Hồi – Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh

Hồi – Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh

Hồi – Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh
Ấn Tống – Phật Lịch 2540 – 1996

Hồi – Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh

Hoi – Duong Nhon Qua va Ngoc Lich Minh Kinh

Hồi – Dương Nhơn Quả và Ngọc Lịch Minh Kinh
Ấn Tống – Phật Lịch 2540 – 1996
Tựa
Của Giang-Triều – Viễn khắc bản lần thứ nhì
Xưa nay, làm lành thì đặng phước, dữ ác thì mắc họa, nhơn-quả báo-ứng rõ ràng, và đủ bằng chứng. Còn có lời nguyện là vái-van thì phải huờn nguyện là trả lễ. Còn lời nguyện tôi lấy làm tệ quá! là nguyên năm Kỉ – Vì, trào Thanh vua Gia-Khánh, tôi dạy học tại đất Tam-tấn, hai lần phát nguyện in sáu ngàn bộ Như-ý-lục là sách khuyến -thiện, mà cho người; vái nội mười năm in cho đủ số. Ba năm khắc mới rồi bản Như-ý -lục tại kính -kỳ, hụt tiền nên in mới năm trăm bộ! Thảng – mảng đã đến mười năm, té ra trả tiền lễ chưa đủ, mà cha tôi qua đời! Tôi ăn năn buồn rầu, vì cầu thọ cho cha không hết lòng, nên sống không đặng lâu dài, mà còn mắc nợ lời vái.
Qua tháng mười một năm Giáp-Thìn, tôi đến kinh-đô nữa, vào chùa Dao-nhiên, lại cầu đức Văn-Xương-Đế -quân cho nán năm năm nữa, sẽ in đủ số sách mà chuộc tội (Cái sự nguyện in thiên-thơ mà cầu việc chi, đã có nói trong tựa sách Như-ý -lục, ấy là nguyện vái cầu thọ cho cha sống lâu).
Qua năm sau là năm Kỉ-Vì, in thêm một ngàn bộ. Song sợ lòng xao lãng theo luật Công-quá -cách, và hay xem lời khuyên đời các tính trung hiếu, đều rút biên thêm sau cuốn Như-ý-lục, mùa thu khắc thêm rồi. Nay là năm Bính thân, in thêm một ngàn bộ nữa. Lúc nầy tôi dạy tại sông Thiên giang; tiền tuy ít, mà không dám bê trễ. Khi ấy xảy gặp thầy Cố – tình -Nhai là ngươi in kinh, nói chuyện cuốn Hồi -dương Nhơn quả, đưa cho tôi xem, coi kỹ lời nói việc lành việc dữ rành rẽ, bắt rùng mình, rởn óc, sợ run! Thầm xét sách của bậc thánh hiền, luật của tiên, kinh của Phật, là lời dạy của tam giáo (ba đạo) đều khuyên người chừa dữ làm lành. Nhưng mà cuốn Hồi dương nhơn-quả nầy người xem nghe càng dễ hiểu, đủ tin: nên các kinh khuyến thiện cho kinh nầy là đường tắt hơn hết. Nghĩ như vậy, tôi chia số tiền ấy, phân nửa in Như ý lục có phụ thêm, còn phân nửa khắc bản Hồi dương nhơn quả in cho đời, mới rồi lời vái trước. 
(Như vậy lời tựa nầy, là lần khắc bản nhì).
TỰA
Khắc bản Hồi Dương Nhơn Quả lần thứ ba
Dương-gian âm-phủ thưởng phạt cùng một lý không khác. Người trí thì hiểu, kẻ dốt không thông. Nay hỏi thử kẻ không thông học như vầy: “Lời xưa nói: Việc Âm-phủ chẳng nên tin tron, song cũng phải tin. Như vậy, tin tại lỗ tai hay tin tại con mắt?” Chắc trả lời rằng: “Tai nghe có lý cũng tin, mà sao bằng mắt thấy “.
Huyện Kim Khê, có chàng họ Lý tên Hạo-Chiêm, tự Chung-Tú, thuật chuyện chàng họ Giang tên Triều -Viễn, tự Giác Phi ở huyện Bạch – Hà, khắc thêm bản kinh Hồi-dương nhơn-quả, là khắc lần thứ nhì, do theo bản của Lâm-Tự-Kỳ. Nguyên tích Lâm-Tự-Kỳ ở huyện Hiếu -cảm, tỉnh Hồ-Bắc, bị quỉ Vô-thường lầm bắt hồn xuống âm-phủ, thấy vua Nhứt-Điện với các phán-quan xử nhiều án. Sau sống lại nhớ chừng, chép làm một tập, có vẽ hình vua Minh vương với Phán -quan xử các tội hồn và quỉ sứ hành hình, thích nghĩa minh bạch âm-luận rõ ràng. Rồi rủ đông người chung đậu, mướn khắc bản in cho thiên hạ phỏng vài ngàn cuốn (Như vây, Lậm-Tự-Kỳ khắc bản là lần thứ nhứt).
Khi ấy tại chợ Kiến-khê, có người bằng hữu đặng một bổn, muốn khắc bản, dùng tại xứ minh cho gần, vì Hồ-Bắc với huyện Bạch-Hạ đều xa cả. Chàng Lý-Chung-Tú cũng ở về quận Kiến-Khê khen ngợi lắm, khuyên rủ các vị háo thiện hay làm phước bố thí, đậu bạc khắc bản lần thứ ba, xin tôi đặt lời tựa, để in trước mặt kinh. Tôi nói: “Ai cũng muốn làm lành như mình. Nếu lấy sự tai nghe mà khuyên người hồi tâm, sửa lòng làm lành chừa dữ. Sao bằng lấy sự mắt thấy khuyên người, chắc ý tin thiệt chừa lỗi làm lành. Bởi vì tin chắc có kẻ thác đi sống lại, thấy việc âm phủ xử đoán mà thuật chuyện, dương-gian âm-phủ tuy cách nhau, mà thưởng lành phạt dữ cùng một lý không khác. Ta còn nói điều chi nữa? “
Trào Thanh niên hiệu vua Đạo Quang năm thứ tám, năm Mậu-Tý, nửa tháng tư, quận Kiến khê Trương-Hữu-Thiện rửa tay kính đề tựa nầy, tại Minh-Châu-Đường. 
Nay ông Lê-Nghiêm-Kỉnh với Thôn-Cựu-Giác, Cô-Thành-Đức cậy dịch. Hồi-dương nhơn-quả, còn tôi tín nguyện dịch thêm Ngọc Lịch. 
Thơ rằng:
Trần Lê lo dịch tích Hồi dương,
Phong nầm nghe kinh hiểu chán chường,
Sắc chỉ Minh-Vương phân xử thẳng,
Làm gương mấy án thế xem tường. 
HỒI DƯƠNG NHƠN QUẢ
SỰ TÍCH LÂM TỰ KỲ
BỊ QUỶ BẮT LẦM, SỐNG LẠI THUẬT CHUYỆN ÂM PHỦ
VUA NHỨT ĐIỆN XỬ 43 ÁN, NHỜ UỐNG PHÁT HUỆ MỚI NHỚ
Trong tỉnh Hồ Quảng có huyện Hiếu Cảm, tại làng Lê Thọ có một người học nho, họ Lâm tên Tự Kỳ, thuở nay ăn chay cữ sát sanh, hôm mai thường tung kinh Kim Cang, song không hiểu nghĩa lý trong kinh cho hết. Tánh ở công bình hiền hậu. Xóm làng đều kính trọng người.
Nhằm bữa mồng hai tháng ba, năm Mậu-ngũ, trào vua Gia-Khánh, Lâm Tự Kỳ dậy sớm thắp hương cúng lạy. Xảy đâu mấy con quỉ vật Tự Kỳ mà bắt hồn dẫn đi; đem đến miểu ông Địa sở tại xem xét rồi. Qua bữa sau giải tới miểu Thành Hoàng (là ông thần đình sở tại) xem xét nữa, nội ngày ấy giải đến đền vua Tây Nhạc, là chỗ hội các hồn mới chết, phỏng là ba bốn trăm hồn, vua Tây Nhạc phê nhận các tờ rồi giải qua Đô-thống-ti xử đoán. Bữa thứ ba mới tới Đô thống ti đủ mặt Lâm Tự Kỳ, thấy các hổn đều mang gông xiếng áo quần rách rưới. Quỉ xứ lùa hết vào dinh Chưỡng án phán quan (ông phán quan coi các án) mà phát đính bài mỗi hồn, đeo trên cổ, có đề phạm những tội gì. Tới phiên kêu tên Lăng Sỉ Kỳ ở làng Lý Thọ, huyện Hiếu Cảm đeo đính bài bốn chữ ” ác phạm ngưu đồ ” (nghĩa là tên tội phạm hàng trâu), quĩ dẫn hồn Lâm Tự Kỳ vào hầu tra. Phán quan xem thấy trên đầu Lâm Tự Kỳ có chiếu hào quang nhấp nháng. Phán quan hỏi: ” Người làm hàng bấy lâu, giết bao nhiêu trâu? “. Tự Kỳ bẩm rằng: ” Mô Phật tôi thuở nay không giết trâu nào hết. Phán quan nói: ngươi không giết trâu sao đeo đính bài, trên tên họ ngươi có bốn chữ ” ác phạm ngưu đồ? “. Mà ngươi phải ở làng Lý Thọ chăng? “. Tự Kỳ bẩm: ” Tôi ở làng Lê Thọ, chớ không phải làng Lý Thọ “. Phán quan hỏi: ” Ngươi mấy mươi tuổi? “. Bẩm rằng: ” Tôi đã bốn mươi mốt tuổi. ” Hỏi: ” Sanh tháng ngày giờ nào? ” Bẩm: ” Sanh nhằm giờ Thìn, mồng ba tháng giêng. ” Phán quan tra bộ rồi nói: Lâm Tự Kỳ ở làng Lê Thọ số tới 78 tuổi, cớ nào bắt tới làm chi! Vả lại: họ tên trong bộ tuy trùng tiếng trên đính bài, mà chữ không trùng, tên làng cũng đồng âm mà bất đồng tự. Huống chi chi ngày sanh tháng đẻ khác nhau. Nhà ngươi là Lâm Tự Kỳ ở làng Lê Thọ, còn ta sai bắt tên hàng trâu là Lăng Sỉ Kỳ ở làng Lý Thọ kìa. Bởi nó mới 36 tuổi, làm hàng giết trâu chó phỏng vài trăm con. Hỡi còn tội khác kể không xiết, nên đáng đoạ tam đồ, là hành hình ba cách: trấn nước, đốt nấu dầu, đâm chém bằm xắt, kêu là thuỷ đồ, hoả đồ, đao đồ. Còn ngươi có chiếu hào quang trên đầu, chắc là ngươi làm lành tụng kinh kệ. ” Bẩm rằng: ” Tôi thuở nay không làm điều chi lành lắm, song chẳng dám làm việc dữ. Từ mười bảy tuổi ăn chay, đến nay đã hai mươi mấy năm, thường ngày dầu mắc việc chi gấp lắm, cũng lo tụng cho rồi một cuốn kinh Kim Cang, và niệm Di Đà vài trăm câu, rồi mới làm công việc. ” Phán quan nói: ” Như vậy thì là người lành: quỉ xứ bắt lầm một người thường cũng có tội, huống chi là người lành! Vả lại Thổ địa sở tại, với các vị thần xem xét đều sơ lầm, cũng có lỗi nữa, việc nầy quan hệ, chẳng phải nhỏ đâu! Vậy thời thiện-nhơn hãy ngồi đỡ mái tây, đợi tôi tâu cho vua hay, rồi sẽ đưa về dương thế. ” (Nghĩa là hườn hồn sống lại). Xảy có hai người đồng tử mặc áo xanh dắt hồn Tự Kỳ đến nhà khách mái tây. Thấy trên tấm biển đề bốn chữ ” Tây Phương chú tiết “: (Nghĩa là chỗ ở tạm mà đợi rước về Tây phương cho rõ ràng tiết nghĩa), lại có đối liễn cột cái như vậy:
Đại trượng phu, thủ bất khai sanh tử lộ. 
Kỳ nam tử, song mi số phá lợi danh quan. 
THÍCH NÔM: Đứng bực trượng phu chí cả, thông hiểu sự sống làm thì thác có báo ứng vầ phần hồn, nên không dám làm dữ, mà lại làm lành nhờ thần sau. Còn nam nhi cao kỳ thông thái ấy, sự danh lợi thì mất đức hạnh nên không lòng tham danh lợi, lo tu nhơn tích đức cho phần hồn. 
Khi ấy, Tự Kỳ vào trong nhà khách, thấy có ba người; một gái, hai trai, đều ăn mặc theo đạo sĩ (thầy pháp tàu) tay cầm xâu chuỗi lần, đồng đứng dậy, chắp tay mời ngồi. Đồng tử nói: ” Thiện sĩ ngồi chờ một chút, đợi vua ngự sẽ vời “. Giây phút nghe ba tiếng trôngmở cửa đền. Đồng tử đến vời Tự Kỳ đến cửa đền, thấy trên cửa ngõ có treo tấm biển ngang, đề mười một chữ:
Kinh châu đẳng xứ sanh hồn thiện ác đô thống ti.
NGHĨA LÀ: Sở đô thống ti coi xử hồn dữ lành Kinh châu. 
Cửa ngõ đề đôi liễng rằng:
Âm dương bổn vô dị lý. Cảm ứng xát hữu minh trưng.
NÔM: Âm dương vốn không khác lý. Cảm ứng thiệt có quả tang. 
Đối liễng trên cột như vầy:
Gian hùng đáo thử, năng bất tâm hàn. 
Thiện sĩ lâm tư, tự nhiên khí tráng. 
NÔM:Gian hùng đến đó sao khỏi lòng nao. 
Lương thiện vào đây tự nhiên hơi khoẻ. 
Vảo cửa trong, thấy treo tấm biển bốn chữ. 
Phước thiện hạo dâm. 
NGHĨA LÀ:Thưởng người lương thiện, phạt tội tà dâm. 
Và đôi liễng như vầy:
Nghiệt cảnh phân minh xảo kế thiên ban nam tế yểm. 
Dạ đài thê sở công hầu cực phẩm bất tương nhiên. 
NÔM: Gông báu sáng loà, xảo kế nhiều bề không thể giấu. 
Để cầm thảm khổ, công hầu tột bực chẳng hề dung. 
Đôi liễng nữa rằng:
Thiên đường hữu lộ chi tu ốc lậu đổ thanh nhiên. 
Địa ngục vô nôm chỉ vị thốn tâm da ám địa. 
NÔM:Thiên đường có nẻo thẳng, cho hay nhà kín thấy trời xanh. 
Địa ngục không ngõ ra, cũng bởi tấc lòng theo đất tối. 
NGHĨA LÀ: Trong nhà kín nhà tối, coi như ban ngày, không dám làm quấy thì đặng lên Thiên đường. Nếu không lòng tối tăm, hay tính mưu thầm kế trộm, cơ xão độc ác, thì sa địa ngục. 
Vào tới đơn trì (sân sơn son), trên treo bốn biểu chữ Tam vô tư đường (nhà ba đều không tư). 
Kinh Lễ Ký nói: Thiên vô tư phúc, địa vô tư tải, nhựt nguyệt vô tư chiếu. Nghĩa là: Trời không che riêng, đất không chỗ riêng, nhựt nguyệt không chiếu riêng).
Đôi liễng như vầy:
Sanh bình nhứt vị hồ hành, kham thán tín tâm bất cập tảo. 
Kim nhựt thiên ban thọ khổ, cự tư hồi thủ khước hiềm trì. 
NÔM: Bấy lâu một thói làm hồ, tiếc nhẻ lòng tin khôn kịp sớm. 
Thuở nay nhiều bề chịu khổ, thương ôi dạ tũi khiến ra chầy!
Trông xa, đôi liễng trên cột như vầy:
Đối Quỉ sát, Dạ xa, mạc quái đương tiền nhan diệc ác. 
Thượng đao sơn, kím thọ, phương trì tích nhựt niệm đầu sai. 
(Kím thọ là cây có buộc gươm trên nhánh nhiều quăng tội lên). 
NÔM: Ngó Quỉ xứ Dạ xa, chớ trách cõi nầy nhiều mặt dữ. 
Lên đào sang, kím thọ mới hay thuở trước tấc lòng sai. 
Trên cao có treo tấm biển bốn chữ:
Thưởng khách hình oai. 
(Thưởng người lành, phạt kẻ oai dữ). 
Phía Đông treo tấm biễn bảy chữ:
Tân thiết vô gian Tăng nho ngục. 
NGHĨA LÀ: Mới lập thêm địa ngục hành không hở, là hành rồi cách nầy, dạy hành cách khác, để trị tội sãi tu giả, sĩ hại đời. 
Đôi liễng dài hai bên như vầy:
Thọ Bồ tát giái âm tá môn không ngu kì, vương pháp nhiêu Phật, pháp bất nhiêu. 
Độc Thánh hiền thơ phản tương nho thuật sát nhơn thê vỏng lậu, thiên vỏng bất lậu. 
THÍCH NÔM: Đọc kinh Bồ tát thầm ẩn chùa chiên dối thế, phép vua dung phép Phật chẳng dung. 
Học sách Thánh hiền, dám đem chữ nghĩa hại người, lưới đời lọt, lưới trời không lọt. 
Ấy là hành tội sãi tu dối, và kẻ học hay đặt đơn hại người).
Thuở ấy, các hồn đều quì dưới thềm. Phán quan thâu giấy tờ tâu rành sự bắt lầm v.v… Tần Quảng vương xem rồi, phán rằng: ” Người nầy quả thiệt hiền lành, lại ăn chay tụng kinh, vả lại chưa tới số, đáng cho hườn hồn. Còn 4 quỉ Dạ xa bắt lầm, xử trượng mỗi tên tám chục roi, rồi giam lại sẽ kêu án. Lỗi Thổ Địa tại làng chỉ đi bắt lầm, ta cũng dâng sớ cho Ngọc Hoàng đế phạt tội. Rồi phán hõi Tự Kỳ rằng: ” Người bấy lâu tụng Kinh chi? “. Tự Kỳ tâu: ” Tụng kinh Kim Cang “. Phán: Hay lắm! Mà tụng bao nhiêu cuốn? “. Tâu: ” Tôi không nhớ, song tôi ăn chay hăm mấy năm, còn tụng kinh mới 7 năm. ” Vua truyền Phán quan tra coi tụng đặng bao nhiêu cuốn. Phán quan giở bộ đếm cọng đặng 3503 cuốn. Phán rằng: ” Số ngươi còn nhiều, ước tụng cũng dư một tạng (một tạng là 5848 cuốn). Mà ngươi có rõ nghĩa lý trong kinh chăng? Tâu: ” Tôi khong hiểu cho hết. ” Phán: ” Nếu hiểu nghĩa kinh mà ở theo, và khuyên người nữa, thì công đức lường không xiết. Chớ như tụng không, thì công đức mười phần, đặng có ba phần. “. Tự Kỳ tâu: ” Mướn người tụng kinh thế cho mình có đặng phước chăng? “. Phán: ” Mướn người tụng mười phần, đặng một phần phước. Nhưng mà còn hơn kẻ không tụng. Khi trước người tụng kinh Kim Cang, chưa khỏi sai siển. Lúc đương tụng trong lòng không thanh tịnh hoăc nhớ mấy việc nầy việc kia. Ấy là miệng tụng láy có, mười phầm được phước không đặng hai ba phần. Vậy từ rày sắp sau phải rán sức suy cho thông nghĩa lý, miệng niệm, lòng tưởng. Gặp ai cũng giảng bốn câu kệ trong kinh Kim Cang, thì mới có trông về Tây phương đặng. ” Phán quan tâu: ” Người nầy cách thế gian đã năm ngày, trái tim phải lạnh, chắc trong nhà liệm rồi, e khó sống lại. Nếu Ngọc đế tra ra, ắt không tiện lắm. Xin vương gia cho hườn hồn lập tức. ” Vua phán rằng: ” Không hề chi. Ngày mồng 2, 12, 22, ngày mồng 5, rằm, 25, mồng tám, 18, 28 đều là ngày lệ xử các phạm hồn tại đây. Nay là ngày số 8 (mồng 8) cũng nhằm kỳ sữ. Ta thấy người đời không tin nhơn quả báo ứng, dễ khinh lời thánh, chê bai Tam Bảo (là Phật, Pháp, Tăng: Phật, kinh luật thầy tu), các tội ấy rất nhiều. Nay cầm thiện sĩ một ngày, xem ta xử đoan lành dữ, nữa sống lại, thuật chuyện cho người đời nghe. Mau cho thiện sĩ uống một hườn thuốc Noản Tâm nầy thì trái tim ấm tới bảy ngày. ” Rối phán rằng: ” Phàm các hồn đến cửa nhứt nầy, quá bảy ngày mới giải qua chín vua Thập điện, thì sống lại không đặng. ” Tự Kỳ tâu: ” Vì cớ nào mái tây có nhà khách gọi là: Tây phương chú tiết, người phàm đến đó đặng chăng? “. Vua phán: ” Không phải đến đặng. Phàm người thác, đem hồn tới vua Tây Nhạc xem xét, phê rối mới giải đến đây. Trẩm xét rõ đáng luân hồi mới phê vào tờ, rồi gởi qua vua Đông Nhạc xem rõ mới phát một tờ cho đi đầu thai, hồn ấy mới đặng đầu thai. Còn trừ ra ai trọn lành không dữ, hoặc ăn chay tụng kinh chơn tu, thì trẩm không phép xử đoán, nên cho ở tạm mái tây, đợi trẫm viết điệp triệu Kim đồng Ngọc nữ, đem tàng phương báu, rước hồn lên Thiên đường. Tâu: ” Sao gọi là Thiên đường? “. Phán: ” Cõi thiên đường sáng láng rộng ngay. Nếu lòng ai sáng láng, ở rộng rãi ngay thẳng, thì hồn lên Thiên đường. ” Tâu: ” Còn địa ngục thế nào? “. Phán: ” Chốn địa ngục thấp dơn đen tối. nếu ai lòng ở hèn hạ, nhơ nhớp, xấu xa, mê muội, thì hồn sa địa ngục “. Tâu: ” Những hồn lên Thiên đường hoặc sa địa ngục có luân hồi (đầu thai) chăng? ” Phán: ” Đã lên thiên đường, hoặc sa địa ngục, đâu còn đầu thai, song cũng có khi chưa đứng bực cũng còn đầu thai nữa “. Tâu: ” Như vậy bực nào phải luân hồi? “. Phán: ” Trong một ngàn người, may một hai người lên Thiên đường. Còn ngàn người phỏng vài trăm người bị cầm địa ngục, . Còn bao nhiêu (800) đều luân hồi hết. Bởi vì ai trọn lành không phạm một điều dữ, mới đặng lên Thiên đường. Nếu ai trọn dữ, không làm một điều lành, mới bị cầm địa ngục. Còn ai không lành không dữ, hoặc nữ lành nửa dữ đều phải đầu thai. ” Tâu: ” Hoặc kẻ trước làm lành, sau làm dữ, hoặc người trước làm dữ sau làm lành, có kẻ dữ nhiều lành ít, kẻ thì dữ ít lành nhiều, vương gia mới xử làm sao? ” Phán: ” Trước làm lành, sau sanh dữ, thì ghi dữ, chẳng ghi lành. Trước làm dữ, sau chừa lỗi làm lành, thì ghi lành, chẳng ghi dữ. Còn dữ nhiều lành ít, đem lành trừ dữ, còn dư bao nhiêu dữ, thì hành mà trả họa. Dữ ít lành nhiều, thì đem dữ trừ lành, còn dư bao nhiêu lành thì trả phước. ” Tâu: ” Nếu ghi dữ chẳng ghi lành, thì những kẻ trước làm lành, sau làm dữ cũng như trọn dữ một thứ. Còn ghi lành chẳng ghi dữ, thì những kẻ trước làm dử sau làm lành, cũng như người trọn lành một thế, không phải chẳng chia nặng nhẹ sao? ” Phán: ” Chẳng phải nói như vậy! Bởi người làm lành chẳng trọn, thì Ngọc Đế ghét lắm, cho nên ghi dữ, chẳng ghi lành, song không phải chẳng kể sự lành của nó đâu, nhưng tính giảm hết phân nửa việc lành. Còn kẻ ăn năn chừa lỗi, thì Ngọc Đế thương lắm, nên ghi lành chẳng ghi dữ, song chẳng phải không ghi dữ một chút nào, nhưng mà giảm phân nửa việc dữ. ” Tâu: ” Tôi thường thấy người làm lành mà bị nghèo nàn. Còn kẻ dữ lại đặng giàu sang. Trời báo ứng không rõ ràng, nên hiểu chẳng thấu! “. Phán: ” Người lành mắc hoạ, e mặt lành mà lòng chẳng lành. Kẻ dữ mà đặng phước, e mặt dữ mà torng lòng không dữ. Thượng đế trong thiệt tình, chớ không cần sự làm mặt bề ngoài. Bởi làm mặt bề ngoài thì dối người đặng, chớ lòng dối trời sao đặng. Xưa nay quả báo chắc không lầm. Song việc nhơn quả báo ứng có nhiều cách. Có khi dữ lành kiếp trước mới trả đời nay. Lành dữ đời nầy, kiếp sau mới trả. Hoặc đời nào trả theo đời ấy, có khi mới làm lành mà dữ trả lập tức nhãn tiền. Còn như người nói: ” Dữ đặng phước, lành mắc hoạ “. Là bởi lâm lành, làm dữ đời nay chưa bao nhiêu mà mắc trả lành lớn dữ lớn, kiếp trước chưa rồi, làm sao người hiểu thấu. Bởi vì trả kiếp trước của chúng nó, lành cho hưởng phước, dữ cho mắc hoạ, cho dứt nợ kiếp trước. Rồi mới xét lành dữ đời nay thiệt giả, nhiều ít, lớn nhỏ, trừ cấn, hoặc trả lại đời nay, hoặc để dành kiếp sau hoặc trả cho con cháu nó. Việc báo ứng theo luật âm, hoặc sớm muộn, hoăc kín đáo, hoặc rõ ràng; chắc không sai một mảy. Cái ý nhiệm mầu, người biết sao thấu? ” Tâu: ” Sao gọi là đời nay mà chịu trả nhơn quả kiếp trước? ” Phán: ” Như con nít mà bị té sông, lửa cháy, bị đâm chém, bị tật bịnh, hoặc cọp ăn, rắn cắn, ngựa đạp, xe cán, trâu báng, hoặc các việc rủi ro v.v… thì đời nay nó đã biết làm điều chi dữ đâu, mà bị trả hoạ, là vì trả hoạ kiếp trước. Lại còn học trò mới đôi mươi, mà đi thi đỗ, hoặc là con dòng mà đặng thế chức, hoăc hưởng tổ ấm, phụ ấm, hoặc các việc may mắn thinh không, v.v… thì đời nay tuy chưa làm lành, mà đặng hưởng phước, ấy là trả lành kiếp trước. Coi đó mà suy, thì hiểu lành mà mắc hoạ, dữ mà đặng phước là tại cớ ấy. ” Tâu: ” Nếu người lành lên Thiên đường hết, cũng không luân hồi, thì trong đám đầu thai chẳng là không có người lành sao? Còn kẻ dữ đều cầm địa ngục, cũng không luân hồi, thì trong đám đầu thai không có kẻ dữ rồi! “. Phán: ” Người lành cũng có khi luân hồi một hai, là vì mười phần lành, còn chưa trọn lành một phần, thì cũng cho đầu thai xuống cõi trần chịu cực một phen, cũng như tu thêm cho trọn lành, rồi mới được về Thiên đường, ấy là trời lấy lòng tốt mà bó buộc người lành đó. Còn kẻ dữ có khi một đôi người đặng luôn hồi, là vì mười phần dữ chưa trọn, nên cùng dung chế, cũng cho luân hồi, chịu cực trăm bề, hành phạt một phen cho đến thế, làm cho biết ăn năn chửa lỗi, ấy cũng nhơn từ của Thượng đế như lòng mẹ thương con không nỡ giết đứa dữ. ” Tâu: ” Bắt người lành đi đầu thai, thì người lành khổ lắm,! Còn kẻ dữ cũng được đầu thai, thì kẻ dữ rất may chăng? Sao trời không phân biệt? ” Phán: ” Không phải vậy đâu! Cho người lành đầu thai hưởng giàu sang vinh hiển, là Thiên đường tại đời, sao gọi chịu khổ? Còn cho kẻ dữ đầu thai, chịu khó hèn, tai nạn, cũng như địa ngục tại dương gian, sao gọi rất may? Huống chi người lành hưởng cảnh thuận, nếu tu nhơn tích đức thêm, thì lên Thiên đường. Nếu hưởng phước giàu sang mà làm dữ quá, trừ hết phước dư tội thì cũng không siêu được. Nếu kẻ dữ bị cảnh nghịch tai nạn mà biết ăn năn vì lỗi trước, lo tu đền tội, thì cũng hết khổ, bằng không tu thì đoạ địa ngục Đả ưng, hết trông đầu thai nữa. Coi đó thì đủ biết sự hoạ phước tuy là trời định, song lòng người lành dữ cũng đổi dời, việc may rủi tuy ở số phần, mà lòng ngưởi ở dữ lành cũng đổi số mạng. Cho nên hoạ phước số mạng không chắc gì, do tại làm lành làm dữ mà đổi dời hoài. ” Tâu: ” Như vậy Thiên đường Địa ngục siêu-đoạ là tại lòng người muốn tự do làm chủ. Nếu tôi là người không làm chủ cái tâm tôi, ấy là: Thiên đường nọ, có đàng chẳng bước; Địa ngục kia không cửa lại tìm!. Phán: ” Phải, xét lại người là người sẽ lên Thiên đường, nên lòng mau tỉnh như vậy. ” Nói chuyện dứt rồi, Phán quan tâu: ” Các phạm hồn tựu đủ hầu tra. ” Vua xem lời phê của vua Tây Nhạc rằng: ” Bọn Từ Húc, cộng 752 hồn, đang đầu thai. ” Vua đều phê cho chúng nó được giải qua vua Đông Nhạc lãnh tờ đầu thai hưởng phước. Coi qua lời phê trọn lành ba hồn được siêu, kể ra sau nầy:
1)Một nàng thiên nữ là Liễu thị, chí hiếu với mẹ chồng nuôi con đau cực khổ, lại hay bố thí, cho kẻ tù ăn: xuất tiền sửa cầu đắp đường, làm nhiều việc lành, không nói một lời tổn đức, chẳng làm một điều chi hung dữ. Lại ăn thâp trai đã mười năm và hay tụng kinh Phổ Môn nữa. 
2)Một tên thiện dân là Dương Thăng, thảo cha mẹ, thương anh em chị em, cung kính kẻ lớn, ở nhơn từ rộng rãi, hay thương người. Không ănn gian một đồng tiền, chẳng tham lam ngân lượng bạc. Cứu người ngặt nghèo, giúp người gấp rút. Vài trăm người nhờ ơn giúp giùm, mấy chục nhà nhờ tay cứu sống. Công ơn bố thí lớn lắm. 
3) Một vị thiện sĩ là Trương Quan Diện ở huyện Võ Lăng, tuy nhà nghèo, mà thủ phận, cực khổ mà bền lòng. Đặt sách vài trăm cuốn, đều nói chuyện khuyên đời. Dạy học trò giữ nhơn nghĩa làm đầu, kết bạn hữu ngay tín làm gốc. Tuy chẳng an lạt mà lòng lành như ăn chay. Tuy chẳng niệm Kinh, mà lời hiền như niệm kệ, lòng mình sạch sẽ, lời nói chẳng dữ hung. 
Ba vị ấy đều đáng đầu thai về Tây Phương, được liên-hoa hoá thân bực thượng (như Na Tra khỏi cha mẹ sanh nữa).
Vua xem lời phê của vua Tây nhạc rồi, phán rằng: ” Mau vời Kim đồng Ngọc nữ đem tàng phướn báu, xuống rước ba hồn qua Tây phương (Kim đồng rước hồn nam). Ngọc nữ rước hồn nữ), còn tại ti nầy, phải nổi trống trổi nhạc, thắp hương, chưng hoa, sắp đặt bạc -tiền mà đưa ba vị ấy. Còn các hồn phạm tội, chiếu y theo số thứ tự trong đinh bài, dẫn vào trẫm xử. “
Phán quan tâu rằng: ” Hồn phạm số thứ 1 là họ Dư, ở huyện Huỳnh châu, tú tài thi đỗ cử nhơn, hai khoá đậu tấn sĩ, đặng bổ chức tri huyện, huyện Tú thuỷ, trào Thanh, lên lần tới chức chủ sự sở hình bộ, sau làm chức lang trung sở công bộ; lại sang qua chức thị lang sở hộ bộ, rồi qua sở lại bộ đặng năm tháng mới thác. Tra án tên phạm nầy, từ ngày đỗ tú tái tới làm huyện, không làm một mãi lành, đến làm sở hình bộ, giết oan 13 mạng. Làm sở công bộ, ăn hối lộ rất nhiều. Làm sở hộ bộ, ăn hối lộ nhiều bạc lắm. Sau lên sợ lại bộ càng dạn hơn nữa, bán chức quan mà ăn, miễn đầy túi mình, không cần ai khóc. Tội nầy đáng đoạ Địa ngục A Tì, không đặng đầu thai. ” Họ Dư đứng dậy bái và tâu rằng: ” Tôi đã làm quan lớn, xin Vương gia châm chế cho tôi còn thể diện “. Vua nạt và phán rằng: ” Khốn kiếp! Dương gian trọng người chức lớn, tại Âm phủ trọng đức chớ chẳng trọng tước quờn; kẻ đức hạnh lớn, dầu ăn mày trẫm cũng kính nể. Nay ngươi còn ỷ thế làm quan mà cự với trẫm sao? quỉ Dạ xa lấy chùi sắt mà đập đứa nầy cho chí tử. ” Họ Dương tâu rằng: ” Tôi có ăn thập trai, tụng kinh Chuẩn đề. ” Phán rằng: ” Ngươi ăn thập trai niệm chú Chuẩn đề, mà cầu công danh bền bỉ. Ngươi phải hiểu nghĩa hai chữ Chuẩn đề. Phàm ngừơi muốn cầu giàu sang công danh, hoặc cầu con, cầu trường thọ, thì phải chừa mười điều dữ là: chẳng kính trời đất, chằng kính tam quan, chẳng thảo cha mẹ, chẳng thuận anh em, chẳng ngay vua chủ, chẳng tin thiệt, chẳng lễ nghi, chẳng xử nghĩa phải, chẳng thanh liêm trong sạch, chẳng biết hổ thẹn. Đã chừa mười điều dữ ấy, lại còn ở theo luậ Công-quá-cách, mổi ngày tụng kinh Cảm ứng cho nhớ mà sửa lòng, không dám hở một bữa, chẳng dám tính một điều trái lẽ. Như vậy thì ăn thập trai, niệm chú Chuẩn đề cảm động lòng trời. Còn ngươi bầy lâu làm dữ nhiều điều, cứ bia tiếng Chuẩn đề, mà trông trả phước, là theo ngọn, chẳng giữ gốc, mà cảm động vào đâu? Nhằm ngày thập trai, ngươi quên ăn mặn lỡ, bữa khác ăn tray mà trừ, hoặc đám tiệc chúng ép, thì ngươi đình ngày chay mà ăn mặn. Theo phép đã ăn chay, thì không lẽ ăn bữa khác mà thế ngày quên, cũng không đặng xả đỡ ngày chay mà ăn mặn. Nếu thế hoặc xả thì không phải lòng thành, còn kể chi nữa? Ăn chay thập như ngươi đó, lại càng thêm tội, đừng cãi nhiều lời! Mau dẫn nó qua A Tì địa ngục
– – – – – – –
Kếu số thứ nhì họ Tần, ở huyện Hớn Dương, Tú tài thi đậu tấn sĩ, làm quan tri phủ, phủ Thái Nguyên, ba năm mới thác. Phạm nầy khinh dễ bực thiên đình, không kể mạng người, trấn nhậm ba năm, ăn hối lộ tới mười mấy muôn trượng, không cần việc nước. Đời nay ngươi đặng thi đỗ làm quan, là vì kiếp trước là thầy chùa, có công dọn đường núi và đắp lề vài trăm trượng (vài ngàn thước mộc). Nào hay đời nay đổi lòng tới thế, mà phụ ơn Ngọc Đế ban thưởng!
Phán quan đọc án rồi. Họ Tần tâu: ” Tôi khi sống mê muội không dè có việc Địa phủ xự tội như vậy. Nay mới ăn năn tỉnh lại. Trong nhà tôi còn vài muôn lượng bạc. Nay thấy đền vua hư cũ, dưới đền nhiều hồn đói rách. Tôi tình nguyện dưng hết bạc mà tu bổ đền vua, còn dư thì bố thí cho hồn đói mà đền tội chẳng biết ý vua định thế nào? ” Phán rằng: ” Nay ngươi ăn năn đã muộn quá! Đền Âm phủ của trẫm, há dùng của vạy-vọ mà tu bổ sao? Còn ngạ quỉ (ma đói) là tại chúng nó khi sống làm dữ nay phải chịu khổ, ai cần bố thí cho nhọc công. Huống chi lúc người còn sống, hay kiếm mưu nầy thế kia mà thâu của cho nhiều, nào có thương ai đói mà bố thí. Phải chi người làm phước cho sớm, thì đã tiêu hết tội rồi, đâu có ngày nay mắc án. Mà lại vài muôn trượng đó, có phải của ngươi sao? Mười mầy năm trước, trẫm đã cho oan gian đầu thai làm bốn trai hai gái của ngươi, ngươi thác chưa đầy hai tháng, chúng nó theo đàng điếm bài bạc đã phá hết ráo sự sản rồi; ít lâu đây con trai ngươi sẽ đi trộm cướp, con gái ngươi sẽ vào lầu xanh, làm hư tiếng tông môn không tốt! ” Họ Tần nghe qua động lòng khóc ngất, tiếng rống ồ ồ! Quỉ sứ lấy chùi đồng đập đùa, té xĩu tại đất. Giây phút tỉnh hồn, bị dẫn qua Địa ngục. 
– – – – – – –
Phán quan truyền dẫn hồn kế đó vào nữa, đọc án rằng: ” Phạm hồn họ Triệu ở huyện Quỳnh Châu, trước làm thơ lại (thơ ký), sau lên chức huyện thừa tại huyện Vĩnh Bình mới chết. Hồi 18 tuổi làm dữ rất nhiều. Đến làm quan, ăn của chúng, hại mạng dân. Sai thâu thuế kẹp khảo dân nghèo. Lo vừa ý quan trên, khắc bạc dân dưới. Đáng ghét hai khoản nầy: Đi xét án nhơn mạng, cứ theo tiền mà làm thiệt giả, nghĩa là lo bạc thì quả bị giết cụng gọi là tự vận, không lo bạc thì tự vận cũng vu là giết. Còn xứ điền thổ hễ ai lo nhiều bạc thì đặng ruộng đất. Nên trong túi tham, đựng vài ngàn lựơng vàng. Bởi thế, khi còn sống đã phạt tuyệt tự, mà chưa hết tội. Nay trước nấu dầu, mà rửa hờn cho dân, rồi sẽ cầm địa ngục A Tỳ không đặng đầu thai nữa. 
Họ Triệu tâu: ” Lời xưa nói: ” Vì nghèo mới làm quan. Như vậy ăn của dân cũng là phải. Nếu buộc sự ăn hối lộ mà làm tội, thì kẻ làm quan lấy chi mà nuôi gia quyến và đãi quan khách, của đâu mà đi lễ quan trên? ” Phán: ” Như minh oan cho người, hoặc lấy lẽ ngay mà xử cho trúng phép công bình theo luật. Kẻ khỏi hàm oan, người ngay khỏi bị hại, người cám ơn vì xử công minh, nếu chúng nó giàu có cảm ơn, nên vui lòng mà cho tới bạc ngàn, mình cũng không lỗi. Chớ như không lợi ích cho người chút nào, lập thế bày mưu mà ăn tiền, thì oan ức người ngay lắm tội biết bao nhiêu. Ngươi nghĩ thử, những của ngươi ăn đó, có phải nghĩa công bình chăng? Người ta có vui lòng tình nguyện đền ơn cho ngươi chăng. Có đáng công ơn theo lẽ minh oan, tự nhiên mà người cho chăng? Phải là kiếm cơ lập thế mà cướp của người chăng? Ngươi còn già miệng chữa mình sao? ” Họ Triệu tâu: ” Tôi có ăn chay vía tam quan (là ba rằm lớn, tam ngươn: rằm Tháng giêng vía Thiên quan, rằm tháng bảy vía Địa quan, rằm tháng mười vía Thuỷ quan) thiệt là trong ba vị tam quan đại đế bảo hộ. Nào hay bây giờ bị hoạn nạn nầy, ba vị tam quan đại đế, sao chẳng đến mà cứu tôi! ” Phán rằng: ” Lời nói dữ ấy, tội đáng bằng hai, lấy bàn sắt vã miệng nó mười cái? Ba vị tam quan đại đế là Thiên quan, Địa quan, Thuỷ quan, ba vị thần ngay thẳng, phò hộ ngừơi lành. Người làm lành, tuy chẳng ăn vía ba rằm lớn ngàu cũng thêm phước, há bảo hộ ngươi là bọn không nhơn nghĩa sao? Nếu người làm lành mà ăn chay, thì chay ấy giúp thêm việc lành. Nếu làm dữ mà ăn chay, là giới việc an chay mà làm dữ, sao dám nói hồ đồ? Truyền dẫn qua ngục “. 
– – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Châu ở huyện Đông Thành, qua ngụ đất Hớn Khẩu, nổi lò thợ bạc, hay chế bạc thấp, bạc giả mà hại người mất tình nghĩa, hư thể diện; làm tội nhiều lắm. Trừ ra một tội đáng giết là: Một người buôn bán ở huyện Kỵ Thuỷ đem một trăm ba chục lượng bạc lọc có dư, mướn y nấu ra bạc chín (nghĩa là bạc mười nấu ra bạc chín, chín chỉ bạc pha một chỉ đồng). Nó lấy hết phân nửa bạc lọc pha đồng phân nữa, nầu ra bạc năm, kẻ buôn bán lầm sau buôn bán nửa đường mới hay bạc năm bị lỗ tức mình mà chết. Tuy ngươi ăn gian sáu chục lượng bạc lọc, bị thời khi uống thuốc đã hết tiền hết bạc, mà còn hỡi còn. Tra bộ trõn đời ngươi, không có điều lành mà trừ cấn; nên truyền dẫn qua hoả thành (thành lửa) mà thiêu trọn một tháng, cho người bớt tức. Rồi giam vào địc ngục, không đặng luân hồi. 
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Tiền, ở huyện Ma Thành, xóm Trịnh Gia, làm cai trong huyện ấy. Cả đời hay xúi chúng kiện thưa mà ăn chia của đem lo. Nó có xúi người cháu chồng, kiện thiếm dâu va thủ tiết, đoạt sự sản của thiếm dâu, mà ăn lo lót (ăn chia) hơn năm trăm lượng bạc. Tiết phụ bị hiếp, tức mình phải bịnh mà chết! Huống chi còn nhiều tội dữ khác, có lẽ nào mà đặng đầu thai, dẫn nó quăn lên núi đao mà trị tội “. Họ Tiền tâu: ” Tôi có cử sát sanh sáu bảy năm, nhờ ơn vua dung chế “. Phán: ” Người đừng nói khào! Đã biết cử sát sanh là việc lành, sao ngươi biết tiếc mạng vật, mà chẳng thương biết mạng người? Ngươi thuở nay xúi kiện cáo, tranh đua việc quấy, lại chẳng biết mấy mạng. Cứu sống mạng vật mà giết chết mạng người, ấy là không phân gốc ngọn lớn nhỏ Thương Đế có vì sự nhỏ mọn ấy, mà tha tội lớn hay sao? Huống chi ngươi cử sát sanh mà làm mặt tốt, mua danh lành, chớ không phải lương tâm chẳng hở. Song ngươi kêu nài lắm, trẫm tha khỏi cầm ngục đao sơn, cho được đầu thai mà phải làm con nhà nghèo, mang hai tật câm và quáng, đi ăn mày trọn đời, nếu biết thân mà giữ bổn phận đền tội mãn đời, sau sẽ nghĩ lại “. 
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Thơ ở phủ Thừa Thiên, con chức Điển sử, bổ làm thơ lại (thơ ký) tại phủ. Ba mươi tuổi mà chết. Hồi xuân xanh đánh bóng quến người, phá của chúng, hại mạng người, không biết bao nhiêu tuy tại chúng nó đắm sa, song cũng tại ngươi tham của mà quyến luyện; không thể nào dung tội ngươi được. 
Huống chi ngươi trưởng thành lại càng đắm sa tửu sắc lấy vợ con người, chẳng biết bao nhiêu mà kể. Nếu nàng nào không thuận, thì lấy thế quan, mà vu hoạ hại người! Cho nên vào nhà nào, phụ nữ cũng sợ oai mà chịu hiếp. Tội dâm ác thái quá, giết cũng chưa vừa, đáng giam vào trong ngục đao kiếm “. Phán quan tâu: ” Tên tội này có hiếu với mẹ lắm. Mẹ ngoài sáu mươi tuổi đau nặng. Y sắc thuốc nếm rồi mới dâng, đêm nằm không cổi dây nịt. Vài tháng như vậy con mẹ bịnh ngặt, ăn không đặng, y cắt thịt bắp vế nấu cho mẹ uống đỡ nước cho bổ, sống rán vài ngày như vậy cũng nên rộng dung chút đỉnh “. Phán: ” Thượng Đế tuy ghét tội dâm ác lắm, mà rất trọng con thảo. Bởi nó biết nuôi cha mẹ là hiếu, mà chẳng biết giữ mình mới trọn hiếu. Trẫm tha cầm ngục đao kiếm, lại đặng luân hồi, song làm điếm lầu xanh mà đền tội dâm ác. Nếu sau biết ăn năn sẽ nghĩ lại “. Phán rồi cấp điệp (giấy) qua cho vua Đông Nhạc mà đầu thai. 
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Tôn ở huyện Võ Xương, 19 tuổi cải họ Trương đi lính hầu tại phủ. Đã hay bợ đỡ quan phủ, lại thạo bua việc. Lớn mật dạn dĩ, gian hùng hẳn hoi. Hầu việc các dinh, ông quan nào cũng bị y nói gạt hết. Đến đổi mạng người sống thác, đều tại tay y; việc phải quất đặng thất, đều tại miệng nó. Sự dữ đã đầy, tội đếm không hết. Luận tội dương gian khó thứ, luật hình âm phủ không dung. Mau dẫn qua địa ngục Đao san “. Họ Tôn tâu: ” Tôi có dùng năm chục lượng bãc mà thếp vàng cho Phật tại chùa Báo Ân. Lại cúng bạc dầu thắp đèn ăn chay, niệm Phật Di Đà một ngàn câu “. Phán: ” Đờ khốn nà! Nếu làm dữ, sau biết ăn năn chừa lỗi, làm phước niệm Phật, trời thì trời tha tội. Có đâu mượn tiếng cúng chùa niệm Phật, mà làm dữ thẳng tay, Phật Di Đà há giúp sức cho người làm dữ sao? Ví dụ: Kẻ vì tửu sắc sanh bịnh, uống thuốc bổ dưỡng lại. Nếu cử tữu sắc, thì uống mới hay. Nếu mê sa tữu sắc như xưa, thuốc bổ sao cho lại tửu sắc? Lẽ nào thuốc giúp sức cho kẻ tữu sắc nỗi? Dẫn nó qua ngục cho mau, đừng để cãi rán?
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Ngô, ở huyện Huỳnh Cang hồi nhỏ đi học, thi khoa tú tài không đậu, học qua nghề viết đơn mướn “. Vua phán: ” Xưa nay kẻ viết đơn thưa kiện, không có ai hiền lành bao giờ.: Họ Ngô tâu: ” Tôi là kẻ đại thơ cứ viện cho kẻ dốt, chớ không làm điều chi dữ. ” Phán: ” Kẻ bố thí chẳng phải tại của mà tại lòng; kẻ chém giết, tội chẳng tại gươm mà tại ý. Người đã viết đơn kiện cáo, trong ý tính nói bó buộc cho gắt như muôn ngọn lửa cháy lau khó dụt. Nghiên mực độc hơn ao huyết, ngòi viết bén quá lưỡi gươm. Đặt một chữ, phá nhà người rất dễ; sửa một nét, giết mạng chúng như chơi. Dưới lửa độc, đủ đồ roi kẹp; trên tờ đơn, đều cửa ngục hình. Sưa đi còn sửa cho hay, buộc trước lại buộc sau cho gắt! Kẻ quả tang muốn bắt cho mau người không tội quyết gài cho chắc. Có khi trợ tiên-cáo mà nói gián, gặp lúc binh bị cáo mà hại tiên-cáo (nguyên cáo). Nhiều lúc lời mà làm bộ giết tiên-cáo mà hại bị-cáo. Lòng độc như yêu khôn độ, mưu său tợ quỉ khó dò. Kể sao cho xiết sự tội ác của ngươi, mau dẫn qua mổ bụng rút ruột, hành cho đủ tam đồ, rồi sẽ giam hoài nơi địa ngục. “
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Trần ở huyện Ky Thuỷ, bị án ăm trộm. Vua xem án rồi, phán rằng: ” Người may đặng làm người, sao theo trộm cướp?” Họ Trần tâu: ” Tôi hồi nhỏ thiếu ăn thiếu mặc, cha mẹ, em út, kêu đói như bộng, vã lại năm thất mùa, lúa gạo mắc, xâu gao thuế nặng, cũng chẳng đã mới đi trộm cướp!” Vua ngó phán quan mà phán rằng: ” Người nầy tuy là ăn trộm, song nói cũng phải lẽ. Hãy tra bộ sổ cho kĩ, coi lám các an ra thể nào? ” Phán quan tra bộ rồi tâu rằng: ” Họ Trần có giựt đồ của kẻ buôn bán, đi ngang núi Mai Lảnh tại huyện Ky Thuỷ. Sau bị bắt nguội, giải đến quan họ Từ, vốn là người ở huyện Ngô, phủ Tô Châu, truyền y viết lời khai. Họ Trần viết bài thơ như vầy:
Bất tu hiệp bát, bất tu xao, 
Nể tỉ xuyên du, thuật tánh cao!
Xa thủ, thù nhơn can dữ nảo, 
Măn xang đô thị sát nhơn đao!
THÍCH NÔM:
Lựa là kẹp khảo, lựa là tra, 
Chước niệm nhà ngươi, xảo quá ta. 
Tay xá móc gan, rồi lấy huyết, 
Gươm đao đầy bụng mổ hằng hà. 
Quan huyện họ Từ xem thơ, rồi mới nói với các thơ lại rằng: ” Chúng ta thiệt cũng như ăn cướp, còn muốn xử tội ăn cướp sao? Các thơ lại cai bếp quân lính đều đi bắt đầu này đầu kia, mà kiếm chác cho ta, thì cũng như bọn lâu la kiếm của tang cho chủ trại! Chi bằng ăn năn cho sớm, lo tu nhơn tích đức mà nhờ thân sau, cho khỏi mắc đoạ “. Các người nha dịch đều bẩm rằng: ” Chúng tôi đã tập quen thói dữ rồi, và lại bị nuôi gia quyến, khó nỗi ăn năn chừa lỗi! ” Họ Trần tâu: ” Có khó chi! Kẻ tu thân phải có can đảm trí huệ khác hơn người thường, cũng sấn sướt manh mẽ như lòng đứa ăn cướp, thì mới nên việc. Đứa trộm cướp dạn dĩ không sợ mới dám phá cửa mà giựt của người, dễ như trở tay, muốn làm sao thì làm vậy. Nếu quyết hồi tâm đi tu, thì cũng phải can đảm sấn sướt như vậy, thì dữ nào mà bỏ không rồi, lành nào mà làm không đặng! ” Nói rồi ngâm bài kệ như vầy (nho kêu thi, Phật kêu kệ):
Cang đao bổn bất dẫn nhơn hung, 
Pháp khánh bất hội giáo nhơn thiện, 
Cang đao pháp khánh lưỡng bô tình, 
Chỉ thử nhứt tâm phân lưỡng nguyện. 
Hướng lai thất cước tự du du, 
Kim nhựt hồi đầu giai chiên chiến. 
Cải ác tùng thiên hữu hà nan, 
Tác đạo vi quan cu mạc luyến. 
THÍCH THƠ NÔM:
Gương trừng bá giục ngực người làm dữ, 
Chuông tự nào khuyên thế ở lành?
Chuông kiếm vốn không hiền mới độc, 
Tánh tình sẵn có trược cùng thanh. 
Xưa mê ngủ gục say vô độ, 
Nay tỉnh ăn năn sợ thất thanh, 
Chừa lỗi hồi tâm tu dễ quá, 
Ăn lo, ăn cướp bỏ thì thành. 
Khi ấy, nội nha môn: nhiều kẻ hồi tâm, từ chức đi tu mười mấy người. Phán: ” Quả có công đức ấy, đủ chuộc tội trước: huống chi lấy của, chớ chưa hại mạng người, đáng giảm tội phân nửa. Đáng ghét tội giam dâm, vì no ấm mà sanh sự. Phải suy phần đạo tặc, bởi đói nghéo không đủ mà liều thân. Sự cùng mà biến, tội cũng đáng dung. Tha tội họ Trần, cho giấy qua vua Đông Nhạc lãnh phần đầu thai làm thầy chùa du phương tại núi Thiên Thai. Nếu chịu khổ hạnh tu hành, sau sẽ siêu độ. “
– – – – – – –
Phán quan đọc án kế: ” Họ Trần ở huyện Viên Dương tự hồi nhỏ hoang đàng, làm biếng, làm cho cha mẹ lạnh đói khổ, ưu phiền sanh bịnh mà thác, vì con không cần kiếm mà dưỡng nuôi. Còn nó tới 49 tuổi cũng chết đói “. Phán: ” Tuy nó không làm điều chi dữ lắm. nhưng mà làm biếng lại xài lớn. Những đứa trộm cướp, chẳng phải ham giết người lại đốt nhà làm dữ, đều bởi làm biếng lại xài to, túng cùng mới biến ra nghề ấy. Cho nên siêng làm và tiện tặn, thiệt là cội rễ nên nhà, mà cũng là gốc trau mình sửa nết nữa. Kẻ có nhơn, người quân tử, ai cũng cần kiệm. Tại người không siêng làm mà chẳng tiết kiệm, để cho cha mẹ đói lạnh mà thác. Như vậy không cần kiệm tuy là lỗi nhỏ mà tội không nuôi cha mẹ là bất hiếu khó dung. Dẫn nó qua pháp trường, mổ bụng lắc bao tử và móc ruột mà trị tội xài lớn. Rút cho hết các sợi gân làm biếng, mà trị tội bất cần. Nay cha nó đã đầu thai làm chức thơ lại tại huyện Thường Châu, ở sau Tây-môn, cho nó đầu thai làm heo của cha nó đặng bán lấy tiền mà đền tội bất hiếu đời trước. “
– – – – – – –
Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 14 lần trong tổng số.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Phán quan đọc án kế: “Họ Khương ở Châu Hưng quốc, là nhà giàu bất nhơn, năm mươi mốt tuổi, bị dân nghèo là họ Hồ giết. Họ Khương giàu lớn hơn nội châu ấy, vựa lúa mà bán cho các lái khắp nơi. Nội xứ chết đói vì trong năm thất mùa, họ Khương chẳng thí cho nhà nghèo một nắm lúa gạo. Khi ấy quan phủ, quan huyện cho mời y, bảo bố thí cho dân đói, y lo hối lộ cho khỏi bố thí. Đến nỗi bà con hoạn nạn chết đói, y cũng không ngó tới!” Phán: “Ngươi bình sanh trọng tiền bạc, chẳng hề cho ai vay mượn, lòng ở khắc bạt gắt gớm độc hơn tội giết người, không thể nào dung đặng”. Tâu: “Tôi mới biết gắt gao rít róng mắc tội nơi luật trời. Xin vương gia tha tôi về, đặng tôi cải ác tùng thiện, xuất hết của tiền lúa gạo mà bố thí cho dân nghèo. Xin vua rộng lòng y tấu. ” Phán: “Ngươi còn trông sống lại hay sao? Kho lẩm trong nhà còn thuộc về của ngươi hay sao? Con cái ngươi đều là oan gia thiệt con đòi nợ chưa đầy một năm nó đã phá hết sự sản, không còn sót món nào!” Khương nghe rõ khóc ròng than rằng: “Tôi bấy lâu chắc lót quyết để lâu dài. Cùng chẳng đã xuất một đồng điếu mau củi, hoặc mua rau (cải) cũng còn tiếc lắm. Ai dè con là tội báo cừu nhơn đầu thai vào mà phá hết sự sản tức biết chừng nào!” Phán: “Cái tội gắt gớm cũng như tham gian. Trước giam theo ngạ quỉ, bỏ đói cho lâu. Sau sẽ cho đầu thai làm ăn mày, chịu đói rách mà đền tội bỏ đảy buột chặt. “
Phán quan đọc án kế: “Họ Doản ở huyện Quy-đức làm thầy thuốc mập mờ, hốt thuốc pham chết vừa nam vừa nữ công mười một mạng. Tánh hảo ăn thịt trâu lắm, bữa nào cũng có thịt trâu mới chịu cầm đũa tội ấy cũng nhiều. Tuy trốn khỏi tội Dương gian, chớ lánh sao cho lhỏi luật Âm phủ “. Phán: Phạt nó đầu thai làm trâu mười một kiếp, mà trừ tội phạm thuốc mười một người. 
Phán, quan đọc án kế: Họ Lý ở huyện Thần Châu, ròng nghề làm mai mối. Miễn có tiền mướn mà ăn, thì quyến dụ gạt con gái nhà lành, ở đợ, làm bé mà chẳng động, lòng thương. Đến nỗi làm mai con nít cho ông già, cột mối bà già cho trai nhỏ, bọn ấy không vừa ý, tức mình phát bịnh mà chết hết bảy người, vì không thể sanh đẻ nối đời đặng.” Phán: “Bởi tội y nói xảo mà rù quến gạt người, nên bị án nặng. Truyền cắt lưỡi, bẻ răng, bỏ xuống hầm đời đời, cho oan hồn bớt tức. “
Phán quan đọc án kế: “Họ Phùng ở huyện Miển Dương, là tên tá điền, năm nào cũng giấu bớt lúa mà đong chút đỉnh. Nếu năm nào mà trúng mùa, thì dem lúa ngâm nước một đêm mới đong lúa ruộng. Chủ điền tức mình, lấy ruộng lại cho người khác mướn, nó cũng thầy kiện không chịu giao. Nếu làm ra lẽ, để cho người khác mần, thì tới khi gieo mạ, giống lúa sớm nó lén vải lúa muộn vào, hoặc lúa muộn, vải lén lúa sớm vô, lộn lạo cho thất mùa, phải bỏ cho nó mướn. Tội hung dữ ngang ngược thái quá không phải tầm thường. Đáng phạt đầu thai làm đứa ăn mày bạt xụi, mà đền tội ngang tàng kiếp trước. “
Họ Phùng tâu: “Tôi có thấy chỉ dụ của Vương gia, phàm dân ruộng rẫy, đều cần kiệm cực nhọc, dầu có tội gì nhỏ mọn đều rộng dung. Vậy xin vương gia ân xá. ” Phán: “Kẻ lo làm ruộng tay chưn mỏi nhọc không hở, ăn uống, cực khổ dư ra thì bán cho đời, thiên hạ đều nhờ công lao kẻ làm ruộng. Vậy mới có công với đời, nên tha lỗi nhỏ. Có đâu tham gian độc dữ như ngươi, đừng có nói nhiều chuyện, quỉ sứ dẫn đi giải cho mau.”
Phán quan đọc án kế: “Họ Uông ở huyện Than Âm cha nó ăn chay làm lành, nó chẳng nghe lời cha dạy. Cả đời làm nghề đánh cá, mỗi ngày bắt cá chạch, lươn, tôm, trạnh cua đinh, không biết bao nhiêu mà kể. Cha nó có quở la thì nó cự và mắng lại như ăn cơm bữa, song nó có hiếu với mẹ lắm, mẹ nó đau, thì lo chạy thang thuốc, nuôi dưỡng hết lòng. Bởi cớ ấy, nên Táo quân có tâu với thượng đế cho trừ án nặng. ” Vua ngó phán quan mà phán rằng: “Tên nầy trái lòng nhơn của thượng đế, vì lòng trời muốn người vật sanh ra cho nhiều không muốn giết hại. ” Rồi day lại, quán quở rằng: “Loài cá trạnh cừu oán chi với ngươi, nếu có việc chi phải lẽ như là cúng ông bà, nuôi cha mẹ, cùng chẳng đã bắt đờ mà dùng. Vậy nên đức Khổng Tử, câu mà chẳng lưỡi cũng thể theo lòng nhơn của trời. Nếu chài lưới đánh như ngươi, mà nhiều người làm như vậy, thì không còn sót tôm cá lươn trạnh. Nếu tính mỗi mạng vật, cho ngươi đầu thai mà thường mạng, thì muôn đời cũng chẳng dứt nợ oan trái ấy. Lại thêm mắng cha, tội lớn thấu trời, mau dẫn qua địa ngục “. Phán quan tâu:” Vương gia thường trọng chữ hiếu, tên này cơn mẹ bịnh, nuôi dưỡng lo chạy hết lòng, khi mẹ liệt, nó lóc thịt bắp vế mà nấu cháo cho mẹ ăn bổ cầm hơi, cũng nên trừ cấn. ” Phán: “Bất hiếu với cha, mà chí hiếu với mẹ, trẫm cũng rộng lượng cho trừ. Tính một tội đánh cá, cho đầu thai làm một đứa hung hoang, hai mươi tuổi bị quan xử trảm”.
Phán quan đọc án kế: Họ Trần ở Hớn Trấn, lòng xảo trá mưu kế không lo nghề nghiệp làm ăn. Hằng ngày rủ ren con em nhà lương thiện đánh bài bạc mà lấy xâu và ăn gian ăn lận nữa, đến nỗi nhiều người tán gia bại sản, mà thói dữ cũng không chừa. Lại lập thế bắt con gái nhà nghèo làm hầu thiếp, (như lập thế tiền trái hậu mãi). Hai tội nhập một nặng nề. ” Vua phán: “Nghề bài bạc hại người độc hơn nước lửa trộm cướp. Nếu bị thua quá, thì phải bỏ nghề nghiệp, đổi lòng ngay, gái trai cũng hư danh thất tiết, tới nỗi tan gia sản, liều thân mạng. 
Ngươi tai mắt không thiếu đủ tay đủ chưn, sao không học nghề nghiệp làm ăn ngay thẳng, mà chi độ cho qua ngày. Trên làm tên dân không phạm luật triều đình, dưới làm người phải, khỏi nhơ danh tổ phụ. Nghĩ nào dùng tai mắt mà làm quấy, lo mưu kế mà gạt người. Cái thân hữu dụng, làm tội vô cùng. Khác nào: ăn thịt người cho no bụng, phá nhà chúng đặng vui lòng. Cho phải trả. Tuy phạt người tuyệt tự, trừ mưu bắt chúng mà làm hầu. Chớ tội chứa cờ bạc, không thế nào trừ đặng. Quỉ sứ chặt mười ngón, và hai tay, rồi mổ bụng móc tim rút ruột. Rốt lại cầm hoài nơi Địa -ngục, không đằng đâu thai.” Họ Trần tâu: Tôi tối dạ đi học không nên, tập bài bạc kiếm tiền dễ lắm. Lỡ vào nghề đó, sanh gian sanh lận. Song ăn thì vừa, thua thi trả, hai bên tình nguyện như nhau. Chớ tôi không giựt của, xin Vương gia dung thứ. ” Phán rằng: “Rủ ren kẻ thiệt thà, ăn gian ăn lận, dầu anh em cũng quyết lột da, huống chi bằng hữu mà không mở mật. Khiến người mất của, ngươi mới đẹp lòng. Ai dại gì tình nguyện đem của mà cho ngươi, cũng tại ngươi lập thế thần mà đánh bẫy, ngoài chuốt ngót nói lời ngon ngọt, làm như thiết nghĩa ruột rà, nào là đãi ăn, nào là phục rượu, nào là dem nữ sắc mà quyến luyến cho mê sa. Ấy là trăm mưu ngàn kế mà gạt người, tộc ác dường hầy mà bỏ luật dung tha sao cho đặng? Quỉ sứ cứ việc dẫn nó đi.”
Phán quan dọc án kế: “Họ Lý ở huyện Hoành Dương đi lính tập theo quân Du kích. Còn họ Du, huyện Huỳnh Mai cũng đi lính tập theo sở cầm cờ đánh trống. Còn họ Thanh cũng ở huyện Huỳnh Mai, là lính pháo thủ của quan đề đốc họ Lý tự Giang Tư. Ba tên ấy đều có đánh giặc. ” Vua phán rằng: “Quân lính trong đội ngũ chinh chiến, tay cầm gươm súng, lòng tập hung hăng, thắng trận thì bắt vợ con người ta, thậm chí ăn thịt người nữa. Tội ấy chẳng hèn đồng quăng lên ngục Đao sơn cho đáng kiếp”. Phán quan tâu rằng: “Họ Thanh lúc phá thành Dương Châu, bắt đặng ba người mà chẳng giết. Bắt đặng hai người đàn bà mà chẳng động tới, đều trả lại cho chồng: 2 người chồng đền ơn bạc tiền, y cũng không chịu lấy. Hai khoản ấy phước phần chẳng nhỏ. Huống chi mỗi tháng ngày rằm với mồng một, ăn chay tụng bảy biến kinh Cao Vương.” Phán: “Có công đức như vậy, trẫm cũng đáng kính đáng khen, cấp điệp cho họ Thanh, qua vua Đông-nhạc, mà đầu thai làm chức quan văn thất phẩm, sống bảy mươi chín tuổi, không bịnh mà mãn phần, con cháu hai đời đều đặng công danh vinh hiển. Còn hai hồn linh kia xử y án trước”.
Phán quan đọc án kế: “Nàng Tiền mẫu Nương ở huyện Gia ngư, ghen dữ và ngỗ nghịch với cha mẹ chồng. ” Vua phán: “Nội một tội bất hiếu với cha mẹ chồng, cũng đáng cầm ngục A tì, còn luận lành dữ nó làm chi nữa. ” Nàng Mẫu Nương tâu: “Tôi không dám bất hiếu với cha mẹ chồng, mà tôi còn ăn chay bố thí nhiều lắm. ” Phán: Dầu ăn chay bố thí như vậy, cũng chuộc không nổi tội bất hiếu với cha mẹ chồng. Song nghĩ người ăn chay bố thí, nên tha tội xay giã mà thôi giải qua giam vào Địa ngục không đặng đầu thai mà răn những nàng dâu ngỗ nghịch. “
Phán quan đọc án: “Nàng Châu tú Nương, ở phủ Thừa thiên, có chồng mà lấy trai, ấy là tội nặng. Lại thêm hại một mạng mọi gái”. Phán: “Đàn bà có đức chính chuyên một chồng. Tánh nết phụ nữ, phải hiền hậu lành, mới phải đàn bà đức hạnh. Ngươi là con khốn, không biết xấu hổ không giữ chính chuyên, lấy trai lang chạ; là bởi ham ăn làm biếng không lo việc nữ công, ăn no ở không, mơ tưởng việc dâm dục, tham ăn thịt mê uống rượu, lại đánh bóng trang điểm, bán dạng thuyền quyên, làm con trai đê mê mẩn mang tiếng xấu danh nhơ, mi đã thất tiết xấu xa, hại chồng mi mang nhục, hư thể diện cha mẹ tông môn của mi, không cần con cháu hổ thẹn. Tuy đội lốt người, mà khác nào súc vật. Lại còn độc ác, hại mạng mọi gái. Sao không biết xét, mọi gái cũng có cha mẹ sanh thành, bởi kiếp trước nó không tu, nên đời nay hèn hạ mi nết xấu cũng như là đứa hèn, mà được sai khiến đứa hèn là quá phép. Nỡ nào không có lương tâm, mà đành đoạn hại mạng nó? Mau nấu dầu mà trị tội lấy trai và cho hồn oan con mọi hết tức. Rồi cầm hoài Địa Ngục không đặng đầu thai.”
Phán quan đọc án kê’: “Nàng Thành sửu Nương huyện Thanh âm hay xúi chị em bạn dâu lối xóm rầy lộn, hại con gái xóm ấy hàm oan tức mình thắt họng mà chết. Lại hay bảo mấy nàng thủ tiết lấy chồng. Đẻ con gái năm lần, đều trấn nước chết hết.” Phán: “Hại một người dưng thì thường mạng 1 kiếp nếu mà hại một mạng ruột thịt, phải thường mạng hai kiếp. Truyền quỉ sứ dẫn hồn con ma thắt họng, và năm con ma da nhỏ, kéo nó xuống ao nước, cho bớt giận một hồi. Rồi bắt lên, cắt lưỡi mổ bụng móc ruột, không cho đầu thai, cầm hoài nơi Địa ngục, mà trừ cái tội khuyên tiết phụ cải giá và xúi chúng rầy rà. ” Sửu nương tâu: “Chẳng phải tôi ham khuyên cải giá làm chi. Bởi thấy chúng nó còn tơ mà nghèo khổ, lại không con, thủ tiết ích gì, chi bằng cải giá cho qua ngày: ấy là lòng tốt của tôi.” Phán rằng: “Ác phụ không biết phải quấy! Đàn bà may rủi một đời, nếu chồng thác, thì phải thủ tiết. Thượng đế càng kính vì tiết phụ. Dầu có chết đói, ngàn muôn năm cũng ngợi danh thơm. Nếu nó muốn tái tiện, ngươi cũng phải cản trở, mới là lòng tốt. Sao bảo nó cải giá, làm cho nó mang tiếng thất tiết trọn đời. Người đừng cãi sướt nữa. Mai giải đi hành tội. “
Phán quan đọc án kế: “Lý Khải Nương là con đầy tớ nhà Mễ. Làm đổ gạo cơm trong bếp, dính trên miệng lò, huỷ hoại của trời hơn mấy năm kể chẳng xiết (là đổ đồ ăn). Hay ăn vụng ăn cắp của chủ, mà đổ thừa cho người, hại con đầy tớ khác phải đòn. Hay lấy bậy và dắt trai vào nhà, tư tình với chủ gái; tội ấy đã nhiều. Lại hay cải giá, tính đã ba đời chồng, tội nặng quá lẽ. ” Phán: “Ngươi kiếp trước làm nhiều điều dữ, nên phạt người làm tôi mọi. Sao không biết xét, tuy là người mà làm mọi cũng như ngạ quỉ súc sanh bị cầm Địa Ngục, ba điều khổ ấy, hỡi còn chưa biết ăn năn tu mà nhờ kiếp khác. “
Phán quan tâu: “Mọi gái cũng con người, sao gồm ngạ quỉ súc sanh Địa ngục?” Phán: “Tôi mọi ăn uống không đặng tử tế, khác nào ma đói. Không ai lễ mà đãi, nào khác súc sanh. Không được có chồng sanh con, thường bị cấm cố, khác nào cầm ngục. Nay không chừa lỗi, còn xử thêm cách nào, phải hành cho đủ tam đồ mới đáng không đặng đầu thai.”
Phán quan đọc án kế: “Lưu thất Nương ở huyện Quế Lâm bốn mươi tuổi mà không con, tánh đa dâm và ghen lắm! Chồng muốn cưới thiếp. Thất nương không con. Chồng lén cưới vợ bé, gởi lối xóm. Thất nương hay tin bắt vợ bé đặng, lấy bàn ủi ủi phỏng mình, lở thúi mà chết!” Phán: “Cấm chồng cưới, cho tuyệt từ thờ mình, lợi ích chi đó”. Huống chi hành hình cách thảm mà giết người, chắc dung không đặng. Thất nương tâu: “Đàn ông không con, cho phép cưới thiếp, còn đờn bà không con, chẳng cho cải giá, việc ấy mất công bình, thiệt xử hiếp tôi lắm”. Phán: “Loài súc sanh không biết hổ ngươi, hãy còn cãi rán! Buông lời nói hư phong hoá, không biết hồi sống mi kềm chế chồng mi ra thể nào? Tánh đa dâm ghen tương như mi, đáng phạt đầu thai làm con điếm, ba mươi tuổi mắc ghẻ độc thúi lầy cả thân mình, bỏ thây dọc đường, chó heo ăn thịt cho bỏ ghét”.
Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày khoảng 1 10 năm trước với 1 lần trong tổng số.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Phán quan đọc án kế: “Tào Thị là gái xằng, ở huyện Ngô Giang kế thất họ Chữ ở quận Trường Sa. Họ Chữ thác sớm. Tào thị khắc khổ con ghẻ trăm bề. Các việc ăn mặc đều thua con chung. Tới lúc tương phân thì chia phần hơn phần tốt cho con mình. Lịa khắc khổ dâu ghẻ, tới nỗi tức tối sanh bịnh mà chết!” Phán: “Con ghẻ thờ mẹ ghẻ có hiếu cũng như thờ mẹ đẻ một thể. Sao mẹ ghẻ khắc khổ con ghẻ dâu ghẻ đến thế, thiệt là lòng như cầm thú, đáng đầu thai làm súc vật mới xứng tội. ” Phán quan tâu: “Tào thị đến già lòng thành niệm Phật và ăn chay cữ sát sanh ba năm ăn năn đền tội cầu siêu độ phần hồn”. Phán: “Vậy thì khỏi đầu thai làm súc vật, song phải luân hồi làm tội mọi con dâu ghẻ, mà đền tội trọn đời “.
Phán quan đọc án kế: “Mười lăm vị hoà thượng pham tội dữ”. Vua phán: Các sãi xuất gia đi tu, lẽ thì thành làm Phật tổ, cớ nào đeo đính bài tội dữ?” Mười lăm hoà thượng tâu: “Nhờ vương gia từ bi dung thứ”. Phán rằng: “Các sãi có hay tờ điệp của Phật Thích Ca mới gởi đến đây chăng?” Đồng tâu: “Chúng tôi chưa hay”. Vua gởi điệp văn đọc lớn rằng: “Chùa chiền đời nay đã biến hư lắm, mối đạo Phật lưu truyền đã mỏn rồi, như ngọn đèn gần tắt. Các sãi tuy tiếng đi tu, thiệt nhiều người dối tệ. Trong một ngàn hoà thượng, lựa đặng chừng một hai người xứng đáng, không hổ thẹn mà thôi! Cõi Âm phủ phải tra xét cho hẳn hòi, đừng lầm các sãi dối thế”. Đọc rồi phán rằng: “Các sãi đã thấy điều luật của các sãi tại cẳu nầy chăng?” Đồng tâu: “Chưa thấy”. Phán rằng: “Để trẩm giảng các tội án trong điều lệ tu hành cho mà nghe. Các sãi tuy đi tu, mà trong lòng khác nhau hết: Có kẻ cự nghịch với cha mẹ, giận lẫy mà đi tu, là tội bất hiếu lớn thứ nhứt, còn nói làm chi! Có kẻ giận anh em vợ con mà đi tu. Có kẻ bị cách xấu, mắc cở mà đi tu. Có kẻ quyết trốn xâu lậu thuế, vì đói rách mà đi tu. Có kẻ mê cảnh chùa tốt mà đi tu. Có kẻ mê mấy sãi nhỏ có bóng sắc muốn nhập vào cặp xách mới đi tu. Có kẻ ham làm chức hoà thượng sang trọng mà đi tu. Có kẻ mồ côi không ai nuôi mà đi tu. Có kẻ vô hậu không ai hoạn dưỡng mà đi tu. Có kẻ ngán việc đời là cuội giả, mộ đạo Phật là siêu độ linh hồn mà đi tu. Các sãi ai tu về cớ nào thì khai thiệt? Các hoà thượng đồng tâu: “Xin vương gia từ bi thẩm xét, thiệt chúng tôi ngán việc đời, nên xuất gia đầu Phật mà cầu siêu độ linh hồn, chớ không có ý chi khác”. Phán: “Các sãi đời nào xưng tội, mấy thuở chịu khai!” Truyền chỉ Phan quan dẫn các sãi đến đài Nguyệt cảnh chiêu thử. Nguyên tại nhứt điện là cửa đền thứ nhứt: vua Tần Quảng có lập cái đài Nguyện cảnh phái bên hữu cái điện chánh. Đài ấy cao mười một thước, trên có treo cái mặt kiếng Nguyệt cảnh lớn mười người ôm mới giáp vòng bề tròn treo chiếu qua hướng đông, trên giá treo mặt kiếng ấy có để bảy chữ rằng:
Nguyệt cảnh đài tiền, vô hảo nhân
Thích nôm: Trước đài Nguyệt cảnh không người lành.
Các hồn chối án, thì quỉ sứ dẫn lên đài, mà ngó vô mặt kiếng, thì thấy hiện nguyên hình từ nhỏ tới chết, làm những việc chi đều ứng hiện hình thù như hát bóng đủ lớp nhớ lại nên chối không đặng. Vua Tần Quảng mới y luật mà xử, hoặc giải qua chín cửa đền khác, vân vân. …(8 cửa có ngục mà thôi).
Khi ấy các sãi, từ người soi kiếng đủ mặt rồi coi lại không có thầy nào chơn tu mộ đạo cho thiệt tình! Coi ra ba sãi ăn mặn uống rượu. Một sãi tà dâm, hãm hiếp. Bốn sãi mê các đạo nhỏ thanh sắc. Bốn sãi tham bạc, ăn gian của chùa. Trừ ra có ba sãi, cứ sớm tối tụng kinh, công phu, cất chùa, lên cốt Phật, lơ làm công quả trông chùa, chớ không thông mùi đạo. Vua cười ngất phán rằng: “Hèn chi đức Thế tôn quở trách các ngươi làm hư trong đạo Phật!” Liền phạt một sãi gian dâm với bốn sãi mê đạo chúng thanh sắc, cộng một bọn tà dâm năm sãi, đồng giam vào ngục. Tăng nho mới lập, không đặng luân hồi. Còn bốn sãi rượu thịt, đầu thai làm heo bà kia ăn cám hèm cho đã. Lại còn bốn sãi ăn gian của chùa, phạt làm lừa ba đời, chở đồ đi xa mà đền ơn cho các chủ bố thí. (Tại tham của nên cho chở đồ nhiều mới toại chí!) Trừ ra ba sãi thiệt thà, tuy quyết chí đi tu mà chưa thông đạo vị, nên cho đầu thai làm thầy chùa mà tu nữa; nếu siêng tu hành rõ thấu ba bực thì cũng được khỏi đoạ. Đền giải qua vua Đông Nhạc, đi lại vua thứ mười. (Chuyển luân vương) đầu thai.
Phán quan đọc án kế: “Họ Gia ở huyện Văn Mộng đưa đò dọc sông Bà Dương. Tháng chạp năm Nhâm thân, lén giết một người bộ hành lắy đặng ba mươi lăm lượng. Bị chúng cáo, quan tra không đủ cớ tha về. Sau mang bịnh nghèo khổ, đi ăn mày. Tới 38 tuổi, biết tội mình mới đi tu. Cứu trùng, kiến, nhiều lắm, lượm giấy chữ, cũng nhiều. Ăn chay làm lành thường bữa tụng kinh niệm Phật. Tu hai mươi năm như vậy, mà cầu tiêu tội sát nhơn, và nhờ phước kiếp sau.” Phán: “May ngươi ăn chay làm lành, niệm Phật tụng kinh sáu hối (ăn năn cầu tiêu tội). Huống chi đã phạt làm ăn mày; đày đoạ đến kiếp, nên trừ tội giết người mà lấy của”. Họ Gia Tâu: “Tôi trước đại phạm tội, sau ăn năn tu hành. Xin vương gia xét lẽ cho tôi nhờ”. Phán: “Ngươi hãy đứng một bên, đợi trẫm xử án khác rồi sẽ định”.
Phán quan đọc án kế: “Họ Lâm huyện Bành Thạch ông cha có làm phước giúp người. Còn họ Lâm kiếp trước là thầy tu, ăn chay bố thí 545 đôi giày rơm, trời lạnh bố thí cộng 65 chiếc chiếu. Nên đời nay 23 tuổi mà thi đỗ cử nhân, đậu rồi không giữ lòng lành. Tư tình với Kim thục Cô là gái ở một xóm rồi bỏ, nàng ấy tức mình thắt họng mà chết. Vã lại nết tham, lãnh việc kiện mướn, đem mối kiện thưa. Ra vào chốn nha môn lo lót cho chúng, bởi cớ ấy, giựt được vài trăm mẫu ruộng trong làng. Ăn thập trai chưa đặng một tháng ngã. Lại nói: “Dẫu ngã mà kiếp sau làm ăn mày cũng chịu. Quan âm, Chuẩn đề đã phú Táo quân dưng sớ tâu trên Ngọc đế phân: “Bỏ lệ chay kỳ là phạm luật Phật, nên phạt tội” Vua phán: “Ngươi nhờ đức tổ phụ và kiếp trước có tu, mà thi đỗ cử nhơn đáng lẽ tu thêm phước đức. Nào hay mê mụi, lung lăng làm dữ, lại nói ngã chay, nguyện làm ăn mày. Đáng lẽ cho hành đủ tam đồ. Song nghĩ ngươi thờ Quan đế với thờ Quan Âm hết lòng thành kỉnh, nên nay xử trảm, cho đặng luân hồi, thay hồn đổi xác, nhập vô thây ăn mày là họ Gia y theo lời nguyện. Còn Kim thục Cô đã đầu thai rồi làm con mọi xóm đồng. Ngày kia trước đi xin cơm tại nhà chủ nó cho nó đánh chết ngươi mà thường mạng thắt cổ hồi đó. Còn hồn họ Gia (coi án trước) nhập vào xác họ Lâm đặng làm cử nhơn, sống hưởng phước tới bảy mươi tuổi. “
Phán quan xướng danh rằng: “Tôi hồn HỌ Hàng mười bốn tuổi”. Phán rằng: “Thằng nhỏ nầy, làm những tội chi”. Phán quan tâu: “Thằng nầy tuy còn nhỏ, mà chửi cha mắng mẹ hoài hoài. Tội hỗn ấy là tại cha mẹ nó cưng quá, nên nó quên nết hỗn hào, mang tội bất hiếu thấu trời. Khi nó đi học đạp giấy chữ tính tới 37.500 chữ có dư. Thường khi nó ăn cơm còn dư: đem đổ chỗ nhơ uế nữa.” Phán: “Con nít không biết gì, ấy tại cha mẹ nó hư, thương là hại nó. Đã phạm luật trời, không lẽ dung đặng. Quỉ Dạ xoa giải nó qua thành lửa mà đốt, không đặng đậu thai.”
Phán quan đọc án kế: “Họ Châu ở huyện Tiêu lương, làm hàng trâu bò. Họ Thẩm ở huyện Thạch thủ làm hàng chó. Họ Dương ở huyện Gia ngư, làm hàng heo.” Phán: “Ba tên làm hàng nầy, đáng quăng vào Đao sơn Địa ngục”. Họ Dương khóc mà tâu rằng: “Tôi có ăn chay ba năm, theo kinh Huyết bồn. Vả lại làm hàng heo, nhẹ tội hơn hàng trâu bò và hàng chó. Xin vương gia xét lẽ tôi nhờ.” Phán: “Ngươi ăn chay theo kinh Huyết bồn mà cầu cho ai? Tâu: “Tôi cầu cho mẹ tiêu tôi.” Phán: “Tuy theo kinh ấy là phi lý, huyễn hoặc, mà lòng có hiếu đáng khen. Song người có hiếu với mẹ, sao không bắt chước lòng nhơn của trời ưa sống, mà làm heo”? Tâu: “Xin vương gia xét lại, bởi cha tôi bảo nên phải làm. Vả lại heo là thú người hoạn dưỡng mà ăn thịt không công lao với đời. Huống c hi làm hàng heo chẳng ít, ăn thịt heo lại nhiều, xin vương gia rộng lượng.” Phán: “Ngươi ăn chay theo kinh Huyết bồn mà có tụng chăng?” Tâu: “Có tụng. “
Phán: “Người sau bày đặt kinh Huyết bồn, chớ không phải của tiên Phật đặt, phải chí ngươi tụng Kim Cang, chẳng những hồn mẹ ngươi tiêu tội vong hồn ba đời cũng được nhờ. Ngươi có hiếu tụng kinh trẫm trừ tội làm hàng heo, cho qua Đông nhạc, đầu thai làm con trai mần ăn. Còn hàng trâu bò và chó lại đây. Trâu bò cày ruộng mới có lúa cho đời, chó giữ nhà mới còn đồ cho chủ. Chúng nó đều có công với đời, người giết vật có công, không thể tha tội Phán quan tra thử chúng nó giết bao nhiêu chó bao nhiêu trâu bò cày ruộng?” Phán quan tra bộ rồi tâu: “Họ Châu làm hàng 72 con trâu. HỌ Thẩm làm hàng hết 187 con chó”. Phán: “Hàng trâu đầu thai làm trâu 72 kiếp, hàng chó đầu thai làm chó 187 kiếp, thưỜng mạng cho đủ số, rồi giam vào ngục Ngạ quỉ (ma đói) không đặng đầu thai.”
Phán quan đọc án kế: “Họ Vưn ở huyện Thạch thủ, mới học làm thầy địa lý. Họ Hà ở huyện Võ Lăng làm thầy coi số và coi tướng”. Phán: “Thầy địa lý mập mờ chỉ xấu là tốt, tốt gọi xấu, làm sai sách địa lý. Còn coi số coi tướng, nếu coi không thấu, cũng đoán hoạ phước không nhằm mà khoe thiên văn. Coi số coi tướng có sai cũng không đến đỗi hại người mà phải mắc tội nơi trời. Còn thầy địa lý lôi thôi tuy không mắc tội nơi trời mà làm thiệt hại cho người, là dời đổi tổn hao, lại làm sái động địa cho người mắc hoạ, hoặc hư nhà hại mạng, tuyệt tự, mới là tội lớn, chớ gạt người mà ăn tiền là tội nhỏ. Như vậy phải tính nó mà làm hại bao nhiêu nhà, thì bắt nó đầu thai làm súc vật mà thường bồi cho đủ số, rồi sẽ cầm hoài ngục. A tì. Còn thầy coi số coi tướng, quen thói nói lừa, gạt chúng mà ăn tiền, sau lưng người lại giận cho ít tiền mà mắng lén. Chẳng hề dạy ai làm lành cho khỏi họa mà đặng phước. Phạt nó đầu thai làm thằng câm mà đi ăn mày tới ba mươi tuổi chịu lạnh và chết đói. Rồi sẽ nghị lại “.
