Cây quanh nhà và lá quanh vườn
Cây quanh nhà và lá quanh vườn
Cây quanh nhà và lá quanh vườn, Cay quanh nha va la quanh vuon
Cây quanh nhà và lá quanh vườn
Cay quanh nha va la quanh vuon
Cây quanh nhà và lá quanh vườn, Cay quanh nha va la quanh vuon
Cay quanh nha va la quanh vuon
Cây quanh nhà và lá quanh vườn
Nước trà:
Nước trà là loại nước được nhiều người ưa thích, vừa là nước giải khát, giải nhiệt giúp ra mồ hôi lại vừa bổ sung nước cho cơ thể. Có thể dùng trà tươi (chè xanh) hoặc trà khô để hãm nước.
Ngoài tác dụng làm nước uống, nếu kết hợp uống trà với các vị thuốc (gọi là trà thuốc) còn có tác dụng phòng và chữa bệnh rất hiệu quả.
Sau đây xin giới thiệu một số loại trà thuốc đơn giản dễ chế biến.
Trà gừng
Lấy 7g lá chè, 10 lát gừng tươi bỏ vỏ, đun sôi uống sau bữa ăn để giải cảm, ra mồ hôi, chữa cảm lạnh, cảm cúm, ho kéo dài và tăng huyết áp. Trà gừng còn chữa viêm họng, lợi phế, dễ uống, thơm và ngọt giọng. Theo Đông y, gừng tươi (sinh khương) có vị cay tính ôn đi vào 3 kinh: phế, tỳ và vị.
Trà muối
Lấy 3g lá chè, 1g muối ăn hãm trong nước sôi uống nóng, tác dụng làm sáng mắt, thanh nhiệt, tiêu viêm… Về mùa hè nên uống thường xuyên để phòng chứng rối loạn điện giải vì ra nhiều mồ hôi. Muối có vị mặn, tính hàn, không độc đi vào 3 kinh: thận, tâm và tỳ. Những người làm việc trong văn phòng, ít mất mồ hôi thì chỉ dùng lượng muối bằng nửa (0,5g), người tăng huyết áp không nên dùng.
Trà đường
Lấy 15g chè xanh, 60g đường trắng hãm với 2 bát nước đun sôi sau đó để ngoài trời qua đêm (dùng miếng gạc đậy kín). Sáng sớm hôm sau uống hết, tác dụng lưu thông khí huyết, điều hòa kinh nguyệt, chữa bế kinh hay rối loạn kinh nguyệt.
Trà sơn tra
Lấy 10 miếng sơn tra giã nát đun sôi, chắt lấy nước để hãm với lá chè, uống thường xuyên sẽ giảm huyết áp, giảm mỡ máu, giảm béo. Ngoài ra còn trị được bệnh huyết áp cao, bệnh tim. Theo Đông y, sơn tra có vị chua ngọt, tính ôn đi vào 3 kinh: tỳ, vị và can.
Trà gạo
Lấy 100g gạo, 6g lá chè rửa sạch, hãm với nước sôi trong 6 phút, lấy nước chè nấu cơm, mỗi ngày ăn một lần. Tác dụng điều hòa tiêu hóa tốt, chữa đầy bụng khó tiêu.
Trà hoa cúc
Lấy 9g lá chè xanh, 6g hoa cúc trắng hãm với nước sôi uống nguội. Tác dụng bổ gan, sáng mắt, chữa đau đầu, đau mắt đỏ, tăng huyết áp. Hoa cúc có vị cay, tê, nóng. Vị thuốc hay dùng trong dân gian từ lâu đời.
Trà lá tre – mã đề:
Lá mã đề 10 g, lá tre 10 g, cam thảo sống 10 g. Sắc uống (bỏ bã), thêm đường trắng vừa đủ, uống thay trà, mỗi ngày nấu 1 lần. Thích hợp cho người bệnh tâm phiền, miệng lưỡi lở loét, tiểu ngắn, buốt đau.
Trà muối nhạt:
Trà xanh 10 g, muối ăn 5 g, cùng hãm với nước sôi, uống nhiều lần. Có tác dụng bù nước giải khát, giải nhiệt trừ phiền, thanh thử giảm nhiệt.
Trên đây là những loại trà thuốc có tác dụng phòng và chữa bệnh thông thường rất thuận lợi.
Theo Sức khỏe đời sống
***************
* Nước giải khát chữa bệnh từ quả mướp:
Từ mướp, bạn có thể chế nước giải khát cho người cao huyết áp, viêm thận, viêm gan: Mướp tươi 300 g, táo tây 200 g, chanh 50 g; mướp và táo ép lấy nước, hòa với nước chanh và ít đường phèn. Nước này mát bổ, lợi tiểu, giúp hạ huyết áp, cân bằng gan.
Mướp, theo dược học cổ truyền, có công dụng sinh tân dịch, chống ho, thanh nhiệt, làm tan đờm, mát máu, giải độc, an thai, thông sữa. Nó được dùng chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, viêm họng, viêm phế quản, trĩ, băng lậu, khí hư, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm bể thận, mụn nhọt, ung thũng, sản phụ sữa không thông, táo bón…
Ngoài canh mướp, bạn có thể chế biến các món dược thiện khác từ loại quả này:
Mướp tươi 500 g, đường trắng vừa đủ. Mướp rửa thật sạch, cắt nhỏ, ép lấy nước (dùng máy ép là tốt nhất) rồi hòa với đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm, trị ho.
Mướp tươi 500 g, khổ qua 200 g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khổ qua bỏ ruột, rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Giải nắng nóng, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, chữa ho.
Mướp tươi 500 g, khế 200 g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khế rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Hóa đàm, tiêu viêm, chống ho. Đây là loại đồ uống rất giàu sinh tố và vi lượng, dùng làm nước giải khát mùa hè rất tốt.
Mướp tươi 500 g, củ cải 200 g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp và củ cải gọt vỏ, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: Lợi tiểu, hóa đàm, tiêu viêm, mát họng.
Mướp tươi 500 g, rau cần tây 100 g, một chút muối ăn. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái miếng; rau cần rửa sạch, cắt đoạn; hai thứ đem ép lấy nước, lọc qua vải sạch, pha thêm một chút muối, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Cân bằng gan, hạ huyết áp, thanh nhiệt, nhuận phế, hóa đàm, tiêu viêm, chống ho.
Mướp tươi 500 g, nước dừa 500 ml. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa với nước dừa, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: Giải nắng nóng, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, cầm ho.
Mướp tươi 100 g, sữa bò tươi 500 ml. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa với sữa tươi, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Bồi bổ sức khỏe, thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm.
Theo Sức khỏe- Đời sống
Về mặt y học, nhiều bộ phận của cây mướp có tác dụng chữa bệnh.
Lá mướp: Có vị đắng, chua, tính hơi lạnh, được nấu uống để chữa ho, hen kéo dài với liều 10-15g mỗi lần. Có thể dùng dạng cao lỏng 1/1, mỗi lần uống 0,5ml. Lá mướp giã nhỏ với ít muối, thêm nước, gạn uống chữa viêm họng (nam dược thần hiệu). Lá mướp sắc với cây cứt lợn uống chữa phù thũng. Dùng ngoài, lá mướp tươi giã nát, lấy nước bôi chữa lở đầu, mẩn ngứa do con giời leo. Nếu đem nướng lá rồi giã và xát lại chữa nước ăn chân. Lá mướp phơi khô, đốt toàn tính, tán bột mịn, hòa với dầu vừng, bôi chữa nứt nẻ đầu vú.
Gốc thân cây mướp: Y học cổ truyền gọi là ty qua đằng hay thiên la, lấy từ mặt đất trở lên độ 1m, đốt tồn tính tán nhỏ, uống mỗi lần 10g với ít nước chữa viêm xoang mũi, chảy nước mũi và có mùi hôi.
Quả mướp: Có vị ngọt, tính bình, nấu ăn để tăng tiết sữa và làm máu lưu thông. Chất nhầy trong quả mướp có tác dụng nhuận tràng và làm dịu đau (ăn canh mướp hằng ngày). Đài tồn tại của quả mướp (1-2 cái) sắc với rễ cỏ tranh (một nắm nhỏ) huyết dụ (2-3 lá), cỏ giầy (một nắm nhỏ) uống chữa băng huyết, Hạt mướp già (5-10g) sao vàng, sắc uống chữa đau lưng.
Xơ mướp: Tên thuốc là ty qua lạc, có vị ngọt, tính bình, có tác dụng cầm máu, chống co thắt, thúc sởi, lợi tiểu. Xơ mướp đốt tồn tính, tán bột, uống mỗi ngày 4-8g, chia làm hai lần, chữa trĩ ra máu, rong kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu.
Xơ mướp (20g, băm nhỏ, sao) phối hợp với hạt đay quả dài (12g, giã giập sao) sắc với 200ml nước còn 50ml, uống lúc nóng chữa hen. Để thúc sởi chóng mọc, hạn chế các biến chứng, lấy xơ mướp (20g), kinh giới (12g), bạch chỉ (12g), kim ngân (12g), cỏ mần trầu (8g), cam thảo nam (4g), thái nhỏ, sao vàng, sắc uống làm hai lần trong ngày. Xơ mướp đốt tồn tính, tán nhỏ, trộn thành bánh, rồi phơi khô, tán nhỏ, mỗi lần uống 8g vào lúc đói chữa bế kinh (nam dược thần hiệu).
Theo tài liệu nước ngoài, quả mướp đốt thành tro, pha nước uống chữa đau lưng, viêm vú. Quả mướp non nấu ăn là thuốc mát, giải độc, lợi sữa. Lá mướp tươi giã nát, đắp chữa mụn nhọt, sưng tấy, phát ban ở trẻ em. Dịch ép lá mướp có tác dụng điều kinh.
Theo sách Thuốc từ cây cỏ và động vật
***************
Quả vải – vị thuốc bổ dưỡng:
Theo các sách thuốc cổ, việc thường xuyên ăn vải giúp bổ não, lợi tỳ vị, phục hồi rất tốt cho người mới ốm dậy, suy nhược, gầy yếu. Vải cũng làm đẹp da, rất có lợi cho sức khỏe phụ nữ.
Vải có hàm lượng đường cao, giàu acid hữu cơ, caroten, các muối khoáng Ca, Fe, P, các vitamin B1, B2, C. Ngoài việc dùng ăn tươi, quả vải còn có tác dụng chữa bệnh từ lâu đời với tên thuốc trong y học cổ truyền là lệ chi.
Các sách thuốc cổ có ghi: “Thường xuyên ăn vải sẽ bổ não, ích trí, khai vị, lợi tỳ, làm mạnh khỏe, rất tốt cho người mới ốm dậy, suy nhược, gầy yếu; dưỡng da làm đẹp nhan sắc chữa được nhiều bệnh. Cùi vải phơi khô là thuốc bổ nguyên khí, rất có lợi cho sức khỏe của người cao tuổi và phụ nữ”.
Cùi quả vải (lệ chi nhục) được dùng phổ biến dưới dạng nước giải khát với cách chế như sau: Chọn 1 kg quả vải chín đỏ, bóc vỏ và hạt (để riêng), chú ý không làm nát cùi. Lấy 3 lít nước đã hòa tan 0,5 kg đường kính và 5 g acid citric, đun sôi trong khoảng 5-10 phút.
Khi nước còn ấm, cho cùi vải vào rồi đựng trong lọ kín, đun cách thủy khoảng 20 phút để diệt khuẩn. Để nguội, nút kín. Khi dùng, lấy nước và cùi vải ra cốc, pha thêm nước đun sôi để nguội cho đủ ngọt để uống. Đây là loại đồ uống ngon, mát, rẻ tiền trong mùa hè với tác dụng thanh nhiệt, chỉ khát, bổ dưỡng, tiêu độc.
Cùi vải phơi khô 10 quả, phối hợp với đại táo 5 quả, thái nhỏ, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày là thuốc dưỡng huyết, bổ tỳ, chống tiêu chảy.
Để chữa nấc, lấy cùi vải khô 7 quả, gừng tươi 6 g, nấu với đường đỏ mà dùng.
Người ta cho rằng Dương Quý Phi đời nhà Đường (Trung Quốc) nhờ ăn quả vải thường xuyên mà đã trở thành một tuyệt thế mỹ nhân thời đó. Nhưng cũng có người cho rằng ăn nhiều vải sẽ phát nhiệt, rối loạn chuyển hóa đường trong cơ thể, gây chảy máu cam, sinh mụn nhọt, nhất là đối với trẻ nhỏ.
Hạt vải (lệ chi hạch) cũng được dùng làm thuốc. Cách chế biến là bổ đôi, đồ qua hơi nước, rồi phơi khô để tránh bị sâu mọt. Thường dùng loại hạt to, mẩy, màu đen sáng bóng. Nó có tác dụng giảm đau trong các bệnh tinh hoàn sưng đau, thống kinh, dạ dày lạnh đau, thoát vị bẹn. Liều dùng hằng ngày 3-6 g dưới dạng thuốc sắc.
Chữa đau bụng kinh hoặc sau đẻ: Hạt vải đốt tồn tính (không để cháy thành than) 20 g, hương phụ sao 40 g, tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 8 g với nước muối nhạt hoặc nước cơm, ngày 2-3 lần.
Chữa tinh hoàn sưng đau: Hạt vải, vỏ quýt xanh (thanh bì), quả hồi ba thứ lượng bằng nhau, sao qua, tán nhỏ, rây bột mịn, uống mỗi lần 8 g với nước.
Chữa đau nhức răng: Hạt vải gọt vỏ ngoài, lấy nhân, sấy khô, tán bột, rây mịn. Khi dùng, chấm thuốc vào chỗ răng đau làm nhiều lần trong ngày.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Những bài thuốc cây lá rất gần gũi và hiệu nghiệm đấy chứ! Mừng vì có người mê tiếng nói cỏ hoa. Cỏ hoa còn để chữa bệnh chứ đâu đơn thuần để đẹp và thơm.
Túc bái.
***************
“Siêu trái cây” măng cụt
Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới thì măng cụt là 1 trong 10 “siêu trái cây” và được xếp vào nhóm thực phẩm chức năng. Sở dĩ có được vị trí này vì măng cụt là sự kết hợp hoàn hảo về nhiều mặt như: hương vị thơm ngon đặc sắc, hình dáng và màu sắc đẹp mắt, giàu dưỡng chất, có khả năng chống oxy hóa và giúp cơ thể chống lại được nhiều bệnh tật.
Theo thống kê thành phần tối đa và tối thiểu nghiên cứu được ở Philippines và Washington, D.C (Mỹ) thì trong 100 gr thịt (phần ruột màu trắng, chiếm 31% toàn bộ trái măng cụt) có chứa 60-63 calories, 0,50 – 0,60 gr chất đạm, 0,1 – 0,6 gr chất béo, 5,0 – 5,1 gr chất xơ, 0,20 – 0,80 mg chất sắt, 14,3 – 15,6 gr tổng carbohydrate, 16,42 – 16,82 gr đường (bao gồm cả đường sucrose, glucose, và fructose), 1,0 – 2,0 mg vitamin C. Ngoài ra, loại trái này còn có chứa vitamin B, canxi, phospho và một số các chất khác nữa.
Vỏ măng cụt được xắt lát, sấy khô, rồi nghiền thành bột trị bệnh kiết lỵ. Tinh dầu trích từ vỏ măng cụt được dùng để chữa bệnh eczema (chàm bội nhiễm) và các rối loạn về da khác. Vỏ măng cụt đem sắc lấy nước uống chữa tiêu chảy, viêm bàng quang, và dùng ngoài da để chữa bệnh lậu, ung nhọt. Ngoài ra, người ta còn dùng lá và vỏ cây măng cụt sắc lấy nước làm thuốc hạ nhiệt, điều trị bệnh tưa miệng ở trẻ em, nấm candida ở phụ nữ và rối loạn đường tiết niệu. Rễ cây măng cụt sắc lấy nước uống giúp điều hòa kinh nguyệt.
Bảo Tâm (Thanhnien)
***************
Chữa bệnh gan và vàng da từ sầu riêng
Sầu riêng được trồng rất nhiều ở miền Nam nước ta. Sầu riêng được biết đến như một loại trái cây đặc sản của vùng Nam Bộ chủ yếu vì mùi vị thơm ngon của nó. Ít ai biết được rằng sầu riêng còn có công dụng như một vị thuốc, không những trái sầu riêng mà những bộ phận khác cũng có nhiều chức năng hữu ích cho sức khỏe con người
Cây sầu riêng cao tới 25 m. Lá mọc so le, đơn, nguyên, hình trứng thuôn dài, đầu nhọn, dày, trên mặt có những lông vảy. Quả to, hình đầu hay hình trứng dài, vỏ cứng, trên mặt vỏ có rất nhiều gai ngắn, nhọn. Quả có 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 3-5 hạt; quanh hạt có chất cơm màu trắng vàng mùi đặc biệt, hạt có lá mầm dày.
Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi, về thành phần hóa học, trong 100 g cơm sầu riêng có 37,14% nước, 6,38% chất đạm, 2,7% chất béo, 16,2% chất đường và nhiều chất khác.
Người ta dùng rễ, lá làm thuốc, có thể dùng tươi hay phơi khô. Quả sầu riêng ngon, lại có tác dụng kích thích sinh dục, rễ và lá còn được dùng làm thuốc chữa sốt và chữa bệnh về gan và da vàng. Mỗi ngày có thể dùng khoảng 10 – 16 g dưới dạng thuốc sắc. Ngoài ra, lá còn dùng dưới dạng nấu nước tắm cho những người vàng da do bệnh gan. Hạt sầu riêng rang lên hay nấu chín ăn được, có thể làm thành kẹo, mứt.
***************
Xoài – “Vua của loài quả”
Quả xoài theo Đông y lúc chín có vị ngọt (có loại hơi chua), tính bình. Có sách nói ôn hoặc lương, nhưng ôn thì hợp lý hơn vì chứa nhiều đường ngọt, ăn nhiều sẽ bị “phát nhiệt”, trẻ em bị rôm sảy.
Ăn ít nhuận tràng, ăn nhiều có thể tiêu chảy cũng do quá ngọt. Quả xanh chua chát gây táo bón nếu ăn nhiều. Cũng do tanin và xơ, ăn vào lúc đói nồng độ dịch vị cao sẽ tạo điều kiện gây vón làm tắc ruột.
Quả xoài chín kích thích tiết nước bọt, chống khát khô họng, lợi tiểu chống phù thũng, nhuận tràng chống táo bón.
Theo y học hiện đại, xoài có thành phần hóa học như sau: 100g xoài chín cho 65 calo, 17g hydrat cacbon, 3.894 UI.vitamin A (78% nhu cầu hằng ngày), 28mg vitamin C (46% nhu cầu), 1mg E (10%)… Đường của xoài là loại cấp năng lượng nhanh. Quả xanh ít vitamin A và nhiều vitamin C.
Xoài có những tác dụng sau: Chất glucozit chống viêm, ung thư, diệt khuẩn. Xoài làm giảm cholesterol, hạ huyết áp phòng chống bệnh tim mạch, tăng nhu động ruột thải nhanh chất cặn bã trong ruột nên phòng chống được bệnh ung thư ruột kết.
Xoài là một thức ăn bổ não, rất tốt cho những người làm việc nhiều bằng trí óc, thi cử. Tuy nhiên không nên ăn xoài lúc đói qúa và sau bữa ăn no, đang có các bệnh nhiệt sốt vì bản chất xoài nóng. Không nên ăn nhiều đối với cả hai loại xoài xanh và chín.
Cách ăn xoài chín an toàn là thái nhỏ, làm nhuyễn, không để cả lát to, không nhai dối, nuốt chửng (chú ý đối với trẻ em và người già răng yếu).
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số công dụng phòng chữa bệnh từ xoài
Thịt quả xoài:
– Chống khát khô giọng miệng, ho khản cổ, mất tiếng, viêm họng: Ăn uống xoài tươi hoặc lấy nước, ngậm xoài khô, mứt. Dùng tốt cho thầy cô giáo, ca sĩ…
– Chống say tàu xe, buồn nôn: Ăn sống hoặc nấu chín còn cứng giòn.
– Chữa ăn không tiêu, trẻ bị cam tích: Ăn xoài chín tươi vào các buổi tối.
– Chữa táo bón và đau dạ dày thừa toan: Ăn xoài chín.
– Chảy máu chân răng (thiếu vitamin C): Dùng quả xoài gần chín còn chứa nhiều vitamin C làm các dạng thích hợp. Hoặc ăn xoài chín, uống nước ép.
– Trẻ còi xương, suy dinh dưỡng: Ăn xoài chín thái nhỏ hoặc nghiền. Hoặc làm bột khô hòa nấu với sữa để được cung cấp vitamin A.
– Ho đờm nhiều do phế nhiệt: Ăn xoài chín tươi.
– Bồi bổ trí não, chữa suy nhược thần kinh: Ăn xoài tươi chín hằng ngày trước bữa ăn.
– Chữa bỏng nước sôi, bỏng lửa: Lấy phần thịt xoài chín cắt lát hoặc giã nhuyễn đắp có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, diệt khuẩn.
– Chữa các bệnh đường hô hấp. Dùng xoài xanh tươi hoặc khô nấu. Có thêm 1 miếng trần bì (vỏ quýt lâu năm).
Vỏ quả xoài
– Cầm máu ở các trường hợp chảy máu: Ho, nôn, đại tiểu tiện, rong kinh… Vỏ quả xoài chín khoảng 30g sắc nước uống. Hoặc nấu thành cao lỏng (1ml-1g) rồi lấy ra pha loãng để uống. Uống mỗi lần 1 thìa con (thìa cà phê 15ml). Uống cách nhau vài giờ.
– Viêm da, chàm: Vỏ quả xoài 150g, nấu lấy nước để rửa, bã đắp.
– Thủy thũng: Vỏ quả xoài 15g, nhân hột xoài 30g. Sắc uống ngày 1 lần. Chu ý nhân hạt xoài có độc gây say.
– Sâu răng: Lấy vỏ thân cây xoài sắc đặc chấm hoặc pha loãng ngậm phía răng sâu. có thể phối hợp với các vị khác.
Lá xoài:
– Chữa cao huyết áp: Sắc nước lá xoài khô để uống. Hái để sau 1 ngày thì dùng được, thái nhỏ hãm nước sôi sau 1 giờ lọc lấy nước uống thay nước uống hàng ngày hoặc ngày 2 bát trong 3 ngày liền, nghỉ 1 ngày uống tiếp. Lá xoài có tác dụng an thần.
– Chữa đái tháo đường. Do lá xoài có chất anthxyanidin có tác dụng hạ đường huyết, phòng các biến chứng ở mắt và mạch máu do đái tháo đường.
– Hạt xoài trị giun sán: Nhân hạt xoài 20g, hạt chanh 15g, 2 thứ giã nát. Đổ 2 bát nước sắc còn một bát. Uống vào sáng sớm vừa ngủ dậy khi chưa ăn gì. Uống xong nằm nghỉ 1 lúc. Uống liền 3 buổi sáng. Chú ý hạt xoài có độc cần theo dõi trong thời gian dùng thuốc.
(Theo SucKhoe & ĐoiSong)
+ Ở một số nước, người ta dùng quả xoài xanh thái mỏng phơi khô, bổ sung nguồn vitamin C thiên nhiên. Hoặc quả xoài thái mỏng ngâm với đường, quế để làm mứt hoặc nước xoài. Dân gian có món xoài xanh thái mỏng trộn với lá sầu đâu (lá sầu đâu đắng, nhưng dùng chung với xoài xanh sẽ bớt đắng). Món này có công dụng kích thích tiêu hóa.
+ Lá xoài dùng làm món gỏi lá xoài. Thành phần: một số loại lá: xoài non, lá đài bi, lá đinh lăng, lá cóc, lá ổi non, lá mơ, các loại rau thơm, cùng gia vị. Sau đó, đem trộn làm món gỏi. Công dụng: kích thích tiêu hóa, bồi bổ.
+ Hạt xoài có vị đắng, chát. Dân gian dùng hạt xoài chín phơi khô. Khi bị ho dùng 3 – 5 hạt đập ra lấy phần lõi bên trong, cắt nhỏ nấu nước uống, trị ho rất hiệu quả. Ở Ấn Độ và Brazil, người ta dùng hạt xoài sấy khô làm thuốc tẩy giun.
+ Vỏ thân cây xoài dùng cầm máu tử cung, chữa ho ra máu. Ở Campuchia người ta dùng vỏ thân cây xoài đắp nóng để chữa trị chứng phong thấp, hoặc nấu nước rửa trị tình trạng huyết trắng ở phụ nữ. Ngoài ra, người ta còn dùng vỏ thân cây xoài ngâm nước để ngậm trị cơn đau nhức răng. Trước đây người ta còn dùng vỏ thân cây xoài mài ra lấy bột đắp vào chỗ tiêm ngừa để tránh bị sẹo.
+ Nhựa của vỏ xoài pha với nước chanh dùng bôi, trị ghẻ.
Lưu ý: với những người thường bị ợ chua (do dư acid dạ dày), không nên dùng nhiều xoài chua. Không để nhựa xoài văng vào mắt có thể làm tổn thương giác mạc.
(Bao thanh niên)
– Ho ra máu: Vỏ trái xoài chín nấu thành cao lỏng, mỗi lần dùng 10 g hòa với 120 ml nước, cách 1-2 giờ uống 1 thìa cà phê.
– Chảy máu đường ruột hoặc tử cung: Lấy vỏ quả xoài cát chín nấu thành cao lỏng. Khi dùng, lấy 10 g cao hòa với 120 ml nước sôi, cách 3 giờ uống 2 thìa cà phê.
– Đau răng, lở loét chân răng: Vạt lấy một miếng vỏ cây xoài bằng 2 bàn tay, thái nhỏ, đổ 3 bát nước, đun nhỏ lửa cho đến khi còn 1 bát. Mỗi ngày ngậm (thỉnh thoảng súc cho thuốc thấm vào chân răng) 3 lần, mỗi lần 10 phút.
Hoặc: Vỏ cây xoài sao khô 3 phần, bồ kết sao khô 1 phần, quả na sao khô 1 phần. Tất cả tán mịn, trộn đều, rắc vào chỗ răng đau hoặc xát vào lợi.
– Thổ tả: Lá xoài 100 g (sao vàng), lá chanh 100 g, đổ 2 bát nước vào sắc còn 1 bát, sau đó cho thêm 50 g lá bạc hà vào nấu chung, uống nóng, từng hớp một.
– Rong kinh và khí hư: Vỏ quả xoài chín 30 g, sắc uống hằng ngày.
– Đi ngoài ra máu, lỵ mạn tính: Vỏ quả xoài chín 50 g, phơi khô, sắc uống hằng ngày.
– Trừ giun đũa: Nhân hạt xoài 20 g, hạt chanh 15 g, 2 thứ giã nát, đổ 2 bát nước, sắc còn 1 bát, uống vào sáng sớm lúc còn đói, uống liền trong 2-3 ngày.
– Làm săn da: Lá xoài tươi 50 g, giã nát, đắp mặt trong 20 phút rồi rửa mặt thật sạch.
– Rửa vết thương: Lá xoài tươi 200 g, cho vào 1 lít nước, đun sôi 10 phút, dùng để rửa vết thương.
– Ho, viêm họng: Lá xoài tươi 200 g, cho vào 1 lít nước, đun nhỏ lửa cho sôi 15 phút, sau đó bắc xuống, dùng khăn trùm kín đầu để xông. Khi xông nhớ há miệng để đưa hơi vào cổ họng. Làm mỗi ngày 1 lần.
Lưu ý:
– Thịt quả xoài có tác dụng lợi tiểu, chữa hoại huyết, nhưng nếu ăn nhiều sẽ nóng.
– Mủ xoài có chất độc gây nôn mửa, tiêu chảy, viêm da.
(Sức Khỏe & Đời Sống)
***************
Dùng hoa chữa mất ngủ:
Để phòng chống tình trạng mất ngủ, còn lại là chứng thất miên, bất đắc miên, bất mị… Y học cổ truyền có rất nhiều biện pháp như uống thuốc, châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công dinh dưỡng, sử dụng các món ăn – bài thuốc…
Xin được giới thiệu một vài bài thuốc dân gian để độc giả tham khảo.
Áp những bài thuốc này, nó sẽ giúp bạn lấy lại được giấc ngủ ngon.
Bài 1: Hoa hồng tươi 50g (nếu khô dùng 15g), muối tinh 50g, gia vị vừa đủ. Cho hoa hồng và muối tinh vào nồi, đổ nước sắc trong 10 phút, để nguội;
Công dụng: Sơ can giải uất, dưỡng tâm an thần, dùng rất tốt cho trường hợp mất ngủ do tâm huyết hư.
Bài 2: Hoa mai trắng 5g, hợp hoan hoa 10g, nước vang 50ml. Ba thứ cho vào nồi sắc cách thủy, uống ấm sau bữa ăn tối 60 phút.
Công dụng: Sơ can khai uất, lý khí ân thần, dùng cho trường hợp mất ngủ kèm theo đau đầu, chóng mặt, trí nhớ giảm sút.
Bài 3: Hợp hoan hoa 50g, đường mía 100g, nước trắng 300ml. 3 thứ cho vào bình kín, ngâm trong 7 ngày là dùng được, mỗi tối uống trước khi đi ngủ chừng 10 – 20ml.
Công dụng: Giải uất lý khí, an thần hoạt lạc.
Bài 4: Hoa bách hợp 20g, nước vang 50ml. Hai thứ đem sắc cách thủy, uống ấm làm 1 lần vào buổi tối.
Công dụng: Nhuận phế, thanh hỏa, an thần, dùng cho trường hợp mất ngủ kèm theo cảm giác nóng lòng bàn tay chân, ngực, bụng bồn chồn rạo rực không yên, táo bón, đổ mồ hôi trộm…
Bài 5: Hoa hồng 12g, hợp hoan 10g. Hai thứ đem ngâm tròn 10 phút rồi sắc lấy nước, uống ấm trước khi đi ngủ.
Công dụng: Thư uất, lý khí, an thần.
Bài 6: Hoa hiên 30g, đường phèn 15g. Hoa hiên rửa sạch thái vụn, cho vào nồi, đổ nước sắc trong 15 phút, khi được hòa đường phèn, uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Công dụng: Thanh triệt trừ phiền, giải uất an thần.
Bài 7: Hợp hoan hoa 15g, bách hợp 20g, gạo tẻ 60g. Hợp hoan hoa rửa sạch, sắc kỹ lấy nước bỏ bã, cho gạo tẻ vào ninh thành cháo, khi gần được thì cho bách hợp vào, ăn vào buổi tối.
Công dụng: Thanh tâm nhuận phế, thư uất an thần, dùng cho những trường hợp mất ngủ do tâm tỳ hư nhược.
Bài 8: Hoa bách hợp 60g, hợp hoan hoa 60g. Hai thứ sấy khô, tán bột, mỗi tối trước khi đi ngủ uống 6g với nước trắng.
Công dụng: Thanh nhiệt nhuận phế, thư uất an thần.
Bài 9: Cúc tươi 30g, đậu hà lan 20g, dầu thực vật, nước dùng, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Cúc hoa sắc kỹ lấy nước bỏ bã; rồi trộn đều với một chút bột mì; cho dầu thực vật vào chảo đun nóng già rồi đổ nước sắc cúc hoa, gừng tươi thái chỉ, đun sôi vài phút là được, ăn nóng.
Công dụng: Thanh can minh mục, khu phong trấn tĩnh, dùng cho trường hợp mất ngủ kèm theo đau đầu, nhức mỏi mắt, thị lực suy giảm, huyết áp cao hoặc có xu hướng tăng cao.
Bài 10: Hoa bách hợp tươi 30g, đậu phụ 250g, vừng 15g, hạt tiêu 2g, nước dùng và gia vị vừa đủ.
Hoa bách hợp rửa sạch, tỉa lấy các cánh hoa, chần qua nước sôi rồi vớt ra ngâm trong nước lạnh độ 1 giờ; đậu phụ luộc qua, cắt miếng; nước dùng đun sôi rồi cho hoa bách hợp, đậu phụ, vừng giã nát vào, chế đủ gia vị, đun nhỏ lửa cho sôi một lát là được, dùng làm canh ăn hàng ngày.
Công dụng: Bổ tâm dưỡng huyết thanh phế an thần.
Bài 11: Cam cúc hoa 60g, hợp hoan hoa 15g, linh chi 30g, bá tử nhân 30g, toan táo nhân 30g. Các vị rửa sạch, sắc trong 90 phút, chia uống vài ba lần trong ngày.
Công dụng: Dưỡng huyết nhu can, thanh tâm an thần, dùng cho trường hợp mất ngủ thể âm hư hỏa vượng, biểu hiện bằng các triệu chứng có những cơn bốc hỏa, lòng bàn tay chân nóng, ngực bụng bức bối không yên, đầu choáng mắt hoa, hay mê mộng, đổ mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ…
Bài 12: Hoa bách hợp tươi 25g, dầu thực vật, gừng tươi, và gia vị vừa đủ. Hoa bách hợp tỉa lấy cánh rửa sạch; cho dầu thực vật vào chảo đun nóng già rồi sau đó chế nước vừa đủ, bỏ hoa bách hợp và gia vị rồi đun nhỏ lửa cho chín, ăn nóng.
Công dụng: Kiện tỳ ích khí, thanh tâm an thần.
Bài 13: Hoa nhài 16g, thạch xương bồ 6g, trà xanh 10g. Tất cả đem hãm vào nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Công dụng: Kiện tỳ ích khí, thanh tâm an thần.
Bài 14: Hoa chuối 30g. Hoa chuối rửa sạch, thái nhỏ cho vào nồi đun trong 30 phút, sau đó bỏ bã thuốc.
Công dụng: Bình can giáng nghịch, ích khí an thần, trấn tĩnh.
Bài 15: Hoa thiên lý vừa đủ, rửa sạch, đem xào hoặc nấu canh ăn hàng ngày.
Theo SK&ĐS
***************
Cây súng có nhiều loại: loại hoa trắng, hoa tím, hoa đỏ… rất đẹp, có thể trồng làm cảnh. Theo bác sĩ Trần Danh Tài – Chủ tịch Hội Đông y Lâm Đồng thì củ súng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận, kiện tỳ, sáp tinh, nên được dùng làm thuốc bổ (tỳ, thận), an thần, trị chứng đau lưng, mỏi gối, di – mộng tinh, tiểu nhiều, tiết tả, khí hư, bạch đới…
Bà con miền Nam thường dùng bông súng và cuống bông súng làm rau ăn (ăn sống hay nấu canh, nấu lẩu); bà con miền Bắc thì dùng củ súng nấu chè – một món ăn rất ngon (dẻo, bùi), có tác dụng an thần rất tốt.
Cách dùng: Củ súng tươi loại bỏ vỏ cứng, phơi hay sấy khô, bảo quản như các loại ngũ cốc khác. Nếu nấu chè (khối lượng không hạn chế): luộc qua (đun sôi chừng 3-5 phút), gạn bỏ nước đầu, đổ nước mới, đun nhỏ lửa đến khi củ súng chín (mềm, bở) rồi hãy cho đường vào (nếu cho đường sớm sẽ bị sượng). Người già yếu, ăn uống kém, mất ngủ, tiểu đêm nhiều, di – mộng tinh, hoạt tính… nên ăn chè củ súng từng đợt (15-20 ngày/đợt), sau đó nghỉ khoảng 10-15 ngày rồi ăn tiếp, sẽ có tác dụng rất tốt.
Củ súng cũng có thể phơi khô, rang vàng, tán mịn, mỗi ngày dùng 60g (sáng, chiều) liên tục trong 20 – 30 ngày sẽ thấy kết quả.
Hoa súng (Nymphaea stellata Willd), tên khác là củ súng, súng lam, là một cây thảo sống ở nước trong các ao hồ, đồng chiêm trũng, kênh rạch. Thân rễ ngắn mang nhiều củ nhỏ. Mùa hoa súng vào tháng 5-6.
Theo kinh nghiệm dân gian, hoa súng thu hái khi mới nở, dùng tươi hay phơi khô, 15-30g sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày để an thần chữa mất ngủ. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: hoa súng 15g, tâm sen 10g, hoa nhi 10g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, hãm uống làm 2 lần trong ngày.
Để chữa viêm bàng quang, đái rắt, dùng hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, diếp cá 10g, sắc lấy nước đặc uống làm 2 lần.
Từ lâu, những người làm thuốc y học cổ truyền đã dùng rễ hoa súng thay thế khiếm thực (Euryale ferox Salisb.) là một vị thuốc bắc. Dược liệu là những củ nhỏ mọc bám xung quanh thân rễ, có vị ngọt nhạt, bùi hơi béo, tính mát, không độc, có tác dụng đối với các chứng bệnh do thận hư, thần kinh suy nhược, mộng tinh, di tinh, hoạt tinh, đau lưng, ù tai, viêm ruột mạn tính, phụ nữ khí hư, trẻ em đái dầm. Cách dùng như sau: rễ hoa súng thu hoạch về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, rồi sao qua. Quả kim anh cạo hết gai, bổ đôi, nạo sạch hạt và lông, sao vàng. Lấy mỗi thứ 15g tán nhỏ, rây bột mịn làm viên. Mỗi ngày uống 10-20g, chia làm 2 lần.
Có thể dùng đơn thuốc bổ thận gồm rễ củ súng 40g, thục địa 40g, thạch hộc 30g, hoài sơn 30g, táo nhân 20g, tỳ giải hoặc thổ phục linh 20g. Thục địa thái mỏng, chưng cách thủy cho mềm, tán nhuyễn. Các dược liệu khác phơi khô, sao vàng, tán bột mịn, rồi trộn với thục địa và làm thành viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g.
Hoặc rễ hoa súng 20g, ba kích, cẩu tích, tỳ giải (tẩm nước sao), hà thủ ô (chế với đậu đen), ngưu tất, mỗi vị 12g, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Trong dân gian, rễ hoa súng nấu chè ăn có tác dụng giải cảm, nhất là cảm nắng. Rễ hoa súng phơi khô, nấu với nước 2 lần, rồi cô thành cao, thêm đường làm sirô uống để chữa ho, rát cổ, sốt cao.
Hồng Hạnh (Theo SK & ĐS)
***************
Lá xương rồng Nopal có thể làm rau, có vị gần giống như ớt Đà Lạt, dùng để chế biến hoặc ăn sống như dưa leo. Xương rồng Nopal được chế biến thành bột dinh dưỡng giá trị cao và có thể coi như một nguồn thức ăn bổ sung quý cho con người: Chế biến đóng hộp, muối dưa, nghiền bột để làm bánh… Theo các nhà khoa học, xương rồng Nopal còn được coi như là 1 loại cây dược liệu trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh rối loạn tiêu hoá, béo phì, bệnh tim, bệnh tiểu đường và làm tiêu mỡ.
Thạc sĩ Tạ Thu Hằng cho biết, đây là loại xương rồng không chỉ ăn được mà còn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao!
Xương rồng Nopal (tên khoa học Opuntia spp.) có nguồn gốc từ châu Mỹ. Hàm lượng chất khoáng trong xương rồng Nopal rất lớn, đặc biệt là hàm lượng canxi, các vitamin A, B, C. Ngoài ra trong xương rồng Nopal còn có 17 loại axít amin tồn tại ở dạng protein dễ tiêu. Vì vậy lá Nopal sử dụng làm rau xanh và được chế biến thành các loại thực phẩm khô, làm bột dinh dưỡng, bột làm bánh. Trái xương rồng Nopal có thể ăn tươi hoặc dùng làm màu thực phẩm cho công nghệ chế biến thực phẩm không gây độc hại.
Hiện nay ở Việt Nam đã nhân được 15 giống xương rồng Nopal, gồm: 5 giống Nopal ăn quả, 7 giống Nopal rau (trong đó có 4 loại rau cao sản, có giá trị kinh tế cao) và 3 giống Nopal làm thức ăn cho gia súc. Các nghiên cứu còn cho thấy cây xương rồng Nopal có khả năng chữa được nhiều bệnh. Nopal rau được ứng dụng trong việc phòng ngừa và điều trị ung thư đại tràng. Các axit amin, các sợi thớ và vitamin B3 trong Nopal ngăn cản quá trình tăng lượng đường trong máu, có tác dụng phòng ngừa, điều trị bệnh đái tháo đường và góp phần làm tiêu mỡ. Từ sản phẩm của Nopal người ta điều chế ra các loại thuốc điều trị các bệnh về rối loạn tiêu hóa, béo phì, bệnh tim…
Mềm, hơi nhớt nhát nhưng giòn sần sật (nghe chừng giống món rau dổi ở Việt Nam), món xương rồng ở Mexico vừa có vị giống bánh tác đậu xanh, lại hao hao mùi măng tây pha thêm chút hạt tiêu cay nồng.
Trước khi cho vào nồi chế biến, người ta phải “đánh” cho hết gai góc trên mặt lá đi – như kiểu đánh vẩy cá. Hiện ở Mexico đã có hơn 350 kiểu món ăn khác nhau chế biến từ loài cây đặc biệt này.
Những hình ảnh này được ghi lại tại Miermoa Puerto Vallarta, một tỉnh lẻ của Mexico nhưng nổi tiếng nhờ ngành trồng trọt xương rồng.
Theo dược sĩ Trần Việt Hưng:
Khi nói đến Xương Rồng, chúng ta thường nghĩ ngay đến một loại cây có thân đầy gai, chứa nhựa… đáng ghét chỉ mọc nơi sa mạc hoang dã và ngay đến dê, là loài ăn tạp dễ tính… cũng chê… Nhưng thật ra trong gia đình Xương Rồng còn có những cây cho hoa rất quý như Quỳnh và những cây có thể ăn được, dùng làm rau và còn có thể làm thuốc như Xương Rồng Bà…
Tên Khoa học: Opuntia ficus-indica thuộc họ thực vật Cacta ceae. Một loài khác cũng được dùng làm thực phẩm là O.megacantha (loài này chỉ gặp tại Hoa Kỳ và Mexico). Các loài được dùng làm thực là O.dillenii, O.streptacantha…
Tên thông thường:
Quả được gọi là Prickly Pear, hay Barbary Pear, Cactus Pear, Indian Pear, Indian Fig, Tuna Fig (loài Opuntia tuna mill)…
Trong khi đó, phần ‘lá’ (đúng hơn là… thân) được gọi là Nopal cactus…
Xương Rồng bà (O. dillenii) thuộc loại cây nhỏ, cao 0.5-2m. Thân do các lóng dẹp hình cái vợt bong bàn (pingpong) dài 15-cm, rộng 4-10 cm, màu xanh nhạt, mang núm với 8-10 gai, gai to với sọc ngang dài 1-3 cm (phần này thường được xem lá bày bán tại các chợ). Hoa vàng rồi đỏ. Quả mọng to cỡ 5-10 cm.
Thành phần dinh dưỡng:
Quả: 100 gram phần ăn được chứa:
– Calories 41
– Chất đạm 0.73 gram
– Chất béo 0.51 g
– Chất sơ 1.81 g
– Calcium 56 mg
– Sắt 0.30 mg
– Magnesium 85 mg
– Phosphorus 24 mg
– Potassium 220 mg
– Sodium 5 mg
– Beta Carotene (A) 51 IU
– Thiamine (B1) 0.014 mg
– Riboflavine (B2) 0.060 mg
– Niacin (B3) 0.460 mg
– Ascorbic acid (C) 14 mg
Thành phần hóa học:
Theo phân chất của Institut National de la Santé et de la Recherche Medicale, Nancy (Pháp) thì: Opuntia ficus-indica.
Phần thịt chứa Glucose (35%), Fructose (29%), trong khi đó vỏ ngoài chứa glucose (21%).
Tỉ lệ protein: Thịt (5.1%), Vỏ da (8.3%), Hạt (11.8%).
Chất bột có trong cả 3 phần: vỏ, thịt và hạt.
Chất xơ trong phần thịt chứa nhiều pectin (14.4%) trong khi đó Vỏ và Hạt chứa nhiều cellulose (Vò 29.1%; Hạt 45.1%).
Vỏ chứ nhiều Calcium (2.09%) và Potassium (3.4%). Phần vỏ bọc bên ngoài hạt có chứa nhiều D-xylans.
Quả còn chứa:
Nhiều sắc tố loại betalains như Betanin, Indica xanthin (sự phối hợp các sắc tố này tạo ra nhiều màu sắc khác nhau cho quả như vàng cho đển đỏ, trắng..).
Nhiều flavonoids như Quercetin, Dihydroquercetin, Querce tin 3-methyl ether, Kaempferol, Rutin.. Các polyphenols,
Gai có chứa những hợp chất Arabinan-cellulose…
Đặc tính dược học:
Tác dụng trên Hệ Tiêu hóa và Chống sưng-viêm:
Pectin và Chất nhày của Opuntia có lợi cho Hệ tiêu hóa. Hoa được dùng để trị tiêu chảy, đau bụng và các triệu chứng khó chịu đường ruột. Khả năng chống ung loét bao tử đã được nghiên cứu tại Messina -Ý (Journal of Ethnopharmacology Số 76 – Jan 2001) Opuntia đã được nghiên cứu để làm nguồn cung cấp chất sơ trong dinh dưỡng.
Tác dụng trên Lipids:
Opuntia ficus-indica, khi dùng tươi có những tác dụng tốt khi thử trên chuột: những thông số về tình trạng cholesterol cao trong máu máu giảm bớt rõ rệt.
Tác dụng làm giảm hàm lượng đường trong máu:
Có nhiều nghiên cứu ghi nhận tác dụng làm hạ đường trong máu của Opuntia streptacantha nơi người và thú vật thử nghiệm. Nghiên cứu quan trọng nhất đươc công bố trên Diabetes Care Số-1990. Ngoài ra các loài Opuntia khác như O. fuliginosa và O.megacantha đều có tác dụng hạ đường, tuy nhiên O. megacantha bị ghi nhận là có tác dụng độc cho thận. Tác dụng hạ đường mạnh hơn khi dùng lá nấu sôi, sau khi dùng, tác dụng hạ đường tăng dần, lên đến điểm cao nhất sau 3-4 tiếng và có thể kéo dài hơn 6 tiếng (Liều dùng được đề nghị là 500 g lá đuun sôi, chia làm 2-3 lần trong ngày).
Hoạt tính ngoài da:
Hoa của Opuntia đã đượcc dùng làm chất gây co mạch, chất chát nơi vết thương, và giúp vết thương mau lành. Lá Nopales đã được dùng phổ biến tại Mexico để trị phỏng, phỏng nắng, ngứa…
Hoạt tính bảo vệ Hệ thần kinh:
Nghiên cứu tại Khoa Dược lực học, ĐH Y Khoa Dongguk, Kyongju (Nam Hàn) ghi nhận những flavonoids trong Opuntia ficus-indica (trích bằng ethyl acetate) có hoạt tính bảo vệ thần kinh chống lại các hư hại do oxyd hóa gây ra bởi xanthine/xanthi ne oxydase (liều IC50 =4-5 microg/ ml), ức chế được tác dụng độc hại của các gốc tự do loại picrylhydrazyl và lipid peroxidase (Brain Research Só 7 tháng 3, 2003).
Vài phương thức sử dụng trong dân gian:
Dùng làm thực phẩm:
Khi dùng làm thực phẩm, nên chọn quả mềm nhưng đừng nhụn, quả nguyên vẹn, màu xậm, không có những nấm mốc. Nếu quả còn cứng nên đẻ vài ngày ỏ nhiệt độ bình thường, chỉ để vào tủ lạnh khi quả đã mềm. Có thể ăn lạnh, thêm nước cót chanh, đường, xay nhuyễn, lược qua rây bỏ hạt… Lá hay Nopales có thể nấu sôi vài phút rồi xắt nhỏ ăn như salad hoặc chiên với cà chua.
Tại Việt Nam:
Cành (Lá) có nhựa được dùng làm thuốc chữa mụn nhọt. (Lấy một khúc lá, cạo sạch gai, giã nát với lá ớt, lá mồng tơi, rồi đắp vào mụn, hay nhọt đầu đinh).
Tại Trung Hoa:
Lá Xương Rồng bà (Tiên nhân chưởng= Xian ren zhăng) được xem lá có tính mát vị đắng có tác dụng hoạt khí hành huyết thanh nhiệt giải độc tán ứ tiêu thụng kiện vị và chỉ khái. Rễ và thân dùng trị Vị khí thống, bang, lị, ho, đau cổ họng
Ở các nước Phương Tây, hoa được nghiên cứu sâu về mặt thực vật học, sử dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm, dược phẩm…
Người phương Đông cũng quan tâm đến “khía cạnh thực dụng” của hoa. Bằng chứng là tất cả các loài hoa sử dụng để thưởng ngoạn, đều có thể dùng làm thuốc. Mặt khác, trong các vị thuốc của Đông Y, rất nhiều thứ lại chính là hoa, như “Kim ngân hoa”, “hòe hoa”, “nguyên hoa”… Vì vậy người ta mới nói hoa là thuốc, thuốc cũng là hoa.
Về “hoa và thuốc”, xin tạm quy ước: Những loại hoa thường ngày chủ yếu sử dụng để thưởng ngoạn, nhưng khi cần có thể làm thuốc, ta sẽ nói rằng “hoa là thuốc”. Còn những loài hoa, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu, nhưng cũng có hương sắc và dáng vẻ đẹp, có thể thưởng ngoạn, ta sẽ nói rằng “thuốc là hoa”.
Tết Việt Nam từ xưa đã gắn liền với hoa đào. Có điều, người chơi đào thường ít khi chú ý đến tác dụng làm thuốc. Thực ra hoa đào, lá đào, nhựa đào, rễ đào… đều có thể sử dụng làm thuốc. Hoa đào ngâm với nước uống dần, vừa có thể phòng được nhiều bệnh, vừa đẹp dung nhan. Hoa đào ngâm đường mía là một thứ thuốc tuyệt diệu, có tác dụng bổ ngũ tạng và tăng nhan sắc. Để làm giảm vết nhăn trên mặt, có thể đun nước hoa đào để rửa mặt, hoặc lấy hoa đào, nhân hạt bí đao, cùng nghiền mịn, trộn với đường mía, tối trước khi đi ngủ xoa lên mặt, mát xa nhẹ, sáng dậy rửa sạch. Hoa đào có thể chữa phù thũng, bí đại tiện, kiết lỵ…
***************
Hoa đào:
Hãy cải thiện làn da nám và tàn nhang bằng trà hoa đào. Lấy 10g hoa đào và 15 g hoa sen đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Bột thuốc hoa đào: Hoa đào, bạch dương bì mỗi thứ 30 g; đông qua nhân (nhân hạt bí đao) 40 g; tất cả sấy khô, tán mịn, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3 g với nước nhạt. Công dụng: Làm nhuận và sáng da, phòng chống vết nhăn trên da mặt
Hoặc: Hoa đào 300 g hái vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, phơi khô trong bóng râm rồi tán thành bột mịn, đựng trong bình kín, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3 g. Công dụng: Giảm béo, làm cho da mặt hồng hào, tươi tắn.
Hoặc: Hái hoa đào tươi vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, đem phơi khô trong bóng râm rồi tán thành bột mịn. Sau đó, vào ngày mùng 7 tháng 7, hòa đều bột hoa đào thành thuốc, thoa một lớp mỏng lên da mặt. Công dụng: Làm cho da dẻ mịn màng tươi sáng. Đây là phương thuốc làm đẹp bí truyền của cung đình đời Đường (Trung Quốc).
Món ăn hoa đào: Hoa đào 20 bông; tương cà chua 50 g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Hoa đào lấy cánh rửa sạch, củ cải rửa sạch thái mỏng, đổ dầu vào chảo, rồi cho củ cải vào xào to lửa, khi chín cho tương cà chua và gia vị vừa đủ, đổ ra đĩa, rắc cánh hoa đào lên trên, ăn nóng. Công dụng: tư âm bổ thận, nhuận da và dưỡng nhan sắc.
Đào nhân vị đắng, ngọt, tính bình, có tác dụng phá huyết, hành ứ, nhuận táo, hoạt trường. Lá đào vị đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, bài thấp, thanh nhiệt, sát trùng. Rễ đào vị đắng, tính bình.
Nhựa đào vị đắng ngọt, tính bình, có tác dụng làm tan kết tụ, giảm đau và lợi tiểu. Hoa đào vị đắng, tính bình, có tác dụng lợi thủy, hoạt huyết, thông tiện.
– Chữa huyết bế sau khi đẻ: Đào nhân (bỏ vỏ) 12 hạt, ngó sen 1 cái, sắc nước uống.
– Chữa bế kinh, ứ huyết đau bụng kinh: Đào nhân 6 g, đương quy 10 g, xích thược 10 g, xuyên khung 3 g, hồng hoa 5 g. Sắc nước, chia làm nhiều lần uống trong ngày.
– Chữa ngứa âm hộ: Lá đào tươi, vỏ cây xoan, hoàng bá tươi mỗi thứ 30 g, vỏ rễ lựu tươi 50 g, lá khuynh diệp tươi 25 g, hạt tiêu 20 g, đun sôi, bỏ bã, cho thêm băng phiến, dùng nước xông rửa bên ngoài và ngâm, không được uống.
– Chữa ghẻ lở: Lá đào tươi giã nát, đắp tại chỗ.
– Chữa sốt rét: Lá đào tươi 70g, sắc nước uống ngày 1 lần, dùng 5 ngày.
– Chữa mề đay: Lá đào tươi 500 g, thái nhỏ ngâm vào cồn 500 ml trong vòng 24-48 giờ, lọc bỏ bã, dùng bôi ngày 2-3 lần.
– Chữa phụ nữ nhiều năm kinh không thông, da vàng vọt, môi trắng bệch: Rễ đào 600 g, rễ ngưu bàng 600 g, rễ ma tiền thảo 600 g, ngưu tất 1.200 g, các vị chặt nhỏ, thêm 6.000 ml nước đun sôi cô đặc còn 200 ml, lọc bã. Uống trước bữa ăn với nước nóng, ngày 2 lần, mỗi lần 15 g.
– Chữa đái ra máu: Nhựa đào, thạch cao, mộc thông mỗi thứ 15 g, nghiền thành bột mịn, mỗi lần dùng 6 g, sắc với 200 ml nước còn 100 ml, uống trước bữa ăn.
– Chữa đái ra dưỡng chấp: Nhựa đào 10 g phối hợp với đường kính, đun cách thủy uống làm nhiều lần trong ngày.
– Chữa bệnh tiểu đường: Nhựa đào 20 g, tán nhỏ, uống với nước sắc địa cốt bì và râu ngô (mỗi vị 30 g).
(Sức Khỏe & Đời Sống)
***************
Có thể có sự nhầm lẫn về cây hoa mai ở Việt Nam và Trung Quốc, trong các tài liệu về y học cổ truyền có lẽ nói về cây mai bên Trung Quốc.
Tham khảo thông tin sau:
Mai có nhiều loại. Về mặt cấu trúc, mai được chia ra mai sẻ, mai châu, mai liễu, mai chùm. Dựa vào màu sắc, mai được sắp thành hoàng mai, bạch mai, thanh mai, hồng mai (2). Trong sách Cây cảnh, hoa Việt Nam (**), ông Trần Hợp kê năm loài hoa mai thuộc ba họ. Cây mai tứ quý tức mai đỏ Ochna atropurpurea DC, cây huỳnh mai tức mai vàng O. integerrima (Lour.) Merr. (còn có tên O. harmandii H. Lec) và cây mai vàng thơm Ouratea lobopetala Gagnep. thuộc họ Mai tức Lão mai Ochnaceae. Cây mai chấm thủy Wrightia religiosa (Teijeims. et Binn.) Hook.f., hoa màu trắng xoè rất thơm, chủng lá nhỏ trồng làm cảnh trong chậu gọi là cẩm mai, thuộc họ Trúc đào Apocynaceae. Còn cây mai gốc Nhật Prunus mume Sieb. et Zucc. (hay Armaniaca mume Sieb.) thì thuộc họ Hoa hồng Rosaceae. Cây nầy rất phổ biến ở Á Đông. Bên Nhật Bản gọi cây là ume, từ đấy có tên nước umeshu, dưa umeboshi.
Người Trung Quốc có tên mei tương tự mai của ta, và rễ cây yemeigen.
Tên cây mai nầy bên Hàn Quốc là maesil. Anh Mỹ có danh từ Japanese apricot. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ (***), ngoài ba cây mai vàng O. integerrima, mai đỏ O. atropurpurea và mai chấm thủy Wrightia religiosa, ở Việt Nam còn có bốn cây: mai cánh lõm Gomphia serrata (Gaertn.) Kanis, mai sọc G. striata (V. Tiegh.) C.F. Wie, mai mù u tức bạch mai Ochrocarpus siamensis var. odoratissimus Pierre và mao lai Bon Sinosideroxylon bonii Anbr. đều thuộc họ Mai Ochnaceae. Ở Huế, những cây thuộc họ Mai, ngành Thực vật có hoa Anthophyta, chỉ thu thập và định danh được ba loài mai vàng O.integerrima (với hai biến dạng: mao hồng diệp và mai trắng), mai tứ quý O. atropurpura và mai núi Indosinia involucrata (Gagnep.) Vid. (1).
***************
Những bài thuốc quý từ cây sen:
Trong thiên nhiên, có lẽ ít có loài thực vật nào như cây sen mà toàn bộ các bộ phận của cây đều được sử dụng làm thuốc chữa bệnh theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Hải Thượng Lãn Ông đã viết về cây sen như sau: “Cây mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm mùi bùn, đượm khí thơm trong lành của trời đất, nên củ, lá, hoa, tua, vỏ quả, ruột đều là thuốc hay”.
Ngó sen: Có tên thuốc là liên ngẫu, vị ngọt, hơi sít, tính mát, không độc, để sống thì hàn, nấu chín thì ôn, có tác dụng cầm máu, điều kinh, bổ huyết, giải độc. Dùng riêng, khi bị chảy máu cam, lấy ngó sen tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống và nhỏ vào lỗ mũi. Ngó sen phơi khô, 6-12g, sắc uống là thuốc giải độc nước. Dùng phối hợp để chữa các bệnh như sau:
Chữa ho ra máu: Ngó sen 20g, bách hợp hoặc lá trắc bá 20g, cỏ nhọ nồi 10g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa băng huyết: Ngó sen sao, tam lăng, nga truật, huyết dụ, bồ hoàng, mỗi vị 8g; bách thảo sương 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa tiểu tiện ra máu: Ngó sen 12g, sinh địa 20g, hoạt thạch 16g; tiểu kê, mộc thông, bồ hoàng, đạm trúc diệp, sơn chi tử, mỗi vị 12g; chích cam thảo, đương quy, mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.
Đốt ngó sen, tên thuốc là ngẫu tiết, cũng được dùng như ngó sen.
– Lá sen: Chỉ dùng lá non (loại lá còn cuộn lại chưa mở càng tốt) và lá bánh tẻ. Dùng tươi hay phơi khô. Trong y học cổ truyền, lá sen được dùng với tên thuốc lá liên diệp hoặc hà diệp, có vị đắng, hơi chát, mùi thơm nhẹ, tính mát bình, không độc, có tác dụng giải nhiệt, cầm máu, an thần, lợi thấp.
Chữa sốt, miệng khô khát: Lá sen non 50-100g, rửa sạch, thái nhỏ, ép lấy nước uống làm nhiều lần trong ngày.
Chữa mất ngủ: Lá sen loại bánh tẻ 20-30g rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, hãm hoặc sắc uống. Có thể chế biến thành cao rồi làm viên.
Chữa băng huyết, chảy máu cam, tiêu chảy ra máu: Lá sen tươi 40g, rau má sao 12g, thái nhỏ, sắc uống làm hai lần trong ngày.
– Hoa sen: Dùng loại hoa mới nở, bứt từng cánh, phơi nắng nhẹ cho khô để bảo đảm mùi thơm và phẩm chất. Dược liệu, tên thuốc là liên hoa, chứa tanin và tinh dầu, có vị ngọt, đắng, tính ấm, có tác dụng an thần, cầm máu, chống viêm, trừ thấp. Dùng riêng, cánh hoa sen phơi khô, 3-5g, hãm với nước sôi hoặc sắc uống chữa nôn ra máu, rong kinh, trĩ ra máu. Dùng phối hợp, cánh hoa sen 100g, rễ bạch chỉ 100g, thái thật nhỏ, phơi khô, trộn đều, quấn như điếu thuốc lá rồi hút, hít và thở qua đường mũi để chữa viêm xoang, ngạt mũi, chảy nhiều nước mũi. Phụ nữ thường làm đẹp nhan sắc, da dẻ mịn màng bằng cánh hoa sen, ngó sen và hạt sen, lượng mỗi thứ bằng nhau, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, uống mỗi lần 8g, ngày 2-3 lần.
– Tua sen: Lá nhị của hoa sen, thu hoạch khi hoa đã nở, bỏ hạt gạo ở đầu rồi phơi hoặc sấy khô. Tua sen có tên thuốc là liên tu, có vị chát, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng ích thận, cố tinh, thanh tâm, chỉ huyết, chữa di mộng tinh, băng huyết, thổ huyết, mất ngủ, đái són, bạch đới. Ngày dùng 5-10g, sắc uống.
– Quả sen: Thu hoạch khi quả đã chín già với thể chất mập, chắc. Nếu để nguyên vỏ ngoài thì được liên thạch, bóc bỏ vỏ là liên nhục (thường gọi là hạt sen).
Dược liệu có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ, dưỡng tâm, cố tinh, chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, mất ngủ, kiết lỵ, di mộng tinh, khí hư. Ngày dùng 12-20g, có thể đến 100g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
– Tâm sen: Là lá mầm màu lục sẫm nằm ở phần trong của quả sen. Dược liệu có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng an thần, thanh tâm, điều nhiệt, chữa mất ngủ, tâm phiền, khát nước, thổ huyết. Liều dùng hằng ngày 4-8g dưới dạng thuốc sắc, hãm hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa suy nhược cơ thể ở người bị viêm phế quản mạn tính, lao: Tâm sen 10g; đan bì, ý dĩ, sinh địa, bạch thược, đảng sâm, mỗi vị 12g; quy bản, mạch môn, ngũ vị tử, mỗi vị 10g; trần bì, chích cam thảo, mỗi vị 6g; đại táo 4 quả. Sắc uống ngày một thang.
Chữa đái tháo đường: Tâm sen 8g; thạch cao 20g; sa sâm, thiên môn, mạch môn, hoài sơn, bạch biển đậu, ý dĩ, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
– Gương sen: Lá đế của hoa sen phát triển mang quả. Chỉ dùng gương đã gỡ hết quả già. Dược liệu có tên thuốc là liên phòng, dùng sống hoặc sao cháy tồn tính, có vị đắng, chát, tính ấm, không độc, có tác dụng cầm máu.
Chữa băng huyết: Gương sen và kinh giới tuệ với lượng bằng nhau, đốt tồn tính, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước cơm hay nước cháo (Nam dược thần hiệu). Hoặc gương sen 30g, cau điếc 40g. Hai thứ cắt nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa rong huyết: Gương sen 20g, sao cháy tồn tính; kinh giới tuệ 20g, sao đen; ngải cứu 12g, sao đen; cỏ nhọ nồi 12, để tươi; rau má 20g, để tươi; bách thảo sương 12. Sắc uống trong ngày.
Chữa đi ngoài ra máu: Gương sen, cỏ seo gà, vỏ cây vải, tinh tre, hồng hoa, mỗi vị 20g; vỏ bưởi (bỏ cùi trắng) 15g; cỏ bấc 8g; mộc thông 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với nước, cô còn 50ml, hòa nửa chén đường mía vào, uống lúc đói (Nam dược thần hiệu).
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống).
Hạt sen – liên nhục, liên tử – là vị thuốc quý, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng. Một số bài thuốc với hạt sen là:
– Chữa di tinh, hoạt tinh, di niệu: bài Cố tinh hoàn, gồm liên nhục 2 kg, liên tu 1 kg, hoài sơn 2 kg, sừng nai 1 kg, khiếm thực 0,5 kg, kim anh 0,5 kg. Các vị tán thành bột, riêng kim anh nấu cao, làm thành viên hoàn, ngày uống 10-20 g.
– Chữa tiêu chảy mãn tính: gồm liên nhục 12 g, đảng sâm 12 g, hoàng liên 5 g. Các vị sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10 g.
– Chữa mất ngủ do tâm hỏa vượng: bài Táo nhân thang, gồm táo nhân 10 g, viễn trí 10 g, liên tử 10 g, phục thần 10 g, phục linh 10 g, hoàng kỳ 10 g, đảng sâm 10 g, trần bì 5 g, cam thảo 4 g. Tất cả sắc uống ngày 1 thang.
Tâm sen – liên tử tâm: vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền, chỉ huyết sáp tinh, dùng để an thần, trị sốt cao mê sảng, hồi hộp tim đập nhanh, huyết áp cao. Tâm sen thường được phối hợp với cúc hoa, hoa hòe, hạt muồng… pha trà uống để dễ ngủ, hạ áp. Liều dùng 1,5-3 g.
Tua sen – liên tu: vị ngọt sáp, tính bình, tác dụng thanh tâm cố thận, sáp tinh chỉ huyết, dùng riêng hoặc phối hợp với hạt sen. Liều thường dùng 1,5-5 g.
Gương sen – liên phòng: vị đắng sáp, tính ôn, có tác dụng tiêu ứ chỉ huyết, dùng trị các chứng băng lậu ra máu, tiểu ra máu… Gương sen thường dùng để cầm máu bằng cách đốt thành than rồi phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng 5-10 g.
Lá sen – hà diệp, ngẫu diệp: vị đắng sáp, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết, dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Lá sen đã được ứng dụng nhiều năm chữa sốt xuất huyết thể nhẹ. Một số bài thuốc khác với lá sen:
– Chữa sốt cao nôn ra máu, chảy máu cam: bài Tứ sinh thang, gồm sinh địa tươi 24 g, trắc bá diệp tươi 12 g, lá sen tươi 12 g, ngải cứu tươi 8 g. Các vị nấu lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
– Trị béo phì, hạ cholesterol máu cao: đây là công dụng mới được phát hiện của lá sen. Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen, song có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá.
Ngó sen – ngẫu tiết: là một món ăn ngon và dùng trị các chứng đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết kéo dài, khí hư bạch đới, tiêu chảy kéo dài. Liều dùng 6-12 g.
Bác sĩ Quan Thế Dân, Sức Khỏe & Đời Sống
***************
Hoa Thiên Lý:
Hoa thiên lý còn gọi là dạ lý hương, dạ lài hương. Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong hoa thiên lý như chất xơ là 3%, chất đạm 2,8%, và gồm chất bột đường, các vitamin như C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như calcium, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao, vì vậy cây thiên lý cả lá non, ngọn và hoa đều là thực phẩm quý có tác dụng bổ dưỡng giúp trẻ chóng lớn, lại giúp người già giảm được chứng phì đại tuyến tiền liệt, làm tăng cường sức đề kháng cho người sử dụng.
Ngoài ra sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam giới do nhiễm chì bởi thường xuyên tiếp xúc với vật liệu chứa chì như ắc quy, mực in, xăng pha chì, các động cơ có chì…
Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm, thận, bớt đi đái đêm, đỡ mệt mỏi đau lưng, có tính chống viêm và làm tan màng mộng, thúc đẩy chóng lên da non, được sử dụng trị liệu trong các chứng như viêm kết mạc cấp và mạn, viêm giác mạc và mờ đục màng mắt, viêm kết mạc do sởi, trị giun kim.
Sau đây xin giới thiệu cụ thể các phương thuốc từ cây hoa lý để có thể tự chọn lựa sử dụng sao cho phù hợp và hiệu quả.
– Phòng rôm sảy ngày hè: Hằng ngày nấu canh hoa thiên lý ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm.
– Trị giun kim: Lấy lá thiên lý non nấu canh cho trẻ ăn liền từ 7-10 ngày sẽ hiệu quả.
– Chữa lòi dom, sa dạ con: Lấy 1 nắm lá thiên lý rửa sạch, giã nát cho vào 5% muối ăn, vắt lấy nước cốt tẩm vào bông rịt vào hậu môn, hay âm hộ ngày thay 1-2 lần, sử dụng liền 5-7 ngày sẽ có tác dụng co dần phần dom hay dạ con lòi ra.
– Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hằng ngày lấy hoa thiên lý xào chấm với muối vừng ăn sẽ tác dụng.
– Làm thư giãn sau các buổi làm việc căng thẳng, người khoan khoái, ngủ dễ ngon giấc, đỡ mệt mỏi, giảm tiểu đêm: Hằng ngày lấy hoa thiên lý nấu canh ăn.
– Chữa đinh nhọt: Lấy lá cây thiên lý 30-50g giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi.
– Chữa đái buốt, đái ra máu, đái dắt, cặn trắng: Lấy rễ cây thiên lý từ 10-20g, sắc lấy nước uống 2-3 lần trong ngày.
Chú ý: Không ăn chung hoặc xào nấu cùng thiên lý với các thức ăn giàu chất sắt như gan, tiết, thịt nạc lợn, rau muống… vì chất sắt (Fe) có trong các loại thực phẩm này sẽ đẩy kẽm (Zn) ra khỏi cơ thể.
(BS. Hoàng Xuân Đại – Sức Khoẻ & Đời Sống)
Hoa thiên lý – món ăn – bài thuốc Ở nông thôn nước ta, nhiều nhà có giàn thiên lý. Đây là loại cây dây leo, tên khoa học là Telosma cordata (Burm.f.Merr.) thuộc họ thiên lý, có những lá xanh hình trứng đầu nhọn, mép hơi cong.
Hoa thiên lý mọc thành chùm xim ở kẽ lá, màu xanh dịu, toả hương thơm nhẹ nhàng. Điều rất đáng quý là cây hoa giản dị này còn là một cây thuốc. Từ lâu đời nhân dân ta đã dùng hoa và lá thiên lý làm thuốc.
Bát canh nấu bằng hoa và lá thiên lý non không những có giá trị dinh dưỡng mà còn được coi là một bài thuốc mát và bổ, trừ được giun kim. Có thể nấu canh thiên lý suông nấu đều ngon.
Canh giò sống hoa thiên lý:
Đây là một món ăn ngon và bổ, rất thích hợp trong những bữa cơm mùa hè của chúng ta. Cách chế biến cũng đơn giản, tốt nhất là nấu với nước xương hầm, khi nước sôi cho giò sống vào, đợi giò nổi lên là chín, cho tiếp hoa thiên lý rồi cho gia vị (mắm, muối, hạt tiêu…) đủ dùng.
Canh này ăn ngọt, giàu chất dinh dưỡng, có mùi thơm hoa thiên lý rất quyến rũ, đồng thời được coi là một bài thuốc mát, giải nhiệt, tẩy giun kim thông dụng.
Canh hoa thiên lý:
Cách làm: nấu cũng giống các loại canh khác, chỉ thay các loại rau thông thường bằng hoa thiên lý. Đun canh sôi, rồi thả hoa thiên lý vào, đun sôi lại, cho gia vị đủ dùng.
Canh này ăn ngon ngọt, có mùi thơm đặc trưng của hoa thiên lý và cũng có tác dụng chữa bệnh như trên.
Trên đây là mấy món canh ngon, đồng thời cũng là những bài thuốc mát, bổ, có tác dụng giải nhiệt và trừ giun kim.
Ngoài giá trị làm thức ăn và làm thuốc nói trên, gần đây người ta còn nghiên cứu dùng lá thiên lý chữa trĩ (lòi dom) có kết quả tốt.
Cách dùng như sau: Lấy 100g lá thiên lý non và bánh tẻ, rửa sạch, giã nhỏ với 5g muối ăn, thêm 30ml nước cất, lọc qua gạc sạch. Rửa sạch chỗ lòi dom bằng nước pha thuốc tím, lấy bông tẩm nước thiên lý đắp lên, băng như đóng khố. Ngày làm 1-2 lần. Thường chỉ chữa 4-5 ngày như trên sẽ thấy kết quả tốt.
(Theo Văn hóa nghệ thuật ăn uống)
***************
Hoa Ngâu:
Không chỉ dùng để ướp trà, hoa ngâu còn là một vị thuốc. Ngoài tác dụng nổi bật là chữa cao huyết áp, hoa ngâu còn giúp làm tỉnh nước, chữa bế kinh, giúp tỉnh táo đầu óc… Không dùng cho phụ nữ có thai.
Hoa ngâu nhỏ, màu vàng, mọc thành chùm ở kẽ lá, rất thơm, thường được dùng để ướp trà và làm vị thuốc, mùa hoa vào tháng 7, tháng 8. Hoa ngâu có vị cay ngọt, giúp giải uất kết, làm thư giãn bên trong người, giúp tỉnh nước, sạch phổi, tỉnh táo đầu óc, sáng mắt, ngưng phiền khát. Nó được dùng chữa chứng đầy trướng khó chịu ở ngực, chứng nghẹn hơi mới phát, chữa ho hen và váng đầu, nhọt độc.
Chữa tăng huyết áp: Hoa ngâu 10 g, hoa cúc 30 g. Hai thứ gộp chung, chia làm 3 phần bằng nhau. Khi dùng cho một phần vào tách, rót nước sôi già ngâm, để nguội uống. Uống hết 3 phần thuốc đó trong một ngày.
Chữa chứng bế kinh: Hoa ngâu 10 g, nước 50 g. Cho hoa vào nước, thêm vào chút nước, nấu cách thủy đến khi hoa chín nhừ, để nguội uống. Uống trước ngày có kinh 3 ngày, uống liền trong 5 ngày, ngày uống 1 lần.
Chữa chứng thương tích do vấp ngã, bị đòn: Hoa ngâu, lá ngâu mỗi thứ 50 g. Gộp chung cả hai thứ, cho vào một lượng nước vừa phải nấu chín, chắt lấy nước, đổ nước vào nấu tiếp, nấu đủ 3 lần, gộp chung nước thuốc chắt 3 lần, trước tiên nấu bằng lửa mạnh (vũ hỏa), sau nấu bằng lửa yếu (văn hỏa) thành cao. Mỗi lần dùng, quết một ít cao này lên vải lụa mỏng đắp vào chỗ vết thương sưng đau, ngày đắp thuốc cao này một lần.
Chữa chứng say nước: Hoa ngâu, hoa sắn dây (cát hoa) mỗi thứ 10 g. Gộp chung cả hai thứ vào ly, rót nước sôi già vào ngâm uống.
Ngoài ra nhân dân còn dùng hoa ngâu để ướp trà, uống rất thơm và mát.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Đây là loài cây cho hoa nhỏ mầu vàng, rất thơm, cây có thể sống lâu năm và cao tới 4 – 7m. Cây ngâu thường được dùng ướp trà, hoa và lá ngâu còn dùng để chữa sốt vàng da, hen xuyễn rất tốt, mỗi ngày có thể dùng tới 10 – 16g (hoa và lá) dưới dạng thuốc sắc. Lá ngâu tươi còn dùng đê nấu nước tắm trị bệnh ghẻ rất công hiệu.
(Theo tạp chí nông thôn Việt nam)
***************
Hoa Lài (Nhài)
Nếu bạn bị mất ngủ kéo dài, hãy lấy rễ hoa nhài 100-200 g, ngâm trong 1 lít nước trắng 35-40 độ. Mỗi ngày uống 10-20 ml trước khi đi ngủ. Nếu không uống được nước, có thể dùng rễ nhài hãm uống thay trà.
