngài nói:

“Ta trần thuật chứ không sáng tạo,

Tin cổ nhân, mộ đạo cổ nhân. “[19]

 Trung Dung viết thêm:

“Đức Khổng nối tiếp đạo Thuấn, Nghiêu,

Làm sáng tỏ lối đường Văn Võ.” [20]

Nhờ sự hiếu cổ, tồn cổ này, mà chúng ta thấy được Đạo, được Thiên Đạo, được Chân Đạo mà các bậc Hiền Thánh muôn nghìn đời trước đã theo.

Thế nào là Thiên Đạo?

Đọc Kinh Thi, thiên Đại Nhã, đã thấy rằng thời xa xưa, nhân loại đã tin rằng Trời chiếu ánh sáng muôn trùng vào tâm hồn chúng dân, Trời đã ẩn tàng trong lòng chúng dân, để làm khuôn phép mẫu mực, để ra mệnh lệnh, để hướng dẫn chúng dân trên mọi bước đường đời. Các bậc vương giả, các bậc hiền nhân thời ấy, cố gắng sống sao cho đức hạnh tuyệt vời, để kết hợp với Trời, để có thể được coi như là vẻ sáng của Trời như Văn Vương…

Đó chính là cái đại đạo Thiên Nhân Hợp Nhất của người xưa.

Nhờ sự hiếu cổ của Đức Khổng, mà ta còn biết được về nền Thiên Trị của người xưa.

Thế nào là một nền Thiên Trị?

Nền Thiên Trị là một nền chính trị lấy Trời làm khởi điểm, và làm cùng điểm nhân loại. Các bậc Thánh Vương là những vì Thiên Tử thay Trời trị dân. Luật pháp của các ngài là những định luật tự nhiên. là nhân luân, là tam cương, ngũ thường, là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, là Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ.

Các vị Thánh Vương lên trị nước không phải là để hưởng thụ, để buông thả cho dục tình tha hồ phóng túng, nhưng chính là để tuân theo ý Trời, tuân theo những định luật thiên nhiên chi phối vũ trụ và sự tiến hóa nhân quần.

Các Ngài hứa đem an bình lại cho nhân loại, nhưng không có hứa xuông, mà lại dạy mọi ngươì phải thực hiện an bình bằng cách tu thân, bằng cách tôn trọng Tam Cương, Ngũ Thường, giữ vẹn tín nghĩa, trọng đức, khinh tài, cố gắng không ngừng để cải thiện hoàn cảnh, cải thiện nội tâm, tiến mãi trên con đường Chân, Thiện, Mỹ.

Đó chính là chủ trương của sách Đại Học:

Đại Học có mục phiêu rõ rệt,

Đuốc Lương Tâm cương quyết phát huy.

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng…

Nhờ có sự hiếu cổ của Đức Khổng mà ta có được bộ kinh Dịch, biết được tinh thần của kinh Dịch là Tùy Thời Biến Dịch Nhi Tòng Đạo; Biết Tiến Thoái Phải Thì để Xu Cát, Tị Hung…

Nhờ có sự hiếu cổ của Đức Khổng mà nay ta có Kinh Lễ, với tinh thần Kinh Lễ: Học hỏi, suy tư, quan sát vũ trụ, nhân quần, khai thác lịch sử, phong tục để tìm cho ra những định luật tự nhiên, chi phối vũ trụ và nhân quần, để sống thế nào cho hay, cho phải, để đối xử với nhau thế nào cho hay, cho phải, cho hợp tình, hợp lý, để đi đến chỗ đại hòa, đại thuận.

—Rất mới, đồng thời Đức Khổng cũng là con người rất mới. Những luận thuyết của Nho Giáo về Tính Mệnh tương ứng với những thuyết Siêu Thức, Tâm Thức Vũ Trụ cuả Triết Học ngày nay, với những thuyết Viễn Đích của Lecomte Du Nouy, với thuyết tiến về Omega của Teilhard de Chardin (chỉ ư chí thiện).

1. Khảo cứu Tứ Thư, Ngũ Kinh cho kỹ lưỡng, ta sẽ thấy rằng Đức Khổng chủ trương Chân Đạo, Đại Đạo phát xuất tự thâm tâm, và Trời chẳng ở đâu xa, mà tiềm ẩn ngay trong đáy lòng con người. Thì gần đây, trong số báo Time ra ngày 16—12—69, với chủ đề là: “Thượng đế có đang sống lại không” (Thượng Đế có đang trở lại với cuộcc đờI chúng ta không?), có một đề mục rất là kỳ thú với nhan đề là “Sự du hành nội tâm”. Trong đề mục này, bà Jean Houston, một triết gia kiêm tâm lý học gia, giám đốc viện Khảo Cứu về Tâm Linh ở Mỹ, tin rằng những cuộc thí nghiệm gần đây về nội giác, bằng những phương pháp tâm lý, hay bằng những dược liệu, đã đưa đến một sự phát sinh ra một nền Thần Học Chứng Nghiệm. Theo bà Houston, thì tâm hồn con người có một điểm tiếp xúc được với Đại Thể, một Đại Thể đã được chứng nghiệm là Tâm Linh.

Trong các phòng thí nghiệm, ngày nay người ta đã cải thiện được các phương pháp các dòng tu xưa đã dùng, nên con người ngày nay, càng ngày càng tiếp xúc được với sự linh thiêng nội tại ấy…[21]

Như vậy, tức là ngày nay, con người đang chập chững đi vào nội tâm để tìm Trời, tìm Thần Linh, một công chuyện mà Đức Khổng và các Hiền Thánh xa xưa đã làm từ mấy ngàn năm nay…

2. Từ ngàn xưa, Đức Khổng nói: “Thiên hạ lo gì nghĩ gì? Đường đi khác nhau nhưng mục đích là một, tư lự trăm chiều mà chân lý không hai.” [22]

Ngày nay, sau ngót 2000 năm thù ghét nhau, hãm hại lẫn nhau, giết lát, chém giết nhau, vì bất đồng tín ngưỡng, con người gần đây đã tỏ ra thông cảm, hiểu biết nhau hơn, và ta đã thấy mọc lên khắp nơi phong trào Hòa Đồng Tôn Giáo.

3. Ấy là chưa kể đến thuyết Đại Đồng của Đức Khổng: “Thiên hạ là một nhà, bốn biển đều là anh em.”, mà còn lâu con người mới thực hiện được.

Như vậy, Đức Khổng chẳng phải là con người rất cũ, và rất mới là gì?

*************           

3. Đức Khổng, con người có niềm tin vững mạnh về thân thế và sứ mạng mình.

Đức Khổng bình nhật rất khiêm cung, Ngài chỉ nhận Ngài là một học giả, chứ không nhận mình là Thánh Nhân hay Thánh Hiền. Ngài nói: “Như là bậc Thánh, bậc Nhân thì ta há dám? Nhưng làm mà không chán, dạy người mà không mỏi, ta chỉ có thể gọi được như vậy mà thôi. ” [23]

Nhưng đến khi bị vây ở đất Khuông, bị nạn ở nước Tống, Ngài mới khẳng khái để lộ chân tướng mình ra. Lúc ấy Ngài mới xưng mình là:”vẻ sáng Thượng Đế, chẳng khác gì Văn Vương” [24], mới xưng mình là Đức của Trời (là sự hiển dương của Trời.) [25]

Ngài biết mình sinh ra để đem lại cái Đạo toàn mãn cho con người.

—Đó là làm ăn, tức là Vật Đạo, hay cải thiện hoàn cảnh vật chất.

—Làm người, tức là Nhân Đạo, cải thiện nhân tâm, tu thân, để đem an lạc lại cho nhân thế.

—Làm Thần, tức là Thiên Đạo, sống cuộc đời hoàn thiện, Cao Minh Phối Thiên (Trung Dung, chương XXVI).

Vì vậy, mà có lần Ngài ví mình như một người đánh xe (L.N. IX, 12), đánh xe đạo lý để đưa muôn triệu người tới tinh hoa, hoàn thiện. Quan Tể đất Nghi còn ví Ngài như mõ gỗ (L. N. III, 24), mõ gỗ để rao truyền chân lý cho vang rậy khắp muôn phương.

4. Đức Khổng là con người đã được đạo thống Trung Dung.

Trung Dung là một Tâm Pháp của Thánh Hiền, kế thế tương truyền từ Nghiêu, Thuấn về sau, chẳng khác nào Tâm Ấn, Phật Ấn rõi truyền qua các thế hệ.

Đức Khổng là một trong những bậc Thánh Hiền đã được Tâm Pháp Trung Dung.

Tâm Pháp Trung Dung cao diệu trên có thể toát lược như sau:

1. Trực giác được rằng dưới lớp nhân tâm nghiêng ngửa, còn có Đạo Tâm, còn có Thiên Tâm siêu vi, ẩn áo, chi phối bên trong.

Kinh Thư viết:

Lòng của Trời siêu vi huyền ảo,

Lòng con người điên đảo ngả nghiêng.

Tinh ròng, chuyên nhất, ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời. [26]

—Trung Dung phát khởi từ một niềm tin, một linh giác rằng con người thông phần bản tính của Trời, cho nên con người sinh ra đời có mục đích tối hậu là thực hiện Bản Tính Chí Thiện ấy. Nói cách khác, con người phải học hỏi, suy tư, cố gắng không ngừng để tiến tới hoàn thiện, hoàn mỹ. Vì vậy, mà ngay đầu sách Trung Dung viết:

Thiên mệnh cũng chính là Bản Tính,

Đạo là noi theo Tính Tự Nhiên…

—Nói theo từ ngữ Đạo giáo, thì Trung Dung dạy con người biết rằng Trời hay Đạo đã tiềm ẩn nơi thân tâm con người, luật Trời đã ghi tạc ngay trong lương tâm con người. Cho nên người quân tử phải biết kính sợ Trời tiềm ẩn nơi tâm hồn mình.

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.

(Trung Dung chương I).

—Tóm lại, Trung Dung đưa con người tới bậc chí thánh. Chính vì vậy mà mà các đoạn cuối Trung Dung toàn nói về bậc Chí Thánh, tham tán cùng đất trời trong công cuộc hóa sinh…

5. Đức Khổng con người vụ bản.

Đức Khổng khác chúng nhân ở chỗ là chúng nhân thì phù phiếm, sốc nổi, sống vụ vào những chi tiết vụn vặt, những hiện tượng hào nháng bên ngoài, những biến cố lịch sử phù du, vân cẩu, còn Ngài cũng như các bậc Minh Triết khác đều sống một cuộc sống nội tâm rồi rào, sâu sắc, dựa vào tinh hoa, bản thể con người, dựa vào những gì vĩnh cửu, trường tồn.

Ngài tìm cầu học hỏi, nhưng tìm cầu học hỏi những điều chính yếu, những điều tinh hoa căn bản, quan thiết đến định mệnh và hạnh phúc con người. Ngài súc tích, nhưng súc tích những gì không hao mòn, hủy hoại được. Ngài xây dựng, nhưng xây dựng trên những nền tảng vĩnh cửu…

Vụ bản là gì? Thưa là trọng gốc.

Luận Ngữ viết: Quân tử vụ bản. Bản lập nhi Đạo sinh. (L.N. I, 2) Người quân tử chuyên chú vào việc gốc. Cái gốc được vững tốt, tự nhiên Đạo Lý bắt đầu từ đó mà sinh ra.

Đại Học viết:” Mỗi vật đều có gốc ngọn, mỗi việc đều có đầu đuôi. Biết cái gì trước, cái gì sau là gần Đạo, gần Trời vậy.” (Đại Học, I)

“Không bao giờ các gốc loạn mà cái ngọn trị được.” (Đại Học, I).

Đại Học cho rằng:” Nếu biết được gốc, đó là cái biết cao siêu nhất.” (Đại Học, 4)

Theo Đại Học, cái biết cao siêu nhất, chính là biết trong Tâm có căn cốt Trời, như vậy, mới có thể dừng chân nơi hoàn thiện được. (Đại Học chương I và IV).

Đại Học viết:

Dày công học vấn, sẽ hay khuôn Trời,

Hay khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi, ý thiệt, lòng ngay,

Lòng ngay, ta sẽ hóa hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên,

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình yên… (Đại Học, I)

Có biết được rằng vũ trụ, quần sinh là do một gốc Trời sinh sôi, nảy nở, thì mới nói được như Đức Khổng: “Đạo ta là do một nguyên lý mà suy rộng ra để quán triệt mọi sự.” (L.N. IV, 15. L.N. XV, 2).

6. Đức Khổng là con người biết tìm cho ra những định luật thiên nhiên để mà theo, mà giữ, cho cuộc sống cá nhân và xã hội trở nên hoàn hảo.

Ngài tìm ra những định luật thiên nhiên bằng:

—Trực giác.

—Bằng suy luận.

—Bằng cách nghiên cứu lịch sử.

—Bằng cách nghiên cứu lịch sử cổ kim.

—Bằng cách khảo sát lại cuộc thành bại xưa và nay.

—Bằng cách suy diễn từ những quan niệm của Dịch Kinh.[27]

Do đó, Ngài tìm ra được những định luật rất quan trọng. Xin đan cử một vài:

1. Định luật tôn ti, trật tự chi phối vũ trụ, quần sinh.

Về định luật này, Hạ Đương đã viết: “Vạn vật đều có quí tiện, cao hạ, đại tiểu, tôn ti, văn chất khác nhau. Thánh Nhân chế phép tắc để mọi loài quí tiện, cao hạ sống xứng với tính cách mình.” (Lễ Ký, tựa)

2. Định luật hiệt củ, tức là Suy bụng ta ra bụng người. Do đó mới có câu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.” [28]

3. Định luật: “Tâm vật hỗ tương ảnh hưởng” (Tâm Thần và ngoại cảnh ảnh hưởng lẫn nhau.)

Đại Học cho ví dụ: Tâm ảnh hưởng đến thể xác, đến vật:

“Giàu thời nhà cửa khang trang,

Đức thời thân thể khang an, rạng ngời.

Lòng mà khinh khoát, thảnh thơi,

Rồi ra sẽ thấy tốt tươi hình hài.” (Đại học, VI)

Ngược lại, Khổng Tử Gia Ngữ cho rằng:

Mặc áo tang, lòng sẽ không nghĩ đến sự vui,

Cầm phủ phất, mặc y cổn, mãng bào, tự nhiên sẽ nghiêm trang.

Mang giáp trụ, sẽ thấy thêm mạnh bạo.” [29]

Đức Khổng chủ trương con người sinh ra đời cần tiến tới hoàn thiện.

Trung Dung viết:

“Hoàn Toàn là đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện đạo người xưa nay.” [30]

Đó cũng chính là chủ trương: “Minh minh đức, Tân Dân, chỉ ư chí thiện” của sách Đại Học. (Đại Học, I)

7. Đức Khổng biết sống linh động, uyển chuyển tùy thời, xử thế.

Đức Khổng rất am tường Dịch Lý, nên hết sức là uyển chuyển. Chủ trương của Ngài là: “Người quân tử ở trên đời không nhất thiết phò các gì, không nhất thiết chống cái gì, cái gì phải thời theo.” (L.N. IV, 10).

Mạnh tử cũng khen Ngài là một vị Thánh biết thức thời, biết tùy thời. (Mạnh Tử, Vạn Chương Hạ,X,1).

Đức Khổng chủ trương con người sinh ra ở đời, hết sức là tùy thuộc vào hoàn cảnh, cho nên ở vào địa vị nào thì cư xử theo địa vị ấy. Trung Dung gọi thế là: “Tố kỳ vị nhi hành”:

Người quân tử sống theo địa vị,

Không ước mơ, suy nghĩ viển vông.

Sang giàu, sống lối giàu sang,

Nghèo hèn, sống lối nghèo hèn ngại chi.

Tới man di, sống y man mọi,

Gặp gian lao, vui nỗi gian lao,

Bất kỳ sống ở cảnh nào,

Lòng người quân tử ra vào thỏa thuê…

(Trung Dung XIV).

8. Đức Khổng có tâm hồn hết sức thanh sảng, rất yêu thơ và yêu nhạc.

Vì yêu thơ, nên Ngài đã san định Kinh Thi.

Vì yêu Nhạc, nên Ngài đã đem 305 thiên Kinh Thi ra mà đàn ca với âm thanh của Thiều, Vũ, Nhã, Tụng. (Xem Tư Mã Thiên, Khổng Tử Thế Gia.)

Có điều lạ lùng này là Đức Khổng yêu thơ nhất là lúc trở về già. Ngài càng trở nên yêu đời, yêu vẻ đẹp thiên nhiên. Ngài khen Tăng Tích vì Tăng Tích đã sống tiêu sái, muốn cùng ít nhiều bạn trẻ, vào những ngày cuối xuân ấm áp, tắm mát ở sông Nghi, hóng gió ở đền Vũ Vu, rồi trên đường về, cùng nhau ca vịnh cho vui. (L.N. XI, 25).

Ngài yêu Nhạc từ hồi còn trẻ:

Ai hát bài nào hay, Ngài thường yêu cầu hát lại, và tập hoà theo. [31] Ngài đã học hỏi với các nhạc sư danh tiếng như Trành Hoằng ở Châu, các nhạc sư ở Tề, [32] và ở Lỗ. [33]

Năm 35 tuổi, sang Tề, Ngài có dịp học Nhạc Thiều. Ngài học say mê, đến nỗi trong vòng ba tháng, ăn mà không để ý đến mùi vị thịt. [34] Thường nhật, Ngài hay đàn ca, hoặc gảy đàn sắt, [35] hoặc đánh khánh. [36]

Ngài thích các loại nhạc uy nghi, trang trọng, như nhạc Thiều, [37] và ghét những loại nhạc dâm đãng, phóng túng như nhạc Trịnh. [38]

Ngài chủ trương:

Học Kinh Thi, cho lòng thêm hứng khởi, vui sống.

Học Kinh Lễ, để biết tuân theo những định luật tự nhiên.

Học Nhạc, để con người trở nên vẹn hảo, hòa hợp được với nhân quần, vũ trụ. Đó là chủ trương: “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc của Luận Ngữ.” [39]

9. Đức Khổng, một vị giáo sư gương mẫu.

Đức Khổng rất tha thiết giáo hóa chúng nhân.

Ngài nói: “Ta chẳng dám coi mình là Thánh, là Nhân, nhưng thực ta làm không chán, dạy người không mỏi, ta chỉ có thể được gọi như vậy thôi.” [40]

Các vua chúa sau này cũng xưng tụng Ngài là “Vạn Thế Sư Biểu “.

Ngài dạy học, cốt là dạy con người biết hiếu đễ, cẩn tín, yêu người, trọng đức, chứ không cốt học văn chương suông. [41]

Phương pháp giáo dục của Ngài y như phương pháp giáo dục của Socrates, mà người ta thường gọi là “phương pháp giáo dục hộ sản”. Theo phương pháp này, thày dạy học bắt chước thày thuốc. Thày thuốc chỉ đỡ đẻ, chứ không đẻ hộ; thày dạy học cũng vậy, chỉ giúp cho học trò biết nghĩ, biết suy, chứ không suy hộ, nghĩ hộ, sống hộ học trò. Mục đích là càng ngày càng làm cho học trò phát huy được trí tuệ mình, trở nên sáng suốt, trở nên linh động, hoạt bát…

Nhan Hồi nhận định: “Thày ta tuần tự mà dẫn dụ người một cách khéo léo. Ngài dùng văn học mà mở mang trí thức ta. Dẫu ta muốn thôi, cũng không thôi được.” [42]

Tóm lại, Ngài mở trường:

—Dạy cách làm người.

—Dạy cách sửa trị người cho nên tốt, nên hay. (Đại Học)

—Dạy cách làm Thánh Hiền. (Trung Dung)

Nhờ vậy, mà các cao đệ Ngài sau này đều trở nên những bậc Hiền Thánh, treo gương cho đời, và đạo Nho, từ xưa đến nay, cũng đã tạo nên được không biết bao nhiêu là anh hùng, hào kiệt, là chính nhân, quân tử.

*************           

10. Đức Khổng là một sử gia.

Ngài đã san định 2 bộ sử vĩ đại: Kinh Thư và Kinh Xuân Thu.

1. Kinh Thư, từ thời Nghiêu (2356—2255) đến Tần Mục Công (659—620), gồm khoảng 1723 năm.

2. Kinh Xuân Thu từ năm Ẩn Công 1 (—721) đến năm Ai Công 14 (—481), gồm 242 năm.

Qua trung gian 2 bộ sử ấy, Ngài đã cho ta thấy những hoạt động, những lời lẽ, những nguyện ước, những đường lối, những cách tiếp nhân, xử thế của người xưa, nhất là của những người cầm đầu dân nước, nhân đó suy ra được các nguyên nhân hưng vong, loạn trị.

Ngài viết sử nhưng thực ra cũng muốn dùng sử của Ngài để đổi loạn thành trị, bằng phương pháp “chính danh, định phận”, đề cao tài năng, nhân nghĩa, đạo đức, chê bai mạt sát những chuyện thoán loạn, bạo tàn, gian ác (Xuân Thu); cổ súy và phục hưng lại nền Thiên Trị lý tưởng của các bậc Thánh Đế, Thánh Vương thời trước (Kinh Thư).

11. Đức Khổng là một chính trị gia.

Ngài cho rằng: Trong nhân đạo, không gì lớn hơn chính trị. [43]

Nhưng chính trị đây là cả một khoa học siêu vi, đem an bình thái thịnh đến cho dân nước, làm cho mọi người ăn ở xứng đáng với danh hiệu con người. Làm chính trị là làm cho con người trở nên ngay chính. Muốn được vậy, nhà cầm quyền phải ngay chính trước đã.

Ngài tha thiết cổ suý một chính quyền lý tưởng, một quốc gia lý tưởng, trong đó Vua ra Vua, Tôi ra Tôi, Cha ra Cha, Con ra Con, [44] biết tương kính, tương thân, thượng hòa, hạ mục. [45]

Chính quyền lý tưởng ấy phải được xây dựng trên căn bản hoàn thiện, hoàn mỹ, tức là phải tự coi mình có Thiên Chức, Thiên Mạng để đem an lạc lại cho chúng dân và có nhiệm vụ hướng dẫn chúng dân tới hoàn thiện, hoàn mỹ. [46] Chính quyền phải dựa vào hai tôn chỉ: Yêu dân và Kính dân. [47]

12. Đức Khổng là vị Thánh Nhân chân thực.

Tử Cống hỏi Đức Khổng: “Thày là Thánh rồi chứ gì?” Đức Khổng đáp: “Ta chẳng dám nhận là Thánh. Nhưng làm lành, học Đạo mà không chán, dạy đời mà không biết mệt, ta chỉ được như vậy thôi.” Ông Tử Cống thưa rằng: “Làm lành, học Đạo mà không chán, tức là Trí; Dạy đời mà không mệt tức là Nhân. Có đủ Nhân và Trí, Thày quả là Thánh rồi.” [48]

Đức Khổng là vị Thánh Nhân chân thực, vì:

—Đã đạt tới Thiên Đạo, Trung Đạo. [49]

—Ngài đã “Tận Tính”, tức là đã đạt tới Siêu Thức Đại Đồng, [50]

—Ngài đã sống cuộc đời phối kết với Thượng đế nhất là trong tuổi già. [51]

—Ngài đã có công đem Thiên Lý, nhân luân dạy cho muôn triệu con người, thế tức là “tham tán tài thành” cùng trời đất. [52]

Ngài đáng được khen tặng bằng những lời Kinh Dịch:

Thánh nhân đức hạnh bao la,

Như Trời, như đất cao xa muôn trùng.

Sáng như nhật nguyệt hai vừng,

Sống đời tiết tấu, hợp khung bốn mùa,

Những điều lành dữ, ghét ưa,

Quỉ thần đường lối, đem xo khác nào.

Trước Trời, Trời chẳng trách đâu,

Sao Trời cho hợp cơ màu thời gian.

Trời không trách cứ, phàn nàn,

Thời người còn dám than van nỗi gì?

Trời, người chẳng trách, chẳng chê,

Quỉ thần âu cũng chẳng hề oán than. [53]

 *****

KẾT LUẬN

Phác họa lại chân dung Khổng Tử không phải là để khen lao Đức Khổng, mà chính là để ta dễ bề bắt chước Ngài.

Nhan Hồi xưa cũng đã nói: “Thuấn là ai? ta là ai? Nếu ta cố gắng. ta cũng sánh được với Thuấn vậy.” [54]

Cụ Phan Sào Nam quả là người đã thấu hiểu được ý Đức Khổng khi lập giáo, là muốn cho mọi người tiến tới tinh hoa, hoàn thiện, vì thế cụ đã viết trong “Phàm Lệ” ở đầu bộ Khổng Học Đăng như sau:

“Hễ ai đọc bản sách này, trước phải lập định một cách tự nhiên rằng: Ta là Khổng Tử, ta là Mạnh Tử, ta là Bá Lạp Đồ (Platon), ta là Khang Đức (Kant), chẳng qua đời tuy có xưa nay, đất tuy có Đông, Tây, mà tâm lý in như nhau. Thánh hiền tức là ta, ta tức là Thánh hiền, ta chỉ là người hậu tiến của cổ nhân mà thôi.” (Khổng Học Đăng, Phàm Lệ, trang 10)

Vậy chúng ta hãy cố gắng theo chân Đức Khổng, trở thành những con người viên dung, toàn mãn, gồm đủ trong mình ba thứ Đạo:

—Vật Đạo: Cố gắng cải thiện hoàn cảnh vật chất, chu toàn đời sống vật chất con người.

—Nhân Đạo: Ăn ở cho xứng đáng với danh nghĩa con người, đối đãi với nhau cho hợp tình, hợp lý, có thủy, có chung.

—Thiên Đạo: Cố gắng cải thiện tâm hồn, hoán cải khí chất, tiến tới hoàn thiện, sống hồn nhiên, phối kết với Thượng Đế.

Chung qui vẫn chỉ là: “Hãy nhìn cho xa, hãy trông cho rộng, hãy nghĩ cho sâu, hãy vượt cho cao, đừng bao giờ dừng chân trước khi chưa tới hoàn thiện. “[55]

Trung Dung viết:

Nên quân tử dốc một lòng, một dạ,

Trọng kính Trời, quyết gắn bó học hành.

Tiến sao cho đến mức rộng rãi tinh anh,

Mức cao sáng của Trung Dung đạo cả.

Ôn điều cũ, học thêm điều mới lạ,

Chuộng lễ nghĩa, sống đời sống nết na,

Ở ngôi cao, không có thói kiêu xa,

Ở cấp dưới, không làm điều trái nghịch.

Nước có Đạo, chỉ một lời làm tiến ích,

Nước đảo điên, lặng lẽ đủ dung thân.

Thơ rằng: Khôn lại còn ngoan,

Khôn ngoan, nên mới bảo toàn tấm thân… [56]

*Hết phần chánh văn Chương 19

*************           

CHÚ THÍCH

[1] Uyên Giám loại hàm, q. 4, tr. 4612 mục chữ Thánh

[2] Luận Ngữ. XIX, 23.

[3] Luận NgữXII, 9.—XVIII, 4.—Mạnh tử X,1.—XII, 6.—XIV, 17.

[4] Luận Ngữ IX, 17.—XII, 10.—XV, 1.

[5] Tề Cảnh Công vấn chánh ư Khổng Tử. Khổng tử đối viết: Quân, quân, thần, thần, phụ, phụ, tử, tử.

Luận Ngữ. XII, 2.

[6] Mạnh tử,Tận Tâm hạ, 14.

[7] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, q. I, chương XXI, tr. 279.

[8] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, q. I, chương XXIV, tr. 335.

[9] Minh Thiện, Minh Lý Yêú Chỉ, tr. 52.

[10] Trần Trọng Kim, Nho Giáo, tr. 308. Thiên Vinh Nhục VI của Tuân Tử.

[11] Mạnh tử, Cáo Tử Thượng, tiết 7.

[12] Tử viết: Ngô thập hựu ngũ, nhi chí vu học. Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, Ngũ thập nhi tri Thiên Mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập, tùng tâm sở dục nhi bất du củ.

Luận Ngữ. II, 4.

[13] Luận Ngữ. XV, 30.

[14] Tả Truyện, Chiêu Công 2, và Chư Tử Thông Khảo tr. 47

[15] Luận Ngữ. Thuật nhi VII, 18.

[16] 孔 子 晚 而 學 易, 讀 之 韋 編 三 絕, 而 為 之 傳。 Khổng tử vãn nhi học Dịch, độc chi vi biên tam tuyệt, nhi vi chi truyện.

Nho giáo, 1, tr. 191. —Tư mã Thiên, Sử Ký, Khổng Tử Thế Gia, trong Từ Đỉển Chu Dịch, tr. 827.

Luận Ngữ. Thuật Nhi VII, 16

[17] Luận Ngữ. Tử Trương, XIX, 22.

[18] Luận Ngữ. Thuật nhi, VII, 29.

[19] Luận Ngữ. Thuật nhi, VII, 1.

[20] Trung Dung, ch.30.

[21] (Cf. Time, 28, 1969: Is God coming back to life? Changing Theology for a Changing World. Inner Voyages.

“What might the next in Theology? Philosopher—Psychologist Jean—Houston, co—director with her husband R. E. L. Masters of the Foundation for Mind Research, believes that current experiments in deepening awareness by psychological techniques or with drugs (which she does not advocate) are already leading to the rise of what she calls “experimental Theology”. According to Houston, the human psyche possesses a “built—in point of contact” with larger reality that is experienced as Divine. As the laboratory “improves upon techniques developed in the monastery,” people will increasingly encounter this interior sacrality. Indeed, she claims “Theology may soon become dominated by men whose minds and imaginations have been stimulated by inner voyages of one kind or another.”

Time, Dec. 26, 1969, p. 35.

[22] 天 下 何 思 何 慮。 天 下 同 歸 而 殊 途,

 一 致 而百 慮。 天 下 何 思 何 慮.

Thiên hạ hà tư, hà lự? Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự. Thiên hạ hà tư hà lự?

Dịch, Hệ Từ hạ, chương 5, tiết 1.

[23] Luận Ngữ, VII, 33.

[24] Luận Ngữ, IX, 5.

[25] Luận Ngữ, VII, 22.

[26] 人 心 惟 危, 道 心 惟 微, 惟 精 惟一, 允 執 厥 中。

Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết Trung. Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 15.

[27] Xem Lễ Ký chính nghĩa, Tựa, tr. 1. Xem Tống bản thập tam kinh, Lễ Ký.

[28] Đại Học, X.—Luận Ngữ. XV, 23.

[29] Khổng Tử Gia Ngữ, Hiếu sinh, X. Trần Trọng Kim, Nho Giáo I, tr. 149.

[30] 誠 者 天之 道 也, 誠 之 者 人 之 道 也。

Trung Dung, XX.

[31] Luận Ngữ. VII, 1.

[32] Luận Ngữ. VI, 13.

[33] Luận Ngữ. III, 23.

[34] Luận Ngữ. VII, 13.

[35] Luận Ngữ. XVI, 19.

[36] Luận Ngữ. XIV, 42.

[37] Luận Ngữ. III, 25.

[38] Luận Ngữ. XVII, 17.

[39] Luận Ngữ. VIII, 9.

[40] Luận Ngữ. VII, 33.

[41] Luận Ngữ. I, 6.—Luận Ngữ. I, 7.

[42] Luận Ngữ. IX, 10.

[43] Nhân đạo chính vi đại: 人 道 政 為 大。 Lễ Ký, Ai Công vấn, tiết 6.

[44] Luận Ngữ. XII, 2.

[45] Luận Ngữ. III, 19.—Lễ Ký, Ai Công vấn chính, 9.

[46] Trung Dung chương XX.—Kinh Thư, thiên Hồng Phạm, tiết 9.

[47] 愛 與 敬 其 政 之本 也。 Ái dữ kính kỳ chính chi bản dã.

Lễ Ký, Ai Công vấn viết, tiết 9.

[48] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, 2.

[49] Mạnh tử, Tận Tâm hạ, 37, 38.—Luận Ngữ. XIII, 21.

[50] Trung Dung, XXII.

[51] Luận Ngữ. II, 4.

[52] Trung Dung, XXII.

[53] Dịch kinh, Kiền, Văn Ngôn, hào Cửu Ngũ.

[54] Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng, 1.

[55] Đại Học, I.—Luận Ngữ. IX, 18.

[56] Trung Dung XXVII.

———————————————
*********************************************           

CHƯƠNG XX.

TINH HOA KHỔNG GIÁO THEO
TỨ THƯ, NGŨ KINH.

Muốn hiểu ý nghĩa một cuốn sách, cần biết chủ trương cả cuốn sách. Muốn hiểu ý nghĩa một cuốn sách, cần biết chủ trương toàn bộ sách.

Vậy muốn hiểu Trung Dung, tất nhiên ta phải duyệt qua những quan niệm then chốt, cốt cán trong Tứ Thư, Ngũ Kinh.

Nếu tạm gác những vấn đề luân lý, chính trị thông thường sang một bên, ta có thể toát lược những tư tưởng nòng cốt trong Tứ Thư, Ngũ Kinh như sau:

1. Trời là chủ tể vạn vật.

Tứ Thư, Ngũ Kinh nhất là Thi, Thư luôn đề cập đến Thượng Đế.

2. Trời là thực thể cho muôn loài, muôn vật dựa nương, làm chủ chốt mọi biến hóa, và là căn nguyên mọi hiện tượng.

Niềm tin tưởng này được cụ thể hoá bằng vòng Dịch, trong đó Tâm Điểm là Thái Cực, tượng trưng cho Trời bất biến, trường tồn; các hào quải bên ngoài tượng trưng cho muôn hiện tượng luân lưu, biến hóa. Đó là quan niệm: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể của Nho giáo. [1]

3. Trời, người quan hệ hết sức mật thiết với nhau. Các Thánh Hiền Nho giáo đều chủ trương: “Thiên Nhân tương dữ; Thiên Nhân hợp nhất.” [2]

Trung Dung viết:

Biết người trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao? [3]

Kinh Thi viết:

Trời xanh dẫn dắt chúng nhân,

Như là tấu khúc nhạc Huân, nhạc Trì,

Trời người đôi ngọc chương khuê,

Bên cho, bên lấy đề huề biết bao.

Tay cầm, tay giắt khéo sao,

Trời xanh dẫn dắt dân nào khó chi. [4]

4. Trời luôn ẩn áo, ngự trị trong lòng con người. [5]

Thiên Mệnh, Thiên Lý, Thiên Đạo “một giây, một phút không rời khỏi ta”. [6]

Thiên Mệnh, Thiên Lý chính là Bản tính con người, là cốt cách con người. [7]

Như vậy, tâm hồn con người tuy một mà hai: Trong nhân tâm nghiêng ngửa, còn có đạo tâm siêu vi, ẩa áo. [8]

Dưới lớp nhân tình, còn có Thiên Lý làm khuôn phép. [9]

Phần Thiên Lý, Thiên Tính phổ quát chí thành, chí thiện ấy, Tứ Thư, Ngũ Kinh gọi là: Dịch ,[10] Thần ,[11] Thái Cực, [12] Thiên Địa chi tâm, [13] Đạo Tâm, [14] Hoàng Cực, [15] Trung , [16] Di, [17] Tắc, [18] Tính, [19] Cách, [20] Minh Đức. [21]

5. Mọi người phải học hỏi để tìm cho ra bản tính chí thiện, cốt cách căn nguyên ấy.
Tìm ra được là Trí Tri, là đi tới cùng cực của sự hiểu biết. [22]

6. Muốn tìm Đạo Trời phải tìm nơi đáy lòng.

Vì Bản Tính con người, vì Thiên Lý, Thiên Đạo tiềm ẩn đáy lòng, nên muốn tìm ra Bản Tính, muốn tìm ra Thiên Lý, Thiên Đạo, cần phải quay về ta, mà tìm, mà kiếm, cần phải hôì Tâm, tĩnh Trí, tránh phóng đãng, phải biết tập trung tư tưởng, miệt mài suy tư, mới thành công được.

Trung Dung viết:

Tử Tư nương ý chân truyền,

Trung Dung hạ bút, nói liền duyên do:

Nguồn đạo ấy phát từ Thượng Đế,

Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời,

Hoàn tòan đày đủ nơi người,

Một giây, một phút chẳng rời khỏi ta.

Rồi bàn tiếp chi là cần thiết,

“Nhẽ Dưỡng, Tồn, Tỉnh, Sát” vân vân…

Cuối cùng tác giả luận bàn,

Sức thiêng “biến hoá, thánh thần” uy linh.

Những học giả muốn tìm Đạo ấy,

Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung… [23]

Mạnh Tử viết:

Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành,

Kiện toàn hoàn thiện, tinh anh,

Vui nào hơn được vui mình đang vui. [24]

7. Phải biết “kính cẩn” “khử nhân dục”, “tồn Thiên Lý”, hoàn thiện mình để kết hợp với Trời.

Khi đã tìm thấy Đạo, thấy Trời ẩn áo ngự trị trong lòng mình, con người phải “kính cẩn” [25] “cố gắng hoàn thiện mình”, [26] noi theo gương Trờì, [27] rũ bỏ mọi tình ý riêng tây (vô ý) [28], thoát khỏi cái mình nhỏ nhoi, ti tiện (vô ngã), [29] để sống kết hợp với Trời. Đó là Phối Thiên [30]; đó là Cực điểm tiến hóa của con người. Đó là Đạt Thế Trung Hòa [31], đạt tới Trung Tâm huyền diệu của Vũ Trụ và của con người.

8. Trong công cuộc tu thân, cần phải luôn luôn gắng gỏi công trình, luôn luôn học hỏi suy tư.

Học cho biết mình, biết người, biết định luật vũ trụ, biết thời thế để xuất xử, hành tàng, cho hợp thời, hợp cảnh. Đó là Thời Trung. [32]

Có học hỏi, có cố gắng mới phát huy được sự cao đại, huy hoàng, thiện mỹ tiềm ẩn nơi mình, mới có thể đạt thiên đức, thiên Đạo, mới có thể tung mình qua không gian, thời gian phù phiếm, biến thiên, trở về Trung Cung hằng cửu, bất dịch.

Tất cả học thuyết của Khổng Tử là cốt dạy cho ta tìm ra Chân, Thiện, Mỹ cao minh, tinh vi, hằng cửu, bất biến, đạt tới Trung Đạo, Thiên Đạo, Thiên Đức. Chưa đạt tới mức chí thành, chí thiện, người quân tử chẳng thể nào dừng chân, đứng lại. [33]

9. Tuy nhiên, như Đạo Trời có Âm, có Dương, đạo người cũng có 2 chiều: tinh thần, vật chất.

Người quân tử phải thu xếp thì giờ, lo sao cho trong ngoài vẹn cả 2 bề. [34]

Nưả đời đầu cố học hỏi để phát triển khả năng, tiến vào vật chất, vào đời, để mưu sinh, cải tạo hoàn cảnh, tô điểm giang sơn.

Nửa đời sau, khi mọi chuyện đời đã giải quyết êm đẹp, sẽ quay về Đạo để tu luyện bản thân, treo gương cho đời, cầu mong sao cho nên chí thành, chí thánh, chí thiện, để kết hợp với Trời. [35]

Đó là ý nghĩa cuộc đời theo Tứ Thư, Ngũ Kinh.

10. Cải thiện mình rồi, lại phải lo cải thiện người khác. Thế là Trung Thứ. [36]

11. Đạt tới mức chí thành chí thiện lại có công cải thiện muôn dân, sẽ được mệnh danh là Thiên Tử, là Hoàng, là Đế. [37]

Đó là huy hiệu mà cổ nhân tặng dữ cho các Thánh Vương như Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Văn Võ.

Những tư tưởng cao đại nói trên, theo đà thời gian, đã bị trần ai thế hệ che lấp mất.

Tước vị Thiên Tử đem áp dụng quàng xiên, Chữ Hoàng, chữ Đế không còn dùng để chỉ những người có đức độ sánh trời đất, theo nguyên nghĩa nữa, mà dùng để tâng bốc, suy tôn bất kỳ vua chúa nào.

Những chữ Thiên Nhân Tương dữ, Thiên Nhân Hợp Nhất, Phối Thiên, Phối Mệnh, nằm ngơ ngác trên những trang sách như tàn tích một lâu đài cổ, dầu dãi gió sương chẳng còn ai ngó ngàng tới nữa.

Cho nên khảo cứu một học thuyết, cũng như khảo cổ tìm di tích, cần tốn công phu. Một đằng đào bới đất cát để tìm di tích cũ, một đằng đào bới tư tưởng, để tìm cho ra vi ý tiền nhân. Cả đôi bên đều cần biết lọc lõi, biết tẩy trừ những hoen ố thời gian, nhân sinh, nhân thế mới có thể tìm ra được những gì quí báu của tiền nhân được.

*************           

CHÚ THÍCH

[1] 西 銘 之 意 認 天 地 為 一 家 已。 易 一 書 悟 天 地 為 一 已。

Tây Minh chi ý nhận thiên địa vi nhất gia dĩ. Dịch nhất thư ngộ thiên địa vi nhất dĩ. Bài Tây Minh là của Trương Tái (1020—1076), hiệu Hoành Cừ.

Tăng Dật, Tống Nguyên Học Án, quyển 7, tr. 15.

[2] 中 國 自 唐 虞 以 來 即 有 天 人 合 一 之思想 。

 歷 代 聖 晢 莫 不 繼 續 宏 揚 此 天 人 合 一 之 道。

Trung quốc tự Đường Ngu dĩ lai tức hữu Thiên Nhân Hợp Nhất chi tư tưởng. Lịch đại Thánh Triết mạc bất kế tục hoành dương thử “Thiên Nhân hợp nhất “chi đạo.

Trương kỳ Quân, Trung Hoa Ngũ Thiên Niên Sử, đoạn Lão Tử.

[3] 思 知 人, 不 可 以 不 知 天。Tư tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên.

Trung Dung, XX.

[4] 天 之 牖 民 Thiên chi dũ dân

 如 壎 如 篪 Như huân như trì.

 如 璋 如 圭 Như chương, như khuê,

 如 取 如 攜 Như thủ như huề.

 摳無 曰 益 Huề chi viết ích,

 欑民 孔 易。 Dũ dân khổng dịch.

Kinh Thi, Thi Bản.

[5] 體 物 而 不 可 遺。

Trung Dung, chương XVI.

[6] Trung Dung, chương I.

[7] 致 知 在 格 物, 物 格 而 後 知 至。

[8] 人 心 惟 危, 道 心 惟 微, 惟 精 惟 一, 允 執 厥 中。

Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, duẫn chất quyết Trung.

Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 15.

[9] 天 生 蒸 民, 有 物 有 則, 民 之 秉 彝, 好 是 懿 德。

Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc, Dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức.

 Kinh Thi, Đại Nhã, Đãng, Chưng dân VI.

Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào, phép nấy định phân rành rành.

Lòng dân chứa sẵn căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành, tốt tươi.

[10] 乾 坤 成 列 而 易 立 乎 其 中 矣。

 Kiền Khôn thành liệt nhi Dịch hành hồ kỳ trung hĩ.

Kinh Dịch, Hệ Từ Thượng, Chương XII, tiết ba.

 天 地 設 位 而 易 行乎 其 中 矣。

 Thiên địa thiết vị nhi Dịch hành hồ kỳ trung .

Hệ Từ Thượng, chương VII, tiết 2.

[11] 神 也 者 妙 萬 物 而為 言 者 也。

 Thần dã giả, diệu vạn vật nhi vi ngôn giả dã.

Thuyết quái, Chương VI.

[12] Thị cố Dịch hữu Thái Cực. Hệ Từ Thượng, XI, 5.

[13] 復 其 見 天 地 之心 乎? Phục kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ. Dịch. Quẻ Phục, Thoán.

[14] 道 心 . Đạo Tâm.

Kinh Thư, Ngu Thư, IV, Đại Vũ Mô, 15.

[15] 黃 極。 Hoàng Cực.

Kinh Thư, Chu Thư IV, Hồng Phạm, 4.

[16] 衷 ,中 。 Trung. Thương Thư 3, Thang Cáo 2.

[17] 彝 。 Di. Kinh Thi, Đại Nhã, Đãng, Chưng Dân VI, 2.

[18] 則 。 Tắc. (Xem 17 trên).

[19] 性 。 Tính. Trung Dung, chương I.

[20] 格 。 Cách. Đại Học, I.

[21] 明 德. Minh Đức. Đại Học, I.

[22] 致 知 在 格 物, 物 格 而 後 知 至。

 trí tri tại cách vật , vật cách nhi hậu tri chí.

Đại học, chương 1.

中 即 至 理, 何 嘗 不 兼 至 義。 大 學, 文 言 皆 言 知 至。

 所 謂 至 者 即 此 理 也。 語 讀 易 者 曰 能 知 太 極 即 是 知 至。

 語 讀 洪 範 者 曰 能 知 黃 極 即 知 至。 夫 豈 不 可,

蓋 同 指 此 理, 則 曰 太 極, 曰 中, 曰 至, 其 實 一 也。

*Trung tức chí lý. Hà thường bất kiêm chí nghĩa. Đại Học, Văn Ngôn giai ngôn tri chí. Sở vị chí giả tức thử Lý dã. Ngứ độc Dịch giả viết tri Thái Cực tức thị tri chí. Ngứ độc Hồng Phạm giả viết năng tri Hoàng Cực tức thị tri chí. Phù khởi bất khả, cái đồng chỉ thử Lý, tắc viết Thái Cực, viết Trung, viết chí, kỳ thật Nhất dã.

*Trung là Chí lý, và cũng là Chí Nghĩa. Đại Học, Văn Ngôn đều nói Tri Chí. Người đọc Dịch thì cho rằng biết Thái Cực là Tri chí. Người đọc Hồng Phạm thì cho rằng biết Hoàng Cực là Tri Trí. Tất cả đều là một Lý. Gọi Thái Cực, gọi Trung gọi Chí lý, đều là một vậy.

Phụ Chú, Lục, Thái Cực đồ thuyết biện, Tống Nguyên Học Án, quyển 12, trang 6.

[23] Trung Dung, chương I, Bình Luận của Chu Hi.

[24] 萬 物 皆 備 於 我 矣, 反 身 而 成, 樂 莫 大 焉。

 Vạn vật giai bị ư Ngã hĩ, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.

Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú thượng, 4.

[25] Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, Khủng cụ hồ kỳ sổ bất văn. Mạc hiện hồ ần, mạc hiển hồ vi. Cố quân tử thận kỳ độc dã.

Trung Dung, chương I.

[26] Trung Dung, XXX

[27] 惟 天 為 大, 惟 堯 則 之

 Duy Thiên vi Đại, duy Nghiêu tắc chi.

Luận Ngữ. Thái Bá đệ bát, 19. .—Lễ Ký q. 1, Trọng Ni yên cư, tr. 10.

 天 行健, 君 子 以 自 強 不 息

Dịch, Quẻ Kiền, Đại Tượng Truyện.

[28] Luận Ngữ. Tử Hãn đệ cửu, 4.

[29] Luận Ngữ. Tử Hãn đệ cửu, 4.

[30] 故 曰 配 天。 Cố viết Phối Thiên.

Trung Dung, 31.

高 明 配 天。 Cao minh phối Thiên.

Trung Dung 26.

[31] 致 中 和。 Trí Trung Hòa.

Trung Dung, chương I.

[32] 君 子 之 中 庸 也, 君 子 而 時 中。

Trung Dung, II.

[33] 止 於 至 善。 Chỉ ư chí thiện.

Đại Học, I.

從 容 中 道, 聖 人 也。Thung dung Trung Đạo, thánh nhân dã.

Trung Dung, XX.

致 廣 大 而 盡 精 微, 極 高 明 而 道 中 庸。

Trung Dung, XXVII.

苟 不 固 通 明 聖 知, 達 天 德 者, 孰 能 知 之。

Cẩu bất cố thông minh, thánh trí, đạt thiên đúc giả, thục năng tri chi.

Trung Dung, XXXII.

[34] 成 己 仁 也, 成 物 知 也。 性 之 德 也。 合 內 外 之道 也。 故 時 措 之 宜 也。

Thành kỷ nhân dã, thành vật trí dã. Tính chi đức dã. hợp nội ngoại chi đạo dã. Cố thì thố chi nghi dã.

Trung Dung XXXI.

[35] 故 曰﹕ 配 天。

Trung Dung, XXXI.

[36] 曾 子 曰 ﹕ 夫子 之 道, 忠 恕 而 已 矣。

Tăng tử viết: Phu tử chi đạo, Trung Thứ nhi dĩ hĩ.

Luận Ngữ. IV, 15.

盡 己 曰 忠, 如 己 曰 恕。

Tận kỷ viết Trung, như kỷ viết Thứ.

Tiên Nho.

[37] 帝 = 德 者 合 天 稱 帝。 Đế= đức giả hợp Thiên giả, xưng Đế.

Bạch hổ Thông. Khang Hi tự điển.

—黃 = 大 也, 天 也。

Hoàng = Đại dã, Thiên dã.

Xin đọc thêm Nho Giáo, Trần trọng Kim, q. I, tr. 39, 40; 213—218; và q. II, tr. 103.

*************           

CHƯƠNG XXI.

VŨ TRỤ QUAN

(THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ)

Nho giáo chủ trương: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. [1] Bản thể đất trời thời duy nhất, nhưng hình tướng bên ngoài thì biến ảo muôn ngàn. (Thể duy nhất, dụng vạn thù).

Đà diễn tiến của vũ trụ như sau:

Vô cực [2] sinh Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, và cứ đà ấy tạo dựng quần sinh vũ trụ.[3]

Nói cách khác:

Trời sinh ánh sáng, ánh sáng sinh từ lực. Từ lực, tức nhị khí âm dương, sẽ tác dụng phối hợp nhau, theo những phương thức khác nhau, để sinh mây gió, nước lưả, núi non, trời đất.

Theo quan niệm trên, thì Vô hình dần dà cô đọng thành Hữu hình, ánh sáng dần dần biến thành thiên hình, vạn trạng.

Ngược lại với giáo lý các đạo độc thần (Thiên Chúa Giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo) chủ trương thế giới này đã được dựng nên bởi không (création ex nihilo), Nho giáo chủ trương thuyết sinh hoá (émanation et transformation), nghĩa là vạn hữu đã từ Nhất thể phân thân mà thành, một thuyết sinh hoá đặc biệt, vì hết chu kỳ biến dịch, lại trở về nguyên bản. (Thiên Địa tuần hoàn chung nhi phục thủy. —Nguyên Thủy phản chung). [4] Ta còn gọi đó là Thuyết: Thiên Địa Vạn Vật Nhất Thể.

Thái Cực hay Ánh Sáng Chí Tôn ấy như vừng dương ngự trị giữa hoàn võ, tung tỏa hào quang khắp nơi để duy trì sinh hoá. Đâu có sinh hoá, đấy có Thái Cực. Trong mỗi vi trần, đều có Thái Cực, trong mỗi nhân thân đều có Thái Cực. [5]

Thái cực còn gọi là Trung, vì bất biến, làm khu nữu cho vũ trụ; gọi là Dịch, vì làm cho vạn hữu biến hóa; gọi là Đạo vì là Nguyên Động lực muôn loài…

Từ trước tới nay, ít người hiểu hai chữ Vô Cực, Thái Cực của cổ nhân, nên từ ngữ đã làm chết nghẹt tư tưởng, và vì vậy không tìm ra được điểm tương đồng giữa các học thuyết Âu Á.

Nhưng nếu hiểu Vô Cực là “Trời Ẩn”, Thái Cực là “Trời Hiện”, thì ta sẽ biết ngay Thái Cực chính là Đạo, là Hóa Công, là Tạo Hóa. Như vậy, Vô Cực, Thái cực chỉ là hai phương diện Ẩn Hiện của Hóa Công (Non—Manifestation et Manifestation).

Hai phương diện này làm ta liên tưởng đến Brahman (Vô) và Isvara (Hữu); Nirguna (Vô Tướng = sans qualité), và Saguna (Hữu Tướng = avec qualité) trong kinh Veda của Ấn Độ. [6]

Đó cũng là quan điểm của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh.

“Hoá Công hồ dễ đặt tên,

Khuôn Thiên hồ dễ mà đem luận bàn.

Không Tên sáng tạo thế gian,

Có Tên là mẹ muôn ngàn thụ sinh.

Tịch nhiên cho thấy oai linh,

Hiển dương cho thấy công trình vân vi.

Hai phương diện, một Hoá Nhi,

Huyền Linh khôn xiết, huyền vi khôn lường.

Ấy là “Chúng diệu chi môn”,

Cửa Thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi. [7]
“Thiên Địa vạn vật nhất thể “là một học thuyết chung cho nhiều Đạo Giáo. [8]

Theo thuyết này, thì chỉ Tâm Điểm là trường cửu, là duy nhất, còn vạn vật vạn hưũ bên ngoài thì dị biệt biến thiên. Cho nên, nếu nhìn hẹp từng tầng, từng vật, thì thấy mọi sự đều chia phôi, xa lạ, còn nếu nhìn bao quát cả toàn thể, thì thấy mọi sự, mọi vật đều như lá, như cành, như hoa, như quả cùng chung một gốc, và trong những lớp màng, lớp áo, lớp vỏ biến thiên bên ngoài, còn có một tinh hoa trường tồn, vĩnh cửu.

Vì có tầm mắt nhìn bao quát ấy, Trang Tử đã viết:

“Ta và Trời đất cùng sinh,

Ta và muôn vật, sự tình chẳng hai.” [9]

Trang Tử còn chủ trương:

“Nếu nhìn chỗ “dị biệt”, thì thấy gan, mật, như Sở, Việt chia phôi, nếu biết nhìn điểm tương đồng, thì vạn vật đều là một.” [10]

Càng đi ra bên ngoài, càng thấy tôn ti, quí tiện đôi đường cách trở, càng tiến vào bên trong, càng tiến tới chỗ tương đồng. Vào đến Tâm Điểm, đến Đạo, đến Thái Cực, thì hết phân quí tiện, vì vạn vật đều mang Thái Cực. Đó chính là chỗ Tề Vật của Trang Tử.[11]

Theo Alfarabi, một triết gia Ả Rập thời Trung Cổ, thì trong tác phẩm Thần Học (Théologie), Aristote cũng chứng minh sự hiện diện của Duy Nhất trong lòng mọi tạp thù dị biệt. [12]

Áo Nghĩa Thư (Upanishad) chủ trương: dưới những lớp biến thiên, ảo hóa bên ngoài của vũ trụ, có một Bản Thể duy nhất: đó là Tuyệt Đối thể, là Brahman, hay Atman căn nguyên của vũ trụ, và chân tâm của con người.[13]

…”Như nhện chăng tơ, như lửa sinh tàn, tự Chân Tâm cũng phát xuất ra mọi nguồn sinh lực, mọi vũ trụ, mọi thần minh, mọi vạn hữu…”[14]

Sách Zohar, một sách Huyền Học Do Thái cũng đồng quan điểm như vậy, khi chủ trương:

“Thượng đế là Trung Điểm, vạn hữu bao bọc chung quanh, thành nhiều vòng, hay nhiều thế giới đồng tâm.

Thượng đế phát huy ra vũ trụ, nên sự phát triển của vũ trụ tiến từ tầng trong ra tới tầng ngoài, và vô hạn giáng phàm dần tới hữu hạn…Trong là Thượng giới, ngoài là Hạ giới; trong cùng là tinh thần, ngoài cùng là vật chất, vòng ngoài bao bọc, hỗ trợ vòng trong như vỏ, như cùi bảo vệ cho nhân, cho hạt…[15]

Kinh Hoa Nghiêm, theo Đào Hư Tử, cũng chủ trương:

Vạn lý đều do một Tính mà phát xuất ra.[16]
Kinh Lăng Nghiêm viết: Các Pháp đều do tâm biến hiện.[17]

Vũ Trụ quan này đưa đến những kết quả sau:

1.Trời, người tương quan mật thiết với nhau: Trời là Nhân, người là quả, là vỏ bọc. [18]

2.Trời bất biến, người biến thiên. Đã biến thiên thì không vĩnh cưủ. Vậy con người muốn vĩnh cửu, muốn trường sinh bất tử, phải kết hợp với Trời, Nhân Tâm phải kết hợp với Đạo Tâm. Trường sinh bất tử không phải là một dữ kiện (Fait), mà là một công trình phải thực hiện (oeuvre à réaliser).

Thực ra, Cựu Ước cũng chủ trương:

“Sự kết hợp với đức Minh Triết đưa ta đến chỗ bất diệt.”[19].

Thế là:

Dục cầu nhân bất tử,

Tu tầm Bất Tử Nhân.[20]

Dịch:

“Muốn cho người được trường sinh,

Phải tìm ra đấng huyền linh trường tồn.”

3.Trời ví như căn bản, nguồn gốc; nhân loại, quần sinh, ví như những cành lá (mạt), những dòng sông (lưu). Trời là Thể (Essence), nhân loại quần sinh là những hiện tượng (phénomènes), những ứng dụng bên ngoài (dụng = Services). Trời thì vi ẩn; nhân loại, quần sinh thì hiển hiện, nhưng đôi bên đều mật thiết tương quan với nhau.

Chu Hi viết:

Thể dụng nhất nguyên, hiển vi vô gián
 體 用 一 源, 顯 微 無 間

Thể với Dụng đều chung gốc rễ,

Hiển cùng Vi khôn lẽ chia phôi. [21]

4.—Đi từ Trời xuống quần sinh, vũ tru, từ tinh thần ra vật chất là trụy lạc, là thoái hóa, nhưng cũng là tạo tác. Đi từ quần sinh vũ trụ lên tới Trời, từ vật chất về tinh thần là siêu thoát, là tiến hóa, là thần thánh hoá bản thân. Đó là Bí quyết “Qui Nguyên, phản Bản” “Trở về gốc, quay về nguồn”, [22] hay “Âm Dương điên đảo” [23] của người xưa.

5.—Như vậy, sự tạo dựng trong vũ trụ chưa chấm dứt, bao lâu còn biến thiên, bấy lâu còn tạo dựng. Bao lâu con người còn cần tu luyện, thì bấy lâu lò cừ Tạo hoá còn chưa ngừng công việc được.

6.—Vũ trụ quan trên xây nền tảng cho cả một hệ thống đạo lý và siêu hình học.Chỉ có Đạo, có Thái Cực, có Tuyệt Đối mới là nguồn mạch sự sống, là chân lý bất biến, là điểm hội tụ tối hậu cho nhân loại, còn các hiện tượng, hình danh, sắc tướng bên ngoài đều là tuồng biến thiên, ảo hóa.Muốn trở nên Thánh, Hiền, Tiên, Phật, muốn trường sinh, bất tử, điều kiện tiên quyết là phải biết “võng tượng”, lìa bỏ các hiện tượng, các hình ảnh; theo Trung Đạo, “dữ Đạo hợp Chân”, cho tâm thần đạt tới và sống trong Tuyệt Đối Thể.[24] Các Hiền Thánh xưa đều muốn qui vạn thù về một mối, cho các trào lưu tư tưởng, ước mơ chảy ngược dòng để đổ về lại căn nguyên, đều muốn sống hòa đồng với Tuyệt Đối Thể, đều muốn không còn cái “mình”, cái “ta” nhỏ nhoi, ti tiện nữa, lấy phương châm “Vô Ngã” làm mục đích tối hậu cho công phu tu luyện.[25]

7.—Vũ trụ quan trên cho thấy tại sao con người phải tiến tới Vô Ngã, phải hòa đồng với Đạo, với Trời, mới được trường sinh, bất tử, mới mong tiến tới Đại Đồng (universalité) [26].

Lý do rất là giản dị: Vì chỉ có Bản Thể mới vĩnh cửu, còn hiện tượng ứng dụng thì biến thiên theo thời, khi còn, khi mất, thăng trầm, chất chưởng. Đằng khác, Thái Cực là toàn thể, quần sinh là phân số, là bộ phận, cho nên muốn tiến tới Đại Đồng (Universalité), phải tiến tới toàn thể. Theo Nho giáo, thánh nhân cần phải có độ lượng tâm hồn mênh mông bằng tầm thước vũ truï, nghĩa là phải biết trút bỏ hết mọi giới hạn, màu da, sắc áo, lối đường tư tưởng riêng biệt, gạt bỏ hết mọi nhỏ nhen, ti tiện, để tiến tới công chính, cao đại, tôn quí.[27]

8.—Tìm Trời tìm Đạo phải tìm trong đáy lòng.

Cổ nhân gọi đó là “Hồi Tâm Phản Tỉnh” hay “Phản Thân nhi thành” [28]. Và các phương pháp tham thiền, nhập định, (contemplation, concentration et extase) cũng cốt là để kết hợp với đấng Tối Cao. [29]

9. —Biết được Trời lồng trong tâm khảm, để làm khuôn phép mẫu mực, làm căn cốt cho tâm hồn, tức là thấu triệt nghĩa lý, là hiểu biết tới căn để. Đó là Cách vật, trí tri theo Đại học.

“Dày công học vấn sẽ hay Khuôn Trời,

Hay Khuôn Trời ắt thôi thấu triệt.

Thấu triệt rồi ý thiệt lòng ngay,

Lòng ngay, ta sẽ hóa hay…” [30]

Đó là cái hiểu biết cao siêu nhất của nhân loại. [31]

10.—Trở về với Trời, với Đạo, với Thái Cực tức là thông suốt nhẽ huyền vi: “Tạo hoá qui Trung chi diệu.” [32]

Công trình này người xưa gọi là:

Kiến tố bão phác
 見 素 抱 樸。[33]

Qui Nguyên phục Mệnh.
 歸 元 復 命。

Phục qui Đạo
 復 歸 道 [34]

Phục qui Anh Nhi
 復 歸 嬰 兒。[35]

Phục quy Vô Cực
 復 歸 無 極。[36]

Phản kỳ Chân
 反 其 真。[37]

Phục kỳ bản
 復 其 本。

Qui nguyên phản bản
 歸 元 返 本。[38]

Dữ Đạo hợp Chân
 與 道 合 真。

Toản thốc ngũ hành
 攢 簇 五 行

Hội hợp Bát quái
 會 合 八 卦。

Tam hoa qui đỉnh
 三 華 歸 頂。

Ngũ khí triều nguyên
 五 氣 朝 元。[39]

Minh bạch nhập tố
 明 白 入 素。[40]

Vô vi phục phác
 無 為 復 扑。 [41]

Thể Tính bão Thần
 體 性 抱 神

Trở về với Trời, kết hợp với Trời là đạt Đạo, đạt đích (chí Nhân), là trở thành Con Người Thật (Chân Nhân). Đó là Thung Dung Trung Đạo.[42]

Theo Vũ Trụ Quan trên thì Vạn Vật do Trời sinh, dù phiêu lãng mấy trên trùng dương thời khắc, chung qui cũng vẫn phải trở về với Trời, với Đạo.[43]

Con người theo một qui luật như vũ trụ, nên trước sau cũng phải về với Đấng Tối Cao. [44]

Trung Dung là cứu cánh con đường đó. Đạt đạo Trung Dung sẽ trường sinh vĩnh cửu. Thanh Tĩnh Kinh giải thích vĩnh cửu, trường tồn là Trung Dung. (Thường giả, Trung Dung dã)[45]. Người Âu Châu thường công kích quan niệm trên và cho là “phiếm thần chủ nghĩa.”

Nhưng thay vì bàn cãi suông, nếu ta dở Thánh Kinh, nếu ta khảo sát giáo lý, hay nghiên cứu tư tưởng các thánh hiền Thiên Chúa Giáo, ta sẽ thấy những chủ trương tương tự.

*Các Hiền thánh Thiên Chúa Giáo cũng tin:

1. Thượng đế ở khắp nơi. (Omniprésence de Dieu)

2. Vạn vật đều do Ngôi Hai sáng tạo.[46]

3. Con người là dòng dõi Thượng Đế, [47] có thể thông phần Bản thể với Thượng Đế.[48]

4. Nước Trời ở đáy lòng .[49]

5. Vinh quang Trời ở trong lòng nhân loại. [50] Hơn thế nữa, vài vị Đại Thánh còn nhận:

6. Trời là Bản Thể muôn loài. [51]

Vả lại, đã chấp nhận Thượng đế ở khắp nơi, sao lại không dám nghĩ Thượng Đề có ở đáy lòng nhân loại? Nếu đã chấp nhận nước Trời ở đáy lòng, thì Trời ở đâu nếu không phải ở đáy lòng nhân loại?

Nếu Trời đã ở ngay trong thâm tâm nhân loại, thì tìm Đạo, tìm Trời phải tìm ở đáy lòng, tìm trong suy tư, thầm lặng, hay phải tìm Trời, tìm Đạo trong những tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng hát bên ngoài?
Và thế nào là người đạo hạnh, nếu không phải là người có Thiên Chúa hiện diện đáy lòng, và không còn ước mơ ngoại cảnh. [52]

Một khi đã xác định Trời ở đáy lòng, nước Trời ở đáy lòng, thì sự siêu thoát chắc chắn phải được thực hiện bằng sự thông suốt điều huyền nhiệm đó, và bằng những công cuộc tu luyện tâm thần, tham thiền, nhập định, diệt dục,vong ngã, để kết hợp với đấng Tối Cao.

Suy ra, thì Thượng giới ở ngay trong tâm hồn ta, mà hạ giới chính là thế gian ở ngoài ta. Càng tiến ra bên ngoài, là càng đi vào tục lụy, càng bị lệ thuộc vào hoàn cảnh, không gian và thời gian. Càng tiến vào bên trong, là càng thoát vòng kiềm tỏa của vật chất, của ngoại cảnh…cho nên, muốn khinh khoát, tự do, cần phải có một đời sống nội tâm rồi rào, phong phú. [53]

Từ Vô Cực, Thái Cực biến hóa xuống dần tới vạn hữu, là từ cao siêu, đi dần xuống tới ti tiện, là bước dần xuống các nấc thang giá trị, cho tới kỳ cùng. Đi từ vạn hữu trở về Thái Cực, Vô Cực là tiến từ ti tiểu tới cao đại, là bước dần lên các nấc thang giá trị, cho tới hoàn hảo siêu việt.[54] Đó là nhẽ tồn vong, thăng trầm của vũ trụ.

Nhưng vì Vô Cực, Thái Cực ở ngay trong đáy lòng con người, nên nếu cứ để cho tâm hồn tản lạc, phá tán, theo các hiện tượng bên ngoài, thì sẽ đi đến chỗ trụy lạc, tan rã; còn nếu biết đi trở ngược, từ hiện tượng nhận ra tâm hồn, thần trí, Thái Cực, Vô Cực tiềm ẩn trong đáy lòng, thì sẽ tìm ra được con đường siêu thoát. [55]

Vũ trụ quan trên, cũng như toàn bộ Trung Dung, và Kinh Dịch, chẳng qua cốt dạy con người đâu là nguồn mạch của mình, cũng như đâu là quê hương cùng đích của mình…

Theo Vũ Trụ quan trên thì không gian và thời gian cũng biến động, cũng co giãn khôn lường. Càng đi sâu vào nội tâm, càng đi sâu vào tầng trong, thì không gian, và thời gian càng co lại, tưởng chừng đi đến không điểm (le Cinq ou le Zéro métaphysico—mathématique)[56], mà kỳ thực lại tiến tới vĩnh cửu, trường tồn. Càng tiến ra bên ngoài thì không gian và thời gian càng giãn ra, dài ra, tưởng chừng tiến tới vô cùng, mà kỳ thực là tiến tới phù du, hư ảo; cho nên một giây phút trong tâm thần có thể tương đương với mấy nghìn vạn năm bên ngoài. Tinh Thần cũng vì thế có thể nói được không tương lai, và dĩ vãng, hằng cửu, bất biến. Cho nên một cuộc đời vật chất bên ngoài, nghĩ đi, nghĩ lại cũng chỉ nhanh như một giấc mộng.

“Bôn ba đời nghĩ buồn rầu,

Hư không giấc mộng đêm thâu, thấy gì.

Vô thường muôn việc bỏ đi,

Kíp hồi đầu lại kẻo khi ngỡ ngàng”.[57]

Vũ trụ quan trên có thể nói được là một quan niệm chính xác về vũ trụ, vì nó bộc lộ huyền cơ tạo hoá, quán thâu nhẽ biến hằng của đất Trời, toát lược lịch sử nhân quần vũ trụ, cũng như phác hoạ cơ cấu nhân quần vũ trụ bằng một tâm điểm và một vòng tròn, bằng một chữ Trung và một chữ Dịch.

Mới hay Trung Dung và Kinh Dịch chủ trương dạy người một môn học cao siêu, có mục phiêu là “Thấu suốt Bản Tính và Định Mệnh “mình, để chung cuộc sẽ được kết hợp với Trời với Đạo. [58]

Thâm ý của Thánh hiền là làm sao cho mọi người, kẻ trước, người sau, ai ai cũng có thể đạt được Trung Điểm, đạt được “Thái Cực”, “Chí cực”, “Vô Danh khả danh”. [59]

Theo Dịch Kinh, khi người quân tử đã am tường Trung Cung, Trung Điểm, khi Bản Thể đã ở đúng ngôi vị của nó, —nói cách khác, khi con người đã đạt tới Thiên Vị, đã kết hợp được với Trời,—[60] thì bao nhiêu sự tốt tươi, đẹp đẽ từ đáy thẳm, lòng sâu tâm hồn sẽ tung tỏa ra khắp cơ thể, sẽ thấm nhuần khắp tứ chi, sẽ chói lọi trong sự nghiệp. Thật là đẹp đẽ đến tuyệt vời vậy.[61]

Nhưng con người muốn trở về Trung Cung, Trung Điểm, muốn được thông tuệ, diệu minh, cần biết suy tư vì có suy tư mới biết huyền cơ Tạo Hoá, mới có thể thần thánh hóa mình, và trở nên hoàn thiện được.[62]

Cao đại thay là căn nguyên con người, trọng vọng thay là định mệnh con người, Đẹp đẽ thay là công phu tu luyện của con người.

Còn gì làm cho ta sung sướng hơn là cảm thấy Trời ngay trong lòng, là nguồn sống và là cùng đích mình; có thần trí thông minh để nhận ra chân lý đó; có thời gian, không gian và vạn hữu làm phương tiện cho công phu, tu luyện ; tu luyện để nên hoàn thiện như Trời, để rồi ra được kết hợp với Trời, thông phần bản tính và vinh quang Trời, trường sinh vĩnh cửu cùng Trời đất.[63]

Tóm lại vũ trụ quan trên đây là kết tinh của một nền học vấn cao siêu, tương truyền từ Đông sang Tây.

Nhờ vũ trụ quan này mà các hiền thánh muôn đời đã dược “khai quang, điểm nhãn” [64] dùng mắt tinh thần nhìn nhận ra Thượng Đế ở khắp nơi, và thấy mình sống trong vinh quang Thượng Đế. [65]

Gẫm cho cùng thì:

Muôn loài sinh hoá đa đoan,

Rồi ra cũng phải lai hoàn Bản Nguyên.

Hoàn Bản Nguyên an nhiên phục mệnh,

Phục Mệnh rồi trường vĩnh vô cùng. [66]

Cổ nhân vì vậy dùng Tâm Điểm của vòng Dịch để tượng trưng cho Trời vừa là căn bản của vũ trụ, vừa là mục đích tối hậu của công cuộc tu luyện, tiến hoá của quần sinh, vũ trụ.

Cho nên Trung Dung chí cao chí đại vì đưa con người đến vinh quang tuyệt đối. Phải mở tầm mắt, phải mở tầm tâm hồn cho rộng rãi vô biên thì mới tìm ra được Điểm Trung. [67]

*Hết phần chính văn

*************           

CHÚ THÍCH

[1] …Considérer l’univers comme faisant un tout et où le désordre d’une partie se répercute dans le Tout —considérer encore l’homme au centre de cet univers et faire du coeur de l’homme le coeur de l’univers: telle est l’idée contenue dans les livres classiques et exprimée surtout par les philosophes des Song…Avec tous les penseurs chinois, il (Wang Yang Ming) répète que “l’homme c’est le coeur de l’univers; l’univers avec moi constitue un seul corps (un tout)”

Wang Tch’ang Che, S.J., La Philosophie Morale de Wang Yang Ming, p. 74—75.

人 者 天 地 萬 物 之 心 也。 心 者 天 地 萬 物 之 主 也。 心 即 天。

Nhân giả, Thiên địa, vạn vật chi tâm dã. Tâm giả, Thiên Địa vạn vật chi chủ dã. Tâm tức Thiên.

Như trên, appendice, 10.

[2] 理 本 無 形, 故 謂 之 無 極。Lý bản vô hình, cố vị chi Vô Cực.

[3]Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di, Chu Nguyên Bồi, Tính Học Đại Cương, q.1, tr. 1.

[4] L’Extrême—Orient ancien a fait partie d’un monde où la coexistence de grands courants spirituels (Zoroastre, Bouddha, Confucius, Lao—tseu, Platon), ne s’explique que par certaines idées communes unanimément admises de la Méditerranée au Pacifique. Toutes ces vieilles cultures eurasiatiques se présentent comme des cosmologies pour lesquelles une même substance compose toutes les choses créées.

Pierre Huard, Connaissance du Vietnam 63.

…Đạo sinh Nhất: Nhất vi Thái Cực, Nhất sinh nhị vi Lưỡng Nghi; Nhị sinh Tứ, vi Tứ Tượng; Tứ sinh bát vi Bát Quái; Bát sinh Lục Thập tứ; Lục Thập Tứ cụ nhi hậu Thiên Địa vạn vật chi đạo bị hĩ. Thiên Địa vạn vật mạc bất dĩ Nhất vi Bản Nguyên, vu nhất nhi diễn chi vi vạn, cùng Thiên Địa chi số phục qui vu nhất. Nhất giả hà dã, Thiên Địa chi tâm dã. Tạo hóa chi nguyên dã.

Tống Nguyên Học Án, quyển 10, tr. 62, Ngữ lục Tống Nguyên học Án.

道 生一, 一 為 太 極;一 生 二, 二 為 兩 儀;

 二 生 四 為 四 象, 四 生 八 為中K卦, 八 生 六 十 四;

 六 十 四 具 而 後 天 地 之 道 備 矣。 天 地 萬 物 莫 不 以 一 為 本 原,

 于 一 而 演 之 為 萬, 窮 天 地 之 數 復 歸 于 一。

 一 者 何 也﹕ 天 地 之心 也。 造 化 之 原 也。

…”Tất cả là Một, tất cả chúng sinh đều từ Phổ Quang Minh Trí (Lumière omniprésente, Intelligence éclairante) mà ra, thì tất cả sẽ trở về với Ánh Sáng Trí Trí Huệ ấy, tức là thành Phật. “

Mai Thọ Truyền, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, tr. 30.

[5] 太 極 者, 所 謂 象 帝 之 先。 先 天 地 生, 能 生 天 地 萬 化 之 祖 根 也。

本 無 有物, 無 象, 無 數, 無 方 隅, 無 往 不 在。 言 太 極 則 無 極 可 知。

大 而 天 地, 細 而 萬 物 莫 不 各 有 太 極, 物 物 一 太 極,

一 物 全 具 一 天 地 之理。地 理 正 宗, 卷 一, 頁 四。

Thái Cực giả, sở vị tượng đế chi tiên, tiên thiên địa sinh, năng sinh thiên địa vạn hóa chi tổ căn dã. Bản vô hữu vật, vô tượng, vô số, vô phương sở, vô vãng bất tại, ngôn Thái Cực tắc Thái Cực khả tri…

Đại nhi Thiên Địa, tế nhi vạn vật, mạc bất các hưũ Thái Cực, vật vật nhất Thái Cực , nhất vật toàn cụ nhất Thiên Địa chi lý.

Địa Lý Chính Tông, quyển I, tr. 4.

[6] A Source Book in Indian Philosophy, p. 38.

[7] Đạo đức kinh chương I.

冓子 首 章 言 無 名 天 地 之始, 有 名 萬 物 之 母, 而 卒 同 之。

 此 老 氏 宗 指 也。 無 極 而太 極, 即 是 此 旨。

Lão tử thủ chương ngôn vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh thiên địa chi mẫu, nhi tốt đồng chi. Thử Lão Thị tông chỉ dã. Vô Cực nhi Thái Cực thị thử chỉ.

Tống Nguyên học án, q. 12, tr. 3. Liêm Khê học án.

[8] Aussi, dans diverses traditions, voyons—nous la création à partir d’un centre, parce que là se trouve la source de toute réalité, et partant, de l’énergie de vie.Il arrive même que les traditions cosmologiques expriment le symbole du Centre dans les termes qu’on dirait empruntés à l’embryologie: “Le très Saint a créé le monde comme un embryon. Tout comme l’embryon croit à partir du nombril, de même Dieu a créé le monde par le nombril, et delà il s’est répandu dans toutes les directions.”

(Textes cités par Wensick, p. 19). Yoma affirme: “Le monde” a été créé en commencant par Sion.” (Như trên, p. 16). Aussi dans le Rig Véda (p. ex.: X, 149) l’univers est concu comme prenant son extension à partir d’un point central (Cf. le Commentaire de Kirfel, Cosmographie, p. 18).

Mircéa Eliade, Traité d’histoire des religions, p. 323.

[9] 天 地 與 我 並 生, 而萬 物 與 我 為 一。
Thiên Địa dữ Ngã tịnh sinh, Nhi vạn vật dữ Ngã vi Nhất.

Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận.

[10] 自 其 異 者 視 之, 肝 膽 楚 越 也 。 自 其 同 者 視 之, 萬 物 皆一 也

Tự kỳ dị giả thị chi, can đởm Sở Việt dã. Tự kỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai nhất dã.

Từ khác biệt mà trông vạn vật,

Thì chia phôi gan mật, Việt Ngô.

Nhưng từ đồng điểm nhìn ra,

Muôn loài là một, phôi pha chưa từng.

(Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù.)

[11] 以 道 觀 之, 萬 物 無 貴 賤; 以 物 觀 之, 自 貴 而 相 賤。
Dĩ Đạo quan chi vạn vật vô quí tiện, dĩ vật quan chi, tự quí nhi tương tiện.
Nam Hoa Kinh, Thu Thủy.

[12] En son écrit, Théologie, Aristote démontre la présence de l’Un au sein de toute multiplicité…

Alfarabi, hay Ibn Tar Kan là một Triết Gia Ả Rập sinh tại Farab, chết nâm 950.

Cf. La Religion Essentielle, p. 107.

… Étienne Geoffroy St Hilaire, Vicq D’Azyr (1748—1794), Goethe (1749—1803) cũng chủ trương thuyết “Nhất Thể Vạn thù”, mà các Ông gọi là “modèle primitif et général” hay “Urpflanze” (Herder, Idée pour la Philosophie de L’Histoire de L’Humanité. p. 18 et ss, 97 et ss.)

[13] The Ultimate Reality should be designated generally as Brahman… and as It or That….The paradoxical, transcendent, yet immanent unity underlying the diversity of the world.
A source book in Indian Philosophy, p. 39.
… The One God hidden in all living beings,

The Living Witness abiding in all hearts—

The wise who seek and find them—Self,

To them and none else is eternal joy.

The all pervading inner Self of all,

Who from his formlessness creates all forms,

The wise who see that One within them —self,

To them alone belongs eternal joy.

A prayer to the Supreme Being, translated from the Upanishad by Dr Bhagavan Das, Wisdom Light, Volume Seven, March, 1955, number Three, p. 34.

Cf. Chandogya Upa. 6,3.—Taittiriya Upa. 2—6.

[14] As a spider might come out with his thread, as small sparks come forth from the Fire, even so from this soul come forth all vital energies (Prana), all worlds, all gods, all beings.

Brihad—Aranyaka—Upanishad, 2—1—20.

[15] …De la sorte, le développement de l’Infini vers le Fini porte en soi des dégradations du parfait vers l’imparfait….En ce sens, le développement des choses se fait du Centre vers la Périphérie, et par suite aux ordres successifs; ces ordres s’échelonnent comme des cercles concentriques…

L’univers créé tout entier, n’est donc que l’écorce de l’Ensof comme les pelures de l’oignon sont les vêtements du bulbe ou comme la coquille de la noix et le reste sont le vêtement de la graine.