Phán quan đọc án kế: “Bảy tên học trò phạm tội, tên thứ nhất họ Văn ở huyện Bành Trạch. …” Phán rằng: “Bảy tên phạm đồng lên đây. Trẫm coi các ngươi đều là ăn học hồi nhỏ, lo thi đậu mà hưởng sang giàu, song có hiểu chút đỉnh đạo lý thánh hiền chăng?” Các trò tâu: “Cha mẹ với anh tôi dạy chúng tôi hồi bé, lo học mà đi thi, trông thi đổ cho vinh hiển, ở nhà tốt, sắm đất ruộng cho nhiều. Thầy chúng tôi cũng hiền”. Phán: “Trẩm nghĩ các ngươi đều có căn trước, thiệt là rất may. Thứ nhứt may đặng làm trai. Thứ nhì may không tàn tật. Thứ ba may đặng tánh thông minh, thứ tư may đặng khóa đậu vào trường chánh. Đặng bốn điều may ấy mà quên căn tu kiếp trước. sao chẳng nghỉ đã đứng vào nghề sĩ, là hơn nghề nông, nghề công, nghề thương. Bởi nghề nông rán sức làm ruộng rẫy, thức khuya dậy sớm cực khổ, tay chưn chẳng rảnh, ăn uống rồi, còn dư bao nhiêu thi` bán cho người ăn, ai ăn hột cơm của nhà nông, điều là nhờ nông phu đổ mồ hôi xót con mắt, mới có của ấy. Còn nghề công làm ra các đồ khí dụng mà bán cho người, thiên hạ điều nhờ cả. Còn nghề thương xuống biển lên nguồn, chở chuyên hàng hoá, mà bán cho đời dùng, khỏi thiếu. Như vậy ba nghề ấy điều có công với người. Còn các ngươi chiếm nghề đứng đầu là nhứt sĩ, có công chi với đời chăng? Các ngươi hiểu nghĩa lý chữ nhu là thể nào chăng? Bởi chữ nhơn với chữ nhu bởi người phải cầu nhứt sĩ mà nhờ. Song ngươi cầu mà nhờ các ngươi sự gì có ích cho đời việc chi? Té ra các ngươi mỗi ngày làm hao của trời đất, xài tiền bạc hàng vải của triều đìng. Biết các việc chơi bời; khảy đờn, đánh cờ, làm thơ uống rượu. Ăn bận cho nhủn nha, dạo chơi cho khoái lạc. Lại còn ra vào chốn nha môn, lãnh phần lo lót, hăm mộ hàng xóm, ngay sửa ra vạy, vạy sửa ra ngay, làm mất lẽ công bình, các độc ác hại đời chẳng kể xiết! Nếu thời may thi đỗ làm quan đặng quyền cai trị thì thưa dịp ỷ thế cho đầy túi tham. Mượn cái oai triều đình, trổ cái tài chủ trại. trên dối chúa dưới hại dân. Chúa thánh ban ơn rộng, bị ăn gian nên lê thứ hết nhờ. Dân nghèo chịu thuế sưu,vì hà lạm nên triều đình thiếu dụng. Trăm mưu nghìn kế cho lợi nhà mập thây chớ không lo bày việc lợi dân, mà sửa phong cho hết tệ. Thức khuya dậy sớm mà lo lập thế an dân, như cố ý cô lưu mà chờ hối lô.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Không cần lễ nghĩa, chẳng hề tu đức thanh liêm, mảng cây mảng cậy oai quyền không thẹn làm điều tà vậy sao chẳng nhớ: người xưa làm chức tú tài đã lo đời, cứ gánh vác việc thiên hạ. Còn các người đậu chức tú tài thì mong ăn của thiên hạ cho lợi mình! Còn sự nầy đáng ghét lắm: bình thường hay khoe mình là trung hiếu liêm sĩ thấy ai làm một điều chẳng ngay, thì mắng nhiếc quá sức! tới phiên mình thì quên trung hiếu liêm sĩ, bỏ trôi theo giòng nước, khi trước mắng người không ngay nay ở vậy không cần ai mắng! Sao gọi là biết tu ố, mà xưng biết sĩ! Có một trò tâu rằng:’ Tôi có công dạy học trò, cũng hữu ích cho thế ‘. Phán: Ngươi quả thiệt như đức thánh Mạnh tử lấy hiếu đễ trung tín mà dạy học trò sao? Chẳng qua là bực dung sư, dạy cầm chừng mà hại đệ tử, cả ngày lo ăn thịt, nhậu rượu cho say; không công mà hưởng lộc, tội lỗi chẳng ít, còn kể công sao? Ngươi phải họ Ngu ở huyện Tương Dương chăng? Tâu:’ Phải ‘. Phái:’Ngươi là thày dạy học, sao còn dốt quá, lời không thông. Có lẽ hỏi ngươi rằng: Sát sanh có tội chăng? Ngươi nói: Không tội gì, Kinh Phật nói: Bất sanh bất diệt, nghĩa là không sát sanh thì nó chẳng đặng đầu thai kiếp khác! Ngươi mượn chữ kinh mà thích nghĩa bướng, mà xúi chúng sát sanh, thì mang thêm ba tội nặng. Một là mượn câu kinh mà thích nghĩa bướng. Bởi ngươi không hiểu nghĩa bất sanh là không dầu thai nữa, còn chữ bất diệt là không thác, nghĩa là nói tu có trí huệ, có công quả lớn đức hạnh lớn, về Tây phương đặng liên hoa hoá thân chẳng đầu thai theo bực vãng sanh tịnh độ, mà cũng không thác nữa, Phật gọi là chứng quả Niết bàn. Chớ không phải nói nghĩa kỳ chướng dốt nát, giảng ngược như ngươi! Còn tội thứ nhì là xúi cho chúng sát sanh, những kẻ dốt ưa sát hại, nghe ngươi giảng vậy, nó càng sát sanh hơn nữa. Tội thứ ba là nói nghĩa ngược ngạo không rành. Nếu nói nghĩa ngươi thích đó, thì là bất diệt bất sanh mới phải. Sao câu kinh nói: Bất sanh bất diệt, mà ngươi dám thích nghĩa nghịch tự như vậy? Huống chi thuở nay, ngươi biếm nhẽ thánh hiền tiên phật, kể tội không xiết! Học trò phạm các tội khác còn thương tình dung chế đặng. Trừ ra tội chê bai vị tổ tam giáo (Khổng tử, Thái thượng, Thích ca) thì thiên luật không dung. Quỉ Dạ xoa, dẫn họ Ngu, đến làng Ác khuyển, cho bầy chó dữ xé thây mà trị tội kiêu ngạo tam giáo. Còn một trò nầy hay đặt thơ huê nguyệt, ca huê tình, nói dâm cho gái trai động lòng sanh dâm loạn mới hư phong tục; tội ấy nặng nề, trước đánh đòn tám chục roi sắt, rồi kéo lưỡi cắt môi, cầm hoài nơi ngục mới với họ Ngu. Còn năm người tuỳ theo tội nặng nhẹ, cho đi đầu thai. Ba người tội nặng cho đầu thai làm lừa, làm chó. Còn hai người tội nhẹ đầu thai tàn tật; câm, bại, đui, cùi. Đến lãnh tờ, giải qua vua Đông-nhạc, đi đầu thai lập tức ‘.
Phán quan đọc án kế:’Họ Viên ở huyện Quan-san, lập tiệm cầm đồ, ăn lời quá phép, mà không chế một ly. Còn trong nhà cho vay, cho giạ non, thâu giạ già. Trong tiệm dùng cân hai đáy (trái cân), cho ra thì dùng trái cân nhẹ, thâu vô đổi trái cân nặng. Bởi cớ ấy nên giàu bằng Nhà nước. Làm cho trời giận thần hờn. Bị hoả tinh đốt nhà là lửa trời sa cháy tiêu sự sản. Ba mươi lăm tuổi chết yểu, vợ con cũng thổ huyết chết luôn! Phán:’Ăn lời quá phép, đã phạm tội nơi trời. Huống chi cân lậu, đong nhẹ giạ già giạ non: lường gạt của chúng cho nặng túi tham. Tưởng gạt chúng té ra gạt mình, mong hại đời chẳng ngờ hại mạng. Cả đời lường gạt. của chúng mà còn hay không? Chẳng giữ lương tâm, ba đời chịu khổ. Tuy bị cháy nhà cửa; mà chưa hết tội. Giao tờ qua vua Đông -nhạc; phạt đầu thai làm ngựa trạm thơ, bị chúng cỡi mãi đánh hoài, chạy lao quá cho tới chết. Đầu thai làm ngựa ba kiếp như vậy, mới đặng đầu thai làm người nghèo ‘.
Phán quan đọc án kế:’Họ Hồng ở huyện Thiện hưng cha làm chức điển lại, ở huyện – Võ Xương, hồi nhỏ họ Hồng bị cha không ưa tức mình cạo tóc vô chùa. Sau phạm luật về thế để tóc, ngã mặn như kẻ ở thế tục. Gập ai cũng xảo, không tiếng thật thà. Sau lưng hay nói hành việc của chúng! Hay kẽ vạch sự tư tình của người và nói phụ nữ hoa nguyệt, xúi giục gây gỗ thêm thừa thêu dệt nhiều điều, làm những chuyện trái phép. ‘ Phán: ên nầy tội nặng khó dung ‘. Phán quan tâu: Tên nầy không dữ chi lắm, bị ác khẩu mà thôi ‘. Phán: ‘Tội ác khẩu có ba điều, tên nầy gồm hết. Nói láo về sự tục tĩu, là phạm chữ dâm sĩ, bất thông như đứa điên. Nói láo thêm thừa cho chúng giận nhau mà đâm chém. Nói láo gạt người mà lấy của, phạm chữ tham gian. Té ra một sự nói xảo, mà gây ra chữ dâm, chữ si, chữ sân, chữ sài, chữ tham, chữ giao đạo. phán quan còn gọi tội ác khẩu là tội nhỏ sao? Truyền xẻ miệng bớt môi, khẽ răng, kéo lưỡi, mà hành tội ác khẩu, tuy còn sống đã phạt tuyện tự, mà chưa hết tội nay phạt cầm, Hoài Địa ngục, không đặng luân hồi ‘.
Phán quan đọc án kế:’ Vợ họ Uông, là nàng Trình thị ở huyện Giang-Hà. Nguyên kiếp trước ăn chay, cữ sát sanh, làm lành, hay bố thí, có hiếu với mẹ chồng nuôi đau hết lòng hết sức, bởi chưa đủ công hạnh, nên cho đầu thai kiếp nầy mà hưởng phú quí làm con nhà quan giàu; lại gặp chồng lương thiện sanh ba trai hai gái, định số sẽ sống 82 tuổi, không bịnh mà mãn phần. Không dè bị cha mẹ cưng quá, vì con quan, nên quen thói ỏng ảng hồi nhỏ, nhà có tôi tớ nên quen thói làm chủ nhà hay mắng nhiếc hành hạ kẻ dưới tay, tập tánh đã quen nên độc dữ lắm; đến khi có chồng hiền hậu, thì ỷ thế giàu sang nên chuyên quyền, hiếp chồng quá lẽ. Vã lại quen thói ăn sung sướng, nên sát sanh hại mạng rất nhiều. Cho vay ăn lời quá phép, khắc khổ tá điền, đã bắt làm công không, thất mùa cũng không châm chế chút nào! Thuở nay chẳng hề bố thí cho bà con nghèo đồng điếu nào, có đâu bố thí cho người dưng. Ngày nào cũng chửi tôi tớ. Đánh chết tớ gái là Vương -nguyệt – Mai, lại còn khoét mắt tớ trai là Trương -hưng -Nhị bị đau nhức tớ chết. Lại còn phạt tớ gái là Ngô-hà -Hương, bắt ăn đậu nành sống cả tô sình bụng ba ngày mà chết! Còn nhiều đứa tớ khác bị thương tích, tai mũi tay chân môi miệng điều tì hết! Có kẻ đem sự báo ứng nhơn quả mà khuyên giải thì Trình thị ỷ con nhà lớn quan to, nên mắng nhiếc kẻ giảng nhơn quả và nói rằng:’ Ta giàu sang, no ấm áo, con cháu đầy nhà ta thuở nay lại mấy bố thí cho ai, mà phước đó? Ai tin ngươi nói phải tu nhơn tích đức mới sống lâu tới bảy tám mươi?’ Nói rồi đuổi đi lập tức. Mấy lời ấy Táo quân cũng tâu tới Thiên đình, và lại mỗi tháng chạy tờ về cửa thiên tư mạng chánh, đều biên tội Trình thị đã nhiều. Các hồn oan cũng cáo nữa. Ngọc đế truyền bớt ba kỉ, cho bắt hồn Trình thị đặng trị tội nên mới 46 tuổi mà chết. 
Phán rằng:’Không kính trọng chồng, là tội thứ nhứt theo luật trời không tha đặng. Huống chi độc dữ khắc khổ tôi tớ, hại oan ba mạng. Tánh độc dữ hơn cọp không phải lòng người, đáng cầm Địa ngục, không đặng đầu thai nữa. ‘ Phán quan tâu: ‘Trình thị nguyên kiếp trước tu hành có hiếu với mẹ chồng lắm. ‘Còn đời nay người con gái lớn Trình thị, thấy người mẹ hổn với cha, và ở độc dữ, nên tu hành tụng kinh niệm Phật làm phước bố thí, mà cầu cho mẹ tiêu tội, cũng như tu thế cho mẹ nó. Vậy xin vương gia cho luân hồi trả quả, chừng hết nợ trước sẽ xử nữa. ‘ Phán:’ Nếu con gái nó tu thế như vậy, thì trẫm tha tội cầm ngụ, cho đặng luân hồi. Kiếp thứ nhứt cho nó đầu thai làm đàn bà nghèo khổ đói rách cả đời, cho hồn Hà Hương vào bụng nó làm quỉ thai đau đớn đến kiếp, tới ba năm phát bệnh điên mổ bụng mình và cắt ruột mà chết, đặng trả quả bắt Hà Hương ăn đậu nành sống sình bụng mà chết. Kiếp thứ nhì, đầu thai làm con câm, ghẻ chốc cùng mình đi xin tới 50 tuổi, ăn cắp gạo nhà họ Trương, bị con gái họ Trương (là hồn Vương nguyệt Mai đầu thai) đánh chết, mà đền mạng oan kiếp trước. Kiếp thứ ba, làm con gái 18 tuổi, bị du côn (là hồn Trương hưng Nhi đầu thai), đâm đui cặp mắt và đứt gân, lết ngoài chợ xin ăn tới chết, thì trừ mới rồi ba mạng. Trong ba kiếp ấy hành tội câm, ghẻ đói, lạnh cực khổ, đi xin, là đền tội hiếp chồng và làm giàu bất nhơn đó. Như trong ba kiếp chịu khổ, biết ăn năn ở hiền lành, thì sẽ châm chế cho kiếp khác. ‘ Trình thị tâu rằng:’ Chồng tôi khờ dại tệ quá, chẳng biết lo việc nhà, tôi không rầy sao đặng? Xin vương gia xét lẽ phải mà thứ dung ‘.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Phán:’Đàn bà có đạo tam tùng, khi còn ở nhà, tùng quyền cha mẹ, xuất giá tùng quyền chồng, chồng thác tùng quyền con trai, phần phụ nữ không đặng làm chủ. Chồng ngươi là kẻ hiền hậu, ngươi lại chê rằng khờ dại, mà hổn hào khi dễ trăm bề. Đến nước nầy. mà ngươi chưa biết tội sao?’ Trình thị tâu rằng: Tội tôi hổn với chồng đã đáng. Còn như đánh tôi chửi tớ, là tại chúng nó làm công việc không xong, mà lại ăn vụng làm biếng trăm bề hư hết. Vả lại chúng nó tánh ở ngang ngạnh, là tại chúng không vưng theo, ngu mê ám chướng không hiểu việc chị. Tại chúng nó chướng như vậy, là nó bảo phải đánh nó, xin vương gia xét lại. ‘ Phán:’ Thuở nay kẻ hầu hạ, tâm tánh chúng nó không phải như người bực thượng. Hoặc là hồn cầm thú đầu thai, hoặc người dữ đầu thai lại, bị mất tánh thông minh, phú tánh ngu độn theo kẻ hạ tiện; vã lại đầu thai làm con nhà hèn hạ dốt nát, thì tánh nó thô tục ngang dọc, cứng đầu cứng cổ, ngu mên ám chướng, là lẽ trời định tự nhiên. Mình là người, người bề trên, cơn bình thì phải thủng thẳng mà dạy dỗ, đến việc làm, phải thích nghĩa cho rành, và dặn di dặn lại. Dầu chúng nó lầm lỗi, cũng tuỳ tội nặng nhẹ mà răn, lẽ nào nóng nảy mà đánh chửi mãi, đánh quá cho chúng nó hoảng hồn mà phát điên. Sao chẳng xét, chúng nó cũng là con cái nhà lành, vì nghèo quá mới cắt ruột mà bán cho mình làm tôi mọi, tuy tiếng là thầy với tớ, chớ chúng nó cũng như con cái trong nhà, việc ăn mặc, đau mạnh, khoẻ mệt mình phải biết thương chúng nó. Bởi cớ ấy tớ trai cũng như con trai nuôi, tớ gái cũng như con gái nuôi. Lẽ nào ở độc mà khắc khổ? Giả tỉ con cái ngươi bị người đánh chửi, ngươi có đau ruột hay không? Còn ngươi cho tôi tớ ăn không no, bận không lành, lại nỡ lòng hành hình trái phép, hại tới ba mạng. Thiệt là không sợ luật trời, còn dám nhiều điều cãi lẽ. Mau dẫn nó đi đầu thai ‘.
Phán quan đọc án kế:’ Họ Châu ở huyện Hớn dương, từ hồi nhỏ lập tiệm bán hàng xén, các trái cây, đồ đồng thiếc và các món nhỏ mọn lẻ loi. Thường dùng giấy chữ mà gói các món đồ bán. Bình thường hay lấy giấy chữ mà chùi bàn ghế, chỗ nào nhơ uế, cũng lấy giấy chữ mà chùi, và quét đổ nơi hầm dơ 24 năm như vậy. 
Còn vợ họ Huỳnh, là Khương-thị, ở huyện Hiếu cảm có hai đứa con đi học, mỗi ngày Khương-thị lấy giấy lộn (giấy chữ) để dành bồi hồ bao độn đáy giầy, hoặc đi sông, bồi vách, hoặc cuốn làm rọi để hút thuốc, hoặc vò cho nhừ làm chó lén, huỵch để nhúm lửa; như vậy năm năm.
Còn họ Mai ở huyện Táo dương, là Tú tài dạy học trò hay đạp giấy chữ, các học trò bắt chước, cũng huỷ giấy chữ, chẳng biết trọng chữ, lấy chùi đồ, hoặc đốt mà hút thuốc, làm thường vậy đến 22 năm. Ba tên phạm ấy đồng tội”.
Phán: “Trong sách có chữ trời đất quỉ thần, tên ông bà cha mẹ, trong giấy chữ đều có. Nếu không chữ, thì đạo lý chẳng rành, sao có kinh sách? Nếu đạp huỷ giấy chữ, cũng như đạp huỷ trời đất, quỉ thần, thánh hiền, ông bà, cha mẹ. Họ Mai nhờ chữ nghĩa mà hiển vinh, nhờ chữ nghĩa mà no ấm, mà dám đạp huỷ giấy chữ 22 năm, cho các học trò bắt trước, tội ấy về người hết. Ba phạm ấy đều bị cầm nơi Địa ngục không đặng luân hồi. “
Phán quan đọc án kế: Họ Dư ở huyện Miễn – Dương nhà cũng khá, mà ở bất hiếu. Nuôi vợ con ăn mỹ vị, bận đồ tốt, còn cha mẹ ăn bận lấy có. Cha mẹ phiền trách, nó trả lời rằng: “Cha mẹ để gia sản chi đó, mà bắt lỗi nuôi ăn mặc không xứng đáng? Nó lại mắng thêm, làm cho cha mẹ nó buồn rầu tức tối trọn đời. “
Phán: Họ Dư tuy dốt, há không biết ơn cha mẹ sanh thành nuôi dưỡng, trở lại trách cha mẹ không sự sản, không nuôi cha mẹ, mà lại nuôi vợ con tử tế. Nếu vậy vợ con có để gia sản cho ngươi sao? Ngươi bất hiếu thiệt không bắng súc vật. Phạt nó đầu thai làm trâu ba kiếp, ra sức cày ruộng mà nuôi thiên hạ, chết rồi còn bị chúng xẻ thây, mà đền tội bất hiếu. ” Phán quan tâu: “Tên phạm nầy có xí được một trăm lượng bạc, cho lại kẻ làm mất, đền ơn nó cũng không ăn nên kể rủi mất, đền ơn nó cũng không ăn nên kể rủi mất bạc trở ra may, nội nhà khỏi hại. Âm chất ấy cũng đáng chế bớt tội ngỗ nghịch”. Phán: “Như vậy thì chết khỏi làm trâu ba kiếp, cho đầu thai làm ăn mày chết đói hai kiếp. Nếu biết tu sẽ hay.”
Phán quan đọc án kế: “Vợ họ Lý là Trần thị ở huyện Huỳnh -Mai, thủ tiết, mà bất hiếu với cha mẹ chồng. Cha chồng bóng quáng, mẹ chồng phong bại, Trần thị cho ăn mặc lấy có, đến đỗi đói lạnh mà chết. ” Phán: “Đàn bà có chồng, thì tùng quyền chồng, cha mẹ chồng là cha mẹ ngươi. Ngươi đã biết thủ tiết, thì phải ở có hiếu với cha mẹ chồng, thay mặt cho chồng mà nuôi cha mẹ, thì tiết hiếu song toàn. Thời khi còn sống vua quan phong tặng, thác rồi lại đặng thành thần; mới là trọn lành, thần kiêng quỷ sợ. Sao lại phạm tội bất hiếu, đáng đoạ Địa Ngục, không đặng đầu thai.” Phán quan tâu: “Nàng nầy giá chồng hồi còn xuân, thủ tiết ba mươi mấy năm cực khổ, xin vương gia châm cho đặng luân hồi. ” Phán: “Trẫm cũng vì sự thủ tiết, mở đường mọn cho nó đặng đầu thai làm cho chúng phân thây, mà trừ tội bất hiếu cha mẹ chồng. “
Phán quan đọc án kế: “Họ Hồ ở huyện Lâm-Lương đậu Tú-tài, tánh ở độc bạc, hay nghe lời vợ mà ngỗ nghịch song thân. Lại thấy anh em thật thà dốt nát, nên chia phần ăn để ruộng hèn, nhà xấu, đầy tớ dở cho người anh. Còn chia phần ăn cho người em rồi, sau em thác, em dâu là Lý -thị không con, nên nuôi con người anh cả làm con mà lập tự cho chồng. HỌ HỒ muốn đoạt gia sản của em dâu, nói vu oan rằng: Lý -thị tiếng thủ tiết mà tư tình chửa hoang, dựng chứng đủ cớ. Lại mướn bà mụ nghiệm xét, cũng nói Lý -thị thiệt có thai. Lý -thị tức mình, mổ bụng trước mặt quan mà chết, làm cho nhiều người chứng ăn tiền, đều mắc họa với bà mụ. Như vậy họ Hồ bị ba tội nặng, mau xử mà răn đời. “
Phán: “Họ Hồ đậu Tú -tài, thì đã thông kinh Thi, kinh Lễ, sao mà bất hiếu bất đễ tới thế?” Tâu: “Tôi hồi còn nhỏ có học kinh Thi kinh Lễ cũng biết hiếu cha mẹ, thương anh em. Tại vợ tôi học hay mà ở độc, nó xúi các việc bất hiếu bất đễ. Tôi dại nghe lời, nhờ vương gia rộng dung.” Phán: “Tội vợ ngươi Mã thị, ông Táo và du thần, tâu cáo nơi thiên đình đã lâu, tự nhiên phạt tội một cách nặng nề. Ngươi há chẳng biết; chồng cầm quyền vợ, vợ phải nghe lời chồng dạy, lẽ nào chồng nghe lời vợ dạy hay sao? Nếu ngươi thiệt tình hiếu đễ. Vợ ngươi lẽ nào dám bất hiếu bất đễ. Nay ngươi bất hiếu với cha mẹ, khi anh bất thông hiếp em dâu thất thế mà còn nỡ nào vu oan làm bức cho tiết phụ liều mình? Thiệt tánh độc hơn rắn bồ cạp, không bằng loài chó heo. Phạt đoạ Địa ngục A tỳ, hành tội liền liền, quăng lên núi đạo, rồi bỏ xuống ao nước sôi, xay giả nấu dầu, thiêu ra tro, rồi huờn hình lịa như vậy luôn, không đặng đầu thai nữa. “
Phán quan đọc án kế: “Họ Lưu ở huyện Bành Ly, hồi nhỏ học thợ mộc, hay ếm mà hại chủ nhà, hai mươi năm như vậy. Hay chửi mưa nắng, vì hư việc của nó. “
Phán: “Ngươi làm thợ mộc, ếm hại chủ nhà. Tuy ngươi ếm người không nổi, song cái lòng độc ác của ngươi, quỉ thần đã ghét lắm. Huống chi mưa gió mây sấm trời đất đều do các vị thần linh cai trị. Sao ngươi dám mắng mưa chửi gió xúc phạm trời đất thần linh. Cớ nào ở độc và điên cuồng đến thế? Trời sai thiên lôi đánh ngươi chết, mà trừ chưa hết tội: Nay phạt ngươi làm ăn mày câm và điếc, mãn kiếp chết xuống đây sẽ hay.”
Phán quan đọc án kế: “HỌ Từ nước Vệ, huyện Kim Sàn. Hồi nhỏ ngang dọc, không tin sự báo ứng tội phước nên không kính thánh thần. Gặp thầy chùa, thầy tu, hoặc ăn mày, đều không bố thí, mà lại mắng thêm.
Lòng ở bất nhơn, hay giết rùa, đập rắn, giết loại trùng dế rất nhiều. Say rượu hay phá quán, đánh lộn ngoài chợ. Lúc say rượu kia, đánh chết đứa con đẻ mà không biết thương.”
Phán: “Không có lòng nhơn thương xót, là chẳng phải con người. RẤt đỗi thấy đứa con nít nhỏ, bò gần miệng giếng lòng còn thương, bất nhẫn mà bồng ra cho xa, huống chi con đẻ của mình mà đánh chết? Hùm dữ còn chẳng nỡ ăn thịt con, lòng thằng này thiệt độc hơn cọp, tuy ở Dương gian đã bị cầm ngục cho tới rũ tù, nay nấu dầu và đốt cho đáng đời, rồi sẽ đi đầu thai làm súc vật “.
Phán quan đọc án kế: “Họ Nhan ở huyện Quan hoá, tánh ở không tốt, hay giấu việc của người, thuật việc hư của chúng. Kể nói cho sướng miệng, không cần việc có việc không. Muốn đọc cho chúng câu, chẳng kể nói chơi nói thiệt. Làm cho đàn ông con trai mất tiếng khen, đàn bà con gái mang danh xấu, những tội ấy kể không xiết, nghị phạt tội cho mau.”
Phán rằng: “Họ Nhan là mặt người nói ngay, không cần danh tiếng chúng. Tội độc ác quá rồi, giam vào ngục cắt lưỡi. “
Phán quan đọc án kế: “Họ Giám ở huyện Nghị Thành, đấu Tú -tài, có khoa ngôn ngữ, hay kêu ngạo mắng nhiếc người và nói trây nói nhớp theo việc tục tĩu. Thường lấy các câu trong kinh sách, nói bức khúc, thích nghĩa bậy mà cười, đáng tội lắm. “
Phán: Ngươi đọc sách thánh hiền, lại để ngươi mà giễu lời thánh hiền. Có tài trí thông minh, không giúp việc phải, lại đêm tai trí mà giễu cợt, nói kiêu ngạo cho trời đất ghét, mà tổn đức mình, làm chúng cười một chút, không ích chi cho mình, thiệt là ngu quá! Cho đầu thai làm đứa ăn mày câm cho hết nói nữa!” Phán quan tâu: “Họ Nhan với họ Giám, đều phạm khẩu quá, tội ấy cũng nhỏ xin Vương gia rộng dung.”
Phán: “Tội lời nói tuy là nhỏ mọn, nhưng mà bày sự tự, tỏ sự kín của người và lại chưa dọ cho chắc nghe lưu truyền mà nói ra như mắt thấy. Những người hay nói chắc, không vị không giấu, mà nói bóng gió điều chi, ai cũng tin chắc. Huống chi thiên hạ ưa nghe chuyện mới chuyện lạ, phân nửa không tin, chớ tin cũng hết phân nửa, làm cho người hư danh xấu tiết, đến nỗi trên ông cha mang nhục, dưới con cháu hổ hang. Có khi nói chúng tức tối hổ thẹn mà liều mình, tội lớn vô cùng, sao gọi là lỗi nhỏ.” Phán rồi y án, không chế chút nào. 
Phán quan đọc án kế: “Vợ cho Chúc là nàng Cát thị ở huyện Dực Dương. Tánh hay nghi ngờ, lòng ở độc hiểm hay xui chúng rầy rà, làm cho bà con rời rã, như là: cha con mẹ con bỏ nhau anh em vợ chồng xa nhau. Phàm gặp đờn ông con trai cũng nghi nếu có sự chi mất lòng, thì vu oan cho người ấy là loạn luân. Gặp phụ nữ cũng sanh nghi nếu bất bình thì vu oan rằng nàng ấy ngoại tình lang chạ. Những gái đồng trinh hoặc người thủ tiết, đều bị nó vu oan, dẫu bà con hoặc chí thân, nó cũng không chừa nữa. Nó vu cho Chương thị, Chương thị tức mình phát bịnh thác! Lại nói vu oan cho người em trai chàng hàng bên chồng rằng chú ấy muốn lấy con gái! Người em chồng tức mình, nhảy xuống sông mà trầm mình. Mau định tội răn đời. 
Phán: “Cát thị tánh hay hồ nghi, lòng độc như rắn bò cạp, lưỡi bén như gươm, lại chúng hư danh liều mạng. Trong đám phụ nữ có loài bất lương ấy, không còn án nào mà hơn nữa. Truyền cắt lưỡi, đục răng, cắt môi cầm tại ngục A tì mà hành mãi, không đặng đầu thai. Phán quan thâu hồn đứa con trai với đứa con gái nó, cho hết dòng thèo lẻo. ” Phán quan tâu: “Chồng nó là họ Lương, hiền hậu làm lành, có khắc bản kinh Cảm Ứng in mà cho người, tới 7.534 cuốn, khuyên dạy người đời, cải ác tùng thiện công đức rất lớn, nỡ tuyệt hâu ngươi. ” Phán: “Nghĩ chồng ngươi hiền lành, người lành phải có hậu, nên tha cho hai đứa con. Còn ngươi tội ác thái quá, cầm ngục hoài không luân hồi. “
Phán qua đọc án kế: “Phan thị nhan sắc xinh tốt mà tham dâm, chê chồng xấu tướng, lộn chồng lấy các tay điếm đàng, thả lắm đau ghẻ lở mình mà chết. “
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Phán:’Nhơn duyên trời định, có số giàu nghèo. Ngươi là đàn bà xấu nết, không biết hổ thẹn, chê chồng xấu mà lộn chồng, lại ngoại tình lang chạ, Thấy chúng giàu sang tức mình nghèo khó, ỷ mình bóng sắc, chê chồng xấu xa không xét nết lăng loàn mà chê chơn chất, chê chồng già mà mê chồng trẻ, trách cha mẹ định không xứng lứa vừa đôi. Thờ chồng không trọn đạo, hoang nết chẳng nên người. Đứng đường bán dạng thuyền quyên, đánh bóng nhem trai hoang đảng. Tội tà dâm đại ác không dung. Phạt đầu thai làm heo nái hai kiếp, cho đáng tội lộn chồng, rồi sẽ xử nữa. Truyền quỉ sứ cho máy răn sắt nhai nó, rồi cho đầu thai ‘.
Phán quan tâu rằng:’ Hai mươi ba khoản ác phạm cộng 42 án đã xử rồi. Còn Thiện sĩ Lâm tự Kỳ bị bắt lầm bây giờ tính lẽ nào? Vua Tần Quảng đòi hồn lâm tự Kỳ lại, phán rằng:’ Nay đưa ngươi hườn hồn, phải rán lấy lòng thành tu hành cho sấn sướt, trẫm nãy giờ xử các án đó, ngươi đều hiểu chăng? Tự Kỳ tâu rằng:’ Tôi thấy đủ ‘ phán:’ Các sai dịch, đưa hồn thiện sĩ qua vua Đông nhạc, lãnh phê hồi dương đặng thiện sĩ thuật lại cho đời nghe các án trẫm xử đó. ‘ Tự Kỳ tâu: ‘ Tôi tối dạ nhớ các án không rành. ‘ Vua ngó phán quan mà phán rằng:’ Cho thiện sĩ một hườn thuốc phát huệ ngậm trong miệng mà hồi dương, thì nhớ đủ điều không sót. ‘Tự Kỳ lãnh huờn thuốc phát huện rồi tâu rằng:’ Tôi cám ơn vương gia cho sống lại, từ nầy tới, quyết ý tu hành song chưa biết cách tu hành đạo đức lóp lang điều nào làm trước cho trúng cách?’
Tần quảng Vương phán rằng: Đạo là đạo ngũ đạt: chúa tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bằng hữu, cũng trong năm bực ngũ luân chớ không điều chi lạ. Sao gọi đạo chúa tôi: Phàm làm quan thì trước phải ngay chúa thương dân, ở trong trào, hoặc trấn cõi ngoài, điều giữ theo luật cho xứng chức phận, hết lòng hết sức cứ lẽ công bình mà quên tự vị, lo việc nước mà quên việc nhà, ấy là theo bực chức phận. Còn dân giả thì lo cho đủ sưu thuế, không phạm phép nước, giữ bổn phận thảo thuận ngay chính, thiệt thà chắc chắn, giữ theo lẽ nghĩa nhà ở nhơn nhường. Khuyên dạy quê khờ, giữ gìn phong hoá, ấy là tu bực chúa tôi. Còn đạo cha con, làm cha nuôi con thì phải dạy, thương con phải cho nó cần lao. Hoặc dạy sách kinh cho thông đạo lý, hoặc dạy ruộng rẩy buôn bán nghề nghiệp làm ăn; chẳng nên cưng hư, cho lập lũ tửu sắc hoang đàng bài bạc. Còn làm con, lo nuôi dưỡng kính yêu cha mẹ, việc lớn thì lo ăn học nên danh cho cha mẹ vinh hiển, ở thanh liêm ngay thẳng cho cha mẹ được tiếng khen. Kế đó phải rán hết sức hết lòng mà nuôi cha mẹ, ăn mặc cho xứng đáng, tuỳ theo sức mình giàu nghèo; giàu sang thì dưng mùi ngon ngọt và chiều lòn cho cha mẹ vui lòng, đừng để cha mẹ bất bình mới trọn thảo; nếu nghèo khó dầu muối dưa hẩm hút, cũng nuôi cho cha mẹ đẹp lòng, liều thân trâu ngựa mà đền cúc dục. Dẫu nghèo cũng hết lòng cung kính cha mẹ, chớ ỷ một sự nuôi, mà không kính lễ. Còn phải biết thân vóc nầy là thịt xương của cha mẹ chia cho, nên phải thủ thân chẳng dám huỷ hoại thân thể, và cũng không dám làm quấy cho nhục cái vóc của cha mẹ sanh thành, mới là trọn thảo. Ấy là đạo cha con như vậy. Còn đạo chồng vợ phải phân biệt chồng lo việc ngoài, vợ lo việc trong cho trúng cách. Chồng cầm quyền vợ, song phải lấy lễ nghĩa mà đãi nhau đừng bỏ phép mà mầy tao mi tớ. Hoặc chồng ỷ quyền mà đánh hiếp vợ, hoặc vợ vô lễ mà sỉ nhục chồng. Chồng trọng vợ tại đức hạnh, chẳng nên mê sắc, vợ kính chồng như thờ chúa phải giữ đạo tôi. Vợ chồng thuận hoà, thì nên gia đao. Chồng dạy vợ hiền kỉnh cha mẹ chồng, cho dâu sẽ bắt chước. Hoà thuận chị em bạn dâu, thì trong nhà hết sanh nghi. Chồng dạy phải thì vợ nghe, mới gọi xướng tuỳ trọn đạo. Ấy là tu việc chồng vợ, còn như anh chị em cũng một chỗ mà ra, một máu một thịt như tay chơn, thể các nhánh cây một gốc, nếu anh đau như em đau, coi như một vóc, dầu sự may sự rủi, sự vui sự buồn, cũng chung cùng nhau một thể. 
Như cha mẹ còn mà anh em hoà thuận thương yêu nhau, thì cha mẹ vui mừng lắm. Tuy cha mẹ đã khuất, ngó tháy anh em, cũng như thấy cha mẹ, thương anh em cũng như thương cha mẹ. Bởi vậy tuy anh em bất hoà mặc lòng, nếu người dưng đánh anh em, cũng nóng ra mà binh vực, lấy đó mà suy, thì anh em là thiết lắm. Nói tắt một điều: cha mẹ anh em là trời định, không đổi dời đặng. Còn vợ con là ở sau, tại nơi người định, nên đổi dời đặng. Vì vậy chẳng khá trọng vợ con mà khinh anh em, chớ khá vị tình sau maquền nghĩa trước, thì tu việc anh em rồi. Còn bậu bạn cũng đứng vô năm bực nhơn luân là cớ nào vậy? Mình chưa làm việc lỗi, nhờ bạn trách mới bỏ. Việc nên hư lợi hại phải quấy của mình, có khi cha mẹ vợ con nói không được, vì không nỡ nói, mà bạn dám nói. Việc tâm phúc của mình, có khi cha mẹ vợ con nói không được, mà bạn dám nói. Có việc cấp nạn, cha mẹ vợ con cứu không được, mà bạn lo được cứu được. Cho nên con người không nên chẳng có bạn đạo nghĩa. Cho nên kết bạn, nói phải chắc chắn nhìn lời: lâu ngày cũng chẳng quên nhau. Lo việc cho bạn, cứu cấp cho bạn. Mình ở cho trọn đạo với bằng hữu, tự nhien bằng hữu giúp ích lợi cho mình. Tu xong cái đạo bằng hữu, năm bực đạo nhơn luan trọn rồi. Xin thiện sĩ rán lên một bực. Ấy là lời quê cạn của trẫm, truyên dạy người đời, nghe cho mau hiểu rán sức mà làm. Nói tắt một điều, người tu hành chẳng luận bỏ nhà hay ở nhà, gái trai già trẻ, cũng không luận sang hèn giàu nghèo, hoặc trôi nổi hoạn nạn, không người nào mà tu chẳng được, không chỗ nào mà tu chẳng được, không thuở nào mà tu chẳng được. Tại nơi mình tuỳ theo bổn phận, trong lòng cho an. Mình có dư, coi như còn thiếu, chớ sanh lòng kiêu căng xài phí quá chừng. Mình tuy thiếu, coi như có dư, đừng sanh dạ tham lam ước mơ quá lẽ. Ở với người, cứ một chữ DUNG, trị trong nhà nhớ trăm câu NHỊN. 
Nếu ai ở điều chi quấy quá, mình hết lòng tìm kiếm cho ra chỗ phải của người. Mình ở điều chi phải nhiều, mình hết sức xét suy cho ra chỗ phải còn thiếu. Lo cần kiệm là đầu sanh lý, giữ hiếu đễ là cội tu thân. Lại còn bố thí giúp đời, làm lành chẳng mỏi. Làm đặng vậy trọn đời; gìn chay tốt không gìn cũng tốt, niệm Phật linh, Không niệm cũng linh. ‘ Tự Kỳ:’Phải có của mới bố thí đặng, nghèo mới biết làm sao?’Phán rằng: Sự bố thí chẳng phải rặt ròng có của, lấy của bố thí là thí cho kẻ nghèo ngặt. Nếu sức mình không dư, mà cho kẻ đói một chén cơm, cho kẻ khát một bát nước, cũng gọi là bố thí. Hãy còn nhiều cách bố thí mà không tốn của. Như kẻ đương lo sợ, mình dùng lời dịu giải khuyên cho hết sợ, gọi là vô uý bố thí. 
Còn những người mê đắm, không biết ăn năn, mình khuyên giải cho tỉnh lại hết lầm, gọi là vi pháp bố thí. Nếu có việc chi tiện cho đời, thì mình ra sức, việc bất tiện mình lo dùm cho mên, gọi là phương tiện bố thí. Nếu người ta tranh đua, thưa kiện, mà mình thích giải hoà, gọi là giải kiết bố thí. Trong lòng bất nhẫn hay thương người, gọi là tâm điều bố thí. Các điều đã nói đó, là bố thí lời nói với công làm lựa phải có tiền bố thí ‘. Tự Kỳ tâu: Cứ theo thầy chùa nói: phải ăn chay niệm Phật mới gọi là tu hành. ‘ Phán rằng:’ Ăn chay niệm Phật, là ép xác sửa lòng. Chớ ăn chay có ích chi cho Phật. Còn niệm Phật lại lợi chi cho đời, Miễn là làm mười điều lành, lánh mười điều dữ, thì đủ rồi. Nếu ăn chay niệm Phật mà mười điều dữ không bỏ,mười điều lành không làm, chẳng những không phước không công mà lại nhiều tội nhiều lỗi. Vậy chớ mười mấy sãi hồi nãy, cũng ăn chay niêm Phật, mà cũng bị giam Địa ngục, ấy là không phải chơn tu, Nếu chơn tu thì sửa mình giữ đạo là thứ nhất, bố thí ăn chay thứ nhì. Cái nào cũng quí tại chữ tâm: bố thí khó tại lòng nhơn, không khó đều ra của ăn chay khó tại lònh chánh, không khó miệng cữ kiêng. Cho nên nhà nghèo bố thí một đồnh tiền, cầm đáng ngàn đồng nhà giàu có. Nhà giàu có ăn chay một bữa, cũng bằng chay một tháng nhà nghèo, là lấy chỗ khó ít nhiều mà tính phước, nếu rán chịu khó cho lắm, mới thiệt lòng thành tu hành. ‘Tự Kỳ tâu: Sao gọi trong kinh Kim cang có bốn câu kệ quí?’ Phán:’ Nghĩa nầy mắc lắm, trẩm giảng ký, thiện sĩ nhớ cho rành, Kinh Kim Cang 32 phần, phần thứ năm:
Phật cáo Tu bồ đề: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như lai. ‘
Nghĩa là: Phật Thích Ca dạy ông Tu bồ Đề rằng: Phàm việc chi có hình tướng đều là sự huyễn sự dối. Nếu thấy cái tướng nào không phải tướng, thì là thấy Phật như lai. ‘Bởi Phật không chịu hình tướng, không bày điện, cứ không ngỡ là quí. 
Phần thứ ba dạy phép không tâm (trong lòng không); 
Tu bồ Đề nhược Bồ tát hữu ngã tướng, nhơn tướng chúng sanh tướng thọ giả tướng, tức phi Bồ tát. 
Nghĩa là: Nếu phật Bồ tát, mà có ngã tướng là lòng tham, nhơn tướng là lòng sân giận, chúng sanh tướng là lòng si mê bất thông, thọ giả tướng là lòng nịnh ái đắm sa, thì không phải là Phật Bồ tát ‘. Vì trong lòng không 4 điều ấy. 
Phần thứ 26 giảng phép không có thân (mình không). 
Nhĩ thời Thế tôn, nhi thuyết kệ ngôn:
Nhược dĩ sắc kiến dĩ âm thinh câu ngã. 
Thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. 
Khi ấy Phật Thế tôn (Thích Ca) ngâm bốn câu kệ rằng:
‘Nếu lấy hình tướng có sắc mà muốn thấy ta, hoặc lấy âm nhạc tiếng ca ngậm mà muốn thấy ta thì người ấy làm đạo tà. chẳng thấy Phật Như
Lai đặng ‘. Phật dụng cái tâm thanh tịnh vô hình, chớ không ưa hình tướng. 
Phần 32 (phần rốt) dạy phép không việc đời:
Nhứt thiết hữu vi phát, như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quan. 
Nghĩa là: Hết thảy các việc có hình làm ra thì giả như chiêm bao, bọt nước, cái bóng của mình như móc sa trên ngọn cỏ, như chớp nháng đều không bền lâu, thấy đó mất ‘. Các việc hữu tình, đều hư huyễn như
vậy, nên Phật trọng vô hình. 
Trong phần ấy, Phật có dạy câu nầy:
Bất thủ ư tướng, như bất động. 
Nghĩa là: ‘ Chẳng dùng binh tướng, trơ trơ chẳng bận
lòng. 
Lại trong phần 18, Phật dạy bỏ ba lòng:
Tu bồ Đề, quá khứ tâm, bắt khả đắc. 
Hiện tại tâm, bất khả đắc. 
Vị lại tâm, bất khả đắc. 
Nghĩa là:’Không nên nhớ chuyện đã qua. Còn hiện tại bây giờ, không nên vọng tưởng. Sẽ đến đừng mơ ước ‘. Phải để tâm cho thanh tịnh thì không tội, mới đặng theo Phật Như Lai, Phật xưng là Như Lai vì trong phần 29, Thích Ca nói: Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ,
cố danh Như Lai. Chữ Như Lai là tự nhiên cái tâm, không phải ở đâu mà đến và cũng chẳng đi đâu. Nên gọi tự nhiên như vậy. 
Vua Tần Quảng thích nghia các bài kệ và các câu yếu lý trong kinh Kim cang,rồi phán rằng:’ Nếu thiện sĩ về tụng thêm cho đủ một tạng kinh Kim cang (5.818 biến) và dem các bài kệ ấy giải nghia cho nguời nghe hiểu đạo Phật, không cần cúng chùa, quí t?i chừaa tham sân si ái bốn tội và bỏ ba cái lòng vọng tưởng, nh? c?u, mo uớc việc chưa tới, ch?a d? không lòng vọng tưởng tà vạy, là sửa lòng tu mình, khỏi tội mà đặng thành chách quả Ít nữa cũng được hưởng phước kiếp sau. Nếu người nghe
mà cải ác tùng thiện, thì công của thiện sĩ lường không xiết, sẽ đặng siêu thăng’.
Tự Kỳ tạ ơn, rồi tâu rằng:’ Tôi cám ơn vương gia cho sống lại và nhờ ơn dạy bảo,
thắp hương mà lạy hoài đền ơn cũng không xứng. Còn các vị thần sở tại chỉ lầm,
e bị tội lỗi xin vương gia rộng dung cho chư thần ‘. Phán:’ Trẩm y lời miễn chấp. 
Thiên sĩ hồi hương rán hết lòng làm lành, nhớ lời trẩm dặn ‘. Phán rồi truyền bốn
quỉ sứ, đưa hồn Tự Kỳ, về tối cõi dương gian, giao cho các thần sở tại, đem hồn
cho nhập xác. 
Khi ấy Lâm tư Kỳ sống lại, như tỉnh giấc chiêm bao, kêu tiểu đồng, n gười nhà
xúm lại cho uống nước trà, trong miệng Tự Kỳ bay ra mùi thơm lạ (ấy là hơi
thuốc Phát Huện). Xóm làng tới thăm đông lắm, đều hỏi thăm việc Âm phủ mà
nghe, vì từ xưa đến nay, chưa thấy ai thác đi sống lại, Tự Kỳ bảo đem giấy mực
lại, cứ việc vẽ hình vua Tần Quảng với phán quan xử 42 án. Rồi để các án theo hoạ đồ, gọi là cuốn Hồi – Dương Nhơn – Quả. Ai nấy xem thấy đều hãi kinh, nội châu huyện quan dân đều đến xem sự lạ, thấy xử các án công bình, mới biết từ xưa
đến nay, sự báo ứng không sai một mảy, mới tin Địa ngục rõ ràng, hồ nghi huyễn
hoặc, nên nhiều người cải ác tùng thiện. Trong lúc ấy nhằm ngày mồng chín tháng ba, năm Mậu Ngũ, trong niên hiệu vua Gia Khánh trào Thanh. 
Lâm tự Kỳ với người háo thiện, sao lục cuốn nầy mà cho thiên hạ coi, đua đậu
tiền mướn khắc bản, vân vân. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
NHƠN-QUẢ LỤC LINH NGHIỆM KÝ
(Biên các sự linh nghiệm kinh Nhơn-Quả nầy)
1.__ Uông-Nguyên ở huyện Tiền Đường, mẹ già,
còn y đã ba mươi tuổi, mà không con, cha là ông Tinh-Hư, tính khắc bản
kinh Hồi Dương Nhơn Quả, chưa khắc đặng mà phần. Uông-Nguyên
muốn cầu cho mẹ đặng sống lâu và cầu con luôn thể, nên bán ruộng
mà mướn khắc bản. Mới khắc nửa cuốn, mà vợ đã có thai đẻ con trai. Rủ thêm các vị háo thiên Ngại – Khởi vân vân, phụ tiền in tới muôn cuốn mà cho người. Đêm kia Uông-Nguyên chiêm bao thấy hồn cha về khen rằng:’ Con noi ý cha, cha đã siêu thăng về cõi Thiên đường. Còn mẹ người sẽ trường thọ. Các vị phụ in, đều đứng tên vào sổ Thiên tào ‘. Sao gia đạo càng ngày càng khá, mẹ sông gần trăm tuổi. 
2.___ Triêu-Bích đi thi đậu về, thấy hồn vợ hiện dọc đường đón
chồng khóc rằng:’ Thiếp hay sát sanh, thường làm nham cua lắm. Nay hồn xuống âm phủ, phạt bỏ vào núi Giải – san, bầy cua kẹp ngày
đêm khổ sở. Tại âm phủ trọng kinh Hồi – Dương Nhơn -Quả lắm. 
Tôi xin cho hiện hồn về, cậy tả bảy cuốn cho người mà chuộc tội ‘. Triệu -Bích về tới nhà mới hay vợ chết đã chôn rồi. Liền sao tả kinh nầy,
mới được hai bổn mà cho lần. Kế đi viếng mả vợ gặp ông già xưng là thần núi nói rằng:’ Vợ ngươi nhờ phước cho kinh, đã đặng đầu thai rồi. 
3.___ Vương -Phụng là thầy thuốc huyện Thoại -An, cữ sát sanh, lại
phóng sanh nữa và hay mướn khắc các bản kinh khuyến thiện. Ngày kia
bịnh ngặt, chiêm bao thấy hai quỉ sứ bắt hồn dẫn đi đặng nữa đường, ngó lên thinh không có ba vị, một vị mặc áo vàng nói rằng: ‘ Ấy là Vương – Phụng hay khắc bản kinh in cho thiên hạ, mau thả hồn ra ‘. Hai quỉ y lời. Vương -Phụng tỉnh dậy thuận chuyện, mạnh giỏi như thường, nên lo việc in kinh làm lành. Sau tu thành tiên. 
4.___ Dương -Sâm là tấn sĩ ở huyện Huỳnh -nham. Lúc chưa thi
đậu, thấy trong làng khắc bản kinh Cảm Ứng và kinh Hội -Dương Nhơn –
Quả mà in cho người. Dương-Sâm xét mình ít tiền thấy tấm bản số 17
chưa khắc, xin chịu tiền nội một tấm ấy. Tối chiêm bao thấy ông thần mách bảo rằng:’ Cho chàng trúng theo số bản kinh ‘. Sau thi đậu tấn sĩ
thứ 17. Lấy đó mà suy: khắc bản kinh không luận tiền nhiều ít, quí tại
lòng thành. 
5.___ Phương thời Khả ở huyện Hưu Ninh, nhà nghèo mà hay bịnh. 
Gặp người lạ nói rằng: Ngươi nghèo mà không con, số có 36 tuổi. Nếu
muốn đặng phước, thì phải làm lành ‘. Thời -Khả về rán sức khắc các bản kinh, quyết in cho thiên hạ. Khắc mới phân nửa, bịnh giảm năm phần, khắc rồi thì hết binh. Sau sanh hai người con trai, lớn đều vinh hiển. Thời – Khả cũng đặng sống lâu. 
6.___ Trần tông Hiên ở huyện Ngô – Môn, năm Canh Ngũ trào Vua –
Gia Khánh, tháng mười một nội xóm rong thành bị lửa cháy. Người trên
thành ngó thấy có một người lớn cao, đứng trên nóc nhà Tòng Hiên mà chữa lửa, Ai nấy đồng lấy làm lạ. Không bao lâu các nhà xung quanh đều bị cháy hết, trừ ra một nhà Tòng hiên khỏi cháy! Ai nấy đều hỏi thăm vì cớ nào mà khôi bị hoả hoạn? Tòng Hiên nói:’ Trong nhà có bản Cảm Ưng và bản kinh Hồi dương nhơn quả, không biết phải nhờ đó
mà khỏi chăng ‘.
7.___ Huyện Tiền Đường có ông văn học giỏi, là Hứa đình Du, hay
tụng kinh Cảm Ứng, để thờ trên bàn, lối xóm coi theo mà ở. Đêm nọ ăn cướp tới dộng cửa, chúng nó xây xẩm, không thấy đường mà vô, hoảng hồn bườm hết. Sáng Đình Du hay sự ấy càng cám ơn thần, khắc bản ấn thí nhà càng khá hơn. 
8.___ Cống sanh (cử nhơn) họ Uông, ở huyện Lạc Hiệp, ngày nọ chiêm bao thấy vào chùa ông Văn Xương ĐẾ Quân, có đôi liễn:
Thiên thượng chủ ti hữu nhãn, đơn khán tâm điều:
Nhơn gian văn tự vô quyền, toàn bằng âm đức. 
Nôm: Chủ tể trên trời có mắt, cứ ngó lương tâm:
Văn chương dưới thế không quyền, trọn nhờ âm đức. 
Họ Uông ý muốn khắc câu đối đó vô thiện thơ (kinh) mà cho đời hiểu sự chiêm bao thấy liễn Đế Quân nhứt định sự đậu rớt như vầy mà sửa lòng. Bỗng thấy ông thần bước ra vòng tay nói rằng:’ Lệ thương in
một trăm cuốn thiện thơ cho người, thì sống thêm một kí (12 tuổi). Nếu in thêm đôi liễm nầy vào, cho đời rõ tìch thần thánh thưởng phạt, tin mà sửa lòng, phước thọ nhiều lắm ‘.
9.____ Tạ thiệu Thuyên ở huyện Huyễn Bình bốn mươi tuổi mà không
khong con, lấy làm rầu lắm. Có người khuyên y cho vay đừng ăn lời nặng, rán làm nhiều việc lành, và khắc bản in kinh cho người. mà cầu con thì đặng. Thiệu Thuyên tin lời làm liền. Vợ bịnh yếu đặng mạnh, sau sanh ba đứa con trai đều mạnh mẽ. Vợ chồng tin sự linh nghiệm nên làm lành thập bội hơn xưa. 
10.___ Họ Ngô ở Hàng Châu làm chức võ, sức mạnh đánh quờn hay
lắm. Ngày nào cũng xúi chúng kiện thưa và ra tay giúp sức. Ngày kia họ Ngô đi với chúng bạn, ngồi nghỉ tại cầu Liên Kiều, gần cửa chùa ông
Tưởng tướng công. Ngó thấy trong chùa có một người đương coi đọc
kinh Hồi Dương Nhơn Quả. Họ Ngô cười và ngạo rằng:’ Kinh ấy là nói
gạt đàn ông dốt, đàn bà quê, chớ như bực văn học viên quan lẽ nào chịu
đọc và khen ngợi! Thức cười cho ông văn học hồi trước, bày đặt điều
huyễn hoặc làm chi? ‘ Nói chưa dứt lời, vùng té nhào hộc máu cả chén!
Bạn hữu hỏi thăm, họ Ngô nói:’ Thấy con quỉ lên cốt đứng dựa bàn thần, nạt lớn một tiếng, hết hồn mà té ‘. Cách ba ngày sau họ Ngô thác. Trương -đảng -Ngọc ở huyện Tiền Đường thấy tận mắt mà thuật
chuyện ấy lại. 
11.___ Niên hiệu Gia Khánh, năm thứ 12. Trương tử Anh có một đứa
con trai lên bông bịnh nghịch. Mấy thầy thuốc chạy hết. Tùng cậy họ
Khuôn thỉnh tiên, đặng xin toa thuốc. Uống tuy khá mà mỏng còn lở lầy
Thỉnh tiên nữa. Ngài cho toa thuốc rắc và dặn như vầy:’ Đứa nhỏ nầy số vắn, tuy cho thuốc lành mạnh, sau cũng khó nuôi. Ngươi phải rán làm phước, cầu trời cho thêm tuổi. Đám Nghê tượng Hồng ở ấp này mới
khắc bản Hồi Dương Nhơn Quả, ngươi phải phát tâm in ba trăm cuốn mà
cho người thì nuôi đứa con ấy mới được ‘. Tử Anh y lời, thiệt con mạnh. 
12.____ Kim biên Tam tự Chấn Tổ, ở huyện Hữu Ninh. Thuở nay làm điều chi cũng giữ theo kinh Cảm Ứng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả
làm gốc. Nếu gặp ai làm dữ, thì hết sức giảng dạy khuyên can. Mùa thu năm Giáp Tuất, đi qua đò xứ Nghiêm lăng sông, Thất lý, bị lão lớn quá gãy bánh lái hư ghe thiếu chút mà chìm đò. Bộ hành ai nấy kinh hãi. Xảy đâu ngó thấy trong đám mây đen có ông thần bận giáp vàng tay cầm cờ đỏ, phất và nói lớn rằng:’ Trong đò nầy có ba người tu theo
kinh Cảm Ứng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả, phải bảo hộ cho an ‘. Các
người trong đò đều xúm lại, vì đồng nghe đồng. Chủ đò hỏi thăm nội bộ hành trong đò, có ai tu theo kinh Cảm Ưng với kinh Hồi Dương Nhơn Quả? Thì có họ Hứa ở phủ Nam Xương, họ Du ở huyện Gia Hưng, với ông Kim chấn Tổ là ba vị. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
13.____ Cung giai Dĩnh ở huyện Võ lâm, vợ là Lý thị, mang bịnh bĩ mãn (lớn bụng) hai mươi năm, mỗi lần đau bụng gần chết, cũng giống bịnh cổ trướng, uống các thứ thuốc không hết. Giai Dĩnh vào chùa Văn
xương Đế quân lạy vái, nguyện khắc bản kinh Âm chất và kinh Hồi Dương Nhơn Quả, in với các thiện thơ cho người vái cho vợ lành bịnh. 
Hèn lâu Lý thị mới mạnh. Còn em ruột là Cung giai Uý, vợ là Từ thị nghén song thai, giờ Thìn đẻ một đứa, còn một đứa trong bụng tới giờ Dậu, mà chưa ra, mẹ con mệt xỉu, nội nhà hãi kinh. Giai Uý vào chùa Văn xương, quì lại nguyện in thí kinh Âm chất chú giải, Hồi Dương Nhơn
Quả, năm trăm bộ cầu cho vợ sanh thai mạnh khoẻ. Thiệt sanh mau mắn mẹ con đều bình an. Còn người chú là Cung chương đau bịnh trĩ
(ghẻ dưới giang môn), mấy năm ngồi thì đau nhức. Lạy Văn xương đế
quân, cầu cho hết bịnh thì in kinh. Vái rồi lạnh mình bắt run như rét trong bụng lạnh ngắt như uống nước đá lần lần hết bịnh. 
14.____ Quan hình thơ là Thẩm lộc Minh ở huyện Tát, phụng chỉ về Kinh đô, vợ phát bịnh nặng. Lộc Minh lạy cầu Văn xương đế quân xin cải ác tùng thiện lo khắc bản in kinh. Người nhà vào chùa kêu Lộc Minh
nói bà đã tắt hơi. Lộc Minh về nhà, vợ sống lại nói: ‘Thiếp bị quỉ bắt dẫn đi, nửa đường gặp ông thần, xưng là Trị nhựt công tào, nói rằng người chồng có vái nên Đế quân bảo tha về ‘. Nhằm ngày 19 tháng 6. Đạo quang năm thứ ba. 
15.___ Hạ Chi sanh ở huyện Trường giang, ngụ Kinh đô nhớ mẹ già ở nhà 70 tuổi. Rằm tháng bảy, năm Quí Mão vào lạy Đế quân, nguyện in kinh Âm -chất với kinh Hồi -Dương Nhơn Quả cho đời, cầu mẹ trường thọ mạnh khoẻ. Không bao lâu đặng thơ nhà gởi qua nói: Mẹ đau phát
bối đã lâu, rằm tháng bảy vùng hết”.
16.____ Lưu-quân-An ở xứ Dương-Châu, làm chức tùng sự theo quan Lại bộ. Mẹ theo ở Kinh-đô, phát bệnh mê mẫn. Quân-An ở xa chùa Văn -đế, nên chồng ghế lên cho cao. Đầu canh năm lên ghế cao, lạy ngay phía chùa Văn-xương đế -quân cầu cho mẹ mạnh, thì khắc bản kinh in cho thiên hạ, giây phút bà mẹ tỉnh hồn nói rằng: “Ta bị một con quỉ bắt đi theo cả trăm tội nhơn bỏ tóc xoã, mặt mày lem luốc. Xảy gặp ông bảo tha một ta về, nên mới tỉnh lại. ” Nói rồi khoẻ lần, không uống thuốc mà mạnh. 
Hồi -Dương Nhơn-Quả lục
Chung
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
TỪ – ÂN NGỌC – LỊCH MINH KINH
LỜI TỪA CỦA TÔ LAN TỰ NHƠN THU
Kinh Ngọc Lịch nầy, gốc thầy tu hiệu Đạm – Si, gặp thần Phật truyền bổn nầy, về giảng cho đời hiểu. Sau truyền lại cho đệ tử là Vật Mê đạo nhơn (thầy tu để tóc) lưu truyền đã lậu, giảng điều quả báo minh bạch. 
Ngặt người đời, kẻ tỉnh ăn năn thì ít, mê mà không tin thì nhiều. Chê lành nhỏ mà chẳng làm, làm dữ nhỏ không sợ. Cũng có người: đã biết
tội xưa, muốn chừa lỗi cũ. Chưa làm lành bao nhiêu, mà mong đặng phước gặp sẵn dịp dễ lắm liền cải lương tâm! Trách chi ông thánh nói: ‘
Người khác hơn cầm thú có bao nhiêu!’ Thiệt là phải lắm. Coi các vị giàu sang trên đời, đều có căn lành theo Ngọc Lịch. Còn kẻ khó hèn, tuy tại tội kiếp trước, song cũng phạm trong Ngọc Lịch. Người sống bao lâu, ăn năn sao kịp! Kinh Diệc nói:’Coi làm việc lành, xảy gặp phước tốt ‘. Kinh thơ nói:’ Làm dữ cầu may ví như đạp nhằm đuôi cọp, hoặc đi
trên giá mùa xuân, có khi tan ra nước mà sụp ‘. Lại nói: ‘ Làm lành, trời cho phước xuống, làm dữ, trời cho hoạ xuống ‘. Phàm làm người việc nào đã thấy trước con mắt chẳng sai, thì chớ lôi thôi lây lất. Tôi chưa dám chắc mình là không quê, song cầu cho khỏi tội nghiệp mà thôi. 
Niên hiệu vua Gia Khánh, năm Kĩ Mão thánh 11. 
lỜI TỰA CỦA KIM – DẦN Ở HUYỆN TIỀN ĐƯỜNG
Người quân tử lập thân, làm việc nào mà không lành. 
Miễn giữ theo lương tâm trời phú, cho khỏi tội với trời đất quỉ thần mà thôi. Nếu muốn làm gì thì làm, không sợ phép trời, chẳng tin báo ứng, thì càng ngày càng tệ, còn dạy nỗi gì? Tuy ông thánh nói:’ Làm lành trời trả phước, làm dữ trời trả hoạ. ‘ Họ nói:’ Lành không chắc phước, dữ không chắc hoạ ‘. Như vậy các án trốn khỏi lưới dương gian, chẳng
là bỏ qua sao? Đời tệ như vậy, người quân tử mới giảng làm sao? Nay
có kinh Ngoc-Lịch truyền ra, khắc bản tới lần thứ tư, dạy dự phòng nghiêm nhặt, giảng quả báo rõ ràng, ai đọc tới cũng giựt mình sợ tội. Làm lành tuy không cần phước mà có phước, làm dữ sợ hoạ cũng không
khỏi. Nếu không biết kiêng có trời soi xét, thì làm dữ luôn luôn. Xem kinh nầy mỗi việc coi như có thần biên tội phước, ở phải thì ngó trời đất,
mình cũng không hổ thẹn là đủ rồi. 
Niên hiệu Đạo -quang, năm Nhâm ngũ, tháng 9. 
LỜI DẶN CŨNG CỦA ÔNG KIM -DẦN
Kinh Ngọc -Lịch này, ghi xét công quả, phân biệt ngay gian,
linh hiển rõ ràng, quả báo trước mắt. Ai làm lành thì đặng phước, ai làm dữ thì mắc hoạ. Kẻ dữ mà ăn năn cải ác tùng thiện, lâu ngày cũng đổi hoạ ra phước. Lời dạy rẽ ròi, dẫu đàn bà con nít, nghe cũng hiểu mà giữ theo. Nếu ai không tin, gọi chuyện đặt điều, như phụ chiếc thuyền
lành với mình cơn té sông, không chịu leo lên, thì phải bị chìm nơi biển
khổ, sa Địa ngục đã lành rồi. Tôi ước ao cho các vị quân tử, để cuốn kinh này trên bàn, dựa đầu nằm, hằng ngày xem đọc, mắt thấy lòng ghê, thì răn mình không dám làm quấy. Như vậy thì hiệp theo lời thánh
dạy, lành gặp phước, dữ mang tai. Nếu chừa lỗi làm phải cho trọn lành,
tôi mừng giùm lắm. 
PHỤ TRẠ NIÊM HIỆU KINH NGỌC LỊCH
Thầy Đạm -Si là Hồ -Tăng sãi nước Hồ, nước Liêu. 
Tên Kinh -Ngô, năm canh ngũ, nước Liêu, niên hiệu Thái Bình thứ mười. 
Nhằm trào Tổng, vua Nhơn- Tông, niên hiệu Tiên -Thánh thứ
tám, năm canh ngũ, ngày trùng cửu. Đạm -Si đi núi gặp kinh Ngọc -Lịch. 
KINH NGỌC -LỊCH
ÔNG TỬ HOÀNG LÀ THẦN ĐÔNG NHẠC DẠY:
Trời đất không tư vị, thần minh hay xét soi. Chẳng vị cúng tế mà cho lành, không trách thiếu lễ mà cho hoạ. Có quyền đừng
ỷ thế lắm, giàu sang đừng xài phí lắm, nghèo khó đừng dối trá lường gạt
tham gian. Bởi vì ba bực ấy, trời sẽ cho luân phiên xây vần, giáp vòng trở lại banđầu như đồng hồ vậy. (Nếu có quyền mà ỷ thế quá, thì mau
hết thế, tới thất thế sẽ bị báo cừu. Giàu xài phí quá thì hưởng mau hết
phước, trở nên nghèo mà chịu khổ. Còn kẻ nghèo nếu biết kiếp trước tội nặng, nay chịu trả quả, phải ăn năn thủ phận không dám làm quấy,
hết vận bỉ, tới vận thới, trời cho trở nên khá nếu liều mạng gian tham,
trí trá lường gạt giựt của chúng, là buộc thêm tội, trời phạt chồng án tới
già, e để hoạ dư cho con cháu khổ nữa, vì phạt dời mình chưa hết). Cho nên mới làm lành một ngày, tuy phước chưa tới, mà hoạ đã lánh xa
(như tai qua nạn khỏi). Hoặc mới làm dữ một ngày, tuy hoạ chưa tới, mà phước đã lánh xa (như sẽ gặp) sự may, mà khiến ăn trược). Người làm lành như vườn cỏ mùa mưa, tuy chẳng thấy lớn, mà càng ngày tốt tươi. Người làm dữ như đá mài dao, tuy chẳng hao, mà càng ngày mòn mổi. Phải nhớ mà răn lòng điều nầy, đừng làm những việc tốn của người
cho đặng lợi mình, phải cữ kiêng cho lắm. Thà làm một mảy lành, tìm
phương giúp cho tiện sự người cơn bất tiện. Khuyên người chớ làm một mảy dữ. Ăn mặc tuỳ theo bổn phận, độ cho vừa sức mình tự nhiên vui vẽ, lựa là còn số mạng làm chi? Xin xăm sủ quẻ bói khoa, mà hỏi hoạ phước làm chi? Ta nói sự hoạ phước, chắc cho đời rõ như vậy; khinh khi gạt người thì mắc hoạ, độ lượng rộng và hay dung người thì đặng
phước. Nếu nghe lời ta mà ở theo, quỉ thần kính phục, thiên hạ kiêng
vì. 
BÀI BỬU CÁO DẠY BÁO ÂN
của Huyền Thiên Thượng Đế
Nếu đọc tụng, chừa các điều dữ, làm các điều lành thì khỏi hoạ. 
Lạy ba lạy rồi tụng, hết rồi cũng lạy ba lạy. 
Huyền nguơn ứng hoá. Võ khúc phân chơn, Thuỳ niệm ngã đẳng
chúng sanh, hữu tướng thoát sanh phụ mẫu. Hoài đam thập ngoạt, nhủ
bộ tam niêm, Tân khổ bá thiên, ân cần khốn niệm. Liên ngã phụ mẫu, nhựt tiệm suy hủ. Ngã kim trị niệm bình đẳng, tất diệt hiểm tuấn tham
sâu, kỳ ân báo bổn. Nguyện ngã, hiện tại phụ mẫu, phước thọ tăng diên. Quá khứ phụ mẫu, tảo đắc siêu sanh. Đại thánh đại từ, đại nhơn,
đại hiếu. Bát thập nhị hoá, báo ân giáo chủ hưu thành chơn với trị thế
phước thần, ngọc hư sư tướng, Huyền thiên thượng đế kim huyết hoá thân, chung kiếp tế khổ thân tôn. 
Giải nghĩa kinh Báo ân của Huyền thiên thượng đế. 
Đức Huyền thiên thượng đế, thương chúng tôi có cha mẹ ơn mang
mển mười tháng, cho bú ba năm cay đắng trăm bề tấc lòng lo lắng nuôi con. Nay thương cha mẹ tôi càng ngày càng già yếu tôi nguyện tụng kinh này, thì lòng ở công bình ngay thẳng bỏ lòng độc hiểm, tham lam,
giận hờn. Thờ Đức Huyền thiên thượng đế làm thầy: lại tụng cầu cho cha mẹ mà báo ân cội rễ. Nếu cha mẹ tôi còn sức khoẻ thì đặng sống
lâu, nhờ trời thêm tuổi: còn như có mãn phần rồi thì được siêu thăng. 
(từ ấy sắp sau là phước ngài dài lắm).
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
MƯỜI ĐIỀU CẤM CỦA ĐỨC VĂN – XƯƠNG ĐẾ – QUÂN
1.___ Cấm chẳng ngay chúa (chủ), chẳng thảo cha mẹ bất nhơn, phi
nghĩa. Phải ngay chúa, thảo cha mẹ, ở thiệt tình với người. 
2.___Cấm không đặng tính mưu kế lấy của người cho lợi mình. Phải
làm âm chất (âm đức) mà cứu giúp thiên hạ. 
3.___ Cấm đừng sát sanh mạng vật mà ăn, nếu trùng kiến vô cớ cũng đừng sát hại, là lòng nhơn với vật mọn. 
4.___ Cấm tà dâm hoa nguyệt, giữ giới kỳ, là kỉnh
vía thần. 
5.___ Cấm không đặng phá việc tốt của người, cho thất công người. 
Đừng làm cho rời rã ruột thịt của người. Phải giúp bà con mình, anh chi em cho hoà thuận với nhau. 
6.___ Cấm nói dèm siểm, chê bực tài hiền. Không đặng kiêu ngạo
khoe mình, phải khen tài năng sự phải của người. Còn mình có công lao không khoe, dùng xưng mình (giỏi khiem).
7.___ Cấm say rượu, phải cữ thịt trâu, thịt chó. Phải ăn đồ hiền kiêng đồ độc, theo cách vệ sanh cho khỏi bịnh. 
8.___ Cấm tham lam không nhàm, bỏ đãy buộc chặt không bố thí. 
Phải giữ chữ cần kiệm, có dư mà giúp kẻ nghèo. 
9.___ Cấm kết bạn với kẻ quấy, hoặc ở xóm tiểu nhơn, gần kẻ nết xấu, phải thân với người tài đức mà bắt chước. 
10.___ Cấm không đặng bạ nói bạ cười, làm điều trái lẽ. Phải giữ mình ít nói, giữ theo đạo nghĩa đức hạnh mà ở. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
ĐỨC VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN DẠY RẰNG:
Loạn luân là bà con lấy nhau, phạt đoạ ngục Vô gián bị hành bào lạc
1.5OO lần, vì tội loạn luân nặng hơn tội tà dâm với người ngoài. (Bào lạc là cột đồng trống ruột cao 20 thước, đổ lửa than trong ruột cột đồng đốt cho đỏ, rồi quỉ sứ xiềng hồn tội cho ôm cột đồng mà đẩy lên, cháy tiêu thành than rớt xuống lại
huờn nguyên hình như trước mà hành nữa cho đủ 1.500 lần). Nếu ai biết ăn năn trước, thì chừa lỗi, làm công mà chuộc tội, đừng phạm tội loạn luân dâm ác nữa. 
Còn kẻ văn học đặt tuồng hoa nguyệt cho hát bộ hát, bài ca dâm, thơ dâm vẽ hình
tục tĩu, hoặc in mà bán, làm cho ngươi tập thói dâm, hại hư phong hoá, hoặc
mướn hát tuồn dâm, đều bị tội nặng, thác cầm vào ngục Vô gián (Vô gián nghĩa là
không hở). Giã, rồi xay, rồi bào lạc, rồi nấu dầu, hàng xây vần hoài không hở. 
Gái trai hành nhu8 nhau. 
Thầy Liên Trí hoà thượng nói:’ Ai thấy tuổng dâm truyện dâm, hoặc đọc lời hoa nguyệt, xem hình ảnh tục tỉu, đều động tâm sanh ra dâm loạn. Những tuồng dâm như truyện Tây sương ký, đặt chuyện Trương quân Thoại với Thôi -Oanh -Oanh mà hát cho đời mê mẫn, thiệt không phải người tài tử với giai nhân mà làm nết xấu nguyệt hoa như vậy. Nếu các viên quan có quyền thế, đốt tuồng truyện
ấy, hoặc huỷ diệt đi, thì được phước lớn vô cùng. Còn con người ai cũng muốn sống, vật nào cùng sợ chết, nỡ nào giết nó ăn thịt cho bố mình, đành đoạn chặt đầu lột da, thọc huyết cắt cổ, nhổ lông đánh vảy, bằm xắt luộc nướng, đau rát khó kêu oan! Làm tội ác mà gây oan báo muôn đời, đến thác bị hành tội rồi còn phải đầu thai mà thường mạng nhiều kiếp. Sau đặng làm người, tật bịnh chết yểu, hoặc bị hùm tha rắn cắn đau bịnh hành hình thuốc độc, vân vân, đều bởi hay sát sanh mà khổ đó. Nay ta khuyên đời, chẳng phải biểu ăn chay trường hết, song khuyên trước cữ sát sanh. Nhà nào cữ sát sanh thì thần phật phò hộ, khỏi tai hoạ, ít bịnh, sống lâu, con thảo cháu hiền, đặng các điều may phước lớn, kể chẳng xiết. Nếu có của dư phóng sanh. thả rùa trạch chim cá, tụng kinh niệm Phật chẳng những hưởng phước thọ mà thôi, thác hồn được lên thiên -đường, hoặc về Tây – phương, khỏi luân hồi nữa, có đâu sa Địa ngục mà chịu hành hình. Ai có phước thấy lời ta khuyên, mau hồi tâm chừa dữ làm lành cho sớm, đừng để gần thác ăn năn không kịp Nếu làm chẳng đặng, cũng rán khuyên người ‘.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
LỜI BỬU – HUẤN
của Ông Lữ Tổ (Lữ – đồng – Tân) giáng cơ:
Con người linh hơn muôn vật. Sao người đời không biết thân mạng. Cứ biết một sự dâm ác. Sự dâm ác dầu vua chúa quan dân xưa
nay đều bị hư hại, vì dâm ác mà quên nước, quên nhà, quên danh, quên mạng, không kể gươm đao nước lửa mà theo dâm ác, không cần thể diện, tội phước hại đến chừng nào! Đức Văn -đế chỉ dụ:’ muôn tội
dữ, án tà dâm, đứng đầu! ‘ Lạy dạy rằng:’ Nếu có dâm ác thì hư trăm việc ‘. Hai câu ấy thật hay lắm, quả lắm? Người đời thái quá tới loạn luân không cần lớn nhỏ cũng vì thói tà dâm! Không kể thân mạng, thể diện, danh giá, tiền của cũng vì tà dâm! Không rõ vì cớ nào thói tà dâm
truyền nhiễm khắp thế gian như vậy! Song bọn ấy có kẻ mắc hoạ, có kẻ tuyệt tự, xuống âm ti còn bị ngục hình, Các người giữ lòng tự nhiên sạch, mới là đáng bực anh hào. Chẳng nói làm chi đến bực thượng sĩ là
khó đặng, miễn các người chừa lỗi cũ, thì thờ thần cầu vái mới linh, khỏi thác yểu cho trọn danh con thảo, và dạy con cháu em út tập theo gương
tốt của mình. Lời ngay phái chịu nghe, thuốc đắng phải lo uống. Các đệ tử khá nhớ đừng quên! Nếu mình ngay khỏi phạm thì biên lời ta khuyên đây mà dán trên vách cho em út con cháucoi, kẻ khác cũng thấy mà sửa nết. 
Thương mạng vật thì sống lâu. Tiếc cơm gạo mà giàu được. Trọng
giấy chữ thì làm quan. Dè lời nói thì đặng phước. Làm gương tốt cho cháu con. Đừng phạm tội nơi trời đất. 
LỜI DẠY CỦA CỬU – THIÊN TƯ -MẠNG TÁO -QUÂN
Ta tuy coi sổ cái tại Cửu thiên, mỗi năm 24 tháng chạp tâu một kỳ. Song mỗi nhà điều có Táo quân thay mặt cho ta, mỗi tháng chạy tờ công quá mỗi người cho ta gài vào sổ chánh. Ta chẳng nỡ cho đời phạm tội vì lầm lỗi, nên dạy sau đây: Cấm đốt giấy chữ trong bếp, vì sợ tro ấy nữa đổ nhằm chỗ dơ. Cấm ca, khóc, hoặc chửi rủa, mắng nhiếc trong bếp. Chẳng nên đâm hành tỏi trong bếp, hoặc bửa củi trước bếp. Cấm bỏ lông gà, xương thú, củi dơ trong bếp (ngồi chồm hổm ngay bếp), hoặc quét động vô bếp. Cữ ăn thịt trâu, thịt chó, thì trong nhà bình an. Nếu ai loã lồ trong bếp, thì phạt nặng. Nhứt là cấm gõ gạc trên bếp, cạo dẫy chảo nồi trên bết. 
TÍCH ĐÔI LIỄN ÔNG QUAN – ĐẾ
Tại phủ Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có người Tú tài
Trương đại Mỹ, ở phía tả núi Ngô san, thuật chuyện rằng: Hồi ta tắt hơi, hồn đến ngoài thành Phong đô vào lạy Quan đế mà khóc. Quan đế hỏi:’ Tới số thì thác, lạy khóc ích chi? Ta bèn tâu:’ Tôi cũng biết thác rồi không lẽ sống lại song thương mẹ già không ai nuôi, nên đau lòng mà khóc. Quan đế nói:’ Như vậy để ta tâu cho “. Giây phút kêu ta mà nói:’ Ta đã tâu rồi, Thượng đế khen ngươi có hiếu, cho sống thêm một kỷ (12 tuổi).’ Liền cho ta uống một chén nước trà dạy rằng: ‘ Chùa ta khắp trong thiên hạ treo liễn rất nhiều, song không vừa ý ta, nên ta đặt một đôi liễn như vầy đây, ngươi coi cho nhớ, về mà truyền thiên hạ ‘. Ta coi thấy:
Số định tam phân, phò Diêm hán, tiễu Ngô phạt Ngụy, tân khổ dị thường, vị liễu bình sanh sự ngiệp; 
Chí tôn nhứt thống, tá Hi triền, phục ma đảng khấu oai linh phi chấn, chỉ huờn đương nhựt tinh trung. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Thích nôm:
Số trời định ba phân phò Diêm hán, đánh Ngô dẹp Nguy, cay đắng nếm đều, sự nghiệp bấy lâu chưa dứt. 
Lòng ta thâu một mối, giúp Hi triều, trừ yêu dẹp loạn, oai linh dậy khắp,
tình trung thuở ấy vừa xuôi. 
Ta đọc thuộc rồi, lạy tạ ơn Quan đế cho hồng ta về nhập xác, sống lại biết đã liệm rồi. Ta liền kêu lớn, bảo giở nắp săng cho ta ra. Ra rồi thuật chuyện vân vân, té ra quên hết nửa câu liễm trước! Cặp con mắt lại không thấy đường! Giây phút nghe gõ cửa, mẹ ta chạy ra trước thấy người bận áo xanh, đưa phong thơ mà nói rằng:’ Xin trao thơ nầy cho con bà xem ‘. Mẹ ta nói:’ Con tôi bịnh con mắt, coi thơ sao đặng? ‘
Người áo xanh nói:’ Ấy là toa thuốc, bà trao cho mau ‘. Mẹ ta đem vào trao liền. Ta xé thơ ra xem thử thấy chăng? Té ra mắt sáng như xưa, coi rõ là nửa câu liễn trước? Kẻ xa người gần, đều lấy làm lạ! Hứa triệu Đình ở Nhơn hoà nghe ta đọc liền biên đôi liễn ấy, khắc treo tại chùa Ông núi Ngô san, lại có khắc một tấm bảng thuật chuyện sự tình đôi liễn, mà treo trước cửa chùa, cho kẻ có hiếu xem, kẻ bất hiếu biết chừa lỗi. Xin rán lưu truyền. 
KINH NGỌC – LỊCH của Thập ư Vương dọn kiểu, Thượng đế có phê, cho truyền trung giới, cải ác tùng thiện. 
Nguyên ngày ba mươi tháng bảy. Địa Tạng vương bồ tát ăn vía sanh, bởi ngài làm chức U minh giáo chủ cai trị mười vua thập điện. Nên bữa vía ngài, thập vương với các vị thần đều đến chầu mừng. Địa Tạng vương phán rằng:’ Ta muốn siêu độ chúng xanh, nên mỗi năm ngày vía nầy, ta truyền ân xá các phạm tội nhẹ được đầu thai, tội nặng thì giảm bớt. Ngặt người đời làm lành có ít, làm dữ rất nhiều, ta thấy thập vương các ngục hành hình thảm thiết! Vậy phải tra xét cho kỹ, những ai tại dương thế biết ăn năn chừa lỗi, có khuyên đời làm một hai điều lành, thì trừ bớt tội cho nó ‘. Thập vương tâu:’ Chúng tôi y luật hội nghị ‘. Nếu ai làm lành tự nhỏ đến già, thì đưa lên cõi thần tiên. Còn kẻ nào công quả bằng nhau, khỏi hành tội, đặng đầu thai kiếp khác như thường. Nếu công ít, quả nhiều, thì hành tội tuỳ theo dư quá nhiều ít, rồi cho đầu thai kẻ khó hèn. Nếu biết chừa lỗi làm lành kiếp sau sẽ cho đầu thai hưởng phước. Nếu còn làm dữ nữa, sẽ bắt xuống hành hình, rồi cho đầu thai cùng khổ đáo để, sống chịu hoạ tai, đến thác sẽ giam vào Địa ngục không đặng luân hồi nữa. Còn kẻ quá ít, công nhiều, trừ còn dư công, thì đặng đầu thai hưởng phước giàu sang trường thọ. Trừ ra tội bất trung là phản chủ, bất hiếu với ông bà cha mẹ, hoặc là liều mình (tự vận), hoặc sát sanh thái quá không tin luân hồi báo ứng. Cứ nói theo tục ngữ:’ Người thác thì hồn phách tiêu tan hết, bỏ xác thúi rồi, còn hồn đâu mà bị hành tội nơi âm phủ. Thường thấy người sống bị tội, nào thấy ma chết mang gông, chết rồi thì thôi, còn biết sự gì nữa! ‘.
Mấy lời ấy quê lắm! Tuy thác thời bỏ xác, chớ linh hồn con hoài, sống làm dữ bao nhiêu, thì thác bị hành tội bấy nhiêu. Mấy kẻ bày đặt nói trước, cho người không tin âm phủ, thì đã bị Vô gián địa ngục, không đặng đầu thai. Người đời tuy thấy kinh sách tam giáo giảng dạy, song không tin, rất uổng công tiên Phật thánh thần dạy bảo. Trăm người không có một người tin mà cải ác tùng thiện, nên phải lập thêm địa ngục mà hành hình mới đủ. Nay Bồ tát thấy vậy mà thương, truyền chỉ thế giảm. Chúng tôi cũng vưng lời, cho các người dữ chịu hồi tâm, ngày vía Bồ -tát với các ngày vía chúng tôi, ăn chay thệ nguyện thiệt tình ăn năn, cải ác tùng thiện, không dám làm dữ nữa, rán sức làm một điều lành chi đó, sau thác xuống hồn khỏi bị hành tội. Trừ ra tội tôi chẳng ngay, con chẳng thảo, hoặc giết mình, hoặc làm mưu mà gạt người lương thiện đến nỗi phải bị trời đánh, chết trôi, chết thiêu, cọp ăn, rắn cắn, thì hồn xuống âm phủ phải chịu hành phạt, song cũng chế giảm một bực vì sự ăn năn chừa lỗi. Nay chúng tôi truyền các phán quan biên hết các sự tội phước, sống làm điều lành nào, mà được phước chi, làm điều dữ nào, thác bị hành ngục chi, ai ai nghe qua cũng hiểu, để dưng cho Bồ -tát xem. Đợi gặp ai cho đức hồi dương, sẽ lưu truyền cho thiên hạ ‘.
Khi ấy phán quan điện nào, biên theo điện nấy, thành ra bổn Ngọc -lịch, dưng cho Địa -tạng vương xem, Ngài khen hay. 
Qua mùng ba tháng tám, Người với thập vương chư thần đồng dưng Ngọc -lịch cho Thượng -đế ngự duyện Thượng -đế phán rằng:’ Hay lắm! Từ nầy chư thần rán xem xét, người đời nguyện chừa lỗi không phạm nữa, làm một sự phước thì cho trừ hai tội cũ, năm điều phước cho trừ hết tội xưa, lại đặng ghét làm siêu độ cho thân quyến nữa, trai đặng đầu thai phú quí, gái đặng đầu thai làm trai Thành hoàng Táo thần tuân chỉ ‘.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA TẦN QUẢNG NGỰ ĐIỀN THỨ NHỨT
Làm điều lành nào, được thưởng phước,kể ra sau đây:
1. Lượm giấy chữ nho, đốt trong trả, đổ tro xuống sông, thì được con thảo cháu hiền. Nếu đốt trong bếp thì có tội. 
2. Đốt các thơ truyện hoa nguyệt, cho khỏi hư phong tục, hoặc làm lành làm phước, đều hưởng phước và sống lâu. 
Làm điều dữ chi, phạt tội gì, kể ra sau đây:
1__ Liều mạng giết mình, cho người mắc hoạ phạt làm ngạ quỉ (ma đói).
2__ Các sãi ăn của thập phương mà tụng kinh thiếu, hoặc chịu của người công đức mà tụng kinh thiếu, đều phải tụng bổ lại. 
Tần quảng vương cầm sổ sống thác, trị việc âm phủ. Đền ở tại dưới biển lớn, chánh hướng tây theo đường Hắc đạo suối vàng. Phàm người lành mãn phần, thì cho người tiếp dẫn lên Thiên đường, hoặc về Tây phương. Còn ai công quả bằng nhau, thì qua cửa thứ mười cho đầu thai hoặc gái làm trai, hoặc trai làm gái, mắc nợ nần thì trả quả cho nhau. Nếu công ít quả nhiều, thì dẫn ra phía hữu cái đền, lên đài Nghiệt Cảnh mà soi. Đài cao 11 thước mộc, treo kiếng lớn mười ôm, day mặt qua hướng đông, trên đề bảy chữ rằng:’ Nhiệt cảnh đài tiền vô hảo nhơn ‘. Các hồn soi thấy bình sanh việc chi, đều ứng đủ lớp lang như hát bóng,
nên chối không được. Tới đó mới hay rằng. ‘ Muôn lượng vàng ròng đem chẳng đặng, cả đời bản có tội theo mình ‘. Soi kiếng làm án rồi, sai quỉ giải hồn qua cửa thứ nhì, cầm ngục hành tội. Người không kể cha mẹ sanh thân vì sự tức mà tự vận thắt họng, trầm mình, uống thuốc độc, hoặc kiếm cớ chi mà liều mình, không đợi tới số đòi hồn mà chết về nghiệp giết mình (trừ ra vì trung hiếu tiết nghĩa mà giận lẫy, hoặc bị phạm tội sợ hành, tội chẳng đến chết, hoặc muốn liều mạng mà hại người mắc hoạ: làm như chơi mà ra chết thiệt cho người mắc hoạ: các hồn chết về nghiệp ấy, Táo quân với chư thần, bắt hồn giải đến cửa đền nầy, giam vào ngục ngạ quỉ, gặp ngày tuất ngày hợi, thì phải làm cách
liều mình ấy, cầm 70 ngày, hoặc một hai năm, rồi dẫn hồn về ở chỗ liều
mình gia quyến có cúng thì được về ăn, đốt vàng bạc giấy áo thì đặng
lãnh. Nếu biết lỗi không hiện hình nhát người, hoặc không bắt ai mà thế, đợi mấy người trên Dương gian bị làm nhơn mạng đặng khỏi hoạ, thì chư thần giải hồn ấy đến đây, sẽ giải qua cửa thứ nhì tra công quả, nếu trừ rồi dư quá bao nhiêu thì hành tội và giải qua cửa khác hành nữa. 
Còn khi sống mà lòng mong liều mạng đặng hại người, hoạc hăm làm nhơn mạng cho ai, tuy liều mình mà chưa chết, cũng ghi lòng tội hành hình, tu có làm lành cũng trừ tội ấy không đặng. Lúc hồn còn ở chỗ liều
mình, mà hiện hình làm ma nhát cho chúng sợ mà chết, thì sai quỉ mặt xanh nanh vút bắt hồn xuống hành tội cho đến kiếp, rồi cầm ngục mãi không cho đầu thai. 
Còn các thầy chùa, thầy pháp, thầy tu, người ta mướn tụng kinh mà tụng thiếu sót, chừng hồn xuống đây phải ở sở bở kinh, chỗ ấy có đủ thứ kinh, cho đèn lưu ly mờ mờ, mà tụng cho đủ các chỗ thiếu hồi đó. 
Dầu thầy chơn tu cho mấy cũng phải bổ cho đủ vì tiền người. Nếu kẻ tu tại gia tụng cho mình, có sái chữ đọc thiếu cũng không chấp, trọng tại có lòng thì đặng phước khỏi tụng bổ. 
Ngày vía vua Nhứt điện là ngày mồng một tháng hai, nếu ngày ấy ai ăn chay, đặt bàn trở về mặt hướng bắc, nguyện không làm các điều dữ, đọc trải qua bài này một bận, hoặc in Ngọc lịch mà cho thiên hạ, cải ác tùng thiện, đến mãn phần trăm sai thanh y đồng tử rước hồn đem về Tây phương. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA SỞ GIANG NGỰ TẠI ĐIỆN THỨ NHÌ
Các điều lành đặng phước, kể ra sau nầy:
1. Bố thí cơm cháo, được hưởng phước giàu có
2. Thí thuốc cứu người, đời đời giàu sang. 
Các điều dữ bị hành tội, kể ra sau nầy:
1.Ban đêm tính việc quấy, phạt vào ngục Hắc vân sa cho mây đen đè mình, vùng không đặng. 
2. Các viên quan ăn hối lộ, đánh ép kẻ ngay, bắt chịu án oan, phạt
giam hoài trong tù xa, ló cổ ra mà chịu. 