Hoa nhài là cây thân gỗ, thường mọc thành bụi, lá bóng cả hai mặt, phiến lá hình bầu dục hơi trái xoan, mọc đối. Hoa trắng, mọc thành cụm ở nách lá hay ngọn cây
Một số bài thuốc Nam thường dùng:
– Chữa ngoại cảm, phát sốt: Hoa nhài 4 g, chè xanh 10 g, thảo quả 3 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
– Chữa tiêu chảy: Hoa nhài 6 g, vỏ ổi dộp 8 g, thảo quả 3 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày. Hoặc hoa nhài 10 g, vỏ quả lựu 10 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
– Chữa mất ngủ: Hoa nhài 10 g, tâm sen 10 g, hạt muồng (quyết minh tử) 12 g (sao đen). Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống 3-5 ngày liên tục.
– Chữa nhức đầu, hoa mắt chóng mặt: Hoa nhài 6 g, hoa cúc vàng (kim cúc) 6 g. Hãm uống thay chè.
– Chữa tăng huyết áp: Hoa nhài 10 g, hoa hòe 10 g, kim cúc 6 g, hoa đại 6 g. Sắc uống ngày một thang.
– Chữa rôm sảy: Lá nhài 50 g, lá ngải cứu 30 g, lá sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày.
– Chữa mụn nhọt: Hoa nhài 10 g, bồ công anh 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.
– Chữa sưng đau do chấn thương: Rễ hoa nhài 12 g, lá thanh táo 12 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
(BS Quang Minh, Sức Khỏe & Đời Sống)
Hoa nhài khi nấu canh cùng mộc nhĩ sẽ trở thành món ăn bổ tỳ, ích phế, chữa ho: Cánh hoa nhài 24 g, rửa sạch, để khô, mộc nhĩ trắng 15 g, ngâm với nước nóng, rửa sạch, cắt bỏ cuống, thái nhỏ. Nước (một bát) đun sôi, ít muối và gia vị đủ đậm rồi cho mộc nhĩ vào nấu chín. Đổ ra bát rắc cánh hoa nhài lên mặt canh trộn đều, ăn trong ngày.
(Nguồn: Sức Khỏe & Đời Sống)
***************
Sơn tra – Bắc sơn tra
Dã sơn tra – Nam sơn tra
Y học cổ truyền có một số bài thuốc độc đáo giúp giảm tình trạng thừa cân béo phì bằng các loài hoa quanh nhà, quanh vườn, chẳng hạn như hoa Cúc, hoa Hồng, hoa Nhài, hoa Chanh…
– Hoa Hồng, hoa Nhài, hoa Chanh (có thể dùng hoa Cam, hoa Quýt, hoa Quất thay thế), lá Sen, Xuyên khung mỗi vị 10g, sắc uống mỗi ngày một thang. Cũng có thể hãm uống thay trà. Rất thích hợp cho những người béo phì có rối loạn lipid máu.
– Cúc hoa 6g, Sơn tra 15g, Thảo quyết minh (sao thơm) 15g. Các vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những phụ nữ béo phì kèm theo các triệu chứng ngực sườn đầy tức, bụng chướng, kinh nguyệt không đều, có thể bế kinh, ngủ kém hay mê mộng, miệng đắng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn…
– Kim ngân hoa, Cúc hoa, Sơn tra mỗi vị 10g. Các vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu thuộc thể vị nhiệt thấp trở, biểu hiện bằng các triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, nặng đầu, tay chân buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống nước mát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.
– Súp lơ 350g, Tôm nõn (đã chín) 25g, Gừng tươi thái chỉ, muối, gia vị, mì chính, giấm gạo và dầu thực vật cho vừa đủ. Súp lơ rửa sạch thái miếng, chần qua nước sôi, để ráo nước rồi đem trộn với muối, mì chính, giấm chua thành dạng dưa góp, sau chừng nửa giờ là ăn được. Khi ăn cho thêm một chút dầu thực vật lên trên.
Công dụng: Tư âm dưỡng huyết, hạ mỡ máu và giảm béo phì.
– Hoa tam thất, Hoè hoa, Cúc hoa mỗi vị 10g. Ba loại hoa đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 – 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu, hay đau đầu, hoa mắt chóng mặt, mặt đỏ, dễ cáu giận, thích uống nước mát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ.
– Dã cúc hoa 15g, Hà diệp (lá Sen) 20g. Hai thứ đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người thừa cân và béo phì có kèm tăng huyết áp.
– Hoa Sơn tra, lá Sơn tra mỗi vị 6g. Hai thứ đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hạ huyết áp, giảm mỡ máu, phòng chống thừa cân và béo phì.
(Theo Sức khoẻ & Đời sống)
***************
Nguy cơ ngộ độc do thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích… ngày càng nhiều, người tiêu dùng đang phải tìm cách tự vệ. Ở Hà Nội, phong trào trồng rau mầm tại nhà đang nở rộ giúp tiết kiệm trong thời buổi bão giá, vừa an toàn cho bữa ăn vừa giúp nhiều người bệnh duy trì cuộc sống.
Rau mầm làm từ hạt đậu đỏ, đậu tương và hạt cải củ:
Hiện nay Hà Nội có khoảng 10 siêu thị bán các loại rau mầm: cải củ, cải ngọt, bông cải xanh… Một phần không nhỏ sản phẩm tại các siêu thị trên có xuất xứ từ trang trại ở Lương Sơn – Hòa Bình của hai chị em bà Đặng Phương Trâm và Đặng Kim Trâm (em của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm).
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, rau mầm là một trong những món ăn bổ dưỡng nhất và hoàn thiện nhất đối với sức khỏe con người. Sự nảy mầm làm tăng hàm lượng enzyme trong rau cao hơn 43 lần so với thức ăn bình thường. Quá trình nảy mầm dưới tác dụng của ánh sáng sẽ tạo chất diệp lục. Chất này giúp cơ thể khắc phục hiện tượng thiếu protein trong bệnh thiếu máu. Sử dụng rau mầm trong bữa ăn hằng ngày, cơ thể chúng ta sẽ được cung cấp lượng vitamin C, caroten A, vitamin B… rất dồi dào, có lợi cho sức khỏe.
Rau mầm – sản phẩm “quí tộc”
Rau mầm có thể trồng ngay ở bancông, hành lang hay góc trống trong nhà, vì thế rất phù hợp với điều kiện sinh sống ở đô thị. Do là loại rau bổ dưỡng và an toàn nên giá của rau mầm đang ở hàng “quí tộc”. Tại các siêu thị, giá của rau mầm 30.000-90.000đ/kg. Với đại đa số người dân, việc mua rau sạch giá cao như trên là một điều không tưởng. Tuy nhiên, trồng rau mầm rất đơn giản, vì vậy giờ đi trên đường phố Hà Nội có thể thấy nhiều nhà có những thùng xốp con con, bên trong xanh um rau mầm.
Tại nhà ông Nguyễn Văn Khởi ở phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, cả sân thượng chừng 5m2 trước là chậu cảnh, nay được biến thành thế giới của rau mầm. Từng là cán bộ công tác tại Trường ĐH Nông nghiệp, khi về hưu ông thử nghiệm trồng rau mầm. Ban đầu ông trồng đủ loại rau mầm: rau vừng, rau muống, cải ngọt, mầm lạc, mầm đỗ tương, đỗ đỏ… Đến nay chỉ với một diện tích khiêm tốn nhưng mỗi tuần ông Khởi cũng thu hoạch khoảng 10kg rau mầm, toàn bộ đã được đặt hàng để cung cấp cho khách sạn Daewoo.
Chị Bùi Thị Phương, 50 tuổi, ở khu đô thị Mỹ Đình 2 – người trồng rau mầm khá sớm – cho biết: “Nhà tôi ở tầng cao chỉ có bancông chừng 2m2, vừa đủ chỗ đặt hai khay rau. Đầu tuần nào tôi cũng gieo hạt để cuối tuần thu hoạch, cải thiện bữa ăn cho cả gia đình. Cách trồng rất đơn giản: chỉ cần mua hạt, ngâm khoảng năm giờ rồi trải hạt lên một tấm vải, ngày vẩy nước 2-3 lần. Ban đầu đậy kín, chỉ ba ngày rau mầm cao 4-5cm thì thi thoảng mở ra lấy nắng. Thường sau năm ngày là ăn được”… Thích rau gì được rau đó – đó là cái thú và cũng là niềm vui rau mầm đem lại cho người
Rau mầm giúp người chạy thận:
Anh Phương giới thiệu với hàng xóm về rau mầm.
Nhiều năm qua, hơn 50 bệnh nhân chạy thận nhân tạo ở trọ tại khu nhà tôn phường Phương Mai sống lay lắt không kế sinh nhai, nhiều người phải bán gia sản tổ tiên để lấy tiền chữa bệnh. 50% số họ là những người trong độ tuổi lao động nhưng chẳng thể làm gì để sinh sống. Họ tìm việc khắp nơi, kẻ nhặt ve chai người đi bán nước… Nhiều người ngất lịm bên vệ đường vì tai biến. Điều mà những bệnh nhân chạy thận luôn trăn trở là có một công việc phù hợp với sức khỏe để giúp họ tự nuôi sống bản thân và chữa bệnh lâu dài.
Được sự giúp đỡ của các cán bộ Trung tâm khuyến nông Hà Nội, hội “Bồ đề chạy thận” đã học cách trồng rau mầm. “Ăn loại rau này chúng tôi thấy khỏe hơn và quan trọng là có thêm thu nhập để tiếp tục chiến đấu với bệnh tật – ông Trần Văn Tặng – hội trưởng hội “Bồ đề chạy thận” – nói và chia sẻ: Cách trồng đơn giản, chỉ phải tưới nước kịp thời. Lứa rau đầu tiên thành công được bán hết ngay trong buổi chiều. Chúng tôi mừng quá, ươm ngay những giá rau mầm mới và cũng bán hết… Một quầy bán rau mầm của hội chạy thận nhân tạo đã xuất hiện tại cổng công viên Lênin.
Theo ông Nguyễn Văn Khởi, gia đình nào cũng có thể trồng rau mầm vì chỉ cần 3 thùng xốp đặt góc bếp, khéo chăm mỗi tuần đã có 3-4 ngày được ăn rau mầm. Nên ưu tiên trồng rau mầm từ các loại hạt: đỗ, vừng, lạc… vì rất ngon, có vị thơm và béo, có giá trị dinh dưỡng rất cao, đặc biệt tốt cho sức khỏe. Sản xuất rau mầm là một phương án kinh tế phù hợp với điều kiện của những người dân ngoại thành Hà Nội hiện nay, khi diện tích đất nông nghiệp đang ngày một thu hẹp.
C.V.KÌNH – T.T.HƯƠNG – tuoitre
***************
Bất kỳ một người phụ nữ nông dân Việt Nam nào đến tuổi lấy chồng cũng đều được thế hệ đi trước dặn dò là đừng ăn đu đủ xanh (non). Bài viết này nhằm tổng quan những kiến thức y học hiện đại về vấn đề trên, và xem xét niềm tin trong dân gian về mối liên hệ của đu đủ đến thai nghén là có cơ sở khoa học hay không.
Sinh học quả đu đủ:
Đu đủ là một loại trái cây nhiệt đới, được trồng nhiều ở các nước Nam Mỹ, châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á. Nói đến cây và trái đu đủ thì mọi người Việt Nam ai cũng hình dung được. Trái đu đủ gắn liền với đời sống người dân Việt Nam từ thuở ấu thơ, trái chín để ăn, trái xanh để làm gỏi đu đủ, nấu canh; trẻ con dùng cọng (cuống lá) đu đủ làm súng đồ chơi, tán lá đu đủ làm dù che.
Về mặt dinh dưỡng đu đủ là loại trái cây có đủ chất sắt (Fe) và calcium, khá giàu vitamin A, B, G và rất giàu vitamin C. Tuy là một loại trái cây có giá trị dinh dưỡng, nhưng theo kinh nghiệm dân gian đu đủ được xếp vào nhóm thức ăn tự nhiên “không lành” với sản phụ.
Tác dụng của đu đủ:
Ở Trung Mỹ, trong dân gian, người ta sử dụng đu đủ để điều trị bệnh lỵ amip (Entamoeba histolytica), một loại ký sinh trùng gây tiêu chảy dạng lỵ và biến chứng áp xe gan. Ở Samoa, người dân dùng phần dưới vỏ thân cây đu đủ để chữa chứng nhức răng. Nhựa đu đủ có chứa papain là một trong hai loại men tiêu hủy protein (proteolytic enzym) có tác dụng làm mềm thịt bắp. Phần cơm của đu đủ là thành phần chính của các loại mỹ phẩm như kem nền (mặt), kem đánh răng, dầu gội đầu.
Các ứng dụng quan trọng trong y học của nhựa đu đủ là chiết xuất papain để dùng trong phẫu thuật cột sống (là một loại “dao phẫu thuật tự nhiên” để mở đĩa đệm). Nghiên cứu còn cho thấy chiết xuất papain còn có hoạt tính kháng sinh (antibiotic activity) có tác dụng chống vi khuẩn gram dương (gram-positive bacteria). Nó còn được dùng để điều trị lở loét, làm tiêu giả mạc trong bệnh bạch hầu, chống kết dính sau phẫu thuật, thuốc giúp tiêu hóa. Trong công nghiệp papain được dùng để tinh chế, xử lý len và lụa trước khi nhuộm, là phụ gia trong công nghệ chế biến cao su; khi tinh chế người ta tiêm papain vào trước khi chiết xuất, làm cho thành phẩm giàu vitamin A và D hơn. Khoảng 1.500 trái đu đủ xanh cỡ vừa cho được khoảng 650 gram papain.
Tác hại được cho là nguy hiểm nhất của đu đủ, mà hầu như kinh nghiệm truyền thống của nhiều nước đã đúc kết, đó là mối liên quan giữa đu đủ xanh với sinh sản và thai nghén.
Đã từ lâu đời người Ấn Độ đã sử dụng đu đủ xanh (non) cũng như hạt đu đủ để tránh thai, không những ở phụ nữ mà còn ở cả nam giới. Hàng hàng thế hệ phụ nữ châu Phi, Á, và Mỹ đã sử dụng đu đủ như một loại thuốc tránh thai, trong ngày quan hệ tình dục người phụ nữ thường ăn đu đủ vì cho rằng nó có thể ngừa đậu thai.
Ở Ấn Độ có khá nhiều các nghiên cứu về thái độ và thực hành (attitude and behaviour) ăn uống trong thai nghén, khi phỏng vấn các đối tượng, đu đủ là thành phần được nhắc đến nhiều nhất. Một nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trên 1.106 phụ nữ có thai và cho con bú ở 44 làng vào những năm 70, 72% cho biết họ tin rằng đu đủ là thức ăn “nóng”, có hại cho thai nghén. Các nghiên cứu khác tương tự trên số đông phụ nữ (từ 500 đến 1.200), khi phỏng vấn họ cho rằng đu đủ có tác động gây sẩy thai, và trong một nghiên cứu cho thấy 35% số người mẹ tránh không ăn đu đủ trong kỳ thai nghén. Ở Ấn Độ, muốn gây sẩy thai, người ta cho ăn đu đủ non hoặc dùng rễ cây đu đủ nghiền nát, thêm ít muối và cho uống.
Bằng chứng khoa học về mối liên quan giữa đu đủ với sinh sản và thai nghén:
Đứng về mặt bằng chứng khoa học, loại bằng chứng trực tiếp không thể thực hiện được đối với loại các chất nghi ngờ là có hại cho con người, do đó chỉ có thể nghiên cứu được những bằng chứng gián tiếp. Những bằng chứng gián tiếp này có thể là in vitro (nghiên cứu phòng thí nghiệm) hoặc in vivo (nghiên cứu trên sinh vật, cụ thể ở đây là động vật thực nghiệm). Nếu các kết quả ủng hộ giả thuyết thì chúng ta có thể suy luận chất nghi ngờ đó có thể có tác động lên cơ thể con người. Cũng có thể tìm mối tương quan này trên con người bằng nghiên cứu quan sát (observation), định hướng (prospective) hoặc hồi cứu (retrospective), loại nghiên cứu có đối chứng (case-control).
Trong những năm qua có hàng trăm bài báo khoa học viết về tác dụng y học của cây đu đủ trên nhiều mặt được ấn hành, trong số đó có nhiều bài liên quan đến tác động của đu đủ lên sinh sản và thai nghén. Những nghiên cứu này hầu hết là những nghiên cứu tiến hành trên động vật thực nghiệm và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Các kết quả được tóm tắt như sau:
Tác dụng tránh thai của trái đu đủ:
Một điều ngạc nhiên là trái đu đủ có thể có tác dụng phòng tránh thai không chỉ trên phụ nữ mà còn cả trên nam giới.
Năm 1993, một nhóm khoa học gia Anh Quốc thuộc Viện đại học Sussex tìm thấy papain có tác dụng làm ngăn cản quá trình thụ thai ở phụ nữ. Qua kết quả nghiên cứu họ đưa ra hai thuyết về tác dụng ngừa thai của trái đu đủ: chất papain trong đu đủ có tác dụng ức chế hormon (nội tiết tố) progesteron và làm ngăn cản quá trình thụ thai, thứ hai là chính tác dụng làm mềm thịt của papain này có thể phá hủy màng tế bào phôi thai. Phụ nữ ở Sri Lanka muốn tránh thai, chỉ đơn giản là họ ăn đu đủ hàng ngày, và khi muốn đậu thai thì chỉ việc dừng ăn đu đủ!
Trong kinh nghiệm dân gian ở một số nước châu Á cho thấy, không chỉ ở phụ nữ, mà nam giới nếu ăn đu đủ một thời gian dài cũng có khả năng tránh thai. Các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cũng cho các kết quả lý thú. Hạt đu đủ đã được chứng minh là có hiệu quả tránh thai trên nam giới. Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột và thỏ cho thấy các thành phần chiết xuất từ chloroform có trong hạt đu đủ có tác dụng tránh thụ thai có thể phục hồi được (reversible) trên chuột và thỏ đực mà không có độc tính. Thử nghiệm trên các chất chiết xuất từ hạt đu đủ cho thấy chúng có khả năng ức chế sự di chuyển của tinh trùng trên chuột và giảm sinh tinh trùng trên thỏ. Nghiên cứu gần đây nhất tiến hành theo cùng cách thức với các thí nghiệm trên, trên loài khỉ langur cho thấy hiệu quả làm giảm sinh tinh trùng xuất hiện sau điều trị 90 ngày mà không có tác dụng độc tính. Chức năng sinh tinh trùng được phục hồi hoàn toàn sau khi ngưng dùng thuốc 150 ngày. Về cơ chế hoạt động của các chất chiết xuất từ hạt đu đủ này vẫn còn chưa nhất quán. Các nghiên cứu trước cho thấy có lẽ các tác động này là do tương tác của các hoạt chất lên nguồn estrogen, androgen và antiandrogen. Tuy nhiên trong nghiên cứu sau này trên loài khỉ nêu trên, cho thấy số lượng tế bào tinh trùng bất thường đếm được tăng lên và cũng như bị bất động hoàn toàn ngay trong giai đoạn đầu điều trị, và như thế khả năng tác động có thể vào môi trường bên trong của thừng tinh hoặc vào trong giai đoạn tế bào mầm (germ cell) của tinh trùng trong tinh hoàn. Nghiên cứu sâu hơn nữa trên cùng một nghiên cứu, các tác giả quan sát thấy tổn thương xảy ra ở tế bào sertolli (một tế bào sinh tinh), và tình trạng giảm thiểu tinh trùng có thể là do tác động chọn lọc của thuốc lên sự phát triển của tế bào mầm, có lẽ qua trung gian là các tế bào sertolli, gây nên tình trạng ức chế hoạt động của các ty lạp thể (mitochondri), mà có thể ảnh hưởng đến chuỗi hô hấp tế bào gây độc tế bào trong quá trình tăng sinh tế bào mầm. Đây là một kết quả quan trọng cho việc hứa hẹn một loại thuốc tránh thai tạm thời cho nam giới ra đời.
Tác dụng lên thai nghén của đu đủ:
Như đã nêu trên, nhiều người ở các nước châu Á cho rằng đu đủ non có khả năng gây sẩy thai.
Trong một nghiên cứu trên chuột ở Ấn Độ, người ta cho chuột đang mang thai ăn (không ép buộc) các loại trái cây khác nhau, thì kết quả cho thấy trái đu đủ non có tác dụng ngăn cản chu kỳ động dục và gây sẩy thai. Mức độ sẩy thai giảm xuống khi cho chuột ăn loại trái đu đủ chín.
Một nghiên cứu khác về sau, nghiên cứu về tác dụng trên trương lực tử cung, người ta đã thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papaya latex extract – PLE) trên tử cung chuột ở các chu kỳ động dục và thai nghén khác nhau. Kết quả cho thấy tác động của PLE gây co thắt tử cung xảy ra mạnh nhất là ở các giai đoạn sau của thai kỳ, tương ứng với kỳ estrogen đạt được nồng độ cao nhất. Nghiên cứu này cũng rút ra được tác động gây co thắt tử cung của PLE là một tác động phối hợp của các enzym, alkaloid, và các chất khác, hoạt động chủ yếu vào quần thể thụ thể (receptor) alpha adrenergic của tử cung ở các giai đoạn khác nhau. Một nghiên cứu mới gần đây nhất cũng trên chuột, loài Sprague-Dawley ở 4 giai đoạn thai nghén khác nhau, nhóm chứng chỉ dùng nước. Kết quả cho thấy nếu sử dụng nước trái đu đủ chín, thì các nhóm nghiên cứu không có khác biệt gì với nhóm chứng về ảnh hưởng co thắt cơ trơn tử cung được biệt lập từ chuột có thai và không có thai. Ngược lại, với nhựa đu đủ sống sử dụng ở nồng độ 0,1 – 3,2 mg/ml thì gây ra hiện tượng co thắt cơ tử cung giống như hiện tượng co thắt của oxytocin (một loại thuốc gây co thắt tử cung, dùng trong sản khoa) ở nồng độ 1 – 64 mU/ml và prostaglandin F (2 a) 0,028 – 1,81 microm. Đối với cơ trơn tử cung biệt lập thì đáp ứng co thắt cơ xảy ra đối với nhựa đu đủ sống (PLE) ở nồng độ 0,2 mg/ml tương đương với 0,23 microM prostaglandin F (2 a) và 32 mU oxytocin/ml. Trên chuột có thai 18 – 19 ngày thì có PLE hiện tượng co thắt như uốn ván. Như vậy từ kết quả của nghiên cứu này có thể rút ra rằng nếu ăn đu đủ chín ở mức độ bình thường thì không gây hại gì trên chuột có thai, nhưng ngược lại với loại đu đủ sống hoặc gần chín – loại còn chứa nhiều nhựa – có thể không an toàn cho thai nghén.
Tóm lại, những niềm tin và thực hành sử dụng trái đu đủ của người dân các nước châu Á từ lâu đã là một quan sát thực nghiệm, cho đến những năm gần đây câu chuyện chỉ là sự bổ sung cho thực nghiệm đó bằng cách tìm hiểu cơ chế hoạt động của đu đủ trên sinh sản và thai nghén mà thôi. Ngoài những ứng dụng như đã nêu trên, đu đủ xanh có thể được xem như là có tác dụng phòng tránh thai tạm thời trên nữ giới, đặc biệt là trên nam giới, các nghiên cứu đang đi đến giai đoạn sau cùng trước khi đưa ra áp dụng rộng rãi. Trong khi đó, trên thực nghiệm ở động vật, nhựa đu đủ xanh cũng đã được chứng minh là không an toàn cho thai nghén và có khả năng gây sẩy thai, thì đối với cơ thể con người chúng ta, nên tránh sử dụng đu đủ xanh, đu đủ gần chín trong thời kỳ mang thai.
BS. NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN
——————————–
Phương thuốc từ đu đủ:
Ở Trung Quốc có câu chuyện tương truyền rằng vào đời nhà Minh có một viên quan sinh hạ được 3 người con gái, mãi tới năm 42 tuổi vị quan này mới sinh thêm được một cậu con trai đặt tên là Đức Lâm. Cậu ấm được cả phủ quý như một viên ngọc sáng. Nhưng không ngờ cậu ấm này tuy được chăm chút rất chu đáo và cẩn trọng mà vẫn gầy còm trông như que củi và cứ quặt quẹo ốm yếu luôn. Do vậy đến tuổi 13 – 14 mà đi vẫn chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống rất nhiều thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được. Sự thế biến chuyển, vào mùa xuân năm ấy đã xảy ra chiến tranh, viên quan đã không chống lại nổi thiên binh vạn mã của quân giặc và đã chết nơi chiến trận.
Lúc này cậu ấm Đức Lâm phải theo mẹ đi lánh nạn lang bạt dưới vùng Lĩnh Nam khiến cho người mệt, bụng đói làm cho bệnh tình càng thêm nặng. Đêm đến mẹ con đều mệt nhoài tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bỗng bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía Đông, lúc lại chỉ sang phía Tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc long lanh bay lượn trên không trung và biến hóa đội hình theo sự điều khiển cây gậy của ông tiên và chừng nửa giờ sau tự biến mất.
Phu nhân lấy làm lạ và bà suy nghĩ phải chăng thần tiên đang thương tình mách bảo mẹ con bà? Sáng sớm hôm sau phu nhân cố sức cõng con trai về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi bà sững sờ không đỗi ngạc nhiên vì trong thung lũng có tới mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu màu vàng óng. Bên cạnh là một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, tỏa ra mùi hương thơm mát chẳng khác nào nơi bồng lại tiên cảnh. Giữa lúc đang đói mệt, bà đặt Đức Lâm xuống rồi lại hái một quả chín vàng và ăn. Thấy quả hương vị thơm ngon và lần đầu tiên trong đời được ăn làm cho phu nhân thấy trong người tỉnh táo hẳn lên. Bà bèn đưa một miếng vào miệng con và cứ thế hai mẹ con ăn no nê. Ngày hôm sau bà dựng lều tại đó và hết ăn quả tươi, lại nấu chín quả ấy để hai mẹ con cùng ăn. Bỗng điều kỳ lạ, sau 10 ngày bà thấy bệnh của Đức Lâm lui giảm, cậu con khỏe hẳn. Cây ấy sau được đặt tên là đu đủ. Sau vài ngày nữa ăn đu đủ thì thấy Đức Lâm đã tự leo được lên núi đốn củi giúp mẹ làm lụng mọi việc. Cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh cao lớn hẳn lên.
Sự thật chắc hẳn không hoàn toàn như vậy, nhưng dù sao câu chuyện cũng muốn nói với chúng ta rằng quả đu đủ là loại quả có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị được nhiều bệnh.
Chính thế mà trong Trung dược đại từ điển của Trung Quốc có ghi rằng: đu đủ có chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư, sát khuẩn. Trong đu đủ có men protein giúp cho tiêu hóa đạm, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chữa mỏi chân gối… Còn nhựa quả đu đủ xanh có thể làm tan các tổ chức mô bị hoại thư. Lá đu đủ giã nát đắp chữa mụn nhọt hay vết thương viêm loét. Đu đủ có chất men papain có lợi cho tiêu hóa. Các nhà khoa học Mỹ còn cho rằng đu đủ có khả năng ngăn ngừa ung thư phổi, cả ung thư dạ dày hay tuyến tiền liệt nhờ sự phong phú chất lycopen có trong quả đu đủ. Ngoài ra enzym papain còn có khả năng thúc đẩy quá trình làm lành vết thương nhất là vết thương do bỏng. Đu đủ lại cho năng lượng thấp nên trở thành thực phẩm lý tưởng cho những người béo phì…
Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ đu đủ.
– Chữa chứng viêm dạ dày: đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g. Tất cả sắc lấy nước uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.
– Chữa tỳ vị hư nhược: đu đủ 30g, củ mài 15g, sơn tra 6g, gạo nếp 100g. Tất cả nấu nhừ thành cháo ăn hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều. Cần ăn 10 ngày liền.
– Chữa đau lưng mỏi gối: đu đủ 30g, ngưu tất 15g, hoàng kỳ 10g, đỗ tương 15g, câu kỷ tử 10g, cam thảo 3g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Cần uống 10 ngày liền.
– Chữa ho do phế hư: đu đủ 100g, đường phèn 20 – 30g, hầm nhừ ăn ngày một lần. Cần ăn 5 – 7 ngày liền.
– Chữa mụn nhọt: lấy lá đu đủ giã nát đắp rịt vào nơi mụn nhọt ngày một lần.
– Đu đủ hầm đường phèn: đây là món ăn mà người Quảng Đông, Trung Quốc rất thích. Món ăn này nếu ăn thường xuyên vào mùa xuân hè có tác dụng thanh tâm nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Nếu ăn vào mùa thu đông lại có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tỳ vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm. Là một món ăn có hương vị thơm ngon đặc trưng có thể sử dụng cho mọi lứa tuổi như già, trẻ, người lớn ăn quanh năm đều được. Cách chế biến rất dễ: lấy một quả đu đủ chín vàng, gọt vỏ, thái miếng cho vào bát to, tra đường phèn vào vừa đủ, sau đặt bát vào nồi hầm cách thủy sau 1 giờ lấy ra ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần, có thể ăn 2 lần trong một ngày.
(BS. Hoàng Xuân Đại)
***************
Nhiều người dùng lá sài đất tắm cho con vì tin nó làm mát da:
Cháu Huy, 1 tháng tuổi (Hà Nội) nhập viện vì sốt cao, da nổi nhiều mụn kê. Bác sĩ chẩn đoán bé bị nhiễm khuẩn ngoài da nặng, có nguy cơ nhiễm khuẩn máu. Nguyên do bố mẹ dùng lá sài đất, hạt kê và chân vịt tắm cho cháu.
Bé Nguyễn Thanh Thảo, 2 tuổi ở quận Hoàng Mai, Hà Nội nhập viện trong tình trạng sốt cao, bỏ bú, một số vùng da bị lở loét. Kết quả khám cho thấy, bé bị nhiễm khuẩn da và đang có dấu hiệu nhiễm trùng. Nguyên nhân là vì gia đình muốn cô con gái cưng sau này có làn da trắng trẻo, mịn màng nên mua nước dừa nguyên chất về tắm cho bé. Được vài ngày, da bé nổi vài nốt li ti, mọi người cho là do kê nóng và tiếp tục tắm. Đến khi bé bỏ bú, sốt cao, cả nhà mới vội đưa bé đi cấp cứu.
Theo, tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, phó trưởng khoa nhi, bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, tắm nước dừa chỉ làm da thêm bẩn vì lượng đường nhiều là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển. Trong khi đó, da của trẻ nhỏ rất mỏng nên rất dễ bị tổn thương, gây nhiễm trùng.
Có không ít trẻ nhỏ bị chàm sữa (bệnh xảy ra nhiều ở trẻ 3-6 tháng), ngoài việc tắm lá, có gia đình còn lấy tôm hoặc nhai bã trầu xát vào, khiến bé bị tổn thương nặng nề.
Không chỉ tại Bạch Mai, tại Bệnh viện Da liễu, Bệnh viện Nhi Trung ương cũng thường xuyên tiếp nhận trẻ bị viêm da do tắm lá. Tiến sĩ Khu Thị Khánh Dung, phó giám đốc bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, nơi đây cũng tiếp nhận không ít trường hợp bị dị ứng dẫn tới tróc và bỏng da toàn thân do trẻ được tắm một số loại lá cây như rẻ quạt, nước gừng hay dùng lá khế chữa dị ứng.
Tiến sĩ Nguyễn Viết Lượng, trưởng phòng kế hoạch tổng hợp Viện Bỏng quốc gia cũng cho biết, rất nhiều người có thói quen dùng chanh tắm cho trẻ. Thực tế, axit chanh có tác dụng sát trùng tốt, có thể dùng để gội đầu, tắm ở người lớn. Nhưng với da trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, chanh lại không có lợi. Khi kỳ cọ, chất axit trong chanh có thể làm bong tróc các mảnh da non, gây xót và tẩy mạnh làm ảnh hưởng đến quá trình lên da non, nhất là nếu pha quá nhiều chanh và chậu nước tắm.
Hơn nữa, trẻ nhỏ hay dụi mắt, mặt, đầu nên nếu móng tay trẻ sắc, gây xước da, tắm chanh quá đặc sẽ làm bé đau. Việc tắm chanh quá đặc, tắm xong mà không tráng lại nước sạch, chà sát trực tiếp cả miếng chanh lên da khi tắm, gội đầu… là những quan niệm sai lầm. Làn da mỏng manh, non nớt của bé sẽ bị ảnh hưởng, tổn thương dù chất axit trong chanh chỉ tẩy rất nhẹ.
Mắc bệnh ngoài da, tắm lá sẽ nguy hiểm
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thảo, phó giám đốc Bệnh viện Da liễu Hà Nội khẳng định, quan niệm “khi trẻ bị rôm sảy hay kê phải tắm các loại lá mới hết” là rất nguy hiểm. Vì đây chỉ là những biểu hiện của viêm da nhẹ, có thể tự khỏi, nếu dùng những loại lá như sài đất, chân vịt, rẻ quạt… có khi làm bệnh nặng hơn. Bởi các loại lá, quả có khi mọc ở những bờ bụi, bị nhiễm khuẩn, côn trùng hay cả thuốc bảo vệ thực vật… rửa rất khó sạch nên nguy cơ trẻ bị nhiễm khuẩn da rất cao. Thậm chí ngay cả việc đun sôi cũng không có tác dụng diệt khuẩn trong lá.
Hiện tượng viêm da do tắm lá mùa nào cũng gặp nhưng vào mùa hè, thời tiết nắng nóng, trẻ bị rôm sảy, trốc lở, mụn nhọt, côn trùng đốt tăng cao nên biến chứng do tắm lá cũng nhiều hơn: có trẻ bị bội nhiễm, nhất là nhiễm trùng máu rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong.
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, phó trưởng khoa nhi, bệnh viện Bạch Mai Hà Nội: Cách phòng chống viêm da cho trẻ:
Thay tã lót thường xuyên, lau khô vùng bẹn và mông bằng nước ấm sau khi trẻ đại, tiểu tiện. Hằng ngày, vệ sinh sạch sẽ cơ thể bé bằng nước sạch hoặc xà phòng diệt khuẩn. Tuyệt đối không nên tự ý dùng nước lá tắm để chữa các bệnh ngoài da cho trẻ. Mùa hè, nên hạn chế dùng tã và phải thay thường xuyên. Mặt khác, cần cho trẻ uống đủ nước, tập cho trẻ ăn nhiều rau xanh, trái cây khi trẻ biết ăn. Các bà mẹ đang cho con bú cũng cần bổ sung nhiều vitamin và khoáng chất. Mặc khác, những người gần gũi chăm sóc trẻ hằng ngày cũng phải chú ý giữ gìn vệ sinh thân thể vì dễ lây bệnh cho trẻ. Đặc biệt, môi trường sống của trẻ cần sạch sẽ, thoáng mát.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng, chủ tịch hội Đông y Việt Nam: Tắm lá không có khả năng làm mát.
Việc tắm lá (tắm thuốc) trong đông y cũng phải có chỉ định rõ ràng đối với từng bệnh hoặc đối tượng nào không được tắm. Chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh tắm lá có khả năng làm mát da hay toàn bộ cơ thể mà đó chỉ là những kinh nghiệm dân gian lưu truyền. Việc tắm lá phải rất cẩn trọng, tuyệt đối không nên tắm lá tươi vì rất dễ gây kích ứng cho da. Đối với da bình thường, không nên tắm lá, còn nếu do rôm sảy thì lấy quả mướp đắng, rửa sạch, đun sôi để nguội lấy nước tắm, do chốc lở, mụn nhọt thì lấy 20 gam lá đào tươi, rửa sạch đun nước tắm. Không lấy nước dừa tắm cho trẻ vì không có tài liệu nào hướng dẫn như vậy.
(Theo Thế Giới Mới)
***************
Cây cúc tần.
Cây cúc tần còn gọi là cây từ bi, cây lức… có tên khoa học Pluchea indica Less thuộc họ cúc (Compositae). Ở nước ta cây mọc hoang và được trồng khắp nơi, thường trồng làm hàng rào cây xanh và lấy lá làm thuốc. Cây nhỏ cao 2-3m, cành gầy; lá gần giống hình bầu dục, hơi nhọn đầu, gốc thuôn dài, mép lá có răng cưa, mặt dưới có lông mịn, phiến dài 4-5cm, rộng 1-2,5cm. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô, làm thuốc.
Trong toàn cây chủ yếu có tinh dầu mùi thơm đặc trưng. Theo y học cổ truyền: cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Chủ trị cảm sốt ho, bụng trướng, nôn oẹ, tiêu độc, tiêu đờm, bí tiểu tiện, phong thấp, đau mỏi lưng. Dùng dưới dạng thuốc sắc (ngày uống 10-20g) hay thuốc xông. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chữa nhức đầu cảm sốt: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 8-10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông.
Cũng có nơi nhân dân dùng lá cúc tần phối hợp với lá bàng (có tính mát) và lá hương nhu, sắc uống có công dụng chữa cảm sốt.
Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít nước sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.
Chữa chấn thương, bầm giập: Lấy lá cúc tần giã nát nhuyễn đắp vào chỗ chấn thương sẽ mau lành.
BS.Vũ Nguyên Khiết
***************
Rau mồng tơi đã quá quen thuộc với chúng ta. Đối với người dân vùng nhiệt đới, mùa hè nóng khát phải có các món canh rau như mồng tơi. Nói đến mồng tơi người ta nghĩ ngay đến tác dụng nhuận tràng “trơn ruột” của nó để chữa táo bón. Tuy nhiên còn nhiều công dụng chữa bệnh nữa của rau mồng tơi mà bạn đọc có thể chưa biết.
Rau mồng tơi còn có các tên mùng tơi, tầm tơi (Tuệ Tĩnh) tên Hán là lạc quỳ, đằng quỳ, đằng nhi thái, chung quỳ, yên chi thái, đằng thái. Tên khoa học Basella rubra Lin., họ mồng tơi. Mồng tơi tính hàn, vị chua, vào 5 kinh tâm, can, tỳ, đại tràng, tiểu tràng. Có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết, chỉ lỵ, chữa ban chẩn, định sang tán nhiệt, lợi tiểu, giải độc, làm nhuận da, hoạt trường, không độc. Theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh còn có tác dụng hoạt thai làm dễ đẻ.
Trong mồng tơi chứa chất nhày pectin rất quý để phòng chữa nhiều bệnh làm cho rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo chống béo phì, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu. Tác dụng trừ thấp nhiệt, giúp cho người lao động ngoài trời nắng nóng duy trì được sức khỏe phòng chống bệnh tật như mỏi mệt háo khát, bứt rứt.
Sau đây là một số cách dùng rau mồng tơi:
– Thanh nhiệt giải độc: Có nhiều cách từ đơn giản đến phức tạp. Ta đã có những cách thông dụng như canh rau mồng tơi, hoặc kèm rau đay, mướp,… ăn với cà pháo muối giòn thì ngon tuyệt, lại mát ruột, ăn được nhiều cơm khi trời nóng bức…
– Hoạt trường, thanh nhiệt, dưỡng âm, giúp da tươi nhuận: Rau mồng tơi luộc chấm hoặc trộn vừng đen đã rang tán bột.
– Để da tươi nhuận hồng hào: Dùng rau mồng tơi nấu canh, mỗi tuần ăn một lần.
– Đại tiện xuất huyết kinh niên suy nhược: Rau mồng tơi 30g, cho mồng tơi vào nấu thêm 20 phút. Ăn cái, uống nước.
– Chữa đầy bụng: Rau mồng tơi 50g, rau đay 50g, khoai sọ 1 củ (bóc bỏ thái nhỏ) nấu canh ăn vài ngày. Hoặc dùng 4 loại rau: mồng tơi, đay, rau khoai, rau má với lượng bằng nhau nấu canh ăn.
– Chữa táo bón lâu ngày gây thoát giang: Lá mồng tơi, lá vông non mỗi thứ 30g, rễ đinh lăng 20g, củ mài 12g (thái mỏng sao vàng), vừng đen 30g (rang nổ) sắc với 600ml nước còn 300ml. Người lớn chia 2 lần, trẻ em tùy tuổi dùng ít hơn.
– Chữa khí hư, suy nhược: Lá mồng tơi 1 nắm, đậu đen 1 nắm, ninh nhừ ăn nóng cả nước và cái. Tuần 1-2 lần cách nhau 3 ngày, 6 ngày. Khi thấy có kết quả cho thêm một nắm đậu nành, 2 nắm lạc. Món này giúp phụ nữ bồi dưỡng sau đẻ và làm cho da hồng hào, tóc đen mượt. Người bị đau dạ dày, ợ chua ăn món này cũng tốt.
– Chữa tiểu tiện buốt nóng: Lá mồng tơi 1 nắm, giã nhuyễn, lấy nước cốt pha thêm nước, chắt lấy nước, uống nóng với ít hạt muối. Bã đắp vùng bàng quang hoặc nấu lấy nước uống hằng ngày.
– Chữa đầu vú sưng, nứt, trĩ, mụn nhọt, bỏng: Lá mồng tơi rửa sạch giã nhuyễn với ít muối đắp lên chỗ tổn thương. Da mặt khô nhăn nẻ, tay chân bị cước cũng có thể dùng lá mồng tơi như vậy. Chú ý rau mồng tơi phải rửa sạch.
– Bị thương chảy máu: Rau mồng tơi trộn đường phèn, giã đắp.
– Chảy máu mũi (do huyết nhiệt): Lá mồng tơi tươi sạch giã nát lấy nước tẩm bông nhét vào mũi.
– Đau nhức khớp do phong thấp: Rau mồng tơi cả cây 50g – 100g, hầm với nước ăn với cơm hằng ngày.
– Ngực bồn chồn đầy tức: Rau mồng tơi 60g, sắc đặc thêm chút nước uống khi còn ấm.
– Nhức đầu do đi nắng: Lá mồng tơi giã nhuyễn lấy nước uống, bã đắp vào 2 bên thái dương băng lại.
– Chữa di mộng tinh: Rau mồng tơi, đậu nành, lạc. Mỗi thứ một nắm nấu, rồi mới cho đậu lạc vào cuối cùng cho rau mồng tơi nấu thêm 10 phút. Có thể cho thêm tiêu bột, nước tương, nước mắm. Ăn nóng, ăn xong uống nước nóng.
– Chữa hoạt tinh: Rau mồng tơi 1 nắm. Rau giền tía 1 nắm nấu. Ăn nóng, xong uống nước trà gừng nóng sẽ tăng hiệu quả. Trước khi đi ngủ ăn 1 thìa vừng đen (đã rang thơm) nhai kỹ nhuyễn rồi nuốt.
– Lợi sữa: Phụ nữ sau sinh nấu canh mồng tơi ăn sẽ có nhiều sữa, chống táo bón.
Chú ý: Rau mồng tơi tính mát lạnh nên dùng cẩn thận với người hay bị lạnh bụng đi ngoài. Để bớt lạnh nên nấu kỹ hoặc phối hợp thêm các thức ăn khác nguồn gốc động vật.
(BS. Phó Thuần Phương)
—————————
Rau mồng tơi chữa bệnh:
Lương y Huyên Thảo (Hà Nội) cho biết: theo Đông y, mồng tơi có vị chua ngọt, không độc, tính lạnh. Nó có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, hoạt tràng… Dùng mồng tơi để giải độc, chữa đại tiện bí kết, đại tiện xuất huyết, tiểu tiện khó, đái nhỏ giọt, đái dắt, chữa kiết lỵ hiệu quả.
Theo lương y Huyên Thảo, rau mồng tơi đã được sử dụng trong một số bài thuốc chữa bệnh:
+ Lấy 500g mồng tơi cho mắm muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Món ăn này chữa đại tiện táo bón rất hiệu quả. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông.
+ Dùng khoảng 100g mồng tơi sắc nước uống trong ngày thay trà chữa tiểu tiện không thông, đái dắt, đái nhỏ giọt hiệu quả.
+ Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn.
+ Dùng mồng tơi giã nát, lấy nước bôi lên chỗ da bị bỏng sẽ mau lành.
+ Mồng tơi cả cây khoảng 100g, hầm với nước. Ăn trong bữa cơm hằng ngày có tác dụng chữa khớp chân tay đau nhức do phong thấp.
+ Mồng tơi 60g sắc lấy nước đặc, hòa thêm chút nước còn ấm, uống có tác dụng chữa chứng ngực bồn chồn, đầy tức.
Lương y Huyên Thảo cho biết thêm: Mồng tơi còn có tác dụng tốt trong việc cầm máu, giúp vết thương mau lành, cụ thể:
+ Mồng tơi tươi giã nát rồi lấy bông thấm vào nước cốt nhét vào lỗ mũi chữa chảy máu mũi do huyết nhiệt (dân gian thường gọi là chảy máu cam).
+ Mồng tơi trộn với đường phèn, giã nát, đắp vào chỗ bị thương sẽ giúp cầm máu, vết thương mau lành.
Theo M. N
ThanhNienOnline
***************
Cây hoa nhài.
Mùa hè do nhiệt độ tăng cao, làm cho khí hậu trở nên oi bức, cơ thể phải tiết ra nhiều mồ hôi để tỏa bớt nhiệt độ giúp cho thân nhiệt luôn giữ được trạng thái bình thường. Cũng chính do mồ hôi bài tiết nhiều ở bề mặt ngoài da nên đã kéo theo những cặn bã trong cơ thể đào thải ra, vì vậy làm cho da bẩn lại ướt nên dễ kết dính bụi bẩn và vi khuẩn trong không khí khiến da trở thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây ra ngứa ngáy, mụn nhọt…
Trong bài này chúng tôi xin giới thiệu về cách chữa trị mụn nhọt mùa hè bằng những cây lá quanh ta vừa tiện lợi, dễ kiếm, dễ tìm.
Hút mụn nhọt đã vỡ bằng khoai lang: Lấy lá khoai lang non 50g, đậu xanh 12g, thêm chút muối giã nhuyễn bọc vào vải sạch đắp vào nơi mụn nhọt. Ngày thay 1 lần.
Chữa mụn nhọt bằng cây mua bà: Lấy lá non, giã hơ nóng đắp vào chỗ có nhọt. Ngày thay 1 lần.
Chữa mụn nhọt bằng bí ngô: Lấy cuống bí ngô đốt thành than, rồi đắp vào nơi có nhọt. Ngày thay 1 lần. Hoặc lấy cuống bí ngô đốt thành than, nghiền nát trộn với dầu mè hay dầu sở rồi đắp vào. Ngày thay 1 lần.
Chữa mụn nhọt bằng lá sen: Dùng ngoài lấy cuống lá sen sắc lấy nước đặc rửa nơi mụn nhọt. Mặt khác lấy lá sen rửa sạch giã nát cùng với cơm nếp rồi đắp vào nơi có nhọt. Ngày thay 1 lần.
Chữa mụn nhọt bằng rau mồng tơi: Lấy rau mồng tơi tươi, giã nát đắp vào nơi mụn nhọt, ngày thay 2-3 lần.
Theo Thực liệu kỳ phương thì cần chờ đúng giờ thìn (tức đúng 8 giờ sáng) hãy hái một nắm ngọn rau mồng tơi không non quá cũng không già (rau bánh tẻ) vào lúc đang có ánh nắng mặt trời chiếu rọi vào vườn rau, sau đó mang vào không rửa (nếu có bụi bẩn lấy khăn sạch lau) và cho vào cối giã nhuyễn cùng chút muối ăn đem đắp vào nơi mụn nhọt, rất hiệu nghiệm.
Chữa mụn nhọt bằng hoa nhài: Hoa nhài 10g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.
Chữa mụn nhọt bằng cây chua me đất: Lấy lá giã nhỏ hơ nóng đắp vào chỗ mụn nhọt. Ngày thay thuốc 1 lần.
Chữa mụn nhọt, đinh độc, vết thương bằng lá ớt: Lấy lá ớt, lá na, lá bồ công anh, lá tử vi, lá táo, mỗi thứ từ 10-20g, đem rửa sạch, giã nát cùng ít muối ăn rồi đắp vào vết thương hay mụn nhọt, đầu đinh. Hoặc lấy lá ớt, cành xương rồng bà có gai, lá mồng tơi mỗi thứ 5-10g, giã nát đắp vào nơi mụn nhọt. Ngày thay thuốc 1 lần.
Chữa mụn nhọt bằng lá lô hội (cây lưỡi hổ): Lấy lá lô hội tươi giã nát đắp vào chỗ mụn nhọt. Ngày thay thuốc 1 lần.
Cây lô hội.
Chữa mụn nhọt sưng đỏ bằng rau diếp cá: Lấy rau diếp cá giã nát rịt vào nơi mụn nhọt vào lúc đi ngủ, sáng dậy thấy đỡ đau, rất mau khỏi.
Chữa mụn nhọt lở loét bằng vừng đen (mè đen): Lấy mè đen rang lên, tán nhỏ. Rửa sạch mủ trên mụn, sau lấy bột mè đen đã tán đắp lên, chỉ vài lần sẽ khỏi.
Chữa mụn nhọt sưng tấy bằng rau hồng trai và cây sống đời: Lấy rau hồng trai và lá cây sống đời mỗi thứ 25-30g, rửa sạch để ráo nước, giã nát tẩm chút nước rồi vắt nước cốt uống, còn bã đắp lên mụn nhọt. Ngày 1 lần, vài lần là khỏi.
Chữa mụn nhọt bằng lá táo chua: Lấy một nắm con lá táo rửa sạch giã nát cùng ít muối ăn đem đắp vào nơi mụn nhọt đang sưng tấy.
(BS. Hoàng Xuân Đại)
***************
Cà là loại cây trồng hoặc mọc hoang ở những vùng đất ẩm, mỗi loại cà cũng có hình dáng, màu và kích cỡ khác nhau. Chẳng hạn cà pháo quả tròn bé màu trắng hay vàng, rất nhiều quả và có khi cho thu hoạch quanh năm. Cà nghệ có cùi mỏng màu xanh hoặc trắng ăn giòn không kém cà pháo. Cà tứ thời quả bé, tròn có màu sắc thay đổi, cho quả quanh năm. Cà xoan quả hình quả xoan, màu xanh. Loại cà bát quả to như cái bát có màu trắng hay màu xanh. Cà dái dê có màu tím hoặc xanh hay trắng…
Đông y gọi chung các loại cà là giã tử, ái qua, nuy qua, tên khoa học là Solanum milogena L. thuộc họ cà (Solanaceae). Theo Đông y, cà có vị ngọt tính hàn (có tài liệu ghi là cực hàn và có độc). Sách Trung dược học bản thảo cho biết cà tác dụng hoạt lợi (nhuận trường), lợi tiểu, trị thũng, thấp độc, trừ hòn cục trong bụng (chưng hà), chứng lao truyền, ôn bệnh trong 4 mùa (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Tán huyết tiêm viêm, chỉ thống… Còn trong Thực liệu bản thảo có nói cà có tác dụng chữa ngũ tạng lao tổn. Trong sách Thực kinh viết: Cà có tác dụng làm đầy da thịt, ích khí lực, chữa cước khí… cùng nhiều chứng bệnh.
Y học hiện đại cũng xác nhận rằng cà cũng giàu dinh dưỡng. Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong 100g cà: nước chiếm 92%, đạm 1,3%, chất béo 0,2%, đường 0,5% cùng các chất khoáng như lân 15mg, magnesi 12mg, calcium 10mg, kalium 22mg, natri 15, 16mg, lưu huỳnh 15, 16mg, sắt 0,5mg, mangan 0,2mg, kẽm 0,2mg, đồng 0,1mg, iod 0,002mg, các vitamin như caroten (tiền vitamin A) 0,04mg, vitamin B1 0,04mg, vitamin B2 0,35mg, vitamin C 6mg, vitamin PP 0,6mg, và chất nhày hay cellulose…
Riêng với giống cà tím (cà dái dê) ở phương Tây người ta cũng đã nghiên cứu nhiều và được xếp vào nhóm rau quả đứng hàng đầu với hàm lượng vitamin PP cao nhất. Có tài liệu nói vitamin PP chứa trong cà tím là 72g. Người ta còn phát hiện vitamin E trong cà và hàm lượng các chất khoáng thường cao hơn hẳn các loại rau quả khác. Đặc biệt hơn ở cà còn chứa chất nightshade soda có tác dụng chống ung thư, ức chế sự tăng sinh của khối u trong bộ máy tiêu hóa. Ngay ở Nhật Bản các chuyên gia cũng đã phát hiện thấy trong cà tím có chứa nhiều thành phần hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư, nhất là ung thư dạ dày. Vì vậy có ý kiến đã khuyên nên sử dụng nước ép cà tím khi người bệnh đang dùng xạ trị và cả ngay sau khi phẫu thuật ung thư.
Tại Áo, nhóm chuyên gia Trường đại học Graz đã chứng minh tác dụng khử chất béo của loại cà tím, được thể hiện rõ khi sử dụng cà tím với các thức ăn động vật. Cà tím còn tác dụng chống ứ đọng cholesterol và urê huyết nên rất có lợi trong điều trị các bệnh tim mạch, chứng huyết áp cao, béo phì vì cho năng lượng thấp (ví dụ như cà pháo trong 1kg chỉ cho 24,4 kcalo hay cà bát là 441 kcalo, cà dái dê 454 kcalo), đái tháo đường, thống phong (gout).
Tại Hoa Kỳ, một tạp chí có đăng tải bài “12 cách giảm cholesterol trong máu” đã xếp ăn cà là biện pháp hàng đầu. Người ta đều xác nhận rằng cà tím có tác dụng kích thích tiết mật và tụy khiến khả năng tiêu hóa được tăng cường, lại giúp nhuận tràng, giải độc, có lợi cho bệnh gan mật. Ngoài ra còn có công hiệu lợi tiểu, chống phù nề, đàm thấp, hỗ trợ trong việc điều trị bệnh thận. Trong thực nghiệm cũng cho thấy khi động vật được uống nước ép cà tím thì gây động kinh nhân tạo đã không phát bệnh. Bởi thế người ta khuyên những người dễ bị kích động tâm thần mỗi khi thấy thần kinh căng thẳng nên uống 1 ly nhỏ nước ép cà tím.
Trong Hội nghị các nhà gây mê của Hoa Kỳ tại Orlando vào tháng 10/1998 cũng đã thông báo rằng: Nếu người bệnh ăn nhiều cà tím, cà chua, khoai tây, sẽ làm chậm chuyển hóa một số thuốc mê và thuốc giãn cơ trong phẫu thuật, do các glycoalcaloid của họ cà (Solanaceae) đã gây ức chế các men acetylcholinesteraza và butylcholinesterase là những men làm giảm hóa thuốc mê.
Như vậy thật sự cà còn là một vị thuốc hay được sử dụng chữa trị nhiều bệnh từ lâu đời ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới.
Dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ cà để cùng tham khảo và có thể áp dụng khi cần.
Chữa phụ nữ huyết hư, da vàng: Lấy quả cà pháo già bổ ra phơi khô trong bóng râm cho đến khô, rồi tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g chiêu với nước hâm nóng. Cần uống liền dài ngày.
Chữa đại, tiểu tiện, đường tiêu hóa ra máu: Lấy quả cà pháo già sao vàng, tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 8g hòa với giấm pha loãng.
Chữa đàm nhiệt, viêm phế quản cấp, táo bón: Lấy cà tím 500g đem thái dọc, gừng tươi 4 lát nghiền nhuyễn. Sau trộn với nước tương, dầu, muối, đường chưng cách thủy. Ăn hết trong ngày. Mỗi ngày ăn một lần, cần ăn 5-7 ngày liền.
Chữa ho lâu năm không khỏi: Cà pháo tươi 30-60g, nấu chín cho đường mía vào vừa đủ rồi nấu lại là được. Ngày ăn 2 lần (theo Ẩm thực phương Đông trị bệnh của Hồng Minh Viễn năm 1998 của Trung Quốc).
Chữa hoàng đản (chứng viêm gan vàng da): Lấy cà tím thái miếng, trộn lẫn gạo nấu thành cơm ăn trong 5 ngày đến 1 tuần.
Chữa bệnh ngoài da và niêm mạc, bầm máu, lở loét, chảy máu ở lợi, chín mé ở tay, nứt đầu vú, lấy quả cà pháo đốt thành than rồi tán nhỏ lấy bôi vào chỗ đau.
Chữa chứng đau bụng ở nữ (theo tạp chí Tropical doctor tháng 4/1982): Lấy quả cà khô và quả me chín, cả hai thứ lượng bằng nhau. Cho vào 1.000ml nước (1 lít) rồi đun sau 30 phút lọc lấy nước chia ra vài lần uống nóng.
BS. Hoàng Xuân Đại
***************
– Hoa Sơn tra, lá Sơn tra mỗi vị 6g. Hai thứ đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hạ huyết áp, giảm mỡ máu, phòng chống thừa cân và béo phì.
Tôi kg biết tiệm thuốc Bắc họ bán sơn tra ở dạng gì chứ tôi có người quen uống theo cách trên thì trong vòng 1 tuần kết quả tiến bộ tốt lắm. Trước đó đi chữa rất nhiều theo Tây y nhưng không khỏi. Ở trong Nam thì mặt hàng hoa lá này khó có, phải nhờ ngoài Bắc gửi vào mà nhiều nhất ở miền Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam rất nhiều.
***************
Theo Đông y, lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng, cả lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc. Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc. Rễ còn có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống 2 năm trở lên. Theo nghiên cứu, trong 100g rau ngót có chứa tới 0,08g chất béo, 9g đường, 503mg kali, 15,7mg sắt, 13,5mg mangan, 0,45mg đồng, 85mg vitamin C, 0,033mg B1, 0,88mg B2… Ngoài ra, rau ngót rất giàu đạm nên được khuyên dùng thay thế đạm động vật nhằm hạn chế những rối loạn chuyển hóa can xi gây loãng xương và sỏi thận. Với những thành phần trên, rau ngót được khuyên dùng cho người muốn giảm cân và người bị tăng huyết áp.
Rau ngót là loại rau lành và bổ dưỡng. Không chỉ là một món ăn thông thường, rau ngót còn có tác dụng chữa dị ứng, tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh, chữa đổ mồ hôi trộm, chứng đái dầm ở trẻ em… Xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng rau ngót:
– Với chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.
– Đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu, không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh. Nhất là với phụ nữ sắp sinh, hàng ngày nếu được ăn canh rau ngót sẽ giúp tăng sức cho các bắp thịt, giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.
– Chữa tưa lưỡi: lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.
– Đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
– Bàn chân sưng nhức: lá rau ngót giã, cho thêm nước muối pha nhạt, sau đó đắp vào chỗ chân sưng nhức.
Theo sách “Thức ăn vị thuốc
***************
Tạng can, theo Đông y: Can chủ tàng huyết, chủ về sơ tiết, chủ cân khai khiếu ra mắt, ninh nhuận ra móng tay, móng chân.
“Cổ trướng” là một trong tứ chứng nan y của Đông y. Phải xét về: khí, huyết, thủy, nhiệt, hàn; thận, tỳ hư cổ trướng, luận trị rất phức tạp nhưng kết quả chưa thấy trước.
“Xơ gan cổ trướng” là thuật ngữ của y học hiện đại do khám cận lâm sàng và lâm sàng kết luận: Xơ gan cổ trướng độ I, II và III. Nguyên nhân do xơ gan mạn, xơ gan cổ trướng.
Triệu chứng: Rối loạn tiêu hóa, chán ăn, phù và phù toàn thân, bụng trướng nước, gan, lách to, cứng, tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách to, giãn. Tay, chân teo tóp hoặc phù, da vàng mắt vàng. Vùng gan mật đau tức, đại tiện nhiều lần, phân nát, tiểu tiện ít, bụng dưới nặng tức. Chất lưỡi bệu, rêu lưỡi vàng, mạch trầm tế vô lực. Từ triệu chứng của bệnh nhân được khám cận lâm sàng và lâm sàng có kết luận là “xơ gan cổ trướng”.
Bài thuốc dân gian gia truyền trị chứng xơ gan cổ trướng:
Cây chó đẻ.
Vị thuốc:
– Quả dứa dại tách ra từng múi (pandannustectoriussot) đập dập phơi khô 100g, nếu tươi 300g.
– Cây chó đẻ răng cưa (phyllan thusurinarial) còn gọi diệp hạ châu. Cả cây dược liệu khô 100g (tươi 300g).
– Cây mã đề (plantagoasiatica) vật liệu tươi 50g.
– Củ tam thất (panaxpseudo-ginseng) burk. Xay thành bột mịn 6g/ngày chia làm 3 lần.
Sắc uống: Sắc 3 vị thuốc đầu. Nước 2 lít (2.000ml) sắc còn 1/2 lít 500ml. Chia làm 3 lần hòa với bột tam thất 2g mỗi lần – ban ngày uống 2 lần, ban đêm uống một lần. Uống liên tục một ngày một thang trong vòng 30 ngày.
Ngày thứ 31 có thể bỏ vị mã đề nếu bụng mềm, đi tiểu bình thường, và giảm vị tam thất còn 3g/ngày chia 3 lần hòa thuốc uống.
Liệu trình điều trị 6 tháng (theo kinh nghiệm).
– Điều trị 15 ngày: Bệnh nhân thấy người nhẹ nhõm, ăn ngủ được, đi lại trong nhà.
– Điều trị 30 ngày: Bụng mềm, nhỏ lại, bệnh nhân khỏe, tự giải quyết mọi sinh hoạt cá nhân.
– Điều trị 3 tháng: Bệnh nhân hoàn toàn khỏe, gan, lách mềm, nhỏ nhưng siêu âm thấy gan còn thô (còn xơ gan).
Tháng thứ 4 vẫn uống 3 vị trên (dứa dại, diệp hạ châu và tam thất).
Tháng thứ 5 và 6 uống 1 tuần 2 thang gồm 2 vị (dứa dại, diệp hạ châu).
Sau 6 tháng điều trị bệnh nhân khỏe đạt 80-90% lao động bình thường.
Ghi chú: Nếu bụng trướng nước, gan cứng to gây khó thở thì trục nước ra bằng một trong các cách sau:
Bài 1: Rễ cỏ tranh khô 70g (tươi 210g), vỏ quả cau (đại phúc bì) 3 vỏ, hạt mã đề (xa tiền tử) 30g, đậu đen sao vàng 50g. Cho nước 1.000ml sắc còn 300ml chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 2: Nếu đã uống bài 1 từ 1-2 thang bệnh nhân vẫn khó thở bụng vẫn trướng nước thì uống bài 2.
– Vị thuốc: Lá nhót tươi 100g + lá cây cà phê, chè tươi 100g. Nước 600ml sắc còn 200ml uống hết một lần khi nước còn ấm.
– Sau khi uống từ 1-2 giờ bệnh nhân đi tiểu 7-8 lần/ngày (lượng nước tiểu từ 8-9 lít).
– Cầm đi tiểu: Cho uống nước sắc hạt đậu xanh còn nguyên vỏ. Đậu xanh 150g nước 400ml sắc còn 150ml để thật nguội. Khi bệnh nhân đi tiểu được 7-8 lít thì cho bệnh nhân uống.
– Khi cần đến bài trục nước thứ 2 này thì dừng uống thuốc trị bệnh một ngày.
Lương y Trần Văn Thà
***************
Phúc bồn tử:
Phúc bồn tử còn gọi là điền bào, ông nữu, sinh nãi mẫu; là thuốc y học cổ truyền có tác dụng bình bổ can thận thường gặp, được Danh y biệt lục xếp vào hạng thượng phẩm.
Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh phúc bồn tử có tác dụng sau:
Bổ can, minh mục. Nghiên cứu của Đức đã phát hiện trong phúc bồn tử có chứa một hàm lượng lớn chất chống ôxy hóa, loại chất này khi vào cơ thể tập trung nhiều nhất ở màng võng mạc của nhãn cầu có tác dụng phòng ngừa sự ôxy hóa của võng mạc và loại trừ những gốc tự do gây hại đến võng mạc. Vì vậy, phúc bồn tử được dùng làm thuốc để bảo vệ và nâng cao thị lực rất tốt. Nhiều nghiên cứu lâm sàng cũng như thực nghiệm đã chứng minh thuốc có tác dụng rõ rệt trong điều trị một số bệnh về mắt ở người già, ví dụ bệnh do thoái hóa điểm vàng.
Kiện não ích trí: Nghiên cứu của Mỹ đã phát hiện phúc bồn tử có tác dụng kiện não ích trí, tăng khả năng tư duy một cách vượt trội. Nghiên cứu cho rằng chất chống ôxy hóa trong phúc bồn tử có tác dụng phòng ngừa các gốc tự do gây tổn hại đến não, đồng thời tăng lưu lượng máu và ôxy đến não từ đó có tác dụng kiện não ích trí.
Thẩm mỹ, làm đẹp da mặt: Flavonoid có trong phúc bồn tử ngoài tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, hạ áp, chống dị ứng… còn có tác dụng tốt trong việc bảo vệ và làm đẹp da. Loại vật chất này có tác dụng tuần hoàn huyết dịch da, tăng độ đàn hồi vi mạch máu ở da, thúc đẩy nhanh sự tái tạo các tế bào da mới, từ đó phát huy tác dụng bảo vệ da và làm đẹp da.
Phòng và điều trị ung thư: Các chất tự do trong cơ thể làm tổn thương các tổ chức tế bào, thay đổi kết cấu phân tử DNA từ đó phát sinh ra bệnh ung thư. Trong phúc bồn tử có chứa một loại thành phần cực kỳ có lợi cho sức khỏe là anthocyanin, chất này có tác dụng thanh trừ các gốc tự do phòng chữa bệnh ung thư phát sinh. Do đó phúc bồn tử có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc phòng chữa bệnh ung thư.
Phúc bồn tử vị ngọt chua, tính hơi ấm, tính năng trung hòa, quy kinh can thận, tác dụng thu liễm chỉ huyết, bổ can ích thận, cố niệu. Lâm sàng dùng trong thận hư di niệu, đi tiểu nhiều lần.
Chống lão hóa: Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh trong phúc bồn tử có chứa nhiều loại chất khoáng ôxy hóa, điều chỉnh miễn dịch và nhiều thành phần có tác dụng điều chỉnh vật chất chuyển hóa. Nghiên cứu gần đây chọn lựa từ 100 bài thuốc cổ phương có tác dụng chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ kết hợp thông qua nghiên cứu thực nghiệm kết quả cho thấy phúc bồn tử là 1 trong 7 vị thuốc có tác dụng nổi rõ nhất. Nghiên cứu khác trên chuột cũng chứng minh phúc bồn tử có tác dụng cải thiện năng lực trí nhớ, làm chậm quá trình lão hóa.
Điều tiết tác dụng của hệ thống sinh dục: Phúc bồn tử có tác dụng tăng cường chức năng của trục tuyến hạ khâu não – tuyến yên, do đó có tác dụng làm chậm quá trình suy thoái, tăng tuổi thọ.
Tác dụng đối với hệ miễn dịch: Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh thành phần đa đường trong phúc bồn tử có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa tế bào lâm ba.
Lịch sử ứng dụng trong lâm sàng điều trị của phúc bồn tử có từ rất lâu đời, thực tế điều trị trên lâm sàng cũng như thực nghiệm đều chứng minh nó có 3 tác dụng lớn là bổ can thận, ích tinh khí, cố niệu, là loại thuốc bổ rất tốt.
Một số phương thuốc kinh nghiệm có tác dụng bổ thận:
Phương 1: Phúc bồn tử 12g, ích trí nhân 12g, nhục quế 6g, thêm gia vị vừa đủ (rửa sạch, thái miếng nhỏ vừa). Trước tiên, bỏ phúc bồn tử và ích trí nhân sắc bỏ bã lấy nước thuốc cho nhục quế vào đun nhỏ lửa cho đến khi nhừ là được, bắc ra thêm gia vị vừa đủ là có thể dùng được. Tác dụng: bổ thận ích khí, ôn dương điều trị chứng tiểu tiện nhiều lần do thận hư.
Phương 2: Phúc bồn tử 10 – 15g, câu kỷ tử 20 – 30g, gạo 100g, thêm gừng, gia vị vừa đủ, nấu cháo ngày 2 lần, ăn lúc nóng, 3 – 5 ngày một liệu trình, tốt nhất nên ăn vào mùa đông. Tác dụng: bổ tinh huyết, ích can thận, ấm lưng gối. Phù hợp cho các trường hợp thận khí không đủ dẫn đến lưng gối mỏi đau hoặc lạnh đau, hoa mắt váng đầu, ù tai, di niệu, tiểu nhiều, phụ nữ khí hư nhiều…
(TS.BS. Nguyễn Thị Tâm Thuận)
Cây thông:
Ngoài tác dụng trồng để lấy gỗ, thông còn là cây thuốc đã được sử dụng để giữ gìn vẻ đẹp từ lâu đời. Trong những bộ sách thuốc kinh điển của Đông y, đều có những ghi chép về tác dụng “dưỡng nhan” (nuôi dưỡng sắc đẹp), tăng cường sức khỏe, và làm tăng tuổi thọ của cây thông.
Trên thực tế tất cả các bộ phận của cây thông (lá, hoa, quả, rễ, nhựa…) đều có thể sử dụng làm thuốc và mỹ phẩm. Tuy nhiên theo yêu cầu của bạn, ở đây chỉ giới thiệu về tác dụng và cách dùng lá thông.
Theo Đông y, lá thông (tùng diệp) có vị đắng, tính ấm: vào hai kinh tâm và tỳ. Có tác dụng trừ phong thấp, sát trùng, chống ngứa, kích thích tóc mọc nhanh. Có thể sử dụng để chữa các chứng phong thấp, khớp xương đau nhức, ngứa đầu, ngứa da, cước khí (phù do thiếu vitamin B1) và làn đen râu tóc.
Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy: Nước sắc lá thông có tác dụng chống lão suy, có tác dụng kéo dài tuổi thọ trên động vật thí nghiệm, tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể.
Tinh dầu lá thông có tác dụng kháng khuẩn và virus, có thể phòng ngừa cảm cúm và chữa viêm phế quản mãn tính. Hiện tại lá thông là nguyên liệu quan trọng trong công nghệ mỹ phẩm, thường được dùng để chế ra các mỹ phẩm dưỡng tóc và da.
Dưới đây là một số “mỹ phẩm thiên nhiên” mà bạn có thể tự chế biến từ lá thông, để bảo vệ sức khỏe và giữ gìn vẻ đẹp.
+ nước thuốc trừ gầu, chống rụng tóc: Lá thông 500g, lá trắc bách diệp 200g, gừng tươi 100g, ngâm trong 3 lít nước từ 15 đến 30 ngày . Dùng bông thấm nước thuốc bôi lên toàn bộ da đầu, sau đó mát xa nhẹ, ngày 2-3 lần. Có tác dụng kích thích mọc tóc, chống rụng tóc, sát trùng, chống ngứa và trừ gầu rất tốt.
+ Thuốc viên làm đen tóc: Dùng lá thông 200g, lá trắc bách diệp 150g, huyền sâm 100g. Tất cả nghiền thành bột mịn làm thuốc bột uống, hoặc luyện với mât ong làm thành viên to cỡ hạt ngô. Hàng ngày, tối trước khi đi ngủ uống 10-12g, chiêu thuốc bằng nước ấm hoặc nước sắc đậu đen. Đây là bài thuốc cải tiến từ một phương thuốc cổ trong sách “Thái bình thánh huệ phương”, có tác dụng bổ âm huyết và làm cho tóc râu đen mượt.
+ Chữa mất ngủ: Dùng lá thông 10-15g, thảo quyết minh (hạt muồng ngủ, sao cháy đen) 8g, sắc nước uống trong ngày.
+ Chữa phong thấp khớp xương đau nhức: Dùng lá thông 30g, thái ngắn, sắc kỹ, lọc lấy nước, thêm 30 -50g gạo, nấu cháo ăn trong ngày.
+ Chữa trĩ hoặc âm nang lở loét, chảy nước: Dùng lá thông 50 – 100g, sắc lấy nước đặc, đổ vào chậu, chờ nước nguội, ngâm giang môn hoặc âm nang, ngày ngân 2-3 lần mỗi lần 30 phút.
+ Chữa viêm da do lội nước: Dùng lá thông, lá ngải cứu, hai thứ lượng bằng nhau, ngâm nước, lấy nước thuốc bôi vào những chỗ da có bệnh.
KHÁMPHÁĐẸP.VN
***************
Kinh giới vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc dùng làm thuốc chữa bệnh thì lấy cả cây trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.
Toàn kinh giới:
Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.
Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.
Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.
Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.
Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.
Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.
Chữa sưng vú, mụn nhọt: toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.
Kinh giới tuệ:
Tên thuốc trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian là những cụm hoa kinh giới (hoa đã nở, bông còn xanh) kèm theo 1 – 2 lá ngọn. Dược liệu có dạng bông lệch (các hoa đều mọc hướng về một bên) dài 6 – 10cm, đường kính 0,5 – 0,6cm, tràng hoa phần lớn đã rụng, chỉ còn đài hoa màu lục hoặc tím nhạt, trong chứa hạt màu nâu đen. Chất nhẹ, giòn, dễ gẫy, vị hơi chát, cay và mát, mùi thơm. Thứ màu tím nhạt, cuống nhỏ, bông to nhiều hoa là loại tốt.
Tùy theo cách chế biến mà tính vị, tác dụng của kinh giới tuệ thể hiện cụ thể như sau:
Kinh giới tuệ để sống: Có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, giải độc, tiêu viêm.
Chữa cảm lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi: kinh giới tuệ sống và rễ bạch chỉ với lượng bằng nhau phơi khô, tán bột; ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 – 8g với nước chè nóng cho ra mồ hôi.
Chữa cảm, sốt, cúm: kinh giới tuệ sống, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương, lượng mỗi vị 20g, sắc với nước nhiều lần, rồi cô thành cao đặc, luyện với bột nếp làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, người lớn mỗi lần 7 – 8 viên với nước sắc lá tre; trẻ em tùy tuổi, 2 – 4 viên. Thuốc còn chữa kiết lỵ (chiêu thuốc với nước sắc lá mơ lông).
Chữa mụn nhọt: kinh giới tuệ sống 12g; mã đề, bồ công anh, kim ngân, thổ phục linh, ké đầu ngựa, cam thảo nam, mỗi thứ 10g; thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa viêm họng, khản tiếng: Kinh giới tuệ sống 12g, nhân hạt gai dầu 12g, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên, ngâm làm nhiều lần trong ngày.
Chữa trĩ: kinh giới tuệ sống, hoàng bá, ngũ bội tử, mỗi vị 12g; phèn phi 4g; sắc lấy 300 – 400ml nước, dùng ngâm hậu môn hằng ngày.
Phòng chống bệnh sởi: kinh giới tuệ sống, vỏ quả bưởi, thanh hoa, mỗi vị 20g, đặt lên than đang đỏ hồng, dùng khói xông khắp người trong 15 phút.
Kinh giới tuệ sao vàng: Dùng riêng, tán bột mịn, uống ngày hai lần, mỗi lần 6 – 8g chữa cảm, cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng. Hoặc phối hợp với tía tô, lượng mỗi thứ 20g, sắc nước uống, rồi nằm nghỉ, đắp kín cho ra mồ hôi.
Kinh giới tuệ sao đen (dược liệu sống đem rang nhỏ lửa đến khi có màu đen sém, không để cháy thành than). Có tác dụng cầm máu. Dùng riêng, mỗi ngày 12g, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng phối hợp, chữa băng huyết, rong huyết: kinh giới tuệ sao đen, gương sen (sao cháy), ngải cứu (sao đen), cỏ nhọ nồi (sao qua), bách thảo sương, mỗi thứ 12g; rau má 20g; sắc uống ngày một thang.
Chữa tiêu chảy ra máu: kinh giới tuệ sao đen và lá trắc bá sao sém, với lượng mỗi thứ 15 – 20g, sắc uống trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.
Chữa kinh nguyệt ra nhiều không dứt: kinh giới tuệ sao đen 12g, bồ hóng 8g, sao cho hết khói; trộn đều, uống với nước chè làm một lần trong ngày.