H. Sérouya, La Kabbale, Chapitre Esprit et Matière, pp. 270—271.

[16] 讀 華 嚴 經; 萬 理 由 一 性 而 出。 讀 楞 嚴 經, 群 疑 究 一 性 而 空。

Độc Hoa Nghiêm Kinh: Vạn lý do nhất Tính nhi xuất. Độc Lăng Già kinh, quần nghi cứu nhất Tính nhi không.

Đào Hư Tử, Đông Châu kỷ thượng ngữ—tràng 3

[17] 我 常 說 言﹕ 色 心 諸 緣, 及 心 所 使, 諸 所 緣 法,

 惟 心 所 現。 汝 身, 汝 中腄A 皆 是 妙 明 真 精, 妙 心 中 所 現 物。

Ta thường nói các Pháp đều do tâm biến hiện cho đến thân và tâm ông ngày nay cũng đều là vật trong Chân Tâm hiện ra.

Thủ Lăng Nghiêm Kinh, q. II, cf. Thủ Lăng Nghiêm Kinh, hướng đạo xuất bản, tr. 44.

[18] 天 與 人 相 為表 裡。

Thiên dữ Nhân tương vi biểu lý.

Tính Lý q. 2, tr. 54.

…天 在 內, 人 在 外。

Thiên tại nội, Nhân tại ngoại.

Nam Hoa Kinh, Thu Thuỷ.

…心 即 天。。。良 知 即 天。

Vương dương Ming, Vương xương Chỉ, La Philosophie morale de Wang Yang Ming, appendice 10.

… 天 也, 人 也。 一 而 二, 二 而 一 也。

Thiên dã, nhân dã, nhất nhi nhị, nhị nhi nhất dã.

Thái Thượng bảo Phiệt đồ Thuyết, tr. 4.
天 性 人 也, 人 心 機 也。 立 天 之 道, 以 定 人也。

Thiên tính nhân dã, nhân tâm cơ dã. Lập thiên chi đạo, dĩ định nhân dã.

Âm Phù Kinh, tr. 1.

[19] L’immortalité est le fruit de l’union avec la Sagesse.

Livre de la Sagesse, 8, 17.

[20] 欲 求 人 不 死, 修 尋 不 死 人。

Dục cầu nhân bất tử, tu tầm bất tử nhân.

Tiên Học tr. 102.

… 天 人 合 德 萬 變 定 基。

Thiên Nhân hợp đức, vạn biến định cơ.

Âm Phù Kinh, tr. 1.

[21] Dịch Kinh Đại Toàn, Truyện Tự , tr. 5.

[22] 明 造 化 之 妙, 知 返 還 之 機。

Minh Tạo Hóa chi diệu, tri phản hoàn chi cơ.

Tiên học, tr. 21.

[23] 人 心 若 與 天心 合, 顛 倒 陰 陽 只 片 時。

Nhân tâm nhược dữ Thiên Tâm hợp, điên đảo Âm Dương chỉ phiến thời.

Tiên Học, tr. 7.

[24] 徇 象, 執 有, 逐 物 而遷, 而無 極 之真 境 不 可 見 矣。

聖 人 以 靜 一 字, 返 本 還 元。 蓋 造 化 人 事 皆 以 收 斂 為 主,

發 散 是 不 得 已 事。

Tuần tượng, chấp hữu, trục vật nhi thiên, nhi Vô Cực chi chân cảnh bất khả kiến hĩ. Thánh nhân dĩ Tĩnh nhất tự, phản Bản hoàn Nguyên. Cái Tạo hóa, Nhân sự giai dĩ thu liễm vi chủ, phát tán thị bất đắc dĩ sự.

[25] Các Đại Thánh Thiên Chúa Giáo cũng không đi ra ngoài tôn chỉ ấy. Phúc Âm dạy “Bỏ Mình” (Mat. 16, 24, 25; Lc 9, 23—27; Mc 8, 34).

Các Thánh Hiền Thiên Chúa Giáo đều mong muốn tâm hồn tan biến đi, để kết hợp với Thượng đế. Như lời nguyện của thánh Bonaventure sau đây:

En sorte que mon âme languisse et se fonde sans cesse d’amour et de désir pour vous seul. Qu’elle soupire après vous, et se sente défaillir à la pensée de vos tabernacles, qu’elle n’aspire qu’à sa délivrance, et à son union avec vous.

Prière de Saint Bonaventure, Paroissien Romain, p. 58.

[26] 無 我 然 後 得 正 己 之 盡, 存 神 然 後 妙 應 萬 物 之 感。

Vô Ngã nhiên hậu đắc chính kỷ chi tận, tồn thần nhiên hậu diệu ứng vạn vật chi cảm.

Thái Nguyên Bồi, Lý học, q. I, tr. 4.

—合 乎 大 同。 大 同 而無 己。

Hợp hồ Đại Đồng, Đại Đồng nhi vô kỷ.

Trang Tử, Nam Hoa Kinh, chương XI, Tại Hựu.

[27] 宋 程 明 道 遺 書 言; 人 有 斗 筲 之 量, 有 釜 斛 之 量, 有 鍾 鼎 之 量,

有 江 湖 之 量。 江 湖 之量 故 大 矣。 然 有 涯 涘, 亦 有 時 而滿。

惟 天 地 之順q 則 無 滿。 聖 人 有 天 地 之 量 也。淵 鑑 纇 涵,¡聖, 一。

Tống Trình Minh Đạo di thư ngôn: Nhân hữu đẩu sao chi lượng, hữu phủ hộc chi lượng, hữu chung đỉnh chi lượng, hữu giang hồ chi lượng. Giang hồ chi lượng cố đại hĩ, nhiên hữu nhai sĩ, diệc hưũ thời nhi mãn. Duy Thiên Địa chi lượng tắc vô mãn. Tháng nhân hữu thiên địc chi lượng dã.

Uyên Giám loại hàm, Thánh, Nhất. quyển 268, tr. 4670.

[28] Mạnh tử, Tận Tâm Thượng, 4

[29] 高 中 憲 曰﹕ 心 與 天 一 而 已 矣。 心 大 無 外。 天 大 無 外。。。

世 人 之 心 梏 于 見 文 之 狹。 聖 人 窮 理 以 盡 其 心 之 全 體,

則 知 天 而 無 有 外 之 心 矣。 不 萌 于 見 聞, 不 因 見 聞 而 萌 也。

Cao trung Hiến viết: Tâm dữ Thiên Nhất nhi dĩ hĩ. Tâm đại vô ngoại, Thiên đại vô ngoại… Thế nhân chi tâm cốc vu kiến văn chi hiệp.

Thánh Nhân cùng lý dĩ tận kỳ tâm chi toàn thể, tắc tri thiên nhi vô hưũ ngoại chi tâm hĩ. Bất manh vu kiến văn, bất nhân kiến văn nhi manh dã.

Tống Nguyên Học Án, q. 17, tr. 25.

天 人 本 無 二。

Thiên Nhân bản vô nhị.

Tống Nguyên học Án, q. 13, tr. 17—Liêm Khê học án.

Écoute, homme insconstant et vide, ce que tu cherches n’est pas en dehors de toi, mais au dedans de toi:

Cesse donc de chercher et rentre en toi même, si tu veux trouver le Christ.

Illan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p. 162. Cf. Imitation du Christ.

[30] Đại Học, Chương I.

[31] Om! He knows Brahman, attains the highest! as to that this (verse) has been declared: He who knows Brahman as the Real, as knowledge (jnana), as the Infinite, set down in the secret place (of the heart) and in the highest heaven, He obtains all desires. Together with the intelligent Brahman…

Taittiriya Up. 2.1.—Cf. A source book of Indian Philosophy, p. 59.

—千 聖 皆 過 影, 良 知 乃 吾 師。

Thiên thánh giai quá ảnh, lương tri nãi ngô sư. (Vương Dương Minh)

Wang Tch’ang Tche, S.J. , La philosophie morale de Wang Yang Ming, Appendice I.

—致 知 即 致 中 也 (聶 豹)

Vương Dương Minh (Nhiếp Báo)

[32] 天 理 人 之 理 也, 徇 理 則 與 天 為 一。

我 非 我 也, 理 也。 理 非 理 也, 天 也。

Thiên Lý nhân chi lý dã. Tuần lý tắc dữ Thiên vi Nhất. Ngã phi Ngã dã, Lý dã. Lý phi lý dã, Thiên dã.

Tống Nguyên Học Án, q. 24, tr. 5. (Cảnh Vu học Án)

[33] Trung Hoa Triết Học sử, Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, tr. 13.

[34] Trung Hoa Triết Học sử, Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, tr. 10.

[35] Trung Hoa Triết Học sử, Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, tr. 10.

[36] Trung Hoa Triết Học sử, Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, tr. 12

[37] Nam hoa kinh, Thu Thủy.

[38] Thanh Tĩnh Kinh, tr. 64.

[39] Thượng Phẩm Đơn Pháp Tiết Thứ, tr. 10.

[40] Nam Hoa Kinh, Chương XII, Thiên Địa, đoạn K.

[41] …Tâm truyền Nội Giáo Vô Vi,

 Là cơ xuất thế, hồi qui Động Đào.

Chiếu Minh, Đại Thừa Chân Giáo, tr. 92.

[42] …Un arbre recoit l’essence, la hauteur et la largeur de ses racines. Si tu veux savoir d’où tu viens, demande—le à ton fonds, à la racine, à ton intention. Regarde combien ta profondeur a été pénétrée, combien tu t’es fixé à Dieu; et si tu vois que tu ne recherches que Dieu, que tu ne tends réellement que vers Dieu, comme la pierre tend uniquement vers la terre; si tu ne cherches ni toi—même, ni rien qui t’appartienne, alors en vérité je te le dis: Tu est déiforme et Divin.

Eckart Le Jeune, Illan de Casa la Fuerte, La Religion Essentielle, p. 155.

[43] 老 子 以 宇 宙 萬 物 皆 道 之 所 生, 其 究 極 則 歸 於 道 之 本體。

Lão Tử dĩ vũ trụ vạn vật giai Đạo chi sở sinh, kỳ cứu cực tắc qui ư Đạo chi bản thể.

Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, Trung Hoa Triết Học Sử tr. 16.

[44] 必 其 心 返 於沖 漠 無 朕 之 本 體。

Tất kỳ tâm phản ư xung mạc vô trẫm chi bản thể. (Liệt Tử).

Tử Đồng, Tạ Vô Lượng, Trung Hoa Triết Học Sử, tr. 29.

[45] Cf. Thanh Tĩnh Kinh, Siêu Thoát Phẩm, xem lời giải thích câu: Chân thường chi đạo, ngộ giả tự đắc…

[46] Phúc Âm thánh Joan, phi lộ.

[47] N’est—il pas écrit dans votre loi: “J’ai dit: Vous êtes des dieux.”

Jean 10—34; Psaume 82,6.

C’est en Lui (Dieu) que nous avons la vie, le mouvement et l’être.car nous sommes de sa race.

Actes des Apôtres, 4, 17, 28

[48] Ut per hoec, efficiamini divinoe consortes naturae. II, Pierre, 1, 4.

[49] Car déjà le Royaume de Dieu est en vous.

Dieu est en dedans de vous, dit le Seigneur. (Regnum Dei intra vos est, dicit Dominus). Imitation de Jésus Christ, Livre II, Chapitre I, 1.

[50] Toute sa gloire et toute sa beauté est intérieure, c’est dans le secret du coeur qu’il se plait. (Như trên, livre II, Chap. I, 1.)

[51] Il est manifeste que Dieu est la substance de tous les corps et de toutes les âmes. Notre intention est de rendre intelligibles aux Latins, toutes les parties de cette philosophie réelle.

St Albert le Grand. Illan de Casa Fuerte, La Religion essentielle, p. 131.

…Il faut savoir que Dieu demeure en toutes les âmes, fut—ce celle du plus grand pécheur du monde et y est présent en substance. Et cette manière d’union est toujours entre Dieu, et toutes les créatures, selon laquelle il les conserve en leur être, de sorte que si elle venait à leur manquer, elle s’anéantiraient aussitôt et ne seraient plus.

St Jean de la Croix, La Montée du Carmel, Desclée et Brower p. 133—134.

…Omnia per ipsum facta sunt et sine ipso factum est nihil quod factum est.

Evangelium secundum Joannem, prologue, caput I, 3.

[52] Avoir toujours Dieu présent au dedans de soi et ne tenir à rien en dehors, c’est l’état de l’homme intérieur. (Ambulare cum Deo intus, nec aliqua affectone teneri foris, status est interni hominis.)

L’Imitation de Jésus Christ, chapitre VI, 4.
…C’est une grande grâce que Dieu nous fait quand il nous aide à le chercher dans notre intérieur.

Ste Thérèse d’Avila, citée par Ilan De Casa Fuerte: La Religion Essentielle, p. 167.

[53] Monter vers Dieu, c’est entrer en soi—même. Celui qui entre en lui—même et pénètre au fond de son âme, se dépasse et atteint vraiment Dieu. (Albert le Grand)

Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 130.

…L’homme qui s’est ainsi élevé au—dedans de lui—même, entre plus profondément dans son Centre. (Albert le Grand.)

…Le Ciel est au—dedans non au dehors de chacun… Le Ciel est dans l’homme. (Emmanuel Svedenborg)

Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 183.

[54] …De l’Esprit partirait une courbe de matérialisation pour revenir en s’allégeant jusqu’au point d’extrême spiritualité doué de densité la plus faible. Ce mouvement constituerait l’immense cercle du créé, la manifestation du circulus vital issu du Principe Générateur Éternel.

Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 13.

[55] 自 無 極 說 到 萬 物 上, 天 地 之 始 終 也。 自 萬 事 反 到 無

戈上, 聖 人 之 始 而 終 也。 始 終 之 說 即 生 死 之 說 而 開 闢 混 沌,

七 尺 之 去 流 不 與 焉。知 乎 此 者 可 與 語 道 矣。

Tự Vô Cực thuyết đáo vạn vật thượng, thiên địa chi thủy chung dã. Tự vạn sự phản đáo Vô Cực thượng, Thánh Nhân chi thủy nhi chung dã. Thủy chung chi thuyết tức sinh tử chi thuyết, nhi khai hạp hỗn độn, thất xích chi khứ lưu bất dự yên. Tri hồ thử giả khả dữ ngữ Đạo hĩ.

Tống Nguyên Học Án, q. 12, tr. 1. (Chu Liêm Khê học Án)

由 象 識 心, 洵 象 喪 心。

Tống Ngyuên học Án, q. 17, tr. 26, Hoành Cừ học Án.

[56] La Mathèse, p. 31.

[57] 奔 波 一 世, 總 是 虛 浮, 無 常 一 旦 萬 事 休。 急 早 回 頭

Bí bản Gia Cát Thần Số, bài 46.

[58] 窮 性 命 之 源, 必 以 體 天 為 學 問 之本。

Cùng Tính Mệnh chi nguyên, tất dĩ Thể Thiên vi học vấn chi bản.

Tống Nguyên Học Án, q. 11, tr. 10.

… La recherche par l’homme et dans l’homme sa propre divinisation, la recherche par l’homme et dans l’homme du Dieu Un…

Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 23.

[59] 聖 人 之意 以 其 究 竟 至 極 無 名 可 名, 故 特 謂 之 太 極

Thánh nhân chi ý dĩ kỳ cưú cánh “chí cực vô danh khả danh”, cố đặc vị chi Thái Cực.

Tống Nguyên Học Án q. 12, tr. 4.

[60] 立 乎 天 位 以 正 中 也。Lập hồ Thiên vị, dĩ chính trung dã,

Dịch Kinh, Nhu Quái. Thoán.

[61] 君 子 黃 中 通 理 正 位 居 體, 美 在 其 中 而 暢 於 四 支,

 發 於 事 業,之 至 也。

Quân tử Hoàng Trung Thông Lý, chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung nhi sướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp, mỹ chi chí dã.

Văn Ngôn, Khôn quái, Hào LụcNgũ.

…Dans l’union intime, il parvient à la saveur spirituelle, à la possession trois fois sublime, et se plonge en Dieu, il s’enivre de délices dans l’existence essentielle —or les torrents de délices font couler dans le point central des puissances de l’homme une plénitude d’amour sensible, et de cette plénitude, la saveur pénétrante attent la vie physique elle—même et coule dans membres de l’homme.

(Jean Ruysbroech), Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 146.).

[62] 無 思 則 不 能 通 微, 不 睿 則 不 能 無 不 通,

是 則 無 不 通 生于通 微,通 生 于思, 故 思 者 聖 人 之 本 也。

Vô tư tắc bất năng thông vi, bất duệ tắc bất năng vô bất thông. Thị tắc vô bất thông sinh vu thông vi, thông vi sinh vu tư. Cố tư giả, Thánh Nhân chi bản dã.

Tống Nguyên học Án, q. 11. tr. 5.d’amour sensible, et de cette plénitude, la saveur pénétrante attent la vie physique elle—même et coule dans membres de l’homme.

(Jean Ruysbroech), Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 146.).

[63] 博 厚 配 地, 高 明 配 天, 悠 九 無 彊。

Bác hậu phối Địa, cao minh phối Thiên, du cửu vô cương.

Trung Dung, chương 26.

[64] 大 人 者 , 以 天 地 萬 物 為一 體 也, 其 視 天 下 猶 一 家, 中國 猶 一 人 焉。

若 夫 間 形 骸 而 分 爾 我 者, 小 人 矣。

Đại nhân giả dĩ thiên địa vạn vật vi nhất gia dã. Kỳ thị thiên địa do nhất gia, Trung quốc do nhất nhân yên. Nhược phù gián hình hài nhi phân nhĩ ngã giả, tiểu nhân hĩ.

Vương Dương Minh, Đại Học Vấn

[65] Si tu cherches à l’intérieur de chaque atome,

 Au milieu, tu trouves un Soleil.

Les Sept Vallées, Bala’u’llah p. 15,

Gustave le Bon, L’évolution de la matière, p. 219

…Nous leur ferons voir nos signes dans le monde, et en eux—mêmes, et ils voyagent sur la mer de” Ils Comprendront qu’il est Dieu.” (Qu’ran) Như trên. p. 16.

Vũ trụ quan nói trên cũng phảng phất tương tự như nhửng vũ trụ quan của Buffon, Kant, Laplace, Carl Von Weizsacker, Gérard P. Kuiper, hay Édouard le Maitre. Về địng luật tụ tán áp dụng vào vũ trụ, nhà toán học Friedman khi giải lại những phương trình của Einstein cũng kết luận vũ trụ có thể giãn và có thể co được.

(Cf. Gamow, La Création de L’Univers, tr. 14, 15 , 25 và ss.)

…Cf. Âme de la Chine, p. 263: Toát lược Triết học Hégel.

[66] Chương XVI, Đạo Đức Kinh.

…Tout être qui connait sa propre essence, revient à son essnce par un retout complet.

(Liber de Causis, livre atrribué à Aristote)

Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle,p. 56.

[67] 極 其 大 而 厚 中 可 求, 止 其 中 而 後 大 可 有。

Cực kỳ Đại nhi hậu Trung khả cầu. Chỉ kỳ Trung, nhi hậu Đại khả hữu.

Tống Nguyên Học Án, q. 17, tr. 29. (Hoành Cừ Học Án.)

————————————
************************************           

CHƯƠNG XXII.

NHÂN SINH QUAN

(THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ)

Vì không hiểu được tầm quan trọng và cao siêu của Trung Dung, nên người đời thường cho rằng Trung Dung đưa ra một nếp sống trung bình, không thái quá, không bất cập; một nếp sống cầu an, không gây mâu thuẫn, để sống một cuộc đời thoải mái, an toàn. [1]

Chủ trương này, gần đây đã được chính học giả Lâm Ngữ Đường, mượn lời thơ Bán Bán Ca của Lý Mật Am, giới thiệu cùng độc giả Mỹ, và đây là lập trường “Trung Dung”, hiểu theo nghĩa lừng chừng, nước đôi đó. [2]

Ta sống quá nửa đời phù phiếm,

Mới nhận ra huyền nhiệm Trung Dung.

Trung Dung hương vị khôn cùng,

Làm ta lòng dạ tưng bừng niềm vui.

Lúc mà cái con ngưới sướng nhất,

Chính là khi tới cấp trung niên.

Quang hoa dùng dắng triền miên,

Như chờ, như đợi gót tiên tạm ngừng.

Cõi trần lọt giữa chừng Trời đất,

Giữa tỉnh quê, ta cất nhà ta,

Thảnh thôi ta mở trại hoa,

Giữa chừng sông núi, la đà nước non.

Biết vừa đủ, tiền nong vừa đủ,

Vòng lợi danh, vương nửa tấm son.

Không sang, nhưng cũng dễ nom,

Không giàu, nhưng cũng còn dòn hơn ai.

Nhà ta xây, nửa đài, nửa các,

Đồ đạc ta lác đác đủ chơi.

Áo ta cũ mới chơi vơi,

Uống ăn na ná như người bậc trung.

Vài tôi tớ không thông, không dở,

Vợ con ta đỡ đỡ, ta ưng.

Nửa tiên, nửa tục lừng chừng,

Nửa cùng thần thánh, nửa cùng thê nhi.

Nửa bụng dạ, lo vì con cái,

Nửa tâm hồn gửi lại Hoàng Thiên.

Để khi thoát xác ta yên,

Dễ bề thưa gưỉ, biết niềm tới lui.

Ngà say là lúc ly bôi,

Đóa hoa hàm tiếu là thời mê ly.

Buồm nửa cánh, thuyền đi thong thả,

Cương vừa dong, vó ngựa mới hay.

Quá giầu phiền lụy sẽ đầy,

Quá nghèo cuộc sống sẽ dầy truân chuyên.

Trần ai sướng với phiền khó tách.

Trong ngọt ngào pha phách đắng cay.

Hưởng đời đừng quá mê say,

Lừng chừng, đại khái, tháng ngày tiêu dao…

 ***

Nhưng nếu Đức Khổng và các danh Nho chỉ đưa ra cho nhân loại một mục phiêu, một lý tưởng tầm thường như vậy, thì có gì đáng cho hậu thế kính tôn?

Nếu Trung Dung và Kinh Dịch đã được các danh Nho, các tiên Hiền Đông Á cho là tuyệt phẩm, thì nó phải có gì cao siêu gấp bội. Hơn nữa, đã là tinh hoa nhân loại, chắc chắn phải tế vi, ẩn áo. Đã là Duy Nhất, Duy Tinh, thì phải tuyệt đỉnh công phu. Bác tạp dễ tìm, tinh hoa khó kiếm; kỳ hoa, dị thảo đâu phải của mỗi sớm bán mua ngoài cửa chợ?…

Cho nên có tốn công nghiên cứu, truy tầm, mới mong tìm ra được vi ý của cổ nhân, tìm ra được đường lối của Thánh Hiền…

Tiêu chuẩn để đi tìm đường lối cổ nhân.
Nhưng lấy đâu ra tiêu chuẩn để đi tìm đường lối cổ nhân?

Theo Trung Dung, đường lối Thánh Hiền phải hợp với Nhân Tâm, Thế Đạo, hợp với định luật của Trời đất.

Trung Dung viết:

Đạo quân tử phát xuất tự thâm tâm,

Đem trưng bày, phổ cập tới thứ nhân,

Khảo chứng tiên vương, không có chi lầm lỗi,

Sánh với luật đất Trời không phản bội,

Thánh Nhân ngàn đời sau chẳng hề có chê bai.

So quỉ thần đường lối đúng không sai,

Thế là đã biết lòng Trời đó,

Thánh Nhân ngàn đời sau chẳng chê bai,

Thế là đã biết lòng người tỏ rõ. [3]

Dịch kinh viết: “Thực là mênh mông, rộng rãi, sánh đất Trời; biến hóa tựa bốn mùa; theo đúng chiều âm dương sánh với hai vừng nhật nguyệt; tốt lành, giản dị, hợp với đức tối cao.” [4]

Hơn nữa, con đường lý tưởng ấy đã được vẽ thành những đồ bản trong Dịch Kinh.

Vậy, ta chỉ cần nghiên cứu tìm hiểu các đồ bản, để tìm ra con đường đạo lý. Sau đó, ta sẽ khảo sát xem con đường đạo lý đó có phù hợp với nhân tình, thế thái, với định luật đất Trời, với chu kỳ nhật nguyệt, tinh thìn hay không.

Với những tiêu chuẩn như trên, ta sẽ tha hồ lưng túi gió trăng, buồm mây, chèo quế, lãng du trong rừng Nho, biển Thánh mà không lo lạc bước, lầm đường.

 ***
*************           

I.— Đường đời theo Dịch và Trung Dung.

Nghiên cứu các đồ bản Dịch, các họa bản Bát Quái, ta đều thấy ngôi Thái Cực được đặt vào Trung Tâm Điểm. Ý cổ nhân muốn nói Dịch, hay Vô Cực, hay Thái Cực, hay nói nôm na là Trời, là Tạo Hóa đã ở ngay Trung Tâm huyền diệu của vũ trụ. Con người là tiểu vũ trụ, tức thị Trời cũng ở ngay trong tâm hồn để làm Trung Tâm (Trung) bất biến (Dung), làm chân tâm nuôi sống con người, làm rường cột (axe) cho con người dựa nương.

Ta thường thấy dân Á Đông treo Bát Quái trước nhà mong trừ tà ma; phải chăng đó là tục lệ xa xưa, để tỏ lòng tôn kính Thái Cực, tượng trưng cho Trời, ở Trung Tâm Bát Quái?

Cắt nghĩa như vậy, thì Trung Dung là Thái Cực; Trung Dung lại là hồng tâm cho mọi người ngắm vào, là mục đích thâm viễn của cuộc đời. Còn Dịch sẽ bao quát mọi biến hóa của vũ trụ và của con người, mà mục đích tối hậu là thực hiện Trung điểm hoàn thiện đó. [5]

Nếu hiểu rằng Trời ở ngay trong Trung Tâm huyền diệu của vũ trụ, ở ngay trong tâm khảm con người, thì ta sẽ hiểu bài toán cao siêu mà Trời ra cho nhân loại: “Đứng trong khỏang Càn Khôn biến hóa vô lường này, làm sao tìm ra được Trung Tâm Điểm bất biến?” [6]

Biên khu luân lạc từ bao,

Tìm sao cho thấy đường vào Trung Dung.

Đường Trung Dung linh lung, ẩn khuất,

Nẻo Bồng Lai, gai dấp, lau che…

Phục Hi đã giải bài toán trước tiên bằng một họa bản không lời. Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Chu Tử đều lĩnh hội được vi ý của Phục Hi, đã cố giảng giải cho ta, nhưng bức màn bí mật vẫn còn như khép kín, vì đồ bản không lời làm ta lạc lõng.

Thiệu Khang Tiết là người đầu tiên giải thích rõ ràng hơn, chỉ vẽ cho ta biết đâu là đường lối Trời, đâu là đường lối người, bằng cách đánh số tám quẻ và bằng bái thơ sau đây:

Nhĩ mục thông minh nam tử thân,
 耳 目 通 明 男 子 身

Hồng quân phú dữ bất vi bần.
 洪 君 賦 與 不 為 貧

Tu tham Nguyệt Động phương tri vật
 須 探 月 洞 方 知 物

Vị nhiếp Thiên Căn khởi thức nhân
 未 攝 天 根 豈 識 人

Càn ngộ Tốn thời quan Nguyệt quật
 乾 遇 巽 時 觀 月 窟

Địa phùng Lôi xứ kiến Thiên căn
 地 逢 雷 處 見 天 根

Thiên căn, nguyệt quật thường lai vãng
 天 根 月 窟 常 來 往

Tam thập lục cung đô thị xuân
 三 十 六 宮 都 是 春

Dịch:

Tai mắt nam nhi đứng cõi đời,

Lòng mang Tạo hóa há đâu chơi.

Quyết thăm động Nguyệt cho hay vật,

Cố hiểu Thiên Căn, để biết người.

Trời nổi gió giông thông động Nguyệt,

Đất vang sấm chớp lộ căn Trời.

Căn Trời, nguyệt động thường lai vãng,

Ba sáu cung xuân trọn vẹn đời.

Hội ý Thiệu khang Tiết, ta thấy rằng công cuộc tạo thành vũ trụ, luôn đi từ chỗ phác giản đến tần phiền, theo hình vẽ sau: 1 => 2, 3, 4, 5, 6, 7, => 8.

Còn công phu tu luyện con người phải chia làm 2 giai đoạn:

1. Nửa đời đầu: đi từ phác giản đến tần phiền. Tinh thần phải mạo hiểm vào trần hoàn và vật chất, để tìm hiểu vũ trụ. Đó là Giai Đoạn hướng ngoại, giai đoạn Nghịch mà Tinh Thần sẽ bị nô lệ hoàn cảnh rất nhiều (Khuất = 屈), đó là giai đoạn ra đi (Khứ). 5—>6, 7 —>8.

2. Nửa đời sau: đi từ Tần Phiền đến Phác Giản, từ Thô đến Tinh, dùng Vật Chất để tài bồi cho Tinh Thần ngày thêm cao đẹp, cho đến chỗ thuần túy, chí thiện, nên như ảnh tượng Trời (Càn), khả dĩ có thể kết hợp với Trời, vào yên nghỉ tại Trung Tâm Huyền Diệu của vũ trụ (Thái Cực, Trung Dung). Đó là Giai Đoạn Thuận, Giai Đoạn trở về (Lai). Trong giai đoạn này, Tinh Thần sẽ dần dần chế ngự được hoàn cảnh, sẽ thảnh thơi, thoải mái (Thân = 伸)

Hai giai đoạn trên được xác định bằng đồ bản sau đây:

Nếu nhìn kỹ 32 quẻ Tiên Thiên Bát Quái phía phải, ta thấy các hào sơ. (Hào nằm trong cùng) đều là hào Âm; còn nhìn sang 32 quẻ phiá trái, ta thấy các hào sơ (hào nằm phía trong cùng) đều là hào Dương.Vì thế Hệ Từ đã nói: Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo. (Hệ Từ Thượng, tiết 1)

Thánh hiền thiên cổ đã đem quẻ Cấu “Phong trần” để tượng trưng bước đầu đường luân lạc của con người, và đem quẻ Phục “Hồi phục”, để đánh dấu giai đoạn sau, giai đoạn giác ngộ của những người đã thấy được Thiên Địa chi tâm. [7]

Đường lối này theo đúng lẽ Âm Dương tiêu trưởng của Trời đất.

Giai đoạn đầu là Dương tiêu Âm trưởng, sa đọa lạc lõng dần vào cảnh phù du, hư ảo bên ngoài, đem tấm thân bán rẻ lấy bát cơm, manh áo, đem thân làm tôi tớ cho hoàn cảnh xã hội, mà vẫn lấy thế làm vinh dự. Trong giai đoạn này, vật chất dần dần đóng vai trò tối thượng. Nhưng có giai đoạn này, thì giang sơn mới được tô điểm, hoàn cảnh vật chất của quần chúng mới đượccải thiện. Tinh thần trong giai đoạn này dần dần thu gọn lại như một ánh sao trên bầu trời vân vũ.

Hệ Từ viết: “Con sâu đo nó co để rồi nó duỗi. Con rồng con rắn nó ẩn để bảo tồn tấm thân. Có hiểu kỹ càng, mới thấy lợi ích lớn lao. Cầu an thân trước, rồi mới có ngày sùng đức cả.” (Hệ Từ chương V, tiết 1) [8]

Đó tức là:

Anh hùng khi cuộn khúc lươn,

Khi cuộn thời vắn, khi vươn thời dài. (Ca dao)

Giai đoạn sau là Âm Tiêu Dương trưởng. Tinh thần đã biết hướng thượng, tìm về nguồn mạch cao cả của mình, và sẽ dùng vật chất làm thang mây, mà tiến lần về Trời.

Trong giai đoạn này, tinh thần dần dàn đóng vai trò tối thượng. Nó thích hợp với những con người đã đứng tuổi, đã già, những con người đã biết quẳng gánh lo, thoát vòng danh lợi, để quay về tu luyện bản thân, nêu gương sáng soi cho đời, mong kết hợp với Trời để được trường sinh bất tử.

Ngược lại, vật chất xuống giá dần, để cuối cùng biến thành chiếc xe mây cho khách du rong ruổi trên đường thiên lý sáng trong như ngọc thạch . Con đường thiên lý này gồm cả 2 bề vật chất, tinh thần, uyển chuyển diễn tiến theo đà tuổi tác như một bài thơ, một bản nhạc, mà tiết tấu hòa nhịp với trăng sao.

II.— Đời sống con người lý tưởng với chu kỳ nhật nguyệt tinh thần.

Con người lý tưởng mong mỏi khi giã từ thế tục, tâm hồn sáng quắc như mặt trăng ngày rằm, như mặt trời chính ngọ, hay mặt trời ngày Hạ Chí. Mà kỳ diệu thay, nếu ta theo vòng Dịch trên mà đi tuần tự như vậy, thì ta sẽ thấy lúc ta thoát tục, cũng là lúc trăng tròn, hay lúc mặt trời chính Ngọ.

Con người lý tưởng lúc sơ sinh cũng như vầng trăng vừa quá rằm đẹp đẽ. Nhưng dần dà lớn lên, lạc lõng vào cuộc đờI, tìm sinh kế, cũng như vầng trăng khuyết dần, mờ dần. Đến lúc công danh ở đời rực rỡ, lợi lộc ở đời rồi rào, thì lại là lúc Tinh Thần nghèo nàn nhất.

Nhưng con người lý tưởng không thể bị vật dục che mờ mãi; nhờ sự suy tư về sự chất chưởng bên ngoài, con người đó có ngày sẽ tìm lại được nguồn sống bên trong, sẽ dần dần tài bồi cho tâm hồn mình thêm hoàn bị, và lúc thoát ly cuộc đời, sẽ rực rỡ như trăng đêm rằm.

Con đường lý tưởng nói trên cũng vạch lại sự thăng trầm của vừng dương.

Sau ngày Hạ Chí (21 tháng 6), mặt Trời đi vào cung Cự Giải (Cancer). Ánh sáng và sức nóng một ngày một giảm cho tới cực độ ở ngày Đông Chí (22 tháng 12).

Nhưng từ ngày Đông Chí trở đi, thì mặt trời lại nóng lên, sáng lên dần mãi, đem ánh dương quang đượm nhuần cho hoa lá trổ sinh, tưng bừng rộn rã với ngày Xuân, và dần dần trở lại ngôi vị tối thượng vào ngày Hạ Chí.

Nếu xét vòng Chu Thiên trong một ngày đêm, thì cuộc đời lý tưởng của người quân tử lúc sơ sinh cũng đẹp y như mặt trời vừa quá Ngọ. Lúc lớn lên, bị vật dục che mờ, người quân tử cũng như mặt trời, trải qua những cảnh hoàng hôn, và cảnh đêm dài tịch liêu u tối; nhưng rồi ra, con người lý tưởng ấy dần dà sẽ gỡ được mọi tần phiền, để cùng mặt trời trang trọng hiện ra trên nhãn giới, lúc bình minh muôn thủa: cùng bình minh hưá hẹn một trời trong sáng mới, và khi lìa thế sự, sẽ là “Nhật Lệ Trung Thiên” sáng quắc cả bầu trời…” [9]

Hơn nữa, con đường Hoàng Đạo, mà con người lý tưởng đi cũng là con đường mà Nhị Thập Bát Tú ruổi dong.

* Đường đời lý tưởng và lẽ biến thông của bốn mùa.

Đem sánh với bốn mùa, ta thấy con đường lý tưởng này hợp nhẽ biến thông của bốn mùa.

Lúc sơ sinh là lúc nhựa sống tràn đầy như muôn hoa khoe sắc trên cành sau ngày Hạ Chí. Lúc lớn lên, bước dần vào cuộc đời, thấy làn tâm sự cũng dần ngả sang thu, và đến lúc hoa niên, khi đã tiêu pha hết tinh thần, khi đã:

Mùi tục lụy, lưỡi tê tân khổ,

Đường thế đồ, gót rỗ kỳ khu.

Tâm hồn lắm lúc cảm thấy lậnh lùng như băng giá.

Nhưng có sương tuyết lạnh lùng, mới có lại ngày xuân ấm áp.

Trong những giờ phút con người chán ngán nhân tình thế thái, lại là lúc con người thấy mở tung ra trong tâm hồn mình một nhãn giới vô biên. Thế là khi mái tóc hoa râm, thì tinh thần lại đượm màu xuân sắc. Một nguồn thơ mộng mới dâng lên giữa những cảnh ngộ éo le của cuộc đời. Mùa xuân dày hi vọng trở về với một nguồn sống mới.

Và cũng như cây đâm chồi nảy lộc, vươn mãi lên trên khung trời, trong ngày xuân ấm áp, tâm hồn cũng vươn mãi lên cho tới tinh hoa cao đại. Cuối cùng, lúc từ giã cuộc đời, tâm hồn vẩn còn chứa chan sự sống như trời mùa Hạ. Bao công lao sự nghiệp của cuộc đời bấy giờ nở tung ra như muôn hoa tươi thắm để không bao giờ tàn phai.

*************           

III.— Con đường lý tưởng với nhân tâm, thế đạo.

Con đường lý tưởng đó cũng rất phù hợp với nhân tâm, thế đạo.

Con người, từ bao ngàn năm nay, vì không hiểu định luật thiên nhiên, nên đã không đi đúng nhịp thời gian, tuổi tác, gò bó mình vào những khuôn khổ chật hẹp, máy móc hóa cuộc đời đáng lý là thơ mộng, hay lại quá phóng túng mình đến tan tác cả cuộc đời.

Mặc dầu vậy, họ vẫn phác họa lại trong cuộc đời mình bóng dáng cuộc đời lý tưởng ấy.

Bé thì thơ ngây, hồn nhiên, vô tội vạ, rồi dần dà trở nên phóng ngoại, trở nên tò mò, rồi cũng tranh đấu, xông xáo, cũng dấn thân vào phong trần, vật chất như ai. Lúc mái tóc hoa râm, lắm lúc cũng thấy giật mình, muốn đoạn tuyệt với cuộc đời phóng đãng của mình, muốn hồi tâm, tu tỉnh. Khi trở về già thời không ai bảo ai, bất kỳ thuộc tôn giáo nào, con người cũng muốn quay về Trời, Phật, Thần, Thánh, cũng kinh kệ, tụng niệm như ai…

Càng dấn thân (engagement) vào đời phong vũ bao nhiêu lại càng mong muốn thoát thân (dégagement) bấy nhiêu. Nếu như thấy được “Thiên Địa chi Tâm”, tìm ra được Trời trong đáy lòng mình, là sẽ bước được vào con đường giải thoát.

Nói rộng ra, thì nhân loại cũng đang đi trên vòng Càn Khôn đó, nhưng chậm chạp…

Giai đoạn đầu là giai đoạn đạo hạnh phù phiếm, xốc nổi bên ngoài, để rồi dần dần lạc lõng vào dị đoan, mê tín.

Càng phóng ngoại bao nhiêu, càng chạy theo cái học “trục vật” bao nhiêu, thì lại càng đi đến chỗ sa đọa tinh thần bấy nhiêu, càng “nghịch Thiên”, “bối Thiên” bấy nhiêu. Nhưng chính nhờ giai đoạn sùng thượng vật chất này mà nhân loại đã giải quyết được những vấn đề mưu sinh, thích ứng với hoàn cảnh, đã xây dựng được hạ tầng cơ sở cho vững chắc.

Nhưng khi đã trưởng thành, khi đã quá đâm chém nhau, quá dè bỉu, ghen ghét nhau, quá bóc lột, áp bức nhau, nhân loại sẽ dần dần trở lại sùng thượng các giá trị tinh thần vĩnh cửu.

Hiểu cuộc đời theo lẽ Dịch nói trên sẽ mở một con đường tiến hóa bao la cho cá nhân cũng như cho nhân quần, xã hội.

Cá nhân sẽ tùy tuổi tác mình, tùy theo “thời”, tùy theo khuynh hướng của từng tuổi, mà làm những công tác mình phải làm, để cây đàn bản thân lúc nào cũng hòa âm, theo đúng cung điệu, tiết tấu gia đình, xã hội, quốc gia, quốc tế, nhân loại và đất Trời. Đó là biết “ứng biến theo thời” [10]

Nhân loại và cá nhân sẽ không ăn rễ sâu xa vào vật chất, mà chỉ coi vật chất là phụ thuộc, văn minh vật chất là một chặng đường tiến hóa của mình, một lớp lang nhỏ bé trong tấn tuồng vĩ đại của trời đất.

IV.— Âu Á gặp nhau trên đường Hoàng Đạo.

Các nước cổ Ba Tư, Ai Cập, Chaldée không biết vòng Dịch tiên thiên của Phục Hi, nhưng lại nghĩ ra vòng Hòang Đạo với những ẩn ý tương tự như vòng Dịch.

Vòng Hoàng Đạo cũng có 12 cung, ứng với 12 cung Tí, Ngọ của vòng Dịch. Cung Mùi là cung Cự Giải (Cancer), cung Tí là cung Nhân Mã (Sagittaire), cung Sửu là cung Ma Yết (Capricorne), cung Ngọ là cung Song Tử (Gémeaux).

Thiệu Khang Tiết phân biệt 2 chặng đường Cấu và Phục, thì Macrobe cũng cho rằng Cung Cự Giải là Cửa Người, và Cung Ma Yết (Capricorne) là Cửa Thần Minh; đôi bên các nhau bằng một giải Ngân Hà. Giải Ngân Hà ấy phải chăng đã được tượng trưng bằng con đường lượn qua giữa vòng Bát Quái của Chu Dịch? [12]

Các sách cổ Á Đông dùng con rồng để tượng trưng các đấng thánh nhân, nên cũng cho con rồng biến hóa theo vòng Dịch trên. “Rồng có thể tối hay sáng, ngắn hay dài. Xuân phân bay bổng lên Trời, thu phân lặn sâu đáy vực” [13]

Các sách cổ Ai Cập thì lại có câu chuyện thần thoại về Thần Osiris (Thái Dương Thần) thay vào đó. Thần Osiris mới đầu cũng bị gian truân, đọa đầy, hãm hại, nhưng sau ngày Đông Chí thì phục sinh, sau Xuân phân thì lại trở về ngôi Cửu Ngũ. [14]

Tóm lại, các đồ Dịch, cũng như vòng Hoàng Đạo, tuy không lời, nhưng chứa chan ý nghĩa.

Thiệu Khang Tiết nói: “Đồ Dịch tuy không văn tự, nhưng ta nói suốt ngày cũng không ra khỏi được vấn đề, vì tất cả nghĩa lý muôn vật đều nằm trong đó.”[15]

Vi ý cổ nhân.
Thánh hiền Đông Á mượn đồ Dịch để biện minh thuyết “Nhất sinh Vạn”, và chỉ lối đường cho ta có thể từ “Vạn qui Nhất”. [16]

Dịch gọi đó là phương pháp “khai vật, thành vụ”.17 Cho xem trước đầu đuôi chuyện đời, rồi mới dạy cho biết cách hoàn thành lý tưởng. [17]

Đường đời, theo Dịch Kinh, đều từ 1 tâm điểm tung ra muôn vạn ngả. Ta có lao đao suốt đời, cũng chẳng sao đi hết muôn vạn ngả đường. Càng phiêu lưu, càng lạc lõng, càng đi sâu vào một con đường, càng thông tỏ chi tiết về một vấn đề, thì lại càng thấy mình bất lực kém cỏi, lại càng thấy mình mù mờ về toàn thể vô biên. Đi ra vạn, phiêu lãng trên muôn vạn ngả đường, dù có thành công đến đâu, trong thâm tâm vẫn thấy thiếu thốn, vẫn bị ám ảnh bởi cảnh phù du, tạm bợ, vẫn thấy mình như thân phận cánh bèo, bình bồng mặt nước, chân mây, mà chẳng biết sẽ trôi gịat về đâu, bởi vì Vạn chỉ là một bóng hình hư ảo của Nhất;

Đồ tri tụ xứ, ninh tri tán,

Đãn thức phù thời, ná thức trầm. (Thơ bèo)

Dịch:

Tụ rồi, đã chắc không khi tán,

Nổi đó, nào hay có lúc trầm. (Nam Phong dịch)

Trở lại được với Nhất, là con người lý tưởng. Người xưa gọi thế là Chí Nhân, [18] là Chân Nhân.

Đào Hư Tử gọi thế là: “Tâm hồn trở về trước Tiên Thiên, siêu xuất trên hình số, siêu xuất sinh tử, không còn bị hình số câu chấp nữa..” [19]

Lối đường do “Vạn qui Nhất” đã được xác định bằng các đồ Dịch cổ nhân, theo đúng chiều Ngũ hành tương sinh.

Chu Hi cũng vẽ con đường đó, bằng cách tán phân 4 chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh lên vòng Càn Khôn.

V.— Hai ngả đường đời.

Con đường từ “Vạn qui Nhất” trên vòng Dịch, mới trông tưởng là tròn trĩnh không kẽ hở. Nhưng thực ra con đường đó vốn phân làm đôi ngả Âm Dương,

Nưả đời đầu, vì con người một ngày một chìm đắm vào bóng tối vật chất, nên Kinh Dịch gọi là Âm Đạo, Địa Đạo, hay Khôn Đạo.

Nửa đời sau, vì con người ngày một vươn lên trong ánh sáng tinh thần, nên Kinh Dịch gọi là Dương Đạo, Thiên Đạo hay Kiền Đạo. [20]

Hệ Từ viết:

“Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo; Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, Tính dã.”

Dịch:

Âm Dương đắp đổi Đạo Trời,

Theo thời tốt đẹp, suốt thời Toàn Chân. [21].

Đường đời có 2 chiều: 1 chiều Âm, một chiều Dương, bước vào đường đời đã là hay, đi cho đến cuối đường sẽ phục hồi được Tính Trời.

Đi chiều Âm, đi vào con đường vật chất, sẽ tiến tới chỗ Bất Nhân, chỗ không hoàn thiện.

Đi chiều Dương đi vào con đường tinh thần, sẽ tiến tới chỗ Nhân, chỗ Hoàn Thiện.

Đức Khổng nói:

“Đường đời có 2 ngả: Nhân và Bất nhân”, chính là vì thế. [22]

Đào Hư Tử viết:

“Năm mươi năm đầu cuộc đời, là Tiến Số, là học để giúp đời, càng ngày càng phải rạng mặt với đời.

Năm mươi năm sau, là Thoái Số, là học để treo gương cho đời, càng ngày càng phải tu nhân, tích đức.” [23]

Luận Ngữ viết:

“Đến chừng bốn, năm mươi mà ta chưa nghe danh tiếng họ, chừng ấy ta chẳng còn sợ họ nữa.” [24]

Nhưng con người không phải quay cuồng mãi trong vũ trụ, mà cũng có lúc được vào Trung Cung huyền diệu, để làm chủ chốt vũ trụ.

Bí quyết này đã được diễn tả bằng những hành động tượng trưng của Thiên Tử xưa trong tòa Minh Đường.

Khi xưa, mỗi năm, sau ngày Hạ Chí, nhà Vua sẽ vào Trung Cung Minh Đường, mặc áo hoàng bào, và ở đó ít ngày, cốt tượng trưng quyền Thiên Tử, làm khu nữu cho không gian và thời gian. [25]

VI.— KẾT LUẬN.

Nghiên cứu các Đồ Dịch, ta thấy cổ nhân đã phơi bày nhẽ “Càn Khôn Hiệp Tịch” (Càn Khôn mở đóng), đã tháo gỡ máy Âm Dương, đem cài lên những bức hoạ không lời, để vẽ đường chỉ lối cho ta. Càng suy cứu vi ý cổ nhân ta càng thấy lý thú. Đồ Dịch tiên thiên còn phân ngôi Chủ, Khách, đem lẽ cát hung, thiện ác làm thành hai bức câu đối vĩ đại treo giữa trời đất cho tao nhân, mặc khách muôn đời thưởng thức.

Đôi câu đối này không đối chữ theo luật trắc bằng, nhưng đối quẻ, đối hào, đối ý, đối lý.

Đọc đôi câu đối trên, ta sẽ nghiệm ra phương pháp “Xu cát, tị hung”. “ức Âm, tiến Dương”, “trưởng Thiện, tiêu Ác” của người xưa, biết tới, biết lui, biết tìm sự sống qua sự chết, biết tìm cái hay qua cái dở, tóm lại biết “định luật tương đối” chi phối con người ra sao.

Mới hay Không, Có chuyển vần,

Dễ sinh ra Khó, Ngắn nhân thành Dài.

Thấp, Cao tuỳ ngó Ngược, Xuôi,

Tiếng ca Trầm, Bổng, dòng đời Trước, Sau.

(Lão tử, Đạo Đức Kinh, chương II, Đoạn II) [26]

Thế mới hay:

Gẫm đạo lý, có sau có trước,

Lẽ Âm Dương có ngược, có xuôi.

Xuôi là Gió cuốn bụi đời,[27]

Đẩy đưa vào chốn trần ai, cát lầm.

Có thử thách mới phân vàng đá,

Có lầm than mới rõ chuyện đời.

Ngược là Sấm Chớp tơi bời,[28]

Tầng sâu bày dãi Căn Trời nội tâm.[29]

Trông tỏ đích chí nhân, chí chính,

Biết mục phiêu mới định, mới an.

Rồi ra suy xét nguồn cơn,

Con đường Phối Mệnh chu toàn tóc tơ…

***

Hiểu thế, ta sẽ tìm ra được vi ý cổ nhân, tìm ra được then chốt kho tàng sử sách Á Đông, tìm ra được phương pháp khai thác những kho tàng ấy.

Thực vậy, các thánh hiền Đông Á từ Phục Hi, Hoàng Đế đến Nghiêu Thuấn, Khổng Tử, Lão Tử khi soạn thảo sách vở chỉ cốt xiển minh nhẽ “Thiên Nhân tương dữ” (Trời, Người giao hảo), chỉ cốt tìm ra phương pháp thể hiện lý tưởng “Thiên Nhân hợp nhất” (Trời Người hợp nhất) mà thôi. [30]

Cho nên Dịch cũng như Trung Dung chỉ cốt dạy con người biết “kính sợ Trời tiềm ẩn trong tâm hồn mình” [31], dạy con người đừng để cho tâm hồn tan tác, tả tơi trước gió giông hoàn cảnh, trước sự thử thách, cám dỗ bên ngoài; cải thiện bản thân đến chỗ hoàn thiện, khả dĩ có thể sống kết hợp với Trời (Phối Thiên), cùng đất trời trường sinh bất tử.

Nhưng Dịch và Trung Dung lại dạy ta đừng vội vàng, phải học di trên đất trước rồi mới học bay lên trời, phải biết tìm miếng cơm trước khi tìm nghĩa lý; phải biết thực tiễn trước, lý tưởng sau. Thế mới là biết thời cơ, biết nhẽ tiến thoái, biết uyển chuyển ứng phó với hoàn cảnh, biết biến thiên theo nhịp thời gian tuổi tác, để lúc nào đời cũng đẹp như bài thơ, lúc nào cũng nhịp nhàng tiết tấu như một khúc nhạc. [32]

Khúc nhạc đó thật là tuyệt vời, có vui, có buồn, có nhanh, có chậm; lúc lâm li, lúc hùng tráng; lúc rạt rào như thác đổ đầu ghềnh; lúc khinh khoát, êm đềm như gió thu lướt qua hàng tơ liễu; lúc lặng lẽ như ánh tường vân lãng đãng xuôi Nam trên đường trời muôn dặm…

Thực là:

Trời xanh dẫn dắt chúng nhân,

Như là tấu khúc nhạc Huân, nhạc Trì.

Trời, Người đôi ngọc Chương, Khuê.

Bên cho, bên lấy đề huề biết bao.

Tay cầm, tay dắt khéo sao,

Trời xanh dẫn dắt dân nào khó chi. [33]

*Hết chính văn

(xin xem chú thích)

nhuocthuy:
(tiếp và hết Chương 22)

CHÚ THÍCH

[1] Trong nhân sinh quan này tác giả không bàn tới nguồn gốc con người, các yếu tố cấu tạo nên con người vì những vấn đề này được đề cập tới trong nhiều chương khác của bộ sách này. (Xem các chương chữ Tính, chữ Mệnh; Vũ Trụ quan v.v…)

Trong Chương này, chỉ đề cập tới một đời sống lý tưởng, phù hợp với Bản Tính và có thể thực hiện được định mệnh cao sang con người.

[2] Bản dịch Việt Văn này khuôn theo bản dịch Pháp Văn, trong quyển L’Importance de Vivre của Lin YuTang, tr. 123—124.

J’ai déjà vu la plus grande moitié de cette vie flottane,

Ah! qu’il y a un mot magique,

Ce mot moitié d’une portée si riche,

Il nous fait gouter plus de joie,

Que nous n’en pouvons posséder.

Le meilleur état de l’homme

Est à mi—chemin de la vie,

Quand un pas ralenti lui permet le repos;

Le monde se trouve à mi—chemin “entre la terre et le Ciel”

Vivre à mi—chemin entre la ville et la campagne;

Avoir des fermes à mi—chemin entre les rivières et les montagnes.

Être à demi—savant, à demi—châtelain, à demi homme d’affaires;

Vivre à moitié comme un noble,

Et à moitié comme le commun des gens;

Avoir une maison moitié belle, moitié laide,

Moitié élégamment meublée et moitié nue;

Des vêtement moitié vieux, moitié neufs

Et une nourriture mi—recherchée et mi—simple;

Avoir des serviteurs ni trop intelligents ni trop bêtes;

Une femme aui soit ni trop simple ni trop habile,

Au fond, je me sens la moitié d’un Bouddha,

Et presque la moitié d’un Bienheureux Taoiste.

La moitié de moi—même est tournée vers le Ciel,

L’autre moitié vers mes enfants,

Pensant à moitié comment assurer l’avenir de ma postérité,

Et à moitié comment me présenter devant Dieu,

Quand le corps sera laissé en repos.

Il est le plus sagement ivre, celui qui est à moitié ivre;

Et les fleurs à moitié en boutons sont les plus belles;

Les bateaux à demi—voilés naviguent le mieux;

Et les chevaux avec les rênes à moitié tendue trottent le mieux.

Qui possède moitié trop est inquiet,

Qui possède moitié trop peu désire posséder plus.

Puisque la vie est à la fois amère et douce,

Celui qui n’en goute que la moitié est plus sage et plus intelligent.

(L’importance de Vivre de Lin Yutang, p.p.123—124.)

[3] Trung Dung, chương XXIX.

[4] 廣 大 配 天 地, 變 化 配 四 時, 陰 陽 之 義 配 日 月, 易 簡 之 善 配 至 德。

Hệ Từ thượng, chương VI, tiết 3

[5] Trong Thiên Khảo Luận này, tác giả chỉ dùng chữ Trung để chỉ Bất Biến, chữ Dịch để chỉ biến Thiên, mà không dùng những nghĩa khác của chữ Dịch.

[6] …Le Principe Suprême, source de toutes les puissances, soit de celles qui vivifient les pensées dans l’homme, soit de celles qui engendrent les oeuvres visibles de la nature matérielle; cet être nécessaire á tous les êtres, germe de toutes les actions, de qui émanent (mot fatal, plume qui trahit) continuellement toutes les existences, ce terme fatal, vers lequel elles tendent, comme par un effort irrésistible, parce que toutes recherchent la vie; cet être, dis—je, est celui que les hommes appellent généralement Dieu.

Claude de Saint Martin, cité par Ilan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 200.

[7] 復 其 見 天 地 之 心 乎。

 Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ!

Dịch kinh, Phục quái, thoán từ.

…陽 氣 生 來, 塵 夢 醒

攝 情 合 性, 歸 金 鼎

運 符 三 百 足 周 天

伏 氣 四 時 歸 靜 定

七 日 天 心 , 陽 位 復

五 龍 棒 聖 崑 崙 頂

黃 庭 十 月 產 靈 童

駕 鶴 凌 宵 任 游 騁。

Dương khí sinh lai trần mộng tỉnh,

Nhiếp tình hiệp tính, qui kim đỉnh.

Vận phù tam bách túc chu thiên

Phục khí tứ thời qui tĩnh định,

Thất nhật Thiên Tâm Dương vị phục.

Ngũ long bổng thánh Côn Lôn đỉnh

Huỳnh Đình thập nguyệt sản linh đồng,

Giá hạc lăng tiêu, nhiệm du sính

Tiên Thiên luận ngữ, tr. 5.

[8] 尺 蠖 之 屈 以 求 伸 也

龍 蛇 之 蟄, 以 存 身 也

精 義 入 神 以 至 用 也

利 用 安 身 以 崇 德 也。

Xích hoạch chi khuất, dĩ cầu thân dã,

Long xà chi trập dĩ tồn thân dã.

Tinh nghĩa nhập thần, dĩ chí dụng dã,

Lợi dụng an thân, dĩ sùng đức dã.

Dịch:

Sâu đo có lúc co mình,

Co mình cốt để duỗi mình dài hơn,

Long xà đông tới chập chờn,

Ngủ vùi tháng lạnh, bảo toàn tấm thân.

Học sao tinh nghĩa, nhập thần,

Rồi ra áp dụng muôn phần hay ho.

Đã rành, đã tỏ Hoá cơ,

Rồi ra lợi dụng hay ho thân mình.

Thân mình sung túc, an ninh,

Rồi ra nhân đức thi hành, sùng tôn.

Hệ Từ Hạ, chương V, tiết 1.

[9] Cours apparent du Soleil.

[10] 知 趨 時 應 變。

Tri xu thời ứng biến.

Tính Lý, I, 42.

[12] The Galaxy, Macrobius says, crosses the Zodiac in two opposite points, Cancer and Capricorn, the tropical points in the sun’s course, ordinariky called the Gates of the Sun. These two tropics, before his time , corresponded with those constellations, but in his day with Gemini and Sagittarius, in consequence of the precession of the equinoxes; but the Signs of the Zodiac remained unchanged; and the Milky Way crossed at the signs Cancer and Capticorn, though not at these constellations.

Through these gates souls were supposed to descend to earth and re—ascend to Heaven. One, Macrobius says, in his dream of Scipio, was style the Gate of Men; and the other, the Gate of Gods. Cancer was the former, because souls descended by into the earth; and Capricorn was the latter, because by it, they re—ascend to their seat of immortality, and became Gods

Albert Pike, Moral and Dogma, p. 437—438.

…Les Orphiques croyaient dans le Cancer le portail par où les âmes entraient en incarnation sortant en multitude de la Voie Lactée…

L’Occultisme du Zodiaque, p. 89.

… Il est intéressant de voir que la naissance de l’Univers se place tout au commencement du signe (Capricorne) était symbolisée par la naissance du Dieu solaire ou de l’enfant divin au solstice d hiver, tandis que la dissolution de l’univers matériel, suivant les Écritures de L’Inde, se produit à la fin du signe…

Như trên, p. 121.

[13] 能 幽 能 明, 能 細 能 巨, 能 短 能 長, 春 分 而 升 天, 秋 分 而 潛 淵。

Năng u năng minh, năng tế năng cự, năng đoản năng trường. Xuân phân nhi thăng Thiên, Thu phân nhi tiềm uyên. (Le Dragon)

Léon Wieger, Textes Philosophiques, I, 15.

[14] We know that the Egyptians worshipped the Sun, under the name of Osiris. The misfortune and the tragical death of this God were an allegory relating to the Sun. Typhon, like Arhiman, represented Darkness. The suffering and death of Osiris in the Mysteries of the Night were a mystic image of the phenomena of Nature, and the conflict of the two great Priciples which share the empire of Nature, and most influenced our souls…

Albert Pike, Morals and Dogmas, p. 406.

[15] 圖 雖 無 文, 吾 終 日 言, 而 未 常 離 乎 是, 蓋 天 地 萬 物 之 理 盡 在 其 中 矣。

Đồ tuy vô văn, ngô chung nhật ngôn, nhi vị thường ly hồ thị, cái Thiên Địa vạn vật chi lý, tận tại kỳ trung hĩ.

Tính Lý 1 (Kinh Thế) 58—59.

[16] 程 夫 子 曰﹕知 萬 理 歸 於 一 理 而不 知 一 理 散 於 萬 事,

 重 重 無 盡, 無 盡 重 重, 自 他 不 間 於 微 塵, 始 終 不 離 於 當 念,

 窮 玄 極 妙, 非 二 乘 凡 夫 之 所 能 知 也。

Trình Phu Tử viết: tri vạn lý qui ư nhất lý, nhi bất tri nhất lý tán ư vạn sự, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Tự tha bất gián ư vi trần, chung thủy bất ly ư đương niệm. Cùng huyền cực diệu, phi nhị thừa phàm phu chi sở năng tri dã.

Đạo dư lục, tr. 19.

[17] 聖 人 之 憂 天 下 來 世 其 至 矣。 先 天 下 而 開 其 物,後 天 下 而 成 其 務。

Thánh nhân chi ưu thiên hạ lai thế, kỳ chí hĩ. Tiên thiên hạ nhi khai kỳ vật, hậu thiên hạ nhi thành kỳ vụ.

Dịch Kinh Đại Toàn, Dịch tự.

[18] 至 人 之 心 定 于 一。

Chí Nhân chi tâm định vu Nhất.

Chẩm thượng ngữ, tr. 1.

[19] 心 反 于 先 天 之 先, 則 超 于 形 數 之 外, 出 入 生 死, 不 為 形 數 所 拘。

Tâm phản vu tiên Thiên chi tiên, tắc siêu vu hình số chi ngoại, xuất nhập sinh tử, bất vi hình số sở câu.

Chẩm thượng ngữ, tr. 1.

[20] Ấn Độ giáo cũng nhận con người phải qua 2 con đường: Đường về với tổ tiên (Pitriyana), và đường về với Trời (Devayana). Nhưng 2 con đường đó lại mở ra sau khi con người đã chết. Con đường thứ 1 là Con đường Luân Hồi, con đường thứ 2, là con đường Niết bàn, siêu thoát Luân Hồi, sinh tử:

… Mais par la mort, s’ouvrent deux sentiers, le Pitriyâna, ou sentiers des Pitris, et le devayana ou sentier des Dieux. Ils sont très soigneusement décrits dans quelques passages que je vais vous résumer, et que l’on trouve dans les Brihadaranyaka, Chandogya et Prasna Upanishads (Brihad. Up. VI, II, 2—16. Chand. Up. V, III, Prasna I, 9—10. Chand. V, 10, Chand. IV, 15—5. Bhagavad Gita VIII, 24—260.)

Les mots indiquant obscurité tels que fumée, nuages, quinzaine sombre etc… impliquent emprisonnement dans la matière, et correspondent au retour sur la terre, par une nouvelle naissance; les mots signifiant lumière s’appliquent au triomphe du soi, et correspondent au sentier des Dieux, par lequel on ne retourne pas.

Annie Besant, La Sagesse des Upanishads, p. 92.

[21] . 一 陰 一 陽 之 謂 道, 繼 之 者 善 也, 成 之 者 性 也。

Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo, kế chi giả thiện dã, thành chi giả Tính dã.

Hệ Từ Thượng, Chương V, tiết I.

[22] 道 二﹕ 仁 與 不 仁 而 以 矣。

Mạnh Tử, Ly Lâu chương cú Thượng, câu 2.

[23] 人 生 五 十 之 前 為 進 數, 用 世 之 學, 當 一 日 章 一 日。

 五 十 以 後 為 退 數, 垂 世 之 學, 當 一 日 積 一 日。

Nhân sinh ngũ thập chi tiền vi tiến số. Dụng thế chi học, đương nhất nhật chương nhất nhật. Ngũ thập chi hậu, thùy thế chi học, đương nhất nhật tích nhất nhật.

Kỷ thượng ngữ, tr. 10.

[24] 四 十 五 十 而 無 聞 焉, 斯 亦 不 足 畏 也 已。

Tứ thập, ngũ thập nhi vô văn yên, tư diệc bất túc uý dã dĩ.

Luận Ngữ, Tử Hãn đệ cửu, câu 22.

[25] Mais le Chef ne peut poursuivre indéfinitivement sa circulation périphérique sous peine de ne jamais porter les insignes qui correspondent au Centre qui sont l’apanage du Suzerain. Aussi quand est fini le troisième mois de l’été, interrumpt—il le travail qui lui permet de singulariser les diverses durées. Il se vêt alors de jaune et —cessant d’imiter la marche du Soleil, va se poster au Centre du Minh t’ang. S’il veut animer l’espace, il faut bien qu’il occupe cette place royale, et dès qu’il s’y arrête, c’est d’elle qu’il semble animer le temps: Il a donné un centre à l’année.

Marcel Granet, La Pensée Chinoise, p. 103.

[26] 故 有 無 相 生, 高 下 之相 傾

 難 易 之相 成, 音 聲 之相 和

 長 短 之相 形, 前 後 之相 隨。

Đạo đức kinh, Chương II.

[27] 天 風 垢 Thiên Phong Cấu.

[28] 地 雷 復 Địa lôi phục.

[29] 復 其 見 天 地 之 心 乎? Phục kỳ kiến Thiên Địc chi tâm hồ?

[30] Dịch chi vi thư quảng đại tất bị, vô sở bất bao nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi minh “Thiên Nhân hợp nhất “chi đạo.

易 之 為 書 廣 大 悉 備 無 所 不 包, 而 語 其 要 歸 則 為 明 天 人 合 一 之 道。

Sách Dịch thật mênh mông bát ngát, nhưng đại khái là cốt xiển minh nhẽ Thiên Nhân Hợp Nhất.

Chu Dịch, Trương Kỳ Quân, Trung Quốc Ngũ Thiên Niên Sử, đệ Nhị sách, đệ Thập Nhị chương. Trung quốc nhất chu số 588.

—Thánh Nhân dĩ Dịch tẩy tâm, tự dữ Thiên Lý đồng lưu. Quân tử dĩ tâm thề Dịch, đương tri Thiên Lý đồng bản.

聖 人 以 易 洗 心, 自 與 天 理 同 流。 君 子 以 心 體 易, 當 知天 理 同 本。

Đào Hư Tử, Chẩm Thượng Ngữ, trang 8.

…Trung quốc tự Đường Ngu dĩ lai, tức hữu Thiên Nhân Hợp Nhất chi tư tưởng.

Kính Thiên tức sở dĩ ái nhân, ái dân tức sở dĩ tôn Thiên. Lịch đại thánh triết mạc bất kế tục hoàng dương thử Thiên Nhân Hợp Nhất chi đạo. Lão tử tức kỳ nhất dã.

中 國 自 唐 虞 以 來, 即 有 天 人 合 一 之 思 想。

敬 天 即 所 以 愛 人, 愛 民 即 所 以 尊 天。

 歷 代 聖 晢 莫 不 繼 續 弘 揚 此 天 人 合 一 之 道。 老 子 即 其 一 也。

Trương Kỳ Quân, Trung Quốc Nhất Chu, kỳ 623, tr. 21.

…Từ Thượng cổ, người Tàu đã có cái tư tưởng rằng người ta sinh ra ai cũng bẩm thụ cái tính của Trời. Cái tính ấy là một phần Thiên Lý. Vậy Trời với người quan hệ với nhau rất mật thiết lắm. Bởi thế, mới lấy phép tắc tự nhiên của Trời làm cái mô phạm của người và cho Thiên luân, Thiên đạo là nhân đạo…

Trần Trọng Kim, Nho giáo, tr. 397.

[31] Dịch đại khái dục nhân khủng cụ, tu tỉnh.

Dịch kinh đại toàn, Cương lĩnh, tr. 11.

Trung Dung chương I.

[32] Xin xem thêm Ecclésiastique 3, 1—15, Bible de Crampon tr. 745:

Pour tout, il y a un moment, un temps pour chaque chose sous le ciel: temps d’enfanter, et temps de mourir;

temps de planter et temps d’arracher les plants;

temps de tuer, et temps de guérir;

temps de démolir et temps de bâtir;

temps de pleurer et temps de rire;

temps de se lamenter et temps de danser;

temps de jeter des pierres et temps de ramasser des pierres;

temps d’embrasser et temps d’écarter les embrassements;

temps de chercher et temps de perdre;

temps de garder et temps de rejeter;

temps de déchirer et temps de coudre;

temps de se taire et temps de parler;

temps d’aimer et temps de hair;

temps de guerre et temps de paix.

Quel profit pour le travailleur, et de peine qu’il se donne?

J’ai considéré les occupations auxquelles Dieu a donné aux enfants des hommes de s’occuper.

Toute chose, Il l’a faite bonne pour tout temps; c’est aussi l’infinité du temps qu’il a mis dans leur coeur, sans que l’homme puisse découvrir l’oeuvre que Dieu fait, de bout en bout…

Dưới trời, các gì cũng có lúc, cũng có thời.

Có lúc sinh, có lúc chết;

Có khi trồng, có khi nhổ;

Có khi giết, có khi chữa;

Có lúc phá, có khi xây;

Có khi khóc, có khi cười;

Có khi than khóc, có khi vui nhảy;

Có khi ném đá, có lúc thôi.

Có khi ôm ấp, có lúc giận buông;

Có khi tìm, có khi mất;

Có khi giữ, có khi bỏ;

Có khi xé, lại có khi may;

Có khi yên, có khi nói;

Có khi ghét, có khi yêu.

Có thời chiến¡, có thời bình;

Vậy con người lao tác được lợi ích gì, và đã tốn phí biết bao là công lao?

Tôi đã xem Chúa dạy con người làm biết bao công trình. Việc gì Trời làm đúng lúc cũng hay; lại cho con người thời gian vô tận, còn người thì không sao hiểu việc Trời làm từ đầu đếùn đuôi.

Đọc đoạn này, tôi mới thấy con người thật là mâu thuẫn, suốt đời phá phá, xây xây. Thật là uổng phí công trình. Nếu mình có thời gian vô tận, sao không đặt cho đời mình một mục tiêu? Chúng ta sinh ra đời để tiến hoá cho đến Chân, Thiện, Mỹ, chứ không phải sống gặp chăng hay chớ. Trời cho ta làm trăm công nghìn việc, mục đích là cho ta tìm lại được Bản Thể ta, sức sáng tạo vô biên của ta. Vậy ta phải sống 1 cuộc đời xứng đáng. Sinh ra từ Trời, chết đi trờ về với Trời. Như vậy, mới là:

Tri xu thời ứng biến. 知 趨 時 應 變。

(Chính mông Tính Lý I, tr. 42.)

[33] 天 之 牖 民

 如 壎 如 篪

 如 璋 如 圭

 如 取 如 攜

 攜 無 曰 益

 牖 民 孔 易。

Thiên chi dũ dân,

Như Huân như Trì,

Như Chương, như Khuê,

Như thủ như huề.

Huề vô viết ích,

Dũ dân khổng dịch.

Heaven enlightens the people, as the bamboo flute responds to the porcelain whistle; as the two half maces form a whole one; as you take a thing and bring it away in your hand, bringing it away without any more ado. The enlightement of the people is very easy.

The She King. James Legge, p. 502.

*************           

CHƯƠNG XXIII

SỬ QUAN

(THEO TRUNG DUNG VÀ DỊCH LÝ)

(Con người cần được đặt lại vào Trung Tâm vũ trụ, điểm xuất phát của con người. Xưa, khi trình độ hiểu biết con người còn thấp kém, con người đã xa lìa, thì nay trong tay đã sẵn có những kiến thức mới về không gian, con người cần trở về Trung Tâm Điểm ấy.) [1]

Nghiên cứu Trung Dung và Dịch lý, chúng ta có thể tìm thấy một sử quan mới mẻ.

Xưa nay, nhiều người vì có quan niệm “tĩnh” về vũ trụ, nên cho rằng con người, đời nào cũng giống đời nào sinh ra là để chịu khổ sở gian truân, ngõ hầu đền bù những tội ác xa xăm và hiện tại; cho đời là bể khổ, đày châu lệ, chỉ muốn thoát ly đời; cho xác thân là thù địch, cố dày vò thân xác, để được coi là nhân, là đức; cúi đầu chịu mọi sự gian nan thống khổ, coi đó là những hình phạt của thần thánh; suốt đời nơm nớp lo âu, khẩn cẩu thần nọ thánh kia hộ trì cho mình siêu thoát, một khi dắm mắt, tắt hơi.

Một quan niệm như vậy dĩ nhiên làm mất hết vẻ hiên ngang và hùng khí của con người, coi con người như một thứ đồ chơi, để thần minh tha hồ dập vùi theo ý thích, thương thì để nguyên, giận lên thì phá phách cho tan tác thành tro bụi; coi lịch sử như đã đi đến tuyệt đích không còn gì để diễn tiến nữa; tô vàng son vào một dĩ vãng mình không tham dự; oán thán chê bai cuộc sống hiện tại, cho rằng chẳng mấy huy hoàng.

Nhưng nếu ta có một cái nhìn bao quát, cởi mở, nếu ta có một quan niệm “động” về lịch sử, ta sẽ thấy con người thực ra đã, đang và còn sẽ tạo cho mình một lịch sử rất ly kỳ, lắm truân chuyên, nhưng cũng lắm vinh quang. Trên thực tế, con người luôn tiến hoá.

Nói đến tiến hoá, tức là nói đến chiều hướng và mục phiêu cuộc tiến hoá đó.

Cho nên, đề cập đến sử quan nhân loại, là đề cập đến chiều hướng tiến hoá của nhân loại, đến những giai đoạn dĩ vãng và tương lai của con đường tiến hoá ấy, cũng như đến mục đích và kết quả của công cuộc tiến hoá ấy.

Trung Dung đã cho ta biết căn bản của vũ trụ nhân quần, thì cũng chỉ luôn cho ta biết mục phiêu của nhân loại.

Đâu là căn bản vũ trụ, nhân quần? Trung điểm, Trời.

Đâu là mục phiêu của nhân loại, của quần sinh? Cũng vẫn là Trời, là Trung Điểm.

Vòng Dịch Phục Hi sẽ cho ta biết các chặng đường tiến hoá của nhân quần từ lúc ban sơ đến lúc chung cuộc.

Vòng Dịch Văn Vương phơi bày cho ta thấy cùng một lúc các giá trị tôn ti, quí tiện của đất trời. [2]

Ta thường thấy trong Kinh Dịch, 64 quẻ xếp theo hình vuông, lồng trong 64 quẻ xếp theo hình tròn.

Hình vuông tượng trưng cho không gian, cho các giá trị phô diễn đồng thời trong không gian, thời gian.

Hình tròn tượng trưng cho thời gian, cho các giá trị phô diễn liên tiếp trong thời gian. [3]

Dịch là phản ảnh cuộc đời. Cho nên ta cứ việc nhìn bao quát các nếp sống của cá nhân và đoàn thể diễn ra cùng một lúc trong không gian, hoàn vũ, là ta có thể suy ra được các lớp lang lịch sử của nhân loại liên tục diễn tiến trong thời gian….

Thực ra vấn đề chiều hướng và giai đoạn cũa lịch sử không phải là một vấn đề mới mẻ.

Auguste Comte (1798—1857) đã tìm ra 3 giai đoạn của lịch sử:

1. Trạng thái thần quyền (état théologique).

2. Trạng thái siêu hình (état métaphysique).

3. Trạng thái thực tiễn (état positif).

Nhưng ta thấy quan niệm trên chỉ cho ta biết dĩ vãng và một phần của hiện đại, còn tương lai vẫn chìm đắm trong mơ hồ, bí ẩn.

Dựa vào Dịch và Trung Dung ta có thể tìm ra một chu kỳ lịch sử mênh mông, bát ngát hơn nhiều.

Chúng ta đại khái có thể phác hoạ chu kỳ lịch sử nhân loại bằng chín giai đoạn sau: [4]

1. Giai đoạn thần quyền (Tốn)

2. Giai đoạn siêu hình (Khảm)

3. Giai đoạn thực tiễn (Cấn)

4. Giai đoạn vật chất (Khôn)

5. Giai đoạn Giác Ngộ (Chấn)

6. Giai đoạn nhân đạo (Ly)

7. Giai đoạn nghệ thuật đạo đức (Đoài)

8. Giai đoạn thiên đạo (Kiền)

9. Giai đoạn toàn thiện, toàn mỹ (Thái Cực) [5]

Chu kỳ lịch sử nhân loại khó ước lượng được là bao nhiêu năm.

Thiệu Khang Tiết cho là 129.600 năm (360 X 360)

Các triết gia Hi Lạp cho là 25.920 năm.

Các triết gia Ấn Độ cho rằng chu kỳ lịch sử nhân loại là 4.320.000 năm, còn chu kỳ lịch sử vũ trụ là 4.320. 000.000. [6]

Đà diễn tiến của lịch sử cũng như của con người đều theo định luật doanh hư, tiêu tức, vãng lai, tiến thoái của trời đất.

Trong nửa chu kỳ đầu, tinh thần dần dà suy, vật chất dần dà thịnh.

Trong nửa chu kỳ sau, vật chất dần dà suy, tinh thần dần dà thịnh.[7]

*Lẽ Âm Dương tiêu trưởng trong các học thuyết Âu Á

Nhịp điệu thăng, trầm, suy, thịnh của lịch sử nhân loại cũng đươsïc áp dụng trong khúc hoà ca của vũ trụ và vạn vật. [8]

*Lẽ Âm Dương tiêu tức, vãng lai trong hoàn võ và trong con người.

Đó là đà diễn tiến theo 2 chiều Âm Dương của vòng Dịch. [9]

Dựa trên những hiện tượng lịch sử, thì nhân loại mới đang đi giữa giai đoạn thực tiễn và giai đoạn vật chầt. Nghĩa là con đưởng tiến hoá của nhân loại còn xa lắc, xa lơ, và tương lai nhân loại còn muôn vàn rực rỡ.

Con người còn phải lao lung vất vả, còn phải suy tư, lao tác, còn phải khám phá, còn phải đào thải, còn phải lọc lõi nhiều rồi mới tiến tới vinh quang được.

Đi hết giai đoạn vật chất, con người sẽ đi đến chỗ bế tắc, đến đầu đường; muốn khỏi tiêu diệt, tất nhiên phải quay lưng lại vật chất mà hướng về phía tinh thần, thế là Phục Sinh (Régénération, Palingénésie), thế là Hồi Phục (Conversion). Dịch gọi thế là “Cùng tắc thông”, hay “Cùng tắc biến”.
Đi vào con đường vật chất tức là đi vào con đường truỵ lạc, sa đoạ tinh thần.

Đi vào con đường tinh thần là đi vào con đường giải thoát, phục sinh (Rédemption, salut, régénération).

Cổ nhân đã xác định thời kỳ Hồi Phục của con người. Thời kỳ ấy chính là thời kỳ đen tối nhất của nhân loại, tượng trưng bằng giờ Tý (nửa đêm), và bằng quẻ Khôn, hoàn toàn vật chất. [10]

Nhưng giữa tối tăm, ánh sáng sẽ hiện ra; giữa chết chóc, sự tái sinh sẽ mầm mộng; sau thời kỳ vật chất vô thần, con người sẽ hồi hướng, và quay về với giá tri tinh thần. Kinh Dịch gọi luca ấy là quẻ Phục.

Sự sinh lại ấy, người xưa ví như là con người được thai nghén lại một lần nữa, vì thế dùng chữ Tí (子 Tí =子 Tử = Con), chữ Nhâm 壬 (Đồng âm với chữ Nhâm = 妊 = Có mang); chữ Thai 胎 để chỉ thời kỳ đó. [11]

Chu kỳ lịch sử tiên đoán được bằng các vòng Dịch, Can Chi và Trường sinh:—

(Chu kỳ lịch sử tiên đoán được bằng các vòng Dịch, Can Chi và Trường sinh.)

Thời kỳ ấy là thời kỳ hồi phục, vì nhân loại đã thấy được “Thiên Địa chi Tâm”, thấy được rằng “trong lòng mình có trời ngự trị” [12]

Theo sử quan này thì con người mới đầu dĩ nhiên là phải gian truân, phải phong trần (Cấu = phong trần), nhưng đến chung cuộc sẽ được hiển vinh, hạnh phúc (Kiền = Trời; Đế vượng = vua Trời xương thịnh; Bính Đinh = Sáng láng, rực rỡ) [13], để rồi vào yên nghỉ trong Trung Cung, trong Thái Cực, Hoàng Cực. Thế là “Hưu hồ thiên quân”, “Yên nghỉ trong lòng Trời” theo Trang Tử.