3. Dỗ dành con nít làm quấy, bị cầm ao giá lạnh. Sở giang vương ở dưới đáy biển nam, địa ngục rộng năm trăm dặm do tuần, gồm 16 cái
ngục nhỏ, kể ra đây:
1. Ngục Hắc vân sa
2. Ngục Phẩn thỉ nê, Phẩn
3. Ngục Ngũ xa, đâm
4. Ngục Cơ ngạ, đói
5. Ngục Tiêu Khát, khát nuớc
6. Ngục Nung huyết, máu
7. Ngục Nhứt đồng phủ, 1 chảo đồng
8. Ngục Đa đồng phủ, nhiều chảo đồng
9. Ngục Thiết đối, cối xay sắt
10.Ngục Bân lương, đong lường
11. Ngục Kê trác, gà mổ
12. Ngục Khôi hà, ao tro
13. Ngục chước triệt, chặt khúc
14. Ngục Kiếm diệp, gươm lá
15. Ngục Hồ lang, cáo, chó sói
16. Nguc Hàng băng trì, ao giá
Nếu phạm tội dụ dỗ trẽ nhỏ, cạo đầu vô chùa làm sãi, làm cô vải; 
hoặc còn nhỏ tự ý cạo đầu vô chùa đi tu bỏ cha mẹ, mang tội bất hiếu; 
hoặc ai gởi thơ (kinh sách) hoặc đồ đạc, cố ý nói làm mất mà làm của
mình hoặc làm hại tai mắt tay chưn người; không biết coi mạch làm thuốc bướng hại người mà lấy tiền: hoặc nhà giàu bất nhơn mua mọi gái, sau người chuộc lại mà không cho: hay là làm mai ham ăn của mướn giáu tuổi, tráo tuổi, rõ biết gái trai có tật bịnh, gian giảo, mà nói
gạt người sau chúng nó bị tức tối: các tội kể trên đó, tuỳ theo nặng nhẹ, giam vào 16 ngục hành cho đáng kiếp, rồi giải qua cửa thứ ba hành nữa. 
Nếu ai giảng Ngọc lịch, hoặc in cho thiên hạ, hoặc thấy kẻ bịnh nghèo mà cứu giúp, hoặc bố thí cơm cháo gạo tiền, hoặc biết ăn năn chừa lỗi, thì cho trừ tội trước khỏi tính trước khỏi tính, được qua cửa thứ
mười đi đầu thai làm người. 
Nếu cữ sát sanh, cấm con cháu không giết trùng dế và đến mồng
một tháng ba là ngày vía trẫm ăn chay nguyện phóng sanh, sau khỏi bị
đoạ địa ngục được qua cửa thứ mười đầu thai hưởng phước. 
Xưa nay lượm giấy chữ thì sống lâu, ai cũng rõ biết. Nếu đạp giấy chữ,
chẳng hề hưởng giàu sang phước thọ bao giờ. Như việc buôn bán đồ thiệt tốt giá vừa phải thì nhiều người mua,lựa phải dán lời rạo, vậy cho chúng tin miếng giấy áp tới mua nhiều sao? Huống chi dán nơi vách tường, mặt chợ mới, coi tử tế, lâu gió mưa rớt xuống bùn lấm ướt nhẹp,
kẻ muốn lượm cũng không thể lượm được. Cho đến chỗ dơ, thấy đầy những cán dù, cán viết, miểng sành, giầy guốc, đều cũng có chữ trong đó, kẻ trong chữ nghĩa, cũng không thế lượm cho hết. Nên ta khuyên đời phải xét cho kỹ, mà khuyên nhau rằng:’ Giàu nghèo có phần số mạng, không phải tham mà đặng nhiều. Muốn đặng phước thì trước đừng làm tội. Nếu làm tội như vậy sao đặng nên giàu có? Nếu tin lời ta,
thì đừng dán lời rao chữ nho. Các món vật dụng đừng viết nho in chữ nho vào đó. Tự nhiên không cầu lợi mà lợi nhiều, chẳng cầu phước mà phước đến, là vì trọng chữ nho, không đụng đâu để đó. 
—————- 
VUA TỐNG ĐẾ NGỰ ĐIỆN CỬA THỨ BA
Làm lành được phước:
Làm cầu, sửa cho thiên hạ đi, thần thường phò hộ. 
Làm dữ phạt tội:
1. Giết người mà cướp của, bị cọp nhai
2. Đoạt thơ của người không đem tới, bị bắn. 
3. Làm mưu giết chồng, hại chồng bị phân thây xẻ thịt. 
4. Đốt nhà hoặc săn bắn bị bào lạc. 
Tống đế vương, đến tại đáy biển đông nam. Địa ngục rộng năm trăm dặm do tuần, chia ra 16 ngục nhỏ, kể ra sau nầy:
1.___ Ngục hàm lỗ nước mặn. 
2.___ Ngục mà huờn dà nu, gông xiềng. 
3.___ Ngục xuyên lặt, đục sườn. 
4.___ Ngục đồng thiết, quát hiểm, nạo mắt. 
5.___ Ngục quát chỉ, nạo mỡ. 
6.___ Ngục kiềm sài tâm cang, móc gan tim. 
7.___ Ngục khối nhãn, móc mắt. 
8.___ Ngục sản bì, lột da, căng da. 
9.___ Ngục nguyệt túc, cưa cẳng. 
10.___ Ngục bát thủ cước giáp, rút móng. 
11.___ Ngục hấp huyết, hút huyết. 
12.___ Ngục đảo điêu, treo ngược. 
13.___ Ngục phân ngung, sả vai. 
14.___ Ngục thơ hoa, ăn giòi tửa. 
15.___ Ngục kích tất, đập đầu gối. 
16.___ Ngục ba lâm, mổ trái tim. 
Làm quan không biết ơn vua, không đạo tôi: dân không lo sưu thuế cho nhà nước: vợ phụ bạc chồng, lộn chồng bỏ chồng, trốn chồng hỗn với chồng, hồi nhỏ cha mẹ đã chịu cho người nuôi làm con, lớn bỏ cha mẹ nuôi mà cãi họ lại, đầy tớ phản chủ thơ -kỳ quân lính ở bạc với người làm đầu (quan thầy của mình): kẻ làm công ăn gian chủ tiệm; tù vượt ngục, bị đày mà trốn, hại người bảo lãnh và quan cai trị trong sở, hoặc làm cho người thân bị khổ; không biết ăn năn chừa lỗi, trừ công còn dư quá thì hành; cứ theo địa lý để quân lâu, hoặc cữ không cho làm mả, hoặc bày cải táng đào mả lấy cốt tồi tàn, hoặc không đắp mả ông bà cha mẹ để loạn lạc (xiêu mồ lạc mả): dụ người làm phạm luật; xúi chúng kiện cáo làm thơ rơi giấu tên, hoặc dán lời kiêu ngạo mà giấu tên, hoặc dán lời nói xấu tiết cho con gái, phá đám hôn nhơn (cưới hỏi) mà giấu tên; hoặc viết thơ hồi, tờ để: làm giấy tờ giả mạo; đòi tiền bán chịu rồi mà chẳng dỉ sổ, hoặc trả nợ rồi mà không cho giấy không xé giấy: tập ký tên giả, khắc con dấu giả; sửa số bạc tiền trong giấy tờ, đều làm hại người, các tội kể ra đó, tra ra nhẹ nạng, sai quỉ Đại lực giam vào khám lớn, tùy theo tội, dẫn vào các ngục nhỏ hành cho đủ số rồi giải qua cửa thứ tư mà hành theo các ngục khác. 
Nếu ai nhớ ngày vía trẫm, là mồng 8 tháng 2 hay ăn chay nguyện vái không phạm các tội kể trên đó nữa lo việc làm lành mà trừ, sau thác xuống khỏi bị ngục nầy. 
Thầy Nguơn Hiền thiền sư đặt bài khuyên đừng ủ con gái. Mạng người là trọng, nên phép nước nghiêm trị việc án mạng (nhơn mạng). Nếu làm mưu làm hại oan, dẫu trốn khỏi tội Dương gian trời cũng hại mau lắm. Bởi cái mưu giết người, là lòng độc ác, mang tội nghịch thiên là trái lòng ưa sống của trời. Kíp chầy cũng trả chẳng tha. Người đời làm cho loại chí một hồi, sau an8 năn không kịp. Nay nhiều kẻ phạm tội dương gian âm phủ, nhứt là tội ủ con gái! hoặc ủ con chửa hoang! Tuy việc ấy là kẻ ngu hay làm, song quen thói rồi, nhiều nơi bắt chước. Bởi cớ ấy trời bớt số giảm kỷ, hoặc phạt cùng mạt tuyệt tự (không con trai). Nói chi đầu thai kiếp khác thường mạng là luật chung. Nghĩ thử nó đầu thai làm con, mà đền ơn cho mình, nỡ nào mà giết con cho đành đoạn? Huống chi kẻ vô hậu, cầu có chút gái còn khó thay, như vậy đủ biết phước nhiều thì có trai, phước ít mới có gái, còn vô phước thì không có con chi hết. Mình phải răn lòng sát hại làm phước mà cầu trời cho sanh trai, vì muốn kế tự, thì phải tu nhơn tích đức. Độc ác con gái chửa hoang, sanh ra thì quyết giết! Sao không biết xét, rất đỗi kẻ vô hậu còn nuôi con nuôi thay! Huống chi máu thịt của mình trong bụng sanh ra, cũng lập thế mà nuôi như kẻ nuôi quá phòng vậy, thì khỏi mắc oan nghiệp. Nếu không chừa lỗi độc, thì bị tuyệt tự, trông chi sanh đặng con trai. Người quân tử có nhơn, rán khuyên đời mà cứu nhiều mạng, thì âm đức lớn lắm. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA NGŨ QUAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ TƯ
Làm lành hưởng phước:
Thí quan tài và đồ liệm, thì nhà có thần phò hộ. 
(Phong Sắc xin thích nghĩa khoảng nầy: bởi kinh Ngọc lịch tàu có in hình, khoảng nầy có vẽ cái trại thí hòm, có chất hòm, nhiều người đến khiêng những hòm thí. Các sãi dốt không biết, bổn đạo thấy vẽ hình như thế, thì hỏi hòm gì nhiều vậy? Sãi dốt nói bướng rằng: Ai chết rồi hồn phải đem cái hòm của mình mà nạp cho vua Tứ điện. Nên chôn hòm nhẹ, dễ nạp, nếu hòm lớn khổ cho vong hồn đẩy không nổi! Bó bảy tấm vạc nhẹ nhàng dễ vác! Ôi, bổn đạo quê cũng nghe theo lời ấy, mà trối với con cháu, sợ chôn hòm lớn! Lưu truyền lời phi lý tới nay! Vì sãi dốt bày nói sàm một chút, để hại kẻ dốt muôn đời! Sao không biết xét cho kỹ vua thứ tư thâu hòm ấy mà làm chi? Mấy muôn triệu hòm chỗ đâu mà để? Vả lại hồn ma mà chuyển vận đồ hữu hình sao đặng, gọi đẩy hòm nạp quách là nghĩa gì? Nếu cực khổ như vầy sau còn gọi kẻ thí hòm được phước có thần lành phò hộ? như vậy một lời nói bậy, tổn đức biết chừng nào? Làm cho kẻ dốt nghe lầm, chôn cất tức tưởi không ấm cúng! Muốn cho kẻ dốt khỏi lầm, nên tôi phải giải cho rành, may người dốt tỉnh lại. Nếu nạp hòm hết, sao lại lấy cốt còn hòm???)
Làm các điều dữ mắc những tội, kể ra sau đây:
1. Giạ già giạ non, đong nhẹ đong nặng, lòn thăng tráo đấu gian lận, hoặc bán lúa tưới nước, đều bị cối đạp giã, cho chó ăn. 
2. Cân lận, bị móc lưng treo hoài. Đo lận cũng phạt vậy. 
3. Không kính người lớn tuổi, già cả, lường gạt giựt của người, vay mượn chẳng trả, du thủ du thực hoang đàng, không giữ bổn phận, háo sắc tà dâm, lấy vợ người, ngoại tình huê nguyện, ngã mặn và tội ăn vụng, say rượu, bài bạc, trùm đĩ nhà chứa điếm, rủa chửi, trù ếm du đãng, chọc ghẹo phá hại người hiền, đổ đồ dơ uế xuống sông, phơi quần áo dơ giọt bóng tam quan là mặt nhựt mặt nguyện, yến sao, hoặc dơ uế mà lên chỗ thờ phượng hoặc vào bếp núc: Các tội kể trên đó đều xô xuống Tát trì là (huyết ô trì) ao huyết dơ mà lặn hụp, tuỳ theo tội nhiều ít, phạt ở lâu mau. 
(Ấy là chánh kinh Ngọc lịch như vậy, kẻ sau muốn răn phụ nữ, bày ra kinh huyết hồn, mà cấm sự nhơ uế nơi tam quan, hoặc giặt dưới sông, hoặc vào trong bếp mà dạy đờn bà con gái. Kẻ dốt tin thiệt có tụng thì khỏi đoạ huyết ô trì. Kẻ dốt nữa thích nghĩa rằng: con gái đàn bà có đường kinh, hoặc chửa đẻ, đều bị xuống huyết ô trì hết thảy, nên có kẻ quê tụng kinh huyết hồn cầu mẹ khỏi tội! Lưu truyền lâu đời, đàn ông ít học cũng tụng nữa! Sao không thông lý, tại trời sanh phụ nữ phải có sự ấy, mà còn bị tội là nghĩa gì? Thầy chùa xưa có học, thông hiểu chỗ đó, bày đặt thơ Hứa sử nói nhờ Hứa sử xin vua Tử điện tha tội ấy. Nói vậy trời đất còn lầm sao? Thua Hứa sử sao?)
Ngũ quan vương ở dưới đáy biển đông, nội cõi ấy rộng năm trăm dặm do tuần 1 dặm do tuần tròn giáp vòng 240 dặm, bề ngang mặt băng gian, là ngang giữa trung tâm 80 dặm. Còn mỗi dặm là 360 bộ, bộ là bước đôi, mỗi chưn một bước, nên một bộ là 5 thước mộc, như vậy 1 dặm là 1800 thước mộc. Còn 1 dặm do tuần bề ngang xuyên tâm đo 80 dặm là 144.080 thước mộc. Như vậy 580 dặm do tuần giáp vòng đo ra 72.000.000 thước mộc bề ngang mặt xuyên tâm 24.000.000 thước mộc. Lập 16 ngục nhỏ:
1. Ngục Tát trì là huyết ô trì. 
2. Ngục Vụ liêng trước tim, xiềng, với tâm để xăm. 
3. Ngục Phi thanh kiên thủ, xối nước sôi
4. Ngục Chưởng trướng lưu dịch, vả mặt sưng. 
5. Ngục Đoạn cân tích cốt, chặt gân xương
6. Ngục Yễn kiên sát bì, khứa vai lột da. 
7. Ngục Đoan phu, khoan da thịt
8. Ngục Tổn phong núi chim trĩ mổ. 
9. Ngục Thiết y, bận áo sắt
10. Ngục Mộng thạch thổ ngoa yễm, cây, lá dẳn. 
11. Ngục Lục nhãn, khoét mắt. 
12. Ngục Phi khôi tắc khẩu, tro vô lấp miệng. 
13. Ngục Quán dược, đổ thuốc độc. 
14. Ngục Du đậu hượt diệt, trợt nhớt té,
15. Ngục Thích chỉ, xâm miệng. 
16. Ngục Tốt thạch mai thân, chôn đá vụn. 
Những tội trốn xâu lậu thuế; nói ngược lúa ruộng, nói ngược nợ, cân ăn gian; bán thuốc giả; bán gạo mắc nước; làm bạc giả, ăn gian ăn bớt bạc vàng; bán hàng lụa nhiễu; bán vải mỏng mà hồ gọi dày, đi đường không nhường tránh kẻ tật nguyền, hoặc người già, trẻ nhỏ nhít; lập mưu thần mà đoạt nghề kẻ buôn gánh bán bưng, cho mất sở làm ăn kẻ cùng khổ mà thủ lợi; lãnh thơ không đưa cho sớm, để trễ hư việc người; ăn cắp cạy gạch lề lộ, hoặc rót trộm dầu đèn ngoài đường; nghèo không giữ bổn phận, sanh ra gian giảo, giàu bất nhơn, không thương kẻ nghèo, hứa cho mượn cho vay, đến kỳ không cho, hại hư việc người; thấy người nghèo bịnh, trong nhà có thuốc hay mà không cho; giấu phương thuốc hay, sắc ra bán thuốc nước không cho thấy xác, không chịu truyền cho ai; quăng miểng sành miểng chai, gai chông ra đường đi; thả súc vật ỉa dơ đường sá; để bụi gai góc sầm uất cho hư vách rào của người; trù rủa ếm đối, hăm hoạ chúng; các tội ấy đều tuỳ nặng nhẹ hành tội các ngục, giải qua Ngũ điện. 
Ngày vía trẫm 18 tháng hai, nếu ai ăn năn ngày ấy ăn chay thề nguyền không dám phạm các tội ấy nữa, lo làm lành tu bỉ sau khỏi hành các ngục nầy, nếu thêm việc nhơn quả kể sau Ngọc lịch để cho người coi mà cải ác tùng thiện, người ăn năn chừa lỗi khỏi tội thì có công có phước. 
Nếu thấy ai bị tai nạn ngặt nghèo, mình có thể cứu mà làm hiểm bỏ qua, hoặc quên ơn bạc nghĩa hoặc cố oán quyết hại cho đặng, đều là lòng độc ác: tuy tụng kinh làm lành bố thí thác rồi khỏi hành các ngục mà thôi, chớ không đặng đầu thai hưởng phước phạt làm quỉ mị yêu tinh, như hồ ly mãng xà, mấy năm, tuỳ theo lòng độc nhẹ nặng. Nếu biết lỗi không dám sanh sự hại đời, thì thâu hồn về cho đầu thai phú quý. Như hiện hình nhát chúng khuấy đời, đáng tội thì bị Thiên lôi đánh hoá ra con Tích, thì hết đầu thai lâu tiêu hồn mất. 
Phàm các quân binh đánh giặc, kể từ ngày đi đánh, hết lòng hết sức vì nước, không hãm hiếp ai, không đốt nhà dân giả; dầu tử trận hồn xuống điện này, dẫu có các tội xưa cũng bỏ qua hết, vì đặng chữ trung lương mà trừ, giải đến cửa thứ mười, cho đầu thai hưởng phước. Nếu đánh lộn sanh tử mà chết, hoặc theo kẻ làm phản, đều bị tội gia bội hành hình theo các lỗi bấy lâu. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA DIÊM-LA NGỰ ĐIỆN THỨ NĂM
Làm các điều lành được phước:
1. Nhiều năm bố thí dân nghèo, con cháu nối đời, giàu có
2. Thí lúa gạo, cơm cháo, con cháu thi đậu làm quan lớn. 
Làm các điều dữ mắc hành tội:
1. Tội bất hiếu với ông bà cha mẹ, bị chém ngang lưng đứt hai.
2. Đổ cơm cháo đồ ăn, bỏ cơm cháy, đạp cơm cháo, đổ huỷ lúa gạo, đều mang gông, cho ăn cơm thiu hóa giòi lửa. 
3. Mỗi người có tội, cho lên đài vọng hương, ngó về xứ sở nhà cửa, thương nhớ mà về không đặng, khóc than thảm thiết. 
Vua Diêm-la phán rằng: “Khi trước trẫm ở Nhứt -điện, bởi thương những kẻ thác oan, hay thả hồn về sống lại để kêu oan. Thượng -đế đổi trẫm về Ngũ -điện tại đáy biển đông bắc, cai trị 16 cửa ngục tru tâm làm mổ trái tim. Phàm các phạm hồn giải đến đây, thì đã bị hành các ngục mấy điện kia lâu ngày, dầu tội nhẹ khỏi hành, song cứ giải bảy ngày mới tới một cửa điện tới đây cũng đã 35 ngày rồi, thây thúi hết, không thể nào sống lại đặng. Nhiều phạm hồn muốn sống lại, kiếm
tâu rằng: “Tôi làm chưa rồi lời vái hoặc cất chùa làm cầu đắp lộ, khai kinh đào
giếng thí chưa rồi, hoặc đặt lời khuyến thiện chưa đủ, hoặc lời nguyện phóng sanh
chưa đủ số, hoặc nuôi ông bà cha mẹ chưa rồi, sắm sửa hàn rương chưa đủ, hoặc trả ơn chưa đặng xin cho sống lại thề làm duyên làm phước. Trẫm than rằng: Xưa người làm dữ quỉ thần hay, nay thuyền đã ra khơi xảm muộn quá! Bởi vậy Địa -Tạng -Vương ban ơn truyền chỉ, khuyên các cửa điện chung làm Ngọc -lịch cho đời tu mà chuộc tội. Thập vương làm rồi, dâng cho Địa -Tạng -Vương ngự xem, xem đủ liền đem thập vương với chư thần lên thiên đình dưng Ngọc -lịch xin sắc chỉ của Thượng -đế, nhờ ơn Thượng -đế ngự duyệt bằng lòng ban chỉ cho truyền đời tu chuộc tội. Từ Phong Đô đại đế với Thập vương lãnh Ngọc lịch có chiếu chỉ Thượng -đế phê đến nay đã lâu năm, mà chưa gặp người nào có đức hạnh xuống âm phủ, mà trao cuốn Ngọc -lịch đặng lưu truyền cho đời, chớ hồn mà hồi đương đem kinh có hình về sao đặng? Nếu truyền đặng cho đời biết ăn năn chừa lỗi, thì dưới âm phủ sẽ ít hồn tù tội, tại dương gian ít kẻ thán oán. Như vậy đủ biết trên đời không kẻ tu luyện cho đặng nhục thân (xác phàm) xuống âm phủ. (Trừ ra thân ngoại hữu thân thì đi mới đặng).
Từ đó đến nay các hồn soi Nghiệt cảnh đều là người dữ mới giải lần đến cửa này, đừng kiếm cớ chữa mình nhiều chuyện. Quỉ đầu trâu mặt ngựa dẫn chúng nó lên đài Vọng hương cho mau.” Cái đài Vọng hương nhiều cửa vòng nguyệt, hình đài ấy như cái cung lên thẳng dây, giáp vòng 81 dậm, bề dài về hướng bắc, ngay như dây cung, còn đông, tây, nam, ba hướng trước với hai bên đều vòng tròn như cái cung, cao 490 thước, gươm giáo dựng làm chông xung quanh mặt thành, 63 từng rộng rãi. Kẻ hiền lành không lên đài ấy. Kẻ tầm thường công qúa bằng nhau, cũng khỏi lên, được đầu thai. Trừ ra phạm tội nhiều, trừ hết công, còn dư quá, mới cho lên đó. Nghĩa vọng hương là ngó mong về thấy nhà cửa quê hương mình, cho thấy cho nghe đặng biết việc ra thể nào. Các hồn ngó thấy những là người nàh không y theo lời mình trối, cãi các lời dạy, hoặc chuyên vận hết của mình, hoặc chồng cưới vợ khác, vợ lấy chồng khác, hoặc con cháu kiện chia gia sản ruộng đất, sổ sách giấy tờ bấy lâu, bây giờ xé hết. 
Giấy tờ thiếu nợ họ đòi không đúng. Còn kẻ thiếu mình mượn mình, không giấy, hoặc người nhà kiếm không đặng giấy thì bị chúng nói ngược hết, cãi lẩy với nhau, đều đổ thừa trả rồi cho mình (người chết)! Bà con hờn giận rầy rà, con cái giấu đút, bằng hữu nói tước. Có kẻ nghĩ tình khóc một tiếng, rồi cười bằng hai! Lại còn mấy kẻ tội dữ, thấy con trai bị tù tội, vợ bịnh hoạn, con gái bị chúng hãm hiếp, hoặc sự nghiệp tiêu điều, hoặc cháy nhà, hoặc hết của! Các hồn thấy việc như vậy tức tối mà khóc nhào! Quỉ sứ dẫn xuống, giam vào khám lớn, tra coi phạm tội gì thì dẫn vào 16 ngục tru tâm mà mổ ruột. Mỗi cái ngục đều trồng một cây trụ, rắn bằng đồng làm lòi tói, chó hình bằng sắt làm ghế đôn. Trói hết tay chưn vào trụ, rồi lấy dao nhỏ mổ bụng kéo tim, xẻ lần cắt bỏ cho rắn ăn. Rồi rút ruột cắt bỏ cho chó ăn, hành đủ ngày giờ mãn tội rồi, huờn hình như thường, giải qua Lục điện. Mười sáu ngục kể ra:
1. Ngục mổ tim không tin báo ứng. 
2. Ngục mổ tim sát sanh hại mạng. 
3. Ngục mổ tim bỏ phải mà làm quấy. 
4. Nguc mổ tim làm dữ tập phép trường sanh
5. Ngục mổ tim khi lành muốn người mau chết. 
6. Ngục mổ tim toan mưu vu vạ (hoạ).
7. Ngục mổ tim trai gian dâm, gái ngoại tình. 
8. Ngục mổ tim tốn của người lợi cho mình. 
9. Ngục mổ tim gắt gao không kể ai chết. 
10. Ngục mổ tim trộm cắp nói ngược. 
11. Ngục mổ tim quên ơn báo thù quá. 
12. Ngục mổ tim độc ác xui hại người. 
13. Ngục mổ tim lường gạt dỗ dành. 
14. Ngục mổ tim háo thắng, ham đánh lộn. 
15. Ngục mổ tim ganh hiền ghét ngõ. 
16. Ngục mổ tim ngu mê không tỉnh kiêu ngạo. 
Những tội không tin Thiên đường Địa ngục luân hồi, quả báo; ngăn trở kẻ làm sự lành; mượn tiếng đi chùa dòm hành sự lỗi của người mà nói: đốt hủy kinh sách; ăn mặn mà tụng kinh niệm Phật; thấy người ăn chay tụng kinh niệm chú mà chê: chê bai tiên Phật; kẻ hay chữ coi kinh sách mà không giảng cho kẻ dốt phụ nữ nghe: cuốc phá mã hoang, làm cho loạn lạc; vô cớ đốt rừng: để người nhà lơ đểnh làm cháy nhà, hại lây cả xóm; hay bắn cầm thú; vật kẻ yếu bịnh; quăng liệng phá người: đăng dò bắt cá; chày lưới các cuộc bắt cá; gát chim. (Lấy mủ cây làm cho dính giò bẫy, các đồ lề bất chim, hoặc đổ thuốc độc dưới đất); những mèo chết, rắn độc chết không chôn cho sâu, hại người đào nhằm móc nhằm trúng độc khí bịnh chết: trời lạnh run mà bắt dân đào đất dầm nước đặng làm vách đắp lò bếp mới; lấy thế cất dinh quan, lấn ranh chiếm đoạt ruộng đất dân, lấp giếng bí ngọn rạch (thuộc về ỷ thế); các tội kể trên đó, những kẻ phạm tội ấy, cho lên Vọng hương coi rồi, giam vào khám lớn, tùy theo tội mà mổ tim, mới giải qua Luc -điện tra tội khác. Nếu cơn còn sống không phạm các tội ấy, hoặc đã phạm lỡ, ngày vía trẫm là ngày mùng tám tháng giêng, mà ăn chay thề nguyền không tái phạm các tội ấy nữa, sau trẫm tha hỏi hành, lại tư tờ qua Lục -điện giải tội nữa. Trừ ra tội sát nhơn, hoặc theo tà thuật, xưng đặng trường sanh: hoặc hãm hiếp phụ nữ; hoặc đàn bà tham dâm ghen độc: hoặc vu oan cho hư danh tiết người; hoặc trộm cướp nói ngược; hoặc trộm cướp nói ngược; hoặc quên ơn bạc ngãi, báo oán quá lẽ; nhứt là nghe kinh khuyên giảng mà không ăn năn chừa lỗi! Các tội ấy chẳng hề châm chế. 
Còn người đời, gọi tài thần giữ của cho người, tưởng vậy là sái lắm! Ấy là mấy người chôn tiền bạc của cải hoặc các quan chôn của báu, đến thác phần hồn còn mê mà tiếc của, sợ chúng đào, nên hồn ma ở đó giữ mãi, ai tới thì hiện hồn ma mà nhát. Thần thánh nghĩ nó vô tội, nên bỏ qua cho ma giữ của. Chừng nào nghe câu kinh Phật dạy:’ Cái thân cũng không phải của mình, ngũ uẫn (năm mối) là tham. sân, si, ái dục, đều không ‘. Hồn ma giữ của mới tỉnh lại rằng:’Cái thân là xác còn bỏ, không phải của mình mà dùng được, huống chi là của tiền ‘. Mới chịu bỏ của mà xin đầu thai kiếp khác. Còn mấy kẻ vô phước lại gần chỗ đó bị ma nhát mà hết hồn sanh bịnh. Như thế -gian ai nghe chỗ nào có ma quỉ hiện hình hay nhát, biết là chỗ ma giữ của, thì van vái thề nguyền, xin đào đặng của ấy thì chia ra như vầy: 10 phần xuất ra ba phần mà làm siêu độ tụng kinh cho hồn ấy đầu thai hưởng phước, ba phần nữa phóng sanh cho vong ấy, một phần bố thí cho bần nhơn thì hết 7 phần rồi, còn ba phần thì mình hưởng. Vái nguyện như vậy rồi đào, thì có thánh thần làm chứng, lấy làm như vậy không hệ gì,
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA BIỆN THÀNH NGỰ CỬA ĐỀN THỨ SÁU
Làm lành được phước:
Cất chùa, tu bổ am tự con cháu thi đậu làm quan. 
Làm các điều dữ mắc tội:
1. Vừa lúa đợi giá cao, nhà nghèo mua ít không bán; quá phòng người nuôi làm con, lớn bỏ cha mẹ nuôi, mà theo họ cũ; hoặc cạo vàng trong mình Phật cốt mà bán, cũng như bán Phật; các tội ấy đều bị đóng đinh căng lút vô bàn chông đứng. 
2. Ăn cắp kinh sách, hoặc mua mà xé, bị treo mà lột da. 
3. Kêu trời van đất, không cung kính thánh thần, bị cưa ngược. 
4. Ăn trộm, ăn cắp, bị quì trên chông sắt luôn luôn. 
Biện thành vương, điện tại đáy biển chánh bắc, khám lớn gọi là Đại hiến đoán, địa ngục rông 500 dặm do tuần, 16 ngục nhỏ:
1. Ngục thường quị thiết sa, quì chông. 
2. Ngục chi nê tẩm thân, hầm phẩn. 
3. Ngục mạ tồi lưu huyết, xay bột. 
4. Ngục kiềm chỉ hàm châm, ngậm kim. 
5. Ngục cát hận thử giảo, thiến dái cho chuột ăn
6. Ngục cực võng hoàn toàn, đĩa cắn trong lưới gan
7. Ngục ngối đão nhục tương quết nem. 
8. Ngục liệt bì khí lôi, nghiến rách da. 
9. Ngục hàm hỏa bế hầu, ngậm lửa. 
10. Ngục tang hỏa bại hông, thổi lửa đốt (lửa giân).
11. Ngục phẩn tự, rạch phẩn. 
12. Ngục ngưu điêu mả táo, trâu báng ngựa đạp. 
13. Ngục phỉ khiếu, khoan lỗ (xoi).
14. Ngục trát đầu thoát xác, bửa sọ. 
15. Ngục yêu trảm, xắt ngang lưng. 
16. Ngục bác bì, tuyên thảo, lột da, đóng chông đứng. 
Phàm giận trời trách đất, ghét gió sấm lạnh nực nắng mưa; day mặt về hướng bắc mà tiểu tiêu, hĩ mũi, khạc phun, khoét, cạo vàng hình Phật, móc tiền dằn tâm ông Tiêu; kêu tên tộc Tiên Phật thánh thần; không kỉnh giấy chữ kinh sách; để đồ dơ uế gần chùa đình, bàn thờ: hương đăng trà quả, đồ cúng không, tinh khiết; dơ dáy trong bếp, không cữ thịt trâu, thịt chó, học sách tà dâm (thể chiến), tà đạo, để sách ấy trong nhà mà không đốt, sách ếm hại người cũng vậy, bôi xé kinh sách, đồ khí dụng. vẽ hình Thái -cực (mặt trăng lộn âm dương), hoặc vẽ nhựt nguyệt sao bắc đẩu, hoặc hai hình hoà hiệp (nguyệt hiệp lão nhơn), hoặc hình Tây-vương-mẫu (Diêu trì), hình Phước Lộc Thọ, hoặc hình Bát -tiên, mà làm nhãn gói đồ, hoặc thêu chữ (Vạn) vô hàng giẻ vải cờ, giường, ghế, bàn tơ và đồ khí dụng, hoặc dùng làm chữ hiệu, phạm thượng bận quần áo có hình rồng phụng, vựa lúa chờ giá cao không bán ít cho nhà nghèo: các tội kể trên đó, đều giam vào khám Đại -kiếu -hoán. Tra tội nào đáng hành 16 ngục nhỏ, đủ ngày giải qua Thất -điện, tra tội khác hành nữa. 
Nếu ai ở dương thế, ăn chay ngày mồng tám, tháng ba là vía trẫm, thề nguyền tự hậu không dám phạm tội nói trên đó, và 14 rằm tháng năm, mồng ba tháng tám, mồng 10 tháng mười, trong bốn ngày ấy ăn chay, cấm phòng, (vợ chồng không ăn nằm với nhau) cũng như các ngày vía lớn vậy, lo cầu khẩn ăn năn chừa lỗi thường năm giữ được năm ngày ấy như vậy, sau khỏi hành các ngục nầy. 
Thế tục lưu truyền nói:’Thập bát tằng địa ngục ‘. Dưới Âm -phủ có 18 từng địa ngục, ấy là nói sái, chánh là:’ Nhập bát tằng địa ngục ‘. Vào tám cửa địa ngục lớn. Kể tám ngục lớn ra sau đây: Nhị điện có khám lớn gọi là Huợt đại địa ngục. Tam điện có Hắc thằng đại địa ngục. Tứ điện có Hiệp đại địa ngục. Ngũ điện có Kiếu -hoán đại địa ngục. Tại Lục điện đây có Đại Kiếu hoán đại địa ngục. Thất điện có Nhiệt não đại địa ngục. Bát điện có Đại Nhiệt não đại địa ngục. Cửu điện A tì đại địa ngục. Cộng tám cái khám lớn, mỗi khám lớn đều có 16 địa ngục nhỏ để hành tội và Huyết ô trì, Uổng tử thành, cộng vừa lớn vừa nhỏ 138 địa ngục; lại còn bào lạc rằng khác. Phàm các phạm bị hành rồi, tuy cháy da nát thịt, đứt gân, dập xương, không còn lông tóc, chừng giải qua điện khác huờn hình lại như khi mới chết mà hành hình nữa, rồi giải qua cửa khác cũng như vậy. Trẩm thích nghĩa cho rành, kẻo tưởng có 18 địa ngục. Nhứt là tội đặt bài ca huê nguyệt, tuồng truyện tà dâm, hoặc vẽ hình tục tĩu, hoặc làm thuốc phá thai, hoặc thuốc mê, hay là khắc bản in ra, hoặc sao tả lưu truyền các bài các hình ấy, nếu bản ấy còn, bổn còn không tuyệt đồ đó, thì người bày đặt còn bị hành tội hoài, dẫu muôn ngàn đời cũng không khỏi hình phạt nơi địa ngục vì bày tà dâm dục lòng người cho hư phong hoá. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA THÁI -SAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ BẢY
Làm lành hưởng phước:
Phàm con có hiếu, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, kính yêu mười phần. Khi nuôi đau càng hầu hạ thức thối cần mẫn hơn nữa, đến nỗi cha mẹ bịnh liệt, ăn không được có khi đặt bàn cầu trời, mình lóc chút thịt cánh tay, mà nấu ra nước cho cha mẹ uống cầm hơi. Ấy là lời nói thí dụ tỏ lòng thương hết sức chạy lo như vậy. Có hiếu thì động lòng trời. 
Làm các điều dữ mắc tội:
1. Ăn trộm đồ trong hòm, hoặc bày thuốc phá thai bị quăng lên núi lửa. 
2. Sang đoạt, hoặc dỗ dành gạt chúng, bị ngục trảm thủ (chặt tay).
3. Lấy xương người mà làm thuốc, bị nấu dầu. 
Đền thái -san vương tại đáy biển tây-bắc, khám Nhiệt -não đại địa ngục giáp vòng 500 dậm do tuần, có 16 ngục nhỏ. 
1. Ngục chày nục tự thôn, đánh sặc máu bắt nuốt!
2. Ngục thềm thối hỏa bức khanh, hầm lửa. 
3. Ngục liệt hung, bửa ngực. 
4. Ngục nha xa ngoạn phát, cột tóc trên nạng. 
5. Ngục khuyển giảo kinh cốt, chó cắn cẳng. 
6. Ngục đảnh thạch tồn thân đội đá. 
7. Ngục lả đảnh khai ngạch, đập óc xả trán. 
8. Ngục úc thống khốc cẩu đôn, chó cắn. 
9. Ngục lê bì trư tha (trư đà), lột da, heo cắn mà trì. 
10. Ngục đoạn hảo thượng hạ trác giảo, trên chim
lắc nước mổ, dưới heo rừng xé. 
11. Ngục điếu đạp túc, treo cẳng. 
12. Ngục bạt thiệt xuyên tai, kéo lưỡi xỏ má. 
13. Ngục sưu trường, rút ruột. 
14. Ngục loa đạp hoa trước, la đạp, heo rừng cẳn. 
15. Ngục lạc thủ chỉ, đốt ngón tay. 
16. Ngục du phủ cổn phanh, nấu dấu. 
Nếu ai có uống hồng diên (kinh nguyệt lần vỏ da, thứ nhứt)
tử hà xa nhau (nhau); hoặc uống rượu phí dụng thái quá; mua đồ trong hòm người chết; hoặc lấy xương cốt người mà làm thuốc: phân rẽ vợ chồng, thân thích người; gả dâu làm thiếp, hoặc đợ; để cho vợ trấn nước con gái: hoặc chửa hoang đẻ ra liền ủ; bài bạc đánh môn đánh cặp chia tiền của, hoặc gian lận; thầy không cần dạy để đệ -tử hư: không cần tội nặng nhẹ, cứ chửi tôi đánh tớ tới bị thương tích: hà hiếp xóm diềng: không kính người lớn hơn mình, dạy phải chẳng vâng lời: khua môi uốn lưỡi, xúi rầy đánh lộn; các tội ấy tùy nhẹ nặng hành hình đủ 16 ngục. Hành đủ rồi, giải qua Bát điện tra tội khác nữa. 
Trong đời thiếu chi vị thuốc, nỡ nào giết vật sống mà làm thuốc, trị bịnh thiệt ở bất nhơn. Còn như uống hồng diên, nhau rún đồ dơ trong mình đàn bà, như ăn thịt người, thì cái miệng cũng như một thứ uế trược kia dẫu có làm lành tụng kinh niệm chú đã không linh, mà càng thêm tội, nên án ấy không dung. Nếu ai nghe khuyên nầy, mau mau chừa lỗi, nguyện cữ sát sanh, lại phóng sanh được một trăm vạn mạng mỗi ban mai súc miệng niệm Phật cho nhiều, đến khi mãn phần, Phật sai Tịnh nghiệt sứ giả đem đèn soi cho tiêu hơi uế mới đặng. 
Nếu ai lấy xương cốt kẻ chết thiêu, hoặc thây con nít chết mà làm thuốc, hoặc lấy sọ người bán mà làm vị thuốc có kẻ ác kiếm xương người tới cả gánh, chắc thì làm đồ khí dụng, mục thì tán ra bột pha đồ. Hầm các vật dụng thì dầu có công gì, trừ cũng không đặng, thà hành tội ấy công nọ để trừ tội khác, dư sẽ cho hưởng kiếp sau. Còn bây giờ hành các ngục rồi, rốt giải qua vua thứ mười đặng cắt tay khoét mắt, chặt tay chưn, hớt môi miệng mũi, đầu thai làm kẻ tật nguyền, thậm chí hai tật mà trừ tội ấy. Nếu ai còn sống biết tội, phải thề nguyền ăn năn, không dám phạm nữa, hoặc phải thí hòm mà đi liệm thí nhiều xác, sau chết đeo đính bài, trên đính bài ông Táo có chấm một điểm mực làm dấu, xuống đây mới khỏi hành hình. 
Có năm thất mùa đói lắm, tới nỗi kẻ sống đói quá ăn thịt thây ma. Nếu ai ngất ngư hấp hối còn chút hơi thở mà nỡ lòng cắt thịt nấu ăn, hoặc làm nhưn bánh bao, bánh in mà bán cho người ăn, ở lòng độc như vậy bị hành xây vần 16 cửa ngục nầy đủ 49 ngày, thì cho Thập -điện ghi vào sổ, rồi chạy tờ cho Nhứt điện đem tên vào bộ nữa, cho đầu thai lên làm súc vật chết đói, cho thấy đồ đổ trước mắt mà nuốt không vô, phải chịu đói tới chết. Tội này không phước nào trừ được, cũng không đặng đầu thai làm người mà trả quả. Còn kẻ ăn lầm, biết rồi mà còn ăn nữa, phạt đầu thai làm súc vật sưng họng đói lắm mà ăn không đặng, nhịn cho tới chết. Nếu biết lầm mà không ăn nữa, thì chế cho bố thí năm đói mà trừ (như thí lúa gạo tiền bạc cơm cháo hoặc nước gừng, nước trà), được như vậy đã tiêu hết tội trước, lại trả phước nhãn tiền và kiếp sau. 
Ba điều trên ấy là quan văn, quan võ với các phán quan điện nầy hội nghị hai điều, còn Địa -ngục thứ tư (chúa ngục) nghị một điều, là ba điều, trẫm cũng cho viết theo sau, dưng Thượng đế, nhờ ân chỉ phê cho và thăng thưởng các viên hội nghị. 
Lại truyền chỉ dụ: Thế gian làm điều dữ, chư thần đã nghị tội hành phạt rồi. 
Hỡi còn việc quân lính, việc công vụ, lễ nghị, chế riêng điều lệ nhỏ, các khoảng ấy điều y thao luật của nước nào chế, thì trị theo luật nước nấy. Nếu chúng nó chối mà đổ tội cho kẻ khác, tức thì phải tra minh mà trị tội y luật. Các cửa âm ti y chỉ dụ ‘.
27 tháng ba nhằm ngày vía trẫm, ai ăn chay day mặt lạy về phía bắc, thề nguyền ăn năn chừa lỗi, làm lành in cuốn Ngọc -lịch cho đời coi mà cải ác, sau khỏi hành các ngục nầy ‘.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA BÌNH -ĐẲNG NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ TÁM
Làm lành hưởng phước:
Kẻ giàu có trai tăng bố thí cho thầy tu, được phước lộc. 
Làm các điều dữ mắc tội:
1. Bất hiếu, cha mẹ sống không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc hồi cha mẹ còn sống làm cho cha mẹ ưu phiền bất bình, hoặc làm điều phạm phép, cho cha mẹ kinh hãi, đều bị xe cán. 
2. Ở quấy với người ơn của mình, hoặc chắp cây chiết chi, đem nhánh nầy chắp qua gốc cây kia, đều bị xắt ngang lưng. 
3. Nói tục -tĩu về việc phụ nữ, bị kéo lưỡi mà cắt. 
4. Khi người nghèo, dua bợ giàu sang bị mổ bụng móc tim. 
Ngục nầy có thành Uổng tử để giam hồn tự tận (giết mình).
Bình Đẳng vương đền tại đáy biển chánh tây, khám lớn là Đại Nhiệt não đại địa ngục, rộng 500 dặm do tuần, có 16 ngục nhỏ:
1. Ngục xa băng, xe cán. 
2. Ngục mộng hoa, chảo đậy ngột. 
3. Ngục tối quả, lóc thịt tận xương. 
4. Ngục lao khổng, bóp mũi, bóp họng. 
5. Ngục tiển thiệp, hớt chót lưỡi. 
6. Ngục thường thinh, nhà tiêu. 
7. Ngục đoạn chi, chặt tay chơn. 
8. Ngục tiền tạng, nấu đồ lòng. 
9. Ngục chích tủy, nướng mỡ xương. 
10. Ngục bát trường, móc ruột. 
11. Ngục phần tiêu, đốt trái thận. 
12. Ngục khai đường, mổ ức. 
13. Ngục hoạch hung, sả ngực. 
14. Ngục phá đảnh náo xỉ, bửa đầu xeo răng. 
15. Ngục phê cát, bằm xắt. 
16. Ngục cang xa, chĩa sắt đâm. 
Những con bất hiếu, cha mẹ còn không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc làm cho cha mẹ hay là cha mẹ chồng hết hồn, giựt mình, phiền hờn, rầu buồn, nếu không ăn năn chừa lỗi, ông Táo ghi vào sổ tội thứ nhứt tâu Thiên -tào cho bớt lộc bớt tuổi, cho tà quỉ làm điên khùng, thác rồi còn bị hành hình các ngục khác, giải đến cửa nầy ngưu đầu mã diện xách giò quăng vô khám lớn, rồi dẫn lại các ngục nhỏ hành hình cho đến kiếp, mới giải qua cửa thứ mười cho đầu thai làm súc vật. Nếu ai thấy Ngọc lịch mà tin, mỗi năm vía trẫm là ngày mồng một tháng tư, ăn chay thề nguyền chừa tội lỗi, sớm tối nguyện với ông Táo, xin ăn năn chừa lỗi, đến mãn phần ông Táo đề chữ Tuân trên trán, hoặc chữ Thuận, chữ Cải dầu hồn xuống từ Nhứt điện đến Thất điện có tội chi khác đều giảm phân nửa và khỏi phải giải qua điện nầy, đi luôn qua Cửa điện tra có đốt nhà, hoặc tính mưu thầm hay không. Rồi giải qua Thập điện cho đầu thai làm người tử tế. 
Thượng đế có chỉ dụ: “Nếu ai ăn năn chừa lỗi, in Ngọc lịch cho thiên hạ coi mà hồi tâm, thì sau thác xuống đi luôn từ Nhứt điện thẳng tới Bát điện khỏi hành các ngục. Tới cửa điện tra tội phước nếu không tội thì giao qua Thập điện cho đầu thai nhà giàu sang mà hưởng phước lâu dài. “
Còn Huyết ô trì phía sau điện, mé bên tả. Sãi vãi tại thế gian giảng sái rằng: “Đàn bà sanh đẻ có tội, sau bị sa Huyết ô trì”. Ấy là nói sai lắm! Sự đó tại trời sanh còn làm tội là nghĩa gì, dầu đàn bà đẻ mà thác, cũng không tội nhơ uế chi hết. Tội là vầy: Đẻ chưa đầy tháng mà xách nước, lội sông, vô bếp, giặt quần áo dơ, phơi hứng tam quang, các tội ấy về chủ nhà (người lớn trong nhà) chịu ba phần còn bảy phần đích thân nàng ấy chịu. Ao Huyết ô để phạt gái dâm dục sau bàn Phật, trước chỗ thờ thần, hoặc không cữ giao hiệp bốn ngày kị nhụt thần trong mỗi năm, là 14, rằm tháng năm, mồng ba tháng tám, mồng mười tháng mười, nội bốn ngày đêm ấy, mà ăn nằm thì tại dương thế đã mang bịnh, hoặc chết rắp, hồn xuống đây còn bị lăn lội dưới ao ấy lâu ngày. Hoặc sát sanh vấy máu trong bếp, hoặc bàn thờ, hoặc vấy máu vô kinh sách, hoặc đồ đựng cúng tế, cũng bị sa Huyết ô trì. Trừ ra có người thân nguyện cữ sát sanh lại phóng sanh cho vong hồn, lạy Phật tụng kinh cầu mới khỏi. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA ĐÔ THỊ NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ CHÍN
Làm các điều lành được hưởng phước:
1- Mùa đông thì nước gừng, mùa hè thì trà nước, có phước. 
2- Đưa đò thí, con cháu thi đỗ hiễn vinh.
Làm các điều dữ mắc tội:
1- Đi tới tiền làm chùa sửa chùa quan thếp Phật, mà ăn gian, hoặc rủ người đậu tiền khắc bản kinh, hoặc in kinh, ăn gian, hoặc bán mà thủ lợi, đều bị quăng trên núi cao. 
2- Bắt ếch, nhái, lươn cá, thuốc cá, bắt chim, ăn thịt trâu chó ngựa, hay sát sanh bắt rùa rắn, vô cớ mà hại vật, đều bị quạ xé thây ăn gan tim, rắn đục tai, niệng mũi. 
3- Phân vợ rẽ chồng người, nói đâm thọc cho ruột thịt xa nhạu Vẽ hình tục tĩu, làm thuốc tráng cho tà dậm. Hoặc đặt đồ huê tình, hoa-nguyệt cho sanh thói dâm. Hoặc đập chó. Các tội ấy đều bị chó vật chết, xé thây ăn thịt tim phổi. 
Đô thị vương đền tại đáy biển tây nam, khám lớn là A tì đại địa ngục, rông 8 trăm dặm do tuần đều bao lưới sắt, lập riêng 16 địa ngục nhỏ:
1- Ngục xao cốt chước thân, đập xương đốt mình. 
2- Ngục sưn cân lôi cốt, rút gân nghiền xương. 
3- Ngục nha thực tâm can, quạ ăn tim gan.
4- Ngục cẩu thực trường phế, chó ăn ruột phổi. 
5- Ngục thân tiện nhiệt du, mình, tưới dầu sôi. 
6- Ngục não cô bạt thiệt, bạt xỉ, nỏ đầu, kéo lưỡi, nhổ răng.
7- Ngục thủ não vị điền, con nhím khoét sọ ăn óc. 
8- Ngục chưng đầu, quái não, nấu dầu, nạo óc. 
9- Ngục dương súc thành hải, dê cụng bấu. 
10- Ngục mộc hiệp đảnh, ta nỏ nát sọ. 
11- Ngục mạ tâm, móc tim mà xay.
12- Ngục phị thang tâm thân, trấn nước sôi.
13- Ngục huỳnh phong, ong vò vẽ đánh. 
14- Ngục nghị chú ngao thầm, kiến đục tóp (thắng mỡ ra tóp cho kiến ăn.)
15- Ngục yết câu, bồ cạp chích. 
16- Ngục tử xích độc xà toàn khổng, rắn đỏ độc chun cửu khiếu. 
Phàm vua thế gian chế luật hình phạt, như tội nặng lắm xử lăng trì (chém rồi xả tư), xử trảm (chém), xử giảo (thắt họng), hồn xuống chịu các ngục trước hành rồi, giải đến điện nầy, hoặc kẻ đốt nhà, nuôi xâu ngải, thuốc độc, phá thai, hút hơi rún cho bổ, nút tinh trai, hoặc vẽ hình tục tỉu, đặt thơ truyện ca huê nguyệt (thơ ân tình) hay là bài thuốc mê, thuốc phá thai. Ai có phạm đều, thấy Ngọc -lịch thì ăn năn, thề chừa lỗi, không dám phạm nữa, nếu dâm thơ thì xé não, in rồi thì hủy bản, đốt sách, không truyền phương thuốc tà vạy nữa (thuốc tráng) thì sau xuống đây tha hành các ngục, giao qua Thập điện cho đầu thai làm người. Nếu nghe Ngọc – lịch mà còn làm các tội ấy, thì sau hành từ Nhị điện cho tới đây, đây trước hành bào lạc (xiềng tay chân vô ống cột đồng đốt đỏ, đẩy lên cháy thành than), huờn hồn lại giam vào ngục A tì mà hành theo 16 ngục nhỏ, rồi huờn hồn nữa, đâm gươm vô họng thấu tim phổi, giam hoài đợi các nhà bị hại trên thế gian khá lại, kẻ chết đầu thai hết, hoặc não bổn dâm thơ hết lưu truyền nữa, hoặc phương thuốc độc hết truyền, hoặc kiểu hình tục tĩu tuyệt hết, thì hồn phạm mới khỏi giam đặng đi đầu thai. 
Nếu ai phạm các tội ấy, đến ngày vía trẩm là mồng tám tháng tư, ăn chay, day mặt về hướng bắc, vái nguyện chùa lỗi, mua thâu dâm thơ mà đốt, hoặc in Ngọc -lịch cho người, hết sức khuyên đời cải ác tùng thiện, đến mãn phần, ông Táo đề hai chữ ‘ Phụng hành trên trán, thì từ Nhị điện đến đây, tra công mà trừ các tội khác. (Nếu kẻ giàu sang có quyền thế cho bắt kẻ hung hoang hay đốt nhà chúng, hoặc cấm dâm thơ, hủy bản đốt sách dán yết thị cấm các việc hại đời ấy, thì cho con cháu nối đời thi đỗ làm quan. Nếu kẻ nghèo, dốt, phụ in Ngọc lịch khuyên đời sau đầu thai hưởng phước. 
Vua Phong đô đại đế phán rằng:’ Tay Bát điện có thành Uổng tử, ở phía hữu điện nầy (vì 2 đền gần nhau). Thế tục nói sái rằng:’ Ai bị thác oan, thì hồn bị cầm thành Uổng tử ‘. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt! Sao không xét cho đủ lý, người đã thác oan, cầm ngục nghĩa là gì? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan trước cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai Còn thành nẩyđể giam những kẻ vô cớ giận lẩy mà giết mình, trầm mình thắt họng, uống thuốc độc vân vân, giam đỡ đây đợi hành tội chưa đặng đầu thai chớ không phải các hồn bị người giết Uổng -tử. Nếu kẻ liều mình vì sự trung hiếu tiết nghĩa, hoặc quân lính vì nước mà tử trận, các bực ấy kẻ đáng thành thần thì hiển thánh, kẻ còn tội lỗi, không đặng thành thần, thì đã cho nguyên hình mà đi đầu thai, có đâu giam cầm thành nầy mà chịu bó buộc thảm khổ hay sao?
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
VUA CHUYỂN -LUÂN NGỰ ĐIỆN THỨ MƯỜI
Làm các điều lành được phước:
1. Nhà giàu sang thí kinh lành, hoặc thí Ngọc -lịch phước lớn. 
2. Tụng kinh, tụng cảm -ứng tu hành niệm Phật, giàu sang sống lâu. 
Làm các điều dữ mắc tội:
1. Hãm hiếp, dụ trẻ thơ mà ăn của, đều bị xay ra bột
2. Không kỉnh giấy chữ, rủ ăn trâu, chó, phát làm hành khất
3. Không kính người lớn, dạy khuyên điều phải mà chẳng vưng lời, hoặc thầy bảo học trò trọng giấy chữ, đều bị đá đè. 
4. Không phải cúng ông bà, nuôi cha mẹ mà sát sanh. Hoặc mưu kế lường gạt ăn gian. Bày kiện thưa báo đời. Hoặc nghề võ đánh độc cho người chết. Các tội ấy đi ngang cầu Nại -hà bị té xuống sông cho rắn mãn xà cua đinh ăn thịt. 
Chuyển -Luận -Vương đền tại đáy biển đông, ngay rún trái đất, có làm cầu bằng vàng, cầu bằng bạc, cầu ngọc, cầu bằng đá, cầu cây (cầu ván) và cầu Nại -hà, cộng sáu cái cầu. Các điện giải hồn đến, xét tội phước cho đầu thai các phương thế gian, định giàu sang hèn khó, sống lâu thác yểu, đều ghi sở rõ ràng mỗi tháng chạy tờ về Nhất điện ghi sổ rồi nạp cho vua Phong đô đại đế. 
Luật Âm phủ, phàm tứ sanh là loài đẻ con, loài đẻ trứng, loài dưới nước, loài biến hoá lộn kiếp, những loài không chân cẳng, hoặc hai giò, 4 chân, nhiều cẳng, các vật ấy chết rồi hoá ra con tích (mà chết một kiếp nữa) xoay vần như cối xay, hoặc số một năm nửa năm, hoặc sớm mai sanh chiều chết, đổi dời biến hoá mạt kiếp, không định số, là loài phải bị giết cho hết kiếp, cho đầu thai các nơi mà trả quả. Mãn năm cũng phải trình sổ ấy cho vua Phong đô đại đế xem. 
Phàm kẻ học nho có đọc kinh Diệc, các sãi, mấy thầy tu có tụng kinh niệm chú, mà phạm tội nhiều quá, tuỳ bắt hồn đến các điện, cũng chưa hành đặng, phải giải đến đền trẫm vẽ hình và biên tên vào sổ Đoạ lạc danh sách. Rồi giao cho Mạnh bà ở đài Ứ Vong, đổ thuốc mê, cho đầu thai chết trong bụng, hoặc sanh ra một đôi ngày mà chết hoặc hơn
trăm ngày mà chết, hoặc một hai năm rồi chết, đặng cho quên hết kinh chú, rồi Nhứt điện bắt hồn tra tội mà hành Nếu ai công quả bằng nhau, hoặc dư quá chút đỉnh, thì định cho đầu thai làm trai, làm gái, xấu tốt, khoẻ cực, giàu nghèo, đều giao Mạnh bà cho uống nước mê (lú) rồi mới đầu thai. 
Trẫm hằng kêu tên mà cho đầu thai làm người, nhiều kẻ phụ nữ khóc lạy rằng:’ Còn thù lớn chưa trả đặng, nên không muốn đầu thai, thà chịu làm ma đói (ngạ quỉ), Trẫm hỏi rỡ, thì chúng nó kể ra: hoặc con gái đồng trinh hoặc con tiết phụ, bị các trò tốt trai háo sắc, hoặc tham của các nàng ấy, lập kế dỗ dành, làm mặt nhơn nghĩa, nói tiếng ân hậu, mà tư tình cho được; kẻ nói dối chưa vợ, thề sẽ cậy mai đến cưới, hoặc gạt tớ gái, hứa sẽ lập làm thiếp mà lấy chơi phá trinh rồi bỏ, hoặc hứa nuôi mẹ già trọn đời, hoặc hứa nuôi con ghẻ. Các phụ nữ vì tin mà mắc, té ra hết của, thất tiết, mà chẳng đặng chồng! Sao lại bán rao cho cha mẹ anh chị hành hà, xóm giềng đàm tiếu, tức mình hổ thẹn mà liều mình, hoặc tức tối thất tình phát bịnh mà chết! Nay nghe đứa phụ tình đi thi khoa nầy chắc đậu, nên xin ở lại đợi tới khoa mà báo oán đòi mạng, ngặt nó chưa tới số, hoặc phước đức tổ phụ nó còn nhiều, xin cho lên phá nó hồn mê, thi chẳng đậu, hoặc cáo với Văn Xương đế quân phạt nó phải rớt (mới ra sự đổi tên có đứa khác đậu thế) đợi tới số sẽ xin lên vật hồn báo oán, các vụ ấy trẩm tra rõ oan ức, thì cho tờ nó tới Nhứt điện cáo. Nếu ai ăn chay ngày vía trẫm la 17 tháng tư, thề nguyền tin Ngọc lịch mà ở, và đem bài này mà giảng cho các trò nghe mà đặng giữ mình, thì người giảng ấy trọn đời khỏi thủy tai hoả hoạn, khỏi việc qua quan hình phạt. 
Còn sở luân hồi rộng bảy trăm dặm do tuần, trên dưới xung quanh đều có rào sắt và bao lưới phép, chia ra 81 chỗ, mỗi chỗ đều có nhà mát, các phán quan thơ lại, để bàn ghế biên chép. Ngoài rào sắt có 108.000 đường dương trường (nhỏ như ruột con dế) quanh co đi thông lên các nước. Chia ra sáu ngã (lục đạo) luân hồi, loài người có hai: 1. giàu sang, 2. khó hèn, trong ngoài đều sáng. Còn bốn ngã tứ sanh, là: Thai sanh, loài đẻ con (thú bốn cẳng). Noãn sanh, loài đẻ trứng có hai cánh. Thấp sanh, loài ở dưới nước, như cá, tôm cua ốc, rùa, trạnh, lươn, chạch, ếch nhái vân vân. Hoá sanh là loài tằm hóa nhộng, sâu lộn bướm, sùng hoá bồ xè, đuông hóa kiến dương, quăng hoá muỗi, kiến mốc mọc cánh, vân vân. Bốn loài ấy đường ở trong tối đen như sơn, ngó ra ngoài sáng như thủy tinh, như hai ngã loài người vậy. Các phán quan thơ lại kêu tên nhìn mặt rõ ràng cho luân hồi sáu ngã, một mảy không sai. Các phán quan thơ lại, đều là người hiếu đễ, cữ sát sanh, phóng sanh, tu hành, nên phong chức thần, mà coi sở luân hồi ấy. Coi năm năm công bình không sai thì đặng lên chức, nếu trể nải, hoặc lộng quyền, hoặc để tội trốn, thì bị phạt giáng chức, nhỏ thì bị đày. 
Phàm kẻ bất hiếu, hoặc sát sanh nhiều quá, bị các ngục hành rồi, giải đến đây, sai quỉ sứ lấy nhánh đào đập chết, hoá ra con tích, cho đội lốt tứ sanh đi đầu thai trả quả. 
Phàm cầm thú: cá, loài trùng (tứ sanh), đầu thai muôn ngàn kiếp đã mãn tội, thì loài hóa sanh được làm thấp sanh, thấp sanh trở lại noãn sanh, noãn sanh trở lại thai sanh, ba đời mà không giết hại mạng vật, thì được đầu thai làm người. Tại đây cũng làm sổ, gởi qua Nhứt điện phê, rồi cho uống thuốc mê nơi Mạnh bà, rồi đầu thai lên thế gian các nước. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
LỜI VÃNG SANH CỦA PHẬT
Trẫm đem vào đây cho đời tỉnh lại. 
Trên đời hay sát sanh, nên bị đao binh hại:
Báo oán giết một thân, thiếu tiền thiêu tới trại. 
Mình đào hang ổ kia, nó phá vợ con lai. 
Oan trái trả xảy vần, lóng tai nghe Phật giải:
Thịt, mua lừa khúc béo, cá, chắc lựa con tươi. 
Y phục kén phần nhứt, ruộng vườn chọn vẹn mười. 
Phóng sanh thì tiếc của, lảng Phí chẳng nhường người. 
Đến thác tay không nắm, một mình tội mấy mười!
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
MẠNH -BÀ NƯƠNG CON BÀ Ứ -VONG
Thần Mạnh Bà sanh đời tiền Hán, hồi nhỏ học sách nho
lớn tụng kinh Phật. Không nhớ sự đã qua, chẳng mơ việc sẽ đến. Cứ lo khuyên người cữ sát sanh và ăn chay như mình. Không chồng tới 81 tuổi, tóc bạc mà mặt còn tơ. Bởi họ Mạnh nên kêu là Mạnh -Bà (bà họ Mạnh). Sau bà lên núi tu tới thành. Qua đời hậu Hán nhiều người biết kiếp trước, nhớ mạy đi nhìn bà con xưa, lại trí hóa nhiều, nói lậu sự Âm -phủ. Bởi cớ ấy, Thượng -đế phong Mạng -Bà lên chức Ứ -vong nương nương, là bà thần cho uống nước mê (tục kêu cháo lú), ở đài Ứ -vong nơi âm -phủ, trước đền Thập -điện; đài ầy mới lập rộng lắm, cấp thơ lại quỷ sứ cho bà sai. Lấy vị thuốc của thế tục, chế ra như rượu, có đủ mùi ngọt đắng cay chua mặn, cho các hồn sẽ đầu thai đều uống, cho lú quên các việc kiếp trước, lại cho mỗi hồn có vài ba phần tật, như nhớ cười lo giận sợ, nhểu nước miếng, đổ mồ hôi, sổ mũi, khóc, khạc nhổ. Người lương thiện, cho thêm thông minh, tỏ tai sáng mắt, mạnh khoẻ; kẻ làm dữ cho tới tinh thần, trở ra bịnh yếu phạt lần, làm cho người biết cải ác tùng thiện. 
Đài Ứ -vong ở trước đền Thập -điện, ngoài sáu cái cầu, cao lớn như nhà khách trong chùa (phương trượng) xung quanh 108 căn, phía đông có đường rộng một thước bốn tấc. Trong các căn đều để bình chén mà đãi các hồn uống nước rồi đi đầu thai. Miễn có uống bao nhiêu cũng đặng. Hồn nào nghịch mạng không uống, quỉ sứ trói giò lại, thọc ống đồng vô miệng mà đổ nhiều nước mê, ực rồi mới mở trói đỡ ra ngoài đường, xô lên cầu tre nổi, dưới sông nước suối chảy đỏ lòm, ngó thấy bên mé có gành đỏ núi gie mé sông đề bốn hàng chữ phấn trắng, nét lớn lắm, bốn hàng chữ như vầy:
Vì nhơn dung dị tác nhơn nan,
Tài yếu vi nhơn khũng cánh nan!
Dục sanh phước địa vô nan xứ:
Khẩu dữ tâm đồng, khước bất nan. 
Thích nôm:
Xưa dễ làm người, nay khó bì,
Mong làm người nữa khó nhiều khi,
Muốn sang phú quí không chi lạ:
Lòng miệng như nhau chẳng khó gì. 
Các hồn coi rồi, hoặc đọc rồi, có hai con quỉ cao lớn ở mé biển nhảy ra tới mặt nước: một quỉ đội mão đẹn, bận áo gấm, tay cầm giấy viết,vai mang gươm trường lưng đeo còng xiềng, trơn cạp mắt tròn vo cười ngất, ấy là quỉ Huợt vô Thường; còn quỉ kia mặt dơ chảy máu, mình bận áo cổ giữa trắng, tay xách bàn toán, vai vác túi gạo đeo đính bài trước ngực, châu mày nhăn mặt thở ra than dài, ấy là quỉ Sanh hữu Phận Hai quỉ xô các hồn nhào xuống khe nước đỏ mà đầu thai. Kẻ có tội nhiều mừng đặng đầu thai làm người. Kẻ có công chưa đủ siêu thăng, thì tức và khóc rằng. Tu chưa đúng bực nên phải luân hồi cõi trần nữa! Các hồn như say như mê, nhập vào xác con nít trong bụng, hai chơn đạp cái nhao, chung ra khỏi mình mẹ. Lâu ngày tham mùi ngon, không thương mạng vật, xa cách tánh lành, phụ ơn trời phật rộng thương, chẳng lo thác hiền chết dữ, thân sau thể nào, thì cũng làm hồn ma mang thây nữa!
Bài nầy là thơ lại ở đài Ứng -vong, viết rõ dưng Thượng đế xin cho để sau Ngọc lịch cho đời hiểu (Nhậm tấu).
Vì Thập vương làm não rồi, giao cho các phán quan chép lại vẽ hình kỹ càng, có đề họ tên thuật tích, dưng cho Địa tạng vương xem lại ngày 30 tháng bảy. Qua mồng ba tháng tám Địa tạng với Phong đô Thập điện chư thần đồng dưng cho Thượng -đế phê chuẩn rồi, song chưa có ai xác phàm xuống Am -phủ mà trao Ngọc lịch đem về truyền lại thế giạn. 
Qua cuối đời Tống Nhân – tôn (nước Liêu niên hiệu vua Thái Bình) nhằm năm Canh ngũ, ngày mồng chín tháng chín (trùng cửu trùng dương), Đạm Si đạo nhơn (Kinh Ngô là thầy tu nước Liêu,Hồ tăng) ở gần núi, ngày trùng cửu, lên đỉnh núi dạo chơi, xảy thấy một tấm bia đá, chạm 32 chữ cổ tự như vầy:
Vô vi đại đạo, thiên tri nhơn tình. 
Vô vi yển minh, quỉ kiến nhơn hình. 
Tâm ngôn ý ngữ, quỉ văn nhơn thinh. 
Phạm cấm mãn dinh, địa thâu nhơn hồn. 
Thích nôm:
Đạo cả thinh không trời biết lòng,
U minh thần quỉ thấy người ròng. 
Nói thầm, suy nghĩ, thần nghe hiểu. 
Tội nặng thâu hồn, đất bắt vong. 
Xảy thấy phía trong thắp đèn vàng, trước cửa điện có treo tấm biển 4 chữ:’ Xuất sanh nhập tử ‘ (nghĩa là: đầu thai thì đi ra, thác rồi hồn trở về đó). Đạm Si đương coi, xảy thấy đồng tử áo xanh kéo vào đơn trì (sân sơn son đỏ) quì lạy, rồi thối lui đứng trước thềm. Xảy thấy Thập vương kéo vào, đọc lời chúc ngày vía Phong đô đại đế và dưng bổn Ngọc lịch. Phong đô đại đế xem rồi, truyền văn võ các phán quán, đòi các quỉ sứ ngưu đầu mã diện mang lông đội sừng đều đến chầu, đứng tám hướng. Truyền phán quan đọc bổn Ngọc -lịch một bận. Các quỉ sứ lạy tạ ơn tâu rằng:’ Nếu ngày sau chúng tôi được đầu thai, hễ thấy Ngọc lịch nầy thì thề nguyện y theo cho đặng siêu độ ‘. Xảy thấy hào quang chiếu sáng, các phán quan cai trị thành Uổng tử và ao Huyến Ô, đều đem bổn sổ đến dưng và tâu rằng: ‘ Từ năm Thượng đế phê chỉ, cho ban phát Ngoc -lịch đến nay, bởi chưa có dịp đem lên Dương gian, nên chúng tôi, tra kỹ những phạm dư trăm ngục, có nhiều hồn khi còn sống hay giảng nhơn quả trong chốn đông người, hoặc giữa chợ đông, hoặc ngả ba ngả bảy, có người nghe tội phước mà hồi tâm. Chiếu theo luật Ngọc – lịch, cũng là khuyên người chừa lỗi, đáng ân xá tội nhỏ, cộng 50.480 hồn khuyến thiện, giảng quả báo. Nên thập vương hội nghị ân xá bọn ấy, định vào sổ đầu thai, tùy theo tội ít tội nhiều cho vào đường phú quí nhỏ, hoặc tầm thường. Kẻ tội nhiều cho làm người khó hèn, hoặc quan quả cô độc (quan là không vợ, goá vợ; quả là goá chồng; cô là mồ côi; độc vô hậu không con, độc mộc đến già), đáng cho uống nước mê mà đầu thai, khỏi hành hình nữa, nên dưng sổ cho Đại đế xem ‘. Phong đô đại đế xem qua khen phải. 
Xảy nghe báo rằng:’ Có Phật Quan -Âm Bồ -Tát giáng hạ ‘. Phong đô đại đế với Thập vương đồng ra chào mừng. Quan -Âm mới xuống thì hình phụ nữ, có Thiện tài theo hầu, Long -nữ cầm phướng. Đến khi Đại -đế Thập -vương ra chào mừng thì Quan -âm hoá ra hình ông Tiêu Diện đại sĩ (mặt xanh lưỡi đỏ), mình cao mười sáu thước mộc, truyền chỉ rằng: Ta phụng chỉ Thượng -đế, y lời tâu của Địa Tạng với Thập vương chư thần, xin ban Ngọc – lịch năm đó, cho thế gian ăn năn, nguyện tu chuộc tội, khỏi hành địa ngục: nay cho hồn phạm đầu thai, trẫm rất vui lòng. Lại nghe vời đặng Đam Si mà trao Ngọc lịch, về dạy thế gian cải ác tùng thiện. Trẫm ao ước có người tin Ngọc lịch, truyền giảng mà khuyên đời, chừa lỗi làm lành như mình, được đông người sửa lòng như vậy, thì núi đạo ao huyết cũng bỏ không, các địa ngục càng ngày càng trống, thì người khuyến thiện thành chức: Trí huệ dẫn thiện diễn kiếp Phật ‘ (vì Phật Trí huệ đem lành khỏi tội).
Đại đế Thập vương với các thần thành hoàng (thần trong đình) đồng chắp tay nói theo rằng:’ Vị khuyến thiện đáng thành chức Phật ấy ‘.
Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:17 pm với 1 lần trong tổng số.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Quan âm nói:’ Nếu người tu ở thế thấy Ngọc lịch mà diễn dịch ra cho người dốt đàn bà con nít dễ hiểu, người ấy thành công đức nhơn thứ pháp thắng Phật ‘, (Phật công đức nhơn xét tài năng).
Các vị ấy cũng chắp tay nói theo rằng:’ Đáng thành Phật ‘.
Quan âm nói:’ Nếu ai thấy Ngọc lịch đi đứng nằm ngồi cũng cám mến ơn trời, rèn lòng thanh tịnh, khuyên giảng độ người ăn năn làm lành đặng năm điều thiện, sẽ được làm bạt tiến cho vong hồn tiên nhơn thân quyến. Lòng công bình muốn cho người đặng phước như mình, quyết khuyên dạy nhiều người tu hành, làm bạt tiến cho phạm hồn được đầu thai, địa ngục phải trống, thì người ấy thành: Cứu khổ tiêu huệ Phật ‘. (Phật Cứu khổ nạn, ơn khắp nơi).
Các vị hết thảy đều chắp tay nói theo rằng:’ Đáng thành
Phật ‘.
Khi ấy Phong đô đại đế phán rằng:’ Bởi Địa tạng vương muốn siêu độ các phạm hồn nên truyền xét hồn nào hồi ở thế có biết ăn năn chừa lỗi, thì ân xá khỏi hành các ngục. Chư thần đã vưng chỉ, Ngài lại truyền Thập vương hội làm Ngọc lịch, dưng xin phê nơi Thượng đế. Nhờ ơn Thượng đế phê cho và có chỉ dụ sửa các khoản. .. rồi đây Trẫm sẽ dạy. Bởi bấy lâu chưa gặp ai đức hạnh, nhục thân đến cõi U-minh, mà trao Ngọc lịch, đem về Dương gian khuyến thế. Nay Đạm -Si đến dưới thềm, xứng đáng truyền kinh Ngọc lịch. Như vậy nay đã có người rồi các phán quan thơ lại đem cuốn Ngọc lịch, viết thêm lời Quan âm phụng chỉ mới truyền, với chư thần truyền dạy, biên thêm đủ điều và bảo Đam -Si ghi sự tích mình gặp truyền Ngọc lịch vân vân, cho đời hiểu cội rễ. Còn khi trước có chiếu Thượng đế chỉ dụ sửa các khoản:
1. Các văn biểu tâu xin phê chuẩn, đều bỏ đừng biên vì rộn ràng e đời khó hiểu. 
2. Các vị thần với Thập vương đề tên họ thiệt, và thuật lý lịch tích mình vì làm sao mà thành, khoản ấy cũng bỏ, không cho đời biết sự tích làm chi, cứ đề nội tước (chức) như mỗ Bồ tát mỗ đế, mỗ điện mỗ vương, phán quan, thơ lại, để trống mà thôi, không cho đời biết tên họ. Ví dụ: Phong đô đại đế viết Diêm la vương viết. Đề chữ viết, bỏ họ tên, như phán quan viết vân vân, phải chấm câu vòng câu theo lời nói, cho đời dễ hiểu, e ít học khó phân câu. Cứ y chỉ như vậy, các phán quan viết lại, không nên làm sái. Còn mấy bài trẫm bảo thích nghĩa, Dương gian nói sái nói lầm như Huyết ô trì. Uổng tử thành, thập bát tằng địa ngục vân vân, ngày giáp thìn tháng ba, năm nhâm ngũ, trẫm có dưng sớ, Thượng đế cho biên thêm vào Ngọc lịch. Thôi cứ vậy bôi sửa đi ‘.
Khi ấy Thập vương cầm viết, điện nào sửa theo điện nấy, rồi đưa cho phán quan thơ ký chép tinh lại. Khi ấy Đạm Si quỳ dựa bàn án mà xem các phán quan chép tinh lại. Xảy thấy Tiêu diện đại sĩ, hiện lại hình bà Quan -âm, cầm nhành dương liễu châm bình nước cam lồ rải xuống ba lần, rồi đằng vân bay lên cao hết thấy. 
Còn Thập vương cũng từ tạ lui về các điện. Phong đô đại đế bãi chầu, ngự vào trong. 
Lúc này các phán quan chép các lời Quan âm, sao Ngọc lịch, biên các lời chư thần và đọc cho tôi viết từ chữ:’ Thời thiên hạ thái bình canh ngũ niên. .. tới chữ chúc tất ‘, cộng 129 chữ. Rồi giao cho các vị viết thêm đủ điều, mới trao cho tôi mà dặn rằng:’ Người biết mặt với họ tên chư thần đã nhiều, nay trở về Dương gian, xin đừng nói lậu tên họ anh em chúng ta, e người đời biết có tổ tiên thân thích làm phán quan thơ lại dưới âm phủ, cơn nào nó có bịnh trọng, không lo làm phước cho mau mạnh, nó lại làm nhăng sát sanh cúng tế, đốt sớ điệp, cầu tổ tiên phò hộ cho thêm tội với chúng ta. Vả lại Thượng đế chỉ dụ cho Đại đế tại điện này với Thập vương chư thần, còn phải bôi hết ên họ lý lịch, quê hương sự tích thay! Huống chi chúng ta là phán quan, thơ lại? Bởi lòng người đời khó lường (khó độ) lắm, e khi mượn kế sanh sự nữa, thì người với chúng ta khó mà khỏi tội lỗi, Xin nhớ lời dặn đừng quên?’ Tôi thích huyết thề nguyền, không dám nói lậu, lại ghi thêm các lời phán quan thơ lại dặn cho đời hiểu. Nếu tôi đặt điều mà giả mạo lời thần phật, trời đất thánh thần há dung sao?
Nội đêm trùng cữu ấy, Đạm Si đạo nhơn ghi lời bạt. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
LỜI BẠT CỦA VẬT -MÊ ĐẠO -NHƠN
Tôi hiệu là Vật -Mê đạo nhơn (người tu, thầy tu tiên), tháng sáu, năm Mậu Thân, đi dạo qua tỉnh Tứ -xuyên, huyện Song -lưu, dọc đường gặp thầy tôi là Đạm Si tôn giả (Hồ tăng sãi nước Liêu. Tôi hỏi thăm thầy ở đâu? Thầy tôi trả lời rằng: Ta ở đất Luân hồi sanh tử (sống thác xây vần) ải Nhơn quỉ khứ lai (người ma qua lại) nghĩa là đi lạc xuống Âm phủ mà về đây. Ta nói cho ngươi rõ: những kẻ ở thế gian được phép đến mấy ngày vía Thập Vương, ăn chay cầu nguyện chừa lỗi cũ, cải ác tùng thiện, cứ lạy hướng bắc (chỗ Ngọc đế), nguyện chừa lỗi cũ, không dám phạm nữa, làm lành mà chuộc tội, sau thác hồn khỏi hành hình nơi các địa ngục; ấy là ân xá giảm tội. Tại thế gian nhiều án chạy khỏi chối được chớ xuống âm phủ không lọt một mảy lông, không than cũng chẳng phép chuộc tội. Quí tại còn sống ăn năn làm lành mà trừ tội mới đặng. Ngặt người đời chẳng xét, tại cái thiện thì làm người, tâm ác thời làm vật. Song kẻ phụ nữ trăm người còn biết ăn năn làm lành một hai người. Chớ đàn ông ngàn người, may có một người cải ác! Có nhiều khi gần chết mà chưa biết ăn năn, thì phải chịu hành nơi địa ngục!
Nay nhờ ơn Địa tạng vương bồ tát truyền Thập vương dọn Ngọc lịch, xin chỉ Thượng đế phê cho thế gian, biết ngày ăn năn nguyện làm lành chuộc tội, lại truyền bổn Ngọc lịch cho ta. Ta khuyên đời phải biết: có phước mới đặng làm người, còn sống, rán ăn năn lành lành kẻo muộn. Ngươi có lòng khuyến thiện, nay ta trao Ngọc lịch cho ngươi sao ra truyền cho đời biết ‘. Ta quì lạy lãnh cuốn Ngọc lịch thầy ta lần lần bay lên cao. Nên ta sao ra cho đời, ai khắc in ra lưu truyền cho đời khỏi tội thì mình được phước. Khuyên ai phạm tội mau chừa, không phạm thì rán mà giữ. Đừng đợi thác rồi, mới muốn sống lại mà tu không đặng. 
VẬT MÊ ĐẠO NHƠN (ghi ký)
Mười ngày vía Thập vương, đều lạy hướng bắc:
Nhứt điện Tần quảng vương mồng 1 tháng 2
Nhị điện Sở giang vương mồng 1 tháng 3.
Tam điện Tống đế vương mồng 8 tháng 2.
Tứ điện Ngũ -quan-vương 18 tháng 2.
Ngũ điện Diêm-la-vương mồng 8 tháng giêng. 
Lục điện Biên-thanh-vương mồng 8 tháng 3.
Thất điện Thái -san-vương 27 tháng 3.
Bát điện Bình -Đẳng -vương mồng 1 tháng 4.
Cửu điện Đô-thị -vương mồng 8 tháng 4.
Thập điện Chuyển -luân-vương 17 tháng 4.
Và 14, rằm, 16 tháng 5, mồng 3 tháng 8, mồng 10 tháng 10
ăn chay ngủ riêng như trên. Vía 10 vua, nội 4 tháng 1, 2, 3, 4.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ
(cấm phòng)
Các vía lớn, ăn chay, hoặc ngủ riêng, khỏi tội đặng phước. Tuy không ăn chay mà ngủ riêng cũng quí hơn. Tháng nào nhuần thì theo tháng trước: Tháng giêng: Mồng 1 vía Di Lặc, Thiên-Lập, ngày cúng trời. Mồng 3 vía Tôn chơn -nhơn, tổ thuốc và Hát chơn nhơn, ông tiên. Mồng 6 vía Định -chơn -Phật. Mồng 8 ngũ điện, Giang- đông thần. Mồng 9 vía Ngọc -hoàng thượng đế. 13 Lưu -mãnh tướng quân. Rằm vía Thượng -nguơn, Thiên -quan đại đế. Hựu -thành Tịnh -ứng chơn quân. Từ mồng 8 đến rằm, các vị ấy đi dẹp yêu quái, ai ăn chay, ngủ riêng, tụng kinh, có phước hơn mấy ngày thường thập bội, 19 Khưu -trường Xuân, ông tiên, cũng tổ thuốc ông đặt chuyện Tây-du. Tháng hai: Mồng 1 vía Nhị – điện, Thái dương, Câu-trận. Mồng 2 vía Thổ địa chánh, Tử -đông Văn -xương (Tụng Bổn nguyện, Bảo sanh). Mồng 4 Táo tướng quân. Mồng 6 Đông-Huê đế quân. Mồng 8, Trương đại -đế, Tam điện, Thích -Ca xuất gia (tụng Kim cang) 13 vía Các -chơn -quan, tổ thuốc, Rằm vía Thái, thượng lão -quân (tụng Cảm ứng). Tinh -trung Nhạc nguơn-soái -17 vía Đỗ -tướng -quân. 18 Tứ -điện. 19 Quan -âm (tụng Phổ -môn, Cứu -khổ). 21 vía Phổ -hiền bồ tát, Thủy -long Thánh -mẫu nương -nương. 25 vía Huyền -thiên thượng -đế thánh -phụ Minh chơn -đế. 
Tháng ba: Mồng 1 vía Nhị điện. Mộng 3 vía Huyền thiên thượng đế (tụng kinh Báo ân cho cha mẹ). Mồng 6 vía Thượng lão tướng công, Nhạng hương. Mồng 8 Lục điện, 13 Trung ương ngũ đạo. Rằm Hạo thiên, Huyền đàn, Lôi đình, 16 vía Chuẩn đề Sơn thần, 18 Hậu thổ nương nương, Trung nhạc. 20 vía Tử tôn nương nương (bà chúa thai sanh). 23 Thiên hậu nương nương 27 vía Thất điện, 28 vía Đông nhạc đại đế, Khương hiệt (ông thánh chế chữ).
Thánh tư: Mồng 1 Bát -điện. Mồng 4 Văn thù bồ tát. Mồng 8 Thích -ca Phật tổ, Cửu điện, Doãn -chơn -nhơn. 14 Lữ -tổ, Thuần dương, Rằm Thích -Ca thành (tụng Kim -cang). 17 vía Thập -điện. .. 18 Tử -vi đại -đế. 20 Nhãn -quang thánh -mẫu. 26 vía Chung -san tướng công. 28 vía Dược -vương cổ Phật. 
Tháng năm: Mồng 1 Nam -cực đại -đế. Mồng 5 Địa -lạp (cúng đất). Ôn -ngươn-soái, Đặng -thiên quân. Mồng 7 vía Châu -thái -úy. Mồng 8 Nam phương ngũ -đạo 11 vía Đỗ -thành -hoàng (cai trị các thành -hoàng). 12 Bỉnh -linh -công. 13 vía Quan thái tử. 14 rằm, 16, ba ngày kị thần (cấm phòng). 17 Trương -thiên-sư. 20 Phùng chơn -nhơn. 29 Hứa oai hiển vương. 
Tháng sáu: Mồng 4 chư Phật giáng. Mồng 6 Thôi -phủ -quân. Mồng 10 Lưu -hải -thềm đế quân. 13 Tỉnh -tuyền Long -vương. 19 Quan -âm thành đạo 23 vía Quan -đế, Vương linh-quan. Hỏa -thần. 24 Lôi -tổ. 26 Nhị -lang 27 Thiên -xu tả tướng (châu tử).
Tháng bảy: Mồng 7 Đạo -đức -lạp (cúng thần tiên), Ngưu -lang Chức -nữ. 12 Trường -chơn, Đàm chơn -nhơn. 13 Đại -thế chí bồ tát. Rằm Trung -nguơn, Địa quan đại đế. Linh -tế chơn quân. 18 Diêu -trì Tây -vương -mẫu nương nương. 19 Trị -niên thái -tuế (An giao). 21 Phổ -am tổ sư, Thượng nguơn đạo hoá. Đường chơn -quán. 22 Tăng phước tài thần, 23 Thiên -xu thượng -tướng chơn -quân (Gia -cát). 24 Long -thọ -vương bồ tát. 30 Địa -tạng -vương bồ -tát (U -Minh giáo chủ). Tháng tám: Mồng 1 Thần -công Diệu -tế Hứa -chơn -quân. Mồng 3 vía Táo -quân (mồng 3 với 27 Bắc -đẩu giáng hạ phải cữ)
Mồng 5 Lôi -thinh đại -đế. Mồng 10 Bắc -nhạc đại -đế. 12 Tây -phương ngũ đạo Rằm thái -âm triều nguơn (tụng Thái -âm), 18 Tửu -tiên (Lý -thái -Bạch). 22 Nhiên Đăng Cổ Phật. 23 Phục -ma phó -tướng Trương -hiên -vương (ông Trương). 24 Táo -Mẫu (bà Táo.)
Tháng chín: Mồng 1 Nam đẩu giáng hạ (Từ mồng 1 đến mồng 9, 9 sao). Mùng 3 Ngũ ôn. Mùng chín Cữu thiên huyền nữ. Phong đô đại -đế. 16 Cơ thần. 17 Kim Long tự đại lương, Hồng ân chơn quân. 23 Tát chơn nhơn. 26 Ngũ hiển linh quan. 30 Dược Sư Phật. 
Tháng mười: Mồng 1 Dân tuế lạp, Đồng hoàng. Châu chơn quân. Mồng 3 Tam mao ứng hoá chơn quân. Mồng 5 Đạt ma sư tổ. Mồng 6 Thiên tào chư tư, Ngũ nhạc Ngũ đế giáng hạ. Mồng 8 vía chư Phật hội niết bàn, phóng sanh có phước thập bội. (Nếu ngày mồng 8 tháng 10, làm một tội nặng bá bội ngày thường). Rằm Hạ nguơn Thủy quan đại đế, Đậu thần: Lưu sứ giả. 20 Trường hư Tịnh thiền sư. 27 Bắc cực Tử vi đại đế. 
Tháng mười một: Mồng 4 Đại thánh chí thánh Văn tuyên vương (Khổng tử). Mồng 6 Tây nhạc đại đế. 11 Thái Ất Cứu khổ thiên tôn. 17 A di đà Phật (tụng Di đà). 19 Nhựt quang thiên tử, Cữu liên bồ tát. 23 Nam đẩu giáng hạ, Trương tiên, 26 Bắc phương ngũ đạo. 
Tháng chạp: Mồng 1 Tiên phật giáng hạ (tụng kinh phước hơn nhiều). Mồng 8 Vương hầu lạp, Trương anh Đế, Thích Ca thành Phật (tụng Kim cang). 16 Nam nhạc đại -đế. 20 Lỗ ban. 21 Thiên du thượng đế. 24 Tư mạng Táo quân chầu trời (tối 23 cúng đưa trước). 29 Hoa nghiêm bồ tát. 30 Chư Phật giáng thế xét lành dữ. 
Mỗi tháng mồng 8, 14; rằm, 23,29, 30 Bắc đẩu giáng hạ, ăn chay tụng kinh. 
Tùng nhiên hòa thượng ở chùa Thiên thai đặt bài khuyên thế. 
Người đời chẳng tin nhơn quả báo ứng, nên có kẻ số thọ mà yểu, số giàu mà nghèo, tướng làm quan mà thi rớt! Sách Bửu giám nói:’ Lành thì trả lành, dữ thì trả dữ: nếu chưa trả, tại ngày chưa đến ‘. Lại có bài thơ rằng:
Trời sanh khó dối bởi không tây (tư -vị).
Mới tính thần hay nạp sổ nầy. 
Lành dữ rốt rồi đều trả quả. 
Chẳng qua đều kíp với đều chầy. 
Kinh Nhơn quả nói; ‘ Phỏng kiếp trước dữ lành, coi đời nầy hoạ phước. Độ kiếp sau hoạ phước, tại đời nầy dữ lành ‘. Lại nói rằng:’ Dầu làm dữ mấy kiếp, cũng trả cho mình ‘. Kinh Niết -bàn nói:’ Quả báo có ba cắch! 10 Hiện báo, làm lành dữ đời nầy, trả phước họa cũng nội đời nầy; 20 Sanh báo: kiếp trước làm, trả kiếp nầy, đời nầy làm, trả đời sau; 30 Tốc báo: mới làm lành dữ, trả phước hoạ nhãn tiền, trước mắt tức thì ‘. Phải biết trời đất không tư vị ai, tại mình làm lành dữ nặng nhẹ, nên trả mau chậm khác nhau. Người đời khó hèn, điếc câm đi nhót, gãy tay, tật nguyền bịnh trời cho, đói lạnh, đều tại kiếp trước hưởng xài quá lẽ, làm dữ phạt nội đời ấy chưa hết kế tới số chết, nên đầu thai kiếp nầy phải phạt thêm cho đủ tội, Như vậy mà không tin nhơn quả báo ứng làm sao?
Người đời những kẻ không tin địa ngục, đến gần chết hay thấy ma quỉ, hoặc nghe tiếng binh khí, xiềng tỏa mới tin có quỉ thần địa ngục, liền van vái cầu thần. Té ra đèn giữa gió, gần tắt, ăn năn muộn sao kịp, khó trốn quỉ Vô thường. Quí tại ăn năn cho sớm, tỉnh lại mà tu, gần chết mới sợ vô ích. 