DS. Bảo Hoa
***************
Cây lá lốt tên khoa học Piper lolot C.DC. thuộc họ hồ tiêu (Piperaceae), là loại cây mềm mọc hoang ở nơi ẩm thấp trong rừng núi, và cũng được trồng ở nhiều nơi lấy lá làm gia vị và làm thuốc, lá hái quanh năm, có thể dùng thân, hoa, hay rễ.
Lá lốt có công dụng ấm trung tiêu, ấm dạ dày. Chữa nôn mửa do bị khí lạnh bụng đầy đau. Chữa nhức đầu, đau răng, mũi luôn luôn chảy nước, đại tiện lỏng ra nước, ra máu. Trong nhân dân, lá lốt thường được dùng chữa các bệnh sau:
Chữa đau nhức xương khớp:
Bài 1: Dùng 5-10g lá lốt phơi khô, hay 15-30g lá tươi, sắc với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, liều lượng bằng nhau (khoảng 15g khô mỗi loại), sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.
Bài 3: Lá lốt 20g, thiên niên kiện 12g, gai tầm xoong 16g, tất cả sắc với 400ml, còn 100ml dùng uống trong ngày. Có thể dùng một trong các bài thuốc này, sắc uống liên tục 7-8 ngày sẽ có tác dụng tốt.
Chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân: Dùng 30g lá lốt tươi cho vào 1 lít nước nấu sôi, cho thêm ít muối, để nguội dần dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối.
Chữa lỵ: Lấy 1 nắm nhỏ lá lốt, sắc với 300ml nước, dùng uống.
Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: Đồng bào Mường có kinh nghiệm lấy 1 nắm thật to lá lốt, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống làm một lần. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi vài lần rồi vớt bã để riêng. Khi nước âm ấm thì dùng rửa sạch tổ đỉa. Lau khô rồi lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày là khỏi.
BS. Vũ Nguyên Khiết
***************
Chè dây:
Chè dây hiện nay được nhiều người biết đến như vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng hiệu quả mà không mấy tốn kém.
Có tên khoa học Ampelopsis Cantoniensis Planch họ Nho (Vitacae), chè dây còn được gọi là Thau rả (theo dân tộc Tày) hay Khau rả (theo dân tộc Nùng). Là loại dây leo có vị ngọt, đắng, tính mát, được đồng bào dân tộc miền núi sử dụng như một vị thuốc dân gian chữa các bệnh liên quan tới dạ dày như ợ hơi, ợ chua, đau rát thượng vị… Ngoài ra chè dây còn có tác dụng an thần, chữa mất ngủ. Cách đây gần hai chục năm, chè dây đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát hiện ra những tác dụng tích cực trong việc điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng.
Theo nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam, bệnh nhân đau thượng vị điều trị bằng chè dây có thời gian cắt cơn đau nhanh. Trung bình, chỉ sau 8-9 ngày, hơn 90% bệnh nhân hết đau, thèm ăn và có cảm giác ngon miệng, người dễ chịu, ngủ ngon hơn. Các bệnh nhân nghiên cứu được nội soi trước và sau điều trị, kết quả sau khi dùng chè dây cho thấy, có tới gần 80% bệnh nhân liền sẹo. Như vậy, chè dây có tác dụng làm liền sẹo ổ loét dạ dày rất cao.
Cũng theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, một tác dụng nữa của chè dây với bệnh nhân viêm loét dạ dày – hành tá tràng là làm sạch Helicobarter Pylori, đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, do hàm lượng lớn flavonoid trong chè dây có tác dụng chống viêm nên chè dây còn có tác dụng giảm viêm niêm mạc dạ dày. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều trị bằng chè dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của chè dây không có ở một số các loại tân dược khác.
Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ rõ: sử dụng chè dây trong điều trị viêm loét dạ dày – hành tá tràng cũng không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc cấp tính, đặc biệt không gây ảnh hưởng tới sự sinh sản và di truyền cũng như các chỉ tiêu hóa sinh và huyết học khi dùng chè trong thời gian dài.
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu nhân giống, trồng chè dây để phục vụ cho việc sản xuất dược phẩm cũng như bảo tồn vị thuốc quý vốn là loài cây mọc hoang này. Chè dây có thể sản xuất thành dạng viên nang, hoặc sử dụng ở dạng khô nấu như nấu nước chè mạn để dùng.
(thanhnien)
***************
Rau tàu bay:
1) Rau tàu bay:
Gọi là rau tàu bay vì khi có gió, hoa của nó bay phát tán trong không khí như “tàu bay”…
Rau tàu bay có tên khoa học là Gynura crepidioides Benth. Họ cúc Asteraceac. Rau này được xếp vào nhóm rau rừng. Rau tàu bay đã cung cấp nguồn rau xanh sẵn có khắp nơi để ăn sống, muối dưa, luộc, xào, nấu canh…. Rau tàu bay mọc ở đồng bằng, trên núi, trong rừng, bên đường, bờ mương, ven suối.
Tháng 9/1950, Bác Hồ đi thị sát chiến dịch biên giới. Hôm đi qua chợ mới Bắc Kạn, 6 bác cháu ăn lương khô, có được chút chất tươi chính là món rau tàu bay luộc. Anh em khen được bữa ăn ngon miệng. Bác Hồ nói: “rau tàu bay có khác, ăn vào thấy nhẹ cả người, lại có cả mùi xăng”. Anh em lại được dịp phá lên cười vui vẻ.
Còn với nhân dân ở thời bình, rau tàu bay là món rau thường thấy bên cạnh “nước chấm đại dương và nước canh toàn quốc” trong bữa ăn của sinh viên. Đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới vào những ngày đầu khai hoang cũng tìm đến rau tàu bay. Có lẽ cũng vì ân tình đối với rau tàu bay mà trong hàng trăm rau rừng ăn được thì hiếm có rau được nghiên cứu thành phần hóa học, trong rau tàu bay cho thấy (tính theo %): nước 91,1, protein 2,5, lipid 0,2, cellulose 1,6 dẫn xuất không protein 3,7. Khoáng toàn phần 0,9. Về vitamin có 3,4mg% caroten (tiền sinh tố A), 10mg% vitamin C.
Rau tàu bay có những công dụng phòng chữa bệnh như sau: Cũng như các loại rau xanh khác, rau tàu bay cung cấp các loại vitamin nói chung và vitamin A, C là những vitamin chống ôxy hóa, khử gốc tự do. Rau tàu bay có nhiều xơ gây nhuận tràng và giảm hấp thu chất béo, làm thức ăn kiêng cho người béo phì.
Một số vùng dân cư người ta quen dùng rau tàu bay phòng chống côn trùng, rắn rết cắn, bằng cách giã nhuyễn xoa đắp lên chỗ bị tổn thương.
Có người khoái mùi vị đặc trưng của rau tàu bay. Nhưng có ý kiến cho rằng ăn nhiều và thường xuyên rau tàu bay sẽ bị thiếu máu. Để khắc phục tình trạng đó thì cần làm toan hóa rau tàu bay bằng cách phối hợp chấm nước mắm chanh hoặc làm rau trộn có chanh hoặc giấm để tăng hấp thu sắt tạo huyết sắc tố. Cũng có ý kiến dùng kéo dài rau tàu bay có thể bị sỏi thận. Do đó nên ăn thay đổi những món rau rừng khác. Tuy nhiên, những ý kiến này chưa được khoa học kiểm chứng.
Nấu canh rau tàu bay nên lắng bỏ phần dầu để khỏi bị có mùi hắc như mùi xăng rất đặc trưng của rau tàu bay, rồi mới cho gia vị vào, thì sẽ thơm ngon.
2) Cỏ tàu bay:
Cỏ tàu bay – bơm bớp, bớp bớp, cây cỏ Lào, cây cộng sản. Cây có tên tàu bay vì hoa bay khắp nơi trong gió như tàu bay. Gọi cây cộng sản vì cỏ này phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng khắp nơi. Tên cỏ Lào thì chưa thấy ai giải thích. Tên khoa học Chromolarna odorata (L) King et Robinson.
Cây chứa 2,65% đạm, 0,5% phospho, 2,48% các chất kalium, tinh dầu, tanin, alcaloid.
Theo Đông y cỏ tàu bay có vị đắng, ấm. Có sách nói mùi thơm, có sách cho là hôi nên còn có nơi gọi cỏ hôi. Đây là vị thuốc chữa chấn thương của quân và dân cả nước trong kháng chiến do có tính năng hành huyết, chỉ huyết, sát khuẩn, giải độc, tiêu sưng, giảm đau. Có tác dụng cầm máu rất hiệu quả, đối với trường hợp chảy máu ngoài chỉ cần vò nát hoặc giã nhuyễn đắp lên vết thương là máu thôi chảy (tất nhiên với vết thương nặng phải dùng biện pháp thích hợp để tránh hậu họa).
Cỏ tàu bay chế dạng nước sắc, sirô để chữa lỵ, tiêu chảy trẻ em, chữa đau nhức xương người lớn. Chữa lở ghẻ thì dùng lá tàu bay giã nhuyễn xoa xát hoặc nấu nước ngâm tắm rửa. Để phòng chống đỉa cắn thì cũng làm như vậy để xoa xát tay chân… Rễ cỏ tàu bay sắc nước uống chữa sốt.
Quân y viện dùng cao đặc cỏ tàu bay bôi chữa viêm lợi, viêm ổ răng sau mổ đạt kết quả tốt. Viện mắt Trung ương nghiên cứu dùng lá non cỏ tàu bay làm thuốc chữa viêm giác mạc.
Cỏ tàu bay giã nát hoặc chặt nhỏ cho xuống ruộng lúa, sẽ cho tác dụng diệt các loại ký sinh trùng hại người, trừ được cỏ dại, có lẽ do tinh dầu mùi xăng và alcaloid mà nó chứa.
BS. Phó Đức Thuần
Cá nhân tôi có kinh nghiệm từ những người đi rừng: Nếu lỡ đường mà bị đau bụng tiêu chảy dữ dội thì ngắt đọt non của có tàu bay nay (có nơi gọi là cây bông bay). Đàn ông 7 ngọn đàn bà 9 ngọn cho vào miệng nhai nuốt nước, nếu có chút muối kèm theo càng tốt, chưa đầy 1 phút thì sẽ khỏi. Tôi làm khá nhiều lần rồi.
***************
* Những toa thuốc hay bằng “DẤM TÁO” (Apple Cider Vinegar)
——————-
Hình ảnh các đạo sĩ gác bỏ danh lợi ngoài tai, một mình tìm lên núi hái là thuốc đem về “chế đan phục dược” để cứu đời là một hình ảnh đẹp trong trí tưởng của mọi người.
Mới đây, theo quyển sách đang làm rung động Âu Châu, “Natrual Cures” của Bác sĩ Ducarre, thì ai trong chúng ta củng có thể tự điều chế lấy một loại tiên dược vừa có tác dụng chống lại quá trình lão hóa, vừa trị được bách bệnh.
*Không cần phải lên núi hái lá thuốc và sau đó mất công sao, sắc rắc rối như các danh y ngày xưa: Dược liệu dung để bào chế tiên dược có sẳn bên ta và cách “luyện” tiên dược cũng dễ… Chỉ cần bỏ ra vài đồng mua lấy một lọ dấm táo (Apple Cider Vinegar) và lọ đường mía là xong ngay.
*Theo cách chỉ dẫn của BS Ducarre, sau đây là cách thức “pha chế” tiên dược dấm táo-đường mía để trị bệnh:
1.-Thấp Khớp:
Lấy một muỗng canh (tablespoon) dấm táo quậy với một muỗng canh đường mía rồi đổ chung vào tách nước đã nấu sôi để uống ngày hai lần – vào buổi sáng và buổi tối – hầu trị bệnh thấp khớp. Ngoài ra, dùng dung hổn hợp dấm táo – đường mía khuấy kỹ để thoa lên chổ thấp khớp theo dùng phương cách trị liệu trong uống ngoài thoa.
2.-Nhiễm trùng bọng đái.
Vào buổi sáng, trưa và chiều, mỗi lần trộn lộn một muỗng trà (teaspoon) dấm táo cùng một mỗng nhỏ đường mía để uống như một thứ thuốc nhằm diệt vi khuẩn gây nhiễm trong bọng đái. Có thể cho thêm một muỗng nhỏ nước Cranberry vào hổn hợp nơi trên để gia tăng hiệu năng của loại thuốc diệt trùng thiên nhiên này.
3.-Ung Thư:
Các cuộc khảo cứu chỉ rằng các bệnh nhân ung thư được chữa trị bằng phương pháp hóa học trị liệu, nếu chịu uống thêm dấm táo trộn đường mía mỗi ngày sẽ thuyên giảm bệnh nhanh gấp hai lần số bệnh nhân không uống mà chỉ dùng phương pháp hóa học trị liệu không thôi để điều trị.
4.-Sưng loét miệng:
Ăn rau xà lách trộn với dấm táo cùng đường mía hai lần một ngày, sẽ trị dứt chứng sưng loét miệng.
5.- Hạ mức Cholesterol:
Khuấy 3 muỗng canh đường mía, 3 muỗng canh dấm táo với 2 tách nước trà nóng, uống như thế, ít nhất, ngày 2 lần, sẽ hạ và giữ được mức Cholesterol thấp.
6.-Bị cảm lạnh, đau cổ họng:
Uống hổn hợp gồm một muỗng canh dấm táo và một muỗng nhỏ (teaspoon) đường mía, là sau vài giờ các khó chịu do cảm lạnh và đau cổ họng gây ra sẽ biến mất.
7.-Mệt mỏi:
Nửa muỗng nhỏ dấm táo và một muỗng canh đường mía trộn chung là liều thuốc hồi lực xua tan mệt mỏi.
8.- Trị rụng tóc, tăng thính giác:
Sáng, trưa, chiều, uống dấm táo trộn đường mía theo một tỉ lệ đồng đều, làm tóc không bị rụng và làm tai thính hơn.
9.-Trị đau tim:
Để phòng ngừa đau tim và tránh được những tai biến do mở đóng ở thành động mạch, thì mỗi ngày nên uống một tách dấm táo được làm ngọt bằng một muỗng nhỏ đường mía.
10.-Áp huyết cao:
Trong vòng một tháng sau khi uống một hỗn hợp gồm 2 phần dấm táo, trộn với 1 phần đường mía, thì các người bị cao máu trong một cuộc thử nghiệm ở Ý đã khỏi bệnh.
11.-Tăng cường khả năng của hệ miễn nhiễm của cơ thể:
Hỗn hợp dấm táo – đường mía làm cho các bạch huyết cầu mạnh mẽ hơn, vì vậy gia tăng khả năng tiêu diệt vi trùng, và phòng vệ cơ thể của hệ miễn nhiễm lên gấp 3 lần.
12.-Bao tử:
Trộn ¼ tách dấm táo với hai muỗng nhỏ đường mía rồi đem cất vào tủ lạnh, là coi như có hủ thuốc trị đau dạ dày, và trị chứng khó tiêu rất công hiệu.
Mỗi lần khó chịu bao tử uống hai muỗng nhỏ hỗn hợp đó.
13.-Trị cúm:
Các cuộc khảo cứu của y giới Đan Mạch chỉ rằng mỗi giờ uống một muỗng nhỏ của hai phân lượng đường mía và dấm táo bằng nhau, và trộn chung với nhau, sẽ chữa được bệnh cúm.
14.-Sống lâu trăm tuổi:
Không còn là giấc mơ xa vời nếu mỗi ngày uống một tách trà nóng có trộn hai muỗng nhỏ đường mía và hai muỗng nhỏ dấm táo.
***
Ngoài tất cả các công dụng vừa nói, dung hỗn hợp dấm táo, đường mía một cách đều đặn và thường xuyên còn làm cho da dẻ mịn màng hơn, giúp cơ thể có thêm năng lực, làm cơ thể thon gọn. Và thoa ngoài da để trị chứng đau nhức bắp thịt, đau bàn chân vì tập thể thao nhiều quá.
A.- Thực phẩm tốt cho mùa lạnh
Nếu ốm trong ngày lạnh, bạn nên ăn bát cháo nóng. Món ăn này giúp bạn chống lại sự mất nước, hơi nóng giúp mủi ấm và dễ thở hơn.
Các món ăn sau có thể giúp bạn khỏe trong thời tiết khắc nghiệt của mùa đông.
1.-Quả thuộc họ cam quýt:
Đây là những trái cây giàu vitamin C và bioflavonoid, những chất giúp chúng ta chống chọi với cái lạnh và bệnh cảm cúm.
2.-Bí đỏ:
Là nguồn beta-caroten dồi dào, một trong những chất chống ôxy hóa mạnh, vốn được coi là võ khí chủ lực của mùa đông. Beta-caroten là tiền vitamin A, sau này được cơ thể chuyển hóa thành vitamin A, có tác dụng phòng chống bệnh tật rất tốt.
3.-Thực phẩm lên men: Các thực phẩm lên men như yogurt, kefir rất tốt cho sức khỏe vì chứa các vi sinh vật có ích, giúp chống lại mầm bệnh.
4.-Nấm:
Những nghiên cứu mới đây cho thấy, ăn nấm rất tốt cho hệ miễn dịch, giúp tăng cường sức đề kháng. Mỗi loại nấm lại có những công dụng khác nhau. Nấm cung cấp ít năng lượng, có thể ăn thoải mái mà không sợ tăng cân.
5.-Trà:
Các nghiên cứu mới đây cho thấy 5-6 tách trà đen mỗi ngày sẽ giúp cơ thể kháng viêm nhiễm rất tốt./.
*doducngoc
——————————————————————————–
*Hỏi:-
Cảm ơn bạn đã sưu tầm tài liệu về dấm táo và đường mía. Hai thứ này tôi cũng nghe nói là tốt cho sức khỏe, giống như mỗi sáng bạn ăn một trái táo, thì bạn sẽ không bị hư răng.
——————————————————————————–
*Trả lời:-
Muốn chữa bệnh đau cổ họng bằng dấm táo+đường mía mau có kết quả chỉ một ngày là khỏi thì nên làm như sau, theo kinh nghiệm bản thân.
Khi tôi ở VN mới sang Canada, tôi bị đau cổ họng, bác sĩ cho 10 ngày trụ sinh mỗi ngày uống 3 viên, bác sĩ dặn nếu không hết trở lại lấy toa mua 10 ngày trụ sinh nữa. Tôi nghĩ đúng là xứ sở phí phạm tiền bạc và thuốc men, ở VN chỉ tối đa là 3 ngày hay 6 ngày trụ sinh là khỏi rồi. Cho nên tôi không trở lại Tây y nữa. Tôi nhìn cổ họng trong gương thấy nhiều vết đỏ, lấy tay đè phía ngoài cổ họng có 6-7 chỗ đau. Tôi thử chữa bằng dấm táo: –
2 muổng canh dấm táo + 2 muổng canh đường mía (hàm lượng cao) pha với 1 ly nước ấm.
Ngậm một ngụm rồi nằm ngửa há họng, lấy ngón tay vuốt cổ, tìm chỗ đau day ấn vào đó, dấm táo thấm vào những chỗ đau lâu khoảng 30 phút nước ngận trong miệng trở nên nóng mới nhổ đi, ngậm ngụm khác, tìm chỗ đau khác day vuốt một lúc khi nào nước ngậm trong miệng nóng lại nhổ đi, làm lại nhiều lần cho hết ly nước. Đúng là phép lạ, ấn vào những chỗ đau ở cổ họng không còn đau, soi trong gương, những vết đỏ bầm trong họng nhạt dần. Tiếp tục làm 1 ly thứ hai giống như trên, nhưng trước khi nhổ đi, nằm ngửa cổ khò khò cho nước dấm táo thấm sâu vào trong cổ họng, một hai ngụm cuối cùng ngậm lâu không thấy nước nóng mới thấm nuốt từ từ chút một cho thấm vào họng. Thế là bệnh viêm đau cổ họng được chữa bằng dấm táo khỏi trong một ngày công hiệu hay hơn 30 viên trụ sinh.
Bệnh chảy nước mũi, sổ mũi cũng vậy, xì cho ra hết nước mũi rồi xông bằng 1 ly nước nóng với 3 muổng canh dấm táo không pha đường mía, lấy hai bàn tay ôm vào ly cho xông hơi vào lỗ mũi, cùng lúc hít hơi dấm táo vào lỗ mũi thật nhiều, thật mạnh, cho đến khi lỗ mũi khô để sát trùng và diệt virus, khi mới xông, nước trong mũi lại chảy ra phải xì ra cho hết rồi xông tiếp, cuối cùng niêm mạc mũi khô, khi xì ra không còn nước mũi chảy ra nữa là khỏi bệnh, sau đó để tăng sức đề kháng cho phổi, mới uống 1 ly nước nóng pha 2 muổng cà phê dấm táo+2 muổng cà phê đường mía.
Tôi cũng đã hướng dẫn cho những bệnh nhân của tôi áp dụng có kết quả, nên mỗi lần đổi mùa không cần chích thuốc ngừa cảm cúm, viêm họng và allergy nữa.
Đó là những kinh nghiệm dùng dấm táo đường mía của chúng tôi được viết ra đây để quý vị tham khảo.
*Doducngoc
([url]http://tvvn.org/f122/nha-ng-toa-thua-c-trae-ng-sinh-ba-t-la-o-xin-ha-i-ca-na-n-da-ng-hay-kha-ng-11570/[/url])
——————–
***************
Cỏ nhọ nồi còn có tên cỏ mực, hạn liên thảo, bạch hoa thảo, thủy hạn liên… Đây là loại cây cỏ, sống một hay nhiều năm, cao 30 – 40cm. Thân màu lục hoặc đỏ tía, phình lên ở những mấu, có lông cứng. Lá mọc đối, gần như không cuống, mép khía răng rất nhỏ; hai mặt lá có lông. Hoa hình đầu, màu trắng, mọc ở kẽ lá hoặc ngọn thân, gồm hoa cái ở ngoài và hoa lưỡng tính ở giữa. Quả bế dài 3mm, có 2 – 3 vảy nhỏ, có 3 cạnh, hơi dẹt. Dù là cây cỏ thường mọc hoang ở nhiều nơi, nhưng lại rất hữu ích trong việc chữa bệnh vì nhọ nồi là một vị thuốc dễ kiếm mà dân gian thường dùng để cầm máu. Theo Đông y, cỏ nhọ nồi không độc, có vị chua, ngọt, tính hàn, có tác dụng lương huyết, cầm máu, bổ thận, ích âm, thường dùng chữa trị can thận âm hư, các chứng huyết nhiệt, sốt cao, chảy máu cam, mề đay… Một số bài thuốc chữa bệnh hữu hiệu từ cỏ nhọ nồi:
Chữa chảy máu cam: Cỏ nhọ nồi 20g, hoa hoè sao đen 20g, 16g cam thảo đất, sắc lấy nước uống mỗi ngày một thang.
Chữa viêm họng: Cỏ nhọ nồi và bồ công anh mỗi vị 20g, 12g củ rẻ quạt, 16g kim ngân hoa, 16g cam thảo đất, sắc lấy nước uống. Uống mỗi ngày một thang. Dùng trong 3 – 5 ngày.
Chữa sốt cao: Cỏ nhọ nồi, sài đất, củ sắn dây mỗi vị 20g, 16g cây cối xay, 12g ké đầu ngựa, 16g cam thảo đất, sắc lấy nước uống mỗi ngày một thang.
Chữa mề đay: Nhọ nồi, rau diếp cá, lá xương sông, lá huyết dụ, lá khế, lá dưa chuột, lá nhài giã nát, cho nước vào rồi vắt lấy nước uống. Bã còn lại dùng để xoa, đắp vào chỗ sưng.
Chữa sốt phát ban: Cỏ nhọ nồi 60g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 4 lần uống trong ngày.
Chữa cơ thể suy nhược, thiếu máu, ăn không ngon: Cỏ nhọ nồi, mần trầu mỗi vị 100g, gừng khô 50g, các vị chặt nhỏ sao sơ, khử thổ, đổ vào 3 chén nước dừa tươi, nấu còn 8 phân, uống ngày 2 lần.
Chữa bạch biến: Nhọ nồi 30g, sa uyển tử 15g, hà thủ ô 30g, bạch chỉ 12g, đương quy 10g, xích thược 10g, đan sâm 15g, đảng sâm 15g, bạch truật 10g, thiền thoái 6g các vị rửa sạch đem sắc uống ngày một thang, mỗi đợt uống 15 ngày. Công dụng: cỏ nhọ nồi, đương quy, hà thủ ô, đảng sâm, bạch truật có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ hoá ứ, tư bổ can thận; bạch chỉ, thiền thoái có tác dụng tán phong trừ thấp, sinh cơ da, nhuận sắc da; đan sâm, xích thược có tác dụng hoạt huyết thông lạc, khư ứ sinh tân, chủ yếu nhằm cải thiện tuần hoàn huyết dịch.
Trị eczema trẻ em: Cỏ nhọ nồi 50g, sắc lấy nước cô đặc, bôi chỗ đau. Thường 2 – 3 ngày sau là dịch rỉ giảm rõ ràng, đóng vẩy, đỡ ngứa, khoảng một tuần là khỏi. Theo y học cổ truyền, eczema trẻ em thuộc phạm trù thai liễm sang, chủ yếu do thấp nhiệt nội uẩn, phát ra ngoài da, chữa bằng cỏ nhọ nồi da không bị kích ứng.
Chữa gan nhiễm mỡ: Cỏ nhọ nồi 30g, nữ trinh tử 20g, trạch tả 15g, đương quy 15g. Trường hợp gan nhiễm mỡ do nghiện nước thì thêm: Cát căn 30g, chỉ củ tử (hạt khúng khéng) 15g, bồ công anh 15g; Người béo phì dẫn đến gan nhiễm mỡ thì thêm: đại hoàng 6g, lá sen 15g. Sắc lấy nước uống, mỗi ngày một thang.
Bác sĩ Nguyễn Thị Lan
***************
Củ năn:
Củ mã thầy là tên gọi ở miền Bắc hoặc củ năn, củ năng ở miền Nam. So với các loại củ ăn mát như củ ấu, củ đậu thì mã thầy có giá trị sử dụng làm thực phẩm và làm thuốc cao hơn. Trong mã thầy, có 68,52% nước; 18,75% tinh bột; 2,25% protein, 0,19% lipid; đường; pectin; các muối calci, phospho, sắt; các vitamin A, B1, B2, C… và một hoạt chất gọi là puchiin có tác dụng kháng khuẩn, hạ huyết áp và phòng ngừa ung thư.
Trong dân gian, củ mã thầy thường được dùng để ăn chơi hoặc tráng miệng sau bữa ăn. Củ mềm, giòn, nhiều nước, vị ngọt. Nhiều người sử dụng mã thầy dưới dạng thức ăn – vị thuốc làm cho mát như lấy củ thái nhỏ, nấu với bột đậu xanh làm chè lục tàu xá hoặc hầm với dạ dày lợn để thanh nhiệt, bổ dưỡng, tiêu tích, giải độc và dùng dạng bột với tác dụng mát gan, dạ dày và ruột.
Ở Trung Quốc, người ta đã tổng kết cách chữa bệnh bằng mã thầy như sau: Hằng ngày, ăn củ tươi hoặc nghiền củ lấy nước uống (có thể phối hợp với nước ép rễ cỏ tranh hoặc ngó sen tươi) hoặc uống bột củ để giúp tiêu hóa, sinh tân dịch, chống háo khát, cầm máu, giải độc nước, lợi tiểu. Mã thầy 1-2 củ, đốt, tán nhỏ, uống với nước chữa băng huyết hoặc bôi để trị lở loét trong khoang miệng của trẻ em. Dịch ép củ mã thầy hòa với nước (lượng bằng nhau) hâm nóng, uống vào lúc đói chữa kiết lỵ ra máu do nhiệt. Nước sắc củ mã thầy có đường làm tiểu tiện dễ dàng, giảm viêm nhiệt và nóng buốt; phối hợp với rau câu và râu ngô lại chữa tăng huyết áp. Mã thầy nấu làm canh ăn rất tốt với tác dụng tiêu đờm.
Để chữa sởi, ngay ngày đầu tiên, cho trẻ uống nước ép củ mã thầy. Khi sởi sắp mọc và cả sau khi sởi đã mọc, lấy mã thầy nấu với củ cà rốt và hạt mùi cho ăn đến khi sởi bay. Tiếp đó vài ngày, uống nước củ mã thầy để tẩy độc và giúp cơ thể chóng hồi phục.
Dùng ngoài, củ mã thầy rửa sạch, giã nát, đắp chữa mụn nước.
Ngoài củ, nhân dân còn có kinh nghiệm dùng thân cây mã thầy 10-20g, phối hợp với rễ cây lau (lô căn) 30g, để tươi, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa phù toàn thân, tiểu tiện khó khăn, khát nước, táo bón.
Chú ý: Người tỳ thận hư hàn, trẻ em hay đái dầm, không được dùng mã thầy. Hơn nữa, vì mọc trong bùn, vỏ ngoài củ mã thầy dễ bị ấu trùng sán lá bám vào, nên phải rửa sạch củ và chần qua nước sôi, rồi mới gọt ăn.
DS. Hữu Bảo
***************
Gừng:
Do sự biến đổi khí hậu toàn cầu có xu hướng nóng lên, trong những năm gần đây, ở miền Bắc và miền Trung nước ta thường xuất hiện những trận mưa lũ lớn hoặc cực lớn trái mùa vào tháng 9, 10 âm lịch. Đây là thời gian chuyển mùa giữa cuối thu đầu đông. Những người có thể tạng yếu hoặc phải vận lộn với gió mưa, lạnh giá rất dễ bị cảm lạnh hoặc bệnh đường ruột.
Ở những nơi vùng sâu, vùng xa hoặc bị lũ cách ly với những cơ sở khám chữa bệnh, mỗi gia đình nên phòng bị vài củ gừng, vừa làm thức ăn, gia vị (dược thiện), vừa phòng chống bệnh kịp thời trong hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt.
Theo Nam dược thần hiệu: Gừng tươi (sinh khương) vị cay, tính ấm, thông được khí, khởi được thần, mở được 9 khiếu, trừ tà khí, hồi phục chính khí. Gừng khô (can khương) vị cay, tính ấm, chữa được chứng hư nhiệt, phong hàn, đau bụng, các chứng thất huyết…
Cách dùng gừng:
Trong các chứng cảm:
– Nếu phải dầm mưa dãi gió nhiều, bị hạ đường huyết, bủn rủn chân tay, toát mồ hôi, chân không đứng vững chỉ cần một nhánh gừng nhỏ đập giập vào cốc nước đường uống ấm.
– Người ăn khó tiêu hoặc chán ăn chỉ cần một nhánh gừng băm nhỏ với 2 – 3 củ sả, 1 quả ớt (chín hoặc xanh đều được) gia vị vừa đủ tráng hoặc hấp cơm, nếu vừa lội nước nhiều giờ ăn sẽ ấm lên. Nếu người biếng ăn, ăn liên tục 2 – 3 ngày.
– Nếu vừa ngâm mình dưới nước lâu, lạnh rét, nhấm một miếng gừng nhai rồi chiêu với một cốc nước nóng, người sẽ ấm lên.
– Lội nước bị cảm lạnh, lấy một nhánh gừng giã với tóc rối, trộn với nước bọc vào miếng vải thưa, đánh gió. Khi đánh gió nhớ đánh xuôi từ trên xuống và tránh các hạch bạch huyết (mang tai, nách, háng, bên trong khuỷu tay, kheo chân) sẽ nhanh chóng được giải cảm.
Nếu có đồng tiền bạc cổ hoặc trang sức bằng bạc gói lẫn vào thì càng tốt. Bạc sẽ thu liễm các axít độc ra khỏi cơ thể (đồng tiền bạc bị chuyển màu đen) người sẽ càng nhanh khỏi…
Các chứng cảm:
Bị cảm lạnh, bất tỉnh nhân sự, miệng sùi bọt mép, chân tay không co duỗi được: Nước cốt gừng (khương trấp) 1 chén nhỏ, nước vòi măng tre (trúc lịch) 2 chén nhỏ. Hòa cùng nhau uống (Nam dược thần hiệu).
Nếu cảm mà mình nóng, muốn nôn oẹ: Gạo nếp (1/3 bát) sao vàng, gừng 1 củ đập giập. Nấu cháo ăn nóng bất kể giờ giấc.
Bị cảm, miệng lập cập, tay run rẩy không cầm nắm gì được: Gừng khô (can khương) 1 phần (khoảng 3g), nhục quế (cạo bỏ vỏ) 2 phần, thạch hộc 6 phần, ngưu tất 8 phần, ngũ gia bì 10 phần. Đun với 2 bát nước lấy 1 bát (8 phân). Nếu có đồng bạc ngâm sẵn trong dầu vừng bỏ vào sắc chung uống bất kỳ lúc nào thì càng tốt. Người ấm lên ngay, hết run, nói được.
Nếu mình nóng, ớn lạnh, đau đầu, nghẹt mũi, ho và sốt (bị nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính – ta gọi là cảm cúm) thì dùng ngay bài thuốc sau: gừng tươi 3 lát, trần bì (vỏ quýt) 5g, thanh bì (vỏ quýt non) 5g, chỉ xác (quả trấp, bỏ ruột) 5g, cát cánh 8g, tô diệp (lá tía tô) 9g, ma hoàng 8g, hương phụ (củ cỏ gấu) 12g, cam thảo 3g.
Nếu ho nhiều gia thêm tang bạch bì 8g (vỏ rễ cây dâu cạo bỏ vỏ đỏ ở ngoài) hoặc mạch môn đông 8g sắc với 3 bát nước, lấy 1 bát uống ấm, nếu có chua me đất hoa vàng thì gia thêm 1 nắm, nếu có nước tre non (nướng lên rồi đập, giã, ép lấy nước) uống cùng thì sẽ hạ sốt nhanh. Nên uống trước bữa ăn, sau đó ăn cháo thì càng tốt, uống xong nằm đắp chăn cho ra mồ hôi.
Người không ra được mồ hôi, rét trong, nóng ngoài: Gừng sống 1 củ, hạt đào cả vỏ giã nát 7 hạt, chè tươi 1 nắm. Sắc uống ấm (đổ hai bát nước lấy 2/3 bát thuốc).
Hoặc làm như sau: Gừng sống 1 củ, đậu sị 1 thìa. Cả 3 thứ giã nhỏ, gói vào vải mỏng buộc vào rốn cho ra mồ hôi là khỏi.
Ngâm mình lâu trong nước trúng cảm, tay chân quyết lạnh, nấc cụt: gừng sống 1 nhánh, vỏ quýt 1 nhúm, tai quả hồng 3 – 5 cái. Sắc với nước uống nóng.
Các chứng đường tiêu hóa:
Thình lình đau bụng: Gừng sống 7 lát (1 nhánh vừa), muối sao vàng 5g, nước 1 bát. Sắc uống khi còn ấm.
Tiêu chảy liên tục do bị lạnh: Gừng tươi 1 củ rửa sạch vỏ, đập giập, búp ổi 1 nắm to. Nếu có búp ổi tàu (loại ổi cảnh có bán ở chợ cây cảnh, lá nhỏ bằng đầu đũa, quả bằng ngón tay thì càng tốt). Đun với 3 bát nước lấy một bát uống ngay, uống liên tục nhiều lần trong ngày sẽ ngừng.
Lỵ ra máu: Gừng tươi đập dập 1 nhánh, cành lá phèn đen 1 nắm, tô mộc (gỗ vang) chẻ nhỏ 1 nắm. Sắc uống ấm.
Hoặc: Gừng tươi 1 nhánh, rễ cỏ tranh 1 nắm, phèn đen 1 nắm, cỏ seo gà 1 nắm, mơ lông (mơ trắng, mơ hôi) 1 nắm.
Tất cả sắc với 3 bát nước lấy 1 bát uống ấm; hoặc như bài 2 nhưng thay vì búp ổi để tươi (chữa tiêu chảy) thì nay sao vàng hạ thổ chữa kiết lỵ.
Đau bụng (miệng nôn trôn tháo): Gạo nếp 1 vốc, gừng sống 1 nhánh, cũng giã nát, hòa đều với nước, bỏ bã uống nước.
Hoặc: Gừng sống 1 nhánh nhỏ, lá tre 20 lá (loại bánh tẻ không già quá), cát căn 10g (nếu xa hiệu thuốc thì lấy bột sắn dây hoặc 1 khúc sắn dây). Cơm gạo tẻ sao vàng (một chút bằng quả quýt). Tất cả cùng đem sắc uống (3 phần nước lấy 1 phần thuốc).
Đau bụng toát mồ hôi, muốn thổ không thổ được, muốn tả không tả được: Gừng sống sao vàng 7 miếng, muối trắng khoảng 50g, nước đái trẻ em (đồng tiện) bỏ phần đầu và phần cuối lấy 2 bát sắc còn một nửa, uống lúc ấm.
Hoặc: Gừng sống 1 lạng, rễ lau (lô căn) 1 lạng, vỏ quýt (trần bì) 20g, nước 1 bát, sắc còn một nửa, chia đôi uống.
Dạ dày đầy cứng, ăn uống không ngon, cồn cào (phiên vị) oẹ mửa: Gừng khô (can khương), giềng ấm (lương khương). Hai thứ bằng nhau, sắc uống. Nếu có điều kiện, tán bột, khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô uống dần, lần đầu 15 viên, lần sau 20 viên.
Chạm thương:
Chạm thương, chảy máu thì dùng 1 củ gừng tươi (tùy theo vết thương to, nhỏ) rửa sạch, giã nát băng vào vết thương, vừa chống nhiễm khuẩn, nhanh lên da non và không để lại sẹo lồi, lõm.
(Lương y Nguyễn Minh Đức)
*******************
Tía tô:
Tía tô vừa là rau gia vị, vừa là cây thuốc phổ biến trong nhân dân. Có 2 loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm mạnh. Loại tía tô mép lá quăn có giá trị sử dụng cao hơn. Tránh nhầm với cây cọc giậu (dã tô, cây nhâm) có bề ngoài giống hệt loại tía tô mép lá phẳng, nhưng không có mùi thơm của tía tô.
Lá: Tên thuốc trong y học cổ truyền là tô diệp. Hái lá già cả cuống làm 2 lần cách nhau một tháng, đem phơi trong mát hoặc sấy nhẹ cho khô để giữ nguyên màu sắc và hương vị. Dược liệu có vị cay, mùi thơm, tính ấm, không độc, có tác dụng phát tán, phong hàn, hành khí, hóa trung, được dùng trong những trường hợp sau:
Chữa cảm sốt, trong người khó chịu, mệt mỏi: Lá tía tô, kinh giới, cam thảo đất, cúc tần hay sài hồ nam, mỗi thứ 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Đồng thời, dùng dạng món ăn, bài thuốc dân gian thay cho bữa ăn trong ngày là ăn cháo giải cảm.
Chữa ho do cảm lạnh: Lá tía tô, lá xương sông, mỗi thứ 12g; kinh giới, gừng mỗi thứ 8g. Sắc uống lúc nóng.
Chữa sốt, sổ mũi, chân tay nhức mỏi: Tía tô, kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, cát căn mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền mỗi thứ 5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.
Chữa cảm cúm, nhức đầu, nôn nao: Viên cảm “hương tô” chứa 0,263g, lá tía tô 0,187g hương phụ, 0,15g bạch chỉ, 0,075 trần bì, 0,075g cam thảo. Người lớn, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 3 viên (thuốc có bán ở các hiệu thuốc).
Chữa đau bụng, kiết lỵ, tiêu chảy: Tía tô 20g, rau sam 20g, cỏ sữa 16g, cam thảo đất, cỏ mần trầu, kinh giới mỗi thứ 12g. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 12g dưới dạng thuốc bột hoặc thuốc hoàn. Nếu bệnh cấp, có thể sắc uống.
Dùng ngoài, lá tía tô phối hợp với lá thanh yên, lá chanh, lá ráy, lá lốt, mỗi thứ 50g, giã nhỏ, gói vào một miếng lá chuối tươi, dùi nhiều lỗ thủng, hơi nóng, đắp lên vết thương sau khi đã rửa sạch và sắc bột màng lụa bên trong vỏ quả chanh để chữa mụn nhọt độc vỡ mủ lâu ngày, không liền miệng. Ngày làm một lần trong nhiều ngày.
Cành: Tên thuốc là tô ngạnh. Nhổ cả cây sau khi đã hái lá lần thứ hai, bỏ rễ để riêng, cắt thành từng đoạn dài 5 – 10cm, phơi hoặc sấy khô (chỉ lấy thân chính, không lấy những cành nhỏ).
Chữa động thai: Cành tía tô 8g, rễ cây gai 8g, ngải cứu hoặc cam thảo dây 4g. Tất cả sắc uống. Nếu thấy ra máu, thêm lá huyết dụ 10g, hoặc cành tía tô, tục đoạn, ngải cứu, mỗi thứ 12g, rễ gai, thục địa, hoài sơn, mỗi thứ 20g, chỉ xác 8g, sa nhân 6g. Sắc uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa băng huyết, động thai: Cành tía tô 10g, lá huyết dụ 10g, hoa cau đực 10g, tóc đốt thành than một dúm. Tất cả sao vàng, sắc uống ngày một thang.
Chữa sưng vú: Cành tía tô, rễ gai, mỗi thứ 12g, ngải cứu, cỏ nhọ nồi, trắc bách diệp sao cháy đen, mỗi thứ 30g. Sắc đặc, uống làm một lần.
Chữa suy nhược thần kinh: Cành tía tô 8g, câu đằng, thảo quyết minh, cam thảo dây, mỗi vị 12g; cúc hoa, hương phụ, chỉ xác, uất kim, mỗi vị 8g. Sắc uống.
Chữa bế kinh: Cành tía tô 8g, đan sâm, ngưu tất mỗi thứ 12g; xuyên khung 10g; quế chi, bạch chỉ, uất kim, nga truật, mỗi thứ 8g. Sắc uống trong ngày.
Dùng ngoài, cành tía tô phối hợp với rễ cây vương tùng, vỏ thân cây thông, vỏ xác khô ve sầu (thuyền thoái) mỗi thứ 20 – 30g. Nấu nước tắm rửa chữa phù toàn thân.
Quả: Tên thuốc là tô tử. Hái quả ở những cây định lấy quả, không hái lá hoặc chỉ hái ít lá ở lần thứ nhất. Phơi hoặc sấy khô.
Dùng riêng, quả tía tô với liều 6 – 12g sắc uống chữa ho, nôn mửa, đau bụng, khó tiêu. Dùng phối hợp với những vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa ho có đờm, ho hen lâu ngày ở người cao tuổi: Quả tía tô và hạt cải bẹ, mỗi thứ 10g, tán bột, uống hằng ngày với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng.
Chữa ho suyễn, ngực đầy tức, thở đứt quãng: Quả tía tô, bán hạ chế, mỗi vị 10g; đương quy 8g; cam thảo, nhục quế mỗi vị 6g; tiền hồ, hậu phác, tô diệp mỗi vị 4g; gừng tươi 2 lát; đại táo 1 quả. Sắc uống ngày một thang.
Hoặc quả tía tô 10g; bạch giới tử, lai phục tử mỗi vị 8g. Giã nhỏ, hấp với đường phèn vừa đủ ngọt. Uống lúc nóng.
Chữa mày đay: Quả tía tô 12g; kinh giới, ké đầu ngựa, ý dĩ mỗi thứ 16g; phòng phong, đan sâm mỗi thứ 12g; bạch chỉ, quế chi mỗi thứ 8g; gừng sống 6g. Sắc uống trong ngày.
Chữa viêm phổi ở trẻ em: Quả tía tô 8g; sài đất, thạch cao mỗi thứ 20g; kim ngân hoa 16g; lá tre 12g; hoàng liên, tang bạch bì mỗi thứ 8g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa phù khi mang thai (do khí trệ): Quả tía tô, hương phụ, trần bì ô dược, mộc qua, mỗi thứ 8g; cam thảo 4g; sinh khương 2g. Sắc uống.
Rễ: Tên thuốc là tô căn. Thái nhỏ, phơi hoặc sấy khô, dùng trong, rễ tía tô với rễ cây gai, rễ đu đủ và rễ cỏ lào mỗi thứ 20 – 30g. Sắc uống chữa kiết lỵ, tiêu chảy.
Dùng ngoài, rễ tía tô, lá thanh yên, nõn khoai môn, lá lốt, giã nhỏ, gói vào vải xô, hơ nóng, đắp chữa vết thương tụ máu, sưng tấy và đau nhức. Ngày làm 2 – 3 lần.
(DS. Bảo Hoa)
********************
Mướp đắng:
Mướp đắng chế biến thành nhiều món ăn ngon. Nó còn là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh.
Mướp đắng còn gọi là khổ qua, lương qua, mướp mủ… Trong công trình nghiên cứu về “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, cố Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi cho biết: mướp đắng được trồng ở khắp các tỉnh trong nước ta và một số nước.
Quả có chứa một chất glucozit đắng gọi là momocdicin. Ngoài ra còn có vitamin B1, C, adenin, betain, protein… Ở nước ta ngoài việc dùng để chế biến thành món ăn, mướp đắng còn được dùng làm vị thuốc. Cụ thể: mướp đắng 2 – 3 quả nấu nước tắm cho trẻ em để trừ rôm sảy. Mướp đắng 1 – 2 quả nấu nước uống, ngày 1 – 2 lần để chữa ho.
Ở Ấn Độ, nước ép của lá dùng làm thuốc gây nôn, thuốc tẩy trong những bệnh về đường mật. Nó còn có tác dụng chữa giun. Ở Puerto Rico, mướp đắng đã được dùng để chữa đái tháo đường…
Lương y Huyên Thảo (Hà Nội) cho biết: theo Đông y, mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, không độc. Nó có tác dụng giải cảm nắng, chống khát, thanh nhiệt, giải độc, giúp mát gan, sáng mắt. Có thể dùng mướp đắng chữa say nắng phát sốt, kiết lỵ, mắt đau sưng đỏ, mụn độc sưng tấy, chữa đái tháo đường. Cụ thể:
+ Dùng mướp đắng 60 gr, cuống lá sen 30 gr, đậu ván trắng 30 gr, sắc nước uống trong ngày để chữa say nắng phát sốt. Nếu trường hợp bị nhẹ chỉ cần dùng 15 gr mướp đắng đã bỏ lõi phơi khô, sắc nước uống.
+ Dùng mướp đắng 1 quả, đường kính trắng 60 gr. Mướp đắng rửa sạch, bỏ lõi, giã nhuyễn, cho vào đường trộn đều. Sau 2 giờ, vắt lấy nước cốt uống. Bài thuốc này chữa đau răng do nắng nóng hay ăn nhiều chất cay nóng hiệu quả.
+ Dùng mướp đắng tươi 60 – 80 gr, rau cần 200 gr, sắc nước uống trong ngày, liên tục 7 – 10 ngày (một liệu trình) chữa tăng huyết áp.
+ Mướp đắng 150 gr thái nhỏ, gạo tẻ 30 – 50 gr. Cho gạo vào nồi đổ nước, đun sôi một lúc rồi cho mướp đắng vào nấu thành cháo. Mỗi ngày ăn 2 lần khi cháo còn ấm. Bài thuốc này chữa đái tháo đường hiệu quả.
+ Mướp đắng tươi 60 – 80 gr (hoặc 30 – 40 gr khô), thái nhỏ, hãm nước sôi, uống thay trà trong ngày. Cũng có thể dùng mướp đắng phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 gr bằng nước đun sôi. Bài thuốc này chữa đái tháo đường hiệu quả.
Lương y Huyên Thảo cho biết thêm: mướp đắng có tính lạnh nên những người tỳ vị hư hàn ăn dễ bị đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa vì vậy không nên dùng nhiều.
(thanhnien)
Loại mướp đắng này bào mỏng, kiếm trái non, sau khi bào để lên đĩa và cho vào ngăn đá để chừng 15 phút sẽ mất vị đắng, ngày nào cũng ăn, giảm cân rất là tốt! Lời khuyên cho những bạn béo phì…
**************
Có quen 2 người bị bịnh ung thư, cả 2 đều được bịnh viện trả về nhà. Có 1 người ăn lá cây lược vàng lại khỏi bịnh 1 cách ngạc nhiên, người thứ 2 cũng ăn nhưng cuối cùng vẫn phải về nơi … cách nay mấy tháng rồi. (ăn sống hoặc nấu canh hoặc làm salad dưới mọi hình thức như là 1 lọai rau).
Thì thôi, hữu bịnh tắc cầu.
**************
Cây lược vàng:
Một số thông tin về cây lược vàng:
Cây lược vàng xuất hiện lần đầu tiên ở tỉnh Thanh Hóa vào cuối những năm 90. Và từ năm 2005, cây được giới thiệu phổ biến tại địa phương với nhiều công dụng chữa bệnh, trong đó có một số bệnh khó. Đó là các chứng bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thoái hóa đốt sống cổ, viêm đại tràng mạn tính, viêm gan, táo bón, chảy máu dạ dày, tiểu đường, mỡ máu, thấp khớp, chấn thương trầy xước, bầm tím, viêm họng, viêm mũi, viêm thận, đau răng, loét lợi, eczema, sỏi thận, tai biến mạch máu não, u xơ tuyến tiền liệt, ung thư, đau lưng, bỏng, say nước…
Cây lược vàng.
Dạng dùng thông thường là lấy cây tươi rửa sạch, nhai với ít muối, nuốt nước (mỗi lần 2-3 lá) hoặc cắt nhỏ, ngâm nước, uống (mỗi lần 1/3 chén con). Ngày dùng 3 lần. Dùng ngoài, giã đắp hoặc xoa bóp bằng nước ngâm lá.
Lược vàng là một loại cây cỏ, có nguồn gốc ở Mexico, được di thực sang nước Nga, rồi đến Việt Nam (đầu tiên là tỉnh Thanh Hóa).
Cây và hoa lược vàng.
Cây có tên khác là lan vòi, địa lan vòi, lan rũ, tên khoa học là Callificia fragrans, thuộc họ thài lài (Commelinaceae) do Viện Dược liệu xác định. Cây được giới thiệu làm thuốc qua tài liệu dịch từ bài báo đăng trên Tạp chí 30 K “Sức khỏe và Đời sống” của Cộng hòa liên bang Nga mà tác giả là Vladimir Ogarkov.
**********************
Những năm gần đây, đã có một số cây thuốc từ kinh nghiệm nhân dân được khoa học chứng minh đầy đủ về mặt hóa học, dược lý; được áp dụng thực nghiệm có kết quả tốt và được sản xuất thành những chế phẩm bán ra thị trường với độ tin cậy cao trong việc chữa bệnh. Đó là cây chè dây (Ampelopsis canto-niensis) với chế phẩm Ampelop chữa đau dạ dày; trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) với chế phẩm Crila chữa viêm tuyến tiền liệt; dây thìa canh (Gymnema sylvestre) với chế phẩm Diabetna chữa tiểu đường…
**********************
Tam thất:
Tam thất là vị thuốc y học cổ truyền quý, được sử dụng nhiều từ xưa đến nay. Theo Đông y, tam thất vị đắng hơi ngọt, tính âm, nằm trong nhóm hoạt huyết hóa ứ, có tác dụng hành ứ, chỉ huyết, tiêu thũng. Dùng để chữa những chứng bệnh xuất huyết do huyết ứ, thủy thũng, ho ra máu…
Tam thất thường dùng cho phụ nữ sau khi sinh, người mới ốm dậy, người già yếu. Gần đây người ta phát hiện ra tam thất cũng có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các khối u.
Hiện nay người ta sử dụng tam thất trong các món ăn để tăng sự bổ dưỡng và có tác dụng chữa bệnh.
Tam thất là vị thuốc y học cổ truyền quý, được sử dụng nhiều từ xưa đến nay:
– Phụ nữ sau sinh có thể dùng tam thất: Tam thất thái lát 30g, đương quy 08g, kỷ tự 16g, đại táo 20g. Các vị thuốc hầm cách thủy 2 tiếng. Món ăn có tác dụng bồi bổ cơ thể, tiêu huyết ứ, huyết xấu trong cơ thể sản phụ, hồi phục nhanh sức khoẻ.
– Người suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh: Tam thất 30g, long nhãn 16g, đương quy 6g, đảng sâm 16g, hạt sen 20g. Hấp cách thủy 30 phút.
– Thống kinh (đau bụng khi hành kinh): Tam thất 20g hòa với nước ấm hoặc cháo loãng uống 10 ngày trước kỳ kinh. Tam thất có tác dụng hoạt huyết, chỉ đau.
– Đau thắt ngực do bệnh mạch vành: Tam thất 20g, đan sâm 20g sắc uống hoặc lấy nước nấu cháo. Ăn liên tục trong vài tháng.
– Người bị ung thư, ngoài các thuốc đặc trị có thể dùng thêm tam thất sống (chưa sao) hỗ trợ điều trị: Tam thất rửa sạch, thái lát. Các món ăn cho vài lát tam thất nấu cùng. Ngày ăn 30 – 40g tam thất.
– Những trường hợp chảy máu bầm tím do chấn thương, ho ra máu, rong kinh rong huyết, chảy máu cam: Dùng bột tam thất hòa nước ấm uống hàng ngày, mỗi ngày 20g.
Các món ăn trên thích hợp với những người yếu mệt sau khi ốm dậy hoặc phụ nữ sau khi sinh mất máu, những người mắc bệnh tim.
(Theo BS Minh Trang – Lương y Vũ Quốc Trung)
********************
Quả dâu tằm ăn:
Quả dâu ta còn gọi là quả dâu tằm (dâu cho lá nuôi tằm kéo tơ). Quả dâu có tên Hán là tang thậm (tang thậm tử). Họ dâu tằm Moraceae.
Theo Trung dược học bản thảo: Trái dâu tằm có công dụng bổ thận, dưỡng huyết, khu phong, sáng tai, mắt, dài râu tóc, tăng lực, chữa táo bón kinh niên. Trong Bản thảo bị yếu viết: an thần, thính tai, sáng mắt, tiết nhiều nước miếng, trị khát, lợi thủy, tiêu thũng. Theo Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân: trái dâu giải được độc của nước, lợi cho cả khí huyết. Bản thảo cầu chân nói trái dâu làm xanh tóc, đen râu… Tân tu bản thảo nói có thể chỉ dùng trái dâu cũng chữa được các chứng khát… (như đái tháo đường).
Công dụng và cách dùng quả dâu chín:
Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, đen râu tóc, lợi xương khớp: nước tang thậm (tang thậm tửu). Quả dâu chín 5kg. Gạo nếp 6kg. Men nước vừa đủ. Quả dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội cho cùng cơm nếp men nước trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30-50ml. Nếu cho vào nước dâu thêm đường mía, nước sẽ ngon bổ hơn.
Dưỡng huyết: Quả dâu tươi chín 50g. Đường phèn vừa đủ. Quả dâu rửa sạch cho vào nồi đất cho nước vừa đủ sắc lấy nước hòa đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè. Nếu không có đường phèn có thể dùng đường hoa mơ hoặc đường trắng.
Tóc khô gãy, rụng, chóng bạc: Quả dâu 1kg, nước 0,5 lít ngâm 3 ngày. Uống ngày 2 lần vào 2 bữa cơm. Mỗi lần 20ml.
Quả dâu, sinh địa, mỗi thứ 30g. Đường trắng 15g. Giã nát sắc uống chia 10 lần.
Chống lão hóa: Nhức mỏi cơ xương khớp, đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lẫn. Nên sách cổ gọi quả dâu là quả trường thọ.
– Cháo quả dâu: Quả dâu chín 40g, gạo 50g. Đường phèn vừa đủ. Nấu cháo lỏng ăn buổi sáng (lúc chưa ăn gì, bụng đói) rất tốt đối với người già, yếu, ốm dậy.
– Bánh mè quả dâu: Quả dâu 30g, vừng đen 60g, bột nếp 700g, hạt đay 10g, đường trắng 30g. Làm bánh hấp chín ăn.
Mất ngủ cấp tính: Quả dâu tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.
Mất ngủ kinh niên: Quả dâu 15g, thục địa 15g, bạch thược 15g, sắc uống ngày 1 thang.
Các chứng bệnh sau đẻ (hậu sản do âm huyết kém, ho, sốt): dâu, long nhãn, đảng sâm, mỗi thứ 30g nghiền nát. Uống mỗi lần 2-3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần.
Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả dâu 30g, ngân nhĩ 20g, ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.
Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu 150g, lá dâu 100g, vừng đen 100g, cô cao lỏng thêm 500g đường. Uống ngày 3 lần, mỗi lần 15g (1 thìa con).
Đau họng, đau do ung thư: Dùng quả dâu chín ăn khoảng 20g quả để bổ dưỡng. Ép nước súc miệng chữa các chứng đau ở miệng, họng.
Phù thũng: Một nắm cành dâu băm nhỏ, đổ ngập nước đun còn một nửa bỏ bã, một lượng quả dâu chín bằng lượng cành nấu nhừ lọc bỏ bã cô đặc, thêm đường, ít nước. Ngày uống 2 thìa canh, hòa nước cơm uống trước bữa ăn.
Chảy nước mắt (nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả dâu 20g. Cà chua một quả. Đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngày 1-2 lần. Đồng thời lấy lá dâu già chưa rụng nấu lấy nước rửa mắt hằng ngày.
Ăn không tiêu, trướng bụng, óc ách, tức thở: Quả dâu 10g, bạch truật 6g, sắc uống ngày 1 thang.
Hoạt huyết, dưỡng huyết thông kinh, chữa bế kinh do huyết ứ: Quả dâu 15g, hồng hoa 3g, kê huyết đằng 13g, nước trắng 1 thìa con (15ml). Cho tất cả vào nồi nấu lấy nước bỏ bã. Ngày 1 thang, uống trong 5-7 ngày.
Ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm: Quả dâu, ngũ vị tử mỗi loại 10g sắc kỹ, uống ngày 1 lần.
Bệnh mạch vành: Quả dâu 30g, câu kỷ tử 30g, gạo dính 15g. Nấu uống ngày 2 lần.
Viêm đa khớp dạng thấp: Quả dâu tươi 100g, nước trắng (gạo hoặc nếp ngon). Dâu rửa sạch, giã nát gói vào túi vải ngâm vào nước 3-5 ngày. Uống mỗi lần 20-25ml.
Viêm khớp nói chung: Quả dâu 250g, cành dâu 150g, chùm gửi dâu 100g. Ngâm nước uống.
Đái tháo đường do can thận âm suy: Quả dâu 30g, thiên hoa phấn 20g, sinh địa 15g. Sắc uống ngày 1 thang.
Hoặc quả dâu tươi 1kg, gạo nếp 0,5kg, men nước vừa đủ dùng. Giã nát dâu cho nếp vào nấu cùng thành cơm nếp, để nguội rắc men nước, trộn đều cho lên men thành nước cái. Ăn khai vị trước bữa cơm.
Viêm gan mạn tính, ung thư gan: Quả dâu tươi 500g, bột củ ấu 50g, đường mía 30ml. Ép dâu lấy nước cô đặc, trộn bột củ ấu và đường mía nấu chín. Dùng điều trị hỗ trợ ung thư gan bị huyết hư, miệng lưỡi khô, thần kinh suy nhược mất ngủ, táo bón.
Tràng nhạc: Trái dâu chín 500g, thục địa 200g (thái nhỏ) cho vào túi vắt lấy nước cô thành cao dùng mỗi lần một thìa với nước đun sôi, để nguội. Ngày 3 lần.
Quả dâu dùng ngoài:
Tóc khô gãy rụng nhiều: Quả dâu chín đen giã nhuyễn, lấy cả nước và cái xoa xát lên đầu tóc.
Bỏng, vết thương chảy máu: Quả dâu rửa sạch, ép lấy nước, bôi, rửa, đắp.
Nấm, hắc lào: Quả dâu tươi 60g. Giã nát xát lên chỗ tổn thương.
Một số món ăn từ quả dâu:
Quả dâu, đậu đen, rau cần lượng bằng nhau ninh nhừ ăn nóng, chữa rụng tóc.
Dâu hấp: Mứt dâu 25g, cùi đào 30g, mì chính, xì dầu. Tất cả đánh trộn đều hấp chín.
Dâu xào thịt: Dâu tươi 200g. Bột ướt, nước, muối, mì chính, dầu lạc, gừng. Cách làm như sau: Dâu bỏ cuống, bắc chảo nóng, cho dầu, cho các thứ vào xào. Cho dâu vào cùng mì chính, nước, muối đảo chín.
Những tương kỵ khi dùng quả dâu:
Chống chỉ định đối với các bệnh thuộc hàn chứng (vì quả dâu thuộc tính hàn) như sôi bụng, tiêu chảy. Theo sách xưa kỵ dùng dụng cụ kim loại.
BS. Phó Thuần Hương.
**************
Mướp đắng, người miền Nam người ta gọi là trái hủ qua, khổ qua:
————
* Tên đúng của nó là: – KHỔ QUA 苦瓜
苦 Khổ:- vị đắng
瓜 Qua:- trái thuộc họ dưa
苦瓜:- Khổ qua:- trái thuộc họ dưa, vị đắng.
————
**************
Trái dứa (miền Nam: trái khóm ăn):
Vitamin C, khoáng chất và nhiều chất dinh dưỡng có trong trái dứa không chỉ là món ăn bổ ích mà còn là phương thuốc trị bệnh rất tốt cho cơ thể.
Cải thiện da
Tiếp xúc với ánh nắng, bụi bẩn thường xuyên sẽ làm cho da mặt bị sần sùi và dễ bị nám. Đắp mặt nạ từ nước cốt trái dứa sẽ làm cho làn da của bạn tươi sáng hơn mỗi ngày vì chất acid bromatic có trong trái dứa sẽ lột nhẹ lớp tế bào sừng phía ngoài làm cho da mịn màng và trắng hơn.
Đắp mặt nạ từ nước cốt trái dứa sẽ làm cho làn da của bạn tươi sáng hơn mỗi ngày
Cách đắp mặt nạ này là phương pháp trị nám tự nhiên rất tốt vì vậy mỗi tuần đắp mặt nạ một lần sẽ làm cải thiện làn da nám của bạn. Tuy nhiên, những người có làn da nhạy cảm và đang sử dụng thuốc trị mụn, trị nám thì không nên làm hoặc làm 2 tuần/lần và chỉ nên để từ 3 đến 5 phút.
Giải nhiệt
Dứa không chỉ dùng làm món tráng miệng sau bữa ăn mà nước ép của trái dứa còn giúp giải nhiệt và giải khát rất tốt. Nước cốt trái dứa giúp giảm mệt mỏi vì nó có chứa vitamin A, C, canxi, mangan… giúp mô tránh khỏi tác hại của quá trình oxy hóa. Vì vậy, uống nước ép từ trái dứa sẽ giúp giảm stress và làm việc hiệu quả hơn.
Trị bệnh
Vì chứa nhiều chất bromelin nên dứa có tác dụng thủy phân protein thành các acid amin nên giúp tiêu hóa tốt, ngoài ra bromelin còn giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể. Bên cạnh đó, trái dứa chín còn có chức năng chữa bệnh rất tốt.
Khoét một lỗ nhỏ ngay cuống trái dứa chín rồi nhét vào đó từ 7-8g phèn chua giã nhỏ, sau đó nướng trên than hồng cho lớp vỏ ngoài cháy sém, thịt trái dứa mềm rồi ép lấy nước uống, mỗi ngày một quả sẽ làm tan sỏi thận.
Hoặc nướng cháy trái dứa chín, gọt vỏ, ăn trong 4 ngày, mỗi ngày một trái sẽ chữa được bệnh huyết áp cao.
Tuy nhiên, ăn dứa nhiều sẽ bị rát lưỡi và rát môi. Không nên ăn dứa khi bụng đói vì các axit hữu cơ và bromelin có trong dứa tác động mạnh vào niêm mạc dạ dày sẽ gây khó chịu, xót ruột.
**********
Rau sam:
Rau sam tên khoa học Portulaca oleracea L. Đó là cây nhỏ mọc hoang xen lẫn với cỏ dại, nhưng nhân dân gọi “rau sam”, chứ không gọi “cỏ sam”, vì coi nó là một thứ rau ăn. Rau sam không có chất độc, có thể dùng nấu canh hoặc ăn sống. Các chất dinh dưỡng có trong rau sam nói chung cũng tương đương như nhiều loại rau ăn thông thường, nhưng đặc biệt hàm lượng vitamin E rất cao (10-12mg/100g rau sam) gấp 7 lần rau xà lách.
Trong danh mục những cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới có ghi cây rau sam dùng chữa được các bệnh thấp khớp, phụ khoa, giảm đau, lợi tiểu, trợ tim, trị sốt cao, giun kim, kích thích tiết mật…
Theo các tài liệu cổ: Rau sam vị chua, tính hàn, không độc, vào các kinh tâm, can và tỳ, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu, chữa lỵ ra máu, viêm khớp xương cấp tính, hậu môn sưng đau, trĩ, sưng tinh hoàn cấp tính, bạch đới (khí hư), các chứng lở.
Sau đây là một số bài thuốc hay được dùng:
– Chữa xích bạch đới (khí hư có nhiễm khuẩn, đục, dính…): dùng 100g rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước, hấp chín mà ăn. Ăn liên tiếp 3-5 ngày là khỏi.
– Chữa tiểu tiện ra máu: Hái rau sam nấu canh ăn hằng ngày, ăn liên tục 4-7 ngày là khỏi.
– Đái buốt: Dùng rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước mà uống, bã xoa khắp cơ thể.
Ngoài ra, trong nhân dân còn hay giã nát rau sam tươi đắp lên mụn nhọt cho ngòi mụn dễ ra. Hoặc cho thêm nước đem sắc đặc, dùng bôi lên chỗ chốc đầu của trẻ em cho mau lành.
BS. Vũ Nguyên Khiết
******************
Sắn dây (Cát căn):
Cát căn là rễ củ của Sắn dây (Kudzu wine), tên khoa học Pueraria lobata, tên cũ P. thunbergiana, thuộc họ Đậu Fabaceae. Dây leo mọc hoang trong rừng núi hoặc được trồng làm thực phẩm, làm thuốc tại nhiều nơi ở nước ta.
Là dây leo quấn, hoặc mọc bò lan lên cây chói hoặc giàn. Thân dây rất dài có thể từ 4 đến 12 m, phủ lông tơ. Rễ phát triển thành dạng củ thuôn dài, chứa tinh bột và xơ. Lá kép có ba lá chét cỡ 15 cm. Lá có lông mịn ở cả hai mặt. Cuống lá dài và cứng, cũng phủ lông. Hoa mọc thành cụm ở nách lá: chùm hoa mang nhiều hoa to (2,5 cm) màu xanh tím, hoặc tím sậm, có mùi thơm kiểu hoa nho. Quả đậu cũng có lông màu vàng, dài. Dây phát triển một năm, đến cuối mùa thu thì thu hoạch củ. Sắn dây được trồng bằng hột hoặc đoạn thân già (giâm cành) trên luống đất xốp cao khoảng 5 tấc. (Tránh nhầm với Củ đậu mà nhiều nơi cũng gọi là Sắn dây).
Rễ củ được luộc chín để ăn như khoai, vừa bổ dưỡng vừa có tác dụng trị bệnh. Rễ củ cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài và cắt lát dày từ 0,6 – 1 cm phơi sấy khô ta có vị Cát căn. Rễ củ rửa sạch, giã nát, ngâm nước, khuấy đảo và thay nước mỗi ngày, lọc lấy tinh bột, phơi khô, ta có vị Cát phấn hay bột Sắn dây.
Thành phần hóa học
Cát căn hay rễ củ Sắn dây chứa:
– Flavonoid: daidzein, daidzin, puerarin, puerarin-7-xylosid, genistein, formonetin, puerarol, kakkonein.
– Tinh bột (10 – 15%) có D-mannitol.
– Acid hữu cơ: succinic acid, arachidic acid.
– Các chất: miroestrol, allantoin, acetylcholin.
Hoa Sắn dây chứa:
– Tinh dầu bay hơi có ethyl acetat, isoamyl alcohol, octyl alcohol, lanalool, eugenol…
– Acid hữu cơ: benzoic acid, propionic acid, isovaleric acid, capronic acid; p-coumaric acid.
– Irisolidon.
– Flavonoid: genistein, daidzein, quercetin…
Dược tính và cách dùng:
Đông y cổ truyền:
Cát căn:
Cát căn đã được dùng trong đông y cổ truyền từ thế kỷ đầu tiên sau tây lịch. Cát căn có vị ngọt, hơi chua, tính mát; tác động vào các kinh mạch thuộc tỳ và vị.
Các sách thuốc cổ truyền đã viết khá nhiều về Cát căn:
– Danh y Nhân Quyền (đời nhà Đường) đã ghi nhận tác dụng khai vị, giải độc được nước…, trị được những chứng thiên hành, thượng khí, úa ngược…
– Sách “Khai Bảo Trùng Định Tân Bảo”của thời nhà Tống đã viết: Bột Cát căn làm khỏi khát, thông được đại tiểu tiện, giải được độc của nước…, trị được những chứng buồn phiền nóng nảy.
– Các danh y Hoàng Cung Tú, Giả Cửu Như… (đời Thanh) ghi rằng Cát căn có tính thăng – phát, đi vào kinh Túc dương minh vị… giúp sinh “khí” trong bao tử, làm sinh tân dịch, chỉ khát…, đồng thời cũng vào được cả tỳ kinh, nên giúp khai thông, giải biểu, trừ được sự nóng nhiệt…
Cát căn được xem là có những dược tính:
– Thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, thư giãn cơ; trị sốt nóng, nhức đầu. Trị đau cứng cổ và bả vai (phối hợp với Ma hoàng, Quế chi và Bạch thược).
– Nuôi dưỡng tân dịch và giải khát: nhất là khát do nhiệt tại vị gây thất thoát tân dịch: thường dùng chung với Thiên hoa phấn (Trichosanthis kirilowii) và Mạch môn đông. Cát căn rất công hiệu để trị nhiệt do “phong tà” ngoại nhập: trong trường hợp này Cát căn được dùng chung với Sài hồ và Hoàng cầm.
– Làm mau lành bệnh sởi: giúp mau lành, nhất là khi các nốt sởi chưa mọc trổ hết: khi bắt đầu lên sởi… nên dùng chung với Thăng ma (Rhizoma cimicifuga).
– Chữa tiêu chảy: tiêu chảy hay kiết do ở nhiệt, kể cả trường hợp tiêu chảy do “suy tỳ”. Dùng thêm Hoài sơn nếu tân dịch bị tổn hại; dùng thêm Hoàng liên và Hoàng cầm nếu bị tiêu chảy do “nhiệt thấp”.
– Đông y cổ truyền dùng Cát căn dưới dạng sao đến vàng để làm bớt tính “hàn”, nhất là khi trị tiêu chảy do tỳ suy. Liều trung bình từ 6 – 12 g dược liệu khô.
Cát căn trong dược học hiện đại
Những nghiên cứu về Cát căn theo quan niệm y học hiện đại được thực hiện phần lớn tại Trung Hoa, Nhật, Đức… tuy nhiên vì daidzein đã được thử nghiệm rộng rãi trên thế giới nên có thể chứng minh cho các tác dụng của Cát căn….
Dược điển Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1985) chính thức ghi Cát căn là vị thuốc hạ nhiệt dùng trong các trường hợp cảm sốt kèm theo cảm giác khó chịu hoặc đau nhức nơi cổ, bả vai; giải khát khi sốt nóng…
Tác dụng điều hòa thân nhiệt: bột Sắn dây thường được dùng tại nước ta để làm cho “mát”: thử nghiệm tại Nhật đã chứng minh các chế phẩm từ Cát căn có tác dụng hạ nhiệt nơi thỏ đã bị gây sốt.
Tác dụng trên cơ trơn (thư giãn cơ): tác dụng này do ở daidzein: chống co giật nơi ruột chuột thử nghiệm, tương tự như tác động của papaverin.
Tác dụng trên hệ tim mạch, trị đau thắt ngực: (puerarin, daidzein, daidzin làm nở động mạch tim, tăng máu về não và giảm sự tiêu hao oxy ở tim nên giúp chống thiếu máu cơ tim, chống rối loạn nhịp tim). Cát căn làm gia tăng lượng máu đưa về não của những người bị xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu tại Nhật cho thấy Cát căn có những tác động trên những bệnh nhân bị đau thắt ngực (angina pectoris): 38% bệnh nhân thuyên giảm, 42% có những chuyển biến tốt sau 1 tháng thử nghiệm. Cát căn cũng có những tác dụng hạ huyết áp, hạ đường huyết. Trong một thử nghiệm tại Trung Hoa: 52 người cao huyết áp được cho uống mỗi ngày 8 muỗng cà phê bột Cát căn dưới dạng trà, sau 8 tuần: 17 người đạt kết quả tốt, 30 người thuyên giảm rõ rệt (bột Sắn dây có thể sẽ là thực phẩm tốt cho những người bệnh tim mạch).
Cát căn trong tai – mũi – họng: khi thử nghiệm trên 33 người bị mất thính lực bất ngờ, Cát căn được cho dùng chung với vitamin B hỗn hợp: 9 trường hợp khỏi hẳn và 6 trường hợp thuyên giảm.
Tác dụng của các flavonoid: các isoflavon trong Cát căn như daidzein, daidzin và puerarin có những tác động như những chất ức chế, có tính nghịch chuyển, các phân hóa tố alcohol và aldehyd dehydrogenase. (Alcohol Clin. Exp Res No 18-1994). Daidzein, trích tinh Cát căn làm giảm sự tiêu thụ alcohol, giảm cao điểm của nồng độ alcohol trong máu, và rút ngắn thời gian gây ngủ của alcohol nơi thú vật. Sự giảm cao điểm nồng độ alcohol có thể do ở sự kéo dài thêm thời gian của thực phẩm trong bao tử (Am J Clin Nutr No 68-1998). Các thí nghiệm của Yujiro Niiho tại Viện bào chế Isan, dùng trích tinh hoa Sắn dây bằng methanol cho thấy… khi cho uống trích tinh, nồng độ alcohol và aldehyd trong máu người uống nước giảm xuống rất nhanh. (Herbal Gram No 23-1990). Cát căn là thuốc giải độc nước.
Alcohol trong nước khi vào cơ thể sẽ được biến đổi một phần thành aldehyd, tác dụng của aldehyd khiến người say có những cảm giác ngầy ngật…
Các tác dụng dược học của puerarin: Các nghiên cứu về puerarin trích từ Cát căn cho thấy những tác dụng làm giảm nhịp tim, hoạt tính renin trong huyết tương, độ thẩm thấu của mao quản, độ kết tụ của tiểu cầu. Puerarin làm hạ được huyết áp (15%) nơi thú vật thử nghiệm. Puerarin còn có tác dụng hạ đường trong máu, hạ cholesterol, chống loạn nhịp tim và chống oxy hóa (Natural Medicines Comprehensive Database – 2000).
– Đông y cổ truyền dùng hoa Sắn dây (Cát căn hoa) làm thuốc: dược liệu là hoa đang nở được thu hái vào cuối mùa hè hay đầu mùa thu, khi hoa nở nửa chừng, bỏ cuống và phơi khô trong bóng mát. Cát căn hoa có vị đắng và tính hàn nhẹ, có tác dụng trừ say, an định tỳ. Hoa được dùng để giúp người quá chén mau tỉnh và để giải khát, trị ói ra máu, bao tử nhiều acid… Liều thường dùng từ 3 – 9 g dưới dạng bột.
– Bột Sắn dây (Cát phấn) được xem là có vị đắng nhẹ, và tính hàn mạnh: dùng để giải khát, giúp sinh tân dịch, trừ nhiệt khi bị nóng sốt, sưng cổ họng, khó chịu bao tử. Để trị “tức ngực”, và khát khô họng có thể dùng bột Sắn dây (120 g) nấu với hạt kê (250 g) thành cháo (hạt kê được ngâm qua đêm).