Mỗi cá nhân, ai cũng phải đi theo đúng con đường đã vạch cho nhân loại, và hoàn võ, nhưng tuỳ sự hiểu biết, tuỳ theo tốc độ của trí tuệ, tuỳ theo công phu tu luyện, thời gian trên trở nên co giãn vô hạn định,

Vì: —129.600 năm cũng là 1 chu kỳ.

—25.920 năm cũng là 1 chu kỳ [14]

—1 năm cũng là 1 chu kỳ.

—1 tháng cũng là 1 chu kỳ.

—1 ngày cũng là 1 chu kỳ.

—1 hô hấp cũng là 1 chu kỳ.

—1 chớp mắt cũng là 1 chu kỳ (vì cũng gồm 2 chiều Âm Dương, động tĩnh, hạp tịch của trời đất.) [15]

Con đường thăng trầm gian lao ấy, tức là con đường định mệnh của nhân loại. Theo từ ngữ Ấn Độ thì đấy là Duyên Nghiệp, Duyên Kiếp của con người (Karma). Tìm ra được vòng Duyên Nghiệp ấy tức là tìm ra được vòng Dịch, tìm ra được Con Đường Giải Thoát. [16]

Mỗi giai đoạn lại cho con người trông thấy 1 khía cạnh của Toàn Thể bao la, mỗi giai đoạn lại làm cho con người giàu có thêm về 1 loại tư tưởng, lại khoác cho con người một bộ mặt mới.

Suy rộng ra, như Trái Đất có lúc xa, lúc gần mặt trời, thì nhân loại cũng có lúc xa, lúc gần Thượng Đế. Nhưng vòng tiến hoá của con người đã được vạch sẵn từ muôn thủa, cũng như vòng chu luân của trái đất và các vì sao đã được vạch sẵn từ khi chúng vừa dược dựng nên.

Thế tức là:

“Người tận thế, đất sét xưa nặn lại,

Hạt trường sinh gieo từ buổi hỗn mang.

Ngày khai thiên Trời đã chép kỹ càng,

Toàn lịch sử của muôn ngàn thời đại.” [17]

Con người sinh ra đời, cần phải phát huy mọi khả năng của mình, thực hiện mọi giá trị tiềm ẩn của mình, và chỉ được dừng chân đứng lại khi đã đạt mức chí thành, chí thiện, [18] khi đã thoát khỏi mọi hình tướng danh sắc, hiện tượng bên ngoài, trở về được với Hư Vô, Diệu Hữu, [19] vì mục đích của nhân loại cũng như của cá nhân là đạt tới Toàn Thể, tới Thiên Địa chi Tâm.

*************           

CHÚ THÍCH

[1] Man must be put back at the Center of the Universe, when he once began, and from which he fell away at the beginnings of Knowledge, and to which he must return with the new knowledge of space at hand.

Ray Bradbury, Remembrances of kings future.

[2] Thiên tôn địa ti, Thiên địa định hĩ,

 Cao ti dĩ trần, quí tiện lập hĩ.

 天 尊 地 卑, 乾 坤 定 矣

 高 卑 已 陳, 貴 賤 立 矣。

 Dịch. Hệ Từ Thượng, Tiết I.

[3] L’ordre des successions concrétise le temps,

 L’ordre des coexistences concrétise l’espace.

Occultisme et Magie en Extrême—orient. p. 91.

Ainsi ce qui est simultané dans l’espace, sera successif dans le temps. Ainsi, l’espace et le temps sont convertibles.

(Postulat de l’auteur.)

[4] Sử quan này dựa trên sự khảo sát các đồ Dịch, và 2 thỉnh lý sau đây của tác giả:

a. Cuộc đời của 1 cá nhân lý tưởng tương ứng với lịch sử nhân loại.

b. Các mẫu người cùng có trong không gian sẽ diễn ra liên tiếp trong thời gian.

(Ce qui est simultané dans l’espace sera successif dans le temps.)

…Cũng có thể chia lịch sử làm 13 thời kỳ như sau: Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Kiền, và Thái Cực.

[5] …Les époques chrétiennes futures, quand les lois du Christ seront de plus en plus connues et appliquées, verront l’homme s’allumer en lui, toujours plus fréquemment, le feu de Jésus Christ. Grâce à la force de ce feu, il s’élèvera, il se sanctifiera et les bienfaits de Dieu descendra toujours plus abondamment sur la terre, jusqu’à ce que, durant la dernière période, et conformément à l’exemple suprême donné par Jésus—Christ, le but terminal de l’homme sera atteint: l’accomplissement du Verbe de Dieu, la victoire complète sur le mal, la vie totale du Royaume céleste réalisée par l’homme sur la terre…

André Towlanski cité par Illan de Casa Fuerte, La Religion Essentielle, p. 222.

[6] Các triết gia Ấn Độ phỏng định một cho kỳ lịch sử nhân loại là 4.320.000 năm (1200 x 360 = 1 ngày của Brahma) chia ra thành 4 thời đại:

a Krita Yuga (Thời Đại Vàng) 1.728.000 năm.

b Treta Yuga (Thời Đại Bạc) 1.296.000 năm.

c Dwapara Yuga (Thời Đại Đồng Đen) 864.000 năm.

d Kali Yuga (Thời Đại Sắt) 420.000.

Theo tỉ lệ:  4/10 3/10 2/10 1/10 = 10/10 = 1

Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême Orient, p. 119 et ss.

Chu Kỳ lịch sử nhân loại khác vối chu kỳ lịch sử vũ trụ: Một chu kỳ lịch sử vũ trụ là 4. 320.000. 000 năm.

Như trên, p. 129.

Xem thêm Raoul Auclair:  Le Livre des Cycles, p. 232.

—La Doctrine Secrète III, 83—85, và—A. E. Powell. Le Système Solaire, p. 113.

[7] … Il (Fichte) affirme aussi que le but de l’humanité est la réalisation du Moi. La chose en soi n’est pas inconnnaissable: c’est notre propre ego, notre moi idéal. Prendre conscience de soi—même, c’est devenir libre. Mais la liberté ne s’atteint pas sans lutte, sans opposition, sans conquête: Le Moi atteint donc la liberté, en surmontant tout ce qui n’est pas lui—même —le non—moi, en fait, qu’il crée afin d’engager la lutte. Ce non—moi c’est l’apparence, ce sont les phénomènes et tandis que l’entendement percoit le monde des phénomènes, concourt à le construire, la Volonté ou Moi l’utilise, comme un ponton improvisé pour découvrir la vérité qui se trouve au—delà. Agissante chez l’individu, cette dialectique l’est aussi dans la société, et vraiment, dans tout le cours de l’histoire. L’histoire n’est que histoire de la liberté, de la lutte de l’homme pour la libération, l’histoire des vicissitudes de la liberté.

F. Tomlin, Les Grandes Philosophies de l’Occident, p. 210.

[8] Origène:

La création du monde, dans le temps, devient une création éternelle, qui, déjà par ce changement, se rapproche fortement d’une émanation; derrière le Dieu fait Homme à une époque du monde, il (Origène) montre le Logos qui sort éternellement de Dieu; et pour les âmes elles—mêmes, il adnet la préexistence.

… Par le retour de tous les êtres en Dieu, s’achève par conséquent un circuit—mais qui recommence et se renouvelle dans l’éternité.

Grégoire de Nysse (né à Césarée, en Cappadoce vers 335):

Chez lui (Grégoire de Nysse) aussi, à la fin du mouvement circulaire, tous les êtres reviennent á Dieu.

Ernest d’Aster, Histoire de la Philosophie, p. 124.

Trông bao quát vòng lịch sử này, rồi đem áp dụng nó vào từng trường hợp mỗi quốc gia, các nhà chính trị có thể tuỳ thời mà thay đổi trọng tâm hoạt động để làm sao cho dân nước được sinh hoạt điều hoà, hạnh phúc.

Khi dân chúng đói khổ, thì trọng tâm là khuếch trương canh nông, kỹ nghệ; khi dân chúng yếu hèn, thì phải lo chấn chỉnh võ bị, ngoại giao; khi dân chúng no đủ thì phải lo chấn hưng đạo đức, khuyến khích thuần phong mỹ tục, cổ võ văn hoá tư tưởng, cốt sao cho dân khỏi sa đoạ vào vòng ăn chơi, truỵ lạc. Tóm lại, một quốc gia cũng như một con người, nó cũng có lúc sinh, lúc trưởng, lúc mạnh, lúc đau, lúc vinh, lúc nhục, lúc sang, lúc hèn. Cái khéo của nhà cầm quyền là phải đoán xem nước mình đang ở giai đoạn nào trên con đường tiến hoá, để tuỳ thời mà sử sự, mà ứng biến…

[9] …Et c’est la même mystère que celui de l’Involution et de l’Évolution, de l’Incarnation Cosmique et de la Rédemption universelle, ces deux versants congugués du Cercle du Devenir.

Raoul Auclair, Le Livre des Cycles, p. 238.

Le temps éternel et indestructible comme la matière se divise en deux périodes: Utsarpini et l’Avasarpini.

Selon les Djains, L’Utsarpini est la période ascendante et l’Avasarpini est la période descendante de la durée.

Louis Chochod, Occultisme et Magie en Extrême—Orient.

Phase de négativation (Phase descendante): Oui devient Non.

Phase de positivation (Phase ascendante): Non devient Oui.

Dr Jean Choain, La Voie Rationnelle de la Médecine Chinoise.

Le demi—cercle de gauche représente l’ascension (Yang) du soleil, le demi—cercle de droite la descente (Yin). Autrement dit, à gauche, le soleil va du Yin au Yang (Le Yang monte et le Yin descend); c’est la barque de Rà ascendante (mandjit = Thăng). À droite, Il va du Yang au Yin (Le Yang descend et le Yin monte. C’est la barque de Rà descendant (Sektet = Giáng).

Như trên, p. 125.

[10] Lúc ấy cũng là lúc con người tận dụng được vật chất.

[11] Xem các đồ bản trang sau.

Ý nghĩa vòng Tuần Hoàn theo Thập Nhị Chi.

未 Mùi = Vạn vật khoác hình hài, có mùi vị (未 = 味)

申 = 身 體, 物 體 皆 成。 Thân = Thân thể, vật thể giai thành.

酉 = 縮。 Dậu = Thâu súc, thu liễm.

戌 = 滅 。 Tuất = suy diệt.

亥 = 刻 剎, 陰 氣 刻 萬 物。 Hợi = Khắc sát, Âm khí khắc vạn vật.

子 = 而 為 子 Tí= Nhi vi tử. Sau đó lại thai dưỡng, lọt lòng ra.

丑 = 紐 Sửu = Nữu = Khai triển, diễn tiến.

寅 = 演 Dần = Diễn = Tốt đẹp.

卯= 茂 Mão = Mậu.

辰 = 震 = 萬 物 盡 震 而長。 Thìn = Chấn= Vạn vật tận chấn nhi trưởng. Vạn vật phấn chấn.

巳 = 起 = 物 畢 盡 而 起。 Tị = Khởi = Vật tất tận nhi khởi. Vạn vật vươn mãi lên.

午 = 長 大。 Ngọ = Trưởng đại. Đến chỗ trưởng đại.

Nhìn vào vòng Thập Can với những ý nghĩa tượng trưng của nó, ta thấy ngay, nó nói lên nhẽ Âm Dương tiêu trưởng.

Từ Mùi đến Hợi, là Âm trưởng Dương tiêu, vật chất càng ngày càng cường thịnh sung mãn, để rồi đi đến chỗ suy diệt.

Từ Tí đến Ngọ nói lên nhẽ Dương trưởng Âm tiêu; Dương sinh ra, lớn dần và cuối cùng đi đến chỗ phát huy sung mãn.

[12] Xem các đồ bản các tr. trên.

[13] …Cố năng niên trung thủ nguyệt, nguyệt trung thủ nhật, nhật trung thủ thời, thời trung thủ khắc, Xúc nhất niên tạo hoá ư nhất nhật chi nội, nãi ư nhất khắc chi nội hành nhất niên chi công. Đạo Thiên Địa, đoạt Tạo Hóa; thục hữu đại ư thử giả; Thần thánh tai! huyền diệu tai!

故 能 年 中 取 月, 月 中 取 日,日 中 取 時, 時 中 取 刻。

蹙 一 年 造 化 於 一 日 之 內, 乃 於 一 刻 之 內 行 一 年 之功。

盜 天 地, 奪 造 化; 孰有 大 於此 者。 神 聖 哉!玄 妙 哉!

Nhập dược kính, tr. 6.

[14] Chu kỳ của mặt trời trên vòng Hoàng Đạo. Sau 1 chu kỳ là 25.920 năm, mặt trời lại ở vị trí cũ ngày xuân phân.

…Toute la science du Yogin est d’enseigner aux hommes comment abréger, en intensifiant leur pouvoir d’assimilation, le temps nécessaire pour atteindre la perfection. Au lieu de progresser lentement, d’étape en étape, et d’attendre que toute la race humaine soit devenue parfaite.

Marc Semenoff, Pour Connaitre la pensée de Bouddha, p. 167.

[15] Le rythme alchimique consistera dans la reproduction du rythme naturel , et la Grande Oeuvre débutera à l’instant précis désignée par l’Astrologie, celui où cesse la régression, pour faire place à l’ascension (cf. Phục kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ. Dịch, Phục quải)

La seule différence sera qu’une fois en possession du grand secret, la marche de l’oeuvre ne parcourra plus les millénaires comme la nature elle—même, mais se trouve réduite à quelques années, voire quelques mois. C’est donc bien une imitation de la nature, dans son processus évolutoire que se propose l’alchémiste.

J. Chabosseau, Le Tarot, p. 30.

[16] Définissons le Karma comme l’ensemble des étapes psychiques réalisées, en voie de réalisation et réalisables en vue de l’accomplissement du cycle.

En conséquence, nous prenons conscience d’un Karma cosmique, d’un Karma universel, d’un Karma particulier à chaque élément manifesté dans la nature et par conséquence, d’un Karma individuel humain..

Le Ferrer, Hatha Yogin Occidental, p. 38.

Như vậy, Duyên Nghiệp chẳng qua là những chặng đường mà vũ trụ, nhân loại và mỗi người chúng ta phải đi qua để tiến tới Thượng đế.

… La grande Année, période entre 2 conjonctions générales identiques, est finalement le multiple décimal de 420.000 soit 4.320.000 années solaires, valant 12.000 années divines.

La Science indienne antique, Histoire Générale des Sciences, Tome I, p. 165.

Cf. Cycles of Time, Encyclopedia of Religions , p. 213.

[17] “Avec la première argile de la terre,

Ils pétrirent le dernier homme.

Et là, ils ensemencèrent la graine de la moisson dernière,

Et le matin de la création écrivit

Ce qui se lira à l’aube du jour du jugement dernier.”

Omar Khayam, cité par Eddington, Cyrille Wilczkowski, L’Homme et le Zodiaque, p. 35.

[18] Chỉ ư chí thiện.

Đại học, chương I

[19] L’absence abyssale de toute image rappelle le Rien de Boehme, le Vide (Shunya) du Véda, demeure de Brahman ou le Vide (Hu kong) du Taoisme, dont “le but ultime , le secret est l’union du soi avec le Soi”

Dr Erville Roussel Seelische Fushung in lebenden Taoismus Eranos Jarhbuch 1933. p. 151.

Có lẽ sách Khải Huyền (Apocalypse, Revelations) cũng đã mô tả nhân loại lúc chung cuộc, khi đã đạt tới Thái Cực, Huyền Đồng.

Xem Apocalypse, 21, 1—27; 22, 2—5.

Nói tóm lại, Thượng Đế, Trung Dung, Trung Điểm, vừa là khởi điểm vừa là cùng đích con người (Alpha et Oméga), còn vòng Dịch với các hào quải tượng trưng cho sự thăng trầm, suy thịnh và các giai đoạn lịch sử con người.

*************           

CHƯƠNG XXIV

HAI CHỮ TÍNH MỆNH THEO KHỔNG GIÁO.

Tâm pháp chi nguyên ư Tính Mệnh gia,

Tiên hậu đồng quĩ.

Bách thế chi thánh quân,

Hiền phụ vị năng dịch dã.

心 法 之 原 於 性 命 者

先 後 同 揆

百 世 之 聖 君

賢 輔 未 能 易 也。

Kinh Thư Đại Toàn, quyển I (tựa)

Hai chữ Tính Mệnh có thể nói là 2 chữ hết sức hàm súc, huyền diệu và cao siêu trong Khổng giáo.

Tử Cống nói:

“Văn chương, bình luận, phán phê,

Văn chương Phu Tử ta nghe thường rồi.

Còn như Tính, với Đạo Trời,

Mấy đời Thày giảng, mấy đời ta nghe.” [1]

Đức Khổng nói: “Ta bàn chữ Tính không nổi.”[2]

Lời nói khiêm tốn đó làm ta liên tưởng đến một câu của Lão Tử:

“Đạo Trời ôm ấp một mình,

Còn hơn vất vả thuyết minh suốt đời.” [3]

Theo Luận Ngữ, khi 50 tuổi, Đức Khổng mới biết Mệnh Trời. [4]

Tăng Tử kết thúc quyển Luận Ngữ, bằng lời giáo hoá của Đức Khổng:

“Chẳng hiểu Mệnh Trời, không đáng gọi là người quân tử.” [5]

Ta sẽ bàn riêng từng chữ.

A. Chữ Tính.

I. Tính là Bản thể con người.

Thời Khổng Tử, chữ Tính đã thông dụng, nhưng ít được bàn giải minh bạch. Mạnh tử là người đầu tiên bàn giải cặn kẽ về chữ Tính, và đề xướng thuyết Tính thiện.

Đến đời Tống, các danh Nho đã bàn giải thêm nhiều về chữ Tính.

Theo Mạnh tử và Chu Hi, Tính hàm súc vạn lý, nhưng phần cương lĩnh lớn lao gồm 4 điều mệnh danh là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. [6]

Minh Đạo tiên sinh thường nói: Tính cùng Đạo trời, nếu không tự đắc, thì không biết dược.”[7]

Trình Y Xuyên cho Tính là Chân Nguyên, là Lý, là “Vật năng sinh”. [8]

Trương Hoành Cừ cho rằng Tính là lẽ chí thiện, chí mỹ của Trời đất.[9]

Ngu Phong nói: Tính là lẽ mà trời đất thành lập, nên tính là điều kín nhiệm của quỉ thần. [10]

Lại nói: Tính bản nhiên ấy Chí Thiện. Đã bảo rằng Chí Thiện tức Tuyệt Đối. [11]

Vậy Tính hay Thiên Tính, Thiên Lý là nguồn mạch sự sống, là Chân, Thiện, Mỹ. Vì thế Trung Dung định nghĩa: “Tính là Hoàn Thiện, quang minh.” [12]

Tóm lại, Tính là cái gì chí quí, chí bảo mà trời đất đã phú thác cho ta.

Đó là cái gì toàn thiện, toàn mỹ. Chính vì thế mà Thiền Tông nói: Minh tâm, kiến tính. Tu là làm sáng cáiTâm, thấy được cái Tính của con người. Đó là Minh Đức nói trong Đại Học. Ngày nay ta gọi thế là Bản Thể con người. Đó cũng chính là Lương Tâm con người.

II. Tính và Tâm.

Sự khảo sát này đưa đến 1 sự kiện hết sức quan trọng là sự phân biệt giữa Tính và Tâm. Theo quan niệm của các đại hiền triết Nho Giáo, thì Tính và Tâm khác nhau muôn trùng.

Tính là Thiên Tính, Thiên Lý; Tâm là Nhân tình, Nhân dục.

Tuy nhiên, đôi đằng vẫn có liên lạc mật thiết với nhau. Theo Chu Hi, Tính là Thái Cực; Tâm là Âm Dương. Tuy khác nhau trời vực, nhưng vẫn lồng vào nhau, như bóng với hình, tuy một mà hai, tuy hai mà một. [13]

Theo Trương Hoành Cừ, người ta ai ai cũng có hai tính: Một Tính bản nhiên của Trời đất phú cho, thì ai cũng lành, vì đó là lẽ Chí Thiện, Chí Mỹ của Trời Đất. Một Tính bẩm thụ của khí chất, mà khí chất có dày, có mỏng, trong đục khác nhau, thành thử tính ấy tuỳ sự bất đồng của khí chất, mà trở nên lành hay dữ. Kẻ bẩm thụ được khí chất tốt đẹp, trong trẻo thì tính thiện. Kẻ bẩm thụ phải khí chất mỏng manh, vẩn đục thì tính ác. Tuy nhiên, một người dù hung ác đến mực nào, nếu biết đổi tính ác kia đi, sẽ giữ được nguyên cái tính lành, là tính vốn có của mình.[14]

Theo Mạnh Tử và Chu Hi, thì Tính hàm súc vạn lý, gồm đủ: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. [15]

Con Nhân Tâm chỉ có Tứ Đoan, tức là bốn mầm mống của 4 đức nói trên. Nghĩa là Tâm chỉ có lòng: Tu Ố, Từ Nhượng, Trắc Ẩn, Thị Phi. [16] Ta có thể hình dung bằng hình vẽ sau:

(Hình vẽ Nhân Tâm, Đạo Tâm hay Tâm và Tính.)

*************           

Các tầng lớp trong con người đối chiếu với các Đạo Giáo và các Triết thuyết.

III. Quan niệm đối chiếu.

Quan niệm về Tính, sự phân biệt giữa Tính và Tâm của Khổng giáo, đem đối chiếu với các chủ trương của các hiền triết Đông Tây, sẽ không thấy chi sai biệt.

Các đại hiền triết Đông Tây, cũng như các danh nho lịch đại, đều cố tiến vào đáy thẳm tâm hồn, để tìm cho ra Căn Cơ Tâm Hồn mà các Ngài cho là Tuyệt đối Thể bất biến trường tồn, vừa tế vi huyền diệu, vừa mênh mông bao quát vũ trụ.

Ý Thức (Conscience Psychologique) hay nói cách khác những hiện tượng Tâm Lý (Phénomènes psychiques) góp lại dưới danh từ Tâm Hồn, mới chỉ là những hiện tượng phù phiếm, chứ chưa phải là Bản Thể Tâm Hồn.

Dưới lớp ý thức phù phiếm, biến thiên đó còn có Tiềm Thức mênh mông làm Căn Bản Tâm Hồn.

Mỗi học thuyết triết học lại dùng những danh từ riêng để diễn tả Căn Bản Tâm Hồn ấy. Đó là:

—Atman (Đại Ngã) trong triết học Bà La Môn.

—Chân Như, Phật tánh, Bản Lai Diện Mục v.v… trong Phật Giáo.

—Đạo (Logos) của Philon, của Plotin và của thánh Jean.

—Toàn—Nhất (L’Un—Tout) của Hartmann.

—Tuyệt Đối Thể (Absolu) của Shelling.

—Vô Thức Đại Đồng (Inconscient Collectif) của Carl Jung.

—Tự Thể (Noumène) của Kant.

—Thực Thể (L’Être)

—Tâm Đại Đồng (Conscience Universelle)

—Thiên Địa chi Tâm (Conscience Cosmique) trong Siêu Hình Học Âu Châu.

—Đạo của Lão tử. v.v…

Các thánh hiền trong Khổng giáo chủ trương trong Tâm có Tính, dưới lớp “Nhân Tâm nghiêng ngửa” còn có nền tảng “Đạo Tâm siêu vi ẩn áo”, thì các hiền thánh Đông Tây cũng chủ trương tâm hồn ta có 2 phần: 1 phần thẳm sâu, ẩn áo, huyền vi, cao siêu, linh diệu, hoàn thiện, tuyệt đối, hằng cửu, bất biến, đó là Bản Thể, Bản Tính nhân loại; một phần là Ta, biến thiên, nhỏ nhoi, hèn mọn, cần được uốn nắn, đẽo gọt, rũa mài.

Hai phần đó là:

—Đại Ngã, Tiểu Ngã trong Bà La Môn,

—Chân Tâm, Vọng Tâm trong Đạo Phật,

—Đạo và Tâm trong Đạo Lão.

—Đạo Tâm và Nhân Tâm trong đạo Nho.

—Thần và Hồn hay Ruah và Nephesh (Do Thái)

—Thần (Pneuma) hay Hồn (Psuche) Hi lạp.

—Tân Ước và Cựu Ưởc cũng dùng các chữ Thần Hồn như Do Thái và Hi Lạp.[17]

—Thần (The Nus, La Divine Raison), Hồn (Psuche) trong các môn phái Triết Học Âu Châu.

B. Chữ Mệnh.

Chữ Mệnh vừa là Mệnh Trời vừa là Định Mệnh con người.

Vậy Mệnh Trời muốn gì và định mệnh con người sẽ ra sao?

Đạo Nho cho rằng: Trời muốn con người tận thiện mình, hiển dương tính Trời, để kết hợp với Trời, thông phần vinh hiển của Trời.

Kinh Thi viết:

“Mệnh Trời ấy há đâu có dễ,

Muốn cho ta đùng kể tư thân,

Biểu dương, phóng phát Thiện Chân…”[18]

Tất cả pho Kinh Dịch cốt dạy ta thấu hiểu căn bản con người dể hoàn tất sứ mạng con người. [19]

Thiệu Khang Tiết chủ trương sự biến hoá củavạn vật rồi ra cũng sẽ kết thúc bằng sự hoàn thiện. Ông viết: Nhất biến thành vạn, rồi ra Vạn lại trở về Nhất, mà Nhất chính là “Thiên Địa chi tâm”, là “Tạo Hoá chi Nguyên” [20]

Ta nên nhớ: Định Mệnh con người thì trước sau ai cũng như ai, cũng đều phải tiến tới hoàn thiện, hoà đồng,hợp nhất với Trời, vì vậy cần có một thời gian vô cùng tận. Còn số mệnh, hay số kiếp, số phận con người thì có giàu nghèo, sướng khổ khác nhau.

Cho nên muốn hiểu Mệnh Trời không phải là dễ.

Dịch viết: “Phải thông suốt lý lẽ, am tường bản tính, mới có thể thấu đáo được Thiên Mệnh.”[21]

Vì hiểu được Mệnh Trời, Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn đã nên như những vì sao sáng, chiếu diệu tinh quang cho tới những thế hệ nay. Vì hiểu được Mệnh Trời, nên Nghiêu, Thuấn đã:

“Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng Trời.”[22]

Vì hiểu Mệnh Trời, Thành Thang đã cố đạt tới hoàn thiện, tới tinh hoa nhân loại, Hạ Võ đã cố đạt tới Trung Dung. Sự hoàn thiện ấy gọi là Đức, là Nhân, là Kính, là Thành; lời tuy khác, nhưng ý là một, nghĩa là không ngoài sự làm sáng tỏ nguồn mạch kỳ diệu của tâm hồn. [23]

Vậy Mệnh Trời là muốn cho ta tìm cho ra Bẩn Thể mình, theo tiếng lương tâm, phục tòng Thiên Lý, tận thiện mình để kết hợp với Trời.

Đó cũng la chủ trương “Qui Nguyên Phục Mệnh” của Đạo Lão.

“Muôn loài sinh hoá đa đoan,

Rồi ta cũng phải lai hoàn Bản Nguyên,

Hoàn Bản Nguyên, an nhiên Phuc Mệnh,

Phục Mệnh rồi, trường vĩnh vô cùng.” [24]

Nhà bác học Lecomte du Nouy, gần đây cũng viết trong quyển Định Mệnh con người: “Mọi người hãy ghi nhớ rằng định mệnh con người rất cao quí. Con người xin đừng bao giờ quên Tàn Lửa Trời trong thâm tâm mình. Con người có toàn quyền khinh miệt hay làm tiêu ma ngọn lửa thiêng đó, nhưng cũng có toàn quyền tiến tới Thượng đế bằng cách ra công, ra sức hoạt động với Ngài và vì Ngài. “[25]

Như vậy, theo Tiên Hiền, Tính với Mệnh thật là hoàn toàn, thật là cao sang.

Tính, Mệnh là điểm Trời, Người gặp gỡ.

Trương Tử viết: “Tinh hoa Trời ban cho người gọi là Mệnh, Tinh Hoa người thụ hưởng nơi Trời gọi là Tính.” [26]

Ngô Thảo Lư viết: Tính hay Mệnh đều là Thái Cực. [27]

Dở lại những trang sách cũ, ta mới thấy đối với các vị Thánh Hiền ngày xưa, Tính Mệnh là ngọc châu vô giá. Tính là Thiên Tính, Thiên Lý, Thiên Ý, cho nên theo “Tính Tự Nhiên” (suất Tính) là lý tưởng của các Ngài.

Thực hiện được Thiên Tính, Thiên Lý, Thiên Mệnh là đạt được định mệnh cao sang của con người, là thuận Mệnh Trời.

Có thể nói được rằng: hai chữ Tính Mệnh là khởi điểm và là cùng điểm của lịch sử nhân loại. Vì thông phần Tính Trời, nhân loại sẽ thực hiện được Mệnh Trời lúc lịch sử nhân loại cáo chung, nghĩa là nhân loại sẽ đạt tới Toàn Thiện.

————————————–
**************************************           

CHÚ THÍCH

[1] Luận Ngữ, Công Dã Tràng, V, 12.

[2] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu, chương cú thượng, tiết 2.

[3] Đa ngôn số cùng, bất như thủ trung.

多 言 數 窮, 不 如 守 中。

Lão tử, Đạo đức kinh, chương V.

[4] Luận Ngữ, Vi Chính II.

[5] Luận Ngữ, quyển 10, Nghiêu viết, Đệ nhị thập.

[6] Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 140—141. Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Thượng, 6.

[7] 性 與 天 道, 非 自 得 之, 則 不 知。

Tính dữ Thiên Đạo, phi tự đắc chi, tắc bất tri.

Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 78.

[8] Tống Nho, Bửu Cẩm, tr. 89.

[9] Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 62.

[10] 性 也 者, 天 地 之 所 立 也。

 Tính dã giả, thiên địa chi sở lập dã.

Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 114.

[11] Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 114, 115, và 119.

[12] 自 誠 明 謂 之 性。

Tự thành minh vị chi Tính.

Trung Dung, chương XXI.

[13] 性 猶 太 極 也; 心 猶 陰 陽 也; 太 極 只 在 陰 陽 之 中;

 非 能 離 陰 陽 也; 然 之 論 太 極 自 是 太 極, 陰 陽 自 是 陰 陽。

 惟 性 與 心 亦 然. 所 謂 一 而 二,二 而 一 也。

Tính do Thái Cực dã; Tâm do Âm Dương dã: Thái Cực chỉ tại Âm Dương chi trung, phi năng ly Âm Dương dã. Nhiên nhi luận chi, Thái cực tự thị Thái Cực, Âm Dương tự thị Âm Dương. Duy Tính dữ Tâm diệc nhiên. Sở vị Nhất nhi Nhị, Nhị nhi Nhất dã.

Le philosophe Tchou Hi, sa doctrine, son influence, Stanislas le Gall, S.J. p. 112.

[14] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Chương Cú Thượng, 6.

Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 140—141.

[15] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Chương Cú Thượng, 6.

Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 140—141.

[16] Như chú 15.

[17] xin xem: II, Thessaloniciens 4, 23; I Cor. 2, 14; Romains 5, 5; và 2, 29; 7,6;

II Cor. 3, 6; Galates 3, 3; Mat. 10, 39; Marc 7, 34, 35; Luc 17, 23; Jean 12, 25, Jude 19;

Ezechiel 36,27; 18, 4; Psaume 116, 8; Psaume 78, 50; Isaie 53, 12; Bible de Jesrusalem trang 1497, chú thích B; tr. 1491, chú thích g; I Pierre 18.

Rất tiếc Giáo Hội Công Giáo lại không chấp nhận con người có Thần. Công đồng Latran IV (1215) và Vatican I (1869—1870) đã xác nhận con người chỉ có 2 phần Hồn Xác, và không chấp nhận quan niệm Tam Tài: Xác, Hồn, Thần của phái Gnostiques, Manichéens, và Apollinaristes v.v… Như vậy là đi ngược lại với Thánh Hiền Thiên Cổ Tây Đông, nhất nhất đều chấp nhận quan niệm Tam Tài:  Xác, Hồn, Thần.

[18] Mệnh chi bất dị, vô át nhĩ cung, tuyên chiêu nghĩa văn,

命 之 不 易, 無遏 爾 躬, 宣 昭 義 文。

Kinh Thi, Đại Nhã, Văn vương chi thập tam chi nhất.

[19] Kỳ vi thư dã, quảng đại tất bị, dĩ thuận Tính Mệnh chi lý, thông u minh chi cố, tận sự vật chi tình, nhi thị khai vật, thành vụ chi Đạo.

其 為 書 也 廣 大 悉 備, 以 順 性 命 之 理, 通 幽 明 之故,

盡 物 之 情, 而 開 示 開 物 成 務 之 道。

Dịch Kinh Đại toàn, Chu Dịch Trình Tử.

[20] Thiên Địa vạv vật mạc bất dĩ Nhất vi bản nguyên; ư nhất nhi diễn chi dĩ vi Vạn, cùng thiên hạ chi số nhí phục quy ư Nhất, NhẤt giả, hà dã? “Thiên địa chi tâm” dã, “Tạo Hoá chi nguyên” dã.

天 地 萬 物 莫 不 以 一 為本 原, 於 一 而 衍 之 為 萬,

窮 天 下 之 數 而 復 歸 於 一。 一 者 何 也。

天 地 之 心 也, 造 化 之 原 也。

Tống Nguyên Học Án, q. 10, tr. 50.

[21] Cùng Lý tận Tính dĩ chí ư Mệnh.

窮 理, 盡 性 以 至 於 命。

Dịch, Thuyết quái.

[22] Duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết Trung.

惟 精 惟 一, 允 執 厥 中。

Kinh Thư.

[23] “Tinh Nhất chấp Trung” Nghiêu Thuấn tương thụ chi tâm pháp dã, Kiến Trung, kiến Cực , Thương, Thang, Chu, Vũ tương truyền chi tâm pháp dã. Viết Đức, viết Nhân, viết Kính, viết Thành, ngôn tuy thù, nhi Lý tắc nhất: Vô phi sở dĩ minh thử Tâm chi diệu dã.

精 一 執 中, 堯 舜 相 授 之 心 法 也。

建 中, 建 極 商 湯 周 武相 傳 之 心 法 也。

曰 德, 曰 仁, 曰 敬 曰 誠, 言 雖 殊,

而 理 則 一﹕ 無非 ,所 以 明 此心 之 妙 也。

Kinh Thư Đại Toàn, quyển I, chú.

[24] Phù vật vân vân, các qui kỳ căn, qui căn viết tĩnh, Phục Mệnh viết Thường,

夫 物 芸 芸, 各 歸 其 根, 歸 根 曰 靜, 復 命 曰 常。

Đạo Đức Kinh, chương 16.

[25] Let every man remember that the destinyof mankind is incomparable… And let him above all, never forget that the Divine Spark is in him, in him alone, and that he is frê to disregard it, to kill it, or to come closer to God by showing his eagerness to work with Him and for Him.”

Human Destiny. Preface.

[26] Trương Tử viết: Thiên thụ ư nhân tắc vi Mệnh, nhân thụ ư Thiên tắc vi Tính.

寂 子 曰﹕ 天 授 於 人 則 為 命, 人 受 於天 則 為 性。

Wieger, Textes Philosophiques tome II, p. 191—192.

[27] Đạo dã, Lý dã, Thành dã, Thiên dã, Đế dã, Thần dã, Mệnh dã, Tính dã, Đức dã, Nhân dã, Thái Cực dã, danh tuy bất đồng, kỳ thực nhất dã.

道 也, 理 也, 誠 也, 天 也, 帝 也, 神 也, 命 也,

性 也,性 也, 德 也, 仁 也, 太 極 也,名 雖 不 同, 其 實 一 也。

Tống Nguyên Học Án, q. 12, tr. 8.

******************************           

CHƯƠNG XXV

TIỂU NHÂN, QUÂN TỬ, THÁNH NHÂN.

Các sách Nho thông thường chỉ bàn đến Tiểu Nhân và Quân Tử, ít khi bàn về Thánh Nhân.

Khi thoạt soạn thảo bài này, tôi cũng chỉ muốn nói về quân tử và thánh nhân, nhưng suy đi, nghĩ lại, chỉ nói Tiểu Nhân hay Quân Tử, hay Quân Tử và Thánh Nhân đều chưa cho chúng ta một cái nhìn viên dung về các hạng người. Phải đề cập đến đủ cả ba hạng người: Tiểu Nhân, Quân Tử, Thánh Nhân mới giúp chúng ta có cái nhìn đứng đắn về con người, có một nhận định hẳn hoi về các mẫu người. Tiểu Nhân, Quân Tử và Thánh Nhân thực ra là phản ảnh Tam Tài:

Tiểu Nhân ứng với phần Địa, phần Vật, bao quát tất cả các lớp người chuyên vụ ngoại cảnh, vật chất, thân xác hữu hình.

Quân Tử úng phần Nhân, phần Tâm, bao quát những lớp người lo trau dồi tâm trí, mong ăn ở xứng đáng với danh nghĩa con người, ăn ở với mọi người vẹn tình, vẹn nghĩa.

Thánh Nhân ứng với phần Thiên, bao quát những hạng người mong mỏi vươn lên tới tinh hoa nhân loại, đạt Chân, đạt Thiên, Dữ Thiên Đồng Đức.

Và đây là quan niệm Tiểu Nhân, Quân Tử và Thánh Nhân theo Nho giáo.

A. TIỂU NHÂN.

Tiểu nhân theo Nho Giáo, là những người hạ cấp, xét về phương diện đạo đức, phẩm cách. Cho nên, một người, dẫu giàu có muôn chung, nghìn tứ, một người dẫu công danh tuyệt đỉnh, ngôi vị rất cao, nhưng nếu mặt người, lòng thú, tư cách đê hèn, thì Nho Giáo vẫn liệt họ vào hàng Tiểu Nhân.

—Lý tưởng của Tiểu Nhân là Lợi và Dục (Quân tử dụ ư Nghĩa,Tiểu Nhân dụ ư lợi: 君 子 喻 於 義, 小 人 喻 於 利。 Luận Ngữ, Lý Nhân IV, 16), mặc tình cho vật dục và ngoại cảnh khiên dẫn, không coi sao chuyện sa đoạ về phương diện đạo đức, tinh thần. (Tiểu Nhân hạ đạt 小 人 下 達。 Luận Ngữ, Hiến vấn, XIV, 24)

—Tiểu Nhân chỉ cần bề ngoài, cần hư danh, miễn sao che mắt thế gian được là đủ, còn trong dạ xấu xa, gian ác thế nào cũng không sao. (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân 君 子 求 諸 己, 小 人 求 諸 人。Luận Ngữ, Vệ Linh Công XV, 20; Xảo ngôn, loạn đức 巧 言 亂 德 Luận Ngữ XV, 26; Tiểu Nhân vô kỵ đạn dã 小 人 無 忌 憚 也 Trung Dung, Chương 2).

—Họ thường hợm hĩnh, kiêu căng, nhưng lòng dạ chẳng bao giờ được an vui. (Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái. 君 子 泰 而 不 驕, 小 人 驕 而 不 泰。Luận Ngữ, Tử Lộ XIII,26)

—Họ thích a dua bè đảng (Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà 君 子 和 而 不 同, 小 人 同 而 不 和. Luận Ngữ, Tử Lộ 23)

—Họ sẵn sàng hại người để đạt ý mình. (Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác, Tiểu nhân phản thị.君 子 成 人 之 美, 不 成 人 之 惡, 小 人 反 是Luận Ngữ, Nhan Uyên, XII, 15). Họ mà lên cầm quyền trị nước là cái đại hoạ cho quốc gia. (Tiểu nhân chi sử vi quốc gia, tai hại tịnh chí 小 人 之 使 為 國 家, 災 害 並 至。 Đại học, X)

Tóm lại, Tiểu nhân chỉ lo trau dồi những phần thấp kém trong con người, như Lợi và Dục, vì thế gọi là Tiểu Nhân (Tùng kỳ tiểu thể vi Tiểu Nhân, 從 其 小 體 為 小 人Mạnh Tử, Cáo tử chương cú thượng, 15). Họ hoàn toàn phóng ngoại, và đi theo con đường bất nhân. (Khổng Tử viết: Đạo nhị: Nhân dữ Bất Nhân nhi dĩ hĩ. 道 二﹕ 仁 與 不 仁 而 已 矣 Mạnh tử Ly Lâu chương cú thượng.)

B. QUÂN TỬ:— .

Quân tử là người:

—Biết mục đích cao cả của đời mình (Bất tri Mệnh vô dĩ vi quân tử 不 知 命 無 以 為 君 子 (Luận Ngữ Nghiêu viết XX, 3)

—Có hoài bão cao đẹp. (Quân Tử thượng đạt 君 子 上 達 Luận Ngữ Hiến Vấn, 24)

—Cố tu Đạo, theo Đạo (Sĩ chí ư Đạo 士 志 於 道 Luận Ngữ , Lý Nhân IV, 9; Quân tử hoài đức 君 子 懷 德 Luận Ngữ , Lý Nhân IV, 2)

—Đi trên đường nhân nghĩa không ham danh lợi (quân tử mưu Đạo bất mưu thực 君 子 謀 道 不 謀 食 Luận Ngữ , XV, 31)

—Lo hoàn thiện mình (Cố quân tử bất khả dĩ bất tu thân 故 君 子 不 可 以 不 修 身 Trung Dung, XX).

—Tin ở sức mình (Chính kỷ nhi bất cầu chư nhân 正 己 而 不 求 諸 人 , Trung Dung, XX.)

— Sáng suốt, ham học, biết thích thời (Tử viết: Quân tử bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc bất khả phất bạn hĩ phù 子 曰﹕ 君 子 博 學 於 文, 約 之 以 禮, 亦 不 可 弗 畔 矣 夫

Luận Ngữ , Ung Dã VI, 25; quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch mịch dã, nghĩa chi dĩ tỉ.

— 君 子 之 於 天 下, 無 適 也, 無 莫 也, 義 之 以 比。 Luận Ngữ , Lý Nhân IV, 10)

—Nói ít, làm nhiều (quân tử dục nột ư ngôn, nhi mẫn ư hành 君 子 欲 訥 於 言 而 敏 於 行 Luận Ngữ , Lý Nhân IV, 22)

—Thương yêu mọi người (Quân tử thành nhân chi mỹ 君 子 成 人 之 美。 Luận Ngữ Nhan Uyên XII, 15)

—Lúc nào cũng ung dung, thư thái (quân tử thản đãng đãng, tiểu nhân trường thích thích 君 子 坦 蕩 蕩, 小 人 長 戚 戚 Luận Ngữ Thuật nhi VII, 36)

—Lúc nguy cơ vẫn bình tĩnh (quân tử cố cùng 君 子 固 窮。 Luận Ngữ XV, 1)

—Tóm lại, người quân tử luôn luôn trau dồi cái đại thể nơi con người, tức là trau dồi tâm thần. (Dưởng kỳ đại giả vi đại nhân 養 其 大 者 為 大 人。 Mạnh tử Cáo tử chương cú thượng, 15).

—Ở thì ở vào chỗ quảng đại của thiên hạ, đứng thì đứng vào chỗ chính đáng của thiên hạ, đi thì đi trên con đường lớn của thiên hạ, đắc chí thì cùng với nhân dân noi theo đạo nghĩa. Giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo nàn không thay đổi lòng, vũ lực không khuất phục được chí lớn, như thế mới là trượng phu. [1]

Đó là người quân tử mà Vương Dương Minh đã phác hoạ như sau: “Người quân tử lấy trung tín làm lợi, lấy lễ nghi làm phúc. Nếu trung tín, lễ nghi mà không còn, thời tuy lợi lộc muôn chung, tước đến vương hầu, cái quý ấy người quân tử cho là họa với hại.” [2]

Đó là người quân tử mà Kinh Thi đã khen bằng những câu thơ:

Kìa xem bên nẻo sông Kỳ,

Tre non mới mọc xanh rì vườn ai,

Người đâu văn vẻ hỡi người,

Như cắt, như đánh, rũa mài bấy nay.

Rực rỡ thay, lẫm liệt thay,

Hỡi người quân tử biết ngày nào quên! [3]

Như vậy, đã rõ ràng là 2 hạng người tiểu nhân và quân tử đi hai đường hướng khác nhau, có hai lối sống khác nhau.

Tuân Tử cho rằng: “Người quân tử chi phối, sai sử được ngoại cảnh, ngoại vật; kẻ tiểu nhân bị ngoại cảnh, ngoại vật sai sử, khiên dẫn.” [4]

Tuân Tử cũng cho rằng: Người quân tử mở rộng cái tâm ra thì hợp với Trời mà thuận Đạo; thu cái tâm nhỏ lại thì lo sợ điều nghĩa mà có tiết độ…

Kẻ tiểu nhân thì không thế, mở rộng cái tâm ra thì ngạo mạn, hung bạo, thu nhỏ cái tâm lại thì dâm đãng và nghiêng lệch. [5]

Ta có thể mượn lời Ramakrishna kết thúc lời bình luận về quân tử và tiểu nhân:

“Con người sinh ra mang theo hai khuynh hướng: Một là Giác, khuynh hướng này thúc đẩy họ đi tìm con đường giải thoát, hai là Mê, khuynh hướng này thúc đẩy họ lăn vào đời sống trần hoàn và nô lệ.

Lúc mới sinh ra, thì hai khuynh hướng cân bằng như hai đĩa cân. Thế rồi trần tục đặt trên 1 đĩa cân những thú vui thế tạm; còn bên đĩa cân kia, Trời đặt những hứa hẹn của Ngài. Nếu đĩa cân nghiêng về hướng Mê, thì con người sẽ chọn trần tục và sẽ bị lôi cuốn về vật chất thế tục; nếu con người chọn tinh thần thì đĩa cân Giác Ngộ sẽ nâng họ lên tới Thượng đế. [6]

******************************           

C. THÁNH NHÂN: —

Nhưng quân tử chưa phải là mẫu người lý tưởng của Khổng Giáo. Đó mới là giai đoạn “thăng đường”, chưa phải giai đoạn “nhập thất”. [7]

Còn phải tu luyện tâm hồn cho tới mức cao minh, hoàn thiện để trở nên một thánh nhân phối hợp cùng thiên địa.

“Đâu có tàu bè, xe cộ đi lại, đâu sức người có thể bôn ba tới, đâu có vòm trời che, đất chở, đâu có mặt trời, mặt trăng soi sáng, đâu có sương rơi, móc đọng, đâu có nhân loại, thì đều kính mến bậc đó. Cho nên nói Thánh Nhân phối hợp với Trời. [8]

Tóm lại, tu thân mới đầu thì đặt mục tiêu nên chính nhân, quân tử, sau đó là nên thánh hiền.[9]

Quan niệm về Thánh Nhân theo Tứ Thu, Ngũ Kinh.
Trong cuộc đối thoại với Hạo Sinh Bất Hại, Mạnh Tử đã định nghĩa và định vị trí Thánh Nhân như sau:

…Hạo Sinh Bất Hại, người nước Tề, hỏi Mạnh Tử: “Nhạc Chính Tử là người thế nào?” Mạnh Tử đáp: “Là người Thiện và Tín.” Hạo Sinh Bất Hại hỏi tiếp:” Sao gọi là Thiện? Sao gọi là Tín?” Mạnh Tử giải: “Người mà hành vi nhân phẩm đáng yêu, đáng kính gọi là Thiện. Người làm Thiện theo lương tâm và Bản Tính không cưỡng ép và không giả trá, gọi là Tín. Người mà lòng thiện đày đủ phát lộ ra khắp thân thể và mỗi cử động đều hợp với ý lành, gọi là Mỹ. Người có Mỹ Đức đày đủ và làm nên sự nghiệp, khiến cho cái mỹ đức mình chói lói trên đời, gọi là Đại. Đã là bậc Đại Nhân, lại đứng ra hoằng hoá cho đời, khiến cho thiên hạ đều quay về nẻo Thiện, gọi là Thánh. Đã là bậc Thánh cảm hoá cho đời, thế mà sở hành và trí huệ mình chẳng ai ức đạc nổi, biến hoá vô tận, thông với trời đất gọi là Thần…

Trong 6 bậc đó, Nhạc Chính Tử dự vào 2 bậc thấp, còn 4 bậc kia thì ngoài sức của người vậy. [10]

Theo định nghĩa của Mạnh Tử, thì Thánh Nhân thật là hi hữu, ngàn năm một thủa.

Hữu Nhược nói:

“Người năm bảy đấng,

Kìa kỳ lân vẫn giống thú rừng,

Phượng hoàng vẫn loại chim muông,

Thái Sơn vẫn đúc theo khuôn đống gò.

Sông với biển vẫn nhà ngòi lạch,

Thánh với phàm một phách thế nhân.

Nhưng Thánh, phàm muôn phân ngàn biệt,

Vì thánh nhân bạt thiệp, siêu phàm….[11]

Thánh nhân bạt thiệp siêu quần, vì các Ngài là những người thông minh, duệ trí, [12] nhân đức tuyệt vời, noi gương Trời mà hành sự, [13] sống cuộc đời thánh thiện, phối hợp với Thượng Đế. [14]

Dịch Kinh viết: “Thánh nhân đức độ sánh đất Trời, sáng làng như 2 vầng nhật nguyệt, biến thông tựa bốn mùa, giản dị, hoàn thiện giống như Trời.” [15]

Trung Dung đề cập tới Thánh Nhân nhiều nhất, với những lời lẽ đẹp dẽ nhất. Dưới đây xin trích một trong nhiều đoạn:

Trung Dung viết:

Chỉ có đấng chí Thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh, trí huệ,

Y như thể có Trời ẩn áo, giáng lâm.

Mới khoan dung, hoà nhã, ôn thuần,

Y như thể có dung nhan Trời phất phưởng.

Phấn phát, tự cường, kiên cương, hùng dũng,

Ynhư là đã cầm giữ được sức thiêng.

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.

Nói năng văn vẻ, rõ ràng, tường tận,

Y như là chia được phần thông suốt tinh vi,

Mênh mang, sâu thẳm ứng hiện phải thì.

Mênh mang như khung Trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm,

Thấy bóng Ngài, dân 1 dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động, muôn dân đều an lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung Quốc,

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu có được Trời che và đất chở,

Đâu còn nhật nguyệt 2 vầng tở mở,

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó Ngài vẫn được tôn sùng, quí báu,

Thế mới gọi là “cùng Trời phối ngẫu” [16]

Quan niệm về Thánh Nhân theo Chu Hi.
Trong quyển Chu Hi học án của Linh Mục Stanislas le Gall dòng Tên [17] có một đoạn bình luận về Thánh Nhân như sau:

“Trên mẫu người quân tử còn có Thánh Nhân, kiệt tác của Tạo Hoá, tinh hoa của nhân loại.

“Xét về phương diện Bản Thể, phương diện “Thiên địa chi tính”, thì Thánh Nhân cũng như mọi người đều thụ hưởng như nhau; nhưng điểm làm cho Thánh Nhân khác biệt chính là tại “khí chất chi tính” ở nơi Thánh Nhân tinh toàn, thuần túy, y như hạt kim cương trong suốt, mặc tình cho ánh sáng rọi suốt qua.

Chu Hi nói: “Con người là tinh hoa của ngũ hành, nhưng Thánh Nhân lại là tinh hoa của tinh hoa đó.”

Trong những thế kỷ tiếp giáp với thời kỳ nguyên thuỷ, khi hoàn võ còn măng sữa, mới mẻ, khi khí chất hãy còn tinh khiết, thì dĩ nhiên có nhiều Thánh Nhân sinh: Đó là thời kỳ hoàng kim, có những thánh quân, minh triết trị dân, làm cho họ sung sướng. Hứa Dung Trai cho rằng đầu mỗi kỷ nguyên lại có một Thánh Nhân như Phục Hi. Vũ trụ càng già, càng cỗi, vật chất càng ô trọc, thì Thánh Nhân càng trở nên hiếm thấy, và hoàn võ dần dà lại quay về trạng thái hỗn mang nguyên thuỷ.[18]

“Dưới đây là những vị Thánh Nhân đã được công nhận:

1. Phục Hi (2852—2737) —2. Thần Nông (2757—2697) —3. Hoàng đế (2697—2597) —4. Nghiêu (2357—2255) —5. Thuấn (2255—2205) —6. Vũ (2205—2197) —7. Thành Thang (1766—1753) —8. Y Doãn (chết 1713) —9. Tỉ Can (1222) —10. Văn vương (1232—1135) —11. Vũ Vương (1196—1116) —12 Châu công (chết 1105) —13 Liễu hạ Huệ (khoảng 600) —Khổng tử (551—479).

“Vị thánh sau cùng lại là vị thánh được suy tôn, sùng thượng nhất, đó là Đức Khổng. Tử Cống có nói trong quyển V, tiết 6 Luân Ngữ: Thực Trời đã ban nhiều ân trạch, nhiều tài năng cho Đức Khổng. Ngài chính là vị Thánh,”[19]

Thánh Nhân chính là hiện thân cho mẫu người lý tưởng trong nhân loại, chính là tinh hoa nhân loại, chính là người đã thể hiện được sự toàn thiện. Sự toàn thiện ấy cũng còn được gọi là Thành (誠) là Chí Thành, Chí Thiện (至 誠 至 善), vì thế mà Rémusat đã dịch Thành là Toàn Thiện, Intorcetta đã dịch là Hoàn Thiện, Tinh Tuyền. Legge dã dịch là Tinh Tuyền không pha phách tà nguỵ. 20

Chu Hi cũng dịch là Chân Thực, không còn chút chi man muội, lỗi lầm.

“Thánh nhân, như vậy, có một đời sống hoàn toàn phù hợp với Thiên Lý. Cũng có thể nói, thánh nhân được mệnh danh là Thành, chính vì đã sống cuộc đời hoàn toàn phù hợp với tính Bản Nhiên, với Thiên Lý, và vì vậy đã phối hợp được với Trời Đất, đã sánh được với Trời Đất.

“Chu Liêm Khê cho rằng chữ Thành đồng nghĩa với Thái Cực, với Lý. Thái Cực hay Lý ấy, bất kỳ ai cũng có; nhưng khi Thái Cực hay Lý đã lồng vào hình hài, khí chất không tinh tuyền, thì ảnh hưởng sẽ bị giới hạn lại. Chỉ ở nơi Thánh Nhân giới hạn ấy mới không có. Thánh Nhân sống theo tính Bản Thiện của mình, nên thần trí người nhận định được hằng tính của mỗi vật, mỗi sự ; ý chí người hướng về Chân Thiện Mỹ không chút khó khăn, và sống trong đường nhân, nẻo đức, trong trật tự và bổn phận không chút chi vất vả.

“Nhiều người thường nghĩ thánh nhân “sinh nhi tri chi”, và cho là Thánh Nhân có khối óc thông minh, quán triệt, bao quát mọi sự, mọi điều. “Thánh nhân cũng thông sáng không lường như Thần Minh”…

“Nhưng Chu Hi cho rằng Thánh Nhân chỉ thông suốt những nguyên lý đại cương, và dễ dàng suy ra những áp dụng cụ thể hữu ích cho mọi người. [20]

“Đó cũng là ý kiến của Doãn Nhan Minh (1100), một nhà bình giải Luận Ngữ. Ông nói:” Tuy là bậc Thánh Nhân, thông minh, thiên phú và sinh nhi tri tri, đức Khổng thường nhắc đi, nhắc lại rằng Ngài ham học, hiếu học. Ta đừng tưởng đó là Ngài nói nhún nhường, để khuyến khích các đệ tử theo gương mà cố gắng. Không, Ngài chỉ biết những nguyên lý hằng cửu, còn những áp dụng đặc thù, cụ thể, ví như những chi tiết về lễ nghi hay nhã nhạc, những chuyện xưa, tích cũ, biến cố lịch sử cổ kim, thời Đức Khổng cũng phải học mới biết. Nhưng mỗi khi gặp những vấn đề nan giải khó khăn, Ngài liền thấu triệt dễ dàng, có những quyết định sáng suốt, những phán đoán xác đáng chính xác, minh triết, vì Ngài thông minh, tinh tế rất mực.

“Chu Hi cho rằng Thánh Nhân có một khối óc hoàn toàn trong sáng, hàm tàng vạn lý, vừa thoạt cảm xúc, liền thông suốt ngay.[21]

“Các bậc chí thánh đều tiên tri, tiên đoán được sự suy thịnh của các triều đại. Các Ngài biết trước được những điều hay dở xảy ra cho đất nước, bằng cách quan sát hiện tượng thiên nhiên, nhân tình, thế thái, hay bằng phương pháp bốc, phệ, thi, qui.

“Thánh nhân sở dĩ có cái nhìn tinh tế, thấu triệt, là vì lòng không bợn tư tà, dục vọng, cho nên mới nhìn thấu đáo được những điều tinh vi, huyền diệu.

“Thánh Nhân lại còn là những người có đức hạnh siêu việt, theo đúng Trung Dung, Trung Đạo, xử sự luôn theo chính lý. Mạnh tử nói: “các quan năng thì Trời ban cho mọi người, nhưng chỉ có Thánh Nhân tận dụng được quan năng mình, vì các Ngài sống hoàn toàn hợp với Chân Lý, hợp với lương tri, lương năng. [22]

“Bình đoạn này, Trình Tử cũng cho rằng Thánh Nhân theo đúng Thiên Lý, Thiên đạo, vì vậy đã tận dụng được quan năng mình. Phàm nhân tuy là có đạo lý trong mình, nhưng họ nào có biết, có hay; hiền nhân, quân tử, tuy biết và theo, nhưng không hoàn toàn triệt để; duy có Thánh Nhân là giữ vẹn Đạo Lý, cho nên mới sử dụng quan năng mình cho đúng mức,

“Thánh Nhân vì không bị tình dục quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung, thanh thản. Thiên lý, Thiên Đạo được nhập thể, được thể hiện nơi Ngài một cách sáng tỏ, để soi đường, dẫn lối cho kẻ khác.

“Ở nơi Thánh Nhân, mỗi động tác, mỗi cử chỉ, mỗi lời ăn, tiếng nói, ngay đến sự nghỉ ngơi yên lặng, cũng là những bài học cho các bậc chính nhân, quân tử. Những kẻ phàm phu, tục tử, nếu không được cải hoá, thời chỉ tại họ đã thâm căn, cố đế, trong tính hư nết xấu, và lòng họ đã hư hỏng. Còn thánh nhân luôn luôn có thể soi sáng nhân trí và cải hoá nhân tâm. [23]

“Ảnh hưởng của Thánh Nhân thật là vô biên như ảnh hưởng của Trời. Chu Hi nói: Cũng như xem bốn mùa vần xoay, xem vạn vật sinh hoá, thì biết được Thiên Lý biến dịch ở khắp nơi, mà chẳng cần Trời phải nói nên lời. Ở nơi Thánh Nhân cũng vậy, động hay tĩnh, nhất nhất đều khải minh nguyên lý huyền diệu, sự toàn thiện tinh tuyền sẵn chứa nơi người. Và Chu Hi kết luận hết sức hào hứng bằng lời sau: Thánh Nhân tửc là hiện thân của Trời. [24]

“Dịch Kinh từ lâu vẫn coi con người toàn thiện là có đức độ sánh với Trời.Dịch Kinh viết: Đức độ người ngang với đức độ Trời Đất, người sáng láng như hai vầng nhật nguyệt, biến thông tựa bốn mùa, ảnh hưởng người in tựa Thần Minh….

“Tử Tư trong bộ Trung Dung, cũng nương theo ý Dịch Kinh, chủ trương Thánh Nhân có thể chuyển hoá chúng nhân bằng gương mẫu và bằng lời giáo hoá, khiến chúng dân có thể tiến hoá đến cùng cực tinh hoa. Như vậy, Thánh Nhân đã giúp đất trời trong công cuộc sinh thành muôn vật, và cùng đất trời hợp thành Bộ Ba.

“Thánh nhân sánh vai với Trời, kết hợp với Trời. [25]

Những lời bình luận trên về Thánh Nhân rất là xác đáng. Nó đúng với quan niệm truyền thống Nho Giáo. Theo Kinh Thư, thiên Khang Cáo vua Thành Vương khi phong cho chú là Khang Cáo, đã khuyên Ông Khang phải cố gắng sao “cho đức độ cao vút tới Trời” (Hoằng vu Thiên).

Ông Khế bình ba chữ Hoằng vu Thiên như sau:

“Người ta ai cũng có Tính Trời. Tính Trời đó ở trong họ, như lửa vừa nhen nhóm, như suối vừa tung toả. Con người chỉ phải khuếch sung Tính Trời đó mà thôi. 26

Vũ Chính bình rằng: “Phải khuếch sung đức hạnh để hợp nhất với Trời.” [26]

KẾT LUẬN.

Liêm Khê tiên sinh có câu bất hủ:—

Thánh hi Thiên.

Hiền hi Thánh.

Sĩ hi hiền. (Chu Hi, Cận Tư Lục, q.2, tr. 1)

Thánh Nhân nuôi hi vọng Phối Thiên.

Hiền Nhân nuôi hi vọng trở thành Thánh Nhân.

Kẻ sĩ nuôi hi vọng trở thành Hiền.

Chúng ta hãy đảo nó ngược lại:

Sĩ hi Hiền, Hiền hi Thánh, Thánh hi Thiên. Ta sẽ thấy con đường tu thân cầu Đạo của chúng ta phải đi từ mẫu người quân tử, cho lên tới bậc Hiền Thánh, cuối cùng là lên tới tuyệt điểm tinh hoa, dữ Thiên đồng đức. [27]

Tóm lại trong con người chúng ta có 3 phần khinh trọng khác nhau. Một phần là xác, dính líu đến Địa, đến Vật. Thực vậy, vì có xác nên ta phải nương vào Đất, nương vào ngũ cốc, thảo mộc mà sống. Lại nữa, vì có xác, nên chúng ta cũng có đủ nhu cầu của các sinh vật khác như ăn uống, ngủ nghỉ.

Một phần là Hồn, thuộc Nhân. Chúng ta vì vậy, phải lo sao sống cho xứng đáng với danh nghĩa con người: Ngửng lên không hổ với Trời, cúi xuống không thẹn với người. (Ngưỡng bất quí ư Thiên; phủ bất tạc ư nhân 仰 不 愧 於 天, 俯 不 怍 於 人), cùng khổ không mất nghĩa, hiển đạt không lìa đạo (cùng bất thất nghĩa, đạt bất ly đạo 窮 不 失 義, 達 不 離 道 Mạnh tử, Tận Tâm Thượng, 9).

Một phần là Thần thuộc Thiên. Đó là cái phần linh thiêng nhất trong con người chúng ta, cái phần mà chúng ta phải lo tồn dưỡng.

Thần có một và ở khắp mọi nơi, thì cái Thần của mình tức là Thần của Trời Đất. Vậy nên người quân tử phải Thận Độc, nghĩa là phải kính cẩn lúc ở một mình, không dối mình bao giờ. Mình dối mình, tức là dối Trời Đất. Người mà Thận Độc thì có thể theo được Thiên Lý mà hành động. Đã theo được Thiên Lý mà hành động, thì ta là một cái vũ trụ riêng, sức Tạo Hoá ở ta, không bị vật khác đè nén được, mà ta lại có thể tể chế được các vật.

Nhận định trên đây về Thần là nhận định của Thiệu Khang Tiết. (Nho Giáo, Trần Trọng Kim, II, tr. 113). Nếu ta có thể hoành dương tư tưởng trên cho đến kỳ cùng, ta sẽ đạt tới Phối Thiên.

Thật vậy, nếu Thần ta và Thần Trời Đất là một, thì hãy sống sao cho Thần ta và Thần trời đất luôn duy nhất, bất khả phân. Tinh Hoa nơi ta là Tinh Hoa trời đất. Cố gắng đem tinh hoa trời đất vào trong lòng mình (Trung 忠), phát huy tinh hoa ấy ra bên ngoài, làm cho mọi người chia xẻ, và thông phần tinh hoa ấy, nắm giữ được tinh hoa ấy như mình (Thứ 恕). Đó chẳng phải là chỗ Đạt Đạo của Khổng Giáo sao?

*****************************           

CHÚ THÍCH

[1] Cư thiên hạ chi quảng cư, lập thiên hạ chi chính vị, hành thiên hạ chi đại dạo. Đắc chí dữ dân do chi, bất đắc chí độc hành kỳ đạo. Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu.

居 天 下 之 廣 居, 立 天 下 之 正 位, 行 天 下 之 大 道。

得 志 與 民 由 之, 不 得 志 獨 行 其 道。 富 貴 不 能 淫,

貧 賤 不 能 移, 威 武 不 能 屈。 此 之 謂 大 丈 夫

Mạnh tử Đằng văn Công chương cú hạ, 2)

[2] Quê Hương, số 5, tháng 11, 1959, tr. 9.

[3] Chiêm bỉ kỳ úc,

Lục trúc y y.

Hữu phỉ quân tử,

Như thiết, như tha,

Như trác như ma.

Sát hề, giản hề,

Hác hề, huyến hề,

Hữu phỉ quân tử,

Chung bất khả huyến hề.

瞻 彼 其 奧

譇 竹 猗 猗

耜 匪 君 子

如 切 如 磋

如 琢 如磨

樈 兮 閒 兮

冢 兮 喧 兮

耜 匪 君 子

粖 不 可 諼 兮。

Kinh Thi, Vệ Phong, Vệ nhất chi ngũ, Kỳ Úc, 1.

Kinh Thi Tản Đà, tr. 168; Thi Kinh, Quốc Phong, Kim Y Phạm Lệ Oanh, tr. 225.

Đọc thêm Trần Trọng Kim, Nho giáo I, tr. 106—134; 240—243; 306—320 về quân tử, tiểu nhân,.

[4] Quân tử dịch vật, tiểu nhân dịch ư vật.

君 子 易 物, 小 人 易 於 物。

(Tu thân). Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển I, tr. 307.

[5] Quân tử đại kỳ tâm đắc thiên nhi đạo, tiểu tâm tắc uý nghĩa nhi tiết…

 Tiểu nhân tắc bất nhiên, đại tâm tắc mạn nhi bạo, tiểu tâm tắc dâm nhi khuynh

君 子 大 其 心 得 天 而 道, 小 心 則 畏 義 而 節。

小 人 則 不 然,大 心 則 慢 而 暴, 小 心 則 淫 而 傾。

Trấn Trọng Kim,Nho giáo, q. I, tr. 307.

[6] L’homme en naissant apporte deux tendances avec lui dans ce monde: l’une (vidya= sagesse) qui le pousse à chercher le chemin de sa libération, l’autre (avidya= ignorance) qui l’entraine vers la vie terrestre et vers l’esclavage. A la naissance, ces deux tendances sont en équilibre comme les deux plateaux d’une balance. Bientôt le monde pose d’un côté ses plaisirs et ses jouissances. Sur l’autre plateau, l’esprit pose alors l’attirance de ses promesses. La balance s’incline du côté avidya, si l’homme choisit le monde et il se trouve entraine vers la terre; mais s’il fait l’élection de l’esprit, le plateau de vidya s’élèvera jusqu’à Dieu…

J. Herbert, L’Enseignement de Ramakrishna, pp 5—6.

[7] Tử viết: Do chi sắt, hề vi ư Khâu chi môn? Môn nhân bất kính Tử Lộ. Tử viết: Do dã, thăng đường hĩ, vị nhập thất hĩ.

子 曰﹕ 由 之 瑟, 奚 為 於 丘 之門。 門 人 不 敬 子 路。

子 曰﹕ 由 也, 升 堂 豕o, 未 入 室 矣。

Luận Ngữ , Tiên Tấn XXI, 1.

—Tử Trương vấn thiện nhân chi đạo, Tử viết: bất tiễn tích, diệc bất nhập ư thất.

子 張 問 善 人 之 道。 子 曰; 不 踐 跡 亦 不 入 於 室。

Luận Ngữ Tiên tấn XI, 19.

[8] Châu xa sở chí, nhân lực sở thông, thiên chi sở phúc, địa chi sở tải, nhật nguyệt sở chiếu, sương lộ sở truỵ, phàm hữu huyết khí giả, mạc bất tôn thân, cố viết phối thiên.

舟 車 所 至, 人 力 所 通, 天 之 所 覆, 地 之 所 載,

日 月 所 照, 霜 露 所 墜, 凡 有 氣 血 者, 莫 不 尊 親, 故 曰 配 天。

Trung Dung, XXXI, 3.

[9] Thuỷ ư vi sĩ, chung ư Thánh Hiền 始 於為士, 終於聖 賢。

Lịch sử Triết Học Đông Phương, Nguyễn Đăng Thục, q. I, tr. 204.

[10] Mạnh Tử, Tận Tâm Chương cú hạ, 24.

[11] Hữu Nhược viết:” Khởi duy dân tai? Kỳ lân chi ư tẩu thú, phượng hoàng chi ư phi điểu, Thái Sơn chi ư khâu điệt, hà hải chi ư hàng lạo loại dã. Thánh Nhân chi ư dân, diệc loại dã. Xuất ư kỳ loại, bạt hồ kỳ tuỵ, tự sinh dân dĩ lai, vị hữu thịnh ư Khổng tử dã.

耜若 曰﹕ 麒 麟 之 於 走 獸, 鳳 凰 之 於飛 鳥, 泰 山 之於丘 垤,

河 海 之 於 行 潦 纇 也。 聖 人 之 於 民 亦 纇 也。

出 於 其 纇, 拔 乎 其 萃, 自 生 民 以 來, 未 有 盛 於孔 子 也。

Mạnh Tử, Công Tôn Sửu chương cú thượng, 2.

[12] Cẩu bất cố thông minh thánh trí, đạt Thiên Đức giả, thục năng tri chi.

 苟 不 固 通 明 聖 知 達 天 德 者, 孰 能 知 之。

Trung Dung, XXXII.

[13] Duy Thiên thông minh, duy Thánh thời hiến. (Chỉ có Trời là thông minh, chỉ có Thánh Nhân bắt chước Trời.)

惟 天 通 明, 惟 聖 時 憲。

Kinh Thư, Duyệt mệnh, tiết 3.

[14] Liêm Khê tiên sinh viết: Thánh hi Thiên, hiền hi Thánh, sĩ hi hiền.

 濂 溪 先 生 曰﹕ 聖 希天, 賢 希 聖, 士 希 賢。

Chu tử nguyên định, Cận tư lục, Tạp chú, q. II, tr. 1.

—Cố viết: phối Thiên 故 曰 配 天。

Trung Dung, XXXI.

[15] Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, giản dị chi đức phối nhật nguyệt, giản dị chi thiện phối chí đức.

 廣 大 配 天 地, 變 通 配 四 時, 簡 易 之 善 配 至 德。

Dịch kinh, Hệ Từ thượng, chương VI, 3.

[16] Trung Dung, XXXI.

[17] Stanislas le Gall (VươngXươngChỉ), Le philosophe Tchou Hi, sa doctrine, son influence, p. 63 et ss.

[18] Au—dessu du Sage (賢 人 ou 君 子) , brille d’un éclat exceptionnel le chef—d’oeuvre de la nature, l’homme idéal, le type achevé de la perfection: Le Saint (聖 人). Sous le rapport de la nature originelle, c’est—à—dire, considéré hors de la matière qui l’individualise, le Saint n’est rien de moins qu’un être quelconque. Ce qui le distingue d’entre tous, c’est que sa substance matérielle est d’une pureté, d’une subtilité extrême, semblable à un diamant de la plus belle eau, qui n’offrirait aucun obstacle au passage des rayons lumineux. L’homme, dit Tchou Hi, est constitué par la portion la plus pure de la matière (陰 陽 五 行 之 氣 一 精 英 者 為 人) mais de cette quintessence la partie superfine est le partage du Saint (精 英 之 中 又 精 英 者 為 聖 人). durant les premiers siècles qui suivent le Chaos, lorsque le monde est dans sa force de jeunesse renouvelée, la matière étant plus pure, doit nécessairement produire des êtres plus parfaits: c’est l’âge d’or, le temps où de sages princes font des peuples heureux. Alors dit Hua Yong Tchai (許 庸 齋) l’homme est à l’apogée de sa perfection. Au commencement de chaque période cosmique, apparait un Fou Hi. Mais à mesure que le monde vieillit, la matière se charge de l’impureté, les Saints deviennent plus rares. L’humanité se dégrade, l’univers revient insensiblement au Chaos, son point de départ.

[19] Voici la liste des personnages reconnus officiellement comme Saints:  1. Fou—Hi (2852—2737) —2. Chen Nong (2737—2697) —3. Hoang—Ti (2697—2597) —4. Yao (2357—2255) —5. Choen (2255—2205) —6. Yu (2205—2197) —7. Tcheng t’ang (1766—1753) —8. I—In (mort en 1713) —9. Pi—Kan (1222) 10—Wen Wang (1231—1135) —11. Ou Wang (1169—1116) —12. Tcheou Kong (mort en 1105) —13. Lieou H’a Hoei (environ 600) —14. Confucius (551—479).

Trong Mạnh Tử, Tận Tâm Chương Cú hạ, tiết 38 có một danh sách khác đôi chút.

Nghiêu (2357—2255); Thuấn (2255—2205); Vũ (2205—2197); Cao Dao (Hiền thần của Thuấn và Nghiêu); Thành Thang (1766—1753); Thái Giáp; Lai Châu (đờI vua Thành Thang); Văn Vương (1231—1135); Tản Nghi Sinh (Hiền Thần của Văn Vương); Thái Công Vọng (Hiền Thần của Văn Vương); Khổng tử (551—479).

Danh sách của Mạnh Tử dĩ nhiên là không đày đủ. Đạo Nho chỉ chú trọng đến các Thánh Vương Nghiêu, Thuấn, Võ, Văn, Võ, mà không đề cập đến Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế… Vả lại, Mạnh Tử chỉ muốn nêu ra một thuyết là cứ 500 năm lại có Thánh Nhân ra đời…

Le dernier dans l’ordre chronologique, Confucius occupe cependant, depuis longtemps, parmi ses congénères, le premier rang d’honneur:  Il est le Saint par excellence 至 聖 先 師 孔 子…

Tsu Kong disait: ” Certainement le Ciel l’a doué sans mesure, il doit être un Saint… “L’idée de l’humanité réalisée dans la personne du Saint, la perfectiom absolue qui est son partage, est bien ce que signifie le terme 誠。 Rémusat l’a rendu par “la perfection”, “la perfection morale”; Le P. Intorcetti par “vera solidaque perfectio”, Legge le traduit par Sincerity, Simplicity or Singleness of Soul, “the disposition to and the capacity of what is good, without any deteriorating element, with no defect of intelligence or intromission of selfish thoughts.” Ces derniers mots décrivent très bien les effets de 誠 signalés par Tchou Hi

德 無 不 實 而 明 無 不 照 者, 聖 人 之 德 所 性 而 有 者,

天 道 也,mais ils n’expriment pas clairement ce qu’il est en soi. Tchou Hi en donne cette définition: 誠 者 真 實 無 妄 之 謂。 Cet état de conformité est le propre du Saint: 聖 人 之 德 渾 然 天 理 真 實 無 妄。

[20] Il nous semble que ce qui rend mieux l’idée de Tsh’eng (Thành) d’après les philosophes chinois, c’est la conformité parfaite avec sa nature, ou avec le principe d’ordre universel (天 理). C’est par cette conformité que l’homme devient égal du Ciel et de la Terre (聖 人 體 道 無 隱, 與 天 象 昭 然, 莫 非 至 教, 常 以 示 人, 而 人自 不 察).

Tch’eng, dit Tcheou Lien Ki est synonyme de T’ai Ki ou Li, que chaque être recoit tout entier; mais il peut être et il est généralement limité dans ses effets par l’imperfection de la matière qui le renferme. Dans le Saint, ces limites n’existent pas; il agit constamment en conformité avec sa vertueuse nature. Son intelligence percoit sans effort, la raison intime de chaque chose, sa volonté n’éprouve aucune difficulté à se porter au bien et à demeurer ferme dans la voie de la justice, de l’ordre et du devoir.

Tous les auteurs lui attribuent comme qualité essentielle la science innée infuse (生 而 知 之). La plupart semble croire qu’elle n’a pas de limite, mais s’étend à tout sans exeption: rien n’est caché au regard du Saint: Il est omniscient (聖 人 神 明 不 測 之 號) (Tchou Tse). Tchou Hi cependant enseigne que l’objet de cette science embrasse seulement les principes généraux d’où le Saint tirera sans peine, dans le cours de sa vie, les conclusions pratiques, nécessaire pour le bien des hommes…

[21] C’est l’opinion de In Yon Ming (1100), un des commentateurs du Luen Yu, exprime en ces termes:” Lorsque Confucius qui, comme Saint, possédait la science infuse, nous répète avec insistance, qu’il aimait à étudier, il ne faut pas croire qu’il ne parlait ainsi que par pure modestie et pour exciter ses disciples au travail, par la force de son exemple. Non, car la science innée n’a pour objet que les principes généraux. Quant à l’application de ces principes, comme par exemples les détails pratiques du cérémoniale et de la musique, les choses célèbres de l’antiquité, les évènements des temps anciens et modernes, le Saint lui—même, ne peut que par l’étude, une connaissance certaine. Mais, dès que l’occasion amène devant son esprit les questions les plus difficiles, aussitôt, sans effort, il les pénètre à fond; ses décisions sont claire, ses jugements infaillibles.

所 謂 聖 者 , 不 勉 不 思 而 至 焉 者 也 (Mong Tse, chap. V)

無 思 而無 不 通 為 聖 人 (T’ong Chou), car il est doué d’une pénétration sans mesure. L’Esprit du Saint, dit Tch’ou Tse, est parfaitement pur et brillant. Il contient dans son ampleur la raison de toutes choses.

À la plus légère impression recue, il répond à l’instant et rien dans la nature n’échappe à sa pénétration. (Mong Tse, Chapitre XIII, Commentaires)

[22] L’homme parfait peut lire dans l’avenir, la prospérité ou la ruine des dynasties. Tous les changements en bien ou en mal, qui doivent arriver dans l’empire, il les connait d’avance, d’une science certaine, par l’observation des phénomènes de la nature, la disposition de l’herbe divinatoire (蓍) et les lignes qu’il remarque sur la carapace de la merveilleuse tortue (龜).

La raison de ce pouvoir de claire vue est, dit Tchou Hi, que le Saint n’a devant les yeux de son intelligence aucune trace d’égoisme ou de fausseté, puisqu’il est de tout point conforme à la nature; rien ne l’empêche donc d’apercevoir les choses les plus subtiles; par sa connaissance admirable, il ressemble aux Koei Chen (唯 誠 之 至 極 而 無 毫 私 偽留 於 心 目 之 間)“Le Saint est en plus, le paragon de la perfection morale, Il possède toutes les vertus à un degré éminent. 聖 者。。。幾 無 不 明, 德 無 不 備 者 也, 乃 能 察 其幾 焉 (Tchong Yong XXIV, Commentaires)

“Constant dans la voie du juste milieu, il agit suivant la droite raison. Tout homme, dit Mong Tse, a recu du Ciel ses sens avec leurs fonctions déterminées, mais le Saint peut seul en faire un usage parfait, parce que, ajoute le commentateur, seul il sait se conformer de point en point à la direction du Principe intérieur (Li) qui l’anime et qui le dirige.

(孟 子 曰﹕ 形 色 天 性 也, 唯 聖 人 然 後 可 以 踐 形)

[23] Ce passage, dit aussi Tcheng Tse, signifie que le Saint suit en tout la voie que la nature a tracẻe aux hommes et par là, il fait un bon emploi de tous ses sens. Le vulgaire possède bien aussi le Principe directif (Li), mais il l’ignore; le sage ordinaire s’y conforme mais pas parfaitemernt, seul le Saint peut faire un emploi correct de ses sens.