Đời Tùy vua Khai hoàng, có quan tự thừa Triệu văn Xương chết đi sống lại nói rằng:’ Hồn xuống âm phủ thấy Châu Võ đế bị xiềng ba lớp tại phòng, kêu Xương lại mà nhắn rằng:’ Khanh về tâu với Tùy hoàng đế rằng: các tội trẫm cãi lẽ xuôi hết, còn một tội hủy Phật nặng lắm, mau làm phước bố thí, tụng kinh mà cầu cho trẫm khỏi tội, ‘ Xương ra ngoài thấy một người dưới hầm phẩn ló đầu lên, hỏi ai đó? Người ấy đáp rằng:’ Ta là Bạch -Khởi, tướng mạnh đời Tần ‘.
Sách Danh thần ghi:’ Kinh Công có tên con Phương dữ lắm, xúi Kinh Công làm nhiều điều trái lẽ. Đến Phương thác, Kinh Công mơ màng thấy Phương mang gông đứng dựa cửa. Kinh Công sửa nhà làm ra kiểng chùa, bố thí tụng kinh cầu Phương khỏi tội ‘. Lấy sách nho đó làm chứng, đủ tin Ngọc lịch, thì khỏi khổ phần hồn, Ông Tư mã Ôn công nói:’ Trên có Thiên đường. Người quân tử thác rồi, lên Thiên đường, dưới có Địa ngục, tiểu nhân thác rồi hồn sa Địa ngục. ‘ Sao gọi không Thiên đường Địa ngục?
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Đoan sơn đại tiên là ông Vương chương, đặt kinh thế lục rằng:’ Thiệt quả có Địa ngục. Bởi người tính lành, thì thuộc dương sáng, nên khí thanh lên thiên đường. Còn lòng tính dữ, thuộc âm tối nên khí trược xuống Địa ngục. Diêm quân tra hỏi, hành tội mổ bụng rút ruột, đốt cháy nấu dầu là tại lòng chứa dữ ‘.
Người đời không tin thác rồi đầu thai. Như kẻ không con, cưới vợ bé nhiều cũng vô ích, vì không thai nghén hoặc có nghén bị tử phúc trung, hoặc chết theo mẹ, không thì nuôi lớn chưa kịp có con mà chết yểu, thì cũng vô hậu, những kẻ ấy thiệt là vô phước lắm. Nếu vợ chồng có con sum hiệp đến già, tuy khó hèn cũng là có phước nhiều ít mới đặng vậy. 
Sách danh thần nói:’ Mẹ ông Phạm -tổ -Võ, lúc gần sanh ổng, chiêm bao thấy người cao lớn xưng mình là Đặng -Võ tướng quân đời Hán, thức dậy sanh con trai mới đặt tên Tổ -Võ. Đến lớn ở thuần lắm, nên đặt tự Thuần -Phu ‘.
Còn sách Tự -Loại, sách Mông -Cầu, có ghi tích Dương Hộ sanh ra, mà nhớ chiếc vòng kiếp trước. Bảo Tịnh nhớ cái giếng kiếp trước. Con gái Hướng Tịnh chết non. rồi đầu thai lại nữa, nàng nói chuyện kiếp trước không sai. (Con ranh con lộn mà nuôi được). Ngươi Văn Thẩm sống lại nhập vào xác khác. Những tích ấy đều tại sách Nho, sao không tin luân hồi đầu thai kiếp khác. 
Phàn người lành, đầu thai nhà giầu sang có đức mà hưởng phước. Công quả bằng nhau đầu thai nhà tầm thường. Công ít quả nhiều, đầu thai nhà rủi ro, hèn khó mà trả quả. Như trong Ngọc lịch nói:’ Thử lòng kẻ ấy, còn làm dữ nữa, không biết ăn năn mà làm lành, Thác Địa ngục làm con Tích, đầu thai làm thú vật, nếu về hoá sanh lộn mãi, hết trông làm người ‘.
Bà Diệu Huệ chơn nhơn (bà thân ông Văn Xương) nói:’ Con người ở đời, sống thác không nhứt định, ở tạm rồi đi, như trăng tròn khuyết, như hoa nở tàn. Ngày nay mới sanh là hồn chết kiếp trước lộn lại. Nếu thân trước chưa thác, thì hồn ấy có lộn vào xác nầy mà sanh ra đâu. Nếu ngày nay đến chết mà biết mình tội nhiều, thì trông chi đầu thai tử tế. 
Người đời chẳng tin thác rồi đầu thai làm thú vật. Sách Nho biên sự đầu thai ấy rất nhiều, chẳng phải một tích. Sử Tùy thơ, Lý sĩ Khiêm nói:’ Ông Cổn là cha Địa Võ, hoá làm con cua đinh ba cẳng, gọi là con ba ba, Ngươi Đỗ Võ hóa làm đề Quyên là con quốc. (Nên chim quốc tên là Đỗ Võ Đỗ Quyên). Bao Quân hóa rồng. Ngưu Ai hóa cọp, Bành Sanh hóa heo rừng. Như Y hóa chó. Huỳnh Mẫu hóa vịt, như càng thay lớn lắm. Tuyên Võ hóa trạch (cua đinh, tục kêu là cá giải). Đặng Văn hóa trâu. Từ Bá hóa cá. Kim Hạ hóa quạ, Thơ Sanh hóa rắn ‘. Các điều đó biên nơi sách Nho, sao mà không tin?
Đức Thánh Khổng -tử nói:’ Sanh ra đến già phải thác, làm người chẳng sống đời, nếu theo dữ bỏ lành, sao khỏi làm loài khác ‘. Kinh Lăng Nghiêm nói:’ Người thác làm dê, dê thác làm người ‘. Phổ Am tổ sư đặt bài kệ rặng:’ Súc sanh bổn thị nhân lai tác, nhân xuất luân hồi cổ đáo câm, Bất yếu phi mao tinh đái giác, khuyến quân hưu sử súc sanh tâm ‘. Nghĩa là: người lộn súc sanh cũng tại tâm, xưa nay người vật chuyển luân thầm. Muốn không đội gạc mang lòng xấu, khuyên chớ làm theo dạ thú cầm. 
Ông Tịnh Trai học sĩ nói. ‘ Thông minh bất năng địch nghiệp, phú quý, khởi miễn luân hồi ‘. Nghĩa là: Khôn lanh khó chữa tội, phú quý cũng luân hồi. 
Ông Hồng Mai nói:’ Hay coi thọc huyết heo, làm thịt dê, sau gần chết la như tiếng heo dê kêu vậy, có khi chết rồi đầu thai làm chim, cho người mua mà thả. Nếu đàn bà hay coi sát sanh dê heo lắm, có khi đẻ ra đầu dê, hoặc mình rắn, hoặc trứng như trái cầu (đẻ bọc) ‘. Cứ theo lời ấy, người ta còn đẻ súc vật côn trùng, hoặc đẻ trứng, huống chi thác rồi đầu thai làm súc vật, mà gọi không lẽ. Bởi luân hồi mà trả nợ thường mạng, là nhơn quả xoay vần. Khuyên đời đừng gọi mắt chưa thấy nên chẳng tin, cứ làm dữ mãi (tin tại phải lý, lựa chờ mắt thấy, đợi mắt thấy đà chết rồi còn gì!).
Xưa có kẻ hỏi thầy Trình -tử rằng:’ Phật nói chết rồi đi đầu thai nữa, sự ấy thấy thiệt chăng? Thấy Trình -tử nói:’ Sử ấy nói có nói không cũng khó hiểu. Song xét lời đức thánh Khổng -tử dạy rằng:’ Vị tri sanh, yên trí tử ‘ (chưa biết sự mới sanh đâu biết sự thác rồi), do một câu ấy thì đủ hiểu rồi ‘. Coi Trình -tử và ông thánh đời Tống; mà chưa dám gọi không luân hồi đầu thai. Còn xét lời nói đức thánh Khổng -tử, đâu biết việc thác, thì sự luân hồi đầu thai không phải huyễn. 
Ông Châu -liêm -Khuê tự Mậu -thức, là thầy hai ông Trình -tử, Trình -Hi, Trình -Hạo, (Y Xuyên với Minh Đạo). Khi ấy ông Châu -liêm -Khuê hỏi thầy Huỳnh -Long-Nam thiền -sư rằng:’ Chẳng hay đạo Phật có dạy sự nhiệm mầu riêng hơn đạo nho chăng? ‘ Huỳnh -Long Nam thiền -sư nói:’ Thầy hãy xét các câu sách nhà nho của thầy như đức Khổng -tử nói:’ Triêu văn đạo, tịch tử khá hỉ ‘ Nghĩa là ‘Sớm mai nghe thấu mùi đạo, chiều thác cũng đành ‘. Xét đạo ấy nghĩa là chi? Còn ông nhan -tử không đổi sự vui, là vui việc gì? Xét ra lý hai câu ấy, lâu lâu mới biết hiệp cái nhiệm mầu của đạo Phật, chớ không chi lạ mà hỏi ‘.
(Đạo là thông hiểu sự phải, chắc ý mà làm, chẳng hồ nghi chi hết, vì biết số mạng trời định, cứ phải mà làm, tố nào theo tố nấy, chẳng phải rán cượng cầu mà đặng, nên đức Khổng -tử nói:’ Nếu cầu đặng sự giàu, tuy ra sức mệt nhọc, làm việt hèn hạ như kẻ đánh xe, mà đặng giàu ta cũng rán chịu cực chịu nhục mà làm cho giàu. Nếu tại số trời định, có cượng cầu cũng vô ích, thì thà an phận mà theo tố, là chỗ ưa của ta ‘. Nên ông Nhan -tử thông mùi đạo, cứ giữ đức hạnh học hành sửa mình gọi là vui theo tố bần tiện, chớ không rầu buồn sự nghèo khó, nên sau ngày mãn phần làm chức Tu -văn -Lang tại Âm phủ cũng đồng liêu với thầy Tử -Hạ. Đức thánh Khổng -tử cũng nói:’ Thực sơ phạn, ẫm thủy, khúc hoăng nhi chẩm chi, lạc tại kỳ trung hỉ. Ăn cơm rau, uống nước lã, co tay làm gối nằm, ngài cũng vui vậy, là tại biết đạo, biết mạng, tố nào theo tố nấy. ‘ Quân tử vô nhập, nhi bất tự đắc ‘. Người quân tử không gặp cảnh nào mà chẳng vui, bởi vậy ngài mới thành thánh. Người đời không biết đạo, lòng tham vọng tưởng, cượng cầu cực khổ, không lợi lại bị hại, mau chết mà mắc tội nhiều, hại tới thân kiếp sau và để họa cho con cháu. 
Người đời xem Ngọc -lịch mà nửa tin nửa nghi, chưa dám đoán chắc là tại học chưa đủ lý; té ra gặp phước mà bỏ qua. Nếu hiểu nhơn quả đời trước làm lành dữ, đời nay chịu phước họa. Đời nay làm lành dữ, thì kiếp sau chịu phước họa mà còn nghi chi nữa? Nay nhờ ơn trời, nhậm lời Thập vương chư thần, cho truyền Ngọc lịch đủ bằng chứng khỏi nghi, cũng như tích Lâm -tự -Kỳ sống lại, ghi lại cuốn Hồi -dương nhơn -quả thì mau ăn năn làm phước chuộc tội nếu đợi gần chết ăn năn sao kịp?
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
TÍCH TRUYỀN NGỌC LỊCH MÀ CỨU HỒN MẸ
Tỉnh Tứ Xuyên, thân Dậu đường, ông Viện- cẩn- An mãn phần, để một trai lại, tên là Dức- Sơ mới bảy tuổi. Vợ Cẩn An là Thiệu- thị thương con ốm yếu, nghe lời họ bày phép bổ nguơn, mỗi ngày dùng gà mập, nấu lấy nước thịt gà làm canh cho con ăn cơm. Nên mua gà nhiều lắm, đào trùng dế, nuôi cho mập đặng nấu cho con ăn. Dức-Sơ 15 tuổi Thiệu- thị bịnh ghẻ đau nhức cùng mình, như dế
cắn gà mổ, mà cũng còn nhắc đầy tớ gái, làm gà cho con ăn. Đức-Sơ hiểu ý liền
cản cấm không cho làm gà nữa. Thiệu thị đau bảy năm, gần chết làm gà gáy, dế kêu, cào rách mình mà chết! Đức-Sơ khóc kể vì mẹ thương mình, nên sát sanh mới bị quả báo, liền thề cữ sát sanh Cách một năm có nàng Ning-Cô là chị con nhà bác, gả cho Tiền bị đẻ mà chết. Hồn xuống Nhựt-điện, vua xem bộ phán rằng:’ Nàng nầy tội nhiều, đáng bị sản nạn, giao qua Nhị-điện hành hình ‘. Phán quan tâu rằng:’ Viện-ninh-Cô có khuyên cha mẹ chồng đừng đốt cây khô nhiều kiến, đã ba lần. Lại khuyên chồng khắc in van giới sát
cho người 5000 tờ và phụ in kinh Quan-âm phóng sanh văn 3000 tờ. Táo quân tâu Thượng-đế cho sống thêm 30 năm nữa. Vua Nhứt-điện đứng dậy phán rằng:’ Lành thay!’ Liền sai kẻ áo xanh cầm phướng đưa hồn về. Ra tới cửa ngõ đỏ, có thắp đèn vàng, nghe tiếng kêu rằng:’ Ninh-Cô cứu ta với!’ Ninh-Cô ngỏ thấy thiếm là Thiệu-Thị đầu tóc chôm bôm, mình máu lội bộ, chạy theo khóc rằng:’ Cháu sống lại nói cho con ta hay, rằng ta bị khổ dưới âm-phủ bảo làm phước mà chuộc tội cho ta, nếu khỏi tội, ta về cho chiêm bao mách bảo trả lời. Xảy thấy quỷ tóc đỏ cầm chĩa đâm họng Thiệu thị mà dẫn đi, Ninh cô sống lại, thuật chuyện… Đức sơ hay, liền lạy Phật làm chay, tụng kinh tới 19 năm mà không thấy chiêm bao. Cưới vợ là Thi thị, cũng cữ sát sanh. Sau thấy kinh Ngọc Lịch, Đức Sơ nguyện sao tả cho người đặng chuộc tội mẹ. Mới tả được 120 bổn lẻ, cho mới được 108 cuốn. Nhằm niên hiệu vua Càn-long trào Thanh, là năm canh ngũ, đêm rằm tháng giêng, chiêm bao thấy Thiệu thị về vỗ lưng con mà khen rằng:’ Con thiệt có hiếu. mẹ ra khỏi ngục, nhờ phát Ngọc lịch 49 người hồi tâm, vua đà tha tội, lại cho về mách bảo con hay, hồn mẹ được về ở tại mã, giờ tý ngày 18 nầy, sẽ đi đầu thai hưởng phước. Còn con cũng đặng sống lâu nữa ‘.
Đức Sơ hỏi:’ Cha tôi bây giờ ở đâu? ‘ Thiệu thị nói: ‘ Đầu thai đã lâu, lại chú giải kinh Nhơn quả với Thiệu thơ, nên thi đậu làm quan và mạnh khoẻ ‘. Đức Sơ hỏi:’ Ở tại xứ nào? ‘ Thiệu thị không nói, xơ Đức Sơ thức dậy. Đức Sơ thuật chuyện cho vợ nghe…Thi thị nói:’ Tại mình mơ tưởng sao tả Ngọc lịch nên chiêm bao thấy vậy ‘. Sáng Đức Sơ dọn đồ ăn bưng tế mã mẹ và đốt giấy áo, vàng bạc, vái rằng:’Nếu mẹ cho con thấy chiêm bao nữa, thì con mới tin chắc ‘. Đêm ấy, Đức Sơ thấy Thiệu-thị về điểm mặt Thi-thị mà mắng rằng:’ Mầy ghét chồng sao Ngọc-lịch nên mầy xé năm cuốn, thiếu chút nữa mà hại ta! Lại nói cho chồng không tin điềm thiệt, mầy sẽ mắc họa bây giờ ‘. Đức-Sơ giựt mình dậy hỏi vợ, sao mình xé 5 cuốn Ngọc lịch. Thi thị nói: “Đừng có nói yêu nói ma, có ba điều không đáng tin lắm: 1. Cữ sát sanh, không cho đồ sống vô nhà, như sãi vãi một thứ; 2. Đêm nào ngày nấy, thầy sãi tụng kinh hơn hai mươi năm mà cũng còn mắc tội dưới âm phủ! Giá gì sao mấy bổn kinh mà phước nhiều vậy? Còn tin là nghĩa gì? 3. Nói tôi xé 5 cuốn, sao mình không nghĩ? Mình viết rồi cất vô tủ khóa lại, tôi làm sao mở đặng mà xé, còn tin nỗi gì? Chẳng phải thiệt hồn mẹ về mách bảo đâu! Ấy là mình vọng tưởng mà thấy bậy, e không bao lâu, sẽ điên cuồng mà chớ!” Đức Sơ nghe nói lưỡng lự, vì cũng phải lý dễ nghe. Đêm 17 qua ứng mộng bên nhà em
Thi thị và ứng mộng nhà cháu là Ninh-Cô, rồi ứng mộng dâu con mà mắng rằng:’ Mồng sáu tháng bảy năm ngoái Châu-phụng-Cô là gái xóm nầy vào nhà ngồi chung với mầy mà thêu giày, mầy có lấy một cuốn Ngọc lịch để trong rổ may. Đêm sau mầy giận chồng mầy không cho Phụng-Cô vô nữa, nên
mầy xé 5 bổn Ngọc lịch. Bữa sau em mầy là Thị-Phúc đến thăm, thấy kinh rách, năn nỉ xin về đóng lại dán lại viết vô mà cho người, Âm phủ đã ghi phước cho Thị-Phúc. May sao con ta để vô tủ mà khóa, phải không thì mầy cũng xé nữa! Nay lại chối lức đặt chuyện ba điều không đáng tin, tội già làm nặng lắm. Táo thần với Thổ địa đã chịu cho tà quỉ vô nhà hành mầy chạy đâu
cho khỏi họa!’ Nói rồi xô đổ bàn để đồ trang điểm một cái rầm! Vợ chồng giựt mình thức dậy! Đức -Sơ hỏi vợ tin không! Thị-thị nói: Ai tin thì gọi có, ai không tin thì gọi không ‘. Xảy thấy một đống khói đen bay vô cửa phòng! Thị thị rùng mình, ngó chồng mà nói rằng:’ Mình tả thêm ít cuốn nữa, thà tin là có, chớ gọi là không ‘. Đức Sơ biết vợ có xé kinh thiệt, nên mới nói như vậy. May mẹ đã đầu thai, nên tin chắc, thôi cậy sãi tụng kinh nữa, quyết lòng tả Ngọc lịch làm phước.
Đêm ấy Thi-thị phát óng, lưng vai đau nhức như đánh như dần. Rước thầy thuốc coi mạch. Thầy thuốc nói:’ Ấy là âm độc làm ghẻ ác, phần thím có thai, nên không dùng thuốc nóng mà trị, thế phải chịu phép!’ Đức Sơ rầu lắm. Kế em vợ là Thị Phúc ghé. Ninh-Cô cũng đến thăm, đồng thuật chuyện chiêm bao, bảo Dức-Sơ van vái. Đức Sơ vào bếp, vái ông Táo, nguyện tả một trăm bổn Ngọc lịch mà cầu cho vợ mạnh. Thi thị đương nóng mê, vùng dậy quì dưới đất, lạy khan mà nói rằng:’ Từ rày sắp lên, tôi tin Ngọc lịch, tình nguyện bán hết đồ nữ trang mướn tả Ngọc lịch, cho người mà chuộc tội ‘. Xảy thấy ông đội mão thất tinh, bận áo đen, đuổi đống khói đen dưới giường lăn ra bay ra mất. Thi-thị bớt nóng hết sưng lưng vai (chứng phát-bối). Bữa sau sanh con trai, mẹ con mạnh khoẻ. Nội trong hai tháng, vợ chồng mướn nhiều người tả đủ một trăm bổn Ngọc-lịch cho người. Bởi vợ chồng cám ơn thần, nên biên sự tích vào đây mà khuyên đời, không dám giấu sự lỗi.
—————- 
BỞI CHÊ NGỌC LỊCH BỊ PHẠT NHÃN TIỀN
Phan ngưỡng Chí là học nho, không tin Ngoc lịch, viết bậy vô mà kiêu ngạo. Phê tại câu:’ Đâu thấy hồn ma mang gông ‘. Đề ba chữ son rằng:’ Thị chi chỉ ‘. (rất phải lắm). Bởi mực mấy bài từ Nhứt điện tới thắt điện. Tại Ngũ điện lấy son gạt tréo. Trên câu nói:’ Uống rượu lảng phí, ‘ nó đề hai chữ son lởn. ‘ Khả tiếu ‘ (Tức cười quá!). Chỗ Thập điện nói câu:’ Đàn bà con gái bị học trò gật nên thuận theo thất tiết… ‘ Nó đề II chữ mực: ‘ Phụ nữ tự kỉ tầm tử, dữ nam tử hà thiệp?’ (Tại phụ nữ liều mình, đàn ông có can cớ gì?’ Chỗ nói đầu thai, nó đề hai chữ son:’ Loạn họa!’ (nói bậy!) Chỗ Mạnh bà, mấy câu ấy, nó chấm mực vài hàng. Trên bốn chữ ‘ Khổ căn nan đoạn ‘ (còn đầu thai cõi trần cực khổ) nó khuyên son trết! Tới câu:’ Làm hồn ma mang thây nữa,’ nó khuyên son 9 khuyên. Từ ấy sắp sau, chỗ bôi chỗ gạt tréo, cho tới chỗ câu: ‘ Hào quang chiếu sáng, Quan âm giáng hạ,’ nó vùng phát điên. Nửa đêm nó mở cửa chạy ra phố chợ, hai tay chống đất, bò càng, lật phao tay đổ máu, trầy đầu gối lả giò, bò một hồi làm như bị trói cẳng, mọp đó la lớn rằng: ‘ Bớ con ơi!! Mau đem cuốn kinh Ngọc lịch ra đây, đặng đưa cho lối xóm, đem cúng trong chùa Tây Nhạc đại đế ‘. Con nó về lấy kinh trao cho xóm, trở vô thấy nhà phát hỏa, cóng cẳng chạy ra không kịp nên bị chết thiêu! Nó nóng họng chạy về chữa lửa, thấy vợ nó là Hoăng thị lõa thể (trần truồng) chạy ra, Ngưỡng Chí mắc cở nói với xóm rằng: ‘ Người đời đừng bắt chước tôi ở độc nhiều năm, nay thấy Ngọc lịch, còn không tin mà chừa lỗi, lại phê ngạo nhiều câu, nên bị trời phạt nhãn tiền độc quá! ‘ Nói rồi lửa cháy tới, cứng cẳng chạy không đặng, phải bị chết thiêu. Bầy chó nhảy vô kéo thây ra, xé ăn tới xương cốt! Xóm coi thấy phê trong Ngọc lịch như vậy, ai cũng rùng mình! Mới biết tại tội nặng quá, nên trả lẹ lắm!!! Còn vợ nó mắc cở trốn xứ nào bặt tin không biết!
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
GANH GHÉT MUỐN DẸP NGỌC LỊCH BỊ BÁO NHÃN TIỀN
Tại xứ Tây hương, chùa Thổ cốc (ông Trương), có một sãi, tên Đạt Viễn, đặng cuốn ngọc lịch, cầm qua am Thuần dương mà coi với đạo -sĩ (thầy pháp) tên Quán-Tiên. Hai thầy coi tới chỗ thầy chùa thầy pháp ăn tiền tụng mướn mà tụng sót, thác sau phải vào sổ Bổ kinh mà tụng bổ, vân vân. Lại coi tới chỗ luân hồi, nói thầy chùa thầy pháp có tội nhiều, các ngục hành hình không đặng, phải cho uống thuốc mê, đầu thai tử phúc trung, hoặc chết yểu nhiều kiếp, cho lú quên hết kinh chú, rồi mới hành hình, vân vân. Đạt -Viễn nói: ‘ Chúng ta nhờ cậy tụng kinh mướn mà khá, nếu Ngọc lịch lưu truyền nhiều chỗ, thì nghề làm ăn chúng ta phải ế! Dầu xé đốt Ngọc-lịch cũng không hết đặng, biết tính làm sao? Quán-Tiên nói: ‘ Tôi biết cầm cơ thỉnh tiên. Thầy sẽ bảo các sãi rủ người ngoài, hoặc bổn đạo đến coi thỉnh tiên. Tôi làm bộ cơ lên, viết chữ nói phá Ngọc-lịch thì chúng hết tin ‘. Đạt -Viễn đi khoe cùng nói tại am Thuần-dương (Lữ-đồng -Tân) thỉnh tiên linh lắm, ai cầu hỏi việc gì, thì đến mà hỏi, hoặc xin toa thuốc xin bùa, thần tiên cũng cho ‘. Thiên hạ nghe nói lưu truyền lần ra, nên ngày nọ nhiều người đến am Thuần-dương coi đạo -sĩ thỉnh tiên tới dưng hương chật trong chật ngoài. Quán-Tiên làm bộ lập bàn xông cơ, lúc đỏ đèn niệm chú, phun nước đốt bùa… Một lát cơ lên, đồng bưng cơ, thầy lại coi, viết chữ trên mâm cây vuông đổ cát. Quán-Tiên kêu ai biết chữ lên coi chữ tiên viết, Người biết chữ lên đàn, coi thấy trong mâm cát có bảy chữ lớn rằng: ‘ Ngô Thuần-dương tổ-sư chí hỉ ‘ và chín chữ nhỏ: ‘ Phàm nhơn khấu vấn giả, tốc tốc lai vấn ‘. (Nghĩa là: Ta là Thuần-dương tổ-sư đến rồi. Ai hỏi sự chi, mau lên mà hỏi). Ai nấy nghe đọc như vậy, thì rùng rùng lên đàn. Quán-Tiên nói: ‘ Đừng lại đông lắm, hỏi rộn không nên, vô từ người mà hỏi tử tế ‘. Đạt -Viễn quì lạy vái lớn rằng: ‘ Chẳng hay trong đời việc chi quí hơn hết, xin tổ-sư chỉ dạy Cơ viết nhiều chữ nhỏ như vầy:
‘ Thứ nhứt kính đạo -sĩ (thầy pháp) thứ nhì trọng thầy chùa, Đạo -sĩ dâng sớ, cầu đặng sống lâu. Hòa-thượng tụng kinh siêu-độ, đưa vong hồn về Tây-phương. Duy có một chuyện không nên nghe, là thứ Ngọc-lịch bảo ăn năn chừa lỗi làm lành mà trừ tội! Có đâu dễ như vậy! Nhiều người tin khắc bản lưu truyền mà gạt kẻ dốt phải lầm! Nếu ai gặp Ngọc-lịch thì xé mà đốt đi, thì đặng phước lớn ‘.
Người coi đọc rồi, lấy giấy chép ra chưa rồi bài ấy. Xảy thấy hào quang xanh lét chiếu vô đàn, Quán Tiên rùng mình té xuống đất, Đạt Viễn cũng nhào theo. Người chép bài ấy, đứng dựa bàn Lữ tổ, trợn mắt hét lớn rằng: ‘ Ta là Liễu tiên đây! Vưng lịnh tổ sư truyền dạy cho đời rõ: Bởi vì người đời vô phước làm dữ không ăn năn. May nhờ trời nhậm lời Thập vương các thần tâu, ban phát Ngọc Lịch cho Đạm Si đem về, truyền người đời xem mà chừa lỗi, không dám phạm nữa, lời thần tiếng Phật tiên thánh khuyên răn. Thượng đế truyền chỉ Đô thành hoàng mỗi ngày canh phân phiên các du thần ngày đêm soi xét nhơn gian lành dữ. Nay có thầy chùa là Đạt Viễn, thầy pháp là Quán Tiến, dám ganh ghét Ngọc lịch, lên cơ mà giả nói gạt đời. Tội hai đứa ấy đáng đọa địa ngục hành tội cho đến kiếp rồi giam ngoài ngục A tì, không đặng đầu thai. Nếu ai ghét Ngọc lịch, mà không tin, cũng phạt như Quán Tiên Đạt Viễn vậy ‘. Nói rồi, ngó thấy cơ tự nhiên không ai vịn mà lên, viết 33 chữ như vầy:
Tâm bịnh tư tương tâm dược y.
Huyến nhục huân tính thiểu ngật ta.
Thơ trung tự hữu ba la mật.
Năng sử oan khiên tận thoát ly.
Ngô Liễu Tiên khứ dã
Thích nôm:
Bịnh tâm, thời trị thuốc bằng tâm.
Huyết thịt ít ăn đặng phước thầm.
Ngọc lịch thánh thần tiên Phật dạy.
Độ đời khỏi đọa, hết mê lầm,
Ta là Liễu Tiên đi rồi
Người coi chữ sao chép rồi, bước xuống nói rằng: ‘ Hồi nãy tôi chép còn một ít chữ thì hết bài trước. Xảy thấy một ông mặt xanh môi đỏ, lên đàn, bảo tôi truyền lời Lữ-tổ dạy, rồi đằng vân bay mất! ‘. Ai nấy hãi kinh về hết. Không biết Quán Tiên với Đạt Viễn đâu mất! Cách vài bữa nghe nói Quán Tiên với Đạt Viễn hai người bầm mình la hoài cho tới chết, mới biết quả báo nhãn tiền lẹ quá! Ghê thay!!
KINH-TÍN -LỤC
(truyền Ngọc-lịch, được phước)
Người bị chết trôi, lửa cháy, trộm cướp, tai họa, đều đổ tại thời vận, không dè tại mình làm dữ mà ra. Bởi chẳng kiêng trời đất, không tin Tiên Phật Thánh Thần, bất trung, bất hiếu, bất nhơn, bất nghĩa, hủy hoại lúa gạo, bỏ xả giấy chữ nho, sát sanh hại vật, khoe mình hiếp người, mê đờn ca, đắm tửu sắc, theo bài bạc gian lận, nếu phạm các tội ấy, dẫu có khỏi tội dương pháp, thì cũng bị thần phạt mắc tai họa. Nếu in Ngọc -lịch, gặp ai cũng giảng tội phước quả báo, sau thác đã tiêu hết tội, mà còn sống bây giờ cũng được hưởng phước sống lâu. Nay mới nghe cái tích làm lành đặng phước đổi rủi ra may, kể ra sau nầy, đều việc nhãn tiền, thiên hạ có nghe có thấy.
Ông Huỳnh-phương-Châu ở huyện Đại hưng, trấn nhậm huyện Khúc Dương, làm quau giáo thọ, vợ cũng làm lành. Khi đương làm việc tại đó, khắc bản kinh Kim cang, kinh Cảm ứng, kinh Âm chất, in mỗi thứ vài ngàn bộ, vợ in Ngọc -lịnh vài ngàn cuốn mà cho người, phóng sanh chim cá không biết mấy muôn ngàn mạng. Sanh năm người con trai, đầu lòng là Thúc Lâm đậu Than hóa, còn bốn người kế là Thúc Kinh, Thúc Kỳ, Thúc Huyển, Thúc Tuyên đều đậu.
Mục-quốc-Duy ở huyện Ngộ, đậu Tiến sĩ trào Minh Thiên Khải, ở nhà không làm quan. Hay thỉnh nhiều thiện thơ (kinh lành), thấy Ngọc-lịch liền sao tả cho người thấy, có rách thì dán lại, năm thất mùa thì đâu đậu thí lúa, lúc thiên thời thí thuốc. Con trai là Huệ Viễn đậu Tiến sĩ trào Minh Thuận-trị, cháu tên Đồng đậu Trạng nguyên, Cảnh Tuyên đậu Truyền lô, Kế Nhượng đậu Tiến sĩ. Con của Đồng tên Tảo đậu Bảng nhãn, các chắt đều bổ Hàn-lâm, Tiến sĩ, nối đời làm quan, cũng nhờ bố thí.
Bành-nhất-Âm ở huyện Trường châu, gặp thất mùa thì thí lúa, thấy thiện thơ thì in. Con tên là Cần, sao tả Ngọc-lịch dư trăm mà cho người, thi đỗ Trạng nguyên, chắt là Khải Phong cũng đỗ Trạng nữa, bởi nhờ thí Ngọc lịch.
Từ trước Đình ở huyện Côn san, làm biện lại với quan Nghiêm văn Tịnh. Khi trấn nhậm tỉnh Chiết giang, dân bị nước lụt. Trước Đình nói nung cho ông Nghiêm văn Tịnh bố thí, cứu sống nhiều mạng. Còn làm phước điều nầy: Lúc trào Minh vua Sùng Trinh, bị loạn, giặc bắt vài trăm phụ nữ, gởi tại Trước Đình bảo giữ giùm. Từ trước Đình lén cho phụ nữ bạc tiền, mà thả đi hết, rồi lập thế đốt nhà mà phi tang, đem bản kinh Ngọc-lịch với gia quyến trốn qua ở huyện Thái dương mà lánh nạn. Thuở nay Từ trước Đình in Ngọc-lịch thí cũng nhiều lắm. Đến thái bình, con trai lớn là Từ kiền Học thi đỗ Thám hoa, làm tới chức Thượng thơ, con giữa là Bĩnh Nghĩa cũng đậu Thám hoa, làm tới chức Thị lang, con út là Nguơn Văn làm tới Thiên quan chủng tể. Năm người con của Từ kiền Học là Thọ Cốc, Huỳnh Thọ Mẫn Thọ, Từ Bình, Từ Tuấn đều thi đậu.
Thái bội Lan ở Hồ-châu, ở hiếu đễ (thảo thuận), tiện tặn cho dư mà bố thí, hay thí thuốc cho nhà nghèo, con côi đàn bà góa cậy mượn thì chẳng tiếc. Nếu phụ nữ hoặc trẻ thơ làm mất đồ không dám về nhà, thì cho mà thường lại. Hay cho kinh Ngọc lịch, 84 tuổi không bịnh ngồi xếp bằng mà mãn phần. Lối xóm thấy có Tiên đồng Tiên nữ mời Bội Lan lên xe. Cháu là Khải Tôn, chắt là Thăng Nguơn đều đỗ Trạng.
Hùng triệu Đãnh ở huyện Nam-xương, làm thầy thuốc thuở 19 tuổi. Coi Ngọc lịch thấy khoản dung y hại người bị vào Hụơt -đại địa – ngục nên giữ mình trị bịnh kỹ càng và giảng cho thầy thuốc khác nghe nữa. Mình đã in thí, lại rủ nhiều Người, Phàm trị bịnh không nài cực khổ. chẳng luận giàu nghèo Nếu kẻ nghèo không có sậm, cũng tán nhỏ mà cho không. Nhà giàu thưởng bao nhiêu tiền, đều tùy cơ bố thí cho kẻ khó. Gặp năm thất mùa, thì đi bộ coi mạch chẳng nỡ làm tốn tiền xe người. Vợ cũng hiền đức, thuận theo ý chồng, mùa đông bận áo vải cũng không phiền. Đến 80 tuổi, nhằm ngày sanh Triệu-Đãnh, xảy thấy thinh không hiện ra một bức lụa đỏ, thông giữa căn nhà để chữ vàng rằng:
Phụng thiên đế mạng, Hùng-triệu-Đãnh phó Phước-kiến tỉnh thành hoàng tử nhậm ‘. (Vương chỉ thượng đế phong, Triệu Đãnh làm thành hoàng tỉnh Phước-kiến)
Cách ba bữa mùi hương đầy nhà. Triệu Đãnh tắm gội, thay y phục mới, ngồi xếp bằng mà mãn phần, con cháu thi đậu nhiều đời.
Trung-mạnh-Cầu làm quan Án-sát trấn tỉnh Hà-Nam, tánh ở thanh liêm có ân oai nhơn chánh. Có khắc bản Ngọc lịch, Âm-chất, văn giới sát của Liên-trì đại sư (nay đem chung vô Ngọc-Lịch rồi). Tánh ghét họa hình tục tĩu, bài thuốc tráng dương, bài thuốc phá thai và đồ nghề bài bạc. Nếu gặp thì hủy hết, ai cáo thì được hưởng. Năm nào thất mùa dân đói thì thí lúa, cho tới xứ khác nữa. Vợ cũng cầm đồ mà phụ với chồng in Ngọc-lịch và thiện thơ. Những kẻ nghèo bệnh đều nhờ ơn hai ông bà. Sanh năm trai đều thi đỗ làm quan.
Trương-xuân-Phố nhà giàu mà cần kiệm như nhà nghèo thấy thiện-thơ thì bảo con cháu sao tả cho người. Tánh ở thuần hậu, con cháu hay tả kinh, sau thi đậu tới đời chắt.
Tỉnh Chiết-giang phủ Hàng-châu, Từ-văn-Kỉnh làm đại thần mà hay giảng kinh sách tam-giáo, in Ngọc-lịch, có khắc thêm Kỉnh-tín-Lục là các bài nói trước đó mà cho đời. Mẹ ngày nào cũng niệm Phật Quan-Âm. Năm đói thời thí lúa. Sau con làm tới Chủng-tể, các cháu thi đỗ làm quan.
Trần-thị là họ lớn tại huyện Hải-ninh lập trại hàng thí quan khách, thí thuốc, thí đất cúng, tối trời thấp đèn ngoài đường đi, thí Ngọc-lịch. Con cháu thi đậu, nổi danh tỉnh Chiết-giang.
Tại tỉnh Chiết-giang, phủ Hàng-châu, có bốn họ đại phú là: họ Quan, họ Uông, họ Tôn, họ Triệu, đều nối đời nhơn đức bố thí nên giàu bền không cổi. Họ Quan, cha con thi rồi, về lo giải thiện-thơ, kế nghe báo, cha con đều đậu. Còn họ Uông tới đời nay còn thí thuốc Tử Hà, giàu hoài không cổi. Họ Tôn thí Ngọc-lịch và các thiện-thơ. Họ Triệu thí quan quách quần áo, Bốn họ ấy giàu bền, lại phát quan, là nhờ bố thí làm phước.
Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:17 pm với 1 lần trong tổng số.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
Lưu-học-Triều ở huyện San-âm, năm Bính Thân, trào Càn-Long dắt gia quyến đến kinh đô đợi bổ ra làm quan. Dọc đường gặp đàn bà bận áo đỏ, nói: ‘ Hồi tôi còn sống, muốn in Ngọc-lịch một trăm bộ, bị ông cản trở hại tôi bây giờ mắc tội dưới Âm-phủ ‘. Lưu học-Triều hãi kinh nhìn lại, là nàng họ Trịnh vợ của người đầy tớ cũ. Đi tới kinh phát bịnh, hay thấy hồn nàng họ Trịnh đến gây hoài. Vợ là họ Khương hay sự ấy, vái in hai trăm bộ thí cho họ Trịnh. Lưu-học Triều vùng nói: ‘ May nhờ ơn Phật tôi được siêu độ ‘. Nghe in vọng nàng họ Trịnh! Khương thị càng tin, lo in lập tức cúng tại am cô vãi. Cách nửa tháng, hai vợ chồng đồng thấy nàng họ Trịnh về lạy tạ rằng:’ Nhờ ơn in Ngọc-lịch, tôi đặng đầu thai, Diêm vương chia phước cho bà phân nửa, sau gặp nhiều sự may ‘. Lưu-học-Triều thức dậy, liền mạnh.
Cầu-phục-Sơ ở tỉnh Nam-kinh là người chí hiếu với cha mẹ, Vợ chết, có con là Đại Vinh cũng có hiếu. Tánh Phục-Sơ không tin có quỉ thần địa ngục. Ngày kia đi buôn bán đặng cuốn Ngọc-lịch đem về, cha con coi với nhau, cha gọi nói huyễn nên bỏ dẹp trên gát! Con là Đại Vinh mộ lắm, muốn kiếm bản in ra lưu truyền, sợ cha quở nên không dám. Phục-Sơ bịnh nặng, ngó thấy nhiều con quỉ dị hình tới phá, bèn kêu con mà than rằng: ‘ Nay mới biết có quỉ ma địa ngục, ăn năn xưa không tin Ngọc-lịch mà ở theo! Đại -Vinh nghe nói, liền vái in ba trăm cuốn mà lưu truyền, cầu cha mau mạnh. Phục-Sơ nghe quỉ nói:’ Ông Táo đã đề hai chữ Thuận Tuân trên trán Phục-Sơ, không bao lâu sẽ có chiếu chỉ Ngọc đế đến, chúng ta trốn trước cho mau, kẻo nữa bị quở ‘. Phục-Sơ liền mạnh.
Hạ-kiến-Mô tự Hữu-kiều, ở huyện Tiền-đường, thuật chuyện chiêm bao rằng:’ Năm Mậu Dần ta dạy học tại nhà họ Cao, Lúc tháng tư, ta soạn sách cũ trên gác, gặp cuốn Ngọc-lịch, coi rồi thì xét lẽ dạy thì phải, song không chắc thiệt sự như vậy. Nhưng mà thấy lời nói rẽ ròi, tuy kẻ dốt đàn bà nghe cũng dễ hiểu, vậy là một lẽ chánh, khuyên đời làm lành răn dữ như sách nho. Vả lại giá in cũng rẻ nên vái in thí một trăm cuốn. Cách vài ngày xem lại, thấy nhiều lời nói quái gở, mình là người học nho, không lẽ nói cho ai nghe. Nghĩ như vậy nên tính lại không in Đã gần đi thi, không rảnh đâu mà suy xét việc ấy. Vào thi nạp quyển rổi, về nhà ngẫm nghĩ mình đặt hai câu chưa êm, e khi phải rớt, nên trong bụng buồn bực, nằm mơ màng thấy một ông cao lớn, ăn mặc đồ xưa, gò má có triều, râu dài như hình ông Tô-đông -Pha vậy. Ta lấy não bài vở trong trường đưa xin xem thử đâu rớt. Ngài dạy rằng:’ Ta biết tánh chàng đủ tài đức, khoa nầy chắc đậu còn ngại nỗi gì! Song ngươi đã gặp Ngọc-lịch, sao không in mà cho thiên hạ? ‘ Ta nhớ trực lại, thưa rằng:’ Ngọc lịch e sợ không thiệt chăng? ‘ Ông già nói:’ Địa ngục dưới Âm phủ, là tại lòng người làm phạm các tội nơi địa ngục. Nếu lòng người chẳng phạm các điều ấy thì có địa ngục cũng như không. Mình thông lý sao còn chưa hiểu mà nghi không thiệt? Mau in mà thí, đừng dụ dự hồ nghi nữa? Ta thức dậy, chưa dám nói với ai. Thiệt tới kêu tên mới biết chắc đậu nên in một trăm cuốn và phụ thêm sự chiêm bao vô đây.
Tôi là Cao-Lan, tự Nhơn-Hòa ngày 11 tôi qua mừng cậu tôi là Hạ-hữu-Kiều thi đỗ. Cậu tôi thuật chuyện chiêm bao điềm lạ… và đưa bài tự thuật cho tôi xem, tôi cũng lấy làm lạ! Khi ấy con tôi là Hiển Tăng có đậu ba bốn ngày mà không tốt. Đến rằm vợ tôi là Phùng thị, con gái tôi là Trinh-Khanh cũng có đậu nữa. Kế một tên học trò, một con tỉ tất cũng có đậu, tôi lấy làm hãi kinh! Đêm ấy thắp hương đốt sớ chịu ăn năn chừa lỗi, nguyện in ba trăm cuốn Ngọc-lịch cho người và thả 30 muôn vạn cá. Vái rồi không đầy mười ngày mà bốn người mạnh. Còn Hiển Tăng yếu đuối nên chậm hơn, sau ra mũ lỗ tai rồi cũng mạnh. Lấy làm lạ điều nầy: vợ tôi đậu rựng mọc, mà mọc không đặng, thầy thuốc sợ nhập vô làm khổ, kể từ tôi đốt sớ ba ngày, ra mồ hôi ba lần, rồi tiêu mất! Nhờ ơn thần phò hộ bình an là vì vái in Ngọc-lịch mà linh nghiệm như vậy mới tin cậu tôi thấy chiêm bao là điềm thiệt, nên khắc thêm sự tôi vào đây, cho thiên hạ biết. Nhằm tháng 9, vua Gia-Khánh 23.
Kinh Ngọc-lịch lưu truyền đã lâu. Ông nội tôi là Văn-Kỉnh có khắc bản in thí, ai tin làm theo đặng gặp phước đều khắc thêm vào đây rồi. Năm ngoái Hạ-hữu-Kiều thấy chiêm bao, in một trăm bộ. đưa cho tôi một cuốn, tôi động lòng muốn in thêm, ngặt lúc không dự, Năm nay thi đỗ, thân hữu lễ mừng, tôi đều lấy mà in một trăm cuốn và khắc thêm lời nầy vào đây. Từ-Chương ở huyện Tiền-đường, ghi tháng mười, năm Kỉ-Mảo Năm Mậu-Dần, Hạ-hữu-Kiều làm chức Hiếu liêm, qua Tô-châu cho tôi một bổn Ngọc-lịch, tôi coi tới câu: ‘ Địa ngục là tại lòng.’ Tôi ngẫm nghĩ ra lý quả báo. Qua năm Kỉ-Mão cháu lớn tôi bịnh nặng tôi vái in Ngọc-lịch cầu cho cháu mạnh, thiệt quả đặng sống. Tháng hai năm nay, con trai lớn tôi là Lượng-Dần đau chứng yết hầu gần chết, tôi vái trời xin cho con mạnh, thì in Ngọc-lịch phái liền. May ra mồ hôi mà mạnh đổi họa ra phước, nên cám ơn trời phật thánh thần. Khi trước tôi gởi cho bằng hữu qua Hàng-châu in ba trăm bổn nữa, có khắc in thêm khoản nầy cho các nơi khác. Kinh nầy đáng kính, nên tôi ghi vài lời xin các vị thiện tâm rán rủ in ra khuyên đời, thì đặng phước nhiều lắm. Khi ấy niên hiệu vua Đạo Quang năm thứ nhứt là Tân-tị, tháng tám. Cát-võ Điền hiệu Du -nhuận đương ngụ ở Tô Châu đề.
Niên hiệu Dạo-Quang năm Quí-Tị, mùa thu, tôi là Phan-quang Thọ ở sông Tiền đường, bởi em bạn dì tôi là Châu-phước-Tăng, Táo-thủ-Tăng khắc bản khuyên tiếc lúa gạo, trọng giấy chữ, lại tính khắc Ngọc lịch in cho đời. Tôi nói: ‘ Sự địa ngục là u minh, không đáng tin. Vả lại muốn lượm giấy chữ đà tốn hao, khắc bản tốn nhiều, vô ích ‘. Hai anh em nghe tôi nói thôi làm. Qua mồng ba tháng giêng, năm Giáp Thân (năm sau), tôi chiêm bao đến chùa Văn Xương đế quân, kêu tên thì vào hầu. Tôi vào quì lạy. Phán quan nói lớn rằng:’ Ngươi đã chẳng tin thì thôi, sau cản người làm lành? ‘
Tôi tâu rằng:’ Thuở nay tôi không cản ai làm việc lành ‘. Phán quan hét lớn rằng: ‘ Ngươi quên sự cản khắc bản Ngọc-lịch sao? Ngươi hãy nói nhiều chuyện nên trễ đậu tú tài đã mười năm và chết nhiều đời vợ; nếu còn nói điên như vậy, thì thấy chết yểu! Như biết ăn năn, nguyện khắc bản kinh, khuyên đặng ngàn người chừa lỗi làm lành sắp lên, thì tiêu tội trước, mà được phước sau ‘. Ta giựt mình thức dậy, mồ hôi dầm mình! Song còn nghi mộng mị không chắc. Vả lại nhằm dịp Tết, bằng hữu rủ chơi bời, nên chưa lo khắc bản. Qua 27 tháng sau, ta thổ huyết hai búng, mệt xỉu! Thấy phán quan khi trước, mặt giận nạt rằng: ‘ Ngươi mới ăn năn rồi cũng quên nữa, nay họa đến rồi! Bữa sau tôi kêu hai người em mà nói các điềm ấy nguyện ăn chay bảy ngày, mướn nhiều thợ khắc rút, mười ngày rồi bản nầy, khắc thêm sự mình in luôn cho người, xin thiện nam tín nữ rán khuyên đời ăn năn hoặc vẽ ra bức Thập điện theo trong kinh mà treo trên vách, ngó thấy mà giựt mình, năng coi năng đọc Ngọc lịch mà sửa lòng chừa lỗi, làm lành lâu ngày thì có phước. Nếu chẳng tin. e phải bị gương tôi. Phan-quan-Thọ ở huyện Tiền-đường đề.
Tiên Phật hay nói nhơn quả, còn kẻ học nho hay chê là dị đoan! Sao chẳng xét? Thích là Phật, đạo là tiên tuy dạy khác đạo Nho của thánh song cũng dạy người làm lành như nhau, nên tam giáo như một. Tôi xem hết cuốn Ngọc-lịch, ý dạy cũng như sách Nho, mà nói rành rẽ dễ hiểu, không cần văn chương đối đáp, miễn cho đời dễ hiểu mà ở thì hơn, tới đám đàn bà con nít cũng nghe chung đặng nữa. Người đời ít kẻ văn học nên bảo ở nhơn nghĩa trung hiếu thì mấy ai hiểu thấu mà làm, chi bằng Ngọc-lịch nói sự báo ứng, làm điều chi được phước, ở làm sao thì mang họa, người thấy giựt mình mà hồi tâm. Mới coi thì là lời khuyên răn, xét kỹ thiệt dạy đường đạo đức, phải là gìn lòng sửa nết cho nên người trung hiếu nhơn nghĩa chăng? Như vậy thì công lớn lắm, có phải thua sách nho đâu? Niên-hiệu Gia-Khánh 22 là năm Dinh-Sửu, mùa xuân ghi lời bạt (không để tên).
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
KHUYÊN PHỤ ÍT LỜI
(cũng không đề tên)
Lành dữ người đã làm, phước họa trời không vị. Biết lành đáng làm mà không làm, sao phải người lành. Biết dữ đáng chừa mà không chừa, thiệt là tội dữ. Sự quả báo ai mà không hiểu? Sao lại không làm phải can tâm làm quấy mà chịu trầm luôn! Người đời nhờ cơm mà sống nếu có hơi muốn thiu, thì đem đổ, có khi đạp. cơm cháo cũng không sợ tội. Nếu kẻ ăn mày, đặng cơm cháo thiu ấy mà ăn, cũng sống đỡ một lát. Đồ ăn ngon vào bụng thì hóa đồ dơ, sao lại chê cơm nguội! Huống chi kẻ làm ruộng gần bên lúa gạo cực khổ trăm bề, mình có mà ăn, lại hủy hoại như vậy, tội biết chừng nào? Họ ăn mì hay đổ nước, sao không nghĩ đồ vụn, cũng là cơm cháo, nếu chừa cặn, thì tôi tớ nó đổ nơi chỗ dơ! Nếu không ăn nước, thì vớt mì vụn mà ăn cho hết. Nếu huỷ -hoại cơm cháo vật thực thái quá, e bị Lôi -công. Kinh nói cữ sát sanh, hoặc phóng sanh, là nói vật lớn: còn ta nhắc vật mọn cho đời nhớ. Người hay nuôi chim, như chim quyên nhồng sảnh keo két cưỡng sáo, các loài chim hay ăn trùng dế cào -cào, châu chấu v. v. .. thường ngày phải bắt vật các ấy mà nuôi nó kêu nó nói cho êm tai mà thôi, chẳng kể giết không biết mấy muôn ngàn mạng vật mọn mà nuôi nó, trong lương tâm đành đoạn hay sao? Còn người gọi ốc là rẻ nên hay ăn song thiếu chi vật rẻ tiền, mà phải ăn ốc? Một bữa ăn hơn vài trăm mạng! Đáng lẽ đã cữ, lại mua ốc mà phóng sanh, đặng chuộc tội trước. Còn ăn cá là thường, song những cá nhiều trứng, nếu trứng cá tươi, chưa vấy muối, để lâu cũng còn nở. Sao không dặn kẻ nấu ăn, nếu làm cá gặp trứng thì lấy bao đất mà bỏ xuống sông, mình nhín ăn một đũa mà phóng cả ngàn mạng cá con (ấy là lời ông Lữ đồng Tân giáng cơ có dạy). Phóng sanh thế ấy khỏi tốn tiền mà phước lớn lắm. Nếu vì một miếng ăn mà chết trăm ngàn trứng cá sao đành, dầu vật mọn cũng vậy. 
KHUYÊN ĐỪNG MÊ TỬU SẮC TÀI KHÍ
Rượu chớ uống nhiều, nhiều thì say, say thì hư việc cả. 
Sắc chớ ngó nhìn, nhìn thì mê, mê thì mắc tội đầu. 
Bạc chớ tập đánh, đánh thì tham, tham thì thâm vốn liếng. 
Giận chớ làm dữ, dữ thì đánh, đánh thì bị lao tù (củ).
(Phủ): Kiêng rượu không say, giữ tánh thường. 
Đừng mê hoa nguyệt, chẳng tai ương,
Không theo bài bạc, còn gia sản. 
Giận tức mà dằn, hoạ khỏi vương (Hành tố).
TÍCH NGƯỜI KHÔNG TIN GIÁNG CƠ
có người kia thấy thỉnh cơ thì không tin, nói bày đặt lên giả. Lúc đó cơ lên xưng Ngọc -Hổ tiên sanh. Va cười! Cơ viết bài thơ 8 câu, va thất sắc, quì lạy. Cơ nói nàng ấy đã thôi ở lầu xanh, có chồng rồi, ngươi đặt thơ gởi âm phủ có lục bài thơ, ta thấy làm án nặng, viết cho ngươi sửa nết, y hoảng, vì mới đặt não chưa gởi mà thần tiên hay. Năm sau y thác. Tám câu thơ y sau đây: Tử quỉ bay hoảng khóc tàn canh. 
Đoái lại Chương đài cụm liễu xanh. 
Hoa nở có kỳ tằm ruột đứt,
Mây tan không ngỡ bướm hồn đoanh (giấc điệp)
Nhớ chừng ngõ phớt xô khuôn cửa. 
Quá chén cười mơn nựng bức tranh. 
Còn ấp tì bà năm trước chẳng?
Tầm Dương tình cũ trả lời rành?
BÀI THỜ KẾT:
Trần làm gia chánh sách nêu danh:
Hành thiện tu tâm tại học hành. 
Tố vị giàu nghèo dùng phải tố. 
Thanh liêm phận sự giữ cho thanh. 
Phước nhiều bởi dạ làm lành lắm. 
Đạo cả nhờ kinh giảng nghĩa rành. 
Nhơn đạo xong rồi tiên đạo có. 
Kỳ công chừa quá bước mây xanh. 
PHỤ DỊCH
LỜI TỰA DƯƠNG-PHÁP -TRÌNH IN KINH NGỌC LỊCH
Quan-đế giáng bút tại đàn nhà Dương-pháp -Trình, bảo in Ngọc lịch phải thêm 20 khoản hựu tội của Lữ Tổ xin phép Đại -Sĩ với Địa tạng mà giáng cơ và có các tiên giáng. 
LỮ TỔ PHỤNG SẮC GIÁNG BÚT
và chú giải 20 khoản
Ta là Thuần -Dương đặt 20 khoản xin ân xá, nhờ Quan-âm Địa -Tạng nhận lời tâu lại, nên truyền chỉ cho ta phải phụng chỉ Thế -tôn Như lai truyền dụ 20 xá khoản. Nếu ai lương thiện, làm theo 20 khoản ầy, thì thành Phất tiên thánh, hiền. Nếu kẻ dữ, thấy 20 khoản nầy, thề cải ác, ở theo điều lệ đây, thì khỏi luân hồi trả quả. Ta giáng bút sau đây:
1. HIẾU: Con có hiếu với cha mẹ là điều lành trước hết, học trò có hiếu thì thi đỗ. Nếu ai bất hiếu thì trời phạt khốn khổ, tai nạn, chết tật bịnh, chết yểu (chết cách dữ). Dầu người tu tam giáo cũng vậy, hiếu thì siêu, bất hiếu thì đoạ. Sự hiếu đã hết lòng phụng dưỡng, biết có cha mẹ chớ không biết có mình, phải cung kỉnh chịu lụy thiệt tình cho song thân đẹp ý. Nếu cha mẹ bất bình thì con mang bất hiếu. 
2. KỈNH: Kính sợ trời Phật thánh thần, nên không dám làm việc quấy, lòng kiêng sợ là kỉnh, không phải lạy cúng là kỉnh. Như kỉnh kiêng phép nước, không dám phạm phép luật, chớ không quì lạy. 
3. TRUNG: Như tôi ra trận, liều mình trả ơn chúa. Còn quan gián nghị can vua không tiếc mạng. Quan Trấn thanh liêm, thương dân, mảng lo việc nước mà quên việc nhà, vì hết lòng hết sức. Tôi tớ phải hết lòng trung với chủ nhà. Bạn bè trung tín với chủ tiệm. Người thay mặt trung với chủ. Còn như tá điền lo lúa ruộng, dân lo xâu thuế nước, cũng gọi là trung (hết lòng).
4. NGHĨA: Là sự phải lẽ, không làm trái lẽ, chẳng dám quên ơn, không làm việc quấy. Xử cho phải nghĩa là quân tử. 
5. THỦ: Giữ bổn phận bền chí cho qua thời, không vì nghèo nàn mà đổi tiết, Phải thủ thân vì trọng, không dám làm cho hư thân thể mình, thủ khẩu không dám nói tổn đức. 
6. NHẪN: Nhịn dằn thì được phược khỏi hoạ. Như Lâu sư Đức, Trương công Nghệ, Lưu Khoan. Nếu không nhịn, thì chẳng hoà. 
7. ĐOAN: Ngay thẳng, một sự ngay thẳng thì không tội. không nhập bọn tà vạy, cứ chánh trực công bình, sẽ thành thần thánh. 
8. PHƯƠNG: (Vuông): Ở có mực thước, làm việc vuông tròn. 
9. NHƠN: Ở có nhơn là hay thương xót, chẳng nỡ hại người hại vật, mình no mà người đói không đành, hay làm ơn phước. 
10. HẬU: Ở có hậu, thì không vong ân bạc ngãi, không khắc bạc ai hết. Người có ân hậu là người hiền lành lắm. 
11. BẤT KIÊU BẤT TRÁ: Chẳng kiêu chẳng gạt: giàu cũng không khoe khoang, giỏi cũng không kiêu ngạo. Châu-công là bực thánh, làm ngự đệ mà còn chẳng dám kiêu. Kiêu như Thạch -sùng, giàu cũng mắc họa. Còn không dối thì là chơn thiệt, chẳng gạt ai, chẳng thất ngôn thất tín thì khỏi phạm vọng ngữ, chơn thiệt mới thành. 
12. BẤT THAM BẤT SÂN: không tham không giận, Tham thì sanh giận, giận thì sanh dữ, nên tam giáo đêu cấm hai điều ấy. Qang-âm nói:
Sân thị tâm trung hỏa, năng thiêu công đức lâm,
Dục hành bồ tát đạo, nhẫn nhục hộ chơn âm. 
Thích nôm:
Giận thiệt lửa trong lòng, như thiêu hết đức công. 
Muốn theo bồ tát dạy, dằn nhịn dạ như không. 
13. BẤT KHÍ BẤT VÕNG: Không dối, không ngang. Không dối thì lòng công, không ngang thì khỏi phạm thượng, giữ tánh khiêm nhường. 
14. BẤT TÀ BẤT DÂM: không vạy, không tà dâm. Lòng không chánh là tà, không phải thê thiếp mình, mà muốn là tà dâm (dâm ác) chẳng nên thấy sắc tốt mà sanh lòng tà dâm vọng tưởng. 
15. TƯƠNG THÂN TƯƠNG MỤC: Thương nhau, hòa nhau. Lòng thân là tưởng không ghét ai, hòa là không gây tung với ai. Coi bốn biển như một nhà, coi thân ai như thân này. thương người như thể thương ta. 
16. ĐỒNG THIÊN ĐỒNG THÀNH: Mình lành khuyên người làm lành, mình thiệt tình, khuyên người thiệt tình cũng hết lòng thành như mình. 
17. HÓA KỶ HÓA NHƠN: Sửa mình cho thành đức, rồi lo dạy người sửa người đặng đức hạnh như mình, không tiếc công dạy. 
18. HÓA ĐẠO HÓA NGHĨA: Giữ theo đạo luân hồi, xử cho phải nghĩa,
hay trượng nghĩa giúp người, nhứt là bằng hữu sửa lỗi nhau. 
19. QẢNG KHUYẾN QUẢNG HÀNH: Rộng khuyên, rộng làm. Mình khuyên người làm lành làm phải, mà mình cũng làm ơn làm phước cho nhiều. 
20. VÔ PHI, VÔ THỊ: Không sanh việc thị phi. Nếu lòng ở công, không phân người phân ta, nói người phải mình quấy, thì không sanh việc thị phi. 
Nên giữ được 20 điều ân xá thì siêu. 
Được sửa lần cuối bởi Lòng Trắc Ẩn vào ngày June 6th 2011, 4:18 pm với 1 lần trong tổng số.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
ĐỊA -TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT GIÁNG BÚT
(Tựa Công-quá-cách)
Người đời không cho con học chữ nho, nên không thông đạo lý. Cứ tưởng cúng chùa dưng hương là lành, rước sãi thầy tu tụng kinh làm chay thì siêu độ vong hồn đặng! Các điều ấy có phải làm lành làm phước đâu? Làm lành là làm phải lý, lại khuyên người làm phải, thì trời xuống phước. Ta thấy người đời ở với cha mẹ không hiếu gì, cha mẹ mãn phần thì nói: ‘ Sa địa ngục rồi! Phải rước sãi làm siêu độ! ‘ Các sãi bày ra làm mị, như gởi kho vàng bạc, phá ngục, bong đầu phướng đặng tiếp dẫn vong hồn lên Tây phương. Có lẽ gì thọc cây tre mà phá đặng địa ngục? Nếu quả như vậy, thì kẻ giàu sang làm dữ, thác rồi con cháu rước đông sãi tụng kinh niệm Phật thì vong ra khỏi ngục sao? Người hiền lành mà nghèo, không tiền rước sãi làm như vậy, thì không ra khỏi ngục sao? Như vậy trời đất cũng vị nhà giàu mà hà hiếp nhà khó hay sao?
Còn như Phật ở Tây phương, công đâu mà vị nhà có tiền phải cứu vớt? Tâm là Phật, tâm là thiên đường, lòng lành thuận lòng trời thì cầu vong khỏi tội, lòng chẳng lành nghịch lòng trời thì cầu không đặng. Nếu không làm phước cứ mỗi ngày rước thầy tụng kinh cầu siêu hoài, Phật muốn cứu cũng không lẽ cứu được. Ta cũng là Phật lẽ đâu không hiểu phép. Làm lành tuy không cầu Phật mà Phật cũng phò hộ. Nếu làm dữ, có lạy Phật cho đến sói đầu, cầu cũng không đặng. Ta khuyên đời nghe lời ta, cứ ở theo luật Công quá cách, đừng làm các điều dị đoan trái lẽ, tuy chẳng cầu ta cũng độ vọng, không cần rước sãi.
VĂN-ĐẾ BÁ-TỰ-MINH (GHI TRĂM CHỮ DẠY ĐỜI)
Quả dục tinh thần sảng Dục ít tinh thần khoẻ.
Đa tư huyết khí suy, Lo nhiều khí huyết phai.
Thiểu bôi bất loạn tánh. Vài chung khôn loạn tánh.
Nhẫn khí miễn thương tài. Một nhịn khỏi hao tài.
Quí tự tân cần đắc. Sang tại siêng năng, đổ.
Phú tùng kiệm ước lai. Giàu nhờ tiện tặn dai.
On nhu chung hữu ích. Dịu mềm sau có ích.
Cường bạo tất chiêu tai, Hung dữ sẽ mang tai.
Thuận xử chơn quân tử.
Khiêu toa thị họa tại.
Am trung hưu sử tiễn.
Qai lý Phóng ta ngai.
Dưỡng tánh nghi tu thiện
Khi tâm mạt ngật trai,
Nha môn hưu xuất nhập
Hương đảng yếu hòa hài.
An phận thân vô nhục.
Nhàn phi khẩu vật khai.
Thế nhơn y thử khuyến.
Nạn thối phước tin hồi.
Khéo xử nên quân tử,
Xui mưu rấm họa thai.
Chốn thầm đừng bắn lén
Cảnh nghịch giả ngây hoài.
Tánh tốt gìn tam thiện.
Lòng gian uổng thập trai.
Nha môn đừng kiện cáo
Làng xóm chớ chê bai.
Bổn phận nương cơ tạo.
Thị phi lấp lỗ tai.
Lời nầy ai giữ đặng.
Nạn khỏi phước lâu dài.
ĐƯƠNG -THỦ TRAI -KỲ
(một năm ăn chay 61 ngày vía lớn)
Bốn ngày tháng giêng: mồng 1, lệ tế trời và vía Phật Di -Lạc, (vái…) Mồng 8 vía Ngũ -điện Diêm La Vương (vía ăn năn làm lành như mồng 1). Mồng 9 vía Ngọc-hoàng thượng đế (bái cải quá…) Rằm Thiên quan đại đế.
Sáu ngày tháng hai: Mồng 1 vía Nhứt điện Tân -quáng vương (nguyên y Ngọc lịch). Mồng 2 vía Thổ địa chánh-thần. Mồng 3 vía Tử -đồng Văn -xương đế quân. Mồng 8 vía Tam điện Tống đế vương (vái…). Rằm vía Thái thượng Nhạc nguyên soái (tụng Cảm ứng). 19 Quan-âm, (tụng Phổ môn Cứu khổ, Cao-vương).
Sáu ngày tháng ba: Mồng 1 vía Nhị -điện Sở-giang-vương (vía…). Mồng 2 Chơn -Võ Huyền thiên thượng đế (nguyện tụng kinh Báo ân). Mồng 8 vía Lục điện Biện -thành -vương (vái…). Rằm Lôi -đình đại tướng. 16 vía Chuẩn -đề Bồ -tát. 27 Thất điện: Thái sơn vương, 28 Đông -nhạc đại -đế.
Năm ngày tháng tư: Mồng 1 Bát đẳng vương (vái…) Mồng 8 Cửu điện Đô thị vương (vái…) 14 Lữ Tổ Rằm Thích -ca Như -lai (tụng Kim -cang). 17 Thập -điện Chuyển -luân xương (vái…)
Sáu ngày tháng năm: Mồng 1 Nam-cực tiên ông. Mồng 5
Lôi đình Đặng thiên quân, 11 Đô-thành – hoàng. 13 Quan Thái tử, (14, rằm 2 ngày cấm phòng).
Bốn ngày tháng sáu: Mồng 1 Rằm 19 Quan-âm thành. 23 Quan đế Linh quan. 
Bốn ngày tháng bảy; Mồng 1 ngày sóc. Rằm Địa -quang đại đế. 18 Diêu-trì Tây vương mẫu. 30 Địa tạng vương (vái. ..).
Bốn ngày tháng tám: Mồng 1 Diệu -tế chơn-quân, Mồng 3 Táo -quân (tụng kinh. ..) Rằm Thái âm hoàng hậu (tụng thái -âm). 24 Táo mẫu (bà Táo) tụng kinh ông Táo).
Bốn ngày tháng chín: Mồng 1 Nam-đẩu. Mồng 9 Phong đô đại đế, 13 vía Mạnh -bà. Rằm ngày vọng. 
Năm ngày tháng mười: Mồng 1 Đông-hoàng đại -đế. Mồng 8 Niết bàn (phóng sanh). Mồng 10 ngày cấm phòng. Rằm Thủy quan đại đế. 30 Châu tướng quân (ông Châu).
Bảy ngày tháng mười một: Mồng 1 ngày sóc. Mồng 4 Khổng tử thánh nhơn. Mồng 6 Tây nhạc đại đế. Rằm ngày vọng. 17 A Di Đà Phật (tụng Di Đà). 19 Thái dương (tụng kinh Thái dương), 23 Trương tiên (Phàm vía này, vía Linh quan Thái tử, ông Châu, vía ông Quan đế, đều tụng kinh ông; Minh thánh Vĩnh Mạng).
Sáu ngày tháng chạp: Mồng 1 ngày sóc. Mồng 8 Thích ca. Rằm ngày vọng, 23 đưa ông Táo chánh vía 24, 30 chư Phật giáng thế. 
Tháng nào thiếu, 29 thế 30. Tháng nhuần tính theo tháng trước. 
Nếu ai ăn chay vía trước nhiều không nổi, thì giữ chay nầy. 
BÀI SÁM HỐI QUÁ, TIÊU TỘI NHỰT KỲ
Trần -huyền -Trang là thầy Tam-Tạng thỉnh kinh Tây-phương về, có dưng sớ cho vua Đường Thái -Tôn, mỗi tháng có một ngày nhằm giờ lay sám hối cho nhằm hướng chư Phật hội nghị. Vái nguyện ăn năn chừa lỗi cữ và nguyện làm phước mới cho tiêu tội. Chẳng phải lạy không mà trừ tội đặng. Phật cho hối quá tùng thiện. 
Tháng giêng, tảng sáng ngày mùng 1, lạy hướng nam 4 lạy, vái. ‘ 2, mùng 9, 5 giờ sáng, lạy hướng nam 4 lạy, nguyện. ‘ 3, ‘ 7, tối 10 giờ, lạy hướng tây 4 lạy, tháng 4, mùng 8, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng đông 4 lạy, nguyện ‘
‘ 5, ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
‘ 6, ‘ 7, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng nam 4 lạy, ‘
‘ 7, ‘ 6, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
‘ 8, ‘ 8, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 9, ‘ 9, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 10, ‘ 1, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 11, ‘ 3, đỏ đền, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
‘ chạp ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
Ngày ấy ăn chay niệm thầm: Nam mô A-di-đà Phật, đặng lấy câu lạy mấy câu. Chừng lạy, thắp nhang ba cây, căm trên hương, nhắc ghế (bàn) để ngay hướng đó, có đèn cũng đủ, à quả tự ý, không ngơ cũng được. Bận áo dài, đứng chắp tay iệm 6 chữ Di-đà 100 câu, ít nữa 10 câu. Rồi vái tên họn mình gày nay nguyện cải ác tùng thiện. Ở theo Công-quá -cách, cầu êu tội cũ, mà nhờ phước trời Phật thánh thần cho, rồi lạy y số. ân hương, dẹp bàn ghế, niệm Phật. Làm được như vậy ba ăm, thì cảm động bề trên, trong nhà bình an, tai qua nạn khỏi, làm hoài chung thân, sống được phước, thác khỏi tội. Cũng như lặt bàn lạy vía Thập -vương, lạy Thập -vương cứ hướng bắc. 
VĂN-XƯƠNG ĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ DẠY CẦN GẤP
Ta đã thấy chiếu chỉ Thượng -đế ban cho Bắc -đế (Huyền hiên Thượng -đế) nội tháng chạp, dẫn âm binh đi tra xét tội bất hiếu mà phạt, có hiếu thưởng phước, là xét các mồ mả tử tế, thì là coi con cháu là tên họ gì mà lo cho cha mẹ ông bà, thì hưởng phước lộc thọ gọi là thưởng thiện (hiếu). Nếu mả nào hoang lạnh, tồi tệ, bỏ bê thì tra ra con cháu bất hiếu, thì phạt tai hoạ, bịnh hoạn, nghèo khổ thác yểu. Tùy theo hư nhiều ít; mà hạt nặng nhẹ. Tại con cháu không biết cội rễ, nên phạt gia đạo hông an. Vì Huyền -thiên thượng -đế là giáo chủ việc báo ân, nên in thưởng có hiếu và phạt bất hiếu. Nên ta cho đời hay trước là giữ. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
KHẮC BẢN NGỌC -LỊCH, THỈNH TIÊN CHO TỰA
Lữ Tổ giáng bút:
Người đời làm dữ thái quá, nhờ ơn Địa -tạng truyền chỉ Phong-đô, Thập -vương dọn Ngọc -lịch, xin chỉ Thượng -đế, ban phát trung giới cho người ăn năn chừa lỗi, làm phước đền tội. Lúc đời Tống, nhằm nước Liêu niên hiệu Thái -bình năm Canh-ngũ, sãi nước Liêu là Đạm Si lãnh về, giao cho Phạm nhứt Chơn là Vật Mê đạo -nhơn truyền cho đời. Sau ta đã dọn 20 khoảng xin chỉ ân -xá, giáng bút đem vào sau Ngọc -lịch. Thượng -đế truyền chỉ các thành hoàng mỗi ngày Canh-thân sai du thần đi xét những người tin Ngọc -lịch ăn năn chừa lỗi làm lành, thì cho tiêu tội, ai khắc bản in thí thì cho phước, có bịnh hứa in mà cầu tiêu bịnh lượng theo số mà cho. Bất luận cầu việc chi, cũng cho nguyện in thứ Ngọc -lịch cho nhiều thì đặng. Nay khắc bản thêm, xin ta cho tựa ta nói thêm ít lời. Sự thiên -đường địa -ngục rõ ràng, đừng nghi không có, cứ làm dữ mà mang khổ. Y theo Ngọc -lịch, ăn năn chừa lỗi, làm lành làm phước chuộc tội, công lớn thì theo tiên Phật thánh thần, dư phước đức con cháu được hiển vinh miên viễn. Lành ít sau khỏi sa địa -ngục, đầu thai hưởng phước. Khuyên đời chớ hồ nghi. 
LIỄU -TIÊN GIÁNG CƠ TỰA CHÓT
Thượng -đế cho tựa kinh nầy là Từ -ân Ngọc -lịch, nghĩa là như lịch ngọc thường ngày xem, ban ân xá, tha tội kẻ ăn năn. Nếu làm một phước cho trừ hai tội cũ. Làm dư phước thì Táo -quân tâu thưởng nhiều sự may, vân vân. 
HỒI -DƯƠNG BIÊN HOẶC
Trào Thanh Nhơn -quả Hồi -dương,
Tự -Kỳ tâu hỏi, Minh -vương phán rành:
Là vua Nhứt -điện U-minh (Tần -quảng -vương)
Dạy việc tu hành chỉ nẻo siêu thăng:
‘ Ngũ -luân là đạo lẽ hằng,
Tam cang, huynh đệ, hữu bằng năm phe,
Thảo, ngay, chồng bảo vợ nghe,
Anh em yêu mến bạn bè thiệt tin. 
1. TRUNG: Làm quan trung với triều đình,
Quên nhà vì nước, quên mình vì dân,
Công bình chẳng vị tư ân,
Xứng ngôi chức phận, vẹn phần thanh liêm. 
Còn như dân dã trọn niềm:
Lo xong xâu thuế, giữ nghiêm luật điều. 
Gìn lòng trung tín mến yêu,
Không lời phạm thượng, giữ điều tôn quân. 
Khuyên người noi đạo Ngũ -luân,
Sửa nền phong hoá, dạy lần ngu ngoan. 
2. HIẾU: Cha con đứng giữa tam cang,
Đạo làm cha mẹ, dạy đàn trẻ thơ. 
Đừng cho hoang đảng bạc cờ,
Nông thương nghề nghiệp, thi thơ học hành. 
Cưng hư thời uổng công sanh,
Dạy nên là việc tu hành với con. 
Làm con chữ hiếu vuông tròn,
Một lo thi đỗ, tông môn rỡ ràng. 
Hai lo thần tĩnh mộ khan,
Giàu ra công khó, nghèo càng dưỡng nuôi,
Kính thờ cha mẹ đồng vui,
Hết lòng hết sức, lo nuôi lo đền. 
Thần mình cha mẹ gầy nên,
Giữ cho toàn vẹn, như đền cù lao. 
3. HÒA: Thứ ba chồng vợ làm sao?
Chồng ra xử thế, vợ vào tề gia. 
Giàu nghèo cũng ở thuận hoà,
Xướng tuỳ phải đạo, vào ra giữ lời. 
Phần chồng dạy vợ ở đời,
Làm dâu vẹn thảo, đãi người trọn ân. 
Bạn dâu hòa thuận mười phần,
Bà con yêu dấu, xa gần ngợi khen,
Lòng chồng chớ ở bạc đen,
Nhan sắc là hèn, đức hạnh là hơn. 
Chớ mê tiếng quyển tiếng đờn,
Cũ vong mới chuộng, đèn hơn trăng lờ. 
Đàn bà giữ vẹn một thờ,
Tháng đợi năm chờ, chồng chúa vợ tôi. 
Kinh chồng, hiền đức vô hồi. 
Sắt cầm hoà thuận, đắp bồi gia cang. 
4. ĐỄ: Thứ tư huynh đệ yêu đương,
Ấy là chữ đễ, cũng ngang chữ hoà. 
Thịt xương một chỗ mà ra,
Anh dầu bị khổ, em đà chẳng an. 
Em may anh nở lá gan,
Anh mà đau nhức, em càng xót xa. 
Anh em yêu mến thuận hoà,
Mẹ cha đẹp ý, ông bà mát gan. 
Mồ côi càng chạnh trăm đàng,
Nhìn xem thủ túc, mơ màng xuân huyên. 
Thương anh như mến cha hiền,
Nếu phiền huynh đệ, như phiền mẹ cha. 
Anh em ai dẫu bất hòa,
Bị người đánh chửi, cũng ra binh liền. 
Bởi vì thiên hiệp tự nhiên,
Anh em cha mẹ căn nguyên tại trời. 
Trời xanh không thế đổi dời,
Khó tìm cha mẹ, không rời anh em. 
Vợ, con, người chọn mắt xem,
Nối đây dễ quá, sanh thêm khó gì?
Ấy là nhơn hiệp lạ chi,
Chớ khinh huynh đệ mà vì vợ con. 
Mẹ cha anh chị vuông tròn,
Anh em bực nhứt, vợ con bực nhì. 
5. TÍN: Thứ năm bằng hữu trọn nghì. 
Giúp giùm sửa lỗi, yêu vì khuyên nhau. 
Nội nhà ngộ biến lòng đau,
Có khi bằng hữu giúp nhau được toàn. 
Việc nhà khó nỗi trở đang,
Có khi bằng hữu giúp cang đặng hòa. 
Vậy nên chỉ tín đừng ngoa,
Càng lâu càng mặn, rán la rán giùm
Chọn người tài đức yêu dùng,
Khuyên lơn làm phải, chung cùng giúp nhau
Năm điều vẹn giữ trước nhau
Tu ròng ngũ đạt, đạo mầu nhứt tâm
Năm điều giữ vẹn chẳng lầm. 
Thì là hành đạo phải tầm kiếm đâu?
Trẫm đà truyền đủ đạo mầu,
Người khuyên thiên hạ rán tu cho thành,
Ấy là chánh phép tu hành,
Tại gia cũng đủ bao đành xuất gia. 
Gái trai lớn bé trẻ già,
Sang hèn giàu khó đều là phải tu. 
Gồm tam giáo: Thích, Đạo, nhu (nho),
Ai tu cũng đặng người tu thời thành. 
Làm người tùy sức tu hành,
Cảnh nào cũng vậy lòng lành bấy nhiêu. 
Tuy giàu, nhưng khó chẳng kiêu,
Dầu nghèo như khá, chẳng điều gian hung,
Ở đời biết xét hay dung,
Trị nhà nhẫn nhịn, đủ dùng tu thân,
Sự nào mình phải mười phần. 
Xét ra còn lỗi một phân sửa liền. 
Việc chi người quấy cả thiên,
Tìm ra lẽ phải không phiền chấp chi. 
Siêng làm ra của khó gì,
Biết lo tiện tăn, mấy khi nghèo nàn. 
Gốc là Hiếu Đễ giữ ràng,
Thảo cha kính mẹ, yêu đang ruột rà. 
Ở đời phương tiện mới là,
Người lo chẳng tiện, ta thà giúp phương. 
Làm lành là gốc thiên đường,
Tùy cơ bố thí chánh phương tu hành. 
Trọn đời như vậy là lành,
Công đầy quả đủ thì thành chẳng ngoa. 
An chay niệm Phật thêm lòa,
Bằng không cũng đặng theo khoa thánh thần. 
Tự -Kỳ còn ngại tâu rằng:
‘ Khó bề bố thí, vì thân nghèo nàn! ‘
Tần -quảng -vương phán rõ ràng,
‘ Nhiều phương bố thí, lắm đàng tế nhân. 
Trừ ra túng ngặt cơ bần,
Mình đành thí của, cứu lần gian nguy. 
Chớ như đói khát một khi,
Bữa cơm bát nước, tốn gì bao nhiêu?
Người đời lo sợ chít chiu,
Mình khuyên bớt ngại cũng đều tế nhân. 
Người mê lầm lỗi cõi trần,
Mình khuyên tu niệm đặng phần siêu thăng. 
Giúp điều phương tiện bủa giăng,
Ra công, mỏi miệng, cũng bằng thí thiên. 
Người gây tụng, kẻ thù riêng. 
Giải hòa thôi kiện, răn khuyên hết rầy. 
Tuy nghèo thương chúng chẳng khuây,
Cũng là bố thí lựa chi có tiền ‘
Tự Kỳ còn ngại tâu liền:
Sãi gọi tu thiền, niệm Phật ăn chay ‘.
Đức vua Tần Quảng phán ngay:
‘ Bày ra niệm Phật ăn chay sửa lòng
Ăn chay không ích Thế tôn (Thích -ca).
Công chi với Phật, mà hòng ỷ chay?
Dẫu cho niệm Phật đêm ngày,
Ích chi cho chúng, rằng hay tu hành?
Phép tu gốc tại làm lành,
Đừng vương việc dữ thời thành xưa nay
Dẫu cho niệm Phật ăn chay,
Tránh làm lành dữ, tội đày đọa sâu. 
Mới giam mấy sãi chẳng lâu,
Hòa thượng khẩn cầu, niệm Phật ăn chay!
Lòng chẳng tịnh, tánh không ngay,
Đời niệm Phật, ròng chay cũng cầm. 
Ngũ luân tu nhứt chẳng lầm,
Chay bố thí, niệm thầm thứ hai
Trí tại tâm, chẳng tại tài,
Lòng chay khó lắm, miệng ngoài có chi
Một đồng nhà khó thí đi,
Phước ấy dám bì giàu thí một phiên
Giàu sang một bữa chay tuyền,
Cũng bằng nhà khó chay liền một trăng. 
Vì suy chỗ khó làm căn,
Khó mà làm đặng, thiệt bằng lòng tu ‘.
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
GIÁC MÊ DIỄN CA
Từ mở mang trời đất những nay,
Cũng có cuộc tang thương canh cải. 
Ngươn ba ngươn tuần huờn dựng lại. 
Hội mười hai cho đủ mới rằng. 
Cõi hồng trần còn hỡi lăng xăng,
Người lành phải chịu bề cay đắng,
Chữ tam đạt thì lòng phải gắng,
Muốn lên bờ phải thác bến mê,
Học Phật gia niệm chữ từ bi,
Tu tiên đạo giữ câu cảm ứng. 
Trung thứ này cho là bằng chứng,
Phật Thánh Tiên tam giáo một lòng,
Dọn chông gai đường cả mới thông,
Chịu tân khổ gọi là thượng trí
Người trượng phu phải gìn tam qui,
Đứng anh hùng đừng bỏ cửu tư,
Đạo tiên thiên lập đảnh an lư,
Hạng cũng có trong hư ngoài thiệt. 
Tánh tòng bá phải y một tiết,
Nếu đổi dời khổ đọa trầm -luân. 
Nhắn với ai qui giới phải tuân,
Một phen khổ muôn đời thong thả,
Nợ tiền khiên buổi nầy phải trả,
Nợ trả rồi vật ngoại thảnh thơi
Mặc dầu trong trời đất vui chơi,
Năm hồ rộng thần tiên thú lạ. 
Muốn nên mình phải bền chí cả,
Công cho dày thì quả mới cao. 
Dốc lòng đền chín chữ cù lao,
Hành chánh đạo dương danh hậu thế. 
Ấy vậy mới tứ ân bất phế. 
Hỡi đạo người đừng bỏ nghĩa nhơn,
Làm sao cho tiệp thủy đăng sơn. 
Chữ Hầm cốc cùng ông Tương -Tử,
Công danh lợi thì mình phải xử. 
Cuộc phù hoa nhắm cũng cheo leo,
Tần -Thỉ -Hoàng tiếng hỡi còn nêu,
Thâu lục quốc phàn sơ khanh sĩ,
Núi Thú -dương Di -Tề danh để. 
Giữa một lòng tiết nghĩa mà thôi,
Làm chi Tần -Ngụy cao ngôi,
Thanh sử tạc muôn đời cho tệ. 
Đậu yên sơn ngũ chi đơn quế,
Bởi vì chàng cải quá tự tân,
Người đời lấy đức tu thân,
Đừng học thói vua Tần mà bất nghĩa,
Trắc ẩn chi tâm tùng thiên lý,
Nỡ lòng nào giết vật cho đành. 
Người úy tử vật lại tham sanh,
Gẫm người vật máu xương không khác. 
Thấy thửa sống không đành thửa thác,
Lời Mạnh -kha sách để hẳn hòi,
Xin hiền lương xét lại mà coi,
Sao là phải, sao là chẳng phải. 
Sách có câu quá nhi tất cải,
Tử -Lộ xưa nghe lỗi thì mừng,
Võ -Vương làm thiên hạ chi quân,
Còn phải văn thiện ngôn tắc bái,
Nói ra thì tai nghe cũng trái,
Bởi vì nhơn sự cách thiên cơ. 
Việc thị phi tai phải làm ngơ,
Học Nhan -tử đai cơm bầu nước. 
Đạo muốn cao tỏ đường sau trước,
Cách chỉ mành nào có xa đâu. 
Cõi nam đà mở rộng cửa lần,
Đèn trí huệ hào quang chói chói,
Thuyền bát nhã nghinh ngang bốn biển. 
Nước ma ha rửa sạch ba lòng,
Rượu Quỳnh hoa mời khách tây đông. 
Ngựa không bóng rước người Nam Bắc,
Máy sau lưng xảy bày trước mặt. 
Nửa hông nồi nấu khắp non sông. 
Muốn cho thấy đặng chủ nhơn ông,
Non vô ảnh âu tâm mới hãn,
Trong hang thần đừng cho gián đoạn,
Độc mộc kiều có gã Quỳnh nương,
Cõi nê hoàn mua rượu Quỳnh tương
Đặng một chén uống thời bất lão,
Việc tu hành phải suy mùi đạo. 
Nếu bơ thờ quả vị khó trông,
Tiếng đờn thì tai lóng cho thông,
Chơn như thể giai không ngũ uẫn,
Thập tam ma khuyên đừng lấp lửng,
Gươm huệ mài trừ nó mới an,
Giảng cho thông tứ cú kim -cang,
Thời mới thấy bổn lai diện mục,
Tuy sắc thân hỡi còn ở tục,
Lòng cho riêng mới gọi là thần,
Ai còn mang những thói tham sân,
E khó nỗi luân hồi lục đạo,
Hoạ phước vô môn nhơn tự triệu,
Muốn hi hiền phải liễu phàm tâm,
Đạo Như-Li vô thượng thậm thâm,
Biển cho lặng minh châu mới hiện,
Ngọc cửu khúc gắng công giồi huyện,
Tầm thư hùng hái nước non nam. 
Mười hai giờ quyền hộ phải tham,
Thiên giao thời pháp luân thường chuyển. 
Rồng trên non cọp kia xuống biển. 
Đầy ba xe chở những vàng ròng,
Làm sao rằng lôi phục thiên phong. 
Buôn sáu hiệp thâu vào lại gắn. 
Thuốc ba phẩm công phu luyện chính
Muốn đơn thành văn võ phải toan,
Ai dốc lòng đến núi linh san
Đóng sáu cửa cho bền then khóa. 
Cửu cửu ma thử lòng vàng đá. 
Ấy mới rằng biết giả biết chơn. 
Thầy Huyền -Trang tiệp thủy đăng sơn. 
Trái tám mối Lôi Âm mới tới. 
Lòng Bồ -đề không dời không đổi. 
Tánh yêu ma còn tiếc nhục phòng,
Bởi chưng qui gới chưa thông. 
Căn duyên nợ năm dây khó dứt,
Đạo muốn cao phải bồi chí đức,
Đạo đức toàn quỉ phục thần khâm. 
Trời đâu có phụ đạo tâm,
Nghiệm kim cổ người lành mắc nạn. 
Việc tu hành phải soi cho rạng,
Nếu không minh ắt chẳng đốc hành,
Đạo Phật Tiên có chí thì thành,
Người bao thuở thủy cầu chung đãi. 
Nương phép thuyền mà qua khổ hải. 
Sóng muôn trùng còn đoái làm chi. 
Bền một lòng niệm chữ A-di
Sau cũng đặng thảnh thơi muôn kiếp. 
Máy quang âm lẹ thoi như nhíp,
Người trăm năm chẳng khác chiêm bao. 
Cõi bờ này sóng bủa lao xao,
Cuộc danh lợi gẫm như bọt nước,
Đọc sách kinh nhớ người đời trước. 
Ông Thạch -Sùng giàu có muôn xe. 
Qua đời này tiếng hỡi còn nghe,
Sao chẳng thấy mặt trường sanh thọ hưởng. 
Hàn -Tín xưa là mưu thần chi tướng. 
Cũng chưa nên mười mặt phô trương,
Người ở đời lấy đó mà răn,
Kim như thị cổ hà như thị. 
Xử thế phải biết liêm biết sĩ,
Tu thân thời vô lự vô tư,
An một lòng mau ốc thảo lư. 
Đừng học thói Triệu Tần mộ Sở. 
Đường Huỳnh -Đạo trời đà rộng mở. 
Khách Tây -du sớm nhớ quày đầu. 
Kiếp duyên khương sáu vạn dư niên,
Dưng thiên mạng kíp truyền y-bát. 
Sông Ai-hà khuyên người kíp thoát. 
Khỏi lưới trần cực lạc cũng xinh. 
Cuộc diêm -phù nhiều nỗi nhục vinh. 
Không lại có, giàu sang dời đổi. 
Thú thảnh thơi màu thoàn quen dõi. 
Đất Bồ -đề sớm tối xuê-xoang. 