– Lá cây Sắn dây hay Cát diệp dùng cầm máu khi bị đứt tay (giã nát và đắp lên vết thương).
– Đọt Sắn dây được dùng để trị mụn nhọt, sưng và đau cổ họng. Có thể dùng nước sắc từ 6 – 9 g đọt khô hay 30 – 60 g đọt tươi. Để trị mụn nhọt, đọt khô được nướng từ từ đến khi thành than, tán than để đắp vào vết thương…
– Không dùng chung Cát căn với thuốc chống đông máu, thuốc ức chế MAO.
Tóm lại, nên trồng nhiều Cát căn vừa làm thực phẩm vừa làm thuốc. Người cao tuổi, người bị suy tim, người nghiện nước… có thể ăn mỗi ngày 1 lát củ Cát căn nấu (50 g) hoặc sắc uống 25 g rễ Cát căn khô như một thực phẩm hỗ trợ điều trị nhiều bệnh.
DS. PHAN ĐỨC BÌNH
DS. TRẦN VIỆT HƯNG
***************
Gạo nếp:
Gạo nếp là loại lương thực quá quen thuộc với mọi người. Vào dịp lễ tết không nhà nào không dùng gạo nếp: bánh chưng, bánh tét, nấu xôi, nấu chè, làm các loại bánh. Tuy nhiên không phải ai cũng biết gạo nếp còn có tác dụng chữa bệnh như dưới đây.
Những ai không dùng nhiều gạo nếp?
Gạo nếp còn gọi là nọa mễ, đạo mề, giang mễ, nguyên mễ, là nhân của cây lúa nếp. Thành phần chính gồm có: chất bột 75%, protein 6,7%, chất béo, canxi, phospho, sắt, vitamin B1, PP, axit fumalic, axit butanedioic, cùng đường saccarôzơ, mạch nha… 100g gạo nếp cho độ 347 kcal.
Theo y học cổ truyền, gạo nếp có tính ôn, vị ngọt, trung ích khí, ấm tỳ vị, giải độc, trừ phiền, chữa chứng hay toát mồ hôi, tả, dạ dày, ruột hư hàn, hay đi tiểu, tiểu về đêm nhiều. Với cổ truyền, gạo nếp thường được dùng để chữa suy nhược cơ thể, tiêu chảy do tỳ vị hư nhược, viêm loét dạ dày, tá tràng…
Tuy nhiên do nó có tính ấm nên những người mang thể chất thiên nhiệt hoặc đàm nhiệt, người đang có sốt, ho khạc đờm vàng, vàng da, trướng bụng thì không nên dùng. Ngoài ra, chất amilopectin – thành phần tạo độ dẻo của cơm nếp lại gây khó tiêu, vì vậy không nên dùng nhiều gạo nếp cho trẻ nhỏ, người già, người mới ốm dậy, người tỳ vị quá hư nhược. Nếu muốn ăn quá, thì tốt nhất là nấu thành cháo.
Những cách vận dụng gạo nếp chữa bệnh
Dân gian hay dùng cơm nếp nóng để chườm chữa tắc tia sữa cho sản phụ; hoặc lấy cơm nếp nguội giã nhuyễn, trộn với bột thuốc để bó gãy xương và bong gân; dân gian còn dùng gạo nếp để chữa rối loạn bài tiết mồ hôi, tiểu đường, rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não, chứng buồn nôn ở phụ nữ có thai.
* Gạo nếp 30g tán thành bột mịn, nấu thành dạng hồ loãng, chế thêm 30g đường mía, chia ăn vài lần trong ngày để dùng cho người mắc chứng vị âm hư với biểu hiện: miệng khát muốn uống nhiều nước, ăn kém, hay nôn và buồn nôn. Phương thuốc này còn có tác dụng lợi mật, giảm đau, dùng cho các trường hợp có cơn đau quặn gan do giun chui lên đường mật.
* Mệt mỏi không có sức: Cho gạo vào bao tử heo nướng khô, giã ra làm viên hoàn để ăn hằng ngày.
* Đi lỵ cấm khẩu: Một bát lúa nếp rang cho nổ trắng, bỏ vỏ trấu, trộn với nước gừng rồi sao cho thành bột. Mỗi ngày ăn một thìa với nước canh. Ngày dùng 3 lần.
* Viêm dạ dày mãn tính, và loét dạ dày: Gạo nếp cho thêm táo tàu vừa đủ đun thành cháo loãng mà ăn. Ngày 1 – 2 lần, có thêm ít nho khô vào cháo mà đun chín để ăn.
* Thiếu máu do thiếu sắt: Gạo nếp 100g, đậu đen 30g, hồng táo 30g, đun thành cháo. Mỗi ngày ăn 1 – 2 lần.
* Cơ thể suy nhược sau khi ốm dậy: Gạo nếp, hạt sen lượng vừa đủ, đem đun thành cháo. Mỗi ngày ăn sáng và tối.
* Tiêu hóa kém, hay đi lỏng: Gạo nếp, hạt sen, khoai mài lượng vừa đủ. Đun thành cháo mà ăn.
* Trẻ con hay nôn trớ sữa: Gạo nếp sao vàng đun nước cho uống.
* Đái tháo đường: Hoa gạo nếp (lúa nếp rang cho nổ trắng ra, bỏ vỏ) vỏ lụa cây dâu (vỏ trắng) mỗi thứ 100g, sắc uống; hoặc gạo nếp 100g, đậu xanh 50g, nấu cháo ăn.
* Thở không tốt, ho: Gạo nếp và đường phèn lượng vừa phải, đồ chín lên ăn.
Hoài Vũ(thanhnien)
***************
Cây lá lốt:
Chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân: Dùng 30g lá lốt tươi cho vào 1 lít nước nấu sôi, cho thêm ít muối, để nguội dần dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối.
Em đã dùng bài thuốc này rồi, ngâm cũng có, sao vàng sắc đặc uống cũng có, nhưng cái bệnh ra mồ hôi ở chân tay nhiều thì chẳng thấy đỡ tẹo nào cả, hic hic.
***************
Mộc nhĩ và nấm hương:
Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ. Ngày Tết, mộc nhĩ thường có mặt trong các món thịt đông, giò thủ, canh miến… và nấm hương trong món bóng thả, nấm bao giò… Chúng ngon là vậy, nhưng ít người nghĩ rằng chúng còn là những vị thuốc quý chữa được nhiều bệnh.
Mộc nhĩ.
Mộc nhĩ (Auricularia polytricha (Mont.) Sacc.) thuộc họ mộc nhĩ (Auriculariaceve), tên khác là mộc nhĩ đen, mộc nhĩ lông, nấm tai mèo. Trong 100g mộc nhĩ, có 10,6g protid, 0,2g lipid, 65g glucid, 63mg Na, 856mg K, 357mg Ca, 56,1mg Fe, 201mg P, 20mcg beta-caroten, 0,14mg vitamin B1, 0,55mg vitamin B2, 2,7mg vitamin PP và cung cấp cho cơ thể 312 calo.
Từ lâu đời, mộc nhĩ đã được dùng làm thuốc chữa bệnh. Dược liệu có vị ngọt, mát, tính bình, có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, ích khí, giải độc, làm săn se. Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng mộc nhĩ ở cây dâu sao khô, tán bột, uống với liều 16g chữa băng huyết, rong kinh, vết máu thâm đen trên mặt; nếu đốt tồn tính, mỗi lần uống 2g với nước lại chữa đau dữ dội ở vùng thượng vị hoặc giã nhỏ, tẩm mật, ngậm chữa viêm họng. Mộc nhĩ cây hòe đốt tồn tính, tán nhỏ, uống 8g với nước nóng vào lúc đói để tẩy sán. Mộc nhĩ và kinh giới với lượng bằng nhau, sắc lấy nước đặc, ngậm súc để chữa các chứng đau ở răng, miệng. Mộc nhĩ và mộc tặc tán nhỏ, mỗi lần uống 8g với nước gạo đun sôi chữa chứng chảy nước mắt liên tục.
Theo kinh nghiệm dân gian, mộc nhĩ được dùng trong những trường hợp sau: Dùng riêng, mộc nhĩ phơi khô, rang cháy, tán bột, mỗi lần uống 3 – 6g với nước rau muống ép càng đặc càng tốt, ngày 2 lần, chữa ngộ độc nấm.
Dùng phối hợp, chữa kiết lỵ: mộc nhĩ 20g, núm quả chuối tiêu 10g, lá dạ cẩm 10g, lá mã đề 10g, phơi khô, thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ rồi sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa băng huyết, rong kinh: mộc nhĩ 100g, hấp cách thủy cho chín, phơi hoặc sấy khô, tán bột mịn, cây cứt lợn (loại hoa tím) 50g, lá ngải cứu 30g, thái nhỏ, phơi khô, tán bột mịn. Trộn đều 2 bột, luyện với đường mía làm viên 15g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên với nước chè nóng (kinh nghiệm của Trường Lâm nghiệp – Sông Bé).
Chữa vết thương lở loét: mộc nhĩ và vỏ quả bí đỏ, lượng mỗi thứ 50 – 100g, phơi khô, đốt thành than, dùng rắc 2 – 3 lần trong ngày. Thuốc có tác dụng làm khô nhanh, sạch nước vàng, không có mùi hôi.
Theo tài liệu nước ngoài, mộc nhĩ 30g, ngâm nước trong một đêm, rồi hấp chín với đường phèn trong 1 – 2 giờ, ăn trước khi đi ngủ là thuốc hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch.
Trong y học cổ truyền và dân gian, còn có mộc nhĩ trắng hay ngân nhĩ (Tremella Fuciformis Berk) thuộc họ Ngân nhĩ (Tremellaceae) cũng là loại nấm ăn được và làm thuốc. Trong 100g mộc nhĩ trắng có 5g protid, 0,6g lipid, 79g glucid, các polysaccharid và nhiều loại acid amin. Tác dụng của mộc nhĩ trắng là bổ thận, bổ khí, nhuận tràng. Đặc biệt là chất polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u.
Nấm hương (Lentinus edodes (Burki.) Sing.) thuộc họ nấm tán (Agaricaceae), tên khác là hương đàm, hương cô, người Tày gọi là bioóc hom. Trong 100g nấm hương khô có 36g protid, 23,5g glucid, 4g lipid; các polysaccharid lentinan, lentysin; các acid amin cần thiết là cystin, histidin, arginin, alanin, tryptophan, lencin, valin, phenylalanin, acid glutamic; các nguyên tố vi lượng Ca, P, sắt; các vitamin A, B1, B2, C, acid nicotinic; đặc biệt là chất tạo mùi thơm đặc trưng của nấm là matsutakeol. Do đó, từ xa xưa, nấm hương đã được mệnh danh là “Vua của các loại nấm”.
Nấm Hương
Các nhà khoa học đã chứng minh nấm hương có các tác dụng quý sau:
Tác dụng hạ lipid máu: Lentysin chiết được từ nấm bằng đường uống với liều 150 – 300mg/kg sau 15 tuần, hàm lượng friglycerid, phospholipid, lipid toàn phần trong máu đều giảm.
Tác dụng chống ung thư: Lentinan trong nấm bằng đường tiêm với liều 25mg/kg trong 10 ngày liên tục, làm ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư. Dùng liều cao, các tế bào ung thư hoàn toàn bị hủy diệt. Thuốc đã được một số nước dùng chống ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày.
Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin này.
Trong y học cổ truyền, nấm hương có vị ngọt, mùi thơm, tính bình, có tác dụng bổ tỳ, ích khí, dưỡng huyết, chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại, tổn thương huyết quản, chảy máu chân răng. Liều dùng hàng ngày là 6 – 8g dưới dạng thuốc sắc.
Những nhà nghiên cứu Nhật Bản cho biết có thể triệt được bệnh ung thư ở những người mới mắc nhờ ăn nấm hương đều đặn hằng ngày. Đối với những trường hợp bị ung thư đã được giải quyết bằng phẫu thuật, nếu dùng nấm hương đều đặn sẽ tránh được di căn. Ở Trung Quốc, người ta còn cho rằng ăn nấm hương có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể chống ngộ độc thức ăn, giảm béo, chữa bệnh đái tháo đường, suy nhược thần kinh, lao phổi, viêm gan, gan nhiễm mỡ, béo phì.
Do đó, ở những nước này, người ta khuyên nhân dân thường xuyên ăn nấm hương để bồi bổ sức khỏe, tăng cường thể lực và chống đỡ bệnh tật.
TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích
***************
Bìm bìm:
Bìm bìm là loài cây có hoa đẹp, nhiều màu sắc, lại mọc nhanh và không cần chăm sóc cầu kỳ, nên ở nhiều nước cây thường được trồng làm cảnh, cho leo lên những tấm phên dựng đứng hoặc trên bờ rào, nhìn vào rất đẹp và vui mắt. Ở Nhật Bản, bìm bìm là cây cảnh rất được ưa chuộng, người ta đã tiến hành lai giống, tạo ra gần trăm loại bìm bìm khác nhau.
Nhưng ở nước ta, mỗi khi nhắc tới loài cây này, nhiều người thường liên tưởng đến câu tục ngữ “giậu đổ bìm leo”. Trong mắt nhiều người, đó là loài cây xấu, chuyên lợi dụng lúc người gặp nạn thừa cơ lấn át. Hoa bìm bìm dù đẹp, nhưng bị coi là thứ “hoa hèn”, nên ít người trồng nó làm cảnh. Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện y học, cũng như về giá trị thực dụng, thì định kiến nói trên là quá bất công.
Loài cây kỳ lạ
Bìm bìm là loài cây có rất nhiều đặc tính kỳ lạ. Cây mọc leo lên cao nhờ có thân cuốn, nhưng khác với những loài dây leo khác, dây bìm bìm chỉ quay theo hướng ngược kim đồng hồ, theo chiều đông – Bắc – Tây – Nam. Hoa bìm bìm hình chuông, mọc thành xim ở kẽ lá, với 1 – 3 bông, có thể đổi màu. Từ sáng đến chiều, màu hoa chuyển từ lam nhạt sang hồng hoặc tím. Bí mật này, mãi về sau khoa học mới lý giải được. Sáng sớm, hoa bắt đầu phân giải chất đường và giải phóng khí CO2 ra ngoài, độ kiềm trong hoa tăng lên do nồng độ acid giảm xuống, nên cánh hoa có màu lam nhạt. Khi mặt trời lên cao, hoa bắt đầu hấp thụ thêm khí CO2 khiến cho độ acid trong hoa tăng lên, nên cánh hoa lúc này có màu hồng hoặc tím. Ban ngày, trời nắng, cánh hoa nở xòe ra, nhìn tựa như cái ô che nắng. Chiều đến hoặc lúc trời âm u, cánh hoa cụp lại, như chiếc ô đã gấp, lúc này hoa xoắn lại, theo chiều quay của kim đồng hồ, ngược với chiều quay của thân cây.
Bìm bìm còn có một tính năng rất quý nữa, đó là có thể hấp thụ một số chất có hại: sulfur dioxid, carbon dioxid, fluorine hydrid, chlorin và hydrogen sulfid… Do đó, trồng bìm bìm làm cảnh, còn có thêm tác dụng làm sạch môi trường.
Truyền thuyết về vị thuốc “dắt trâu”
Hạt bìm bìm trong Đông y có tên là “khiên ngưu tử”, có nghĩa là “thằng bé dắt trâu”. Vì sao vị thuốc lại có tên như vậy?
Xuất xứ của tên “khiên ngưu tử” được nói tới trong sách “Danh y biệt lục” của Đào Hoằng Cảnh (456 – 536), nhưng rất vắn tắt: “Vị thuốc này mọc ở ngoài đồng, có người dắt trâu đến tạ ơn thầy thuốc, nên có tên như vậy”. Chuyện dắt trâu diễn ra cụ thể như thế nào, thì không thấy y thư mô tả. Tương truyền: Có bác nông dân, con mắc bệnh trướng bụng, đưa đi khám, được thầy thuốc cho uống một thứ thuốc tán. Mang về nhà uống, bụng đứa con bắt đầu nhỏ dần, chẳng bao lâu sức khỏe phục hồi như trước. Cả nhà vô cùng cảm kích, bàn đi bàn lại, cuối cùng quyết định mang con trâu vừa tròn 1 tuổi, đến biếu thầy thuốc để tỏ lòng biết ơn. Thế là, bác nông dân bảo con dắt trâu, cùng đến nhà thầy thuốc tạ ơn. Khi hỏi con mình đã được cho uống thứ thuốc gì mà khỏi bệnh, thầy nói: “Đó là thứ mọc hoang ở ngoài đồng, bản thân ta cũng chưa biết vị thuốc có tên là gì! Thằng bé đã dắt trâu tới, thì hãy gọi là “khiên ngưu tử” vậy!” Còn con trâu thầy thuốc từ chối nhất quyết không nhận, bác nông dân đành bảo con dắt trâu trở về. Nhưng từ đó, vị thuốc mới có tên là “khiên ngưu tử”. “Tử” nghĩa là đứa con trai hoặc là hạt giống. Vì vậy “khiên ngưu tử” có thể hiểu là: “Thằng bé dắt trâu”, mà cũng có thể hiểu là “hạt dắt trâu”.
Vị thuốc “khiên ngưu tử” là hạt đã phơi hoặc sấy khô của cây bìm bìm. Hạt bìm bìm có 2 loại: màu nâu đen và màu vàng nhạt. Loại thứ nhất gọi là “hắc khiên ngưu tử” hoặc “hắc sửu”, loại thứ hai gọi là “bạch khiên ngưu tử” hoặc “bạch sửu”. Màu sắc của hạt không liên quan tới nguồn gốc thực vật của cây, nhưng phụ thuộc vào màu sắc của hoa: hoa màu thẫm (tím hoặc đỏ tía) cho hạt nâu đen; còn hoa màu nhạt (phớt hồng hoặc trắng) cho hạt màu vàng nhạt. Y gia thời cho rằng, “hắc khiên ngưu tử” có tác dụng nhanh và mạnh hơn, còn “bạch khiên ngưu tử” có tác dụng tương đối chậm và bình hòa hơn. Trên lâm sàng, thường dùng cả hai loại với cùng tác dụng.
Tác dụng phi thường
Đối với người nông dân thời xưa, con trâu là đầu cơ nghiệp”, là thứ quý giá nhất có ở trong nhà; Đem cả gia tài đi tạ ơn, chứng tỏ hạt bìm bìm có thể chữa được cả những bệnh nan y. Sự tích dắt trâu tạ ơn, tuy đã được Đào Hoằng Cảnh ghi lại từ xưa, nhưng phải mãi về sau, với tài dùng thuốc của Lý Thời Trân (1518 – 1593), người đời mới biết rõ những tác dụng phi thường của thứ hạt tưởng như rất tầm thường này. Lý Thời Trân không chỉ là một nhà dược học uyên bác, mà còn là thầy thuốc rất giỏi. Sách “Bản thảo cương mục” còn ghi lại hai trường hợp mắc bệnh nan y, đã chữa trị nhiều nơi, nhiều thầy không khỏi, cuối cùng phải mời đến Lý Thời Trân và ông đã sử dụng hạt bìm bìm chữa cho khỏi bệnh. Ngoài ra, Lý Thời Trân còn phát hiện ra tác dụng mỹ dung, làm đẹp của hạt bìm bìm.
Từ đó, hạt bìm bìm – “khiên ngưu tử” mới thật sự trở nên nổi tiếng. Và cũng từ đó, trong tất cả các sách Đông dược thông dụng, “khiên ngưu tử” là vị thuốc không thể vắng mặt. Trong các sách Đông dược hiện đại, “khiên ngưu tử” được xếp trong nhóm thuốc “tuấn tả trục thủy”, cùng với những vị thuốc như cam toại, đại kích, nguyên hoa, thương lục, ba đậu, thiên kim tử…
Theo Đông y, khiên ngưu có vị cay, tính nóng, hơi có độc, vào 3 kinh: Thủ thái âm phế, túc thiếu âm thận và thủ dương minh đại tràng. Có tác dụng tả thấp nhiệt ở khí phận, trục đờm, tiêu ẩm lợi nhị tiện (đại tiểu tiện) là thuốc chữa tiện bí, cước khí, chủ trị hạ khí, lợi tiểu tiện, chữa cước thũng (phù), sát khuẩn. Trên thực tế, khiên ngưu thường dùng làm thuốc thông đại và tiểu tiện, thông mật, còn sử dụng cả để trị giun.
Liều dùng mỗi ngày 4 – 8g.
Kiêng kỵ: người cơ thể hư nhược, phụ nữ đang có thai không dùng được. Theo tài liệu cổ: không được dùng khiên ngưu tử cùng với ba đậu.
Một số bài thuốc thường dùng khiên ngưu tử:
– Chữa các chứng thũng trướng: Dùng độc vị khiên ngưu tử, tán mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, dùng nước chiêu thuốc. Hoặc dùng khiên ngưu tử 10g, nước 300ml, sắc còn 150ml chia 2 lần uống trong ngày. Có tác dụng chữa phù thũng, nằm ngồi không được, uống thuốc nếu tiểu tiện nhiều được thì khỏi.
– Trướng bụng do xơ gan hoặc viêm thận mạn tính: Khiên ngưu tử 80g, hồi hương 40g; tất cả nghiền mịn, trộn đều. Mỗi ngày uống 1 lần, mỗi lần 8g, uống khi đói bụng, chiêu thuốc bằng nước sôi; uống liên tục trong 2 – 3 ngày.
– Chữa phù do viêm thận: Khiên ngưu tử 100g – nghiền mịn, hồng táo (táo tầu) 80g – hấp chín, bỏ hột, giã nát, gừng tươi 500g – giã nát vắt lấy nước, bỏ bã; tất cả đem trộn đều thành một thứ bột nhão, cho vào nồi hấp nửa giờ, trộn đều, lại hấp thêm nửa giờ nữa là được. Lượng thuốc trên chia đều thành 8 phần, ngày uống 3 lần – sáng, trưa, chiều, mỗi lần uống 1 phần, sau 2,5 ngày thì hết; kiêng muối trong 3 tháng.
– Trị giun đũa, giun móc: Khiên ngưu tử 8g, tân lang (vỏ quả cau) 8g, đại hoàng 4g; tất cả đem nghiền mịn, trộn đều, ngày uống 2 lần, vào sáng sớm và buổi chiều khi đói bụng, mỗi lần uống 3 – 4g, dùng nước sôi chiêu thuốc, trẻ nhỏ tùy theo tuổi cần giảm bớt liều.
Giữ gìn vẻ đẹp, chữa nám da
Cho đến nay, dân gian thường sử dụng hạt bìm bìm để làm mờ các nốt tàn nhang và vết nám, theo cách thức ghi trong sách “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân như sau: Dùng “hắc khiên ngưu tử” (hạt bìm bìm có màu nâu đen) nghiền thành bột mịn, tối trước khi đi ngủ xoa đều lên da mặt, sáng dậy rửa sạch; bôi liên tục, tới khi các vết nám mờ hết thì ngừng. Làm như vậy còn có tác dụng phòng và chữa trị mụn trứng cá.
Ngoài ra, hạt bìm bìm còn được sử dụng để giữ gìn vẻ dẹp theo một số cách khác như sau:
– Làm mịn da mặt: Hắc khiên ngưu tử (sao), bạch chỉ, linh lăng hương, cam tùng, quát lâu nhân – mỗi thứ 100g, trà tử 200g, tạo giác mạt (trái bồ kết tán mịn) 200g. Tất cả đem nghiền thành bột mịn, trộn đều, ngày xoa lên da mặt 3 – 4 lần.
– Chữa mụn trứng cá: Dùng hắc khiên ngưu tử tẩm nước 3 ngày. Sau đó vớt hạt ra, phơi khô, nghiền thành bột mịn. Trước hết giã gừng tươi vắt lấy nước cốt bôi lên chỗ da bị bệnh, sau đó rắc bột thuốc lên; mỗi ngày 2 – 3 lần.
– Làm mờ các vết đen trên da mặt: Hắc khiên ngưu tử, bạch cương tàm, tế tân, các vị thuốc dùng liều lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn. Hòa với nước ấm để rửa mặt, ngày 3 – 4 lần.
Lương y Huyên Thảo
**************
Rau rệu (rau giệu):
Rau rệu có nơi gọi rau giệu. Tên Hán là kê tràng thái (từ nguyên) tên khoa học Alternanthera sessilis (L) R. Br. Ex Roem et S chult. Ngọn non làm rau ăn sống, luộc nấu canh. Cứ 100g rau rệu có 89,3g nước, 4,5g protein, 19g protid, 2,1g chất xơ, 2,2g khoáng toàn phần, 98mg canxi, 22mg phospho, 1,2mg sắt, 5,1mg caroten (tiền sinh tố A) và 77mg sinh tố.
Tính năng: vị ngọt, nhạt, mát, tác dụng chống viêm, lọc máu, lợi tiểu, tiêu sưng, chống ngứa, cầm máu (máu cam, ho ra máu).
Công dụng và cách dùng:
Thúc sởi mọc nhanh, rút ngắn thời gian sởi mọc, hạn chế biến chứng.
Cách dùng: Thời kỳ xuất hiện nốt sởi: nấu rau rệu để ăn với cơm, hoặc nấu cháo với nước canh. Hoặc nấu chín đơn thuần, hoặc cùng với rau kinh giới, hoặc với tía tô để ăn cái uống nước.
Viêm da có mủ, chàm, mẩn ngứa, nấm, viêm vú… Dùng cây tươi (60 – 120g) giã lấy nước uống, bã đắp lên tổn thương hoặc sắc nước uống 15 – 30g mỗi lần.
Tràng nhạc: một nắm rau rệu, rửa sạch, giã nát, 1/2 vắt lấy nước cốt uống 1/2 đặt lên lá chuối rắc lên 1 ít phác tiêu đắp vào chỗ đau. Ngày thay thuốc một lần.
Sưng hạch ở nách bẹn: rau rệu, bèo tía, gừng sống, 3 thứ lượng bằng nhau giã nát, cho ít muối sắc kỹ lấy một chén nước, uống nóng, bã đắp chỗ đau. Trước khi đắp thuốc dùng nước vôi vẽ một vòng quanh chỗ đau để độc khỏi lan xung quanh.
Tỳ hư, uất nhiệt, đại tiện ra đờm máu ở người già: rau rệu tía một nắm nấu canh. Ăn nhiều lần.
Chữa các chứng máu nóng (huyết nhiệt) nổi ban ngứa, chảy máu cam, ho ra máu, tiểu tiện ra máu… Rau rệu ăn sống, uống nước giã rau rệu tươi, luộc, nấu canh, xào…
Lợi tiểu tiêu phù ở những trường hợp bệnh đường tiết niệu, gan, đái dắt, đái đỏ. Cách dùng như trên hoặc nấu canh.
Chữa các chứng bệnh do nhiệt, sốt, khát nước, táo bón, kiết lỵ. Cách dùng như trên. Hoặc nấu canh.
BS. Phó Thuần Hương
*********************
Nha đam:
Một trong những dược thảo đã vượt được hàng rào ngăn cách giữa đông và Tây y, để được mọi ngành y học cùng sử dụng… là Nha đam (Lô hội). Ngay cả Hoa Kỳ, vốn được xem là một nước… chậm tiến trong việc dùng thảo dược để chữa bệnh, cũng đã dùng Nha đam trong nhiều dược phẩm và mỹ phẩm. Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu Mỹ đã phải khuyên dân Mỹ là mỗi nhà nên trồng… một cây để vừa làm cảnh vừa làm thuốc và dùng khi cần cấp cứu vì phỏng!
Nha đam còn được gọi là cây Lô hội, tên khoa học là Aloe vera hoặc Aloe barbadensis, thuộc họ Aloeaceae (Liliaceae) . Tên Aloe vera được chính thức công nhận bởi Quy ước quốc tế về danh xưng thực vật (International rules of botanical nomenclature), và A. barbadensis được xem là một tên đồng nghĩa.
Tuy nhiên, trong danh mục cây thuốc của Tổ chức y tế thế giới (WHO), Aloe được xem là tên chung của khá nhiều loài khác nhau như Aloe chinensis, A. elongata, A. indica… Ngoài ra, một loài Aloe khác, Aloe ferox cũng được chấp nhận là một cây cung cấp nhựa Aloe.
Mỹ gọi cây Aloe vera dưới tên “Curacao Aloes”, còn Aloe ferox dưới tên “Cape Aloes”. Người Pháp gọi dưới những tên: Aloe de Curacao, Aloe du Cap. Đông y gọi là Lô hội. WHO cũng liệt kê tên gọi của Lô hội tại các nước với 78 danh xưng khác nhau… Tại nước ta, A. vera được gọi là Lô hội hoặc Nha đam, Lưỡi hổ.
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY NHA ĐAM
Nha đam đã được dùng làm thuốc trị bệnh từ khi chưa có lịch sử y học. Sách thuốc cổ Ai Cập (3500 năm trước Tây lịch) đã chỉ dẫn cách dùng Nha đam để trị nhiễm trùng, các bệnh ngoài da và làm thuốc nhuận trường, trị táo bón… Nha đam đã được vẽ và mô tả trên các bản văn làm bằng đất sét tại Mesopotamia từ năm 1750 trước Tây lịch như một cây thuốc.
Tên “Aloe’’ có thể phát xuất từ chữ Ả Rập “Alloeh’’ với ý nghĩa là một “chất đắng và óng ánh”. Nha đam là một cây thuốc, không thuộc loại ma túy, nhưng đã gây ra cả một cuộc chiến tranh: Khi Đại đế Alexander chinh phục Ai Cập vào năm 332 trước Tây lịch, ông đã nghe nói đến một cây thuốc có khả năng trị vết thương thần kỳ tại một hòn đảo tên là Socotra, ngoài khơi Somalia, và để lấy cây này về làm thuốc cho quân của mình, đồng thời ngăn chặn địch quân không cho họ chiếm được cây thuốc này, ông đã gửi hẳn một đoàn quân đi chiếm hòn đảo (có lẽ là Madagascar ngày nay) và cây này chính là Nha đam.
Cũng nên ghi nhận là tên của dược chất “Aloe” được ghi trong Phúc Âm Thánh Gioan (19: 39- 40) dùng để ướp xác Chúa Jesus không phải từ Nha đam, nhưng từ một cây khác
Aloe vera trong y học thời Trung cổ
gọi là Aloewood. (Aloewood chính là cây Gió bầu cung cấp hai hương liệu quý: Trầm hương và Kỳ nam).
Dioscorides, y sĩ trứ danh người Hy Lạp, đã dùng Nha đam để trị vết thương ngoài da, bệnh trĩ, vết ung loét và cả rụng tóc. Pliny, y sĩ La Mã đã biết dùng Nha đam để trị táo bón… Các nhà buôn Ả Rập đã đem Nha đam từ Tây Ban Nha sang các nước Á đông trong khoảng thế kỷ thứ 6 và từ đó y học Ayuraveda của Ấn Độ biết dùng Nha đam để trị bệnh ngoài da, ký sinh trùng đường ruột và cả đau bụng khi có kinh.
Tuy Nha đam có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng sau đó đã được đưa sang trồng tại châu Mỹ, nhất là vùng West-Indies và dọc bờ biển Venezuela. Trong thế kỷ 19, đa số Aloe xuất cảng sang châu Âu đều từ các đồn điền tại West-Indies thuộc địa của Hà Lan (tại các đảo Aruba và Barbados), qua hải cảng Curacao, nên được gọi là Curacao Aloe, Barbados Aloe… Các Aloe của châu Phi như Cape Aloe, Uganda Aloe, Natal Aloe… được gọi chung dưới tên thương mãi Zanzibar Aloe. Đầu thế kỷ 20, người Pháp cũng đã đem Nha đam vào trồng ở nước ta, nhất là tại Phan Rang, Phan Thiết để lấy nhựa Aloe xuất sang châu Âu cho đến sau thế giới chiến tranh lần thứ hai thì không xuất được nữa nên Aloe vera trở thành cây hoang dại tại Ninh Thuận và Bình Thuận.
Trong những năm gần đây, khi tái phát minh những dược tính quý giá của Nha đam thì Hoa Kỳ đã trồng khá nhiều Aloe vera tại Florida, Texas và Arizona do ở nhu cầu chất gel Aloe để làm mỹ phẩm tăng cao. Khoảng 10 năm trở lại đây thì phong trào trồng Nha đam để xuất khẩu lớn mạnh tại hai tỉnh mà cây phát triển tốt nhất nêu trên.
ĐẶC TÍNH THỰC VẬT
Nha đam thuộc loại cây nhỏ, gốc thân hóa gỗ, ngắn. Lá dạng bẹ, không có cuống, mọc vòng rất sát nhau, màu từ lục nhạt đến lục đậm. Lá mọng nước, mép lá có răng cưa thô như gai nhọn, cứng tùy theo loại, mặt trên lõm có nhiều đốm không đều, lá dài từ 30 – 60 cm. Phát hoa ở nách lá, có thể dài đến 1 m, mang rất nhiều hoa mọc rũ xuống, với 6 cánh hoa dính nhau ở phần gốc, 6 nhị thò. Quả nang chứa nhiều hột.
Cây Nha đam rất dễ trồng nơi ráo nước, nhiều nắng nhưng cần tưới 2 – 3 ngày 1 lần. Trồng bằng chồi non phát xuất từ gốc. Có thể trồng trong chậu kiểng. Cây tuy thích ánh sáng mặt trời nhưng cũng chịu được bóng râm 50% và đất cằn cỗi. Aloe vera không phát triển được ở nơi có mùa đông dưới 60C. Trong số hơn 300 loài Aloe, ngoài Aloe vera, Aloe ferox… dùng làm thuốc, còn một loài được dùng làm cây cảnh rất đẹp, như Aloe variegata (Lô hội mỏ két) có hoa màu đỏ; Aloe maculata (Lô hội vằn), hoa màu da cam…
THÀNH PHẦN HÓA HỌC
Aloe vera là nguồn cung cấp hai dược liệu khác hẳn nhau.
Dược liệu thứ nhất là một chất nhựa Aloe, ở ngay dưới lớp biểu bì hay “da” mỏng của lá có những tế bào đặc biệt gọi là tế bào trụ bì (là những tế bào gân màu lục ở mặt ngoài miếng gel khi ta gọt bỏ lớp vỏ màu lục phía ngoài), chứa một chất nước cốt màu vàng lục, sau khi chảy ra, tự cô đặc lại ở nhiệt độ bình thường, có màu vàng nâu, óng ánh và rất đắng, đông y cũng gọi là Nha đam (nhựa khô).
Chất nước cốt tự khô này chứa các hoạt chất hydroanthron: gồm các chuyển hóa chất hydroanthracen, mà những chất quan trọng nhất là aloin A và B (từ 25 đến 40%). Hỗn hợp aloin A và B còn được gọi là Barbaloin; hydroxy-aloin A và B (từ 3 đến 4%); một ít aloe-emodin và chrysophanol. Các chuyển hóa chất Chromon gồm 8-C-glycosyl chromon, còn gọi aloeisin (khoảng 30%) và các aloeresin A và B.
Dược liệu thứ hai là một chất nhày gọi là gel Aloe. Chất gel này có thể lấy bằng cách gọt bỏ vỏ lá Nha đam màu lục rồi nghiền nát miếng gel trong suốt trong lá. Chất gel này chứa một loại polysaccharid gồm: pectin, hemicellulose, gluco mannan, acemannan và các chuyển hóa chất mannose.
Trong Nha đam còn có thêm những chất khác như: enzym: bradykinase, các acid amin, lipid, sterol (lupeol, campesterol, beta-sitosterol), tanin, hợp chất hữu cơ loại magnesium lactat, một chất kháng-prostaglandin…
DƯỢC TÍNH & CÁCH SỬ DỤNG
NHA ĐAM TRONG ĐÔNG Y
Đông y cổ truyền dùng Nha đam dưới dạng chất nhựa khô từ nhựa lá cô đặc. Dược liệu được lấy từ các loài Aloe vera var. chinensis hay A. ferox trồng tại các tỉnh phía nam. Theo đông y thì Nha đam hay Lư hội có vị đắng, tính hàn, tác dụng vào các kinh thuộc can, vị và đại trường. Nha đam có tác dụng hạ hỏa, tống ứ: dùng để trị táo bón, chóng mặt, mắt đỏ và tinh thần cáu kỉnh do ở “nhiệt” ứ. Dùng chung với Chu sa (Cinnabaris) để trị táo bón kinh niên do nhiệt ứ. Nha đam diệt được ký sinh trùng, và bổ được vị: trị được trẻ em chậm phát triển vì sán lãi. Nha đam “thanh nhiệt” và làm mát gan: trị các chứng đau hạ vị, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, cáu bực, bón và sốt nóng do ở nhiệt tại kinh can. Nha đam được dùng chung với rễ Long đởm (Radix Gentianae) và Hoàng cầm (Radix Scutellariae Baicalensis). Liều dùng Nha đam trong đông y: từ 0,3 – 1,5 gr dưới dạng viên, hoàn hoặc bột (không công hiệu khi dùng dưới dạng thuốc sắc).
NHA ĐAM TRONG Tây y
Tây y sử dụng Nha đam như hai loại dược phẩm khác hẳn nhau: Aloe gel và nhựa Aloe.
KHẢ NĂNG TRỊ LIỆU CỦA ALOE GEL
Tác dụng trị phỏng và giúp làm lành vết thương:
Khả năng của chất Aloe gel tươi trong việc giúp trị lành các vết thương đã được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1935 khi tạp chí Y khoa Mỹ công bố trường hợp một phụ nữ bị phỏng vì tia X được trị lành bằng cách đắp chất nhày lấy trực tiếp từ lá Aloe tươi. Sau đó các tác dụng của Aloe gel trên vết thương và vết phỏng đã được nghiên cứu rất kỹ tại khắp nơi trên thế giới. Riêng công trình nghiên cứu tại ĐH Texas (Galverton) đã ghi nhận: Aloe gel có thể thấm sâu vào mô tế bào, có tác dụng kháng sinh và có tác dụng làm tê tế bào (giảm đau). Nó diệt vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ngăn sự phát triển của nấm gây bệnh.
Aloe gel có tác dụng kháng viêm giảm đau, làm giãn nở các vi mạch máu, giúp đưa máu về nuôi dưỡng các tế bào bị hư hại. Tác dụng kháng viêm của Aloe gel đã được giải thích bằng 3 cơ chế sinh học (Journal of the American Pediatric Medical Association No 84-1994): (1) phân hóa tố (enzym) bradykinase (loại carboxypeptidase) trong Aloe gel có thể ức chế tác dụng gây đau nhức của Bradykinin. (2) Magnesium lactat có khả năng ngăn cản tiến trình tạo histamin. (3) Khi có sự hiện diện của Aloe gel, các chất thromboxan B2 và prostaglandin F2 (các chất gây viêm và gây đau nhức) đều giảm bớt.
Hợp chất loại sterol (lupeol) trong Aloe gel có tác dụng chống sưng rất mạnh. Aloe gel đã được chứng minh là có tác dụng ngăn chặn được sự phát triển của các vi trùng Mycobacterium tuberculosis (bệnh lao), Staphyloccoccus aureus, Streptococcus pyogenes (gây mụn nhọt), Salmonella paratyphi, Pseudomonas, Escherichia coli… và các loại nấm gây bệnh như Candida albicans, Trichophyton (nấm tóc), và cả siêu vi Herpes.
Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận Aloe gel giúp vết thương mau lành (International Journal of Dermatology No. 30-1991): Trong thử nghiệm “in vivo” Aloe gel giúp mau lành bằng cách kích hoạt trực tiếp hoạt tính của các đại thực bào và các nguyên bào sợi. Sự kích hoạt các nguyên bào sợi làm gia tăng sự tổng hợp collagen và proteoglcan… giúp sửa chữa các hư hỏng nơi mô tế bào. Tác dụng này có lẽ do các polysaccharid loại mannose: Chất mannose-6-phosphat là chất chính tác dụng bằng cách kết dính nơi các thụ thể của các yếu tố tăng trưởng trên bề mặt của các nguyên bào sợi (fibroblast) và do đó gia tăng hoạt tính của chúng. Hơn nữa, Acemannan, một hợp chất phức tạp trong lá Nha đam cũng cho thấy có khả năng giúp vết thương chóng lành và giảm được các phản ứng tác hại của tia phóng xạ trên da (International Journal of Radiation oncology, biology and physiology No.15-1995). Cơ chế tác dụng này gồm hai mặt: trước hết Acemannan là một tác nhân kích hoạt đại thực bào rất mạnh và do đó kích thích sự phóng thích các cytokin, và thứ đến là các yếu tố tăng trưởng có thể kết dính trực tiếp với acemannan, tạo sự ổn định và kéo dài khả năng kích ứng tạo mô tế bào.
Tác dụng trị phỏng:
Các vết phỏng cấp 1 và 2 khi được chữa trị bằng cách thoa trực tiếp Aloe gel tươi cho thấy thời gian lành vết thương nhanh hơn, đồng thời vết thẹo cũng nhỏ hơn (Journal of burn care and rehabilitation No 3-1982). Tác dụng này được cho là do allantoin trong gel. Aloe gel cũng khá hữu hiệu trong các trường hợp vết thương ngoài da do băng giá và cả phỏng da vì phơi nắng quá độ: khi phân tích tác dụng trên vết thương cho thấy Aloe gel tác dụng như một chất ức chế Thromboxane A2, một chất trung gian gây tiến trình hư hại mô tế bào.
Trong trường hợp phỏng thông thường, vấn đề quan trọng nhất là phải chữa ngay, càng sớm càng tốt, và điều tốt nhất là dùng ngay chất gel từ một lá Nha đam tươi làm thuốc thoa ngay vào chỗ bị phỏng và đây là tiến trình cần làm: trước hết làm lạnh ngay vùng bị phỏng bằng cách ngâm trong nước lã hoặc nước đá chừng 1 phút (nước làm nguội, nước lạnh có tác dụng làm tê, làm ngưng cảm giác đau và ngăn chặn sự lan tràn của vết thương). Cắt một lá Aloe tươi, thành từng đoạn và khía một đường sâu, bóc lớp vỏ ngoài và thoa chất nhày (gel trong suốt) ngay vào vết thương, để chất nhày tự khô lại trên vết thương. Có thể lặp lại vài lần nếu cần.
Tác dụng trị nấm nơi bộ phận sinh dục Tuy những thử nghiệm trong ống nghiệm cho thấy Aloe gel có thể làm Candida albicans (thủ phạm gây bệnh nấm nơi bộ phận sinh dục phụ nữ – yeast infection) ngưng tăng trưởng. Nhưng các kết quả này chưa được FDA chấp nhận.
Khả năng kích thích hệ miễn dịch và trị một vài loại ung thư
Các nhà nghiên cứu tại Đại học y khoa Tokyo đã tìm thấy những lectin trong Aloe gel có khả năng kích thích hệ miễn dịch gia tăng sự sản xuất các đại thực bào có thể tiêu diệt được các vi khuẩn và các tế bào lạ (tế bào ung thư mới phát).
Các nghiên cứu tại Nhật và Hà Lan cho rằng các hợp chất trong Aloe gel có thể giúp gia tăng sự hoạt động của hệ miễn dịch bằng cách trung hòa được các hóa chất độc hại từ các tế bào hư hỏng và nhờ đó giúp bảo vệ được các tế bào khác còn nguyên vẹn.
Một nghiên cứu khác tại Trung tâm y học thuộc Viện ĐH Texas (San Antonio), khi nghiên cứu tác dụng của trích tinh Aloe trên tế bào ung thư cũng cho thấy những kết quả khả quan; tuy nhiên về tác dụng của Aloe-emodin trên tế bào ung thư bạch cầu thì chưa được Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ chấp nhận vì liều sử dụng tương đối cao, có thể gây độc hại cho người bệnh.
Aloe gel và bệnh tiểu đường
Một thử nghiệm tại châu Âu cho thấy Aloe gel có khả năng làm hạ đường huyết nơi thú vật. Và thử nghiệm tại Thái Lan (1996) trên 72 người tiểu đường, tuổi từ 35 đến 60, uống một dung dịch Aloe gel tươi, sau 1 tuần lễ, lượng đường huyết giảm rõ rệt, và tiếp tục giảm đều trong 35 ngày sau đó; nồng độ triglycerid cũng giảm theo với nồng độ đường (Phytomedicine No 3-1996).
Tại nước ta hiện thời có nhiều người dùng lá Nha đam tươi xay sinh tố luôn cả vỏ để trị bệnh là không tốt vì chất nhựa Aloe trong vỏ màu lục có độc. Ngoài ra trên thị trường có nhiều sản phẩm từ gel Aloe được bán với giá rất đắt là không cần thiết vì không đạt yêu cầu bằng ăn gel tươi. Liều dùng có thể từ 100 – 200 g Aloe gel tươi mỗi ngày.
Aloe gel trong mỹ phẩm
Aloe gel được dùng trong nhiều mỹ phẩm, nhất là những loại kem thoa ngoài da. Nữ hoàng Cleopâtre đã từng dùng Aloe gel để thoa da cho bóng, nhưng muốn có một làn da đẹp nên dùng Aloe gel tươi, lấy ngay từ lá, vì đa số các loại gel “ổn định hóa” trong công nghiệp mỹ phẩm dùng trên thị trường như kem thoa mặt, dưỡng da, dưỡng thể và dầu gội đầu lại không hề có tác dụng trị liệu vì các hợp chất thiên nhiên của Aloe gel bị phân hủy do quá trình chế biến, bảo quản. Việc lựa chọn một loại mỹ phẩm cho thật tác dụng cũng là một vấn đề khó khăn; tuy nhiên các thử nghiệm cho thấy, các chất gel ngay sau khi trích khỏi lá cây sẽ thay đổi phẩm chất rất nhanh (do tác động của enzym trong gel), nên người ta phải thêm vào mỹ phẩm những chất chống oxy hóa thích hợp nhưng cũng không duy trì được những tác dụng tốt của Aloe gel tươi. Nhiệt độ nóng cũng gây hư hại gel, nên cần tránh sử dụng nhiệt (nấu chè ăn thì không tốt bằng ăn gel tươi), đồng thời người ta cũng còn phải thêm những chất diệt khuẩn, chống mốc để tránh việc hư hại do vi khuẩn, nấm mốc và chính những chất phụ gia ấy gây hại tế bào da. Thông thường thì một nồng độ 40% gel trở lên mới có thể có tác dụng sinh học. (Theo tiêu chuẩn của WHO thì chỉ có gel ở trạng thái tươi mới có tác dụng, và cách trích gel được làm như sau: Lấy lá tươi, rửa sạch bằng nước máy có đủ độ clor dư. Tách bỏ lớp vỏ ngoài của lá kể cả các tế bào trụ bì. Cần thận trọng đừng đụng đến các khoang vỏ màu lục, vì có thể làm ô nhiễm gel bởi các chất nhựa của lá. Có thể sát trùng gel bằng phương pháp pasteurization ở 75 – 800C trong thời gian ít là hơn 3 phút). Người ta biết chất Aloe gel tươi có tính sát khuẩn và bảo quản tốt cho gel nếu lúc thao tác ta không làm nhiễm trùng miếng gel.
Dùng một khúc lá Nha đam tươi, gọt bỏ vỏ xanh, cầm miếng gel thoa lên mặt và da để làm “kem” chống nắng, dưỡng da, giữ ẩm, chống nhăn, ngừa, trị nám là tốt hơn hết. Một số người có thể bị dị ứng, ngứa ngáy thì không dùng.
Một số nhà sản xuất mỹ phẩm còn quảng cáo là Nha đam có thể ngăn chặn sự lão hóa của da, nhưng thật ra Aloe gel có khả năng thấm ướt, làm ẩm da (moisturizing) nên tạm thời làm da bớt bị nhăn mà thôi. Aloe gel có thể có tác dụng kích thích sự tổng hợp các chất collagen và sợi elastin, nên có thể ngăn chặn sự hủy hoại của da trong tiến trình của sự lão suy khi ta bôi gel tươi cho da (International Journal of Dermatology No 30-1991).
TÁC DỤNG TRỊ LIỆU CỦA NHỰA ALOE
Tác dụng trị liệu chính thức của nhựa Aloe khô (đông y gọi là Nha đam hay Lư hội) được y học phương Tây chấp nhận là gây xổ, trị táo bón hay nhuận trường nếu dùng liều thấp. Tác dụng làm xổ của nhựa Aloe do hoạt chất 1,8-dihydroanthracen glycosid, aloin A và B. Sau khi uống aloin A và B, không bị hấp thu nơi phần trên của ruột, sẽ bị thủy phân nơi ruột bởi các vi khuẩn để trở thành các chất biến dưỡng có hoạt tính (chất chính là aloe-emodin-9-anthron). Tác dụng xổ của nhựa Aloe thường xảy ra 6 giờ sau khi uống, và có khi chậm đến 24 giờ sau. Cơ chế hoạt động của nhựa Aloe gồm 2 phần:
Kích thích nhu động ruột, gia tăng sự tống xuất và thu ngắn thời gian thực phẩm chuyển qua ruột, và làm giảm bớt sự hấp thu chất lỏng từ khối lượng phân.
Gia tăng sự thẩm thấu tế bào qua màng nhày ruột có lẽ nhờ ở ức chế các ion Na+, K+, adenosin triphosphatase hoặc ức chế các kênh clorur đưa đến sự gia tăng lượng nước trong ruột già.
Việc dùng nhựa Aloe làm thuốc nhuận trường, trị táo bón cũng là một vấn đề bàn cãi giữa y học Hoa Kỳ và các nước châu Âu: Các nước châu Âu, nhất là Đức, cho phép dùng nhựa Lư hội làm thuốc xổ (ghi trong German Commission E Mono graph), với cách dùng là sử dụng trích tinh khô đã được tiêu chuẩn hóa (Standardized dry extract, theo Dược điển châu Âu 2 hoặc Dược điển Anh (BP 1988) phải chứa từ 19 đến 21% các chất hydro-anthracen. Trích tinh này có lợi điểm là loại được các chất nhựa tạp thường gây ra các phản ứng phụ không tốt. Liều đề nghị dùng để xổ là 0,05 đến 0,1 g (50 – 100 centigram) trích tinh khô. Tại châu Âu, Lư hội là thành phần của các dược phẩm như Compound Benzoin Tincture, Opobyl… trong khi đó aloin là thành phần của các dược phẩm Alophen, Purgoids…
Các nhà dược học Hoa Kỳ nói không nên dùng nhựa Aloe, nếu không thật cần thiết để trị táo bón; vì ngoài vị đắng, nhựa Nha đam do chứa các hợp chất anthraquinon là những chất gây xổ bằng cách kích thích nhu động ruột, còn gây ra những phản ứng đau quặn bụng và gây khó chịu cho ruột. Nếu dùng quá liều có thể đưa đến xuất huyết đường ruột và cả sạn thận. Phụ nữ có thai và cho con bú không nên dùng thuốc xổ có nhựa Aloe vì tác dụng kích thích tử cung có thể gây ra trụy thai và vì nhựa Aloe đi qua sữa mẹ có thể gây hại cho trẻ bú mẹ. Với các trường hợp táo bón, cơ quan FDA khuyến cáo nên dùng các loại dược thảo khác như Muồng (Senna) hoặc Cascara là những dược phẩm có tính xổ nhẹ hơn và an toàn hơn.
DS. PHAN ĐỨC BÌNH
DS. TRẦN VIỆT HƯNG
*********************
Nấm Thái dương (Agaricus blazei Murrill):
Tháng 9/2007, trong một chuyến đi khảo sát dược liệu do Công ty Domesco tổ chức, ThS. Cổ Đức Trọng đã phát hiện một loài nấm quý mọc hoang tại tỉnh Đồng Tháp. Đó là loài nấm Thái dương, còn gọi nấm Búp (Agaricus blazei). Đây là phát hiện lần đầu tiên nấm này có ngoài tự nhiên chẳng những ở Việt Nam mà còn của châu Á nữa. Việc tìm thấy nấm Thái dương ngay tại một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sự phong phú và đa dạng sinh học của các loài nấm trên đất nước ta, là một khích lệ rất lớn cho các nhà khảo cứu về nấm và càng chứng tỏ Việt Nam có khá nhiều loài nấm đặc hữu chưa khám phá hết. Sau đây chúng ta thử tìm hiểu về loài nấm quý này.
Nấm Thái dương (Agaricus blazei Murrill) có tên thông dụng là Sun Agaricus hay Royal Sun Agaricus. Nấm được Takatoshi Furumoto (Nhật kiều) phát hiện ở Brasil năm 1960. Năm 1965 ông gởi bào tử nấm về Nhật nghiên cứu và một nhà nấm học người Bỉ là Heinemann xác định tên khoa học là Agaricus blazei Murrill, cùng loài với Agaricus blazei do nhà khoa học W. Blazei phát hiện năm 1944 tại bang Florida của Mỹ và do Murrill định danh. Tuy nhiên, đến năm 2002 Wasser và cộng sự bằng những khảo cứu kỹ lưỡng về hình thái và sinh học phân tử, xác định loài ở Brasil và loài ở Florida là hai loài khác nhau và chỉnh lý tên của loài Agaricus mọc tại Brasil là Agaricus brasiliensis. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn đang tranh cãi và tên thông dụng hiện nay vẫn là Agaricus blazei Murrill.
ThS. Cổ Đức Trọng phát hiện nấm Thái dương (Agaricus blazei) tại Đồng Tháp (9/2007) –
Nấm có màu nâu hồng, thịt ở mũ, trên mũ có những vảy nhỏ màu nâu sậm, đường kính mũ khi còn búp là 3 – 4 cm, khi nở có thể đến 10 cm, có vòng bao. Cuống nấm màu trắng, có đường kính từ 1 cm trở lên, cao 6 – 7 cm. Cho đến nay chưa thấy ghi nhận nấm này mọc hoang ở nơi khác, kể cả các nước châu Á.
Nấm có thành phần dinh dưỡng rất cao. Kết quả phân tích thành phần trong 100 g nấm khô theo số liệu của Paul Stamets (2005): 100 g nấm cung cấp Calori: 362, protein: 35,19 g, chất béo: 3,39 g, trong đó chất béo chưa bão hòa: 1,71 g, chất béo bão hòa: 0,37 g, carbohydrat: 47,7 g, trong đó carbohydrat phức hợp: 26,5 g, đường: 21,2 g, chất xơ: 21 g. Rất giàu các vitamin nhóm B: vitamin B1: 0,26 mg, vitamin B2: 2,4 mg, vitamin B3: 58,5 mg, vitamin B5: 14,2 mg, vitamin D: 731 IU, calcium: 36 mg, đồng: 4,28 mg, sắt: 1,9 mg, kali: 5,20 mg, selenium: 0,35 mg.
Nấm Thái dương (nấm Búp) – Agaricus blazei so với kích thước cây bút bi –
Hương vị của nấm Thái dương có hương hạnh nhân rất mạnh.
Ngoài tác dụng dinh dưỡng, nấm còn có dược tính quý trong hỗ trợ điều trị ung thư. Các khảo cứu đầu tiên xuất phát từ Nhật Bản từ 20 năm nay và khoảng 10 năm trở lại đây là Trung Quốc, Brasil, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Australia. Tác dụng chống ung thư của nấm Thái dương là chủ đề của những khảo cứu của nhiều nhóm nghiên cứu Nhật Bản. Thành phần có tác dụng chống tế bào ung thư là các polysaccharid bao gồm ß (1-3) D-glucan và ß (1-6) D – glucan có sức mạnh chống tế bào ung thư sarcoma 180. Ngoài ra ergosterol chiết xuất từ nấm có tác dụng chống khối u rất mạnh thông qua nâng cao hệ miễn dịch. Các polysaccharid này cùng ergosterol hoạt hóa mạnh mẽ các đại thực bào, làm tăng hàm lượng các cytokin và tương tác với các tế bào lympho T khởi động các phản ứng miễn dịch đặc hiệu đồng thời kích thích sự gia tăng các tế bào sát thủ tự nhiên chuyên tìm diệt các tế bào lạ (ung thư). Delmanto et al, 2001 đã chứng minh nước chiết nấm Thái dương có tác dụng chống đột biến trên chuột. Gennari et al, 2001 khảo cứu trên bệnh nhân ung thư thấy nấm Thái dương làm gia tăng số lượng rất nhiều các tế bào sát thủ tự nhiên trong cơ thể bệnh nhân.
Hiệp hội ung thư Nhật Bản đã chứng minh rằng polysaccharid của một số loài nấm có tác dụng trên các dạng ung thư thể rắn trong khi polysaccharid của nấm Thái dương không chỉ có tác dụng trên ung thư thể rắn mà còn có hiệu quả trên ung thư biểu bì, ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi và ung thư gan. Cựu tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng đã dùng nấm Thái dương để điều trị thành công bệnh ung thư da và chính sự hiệu quả này của nấm đã được các nhà khoa học ngày càng chú ý. Nấm Thái dương chứa ß (1-6 ) D-glucan cao hơn bất kỳ một loại nấm nào khác và được xác nhận có khả năng gia tăng chức năng đáp ứng miễn dịch chống lại hầu hết các tế bào lạ trong cơ thể. Từ năm 1968 Takashi Mizuno, một nhà nghiên cứu về nấm nổi tiếng của Nhật Bản đã khảo cứu các hợp chất sinh học trong các loài nấm, đặc biệt là những polysaccharid có tác dụng chống khối u. Năm 1995 ông đã giới thiệu kết quả khảo cứu về nấm Thái dương như sau:
“Tác dụng chống khối u phi thường được tìm thấy trong glycoprotein FIII-2-b chiết xuất từ quả thể nấm Thái dương. Đây là phức hợp glucan-protein lần đầu tiên được tìm thấy trong nấm ăn”.
Theo các công trình nghiên cứu tại Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Nhật Bản, phối hợp với Viện đại học y và đại học dược Tokyo cho thấy nấm Thái dương có hiệu quả phòng ung thư đến 99% và hiệu quả điều trị đạt 90% với liều 10 mg tinh chất/ngày trong khi các loài nấm khác dùng với liều 30 mg tinh chất/ ngày nhưng tác dụng không cao bằng. Các nhà nghiên cứu cho rằng nấm Thái dương có các tác dụng như sau:
Các tác dụng kích thích hệ miễn dịch:
Hiệu quả chống khối u: polysaccharid bao gồm beta và protein-glucan làm giảm và kiểm soát sự gia tăng nhanh chóng của tế bào ung thư.
– Hiệu quả ngăn chặn ung thư: các steroid, nucleic acid, lipid và lectin ngăn cản sự sinh sản của tế bào ung thư.
– Làm giảm đường huyết, có hiệu quả trong điều trị tiểu đường.
– Giảm cholesterol và làm giảm xơ cứng động mạch.
Hiện nay nấm Thái dương được công nhận rộng rãi là một loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe, đặc biệt hiếm có trong mục đích chống ung thư, gia tăng hệ miễn dịch và cũng được lưu ý trong điều trị bệnh AIDS.
Mỗi năm tại Nhật có từ 300.000 – 500.000 người dùng nấm Thái dương để ngăn ngừa các bệnh ung thư với liều dùng nước chiết Thái dương 3 – 5 g/lần, dùng 3 lần/ngày (khoảng 25 tỷ yên hay 230 triệu USD/năm).
TS. Inosuke Iwade là người trồng thành công nấm Thái dương lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1975 tại Nhật Bản. Hiện nay các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Brazil đều đã trồng và sử dụng nấm này. Nhật Bản đứng đầu thế giới về tiêu thụ nấm Thái dương. Gần 90% sản lượng nấm Thái dương của Brazil (60 tấn khô/năm) được xuất sang Nhật Bản (220 – 250 USD/kg nấm khô).
Điểm đặc biệt khác với các loại nấm mỡ trong chi Agaricus, là nấm trồng được ở xứ nóng. Nấm Thái dương trồng được ở nhiệt độ môi trường từ 250-270C, trong khi các loài Agaricus khác chỉ trồng được ở nhiệt độ từ 16 – 210C. Nấm được trồng bằng các chất hoại sinh phân hủy thứ cấp như rơm rạ, phân trâu, bò, ngựa…
Trung tâm nghiên cứu Linh chi & Nấm dược liệu TP.HCM chúng tôi đã nuôi trồng thành công nấm Thái dương trong bịch mạt cưa với công thức đất được phối trộn đặc biệt phủ lên mặt bịch sau khi hệ sợi đã sinh trưởng đầy đủ. Sau 15 ngày phủ đất, các hạt nhỏ hình trứng li ti xuất hiện, kết lại và lớn dần thành quả thể, sau 3 ngày đã thành tai nấm hoàn chỉnh và có thể thu hoạch. Nấm có mùi thơm, vị ngọt, ăn rất ngon, năng suất ban đầu đạt 150 g/kg cơ chất, hiệu suất sinh học là 15%. Đây là lần đầu tiên nấm Thái dương được trồng thành công ở Việt Nam (TP.HCM) với nhiệt độ ngày đêm trung bình trong khoảng 26 – 300C.
ThS. CỔ ĐỨC TRỌNG
*************
Cây đinh lăng:
Cây đinh lăng thường được trồng ở các đình chùa, trước sân nhà làm cảnh bởi lẽ có dáng cây, kiểu lá đẹp xum xuê và quanh năm xanh tốt. Ngày xưa, nhân dân thường lấy lá non của cây đinh lăng để ăn.
Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L…) Harms, cùng họ với cây nhân sâm (sâm Triều Tiên) nổi tiếng (họ Araliaceae). Đinh lăng là một loại cây nhỏ, sống nhiều năm, cao từ 0,8-1,5m, thân nhẵn không có gai và phân nhánh nhiều. Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20-40cm. Phiến lá kép có thùy sâu và mép có răng cưa không đều. Vò ra lá có mùi thơm. Cụm hoa là một khối hình chùy ngắn, gồm nhiều tán đơn hợp lại. Mỗi tán mang nhiều hoa nhỏ có cuống ngắn. Hoa 5 cánh trắng hình trứng, dài 2mm có 5 nhị với chỉ nhị ngắn và mảnh, bầu dưới có 2 ô có rìa trắng nhạt. Quả dẹt màu trắng bạc dài 3-4mm, dày 1mm, mang vòi tồn tại.
Khoảng 40-50 năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến tác dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể của nhiều cây cùng họ với cây nhân sâm. Một số cây trong họ này cho những vị thuốc bổ nổi tiếng và được dùng từ lâu đời trong nhân dân ta như nhân sâm, ngũ gia bì, tam thất… Đinh lăng cũng có tác dụng bổ như nhiều cây họ hàng với nó. Ngày xưa vào dịp hội hè thường tổ chức thi đấu vật, trước khi thi đấu các đô vật hay vò lá đinh lăng với nước để uống cho tăng sức dẻo dai, vật lâu không mệt.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ, lấy ở những cây trồng từ 3 năm trở lên. Người ta thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hay mùa đông vì lúc này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ mềm hơn. Rễ đào về đem rửa sạch đất cát, thái nhỏ rồi phơi, hay sấy khô. Cũng có thể tẩm thêm nước, gừng và sao cho thơm. Ngoài rễ ra, người ta còn dùng cả thân và lá đinh lăng.
Những năm trước đây các nhà khoa học nước ta (Viện Y học quân sự) cũng có nhiều công trình nghiên cứu dùng đinh lăng làm thuốc tăng lực, tăng khả năng lao động cho người có kết quả tốt. Làm thuốc bổ gây ăn ngon miệng, ngủ tốt, tăng cân, giúp cơ thể chóng hồi phục sau khi mổ, ốm nặng.
Đinh lăng dùng khá an toàn. Liều trung bình là 0,25-0,50g một lần, ngày uống 2-3 lần, dùng dưới dạng thuốc bột (sao thơm, tán nhỏ, rây bột mịn), thuốc viên, hoặc nước thuốc.
Ngoài ra một số nghiên cứu còn cho thấy đinh lăng có tác dụng an thần và làm tăng tác dụng của thuốc chống sốt rét. Trong nhân dân có nơi còn dùng rễ đinh lăng để chữa ho, thông tiểu, thông sữa và chữa kiết lỵ. Hoặc dùng lá đinh lăng giã nát để đắp vết thương. Song cần chú ý phân biệt cây đinh lăng lá nhỏ nói trên với mấy cây tương tự như: đinh lăng lá tròn, đinh lăng trổ… tác dụng tăng lực yếu, không bổ.
BS. Vũ Nguyên Khiết
**********************
Trái nhàu:
Có 1 thời gian trái nhàu hot lên với lời đồn trị bá bịnh. Dù chưa có số liệu chính thức nghiên cứu về trái nhàu ở nước ta nhưng dân gian đã dùng từ lâu, ở nước ngoài họ phát triển sản phẩm trái nhàu như nước hoa quả trái nhàu, bột trái nhàu ăn thường xuyên chữa cao huyết áp rất hiệu quả và các bịnh về tiêu hóa, đường ruột.
THÀNH PHẦN
Có 150 chất được tìm thấy trong quả nhàu, trong đó có: beta-carotence, canxi, axit linoleic, magiê, kali, protein, các vitamin nhóm B và những chất chống oxy hóa như vitamin C… Ngoài những chất này, quả nhàu đặc biệt có chứa hợp chất prexonine. Hợp chất này khi kết hợp với enzym prexoronase (có trong dạ dày) sẽ tạo thành chất xeronine. Khi protein kết hợp với xeronine tạo thành những khối có khả năng sản xuất năng lượng và giúp những tế bào khỏe mạnh phát triển hoàn hảo.
TÁC DỤNG CHÍNH
Loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng vitamin, thảo dược và khoáng chất. Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn sự hủy hoại những gốc tự do.
• Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu.
• Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T – tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại.
• Chống viêm: Có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay. Giảm đau và giảm sưng vết thương với triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng. Hiệu quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.
• Chữa bệnh: Nhiều tài liệu khoa học đã cho thấy hữu ích của quả nhàu đối với dạ dày (bệnh tiêu chảy, ợ nóng, buồn nôn, viêm ruột kết, loét dạ dày), cơ quan sinh dục (những vần đề về kinh nguyệt, nhiễm nấm men), gan và lá lách (bệnh đái đường, tuyến tụy), hệ hô hấp (hen suyễn, viêm xoang, bệnh khí thủng), hệ thống nội tiết (bệnh tuyến giáp và tuyến thượng thân), hệ tim mạch (bệnh tim, huyết áp cao, đột quỵ), hệ thần kinh (stress, suy nhược cơ thể, trí nhớ, năng lượng),…
Tạp chí Đông y của Hội đông y Việt nam số 338 năm 2002:
Nhàu là cây được trồng phổ biến ở miền Nam nước ta. Nhàu có tác dụng dược lý như: nhuận tràng nhẹ và lâu dài, lợi tiểu nhẹ, làm êm dịu thần kinh trên thần kinh giao cảm, hạ huyết áp…
Dân gian có kinh nghiệm dùng quả nhàu ăn với muối để giúp dễ tiêu, nhuận tràng, làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen suyễn, đau gân, đái đường. Các nghiên cứu còn phát hiện trong nhàu có nhiều chất selenium là một nguyên tố vi lượng có tác dụng kháng ung thư.
Ăn quả nhàu ngâm đường còn có tác dụng chữa bệnh đau nhức cơ. Bởi vì, bản thân quả nhàu có tác dụng làm êm dịu thần kinh giao cảm, chữa được đau gân, với người đau nhức cơ ăn quả nhàu ngâm đường là tốt và an toàn. Người bị đau bao tử (hang vị) ăn quả nhàu ngâm đường không có gì hại cả vì quả nhàu có tác dụng nhuận tràng nhẹ và lâu dài, sẽ giúp bạn lợi đại tiện nên có lợi cho người bệnh.
Chưa có nghiên cứu về lượng dùng quả nhàu cụ thể để chữa bệnh, song các nghiên cứu cho thấy nhàu không độc khi ăn, nên nếu có ăn nhiều cũng không sợ ngộ độc. Quả nhàu có tác dụng nhuận tràng nhẹ, vì thế nên ăn sau bữa ăn (lúc no), không nên dùng khi còn đói có thể gây cồn cào ruột. Nên ăn một lượng vừa phải, không nên ăn quá nhiều, mỗi ngày trung bình 20 – 40g cho 2 lần.
Lương y Hoài Vũ
********************
Trái nhàu:
Trái nhàu, cây nhàu không lạ đối với nhiều người ở các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ vì đây là loại cây thường mọc ở những nơi ẩm thấp, dọc bờ sông, bờ suối, cho trái quanh năm.
GS-TS Đỗ Tất Lợi, một trong những nhà dược học có uy tín nhất ở Việt Nam, đã bỏ nhiều công sức khi biên soạn cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, trong đó ông đã dành 2 trang sách nêu cái hay của toàn bộ cây nhàu (lá, trái, vỏ, rễ).
Nhàu phơi khô hay dùng tươi đều là vị thuốc chữa các bệnh cao huyết áp, nhuận tràng, băng huyết, nhức mỏi, đau lưng, tiểu đường, mụn nhọt. Rễ cây nhàu xắt nhỏ, phơi khô, nấu nước uống hàng ngày (30g đến 40g) thay nước trà trong vài tháng liền sẽ chữa được bệnh cao huyết áp; nếu đem ngâm nước, sau một vài tháng lấy ra mỗi ngày uống một vài ly nhỏ sẽ chữa được bệnh nhức mỏi.
Trái nhàu tươi cũng có thể xắt nhỏ, phơi khô, sao vàng ngâm với nước thay cho rễ nhàu. Nhiều người còn dùng trái nhàu tươi ủ với một ít đường, để hai tuần cho ra nước, uống mỗi ngày một ly nhỏ sẽ chữa được bệnh đau nhức các khớp tay, khớp chân và bệnh đường ruột. Quả nhàu nướng chín có công dụng chữa được bệnh lỵ. Còn lá nhàu tươi, nếu dùng từ độ 8g đến 10g nấu với 1/2 lít nước uống làm 2 lần trong ngày sẽ chữa được chứng nhức đầu, chóng mặt.
Theo sách 250 cây thuốc thông dụng của Giáo sư Võ Văn Chi thì trái nhàu có tác dụng dược lý làm hạ huyết áp, êm dịu thần kinh, lợi tiểu, nhuận tràng và chữa được bệnh tiểu đường. Thầy thuốc ưu tú, bác sĩ Nguyễn Tuấn Vinh trong cuốn sách Dùng cây thuốc do nhà Xuất bản Y học và nhà Xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 2005, dẫn chứng nghiên cứu của các nhà khoa học xác định trong quả nhàu có chứa nhiều chất prosertonin, một chất dinh dưỡng, nhiều gấp 40 lần so với trong trái dứa.
Khi chất này kết hợp với một enzym nội bào sinh ra xeronin có khả năng giúp tế bào tự sửa chữa và tái tạo nên ngoài công hiệu chữa đau lưng, nhức mỏi tay chân, táo bón, hạ huyết áp ra, nếu uống thường xuyên phụ nữ còn tránh được mối nguy rối loạn kinh nguyệt hoặc dùng 20g vỏ cây nhàu (đã sao khô) nấu nước cho phụ nữ mới sinh uống sẽ chữa được bệnh thiếu máu. Bài thuốc này đã được áp dụng tại các tuyến y tế cơ sở trong và ngoài quân đội. Điều đáng nói là các bài viết đều có câu kết luận là ở loại trái này, độ độc không đáng kể và không gây nghiện.
(Theo sggp tổng hợp)
Trái nhàu hơi khó ăn với 1 số người. Làm sao để ăn cho ngon mà ghiền luôn: Chia sẻ kinh nghiệm như sau:
Bạn hái trái nhàu sắp chín, đem vào vùi ngập vào trong lọ muối (nếu thích ăn mặn) hoặc vùi ngập vào lọ đường nếu thích ngọt đậy kín. Khoảng vài ngày sẽ chín, trong quá trình chín đó, muối hoặc đường đã thẩm thấu vào bên trong trái nhàu ăn rất ngon, đậm đà.
**********************
Cây sầu đâu:
Tất cả những gì có trên thân cây sầu đâu đều là nguồn dược liệu quý.
Cây sầu đâu còn được gọi là cây xoan, tên khoa học là Azadirachta indica A.Juss, hoặc Melia azedarach Linn, thuộc họ xoan Meliaceae. Cây được phân bố nhiều ở Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Sri Lanka, Indonesia, VN. Tại VN cây mọc hoang nhiều nhất ở An Giang, Kiên Giang, Ninh Thuận và rải rác ở đồng bằng sông Cửu Long. Riêng TP.HCM tôi thấy cây mọc nhiều ở khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng.
Cây có lá rất xanh, mọc đối xứng, mép lá có răng cưa và đặc biệt là hai đáy của phiến lá không đều. Lá có vị rất đắng nhưng có hậu ngọt, tính mát. Xuất xứ từ Ấn Độ với tên gọi “neem”, sầu đâu là loài cây thân mộc có tuổi thọ khoảng 200 năm. Tất cả những gì có trên thân cây này đều là nguồn dược liệu quý, cũng như lợi ích của cây về lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Lá, hoa, nhựa, vỏ cây… có thể khử trừ khoảng 200 loại côn trùng có hại trong sản xuất nông nghiệp… Và hơn hết là chức năng thanh lọc không khí, làm tăng độ ẩm ổn định môi trường.
Mới đây nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu hóa sinh ứng dụng TP.HCM, do GS.TS Trần Kim Quy chủ trì, vừa công bố việc điều chế thành công ba nhóm thuốc bảo vệ thực vật mới được trích ly từ hạt và lá cây sầu đâu với tên gọi limonoid. Chất này có khả năng diệt mọt trong ngũ cốc và ức chế 100% sự nảy mầm của hạch nấm gây hại hoa màu. Đây là công trình điều chế thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật, không gây ô nhiễm môi trường và không gây hại cho con người.
Trị nhiều bệnh:
Riêng về lĩnh vực y học, tác dụng kỳ diệu của lá sầu đâu đã được người Ấn Độ ứng dụng từ xa xưa để làm thuốc hạ đường huyết, chống viêm, chống ung thư, kháng khuẩn, kháng nấm, chữa sốt rét. Ngoài ra nó còn có tác dụng chống oxy hóa tế bào và kháng các tác nhân gây đột biến gen hoặc ung thư…
Đối với bệnh đái tháo đường, mỗi ngày có thể dùng 5-10 lá, tươi hoặc phơi trong mát cho hơi héo rồi đun sôi lấy nước uống mỗi ngày, nước thuốc có vị rất đắng nhưng hậu ngọt, cũng không khó uống.
Các nước Ấn Độ, Mỹ, Hà Lan, Nhật… đã điều chế sản xuất từ lá sầu đâu thành các dạng thuốc uống như thuốc viên, chữa loét bao tử, bệnh đường ruột, sán lãi, dạng trà thuốc, dạng kem và các mỹ phẩm thoa da chữa ghẻ, mụn nhọt, lang ben, hắc lào, xà bông tắm sát khuẩn ngoài da, hoặc cao dán trị các vết thương làm độc, ung mủ, các vết loét của phong hủi. Nước sắc của cây còn dùng để chữa viêm nha chu, viêm nướu, sâu răng, chữa viêm cơ, viêm khớp. Dùng ngoài đắp lên các ápxe, bướu ác tính, trĩ hoặc các vết thương do rắn, rết cắn.
Ngành công nghiệp dược của nhiều nước đã trích ly hoạt chất của cành, lá sầu đâu và chế thành thuốc viên trị bệnh đái tháo đường do thiếu insulin, làm thuốc lọc máu, trị bệnh cao huyết áp và rối loạn nhịp tim, làm giảm mỡ và cholesterol trong máu.
Cây sầu đâu đang được trồng và khai thác đại trà tại các nông trường neem tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận và Trung tâm Nghiên cứu nông dược TP.HCM (sản xuất với quy mô 50 tấn/năm).