(程 子 曰﹕ 此 言 聖 人 盡 人 道 而 能 充 其 形 也,

眾 人 有 之 而 不 知,

賢 人 踐 之 而 未 盡, 能 充 其 形 其 惟 聖 人 也。)

(Ibid. Commentaires)

“Jamais la passion ne l’émeut: il se possède dans un calme, que rien ne saurait altérer. Le Principe céleste incorporé dans sa personne (聖 人 體 道) se manifeste et brille au dehors pour éclairer les hommes et les porter au bien. Tout en lui, ses moindres actions, ses paroles, jusqu’à son repos et son silence même, est autant de lecons, que les Sages seuls percoivent et dont ils font leurs profits; mais si les hommes vulgaires et les hommes vicieux ne sont pas transformés, la faute en est uniquement à leurs mauvaises dispositions, et à leur volonté dépravée; car la sagesse du Saint est d’elle—même capable d’éclairer tous les esprits , comme sa vertu a la force de changer tous les coeurs.

(聖 人 體 道無 隱, 與 天 象 昭 然, 莫 非 至 教, 常 以 示 人 而 人 自 不 知。)

[24] Son influence bienfaisante est sans borne, comme l’influence du Ciel. “De même que le cours réguliers des quatre saisons, dans la production et la conservation des êtres de l’univers, se voient partout avec évidence, les effets de l’évolution du Principe Céleste (天 理) sans que le Ciel doive pour cela rompre son silence; ainsi tout dans le Saint, l’action et le repos, révèle également le principe merveilleux, la droiture parfaite dont il est plein”. Et il conclut par ce cri d’enthousiasme: En un mot, le Saint est le Ciel personnifié.

四 時 行 而 百 物 生, 莫 非 天 理。 發 現 流 行之 實 不 得 言 而 見,

聖 人 一 動 一 靜 莫 非 妙 道, 精 義 之 際 亦 天 而 以。

(Luen Yu XVII, 18, Commentaires)

Le I King avait depuis longtemps déjà représenté l’homme parfait comme l’égal du Ciel en perfection; “Ses vertus, y est—il dit, égalent celles du Ciel et de la Terre, il brille comme le soleil et la lune, sa régularité est comparable à celle des quatre saisons, son influence rappelle celle des Esprits. Si son action devance le Ciel, le Ciel ne le contrarie pas, s’il suit le Ciel, il se conforme aux saisons. Et si le Ciel même ne lui résiste pas, combien moins les hommes et les Esprits lui résistent—ils?…”

[25] Tse Se, petit fils de Confucius, nous fait dans le Tchoung Young, une description qui semble bien n’être que le développement du passage précédent du I King. Le Saint, nous y est dépeint comme transformant les hommes par la force de son exemple et de ses enseignements, et conduisant tous les êtres jusqu’au complet épanouissement de leur nature. Il aide et assiste le Ciel et la Terre dans la production et la conservation de toutes choses; il est le troisième agent de l’univers. 與 天 地 並 位 為 三 也。 (Tchoung Young, Commentaires). L’égal du Ciel = 配 天Tchoung Young XXII, XXVI: 與 天 地 參, 配 天 配 地。 XXXI, 配 天。

[26] The critic See says:  Every man has his heavenly nature, which is in him as a fire has just been kindled or a spring which is just issuing forth. What is required is the widening and enlarging of it.

James Legge, The Shoo King, p. 386, notes.

[27] The words of Woo Ch’ing:

又 當 擴 充 其 德, 與 天 為 一。(Hựu năng khuếch sung kỳ đức, dữ Thiên vi nhất.)

James Legge, The Shoo King, p. 386, notes.

—————————————————–
***********************************           

CHƯƠNG XXVI

THUYẾT THIÊN NHÂN TƯƠNG DỮ
VÀ THIÊN NHÂN HỢP NHẤT TRONG NHO GIÁO.

Thánh nhân là người “Kế Thiên lập cực” [1], thay Trời chỉ vẽ cho nhân loại đâu là cực điểm tiến hoá, soi đường, dẫn lối cho mọi người tiến tới Trung Dung,Trung Đạo,, tiến tới Tinh Hoa nhân loại.

Quan niệm về Thánh Nhân của dân tộc Trung Hoa đã cho chúng ta thấy rõ rằng muốn tiến tới Trời, tới tinh hoa nhân loại, phải thông minh, duệ trí, sống cuộc đời nhân đức, thánh thiện, phối hợp với Trời.

Nhưng muốn sống phối hợp với Trời, phải biết Trời ra sao, Trời ở đâu. Đó là cả một vấn đề. Nho gia cho rằng Trời chính là Bản Thể nhân loại. [2] Cho nên muốn tìm Trời, phải tìm ngay trong đáy lòng mình, vì thế mà Trung Dung đã có một câu rất là táo bạo:

Biết người, trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẳng nổi, hiểu người làm sao? [3]

Đọc bộ Kinh Thư Đại Toàn, ta thấy người bình về Tâm Pháp các vị Thánh Vương như sau:

“Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công, ra sức giữ nguyên lòng trời “

“Đó là Tâm Pháp Nghiêu truyền cho Thuấn. “Kiến Trung”, cố đạt tới Trung Dung, tới tinh hoa nhân loại (Thang), “Kiến cực” cố đạt tới tinh hoa, toàn thiện (Vũ). Đó là Tâm Pháp của các đời Thương, Thang, Chu, Vũ. Sự toàn thiện đó hoặc gọi là Đức, là Nhân, là Kính, là Thành, lời tuy khác, nhưng ý là một, nghĩa là không ngoài sự làm sáng tỏ nguồn mạch kỳ diệu của tâm hồn. Nói đến Trời, thì nghiêm chỉnh lòng lại là Trời tự hiện; nói đến dân, thì cố cẩn thận tâm tư, dân sẽ được nhờ. Lễ nhạc, giáo hoá là cốt để phát huy tâm hồn. Điển chương văn vật là sự biểu dương phát lộ của tâm hồn. Suy lòng mình ra thì có thể làm cho nhà yên, nước trị, thiên hạ bình. Sức mạnh của tâm hồn thật là kỳ diệu vậy.” [4]

Cho nên thánh nhân giảng dạy, không phải là truyền đạo của mình, mà chính là truyền lòng mình; không phải là truyền lòng mình cho người, mà chính là truyền lòng người cho người, bởi vì trong lòng mọi người đã có sẵn lòng Trời rồi vậy. [5]

Mạnh Tử viết:

“Tận thiện lòng sẽ hay biết Tính,

Hay biết Tính, nhất định biết Trời.

Tồn tâm dưỡng Tính chẳng rời,

Ấy là giữ Đạo thờ Trời chẳng sai.” [6]

Mạnh tử cũng còn viết:

Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành.

Kiện toàn hoàn thiện, tinh anh,

Vui nào hơn được cái mình đang vui. [7]

Cho nên, muốn tìm Đạo Trời, phải tìm nơi đáy lòng. Chu Hi viết trong Phụ Chú chương I Trung Dung như sau:

Những học giả muốn tìm Đạo ấy,

Tìm đáy lòng sẽ thấy chằng sai.

Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,

Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.[8]

 Trong bộ Cận Tư Lục, Chu Hi lại chủ trương:Nếu khai phá được hết chướng ngại vật, thấy được Bản Tính mình, sẽ đạt tới Thiên Đạo, và sẽ trở nên một với Thánh Nhân. [9]

Vương Dương Minh viết:

Thần thánh ngàn xưa đều quá vãng,

Lương Tri mới thực chính thày ta. [10]

Theo vi ý kinh Thi, kinh Thư ta có thể hiểu truyền thống chính yếu của Nho giáo như sau: Trời sinh ra con người, đã ghi vào lòng những khuôn phép thánh thiện tuyệt hảo, để làm di luân, qui tắc hằng cửu cho con người theo. [11] Nên con người chỉ cần nhận ra Bản Tâm, Bản Tính cũa mình, sẽ thấy định mệnh cao sang của mình…chỉ cần sống hoàn toàn theo tiếng gọi lương tâm, nghĩa là gạt bỏ hết mọi tư dục, tư tà, sống cuộc đời công chính cao đại, hoàn toàn theo đúng Thiên Lý, Thiên Đạo, tức là lên tới mức độ thánh thiện tuyệt vời, thế là đạt tới Trung Điểm, Trung Đạo, thế là theo đúng mệnh Trời…

Mạnh Tử nói rằng ; “Bực Đại Nhân vốn giữ được cái Tâm vốn lành của con đỏ” [12]

Như vậy Thánh Nhân chỉ là những người giữ được Bản Tâm Bản Tính của mình, giữ được Xích Tử chi Tâm, còn phàm phu tục tử chính là những người sống cuộc đời phóng túng, chạy theo vật dục bên ngoài, để mất Bản Tâm, Bản Tính, có vậy thôi!

Thánh Nhân và người thường giống nhau ở chỗ cùng có một bản tính, mà khác nhau ở chỗ giữ được và đánh mất nó mà thôi.

Mạnh Tử viết:” Cho nên phàm những vật đồng loại, thì bản tính giống nhau. Tại sao riêng về nhân loại người ta lại nghĩ rằng Bản Tính chẳng tương tự. Những vị Thánh Nhân và chúng ta đều là một loại.

“Tâm Tính con người giống nhau ở chỗ nào? Tức là ai nấy đều công nhận chỗ hợp lý, hợp nghĩa vậy. (Lý là những lẽ đương nhiên của Bản Tính, nghĩa là sự thi hành những lẽ đương nhiên ấy). Thánh Nhân chẳng qua là những người trước ta đã tỉnh ngộ và bày tỏ ý nghĩa mà chúng ta nhìn nhận đó.” [13]

“Nếu chúng ta trở nên xấu xa, đánh mất bản tâm, bản tính, thì lỗi tại chúng ta, chứ đâu phải lỗi nơi bản tâm, bản tính.

Mạnh Tử viết:

“Cây cối trên núi Ngưu sơn (phía Đông Nam nước Tề) ngày xưa vẫn tươi tốt. Nhưng vì ở về chỗ giáp mối với một nước lớn, cho nên thường bị búa rìu bửa đốn. Như vậy, có thể nào giữ vẻ tốt tươi được chăng?

“Nhưng nhờ có sức mạnh nhựa lưu thông ngày đêm, lại được nước sương tẩm nhuận, cho nên mới đâm chồi, nảy mộng. Rồi thì bò chiên kéo nhau từng đoàn đến ăn phá, vì vậy mà cảnh núi ấy trở nên trơ trụi. Hiện nay, thấy nó trơ trụi, ai cũng ngỡ rằng núi ấy chưa từng sản xuất tài mộc. Như thế há nên đổ lỗi cho bản tính của núi sao?

“Cái Bản Tính tồn tại nơi con người cũng thế. Người ta há chẳng có những nỗi lòng Nhân Nghĩa sao? Nhưng vì họ (mê sa theo các sở dục mà) buông mất tấm lòng lương thiện của họ đi, cũng như cảnh núi trở nên trơ trụi, vì cây cối đều bị búa rìu bửa đốn hết vậy.

“Mỗi ngày họ cứ sát phạt tấm lòng lương thiện của họ mãi vậy, thì lòng dạ họ có lẽ nào mà tốt dẹp như xưa chăng?

“Cho nên, nếu khéo bồi dưỡng thì vật nào cũng sinh nảy thêm ra, còn như chẳng chịu bồi dưỡng thì vật nào cũng phải tiêu mòn.

“Đức Khổng có nói rằng: “Giữ thì còn, bỏ thì mất. Nó ra vào không chừng, không ai biết nó ở đâu. Đó là Đức Khổng nói về nỗi lòng lương thiện của con người vậy. [14]

“Nhân là lương tâm con người, Nghĩa là con đường chính đại của ngưới. Những ai bỏ con đường chính đại của mình mà chẳng theo, những kẻ để thất lạc lương tâm mình mà chẳng biết tìm nó lại, thật đáng thương hại thay. Mỗi khi con gà, con chó họ chạy lạc, thì họ biết đi tìm kiếm mà đem về, nhưng tới chừng cái lương tâm họ bị thất lạc, thì họ chẳng biết cách tìm nó trở lại. Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích này mà thôi: tìm lại lương tâm thất lạc của mình.[15]

Trương Hoành Cừ chủ trương: “Người học Đạo Nho sẽ đi từ chỗ toàn thiện tiến tới chỗ minh triết hoàn toàn. Cho nên Thiên Nhân Hợp Nhất là chỗ tuyệt đỉnh của sự học vấn, và như vậy, con người cố chí học hành có thể thành Thánh.” [16]

Tống Nho luận về “Thiên tính tại nhân tâm” hay “Thánh Nhân kết hợp làm một với Trời” thật là rõ ràng. Dưới đây xin đan cử thêm một vài chứng cứ:

Diệp lục Đồng chủ trương: “Thiên tính nơi con người cũng như Tính nước nơi băng. Nước và băng tuy lưu thông hay ngưng kết có khác nhau, nhưng cũng chỉ là một vật; sự hấp thụ ánh sáng nhiều ít có khác nhau, chiếu sáng mờ tỏ có khác nhau, nhưng tính chất hấp thụ và chiếu diệu của ánh sáng chỉ có một,”

Cao Trung Hiến bình ràng: “Lấy nước ví Trời, lấy băng ví người, lấy sự lưu thông, ngưng đọng để ví sự sống chết, lấy sự hấp thụ của ánh sáng để ví sự khác nhau về Bản Chất; lấy sự thu quang, chiếu quang để ví Tính trước sau chẳng có hai.” [17]

Tôn Chung Nguyên viết: “Trời và Thần chỉ là một, Thánh với Trời cũng chẳng là hai.” [18]

Trương Tải dạy học trò rằng: “Đã học tất phải nên như Thánh Nhân rồi mới được thôi. Đòi biết người mà chẳng biết Trời, chỉ cần làm hiền nhân mà chẳng cần làm Thánh Nhân, đó là tệ hại của các học giả từ thời Tần Hán tới nay.” [19]

Trương kỳ Quân, một học giả Trung Hoa lỗi lạc hiện nay, đã viết như sau trong Tạp Chí Trung Quốc Nhất Chu và trong bộ Trung Hoa Ngũ Thiên Niên sử của Ông như sau:

“Trung quốc, từ thời Đường, Ngu (Nghiêu, Thuấn) tới nay, đều có chủ trương Trời, người có thể kết hợp. .. Kính Trời cốt là để yêu người, yêu người cốt là để kính Trời. các thánh triết lịch đại chỉ cốt làm sáng tỏ nhẽ Trời người hợp nhất.” [20]

Trong bài khảo luận của Ông về Chu Dịch, ông cũng viết: “Sách Dịch thật mênh mông, bao quát, nhưng đại khái là cốt xiển minh nhẽ Thiên Nhân hợp nhất. [21]

Thực ra, ngay ở thời nhà Thanh, khi mà nền văn học, đạo học nướcTrung Hoa đã suy vi, những quan niệm trên —nghĩa là thuyết Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, và thuyết Thiên Nhân hợp nhất —cũng vẫn còn phổ thông trong giới học giả. Các học giả Âu Châu cũng đã nhận xét thấy trào lưu này, khi các Ngài mới du nhập vào Trung Quốc hồi thế kỷ XVI.

Linh mục Ricci viết: “Trào lưu tư tưởng mà nhiều người theo hiện nay, theo tôi, có lẽ đã vay mượn ỏ một giáo phái tà thần từ 500 năm nay (Tống triết). Quan niệm ấy là Thiên địa vạn vật đồng nhất thể: Hoá công cùng với trời đất, người vật, cỏ cây, tứ tượng đều hợp thành như một cơ thể duy nhất, mà vạn vật là những phân bộ. Từ quan niệm nhất thể ấy họ rút ra nhiệm vụ bác ái đối với mọi người, và chủ trương mọi người đều có thể trở nên giống Thiên Chúa…

“Đó là điều mà chúng ta cố gắng phi bác, chẳng những bằng lý luận, mà còn bằng uy thế của tiền nhân Trung Hoa, vì các vị ấy đã giảng dạy một học thuyết khác…” [22]

Đọc xong đoạn này của L.M. Ricci, tôi không thể ngờ được rằng một học giả lỗi lạc như Ngài mà lại không thấy rằng Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể và Thuyết Thiên Nhân hợp nhất là 2 học thuyết cao diệu nhất trong thiên hạ. Nó tuyên dương Bản tính và định mệnh cao sang của con người. Hai chân lý sáng ngời như vậy mà Ông cho là tà đạo, thì thật đáng thương cho Ông. Như vậy, làm sao giảng đạo cho ai được? Sao Ông dám nói tiền nhân Trung Hoa đã giảng dạy khác hẳn? Thật là ngụy biện.

Tiền nhân Trung Hoa, như các chứng cứ Kinh Thi, Kinh Thư, Luận Ngữ, Mạnh tử trích dẫn trên đây cho thấy sau trước đều có một chủ trương, một tín ngưỡng y thức như nhau, và y thức như các đại hiền triết đời Tống. Đọc Chu Hi, Trình tử, Thiệu khang Tiết, Trương Hoành Cừ, Lục cửu Uyên v.v…tôi thấy các Ngài là những vị Thánh Nhân mà tôi cần noi gương, bắt chước.

Theo Mạnh Tử, thì dẫu vị Thánh Nhân ở Đông Di, hay là vị Thánh Nhân ở Tây Di, dẫu là xa nhau nghìn dậm, hay là cách nhau nghìn năm, thì tôn chỉ và lề lối cũng y thức như nhau, y thức như hai mảnh tre ở một phù tiết, đừng lối Thánh trước Thánh sau chỉ là một. [23]

Mới hay Chân Lý chỉ có một, mà đạo giáo thì có nhiều. Ta không nên nghe những người ngu si, cuồng tín khí dỗ, mà phải biết mở mắt ra mà nhìn xem đâu là Chân Lý. Tiêu chuẩn mà Mạnh Tử nêu trên là một Chân Lý bất diệt.

Để rộng đường khảo sát, so sánh, tôi xin trưng ra đây quan điểm của 1, vài Thánh Nhân Thiên Chúa Giáo.

Theo Thánh Augustin, thì Lương Tâm là nơi tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa, là nơi huyền nhiệm, nơi mà tâm hồn nhận chân được sự hiện diện của Thượng Đế trong lòng mình.[24]

Nơi khác Ngài than thở: “Lạy Chúa, trong Chúa con sẽ có sự chắc chắn, vững vàng và Bản Thể rốt ráo của con.” [25]

Thánh Phaolo nhìn nhận rằng ngay những người ngoại giáo cũng tuân theo những giới luật mà Thiên Chúa đã ghi tạc trong thâm tâm của họ. [26]

Thánh Phaolo cũng là vị thánh Công Giáo đầu tiên sống với niềm tin say sưa là có Thiên Chúa hiện diện trong tâm khảm Ngài.

Ngài viết: “Thiên Chúa là đấng đã truyền cho ánh sáng bừng lên trong tăm tối, chính Ngài cũng đã bừng sáng lên trong lòng chúng ta.” [27]

Nơi khác Ngài viết:” Anh em hãy ngợi khen và hãy mang Thiên Chúa trong thể xác anh em.” [28]

Đời sống của Ngài hoàn toàn phối hợp với Thiên Chúa, vì thế nên Ngài mới dám viết cho người xứ Galates: “Tôi sống chẳng phải tôi sống mà là Chúa sống trong tôi.”[29]

Gần đây, quan điểm “Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể” và chủ trương “con người có thể tiến tới cùng cực tinh hoa”, “có thể phối hợp với Thượng Đế” của Dịch Kinh và của các Thánh Hiền Trung Hoa lại được L.M. Teilhard de Chardin công khai chủ trương bên phía trời Âu, và được các giới văn học khắp nơi tán đồng và sùng thượng. Phải chăng đó là một điềm báo hiệu cho một cuộc Đông Tây gặp gỡ, kim cổ giao duyên trong một tương lai gần gũi. [30]

Tóm lại, đối với Thánh Hiền Trung Hoa:

Đạo Trời vốn đã ẩn áo trong lòng nhân loại.

Sự toàn thiện, toàn mỹ cũng vốn đã nằm sẵn trong đáy lòng con người.

Thánh Nhân là những người thông minh, duệ trí, nhận ra được căn bản hoàn thiện nơi đáy lòng mình, sống hợp với Thiên Lý, Thiên Đạo, hợp nhất với Trời.

Cực đĩểm ấy tức là cùng đích đã đặt ra cho nhân loại: Chưa đi tới cùng đích ấy dĩ nhiên là nhân loại còn phải tiến hoá mãi.

Sách Đại Học vì thế, mới đặt lằn mức cho mọi người dừng chân. Lằn mức ấy là sự Chí Thành, Chí Thiện (Chỉ ư chí Thiện.—Đại Học, I)

Cực điểm ấy cũng chính là Trung Điểm, là Trung Dung, Trung Đạo.

Đạo Thánh Nhân cao siêu, toàn mỹ, vì thế mới được Trung Dung khen tặng chẳng tiếc lời. Trung Dung viết:

“Đạo Thánh Nhân to sao, to lớn quá,

Nó mênh mang, biến hoá chúng nhân.

Nó cao, cao vút tới Trời thẳm muôn tầm,

Nó rộng, rộng bát ngát, khôn kể xiết.

Gồm thâu hết mọi điều lễ nghi, chi tiết,

Bao uy nghi, quán triệt hết chẳng trừ,

Đợi Thánh Nhân, Trời mới phú thác cho,

Không đức cả, Trời không ngưng đạo cả.

Nên quân tử dốc một lòng, một dạ,

Trọng Tính Trời, quyết gắn bó học hành,

Tiến sao tới mức rộng rãi tinh anh,

Mức cao sáng của Trung Dung đạo cả.

Ôn điều cũ, học thêm điều mới lạ,

Chuộng lễ nghĩa, sống đời sống nết na.

Ở ngôi cao, không có thói kiêu sa,

Ở cấp dưới, không làm điều trái nghịch,

Nước có Đạo, chỉ một lời làm tiến ích,

Nước đảo điên, lặng lẽ đủ dung thân.

Thơ rằng: “Khôn lại còn ngoan,

Khôn ngoan nên mới bảo toàn tấm thân.” [31]

————————————————
*************           

CHÚ THÍCH

[1] James Legge, the Shoo King, p. 428, notes.

[2] Thiên nhân bản vô nhị, bất tất ngôn hợp. Nhược bất nhất bản, tắc an đắc tiên Thiên vi Thiên phất vi, hậu Thiên nhi phụng Thiên thời?

天 人 本 無 二, 不 必 言 合。 若 不 一 本,

則 安 得 先 天 而 天 弗 違, 後 天 而 奉 天 時?

Trình Hạo (1032—1085), Tống Nguyên Học Án, q. 13, tr. 17.

Âm Phù Kinh của Đạo Lão cũng chủ trương: Thiên tính nhân dã, Nhân tâm cơ dã, lập Thiên chi đạo, dĩ định nhân dã. Thiên tính là người, nhân tâm là máy, lập ra Thiên đạo, để định con người.

Âm phù kinh, chương I.

[3] Tư tri Nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên. 思 知 人 不 可 以 不 知 天。

Trung Dung XX.

[4] Tinh nhất chấp trung, Nghiêu Thuấn tương thụ chi tâm pháp dã. “Kiến Trung “(Thang), “Kiến Cực” (Vũ), Thương, Thang, Chu, Vũ tương truyền chi Tâm Pháp dã. viết Đức, viết Nhân, viết Kính, viết Thành, ngôn tuy thù, nhi lý tắc nhất, vô phi sở dĩ minh thử tâm chi diệu dã. Chí ư ngôn Thiên,tắc nghiêm kỳ tâm, chi sở tự xuất; ngôn dân, tắc cẩn kỳ tâm, chi sở do thi. Lễ nhạc, giáo hoá, tâm chi sở phát dã; điển chương văn vật tâm chi trứ dã; gia tề, quốc trị, thiên hạ bình, tâm chi suy dã, tâm chi đức kỳ thịnh hỹ hồ.

精 一 執 中, 堯 舜 相 授 之心 法 也。 建 中 (湯) 建 極 (禹) 商 湯 周 禹

相 傳 之 心 法 也。 曰 德, 曰 仁, 曰 敬,

曰 誠 言 雖 殊 而理 則 一, 無 非所 以 明 此 心 之 妙 也¡至 於言 天 ,

則 嚴 其 心 之 所 自 出。 言 民 , 則 謹 其 心 之 所 自 施。

禮 樂 教 化 心 之 發 也。 典 章 文 物 心 之 著 也。

家 齊, 國 治 心 之推 也。 心 之 德 其 盛 矣 乎!

Thư kinh đại toàn, q. II.

[5] Cáo Thần Tông viết: tiên Thánh, hậu Thánh nhược hộp phù tiết, phi truyền thánh nhân chi Đạo, truyền Thánh Nhân chi tâm dã, phi truyền thánh nhân chi tâm dã, truyền kỷ chi tâm dã. Kỷ chi tâm vô dị Thánh Nhân chi tâm, Quảng đại vô hạn, vạn thiện giai bị. Dục truyền thánh nhân chi đạo, khoáng sung thử tâm yên nhĩ.

告 神 宗 曰﹕先 聖 後 聖 若 合 符 節, 非 傳 聖 人 之 道,

傳 聖 人 之 心 也。非 傳 聖 人 之 心,

傳 己 之 心 也。己 之 心 無 異 聖 人 之心。 廣 大 無 限, 萬 善 皆 備。

欲 傳 聖 人 之 道, 擴 充 此 心 焉 耳。

Trùng biên, Tống Nguyên học án, p. 1, tr. 144.

[6] Nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm, nhất vật chi lý, tức vạn vật chi lý, nhất nhật chi vận, tức nhất thế chi vận.

一 人 之 心即 天 地 之 心, 一 物 之 理, 即萬 物 之 理, 一 日 之 運 即 一

世 之 運。

Tống Nguyên Học Án, Q. 15, tr. 2 (Y Xuyên án thượng).

[7] Tận kỳ Tâm giả, tri kỳ Tímh dã, tri kỳ Tính tắc tri Thiên hĩ.

盡 其 心 者, 知 其 性 也, 知 其 性 則 知 天 矣。

Mạnh tử, Tân tâm chương cú thượng, 1.

…Lý Phác, một triết gia thời Tống, đã muốn đề mộ chí mình như sau: ”dĩ Thiên vi tâm, dĩ đạo vi thể, dĩ thời vi dụng” (lấy Trời làm lòng, lấy Đạo (= Trời, Tuyệt đối thể) làm Bản Thể, lấy thời gian làm ứng dụng)

以 天 違 心, 以 道 違 體, 以 時 違 用。

Tống Nguyên Học Án, Lý Chương Công tiên sinh Phác, q. 1, tr. 18.

[8] Cái dục học giả ư thử, phản cầu chư thân nhi tự đắc chi.

蓋 欲 學 者 於此, 反 求 諸 身 而 自 得 之。

Trung Dung, I Phụ chú của Chu Hi.

[9] Phàm vật mạc bất hữu tánh, do thông, tế, khai, tắc, sở dĩ hữu nhân vật chi biệt, Do Tế hữu Hậu Bạc, cố hữu trí ngu chi biệt. Tắc giả lao bất khả Khai. Hậu giả khả dĩ Khai, nhi Khai chi dã nan; Bạc giả Khai chi dã dị. Khai tắc đạt ư Thiên đạo, dữ Thánh Nhân nhất.

凡 物 莫 不 有 性, 猶 通 蔽 開 塞, 所 以 有 人 物 之 別。

由 蔽 有 厚 薄, 故 有 智 愚 之別。 塞 者 勞 不 可 開;

厚 者 可 以 開, 而 開 之 也 難, 薄 者 開 之 也 易。 開 則 達 於天 道, 與 聖 人 一。

Cận tư lục, Chu Hi, q. I, tr. 10.

[10] Thiên thánh giai quá ảnh, lương tri nãi ngô sư..

千 聖 皆 過 影, 良 知 乃 吾 師。

Vương dương Minh.

[11] Duy Hoàng Thượng đế gíang Trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính, khắc tuy quyết do duy Hậu.

惟 皇 上 帝 降 衷 于 下 民, 若 有 恆 性, 克 綏 厥 猷 惟 后。

Kinh Thư, Thang Cáo, 2.

[12] Mạnh Tử viết: đại nhân giả bất thấ t kỳ Xích Tử chi Tâm giả dã..

孟 子 曰; 大 人 者 不 失 其 赤 子 之 心 者 也

[13] Mạnh Tử, Cáo Tử, chương cú thượng, 7.

[14] Mạnh Tử, Cáo Tử, chương cú thượng, 7 và 8.

[15] Mạnh Tử, Cáo Tử, chương cú thượng, tiết 1.

[16] Nhu gia tắc nhân minh trí thành, nhân thành trí minh. Cớ Thiên Nhân Hợp Nhất, trí học nhi dĩ thành Thánh.

儒 家 則 因 明 致 誠, 因 誠 致 明。 故 天 人 合 一, 致 學 以 成 聖。

Tống Nguyên Học Án, Hoành Cữ học án. q. XVII, tr. 55

[17] Thiên tính tại nhân chính do thuỷ tính chi tại băng. Ngưng thích tuy dị, vi vật nhất dã. Thụ quang hữu tiểu đại, hôn minh, kỳ chiếu nạp bất nhị dã.

Cao Trung Hiến viết: Dĩ Thuỷ dụ Thiên, dĩ Băng dụ nhân; dỉ ngưng thích dụ sinh tử, dĩ thụ quang dụ khí bẩm chi bất đồng; dĩ chiếu nạp dụ Tính chi bất nhị.

天 性 在 人, 正 猶 水 性 之 在 冰, 凝 釋 雖 易, 為 物 一 也。

受 光 有 小 大, 昏 明, 其 照 納 不 二 也。

拈中 憲 曰﹕ 以 水 喻 天, 以 冰 喻 人; 以 凝 釋 喻 生 死;

以 受 光 喻 氣 稟 之 不 同; 以 照 納 喻 性 之 不 二。

[18] Tôn Chung Nguyên viết: “Thiên dữ Thần phi nhị kiến, Thánh Nhân tức Thiên.

孫 鍾 元 曰﹕ 天 與 神 非 二 見; 聖 人 即 天。

Tống Nguyên Học Án, q. 17, tr. 13)

[19] Cáo chư sinh dĩ học tất như Thánh nhi hậu dĩ. Dĩ vi tri nhân nhi bất tri Thiên; cầu vi hiền nhân nhi bất cầu vi Thánh Nhân, thử Tần, Hán dĩ lai học giả chi đại tệ dã.

兌 諸 生 以 學 必 如 聖 而 後 已。 以 為 知 人 而 不 知 天,

求 為 賢 人 而 不 為 聖 人, 此 秦 漢 以 來 學 者 之 大 敝 也。

Cùng Tính Mệnh chi nguyên tất dĩ thể Thiên vi học vấn chi bản.

窮 性 命 之 源 必 以 體 天 為 學 問 之 本。

(Liêm Khê học án) Tống Nguyên Học Án, q. 11, tr. 10.

…Thiệu Khang Tiết ; ”Học mà không đạt tới trình độ hợp Trời với người, thì không đủ gọi là học”

Học bất tế Thiên nhân, bất túc dĩ vi chi học.

學 不 際 天 人, 不 足 以 為 之 學。

Quan vật ngoại thiên.

[20]Trung Quốc tự Đường, Ngu dĩ lai tức hữu Thiên Nhân hợp nhất chi tư tưởng. Kính Thiên tức sở dĩ ái nhân, ái nhân tức sở dĩ tôn Thiên. Lịch đại Thánh Triết mạc bất kế tục hoành dương thử “Thiên Nhân hợp nhất” chi đạo. Lão tử tức kỳ nhất hỹ.

中 國 自 唐 虞 以 來, 即 有 天 人 合 一 之思 想。

敬 天 即 所 以 愛 人, 愛 人 即 所 以 尊 天。

歷 代 聖 晢 莫 不 繼 續 宏 揚 此 天 人 合 一 之 道。 老 子 即 其 一 矣。

Trung quốc nhất chu, kỳ 632, tr. 21 (Trương Kỳ Quân—Lão Tử). Trung Hoa ngũ thiên niên sử, q. 3, chương Lão Tử.

[21] Dịch chi vi thư quảng đại tất bị, nhi ngữ kỳ yếu qui, tắc vi minh Thiên Nhân Hợp nhất chi đạo

易 之 為 書 廣 大 悉 備, 而 語 其 要 歸, 則 為明 天 人 合 一 之道。

(Trương kỳ Quân, Chu Dịch) Trung Quốc nhất chu, số 588.—Trung Hoa ngũ thiên niên sử, chương Chu Dịch, tr. 12.

[22] Mais l’opinion la plus suivie actuellement, et qui me parait (pare) empruntée à la secte des idoles depuis 500 ans (philosophie des Song), c’est que tout ce monde est fait d’une seule substance, et que le Créateur du monde avec le ciel et la terre, les hommes et les animaux, les arbres et les végétaux, et les quatre éléments, fotment un corps continu dont les divers êtres sont les membres. C’est de cette unicité de substance que l’on déduit le devoir de la charité envers les hommes et la possibilité pour tous de devenir semblables à Dieu…

Voilà ce que nous nous efforcons de réfuter (procuriamo di confutare), non seulement par le raisonnement, mais avec l’autorité de leurs anciens auteurs qui très clairement ont enseigné une doctrine différente. (g. Ricci)

Opere storiche, tome I.

Henri Bernard Maitre, Sagesse Chinoise et philosophie chrétienne, p. 108.

[23] Mạnh Tử viết: Thuấn sinh ư Chư Phùng, thiên ư Phụ Hạ, tốt ư Minh Điều, Đông Di chi nhân dã. Văn vương sinh ư Kỳ Châu, tốt ư Tất Đỉnh, Tây di chi nhân dã. Địa chi tương khứ dã, thiên hữûu dư lý, thế chi tương hậu dã, thiên hữu dư tuế. Đắc chí hành hồ Trung Quốc nhược hợp phù tiết. Tiên thánh, hậu Thánh kỳ quĩ nhất dã..

孟 子 曰﹕ 舜 生 於 諸 馮, 遷 於 負 夏,

卒 於鳴 倏, 東 匈 之 人 也。 文 王 生 於 岐 周,卒 於 畢 鄙,

西 匈 之 人 也。 地 之 相 去 也, 千 有 餘 里,

世 之 相 後 也,天 有 餘 歲。 得 志 行 乎 中 國 若 合 符 節。

先 聖 後 聖 其 揆 一 也。

Mạnh Tử, Ly Lâu Chương Cú Hạ, 1.

[24] La conscience, a pour Augustin, une valeur exclusivement religieuse. C’est le lieu de rencontre entre l’âme et Dieu présent en elle…

Revue des Sciences philosophiques et théologiques, (Paris, Librairie philosophique J. Vrin , 6 Place de la Sorbonne V, tome XLIV, N0 3, Juillet 1960) p. 570.)

J. Stelzenberger, Conscientia bei Augustinus zue geschichte, der moralthologie. Paderbor n, Schoningh, 1959.

[25] En toi, mon Dieu, j’aurai ma solidité, ma fixité, mon être définitif. (Augustin)

Henri de Lubac, Aspect du Bouddhisme, note 103 du Chapitre I.

[26] Ceux—là (les Gentils) montrent gravées dans leurs coeurs les prescriptions de la Loi…

Trong Deuteronome, đoạn XXX, câu 11—15: “Vì Luật mà ta truyền hôm nay, không có quá sức quá tầm ngươi,. Nó không có ở trên Trời, để Ngươi phải nói: Ai sẽ lên Trời tìm nó cho ta để chúng ta được nghe biết Luật và tuân cứ “. Nó cũng chẳng cách mấy trùng dương, để ngươi phải nói:” Ai sẽ vượt bể mà đi tìm nó cho ta, để chúng ta được nghe biết luật và tuân cứ.”. Vì Đạo (Lời) nào có xa ngươi, nó đã ở trong miệng ngươi, và trong lòng ngươi, để ngươi tuân cứ.

Dịch theo Bible de Jérusalem tr. 206.

Jérémie viết: Ta sẽ đặt lề luật ta trong đáy lòng họ, và viết lề luật ta vào tâm khảm họ.

(Jérémie XXXI, 33.)

[27] Le Dieu qui a dit à la lumière de resplendir du fond des ténèbres est Celui qui a resplendi en nos coeurs.

II Cor. 4, 6.

[28] Glorificate et portate Deum in corpore vestro. I Cor. 4, 6. Biblia sacra juxta Vulgatoe exemplaria et correctoria romana. Paris Letouzey et Ane, 87 Bld Rspail, p. 1265.

Nhưng các bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng Pháp không dám thêm chữ “Và hãy mang Thiên Chúa” trong thể xác anh em.

Crampon chỉ dịch: Glorifiez donc Dieu dans votre corps (Xem La Sainte Bible de Crampon, p. 191)

La Bible de Jérusalem dịch: “Glorifiez donc Dieu dans votre corps”, còn chữ ”et portez” cho xuống dưới chú thích K nhỏ ở dưới gầm trang. (Bible de Jérusalem, p. 1515)

Mấy chữ quan trọng như vậy mà bỏ đi, vì Công Giáo không tin rằng con người vẫn mang Trời trong dạ, thật là quá uổng, Như vậy là làm mất luôn Tinh Hoa Thiên Chúa Giáo.

[29] Ce n’est plus moi qui vit, c’est le Christ qui vit en moi. (Aux Galates, 11, 20) Crampon, p. 215.

Puto autem, quod et ego Spiritum Dei habeam (Et je pense bien, moi aussi, avoir l’Esprit de Dieu. Và tôi cũng nghĩ rằng tôi cũng có thần Chúa trong tôi) (Biblia Sacra (Vulgate) et Bible de Jérusalem. I. Cor. 40)

…et ita cadens in faciem, adorabit Deum, pronuntians quod vere Deus in vobis sit. I Cor. XIV, 25 (Và bây giờ hắn xấp mình xuống đất, thờ phượng Thiên Chúa, và nói thực có Thiên Chúa trong anh em.) Các bản dịch thánh kinh Công giáo vì không tin có Chúa trong con người, nên đều dịch 2 chữ In Vobis trên là “giữa anh em” (parmi vous), chứ không dịch là “trong anh em” (en vous). Bible de Jérusalem và La Sainte Bible de Crampon đều dịch như vậy. Mới hay “sai một ly, thì đi một dặm” , cái gì mình có hay nhất, quí nhất thì lại vất đi, cái gì lặt vặt thì lại đề cao!

[30] Pierre Teilhard voit le cosmos tout entier construit à partir d’une seule et même Énergie. Cette Énergie s’actualise sous des aspects très différents. La science, particulièrement la Physique, confirme de plus en plus le bien—fondé de cette conception.

George Magloire, Hubert cuypers, Teilhard de Chardin,p. 131

…Teilhard de Chardin résume admirablement sa conception cosmique dans ces quatre propositions:

“Je crois que l’univers est en évolution

“Je crois que l’évolution va vers l’Esprit.

Je crois que l’Esprit s’achève en Dieu personnel.

“Je crois que le Personnel Suprême est le Christ Universel.”

Ibid. p. 222.

[31] Trung Dung, XXVII.

*************           

CHƯƠNG XXVII

QUAN NIỆM TU THÂN THEO NHO GIA.

Có thể nói được rằng Nho giáo là một đạo giáo có nhiều bộ mặt nhất. Trong suốt 2500 năm nay, Nho giáo đã được khai thác về nhiềi lãnh vực như: Luân lý, tín ngưỡng, chính trị, gia đình, xã hội, từ chương, khoa cử, thuật số, tu dưỡng, đạo đức v.v…

Cũng vì thế mà xưa nay, có rất nhiều nhận định khác nhau về Nho Giáo. Người thì cho rằng Nho Giáo là một đạo nhập thế, người thì cho rằng Nho Gíao thiên về chính trị, người thì cho rằng Nho Giáo chỉ chú trọng đến luân lý, cương thường . Cũng có người chủ trương Nho giáo chỉ biết dạy con người Nhân Đạo, nghĩa là chỉ biết dạy con người ăn ở cho xứng đáng với danh nghĩa con người, chứ không dạy con người làm Thần, Thánh.

* Những người theo Tam giáo ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam thường chủ trương: —

Nho là Nhân đạo.

Lão là Tiên đạo.

Thích là Phật đạo.

*Và như vậy, dĩ nhiên là:

Đạo Nho kém nhất.

Đạo Lão thời trung bình.

Đạo Phật là đệ nhất hạng.

Quan niệm này được thấy rải rác trong nhiều sách vở bàn về Tam Giáo. Dưới đây, xin đan cử một trường hợp điển hình; Thiền sư Tông Bổn, chùa Diên Khánh, đời nhà Tống bên Tầu, tác giả bộ sách Qui Nguyên Trực Chỉ đã nhận định như sau:

“Theo Vô Tận cư sĩ, thì đạo Nho trị bệnh ngoài da, đạo Lão trị bệnh trong huyết mạch, đạo Phật trị bệnh trong mỡ xương.” [1]

Theo Hoàng đế Hiếu Tôn thì: “Lấy đạo Phật để trị tâm, lấy đạo Lão để trị thân, lấy đạo Nho để trị đời.” [2]

“Người học Nho chết rồi thì hết, chẳng qua khoảng 100 năm thôi. Người học Đạo vụ cầu sống mãi, chẳng qua ngàn muôn năm mà thôi. Người học Phật dứt mãi mãi với sự sống chết, trong trẻo hoài, chẳng qua trải khắp số kiếp nhiều như bụi cát, mà không có cùng tận vậy. “[3]

“Nho như một cái thếp đèn, soi sáng một đêm, khi chuông ngân, hồ cạn, thời dầu khô, đèn tắt vậy. Đạo Tiên như một ngọn đèn trăm năm của vua A Xà Thế làm ra, để soi Xá lợi của Phật, khi 100 năm đã mãn, thì đèn đó liền tắt vậy. Phật như mặt trời sáng rỡ, chiếu diệu, muôn đời thường sáng, hễ lặn phía Tây, thì mọc phía Đông, xây vòng không nghỉ vậy. Đó là lời luận xa gần của Tam Giáo, có cái đại lược về cái ý lớn của Tam Giáo…” [4]

Đọc những lời nhận định trên của sách Qui nguyên trực chỉ ta thấy ngay rằng chúng thiếu vô tư, thiếu căn cứ và có mục đích tuyên truyền cho Phật Giáo rõ ràng. Theo tôi, một thái độ thiên vị như vậy không thể giúp ta nhận định được rõ ràng những ưu khuyết điểm của các đạo giáo.

Sau nhiều năm khảo cứu đạo Nho, tôi đã nhận chân được rằng: Nếu xưa nay, người ta người ta có những quan niệm sai lầm về Nho Giáo, thì cũng không lạ. Trước hết, muốn hiểu Nho Giáo, thực ra không phải là chuyện dễ. Đọc và hiểu hết toàn bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh không phải là một công trình vài tháng, vài năm; ấy là chưa kể đến Bách Gia, Chư Tử. Sau nữa, một người dẫu giỏi chữ Hán mấy nếu người đó chỉ chú trọng đến văn chương, nếu người đó chỉ dùng đạo Nho như một công cụ để bước vào con đường công danh, hoạn lộ, thì người đó chắc chắn sẽ chẳng nắm được phần nghĩa lý, phần căn cốt, chính truyền của Nho Giáo.

Khi còn ở Trung Việt, tôi có quen 1 Cụ Phó Bảng. Một hôm, tôi muốn cùng Cụ bàn bạc về nghĩa lý Kinh Dịch. Cụ tâm sự với tôi chẳng qua Cụ chỉ giỏi về văn chương, thi phú, còn nghĩa lý cao xa thì không biết, nhất là nghĩa lý kinh Dịch. Đó là vì, khi còn trẻ, đi học thì lo học thuộc lòng để đi thi. Vả hồi đó, trong chương trình thi, lại không có Kinh Dịch. Sau khi đã thi đỗ ra làm quan, thì xếp dần sách vở, lo làm, lo ăn, lo chơi. Khi về già thì học Địa lý để mua vui. Có vậy thôi. Những lời tâm sự của Cụ Phó Bảng nói trên làm tôi hết sức suy tư. Mới hay, giỏi chữ Nho không phải là giỏi đạo lý, cũng như giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh không phải là giỏi nghĩa lý, đạo đức…

Hôm nay, với đề tài “Tu Thân theo Nho Gia”, tôi muốn biện minh rằng Nho Giáo không hề có thiếu phần tu tâm, dưỡng tánh, và thánh hiền Nho Giáo, ngoài việc lo đắp xây hoà bình, thái thịnh cho đời, còn cố công tu luyện tâm tính, đúng vối tôn chỉ “nội thánh, ngoại vương chi đạo”.

Trong chương này, tôi không nhất thiết dựa vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, mà cũng còn tham khảo thêm đời sống và quan niệm về Tu Dưỡng của các bậc danh Nho lịch đại. Làm như vậy, cốt là để cống hiến quí vị một cái nhìn nhất quán về Nho Giáo, cũng như về công phu tu thân của Nho giáo.

Trong bài thuyết trình này, tôi lần lượt trình bày:

1. Chủ trương then chốt của Nho Giáo,

2. Quan niệm Tu Thân theo Nho Giáo gồm ba đề mục:

—Lý do tu thân.

—Phương pháp tu thân.

—Mục đích tu thân.

I. Chủ trương then chốt của Nho Giáo:—

Nho giáo, nói chung, công trình tu thân nói riêng, cũng như các vấn đề chính trị, xã hội khác đều dựa trên một chủ trương căn bản này, đó là: Con người có Thiên Tính.

—Thiên Tính ấy được gọi là Đạo Tâm theo Kinh Thư. (Kinh Thư, Đại Vũ Mô, 5)

—Thiên Mệnh, hay Tính Mệnh theo Trung Dung (Trung Dung, I)

—Minh Đức, theo Đại Học (Đại Học, I)

—Di, Tắc theo Kinh Thi (Kinh Thi, Đại Nhã, Đãng, 6)

Tù ngữ tuy có khác nhau, nhưng chung qui vẫn nói lên một Chân Lý cốt cán rằng: Dưới những hiện tượng tâm tư, còn có Bản Thể Trời làm căn cốt.

—Vì Bản Tính Người là Trời, cho nên Nho Giáo mới dám nói: Tính con người vốn tốt. (Luận Ngữ, V, 12; XVII, 2; Mạnh tử, Đằng Văn Công chương cú thượng, 2; Cáo Tử chương cú thượng v.v…)

—Bản tính ấy là gốc, mọi việc khác như tâm tư, thân xác, gia dình, xã hội, thiên hạ sự v.v…là thân, là cành, là ngọn. Không biết được gốc, làm sao mà trị được ngọn, không hiểu được Trời, làm sao hiểu nổi được Người.

Trung Dung viết:

Biết người, trước phải biết Trời,

Hiểu Trời chẩng nổi, hiểu người làm sao?

(Tư tri nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên. (Trung Dung, XX)

—Cho nên người quân tử phải cố gắng học hỏi, mài miệt suy tư để tìm cho ra cái Khuôn Trời, cái Gốc Trời nơi mình, rồi mới có thể “chính tâm, thành ý, tu thân,tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.” được.

—Vì con người đã có sẵn Thiên Chân, đã có sẵn mầm mộng hoàn thiện nơi mình, cho nên con người có bổn phận làm triển dương mầm mộng hoàn thiện ấy cho đến chỗ tinh vi, cao đại.

—Mọi người sinh ra đời này đều có bổn phận nỗ lực tiến tới mục tiêu cao cả ấy và phải góp phần vào công cuộc, đại hoá, đại tạo của đất Trời.

Tất cả chủ trương trên đã được trình bày ngay nơi đầu sách Đại Học. Đại Học viết:

Đại Học có mục tiêu rõ rệt,

Đuốc lương tâm cương quyết phát huy.

Dạy dân lối sống tân kỳ,

Chưa nơi hoàn thiện còn đi chưa ngừng.

Có mục tiêu, rồi lòng sẽ định,

Lòng định rồi, nhẹ gánh lo toan.

Hết lo, lòng sẽ bình an,

Bình an, tâm trí rộng đàng xét suy,

Suy xét rộng, tinh vi thấu triệt,

Thấu sự đời, ngành ngọn đầu đuôi.

Trước sau đã rõ khúc nôi,

Thế là gần Đạo, gần Trời còn chi.

Muốn đức sáng truyền đi thiên hạ,

Người xưa lo cải hoá dân mình,

Trị dân, trước trị gia đình,

Gia đình muốn trị, sửa mình trước tiên,

Muốn sửa mình, tâm nên sửa trước,

Sửa tâm hồn, trước cốt ý hay.

Ý hay, phải học cho dày,

Dày công học vấn sẽ hay Khuôn Trời,

Hay Khuôn Trời, ắt thôi thấu triệt,

Thấu triệt rồi, ý thiệt, lòng ngay,

Lòng ngay ta sẽ hoá hay,

Ta hay, gia đạo mỗi ngày một yên,

Nhà đã yên, nước liền thịnh trị,

Nước trị bình, bốn bể bình an,

Từ vua cho tới dân gian,

Tu thân một mực lấy làm căn cơ.

Đại Học, I.

*************************           

II. Quan niện tu thân theo thánh nhân: —

Trong phần này, tôi sẽ lần lượt bàn về:

a) Lý do tu thân theo Nho giáo.

b) Phương pháp tu thân theo Nho Giáo.

c) Mục đích tu thân theo Nho Giáo.

a) Lý do tu thân theo Nho giáo.

Hiểu được chủ trương nòng cốt nói trên của Nho Giáo, ta sẽ hiểu rõ tại sao con người cần phải tu thân.

Tu Thân là gì? Tu thân là sửa mình.

Sửa mình là gì? Là sửa tâm hồn cho nên tốt đẹp.

Tại sao phải sửa tâm hồn cho nên tốt đẹp?

Thưa vì trong mỗi người chúng ta đều đã có Thiên Tính, cho nên đều đã có lẽ chí thiện, chí mỹ của Trời đất tiềm ẩn bên trong, vì thế nên con người cần phải tu thân, để thực hiện lẽ chí mỹ, chí thiện ấy.

Đổng trọng Thư, một danh nho đời Hán, đã cho rằng Tính như con kén, như cái trứng. Trừng được ấp rồi mới nở con, kén đợi ươm rồi mới thành tơ, Tính được dạy rồi mới thiện, thế gọi là Chân Thiện. Trời sinh ra dân, cho cái Tính có thiện chất, mà chưa có thể thiện được, rồi vì dân mà lập ra vua để làm cho thiện, ấy là ý Trời vậy. [5]

Ông còn viết: “Con người sinh ra chưa phải là con người, vì con người thời hoàn toàn như Trời vậy. Người mà làm người thời gốc ở Trời .Trời là Cụ, Ông, Cha của người vậy. [6]

Thế tức là, khi sinh ra, con người mới chỉ có khả năng để trở nên toàn thiện, chứ chưa phải là đã hoàn thiện, Con người còn cần phải dùng thời gian, hoàn cảnh, cần tốn công phu tu luyện, rồi ra mới trở nên toàn thiện được. Cho nên Sinh chưa đủ, còn cần phải Thành nữa, mới được vẹn toàn. Vì thế, đối với Thánh Hiền, người ta vừa mừng ngày Đản Sinh, vừa mừng ngày Thành Đạo.

Hiểu nhẽ đó, nên khi bình về các số Sinh (1,2,3,4.5), và các số Thành (6,7,8,9,10) trong Hà Đồ, tôi đã làm mấy vần thơ sau:

Sinh, Thành dùng số nói lên,

Lẽ Trời sau trước nói liền huyền linh.

Âm Dương khi đã phân trình,

Nếu không kết cấu sao thành hoá cơ?

Âm Dương nếu những hững hờ,

Trời, Người xa cách bao giờ có hay?

Lẽ Trời cảm ứng xưa nay,

Muôn phương hoà hợp, phơi bày tinh anh,

Có Sinh nhưng cũng có Thành,

Không tu, hồ dễ Trời dành phẩm tiên?

Mới Sinh, như gốm chưa men,

Như vàng chưa luyện, như duyên chưa Thành.

Cho nên phải tập, phải tành,

Phải trau, phải chuốt, tinh anh mới toàn…

Đã sinh ra ở trần hoàn,

Phải dùng thời thế Trời ban cho mình,

Lao lung rồi mới hiển vinh,

Chớ đừng để mặc thế tình đẩy đưa…

B. Phương pháp tu thân.

a. Lập chí.

Muốn tu thân, phải lập chí.

Theo Nho Gia chân chính, lập chí là thực tâm ước nguyện, là dốc chí học hành, quyết tâm tu tập để trở thành Thánh Hiền.

Học để biết phương pháp tu luyện.

Hành để mà chỉnh trang tâm hồn, cải thiện tâm hồn.

Nhiều bậc đại nho, sau khi đã đỗ đạt cao, đã bỏ hẳn cái học cầu danh, tranh lợi, mà theo đòi cái lối học để tìm cầu đạo lý, trở thành thánh hiền.

Chu Hi (1130—1200), một danh nho đời Tống, đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi, ra làm quan được ít lâu, bỏ về. Năm 28 tuổi, nghe tiếng Lý Đồng, một danh nho thụ đắc được đạo lý chính truyền Nho Giáo, ông bèn đi bộ mấy trăm cây số đến xin thụ giáo, và Ông đã theo học Trung Dung với Lý đồng trong vòng 5 năm, cho tới khi Lý Đồng mãn phần.

Chu Hi viết:” Người đời nay, tham lợi lộc, mà không tham đạo lý, muốn làm người quí mà không muốn làm người tốt, đó là cái bệnh ở sự không lập chí.” [7]

Lục Tượng Sơn (1139—1192), một danh nho đời Tống, cũng cho rằng “chỉ có những bậc thiên tư dĩnh ngộ, thấy rõ đạo lý, mới quyết chí về đường tu dưỡng, còn ngoại giả chỉ là đua theo thói đời, mượn tiếng Thánh Hiền, vậy cái danh thì có, cái thực thì không.” [8]

Gương lập chí sáng tỏ nhất để thành Thánh Hiền, ta thấy được nơi Vương Dương Minh (1472—1528), một danh nho thời Minh.

Vương Dương Minh, thủa nhỏ thông minh lạ thường, ở nhà nghe tổ phụ là Trúc Hiên Công đọc sách. Nghe đến đâu, nhớ đến đấy. Năm 11 tuổi đi học, một hôm hỏi ông thày rằng: “Ở đời việc gì là hơn cả?“Thày nói rằng: “chỉ có học rồi thi đỗ là hơn cả.”. Ông không chịu và nói rằng: “Chỉ có học để thành thánh hiền là hơn.” [9]

Và từ đấy cho đấy cho đến lớn, ông tha thiết suy tư, học hành, tầm sư, cầu đạo. Năm 17 tuổi, cưới vợ, là con gái quan tham nghị Chư Dưỡng Hoà.

Ngay hôm sắp làm lễ hợp cẩn, ông đi chơi đến Thiết Trụ Cung, thấy 1 đạo sĩ đang ngồi tu luyện. Ông vào nghe nói về thuyết trường sanh, rồi ngồi đối thoại với đạo sĩ ấy suốt đêm, quên cả việc đi cưới vợ.

Năm 28 tuổi, Ông đỗ Tiến Sĩ, rồi ra làm quan, nhưng mà vẫn vẩn vơ muốn xuất gia. Ông chê lối học từ chương của các bè bạn đương thời. Ông học Phật, học Lão, học Nho, để cố tìm cho ra con đường tiến tới Thánh Hiền. Mãi tới năm 34 tuổi khi bị triều đình đày ra Long Trường, một vùng hoang vu, man mọi, một hôm nửa đêm ông mới chợt tỉnh ngộ ra cái nghĩa “cách vật trí tri” của Đại Học, và nhận chân được rõ ràng rằng Đạo chẳng ngoài tâm và Lương tri tức là Đạo, là Trời. Từ đấy Ông mới sáng lập ra được một học thuyết riêng biệt và chủ trương Trí lương Tri, để đưa người vào đường Thánh Học.

Ta thấy một người như Vương Dương Minh mà cũng phải tốn nhiều năm tháng, nhiều công phu mới trở thành Thánh Hiền, mà mãi tới năm 34 tuổi, khi bị lao lung, đày ải, xa cách hẳn với thế giới văn minh, xa cách hẳn với từ chương sách vở, ông mới tìm ra được ánh sáng Trời, chiếu rọi ở Tâm Linh. [10]

b. Học hỏi, suy tư.

Sau khi đã lập nguyện, lập chí, nhất định dùng cuộc đời mình để tu luyện và trở thành Thánh Hiền, các bậc danh nho mới ra công học hỏi, suy tư.

Mà học hỏi suy tư lúc này là không còn là cái học để thêm kiến văn, kiến thức nữa, mà chính là để tìm lại Thiên Tâm, Thiên Tính, Bản Tâm, Bản Tính của mình.

Khảo về phép học của Nho Giáo, ta thấy có 2 đường lối:

—Một là tìm lẽ Nhất Quán ở ngoài Tâm.

—Hai là tìm lẽ Nhất Quán ở trong Tâm.

Tìm lẽ Nhất Quán ở ngoài Tâm, là cái học chi li, phiền tạp. Học theo lối đó sẽ hướng ngoại, sẽ lệ thuộc ngoại cảnh, sách vở, sẽ thích nghị luận, biện bác. Đó là cái học “cầu lấy biết để mà nói”.

Tìm lẽ Nhất Quán ở trong tâm là cái học giản dị, nhưng bao quát. Nó cốt ở sự đơn giản, phác thực, tự chứng, tự nghiệm, tự đắc. Mục đích của sự học là “cầu lấy biết để mà hành” mà tu cho tâm thần ngày thêm linh sảng.

Hai đường lối học hỏi trên, tuy cao thấp khác nhau, nhưng thực ra bổ khuyết lẫn cho nhau. Và thườnh thì ai cũng phải đọc sách trước, rồi mới “quán tâm “được.

Tóm lại, học hỏi cốt là “Cùng lý, trí tri”.

Trình Tử bàn về cách học hỏi suy tư để tìm cầu cho ra nghĩa lý như sau:

“Cùng lý cũng có nhiều cách: hoặc đọc sách để giảng minh nghĩa lý, hoặc nghị luận nhân vật xưa nay để biện biệt điều phải trái, hoặc ứng tiếp sự vật mà thuận lẽ đươngï nhiên.” [11]

Trình Tử còn cho rằng: “Không suy nghĩ chín chắn, không thể đến được cõi đạo lý.” “Không suy nghĩ chín chắn mà đắc đạo, thì sự đắc đạo ấy cũng dễ mất” và “ï tư lự lâu ngày, sự minh duệ tự nhiên sinh ra.” [12]

Ông cũng hiểu rằng: điều sở đắc của người học đạo phần nhiều do ở trực giác hơn ở sách vở và thày bạn. Cho nên Ông ta thường nói: “Đại phàm học vấn, do sự nghe biết, đều không thể gọi là tự đắc. Muốn tự đắc phải mặc thức, tâm thông… Nghe thấy mà biết không phải là sự hiểu biết của đức tính. Sự hiểu biết của đức tính không mượn ở kiến văn.” [13]

Nói thế, tức là “học đạo phải tuần tự, trước sau, có gần, có xa, có thấp, có cao, có dễ, có khó, không thể nhất đán đã lĩnh hội được đạo thể. Người mới bắt đầu học đạo, mà muốn được “mặc thức tâm thông” ngay, cũng chẳng khác gì kẻ muốn đứng trên đỉnh núi, nhưng không muốn leo núi, muốn ở bên kia sông, mà chẳng vượt sông: chỉ là những chuyện hão huyền, không thể nào thực hiện được.” [14]

Trên đây, nói rằng học hỏi, suy tư để tìm ra lẽ “Nhất quán” của Trời Đất, để “cùng lý, tận tính”. Thay vì dùng những danh từ văn chương hoa dạng ấy, ta có thể nói nôm na như sau:

Người xưa học hỏi để tìm cho ra Lẽ Một chi phối hoàn võ.

Ở vũ trụ bên ngoài, thì Lẽ Một hay Trời sinh xuất ra vạn tượng, vạn hữu.

Ở vũ trụ bên trong tâm thần ta, thì Lẽ Một hay Trời sinh xuất ra vạn tình, vạn niệm .

Cho nên, tìm ra được Lẽ Một ấy nơi Tâm, tức là tìm ra được phần linh thiêng nhất của tâm thần chúng ta.

Cái phần linh thiêng nhất ấy Nho gia xưa gọi là Tính, là Mệnh, là Minh Đức, là Trung, là Đạo, là Thiên Lý…

Nhưng nói cho nôm na hơn, cho cụ thể hơn, thì cái phần Linh Thiêng ấy chính là Lương Tâm của mỗi người chúng ta.

Tôi nhận định rằng, nếu chúng ta cứ dùng những chữ như Thiên Tính, Thiên Lý, Minh Đức, ta sẽ thấy phần Linh Thiêng ấy trở nên xa vời với chúng ta, và rất khó lĩnh hội được, y thức như khi ta dùng những danh từ Chân Như, Phật Tánh hay Bản Lai Diện Mục của Đạo Phật. cho nên, từ lâu, để giản dị hoá vấn đề, tôi đã chủ trương như Vương Dương Minh:

Học là để tìm lại Lương Tâm,

Tu là để sống theo đúng Lương Tâm.

Vương Dương Minh cho rằng: Lương Tâm hay Lương Tri cũng chính là Đạo, là Trời. Ông viết: “Cái Bản Thể của Tâm là Thiên Lý, cái chiêu minh linh giác của Thiên Lý gọi là Lương Tri.” [15]

“Tâm tức là Đạo, Đạo tức là Trời. Biết Tâm thì biết Đạo, biết Trời.”

Ông còn nói:

Thiên thánh giai quá ảnh,

Lương tri nãi ngô sư.

Tạm dịch:

Thần thánh ngàn xưa đều quá vãng,

Lương tri mới thực chính Thày ta.

Ông cũng còn làm bài thơ sau:

Lương tri tựu thị độc tri thì,

Thử tri chi ngoại cánh vô tri.

Nhân nhân đô hữu lương tri tại,

Tri đắc lương tri khước thị thuỳ? [16]

Tạm dịch:

Lương tri thấy được lúc độc tri,,

Ngoài biết ấy ra há biết gì?

Ai mà chẳng có lương tri sẵn?

Hồ dễ mấy ai biết lương tri?

Tìm ra được Lương Tâm, Lương Tri rồi, chúng ta sẽ nhận thấy rõ ràng rằng: ở nơi mỗi một con người, chúng ta ai cũng có 2 phần khác biệt sau đây:

—Lương tâm.

—Tư tâm.

Và chúng ta sẽ suy ra một cách dễ dàng rằng: Tư tâm mỗi người chúng ta hết sức khác nhau; tư tâm người da vàng khác tư tâm người da đỏ, người da đen và người da trắng . Tư tâm người bây giờ khác tư tâm người xưa.

Nhưng lương tâm chúng ta đều giống nhau. Lương tâm da vàng, da đen, da trắng là một. Lương tâm người xưa và nay là một. Lương tâm ta và lương tâm Phật Thánh xưa nay là một.

Như vậy, chúng ta khác Thánh, Hiền, Tiên, Phật ở chỗ nào?

Thưa chính là ở điểm này:

—Tư Tâm và Lương Tâm Phật, Thánh hoàn toàn giống nhau. Ở nơi các Ngài, tư tâm đã hoàn toàn biến thành lương tâm.

—Còn ở nơi chúng ta, thì Tư Tâm và Lương Tâm khác nhau như trời vực, như ngày với đêm, như nóng với lạnh, như nước với lửa. Ở nơi chúng ta, thì tư tâm và lương tâm thường cãi vã nhau, chống đối nhau như Ông nói gà thì Bà nói vịt, y như trống đánh xuôi mà kèn thì thổi ngược vậy.

Như vậy ở nơi phàm phu, tục tử thì lương tâm đã bị tư tâm làm khuất lấp, y như một bàu trời vân vũ dày đặc, làm cho mất ánh dương quang. Họ y như là những người đã ký giấy cho Lương Tâm nghỉ dài hạn, để tha hồ tác yêu, tác quái. Tư tâm họ có thể ví như những máy vô tuyến truyền hình đã hỏng hết bóng đèn, không còn bắt được những tiếng nói và những hình ảnh từ trung tâm truyền hình Lương Tâm phát đi. Họ là những người đã chẳng ít, thì nhiều đã làm mất lương tâm, đã táng tận Lương Tâm. Chính vì thế mà Mạnh Tử khuyên ta đi tìm lương tâm đã thất lạc về: Học vấn chi đạo vô tha: Cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ. [17]

—Triết nhân là những ngưồi trông thấy rõ 2 phần tách biệt trong con người:

Một bên là lương tâm, là Bản thể con người, là khuôn vàng, thước ngọc Trời ban cho con người.

Một bên là tư tâm, còn đầy ám hôn, khiếm khuyết, cần phải được khai quang và cải thiện.

—Thánh hiền đắc đạo là những người tư tâm chẳng còn, niềm tây đã hết, chỉ còn thuần có Lương Tâm, thuần có Thiên Lý hoạt động bên trong.

Cho nên, trong chương trình cầu học của Nho gia, cái điều quan trọng nhất là tìm lại được Lương Tâm cho mình và cho người.

Mạnh tử viết: “Nhân là Lương Tâm con người, Nghĩa là con đường chính đại của người. Những ai bỏ con đường chính đại của mình mà chẳng theo, những kẻ để thất lạc lương tâm mình mà chẳng biết tầm nó lại, thật đáng thương hại thay! Mỗi khi con gà, con chó của họ chạy lạc, thì họ biết đi kiếm mà đem về. Nhưng tới chừng cái Lương Tâm của họ thất lạc, thì họ chẳng biết cách tìm nó trở lại. Người học vấn đạo lý chỉ có cái mục đích này mà thôi: tìm cái lương tâm thất lạc của mình.” [18]

Hồ Hoằng (?—1163), một danh nho đời Tống cũng nói:”Đạo sẵn trong tâm người ta, suy ra thì rất tốt lành. Nhưng khốn nạn vì tâm bị phóng mà chẳng biết cầu lại mà thôi. Tai nghe, mắt thấy, làm che lấp được mình; cha con vợ chồng làm luỵ được mình; y cầu ẩm thực làm say mê được mình. Đã mất bản tâm của mình rồi, còn dám nói rằng ta có biết, đau đớn thiệt.” [19]

Vương Dương Minh (1472—1528) chủ trương đại khái như sau:

Sao lo lắng, lo suốt ngày, suốt buổi?

Sao học hành, bàn cãi mãi làm chi?

Bao nghi nan, mâu thuẫn của vấn đề,

Dùng trực giác, sẽ phá tan trong chốc lát.

Lòng người có chỉ nam từ sơ phát

Trong lòng người đã sẵn đấng muôn trùng,

Có mọi sự trong kho báu đáy lòng,

Sao ta vẫn ăn xin từng cửa ngõ? [20]

c. Cư kính: Kính sợ Trời như thể có Trời ẩn áo giáng lâm.

Khi đã tìm ra được Bản Tâm, Bản Tính, đã trực diện được với Lương Tâm, đã hiểu được rằng Lương Tâm là Đạo, là Trời, lúc đó người quân tử sẽ trở nên trang kính.

Sự trang kính ấy, tuỳ từng giai đoạn, sẽ có thể là:

—Kính sợ Trời như thể có Trời ẩn áo, giáng lâm.

—Kính sợ Trời tiềm ẩn đáy lòng.

—Tự trọng vì nhận ra nơi mình cũng có Bản Thể Thần Minh, y thức như ở nơi thánh hiền kim cổ.

—Trọng người vì nhận ra được rằng người cũng có bản thể Thần Minh như mình.

Có kính, có trang kính, con người mới dễ dàng tu sửa tâm hồn cho nên hẳn hoi, ngay ngắn.

Chính vì thế mà Kinh Thi mới viết:

Chái Tây Bắc, góc nhà thanh vắng,

Đừng làm chi đáng để hổ ngươi,

Đừng rằng tăm tối chơi vơi

Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.

Thần giáng lâm, ai mà hay biết,

Nên dám đâu, khinh miệt dể ngươi? [21]

 Trung Dung cũng viết:

Bản Tính cũng chính là Thiên Mệnh,

Đạo là noi theo tính Bản Nhiên,

Giáo là cách giữ Đạo nẹn,

Đạo Trời sau trước vẫn liền với ta.

Rời ta được, đâu là đạo nữa,

Thế cho nên, quân tử giữ gìn,

E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo, lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều.

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.[22]

Luận Ngữ viết:

“Ra khỏi nhà thì như đón khách quí,

Đối với dân, thì trang nghiêm như cử hành đại lễ. [23]

 Quan niệm kính Trời của Nho Gia sau này cũng đã được du nhập vào các tiểu thuyết Trung Hoa.

Đọc bộ Thuận Trị quá giang, ta thấy ngay ở hồi đầu có câu:

Nhân gian tư ngữ, Thiên văn như lôi,

Ám thất, khuy tâm, thần mục như điện. [24]

Tạm dịch:

Nhân gian thầm thĩ với nhau,

Trời nghe tỏ rõ, tưởng đâu sấm rền.

Lòng riêng, buồng kín tối đen,

Mắt Thần soi tỏ, như in chớp loà.

**************************           

 Truyện Phản Đường kể tích truyện sau:

Địch Nhân Kiệt, trên đường lai kinh ứng thí, đến huyện Lâm Thanh vào quán trọ nghỉ ngơi. Đêm đến, có một quả phụ xinh đẹp, đến gặp Ông trong phòng ngủ, tống tình, vài ép chuyện trăng hoa. Địch Nhân Kiệt, mới đầu cũng động tình, vì thấy nàng nọ nhan sắc diễm kiều, lại ăn nói mặn mà duyên dáng, nhưng sau Ông chợt nghĩ đến câu Hoàng Thiên bất khả khi, nghĩa là không thể lìa dối Trời được, nên Ông đã làm 1 bài thơ khẳng khái cự tuyệt.

Ngày hôm sau, ở kinh sư, vua Đường Thái Tôn hỏi quân sư là Lý Thuần Phong xem kỳ này ai sẽ đỗ trạng nguyên. Lý Thuần Phong về trai giới, rồi thiếp đi, lên thiên đình xem bảng Trời.

Khi hoàn hồn, Ông tâu cho vua biết: Trên bảng Trời có 6 chữ: 火 犬 二 人 之 傑 (火 犬 là chữ Địch 狄; 二 人 là chữ 仁; 傑 là chữ Kiệt 傑), và bên cạnh bảng có một lá cờ, có ghi 1 bài thơ tứ tuyệt. Ông chép lại bài thơ ấy dâng lên vua. Vua đem niêm phong, cất đi, để chờ ứng nghiệm.

Đến khi Địch đỗ trạng nguyên vào triều kiến, vua Đường Thái Tôn mới vỡ lẽ ra rằng 6 chữ mà Lý Thuần Phong chép trên bảng Trời bữa trước, chính là tên của Địch Nhân Kiệt viết theo lối chiết tự, còn bài thơ tứ tuyệt chính là bài thơ mà Địch Nhân Kiệt đã làm trong quán vắng đêm nọ, để cự tuyệt với quả phụ kia. Vua tôi đều thất kinh. Mới hay đúng là Hoàng Thiên bất khả khi vậy. [25]

d. Theo tiếng Lương Tâm cải hoá tư tâm.

Sau khi đã nắm chắc được rằng: Lương Tâm con người là Bản Tính, là Đạo, là Trời, là Thái Hư, là Thiên địa chi Tính, là gương mẫu hoàn thiện; còn Tư Tâm là Khí Chất chi Tính, có thanh, có trọc khác nhau, có hay, có dở khác nhau, Nho Gia liền gia công: Noi theo lương tâm, cải hoá tư tâm.

Công phu này Nho gia gọi là Chính Tâm: Làm cho Tâm Hồn trở nên ngay thẳng, hay là Hàm Dưỡng, hay là Tồn Tâm Dưỡng Tính.

Chung qui chỉ là biến hoá cái “Khí Chất chi Tính” theo từ ngữ của Trương Hoành Cừ.

Biết biến hoá cái khí chất chi tính, biết cải hoá cái tâm của mình, tức là biết áp dụng lẽ Dịch vào phương pháp tu thân vậy.

Mà Dịch dạy chúng ta những gì? Dịch dạy chúng ta:

—Hãy rũ bỏ những gì tư tà.

—Hãy hoành dương những gì công chính.

—Hãy bỏ nơi ti tiện mà vươn lên cho tới chỗ thanh cao.

—Hãy tữ bỏ sự tối tăm mà trở về với ánh sáng.

—Hãy tài bồi những gì còn khuyết điểm để đi đến chỗ viên mãn.

—Hãy rũ bỏ tần phiền, mà trở về giản dị.

—Hãy tránh rối loạn mà trở về sống trong qui tắc, trong trật tự…

Áp dụng những lẽ Dịch trên vào công cuộc tu thân, ta sẽ tìm ra được những đường lối, những tôn chỉ sau:

—Tâm ta dễ loạn động, phải biết giữ cho định tĩnh

—Tâm ta dễ phá tán, cần phải biết thu nhiếp, biết tập trung.

—Tâm ta rất dễ bị ngoại vật làm cho hôn ám, cần phải giữ cho nó được thanh hư, quang sáng.

—Tâm ta thường khuy khuyết, phải lo tài bồi cho ngày một thêm viên mãn.

—Lương Tâm là công chính, là Thiên Lý hằng cửu, bất biến. Tư Tâm là tà nguỵ, là Nhân dục biến thiên. Vì vậy ta cần sống theo sự công chính, theo những định luật vĩnh cửu của trời đất, và cố tránh những gì nhân vi, nhân tạo, biến thiên, chất chưởng.

—Hãy mở rộng tầm kích tâm hồn, cho nó ngày một thêm bao la rộng rãi, ngày một thêm khoan quảng hoà đồng. Tầm kích tâm hồn chúng ta phải là tầm kích vũ trụ.
Sau khi dùng Dịch Lý để tìm ra những tôn chỉ có thể dùng làm kim chỉ nam cho công cuộc tu thân, ta sẽ tìm xem Nho gia bàn về Tu Thân, Chính Tâm ra sao.

Luận Ngữ chủ trương: Khắc kỷ, phục Lễ. Thế tức là con người phải theo Thiên Lý mà sửa nhân tình, theo Lương Tâm mà sửa Tư Tâm. Nhu vậy là Nhân Đức.[26]

Công Đô Tử hỏi Mạnh Tử: “Cũng đều là người, nhưng tại sao có người thành Đại Nhân, có người hoá ra tiểu nhân? Mạnh tử đáp rằng:” Ai noi theo cái đại thể của mình, thì là bậc Đại nhân; ai noi theo cái tiểu thể của mình, thì là kẻ tiểu nhân.” [27]

Đối với Mạnh Tử, thì ngũ quan là phần tiểu thể, còn tâm hồn là phần đại thể. Cái bụng, cái miệng là phần tiểu thể, còn cái phần tinh thần là phần đại thể. [28]

Mạnh Tử cũng còn nói rằng: “Cây cối trên núi Ngưu Sơn (về phía Đông Nam nước Tề) ngày xưa vẫn tốt tươi Nhưng vì ở vào một chỗ giáp nối với một nước lớn, cho nên thường bị búa rìu (của những kẻ tiều phu) bửa đốn. Như vậy có thể nào giữ vẻ tốt tươi được chăng? Nhưng nhờ còn sức mạnh nhựa lưu thông ngày đêm, lại được mưa sương tẩm nhuận, cho nên mới đâm chồi, nảy mộng, rồi thì bò chiên kéo nhau từng đoàn đến ăn phá, vì vậy mà cảnh núi ấy trở nên trơ trụi, ai cũng ngỡ là núi ấy chưa từng sản xuất tài mộc (tức là những cây to lớn dùng trong việc kiến trúc). Nhu thế, há nên đổ lỗi cho bản tính của núi hay sao?

Cái Bản Tính tồn tại nơi người cũng thế. Người ta há chẳng có nỗi lòng nhân nghĩa sao? Nhưng vì họ (mê sa theo cái sở dục) mà buông mất tấm lòng lương thiện của họ đI, cũng như cảnh núi trở nên trơ trọi, vì cây cối bị búa rìu bửa đốn hết vậy. Mỗi ngày, họ cứ sát phạt tấm lòng nhân nghĩa của họ mãi, thì lòng dạ họ có thể nào tốt đẹp như xưa chăng? Tuy vậy, cái sức lành từ nơi Bản Tính của họ vẫn còn sanh nảy ngày đêm. Cái khí lực ấy thật chẳng bao nhiêu, nhưng vào buổi sáng sớm, nó có thể phát sinh ra lòng thương ghét một cách phải the,å gần giống với lòng người lương thiện. Rồi từ sáng cho đến chiều, trong mọi hành vi, cử chỉ của họ, họ lại ngăn bít và bỏ phế lòng lành rất yếu ớt của họ nữa. Ngày này, tháng kia, năm nọ, họ vẫn cứ ngăn bít và bỏ phế như vậy mãi, rồi ra cái khí lực về đêm chẳng còn đủ sức bảo tồn cho cái lòng lương thiện của họ khỏi tiêu ma. Khi mà cái khí lực về đêm chẳng còn đủ sức bảo tồn cho cái lòng lương thiện họ khỏi tiêu ma, bấy giờ họ chẳng khác loại cầm thú bao nhiêu vậy. Thấy họ chẳng khác gì cầm thú, ai nấy đều ngỡ rằng họ chưa từng có những thiên tài. Như vậy, há nên đổ lỗi cho chân tình, thật tính của họ sao?

Cho nên nếu khéo bồi dưỡng, thì vật nào cũng sanh nảy thêm ra; còn như chẳng chịu bồi dưỡng thì vật vào cũng phải tiêu mòn.” [29]

Trương Hoành Cừ (1020—1077) cho rằng: “Con người sở dĩ không đem tâm hợp với Thái Hư được là vì để cho cái tính khí chất nó sai khiến. Vậy nên học giả phải lấy sự biến hoá khí chất làm mục đích cho sự học của mình.” Muốn biến hoá được cái khí chất, thì trước hết phải có chí… [30]

Đông Lai, Lữ Tổ Khiêm (1113—1181) ví sự tu thân như là cách chữa bệnh. Người mắc bệnh phải tìm cho rõ bệnh căn để chữa mới lành. Kẻ học đạo phải tìm cho thấy những nhược điểm của mình, để tài bồi, mới được tấn ích. Vậy nên đối với Đông Lai, người muốn theo học thánh hiền, trước hết phải dùng công phu ở sự biến hoá khí chất của mình. Kẻ nào, nhu noạ phải tập cho được cương cường, kẻ nóng nảy, phải nên tập cho khoan hoà. Cứ tìm chỗ thiên lệch mà dụng lực. [31]

Theo Thượng Thái (1950—1103), thì Thiên Lý và nhân dục là 2 lẽ tương đối; người ta có một phần nhân dục là mất 1 phần Thiên Lý. Có 1 phần Thiên Lý tức là thắng được 1 phần nhân dục. Khi người ta đã trừ bỏ được tất cả dục vọng ở trong lòng, thì phần còn lại tức là Thiên Lý. Bởi vậy, đối với Thượng Thái, kẻ học đạo muốn được giác ngộ, không cần phải tìm những điều xa xôi, hư phí, chỉ biết khắc kỷ phục lễ, để giữ toàn Thiên Lý là đủ. [32]

Luận về phương diện tu thân, Lục Tượng Sơn (1139—1192) đưa ra 4 cương lĩnh: Lập chí, Tiến học, Tri bản và Thu thập tinh thần.

Lập chí, Tiến học trên đây ta đã bàn tới rồi. Tri bản là hiểu cho dược Bản Thể của tâm, rồi cố dùng công phu dể trừ bỏ điều tư dục, cho tâm trở nên trừng triệt thanh minh.