Chữ Danh lợi, sao bằng chữ nhàn. 
Cửa Bát nhã vào ra thong thả. 
Trống Đại Hùng đà thâu ý mã. 
Chuông linh sơn hỡi toả tâm duyên. 
Ngọc mu ni há dễ khinh truyền. 
Kinh Bạch tư dám đâu vọng triết. 
Địch không lỗ có duyên mới biết. 
Đờn không dây vô phước khó nghe. 
Rượu đề hồ chứa để đầy ve. 
Say một cuộc bất tri nhơn sự. 
Ngâm chỉ huyền say cùng ông Lữ. 
Đọc tỉnh mê say với ông La. 
Kim huỳnh -đình rảnh đọc năm ba. 
Vô bồng tháp buồn xem tạo hóa. 
Ngó Nam lãnh vui màu tòng bá,
Nhìn Bắc Hà rùa cá lội vởn vơ. 
Chốn Đơn phòng tỏ nỗi huyền cơ. 
Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ. 
Có duyên gặp tam kỳ phổ độ. 
Muôn đời còn Tử phủ nên danh,
Ba ngàn công quả đặng viên thành,
Đơn thơ chiếu hiển vinh thiên tước. 
Chín phẩm sen vàng khai thấy Phật. 
Cữu huyền thất tổ đặng tiêu diêu. 
THẬP NGOẠT CA
Hiệu đề thập ngoạt hoài thai,
Tam niên nhủ bộ ai ai cho tường. 
Kể ra mỗi việc trăm đường,
Nghe thời phải gắng cho thường chớ sai. 
Dặn dò già trẻ gái trai,
Tưởng ơn cha khổ, nhớ hoài mẹ lao. 
Trước thưa anh chị nhậm ngôn,
Sau cùng thiện tín bát phương đạo tình. 
Khá ăn chay niệm Phật tụng kinh,
Tuân qui giới đền ơn thiênđịa
Người trượng phu phải gìn chữ nghĩa. 
Đứng anh hùng trung hiếu đừng sai. 
Anh đừng quên thập ngoạt hoài thai,
Chị phải nhớ tam niên nhủ bộ. 
Lòng tưởng tới cửu huyền thất tổ. 
Dạ khăng khăng báo bổ song thân. 
Làm sao cho báo đáp tứ ân. 
Lo những cứu tam đồ chi khổ. 
Ơn phụ mẫu sanh con quá khổ. 
Mẹ đặt con vào dạ thêm lo. 
Chín tháng trường chẳng dám ăn no. 
Năm canh ấy ngủ không ngon giấc. 
Chưn mẹ không rời dưới đất,
Dạ cưu mang lật đật dám đâu. 
Tưởng chừng nào lụy nhỏ thâm bâu,
Chạnh nhớ đến ruột đau từ đoạn. 
Việc sanh đẻ mẹ đà xuất hạng. 
Tán loạn lo sanh tử không chừng. 
Vì chậm sổ thời cha vái tưng bừng,
Bằng trì huỡn phụ vào bái tử. 
Chốn ô uế đứng trong giường cữ,
Cúi đầu chờ con sổ cho mau. 
Đến bây giờ phải nghĩ trước sau. 
Ơn nghĩa ấy tương rau cũng đáng. 
Huyết ô trì mẹ nằm một tháng,
Bởi vì con, thịt nát dạ càng,
Trên thời vầy nồi nước vung thang,
Nơi phía dưới lửa vây hừng hực. 
Chịu cay đắng mẹ không than cực,
Đạo làm con phải nhớ sanh thành. 
Thập ngoạt đà nhứt tử nhứt sanh,
Tam niên ấy ốm gầy mình mẹ. 
Nuôi con trẻ không cho tiếng khóc,
Hễ khóc lên lật đật chạy quay
Công mẹ rày giặt rửa liền tay. 
Vì con trẻ bao nài khai thúi. 
Mới ngon giấc ỉa ra lụi hụi,
Cha đốt đèn mẹ lại rửa trôn. 
Lòng Trắc Ẩn
khoảng 1 10 năm trước
MƯỜI -CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH, TƯỢNG PHẬT
* Một là, những tội lỗi đã tao từ trước, nhe thì được tiêu từ. nàng thì chuyền thành nhe. 
* Hai là, thường được các thiên thần ùng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù,
* Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này. 
* Bốn là, các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc hùm beo tránh xa không dám hảm hại. 
Năm là, tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộnh. Diện mạo hiền sáng, mạnh khoẻ an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt. 
* Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ gia đình hoà thuận, phước lộc đời đời. 
* Bảy là, lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen. 
* Tám là, ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khoẻ, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt. Nhâm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân. 
* Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy. 
* Mười là, hay vỉ tất cả chúng sanh trồng các cân lành. Lấy tâm cầu của chúng sinh làm ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Phép, phước huệ rông lớn, chúng đạt lục thông, sớm thành Phật quả. 
ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY:
Ấn tống Kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ tặt bịnh, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ Đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc. 
ẤN TỐNG KINH
Chúng con góp lòng thành Tâm Ấn Tống 1000 cuốn Kinh Nhơn Quả, Nghiệp và Luân Hồi để cầu an và cầu siêu.
Nam Mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô a Di đà Phật. 
Nam Mô đương lai hạ sanh di lặc Tôn Phật. 
Nam Mô Quang Thế Âm Bồ Tát. 
Cầu An
Nguyện cầu hồng ân tam bảo. Thế giới Hoà Bình an lạc thịch vượng và Gia Hộ toàn thể thân bằng quyến thuộc Nội Ngoại, Ông Bà Cha Mẹ, Cô Chú Dì Dượng, Anh Chị Em con cháu Thân Tầm thường an lạc, Bồ đề tâm tân trưởng, Tu hành kinh tiến. 
Cầu Siêu
Cầu nguyện Hồi hướng công đức đến bảy đời phụ mẫu và tất cả Chư Vong Linh đồng bào tử nạn khắp cõi hoàn cầu được siêu sanh tịnh độ. 
Nam Mô đại nguyện địa Tạn Vương bồ tát Ma Ha Tát. 
CÁC NGÀY KỶ NIỆM
(Tính theo Âm-lịch)
THÁNG GIÊNG
Ngày 1.- Vía đức Di-Lặc. 
22.- Tổ Thập -Tháp (Phước -Huệ,chứng -minh Đạo sư Hội
Phật -giáo Trung-Phần) viên tích. 
23.- Tổ Khánh -Anh (Thượng -thủ Giáo -hội Tăng-Già toàn
quốc V.N. niên khóa II. Pháp -chủ Gióa -hội Tăng -già
V.N. niên khóa II) viên tịch 30.
THÁNG HAI:
Ngày 8.- Vía Phật Thích -Ca xuất -gia. 
15.- Vía Phật Thích -Ca nhập – diệt. 
19.- Vía Phật Quán -Thế -Âm Bồ -Tát. 
20.- Vía Đức Phổ -Hiền Bồ -Tát. 
THÁNG BA:
Ngày 16.- Vía Đức Chuẩn -Đề Bồ -Tát. 
THÁNG TƯ:
Ngày 3.- Tổ Tuệ -Tạng (Thượng -thủ Giáo -hội Tâng già toàn
quốc V.N. niên khóa I) viên tịch. 
04.- Vía Đức Vân -Thù Bồ Tát. 
15.- Vía Phật Thích -Ca Giáng -sanh. 
20.- Bồ Tát Thích Quảng -Đức vị pháp thiêu thân
(nhằm 11-6-1963). 20.-
THÁNG SÁU:
Ngày 15.- Đại -Thích -Nguyên-Hương vị pháp thiêu thân
(nhằm 4-8-1963).
19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -Tát. 
19.- Tổ Khánh -Hòa (Sơ-tổ Phong-trào Chấn -hưng
Phật giáo miền Nam) viên tịch. 
24.- Đại -đức Thích -Thanh-Tuệ vị pháp thiêu thân
(nhằm 15-8-1963).
26.- Thích -nử Diệu -Quang vị pháp thiêu thân
(nhằm 15-8-1963).
27.- Đại -đức Thích -Tiêu -Diêu vị pháp thiêu thân
(nhằm 16-8-1963).
THÁNG BẢY:
Ngày 13.- Vía Đức Đại -Thế -Chí Bồ -tát. 
15.- Lễ Vu -Lan Bồn. 
30.- Vía Đức Địa -Tạng Bồ -tát. 
THÁNG CHÍN:
Ngày 02.- Đại đức Thích -Quãng -Hương vị pháp thiêu thân
(nhằm 5-10-1963).
11.- Đại đức Thích -Thiện -Mỹ vị pháp thiêu thân
(nhằm ngày 27-10-1963).
19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -tát. 
30.- Vía Phật Dược -Sư. 
THÁNG MƯỜI MỘT:
Ngày 01.- Tổ Huệ -Quang (pháp chủ G.H.T.G.N.V. niên khóa I)
viên tịch. 
07.- Vía Phật -A-Di-Đà. 
THÁNG CHẠP:
Ngày 08.- Vía Phật Thích -Ca thành đạo. 
08.- Tổ Vĩnh -Nghiêm (Thiên-gia Pháp -chủ Giáo hội Tăng –
già BV) viên tịch. 
NHỮNG NGÀY TRAI
Thập trai: Mổi tháng mười ngày:
Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30. 
(nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27).
Lục trai: Mổi tháng sáu ngày:
Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30. 
Tứ trai: Mỗi tháng bốn ngày:
Mồng 1, 14, 15, 30. 
Nhị trai: Mỗi tháng hai ngày:
Mồng 1, 15. 
Tam ngoạt trai: Một năm ba tháng:
Tháng giêng, tháng bảy, tháng mười. 
*** Những ngày trai không nên dùng các món
gia-vị như: hành, hẹ, nên, tỏi, tổi tây v.v…
*** Người tu hành ăn các món này thì tụng kinh
trì chú không linh nghiệm và khiêu gợi dục tình,
sanh thêm các tánh hung dữ. 
—————- 
—————-           
****************  
—————-           
Chương 1: Lai Lịch Của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 970
Địa Tạng Vương Bồ Tát Giáo hóa thế giới chúng sinh u minh, trong ngày vía của Ngài, thập điện Diêm Vương và các thần minh đều đến tham dự chúc mừng. Địa Tạng Vương Bồ Tát từ bi nói:
“Tôi dựa vào nguyện lực của lòng từ bi mà đến cứu độ chúng sinh. Làm sao mà người thế gian hành thiện quá ít, làm việc ác nhiều, hết kẻ này đi, kẻ khác lại đến. Khi cứu độ chúng sinh không có kết quả thì phải dùng cách nào để cho con người tin vào nhân quả, biết hối cải tội lỗi, không làm việc ác, cố gắng làm việc thiện, cải tâm hướng Phật, dần dần thoát khỏi quy luật sinh tử luân hồi. Một mặt có thể chấm dứt nghiệp quả tại địa ngục, mặt khác có thể làm cho chúng sinh tại nhân gian nhờ dựa vào công đức của con cháu mà được siêu thoát”.
Sau khi bàn bạc, thập điện Diêm Vương thưa với Địa Tạng Vương Bồ Tát: “Người trong nhân gian, nếu từ nhỏ biết dụng tâm hành thiện, không ngừng tích lũy công đức, sau khi chết đi có thể lên thiên đàng, hoặc vào tiên giới. Người có công đức và tội như nhau, sau khi chết đi không phải vào Tam Ác Đạo chịu khổ, cho họ đầu thai làm người, kết thúc duyên nợ trong quá khứ. Người làm việc thiện ít, làm việc xấu nhiều, sẽ phải chịu khổ hình tại các địa ngục, sau đó căn cứ theo việc làm lúc còn sống, mà đầu thai cho họ thành người giàu sang, hoặc người nghèo khổ, hoặc người đoản mệnh, hoặc người bệnh tật đến hết đời, hoặc người chết vì bệnh, cuối cùng xem xét tâm tính thiện ác của họ, người thiện được đầu thai nơi phước lành, kẻ ác phải vào địa ngục chịu khổ hình, hoặc đầu thai thành người cực nghèo cực khổ, lúc sống thì gặp tai ương, sau khi chết sẽ phải vào địa ngục. Những kẻ bất trung bất hiếu, xem thường tính mạng mà tự sát, thích sát sinh, sát hại sinh linh, không tin nhân quả sau khi chết đều bị giam vĩnh viễn trong địa ngục chịu khổ hình.
Có người cho rằng, sau khi chết thì hết, vô tri vô giác, làm gì có chuyện chết đi rồi còn phải chịu khổ. Người dương gian không biết rằng, tuy thân xác này mất đi nhưng hồn kia vẫn còn, lúc sống làm biết bao tội ác, sau khi chết sẽ gặp quả báo. Phàm những kẻ không tin vào nhân quả báo ứng mà làm chuyện ác, sau khi chết sẽ bị khổ hình trong địa ngục. Có người được các tôn giáo và các bậc Thánh Hiền khuyên nhủ hành thiện lại cho rằng nó chỉ là giả dối tầm thường, như thế thực sự là phụ ân nghĩa của trời đất, người như vậy là cố chấp, biết mà không sửa, do vậy phải nghiêm khắc trị tội, tăng thêm hình phạt.
Hôm nay, Địa Tạng Vương Bồ Tát dùng từ bi giáo hóa, qua nghiên cứu bàn bạc tôi cho rằng: phàm là người già, trẻ, gái, trai khỏe, yếu, trong quá khứ đã làm việc xấu nếu biết hối hận, phát nguyện ăn chay, bảo đảm sau này không làm việc ác hoặc cố gắng kiên trì hết sức làm một hai việc tốt thì sau khi chết đi đến âm phủ được miễn không phải chịu những hình phạt nặng. Trừ những kẻ làm quân mà bất trung, làm con mà bất hiếu, tự sát hoặc âm mưu hãm hại người tốt; kẻ bị thiên lôi đánh chết hoặc chết vì nước, lửa, hổ, lang rắn độc thì sẽ được đưa đến các ngục để thẩm tra, đánh giá công đức dày mỏng, cân nhắc miễn giảm các khổ cực trong các kiếp. Ngoài ra, còn suy xét đến các quy tắc người thế gian đã phạm những tội gì thì khi xuống âm phủ sẽ bị những hình phạt tại địa ngục nào. Sau đó dùng câu chữ rõ ràng rành mạch để người thế gian hiểu được, đợi người có đức hạnh đến lưu truyền thiên hạ, làm cho người thế gian hiểu và khuyên giải họ.
Địa Tạng Vương Bồ Tát nói: “Đúng, nếu làm như vậy thì rất tốt, rất tốt!”. Ngày 8 tháng 3, cùng với Thập Đại Diêm Vương và các Thần minh đã đưa ra tấu nghị rất hay này trình lên Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế sau khi xem xong nói: “Rất tốt! Rất tốt!”. Từ giờ về sau tất cả các thần giám sát nhân gian, nếu có người phát nguyện hướng thiện, lúc sinh thời làm việc sai trái mà biết hối cải, không tái phạm nữa thì sẽ đền được hai tội; nếu hối hận, cố gắng hết sức làm 5 việc tốt thì tất các tội hình sẽ được miễn xá, người nam sẽ được đầu thai vào nơi phước lành, nữ được đầu thai thành nam giới; nếu sau khi hối cải mà làm trên 5 việc tốt thì chuẩn tấu cho họ lúc tại dương gian có thể hồi hướng công đức cho tổ tiên, siêu độ được cho các vong linh thoát khỏi khổ não.
Nhanh chóng đưa các phép tắc và phương pháp đã tấu trình này biên tập trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thông báo cho các Thần Hoàng Thành, Thần Thổ Địa, Thần Môn, Thần Táo Quân và chúng quỷ thần được biết. Từ giờ trở đi, phải tuân thủ các điều luật ghi trong sách, tất cả phải cung phục và nghiêm khắc chấp hành.
—————-           
Chương 2 – Mục 1: “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” làm sao truyền hạ thế gian
Số từ: 749
Chương 2: Quá Trình Lưu Truyền “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Mục 1: “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” làm sao truyền hạ thế gian “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” truyền ra là do một vị tu sĩ nghèo mà tu hành có đạo đức, tên là Đạm Si. Sau đây là chuyện sự thật do đích thân ông từng trải.
Thời gian vào năm Thái Bình, mùa thu năm Canh Ngọ, ngày mồng chín (Trùng Cửu), ngày Mậu Thìn. Đạm Si một mình leo lên núi cao, tản bộ du ngoạn giữa núi rừng. Trong chốc lát nhìn thấy một bia đá, trên bia đá có khắc một bài triện thư kiểu chữ Thể của ngôn kệ, tổng cộng có 56 chữ lớn:
“Đại đạo vô vi, thanh tịnh nhất chân
Lục đạo chúng sinh, giai nhân vọng thành
Duyên vọng tạp nghiệp, thiện ác du phân
Nhân quả bất sảng, hào ly phân minh
Tâm niệm tài động, nghiệp tương dĩ hình
Nhân tuy bất kiến, thần quỷ tảo minh
Vật vị ám thất, quả báo nạn tuần”
Đáng kinh ngạc, xoay mình lại nhìn thấy một cung điện trang hoàng lấp lánh, trước cửa màu đỏ, dùng cây đinh màu vàng treo một tấm bảng, trên có ghi bốn chữ lớn: “Xuất sinh nhập tử”. Trong lúc ông đang đứng nhìn ngơ ngác, trong cửa màu đỏ đi ra một người sứ giả mặc áo xanh lá kéo ông từ góc cửa vào bên trong, đi tới bậc thềm màu đỏ tham bái. Bái xong đi xuống bậc thềm. Trong chánh điện đèn sáng, nến chiếu rực rỡ, tràn đầy niềm vui, hóa ra là chúng thần đang mừng thọ Đại Đế Phong Đô, Thập điện Diêm Vương trong địa phủ, dẫn dắt phán quan của các độ đến chánh điện mừng thọ cho Đại Đế.
Chúc mừng xong, Đại Đế Phong Đô nói: “Địa Tạng Vương từ bi Bồ Tát muốn siêu thoát cho tất cả hồn ma trong âm phủ, để cho người trên thế gian không làm chuyện ác nữa, khỏi bị tọa lạc địa ngục chịu cực hình đau khổ. Cho nên, ân huệ cho tất cả hồn ma tuy trên trần gian có phạm nhiều lỗi lầm mà biết thành tâm hối cải, tu sửa và hành thiện nhiều hơn, thì sẽ được thay thế cho những nghiệp tội đã gây ra, có thể tha thứ để giảm tội, không chịu nhiều cực hình đau khổ. Ân huệ này, các độ thần linh đã tập hợp, trình báo lên cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế ban chỉ soạn ghi trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, ban ân phát hành truyền bá đến hạ giới, tuân thủ chấp hành. Nhưng cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” từ khi ban phát đến bổn điện này đã nhiều năm nhưng không gặp được một người mang thân xác phàm trên trần gian có tu tâm hành đức để có thể đi xuống âm phủ đem cuốn sách này về trần gian công cáo cho người trên thế nhân. Hiện tại, người tu hành tên Đạm Si đứng trên bậc thềm, hoàn toàn có thể được giao trọng trách này, mở rộng truyền bá cho thế gian. Khi đã tìm được người, xin các phán quan nhanh đưa cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và ngôn lộc của các chư thần, sao chép thành sách”.
Tiếp đó, Phong Đô Đại Đế lại nói: “Trước khi sao chép tuân theo chỉ thị của Ngọc Hoàng Đại Đế ban: các báo cáo và các câu phồn văn trước sau và lý lịch của các thần linh, họ tên phải bôi xóa hết. Chỉ được ghi Mậu Đế Vương, Mậu Bồ Tát, Mậu Điện Diêm Vương, Mậu Phán quan, hoặc những từ đồng nghĩa, tiếp đó thuật lại các nghị luận và các hàng câu ngữ. Mỗi câu đều phải chấm phẩy rõ ràng, không được ngắt bỏ câu. Có thể để cho nam nữ trên trần gian dễ dàng hiểu, hy vọng được tuân thủ thi hành. Ngoài ra, còn có thể hóa truyền biện minh cho những văn chương khác trên trần gian. Vào mùa xuân năm Nhâm Ngọ, tháng ba ngày Giáp Thìn sẽ trình lên báo cáo cho Ngọc Hoàng Đại Đế và nhằm soạn vào một phần trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Thập điện Diêm Vương sau khi nghe xong phấn khởi cầm bút lên, viết và bổ sung bộ phận biện minh vào sách.
—————-           
Chương 2 – Mục 2: Biện minh cho những bộ phận thế gian truyền lệch
Số từ: 2116
1. Nhân duyên của thành chết oan
Phong Đô Đại Đế nói rằng, thành chết oan xoay quanh bên phải trong điện. Người trên trần gian đều ngộ nhận những hồn ma bị thương chết oan ức đều quy vào thành này. Những tin đồn tuyên truyền sai lệch khắp nơi, mỗi nơi một khác.
Thực ra, những người chết oan ức, sao có thể ghép thêm các hình phạt oan cho họ. Sự thật là những hồn ma bị chết oan ức, phải chờ đến hung thủ sát hại họ chết và đưa đến âm phủ tra hỏi, tận mắt nhìn thấy hung thủ chịu cực hình đau khổ, lòng hận trong tâm mới có thể phai.
Mà những hồn ma bị hại chết oan này, đợi ngày được đi đầu thai mới đưa ra hung thủ, áp giải đến địa ngục của các điện, dựa vào tội ác, cầm tù hoặc giải đi chịu cực hình. Không phải tất cả những hồn ma bị hại chết oan đều gom hết vào thành chết oan chịu tội.
Nếu như là người trung nghĩa, hiếu thảo, những quân nhân hy sinh vì nước nhà và những người vì công chúng hy sinh, những người này có danh phẩm tốt và có biểu hiện tinh thần anh dũng sớm đã thành thần thì ít nhất cũng được có khuôn mặt trang nghiêm, tứ chi hoàn mỹ đến nơi phước lộc để đầu thai. Đâu có đạo lý nào phải đưa những người này xuống thành chết oan để chịu hình phạt đau khổ.
2. Nhân duyên của hồ máu bẩn
Hồ máu bẩn được thiết lập tại đằng sau, bên trái trong điện. Người trên thế gian nghe những bà phù thủy, đạo cô nói lung tung mà ngộ nhận là tất cả phụ nữ trong lúc sanh con chảy máu là máu bẩn, là có tội. Họ sau khi chết đều phải vào hồ máu bẩn này chịu cực hình. Đúng là một sai lầm lớn! Phụ nữ sinh con là một chuyện đương nhiên, có sanh khó chết đi cũng không vì nguyên nhân này mà phải vô hồ máu bẩn. Phải đưa vô hồ này chịu tội gồm có:
2.1. Sau khi sanh con không quá 20 ngày, đi gần đến giếng nước, bếp giặt quần áo, đem phơi những quần áo dơ bẩn bị dính máu bẩn, phơi ra ngoài trời, gây ô nhục đến thần linh. Tội này qui cho gia trưởng trong nhà 3 phần, người phụ nữ đó chiếm 7 phần tội.
2.2. Bất kể nam hay nữ, không kiêng kỵ trước mặt tượng Phật, gần tượng Phật quan hệ tùy tiện, hoặc không kỵ ngày giờ ví dụ: vào ngày 14 và rằm mười lăm tháng năm, mùng ba và ngày mười ba tháng tám, mùng mười tháng mười, năm ngày này nghiêm cấm quan hệ phòng the.
Những người trong hai loại hình trên, Thần linh sẽ giáng xuống cho người đó ác bệnh mà chết, sau khi chết phải chịu các cực hình trong địa ngục. Ngoài ra, còn phải ngâm mình vĩnh viễn trong hồ máu bẩn, khó mà ngẩng đầu lên.
2.3. Bất kể nam hay nữ, sống trên trần gian hay sát sanh động vật, để cho máu ô nhiễm bếp hoặc bàn thờ Phật đường (nhà có lập Phật đường mà sát sanh), kinh điển, sách, văn chương, những giấy có chữ và đồ vật cúng bái. Những loại người này sau khi phải chịu những hình phạt đau khổ trong địa ngục bị áp giải đến hồ máu bẩn, ngâm mình trong hồ, không được đi lên dễ dàng.
2.4. Nếu như những người thân quyến trên trần gian có thể lập lời thề, thay thế cho người này mà kiêng sát sanh, mua động vật mang đi phóng sanh. Đợi khi nào phóng sanh đến số lượng nhất định, phải ăn chay, cung dưỡng thần Phật và sám hối, đọc những kinh điển để hóa giải khi đã từng làm ô nhiễm máu bẩn. Lúc này, mới có thể cho họ siêu thoát khỏi cực hình trong địa ngục.
3. Nhân duyên của sơn tinh thủy quái
Nam nữ trên trần gian vi phạm vào những tội sau đây sẽ đầu thai làm sơn tinh thủy quái:
3.1. Nhìn và nghe thấy có người mắc nạn cầu cứu, trong khi thấy mình có đầy đủ sức lực điều kiện để cứu giúp, nhưng không đến cứu.
3.2. Có nhận ân huệ của người khác mà cố ý quên đi, vả lại còn gây oán thù muốn hại ân nhân.
Hai loại người như trên, nếu có tích lũy công đức, niệm Phật, bố thí người nghèo khổ, hy vọng nhờ những công đức này, khi chết sẽ được đưa lên đạo Tiên, đạo Phật được miễn đưa vào các địa ngục chịu hình phạt đau khổ; nhưng cũng phải bị phạt thành quỷ quái, yêu tinh, thần cây, thủy quái, hồn du vọng hoặc là đưa linh hồn đó nhập vào thân con chó sói, gấu, rắn độc, có khi vài chục năm hoặc vài trăm năm không chừng.
Nếu như có thể tỉnh ngộ những sai lầm trước kia, gắng sức giúp người gặp nạn, biết ơn báo đức, mượn công đức tu dưỡng thì kiếp này có thể quy hồi bản tính và được đến nơi phước lành đầu thai.
Ngược lại, sau khi bị trừng phạt thành sơn tinh thủy quái mà không tu tâm sửa đổi, mà còn tận dụng phép thần hiện hóa để mê hoặc người trần gian, hoặc hù dọa người trần gian. Như thế, khi đã hết ngày chịu tội quái ác, nhất định phải bị sét đánh chết. Sẽ hóa thân thành “tiệp” (ma chết đi thành tiệp) sẽ vĩnh viễn không được siêu thoát.
4. Nhân duyên của quỷ thần hiện linh
Người trên trần gian luôn ngộ nhận những quỷ thần thường hiện linh là chánh thần. Do vậy, đã tôn kính bái phục, thật là một sai lầm lớn. Thật ra, đây đa số là những người sống trên thế gian để tiền tài chôn giấu dưới lòng đất, sau khi chết đi tiếc của, hồn ma luôn quanh quẩn lân cận nơi chôn dấu tài sản. Do lo sợ bị người đào bới, nên thường hiện lên hồn ma để hù dọa người. Cho nên, nhân chúng ngộ nhận cho là hiện tượng của thần hiện linh. Một số người yếu bóng vía, dương khí yếu thường bị hù đến phát bệnh hoặc bị bệnh đến tử vong.
Thật ra những ưu hồn này thường là những người làm quan hoặc nhà quyền quý thời Đường, do đời đời kiếp kiếp mê muội, không minh bạch được đạo lý biến hóa vô thường ở trên thế gian nên mới cố chấp như thế. Những thần linh, quỷ phán dưới âm phủ vì nghĩ họ là những người còn sống lúc sanh tiền trên thế gian không phạm vào tội gì, nên cho phép họ được bảo quản lại số tài sản báu vật của kiếp trước để lại. Họ thật sự là những hồn ma có tiếng về hám tài.
Nhất thiết phải đợi đến sau khi họ nghe được đạo lý của Phật giáo chỉ rõ và giáo hóa mới nghĩ thông ra là, cuối cùng không chỉ thân xác không phải sở hữu của mình, kể cả những vật dụng có hình có sắc, tất cả các cảm giác vui buồn, suy nghĩ thiện với ác, tất cả các hành vi và ý thức phân biệt, cuối cùng sẽ tan biến mất không còn tồn tại, mới tỉnh giấc thấu hiểu thân xác không phải là một vật cuối cùng có thể sở hữu được, nói chi đến tiền tài báu vật? Cho nên buông bỏ tiền tài của kiếp trước thì như vậy mới có thể đầu thai đến nơi phước lành.
Vẫn có một số quỷ hám tài còn mê hoặc, cố chấp giữ đến chết, sau khi biến thành “tiệp” mới không thể nào khác được mới chịu buông tha rồi đi. Đợi đến khi nào có người tích phước tích thiện xuất hiện, tự nhiên sẽ lấy được những món tài sản này. Người trên thế gian, nếu như tại nơi vừa mới nhìn thấy và nghe hồn ma xuất hiện, có thể lập lời thề tôn trọng và xin thề, thêm vào những lời vái:
“Đồng ý lấy số tài sản đó, chia 1/3 ra để làm việc công đức, đem đi
làm việc tốt, tích phước và lấy thêm 1/3 nữa đi mua sinh linh động vật mang đi phóng sanh; 1/10 đem đi tặng quà cho người nghèo khổ, 1/3 còn lại mới giữ cho riêng mình”.
Sau khi phát lời thề như vậy, mới lấy sài cho mình thì sẽ được thần thánh phù hộ, có thề thì bảo đảm khi sử dụng số tài sản này sẽ không còn sợ bị ma quỷ trừng phạt.
5. Quả báo khác biệt giữa khi làm quân lính chết và khi làm
cướp bị đánh chết
Tất cả những người lúc sống trên trần gian, làm quân lính, trừ khi tuân theo mệnh lệnh đem quân lên chiến trường để đánh giặc và quân thù, nếu như trung thành cố gắng đánh giặc, không bao giờ làm qua những chuyện tội lỗi như hãm hiếp, tà dâm, đốt cháy nhà của bá tánh muôn dân. Những người này tuy bị chết trên chiến trường, thân xác bị phân ly, tan nát, dù cho trước kia đã từng phạm qua lỗi lầm, nhưng trong âm phủ vẫn cho miễn chịu tất cả các hình phạt, vẫn cho phép họ được khôi phục thân xác toàn diện nguyên hình.
Từ điện thứ nhất, điểm danh xong, tức khắc giao cho điện thứ mười, đưa đến điểm phước lành, đầu thai thành nam hoặc nữ, suốt đời bình an vô sự, chết nơi an lành. Nếu như là đánh lộn, sát hại nhau mà chết hoặc là làm cướp bị hành hung đánh chết, những loại người như vậy sau khi chết sẽ bị cộng thêm tội, căn cứ theo những tội đã vi phạm ở kiếp trước, đưa vô các địa ngục để chịu hình phạt đau khổ.
6. Sự lầm tưởng về mười tám tầng địa ngục
Người trên thế gian đều nói dưới âm phủ chỉ có mười tám tầng địa ngục, đây là sai lầm. Thực ra phải gọi là tám trọng địa ngục. Như đại địa ngục trong điện thứ hai; đại địa ngục “dây đen” trong điện thứ ba; đại địa ngục “hợp” trong điện thứ tư; đại địa ngục “gọi to” trong điện thứ năm; đại địa ngục “hét to” trong điện thứ sáu; đại địa ngục “nhiệt lão” trong điện thứ bảy; đại địa ngục “đại nhiệt lão” trong điện thứ tám; đại địa ngục “A Tỳ” trong điện thứ chín.
Ngoài tám trọng đại địa ngục ra, còn có mười sáu trọng tiểu địa ngục, cộng thêm trong điện có hồ máu bẩn, thành chết oan, lớn nhỏ tổng cộng có 138 chỗ. Ngoài ra, còn có trụ đồng, lửa đốt là những điểm để phân biệt, thi hành tăng nặng hình phạt của tội. Tất cả những người có tội bị phân tán đi các điểm chịu cực hình, tuy bị đốt cháy đến thịt cháy da nát nứt gân xương vụn, máu chảy đầm đìa đến rùng mình; nếu như còn bị áp giải đi địa ngục khác chịu hình phạt, sẽ hoàn toàn trở lại như lúc mới chết, sẽ bị lại những cực hình trên thân xác, phải chịu lại đau khổ, mỗi một điện, mỗi một địa ngục cũng đều bị cực hình như vậy.
Đừng nên tưởng chỉ có mười tám tầng địa ngục thôi. Một kiếp trăm năm rất dễ dàng trải qua. Nếu như sáng tác, tuyên truyền văn thư khiêu dâm, tiểu thuyết khiêu dâm, miêu thuật và vẽ những tranh tà dâm, quay hoặc sao chép những phim ảnh dâm tục, cung cấp dịch vụ, thuốc nạo phá thai, thuốc bùa mê. Chỉ cần những bản gốc, tranh, ảnh, phim như trên không bị hủy, thì trải qua một thiên vạn kiếp cũng khó mà thoát khỏi các hình phạt đau khổ trong các địa ngục của âm phủ.
Những tài liệu như trên, Thập điện Diêm Vương điền chép hoàn tất, ban phát cho phán quan, phân biệt sao chép thành sách, biên soạn nội dung vào trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
—————-           
Chương 2 – Mục 3: Biên soạn và truyền bá “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 445
Những Diêm quân của Thập điện và các chủ quản hồ máu bẩn, những tuần thành phán quan trong các thành chết oan trình sổ sách của mình, tụ hợp thành “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Từ khi ban phát “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đến nay, đối với những tội phạm ma quỷ trong địa ngục tiến hành điều tra chỉ mới nghe thấy những người trong chợ và trong đám đông có nói đến chuyện nhân quả báo, tuy chưa phải là thành tâm tuyên truyền giáo hóa nhưng cũng có thể mượn cớ hóa đạo, có khi gặp được người thiện đức. Sau khi nghe được từ trong lòng thức tỉnh cảnh báo, từ từ tu sửa sai lầm một việc, hai việc rồi ba việc, bốn việc và nhiều hơn thế nữa. Đó là một công đức lớn lao, căn cứ theo thiện đức khi khuyên người biết sám hối, cân đối giảm nhẹ các hình phạt tội phải chịu.
Những hồn ma như vậy có tổng cộng 50480 tên, Thập điện Diêm Vương sẽ tụ hợp lại và phán quyết nơi đầu thai của họ, phân biệt đầu thai thành nam hoặc nữ, nghèo tiện, bệnh tật, đều đi đầu thai đến trần gian chịu khổ và xuống làm con cháu những nhà ác độc. Sau đó, toàn bộ bị đẩy đến đài quên lãng, lập tức phải uống canh quên lãng chuẩn bị đi đầu thai và sẽ liệt kê ra tất cả danh sách, trình lên Phong Đô Đại Đế xem xét.
Sau khi Phong Đô Đại Đế xem xét xong và ký phát tài liệu, lệnh các văn võ phán quan triệu tập tất cả tội phạm ma quỷ, dẫn dắt lính quỷ tản đi bát phương, cầm cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đọc một lần nhằm để cho họ nhớ nội dung chủ yếu. Sau khi lính quỷ nghe xong, tỉnh ngộ ra, đây chính là do những tội ác mà kiếp trước mình đã gây ra mới bị trả báo khổ như ngày hôm nay. Đồng thời cảm ơn sự từ bi đại xá của Phong Đô Đại Đế để cho họ biết được nội dung “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có thể cho họ mang đến trần gian truyền cáo cho nhân loại để lấy công chuộc tội. Mỗi lính quỷ đều xin thề: “Sau này khi đến trần gian, chỉ cần không điếc, không mù và có chút tri thức mà nghe được và nhìn được “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” sẽ thề nhất định tuân theo “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mà triệt để thi hành, tu chỉnh, đồng thời nhận trách nhiệm ban hành, truyền bá”.
—————-           
Chương 2 – Mục 4: Quan Thế Âm Bồ Tát khai thị ban hành công đức triển khai truyền bá “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 845
Khi tội phạm ma quỷ xin thề xong, liền thấy khắp nơi ngũ sắc rực rỡ, Quan Thế Âm Bồ Tát từ trên trời giáng xuống, Đại Đế và Thập Điện Diêm Vương đến bên bậc thềm cung điện, cúi đầu kính phụng đảnh lễ.
Bồ Tát xuất hiện với khuôn mặt cháy đen của quỷ vương với trượng lục kim thân, pháp tướng trang nghiêm và nói: “Phong Đô Đại Đế và Thập điện Diêm Vương, các người và các thần linh dưới âm phủ khi trình báo lên việc ban phát “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là tuân theo chỉ thị nguyện lực của đại từ đại bi Địa Tạng Vương Bồ Tát. Cho nên, gia ân ban phát “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để cho những nam nữ trên thế gian đã từng hành ác, khi biết được mà biết tu tỉnh không tái phạm, cho phép họ được chuộc lại những lỗi lầm quá khứ đã phạm, giảm miễn tội khổ. Sở dĩ bỏ đao xuống, lập địa thành Phật, chính là ý nghĩa này. Nếu làm được đến như vậy, tôi rất là hoan hỉ”.
Tuy nhiên, nhờ có Đạm Si hồi lại trần dương truyền bá “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho biết:
1. Trồng nhân nào, được quả báo đó: trồng bí được bí, trồng đậu được đậu. Những định luật của sự nhân quả báo ứng, dù là chư Phật Như Lai cũng không được thay đổi.
2. Báo ứng của nhân quả không phải là trồng một được một, trồng mười được mười, mà như là nông dân canh tác, mùa xuân gieo xuống một tẩu hạt giống, mùa thu sẽ thu hoạch một trăm tẩu lúa.
3. Sự báo ứng của nhân quả được thuần thục còn phải mượn sự hỗ trợ của nhân duyên. Cũng như hạt giống phải nhờ vào các điều kiện hỗ trợ như ánh sáng mặt trời, mưa gió, đất, mùa… sau khi chín mùi mới có thể nảy mầm, đơm hoa, kết trái.
4. Thuận tòng ác quán không sửa đổi, cũng giống như lúa chín, hạt giống thu được đem gieo trồng lại thành lúa mới. Như vậy, có sự tuần hoàn liên quan, duyên duyên tương nghiệp, từ những tội ác đó nảy sinh ra những đau khổ sau này, nhất định sẽ nghiêm trọng hơn bốn ngàn lần so với hậu quả một tẩu hạt giống gieo trồng ra một trăm tẩu lúa. Khi nảy sinh ra những khổ báo này thì không thể còn là một con số thông thường có thể tính toán ra.
5. Đạm Si tuy biết: hiện tại, những gì đã biết về các cực hình nơi địa ngục không nhiều, chỉ đủ để người trên biết mà thận trọng trong suy nghĩ, hành động. Thực ra, ở trên thế gian có bao nhiêu tội ác thì tương ứng ở phía dưới địa ngục có bấy nhiêu ác báo tương ứng. Mà sự báo ứng nhanh hay chậm còn phải xem điều kiện có được chín mùi hay không. Các chủng loại ác báo dưới địa ngục hoàn toàn dựa theo ác niệm và ác hành của người lúc sống mà tăng hay giảm, để hoàn trả những số lần tội ác mình đã gây ra.
6. Thiện ác trên thế gian hình thành đồng thời với những phước họa tương ứng, chúng luôn luôn tuần hoàn tương ứng lẫn nhau. Người nào hành thiện thì sẽ được phước, sau khi được phước lại gây ra tội lỗi mới, có tội lỗi mới lại gây thêm họa. Như vậy, phước họa, thiện ác biến hóa không ngừng, vĩnh viễn không dứt được. Cho nên, không tìm cách giải thoát khỏi vòng sinh tử thì sẽ vĩnh viễn luân hồi như thế. Hy vọng khuyên giáo được nam nữ trên thế gian phải biết giác ngộ, phát tâm bồ đề, giữ vững lòng tin, chấp hành Phật Pháp chánh đạo. Cố gắng phổ biến truyền đạt đạo lý của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Sau đó, tiến một bước theo đuổi Phật Pháp, tự lợi cho mình và cho cả chúng sanh, để cho địa ngục biến thành hoang trống. Như thế, người đó nhất định sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Phong Đô Đại Đế và Thập Điện Diêm Vương, các vị Thần linh nghe được giáo luận của Bồ Tát đều chắp tay và nói: “Nhất định
thành Phật!”.
Bồ Tát lại khai thị nói: “Trên thế gian này nếu như có thiện nam, thiện nữ sau khi nhìn thấy, nghe được “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, có thể giữa nơi ăn ở, ngồi ngủ, thường xuyên khống chế vọng niệm của chính mình và phát tâm bồ đề, khuyến hóa những chúng sanh hữu duyên với mình, để cho mọi người biết sám hối, học tập Phật Pháp, tấm lòng bình đẳng với nhau, để quảng độ chúng sanh, người đó nhất định sẽ thành tựu tất cả chủng trí”.
Lúc này, đại chúng chấp tay và nói: “Nhất định thành Phật!”.
—————-           
Chương 2 – Mục 5: Lời căn dặn sau cùng
Số từ: 367
Sau khi Quan Thế Âm Bồ Tát khai thị trọn vẹn, hiện trở lại nguyên hình với mặt từ bi, tưới ba lần nước cam lộ, giá mây thăng thiên. Thập điện Diêm Vương cũng cáo từ trở về địa phủ của chính mình, Đại Đế lui điện.
Phán quan lại đưa những lời vàng ngôn của Bồ Tát như trên và những lời ngữ đáp của Thần linh ghi vào cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này, đồng thời kêu Đạm Si đạo nhân-người mà đang đứng kế bên bàn của Phán quan tự tay ghi chép vào. Do Phán quan kiểm hạch lại một lần rồi giao cho đạo nhân Đạm Si, đem theo và sẽ lưu truyền đến trần gian dương thế để lợi ích cho chúng sanh.
Lúc rời khỏi, Phán quan nói: “Một số Thần linh và hồn ma đang giữ chức vụ dưới Diêm phủ, rất nhiều người là mới chết trong thời đại này, cũng có không ít là ông cũng quen biết đến. Ông lần này trở về trần gian, không được tiết lộ tên thật của chúng ta. Vì sợ những nam nữ trên trần gian biết được có tổ tiên, thân quyến hiện tại đang làm Thần và giữ chức vụ dưới Diêm phủ, mỗi khi có bệnh, gặp chuyện tai nạn, đáng lẽ phải sám hối, làm việc thiện để bù đắp nghiệp tội. Họ không những không làm thế mà ngược lại còn sát sanh, cúng bái, loạn thiêu đốt thông văn (giấy cúng) cầu xin phù hộ. Các điện dưới Diêm Phủ sẽ tăng thêm nhiều phiền phức vô ích và bị mưu phạm. Vả lại, đã tuân theo chỉ thị của Ngọc Hoàng Đại Đế, xóa đi lý lịch của bổn điện Đại Đế và chư thần, huống chi tên tuổi của các Phán quan chúng ta?
Tại vì thế nhân thời nay lòng dạ khó đoán được. Nếu như tên tuổi của chúng ta mà bị lợi dụng đem đi lừa gạt, sinh chuyện gây rối loạn. Như vậy, ông và chúng tôi, nhất định khó mà thoát khỏi sự trừng phạt của Trời, ngàn vạn lần căn dặn, không được lơ là”.
—————-           
Chương 2 – Mục 6: Hậu ký của Phó Mê đạo nhân
Số từ: 856
Đệ tử của Đạm Si, Phó Mê đạo nhân (thời cổ xưa người ta không phân biệt đạo giáo nào, đều gọi chung là đạo nhân), trong lúc soạn in “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, ghi lại một đoạn câu nói của Đạm Si và cảm tưởng của mình.
Ông nói: “Tôi vào năm Tuất Thân mùa hè tháng sáu, lúc du hành đến Tứ Xuyên, ở ngoại ô của huyện Song Lưu, gặp được sư phụ của tôi là đạo nhân Đạm Si. Sư phụ của tôi chỉ thị nói: “Tôi đã từng đích thân vào trong lục đạo luân hồi, từ sống ra chết, người mà từ dưới âm phủ quay trở về, ngươi có thể truyền cáo cho người thế gian là, trong trần gian, những người già trẻ, tàn tật, bệnh nặng, phụ nữ, những người này phạm tội thì đều có thể chuộc tội như trong luật quy định. Có lúc được Hoàng Đế ân huệ đặc biệt đại ân xá, có thể giảm nhẹ hoặc miễn các cực hình. Thậm chí chỉ cần một vài quan hệ hoặc gặp quan xét xử nhân từ, có thể xóa đi một vài tội, khước từ hoặc thoát khỏi một phần hình phạt. Những sự kiện như thế này, từ xưa đến nay rất nhiều, nhưng trong âm phủ, tất cả các tội lỗi không được bỏ sót; đồng thời cũng không có khả năng để ân xá hoặc miễn giảm. Chỉ có thông qua sự hối hận của bản thân, làm việc thiện mới có thể tiêu tội, đền tội”.
Tiếc rằng, người trên thế gian đối với chuyện này có cái nhìn không chính xác, dẫn đến người này người nọ khởi khởi diệt diệt ác niệm, hình thành luân hồi giữa người và thú, người tội lỗi sẽ lưu lạc trường cửu trong đạo súc sinh.
Trước đây, trong những người đã từng phạm tội, trong 100 người phụ nữ thì có một hai người tỉnh ngộ hối cải; 1000 người nam thì không có vị nào biết tỉnh ngộ, hối cải. Tội nghiệp thêm là có người sắp chết đến nơi còn không chịu hối cải, cam lòng chờ đợi sự trừng phạt của Diêm Phủ. May mắn thay, hiện nay, nhờ Bồ Tát từ bi, Ngọc Hoàng Đại Đế ban ân, cho phép ban truyền cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để chuộc tội ác. Có thể nói, đây là âm phủ đại khai cánh cửa từ bi, tôi bây giờ khuyến cáo người trên trần gian là phải biết được đầu thai thành thân người là rất gian khó. Nhân lúc đang còn sống, có thể hối cải hướng về thiện, đây mới là một việc thực sự cần phải thực hiện, phải cố gắng làm. Tại vì ngươi có sẵn tâm trí khuyến cáo người hành thiện nên bây giờ, ta sẽ đưa “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” truyền thụ cho ngươi, ngươi phải nhanh chóng đưa cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này truyền bá đến thế gian”.
Tôi nghe xong lời dạy bảo của sư phụ, quỳ xuống nhận cuốn sách này, không bao lâu sư phụ tôi đã thành đạo mà đi. Tôi dựa theo cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” không ngừng sao chép, không ngừng sao lại tặng cho người khác, để khuyến cáo nhân loại hối cải nghiệp tội, đồng tâm hướng thiện. Mỗi khi đến các ngày lễ vía của Quan Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát, tôi sẽ xin thề hối cải lỗi lầm, thực hành hướng thiện và sẽ in ấn cuốn sách này mang đi truyền bá để mở rộng khuyến hóa người thế gian. Chỉ cần khuyến hóa được một người tu cải hành thiện thì được giảm trừ tội lỗi, và có công đức lớn.
Mong rằng những nam nữ trên thế gian sau khi xem, nghe xong nếu đã từng làm những chuyện thất đức, vô lương tâm, phải lập tức cải chính; nếu không có thì đừng tự tăng thêm tội nghiệp. Đừng để đến khi tọa xuống địa ngục rồi, lòng muốn hối cải thì đã là không kịp, nếu muốn cầu xin được làm lại thân người là không thể có được. Vào ngày rằm tháng bảy là hoan hỉ của Phật, Phó Mê đạo nhân cung kính ghi lại nội dung như trên.
Vào mùa hè tháng sáu năm Tuất, Phó Mê đạo nhân đưa “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho Đông Vực đi soạn in. Vào Tết trung nguyên năm Canh Tuất, lúc đến Tam Trúc thắp hương, Phó Mê đạo nhân đã đưa cuốn sách này và kèm theo các ngày lễ vía của chư Thánh, giao cho Võ Lâm đi in ấn lưu truyền. Ông hy vọng các thiện nam tín nữ, vui vẻ tùy duyên quyên góp tiền để in ấn, mở rộng truyền bá không cần biết phải biết là trợ giúp in vạn cuốn, ngàn cuốn, trăm cuốn, chục cuốn hoặc vài cuốn cũng được, rồi truyền đi khắp nơi, đánh thức nhân loại biết sám hối sửa đổi, thực là công đức vô lượng.
—————-           
Chương 2 – Mục 7: Kính kèm lịch các ngày vía của chư Thánh
Số từ: 587
Tháng giêng:
– Mùng một: Ngày vía Thiên lạp, ngày vía của Di Lạc Bồ Tát, ngày này sẽ tuyên thề nguyện kính ngưỡng Phật giáo.
– Mùng sáu: Ngày vía của Định Quang Cát Phật.
– Mùng tám: Ngày vía của Thiên Tử Diêm Vương điện thứ năm, phải lập lời nguyện sám hối.
– Mùng chín: Ngày vía của Ngọc Hoàng Đại Đế, tuyên thề nguyện trung thành báo quốc.
Tháng hai:
– Mùng một: Ngày vía của Tần Quảng Vương điện thứ nhất.
– Mùng hai: Ngày vía của Thổ điện chánh thần, tuyên thề nguyện vĩnh viễn không dám vu khống tam bảo (Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo).
– Mùng tám: Ngày vía Tống Đế Vương của điện thứ ba.
– Mười lăm: Ngày nhập Niết Bàn của Đức Phật Thích Ca.
– Mười tám: Ngày vía của Ngũ Quan Vương điện thứ tư.
– Mười chín: Ngày vía của Quan Thế Âm Bồ Tát, tuyên thề nguyện khuyến thiện, phóng sanh, kiêng sát sinh.
– Hai mươi mốt: Ngày vía của Phổ Hiền Bồ Tát.
Tháng ba:
– Mùng một: Ngày vía của Sở Giang Vương của điện thứ hai.
– Mùng tám: Ngày vía của Kha Thành Vương của điện thứ sáu.
– Hai mươi bảy: Ngày vía của Tần Sơn Vương của điện thứ bảy.
Tháng tư:
– Mùng một: Ngày vía của Đô Thị Vương của điện thứ tám.
– Mùng tám: Ngày vía của Phật Thích Ca tuyên thệ hành thiện, không làm chuyện ác.
– Mười lăm: Ngày vía của Bình Đẳng Vương của điện thứ chín, không nên chặt đốn cỏ cây.
– Mười bảy: Ngày vía của Luân Chuyển Vương của điện thứ mười.
Tháng năm:
– Mười một: Ngày vía của thiên hạ Đô Thành Vương. Tuyên thề nguyện khuyên người dừng đến miếu than phát lời nguyền rủa.
Tháng sáu:
– Mười ba: Ngày vía của hộ pháp Vĩ Đà Bồ Tát.
– Mười chín: Ngày thành đạo của Quan Thế Âm Bồ Tát, tuyên thề nguyện khuyên người niệm kinh Phật.
Tháng bảy:
– Mười ba: Ngày vía của Đại Thế Trí Bồ Tát.
– Ba mươi: Ngày vía của Địa Tạng Vương Bồ Tát, tuyên thề nguyện hỗ trợ siêu thoát cho tất cả các cô hồn thập phương.
Tháng tám:
– Mùng ba: Ngày vía của Thần Táo Quân, tuyên thề nguyện không sát sinh và khóc lóc, đùa giỡn, đánh lộn, vứt bỏ các đồ ăn dư, và không nấu nướng những sinh vật như con lươn, con cá trong bếp.
Tháng chín:
– Mùng chín: Ngày vía của Phong Đô Đại Đế, tuyên thề nguyện Đại Đế ân xá cho thế nhân đã hối cải hành thiện.
– Mười ba: Ngày vía của Bà Mẩn Tôn Thánh, tuyên thề nguyện khuyên người ăn chay niệm Phật.
Tháng mười một:
– Mười bảy: Ngày vía của Phật A Di Đà.
Tháng mười hai:
– Mùng tám: Ngày thành Phật của Phật Thích Ca Như Lai, tuyên thề nguyện bố thí cứu nạn chúng sanh.
– Hai mươi bốn: Ngày các hộ gia đình tuân mệnh đưa Thần Ông Táo Quân lên thiên đình, tuyên thề nguyện phải chú ý đến chuyện lửa cháy và thà để người hại mình, đừng để mình đi hại người ta.
Mùng một và rằm mười lăm mỗi tháng, đa số là ngày vía của các Phật Bồ Tát và các chư Thần Thánh, Thần tiên nên đều phải ăn
chay, hành thiện.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ nhất: Tần Quảng Vương
Số từ: 1326
Chức trách của Tần Quảng Vương là chuyên quản thọ mạng ngắn dài của người trên nhân gian, sổ sinh tử và phán quỷ phụ trách
cát hung. Bổn điện (tức chỗ làm việc) có vị trí dưới lòng biển, chỗ đá ngầm, trên đường Hắc Hoàng Tuyền ở phương Chánh Tây.
Tất cả người thiện sau khi mãn thọ sẽ có số được dẫn lên thiên đàng, hoặc được tiếp dẫn đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu như là nam hoặc nữ có công đức và tội lỗi, mỗi thứ đều nhau thì sau khi chết sẽ giao họ đến điện thứ mười, vẫn để cho họ được đầu thai lên trần gian. Có người nam chuyển hóa thành nữ, có người nữ chuyển hóa thành nam tùy theo các hành vi lúc họ đã làm khi còn sống trên trần gian, do nhân duyên nên có sự phân biệt khác nhau về việc nhận quả báo trên trần gian.
Tất cả những người lúc sống trên trần gian, làm việc ác nhiều, việc thiện ít sẽ được dẫn lên một đài cao ở trong điện, đài đó có tên là Nghiệt Kính Đài. Đài cao một trượng, có chiếc kính lớn bằng mười người ôm, kính treo bên hướng đông. Trên kính viết một hàng ngang bảy chữ: “Nghiệt Kính Đài Tiền Vô Hảo Nhân”. (Đứng trước nghiệt kính đài là người không tốt)
Những ma quỷ bị áp giải lên đài, soi vào kính, tự nhiên như đang xem lại bộ phim cuộc đời mình, quay lại những cảnh gian hiểm hung tàn cùng tất cả việc xấu đã làm của chính mình lúc sống trên trần gian và sau khi chết đi phải chịu những thảm cảnh trong địa ngục. Đến lúc này mới biết được: vạn lượng bạc vàng và các thứ tiền tài châu báu, các phước lợi danh tiếng, vật chất đều không thể đem xuống đây, chỉ có những nghiệp tội của chính mình đi theo đến địa ngục. Sau khi soi kiếng xong sẽ bị đưa đến điện thứ hai, bắt đầu phân giải phạm nhân đến các địa ngục; dùng các dụng cụ cực hình để những người làm việc ác phải chịu các loại hình phạt đau khổ. Việc kết tội chịu phạt chi tiết như sau:
(1): TỘI HÌNH CỦA NHỮNG KẺ TỰ SÁT
Nếu như có những người trên trần gian, không nghĩ về đạo lý thiên địa sinh nhân và ân dưỡng dục của mẹ cha mà được một thân thể là trân trọng biết bao. Ân trọng như núi, ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn tổ quốc, ơn Tam Bảo và các loại ân tình khác chưa báo đáp, chưa nhận được lời kêu gọi dưới địa đạo âm phủ thì tự nguyện quyên sinh, sử dụng các phương pháp như treo cổ, nhảy lầu, uống thuốc độc, nhảy sông… để tự tử. Ngoại trừ ra những người mà vì trung hiếu tiết nghĩa mà hy sinh tính mạng, sau khi chết có thể làm Thần, nếu như chỉ vì một oán hận nhỏ hoặc do làm những việc xấu mà phạm tội và bị phát giác ra mà đi tự tử, thì xem xét các tội hình của họ đã vi phạm, chưa dẫn đến phải kết tội chết; hoặc những kẻ muốn hãm hại và gây họa cho người khác dẫn đến từ giả ra thật mà chết đi.
Những tình huống như trên, Thần Môn, Thần Táo Quân sẽ áp giải họ đến bổn điện, giam giải đến nhà lao đói khát. Những ma quỷ tự sát này, mỗi khi đến ngày Tuất, Hợi hoàn toàn đau khổ giống như lúc chết, tất cả các cảnh tượng đau khổ, căn cứ như lúc chết ban đầu, tái xuất hiện lần nữa. Có một số là sau 70 ngày, có một số sau một đến hai năm, hồn phách của họ bị áp giải quay lại địa phương nơi họ tự sát, để họ đau khổ mà hối hận nhưng không được nhận các đồ cúng bái như cơm canh, giấy tiền và vàng bạc.
Nếu như những hồn ma tự sát mà biết sám hối, cam tâm ẩn mình, không xuất hiện hình ma để hù dọa người, cũng không tìm người thế thân loạn xạ. Như vậy, chờ đến lúc người mà do họ gây ra bị liên lụy đã thoát khỏi đau khổ thì Thần Môn, Thần Táo Quân sẽ áp giải những tội phạm ma đến bổn điện, rồi sẽ chuyển tiếp đến điện thứ hai, sau đó kiểm tra lại quá khứ và công đức của họ, gia tăng hình phạt, chuyển đến các điện kế tiếp, đưa đi các địa ngục chịu hình phạt.
Nếu như hồn ma đã hiện hồn ma quỷ hù dọa người và có tâm tư muốn tìm người thế thân hoặc dùng các ngôn ngữ hù dọa hoặc lừa gạt người, tuy chưa dẫn đến thiệt mạng người, cho dù trước đấy có làm việc thiện, nhưng địa ngục vẫn không cho phép miễn hoặc giảm các hình phạt cho họ nữa.
Nếu như sau khi tự tử chết đi, không ẩn giấu, lại hiện hình ma quỷ, hù dọa người dẫn đến thiệt mạng thì hồn ma đó lập tức bị lính quỷ nhe nanh mặt xanh móc đi đến các địa ngục chịu hình phạt đau khổ. Sau khi đủ 100 ngày, đưa đến A Tỳ đại địa ngục, vĩnh viễn bị dây xích xiềng và treo lên, không được siêu thoát.
(2): TỘI HÌNH KHI TỤNG KINH THIẾU SÓT CÂU TỪ
Tất cả những hòa thượng xuất gia, đạo sĩ, tiếp nhận tiền tài của người khác, thay người cúng bái tụng kinh, thiếu sót từ ngữ, hoặc số trang sẽ bị dẫn đến bổn điện, đưa họ vô “Sở Bù Kinh” – phòng bảo tồn sách kinh, trong một phòng tối tăm. Ngoài những từ ngữ mà họ đã tụng thiếu ra, tất cả đều sao chép, bù tụng rõ ràng. Nơi này có đốt đèn mà dầu dự trữ chỉ vài chục cân. Bấc đèn lại nhỏ như sợi chỉ, khi sáng khi tối, không thể một hơi có thể bù chép hoàn tất nhanh chóng được.
(3): TỘI HÌNH NGƯỜI TU HÀNH THAM ĐỒ CÚNG DƯỜNG
Nếu như một người xuất gia tu hành thanh tịnh hoặc đạo sĩ, nảy sinh lòng tham, cố cầu xin tiền cúng ngưỡng để hưởng thụ, cũng phải đến nơi này bù kinh.
(4): LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI THÀNH TÂM TU HÀNH, HOẰNG DƯƠNG PHẬT PHÁP
Một số thiện nam tín nữ tự tu hành tại gia, rất nhất tâm hành trì, bái niệm tất cả kinh, câu chú, hồng danh, dù có sai sót, nhưng trọng vào thành tâm mà không phải ở câu chữ. Những người có thành ý tu tâm này, Phật sẽ giáng chỉ, không cần bù kinh, mùng một của mỗi tháng, sẽ ghi lại công đức vào trong sổ tích thiện.
Người trên thế gian, nếu như vào mùng một tháng hai mỗi năm, thanh tịnh tu chay, quay mặt về hướng Tây, thành tâm thành ý lập lời thề nguyện: chuyện ác không làm, hành thiện tích đức, nhờ vào thiện niệm này mà miễn phải vào địa ngục. Nếu cố gắng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hồng danh, lập lời nguyện lớn, xin cầu kiếp này sẽ được đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, lại in ấn sách và truyền bá sách này giúp cho nhiều người hối cải hướng thiện, đồng thời hành thiện tích đức niệm Phật hồi hướng xin về Tây Phương Cực Lạc, như thế, người này sau khi mãn thọ chết đi, Thanh Y Đồng Tử lập tức đưa đến Tây Phương Cực Lạc, hoặc lập tức được Phật Bồ Tát tiếp nhận đến nơi cực lạc.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ hai: Sở Giang Vương
Số từ: 693
Sở Giang Vương chủ quản dưới đáy biển, dưới ngầm đá hướng chánh nam một đại địa ngục. Địa ngục này ngang dọc tám ngàn lý có tên “Đẳng Hoạt”. Ở dưới có xây mười sáu tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục cát gió đen.
2. Tiểu địa ngục đất phân và nước tiểu.
3. Tiểu địa ngục ngũ xiên.
4. Tiểu địa ngục đói ăn.
5. Tiểu địa ngục đói khát.
6. Tiểu địa ngục máu mủ.
7. Tiểu địa ngục búa đồng.
8. Tiểu địa ngục đa búa đồng.
9. Tiểu địa ngục vì thiết (mài cắt).
10. Tiểu địa ngục Bân Lượng (tên một đất nước cổ xưa).
11. Tiểu địa ngục gà.
12. Tiểu địa ngục sông đen.
13. Tiểu địa ngục búa chém cuốc xẻng.
14. Tiểu địa ngục kiếm đâm.
15. Tiểu địa ngục chó sói.
16. Tiểu địa ngục hàn lạnh.
Nếu như trên trần gian đã phạm vào những tội ác sau đây sẽ bị giam cầm trong các địa ngục này:
1. Lừa gạt thiếu niên nam nữ.
2. Gạt chiếm tài sản người khác.
3. Hủy hoại tổn thương mắt, tai và tay chân người khác.
4. Vì lợi ích riêng tư vô đạo đức giới thiệu y bác sĩ và thuốc thang trị bệnh không hiệu quả.
5. Người hầu hạ, đã đủ tuổi trưởng thành, không cho người nhà chuộc lại, không khôi phục tự do cho họ.
6. Trong lúc bàn luận chuyện hôn nhân hai gia đình, vì lợi ích tham tiền tài địa vị của đối phương, cố ý giấu tuổi tác thật của mình để lừa gạt hôn nhân.
7. Trước khi hai gia đình chưa thành hôn, đã xác định được bên nam hoặc bên nữ đã có sẵn bệnh tật, hoặc dâm tà, trộm cắp, danh phẩm thấp. Vì muốn hưởng tiền môi giới, gạt bỏ lương tâm, che giấu cho qua đi, không nói ra sự thật, ảnh hưởng đến hạnh phúc của đối phương.
Những sự kiện tội ác như trên, khảo sát xem đã từng phạm bao nhiêu tội, thời gian bao lâu, có gây ra tai họa hoặc vì chuyện mình gây ra dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nếu như có, sẽ điều những ma quỷ hung ác dữ tợn, đưa vô đại địa ngục chịu hình phạt đau khổ. Ngoài ra, cũng căn cứ theo tội vi phạm chuyện lớn hay nhỏ, đưa xuống tiểu địa ngục chịu hành hình. Những hình phạt như trên đã mãn kỳ, sẽ giao tiếp đến điện thứ ba gia tăng hình phạt, điều đi địa ngục của điện này mà chịu khổ.
Tất cả những thiện nam tín nữ trên thế gian, nếu như có những hành thiện sau đây:
1. Thường đưa nội dung của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thuyết giảng cho người khác biết được để cho họ biết thức tỉnh cảnh giác.
2. Hoặc đưa cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” in ấn biếu tặng mở rộng truyền lưu.
3. Thấy có người bệnh, giúp họ tìm y bác sĩ điều trị, hoặc biếu tặng thuốc tốt, hi vọng họ sớm được lành bệnh.
4. Khi gặp người nghèo khổ, khó khăn, nấu cơm cháo, mua thức ăn, mua thực phẩm cung cấp cho họ hoặc bố thí tiền bạc, để
cứu trợ cho nhiều người.
Những người có hành thiện như trên, nếu đồng thời biết hối cải sai lầm trước kia sẽ đặc biệt cho họ lấy công chuộc tội. Tới chuyển giao sẽ đưa đến điện thứ mười, số người này được đưa xuống đạo người chân quý để đầu thai.
Nếu như biết thương tiếc chúng sinh, không đem lòng sát hại sinh linh động vật; chỉ dẫn, khuyên bảo trẻ con không được giết hại các tiểu động vật như sâu bọ; vào ngày mùng một tháng ba lập lời thề nguyện, phải kiêng sát sinh, năng phóng sanh. Nếu thực hiện ba loại hành thiện như trên, sau khi chết, không cần phải vô tất cả các địa ngục, lập tức giao đến điện thứ mười, đưa đến nơi phước hậu đầu thai.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ ba: Tống Đế Vương
Số từ: 779
Tống Đế Vương là chủ quản dưới đáy biển đại dương, Hắc Thằng (dây đen) đại địa ngục dưới ngầm đá phía Đông Nam. Ngục rộng khoảng tám ngàn lý, cũng có thiết lập mười sáu tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục bả muối.
2. Tiểu địa ngục gông xiềng.
3. Tiểu địa ngục xuyên sườn.
4. Tiểu địa ngục đồng thiết tát mặt.
5. Tiểu địa ngục tát ngón.
6. Tiểu địa ngục kèm kẹp tim gan.
7. Tiểu địa ngục móc mắt.
8. Tiểu địa ngục lột da.
9. Tiểu địa ngục chặt chân.
10. Tiểu địa ngục nhổ móng tay chân.
11. Tiểu địa ngục hút máu.
12. Tiểu địa ngục treo ngược.
13. Tiểu địa ngục phân tách cốt.
14. Tiểu địa ngục dòi cắn.
15. Tiểu địa ngục tháo khớp.
16. Tiểu địa ngục khoét tim.
Lúc trên trần gian đã phạm những tội ác sau sẽ bị đưa vào địa ngục này:
1. Không công nhận ơn đức lãnh đạo, tổ quốc, chủ quản, sinh mạng, trọng yếu nhất là: những người làm quan có chức quyền, địa
vị, lương bổng của quốc gia nhưng lại bất trung hoặc có tâm bất trung phản bội, không chịu thương tiếc sinh mạng của cấp dưới.
2. Những người chấp hành công vụ khi thấy có lợi ích, đã quên đi đạo nghĩa và trách nhiệm, thiếu sót lòng yêu nước và thương dân.
3. Thân phận làm chồng mà không tròn đạo nghĩa, thân phận làm vợ mà lời nói và hành vi không hiền thuận.
4. Phận làm con nuôi, được ân huệ dưỡng dục lâu dài của cha mẹ nuôi, đến khi được tài sản, đã quên ơn bội nghĩa, quay lại vòng tay của cha mẹ ruột mình.
5. Người làm mướn, người làm công, hoặc nhận công việc được ủy thác nhưng không tròn nghĩa vụ mà làm phản lại.
6. Nhân viên và những sỹ quan binh lính, phản bội lại chủ quản hoặc trưởng quản.
7. Làm việc cho chủ mà cùng đồng nghiệp gạt tài của gia chủ.
8. Phạm tội vào tù mà vượt ngục trốn trại; khi những quân sĩ áp giải đã từng kí tên bảo lãnh cho những tội phạm bị áp giải đến nơi khác, giữa đường chạy trốn; dẫn đến liên lụy cho những sĩ quan và thân quyến của họ, trải qua thời gian dài, không sám hối với chủ quản, không bồi thường tổn thất. Dù sau này có làm việc thiện nhiều đi nữa, vẫn phải đưa vô địa ngục, chịu các hình phạt trong địa ngục.
9. Vì xem trọng phong thủy và năm tuổi, cản trở tang gia làm lễ tang và chôn cất cho thân nhân đã chết, tạo cho người chết không được nhập thổ an lành.
10. Lúc thi công đào hố hoặc xây mồ mả, khi nhìn thấy trong lòng đất có hòm và hài cốt, không lập tức tạm ngưng, xử lý hoàn tất, hoặc đổi huyệt khác, gây tổn hại đến hài cốt của họ.
11. Khi giúp người khác làm việc lại trộm cắp tiền tài, lương thực người khác.
12. Mồ mả của tổ tiên không đi cúng bái tảo mộ, làm cho thời gian dài bị mất tích.
13. Dụ dỗ người khác phạm pháp, gây thêm thị phi, gây xáo trộn, lừa gạt người, thưa kiện gây mất hòa khí của họ.
14. Che đậy danh thư để vu khống người khác.
15. Ghi chép thông cáo, văn chương bậy bạ, hủy hoại uy tín của người khác.
16. Làm giả chứng cứ hồi hôn để giúp họ từ hôn.
17. Làm những hợp đồng giao dịch hoặc văn thư giả mạo để lừa gạt tài sản và những khoản nợ, vật dụng của người khác.
18. Giả mạo chữ kí và làm dấu giả, văn thư giả để tăng giảm, chỉnh sửa sổ sách, gây cho người khác bị thiệt hại.
Những người phạm vào những tội như trên, tra xét phạm tội nặng hoặc nhẹ, trước tiên đưa cho quỷ mạnh lực đẩy họ vào đại địa ngục chịu tội rồi căn cứ theo những tội phạm có liên quan, đưa vào các tiểu địa ngục chịu tội. Khi đã mãn hạn thời gian, giao tiếp vào điện thứ tư, gia tăng hình phạt, thu vào địa ngục trả tội.
Người trên thế gian, nếu có thể vào ngày mùng tám tháng hai lập lời thề nguyện, vĩnh viễn không tái phạm. Sau khi chết cho phép họ được chuyển đến nơi phước lành khác, không cần phải vào địa ngục chịu tội.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ tư: Ngũ Quan Vương
Số từ: 737
Ngũ Quan Vương cai quản địa ngục “Chúng Hợp” dưới đáy biển, dưới ngầm đá bên hướng đông là hợp Đại Địa ngục. Địa ngục này rộng khoảng tám ngàn lý, cũng có thiết lập mười sáu tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục thác (sức nước chảy từ khe đá rất mạnh).
2. Tiểu địa ngục thiền (quỳ bái lâu dài).
3. Tiểu địa ngục nóng phỏng cháy da.
4. Tiểu địa ngục tát sưng mặt.
5. Tiểu địa ngục đứt gân gãy xương.
6. Tiểu địa ngục lạng da.
7. Tiểu địa ngục chiên da.
8. Tiểu địa ngục ong chích.
9. Tiểu địa ngục áo sắt.
10. Tiểu địa ngục bị gỗ, đá, đất ngói đè.
11. Tiểu địa ngục chọt mắt.
12. Tiểu địa ngục bụi bặm mịt mù.
13. Tiểu địa ngục nhét thuốc đắng.
14. Tiểu địa ngục bị dầu nhớt trơn té.
15. Tiểu địa ngục đâm miệng.
16. Tiểu địa ngục đá vụn đè thân.
Trên trần gian phạm sai những tội ác sau sẽ bị đưa vào địa ngục này:
1. Trốn thuế không trả.
2. Cố tình không thanh toán tiền thuê.
3. Bán hàng cân thiếu để lừa gạt người.
4. Làm thuốc giả để bán như thuốc thiệt, gây bệnh thêm cho người.
5. Gạo đã ẩm, mốc hoặc biến chất, vẫn bán cho người như gạo tốt.
6. Khi mua hàng sử dụng tiền giả, hoặc tiền dư lại không thối.
7. Bán một số hàng phi pháp để mê hoặc người khác như dầu thơm, phấn, tơ lụa, vv…
8. Khi đi đường hoặc đi bộ nhìn thấy người già yếu hoặc khuyết tật, phụ nữ có thai, không nhường đường nhường chỗ.
9. Chiếm đoạt một số tiền lời từ người kém văn hóa ở thôn quê, hoặc người già, trẻ thơ và những người buôn gánh bán bưng có thu nhập thấp.
10. Đảm nhận gửi dùm thư từ cho người khác mà không nhanh chóng giao cho đối phương, gây cho công việc bị chậm trễ.
11. Trộm cắp những đá gạch hoặc đèn đường chiếu sáng, tạo nguy hiểm cho giao thông.
12. Người nghèo không an phận đi theo chánh đạo mà có ý đồ tham của bất ngờ.
13. Người giàu có không thương tiếc giúp đỡ người già neo đơn, không cứu trợ người nghèo khổ.
14. Nếu như có người đến xin vay mượn tiền, lúc ban đầu đồng ý cho mượn nhưng đến lúc đó lại từ chối, làm cản trở đại sự của họ.
15. Khi thấy có người bị bệnh, trong nhà có thuốc trị bệnh, mà không đưa cho họ.
16. Có bài thuốc tốt trị bệnh hiệu quả mà cất giấu không truyền cho người khác.
17. Những thuốc đã sắc hoặc rác, máy móc hư, bỏ lộn xộn ngoài đường hoặc đường đi bộ, ảnh hưởng đến xe và người đi bộ.
18. Chăn nuôi lừa, ngựa và các loài thú khác, để cho phân thải bừa bãi ảnh hưởng đến môi trường và người đi bộ.
19. Có ruộng đất không trồng trọt, không cho người khác thuê để cho ruộng đất bị bỏ hoang.
20. Phá hoại tường nhà của người khác.
21. Sử dụng phép thuật và câu thần chú thúc đẩy ma quỷ đến quậy phá người.
22. Bịa ra những chuyện kinh dị để hù dọa người.
Những người phạm vào những tội như trên: tra xét phạm tội nặng hay nhẹ, trước tiên đưa cho lính quỷ đẩy họ vào các đại địa ngục chịu tội, rồi căn cứ theo những tội phạm có liên quan đưa vào các tiểu địa ngục chịu tội. Khi đã mãn thời hạn, giao tiếp vào điện thứ năm tra xét và khảo sát công quá khứ của họ.
Nếu như người trên thế gian có thể vào ngày mười tám tháng hai của mỗi năm, phát lời thề nguyện xin hối cải, không tái phạm nữa, có thể miễn vô bổn điện các địa ngục để chịu hình phạt. Giả sử sao chép và in ấn “Ngọc Lịch Bưu Phiêu” hoặc tiếp tục thêm vào các sự kiện về nhân quả báo ứng, dựa theo những quy định của các điện, khuyên người làm thiện, lưu truyền hậu thế, để người đọc biết hối cải, không tái phạm, như vậy tự nhiên sẽ có công đức.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ năm: Diêm La Thiên Tử
Số từ: 1886
Diêm La Thiên Tử nói: “Đúng ra tôi là quản lý điện thứ nhất, nhưng vì thương hại cho những oan hồn, đưa họ tái trở lại trần gian để minh oan, rửa sạch oán hờn cho nên bị giáng chức cai quản đại địa ngục “Khiếu Hoán” dưới đáy biển, quản lý 16 tiểu địa ngục”.
Tất cả những tội phạm ma quỷ khi bị giải đến bổn điện, đều đã trải qua chịu tội hình phạt trong các địa ngục một thời gian khá dài. Nếu như đi qua bốn điện trước mà xét duyệt không có những sai lầm lớn, mỗi người có thời hạn bảy ngày, áp giải đến bổn điện. Những người này, trong bổn điện cũng không xét ra tội tình gì, thân xác của họ trên trần thế sau năm ngày, bảy ngày cũng không bị phân hủy.
Những tội phạm ma quỷ này nói:” Trên trần gian còn có thiện duyên chưa hoàn thành”. Có người thưa phải tu sửa, xây tự viện, cầu, đường phố; mở rộng rạch, đào giếng; hoặc biên soạn các loại sách khuyên thiện và các việc thiện,v.v… chưa hoàn thành; hoặc là số lượng phóng sanh chưa trọn vẹn; chưa hoàn thành các việc chôn cất xây mộ chu đáo cho cha mẹ song thân; hoặc có ơn chưa báo đáp.
Vì những chuyện như trên, họ năn nỉ cho họ trở về trần gian đồng thời lập thề nguyện, nhất định sẽ làm người tốt. Diêm La Thiên Tử sau khi nghe xong và nói:” Các ngươi lúc còn trên trần gian đã làm nhiều chuyện ác, quỷ thần biết rất rõ ràng. Hiện tại như con thuyền đang đến giữa sông, phát hiện lỗ thủng, muốn vá thì đã chậm rồi. Cho thấy, dưới âm phủ nếu không có những hồn ma bị oan ức, thì trần gian sẽ ít đi người thù oán. Thật là khó có người trên trần gian muốn tu tâm tích đức”.
Những ma quỷ khi đến bổn điện, sau khi soi qua Nghiệt Kính, tự nhiên biết mình là loại ác. Không cần nói nhiều, sẽ do đầu trâu mặt ngưạ áp giải lên bậc cao mà nhìn lại quê hương! Sở dĩ xây bậc thềm cao, có tên gọi là Vọng Hương đài. Mặt bằng của Vọng Hương đài có hình nửa vòng tròn, chiếu về ba hướng Đông, Tây, Nam. Bậc cao đài này có mặt cong 81 lý, đằng sau cao đài bằng phẳng như dây cung. Hướng Bắc, dùng kiếm xây thành tường, đài cao 49 trượng. Dùng dao làm dốc núi, làm thành 63 bậc thang. Người lương thiện không cần lên cao đài này; người có nửa công, đã cho đi chuyển kiếp luân hồi.
Chỉ có những người làm nhiều chuyện ác mới cho lên đài này để nhìn thấy quê hương như đang ở trước mắt, tất cả mọi người trong gia đình, những câu nói và hành vi của người thân, đều có thể nhìn thấy và nghe thấy. Nhìn thấy tất cả già trẻ, đều không tuân thủ những lời căn dặn của mình trước khi chết, tất cả những quyết định của mình thay đổi hoàn toàn, những tài sản của mình phải rất khó khăn mới dành dụm được, bị dọn đi sạch hết; chồng thì đi cưới vợ bé, vợ thì bước nữa; ruộng đất, tài sản bị chia tán hết; những sổ sách trước đây giờ này bị tham ô không còn đồng nào; những khoản nợ người chết, nợ người sống khó mà qua được; người sống nợ ta, do mất hết bằng chứng, không còn gì để truy cứu; tất cả những sai lầm, tội ác, toàn kết tội hết cho những người đã chết; cha, mẹ, vợ, tất cả bà con họ hàng, đều bình luận oán trách mình; con cái người nào cũng mang lòng ích kỉ; mất đi lòng tin trong bạn bè; số bà con thân thiết, nể tình lúc mình còn sống, còn tưởng niệm khóc lóc mấy tiếng, khi quay đầu thì cười chế giễu.
Lúc còn sống làm những chuyện ác, từ từ xuất hiện ác báo; con trai do phạm tội bị bắt vào tù, hoặc gặp bạn xấu lôi kéo hư hỏng; con gái lại sanh bệnh tật, hoặc bị hãm hiếp; sự nghiệp đổ vỡ, nhà cửa đem cầm cố hoặc bán đi, những tài sản lớn lớn nhỏ nhỏ rồi sẽ tiêu tan sạch hết. Thực ra, làm ác bị ác báo, đâu chỉ có những vong hồn này? Có số người trên trần gian cũng chịu sự ác báo của chính mình.
Tất cả những tội phạm ma quỷ sau khi xem xong những tình cảnh như trên, bị áp giải vô trong đại địa ngục. Thần quỷ quan phán xem xét họ phạm vào những tội gì mới phân tán họ xuống các tiểu địa ngục để chịu hình phạt đau khổ. Trong tiểu địa ngục, các nơi có cài những bẫy nguy hiểm; sử dụng rắn đồng làm dây xích; những con chó sắt để làm đống đất. Đưa họ vô trói lại và đè cả tay chân, dùng thêm dao nhỏ, mổ xẻ bụng ra, móc trái tim ra, xẻ ra thành từng miếng, tim sẽ cho rắn ăn, ruột cho chó ăn. Cứ như vậy chịu cực hình đến hết thời hạn, ngưng đau đớn, thân xác khôi phục hoàn toàn thì được áp giải đến điện tiếp theo vào các địa ngục để chịu hình phạt:
1. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ và nghi ngờ nhân quả báo và không kính nể thần quỷ.
2. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ vì sát hại sinh mạng.
3. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ vì chưa hoàn thành việc thiện mà đi làm chuyện ác trước.
4. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ vì đã tiếp cận tà ác, hành vi sai lầm, quay ngược với lý chính, có tâm ích kỉ ham lợi.
5. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ vì ức hiếp người lương thiện sợ ác, có tâm tà ác muốn người khác mau chết.
6. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ người chỉ vì xem trọng danh lợi, thị phi để giáng họa cho người khác.
7. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ những kẻ hãm hiếp phụ nữ, mưu kế làm mất trinh tiết của phụ nữ, dụ dỗ phụ nữ để thỏa mãn lòng dâm tà của mình hoặc bất luận hại người hại vật, đi làm chuyện tà dâm với phụ nữ.
8. Tiểu địa ngục cắt bỏ kẻ có lòng dạ hại người lợi mình.
9. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ tham lam, không chịu bố thí cho những người nghèo khổ và cứu giúp cho những người hoạn nạn, sắp chết.
10. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ trộm cắp, cướp giật tài sản người khác, che giấu lương tâm, khất nợ không trả.
11. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ quên ơn bội nghĩa, lấy oán trả ơn.
12. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ háo thắng, ham cờ bạc làm liên lụy đến người khác.
13. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ vì danh lợi mà đi lừa gạt, dụ dỗ chúng sanh.
14. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ người tuy không đích thân gây ra tác hại cho người khác nhưng lại ác độc hướng dẫn người khác phạm tội.
15. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ ganh tị người lương thiện.
16. Tiểu địa ngục cắt bỏ lòng dạ kẻ không biết hối cải.
Lúc trên trần gian đã phạm những tội ác như sau sẽ bị đưa vào địa ngục này:
1. Không tin quả báo, cản trở người khác làm việc thiện.
2. Đi chùa thắp nhang cúng bái lại nói xấu chuyện người khác.
3. Thiêu hủy các văn chương sách thiện và các loại tiểu phẩm tuyên truyền cho việc thiện.
4. Lễ bái, cúng Phật mà dùng đồ hăng cay, không dùng đồ chay.
5. Ghét bỏ người ăn chay niệm Phật.
6. Vu khống người học Phật, tu đạo và người có đạo đức.
7. Người có văn hóa biết chữ nghĩa, nhưng lại không chịu nói về chuyện quả báo, nhân quả cho những người không biết chữ nghe.
8. Đào bới mồ mả của người khác, lấp lại để phi tang.
9. Phóng lửa thiêu hủy rừng cây, hoặc không phòng ngừa để gây cháy cho hàng xóm.
10. Dùng cung tên và súng bắn các loài thú.
11. Dụ dỗ hoặc cưỡng bức những người bệnh tật ốm yếu để thách đấu với họ, gây cho họ sự tự ti và bị tổn thương.
12. Cách tường rào mà vứt rác và đá gạch ra ngoài, làm người khác bị thương.
13. Dùng thuốc độc thả xuống hồ để bắt cá.
14. Đốt những vật liệu có hại (cao su, nhựa) rác ô nhiễm môi trường, hoặc đưa những vật dụng có hại (bình điện, túi nylon, kiếng, sơn, xăng, hóa chất), tùy tiện để bừa bãi hoặc đổ xuống sông hồ gây ô nhiễm vệ sinh môi trường.
15. Cài bẫy thú để săn bắt các loại chim, cá hoặc bỏ thuốc sát trùng vào thân cây.
16. Nhìn thấy có xác mèo chết hoặc các loài rắn độc, không xử lí đem chôn cho cẩn thận, dẫn đến có người moi ra, gây ô nhiễm môi trường truyền nhiễm dịch bệnh, hại người thiệt mạng.
17. Mùa đông lạnh đi đào bới khai hoang gây cho những sâu bọ bị cúm lạnh chết, hoặc phá tường sửa bếp dẫn đến người khác chịu đói rét.
18. Việc riêng tư, lại sử dụng danh nghĩa công để xử lý, dùng quyền thế để chiếm dụng tài sản, đất đai của người dân.
19. Vô cớ đắp giếng, đắp rạch, đóng đầu mối dẫn nước, dẫn đến loài người dùng đến nguồn nước bất tiện.
Nếu như vi phạm vào các tội như trên bị áp giải đến đài Vọng Hương, rồi đưa vô các đại địa ngục để chịu tội, sau khi chịu xong cực hình, bị móc tim ra rồi cho các tiểu địa ngục để chịu tội, mãn hạn chuyển đến điện thứ sáu, tra xét xem còn phạm tội khác không.
Người sống trên trần gian, không cần biết có hoặc không phạm những tội như trên, nhưng nếu có thể vào ngày mùng tám tháng giêng ăn chay, miệng lưỡi trong sạch, xin thề nguyện không tái phạm nữa, bổn điện có thể không chỉ miễn giảm hình phạt trong các địa ngục mà còn có thể cầu xin điện thứ sáu giảm nhẹ hình phạt.
Ngoại trừ những người sát sinh, dính líu tà đạo; làm việc bất chính; nam hãm hiếp sát hại phụ nữ; nữ ham tà dâm, làm tổn hại danh tiết người phụ nữ, vong ơn bội nghĩa; lúc còn sống lại đam mê không tỉnh ngộ, nhìn thấy các câu văn chương khuyên hành thiện, không chịu hối cải. Còn lại tất cả đều được miễn.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ sáu: Biện Thành Vương
Số từ: 516
Biện Thành Vương, cai quản một đại địa ngục Đại Khiếu Hoán dưới ngầm đá bên hướng bắc dưới đáy biển, rộng khoảng tám ngàn lý. Xung quanh bốn phía có thiết lập 16 tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục quỳ cát sắt.
2. Tiểu địa ngục ngâm mình dưới hố phân.
3. Tiểu địa ngục đẩy mài đến chảy máu.
4. Tiểu địa ngục kìm miệng ngậm kim.
5. Tiểu địa ngục cắt thận, chuột cắn.
6. Tiểu địa ngục lưới gai.
7. Tiểu địa ngục bầm thịt.
8. Tiểu địa ngục nứt thịt toét da.
9. Tiểu địa ngục lửa đốt cổ họng.
10. Tiểu địa ngục lò sấy thân xác.
11. Tiểu địa ngục phân uế dơ bẩn.
12. Tiểu địa ngục trâu ngựa đá đạp.
13. Tiểu địa ngục kim đâm.
14. Tiểu địa ngục đập đầu lột xác.
15. Tiểu địa ngục chém mình.
16. Tiểu địa ngục lột da.
Bị áp giải đến ngục này do phạm các tội sau đây:
1. Oán trời, oán đất, chửi mắng mặt trời, oán hận mặt trăng, ghét gió, nguyền rủa sét đánh, thích trời đẹp, chán trời mưa.
2. Đối mặt nơi hướng Bắc đại tiểu tiểu tiện, phóng uế, khóc lóc.
3. Trộm cắp đồ vật để trong tượng Phật.
4. Lấy cắp vàng bạc châu báu trên tượng Phật.
5. Không tôn trọng, gọi hồng danh tên Thần Thánh.
6. Không tôn kính những sách, kinh Phật.
7. Tích tụ đồ dơ và vứt rác tại những nơi miếu, chùa.
8. Trong nhà có thờ tượng Phật nhưng lại không dọn dẹp sạch sẽ trong nhà bếp, không kiêng ăn thịt bò, thịt chó và thịt rắn, thịt rùa.
9. Trong nhà tồn trữ các đồ vật sách truyện đồi bại tà dâm. Thiêu hủy kinh sách, thiện thư.
10. Vẽ và may thêu, điêu khắc những hình Phật và các Thánh Mẫu và Bồ Tát trên tất cả các nơi như giường, tủ, bàn ghế, quần áo.
11. Thêu hình long, phụng trên quần áo.
12. Lãng phí hao tốn ngũ cốc và lương thực.
13. Tích trữ lương thực và gạo, chờ thời cơ lên giá.
Nếu như vi phạm vào những tội như trên, áp giải đưa vô đại địa ngục, tra xét tất cả các tội đã vi phạm, phân giải đến các tiểu địa ngục chịu tội. Sau khi mãn hạn chuyển tiếp đến điện thứ bảy, kiểm tra xem có phạm những tội ác do điện này quản lý trừng phạt.
Người trên thế gian, nếu như có thể vào ngày mùng tám tháng ba ăn chay, thanh tịnh khẩu nghiệp, phát lời thề nguyện: sau này sẽ không tái phạm những lỗi lầm như trên và có thể không quan hệ chuyện phòng the vào những ngày rằm mười bốn, mười năm, mười sáu tháng năm và mùng mười tháng mười âm lịch; đồng thời, thề nguyện sau này khuyên giải người khác giữ giới. Như vậy, có thể cho phép được miễn chịu các loại hình phạt trong tiểu địa ngục.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ bảy: Thái Sơn Vương
Số từ: 1758
Thái Sơn Vương cai quản địa ngục dưới đáy biển bên hướng Tây Bắc có tên là Nhiệt Não đại địa ngục. Địa ngục này có diện tích khoảng tám ngàn lý, cũng có thiết lập 16 tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục đập chùy chảy máu mũi.
2. Tiểu địa ngục kẹp đùi.
3. Tiểu địa ngục mổ lồng ngực.
4. Tiểu địa ngục mài dũa.
5. Tiểu địa ngục cạp xương.
6. Tiểu địa ngục bị đá chọi.
7. Tiểu địa ngục tra đánh.
8. Tiểu địa ngục bị chó cắn.
9. Tiểu địa ngục lột da cho heo kéo đi.
10. Tiểu địa ngục bị các loại thú cắn.
11. Tiểu địa ngục bị treo lơ lửng.
12. Tiểu địa ngục móc lưỡi.
13. Tiểu địa ngục móc ruột.
14. Tiểu địa ngục bị thú dữ cắn nát.
15. Tiểu địa ngục đốt ngón tay.
16. Tiểu địa ngục dầu sôi.
Tất cả những người sống trên trần gian đã từng phạm những tội sau đây, bị đưa xuống địa ngục này chịu cực hình:
1. Ăn thai nhi và các đồ vật để cường dương kích dục khiêu dâm để hãm hại người.