Ds LÊ KIM PHỤNG (ĐH Y Dược TP.HCM)
*********************
Bí đao:
Bí đao (Bí đao) là một loại thức ăn được y văn kim cổ ca tụng nhiều về công năng lợi tiểu tiêu thũng, tháo nước trong toàn thân do giải quyết được “bí đái”. Nhưng còn chữa được rất nhiều bệnh khác từ đơn giản đến phức tạp, nhất là vào mùa hè. Hè lại là chính vụ của Bí đao nên dễ có Bí đao tươi sử dụng cho công hiệu mạnh hơn. Đồng thời hè cũng gây nên nhiều bệnh lý cần có tính chất công năng của Bí đao.
Bí đao trong đông y:
Bí đao có ưu điểm dễ bảo quản, có thể để dành cho cả thời gian dài trái vụ. Nghĩa là lúc nào ta cũng có Bí đao để phục vụ cho phòng chữa bệnh ở cộng đồng. Bí đao luôn có các dạng túi, thái lát phơi khô, hay tán thành bột và còn chế thành nước (đông qua thủy). Bí đao có thể cung cấp cho ta thức ăn ngon, mát bổ dưới dạng khô (sào thịt), dạng lỏng nước (luộc, nấu canh tôm). Chúng đều có tác dụng cải thiện sức khỏe ngày hè cho mọi lứa tuổi. Các bộ phận của cây Bí đao đều được dùng làm món ăn và thuốc: quả (gồm cuống, vỏ, thịt, hột), thân, lá, hoa…
Bí đao còn có tên bí xanh (vỏ màu xanh có hoặc không có phấn). Vùng Nghệ Tĩnh gọi Bí đao là quả bim. Tên Hán là đông qua. Tên khoa học của Bí đao là Benincasa cerifera Savi. Họ bầu bí Cucurbitaceae.
Trong sách cổ, Bí đao còn có nhiều tên khác: bạch qua (dưa trắng), thủy chi (Thần nông bản thảo), địa chi (quảng nhã…). Về tính năng, công dụng tập hợp từ nhiều sách cổ cho thấy: đông qua vị ngọt, tính hàn, vào các kinh phế, vị, bàng quang, tiểu tràng, không có độc tính. Có tác dụng rõ rệt kiện tỳ, ích khí, tiêu thủy. Ăn bí xanh lâu dài có thể tiêu trừ nước thừa trong cơ thể, giảm cân chống mập phì. Bí đao thích hợp cho người bị khí hư, tỳ yếu, béo bệu, phù thũng cục bộ hoặc toàn thân. Bí xanh đã được ghi trong những phương thuốc bí truyền làm đẹp của mỹ nhân, cung phi. Trong Trung dược học bản thảo nói rõ thêm tính khử thấp, trừ nhiệt (hạ sốt cao), Hải Thượng Lãn Ông viết trong Y tông tâm lĩnh: Bí đao giải khát, thanh tâm hư nhiệt phiền, tiêu úng thũng trướng và lợi thủy…
Thành phần hóa học: 100g bí đao có 0,4g protein, 2,4g đường bột, 19mg canxi, 12mg photpho, 0,3mg sắt, 0,01mg caroten, 0,01mg vitamin B1, 0,02mg B2, 0,3mg PP, 16mg C. Do lượng natri trong bí đao rất thấp nên dùng tốt cho trường hợp xơ cứng mạch máu, huyết áp cao, bệnh thận phù thũng…
Một số cách dùng:
Phòng chữa bệnh mùa hè:
Nắng nóng, nồm ẩm gây nhiều mỏi mệt, uể oải, thân thể nặng nề, đau đầu, tiểu vàng, ăn không tiêu các loại ôn bệnh. Có thể bị trúng thử (cảm nắng, cảm thử).
Đơn giản, hiệu quả là chỉ có Bí đao với cà chua, vài lát gừng giã dập.
Canh mùa hè chống nóng nực, háo khát phòng cảm cúm dịch (viêm não, sốt xuất huyết…). Bí đao chỉ cạo sơ qua vỏ, thái miếng 500g, nấm rơm tươi 50g, đậu xanh.
Có thể phối hợp thêm cho trường hợp cần tác dụng mạnh hơn. Cho thêm ý dĩ, bạch biển đậu, lá sen thái chỉ…
Ở Trung Quốc, nhiều nơi có tập quán vào những ngày hè oi bức mọi người đều uống nước nấu bí đao.
Đông qua thủy (nước Bí đao) chữa sốt cao. Dùng khạp to, bí đao cắt thành miếng nhỏ cho đầy khạp, không cho nước hoặc rất ít. Đậy kín rồi trát xi-măng cho kín, hạ thổ thì tốt hơn. Sau một thời gian khoảng 1-20 năm Bí đao biến thành nước. Khi dùng không cần đun nấu lại. Để càng lâu càng tốt.
Bệnh tiết niệu sinh dục:
Tiểu không thông, tiểu đục do thấp nhiệt bàng quang: nấu bí cả vỏ xanh. Uống nước ăn cái.
Phù khi có thai: Bí đao và đậu đỏ lượng bằng nhau (khoảng 40g) nấu canh ăn (không cho muối).
Bạch đới: hạt Bí đao lâu năm rang nghiền bột uống 15g mỗi lần, vào lúc đói.
Bệnh đái tháo đường:
– Bí đao 2.500g cắt đầu làm nắp cho vào trong 30g bột hoàng liên. Đậy nắp găm chặt bằng tăm. Nấu chín nhừ, để nguội, ép lấy nước uống ngày 3 lần.
– Bí đao 30g, vỏ Bí đao 30g, hoàng liên 9g sắc lấy nước uống.
Ho gà, viêm phế quản cấp và mãn: hạt Bí đao 15g trộn với đường phèn giã mịn nhào với đường mía uống với nước đun sôi để nguội. Ngày 2-3 lần.
Hen suyễn: quả Bí đao còn cuống, bổ ra cho đường phèn hấp chín. Ăn hết khoảng 4 quả mới thấy rõ hiệu quả. Có thể thêm gừng.
Mũi chảy nước hôi (viêm mũi): Bí đao, ý dĩ mỗi thứ 40g, nấu nước uống hàng ngày.
Ngộ độc thức ăn (tôm, cá, cá nóc…): Bí đao tươi, giã nát, vắt lấy nước thật nhiều để uống.
Giữ da mặt đẹp: quả Bí đao, nước 1.500g, nước 100g, đường mía 500g.
Dùng dao tre nứa gọt vỏ bí. Cắt thành miếng nhỏ, nước, nước cho vào nồi hầm nát nhuyễn, lọc lấy nước cô thành cao rồi cho mật vào đun lại. Để nguội cho vào lọ nút kín dùng dần vào buổi tối xoa mặt.
Tàn nhang: hạt Bí đao 350g, hạt sen 30g, Bạch chỉ 15g. Tất cả nghiền mịn. Hàng ngày uống sau bữa cơm. Chiêu bằng nước đun sôi để nguội.
Sụn lưng do lao động: vỏ Bí đao đốt thành than tán bột uống với nước. Mỗi lần 6g.
Phạm phòng (Phòng sự quá độ gây ốm yếu mệt mỏi, suy nhược): vỏ Bí đao sao vàng 12g, sắc uống. Ngày 3 lần.
Phối hợp trong ung thư gan có báng: Bí đao 300g, canh sườn lợn 1000ml. Dầu ăn 60g, muối ăn 3g, nước gạo 9g. Bí đao bỏ vỏ, ruột, cắt miếng vuông xào, rồi nấu sôi nhỏ lửa 15’, thêm gia vị nước nấu 3’. Ăn tất cả ngày 1 lần, liền một tuần.
Ung thư gan trong thời gian xạ trị và sau phẫu thuật: Măng vụ đông 100g. Nấm hương vụ đông 20g. Giăm bông 30g. Đậu xanh 10-20 hạt. Muối < 4g, dầu vừng 50g. nước vang 5g. Các thứ tẩm gia vị cho chín rồi tưới dầu lên.
Ung thư họng: Bí đao tươi 300g, hạt ý dĩ 50g, dầu ăn, gia vị. Nấu ý dĩ trước cho bung ra mới cho Bí đao vào nấu chín, gia vị. Ăn cái, uống nước. Chia 2 lần ăn hết trong ngày.
Ung thư trực tràng, kết tràng: đông qua nhân (hạt Bí đao) 15g, đại hoàng 10g, đan bì 16g, đào nhân 10g, phác tiêu 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Ung thư phổi: đông qua nhân 15g, sa sâm 15g, sơn dược 20g, cáp phấn 15g, ý dĩ 20g, phục linh 20g, tử sâm 20g, bạch cấp 16g, bối mẫu 10g, chính cam thảo 6g, tam thất 4g, bạch anh 30g, đông qua nhân 20g, lô căn tươi 20g, ý dĩ 30g. Sắc uống ngày 1 thang.
Ung thư tế bào nhung lông thượng bì, chửa trứng: đông qua nhân 30g, xích tiểu đậu 30g, ngư tinh thảo 30g, bại tương thảo 15g, tử thảo 10g, đương quy 20g, cam thảo 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Thuốc trường thọ:
Theo Thực liệu bản thảo: Bí đao ích khí, trừ đầy ngực, tan nhiệt bốc lên mặt. Theo Lý Thạc đời Tống (Trung Quốc) ăn lâu dài hạt bí xanh (bỏ vỏ) có thể trường thọ. Bỏ hạt bí vào túi lụa, luộc sôi trong nước một giờ lấy ra phơi khô. Làm 3 lần như vậy rồi ngâm vào giấm gạo một đêm, phơi khô, tán bột. Ngày uống một thìa canh.
Như trên đã nói Bí đao tiêu mỡ, giảm cân, cũng là cách phòng chống mỡ máu cao, xơ vữa động mạch, bệnh tim mạch gây tử vong cao.
BS. Phó Thuần Hương
*****************
Cây bá bệnh:
Loại cây này mọc nhiều ở nước ta, tập trung chủ yếu ở miền Trung và Đông Nam Bộ.
Với tên khoa học là Euricoma longifolia Jack, cây bá bệnh là một loại cây sống trong rừng rậm nhiệt đới vùng Đông Nam Á (tiếng Indonesia gọi là pasak bumi, tiếng Mã Lai là tongkat ali). Từ xưa người dân Indonesia thường sắc rễ cây này để uống, xem nó như là một vị thuốc thiên nhiên cường dương. Theo nghiên cứu tại Trường đại học Malaysia, chiết xuất từ cây bá bệnh còn có tác dụng tăng cường thể lực, giảm mỏi mệt, sát trùng, chống lở loét, hạ sốt, cải thiện các triệu chứng của các bệnh cao huyết áp và tiểu đường.
Theo lương y Nguyễn Công Đức: cây mật nhân hay còn có các tên gọi là “bá bệnh”, “bách bệnh” (Eurycoma Longifolia Jack) thuộc họ thanh thất (Simaroubaceae). Loài cây này cao 2-8 mét, lá kép, không cuống, mọc đối, mặt trên xanh bóng, mặt dưới trắng mốc. Cuống lá màu nâu đỏ. Cụm hoa hình chùm tán mọc ở ngọn. Hoa và bao hoa phủ đầy lông màu đỏ nâu. Quả hình trứng hơi dẹt, có rãnh giữa, khi chín màu vàng đỏ chứa 1 hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn. Mùa hoa quả tháng 3 đến tháng 11.
Mật nhân mọc hoang ở vùng núi, trong các rừng thưa, dưới tán các cây gỗ, ở nước ta cây mọc chủ yếu tại miền Trung và Đông Nam Bộ.
Theo kinh nghiệm dân gian, người ta dùng rễ cây mật nhân (có vị đắng, tính mát) băm nhỏ đem tẩm nước, sao vàng để trị bệnh. Mật nhân được dùng chữa nhiều thứ bệnh như: khí hư huyết kém (biểu hiện: người mỏi mệt, lười hoạt động, thiếu máu), ăn uống không tiêu, no hơi, đầy bụng, trong ngực có cục tích (tức ngực, nghẹn, khó thở), gân xương yếu mỏi, chân tay tê nhức, nôn mửa, tả lỵ, tứ thời cảm mạo (cảm ho thể phong hàn hay phong nhiệt cả 4 mùa trong năm), say nước và tẩy giun.
Vỏ thân mật nhân dùng làm thuốc bổ, chữa trị ăn uống không tiêu, phối hợp với rễ chữa đau lưng, nhức mỏi, đau bụng kinh của phụ nữ. Quả mật nhân thì dùng để chữa lỵ, tiêu chảy. Lá thì dùng nấu nước tắm trị ghẻ, lở ngứa.
Cách sử dụng mật nhân chữa bệnh như sau: Nếu rễ hoặc vỏ thân thì phơi khô tẩm nước sao vàng sắc uống, hoặc tán bột làm viên uống ngày 8-16g chia 3 lần sau khi ăn. Nếu ngâm nước thì liều lượng như sau: 20g rễ mật nhân, 10 trái chuối khô (chuối sứ) nướng vàng, ngâm với 1 lít nước loại ngon, ngâm khoảng 7 ngày là lấy ra dùng được, ngày dùng 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ (độ 30 ml). Lưu ý, phụ nữ đang mang thai thì không được dùng.
Theo thanhnien
Theo TS. Trần Văn Ơn, chủ nhiệm bộ môn thực vật, Trường đại học dược Hà Nội, các nhà khoa học đã tìm thấy cây bá bệnh tại Việt Nam và các bước nghiên cứu ban đầu cho thấy nó có tác dụng không kém và có phần vượt trội so với cây xuất xứ từ các nước khác.
Cách dùng tốt nhất là lấy rễ cây (20 – 50 g) hãm với nước sôi, dùng uống thay trà. Tuy nhiên loại trà thuốc này có vị rất đắng, nên cách sử dụng tiện lợi nhất là tán thành bột để chứa trong viên nang.
******************
Cà chua:
Tên khoa học Licopercicum Esculentum Mill, cây thân thảo. Theo Đông phương Y thảo dược, trung bình mỗi ngày một người ăn 1 quả cà chua (30-50gr) + 1 quả táo (50gr, không bỏ vỏ) sẽ giảm từ 50%-80% tỷ lệ ung thư, đặc biệt ung thư thực quản, dạ dày và máu so với người không ăn hoặc ăn ít hơn 3 trái/tuần.
Theo Viện Y học Lâm sàng Đài Bắc, những người thường xuyên uống nước, mỗi sáng và trước khi ngủ uống 1 ly nước ép cà chua (80ml), liên tục 1-2 tuần để tránh ung thư đại tràng và trực tràng. Người ung thư bàng quang giai đoạn đầu, mỗi sáng, trưa, chiều uống 3 trái cà chua ép với ¼ muỗng muối, liên tục 30 ngày sẽ giảm.Lưu ý, xen kẽ uống cà chua với 6-10 cốc nước đun sôi để nguội (không ướp lạnh) khi thấy khát.
Một số đơn thuốc về cà chua:
Giúp ngừa ung thư bàng quang, thải u-rê, đường.
+ Nam dưới 30 tuổi: tiểu đêm nhiều, tiểu gắt, tiểu không thông: 30-50gr cà chua vừa chín, bổ đôi, bỏ hột, hòa chung ¼ muỗng muối nấu trong 3 chén nước còn 8 phân, phơi sương. Chia làm 2 phần, uống sáng và tối.
+ Nam trên 30 tuổi: 50-80gr cà chua chín đỏ, bổ đôi, bỏ hột, ép lấy nước pha với 50ml nước (nấu sôi để nguội), thêm 30gr lá chùm bao sao khử thổ đã tán nhuyễn, quậy hòa tan, cho 2gr đường phèn, 1/5 muỗng cà phê muối. Dùng 3 lần/ngày. Liên tục trong 7 ngày.
Viêm, loét bao tử, ăn khó tiêu, ăn vào thấy đau, táo bón: 500gr cà chua chín căng mọng. Rửa sạch, thái hột lựu, phơi khô 2 nắng, 150gr thân, cây, lá, rễ cây cà chua rửa sạch, cắt khúc 3cm, sao khử thổ, cho cả 2 thứ vào 500ml nước, nấu còn 100ml. Chia làm 2 lần, uống sáng, tối. Liên tục 2-3 tuần.
Nhiễm độc mãn tính, thống phong, thấp khớp, xơ cứng mạch máu: Cà chua vừa chín (đỏ nhiều hơn xanh) 250gr, cải xà lách xoong 150gr, gừng già 10gr, khổ qua 50gr (bỏ hột). Tất cả rửa sạch, sao khử thổ, nấu trong 1 lít nước còn 250ml. Chia làm 4 phần, uống sáng, trưa, chiều, tối. Liên tục 20-30 ngày (hoặc ngày uống, ngày nghỉ).
Triệt sỏi mật, sỏi niệu đạo, huyết áp cao, thấp bất thường: 10gr hột chuối hột tán nhuyễn, 200gr cà chua chín (vỏ còn cứng, bỏ hột), 120gr vỏ khổ qua, 50gr lá khổ qua, 50gr thịt bí đao (đông qua). Tất cả rửa sạch, sao khử thổ, cho thêm 1/3 muỗng muối, sắc chung trong 500ml nước, còn 100ml. Vớt xác nấu lần 2 với 100ml nước đợt 1, còn 30ml cao đặc. Ăn 2 lần sáng, chiều. Liên tục 2 tuần.
Đông y sĩ Kiều Bá Long
***********************
Trái ổi:
Không ngoa để nói rằng tất cả chúng ta đều đã ít nhất một lần thử qua hương vị thơm ngon của ổi, hoặc ít ra cũng đã thấy được hình dạng của trái ổi. Đây là một loại trái cây biểu tượng của nhiều quốc gia ở châu Á. Ổi là một “kho dinh dưỡng” mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng con người.
Nếu người Mỹ và châu Âu có câu “Mỗi ngày ăn một quả táo sẽ không cần gặp bác sĩ” thì người Ấn Độ có câu “Vài trái ổi trong mùa sẽ không cần gặp bác sĩ nguyên năm”.
Ổi có tên khoa học là Psidium guajava. Ổi mang lại một lợi ích về sức khỏe vô cùng to lớn, có khả năng chữa một số bệnh như tiêu chảy, lỵ, táo bón, ho, cảm, các bệnh về da, các trường hợp cao huyết áp, béo phì, hoại huyết…
“Bạn tốt” của hệ tiêu hóa:
Do ổi chứa rất nhiều tác nhân làm se, nhờ đó có tác dụng hỗ trợ đường ruột yếu ớt khi bị tiêu chảy. Những tác nhân làm se này có tính kiềm tự nhiên và thêm chức năng kháng khuẩn, tẩy uế, nhờ đó có tác dụng chữa lỵ bằng cách ức chế sự tăng trưởng của các loại vi sinh vật và loại bỏ những chất nhầy thặng dư trong ruột.
Bên cạnh đó, những chất dinh dưỡng có trong ổi như vitamin C, carotenoids có tác dụng bồi dưỡng hệ tiêu hóa. Ổi còn kiêm luôn chức năng hỗ trợ ruột và dạ dày trong trường hợp những bộ phận này bị viêm nhiễm. Ổi cũng rất giàu chất xơ, hạt ổi còn “phục vụ” hệ tiêu hóa như là một chất nhuận trường, do đó ăn ổi sẽ giúp ruột giữ nước, làm sạch hệ tiêu hóa và các dịch bài tiết.
Giảm ho và làm đẹp da:
Nước ép trái ổi hoặc nước sắc lá ổi rất có lợi trong việc làm giảm ho, trị cảm, đồng thời có tác dụng “dọn dẹp” hệ hô hấp. Thịt quả ổi chứa rất nhiều vitamin và sắt, nhờ đó có tác dụng ngăn ngừa bệnh cảm và các trường hợp bị nhiễm siêu vi.
Ổi sẽ giúp cải thiện cấu trúc da và ngăn ngừa những bệnh về da tốt hơn bất cứ loại mỹ phẩm nào nhờ tính chất làm se của trái ổi và lá ổi. Bên cạnh đó, do ổi rất giàu vitamin A, các vitamin nhóm B, vitamin C tác động như những chất chống oxy hóa nhờ vậy giúp da tránh khỏi những dấu hiệu lão hóa. Bạn có thể hưởng thụ những lợi ích này bằng cách ăn ổi hoặc rửa da bằng dịch sắc của trái ổi hoặc lá ổi (ổi non có tác dụng tốt hơn).
Ngừa cao huyết áp:
Ổi còn giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa quá trình làm máu trở nên đặc, vì vậy làm tăng tính linh động của máu, giúp máu thoát khỏi họa “kẹt xe” và lưu thông trong cơ thể một cách dễ dàng hơn. Những nghiên cứu y học cho thấy nếu cơ thể chúng ta tiêu thụ những loại thực phẩm không có chất xơ thì dễ bị “dính” chứng cao huyết áp, thực phẩm được tiêu thụ sẽ mau chóng chuyển thành đường. Do ổi có nhiều chất xơ, có chỉ số đường huyết (glycemic index) thấp nên cũng có tác dụng hạ huyết áp.
Hỗ trợ phụ nữ:
Gần đây ổi cũng đã trở thành “đối tượng săn lùng” của phụ nữ. Ngoài hương vị khoái khẩu, ổi còn có chức năng giúp giảm cân do chứa nhiều chất xơ, các vitamin và khoáng chất, ít carbohydrates nên có thể giúp thỏa mãn cảm giác thèm ăn một cách nhanh chóng. Chỉ cần một quả ổi buổi trưa cũng có thể giúp có cảm giác no tới bữa tối.
Cũng thật là nghịch lý, ổi sẽ giúp tăng trọng cho những người có thân hình mỏng manh. Điều này được các nhà khoa học giải thích rằng các chất dinh dưỡng, protein, vitamin và khoáng chất có trong ổi sẽ giúp sự chuyển hóa xảy ra một cách đúng đắn, nhờ đó sự hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể sẽ diễn ra một cách “ăn ý” hơn.
Dược sĩ Nguyễn Bá Huy Cường
(ĐH Dược Curtin, Úc)/ Tuổi Trẻ
*******************
Chùm ngây (Moringa oleifera Lamk., tên cũ: Moringa pterygosperma Gaertn.):
Chùm ngây (Moringa oleifera Lamk., tên cũ: Moringa pterygosperma Gaertn.), thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae). Cây Chùm ngây có ở Việt Nam ta từ lâu đời (mọc hoang nhiều nhất ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận) nhưng trong vài chục năm trở lại đây người ta nghiên cứu thấy nó có nhiều tác dụng đặc biệt nên tưởng là cây mới du nhập.
Cây Moringa, được một số nhà khoa học gọi là “cây phép lạ – miracle tree” vì nó có thể giúp chống nạn thiếu dinh dưỡng và nhiều chứng bệnh khắp trên thế giới, nhất là ở những vùng đang phát triển ở châu Á và châu Phi. Ngay ở Mỹ và các nước ở châu Âu cũng có bán các loại nước uống, thuốc viên vitamin được chế biến từ cây thần diệu này. Ước tính đã có 1,3 tỉ người thường xuyên dùng các sản phẩm của Moringa. Người ta đầy cảm hứng với Moringa. Ở châu Phi, Nam Mỹ… các nghệ nhân thường dùng biểu tượng Moringa để làm hoa văn chủ đạo trên các tác phẩm gốm.
Theo các nghiên cứu khoa học, lá và hoa có nhiều vitamin C hơn trái cam bảy lần, bốn lần chất calcium và hai lần protein của sữa, bốn lần vitamin A của cà rốt, ba lần chất sắt của rau nhiếp (spinach) và ba lần chất potassium của chuối. Trái và hột cây Moringa cũng ăn được, hột cây có mùi vị như măng tây (asparagus). Trong hoa và rễ cây Moringa có chất pterygospermin là một trụ sinh (antibiotic) rất mạnh để chống các vi trùng. Lá và hoa đã được dùng để chữa nhiều bệnh như cảm cúm, bao tử, gan, tiểu đường, tim. Ngoài ra cây Moringa còn có nhiều ứng dụng khác, như hột cây được dùng để lọc nước.
Sách Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ) quyển I, trang 607 mô tả: “Cây Chùm ngây cao 5 – 10 m. Lá ba lần kép, lá phụ tròn hay xoan màu xanh lục mốc mốc, không lông; lá bẹ bao lấy chồi. Hoa trắng, to, trông hơi giống hao Đậu, 5 cánh hoa, dảnh lên; 5 tiểu nhị thụ, xen với 5 tiểu nhị lép; noãn sào 1 buồng, đính phôi trắc mô ba. Trái nang dài đến 55 cm, to 3 cm, nở ra thành 3 mảnh, cho nhiều hột tròn, dẹp, to 0,5 cm, có cánh mỏng bao quanh. Mùa hoa tháng 1.
Trồng được ở cao độ dưới 500 m; lá ăn được như rau, trái (nạc nương) dùng làm bột cà ri; dầu từ hột ăn được, có tính làm giảm sự thụ thai. Cây gặp ở Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc.
* Từ lâu nhân dân ta đã biết sử dụng cây Chùm ngây để làm rau, đầu thập niên 1950, Vialard Goudou đã phân tích lá Chùm ngây mà nhân dân bán ở các chợ để làm rau ăn, cho thấy lá Chùm ngây rất giàu dinh dưỡng, nhất là chất đạm, chất sắt và sinh tố C.
Lá Chùm ngây tươi chứa 6,35 g% chất đạm, 1,7 g% chất béo, 8 g% bột đường; 1,9 g% chất xơ; 3,75 g% chất khoáng; 50 mg% phosphor; 25 mg% natri; 216 mg% kali; 122 mg% calci; 123 mg% magnesium; 0,1 mg% đồng, 16,4 mg% sắt, 6.250 UI% sinh tố A; 0,3 mg% B2; 2,3 mg% PP và 110 mg% sinh tố C.
* Sách nghiên cứu y học cổ truyền Đông Dương (Les Plantes Médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam) của Alfred Petelot, Saigon 1953, cho thấy tất cả bộ phận của cây đều chứa một chất glycosid có vị cay cay giống như hột Cải cay (mù tạc). Rễ cây được dùng ở châu Âu làm gia vị kích thích tiêu hóa thế Cải gia vị (Raifort hay Horse Radish – Cải ngựa). Hoa, lá và cành non, trái non đều luộc ăn được, lại có kích thích tiêu hóa và có tính kháng sinh (nhờ chất lacton: ptyrigospermin). Thân cây bị vết chặt sẽ tiết ra một gôm trắng đục, sau phơi nắng trở thành hồng hay đỏ nâu ở mặt ngoài. Gôm này có tính trương nở lớn, ở Ấn Độ người ta đã biết dùng làm trương nở cổ tử cung để phá thai (Pharmacographia Indica 1890). Ở Philippines người ta dùng rễ làm thuốc đắp thế mù tạc làm tụ máu, nó gây cảm giác rất đau.
* Trong vài chục năm gần đây, do sự bùng nổ dân số, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều cây có công dụng lớn trong việc giải quyết thực phẩm cho những năm 2000, nhất là ở các nước nghèo và đang phát triển, trong đó có nước ta…
Thí dụ cây rau Dền được gọi là “Thức ăn trời cho của năm 2000” vì có lá giàu protein và sinh tố, hạt giàu protein không thua đạm động vật. Đậu rồng có lá non ăn được, giàu protein và sinh tố; trái non làm rau; hột khô giàu protein không thua Đậu nành; củ Đậu rồng vừa giàu protein vừa giàu chất bột.
Chùm ngây cũng nằm trong khả năng này. Cho tới nay các nghiên cứu của các nhà khoa học đã đi đến kết luận sau:
* Chùm ngây là cây dễ trồng, (trồng bằng hột hoặc giâm cành), mau phát triển, từ vùng biển, đồng bằng và rừng núi cho đến độ cao 500 mét đều trồng được. Có thể trồng đại trà hoặc trồng làm hàng rào, dọc đường đi hoặc trồng xen những nơi đất thừa, đất thẹo… Có thể khai thác lá non (trồng dọc hàng rào lên cao khỏi đầu người thì chặt bằng, cách mặt đất độ 1,5 m, để khai thác cành lá non, vài chục ngày từng lứa làm rau); khai thác trái (trồng thành đám); để trồng thành rừng vừa phủ đất vừa thu hoạch trái hay khai thác dược liệu.
* Về dược phẩm (chứ không phải lương thực), lá và cành non làm rau (giàu dưỡng chất như đã nói trên). Hột khô rang ăn (như Đậu phộng); dầu hột Chùm ngây ăn được, thuộc dầu lâu khô nên có thể dùng làm mỹ phẩm hay tá dược.
* Về thành phần hóa học, lá chứa các dưỡng chất đã nêu, gôm tiết từ thân cây Chùm ngây chứa polyuronid gồm arabinoz, galactoz, rhamnoz, glycuronic acid. Mùi Cải ngựa và rễ Chùm ngây là do chất benzyl – isothiocyanat.
Thân, cành và vỏ rễ Chùm ngây chứa moringin (= belzylamil), moringinin, athonin, spirochin, pterigospermin.
* Về dược tính, dùng trong y học cổ truyền cành lá luộc ăn hay sắc uống kích thích tiêu hóa, kiện vị, trị tiêu chảy, kiết lỵ, viêm phổi. Rễ Chùm ngây sắc uống, có tác dụng kiện vị; giã đắp làm sung huyết (tụ máu) thay cải Mù tạc trị thấp khớp.
Ở Senegal, người ta dùng cành, lá sắc uống trị còi xương, viêm cuống phổi, phù nề, thấp khớp.
Chất chiết từ vỏ cây có tính kháng sinh trên Micrococcus pyogenes var. aureus, Bacillus subtilis, Diplococcus pneumoniae, Streptococcus pyogenes, Escherichia coli, Salmonella typhi, Vibrio coma, Shigella dysenteriae, Mycobacterium phlei. Nó cũng ức chế vi nấm Microsporum gypseum, Trichophyton mantagrophytes, Candida albicans, Helminthosporium sativum (Bhatnaga và cs 1961).
Trích tinh lá bằng ether có tác dụng trụ sinh (bacteriostatic activity) đối với Staphyllococcus aureus và Salmonella typhi (Bhawasa và cs 1965).
Chất moringinin có tác dụng như nhóm giống giao cảm thần kinh (sympathomimethic group) tương tự epinephrin và ephedrin nhưng yếu hơn.
Athonin có tác dụng kháng sinh trên vi trùng dịch tả (Vibrio cholerae) và hoạt tính của nó nằm giữa chloromycetin và streptomycin (Sen Gupta và cs 1956).
Spirochin có tính kháng sinh trên vi khuẩn gram+ nhất là chống Staphyllococcus và Streptococcus (Chatterjee, 1951).
Pterigospermin là kháng sinh quan trọng nhất của Chùm ngây, với kháng khuẩn phổ rộng, trên cả vi khuẩn gram + lẫn gram-: Micrococcus pyogenes var. aureus, Bacillus subtilis, Escherichia coli, Aerobacter aerogenes, Salmonella typhi, Salmonella enteritidis, Shigella dysenteriae, Mycobacterium tuberculosis (Kurup và Narasimha 1954).
4 (? – L – rhamnosyloxy) – benzylisothiocyanat là chất có hoạt tính kháng sinh trong hột và rễ Chùm ngây. Hàm lượng chất này rất cao: 8 – 10%, với điều kiện trong quá trình tách chiết phải thêm ascorbic acid vào nước trích. Nó có tác dụng kháng sinh với rất nhiều vi khuẩn và vi nấm (Eilert và cs, 1981).
Chất chiết bằng cồn của cây Chùm ngây, kể cả rễ, có tính kháng ung thư biểu mô mũi hầu, trên mô cấy và tế bào lymphô P388 của ung thư bạch cầu của Chuột (Dhawan và cs 1980).
* Về khả năng làm sạch nước, theo như tài liệu thì nghiền hột Chùm ngây thành bột rồi hòa với ít nước thành một “dịch cái” rồi tùy theo độ bẩn của nước muốn khử trùng mà pha vào từ 1- 3% dịch cái ấy, khuấy đều và để lắng. Chất gôm trong bột hột có tác dụng như một chất điện phân đa cực sẽ thu hút vi trùng và bụi bẩn rồi lắng đọng xuống đáy. Mặt khác các chất có hoạt tính kháng sinh nói trên cũng tiêu diệt vi trùng và nấm mốc trong nước. Tuy nhiên, những chất bổ dưỡng có trong hột Chùm ngây cũng có thể là nguồn thức ăn cho một số vi sinh vật phát triển sau lắng lọc! Do đó, theo chúng tôi, phèn chua vẫn dễ tìm hơn: sau khi đánh phèn, lắng gạn lấy nước trong rồi cho vào túi ny lông trong suốt và treo lên phơi nắng từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều là sạch trùng, sẽ đơn giản dễ áp dụng hơn.
Tóm lại, Chùm ngây là cây dễ trồng, mau thu hoạch, với nhiều công dụng vô cùng hữu ích, nên trồng khắp nơi.
DS. PHAN ĐỨC BÌNH
**********************
NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
DÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ, DAN GIAN Y THUAT KY BI, NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ, NHAN GIAN Y THUAT KY BI
NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
DÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
NHÂN GIAN Y THUẬT KỲ BÍ
Nam mô Đông Phương Giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Nam mô Đại Từ Đại Bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cả ứng Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Hoan Hỉ Vương Bồ Tát, Ma Ha Tát.
*********************
BÀI THUỐC LOẠI TRỪ CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ:
Bài thuốc 2 vị: Bán chỉ liên và Bạch hoa xà thiệt thảo.
Báo Tiền Phong ra ngày 16/05/2005, có thuật lại chuyện bác Hy Râu tự chữa khỏi bệnh ung thư thực quản ở giai đoạn cuối bằng bài thuốc này. Hiện nay có người gọi đây là “Bài thuốc bí truyền chữa ung thư”.
Cuối tháng 3/2004, bác Trần Văn Hy, biệt danh “Hy Râu” 75 tuồi, ở đường Nguyễn Công Trứ – TP Buôn Mê Thuột. Được chẩn đoán bị ung thư thực quản, trong tình trạng cơ thể bị suy kiệt nặng. Kết quả nội soi cho thấy, khối u như 1 con đỉa lớn, bám dọc và chẹn gần kín thực quản, không thể ăn uống được bình thường, chỉ có thể nuốt từng giọt sữa một cách khó khăn. Khi đó các thầy thuốc ở HCMC khẳng định chỉ còn cách đặt ống tiếp thức ăn nuôi cơ thể, khi sức khoẻ ổn định sẽ xạ trị. Bác Hy không chịu điều trị theo PP này, vì nghĩ tuổi đã cao ăn uống đã khó khăn, lại xạ trị độc hại, thà chết còn hơn. Sau 1 thời gian tình cờ tìm lại đống sách cũ, bác tìm được một xấp giấy chép mấy bài thuốc dân gian của một người bạn sưu tầm tặng 5 năm trước. Đọc “Bài thuốc bí truyền chữa ung thư” thấy đơn giản, bác quyết định thử xem sao.
Ngày 18/05/2004 bác Hy bắt đầu uống thuốc. Những chén đầu tiên phải nhỏ tưng giọt một, uống cả buổi mới hết. Tới thang thứ 6, bác bắt đầu nuốt được, bệnh có vẻ tiến triển tốt. Bác tiếp tục uống và mỗi tháng đi soi 1 lần. Đến cuối năm 2004, khối u đã tan, chỉ để lại vết sẹo trên thực quản, sức khoẻ hồi phục dần. Cho đến thời điểm được thông tin trên báo (05/2005) bác Hy đã khoẻ hẳn, da dẻ hồng hào, nặng 57 kg. Bác cho biết, cũng bày cho 1 số người uống thấy có hiệu quả, bác đề nghị khoa học nghiên cứu, kiểm chứng. Nếu thực sự tốt thì phổ biến cho mọi người.
– Nội dung: Bách Hoa Xà 2 lạng (75 Gam), Bán Liên Chi 1 lạng (37gam). Rửa sạch đất cát. Đổ 4 bát nước sắc nhỏ lửa khoảng 2h, còn 1 bát. Mỗi thang sắc 2 lần. Uống nguội, lúc đói bụng.
Bài thuốc này nguồn gốc là bài thuốc Nam lưu truyền trong dân gian ở vùng Nam trung quốc và Bắc Việt Nam. Cách đây khoảng chục năm, Hà Nội từng xôn xao về bài thuốc này, ngươi người, nhà nhà… đổ nhau đi mua về uống chữa và phòng bệnh.
Qua nghiên cứu cơ chế gây bệnh ung thư và tính năng dươc phẩm của 2 vị thuốc nói trên của cơ quan y tế Trung Quốc thì BCL và BHXTT đều là những vị thuốc thuộc nhóm “công tà”. Sử dụng đơn độc thuốc công tà (không phối hợp với thuốc bổ và điều hoà), nói chung sẽ có tác dụng nhanh và mạnh. Nếu phù hợp cơ địa (bệnh tình, tuổi tác, thể lực…) có thể có kết quả mau chóng. Nếu không hợp cơ địa, hoặc uống lâu dài có thể tạo phản ứng phụ nguy hiểm. Giữa tháng 3/2006, lương y Hư Đan có dịp chứng kiến 1 trường hợp phụ nữ 82 tuổi ở phố Nguyễn An Ninh, Hà Nội đã từng sử dụng bài thuốc nói trên chữa ung thư vòm họng, do tuổi già, sức yếu không thể đủ sức tiếp nhận các PP của y học hiện đại. Kết quả khối u nhỏ đi rất nhanh, ăn uống dễ dàng. Nhưng khi uống đến gần 40 thang, thì bị suy kiệt. Người mệt lả…. May là sau đó đã được 1 thầy Đông y khác chữa cho ổn định.
Qua kết quả nghiên cứu dược lý và lâm sàng cho thấy, kinh nghiệm dùng BCL và BHXTT chữa ung thư, có cơ sở nhất định. Tuy nhiên bài thuốc có thể phù hợp với người này, mà không phù hợp với người khác, và cũng có một số tác dụng phụ. Trường hợp cần thiết, sử dụng lâu dài, nên tham khảo hướng dẫn và giám sát của các thầy thuốc có kinh nghiệm.
………..
Bài thuốc này có tác dụng loại bỏ những chất độc trong cơ thể, giúp chúng ta không bị nhiễm độc và phòng chống rất tốt những căn bệnh hiểm nghèo. Ai cũng có chất độc trong cơ thể, đây là bài thuốc loại trừ chất độc đơn giản nhất và hiệu quả nhất đã gặp và sử dụng. Đặc đểm của bài thuốc này rất rẻ tiền và đơn giản, chừng vài chục ngàn là đã thấy có hiệu quả rõ rệt.
Bài thuốc chỉ gồm có 2 vị: Bách Hoa Xà và Bán Liên chi.
Khi sử dụng, tính theo khối lượng: Bách Hoa Xà 2 phần và bán Liên Chi 1 phần.
Cách dùng: Trong tuần đầu sắc tương đối đặc, uống 3- 4 lần/ngày.
Các tuần sau có thể nấu uống thay nước.
Đặc điểm: Vị thơm, mát rất dễ uống.
Hiệu quả: Thấy rõ rệt, nhất là với những chứng bệnh về gan, ung thư dạ dày, vàng da.
Kiệng cữ: Không cần kiêng cữ gì cả.
Thảo dược chữa ung thư:
Không chỉ chữa được viêm da, sỏi mật, viêm gan…, “cỏ lưỡi rắn trắng” còn giúp phòng trị nhiều loại ung thư. Dân gian từng truyền tụng một bài thuốc chữa ung thư gan hiệu nghiệm được cho là của một tử tù, với 2 cây thuốc là “cỏ lưỡi rắn trắng” và “bán biên liên”.
Trong Đông y, “cỏ lưỡi rắn trắng” có tên là “bạch hoa xà thiệt thảo”, còn có tên là “bồi ngòi bò”, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo. Tên khoa học là “Hedyotis diffusa Willd”, thuộc họ cà phê. Đây là loại cỏ mọc bò, sống hàng năm, có thể cao tới 30-40 cm. Lá mọc đối, hơi thuôn dài, không có cuống lá, có khía răng ở đỉnh. Hoa mọc đơn độc hoặc thành đôi ở kẽ lá, có màu trắng. Quả nang khô dẹt ở đầu, có nhiều hạt màu nâu nhạt. Cây thường mọc hoang nơi đất ẩm ướt. Ngay tại Hà Nội cũng thấy cây này. Nó được dùng toàn cây làm thuốc.
Trong y học cổ truyền, bạch hoa xà thiệt thảo được dùng chữa các bệnh viêm họng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, sỏi mật, lỵ trực trùng, mụn nhọt, rôm sảy, rắn cắn; dùng ngoài chữa vết thương, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp… Thời xưa, Tuệ Tĩnh thường dùng nó chữa rắn cắn, sởi…
Theo y học hiện đại, do tăng cường khả năng của đại thực bào trong hệ thống lưới- nội mô và bạch cầu nên bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng chống viêm. Cây này cũng ức chế tế bào ung thư lymphô, bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân, tế bào carcinom; ức chế hiện tượng gây đột biến do aflatoxin B1 tạo ra. Nó hỗ trợ điều trị bệnh ung thư nhờ tác dụng ức chế miễn dịch. Trung Quốc dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh ung thư dạ dày, thực quản, cổ tử cung, bàng quang, trực tràng, đại tràng, thực quản, hạch…
Tại Ấn Độ, bạch hoa xà thiệt thảo còn được dùng chữa các bệnh viêm gan virus, sốt, lậu… Tương đồng với y học Ấn Độ, một số nước cũng dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh viêm gan. Trung Quốc đã bào chế một loại thuốc từ thảo dược với tên Ất can ninh, thành phần có bạch hoa xà thiệt thảo, hoàng kỳ, nhân trần, đảng sâm, hà thủ ô?… Theo các nhà khoa học, Ất can ninh có tác dụng ức chế miễn dịch, ngăn ngừa sự phát triển của virus và phục hồi chức năng gan, có tác dụng tốt trong điều trị bệnh viêm gan virus B. Thảo dược này cũng có mặt trong Lợi đởm thang bên cạnh các thành phần nhân trần, kim tiền thảo, dùng chữa sỏi mật, viêm đường mật ở Trung Quốc.
Trong dân gian, cây chủ yếu được dùng dưới dạng thuốc sắc, có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Liều dùng có thể tới 60 g thuốc khô, tương đương với khoảng 250 g dược liệu tươi. Dùng ngoài không kể liều lượng. Ở nước ngoài, bạch hoa xà thiệt thảo còn được bào chế thành dạng thuốc tiêm để chữa các bệnh ung thư và viêm nhiễm như viêm phế quản, viêm phổi, viêm họng, viêm ruột thừa…
Một số bài thuốc đơn giản sử dụng Bạch hoa xà thiệt thảo
Chữa ung thư gan: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, chó đẻ răng cưa 30 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa ung thư dạ dày: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60 g, hạt bo bo 40 g, đường đỏ 40 g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm họng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, bồ công anh 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa phù thũng: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, rễ cỏ tranh 30 g, râu ngô 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa viêm gan vàng da: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, chó đẻ răng cưa 30 g, nhân trần 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa sỏi mật: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim tiền thảo 20 g, màng trong mề gà sao cách cát cho vàng 16 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Hoặc: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, nhân trần 40 g, kim tiền thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang (lợi đởm hợp tễ). Bài thuốc này đã được Trung Quốc áp dụng trên lâm sàng, có tác dụng lợi mật, tăng bài tiết mật. Thường được áp dụng cho bệnh sỏi mật, bệnh đường mật…
Chữa lỵ trực trùng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, rau sam 20 g, lá mơ tam thể 20 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa lỵ, viêm phần phụ: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang. (Phúc Kiến trung thảo dược).
Chữa nhọt lở: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim ngân hoa 20 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa rôm sảy: Bạch hoa xà thiệt thảo, cúc liên chi dại. Hai vị lượng bằng nhau. Dùng để nấu nước tắm.
Chữa vết thương sưng đau: Bạch hoa xà thiệt thảo 200 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa mụn nhọt: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa rắn cắn: Bạch hoa xà thiệt thảo 100 g, giã nát, cho thêm nước, bã đắp vào chỗ rắn cắn, còn nước uống.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
* Bổ sung cho bài viết này:
Hiện nay 2 vị thuốc BCL và BHXTT đã được một số viện y học dân tộc trong và ngoài nước lấy làm chủ đạo (Vị Quân) trong các bài thuốc chữa ung thư (K). Tuy nhiên do ung thư có nhiều dạng, nhiều vị trí. Người bệnh lại có thể tạng khác nhau, nên các thày thuốc phải khám bệnh và kê toa phối các vị (Thần – Tá – Sứ) cho phù hợp với mỗi người, mỗi dạng bệnh. Đã có nhiều người chữa K bằng bài thuốc này tại các viện YHDT, có kết quả tốt. Với nội dung giới thiệu trên, thiết nghĩ chúng ta có áp dụng thì dừng ở mức: lâu lâu người khỏe mạnh uống vài thang cho giải độc và phòng bệnh.
Còn những ai muốn áp dụng chữa bệnh nghiêm túc, nên đến các bệnh viện YHDT để khám chữa cho chu đáo, mau có hiệu quả và tránh các tác dụng phụ, ngoài ý muốn. Vì K – vốn là một bệnh nhạy cảm.
BÀI THUỐC CHỮA CHẤN THƯƠNG PHẦN MỀM:
Bài chữa chân thương phần mền rất dễ áp dụng và hiệu quả:
1- Đối tượng và giới hạn:
– Với mọi người, tuy nhiên với trẻ em nhỏ tuổi thì thận trọng hơn, và tùy cơ.
– Chỉ dùng với các chấn thương phần mềm kín: Va chạm, bầm máu. bong gân (không bị chảy máu), không bị gãy xương.
2 – Thuốc:
— Long não (loại bột bán ở các nhà thuốc Bắc) – màu trắng mùi thơm hắc (lưu ý là không phải viên long não thường bỏ tủ quần áo để đuổi kiến – gián…)
— Cồn hay rượu cao độ (cỡ như Bầu Đá, Bình Định – đốt cháy được)
3- Cách làm: – Khi có người bị chấn thương, đổ 1-2 muỗng cà phê long não vào cái đĩa sứ, rót cồn (rượu) vào. Sao cho lượng dung dịch phủ kín long não và đủ lượng để đốt cháy được.
— Châm lửa cho hỗn hợp đó cháy.
— Đầu tiên người chữa, dùng tay hơ vào ngọn lữa đó cho ấm nóng rồi chườm vào vết thương. Nếu ai da tay dày có thể thấm luôn dung dịch đang cháy đó, xoa vào vết thương. Làm sao cho vết thương được chườm và xoa ấm nóng lên.
— Sau khi đã đủ ấm nóng cho vết thương, cồn hết hơi lử tắt, dùng ngay hỗn hợp đó xoa lên vết thương.
4- Lưu ý: Bỏng – Bỏng không.
– Nếu không làm đổ ra chân tay, thân thể dung dịch đang cháy thì đảm bảo là không bỏng tay người chữa được. Là vì: Cồn (rượu) đốt không thì có thể đun sôi nước được. Tuy nhiên đây là một lượng nhỏ, lại có thành phần long não tham gia, nhiệt lượng cồn cháy bị long não thu rút bớt một phần từ đáy đĩa và ngay trong ngọn lửa. Cho nên nhiệt năng của ngọn lửa không còn cao như bình thường nữa. Tuy nhiên là vẫn nóng, như là ngâm chân nước nóng vậy 70 độ C, không bỏng chân được, chỉ hơi nóng rát thôi.
– Phải làm liền sau khi bị va đập, để càng lâu tác dụng càng kém. Do vậy mỗi gia đình nên trữ lấy một ít long não và chai cồn y tế trong tủ thuốc, để sử dụng khi hữu sự.
5- Hiệu quả: Vết thương giảm đau ngay, có người làm 2 lần là thấy bình thường ngay. Vết thương ít bị tụ máu bầm sau đó.
**************
CHỮA HÓC XƯƠNG:
Một số mẹo chữa hóc xương động vật.
1- Ngày còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi bị hóc xương cá – heo trong bữa ăn. Nguyên nhân là do ăn chậm nhai kỹ, nhưng mà nhai chưa hết đã nuốt. Trong khi xương là thứ khó nhai, nên hay bị hóc.
Hồi đó Mẹ tôi thường chữa cho bằng mẹo sau:
– Người chữa lấy một khúc xương bỏ trên mâm (loại bị hóc) ví dụ hóc xương cá thì lấy xương cá, hóc xương heo thì lấy xương heo. Không được hóc cá lấy heo thì không nghiệm.
Đặt lên giữa đỉnh đầu người đang bị hóc. Sau đó xuống bếp, lấy một ít muối ăn hắt vào cửa bếp. Dùng cái chổi quyét vào cửa bếp – Nam 7, nữ 9 lần.
– Cho người bị hóc uống một miếng nước canh, hay nhai nuốt một miếng cơm. Xương sẽ trôi tuột xuống.
Bài này áp dụng cho bản thân tôi 10 lần như 1, khỏi ngay. Chỉ tội vào mùa đông, sau khi khỏi hóc phải đi gội đầu.
Lưu ý: Suốt quá trình thực hiện người chữa không được nói năng trao đổi gì cả với người bị hóc. Sau đó muốn nói gì thì nói.
**************
CHỮA HÓC XƯƠNG:
Đặt lên giữa đỉnh đầu người đang bị hóc. Sau đó xuống bếp, lấy một ít muối ăn hắt vào cửa bếp. Dùng cái chổi quét vào cửa bếp – Nam 7, nữ 9 lần.
Nếu nhà xài bếp ga thì sao?
Hất nắm muối vào lòng bếp. Dùng chổi quét vào khu vực có núm Volume.
Sau đó phiền bạn bạn phải vệ sinh bếp, nếu không muối ăn mòn chi tiết kim loại của lòng bếp.
**************
CHỮA HÓC XƯƠNG
Một số mẹo chữa hóc xương động vật.
1- Ngày còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi bị hóc xương cá – heo trong bữa ăn. Nguyên nhân là do ăn chậm nhai kỹ, nhưng mà nhai chưa hết đã nuốt. Trong khi xương là thứ khó nhai, nên hay bị hóc.
Hồi đó Mẹ tôi thường chữa cho bằng mẹo sau:
– Người chữa lấy một khúc xương bỏ trên mâm (loại bị hóc) ví dụ hóc xương cá thì lấy xương cá, hóc xương heo thì lấy xương heo. Không được hóc cá lấy heo thì không nghiệm.
Đặt lên giữa đỉnh đầu người đang bị hóc. Sau đó xuống bếp, lấy một ít muối ăn hắt vào cửa bếp. Dùng cái chổi quyét vào cửa bếp – Nam 7, nữ 9 lần.
– Cho người bị hóc uống một miếng nước canh, hay nhai nuốt một miếng cơm. Xương sẽ trôi tuột xuống.
Bài này áp dụng cho bản thân tôi 10 lần như 1, khỏi ngay. Chỉ tội vào mùa đông, sau khi khỏi hóc phải đi gội đầu thế mới cáu chứ.
Lưu ý: Suốt quá trình thực hiện người chữa không được nói năng trao đổi gì cả với người bị hóc. Sau đó muốn nói gì thì nói.
**************
Bài chữa hóc xương cá bằng cách ngậm quả trám (cà na) nuốt nước dần, xương bị mềm và tiêu đi.
Áp dụng cách này với bản thân khi không có ai giúp, là:
Dùng ngón tay, dò tìm bên ngoài cổ, đến điểm tương ứng vị trí bị hóc. Day và đẩy, ý là cho xương nó bên trong trồi lên, rồi ăn một miếng gì đó to to, nuốt cho nó kéo xuống. Cũng có tác dụng vài lần.
Trong các món hóc xương người ta sợ nhất là hóc xương gà.
Trường hợp nguy cấp – tốt nhất là đến BV, cho bác sĩ gắp ra. Đừng cố sử dụng lung tung nguy hiểm.
**************
Người xưa có câu: Nho _ Y _ Lý _ Số:
“Dù xây chín cảnh phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”.
BÀI THUỐC TRỊ HO HIỆU NGHIỆM:
Carot bào sợi mỏng dài chưng cách thuỷ 15 phút rồi lấy mật ong nguyên chất trộn vài thìa vào carôt đấy để 2 tiếng cho ra nước, dùng nuớc đó cho trẻ con hay người lớn đều tốt, trị ho, viêm họng và ngứa cổ, nhớ là sau khi dùng nên ngậm để chất thuốc ngấm vào họng chứ đừng vội uống nước lọc ngay sẽ bớt tác dụng, hơi khắc cổ vì ngọt là nhược điểm duy nhất của thuốc.
**************
BÀI THUỐC LÀM TEO NHỎ SỎI THẬN:
Một trong những căn bệnh gây mệt mỏi là thận hay làm sỏi, nên ăn nhiều đậu hũ không được, cũng như các thức ăn nhiều canxi. Việc này là nỗi ưu lo cho nhiều người già, xương cốt đã bắt đầu rệu rã mà lại không bổ sung được lượng canxi hợp lý. Ngò ôm (rau ôm) về xay lấy nước uống, thậm chí ăn nhiều rau ôm trong các bữa ăn cũng là phương pháp hay, thế là dần dà viên sỏi to như hạt đậu phộng mà hôm đi bệnh viện chộp được teo nhỏ lại rõ rệt, kết quả xét nghiệm bác sỹ cho biết vậy.
**************
CHỮA TÁO BÓN CẤP
– Dùng 1 quả chuối hột – để nguyên vỏ, đốt cháy thành than đen. Để cục than nguội, đem đun nước cho người bị táo uống. Sẽ làm mềm phân thông tiện. Bài này rất hay.
Chuối hột ăn sống gây sít chắc – táo, nên thường làm gia vị chát trong các món ăn…. Đốt cháy lại thông tiện. Đây là một đặc thù thể hiện tính âm dương tồn tại trong sự vật hữu hình.
Người bị táo nên uống nước thường xuyên theo chế độ tối thiểu một ngày đủ 2 lit nước..
Nên ăn chuối già (ngoài bắc gọi chuối tiêu – thường mấy anh tập tạ, thể hình hay ăn) Ngoài ra cho trong khẩu phần ăn thêm mè, hoặc uống dầu mè đen của Tường An vừa chống táo, vừa cứng gân cốt và tăng chỉ số IQ.
**************
Bài thuốc chữa viêm đau bao tử:
* Nội dung: Lá mơ lông (mơ tam thể) – Loại lá mơ hay sử dụng làm rau ăn.
Mỗi buổi sáng, sau khi vệ sinh răng miệng, uống một li nước đầy rửa ruột, sau khoảng 10-15 phút dùng lá mơ đã rữa sạch, gói vài hạt muối cùng thay ăn sáng. Sau đó có thể ăn sáng bình thường (có thể dùng trước bữa ăn, khi bụng đói) – lưu ý phải dùng lúc đói bụng cho chất nhựa của là mơ vào bao phủ vết thương nội tạng. Dùng liên tục từ 1 tháng trở lên sẽ thấy hiệu quả. Một số người không dùng được lá mơ, sau một thời gian sử dụng đã bị… nghiền lá mơ.
* Mơ lông (mơ tam thể, thối địt) là một loại cây dây leo, mọc tự nhiên. Mặt lá một mặt có màu xanh, một mặt có màu tím. Dân gian có bài thuốc dùng mơ lông, băm nhỏ hấp chữa kiết lị cũng rất hiệu quả.
* Bản thân tôi đã sử dụng bài lá mơ ăn sống này, trị viêm bao tử cho kết quả tốt.
**************
Bài thuốc chữa bỏng:
Bỏng lửa, bỏng nước thường hay gặp phải. Nếy bạn sử dụng xe gắn máy (loại phổ biến ở VN) Thì nguy cơ bỏng pô xe rất dễ xảy ra.
Sưu tầm từ tạp chí Sống Vui Khoẻ những năm 2000:
Chữa bằng gạo sống: Khi có người bị bỏng tùy theo mức độ vết thương ít – nhiều, có thể từ 1 hay vài người, bốc gạo sống bỏ vô miệng nhai cho nhuyễn ra bột, rồi phun lên vết bỏng tạo thành một màng bột trắng phủ kín vết bỏng. Vết thương sẽ không bị phồng và mau lành.
**** Lưu ý: Sử dụng cho các vết bỏng chưa bị trầy da.
* Cơ chế chữa bỏng lửa, bỏng nước: Hạ nhiệt vết thương – tránh phồng da – tránh trầy da gây nhiễm trùng – tái tạo lại tế bào.
Các trường hợp bỏng hoá chất, nguyên tắc đầu tiên phải rửa vết bỏng bằng nước sạch (dưới một vòi nước chảy là tốt nhất) dĩ nhiên không được kì cọ sau đó mới dùng các loại thuốc phù hợp. Bỏng kiềm dùng các loại thuốc có tính a xít, bỏng a xít dùng các loại thuốc có tính kiềm để trung hoà.
Ngày còn nhỏ, một lần nghịch vỏ xe cao su đốt cháy, rơi vào cổ tay bị bỏng, sau đó vết thương trầy da viêm nhiễm không lành.
**************
Bài thuốc chữa vết thương lở loét lâu ngày không liền sẹo:
– Lấy vừng đen (mè đen) rang cho cháy thành than đen, để nguội giã nhỏ. Trôn một ít dầu ăn, thành hợp chất sền sệt. Vết thương rửa sạch bằng ô xi già hoặc nước nấu “lá trầu không” loãng. Chấm bông cho khô. Bôi hỗn hợp than mè đen + dầu ăn lên. Vết thương rất nhanh lành.
* Vết thương do bỏng bị trầy da, lở loét khó lành hơn vết trầy da do va chạm vì tổn thương da thịt ở đó là do nhiệt, các tế bào bị “chín” hoặc “tái” nên khó tái tạo.
*** Lưu ý dụng cụ giã than mè và trộn hỗn hợp phải sạch sẽ, khô ráo – không vương nước vào.
Bị bỏng dạng sâu (tuy vết thương không lớn), do đốt vỏ (lốp) xe đạp nhựa cao su cháy rơi vào bám chặt, lúc đó còn dại lấy tay phủi mạnh ra, dẫn đến nên bị tróc da. Thịt bị chín nhiều, khó lành. Bôi 3-4 ngày là lên da non.
*********************
HÀN THANH THỦY THANG
“Giận quá mất khôn”
– Tục ngữ Việt Nam
Đã bao giờ bạn nóng giận chưa. Chí ít cũng vài…. chục lần. Do nhiều nguyên nhân, áp lực, stress….dẫn đến trạng thái này. Hậu quả của cơn nóng giận có lúc cũng nhẹ nhàng thôi, nhưng đôi khi cũng lớn chuyện đấy. Thiệt hại về vật chất và cả tinh thần.
“Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười chúm chím rằng anh giận gì….”
Hay:
“Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa mấy đời biết khê” – Ca dao Việt Nam
Đấy là liệu pháp xoa dịu khác quan. Còn chủ quan thì có bài sau đây:
Để hạn chế cơn nổi tam bành, bạn có thể dùng trị phương sau đây.
Khi cơn nóng giận nổi lên, tìm ngay một ly cối nước lạnh (nước đá càng tốt) và uống. Có thể uống 1 ly nữa, và sau đó hãy trở lại với vấn đề dang dở, bạn sẽ thấy tinh thần và thái độ tích cực hơn.
Cơ chế của cơ giận: Do bức xúc, thần kinh trung ương sẽ chuyển xuống các bộ phận tim mạch, tiêu hoá, bài tíết……. các thông tin kích động. Thế là “ba máu, sáu cơn” nổi lên như vũ bão. Trạng thái cơ thể lại kích hoạt về trung ương thần kinh những tín hiệu bạo động, làm rối loạn. Các cơ quan “phát ngôn”, “cử động” hoạt động hỗn loạn thế là đập bàn rầm rầm, “đĩa chén bát bay” la hét ầm ĩ, và sợ nhất là phát ngôn mất kiểm soát.
“Sảy chân thì đỡ bằng sào,
Sảy miệng thì đỡ…. làm sao bây giờ”
Tục ngữ, Ca dao VN
Khi các bộ phận tim mạch, tiêu hoá, bài tíết…. bị “kích hoạt”, sẽ sinh nhiệt. Lúc đó lại dùng một thang “hàn thanh thủy” dập tắt lữa, các tín hiệu phản hồi về não bộ sẽ dịu dàng hơn. Và như theo mô tả như trên, sẽ tất yếu sẽ kiểm soát được cơn giận dữ.
******************
Thuốc trị tăng huyết áp – Rẻ tiền hiệu nghiệm:
Lấy rau ngót (bù ngót): rửa sạch, để ráo – Vò hoặc giã nát, rồi vắt lấy 1 bát con nước cốt. Ban đêm đem phơi sương, có thể dùng tấm vải mùng thưa che miệng cho côn trùng không lọt vào. Buổi sáng khi thức dậy, vệ sinh răng miệng xong, uống bát nước đó. Điều trị từ 10-15 ngày một liệu trình, sau đó giữ chế độ ăn thường xưyên có rau ngót, rau cần.
Bài thuốc này không độc hại, dễ kiềm.
******************
Tác dụng của cây rau ngót:
Cây rau ngót hay còn gọi là cây bù ngót hay bồ ngót. Đây là loại cây có nhiều công dụng trong cuộc sống, đặc biệt có lợi cho sức khoẻ của con người. Khi dùng làm thuốc thường chọn những cây sống hai năm trở lên.
Rau ngót rất dễ trồng, dễ sống. Lá rau ngót có vị bùi ngọt, tính mát, rễ vị hơi ngăm đắng. Theo Đông y, lá và rễ đều có tác dụng mát huyết, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc.
Lá rau ngót chữa ban sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, đái rắt, tiêu độc, ngày dùng 20-40g lá tươi, sắc uống. Rễ còn có rác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp, dùng 20-40g rễ tươi rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống trong ngày. Nhân dân ta thường dùng rau ngót chữa sót nhau thai (cho các sản phụ sau đẻ). Lấy lá hoặc rễ tươi, rửa sạch, giã nát thêm ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước uống.
Ngoài ra, rau ngót còn chữa trẻ bị tưa lưỡi bằng cách giã nát lá rau ngót tươi sạch, vắt lấy nước hoà với mật ong thấm vào bông hoặc miếng gạc sạch chà lên lưỡi, lợi và vòm họng trẻ, chỉ hai lần là trẻ có thể bú lại được bình thường.
Chữa đau mắt đỏ, nhức nhối khó chịu: lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
DS. Trần Đức
*****************
Bài thuốc chống và chữa say xe:
– Trước khi đi xa bằng ôtô, lấy 1 củ gừng to, rửa sạch, nướng sơ cho xém vỏ và chín thịt bìa ngoài. Giã nát vắt lấy nước ốt. Bỏ vô tủ lạnh. Trước khi lên xe khoảng 20-30 phút uống hết ly nước đó.
– Trước đó có thể nấu cháo đậu xanh nguyên vỏ, bỏ vô củ gừng đập dập nấu chín và ăn. Rồi uống nước gừng.
– Cất lấy 4 lát gừng KT cỡ 1cm2, buộc vào huyệt Nội quan và Ngoại Quan ở 2 cổ tay. Dùng băng keo cố định lại trong suốt chuyến đi. Có thể buộc thêm 1 lát nữa vào lỗ rốn càng tốt.
– Trong chuyến đi, cầm theo 1 miếng gừng thỉnh thoảng nhấm nháp 1 tý cho đỡ lợm giọng.
Bài này đã được Viện y học Thượng Hải TQ – nghiệm phương cho kết quả rất tốt. Giá trị của 1 củ gừng to bằng 1 viên thuốc chống say xe, nhưng ổn định lâu và không có tác dụng phụ.
*****************
Bài thuốc chữa mụn cóc:
Mụn cóc là một dạng nấm da, thường mọc trên mặt và tay chân. Tên gọi là cóc thì biết rồi, bề mặt sù sì màu sắc xấu xí. Mụn cóc thường hoạt động theo bầy đàn, nghĩa là có 1 mụn cái và vô số mụn con ăn theo ở lân cận. Thường mục cóc không gây đau ngứa, nhưng đôi khi gây bất tiện và mất thẩm mỹ. Nhiều người, đặc biệt là chị em phụ nữ bị mục cóc rất khổ sở vì nó làm giảm dung nhan. Nhiều bài thuốc trị mục cóc mnhư đốt điện, chà vào quan tài người chết, chà rơm khô, cất bằng dao, bôi máu lươn…. nhưng thường thì không hết mà quá trình thực hiện hay gây đau đớn cũng như hơi rùng rợn.
Bài thuốc: Dùng gừng già, giã dập chà xát mạnh vào mục cóc cái cho nó đỏ lên, sau đó thấm nước gừng lên bề mặt mụn cho dầy đặc, khi khô sẽ trở thành 1 lớp bột trắng. Những mụn cóc có ăn theo cũng chà luôn nhưng không cần kỹ như mụn cái. Một ngày làm 5-7 lần. Lần quan trọng nhất là trước khi đi ngủ. Làm liên tục 5-7 ngày tuỳ trường hợp có khi 3-4 ngày đã thấy hiệu quả. Mụn tróc vảy và bay nhanh, không gây đau đớn (chỉ hơi ngứa 1 tý không đáng kể) Sau đó không để lại sẹo. Khi mụn cái bay, các mụn con cũng bay theo.
Bài thuốc này sưu tầm từ tạp chí “Thuốc và Sức Khoẻ”, được tôi thực nghiệm thành công ở 3 người – 1 cụ già 75 tuổi có 1 mụn cóc ở mặt to bằng đầu lớn đũa ăn cơm, nổi cao cả 5 – 7 ly.
Xin cám ơn vị bác sĩ (quên không nhớ tên) đã đăng phổ biến bài này trên tạp chí Thuốc và Sức Khoẻ.
Gừng còn rất nhiều tác dụng kỳ diệu, mà các bạn có thể tham khảo ở nhiều báo chí. Nói cả buổi chắc chưa hết. Ở đây chỉ giới thiệu 2 bài đã qua trải nghiệm. Ai có bài nào hay post tiếp nên. Có dịp tôi sẽ bàn thêm về gừng để cống hiến với bà con 1 vị thuốc quí, rẻ mà rất tiện lợi.
PS: Bài này đơn giản mà tuyệt lắm, có thể nói tuyệt nhất trong hàng tá bài chữa mụn cóc vì thuốc dễ kiếm, rẻ và không phải chế biến cầu kỳ. Hiệu quả lại như mơ.
*****************
THUỐC ĐẢ TRẬT – TRỊ THƯƠNG
Võ sư Thanh Long truyền
Pleiku, ngày 17/8/1967
Viết bài này để cống hiến quí độc giả một phương pháp chữa trị té, sưng bầm trặc trẹo. Các nhà thể thao hay đồng bào nên lưu tâm đến, để trị cho mình, gia đình và giúp người khi hữu sự.
Về chứng sưng, trặc trẹo trong nghề võ lâu nay đã chữa trị đều có kết quả. Nhưng phải chia làm hai loại, loại bệnh sưng trặc trẹo nhẹ, ví dụ: bị té, sưng bầm đỏ ở đầu, ngực, chân tay… là bệnh nhẹ còn té trật mắt cá, bong gân cổ tay, vai, đầu gối cũng là bệnh nhẹ.
Loại bệnh nặng: Ví dụ: bệnh nhân bị đánh, đá gãy sườn, chém đứt thịt lòi gân. Hoặc té, xe cán gãy xương bể đầu là thuộc bệnh nặng.
Vì phương pháp này khỏi cần phải học lâu và chuyên môn. Thông thường ai lanh trí là làm được ngay. Còn loại bệnh nặng tôi nêu ở trên. Nếu gặp bệnh nặng thì quí vị nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện nhờ Bác sĩ băng bột cho thuốc. Hay đến nhờ thầy thuốc trặc trẹo chuyên môn trị liệu tiện lợi hơn.
Theo phương pháp chữa trị bệnh nặng phải có thuốc tán hoàn sẵn. Nhiều thuốc uống đắng, sẵn các đồ nghề như kim chạc, kim may đăng ốp để cột xương lại. Cần mằn sắp gân xương cho liền mới chữa được. Thầy chữa chuyên môn phải học và thực tập kinh nghiệm khá lâu mới chữa bệnh nhân được.
Thầy chữa chuyên môn phải học và thực tập kinh nghiệm khá lâu mới chữa lành bệnh nhân được.
Bởi vậy tôi không ghi chép ra mục này làm gì. Sợ càng thêm rối trí cho độc giả nữa là khác.
Dưới đây là cách chữa bịnh nhẹ, các phương pháp và thuốc trị rất đơn giản và ít tốn kém. Chỉ toa thuốc bắc phải đến tiệm bổ về ngâm sẵn để dành, khi gặp bệnh thoa vào chỗ đau hơ lửa là hết bệnh.
Môn ngoại khóa cấp cứu tuy bình dân nhưng hay lắm. Hằng ngày tôi vẫn chữa phương này. Nhất là ở thôn quê xa thuốc, không thầy nên phải dùng nó mà chữa vậy. Ít tốn mà lại hay. Xin các nhà khoa học đừng chê môn thuốc quí giá tầm thường gia truyền này. Bệnh té bầm, trặc trẹo nhẹ có hai phần:
– Phần 1: bầm sưng ở đầu mặt tay chỉ là chỗ thường chỉ thoa xức ngoài da là hết ngay. Khỏi cần uống bên trong.
CẤP CỨU PHẤN I: Gặp bệnh nhân bị đánh té, sưng trặc các nơi tôi kể trên thì người chữa phải bình tĩnh xem kỹ nhiều hay ít. Nếu trật mắt cá, cổ tay, ngón tay… nhận định kỹ lật sấp hay ngữa. Xem kỹ người chữa dạn tay nắm lắc đưa cái xương hay bàn chân lại vài ba cái cho y như cũ. Bệnh nhân phải ráng chịu đau mới được. Nếu để quá hai, ba ngày đau lắm và sau bị tật. Còn gặp cổ tay ngón tay cũng vậy. Phải nấn mằn sửa bóp giựt lại như thường là được nhưng lại sưng to lên. Phải kiếm các món dưới đây để cấp cứu trước. Rồi phết thuốc sau.
PHƯƠNG THUỐC: Nước tiểu nửa ly, Giấm chua nửa ly, Muối hột sống một nắm to, Gừng sống hai củ giã thật nát, Tóc một bụm to đốt cháy ra. Trộn chung năm món lại, bắc chén lên lò lửa đổ thuốc vào xào sôi. Lấy tay chấm thoa vào chỗ sưng hay chỗ trặc. Để gác lên lò lửa mà hơ, cứ khô thoa lên nữa. Hơ nóng chừng hai mươi phút rồi nghỉ. Hơ thoa vài ba lần. Rồi múc thẩu thuốc đã ngâm sẵn đem ra hơ thoa lên chỗ đau. Cứ ngày đêm 3 lần- sáng, trưa, tối. Mỗi lần độ 20 phút thôi. Nhẹ 3 ngày. Nặng 7 ngày hay 10 ngày là hết sưng.
Toa thuốc dầm rượu chép đoạn sau.
– Phần 2: Bị té trúng sưng bầm nặng gặp phải các chỗ nghiệt như ngực, lưng, sườn, bụng. Bên ngoài hơ thoa, trong phải uống trừ căn. Nếu không về sau tiết trời trở là đau lắm. Cũng gọi là cấp cứu phương. Nếu gặp bệnh nhân té đụng vào các huyệt kể trên hay là chết giấc, người cứu phải bình tĩnh đừng sợ hãi la ó mà quên hết rối trí. Đầu tiên mở dây lưng quần ra để bệnh nhân nằm ngửa thẳng.
PHƯƠNG THUỐC: Một bát nước tiểu con nít thật trong dưới 12 tuổi. Tiệm thuốc Bắc gọi là Nhơn trung bạch. Cho uống vào 5 phút là tỉnh ngay. Hoặc một bát nước lạnh, một nhúm muối, đường cát bỏ vừa ngọt, một trái chanh vắt trộn vào cho uống. Cách nửa giờ cho uống một lần nữa. Nếu chết ngất thì bên ngoài kiếm hai trái Tạo giác (bồ kết) đốt cháy trộn thêm các vị sau đây: Tế tân 2 chỉ, Tạo giác 2 chỉ đốt, Bạc hà 2 chỉ, Bán hạ 1 chỉ tán nhỏ thổi vào lỗ mũi vài lần là tỉnh dậy ngay. Nếu gấp 1 vị Tạo giác cũng được vậy.
Cấp cứu phương, xông bên ngoài chỗ sưng cũng làm y toa thuốc Nam như trước thoa và hơ lửa. Rồi thoa thuốc dầm rượu nữa. Ngày mai kiếm cua đồng, nam 7 con nữ 9 con. Đem về giã nhỏ với một củ gừng một bát nước lạnh một nhúm muối, lược ra bát, cho ly nhỏ rượu trắng trộn vào uống. Lá ngũ trảo hai nắm giã chung với gừng trộn nước tiểu, xào mà đắp cũng khỏi. Còn xác cua và gừng quấn vào miếng vải sạch hơ lửa nóng chà xát ngay chỗ đau chừng 20 phút. Cứ 1 ngày chà xát cua hai lần dù bệnh sưng cách nào cũng hết. Bên trong uống tiếp bốn ngày liền. Mỗi ngày một bát nước Cua. Về sau không trở bệnh nữa.
“Thần hiệu phương”, còn nếu bệnh nhân đã té sưng tức quá 10 ngày sắp lên thì phải hốt thuốc võ riêng để uống bên trong mới hết và sau khỏi đau. Nếu ai trúng mà lơ là thuốc về lớn tuổi đau lắm, nhất là khi yếu hay trở trời.
Phương thuốc đơn sơ ít tốn tiền mà hay, xin quí vị đừng khinh mà coi thường. Hãy dùng thử kinh nghiệm, rồi để cứu người làm phước.
Toa thuốc tôi chép ngâm rượu thoa ngoài da. Sưng bầm hay trặc trẹo nhẹ. Hay đá banh tập tành mỏi tay chân. Thoa vào hơ lửa là hết.
Phương thuốc này phải hốt sẵn ngâm vào thẩu để ở trong nhà khi gặp bệnh mà dùng.
Toa thuốc này cấm uống.
Viết chữ Nho hay chữ quốc ngữ cũng được đem toa đến tiệm thuốc Bắc hốt về đổ vào thẩu ngâm rượu.
TOA THUỐC
Sanh mã tiền 1 lượng giã nhỏ- thạch tín 5 chỉ- thiên niên kiện 5 chỉ- Đình hương 4 chỉ- Nhục quế 3 chỉ- Chơn huyết kiệt 5 chỉ- Long não 5 chỉ- Thanh bì 4 chỉ – Lư hội 5 chỉ – Xuyên đại hoàng 5 chỉ – Xuyên tam thất 4 chỉ. Đem về kiếm thêm 2 củ Gừng sống giã nhỏ – một bụm tóc (đốt ra than) – cứt sắt lò rèn 2 nắm (nếu không có cũng được). Đổ chung thang thuốc Bắc vào thẩu. Thêm một ly nước tiểu, một nắm Muối sống, một ly dấm chua. Ngâm trên 20 ngày, lâu càng tốt. Lúc có bệnh rót ra chén phết vào chỗ sưng mà hơ lửa đến khi nào hết sưng, còn thì cất lúc khác mà dùng.
Toa này chỉ thoa xức ngoài bì phu. Không được uống (kỵ thực). Ai có lòng nhân đạo nên dầm sẵn để dành làm phước khi hữu sự.
Nói thêm:
1 – Sanh mã tiền: Hạt mã tiền sống – rất độc, lưu ý khi giã phải dùng dụng cụ riêng, sau đó không nên cất đi sử dụng vào đựng thực phẩm.