Sau khi Tri Bản, học giả nên tiến thêm 1 bước nữa là Thu Thập Tinh Thần. Tượng Sơn bảo rằng: “Thu được tinh thần ở trong đáng trắc ần thì trắc ẩn, đáng tu ố thì tu ố, ai khi được ngươi? ai dối được ngươi? Phương pháp Thu Thập Tinh Thần của Tượng Sơn là ngồi thẳng, chắp tay, tự làm chủ tể, tức muôn vật đều có đủ ở thân. Tượng Sơn thường dạy học giả nên tĩnh toạ, để tốn bản tâm, không cần lời biện thuyết vô ích. [33]

e. Phương pháp kiểm chứng.

Trong công cuộc tu thân, cần phải biết xét mình, biết kiểm thảo, kiểm chứng.

Tăng Tử xưa đã lấy sự xét mình làm trọng. Ông nói:

“Hằng ngày ta hãy xét mình về 3 điều này:

— Làm việc cho ai, ta có hết lòng chăng?

— Kết giao với bằng hữu, ta có thành tín chăng?

— Đạo lý do thày ta truyền dạy, ta có học tập chăng? [34]

Luận Ngữ cho ta phương pháp kiểm chứng như sau:

— Người trí không lầm.

— Ngưởi nhân không buồn,

— Người dũng không sợ. [35]

Luận Ngữ còn thêm rằng:

“Nếu xét mình mà chẳng thấy điều gì lầm lỗi, thì việc gì mà buồn, mà sợ? [36]

Trung Dung, Đại Học, Mạnh Tử đều cho rằng: có đức độ bên trong, thì sẽ biểu lộ ra bên ngoài.

Trung Dung viết: “Hoàn thiện rồi sẽ hiện ra ngoài hình sắc.” [37]

Đại học cho rằng:

“Giàu thời nhà cửa khang trang,

Đức thời thân thể khang an, rạng ngời,

Lòng mà khoan quảng hẳn hoi,

Rồi ra sẽ thấy tốt tươi hình hài.” [38]

Mạnh tử cho rằng:

“Người quân tử lập chí ở đạo, nếu chưa thấy phát huy được đạo ra bên ngoài, thì chưa đạt đạo.” [39]

Như vậy, theo Nho giáo, nếu 1 người mệnh danh là tu đạo mà lời ăn, tiếng nói còn thô lỗ, cục cằn; cách đi, điệu đứng còn tất tưởi, ám hôn; cốt cách còn phàm phu, ti tiện, chưa được trang nhã, cao siêu; tinh thần còn ám hôn, bì quyện, chưa được quang minh, thanh sảng; thì chắc chắn tâm hồn người ấy chưa đẹp đẽ là bao nhiêu, kết quả tu trì của người ấy hãy còn ít oi, chưa đáng kể.

III.—Mục đích tu thân theo Nho Giáo.

Theo Nho giáo, tu thân không phải để trị quốc, bình thiên hạ không mà thôi, mà còn là để trở thành thánh hiền.

Nho giáo không muốn cho con người dừng lại nửa chừng trên con đường tu đạo, tinh tiến, vì thế mà Đại Học chỉ cho con người ngừng lại sau khi đã tiến tới mức hoàn thiện.

Trong bài bình giải chương I, Trung Dung, Chu Hi đã cho thấy rằng tất cả công phu tu thân, dưỡng, tồn, tỉnh, sát của người chính nhân quân tử đều có mục đích đưa tới chỗ “Thánh Thần công hoá chi cực”

Thánh nhân theo Nho giáo là mẫu người lý tưởng của nhân loại, là những người thông minh, duệ trí phi phàm, là những người đã thể hiện được sự toàn thiện.

Chu Hi đã bình luận về Thánh Nhân như sau:

“Thánh Nhân có một đời sống hoàn toàn phù hợp với Thiên Lý. Có thể nói được thánh nhân có thể được mệnh danh là “Thành” (誠), vì đã sống một cuộc đời hoàn toàn phù hợp với tính Bản Nhiên, với Thiên Lý, và vì vậy, đã hợp được với trời đất, đã sánh được với Trời đất.”

“Chu Liêm Khê (Chu Đôn Di 1017—1073), một đại danh Nho đồi Tống, đã làm sống động lại Nho học, và chính là người đứng đầu Chu Nho thời Tống, cho rằng chữ Thành đồng nghĩa với chữ Thái Cực, chữ Lý. Thái Cực hay Lý ấy, bất kỳ ai cũng có, nhưng khi Thái Cực hay Lý đã lồng vào hình hài, khí chất không tinh tuyền, thì ảnh hưởng sẽ bị giới hạn lại. Chỉ có Thánh Nhân sống theo Tính Bản Thiện của mỉnh, nên thần trí người nhận định được hằng tính của mỗi vật, mỗi sự; ý chí người hướng về Chân, Thiện, Mỹ không chút khó khăn và sống trong đường nhân, nẻo đức, trong trật tự, trong bổn phận, không chút chi vất vả…

“Thánh Nhân sở dĩ có cái nhìn tinh tế, thấu triệt vì lòng không bợn tư tà, dục vọng, cho nên mới nhìn thấu đáo được những điều tinh vi, huyền diệu.

“Thánh Nhân không bị dục tình quấy nhiễu, nên lúc nào cũng ung dung, thanh thản. Thiên Lý, Thiên Đạo được thể hiện nơi Ngài một cách sáng tỏ, để soi đường dẫn lối cho ke ûkhác.

“Ảnh hưởng của Thánh Nhân thực là vô biên, như ảnh hưởng của Trời. Chu Hi nói:” Cũng như xem bốn mùa vần xoay, xem vạn vật sinh hoá, thì biết được Thiên Lý biến dịch ở khắp nơi, mà chẳng cấn Trời phải nói lên lời. Ở nơi Thánh Nhân cũng vậy, động hay tĩnh, nhất nhất đều khải minh nguyên lý huyền diệu: sự hoàn thiện, tinh tuyền sẵn có nơi người.” Và Chu Hi kết luận bằng những lời hào hứng nhu sau: Thánh Nhân là hiện thân của Trời.“[40]

Trung Dung có rất nhiều chương nói về Thánh Nhân. Ví dụ, nơi chương XXXII, Trung Dung viết:

Chỉ những đấng chí thánh trong thiên hạ,

Mới có thể vì đời sang sửa đại kinh.

Mới có thể xây căn bản cho xã hội quần sinh,

Mới thấy rõ luật đất trời sinh hoá,

Những bậc ấy hết cần nương tựa,

Trí tuệ Ngài thâm uyên,

Tâm hồn Ngài mang nhiên,

Nên trừ phi bậc thông minh duệ trí,

Trừ những ai đạt đức Trời tuyệt mỹ,

Ai là người hiểu được khúc nhôi?

Dịch kinh bình luận về Thánh Nhân như sau:

Đại nhân đức hạnh bao la,

Như Trời, như đất, bao la khôn cùng.

Sáng như nhật nguyệt hai vừng,

Sống đờI tiết tấu, hợp khung bốn mùa.

Những điều lành dữ, ghét ưa,

Quỉ thần đường lối, đem so khác nào.

Trước Trời, Trời chẳng trách đâu,

Sau Trời, cho hợp cơ màu thời gian.

Trời không trách cứ, phàn nàn,

Thời người còn dám than van nỗi gì?

Trời, người chẳng trách, chẳng chê,

Quỉ thần âu cũng chẳng hề oán than. [41]

TỔNG KẾT.

Đẻ thâu tóm lại quan niệm về Tu Thân của Nho Gia. ta có thể mượn lại lời lẽ giản dị của Trung Dung và của Mạnh Tử.

Trung Dung chương XX viết:

“Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu thân, phải gắng công lao.

Muốn nên hùng dũng, anh hào,

2 câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm,

TRÍ, NHÂN, DŨNG tu thân ấy Lý,

Biết Tu Thân ắt trị nổi người,

Trị người hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ âu tài đẩy đưa.”

Trung Dung chương XI viết:

“Tìm bí ẩn làm điều quái dị,

Cốt mong cho hậu thế ngượi khen,

(Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen,)

Đã là quân tử chẳng thèm quan tâm,

(Làm trai quyết chí tu thân,

Đường đường quân tử ta tuân đạo Trời.

Giữa đường đứt gánh, trở lui,

Bán đồ nhi phế có đời nào đâu.

Trung Dung quân tử trước sau,

Dẫu không tăm tiếng không rầu lòng ai.

Thánh nhân ấy thánh nhân rồi.”

Mạnh tử viết trong thiên Tận Tân chương cú thượng:

“Thấu triệt lòng sẽ hay biết Tính,

Hay biết Tính, nhất định biết Trời.

Tồn tâm, dưỡng Tính chẳng rời,

Thế là giữ Đạo thờ Trời chẳng sai.

Yểu hay thọ không thay lòng dạ,

Cứ tu thân một thủa đợi Ngài,

Đó là theo đúng mệnh Trời…

Mệnh Trời đó chớ rời gang tấc,

Theo ý Trời, ta chấc không sai.

Cho nên kẻ biết Mệnh Trời,

Tường long, vách lở là nơi chẳng gần.

Sống trọn Đạo đến cùng rồi chết,

Thế là theo đúng hết mệnh Trời.

Gông cũm chết uổng một đời,

Thế đâu phải chính ý Trời muốn đâu?

Muốn có Ngài tìm cầu sẽ cò,

Muốn mất Ngài, cứ bỏ Ngài đI.

Những điều lợi ích, tinh vi,

Lòng ta ta kiếm, ta đi ta tìm.

Tìm cầu Ngài, ta liền có Đạo,

Có được Ngài, trọn hảo Mệnh Trời.

Tìm điều vật chất bên ngoài,

Ngoài mình tìm kiếm sẽ hoài mất công.

Cả vạn vật ở trong ta đó,

Quay về ta, ta cố tinh thành,

Kiện toàn hoàn thiện tinh anh,

Vui nào hơn được vui mìng đương vui…

Cố đối với mọi người tử tế,

Muốn tìm Nhân ấy thế là Nhân,

Vẫn mang Ngài mà thân chẳng hiển,

Vì quá quen nên khiến chẳng suy.

Suốt đời Ngài độ ta đi,

Nhưng mà dung tục biết chi đạo Ngài..

Nói giản dị, vấn tắt hơn, ta thấy rằng Đạo Nho chỉ dạy con người “Khử nhân dục, tồn Thiên Lý”

Mà khử nhân dục là:

—Đừng bao giờ làm điều tà khuất.

—Đừng bao giờ suy niệm những điều tà khuất.

—Đừng bao giờ hại mình, hại người.

—Đừng làm gì đến nỗi phài che dấu, đậy điệm.

—Đừng làm gì khiến cho mình phải phàn nàn, xấu hổ.

* Mà tồn thiên lý là:

—Làm những điều quang minh, công chính, suy nghĩ những điều thanh tao, đẹp đẽ.

—Làm những điều ích mình, ích người.

—Làm những gì mình có thể làm được nơi thanh thiên, bạch nhật, mà mọi người có thể trông thấy, nghe thấy, mà mình không phải vì thế mà hối hận, phàn nàn.

Nói cho vắn tắt hơn nữa, ta thấy Nho Gia chỉ dạy con người sống theo đúng tiếng gọi của Lương Tâm.

Giờ đây, chúng ta có thể dựa vào những tiêu chuẩn tu thân của Nho giáo, để kiểm điểm lại xem tại sao chúng ta chưa tiến được bao lăm trên đường nhân, nẻo đức.

Sở dĩ chúng ta không tiến hoá được mấy, là vì:

a—Chúng ta thiếu lập chí cho hẳn hoi. Chúng ta đã không có gan dám lập chí để nên thánh hiền.

b—Chúng ta đã không dốc tâm cầu đạo, không cố gắng học hỏi, suy tư hết mình.

Những người thế gian cầu công danh, lợi lộc, có thể học hành, có thể làm lụng suốt ngày đêm, đến quên ăn, quên ngủ, thế mà những con người cầu đạo lại chưa hề đã say Đạo đến mức độ quên ngủ, quên ăn để học hỏi, suy tư.

Chúng ta học hành phất phới, thì làm sao nắm được nghĩa lý sâu xa?

Chúng ta suy tư hời hợt, thì làm sao khai trí, phát huệ?

c. —Chúng ta, chẳng nhiều, thì ít, đã đánh mất Bản Tâm, đã đánh rơi, đánh mất lương tâm, mà chẳng biết tìm nó lại.

Chúng ta có thể có một sự hiểu biết rất sâu rộng về các đạo giáo, các triết thuyết, các phép tu, lối luyện Đông Tây. Ấy thế nhưng lại có một sự hiểu biết hết sức là nông cạn, hời hợt về con người, về bản thân chúng ta. Chúng ta tưởng rằng tâm ta chỉ toàn có những tình cảm vụn vặt, những niệm lự phù phiếm,những tình dục hư hèn, mà chẳng có gì là tinh hoa, cao đại. Chúng ta tưởng rằng bao nhiêu cái hay, cái đẹp mà ta hiện có trong tâm trí ta là của xã hội, của đạo giáo bên ngoài đổ vào.

Chúng ta chỉ chú trọng đến những tiếng khen chê của thế nhân bên ngoài, mà không chú trọng đến lồi khen chê của Thần Lương Tâm bên trong. Chúng ta lại cho rằng Lương Tâm chúng ta có thể sai lầm, còn những vị lãnh đạo giáo, chính trị, xã hội bên ngoài của chúng ta, mới thần thông, quảng đại, không thể sai lầm.

Thế là mặc nhiên, chúng ta đã bị các tổ chức chính trị, xã hội, đạo giáo bên ngoài moi móc mất Chân Tâm rồi, như vậy dù trung nghĩa như Tỉ Can, chúng ta làm sao mà sống đời, sống đạo một cách đích thực được?

Chính vì đã đánh mất Chân Tâm, cho nên nhiều khi chúng ta trở nên vẩn vơ, phờ phạc, bần thần, hoang mang, ngơ ngác, u muội, đành lòng để cho ngoại cảnh cuốn lôi, như những chiếc lá khô trước cơn gió lốc.

Vì vậy, trong công trình tu đạo, điều cần thiết là phải tìm lại Lương Tâm, làm hoà với Lương Tâm.

d —Chúng ta đã không sống gần Trời, sống với Trời. Chúng ta đã để cho Trời sống trên các tầng Trời cao thẳm, hay trong các đền đài miếu mạo u linh, mà chẳng cho Trời sống trong đền thờ Tâm Hồn chúng ta. Và như vậy, chúng ta đã mất một người hướng dẫn chân thành nhất, sáng suốt nhất, tài năng nhất.

e —Chúng ta đã không biết đặt trọng tâm cải thiện tâm tư mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mà coi đạo giáo như là một cuộc hành xác phũ phàng, như là một cuộc mặc cả bán buôn, điều đình hơn thiệt giữa ta và Trời.

Tại sao chúng ta hằng ngày biết dọn nhà, dọn cửa, quét sân, quét sướng, tại sao chúng ta hằng ngày biết tắm rửa, làm sạch, làm đẹp cho xác thân, mà lại quên chuyện chỉnh trang lại tâm hồn chúng ta? Sao chúng ta lại trọng xác mà khinh hồn như thế vậy?

Khảo lại quan niệm tu thân theo Nho gia, ta thấy nó rất trong sáng và giản dị.

Các bậc thánh hiền Nho Giáo trước sau chỉ khuyên chúng ta:

—Lập chí cho cao siêu, lập chí trở thành thánh hiền.

—Sống theo lương tâm.

—Cố gắng cải thiện nội tâm.

—Cố gắng học hỏi, suy tư để tiến dần tới Chân Thiện Mỹ.

Ước gì quan niệm về tu thân theo Nho Gíao sẽ góp phần làm bừng cháy lên ngọn lửa Thiên Chân hiện còn đang âm ỉ, nhen nhúm trong lòng chúng ta và nhắc nhở chúng ta bổn phận then chốt của cuộc đời, đó là cố gắng tu thân để tiến tới Chân, Thiện, Mỹ.

Ước gì chúng ta hết thảy tìm lại được Bản Tính Trời nơi ta.

Ước gì chúng ta luôn sống trực diện với Thiên Nhan.

Ước gì chúng ta luôn sống theo tiếng gọi Lương Tâm.

Ước gì chúng ta trở nên những hiện thân của Thượng Đế, nên những mẫu người lý tưởng, thể hiện được Chân Thiện, Mỹ cho đến mức toàn vẹn. Mong lắm thay.

————————————-
*************           

CHÚ THÍCH

[1] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, tr. 317.

[2] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, tr. 317

[3] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, tr. 335

[4] Qui Nguyên Trực Chỉ, Đỗ Thiếu Lăng dịch, tr. 335

[5] Trần Trọng Kim, Nho Giáo II, tr. 39.

[6] 為 生 不 能 為 人,為 人 者 天 也。

人 之 為 人 本 於 天, 天 亦 人 之 曾 祖 父 也。

Vi sinh bất năng vi nhân, vi nhân giả Thiên dã. Nhân chi vi nhân bản ư Thiên. Thiên diệc nhân vi tằng tổ phụ dã. (Như vậy, đối với Đổng Trọng Thư, khi sinh ra con người chưa phải là người, chỉ mới là “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” như ta thường nói. phải đến khi nào hoàn thiện, mới thực là người.)

Trần Trọng Kim, Nho Giáo II, tr. 35.

[7] Trần trọng Kim, Nho Giáo, quyển hạ, tr. 167.

[8] Trần trọng Kim. Nho Giáo II, tr. 178—189—

[9] Trần trọng Kim. Nho Giáo II, tr. 229

[10] Trần trọng Kim. Nho Giáo II, tr. 231

[11] Bửu Cầm, Tống Nho, Đại Học tùng thư, Nhân Văn, Huế, 1952, tr. 92.

[12] Như trên, tr. 92

[13] Như trên, tr. 92—93

[14] Như trên. tr. 93.

[15] Wang Tch’ang Tche S.J. La Philosophie Morale de Wang Yang Ming, p. 1a.

[16] 良 知 即 是 獨 知 時,

此 知 之 外 更 無 知。

誰 人 不 有 良 知 在,

知 得 良知 卻 是 誰?

Lương tri tức thị độc tri thì,

Thử tri chi ngoại, cánh vô tri.

Thuỳ nhân bất hữu lương tri tại,

Tri đắc lương tri khước thị thuỳ?

Léon Wieger, Textes philosophiques, tr. 259—260.

Trung Quốc nhất chu , kỳ 682, tr. 8.

[17] 學 問 之 道 無 他﹕求 其 放 心 而 已 矣。

Mạnh tử, Cáo tử chương cú thượng, 11.

[18] Mạnh tử, Cáo tử chương cú thượng, 11

[19] Phan Bội Châu, Khổng học đăng, tr. 704.

[20] Pourquoi vous tourmenter ainsi à longueur de journée?

Pourquoi tant lire, tant étudier, tant discuter?

Toutes les incertitudes et les contradictions des Maitres.

Le savoir inné les tranche en un moment.

De naissance, tout homme a une boussole dans son coeur,

Ou mieux, il a dans son coeur même, la racine et la source de tout,

Alors que vous avez tout dans votre trésor,

Pourquoi quêtez—vous des miettes, de porte en porte?

(Wang Yang Ming), Henri Bernard Maitre, Sagesse Chinoise et Philosophie chrétienne, p. 87)

[21] Kinh Thi, Đại Nhã, Ức thiên.

[22] Trung Dung, I.

[23] 出 門 如 見 大 賓, 使 民 如 乘 大 祭。

 Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế.

Luận Ngữ, XII, 2.

[24] 人 間 私 語, 天 聞 如 雷。

 暗 室, 窺 心 神 目 如 電。

Thuận Trị quá giang.

[25] Xem Phản Đường.

[26] 克 己 復 禮 為 仁。 Khắc kỷ phục lễ vi nhân.

Luận Ngữ, XII, 1

[27] Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, 15.

[28] Như trên. chương XIII, XIV, XV.

[29] Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, 8.

[30] Nho giáo, Trần trọng Kim, q. hạ, tr. 137.

[31] Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 166.

[32] Tống Nho, Bửu Cầm, tr.102.

[33] Tống Nho, Bửu Cầm, tr. 177—178

[34] Luận Ngử, I, 4.

[35] Luận Ngữ, IX, 27

[36] Luận Ngữ, XII, 4.

[37] 誠 則 形; 形 則 著; 著 則 明; 明 則 動; 動 則 變; 變 則 化。

Thành tắc hình; hình tắc trứ, trứ tắc minh; minh tắc động; động tắc biến; biến tắc hoá.

Trung Dung, XXIII.

[38] Đại học, VI.

[39] Mạnh tử, Tận Tâm chương cú thượng, 24.

[40] Stanislas le Grall, Le Philosophe Tchou Hi, sa doctrine, son influence, page 63 và tiếp theo.

[41] Kinh Dịch, Quẻ Kiền, Văn Ngôn, Hào Cửu Ngũ.

*************           

CHƯƠNG XXVIII

CON ĐƯỜNG HUYỀN NHIỆM
TRUNG DUNG.

Từ trước tới nay, nói đến Trung Dung, người ta thường quan niệm đó là một cuộc sống không thái quá, không bất cập, nước đôi, lấp lửng giữa dòng.

Thậm chí nhà học giả Lâm Ngữ Đường còn đề cao lối sống lừng chừng, trung lập, nước đôi đó và giới thiệu nó như là một đời sống lý tưởng với các độc giả Âu Châu, qua bài Bán Bán Ca của Lý Mật Am, mà tôi xin dịch như sau:

Ta sống quá nửa đời phù phiếm,

Mới nhận ra huyền nhiệm Trung Dung,

Trung Dung hương vị khôn cùng,

Làm cho lòng dạ, tưng bừng niềm vui.

Lúc mà cái con người sướng nhất,

Chính là khi tới mức trung niên,

Quang hoa dùng dắng triền miên,

Như chờ, như đợi gót tiên tạm ngừng.

Cõi trần lọt giữa chừng Trời đất,

Giữa tỉnh quê, ta cất nhà ta,

Thảnh thơi ta mở trại hoa,

Giữa chừng sông núi, la đà nước non,

Biết vừa đủ, tiền nong vừa đủ,

Vòng lợi danh, vương nửa tấm son.

Không xinh, nhưng cũng dễ nom,

Không giàu nhưng cũng còn dòn hơn ai,

Nhà ta xây, nửa đài, nửa các,

Đồ đạc ta lác đác đủ chơi,

Áo ta cũ mới chơi vơi,

Uống ăn na ná như người bậc trung.

Vài tôi tớ không thông, không dở,

Vợ con ta đơ đỡ, ta ưng.

Nửa tiên, nửa tục lừng chừng,

Nửa cùng thần thánh, nửa cùng thê nhi,

Nửa bụng dạ, lo vì con cái,

Nửa tâm hồn gửi lại Hoàng Thiên,

Để khi thoát xác ta yên,

Dễ bề thưa gửi, biết niềm tới lui.

Ngà say là lúc ly bôi,

Đoá hoa hàm tiếu là thời mê ly,

Buồm nửa cánh, thuyền đi thong thả,

Cương vừa dong, vó ngựa mới hay.

Quá giầu, phiền luỵ sẽ dầy,

Quá nghèo cuộc sống sẽ đầy truân chuyên.

Trần ai, sướng với phiền khó tách,

Trong ngọt ngào, pha phách đắng cay.

Hưởng đời đừng quá mê say,

Lừng khừng đại khái tháng ngày tiêu dao…[1]

Nhưng nếu Đức Khổng và các danh Nho chỉ đưa ra cho nhân quần một mục phiêu tầm thường như vậy, thì có gì đáng cho thiên hạ kính tôn?

Nếu Trung Dung được các danh nho coi là tâm pháp của Khổng giáo, là tuyệt phẩm thì phải có cái gì cao siêu gấp bội.

Trong bài này, tôi muốn chứng minh Trung Dung, hiểu cho đúng mức, sẽ là Thiên Đạo, sẽ là đạo vô thượng trong thiên hạ, vì chỗ đạt đạo, đạt đích của Trung Dung cũng tương đồng với chỗ đạt đạo, đạt đích của các đạo giáo trong thiên hạ.

Tôi sẽ lần lượt:

—Định nghĩa và khai thác 2 chữ Trung Dung.

—Trình bày về Thiên Đạo với những nét đặc thù chính yếu của nó, theo Trung Dung.

A. Hai chữ Trung Dung

Chữ Trung, theo Từ Nguyên, là một mũi tên bắn trúng hồng tâm.

Trình Tử và Chu Hi giải Trung là bất thiên, bất uỷ, nghĩa là không thiên lệch, không dựa vào đâu.

Chữ Dung, theo Trịnh Huyền, có nghĩa là dùng, là áp dụng, còn theo Trình Tử, thì có nghĩa là không biến đổi.

Sau khi hội ý tiên nho, tôi giải thích 2 chữ Trung Dung một cách thông thường như sau:

Trung là Tâm Điểm.

Dung là bất biến,

Trong vòng biến thiên, ảo hoá của vũ trụ, vạn hữu này, chỉ có một Tâm Điểm bất biến, hằng cửu, ấy là Bản Thể, là Tuyệt đối, là Vô Cực, là Thái Cực, là Đạo, là Trời.

Chính vì thế, mà Dịch Kinh đã vẽ Thái Cực ở Tâm Điểm vòng Dịch, còn các hào quái, tượng trưng cho vạn hữu, hình tướng bên ngoài, thì vẽ lên trên vòng tròn bên ngoài, lên trên vòng Dịch bên ngoài.

Tâm điểm, vì ở giữa vòng biến thiên của vạn hữu, nên không hề nghiêng lệch về bên nào. Tâm điểm, vì là cơ cấu, là căn cơ, gốc gác muôn loài, nên cũng không hề phải dựa nương vào đâu. Vì thế Trình Tử mới nói Trung là bất thiên, bất ỷ.

Muôn loài, muôn vật biến thiên, âu phải có một căn cơ bất biến, hằng cửu làm chủ chốt. Chính thế mà Trình tử giải Trung Dung là bất biến.

Thế tức là với 2 chữ Trung Dung, Khổng tử đã vạch cho chúng ta cả một chương trình hành động, cả một con đường giải thoát. Nghĩa là:

—Sống trong muôn vàn hiện tượng biến thiên, chúng ta phải tìm cho ra cái Căn Cơ duy nhất, bất biến.

—Ở đâu có biến thiên, ở đấy phải có Căn Cơ duy nhất, bất biến làm chủ chốt.

—Ở nơi con người chúng ta, cũng đầy rẫy mọi hiện tượng biến thiên, như vậy, trong con người chúng ta phải có một căn cơ duy nhất, bất biến làm chủ chốt.

—Mà chỉ có Trời, có Đạo, có Thái Cực mới bất biến. Suy ra, trong ta, chắc chắn phải có Đạo, có Trời, có nguồn sống siêu nhiên, vĩnh cửu làm chủ chốt.

—Cái gì biến thiên thì còn ở trong vòng sinh tử, khổ đau. Cái gì bất biến mới thoát ra ngoài vòng biến thiên, sinh tử, khổ đau.

—Thế nên, con người, muốn thoát vòng sinh tử, khổ đau, phải đạt cho tới Tâm Điểm bất biến, đạt cho tới Trung Dung.

Đức Phật cũng đã nói: “Hỡi các tỳ Khưu, có một thực trạng bất sinh, bất thành, bất ỷ, bất tạp, vì nếu không có thực trạng ấy, thì làm sao mà giải thoát được cái sinh thành, ỷ tạp? Nhưng vì có thực trạng ấy, nên có đường thoát cho cái sinh thành, ỷ tạp.” [2]

Vivekananda cũng đã viết:” Chúng ta trước hết phải đi tìm cho ra một tâm điểm phát sinh ra mọi bình diện sinh hoạt khác. Khi đã tìm cho ra được tâm điểm rồi, chúng ta mới mong tìm ra được một giải pháp. Đó là chương trình của ta.

“Tâm điểm ấy ở đâu? Thưa nó ở ngay trong lòng chúng ta. Các hiền triết cổ thời đã tìm sâu mãi vào tâm con người, cho đến khi khám phá ra được rằng Tâm Khảm con người chính là Trung Tâm vũ trụ.

“Tất cả mọi bình diện khác đều xoay quanh tâm điểm duy nhất ấy, và chỉ từ đó, chúng ta mới tìm ra được giải pháp chung cho mọi người. [3]

Văn Đạo Tử cho rằng: Tâm điểm ấy chính là Thiên đạo. Vào được Tâm Điểm của lòng người, tức là vào được Tâm Điểm của vòng Dịch, thoát luân hồi, sinh tử, thế tức là vào được trục Pháp Luân theo danh từ Phật Giáo.

Ta hãy nghe Văn Đạo Tử trình bày:

“Thiên đạo cư Trung, lập cực, nên vận chuyển muôn đời mà không sai thất, cũng như trong bánh xe, các vành xe và tai hoa xe vận chuyển không ngừng là nhờ ở trục xe. Nếu ta giữ vững được Trung Điểm, tận dụng được Thái Cực, thì có thể chuyển vần với vạn vật mà vẫn có thể góp phần được với Trời đất trong công trình hoá dục.

“Cho nên người quân tử tu nhân đạo để hợp Thiên Đạo. Hợp Thiên Đạo tức là vào được trục của vòng Dịch, thoát ra ngoài vòng kiềm toả của các hiện tượng: Hỗ trợ muôn vật mà không tơ vương, dính bén muôn vật; xoay chuyển vòng biến dịch, mà chẳng chuyển dịch với bánh xe biến thiên, luân hồi.

“Hoàng đế nói: “Vũ trụ ở trong tay, vạn hoá sinh trong mình.

“Phật nói: “Thu bể khơi vào trong sợi lông, đem núi Tu Di lồng vào trong hạt cát, đâu phải là thuật lạ. Bất quá các Ngài đã nắm được trục Pháp Luân. Ôi vi diệu thay trục của Pháp Luân, hỏi mấy ai đã biết? Chẳng rõ được trục mà chỉ biết nói Pháp Luân vận chuyển, thì chóng chày cũng bị vận chuyển theo Pháp Luân, làm sao thoát vòng sinh tử được?” [4]

Như vậy, nếu ta đặt 2 chữ Trung Dung vào tâm điểm một vòng tròn, ta sẽ có ngay 1 chìa khoá thần để mở các chốt then đạo giáo, thấu triệt huyền cơ vũ trụ và con người. Thực vậy, nếu ta nhận định rằng Tuyệt đối hằng cửu, bất biến ở ngay tâm điểm mọi vòng biến dịch, ta sẽ nhận định ngay được rằng Tuyệt đối hằng cửu ở ngay trung tâm não bộ chúng ta, vì đầu ta là một hình cầu.

Lão giáo gọi nơi đó là Huyền quan Khiếu, là Cốc Thần là Nê Hoàn. Phật giáo với lời Chú: Oum, mani Padme Hum đã xác nhận rằng giữa bông hoa sen đầu não chúng ta, đã có sẵn Ngọc Châu Viên Giác.

Học giả Lilian Silburn, trong tác phẩm Instant et Cause đã viết: “Tìm ra được Chân Tâm tương đương với Brahman Thượng Đế, vừa là tâm điểm của lòng mình, vừa là Tâm Điểm của vũ trụ, là một khám phá lớn lao của các vị Đạo sĩ Bà La Môn, sự khám phá này đã dẫn tới sự thành hình của bộ Áo Nghĩa Thư.” [5]

Sau khi đã trình bày hai chữ Trung Dung như là Tâm Điểm bất biến của vũ trụ và của lòng con người, ta có thể nói một cách chắc chắn nhu sau: Bất kỳ ở tôn giáo nào, nếu con người chưa tìm ra được Thượng đế ngự trị trong tâm khảm mình, làm chủ chốt cho mọi tâm tư, hành vi trong ngoài mình, thì con người vẫn còn ở trong vòng mê lạc, chưa thể nào có thể giải thoát được.

Tất cả những lời trình bày minh biện ở trên chỉ có mục đích đưa tới một nhận xét sơ khởi này là: Trung Dung chính là Thiên Đạo.

*************           

II.— TRUNG DUNG LÀ THIÊN ĐẠO.

Để cho vấn đề được sáng tỏ, chúng ta có thể dựa vào thuyết Tam Tài của Nho Giáo, mà nhận định rằng: Thực ra con người không phải chỉ có một thứ Đạo, mà có đến 3 thứ đạo:

a) Trước hết, vì có Xác, nên con người cần phải khai thác ngoại cảnh, để nuôi dưỡng chăm sóc xác thân cho nó được no ấm, khoẻ mạnh. Đó là Địa Đạo hay Vật Đạo.

b) Thứ đến, vì có Tâm Hồn, nên con người phải ăn ở cho xứng đáng, đối đãi với nhau cho hẳn hoi, để khỏi thẹn với danh hiệu con người. Đó là Nhân Đạo.

c) Sau hết vì con ngưởi có Thiên Tính, có Thần, nên con người phải sống siêu việt lên trên bình diện tâm hồn, sống trên bình diện siêu linh, thần thánh hoá mình, để sống phối hợp với Thượng Đế, ngay từ khi còn ở gian trần này. Đó là Thiên Đạo.

Người xưa, cũng còn gọi Thiên đạo là đạo Trung Dung, hay Trung Đạo, hay Chân Đạo hay Đại Đạo.

Thiên đạo không dạy ta van vái một Thần Minh nào, dù là siêu việt đến đâu, mà chỉ nhắc nhở chúng ta rằng chính mình chúng ta đã sẵn có bản thể Thần Minh, vì thế chúng ta cần phải trở thành Thần Thánh.

Trung Đạo hay Thiên Đạo, theo đúng như lời Hegel đã nói, là sự cao cả mà con người đã đạt được, sau khi đã tháo gỡ được mọi phiền trược, trở ngại, để đi vào đời sống vô cùng. Đó là Chân Đạo. [6]

Chân Đạo chính là sự vươn mình lên cho tới Thần Linh. [7]

III.— NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA ĐẠO TRUNG DUNG.

A. Con người với Trời có đồng một bản tính.

Trung Dung với mấy chữ vắn vỏi: “Thiên Mệnh chi vị Tính” đã cho chúng ta thấy rằng: Con người nếu muốn bước vào Thiên Đạo, trước hết phải có một nhận thức nghiêm chỉnh và chính xác về Bản Thể mình, Bản Tính mình.

Trung Dung cho rằng Bản Tính con người chính là Thiên Tính. Nói nôm na, Bản tính con người và Bản Tính Trời là một.

Thế tức là sau những bộ mặt nạ hoá trang, mà sân khấu đời đã bắt ta phải mang, phải giữ, sau những lớp bùn đất thời gian, ngoại cảnh bên ngoài của những con người thực tại (empirical ego; moi empirique), còn đang luân lạc trong chốn bụi hồng của trần ai, tục luỵ, còn có bộ mặt vô cùng xinh đẹp của con nguời lý tưởng (ideal ego; moi idéal) ẩn khuất bên trong. Bộ mặt đó, người Á Đông theo Phật giáo, thường gọi là Bản Lai Diện Mục.

Từ khi tôi khám phá ra được điều quan trọng này, tôi đã dùng nó như là kim chỉ nam, để tìm cho ra Đại Đạo khuất lấp trong các cánh rừng sâu tôn giáo và triết học trên thế giới.

Gần đây, có dịp đọc quyển Lịch Đại Cao Tăng Cố Sự, tôi thấy Hoà Thượng Đạo Sinh, sống vào thời đại Nam Bắc Triều bên Tàu, đời Lưu Văn Đế (424—453) cũng có chủ trương y hệt như tôi. Đạo Sinh bình rằng: Nhà Nho gọi là Thiên Mệnh, thì Nhà Phật gọi là Phật Tính, mà Phật Tính là Thiên Tính. [8]

Ấn Độ giáo cũng cho ràng Con người chân thực trong ta chính là Atman, Brahman. Tat Tvam Asi = Con là Cái Đó.

Phật giáo nhất là nơi kinh Đại Niết Bàn chủ trương rằng mọi người đều có Phật Tính.

Thánh Kinh cũng có một câu làm tôi hết sức sung sướng. Đó là Thượng Đế chính là sự sống của bạn. [9]

Nếu Thượng đế là sự sống chúng ta, thì Ngài chính là Bản Thể chúng ta vậy. Ngài xưng Mình: “Ta là Bản Thể “(Ego sum qui sum. Exodus 3, 14). [10]

Hội Nghị Thông Thiên Học Quốc Tế tại Salzbourg nước Áo có những lời tuyên ngôn hết sức nảy lửa. Ví dụ:”

—Trong ta có một Vô Cùng. [11]

—Giác Ngộ tâm linh sẽ mặc khải cho thấy yếu tố Thần Linh duy nhất trong Tâm Thần mọi người.[12]

—Thời buổi này, cần phải nhận chân rằng trong mọi con người, có một tàn lửa Thiên Chân và những khả năng vô biên, vô tận. [13]

—Tôn giáo xưa cho rằng Trời và người xa cách nhau. Thông Thiên ngày nay cho rằng Trời Người là một. [14]

*************           

B. Nhân Tâm thuận tòng Thiên Lý thế là Đạo. (Suất tính chi vị Đạo)

Theo Trung Dung, Đạo Trời thật là chí giản, chí dị. Muốn theo Đạo Trời, muốn theo Thiên Lý, con người chỉ cần lắng nghe tiếng gọi của Lương Tâm. Trung Dung gọi thế là Suất Tính.

Lương Tâm luôn luôn dạy chúng ta làm những điều cao đại, minh chính, luôn luôn dạy chúng ta từ bi, hỉ xả, coi người như mình, trọng Nghĩa, khinh Lợi.

Còn tư tâm chúng ta thì luôn luôn muốn làm những điều tà nguỵ, bất trung, bất chính, ích kỷ, hại nhân, vọng hành, vọng niệm.

Như vậy, thuận tòng Thiên Lý, tức là gạt bỏ những điều tà nguỵ, để tiến tới công chính, từ bỏ mọi điều ti tiện, cục cằn để vươn lên tới tinh hoa, cao đại.

Vương Dương Minh nhận định về Lương Tâm, Lương Tri như sau: “Lương Tâm ở trong người ta như ánh sáng của mặt trời ở trong không gian. Khi ta ngồi vào chỗ tối, ta tưởng là không có ánh sáng nữa, nhưng kỳ thực nó vẫn vằng vặc trong khoảng trời đất. Chỗ tối ấy là vọng niệm, là tư dục, nó chỉ che được cái sáng, chứ không làm mất cái sáng… Sự học cốt là bỏ cái tối, cái che đi, để thấy rõ cái sáng của Lương Tri vậy…”[15]

Bà H. P. Blavatsky, viết trong quyển Mật Giáo (Doctrine Secrète): “Chỉ có Nguyên Lý tuyệt đối, bất khả tư nghị, căn nguyên vạn hữu, mới đáng có đền thờ và bàn thờ trong khu đất thiêng liêng và u tịch của lòng ta. Nguyên Lý ấy, nhìn không thấy, bắt không được, mung lung, huyền ảo (nhưng ta vẫn có thể cảm thấy được) qua trung gian, tiếng nói thầm lặng của Lương Tâm. Kẻ nào thờ phượng Nguyên Lý tuyệt đối ấy, phải thờ trong yên lặng và trong sựï u tịch thiêng liêng của Tâm Hồn mình.” [16]

Bà Blavastky còn viết: “Atman, Đại Ngã… sẽ tỏ quyền năng cho kẻ nào có khả năng nghe được tiếng nói thầm lặng của Lương Tâm. Từ thủa ban sơ, cho đến thời hiện đại, không có một triết gia chân chính nào mà không mang trong đền đài u tịch của tâm hồn mình Chân Lý cao đại và huyền diệu đó. Nếu là trường hợp người được điểm đạo, thì sự học biết về Lương Tâm lại trở thành một khoa học thiêng liêng…” [17]

C. Trời, Luật Trời, Đạo Trời không rời con người một phút giây.

Đọc câu “Đạo bất khả tu ru li” nơi đầu sách Trung Dung, tôi đã tìm ra được 3 định luật quan trọng của người xưa:

1)—Một là Trời chẳng hề lìa xa con người.

2)—Hai là Luật Trời chẳng hề có lìa xa con người, mà đã được ghi tạc vào trong tâm con người.

3)—Ba là Chân đạo hay là con đường dẫn từ Người tới Trời, đã có sẵn trong tâm thần mọi người.

Tôi tin rằng đó là những quan niệm hết sức xác đáng, hết sức phổ quát, cần được bàn bạc, suy tư, học hỏi cho tận tường.

—Trước hết, ta hãy bàn về quan niệm Trời chẳng xa người.

Quan niệm này chẳng những đã được trình bày nơi đoạn I, đoạn XVI sách Trung Dung, mà còn được trình bày trong Kinh Thi.

Trung Dung vì tin rằng Trời đã tiềm ẩn trong lòng con người và nhìn thấy rõ mọi tâm tư, niệm lự của chúng ta, nên đã khuyên người quân tử phải luôn luôn e dè, kính sợ, phải luôn luôn thận trọng, dầu là khi một bóng, một mình.

Trung Dung viết:

“E dè cái mắt không nhìn,

Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.

Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,

Càng siêu vi, càng tỏ sáng nhiều,

Nên dù chiếc bóng tịch liêu,

Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng… [18]

 Kinh Thi viết:

Trái Tây Bắc góc nhà thanh vắng,

Đừng làm chi đáng để hổ ngươi.

Đừng rằng tăm tối chơi vơi,

Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.

Thần giáng lâm ai mà hay biết,

Nên dám đâu khinh miệt, dể ngươi. [19]

—Thứ đến là Luật Trời chẳng lìa xa con người.

Chương XIII, Trung Dung viết:

“Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập Đạo xa rời chúng dân.

Hiếu kỳ, lập dị là lầm.”

 Kinh Thi viết:

“Đẽo cán rìu, có liền bên cán mẫu,

Trông lại nhìn, cố đấu cho in”

Ngắm đi, ngắm lại liền liền,

Đẽo lui, đẽo tới, mắt xem chưa vừa.

Nên quân tử khi lo giáo hoá,

Sửa trị người, sẵn có khuôn Người,

Thấy người giác ngộ, thời thôi,

Đã chiều cải hoá, liệu bài ta ngưng.” [20]

Cụ Phan Bội Châu bình giải câu: “Dĩ Nhân trị nhân” của Trung Dung như sau: “Chữ Nhân (trong câu dĩ Nhân trị nhân) ở trên tức là Chân Lý của Người tức là Đạo, chữ nhân ở dưới là thân thể của người, tức là nhân. Lấy Đạo người trị người chính là kiểu mẫu không xa, lại còn thiết tha hơn Phạt Kha (tức là đẽo rìu có sẵn cán mẫu bên cạnh mà theo) kia nữa. [21]

—Con đường từ người tới Trời đã có sẵn trong tâm thần con người.

Nhận định này chỉ là một sự suy diễn tự nhiên của quan niệm Trời chẳng xa người đã đề cập tới nơi trên.

Thực vậy, Đạo chẳng qua là sự tìm ra được Trời ngự trị trong lòng mình, tìm lại được Bản Tính Thần Minh sang cả của mình, bắc được nhịp cầu giữa lòng mình với Thần Trời trong lòng mình, phạt quang được gai góc, lau lách của thất tình, lục dục, phá tan được lớp sương mù dày đặc của sự ngu si, mê vọng, tức là sẽ tìm lại được Trời, được Đạo nơi tâm.

Mới hay:

“Trời tuy thị vô biên, vô tận,

Nhưng mà Trời vẫn lẩn trong tâm.

Thật là kỳ ảo khôn cùng,

Không hơi, không tiếng vẫn lừng uy danh.

Khuôn phép Trời chí thành, chí thiện,

Tiếng của Trời là tiếng lương tâm,

Mới hay trong chốn cát lầm,

Muôn ngàn đã sẵn vô ngần ngọc châu,

Mới hay giữa sông sâu, núi thẳm,

Vẫn có đường bằng phảng thênh thênh.

Đường Trời rong ruổi mặc tình,

Không xiên, không vẹo, không vênh, không tà.

Đường Trời nọ bao la thảng đãng,

Không quanh co, không vặn, không xiên,

Đường trời phẳng lặng, êm đềm,

Không hề tráo trở, đảo điên, vạy vò.

Đường Trời nọ thẳng vo, thẳng tắp,

Vút một lèo tới cực cao minh,

Đó là Duy Nhất, Duy Tinh,

Đó là Thái Cực tinh thành xưa nay.

Cuộc phù thế chớ say danh lợi,

Bả lợi danh phất phới hão huyền,

Chớ mê những cái đảo điên,

Mà quên mất cái vững bền ngàn thu.

Sông thế sự hãy ưa chèo ngược,

Chèo ngược dòng lên tuốt căn nguyên.

Căn nguyên là chính thanh thiên,

Vô biên vô tận triền miên không cùng.

Bỏ phù phiếm tìm tông, tìm tích,

Dương cung thần ngắm đích thâm tâm,

Ngắm vào Trung Điểm tâm thần,

Ấy là thoát cõi hồng trần lầm than.

Như trăng sáng băng ngàn trần thế,

Rẽ Đẩu, Ngưu, đượm vẻ thần tiên.

Ấy là Tâm Pháp thánh hiền,

Ấy là Trung Đạo tương truyền xưa nay,,,[22]

*************           

Thông Thiên học cũng chủ trương phải tìm Đạo, tìm Trời ngay trong lòng mình.

Ông Joy Mills, trong 1 bài thuyết trình tại đại hội Thông Thiên Quốc Tế ở Salzbourg có trích dẫn 1 đoạn Upanishads như sau: “Có một ánh sáng chiếu soi cùng khắp trời đất, đó là ánh sáng chiếu soi trong lòng chúng ta. có 1 nhịp cầu nối liền thời gian và vĩnh cửu, và nhịp cầu ấy là Thần con người. Trên cầu ấy chẳng có ngày đêm, chẳng có lão tử, chẳng có sầu muộn…

Một khi đã tìm thấy nhịp cầu ấy, con người sẽ nhìn thấy rõ tương lai, sẽ khỏi hết thương tích, bệnh tật. Đối với ai đã vượt được cầu ấy, đêm sẽ trở thành như ngày, vì trong thế giới Thần Linh có một ánh sáng vĩnh cửu.” [23]

Đại Hội Thông Thiên Quốc Tế ở Salzbourg cũng còn nhận định rằng: “Người ta thấy được Thượng Đế trong tạo vật Ngài…Ngay trong lòng mình, con người có thể tìm thấy đời sống Thượng Đế. Về phương diện đạo giáo, sự khám phá này cũng vĩ đại như sự khám phá ra nguyên tử năng. Nó cho con người 1 quyền lực tinh thần không bờ bến, cũng như nguyên tử năng đã cho con người một sức mạnh vật chất kỳ diệu.” [24]

Nếu vậy, thì các vị Giáo chủ xưa nay, thực ra đã không tạo ra được Đạo, mà chỉ là những ngón tay chỉ cho ta thấy Đạo đã sẵn có nơi ta, chỉ là những người có công giúp chúng ta phạt quang gai góc, phạt quang lau lách đã mọc um tùm trong Tâm Hồn ta làm cho mất hết dấu vết của Đại Đạo mà thôi.

Cũng một lẽ Chân Đạo không thể xuất cảng được từ nước này sang nước nọ, và cũng không phải là một cái gì tự trên trời xa lắc rơi tòm xuống tâm hồn ta.

Năm 1961, nhân dịp ghé qua Pháp, một buổi tối, tôi đứng trên tháp Eiffel, ngắm cảnh trời mây ban đêm ở Paris, với nhũng cảnh đèn rực rỡ, như muôn vì sao óng ánh trên các căn nhà, và các nẻo đường của Paris. Tôi hết sức xúc động khi nhận thấy rằng mặt trăng và những làn mây trên bàu trời Paris, cũng như bàu không khí nơi đây cũng y hệt như mặt trăng, và những làn mây trên bàu trời V.N. và không khí quanh tôi cũng hoàn toàn giống in, không chút chi khác biệt. Tất cả đều là những gì tôi đã thường xuyên thưởng ngoạn từ khi tôi còn tấm bé.

Tôi chợt suy ra rằng: Nếu mặt trời, mặt trăng, cần yếu cho tôi, thì Thượng đế chẳng hề tỏ ra xẻn xo và cũng đã ban cho tôi mặt trời, mặt trăng y thức như là đã cho mọi người trên thế giới. Nếu không khí cần thiết cho con người, thì ai sinh ra cũng được hít thở một bàu không khí như nhau. Như vậy, nếu đạo giáo cần cho con người, thì ai sinh ra ở đời cũng đã mang sẵn như nhau một Chân Đạo ấy ở trong tâm, dầu là người thời ban sơ, hay thời thế mạt… chứ không phải nghển cổ trông tới một thời nào đó mới có những người đem Chân Đạo nhập cảng vào để ban phát cho. Và tôi cũng nhớ lời Chúa phán nhân dịp ban truyền 10 điều răn Thiên Chúa. Chúa đã phán rằng:” Thực vậy, lề luật mà ta truyền dạy ngươi hôm nay, không có ở ngoài tầm kích ngươi. Nó không ở trên Trời, để ngươi phải nói:” Ai lên Trời cho chúng tôi để tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành.” Nó cũng chẳng ở cách trùng dương để ngươi phải nói:” Ai sẽ vượt biển cả cho chúng tôi, để tìm luật đó để chúng tôi được nghe biết và được thi hành.” Đạo kề bên ngươi, Đạo ở trong miệng, trong lòng ngươi, để ngươi có thể đem thực hiện.” [25]

—Những phương pháp tổng quát để tiến tới Chân Đạo.

Sau khi đã vạch rõ cho mọi người thấy rằng có một Căn cơ hết sức là sang cả, đó là Thiên Tính ; sau khi đã cho con người thấy rằng Trời, Đạo hay Định Luật Trời đã sẵn có trong tâm linh con người, Trung Dung đã đề ra 3 phương pháp chính yếu để giúp con người tiến tới hoàn thiện.

—Mở mang trí huệ, để đi đến chỗ đại trí, đại giác. Đó là TRÍ.

—Luôn luôn thực thi những điều hay, điều phải để tiến tới Nhân Đức thực sự. Đó là NHÂN.

—Cố gắng không ngừng, để phát triển năng lực tinh thần, để tiến mãi tới chỗ tinh vi, cao đại, đó là DŨNG.

Trung Dung viết:

“Muốn thông thái không ngoài học vấn,

Muốn tu nhân, phải gắng công lao.

Muốn nên hùng dũng, anh hào,

Hai câu liêm sỉ ghi vào thâm tâm.

Trí, Nhân, Dũng tu thân ấy lý,

Biết tu thân ắt trị nổi người.

Trị người hiểu biết khúc nhôi,

Con thuyền thiên hạ, âu tài đẩy đưa. “[26]

 Muốn phát huy những năng lực nội tại, những đức tính nội tại, con người không cần phải đi vào thâm sơn, cùng cốc, bè bạn cùng hùm beo, khỉ vượn, mà chỉ việc vui sống trong mọi hoàn cảnh mình gặp trên bước đường đời. Trung Dung viết:

“Người quân tử sống theo địa vị,

Không ước mơ, suy nghĩ viển vông.

Sang giàu sống lối sang giàu,

Nghèo hèn sống lối nghèo hèn ngại chi.

Tới man di, sống y man mọi,

Gặp gian lao vui nỗi gian lao,

Bất kỳ sống ở cảnh nào,

Lòng người quân tử ra vào thoả thuê.” [27]

Gần đây, Edgar Cayce, trong giấc thôi miên, cũng đã nói: “Bạn hãy sống cho xứng đáng trong nơi chốn bạn ở. Khi bạn đã chứng minh được điều đó, Thượng Đế sẽ tìm cho bạn những con đường tốt hơn.” [28]

Trung Dung cho rằng: Theo Đạo Trời, không phải là để mong làm những điều quái dị, cho hậu thế ngượi khen, mà chính là bền vững theo con đường đạo đức, công chính cho đến kỳ cùng.

Trung Dung viết:

“Tìm bí ẩn, làm điều quái dị,

Cốt mong cho hậu thế ngượi khen.

(Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen,)

Đã là quân tử, chẳng thèm quan tâm,

(Làm trai quyết chí tu thân,)

Đường đường quân tử, ta tuân đạo Trời.

Giữa đường, đứt gánh trở lui,

“Bán đồ nhi phế”, có đời nào đâu.

Trung dung quân tử trước sau,

Dẫu không tăm tiếng, không rầu lòng ai,

Thánh nhân, ấy thánh nhân rồi.” [29]

Về công cuộc tu thân, sách Bhgavad Gita của Ấn Giáo cũng đả kích những lối hành hạ xác thân phi lý, và chỉ khuyên những lời ý vị như sau: “Thanh tịnh, khiết trinh, từ bi, chính trực đó là Luyện Thân. Nói lời cho lành, cho đúng, cho khéo, cho hay, đó là Luyện Khẩu. Giữ cho tinh thần được thanh cao, tĩnh lãng, thái hoà, tự chủ được mình, đó là Luyện Thần.” [30]

Tóm lại, đối với Trung Dung, bí quyết để tiến tới tinh hoa, cao đại, chính là học hỏi cho tinh tế, biện luận cho rạch ròi, tìm hiểu cho rốt ráo; khi đã nắm vững chân lý rồi, nhất quyết đem ra thi hành cho tới thành toàn.

Trung Dung viết:

“Hoàn toàn là Đạo của Trời,

Trở nên hoàn thiện, đạo người xưa nay.

Người hoàn thiện cất tay là trúng,

Chẳng cần suy, cũng đúng chẳng sai.

Thung dung Trung Đạo tháng ngày.

Đó là vị thánh từ ngay lọt lòng.

Còn những kẻ cố công nên thánh,

Gặp điều lành, phải mạnh tay co,

Ra công học hỏi, thăm dò,

Học cho uyên bác, hỏi cho tận tường.

Đắn đo, suy nghĩ kỹ càng,

Biện minh thấu triệt, quyết mang thi hành.

Đã định học, chưa thành chưa bỏ,

Đã hỏi han chưa tỏ, chưa thôi.

Đã suy, suy hết khúc nhôi,

Chưa ra manh mối, không rời xét suy.

Biện luận mãi, tới khi vỡ lẽ,

Chưa rõ ràng, không thể bỏ qua,

Đã làm, làm tới tinh hoa,

Tinh hoa chưa đạt, việc ta còn làm.

Người một chuyến, thâu toàn thắng lợi,

Ta tốn công, dở dói trăm khoanh,

Người làm 10 bận đã thành,

Ta làm nghìn thứ, ta ganh với người.

Đường lối ấy, nếu ai theo được,

Dẫu u mê, sau trước sẽ thông.

Dẫu rằng mềm yếu như không,

Sớm chày, cũng sẽ ra lòng sắt son. [31]

 ***

—Đạt đạo Trung Dung sẽ trở thành thần thánh.

Sau khi đã dùi mài học hỏi, suy tư đến mức khai thông được trí tuệ, sau khi đã tha thiết đem thực thi những điều hay, điều phải, đến mức nhân đức vẹn toàn, sau khi đã phát huy được năng lực tinh thần, để có thể tiến tới chỗ quảng đại tinh vi, đếc chỗ chí cao, chí mỹ, chí thành, chí thiện, lúc ấy con người sẽ đạt tới Trung Cung, Trung Điểm, Trung Đạo. Người xưa, gọi thế là thung dung Trung Đạo, là Phối Thiên, là “Sống hợp nhất với Thượng Đế”. Đó là đạt đích của Chân Đạo. Bất kỳ một hiền thánh nào trên hoàn vũ, lúc đạt đạo cũng chỉ tới lằn mửc đó mà thôi.

Đại Học gọi thế là “chỉ ư chí thiện”.

Phật giáo gọi thế là Chính đẳng, Chính giác, là Bát Nhã Ba La Mật.

Pháp Sư Đạo Sinh, thời Nam Bắc Triều, đã nhận định về sự đắc Đạo của đức Phật như sau:

“Thưa Phật tổ, Ngài được chính đẳng, chính giác, thực ra là tại vì Ngài đã khế hợp được với Thiên Tâm. Thế nhưng tất cả những đệ tử Ngài chỉ biết giữ những qui luật thấp hèn chẳng cần thiết, những tập tục chẳng ra gì, rốt cuộc là họ đã đem những chính hạnh, chính niệm của Ngài, đem những điều quan trọng thiết yếu của giáo lý Ngài, tung hê lên chín tầng mây biếc hết cả. ..” [32]

Trung Dung bàn về đấng thánh nhân đạt Đạo như sau:

“Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,

Mới có đầy đủ thông minh, trí huệ,

Y như thể có Trời ẩn áo giáng lâm.

Mới khoan dung, hoà nhã, ôn thuần,

Y như thể có dung nhan Trời phất phưởng,

Phấn phát, tự cường, kiên cương, hùng dũng,

Y như là đã cầm giữ được sức thiêng.

Trang trọng, khiết tinh, trung chính, triền miên,

Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn.

Nói nâng văn vẻ, rỡ ràng cẩn thận,

Y như là đã chia được phần thông suốt, tinh vi.

Mênh mang, sâu thẳm, ứng dụng phải thì,

Mênh mang như khung trời bao la vô hạn,

Sâu thẳm như vực muôn trùng sâu thăm thẳm.

Thấy bóng Ngài, dân một dạ kính tôn,

Nghe lời Ngài, dân tin tưởng trọn niềm,

Ngài hành động, muôn dân đều hoan lạc.

Nên thanh danh Ngài vang lừng Trung Quốc,

Vượt biên cương lan tới các nước ngoài.

Đâu xe có thể đi, người có thể tới lui,

Đâu còn có Trời che và đất chở,

Đâu còn có nhật nguyệt hai vừng tở mở,

Đâu có móc đọng, đâu có sương rơi,

Đâu còn có dòng máu nóng con người,

Ở nơi đó Ngài vẫn được tôn sùng, quí báu.

Thế nên gọi là “Cùng Trời phối ngẫu”.[33]

 ***

Trung Dung cho rằng đạt điểm của Thiên Đạo là Phối Thiên, là sống hợp nhất với Thượng Đế. Khảo sách Mật Giáo (The Secret Doctrine) của bà Blavatsky, và giáo lý Thông Thiên, ta sẽ nhận thấy rằng niềm tin then chốt của Thông Thiên là: Con người khi đã đạt tới chỗ toàn trí, toàn thiện cũng sẽ thông phần toàn trí, toàn năng của Trời. [34]

KẾT LUẬN

Trên đây, tôi đã chứng minh rằng Trung Dung có mục đích dạy chúng ta Thiên Đạo. Tôi cũng đã chứng minh rằnh Thiên Đạo không phải là sản phẩm riêng tư của Đạo này, Đạo nọ, mà chính là của chung của mọi người. Cái kho tàng vô giá ấy Trời dành cho bất kỳ ai có lòng thành khẩn tìm cầu. Thiên Đạo chẳng qua là những chặng đường tiến hoá của tâm linh con người, từ lúc còn là mầm mộng thần linh, cho đến khi đạt đạo, tiến tới cùng cực tinh hoa, cao đại, Chí Thành, Chí Thiện.

Tôi cũng đã lấy những quan niệm của Trung Dung, đem so sánh với quan niệm của các bậc thánh triết cổ kim, để cho thấy rằng: Con người chúng ta ai cũng có một bản chất hết sức là sang cả, một định mệnh hết sức là sang cả.

Nếu vậy, thì chúng ta sinh ra ở cõi đời này, sau trước cũng phải thực hiện một cuộc hành trình —Không phải là một cuộc hành trình thiên sơn vạn thuỷ nơi ngoại cảnh, mà chính là một cuộc hành trình nội tâm để tìm Đạo, tìm Trời.

Chúng ta chính là những vị Thần Minh, những vì Thiên Tử đã lạc xuống hồng trần, rồi vì va chạm với cảnh đời éo le, gian khổ nên đã quên lãng mất dòng dõi cao sang cuả mình, lạc lõng, lao lung trên muôn nẻo đường trần ai, ngoại cảnh, quên mất hẳn con đường trở về Thiên Quốc.

Như vậy, đôi lúc chúng ta cũng nên cắm sào lại trên dòng sông thời gian, dành một ít phút để suy tư về thân thế và định mệnh của mình, và cũng là hồi tưởng con đường trở về Thiên quốc.

Tôi xin nhắc nhớ rằng con đường trở về Thiên quốc của chúng ta không thể nào tìm thấy đuợc trên muôn vạn nẻo đường của trần ai, ngoài cảnh, mà chính là đã có sẵn ở trong tâm thần chúng ta.

Con đường ấy, vì lâu ngày ta không ngó ngàng tới, nên đã để lau lách dục tình che khuất mất, để cho mây mù vọng niệm che phủ mất. Chúng ta hãy dùng ánh sáng của mặt trời Tuệ Giác, hãy dùng lưỡi kiếm bén của sự hùng dũng tinh thần, để trông cho tỏ hướng đi, để phạt cho quang con lộ, nhiên hậu ta sẽ thảnh thơi rong ruổi trên con đường tìm Đạo, tìm Trời, và một ngày nào đó ta sẽ được diễm phúc trực diện Thiên Nhan.

Và để kết thúc bài này, tơi xin mượn lời kinh Vệ Đà mà tôi đã mạo muội dịch thành mấy câu Lục Bát sau đây:

“Đường Trời cao vút tầng mây,

Ai ơi, đừng có một ngày lui chân.

Đức Trời lồng với kinh luân,

Ta dem ta sẻ, ta phần cho ai,

Hãy lên rong ruổi xe trời,

Băng miền cực lạc, muôn đời trường sinh.

Răng long, đầu bạc, mặc tình,

Đừng bao giờ nói rằng mình già nua.

Thần thông Trời đã phú cho,

Bạc đầu, lòng vẫn phởn phơ. nhẹ nhàng.

Vén mây, vượt núi, băng ngàn,

Đường Trời chót vót chớ màng lui chân.”[35]

———————————————

*************           

CHÚ THÍCH

[1] J’ai déjà vu la plus grande moitié de cette vie flottante,

Ah, qu’il y a un mot magique,

Ce mot: Moitié d’une portée si riche,

Il nous fait gouter plus de joie,

Que nous n’en pouvons posséder.

Le meilleur état de l’homme

Est à mi—chemin de la vie,

Quand un pas ralenti nous permet le repos;

Le monde se trouve à mi—chemin entre la terre et le Ciel’

Vivre à mi—chemin entre la ville et la campagne,

Avoir des fermes à mi—chemin entre les rivières et les montagnes,

Être à demi—savant, à demi—châtelain, à demi homme d’affaires,

Vivre à moitié comme un noble,

Et à moitié comme le commun des gens,

Avoir une maison moitié belle, moitié laide

Moitié élégamment meublée et moitié nue;

Des vêtements moitié vieux, moitié neufs,

Et une nourriture mi—recherchée, mi—simple;

Avoir des serviteurs ni trop intelligents, ni trop bêtes;

Une femme qui soit ni trop simple, ni trop habile.

Au fond, je me sens moitié d’un Bouddha,

Et presque la moitié d’un bienheureux taoiste,

La moitié de moi—même tourné vers le Ciel,

L’autre moitié vers mes enfants,

Pensant à moitié comment assurer l’avenir de ma postérité,

Et à moitié comment me présenter devant Dieu,

Quand le corps sera laissé en repos.

Il est le plus sagement ivre, celui qui est à moitié ivre;

Et les fleurs à moitié en boutons sont les plus belles;

Les navires à demi—voilés naviguent le mieux;

Et les chevaux avec des rênes à moitié tendues trottent le mieux;

Qui possède moitié trop est inquiet,

Et qui possède moitié trop peu désire posséder plus.

Puisque la vie est à la fois amère et douce,

Celui qui n’en goute que la moitié est plus sage et plus intelligent.

L’Importance de vivre de Lin Yu Tang, p. 123—124.

[2] “Ô moines, il y a un état non—né, non—devenu, non—conditionné, non—composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non—né, non—devenu, non—conditionné, non—composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composé.”

Présence du Bouddhisme, p. 266 —Udana p. 129, Colombo, 1929.

[3] Nous devons donc d’abord trouver quelque part un centre d’où partent pour ainsi dire tous les autres plans de l’existence. Une fois là, nous devons essayer de trouver une solution. Voilà le programme.

Où est ce centre? Il est au—dedans de nous. Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le Centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers ce seul point; il est le terrain commun et c’est seulement en nous placant là que nous pourrons trouver une solution commune.

Vivekananda, Jnana Yoga, p. 138.

[4] Văn đạo tử giảng đạo tinh hoa lục (chữ Hán) tr. 366.

[5] “La découverte du Centre du soi qui coincide avec Brahman, et qui correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres qui permettent au sacrificiant đ’échapper à l’espace et du temps , est la grande découverte des Brahmanes, celle qui mène à l’orée de L’Upanishads.” (Lilian Silburn, Instant et Cause, p. 103.)

[6] Cette grandeur que l’homme a acquise par lui même, en se dégageant de ses entraves pour entrer dans la vie de l’infini, c’est cela la Religion.

Robert Tucker, Philosophie et Mythe chez Karl Marx, Paris, Payot, p. 32.

[7] La Religion consiste à s’élever au niveau de la vie divine.

Robert Tucker, Philosophie et Mythe chez Karl Marx, Paris, Payot, p. 32.

[8] 所 謂 佛 性 就 是 天 性。 也 就 是 儒 家 之 所 謂 天 命, 所 謂 道 了。難 怪 孔 夫 子 說﹕ 昭 聞 道 夕死 可 矣。

Sở vị Phật tính tựu thị Thiên Tính, dã tựu thị Nhu Gia sở vị Thiên Mệnh, sở vị Đạo Liễu. Nan quái Khổng Phu Tử thuyết: Chiên văn Đạo tịch tử khả hĩ.

Lịch Đại Cao Tăng Cố Sự, q. 7, tr. 30.

[9] Dieu, dit l’Écriture, est la vie de l’homme:  Ipse est vita tua. (Deutéronome XXX, 20), texte de la Vulgate cité par St Thomas d’Aquin, Summa Theologiae, Ia—IIae, P. 10a, I, Obj. 2) et St Augustin a souvent cité que Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle—même est la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin, Confessions VII, 1, 2 et X, 6,10)

Etienne Gilson, Théologie et Histoire de la Spiritualité, Paris, Librairie philosophique J. Vrin, 1934, p. 10.

[10] Xưa nay thường không ai dịch được câu này cho ra hồn. Nguyễn Thế Thuấn dịch: Ta coó. Thực không ai hiểu nổi!

[11] Il y a un Infini en nous.

(Florilège de la Pensée Philosophique Moderne), Lotus Bleu, 72 Année, No 11, Nov. 67, p. 293.

[12] L’Illumination spirituelle révèle un élément unique qui est dans l’esprit et dans le coeur de tout être humain.

(Florilège de la Pensée Philosophique Moderne), Lotus Bleu, 72 Année, Aout, Septembre 67, p. 235.

[13] Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine et des possibilités infinies.

Ibid. p. 235.

[14] Pour la Religion, Dieu et Homme, la Qualité et la Forme étaient séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont Un.

Lotus Bleu, 72 Année, Décembre 67, p. 326.

[15] Trân Trọng Kim, Vương Dương Minh, Tân Việt xuất bản, tr. 43.

[16] Madame Blavastky, dans la Doctrine Secrète, fait allusion à cette mystérieuse voix intérieure, dans ce beau passage (I, 277è édition; I, 270, 7è Édition):  “Seul, l’Inconnaissable et Incognoscible Kârana, la Cause sans Cause de toutes les causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le terrain sacré et solitaire de notre coeur, —insaisissable, indistinct, sauf par la “petite voix silencieuse” de notre conscience spirituelle . Ceux qui l’adorent, devraient le faire dans le silence et la solitude sanctifiée de leurs âmes…”

Lotus Bleu, 73è Année, Janvier, 1968, p. 17.

[17] “L’Atman, le Soi…montrait toute sa puissance à celui qui était capable de reconnaitre “la petite voix intérieure”. Depuis les jours de l’homme primitif…jusqu’à notre âge moderne, il n’y a pas eu un philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire silencieux de son coeur la grande et mystérieuse vérité. Si c’était un Initié, il l’apprenait comme une science sacrée…

Doctrine Secrète, vol. V, p. 67.

Lotus Bleu, 73è Année, No I, p. 18.

[18] Trung Dung, chương I.

[19] Kinh Thi, Đại Nhã, Ức Thiên.

[20] Trung Dung, XIII.

[21] Khổng học đăng, I, tr. 332.

[22] Trung Dung yếu chỉ của tác giả.

[23] “Il y a une lumiẻre qui brille au—delà de toutes les terres, au—delà de nous tous, au—delà des cieux vraiment les plus hauts.

C’est une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y a un pont entre le temps et l’éternité, et ce pont est l’Esprit dans l’homme. Ni le jour, ni la nuit ne traverse ce pont, ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin… Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que, dans le monde des Esprits, il y a une lumière qui est éternelle.”

Lotus Bleu, 72 è Année, No 4 Avril, 1967, p. 115.

[24] On trouve Dieu dans sa création…dans le coeur même de l’homme, on peut trouver la vie divine. En religion, cette découverte est aussi révolutionnaire que la découverte atomique. Elle place dans la main de l’homme un pouvoir spirituel sans limite, comme l’énergie atomique lui a donné un prodigieux pouvoir physique.

Lotus Bleu, 72 è Année, No 12 Décembre, 1967, p. 327.

[25] Deutéronome, XXX, 11—14.

[26] Trung Dung XX.

[27] Trung Dung XIV.

[28] Soyez ce que vous devriez être à l’endroit où vous vous trouvez, et quand vous aurez fait vos preuves, il vous mènera vers des voies meilleures.

Cina Cerminara, De nombreuses demeures, Adya Paris,1966, p. 278.

[29] Trung Dung, XI.

[30] La pureté, la droiture, la chasteté, la mansuétude sont appelées austérités du corps. Un langage dépourvu de malveillance, qui est vérédique, agréable, bienfaisant… est appelé l’austérité de la parole.

Le calme de l’esprit, l’équilibre, le silence, la maitrise de soi—même, la pureté de l’être, telle est l’austérité de l’ esprit.

Bhavagad Gita XVII, 14—16.—Leadbeater, L’Occultisme dans la Nature, p. 164.

[31] Trung Dung XX.

[32] Lịch đại cao tăng cố sự, Đạo Sinh, tr. 1—2.

[33] Trung Dung XXXI.

[34] Et ainsi, nous sommes installés dans notre schéma planétaire, et nous disons qu’il est une partie de la Doctrine Secrète que les attributs de Dieu “Omniprésence, Omniscience, et Omnipotence peuvent être réalisés par l’homme, dans sa plénitude comme homme et humanité, les réalisant et les libérant en elle—même. (E. L. Gardner Le Jeune, De La Connaissance p. 10.) C’est ce que nous voulons dire quand nous parlons de la Divinité de l’ homme. (Wallace Slater in Lotus Bleu, Décembre, 97, p. 318)

[35] Steep and high is your path of pilgrimage,

O man, never descending low.

I have equipped Thee with the divine wisdom and power

To live a full and vigorous life.

Come and enter in the divine chariot of the immortal bliss.

Never say, you are old, my traveller,

With the advancing age,

Bless thee with the wealth of wisdom,

You shall ever remain young and vigorous .

Steep and high is your path, never descending low.

*************           

CHƯƠNG XXX.

TINH HOA HỒI GIÁO.

Hồi Giáo hay đạo Mahomed (Islam, Mohammeda-nism), là do Giáo Chủ Mohammed thừa lệnh đức Allah, sáng lập ra.

Hồi Giáo là một tôn giáo lớn trong thiên hạ. Theo một thống kê vào năm 1990, thì số giáo dân Hồi nay là:

Phi Châu: 263.132.000.

Á Châu: 608.500.000.

Âu Châu: 46.460.000.

Nam Mỹ: 1.200.000.

Bắc Mỹ: 5.200.000.

Úc Châu: 99.500.

Toàn cầu: 924. 611.500. [1]

Ngang ngửa với Công Giáo La Mã: 971. 702.000.

Mohammed (Muhammad, Mahomed) sinh năm 571 công nguyên, mất năm 632. Lập đạo năm 622 tại Medina và Mecca, trong xứ Saudi Arabia. Đạo Hồi tiến rất mau. Chỉ một thế kỷ sau, mà Hồi giáo đã từ Arabie, tiến tới Tây Ban Nha, và biên giới Ấn Độ.

Hồi giáo là Đạo Độc Thần. Sourate 112, kinh Koran tuyên bố: Hãy nói: Chúa là Chúa một, là Chúa đời đời, không sinh ra ai, và cũng chẳng ai sinh ra mình, không ai bằng Ngài.

Mohammed cho rằng câu trên đã bằng một phần ba kinh Koran.[2]

TÔN CHỈ ĐẠO

Những người theo Hồi Giáo tuyệt đối phục tòng Allah.

*Họ giữ Giáo Điều (Iman).

* Ăn ngay, ở lành (Ihsan.—Right Conduct).

* Giữ giáo luật (�ibadad).

Giáo Điều quan trọng nhất là câu: Không ai bằng Allah. (la ilaha illa Allah). Allah có 99 tên.

Ăn ngay ở lành:

Phải đối xử huynh đệ với nhau, phải trọng nữ quyền, không rượu chè, cờ bạc, thương xót người cô quả, không hiếp đáp họ, thương xót kẻ già yếu, người bần cùng, nghèo khổ v.v…[3]

Giáo Luật.

Giáo Luật Hồi Giáo có 5 điều gọi là 5 cột trụ (“Five Pillars”= Al—arkan).

1. Nhắc lại đức Tin (Shahada):

La ilaha illa Allah; Muhammad rasul Allah: Không có Chúa nào ngoài Allah; Mahommed là tiên tri của Allah.

2. Kinh (Salad).

Ngượi khen Chúa muôn loài,

Đấng lân tuất, nhân từ.

Đấng phán xét thiên hạ.

Chúng con chỉ thờ Ngài,

Chỉ xin Ngài giúp đỡ.

Xin dẫn chúng con trên đường ngay,

Đường của những người Ngài chúc phúc,

Không phải đường của những người ngài giận ghét.

Không phải đường của kẻ lầm sai. (Koran Sura I)

Một ngày 5 lần phải đọc kinh như vậy: Sáng sớm, trưa, giữa chiều, lúc mặt trời lặn, lúc chập tối.

Đi đâu giáo hữu cũng phải đem theo thảm để trải đọc kinh. Trước khi đọc kinh, phải rửa chân tay, mặt mũi. Ở sa mạc, thì rửa bằng cát. Đọc kinh, phải lạy về hướng Mecca.

Nam giáo hữu, mỗi thứ Sáu, vào buổi trưa hay tối, phải đọc kinh chung tại đền thờ, do một Imam hướng dẫn.

Sau buổi kinh, Imam có thể giảng giáo lý.

3. Bố thí. (Zakat).

Bố thí là làm phúc cho người nghèo khó. Bố thí là tuỳ hỉ, không còn được coi là một loại thuế.

4. Ăn chay trong tháng Ramadan.

Trừ người dau ốm còn ai cũng phải ăn chay trong tháng Ramadan (tháng 9, theo lịch Hồi giáo) từ bình minh đến mặt trời lặn, không được làm tình, không được ăn hay uống bất cứ vật gì.

5. Hành Hương. (Hajj)

Ai cũng nên hành hương Mecca, trong cuộc đời mình, nhất là vào tháng Dhu—Al—Hijja (Tháng 12, Hồi Giáo), để cùng mọi người đi quanh đá Ka’ba.

(Quang Cảnh Hajj)

Hồi giáo chủ trương độc thần. Allah tạo nên vũ trụ. Dưới Allah còn các thiên thần như Gabriel, Michael, Raphael, và Uriel, và các tiên tri như Adam, Noah, Abraham, Moise, Jesus và Mohammed. Mohammed là tiên tri lớn nhất. Hồi giáo tin có ngày phán xét chung, tin thiên đàng, địa ngục. Koran là Thánh Thư cao siêu nhất. Ngoài Koran, còn có phần truyền khẩu, gọi là Hadith. Hồi giáo cấm ăn thịt heo. Hồi giáo cho phép giáo hữu lấy bốn vợ. Mohammed có 11 bà vợ.

Hồi giáo muốn điều hoà cách giao tiếp giữa Trời, Người và giữa con người với con người. Luật Hồi Giáo Shari’ah bao quát gia đình, thương mại, hình án v.v…

Hồi giáo sau trước là bất biến. Trước sau như một.[4]

*************           

Các Giáo Phái.

Mohammed xưa tiên đoán sau sẽ có 72 giáo phái. Nhưng giáo phái chính không nhiều. Ta thấy có:

1. Giáo phái Kharijites.

2. Giáo phái Mu’tazilites (Mo’tazilites.)

3. Murijites.

4. Chiites (Shiites, sau chia thành Imamis, Ismaéliens, Zaidis, Twelvers v.v…).

5. Sunnis (Sunnites.)

6. Soufism (Sufism cũng nằm trong Shiites).

Khi Mohammed mất năm 832, thì Abu Bekhr (d. 633), Omar (634—644) Othman (644—656) và

1. Ali (d. 661) lên thay.

Sau đó là:

2. Al—Hasan (d. 669)

3. Al—Husain (d. 680)

4. Alizain—Al—’Abidin (d. 712): Zaidites Zaid

5. Muhammad Al Baqir (d. 731)

6. Jafar Al Sadiq (d. 765): Ismailites Ismail (d. 760)

7. Musa Al Kazim (d.797)

8. Ali Al—Rida (d. 818)

9. Muhammad Al —Jawad (d. 835)

10. Ali Al—Hadi (d.868)

11.Al—Hasan Al—’Askari (d. 874)

12. Muhammad Al—Muntazar. (d. 878) [5]

Các giáo phái nói trên thường tranh cãi xem ai là người chính thức thừa kế Mohammed.

Phái Sunnites công nhận Abu Bekhr, Omar Othman và Ali. Phái Shiites nhận con cháu Ali là những người thừa kế chính thức. Còn gíao phái Zaidites chỉ nhận Zaid là giáo chủ thứ 5, chứ không phải là Muhammad al—Baqir. Còn phái Ismaelites nhận Ismail là giáo chủ thứ 6 thay vì Jafar Al—Sadiq. Trên đây là danh sách 12 giáo chủ mà nhóm Shi’ites công nhận. Những chi tiết này không liên quan gì đến ta.

Duy giáo phái Sufi là một giáo phái có tư tưởng phóng khóang nhất, có nhiều danh nhân nhất, cởi mở nhất, nên ta sẽ đặc biệt nghiên cứu.

Sufism (phái Bạch Y).

Hồi giáo như Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo là Đạo Độc Thần tin rằng không ai bằng Thượng đế, Thượng đế ở ngoài muôn vật.

Sufism, ngược lại, tin như các Mật Tông, Mật Giáo rằng Thượng đế ở sẵn trong lòng muôn vật, là tinh hoa muôn vật và con người lúc chung cuộc có thể sống phối kết với Thượng đế. [6]

Ba đạo giáo trên (Hồi giáo, Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo) tin vào thuyết Tạo dựng, cho rằng Chúa tạo dựng nên Trời đất bởi không.

Còn Sufism tin rằng Chúa tạo nên Trời Đất bằng chính bản thể mình. Sufism tin vào Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể.[7]

Ngày nay, thế giới bắt đầu chuyển hướng và tin rằng Thượng Đế là Bản Thể con người, không coi Thiên Chúa là một nhân vật tách rời khỏi vũ trụ nữa. [8]

Những người chủ xướng học thuyết này là Giám Mục ở Woolwich, John A. T. Robinson, tác giả quyển Honest to God, và nhà thần học Tillich. Đó là một chuyển hướng đạo giáo vô cùng quan trọng.[9]

Sufism là gì?