2. Nghiện rượu gây ra những chuyện suy đồi đạo lý, gây rối lung tung để cho người thân phải bận tâm.
3. Lãng phí không tiết kiệm, tiêu xài vô cớ làm cho những tài sản và sự nghiệp của người đời trước để lại bị tiêu tan hết.
4. Sử dụng các kiểu ăn chặn như lừa gạt, cướp giật tài sản của người khác.
5. Trộm cắp tài sản châu báu của người chết cất chôn trong hòm.
6. Trộm cắp xác và xương người chết để làm thuốc.
7. Chia cách những người yêu thương nhau, khiến họ nhớ nhung đau khổ.
8. Ghét con nuôi, bán cho người khác để làm đầy tớ và vợ bé, hủy hoại một đời hạnh phúc của họ.
9. Nghe lời vợ sau hành hạ hoặc làm chết con riêng của mình.
10. Rủ rê bạn bè cờ bạc, thua bạc, tán gia bại sản tạo cho gia đình nghèo khổ.
11. Phận làm thầy cô, không nghiêm khắc giáo dục học sinh cho tốt, gây cản trở đến tương lai của các em học sinh.
12. Không phân tích sự việc nguyên do nặng hay nhẹ đối với những học sinh, người mướn, người hầu đã mạnh tay chửi mắng đánh đập họ tàn nhẫn, tạo cho họ ôm hận, ức chế thành bệnh nặng, đau khổ suốt đời.
13. Cậy có quyền thế hùng hậu, mắng chửi ô nhục người cùng xóm cùng quê.
14. Không vâng lời, ngỗ nghịch trái đạo lý, làm cho trưởng bối, người thân tủi nhục đau khổ.
15. Ưa thích nói những chuyện tà ác và dựng chuyện thị phi, ly tán người khác dẫn đến hai bên ẩu đả, từ đó gây ra nhiều chuyện phiền phức.
Những tội ác như trên sẽ điều tra rõ ràng theo từng tội, đưa xuống đại địa ngục trị tội xong rồi sẽ áp giải đến các tiểu địa ngục có liên quan đi chịu cực hình. Mãn thời hạn, chuyển đến điện thứ tám, đưa vào trong địa ngục, điều tra xem có phạm vào những tội thuộc địa ngục này để trị tội.
Trần gian dùng thuốc, có loại thuốc nào mà không thể lấy để trị bệnh được? Đó là phải giết chết những sinh mạng cầm thú để làm thuốc trị bệnh, trái ngược thiên lý hiếu sanh của trời; ăn những thứ như nhau thai nhi, cuống rốn, v.v… Vậy có phải là còn ác tâm hơn không. Khi đã ăn những thứ dơ bẩn này, tuy trên thế gian có đa phương hành thiện, tụng kinh, không chỉ không có công quả mà còn bị tội nặng hơn. Diêm vương tuyệt đối không tha cho những hạng người như thế, khi những người có những thói quen đó. Sau khi nghe được những lời khuyên trên phải nhanh chóng tu sửa sám hối.
Chỉ có thể mua hàng vạn sinh vật trở lên để phóng sanh hoặc từ nay về sau không sát sinh, mỗi buổi sáng súc miệng xong phải niệm kinh Phật, lúc hấp hối mới có Tịnh Nghiệt sứ giả, lấy đèn chiếu sáng rọi vào để loại bỏ ra những mùi hôi thối và dơ bẩn trong mình; như thế, mới tiêu hết được những tội ác kể trên.
Trộm cắp những hài cốt của những người bị lửa thiêu chết và da thịt của các thai nhi khi phá thai bỏ ra để sử dụng chế tạo tạo thành thuốc; trộm cắp những đầu lâu của xác chết, hài cốt bán cho các thầy đông y để làm thuốc. Những hạng người như vậy, lúc còn sống, dù có làm qua biết bao công quả cho trần gian, sau khi chết bị móc đến âm phủ. Tất cả những công quả họ làm, chỉ có thể gắng chịu một phần tội lỗi khác của họ. Còn về lỗi này, Diêm Vương sẽ không dễ dàng bỏ qua hoặc miễn giảm cho họ, lập tức đưa qua vô đại địa ngục chịu các cực hình; hoặc tiếp tục chuyển đến các tiểu địa ngục có liên quan. Sau đó chuyển tiếp đến điện thứ mười, khi đến lúc chuyển đi đầu thai, sẽ bị cắt đi các loại như tai, mắt, ngón tay, môi miệng, lỗ mũi. v.v…, để cho họ bị thiếu hụt một phần trên cơ thể, là sự trả báo về tội ác họ đã từng làm.
Nếu như người trên trần gian đã phạm vào những tội như trên, lập tức chịu sám hối, không tái phạm nữa; và nếu như gặp những người nghèo khổ có thân nhân chết không tiền chôn cất hoặc hỏa táng, mình có thể phát tâm mua hòm hoặc khuyên giải người thân của mình giúp họ khai niệm và an táng, làm những công quả như vậy nhiều lần. Vì thế, Thần Táo quân của nhà mình sẽ điểm một chấm đen trên bảng của quỷ móc hồn, có thể miễn chịu quả báo như trên.
Trên trần gian, có những nơi đôi khi bị thiên tai và thu hoạch ngũ cốc thất mùa, một số người do đói mà chết đi. Có một số thương gia vô lương tâm, trong lúc đói khát chưa chết đang hấp hối mà cắt thịt của họ làm thành nhân bánh bao và các loại bánh bột để bán lại cho người khác. Như vậy rất ác tâm, những thương gia này, khi chết bị áp giải, Diêm Vương lập tức ra lệnh cho quỷ phạm áp giải họ đến các địa ngục, tăng thêm tội hình, trừng phạt thêm 49 ngày, chịu các loại hình dao búa. Sau đó thông báo cho Diêm Vương điện thứ mười ghi trong sổ sách, chuyển cho Diêm Vương điện thứ nhất, liệt kê thêm vào trong sổ sống chết, kiếp sau nếu được luân hồi vào đạo làm người, cho họ đầu thai vào những nơi đói nghèo và bị đói đến chết. Nếu chuyển làm đạo súc sinh, dù có thấy những cơm thừa dư hoặc những đồ ăn vứt ra vẫn không ăn nổi. Trả báo họ để bị đói đến chết.
Những hồn ma tội phạm này, ngoại trừ không cho phép họ lấy những công quả đã làm để bù trừ vẫn không cách nào thoát khỏi sự trả báo bị đói khát, tất cả những người ăn nhầm những bánh bao nhân thịt người mà sau khi hết cảnh đói khát lại vẫn cứ ăn thì kiếp sau khi chuyển luân hồi vào đạo làm người hoặc súc sinh, sẽ bị quả báo là thường đau cổ họng, đau bụng, dù bụng có đói cơm nước vẫn khó nuốt vào, để phải chịu ác báo đói khát đến chết.
Những người đã phạm vào những tội lỗi trên, đến những nơi vụ mùa thất thu dân tình đói khát, quyên góp tiền để cứu trợ hoặc bố thí cơm cháo cho người đói nghèo, hoặc đem một phần gạo chia sẻ cho người nghèo khổ; hoặc nấu canh đậu và canh gừng đặt ở bên đường cứu tế người bị thiên tai qua cơn đói khát. Nếu thật sự làm được công quả đại chúng lớn như vậy, không chỉ có thể xóa hết những tội lỗi như trên, mà còn có thể tăng thêm phước lộc thiện báo cho kiếp này, phước lộc và trường thọ cho cả kiếp sau.
Những phương pháp cho ba điều phạm tội và trừ tội như trên, trong đó có hai điều đã được văn võ phán quan của bổn điện chọn ra hai điều và do sứ giả của đại địa ngục chọn ra một điều cùng với các phán quan và các quan viên có liên quan cùng đem vào tâu với Ngọc Hoàng Đại Đế. Sau khi được phê duyệt cùng ghi vào trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Đồng thời phát lệnh thông qua trong địa ngục để các phán quan làm căn cứ thăng chức, ban thưởng cho các phán quan, sử quan trong địa ngục.
Tất cả những chi tiết gây nghiệp và tội trên trần gian, các thần linh cũng đã họp bàn, định sẵn các điều khoản luật định đối với việc quả báo. Ngoài ra, nếu phạm các tội liên quan đến chính trị, quân đội hoặc tham ô tư lợi tương đối nhỏ mà không có trong luật âm phủ quy định thì tất cả sẽ trị tội theo luật pháp đương thời tại các quốc gia trên trần thế.
Trong quá trình trị tội, nếu có người muốn trốn tránh truy cứu, đào tẩu hoặc vượt ngục dẫn đến liên lụy cho người khác sẽ lập tức thông báo cho các quỷ phán, được sử dụng thần thông để truy tìm và đưa ra trừng trị. Tất cả thần linh đều phải tuân thủ chấp hành những điều trên.
Các nam nữ trên trần gian, nếu có thể vào ngày 27 tháng ba âm lịch ăn chay, thanh tịnh khẩu nghiệp, quay mặt ra hướng Bắc phát lời thề xin sám hối và sẽ đưa cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” in tặng cho người khác, khuyên hóa người người hành thiện thì cho phép họ được miễn các hình phạt trong địa ngục này.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ tám: Đô Thị Vương
Số từ: 674
Đô Thị Vương cai quản địa ngục Đại Nhiệt Não ở phương chính Tây dưới đáy biển. Địa ngục này rộng tám ngàn lý, cũng có thiết lập 16 tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục bị xe đụng.
2. Tiểu địa ngục chảo buồn nôn.
3. Tiểu địa ngục cán nát.
4. Tiểu địa ngục bế tắc lỗ.
5. Tiểu địa ngục cắt nát.
6. Tiểu địa ngục nhốt nhà cầu.
7. Tiểu địa ngục gãy chân.
8. Tiểu địa ngục chiên nội tạng.
9. Tiểu địa ngục đập thân xác.
10. Tiểu địa ngục móc ruột.
11. Tiểu địa ngục nấu cháy người.
12. Tiểu địa ngục mổ xẻ lồng ngực.
13. Tiểu địa ngục bị dao chém.
14. Tiểu địa ngục tan xác mất đầu.
15. Tiểu địa ngục mổ xẻ chém giết.
16. Tiểu địa ngục bị chĩa đồng đâm.
Những người trên trần gian mà phạm vào những tội sau đây sẽ bị đưa xuống địa ngục này trị tội:
Không hành hiếu đạo, không nuôi dưỡng các ông bà cha mẹ khi họ còn sống, làm cho họ phải sống một cuộc sống lo âu và sau khi cha mẹ mất không an táng cho đàng hoàng. Làm cho vong hồn của song thân bất an, nếu không nhanh chóng hối cải tiền sự đã gây, để một thời gian lâu, ông Thần Táo Quân tại nhà sẽ ghi lại tên tuổi của những nam nữ này, trình bày lên cho Ngọc Hoàng Đại Đế sẽ giảm bớt những tiền tài phước lộc của họ đang có và sẽ lệnh cho các tà ma nhập thân quậy phá, gây khó khăn trong công việc làm ăn của họ.
Sau khi chết phải chịu qua những cực hình của các điện trước xong, sẽ áp giải đến bổn điện: đầu trâu mặt ngựa sẽ đưa họ đến đại địa ngục chịu cực hình rồi sẽ đưa tiếp xuống các tiểu địa ngục chịu tội. Khi chịu xong các cực hình, áp giải vào trong phòng chuyển kiếp của điện thứ mười, thay hình đổi mặt, vĩnh viễn đầu thai vào đạo làm súc vật.
Nếu như những thiện nam tín nữ trên trần gian, tuân thủ “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nhanh chóng hối cải chuyện bất hiếu với cha mẹ và những hành vi không kính trọng người lớn tuổi, vào ngày mùng một tháng tư âm lịch, xin thề hối cải, không tái phạm vào bất cứ ngày nào tháng nào, buổi sáng hoặc buổi tối mặt hướng về phía ông Thần Táo Quân lập lời thề: “Từ nay về sau, biết sửa lỗi”. Bất kể lúc nào cũng không tái phạm nữa. Đến lúc sắp chết, ông Thần Táo Quân sẽ đưa ra ba bậc để xử lý: có cái thì ghi một chữ “Tôn”, có cái thì ghi chữ “Thuận”, còn cái thì ghi chữ “Cải” trên trán, giao cho các lính quỷ đến nhà để áp giải vào điện thứ nhất, theo thứ tự từng đợt đến điện thứ bảy.
Cho dù, có người đã phạm vào tội hình khác của các điện cũng sẽ được giảm đi một nửa tội hình và không cần phải đến bổn điện chịu tội, có thể được chuyển ngay đến điện thứ chín, khi tra xét thật sự không có phạm vào tội đầu độc người hoặc phóng lửa đốt nhà thì có thể chuyển tiếp vào điện thứ mười, phân biệt để chia ra đầu thai đến đạo làm người.
Ngọc Hoàng Đại Đế còn đặc biệt gia ân phê chuẩn: “Nếu như có thể sao chép in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giúp cho người thế gian hiểu biết được mà hối cải, sửa chữa lỗi lầm, sẽ ân xá hết các cực hình từ điện thứ nhất đến điện thứ tám, nếu như họ không có phạm vào các tội hình trong điện thứ chín, có thể lập tức đưa đến điện thứ mười, đến những điểm có phước lành để đầu thai làm người”.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ chín: Bình Đẳng Vương
Số từ: 916
Bình Đẳng Vương cai quản ngục A Tỳ hướng Tây Nam, có một đại địa ngục. Địa ngục này rộng tám ngàn lý, rào bằng lưới sắt tầng tầng lớp lớp, chia ra thành 16 tiểu địa ngục:
1. Tiểu địa ngục thiêu xác gõ xương.
2. Tiểu địa ngục rút gân đập xương.
3. Tiểu địa ngục cho quạ ăn tim gan.
4. Tiểu địa ngục cho chó cắn ruột phổi.
5. Tiểu địa ngục ngâm mình trong dầu nóng.
6. Tiểu địa ngục đập não le lưỡi.
7. Tiểu địa ngục móc não.
8. Tiểu địa ngục hấp não móc lưỡi.
9. Tiểu địa ngục làm tan xác.
10. Tiểu địa ngục dùng gỗ kẹp tay chân.
11. Tiểu địa ngục mài nát tim.
12. Tiểu địa ngục bị nước sôi tạt vào người.
13. Tiểu địa ngục bị ong chích.
14. Tiểu địa ngục muỗi đốt tan xác.
15. Tiểu địa ngục sâu bọ dậm lên người.
16. Tiểu địa ngục bị rắn độc xuyên thịt.
Những người trên trần gian mà phạm vào những tội sau đây sẽ bị đưa xuống địa ngục này trị tội:
1. Vi phạm điều lệ quy định của Pháp luật quốc gia, phải chịu các loại ác báo như: chém đầu, giam tù, xử bắn. Những quỷ tù này đã phải chịu trước những cực hình tại các điện trước xong, mới áp giải đến bổn điện chịu cực hình.
2. Phóng lửa đốt cháy nhà cửa, hủy hoại tài sản tính mạng của người khác.
3. Chế tạo các loại thuốc có chất gây nghiện và kích thích (như thuốc phiện, thuốc lắc, heroin, ma túy, v.v…).
4. Chuyên phá thai cho người khác.
5. Người dụ dỗ trẻ thành niên vào con đường tội lỗi hoặc hiếp dâm thiếu nữ chưa thành niên.
6. Vẽ những tranh họa tà dâm, sách, quay những phim khiêu dâm. Gây cho tâm hồn người khác bị xáo trộn, dẫn đến không có tâm trí học tập, người tu hành mất lòng từ bi, hoặc gây cho người bị bệnh, không yên phận đi theo con đường chánh đạo.
7. Bào chế những thuốc gây hại cho xã hội như thuốc mê, các loại thuốc gây mất cảm giác, không tự chủ được năng lực trí nhớ và thuốc phá thai.
Nếu như những người phạm vào những tội hình trên, từ khi đọc và nghe nội dung trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có thể lập tức tiêu hủy sách tà dâm, hủy bỏ bản in, không in ấn nữa; đưa phương pháp bào chế thuốc nghiêm cấm hủy bỏ và đình chỉ sản xuất, khống chế được ý tưởng tà dâm, không truyền bá những việc tà dâm như trên. Nếu làm được như vậy, sẽ được miễn chịu các loại cực hình, nhanh chóng được đưa đến điện thứ mười, phái đi đầu thai vào đạo làm người.
Ngược lại, nếu sau khi nghe và biết được nội dung chuyện báo ứng trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” vẫn phạm những tội hình như trên, tội sẽ không được khoan dung mà còn phải chịu cực hình bắt đầu từ điện thứ hai cho đến bổn điện. Tăng nặng hình phạt, ví dụ như: đốt nóng những cây trụ sắt ghép vào tim gan, dùng dây xích khóa tay chân, ôm vào cột nóng để nướng tan dần những khái niệm tà dâm.
Sau khi họ đã chịu xong những cực hình của các điện, đưa tiếp xuống đại địa ngục chịu tiếp cực hình như: dao xuyên tim gan, ngực móc nội tạng ra để cho họ đau đớn vô hạn. Đến khi người bị hại được trở lại bình thường và tự tay hủy hết các loại sách, tranh vẽ, thuốc phiện thì mới rời khỏi đại địa ngục, áp giải đến điện thứ mười, đầu thai lại làm người.
Nếu người trên thế gian không phạm vào các tội ác như trên, có thể vào những ngày như mùng tám tháng tư âm lịch và mùng một, rằm mười lăm mỗi tháng ăn chay và tu niệm tam nghiệp như: tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý. Lập lời thề nguyện thu gom các loại sách, tranh vẽ, phim truyện tà dâm để thiêu hủy hoặc sao chép, in ấn truyền bá cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này để khuyên giải cho tất cả mọi người. Như thế, khi lúc hấp hối, ông Thần Táo Quân sẽ đánh hai chữ “chấp hành” lên trán. Thì từ điện thứ hai cho đến bổn điện, dù có vi phạm các tội hình nhưng do có làm qua công đức như trên, đều được giảm nhẹ tội hình.
Những người giàu và có quyền chức nếu như nghiêm khắc xử tội đối với những kẻ phóng hỏa; tịch thu các loại sách, phim truyện tà dâm và các hàng nghiêm cấm, công khai thiêu hủy, ngăn chặn hàng cấm có tính chất hủy hoại tính mạng thì con cháu của họ trong kiếp này sẽ được phù hộ, sự nghiệp thịnh vượng, thông minh khỏe mạnh, phú quý song toàn.
Những người già yếu bệnh tật, nghèo khổ, cô độc, nếu chịu hết mình nhờ người khác in ấn, sao chép, tuyên giảng cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để khuyên giải người trần gian, sau khi chết cho phép họ được lập tức chuyển đến điện thứ mười, phát đi nơi phước lành để đầu thai.
—————-           
Chương 3 – Điện thứ mười: Chuyển Luân Vương
Số từ: 1626
Luân Chuyển Vương phụ trách điện thứ mười, nằm ngoài biển bên hướng chính đông đối mặt với thế gian ngũ trược. Trong điện có 6 cây cầu: Vàng, Bạc, Ngọc, Đá, Gỗ và Nại Hà chuyên phụ trách phân loại những quỷ tù bị áp giải đến đây, quyết định phước tội lớn nhỏ để chuyển đến nơi thích hợp đầu thai. Cho họ đầu thai thành nam hoặc nữ, trường thọ hoặc đoản thọ, được đầu thai nơi giàu sang hay nghèo khổ.
Tất cả các trường hợp đầu thai đều được ghi lại chi tiết, mỗi tháng tổng hợp lại, thông báo đến điện thứ nhất, sau khi đăng ký, trình lên cho Phong Đô Đại Đế. Căn cứ pháp luật dưới Diêm phủ, dựa theo tình hình tội và phước lớn nhỏ của họ, lần lượt đầu thai, đặt ra phương thức đầu thai như: sanh bằng thai, bằng trứng, sanh ướt, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân các loại v.v…
Các loại sinh linh, sau khi chết sẽ thành ma, căn cứ theo tội và phước lớn nhỏ của họ, theo lượt mà đầu thai. Có loại một năm hoặc một quý thì chết; có loại sáng sinh chiều chết, theo tội mà biến đổi lập đi lập lại. Không cần biết chết thế nào, một khi đã vào cõi luân hồi, tất cả đưa vào trong phòng chuyển kiếp, khảo tra, tính toán tội tình của họ đã vi phạm trên trần gian, phân phát đi các nơi để chịu báo ứng. Đến lúc tuổi cuối đời, thu gom tình hình quả báo, đưa đến Phong Đô Diêm phủ để thụ án.
Một số người hay tụng Kinh trên trần gian hoặc các tăng ni đạo sĩ siêng năng tụng Kinh, phạm tội bị giải xuống Diêm phủ, do có tụng thông dị kinh, chú ngôn, cho nên các địa ngục không được dùng cực hình để họ chịu khổ báo, sẽ áp giải họ đến bổn điện. Dựa theo tên tuổi, ghi rõ tội hình đã phạm, sẽ vẽ ra bản mặt xưa của họ, căn cứ theo cuốn sổ có tên gọi là “Sổ Đọa Lạc” áp giải giao cho Tôn Thần Bà Mẩn lên đài Quên Lãng, cho họ uống canh mê hồn, đưa cho lính quỷ đem đi đầu thai thành người, trong lúc để họ chuyển kiếp, chết ngay trong bụng mẹ, hoặc chết sau khi mới sinh ra một đến hai ngày, hoặc mười ngày, một trăm ngày, một năm, hai năm, cho chết nhanh chóng để cho họ mau quên hết lúc trên trần gian đã học các nho ngữ, đạo của tôn giáo và thông kinh. Sau đó, đưa tiếp họ cho các lính quỷ hung dữ, đưa họ trở về với các địa ngục, thẩm tra những chuyện ác mà kiếp trước họ đã làm, bổ sung thêm khổ báo.
Tất cả những hồn ma có công ít mà lỗi lầm nhiều và đã đủ kì hạn chịu tội. Lập tức được cân đối công và tội của họ, xác định phước báo của kiếp sau. Để họ đi đầu thai: có số kiếp sau sẽ được xinh đẹp, có số xấu xí, có số đời sống an vui, có số nghèo khổ. Đã xác định xong địa điểm loại hình nào phú quý giàu sang hoặc gia đình nghèo khổ để đầu thai, sau đó đưa đến bậc đài Quên Lãng của Bà Mẩn để uống canh mê hồn rồi đi đầu thai… Khi điểm danh tại bổn điện chuẩn bị đưa đi đầu thai thành người, thường có những phụ nữ khóc lóc năn nỉ cầu xin thà làm quỷ đói chứ không muốn làm người, vì còn thù oán chưa trả báo.
Sau khi tra hỏi tội hình phát hiện: đa số là những cô gái chưa có gia đình hoặc một số cô gái có tính giữ trinh tiết, đã cho số thanh thiếu niên bất lương không học, trung học sinh, hoặc đại học thương yêu, ham sắc đẹp và muốn lừa gạt tiền tài của họ. Đã dùng đủ mưu kế và thủ đoạn để chiếm đoạt. Có số đã nói tôi chưa vợ, hoặc đã ly dị vợ, tôi nhất định sẽ cưới cô làm vợ; có số thì hứa sẽ nuôi dưỡng song thân già yếu của họ hoặc hứa sẽ nuôi dưỡng con của chồng đời trước. Nói chung, người xưa có kiểu cách lừa gạt của người xưa, người hiện đại cũng có kiểu của người hiện đại. Đều nói lời ngọt ngào để dụ dỗ tình cảm của phái nữ, tạo cho họ dâng hiến cả đời và nghe theo yêu cầu của đàn ông đó.
Sau khi họ đã trao thân, họ đùa bỡn một thời gian, nảy sinh sự nhàm chán sẽ bỏ quên chuyện hôn nhân như đã hứa hẹn, không chịu thực hiện lời hứa. Còn nói ngược nói xuôi tung tin bậy bạ, làm mất uy tín của họ, làm cho cha mẹ anh chị em bạn bè bên nhà gái biết được dẫn đến bị người xung quanh khinh thường, trách móc. Không nơi để giải oan khuất, dẫn đến phải tự vẫn hoặc do uất ức thành bệnh mà chết đi. Sau khi chết xuống âm phủ mới biết được, hắn là một tên phản bội lừa gạt. Lần này lại được thi đậu trúng tuyển, cho nên căm hận trong lòng, mới cầu xin ở lại để bắt hắn đền mạng.
Sau khi Diêm Vương điều tra, quả nhiên đúng sự thật nhưng do thọ dương của hắn chưa hết. Đồng thời phước đức của tổ tiên để lại cho hắn lại chưa hưởng hết. Bổn điện sẽ cho phép và cấp tạm giấy thông hành của Diêm phủ cho ma nữ này đi đến chỗ thi tuyển của hắn, cản trở quấy rối việc thi cử của hắn hoặc trao đổi danh sách trúng tuyển, chờ khi hắn đến ngày cuối đời sẽ cùng dẫn đến Diêm phủ tra hỏi, móc hồn đến điện thứ nhất phán xử tội tình nặng nhẹ.
Người trên thế gian, nếu có thể vào ngày mười bảy tháng tư, lập lời thề nguyện, tuân thủ nội dung của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, cảnh giác làm việc và thường đưa nội dung trên giới thiệu cho bà con thân thiết, khi kiếp sau đầu thai sẽ không bị người đời khinh bỉ, hình sự về các tai nạn lửa nước…
Địa điểm của Sở Chuyển Kiếp, có diện tích rộng một trăm mười một ngàn hai trăm dặm (111. 200), xung quanh đều có rào sắt. Trong đó chia ra thành 81 khu, mỗi khu đều có đình đài và Phán Quan và Sứ Giả ghi chép án sự. Ngoài hàng rào, có những đường nhỏ riêng biệt, tổng cộng có mười tám ngàn đường nhỏ, đường quanh co thông đến tứ đại bộ châu. Trên đường tối đến nỗi giơ tay mà không thấy được năm ngón, từ quỷ chết đến đầu thai đều phải đi qua con đường này. Nhưng từ ngoài nhìn vào thì trong như thủy tinh, tất cả sự việc không thể che giấu được. Phán quan sẽ phái sứ giả, lính quỷ thay phiên nhau canh gác, các ma quỷ ra vô đều hiện diện mạo lúc đầu, rất dễ phân biệt.
Tất cả những sứ giả quán xuyến công việc này đều là những người lúc trên trần gian sống có hiếu với cha mẹ và thương yêu trưởng bối và bà con thân thích, làm việc công khai. Đồng thời là người kiêng việc sát sinh, giữ giới, năng làm việc công đức, sau khi chết đưa vô xứ sở này, phụ trách quản lý tra xét các việc luân hồi, chuyển kiếp. Sau khi làm việc này hết năm năm, nếu như không có sai sót thì sẽ cho thăng quan tiến chức để ban thưởng. Nếu như làm việc lười biếng, chuyên quyền tự phụ, tuỳ tiện xử lý hoặc lạm dụng chức quyền để xử việc hoặc không chịu phối hợp các phán quan khác để phát sinh sự cố, gây cho các ma quỷ chạy trốn thì sẽ bị cách chức chịu phạt.
Tất cả những người khi sống trên trần gian mà không hiếu thảo với cha mẹ, các bà con trưởng bối, lại sát sinh, những linh hồn làm ác, sau khi đã chịu những cực hình trong các điện địa ngục xong, sẽ được đến Sở Chuyển Kiếp. Trước tiên sẽ bị dùng cây hoa đào đánh đến chết, sau khi chết sẽ biến thành “tiệp”, rồi cho họ thay hình đổi mặt đưa xuống đường lối nhỏ, sẽ đầu thai thành súc vật.
Tất cả các loại cầm thú, cá, sâu bọ, phải trải qua hàng ngàn hàng vạn lần chuyển kiếp luân hồi mới mãn hạn chịu khổ. Các loài vật như voi bò ngựa và các súc vật thuộc loài đẻ trứng như rùa, rắn, chim bướm, ong các loài sâu bọ đều không ngừng trải qua nhiều lần chuyển kiếp luân hồi, không được thoát khỏi tứ sanh này, đợi đến khi mãn số kiếp, nếu liên tục ba đời không sát hại sinh mạng, mới được đầu thai làm người.
Những số từ động vật chuyển đầu thai thành người, được liệt kê danh sách trong sổ sách rõ ràng, trình lên điện thứ nhất để phán đoán nhân duyên của họ trong kiếp sau. Sau khi phước báo xong, mới chuyển đến trong tứ đại bộ châu, đầu thai thành nam hoặc nữ. Trước khi đầu thai, phải giao đến đài Quên Lãng.
—————-           
Chương 3 – Mục 11: Đài Quên Lãng và Mạnh Bà Thần
Số từ: 1235
Mạnh Bà Thần quản lý đài Quên Lãng
Mạnh Bà Thần ra đời vào thời kỳ Tây Hán, khi tuổi thơ luôn hăng say đọc tứ thư của nhà Nho, lúc tuổi thanh xuân đã đọc Kinh niệm Phật. Bà đã tu hành đến mức không quan tâm đến việc quá khứ và chuyện tương lai. Lúc còn sống trên trần gian, chuyên tâm khuyên răn người không sát sanh, phải ăn chay. Lúc năm tám mươi mốt tuổi, nhan sắc trở lại như thơ, còn giữ trinh nguyên. Bà chỉ nói là bà họ Mạnh, nên ai cũng đều gọi bà là Mạnh Bà A Nải. Sau khi vào trong núi sâu tu luyện, vẫn còn sống đến thời Đông Hán.
Trên thế gian có số người do có linh cơ thâm hậu, có thể đoán được nhân quả của kiếp trước, vì thích đùa giỡn khoe khoang thuật số, nên đã tiết lộ thiên cơ của âm dương, dẫn đến người trên thế gian nhìn thấy nhớ lại người thân kiếp trước của mình, gây xáo trộn trình tự nhân duyên của trần gian. Cho nên, Ngọc Hoàng Đại Đế kêu gọi mụ Mạnh Bà là tri thần của Diêm phủ, xây thành Quên Lãng, cho phép bà được sai lính quỷ trong Diêm phủ. Chỉ định và đưa đến điện thứ mười, những hồn ma được chuyển đi nơi nào sẽ tận dụng thuốc của trần thế, hợp lại một chất như rượu nhưng không phải là rượu, chia ra thành năm khẩu vị: cay, đắng, tân, chua, mặn.
Tất cả các ma quỷ trước khi đi chuyển kiếp đều phải uống loại thuốc này, để cho họ quên hết những chuyện của kiếp trước. Đồng thời, sức lực của thuốc sẽ duy trì đến trần gian, tạo cho họ phải có một số ít bệnh tật như lo lắng nhiều bị cảm phải chảy nước mũi, hoặc do cười vui và lao động nhiều phải toát mồ hôi, hoặc ưu sầu đau lòng phải chảy nước mắt. Người sống trên trần gian thường hành thiện, sẽ tạo cho họ tứ chi và mắt tinh tai thính hơn trước, mạnh khỏe hơn. Còn người làm ác thì đầu óc không minh mẫn phải tiêu hao tinh thần trí óc nhiều, nhanh chóng suy yếu và mệt mỏi nhằm cho họ tự suy nghĩ và biết sám hối. Sửa đổi tà ác, làm lại việc thiện.
Đài Quên Lãng đặt tại điện thứ mười, ngoài cầu lục của điện Diêm Vương, đài cao một trượng, xung quanh có tất cả một trăm lẻ tám gian phòng. Có một lối đi thông đến hướng Đông, tất cả các nam nữ ma quỷ được áp giải đến đây, được đưa vào các phòng. Trong phòng đều có ly để kêu họ uống vào loại thuốc đó, uống nhiều hay ít cũng được. Nếu như có những ma quỷ gian xảo và ngoan cố, không muốn nuốt vào loại thuốc đó thì chân của họ sẽ mọc ra dao móc. Móc chân họ lại và lính quỷ sẽ dùng ống đồng đâm vào cổ họng của họ, để cho họ bị đau đớn không được động đậy và sẽ ép họ uống thuốc đó vào.
Tất cả ma quỷ sau khi uống thuốc này vào, các phái lính quỷ sẽ dắt họ từ thông lộ đi ra, đẩy họ bước lên chiếc cầu treo thắt bằng dây thừng tên là cầu Khổ Trúc. Dưới cầu là một hang đá có dòng sông chảy xiết. Đứng trên cầu nhìn ra phía trước, trên bờ đối mặt có một tảng đá màu đỏ. Có bốn hàng chữ to màu vàng kim, chữ ghi:
Vi nhân dung dị tác nhân nan
Tái yêu vi nhân khổng càng nan
Dục sinh phuớc địa vô nan sở
Khẩu giữ tâm đồng tất bất nan.
(Sống làm người đã khó, làm người tốt còn khó hơn.
Chết rồi muốn trở lại làm người thì còn khó gấp bội
Muốn được đầu thai đến nơi phước lành không khó
Chỉ cần tâm khẩu đồng nhất thì được rồi)
Lúc những ma quỷ đang đứng xem và đọc, phía bờ bên kia đột ngột nhảy ra hai ma quỷ vừa cao vừa to lớn, nhảy xuống mặt nước, làm cho các ma quỷ ai ai cũng hốt hoảng đứng không vững. Nhìn kỹ lại, một ma quỷ thì đội mũ ô sa, thân mặc lễ phục, tay cầm bút và giấy, trên vai có một đao sắc, trên eo có treo dụng cụ tra tấn, mở to hai con mắt nhìn lên và cười ha ha rất to lớn, có tên gọi là “Hoạt Vô Thường”, còn một ma quỷ khác mặt nhìn dơ bẩn, chảy máu đầm đìa, thân mặc áo trắng, tay cầm bàn tính, trên vai vác một túi gạo, trước ngực đeo đầy giấy tiền vàng bạc, đôi mày co lại, hét rất to. Có tên gọi là “Tử Hữu Phân”.
Hai đại ma quỷ này, hối thúc những hồn ma quỷ và đẩy họ rớt xuống con sông có nước đỏ chảy ngang và đưa vô trong một hang đá. Những hồn ma có căn khí đạo hạnh mỏng thì vui mừng hoan hỷ vì sắp có thể được sanh thân người. Những người có căn khí đạo hạnh cao thì đau khổ khóc lóc kêu gào, tự hận mình lúc trên trần gian không tu tốt để có thể siêu thoát hồng trần để cho thân xác này không còn đau khổ trong luân hồi nữa.
Những hồn ma nam và nữ như vừa khờ vừa say từng bước dõi theo nhân duyên của họ, đến các nhà có người mang thai và chui vô bụng người thai phụ để chuẩn bị đầu thai. Do sự thay đổi của âm phủ và dương trần, không khí ngột ngạt, cộng thêm trong bào thai lật ngược, buồn bực cho nên dùng sức đôi chân đá một phát, đạp khỏi bào thai, rời khỏi bụng mẹ, hét lên một tiếng “Oa” và sẽ bắt đầu một đời mới của họ.
Tất cả chúng sinh, do suốt tháng quanh năm mê muội các thứ ngũ dục, mùi vị, nhất là sát sinh nhiều, ngày càng che khuất đi Như Lai Phật tánh của chúng sinh, phụ ơn đức của Phật Bồ Tát và Ngọc Hoàng Đại Đế, phụ ơn khuyên nhủ của các Thần minh, không chịu nghĩ phải làm thế nào để hoàn thiện mình, để có thể trở thành Phật Bồ Tát; làm như thế nào để khi chết không phải đọa lạc vào tam ác để chịu cực hình đau khổ; chưa bao giờ nghĩ đến tương lai của mình sẽ như thế nào khi kết thúc, để lặp đi lặp lại lao vào những ác nghiệp, cuối cùng lại thành ma quỷ, uổng công một đời trên thế gian của mình, vả lại còn phải đọa lạc vào địa ngục thành ma quỷ chịu cực hình đau khổ.
Những điều khoản và các quy luật như trên sau khi quan văn thư của đài Quên Lãng đã ghi nhận xong, cung kính trình lên cho Ngọc Hoàng Đại Đế và sẽ biên soạn vào trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thông hành đến trần gian, để người đời trên trần gian hiểu rõ, hành thiện trừ ác.
—————-           
Chương 4 – Mục 1: Ký sự về “Cầu Tự Tập Đường” ghi lại
Số từ: 2536
1. Năm người con đậu thủ khoa thành danh
Tại huyện Đại Hưng có ông Hoàng Phương Châu là người trong thời đại triều Thanh Khang Hy, làm quan tại huyện Hồi Dương, cùng phu nhân hay hành thiện tích đức làm công quả. Lúc ông đang giữ chức làm quan đã từng quyên góp tiền để in ấn mấy chục cuốn sách như “Kinh Kim Cang”, “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, “Âm Định Văn Quảng Nghĩa” và phu nhân của ông cũng tùy hỷ góp tiền in ấn một ngàn cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để biếu tặng bố thí.
Vả lại, thường xuyên mua cá, chim để phóng sanh, số lượng cũng trên hàng trăm ngàn con, hai ông bà có năm người con trai: Thúc Lâm là Tham Hóa của thời Khang Hy, Thúc Kính là tiến sĩ, Thúc Kỳ là cử nhân, Thúc Hoàn cũng là tiến sĩ và Thúc Tuyên cũng là giáo sư tú tài, đều đạt được công danh và có học lực rất cao.
2. Con cháu được thăng quan tiến chức
Ông Liêu Quốc Duy là người của huyện Giang Tô, tiến sĩ thời Minh Triều nhưng ông ở tại gia không đi làm quan. Thường ngày ông hay mua những loại sách thiện nói về chuyện nhân quả báo, luôn sao chép lại để tặng cho người khác. Đối với những sách có rách đều tự tay vá lại cho hoàn chỉnh.
Có một năm, gặp mùa hạn, ngũ cốc thất thu, rất nhiều nhà phải chịu cảnh đói khát, ông lập tức bố thí lấy lương thực trong nhà ra để cứu trợ cho dân làng; gặp trong làng có bùng phát dịch bệnh, ông mua ngay thuốc phối ra có hiệu quả để cứu người, mở lòng miễn phí chữa trị bệnh cho dân làng.
Cho nên, cả nhà không ngừng thiện báo, con trai Huệ Viễn, Thuận Trị vào năm Đinh Mùi thi đậu vào cư vị tiến sĩ, cháu nội Liêu Đan cuối năm Đinh Mùi đã thi đậu làm trạng nguyên; con trai của Liêu Đan Nhựt Tháo là bảng nhãn của năm Đinh Mùi. Con trai của chú Liêu Đan, Liêu Kỷ là Hàn Lâm của năm Qúy Sửu; con trai của Nhựt Tháo, Chí Nhơn là hàn lâm của thời Càn Long; Đôn Nghĩa là tiến sĩ của năm cuối Bính Thìn. Con cháu mấy đời đều vinh hoa phú quý, tất cả đều là quả báo do sự hành thiện của ông.
Tại Duy Dương lưu truyền cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” trong đó có bảng sao chép của Liêu Đan.
3. Liên tiếp đậu trạng nguyên, đời đời phú quý
Bàng Nhất Am tiên sinh tại Trường Châu là một người hành thiện tu đức, gặp năm thu hoạch không tốt, ông nhất định ra sức cứu trợ; khi thấy những cuốn sách có ích chỉ dẫn cho người hành thiện tu đức, lợi ích cho xã hội; nhất định ông sẽ in tặng.
Con trai ông, ông Bàng Định Cầu cũng hành thiện, đã từng sao chép cả trăm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để truyền lưu. Sau đó, ông trúng tuyển vào chức trạng nguyên. Cháu cố của ông, Tử Khải Phong cũng thi đậu cử nhân, trạng nguyên. Đến nay, con cháu vẫn phú quý dồi dào.
4. Tam quý tử đăng khoa vinh quang
Ông Từ Trúc Đình tại khuynh sơn là bạn đồng nghiệp với ông Nghiêm Văn Tịnh, khi ấy trong tỉnh Tô Giang, Triết Giang bị lũ lụt. Nhân dân chịu cảnh đói khát, ông kiến nghị với cấp trên mở kho dự trữ để cứu trợ đồng bào, cứu sống được rất nhiều người.
Con trai của ông tên Khai Tế, làm việc trong tôn đường Minh Thi. Gặp bọn cướp giam hơn trăm người phụ nữ, giam trong nhà họ Từ, kêu ông Khai Tế canh chừng. Kết quả ông đã lén lút tặng tiền lộ phí cho đám phụ nữ và thả họ về, vả lại còn tự đốt căn nhà của mình để cho bọn cướp khỏi sinh nghi, khỏi phải chạy rượt đuổi họ. Lúc phóng lửa, ông ôm cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” dẫn cả gia đình trốn bọn cướp đi đến huyện Thái Khang. Suốt đời ông đã in rất nhiều cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
5. Lâm chung thăng thiên, con cháu đậu trạng nguyên
Ông Thái Bội Lam tại Hồ Châu, bình thường rất kính hiếu với cha mẹ, từ thiện với mọi người, sống tiết kiệm, rất thích bố thí cứu trợ cho người nghèo khổ. Mỗi khi gặp những gia đình nghèo khổ có người lâm bệnh, ông nhất định bố thí thuốc men; nếu những nhà đơn chiếc nghèo khổ đến xin ông cho mượn tiền, ông cho mượn đều không ăn lời. Trên đường gặp phải phụ nữ, trẻ con làm rớt tiền tài, không dám về nhà gặp người lớn, ông đều tìm cách đền bù giùm họ.
Một ngày, ông phát hiện nội dung cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có thể khuyên giải cảnh tỉnh cho thế nhân, nên ông quyên góp tiền cho ông văn thư sao chép lại tặng cho mọi người để khuyên hóa thế nhân.
Ông hưởng thọ được tám mươi bốn tuổi, ông với tư thế ngồi thiền niệm Phật mà đi. Người hàng xóm nhìn thấy có gặp tiên đồng tiếp dẫn ông thăng thiên. Cháu cố của ông tên Tôn Khải Tuân, là trạng nguyên thời Khang Hy của năm Canh Mậu.
6. Con cháu nhập gia hiện quý
Ông Từ Văn Kính tại Hàn Quận, làm quan cao cấp tại triều đình, rành thuộc các đạo lý, lễ nghĩa tu đạo, thích nghiên cứu về Thích, Đạo, Nho các sự tích tam giáo thánh hiền. Thường ngày hay thu thập tài liệu và cho xuất bản các loại sách như “Tu Hành Kính Tín Lục” dẫn đạo thế nhân hành thiện.
Bà Thái phu nhân mỗi ngày đều tụng Kinh và thành kính niệm hồng danh của Quan Thế Âm Bồ Tát hàng ngàn lần, cũng thích bàn chuyện nhân quả báo với mọi người.
Ông đã từng phiên dịch ra cho phí Trung Đông những cuốn sách như “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và “Tri Bảo Toàn Tập” hy vọng người người biết hối cải hành thiện. Gặp những năm mất mùa, ngũ cốc bị thất thu, nhất định ông sẽ quyên góp tiền để cứu trợ cho thân tộc.
Con trai ông tên Bổng đạt thạc sĩ. Một con trai khác tên Kỷ, làm quan tuần võ; cháu nội tên Hào cũng giữ chức làm quan còn một cháu nội khác tên Hàn cũng giữ chức làm quan, cả họ con cháu của ông đều thi đậu vào khoa giáp.
7. Ba quý tử thi đỗ tiến sĩ
Ông Trương Mẫn Kỳ, đảm nhiệm chức trưởng quan của tỉnh Hà Nam, ông tại chức cùng hành với liêm chính ân uy. Việc ông thích thú nhất là in ấn các loại sách như “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, “Âm Định Văn Quản Nghĩa”, “Văn Chương Liên Trì Đại Sư Kiêng Sát Sanh”.
Ông ghét nhất là những cuốn sách truyện tranh tài liệu khiêu dâm, đồ vật cờ bạc, phá thai, tuyệt sản, tư liệu tà dâm. Mỗi khi điều tra ra có người sáng chế hoặc xuất bản những đồ vật này, ông đều tăng nặng hình phạt; đối với người mà vây bắt được những đối tượng như trên thì ông sẽ hậu hậu trọng thưởng. Khi có gia đình nào bị nạn đói khát, không cần phân biệt phải đi bao xa hoặc khác làng, ông đều đến tận nơi để cứu trợ.
Phu nhân của ông khi nghe nơi nào cần in hoặc sao chép sách Kinh và sách khuyên giải hành thiện, dù có phải bán đồ và trang sức của mình, cũng nhất định quyên góp.
Hai vợ chồng ông có năm người con trai, con cả tên Học Dượng là tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, con thư hai tên Ứng Tạo tiến sĩ khoa Kỷ Mùi, con thứ ba tên Thiệu Hiền cũng là tiến sĩ khoa Kỷ Sửu; con trai thứ tư tên là Xí Linh là cử nhân khoa Tuất Tý; còn con trai thứ năm tên Ôn Chánh là tú tài khoa Qúy Mậu.
8. In tặng sách thiện, con cháu phú quý
Ông Tưởng Xuân Phồ tại Trường Thục, gia cảnh tuy giàu có nhưng sống rất khiêm tốn, giản dị, là một người sống rất bình dân. Khi ông thấy những sách hoặc các văn chương khuyến thiện, ông nhất định kêu con cháu trong nhà sao chép hoặc in ấn, không bao giờ tiếc tiền, thật là một người có phẩm đức cao thượng.
Con cháu của ông ta cũng noi theo phước đức của tổ tiên, gặp việc hành thiện, không bao giờ chối từ. Như in những sách như “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, “Thái Thượng Cảm Ứng” và sách kiêng sát sanh, truyền bá và kính tặng, số lượng đếm không xuể.
Cháu nội tên là Phận; có công danh; cháu cố tên Ý, thi đậu tiến sĩ thời Khang Hy vào năm Qúy Sửu, cháu cố Trần Tiệt, năm Giáp Sửu thi đậu bằng tiến sĩ; Đình Tiệt, năm Qúy Mùi cũng thi đậu bằng tiến sĩ; do tín ngưỡng và in tặng sách thiện, con cháu đời sau của ông đều thi đậu trúng tuyển tiến sĩ, phú quý, thịnh vượng.
9. Bố thí thuốc men cứu người, vinh dự bổ nhiệm chức Thành Vương
Vào giữa năm Gia Thiện, ông Hồng Thiệu Đỉnh tại Nam Xương Phủ Tây Giang, lúc còn trẻ theo học y khoa môn nội ngoại khoa. Năm mười chín tuổi, đã từng đọc cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, khi đọc được trong điện thứ hai có nội dung nói “chỉ hạ bất minh” (tức khám bệnh cho người chỉ qua loa không kỹ), lấy thuốc trị bệnh để chuộc lợi thì bị chuyển tiếp đến tiểu địa ngục chịu cực hình tiếp. Tin và kính ngưỡng, đã bố thí thuốc men để trị bệnh cho rất nhiều người và sao chép cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nói cho người trên thế gian hiểu biết, hy vọng tất cả mọi người cảnh giác, biết sám hối.
Vừa phát đại lòng tin, trị bệnh không tính toán tiền bạc, không phân biệt giàu nghèo. Khi gặp có người bị bệnh nguy kịch, phải sử dụng nhân sâm, nếu người bệnh đó nghèo khổ, mua không nổi thì ông sẽ thái nhân sâm ra từng miếng nhỏ, trộn vào chung các loại thuốc khác, bán giá rẻ cho họ để trị bệnh. Tận dụng tiền thưởng thu được của người giàu có, cứu trợ cho các người bệnh nặng khó chữa. Nếu như gặp năm thất thu đói khát thì không ngồi kiệu mà đi bộ để khám bệnh cho bá tánh.
Phu nhân của ông rất hiền năng, luôn tuân thủ ý nguyện hành thiện của người chồng. Khi mùa đông, cho dù mặc áo quần bằng vải thô cũng không một trách hờn.
Trong ngày mừng thọ tám mươi tuổi, tự nhiên ông nhìn thấy trên trần cao của phòng khách treo lên một băng-rôn màu đỏ, trên có dòng chữ màu vàng: “Phùng Thiên Đế Mạng”, Hồng Thiệu Đỉnh đến tỉnh Phúc Kiến nhậm chức Thành Hoàng. Ba ngày sau, trong nhà khi đang thay áo tắm rửa, ông lìa đời trong trạng thái ngồi. Tất cả con cháu của ông trong sự nghiệp đều rất thành công và danh tiếng.
10. Đốt đèn cứu nạn, con nhập trung đường
Ông Trần Tiên Sinh là vọng tộc của huyện Hải Ninh. Vào buổi tối ông thường đốt đèn dầu treo trên các phố xá, để tiện cho những người về khuya đi đường. Đồng thời, bố thí thuốc men cho những người bị bệnh khó chữa, vừa xây nghĩa địa, mồ mả cho những người chết không người thân chôn cất, để tránh thi thể bị bỏ nơi hoang dã. Ông còn thường xuyên truyền bá cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và các loại sách khuyến thiện.
Ông trời trả báo cho gia đình ông Trần cũng rất to lớn: Con cháu phú quý, có rất nhiều vị đảm nhận chức vụ tiến sĩ, thạc sĩ trong trung đường. Đến nay, rất có danh tiếng trong tỉnh Triết Giang.
11. Tứ đại gia tộc, thiện đức khánh gia
Tại Triết Giang nơi Hàng Châu, được danh tiếng là giàu sang phú quý, thời Thanh Triều có bốn đại gia tộc là: họ Quan, Vong, Tôn, Triệu, gia tộc họ đều thuộc người chuyên lấy vạn vật và lợi ích, cứu trợ cho người gặp nạn, không than phiền, không chán nản.
Nói riêng về họ Quan, như ông nội của Quan Quy, lúc được thăng chức làm quan vẫn không ngừng cầm bút thêm chú thích cuốn sách thiện “Đan Quế Tập”.
Nhà họ Vong thì bố thí, biếu tặng “Tử Hà Đan” luôn bố thí thuốc men cho người nghèo khổ. Cả mấy đời vẫn không ngừng.
Nhà họ Tôn thì thường biếu tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để đánh thức cảnh tỉnh cho thế nhân.
Nhà hộ Triệu thì tôn kính tuân thủ chỉ thị trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. In tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và bố thí quan hòm giúp những người nghèo khi chết không tiền chôn cất, vào mùa đông còn biếu tặng áo ấm cho người bị cảm lạnh.
Bốn đại gia tộc như trên, luôn xem cứu giúp người là một chuyện phi thường. Cho nên, không chỉ hiện nay gia cảnh giàu sang phú quý và rất nhiều con cháu cũng giàu sang, tích lũy thiện hành, được trời ban phước lành, những sự kiện trên là một chứng cứ thực tế. Tôi rất thành tâm, thành ý đưa những gì tôi nhìn và nghe thấy ghi lại, để người đời tin tưởng làm việc thiện nhiều hơn.
12. Phát tâm in sách thiện, thăng chức
Ông Tiền Đường Dư từng nói: cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này, là một cuốn sách nói về luân hồi quả báo. Ông nội của tôi là Ông Văn Kính, đã từng in ấn sách này biếu tặng để mở rộng thiện tâm, được trời trả báo lại rất nhiều chuyện phước lành.
Mùa thu năm ngoái, có một người bạn cùng học chung tên là Hà Hữu Kiều, trong mơ nhận được khai thị, phải in ấn trăm cuốn sách biếu tặng cho người. Ông cũng tặng cho tôi một cuốn, khi tôi đọc được sách này, trong lòng rất có cảm xúc, muốn in ấn biếu tặng để mở rộng công đức nhưng không có đủ vốn để thực hành.
Vào mùa xuân năm nay, ông may mắn bất ngờ được thăng chức nhận được tiền chúc mừng của những người thân thiết, ông sử dụng số tiền đó in ấn ra năm trăm cuốn sách để mãn nguyện lòng mong muốn.
—————-           
Chương 4 – Mục 2: Ký sự ba điều thiện báo của “Kha Nhuận Đường”
Số từ: 879
1. In ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thi đậu liên tiếp
Người đồng hương với tôi, ông Trần Trọng Trường, lâu nay rất ngưỡng mộ thiện lý trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Nhưng nghĩ gần những khu này không thể mua được cuốn sách này, rất hối tiếc.
Có một ngày, ông đi đến một miếu cổ trong thành thị Tô Châu để thắp hương, rất may mắn được biếu tặng một cuốn. Sau khi đọc xong, ông rất kinh ngạc, tóc dựng hết lên. Cho nên, nói với một ông sư xuất gia quen biết: “Sách Thiện trên thế gian, chưa từng thấy có cuốn sách hay như thế. Không chỉ các người có trí tuệ đọc xong có thể tỉnh ngộ mà một số người phổ biến khi nghe hay vẫn hiểu rõ đạo lý bên trong, cũng sẽ cẩn thận về hành vi của mình. Và sám hối những gì mình đã sai phạm”.
Nên ông phát tâm nguyện theo nguyên sách như ban đầu, giao cho một nhà xuất bản để in ấn, truyền bá đến lâu dài, thành tâm mong muốn người trên trần gian đều quy tụ với thiện đạo.
Ba năm sau khi in ấn, con trai ông tên Bửu Kiệm, tham gia thi cử trong tỉnh huyện, đã thi đậu cử nhân vào năm Giáp Tuất, tham gia hội thi cũng đậu hạng nhất, đã mang danh dự về cho cả làng xóm. Đấy chính là trời ban phước cho thiện nhân, có thể nói là rất lớn, rất nhanh và rất rõ ràng.
2. Bán bảo vật cứu người, thăng quan thượng thư
Ông Ưng Đại Hiến tại Triết Giang Đài Châu, khi ông còn đọc sách tại xóm làng bên vùng núi, có một ngày, đang đốt đèn dầu sao chép cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đột nhiên nghe được đám ma quỷ đang bàn tán và nói: “Tại nơi kia có người đàn bà, vì chồng đã thời gian lâu chưa về nhà, bố mẹ bên chồng ép gả bà ta cho người khác. Nhưng người đàn bà này sống rất trinh tiết, không bằng lòng, ngày mai nếu bị ép quá, sẽ treo cổ tự tử, chúng mình sẽ tìm được người thế thân rồi”.
Ngày hôm sau, ông Ưng Đại Hiến đi tìm hiểu và đúng sự thật như hôm qua mình nghe được. Ông trở về phòng đọc sách của mình, lén lút đem chiếc đàn hiệu và đồ cổ của ông nội để lại cho mình đi bán được bốn lượng tiền bạc. Lấy thân phận của chồng, viết ra một lá thư gửi về an ủi người phụ nữ kia và bố mẹ, vừa gửi số tiền đó cho gia đình họ. Khi bố mẹ họ nhận được thư và tiền, tin tưởng người con trai của họ bình an, cũng không còn ép gả người đàn bà kia lấy chồng khác, tự nhiên bà ta sẽ không còn muốn treo cổ tự tử nữa.
Thời gian không lâu, người chồng của bà ta trở về đoàn tụ với gia đình thật. Đối chiếu với nhau về chuyện trên, cũng không biết ai đã làm ra chuyện tốt như vậy.
Qua không lâu, ông lại nghe thấy bọn ma quỷ nói với nhau: “Theo thường lệ, chúng mình có thể tìm được người để thế thân, nhưng do ông tú tài này đã phá hoại chuyện tốt của mình, một con ma đứng bên cạnh mà nói:” Tại sao không gây họa cho ông ta để trả thù?” Con ma này lại nói: “Ông ta thường chép “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để khuyên thế gian, còn có lòng từ bi cứu giúp người, Ngọc Hoàng ban lệnh cho ông ta làm Âm Đức thượng thư, chúng mình còn có thể gây họa cho ông ta sao?”. Sau này ông Ưng Đại Hiến đã thực sự thăng quan làm thượng thư.
3. Kiêng ăn thịt bò, cầy được thăng quan giáp khoa
Ông Châu Thuần Phu lại Lư Châu, học thức cao nhưng công danh lại không thuận lợi, thi cử thường không đậu, tuổi tác thì cũng qua bốn mươi.
Có một ngày, tình cờ phát hiện sự thê thảm của việc mổ xẻ trâu bò và đọc được nội dung trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nói về ký sự trong điện thứ sáu. Trong đó, có điều liên quan đến việc kiêng ăn thịt bò, thịt cầy, cho nên cả nhà tuyên thề, không ăn thịt bò, thịt cầy nữa và sao chép truyền bá cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cảnh tỉnh người đời. Cũng trong năm đó, ông nhập học luyện thi, không bao lâu tham gia thi cử đã thi đậu giáp khoa. Đến nay, con cháu phú quý muôn ngàn.
Trong sách có ghi chú: ba chuyện trên đã nêu, đều là sự thật chính mắt nhìn thấy tai nghe được, không phải chuyện bịa đặt. Từ đó, cho thấy: sự phú quý vinh hoa của đời người, cũng tác động theo những việc hành thiện mà có, do mình đã âm thầm trồng quả phước lành. Một lần nữa khuyên mọi người thành khẩn tuân thủ quy luật trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
—————-           
Chương 4 – Mục 3: Ký sự về cứu độ mẫu thân
Số từ: 2544
Doãn Đức Sơ là con trai của ông Doãn Cảnh An tại Tây Dương Châu tỉnh Tứ Xuyên. Mồ côi cha lúc 7 tuổi nhưng gia đình giàu có. Mẹ của ông mang họ Thiệu, thấy ông ốm yếu, bệnh thường xuyên, rất lo âu. Một ngày, nhìn thấy cuốn sách hướng dẫn nấu ăn; sử dụng canh hầm gà tơ có thể bổ nguyên khí. Từ nay về sau, mỗi bữa cơm đều giết mổ một đến hai con gà, hầm thành canh cho ông ăn. Vả lại còn nuôi rất nhiều gà con, mỗi ngày đào sâu bọ cho gà con ăn, đợi gà lớn rồi giết mổ.
Lúc ông Doãn Đức Sơ năm mười lăm tuổi, mẹ ông đột ngột bị bệnh da liễu, toàn thân như bị sâu ăn, gà mổ thành một đốm một đốm, chữa trị vô hiệu, đau đớn đến không ngồi dậy nổi nhưng do không hiểu rõ đạo lý của sự nhân quả báo, vẫn còn sai người làm giết mổ gà.
Đức Sơ đọc sách rất nhiều, nhìn thấy mẹ lâm bệnh sử dụng rất nhiều phương thức vẫn chữa trị không lành bệnh, thấu hiểu đây chính là sự trả báo của nghiệp tội. Lập tức nghiêm cấm người giết mổ gà và dẫn mẹ đến chỗ ở thời thơ ấu, nhìn thấy đống rác như ngọn núi nhỏ toàn xương và lông gà. Nhưng người mẹ không tin. Người mẹ lâm bệnh lâu ngày mà vẫn không có tiến triển tốt, đau đớn đến bảy năm rồi chết thảm. Trong lúc hấp hối, họng phát ra tiếng như gà gáy và tiếng sâu hét, còn dùng tay cào cào da thịt của chính mình, đau đớn đến lúc chết đi.
Ông Doãn Đức Sơ nhìn thấy cảnh thê thảm này, thầm nghĩ trong nước mắt: “Vì bổ dưỡng thân thể của mình mà sát hại biết bao sanh linh. Mẹ mình mới phải chịu sự trả báo chết một cách thê thảm như vậy. Tôi thật sự là người con bất hiếu, tôi quyết định phải kiêng sát sanh làm công quả, để chuộc tội bất hiếu của mình mới được. Như thế ông đã tuyên thề sẽ không sát sanh nữa”.
Một năm sau, có một cô Linh được gả đến nhà họ Tiền làm dâu, do lúc sinh đẻ bị băng huyết mà tử vong. Sau khi chết, vong hồn của cô ta bị chiêu đến điện thứ nhất. Diêm Vương xem hồ sơ của cô Linh trong cuốn sổ, xét thấy mạng sống đúng là phạm vào phải chết do sanh khó. Sau đó, lính quỷ chuẩn bị áp giải cô đến điện thứ hai để chịu tội. Lúc này, có một quan viên sau khi xem xét lại hồ sơ, đã kiến nghị và nói: “sau khi kiểm tra lại, cô Doãn này đã từng ba lần khuyên giải bố mẹ chồng không nên thiêu đốt những sâu bọ trong các cây bị khô héo và khuyên chồng tranh thủ in ấn sách “Sát Sanh Giới Diệu Hoa Kinh” năm ngàn tờ, quyên góp tiền hỗ trợ in ấn cuốn “Ngư Lam Quan Âm Phóng Sanh Kinh” ba ngàn tờ, Ông Thần Tào Quân của nhà họ tâu lên thiên đình và được phê duyệt tăng thọ thêm ba mươi lăm năm cho cô ta”. Diêm Vương sau khi nghe xong hợp tay lại nói: “được” lập tức sai lính quỷ áo xanh, đưa cô ta lại hoàn dương.
Vừa mới bước ra chánh điện, đi đến cửa đỏ, nghe thấy có tiếng kêu thảm thiết: “cô Linh” cứu tôi! Khi cô Linh định thần nhìn lại, thấy một người đàn bà đầu tóc bù xù, da thịt đầy máu đang kêu cô ta, nhìn kỹ lại mới biết đó là bà Thiệu, mẹ của Doãn Đức Sơ, vừa khóc vừa nói: tôi bị trả báo dưới âm phủ rất đau khổ, khi hoàn dương, nhất định phải nói với con trai tôi là Đức Sơ, làm việc thiện nhiều để giảm nhẹ tội cho tôi, tôi sẽ gặp nó trong mộng để chứng minh. Nói xong, có một người đầu tóc màu đỏ, tay cầm chĩa nhọn, đâm vào cổ họng của bà ta mà kéo đi.
Cô Linh hốt hoảng, hồn quy nhập xác, đột ngột thức tỉnh, liền đem chuyện đã thấy trong âm phủ nói cho Doãn Đức Sơ biết. Ông Đức Sơ lập tức cầu siêu vong linh cho mẹ và thành tâm khấn Phật, mỗi mùng một và rằm mười lăm đều thắp nhang cầu Phật Tam bảo phù hộ cho mẹ được thoát khỏi cảnh đau khổ. Nhưng trong mười chín năm nay, cũng không gặp được mẹ trong mộng.
Vợ của ông Đức Sơ họ Thi, tổ tiên bên nhà nàng kiêng việc sát sanh, hay in ấn kinh sách. Có một ngày, Đức Sơ đến nhà họ làm khách, tự nhiên trong đống tủ sách tìm thấy cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” bản cổ xưa, rất vui mừng, đem về nhà sao chép, tổng cộng sao chép thành một trăm hai mươi cuốn. Khi biếu tặng đến một trăm lẻ tám cuốn sách, vừa đúng là ngày Lễ Nguyên Tiêu của năm Canh Ngọ.
Đang nằm nghỉ ngơi, mơ thấy mẹ dùng bàn tay vuốt lên lưng bàn tay của mình và nói: “Đức Sơ, con rất có hiếu! Hôm nay mẹ mới được thoát khỏi sự đau khổ trong địa ngục, hoàn toàn do công đức của con làm là truyền bá cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, nam nữ trên trần gian đã có 4 người, khi đọc được sách của con mà biết thức tỉnh hoàn thiện. Bây giờ, Diêm Vương dưới âm phủ đã cho phép ta được báo mộng về cho con, để chứng minh hành vi thiện đức của con và cho phép hồn ta được trở về nơi chôn cất, (tối đa hạn chót vào 23 giờ cho đến 1 giờ khuya ngày mười tám) đưa đến nơi phước lành để đầu thai. Đức Sơ có thể nhờ vào công đức này mà tăng cường tuổi thọ!”.
Đức Sơ vừa khóc vừa hỏi hiện cha mình đầu thai nơi xứ nào? Mẹ trả lời: cha con do lúc còn sống giàu có, đã hưởng thụ quá nhiều phước phần nên đầu thai làm một thư sinh nghèo nàn. Nhưng do từ nhỏ đến lớn luôn tìm hiểu và biên tập những cuốn sách về nhân quả, nay trở thành giàu sang phú quý rồi. Lại hỏi thêm sống tại tỉnh nào? Huyện nào? Thì không được nghe trả lời mà thấy bị đẩy đi và tỉnh giấc.
Nhìn thấy vợ mình ngồi kề bên, kể hết tình tiết trong mộng cho vợ nghe, người vợ không tin và nói: “do ông suốt ngày ngồi viết cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mà bị ma nhập trong tim, mới có những cơn mộng ly kỳ quái dị như thế”. Khi trời sáng, Đức Sơ vì muốn minh chứng sự thật, đi và đứng trước mộ của mẹ, thắp nhang cầu và vái nói: “Hôm qua con mơ gặp mẹ nhưng không biết chuyện mơ là thật hay giả, nếu như có thể mơ thêm một lần nữa để minh chứng thì con sẽ có lòng tin hơn”.
Ngay đêm hôm đó, Đức Sơ lại gặp mẹ trong mơ, rất giận dữ chỉ vào mặt nàng dâu mà trách “người trách chồng mình cả ngày lo sao chép cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” không thời gian chăm sóc cô và đã từng lén lút xé nát năm cuốn, những việc thiện có thể sắp bị cô hủy hoại. Bây giờ, tai họa sẽ rời cô không xa, còn dám nghi ngờ cảnh trong mộng của chồng! Cô thật là một người đàn bà không tốt!”.
Khi Đức Sơ thức tỉnh, hỏi người vợ có chuyện đã từng xé bỏ năm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Cô ta biện minh mà nói “Đức Sơ à, ông đúng là bị ma nhập rồi. Chuyện của ông có ba điều tôi không thể tin được:
+ Thứ nhất: Nhà của ta thuộc kiêng sát sanh, không bao giờ mua những sinh linh động vật còn sống về bếp làm, thanh tịnh trong sạch như người xuất gia.
+ Thứ hai: Gia đình ta hôm nay thắp nhang, ngày mai cũng thắp nhang, vừa mời thầy sưu đạo sĩ đến tụng kinh cúng bái. Theo tôi, thấy ăn chay niệm Phật là một chuyện tốn tiền tốn phí không có tác dụng gì cả, chứ không tại sao có người chết mười mấy năm mà còn phải chịu cực hình trong âm Phủ? Ông chỉ nhờ công đức sao chép có mấy cuốn sách thiện mà cứu độ được mẹ. Xem giống như là bộ mặt từ thiện của Quan Thế Âm Bồ Tát vậy, rất là buồn cười!
+ Thứ ba: Nói tôi xé rách năm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”? Những cuốn sách đó ông sao chép. Cũng chính tay ông chép lại, biếu tặng tận tay cho người đời, còn dư lại cũng chính tay ông đem khóa lại.
Đức Sơ sau khi nghe xong nửa tin nửa nghi. Đến buổi tối ngày mười bảy, bà Thiệu lại báo mộng cho gia đình bên nàng dâu và cô Linh, bà ta nói: “Sở dĩ con trai ta không mấy tin lời của ta vì do tác động của người vợ”.
Tiếp đó hồn ma của bà Thiệu quay về nhà, đi vào trong mộng của Đức Sơ và gọi nàng dâu đi đến trước mặt mình, trách móc mà nói: Đồ đê tiện! Mùng sáu tháng bảy của năm ngoái, ngươi cùng với người hàng xóm – Cô Châu Phụng, đang làm nữ công trong nhà ta, đã đem một cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” lén lút bỏ vào giày mẫu. Qua ngày hôm sau, cô giận hờn vì không cho phép cô Châu Phụng vào nhà, đã tức giận xé bỏ năm cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Qua hôm sau buổi sáng ngày mồng tám, em trai của cô tên Thi Phục, đến nhà đã phát hiện chuyện xấu của cô làm, lén lút dùng vải gói lại đống giấy rách, rồi nói với Đức Sơ là đem đi phân phát cho người khác. Về nhà đã chăm chú dán từng miếng giấy lại, cũng may cho sách không bị rách dẫn đến mất nội dung, đấy chính là cử chỉ thiện tâm của Thi Phục, trong âm phủ đã ghi vô sổ lập đại công cho Thi Phục về chuyện này.
Sau đó, do con trai ta Đức Sơ đem cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giấu kỹ, mới không để lọt vào tay cô để bị hủy hoại. Bây giờ, cô còn nói dối là ba điều không tin nổi của chồng cô không? Tội của cô nặng lắm. Ông Thổ Địa trong nhà đã không còn cản trở các tà ma nhập môn để phá phách, tai họa của cô đang đứng trước mặt rồi. Tôi không nhẫn tâm nhìn thấy cô phải chịu tội chịu khổ!
Nói xong, bước qua giường rồi biến mất, Đức Sơ đã thức giấc ngủ, thị Thi cũng một phen hú hồn vía dựng con mắt lên. Đức Sơ bước xuống giường, mặc áo lại, đốt đèn lên và hỏi vợ lại thêm lần nữa, có chuyện xảy ra như thế, người vợ vẫn còn cứng đầu trả lời “tin thì có, không tin thì không có”.
Vừa nói xong, đột nhiên nhìn thấy có một đống màu đen lăn vào trong giường, người vợ lạnh run cả người miệng đớ đớ nói với chồng: “Sau này ông phải tận tâm sao chép nhiều cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thôi! Tôi thà tin có còn hơn không có. Đức Sơ sau khi nghe xong, biết được người vợ đúng là có hủy hoại sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, vậy chuyện mẹ mình báo mộng cũng là có thật; đã thầm mừng trong bụng vì mẹ mình đã được đầu thai đến nơi phước lành, thoát khỏi đạo ma quỷ. Về sau càng tin tưởng hơn về cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Đồng thời, người vợ đã mang thai, vừa sợ vợ họa đến trước mắt, mẹ con bất an. Đúng là vừa mừng vừa lo.
Ngày hôm nay, toàn thân người của thị Thi bị sốt cả, đau lưng rất khó chịu. Liền mời bác sĩ phụ khoa đến bắt mạch. Khi bác sĩ khám xong lại nói không phải bệnh phụ khoa nên lại đi mời bác sĩ ngoại khoa đến khám (ngoại khoa của Đông y là chẩn đoán bệnh ngoài da), bác sĩ khám xong chẩn đoán bệnh: “Ngoài da bị nổi đốm đỏ, có máu bầm, mặt lại xanh xao, bệnh tình như thế rất khó chữa trị, vả lại đang mang thai, không tiện phối thuốc để chữa trị”.
Trong khi Đức Sơ đang suy tính, em trai của vợ Thi Phục đến nhà, chị họ cô Linh cũng đến, nhìn thấy thị Thi bị nhiễm bệnh cấp tính, rất kinh ngạc. Cho nên, họ tường thuật lại giấc mộng của họ đêm qua, hai người đều trùng khớp với nhau. Thi Phục nói: “Xé rách năm cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là chuyện có thật. Tội rất lớn, nên phải cầu xin thần linh khoan dung”.
Đức Sơ nghe xong liền đi vào nhà bếp, đứng trước ông Thần Táo Quân tuyên thề: “Xin đại diện cho người vợ sao chép trăm cuốn sách để lưu truyền, chuộc lại tội lỗi trước kia của vợ”.
Lúc đó: Người thị Thi trong cơn hôn mê thức tỉnh lại, hạ quỳ và miệng hô lớn: “Từ nay về sau tôi xin kính ngưỡng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, lấy tiền làm nữ công cho khách và nữ trang của người khác biếu tặng trong ngày cưới bán hết. Mướn người sao chép “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để chuộc lại tội lỗi cho mình.
Vừa nói xong, bỗng dung thấy một người mặc áo đen đi vào trong, đưa tay phớt lên một cái thì bóng đen biến mất. Buổi chiều hôm đó, thân thể thị Thi hạ sốt. Khối u bên lưng cũng biến mất, không còn đau đớn nữa. Sang ngày thứ hai, thị Thi sanh được một cậu con trai kháu khỉnh, được mẹ tròn con vuông.
Sự việc xảy ra như vậy Đức Sơ không dám giấu ai. Mỗi lần sao chép cuốn sách đều nêu sự việc này vào trang cuối của sách, để người người sau khi xem xong biết cảnh tỉnh, tất cả đều tuân thủ và tín ngưỡng: Thị Thi đang là người có tội trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” lại trở thành người chủ công quả của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sự kiện trên được ghi nhận lại trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” ở huyện Tôn Nghĩa. Ông Qúy Lương nói: lúc tôi ở tại tỉnh Qúy Châu, huyện Tôn Nghĩa nhìn thấy trong trang cuối của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có ghi lại sự kiện như trên.
—————-           
Chương 4 – Mục 4: In ấn sách, mơ thấy tương lai
Số từ: 517
Hà Kiến Mạc, Tự Hữu Kiều là cử nhân có danh tiếng tại Đường Tiền, ông tự ghi lại ký sự từng trải qua của mình khi in ấn cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nội dung như sau:
Vào năm Tuất Dần, giữa tháng tư, tôi làm khách tại nhà họ Cao, đang lật sách trên kệ, tìm thấy cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, sao chép lại một cuốn, khi đọc xong, cảm nhận được đạo lý trong sách, những tình tiết nội dung trong sách, không thể phủ nhận là chuyện không có thật. Vả lại, từ ngữ rất dễ đọc, cho dù người văn hóa không cao cũng có thể đọc hiểu. Cho nên, lập tức nguyện in tặng 100 cuốn.
Qua mấy ngày sau, đọc thêm mấy lần, lại cảm thấy có nhiều sự kiện viết ra hơi quái lạ, không thể hoàn toàn tin hết, đây không phải là điều người không có thể bàn luận và tin tưởng. Nên ước nguyện của mấy hôm trước bị dập tắt, trong lòng không còn quan tâm đến chuyện này.
Khi đến kỳ thi tuyển, vội vàng bước vào phòng thi, đâu còn tâm nghĩ đến chuyện thề nguyện in ấn sách? Khi thi xong ba đợt thi tuyển, về đến nhà, suy nghĩ lại những câu thuật ngữ lúc dự thi, cảm thấy có hai ba câu không thỏa đáng, sợ bị thi rớt, trong lòng rất bối rối. Nghĩ vậy thì mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi. Trong mơ thấy một văn nhân mặc áo chỉnh tề, đội khăn cao trên đầu, có bộ râu dài, nhìn hơi giống ông Tô Đông Ba văn sĩ trong thời đại Tống. Tôi liền kể hết tất cả sự việc trong thi cử và ước mơ tương lai để xin ý kiến ông ta.
Ông ta nói: “Bản tính của ngươi, thường ngày tôi đã quen thuộc rồi, chuyện thi cử của ngươi nhất định trúng tuyển, đừng lo âu. Mấy hôm trước đó ngươi đã thấy cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và có thề nguyện chuyện in ấn biếu tặng, tại sao không thực hiện sớm, tặng cho đại chúng, để quảng khuyên giải thế nhân?”
Tôi quên hết chuyện này đã lâu, khi ông nhắc đến mới hốt hoảng mà nói: “Nội dung của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” sợ không nhất định và có thật”.
Người văn nhân này nói: “Địa ngục trong âm phủ, tức là địa ngục trong lòng người. Nếu như trong lòng người không có những khái niệm ác tâm dẫn đến phải tọa lạc địa ngục thì địa ngục mới trở thành trống không. Ngươi minh bạch đạo lý thì tại sao lại không thấu hiểu chân lý này? Đừng nghi ngờ nữa mà nhanh chân đi in sách!
Tôi choàng tỉnh giấc trong sự kinh hoàng, không dám nói với ai, chờ đến khi công bố kết quả thi tuyển, quả nhiên thi đậu. Cho nên, tôi đã nhanh in ấn 100 cuốn sách và ghi nhận thêm sự kiện trong mộng để làm minh chứng.
—————-           
Chương 4 – Mục 5: Mười điều kỳ nghiệm cầu qua bệnh nguy
Số từ: 3092
1. Cứu cả nhà bị bệnh phát ban
Ông Cao Nhàn tiên sinh của Nhân Hòa tường thuật lại:
Bà mợ của tôi tại Hà Hữu Kiều, năm ngoái tham gia thi cử nhân trong làng. Ngày 11 tháng 9, khi công bố trúng tuyển, tôi đến chúc mừng trúng tuyển cho cậu mợ và có nghe cậu nhắc đến chuyện khi in ấn biếu sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” biếu tặng gặp sự thần kỳ hiệu nghiệm và miêu tả lại sự kiện trong mộng. Sau khi nghe xong rất kinh ngạc. Lúc này, con trai tôi tên Đỉnh Tăng, bị bệnh ban đỏ đã ba bốn ngày rồi vẫn còn chưa ra hết. Mười lăm ngày sau, vợ tôi Thị Phùng và con gái cũng bị bệnh ban đỏ; không bao lâu một học sinh và cô đầy tớ cũng bị bệnh luôn. Trong nhà đang gặp nguy cơ bệnh tật.
Qua ngày hôm sau, tôi đốt nhang và ghi lại một bài văn thư, lực cầu sám hối và xin lập nguyện in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 400 cuốn, mua 300 ngàn sinh linh để phóng sanh. Không đến mười ngày, đã có bốn người hết bệnh. Chỉ có Đỉnh Tăng do sức khỏe yếu, không nhanh chóng thải hết độc tố trong người. Cục bướu bên tai trái cũng từ từ lành bệnh. Thần kỳ nhất là vợ tôi Thị Phùng, đáng lẽ bệnh ban đỏ chỉ là bệnh bình thường thôi, do bình thường làm việc quá sức, trong người tổn thương nặng nên bác sĩ sợ bệnh biến chứng âm tính. Nhưng sau khi tôi đọc văn thư cầu xin, vợ tôi đã toát mồ hôi ra ba lần, ban đỏ hoàn toàn biến mất và đã khỏi bệnh.
Tín ngưỡng Thần linh cầu Phật phù hộ, cả nhà bình an, đã cho thấy sự linh nghiệm của sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Linh nghiệm nhanh như vừa nghe bên tai nên rất tin vào sự kiện ly kỳ trong mộng của cậu Hữu Kiều, thực sự không bị sai lầm.
2. Nghiệm chứng cứu con bệnh hầu phong
Ông Quách Vũ Điền tiên sinh tại Tô Châu nói:
Hà Hữu Kiều là một cử nhân danh tiếng tại Hàn Châu. Vào năm Nhâm Dần, lúc ông đến nhà tôi làm khách, biếu tặng một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho tôi. Khi tôi đọc đến câu địa ngục trong âm phủ là địa ngục của lòng người, cảm thấy rất kinh ngạc và cho là có lý. Vì thấu hiểu về chuyện nhân quả báo chứ không phải do mê tín dị đoan. Năm Kỷ Mão, cháu trưởng lâm bệnh nguy cấp, tôi đã thắp nhang từ sáng đến chiều để cầu khẩn và thề nguyện in ấn sách này. Khi vừa lập nguyện xong, bệnh tình cháu trưởng có chuyển biến tốt.
Vào tháng hai năm Tân Kỷ này, trai trưởng Dần Lương lâm bệnh viêm họng nghiêm trọng (tên xưa gọi bệnh hầu phong) bệnh tình rất nguy hiểm, trong tình thế cấp bách không biết xử lý ra sao, chỉ còn biết thắp nhang cầu trời cứu nạn, nguyện thề in ấn sách biếu tặng, cầu xin mau được khỏi bệnh. Khi cầu xin xong, con trai trưởng toát mồ hôi xong, nguy chuyển thành an, hiệu quả rất kỳ nghiệm.
Nên để tạ ơn Thần phật đã phù hộ, vì trước kia đã nhờ bạn bè tại Hàng Châu in 300 cuốn sách và đã biếu tặng hết, tiếp theo in thêm 300 cuốn ra ngoài tỉnh biếu tặng, để quảng bá lưu truyền. Tiện cơ hội này để công bố cho các vị quân tử từ thiện, nên triển chuyển khuyên giải, kính ngưỡng sách này, được phước vô biên.
3. Cản người in tặng sách, hồn ma âm phủ đến quấy
Ông La Lượng Phong tại Trúc Tây đã từng ghi chú lại một đoạn văn chương trong cuốn “Tự cầu đường tập” bên nhà họ Lý:
Vào năm Bính Thìn, ông Lưu Hạc Triều tại huyện Sơn Âm, dẫn cả gia đình vào kinh hầu tuyển. Một ngày nọ, dọc đường gặp một phụ nữ mặc áo hồng nói với ông ta: “Lúc tôi còn trên trần gian, muốn in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn. Lúc đó, ông nói in sách này chẳng có tác dụng gì và đã cản trở tôi, làm cho tôi sau khi chết đi không thể thoát khỏi sự tội hình đau khổ trong âm phủ”. Sau khi nói xong chớp mắt đã biến mất.
Ông Lưu sau một hồi rất kinh ngạc và suy nghĩ lại, mới nhớ ra Trịnh Ma Ma là người lúc trước làm mướn cho nhà ông. Hốt hoảng lên! Về đến nhà thì bị phát bệnh. Lúc đang bệnh thường mơ thấy hồn của Trịnh Ma Ma đến quấy rối. Bà vợ Thị Khương biết được sự tình, mau thề nguyện đồng ý in gấp hai lần số lượng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để truyền bá. Miệng ông Lưu Hạc Triều phát ra tiếng nói giống y như tiếng của Trịnh Ma Ma và nói: “Bệnh của chủ nhân là do đã mãn thọ. Cho nên, một mặt tôi đến để báo trước sự việc, mặt khác tôi đến dẫn ông ấy đi xuống âm phủ. Nay do đồng ý vì tôi in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để truyền bá, tôi sẽ dựa vào công đức này tâu dưới diêm phủ để được phước, có thể được siêu thoát, kiếp sau đầu thai thành người. Nếu như có thể tăng số lượng in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” không chừng chủ nhân có thể tăng thọ”.
Thị Khương lại quyên góp tiền để in thêm 400 cuốn sách, phát đi tứ phương bá tánh để truyền bá khuyến thiện. Nửa tháng sau, hai vợ chồng đều mơ thấy Trịnh Ma Ma đến tạ ơn và cung kính nói: “Nhờ cuốn sách thiện này truyền bá, rất may mắn được sám hối tội lỗi trong quá khứ, địa ngục dưới âm phủ đã cho phép tôi được đầu thai thành người. Với lại chủ nhân ông cũng được kéo dài thọ sống và công đức của bà chủ cũng không ít, sau này nhất định được báo phước muôn ngàn”.
Sau khi vợ chồng thức giấc, tường thuật lại thấy chuyện trong mơ đều giống nhau. Vả lại, bệnh tình của ông Lưu cũng có chuyển biến tốt và đã mau chóng khỏi bệnh.
4. Sám hối chuyện quá khứ, hồn ma siêu thoát
Trong cuốn “Tự cầu đường tập” có một đoạn do ông Khầu Đại Vinh nói với ông Lâm Xuân:
Cha tôi là ông Khầu Phục Sơ tại Nam Kinh, sống rất hiếu thảo với ông bà nội của tôi. Mẹ tôi qua đời sớm, tôi là con trai ông tên là Khầu Đại Vinh, cũng rất hiếu thảo, đồng thời thích hành thiện làm việc tốt lành. Nhưng cha tôi Khầu Phục Sơ lại không tin là có quỷ thần và có địa ngục.
Vào năm Nhâm Tý, tôi có đi Tô Châu buôn bán, đem về một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tôi cùng cha xem chung với nhau. Cha tôi vừa cười vừa nói: “thật là hoang đường!”. Vừa nói xong đã vứt cuốn sách vào trong hộc tủ. Nhưng tôi lại rất kính ngưỡng, muốn tìm người để in ấn biếu tặng truyền bá, lại sợ cha biết được sẽ mắng chửi, nên đành buông xuôi.
Năm Qúy Sửu, khi cha tôi lâm trọng bệnh và than thở nói với con trai: “Gần đây, ta thường nhìn thấy các ma quỷ tụ tập trong nhà mình phá phách, ta mới tin thật sự là có ma, theo ta nghĩ chắc là cũng có địa ngục. Ta rất hối hận khi không tín ngưỡng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sau khi nghe được cha tôi nói. Trong lòng mọi ưu sầu đều biến mất, lập tức thề nguyện in ấn 300 cuốn sách để truyền bá. Lúc này, Phục Sơ nghe được phía ma quỷ nói: “Ông ta tuy sắp chết đến nơi rồi nhưng Thần Táo Quân đã ghi lên trán ông ta chữ “Thuân Tuân” lại nghe thấy các ma quỷ khác đang hét lên và nói: “Ngọc chỉ sắp đến rồi, ta mau rời khỏi nơi này, không sẽ bị trừng phạt”.
Bệnh tình của Phục Sơ quả nhiên không bao lâu thì khỏi bệnh, hiệu quả đúng nhanh như thế, không thể để cho người ta không tín ngưỡng vào cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
5. In tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, bệnh nặng khỏi đột ngột
Trong ghi nhận “Nhuận Đường Tập” của Thị Hà nói:
Ông Lưu Đặc Thiện tại huyện Cảnh Lăng Hà Bắc, sinh ra một con trai tên là Thiên Dư, mới được có một ngày, Thiên Dư đã bị bệnh rất nặng, bách dược đều vô hiệu, Bác sĩ nói, Thiên Dư: “Cho dù chim hạc tái thế, cũng khó mà phục sanh, hết cứu được rồi”. Cả nhà rất bàng hoàng nhưng cũng đành phải chịu thôi.
Ông Đặc Thiện xưa nay sống thiện tâm kiên vững, cho nên ông đã thành tâm hướng Trời thỉnh cầu: “Tôi nguyện in tặng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” trăm cuốn để khuyên thế nhân, hi vọng con trai tôi được nhanh lành bệnh”.
Sau khi thỉnh cầu xong, kỳ tích đã xuất hiện. Trong chớp mắt, thân xác con trai đã từ từ khôi phục và khỏe lên, kể cả ông bác sĩ đã từng trị liệu cho cháu cũng kinh ngạc mà nói: “Làm sao có thể như vậy được, làm sao có thể như vậy được”. Tại sao bệnh tình từ sáng đến chiều có thể thay đổi lớn như thế, thật là không thể ngờ.
Như vậy, trải qua điều trị thêm 10 ngày, con trai ông đã hoàn toàn khỏi bệnh. Sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thật là ân huệ to lớn.
6. In tặng không kịp thời, thọ sống bị ngắn lại
Ông Trần Khắc Hoan tại huyện Thượng Nguyên hay tin bà con của ông tên Phan Cảnh Phong đang bệnh nặng sợ không qua khỏi. Khắc Hoan đã khuyên ông in tặng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” truyền bá, để dựa vào công đức này tiêu trừ nợ oan nghiệp quấy rối.
Lúc này, ông Cảnh Phong đang trong tình trạng hấp hối, hôn mê không nói ra lời, một thoáng mây u ám bay đến và dìu dắt ông ta xuống âm phủ. Trong âm phủ, ông gặp được Thần Đại Sĩ của Quan Thế Âm mà ông nhớ tại nhà nói: “Thọ dương của ông đã hết, nếu muốn kéo dài thọ sống, nhất định ông phải in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” trên 10 ngàn cuốn”.
Cảnh Phong rất là vui mừng, hồi tỉnh lại, đưa lời nói đại sĩ của Quan Thế Âm thuật lại cho người nhà nghe. Người trong nhà cảm thấy rất kinh ngạc, hướng mặt lên trời hứa lập lời thề nguyện in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Nhưng gia đình rất là nghèo khổ, không thể nhanh chóng in theo số lượng yêu cầu. Ông Cảnh Phong hối thúc mỗi ngày nhưng vợ là một người đàn bà, con gái lại thơ dại. Cho dù muốn sao chép, cũng khó mà hoàn thành yêu cầu. Cho nên, đã khóc lóc cầu trời, không biết phải làm sao. Họ không biết là số lượng mình thề nguyện, có thể chia ra thành nhiều đợt nhiều năm in tặng, không nhất định phải in hoàn thành trong cùng một thời điểm.
Do không biết cầu xin được chia ra thành nhiều đợt hoàn thành, nên đã trễ đến mười ngày, Cảnh Phong tự nhiên than phiền mà nói: “nãy giờ đại sĩ của Quan Thế Âm nói: Dưới âm phủ đã chờ đợi mười ngày đã qua, không thấy có một cuốn sách nào đã lưu truyền. Cho nên, không có công đức nào để mà có thể kéo dài thọ sống cho tôi, không còn cách nào cứu nổi”. Sau này, hay tin ông Cảnh Phong từ trần, hỏi thăm sự việc, thật là hối tiếc không nguôi.
Như vậy, sự kiện này cả huyện Kim Lăng đều biết. Thời gian một năm nay, khi có ai lâm bệnh nặng hoặc gặp chuyện gian nan đều lập thề nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” người nào có cầu cũng có ứng.
Ông Khắc Hoan không dám nói nhảm, nên đã công khai sự kiện này, để làm minh chứng khuyên thiện thiên hạ.
7. Quyên góp in tặng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, mộng thấy được trị bệnh
Ông Tuyên Hoàn Chương tại Bửu Sơn, trường kỳ bị bệnh trĩ, trị liệu khắp phương đều vô hiệu, rất là đau khổ. Vào tháng ba năm Tuất Thìn, tự nhiên ông đọc được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, ngay lập tức ông phát lên lòng tín ngưỡng. Ông lập tức đứng trước đền thờ Thần Táo Quân, lập nguyện in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và “Tiếc Chữ Thuyết”, “Tập Kính Táo” vv… cầu xin tiêu trừ bệnh trĩ.
Một thời gian, sau khi âm thầm cầu vái. Vào một buổi tối, ông mơ thấy một ông hòa thượng, tay cầm kiếm sắt, đi đến trước mặt ông và nói: “Để tôi chặt đứt cục trĩ của ông!”. Nói xong giơ kiếm lên và chém một phát xuống, ông hốt hoảng thức giấc. Không bao lâu, phát hiện bệnh trĩ của mình cũng biến mất từ nay.
Đây là sự kiện được ghi lại do ông Lưu Bửu Sơ tường thuật lại với ông Qúy Lương.
8. Bệnh nặng sắp chết, in “Bửu Phiêu” được khỏi bệnh
Ông Lô Thiệu Hồng tại Từ Châu, do mẹ bị bệnh nặng đã mời bác sĩ đến chữa bệnh. Bác sĩ nói: “Bệnh tình của mẹ anh rất nặng, không thể nào trị khỏi”.