2 – Thạch tín: Thuốc độc bảng A.
3 – Thiên niên kiện: Vị thuốc bắc.
4 – Đinh hương: (Đinh chứ không phải đình)- vị thuốc bác.
5 – Nhục quế: Vò cây quế.
6 – Chơn huyết kiệt: Huyết kiệt vị thuốc Bác.
7 – Long não: Vị thuốc bắc.
8 – Thanh bì: Vò quýt xanh phơi khô.
9 – Lư hội: Vị thuốc bắc (không phải là lô hội là cây nha đam).
10 – Xuyên Đại hoàng: Vị Đại hoàng để sống.
11- Xuyên tam thất: Củ tam thất để sống. Khi dùng giã nát ra vì thân củ rất cứng.
Tất cả đều có bán tại nhà thuốc bắc. Khi mua Thạch tín, Mã tiền phải nói rõ họ mới bán. Các thứ độc để riêng ra. Đủ dùng – không mua nhiều để tàng trữ trong nhà.
*****************
Biếng ăn, mất ngủ tại người cao tuổi rất nhiều mà thuốc cho các cụ cao tuổi khó khăn tại các trung tâm người già không nơi nương tựa:
Bởi vì mỗi người một tạng – thể trạng khác nhau – Cái ốm cái đau – có đâu giống cả. Cách dùng thuốc bổ cho người già theo Đông y phải dùng phép dẫn dụ từ từ. Đầu tiên là phải bổ tì vị (cho khỏe đường tiêu hóa, lấy sức để chuyển hóa thuốc bổ) sau mới dùng đến thuốc bỗ, nếu không các cụ cho ra…. cửa sau hết còn nguy to.
Phần nữa, thuốc đến cơ sở người ta có quyền nghi ngờ và thận trọng với thuốc của lang băm chúng ta. Rồi còn nhiều vấn đề về nguyên tắc này khác: Nhỡ có cụ xảy ra chuyện gì thì sao? …vv… vv…
Cho nên:
1 – Mua ngay thuốc bổ Vitamin tổng hợp dạng viên sủi biếu các cụ, cho nó cơ sở pháp lý.
2 – Mua hạt sen, đường gửi nhà bếp một tuần nấu chè cho các cụ ăn vài bữa. Vì:
HẠT SEN…
Công dụng chữa bệnh của hạt sen:
Không chỉ là món ăn ngon, bổ, hạt sen còn là vị thuốc quý trong Đông y. Xin giới thiệu bài thuốc đơn giản từ hạt sen.
Theo tài liệu cổ thì hạt sen (liên nhục) vị ngọt, sáp (làm cho chặt lại, kín lại), tính bình (không nóng, không lạnh), có tác dụng chữa di tinh, mộng tinh, ỉa chảy, mất ngủ, chậm tiêu, đầy bụng, ăn kém, chữa khát do sốt cao, mất nước.
Hạt sen là vị thuốc bổ dưỡng có tác dụng kích thích ăn ngon, hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, dưỡng thần, tăng khí huyết cả 12 kinh mạch, giúp ngủ ngon, chóng phục hồi sức khỏe.
Liều dùng 6-12g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Chữa mất ngủ:
Hằng ngày nấu chè hạt sen ăn vào buổi chiều hoặc tối, có hạt sen tươi càng tốt.
Lương y Vương Thừa Ân – Văn hóa nghệ thuật ăn uống
*****************
Hạt sen & ngó sen: dinh dưỡng, chữa bệnh;
Sen:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng, Nhụy vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” (Ca dao) Sen là một loài hoa đẹp cả hương lẫn sắc. Từ bao đời nay, những đầm Sen sắc trắng, đỏ hồng chen lẫn những chiếc lá tròn to, xanh thẫm đã đi vào trong thơ ca, hội họa và trong tâm trí mỗi con người Việt Nam. Hè đến, Sen đua mình khoe sắc, toả hương. Thu sang, Sen ẩn mình, để lại trên mặt đầm những gương Sen xanh đậm chứa đầy hạt và dưới gốc cây trong lớp bùn dưới đáy nước là những ngó Sen trắng đục. Hạt Sen và ngó Sen không chỉ là nguồn thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày của con người mà chúng còn là những vị thuốc quý trong Đông y.
Hạt Sen – Thức ăn ngon, vị thuốc quý:
Trong 100g hạt Sen tươi có 9,5g protit, 30g gluxit, cung cấp cho cơ thể được 162 calo. Ngoài ra còn có các vitamin: Caroten, Vitamin B1 (0,17mg%), Vitamin B2 (0,09mg%), Vitamin PP (1,7mg%), Vitamin C (17mg%)…
Trong 100g hạt Sen khô có 20g protit, 2,4g lipit, 58g gluxit, cung cấp cho cơ thể 342 calo, và một số muối khoáng quan trọng (canxi 89mg%, photpho 285mg%, sắt 6,4mg%…).
Hạt Sen là nguồn thực phẩm dùng để chế biến nhiều món ăn ngon có giá trị dinh dưỡng cao như: Chè Sen, Mứt Sen, Chè hạt Sen Long nhãn,…
Ngoài giá trị dinh dưỡng, hạt Sen còn là một vị thuốc quý với tên “Liên tử”, được Đông y dùng chủ yếu làm thuốc bồi dưỡng cơ thể và chữa các bệnh mất ngủ, thần kinh suy nhược. Liều dùng mỗi ngày 20 – 30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Trong thực tế, hạt Sen còn được dùng phối hợp với nhiều vị thuốc trong các đơn thuốc bồi dưỡng cơ thể thường dùng. Ngoài ra, trong nhiều sách thuốc cổ còn nói đến tác dụng chữa lỵ của hạt Sen (hạt Sen để nguyên cả vỏ sắc uống ngày 10 – 12g). Hải Thượng Lãn Ông cũng nói đến tác dụng này trong sách Lĩnh Nam bản thảo.
Giữa hạt Sen có một mầm xanh. Khi ăn hạt Sen, ta phải lấy hết mầm xanh này ra vì mầm có vị đắng, ăn phải sẽ mất ngon. Nhưng chính mầm xanh này lại là một vị thuốc hay với tên gọi “Liên tâm”, có tác dụng thanh nhiệt, an thần, hạ huyết áp. Dân gian dùng Liên tâm để chữa mất ngủ, liều dùng mỗi ngày 5 – 10g dưới dạng thuốc sắc hoặc pha lấy nước uống như pha trà.
Các món ăn chế biến từ hạt Sen có nhiều nhưng phổ biến nhất vẫn là chè Sen – một món ăn ngon đồng thời là một bài thuốc bổ có tác dụng bồi dưỡng cơ thể và an thần, giúp giấc ngủ ngon hơn.
Ngó sen:
Cũng là một thức ăn đồng thời là vị thuốc thông dụng mang tên “Liên ngẫu”. Trong ngó Sen có đường glucoza, canxi, photpho, sắt, vitamin C, arginin, tyrosin… Nhân dân ta vẫn lấy ngó Sen ăn sống hoặc luộc ăn để ngủ ngon giấc. Các nhà Y học và Dinh dưỡng học thời xưa đều cho rằng ngó Sen có tác dụng bổ trung khai vị, thích hợp với những người cơ thể suy nhược như vừa ốm khỏi hoặc mới sinh đẻ và đã chế biến ra nhiều món ăn, chủ yếu là cháo ngó Sen để bồi dưỡng sức khoẻ. Có nhiều cách nấu cháo ngó Sen, đơn giản nhất là lấy ngó Sen già còn tươi, rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo tẻ thành cháo, cho đường kính trắng vào ăn.
Tác dụng chữa bệnh của ngó Sen đã được nhiều sách thuốc cổ nói đến. Theo Hải Thượng Lãn Ông: ngó Sen vị ngọt, mát, tính hàn, kiêm tả bổ, có tác dụng cầm huyết, thanh nhiệt, trừ phiền, giã rượu. Ngó sen để sống: tính hàn, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, làm hết nôn, giải khát, giã rượu, chữa các chứng xuất huyết do nhiệt. Ngó Sen chín: tính ôn, vị ngọt có tác dụng kiện tỳ, khai vị, chỉ khái, dưỡng huyết, sinh cơ, chữa vết thương lở loét lâu ngày không kín miệng… Những người yếu tỳ vị, người cao tuổi ăn ngó Sen chín rất tốt.
Ngó Sen còn được dùng để chữa một số bệnh sau:
– Chữa xuất huyết: Lấy 10 ngó Sen, giã nát lấy nước, thêm ít đường đỏ, đun lên uống ngày hai lần sáng và tối. Bài thuốc này dùng chữa các chứng xuất huyết thông thường như chảy máu cam, tiểu tiện ra máu, đại tiện ra máu… có tác dụng tốt, thường chỉ dùng mươi hôm bệnh sẽ hết.
Trường hợp xuất huyết đường tiêu hoá có thể lấy nước ngó Sen và nước ép Củ cải, mỗi thứ 20ml, trộn đều uống ngày hai lần, liên tục trong nhiều ngày.
Cũng có thể chế thành Cao lỏng ngó Sen với đường và Mật ong uống dần. Cách làm như sau: Lấy 1500g ngó Sen tươi, thái thành sợi nhỏ, cho vào túi vải xô sạch vắt kiệt lấy nước. Cho nước ngó Sen vào nồi, hoà thêm 200g đường đỏ, đun to lửa cho sôi rồi chuyển sang đun nhỏ lửa thành cao, cho thêm ít Mật ong, bắc ra để nguội, đổ vào chai hoặc lọ dùng dần. Uống mỗi lần một thìa canh (15ml) với nước đun sôi để ấm, ngày ba lần theo bữa ăn.
– Chữa nôn: Lấy 30g ngó Sen sống, 3g Gừng sống, giã nát cả hai thứ vắt lấy nước, chia làm hai lần uống trong ngày.
HƯƠNG LIÊN – CTQ
Hải Thượng Lãn Ông đã viết về cây sen như sau: “Cây mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm mùi bùn, đượm khí thơm trong lành của trời đất, nên củ, lá, hoa, tua, vỏ quả, ruột đều là thuốc hay”.
Toàn cây sen Có đến 9 vị thuốc: Ngó – củ – thân – lá – cánh hoa – nhị hoa – vỏ quả (hạt) – hạt – Tâm (tim sen).
Dưới nước có Sen. Trên bờ có Dâu (tang đố mộc đấy) toàn cây cũng có nhiều vị thuốc: Rễ – cành (tang chi) – vỏ thân cạo bỏ lớp màu xanh bên ngoài (tang bạch bì) – lá (tang diệp) – quả (tang thầm) – con sâu trong thân – tầm gửi (tang ký sinh) – tổ bọ ngựa trên thân cây (tang phiêu tiêu).
Hạt Sen là loại thực phẩn: Ngon – bổ – (không rẻ lắm) – lành tính, lại có tác dụng chữa bệnh – “Dược thiện”.
Đây là loại thực phẩm tốt, dễ tìm kiếm. Hạt nấu chè, các cụ dùng rất dễ và… thanh tao.
*****************
Chữa đầy bụng trong ngày Tết:
Bài thuốc này không áp dụng cho quí Sư huynh ăn chay. Vì ăn chay thì quá yên tâm rồi: D
* Bài thuốc:
– Vỏ quýt: 1-2 cái
– Lá tía tô: 1 nắm
– Củ riềng (Alpinia Galanga): 1 củ bằng ngón chân cái.
(Củ riềng: Riềng, Riềng thuốc, Cao lương khương, Tiểu lương khương, Phong khương, Tên khoa học: Alpinia Galanga, thuộc họ Gừng – Zingiberaceae. Tên tiếng trung: 高良姜 (Cao lương khương), Another one is: Alpinia officinarum hance).
Ai ăn sống được thì tốt. Còn không đem thái vụn, cho vào đun sối lấy nước uống.
* Lưu ý: Đun củ riềng trước 10 phút, vỏ quýt và lá tía tô có tinh dầu cho vào sau, chỉ cho vào đun sôi 1- 2 phút là bắc ra ngay.
* Chữa: Các chứng đầy bụng ậm ạch, ăn không tiêu, đi cầu (chưa đến mức tào tháo đuổi) do ăn uống quá mức hay không
điều độ sinh ra.
Vị thuốc rất dễ kiếm, rẻ – an toàn và hiệu nghiệm. Trường hợp người bị “Tào tháo đuổi”, ngoài việc uống thuốc cầm, cứ sắc bài này lấy nước uống bổ sung cũng tốt. Khi đo thì phải đun các vị cho kỹ một chút.
*****************
Tâm lý liệu pháp chữa hóc xương:
Người chữa là người không hóc:
– Xoay mâm cơm đi 180 độ – Cái này mà ngồi nhà hàng thì thua. Hoặc 2 thằng lịch kịch khênh bàn, quay vòng vòng.:
– Dùng cây đũa cả (đũa to chuyên dùng vào việc xới cơm) dựng ngược trên đỉnh đầu. Mồm lẩm bẩm: Gần thì ra, xa thì vào. Thời giờ dùng muỗng xúc cơm không biết có linh không. Nhưng kẹt quá thử xem, bạn sẽ biết ngay mà:
– Dùng tay vỗ thẳng vào đỉnh đầu người bị hóc (vị trí huyệt bách hội) – không chết được đâu mà sợ mặc dù đây là một huyệt hiểm. Nam 7 cái – Nữ 9 cái. Mồm cũng lầm bầm: Gần ra – xa vào.
*****************
Tôi có đọc 1 bài về Chữa hóc xương bằng ngoại cảm. Xin post để mọi người cùng tham khảo:
Bị hóc xương gà, anh Chung, ở xóm 8, xã Nhân Thành, (Yên Thành, Nghệ An) gọi điện thoại cho cụ Nhâm nhờ chữa. Cụ bảo ngay “dập máy đi, lo mà làm ăn” rồi cúp máy luôn. Anh Chung bỗng thấy cơm trong bụng dồn lên trào ra cùng chiếc xương.
Về đến huyện Yên Thành hỏi thăm nhà ông Nhâm (Bính) chữa hóc xương, hầu như người dân ai cũng biết. Người thì bảo đó là thầy chữa hóc xương, kẻ thì nói ông có khả năng ngoại cảm… Họ đều ca ngợi ông với một tấm lòng khâm phục, biết ơn và kính trọng.
Cũng chẳng khó khăn gì, chúng tôi đã tìm về nhà ông ở xóm Bắc Sơn xã Nhân Thành, cách tỉnh lộ 538 khoảng 20km về phía Nam. Nhà ông nằm ở giữa xóm, mái ngói đơn sơ, mang dáng dấp của một ngôi nhà cổ đã lâu đời. Ông Nhâm mái tóc bạc phơ, khuôn mặt phúc hậu, chất phác đang ngồi uống chè xanh với một ông lão hàng xóm.
Khi biết ý định của chúng tôi, ông xởi lởi rót nước mời rồi điềm đạm: “Tui năm nay đã 88 tuổi, cũng gần đất xa trời, rồi còn giúp được gì cho mọi người thì giúp”.
Ông Đoàn Văn Nhâm xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. Những năm chống Pháp, ông cũng tham gia đi dân công 2 năm rồi về quê lấy vợ, sinh con. Hiện tại, ông Nhâm có 8 người con đã trưởng thành. Các con của ông người đi công tác xa, người lấy vợ lấy chồng ra ở riêng. Ông sống với người con út và mấy đứa cháu.
Mặc dù đã cao tuổi nhưng trông ông vẫn còn khỏe, da dẻ đỏ đắn, nói năng rất minh mẫn. Chúng tôi hỏi ông biết chữa hóc xương từ khi nào? Ông cho biết: “Khi cha tui gần mất, ông đã truyền nghề cho tui, khoảng ba chục năm rồi. Nghề ni chỉ lúc sắp chết mới truyền lại được!”. Về nguồn gốc xuất phát của chữa bệnh hóc, ông chỉ nói vậy.
Chúng tôi tìm hiểu qua các cụ già cao tuổi ở trong làng thì được cụ Đoàn Trung kể rằng: “Trước đây, ông nội ông Nhâm làm nghề lái đò trên sông Hàn. Vào một đêm khuya khoắt, bỗng có tiếng gọi đò. Ông chạy ra thì thấy một người đàn bà bế trên tay một đứa bé xin được qua sông. Ông đã đưa mẹ con người đàn bà đó qua sông mà không lấy tiền. Cảm kích trước cử chỉ ấy, người đàn bà đó đã truyền cho ông về cách chữa hóc xương.
Hiện nay, nghề này truyền đến ông Nhâm là đời thứ ba. Thực hư của câu chuyện đó như thế nào không biết được, chúng tôi chỉ nghe kể lại, nhưng 3 đời nhà ông Nhâm chữa hóc xương giỏi mà không hề lấy của ai một xu là chuyện hoàn toàn có thật”.
– Cụ chữa hóc xương bằng cách nào? – Chúng tôi hỏi ông Nhâm.
– Đó là bí quyết gia truyền, tui không tiết lộ được – Ông Nhâm trả lời.
– Chúng tôi nghe nói, cụ không dùng tay tác động vào bệnh nhân, cũng không dùng bất cứ loại thuốc nào mà chỉ dùng lời nói trực tiếp hoặc qua điện thoại mà chữa khỏi hóc xương, có đúng như vậy không?
– Đúng! Có thể anh không tin nhưng đó là sự thật. Tui cũng không lý giải được việc mình làm. Nhưng, có một sức hút hay sức mạnh gì đó tác động vào tui. Những người hóc xương còn thở được đem đến tui là khỏi ngay. Hơn ba chục năm hành nghề, tui chữa khỏi hết, chưa bó tay một trường hợp mô cả.
– Cụ đã chữa cho bao nhiêu người rồi?
– Nhiều lắm, tui không nhớ hết.
Anh Đoàn Đô, người con út của ông Nhâm, tâm sự: “Cha tui chữa khỏi cho hàng trăm người ở trong huyện và các huyện lân cận như Nghi Lộc, Đô Lương, Diễn Châu, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu. Có những ca hóc nặng sắp chết như ông Văn Sơn ở chợ Bộng, Viên Thành, vừa cáng đến sân, cha tui chỉ nói vài câu là chiếc xương gà trong cổ ông Sơn trào ra. Được cái cha tui chữa bệnh không bao giờ lấy tiền, kể cả những thời cơm không có mà ăn, phải ăn khoai, ăn sắn cha tui cũng từ chối”.
Chúng tôi đang nói chuyện thì một người đàn ông trung tuổi dẫn theo một cậu bé xuất hiện trước sân với khuôn mặt hốt hoảng: “Ông ơi, giúp cháu! Cháu nó bị hóc xương lợn!”. Chúng tôi thấy ông Nhâm đứng dậy vừa đi vào nhà trong vừa nói: “Để tau vô lấy con dao!”.
Chờ một chút không thấy ông, thì ra ông đã lên gường nằm. Người đàn ông sốt ruột nhìn đứa con mặt nhăn nhó vì đau: “Ông ơi, cháu nó đau lắm”. “Về đi! Nhớ đi thẳng về nhà” – ông ở trong nói vọng ra.
Hình như người đàn ông đó đã biết được cách chữa của ông nên dẫn con về. Vừa bước ra khỏi sân đứa bé ôm lấy cổ ọe và nó kêu lên: “Cha ơi xương ra rồi!”. Anh kia dắt con trở vô cảm ơn rối rít.
Chúng tôi lại hỏi han thì anh cho biết: “Tui là Trần Hòa! Cháu đây là Trần Huệ, con trai tui, hiện nay đang học lớp 5A Trường Tiểu học Nhân Thành. Cháu nó gặm chân giò không may bị hóc. May có ông Nhâm không thì phải đưa đi viện”. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến cách chữa hóc lạ lùng này.
Đi tìm nhân chứng
Để có chứng cứ làm cơ sở cho bài viết này, chúng tôi đã đi hầu hết các làng xóm ở xã Nhân Thành và một số địa phương khác với mong muốn có một phản ánh chân thực về khả năng chữa hóc xương của ông Đoàn Văn Nhâm.
Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là anh Nguyễn Đình Chung, ở xóm 8, xã Nhân Thành, làm nghề thợ nề.
Anh Chung tâm sự: “Cách đây 2 năm, tui làm ở Vinh, lúc ngồi nhậu với bạn bè chẳng may hóc chiếc xương gà. Tui làm đủ trò không được, chiếc xương cứ chắn ngang họng đau điếng. Tui xuống Bệnh viện Ba Lan, nhưng chờ lâu quübr />?. Khi đó mới sực nhớ tới cụ Nhâm, tui điện hỏi Tổng đài 108 về số điện thoại.
Biết được số tui bấm gọi. Vừa gặp, cụ đã bảo dập máy đi, lo mà làm ăn. Cụ cúp máy luôn. Tui bực mình vừa bỏ máy xuống thì cơm trong bụng dồn lên trào ra không kìm được. Chiếc xương cũng trào ra luôn. Khi đó tui mới phục cụ sát đất.
Thằng bạn tui sống ở Mỹ bị hóc xương, điện thoại về cho cụ cũng khỏi trong vòng vài ba phút. Sau này, tui về đến tạ ơn nhưng đưa tiền cụ không lấy, cụ còn mắng cho, cụ chỉ nhận miếng trầu hay chai rượu thôi!”.
Cháu Trần Huệ và anh Trần Xuân Lập, người được cụ Nhâm chữa hóc xương.
Trường hợp cháu Phan Anh Tiến Quý, học lớp 6D, Trường THCS Nhân Thành, vừa mới tháng trước hóc xương cá cũng được ông Nhâm chữa khỏi.
Mẹ cháu là chị Phan Thị Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nhân Thành cho biết: “Cháu nó hóc xương cá, cổ sưng tấy đau lắm. Tôi đưa cháu đến cụ Nhâm. Cụ cười, khen cháu đẹp trai, bảo về học cho giỏi, hai mẹ con về đi, nhớ đi thẳng không được dừng lại hay vô nhà ai. Cháu nó vừa bước xuống thềm thì xương đã trôi xuống bụng”…
Anh Trần Xuân Lập, sinh viên năm cuối Học viện Tài chính Hà Nội cho biết: “5 năm về trước tôi bị hóc xương cũng được cụ Nhâm chữa khỏi bằng cách gọi điện thoại. Tôi cũng không thể hiểu tại sao chữa bằng cách ấy mà lại khỏi? Không có cơ sở khoa học gì cả! Nhưng rồi tôi lại nghĩ, khả năng của con người là vô tận”.
Ông Phan Thanh, Chủ tịch UBND xã Nhân Thành, khẳng định: “Cách chữa hóc của cụ Nhâm đúng là lạ, nhưng cụ đã chữa khỏi cho rất nhiều người rồi, điều đó là sự thật chứ không phải tin đồn nhảm nhí! Cụ là người nhân từ, đức độ, cả xã này ai cũng biết!”.
Còn nhiều, rất nhiều người đã được ông Nhâm chữa khỏi nhưng với khuôn khổ của bài viết này chúng tôi không tiện nêu lên. Chúng tôi xin được ghi lại những gì mắt thấy tai nghe về khả năng chữa hóc xương của lão nông Đoàn Văn Nhâm.
Phương pháp chữa hóc của ông hiện nay mọi người đều cho đó là ngoại cảm. Nhưng để phân tích chính xác thì chỉ có các nhà khoa học vào cuộc mới trả lời được.
Chúng tôi xin cung cấp địa chỉ và số điện thoại của ông Nhâm để độc giả có thể liên hệ: Đoàn Văn Nhâm, xóm Bắc Sơn, xã Nhân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. ĐT: 038.3631.809
Tiến Dũng – Lệ Thúy (cand)
Nguồn: [url]http://haian82.wordpress.com/2007/04/17/ch%e1%bb%afa-hoc-x%c6%b0%c6%a1ng-b%e1%ba%b1ng-ngo%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3m/[/url]
*****************
Phương Tâm Dược:
Xuất xứ: Bài thuốc của Hòa thượng Vô tế đại sư, đời nhà Minh bên Trung Quốc. Lưu lại ở Hoa Đình Tự, TP Côn Minh, tỉnh Vân Nam – TQ.
Đây là phương thuốc rất hay để bảo vệ thân tâm an lạc, tiêu trừ phiền não nội tâm, hài hòa quan hệ giao tế, giúp cuộc sống thực tại có ý nghĩa hơn.
Đại sư từng nói: “Phàm muốn tề gia, trị quốc, học đạo tu thân trước hết hãy uống thuốc hay 10 vị của ta mới có thể thành công”.
Phương thuốc:
– Ruột tốt: 3 bộ
– Lòng từ bi: 1 miếng.
– Ôn hòa: 1/2 luợng
– Đạo lý: 3 phần
– Tính hành: phải nhiều
– Trung thực: 1 miếng
– Hiếu thuận: 10 phần
– Âm trắc dùng hết
– Thực 1 cái
– Phương tiện ít nhiều chẳng sao.
Tất cả dùng nồi khoan tâm (rộng lòng) mà sao, không nên gấp không nên vội. Bỏ đi 3 phân hỏa tính. Rồi nghiền nát trong bồn bình đẳng. Lấy tam tư làm mạt vụn, rồi lấy 6 Ba La Mật viên thành hoàn, lớn bằng hạt Bồ Đề. Mỗi ngày uống 3 lần, thời gian bất kể, dùng thang hòa khí mà uống.
Nếu cứ đúng như vậy thì vô bệnh chẳng sai.
Thiết kỵ: (kiêng kỵ) Nói hay mà làm bậy. Lợi mình mà hại người, như tên bắn lén như mưu độc trong lòng, như dao trong nụ cười, như rắn 2 đầu, làm cho đất bằng dậy sóng. Bảy điều trên phải nhanh chóng răn mình.
Kệ nói:
Thử phương tuyệt diệu hợp thiên ky,
Bất dụng lô sư Biển thước y,
Phổ khuyến thiện nam tịnh tín nữ,
Cấp tu đối trị mạc hồ nghi.
*****************
Chữa bạc và rụng tóc bằng Đông dược:
Tim lợn 1 quả bổ đôi, nhồi vào bên trong 10 g bách tử nhân đã tán vụn, cho vào lồng hấp chín rồi đem ra ăn. Món ăn bài thuốc này có thể chữa chứng rụng và bạc tóc sớm.
Sau đây là vài bài thuốc khác:
– Câu kỷ tử 15 g, gạo nếp 50 g (hoặc vừng đen 20 g). Câu kỷ tử sắc lấy nước đặc, cho gạo nếp vào nấu cháo ăn hằng ngày. Cũng có thể lấy hà thủ ô 30 g sao vàng, sắc lấy nước đặc cho 30 g gạo nếp nấu thành cháo, cho thêm đường phèn vừa đủ, ăn hàng ngày.
– Dâu ta rửa sạch, ép lấy nước, cho vào nồi đất hoặc nồi sành cô đặc thành cao, cho đường đỏ và đường phèn hai thứ bằng nhau, mỗi ngày uống một thìa canh với nước nóng.
– Vừng đen, lạc, hạnh đào, đậu tương lượng bằng nhau, sao riêng cho thơm, chín rồi tán vụn, trộn đều. Mỗi tối uống một thìa canh với sữa bò, sữa đậu nành hoặc nước nóng trước khi đi ngủ. Người đang bị tiêu chảy không được dùng loại này.
– Long nhãn 50 g, mộc nhĩ đen 3 g, đường phèn vừa đủ, cho nước vào đun sôi kỹ rồi uống.
Sức Khỏe & Đời Sống (theo Ǎn uống và Sức khỏe – TQ)
*****************
Trị bệnh GAI CỘT SỐNG bằng NGẢI CỨU:
NGẢI CỨU (Artemisia vulgaris L., commonly known as mugwort, belongs to family Compositae, and is native to Europe, Asia, and northern Africa),
Nội dung bài thuốc và cách trị như sau:
– Nguyên liệu: Ngải cứu. Dấm nuôi. Một mảnh vải thưa, mỏng, mềm bằng sợi cotton
(Dùng khăn vải mùng (khăn sô) có bán ngoài các chợ (NV).
– Cách chế biến: * Ngải cứu rửa sạch để ráo, thái (sắt) nhỏ, giã nát.
không nhất thiết phải thái nhỏ trước khi giã, vì Ngải cứu cũng dễ nát (NV).
* Dấm nuôi đun thật nóng.
Nên đun bằng đồ sành sứ tốt hơn đồ kim loại (NV)
– Cách điều trị: Buổi tối, trước khi đi ngủ, để người bệnh nằm dài, lưng trần. Dùng mảnh vải, gói một nhúm lá ngải giã nát nhúng vào dấm nuôi đã đun nóng cho thấm ướt, rồi xoa túm thuốc đó theo dọc xương sống chừng 15 phút, trong quá trình xoa, thuốc được hâm nóng thường xuyên.
– Thời gian điều trị: Ít nhất là một tháng. Nên kiên nhẫn thực hiện trong 3 tháng.
Tuy đơn giản, nhưng khó thực hiện vì phải duy trì độ nóng cho thuốc.
Để duy trì độ nóng của thuốc liên tục và tiện lợi không phải đun nấu lách cách, bạn có thể đun thuốc xong rồi đổ vào cái bình thủy (mua loại nhỏ thôi) rót ra dùng dần. Lưu ý thuốc dùng hết trong ngày, không để lại dùng sang ngày hôm sau – NV
Tác dụng trị bệnh của các thành phần trong bài thuốc:
* Ngải cứu (Artemisia vulgaris L., commonly known as mugwort, belongs to family Compositae, and is native to Europe, Asia, and northern Africa):
Người dân nông thôn miền bắc dùng ngải cứu cho phụ nữ có thai uống với mục làm cho “rỏ” thai, dễ sanh. Bào thai khi đến giai đoạn cuối thì thường vị vôi hoá. Tùy theo mỗi người mà vôi hoá sớm hay muộn, vôi hoá sớm là không tốt làm ảnh hưởng đến thai nhi. Ngải cứu trị được vôi hoá, tức là thoái hoá, chắc nó cũng giống như trị dây chằng bị vôi hóa.
* Dấm nuôi: Lúc nhỏ tôi có nghe câu đố đưa trứng to thế vào trong cái chai có cái cổ bé tẹo! Trứng được nâm vào dấm cho nó mềm dẻo vỏ thế là bỏ vào được.
Như vậy với thành phần trị bệnh của ngải cứu, dấm nuôi đều có tác dụng trị vôi hoá, chắc dấm nuôi còn giúp cho sự dẫn thuốc thấm thấu tốt hơn.
Ngoài ra với nhiệt độ và sự xoa bốp có tác dụng giúp do “dây chằng” phục hồi chức năng. Sự phục hồi chức năng thể hiện sự “trẻ” hoá lại vùng bị vôi hoá và sự khoẻ lại, săng chắc lại của những đoạn dây chằng bị dãn giúp cho nó dần dịch chuyển đĩa đệm xu hướng về đúng vị trí ban đầu…
Để duy trì sự hoạt động tốt của hệ thống dây chằng này đối với người có tuổi cần phải trị nhắc thường xuyên.
Lược khảo và biên tập lại từ lyhocdongphuong.org
Với dược tính các vị thuốc, thì nhận thấy đầu tiên là: có giá trị làm giảm đau mỏi do vết thương.
********************************
Nam mô Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu ly Quang Vương Phật.
Hôm nay ngày 30/9/ Âm lịch, là ngày vía của Đức Phật Dược Sư. Chúng ta dành một chút thời gian, lắng tâm hướng về Đức Dược Sư Lưu ly Quang Vương Phật, nguyện cầu Ngài gia hộ cho bản thân, gia đình và tất cả mọi chúng sinh trong cõi nhân gian vượt qua mọi khổ đau của tâm bệnh và thân bệnh.
Mỗi người trong chúng ta là một vị y sĩ:
Đức Phật Dược Sư và Nghiệp chữa bệnh:
——————————–
Dịch sang tiếng Việt: Mỹ Thanh
Một nhà cố vấn về thời trang thẩm mỹ bị bệnh ung thư. Đây là cách mà bà ta sử dụng để làm giảm nỗi đau:
Bà ta gửi một tin nhắn đến người bạn đang là học viên ở Viện Vajrapani ở California, để hỏi về cách thực tập chữa bệnh. Bà được người bạn chỉ dẫn nên mua lại các sinh vật sắp sửa bị giết và phóng sanh chúng ở một nơi an toàn, giúp cho chúng có thể sống lâu hơn.
Người phụ nữ dễ thương nầy đã cứu rất nhiều súc vật sắp sửa bị giết. Bà đã phóng sanh hai hoặc ba ngàn con vật, đa số là gà, cá, và giun trùng. Bà đem gà đến một nông trại gia súc, và thả cá xuống sông. Bà mua hai ngàn con trùng vì chúng rẻ và dễ tìm, và bà thả trùng trong khu vườn của bà. Phóng sanh trùng là một ý rất hay vì trùng khi được thả ra sẽ lẹ làng chui xuống đất. Chúng sống trong khu vườn nhà thì không bị sát hại bởi các sinh vật khác và như vậy chúng sẽ sống lâu hơn. Các con vật khác được phóng sanh trong rừng, hồ, hoặc biển không chắc sẽ sống lâu hơn vì chúng luôn có những kẻ thù trong thiên nhiên.
Nghe nói rằng sau khi đã thực tập phóng sanh, bà ấy vào nhà thương để chẩn đoán lại, và các bác sĩ đã không tìm thấy dấu vết nào của căn bệnh ung thư.
Thật hay giả, chuyện nầy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên đối với những ai tin tưởng thuyết nghiệp quả. Đây là những lời của ông Deepak Chopra:
«Không có món nợ nào trong vũ trụ mà không phải trả. Vũ trụ có một hệ thống tính toán sổ sách rất hoàn hảo, và tất cả mọi thứ là sự trao đổi tới lui.»
Như vậy, nhờ giúp đỡ sinh mạng các con vật yếu đuối, người phụ nữ đã xác định niềm tin của bà trong tính xác thật của luật nhân quả, gọi là «Nghiệp vừa là hành động vưà là kết quả của hành động đó». Hành động của bà không phải là ảo thuật hay phép lạ mà là gieo trồng những hạt giống thích hợp để chúng đơm hoa kết trái thành sức khỏe và niềm hạnh phúc. Thật vậy, nếu chúng ta muốn tạo dựng hạnh phúc trong cuộc sống, chúng ta phải học gieo trồng các hạt giống hạnh phúc cho người khác. Cũng như với các thực tập của người Phật tử thông thường, kết quả mà một người đang nhận lãnh là nghiệp của quá khứ. Tất cả mọi thứ đang xảy ra vào lúc nầy là kết quả của những hành động mà ta đã làm trước đó. Đây là một minh họa cho thành ngữ «gieo nhân nào gặt quả nấy». Nếu chúng ta có lòng từ bi và tử tế, chúng ta sẽ luôn luôn không có ý gây tổn hại đến người khác, và việc nầy chính nó đã là một phương pháp chữa bệnh. Theo niềm tin Phật giáo, một người có từ tâm là vị thầy chữa bệnh thần kỳ nhất, không những chỉ chữa lành bệnh hay giải quyết được các nan đề cho chính họ, mà còn là vị thầy chữa bệnh cho những người khác. Đa số chúng ta đều xác nhận rằng trong nhà thương, nơi căn bệnh đang hoành hành và bệnh nhân đang chịu đựng nỗi đau, với nụ cười thân thiện và lời khích lệ của vị y sĩ, bệnh nhân sẽ đỡ đau và mau khỏe hơn. Thật ra chính là do tình thương mà bệnh được chữa lành. Một khi tình thương được lan tỏa ra từ nơi sâu thẳm của một người, chính tình thương yêu đã tạo nên sức khỏe tốt.
Trong truyền thống Phật giáo, vị thầy chữa bệnh nguyên thủy và đầu tiên là đức Phật. Thường được gọi là Đức Phật Dược Sư, chính đức Phật Dược Sư đã tiết lộ các bài pháp thiêng liêng được gói ghém trong những bài kinh được gọi là Tứ Mật Y Kinh (Four Medical Tantras). Tất cả y thuật của Phật giáo đều bắt nguồn từ bộ kinh thiêng liêng nầy. Như đã giải thích trong bài đầu tiên của các bài kinh nầy, đức Phật Dược Sư một lần đã ngồi thiền định, và xung quanh các vị đệ tử gồm có các vị y sĩ, các vị thông thái, thiên vương và các vị Bố Tát, tất cả đều ước muốn học hỏi về phương pháp chữa bệnh. Tất cả đều lặng người bởi hào quang sáng rỡ trang nghiêm của đức Phật, mà không dám mở lời. Biết được nguyện vọng của họ, đức Phật Dược Sư đã phát ra hai ánh hào quang, ánh hào quang thứ nhất là lời thỉnh cầu học pháp, và ánh hào quang thứ hai giảng giải về pháp nầy. Nhờ vậy, bài kinh nầy được nói ra, và đức Phật Dược Sư giải thích những chứng bệnh khác nhau về thân cũng như tâm, giảng về nguyên nhân của chúng, sự chẩn đoán bệnh tình, và cách chữa trị.
Mặt khác, đức Phật hiểu rõ nguyện vọng của các đệ tử mà không cần họ phải nói ra, việc nầy cho thấy lòng từ bi vô hạn của đức Phật đối với các đệ tử. Thật vậy, các thầy chữa bệnh như đức Phật được gọi là những vị đại y sĩ không những chỉ vì khả năng chữa lành bệnh – mà còn là vì lòng từ bi và trí tuệ để chẩn đoán và chữa trị tận gốc rễ của căn bệnh, dù là thân bệnh hay tâm bệnh.
Trong nghệ thuật tranh ảnh, hình đức Phật Dược Sư được vẽ với màu vàng hoàng kim, dù các đặc điểm khác vẫn là màu xanh dương.
Trong bất cứ hình ảnh nào, bàn tay trái của đức Phật Dược Sư đều để trên đùi trong tư thế bắt ấn của thiền định, với một cái bát bằng sắt. Tay phải ngửa lên, như đang ban phát, một cử chỉ thể hiện sự rộng lượng, một nhánh myrobalan (một loại thảo dược trong y học Tây Tạng). Đây là một loại trái cây có thể chữa bệnh rất phổ biến trong y học Tây Tạng và ở đây là biểu tượng của sự phục hồi mạnh mẽ của thế giới thực vật, nhắc nhở chúng ta là trái đất cung cấp miễn phí cho chúng ta, và không đòi hỏi gì hơn là gìn giữ sự mầu mỡ của nó với sự chăm sóc nhẹ nhàng, nâng niu.
Tuy nhiên, y học Phật giáo chỉ áp dụng thuốc men một cách có giới hạn. Việc sử dụng thuốc chỉ được áp dụng vừa phải để chữa các triệu chứng ngoại tại của căn bệnh. Việc chữa trị căn bệnh cho con người tận gốc rễ cần phải nương vào sự chứng ngộ tâm linh, mỗi người chúng ta đều có thể tự chữa trị bằng cách nầy. Đức Phật Dược sư thường được vẽ với đủ loại dược thảo thơm tho bao quanh, trong y dược Tây Tạng, với vô số thiên vương, và Bố Tát. Hình vẽ như thế nầy được gọi là «Thiên đàng của đức Dược Sư».
Thiên đàng nầy tượng trưng cho một vũ trụ lý tưởng, nơi tất cả các thuốc giải cho mỗi chứng bệnh đều hiện hữu. Đức Phật Dược Sư cũng đã nói như sau, «Bao nhiêu chúng sinh hiện hữu trong hệ thống thế giới, đều có một con đường giải thoát.»
Theo lời Romio Shrestha «Đức Phật Dược Sư là nhà bào chế thuốc tâm linh. Để khám phá ra sức mạnh chữa bệnh tiềm tàng ngay trong con người chúng ta, là lối vào thiên đàng của «Bậc thầy về thuốc giải.». Cũng có nghĩa là thiên đàng nầy nằm ngay trong lòng mỗi chúng ta, chỉ cần tâm thức sáng suốt để nhận diện và sử dụng nó. Romio Shrestha còn nói thêm, «Thân thể chúng ta có khả năng tự chữa bất cứ căn bệnh nào. Mỗi một cây, mỗi một dược thảo, mỗi thuốc giải đều có vật bổ sung của nó nằm trong cốt lõi tinh tế của thân thể con người.»
Chúng ta không những có khả năng chữa trị cho chính bản thân, mà còn có thể chữa bệnh cho những người xung quanh chúng ta như câu chuyện sau đây:
Ngày xưa đó, có một tăng sĩ sống trong một làng nhỏ ở Tây Tạng. Ông ta rất là tầm thường, và hằng ngày chăm lo nhiệm vụ tu sĩ của mình. Năm đó làng xảy ra một cơn dịch đậu mùa, giết chết vô số người trong vùng, vị tăng sĩ cũng bị đậu mùa và chết đi. Đó là vào giữa mùa đông, mặt đất bị đóng băng và củi thì khan hiếm, vì vậy xác của vị ấy được khiêng thả xuống một cái hồ đang đóng băng. Một thời gian sau đó, cơn dịch đậu mùa chấm dứt. Vào mùa xuân, mặt băng tan đi, và người ta nhận thấy một cầu vòng phía trên mặt hồ nơi họ thả xuống xác của vị tu sĩ.
Người ta liền đến nơi đó và thấy xác của vị tu sĩ đang nổi lên, hoàn toàn nguyên vẹn. Xác của ông được đưa về tu viện và được làm lễ hỏa táng theo nghi thức tăng sĩ. Khi xác thân của ông biến mất trong ngọn lửa, nơi dàn hỏa xuất hiện nhiều cầu vồng bay thẳng lên bầu trời, sau đó người ta tìm được các xá lợi trong đống tro tàn. Lúc ấy, mọi người đồng công nhận vị tăng sĩ là một người xuất chúng trong cái vỏ ngoài rất «tầm thường», và người ta khen tặng ông đã nhận lãnh căn bệnh hiểm nguy để thanh tịnh hóa các nghiệp xấu tạo nên cơn dịch. Trong Phật giáo Tây Tạng, bệnh hoạn có thể là một biểu hiện của sự thành công về mặt tâm linh, và sự hy sinh chính mình để cứu những người khác.
Một người mẹ có thể hiểu được điều nầy, bà mẹ có thể cho đi sự sống của mình để nuôi nấng các con. Thật như vậy có thể chứng minh sự ép xác, khổ hạnh là đúng, xem bệnh hoạn như một cây chổi quét sạch hết nghiệp xấu, và như vậy chứng tỏ con đường tâm linh cao nhất để thanh tịnh hóa bản thân là sự chịu đựng khổ hạnh.
Một người tầm thường có khả năng trị bệnh xuất phàm. Khả năng nầy chỉ đạt được khi chúng ta chấp nhận về mình sự đau khổ của kẻ khác, chịu đau khổ như kẻ khác, bằng cảm nhận lấy nỗi khổ của họ. Trau dồi những cảm giác tương thông nầy sẽ làm tăng trưởng lòng từ bi, sự xót thương. Chỉ có như vậy mới có thể huy động được năng lực chữa bệnh không giới hạn đã tìm tàng sâu thẳm trong tâm thức vô biên của chúng ta.
Thật sự bệnh tật và đau khổ được xem là cách giải thoát đặc thù, cho ta cơ hội để trải nghiệm sự liên hệ chặt chẽ giữa ta và những chúng sinh khác, và cho ta thấy rõ bản chất tử vong của kiếp con người. Có một câu chuyện về một vị trụ trì thiền viện đã đạt được năng lực chữa bệnh bằng lòng từ bi. Một ngày trong khi ông ta đang dạy dỗ đệ tử, bất thần ông ta la đau. Khi các đại sư hỏi ông bị gì, ông nói rằng có một con chó đang bị đánh đập bên ngoài. Khi họ ra ngoài, họ nhìn thấy một người đàn ông đang giận dữ và dùng gậy để đánh một con chó. Khi người đàn ông được gọi vào bên trong thiền viện, vị trù trì kéo áo xuống cho ông ta thấy những vết bầm và cắt trên lưng đúng ngay chỗ con chó bị đánh đập. Đây là tính chất hợp nhất mà một vị thầy chữa bệnh lý tưởng cần phải có.
Truyền thống Phật giáo nhận diện Đức Dược Sư là vị thầy chữa bệnh lý tưởng, và nhấn mạnh rằng năng lực chữa bệnh mạnh mẽ nhất nằm trong lòng chúng ta. Theo ông Deepak Chopra”Chúng ta có một dược phòng nội tại thật sự thanh nhã. Dược phòng nầy chế tạo thuốc có hiệu quả trong thời gian với mục tiêu chính xác về bộ phận được chữa trị, và không bị ảnh hưởng phụ của thuốc..”
Như vậy, chúng ta hiểu rằng đức Phật Dược Sư đang ở trong lòng mỗi chúng ta. Con đường đi đến giải thoát phải xuyên qua việc thiền định, đặc biệt là thiền định mường tượng. Bằng cách thiền về đức Dược Sư và mường tượng về Ngài trước mặt chúng ta, chúng ta có thể đối diện với đức Phật Dược Sư, và trông thấy được nụ cười từ bi sáng rỡ đối với vũ trụ, và cặp mắt hiền dịu đầy ắp tình thương yêu đối với tất cả chúng sinh.
Kế đó, từ nơi trái tim đức Phật phóng ra một luồng hào quang sáng chói và làn ánh sáng nầy ngấm dần vào trái tim của chúng ta một cách dịu dàng. (Trái tim ở đây có nghĩa là «trung tâm» – cốt lõi của bản chất nằm ngay trọng tâm ngực của chúng ta, không phải chỉ là một cơ cấu máy móc vật chất chỉ để bơm máu). Trọng tâm nầy được định nghĩa như sau:
“Ngay trong bản thân anh, đã có sự tĩnh lặng và một ngôi đền thiêng liêng mà anh có thể lui vào bất cứ lúc nào để nghỉ ngơi và yên tịnh một mình. Ngôi đền thiêng liêng nầy chính là nhận thức đơn giản về sự tiện nghi không bị bất cứ rối loạn nào có thể xâm phạm được. Nơi đây không có sự sợ hãi và không có đau thương. Một thiền sinh cần phải tìm ra không gian tâm thức nầy để có thể chữa được các bệnh.”
— Deepak Chopra
Chứng nghiệm nầy đến với chúng ta như một ánh chớp sáng suốt, và đây không phải bằng lời nói, hoặc bằng ngôn ngữ học. Đây là cảm giác thật bất ngờ, một sự hiểu biết tự do, khi mà chúng ta trải nghiệm chân lý không cần từ ngữ. Chân lý lọc qua từ ngữ sẽ bị gò bó, bởi vì chúng ta cần một thời gian nhất định để chuyên chú về ý nghĩa của nó. Xuyên qua trải nghiệm biểu tượng và sáng tạo tâm linh mà những chúng sinh «tầm thường» được chuyển hóa để trở thành những vị thầy chữa bệnh xuất chúng. Đây là cách giao tiếp với đức Phật Dược Sư, vị y sĩ chữa bệnh vĩ đại nhất.
Cũng vì vậy các y sĩ tin tưởng vào những lý tưởng nói trên sẽ thực tập thiền định và cầu khẩn đức Phật Dược Sư trước khi ra toa xắt thuốc, và trước khi đưa cho bệnh nhân sử dụng. Khi bắt đầu làm những công việc nầy, họ đọc thần chú của đức Dược Sư. Câu thần chú ấy là:
OM BEKANDZE BEKHANDZE MAHA BEKANDZE RANDZE SAUNGATE SOHA.
Khi đọc thần chú thiêng liêng nầy, họ tưởng tượng đến hình ảnh mật hoa rơi xuống, từ những âm tiết của thần chú, rớt vào chén thuốc. Những âm tiết nầy hoàn toàn tan hòa vào chén thuốc và làm cho thuốc ấy trở nên có hiệu lực và có khả năng trị bệnh.
Biểu tượng hành động nầy nhắm vào sự thực hành và các âm tiết thiêng liêng đã tạo nên câu thần chú, làm cho chén thuốc có khả năng trị bệnh, cũng như vậy, do ý thức được việc bước đi trên con đường nghiệp đúng đắn, chúng ta có thể thấm nhuần cuộc sống của chúng ta với mật hoa chảy ra từ những hành động tốt đẹp xuyên qua việc trau dồi phẩm hạnh.
Theo buddhismtoday.com
*********************
Người Việt ta có câu: “Phúc chủ – Lộc thầy”. Câu này xuất phát từ trong y học, để chí sự ứng nghiệm, hiệu quả trong chữa bệnh, rồi sau đó được vận dụng sang các môn lý học khác như Phong Thủy, Địa Lý… cũng để nói như thế.
*/ Phúc ở đây được hiểu đúng nghĩa đen là cái phước, phúc đức, cái duyên lành của người bệnh được hưởng. Nên phương thuốc chữa của thày y có thể chỉ là ly nước lã mà khỏi bệnh.
Trong Đông y có tích: “Vận khứ Hoài sơn năng chí tử. Thời lai Bạch thủy khả thời sinh” (Nghĩa là: Vận xấu mà đến thì dùng đến Hoài sơn (vị thuốc bổ tỳ) cũng chết – Gặp thời tốt dùng ly nuớc lã mà cũng lành).
*/ Lộc ở đây hiểu theo 2 nghĩa:
+ Nghĩa đen là: Tiền tài, cơm áo
+ Nghĩa bóng là sự ứng nghiệm, hiệu quả của môn phép.
Như vậy thì trước hết là cái phúc của thân chủ có dầy, cái duyên có lành thì pháp thuật của thày mới tùy duyên mà ứng. Và khi có ứng thì mới có “nắm xôi” mà… nhá:D
Phúc đứng trước, Lộc đứng sau ở trong câu ví này chỉ sự quan trọng và chi phối của Phúc đến Lộc. Xưa nay ông cha ta cũng vẫn lấy chữ Phúc làm đầu, bằng chứng thể hiện qua thứ tự tam đa: Phúc – Lộc – Thọ. Không phải chỉ là vần đâu mà rõ ràng là thứ tự của tính quan trọng.
Chúng ta có câu “Cha mẹ sống lành để Phúc cho con” và hay chăng có thể là: “Cha mẹ sống lành để Thọ cho con”, chứ đâu thấy ai dùng câu “Cha mẹ sống lành để Lộc cho con” – nghe ôi chết.
Ai ở miền Bắc đi coi bói hay nghe thày phán: “Ông bà nhà anh chị phúc đức lắm” hay “Anh chị được thế này, là nhờ Phúc đức của ông bà để lại, liệu đường mà ăn ở nhá”.
Trong giao tiếp cũng thường gặp câu khen “Bà cụ trông phúc hậu quá”, chứ có mấy ai nói “Cô em trông đa lộc quá!!!”
Trong Phong thủy có câu “tiên tích Đức, hậu tầm Long” âu cũng không ngoài những lẽ “Phúc Đức vi tiên”.
Nói lan man như vậy, để muốn nhấn mạnh là trong y thuật không thiếu những phương thuốc, thủ thuật hay nhưng dù có phương thuốc hay mà cái phúc phần của mình nó mỏng thì e rằng bệnh cũng lâu lui. Rồi những phương thuật đó đa phần điều trị thân bệnh. Còn tâm bệnh? Mà thường tâm bệnh thì sinh ra thân bệnh. Trị tâm bệnh bằng phương dược cũng có ít nhiều bài hay thủ thuật tâm lý liệu pháp, cổ phương Đông y có ghi lại tích một thày thuốc nổi tiếng (tôi không nhớ rõ là cụ Trương Trọng Cảnh hay Chu Đan Khê) chữa bệnh bằng thất tình (7 trạng thái tình cảm của con người) đại ý là như thế này: Có một người đàn bà nọ, sau khi chồng mất sớm do lòng thương nhớ, đau khổ mà sinh ra ốm đau buồn phiền, thân thể héo hắt, còm cõi, bụng chướng lên. Sau khi thầy biết được nguyên nhân do chị ta chỉ vì thương nhớ chồng cũ mà như vậy bèn dụng pháp lấy bực tức trị buồn đau. Ông ta bèn nhờ người mạo tuồng chữ chồng bà kia, giả viết thư tình ý rất thắm thiết với người đàn bà khác. Sau đó, nhờ người nhà làm bộ vô tình bắt được đem cho người đàn bà nọ xem. Sau khi xem xong, bà ta tức tối, lồng lộn nhảy xổ lên ầm ầm, chửi rủa chồng. Mồ hôi theo đó toát ra như tắm. Thần khí từ từ hồng hào lại. Tòi từ sau hôm đó, bà ta không còn sống trong nhớ nhung, phiền muộn nữa và thế là căn bệnh kia cũng từ từ lui rồi khỏi hẳn. Không hề mê hoặc, có cơ sở hết (ai đã từng chữa nấc cụt cho người khác bằng sự bức tức, phản ứng nói thành hơi dài – đó là chứng nghiệm) nhưng thật ra là những bệnh tâm còn đơn giản và gặp được thầy tài. Nhưng ở đời mấy khi có cơ duyên như thế.
Duyên nghiệp của mỗi người từ kiếp trước để lại cho bây giờ thì đã là quá khứ, đâu có thể quay lại mà sửa, mà tạo lại được.
May thay cho chúng ta, Đức Phật đã khai ngộ cho vấn đề đó và Ngài lại hướng cho cách cải thiện. Ngài chỉ cho chúng ta biết được những Chư Phật, Chư Bồ tát với những quyền năng linh ứng cho từng trường hợp sở cầu ước nguyện như Đức A Di Đà Phật – đạo sư tiếp dẫn chúng sinh khi chuyển kiếp tránh được mê lầm để sang cõi cực lạc; Đức Dược Sư Quang Vương Phật trừ hết thảy bệnh khổ cho chúng sinh; Bồ Tát Quan Thế Âm cứu khổ trừ tai; Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khai tâm độ trí; Bồ Tát Phổ Hiền gia hộ về tâm tính; Bồ Tát Đại Thế Chí gia hộ cho sự chí dũng…
Nên những ai đang muốn trị bệnh, ngoài việc khám bệnh kê toa, tầm sưu phương dược:
Nên thành tầm trì niệm Đức Phật Dược Sư. Công năng không thể nghĩ bàn. Chưa gặp thầy sẽ gặp thầy hay, gặp thầy hay thì lại có thuốc tốt, có thuốc tốt lại uống đúng thời… Và biết đâu chả cần đến phương dược: Thân Tâm cường tất bệnh nhược thôi.
Người đời lúc bình thường, mấy khi nói đến Phúc, đến Đức, mải lo tài lộc, danh vọng… chỉ đến khi bí bách, khốn cùng thì mới lo cuống cuồng đủ đường, trăm mối.
Sống đời: “Em ơi có bao nhiêu, mấy mươi năm cuộc đời…” danh lợi như phù du: “Quan nhất thời dân vạn đại” – Tiền tài như bọt nước: “Sống đời tích đất cho ai, đến khi nhắm mắt không ngoài (mấy) mét vuông”.
Vì vậy thường nhật hãy thực hành hạnh Từ bi, hỷ xả và bố thí thật dõng mãnh theo lời Phật dạy, để mà bòn tích Phước Đức. Khi hữu sự thì lo gì!!!
Có Phúc tất có phần.
Đâu có nghe câu “có Lộc có phần” bao giờ. Nhỉ các bạn???
Niệm Phật Dược Sư
Đức Phật Dược Sư là giáo chủ thế giới Tịnh lưu ly ở phương Đông. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, nhờ trong khi tu hành Bồ tát đạo phát 12 đại nguyện giải trừ hết thảy bệnh khổ cho chúng sanh, khiến họ đầy đủ căn lành và hướng về giải thoát nên khi thành Phật, Ngài trụ ở thế giới Tịnh lưu ly, trang nghiêm như thế giới Cực lạc.
Phật Dược Sư, Phạn ngữ Bhaisajyaguru Buddha, Hán dịch là Dược Sư Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, Thập Nhị Nguyện Vương… Cũng như các Đức Phật trong mười phương, Đức Dược Sư có đầy đủ thập hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật-Thế Tôn.
Vấn đề trì niệm hồng danh Đức Dược Sư, mặc dù Ngài có nhiều danh hiệu nhưng trì niệm hồng danh thường là Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật hay Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Theo sách Dược Sư kinh sám (HT.Trí Quang dịch), phần Niệm Phật ghi rõ niệm Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Các hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh và niệm đến nhất tâm. Cũng vậy, khi tu tập pháp môn Dược Sư, hành giả niệm danh hiệu Phật Dược Sư cũng phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh. Có thể niệm thầm, niệm ra tiếng, lần tràng hạt v.v… và niệm cho đến nhất tâm giống như các phương thức niệm Phật A Di Đà.
Về ý nghĩa Thánh hiệu: Dược sư, nghĩa đen là thầy thuốc chữa bệnh. Lưu ly là một loại ngọc màu xanh trong suốt. Quang là ánh sáng. Lưu ly quang là ánh sáng ngọc lưu ly. Dược Sư Lưu Ly Quang Phật là vị Phật có danh hiệu Thầy thuốc chữa bịnh, ánh sáng như ngọc lưu ly (HT.Trí Quang, sđd, tr.203). Đức Dược Sư hiểu biết và thông suốt tất cả y dược của thế gian và xuất thế gian, Ngài có thể chữa trị hết tất cả những thứ bệnh khổ của chúng sanh, những điên đảo vọng tưởng do tham, sân, si phiền não gây ra. Ánh sáng của Phật Dược Sư thật không nghĩ bàn “Trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi”. Ánh sáng ấy chiếu đến đâu đều phá hết tăm tối vô minh của chúng sanh, đem lợi lạc và diệt tất cả những bệnh khổ thân tâm của chúng sanh, khiến cho họ xa lìa mê vọng mà hướng đến giác ngộ, giải thoát.
Về công năng của việc trì niệm danh hiệu Phật Dược Sư, có thể nói là không thể nghĩ bàn. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, đại dụng của danh hiệu Phật Dược Sư, điển hình có năm vấn đề sau:
– Diệt sự tham lam mà phát tâm bố thí: Nhờ trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà mở rộng tấm lòng, không còn tham lam, ích kỷ chỉ lo tích cóp cho riêng mình đồng thời luôn chia sẻ, ca ngợi và thực hành bố thí.
– Diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới: Đối với những tội lỗi, lầm lỡ đã gây tạo, nhờ niệm danh hiệu Ngài mà được chuyển hóa đồng thời phát nguyện sống đạo đức, lương thiện theo Chính pháp.
– Diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát: Do nghiệp lực ganh ghét, đố kỵ người khác nên chịu quả báo hèn hạ, thống khổ. Niệm Phật Dược Sư sẽ khiến cho hành giả phát tâm tu học, diệt trừ khổ não, thành tựu giải thoát.
– Diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau: Những ý niệm oán kết, thù hận dẫn đến hành động tiêu diệt lẫn nhau, nhờ niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà được hóa giải. Không những không còn làm hại nhau mà còn hiểu biết, thương yêu và tôn trọng lẫn nhau.
– Được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác: Đối với những hành giả phát tâm niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Cực lạc thì niệm Phật Dược Sư là một sự trợ duyên rất quan trọng. Chư Phật, các Đại Bồ tát trong pháp hội Dược Sư luôn trợ hóa cùng Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sanh về Cực lạc. Ngoài ra, nhờ công đức tu tập Thánh hiệu Phật Dược Sư mà hành giả được đầy đủ phước báo, sanh về các thế giới an lành.
Ngoài ra, nhờ năng lực bổn nguyện của Phật Dược Sư, những chúng sanh thọ trì danh hiệu Ngài được tiêu trừ tất cả bệnh khổ và thành tựu mọi sở nguyện, sở cầu.
Một bài kinh nghiệm trì niệm phật Dược Sư
TG: Phapvan – vietlyso.com
Buổi sáng sớm khoảng từ 5 giờ đến 7 giờ, người niệm ngồi trước bàn thờ Phật, dâng hương đèn và nước (có thêm hoa quả nếu có điều kiện) xưng thưa họ tên và ý nguyện (chỉ được ý nguyện thiện cho mọi người và cho mình) sau đó hành niệm:
I. Phần một niệm danh hiệu Phật và Bồ tát:
1. NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT (21, LẦN)
2. NAM MÔ NHẬT QUANG BIẾN CHIẾU BỒ TÁT (21 lần)
3. NAM MÔ NGUYỆT QUANG BIẾN CHIẾU BỒ TÁT (21 lần)
4. NAM MÔ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT (21 lần)
5. NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (21 lần)
6. NAM MÔ ĐẮC ĐẠI THẾ BỒ TÁT (21 lần)
7. NAM MÔ VÔ TẬN Ý BỒ TÁT (21 lần)
8. NAM MÔ BẢO ĐÀN HOA BỒ TÁT (21 lần)
9. NAM MÔ DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT (21 lần)
10. NAM MÔ DƯỢC THƯỢNG BỒ TÁT (21 lần)
11. NAM MÔ DI LẠC BỒ TÁT (21 lần)
12. NAM MÔ CỨU THOÁT BỒ TÁT (21 lần).
II. Phần hai chuyên niệm danh hiệu Phật Dược Sư:
NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT (108 lần hoặc nhiều hơn)
III. Phần ba niệm Dược Sư Tâm Chân ngôn:
AUM HU-RU HU-RU CANDHÀRI MA TAINGHI SVAHA (21 lần).
(Âm đọc: um hu-ru hu-ru Chanh-đa-ri Ma-tăng-ghi xoa-ha)
IV. Phần tri ân của người niệm đối với: ông bà, cha mẹ tứ thân phụ mẫu sinh thành; tri ân thổ thần đất đai; tri ân Phật, Trời…và tri ân những gì mà người niệm cần tri ân (người niệm tự diễn giải thầm tri ân..)
Lời dặn: Pháp này tuy đơn giản nhưng cực kỳ hiệu nghiệm. nếu người niệm Chí Thành niệm vào buổi sáng là chính theo túc số tối thiểu trên, thì sẽ có kết quả. Ví dụ: đang khó khăn về việc làm sau 7 ngày sẽ cảm ứng; nếu bị bệnh nhẹ và vừa thì cũng sau 7 ngày có cảm ứng; nếu bệnh nặng tự nhiên gặp thầy gặp thuốc bệnh thuyên giảm nhiều (có người niệm chỉ 3 ngày hiệu quả ngay).
Một ngày Người niệm được hai thời Sáng và Tối, kết quả càng mau. Nếu dùng pháp này làm khóa tu thường xuyên không gián đoạn thì rất tốt, cuộc sống sẽ thư thả về vật chất và tinh thần cho mình và gia đình.
Trước khi chuyên niệm, nên niệm danh hiệu các vị Phật và Bồ tát trên, mỗi vị lạy một lạy để sám nghiệp, sau đó mới hành niệm như trên.
Người thực hành pháp này nên thỉnh một cuốn Kinh Dược Sư và đọc trước ít nhất là một lần để hiểu lời Phật dạy, lấy đó làm căn bản để hành niệm mãi về sau.
————
Kính chúc quí anh chị em cô bác thân tâm thường lạc. Tinh tấn và dũng mãnh.
Nam mô Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu ly Quang Vương Phật.
Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát.
Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát.
**********************
BÀI THUỐC CHỮA CHẤN THƯƠNG DO VA ĐẬP, ĐAU MỎI Ở DA THỊT
Khoảng năm 1989, tôi sưu tầm được bài thuốc này. Sau đó vài ngày, trong một chuyên hành hương lễ Phật, chiếc xe lambeta chở nhóm Phật tử (trong đó có Mẹ tôi) bị lật xuống ruộng. Ơn Phật Trời che chở không ai bị thương nặng đến gãy xương hay chấn thương sọ não, nhưng cũng có mấy cô bác bị chấn thương phầm mềm khá nặng, có bác T phải nằm 1 chỗ, không thể đi lại sinh hoạt được do vết bầm sưng đau và cơ bụng bị dồn. Đi bệnh viện bác sĩ chỉ cho thuốc giảm đau và thuốc kháng sinh chống viêm nhiễm, rồi cho về nhà nằm.
Sau này cũng đã vài lần tôi áp dụng bài thuốc trên, chữa cho một số người quen bị chấn thương do tai nạn giao thông, té ngã đều thu kết quả tốt.
Nay nhân biên tập lại bài dùng Ngải cứu (mugwort) chữa Gai đốt sống, tôi giới thiệu lại bài thuốc này tới cô bác anh chị em sử dụng khi hữu sự.
A – Thành phần:
1- Ngải cứu (Artemisia vulgaris L., commonly known as mugwort, belongs to family Compositae, and is native to Europe, Asia, and northern Africa – loại dùng xông đốt điếu ngải cứu): 1 nắm tay
Chọn lá bánh tẻ (nghĩa là không non quá, không già quá) nhặt hết cành cứng chỉ lấy phần lá mềm. Rửa sạch để ráo.
2- Đỗ đen loại xanh lòng: khoảng 40-50gam.
3- Rượu trắng tốt: 1 chung
4- Một miếng vải mùng sạch: 20 phân vuông
B- Thực hiện:
Lá Ngải cứu (mugwort) dùng tay vò dập (không cần giã nát, vì hơi nóng sẽ làm lá chín trong quá trình thao tác), dàn đều trong giữa lòng tấm vải.
Đỗ đen bỏ vào xong, nồi, chảo… sao cho đến khi bốc hơi khói lên.
Đổ nắm đỗ đó vào giữa miếng lá Ngải cứu , chế một chút ruợu vô. Rồi túm lại, vuốt chườm lên vết thương.
Khi thấy đỗ nguội, mở gói ra, gạt lấy đỗ đó bỏ vào sao lại. Và thao tác như ban đầu.
Làm ba lần như vậy cho một mẻ lá Ngải cứu và đổ đen. Đến lúc đó thì lá Ngải cứu cũng chín nhừ. Nên bỏ đi.
Tùy theo vết thuơng rộng hẹp, một chỗ hay ít chỗ, hay sự dễ chịu của người bệnh ta có thể làm nhiều mồi như vậy. Nói chung là không hạn chế.
C- Chống chỉ định: Các vết thương hở. Viêm nhiễm.
D- Phạm vi: Cho các vết thương phần mềm. Người già đau mỏi trong xương thịt khi trở trời trái gió (Nếu có điều kiện trộn thêm ít là nhàu, lá lốt vào cùng với lá Ngải cứu thì rất tốt).
Chúc quí bà con cô bác mạnh khỏe và thành công.
OM BEKANDZE BEKHANDZE MAHA BEKANDZE RANDZE SAUNGATE SOHA
*********************
Bài thuốc trị bệnh GIỰT KINH PHONG hay là bệnh PHONG ĐÒN GÁNH.
Do đạp “đinh rỉ sét” lâu ngày thành bệnh.
Nguyên liệu:
Cái vỏ lột xác con VE KHÔ, cái này mua ở tiệm thuốc Bắc.
Cách làm:
Nam….7 vỏ xác con ve,
Nữ……..9 vỏ xác con ve.
Lấy que chân nhang đâm xuyên vỏ xác con ve, rồi đem đốt trên lửa nến đèn cầy thành than, tán nhuyễn, pha với nước lọc, khuấy đều, để lóng nước trong, cho người bệnh uống, còn vỏ xác thì đem đắp vào vết thương, ngày làm 2-3 lần, vài ngày bênh sẽ hết.
* Mắt Sốn “đi ngoài đường hay bị” do bụi hay thứ gì đó bay vào mắt…. đừng dụi mắt, có dụi củng không hết sốn.
Cách làm:
Nếu bị mắt bên PHẢI…. lấy lưỡi liếm mép bên TRÁI,
……………TRÁI………………………PHẢI.
Nam……..7 cái,
Nữ……….9 cái.
Rất công hiệu.
*********************
Một vài cách chữa hóc xương:
Mỗi khi người nhà bị hóc xương, bạn lẳng lặng đi ra cửa, thấy vật gì bạn quay 90 độ rồi vào nhà lấy 2 cái đũa đang ăn 1 cái chọc thẳng theo hướng trọng lực vào thóp thở người bị hóc, lấy chiếc đũa còn lại gõ 7 cái vào chiếc đũa thẳng đứng. Sau đó dùng cơm nắm, bằng ngón tay nuốt chủng 3 viên là khỏi.
Hoặc:
Hỏi tên người bị hóc xương, rồi lẳng lặng vào bếp nhóm lửa lên (làm bằng bếp gas cho nhanh) cho lửa cháy thành ngọn lớn, rồi lấy 1 nắm muối nhỏ để sẳn trên lòng bàn tay, và vái:
“Xin ông Táo linh thiêng giúp đỡ cho 1 người tên là… hết bị hóc xương, xin cảm ơn ông Táo linh thiêng” (đây là nguyên văn mà tui thường vái khi nhờ ông Táo giúp về hóc xương) sau đó lấy nắm muối rãi vào ngọn lửa chờ khoảng 10 giây và tắt bếp, rồi kêu người bị hóc xương “về đi chút nữa hết!”.
Mẹo này có thể chữa qua điện thoại.
Chữa mắc xương đơn giản nhất:
Nam mắc xương: dùng tay tả, co ngón giữa vào tiết dưới cùng của ngón cái. Bốn ngón còn lại dựng đứng. Đặt ly hoặc tách vào giữ 4 ngón tay, rót nước vào. Nín thở khi rót nước. Đưa ly nước cho người mắc xương uống.
Nữ mắc xương: làm giống như trên, dùng tay hữu.
– Thuật chữa mắc xương của người Mường (bất kỳ loại xương gì): Múc 1 chén nước lạnh, lấy 1 chiếc đũa gác ngang miệng chén để trước mặt người bị hóc, trên ghế, bàn gì cũng được! trước tiên ta dùng đầu ngón cái tay trái bấm ngay cung “Dần” (ngấn cuối sát lòng bàn tay của ngón trỏ) rồi sau đó bấm qua cung “Ngọ” (đầu ngón giữa) và nín thở đọc câu chú sau đây 3 lần đưa chén nước cho kẻ đó uống sẽ hết.
– úm sông sông chảy, úm chảy chảy ra, úm ở gần thì ra, úm ở xa thì vào cấp cấp như luật lịnh.
*********************
Khi bạn thấy tim mình không đc khỏe mạnh bình thường.
“Tam thất bảo vệ trái tim”, cho nên hàng ngày uống nước Tam thất + nước Sơn Tra.
Căn cứ vào dược lý của hoa Sơn tra và Tam thất
*********************
* Chu sa = (Thần sa): Là một dạng muối thủy ngân (có độc tố, poisonous toxic) trong tự nhiên. Chu sa (có độc tố, poisonous toxic) thường ở thể bột màu đỏ tươi, Thần sa (có độc tố, poisonous toxic) thường ở thể cục thành từng khối hồng đỏ óng ánh. Bóp bằng tay thì tay không bị bắt màu đỏ, hoặc nghiền cục vỡ nát không có tạp chất (hạt cát trắng hay đen là tốt). Tính vị: Vị ngọt, tính hơi hàn.- Quy kinh: Vào kinh Tâm (tim là một thể của tâm).
Chú ý: Là loại thuốc độc thuộc bảng B.
Chế biến không đúng cách dùng không đúng liều lượng sẽ rất nguy hiểm.
Cách bào chế:
– Theo Trung Y: Lấy nguyên Chu sa, dùng đá nam châm hút hết mùn sắt, đổ vào cối xay đá cho vào ít nước mà xay nhỏ biến, cho vào chậu đổ nhiều nước vào quấy lên, sang ngay sang chậu khác; cặn đựng lại thì lại xay và lóng như trên – làm như vậy đến khi không còn tán được nữa thì thôi. Nước lóng được để yên cho bột Chu sa lắng xuống, gạn bỏ hết nước trong, lấy giấy bịt kín miệng chậu, mang phơi nắng cho bốc hơi nước cho đến khô.
– Theo kinh nghiệm Việt Nam: Mài Thần sa hay tán Chu sa trong cối chày bằng sứ có ít nước mưa hay nước cất, để lắng một lúc, thấy có màng nổi lên thì vớt bỏ đi, lại quấy nhẹ lên, đồng thời gạn lấy nước đỏ. Làm như vậy nhiều lần đến khi nước không còn đỏ nữa thì thôi. Cặn còn lại là một thứ sắc đen thì bỏ đi. Nước gạn được thì để yên cho lắng, chắt bỏ nước trong, lấy vải thưa bịt lại, phơi âm Can cho đến khô.
Ghi chú:
Dùng Chu sa hay Thần sa để uống nhất thiết phải thuỷ phi (bỏ vào đồ đun nóng cho chảy ra – NV), bỏ hết chất đen lẫn lộn trong thuốc. Chất đen này không uống được và chỉ dùng ngoài trị ghẻ lở.
Chú ý: Là loại thuốc độc thuộc bảng B.
Chu sa và Thần sa kỵ sức nóng nên phải mài, tán với nước, nếu không thuỷ ngân sẽ bị giải phóng gây độc tố và làm mất tác dụng của thuốc rất nguy hiểm.
Bảo quản: để nơi khô ráo, mát, kín, tránh ánh sáng, sức nóng và không khí.
Chú ý: Là loại thuốc độc thuộc bảng B.
Kiêng ky: không phải thực nhiệt thì không nên dùng.
* Bệnh gì thì bệnh, thuốc gì thì thuốc đều phải thăm khám mới định toa, lượng liều cho phù hợp. Nói bệnh ti cũng dăm bảy đường bệnh như suy tim, to tim, hở van tim, nhồi máu cơ tim…. chưa nói cùng bệnh nhưng cơ địa thể trạng mỗi người một khác, mức độ nặng nhẹ của bệnh khác nữa. Cho nên không chỉ nghe thuốc đó chữa bệnh tim là dùng tuốt luốt, có khi “lợi bất cập hại”.
+ Có nhiều dạng nguyên nhân của bệnh: anh bị bệnh do tâm hỏa, anh bị thận hư, có anh bị suy nhược….. tỉ dụ: đã “tâm hỏa” lại xơi cái món Dương Khởi Thạch vào thì có mà điên, đi Biên Hòa (trong Nam) Trâu Quỳ (ngoài Bắc) sớm.
Bởi vậy bệnh nào thuốc ấy. Muốn vậy phải thăm khám cho rõ bệnh rồi mới dụng thuốc. Trừ những bệnh đơn giản, dễ hiểu dạng ngay từ ban đầu. Còn đâu thì phải thận trọng.
********************
Bị va chạm, chấn thương sưng trặc chân tay mình mẩy: Dùng lá Ngũ Trảo và dấm ăn, giã nhỏ quyện lại đem đắp vào vết thương.
Chữa sưng, bong gân: dùng ngũ trảo và dấm (nước giấm ăn), hòa trộn lại, giã nhỏ, đắp vào vết thương.
Loài Vitex negundo L. (Cây Ngũ Trảo) Loài Vitex negundo L.
Bổ túc:
— Không dùng cho vết thương hở: rất xót đấy!
— Cây Ngũ trảo trong Nam có nhiều. Ngoài Bắc ngày xưa chưa thấy, không biết bây giờ thì sao.
Cây Ngũ Trảo:
Tên khác: Hoàng kinh, Quan âm.
Tên khoa học: Vitex negundo L.
Tên đồng nghĩa: Vitex paniculata Lamk., V. Arborea Desf., V. Spicata Lour.
Họ: Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Tên nước ngoài: Five-leaved, chaste-tree, Indian privet, Gattilier incise.
********************
Một xác minh cho bài thuốc Đậu Đen + Ngải cứu chữa chấn thương:
Đầu tiên là đưa đi bệnh viện chấn thương chỉnh hình chiếu chụp xem đốt sống có sao không.
Chẩn đoán giãn dây chằng.
Cũng chẩn đoán là giãn dây chằng (sút lưng).
Đưa tiếp lên viện y học dân tộc trên đường Nguyễn Văn Trỗi châm cứu mấy ngày. Có đỡ nhưng tiến triển rất chậm.
Sử dụng bài thuốc Đậu đen + Ngải cứu (Artemisia vulgaris Mugwort, Common wormwood) đã giới thiệu ở trên để thoa bóp lung. Có kết hợp thoa bóp rượu thuốc trật đả.