Sufism là mặt trong của Hồi giáo. “Sufism là dòng nước ngầm, chảy qua mọi tôn giáo. Đó là sự hiểu biết về Nhất thể —muốn gọi Nhất thể đó là gì cũng được: Đó là Sự Khôn Ngoan, là Ánh Sáng, là Tình Yêu, hay là Hư Vô.”[10]

Phái Bạch Y chống đối lễ nghi, hình thức bên ngoài, chống lại sự sa đoạ, thối nát của xã hội bệnh hoạn và vật chất bên ngoài. Bạch y đối đầu với sự cao ngạo, tàn nhẫn, mị dân, hình hạc, bất nhân. Môn phái Bạch Y muốn con người sống đời sống tinh thần ngây thơ, thuần khiết, sung sướng, hoà hài của buổi ban sơ. Phái Bạch Y muốn con người mở mắt ra và nhận thấy rằng ích kỷ, kiêu căng, tham lam, tranh chấp là điên cuồng. [11]

Có người cho rằng Bạch Y là đề cao nhân phẩm, là khoan dung, là hoà hợp, là chống giáo điều, là tính yêu nhân loại, là huynh đệ tinh thần.

Có người lại cho rằng Bạch Y là những người mơ mộng, chống đối, mua việc, thích rây vào chuyện Giáo Hội, và chuyện chính trị. [12]

Bạch Y tự hỏi là mục đích giáo hội là hợp nhất, là làm cho mọi dân tộc và mọi người thương yêu nhau, coi nhau như anh em hay là chia rẽ, là hành hạ, là đổ máu kẻ vô tội trong những trận chiến vô ích, và phạm nhiều tội ác nhân danh Allah? [13]

Bạch Y dạy phải đi vào tâm mà tìm Đạo, tìm Trời. [14]

Phái Bạch Y tin rằng Chúa ở mọi nơi, và lúc nào cũng sống kết hợp với Đạo, với Trời. Họ hoà hợp Trời, Người và lấp hố sâu giữa Trời Người. Bao giờ họ cũng tuyên xưng là chính thống Hồi Giáo, nhưng thực ra họ phá bỏ nền tảng Hồi Giáo. Họ khinh thường luật lệ, lễ nghi hình thức, và sự giả hình của hàng giáo phẩm. Họ chỉ tin vào sự giác ngộ.

Hàng Giáo Phẩm Hồi giáo coi họ là những tấm gương xấu, phá hại dân tộc, luật pháp, xã hội.

Nhưng môn phái này đã đem lại cho Ba tư một nền văn chương và một chủ thuyết Đại Đồng và Tình Yêu, và đã đóng góp nhiều cho Ba Tư.[15]

Bạch Y dạy chúng ta phải tìm hiểu mình, vì biết mình là biết Chúa. [16]

Baba Kuhi ở Shira (chết 1050) có bài thơ mà tôi phỏng dịch như sau:

Ở ngoài chợ, ở trong dòng,

Ở đâu cùng thấy thuần ròng Chúa thôi.

Xuống khe, lên núi, lên đồi,

Ở đâu cũng thấy Chúa tôi tràn đầy.

Giàu sang, nghèo khó tuy thay,

Bao giờ cũng thấy Chúa ngay bên mình.

Dù khi tĩnh tọa, cầu kinh,

Ăn chay, giữ giới, thấy mình Chúa thôi.

Bất kỳ hay dở trên đời,

Truy nguyên vẫn thấy Chúa tôi rành rành.

Mở to đôi mắt nhìn quanh,

Trông gì cũng thấy hóa thành Chúa thôi!

Nến tôi thắp cháy lửa Ngài,

Hào quang vừa tỏa, Chúa tôi hiện hình,

Mượn đôi mắt Chúa nhìn quanh,

Bỏ đôi mắt tục, vẫn rành Chúa thôi.

Giã từ hiện tượng hình hài,

Lạ sao vẫn thấy Chúa tôi như thường.

Tưởng mình tan biến, hư vương,

Nào hay mình vẫn miên trường, vô biên.[17]

 Rumi, một thánh nhân Hồi giáo khác, cũng dứt khoát cho rằng chỉ có thể tìm thấy Chúa trong tâm hồn con người mà thôi. Ông có thơ sau:

Tôi lục lạo khắp cùng Thiên Chúa Giáo,

Thánh giá nhìn lên, tôi thấy nó trống không!

Tăm tích Ngài, sao tôi thấy vẫn mịt mùng!

Tôi lang thang trong chùa chiền, miếu mạo,

Ngài ở đâu, sao chẳng thấy hình dung?

Đá Kaaba, tôi quanh quất, ruổi rong,

Đô hội ấy, mà sao Ngài vắng bóng!

Tâm hồn tôi, tôi nhìn tận bên trong,

Ôi lạ thay, kìa sao Ngài ở đó!

Thần trí tôi bỗng mãnh liệt động rung,

Rũ sạch hết bụi trần gây chia rẽ… [18]

Môn phái Bạch Y (Mật Tông Hồi giáo) ra đời vào khoảng thế kỷ 2. Dạy con người có thể kết hợp với Trời qua những giai đoạn như thống hối, hãm mình, bỏ mình, sống nghèo khó, nhẫn nhục, tin tưởng v. v…

Họ tin rằng con người có thể tiến tới thần minh, tu luyện thành thần minh và sống kết hợp với Đấng Tối Cao, sống hòa mình với Đại Thể vũ trụ. Quan niệm này cũng tương đương như quan niệm nhập Niết Bàn của Phật Giáo, hay hòa mình với Brahman của Ấn Giáo. [19]

Môn phái này cũng chủ trương thuyết:  Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. Có người cho rằng tư tưởng trên có thể thấy trong vài đoạn thánh kinh Coran của Hồi Giáo, nhưng thực ra đã vay mượn ở những trào lưu ngoài đạo Hồi như Huyền Học Thiên Chúa Giáo (Catholic Mysticism), môn phái Tân Bá Lạp đồ (Néo—Platonism), Denys l’Aréopagite, môn phái Viên Giác (Gnosticism), môn phái Mandeism, Manicheism v.v…

Trong quyển Histoire du Caodaisme của Gabriel Gobron có toát lược tư tưởng môn phái này như sau: ông Ben Aliona vị giáo chủ gần ta nhất (ông chết năm 1934) chủ trương phối hợp đạo Maisen, Bái Hỏa, Công Giáo, Hồi giáo. Ông dạy như sau:

Thượng đế là duy nhất. Vũ trụ này là những bức màn che thế giới vô cùng.

Vũ trụ này được phóng phát ra từ Thượng đế. Chỉ những tâm hồn đặc biệt mới hiểu điều sâu nhiệm (bathen) ẩn áo này (sirr), chứ không phải là thế giới này được tạo dựng nên, như người tầm thường (foqara) đã tưởng. Và như vậy, Thượng đế đã ở trong ta (ai biết mình, sẽ biết Chúa, ai chịu tìm hiểu mình, sẽ tiến gần Chúa. Phải được giác ngộ (icrhraq) như mọi danh nhân Hồi Giáo đã chủ xướng.

Phái Sufism cho rằng: Dẫu bao nhiêu tiên tri cũng chỉ là một người. Họ đều là những tàn lửa do một ngọn lửa. [20]

Gobron nhận định thêm: Khi tiến tới một trình độ tâm linh cao siêu, các bậc đạo cao đức cả vượt lên trên những người thường, và coi nhau như là những người bạn của Thiên Chúa. Họ thành khẩn kết bạn với nhau. [21]

Môn phái này muốn mọi người thương yêu nhau thật sự như sách Zohar của Do Thái hay sách Ennéades của Plotinus đã dạy.

Và đây là lời lẽ toát lược sự hóa kiếp của con người, thành bản thể Trời: “

Trò tới nhà thày, gõ cửa. Không ai trả lời.

Trò gõ lại.

Trong hỏi: Ai đó? Tôi đây.

Không ai trả lời. Cửa không mở.

Lát sau, trò gọi lại.

Trong hỏi: Ai đó? Ông đây.

Và lần này cửa mở. [22]

Như vậy, khi tính người tan biến, còn nguyên có tính Trời, thì Thánh Hiền Hồi giáo gọi là fana, khi tâm hồn sống động bởi Chúa, hay nói cách khác, khi Chúa hoạt động trong tâm hồn, thì họ gọi là trạng thái Baqa. Như vậy Phối Thiên là rũ bỏ Nhân Tính, phục hồi Thiên Tính.

Giai đoạn biến hoá cuối cùng của con người là biến thành Trời như Mansur Hallaj nói:

Ta cùng với đấng ta yêu,

Hai đằng là một, khôn chiều qua phân.

Một thân mà có hai thần,

Thấy ta, thấy Chúa cũng ngần ấy thôi.[23]

Bayazid of Bistam (d. 875) nói: “Dưới lớp áo của tôi, không có gì ngoài Chúa.” [24]

Tóm lại, Bạch Y không tìm kiếm gì ngoài Thượng Đế. “Tất cả nói năng, xôn xao, hình thức, lễ nghi, tập tục, ước mơ đều là những gì ngoài Chúa, hãy vén bức màn nhị nguyên đó lên, bạn sẽ thấy còn thuần vui vẻ, tĩnh lãng, đẹp đẽ, yên nghỉ. Khi bạn đã kết hợp với đấng mình yêu, thì không còn gì là cấm kỵ, nên không nữa. [25]

Xuất xứ Bạch Y.

Bạch Y cho rằng mình xuất xứ từ Kinh Koran. Nhưng thực ra không phải. Trong Koran có rất ít câu nói Trời chẳng xa người. Hoạ chăng chỉ có câu này: “Thực ra, ta đã tạo nên con người. Ta biết hồn nó than van cái gì. Ta gần nó hơn tĩnh mạch cổ của nó.”[26]

Thực ra Thánh Hiền phái Bạch Y, có thể đã vay mượn những tư tưởng trên trong các sách viết về Đạo Huyền Đồng (Mysticism) du nhập vào Ba Tư, như sách Enneads của Plotinus, như sách Niomachus của Pythagoras, như sách Poimandres của Hermes v.v… [27] Cũng có thể là chính các Ngài đã sáng tạo nên những tư tưởng đó

Ít nhiều thánh hiền phái Bạch Y.

Bạch Y có nhiều thánh hiền. Ta kể ít nhiều vị:

—Shabastari.

—Dhul Nun.

—Bayazid of Bistam (d. 875) thường xưng mình là Thượng đế.

—Baba Kuhi of Shiraz (d. A.D. 1050).

—Hussein Ibn Mansur Hallaj (d. 922), bị xử tử trên thập giá, vì dám xưng mình là Thượng Đế.

—Jalal—ud—din Rumi (d. 1273)

—Ibn—i—Yamin.

—Ibni Arabi (born in Spain in A.D. 1165)

—Al—Ghazzali (1059—1111), nhà thần học nổi tiếng của Hồi giáo. [28]

Tổng luận về Bạch Y.

Bạch Y là một giáo phái hết sức đẹp đẽ. Nó không phân màu da, sắc áo, chủng tộc, biên cương, bờ cõi. Nó không câu nệ lễ nghi, hình thức bên ngoài. [29]

Khảo về Hồi Giáo, tôi thấy không có gì hấp dẫn, nhưng suy tư về Bạch Y, tôi thấy vô cùng sâu sắc. Bạch Y cũng như phần Vô Vi, Hồi Giáo cũng như phần Phổ Độ trong Cao Đài. Sách về Bạch Y nay bán đầy dẫy bên Hoa Kỳ. Mong quí vị nên tìm đọc.

———————————————-
**********************************************           

CHÚ THÍCH

[1] Britannica Book of the Year, 1990.

[2] Dictionnaire des Religions, Royston Pike, Presses Universitaires de France, 108, Boulevard Saint Germain, Paris, 1954, p. 165.

[3] Man’s Religions, John B. Noss, The MacMillan Company, London, 1963, p. 531.

—A.J. Arberry, The Koran Interpreted. 2 vol. Georges Allen & Unwin Ltd., London, 1955. Cop. Georges Allen & Unwin, London, 1955.

Vol. II, p.344; II, 244; II, 326; II, 388; II, 329; II, 308; I, 319; I, 302; I, 112; I, 117; I,103;II, 245; I, 153; I, 159; I, 161; II, 237; I, 158; I, 194; I, 302; II, 129; II, 155; II, 152; I, 209; II, 209; II, 254 f; I, 270; I, 50 f; I, 304 f; I, 303; I, 100 f; II, 50; I, 60; I, 51 f; I, 127; I, 142; I, 29; II, 31.

[4] There is no modern or ancient Islam, no Oriental or Western Islam —That Islam today is the same Islam as when it was born 14 centuries ago.

Miami—Dade Community College, Student’s guide to The Long Search, A Study of Religion, p. 215.

[5] John B. Noss, Man ‘s Religions, p. 551.

[6] It is interesting then, that the Eastern and Western concepts of God and especially of means of attaining valid information from and about him correspond to the milieu of the arena of greatest freedom. In the West, God is outside man in principle, and communicates by words as do free adult men. In the East he is an interior state which one has once had, and which is one’s true being, but which one has lost and can recover only by going into the depths of the self. Robert S. Ellwood, Jr, Religious and Spiritual Groups in Modern America, p. 87.

[7] The Idea of continuous emanations in constrast to the unique divine act of creation was considered by both Muslim and Christian Mystics, to be incompatible with the Biblico—Koranic idea of a creatio ex nihilo.

Annemaire Schimmel, Mystical Dimensions of Islam, The University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1975, p. 4.

[8] Come you lost atoms, to your Center draw

And be the Eternal Mirror that you saw:

Rays that have wander’d into Darkness wide,

Return and back into your sun subside.

Farid Al—Din ‘Attar Mantiq al—Tayr.’

SUFI , Expression of the mystic quest , Laleh Bakhtiar, p. 10.

Sufi chủ trương Vạn Vật Nhất Thể. Và Vạn thù qui nhất thể. Chủ trương Vạn Hữu là do một bản thể, phóng phát, tán phân ra.

The goal of Sufism is to gather all multiplicity into Unity, with the totality of one ‘s being. Như trên. 10.

[9] God, Tillich was saying, is not a projection out there’ , an Other beyond the Skies, of whose existence we have to convince ourselves, but the Ground of our very being.

Honest to God, John A. T. Robinson, Bishop of Woolwich, The Westminster Press, Philadelphia, 1963, p. 22.

[10] Such is a case with Sufism, the generally accepted name for Islamic mysticism… Mysticism has been called “the great spiritual current which goes through all religions.” In the widest sense it may be defined as the consciousness of the One Reality —Be it called Wisdom, Light, Love or Nothing.

Annemaire Schimmel, The University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1975, Mystical Dimensions of Islam, p. 4.

[11] Their movement, originating as a protest against the formalism of orthodoxy in Islam, gradually developed into a rebellion against the decadence, corruption and tyranny of a sick, material society. Sufism was the antithesis of arrogance, intolerance, demagogism, hypocrisy and inhumanity. The Sufi’s purpose was to create a renaissance of man’s spirit through which he might live a simple, innocent. and harmonious life. They hope to open men’s eyes, that they might see that egoism and greed, pride, and strife are folly, that the universe is spiritual, and that men are the sons of God.

Martin Lings, What is Sufism, p. 27—28.

[12] To some, it connotes humanitarism, tolerance, harmony, defiance to the chuch and its rituals, love of mankind, and the attempt to achieve spiritual fellowship. To a few, Sufis are dreamers, rebels, and meddlers who interfere with the serious rituals of the church and the business of the state.

Như trên. p. 28.

[13] The questions they repeatedly asked were: ….”Isn’t the purpose of religion to unite, to comfort, to improve, and to bring all races and peoples of the world together in love and brotherhood, or is it to divide, to tyrannize, to shed blood of the innocent in futile wars, to mesmerize, to commit all kinds of crime in the name of Allah and to exploit our fellowmen?

Như trên. p. 29.

[14] One of the most persistent doctrine of Sufism is inwardness. They despite outward piety and shallow religious rituals.”Direct thyself to the inward and thou shalt see thy God.”

Như trên. p. 31.

[15] The Sufis wore coarse woolen robes and lived as hermits in isolated places away from people and believed in salvation through poverty (Fagr), meditation (Fihr), fortitude (Sabr), renunciation (Zuhd), good works, and service to the community. Recognizing that God’s presence was felt everywhere in creation, they became increasingly mystical, pantheistic and ascetic.

For Rabia, one of the founders of Sufism, who died at Jerusalem in A.D. 757, love and its the unquenchable flames were the torch which kindled the world of Sufism. It was she who laid the foundation of its mystical ideas. She as succeded by Adu Hasham (d. A.D. 770), who established the first convent (Khaneqah) for the Sufis at Ramaled in Palestine. Soon the movement spread to Persia. “Hand in hand with the Persian revival under the Abbaside Caliphs, the Soufis developed a new current of ideas. Speculations take a bolder flight, and essay to reconcile the creature with his creator, to bridge the chasm between the finite and infinite.

Then followed thev doctrine of ectasies, mystical stages, unification and pantheism. Though the Sufid always confessed outward connection with orthodox Islam, nonetheless they would efficially undermined its foundation. They attacked the religious institutions by claiming that religion exists only to keep mankind in order and to make all men merit the grace and love of God by their service and virtues. Every religious institutions which does not tend toward these goals is not divine but profane and dangerous. Scorning the barren desert of legalistic tradition, meaningless rituals, and the hypocrisy of the clergy, admitting no guidance but the pole star of illumination, they press the Islamic establishment to the very brink of madness. The Muslim leaders considered Sufism as a grave scandal, demoralizing the national character, undermining law and order, and subverting tradidional society. Yet the Sufis produced a literature and a doctrine of universalism and love which is considered the noblest heritage and the great contribution of Persia to world civilization.

Sufism, Message of Brotherhood, Harmony, and Hope, Nasrollah S. Fatemi, Faramarz S. Fatemi, Fariborz S. Fatemi, South Brunswich and New York, A. S. Barnes and Company, 1911, p. 33.

[16] Sufism is knowledge of oneself to Marafat (gnosis) or knowledge of God. Man’s whole life is dominated by two realities:” Thou”and “I”, the lover and the beloved, God and man…

Know thyself, for knowing true thine own heart

Thou knowest that good and ill in thee are part.

Discern the worth of thine own being, and then

Walk with pride amist the commun run of men.

Know thyself, and the whole world thus discover,

Then from all ill, they shat thyself deliver,

Thow knowest not thyself for thau art lowly,

Thou shouldst behold God if thou thyself couldst see.

From Nasir Khosrow, the famous Persian Poet (A.D. 1004—88)

Như trên. p. 37.

[17] Prof. L.F. Rasbrook Williams Ed; Sufi Studies, East & West; ÉP. Dutton Co, Inc.,New York, 1973, p. 57..

[18] Ib. p. 70.

[19] Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un ensemble de voiles,” barrakh “, nous cachant le monde réel: L’Infini. Univers emané de Dieu (l’inverse du Coran créationiste pour la masse des foqara, croyants ordinaires, le sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le bathen (sens occulte); Émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance; ichraq ou illunimation dont se réclament tous les grands hommes musulmans: Avicenne, Ghazali, ou Ibn Tofail… (Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 92)…

Les Prophetes, fussent—ils dix mille, dit l’aphorisme soufi courant, ne sont qu’un seul, rayons multiples du même feu. Ib. p. 91

[20] Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un ensemble de voiles,” barrakh “, nous cachant le monde réel: L’Infini. Univers emané de Dieu (l’inverse du Coran créationiste pour la masse des foqara, croyants ordinaires, le sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le bathen (sens occulte); Émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance; ichraq ou illunimation dont se réclament tous les grands hommes musulmans: Avicenne, Ghazali, ou Ibn Tofail… (Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 92)…

Les Prophetes, fussent—ils dix mille, dit l’aphorisme soufi courant, ne sont qu’un seul, rayons multiples du même feu. Ib. p. 91

[21] Constatation universelle: Arrivés une certaine hauteur spirituelle, les religieux exceptionnels sont au—dessus des religions du vulgaire, et reconnaissent comme “Amis de Dieu” tous les hommes sincères et de bonne volonté et fraternisent avec eux.

Ib. p. 94.

[22] Et il nous suffit de rappeler ici un des enseignements du mysticisme musulman pour constater que pas un Caodaiste ne refuserait de reconnaitre là, en cette anecdote du soufisme, l’histoire même de sa propre naissance au divin, de sa metanoia ou renversement des valeurs de l’aâme religieuse:

Le disciple se présente à la porte du maitre et frappe.

Silence.

Il frappe de nouveau. Une voix de l’intérieur:

—Qui est là?

—C’est moi.

Silence. La porte ne s’ouvre pas…

Plus tard, le disciple se présente de nouveau à la porte du maitre et frappe. —

Qui est là?

—C’est Toi.

Et la porte s’ouvre cette fois.

Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 70,71.

[23] I am He whom I love,

He whom I love is I:

We are two souls in one body.

If thou seest me, thou seest Him,

And if thou seest Him, thou seest me.”

Như trên. p, 38.

[24] “Beneath this cloak of mine, there is nothing but God”

Như trên. p. 43.

[25] “All this talk, turmoil, rites, ritual, conventions, customs,noise and desire,” according ta Sufis,” is outside the unity of God; remove the veil of dualism then you will find joy, silence, beauty, calm and rest. When you unite with your Beloved then there is neither command nor prohibition.”

Như trên. p. 43—44.

[26] Quran 50:16.

[27] Laleh Bakhtiar, Sufi, Expressions of the Mystic Quest, 1976, p. 7

[28] Sufism, Message of Brotherhood, Harmony, and Hope, Nasrollah S. Fatemi, Faramarz S. Fatemi, Fariborz S. Patemi, 1911, p. 40—73.

[29] Because the Sufis abandoned external form and rituals and sang the praise of universal truth which is within the reach of everybody regardless of creed, color, or nationality, Sufism became a religion which was both international and universal. Its Literature and ideas have had a wide audience in North Africa, India, Malaya, China and Indonesia.

Như trên. p. 65.

In summary, the reader will perceive that Sufism is a word uniting many divergent meanings, and does not represent any particular reliigion or dogmas exclusively. Sufism is not a creed; it has no dogmatic systems; the “ways” by which one seeks God “are as numerous as the number of the people of the world.”

Như trên. p. 71.

“The keynote of Sufism,” according to Reynold Nicholson,”is disinterested, selfless devotion, in a word, love. The whole of Sufism is a protest against the unnatural divorce between God and man.”

Như trên. p. 63.

Man seeks his psychic and spiritual needs outwardly precisely because he does not know who he is . Sufism reminds man to seek all that he needs inwardly within himself, to tear his roots from the outer world and plunge them in the Divine Nature, which resides at the Center of his heart. Sufism removes man from his lowly state of asfal safilin in order to reinstate him in his premordial perfection of ahsan taqwin wherein he finds within himself all that he had sought outwardly, for being united with God he is separated from nothing.

Seyyed, Sufi Essay, p. 33.

The Sufis sought to lose what they currently perceived as labels, knowledge, concepts and to become empty (nothing) and attain the state of “void”; to attain a zero point so that they could become related to any state of being and achieve “everythingness”. Just as the discovery of zero in mathematics made the system possible, so too in the art of rebirth, the discovery of a state of “nothingness”(the void or emptiness) makes final integration a possibility.

Sufies studies East and West,

Pr. A. Reza Arasteh, Psychology of Sufi Way to Individuation, p. 107.

————————————————
************************************************           

CHƯƠNG XXXI

TINH HOA DO THÁI GIÁO: KABBALA

Do Thái giáo có công truyền và mật truyền. Công truyền là Đạo Do Thái chính thống hiện nay. Nó ra đời từ thời Moses (1250 B.C.). Phần Mật truyền hay Mật tông Do Thái được gọi là Kaballah, hình thành vào khoảng thế kỷ XIII.

Nơi đây chỉ trình bày Mật Tông Kaballah.

Kabbalah là huyền môn Do Thái có từ xa xưa. Theo Spinoza, nó tóm thâu tư tưởng của các người Do Thái thời xưa. [1]

Huyền môn này có hai bộ sách danh tiếng:

1. Sepher Yetzirah (Livre de la Création:  Sách sáng tạo) (hay Sépher Yessira, hay Sépher Yetsira) do Rabbi Akiba viết khoảng năm 120 A.D.

2. Zohar (Sepher Ha Zohar:  Livre de la Splendeur:  Sách Quang huy), do Moses de Lyon viết vào khoảng 1305 A.D.

Kabbalah giải thích căn nguyên, sự hình thành, vòng biến dịch, cùng đích vũ trụ và con người bằng:  Ein—Sof và mười Sephiroths (thập tính, thập duyên, dix attributs).

Ein—Sof là Hư vô, là Bản thể tuyệt đối của vũ trụ, khi chưa hình hiện hiển dương. Ein—Sof là toàn thể vũ trụ. Ein—Sof tương đương với Vô cực trong Kinh Dịch.

Sephiroths (Thập duyên) phác họa sơ đồ hình thành vũ trụ hữu hình.

Thập Duyên là:

1. Kéther (Crown,Couronne) là Nguyên lý sáng tạo nên vũ trụ hữu hình, tương đương với danh từ Thái cực.

2. Chocmah, Khí Dương (Male, expansive Force)

3. Binah, Khí Âm (Female, astringent Force)

4. Chesed, Nghĩa (Benevolent Force)

5. Geburah, Lễ (Destructive Force)

6. Tiphered, Tín (Harmony, equilibrium, beauty)

7. Netzach, Nhân (Amor)

8. Hod, Trí (Objective Intelligence)

9. Yésod, dục giới (Astral kingdom of desires)

10. Malkuth, sắc giới (Corporeal sphere, terrestrial kingdom).

Có thể nói được rằng Thập Duyên tương tương đương với các quan niệm Thái cực (Kéther), Âm Dương (Binah, Chocmah), Ngũ hành (Chesed, Geburah, Tiphered, Netzach, Hod), Tam tài (Kéther: Thiên); (Yesod: Nhân); (Malkuth: Địa) [2] của Kinh Dịch.

Kabbalah cũng còn dùng: —

Tâm điểm và nhiều Vòng tròn đồng tâm để giải thích về căn do, hình thành, biến dịch, và mục phiêu vũ trụ.

Đại khái:

1.—Khi chưa có vũ trụ hữu hình (Tiên Thiên), thì chỉ có Bản thể (Ein—Sof) ở thế tiềm ẩn. Lúc ấy Ein—Sof là toàn thể vũ trụ.

2.—Khi thế giới đã hình hiện (Hậu Thiên), thì Thượng Đế là tâm điểm, là cốt lõi vũ trụ.

Từ trung tâm sáng tạo ấy, phóng phát ra vạn hữu.

Chiều sinh hóa từ vô cùng đến hữu hạn ấy được diễn biến từ một tâm điểm cho đến các Vòng tròn bên ngoài. Càng xa tâm càng trở nên chất chưởng.

Và các lớp lang hình tướng bên ngoài của vũ trụ y như là những lớp vỏ, lớp áo phủ ngoài Thượng Đế.[3]

Thời kỳ hoàng kim mai hậu là thời kỳ mà vạn vật qui căn phản bản [4]. Khi ấy Thượng Đế sẽ rũ bỏ những lớp áo, lớp vỏ bên ngoài, và sẽ hiện ra vinh quang.[5]

—Zohar chủ trương Phiếm thần (Pantheisme) và coi Thượng Đế là vũ trụ, vũ trụ là Thượng Đế. [6][7]

—Zohar chủ trương thuyết phóng xuất, sinh hóa ra vũ trụ, không chấp nhận thuyết tạo dựng.7

—Zohar cho rằng:  Cơ cấu con người, cơ cấu vũ trụ giống nhau. Hiểu vũ trụ sẽ hiểu con người, hiểu con người sẽ hiểu vũ trụ. Ngắm nhìn suy tư về vũ trụ, con người sẽ nhận ra rằng tất cả những yếu tố, những chất liệu bên ngoài đều có đủ trong mình, con người toát lược lại vũ trụ, và đấng Duy Nhất, bất khả tư nghị, đấng đã sinh ra vũ trụ và sẽ thu hút vũ trụ về, cũng chính là đấng ngự trị ngay trong lòng con người.[8]

Khảo Kabbalah, ta thấy người Do Thái xưa, ngoài cách dùng từ ngữ thông thường, để diễn tả tư tưởng, còn có những cố gắng dùng nhiều phương pháp khác để diễn tả tư tưởng. Trong những phương pháp đó ta thấy họ dùng:

—số

—chữ

—hình ảnh

Khảo Kinh Dịch, ta cũng thấy những cố gắng tương đương như vậy.

1.—Dùng số để diễn tả tư tưởng.

Để diễn tả tư tưởng: Nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui Nhất thể, người Do Thái cũng đã dùng số, nhất là dùng 10 con số đầu.

Số 1 tượng trưng cho Bản thể duy nhất, cho Thượng đế, căn nguyên sinh xuất vạn hữu. [9]

Số 2 mới chính là con số bắt đầu, vì 2 là cơ chế biến hóa, gồm 2 động lực tương đối, sinh khắc.[10]

Số 1 như vậy là Căn nguyên, là Bản thể, 9 số sau là cung cách biến hóa. [11] Nói theo từ ngữ hiện tại, thì số 1 là Bản thể, các số khác là phụ tượng, (accidents), hay Hiện Tượng (phénomènes) [12]

Số 10 đặc biệt có nghĩa là Hòa hợp, là Thái hòa. Như vậy, nó gợi lên ý niệm rằng, đến lúc chung cuộc, vạn vật sẽ trở nên thành toàn, viên mãn, trong một toàn thể Thái Hòa.[13]

Số 10 tương ứng với mẫu tự số 10 Yod của tiếng Do Thái, mà Yod là Thượng đế. Như vậy:

1 là Thượng đế, Căn nguyên, Bản thể vũ trụ.

10, là Yod, là Thượng đế viên mãn lúc chung cuộc. Thế là thủy chung như nhất.

Ý nghĩa 10 con số càng trở nên rõ rệt, nếu ta đem so sánh nó với quan niệm dân gian về vũ trụ. Dân gian tin rằng Thượng đế ngự trên chín tầng trời.

2. Dùng chữ để diễn tả quan điểm Nhất thể vạn thù.
Do Thái gọi Thượng đế là Yod He Vav He.

(Do Thái gọi Thượng đế là Yod He Vav He.)

Khi chưa sinh thành ra vũ trụ, thì họ viết Yod, He Vav, He nguyên thành một chữ. Khi đã sinh thành ra vũ trụ thì họ chia chữ Yod He Vau He thành ra 4 phần, mỗi phần riêng chiếm 1 phương trời. Ý nói Thượng đế là vũ trụ, vũ trụ là phân thân của Thượng đế.[14]

Ngoài ra Yod י, còn có nghĩa là Bản thể.

He ה gồm hai phần:  tượng trưng cho hai động lực âm dương, tương sinh tương khắc nguyên thủy, nguồn sinh hóa ra vạn hữu.

Vav ו là chữ thứ sáu. 6 có thể cắt nghĩa là Lục hợp (sáu phương trời) [15]

3. Dùng hình ảnh để diễn tả tư tưởng Nhất thể vạn thù.
Hình ảnh mà Kabbale dùng để diễn tả tư tưởng Nhất thể tán vạn thù, như ta cũng đã thấy, là hình tròn, hay Tâm điểm và nhiều Vòng tròn đồng tâm.

Ibn Erza coi Vòng Tròn là tượng trưng cho vũ trụ biến dịch tuần hòan, thủy chung như nhất. [16]

——————————-
*******************************           

CHÚ THÍCH

[1] J’ai déjà vu la plus grande moitié de cette vie flottante,

Ah, qu’il y a un mot magique,

Ce mot: Moitié d’une portée si riche,

Il nous fait gouter plus de joie,

Que nous n’en pouvons posséder.

Le meilleur état de l’homme

Est à mi—chemin de la vie,

Quand un pas ralenti nous permet le repos;

Le monde se trouve à mi—chemin entre la terre et le Ciel’

Vivre à mi—chemin entre la ville et la campagne,

Avoir des fermes à mi—chemin entre les rivières et les montagnes,

Être à demi—savant, à demi—châtelain, à demi homme d’affaires,

Vivre à moitié comme un noble,

Et à moitié comme le commun des gens,

Avoir une maison moitié belle, moitié laide

Moitié élégamment meublée et moitié nue;

Des vêtements moitié vieux, moitié neufs,

Et une nourriture mi—recherchée, mi—simple;

Avoir des serviteurs ni trop intelligents, ni trop bêtes;

Une femme qui soit ni trop simple, ni trop habile.

Au fond, je me sens moitié d’un Bouddha,

Et presque la moitié d’un bienheureux taoiste,

La moitié de moi—même tourné vers le Ciel,

L’autre moitié vers mes enfants,

Pensant à moitié comment assurer l’avenir de ma postérité,

Et à moitié comment me présenter devant Dieu,

Quand le corps sera laissé en repos.

Il est le plus sagement ivre, celui qui est à moitié ivre;

Et les fleurs à moitié en boutons sont les plus belles;

Les navires à demi—voilés naviguent le mieux;

Et les chevaux avec des rênes à moitié tendues trottent le mieux;

Qui possède moitié trop est inquiet,

Et qui possède moitié trop peu désire posséder plus.

Puisque la vie est à la fois amère et douce,

Celui qui n’en goute que la moitié est plus sage et plus intelligent.

L’Importance de vivre de Lin Yu Tang, p. 123—124.

[2] “Ô moines, il y a un état non—né, non—devenu, non—conditionné, non—composé. S’il n’y avait pas un tel état qui soit non—né, non—devenu, non—conditionné, non—composé, il n’y aurait aucune évasion possible pour ce qui est né, ce qui est devenu, ce qui est conditionné. Puisqu’il y a un tel état, il y a une évasion de ce qui est né, de ce qui est devenu, de ce qui est conditionné, et de ce qui est composé.”

Présence du Bouddhisme, p. 266 —Udana p. 129, Colombo, 1929.

[3] Nous devons donc d’abord trouver quelque part un centre d’où partent pour ainsi dire tous les autres plans de l’existence. Une fois là, nous devons essayer de trouver une solution. Voilà le programme.

Où est ce centre? Il est au—dedans de nous. Les anciens sages ont cherché de plus en plus profondément jusqu’à ce qu’ils aient trouvé qu’au coeur le plus intime de l’âme humaine est le Centre de l’univers tout entier. Tous les plans gravitent vers ce seul point; il est le terrain commun et c’est seulement en nous placant là que nous pourrons trouver une solution commune.

Vivekananda, Jnana Yoga, p. 138.

[4] Văn đạo tử giảng đạo tinh hoa lục (chữ Hán) tr. 366.

[5] “La découverte du Centre du soi qui coincide avec Brahman, et qui correspond au centre de l’espace et au centre du temps, ces deux centres qui permettent au sacrificiant đ’échapper à l’espace et du temps , est la grande découverte des Brahmanes, celle qui mène à l’orée de L’Upanishads.” (Lilian Silburn, Instant et Cause, p. 103.)

[6] Cette grandeur que l’homme a acquise par lui même, en se dégageant de ses entraves pour entrer dans la vie de l’infini, c’est cela la Religion.

Robert Tucker, Philosophie et Mythe chez Karl Marx, Paris, Payot, p. 32.

[7] La Religion consiste à s’élever au niveau de la vie divine.

Robert Tucker, Philosophie et Mythe chez Karl Marx, Paris, Payot, p. 32.

[8] 所 謂 佛 性 就 是 天 性。 也 就 是 儒 家 之 所 謂 天 命, 所 謂 道 了。難 怪 孔 夫 子 說﹕ 昭 聞 道 夕死 可 矣。

Sở vị Phật tính tựu thị Thiên Tính, dã tựu thị Nhu Gia sở vị Thiên Mệnh, sở vị Đạo Liễu. Nan quái Khổng Phu Tử thuyết: Chiên văn Đạo tịch tử khả hĩ.

Lịch Đại Cao Tăng Cố Sự, q. 7, tr. 30.

[9] Dieu, dit l’Écriture, est la vie de l’homme:  Ipse est vita tua. (Deutéronome XXX, 20), texte de la Vulgate cité par St Thomas d’Aquin, Summa Theologiae, Ia—IIae, P. 10a, I, Obj. 2) et St Augustin a souvent cité que Dieu est la vie de l’âme, comme l’âme elle—même est la vie du corps. Il est donc la vie de notre vie. (Saint Augustin, Confessions VII, 1, 2 et X, 6,10)

Etienne Gilson, Théologie et Histoire de la Spiritualité, Paris, Librairie philosophique J. Vrin, 1934, p. 10.

[10] Xưa nay thường không ai dịch được câu này cho ra hồn. Nguyễn Thế Thuấn dịch: Ta coó. Thực không ai hiểu nổi!

[11] Il y a un Infini en nous.

(Florilège de la Pensée Philosophique Moderne), Lotus Bleu, 72 Année, No 11, Nov. 67, p. 293.

[12] L’Illumination spirituelle révèle un élément unique qui est dans l’esprit et dans le coeur de tout être humain.

(Florilège de la Pensée Philosophique Moderne), Lotus Bleu, 72 Année, Aout, Septembre 67, p. 235.

[13] Notre temps a besoin de reconnaitre en tout homme une étincelle divine et des possibilités infinies.

Ibid. p. 235.

[14] Pour la Religion, Dieu et Homme, la Qualité et la Forme étaient séparées, elle enseigne maintenant qu’ils sont Un.

Lotus Bleu, 72 Année, Décembre 67, p. 326.

[15] Trân Trọng Kim, Vương Dương Minh, Tân Việt xuất bản, tr. 43.

[16] Madame Blavastky, dans la Doctrine Secrète, fait allusion à cette mystérieuse voix intérieure, dans ce beau passage (I, 277è édition; I, 270, 7è Édition):  “Seul, l’Inconnaissable et Incognoscible Kârana, la Cause sans Cause de toutes les causes, devrait avoir son sanctuaire et son autel sur le terrain sacré et solitaire de notre coeur, —insaisissable, indistinct, sauf par la “petite voix silencieuse” de notre conscience spirituelle . Ceux qui l’adorent, devraient le faire dans le silence et la solitude sanctifiée de leurs âmes…”

Lotus Bleu, 73è Année, Janvier, 1968, p. 17.

[17] “L’Atman, le Soi…montrait toute sa puissance à celui qui était capable de reconnaitre “la petite voix intérieure”. Depuis les jours de l’homme primitif…jusqu’à notre âge moderne, il n’y a pas eu un philosophe digne de ce nom qui n’ait pas porté dans le sanctuaire silencieux de son coeur la grande et mystérieuse vérité. Si c’était un Initié, il l’apprenait comme une science sacrée…

Doctrine Secrète, vol. V, p. 67.

Lotus Bleu, 73è Année, No I, p. 18.

[18] Trung Dung, chương I.

[19] Kinh Thi, Đại Nhã, Ức Thiên.

[20] Trung Dung, XIII.

[21] Khổng học đăng, I, tr. 332.

[22] Trung Dung yếu chỉ của tác giả.

[23] “Il y a une lumiẻre qui brille au—delà de toutes les terres, au—delà de nous tous, au—delà des cieux vraiment les plus hauts.

C’est une lumière qui brille dans nos coeurs. Il y a un pont entre le temps et l’éternité, et ce pont est l’Esprit dans l’homme. Ni le jour, ni la nuit ne traverse ce pont, ni la vieillesse, ni la mort, ni le chagrin… Quand on a trouvé ce pont, les yeux de l’avenir peuvent voir, les blessures du blessé guérissent, et le malade guérit de sa maladie. Pour celui qui franchit ce pont, la nuit devient comme le jour, parce que, dans le monde des Esprits, il y a une lumière qui est éternelle.”

Lotus Bleu, 72 è Année, No 4 Avril, 1967, p. 115.

[24] On trouve Dieu dans sa création…dans le coeur même de l’homme, on peut trouver la vie divine. En religion, cette découverte est aussi révolutionnaire que la découverte atomique. Elle place dans la main de l’homme un pouvoir spirituel sans limite, comme l’énergie atomique lui a donné un prodigieux pouvoir physique.

Lotus Bleu, 72 è Année, No 12 Décembre, 1967, p. 327.

[25] Deutéronome, XXX, 11—14.

[26] Trung Dung XX.

[27] Trung Dung XIV.

[28] Soyez ce que vous devriez être à l’endroit où vous vous trouvez, et quand vous aurez fait vos preuves, il vous mènera vers des voies meilleures.

Cina Cerminara, De nombreuses demeures, Adya Paris,1966, p. 278.

[29] Trung Dung, XI.

[30] La pureté, la droiture, la chasteté, la mansuétude sont appelées austérités du corps. Un langage dépourvu de malveillance, qui est vérédique, agréable, bienfaisant… est appelé l’austérité de la parole.

Le calme de l’esprit, l’équilibre, le silence, la maitrise de soi—même, la pureté de l’être, telle est l’austérité de l’ esprit.

Bhavagad Gita XVII, 14—16.—Leadbeater, L’Occultisme dans la Nature, p. 164.

[31] Trung Dung XX.

[32] Lịch đại cao tăng cố sự, Đạo Sinh, tr. 1—2.

[33] Trung Dung XXXI.

[34] Et ainsi, nous sommes installés dans notre schéma planétaire, et nous disons qu’il est une partie de la Doctrine Secrète que les attributs de Dieu “Omniprésence, Omniscience, et Omnipotence peuvent être réalisés par l’homme, dans sa plénitude comme homme et humanité, les réalisant et les libérant en elle—même. (E. L. Gardner Le Jeune, De La Connaissance p. 10.) C’est ce que nous voulons dire quand nous parlons de la Divinité de l’ homme. (Wallace Slater in Lotus Bleu, Décembre, 97, p. 318)

[35] Steep and high is your path of pilgrimage,

O man, never descending low.

I have equipped Thee with the divine wisdom and power

To live a full and vigorous life.

Come and enter in the divine chariot of the immortal bliss.

Never say, you are old, my traveller,

With the advancing age,

Bless thee with the wealth of wisdom,

You shall ever remain young and vigorous .

Steep and high is your path, never descending low.

*************           

CHƯƠNG XXX.

TINH HOA HỒI GIÁO.

Hồi Giáo hay đạo Mahomed (Islam, Mohammeda-nism), là do Giáo Chủ Mohammed thừa lệnh đức Allah, sáng lập ra.

Hồi Giáo là một tôn giáo lớn trong thiên hạ. Theo một thống kê vào năm 1990, thì số giáo dân Hồi nay là:

Phi Châu: 263.132.000.

Á Châu: 608.500.000.

Âu Châu: 46.460.000.

Nam Mỹ: 1.200.000.

Bắc Mỹ: 5.200.000.

Úc Châu: 99.500.

Toàn cầu: 924. 611.500. [1]

Ngang ngửa với Công Giáo La Mã: 971. 702.000.

Mohammed (Muhammad, Mahomed) sinh năm 571 công nguyên, mất năm 632. Lập đạo năm 622 tại Medina và Mecca, trong xứ Saudi Arabia. Đạo Hồi tiến rất mau. Chỉ một thế kỷ sau, mà Hồi giáo đã từ Arabie, tiến tới Tây Ban Nha, và biên giới Ấn Độ.

Hồi giáo là Đạo Độc Thần. Sourate 112, kinh Koran tuyên bố: Hãy nói: Chúa là Chúa một, là Chúa đời đời, không sinh ra ai, và cũng chẳng ai sinh ra mình, không ai bằng Ngài.

Mohammed cho rằng câu trên đã bằng một phần ba kinh Koran.[2]

TÔN CHỈ ĐẠO

Những người theo Hồi Giáo tuyệt đối phục tòng Allah.

*Họ giữ Giáo Điều (Iman).

* Ăn ngay, ở lành (Ihsan.—Right Conduct).

* Giữ giáo luật (�ibadad).

Giáo Điều quan trọng nhất là câu: Không ai bằng Allah. (la ilaha illa Allah). Allah có 99 tên.

Ăn ngay ở lành:

Phải đối xử huynh đệ với nhau, phải trọng nữ quyền, không rượu chè, cờ bạc, thương xót người cô quả, không hiếp đáp họ, thương xót kẻ già yếu, người bần cùng, nghèo khổ v.v…[3]

Giáo Luật.

Giáo Luật Hồi Giáo có 5 điều gọi là 5 cột trụ (“Five Pillars”= Al—arkan).

1. Nhắc lại đức Tin (Shahada):

La ilaha illa Allah; Muhammad rasul Allah: Không có Chúa nào ngoài Allah; Mahommed là tiên tri của Allah.

2. Kinh (Salad).

Ngượi khen Chúa muôn loài,

Đấng lân tuất, nhân từ.

Đấng phán xét thiên hạ.

Chúng con chỉ thờ Ngài,

Chỉ xin Ngài giúp đỡ.

Xin dẫn chúng con trên đường ngay,

Đường của những người Ngài chúc phúc,

Không phải đường của những người ngài giận ghét.

Không phải đường của kẻ lầm sai. (Koran Sura I)

Một ngày 5 lần phải đọc kinh như vậy: Sáng sớm, trưa, giữa chiều, lúc mặt trời lặn, lúc chập tối.

Đi đâu giáo hữu cũng phải đem theo thảm để trải đọc kinh. Trước khi đọc kinh, phải rửa chân tay, mặt mũi. Ở sa mạc, thì rửa bằng cát. Đọc kinh, phải lạy về hướng Mecca.

Nam giáo hữu, mỗi thứ Sáu, vào buổi trưa hay tối, phải đọc kinh chung tại đền thờ, do một Imam hướng dẫn.

Sau buổi kinh, Imam có thể giảng giáo lý.

3. Bố thí. (Zakat).

Bố thí là làm phúc cho người nghèo khó. Bố thí là tuỳ hỉ, không còn được coi là một loại thuế.

4. Ăn chay trong tháng Ramadan.

Trừ người dau ốm còn ai cũng phải ăn chay trong tháng Ramadan (tháng 9, theo lịch Hồi giáo) từ bình minh đến mặt trời lặn, không được làm tình, không được ăn hay uống bất cứ vật gì.

5. Hành Hương. (Hajj)

Ai cũng nên hành hương Mecca, trong cuộc đời mình, nhất là vào tháng Dhu—Al—Hijja (Tháng 12, Hồi Giáo), để cùng mọi người đi quanh đá Ka’ba.

(Quang Cảnh Hajj)

Hồi giáo chủ trương độc thần. Allah tạo nên vũ trụ. Dưới Allah còn các thiên thần như Gabriel, Michael, Raphael, và Uriel, và các tiên tri như Adam, Noah, Abraham, Moise, Jesus và Mohammed. Mohammed là tiên tri lớn nhất. Hồi giáo tin có ngày phán xét chung, tin thiên đàng, địa ngục. Koran là Thánh Thư cao siêu nhất. Ngoài Koran, còn có phần truyền khẩu, gọi là Hadith. Hồi giáo cấm ăn thịt heo. Hồi giáo cho phép giáo hữu lấy bốn vợ. Mohammed có 11 bà vợ.

Hồi giáo muốn điều hoà cách giao tiếp giữa Trời, Người và giữa con người với con người. Luật Hồi Giáo Shari’ah bao quát gia đình, thương mại, hình án v.v…

Hồi giáo sau trước là bất biến. Trước sau như một.[4]

Các Giáo Phái.

Mohammed xưa tiên đoán sau sẽ có 72 giáo phái. Nhưng giáo phái chính không nhiều. Ta thấy có:

1. Giáo phái Kharijites.

2. Giáo phái Mu’tazilites (Mo’tazilites.)

3. Murijites.

4. Chiites (Shiites, sau chia thành Imamis, Ismaéliens, Zaidis, Twelvers v.v…).

5. Sunnis (Sunnites.)

6. Soufism (Sufism cũng nằm trong Shiites).

Khi Mohammed mất năm 832, thì Abu Bekhr (d. 633), Omar (634—644) Othman (644—656) và

1. Ali (d. 661) lên thay.

Sau đó là:

2. Al—Hasan (d. 669)

3. Al—Husain (d. 680)

4. Alizain—Al—’Abidin (d. 712): Zaidites Zaid

5. Muhammad Al Baqir (d. 731)

6. Jafar Al Sadiq (d. 765): Ismailites Ismail (d. 760)

7. Musa Al Kazim (d.797)

8. Ali Al—Rida (d. 818)

9. Muhammad Al —Jawad (d. 835)

10. Ali Al—Hadi (d.868)

11.Al—Hasan Al—’Askari (d. 874)

12. Muhammad Al—Muntazar. (d. 878) [5]

Các giáo phái nói trên thường tranh cãi xem ai là người chính thức thừa kế Mohammed.

Phái Sunnites công nhận Abu Bekhr, Omar Othman và Ali. Phái Shiites nhận con cháu Ali là những người thừa kế chính thức. Còn gíao phái Zaidites chỉ nhận Zaid là giáo chủ thứ 5, chứ không phải là Muhammad al—Baqir. Còn phái Ismaelites nhận Ismail là giáo chủ thứ 6 thay vì Jafar Al—Sadiq. Trên đây là danh sách 12 giáo chủ mà nhóm Shi’ites công nhận. Những chi tiết này không liên quan gì đến ta.

Duy giáo phái Sufi là một giáo phái có tư tưởng phóng khóang nhất, có nhiều danh nhân nhất, cởi mở nhất, nên ta sẽ đặc biệt nghiên cứu.

Sufism (phái Bạch Y).

Hồi giáo như Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo là Đạo Độc Thần tin rằng không ai bằng Thượng đế, Thượng đế ở ngoài muôn vật.

Sufism, ngược lại, tin như các Mật Tông, Mật Giáo rằng Thượng đế ở sẵn trong lòng muôn vật, là tinh hoa muôn vật và con người lúc chung cuộc có thể sống phối kết với Thượng đế. [6]

Ba đạo giáo trên (Hồi giáo, Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo) tin vào thuyết Tạo dựng, cho rằng Chúa tạo dựng nên Trời đất bởi không.

Còn Sufism tin rằng Chúa tạo nên Trời Đất bằng chính bản thể mình. Sufism tin vào Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể.[7]

Ngày nay, thế giới bắt đầu chuyển hướng và tin rằng Thượng Đế là Bản Thể con người, không coi Thiên Chúa là một nhân vật tách rời khỏi vũ trụ nữa. [8]

Những người chủ xướng học thuyết này là Giám Mục ở Woolwich, John A. T. Robinson, tác giả quyển Honest to God, và nhà thần học Tillich. Đó là một chuyển hướng đạo giáo vô cùng quan trọng.[9]

Sufism là gì?

Sufism là mặt trong của Hồi giáo. “Sufism là dòng nước ngầm, chảy qua mọi tôn giáo. Đó là sự hiểu biết về Nhất thể —muốn gọi Nhất thể đó là gì cũng được: Đó là Sự Khôn Ngoan, là Ánh Sáng, là Tình Yêu, hay là Hư Vô.”[10]

Phái Bạch Y chống đối lễ nghi, hình thức bên ngoài, chống lại sự sa đoạ, thối nát của xã hội bệnh hoạn và vật chất bên ngoài. Bạch y đối đầu với sự cao ngạo, tàn nhẫn, mị dân, hình hạc, bất nhân. Môn phái Bạch Y muốn con người sống đời sống tinh thần ngây thơ, thuần khiết, sung sướng, hoà hài của buổi ban sơ. Phái Bạch Y muốn con người mở mắt ra và nhận thấy rằng ích kỷ, kiêu căng, tham lam, tranh chấp là điên cuồng. [11]

Có người cho rằng Bạch Y là đề cao nhân phẩm, là khoan dung, là hoà hợp, là chống giáo điều, là tính yêu nhân loại, là huynh đệ tinh thần.

Có người lại cho rằng Bạch Y là những người mơ mộng, chống đối, mua việc, thích rây vào chuyện Giáo Hội, và chuyện chính trị. [12]

Bạch Y tự hỏi là mục đích giáo hội là hợp nhất, là làm cho mọi dân tộc và mọi người thương yêu nhau, coi nhau như anh em hay là chia rẽ, là hành hạ, là đổ máu kẻ vô tội trong những trận chiến vô ích, và phạm nhiều tội ác nhân danh Allah? [13]

Bạch Y dạy phải đi vào tâm mà tìm Đạo, tìm Trời. [14]

Phái Bạch Y tin rằng Chúa ở mọi nơi, và lúc nào cũng sống kết hợp với Đạo, với Trời. Họ hoà hợp Trời, Người và lấp hố sâu giữa Trời Người. Bao giờ họ cũng tuyên xưng là chính thống Hồi Giáo, nhưng thực ra họ phá bỏ nền tảng Hồi Giáo. Họ khinh thường luật lệ, lễ nghi hình thức, và sự giả hình của hàng giáo phẩm. Họ chỉ tin vào sự giác ngộ.

Hàng Giáo Phẩm Hồi giáo coi họ là những tấm gương xấu, phá hại dân tộc, luật pháp, xã hội.

Nhưng môn phái này đã đem lại cho Ba tư một nền văn chương và một chủ thuyết Đại Đồng và Tình Yêu, và đã đóng góp nhiều cho Ba Tư.[15]

Bạch Y dạy chúng ta phải tìm hiểu mình, vì biết mình là biết Chúa. [16]

Baba Kuhi ở Shira (chết 1050) có bài thơ mà tôi phỏng dịch như sau:

Ở ngoài chợ, ở trong dòng,

Ở đâu cùng thấy thuần ròng Chúa thôi.

Xuống khe, lên núi, lên đồi,

Ở đâu cũng thấy Chúa tôi tràn đầy.

Giàu sang, nghèo khó tuy thay,

Bao giờ cũng thấy Chúa ngay bên mình.

Dù khi tĩnh tọa, cầu kinh,

Ăn chay, giữ giới, thấy mình Chúa thôi.

Bất kỳ hay dở trên đời,

Truy nguyên vẫn thấy Chúa tôi rành rành.

Mở to đôi mắt nhìn quanh,

Trông gì cũng thấy hóa thành Chúa thôi!

Nến tôi thắp cháy lửa Ngài,

Hào quang vừa tỏa, Chúa tôi hiện hình,

Mượn đôi mắt Chúa nhìn quanh,

Bỏ đôi mắt tục, vẫn rành Chúa thôi.

Giã từ hiện tượng hình hài,

Lạ sao vẫn thấy Chúa tôi như thường.

Tưởng mình tan biến, hư vương,

Nào hay mình vẫn miên trường, vô biên.[17]

 Rumi, một thánh nhân Hồi giáo khác, cũng dứt khoát cho rằng chỉ có thể tìm thấy Chúa trong tâm hồn con người mà thôi. Ông có thơ sau:

Tôi lục lạo khắp cùng Thiên Chúa Giáo,

Thánh giá nhìn lên, tôi thấy nó trống không!

Tăm tích Ngài, sao tôi thấy vẫn mịt mùng!

Tôi lang thang trong chùa chiền, miếu mạo,

Ngài ở đâu, sao chẳng thấy hình dung?

Đá Kaaba, tôi quanh quất, ruổi rong,

Đô hội ấy, mà sao Ngài vắng bóng!

Tâm hồn tôi, tôi nhìn tận bên trong,

Ôi lạ thay, kìa sao Ngài ở đó!

Thần trí tôi bỗng mãnh liệt động rung,

Rũ sạch hết bụi trần gây chia rẽ… [18]

Môn phái Bạch Y (Mật Tông Hồi giáo) ra đời vào khoảng thế kỷ 2. Dạy con người có thể kết hợp với Trời qua những giai đoạn như thống hối, hãm mình, bỏ mình, sống nghèo khó, nhẫn nhục, tin tưởng v. v…

Họ tin rằng con người có thể tiến tới thần minh, tu luyện thành thần minh và sống kết hợp với Đấng Tối Cao, sống hòa mình với Đại Thể vũ trụ. Quan niệm này cũng tương đương như quan niệm nhập Niết Bàn của Phật Giáo, hay hòa mình với Brahman của Ấn Giáo. [19]

Môn phái này cũng chủ trương thuyết:  Thuyết Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. Có người cho rằng tư tưởng trên có thể thấy trong vài đoạn thánh kinh Coran của Hồi Giáo, nhưng thực ra đã vay mượn ở những trào lưu ngoài đạo Hồi như Huyền Học Thiên Chúa Giáo (Catholic Mysticism), môn phái Tân Bá Lạp đồ (Néo—Platonism), Denys l’Aréopagite, môn phái Viên Giác (Gnosticism), môn phái Mandeism, Manicheism v.v…

Trong quyển Histoire du Caodaisme của Gabriel Gobron có toát lược tư tưởng môn phái này như sau: ông Ben Aliona vị giáo chủ gần ta nhất (ông chết năm 1934) chủ trương phối hợp đạo Maisen, Bái Hỏa, Công Giáo, Hồi giáo. Ông dạy như sau:

Thượng đế là duy nhất. Vũ trụ này là những bức màn che thế giới vô cùng.

Vũ trụ này được phóng phát ra từ Thượng đế. Chỉ những tâm hồn đặc biệt mới hiểu điều sâu nhiệm (bathen) ẩn áo này (sirr), chứ không phải là thế giới này được tạo dựng nên, như người tầm thường (foqara) đã tưởng. Và như vậy, Thượng đế đã ở trong ta (ai biết mình, sẽ biết Chúa, ai chịu tìm hiểu mình, sẽ tiến gần Chúa. Phải được giác ngộ (icrhraq) như mọi danh nhân Hồi Giáo đã chủ xướng.

Phái Sufism cho rằng: Dẫu bao nhiêu tiên tri cũng chỉ là một người. Họ đều là những tàn lửa do một ngọn lửa. [20]

Gobron nhận định thêm: Khi tiến tới một trình độ tâm linh cao siêu, các bậc đạo cao đức cả vượt lên trên những người thường, và coi nhau như là những người bạn của Thiên Chúa. Họ thành khẩn kết bạn với nhau. [21]

Môn phái này muốn mọi người thương yêu nhau thật sự như sách Zohar của Do Thái hay sách Ennéades của Plotinus đã dạy.

Và đây là lời lẽ toát lược sự hóa kiếp của con người, thành bản thể Trời: “

Trò tới nhà thày, gõ cửa. Không ai trả lời.

Trò gõ lại.

Trong hỏi: Ai đó? Tôi đây.

Không ai trả lời. Cửa không mở.

Lát sau, trò gọi lại.

Trong hỏi: Ai đó? Ông đây.

Và lần này cửa mở. [22]

Như vậy, khi tính người tan biến, còn nguyên có tính Trời, thì Thánh Hiền Hồi giáo gọi là fana, khi tâm hồn sống động bởi Chúa, hay nói cách khác, khi Chúa hoạt động trong tâm hồn, thì họ gọi là trạng thái Baqa. Như vậy Phối Thiên là rũ bỏ Nhân Tính, phục hồi Thiên Tính.

Giai đoạn biến hoá cuối cùng của con người là biến thành Trời như Mansur Hallaj nói:

Ta cùng với đấng ta yêu,

Hai đằng là một, khôn chiều qua phân.

Một thân mà có hai thần,

Thấy ta, thấy Chúa cũng ngần ấy thôi.[23]

Bayazid of Bistam (d. 875) nói: “Dưới lớp áo của tôi, không có gì ngoài Chúa.” [24]

Tóm lại, Bạch Y không tìm kiếm gì ngoài Thượng Đế. “Tất cả nói năng, xôn xao, hình thức, lễ nghi, tập tục, ước mơ đều là những gì ngoài Chúa, hãy vén bức màn nhị nguyên đó lên, bạn sẽ thấy còn thuần vui vẻ, tĩnh lãng, đẹp đẽ, yên nghỉ. Khi bạn đã kết hợp với đấng mình yêu, thì không còn gì là cấm kỵ, nên không nữa. [25]

Xuất xứ Bạch Y.

Bạch Y cho rằng mình xuất xứ từ Kinh Koran. Nhưng thực ra không phải. Trong Koran có rất ít câu nói Trời chẳng xa người. Hoạ chăng chỉ có câu này: “Thực ra, ta đã tạo nên con người. Ta biết hồn nó than van cái gì. Ta gần nó hơn tĩnh mạch cổ của nó.”[26]

Thực ra Thánh Hiền phái Bạch Y, có thể đã vay mượn những tư tưởng trên trong các sách viết về Đạo Huyền Đồng (Mysticism) du nhập vào Ba Tư, như sách Enneads của Plotinus, như sách Niomachus của Pythagoras, như sách Poimandres của Hermes v.v… [27] Cũng có thể là chính các Ngài đã sáng tạo nên những tư tưởng đó

Ít nhiều thánh hiền phái Bạch Y.

Bạch Y có nhiều thánh hiền. Ta kể ít nhiều vị:

—Shabastari.

—Dhul Nun.

—Bayazid of Bistam (d. 875) thường xưng mình là Thượng đế.

—Baba Kuhi of Shiraz (d. A.D. 1050).

—Hussein Ibn Mansur Hallaj (d. 922), bị xử tử trên thập giá, vì dám xưng mình là Thượng Đế.

—Jalal-ud-din Rumi (d. 1273)

—Ibn-i-Yamin.

—Ibni Arabi (born in Spain in A.D. 1165)

—Al-Ghazzali (1059-1111), nhà thần học nổi tiếng của Hồi giáo. [28]

Tổng luận về Bạch Y.

Bạch Y là một giáo phái hết sức đẹp đẽ. Nó không phân màu da, sắc áo, chủng tộc, biên cương, bờ cõi. Nó không câu nệ lễ nghi, hình thức bên ngoài. [29]

Khảo về Hồi Giáo, tôi thấy không có gì hấp dẫn, nhưng suy tư về Bạch Y, tôi thấy vô cùng sâu sắc. Bạch Y cũng như phần Vô Vi, Hồi Giáo cũng như phần Phổ Độ trong Cao Đài. Sách về Bạch Y nay bán đầy dẫy bên Hoa Kỳ. Mong quí vị nên tìm đọc.

—————————————
***************************************           

CHÚ THÍCH

[1] Britannica Book of the Year, 1990.

[2] Dictionnaire des Religions, Royston Pike, Presses Universitaires de France, 108, Boulevard Saint Germain, Paris, 1954, p. 165.

[3] Man’s Religions, John B. Noss, The MacMillan Company, London, 1963, p. 531.

—A.J. Arberry, The Koran Interpreted. 2 vol. Georges Allen & Unwin Ltd., London, 1955. Cop. Georges Allen & Unwin, London, 1955.

Vol. II, p.344; II, 244; II, 326; II, 388; II, 329; II, 308; I, 319; I, 302; I, 112; I, 117; I,103;II, 245; I, 153; I, 159; I, 161; II, 237; I, 158; I, 194; I, 302; II, 129; II, 155; II, 152; I, 209; II, 209; II, 254 f; I, 270; I, 50 f; I, 304 f; I, 303; I, 100 f; II, 50; I, 60; I, 51 f; I, 127; I, 142; I, 29; II, 31.

[4] There is no modern or ancient Islam, no Oriental or Western Islam – That Islam today is the same Islam as when it was born 14 centuries ago.

Miami-Dade Community College, Student’s guide to The Long Search, A Study of Religion, p. 215.

[5] John B. Noss, Man ‘s Religions, p. 551.

[6] It is interesting then, that the Eastern and Western concepts of God and especially of means of attaining valid information from and about him correspond to the milieu of the arena of greatest freedom. In the West, God is outside man in principle, and communicates by words as do free adult men. In the East he is an interior state which one has once had, and which is one’s true being, but which one has lost and can recover only by going into the depths of the self. Robert S. Ellwood, Jr, Religious and Spiritual Groups in Modern America, p. 87.

[7] The Idea of continuous emanations in constrast to the unique divine act of creation was considered by both Muslim and Christian Mystics, to be incompatible with the Biblico—Koranic idea of a creatio ex nihilo.

Annemaire Schimmel, Mystical Dimensions of Islam, The University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1975, p. 4.

[8] Come you lost atoms, to your Center draw

And be the Eternal Mirror that you saw:

Rays that have wander’d into Darkness wide,

Return and back into your sun subside.

Farid Al—Din ‘Attar Mantiq al—Tayr.’

SUFI , Expression of the mystic quest , Laleh Bakhtiar, p. 10.

Sufi chủ trương Vạn Vật Nhất Thể. Và Vạn thù qui nhất thể. Chủ trương Vạn Hữu là do một bản thể, phóng phát, tán phân ra.

The goal of Sufism is to gather all multiplicity into Unity, with the totality of one ‘s being. Như trên. 10.

[9] God, Tillich was saying, is not a projection out there’ , an Other beyond the Skies, of whose existence we have to convince ourselves, but the Ground of our very being.

Honest to God, John A. T. Robinson, Bishop of Woolwich, The Westminster Press, Philadelphia, 1963, p. 22.

[10] Such is a case with Sufism, the generally accepted name for Islamic mysticism… Mysticism has been called “the great spiritual current which goes through all religions.” In the widest sense it may be defined as the consciousness of the One Reality —Be it called Wisdom, Light, Love or Nothing.

Annemaire Schimmel, The University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1975, Mystical Dimensions of Islam, p. 4.

[11] Their movement, originating as a protest against the formalism of orthodoxy in Islam, gradually developed into a rebellion against the decadence, corruption and tyranny of a sick, material society. Sufism was the antithesis of arrogance, intolerance, demagogism, hypocrisy and inhumanity. The Sufi’s purpose was to create a renaissance of man’s spirit through which he might live a simple, innocent. and harmonious life. They hope to open men’s eyes, that they might see that egoism and greed, pride, and strife are folly, that the universe is spiritual, and that men are the sons of God.

Martin Lings, What is Sufism, p. 27—28.

[12] To some, it connotes humanitarism, tolerance, harmony, defiance to the chuch and its rituals, love of mankind, and the attempt to achieve spiritual fellowship. To a few, Sufis are dreamers, rebels, and meddlers who interfere with the serious rituals of the church and the business of the state.

Như trên. p. 28.

[13] The questions they repeatedly asked were: ….”Isn’t the purpose of religion to unite, to comfort, to improve, and to bring all races and peoples of the world together in love and brotherhood, or is it to divide, to tyrannize, to shed blood of the innocent in futile wars, to mesmerize, to commit all kinds of crime in the name of Allah and to exploit our fellowmen?

Như trên. p. 29.

[14] One of the most persistent doctrine of Sufism is inwardness. They despite outward piety and shallow religious rituals.”Direct thyself to the inward and thou shalt see thy God.”

Như trên. p. 31.

[15] The Sufis wore coarse woolen robes and lived as hermits in isolated places away from people and believed in salvation through poverty (Fagr), meditation (Fihr), fortitude (Sabr), renunciation (Zuhd), good works, and service to the community. Recognizing that God’s presence was felt everywhere in creation, they became increasingly mystical, pantheistic and ascetic.

For Rabia, one of the founders of Sufism, who died at Jerusalem in A.D. 757, love and its the unquenchable flames were the torch which kindled the world of Sufism. It was she who laid the foundation of its mystical ideas. She as succeded by Adu Hasham (d. A.D. 770), who established the first convent (Khaneqah) for the Sufis at Ramaled in Palestine. Soon the movement spread to Persia. “Hand in hand with the Persian revival under the Abbaside Caliphs, the Soufis developed a new current of ideas. Speculations take a bolder flight, and essay to reconcile the creature with his creator, to bridge the chasm between the finite and infinite.

Then followed thev doctrine of ectasies, mystical stages, unification and pantheism. Though the Sufid always confessed outward connection with orthodox Islam, nonetheless they would efficially undermined its foundation. They attacked the religious institutions by claiming that religion exists only to keep mankind in order and to make all men merit the grace and love of God by their service and virtues. Every religious institutions which does not tend toward these goals is not divine but profane and dangerous. Scorning the barren desert of legalistic tradition, meaningless rituals, and the hypocrisy of the clergy, admitting no guidance but the pole star of illumination, they press the Islamic establishment to the very brink of madness. The Muslim leaders considered Sufism as a grave scandal, demoralizing the national character, undermining law and order, and subverting tradidional society. Yet the Sufis produced a literature and a doctrine of universalism and love which is considered the noblest heritage and the great contribution of Persia to world civilization.

Sufism, Message of Brotherhood, Harmony, and Hope, Nasrollah S. Fatemi, Faramarz S. Fatemi, Fariborz S. Fatemi, South Brunswich and New York, A. S. Barnes and Company, 1911, p. 33.

[16] Sufism is knowledge of oneself to Marafat (gnosis) or knowledge of God. Man’s whole life is dominated by two realities:” Thou”and “I”, the lover and the beloved, God and man…

Know thyself, for knowing true thine own heart

Thou knowest that good and ill in thee are part.

Discern the worth of thine own being, and then

Walk with pride amist the commun run of men.

Know thyself, and the whole world thus discover,

Then from all ill, they shat thyself deliver,

Thow knowest not thyself for thau art lowly,

Thou shouldst behold God if thou thyself couldst see.

 From Nasir Khosrow, the famous Persian Poet (A.D. 1004—88)

Như trên. p. 37.

[17] Prof. L.F. Rasbrook Williams Ed; Sufi Studies, East & West; ÉP. Dutton Co, Inc.,New York, 1973, p. 57..

[18] Ib. p. 70.

[19] Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un ensemble de voiles,” barrakh “, nous cachant le monde réel: L’Infini. Univers emané de Dieu (l’inverse du Coran créationiste pour la masse des foqara, croyants ordinaires, le sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le bathen (sens occulte); Émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance; ichraq ou illunimation dont se réclament tous les grands hommes musulmans: Avicenne, Ghazali, ou Ibn Tofail… (Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 92)…

Les Prophetes, fussent—ils dix mille, dit l’aphorisme soufi courant, ne sont qu’un seul, rayons multiples du même feu. Ib. p. 91

[20] Les doctrines de Ben Aliona? Unité de Dieu (le monde temporel n’est qu’un ensemble de voiles,” barrakh “, nous cachant le monde réel: L’Infini. Univers emané de Dieu (l’inverse du Coran créationiste pour la masse des foqara, croyants ordinaires, le sirr (caché) est réservé à certains disciples capables de saisir le bathen (sens occulte); Émanationisme s’accordant avec l’immanentisme (qui pourrait connaitre son proprium, connaitrait Dieu; qui le scrute avec attention, s’approche de Dieu); doctrine de l’immanence n’excluant pas la transcendance; ichraq ou illunimation dont se réclament tous les grands hommes musulmans: Avicenne, Ghazali, ou Ibn Tofail… (Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 92)…

Les Prophetes, fussent—ils dix mille, dit l’aphorisme soufi courant, ne sont qu’un seul, rayons multiples du même feu. Ib. p. 91

[21] Constatation universelle: Arrivés une certaine hauteur spirituelle, les religieux exceptionnels sont au—dessus des religions du vulgaire, et reconnaissent comme “Amis de Dieu” tous les hommes sincères et de bonne volonté et fraternisent avec eux.

Ib. p. 94.

[22] Et il nous suffit de rappeler ici un des enseignements du mysticisme musulman pour constater que pas un Caodaiste ne refuserait de reconnaitre là, en cette anecdote du soufisme, l’histoire même de sa propre naissance au divin, de sa metanoia ou renversement des valeurs de l’aâme religieuse:

Le disciple se présente à la porte du maitre et frappe.

Silence.

Il frappe de nouveau. Une voix de l’intérieur:

—Qui est là?

—C’est moi.

Silence. La porte ne s’ouvre pas…

Plus tard, le disciple se présente de nouveau à la porte du maitre et frappe. —

Qui est là?

—C’est Toi.

Et la porte s’ouvre cette fois.

Gabriel Gobron, Histoire du Caodaisme, p. 70,71.

[23] I am He whom I love,

He whom I love is I:

We are two souls in one body.

If thou seest me, thou seest Him,

And if thou seest Him, thou seest me.”

Như trên. p, 38.

[24] “Beneath this cloak of mine, there is nothing but God”

Như trên. p. 43.

[25] “All this talk, turmoil, rites, ritual, conventions, customs,noise and desire,” according ta Sufis,” is outside the unity of God; remove the veil of dualism then you will find joy, silence, beauty, calm and rest. When you unite with your Beloved then there is neither command nor prohibition.”

Như trên. p. 43—44.

[26] Quran 50:16.

[27] Laleh Bakhtiar, Sufi, Expressions of the Mystic Quest, 1976, p. 7

[28] Sufism, Message of Brotherhood, Harmony, and Hope, Nasrollah S. Fatemi, Faramarz S. Fatemi, Fariborz S. Patemi, 1911, p. 40—73.

[29] Because the Sufis abandoned external form and rituals and sang the praise of universal truth which is within the reach of everybody regardless of creed, color, or nationality, Sufism became a religion which was both international and universal. Its Literature and ideas have had a wide audience in North Africa, India, Malaya, China and Indonesia.

Như trên. p. 65.

In summary, the reader will perceive that Sufism is a word uniting many divergent meanings, and does not represent any particular reliigion or dogmas exclusively. Sufism is not a creed; it has no dogmatic systems; the “ways” by which one seeks God “are as numerous as the number of the people of the world.”

Như trên. p. 71.

“The keynote of Sufism,” according to Reynold Nicholson,”is disinterested, selfless devotion, in a word, love. The whole of Sufism is a protest against the unnatural divorce between God and man.”

Như trên. p. 63.

Man seeks his psychic and spiritual needs outwardly precisely because he does not know who he is . Sufism reminds man to seek all that he needs inwardly within himself, to tear his roots from the outer world and plunge them in the Divine Nature, which resides at the Center of his heart. Sufism removes man from his lowly state of asfal safilin in order to reinstate him in his premordial perfection of ahsan taqwin wherein he finds within himself all that he had sought outwardly, for being united with God he is separated from nothing.

Seyyed, Sufi Essay, p. 33.

The Sufis sought to lose what they currently perceived as labels, knowledge, concepts and to become empty (nothing) and attain the state of “void”; to attain a zero point so that they could become related to any state of being and achieve “everythingness”. Just as the discovery of zero in mathematics made the system possible, so too in the art of rebirth, the discovery of a state of “nothingness”(the void or emptiness) makes final integration a possibility.

Sufies studies East and West,

Pr. A. Reza Arasteh, Psychology of Sufi Way to Individuation, p. 107.

————————————————–
**************************************************           

CHƯƠNG XXXI

TINH HOA DO THÁI GIÁO: KABBALA

Do Thái giáo có công truyền và mật truyền. Công truyền là Đạo Do Thái chính thống hiện nay. Nó ra đời từ thời Moses (1250 B.C.). Phần Mật truyền hay Mật tông Do Thái được gọi là Kaballah, hình thành vào khoảng thế kỷ XIII.

Nơi đây chỉ trình bày Mật Tông Kaballah.

Kabbalah là huyền môn Do Thái có từ xa xưa. Theo Spinoza, nó tóm thâu tư tưởng của các người Do Thái thời xưa. [1]

Huyền môn này có hai bộ sách danh tiếng:

1. Sepher Yetzirah (Livre de la Création:  Sách sáng tạo) (hay Sépher Yessira, hay Sépher Yetsira) do Rabbi Akiba viết khoảng năm 120 A.D.

2. Zohar (Sepher Ha Zohar:  Livre de la Splendeur:  Sách Quang huy), do Moses de Lyon viết vào khoảng 1305 A.D.

Kabbalah giải thích căn nguyên, sự hình thành, vòng biến dịch, cùng đích vũ trụ và con người bằng:  Ein—Sof và mười Sephiroths (thập tính, thập duyên, dix attributs).

Ein—Sof là Hư vô, là Bản thể tuyệt đối của vũ trụ, khi chưa hình hiện hiển dương. Ein—Sof là toàn thể vũ trụ. Ein—Sof tương đương với Vô cực trong Kinh Dịch.

Sephiroths (Thập duyên) phác họa sơ đồ hình thành vũ trụ hữu hình.

Thập Duyên là:

1. Kéther (Crown,Couronne) là Nguyên lý sáng tạo nên vũ trụ hữu hình, tương đương với danh từ Thái cực.

2. Chocmah, Khí Dương (Male, expansive Force)

3. Binah, Khí Âm (Female, astringent Force)

4. Chesed, Nghĩa (Benevolent Force)

5. Geburah, Lễ (Destructive Force)

6. Tiphered, Tín (Harmony, equilibrium, beauty)

7. Netzach, Nhân (Amor)

8. Hod, Trí (Objective Intelligence)

9. Yésod, dục giới (Astral kingdom of desires)

10. Malkuth, sắc giới (Corporeal sphere, terrestrial kingdom).

Có thể nói được rằng Thập Duyên tương tương đương với các quan niệm Thái cực (Kéther), Âm Dương (Binah, Chocmah), Ngũ hành (Chesed, Geburah, Tiphered, Netzach, Hod), Tam tài (Kéther: Thiên); (Yesod: Nhân); (Malkuth: Địa) [2] của Kinh Dịch.

Kabbalah cũng còn dùng: —

Tâm điểm và nhiều Vòng tròn đồng tâm để giải thích về căn do, hình thành, biến dịch, và mục phiêu vũ trụ.

Đại khái:

1.—Khi chưa có vũ trụ hữu hình (Tiên Thiên), thì chỉ có Bản thể (Ein—Sof) ở thế tiềm ẩn. Lúc ấy Ein—Sof là toàn thể vũ trụ.

2.—Khi thế giới đã hình hiện (Hậu Thiên), thì Thượng Đế là tâm điểm, là cốt lõi vũ trụ.

Từ trung tâm sáng tạo ấy, phóng phát ra vạn hữu.

Chiều sinh hóa từ vô cùng đến hữu hạn ấy được diễn biến từ một tâm điểm cho đến các Vòng tròn bên ngoài. Càng xa tâm càng trở nên chất chưởng.

Và các lớp lang hình tướng bên ngoài của vũ trụ y như là những lớp vỏ, lớp áo phủ ngoài Thượng Đế.[3]

Thời kỳ hoàng kim mai hậu là thời kỳ mà vạn vật qui căn phản bản [4]. Khi ấy Thượng Đế sẽ rũ bỏ những lớp áo, lớp vỏ bên ngoài, và sẽ hiện ra vinh quang.[5]

—Zohar chủ trương Phiếm thần (Pantheisme) và coi Thượng Đế là vũ trụ, vũ trụ là Thượng Đế. [6][7]

—Zohar chủ trương thuyết phóng xuất, sinh hóa ra vũ trụ, không chấp nhận thuyết tạo dựng.7

—Zohar cho rằng:  Cơ cấu con người, cơ cấu vũ trụ giống nhau. Hiểu vũ trụ sẽ hiểu con người, hiểu con người sẽ hiểu vũ trụ. Ngắm nhìn suy tư về vũ trụ, con người sẽ nhận ra rằng tất cả những yếu tố, những chất liệu bên ngoài đều có đủ trong mình, con người toát lược lại vũ trụ, và đấng Duy Nhất, bất khả tư nghị, đấng đã sinh ra vũ trụ và sẽ thu hút vũ trụ về, cũng chính là đấng ngự trị ngay trong lòng con người.[8]

Khảo Kabbalah, ta thấy người Do Thái xưa, ngoài cách dùng từ ngữ thông thường, để diễn tả tư tưởng, còn có những cố gắng dùng nhiều phương pháp khác để diễn tả tư tưởng. Trong những phương pháp đó ta thấy họ dùng:

—số

—chữ

—hình ảnh

Khảo Kinh Dịch, ta cũng thấy những cố gắng tương đương như vậy.

1.—Dùng số để diễn tả tư tưởng.

Để diễn tả tư tưởng: Nhất thể biến vạn thù, vạn thù qui Nhất thể, người Do Thái cũng đã dùng số, nhất là dùng 10 con số đầu.

Số 1 tượng trưng cho Bản thể duy nhất, cho Thượng đế, căn nguyên sinh xuất vạn hữu. [9]

Số 2 mới chính là con số bắt đầu, vì 2 là cơ chế biến hóa, gồm 2 động lực tương đối, sinh khắc.[10]

Số 1 như vậy là Căn nguyên, là Bản thể, 9 số sau là cung cách biến hóa. [11] Nói theo từ ngữ hiện tại, thì số 1 là Bản thể, các số khác là phụ tượng, (accidents), hay Hiện Tượng (phénomènes) [12]

Số 10 đặc biệt có nghĩa là Hòa hợp, là Thái hòa. Như vậy, nó gợi lên ý niệm rằng, đến lúc chung cuộc, vạn vật sẽ trở nên thành toàn, viên mãn, trong một toàn thể Thái Hòa.[13]

Số 10 tương ứng với mẫu tự số 10 Yod của tiếng Do Thái, mà Yod là Thượng đế. Như vậy:

1 là Thượng đế, Căn nguyên, Bản thể vũ trụ.