Nên ông đã thành tâm cầu Phật Tổ từ bi phù hộ và thề nguyện in tặng 200 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, cầu xin bệnh tình của mẹ được thuyên giảm và khỏi bệnh.
Kết quả, không đến thời gian nửa tháng, quả nhiên không cần đến thuốc men mà vẫn khỏi bệnh. Sự kiện như trên là do ông Thiệu Hồng đích thân nói với ông Quý Lượng ghi nhận lại.
9. Hành ác giảm lộc, sách thiện tiêu trừ tội
Ông Trần Quân tại huyện Như Tuyền, năm nay 39 tuổi, làm giáo sư tại huyện Vọng Giang. Vào ngày 11 tháng 6 năm Canh Tuất, trong mơ đi đến trước cửa chùa Địa Tạng Bồ Tát tại huyện Như Tuyền.
Trong chùa có một ông quan viên mặc bộ áo đen, dẫn giải ông ta đến một sảnh chánh điện, nhìn thấy trong chánh điện đang khói nhang mịt mù. Ngoài hành lang che mưa, lính quỷ đứng tấp nập. Trần Quân đứng dưới bậc thềm, đột nhiên, nghe thấy tiếng nói trang nghiêm của Bồ Tát tuyên bố với ông: “Gia đình ông xưa nay sống rất có hậu, nhất là mẫu thân của ông, trinh tiết thanh tịnh, hiếu thảo với cha mẹ, đồng kính Thần lễ Phật. Những thiện hành như vậy, đáng lẽ phù hộ được ông thi đậu khoa minh kinh tú tài, vả lại còn có một cơ hội trúng tuyển vào tiến sĩ khoa giáp đợt một.
Nhưng do ông thường ngày sống tác oai tác quái, không chút hành thiện, đã sớm cho thần linh tước đi hết phước lộc được hưởng của ông. Sau khi ông bốn mươi tuổi trở lên, từ từ ông sẽ gánh chịu những ác báo do chính ông tạo ra. Trước kia, việc không thể tha thứ nhất là trước đây không lâu, có người tặng một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” ông đã không tín ngưỡng, còn đem giấu những cuốn sách mà người khác nhờ đem truyền bá lại, cản trở việc hành thiện của người đó, tội này của ông rất nghiêm trọng. Sắp tới ông sẽ mất mạng vào tháng tám, không thể nào được miễn tội!”.
Trần Quân sợ hãi giật mình, đã thức giấc. Nghĩ lại lúc ông đi tham gia thi cử tại Kim Năng, có một cậu con trai của giáo sư Huỳnh Vinh Tăng, đã từng tặng ông cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, nhờ ông chuyển đến cho hai vị thí sinh cùng phòng. Do sắp đến kỳ thi cử, không kịp chuyển đưa, đem về huyện Vọng Giang luôn, bỏ trong hộc đựng sách, đã quên chuyện này lâu rồi, đến bây giờ mới sực nhớ đến, đã xong rồi. Nhưng chuyện trong mơ, vừa mơ màng vừa như thật, không thể không tin, cho nên trong lòng nửa nghi nửa tin. Vào ngày 1 tháng giờ Thìn (Buổi sáng 7 giờ đến 9 giờ), đột nhiên ông cảm thấy tay chân lạnh cúm, trong lòng rối loạn, người toát mồ hôi như mưa. Trong cơn mơ màng, cuối cùng ông tin giấc mơ trước kia là có thật chứ không phải giả tưởng.
Nhưng suy nghĩ lại, tội ác tuy nặng, sám hối không chừng có thể miễn được tai họa. Suy nghĩ như vậy, trong lòng cảm thấy thoải mái hơn nhiều. Cho nên, xin thề được sám hối chuyện trước kia đã làm và lập thề nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, “Âm Định Văn Quảng Nghị”, vv… Sau khi viết xong ông đọc ba lần, rồi đốt tờ giấy đó để tâu thần linh.
Ngay đêm hôm đó, mơ thấy một vị thần linh, dẫn ông ta đến một cung điện lớn. Người hầu của thần linh ngoài cửa đi vô, hình như là truyền đạt lại việc sám hối của ông. Một lát sau đi ra, kêu ông tạm thời đi về. Ông có cảm giác giống như là vừa được thoát khỏi tội chết và dặn dò ông ta: “Lời nguyện thề của mình đã phát đi thì phải kiên quyết thực hành, không được buông lãng bỏ quên!”.
Qua buổi sáng ngày hôm sau, tinh thần của ông hình như rất thanh thản, bệnh tình khỏe lại sau khi được điều trị tốt. Những sự kiện như trên là do ông tự tay ghi lại.
—————-           
Chương 4 – Mục 6: Tái bản sách quý được kỳ phương khỏi bệnh
Số từ: 583
Dưới đây là lời tự thuật của cư sĩ Diệu Nghiêm tại Bích Vân tường. Vào tháng năm năm Qúy Dậu, trường của tôi đặt in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, phải đến thời gian một tháng mới hoàn thành, sau đó chi trả tiền in sách. Lúc ấy, con dâu thứ hai sanh đẻ, đang mừng vì được cháu nội. Không ngờ trong vòng bảy ngày nay, cháu bé đêm khuya khóc suốt không ngừng, không chịu bú sữa, mắt chuyển vàng từ từ. Mặt và sống mũi đã biến sắc. Bác sĩ chẩn đoán chỉ là bệnh nhiệt đới. Không hiểu biết là bệnh khẩu ren rốn phong, tức là bệnh phong đòn gánh.
Khi tôi đọc hết các loại sách kiến thức về bệnh lý, đột nhiên tìm thấy một đoạn nói về trị bệnh phong cho trẻ con, nội dung có ghi:
“Tất cả các trẻ sơ sinh, trong rốn có một cọng gân xanh, đi viền theo đến miệng, mắt mũi, chuyển thành màu vàng: bệnh đó được gọi là rốn phong. Có thể trị cấp cứu bằng một cọng dây ngải cứu để trên bụng trước lỗ rốn có gân màu xanh đốt từng đợt, gân xanh tự nhiên rút lại được hơn một tấc; rồi lại bỏ lên chỗ gân rút lại đốt lần nữa, cứ như vậy làm, gân xanh sẽ biến mất. Nếu như gân xanh đã chạy đến lồng ngực thì khó có thể chữa trị được”.
Tôi liền đi kiểm tra kỹ mình của cháu bé, quả nhiên có cọng gân xanh đi lên, sắp đến lòng ngực, nhanh tay trị bằng hướng dẫn của sách thì gân xanh quả nhiên biến mất. Đã thế, bệnh rẹn gây vàng da cũng chưa thuyên giảm, cả nhà rất lo lắng.
Cho nên, con trai thứ Kỳ Sâm mặt hướng Táo Thần cầu xin, thề nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 300 cuốn, phù hộ con trai tôi được khỏe mạnh. Sau khi cầu xin xong, mặt của cháu bé chuyển thành màu tím. May cho ông có người phụ nữ thôn quê đến nhà thăm, nhiệt tâm lấy kim đâm nhẹ vào nú răng của cháu bé mấy lần, cháu bé đã bắt đầu chịu bú bình thường, sắc thêm thuốc thang trị liệu, đã hoàn toàn khỏi bệnh. Trong lòng nghĩ, lật sách tìm thấy phương pháp trị bệnh đã là chuyện không ngờ, việc người phụ nữ thôn quê đến nhà càng là chuyện bất ngờ. Những chuyện bất ngờ như thế, không người chỉ dẫn nhưng do thần linh phù hộ cũng có thể là có thật. Nói chung có chuyện bất ngờ xảy ra là có thật.
Sau khi cháu nội của ông sắp đầy tháng thì cháu nội lớn lại sốt cao, đã mười ngày mà không thấy hạ sốt. Tứ chi đã nổi lên từng đốm đỏ, nhìn giống ban đỏ. Sau khi uống thuốc cũng không thấy có chuyển biến tốt. Như thế, con trai trưởng cũng hướng về Táo Thần cầu xin và thề nguyện in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn. Qua ngày hôm sau, con trai quả nhiên bình phục từ từ.
Đây là ký sự phát sinh trong hai đứa con trai của tôi là có thật, để thuyết minh cho cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cảm ứng như có thần linh. Tất cả sự việc như trên đều là sự thật, chúng tôi không dám bịa chuyện.
—————-           
Chương 4 – Mục 7: “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giải oan hóa thù
Số từ: 1318
1. Giết người không nhận tội, hồn ma lấy mạng
Ông Nghiêm Trặc Lâm là người của Vi Châu, đã hai mươi mốt tuổi xuân. Người bác của ông xưa nay giúp việc buôn bán mậu dịch cho tiệm tại thị trấn Tô Tùng Mậu, Trặc Lâm cũng đi theo học tập việc buôn bán giao dịch. Người bác của ông đang ở tại căn nhà của tổ đường họ Ôn, Trặc Lâm mỗi đêm về đây tá túc.
Có một buổi tối, đột nhiên ông phát điên lên hét to và nói:
“Tôi họ Vương, tên là Vương Thúy, nhập xác để thổ lộ oan tình: Trước kia, chồng tôi cũng họ Vương, tên là Vương Viên, là người của Triết Giang. Nghiêm Trặc kiếp trước tên là Ngô Diệu Trân, là người của Triết Giang, huyện Gia Hân. Khi Ngô Diệu Trân đến làm khách tại Triết Giang, đã làm quen với Vương Viên, hai người thân tình rất tốt. Vương Viên đã từng giao cho Ngô Diệu Trân một ngàn lượng để làm ăn với nhau. Mấy năm sau, khi Vương Viên đến gặp Diệu Trân để đòi lại số tiền, nào ngờ Diệu Trân đã chối không nhận là mình có lấy số vốn đó của ông Vương Thúy. Làm cho ông Vương tức giận lấy dao muốn giết ông Ngô Diệu Trân. Ông Ngô Diệu Trân bắt được con dao, quay ngược lại giết chết ông Vương Viên, trốn về Nam Xương. Tôi, Vương Thúy đã đến huyện Gia Khánh, để tố giác ông Ngô, đã cầm các chứng từ có liên quan cùng với quan sứ đến Nam Xương, bắt ông Ngô về xử án, sau đó tra hỏi định tội và xử phạt toàn quân. Đấy là chuyện lúc thời Càn Long năm thứ 59.
Đến Gia Hưng 6 năm, ông Ngô Diệu Trân được Hoàng Đế ân xá, thả về nhà. Tôi, Vương Thúy do chồng mất, không tiền của, không người nương tựa, khi hay tin ông Ngô về, đã đến nhà ông đòi lại một ngàn lượng. Nhưng ông Ngô vẫn không chịu trả lại một xu nào, thậm chí còn đóng cửa không cho tôi vô, tôi đơn chiếc một mình, không nhà không cửa, trước sự tức giận, đã treo cổ trước cửa nhà ông Ngô. Khi ông Ngô Diệu Trân nhìn thấy rất là sợ hãi, trốn đi xứ khác. Không đến hai năm thì chết.
Đến niên độ năm Gia Khánh thứ 19, Ngô Diệu Trân đầu thai vào nhà họ Nghiêm, tức là Nghiêm Trặc Lâm ngày nay. Oan hồn tôi Vương Thúy lưu lạc tại thành chết oan, không chịu đầu thai. Ba chục năm nay, do ôm oan ức trong lòng, một lòng muốn tìm cơ hội trả thù. Một mạng cô hồn, tìm khắp tứ phương cũng tìm không thấy. Hôm nay, tôi đi đến thị trấn này, đã cho ta tìm được, nhất định phải lấy mạng của Nghiêm Trặc Lâm về gánh tội, để giải oan hận”.
Mỗi khi đến buổi tối, Thị Vương đều nhập xác ông ta mấy lần, làm cho Nghiêm Trặc Lâm tự tay đấm vào cổ, hoặc tự cắn vào bàn tay, gây cho đầu, tay cổ nứt thịt chảy máu đầm đìa. Người nào nhìn thấy cũng sợ hãi tột cùng. Lúc ấy, có một ông tên là Ôn Đình Lãng, năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi. Biết được chuyện này và đi đến nhà ông Nghiêm ở, khuyên giải thị Vương: “Sau khi nghe được, biết được chuyện này là có thật. Nhưng mà, oan được giải mà không được dứt, oan oan tương báo, tuần hoàn không nguôi, không biết kết thúc lúc nào không xong. Như đã nói, tiền vàng chưa trả, oan hồn chưa được quy tụ. Tôi đồng ý mời cao Tăng hoặc Đạo sĩ có tu hành, đến cầu phước dưới Diêm phủ, một mặt để được cứu mạng cho Nghiêm Trặc Lâm, một mặt có thể cầu siêu thoát cho người được đến nơi phước lành, như vầy là tốt cho cả hai không?”
Thị Vương miễn cưỡng đồng ý và nói: “Tôi đến cùng chồng, thuyền thì đậu ngay bên sông gần nhà ông Châu. Rất cảm ơn về việc ông giải oan cho chúng tôi nhưng phải đưa tiễn chúng tôi đến nơi đến chốn, phải làm cho tôi chiếc thuyền lớn, dầy tấc hai đôi, tiền bạc đến một trăm ngàn. Ngoài ra, trước khi lên thuyền, phải cầu xin thần linh, nhờ thủy thần giúp đỡ”.
Như thế, việc ông Ôn đã làm theo lời dặn của Thị Vương, hoàn thành xong việc chưa đầy hai ngày, Thị Vương lại nhập xác vào thân thể ông Nghiêm mà nói: “Vọng phu Vương Tiên, đã nhận lệnh đầu thai, vì đang ngưng giữa đường đầu thai, phải chờ đến chỉ thị của âm phủ đưa ra, mới được thả ra đi đầu thai. Oan mạng của tôi còn chưa dứt được, hôm nay tôi đến, nhất định phải lấy mạng của ông Nghiêm Trặc Lâm về”.
Sau này, tình hình mỗi ngày càng nghiêm trọng hơn. Khi mắt nhìn thấy mạng sống ông Nghiêm không giữ được, may cho có một ông tên Thiệt Canh, sau khi nghe được chuyện này, đã đến bàn lại với ông Ôn Lãng Đình: “Tôi thấy chuyện kết oan như vậy, không dùng phương pháp in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là giải quyết không được, lúc trước tôi đã từng in 500 cuốn sách này để cầu siêu thoát cho mẹ. Và mơ thấy mẹ đã được chuyển thế làm người; ông Thiệu Tử Văn đã từng vì mẹ lâm trọng bệnh mà nguyện thề in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 500 cuốn, thì được khỏi bệnh. Như vậy, chuyện này có thể thực thi. Tuy tiền tài của ông Nghiêm Trặc Lâm không đủ sức, chúng ta có thể cùng nhau giúp đỡ”, như thế đại diện cho ông Nghiêm viết một văn thư, đốt đi và nguyện thề in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 500 cuốn, tặng thêm “Cứu khổ Chân kinh” và “Phóng Diêm Khẩu” để giải oan sầu.
Không bao lâu, vào đêm 28 tháng 6, Thị Vương lại nhập xác ông và nói: “Ngọc Hoàng đã ban văn thư đến, tôi đã được đầu thoát, đầu thai đến tỉnh này, oan ức giữa tôi và Nghiêm Trặc Lâm đã được giải quyết”.
Mùng một tháng bảy, ông Hồ Thiện Bồi dẫn một tốp người, mời một đạo sĩ có tu hành đến tụng Kinh cho ông Nghiêm. Đến ngày mùng sáu, tụng Kinh hoàn tất. Ngay ngày hôm đó, khi ông Nghiêm đang ngủ, linh hồn đi theo Thị Vương đến trước mặt thần linh, sau khi chịu 30 đòn roi xong, Thị Vương đã tự tay thụ lý kết oan hoàn tất. Khi ông Nghiêm tỉnh dậy, đối mặt với đại chúng thì thấy hai bên đùi đỏ chót và sưng lên, dấu vết còn đây. Từ nay về sau, oan hồn thị Vương đã biệt tích.
2. Kiếp trước gian dâm, ma đánh thổ huyết
Ông Dương Thành Trai nói:
“Nghĩ lúc trước trong thôn quê có một phụ nữ, ban ngày bị ma đánh đến thổ huyết, bà ta tự nói: “Kiếp trước làm người, đã từng hiếp dâm một bé đồng tử, đồng tử sợ hãi, xấu hổ, đã tự tử mà chết. Bây giờ hiện hồn đến đòi mạng của tôi, sợ không thoát khỏi rồi”.
Ông chồng bà ta lập tức nguyện in ấn ba trăm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thay thế cầu siêu thoát cho họ và lập bàn hoa quả bánh chay niệm “Cứu khổ chân kinh”. Trải qua 3 ngày, quả nhiên khỏi bệnh”. Sự kiện này trùng khớp với sự kiện của Nghiêm Trặc Lâm.
—————-           
Chương 4 – Mục 8: Tiếp tục sự ứng nghiệm của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 1940
1. Mơ gặp phương thức chữa bệnh, chữa khỏi bệnh đường huyết
Ông Lý Toàn Thái tại huyện Hà Giang nói:
“Tôi trường kỳ bị chứng bệnh đường huyết, mùa đông năm ngoái đã tái bệnh, bệnh tình thật là nguy kịch. Ông anh Giang Hoài Thanh đến trị bệnh cho tôi, có nhắc đến chuyện có cảm ứng khi in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đồng thời bàn đến vụ án oan ức của Nghiêm Trặc Lâm, sau khi nghe tôi rất là kinh ngạc. Lập tức nghĩ đến cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mà trước kia bạn mình biếu tặng, bấy lâu nay bỏ quên cất trên tủ sách. Sau khi đọc, lập tức đồng ý, in tặng, khi nói xong người rất khỏe, bệnh nghẹt đường huyết cũng tạm ngừng.
Thật là một khái niệm cảm ứng thật lòng, nên lập nguyện in ấn 50 cuốn sách và viết tờ sớ đứng trước bàn thờ Thần Táo Quân thành tâm cầu thỉnh, không bao lâu bệnh tình thuyên giảm được một nửa. Trong lòng nghĩ: Thần và người tương ứng cùng tồn tại với nhau, “tâm tức thần” là ý nghĩa như vậy.
Cho nên, trong lòng cầu thỉnh: “Nếu trong vòng thời gian gần đây mà có thể tiêu tan các sự đau khổ của bệnh tật, tôi nhất định in thêm 100 cuốn”.
Trong lòng nghĩ xong thì ngủ thiếp lúc nào không hay. Khi ngủ nằm mơ thấy một vị bác sĩ nói với mình: “Bệnh của ngươi phải uống thuốc bốn món, một ngày 4 lần”. Khi thức dậy rất là kinh ngạc phương thuốc của Thần chỉ bảo, chính là toa thuốc của ông anh mang đến cho mình, nên tuân theo lời chỉ dẫn mà uống. Không đến 10 ngày sau, kể cả những bệnh trước đây như đốm đỏ trên vòng cổ và bệnh hen suyễn hoàn toàn biến mất, ăn uống cũng trở lại bình thường. Tốc độ cảm ứng của cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” quả nhiên thật là nhanh.”
2. In sách kiêng thịt, liên tục khỏi nhiều bệnh
Ông Lưu Tổ Thái tại huyện Hán Dương nói:
“Lúc tôi năm hai mươi tuổi, tôi bị chứng bệnh thổ huyết, một ngày phát bệnh đến ba bốn lần, kéo dài đã ba năm nay, trăm phương ngàn thuốc đều vô hiệu quả. Sau này, xem sách thiện trong đó có ghi kiêng ăn thịt bò, thịt chó có thể giữ không sinh bách bệnh, tức thì lập lời thề nguyện kiêng ăn thịt bò, thịt cầy. Không đến mười ngày, đã khỏi chứng bệnh thổ ra huyết”.
Sau này, cho đến năm 28 tuổi, vẫn chưa có con. Nên thành tâm thương kính chữ và giấy, luôn không dẫm đạp lên những giấy có viết chữ, luôn xếp gọn vào nơi sạch sẽ và đốt đi. Trải qua thời gian 2 năm, quả nhiên sanh được một đứa con trai. Nhưng không đến một tuổi, con trai đột nhiên phát bệnh, thuốc trị vô hiệu, cả nhà hoang mang lo sợ. Ngay đêm hôm đó, cầu xin ông Thần Táo Quân, nguyện in 10 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, xin vào ngày mùng một phát tâm biếu tặng, sau khi phát nguyện xong, ngày hôm sau thì phát bệnh, khi đến ngày mồng một, do chưa chuẩn bị xong, không kịp cấp phát ngay ngày hôm đó, bệnh của con trai lại tái phát. Tôi lại đứng cầu Thần Táo quân, nhất định sẽ phát tặng vào ngày mồng 4, ngày hôm sau, bệnh của con lại hết.
Đến buổi sáng ngày mồng 4, thời tiết âm u, tôi dự định đến tỉnh thành mua sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, khi qua thuyền, ông lái thuyền nói với tôi, gió rất lớn. Do tâm đã quyết, tôi vẫn lên tàu xuất phát. Khi tàu đến giữa sông, đột nhiên sóng tó gió lớn ào tới, mưa rất to. Lan can của chiếc thuyền bị gãy, trong tâm tôi âm thầm nguyện cầu vái thần linh phù hộ, thuyền đừng bị chìm. Không bao lâu, mưa gió đã ngưng, trời sáng lại, đến tối tôi mới đến tỉnh thành, khi chờ lấy sách và phát tặng xong về đến nhà đã thấy con trai tôi ngồi chơi trước cửa.
Sự kiện này chứng tỏ sự hiệu nghiệm khi tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thực sự cứu nguy giải khó, tạo cho người được may tránh nạn. Ký sự này để làm chứng cho những người ưa thích hành thiện.
3. Bệnh ban, hen suyễn, in sách khỏi bệnh
Ông Lưu Quốc Chấn nói:
“Tôi đồng hương với ông Lưu Tổ Thái. Đã từng nghe nói con trai ông ta bị bệnh hoa ban, do in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, lập tức từ nguy chuyển sang lành. Vào tháng 12, cháu tôi cũng bị bệnh hoa ban, sử dụng nhân sâm, các loại thuốc bổ, thuốc quý, đều vô hiệu. Lại thêm bệnh hen suyễn, không ăn uống được, ăn uống đều nôn ra, mệt đến không nói ra lời.
Người nhà rất là lo âu. Ông Vương Tâm Đình khuyên tôi nên in sách thiện tặng thiên hạ. Chợt tôi nghĩ đến chuyện con trai ông Tổ Thái, như trong giấc mơ thức tỉnh lại. Lập tức, hướng về trời cầu vái thần linh, nguyện in 20 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và sách “Âm Định Văn Chú Thích”, 30 cuốn sách biếu tặng thiên hạ.
Không bao lâu, bệnh hen suyễn và bệnh ban đều tan biến nhưng lại mọc ra những mụn nước, trong sách bệnh lý gọi là “Tử cứu mẫu” là những chứng bệnh mang đến tốt lành. Ông Tâm Đình rất là vui mừng, nói: “Nên sửa tên của cháu ông thành tên Tái Sanh”. Như thế tên của cháu tôi đã sửa thành “Tái Sanh”.
Trên trời lúc nào cũng ban phước cho những người có lòng thiện tâm và công đức, cho nên sự báo ứng rất là rõ rệt”.
4. Ký sự trị bệnh khỏi chân
Ông Vương Đình Quang tại huyện Hán Dương nói:
“Tôi lúc nhỏ đã học tập “Kinh Dịch” và “Bát Quái”, cho nên đã hiểu được đạo lý thần ma trong âm dương, mấu chốt cảm ứng sự hung và lành. Sau khi đọc xong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, chuyên lý luận nguyên lý việc nhân quả báo. Những sự việc như trên tuy nhiên liên quan đến chuyện thần linh và hồn ma, không thể chứng minh và chứng kiến hiện thời nhưng trong đạo lý có nói, quả thật chính xác không rời, nhân quả báo Dịch”, ngũ hành, Bát quái âm dương, có thể làm chứng cứ bù đắp quá khứ.
Cháu của tôi tên là Dương Phàm, bị bệnh chân đã từ lâu. Một ngày, tôi ghi một tờ sớ đốt lên cho Thần Táo Quân, xin hứa chia đợt in tặng 500 cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và tặng trước 100 cuốn. Từ đó, bệnh chân dần dần khỏi. Đến khi in tặng đủ số lượng thì bệnh hoàn toàn dứt, thật là một kỳ tích!”
5. Ký sự thoát hiểm bệnh hoa ban
Ông Lưu Đức Hậu nói:
“Trong huyện Hán Dương của chúng ta đang có bệnh dịch, trẻ em bị bệnh hoa ban. Mỗi khi đến mùa xuân là phát bệnh. Vào ngày 22 tháng 12, con trai tôi tên là Tân Nhân, tự nhiên bị nhiễm bệnh hoa ban, đến ngày mùng 2 tháng giêng, tiêm thuốc vẫn không hết bệnh, cả nhà rất là lo sợ. Mau hướng trời cầu cứu, xin nguyện in tặng 20 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đến giờ Ngọ ngày mùng 5, bệnh càng trầm trọng thêm, người bị tái tím, tưởng như là không qua khỏi được.
Ông Đồng Hương Phù khuyên tôi nên cầu cứu thần linh và in tặng thêm 20 cuốn sách thiện, tổng cộng là 40 cuốn, để tăng thêm công đức. Đến giờ Mùi (một giờ trưa), người trở hồng lại. Sau đó, qua cơn nguy kịch, uống thuốc đạt hiệu quả, vài hôm sau, bệnh hoàn toàn khỏi hẳn, không để lại thẹo”.
Đặc biệt ghi lại sự kiện này, để phát ra sức mạnh khi thần linh ban phước.
6. Ký sự về hồn ma lính quỷ bỏ thuốc để móc hồn
Ông Giản Tống Kiệt bị bệnh nặng, không ngờ sau khi sắc thuốc uống xong, người toát mồ hôi lạnh rồi tử vong. Sau khi chết, đột nhiên ông thấy hai lính quỷ tay cầm danh sách dẫn giải đi, ông mặc áo chỉnh tề ngồi lên xe. Khi ngồi trên xe, ông nghe có một người phụ nữ đang chửi bới không ngừng.
Không bao lâu, đến trước cửa một giống như quan phủ, nhìn thấy một vị quan ngồi trên quan đường hỏi, nhìn rất là uy nghiêm. Hai lính quỷ quỳ xuống trình báo sự việc. Khi ông quan hỏi cung gọi đến tên ông Giản Tống Kiệt và truyền ông ta đến trước sảnh, tra hỏi lý lịch quê quán của ông ta.
Ông Giản rất kính nể mà trả lời: “Tôi là Tiến sĩ, người của Vân Nam Côn Minh, hiện tại đang giữ chức trong một quan phủ”.
Ông quan lập tức thoát lên và nói: “Sai rồi! Sai rồi! Đáng lẽ phải là ông quan bên tỉnh Hồ Nam, lính quỷ nhanh tay đưa về trần dương”.
Ông Giản hỏi thăm và nói: “Đưa tôi hồi dương sao, lấy gì làm bằng chứng?”
Ông quan trả lời: “Lúc ông bệnh, bác sĩ cho toa thuốc, trong đó mạ vàng ba phân nhưng lính quỷ theo ông đến tiệm thuốc, dùng tay che mắt ông sửa thành 3 chỉ, đây chính là chứng cứ”.
Khi ông Giản ra khỏi quan phủ, hỏi lính quỷ: “Ông quan trên phủ là ai? Nhìn mặt rất quen”.
Lính quỷ nói: “Ông là một quan viên lúc trên trần gian, vì sống trên trần gian rất liêm chính. Sau khi chết, được Ngọc Hoàng Đại Đế phái đảm nhiệm chức quan tại đây”.
Không bao lâu, hồn của ông trở lại trần gian về đến nhà, ông nhìn thấy người thân và bà con đang ngồi bàn việc ma chay cho ông. Ông cảm thấy người ông ấm lại, tay chân cử động được. Ông thét lên gọi người nhà: “Tôi sống trở lại rồi, mang đem canh nóng cho ta uống!”
Sau khi khỏi bệnh, ông hỏi thăm phu nhân kiểm tra lại toa thuốc, trong đó món mạ vàng cân lại, quả nhiên là 3 chỉ. Rồi kiểm tra lại toa thuốc của bác sĩ, trong đó ghi chỉ có 3 phân thôi.
Phu nhân của ông rất hối hận mà nói: “Khi đem thuốc về, không thời gian kiểm tra kỹ lại, nên mới xảy ra sự cố như trên”.
Ông Giản Tống Kiết nói: “Không phải chuyện do bà gây ra!”
Nên đã kể hết chuyện mình đã từng trải qua cho bà vợ nghe. Mấy hôm sau, ông hàng xóm, người Hồ Nam quả nhiên qua đời. Ông đi tìm hiểu, đúng là ông ta giữ chức quan như ông nghe thấy. Ông Giản Tống Kiệt, đưa chuyện này lưu truyền phát hành, đặc biệt là góp tiền in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để khuyên thế gian. Từ đây về sau ông không ngừng làm việc tốt, vừa được thăng quan. Và con trai ông đã thi đậu vào khoa tiến sĩ.
—————-           
Chương 4 – Mục 9: Những ký sự về việc in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” được khỏi bệnh
Số từ: 2640
1. Phát nguyện in sách – Thần linh tặng thuốc
Con dâu thứ của tôi là Thị Lưu, đã từng bị nhiễm dịch bệnh, cả thân thể nổi lên chấm đỏ. Uống thuốc cũng vô hiệu, bệnh ngày càng nghiêm trọng. Đến ngày thứ 12, bác sĩ nói: “Độc tố của bệnh đã di chuyển vô tim, mạch khí đã tuyệt, rất nguy kịch trong nay mai”, cả nhà đã bó tay. Cho nên, tôi gấp rút đến đền thờ Thần Táo Quân đốt nhang cầu vái: “Nếu như bệnh tình dâu thứ của tôi được khỏi bệnh, tôi đồng ý in tặng 100 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, vả lại khuyên giải người đời kính ngưỡng cuốn sách này để cải thiện”.
Đến giờ khuya canh hai, lại đến trước đền thờ Thần Táo Quân cầu vái thật lâu. Đến giờ canh bốn, cùng với con trai thứ âm thầm cầu vái trong phòng: “Nếu Ngọc Hoàng Đại Đế từ bi, có thể cứu được bệnh của dâu và vợ của chúng con, có thể khỏi bệnh, chúng con cố gắng hết sức mình để khuyên độ thế nhân kính ngưỡng đạo lý của sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”“.
Đến lúc giờ canh năm, người nhà ngủ thiếp đi tại bếp, trong mơ nghe thấy tiếng người gõ cửa. Khi mở cửa ra, nhìn thấy có một lão già, trong tay cầm một viên thuốc màu đen, nói là đến trị bệnh cho Thị Lưu. Vừa nói xong, bước thẳng vô nhà, cùng với con trai thứ cho thị Lưu uống thuốc. Cả nhà đứng ở phòng ngoài mong đợi, đột nhiên nghe trong phòng có tiếng nói: “Phải cử động nhiều!”, ngay lập tức nhìn thấy có một người hầu tay bưng thùng ra. Đột ngột rớt xuống, làm đổ thùng phân, để phân văng đầy mình của người nhà, giật mình thức tỉnh. Chạy vào trong phòng, nghe bệnh tình của dâu thứ khỏe lên nhiều. Sau khi trời sáng, mời bác sĩ đến khám, phát hiện mạch nguyệt đã hồi sinh. Uống thuốc thêm mấy liều, đã khỏi bệnh.
Đây chính là thần linh đã âm thầm phù hộ, là chuyện có cầu có ứng. Ban cho các quân tử thích hành thiện, nếu thấy cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nhất định phải thành thật ban hành chân lý trong sách. Hoặc sao chép in ấn, truyền tặng cho người khác: hoặc truyền cáo những sự kiện như vậy cho người khác hiểu, dùng để khuyên giải đời người cải hóa lòng thiện, nhất định nhận được vô lượng phước báo.
2. Nguy cấp cầu cứu hiện linh ứng
Cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” ghi lại các sự kiện về báo ứng của họa và phước, một mặt để khuyên giải thế nhân, một mặt để hỗ trợ cho người, giải quyết các nguy khó thực tế và cầu vái, thật là một cuốn sách thiện bửu điển có lợi cho nhiều mặt, cho nên tôi rất là kính ngưỡng. Trong nhiều năm qua, tôi liên tục quyên góp tiền để in tặng sách. Vừa tận tay mình cầm bút chú thích, dẫn đạo người vì thiện.
Lúc ban đầu, tôi chỉ cảm nhận những sự kiện trong sách nêu về phước họa báo ứng, hoàn toàn là do tác giả muốn viết ra để khuyên thế gian hành thiện; rất là khả kính, thật sự là mình cũng chưa tận mắt nhìn thấy. Con gái thứ của tôi, gả cho họ Lăng làm dâu, tức là con trai trưởng của Lăng San Hoài, Lăng Trọng Thanh làm vợ. Sui gia bên San Hoài là tú tài gia tộc, cho nên được mời đến gia phủ của ông Triệu Chi Hương làm gia sư, cả gia đình đều dọn đến nơi ấy lập nghiệp.
Ngày 12 tháng 2 mùa xuân năm ấy, thứ nữ đột ngột đau bụng dữ dội, những người nghe được đều không đành lòng. Ông sui cũng thông về đạo y thuật nhưng liên tục uống mấy liều thuốc cũng không thuyên giảm. Trọng Thanh nhìn thấy vợ mình đau đớn như thế, khổ tâm đến rơi cả nước mắt. Khi phu nhân của tôi nghe tin con gái, lập tức lên đường cùng cậu con trai thứ ba ngồi kiệu đến thăm, mẹ con gặp nhau, chỉ có thể cùng khóc òa lên. Phu niệm thê, mẫu niệm con, đệ niệm tỷ, một cảnh nhìn rất thảm khóc, cho dù là lòng dạ sắt đá cũng thương tâm. Con rể khi nhớ đến trời đã tối, mau mời tôi về thôn quê nhưng đã không kịp.
Đột nhiên, con rể của tôi nhớ tôi đã từng nói: in ấn tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” rất có công hiệu khi cầu cứu. Cho nên, nhanh đến trước đền thờ của Thần Táo Quân quỳ cuống cầu vái: “Nguyện in tặng 60 cuốn sách mong cho vợ được khỏi bệnh”.
Sau khi thề nguyện xong, trải qua nửa tiếng đồng hồ, tuy bệnh có chuyển biến tốt nhưng vẫn không giảm đau. Con rể đang suy tính, đột nhiên nghe thấy vợ mình hét lên nói: “Ai cho tôi uống viên thuốc, kẹt trong cổ họng không nuốt được?” Khi nói xong, viên thuốc đã lọt vào trong bụng. Không bao lâu, bụng đã hết đau. Suy nghĩ lại lúc này, trong phòng người thân đều cạnh bên giường, không thấy có ai cho cô ta uống thuốc gì cả.
Đến ngày thứ hai thì bệnh hoàn toàn khỏi, con rể tường thuật lại sự kiện như trên cho tôi nghe. Tôi nói: “Đây chính là linh cảm khi in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thần linh đã ban thuốc thần, con phải cảm tạ lòng từ bi của Thần Phật cứu độ”.
Con rể tôi nói: “Dạ, dạ!”
Thuật lại những sự kiện linh nghiệm như trên, khi dùng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để cứu bệnh, dùng để chứng nghiệm linh cảm của cuốn sách này, đưa cho các vị thiện nhân quân tử, tạo cho người có lòng tin kiên cố. Phổ biến quảng bá, hành thiện cho nhiều, trên trời sẽ ban phước phần cho người có lòng thiện tâm. Cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” so sánh với những cuốn sách khác, thật là có khác biệt rất lớn.
3. In tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” sinh đẻ bình an
Thị Bao là vợ của ông Trần Đạo Mẫn tại Cảnh huyện. Trong năm nay, ngày 20 tháng giêng, đột ngột sanh non với bào thai tháng thứ năm. Đau bụng dữ dội, khi cuống rốn thai đã lòi ra, thật là nguy kịch.
Ông Trần đứng nhìn bối rối, tức thì đến trước Thần ông Táo Quân để cầu vái, thề nguyện in tặng 200 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sau đó, hài nhi sanh ra an toàn, Thị Bao cũng bình an. Tiếp tục in tặng thêm 200 cuốn sách, thân thể bình phục nhanh chóng.
Đây chính là linh nghiệm của sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Cho nên, tôi ghi nhận lại, để cho những người thích hành thiện tăng thêm một minh chứng.
4. Khi bị bệnh u mắt, in tặng sách được bình phục
Người sống trên đời, chỉ cầu sống đúng với lương tâm là được. Vì lương tâm chính là chân lý, chân lý chính là ý trời. Nếu đúng được với lương tâm của chính mình thì đúng với ý trời. Phải đối mặt làm sao mới đúng ý trời đây? Hành thiện chính là đúng với ý trời, nếu đúng được ý trời, cõi trời nhất định sẽ hỗ trợ cho mình; nếu làm trái ý trời, cõi trời nhất định ban xuống thảm họa chết chóc, đạo lý như thế luôn không thay đổi.
Lúc tôi thời thanh niên, tầm nhìn chưa được thông thoáng tinh vi, tuy hiểu được làm việc tốt là đúng với đạo lý của cõi trời, nhưng đối với chuyện báo ứng của thiện ác, vẫn còn nửa nghi nửa tin. Trong một cơ hội ngẫu nhiên, tôi có được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” sau khi đọc. Thấu hiểu việc thiện không thể không làm, tại vì báo ứng của thiện và ác quả thật không sai. Trong số việc thiện mình cần phải làm; không gì bằng và lớn hơn là khuyên giải được đời người hành thiện và hơn cả việc khuyên giải người hành thiện là bố thí hoặc in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Vợ tôi Thị Giang, năm nay năm mươi tuổi, thường ngày có tâm từ bi, rất là kính ngưỡng cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Trong năm, vào giữa tháng 7, đột nhiên mắc bệnh mắt, hai con mắt mọc lên khối u che hết phần mắt, rất là đau đớn, ngồi nằm không yên, không ăn uống được, tầm nhìn bị kém đi. Tôi nghĩ, bệnh mắt là một chứng bệnh có thật, chứ không phải là do tâm lý gây ra, sử dụng thuốc để đắp, rửa, nhỏ thuốc có thể có hiệu quả chăng. Nhưng đã trải qua 10 ngày, tất cả các phương thức đều vô hiệu, đã hết cách.
Đang trong tình thế không biết phải làm sao, vợ tôi đột nhiên nhớ đến chuyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có cảm ứng trị lành bệnh tật, kêu con trai đến trước đền thờ Thần Táo Quân cầu vái, thề nguyện in tặng 100 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Lập tức, cơn đau giảm đi và ngủ thiếp đi. Đến buổi sáng ngày hôm sau, mắt bớt sưng và mở mắt ra, nhìn hơi rõ. Từ từ cũng dần khỏi bệnh, thông qua sức mạnh của lời thề để đạt được mục đích là phương pháp linh nghiệm hay không linh nghiệm, báo ứng là có hiệu hay vô hiệu, thật rõ ràng, rất là có sức thuyết phục.
Tôi vốn là người huyện An Ưu của Sơn Đông, dẫn dắt vợ con lưu trú đến Thẩm Dương. Lập nghiệp bằng nghề gia sư, nên kinh tế rất là nghèo khó. Nhưng có tâm thích làm việc thiện, mọi khi cầu vái lập lời nguyện, đều không dám thất hứa không trả. Cả nhà ăn ở bình dân, siêng năng làm việc, mới tiết kiệm được một ít tiền, mua một số sách thiện tặng cho người có duyên, hy vọng ai ai đều tin tưởng mà truyền bá với nhau, cùng quy với Thiện đạo.
5. In ấn sách thiện, sự nghiệp thuận lợi
Ông Thăng Văn Khiêm là người huyện Tung Linh của Tứ Xuyên, buôn bán tiệm cơm tại khu phố giới Nhật Bản đường Hậu Vinh “Tứ Thời Xuân”. Ngày 28 tháng 4 năm Canh Thân, vì thay đổi chính sách quản lý, chuyện buôn bán không thuận lợi, nên tắm sạch sẽ, đốt nhang khấn vái: “Nếu như việc làm của tôi làm được thành công, tôi nguyện in tặng 100 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” “.
Rất là kỳ lạ, không đến mấy hôm sau, các việc mình đang làm đều thành công hết. Tôi rất kính ngưỡng bố thí, để trả đáp Thần Phật trên cõi trời ban phước. Và ghi lại sự kiện như thế chủ yếu để khuyên giải thế nhân hành thiện.
6. Tặng sách hóa giải được con cháu phản nghịch
Lúc tôi trung niên thì vợ đột ngột qua đời, để lại cho tôi đứa con trai còn trẻ thơ: vì mưu sinh, tôi đã bỏ nghề gia sư, đi làm nghề bán thuốc, vì nghĩ nghề bán thuốc có thể tự phòng thân, vừa có thể cứu người, làm ăn phất lên, ai ngờ con trai dại khờ, phản nghịch.
Tôi nghĩ, thời xưa, cổ nhân có câu “giữ tiền tài để lại cho con cháu bất hiếu, chỉ làm tăng thêm tội lỗi và hại cho con cháu mà thôi, nếu người biết suy nghĩ, sẽ không làm như vậy”. Cho nên, thà để tiền tài làm chuyện thiện, in tặng sách thiện, mong trời phù hộ ban phước lành cho con cháu đời sau được yên lành. Khi gặp hãng in xuất bản sách thiện, tôi lập tức quyên góp tiền in tặng “Tam Thánh Kinh”, “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mấy trăm cuốn, sau này lại in thêm 100 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sau khi in, không ngại ngùng gian khó, vượt núi qua sông, tự tay truyền lưu biếu tặng đến khắp nơi. Đến nay mới ba năm, tôi thầm nghĩ rất là linh nghiệm. Tuổi già, sức khỏe của tôi đã từ từ bình phục, sự nghiệp thì đã được toại nguyện, cả nhà người bình an vô sự, kể cả đứa con trai phản nghịch lại tôi cũng từ từ chuyển hóa hiếu thảo với tôi.
Chuyện không thể ngờ nhất là: lúc ấy, trên địa bàn thường xuất hiện thổ phỉ cướp giật khắp nơi, bà con trong làng nhà nào cũng bị gây rối, tổn hại rất thê thảm. Nhưng có cái lạ là, khi thổ phỉ đi ngang qua đến trước cửa nhà tôi, không hề dám bước vô nhà tôi để cướp và xâm phạm gây rối, theo tôi nghĩ, nếu như không phải kính ngưỡng sự cảm ứng của sách thiện “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, không thể nào được bình yên như vậy.
Bởi cho thấy, khi hành thiện nhiều được trời ban phước, Thần Phật phù hộ. Nay tôi xin ghi lại những sự kiện như trên để cùng những thiện sĩ khuyến khích cho thiên hạ.
7. Truyền lưu “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giải trừ thân thể suy yếu
Ông Hồ Lê Hiền tại huyện Lâm Giang, tỉnh Giang Tây, do lo làm ăn buôn bán quá gắng sức nên đã lâm bệnh nặng. Tuy uống thuốc bệnh có thuyên giảm nhưng thân thể rất yếu ớt, khó bình phục như xưa.
Vào một buổi tối ngày 30 tháng 11 năm Nhâm Tuất, ông đứng trước đền thờ Thần Táo Quân cầu vái, nguyện được in ấn 200 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” khuyên thế gian.
Từ đó về sau, tinh thần rất là khỏe, nửa năm sau, quả nhiên bách bệnh biến mất, nên cho thấy linh nghiệm khi in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là không sai chút nào. Xin ghi dựng lại sự kiện.
8. Phụ in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” việc thuận bệnh tan
Tôi tên là Hoàng Anh, làm buôn bán nhỏ. Sau khi xem được xem được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cảm nhận được cuốn sách này có thể cảnh tỉnh người, nên đã quyên góp 300 đồng in sách và giúp nhà sách in ấn bản thảo để in sách lưu thông đến thiên hạ.
Một tháng sau, có một vị khách cũ đột nhiên đến yêu cầu đặt 200 ngàn tiền hàng, tôi cảm thấy rất ngạc nhiên, vì khách hàng này mỗi năm chỉ đặt giá trị khoảng 100 ngàn đồng tiền hàng, tại sao lại đột nhiên tăng lên gấp đôi?
Không bao lâu, lại thêm một chuyện rất là kinh ngạc: Tôi có cục bướu lớn bằng ngón tay mọc ở phía đùi, đã liên hệ bệnh viện để chuẩn bị làm phẫu thuật, không hiểu tại sao lại tự nhiên biến mất, hai sự kiện như vậy đều phát sinh sau khi tôi hỗ trợ in ấn sách thiện “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Rất làm cho tôi không thể không kính phục.
Tôi đặc biệt nêu ra sự kiện như trên, nếu có nửa lời nói dối, tôi sẽ mang tội về lừa thần gạt thế gian và chịu sự trừng phạt.
—————-           
Chương 4 – Mục 10: Những sự kiện có thật trong thời hiện đại
Số từ: 4661
1. Sám hối in sách, bệnh bại liệt kháng phục
Tôi tên là Tần Bác Cầu, người Quảng Đông Phật Sơn, sinh năm 1930. Mười mấy năm nay tôi bị bệnh sung huyết não, năm 1999 tôi bắt đầu bị liệt nửa thân người, đã tốn rất nhiều tiền và tìm rất nhiều cách chữa trị đều không có chuyển biến tốt.
Sau khi học Phật lý, tôi mới hiểu được đây chính là sự ác báo của tôi, vì lúc tôi còn trẻ có thể nói là đủ cả ngũ độc ác, sát sanh, trộm cướp, ác khẩu đã gây ra rất nhiều ác nghiệp. Bởi vậy, mới phải chịu ác báo trong kiếp này.
Để sám hối ác nghiệp của mình, tôi đã chuyển qua ăn chay trường, mỗi năm phóng sanh một lần, mỗi buổi sáng, chiều, tối đều lạy Phật, in tặng sách thiện, cúng sam “Lương Hoàng Bửu Sam”, niệm kinh “Đại Bi Chú” và luôn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” xin cầu sanh tịnh thổ.
Trải qua tu hành sám hối, bệnh tình của tôi quả nhiên có cải thiện, cơ thịt phía đùi có thể hoạt động, chi bị tê liệt đã có thể tự chủ động, khi bước chân hơi nhẹ nhàng.
Vào mùa xuân năm 2003, khi tôi được xem cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã thấu hiểu sự nhân quả báo ứng là có thật, nên tôi nguyện in 4000 cuốn để biếu tặng cho bạn bè và bà con thân thiết và gửi bằng đường bưu điện đến các chùa miếu lưu thông truyền bá.
Không ngờ đến tháng 6, bệnh tình của tôi cải thiện càng rõ hơn, có thể tự đi được nhưng vẫn còn bập bễnh. Đến tháng 10, nửa thân người bị liệt của tôi hoàn toàn bình phục, có thể tự đi lại sinh hoạt, tay chân cũng linh hoạt khỏe khoắn, đi đứng như người bình thường, mặt sáng như hồng quang, tinh thần khỏe mạnh, bác sĩ và bà con đều thấy ngạc nhiên, kể cả chính bản thân tôi còn thấy lạ kỳ, làm sao có thể có phép thần đến mức này? Nhưng đây là là sự thật, tôi càng tín ngưỡng hơn về sự hiệu nghiệm của cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Bây giờ, tôi thường phát tâm tuyên giảng về nhân quả báo ứng cho người có duyên cùng hiểu, khuyên người hãy tin tưởng, in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đồng thời phát tâm học Phật lý, quy y tam bảo.
2. Tuyên giảng “Bửu Phiêu” – Giải khó thoát nghèo
Huyện Dương Tuyền tỉnh Sơn Tây có một bà nông dân tên Lý Đông Mai, năm nay 32 tuổi, học lực văn hóa chỉ đến bậc trung học, người chồng đã mất mấy năm trước do bị bệnh. Một mình bà ta một tay nuôi con một trai một gái và người mẹ chồng đã hơn 70 tuổi, dậy sớm về khuya siêng năng làm việc, cuộc sống rất là khó khăn.
Vào một dịp ngẫu nhiên, bà ta ở nhà người bạn thấy được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và “Ký Sự Nhân Quả Báo Ứng”, liền mượn về đọc, một số đoạn đọc không hiểu thì hỏi thăm những hàng xóm có văn hóa biết chữ nghĩa, những người này nói bà ta mê tín, kêu bà ta không nên tin tưởng, khi bà ta đọc xong đã trả lại cho người bạn. Trong lòng nghĩ: đời mình thật là khổ, đã sớm trở thành quả phụ rồi, hai đứa con còn thơ ngây, công việc cày ruộng vừa cực nhọc vừa mệt người, lại phải lo con cái theo học, phải làm sao bây giờ? Đời sống sau này chắc còn khốn khổ hơn nữa, nghĩ đến như thế, không kiềm chế được nước mắt tuôn ra, khóc không thành tiếng.
Bà ta nghĩ ra trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” tuyên truyền những sự kiện về nhân quả báo ứng nếu tích cực công đức nhiều cũng có thể thay đổi số mạng, nên quyết tâm thử một lần.
Ngày hôm sau khi ăn cơm tối xong, đi tắm rửa, thay một bộ đồ sạch sẽ, bày một chén cháo, một đĩa cải mặn, 3 củ khoai lang đặt trên bàn bếp và quỳ xuống lập lời thề, tôi xin được lấy những gì tôi có thể nhớ ra các sự kiện về nhân quả báo ứng trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nói cho 20 người nghe trong vòng thời gian nửa năm, vả lại sẽ không bao giờ ăn thịt bò, thịt chó, sẽ không lấy nồi chảo nhà bếp của mình nấu thịt bò và thịt chó. Hy vọng Thần Táo Quân sẽ phù hộ tôi có thể vượt qua gian nan khó này.
Mỗi buổi sáng, tôi vẫn đi làm ruộng, tối về có thời gian gửi con cho mẹ chồng trông coi, nhanh chạy sang nơi thường ngày hay lui tới trò chuyện với những bạn gái, từ từ đem những chuyện nhân quả báo ứng trong sách truyền lại cho họ nghe, không ngờ sau khi họ nghe xong, họ kể lại những sự kiện về thiện báo ác báo xảy ra ở những nơi gần xóm của họ cho bà ta nghe. Và kết hợp lại nói chung với cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
10 ngày sau, khi bà ta đang nói với người thứ 3 xong. Qua ngày hôm sau, người em trai đã mất liên lạc đã 7 năm đột nhiên đến thăm bà, tặng cho bà 500 quan tiền (thời điểm đó thu nhập bình quân của một người nông dân bình quân 300 quan tiền mỗi năm) và tặng cả mì ăn, đường, bánh… ở lại một đêm thì đi về.
2 tháng sau, sau khi bà ta nói xong cho người thứ 10 nghe, một người bạn cũ ở tỉnh khác gửi thư cho bà, nói là chồng của cô ta đang thành lập một nhóm tổ chức “công trình hy vọng” góp vốn xây dựng trường cho các trẻ em nghèo được đi học, từ tiểu học cho đến trung học, tất cả đều được tài trợ miễn phí, mong muốn bà ta cũng gửi đơn điền đầy đủ thông tin gửi đến chính quyền trong xóm đóng dấu là được đi học. Sau khi xem xong, bà ta rất là vui mừng, cảm thấy cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thật là linh nghiệm, ngay tối hôm đó, bà ta đứng trước đền thờ Thần Táo Quân tạ lễ bà biểu hiện quyết tâm tuyên truyền tiếp sự kiện và đạo lý về thiện ác nhân quả báo ứng.
Trải qua một tháng sau, bà ta đã hoàn thành việc nói cho 20 người nghe về đạo lý của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Nhưng vẫn không tạm ngừng tuyên giảng về chuyện nhân quả báo ứng.
Sau nửa năm, có người đến giới thiệu cho bà ta một người đàn ông đã góa vợ, tuy có dắt theo một người con riêng, nhưng gia cảnh rất giàu có, hai người cũng hợp duyên. Như vậy, bà Lý Đông Mai nói tôi rất tin vào nhân quả báo ứng và tôi sẽ không ăn, không nấu thịt bò, chó. Người đàn ông đó khi biết được bà ta tin tưởng về quả báo của thiện ác, cảm thấy người phụ nữ như vậy nhất định là một người sống hiền từ và chỉnh chạc, càng vui mừng hơn. Không bao lâu, hai người đã thành hôn, người đàn ông đó đối xử với hai đứa con và bà mẹ chồng của bà ta rất tốt, hiện giờ cả nhà sống cuộc sống rất là mỹ mãn và hạnh phúc.
3. Có cầu có ứng, linh nghiệm như thế
Tôi là người của thị trấn Văn Đăng tại tỉnh Sơn Đông, tên là là Tòng Thụ Đức. Vợ tôi là Thị Trương, vào tháng tư đột nhiên bị đau
tức ngực, đau đến khóc suốt cả ngày lẫn đêm, chữa trị vô hiệu, không ăn không ngủ.
Trong lúc hoang mang, nghĩ đến đã đọc cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có ghi lại nếu thành khẩn tin tưởng này thì có thể cầu phước cầu thọ, cầu con, cầu lành bệnh… Vả lại không có việc nào mà không toại nguyện. Cho nên, tôi âm thầm ngửng mặt lên trời cầu xin: Nếu như vợ tôi có thể khỏi bệnh, tôi sẽ kính ngưỡng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và sẽ in tặng 150 cuốn sách, không ngờ qua ngày hôm sau, cơn đau của vợ tôi đã bớt đi ¼. Qua mấy hôm sau thì khỏi hẳn, quả là linh nghiệm đến thế!
Nên tôi xin ghi lại cho đại chúng biết sự thật là như thế, để tất cả các vị đều biết sự linh nghiệm của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
4. Chia đợt in tặng, vẫn được toại nguyện
Vợ ông Kim Triệu Hưng Thị Phò tại huyện Thông Hóa, vào tháng 7 bị bệnh nặng, trị liệu bằng thuốc và châm cứu đều không thấy có hiệu quả, bác sĩ cũng bó tay.
Khi ông nhớ đến có đọc qua cuốn sách thiện “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” trong đó có nói sự linh nghiệm về trị bệnh, nên ông đứng trước tượng Phật cầu vái: nếu như bệnh của vợ tôi có thể trị khỏi, tôi xin in tặng 1000 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sau khi cầu vái xong, bệnh của vợ có chút chuyển biến tốt, mời thêm bác sĩ về khám, uống thuốc thêm hai ba thang thì khỏi bệnh.
Vì trong địa bàn của mình không có nơi in ấn sách, cho nên tôi chưa được in sách thiện biếu tặng như lúc lập lời thề nguyện. Đến mùa xuân năm sau, bệnh của vợ tôi lại tái phát, nghĩ đến lần trước đã hứa in sách vẫn chưa thực hiện, lòng áy náy bất yên. Lần này lại thành tâm cầu vái xin Thần Phật phù hộ vợ tôi được khỏi bệnh, tôi sẽ phân ra thành nhiều đợt in sách biếu tặng.
Sau khi cầu xong, vợ của ông ta lại đột nhiên khỏi bệnh, mấy hôm sau có thể ăn uống và đi lại bình thường. Nên ông rủ thêm mấy người bạn có thiện tâm cùng nhau góp tiền in sách như “Kinh Quan Thế Âm” 1200 cuốn, “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 900 cuốn. Do không đủ tiền, số còn lại chia ra mỗi năm một ít, đến khi hoàn thành số lượng mình đã lập lời nguyện.
5. In tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, vạn sự thuận ý
Tôi tên là Tiêu Hồng Đào, gia cảnh rất là nghèo khổ, lúc 3 tuổi mẹ qua đời, do cha nuôi nấng. Năm 14 tuổi, mới được vào học đường theo học, năm 20 tuổi đã đi lính bộ đội, từ sỹ binh rồi đến nhóm trưởng, liên trưởng rồi phó doanh trưởng, cảm thấy rất thuận lợi. Không ngờ, bị người hãm hại, bị hạ chức xuống làm nhóm trưởng, mất rất lâu thời gian mới khôi phục được chức liên trưởng.
Những năm nay, tư tưởng bị chèn ép, tinh thần đau khổ, thân xác mệt mỏi, trị liệu thời gian dài vẫn vô hiệu quả, sau này khi đến nhà người bạn đọc sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” góp tiền in 50 cuốn sách cầu xin Thần Phật phù hộ, khi làm việc công việc tư đều rất thuận lợi.
Cho thấy cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có cầu có ứng và hiệu quả linh nghiệm của việc in tặng sách thiện rất rõ rệt.
6. Cứu nguy trị bệnh, an khang cát tường
Tôi tên là Lý Tử Chinh, năm nay đã 72 tuổi, ngụ tại Sơn Hải Quan. Vì chân có bệnh nên đi lại có vấn đề, biết được sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có linh diệu, nên đứng trước bàn thờ Thần Táo Quân lập lại lời nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn, mấy hôm sau bệnh đau chân đã biến mất, đi lại như người bình thường. Tiếp theo lại đi cầu xin được khỏe mạnh. Gia đạo bình an, kính tặng thêm sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 200 cuốn.
Bạn thân của tôi họ Dương, tháng 8 năm ngoái lâm bệnh nặng thường hay trở nên nguy kịch, nên đã cầu vái trước Thần Táo Quân và lập lời nguyện, đồng ý in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn, ngay ngày hôm đó đã khỏi bệnh.
Lại đến con trai trưởng bị đau chân, con trai thứ nhỏ tuổi ốm yếu hay bệnh, nên mỗi người in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn để cầu bình an, đều được toại nguyện. Hiện giờ, cả nhà đều bình an vô sự, cũng đều là linh nghiệm của việc in tặng sách thiện.
7. Ký sự tăng thọ khi in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Ông Trần Ưu Dung tại thôn Đại Nghĩa tỉnh Phúc Kiến, bốn anh em đều buôn bán, Trần Ưu Dung làm công tay đại lý khí đốt, ông biết được người bạn có cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và mượn để đọc.
Mẫu thân của ông ta đã 82 tuổi, vào tháng 5 năm 1992, bà phát bệnh nặng, bác sĩ đã tuyên không thể trị khỏi nên ông về nhà mau chuẩn bị hậu sự cho bà.
Ông tưởng nhớ đến ơn đức của mẹ, rất đau buồn lại không làm gì được, đột nhiên ông nhớ ra cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có ghi lại một số ký sự cầu xin tăng thọ và trị bệnh rất là kinh nghiệm. Tối hôm đó, ông đứng ngay trước bàn thờ Thần Táo Quân thành tâm cầu khẩn, lòng nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để cầu xin mẹ tăng thêm tuổi thọ.
Hai hôm sau, vào một buổi tối, ông Trần Ưu Dung nằm mơ thấy mình đi đến một quan phủ, hơi giống như quan phủ của Thành Hoàng. Ưu Dung thấy mẹ mình đang đi đi lại lại trong đó, trên sảnh không thấy có người, chỉ có một người đang cầm cuốn sổ đang kêu tên Ưu Dung và nói với ông, trời sắp tối rồi, sẽ đóng cửa thôi. Ưu Dung rất hốt hoảng, hét to kêu cháu gái đến rước mẹ đi về. Người đó ngăn lại và kêu ông không được lên tiếng. Ưu Dung như thế đã dắt mẹ trở về nhà.
Sau khi thức giấc, ông đến ngay đầu giường của mẹ để xem, chưa đợi đến Ưu Dung mở miệng, bà mẹ với tiếng yếu ớt kể lại chuyện giấc mộng của bà cho Ưu Dung nghe, không ngờ giấc mộng của hai người hoàn toàn giống nhau. Từ nay về sau, bệnh tình của bà mẹ ngày một khỏe hơn, sau này hoàn toàn khỏe mạnh lại. Cả nhà anh em rất vui mừng, thề nguyện in tặng thêm sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
8. In sách hiếu thảo với người thân, bệnh lành an khang
Tên của tôi là Châu Trị An, người Ba Nhiên, làm nhóm trưởng trong đội quân 18. Năm ngoái, từ Ha Li Ban về quê nhà, nửa đường có người tặng một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho tôi, sau khi xem rồi, thấy trong sách có ghi lại rất nhiều sự kiện linh nghiệm, nghĩ đến cha mẹ già yếu của mình, mang bệnh trong người đã lâu năm không khỏi, về đến nhà liền đến trước đền thờ Thần Táo Quân đốt nhang cầu vái và thành tâm lập thề nguyện, muốn in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn, hy vọng có thể phù hộ cha mẹ mình sức khỏe được dồi dào.
Không ngờ, mới in tặng sách xong không bao lâu, bệnh cũ của cha mẹ đã khỏi, sức khỏe từ từ bình phục và khỏe lên, tôi cảm thấy “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” rất là thần kỳ, mình đưa ra không bao nhiêu, nhưng hiệu quả mình thu về vừa nhanh vừa lớn. Cho nên, tôi lại phát tâm in tặng thêm 100 cuốn, hy vọng bệnh khó trị của vợ tôi được trị khỏi. Không bao lâu, bệnh của vợ tôi cũng trị khỏi. Một nhà ba miệng của gia đình, đều được tận hưởng ích lộc của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Cho nên, tôi tường thuật lại sự kiện có thật này và đưa cho các vị có thiện tín cùng xem, đừng bao giờ xem cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là một cuốn sách mang tính chất mê tín mà để mất đi cơ duyên làm phước và tránh nạn.
9. Lập nguyện hỗ trợ in sách, nhanh được chứng thực
Tôi tên là Lý Yến Quỳnh, con trai tôi tên Hoàng Kiến một lòng muốn xuất ngoại du học, ủy thác cho công ty chuyên làm hồ sơ du học để thụ lý, tuy đầy đủ điều kiện và thủ tục nhưng đã hai năm cũng biệt tin không được phê duyệt, đã trải qua biết bao cố gắng vẫn không lấy được chứng thực.
Vào giữa tháng 11 năm 2003, ông cư sĩ Tường Trân kêu tôi thử trợ giúp in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để cầu xin cho việc này. Tôi đến Phật đường trong nhà đốt nhang cầu vái, lập nguyện nếu lấy được chứng thực cho con trai, tôi xin góp 1500 đồng để in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Không thể ngờ, mới đến đầu tháng 12 thì được nhận chứng thực xuất ngoại du học. Vì vậy, tôi thật lòng cảm tạ ơn đức của Bồ Tát, đồng thời vợ chồng chúng tôi mỗi người quyên góp 600 đồng để trợ giúp in sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
10. Truyền mượn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thay đổi số mạng
Ông Kim Minh tại Vân Nam, không thi đậu vào tốt nghiệp trung học, chờ việc tại gia, hai năm nay không có việc gì để làm, rất buồn.
Một ngày, anh đi cùng bạn đến thăm một ngôi chùa, trong phòng đọc sách thấy và đọc được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tôi cảm thấy cuốn sách có thể cải thiện số mạng của mình, nên xin được một cuốn về nhà.
Anh ta muốn bắt chước theo trong sách mà ghi lại về việc in tặng sách để cầu xin mình được may mắn hơn, nhưng nhà nghèo, còn phải nuôi một người em ăn học, mình lại không có thu nhập nào, cha mẹ mình chưa chắc đã tin tưởng mình. Cho nên, anh ta muốn dùng cách đưa cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho người khác mượn để đọc.
Vào mùng một, anh đến đền thờ Táo quân, nói ý muốn của mình, trong vòng 3 tháng sẽ đưa cho 50 người mượn sách này xem, anh còn chạy đến sau nhà hướng lên trời nói lớn thêm lần nữa. Trong lòng anh ta cũng cầu xin chính mình phải sửa đổi tinh thần hăng hái lên, tỏ ra có lòng tự tin với cuộc đời và số mạng.
Từ nay, anh chuyên giảng thuyết và cho mượn sách cho các bạn học và những người thân của mình biết về nội dung cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, sau khi xem xong lại cho người khác mượn xem, khi anh ta biết được người quen hoặc bạn bè có người bệnh hoặc gặp nạn thì kêu họ dùng cách lập nguyện in tặng sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu để khẩn cầu, quả nhiên đạt hiệu quả.
Sau này, có người mượn sách đã lâu mà chưa trả, trong tay anh ta chỉ còn có một cuốn, ảnh hưởng đến tốc độ cho mượn sách của mình nên lại đi đến chùa xin thêm cuốn Ngọc Lịch Bửu Phiêu. Như vậy, có thể xoay chuyển công việc truyền bá sẽ có hiệu quả hơn.
Sau hai tháng, anh ta đã truyền, cho mượn được 37 đợt người xem, lúc này một người bạn đến tìm anh ta, bà con của người bạn này làm việc tại Thượng Hải, nói Phố Đông mở rộng tuyển gấp các loại nhân tài, kêu gọi anh ta mau tìm mấy người đồng hương đến làm bảo vệ, lương một tháng 800 đồng, được bao ở, không bao ăn, người bạn này trước tiên là nghĩ đến anh ta.
Anh Kim Minh cảm thấy cơ hội khó mà đến, nhất định là cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu bắt đầu có hiệu nghiệm. Nên cáo từ với cha mẹ, đem theo cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu cùng với mấy người bạn lên đường đi Thượng Hải. Khi trên xe lửa, anh có thừa thời gian và lợi dụng cơ hội đưa cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giới thiệu cho hành khách trên xe xem và có tặng hai cuốn sách này cho hai người khách hợp duyên.
Sau khi ổn định công việc, anh ta lợi dụng thời gian nghỉ đến trường dạy nghề để học thêm nghề sửa chữa điện nước và đã lấy được chứng chỉ. Vả lại, còn tuân thủ nguyên tắc trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để làm việc, giúp người là vui nên có duyên hợp với mọi người.
Sau hai năm, có người giới thiệu anh ta đến một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài làm thợ điện, lương tháng lãnh cao hơn, điều kiện làm việc cũng tốt hơn, để cảm tạ đức huệ của cõi trời ban cho, anh ta vẫn tiếp tục giới thiệu cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho mọi người hiểu biết, kêu gọi cha mẹ và em trai phải tín ngưỡng cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, anh ta còn vì em trai cầu xin được thi đậu đại học, lập nguyện in tặng 1000 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
2 năm sau, em trai anh ta quả nhiên thi đậu đại học thuận lợi, cả nhà vui mừng đối với công đức của cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, cảm ơn vô cùng.
11. Chia đợt tặng sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu, con mau lành bệnh
Ông Trần Thiếu Thu tại Phúc Kiến được công ty điều đi Thẩm Quyến bàn công việc. Lúc trên tàu hỏa, người ngồi kế bên đang cầm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” xem một cách say mê.
Trong lúc ăn trưa, Thiếu Thu có hỏi anh ta về nội dung của cuốn sách này, ông nói có thể cho anh ta mượn xem sau khi ăn cơm xong, anh có xem lướt qua, cảm thấy nửa tin nửa ngờ, cũng không cảm thấy có gì đặc biệt.
Sau khi đến Thẩm Quyến làm việc xong, anh được người bạn địa phương dẫn đi khắp nơi tham quan, vui chơi, tại nơi tuyên truyền Kinh Phật cũng thấy được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nhưng không có xin lấy. Đến ngày hôm sau thì quay về Phúc Kiến.
Sau nửa năm, con trai của anh bị bệnh nặng, tiêm chích và uống thuốc đã hai tháng trời vẫn vô hiệu quả, anh rất sốt ruột. Lúc này, anh nhớ đến cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nên liên tục 3 đêm đốt nhang cho Thần Táo Quân xin lập lời nguyện, muốn tặng 30 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để cầu xin cho con trai được mau khỏi bệnh. Anh lại gọi điện thoại cho người bạn tại Thẩm Quyến, nhờ người bạn đến chùa mua giùm 30 cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” gửi về nhanh cho mình.
Mấy ngày sau, sách đã gửi về, anh ta lập tức đem sách tặng cho các bạn bè và người thân, và đồng nghiệp, và khuyên họ phải xem một lần. Sau khi phát được 20 cuốn, bệnh tình của con trai anh ta ổn định nhiều. Sau đó, tìm được một người thầy Đông y, sắc mấy thang thuốc thì hết bệnh. Cả nhà đều không tin được, nên đã tường thuật lại cảm ứng này để quảng bá lưu truyền.
12. Phát tâm in tặng sách được thoát nạn sông biển
Vào năm 1940, tôi tại chức tại Phúc Kiến, ông Mã của công ty thuốc lá có tặng tôi một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, sau khi đọc xong, cảm thấy là một thuốc bổ để cứu thế gian, rất là quý báu.
Trước hai ngày, khi đưa tiễn vợ tôi về Thượng Hải, tôi mơ thấy có một người mặc bộ đồ màu đen nói với tôi: “Cuốn sách này rất tốt, nếu mà có thể in tặng 1000 ngàn, sẽ trợ giúp cho anh rất nhiều”.
Khi thức tỉnh anh dặn dò vợ mình, sau khi về đến Thượng Hải nhớ in sách biếu tặng.
Lúc ấy, con sông Giáp Giang do chiến tranh bị quân lính phong tỏa, những người đi tàu đều phải đến cảng Phúc Thanh để đáp tàu chuyển tải, người đến Thượng Hải mà đáp thuyền buồm đã chen đầy bảy chiếc thuyền buồm. Trong đó, đã có 6 chiếc gặp sóng gió bị chìm, chỉ có chiếc thuyền mà vợ anh ngồi được đi bình an.
Thật là chuyện không thể ngờ được. Thật là do Thần Phật phù hộ. Y như trong cuốn “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” đã nói: khái niệm thiện tâm đã dạy trong lòng, tuy vẫn chưa thực hiện bằng hành động, thì đã được ban phước lành, thật là chuyện không sai chút nào, tôi đưa câu chuyện đích thân tôi từng trải, nếu như có nửa lời nói dối, tôi sẽ bị cho xuống địa ngục chịu hình phạt đau khổ.
13. Phát nguyện in truyền sách, được tái hồi sinh
Bà ngoại của tôi tên là Ưu Quỳnh Phân năm nay 78 tuổi, bị tai biến mạch máu não đã liệt nửa người hai mươi mấy năm trời, gần đây lại phát hiện bị bệnh tiểu đường. Vào ngày mồng 9 tháng 5 năm 2004, bà đến bệnh viện của thị trấn Lê Đường khám bệnh. Khi truyền dịch không được bao lâu thì xuất hiện tình trạng khó chịu bất an, tiếp theo sắc mặt trở nên tím tái, không tự chủ được đại tiểu tiện. Hai mắt lật lên, bất tỉnh hôn mê. Cấp cứu không hiệu quả nên chuyển đến bệnh viện Uy Hiệu cấp cứu, cấp cứu khoảng 2 tiếng đồng hồ, bác sĩ nói đã ngưng thở, hết cứu chữa được nữa, kêu người nhà chuẩn bị hậu sự cho bà. Bắt đầu, rút ống khí ô-xy, dọn dẹp các thiết bị cấp cứu.
Thì vào lúc này, tôi nhận được cú điện thoại của người em trai, nói bà ngoại không được rồi, mau trở về nhà. Khi đó, tôi nhớ ra nhiều sự kiện trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tôi có ý niệm thử xem, tôi liền bước đến nhà bếp cầu xin Ngọc Hoàng Đại Đế, Thần Táo Quân, và các Thần Phật phù hộ cho bà ngoại được chuyển nguy thành an. Và phát nguyện in tặng 100 cuốn sách và cố sức truyền bá lưu thông.
Không ngờ, chỉ trong giây phút đầu, người bà ngoại còn nằm trong giường bệnh như vừa thức tỉnh, hét lên một tiếng yếu ớt. Quả nhiên tỉnh lại! Bác sĩ cũng cảm thấy chuyện rất ly kỳ nên bắt đầu tiến hành trị liệu cho bà, không bao lâu, bà được xuất viện ra về. Đây chính là sự kiện có thật đích thân tôi từng trải, không nửa câu dối trá đặt chuyện.
—————-           
Chương 5 – Mục 1: Quả báo khi Phan Ngưỡng khinh thường “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 510
Phan Ngưỡng là một người có học tại huyện Quế Đông, thường hay vu khống hủy hoại sách thiện, hay phát ngôn sai lầm “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, khi đọc đến điểm chương một có câu “có thấy tử quỷ tay còng” anh lấy viết phê ở kế bên một câu 3 chữ “là chi chí”: lấy bút đen tô mất chữ “Điện thứ bảy”, lại dùng viết nâu tô thêm 2 chữ “mắc cười” vào kế bên chữ “nghiện rượu”, dùng viết màu đen ghi thêm mấy chữ “phụ nữ tự tìm cái chết”, đâu liên quan gì với đàn ông trong chữ “sở chuyển kiếp”, lấy bút nâu ghi lên 2 chữ “nói bậy”.
Trong chữ “Mạnh Bà Thần” lấy bút đen chấm mất mấy hàng chữ. Trong câu “khổ căn khó dứt” khoanh tròn 4 chữ lại, những nội dung sau không đánh chéo thì xóa mất, khi tô đến đoạn “ánh hồng đầy trời khi Quan Thế Âm Bồ Tát giáng trần” thì không biết do nguyên do gì mà nhà đột nhiên lửa bùng cháy lên. Hốt hoảng sợ hãi, nhảy ra cửa sổ mà tháo chạy. Ra được phía ngoài, đột nhiên hai tay bò dưới đất, hai chân lật ngược lại, lật đổ ghế gỗ, không cử động được, giống y bị trói lại.
Vợ anh ta là Thị Tín, thức giấc trong mộng sợ hãi, đã khỏa thân tháo chạy lấy mạng, bước qua người Phan Ngưỡng. Khi con trai anh ta nghe tiếng la hét, không hiểu sao ngơ ngác bước ra tay cầm cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” giao cho ông hàng xóm Lão tiên sinh, nhưng lại bước trở vô trong để lấy tài sản, đã bị lửa thiêu chết.
Lúc ấy, Ngưỡng Chi đã bị trúng lửa, biết mình nghiệp tội rất nặng khó thoát nạn này, thở một hơi dài và nói với đại chúng: “Người trên thế gian chớ nên chua chát như tôi, tự cho không có nhân quả báo ứng, cho mình là đúng, không nên vu khống và hủy hoại sách thiện như “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, để phải gánh chịu tai họa ác báo như tôi hiện giờ”. Nói xong thì tắt thở. Xác thịt trên người bị lửa thiêu cháy nát hết, bị chó tranh giành cắn xé.
Người vợ của anh ta, sau khi thoát ra khỏi, cảm thấy không còn mặt mũi ở tiếp nơi này nên đã rời đi khỏi, trên đường tá túc đã hoang dâm với kẻ ăn mày. Bà ta mới tuổi 33, nhan sắc cũng được, nhưng vì thông dâm với kẻ ăn mày rồi, nên muốn tái giá cũng chẳng có ai dám lấy, bà con thân thiết cũng không nhìn. Không bao lâu, kẻ ăn mày lìa đời, bà ta lại cùng với người hầu trước kia dọn đến nơi xứ xa. Từ nay về sau không ai biết được tin tức của bà ta.
Những sự kiện như trên ghi lại vào trong một phần của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
—————-           
Chương 5 – Mục 2: Những ác báo mang đến khi tăng đạo ganh ghét và hủy diệt Ngọc Lịch Bửu Phiêu
Số từ: 1605
Có một người xuất gia tên là Đạt Viễn ở trong miếu thổ địa tại đồi Tây Hương Sĩ. Có một hôm, ông cùng với một đạo sĩ của Am Thuần Dương tên Quan Tiên, nhìn thấy nội dung trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có bàn điều lệ về tăng ni, đạo sĩ phạm sai lầm:
Điện thứ nhất nội dung có nói: “Tăng đạo sĩ khi nhận tiền tài, thay thế người đời tụng Kinh sám hối, thất thoát chữ nghĩa và số trang, đến bổn điện, phải bổ sung tụng những kinh mà mình tụng sót, không được một hơi tức tốc tụng hết…”.
Trong điện thứ mười có: “Người tăng đạo có tụng Kinh, móc đến âm phủ, niệm tụng Kinh Thánh hiền để trong địa ngục hành hình…”.
Đạt Viễn nói với Quan Tiên: “Tôi và người đều đã tụng thuộc một số Kinh, khi đến lúc chuyển kiếp, tự nhiên biết cân đối tình hình để tận dụng. Vả lại cuộc sống của mình hiện nay là nhờ vào tụng Kinh giùm chủ nhân, cúng sám hối để duy trì cuộc sống. Nếu như cuốn sách này lưu truyền ra ngoài, như vậy thu nhập làm ăn của mình nhất định giảm đi. Nhưng nếu như có thiêu hủy thì hủy được bao nhiêu cuốn? Lúc nào mới thiêu hủy hết?”.
Quan Tiên trả lời và nói: “Tôi phải sử dụng thủ đoạn, làm bộ là mời được đại thần đại thánh nhập thân, truyền bá vu khống cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho các tín sĩ cùng đạo. Chỉ cần có người đến hỏi Thần thánh, tôi sẽ bịa ra một số tin đồn nhảm, để tạo cho người ta không tin vào cuốn sách này. Như vậy, còn sợ gì nghề tụng Kinh của mình sau không hái ra tiền được nhỉ?”.
Đạt Viễn và Quan Tiên tung tin cho tứ phương là trong Thuần Dương Am Miếu có một đạo sĩ có phép thuật rất cao, có thể mời được chim Tiên Loan (một loại chim thần) nhập thân, hỏi thăm một số chuyện về hên xui may rủi, rất là linh nghiệm. Hôm nay là ngày 14 tháng 4, Lữ Thuần Dương tổ sư giáng lâm, chỉ cần cúng nhiều chút tiền nhang đèn thì có thể biết được chuyện hên xui may rủi của thế gian.
Sáng sớm ngày 14 tháng 4, Quan Tiên và Đạt Viên làm một bàn cúng, đốt nhang sẵn, trang trí sắp đặt sẵn. Đến chiều hoàng hôn, một số tục tăng, thiện nam, tín nữ cùng đến và bước vô, quỳ bái tại ngoài chờ đợi để hỏi thăm sự việc. Một lát sau, người trong đó báo cáo: “Chim Loan động rồi!”, kêu gọi các đệ tử, đưa ông ta đặt lên trên bàn có trải mâm cát, bắt đầu vẽ chữ. Lại kêu một người biết chữ nghĩa lên để đọc những chữ ghi trên mâm cát, ghi ra dòng chữ “Tôi là Thuần Dương chân nhân đã đến, người muốn hỏi chuyện, nhanh đến mà hỏi”.
Sau khi người quỳ ở ngoài nghe người nhìn chữ đọc xong, đều lên hỏi thăm chuyện tương lai về phước họa của mình, những tăng đạo cộng sự đâu để cho những người kia hỏi thăm trước, chỉ để cho hòa thượng Đạt Viễn tiếp cận đến đàn cúng quỳ xuống và nói:
“Xin cho hỏi trên trần gian có bao nhiêu, có bao nhiêu chuyện tốt nhất trên đời?”
Quan Tiên nói: “Chim Loan lại động rồi, các ngươi không được ồn ào, yên lặng mà chờ đợi ta viết”. Lại kêu một ông đoán chữ nghĩa ở gần am miếu, thay đèn dầu.
Không bao lâu thì nhìn thấy thầy trò đứng trên đàn vẽ lung tung không ngừng, ông đoán chữ sau khi thay xong nhang đèn thì bước lên trên đàn cúng, nhìn thấy trên mâm cát ghi ra rất nhiều hàng chữ ngay ngắn như:
“Thứ nhất phải kính Đạo gia, thứ hai phải tôn trọng tăng ni. Đạo sĩ có thể cung trình sự việc lên cõi Trời, có thể bảo tồn trường sinh; hòa thượng có thể cầu siêu thoát cho vong hồn, có thể đưa lên thế giới Tây thiên. Người làm tỉnh thế gian. Nói chỉ cần cải thiện và biết sám hối, tất cả các tội lỗi mình ác trên trần gian, chỉ sợ là tiếc của tiền tài, không bố thí tiền nhang đèn, thỉnh bùa bái sam, cho nên mới bị tai nạn chết chóc.
Hiện giờ, có một cuốn sách ngụy trang sách thiện, tựa là “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” truyền bá lưu thông để cảnh tỉnh thế gian. Nói chỉ cẩn cải thiện và biết sám hối, tất cả các tội lỗi mình gây ra đều được xóa và miễn giảm gấp bội lần, trong âm phủ đâu có chuyện dễ dàng như vậy. Gần đây, có nhiều người quyên góp tiền in cuốn sách này để truyền bá, gây bao thiệt hại cho những người ngu dốt,… khi thấy được cuốn sách này, mau đem đi thiêu hủy thì sẽ được công đức rất lớn”.
Ông đoán chữ vừa mới ghi đến câu này, đột nhiên thấy một luồng ánh sáng màu xanh bích ngọc xâm nhập vào. Ông Quan Tiên cảm thấy lạnh người và hắt xì, từ trên đàn cúng tế đi xuống, miệng méo mắt lệch, mặt tái mét bò đến kế bên Đạt Viễn, cùng quỳ với nhau.
Lúc này, ông đoán chữ đột nhiên mắt trợn lên và ngơ ngác không nói được thành lời, đứng lên một lúc, mới nói:
“Tôi là Liễu Tiên được tổ sư truyền dụ: người sống trên thế gian không biết tích đức tu hành, thường phạm tội ác, rất may là Ngọc Hoàng Đại Đế phê duyệt các chư Thần Bồ Tát, ban phát “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để khuyên bảo thế gian, để cho người thế gian biết sửa lỗi lầm trước đã phạm, đổi ác thành thiện, ngoài ban thêm ơn huệ, còn được miễn giảm một số tội lỗi do mình gây ra. Đạt Viễn và Quan Tiên do ganh tị với cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” gây cản trở việc làm ăn của họ nên muốn vu khống, giả mượn cớ Thần Tiên nhập thân, mê hoặc lòng người, tội ác của hai người này đáng đọa lạc vào địa ngục để chịu hình phạt đau khổ và dựa theo tâm niệm hành vi tà ác của họ chuyển sanh tương ứng với ác đạo. Khảo tra sau khi mãn kỳ hạn chịu cực hình trong địa ngục rồi chuyển kiếp xuống địa ngục A Tỳ vĩnh viễn không siêu thoát.
Sau này, còn có tăng nhân đạo sĩ ganh tị vu khống, hủy hoại cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, vẫn xử lý y như báo ứng của Viễn Đạt, Quan Tiên”, nói xong người ta nhìn thấy ông đoán chữ lui sau cúi đầu lạy tạ Tổ Sư.
Lúc này, các tín sĩ nam nữ đều bước đến đàn cúng, quỳ xuống cúi đầu bái, cầu xin đại Tiên ban cho phương thức trị lành bệnh. Chỉ thấy mâm cát trên bàn không đẩy mà tự rung, viết xong, đèn dần sáng và rõ hơn, những người biết chữ bước lên xem, trên mâm cát viết:
“Bệnh tâm lý phải trị bằng tâm, ăn ít đồ thịt tanh; Trong sách tự có Ba La Mật, có thể giải thoát được oan nghiệt. Tạ, Liễu Tiên khứ dã”.
Tổng cộng có 33 chữ, tiên sinh đoán chữ cúi đầu lạy xong và nói:
“Tôi viết chữ trên mâm cát, khi viết đến câu: Người công đức lớn nhất, mơ mơ màng màng, tôi tận mắt nhìn thấy một luồng ánh sáng màu xanh ngọc bích, thổi lên trên sàn. Lẽ ra ở bên hông pháp thân của tổ sư, có một vị thần tiên đang ngồi: Mặt xanh môi nâu, lông mày trắng tinh, nhãn kim vàng, thân mặc áo xanh, ống tay lớn, tay trái cầm một bình ngọc, tay phải cầm cây râu tiên, chân đạp trên bông sen, sai tôi truyền lại lời nói của tổ sư. Lúc này, tôi vô cảm giác mà làm theo sự chỉ bảo, đợi đến khi Thần Tiên đứng dậy, rời khỏi thì tôi chỉ biết cúi đầu lạy tiễn đưa. Khi các người bước lên xin phương thức trị bệnh thì thần tiên đã rời khỏi sàn thờ cúng rồi”.
Khi nói đến đây đã là nửa đêm, tất cả các thiện nam tín nữ đều lưu trú lại trong am miếu, đứng trên bậc thềm có sơn màu nâu, đợi đến trời sáng. Những tăng ni đạo sĩ, cộng sự có trong am miếu đợi để hỏi rõ sự tình, tự cảm thấy mất hứng và rời khỏi.
Đạt Viễn và Quan Tiên bị đuổi ra khỏi miếu, trong ba hôm sau, Đạt Viễn và Quan Tiên không ăn uống được, gào thét trương phình đến chết.
Từ đó về sau, tất cả nam nữ trong làng không ai mà không tôn kính cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, còn đưa thêm sự kiện này ghi thêm vào trong sách để truyền bá cho thế gian biết, để người người biết được là họa do mình tự tạo, công thiện không ai được tước đoạt mất của mình, để làm căn cứ tham khảo cho người đời sau muốn hủy hoại sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” sẽ phải tự gánh lấy tai họa.
—————-           
Chương 5 – Mục 3: Ký sự án hình trong địa ngục của Thôi Mộng Luân
Số từ: 1178
Dương Khải Chiêu, người huyện Tổ Cường, vì gia đình năm nay mùa màng bị thất thu nên đã rời quê hương đến kinh sư tìm việc làm, kiếm được việc làm tại Khánh Trung Đường. Cá tính thẳng thắn, ưa thích uống rượu. Vào một mùa xuân của năm thứ mười bốn Gia Khánh triều Thanh, anh lượm được một tờ ngân phiếu trước cửa miếu Chân Võ, trị giá tờ bạc là tám ngàn quan tiền. Khi đi đến xá mè đen Hồ Đồng, nhìn thấy có một người đang nắm lấy một thiếu niên, đấm đá rất dữ. Hỏi thăm nguyên do, hỏi kỹ hơn số tiền mà họ đánh mất trùng khớp với mình vừa nhặt được thì liền trả lại tiền cho họ. Tôi (Thôi Mộng Luân) khi nghe được chuyện này, khen ngợi không ngừng. Nhưng chưa làm quen được người này.
Đến tháng 9, Khải Chiêu thông qua một người giới thiệu, đích thân tự đến nhà tôi để kể lại mọi sự từng trải của mình. Vì muốn chứng minh về nhân quả báo ứng, tôi hỏi kỹ anh ta, mới biết được anh ta bị bệnh thương hàn vào tháng ba vừa rồi, trong lúc hôn mê gặp được người cha đã quá cố của mình dẫn anh ta đến một cung điện nguy nga, trên cửa cung điện có 3 dòng chữ lớn “Đông Nhạc Phủ”, hai bên có viết hai dòng chữ đối:
Dương thế gian hùng vĩ thiên hại lý là do mình;
Âm phủ báo ứng xưa đến nay có buông tha ai?
Nét chữ màu ánh vàng nhìn rất huy hoàng, khi bước vô, thấy một quan viên, hóa ra là ông Chương-nhạc phụ đã mất của mình. Ông Chương trước kia là tú tài tại Hà Giang, ông nói: “Đáng lẽ mạng của tôi chỉ thọ đến 59 tuổi, nhưng vì tôi đã cưới một người đàn bà có chồng con làm vợ bé, bị giảm thọ đi 10 năm; sau này chủ trương cho cô thím trong gia tộc tái giá lại bớt đi 10 năm thọ. Khi chết năm 39 tuổi, vì không có phạm vào các nghiệp tội khác, mới được điều đến đây để làm quản lý văn thư án sự dưới âm phủ”, khi ông Chương nói hết, kêu lính quỷ dẫn Khải Chiêu đến địa phủ xem các cảnh cực hình xử tội dưới âm phủ.
Khi đi đến đây, nhìn thấy trên trụ có cột lại một người phụ nữ, đang cho lính quỷ xẻ lồng ngực, móc ra quả tim, gào thét rất ghê sợ. Nhìn kỹ lại, hóa ra là vợ của quản gia tại Khánh Gia. Đến nơi khác, nhìn thấy một người bị trói tay chân lại nằm dưới đất,có một lính quỷ đang cầm cây rước đốt vào lưng người đó. Khải Chiêu nhớ ra người này chính là người gác cổng cho Khánh Gia, đi đến nơi khác, nhìn thấy một người bị cột hai vai lại và treo lơ lửng trên trụ cột. Trên đầu có cắm một cây cờ, ghi: “Buôn lậu trốn thuế quốc gia Huỳnh Nhất Long”, do thân xác bị treo lên và đẩy đưa, nên gào thét rất là đau khổ, người này Khải Chiêu cũng quen biết ông ta, đó chính là người chuyên bán rượu lậu có tên là Huỳnh Ngầu Chẩy, lại không biết ông ta có cái tên là Huỳnh Nhất Long.
Tiếp theo, lại nhìn thấy ông Lâm là bà con với Khải Chiêu, trên vai cột lên hai cây đinh sắt. Không bao lâu, nhìn thấy một cái chuông lớn, rất là lớn, đình chuông mới xây, trên trụ cột còn chưa lợp mái ngói. Khải Chiêu đi đến đó, muốn lấy hai tay ôm lấy để thử sức nặng của chuông, mới phát hiện trên đó có khắc rất nhiều tên người, nhìn kỹ lại thấy có cả tên mình trong đó “Dương Khải Chiêu trợ giúp tiền bạc”, bên hông còn ghi là “dẫn đạo hướng thiện Thôi Mộng Luân”.
Lại đi đến một nơi khác, nhìn thấy một người cỡi trên lưng con bò, dùng roi đánh vào lưng bò, người cỡi trên lưng bò lại la hét đau đớn, anh ta tự nói nhân quả báo ứng vì kiếp trước thích ăn thịt bò. Nơi khác nữa, nội thất trang trí rất trang hoàng và trang nghiêm, trên có treo “Kinh Kim Cang”, “Tâm Kinh”, mỗi thứ một cuốn. Vô số thiện nam thiện nữ, tay cầm xâu chuỗi đang niệm kinh. Đi đến cửa sau, thấy núi cao, khi nhìn lên, lại thấy biển trời màu đen, rất là kinh ngạc, trong lòng như đang bị lửa đốt đứng ngồi không yên.