Kết quả: Sau 5 lần làm thuốc. Bệnh đỡ rõ rệt.
Nhắn thêm: Người cao tuổi bị chứng tay chân đau nhức trong xương. (bệnh già) có thể áp dụng bài này rất tốt.
*********************
Hỏi có bài thuốc dân gian nào chữa bệnh ra mồ hôi tay chân không ạ?
Đông y là: đào cái hố, đốt viên gạch nóng, để nắm lá lốt, muối, ngải cứu (Mugwort, Common wormwood) lên trên, rùi lấy nước tiểu dội lên và hơ chân tay lên đó. Nhưng cách này em và vài người nữa đã làm thử nhưng chưa có kết quả!
*********************
I/ BÀI THUỐC CHỮA SÂU QUẢNG:
Bệnh “sâu quảng” dân gian quen gọi là ghẻ HÒM. Vết loét không chịu khép miệng, cứ ngày càng to dần có bờ chung quanh màu đỏ tím vừa ngứa vừa nhức rất khó chịu. Uống và rắc bột kháng sinh cũng không khỏi, vết loét càng ngày càng to ra và sâu xuống.
Cách chữa: Dùng 1 trái chanh to mọng nước chọc nhiều lỗ, mỗi lỗ nhét vào một cục vôi ăn trầu. Sau đó dùng đất sét bọc kín lại đem nướng trên lò than cho quả chanh cháy thành tro. Đem bột tro ấy rắt vào vết thương chỉ vài lần là khỏi ngay.
(Bài này tôi đã hướng dẫn cho nhiều người, tất cả đều khỏi.)
2/ CÁCH CHỮA BỆNH GIỜI LEO:
Có lúc nào đó ngủ một đêm sáng thức dậy chổ môi mép hay một nơi nào đó trên cơ thể nổi lên những mụn nước nhỏ nóng rát khó chịu có thể đó là bệnh “giời leo”. Tôi đã áp dụng cách chữa này rất hiệu quả: Người chữa đốt 3 nén hương nín thở hoạ 2 chữ HÁN: NGŨ HỔ bên trên chỗ bị giời leo mỗi ngày một lần trong 3 ngày chỗ giời leo sẽ khô đi. Cẩn thận hơn có thể bôi rượu ngâm xuyên khung lên chỗ “giời leo”.
Nếu vết giời lớn quá như “giời vắt khăn” chẳng hạn thì nên uống thêm bài thuốc dưới đây để trợ thêm cách chữa trên mà cũng để tránh di chứng đau nhức các đường gân về sau:
Bài thuốc:
Hiện lam phương:
Đại thanh diệp 15g (hoặc Bản lam căn); Bồ công anh 15g; Mã xĩ hiện 60g
Sắc nước uống. Đau nhiều, gia: Diên hồ sách 9g, Xuyên luyện tử 9g. Uống cho đến khi khỏi hẳn.
*********************
Bệnh “ngứa ngoài da”:
Nếu không phải là bệnh quá đặc biệt, lở loét… mà chỉ mẩn ngứa. Có thể dùng thử bài sau:
– Cám gạo (1 nắm tay) bỏ vào chảo rang nóng. Gói vào tấm vải mùng mà chườm ở khu vực da bị ngứa. Làm liền 5-7 ngày xem tác dụng ra sao.
• Cám gạo: phải là loại vỏ lụa của hạt gạo sau khi xây xát, để nguyên chất. Ngày xưa ở quê nuôi heo người ta thường dung loại này nấu cám (cháo heo). Chứ không được dùng loại “cám Con cò” là loại tổng hợp của nhà máy công nghiệp có pha chế bột bắp, cá bột …..
*********************
*********************
Giới thiệu sách
THUỐC GIA TRUYỀN
THUỐC PHẬT TIÊN – ĐƠN THẦN THÁNH DƯỢC
Hòa thượng THÍCH GIÁC NHIÊN
TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT LỊCH-2551
Do tác giả sử dụng thơ lục bát thể hiện nội dung cho người dọc dễ nhớ… nên nội dung có môt số chỗ cô đọng khó hiểu. Một số từ dùng ngôn ngữ địa phương cũng khó hình dung hoặc dễ hiểu lầm. Khiến người đọc dễ dùng sai thuốc, thiếu thuốc…. làm kết quả không như ý, từ đó giảm giá trị của cuốn sách.
Bằng một chút kinh nghiệm vặt và tí kiến thức thô lậu về Đông y, xin phép được đăng lại nội dung cuốn sách ở đây với phần chú thích bằng văn xuôi những chỗ khó hiểu, để mọi người tiện dùng.
KHÔNG NÊN ÍCH KỶ
Ích kỷ làm chi những bí truyền?
Cứu đời gieo tạo kết nhân duyên
Chết truyền hậu thế không ai tiếc
Giấu giếm làm chi lắm kẻ phiền
Lợi lạc cho đời cần phổ biến
Giúp cho tài liệu rất cần chuyên
Những gì cứu giúp cho nhân loại
Là hạnh Chân nhân bậc Thánh Hiền.
——–
XIN NHỜ BẬC CAO MINH TRỢ GIÚP
Ai biết chi hay để giúp đời
Nên cần phổ biến khắp cùng nơi
Đừng vì ích kỷ riêng tự hưởng
Sống có bao lâu cũng một thời
Đem giúp đỡ người là cứu thế
Góp bòn công đức đó người ơi
Xin đem cống hiến vào thi tập
Phật dược tiên đơn để giúp đời.
Chữa trị bệnh có hai cách:
Chữa bệnh hai loại khác nhau
BỆNH NGHIỆP chữa trúng thì mau hết liền
Khỏi cần uống thuốc tốn tiền
Chỉ nhờ đức độ, bậc hiền chân tu
Cầu xin oan nghiệp oán thù
Tiền khiên túc trái mặc dù thứ tha
Thế là bệnh chóng hết qua
BỆNH CĂN ngũ tạng phải là thuốc thang
Tầm thầy đúng thuốc an toàn
Vái cầu khẩn nguyện thở than ích gì
Bệnh lòng uống thuốc tiếp đi
Từ lần sẽ hết có chi ưu phiền
Đôi lời thầy nhắn nhủ khuyên
Tùy theo bệnh chữa trúng liền hết ngay.
2-TRỊ SĨ TẨU MÃ
“Răng rụng như ngựa chạy, chữa chậm là chết ngay”
Sĩ phẫu mã thật là nguy – (phẫu: tẩu)
Ai mà lỡ bị đừng khi nó thường
Ván hòm, cùi bắp đốt đi[1]
Tán nhuyễn, hòa với dầu dừa xức ngay
Là phương diệu dược rất hay
Nếu mà chậm trễ chết ngay tức thì
Mau như ngựa chạy đừng khi
Bà con mách bảo mau đi cứu người.
Chú thích:
– Sỉ: có nghĩa là răng.
– Bệnh này còn có tên là Cam tẩu mã. (Tẩu mã = ngựa chạy), bị dính là răng rụng ào ào như ngựa chạy nên có tên là Sỉ tẩu mã hay Cam tẩu mã.
– Dán hòm: Nghĩa là Ván hòm, là ván thôi, ván bỏ của cái quan tài chôn người chết. Loại ván mà người Nam bộ dùng cắt quân cơ (cầu cơ). Trong nam hơi khó kiếm, chứ ngoài Bắc thứ này về mùa cuối năm bốc mộ sang cát thì đầy nghĩa địa.
– Cùi bắp: Là lõi của bắp ngô.
– Đốt cháy thành than đen (tồn tính) là vừa, chứ đừng cháy quá thành tro trắng là hỏng
– [1]: Tác giả chú thích là dùng 1 trong 2 thứ này: Dán (Ván) hòm hay cùi bắp cũng được.
– Xức: bôi trét vào răng lợi, chỗ bị cam.
***/ Lời bàn: Dùng cùi bắp còn thấy khả dĩ. Còn ván hòm thấy ghê ghê làm sao… .
CỨU CẤP TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BÌNH PHỤC TỨC KHẮC
Chú thích:
– Bệnh đứt gân máu là cách gọi dân gian của bệnh tai biến mạch máu.
– Bồ ngót: Bù ngót, rau ngót (miền Bắc) dùng lá cây tươi.
128-CỨU CẤP TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BÌNH PHỤC TỨC KHẮC
Mạch máu não, đứt đi là nguy hiểm
Không chết liền, cũng tàn tật suốt đời
Vậy bà con, hãy cố gắng kịp thời
Đâu ngồi đó, đừng chuyển thân động đậy.
Đầu ngón tay, châm máu ra mười ngón
Bóp nặn ra, năm mười phút tỉnh liền
Nếu miệng còn méo mó, mắt xéo xiên
Liền tiếp vuốt, hai vành tai ửng đỏ.
Rồi kim chích, nặn máu ra dưới chót
Mười phút sau, miệng mắt trở bình thường
Vài giờ sau, mới đụng đến thân người
Thì mạch máu không vỡ tung nguy hại.
Điều cấm kỵ, không, cạo, xông, thoa bóp
Không chở đi cứu cấp chạy lòng vòng
Mạch máu đầu, càng bễ vỡ ở bên trong
Càng nguy kịch, cho bệnh nhân khó cứu.
Mong bà con, hãy lưu tâm chú ý
Đừng xem thường, bệnh tai biến bất ngờ
Phương pháp nầy, cứu nhiều kẻ hết ngay
Nên mách bảo cứu giúp người làm phước.
Chú thích:
Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may, là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke).
Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.
Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.
Cô Irene Liu kể chuyện: ‘Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai
biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.’
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít.
Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc ‘rút máu’.
Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết, chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lỗ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.
Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.
Cô Liu nói tiếp: ‘Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung.
Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’.
‘Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.
Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường.
Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.
Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.’
Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Đó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân.
Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.
Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.
4-BỆNH UNG THƯ
Ung thư là bệnh nguy nan
“Nấm” Linh chi sắc uống mười thang giảm liền
Chặt lấy, được mủ cây sung
Phếch vào trong vải dán ngoài lớp da
Hoặc dùng thuốc dán (con rắn) nước ta
Dán vào rút độc đem ra bệnh lành
Có nhiều bệnh hết mau nhanh
Niềm tin trọn vẹn an lành bệnh nhân.
Chú thích:
Ung thư ở đây không phải là bệnh K (cancer) ngày nay mà là bệnh ung nhọt (nhọt độc).
Vì nhựa cây sung có tác dụng chữa ung nhọt độc rất tốt. Thứ nữa là thuốc: dán (con rắn) có lẽ đây là loại cao dán trị mụn, được phổ biến ở miền nam trước đây.
Thuốc cao trị mụn nhọt có rất nhiều bài. Bài con rết (rít) nấu với dầu mè làm cao dán cũng rất hay.
Thời nay có lẽ điều kiện vệ sinh cá nhân tốt hơn xưa, nên bệnh mụn nhọt có vẻ giảm nhiều. Chứ bệnh này rất quái ác. Thứ nhất là hay mắc ở con nít, sức chịu đựng kém hay la khóc thấy rất tội. Thứ hai ở người lớn nó mà mọc toàn ở chỗ hiểm như sau lưng (còn đỡ) chứ nó mọc dưới mông đít khiến đi, đứng, ngồi, nằm đều rất khốn khổ.
98-TRỊ BỆNH MẤT NGỦ RẤT HAY
Trùm bao cũng gọi nhãn lồng
Cả dây lẫn lá đem phơi tán nghiền
Đông nen lấy lá đọt non
Phơi khô tán nhuyễn hòa cùng tâm liên
Hoài sơn cùng lá dâu tằm
Mạch môn, kỷ chỉ tán thành bột khô
Mật ong thắng tới hòa vô
Hoàn viên cẩn chí mỗi ngày hai viên
Ngủ ngon chắc chắn khỏe liền
An thần tựa thể thuốc tiên rõ ràng
Bằng không sắc uống dễ dàng
Mỗi thứ một nhùm một thang tô đầy
Ba chén còn lại tám phân
Uống trước khi ngủ chắc chắn an tâm.
Chú thích:
– Chùm bao (nhãn lồng, lạc tiên) là loại cây thuốc Nam, dạng cây leo mọc hoang bờ bụi. Có tác dụng an thần rất tốt. Mùa mưa này cây lên lá non, ở SG thấy có vài chỗ bà con bứt về bán ăn thay rau, đâu như 10 ngàn/kg. Ăn hơi nhám lưỡi, vị đắng nhẹ.
– Đông nen: Đây là tên địa phương hoặc ghi chữ theo âm thì phải. Vị thuốc này là lá cây Vông nem. Vông nem ở khu vực Đông Nam Bộ trồng rất nhiều, bà con trồng tiêu thường trồng VN làm nọc. Miền Bắc cũng có, hình như là ít hơn. Lá vông này bọc gói nem sống (kiểu như lá sung, lá ổi, lác chùm ruột) ăn rất ngon nên có tên là Vông nem.
– Tâm liên: Là vị tâm (tim) sen.
– Lá dâu ai cũng biết rồi.
– Hoài Sơn (Củ mài), Mạch môn, Kỷ tử: Là những vị thuốc bắc, phải ra tiệm mua. (Riêng Hoài sơn ai ở gần rừng núi có thể vào tự đào cho tiết kiệm)
*** Bài thuốc bày cách làm hoàn tán với mật ong, để uống cho tiện và cũng chỉ cách sắc thuốc nếu không làm được hoàn.
***********
http://www.webtretho.com/forum/showthread.php?t=285081
BÀI THUỐC TRỊ THỐI TAI CHO TRẺ EM
Cách đây khoảng 6 năm, con trai của anh bạn tôi lúc đó mới được hơn 1 tuổi (sinh 2002), bị mắc bệnh thối tai chảy mủ rất nặng.
Cha mẹ cháu chạy chữa nhiều nơi: Bệnh viện Nhi đồng, Bệnh viện tai mũi họng, và vài bệnh viện khác ở tp HCM, rồi cả phòng mạch riêng nữa. Bác sĩ Tây y khám rất kỹ nói bị viêm tai chảy mủ, cho dùng kháng sinh uống và nhỏ. Khi dùng thuốc thì tai khô – thấy đỡ. Khi hết liều điều trị thì tai lại tiếp tục xì ra.
Tái đi tái lại nhiều lần, cháu bé phải uống kháng sinh nhiều ngày, sinh ra cái bệnh tiêu hóa. Nào ăn kho tiêu, đi cầu… . lâu ngày dẫn đến biếng ăn, còi cọc không lớn nổi.
Ngoài chuyện sức khỏe của cháu còn chuyện tiêu tốn thời gian và tiền bạc, khiến gia đình anh bạn rất rầu lòng. Bạn bè thấy thương mà không biết phương cách giúp.
Một ngày kia, trong khi đi chợ mua đậu hũ. Lúc chờ đợi và nói chuyện qua lại, anh ta than phiề về bệnh của đứa con. Bà hàng đậu hũ thấy tội, bèn gọi riêng ra chỉ cho bài thuốc sau với một câu khẳng định chắc nịch: cả 3 đứa con bà ta ngày trước, lúc nhỏ đều bị thối tai và đều được trị bằng bài này và không thấy tái phát.
Anh bạn mừng quá, về đi kiếm thuốc làm ngay.
Thật không ngờ chỉ sau lần phục thuốc đầu tiên, mủ trong tai của cháu bé đã thấy bớt. Sau 2-3 lần tai khô, bớt hôi. Và hình như không quá 5 lần. Tai khỏi hẳn.
Sau khi khỏi tai, ăn ngủ được ngon lành. Thằng bé phục hồi béo tốt lên hẳn. Bữa nay cháu học lớp 1, to khỏe và nghịch như… cướp.
Bài thuốc như sau:
Lấy lông của con chim bìm bip. Dùng rượu rửa sạch, phơi khô. Sau đó đem đốt cháy thành than (tồn tính – nghĩa là thành than đen, chưa chuyển sang than trắng).
Nghiền mịn than đó.
Sử dụng: Thổi vào tai cháu bé. Có thế dùng ống hút (để uống nước ngọt) chấm 1 đầu vào thuốc, kê vào lỗ tai. Người lớn ngậm miệng vào đầu kia thổi nhẹ cho thuốc bắn vào (nhớ là thồi nhẹ, vừa đủ cho thuốc bắn vào, chớ thổi mạnh làm ù tai các cháu)
Làm vài lần theo dõi kết quả.
* Chú thích:
– Bìm bịp: Là một loại chim, sống ở vùng đồng ruộng. Vùng đồng bằng sông Cửu long có rất nhiều.
– Lông: Là lông phủ ngoài da con chim. Lông nào cũng được. Lông ống dễ đốt hơn lông tơ.
* Chim Bìm bịp:
Chim bìm bịp có hai loài. Loài kích thước lớn có tên khoa học là Centropus sinensis Stephen. Loài nhỏ là C. benghalensis Gmelin. Hai loài đều có thân mình dài, mỏ to nhọn, mắt đỏ, đuôi dài hơn cánh. Toàn cơ thể có lông màu đen, riêng cánh màu nâu đỏ.
********************
Xin giới thiệu bài dạy của Đại lão Hòa Thượng Tuyên Hóa:
Về việc trị bệnh cúm,
Hòa Thượng Tuyên Hóa:
Vì dịch bệnh cúm vẫn chưa giảm, mọi người tốt nhất là không nên uống nước lạnh hay ăn các thức ăn sống như là món xà lách (salads fast food menu).
Hãy nấu sữa (đậu nành) nóng trước khi uống, ăn nhiều cháo hơn và uống nhiều nước đa đuợc đun sôi. Bằng cách đó, quý vị có thể vô hiệu hóa các độc tố đa xâm nhập vào trong trong cơ thể mình.
Viên thuốc “Yin qiao jie du pian” (Ngân Kiều Giải Độc Phiến*) là một loại thuốc dược thảo chống cảm cúm của Trung Hoa rất hiệu nghiệm. Theo hướng dẫn sử dụng quý vị uống 4 viên mỗi lần nhưng khi bệnh nặng thì có thể uống 8 viên. Quý vị có thể uống nhiều nhất là 12 viên mỗi lần thì bệnh cúm sẽ khỏi.
(Dịch từ sách “Timely Teachings”)
Ghi chú: “Yin qiao jie du pian” (Ngân Kiều Giải Độc Phiến): Ngân và Kiều là 2 cây thuốc dùng để giải độc
http://www.itmonline.org/arts/yinqiao.htm.
NGÂN KIỀU TÁN.
(sưu tầm từ chuadau.com)
Thành phần:
Ngân hoa: 1 lạng; Liên kiều: 1 lạng; Đậu xị: 5 đc; Ngưu bàng tử: 6 đc; Kinh giới: 4 đc; Bạc hà: 6 đc; Cát cánh: 6 đc; Sinh cam thảo: 5 đc; Trúc diệp: 4đc
Ct: (1 lạng (lượng) là: 36, 5 gam ~ 40gam; đc: là đồng cân (chỉ). 5dc= nửa lạng.)
– Cách dùng: Tễ lượng kể trên gốc là dùng tán tễ uống mỗi lần 6 đồng cân, gia vào 2 nhánh Lô căn tươi, sắc lên thấy bốc mùi thơm thì mới lấy uống, không đun quá vì nó nhẹ bay hết mất hơi. Bệnh nặng ngày uống 3 lần, đêm 1 lần uống. Bệnh nhẹ ngày 2 lần uống, đêm 1 lần uống. Hiện nay, thường dùng làm thang tễ, sắc nước mà uống, ngày uống 2-3 tễ, chia làm 2-4 lần uống.
– Công dụng: Tân lương, thấu biểu, thanh nhiệt giải độc.
– Chủ trị: Ngoại cảm bệnh mới dấy lên, xuất hiện các chứng phát sốt, sợ lạnh, không có mồ hôi, đau đầu, ho hắng, họng đau, rêu lưỡi mỏng trắng, hoặc ven đầu lưỡi hơi hồng, mạch phù sác. Hiện nay trên lâm sàng đối với chứng phát sốt do ngoại cảm sinh ra, thường trước hết lấy phương này tiến hành gia giảm mà sử dụng, trong đó cảm nhiễm đường hô hấp trên dùng rất tốt.
– Giải nghĩa của phương: Phương này thường dùng trên lâm sàng là phương tễ đại biểu của tân ôn giải biểu. Trong phương lấy Đậu kỹ, Ngưu bàng tử, Kinh giới, Bạc hà để giải biểu phát hãn đuổi tà ra ngoài; Ngưu bàng tử, Cát cánh, Sinh cam thảo tuyên thông phế khí mà lợi hầu họng, lấy để trị chứng ho hắng, đau họng. Ngân hoa, Liên kiều, Trúc diệp thanh nhiệt tuyên phế mà giải nhiệt độc, Lô căn sinh tân chỉ khát mà trừ vị nhiệt, do đặc điểm của phương này là tân lương thấu phát đối với ngoại cảm nhiệt bệnh mới dấy lên từ phế vệ đều có thể dùng thích hợp.
– Cách gia giảm thường dùng: Biểu chứng rõ ràng không có mồ hôi, sợ lạnh mà nóng dữ dội có thể gia vào Khương hoạt, Tây hà liễu để tăng tác dụng thấu biểu đạt tà. Ra mồ hôi mà sốt không giải có thể bỏ Kinh giới, Bạc hà, thêm Hoàng cầm, Thanh cao. Phế khí không tuyên mà ho hắng dữ dội gia Tiền hồ, Hạnh nhân, Tượng bối để thanh tuyên phế khí. Sởi mới bước đầu có thể gia Phù bình, Thuyền y để thấu chẩn đạt tà. Hầu họng sưng đau nghiêm trọng gia Xạ can, Mã bột, Quải kim đăng, Bản lam căn để giải độc lợi họng. Thấp vướng ở trung tiêu mà thấy ngực buồn bằn hay buồn nôn mửa, có thể bớt đi Lô căn, Cam thảo gia Hậu phác, Hoắc hương, Chỉ sác để hóa thấp thư trung. Nếu phế vị nhiệt thịnh mà thấy chảy máu mũi, khạc ra máu thì thường gia Mao căn, Hoàng cầm, Sơn chi để lương huyết thanh nhiệt. Nhiệt bức tân dịch mà thấy miệng khát họng khô táo có thể gia Thiên hoa phấn để sinh tân chỉ khát. Ăn trệ vướng ở trong mà thấy bụng trướng, miệng hôi, ỉa chảy hoặc táo bón có thể thêm vào Chỉ thực, Lục khúc
*** Thuốc này ra tiệm thuốc bắc đều có cả. Bài thuốc chính (chưa gia giảm) có rất nhiều vị thuốc trồng được ở VN. Xài được.
***********************
Bài thuốc chữa hóc xương của cụ bà 80 tuổi
Xưa nay, “hóc xương gà, sa cành khế” vẫn được xem là hai loại tai nạn nguy hiểm và khó chữa trị nhất. Ấy vậy mà, đã hơn 70 năm nay, cụ Trần Thị Lệ (Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) chỉ với một “bài thuốc” bí truyền đã chữa được cho rất nhiều người.
Bài thuốc “đặc biệt” này chỉ đơn giản là cho bệnh nhân uống 3 ngụm nước, ngậm 3 hạt muối rồi xoay chiếc đèn dầu đã cũ kỹ 3 lần là bất kể người hay vật bị mắc xương gà, xương trâu, xương cá hay kim chỉ, râu tôm, giây cao su… đều qua khỏi một cách nhẹ nhàng.
Được truyền nghề từ 6 tuổi
Hôm chúng tôi tìm đến nhà thì cụ Trần Thị Lệ đang đi vắng. Hỏi mãi, cậu cháu nội học lớp 7 mới chịu “tiết lộ” là bà đang đi chia lộc. Tưởng nhà vừa có giỗ nên bà cụ đi phát lộc cho mọi người, hóa ra là có một bệnh nhân ở Phố Huế (Hà Nội) bị mắc xương gà tìm đến cụ và được cụ chữa cho khỏi, nhưng vì cụ không bao giờ lấy tiền của ai nên anh ta mang quà đến cảm ơn. Và đã thành thói quen, cứ mỗi lần có ai đó biếu quà cụ lại cất công đi khắp khu phố để phân phát cho mọi người.
Cụ Lệ cho biết bài thuốc bí truyền này ông Cương học được từ những người dân tộc thiểu số, cụ chữa bệnh không lấy tiền của
Phải chờ gần một tiếng đồng hồ mới thấy cụ thong dong trở về. Không biết ai đó đã báo trước cho cụ biết chúng tôi là phóng viên đến tìm hiểu thông tin viết bài mà cụ lên tiếng trước: “Tiếc quá! các anh đến thì tôi lại phát hết lộc mất rồi. Nãy giờ đi các nhà để phát lộc thì nhà nào cũng đi vắng, tôi phải cất công lên tận đồn công an của phường, biếu cho các anh công an ở đó”.
Cụ Lệ kể, cụ sinh ra ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) nhưng từ nhỏ đã được mẹ đưa về nhà ông ngoại ở Hương Khê (Hà Tĩnh) để sống. Cạnh nhà ông ngoại cụ có một ông tên Nguyễn Văn Cương, nhà có 5 người con cả trai cả gái. Ông Cương lúc đó đã nổi tiếng khắp vùng về tài chữa hóc xương (tất cả các loại xương) bằng một bài thuốc mẹo. Do đó, nhà ông lúc nào cũng tấp nập khách vào ra.
Một lần, ông Cương sang nhà cụ chơi rồi đặt vấn đề với mẹ cụ xin phép được truyền nghề cho cụ Lệ. “Hồi đó tôi mới lên 6 tuổi, nhỏ dại lắm chả biết gì. Ông Cương sang bảo với mẹ tôi: “Mợ ơi! con giờ chỉ sống được 2 năm nữa là con chết, mợ cho con truyền nghề cho con Lệ vì không ai có thể có đủ điều kiện để truyền nghề được như con Lệ”. Mẹ tôi bảo, “trông thầy da dẻ hồng hào, khỏe mạnh thế kia thì chết sao được mà chết. Thầy đừng nói ghở thế! Sao thầy có 5 đứa con mà thầy lại không truyền cho ai cả?”.
Ông ấy trả lời, “làm cái nghề này phải có đủ: Tâm – đức – tài. Thiếu một trong những yếu tố đó thì không thể làm được. Nhà con tuy có những 5 đứa con nhưng đứa được cái này thì lại mất cái kia… ”. Mẹ tôi lại bảo. Tôi chỉ được mỗi mình cái Lệ là gái, nhỡ thầy truyền nghề cho nó rồi nó không biết làm gây nên chuyện thất đức thì sao? “Ông ấy nằng nặc đảm bảo rằng, ông ấy truyền nghề này cho tôi là để cho tôi tích nhân tích đức cho con cháu về sau… ” – cụ Lệ thật lòng tâm sự.
Thầy Cương phải thuyết phục mãi, cuối cùng mẹ cụ Lệ mới chịu cho cụ sang học nghề. Bài học chỉ đơn giản với mấy thao tác nhỏ nhưng phải mất 2 năm, cụ Lệ mới tự chữa bệnh được. Cụ vừa biết chữa bệnh cũng là lúc thầy Cương trút hơi thở cuối cùng, ngày giờ ông ra đi chính xác đến từng phút giây như lúc sinh thời ông tiên đoán.
“Đây là làm việc nghĩa cứu người, do đó mà một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ nhận tiền của ai. Cũng vì thế mà chúng tôi có được một ân huệ thật đặc biệt là có thể biết được thời điểm nào chúng tôi sẽ qua đời để chọn thời điểm mà truyền nghề cho phù hợp. Như tôi, sau này khi nào biết chỉ còn sống trên trần gian này được 2 năm nữa thì tôi mới tìm truyền nhân để truyền nghề” – cụ Lệ giải thích vì sao mình đã ngoài 80 tuổi rồi mà vẫn chưa chịu truyền nghề cho ai đó?
Khỏi hóc xương sau 12 giờ:
Cụ Lệ bật mí, bài thuốc bí truyền chữa hóc xương gà này thực chất là một bài thuốc mẹo rất đặc biệt mà thầy cụ là ông Cương học được từ những người dân tộc thiểu số sau một lần bị hóc xương gà đến thập tử nhất sinh. Kể cho chúng tôi nghe các bước chữa bệnh, cụ Lệ không quên nhắc đi nhắc lại một điều cực kỳ tối kỵ đó là người bệnh khi đã ngồi vào ghế để chữa là không được nói chuyện với cụ hoặc không được hỏi han những người xung quanh.
Người ở gần khi đến nhà cụ chữa bệnh, khi gặp cụ chỉ cần gật đầu chào là cụ biết. Còn nếu ở xa, khi cụ đến, người bệnh chỉ cần lấy chiếc áo mà mình hay mặc nhất rồi lòn một ngón tay vào trong giơ lên là cụ biết người đó bị mắc xương gì.
Cụ giơ ngón tay trỏ lên chỉ thẳng trước mặt bệnh nhân rồi lẩm bẩm điều gì đó:
Một điều đặc biệt khác, cho dù bệnh nhân bị hóc bất kỳ loại xương gì, cụ đều có thể chữa được nếu người đó mới bị hóc xương trong vòng 6 ngày trở lại. Qua đến ngày thứ 7 là cụ cũng phải “bó tay”. Khi chữa, nếu tuân thủ đúng những gì cụ dặn, thì nặng như hóc xương gà chỉ trong vòng 12giờ đồng hồ là bệnh sẽ tự khỏi một cách nhẹ nhàng, không đau đớn và nhẹ như xương cá, râu tôm là chỉ cần 6 giờ sau là khỏi hẳn.
Đang trò chuyện thì có bệnh nhân Nguyễn Văn Hoàng (12 tuổi) nhà ở phố Lương Văn Can (Hà Nội), tìm đến nhờ cụ chữa. Bệnh nhân bị hóc xương cách đây 3 ngày, đã đi một số nơi khám, uống thuốc nhưng chưa khỏi. Được một người bà con xa mách cho đến đây tìm cụ nên vội vàng đến ngay. Nghe thấy thế, cụ Lệ cáo lỗi, bỏ dở câu chuyện với chúng tôi để bắt tay ngay vào công việc quen thuộc mà gần 80 năm nay cụ vẫn làm để giúp người.
Theo quan sát, khi bệnh nhân vừa yên vị xuống ghế, cụ đi một vòng quanh người bệnh nhân rồi sau đó nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện với bệnh nhân. Cụ giơ ngón tay trỏ lên chỉ thẳng vào mặt bệnh nhân rồi lẩm bẩm điều gì đó trong miệng.
Sau đó, cụ đưa cho bệnh nhân cốc nước lọc đã chuẩn bị sẵn bảo bệnh nhân uống đúng 3 ngụm. Bệnh nhân vừa dứt ngụm nước thứ 3 thì cụ đưa tay xoay chiếc đèn dầu Hoa Kỳ làm bằng sứ không dầu, đã cũ kỹ 3 vòng rồi đưa cho bệnh nhân một hạt muối bảo bệnh nhân bỏ vào miệng ngậm.
Sau đó, cụ đưa thêm cho bệnh nhân 2 hạt muối và dặn: “3 tiếng đồng hồ sau cậu tự tay bỏ một hạt muối này vào miệng và ngậm. 3 tiếng sau lại ngậm tiếp 1 hạt muối như thế… sau hạt thứ 3 một thời gian ngắn chắc chắn chiếc xương mà cậu đang hóc kia sẽ “xuống””. Đến 22g đêm hôm đó, bệnh nhân Hoàng đã đẩy được chiếc xương gà ra khỏi họng.
Cụ tâm sự, đến bây giờ cụ vẫn còn nhớ rất rõ cảm giác của một đứa bé lên 6 tuổi, lần đầu tiên chữa thành công cho một ca bệnh bị mắc xương trâu. Hôm đó, có một gia đình ở huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) khiêng lên một bà cụ ngoài 70 tuổi, bị hóc xương trâu đã 6 ngày liền tưởng chừng như đang “thập tử nhất sinh”. Khiêng vào đến nơi, thầy cụ không ra tay mà để cho cụ tự chữa.
Cụ cũng chỉ làm theo các bước thầy hướng dẫn không ngờ một ngày sau thì bệnh nhân đó khỏi bệnh. Khỏi phải nói, gia đình bệnh nhân mừng hơn bao giờ hết. Cả nhà họ mang đến hai con cá thu rất to và 10 kg gạo tám thơm để tạ ơn. Thầy cụ, sẻ đôi số quà ra, biếu lại gia đình bệnh nhân một nửa. Nửa còn lại thầy chia đôi, cho cụ một nửa mang về.
Đã hơn 70 năm qua, cụ Lệ không còn nhớ là mình đã chữa cho bao nhiêu người qua khỏi tai nạn hóc xương. Và cụ cũng lấy làm mãn nguyện vì dù chưa bao giờ nhận của ai bất cứ một đồng tiền nào nhưng cuộc sống của cụ lúc nào cũng sung túc, con cái trưởng thành. Đó là cái đức lớn lao nhất mà cụ có được sau ngần ấy năm làm việc nghĩa.
(Gia đình & Xã hội)
***********************
“Đây là làm việc nghĩa cứu người, do đó mà một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ nhận tiền của ai. Cũng vì thế mà chúng tôi có được một ân huệ thật đặc biệt là có thể biết được thời điểm nào chúng tôi sẽ qua đời để chọn thời điểm mà truyền nghề cho phù hợp. Như tôi, sau này khi nào biết chỉ còn sống trên trần gian này được 2 năm nữa thì tôi mới tìm truyền nhân để truyền nghề” – cụ Lệ giải thích vì sao mình đã ngoài 80 tuổi rồi mà vẫn chưa chịu truyền nghề cho ai đó?
Nên để cuộc đời tùy duyên thôi. Mà thật ra, là ai thì đều có nhiệm vụ được… phân công cả rồi. Mình mà vô duyên và không nhiệm vụ thì bị: “vào cầm” là cái chắc.
***********************
Trị đau nhức răng theo PP Ấn Độ
Khi bị đau răng cấp tính, hãy lấy một vài hạt tiêu sọ (tiêu tróc vỏ đen) đem nghiền vụn ra như bột tiêu để ăn.
Dùng một cây tăm tre (nguyên bản là một que gỗ mỏng) đập dập đầu. Chấm vào bột tiêu đó. Đọc câu thần chú: “Tiba Tiba Dakhonga” (5 lần) rồi hà hơi nhẹ vào đầu tăm. Chắm chỗ bột tiêu vào chỗ răng sâu đau.
Đàm bảo sẽ giảm nhức buốt trong vài phút sau đó.
Có thề làm nhiều lần trong ngày. Một lần có thể chấm vài đầu tăm,
Mỗi lần chấm thuốc thì đều phải đọc thần chú và thồi.
Lưu ý:
Cách này để trị đau răng cấp tính do sâu, tụt lợi…. muốn trị tận gốc thì sau khi đỡ cơn đau phải đi trám hay vệ sinh răng miệng.
***********************
Thuốc Nam trị ngứa:
Ngứa là một chứng phổ biến, hay gặp nhiều trong mùa nắng nóng. Dân ta thường xếp nó vào một trong hai cực hình khó chịu bậc nhất: ‘đau đẻ, ngứa ghẻ’, nó bắt phải ‘sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn’, … Trên thực tế, ngứa không chỉ do ghẻ và các ký sinh trùng gây bệnh ngoài da, mà còn do nhiều bệnh khác dẫn tới như: ung thư, đái tháo đường, bệnh gan mật, bệnh thận, rối loạn chức năng thần kinh, dị ứng. . Nếu để kéo dài, chứng ngứa sẽ gây cho người bệnh trạng thái căng thẳng, cáu gắt bực bội triền miên, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến tâm thần, làm giảm sút năng suất, chất lượng công tác, học tập.
Để giải quyết chữa trị một số chứng ngứa thông thường, chúng tôi xin giới thiệu một bài thuốc Nam độc đáo mới sưu tầm được trong dân gian, bước đầu ứng dụng đã thu được nhiều kết quả khả quan.
Bài thuốc gồm 7 vị, có thể tìm thấy dễ dàng ở mọi miền trên đất nước ta. Đó là: Rau má, Chó đẻ, Cỏ sữa nhỏ lá, Đậu săng (mỗi thứ một nắm, khoảng 60g tươi hoặc 30g khô), Khoai lang (một củ), Đường bát (đường đen xứ Quảng) 1/4 tán (~ 100gam). Tất cả rửa sạch cho vào om, đổ 2 lít nước, sắc còn 1 lít, chia uống 3 lần trong ngày. Không để qua ngày vì dễ thiu.
Rau má, cỏ sữa, Khoai lang
Đậu săng, chó đẻ, cục đường
Đừng chê vị thuốc tầm thường
Bách phương chữa ngứa chẳng nhường cho ai.
Theo chúng tôi, bài thuốc dân gian này độc đáo ở chỗ nó hoàn toàn tuân thủ về lý – pháp – phương – dược của Đông y học cổ truyền. Theo Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn, tác phẩm kinh điển của Đông y thì các chứng ngứa đều do huyết hư không nuôi dưỡng được da thịt mà gây ra (chư dưỡng vi hư huyết bất vinh cơ tấu sở dĩ dưỡng dã). Lại nói các chứng đau ngứa lở đều thuộc vào Tâm (chư thống sang dưỡng giai thuộc vu tâm). Nên nhớ tạng Tâm của Đông y không chỉ riêng trái tim mà còn bao quát cả hệ tuần hoàn và thần kinh tri giác (Tâm chủ thần minh, Tâm chủ huyết mạch). Theo học thuyết ngũ hành, Tâm thuộc hành hoả, liên quan với mùa Hạ. Điều này giải thích vì sao mùa Hạ chứng ngứa phát sinh nhiều nhất và thường gặp phải ở những người có cơ địa huyết nhiệt (biểu hiện lâm sàng: nóng lòng bàn tay, bàn chân, vùng ngực; phát sốt nhẹ vào lúc xế trưa; môi đỏ, miệng khô, chất lưỡi đỏ nhợt, hay khát nước, tiện táo bón, tiểu tiện vàng, mạch nhanh, hay cáu gắt, mất ngủ… ). Cũng theo học thuyết Ngũ hành, Can Mộc sinh tâm hoả, căn cứ nguyên tắc “con hư thì bổ mẹ”, muốn trị bệnh ở tạng Tâm, phải tăng cường chức năng tàng huyết và sơ tiết của tạng Can (sinh lý học hiện đại gọi là chức năng dự trữ máu và chức năng khử độc hay chức năng bảo vệ của gan). Nói tóm lại, muốn chữa chứng ngứa phải nhằm vào hai tạng Tâm và Can, và dùng phép chữa dưỡng huyết, thanh nhiệt, tiêu độc, khu phong trừ thấp. Khảo sát các vị thuốc trong bài thuốc này ta thấy chúng hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu về phương pháp chữa đã nêu trên.
Rau Má: Tên chữ Hán là Liên tiền thảo, tên khoa học Centella asiatica Urb. Vị hơi đắng nhạt, thơm, tính mát. Tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu, tiêu viêm, sát trùng, cầm máu, chữa rôm sẩy, mẩn ngứa…
Chó đẻ: Còn gọi là Chó đẻ răng cưa, Diệp hạ châu, Diệp hoè thái. Tên khoa học Phyllanthus Urinaria L. Vị đắng, tính mát. Tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết.
Cỏ sữa nhỏ lá: Hồng liên thảo, Địa cầm thảo. Euphorbia thymifolia Burm = Euphorbia humifusa Will. Vị đắng, tính mát. Tác dụng thông huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu độc, sát trùng, thông sữa, lợi tiểu.
Đậu săng: Còn gọi Đậu cọc rào, Đậu chiều, Đậu chè, Mộc đậu. Cajanus flavus D. C. = Cajanus indicus speng. Lá cành Đậu săng có vị nhạt, tính mát. Tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, tiêu thũng, giảm đau.
Khoai lang: Cam thự, Ipomoea batatas Lamk. Vị ngọt, tính bình. Tác dụng nhuận trường, bổ tỳ vị.
Đường đen: hay Đường đỏ, tức Đường mía (thành phần chủ yếu: sacaroza), chế thủ công thành từng tán hay tảng ngoài bắc gọi đường phên, miền trung thường gọi đường bát Quảng Nam. Vị ngọt, tính ấm. Tác dụng hoà trung, trợ tỳ vị, hoạt huyết, tán ứ, nhuận tâm phế khi táo nhiệt.
Như vậy, trong bài thuốc: Đường đen, Khoai lang là các vị thuốc bổ huyết, bổ tỳ vị (tỳ sinh huyết). Riêng Khoai lang còn có tác dụng nhuận trường. Còn các vị Rau má, Chó đẻ, Cỏ sữa, Đậu săng là thuốc thanh nhiệt tiêu độc.
Từ phân tích lý – pháp – phương – dược như trên, chúng tôi đã mạnh dạn ứng dụng điều trị bằng (cách kê đơn và hướng dẫn người bệnh tự tìm thuốc trong nguồn thuốc Nam hoang dã, hầu như không tốn kém. Theo dõi kết quả, chúng tôi nhận thấy bài thuốc rất thích ứng các chứng ngứa ngoài da mà mắt thường không thấy gì đặc biệt (trừ những tổn thương do gãi). Thường chỉ dùng từ 1 đến 3 thang là có kết quả. Sau đó có thể dùng thêm vài ba ngày nữa (liều lượng giảm 1/2) để phòng tái phát. Đối với các bệnh ngoài da như ghẻ, nấm (có tổn thương da mà mắt nhìn thấy được như nốt ngứa, luống ghẻ… ) mà cơ địa người bệnh nóng nhiệt có thể dùng bài này uống trong kèm với thuốc bôi ngoài đặc trị theo từng loại bệnh thì kết quả càng nhanh. Đối với các bệnh khác dẫn đến chứng ngứa cần điều trị bệnh gốc đồng thời có thể kết hợp bài này để giảm ngứa. Nhưng lưu ý, người bệnh có triệu chứng hàn (như sợ lạnh, ăn kém, ỉa chẩy lỏng kéo dài… ) thì không được dùng bài này.
(tạp chí Sống Vui Khỏe)
***********************
Xông khói thuốc lá để cứu người chết đuối[
Một phương pháp được các bác sĩ trong Hải quân Anh vào khoảng thế kỉ 19 dùng để cứu những nạn nhân bị ngạt nước do rơi xuống biển dường như rất phản khoa học nhưng lại có hiệu quả thực tế ngoài mong đợi, đó là khói thuốc lá.
Cách cứu chữa này được ghi lại trên một tờ báo từ những năm 1801, là 1 trong số 1000 cách chữa bệnh trong Hải quân Anh mới được công bố vào ngày 30/9 tại trung tâm lưu trữ Anh.
Theo tài liệu, một trong số những người đã được khói thuốc cứu sống là thủy thủ James Calloway, 40 tuổi, bị ngã xuống biển và chìm trong nước lạnh ít nhất 12 phút. Khi được vớt lên, bác sĩ Ben Lara làm việc trên thủy đoàn đã miêu tả anh như thể một cái xác ướp nhợt nhạt.
Anh James được xông khói thuốc vào trong phổi và sau 45 phút, tim đập nhanh trở lại một cách khó lý giải.
Khi nạn nhân đã hồi tỉnh, phương pháp xông thuốc cũng chấm dứt.
Chuyên gia Daniel Gilfoyle thuộc trung tâm lưu trữ Anh cho biết phương pháp này nghe có vẻ tiêu cực nhưng người ta tin rằng khói thuốc là một yếu tố kích thích và có thể giúp cho tim đập trở lại.
Theo ông Stephen Spiro – phó giám đốc Hiệp hội các bệnh về phổi (Anh), ngoài những tác động tiêu cực như ảnh hưởng tim mạch, gây ra ung thư phổi thì dùng khói thuốc cứu người chết đuối là một ngoại lệ tích cực hi hữu.
Điều này được lí giải bởi bất cứ một chất hóa học nào có độc tính khi xâm nhập vào trong khí quản cũng làm cho nạn nhân thở gấp, trong trường hợp người chết đuối thì sẽ là hồi phục lại nhịp thở.
Ông cho rằng đến một lúc nào đó, việc chăm sóc sức khỏe con người ở thế kỉ 21 cũng sẽ phải học tập lại những cách chữa “dân dã” như thế này. Tuy nhiên, đến thời điểm đó, thuốc lá vẫn luôn là thứ có hại cho sức khỏe.
Hà Thư (Theo wtop)
***********************
Bí quyết liệu pháp trị bách bệnh trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng
Đức Phật Dược Sư trong Phật giáo Tây Tạng
Một người càng phát triển trình độ tâm linh cao bao nhiêu khi tiến hành chú nguyện hoặc trị bệnh thì càng có nhiều khả năng mang lại kết quả chữa lành bệnh cao bấy nhiêu. Những viên thuốc này thường chứa xá lợi của các đại thiền sư danh tiếng và Thánh Tăng nhằm mục đích ban cho những viên thuốc ấy nhiều sức mạnh trị bệnh hơn nữa…
Thuốc trị bệnh của Tây Tạng thì nổi tiếng và hiệu nghiệm, chủ yếu là bằng thảo dược. Tuy nhiên, trên thực tế, nét độc đáo của thuốc Tây Tạng nằm trong thời điểm pha chế khi người ta tiến hành tụng niệm và trì chú để cầu nguyện chư Phật, chư đại Bồ-tát, chư Hiền Thánh Tăng trong mười phương pháp giới ban cho nó một sức mạnh chữa bệnh. Người Tây Tạng cho rằng uống loại thuốc như thế hoặc sẽ mang lại kết quả là bệnh tật mau bình phục hoặc nếu bệnh nhân đang đứng cận kề bên cửa tử thì sẽ chóng qua đời mà không đau đớn.
Chú nguyện vào những viên thuốc và nước cũng là liệu pháp thường được sử dụng rộng rãi. Một người càng phát triển trình độ tâm linh cao bao nhiêu khi tiến hành chú nguyện hoặc trị bệnh thì càng có nhiều khả năng mang lại kết quả chữa lành bệnh cao bấy nhiêu. Những viên thuốc này thường chứa xá lợi của các đại thiền sư danh tiếng và Thánh Tăng nhằm mục đích ban cho những viên thuốc ấy nhiều sức mạnh trị bệnh hơn nữa.
Trên thực tế, có nhiều vị Lạt ma Tây Tạng còn thổi vào những bộ phận trên cơ thể để tạo ấn tượng bệnh đã lành và làm thuyên giảm sự đau đớn. Tôi từng chứng kiến một người bị bệnh AIDS có một chân cực kỳ đau đớn. Cảm giác đau đớn của cái chân anh đã biến mất sau khi anh được một vị lạt ma đã tu thiền định cao thổi vào chân anh trong 20 phút.
Quán tưởng cũng là cách trị liệu rất hữu hiệu. Một phương pháp quán tưởng trị bệnh phổ biến là quán một vầng ánh sáng trắng lan tỏa khắp các hướng trên đầu chúng ta. Sự quán tưởng ánh sáng lan tỏa xuyên qua cơ thể chúng ta ấy có thể làm tan biến hoàn toàn mọi chứng bệnh và mọi vấn đề. Hãy tập trung hình dung, tưởng tượng cơ thể chúng ta như đã hết bệnh và trong bản chất của ánh sáng.
Trong truyền thống Tây Tạng, có nhiều vị Phật, Bồ-tát có thể được dùng để quán tưởng trong lúc trì chú. Thường là đức Phật Dược Sư, hoặc Bồ-tát Quán Âm. Đối với các vị Hộ pháp Long thần thì mỗi vị có mỗi đặc tính khác nhau, hoặc điềm tĩnh hoặc nóng giận. Vị Hộ pháp, Long thần nóng giận thường được dùng để chữa trị các chứng bệnh nan y, ví dụ như bệnh AIDS.
Nếu những hình ảnh trên đây không thuận lợi, chúng ta có thể sử dụng các đối tượng khác, chẳng hạn như các đồ vật thủy tinh, hoặc đơn giản là chúng ta quán tưởng tất cả mọi năng lực chữa trị của vũ trụ đang thu hút tâm trí ta, đang chuyển hóa cơ thể ta thành ánh sáng, và tự chúng ta hình dung, tưởng tượng như mình đã hoàn toàn hết bệnh.
Trong nhiều thế kỷ, nhiều người Tây Tạng đã sử dụng các phương pháp trị liệu này. Mục đích của các phương pháp thực hành ấy là chữa trị cả tâm lẫn thân, để các chứng bệnh và các vấn đề của chúng ta sẽ không còn tái phát trong tương lai.
Thích Minh Trí biên dịch theo DNA.
Những viên thuốc này thường chứa xá lợi của các đại thiền sư danh tiếng và Thánh Tăng và đã tụng niệm, trì chú.
Nếu uống mỗi ngày cái phiền não, bệnh tật cũng giảm bớt đi rất nhiều và tâm thức rất là yên tĩnh.
Many thanks.
***********************
Nói thêm về bài
Trị đau nhức răng theo PP Ấn Độ
Hàm răng tôi vốn theo sơ đồ 4-3-1-1 chứ không chuẩn mực theo 4-4-2 kinh điển. Các “cầu thủ” răng được luôn rèn luyện với một chế độ “khắc nghiệt” và đều đặn nên thể lực khá tốt (bài luyện tập này sẽ nói vào một dịp khác) nhưng do ý đồ chiến thuật cố hữu, nên luôn tồn tại những khoảng trống “chết người”. Cái kẽ giữa các răng lâu lâu lại gây phiền toái bằng chứng viêm nướu cấp tính. Không đau nhức, nhưng ngứa ngáy, ê ê khó chịu.
Cách đây 1 tuần, tôi bị sưng nướu kẽ răng hàm. Cái kẽ đó có thể xỏ cái đầu tăm xuyên từ bên trong vòm miệng ra mặt ngoài hàm răng rất dễ dàng. Thật bất tiện, ăn uống mất ngon, sinh hoạt khó chịu.
Áp dụng bài chữa nói trên. Sau khi vệ sinh răng buổi tối, lấy một cây tăm cắn dập đầu cho bớt nhọn, chấm vào hạt tiêu xay bột, nhẩm “thần chú” thổi nhẹ vào đầu tăm, rồi xỉa đặt vào kẽ răng đang bị viêm. (Nhét đầy vào)
Chỉ 1 lần duy nhất, vâng đúng vậy.
Ngày hôm sau mọi việc trở về bình thường.
***********************
MỘT SỐ BÀI THUỐC KINH NGHIỆM TRONG DÂN GIAN
Làm mất mụn cóc:
Lấy lá tía tô vò ra lấy nước. Uống nước, lấy bã chà lên các mụn cóc, mụn sẽ khỏi ngay sau 2-3 lần.
Làm tan u cứng trên bắp thịt:
Khi tiêm (chích) vào bắp thịt trong một thời gian dài và liên tục, đặc biệt là tiêm kháng sinh sẽ dễ làm bắp thịt nổi những u cứng, làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ thuốc và làm đau khi tiến hành tiêm.
Người ta thường dùng phương pháp chườm nóng hoặc xoa bóp nhưng hiệu quả không mấy mỹ mãn. Bạn hãy lấy khoai tây sống, cạo bỏ vỏ ngoài, cắt thành miếng mỏng khoảng 0,5-1 cm, dùng vải băng cố định vào chỗ cứng. Thường 24 giờ những chỗ cứng sẽ bị tiêu trừ.
Khi đất cát bay vào mắt:
Nếu không may bị đất cát bay vào mắt, bạn chớ dùng tay dụi mắt vì sẽ làm ảnh hưởng tới nhãn cầu. Bạn chỉ cần chuẩn bị một chậu nước sạch, ngâm một nửa trên của mặt vào nước, sau đó mở mắt – nhắm mắt lại nhiều lần, đất cát sẽ tự nhiên rơi vào nước.
Ðang đi xe hay cuốc bộ trên đường, đột nhiên bị một vật lạ bay vào mắt; lúc đó, bạn hãy dùng hết sức ho lên mấy tiếng, vật lạ sẽ ‘tự nhiên’ tiêu tan.
Khi bị cúm:
Nghỉ ngơi: cách tốt nhất giúp cơ thể phục hồi.
Uống nhiều nước: để thay cho chất lỏng bị mất, loại trừ chất độc.
Súc miệng: bằng nước ấm pha muối.
Uống thuốc: đúng thuốc và đúng liều lượng theo toa bác sĩ.
Tắm nước ấm: tắm nhanh và lau sạch.
Tránh gió lùa: tránh các luồng gió độc và đừng ra ngoài khi cơ thể còn ướt.
Uống thêm Vitamin: vitamin C, B complex.
Ăn: Ðừng lo lắng khi bạn không cảm thấy đói trong vài ngày đầu. Khi trở lại đói bình thường là dấu hiệu phục hồi dần.
Chăm sóc trẻ nhỏ sốt cao:
Âp lạnh lên đầu: dùng khăn lạnh đấp lên trán đứa trẻ, khoảng 5-10 phút đổi một lần.
Xoa cồn: Dùng khăn lau với nước nóng pha cồn hoặc rượu trắng lau toàn thân đứa trẻ, đặc biệt là những chỗ nhiều mạch máu như nách, khuỷu tay, cổ, vùng khoeo chân. Trẻ mới sinh, cần giữ kín phần tim. Khi xoa cồn cần tránh gió kẻo làm trẻ nhiễm lạnh thêm.
(Bài này trước đây phổ biến có tác dụng, trong bệnh viện hay dùng. Nhưng gần đây có ý kiến cho rằng cần hạn chế và rất thận trọng khi sử dụng)
Trị bệnh tiểu đường:
Bạn chuẩn bị 50-100g đậu đũa, đem sắc với nước. Mỗi ngày dùng một thang, uống hết nước thì ăn đậu.
Dùng 500g rau cần tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, mỗi ngày uống 2 lần vào sáng và chiều.
Dùng 500g đậu Hòa Lan, giã nát, vắt lấy nước. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần nửa cốc.
Lấy mướp đắng phơi khô, giã thành thuốc bột, mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần uống 10g.
Lấy 50g hạt bí ngô, rang chín đem sắc với nước để uống.
Lưu ý: người mắc bệnh tiểu đường không được ăn dưa hấu, nếu không bệnh sẽ càng nặng.
Trị chứng mất ngủ:
Dùng hột sen và bánh hộp mỗi thứ 20g, thêm đường phèn, sắc với nước để uống, mỗi ngày uống 2 lần vào sáng và tối. Lấy 20g hạt táo chua, sao cho tới gần chín, nghiền nhỏ, thêm một ít đường trắng vào trộn đều. Trước khi đi ngủ, uống kèm với nước nóng. Ho đêm cũng là một nguyên nhân gây mất ngủ. Nếu làm dứt cơn ho thì chứng mất ngủ sẽ hết. Bạn lấy 2-3 gừng tươi rửa sạch, thái nhỏ, giã nát, vắt lấy nước, nhỏ vào một muỗng mật ong. Phân ra để ngậm 3-4 lần trong miệng cho tới khi ngủ. Nhớ là trước khi ngủ phải nhả gừng ra.
Tự trị bệnh đau đầu:
Khi đau đầu bạn hãy thoa một chút dầu gió lên thái dương huyệt Ấn đường (ở giữa 2 mi) hoặc huyệt Phong trì (sát 2 đường gân thô lên 2 gáy). Bạn có thể dùng muối xát một ít lên đầu lưỡi, đồng thời uống một ít nước sôi pha muối. Nằm ngửa ra rồi nhỏ 2-3 giọt nước củ cải giã nát vào lỗ mũi.
Phương pháp trị ho cho trẻ nhỏ:
Củ cải thái thành miếng mỏng thả vào ngâm trong nước đường vài ngày. Mỗi ngày lấy một muỗng nhỏ nước ngâm trên, dùng nước nóng hòa thành trà, cho trẻ uống khi nóng. Lấy một muỗng vừng (đã xào chín, xay nhỏ), 6g hạt nhân, một miếng gừng sống cho vào sắc cùng lúc. Khi uống thì cho thêm một ít mật ong. Khi bị ho, trẻ sẽ mất ngủ. Bạn hãy thái một miếng gừng sống nhỏ, đem sao qua rồi lau lên xung quanh cổ và hai đứa trẻ. Làm như vậy giúp trẻ ngủ ngon.
Có thể chống lại sự già nua?
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng những cảm xúc tiêu cực thường dẫn đến việc cơ thể tiết ra chất Adrênalin – một hoóc-môn của sự căng thẳng và tuổi già. Do đó họ khuyên:
Không nên nhấc các vật nặng dù sức có thể cho phép,
Không nằm đọc sách vì như thế sẽ làm hại trí nhớ,
Không nên đi quá nhanh, không chạy mà chỉ đi tản bộ,
Mỗi tuần nên có 3 giờ hoạt động thể thao,
Lao động trí óc sẽ kéo dài tuổi trẻ,
Trong sinh hoạt hằng ngày, nên ưu tiên dùng thức ăn chống xơ cứng mạch máu,
Dầu ăn tốt cho người cao tuổi hơn chất béo từ bơ,
Chỉ đưa vào cơ thể 1g chất béo cho 1kg trọng lượng cơ thể.
Ðịnh kỳ mỗi tháng, nên uống thêm pôlivitamin,
Sau cùng muốn sống khỏe mạnh, hãy xua đuổi mọi bực bội khỏi trái tim mình, đừng để thời gian gặm nhấm sự vô vị của chính mình.
Phòng bệnh ung thư khi ăn lạp xưởng:
Trong lạp xưởng có chứa một lượng không nhiều muối của axit HNO3. Ðó chính là chất sẽ dẫn tới bệnh ung thư gan, ung thư dạ dày và thực quản. Vì thế ăn nhiều lạp xưởng trong thời gian dài sẽ rất nguy hiểm cho cơ thể.
Do đó, sau khi ăn lạp xưởng bạn nên uống một ít thuốc vitamin C, ăn hoa quả như táo, hồng, cam, quít… là những chất có thể làm giảm khả năng ung thư của muối của HNO2.
Chữa bệnh lở:
Giã củ cải trắng lấy nước súc miệng.
Lở miệng lâu năm: lấy rễ cây tầm xuân sắc nước đặc, ngâm sẽ khỏi.
Trị mất tiếng hay khan cổ:
Giã củ cải trắng hòa với nước gừng mà uống. Lấy một quả khổ tử (mua ở hiệu thuốc bắc) ngâm với nước sôi cho mềm rồi ngậm, nuốt nước trong 2 giờ thì khỏi.
Trị đau khớp xương đơn giản:
Khi bị đau khớp xương, bạn sẽ thấy đi lại khó khăn, làm gì cũng ngượng nghịu, khó chịu. Bạn hãy dùng 30g gừng sống, giã nát, trộn thêm 30g bột mì và rượu trắng (hoặc cồn 70%), đảo cho đều rồi đem đắp lên chỗ đau. Người nhẹ thì độ 1-2 ngày là khỏi, người nặng thì mất khoảng 4 ngày.
Chữa trúng nắng, trúng nóng, làm tỉnh say rượu, bia:
Dùng vỏ ngoài dưa hấu tươi, cắt thành từng miếng nhỏ, nấu nước để uống thay nước trà trong ngày. Hoặc có thể ăn sống lớp cùi trắng của vỏ dưa hấu cũng phòng được trúng nắng, trúng nóng hay say rượu bia.
Chữa viêm thận cấp:
Lấy nước dưa hấu cùng vỏ dưa hấu nấu nước để uống, hoặc dùng dưa hấu (để cả vỏ xanh), thái ra từng miếng, ép lấy nước cốt cô đặc thành cao dùng hàng ngày với liều từ 1 đến 2 thìa canh, mỗi lần uống hòa thêm chút nước sôi còn ấm để uống sẽ hiệu nghiệm.
Chữa cao huyết áp:
Gọt lấy vỏ xanh ở ngoài quả dưa hấu đem phơi khô để dành. Mỗi lần dùng 12g, thêm thảo quyết minh 9g. Hai thứ nấu kỹ dùng uống thay nước trà hàng ngày.
Chữa viêm họng mãn:
Lấy ít vỏ dưa hấu rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt, thêm vào chút muối ăn để ngậm và súc miệng làm nhiều lần trong ngày, sau nhổ ra không nuốt. Kiên trì sẽ có kết quả.
Chữa viêm khoang miệng hoặc viêm lở loét:
Dùng vỏ ngoài dưa hấu (phần cứng có màu xanh), sao hơi cháy, sau gia thêm ít nhựa long não (tức băng phiến) – tất cả nghiền thành bột – lấy bột này đắp vào nơi lở loét, nếu bên ngoài cần được băng lại bằng băng dính không thuốc sẽ rơi.
Chữa phù thũng do viêm thận:
Vỏ dưa hấu đã phơi khô hoặc sao hay sấy khô (tốt nhất là để cả vỏ xanh ở ngoài) lấy 40g, thêm bạch mao căn (tức rễ cỏ tranh) tất cả sắc lấy 300ml chia làm 3 lần uống trong ngày.
Chữa các chứng: miệng luôn khát nước, lượng nước tiểu nhiều, nước tiểu đục do bệnh đái tháo đường.
Vỏ quả dưa hấu và vỏ quả bí đao mỗi thứ 30g, thêm thiên hoa phấn (tức là bột rễ cây quất lâu năm) 10g. Hai thứ nấu nước lên uống thay nước trà. Dùng trong 3 ngày liền sẽ hiệu nghiệm.
Dưa hấu làm thuốc dưỡng da:
Dặc biệt dưa hấu còn dùng để làm thuốc dưỡng da, làm cho làn da trở nên trắng mịn, nõn nà. Cách làm như sau:
Lấy vỏ dưa hấu còn tươi, hàng ngày xoa xát nhẹ lên da mặt chừng 15 phút – sau dùng nước sạch rửa mặt.
Hoặc thái thành từng miếng mỏng đắp kín da mặt, nằm yên chừng 15 đến 30 phút trong ngày cũng có kết quả.
Có thể nấu vỏ dưa hấu, lấy nước cô đặc thành cao để hàng ngày dùng cao bôi lên mặt một lớp mỏng cũng làm cho da đẹp.
Nói chung các phương pháp trên đòi hỏi phải kiên trì, làm liên tục trong một thời gian dài sẽ mờ dần các vết trên da, kể cả sắc tố da và những nốt có trên da, song còn làm sạch dần lớp mỡ nhầy trên da mặt khiến da trở nên tươi mát, mềm mại và trắng mịn, non trẻ lại.
Dưa hấu là loại giàu dinh dưỡng và dược tính nên được áp dụng trong chữa trị bệnh, đặc biệt là giải khát, giải nhiệt và làm những phương thuốc dưỡng da cho nhiều kết quả như mong muốn.
Chữa râu tóc bạc sớm, tóc rụng, chóng mặt hoa mắt do can thận âm hư tổn:
Bài 1: Cỏ mực 15gr, sinh địa 15gr sắc nước uống mỗi ngày 1 tễ; chia làm 2 lần uống vào buổi sáng và buổi chiều. Uống liên tục 30 ngày (1 liệu trình); nghỉ vài hôm rồi lại tiếp tục.
Bài 2: Cỏ mực 25gr, hoa cúc trắng 15gr, sinh địa 15gr; sắc lấy nước, bỏ bã, uống thay nước trà hàng ngày. Mỗi ngày 1 tễ; liên tục 30 ngày.
Bài 3: Cỏ mực 15gr, nữ trinh tử 5gr, thục địa 10gr, hà thủ ô chế 15gr, sắc lấy nước, mỗi ngày 1 tễ; liên tục 30 ngày.
Chữa ho ra máu:
Cỏ mực 25gr, Bạch cập 20gr. Ðem cỏ mực và Bạch cập sắc lấy nước đổ vào bát, sau đó trộn đều. Mỗi ngày 1 tễ chia ra 2 lần trong ngày; liên tục trong 7 ngày.
Chữa sỏi thận, tiểu tiện ra máu:
Cỏ mực 15gr, cỏ mã đề (xa tiền thảo) 15gr, đường trắng vừa đủ ngọt. Ðem cỏ mực và mã đề sắc lấy nước; khi uống róc nước thuốc ra bát, sau đó cho thêm đường vào cho đủ ngọt. Mỗi ngày 1 tễ, chia ra nhiều lần uống thay trà trong ngày; liên tục trong 20 ngày.
Mũi thường chảy máu:
Cỏ mực 25gr, ngó sen 20gr. Sắc lấy nước; chia 2 lần vào sáng và chiều; liên tục trong 20 ngày.
Chữa đao thương chảy máu:
Lấy cỏ mực đem giã nát đắp lên chỗ bị thương. Cũng có thể đem cỏ mực. phơi khô, tán mịn, rắc lên vết thương.
Hỗ trợ trong điều trị chứng giảm tiểu cầu máu:
Cỏ mực 10gr, nhân sâm 5gr (nếu không có thay bằng đẳng sâm 12gr), gạo tẻ 50g, đường trắng vừa đủ. Nhân sâm thái thành lát mỏng, hấp chín. Cỏ mực rửa sạch, sắc lấy nước để nấu cháo. Sau khi cháo chín, cho sâm vào, thêm chút đường cho đủ ngọt. Dùng mỗi ngày 1 1ần, ăn thay bữa điểm tâm buổi sáng; liên tục trong 5 ngày.
Phòng và chữa viêm da khi làm ruộng nước:
– Lấy cỏ mực tươi 1 nắm – khoản 50gr, rửa sạch, vò nát rồi sát lên chân và tay cho đến khi màu da chuyển sang tím đen nhạt. Chờ một lát cho da khô rồi có thể xuống ruộng nước làm việc Thời trước, những người thợ nề hay lấy cỏ mực sát lên tay để chữa chứng bỏng rát do vôi vữa gây nên. Chất tani và một số hoạt chất khác trong cỏ mực có tác dụng làm săn da và phòng viêm nhiễm ngoài da rất tốt. Tại Trung Quốc, các thầy thuốc đã chế ra mộ loại cao mềm từ cỏ mực, chuyên dùng để phòng viêm da khi làm việc dưới ruộng nước.
Phụ nữ ngứa âm đạo:
Lấy cỏ mực tươi khoảng 100gr, sắc nước để rửa ngoài âm đạo. Có thể thêm chút câu đằng vào sắc cùng càng tốt.
***********************
Hiện tại miền Bắc nước ta, đang phải chống chọi với cái rét lạnh của mùa đông khắc nghiệt.
Xin điểm lại vài cách chống rét và sống chung với rét xưa nay.
Ngoài các phương pháp phổ biến như ăn nóng, mặc ấm một cách thường xuyên, thì con những phương pháp có tác dụng mang tính tức thời để sử dụng khi hữu sự, hay các phương pháp làm tăng sức đề kháng cho cơ thể để có thể sống chung với rét một cách bình an.
1/ Bó Tiêu Bắc vào rốn:
Hạt tiêu (tốt nhất là tiêu sọ, tiêu đã được chà vỏ lụa) khoảng 100g, sao nóng. Gói vào một miếng vải mỏng vừa, rồi áp hay buộc vào vùng rốn.
Cách này có thể áp dụng cho người già, người bị cảm lạnh. Có tác dụng nhưng không nên dùng lâu vì dễ sinh táo bón.
2/ Uống trà gừng:
Giã nhỏ gừng tươi (nhớ là phải cạo sạch vỏ ngoài) đun hay hãm nước, pha đường rồi uống. Có thể bỏ chút trà khô vào cho thêm khầu vị hấp dẫn.
Gừng nên dung về buồi sáng, hạn chế dùng về buồi tối (không tốt lắm)
3/ Thường xuyên uống mật ong: Vừa co tác dụng sát khuần, chống viêm hầu họng khi giá rét lại vừa có tác dụng sinh nhiệt cho cơ thể
4/ Ngâm chân nước nóng:
Tối trước khi đi ngủ nên thực hiện ngâm chân nước nóng. Có điều kiện thêm Đại Hồi, Quế, Gừng, Thiên niên Kiện nấu thành nước thuốc ngâm chân.
Cho tác dụng làm ấm cơ thể, giãn mạnh, dễ ngủ ngừa cảm, chống nhức mỏi. (Đặc biệt ngừa thối chân khi đi giầy kín suốt ngày. )
Người cao tuổi ngâm chân nước thuốc nóng rất tốt.
5/ Bổ sung khầu phần ăn các loại hạt giàu đạm thực vật như: Lạc (đậu phộng) Mè (vừng) hạt hướng dương, hạt điều…..
6/ Bổ thận:
Bồi bổ thận khí, thận thủy như: Ăn các thức ăn có tác dụng bổ thận Hồ đào nhục, Đậu đen, đỗ trọng, … . Luôn xoa xát vùng lưng thận cho ấm nóng. Tiết chế quan hệ sinh lý trong mùa đông nhất là những ngày giá rét đậm (vì cực hại, rất tồn thọ).
Hạn chế ăn các thứ ăn hàn lạnh, tiết trời đã lạnh lại ăn thức hàn thì dễ bị trúng.
7/ Tập thể dục đều đặn.
8/ Tập tắm nước lạnh ngay từ cuối thu để vào đông cơ thể đã quen hoặc hình thành thói quen tắm nước lạnh lâu dài, khi đó cơ thể sẽ có sức đề kháng lạnh rất tốt.
Lưu ý: PP này phải được tập từ từ không phải đột ngột ra tắm nước lạnh ngay rất nguy hiểm (Xin tham khảo PP này trong loạt bài Dân gian y thuật kỳ bí đã đăng trước đây)
Trên đây là những phương pháp chống lạnh và sống chung với lạnh đơn giản, hiệu quả (vì bản thân người viết đã áp dụng một số pháp rất hưu hiệu, thậm chí phương pháp tắm nước lạnh đã giúp khỏi bệnh viêm xoang và viêm mũi dị ứng kinh niên). Xin cống hiên đến mọi người tham khảo, cân nhắc áp dụng khi hữu sự. Và khi có hiệu quả thì xin phổ biến cho đồng bào ta cùng biết – để bình an.
Kính chúc mọi người, mọi nhà không sợ Rét.
***********************
Nữ sinh đột tử vì tắm lâu ngày giá rét:
Thấy Thu tắm hai giờ mà vẫn chưa ra, gọi không thấy trả lời, gia đình đã phá cửa vào thì phát hiện em đã ngất.
Chiều 9/1 sau khi đi học về, Thu (học sinh lớp 11, THPT Trần Phú, Hà Nội) đi tắm ngay. Sau hai giờ vẫn không thấy con ra, gia đình lo lắng, gọi nhưng không thấy Thu trả lời. Phá cửa nhà tắm, cả nhà phát hoảng khi thấy em đã ngất và đang trong tình trạng hôn mê.
Thu được đưa tới bệnh viện nhưng em đã không qua khỏi. Bác sĩ kết luận Thu bị đột tử vì cảm lạnh do tắm quá lâu.
Ông Nguyễn Hữu Chiệu, Hiệu trưởng trường THPT Trần Phú cho biết, nhà trường rất đau lòng khi biết sự việc. Phụ huynh và học sinh của lớp đã đến chia buồn cùng gia đình.
“Chúng tôi thường xuyên nhắc nhở các em phải giữ ấm trong mùa đông, đặc biệt là những ngày rét đậm, rét hại, tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra”, ông Chiệu nói.
Từ ngày 2/1, miền Bắc bước vào đợt rét đậm, rét hại thứ ba từ đầu đông đến nay, chỉ đứng sau đợt rét kỷ lục kéo dài 38 ngày đầu năm 2008. Nhiệt độ thấp nhất tại miền Bắc xuống -4 độ (ghi nhận ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn), Hà Nội 8 độ C.
Dự báo đợt rét đậm, rét hại này còn kéo dài ít nhất đến ngày 21/1.
*Tên nạn nhân đã được thay đổi.
Thùy Nhi
(VNExpress. net)
Rét mướt này tắm táp cũng phải cần thận. Chuyện đời mấy anh uống rượu say sưa, đêm về ra tắm trúng gió mà chết cũng nhiều.
Xét ra, mùa lạnh cơn thể người bình thường cũng giống như người say rượu mùa hè. Nói vặn lý thì khác nhau, nhưng cơ chế có vẻ như một.
Mùa đông từ thiên nhiên, trời đất đến cây cối, động vật phải ẩn tàng. Loài vật có phương cách trú đông như là di cư, ngủ… để tồn tại. Vậy mà con người lại không cẩn trọng, cứ phơi ra. Phải chăng do bởi trí thông minh siêu việt hơn các loài động thực vật, nên các giác quan bị thui chột nhất định.
Ngẫm
***********************
Muôn kiểu chống rét của sinh viên:
Lấy máy sấy sấy cho chăn ấm lên trước khi đi ngủ, thắp bóng điện dây tóc công suất lớn hoặc đổ nước ấm vào chai để ôm là những cách để chống rét của sinh viên Hà Nội.
10 ngày nay rét đậm kéo dài, sinh viên ở ký túc xá hay thuê trọ nháo nhào tìm cách giữ ấm. Ra đường thì quần áo, mũ mão, găng tay che kín, ai cũng thực hiện nguyên tắc”chỉ để hở hai con mắt” cho khỏi rét.
“Chỉ cần hở chỗ nào là lạnh buốt chỗ đó nên bọn em cố gắng tiết kiệm tiền để sắm cho đầy đủ phụ kiện như mũ len, găng tay, bịt tai, khăn, áo. Các bạn ở xa đi học bằng xe máy có khi còn mặc thêm áo mưa, đội mũ bảo hiểm có kính chắn gió nữa”, Hạnh Hoa (Học viện Báo chí) cho biết.
Những dãy trọ thường nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông nên các cử nhân tương lai đã truyền tai nhau cách giữ ấm mới được”phát minh”. “Em có máy sấy tóc, mùa đông được sử dụng tối đa vì hết sấy tay chân cho khỏi cóng, trước lúc đi ngủ nó còn được trưng dụng để sấy chăn, tạo hơi ấm ở bên trong”, Thu Cúc (sinh viên ĐH Thương mại) kể.
Theo Cúc, sau khi sấy chăn phồng lên và nóng dần, tỏa hơi ấm ra xung quanh. Nếu như trước đây nằm vào chăn, cô phải xuýt xoa mất một lúc để ủ ấm thì bây giờ có thể thoải mái ngủ đến sáng. Cúc đã thông báo”sáng kiến” này cho cả xóm trọ. Vậy là đêm nào, chiếc máy sấy cũng được cả xóm chuyền tay nhau.
Trời rét, mặc năm chiếc áo ấm mà Hoàng Thảo (ĐH Y Hà Nội) vẫn chưa hết run. Ngồi học bài nhưng tay lạnh cóng nên Thảo chẳng viết được gì. Đứng dậy đóng hết cửa sổ, Thảo đem hết các bóng đèn học của mấy đứa bạn trong phòng ra thắp.
“Bóng điện dây tóc khi thắp lên sẽ tỏa nhiệt rất ấm. Đứa bạn lớp mình có sáng kiến bật đèn rồi đưa vào trong chăn cho ấm, nhưng mình sợ rò rỉ điện nên không dám làm”, Thảo chia sẻ.
***********************
Sấy chăn cho phồng lên và ấm nóng là một trong nhiều chiêu giữ ấm của sinh viên.
Ở trọ trong ngõ 315 đường Nguyễn Khang (Cầu Giấy), Nguyễn Thị Toan và hai người bạn tối nào cũng đun một siêu nước nóng. Trong phòng, Toan dành riêng một góc xếp hàng chục vỏ chai Lavie. “Nhớ lại ngày ở nhà mẹ thường đổ nước ấm vào chai để chườm chỗ sưng, thế là bọn em đun nước, để nguội một chút và đổ vào chai lavi rồi ôm chúng khi ngủ. Đúng là sáng kiến của ông bà thật hữu hiệu, bọn em ngủ rất ngon lành”, Toan vui vẻ cho hay.