10, là Yod, là Thượng đế viên mãn lúc chung cuộc. Thế là thủy chung như nhất.

Ý nghĩa 10 con số càng trở nên rõ rệt, nếu ta đem so sánh nó với quan niệm dân gian về vũ trụ. Dân gian tin rằng Thượng đế ngự trên chín tầng trời.

2. Dùng chữ để diễn tả quan điểm Nhất thể vạn thù.
Do Thái gọi Thượng đế là Yod He Vav He.

(Do Thái gọi Thượng đế là Yod He Vav He.)

Khi chưa sinh thành ra vũ trụ, thì họ viết Yod, He Vav, He nguyên thành một chữ. Khi đã sinh thành ra vũ trụ thì họ chia chữ Yod He Vau He thành ra 4 phần, mỗi phần riêng chiếm 1 phương trời. Ý nói Thượng đế là vũ trụ, vũ trụ là phân thân của Thượng đế.[14]

Ngoài ra Yod י, còn có nghĩa là Bản thể.

He ה gồm hai phần:  tượng trưng cho hai động lực âm dương, tương sinh tương khắc nguyên thủy, nguồn sinh hóa ra vạn hữu.

Vav ו l à chữ thứ sáu. 6 có thể cắt nghĩa là Lục hợp (sáu phương trời) [15]

3. Dùng hình ảnh để diễn tả tư tưởng Nhất thể vạn thù.
Hình ảnh mà Kabbale dùng để diễn tả tư tưởng Nhất thể tán vạn thù, như ta cũng đã thấy, là hình tròn, hay Tâm điểm và nhiều Vòng tròn đồng tâm.

Ibn Erza coi Vòng Tròn là tượng trưng cho vũ trụ biến dịch tuần hòan, thủy chung như nhất. [16]

——————————–
********************************           

 CHÚ THÍCH

[1] J’ose même ajouter que telle fut la pensée de tous les anciens Hébreux…

(Spinoza. Lettre 73)

[2] Xin xem Gabriel Trarieux d’Egmont, Le Thyrse et la Croix, Adyar, Paris, 1947, trang 159.

Kéther được coi là tương đương với Le Logos (Plato), the Word of St John. Còn gọi là Mặt Trời thiêng liêng nơi trung điểm (Spirituel Central Sun) (Ib. 159, note 3.)

[3] Xem chú 1

[4] L’ère messianique, espérance juive, devient ainsi une espérance métaphysique:  par elle toute chose rentrera dans sa racine, comme elle en est sortie. (Ib. 227)

[5] Un jour, le Saint dépouillera ses écorces et ne réapparaitra que sous l’aspect d’un noyau substantiel. (Ib. 273)

Xin tham khảo thêm:

a/—Ad. Franck, La Kabbale ou Philosophie religieuse des Hébreux Paris, Librairie de L. Hachette, 1843.

b/—Gabriel Trarieux d’Egmont, Le Thyrse et la Croix, Adyar, Paris, 1974.

6 En d’autres termes, si l’on déclare que l’univers est Dieu, ou que Dieu est l’univers, on dit la même chose. Cette totalité qui se manifeste dans l’unité suprême de Dieu, est hors de doute dans les expressions nuancées et symboliques du Zohar, dont nous venons de citer quelques exemples frappants. Le Ein—Sof n’est autre chose que cette totalité, cette unité suprême, qui embrasse les dix Sephiroths. Le Ein—Sof, dit en effet le Zohar, est revêtu et enveloppé des Séphiroths comme le charbon de la flamme. Ailleurs après avoir rapporté le rayonnement de la lumière primordiale en dix lumières, il ajoute: Nonobstant, tout est un. (Henri Sérouya, La Kabbale, p. 226)

[6] En d’autres termes, si l’on déclare que l’univers est Dieu, ou que Dieu est l’univers, on dit la même chose. Cette totalité qui se manifeste dans l’unité suprême de Dieu, est hors de doute dans les expressions nuancées et symboliques du Zohar, dont nous venons de citer quelques exemples frappants. Le Ein—Sof n’est autre chose que cette totalité, cette unité suprême, qui embrasse les dix Sephiroths. Le Ein—Sof, dit en effet le Zohar, est revêtu et enveloppé des Séphiroths comme le charbon de la flamme. Ailleurs après avoir rapporté le rayonnement de la lumière primordiale en dix lumières, il ajoute: Nonobstant, tout est un. (Henri Sérouya, La Kabbale, p. 226)

[7] La création de l’univers est un fait de pure émanation. L’univers dans la multiplicité de ses élements est inhérent à l’õessence de l’Ein—Sof, précisément comme la potentialité de la flamme procède du charbon.

Ib. 159

…Dieu, dans son Commentaire (c’est à dire de Saadya) du Sépher Yessira, est dans l’univers ce que la vie est dans l’être vivant. Il est à la fois dans chaque partie et dans chaque tout. Autrement dit, il est partout. Ib. 139

[8] Ce qui est en haut est en bas. Chaque homme est l’expression mimuscule de son Prototype céleste, du vaste Adam Kadmon, l’Univers…

…Car c’est en regardant en lui—même que l’homme finit par commprendre le grandiose et indéchiffrable spectacle quõil contemple en ouvrant les yeux: la terre, les montagnes, la mer, ou les feux de la nuit étoilée. Il finit par se rendre compte que tous ces éléments sont en lui, qu’il est, en abrégé, l’õunivers, et l’être impensable et unique, seule Réalité éternelle, de qui cet Univers émana, dans laquelle il sera résorbé, habite en son sein, Lui aussi, est l’Hôte de sa chair périssable. Le Thyrse et la Croix, p. 161.

Để chứng minh rằng Tuyệt đối ở ngay trong con người, đoạn trên có chú thích như sau:  Ce que le Bouddha s’exprima en ces termes:  En vous est le non—né, non—causé, non—crée, non—forméï C’est la base de toute sa doctrine. (La Parole du Bouddha par Nyanatiloka, traduction La Fuente). C’est aussi de l’idéalisme absolu de Fichte, de Schelling, et Hégel.

[9] Le nombre 1 que est le principe de tous les nombres, nõest pas lui—même un nombre. C’est le nombre 2, qui est véritablement le premier nombre.

…Sérouya chú thêm như sau:

Pour le pythagoricisme aussi le nombre positif ne commence qu’à partir de 2… Le nombre 1 qui contient les deux éléments des nombres, l’impair et le pair, est à la base de tous les nombres, il en est la racine, mais lui—même n’est pas un nombre, car tout nombre implique une pluralité d’unités. (Cf. Aristote, Métaphysique, I, cha.V…) Anaximène dit que Dieu est l’Un, non en tant que commencement des nombres, qui est susceptible de devenir multiple. De même que Plotin admet que le premier, appelé Un, est sans multiple sans rien d’identique au dehors et sans différenciation en soi. La même idée se trouve chez Bahya dans sa considération théologique de l’unité véritable; puis chez Ibn Zadik et comme nous avons déjà vu précedemment chez Ibn Gabriel dans sa Couronne Royale: Tu est Un, mais non l’un tombant dans la loi des nombres. L’idée passera ainsi dans la Kabbale…(Sérouya, La Kabbale, p. 152 và chú thích 3.)

[10] Đọc đầu chú thích 1 ở trên.

[11] Mais 10 est aussi le nombre des catégories, dont neuf accidents et une substance. (Ib. 153)

[12] Xem 3.

[13] La décade renferme en elle toutes les unités simples. Pour illustrer le Yod (10 è lettre), Ibn Era tire sa racine de todath qui signifie selon lui choeur, union, harmonie. Car dix (la tetras pythagoricienne) est la somme des quatre premiers nombres.

Henri Sérouya, La Kabbale, p. 153.

[14] Xem Henri Séroya, La Kabbale, p. 130.

[15] Le Yod, première lettre du tétragramme représente la substance avant toute différenciation..

Le Hé, composé de deux parties distinctes, indique les deux contraires, essence et forme, substance et accident..

Le Vau qui a la valeur mathématique 2 x 6:  12 est la 6è lettre de l’alphabet hébraique. En ce sens, le tétragramme Yod, Hé, Vau, (Hé) est composé de trois lettres différentes, qui marquent les trois dimensions des corps: la longeur, la largeur, la hauteur ou la profondeur. Le Vau avec sa valeur numérique six, marque les six forces des corps que nous recontrons dans le Sefer Yessira. (Ib. 152)

[16] En ce qui concerne le symbolisme, Ibn Erza considère le cercle comme l’emblème de la nature, qui revient sans cesse sur elle—même. Elle rattache ses commencements à ses fins et enveloppe en son sein par une suite infinie de figures finies. (Ib. 152)
—————————————————————
***************************************************************           

CHƯƠNG XXXII

TINH HOA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Người sáng lập Đạo Phật—Giáo Hòa—Hảo là:

Đức Huỳnh Giáo Chủ, tục danh là Huỳnh—Phú—Sổ. Sanh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ—Mùi (tức là 15 tháng giêng năm 1920) tại làng Hòa—Hảo, nằm trên Bắc Ngạn sông Vàm Nao, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, một tỉnh xa xôi giáp biên—thùy Việt Miên, Nam Việt (Vương Kim, Đức Huỳnh Giáo Chủ, VP Phật Giáo Hòa Hảo / HN, 1997, tr. 21)

(Chân Dung Đức Huỳnh Phú Sổ)

Ngài là trưởng nam của Ông Hương Cả Huỳnh Công Bộ và Bà Lê Thị Nhậm. Ngài là con của một kỳ lão cao cấp nhứt làng Hòa Hảo, nhiều phúc hậu và nhiều uy—tín với nhân—dân địa—phương. (PGHH Trong Dòng Lịch Sử Dân tộc của Nguyễn Long Thành Nam)

Thuở nhỏ, vừa học đến hết bậc tiểu—học thì đau ốm liên—miên, nên Ngài phải rời trường về nhà dưỡng bịnh. Từ 15 đến 18 tuổi, Ngài không lúc nào dứt được cơn đau và không một lương y nào trị được.

Năm 1939, sau khi hướng—dẫn thân phụ đi viếng các am động miền Thất Sơn và Tà Lơn, những núi non được nổi tiếng linh thiêng hùng vĩ. Ngài tỏ ra đại ngộ. Ngày 18—5 Kỷ Mão, (1939) Ngài chính thức mở Đạo. Bắt đầu là công việc chữa bịnh. Ngài chữa lành được các chứng hiểm—nghèo với phương—pháp thật giản—đơn là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng, khiến cho các Bác sĩ Tây y, các dược sư, Đông y lẫn các danh gia phù thủy đều phải kinh dị.

Song song với việc chữa bịnh, Ngài thuyết—pháp thao thao bất tuyệt. Nhiều thi sĩ, văn gia hoặc luật gia nghe tiếng, đến chất vấn, đều phải nhận Ngài là một bậc siêu—phàm.

Cũng từ năm 1939, Ngài sáng—tác thật nhiều kệ giảng, nội dung tiên tri chiến cuộc sẽ tràn lan, nhân loại sẽ điêu linh và kêu gọi mọi người nên bỏ dữ về lành, thực hành Tứ Ân, trau dồi Thiền tịnh để trở thành thiện nhân trong xã hội và tiến đến sự nhập diệu cõi đạo.

Nhìn qua công—đức giảng dân cứu chúng, người ta thấy Ngài chữa được hàng vạn chứng hiểm nghèo, thuyết pháp hằng ngàn lần trước đại đa thính chúng và sáng tác sáu quyển Kệ Giảng cùng với hàng trăm bài thi ca, văn có giá—trị siêu—việt đầy tình cảm rung động lòng người. Ngài đã đi vào quần chúng, sinh hoạt với quần chúng, nói ngôn ngữ của người nông dân mộc mạc đầy tình nghĩa dân tộc trong tinh thần tam giáo.

Tư tưởng của ngài xoay quanh thơ, văn, giảng, kệ và hành động là đi vào nội tâm, (nội giáo) như câu chuyện Huệ Năng và Thần Tú của Thiền tông Trung Hoa làm ta hiểu rõ thế nào là Nội Giáo, Ngoại Giáo đã được Ngài đặt để trong câu:—

Khùng nói cho già trẻ làm tin,

Theo Lục—Tổ chớ theo Thần Tú.

(Sấm Giảng Thi Văn của Huỳnh Phú Sổ Tr. 61)

Như vậy Ngài khẳng định không theo (ngoại giáo) mà đi thẳng vào Tâm tìm Trời tìm Phật.

Kệ giảng ngài gồm có sáu quyển:

1. Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. (1939) (Văn vần)

2. Kệ dân của người Khùng. (1939) (Văn vần)

3. Sấm giảng.(1939) (Văn vần)

4. Giác mê tâm kệ. (1939) (Văn vần)

5. Khuyến thiện (1941) (Văn vần)

6. Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn Đạo. (1945) (văn xuôi) (Xem Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương GHPGHH,Tr. 6—10).Văn—chương của Ngài cực kỳ bình—dân nhưng rất hàm—súc hấp—dẫn. Ngài viết không cần giấy nháp. Ngài tuy ít học, nhưng lại làm nhiều thơ, và cả thơ chữ Hán rất là nghiêm túc. Ngài không học tiếng Miên, nhưng khi ngao du sang Miên ngài đã trò chuyện với dân Miên bằng tiếng Miên. (Xem Vương Kim, Đức Huỳnh Giáo Chủ, VP Phật Giáo Hòa Hảo/ HN 1997, tr. 61—63).

“Xưa nay, tuy đã có nhiều vị giáo chủ siêu việt giáng trần, nhưng vì tư tưởng các ngài quá cao siêu, nên những môn đệ, những tín đồ sau này thường lại không thấu triệt được những tư tưởng cao siêu của các ngài, nên đã bỏ mất tinh hoa, mà chỉ giữ được sáo ngữ và hình thức.” (xem Tôn Giáo Đối Chiếu Tr. 27. B.S. Nguyễn Văn Thọ)

Giáo—Pháp của Đức Giáo—Chủ tuy cao—siêu nhưng không kém phần thực tế, có thể áp—dụng cho bất cứ nơi nào trên thế gian. Ngài là một nhà đại cách mạng tôn—giáo. Vì trước khi Ngài ra đời, Đạo Phật Việt Nam bị đình—đốn sai lạc, và Đạo Phật Thế—giới chưa nói tới việc canh tân. Ngài đã cắt bỏ tất cả những nghi lễ phiền toái mà nguyên căn không phải của Đức Thích Ca chủ trương, đồng thời còn canh tân nhiều điểm trong phương pháp thực hành đạo Phật mà trước kia không hề có.

Nhờ Giáo Pháp thích thời đó nên chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài thu phục được hai triệu tín đồ tại miền Nam Việt Nam và ảnh—hưởng mỗi lúc càng lan rộng thêm ra.

Ngài cũng giả dạng, xưng hiệu khùng điên, đi đây, đi đó, thức tỉnh chúng sinh như Ông Sư Vải Bán Khoai. Dân chúng coi Ngài là Hóa thân của Đức Thày Tây An, Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư hay Sư Vãi Bán Khoai . (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 112; Để hiểu Phật Giáo Hòa Hảo, tr. 13).

Ngài sáng lập ra Đạo Hòa Hảo năm 1939, khi người 19 tuồi. Ngài là vị Giáo Chủ trẻ nhất thế giới từ xưa tới nay.

Ngài lãnh Sắc lệnh của Đức A Di Đà, của đức Thích Ca, của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, của Phật Vương, của Đức Quan Âm và có nhiệm vụ:

1. Chấn Hưng Phật Pháp.

2. Cứu độ chúng sinh khỏi Sông Mê, Bể Khổ.

3. Chỉ đường về Tây Phương Cực Lạc.

4. Tìm con lành hay tạo hạng hiền đức, để dự Hội Thi sang qua đời Thượng Nguyên an lạc,

5. Lập hội Long Hoa.

6. Lập bảng Phong Thần.

7. Đưa người đến Bồng Lai, Tiên Cảnh.

8. Trừ con Nghiệt Thú.

9. Cầm cân thưởng phạt.

10. Tá Quốc An Bang.

Ngài lập đại nguyện: Tận độ chúng sinh. (Xem Vương Kim, Đức Huỳnh Giáo Chủ, tr. 84—93).

Đức Huỳnh Giáo Chủ đưa ra một tổ chức tranh đấu gọi là Việt Nam Độc Lập Vận Động Hội. Ngài tổ chức Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo.

Ngài thành lập Phật Giáo Liên Hiệp Hội. Nhưng hội này không được các nhà Sư hưởng ứng nên chết non.

Người Nhật yêu cầu Ngài đi Khuyến Nông và Ngài đã nhận. Cuộc hành trình Khuyến Nông kéo dài 2 tháng, đi khắp các tỉnh miền Tây Nam Việt, diễn thuyết 107 nơi, rất đông người đến nghe.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng ngày 15/ 8/ 45. Ngài lại càng hăng say hoạt động chính trị, và lo cứu quốc an dân.

Ngài thành lập Đội Bảo An trong các xã ấp, để cho dân chúng được an lạc.

Sau đó Ngài định thành lập Đệ Tứ Sư Đoàn cho Hòa Hảo, nhưng bị Trần Văn Giàu đoạt mất.

Ngài tham gia thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ngày 14/6/45.

Trong khi đó mặt trận Việt Minh ra mắt tại Sài Gòn ngày 25/8/45. Ngài đã phái ông Nguyễn Xuân Thiếp ra Bắc tiếp xúc với Tổng Bộ Việt Minh và lãnh chỉ thị về Nam.

Ngài được Tổng Bộ Việt Minh coi là Đại Biểu chính thức của Việt Minh Nam Bộ (Vương Kim, Đức Huỳnh Phú Sổ, tr.. 155)

Vào khoảng đầu năm 1946, ngài tiếp xúc với các lãnh tụ quốc gia, thành lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam. Mặt trận không hoạt động được. Ngài cùng với các lãnh tụ quốc gia, lại thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng hay Dân Xã đảng.

Sau đó Ngài được mời tham chánh nhưng chỉ giữ một chức vụ nhỏ là Ủy Viên Đặc Biệt trong Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ.

Ngài còn gia nhập Mặt Trận Toàn Quốc thành lập ngày 27—2—47 tại Nam Ninh (Trung Hoa).

Ngộ Nạn.

Sau đó Ngài di chuyển về miền Tây, để hòa giải những xô xát giữa Tín Đồ Hòa Hảo với Việt Minh.

Trước hết Ngài gặp Trần Văn Nguyên. sau gặp Bửu Vinh, mấy nhân viên cao cấp Cộng Sản.

Ngày hôm sau 16/4/47, Ngài lại họp với Trần Văn Nguyên, và tới chập tối, Ngài họp với Bửu Vinh.

Khoảng 7 giờ rưỡi tối, có 8 người vào chỗ Ngài ở, giết 3 trong 4 tên hộ vệ của Ngài, còn Ngài bị mất tích từ ấy đến nay. Như vậy là Ngài mất tích tại Đốc Vàng vùng Đồng Tháp. (STD, tr. 188—195)

Khi ấy ngài mới 26 tuổi. Các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tin rằng Ngài vẫn chưa chết.

Nói Phật giáo Hòa Hảo mới được sáng lập năm 1939 cũng chưa chính xác cho lắm, vì từ năm 1849 cho đến 1939, đã có nhiều vị Phật Thánh giáng thế dạy dân, ở vùng Hậu Giang như Đức Phật Thầy Tây An (1807-1856), Đức Phật Trùm hoạt động trong những năm 1868-1873, Đức Bổn sư , chính thức lấy danh hiệu năm 1870, tịch năm 1890, Ông Sư Vãi Bán Khoai, xuất hiện vào khoảng năm 1901, sau đó mới đến đức Huỳnh Giáo Chủ chính thức lập đạo Hòa Hảo năm 1939, khi Ngài mới có 19 tuổi. Đó là một vị ra đời lập đạo trẻ nhất thế giới.

Ta có tình yêu rất đượm nồng,

Yêu đời yêu lẫn cả non sông.

Tình ta chan chứa trong hoàn vũ,

Không thể riêng yêu khách má hồng.

 (PGHH Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, Nguyễn Long Thành Nam, tr.398)

**************************************           

Sau đây sẽ bàn qua về các vị tiên phật trên.

Đức Phật Thầy Tây An.

Đức Phật Thầy Tây An đã nổi danh khắp Miền Nam Việt Nam, là một vị Phật Sống và một nhà ái quốc, ngài sinh năm 1807, nhưng mãi đến năm 1850 ngài mới ra mở đạo, và viên tịch năm 1856, lúc Tam Giáo đã hết sức suy vi. (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 28). Ngài thành lập Giáo Phái Bửu Sơn Kỳ Hương, và khai thị môn pháp Tu Nhân Học Phật, và gợi lại tinh thần dân tộc của phái Trúc Lâm Yên Tử xưa.

Con đường tiến hóa nhân loại là con đường hướng thượng, từ bâïc thấp tiến lên bậc cao, từ chỗ không tự do tiến đến chỗ cuối cùng giải thoát. Thế nên việc Tu Nhân cũng chỉ là để trang nghiêm đoạn đường nhập thế, làm nấc thang bước lên đoạn đường xuất thế. Vì vậy mà đồng thời với Tu Nhân, Đức Phật Thầy Tây An còn chủ trương học Phật. (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 33).

Về phương diện Tu Nhân, Ngài xướng xuất Tứ Ân Hiếu Nghĩa, để dìu dắt con người trở lại với Đạo Nhân, căn bản của con đường đưa đến mục đích cuối cùng giải thoát. (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 29)

Về tu Phật Ngài xướng xuất phép tu gồm cả 3 Mật, Tịnh Thiền. Ngài dùng Mật Tông để chữa bệnh và đã dạy được nhiều đệ tử như Đạo Xuyến, Đạo Sang, Đình Tây, Đạo Lập v.v… (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 38)

Vai trò của Mật Giáo là cốt dọn lấy miếng đất “lòng tin”, để rồi gieo hạt giống Bồ Đề, thế nên đồng thời với Mật Giáo, Đức Phật Thày Tây An còn khai thị phép tu Tịnh và tu Thiền (Std, tr. 41). Ngài chủ trương Thiền Tịnh Song tu, nhưng khác với Trúc Lâm Yên Tử vì Trúc Lâm Yên Tử lấy Thiền làm chánh Tông, lấy Tịnh làm trợ tông, còn Ngài thì lấy Tịnh làm chính tông, lấy Thiền làm trợ tông (Std, tr. 46).

Bửu Sơn Kỳ Hương ở núi Sam. Ai qui y thọ giáo với Ngài thì Ngài phát cho một cái lòng phái có 4 chữ Bửu Sơn Kỳ Hương bằng son, in trên giấy vàng… (Std, tr. 83.)

Trong vòng 7 năm hoằng pháp, tín đồ qui y, thọ giới có mấy mươi vạn, (Std. tr. 85).

Đức Phật Trùm.

Ngài vốn là người Miên, ở núi Tà Lơn, vùng Xà Tón, tỉnh Châu Đốc, nhưng bỗng một hôm sau khi chết đi, sống lại vì bệnh thời Khí, ngài hốt nhiên tỏ ngộ, và không nói được tiếng Miên lại nói ròng tiếng Việt. Ngài phát phù trị bệnh, mở đạo giáo đời, y như đã được Đức Thày Tây An truyền lại. Và kỳ diệu nhất là Ngài cũng phát lòng phái Bửu Sơn Kỳ Hương, cho nên người đời quả quyết rằng Ngài là Đức Phật Thày hóa kiếp. (Std, tr, 87).

Ngài ra đời năm 1868, tức là lúc quân Pháp đã chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh và là lúc các anh hùng cứu quốc nổi lên gây phong trào kháng chiến Cần Vương như Trương Công Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Khoa Huân, Trần Văn Thành.

Vì Ngài là đệ tử của Đức Phật Thày, lại có cả vạn người hậu thuẫn, nên quân Pháp chú ý đến Bửu Sơn Kỳ Hương, và phá tan lực lượng của Ngài vào năm 1873, và sau đó bắt Ngài đi đày. (Std, tr. 88)

Đức Bổn Sư.

Đức Bổn Sư cũng hốt nhiên tỏ ngộ, và dùng Phép huyền diệu độ bệnh cứu dân. Ngài cũng phát lòng phái Bửu Sơn Kỳ Hương, và xiển dương pháp môn Tu Nhân Học Phật.

Ngài sáng tác bộ kinh Hiếu Nghĩa gồm 3 quyển, và lập chùa phát phái ở núi Tượng vào năm 1870. Nhưng ngôi chùa này bị quân Pháp thiêu hủy năm 1885.

Sau đó vì ngài bị hương chức hội tề quản chế không cho tự do hành Đạo, nhất nhất cái gì cũng phải xin phép. Mỗi lần tín đồ vào chùa lễ bái không quá 4 người.

Chính vì thế Ngài phải canh cải cách thờ phượng, thay vì chú trọng Vô Vi, Ngài lại trọng về sắc tướng. Đó là cách quyền xảo.

Không thời kỳ nào mà tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chịu nhiều tai ách bằng thời kỳ này.

Trong suốt thời gian từ lúc Đức Bổn Sư ra đời cho đến khi ngài viên tịch (1890), Không có phút nào Ngài được yên thân. Ngài giữ vững được giáo hệ Bửu Sơn Ký Hương đã là may lắm rồi. (Std, tr. 93—95)

Ông Sư Vãi bán khoai.

Ông xuất hiện vào khoảng năm 1901, nghĩa là còn trong thời kỳ quân Pháp đang thi hành chính sách đàn áp gắt gao các tín đồ của Giáo Hệ Bửu Sơn Kỳ Hương.

Với Ông Sư Vãi bán khoai, một kỷ nguyên mới về sự truyền giáo mở ra. Bằng phương pháp giả dạng thay hình, khi thì làm người bán khoai, khi thì làm kẻ bán củi, ông xưng khùng xưng điên, đi nơi này nơi nọ, nhất là ở vùng kinh Vĩnh Tế và Cao Miên, khuyến hóa dân sanh, lo tu hành niệm Phật. Chẳng bao lâu mà khắp dân gian ở miệt Cao Miên cũng như ở vùng Long Xuyên và Châu Đốc, tinh thần Bửu Sơn Kỳ Hương được hưng khởi. Mặc dầu Ông không lập chùa chiền hóa độ, nhưng với quyển Sấm Giảng Người Đời 11 thiên mà ông cho truyền bá trong dân gian, không còn ai mà không công nhận Ông là bậc tiên giác trong Giáo Hệ Bửu Sơn Kỳ Hương. Người ta thấy những điều lập thuyết và giáo hóa của Đức Phật Thày Tây An, Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư phản chiếu trong quyển Sấm Giảng Người Đời ấy.

Lập thuyết của Phái Bửu Sơn Kỳ Hương, như mọi người đã biết, được xây dựng trên Lý Tam Nguyên. Cuộc đời vần xoay theo luật: từ Thượng Nguyên đến Trung Nguyên rồi Hạ Nguyên. Khi Hạ Nguyên mãn thì trở lại Thượng Nguyên và cứ thế mãi mãi. (Std, tr. 103—105).

**********************

Trong thời Hạ Nguyên này ngài khuyên mọi người phải cảnh tỉnh, và phải Tu Tứ Ân, và niệm Phật. Ngài chỉ dạy tu Tịnh Độ mà không dạy Tu Thiền. (Stđ, tr. 109—112)

1. VỊ TRÍ ĐỊA DƯ

Đạo Phật Giáo Hòa Hảo được khai sáng tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, Việt Nam, và từ đó phát triển, bành trướng ở miền Tây Nam Việt. Đặc biệt đây là những tỉnh đồng bằng thuộc châu thổ sông Cửu Long, giáp nước Cao Miên, được mệnh danh là vựa lúa của Việt Nam. Nhờ đất đai phì nhiêu, vùng này có khả năng vĩ đại về nông nghiệp, gọi chung là Hậu Giang hay miền Tây Nam Việt.

Ngoài sự kiện kinh tế, vùng này còn có dãy núi Thất Sơn tại biên giới tỉnh Châu Đốc giáp sứ Cao Miên. Tương truyền tại đó chứa đựng nhiều điều huyền bí ly kỳ và lưu truyền trên sách vở đến nay chưa ai cắt nghĩa được.

Trên căn bản ấy, vùng Hậu Giang, nơi xuất phát và bành trướng ảnh hưởng của đạo Phật Giáo Hòa Hảo.

2. SỐ TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Tổng số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo được ước lượng vào khoảng trên 2 triệu người, đại diện cho một tỉ số 38% trên dân số vùng Hậu Giang, hay 10% trên tổng số dân Việt Nam Cộng Hòa. Có những tỉnh như Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo lên đến 90 % dân số; ở các tỉnh khác, tỷ số này thay đổi từ 10 đến 60 %. (thống kê trước 1975 của PGHH. Nay 2001, con số dường như lên trên 4 triệu người)

3. ĐẶC TÍNH PHẬT GIÁO HÒA HẢO

—ĐẶC TÍNH THỨ NHẤT:  Bửu Sơn Kỳ Hương hay Phật Giáo Hòa Hảo đều là một nền đạo Phật của nông dân.

Đức Phật Thầy Tây An trước kia vừa truyền bá đạo Phật vừa khuyến khích nông nghiệp dưới hình thức “Lập trại ruộng để vừa tu hành vừa cày cấy”.

Ngày nay cũng thế, hầu hết tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo là nông dân, và đó cũng là một lý do tại sao Đức Huỳnh Giáo Chủ đã lập đạo tại một vùng đất phì nhiêu nhứt Việt Nam.

Trên phương diện nhân sinh và xã hội, người ta cũng nhận định rằng bản chất thuần phác của người nông dân cho họ có căn bản thuận lợi để tu học theo đạo Phật.

—ĐẶC TÍNH THỨ HAI, Phật Giáo Hòa Hảo cũng như Bửu Sơn Kỳ Hương đều chủ trương tu hành tại gia. Bởi vì các vị Giáo Chủ này đã nghĩ rằng đạo Phật không những chỉ truyền bá ở thiền môn mà còn phải phát triển rộng rãi đến mọi gia đình.

Do đó các tín đồ PGHH không bị bắt buộc phải cạo đầu vào chùa, lìa bỏ mọi việc ngoài thế gian, mà họ vẫn ở tại gia đình, sống như mọi người công dân khác với nếp sống bình dị trong nông nghiệp, đồng thời tu hành theo giáo lý của Đức Thích Ca.

Tôn chỉ tu hành của Phật Giáo Hòa Hảo là Học Phật Tu Nhân, tức là noi theo giáo lý chơn truyền của Đức Phật mà tu sửa con người, để vừa làm tròn bổn phận trong cõi đời đang sống, vừa dọn thân tâm cho trong sáng để được siêu thăng vào cõi Tịnh Độ Cực Lạc, giải thoát khỏi vòng luân hồi.

Để thi hành tôn chỉ Học Phật Tu Nhân, người tín đồ PGHH phải tích cực thực hiện Tứ Ân, tức 4 điều ân lớn, là:

1—Ân Tổ Tiên Cha Mẹ

2—Ân Đất Nước

3—Ân Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)

4—Ân Đồng Bào Nhơn Loại (Xin xem sách về Giáo Lý PGHH) Cũng trong đường lối đó, người tín đồ PGHH đã tỏ ra tích cực tu hành đồng thời cũng tích cực hy sinh vì đất nước, khi quốc gia hữu sự.

—ĐẶC TÍNH THỨ BA là sự canh tân phương pháp hành đạo nhằm loại trừ mọi hình thức rườm rà, mê tín, dị đoan. Đặc tính canh tân này có mục đích loại bỏ âm thinh sắc tướng để phát dương phần tinh túy của đạo Phật, đúng theo chánh pháp vô vi của Đức Phật.

Đạo Phật Giáo Hòa Hảo chủ trương canh tân như sau:

—Không cất chùa đúc tượng thêm, ngoài những ngôi chùa đã sẵn có. Ai giàu lòng từ thiện thì nên phát tâm bố thí, cứu trợ kẻ nghèo khổ, hơn là cất chùa lớn, đúc tượng cao.

—Không chấp nhận thầy cúng, thầy lễ, thầy bói, thầy phù thủy, cũng không dâng cúng chè xôi thực phẩm cho Phật, vì Phật không dùng những của hối lộ đó.

—Không dùng cờ phướn, lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, phí tổn vô ích….

—Không khóc lóc hay làm linh đình lúc tang ma, mà chỉ im lặng cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thoát.

Không ép hôn, thách tiền cưới hay tiệc rượu linh đình, vì sẽ mang nợ, gây hại về sau. Tóm lại, giáo pháp vô vi Phật Giáo Hòa Hảo nhằm canh tân phương pháp hành đạo để trở về với giáo lý chơn truyền của Đức Phật, là tu hành tại Tâm, chẳng phải ở hình thức lễ nghi bề ngoài.

Phật Giáo Hòa Hảo không có sư sãi.

Tóm lại, Phật Giáo Hòa Hảo dạy Tu Nhân Học Phật.

Tu Nhân là tu đạo Làm Người đối với gia đình, quốc gia, xã hội, là tu đức Nhân của Khổng Mạnh, nhất là Hiếu Nghĩa. Tứ ân hiếu nghĩa nằm gọn trong 2 chữ Tu Nhân.

“Phàm là con dân, thì biết yêu tổ quốc, hy sinh thân mạng đền bù nợ quốc gia; làm con thì hiếu thảo, thờ phượng cha mẹ, anh em thì hòa thuận nhau, vợ chồng thì ân nghĩa đối đãi nhau, Nói tóm lại, một người có đạo nhân, là người lấy nhân nghĩa, đạo đức làm phương châm xử thế tiếp vật, sống một đời chánh chân cao nhã”. Đó là bước đầu của nấc thang tiến lên con đường đi đến quả vị Tiên Phật. Ai muốn giải thoát, muốn thành Phật, thành Tiên cũng phải trải qua nấc thang đó trước; ví bằng chẳng hành xong Nhân Đạo thì không sao thành Phật Đạo .(Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 67)

Học Phật là học tinh hoa Phật Giáo. Hòa Hảo chú trọng: Mật, Tịnh, và Thiền.

Mật là Mật Tông. Mật tông cốt là dọn lấy miếng đất “lòng tin”, để rồi gieo giống Bồ Đề chánh pháp. Mật tông, hay phép nhiệm chữa trị bệnh cho những người kém tin tưởng sớm thức tỉnh , cảm lấy ơn cứu độ mà qui ngưỡng tu hành. Nhưng về sau khi người đời đem lòng mộ đạo, thì đức Huỳnh Giáo Chủ không còn thi thiết nữa. (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, 1997, tr. 41)

Có người hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ: “Bạch thầy, mấy Ông Đạo trên núi, thường luyện phép để ngày sau phò vua, giúp nước. Còn Đức Thày sao không dạy đệ tử luyện phép như Tiên Đạo?”

Ngài đáp: “Đức Phật chỉ dạy con người lo tu tâm sửa tánh, cho được trọn lành trọn sáng, còn phù phép thuộc về tà giáo. Còn ham phù phép tức là còn nuôi óc cạnh tranh cầu danh lợi: phép linh cũng như cá linh. Nước vừa chớm giựt, loại cá này đua nhãy lên nước trước, nên phải chịu chết sớm. Các ông đừng ham linh mà bỏ mình.” (Vương Kim, Đức Huỳnh Giáo Chủ, VP Phật Giáo Hòa Hảo/HN, 1997, tr. 74)

Tịnh là Tịnh Độ. Đức Huỳnh Giáo chủ dạy Thiền Tịnh song tu. Tịnh Độ là niệm danh hiệu A Di Đà, cầu vãng sanh Cực Lạc. Tịnh Độ Tông dựa vào Tha Lực của Đức Phật A Di Đà.

Thiền là Thiền Tông. Thiền Tông là Pháp Môn tự lực tu hành. Chủ yếu của pháp Thiền Tông, là đạt đến chỗ Minh Tâm Kiến Tính. Mỗi chúng sinh đều có sẵn Bản Tâm thanh tịnh, vĩnh viễn trường tồn, bất di bất dịch, nhưng vì thiên chấp sắc tướng, mà lu mờ chân giác; vì thế mà nhận lầm cái không làm có , cái có làm không. Do chỗ mê lầm ấy mà lăn lộn mãi trong tam đồ lục đạo. Chỉ có trở về với Bản Tính Thanh Tịnh, nhận rõ cái lý: sắc tức thị không, không tức thị sắc, thì mới dứt đường sinh tử, phản bản hoàn nguyên… (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 99, 100).

“Thì ra Ông Phật cũng chẳng qua từ địa vị chúng sinh, tức là con người bằng xương bằng thịt, tu hành đắc quả… Phật từ chúng sinh ra mà ra. Thế nên, muốn thành Phật, trước phải làm chúng sinh, hay nói một cách khác, trước khi làm Phật, cần phải làm một con người.

“Như vậy, con người là khởi điểm của con đường tiến hóa để đi đến Phật. Không có con người thì không thể nào thành Phật. Nhưng Phật khác hơn chúng sinh ở chỗ Phật là con người toàn thiện, toàn mỹ, rốt ráo giải thoát, còn chúng sinh là những con người chưa hoàn hảo, còn bị ràng buộc, trói trăn. Làm Phật tất phải biết hơn chúng sinh, phải làm hơn những việc của chúng sinh làm, mới xứng đáng cho chúng sinh thờ kính và quí trọng. Ví bằng Phật mà không làm hoàn toàn bổn phận con người, không vượt trên bậc phàm, thánh, thì hẳn kẻ phàm, thánh dù có thờ, cũng không trọn kính. Và như thế thì không thành một vị Phật…” (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 67—68).

Tế Điên Hòa Thượng có nói: “Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhân Đạo. Nhân đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỷ.” Muốn tu Đạo Tiên Phật, trước phải tu đạo làm người. Đạo làm người mà không tu, thì Đạo Tiên Phật khó đến vậy. (Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương, tr. 31.)

Những tư tưởng trên đây thật là trong sáng, và rất chính xác. Đáng khâm phục.

********************************           

4. SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Trong chủ trương canh tân nói trên, sự thờ phượng trong nhà các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thật là giản dị.

Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ. Chỉ có một tấm Trần bằng vải màu đà, tượng trưng cho sự hòa hợp nhơn loại, và cho màu sắc nhà thiền. Đó là bàn thờ Chư Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cữu Huyền Thất Tổ, ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có một bàn thờ lộ thiên (gọi là bàn Thông Thiên) để người tín đồ cảm thông với Trời Đất, bốn phương trời, mười phương Phật. Chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang để cúng Phật. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng để khử mùi uế trược.

Mỗi ngày người tín đồ PGHH làm lễ cúng Phật, ít nhứt hai lần, buổi sáng và buổi tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chư Phật, họ đến chùa hay hội quán hành lễ, và nghe kinh giảng hay nghe thuyết pháp.

Lúc đảnh lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm niệm. Khi nào mắc công việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm.

Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc giảng đường trang bị máy phóng thanh, để mỗi ngày trong những giờ nhất định, có những giảng viên đến đọc kinh giảng hay thuyết pháp cho người chung quanh cùng nghe.

Độc Giảng Đường Phật Giáo Hòa Hảo là những ngôi chùa thâu hẹp chỉ để truyền đạo, chớ không phải để cư trú, nên nhỏ hơn chùa, bởi bản chất Phật Giáo Hòa Hảo là cư sĩ tại gia.

Hiện nay chỗ nào có nhiều tín đồ PGHH đều có Độc Giảng Đường, với nét kiến trúc đặc biệt của Phật Giáo Hòa Hảo. Theo kiểm kê năm 1965, Phật Giáo Hòa Hảo có 390 Độc Giảng Đường.

Giới nghiên cứu giáo lý PGHH đã đúc kết hệ thống tư tưởng của Huỳnh Giáo Chủ thành một công thức ba bước bất khả phân: Bước thứ nhất là học Phật, bước thứ hai là Tu Nhân, bước thứ ba là tìm về cứu cánh giải thoát. (PGHH Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, Nguyễn Long Thành Nam. Tr 284)

5. CỜ ĐẠO, HUY HIỆU

(Huy Hiệu Hoà Hảo)

Cờ đạo hình chữ nhật màu đà, không có chữ hay hình tượng nào. Huy hiệu PGHH hình tròn màu đà, bìa vàng trên có bông sen trắng và bốn chữ viết tắt PGHH.

6. THÁNH ĐỊA

Thánh Địa Phật Giáo Hòa Hảo đặt tại làng Hòa Hảo tức là sanh quán của Đức Huỳnh Giáo Chủ, và cũng là nơi khai sáng mối Đạo. Tại đây không có sự xây cất đồ sộ, nhưng có một nếp sống đặc biệt an lạc, với không khí đạo giáo.

7. HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Đoàn thể PGHH được quản trị bởi một hệ thống Ban Trị Sự. Các Ban Trị Sự được thiết lập từ mỗi Ấp, Xã, Quận, Tỉnh. Trên hết là một Hội Đồng Trị Sự Trung Ương.

Mỗi Ấp chia làm nhiều chi hội.

Nhờ một tổ chức đi sâu vào tới hạ tầng cơ sở quần chúng, nên sự điều hành công việc được chặt chẽ, và các chỉ thị được thi hành suốt từ trung ương xuống đến các chi hội.

Nguyên tắc tổ chức và điều khiển là dân chủ tập trung.

8. SINH HOẠT

Phật Giáo Hòa Hảo được khai sáng từ năm 1939.

Trong sinh hoạt bình thường, trọng tâm công tác của Giáo Hội PGHH nhắm vào 2 mục tiêu chính. Thứ nhứt là phổ truyền giáo lý trong và ngoài nước. Thứ hai, thực hiện các công tác xã hội, văn hóa, cứu trợ và bố thí.

Trong công thức Học Phật Tu Nhân, trên 2 triệu (1975) người tín đồ PGHH cư sĩ tại gia đồng thời với sự tu sửa thân tâm, lại còn đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam. Hơn thế, khi quốc gia hữu sự, tín đồ PGHH sẵn sàng hiến dâng đời sống , hy sinh để bảo vệ tổ quốc.

Mỗi năm đặc biệt trong ngày đại lễ Kỷ Niệm Khai Sáng Mối Đạo vào 18 tháng 5 Âm lịch, các sự kiện trên đây được thể hiện trong tổ chức đại lễ nơi Thánh địa Hòa Hảo và ở khắp vùng Hậu giang.

9. TRONG CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

Trên bình diện quốc gia, giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo là một hội viên sáng lập của Hội Đồng Tôn Giáo Việt Nam, một cơ quan đoàn kết các tôn giáo chánh yếu như: Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài Giáo, Tin Lành… Đồng thời PGHH cũng tham gia các sinh hoạt quốc gia, đúng theo truyền thống của một tôn giáo dân tộc. Ngoài ra, giáo lý PGHH cũng đã được tiếp nhận với nhiều cảm tình bởi nhiều giới trí thức Đông phương cũng như Tây phương.

Bởi vì, với một giáo thuyết hòa đồng tinh hoa Tam giáo, Phật Giáo Hòa Hảo đã phát dương giáo pháp chơn truyền của Đức Thích Ca Mâu Ni làm căn bản giáo lý, lại thêm các tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, đã ăn sâu vào tập tục dân tộc Việt Nam, để kết thành một tư tưởng Đạo học có đặc thái dân tộc Việt Nam.

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.

Đền xong nợ nước thù nhà,

Thiền môn trở gót Phật—Đà nam—mô.

(SGTVTB, Huỳnh Phú Sổ tr.456)

********************

Bài này viết theo tài liệu của Phật Giáo Hòa Hảo trên trang nhà của PGHH [url]http://www.hoahao.org/[/url] và các sách

—Đức Huỳnh Giáo Chủ của Vương Kim

—Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo của Thanh sĩ và Vương Kim

—Bửu Sơn Kỳ Hương của Vương Kim

—PGHH trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam.

—Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ

—Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và Phật Giáo Thời Đại của Tiến Sĩ Lê Hiếu Liêm

—Hồn Thiêng Dân Tộc của Nguyễn Huỳnh Mai

—Đức Phật Thầy Tây An của Vương Kim và Đào Hưng

——————————————
******************************************           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN – MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN – MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN

– MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO
Lê Anh Minh
Thiện thư 善書 hay khuyến thiện thư 勸善書 (books of edification; morality tracts) là một đặc chủng trong thư tịch Đạo giáo.

 

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN
MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO

Lê Anh Minh

Thiện thư 善書 hay khuyến thiện thư 勸善書 (books of edification; morality tracts) là một đặc chủng trong thư tịch Đạo giáo.

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN – MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO

TÌM HIỂU CẢM ỨNG THIÊN

– MỘT ĐẠI THIỆN THƯ CỦA ĐẠO GIÁO

Lê Anh Minh

Thiện thư 善書 hay khuyến thiện thư 勸善書 (books of edification; morality tracts) là một đặc chủng trong thư tịch Đạo giáo.

Đó là những kinh sách dạy làm lành lánh dữ.

Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, tiến sĩ y khoa Nhật Bản, đứng trên góc độ y học mà cho rằng thiện thư cũng là một liệu pháp của Đạo giáo, cùng phát triển với các liệu pháp dân gian như: lên đồng (đồng cơ 童乩 còn gọi là vũ loan 武鸞), cầu cơ bút (phù cơ 扶乩 hay phù loan 扶鸞 [1] còn gọi là văn loan 文鸞), dược thiêm 藥簽 (những lá bùa để trị bệnh), thảo dược 草藥 (thuốc bằng cây cỏ rễ lá), v.v. [2] Thường thì y học chỉ trị thể xác chứ khó trị được tâm tình (y thân bất y tâm 醫身不醫心) nhưng thiện thư có thể y tâm.

Người trì tụng thiện thư dường như đã tìm được một chỗ dựa tâm linh trong cuộc sống bất trắc phù du. Họ tin rằng mọi họa phúc hiện tại đều từ bản thân mình đã gieo mầm trong quá khứ thậm chí trong tiền kiếp, cho nên họ lựa chọn thái độ kham nhẫn trong nghịch cảnh.

Sám hối và hành thiện để trông cậy một tương lai tốt đẹp hơn, thậm chí làm được 1300 điều thiện thì có thể trở thành thiên tiên 天仙 như Cảm Ứng Thiên nói. Như vậy khoái lạc và khổ đau chỉ là những tâm cảnh có giá trị tương đối.

Người trong nghịch cảnh sẽ vơi bớt đau khổ khi nương cậy vào thiện thư: «Tổn ngã nghịch ngã tiêu nghiệt duyên» 損我逆我消孽緣 (Ai làm hại ta, nghịch với ta, là để tiêu diệt những nhân duyên oan nghiệt trong quá khứ).

Hiểu như vậy lòng sẽ thanh thản, không còn khổ tâm nữa, vì đã sòng phẳng với quá khứ.

Kinh sách Đạo giáo nói chung đều có tính khuyến thiện.

Thái Bình Kinh 太平經 của thời Đông Hán và Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 của thời Ngụy Tấn chẳng hạn đều bao hàm những tư tưởng khuyến thiện mặc dù nội dung chủ yếu của những kinh này là dạy luyện đạo thành tiên.

Nhưng muốn thành thần tiên thì trước hết phải là người hiền lành lương thiện. Làm người chưa xong lẽ nào thành tiên cho được?

(Dục tu thiên đạo, tiên tu nhân đạo. Nhân đạo bất tu, thiên đạo viễn hĩ 欲修天道先修人道人道不修天道遠矣 = Muốn tu đạo Trời [đạo giải thoát] thì trước tiên phải cho tròn đạo làm người. Học làm người chưa xong, đạo giải thoát còn xa lắm vậy).

Kinh sách thuần túy khuyến thiện thì phải kể Cảm Ứng Thiên là tối cổ, sau đó là Âm Chất Văn 陰騭文 và Công Quá Cách 功過格. Bài viết này sơ lược về Cảm Ứng Thiên.[3]

太上感應篇

太上曰:「禍福無門,惟人自召;善惡之報,如影隨形。」

是以天地有司過之神,依人所犯輕重,以奪人算。算減則貧耗,多逢憂患;人皆惡之,刑禍隨之,吉慶避之,惡星災之;算盡則死。
又有三台北鬥神君,在人頭上,錄人罪惡,奪其紀算。又有三屍神,在人身中,每到庚申日,輒上詣天曹,言人罪過。月晦之日,灶神亦然。凡人有過,大則奪紀,小則奪算。其過大小,有數百事,欲求長生者,先須避之。

是道則進,非道則退。不履邪徑,不欺暗室;積德累功,慈心於物;忠孝友悌,正己化人;矜孤恤寡,敬老懷幼;昆蟲草木,猶不可傷。宜憫人之凶,樂人之善;濟人之急,救人之危。見人之得,如己之得;見人之失,如己之失。不彰人短,不炫己長;遏惡揚善,推多取少。受辱不怨,受寵若驚;施恩不求報,與人不追悔。

所謂善人,人皆敬之,天道佑之,福祿隨之,眾邪遠之,神靈衛之;所作必成,神仙可冀。欲求天仙者,當立一千三百善;欲求地仙者,當立三百善。

苟或非義而動,背理而行;以惡為能,忍作殘害;陰賊良善,暗侮君親;慢其先生,叛其所事;誑諸無識,謗諸同學;虛誣詐偽,攻訐宗親;剛強不仁,狠戾自用;是非不當,向背乖宜;虐下取功,諂上希旨;受恩不感,念怨不休;輕蔑天民,擾亂國政;賞及非義,刑及無辜;殺人取財,傾人取位;誅降戮服,貶正排賢;凌孤逼寡,棄法受賂;以直為曲,以曲為直;入輕為重,見殺加怒;知過不改,知善不為;自罪引他,壅塞方術;訕謗聖賢,侵凌道德。

射飛逐走,發蟄驚棲;填穴覆巢,傷胎破卵;願人有失,毀人成功;危人自安,減人自益;以惡易好,以私廢公,竊人之能,蔽人之善;形人之醜,訐人之私;耗人貨財,離人骨肉;侵人所愛,助人為非;逞志作威,辱人求勝;敗人苗稼,破人婚姻;苟富而驕,苟免無恥;認恩推過,嫁禍賣惡;沽買虛譽,包貯險心;挫人所長,護己所短;乘威迫脅,縱暴殺傷;無故剪裁,非禮烹宰;散棄五縠,勞擾眾生;破人之家,取其財寶;決水放火,以害民居;紊亂規模,以敗人功;損人器物,以窮人用。

見他榮貴,願他流貶;見他富有,願他破散;見他色美,起心私之;負他貨財,願他身死;干求不遂,便生咒恨;見他失便,便說他過;見他體相不具而笑之,見他材能可稱而抑之。

埋蠱厭人,用藥殺樹;恚怒師傅,牴觸父兄;強取強求,好侵好奪;擄掠致富,巧詐求遷;賞罰不平,逸樂過節;苛虐其下,恐嚇於他;怨天尤人,呵風罵雨;鬥合爭訟,妄逐朋黨;用妻妾語,違父母訓;得新忘故,口是心非;貪冒於財,欺罔其上;造作惡語,讒毀平人;毀人稱直,罵神稱正;棄順效逆,背親向疏;指天地以證鄙懷,引神明而鑑猥事。

施與後悔,假借不還;分外營求,力上施設;淫慾過度,心毒貌慈;穢食餧人,左道惑眾;短尺狹度,輕秤小升;以偽雜真,採取姦利;壓良為賤,謾驀愚人;貪婪無厭,咒詛求直。

嗜酒悖亂,骨肉忿爭;男不忠良,女不柔順;不和其室,不敬其夫;每好矜誇,常行妒忌;無行於妻子,失禮於舅姑;輕慢先靈,違逆上命;作為無益,懷挾外心;自咒咒他,偏憎偏愛;越井越灶,跳食跳人;損子墮胎,行多隱僻;晦臘歌舞,朔旦號怒;對北涕唾及溺,對灶吟詠及哭;又以灶火燒香,穢柴作食;夜起裸露,八節行刑;唾流星,指虹霓;輒指三光,久視日月;春月燎獵,對北惡罵,無故殺龜打蛇…如是等罪,司命隨其輕重,奪其紀算。算盡則死;死有餘責,乃殃及子孫。

又諸橫取人財者,乃計其妻子家口以當之,漸至死喪。若不死喪,則有水火盜賊、遺亡器物、疾病口舌諸事,以當妄取之值。
又枉殺人者,是易刀兵而相殺也。取非義之財者,譬如漏脯救饑,鴆酒止渴;非不暫飽,死亦及之。

夫心起於善,善雖未為,而吉神已隨之;或心起於惡,惡雖未為,而凶神已隨之。其有曾行惡事,後自改悔,諸惡莫作,眾善奉行,久久必獲吉慶;所謂轉禍為福也。故吉人語善、視善、行善,一日有三善,三年天必降之福。凶人語惡、視惡、行惡,一日有三惡,三年天必降之禍。胡不勉而行之?

I. TÁC GIẢ VÀ XUẤT XỨ CỦA CẢM ỨNG THIÊN

Cảm Ứng Thiên 感應篇 là một thiên văn chương khuyến thiện rất cổ xưa trong vô số các kinh sách khuyến thiện của Trung Quốc. Người đời cực kỳ tôn trọng Cảm Ứng Thiên mà gọi là Kinh Cảm Ứng (trong Đạo Cao Đài gọi là Kinh Cảm Ứng). Nguyên tựa kinh này là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇. Tựa kinh tiết lộ tác giả là Đức Thái Thượng Lão Quân 太上老君 tức Thái Thượng Đạo Tổ 太上道祖, nhưng vấn đề không đơn giản như vậy.

Cảm Ứng Thiên có tự bao giờ và tác giả là ai?

Quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký 上感應篇靈異記 (Ghi chép về những linh nghiệm kỳ lạ do trì tụng Cảm Ứng Thiên) của ngài Vô Tích Vạn Quân Thúc Hào 無錫萬鈞叔豪 ghi rằng:

«Tự Tấn dĩ lai, y thử tu thân thành chân giả đa nhân, phú quý giả dĩ bất kế kỳ số hĩ, phổ thiên hạ nhai cù lý hạng, vô bất truyền bố.»

自 晉 以 來 , 依 此 修 身 成 真 者 多 人 , 富 貴 者 已 不 計 其 數 矣 , 普 天 下 街 衢 里 巷 , 無 不 傳 布

([Kinh này xuất hiện] từ đời Tấn đến nay, người noi theo đó tu thân thành tiên (chân nhân) thì rất nhiều, người trở nên phú quí thì vô số kể; kinh này phổ biến khắp nơi).[4]

 Câu văn ngắn gọn này cho biết đôi điều:

(1) Kinh xuất hiện từ đời Tấn (265-420), đến nay cũng đã hơn 1500 năm;

(2) kinh này rất linh nghiệm giúp người trì tụng trở nên phú quí hoặc tu luyện thành chân nhân;

và (3) vì sự linh nghiệm ấy kinh được phổ biến khắp nơi.

Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [5] không khẳng định thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên mà chỉ dè dặt nói rằng: «Thái Thượng Cảm Ứng Thiên vi Đạo gia tu chân giả, xiển thuật Thái Thượng chi tông chỉ cập kỳ thực tiễn đích trọng yếu trứ tác, tha đối Tấn đại chi tiền đích Đạo gia trứ tác Ngọc Linh Kinh, Dịch Nội Giới, Xích Tùng Tử Kinh, Hà Đồ Ký, Mệnh Phù đẳng trứ tác quân hữu khái quát. (…) Bản thư chi tác giả dữ thành thư niên đại cứ khảo chứng quân bất khả tri, chỉ năng tùng Tống Thư Nghệ Văn Chí, Đạo Tạng Tinh Hoa Lục trung đắc tri hữu thử thiên chương tồn mục, tịnh tác vi Đạo gia học phái cáo giới dữ khuyến thiện tối đại vi thư.»

太 上 感 應 篇 為 道 家 修 真 者,闡 述 太 上 之 宗 旨 及 其 實 踐 的 重 要 著 作,它 對 晉 代 之 前 的 道 家 著 作 玉 鈴 經, 易 內 戒 , 赤 松 子 經 , 河 圖 記 , 命 符 等 著 作 均 有 概 括. […] 本 書 之 作 者 與 成 書 年 代, 據 考 證 均 不 可 知,只 能 從 宋 書 藝 文 誌, 道 藏 精 華 錄 中 得 知 有 此 篇 章 存 目, 并 作 為 道 家 學 派 兌 誡 與 勸 善 的 最 大 之 書.

(Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là trứ tác quan trọng do các Đạo gia tu chân trình bày rõ ràng tông chỉ của Đức Thái Thượng và thực tiễn của tông chỉ đó.Cảm Ứng Thiên cùng có sự khái quát [về phép tu luyện] như các trứ tác của Đạo gia trước đời Tấn như Ngọc Linh Kinh, Xích Tùng Tử Kinh, Hà Đồ Ký, Mệnh Phù, v.v.[…] Theo sự khảo chứng, tác giả kinh và thời gian bắt đầu xuất hiện kinh này đều chưa được biết rõ, chỉ có thể theo Tống Thư Nghệ Văn Chí và Đạo Tạng Tinh Hoa Lục thì biết Cảm Ứng Thiên đã được ghi chép trong đó rồi, và kinh này quả thực là quyển sách cực lớn nhằm khuyến thiện và răn [tín đồ] các phái Đạo gia giữ gìn giới luật).

Trung Quốc Đạo Giáo [6] nhận định vấn đề này như sau:

«Thái Thượng Cảm Ứng Thiên gọi tắt là Cảm Ứng Thiên. Tác giả không xác định được. Nghệ Văn Chí trong Tống Sử [Tống Thư] có chép một bản Cảm Ứng Thiên của Lý Xương Linh 李昌齡. Quyển Quận Trai Độc Thư Phụ Chí 郡齋讀書附誌 có ghi 8 quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên của Giáp Giang Ẩn Giả 夾江隱者 tức Lý Xương Linh 李昌齡.

Hiện nay Thư Viện Bắc Kinh đang tàng trữ một bộ 8 quyển khắc vào đời Nguyên 元 (1279-1368), một bản và một bộ 8 quyển khắc vào đời Minh 明 (1368-1644). Chính Thống Đạo Tạng 正統道藏 bộ Thái Thanh 太清 chép 30 quyển Thái Thương Cảm Ứng Thiên, phụ đề «Lý Xương Linh truyền, Trịnh Thanh Chi tán» 李昌齡傳鄭清之讚 (Lý Xương Linh truyền lại, Trịnh Thanh Chi khen ngợi).

Đời Thanh 清 (1644-1911), Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Chú 太上感應篇注 của Huệ Đống 惠棟 và Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Toản Nghĩa 太上感應篇纘義 của Du Việt 愈樾 đều căn cứ vào Tống Sử mà cho rằng Lý Xương Linh là tác giả của Cảm Ứng Thiên. Bản Cảm Ứng Thiên trong Đạo Tạng có chép lời tựa của Trần Hoán Tử 陳奐子 viết năm Thiệu Định 紹定 thứ 6 (1233) vua Lý Tông 理宗 đời Nam Tống 南宋 bảo rằng Lý Xương Linh chỉ là người chú thích Cảm Ứng Thiên.

Gần đây, một học giả Nhật Bản tên là Cát Cương Nghĩa Phong 吉岡義豐 (Yoshioka Yoshitoyo) cho rằng tác giả Cảm Ứng Thiên là Lý Thạch 李石, quê Tứ Xuyên 四川, từng viết quyển Phương Chu Tập 方舟集 vào năm đầu tiên của đời Nam Tống. Nói vậy nhưng chứng cứ không đầy đủ.»

Tửu Tỉnh Trung Phu 酒井忠夫 (Nhật Bản) viết Trung Quốc Thiện Thư Nghiên Cứu 中國善書研究 (nghiên cứu sách khuyến thiện của Trung Quốc) khẳng định Lý Xương Linh là tác giả của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên:

«Thiện thư là sách khuyên người đời hành thiện. Nói chung đó là sách khuyến thiện từ đời Tống về sau, được tặng không bán, phổ biến đạo đức theo kinh điển Nho giáo đồng thời bao quát những điều thiện thông thường mà đa số quần chúng dễ dàng tiếp thu. (…) Vì tính cách đại chúng của thiện thư, tác giả của thiện thư thường là những ẩn sĩ có khả năng lý giải tâm lý dân chúng.

Thiện thư đầu tiên là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên do Lý Xương Linh sáng tác vào đầu đời Nam Tống. Từ đó về sau, thiện thư nhiều vô kể. Giữa đời Minh và Thanh là thời kỳ cực thịnh của thiện thư.» [7]

Tác giả Lý Cương 李剛 [8] sau khi so sánh chương Vi Chỉ 微旨 trong Bão Phác Tử Nội Thiên 抱樸子內篇 với Cảm Ứng Thiên đã nhận định tác giả của Cảm Ứng Thiên như sau:

«Tư tưởng trong Cảm Ứng Thiên phát sinh từ (tư tưởng) của các đạo sĩ thời Hán-Ngụy. Cho đến đời Bắc Tống, với một bối cảnh xã hội mới, một đạo sĩ nào đó đã gia công cắt xén, thay đổi tên họ, và lưu truyền sách cho người đời. Trong Đạo giáo, người viết sách rất thích mượn tên của một vị thần nào đó gán là tác giả, như vậy (tác phẩm) sẽ được người đời coi trọng.

Tác giả của Cảm Ứng Thiên mượn danh Thái Thượng Lão Quân để phô diễn tư tưởng của mình, như vậy rất phù hợp với đặc điểm của Đạo giáo.»

Đạo Kinh Tổng Luận 道經總論 [9] đăng mục lục của bộ Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華 xuất bản ở Đài Loan, trong 13 tập thì Thái Thượng Cảm Ứng Thiên được in ở tập 1 và ghi chú là «Thái Thượng chân truyền» 太上真傳.

Lý Lạc Cầu 李樂俅 [10] chú thích về Thái Thượng Cảm Ứng Thiên như sau:

«Cảm Ứng Thiên được xem là xưa nhất trong loại sách khuyến thiện, không biết tác giả là ai (bất tri hà nhân sở tác 不知何人所作). Có thể thấy (sự giống nhau) ở thiên Vi Chỉ trong Bão Phác Tử Nội Thiên. Người tu chân cần phải đọc cho làu thông, bản thân phải cố gắng làm theo, coi như là cơ sở để nhập Đạo vậy. Phân chia mười chương để (người đời) rõ yếu chỉ, sửa lòng. Sách không biết bắt đầu di tặng cho đời tự bao giờ.»

Về lai lịch của Lý Xương Linh, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [11] chép rằng:

«Lý Xương Linh năm sinh và năm mất không rõ. Ông sống vào đời Nam Tống (1127-1279), quê ở Giáp Giang 夾江 thuộc Hán Gia 漢嘉 (nay là Giáp Giang thuộc Tứ Xuyên) vì thế ông còn biệt hiệu là Giáp Giang Ẩn Giả (người ẩn dật ở Giáp Giang).

Ông trùng tên với một Lý Xương Linh khác làm quan Ngự Sử Trung Thừa 御史中丞 đời Bắc Tống (960-1127).
Lý Xương Linh chú giải Thái Thượng Cảm Ứng Thiên thành 30 quyển, nhằm tuyên dương lý lẽ thiên nhân cảm ứng, khuyến thiện và trừng ác. Kinh hấp thụ tư tưởng và luân lý Nho gia.
Các điều thiện trong kinh liệt kê thành 26 loại, các điều ác 170 loại. Kinh rất có ảnh hưởng đến hậu thế và được đưa vào Đạo Tạng.»

Holmes Welch, giáo sư Đại Học Harvard, cũng dè dặt nói về thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên và ông chẳng đề cập tác giả kinh này là ai. Ông viết:

«Có lẽ được trứ tác vào thế kỷ XI cn, chúng (tức là Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn) được phổ biến rộng rãi do các tu viện và các tổ chức từ thiện.» [12]

Joseph Needham không cho biết tác giả Cảm Ứng Thiên là ai, chỉ bảo kinh này xuất hiện đầu thế kỷ XI CN:

«Cơ sở để nghiên cứu Đạo Tổ và giáo lý, tức là bộ Đạo Tạng, được đặt ra năm +745. Nhiều đạo thư đã được trứ tác chẳng hạn như Âm Phù Kinh của Lý Thuyên. Nhiều nhân vật kiệt xuất như Lý Bạch cũng tu tập Đạo giáo.

Dưới sức ép mạnh mẽ để tranh với Nho và Phật, các đạo sĩ giờ đây xuất hiện trong vai truyền giảng đạo đức phổ thông, thế (mới có) Thái Thượng Cảm Ứng Thiên vào đầu thế kỷ +11, và sau đó là Công Quá Cách, tương truyền là của một nhà tu đan nổi tiếng đồng thời cũng là một vị tiên tên Lữ Động Tân.» [13]

Farzeen Baldrian cho rằng thiện thư (sách khuyến thiện) bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XII CN  và nổi tiếng nhất là Cảm Ứng Thiên:

«Trong Bão Phác Tử, Cát Hồng khẳng định rằng không hành thiện thì mong thành tiên cũng hoài công. Quyển sách của ông đã cung cấp một bản liệt kê những việc thiện và ác và những điều này còn lưu giữ những qui luật đạo đức phổ quát. Những thiện thư (mà một số dựa theo bản liệt kê của Cát Hồng) bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XII cn. Nổi tiếng nhất là Cảm Ứng Thiên và Công Quá Cách.» [14]

Qua những tư liệu trên, ta thấy không dễ khẳng định tác giả của Cảm Ứng Thiên.

Còn thời gian hình thành tác phẩm thì có người cho rằng đầu đời Bắc Tống, hoặc cuối đời Bắc Tống, hoặc xưa hơn nữa là đời Tấn.

Cho nên, nếu căn cứ vào thư tịch thì vấn đề tác giả và thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên phải còn tồn nghi vậy.

Tuy nhiên, tại Việt Nam tín đồ các tôn giáo vẫn yên tâm rằng Thái Thượng Lão Quân là tác giả của Cảm Ứng Thiên

(Kinh Cảm Ứng).

II. ẢNH HƯỞNG CẢM ỨNG THIÊN ĐỐI VỚI HẬU THẾ

Cảm Ứng Thiên từ khi xuất hiện đã được vua chúa, quan lại và sĩ phu hoan nghênh vì tác dụng giáo hóa của kinh đối với phong hóa xã hội.

Không ít vua chúa đã góp sức truyền bá bộ kinh này.

Vào đầu đời Nam Tống, triều đình xuất tiền cho khắc in.

Vua Lý Tông 理宗 (cai trị 1225-1260) nhà Tống chấp bút viết tám chữ lớn (đại tự): «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸惡莫作眾善奉行 vào bìa một bản khắc in.

Vua Thành Tổ 成祖 (cai trị 1403-1424) nhà Minh có hoàng hậu Từ thị 徐氏 đã phóng tác Cảm Ứng Thiên thành Nhân Hiếu Hoàng Hậu Khuyến Thiện Thư 仁孝皇后勸善書.

Vua Thuận Trị 順治 đời Thanh đã viết bài tựa cho Cảm Ứng Thiên, gọi là Khuyến Thiện Yếu Ngôn Tự 勸善要言序.

Về phía dân chúng, vào đời Tống, ngoài bản Cảm Ứng Thiên in trong Đạo Tạng, dân chúng cũng tự khắc in riêng. Đời Nguyên, có gia đình Ôn Hoài Nhân 溫怀仁 còn tàng giữ một bản in đời Tống, vì sợ mất mát nên quyên tiền trong hai năm và in tặng không cho mọi người.

Đời Minh và Thanh rất nhiều người đi quyên tiền khắc in Cảm Ứng Thiên, như đời Minh có ông Uông Tĩnh Hư 汪靜虛 ở Tiền Đường 錢塘 đã quyên tiền khắc in một vạn bản để tặng khắp nơi.

Sự quyên tiền ấn tống kinh vào đời Thanh lại càng mạnh mẽ. Năm Càn Long 20 một quan tổng binh tên là Hoàng Chính Nguyên 黃正元 đã sáng tác Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết 感應篇圖說.

Năm Quang Tự 15, Nhân Tế Thiện Đường 仁濟善堂 ở Thượng Hải cho in thạch ấn lại quyển này và cải danh là Thái Thượng Bảo Phiệt Đồ Thuyết 太上寶筏圖說.

Không những là in chữ, người ta còn vẽ những hình tượng và đồ giải cho người không biết chữ xem cũng hiểu, thành thử đó cũng là một lý do khiến kinh được lưu truyền hết sức rộng rãi, ảnh hưởng rất lớn, thậm chí còn truyền sang Nhật Bản nữa.

Đệ tử thiền môn cũng rất hâm mộ Cảm Ứng Thiên, như đời Càn Long có tăng Tế Thường 際常 biết bao nhiêu lần quyên khắc ấn tống kinh này.

Đến năm Dân Quốc, Cảm Ứng Thiên vẫn còn hấp lực. Nhà văn Mao Thuẫn 茅盾 trong tác phẩm Tý Dạ 子夜 có tả một ông lão suốt ngày tụng niệm Cảm Ứng Thiên, lúc chết tay cũng không rời cuốn kinh. Không những in khắc, chép tay, tặng không khuyên đọc, vô số người gắng công chú giải Cảm Ứng Thiên.

Đời Thanh có hai đại Nho là Huệ Đống 惠棟 và Du Việt 俞樾 tập hợp những lời chú giải. Huệ Đống viết Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Chú 太上感應篇注, Du Việt viết Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Toản Nghĩa 太上感應篇纘義. [15]

Giáo sư Holmes Welch [16] nhận xét về sự phổ biến của Cảm Ứng Thiên như sau:

«Tôn giáo của đại chúng có những luân lý và khía cạnh tâm linh của nó. Điều này được minh họa ở hai trứ tác ngắn gọn là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (The Tractate on Actions and Retributions) và Âm Chất Văn (Text on Determining to Do Good Deeds in Secret). [17]

Có lẽ những trứ tác này được hình thành vào thế kỷ XI cn và chúng được phổ biến rộng rãi do các tu viện và các tổ chức từ thiện, tương tự trường hợp của kinh thánh Thiên Chúa Giáo do hội Gideon ấn tống tại Mỹ vậy. Nhà Hán Học F.H.Balfour thế kỷ XIX đã miêu tả Cảm Ứng Thiên là một quyển kinh phổ thông nhất tại Trung Quốc.»

Tây Phương cũng biết đến Cảm Ứng Thiên nhờ sự nghiên cứu và phiên dịch của các cố đạo Thiên Chúa giáo khi họ đến Trung Quốc truyền đạo vào thế kỷ qua.

James Legge đã dịch Cảm Ứng Thiên và in trong Texts of Taoism (Đạo Giáo Kinh Văn) thuộc bộ Sacred Books of the East (Kinh Điển Đông Phương), quyển XL, gồm: Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Cảm Ứng Thiên, Thanh Tĩnh Kinh, Âm Phù Kinh và Nhật Dụng Kinh. [18]

Tại Việt Nam, Kinh Cảm Ứng (Cảm Ứng Thiên) cũng hết sức phổ biến nhưng không rõ các bản dịch đã xuất hiện tự bao giờ?

Những bản Việt dịch này thường chỉ có âm Hán Việt và dịch nghĩa, không chú giải, không ghi tên dịch giả, không ghi năm xuất bản.

Kinh vì ngắn nên thường được in kèm với các kinh khác như Kinh Di Đà, Kinh Cứu Khổ, v.v. Ngôn từ tiếng Việt trong các bản kinh này rất xưa, theo giọng miền Nam.

Thí dụ: «Đều (điều) họa phước không tìm đến», «biên chép tội ác của người đặng (để) bớt kỷ bớt toán», «nếu ai muốn sống lâu, trước tua (nên) lánh mấy đều (điều) dữ», «Thửa (vốn) gọi người lành», «Khá mà (có thể) trông cậy đến bực (bậc) thần tiên», «đờn (đàn) bà», «phung (phun) nước miếng sao vá (giá), v.v.

Nghĩa là Việt ngữ la tinh hóa của giai đoạn phát triển đầu thế kỷ XX với những lỗi chính tả như hỏi/ngã, phụ âm cuối c/t, n/ng (lén lúc (lút), lấy ngan (ngang)), v.v.

Còn những bản Cảm Ứng Thiên bằng chữ Hán có lẽ đã được các sư tăng Phật giáo cũng như các đạo sĩ đạo cô của các chi phái Lão giáo tại Việt Nam trì tụng từ lâu.

III. NỘI DUNG CỦA CẢM ỨNG THIÊN

Cảm Ứng Thiên có khoảng trên 1200 chữ (tự 字), viết theo thể loại luận thuyết văn 論說文 cũng gọi là thuyết lý văn 說理文, luận thuyết chủ đề cảm ứng.

Cảm tức là «tâm tình phát sinh», ứng tức là «đáp ứng, báo ứng».

Trung Hoa Đạo Học Thông Điển (trang 785) giải thích nhan đề Cảm Ứng Thiên như sau:

«Thái Thượng tức là tiếng xưng hô một bậc vô cùng cao tột. Lễ Ký – Điển Lễ 禮記典禮 nói: «Thái Thượng quí đức» 太上貴德 (Thái Thượng Lão Quân quí trọng đạo đức).

Xuân Thu Truyện 春秋傳 nói: «Thái Thượng dĩ đức phủ dân» 太上以德撫民 (Thái Thượng Lão Quân lấy đạo đức để an ủi vỗ về dân chúng).

Thế nên kinh điển ngàn xưa đã xưng tán Đức Thái Thượng là bậc Thượng Đức hay Thượng Thánh có trước Ngũ Đế. [19] Các phái Đạo gia về sau đều trọng Đức Thái Thượng là Thầy, gọi là Thái Thượng Cao Thánh Ngọc Thần Đại Đạo Quân 太上高聖玉晨大道君 hay là Lão Quân 老君.

 «Cảm Ứng» tức là chỉ con người do trong lòng nảy sinh tình cảm hoặc phát tác một hành vi nào đó thì sẽ nhận lĩnh một hưởng ứng từ ngoại giới.»

Nói cụ thể, Cảm Ứng Thiên luận thuyết về luật Nhân Quả Báo Ứng mà tông chỉ của kinh nằm ở 16 chữ:

Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình

禍福無門惟人自召善惡之報如影隨形.

Quan niệm thiện ác báo ứng đã có từ thời Tiên Tần. Dịch Kinh, quẻ Khôn 坤, phần Văn Ngôn 文言 nói:

«Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương» 積善之家必有餘慶積不善之家必有餘殃

(Nhà nào tích thiện sẽ có nhiều may mắn, nhà nào tích ác sẽ có nhiều tai ương). [20]

Trung Quốc Đạo Giáo [21] nói về nội dung Cảm Ứng Thiên như sau:

«Kinh bảo muốn sống lâu nhiều phúc thì phải hành thiện và tích đức. Kinh liệt kê trên 20 điều thiện và trên 100 điều gọi là chuẩn mực cho việc làm lành lánh dữ.(…) Cảm Ứng Thiên xiển dương tư tưởng Thiên nhân tương cảm và nhân quả báo ứng, lại có những tín điều của Phật giáo và Đạo giáo cũng như những qui phạm luân lý của Nho gia, quả là một sự dung hợp ba nhà Nho, Thích, Đạo vậy.»

Xét về phương diện luân lý, Nho gia thường bảo:

«Lập thiện đa đoan mạc tiên trung hiếu» 立善多端莫先忠孝 (Làm điều thiện có nhiều đường nhưng chẳng gì bằng trung và hiếu).

Trung và hiếu cũng là căn bản đạo đức truyền thống của Đạo gia.

Quan điểm tu thân, trung quân, hiếu đễ ấy thể hiện rất rõ trong Cảm Ứng Thiên, chẳng hạn như:

«Bất lý tà kính, bất khi ám thất, tích đức lũy công,tâm từ ư vật, trung hiếu hữu đễ, chính kỷ hóa nhân.»
不履邪徑, 不欺暗室, 積德累功, 心慈於物, 忠孝友悌, 正己化人
(Không đi đường sái quấy, không khinh nhà tối, tích lũy công đức, lòng hiền thương mọi vật, trung quân, thương kính cha mẹ, thương em, kính anh, tự sửa bản thân rồi mới dạy người) (điều 3- Tích thiện).

Những việc kê ra ở điều 5 và 6 bị xem là ác vì phần lớn chúng ngược lại với luân lý Nho gia, thí dụ như:

«Ám vũ quân thân 暗侮君親 (Thầm khinh vua, khi dễ cha mẹ);
Mạn kỳ tiên sinh 慢其先生 (Coi thường thầy dạy);
Nhuế nộ sư phó 恚怒師傅 (Chọc giận thầy dạy);
Để xúc phụ huynh 抵觸父兄 (Khi rẻ và xúc phạm cha và anh);
Dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn 用妻妾語違父母訓 (Nghe lời vợ mà vi phạm lời dạy của cha mẹ);
Cốt nhục phẫn tranh 骨肉忿爭 (Chia lìa tình ruột thịt);
Nam bất trung lương 男不忠良 (Trai không lành);
Nữ bất nhu thuận 女不柔順 (Gái không nhu thuận);
Bất tri kỳ thất 不知其室 (Không quan tâm việc nhà);
Bất kính kỳ phu 不敬其夫 (Chẳng trọng chồng); v.v.»

Cảm Ứng Thiên bao hàm ngũ giới cấm [22] của Phật giáo nhưng diễn đạt cụ thể bằng cách nói khác, thí dụ như:

– «Xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn, tổn tử đọa thai»
射飛逐走, 發蟄驚棲, 顛穴覆巢, 傷胎破卵, 損子害胎
(Săn bắn chim và thú, phá hang ổ loài bu đậu, lấp lỗ hang, lật úp tổ chim, phá thai hại trứng, hại con, phá thai)

ứng với giới cấm 1 (Bất sát sinh 不殺生).

– «Sát nhân thủ tài 殺人取財 (giết người cướp của);
phá nhân chi gia thủ kỳ tài bảo 破人之家取其財寶 (phá nhà người đế lấy của nả);
cưỡng thủ cưỡng cầu háo xâm háo đoạt 強取強求好侵好奪 (giật ngang lấy ngang, thích xâm phạm và chiếm đoạt); lỗ lược trí phú 掳掠致富 (cướp giật để trở nên giàu có)»

ứng với giới cấm 2 (Bất du đạo 不偷盜: Cấm trộm cướp).

– «Dâm dục quá độ 淫欲過度 (dâm dục không kìm chế); kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi 見他色美起心私之 (Thấy vợ hoặc con gái người ta xinh đẹp thì sinh lòng tư thông chiếm đoạt)» ứng với giới cấm 3 (Bất tà dâm 不邪淫: Cấm tà dâm).

– «Hư vu trá ngụy 虛誣詐偽 (gian dối lọc lừa);
 biếm chính bài hiền 貶正排賢 (chê bai người hiền lương);
dĩ trực vi khúc dĩ khúc vi trực 以直為曲以曲為直 (lấy thẳng làm cong lấy cong làm thẳng= tráo trở);
khẩu thị tâm phi 口是心非 (lời nói ra vẻ ngay thẳng nhưng lòng toan tính tà vạy);
sàm hủy bình nhân 讒毀平人 (dèm pha hãm hại người dân thường);
hủy nhân xưng trực 毀人稱直 (hãm hại người mà tự xưng mình ngay thẳng)»

ứng với giới cấm 4 (Bất vọng ngữ 不妄語: Cấm nói lời quấy).

– «Thị tửu bột loạn 嗜酒悖亂 (Thích nhậu nhẹt quậy phá)» ứng với giới cấm 5 (Bất ẩm thực tửu nhục 不飲食酒肉: Cấm ăn thịt và cấm uống rượu).

Quan niệm Đạo giáo cũng rất sâu đậm trong Cảm Ứng Thiên. Căn bản của thành tiên chứng đạo là ở chỗ hành thiện tích đức.