Cô cho biết, trong xóm có một số người đã làm theo cách này, nhưng được vài hôm thì ngại đun nước nên tìm mua túi chườm nóng đa năng với giá khoảng 80.000-90.000 đồng. Trước khi đi ngủ cắm điện khoảng 5 đến 10 phút, sau đó ôm túi đi ngủ sẽ ấm cả đêm.
Dùng một chăn bông làm đệm, trên là hai chiếc chăn đắp, nhưng “đôi bạn cùng tiến” Hùng và Khoa (Học viện Tài chính) vẫn thấy lạnh nên phải nghĩ cách sưởi ấm căn phòng. “Chúng em vừa bước sang học kỳ mới. Do đăng ký tín chỉ nên học rất vất vả, nếu không cẩn thận thì thi lại, học lại mệt lắm, lại tốn tiền nữa. Tụi em đành hy sinh chiếc chậu nhôm và đi mua ít củi về đốt”, Hùng cho hay.
“Dù tốn thêm chút tiền nhưng được cái ấm cúng. Cả xóm chỉ có phòng em là lúc nào cũng đỏ lửa”, Khoa cười.
Bắt đầu từ ngày 2/1 và dự báo kéo dài ít nhất đến 21/1, đợt rét đậm, rét hại đang hoành hành ở miền Bắc được đánh giá chỉ đứng sau đợt rét lịch sử đầu năm 2008 kéo dài 38 ngày. Nhiệt độ thấp nhất ở miền Bắc đã xuống xấp xỉ -4 độ, tại Hà Nội là 8 độ C.
Hoàng Thùy.
Chia sẻ của độc giả:
1- Dùng một tấm nylon trùm bên ngoài chăn, chỉ trùm từ cổ trở xuống, để hơi nước không đọng lại trong chăn, thân nhiệt sẽ được giữ lại khoảng 90%. Đây là kinh nghiệm khi hành quân, ngủ ngoài trời. (Lúc bấy giờ chăn là chiếc võng hoặc cái mền xô gấp lại).
2- Bên Canada đã lâu, mùa lạnh thường nấu nuớc sôi đổ vào một cái bình (hot water bottle) sau đó lấy cái khăn bao lại (hay lấy hot water bollte cover) và bỏ trong giường, nó sẽ làm ấm rất lâu (khoảng 8 tiếng). Nêu chỉ dùng máy sấy tóc làm ấm giường, chỉ ấm đuợc thời gian ngắn thôi… Vài dòng chia sẻ với các bạn.
3- Thời tiết lạnh thật nhưng đã thấm gì đâu so với Bác Hồ mình khi người ở Paris, sao các bạn không làm theo cách chống lạnh của Bác, lấy gạch nung nóng, bỏ vào gầm giường, hơi nóng giữ được lâu hơn, ít tốn kém, đặc biệt rất an toàn. Chúc các bạn thành công!
4- Công tác vùng núi cao, công trường trên đỉnh đồi, cách chống rét thấy hay nhất là cách bác Hồ làm ngày xưa, bếp công trường lúc nào cũng cháy, tốt nhất là cứ trước khi đi ngủ khoảng 2 tiếng kê một viên gạch sát vào bếp, lúc nào đi ngủ kiếm giấy catton (từ thùng mì tôm) bọc lại, ném vào trong chăn, rồi chui vào ngủ, ấm đến 4-5h sáng.
5- Mấy hôm rét, học bài ngại quá, bỏ tay ra thì cóng không thể cầm nổi sách. Cũng tìm nhiều cách giữ ấm rồi, thấy túi sưởi đa năng là hợp lý nhất. Vừa ấm, vừa rẻ lại còn an toàn, chỉ cần sạc 5-7 phút, sau đó quấn vào khăn để giữa giường giữ ấm cả đêm. Còn dùng lò sưởi hay đốt thì nguy hiểm lắm, nó cháy hết oxy thì xong.
(VNexpress. net)
Đấy là ở nhà và khi đi ngủ.
Bày các bạn một chiêu dùng khi đi đường và ngày cả khi ngủ:
1- Phài mặc một bộ quần áo bó sát, thật sát người.
2- Dùng giấy báo:
+ Trải lót xuống dưới chiếu, nệm. Khi ngủ
+ Gài lót vào quanh người khi phải đi ra ngoài trời.
(Giấy báo lưu giữ nhiệt rất tốt, thủa những năm 1980 đổ về trước, miền Bắc ai chả biết chiêu dùng giấy báo bọc kem, nước đá khi đem đi xa. Ngày nay vẫn có người áp dụng. Bởi nó tiện lợi, dễ kiếm và rất rẻ.)
***********************
Nhiếp sinh của Đại thiền – y Tuệ Tĩnh
I- Khái niệm nhiếp sinh:
Vào mùa xuân hàng năm, các thầy thuốc Đông y (xưa và nay) đều có truyền thống làm lễ giỗ kỷ niệm:
– Cụ Hải Thượng Lãn Ông vào ngày rằm tháng giêng ÂL.
– Cụ Tuệ Tĩnh vào ngày rằm tháng 2 ÂL, bởi vì hai danh y này đều có chung quan niệm “phải biết chữa bệnh khi chưa mắc bệnh” (tức là chú trọng khâu phòng bệnh hơn chữa bệnh) bằng phương pháp “Nhiếp sinh & Dưỡng sinh”.
Trong nền y học cổ truyền (YHCT) nước ta, các thầy thuốc thường phân định hai chuyên ngữ: Nhiếp sinh & Dưỡng sinh. Theo học giả Đào Duy Anh:
– Dưỡng sinh là nuôi cho sống (l’art de nourrir la vie) (“Hán Việt từ điển” quyển thượng).
– Nhiếp sinh là chăm giữ sức khỏe (l’art de conserver la santé) (“Hán Việt từ điển” quyển hạ) và khái niệm “sức khỏe đích thực” của người phương Đông (nói chung) đặc biệt là người trí thức cổ (kẻ sĩ) nước ta (nói riêng) bao gồm một khía cạnh hạt nhân (noyau) và 5 khía cạnh quỹ đạo (orbite).
1. Khỏe mạnh về thể chất (là hạt nhân)
2. khỏe mạnh về tinh thần
3. Khỏe mạnh về cảm xúc
4. Khỏe mạnh về nhân cách ứng xử
5. Khỏe mạnh về tâm linh
6. Khỏe mạnh về tương quan xã hội
(là quỹ đạo)
Do đó chúng ta không thể không nghĩ đến công trình đề xuất ý tưởng nhiếp sinh độc đáo của bậc đại thiền – đại y nhà nước Đại Việt cổ vào thế kỷ 14: sư thầy Tuệ Tĩnh.
II- Sơ lược tiểu sử sư thầy Tuệ Tĩnh
Theo tài liệu “bibliographie annamite (Thư tịch học nước An Nam) của nhà sử học người Pháp Gaspardone, đã cho biết khá chi tiết về nhân thân của đại thiền y Tuệ Tĩnh như sau:
– Nhà sư Nguyễn Bá Tĩnh người làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương). Ông sinh vào đời vua Trần Duệ Tông (1372-1377) thế kỷ 14, tư chất thông minh, thời trai trẻ đã thi đậu Tiến sĩ đệ nhị giáp (đời nhà Trần gọi là Hoàng Giáp); ông xuất gia tu theo giáo lý đạo Phật với pháp hiệu: Tuệ Tĩnh; khi nghiên cứu y học, ông có biệt danh: Tráng tử vô dật (hàm nghĩa: chỉ là người khờ khạo, sống nay đây mai đó… ) còn khi trước tác y học, ông lấy biệt hiệu: Hồng Nghĩa (tên ghép ngắn của làng Nghĩa Phú với phủ Thượng Hồng, nơi sinh quán của ông). Công lao chữa bệnh cứu người của ông ở Trung Quốc (thời gian ông làm “cống thần” – người tài bị trưng dụng phục vụ cho nước lớn) đã được Hoàng đế nhà Minh (Trung Quốc) phong hàm “Đại y Thiền sư”. Tuy người đời nay vẫn chưa được rõ năm sinh và năm tử của thầy thuốc Tuệ Tĩnh (mặc dù hàng năm vẫn làm lễ giỗ ngày mất là rằm tháng hai âl, theo tập quán của các địa phương có làm miếu thờ cụ Tuệ Tĩnh) nhưng ai ai cũng biết hai danh tác y học quý báu của tiên sinh:
– Hồng Nghĩa giác tư y thư (nghĩa: sách thuốc của người thầy thuốc có tên là Hồng Nghĩa).
– Nam dược thần hiệu (nghĩa: các vị thuốc Nam chữa bệnh có nhiều hiệu quả), sách giới thiệu cách sử dụng 499 vị thuốc có sẵn trên lãnh thổ của người Việt phương Nam và kinh nghiệm chữa 184 loại bệnh & chứng thường gặp.
III- Phép Nhiếp sinh của đại thiền – y Tuệ Tĩnh:
Trong các câu lạc bộ dưỡng sinh và tập luyện khí công bây giờ, mọi người rất nhớ câu thơ của sư thầy Tuệ Tĩnh:
– Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần,
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình…
Tức là muốn chăm sóc “sức khỏe đích thực” được tốt, thì cần phải rèn luyện 7 tiêu chí cùng lúc:
3. 1 Bế tinh: Bế là đóng lại, lấp tắc lại, tinh là vật chất cơ bản của cơ thể giúp dinh dưỡng cơ quan tạng phủ; do đó gìn giữ tốt “tinh” (không để thất thoát) thì cơ thể không suy yếu.
3. 2 Dưỡng khí: “Khí” theo cổ Đông y là nguồn năng lượng vô hình vô ảnh (nhìn không thấy) luôn trôi chảy trong cơ thể, là lực hoạt động của các tổ chức tạng phủ. Do vậy, khi biết vận hành tốt nguồn “khí lực” này, thì duy trì được sự sống.
3. 3 Tồn thần: “Thần” theo YHCT là thể thăng hoa của “tinh” và của “khí” hợp lại. Thần là biểu hiện của sức sống trong mỗi cơ thể người được toát ra bên ngoài; do đó: “thần” là cách diễn tả “ngoại hình” của tình trạng ý thức, tri giác vận động của mỗi người.
Vậy: Tồn thần là bảo vệ bản lĩnh sống thường ngày.
3. 4 Thanh tâm: Hiểu theo nghĩa của tâm lý học là không đua đòi, luôn ung dung không lo nghĩ – không để danh lợi, tiền bạc cám dỗ…
3. 5 Quả dục: “Quả” là làm cho ít đi, giảm bớt đi… “dục” là ham muốn, thèm khát… Do đó, sức khỏe chỉ được tốt khi người ta giảm thiểu dần tư tưởng cầu cạnh công danh, địa vị, hạn chế đắm chìm sắc đẹp nhục thể…
3. 6 Thủ Chân: “Thủ” là gìn giữ, bảo vệ; “Chân” là sự thật (của mỗi sự vật – sự kiện không bao giờ thay đổi… ). Vậy phải biết tôn trọng và giữ gìn mọi sự thật trong cuộc sống, để tinh – khí – thần không bị ảnh hưởng.
3. 7 Luyện hình: Là phương pháp vận động cơ thể (chủ yếu là các tổ chức cơ – khớp… ) để tăng tốc độ các hoạt động biến dưỡng cần thiết của các cơ quan tạng phủ, giúp tăng khả năng thích ứng và sức chịu đựng của cơ thể trong mọi môi trường sống (người xưa gọi cơ thể người là “Linh khu”).
Tam kết:
Tóm lại, Nhiếp sinh có thể được hiểu là “nắm lấy sự sống cơ bản” cũng là khái niệm “sức khỏe đích thực” (đã trình bày ở phần đầu), cho nên đề xuất cách chăm sóc sức khỏe của sư thầy Tuệ Tĩnh hẳn nhiên là cách “sống toàn diện” (conception holistique de la vie) vừa nâng cao thể lực, vừa giúp rèn luyện bản lĩnh tích cực về tinh thần cho mọi người (cần phải có trong mọi hoàn cảnh và điều kiện sống). Ý tưởng độc đáo của đại thiền – y Tuệ Tĩnh (thế kỷ 14) phải chăng đã là nguồn gốc ý tưởng về sức khỏe (being heathy) đầy đủ nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO):
– Sức khỏe là một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và phúc lợi xã hội! Đã được định nghĩa trong thế kỷ XX vừa qua (tức là sau sư thầy Tuệ Tĩnh đến 7 thế kỷ!(1))?
Ghi chú thêm:
(1): Vào thế kỷ 18, đại y tôn Lê Hữu Trác (tức Hải Thượng Lãn Ông: ông là người phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương) thì tiêu chí chăm sóc sức khỏe như sau:
… Cần nên tiết dục, thanh tâm,
Giữ lòng liêm chính, chẳng ham tiền tài,
Chẳng vì danh lợi đua đòi,
Chẳng vì sắc đẹp đắm người hại thân.
Giữ tinh, dưỡng khí, tồn thần…
Cụ Lãn Ông vốn có nghiệm lý của một bậc đại Nho uyên thâm Dịch lý đời thường:
“Nhiếp sinh phép có từ xưa,
Âm dương, thời tiết, bốn mùa thuận theo,”…
**********************
Theo tôi được biết thì là lá Ngũ trẩu chư không phải Ngũ trảo, lá này ở Tây nguyên với Bình Định có rất nhiều. Công dụng của nó chữa trặt, trẹo, đau sưng, gãy tay chân, bị té, đánh chấn thương ho ra máu rất tốt.
**********************
BÀI THUỐC TRỊ GAI ĐỐT SÔNG LƯNG
1/ Phương 1:
– Trái cây chuỗi ngọc chín, hái rửa sạch, để ráo nước ngâm rượu. Tỉ lệ ngâm 300 gam/lit rượu. Thời gian từ 100 ngày trỏ lên.
*Cây chuỗi ngọc:
Cây Chuỗi Ngọc còn gọi là Thanh quan, Dâm xanh, Rìa xanh (E Golden Drewdrop) tên latin là Duranta erecta L. họ Cỏ roi ngựa (Vebenaceae).
Cây bụi cao khoảng 1-3m, cành non vươn dài, cong lại, lúc non có lông, sau nhẵn. Lá có hình dạng thay đổi, mép nguyên hay có răng cưa nông ở phía đầu lá.
Hoa tập trung ở đầu cành, làm thành chùm dài, thõng – có nhiều bông mang hoa xếp thưa. Hoa có kích thước trung bình màu tím lam nhạt. Quả hạch màu vàng, 8 ô, mỗi ô 1 hạt, quả kết chùm khi chín có màu vàng- đỏ như là chuổi ngọc. Do quả lâu rụng nên thường được làm cây cảnh. Có nơi dùng làm hàng rào.
(Loại cây này hiện nay thường được chọn làm cây bụi trồng viền tại các vườn hoa, dải phân cách đường trong đô thị)
Những cầy viền – là cây chuỗi ngọc,
Trái cây chuỗi ngọc:
2 – Phương 2:
Thân rễ cây sen cạn, thái nhỏ phơi khô,
Cây sen cạn trồng làm cảnh,
Rễ cây sen thái phơi khô.
3 – Cách dùng:
– Mỗi ngày dùng 1 nắm tay rễ sen cạn nấu nước uống,
– Đồng thời uống rượu ngâm trái chuỗi ngọc.
– Kết hợp liệu pháp lăn lưng bằng quả bóng ten nít ở vùng xương gai và đi bộ.
– Cũng có thể kết hợp thoa rượu ngâm hạt đu đù hay ngải cứu (Artemisia vulgaris Mugwort, Common wormwood) xào dấm lên chỗ xương gai trước và sau mỗi lần lăn trái bóng ten nít.
4 – Hiệu quả:
– Hạn chế phát triển của gai xương
– Những chỗ gai mọc sẽ lặn đi. Các dây thần kinh không bị chèn ép và gây đau nữa.
**********************
BẢI THUỐC HỖ TRƠ BỆNH XỐP XƯƠNG – LOÃNG XƯƠNG
BÀI DƯỢC THIỆN
1 – Rau sam: Chọn cành bánh tẻ, rửa sạch thái nhỏ.
2- Nấu một bát cháo trắng (gạo hương, gạo nếp ngon càng tốt) khi cháo chín bỏ rau sam thái nhỏ vào đun sôi 1-2 dạo.
3 – Ăn lúc cháo còn ấm.
Cháo này rất lành ăn hàng ngày được thì càng tốt.
Tác dụng: Bổ sức khòe – hỗ trợ cho xương cốt
Dùng cho: Trẻ vị còi xương, người bệnh nhũn xương, người cao tuổi loãng xương, người bệnh sau khi bị chấn thương gãy xương. Bệnh ù tai do thần kinh, cơ mặt bị co giật.
BÀI DƯỢC THIỆN
– Đỗ trọng (vị thuốc bắc): 4 gam
– Bổ cốt chi (vị thuốc bắc): 4 gam
– Hà thủ ô đò (đã được tẩm chế): 4 gam
– Nước vừa đù.
**********************
Khi các bạn tắm sông, hồ, biển nhưng không chuẩn bị (khởi động làm nóng cơ thể) hoặc vô tình đang bơi gặp dòng nước lạnh, hiện tượng chuột rút ở chân xảy ra không phải là hiếm. Đa phần các trường hợp này rất dễ gây tai nạn đang tiếc (chết đuối) hoặc gây đau đớn. Tôi có một mẹo nhỏ có thể chữa chứng này ngay lập tức, hi vọng có thể giúp ích được các bạn. Cần phải làm theo các bước sau:
– Tuyệt đối giữ bình tĩnh,
– Yêu cầu trợ giúp khi có thể,
– Thả nổi để cơ thể trên mặt nước,
– Duỗi thẳng chân như tư thế đứng nghiêm,
– Cố gắng xoay ba vòng (toàn bộ cơ thể) trên mặt nước.
Triệu chứng chuột rút sẽ hết ngay lập tức. Điều quan trọng nhất là phải cố gắng giữ bình tĩnh, không được hốt hoảng.
**********************
Một số lần mình bị nấc cụt liên hồi, đã áp dụng nhiều cách như uống nước, nhắm một vài giọt mật ong ở đầu lưỡi, co người nín thở, … nhưng không hết. Được một người chỉ một phương pháp và mình đã thử nhiều lần, đều hiệu quả tốt, nay chia sẻ với mọi người.
Cách làm khá đơn giản, chỉ cần dùng hai ngón tay, bịt thật chặt hai lỗ tai lại (không để nghe thấy bất cứ tiếng động nào ngoài tiếng động của cơ thể) trong vòng 10 – 20 giây, tự nhiên cơn nấc cụt biến mất ngay.
**********************
Thông thường, các bé sơ sinh hay khóc về đêm, khóc thét đến khàn cả giọng, dân gian hay gọi là khóc dạ đề. Tôi đã tham khảo và kiểm chứng một số cách như sau
– Đốt vía (dùng đũa tre chẻ làm 7/9 cho nam/nữ và đốt)
– quần áo lót đem ra đốt
– Đem bếp lữa, bỏ tiêu, ớt, thuốc xông
-… …
Nói chung là nhiều cách, nếu các bạn gặp trường hợp này, cứ thử các phương pháp truyền thống, nếu không được thì áp dụng thử cách này, hi vọng mang lại kết quả (tôi đã thử các cách trên nhưng không hiệu quả – có lẽ thằng nhóc nhà tôi khó quá)
– Lấy một điếu thuốc lá
– Ngắt lấy phần đầu điếu thuốc, chỉ một phần nhỏ, tầm tí xíu thôi, không cần nhiều (nhớ là phần đầu điếu thuốc, không phải phần đầu lọc của điếu thuốc)
– Xé phần giấy, chỉ lấy thuốc lá
– Lấy 1 chung nhỏ (chung uống rượu) đổ ít nước ấm vào
– Bỏ phần thuốc lá vào chung
– Dùng ngón tay trỏ bàn tay phải (đàn ông nhá) khuấy đều
– Lọc nước ra khỏi chung
– Dùng một tờ giấy nhỏ, gói phần xác thuốc còn lại trong chung bỏ vào và gói lại
– Đặt gói này trên lỗ rốn của bé (đảm bảo chưa ầy 5 phút bé sẽ nín khóc)
– Lấy gói giấy đó ra, đốt cho cháy chết 100% (sợi thuốc lá đã ướt nên rất khó cháy, cố gắng đồt cho cháy hết, không thì lần sau không có hiệu quả)
Nên nhớ, đây là cách chữa cháy tức thời, không phải lâu dài và triệt để.
*******************
Thuốc Nam:
Bài thuốc như sau:
1/ Đậu đen, đậu xanh mỗi thứ 100g (sách cổ ghi: 1 bụm to).
2/ Rau bù ngót bằng 2-3 mớ bán ở chợ, khoảng 200-300g, băm nhỏ cả cọng và lá.
Cách làm:
– Đậu và rau sao thơm.
– Tất cả cho vào siêu hoặc nồi đất hay nồi nhôm gang đều được.
Cho vào 4 chén nước, sắc còn 1/2 hoặc 1/3 chén.
Thuốc nầy thường cho uống 3 thang trong 3 ngày (tối nước nhất, sáng nước nhì). Bù ngót sao thật khô giòn, thuốc sẽ có vị thuốc bắc. Bù ngót để tươi sắc không sao, nước thuốc giống chè đậu đen pha đường uống rất ngon.
Giới thiệu kiến thức thuốc Nam.
*******************
Bài dược thiện “Tạo chất nhờn khớp gối và cột sống”
Từ tuổi trung niên trở đi, xương khớp đã bắt đầu thoái hóa, đi lại khó khăn, lưng đau, gối kêu cọt kẹt, đồng thời quả thận cũng như một nhà máy đã hoạt động nhiều năm, chức năng suy giảm, có thể gây ra đi tiểu đêm nhiều lần, rất phiền phức trong sinh hoạt và tổ chức lại giấc ngủ.
Bài thuốc dưới đây có tác dụng tạo chất nhờn khớp gối và cột sống, đồng thời chữa được chứng đi tiểu đêm nhiều lần.
Bài thuốc dạng dược thiện dễ làm, dễ dùng, hiệu quả nhanh, nhiều người đã dùng đều có kết quả rất tốt.
Các vị thuốc gồm:
– Đỗ trọng 25g
– Ngưu tất 25g
– Gừng tươi 05g
Cách làm: Đỗ trọng, ngưu tất, gừng đun sôi rồi hầm nhỏ lửa một giờ, sau đó vớt bỏ bã.
Khi mới dùng có thể ăn liên tục ba, bốn ngày, sau đó mỗi tuần dùng một lần. Tiểu đêm nhiều lần do tiền liệt tuyến không dùng bài này.
Bài thuốc góp phần giảm bớt khó chịu của gánh nặng tuổi tác.
Xin lưu ý, thuốc dù tốt đến đâu mà không có lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống khoa học và tập luyện đúng mức thì kết quả đều không cao.
*** Nhận xét:
+ Kết hợp các phương pháp xoa bóp, vận động thể dục và khí công thích hợp để có tác dụng lâu dài.
+ Phương Pháp xoa bóp khớp gối: Dùng lòng bàn tay trái úp lên bành chè đầu gối phải, rồi dùng lòng bàn tay phải úp lên lưng bàn tay trái, Day và xoay xương bánh chè thành vòng tròn nhẹ nhàng ngược chiều kim đồng hồ 36 lần – xuôi chiều kim đồng hồ 36 lần. Sau đó đổi tay làm cho đầu gối bên kia: Lòng bàn tay phải úp xuống bành chè đầu gối trái và úp lòng bàn tay trái lên lưng bàn tay phải.
Trong khi day có kết kết hợp thở “Lục tự khí công” với âm “Suy”
*******************
http: //thuannghia. vnweblogs. com/category/7291/13209/page/17
http: //thuannghia. vnweblogs. com/post/7291/77753
Chúc sức khỏe mọi người…
http: //www. tudou. com/programs/view/1Eu4wIuFs_4
*******************
Cây thuốc chữa bệnh về gan, kể cả ung thư thời kỳ cuối
***
(Kênh 13) – Các bệnh về gan và ung thư là những căn bệnh thế kỷ đã cướp đi sinh mạng nhiều người. Sau đây, BBT sẽ chia sẻ về 1 bài viết hay về các cây thuốc chữa bệnh gan do một thành viên chia sẻ như sau: –
Tôi tên Hòa, 50t, sống ở thị trấn Lộc Ninh, Bình Phước. Khoảng 1 năm trước đây, sức khỏe tôi bỗng suy giảm, da bắt đầu vàng, bụng chướng, ăn uống không được như trước, sức khỏe yếu dần. Thấy hoài nghi về sức khỏe tôi lên bệnh việc Chợ Rẫy ở Hồ Chí Minh, sau một loại các xét nghiệm và kiểm tra các bác sỹ đã chuẩn đoán tôi có một khối u trong gang, và chuyển tôi thẳng vào Bệnh Viện Ung Bướu ở Bình Thạnh.
Tại đây các bác sỹ lại chẩn đoán thêm một lần nữa tôi có khối u gan khoảng bằng 1 trái chanh và đang ở thời kỳ cuối. Cách duy nhất để cứu vãn tình hình đó là mổ lấy khối u, nhưng tỉ lệ thành công là 50%, cho dù ca phẫu thuật có thành công thì tôi chỉ sống được có vài năm.
Khi tôi và gia đình biết tin thì vô cùng tuyệt vọng và đau buồn, nhưng quyết định về nhà và không phẫu thuật, vì sức tôi cũng đã yếu dần. Tôi biết rất nhiều người mắc bệnh gan như tôi, nhưng bệnh gang có một đặc điểm là không có một biểu hiện bệnh lý nào biểu hiện ra bên ngoài nên người bệnh rất khó biết, kể cả các xét nghiệm và khám thông thường cũng không phát hiện ra, chỉ trừ những biện pháp khoa học kỹ thuật cao như CT, MRI…
Đến khi người bệnh thấy biểu hiện bệnh lý phát ra bên ngoài thì đã quá muộn, cũng như tôi khi đã phát hiện ra là đang ở thời kỳ cuối. Ban đầu tôi nặng 59kg, nhưng từ khi phát hiện bệnh, ăn uống dần không được, mỗi ngày chỉ uống được một muỗng sữa, chẳng thèm khát bất cứ thứ gì.
Rồi dần dần tôi chỉ còn 39kg, gần như da bọc xương, và nói thẳng ra là chờ chết. Nhiều người bạn đã chỉ tôi dùng sừng tê giác để chữa bệnh. Cho dù gia đình tôi cũng khó khăn nhưng cũng ráng chạy mua một miếng nhỏ sừng tê giác bằng một đốt ngón tay út. Sừng tê giác chỉ mài uống được 7 lần nhưng bệnh tình hầu như không giảm.
Thật tình cờ, tôi đã được một người bạn chi một loại cây chữa bệnh gan vốn là gốc người Campuchia nhưng lớn và sinh sống tạị gần khu vực biên giới của Bình Phước. Người bạn này đã chỉ cho cây “ an xoa” vốn là một phương thuốc bí truyền của gia đình nhưng vì thương người, người bạn này đã chỉ tôi tận tình.
Người nhà tôi tức tốc đi tìm cây “an xoa” về sắt nhỏ, rửa sạch, phơi khô, sao vàng hạ thổ rồi đem nấu nước uống. Ban đầu thì nấu thành một chén nhỏ thật đặc cho tôi uống, sau đó lấy bã còn trong bình nấu loãng thêm 2 chén nữa. Như vậy là một ngày tôi cố gắng uống được 3 chén thuốc, không giống như các cây thuốc Nam khác, cây an xoa có vị rất dễ uống, thơm ngon, giống như trà.
Khi uống vào bụng tôi cồn cào, sôi sung sục, như cảm giác bụng đói, hơi khó chịu. 3 ngày đầu uống thuốc, tôi bắt đầu đi ngoài, ban đầu phân vô cùng tanh hôi, và sệt sệt như người hay đi kiết. Tôi đi ngoài được 3 ngày như vậy, sang ngày thứ tư là bắt đầu đi phân bình thường, bắt đầu có cảm giác thèm ăn, nhìn bất cứ thứ gì cũng muốn ăn mặc dù trước đây không hề có. Giấc ngủ tôi cũng sâu và ngon hơn trước.
Lúc đầu tôi ăn được vài muỗng cháo, sau đó tăng lên một chén, 2 chén, rồi chuyển qua thèm cơm, rồi từ từ tôi đã ăn uống lại bình thường, da dẻ dẻ hồng hào, không còn vàng da như trước. Đặc biệt bụng tôi bắt đầu xẹp dần, thon gọn trở lại, Quá trình chuyển biến từ uống một muỗng sữa sang ăn cơm, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh chỉ vẻn vẹn trong vòng 3 tháng. Người nhà tôi đã đưa tôi xuống Bệnh Viện Ung Bướu tái khám, thật không ngờ khối u trong gan đã biến mất, chỉ còn lại lớp bọc bên ngoài nhỏ như đầu ngón tay út.
Các bác sỹ và người nhà tôi cũng hết sức ngỡ ngàng, bệnh tình tôi đã khỏi và khỏe mạnh trở lại. Cây “an xoa” quả đúng là thần dược, đã đưa tôi từ cõi chết trở về. Lúc này tôi mới biết quý sinh mạng của mình hơn, và thương những người cùng cảnh ngộ không may mắn gặp được thần dược như tôi. Từ khi phát hiện loài cây này, tôi đã chỉ rất nhiều người bệnh về gan như: viêm gan siêu vi B, C, ung thư gan, men gang cao, hay thậm chí những người hay đau lưng, nhức mỏi, da xanh, mất ngủ đều khỏi hẳn, kể cả những người tim hay mệt cũng giảm bớt.
Thêm một trường hợp khác cũng là người bạn tôi, bị chứng viêm gan C, da dẻ cũng vàng, bụng cũng chướng, kèm theo viêm đại tràng cấp mãn tính nhưng chưa đến mức nặng như tôi. Theo lời khuyên của bác sỹ, những người viêm đại tràng không nên dùng thuốc Nam vì tính hàn trong thuốc Nam vì thuốc Nam có tính hàn.
Nhưng người bạn tôi vẫn muốn dùng thử để chữa bệnh mặc dù không tin là mấy. Thật không ngờ sau vài ngày sử dụng, bạn tôi cũng đi phân lỏng, sau đó đi phân bình thường, rồi từ từ da dẻ cũng hồng hảo, khỏe mạnh lại. Người bạn này chỉ mới sử dụng 1 tháng, nhưng viêm đại tràng đã dần hồi phục, không còn bị phân lỏng, và khỏe mạnh như người bình thường.
Như vậy không chỉ chữa bênh gan, mà an xoa còn chữa bệnh đại tràng cực kỳ hay, kể cả những người bịnh trĩ. Thật ra chức năng chính của cây an xoa là giải độc gan, viêm, sưng tấy ở hệ ruột. Ngoài chức này thì tôi chưa biết đến công dụng nào khác. Nhưng tất cả các bệnh về gan tôi chắc chắn với mọi người rằng tất cả các bệnh liên quan đến gan nó đều chữa được, kèm theo kích thích tuần hoàn, tiêu hóa cực tốt, ăn được, ngủ được. Ngoài công dụng chữa bệnh nó còn là một thần dược để làm đẹp da, nhiều chị em trở nên hồng hào, mặt căn tròn trông trẻ hơn rất nhiều.
Cận cảnh trái cây an xoa.
Tôi đã uống rất nhiều loại thuốc Nam, không có cây nào dễ uống, khỏe mạnh, đẹp da, giảm mỡ gan, giảm mỡ bụng hiệu quả bằng cây an xoa. Trái của cây an xoa Nhờ ơn cứu mạng của cây an xoa, nên tôi đã cố gắng chia sẽ tất cả những gì tôi biết về loại cây này sẽ đến các bác, cô, chú, anh, chị, em gần xa.
Tại Bình Phước, loại cây này hiện nay đang được nhiều bà con dùng, cho dù bệnh, hay không bệnh đều dùng cây này nấu nước uống thay nước lọc hằng ngày. Nhưng chỉ một phần nào đó, vì cây thuốc quý này không phải ai cũng biết và tin dùng. Nhưng trong tương lai, bằng tấm lòng của mình tôi sẽ chỉ cho nhà nhà, người người đều dùng để bà con được khỏe mạnh, vui vẻ. Tôi mong các anh chị, cô chú, các bạn nếu ai trong tình cảnh như tôi có thể tìm đến loại cây này để chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo này.
Hiện nay tôi chỉ biết cây an xoa mọc ở khu vực tỉnh Bình Phước, nơi gần biên giới, và mọc hoang gần các đường mương. Nếu có cơ hội bà con cô bác có cơ duyên gặp được cây này và mang về sắc thuốc uống để chữa bệnh. Chú ý Do cây thuốc có nhiều cây na ná như nhau, có một loại cây rất giống với cây “an xoa” từ lá, thân, cho đến bông, và cả trái.
Tuy nhiên cây này mới ra trái có màu đen, chứ không màu xanh như cây an xoa và chưa biết có công dụng gì không. Mong bà con cần quan sát kỹ trước khi hái về uống. Trái cây an xoa có thể hơi ngứa, nên bà con nhớ bỏ trái, chỉ lấy lá, thân, cành để nấu nước uống mà thôi.
(http: //kenh13. info/cay-thuoc-chua-benh-ve-gan-ke-ca-ung-thu-thoi-ky-cuoi. html)
*******************
Kính thư các thầy, do tôi đọc ở trang web uy tín thấy có cách chữa ung thư từ lá cây đu đủ kính chia sẻ cho mọi người cùng tham khảo:
Trích trong bài báo
“Gần đây, thầy Thích Thông Thức, Tiến sĩ Phật học, Đại đức, trụ trì chùa Linh Am, Bắc Ninh cũng đã bày cho tôi một bài thuốc trị mỡ máu rất hay. Lấy cây chó đẻ, loại chó đẻ răng cưa, cùng với nửa trái dứa xanh gọt vỏ và một lạng gan lợn, đun sôi chừng 15 phút rồi uống hai lần trước khi ăn nửa tiếng. Sau hai tuần, sẽ sạch mỡ máu.”
“Để bài thuốc thật chuẩn thì phải lấy lá đu đủ, thái ra rồi phơi khô, thêm lá sả nữa. Nếu chia làm mười phần, thì 9 phần lá đu đủ, 1 phần sả, đun uống, thay cho nước chè, có thể uống hàng ngày. Nếu sau ba ngày, thấy phân đen và hôi kinh khủng thì hiệu nghiệm. Nếu ung thư, chắc chắn khỏi, nếu men gan cao thì bệnh cũng sẽ bay biến và không tái phát trở lại. Đó là một điều rất linh diệu.”
Trích trong bài báo:
“Gần đây, thầy Thích Thông Thức, Tiến sĩ Phật học, Đại đức, trụ trì chùa Linh Am, Bắc Ninh cũng đã bày cho tôi một bài thuốc trị mỡ máu rất hay. Lấy cây chó đẻ, loại chó đẻ răng cưa, cùng với nửa trái dứa xanh gọt vỏ và một lạng gan lợn, đun sôi chừng 15 phút rồi uống hai lần trước khi ăn nửa tiếng. Sau hai tuần, sẽ sạch mỡ máu.”
“Để bài thuốc thật chuẩn thì phải lấy lá đu đủ, thái ra rồi phơi khô, thêm lá sả nữa. Nếu chia làm mười phần, thì 9 phần lá đu đủ, 1 phần sả, đun uống, thay cho nước chè, có thể uống hàng ngày. Nếu sau ba ngày, thấy phân đen và hôi kinh khủng thì hiệu nghiệm. Nếu ung thư, chắc chắn khỏi, nếu men gan cao thì bệnh cũng sẽ bay biến và không tái phát trở lại. Đó là một điều rất linh diệu.”
KINH NGHIỆM CHỮA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON
KINH NGHIỆM CHỮA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON
KINH NGHIỆM CHỮA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON
KINH NGHIỆM CHỮA BỆNH UNG THƯ CỦA CÔ SUE DIXON
Cô Sue Dixon, một Phật tử người Úc, vướng phải căn bệnh hiểm nghèo, ung thư ngực, trong lúc dường như phải bó tay và hoàn toàn tuyệt vọng thì các Tăng sĩ Tây Tạng đã hướng dẫn phương pháp Thiền quán. Tuyệt vời thay, không lâu sau đó, cô bình phục và khỏe mạnh như xưa. Bài viết dưới đây, cô sẽ kể cho đọc giả biết quá trình loại bỏ bệnh ung thư như thế nào
Tôi quyết định viết về chuyện ung thư ngực (breast cancer) của tôi với hy vọng rằng nó có thể là lợi ích cho quý đọc giả là tôi hạnh phúc lắm rồi. Đó là một kinh nghiệm thâm thúy của bản thân vì nó giúp tôi chính thức chuyển đổi hướng đi của tôi trong cuộc sống và Phật pháp đã đóng một vai trò quan trọng dẫn dắt tôi trong hướng đi mới này.
Lần đầu tiên tôi phát hiện mình có một khối u ở bên ngực trái vào đầu tháng 7 năm 1990. Cuộc khám nghiệm cho thấy đó là loại ác tính. Tôi đau khổ vô cùng vì tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bị ung thư, vả lại gia đình tôi không có tiền sử về căn bệnh nan y này và tôi chỉ ở cái tuổi bốn mươi hai. Lúc đó, tôi chợt nhớ đến một bài báo đã đọc trên tờ MANDALA (báo của hội Phật Giáo Tây Tạng, ấn hành ở Hoa Kỳ bằng tiếng Anh từ năm 1975) nói về một phụ nữ mang bệnh ung thư, được Lạt Ma Zopa dạy rằng đó là dịp tốt để làm lợi ích cho người khác vì căn bệnh của mình. Nhờ đó mà tôi được an ủi và cảm thấy rằng mình cũng như một người có ích cho kẻ khác. Tôi có một cảm giác tràn ngập với những tội lỗi và tin rằng bằng một lý do một nào đó mà có lẽ tôi đã phải chịu một hình phạt ở ngày hôm nay vì những hành vi bất thiện vốn từng gây trong quá khứ.
Tôi có một cuộc phẫu thuật vào ngày 4 tháng 7. Năm tuần sau tôi trở về nhà và đi làm bốn ngày trong một tuần, đó là một công việc căng thẳng của một chuyên viên liệu pháp gia đình tại một Trung tâm sức khỏe tâm thần cộng đồng. Một tháng sau chồng tôi lại mổ ruột thừa và sau một tháng thì anh bị liệt. Tất cả những căng thẳng ấy đã vây lấy tôi. Đó là không kể đến làm một bà mẹ và ba đứa con ở tuổi thiếu niên. Năm kế đó, tôi vừa đi làm một tuần năm ngày và vừa đi học để lấy bằng Cao học.
Ngày 25 tháng 5 năm 1992, lần đi khám thường lệ ở bệnh viện. Bác sĩ phẫu thuật cho hay lá gan có nguy cơ lớn hơn trước và rồi chiếu X-quang lại khám phá ra ngực thứ hai cũng bị ung thư. Tôi rất giận dữ và gần như tuyệt vọng. Tất cả những đau đớn đã ập đến và tôi lại bệnh nặng thêm. Tôi bị căng thẳng ở nơi làm việc, không có hạnh phúc trong gia đình, tôi đã đầu hàng và cứ để bệnh ung thư này nghiền nát tôi.
Rồi vào một buổi chiều, tôi viết cho Thượng tọa Zopa (ngài đang ở Hoa Kỳ) một lá thư với nội dung đầy tuyệt vọng. Sau ngày đó tôi có một nội tâm rất mãnh liệt và biết là việc làm đó đúng như mong đợi của tôi, một tuần sau tôi nhận được thư hồi âm từ ông. Ngài Zopa có lời an ủi tôi, chỉ dạy tôi những phương pháp tập Thiền cần thiết và ngài cũng nhắc lại rằng tôi đang có cơ hội tốt để có lợi ích cho người khác.
Thầy của tôi là Thượng tọa Khensur Rinpoche ở Adelaide (Úc), cũng dạy cho tôi một số phương pháp đặc biệt trong việc sử dụng y học Phật Giáo. Ngài cũng nhắc nhở tôi phải cẩn thận trong việc ăn uống, tập Thiền, niệm hơi thở hàng ngày. Ngài cũng khuyên tôi đừng quá bi quan và buồn rầu mà hãy nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp và tôi sẽ sớm bình phục.
Tôi nghỉ làm việc ở Trung tâm liệu pháp và nhận ra rằng điều đó làm cho tôi khó chịu vì cá tính nghề nghiệp đã buộc chặt tôi trong nhiều năm qua. Vào tháng 12 năm 1992 tôi nhận thấy rằng nếu tôi hết bệnh ung thư và khỏe mạnh bình thường thì có lẽ tôi đã chấm dứt cuộc hôn nhân hai mươi bốn năm của mình rồi. Đây là một vấn đề bế tắc, một quyết định đau khổ và cũng là nguyên nhân làm cho cha mẹ tôi phải đau buồn.
Cũng trong thời gian đó, tôi theo học một chương trình nội trú ở trung tâm Gawler gần bang Melbourne. Anh Ian Gawler là sáng lập viên của trung tâm, một người tự khôi phục lại từ bên lề của cái chết vì bệnh ung thư xương (bone cancer) trong mười bảy năm trước khi nhờ phương pháp Thiền và ăn chay theo Đạo Phật. Trung tâm đã cống hiến một cơ hội ngàn vàng cho những người bệnh ung thư đến để chỉnh đốn cuộc sống của mình và bắt đầu thay đổi thói quen của lối sống theo “động cơ” trong quá khứ, học và hành Thiền niệm hơi thở, dùng những thức ăn bổ, khỏe và cố nhiên là thức ăn dành cho người bệnh.
Ở nơi đó, tôi nhận ra rằng tôi có được thuận lợi và tiến bộ đáng kể trong công việc chữa lành bệnh. Tôi thấy mình trở nên trầm lặng hơn, dễ chịu hơn, và chấm dứt những thói quen theo động cơ và tạo ra những khả năng thực sự để tự chữa bệnh cho mình.
Tôi trở về nhà và vẫn tiếp tục hành Thiền nhiều hơn nữa, từ một cho đến hai giờ mỗi ngày theo phương pháp thở, uống vitamin và nhiều loại thuốc bổ tổng hợp khác. Chồng tôi và tôi đã có sự giúp đỡ lẫn nhau thay vì sống ly thân. Tôi cũng có đi châm cứu và đến phòng tập thể dục ba lần trong mỗi tuần.
Đến đầu tháng 7 năm 1993, tôi đi siêu âm và kết quả cho thấy không có sự bất thường trong gan của tôi nữa, các khối u cũng đều biến mất. Tôi sung sướng như đã vứt bỏ một gánh nặng. Tôi liền tổ chức một bữa tiệc ăn mừng để cám ơn quý Thầy, quý bạn bè và gia đình đã an ủi và giúp đỡ tôi trong lúc bệnh. Thượng tọa Khensue Rinpoche đã nói với tôi thật là một điều kỳ diệu rằng tôi đã khỏi bệnh, một căn bệnh trầm trọng nhưng chỉ đối trị với những phương pháp đơn giản. Tôi cảm ơn ngài về sự chỉ dạy của ngài cũng như những người bạn đạo khác. Sau đó chúng tôi đi bách bộ ra ngoài, tôi nhìn thấy một cầu vòng sáng choang ở phía trước chúng tôi. Tôi đã nhận ra rằng cuộc hành trình của tôi chỉ nới bắt đầu.
Đạo Phật đã giúp tôi chữa bệnh bằng cách nào ?
Tôi hoàn toàn tin tưởng vào các vị Thầy đạo hạnh của tôi, cũng như các phương pháp Thiền của Phật pháp một cách tuyệt đối. Tôi tin rằng căn bệnh này là sự chín muồi của nghiệp có liên quan từ đời sống quá khứ và tôi chỉ nhìn nó như một sự thanh lọc hoàn toàn. Tôi cũng cho rằng đây cũng là một dịp may để loại bỏ chu kỳ của nghiệp vì nếu không thì nó sẽ được lập đi lập lại bằng chính nó. Một cách kỳ lạ, tôi cảm thấy bệnh ung thư của tôi lại làm cho tôi khỏe hơn lên.
Áp dụng y học Phật Giáo để chữa bệnh, trong đó vấn đề nhịn ăn, kiêng ăn và tập thở là những điều quan trọng hàng đầu đối với tôi. Tôi quán chiếu một tia sáng theo phương pháp thiền Kim cang để gột rửa đi những tế bào ung thư ở bên cửa miệng của tử thần, rồi tôi thấy mật hoa màu vàng phủ trùm cả cơ thể tôi, và như thế mà lá gan của tôi đã phục hồi trở lại. Tuy nhiên phải mất một vài tháng trước khi tôi có thể những khối u trong tôi bị tẩy sạch.
Một phép quán khác quan trọng nữa là nhìn thấy ai đó đang bị đau đớn, hít vào một hơi thật sâu để xua tan đi những u tối trong tâm hồn và làm rộ ra viên kim cương, cái chính thực của mình. Và rồi thở ra với một luồng ánh sáng trắng từ viên kim cương ấy để đem vào cái mát mẻ và an lạc từ những nỗi đau đớn. Tôi cũng nguyện cầu cho tất cả mọi người bị vướng phải căn bệnh này sớm biết được phương pháp thiền quán này để họ bớt khổ đau.
Tôi có một niềm vui nhất định khi tập thiền. Qua giáo lý và thiền, tôi nhìn thấy rõ cách tồn tại hoàn toàn của tôi được quyết định bởi sự tỉnh thức và sự tự giữ lấy mình. Tôi bắt đầu thấy rõ mình lúc thức, lúc ngủ, cũng như lúc thoải mái hay lúc bực mình. Tôi bắt đầu nắm bắt được sự thật là nếu tôi khỏe lên thì có lẽ tôi lại phóng túng, phá vỡ mọi trật tự những cái sẽ đưa đến sự hoàn thiện, sự hạnh phúc. Thật khó cho chúng ta đạt được như ý trong khi vẫn cứ chạy theo cái lề thói cũ của mình. Điều đó đã liên quan đến cả cuộc sống lẫn trong mọi sinh hoạt hàng ngày của tôi. Chẳng hạn như việc sử dụng đồ đạc, trong tiếp xúc, những cái mà tôi không thích thì nay được thay đổi, bước đi với những bước chân thanh thản, nhẹ nhàng thay vì chạy rầm rầm… cũng như những việc lớn giống như tình trạng hôn nhân thoải mái nhưng không hạnh phúc nơi mà tôi đã dần dần bị xói mòn bởi sự giận dữ và xung đột.
Thật là điên cuồng để chạy theo những cái mỏng manh và huyền ảo của lợi danh và vật chất, để rồi lúc đối đầu với cái chết, chúng ta mới nhận ra rằng mình cũng giống như bao người khác, chỉ là sự sợ hãi, thất vọng và “ra đi” với hai bàn tay trắng trong nỗi niềm luyến tiếc những người mình thương, với những gì mình sở hữu. Tại sao chúng ta không biết chuẩn bị cho mình một cái gì đó cho ngày ấy? là một người bằng xương bằng thịt, tôi đã tuyệt vọng khi đối đầu với cái chết để trở nên một người biết thức tỉnh và biết lo tu học. Tôi rất mong quý đọc giả không giống như tình trạng của tôi.
Thế thì tương lai của tôi sẽ ra sao? Tôi cho rằng đang chờ xem thử những gì sẽ xảy ra. Nhưng tôi dám chắc là căn bệnh ung thư kia đã bị loại bỏ hoàn toàn nhờ “phương thuốc” Thiền thần diệu của Đạo Phật.
Hiện nay tôi đang bận rộn viết cho xong cuốn sách về phương pháp Thiền trị bệnh của Phật Giáo, nhưng tôi muốn nghe ý kiến cũng như muốn đối thoại với bất cứ những ai thắc mắc và quan tâm đến vấn đề này. Hoặc gởi thư cho tôi qua địa chỉ : Sue Taylor, P.O.Box 578 , Kingscote, SA 5223, Australia. Tel: 08.8559 3260
***Người sao chép xin gửi các bạn video Youtube về bệnh ung thư rất hay:
http://www.youtube.com/watch?v=5XCwjqYQ_KU
http://www.youtube.com/watch?v=5xJS9mqcu7A
http://phapthi.net/showthread.php?t=36
MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH – HÀN – NHIỆT MỆNH
MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH – HÀN – NHIỆT MỆNH
MOT QUAN DIEM MOI VE VAN MENH – HAN – NHIET MENH, MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH – HÀN – NHIỆT MỆNH
MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH – HÀN – NHIỆT MỆNH
MOT QUAN DIEM MOI VE VAN MENH – HAN – NHIET MENH, MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH – HÀN – NHIỆT MỆNH
MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH: – HÀN – NHIỆT MỆNH
MỘT QUAN ĐIỂM MỚI VỀ VẬN MỆNH: – HÀN – NHIỆT MỆNH
Chú Ý quan trọng: Bài viết chỉ có giá trị tham khảo trong “Dịch học”.
***
I.- Xuất xứ:-
Khởi thủy là do nhà Huyền học Ngô Vãn Hiên (吳晚軒) ở Hong Kong đề xuất từ 1983, sau được học trò là Tô Dân Phong (蘇民峰) hoàn chỉnh (1992—1994 ).
II.- Định nghĩa:-
a/- Hàn mệnh (寒命):- Người sinh từ sau tiết Lập Thu (sau 8/8 DL) đến trước tiết Kinh Trập (trước 6/3 DL)
b/- Nhiệt mệnh (熱命):- Người sinh sau tiết Lập Hạ (sau 6/5 DL) đến trước tiết Lập Thu (trước 8/8 DL)
c/- Bình mệnh (平命):- Người sinh sau tiết Kinh Trập (sau 6/3 DL) đến trước tiết Lập Hạ (trước 6/5 DL)
III.- Tính chất: –
-Hàn mệnh rất cần Hỏa để hỗ trợ mới tốt. Mà mộc sinh hỏa nên người Hàn mệnh có vận hạn tốt trong thời gian mang tính chất mộc và hỏa.
-Nhiệt mệnh rất cần Thủy để hỗ trợ mới tốt. Mà kim sinh thủy nên người Nhiệt mệnh có vận hạn tốt trong thời gian mang tính chất kim và thủy.
-Bình mệnh thì có vận hạn tốt trong thời gian mang tính chất Thổ. Nếu là Can thổ (Thổ đới Hỏa = thổ khô) thì hạp với mộc và hỏa, nếu là Thấp thổ (Thổ đới Thủy = thổ ướt) thì hạp với kim và thủy.
IV.- Ngũ hành của thời gian:-
1.- Năm:-
A.- Cứ sáu năm thì mang một tính chất Kim thủy hay Mộc hỏa, một chu kỳ 60 năm chia thành 10 đại vận tính chất nầy.
* Cụ thể, từ năm 2010 DL đến năm 2015 DL mang tính chất Mộc hỏa. (tốt cho Hàn mệnh)
-Từ năm 2016 DL đến năm 2021 DL mang tính chất Kim thủy. (tốt cho Nhiệt mệnh)
-Từ năm 2022 DL đến năm 2027 DL mang tính chất Mộc hỏa trở lại.
-Cứ thế mà luân phiên thay đổi
-Bình mệnh thì tốt trong thời gian mang tính chất Thổ (15 ngày cuối của mỗi mùa.)
Thổ của Xuân và Hạ thuộc Thổ đới Hỏa. Thổ của Thu và Đông thuộc Thổ đới Thủy.
B.- Ngũ hành 12 chi: – (năm và ngày)
-Tí:- thuộc thủy.
-Sửu:- thuộc Thổ đới thủy.
-Dần:- thuộc Mộc đới hỏa.
-Mão:- thuộc Mộc.
-Thìn:- thuộc Thổ đới thủy.
-Tỵ:- thuộc Hỏa.
-Ngọ:- thuộc Hỏa.
-Mùi:- thuộc Thổ đới hỏa.
-Thân:- thuộc Kim đới thủy.
-Dậu:- thuộc Kim.
-Tuất:- thuộc Thổ đới hỏa.
-Hợi:- thuộc Thủy.
2.- Tháng: –
-Tháng giêng ÂL: – thuộc Mộc đới Hỏa. ( đới: – đeo mang, thiên về)
-Tháng hai:- thuộc Mộc.
-Tháng ba:- thuộc Thổ đới Thủy.
-Tháng tư: – thuộc Hỏa.
-Tháng năm: – thuộc Hỏa.
-Tháng sáu:- thuộc Thổ đới Hỏa.
-Tháng bảy:- thuộc Kim đới Thủy.
-Tháng tám:- thuộc Kim.
-Tháng chín:- thuộc Thổ đới Hỏa.
-Tháng mười:- thuộc Thủy.
-Tháng mười một:- thuộc Thủy.
-Tháng mười hai:- thuộc Thổ đới Thủy.
V.- Ứng dụng: –
Sau khi xác định mình sinh vào Hàn, Nhiệt hay Bình mệnh, ta có thể phối hợp vào thời gian (năm, tháng, ngày) để biết tốt hay xấu, thuận lợi hay khó khăn theo nguyên lý “bổ sung”. Từ đó, chúng ta hoạch định kế hoạch làm việc, kinh doanh cho phù hợp (phát triển hay hoạt động cầm chừng).
Ví dụ:
– Trong đại vận từ 2010 đến 2015, thuộc Mộc Hỏa nên tốt cho Hàn mệnh. Trong 5 năm nầy, năm Canh Dần (2010) thuộc Mộc đới Hỏa và Tân Mão (2011) thuộc Mộc thì tốt cho sự bắt đầu công việc.
Năm Nhâm Thìn (2012) thuộc Thổ đới Thủy thì không thuận lợi lắm. Năm Quý Tỵ (2013) và Giáp Ngọ (2014) thuộc Hỏa thì rất tốt, thành công lớn.
Năm Ất Mùi (2015) thuộc Thổ đới Hỏa thì mức tốt giảm dần.
Chuyển sang đại vận (2016—2021) thuộc Kim thủy thì người Hàn mệnh có độ tốt kém đi.
*Nhưng trong một năm, thì mỗi tháng và ngày lại có tính chất thủy hỏa riêng, nên có tác dụng tăng cường hay chiết giảm độ số xấu, tốt.
-Cứ thế mà suy luận và tính toán cho vận mệnh của mỗi cá nhân theo từng thời điểm để hoạch định công việc cho phù hợp.
VI.- Kết luận:-
Quan điểm mới về Hàn—Nhiệt mệnh giúp cho chúng ta dễ dàng ứng dụng “thiên vận” vào “nhân mệnh” vì nó tương đối đơn giản nhưng hiệu quả.
Đây là một đóng góp mới mẻ cho việc tính toán, hoạch định công việc làm ăn một cách có kết quả, lợi ích của quan điểm nầy rất có giá trị cho mọi người.
BÁT ĐOẠN CẨM
BÁT ĐOẠN CẨM
BÁT ĐOẠN CẨM
BÁT ĐOẠN CẨM
BÁT ĐOẠN CẨM
(Tài liệu sưu tâm)
BÀI KHÍ CÔNG “BÁT ĐOẠN CẨM” LÀ GÌ?
Tác giả : Lương y BÀNG CẨM
Gần đây, một số người có chuyền tay nhau chiếc đĩa VCD hướng dẫn bài tập khí công Bát Đoạn Cẩm. Đây là một phương pháp luyện tập mới xuất hiện ở TPHCM và Huế không lâu. Để giúp bạn đọc hiểu thêm những tác dụng hữu ích của bài khí công này, chúng tôi đã gặp BS. Lê Văn Vĩnh, TS. BS. Lê Hành, BS. Phan Đương – nhóm nghiên cứu, hướng dẫn bài khí công trên.
Bát Đoạn Cẩm là bài tập khí công của phái Thiếu Lâm đã có từ hơn 1.000 năm nay ở Trung Quốc. Nay, từ bài nguyên gốc, các “Đại sư” khí công của Sở TDTT Bắc Kinh nghiên cứu chuyển thể ra bài tập đơn giản quốc tế, gồm 8 động tác luyện khí ở gân cân cơ, giúp làm thông các kỳ kinh bát mạch trong cơ thể, cùng làm gia tăng khí lực đạt đến sự trường thọ không bệnh tật, thu hút được hàng triệu người trên khắp thế giới tham gia tập luyện.
BÁT ĐOẠN CẨM MANG LẠI LỢI ÍCH GÌ?
Khác hẳn bài Bát Đoạn Cẩm nguyên gốc, bài Bát Đoạn Cẩm quốc tế dễ tập, có cách thở đơn giản hơn và đi theo trường phái dưỡng sinh trường thọ. Bài tập không có tác dụng phụ, dễ truyền bá cho đông đảo quần chúng (ngoài ngành võ thuật) để luyện tập an toàn và đạt hiệu quả cao trong việc bảo vệ sức khỏe. Mỗi động tác đều mang những tác dụng thực tiễn như:
1. Lưỡng thủ kình thiên lý tam tiêu (Hai tay chống trời điều lý cả vùng Tam tiêu):
Tác dụng: Tam tiêu gồm Thượng tiêu: Não, hệ tuần hoàn – hô hấp; Trung tiêu: Hệ tiêu hóa; Hạ tiêu: Hệ tiết niệu – sinh dục. Chủ yếu luyện thông kinh Tam tiêu, có tác dụng giúp ăn ngon, ngủ yên, trí tuệ minh mẫn, cơ thể cường tráng, mọi suy yếu sinh lý – sinh dục được điều chỉnh. Giúp trẻ em mau lớn, phát triển khả năng học toán. Trí tuệ thanh thản, không lười biếng, linh động hơn.
Động tác:
— 2 tay đưa lên: hít vào, điều lý đến cả vùng Tam tiêu từ huyệt Bách hội đi xuống gáy và đi lên sau tai, lên đuôi lông mày 2 bên, phải nhón chân lên.
— 2 tay đưa xuống về 2 bên đùi: thở ra, cong 2 ngón chân cái lên trong thì này để kích thích các huyệt thuộc kinh Đại tràng và nhóm kinh dương trước cẳng chân.
2. Tả hữu khai cung tựa xạ điêu (Tay trái, phải dương ra như xạ điêu bắn cung):
Tác dụng: Làm mạnh 2 cánh tay, cứng cáp đôi chân. Thông kinh Đại trường (kinh ruột già) gồm 20 huyệt từ đầu ngón tay trỏ tới cánh mũi; Trị táo bón, tê bại, phong thấp nhức gân, khớp xương; liệt nhẹ nửa người.
Động tác:
— Tay đưa ra bắn cung: hít vào.
— Tay đưa chéo về lại trước ngực: thở ra.
3. Điều lý tỳ vị đơn cử thủ (Điều hòa tỳ vị một tay đẩy lên):
Tác dụng: Dùng luyện khí, lưu thông 2 kinh Tỳ – Vị (dạ dày và lá lách). Giúp ăn ngon, ngủ được, mau đói, đại tiểu tiện thông suốt.
Động tác:
— Một tay đưa lên đầu, một tay ấn xuống bên hông trái: hít vào.
— 2 tay lật lại đưa về ngang chấn thủy: thở ra.
4. Ngũ lao thất thương, vọng hậu tiều (Liếc nhìn phía sau, xua đi “Ngũ lao thất thương” – những hao mòn cho sức khỏe):
Tác dụng: Chủ luyện hệ thần kinh. Đưa máu đầy đủ lên não.
Động tác:
— Đầu quay qua một bên và 2 bàn tay đưa ra 2 bên đùi: hít vào.
— Đầu trở về vị trí như cũ và 2 tay đưa lên bụng: thở ra.
5. Dao đầu bài vĩ khứ tâm hỏa (Lắc đầu vẫy đuôi xua hết tính nóng nảy):
Tác dụng: Làm tăng lượng máu lưu thông, mất tính nóng nảy vì thiếu máu.
Động tác:
— Đầu nghiêng qua một bên: hít vào.
— Đầu trở về vị trí cũ ở ngay giữa: thở ra.
6. Bối hậu thất điên bách bệnh tiêu (Phía sau giậm gót bảy lần trăm bệnh tiêu tan):
Tác dụng: Kích thích quan trọng 2 kinh Nhâm và Đốc (đường đi giữa trước và sau thân) tăng sinh lực. Có tác dụng hồi sức, thân thể cường tráng.
Động tác:
— Nhón chân lên, 2 tay ấn xuống: hít vào.
— Hạ chân xuống, 2 tay đưa lên: thở ra.
— Động tác này làm tối thiểu 30 lần.
— Nhón chân lên cao và chạm mạnh gót chân xuống đất: thở bình thường. Tối thiểu làm 100 lần.
7. Toàn quyền nộ mục tăng khí lực (Nắm chặt tay, trợn mắt tăng khí lực):
Tác dụng: Làm tăng khí lực do tay chân và thân eo liên lạc với nhau.
Động tác:
— Tay thủ ở hông: hít vào.
— Tay đấm ra: thở ra, rồi ở tư thế này hít vào và tay kia đấm ra thì thở ra.
8. Lưỡng thủ phang túc cố thận eo (Hai tay phang xuống chân, bền thận và giữ eo):
Tác dụng: Lưu thông mạch nhâm – đốc và thận kinh. Giúp gân cốt mềm mại, dẻo dai, tủy sống được săn sóc, tinh thần vui vẻ sảng khoái. Bổ thận tráng dương.
Động tác:
— Thân đưa từ dưới lên và ưỡn ra sau: hít vào.
— Thân cúi xuống, vuốt 2 chân: thở ra.
NHỮNG CHỨNG BỆNH THÍCH HỢP:
Bài khí công Bát Đoạn Cẩm ngoài từng động tác có tác dụng riêng biệt, cả bài còn là phương pháp phòng trị bệnh cho cả người già lẫn trẻ, cả người bệnh lẫn người bình thường, đạt hiệu quả với các chứng bệnh như: Bệnh đốt sống cổ dạng động mạch, bệnh đốt sống cổ dạng u tủy, bệnh mạch vành, đau lưng đùi, rối loạn chức năng dạ dày – ruột, chán ăn…
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
Không thích hợp cho người đang bệnh nặng.
NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý:
1. Vận dụng bài tập này cần thuộc lòng, đồng thời phải kiên trì, nếu không sẽ không đạt hiệu quả như ý.
2. Nếu dùng trong điều trị bệnh, có thể cùng kết hợp với các liệu pháp khác.
KHÍ CÔNG TRỊ BỆNH
KHÍ CÔNG TRỊ BỆNH
KHÍ CÔNG TRỊ BỆNH
KHÍ CÔNG TRỊ BỆNH
I . Chẩn đoán bệnh:
Vạn bệnh đều do khí mà ra
Bởi thế cho nên phải kiểm tra
Tĩnh tâm quán sát khí lưu chuyển
Bế ở chỗ nào cố khai ra
Thực chứng thời ta phải Tả ngay
Hư chứng ra tay Bổ ngay này
Vận Dụng Ngũ Hành và Bổ Tả
Tật bệnh ốm đau diệt hết ngay
Thực thời đầu choáng , nóng lung tung
Khí huyết Phù Cấp , khổ vô cùng
Hư thời hư nhược , người uể oải
Khí thời Trầm Bế , mệt vô cùng
Thả lỏng toàn thân , tâm an nhiên
Hít thở vào ra chẳng lụy phiền
Mắt nhìn chóp mũi quy Đan cứ
Tai lắng nghe tim phải nhẹ nhàng
Khí huyệt tự nhiên sẽ chạy thông
Bế tắt ở đâu hiểu rõ liền
Vận dùng công pháp khai thông nó
Bách bệnh dù nan , cũng sẽ thông
II . Công Pháp:
Trước thời giáng khí xuống bàn chân
Xua khí trọc ô thoát xuống dần…
Gót chân thanh khí thăng lên não
Giáng khí trọc ô sẽ thoát dần
Tâm phải lạnh băng chuyện thế nhân
Thân như liễu rũ lỏng muôn phần
Hít vào khí lại quy Đan cứ (đan điền)
Thở nhẹ ra thôi phải ít dần…
Đến một hồi lâu khí tự lưu
Gặp chỗ bế đau phải trị mau
Hít vào khí tụ nơi bế đó
Nín khí thật lâu chỗ đó liền
Càng nín càng lâu sẽ càng hay
Hít khí vào thêm nén nó này
Bí quá liền thở ra nhè nhẹ
Rồi lại hít ngay mạnh hơn này
Chỗ bế sẽ đau , toát mồ hôi
Ngày làm vài lượt sẽ thông thôi
Việc chữa cũng đừng mong thái quá
Tự nhiên thư thả…sẽ qua thôi.
Thu công đứng giậy tay nén tay
Áp vào Đan cứ , khẽ xoay xoay (áp hai bàn tay vào nhau rồi xoay quanh rốn)
Khí dư cho thoát bàn chân ấy
Rồi bước ra sân ,dạo mấy vòng.
III . Luận Cứ:
Sinh thời Tinh Huyết mẹ cha cho
Khí sẽ tụ nơi bát mạch đồ
Sinh Tử huyền quang còn chưa đứt
Nên sẽ còn nguyên Thái Cực Đồ (Tế Bào Gốc)
Khi ta Sinh ra tức Tử lai
Tật bệnh ốm đau lại đến này
Đừng bảo Mệnh Trời cho ta vậy
Mà tại vì ta chẳng biết thay
Hít thường khí chỉ ở Phế thôi
Lại phí tiên thiên ở chuyện đời
Thận ngày suy kiệt thân đau yếu
Phải bổ Thận ngay , cứu lấy đời
Hít phải vào ra tận gót chân
Bách lông quán khí sẽ khai thông
Da dẻ mịn màng thông khí huyết
Tâm càng rộng mở , Trí càng thông
Một số phương pháp chữa viêm xoang:
Cây cứt lợn
Tuy có cái tên khó nghe và cũng không phải “của hiếm” nhưng cây cứt lợn lại là vị thuốc quý trong điều trị viêm xoang. Loại cây này có tác dụng chống viêm, chống phù nề, dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính.
Ở Việt Nam, viêm mũi xoang gặp ở 15-20% dân số. Bệnh khởi phát dưới ảnh hưởng của khí hậu, môi trường, độ ẩm, điều kiện sống, sinh hoạt, sự mẫn cảm của cơ địa… và rất hay tái phát. Việc điều trị thường kéo dài 3-6 tháng, thậm chí có người phải điều trị nhiều năm liên tục với những thuốc Tây y đắt tiền. Mỗi đợt thuốc có thể tốn hàng triệu đồng khiến nhiều bệnh nhân không “theo” được.
Từ lâu, dân gian đã lưu truyền tác dụng chữa viêm mũi xoang của cây hoa cứt lợn (còn có tên là hoa ngũ sắc, hoa ngũ vị, cây cỏ hôi; tên khoa học là Ageratum conyzoides).
Cứt lợn là một loại cây nhỏ, thân nhiều lông mềm, cao chừng 25-50 cm, mọc hoang ở khắp nơi, nhiều nhất là nông thôn. Hoa nhỏ màu tím, xanh. Cây phát triển rất dễ ở mọi loại đất, có những nơi mọc khắp cánh đồng. Người ta hái toàn cây, cắt bỏ rễ, dùng tươi hay khô. Cây cứt lợn có hàm lượng tinh dầu cao. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy nó có tác dụng chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính.
Cách sử dụng: Chọn lấy cây tươi về ngâm rửa sạch rồi để ráo, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút. Rút bông ra để dịch mủ từ trong xoang và mũi giải phóng ra ngoài rồi xì nhẹ nhàng. Tránh xì mũi mạnh vì lúc đó, mủ từ trong mũi xoang có thể đi qua đường nối thông giữa mũi và tai (gọi là vòi nhĩ) gây viêm tai giữa cấp.
Hiện nay đã có một số thuốc chiết xuất từ cây cứt lợn, bào chế dưới dạng dung dịch nhỏ mũi, rất thuận tiện cho người sử dụng. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ tai mũi họng để có chẩn đoán chính xác (loại trừ trước các khối u mũi xoang) và hướng dẫn cách theo dõi khi tự dùng thuốc ở nhà.
Cây cỏ hôi trong dân gian thường gọi cây cứt lợn, ngũ vị, tên khoa học: Ageratum Conyzoides-L.
Cây cao chừng 25-30 cm, lá mọc đối xứng hình quả trứng hoặc hình ba cạnh, phía trên của lá (lưng lá) màu xanh đậm, phía dưới bụng màu nhạt hơn, lá có lông, sờ nhám, vò nát có mùi thơm dễ chịu (dầu sánh màu vàng). Trong tinh dầu hoa và lá đều có cadinen, caryophyllen, geratockomen, demetoxygeratocromen và một số thành phần khác.
Và mới đây các nhà khoa học còn cho thấy cây này có 3 tác dụng chính chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng.
Ba cơ chế tác dụng này hoàn toàn phù hợp với cơ chế gây viêm xoang từ viêm họng, viêm mũi, viêm mũi dị ứng, viêm họng hạt… điều trị không khỏi hẳn, tình trạng viêm lan tới các xoang gây ra viêm xoang. Khi các hố xoang đã viêm tất nhiên sẽ phù nề gây cản trở đường hô hấp trên, như: ngạt mũi, ứ đọng, tiết dịch… và gây phản ứng cục bộ, sốt, đau đầu…
Một số bài thuốc dùng trong nhân dân:
Chữa viêm xoang mũi do dị ứng, viêm mũi dị ứng:
Bài 1: Cỏ hôi 100g tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, dùng bông thấm nước nhét vào lỗ mũi.
Bài 2: Cỏ hôi 100g, lá long não 50g, lá chanh 10g.
Cách dùng: Rửa sạch, cho 200ml nước, sắc còn 50ml lít nước, đổ nước ra bát hoặc chén xông lên mũi, ngày xông 3 lần.
Chữa rong huyết ở phụ nữ:
Hy thiêm 12g, hương phụ chế 10g, ích mẫu thảo 12g, ngải cứu 16g, cỏ hôi 20g. Tất cả rửa sạch, phơi khô. Cho 600ml nước sắc còn 150ml, sắc 2 lần, chia 2 lần uống trong ngày. Thường dùng 3-4 tháng.
Cách khác:
Môi trường ô nhiễm, tình trạng viêm mũi dị ứng, viêm xoang rất thường gặp, nhất là ở các thành phố lớn. Ngoài những phương pháp chữa trị bằng Tây y, ở bài này, chúng tôi đề cập đến những phương thuốc trị viêm mũi, viêm xoang theo cách của y học cổ truyền.
Đối với trường hợp viêm mũi thông thường, theo lương y Nguyễn Công Đức: “Đông y có pháp trị với tên gọi “Tân ôn giải biểu”, với thành phần của phương dược bao gồm: hoắc hương, bạc hà, hậu phác, vỏ quít (mỗi thứ 10 gr), mạn kinh tử, tô điệp và gừng tươi (mỗi loại 12 gr) cùng 8 gr bạch chỉ. Những vị thuốc trên đem sắc với 3 chén nước (độ 600 ml), sắc còn lại 1,5 chén. Uống lúc nước thuốc còn ấm, trùm mền để mồ hôi xuất ra. Ngày dùng 3 lần, mỗi lần nửa chén. Ngày thứ hai chỉ uống, không trùm mền nữa, uống liên tiếp 3 ngày.
Ngoài uống, còn có thể trị bằng châm cứu, châm các huyệt nghinh hương, hợp cốc, túc tam lý. Đối với viêm mũi dị ứng, Đông y có pháp trị “Bổ khí cố biểu, khu phong tán hàn”, với bài thuốc gồm các vị thuốc: đảng sâm, hoàng kỳ (mỗi vị 16 gr), bạch truật, bạch thược (mỗi vị 12 gr), quế chi, tế tân (mỗi vị 8 gr), phòng phong 10gr, ma hoàng 4 gr, cùng 3 quả đại táo và 3 lát gừng tươi. Tất cả đem sắc với 3 chén nước, còn lại 1,5 chén thuốc, ngày uống 3 lần (mỗi lần nửa chén). Cũng có thể dùng cách châm cứu giống như châm cứu chữa viêm mũi thông thường ở trên”. Còn lương y Phạm Như Tá (Hội Đông y Q.Bình Thạnh, TP.HCM) có phương thuốc kinh điển, đơn giản, nhưng hiệu quả trị viêm mũi dị ứng, gồm: 12 gr thương nhĩ tử, 12 gr tân di hoa, 8gr bạc hà và 12 gr bạch chỉ, đem sắc với 4 chén nước, còn lại 1 chén, chia làm hai lần dùng trong ngày sau bữa ăn.
Đối với viêm mũi mãn tính thì có phương thuốc gồm: cam thảo, cát cánh, bạch chỉ (mỗi vị 6 gr), bạc hà, tân di hoa (mỗi loại 8 gr), hoắc hương, kinh giới, phòng phong, bản lam căn (mỗi loại 12 gr), ké đầu ngựa 16 gr, hạ khô thảo 10 gr. Cũng đem sắc với 3 chén nước, sắc còn lại 1,5 chén thuốc. Chia làm 3 lần dùng trong ngày, dùng lúc nước thuốc ấm. Ngoài ra, cũng tùy theo tính chất bệnh của mỗi người mà thầy thuốc có thể gia giảm phương thuốc trên. Bên cạnh đó còn có thể dùng phương pháp châm cứu các huyệt nghinh hương, hợp cốc, ấn đường, liệt khuyết.
Đối với những trường hợp bị viêm xoang do dị ứng, Đông y dùng phương thuốc và châm cứu cũng giống như viêm mũi dị ứng. Riêng với viêm xoang do nhiễm khuẩn cấp tính thì Đông y có pháp trị “Thanh phế nhiệt, giải độc” bằng bài thuốc gồm các vị thuốc: kim ngân hoa, ké đầu ngựa, rau dấp cá (rau diếp cá) (mỗi loại 16 gr), hoàng cầm, hoắc hương và bạc hà (mỗi loại 12 gr), 8gr chi tử và 20 gr bản lam căn. Đem sắc với 800 ml nước, sắc còn 300 ml thuốc. Chia làm 3 lần dùng trong ngày lúc bụng đói, lúc thuốc ấm.
Còn đối với viêm xoang nhiễm klhuẩn mãn tính, Đông y có pháp trị “Dưỡng âm, nhuận táo, thanh nhiệt, giải độc”. Bài thuốc gồm có sinh địa, ké đầu ngựa, kim ngân hoa (mỗi vị 16 gr), huyền sâm, đơn bì, mạch môn, hoắc hương (mỗi vị 12 gr), hoàng cầm, hoàng bá (10 gr mỗi loại) và 8 gr tân di hoa. Tất cả đem sắc với 800 ml nước, sắc còn lại 300 ml thuốc. Chia làm 3 lần dùng trong ngày lúc bụng no. Ngoài ra còn có phương pháp châm cứu các huyệt: thái dương, ấn đường, quyền liêu…
Cách khác:
01 thang thuốc sắc làm 02 lần, lần 1 nấu thuốc với ba chén nước đến khi thuốc còn lại 01 chén là được, lần 2 nấu tiếp với 03 chén nước còn lại khoảng 8 phân .
Thuốc uống mỗi ngày 01 thang, khoảng 10 thang là thấy có kết quả.
TOA THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM XOANG
1- Tam nại 03 chỉ
2- Bạch chỉ 03 chỉ
3- Cam thảo ( bắc ) 02 chỉ
4- Xuyên khung 04 chỉ
5- Chỉ sát 03 chỉ
6- Linh tiên 04 chỉ
7- Kim ngân 03 chỉ
8- Tóai bộ 04 chỉ
9- Bá bộ 05 chỉ
10- Ngũ gia bì 03 chỉ
11- Bạch cúc 03 chỉ
12- Hùynh kỳ 04 chỉ
13- Hoắc hương 04 chỉ
14- Sa nhân 03 chỉ
15- Khiếm thực 03 chỉ
16- Mẫu đơn bì 03 chỉ