Kinh viết: «Dục cầu thiên tiên giả đương lập nhất thiên tam bách thiện, dục cầu địa tiên giả đương lập tam bách thiện.» 欲求天仙者當立一千三百善, 欲求地仙者當立三百善 (Muốn thành thiên tiên thì phải làm 1300 điều thiện, muốn thành địa tiên thì phải làm 300 điều thiện) (điều 4: Thiện báo).

Đó cũng là quan niệm của Cát Hồng 葛洪 trong Bão Phác Tử 抱樸子 nhưng tiêu chuẩn của Cát Hồng là 1200 điều thiện và 300 điều thiện. Cũng trong điều 4, Kinh bảo người làm điều thiện thì được thế nhân kính trọng, trời phù hộ, phúc lộc đến, tà quái không dám lại gần, thần linh hộ vệ và có thể mong trở thành thần tiên (thần tiên khả ký 神仙可冀).

Nhưng việc thiện ác không phân biệt lớn nhỏ. Bão Phác Tử Nội Thiên, chương Đối Tục 對俗, viết:

«Nhân dục địa tiên, đương lập tam bách thiện; dục thiên tiên, lập thiên nhị bách thiện. Nhược hữu thiên nhất bách cửu thập cửu thiện, nhi hốt phục trúng hành nhất ác, tắc tận thất tiền thiện, nãi đương phục cánh khởi thiện số nhĩ. Cố thiện bất tại đại, ác bất tại tiểu dã»

 人 欲 地 仙 , 當 立 三 百 善 ; 欲 天 仙 , 立 千 二 百 善 . 若 有 千 一 百 九 十 九 善 , 而 忽 復 中 行 一 惡 , 則 盡 失 前 善 , 乃 當 復 更 起 善 數 耳 . 故 善 不 在 大 , 惡 不 在 小 也

(Người muốn thành địa tiên phải lập 300 việc thiện, muốn thành thiên tiên phải lập 1200 việc thiện. Nếu đã làm được 1199 việc thiện mà bỗng nhiên tạo một việc ác thì sẽ mất sạch số việc thiện đã làm, và như vậy phải tính lại số việc thiện từ đầu. Cho nên việc thiện không kể lớn, việc ác không kể nhỏ vậy.) [23]

Holmes Welch cũng nhận ra sự dung hợp của Tam giáo trong Cảm Ứng Thiên, ông viết:

«Cảm Ứng Thiên chỉ ra ngay từ đầu rằng tội lỗi con người luôn được trình báo cho Trời biết do Ông Táo (the God of the Hearth) và Tam Thi Thần.(…) Theo Cảm Ứng Thiên, đời người bị giảm thọ 12 năm (1 kỷ) do mỗi tội lớn và 100 ngày (1 toán) do mỗi tội nhỏ. Ai muốn sống lâu thì phải làm lành lánh dữ. Còn muốn thành thiên tiên (celestial immortals) thì phải làm 1300 điều thiện, muốn thành địa tiên (terrestrial immortals) thì làm 300 điều thiện. “

Tất cả những điều này như ta thấy, thể hiện truyền thống cổ xưa của Đạo gia. Nhưng khi ta đọc kỹ những điều thiện và ác được liệt kê trong Cảm Ứng Thiên, ta thấy chúng không thuần túy là quan điểm Đạo gia, mà hơn thế, chúng là một sự dung hợp tam giáo Nho, Thích, Đạo.

Hầu hết các điều dạy này có thể được đem vào các bài giảng đạo ở các nhà thờ Thiên Chúa giáo mà chẳng ai chú ý (nhận ra là tín điều của Tam giáo).

Người trì tụng được dạy không gian dối, không tàn ác, không kiêu căng, không đạo đức giả, không hối lộ, không cân gian đo thiếu, không thèm muốn vợ người, không phung phí vật phẩm, không khinh phụ huynh, không dùng lửa nước phá hoại nơi dân cư, v.v.

Những tín điều Phật giáo như bất sát sinh, không lật úp tổ chim, không hại thai phá trứng ắt hẳn sẽ làm người Tây phương ngạc nhiên.

Kết luận của Cảm Ứng Thiên lại là quan điểm của Nho giáo: Nếu có ai chết vì tai ương bệnh tật hay yểu mệnh mà tội nợ chưa trả hết thì số nợ còn lại phải trả sẽ chuyển sang con cháu chứ không đợi đến kiếp sau.

Một số điều trong 212 tội ác có tính cách mê tín hơn là luân lý, thí dụ: Không day về hướng Bắc mà tiểu tiện, không phun nước bọt về phía sao băng. Trong sự liệt kê các điều thiện ác thì điều ác vượt trội điều thiện khoảng 10 lần.» [24]

Luật Nhân Quả mà Cảm Ứng Thiên xiển dương vốn là điểm trọng yếu trong luân lý Phật giáo.

Đó là lẽ công bằng trong trời đất. Con người phải thu hoạch những gì mình đã tạo tác gieo trồng bao quát cả ba mặt thân (hành vi), khẩu (ngôn ngữ) và ý (tâm tư).

Người Âu châu cũng tin như vậy qua tục ngữ «Man reaps what he sows» (gieo gì gặt đó).

Người Việt Nam bao đời nay cũng hằng tin tưởng «Ở hiền gặp lành, làm ác gặp ác» là thế.

Người Trung Quốc thường nói «Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu» 種 瓜 得 瓜 種 豆 得 豆 (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu) cũng không ngoài lẽ nhân quả báo ứng.

Bên cạnh luật nhân quả báo ứng là luật Thiên nhân tương cảm 天 人 相 感 (hay Thiên nhân tương dữ  天 人 相 與, Thiên nhân hợp nhất  天 人 合 一) mà Cảm Ứng Thiên muốn xiển dương. Tam giáo quan niệm Trời tiềm ẩn trong lòng người.

Trang tử nói: «Thiên tại nội, nhân tại ngoại» 天 在 內 人 在 外 (Trời ở trong, người ở ngoài.) [25]

Lại nói: «Thiên địa dữ ngã tịnh sinh nhi vạn vật dữ ngã vi nhất» 天 地 與 我 并 生 而 萬 物 與 我 為 一 (Trời đất sinh đồng thời với ta, vạn vật với ta là một.) [26]

Đại Đỗng Chân Kinh  大 洞 真 經 viết:

«Nhân Thiên tự bản vô sai biệt» 人 天 自 本 無 差 別 (Tự bản chất Trời và người không khác nhau).

Hoàng Đế Âm Phù Kinh 黃 帝 陰 符 經 bảo: «Thiên tính nhân dã» 天 性 人 也 (Thiên tính là người).

Mạnh Tử nói: «Vạn vật giai bị ư ngã hĩ.» 萬 物 皆 備 於 我 矣 (Cái lý của vạn vật đều có đủ trong ta.) [27] Mạnh Tử quan niệm Trời ở ngay trong lòng người nên thấu triệt tường tận lòng mình thì sẽ biết tính, biết tính thì sẽ biết Trời:

«Tận kỳ tâm giả tri kỳ tính dã, tri kỳ tính tắc tri Thiên hĩ.»
 盡 其 心 者 知 其 性 也 , 知 其 性 則 知 天 矣 .

Vì Trời ngự trong lòng ta, nên nói đến Trời thì cứ nghiêm chỉnh lòng lại thì Trời tự hiện.

Diễn ý này, Kinh Thư Đại Toàn viết:

«Chí ư ngôn Thiên tắc nghiêm kỳ tâm chi sở tự xuất»

至 於 言 天 則 嚴 其 心 之 所 自 出.

Như vậy theo Tam giáo, bản thể con người là Trời, cũng gọi là Thiên, Thượng Đế, chân tính, tự tánh, linh tánh, Đạo, chân tâm, chân ngã, bản lai diện mục, cốc thần, huyền tẫn, tính, thần, v.v.

Cái bản thể ấy thường hằng bất biến và bên cạnh cái bất biến ấy là vọng tâm vọng ngã. Vọng tâm đầy rẫy thất tình lục dục nên che mờ chân tâm linh tánh.

Tính Mệnh Khuê Chỉ viết: «Phụ mẫu sinh tiền nhất điểm linh, bất linh chỉ vị kết thành hình.»
 父 母 生 前 一 點 靈 不 靈 只 為 結 成 形
(Trước khi cha mẹ sinh ra ta, ta là một điểm linh quang của Thượng Đế, chỉ vì ta mang nhục thể mà điểm linh bị che mờ nên không linh nữa).

Điểm linh ấy gọi là Thiên tâm, được Lữ Tổ 呂祖 giải thích trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ 太 乙 金 華 宗 旨 rằng:

«Thiên tâm giả, tam tài đồng bẩm chi tâm; đan thư sở vị huyền khiếu thị dã. Nhân nhân câu hữu. Hiền triết khải chi, ngu mê bế chi. Khải tắc trường sinh, bế tắc đoản chiết. Ủy chi mệnh số giả, phàm phu chi kiến giả.»

 天 心 者 三 才 同 稟 之 心 , 丹 書 所 謂 玄 竅 是 也 . 人 人 俱 有 . 賢 哲 啟 之 愚 迷 閉 之 . 啟 則 長 生 , 閉 則 短 折 . 委 之 命 數 者 凡 夫 之 見 也

(Thiên tâm là cái tâm cùng phú cho tam tài [thiên-địa-nhân] mà sách luyện đan gọi là huyền khiếu. Ai ai cũng có Thiên tâm. Bậc hiền triết thì khai mở nó ra, kẻ ngu mê thì đóng nó lại. Khai mở thì trường sinh, đóng lại thì chết. Đổ thừa cho số mệnh ấy là cái hiểu biết của kẻ phàm phu vậy.) [28]

Những trích dẫn trên đây xác minh mỗi người đều có Trời và thần minh ngự trị trong lòng, vì thế Trời và người tương cảm với nhau, liên lạc với nhau, có thể hợp nhất, cho nên Cảm Ứng Thiên cho rằng hễ có Cảm thì ắt có Ứng.

Cảm Ứng Thiên còn thuyết minh về thiện ác.

Mỗi con người có hai phần Chân và Vọng. Phần chân thì bất biến, đó là chân tính, là Trời tiềm ẩn trong ta với biết bao tốt đẹp thiện lương.

Phần vọng thì biến đổi, là vọng tâm do thất tình lục dục quấy nhiễu với bản chất xấu xa.

Cảm Ứng Thiên dạy ta trở về với thiên tính thiện lương ấy và lánh xa tội lỗi.

Biết Trời ngự trị trong lòng, biết thần minh luôn giám sát, tự nhiên ta sẽ thay đổi tính tình, cố ăn ở cho đàng hoàng hơn.

Nghĩa là nhờ kính sợ Trời mới có thể luyện kỷ tu thân, cho nên Luận Ngữ nói: «Tu kỷ dĩ kính» 修 己 以 敬 (Lấy lòng kính sợ Trời mà sửa mình).

Trong sự sửa mình có hai khía cạnh: ăn năn sám hối tội cũ (mà Cảm Ứng Thiên gọi là cách đổi họa thành phúc) và ngăn chận tội lỗi có thể phạm trong tương lai.

Vì vậy kinh không luận suông về thiện ác mà chỉ dạy cách làm lành lánh dữ.

Kinh nói: «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành»

 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行

(Không làm các điều ác, phải làm mọi điều thiện).

Nhưng làm thế nào biết nhìn ra điều ác để mà tránh?

Khổng Tử dạy:

«Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân»

 己 所 不 欲 勿 施 於 人

(Điều gì mình chẳng muốn ai gây cho mình, thì mình chớ làm cho họ). [29]

Nói cách khác ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của người thì mới hiểu tâm tư và khát vọng của người thụ lãnh hành vi, nhờ đó sẽ biết việc nào nên làm hoặc không nên làm.

Đó là căn bản của hành vi thiện ác.

Tuy nhiên chúng ta cũng cần xét rõ nguyên nhân cấu thành tội ác để diệt trừ tận gốc.

Tội ác có thể do cố ý hoặc không cố ý. Không cố ý là do lỡ tay (thí dụ trường hợp ngộ sát) hoặc do tâm thần điên loạn nên không ý thức và không kiểm soát được hành vi.

Còn trường hợp cố ý mà phạm tội thì phải có một tiến trình cấu thành:

tư tưởng phát sinh (vọng ý 妄意, vọng niệm 妄念) chỉ đạo ngôn ngữ (ác khẩu 惡口) hoặc và hành vi (thân nghiệp 身業).

Ngoài ra cũng phải xét đến sự huân tập hành ác trong quá khứ nữa.

Cho nên người tu phải tu dưỡng phần chân tâm linh tánh, không để vọng tâm lấn lướt quấy nhiễu nảy sinh thất tình lục dục.

Thất tình lục dục không kiềm chế nên phát sinh ác khẩu và vọng động tạo ác nghiệp.

Vậy muốn trở nên hiền lương phải đặc biệt trừng tâm, nghĩa là chú trọng yếu tố ý 意 trong ba yếu tố thân khẩu ý 身口意.

Cảm Ứng Thiên bảo ở điều 8 rằng:

«Khi lòng nảy sinh thiện ý, tuy điều thiện chưa làm nhưng cát thần đã chực sẵn bên mình; khi lòng nảy sinh ác ý, tuy điều ác chưa làm nhưng hung thần đã chực sẵn bên mình.» [30]

Luật Thiên nhân tương cảm như vậy thật là hết sức nghiêm nhặt và đáng sợ. Có sợ thì mới cố sửa mình.

Mặc dù Cảm Ứng Thiên khẳng định sự thưởng phạt công minh (thiện báo và ác báo) nhưng kỳ thực hiền nhân quân tử hành thiện không phải để truy cầu những thiện báo ấy.

Vậy thì tại sao phải hành thiện? Vì trọn thiện trọn lành là bản tánh con người, Nho gia gọi đó là cái Đức Sáng (Minh Đức 明德).

Do sự huân tập thế tục và do dục vọng, cái đức sáng ấy bị lu mờ, nên bổn phận con người là làm sáng lại cái đức sáng ấy (minh minh đức 明明德) và dừng lại nơi chí thiện (chỉ ư chí thiện 止 於 至 善).

Mạnh Tử nói:

«Quân tử mạc đại hồ dữ nhân vi thiện»
君 子 莫 大 乎 與 人 為 善
(Điều lớn lao nhất của người quân tử là làm điều thiện cho người khác).[31]

Khổng Tử bảo quân tử phải làm điều tốt đẹp cho người:
«Quân tử thành nhân chi mỹ»
 君 子 成 人 之 美. [32]
Làm điều thiện không cần ai biết ai hay, không cần báo đáp: «Thi ân bất cầu báo» 施 恩 不 求 報 (Cảm Ứng Thiên – điều 3).

Người đời không biết, trong lòng ta không oán hận:

«Nhân bất tri nhi bất oán»

人 不 知 而 不 怨. [33]

Hiền nhân quân tử chỉ biết trong lòng thầm vui và thanh thản, đó là một trong ba điều vui mà theo Mạnh Tử bậc đế vương trong thiên hạ chưa chắc đã có:

«Ngưỡng bất quí ư Thiên, phủ bất tạc ư nhân»

仰 不 愧 於 天 俯 不 怍 於 人

(Trông lên không hổ với Trời, cúi xuống không thẹn với người).[34]

Như vậy, nội dung cơ bản của Cảm Ứng Thiên thâu tóm nền luân lý Tam giáo đồng thời xiển dương lẽ Thiên nhân tương cảm và luật nhân quả báo ứng, qua đó khuyến dạy người đời làm lành lánh dữ.

Nhưng phân tích những điều mục đạo đức trong kinh (chủ yếu ở điều 5 và 6) ta còn nhận ra những điểm sau đây:

* Kinh coi trọng quan hệ huyết thống, tông tộc: Chế độ gia đình là kết cấu xã hội cơ bản trong xã hội Trung Quốc cổ đại. Sự liên hệ giữa các thành viên trong gia đình là dựa vào huyết thống. Trong chế độ gia trưởng, mỗi người đều có tôn ti trật tự, không được nhiễu loạn, phải lấy hoà mục tông thân làm quan trọng.

Kinh đề xướng: «Trung hiếu hữu đễ» 忠 孝 友 悌 (trung với vua, có hiếu với cha mẹ, yêu kính anh, thương em) và phản đối: «Để xúc phụ huynh» 抵 觸 父 兄 (công kích, xúc phạm cha và anh); – «Vi phụ mẫu huấn» 違 父 母 訓 (làm trái lời dạy của cha mẹ); – «Bối thân hướng sơ» 背 親 向 疏 (nghịch với người thân thuộc mà chạy theo người dưng); – «Cốt nhục phẫn tranh» 骨 肉 忿 爭 (anh chị em ruột thịt tranh giành vật chất, chia rẽ nhau); – «Bất tri kỳ thất, bất kính kỳ phu» 不 知 其 室 , 不 敬 其 夫 (chồng bỏ bê gia đình, vợ coi rẻ chồng); – «Vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô, khinh mạn tiên linh» 無 行 於 妻 子, 失 禮 於 舅 姑 , 輕 慢 先 靈 (chồng không tử tế với vợ con, vợ hỗn hào với cha mẹ chồng, khinh khi ông bà tổ tiên đã khuất), v.v.

* Tán đồng chế độ quân chủ: Quân chủ chế là sự phóng đại của gia trưởng chế. Hiếu là đạo con đối với cha mẹ, trung là đạo tôi đối với vua. Trung quân là một tầng cao của hiếu phụ. Cảm Ứng Thiên cho rằng trung hiếu đứng trên mọi điều thiện, là cơ sở của thành tiên liễu đạo, nên kinh phản đối «Vi nghịch thượng mệnh» 違 逆 上 命 (trái lệnh trên), «Ám vũ quân thân» 暗 侮 君 親 (thầm khinh vua và cha mẹ), «Nhiễu loạn quốc chính» 擾 亂 國 政 (làm loạn chính trị trong nước), «Khi võng kỳ thượng» 欺 罔 其 上 (Khinh thường, khuất lấp đối với bề trên), v.v.

Không riêng gì Cảm Ứng Thiên, ngay từ đời Đông Hán, Thái Bình Kinh 太 平 經 và đời Ngụy Tấn, Bão Phác Tử đã khẳng định trung hiếu là căn bản đức hạnh của người tu tiên và hầu hết kinh sách của các phái Đạo giáo từ đời Tống về sau rất coi trọng trung hiếu, thậm chí có giáo phái như Tịnh Minh phái lấy trung hiếu làm tông chỉ.[35]

* Cảm Ứng Thiên đề ra phép xử thế: Phần lớn những cách ứng xử mà Cảm Ứng Thiên đề ra thì phù hợp với những cách ngôn, gia huấn trong các quyển như Tòa Hữu Minh 座 右 銘, Danh Hiền Tập 名 賢 集, Tăng Quảng Hiền Văn 增 廣 賢 文, v.v. Tòa Hữu Minh 座 右 銘 của Thôi Viện 崔瑗 nói: «Vô đạo nhân chi đoản, vô thuyết kỷ chi trường. Thi nhân thận vật niệm, thụ thi thận vật vong»
無 道 人 之 短 無 說 己 之 長 施 人 慎 勿 念 受 施 勿 忘
(Đừng nói ra chỗ kém của người, chớ bày tỏ cái hay của mình. Cho ai cái gì phải thận trọng và đừng ghi nhớ, thụ nhận ai cái gì thì phải thận trọng chớ quên).

Cảm Ứng Thiên cũng dạy như thế:

«Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường. Thi ân bất cầu báo, dữ nhân bất truy hối»
不 彰 人 短 , 不 衒 己 長 . 施 恩 不 求 報 . 與 人 不 追 悔
(Không phô bày cái dở của người, không khoe khoang cái hay của mình. Ra ơn cho ai thì không mong sự đáp đền, cho ai cái gì thì chớ nghĩ lại mà hối tiếc).

Hoặc phê phán: «Tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản. Can cầu bất toại, tiện sinh chú hận. Thi dữ hậu hối. Giả tá bất hoàn. Phận ngoại doanh cầu»
挫 人 所 長 護 己 所 短 干 求 不 遂 便 生 咒 恨 . 施 與 後 悔 , 假 借 不 還 , 分 外 營 求
(Chèn ép cho cùn nhụt chỗ hay của người, bảo hộ chỗ dở của mình. Mong cầu [chức tước bổng lộc] mà không được nên sinh lòng chưởi bới oán hận. Cho ai cái gì về sau lại tiếc. Vay mượn không trả. Mong muốn những điều vượt quá phận mình).

• Kinh đề cao giới luật và phương thuật của Đạo giáo:

Trừ những chỗ nói về Tư Quá Thần, Tam Thi Thần, Bắc Đẩu Thần Quân, Tam Thai, v.v. là chư thần của Đạo giáo, và quan niệm từ bi giới sát ái sinh của Phật giáo (từ tâm ư vật 慈 心 於 物: lòng từ bi đối với vạn vật), Cảm Ứng Thiên còn ủng hộ phương thuật và lên án việc cản trở phương thuật (Ủng tắc phương thuật 壅 塞 方 術).

Phương thuật là gì? Từ đời Tần và đời Hán đã có những người thi hành phương thuật và được gọi là phương sĩ 方士 (magician), thí dụ như Lô Sinh 盧生 và Từ Phúc 徐福 đời Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 hay Lý Thiếu Quân 李少君 đời Hán Vũ Đế 漢武帝.

Phương sĩ xuất hiện từ Vu giáo 巫教 của thời Xuân Thu (722-481) và Chiến Quốc (403-221).

Chữ vu 巫 gồm chữ công 工 và hai chữ nhân 人, tượng trưng hai người đang nhảy múa cầu đảo. Người ta gọi chung bọn đồng cốt phù thủy là vu hịch 巫覡 (vu gọi nữ, hịch gọi nam).

Vương Hữu Tam [36] giải thích hai chữ vu hịch như sau:

«Vu hịch là những người cổ đại cầu đảo thần minh giáng phúc, là người môi giới giữa con người và thần minh, cũng có thể thay mặt quốc gia mà cầu thần minh phù hộ. Trong thời ban sơ của tôn giáo, vu hịch chiếm địa vị quan trọng. Quan chế thời cổ có chức chúc 祝, đó là chức quan phụ trách việc tế trời và cầu đảo thần minh, và vu chính là biệt danh của chúc. Người nam gọi là hịch, người nữ gọi là vu.

Thuyết Văn Giải Tự nói:

«Vu, chúc dã» 巫祝也 (Vu chính là chúc) và «Hịch năng trai túc sự thần minh dã, tại nam viết hịch, tại nữ viết vu»
 覡 能 齋 肅 事 神 明 也 在 男 曰 覡 在 女 曰 巫
(Hịch trai giới cúc cung phụng sự thần minh, người nam gọi là hịch, người nữ gọi là vu). (…)

Dần dần vu hịch trở thành một tệ mê tín phổ biến trong dân gian, và lưu truyền tại Trung Quốc mấy ngàn năm mà không suy thoái.»

Theo Lưu Ngọc Kiến [37] đời Thương là thời kỳ đỉnh thịnh của bọn vu hịch, gần như một tôn giáo, gọi là Vu giáo 巫教. Bọn họ (gọi là vu sử 巫史) giữ chức vụ trọng yếu trong triều, vừa có nhiệm vụ về tôn giáo (thông công với thần minh) vừa có nhiệm vụ chính trị.

Một số nhân vật vu hịch có tên tuổi được cổ tịch đề cập như Y Doãn 伊尹 (tức là A Hành 阿衡) (xem Sử Ký Tư Mã Thiên- Ân bản kỷ; Mặc Tử- Thượng hiền trung; Kinh Thi- Thương tụng), Y Trắc 伊陟 (con trai của Y Doãn) [38] (xem Sử Ký- Ân bản kỷ), Vu Hàm 巫咸 và con trai là Vu Hiền 巫賢 (xem Sử Ký – Ân bản kỷ), Cam Bàn 甘盤 (xem Thương Thư – Chu thư; Sử Ký – Yên thế gia).

Theo Lý Viễn Quốc [39] ngoài công việc chính yếu là bốc phệ, các vu hịch dần dần bị phân hoá trên nhiều lãnh vực khác nhau như thiên văn, y học, tôn giáo, chính trị, v.v. Một số vu hịch lại có nguyện vọng truy cầu sự khang kiện và trường thọ nên rất chú trọng đến y dược và luyện dưỡng. Những vu hịch này dần dần tách biệt với Vu giáo và hình thành một hệ thống độc lập và được gọi là phương sĩ. Phương pháp luyện dưỡng của họ được gọi là phương thuật, gọi như vậy để khu biệt với vu thuật của bọn vu hịch.

Nhưng đến đời Tống thì phương thuật hay pháp thuật mới được Bạch Ngọc Thiềm 白玉蟾 định nghĩa rõ ràng hai khái niệm pháp 法 và thuật 術:

«Phong phù vũ ấn, long binh hổ kỵ, tế sinh độ tử, thông chân đạt linh, thử sở vị pháp. Tốn phong hóa cáp, dụ nghĩ hô qui, phi kiếm trảm tinh, đầu giản náo long, thử sở vị thuật»

風 符 雨 印 ,龍 兵 虎 騎 , 濟 生 度 死 , 通 真 達 靈 , 此 所 謂 法 . 噀 蜂 化鴿 , 誘 蟻 呼 龜 , 飛 劍 斬 精 , 投 簡 撓 龍 此 所 謂 術

(Dán phù gọi gió bắt ấn gọi mưa, cỡi cọp dẫn binh rồng, cứu người sống độ người chết, giao tiếp với tiên và thần linh, những cái đó gọi là pháp. Phun nước vào con ong biến nó thành chim bồ câu, lấy con kiến hô biến thành con rùa, phóng kiếm chém yêu tinh, ném thẻ tre cản ngăn rồng, những thứ ấy gọi là thuật). Nói cách khác, theo Bạch Ngọc Thiềm, thuật (tức đạo thuật) chỉ những hành vi và thao tác cụ thể, còn pháp (tức đạo pháp) chỉ những phương pháp để giao tiếp với thần linh, nhưng người đời quen gọi chung là pháp thuật (hay phương thuật).

Thật sự phương thuật của Đạo giáo rất phong phú, chia làm hai loại chính: một loại gồm những cách tu luyện của các đạo sĩ như thủ nhất, huỳnh đình, nội thị, thổ nạp, đạo dẫn, tịch cốc, phòng trung, hoàng bạch, kim đan, phục thực, nội đan, v.v… loại kia gồm những hoạt động tế thế độ nhân của các đạo sĩ như phù, chú, linh đồ, hàng yêu, nhiếp quỉ, v.v. [40]

Cảm Ứng Thiên ủng hộ phương thuật, nhưng phản đối dùng phương thuật với ý đồ xấu:

«Mai cổ yểm nhân» 埋 蠱 厭 人 (Chôn bùa ếm người). Ngoài ra kinh cũng lưu giữ những giới luật của Đạo giáo: «Mạ thần xưng chánh. Chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài. Dẫn thần minh nhi giám ôi sự. Hối lạp ca vũ. Sóc đán hiệu nộ. Đối bắc thế thóa cập niệu. Đối táo ngâm vịnh cập khốc. Hựu dĩ táo hỏa thiêu hương. Uế sài tác thực. Dạ khởi lõa lộ. Bát tiết hành hình. Thóa lưu tinh chỉ hồng nghê. Triếp chỉ tam quang. Cửu thị nhật nguyệt. Xuân nguyệt liệu lạp. Đối bắc ác mạ. Vô cố sát qui đả xà.»

罵 神 稱 正 . 指 天 地 以 證 鄙 懷 . 引 神 明 而 鑑 猥 事. 晦 臘 歌 舞 , 朔 旦 號 怒 . 對 北 涕 唾 及 溺 ,對 灶 吟 詠 及 哭 . 又 以 灶 火 燒 香 , 穢 柴 作 食 , 夜 起 裸 露 , 八 節 行 刑 , 唾 流 星 指 紅 霓 , 輒 指 三 光 , 久 視 日 月 , 春 月 燎 臘 , 對 北 惡 罵 , 無 故 殺 龜 打 蛇.

(Chưởi rủa Thần Thánh, tự xưng mình ngay thẳng. Chỉ trời chỉ đất để làm chứng cho lòng dạ xấu xa của mình. Gọi thần minh chứng giám cho việc quấy. Ngày cuối tháng, cuối năm ca múa. Ngày đầu tháng đầu năm khóc la giận hờn. Day về hướng bắc khóc, hỉ mũi, khạc nhổ, tiểu tiện. Trước ông Táo ngâm vịnh, khóc lóc, hoặc đốt nhang trong bếp lò. Củi dơ nấu ăn. Đêm tối để cho thân thể loã lồ. Ngày bát tiết thi hành hình phạt. Khạc nhổ về phía sao băng. Tay chỉ cầu vồng. Thường chỉ trỏ nhật nguyệt tinh. Nhìn lâu mặt trời mặt trăng. Mùa xuân đốt rừng săn bắn. Day về hướng bắc chưởi rủa độc địa. Không có lý do mà đánh giết rắn rùa.) (Cảm Ứng Thiên, điều 6).

Những cấm kỵ như «Bát tiết hành hình 八 節 行 刑 (hành hình vào các ngày thuộc 8 tiết); sóc đán hiệu nộ 朔 旦 號 怒 ngày đầu tháng, đầu năm kêu gào giận khóc); đối bắc thế thóa cập niệu 對 北 涕 唾 及 溺 (day về hướng bắc hỉ mũi, khạc nhổ và tiểu tiện); triếp chỉ tam quang 輒 指 三 光 (chỉ trỏ nhật nguyệt tinh); cửu thị nhật nguyệt 久 視 日 月 (nhìn lâu mặt trời mặt trăng)» thì Tôn Tư Mạc 孫思邈 đời Đường cũng nói trong quyển Nhiếp Dưỡng Chẩm Trung Phương 攝養枕中方 khi đề cập những đại kỵ của người tu Tiên:

«Vật dĩ bát tiết nhật hành uy hình, vật dĩ hối sóc nhật nộ, vật hướng bắc đại tiểu tiện, ngưỡng thị tam quang»

勿 以 八 節 日 行 威 刑 , 勿 以 晦 朔 日 怒 , 勿 向 北 大 小 便 ,仰 視 三 光

(Không được hành hình vào những ngày thuộc 8 tiết, không giận dữ vào ngày cuối tháng và mồng một, không hướng về phía bắc mà đại tiện và tiểu tiện, không được ngước nhìn nhật nguyệt tinh.) [41]

* Cảm Ứng Thiên dạy người đời phải công bằng trong đời sống kinh tế xã hội: Trước tiên là không giữ của cải phi nghĩa, không được mưu cầu lợi lộc mà hại mạng người khác, không được vi phạm pháp luật mà hối lộ (Cưỡng thủ cưỡng cầu. Háo xâm háo đoạt. Lỗ lược trí phú. Khí pháp thụ lộ»
強 取 強 求 , 好 侵 好 奪 , 掳 掠 致 富.棄 法 取 賂).

Trong mua bán thì không được cân gian đo thiếu (Đoản xích hiệp độ. Khinh xứng tiểu thăng. Dĩ ngụy tạp chân. Thái thủ gian lợi

短 尺 狹 度 , 輕 秤 小 升, 以 偽 雜 真 ,採 取 姦 利 ).

Vay mượn thì phải hoàn trả sòng phẳng, cấm không được «mượn tài vật của ai rồi nguyện cho khổ chủ chết đi để quịt nợ» (Phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử
負 他 財 貨 願 他 身 死) hay «trước mượn sau giật» (Giả tá bất hoàn 假 借 不 還).

Lý Lạc Cầu chép lời của Tịnh Ý Cư Sĩ 淨 意 居 士:

«Quan Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký, như ảnh tùy hình, nhi sở dĩ trí thử linh dị giả hữu tam: viết tụng, viết hành, viết truyền. Tam giả chi trung, lực hành tối vi trọng yếu, nhi đắc báo tắc dĩ ấn truyền vi tối thần tốc. Cái nhất nhân hành thiện, bất như nhân nhân hành thiện dã»
 觀 感 應 篇 靈 異 記 , 如 影 隨 形 , 而 所 以 致 此 靈 異 者 有 三 : 曰 誦 , 曰 行 , 曰 傳 . 三 者 之 中 ,力 行 最 為 重 要 , 而 得 報 則 以 印 傳 為 最 神 速 . 蓋 一 人 行 善 不 如 人 人 行 善 也
(Xem quyển Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký mới thấy những sự linh dị cũng như ảnh theo hình. Muốn đạt những sự linh dị thì có ba điều: tụng niệm, thi hành và truyền bá Cảm Ứng Thiên. Trong ba điều ấy, cố gắng thi hành là quan trọng hơn cả. Để được thiện báo thần tốc thì in ấn và truyền bá kinh. Một người hành thiện chẳng bằng người người hành thiện vậy).

 Như vậy, thiết nghĩ, hiểu nội dung Cảm Ứng Thiên rồi thì chúng ta cần phải «chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行 (chớ làm mọi điều ác, hãy làm mọi điều thiện), thế mới quý.

************     

IV. BỐ CỤC CẢM ỨNG THIÊN

Các bản Cảm Ứng Thiên mà tôi dùng tham khảo có bố cục và phân đoạn khác nhau như:

(1) Cảm Ứng Thiên Trực Giảng 感應篇直講 của Hứa Chỉ Tịnh 許止淨 [42] không có phần khai kinh, mà giảng một mạch từ đầu đến hết kinh, không phân đoạn.

(2) Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇 in trong Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [43] cũng không phân đoạn và không có phần khai kinh. Bản này do Mã Chấn Á 馬振亞 chú dịch căn cứ vào Hán Học Sư Thừa Ký 漢學師承記 mà phân thành hai quyển:

+ Quyển thượng từ câu «Thái Thượng viết họa phúc vô môn duy nhân tự triệu» đến câu «Túng bạo sát thương» [thuộc điều 5 ở bản có phân điều / đoạn].

+ Quyển hạ từ câu «Vô cố tiễn tài» [thuộc điều 5 ở bản có phân điều/đoạn] cho đến câu chót «Hồ bất miễn hành chi».

Hai quyển thượng – hạ trên không phân điều / đoạn gì cả mà ngay sự phân quyển cũng không hợp lý vì làm gián đoạn mạch văn.

(3) Bản Thái Thượng Cảm Ứng Thiên trong Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選 của Lý Lạc Cầu 李樂俅 [44] không có phần khai kinh và chia làm 10 chương [khác với bản (4) và (5) sau đây] là:

Chương 1- Minh Nghĩa 明義 [«Thái Thượng viết họa phúc vô môn… như ảnh tùy hình»].

Chương 2 – Thị Cảnh 示警 [«Sở dĩ thiên địa hữu tư quá chi thần …toán tận tắc tử »].

Chương 3 – Giám Sát 鑑察 [« Hựu hữu tam thai … dục cầu trường sinh giả tiên tu tị chi»].

Chương 4 – Tích Thiện 積善 [«Thị đạo tắc tiến … dữ nhân bất tri hối»].

Chương 5- Thiện báo 善報 [«Sở vị thiện nhân … đương lập tam bách thiện»].

Chương 6 – Chư Ác 諸惡 [«Cẩu hoặc … Vô cố sát qui đả xà»].

Chương 7 – Ác Báo 惡報 [«Như thị đẳng tội …tử diệc cập chi»].

Chương 8 – Chỉ Vi 指微 [«Phù tâm khởi ư thiện … nhi hung thần dĩ tùy chi»].

Chương 9 – Hối Quá 悔過 [«Kỳ hữu tằng hành ác sự … Sở vị chuyển họa vi phúc dã »].

Chương 10 – Lực Hành 力行 [«Cố cát nhân ngứ thiện … Hồ bất miễn hành chi ?»].

(4) Bản Cảm Ứng Thiên trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời in tại Saigon 1963 của phái Cao Đài Chiếu Minh (tức Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh) gồm có phần khai kinh và phần kinh tụng chia ra làm 10 điều. Toàn kinh chỉ có phần dịch nghĩa tiếng Việt.

Sự phân chia thành 10 điều này phù hợp với một bản Cảm Ứng Thiên khác [photocopy] theo dạng ấn tống, không ghi tên dịch giả. Chỉ có chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa với nhiều lỗi ấn loát ở phần chữ Hán. Cách phiên âm Hán Việt cũng chưa chính xác lắm. Phong cách tiếng Việt của bản dịch kèm chữ Hán này khá xưa, khoảng 40 – 50 năm về trước. Sự phân điều / đoạn hai bản này giống nhau ở chỗ dứt xong một điều rồi mới đưa ra tiêu đề và gọi thứ tự của điều.

Thí dụ: Hết điều «Đức Thái Thượng nói rằng: Đều [điều] họa phước không tìm đến, chỉ tại mình vời đến, đều [điều] lành dữ báo ứng như bóng nọ theo hình» thì ghi «I. Giải nghĩa thứ nhứt». Cách đánh dấu này chứng tỏ bản dịch rất xưa, còn giữ y theo cách đánh dấu phân chương của cổ tịch Trung Quốc. Cổ tịch Trung Quốc thường ghi từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, rồi ghi «Hữu đệ nhất chương» 右第一章 [phần bên phải là hết chương một], ghi theo tiếng Việt là «phần bên trên đây là hết chương một».

(5) Bản Cảm Ứng Thiên do Đức Văn Xương Đế Quân giáng bút diễn nghĩa ra thơ lục bát[45] không ghi chú thời gian và địa điểm Đức Văn Xương Đế Quân giáng bút, nhưng gồm có phần khai kinh và phần kinh tụng y như bản Cảm Ứng Thiên của phái Chiếu Minh.

Tuy nhiên, tựa đề mỗi điều là một câu thơ đặt trước mỗi điều. Bản khác nhau của hai bản là ở điều 8. Bản phái Chiếu Minh ghi «Ấy là điều 8» ứng với bản chữ Hán photocopy «Chỉ vi đệ bát 只為第八» thì bản Tân Định ghi là «Là điều thứ tám sửa mình thiện lương».

(Bản kinh mà Lý Lạc Cầu tuyển thì viết là «Chỉ Vi chương đệ bát» 指微章第八 [chỉ rõ điều tế vi], tôi thấy chữ chỉ vi 指微 này hợp lý hơn). Bản phái Chiếu Minh và bản Tân Định còn giống nhau ở chỗ: trước khi tụng kinh phải niệm danh tám vị Tiên Phật.

Bản do Lý Lạc Cầu tuyển có sự phân chia bố cục khác với hai bản của Cao Đài. Điều 2 ở hai bản Cao Đài thì bị ngắt ra ở cuối câu «Toán tận tắc tử» trở thành chương 2 [Thị Cảnh] và chương 3 [Giám Sát] ở bản Lý Lạc Cầu tuyển. Còn điều 5 [Chư Ác, thượng] và điều 6 [Chư Ác, hạ] ở hai bản Cao Đài được nhập thành chương 6 [Chư Ác] ở bản Lý Lạc Cầu tuyển. Điều này cũng hữu lý.

Nhưng tôi theo sự phân điều / đoạn / chương của hai bản kinh của phái Chiếu Minh và Thánh Thất Tân Định. Toàn bộ kinh văn đã gọi là thiên 篇 thì nên chia nhỏ thành tiết 節 hay đoạn 段, hoặc chương 章 (như bản Lý Lạc Cầu tuyển) nhưng để phù hợp hai bản kinh trên, tôi cũng gọi là điều.

Như vậy bố cục Cảm Ứng Thiên (Cảm Ứng Thiên) như sau: Mở đầu là phần khai kinh do Đức Thái Cực Chân Nhân giảng. Sau đó là phần kinh tụng chia làm 10 điều:

+ Điều 1 – Minh Nghĩa. Thuyết minh tổng quát về họa phúc, thiện ác và nhân quả báo ứng. Đây là tông chỉ của Cảm Ứng Thiên, bao gồm 16 chữ « Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình». Chín điều còn lại là khai triển điều một.

+ Điều 2 – Giám Sát. Thuyết minh sự giám sát nghiêm nhặt của thần minh đối với từng hành vi, ngôn ngữ, và tâm ý mỗi người. Từ đó nhấn mạnh rằng con người cần tránh xa tội lỗi.

+ Điều 3 – Tích Thiện. Thuyết minh rằng con người cần tích lũy điều thiện. Điều thiện cần xem xét và thi hành bao quát 3 mặt thân, khẩu, ý.

+ Điều 4 – Thiện Báo. Thuyết minh sự báo ứng tốt đẹp xuất phát từ sự tích thiện.

+ Điều 5 và 6 – Chư Ác. Liệt kê những điều ác mà con người thường gây ra. Đây là cái nhân xấu, dẫn đến cái quả xấu (ác báo) được giải thích ở điều 7.

+ Điều 7 – Ác Báo. Giải thích những quả báo xấu do những điều ác mà con người gây ra [nói ở điều 5 và 6].

+ Điều 8 – Chỉ Vi. Chỉ ra cho thấy sự tế vi, nhấn mạnh sự linh ứng cấp thời: Ngay khi con người khởi tâm (thiện hoặc ác) thì cát thần hoặc hung thần đã chực sẵn để ra tay.

+ Điều 9 – Hối Quá. Nhấn mạnh sự ăn năn sám hối tội lỗi đã qua và phòng ngừa cho khỏi làm ác về sau. Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (không làm mọi điều ác, phải phụng hành mọi điều thiện). Được vậy thì lâu ngày sẽ trở nên tốt đẹp (cát khánh), đó là phép chuyển đổi họa thành phúc.

+ Điều 10 – Luật Định. Những luật định ra về việc hành thiện và hành ác. Đức Thái Thượng dạy rằng nếu chúng ta đã biết luật định như vậy thì phải cố gắng làm lành lánh dữ.

************     

V. VAI TRÒ CỦA CẢM ỨNG THIÊN TRONG VIỆC TU NỘI ĐAN (TU ĐƠN)

Cảm Ứng Thiên (Cảm Ứng Thiên) được Phật gia và Đạo gia coi trọng.
Trong Cảm Ứng Thiên Trực Giảng của Hứa Chỉ Tịnh do Thượng Hải Phật Học Thư Cục ấn hành, chúng ta đọc được bài tựa của Ngài Ấn Quang Pháp Sư 印光法師 viết vào năm Mậu Thìn 戊辰 nhằm năm Dân Quốc 17 (1928). Ngài hết sức ca tụng Cảm Ứng Thiên và cổ vũ việc ấn tống phổ biến rộng khắp, đăng đàn thuyết giảng kinh này, coi đó là một công đức vô lượng.

Cảm Ứng Thiên được đưa vào Đạo Tạng, đó là bằng chứng sự trọng thị của Đạo gia đối với kinh này. Nhưng toàn bộ Cảm Ứng Thiên chẳng nói chi đến phép luyện đan (tức là tu đan hay “tu đơn” theo cách nói của tín đồ Cao Đài) vậy thì tại sao kinh này được gọi là rất hệ trọng với người tu đan?

Một giai đoạn trong phép tu đan là trúc cơ 筑基 (đắp nền) mà căn bản của trúc cơ là luyện kỷ 煉己 tức là rèn luyện bản thân, hàng phục phàm tâm, tu dưỡng chân tâm, giữ gìn tam bảo [tinh – khí – thần].

 Người tu hằng ngày tụng Cảm Ứng Thiên để nhớ lý Thiên nhân tương cảm mà hàng phục vọng tâm nhờ đó tâm hồn trong sạch, linh tánh sáng suốt.

Nhưng kỷ 己 là gì? Đời Thanh, Liễu Hoa Dương Chân Nhân 柳華陽真人 giải thích chữ kỷ 己 trong quyển Kim Tiên Chứng Luận 金仙證論 như sau:

«Kỷ tức ngã tâm trung chi niệm nhĩ»

己 即 我 心 中 之 念 耳

(Kỷ tức là niệm trong tâm ta).

Niệm ở đây là vọng niệm hay tạp niệm phát sinh từ tam độc [tham- sân- si]. Vọng niệm quấy nhiễu sự thanh tĩnh của người tu, phá hoại tam bảo, kết quả là tinh hao tổn, khí bất túc, và thần không vượng.

Vậy Cảm Ứng Thiên giúp người tu đan luyện kỷ, giữ gìn linh tánh, bảo tồn nguyên tinh, tức là cơ sở của tam hoa tụ đỉnh 三華聚頂.

VI. KHẢO SÁT NGÔN NGỮ TRONG CẢM ỨNG THIÊN

Trung Hoa Đạo Học Thông Điển nhận xét về ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiên qua 20 chữ như sau:

 «Từ lý chất phác thâm áo, khái quát la liệt thiện ác ảnh hưởng khả vị vi hiển xiển u.»

 詞 理 質 樸 深 奧 概 括 羅 列 善 惡 影 響 可 謂 微 顯 闡 幽

(Từ ngữ và lý lẽ chất phác, thâm áo, khái quát vô số thiện báo và ác báo, có thể gọi là làm rõ được sự tế vi và sâu kín).

Dù theo giả thiết Cảm Ứng Thiên có từ đời Tấn [cách nay trên 1500 năm] hoặc cho rằng Kinh này bắt đầu từ đời Nam Tống [cách nay khoảng 700 năm] thì ta thấy ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiên thuộc về Hán Ngữ cổ đại.

Về phương diện từ nghĩa 詞義 có những từ mà ý nghĩa hiểu khác với ngày nay, như hữu 友 ngày nay hiểu là bạn bè, nhưng nghĩa cổ là tình anh đối với em (huynh đối đệ thân ái 兄對弟親愛 [trong câu trung hiếu hữu đễ, điều 3- Tích Thiện]. Ngày nay còn hiểu hữu là tốt đẹp với nhau, thân ái với nhau (tương hảo, hỗ tương thân ái 相好, 互相親愛). Sự dời chuyển từ nghĩa theo thời gian (shift of meaning) là hiện tượng bình thường trong các ngôn ngữ. Một chữ khác là chữ lạp 臘 [trong câu hối lạp ca vũ, điều 6- Chư Ác] thì gần với nghĩa ngày nay là tháng chạp, đôi khi cũng nói là lạp nguyệt 臘月. Thí dụ nói lạp bát 臘八 tức là mồng tám tháng chạp âm lịch, là ngày người Trung Quốc nấu cháo [gồm ngũ cốc và các mứt quả khô] để cúng tế tổ tiên và thần linh.[46]

Nhưng thời Tiên Tần, lạp là ngày tế lễ bách thần vào tháng mười âm lịch, đến Tần Thủy Hoàng thì bị dời vào tháng chạp. Trong thiên Ngũ Đố 五蠹 của Hàn Phi Tử 韓非子có câu:

 «Phù sơn cư nhi cốc cấp giả lâu lạp nhi tương di dĩ thủy»

 夫 山 居 而 谷 汲 者 臘 而 相 遺 以 水

 (Cư dân nơi sơn cốc lấy nước ở đó để dùng thì những ngày lễ lâu và lạp lấy nước để tặng nhau).

 Lâu là ngày tế lễ thần ẩm thực tại nước Sở vào tháng Hai âm lịch, Lạp ở đây chỉ có nghĩa là ngày tế lễ bách thần vào tháng 10 âm lịch.[47] Chữ hoặc 或 trong Hán ngữ hiện đại thường mang ý có lẽ/ hoặc là, nhưng trong cổ văn nó còn là một vô định đại từ, dịch là «có người» tương đương cụm từ 有的人 trong Hán ngữ hiện đại.

Thí dụ, Tư Mã Thiên viết Báo Nhiệm An Thư 報任安書 có câu: «Nhân cố hữu nhất tử, hoặc trọng ư Thái Sơn, hoặc khinh ư hồng mao» 人 固 有 一 死 或 重 於 泰 山 或 輕 於 鴻 毛 (Người ta ai cũng có một lần chết, có người xem nó nặng như Thái Sơn, có người xem nó nhẹ như lông hồng).[48]

Điều 5 trong Cảm Ứng Thiên mở đầu bằng chữ Cẩu hoặc 苟或, phải dịch là «Nếu như có người mà…». Ở Điều 2 có câu: «Đoạt kỳ kỷ toán» 奪其紀算 và: «Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán» 凡 人 有 過 大 則 奪 紀 小 則 奪 算.

Kỷ và toán là hai khái niệm cổ mà Hán ngữ hiện đại đã loại bỏ ý nghĩa này: Kỷ là 12 năm và toán là 100 ngày. Các tự/từ điển như Khang Hi, Từ Hải, Học Sinh Cổ Hán Ngữ Từ Điển, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển đều giải thích Kỷ 紀 là đơn vị thời gian bằng 12 năm.

Nhưng Toán thì không còn xem là một đơn vị thời gian nữa. Tuy nhiên Cát Hồng Bão Phác Tử Nội Thiên đã định nghĩa Kỷ là 300 ngày và Toán là 3 ngày (Kỷ giả tam bách nhật dã 紀 者 三 百 日 也.Toán giả tam nhật dã 算 者 三 日 也).

Kỷ toán dùng chung với nhau hiểu là tuổi thọ. Hai câu trên phải dịch là «bị giảm tuổi thọ» và «Hễ người nào có lỗi thì mỗi lỗi lớn bị trừ 12 năm, mỗi lỗi nhỏ bị trừ 100 ngày».

Trong tiếng Việt ngày nay, nhiều người thích dùng từ thập kỷ với ý là 10 năm [thí dụ: thập kỷ 90, lẽ ra phải nói là thập niên 90]. Nói thập kỷ như vậy là sai vì thập kỷ sẽ có nghĩa là 120 năm.

Về phương diện ngữ pháp, phần lớn câu văn được viết ngắn gọn, ẩn chủ ngữ. Cảm Ứng Thiên dùng rất ít hư tự 虛字 tức là chữ có chức năng ngữ pháp (function words), đây là điều đặc biệt hiếm thấy trong cổ văn. Hư tự được dùng trong kinh này thường là: Thị dĩ 是以, chi 之, tắc 則, hựu 又, kỳ 其, giả 者, dã 也, ư 於, nhược 若, cẩu 苟, tất 必, phù 夫, sở 所, sở dĩ 所以, hồ 胡…

Về biện pháp tu từ, Cảm Ứng Thiên thường dùng phép tịnh đề 并提 mà ta hay gọi là cài răng lược (có thể xem là tiểu đối 小對). Phép tu từ này cũng thường thấy trong tiếng Việt, như ta nói trăm cay ngàn đắng, gió thảm mưa sầu, cười đau khóc hận… Cảm Ứng Thiên có những cách nói như vậy, thí dụ: căng cô tuất quả, biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, thương thai phá noãn…

Một phép tu từ khác là tỉ dụ 比喻 chỉ dùng một lần nơi điều 7: «Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã. Thủ phi nghĩa chi tài, thí như lậu phụ cứu cơ, trấm tửu chỉ khát. Phi bất tạm bão, tử diệc cập chi.» 又 枉 殺 人 者 , 是 易 刀 兵 而 相 殺 也 . 取 非 義 之 財 者 , 譬 如 漏 脯 救 饑 , 鴆 酒 止 渴 , 非 不 暫 飽 死 亦 及 之 (Lại có kẻ giết oan người khác [sau này cũng bị giết lại] giống như đổi đao gươm mà giết nhau. Giữ của cải phi nghĩa [để làm giàu] cũng giống như dùng thịt độc rượu độc để đỡ đói khát, nhưng chẳng tạm no lòng mà khiến cái chết xảy đến cho mình).

Nói chung, ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiên giản dị chất phác, không dùng điển cố văn học gì, không dùng những phép tu từ cầu kỳ trong văn bản hơn 1200 chữ Hán.[49] Ta thấy tác giả của quyển kinh khuyến thiện này không nhắm vào việc sáng tác văn chương, mà chỉ muốn dùng những lời lẽ giản phác để bất cứ ai cũng hiểu được, nhằm xiển dương lẽ Thiên nhân tương cảm và nhân quả báo ứng. Có lẽ đó cũng là một trong những lý do khiến cho kinh phổ biến khắp mọi giai tầng trong xã hội.

VII. BÃO PHÁC TỬ NỘI THIÊN VÀ CẢM ỨNG THIÊN

Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 gồm 20 quyển là tác phẩm tôn giáo, triết học và khoa học kỹ thuật do Cát Hồng 葛洪 [283-363] đời Tấn trứ tác. Đây là một tác phẩm bất hủ của Trung Quốc có giá trị độc đáo trên lĩnh vực Đạo giáo sử, hoá học sử và y học sử mà bất cứ ai nghiên cứu về Đạo giáo Trung Quốc đều phải tìm đọc.

Giá trị của tác phẩm này bao gồm hai điểm:

(1) Giá trị sử liệu Đạo giáo và

(2) giá trị sử liệu của khoa học kỹ thuật Trung Quốc cổ đại.

Cát Hồng tự là Trĩ Xuyên 稚川, hiệu là Bão Phác Tử 抱朴子 (đời gọi là Tiểu Tiên Ông 小仙翁), quê ở Đan Dương 丹陽, Cú Dung 句容 (nay thuộc Giang Tô 江蘇), xuất thân là sĩ tộc thế gia, là hào tộc ở Giang Nam 江南.

Ông tổ là Cát Phổ Lư 葛浦廬, làm Phiêu kỵ đại tướng quân 驃騎大將軍. Tổ phụ là Cát Hệ, làm Tam Quốc Ngô nhậm lại bộ thị lang 三國吳任吏部侍郎 và Ngự sử trung thừa 御史中丞. Cha ông là Cát Đễ Tiên 葛悌先, làm Ngô nhậm ngũ quan lang 吳任官郎.

Thuở nhỏ Cát Hồng lập chí làm văn nho để chấn hưng Nho giáo. Ông nhậm chức Tư Nghị Tham Quân 諮議參軍 nhưng vì thời thế ông từ quan ở ẩn, bỏ Nho theo Đạo, chuyên cần luyện đan ở La Phù Sơn 羅浮山, Quảng Châu 廣州. Đó là năm Quang Hi 光熙 nguyên niên (tức năm 306) đời Tây Tấn.

Từ luyện đan, ông tìm cầu thuật trường sanh bất tử, hết sức đề xướng thần tiên Đạo giáo. Bão Phác Tử Nội Thiên được ông viết trong thời kỳ ở La Phù Sơn đến năm Kiến Vũ 建武 nguyên niên (tức năm 317) đời Đông Tấn thì xong. Cát Hồng học đạo nơi Trịnh Tư Viễn 鄭思遠 tức là Trịnh Ẩn 鄭隱) mà không học nơi Cát Huyền 葛玄 (Cát Huyền là chú của Cát Hồng, vốn là sư phụ của Trịnh Tư Viễn).

* Hệ thống truyền thừa đan đạo này như sau:

(1) Tả Từ 左慈 (Tả Nguyên Phóng 左元放) truyền đạo (các bộ kinh: Bạch Hổ Thất Biến Kinh 白虎七變經, Thái Thanh Kim Dịch Thần Đan Kinh 太上金液神丹經, Tam Nguyên Chân Nhất Diệu Kinh 三元真一妙經, Hoàng Đế Cửu Đỉnh Thần Đan Kinh 皇帝九鼎神丹經, …) cho Cát Huyền 葛玄 (tự Hiếu Tiên 孝先, đời gọi là Cát Tiên Ông 葛仙翁).

(2) Cát Huyền truyền đạo (bộ kinh và phù lục gọi là Động Thần Kinh 洞神經, gồm Chính Nhất Pháp Văn 正一法文, Tam Tinh Nội Văn 三星內文, Ngũ Nhạc Chân Hình Đồ 五岳真形圖, Động Huyền Ngũ Phù 洞玄五符, …) cho Trịnh Tư Viễn 鄭思遠 (tức Trịnh Ẩn 鄭隱).

(3) Trịnh Tư Viễn truyền đạo cho Cát Hồng 葛洪.

Cát Hồng kế thừa và sửa đổi lý luận về thần tiên thuở ban đầu của Đạo giáo.

Ông không những tổng kết toàn bộ những lý luận về thần tiên từ đời Tấn về trước mà còn tổng kết các phép tu luyện như thần tiên phương thuật (bao quát thủ nhất, hành khí, đạo dẫn, phòng trung thuật, v.v) trước đời Tấn.

Đồng thời ông cũng nhấn mạnh sự kết hơp thần tiên phương thuật với hệ thống đạo đức của Nho giáo: «Kẻ mong thành thần tiên, phải lấy trung, hiếu, hoà, thuận, nhân, tín làm gốc.

Nếu ai không tu sửa đức hạnh mà vụ cầu phương thuật thì đều không được trường sinh.Hoàng Đế và Lão Tử], thuyết âm dương ngũ hành, và thuyết thiên nhân cảm ứng.

Hạt tâm trong lý luận của Cát Hồng là Huyền 玄, còn mục tiêu của ông là Thần 神, Tiên 仙, và Trường sinh 長生, và con đường tu luyện là thể Đạo đắc tiên 體道得仙 bao quát 4 điểm cụ thể sau đây:

(1) Lý luận về thần tiên:

Trong quyển 1 (Sướng Huyền 暢玄) của bộ Bão Phác Tử Nội Thiên, Cát Hồng trình bày vũ trụ quan rằng: bản thể vũ trụ là Huyền (tương đương khái niệm Đạo hay Nhất).

Ông nói: «Huyền giả, tự nhiên chi thủy tổ, nhi vạn thù chi đại tông dã» 玄 者 自 然 之 始 祖 而 萬 殊 之 大 宗 也 (Huyền là thủy tổ của cõi tự nhiên, là cái gốc lớn của vạn vật sai biệt). Huyền sản sinh ra thiên địa và vạn vật. Huyền là cơ sở lý luận của Cát Hồng về phương thuật và thần tiên luận.

Trong 5 quyển Luận Tiên 論仙, Đối Tục 對俗, Chí Lý 至理, Tắc Nan 塞難, và Biện vấn 辦問, ông khẳng định thần tiên là có thật và con người có thể học hỏi để thành thần tiên.

Thần tiên, theo ông nghĩ, là những người

«lấy thuốc để dưỡng sinh, lấy thuật số để kéo dài mạng sống, làm cho trong thân không sinh bệnh tật, làm cho hoạn nạn bên ngoài không xâm nhập vào mình»
(Dĩ dược vật dưỡng sinh, dĩ thuật số diên mệnh, sử nội tật bất sinh, ngoại hoạn bất nhập)
以 藥 物 養 生, 以 術 數 延 命 ,使 內 疾 不 生, 外 患 不 入,

nhờ thế sẽ trường sinh cửu thị (tức là trường sinh bất tử). Con người sở dĩ chẳng gặp tiên vì tiên tục đôi đường thanh trọc khác nhau, nếu ai không đắc đạo thì chẳng bao giờ gặp tiên.

Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế xưa kia cầu thành tiên mà không được vì chẳng chịu tu. Muốn thành tiên thì phải:

(a) chí thành tin tưởng là có tiên,

(b) tìm minh sư và đêm ngày chuyên cần tu luyện,

(c) điềm tĩnh vô dục,

(d) tích thiện, lập công quả, lòng từ bi
 trải rộng khắp chúng sinh. Lập được 300 việc thiện thì thành địa tiên, 1200 việc thiện thì thành thiên tiên.

Ông còn nhấn mạnh:

«Dục cầu tiên giả, đương dĩ trung hiếu hòa thuận nhân tín vi bản. Nhược đức hạnh bất tu, nhi đản vụ phương thuật, giai bất đắc trường sinh dã»
欲 求 仙 者 , 當 以 忠 孝 和 順 仁 信 為 本 . 若 德 行 不 修 , 而 但 務 方 術 ,皆 不 得 長 生 也
(Kẻ mong thành tiên phải lấy trung, hiếu, hòa thuận, nhân ái, tín thành làm gốc. Nếu không tu dưỡng đức hạnh mà vụ cầu những phương thuật thì không thể sống lâu được).

(2) Tiên đạo phương thuật:

Các quyển Kim Đan 金丹, Hoàng Bạch 黃白, Tiên Dược 仙藥, Vi Chỉ 微旨, Tạp Ứng 雜應, ThíchTrệ 釋滯 và Thủ Chân 守真 của Bão Phác Tử Nội Thiên luận về phương thuật của tiên gia mà ba điều quan trọng là hành khí, phòng trung, và phục tiên dược.

Phục thực kim đan (tiên dược) là mấu chốt của đạo trường sinh bất tử. Ông nói:
«Trường sinh chi đạo bất tại tế lễ sự quỉ thần dã, bất tại đạo dẫn dữ khuất thân dã, thăng tiên chi yếu, tại thần đan dã»
長 生 之 道 不 在 祭 禮 事 鬼 神 也 , 不 在 導 引 與 屈 伸 也 , 升 仙 之 要 ,在 神 丹 也
(Đạo trường sinh chẳng phải ở chỗ thờ cúng quỉ thần, cũng chẳng phải ở phép đạo dẫn vận động co duỗi, mà điều quan trọng để phi thăng thành tiên là thần đan vậy).

(3) Đạo giáo pháp thuật:

Bão Phác Tử Nội Thiên ghi chép những pháp thuật lưu hành vào đời Ngụy Tấn như các phép tàng hình, ẩn thân biến hóa thành những chủng loại động vật khác nhau, phép địa hành một ngày đi ngàn dặm, v.v. trong các quyển Tạp Ứng 雜應, Chí Lý 至理, Đăng Thiệp 登涉 , và Địa Chân 地真.

(4) Kỹ thuật Trung Quốc cổ đại:

Các quyển Kim Đan và Hoàng Bạch ghi chép cụ thể về phép luyện kim, coi như là thành tựu của phép luyện đan trước thời Ngụy Tấn mà Joseph Needham gọi là một thứ giả khoa học (pseudo-science), [52] là mở đường cho ngành hóa học Trung Quốc.

Trên đây là giới thiệu sơ lược về Cát Hồng và tác phẩm rất danh tiếng của ông: Bão Phác Tử Nội Thiên.

Sau đây chúng ta đối chiếu một phần của quyển 6 [Vi Chỉ] trong Nội Thiên [53] với điều 2 của Cảm Ứng Thiên.

 Bão Phác Tử- quyển 6: Vi Chỉ

天 地 有 司 過 之 神, 隨 人 所 犯 輕 重 , 以 奪 其 算 , 算 減 則 人 貧 耗 疾 病 , 屢 逢 憂 患 , 算 盡 則 人 死 , 諸 應 奪 算 者 有 數 百 事, 不 可具 論 . 又 言 身 中 有 三 尸 , 三 尸 之 為 物 雖 無 形 而 實 魂 靈 鬼 神 之 屬 也 . 欲 使 人 早 死 , 此 尸 當 得 作 鬼, 自 放 縱 游 行 , 享 人 祭 酹 . 是 以 每 到 庚 申 之 日, 輒 上 天 白 司 命 , 道 人 所 為 過 失 . 又 月 晦 之 夜 , 灶 神 亦 上 天 白 人 罪 狀 , 大 者 奪 紀 , 紀 者 , 三 百 日 也 . 小 者 奪 算 .算 者, 三 日 也 .

Thiên địa hữu Tư Quá chi thần, tùy nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt kỳ toán, toán giảm tắc nhân bần hao tật bệnh, lũ phùng ưu hoạn, toán tận tắc nhân tử, chư ưng đoạt toán giả hữu sổ bách sự, bất khả cụ luận. Hựu ngôn thân trung hữu Tam Thi, Tam Thi chi vi vật, tuy vô hình nhi thực hồn linh quỉ thần chi thuộc dã. Dục sử nhân tảo tử, thử thi đương đắc tác quỉ, tự phóng túng du hành, hưởng nhân tế loại. Thị dĩ mỗi đáo canh thân chi nhật, triếp thướng thiên bạch Tư Mệnh, đạo nhân sở vi quá thất. Hựu nguyệt hối chi dạ, Táo thần diệc thướng thiên bạch nhân tội trạng. Đại giả đoạt kỷ. Kỷ giả, tam bách nhật dã. Tiểu giả đoạt toán. Toán giả, tam nhật dã.

(Trời đất có thần Tư Quá, tùy theo tội nặng hay nhẹ của con người mà bớt tuổi của họ; tuổi giảm thì nghèo, tốn hao, và tật bệnh, thường gặp lo rầu;tuổi hết thì chết; những sự việc cần phải bớt tuổi có đến vài trăm việc, nên không thể kể ra hết ở đây. Lại nói trong thân thể có Tam Thi. Tam Thi là vật, tuy vô hình nhưng thuộc loại hồn linh quỉ thần; chúng muốn cho con người mau chết sớm để chúng thành quỉ thoát khỏi xác con người mà phóng túng du hành, hưởng thụ vật cúng tế của người. Cho nên mỗi khi đến ngày canh thân, chúng bay lên trời báo cáo với thần Tư Mệnh về tội lỗi của con người. Lại nữa, mỗi đêm cuối tháng âm lịch, Táo thần cũng bay lên trời báo cáo tội trạng của con người. Tội lớn thì bớt kỷ. Kỷ là 300 ngày. Tội nhỏ bớt toán. Toán là 3 ngày).

 Cảm Ứng Thiên: điều 2

天 地 有 司 過 之 神 , 依 人 所 犯 輕 重 , 以 奪 人 算 . 算 減 則 人 貧 耗 多 逢 憂 患 , 人 皆 惡 之 , 刑 禍 隨 之 , 吉 慶 避 之 , 惡 星 災 之 , 算 盡 則 死 . […] 又有 三 尸 神 在 人 身 中 , 每 到 庚 申 之 日, 輒 上 詣 天 曹 ,言 人 罪 過 , 月 晦 之 日 , 灶 神 亦 然 . 凡 人 有 過 , 大 則 奪 紀 , 小 則 奪 算 .

Thiên địa hữu Tư Quá chi thần, y nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán. Toán giảm tắc nhân bần hao đa phùng ưu hoạn, nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi, toán tận tắc tử.[…] Hựu hữu Tam Thi thần tại nhân thân trung, mỗi đáo canh thân chi nhật, triếp thướng nghệ thiên tào, ngôn nhân tội quá, nguyệt hối chi nhật, táo thần diệc nhiên.Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán.

(Trời đất có thần Tư Quá,tùy theo tội nặng hay nhẹ của người mà bớt tuổi của họ.Tuổi giảm ắt người bị nghèo, hao tốn, và gặp nhiều lo rầu, người đời ghét bỏ, tai họa đi theo, không được vui mừng may mắn, ác tinh gieo họa, tuổi hết thì chết.[…] Lại có thần Tam Thi trong thân thể con người, mỗi khi đến ngày Canh Thân thì bay thẳng đến Thiên tào báo cáo tội lỗi của con người; ngày cuối tháng âm lịch, ông Táo cũng thi hành y như vậy. Người hễ có lỗi, lỗi lớn thì bớt bị kỷ, lỗi nhỏ thì bị bớt toán).

Qua sự so sánh trên đây, chúng ta thấy nhiều câu văn gần như y hệt nhau. Điều đó chứng minh rằng nếu Cảm Ứng Thiên xuất hiện sau Bão Phác Tử Nội Thiên (cứ cho là khoảng đời Tống) thì tác giả của Cảm Ứng Thiên không thể nào là Đức Thái Thượng Lão Quân được vì lẽ nào bậc thần tiên lại sao chép văn chương thế nhân.

Trở lại với giả thiết của Lý Cương, ta thấy họ Lý suy luận có phần hợp lý: Một đạo sĩ ẩn danh vào cuối đời Tống đã dựa trên những tác phẩm như Thái Bình Kinh của đời Đông Hán và Bão Phác Tử Nội Thiên thời Ngụy Tấn đồng thời vận dụng tư tưởng và luân lý tam giáo dung hợp với những qui ước đạo đức phổ quát mà sáng tác ra Cảm Ứng Thiên. Để tăng trọng lượng của tác phẩm, đạo sĩ đã mượn danh Thái Thượng Lão Quân là tác giả.

TẠM KẾT

Bài viết này góp phần tìm hiểu Cảm Ứng Thiên của Đạo giáo Trung Quốc, tức là Kinh Cảm Ứng .
 Tuy còn có những vấn đề mà cho đến nay người ta không thể nào xác quyết được (như vấn đề tác giả và thời gian hình thành tác phẩm), nhưng tác phẩm khuyến thiện tối cổ này vẫn có giá trị nhất định và là một trong những nhân tố rèn luyện đạo đức cho con người Đông phương.

Sách khuyến thiện (thiện thư) có ba vấn đề:
(1) ấn tống phổ biến,
(2) đọc hiểu nội dung, và
(3) thi hành (tức hành thiện).

Trong đó, hành thiện là quan trọng nhất, như Cảm Ứng Thiên đã khẳng định: «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行 (chớ làm mọi điều ác, hãy làm mọi điều thiện).

LÊ ANH MINH 

************     

CHÚ THÍCH

[1] Người Việt ở miền Nam Việt Nam – nhất là tín đồ Cao Đài – dùng từ «phò loan».

[2] Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, Đạo Giáo Dữ Bất Lão Trường Thọ Y Học 道教與不老長壽醫學 (nguyên tựa: 道教と不老長壽の醫學), bản dịch Hán văn của Dương Vũ 楊宇, Thành Đô xuất bản xã (=xbx), 1992, tr. 81.

[3] Phần phiên âm và dịch chú kinh văn Cảm Ứng Thiên cũng như phần khảo dịch và chú thích Âm Chất Văn và Công Quá Cách được trình bày trong quyển Thiện Thư trong thư tịch Đạo giáo của Lê Anh Minh.

[4] Nguyên văn: khắp phố phường ngõ hẻm trong thiên hạ chẳng nơi nào mà kinh không truyền bá đến (phổ thiên hạ nhai cù lý hạng, vô bất truyền bố).

[5] Ngô Phong 吳楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, Trung Quốc, 1994, tr. 785.

[6] Khanh Hy Thái 卿希泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中國道教, Đông Phương xbx Trung Tâm, Thượng Hải, 1996, quyển 2, tr. 124.

[7] Cát Nguyên Chiêu Trị, sđd., tr. 80.

[8] Lý Cương 李剛, Đạo Giáo Sinh Mệnh Lý Luận 道教生命理論, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 133.

[9] Chu Việt Lợi 朱越利, Đạo Kinh Tổng Luận 道經總論, Liêu Ninh Giáo Dục xbx, 1991, tr. 341.

[10] Lý Lạc Cầu 李樂俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選, Chân Thiện Mỹ xb, Đài Bắc, tr. 6.

[11] Ngô Phong, sđd., tr. 1013.

[12] Holmes Welch, Đạo Chi Phân Kỳ 道之分歧 (Taoism, the Parting of the Way), Boston, 1967, tr. 140. (Probably composed in the 11th century A.D., these came to be widely distributed by monasteries and by charitable societies).

[13] Joseph Needham, Science & Civilisation in China, Vol. 2, p. 159. (The foundations of the patrology, the Tao Tsang, were laid in +745. Many Taoist books were written, such as the Yin fu Ching [Harmony of the Seen and the Unseen] of Li Chuan. Many distinguished men, such as Li Pai, were practising Taoist initiates. Under strong pressure to compete with Confucianism and Buddhism, the Taoists now appeared in the role of preachers of conventional morality, hence the Thai Shang Kan Ying Phien [tractate of Actions and Retributions] of the early +11th century; following the Kung Kuo Ko [Examination of Merits and Demerits] attributed to the famous alchemist and hsien Luš Tung Pin.)
Công Quá Cách có nhiều chủng loại, bản mà Needham cho là của Lữ Động Tân vốn được gọi: Thập Giới Công Quá Cách 十誡功過格, đã được Léon Wieger dịch sang tiếng Pháp). Tác giả của Âm Phù Kinh 陰符經 (mà Needham bảo do Lý Thuyên 李筌 sáng tác) là một vấn đề hấp dẫn khác.

 Theo các học giả Trung Quốc hiện đại, chưa rõ ai là tác giả của Âm Phù Kinh. Bản Âm Phù Kinh in trong Trung Quốc Khí Công Đại Thành 中國氣功大成, Phương Xuân Dương 方春陽 chủ biên, Cát Lâm Khoa Học Kỹ Thuật xbx, 1999, tr. 383, ghi là Lý Thuyên tập chú (chứ không phải là tác giả như Needham bảo).

[14] Encyclopedia of Religion, vol. 14, New York Macmillan, 1987, mục từ Taoism, tr. 298. Ko Hung asserted in his Pao-p’u-tzu that without the practice of virtues it was useless to wish to become an immortal. His text provided a list of good and evil deeds that remained the code of popular morality. Morality tracts [shan-shu] many of which were based on Ko Hung’s list, began to appear in the twelfth century. The most famous are the Kan-ying p’ien [Book of Divine Responses to the Conduct of Men] and the Kung-kuo ke [Diagram of Meritorious Actions and Sins].

[15] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 2, tr. 125 và Lý Cương, Sđd., tr. 144-145.

[16] Holmes Welch, Sđd., tr. 139-140.

[17] Âm Chất Văn đã được P.Carus và D.T. Suzuki dịch ra tiếng Anh với nhan đề Yin Chih Wen – The Tract of the Quiet Way [nxb Open Court Publishing Co.,1906] [H. Welch, Sđd., tr. 140]. Trong Sources of Chinese Tradition, Vol. II, của WM. Theodore de Bary, Wing-tsit Chan, và Chester Tan, có in bản dịch tiếng Anh của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (The Treatise of the Most Exalted One on Moral Retribution, tr. 287-290) và Âm Chất Văn (The Silent Way of Recompense, tr. 290-293).

[18] James Legge (Lý Nhã Các 理雅閣, 1815 – 1897) là giáo sĩ Hội Truyền Giáo London (the London Missionary Society), cũng là một Hán học đại gia cự phách. Xem tiểu sử của J. Legge trong: Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh, Kinh Dịch và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc, nxb Khoa Học Xã Hội, 1999, tr. 631-632.

[19] Tức là Thái Hạo 太皓, Viêm Đế 炎帝, Hoàng Đế 黃帝, Thiếu Hạo 少皓 và Chuyên Húc 顓頊.

[20] Ngũ Hoa 伍華 chủ biên, Chu Dịch Đại Từ Điển 周易大辭典, Quảng Châu, 1993, tr. 1009.

[21] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 2, tr. 124.

[22] Ngũ giới cấm 五戒禁: (1) Bất sát sinh 不殺生, (2) Bất du đạo 不偷盜, (3) Bất tà dâm 不邪淫, (4) Bất vọng ngữ 不妄語, và (5) Bất ẩm thực tửu nhục 不飲食酒肉.

[23] Ninh Chí Tân 寧志新 chủ biên, Đạo Giáo Thập Tam Kinh 道教十三經, Hà Bắc, 1994, quyển hạ, tr. 1051 (Bão Phác Tử Nội Thiên, quyển 3 – Đối Tục).

[24] Holmes Welch, Sđd., tr. 140 -141

[25] Nam Hoa Kinh 南華經, Thu Thủy 秋水.

[26] Nam Hoa Kinh 南華經, Tề Vật Luận 齊物論.

[27] Mạnh Tử 孟子, Tận Tâm [thượng] 上].

[32] Luận Ngữ 論語, Nhan Uyên 顏淵.

[33] Luận Ngữ 論語, Học Nhi 學而.

[34] Mạnh Tử 孟子, Tận Tâm [thượng] 39] Lý Viễn Quốc 李遠國, Đạo Giáo Khí Công Dưỡng Sinh Học 道教氣功養生學, Tứ Xuyên Tỉnh Xã Hội Khoa Học xbx, Thành Đô, 1988, tr. 95.

[40] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 3, tr. 172.

[41] Đạo Gia Nhiếp Sinh Bí Pháp 道家攝生秘法, Nội Mông Cổ Nhân Dân xbx, 1992, tr. 16.

[42] Thượng Hải Phật Học Thư Cục 上海佛學書局 ấn hành, không ghi năm.

[43] Ngô Phong 吳楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 785-790.

[44] Lý Lạc Cầu 李樂俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選, Chân Thiện Mỹ 真善美 xuất bản, Đài Bắc, [năm ?].

[45] Thánh Thất Tân Định ấn tống, giấy phép xuất bản 18-11-1964, khổ nhỏ 12 x 14 cm, 32 trang, in chung với Cứu Khổ Chơn Kinh, Chú Vãn Sanh, Bài Thần Chú Cứu Nạn của Đức Lữ Tổ.

[46] Nhà văn Trung Quốc hiện đại là Lão Xá 老舍 (1899-1996) mô tả món cháo thập cẩm của ngày Lạp bát hết sức sinh động trong đoản thiên Tiết Xuân Bắc Kinh 北京的春節 Bắc Kinh đích Xuân Tiết) và dí dỏm gọi món cháo này là «cuộc triển lãm nông nghiệp ở qui mô nhỏ» (小型的農業展覽會Tiểu hình đích nông nghiệp triển lãm hội).

[47] Xem Điền Thụy Quyên 田瑞娟 và Trương Liên Vinh 張聯榮 chủ biên, Văn Ngôn Văn Yếu Lãm 文言文要覽, Đại Học Bắc Kinh xb, 1988, tr. 3.

[48] Xem Vương Lực 王力 chủ biên, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển 古漢語常用字字典, Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh, 1993, tr. 127, và Trần Cao Xuân 陳高春 chủ biên, Thực Dụng Hán Ngữ Ngữ Pháp Đại Từ Điển 實用漢語語法大辭典, Bắc Kinh, 1989, tr. 597.

[49] Điều này ngược với Âm Chất Văn, tuy là một bản văn rất ngắn nhưng Âm Chất Văn có khá nhiều điển cố văn học, có lẽ tác giả muốn nhắm vào tầng lớp sĩ nhân hơn là người bình dân.

[50] Dục cầu tiên giả, yếu đang dĩ trung hiếu hoà thuận nhân tín vi bản. Nhược đức hạnh bất tu, nhi đản vụ cầu phương thuật, giai bất đắc trường sinh 欲 求 仙 者 , 要 當 以 忠 孝 和 順 仁 信 為 本 . 若 德 行 不 修 , 而 但 務 求 方 術 , 皆 不 得 長 生 也.

[51] Lãm chư Đạo giới, vô bất vân dục cầu trường sinh giả, tất dục tích thiện lập công, từ tâm ư vật, thứ kỷ cập nhân, nhân đãi côn trùng, lạc nhân chi cát, mẫn nhân chi khổ, chu nhân chi cấp, cứu nhân chi cùng, thủ bất thương sinh, khẩu bất khuyến họa, kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc, kiến nhân chi thất như kỷ chi thất, bất tự quý, bất tự dự, bất tật đố thắng kỷ, bất nịnh siểm âm tặc, như thử nãi vi hữu đức, thụ phúc ư thiên, sở tác tất thành, cầu tiên khả ký dã. 覽 諸 道 戒 , 無 不 云 欲 求 長 生 者, 必 欲 積 善 立 功 , 慈 心 於 物 , 恕 己 及 人 , 仁 逮 昆 蟲 , 樂 人 之 吉 , 愍 人 之 苦 , 賙 人 之 急 , 救 人 之 窮 ,手 不 傷 生 , 口 不 勸 禍 , 見 人 之 得 如 己 之 得 , 見 人 之 失 如 己 之 失 , 不 自 貴 , 不 自 譽 , 不 嫉 妒 勝 己 , 不 佞 諂 陰 賊 , 如 此 乃 為 有 德 , 受 福 於 天 , 所 作 必 成 , 求 仙 可 冀 也 .

[52] Trần Lập Phu 陳立夫 dịch là ngụy khoa học 偽科學, xem Trung Quốc Cổ Đại Khoa Học Tư Tưởng Sử 中國古代科學思想史, Giang Tây Nhân Dân xbx, 1990. Đây là một bản dịch Anh Hán từ quyển Science & Civilisation in China, Vol. 2, của Joseph Needham (Lý Ước Sắt 李約瑟 tức Đan Diệu 丹耀 hay Thắng Nhũng Tử 勝冗子 hay Thập Túc Đạo Nhân 十宿道人).

[53] Đạo Giáo Thập Tam Kinh 道教十三經, Ninh Chí Tân 寧志新 chủ biên, Hà Bắc Nhân Dân xbx, 1994, quyển hạ, tr. 1099 (Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇, quyển 6 – Vi Chỉ 微旨).

——————   

******************     

 

 

 

Design a site like this with WordPress.com
Get started