Lúc này, lại nhìn thấy một lu nước sạch, trong lu lại có gầu múc nước nữa. Thấy vậy bèn cầm gáo lên uống một ngụm nước, cảm thấy rất là tươi mát thấm vào tận đáy lòng, nên đã thức giấc, mở mắt nhìn. Hóa ra mình đã ngủ liên tục hết 17 ngày đêm.
Nghĩ lại những gì mình đã thấy trong âm phủ, đi hỏi thăm: “Vợ của ông quản gia kia hiện giờ ra sao?”, người nhà trả lời: “Đã bị bệnh tim mất rồi”.
Và hỏi: “Còn ông Hàn?”
Trả lời: “Ông ta bị nổi khối u ác tính trên lưng, không bao nhiêu ngày sau cũng mất rồi”.
Đến giữa tháng 7, thấy người trong làng hỏi thăm tình hình ông Huỳnh Ngầu Chẩy ra sao, cũng nói đã chết rồi. Nhưng bệnh tình của ông rất là kỳ quái: “Đêm nào cũng la hét đau đớn, phải kêu người dùng dây thừng cột chéo người lại rồi treo lên trụ cột mới cảm thấy thoải mái trong người”. Còn nói với ông Lâm lúc dưới âm phủ nhìn thấy ông bị hai cây đinh đóng trên vai, hiện giờ đang làm quan tại Hồ Quảng.
Đến cuối tháng 7, người nhà gửi thư lên nói: vào mùa xuân, ông bị một trận bệnh lớn và đã qua đời, những sự việc như trên đều linh nghiệm hết. Chỉ là mình không hiểu chuyện khắc tên trong quả chuông là có ý gì, sau khi hết bệnh, ông ta nghĩ đến chuông có khắc tên của tôi, cứ tưởng nghĩ thế là đến hỏi tôi thì sẽ rõ nên đã đích thân đến thăm tôi, muốn hỏi đây là nhân quả gì?
Lúc đầu, tôi cũng không hiểu gì, sau này suy nghĩ chuyện của 3 năm trước, trong miếu dự định làm một chuông đồng, tôi chỉ lãnh giấy thông báo của miếu để hóa duyên khắp nơi và đã tậu được 2000 đồng tiền kinh. Nhưng lúc đó, tôi lại không có góp xu nào, chỉ thông báo khắp nơi đến hành thiện, như vậy, dưới âm phủ lại ghi lên tên của mình, có thể cho thấy nhân quả của thiện và ác đều được báo ứng, thật là đáng kinh sợ.
—————-           
Chương 5 – Mục 4: Châm biếm “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” bị cướp và tai nạn gãy tay
Số từ: 209
Một nhân viên đánh máy tại một xưởng in họ Hà, vừa sắp xếp bản soạn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” vừa châm biếm “nội dung này đều là do những người mê tín đặt ra để lừa thiên hạ, sự thật đâu có những chuyện như vậy… ” Cô ta còn chế giễu một người bạn quyên góp tiền phụ giúp in sách: “Cô đưa tiền cho tôi, chúng mình còn có thể đi ăn được một chầu. Cô thật mê tín quá… ”.
Hai ngày sau, cô ta đang đi trên đường thì chiếc điện thoại di động đời mới của cô ta bị giật mất. Qua mấy ngày sau, đang chạy xe trên đường bị té xe hư hỏng nặng và bị gãy tay, chữa trị cả tháng trời tốn biết bao nhiêu tiền vẫn chưa bình phục, sau này còn thành tật nữa.
Nên tại đây xin răn những người thích phát biểu lung tung: “Đối với những sách và các văn chương khuyến người bỏ ác hành thiện, tuy chính mình không hiểu rõ, không đồng tình cũng đừng nên châm biếm hoặc chế giễu hủy hoại, càng không nên cản trở người khác hành thiện tích đức, để khỏi phải chịu sự quả báo”.
—————-           
Chương 5 – Mục 5: Các án hình trong địa ngục của Từ Thăng Am
Số từ: 982
1. Tăng bất hoằng pháp, bị nhọt ác tính tử vong
Ông Long Hùng tại Thông Châu làm Tri Phủ, rất tín ngưỡng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Trong phạm vi ông cai quản có một ngôi miếu tên là Đông Nhạc, xưa nay rất là linh thiêng, thường có tin đồn mỗi khi trời tối, nghe thấy có tiếng roi đánh. Có một ngày, vào lúc sáng sớm, Long Hùng đi đến ngôi chùa cúng bái nhưng lại yên tĩnh vô cùng. Người hầu mới nói: “Thành tâm chờ lúc đêm đến, nhất định có thể nghe thấy”.
Long Hùng làm theo ý của ông ta, vừa mở cửa lớn thì trong mờ ảo nhìn thấy có lính quỷ đang đốt lò than cháy đỏ, đốt vào lưng của ông hòa thượng. Long Hùng hỏi lính quỷ: “Hắn ta là ai?”, trả lời: “Người này là hòa thượng của một ngôi chùa, do lấy cắp tiền cúng dường của bá tánh đi chi tiêu vào mua rượu, thịt, mua dâm, cờ bạc, du hý, không dùng để tu sửa chùa chiền, in sách kinh, cứu trợ cho người nghèo khổ và hoằng dương Phật pháp, nên phải chịu sự trừng phạt như thế”.
Qua ngày hôm sau, Long Hùng cho người đi đến miếu đó điều tra, quả nhiên trên lưng người hòa thượng kia có cục nhọt ác tính, không bao lâu thì tử vong.
2. Thành thạo kinh chú, chuyển kiếp thụ hình
Ông Tái Cử Nhân tại Ngô Huyện, thường ngày gây nghiệp rất nhiều, nhưng ông ta cúng bái Quan Thế Âm Bồ Tát rất thành tâm, lại không ngừng niệm kinh “Đại Bi Chú”. Đến một ngày, ông ta lâm bệnh và qua đời, được mấy bữa, có người hàng xóm qua đời cùng thời điểm đó nhưng không bao lâu lại sống lại.
Ông hàng xóm nói: “Đáng lẽ, tuổi thọ của tôi đã hết nhưng vì tôi vào ba hôm trước khuyên giải được một đôi vợ chồng hòa hợp như xưa nên được tăng thọ thêm 12 năm”, lại nói tôi đã từng gặp được ông Tái Cử Nhân tại âm phủ, trên người bị xiềng chân xiết cổ, quan viên trong âm phủ nói với hắn:
“Dựa theo tội lỗi dâm ác của nhà ngươi cho thấy, đáng lẽ phải chịu cực hình cho vào chảo dầu! Lúc này, một lính quỷ bưng một chảo to đi đến, dùng lửa to nấu dầu sôi lên, đẩy Cử Nhân xuống chảo, hắn ta trong lúc sợ hãi, không còn cách nào, chỉ biết mở miệng to tiếng niệm kinh “Đại Bi Chú”. Khi niệm kinh chú lên, đột nhiên thấy trong điện rung động, chảo dầu tan hết, dưới đất mọc ra đóa sen trắng. Quan phủ đứng lên, nói với lính quỷ đang khiếu nại:
“Hắn biết niệm kinh chú chân ngôn, địa ngục tạm thời không thể giam bắt hắn được, cho hắn đi đầu thai chuyển kiếp đi!” Nhưng
lính quỷ kiên quyết không chịu buông tha.
Quan Diêm phủ nói: “Ông Ngô tại Gia Hưng, làm việc ác nhiều. Gần đây, vì muốn cầu xin sanh được thằng con trai nên đã làm được một số việc thiện nên để cho hắn đầu thai xuống nhà họ Ngô, đợi khi hắn hưởng thụ vinh hoa phú quý trên trần gian xong, chuyển kiếp, sau khi quên Kinh “Đại Bi Chú”, lúc đó, có thể xử hắn”.
Tôi lần này được sống lại là muốn đi đến Gia Hưng nhà họ Ngô xem sao, xem có phải họ sanh được một thằng con trai”. Sau này, họ cùng nhau đến Gia Hưng hỏi thăm, quả nhiên, nhà họ Ngô mới sanh được một đứa con trai.
3. Ăn hối lộ xử án sai, chuyển kiếp thành con lừa
Có một tiến sĩ họ Trưởng, đảm nhiệm chức vụ quản lý an ninh trật tự tại tỉnh Sơn Đông. Đến một ngày, hai anh em vì tranh giành gia tài của tổ tiên để lại đến thưa kiện. Người anh đưa hai trăm lượng vàng để hối lộ cho ông Trưởng, yêu cầu xét cho anh ta được thắng kiện; người em lại đưa cho hắn ba trăm lượng vàng để hối lộ, cũng yêu cầu mình được thắng kiện. Ông Trưởng thu hết hai bên, vì người em đưa hơn một trăm lượng vàng, nên xét được thắng hưởng gia tài của tổ tiên để lại, người anh tức giận thành bệnh, không bao lâu thì qua đời. Sau này, ông Trưởng cũng qua đời.
Trong làng có một thân sĩ, sau khi chết đi được 3 hôm, ông hồi dương lại. Kêu người đến mời con trai của ông Trưởng đến, nói với anh ta: “Khi xuống Diêm phủ, tôi nhìn thấy ba cậu, ông ta sắp đầu thai thành con lừa, hiện giờ, sẽ đầu thai xuống một nhà kia”, con trai của ông Trưởng không tin.
Ông thân sĩ nói: “Trong lúc cha ông làm quan tại tỉnh Sơn Đông, do nhận hối lộ đã xử oan cho người ta, tiền hối lộ là thông qua người hầu của nhà ngươi nhận, nếu như anh không tin, có thể về hỏi thăm xem”. Khi hỏi, quả nhiên là như thế.
Thân sĩ lại nói: “Phụ thân của ngươi nhờ tôi truyền lại cho anh; nhất định phải trả lại số tiền nhận hối lộ, đồng thời phải in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để giảm nhẹ tội cho ông”.
Con trai của ông Trưởng sau khi nghe xong, lập tức làm theo lời chỉ dẫn của phụ thân và đi đến nơi cha mình đã đầu thai mua về con lừa, gửi nuôi vào nơi am phóng sanh tại Dương Châu, mướn hai người làm chăm sóc. Trải qua thời gian ba năm, con lừa mới chết.
—————-           
Chương 6 – Mục 1: Lão tăng khai thị, hiếu kính cha mẹ
Số từ: 649
Bách Thiện Hiếu Tiên Phước Tối Thắng
(Hiếu thảo là việc thiện được phước cao quý nhất)
Dương Phổ là người của huyện Thái Hòa, tỉnh An Vi. Ông nghe nói tại Tứ Xuyên có ông cao tăng Vô Tế Đại Sư đạo hạnh rất cao, nên từ biệt song thân, đến Tứ Xuyên thăm Đại Sư và cầu đạo. Mới vừa đến địa phận của tỉnh Tứ Xuyên, gặp được một người hòa thượng khuôn mặt nhìn rất hiền hòa, ông lão hòa thượng hỏi ông ta:
“Ông từ đâu đến? Đến Tứ Xuyên để làm gì?”.
Ông ta trả lời: “Tôi từ tỉnh An Vi, đến Tứ Xuyên muốn hỏi thăm cao tăng Vô tế Đại Sư, tu học Phật Pháp Đại Đạo”.
Lão hòa thượng nói: “Ông muốn gặp Vô tế Đại Sư còn khó hơn là đi gặp Phật”.
Dương Phổ hỏi: “Tôi cũng muốn gặp Phật nhưng không biết ở đâu, cầu xin lão hòa thượng chỉ thị cho tôi, được không?”.
Lão hòa thượng nói: “Được, bây giờ ông mau trở về nhà, nhìn thấy một người trên vai đắp tấm mền lớn, chân đi giày ngược, đó là Phật rồi”.
Dương Phổ nghe xong lời nói của lão hòa thượng, không một chút nghi ngờ, thuê thuyền đi về quê, trên đường lặn lội vất vả cả tháng trời. Ngày về đến nhà, đã là chiều tối, ông gõ cửa lớn nhà mình, kêu gọi mẹ ra mở cửa, mẹ ông ta nghe thấy con trai yêu quí của mình đã về, mừng đến nhảy từ trên giường xuống, không kịp mặc quần áo, chỉ lấy cái mền chùm trên vai, lúc hấp tấp đã mang giày bị ngược, mau mau bước ra mở cửa, tiếp đón con trai cưng của mình.
Dương Phổ nhìn thấy cảnh luộm thuộm của người mẹ, mới tỉnh ngộ lời của lão hòa thượng nói cha mẹ mới là Phật sống. Từ nay về sau, hết mình hiếu thảo với cha mẹ, về mặt vật chất, cố gắng dẫn đạo cho cha mẹ tin ăn chay niệm Phật, tu dưỡng tâm tính.
Sau này, Dương Phổ già đã hưởng thọ đến 86 tuổi, trong lúc lâm chung, miệng niệm kinh “Kinh Kim Cang” bốn câu kinh ngôn, an hòa mà qua đời.
Trong Phật giáo “Đại Tập Kinh” có nói: “Nếu thế gian không có Phật mà thiện đãi cha mẹ tức là thiện đãi Phật”.
Cổ xưa có câu: “Trong mỗi nhà đều có hai vị Phật, không cần vàng kim đóng thành, tức là, cha mẹ hiện thời và cũng là Thích Ca Di Lặc, nếu được thành kính đối xử, chẳng cần cầu xin công đức khác”.
Phật trong “Bốn mươi hai chương kinh” có nói: “Kính thiên địa quỷ thần để cầu phước thì nên kính nể cha mẹ, hiếu thảo cha mẹ được phước nhiều, rất linh nghiệm”.
Từ những kinh văn Phật Pháp như trên và các luân ngôn thời cổ đức, có thể cho thấy Vô Tế Đại Sư khai thị với Dương Phổ, thiệt là có lý.
Hiện giờ, có rất nhiều người khi cha mẹ còn sống không hiếu kính nuôi dưỡng, vả lại còn làm nhiều việc bạc đãi bất hiếu với cha mẹ, để cho cha mẹ phải buồn lòng ưu sầu. Đến khi lúc cha mẹ mất đi lại hoang phí, bỏ ra khoản tiền lớn để xem phong thủy, xây mồ mả cho khang trang, cúng đốt nhiều giấy tiền vàng bạc và lễ vật, sát sanh động vật để cúng bái, những thứ này không những đều là hành vi ngược đời vô dụng, mà còn tăng tội lỗi cho song thân đã mất. Khi cha mẹ còn sống không ban một giọt nước, khi chết đi đào oan vạn trùng suối.
Các vị độc giả ngẫm thử xem có đúng không.
—————-           
Chương 6 – Mục 2: Hiếu thân báo ơn, tụ phước chánh đạo
Số từ: 490
Bách Thiện Hiếu Tiên Phước Tối Thắng
(Hiếu thảo là việc thiện được phước cao quý nhất)
Lâm Thành Mỹ người Phúc Kiến, lúc còn nhỏ đã mồ côi cha, người mẹ của anh nhất định không chịu tái giá, tận tâm nuôi dưỡng anh ta nên người. Khi Thành Mỹ lớn lên nghĩ đến công ơn của cha mẹ khó báo đáp, nên đã khóc suốt ngày đêm.
Có một ông thiền sư nói với anh ta: “Con hiếu thảo tưởng nhớ ơn thân, chỉ biết khóc thì ích gì, nên phải tìm cách đền đáp mới có ích, cổ nhân xưa có câu: “Thân làm việc thiện có ích, làm ác thì chỉ có ưu phiền”. Nếu muốn báo đáp song thân, chỉ có kiêng sát sanh mà đi phóng sanh, quảng tích âm đức, mới chính là hiếu đạo báo đáp”.
Thành Mỹ nghe được, cảm thấy rất có đạo lý, từ nay về sau, lập trí kiêng sát sanh mà phóng sanh, quảng tu các việc thiện để cứu thế thân. Sau này ông già được hưởng thọ đến 96 tuổi, con cháu đều học thành tài và có danh vọng.
Người cổ xưa thường xem ngày sinh nhật của mình gọi là “ngày mẫu nan” (ngày mẹ khổ), người mẹ mang thai 10 tháng, thân xác nặng nề đau đớn, trong lòng luôn lo âu cho thai nhi, ngày sanh đẻ biết bao đau đớn, càng sợ hãi và lo âu thêm nhiều. Cho nên, ơn nghĩa mẹ to lớn.
Kinh Phật có nói: “Những người còn từ mẫu là những người giàu có, từ mẫu đã mất là người nghèo nhất; từ mẫu còn sống ngày ngày trong sáng, từ mẫu đã mất như là mặt trời xuống núi”.
Trong kinh Phật còn nói với chúng ta: “Kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ như cúng Phật đều tậu được phước đức giống nhau”.
Không ít người đã tiêu khoản tiền lớn lặn lội đến cả ngàn dặm cây số cầu phước, cầu lộc hoặc cúng đông, vái tây để mong được số may vận đỏ. Lại không biết được, nhà nhà đều có một vị Phật, đâu cần phải lao tâm khổ tứ đi đâu xa để cầu xin.
Người trong thời đại hiện nay, mỗi khi đến ngày sinh nhật thì đua nhau giết mổ gà vịt, có cá có thịt để đãi khách chúc mừng. Đây chính là phản lại chỉ định của Thiên Đạo về đền ơn đáp nghĩa, làm như vậy không được tăng thêm phước lộc, mà ngược lại còn bị tiêu hủy phước báo và số mạng.
Cho nên, ngày sinh nhật nên đi mua động vật phóng sanh hoặc tưởng niệm lại công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ hoặc đi bố thí người nghèo khổ, in tặng sách thiện hoặc niệm kinh niệm Phật hành thiện, mới là chính đạo làm phước của Trời Đất.
—————-           
Chương 6 – Mục 3: Hiếu kính cha mẹ, con được phước báo
Số từ: 518
Bách Thiện Hiếu Tiên Phước Tối Thắng
(Hiếu thảo là việc thiện được phước cao quý nhất)
Thôi Hảo, từ nhỏ đã có tính bẩm sinh là hiếu thảo. Cha của anh ta qua đời rất sớm, người mẹ vì thương nhớ ưu sầu, khóc nhiều quá dẫn đến bị bệnh mắt. Thôi Hảo bán hết gia tài trong nhà, đi khắp nơi tìm bác sĩ đến chữa bệnh cho mẹ nhưng vẫn vô hiệu quả, đôi mắt bị mù.
Từ đó, anh ta rất thành kính phụng dưỡng người mẹ, ba mươi năm như một ngày. Tất cả các thứ đồ dùng ăn mặc của mẹ, đều sắm theo thời tiết nóng lạnh, đời sống sinh hoạt của người mẹ rất thoải mái, không có thiếu thốn chút nào. Mỗi khi trời đẹp không khí trong lành, nhất định dìu dắt mẹ đi ra ngoài du ngoạn, để được hít hơi thở trong lành của thiên nhiên. Tuy đôi mắt của người mẹ bị mù, không được chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp như tranh, ông Thôi miêu tả cảnh vật thiên nhiên như rồng bay phượng múa, kể cho người mẹ nghe rất hứng thú, mọi sự kiện tin tức phát sinh trong ngày, cùng bàn luận với mẹ trong tiếng cười vui nhộn, giải sầu cho tuổi già, quên đi đau khổ về đôi mắt mù, rất vui vẻ.
Sau này, ông Thôi tuổi càng lớn dần, quan vị được tôn vinh, còn tự tay cùng với con cháu trồng những cây hoa quả trong vườn như đào, mận, hồng và các loại cây khác để bốn mùa đều có quả tươi ăn. Khi người mẹ qua đời, để báo đáp ơn nghĩa cho mẹ, đến dần cuối đời chuyển ăn chay trường.
Do ông Thôi hành đức cao thượng, cho nên làm được chức quan lớn, con trai ông Nhược Phôi, cũng thành một đại tướng trong đời sau.
Trong tập “Cảm ứng ký sự” có nói:
Hiếu thảo song thân, không nên lạnh nhạt với cha mẹ, không nên để cho cha mẹ già phải bận tâm lo âu, không nên để cho cha mẹ phải sợ hãi, không nên để cho cha mẹ phải buồn phiền, không nên để cho cha mẹ có tâm sự khó nói ra, không nên để cho cha mẹ có lòng oán hận. Nếu làm được hành vi hiếu thảo như vậy, thiên địa nhân quỷ đều tôn kính chúng ta.
Làm phận con cái, dùng vật chất để cung dưỡng, tinh thần chăm lo để ổn định tâm trí người già, là việc hiếu thảo căn bản nhất; cố gắng học tập, chăm chỉ làm việc, phấn đấu thành tài để có ích cho xã hội, cho quốc gia, ấy là đại hiếu; dẫn dắt cha mẹ học tập chính đạo Phật Pháp, khuyên cha mẹ niệm câu thánh ngôn “Nam Mô A Di Đà Phật” để cầu đến tịnh thổ thế giới Tây Phương cực lạc, vĩnh viễn thoát khỏi đau khổ của sự luân hồi, là một đại hiếu viên mãn nhất trên thế gian.
—————-           
Chương 6 – Mục 4: Hiếu đạo mẹ chồng, cả nhà hóa giải dịch bệnh
Số từ: 569
Bách Thiện Hiếu Tiên Phước Tối Thắng
(Hiếu thảo là việc thiện được phước cao quý nhất)
Thời Thanh Triều tháng ba năm Giáp Ngọ, huyện Võ Tiến tỉnh Giang Tô, cư dân của Thành Đông, con trai Ngụy Thành cưới cô Thị Tiền làm vợ. Có một lần, Thị Tiền về nhà thăm song thân, không bao lâu, địa phận phía bên nhà chồng phát sinh dịch bệnh cấp tính, truyền nhiễm rất rộng, bệnh gây chết rất nhiều người, người nào cũng sợ bị truyền nhiễm, bà con thân thiết cũng không dám thăm hỏi, lo tháo chạy tránh dịch không kịp. Ngụy Thành không may cũng bị nhiễm dịch, sau này cả gia đình họ tám người, đều bị nhiễm dịch bệnh.
Thị Tiền tại bên làng gái nghe tin ba mẹ chồng đều bị nhiễm dịch bệnh, nóng lòng muốn về nhà hỏi thăm bệnh tình, cha mẹ cô thương con, sợ con gái về nhà chồng sẽ bị nhiễm bệnh, nên khuyên con gái không nên về nhà chồng vào lúc này. Nhưng Thị Tiền thấu hiểu đại nghĩa, cô ta nói: “Chồng cưới vợ về là muốn để vợ mình phụ chăm lo cho cha mẹ chồng. Bây giờ cha mẹ chồng đang bệnh nguy kịch, nếu như tôi nhẫn tâm không về, như vậy đâu khác biệt với cầm thú!”.
Cuối cùng không nghe sự phản đối của cha mẹ, không sợ sự truyền nhiễm của dịch bệnh, tự mình về nhà chồng. Khi Thị Tiền về đến nhà chồng, vợ chồng Ngụy Thành và cả tám người nhà đều kỳ tích đột nhiên khỏi bệnh. Những người trong nhà lúc ấy, đều cho rằng cả nhà Ngụy Thành được thoái khỏi sự chết chóc của dịch bệnh là do sự hiếu thảo của Thị Tiền, cảm động đã nhận được sự cảm ứng của thần linh.
Hiện giờ, trong xã hội có con cháu biết hiếu thảo với cha mẹ rất ít mà cầu có nàng dâu biết hiếu thảo với cha mẹ chồng còn khó thêm. Nguyên do của bệnh tật là do vi khuẩn cảm nhiễm, nhưng chức năng miễn dịch trong cơ thể con người bị hạ thấp cũng là một nguyên nhân quan trọng.
Đại học Michigan của nước Mỹ đã tiến hành thử nghiệm theo dõi điều tra trong vòng 14 năm đối với 2700 người, phát hiện những người thường xuyên làm việc thiện bản năng có hệ thống miễn dịch rất cường tráng.
Đại học Havard bên nước Mỹ nghiên cứu, đã từng để học sinh xem một bộ phim ký sự, nội dung nói về một phụ nữ người Mỹ cả đời đi đến Ấn Độ cứu trợ các người nghèo và bệnh tật. Học sinh bị ký sự này làm cho cảm động, tiếp theo là nhà khoa học này đã lấy nước bọt của mỗi học sinh tiến hành thí nghiệm, phát hiện tiêu chuẩn của bạch cầu miễn dịch tăng cao kỷ lục nhiều hơn so với trước khi xem phim.
Trong câu chuyện trên, nhờ Thị Tiền có chính khí vĩ đại, dũng cảm, hiếu thảo, đã tăng cường sức đề kháng của cả gia đình (thông qua dòng điện sinh học của mỗi người) làm cho vi khuẩn dịch bệnh bị tiêu diệt. Loại chuyện nhân quả này thật sự là phù hợp nguyên lý của khoa học.
—————-           
Chương 7 – Mục 1: Mắng Thiên nhục Thần, quả báo nhãn tiền
Số từ: 782
Tôi là người Sơn Đông, từ nhỏ đã rất thông minh, sinh ra nhìn rất kháu khỉnh và khả ái. Tuy gia cảnh nghèo nàn nhưng có khí chất và cá tính khác so với những con nít xung quanh, thành tích học tập luôn đạt hạng nhất, tôi luôn là tiêu điểm của thầy giáo, bạn học và hàng xóm. Không ít những thầy bói toán nổi tiếng, xem tướng đều cùng chung nhận định, đời tôi sẽ giàu sang phú quý thuận lợi an nhàn.
Nhưng từ năm 1988 trở đi, không biết tại sao, vận mạng của tôi xuống cấp trầm trọng như là rớt xuống ngàn vạn dặm vực sâu. Tôi bắt đầu lâm bệnh, trí nhớ giảm dần, đầu tắt mặt tối, thân xác đau nhức cả người. Cơn bệnh đột phát đã đi cùng tôi trải qua suốt 15 năm. Cho dù có lên đại học hay công tác tại đơn vị, đều rất gian nan và khó khăn, 15 năm nay, tôi tìm đủ mọi cách làm đủ thứ chuyện nhưng vẫn không thành, những việc có liên quan đến tương lai của tôi cho dù cố gắng hết mình vẫn không hiệu quả, không thể thực hiện được.
Những năm gần đây, tôi cứ suy nghĩ mãi, tại vì sao mà vận mạng của tôi lại tối tăm đến như thế?
Sau khi quy y Tam Bảo, do tinh tấn tu trì, cũng có chút thay đổi tốt về nhưng nói chung về cơ bản vẫn không có chuyển biến, tôi bắt đầu tự an ủi, số phận của tôi chắc là do nhân quả kiếp trước của mình gây nên.
Sau này đọc được Kinh Địa Tạng biết được Địa Tạng Bồ Tát có thần uy lớn, có thể tạo cho chúng sinh biết được nhân quả của kiếp trước để tiêu trừ nhân nghiệp. Nên từ tháng ggiêng năm 2003, tôi bắt đầu siêng năng niệm Kinh Địa Tạng và đã khóc trước mặt Địa Tạng Bồ Tát than vãn sự đời đau khổ của mình trong 15 năm nay, xin Bồ Tát giúp cho tôi được tỉnh ngộ.
Sau 20 ngày trong trí nhớ của tôi đột nhiên hiện lên một việc tôi đã làm 15 năm trước, ký ức cũng khá rõ ràng nhưng tôi lại không dám chắc chắn lắm. Cho đến tháng 11 năm 2003, tôi vừa niệm xong 200 lần của Kinh Địa Tạng, trong ngày đó tôi gặp một tu sĩ đưa cho tôi cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu, xem xong, tôi như tỉnh giấc mộng, bỗng nhiên hiểu rõ sự tình. Cuối cùng, tôi đã tìm ra nguyên do 15 năm nay tôi phải chịu dày vò trong sự đau khổ, gian khó của tôi không phải do ác nghiệp từ kiếp trước gây nên, chủ yếu là do, trong đời này tôi đã phạm vào bất tôn trọng với thần linh thiên địa mà gây ra.
Vào một buổi chiều tháng 8 của 15 năm trước, tôi bị kích động một chuyện trong gia đình, không giải quyết được, chạy ra ngoài sân, tay chỉ lên trời chân dậm xuống đất, dùng hết những loại thần chú câu từ tôi biết được để chửi bới trời đất.
Từ lúc ấy, không đến 100 ngày sau, tất cả thân xác tôi đau nhức hết, bắt đầu 15 năm vận xui của mình. Tính từ ngày bắt đầu lâm bệnh đến tháng 11 năm 2003 vừa tròn 15 năm. Thời gian mười mấy giây chửi thiên mắng thần, đổi lại 15 năm xui xẻo tột cùng. Thật là ghê sợ! Tôi chỉ có cúi đầu nhận tội, sám hối và quyết tâm quyên góp tiền in tặng truyền bá sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu, cung kính thần linh. Không ngờ khi những tâm niệm nảy lên trong lòng, nguyện chung thân thiện tâm.
Không đến thời gian 1 tuần, đơn vị nơi làm việc có ra văn bản, tôi được thăng chức. Kể từ khi tôi bắt đầu làm việc tính đến nay đã là 8 năm. Kỳ lạ hơn, hai hôm trước lòng bàn tay của tôi phát ngứa, lúc đầu tôi tưởng bị muỗi chích gây ra, nhìn kĩ lại phát hiện chỉ tay đã đứt của mình 15 năm qua nay đã kết nối lại, thật là quá thần kỳ và linh nghiệm, không thể ngờ! Tôi không có hướng về Bồ Tát và Thần linh cầu xin việc gì, chỉ là quyết tâm sám hối và phát nguyện in tặng sách thiện và truyền bá sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu.
Ngọc Lịch Bửu Phiêu đúng là một quyển sách kỳ lạ!
—————-           
Chương 7 – Mục 2: Tiến trình linh nghiệm của Thần Táo Quân
Số từ: 876
Sự kiện như trên là một ví dụ đích thân tôi cảm nhận sự linh nghiệm trong nội dung của cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Còn chuyện dưới đây là sự linh ứng về ngày vía của chư Thánh được ghi trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Ngày cúng vía Thần Táo Quân là một trong năm ngày cúng vía trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc, đến nay trong dân gian và người Hoa tại hải ngoại cũng thịnh hành. Tại quê cũ của tôi ở Sơn Đông, lưu truyền “Tết nhỏ nhằm ngày hai mươi ba”. Mùng một Tết là Tết lớn, còn nhằm ngày 23 tháng chạp là một ngày Tết nhỏ, khi sáng sớm tỉnh dậy, giấc mộng của ngày hôm đó sẽ đại diện cho vận mạng của năm sau. Nhà nhà đều tự làm một loại đường rất ngọt, tên gọi là đường táo hoặc có tên là chè trôi nước để cúng Thần Táo Quân, để nhờ thần Táo Quân lên gặp Ngọc Hoàng thì nói tốt cho vài câu.
Một mùa đông năm 1994, tôi sắp thi tốt nghiệp đại học, đang lo chuyện định hướng sự nghiệp sau khi tốt nghiệp. Có một lần, tôi gặp một quan chức cao cấp ở Bắc Kinh, sau khi trao đổi, ông ta có ấn tượng rất tốt đối với tôi, cảm thấy tôi có nhiều ưu điểm và tôi cũng bày tỏ mong muốn được vào làm việc tại cơ quan Nhà Nước. Tôi vốn là con cái nhà nghèo, lại không có mối quan hệ nào tốt, hoàn toàn do nhân duyên phước báo mới có được một cơ hội tốt như vậy.
Vào tháng 8 năm 1988, tôi đã từng chỉ lên trời chửi Thiên mắng Thần, không ngờ như thế mà công danh của mình bị “cô lập”, dù có cơ hội tốt nữa, cũng không làm nên trò trống gì, cuối cùng tôi cũng không thể tới Bắc Kinh.
Sau này, ông ta sắp xếp cho tôi làm tại một thủ phủ ở xứ dân tộc thiểu số, được giữ chức quan tại một đơn vị có phước lợi rất tốt mà người trong bản xứ mơ ước không được. Nhưng mà, do sự ác báo về khẩu nghiệp chửi thiên mắng thần, tôi thường hay bị lãnh đạo của đơn vị cậy thế gây áp lực và chèn ép, tiền thưởng bị hạ xuống bậc thấp nhất, thường xuyên bị chỉ trích và gây khó khăn. Tôi bị áp lực về tinh thần nặng nề và một lần nữa cảm nhận được thần minh rất đáng kính. Ai dám kháng lại trời, khinh bỉ thần linh thì sẽ phải hứng chịu đau khổ trên trần gian do sự “Kháng lại cõi trên” và tình hình như thế liên tục kéo dài đến bảy năm trời.
Tất cả các sự việc xảy ra hiện lên trong giấc mộng của ngày 23 tháng chạp năm 1994 đã làm tôi thức giấc. Trong giấc mộng, tôi leo lên một cái tháp rất cao, sắp lên đến tầng cao nhất, ở dưới đứng đầy người, toàn bộ nhìn với cặp mắt rất ngưỡng mộ. Lúc ấy, không biết ở đâu một người khổng lồ đi đến, cao khoảng hai mươi tầng lầu, nắm lấy tôi kéo xuống, vứt xuống nền, vứt tôi xuống một đống mảnh chai, vả lại còn biến thành một con sâu bọ bị gãy chân. Tôi sợ hãi tỉnh dậy, giấc mộng này để lại ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi.
Nhưng đến bây giờ tôi mới hiểu được, giấc mộng trong buổi sáng ngày 23 tháng Chạp năm 1994, không chỉ dự báo trước vận mạng của tôi trong năm sau mà còn chỉ ra vận mạng của tôi trong tháng tám năm sau này. Trong đó “leo lên tầng cao nhất” tức là tôi gặp được quý nhân sắp đi được tới Bắc Kinh, bị ném xuống đống mảnh chai là dự báo tôi bị một số người ganh ghét, hành hạ trong quá trình làm việc; biến thành con sâu bọ bị gãy chân, dự báo là tôi bị người khác gây sức ép và chà đạp đến không chỗ đứng, còn thân mạng thì bệnh tật. Người khổng lồ ấy là thần linh chấp pháp đến trừng phạt, phá hoại việc tốt của tôi.
Từ đó, tôi bỏ thân ra thuyết pháp, khuyến cáo chúng sanh trên trần gian, cung kính Phật Bồ Tát và Thánh hiền Thần linh, kính ngưỡng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, không nên để thân khẩu ý gây nghiệp, hành thiện tích đức nhiều hơn, tự sẽ được phước mà xua tan tai họa.
Các Phật tử không kiêu ngạo vào bản thân mà đi châm biếm cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, không biết các cao tăng đại thành đều tôn trọng với các thần linh hộ pháp, nếu như có các Phật môn đệ tử dám ỷ thế mà coi thường, khinh bỉ “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thậm chí chỉ trích, nhất định sẽ bị quả báo. Vả lại phỉ báng Ngọc Lịch Bửu Phiêu chính là phỉ báng Địa Tạng Vương Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát.
—————-           
Chương 7 – Mục 3: Bản chất kính Thần và đạo lý của Quỷ Thần
Số từ: 778
Trước mắt, chúng ta đều biết con người sinh tồn đều dựa trên trạng thái lưỡng cực: có Thiên thì có Địa, có mặt trời thì có mặt trăng, có ban ngày cũng có ban đêm, có đàn ông thì có đàn bà, có sống thì có chết, nếu có dương trần thì có âm phủ, có người sống thì có Quỷ Thần, có quan phủ trên trần gian thì có Diêm Vương dưới địa phủ. Âm dương cân bằng với nhau mới có thể tạo ra vạn vật, đây là đạo lý của tự nhiên, cũng là nguyên tắc sinh tồn tự nhiên của đất trời vạn vật.
Chuyện về Thần linh, tuy nhìn bề ngoài thì thấy không rõ ràng nhưng lịch sử từ xưa đến nay có rất nhiều sự kiện chứng minh là có thật, không thể không tin. Người thông minh thực sự là người biết tôn kính Thần minh, tôn kính nhân cách tinh thần để giáo dục cho con cháu đời sau, đó sẽ là những món ăn tinh thần phong phú. Thời xưa, những người có nhân cách cao thượng, có cống hiến to lớn cho tổ quốc, cho nhân dân, sau khi họ mất thì được lập tượng xây đền để tưởng nhớ, có ý nghĩa giáo dục tích cực, đồng nghĩa với việc thời nay xây đền nhà, tượng đài tưởng niệm, chỉ cần con người biết có luân hồi chuyển kiếp và linh hồn bất diệt thì sẽ hiểu được đạo lý kính Thần sẽ được Thần phù trợ.
Tại các nước phương Tây phát triển, đến 95% người có tín ngưỡng tôn giáo, họ cũng lập tượng đài những người anh hùng kiệt xuất tại công viên, đền thờ để tưởng nhớ. Ở phương Đông theo tập tục xưa nay thường hay xây miếu chùa sử dụng phương thức đốt nhang cúng bái. Cho nên, từ xưa đến nay việc thuyết giáo đạo Thần vẫn tồn tại trên dân gian, lập tượng xây chùa tạo cho người biết tôn kính mà noi gương, là tư tưởng cao thượng chân chính, cộng thêm có các sự kiện phát sinh chứng nghiệm khiến cho lòng người phải tuân theo phong tục để giáo hóa chúng sinh, không phải chỉ vì cầu phước mà cúng bái, cũng không vì không đốt nhang cúng bái mà phạm tội. Chỉ cần toàn tâm tôn kính trong lòng thì chính là:
Còn tâm hành ác không hối cải
Thắp hương cúng bái cũng bằng không;
Tu tâm tích đức kính Thần Phật,
Không cầu không bái cũng được linh.
Cổ nhân xưa có câu: “Kính Thần như Thần hiện!” Cho nên, không ít người đem thực phẩm, nhang đèn, giấy tiền đến chùa cúng để tỏ lòng thành tâm. Nhưng mà, dựa theo sách kinh mà nói, cách cúng bái thần Phật tốt nhất là lấy họ làm gương mà học tập, lấy hành động cụ thể để thực hiện những chỉ dẫn của họ, học tập họ mang tinh thần từ bi, quên mình vì chúng sinh. Học tập họ giác ngộ nhân sinh, cống hiến trí tuệ của nhân loại, học tập họ nâng cao đức hạnh trung hiếu chân chánh.
Như vậy mới nhanh chóng có thể nhận được sự phù hộ của Thần Phật, tiến bước đề cao đạo đức Giác Ngộ của chính mình, trở thành một người cao thượng, một người thoát ly được sự hứng thú hạ cấp, một người có ích cho thế nhân, mang tinh thần như có thần linh hiện, cảm nhận và đồng tâm, là một phương thức cầu phước tuyệt đối chính xác và hiệu nghiệm.
Người thời đại hiện giờ cho là thiện ác báo ứng không phải do tác dụng Thần Quỷ, chỉ là người ác gặp ác báo là do mình tự gây tự chịu, chứ không phải do sự trừng phạt của Thần linh. Dựa theo lý luận của Phật pháp mà nói, đây quả nhiên là một chân lý, nhưng tự làm tự chịu không mâu thuẫn với sự trừng phạt của Thần minh. Ví dụ, một người phạm tội bị bắt vào tù giam, nói về mặt bản chất quả nhiên là do hắn tự chịu, nhưng không thể phủ nhận sự tố giác của người bị hại hoặc tư pháp lập án điều tra và sự phán quyết của tòa án. Không thể phủ nhận việc bị trừng trị vậy là sai lệch hết ý nghĩa.
Cho nên “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là một cuốn sách đi cùng với thiên và địa đồng tôn thủ quy tắc với nhau “Thiên điều Địa luật”.
—————-           
Chương 7 – Mục 4: Tôn giáo tương hỗ, đoàn kết cứu thế
Số từ: 1026
Hiện nay, một số phật tử của Phật giáo chỉ chấp nhận là có Phật Đà, không chấp nhận có Thần, Tiên, Thiên, trong sách kinh nói người tu trên thập thiện nghiệp sau khi chết sẽ thành Thiên Thần và Thần Tiên. Cũng còn có một số Phật tử không biết được tinh thần tự giác, giác ngộ của Phật Bồ Tát, cảnh giới cao hơn Thiên Thần mà xem Phật với Thiên Thần cùng đẳng cấp. Quan điểm sai lầm bất phân biệt Thần, Tiên, Phật này dẫn đến hệ lụy làm cho Phật giáo bị xuống cấp, hiểu lầm và gây phản cảm trong xã hội.
Kinh sách nhà Phật nhiều lần đã phân biệt rõ các tầng thứ của Tiên, Thiên, lục đạo Thần minh. Cao tăng Ấn Quang đại sư nhiều lần thuyết giải với đại chúng là phải biết kính nể Quỷ Thần, Thiên Địa, Thần, Tiên, Phật, Bồ Tát,… cho thấy một Phật tử chân chính của Phật giáo không bao giờ không kính nể đạo lý của thiên địa Thần minh. Cho nên, giữa Thiên và Địa vô hình có quy tắc pháp luật tự nhiên, làm sao mà ta không tin tưởng? Phật là đứng đầu các cõi, sao còn không mau quy y?
Ngoài ra, một số tín đồ hay thích khinh bỉ chê bai, mà còn chửi bới nhục mạ các tôn giáo khác, thường cho là “ngoại đạo”, thậm chí còn sai lầm hiểu ngoại đạo đồng nghĩa với tà đạo. Khi Thích Ca Mâu Ni lúc chưa thành Phật đã từng theo học 96 loại ngoại đạo để cầu giải thoát, sau này rốt cuộc tỉnh ngộ được “Tâm ngoại vô pháp” mới chánh giác thành Phật. Lúc người đang tu hành đạo Bồ Tát, đã từng nhiều lần sử dụng hình ảnh của Bà La Môn, hình tượng của Tiên nhân để độ hóa chúng sinh. Nghĩa là bất luận tín đồ của Phật giáo hay các tôn giáo khác, nếu không từ nội tâm hạ công phu mà tu hành thì mới gọi là ngoại đạo. Tôn giáo chân chính thường hay chỉ bảo người hành thiện tích đức, cứu nhân độ thế, chỉ có khác biệt về phương pháp, phương tiện, nguyện lực và nhân duyên mà thôi.
Phật Đà đối xử với các nhân sĩ của các tôn giáo khác, tuyệt đối không bao giờ khuyên họ nên từ bỏ tôn giáo mà mình đang tín ngưỡng mà đến theo học Phật Pháp (trừ khi là tà giáo) mà là hành vi thế phàm, thuyết giảng chân lý, tuyên ngôn giáo hóa. Phật Pháp là dựa trên cơ sở trả ơn cha mẹ, sau khi học Phật càng phải kính hiếu với cha mẹ hơn, ái mộ thêm Thượng Đế của tôn giáo mình và biết kính trọng người hướng đạo, vậy mới là Phật Pháp.
Cho nên Phật Pháp được tất cả các loài người tôn trọng, Phật Tổ được tôn vinh là “Thế Tôn”. Trong cuốn “Tỳ Lô Giá Na Bồ Đề Tập” Phật nói:” Nếu người nào chà đạp lên những tôn giáo khác, tức là xa rời điểm Tỳ Lô Giá Na (tức là nhân duyên thành Phật)”.
Tôn sư sáng lập Tịnh Độ Tông Phật Giáo tại Trung Quốc là Huệ Viễn pháp sư tại Đông Thổ Lô Sơn, ông đã từng cùng Tôn sư của Đạo giáo hiện thời là Tôn sư Lục Tịnh Tu, Nho giáo danh lưu Đào Khuyến Minh rất là thân thiết, hay thường lui tới, cùng đàm thoại uyên bác, lưu lại trong lịch sử lưu câu chuyện “Hổ Khe Tam Tiếu”. Ông không chỉ giảng luận Phật lý, còn giảng dạy kinh điển của Nho giáo, đi sâu nghiên cứu tích yếu về gia đạo, suốt đời không ngừng nghiên cứu Nho đạo.
Đường triều cao tăng, Hoa Nghiêm thiền sư của Mật Tông Ngũ Tổ Quy Phong trong cuốn Nguyên Nhân Luận có nói: “Khổng, Lão, Thích Ca đều là chư Thánh, tùy thời ứng vận, thuyết giáo thụ đồ, nội ngoại tương tự, cùng lợi quần sinh”.
Ông cao tăng thời nay – pháp sư Ấn Quang, pháp sư Đàm Thư đối với các tôn giáo chánh phái và các Thần minh đều tôn kính bình đẳng, Mật Tông Đại thành tựu Trần Kiến Dân thường tu cùng đạo Tin lành, đạo Thiên chúa, Đạo giáo, Nho giáo tại khắp nơi nước Mỹ.
Hiện nay, ở Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ, các đại tôn giáo thường cùng tổ chức các hoạt động từ thiện để cùng nhau giao lưu, đạo Tin lành, đạo Thiên Chúa giáo, Đạo giáo mời nhân sĩ của Phật giáo đến các nhà thờ, lễ đường hoặc cung quan để tụng “Kinh Địa Tạng”, “Kinh Kim Cang” và trình diễn các bài Phật nhạc, Phật tử Phật giáo cũng đọc các sách “Thánh Kinh”, “Mã Thái Phúc Âm”, “Đạo Đức Kinh”, “Thái Thượng Cảm Ứng Tập”,… giống như bà con thân thiết lui tới với nhau, hài hòa thiện hữu nhưng trong lúc tu hành thì vẫn đạo giáo nào tu đạo pháp đó.
Từ đây cho thấy, hàng trăm năm nay, mọi người đều biết Thần hộ pháp của Tứ đại danh sơn – Cửu Hoa Sơn là vị Thần nổi tiếng của Đạo giáo “Ngọc Quy Hỏa Phủ Thiên Tướng” – Linh Quan Vương, tượng Thần này có lập tại các nơi trong Cửu Hoa Sơn và Tì Viên Tự, Cam Độ Tự để cúng bái tôn kính.
Nhìn theo pháp giới để nói: Phật với chúng sinh là vô nhị vô biệt, tất cả chúng sinh (bao gồm Thần, Tiên, và các sinh linh) đều có Phật tánh, tòng sanh bình đẳng. Đến như một sinh linh nhỏ bé như con kiến vẫn được nhìn nhận bình đẳng, huống chi đối xử với các tôn giáo và Thần minh vốn lấy thiện làm bản chất như vậy. Vì phước lộc của chúng sinh, giữa các giáo phái phải từ bỏ mâu thuẫn thời trước, khoan dung rộng lượng, tương trợ lẫn nhau mới là con đường đúng đắn.
—————-           
Chương 7 – Mục 5: Cung kính Thần và cầu phước
Số từ: 970
Hiện nay, các nơi trên toàn đất nước có không ít các loại đền miếu lớn nhỏ (không phải nói về chùa Phật Bồ Tát), đến ngày viếng Thần hay phô trương giết mổ súc sinh, dùng phương thức vừa thịt vừa cá để cúng phước. Vậy là trên cơ bản đã làm trái với đạo giáo, sai lệch ý nghĩa Thiên đạo của Phật giáo.
“Thượng Thiên có đức háo sanh”, trong cuốn kinh điển có tiếng của Đạo giáo “Tập Thái Thượng Cảm Ứng” có khuyến cáo nhân loại không được “bắn chim” rượt thú, phá tổ lấp ổ, hại thai giết trứng, không được “giết rùa đánh rắn”, “sát hại côn trùng”. Ngoài ra còn còn nói rõ nếu có thể “từ tâm với vật, không sát sanh, chắc chắn sẽ được Trời Đất phù hộ, phước lộc kéo về, Thần linh bảo vệ”.
Trong “Trung Bản Khởi Kinh” Phật nói: “Sát sanh giỗ Tổ, không tậu được phước, Thiên Thần không ăn, kẻ sát có tội”. Tại sao Thiên Thần không ăn? Tại vì Thiên Thần trú tại cung điện trên cõi Trời là xây bằng thất bảo, ăn toàn các mỹ vị ngọt ngào như cam lộ, làm gì mà phải ăn những thứ thịt của súc sinh vừa hôi tanh, dơ bẩn, xấu xí. Khi Thiên Thần không đến ăn thì sẽ không cầu được phước, kẻ sát sanh để làm giỗ cúng bái còn phải gánh thêm tội sát sanh, là tự gây phiền phức cho mình. Cho nên, sát sanh để cúng Thần là một chuyện ngộ nhận, một hành vi vô công mà có tội.
Trong cuốn “An Sĩ Toàn Thư” có ghi lại một câu chuyện “Thần Sông Thụ Giới”: Ở tỉnh Giang Tây, có con sông nước chảy mạnh rất nguy hiểm, có tên gọi “không gió ba thước sóng”. Bản xứ này có một miếu Long Vương, được xem là rất linh ứng, các thương gia vãng lai, thường hay sát sanh cúng bái, thì hàng hóa lưu thông mới được bình an, trường kỳ như vậy vì cúng bái không biết đã sát hại biết bao súc sinh không thể tính nổi. Đến thời Minh Triều, có một vị pháp sư có đức hạnh rất cao siêu từ đâu đi ngang qua, trước một ngày ông đến, người quản lý của miếu Long Vương, mơ thấy Thần Long Vương đến nói với ông “ngày mai sẽ có một vị đại hòa thượng đến đây, ông ta kiếp trước tu hành đã bái cùng một sư phụ xuất gia với tôi, ông tu hành không nguôi, kiếp này đã trở thành cao tăng, tôi chỉ sai lệch một bước, đã tọa lạc thành một Thần ăn vật máu tanh (dùng sát sanh súc vật để làm cúng bái cho các Thần), nghiệp tôi sát sanh tội rất nặng, tương lai nhất định phải vào đại địa ngục chịu khổ báo. Ngày mai, nhờ ông thay tôi cầu xin pháp sư truyền tôi Phật giới, sau này các người lai vãng đến cúng bái tôi, nhất định không được dùng rượu thịt!”.
Qua ngày hôm sau, ông chủ quản miếu đi dò xét, quả nhiên gặp được một pháp sư giống vậy nên đã nói rõ nguyên do cho ông ta nghe và mời ông ta đến miếu Long Vương để thuyết pháp. Từ nay về sau, sóng gió bên sông rất bình yên, người qua lại không cần phải sát sanh để dâng cúng. Cho nên, ngay cả Thần linh nếu tham hưởng thức ăn có mùi tanh cũng phải chịu sát giới, cũng phải vào địa ngục chịu quả báo.
Trên thế gian thật sự là có chuyện sát sinh để cúng bái Thần Quỷ cho việc cầu phước, chúng ta nên hiểu rõ, Thần Quỷ không phải thật sự tu hành để trở thành một Thánh linh đại từ đại bi, cũng có lúc phạm qua lỗi lầm, vả lại thật sự có không ít tà ma ác quỷ yêu ma háo thịt máu tanh, hành động tác quái trên thế gian. Nếu mà Thần tham hưởng máu tanh, nhận cúng lễ máu thịt của bạn rồi sau ban cho bạn được phước mà bạn không đáng có, giúp bạn làm những chuyện không nên làm thì đây là một hành vi mua chuộc vừa phạm nghiệp tội sát sinh và nghiệp trộm cắp, sau này sẽ tự hứng chịu quả báo. Vì vậy, ngoại trừ phải cùng gánh chịu nghiệp tội sát sanh còn phải chịu sự khổ báo do cưỡng cầu mà có, phải biết có trốn được một thời mà không trốn được vĩnh viễn, hưởng những phước báo mà mình không đáng được hưởng, ai biết được có khi nào do tà ma ác Thần xoay chuyển cho mình hưởng trước những phước lộc mà mình đáng được, như vậy có gì để đáng vui mừng?
Dựa trên cho biết, sát sanh cúng bái, đối với Thần hoặc người, cả hai đều có hại. Cho nên “Kinh Pháp Cú” có nói: “Yểu nghiệp thấy phước, vì ác chưa đến, khi ác chín muồi, tự chịu tội hình”
Như vậy, chúng ta cầu phước phải sử dụng phương pháp thanh tịnh từ bi như phóng sinh, ăn chay, tụng kinh, kính hiếu trưởng bối, cứu trợ người già neo đơn và người có hoàn cảnh khốn khổ, hỗ trợ trẻ em nghèo thất học, niệm Phật, cúng tăng, cúng dưỡng Phật Tam Bảo, tuyên dương sự việc nhân quả báo của thiện ác. Trợ giúp tiền in sách thiện truyền bá nhân loại mới chính là phương thức chánh đạo để cầu phước. Nếu như cúng Phật thì phải dùng hoa quả, thực phẩm chay, chỉ cần thành tâm đều được cảm ứng.
—————-           
Chương 7 – Mục 6: Niệm hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát tránh được tai nạn
Số từ: 414
Cô Vương Tú Phân 18 tuổi, từ nông thôn lên thành thị làm việc, đêm tối hay thường bị ác mộng thức giấc, gây cho tinh thần bị rối loạn. Cô nghe nói niệm bảy chữ hồng danh “Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát” có thể ngủ yên lành, vả lại còn có thể tăng thêm phước vận, tiêu họa trừ hung. Nên mỗi ngày sử dụng 20 phút thời gian niệm 1000 lần. Đêm hôm đó quả nhiên ngủ rất yên lành, từ đó ác mộng ngày càng giảm mất.
Vào một đêm tối, cô mơ thấy một đám ác đồ rất hung dữ, bắt cô và một số chị em chơi thân với nhau, nói là đưa họ đi làm gái điếm. Cô rất sợ hãi, lúc hoảng hốt thì niệm câu hồng danh “Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát”, mới niệm có mấy câu thì thấy có ông hòa thượng tay cầm gậy sắt đi đến, chỉ vào cô ta và nói với các ác đồ: “Cô ta là người của tôi, các ngươi không được bắt cô ta!”, nói xong thì đuổi hết bọn ác đồ đi và đưa cô về. Khi thức giấc cô cảm thấy giấc mơ này rất kì lạ.
Hai tháng sau, mấy cô bạn dưới thôn quê lên rủ cô cùng đi Phúc Kiến làm việc, mỗi tháng lương bổng hơn hai ngàn đồng, còn trả trước phí an cư một ngàn đồng, cô nghe xong động lòng đang chuẩn bị đi. Không ngờ qua ngày hôm sau bụng đau rất dữ dội, tiêu chảy không cầm nên không thể đi chung, đành bỏ lỡ cơ hội này.
Nửa năm sau, ở dưới quê truyền đến thông tin, mấy cô bạn kia đã bị xã hội đen “đại ca” dụ dỗ lừa sang Phúc Kiến, tiếp tục bán đi Đài Loan làm gái điếm. Lúc này cô mới nghĩ lại giấc mộng kì lạ ấy, nên càng tín ngưỡng hơn sức lực thần uy của Địa Tạng Vương Bồ Tát.
“Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn Nguyện Công Đức” có nói: “Mỗi ngày niệm hồng danh “Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát” 1000 lần, kiên trì 3 năm, Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ cử Thần Thổ Địa và Thần Phúc Đức đến phù hộ, giúp cho hành giả không bao giờ gặp tai nạn họa hại, cuộc sống sẽ được bình an, cơm ăn áo mặc, phước lộc tăng trưởng”.
—————-           
Chương 7 – Mục 7: Quan Thánh chiến thắng ôn thần
Số từ: 631
Thời Dân quốc, các thành thị làng quê đều có tổ chức bang phái, lúc thời Thanh Triều còn gọi là Hội đồng hương, thời dân quốc gọi là Hội quán, người An Trưng có An Trưng hội quán, người Hồ Nam có Hồ Nam hội quán… chủ yếu là phòng thân không để cho người địa phương và người ngoài ăn hiếp. Khi có xảy ra sự cố thì hội quán sẽ đứng ra can thiệp.
Năm 1946, năm thứ 2 của đợt kháng chiến thắng lợi, ông Tôn Vịnh Trấn trưởng làng của hội quán người An Trưng đến mời cậu tôi là Huỳnh Hạc Ban vẽ cho họ một bức tranh lớn hình tượng ông Quan Công, cậu tôi là họa sĩ nổi tiếng tại Viễn Nam, có năng khiếu tạo hình lập thể nhân vật. Sau khi hai bên bàn bạc ổn thỏa việc tranh vẽ và tiền công. Năm ngày sau thì hoàn thành, người hội quán xem rồi khen tranh thật trang nghiêm và mở tiệc chiêu đãi tạ lễ. Trong lúc dự tiệc, cậu tôi hơi hiếu kì, trong địa phương có rất nhiều hội quán không thấy có tín ngưỡng thờ Quan Công, chỉ có hội quán của An Trưng chịu bỏ ra giá cao để vẽ tranh tượng Thần Quan Công, nhất định phải có nguyên do. Cho nên hỏi thăm, ông trưởng lão hội quán trả lời:
“Quan Công đã từng cứu bá tánh của toàn huyện chúng ta, nên đã kể ra câu chuyện như sau:
– Thời cuối Thanh Triều, Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh khiêu chiến với binh lính nhà Thanh tại An Trưng không bao lâu, Viễn Nam các huyện phát dịch bệnh (bệnh truyền nhiễm), chỉ độc nhất huyện Kinh không có bá tánh nào bị bệnh, nguyên nhân là do Quan Công hiện Thánh đuổi dịch bệnh ôn thần đi khỏi.
– Trưởng lão hội quán nói: cửa phía Nam của huyện chúng ta có thiết lập một cái miếu để cung phụng thánh Quan Công, trong miếu có một ông chuyên quản lý chăm sóc nhang đèn trong miếu (gọi là ông chay), trước dịch bệnh bùng phát 1 tháng, có một đêm Thánh Quan Công báo mộng cho ông chay và 2 người trong làng lân cận: “Ôn thần sắp giá lâm huyện này, vì để tránh sinh linh phải chịu tai họa, đêm mai ông phải đến miếu tôi gõ chuông, để trợ giúp thần uy, trục xuất ôn thần, có thể tránh khỏi nạn kiếp”.
Sáng ngày hôm sau, hai ông trong làng không hẹn mà đi đến miếu thông báo cho ông chay nghe, mới biết là ba người cùng mơ một giấc mơ. 11h đêm hôm đó, cả ba người đột nhiên nghe thấy trên trời cao có tiếng ngựa chạy và tiếng đánh kiếm thì lập tức gõ chuông, trong đêm khuya tiếng đánh kiếm càng quyết liệt, chỉ thấy các tượng Thần trong miếu tiết mồ hôi ra như mưa, ông chay không ngừng dùng khăn lau, ra lệnh hai ông trong làng mạnh tay gõ chuông, khoảng hơn 1 giờ đồng hồ sau, tiếng kim mã dần biến mất, đêm khuya trở lại im lặng, ba người quỳ xuống tạ ơn Thần, những người trong làng bị đánh thức giấc đã bu quanh dò hỏi nguyên nhân.
Sau chuyện này không bao lâu, toàn huyện phát ra dịch bệnh, trong 10 người chỉ còn giữ lại 3 người, độc nhất huyện Kinh không có bùng phát dịch bệnh, sau này người trong làng lập bia khắc lên sự tích Quan Công đuổi ôn thần lưu truyền trong miếu. Từ đó, người nào cũng biết đến, đều tín ngưỡng linh nghiệm của Quan Thánh Đế Quân.
—————-           
Chương 7 – Mục 8: Những quả báo khi hủy hoại tượng Thần và tham tiền từ thiện
Số từ: 647
Thị trấn Bắc Hải tại Quảng Tây có một ngôi miếu cổ, có tên gọi là “Phổ Độ Chấn Cung”. Vào năm 1988, ông Chu người quản lý của miếu này có mướn một người nông dân đến để khiêng một tượng Thần khắc bằng gỗ, do tượng quá lớn không tiện di dời, phải sử dụng cưa từ chỗ lưng ra thành hai khúc, sau đó chuyển đi. Cách chuyện xảy ra 10 năm sau, năm 1998, ông Chu bị một chiếc xe mô tô phóng nhanh đụng vào bị thương nặng, làm gãy nhiều ống xương và gãy lưng, những chỗ bị gãy y như vị trí lúc cưa tượng Thần.
Sau đó, ông Chu phải điều trị một thời gian mới xuất viện. Tiếp đó, người nông dân nọ cũng phải chịu quả báo, trong lúc ông vớt bánh ú, bánh ú trong nồi kẹp lại một tấm lá khi kéo lên đã vẩy nước sôi lên mặt, gây cho nửa mặt ông ta bị phỏng rất nặng, còn bị phá tướng trên mặt.
Từ xưa đến nay, việc phá hủy tượng Thần Phúc Đức Chánh Thần đều gặp phải chuyện không tốt lành. Theo chúng tôi điều tra, thời kỳ đại cách mạng văn hóa, những người tham gia hủy chùa chiền và phá hoại tượng Phật không có người nào có quả báo tốt lành, đây là một sự thật. Chỉ cần chúng ta thâm nhập, điều tra phỏng vấn, làm một người có tâm, nhất định sẽ chứng thực nhân quả báo có thật không hư và không nơi nào không tồn tại.
Nguyên “Phổ Độ Chấn Cung” có ông quản lý thường hay ăn cắp tiền của các thiện nam tín nữ đến cúng dường, đem về nhà riêng tiêu xài cho riêng mình, quả báo của ông ta là hai đứa con gái của ông, một thì nghiện ngập ma túy, một thì bán dâm.
Những người đi đến miếu chùa cúng dường thường là những người gặp nạn hoặc có nguyện, có tin hướng đến phước đức của Thần linh mà quyên góp tiền cúng dường, cúng dường để tai qua nạn khỏi và tậu phước lộc, khoản tiền này đáng lẽ chỉ có thể sử dụng cho việc xây miếu chùa và tu hành hoặc chỉnh trang tượng Thần Phật, hoặc in tặng kinh văn, hoặc cứu trợ người nghèo đơn chiếc và các chuyện công ích từ thiện, làm như thế mới có thể tạo cho người quyên góp tiền đạt được nguyện vọng và được chứng thật nếu không thì sẽ gặp ác báo.
Khi mình lấy cắp tiền cúng dường cho Thần linh để lập công đức, nhất định phải thay thế người ta tiêu tai ban phước, Quỷ Thần sẽ đưa phước đức của mình âm thầm chuyển hồi hoàn thưởng cho người quyên góp tiền cúng dường, nên mình sẽ bị bạc phước, vận xấu nghèo khổ vô tận; nếu như phước đức, tinh khí của mình không đủ để bù đắp cho công đức của người quyên góp tiền thì thân tâm sẽ bị suy nhược lâm bệnh. Ngoài ra, còn vi phạm điều nghiêm cấm là trộm cắp tiền thập phương, sau khi chết sẽ bị đẩy xuống địa ngục vô tận chịu cực khổ. Tham ô tiền công đức cúng dường của chùa miếu, thực sự là một điều không thể làm. Nếu có những người như vậy, mau đến sám hối cải thiện, nhất là những người quản lý trong chùa và những người xuất gia phải đặc biệt cẩn thận.
Người muốn làm công đức quyên góp tiền cúng dường cũng không nên quá hồ đồ, nên chọn đúng điểm thật cần để ban phát công đức cho thiên hạ, giải quyết được những vấn đề thiết thực. Nếu không sẽ hại người, hại thân vô ích.
—————-           
Chương 7 – Mục 9: Tịnh Không Pháp sư luận cung dưỡng
Số từ: 572
Phật môn thường nói: “Một hạt gạo của thí chủ lớn như núi Tu Di, hôm nay không hiểu đạo, chăn bông vất xó nhà” Cho nên, tiền cúng dường làm sao có thể đem đi hưởng thụ. Nếu như người cúng dường có lòng làm công quả thì nên tiếp nhận, tiếp nhận xong thì phải chuyển làm cúng dường.
Ấn Quang Pháp sư đều đưa tiền tài cúng dường của tín đồ sử dụng vào việc in sách kinh và cứu trợ từ thiện, đưa phước nguyện của thí chủ chuyển thành hiện thực. Như là xây chùa lập miếu, người trong chùa phải thật sự hoằng pháp lợi sinh thì sự cúng dường của thí chủ mới có được công đức.
Có một số Pháp sư do được tín đồ khen ngợi, cúng dường mà sa đọa, sau này phải chịu quả báo, những tín đồ này cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Hiện giờ, một số tín đồ cúng dường cả nhà cửa, thứ gì tốt đều đem đi cung dưỡng cho Pháp sư, đời sống của Pháp sư quá sung sướng, thế giới Tây Phương cực lạc cũng không muốn đi nữa – nơi đây cũng tốt vậy, đâu cần phải cực nhọc làm chi? Tâm thành Phật đạo, tâm độ chúng sanh thoát ly sinh tử cũng không còn, thật là tai họa lớn! Pháp sư xuất gia thì đâu còn gia đình, tặng cho họ một ngôi nhà, tức là kêu họ nhập gia, họ có quyền sở hữu, lại có tài sản, tiêu rồi! Họ lại trở lại như xưa! Vậy do ai hại họ như thế? Tín đồ hại chết pháp sư.
Những người như vậy không hiểu được là mỗi ngày đang phá hoại Phật pháp, tổn hại Tam bảo, còn tưởng mình làm được nhiều việc công đức, nhiều việc tốt lành. Đến cuối đời xuống địa ngục gặp Diêm Vương, còn phân biệt không được sự tình thật hư ra sao, lúc ấy phải làm gì đây?
Phật Tổ năm xưa cùng với đệ tử ngày ăn dưới nắng, ngủ dưới cây qua những tháng ngày cực khổ. Người tu hành trẻ tuổi thì phải chịu tu luyện gian khổ, chỉ có “dị khổ vì sư” mới thật sự sanh ra tâm đạo chính chánh, có tấm lòng kiên cố siêu xuất thế gian này. Tự mình không chịu được cực khổ, nhìn thấy người khác chịu cực thì phát lòng tôn kính, không nên kéo họ đi lùi. Phật Tổ chỉ bảo chúng ta cúng dường cho pháp sư lương thực, quần áo, thuốc thang (lúc bệnh), vật dụng sinh hoạt cơ bản thì đủ rồi, nếu như pháp sư thật sự hứng thú muốn lo việc lợi ích cho chúng sanh thì nên lo theo tùy hỷ, ưa thích bố thí.
Đối với người mà bách gió thổi bất động, đáng để cho mình ra sức khen ngợi và cung dưỡng. Những người này mình khen ngợi họ, họ không sanh lòng vui sướng; vu khống họ, họ không nổi tâm âu sầu, tâm trạng họ vĩnh viễn bảo tồn yên tịnh, những người như thế mới thật sự đáng khen ngợi. Vì sao? Khen ngợi cung dưỡng không hại được họ, cho nên phải trợ giúp tuyên dương họ, tạo cho càng nhiều người biết đến, thì họ sẽ càng đắc độ chúng sanh càng nhiều.
—————-           
Chương 8 – Mục 1: Phụ thân của Mai Lan Phương
Số từ: 389
Thiện Ác có quả báo
Cha của Mai Lan Phương là người có danh tiếng trong nghề diễn kịch nghệ thuật. Lúc thời niên thiếu, ông học kéo đàn, học xong thường đến hoàng cung biểu diễn. Sau mấy năm, ông đã tiết kiệm được năm ngàn mấy bạc tiền đồng, gia đình hối thúc ông ta về quê thành hôn. Một ngày nọ, ngồi xe ngựa về quê, khi đi ngang qua Nam Kinh, ông thấy rất nhiều túp lều đều là những người tị nạn cư trú. Vì năm hạn hán mất mùa, dân đói khát lũ lượt đến.
Nhìn thấy cảnh đói khổ, lòng ông rất thương xót. Lòng từ bi nổi dậy, ông nghĩ trong lòng, mình có 3 ngàn lượng, nếu như bố thí 3 ngàn lượng cứu trợ cho người nghèo đói, còn lại 2 ngàn lượng cũng đủ để kết hôn. Nên ông đem ba ngàn lượng cứu trợ cho người nghèo đói nhưng vì dân nghèo đói quá nhiều, không đủ phân phát, ba ngàn lượng xài hết mà còn quá nhiều dân cầu cứu, lòng Mai quân thật không đành lòng, nên bỏ luôn hai ngàn lượng còn lại, đồng tiền xương máu của mình tích lũy mấy năm qua hoàn toàn tiêu sạch trong một ngày.
Trong lòng rất an lòng, nhưng lần này về quê lấy vợ thì không thành rồi. Nghĩ trong lòng, mấy năm sau mình thành hôn cũng được nên quay lại Bắc Kinh. Các đồng nghiệp hỏi ông ta sao lại quay về mau vậy. Ông Mai Quân kể lại chuyện bố thí cứu nạn, rất nhiều người đều nói ông ta ngu dại. Mai Quân lại làm việc thêm ba năm mới quay về quê lấy vợ.
Tại vì có một chuyện đại công trên trần dương nên trời ban cho ông ta con cái quý. Con gái ông Mai Lan Phương lừng danh trên toàn thế giới, giàu sang cao quý. Tuy không phải là hạng cao sang quý tộc nhưng đời sống sinh hoạt của ông thật là đầy đủ, sung túc, tôn vinh cho tổ tiên, lưu danh cho thế hệ sau, ông và con ông đều là đại sư có tiếng trong làng nghệ thuật. Thật ra, ông Trời đã ban cho ông một quả phước báo không nhẹ.
—————-           
Chương 8 – Mục 2: Những quả báo khi Tào Thiết Âu cưỡng hại điên cuồng
Số từ: 405
Thiện Ác có quả báo
Sỡ dĩ, Tào Thiết Âu có tiếng, không phải chỉ vì bà ta là vợ Khang Sanh mà là do bà ta với Khang Sanh đều cùng là sát thủ có tiếng của Trung Quốc thời bấy giờ, đều sát hại điên cuồng. Ở một số mặt, bà ta còn hiểm độc gian tà hơn Khang Sanh. Tào Thiết Âu lúc còn sống đã từng bị một chứng bệnh đặc biệt.
Sau khi Khang Sanh mất, Tào Thiết Âu từ Bắc Kinh dọn đến Mộc Dị Tỳ lầu số 22. Nhà lầu này chuyên xây cho các cán bộ cấp Bộ Trưởng ở, Vương Quang Mỹ và rất nhiều cán bộ cao tuổi đều sống qua tại đây, bị Khang Sanh và Tào Thiết Âu cưỡng hại.
Sau khi Tào Thiết Âu chuyển về nhà lầu này ở, thường có cảm giác như đang sống trong ngục tù sự chửi bới của dân chúng, gây cho bà ta sợ hãi, lo âu, đau khổ, căng thẳng và bất an. Bà ta sợ tiếng gõ cửa, sợ tiếng ồn, càng sợ người hơn. Đặc biệt là sợ những người già đã từng bị bà ta cưỡng hại, bà ta thường hay nằm ác mộng suốt ngày và đêm, mơ thấy rất nhiều người kỳ quái hung dữ muốn giết hại, rượt đuổi bà ta. Thậm chí, sau này ban ngày cũng nhìn thấy ưu hồn đến đòi mạng sống của bà ta. Cho nên, bà ta rất hoang mang.
Vào một buổi tối, cháu gái của bà ta vừa bước vô nhà, bà ta tức thì quỳ xuống trước mặt cháu gái khóc òa lên: “Hiện giờ, có người muốn đến trả thù ta, muốn hãm hại ta, mau cứu ta với, nếu không ta sẽ không sống nổi!”
Cô cháu gái không cảm thấy kinh ngạc vì những năm gần đây, Tào Thiết Âu như điên điên khùng khùng, nói năng lung tung, nói những câu nói, làm những chuyện bậy bạ và đã là chuyện thường ngày, vả lại càng ngày càng nghiêm trọng… Năm 1991, bà ta kết thúc cuộc đời của mình trong sự hoang mang, sợ hãi.
Đây chính là một Tào Thiết Âu bệnh hoạn lúc cuối đời. Tức là lúc sau khi mất hết quyền thế, Tào Thiết Âu cuối đời bị hàng vạn người căm thù nguyền rủa và chết trong nhục nhã.
—————-           
Chương 8 – Mục 3: Đầu thai thành lợn vì quả báo sát sanh
Số từ: 434
Thiện Ác có quả báo
Một tỉnh nọ tại Dư Thiều, Triết Giang, có một ông đồ tể họ Tôn, vào các ngày lễ Tết thường có người mời ông đi mổ heo. Khi ông quy y Phật giáo, biết được nghiệp sát sanh là tội nặng thì không còn giết mổ heo thay người.
Đến cuối năm, người bà con nhất quyết phải nhờ ông ta mổ cho bằng được. Chỉ vì nể về mặt tình cảm khó xử, ông ta lại phải giết mổ thêm hai con heo.
Qua tháng ba năm sau, vào một đêm, ông Tôn đại tiện sau nhà, thấy từ xa có một đám người đi tới. Có bảy người nam, tám người nữ toàn bị trói lại như là đang bị áp giải. Ngoài ra, còn có một số người tay cầm súng. Chạy gần, ông Tôn thấy trong đó có một người ông ta quen biết, đó là tên ác bá ở cách làng mười dặm. Người này cấu kết với thổ phỉ, ăn hiếp người nghèo, không việc ác nào mà không làm. Ông Tôn nghĩ thầm, ông ta có thể đã bị quan lính bắt giữ, không sao lại bị trói. Từ từ đi về đến nhà, chỉ nghe đám người đó cứ đi theo hướng nhà kế bên bán tạp hóa. Cách tường lắng nghe, chỉ cảm thấy tiếng người náo loạn, đèn nhà sáng trưng, nghe một hồi sau đó mới yên tĩnh lại.
Ông Tôn thức dậy lúc canh năm trời chưa sáng, đi ra ngoài tiệm tạp hóa, chờ gần nửa ngày mới thấy cửa tiệm mở ra. Ông Tôn hỏi, hôm qua nhà ông có chuyện gì mà sao nhiều phạm nhân đến nhà ông vậy. Chủ nhà này nói hôm qua chẳng có người nào đến nhà tôi cả nhưng con heo nhà tôi đẻ được mười mấy heo con.
Ông Tôn nói: “Tôi còn nhìn thấy ông ác bá nọ cũng bị trói trong đó mà”.
Ông chủ kia nói: “Chắc ông đã gặp ma rồi. Ông ác bá đó tháng trước đã bị bắn chết rồi”.
Ông Tôn quá sợ hãi, ông đi đến chuồng heo, thấy có 7 heo đực, 8 heo cái, phù hợp với số lượng người mà hôm qua ông thấy. Ông Tôn sợ quá, chạy đến Phật đường sám hối, xin thề thanh khẩu ăn chay.
Sau này mới biết, tên ác bá nọ lúc còn sống thường hay đến tiệm tạp hóa kia đòi nợ tiền mãi lộ nên sau khi chết phải đầu thai nhà đó để trả nợ.
—————-           
Chương 8 – Mục 4: Họa phước công bằng, đủ duyên mới đến
Số từ: 1374
Thiện Ác có quả báo
Vào năm Thuận Trị thời nhà Thanh, tại huyện Thuận Nghĩa, Bắc Kinh có một đại gia đình họ Cung, nhà có ruộng đất cả trăm mẫu, lừa ngựa cả đàn. Lúc trung niên, họ sanh được một cậu con trai, đặt tên cúng cơm là Khánh Hữu. Trong lúc này, ông Lý làm quản gia quản lý việc tá điền cho nhà họ Cung cũng sanh được một thằng con trai, đặt tên là Lý Phúc.
Đợi Cung Khánh được 7 tuổi, Cung đại gia mời một gia sư đến dạy học cho con trai. Lý quản gia thấy con trai của Cung đại gia được học sách, nên cầu xin ông Cung đại gia cho con mình học cùng với Cung Khánh, được Cung đại gia đồng ý. Tháng ngày qua mau, lúc Lý Phúc đến 14 tuổi thì cùng Cung Khánh tá túc tại học viện, tức ngày thì học chung, đêm thì ngủ chung.
Có một đêm, Lý Phúc đang ngủ ngon, mơ thấy trên trời mở một cổng lớn, từ trên trời hạ xuống hai ông Thần, hạ đúng trong học viện, có một ông Thần chỉ ngón tay đến Cung Khánh Hữu, còn ông Thần kia nói: “Anh ta ra sao?”. Ông Thần kia nói: “Anh ta là người toàn phước, năm 17 tuổi đậu tú tài, 19 tuổi đậu cử nhân, tương lai sẽ thăng quan đến cấp nhị phẩm, suốt đời hưởng vinh hoa phú quý”.
Ông Thần nọ lại chỉ vào Lý Phúc, hỏi ông thần kia: “Còn anh kia?”. Ông Thần kia nói: “Người này thuộc mạng khổ vô công danh, vô phận nghèo suốt đời”. Nói xong, hai ông Thần bay về Trời.
Sau khi hai ông Thần đi vào cửa Trời, cửa Trời đóng lại như trước. Lý Phúc tỉnh dậy, cảm thấy kỳ lạ liền kể hết chuyện trong mơ cho cha mẹ và những người khác nghe.
Đợi đến khi Khánh Hữu năm 17 tuổi, quả nhiên thi đậu tú tài, lúc này Lý Phúc không còn học nữa. Nhà có ruộng đất, Lý Phúc tuy canh tác nhưng luôn để ý đến hành vi của Khánh Hữu, anh ta thấy Khánh Hữu có tính độc đoán, luôn làm chuyện ác, tàn nhẫn bạo hành, không làm việc tốt. Sau khi Khánh Hữu thi đậu tú tài và tiếp tục thăng tiến, đúng là thăng chức đến làm đại quan nhị phẩm.
Nhưng Khánh Hữu làm quan thì tham nhũng, tàn độc với bá tánh, đánh người trung lương. Hành vi của Khánh Hữu, trong lòng của Lý Phúc xem đó là tội ác, cảm thấy Khánh Hữu sau này phải chịu quả báo. Ai ngờ, Khánh Hữu sống thọ đến năm 71 tuổi vẫn nhân tài song vượng, con cháu đầy nhà. Không chỉ có vậy, Khánh Hữu còn có thể biết được mình lúc nào chết, lúc ông chưa chết, ông nói với con trai làm sao lo hậu sự cho ông.
Nhưng hành vi của Lý Phúc lại khác biệt hoàn toàn so với Khánh Hựu, Lý Phúc sống rất cần kiệm, đối xử với người dân rất kỹ lưỡng, hướng thiện mà đi, không làm chuyện độc ác. Đối với loại người ác độc như Khánh Hữu lại được hưởng phước trọn đời, còn biết trước ngày mình mất. Trong lòng ông ta cảm thấy bất bình, cảm thấy dưới âm phủ cũng có chuyện mua chuộc hối lộ, quyết tâm cùng Khánh Hữu đến Diêm Phủ hỏi cho ra lẽ. Nên ông nói với con trai của ông là sẽ chết vào ngày tháng đó, chuẩn bị lo cho hậu sự của ông. Ông Lý Phúc muốn đi cùng Khánh Hữu đến âm phủ xem như thế nào, nhất thiết phải xem rõ ràng cho bằng được.
Lý Phúc nói với con trai là mình chết vào lúc nào, không phải vì ông ta tự biết ngày giờ chết mà là ông ta mua sẵn một gói thuốc độc. Nếu như Khánh Hữu thật sự chết vào ngày ông ta nói thì ông sẽ uống thuốc độc để chết theo Khánh Hữu đi xuống âm phủ gặp Diêm Vương. Không ngờ, Khánh Hữu đến ngày đó thật sự chết đi, ông Lý Phúc cũng uống thuốc độc chết theo để đi xuống âm phủ mới kịp nhìn thấy Diêm Vương đi ra đón Khánh Hữu. Diêm Vương xử lý xong công việc của Khánh Hữu mới ra gặp Lý Phúc, nói: “Sao ngươi cũng đến vậy?”.
Lý Phúc trả lời: “Tôi vì Khánh Hữu mà đi xuống đây. Trên trần gian, người người sợ quyền thế, kính chủ tài, tại sao Diêm Vương dưới âm phủ cũng phải sợ quyền thế và chủ tài sao? Tôi nghĩ ông Khánh Hữu sống trên trần gian, tàn nhẫn độc ác, làm việc ác vạn lần, ông ta lúc trên trần gian không phải chịu ác báo, đến âm phủ, chắc phải chịu hình phạt, không ngờ trần gian với âm phủ cũng như nhau”.
Diêm Vương nói: “Ông ráng chờ một lát thì sẽ hiểu”. Diêm Vương ra lệnh cho phán quan mở ra cuốn sổ sanh tử thiện ác để xem, trên tên của Cung Khánh Hữu có một hàng chữ. Diêm Vương nói: “Vì kiếp trước Khánh Hữu làm rất nhiều việc thiện to lớn, kiếp này tuy làm ác, đã tiêu hao không ít công thiện của kiếp trước nhưng vẫn còn dư rất nhiều việc thiện to lớn, chuyển đến kiếp sau vẫn được hưởng phước, nhưng không có lớn như kiếp trước nữa.
Với những chuyện ác mà ông ta đã làm, vẫn chưa đến thời kỳ thuần thục, Lý Phúc nhà ngươi vì kiếp trước không có làm việc thiện nên kiếp này phải chịu khổ. Nhưng vì do ông giác ngộ, một lòng làm việc tốt, cho nên ông sống trên đời tuy không hưởng phước nhưng ăn mặc không thiếu thốn gì, khi ông chuyển kiếp sau, ông sẽ hưởng phước thật là lớn”.
Lý Phúc cầu xin Diêm Vương lúc chuyển kiếp đừng cho ông ta uống nước mê hồn, để kiếp sau có thể xem được kết quả hành vi của Khánh Hữu. Diêm Vương đồng ý lời cầu xin của Lý Phúc.
Lý Phúc lại đi theo Khánh Hữu đi chuyển kiếp luân hồi. Vì ông ta chưa uống nước mê hồn, biết hết sự việc, biết được Khánh Hữu lại đầu thai đến một gia đình phú quý. Ông thì đầu thai đến một gia đình trung bình, vẫn tu hành giữ thiện. Khánh Hữu sau này trưởng thành, làm quan huyện trưởng, vẫn tàn ác với bá tánh, hoàn toàn không có một chút hối hận, dựa vào quyền thế tham nhũng, hãm hại dân lành. Vì ép buộc khẩu cung, đã móc đi hai con mắt của người ta; vì một vụ án, chém mất đôi chân của người khác, Khánh Hữu sống thọ đến hơn bảy mươi mấy tuổi, bị bệnh và qua đời.
Lý Phúc do có trí tu hành từ bi, đã tu đến ưu hồn có thể đi xuống âm phủ. Lý Phúc ngồi thiền, lúc này, ông ta nhìn thấy Khánh Hữu sau khi chết, linh hồn đi theo Khánh Hữu xuống gặp Diêm Vương. Lúc này khác với lúc trước, Diêm Vương tiếp đến Lý Phúc trước rồi mới xử Khánh Hữu sau.
Khi thấy dưới tên của Khánh Hữu trong sổ, phước thiện đã hoàn toàn tiêu hao hết. Lúc làm quan, móc mắt người ta, chém đôi chân người khác, hai sự việc này, chỉ có thể lấy thân mà trả nợ, phán quyết Khánh Hữu kiếp sau đầu thai đến một gia đình nghèo khổ, đôi mắt mù lòa, tàn tật hai chân, mỗi ngày ra mặt đường ăn xin, khổ hết biết.
Khi Lý Phúc nhìn thấy Khánh Hữu có quả báo của ba kiếp, trong lòng sợ mất đi bản tính mà phải tọa lạc sự luân hồi, nên kiên trì tu hành, độ kỷ độ nhân, cuối cùng công quả thành tựu, đạt được chánh quả, vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau của sự luân hồi.
—————-           
Chương 8 – Mục 5: Bất hiếu mẫu thân, bị rắn cắn chết
Số từ: 289
Thiện Ác có quả báo
Huyện Vĩnh Phúc tại Quảng Tây, ở xóm Đại Tân có một người họ Quý, năm nay 24 tuổi, tính tình rất hung dữ, người trong xóm làng đều rất sợ hắn. Vào ngày 17 tháng 3 năm 1998, sau khi gã Quý đánh bạc xong về nhà, mẹ hắn chỉ trách móc mấy câu, tự nhiên hắn nổi cơn giận, cầm cây đánh bà mẹ, đánh bà mẹ đến bầm tím máu chảy đầm đìa, khóc òa lên.
Mẹ hắn nói: “Mày là đứa con bất hiếu, nếu không bị xe cán chết, cũng sẽ bị rắn cắn chết”. Hàng xóm láng giềng phải dẫn bà mẹ của Quý đi bệnh viện cấp cứu mới thoát cơn nguy kịch.
Ngày 27 tháng 8, tên Quý đến làng Tam Hoàng công tác, sau khi cơm no bụng đầy, tự nhiên ma đưa lối quỷ dẫn đường hắn lại đến một tiệm bán rắn. Hắn lấy tay gõ vào rào chắn trong rổ rắn, không ngờ con rắn nhắm vào ngón tay cái của ông cắn một phát, lúc ấy chỉ cảm thấy bị ngứa thôi. Một giờ đồng hồ sau, Quý cảm thấy cổ họng bị khô, sây sẩm mặt mày, liền đi đến bệnh viện chữa trị, bác sĩ truyền dịch cho hắn ta nhưng hiệu quả không tốt lắm.
Quý cảm thấy vô hiệu nên rút ống kim truyền dịch ra và bỏ đi nơi khác tìm cách khác chữa trị. Lúc 7 giờ tối, cảm thấy tim đau thắt lại, mắt Quý hoa lên, lảo đảo bước vào bệnh viện nhưng đã đêm khuya, đến 9 giờ 10 phút thì tử vong, đúng như ứng nghiệm lời nói của người mẹ.
—————-           
Chương 8 – Mục 6: Ngược đãi mẫu thân, sét đánh vợ chồng
Số từ: 334
Thiện Ác có quả báo
Thị trấn Hà Quang Minh Sơn làng Liên Ninh, có một nông dân tên là Vương Tử Thịnh, mất cha lúc ba tuổi, do mẹ cần cù cực khổ nuôi lớn thành người. Vào những năm 60, do chính phủ điều đến xưởng gang thép làm công nhân tại xứ Phù Dung, thời ấy làm công chức của nhà nước, trong làng cảm thấy rất là hãnh diện.
Cưới vợ và sanh con xong, hai vợ chồng đi làm, thiếu người chăm con và nấu cơm, nên rước người mẹ ở làng quê lên, làm việc chăm con và nấu cơm. Vừa có “bảo mẫu” lại không cần phải trả tiền công, đáng lẽ phải đối xử hòa hợp với nhau, để an ủi cuối đời cho người mẹ. Nào ngờ cưới được vợ lại quên người mẹ, người vợ đối xử không tốt với bà mẹ chồng, con trai lại nghe theo vợ, cùng ngược đãi bà mẹ già.
Nếu “chăm sóc” không như ý con và dâu, bị mắng chửi và đánh đòn. Năm tháng ngày qua, người mẹ không thể chịu đựng nổi được nữa, đã nói: “Số tôi khổ như vậy thà chết còn sướng hơn”.
Người dâu nói: “Bà chết được sao? Nếu bà chết thật tôi sẽ đem thịt bà ra chợ bán”, dám nói những câu bất hiếu với bà mẹ chồng, cho thấy bình thường ngược đãi bà như thế nào rồi.
Vào một đêm tối, mưa gió tầm tã, sét đánh ầm ầm, một tia sáng đỏ vụt qua cửa sổ, “xẹt” một tiếng lớn, thiên lôi đã đánh trúng đôi vợ chồng, lúc ấy trong buồng nằm tổng cộng năm người của ba đời; Vương Tử Thuận, hai vợ chồng ngủ hai phía, chính giữa là bà mẹ già và đứa cháu nội đều vô sự.
Thiên lôi đánh người, lại nhắm chuẩn đến thế. Đây là chuyện thời năm 1964, người trong làng ai ai cũng biết cả.
—————-           
Chương 8 – Mục 7: Tham lam thất đức, táng gia bại sản
Số từ: 355
Thiện Ác có quả báo
Ông Vương Mậu là công nhân viên chức chính phủ tại thành phố Huyện Hiển, là một quan chức văn phòng, dựa vào ngòi bút chuyên thay người xử lý kiện tụng, thừa cơ lợi dụng tống tiền. Nhưng mà, mỗi lần ông kiếm được một món tiền tài từ việc bất nghĩa thì nhất định ông lại bị một chuyện khác bất ngờ tiêu hao hết món tiền đó. Đúng là người tính không bằng trời tính.
Trong miếu Thành Hoàng gần đó có một chú tiểu sống. Một đêm hôm nọ, khi đi ngang qua hành lang, chú chợt nghe được tiếng đánh bàn tính và tiếng người nói chuyện thì ngừng lại lắng tai nghe. Trong đó, một vị nói: “Ông Vương Mậu năm nay vơ vét tiền tài thật không ít, tìm cách cho tiêu hao đi mới được!”.
Một người khác nói: “Không cần phải suy tính nhiều cho mệt, chỉ cần một Thúy Vân thì đủ cho hắn mệt rồi”.
Trong miếu Thành Hoàng thường nói có ma nên chú tiểu cũng quen rồi, không sợ hãi gì. Chỉ không biết là hai người đó nhắc đến tên Thúy Vân là ai, người như thế nào?
Không bao lâu, tại quán lầu xanh trong thành Huyện Hiển, có một cô bán hoa mới đến tên là Thúy Vân, ông quan đó thì bị nhan sắc của cô Thúy Vân này mê muội đến mất hồn, tiền tài kiếm được từ việc bất nghĩa cũng sắp tiêu hao hết 70 đến 80% trên thân cô gái đó. Sau này còn bị nhiễm bệnh lậu ác tính đầy người, ông mời bác sĩ tìm thuốc chữa trị vẫn không hết được, đã tiêu tan hết tất cả tài sản tích lũy.
Có người tính một bài toán giùm cho ông Vương, tính từ các khoản tiền do ông ta tống tiền và tham nhũng mà có, có khoảng ba bốn chục ngàn lượng. Nhưng sau này, ông bị một trận bệnh lớn, đột ngột qua đời, kể cả tiền mua hòm còn không có để mua.
—————-           
Chương 8 – Mục 8: Tài sản bất chính, con cháu phá hết
Số từ: 405
Thiện Ác có quả báo
Ông Dương Quỵ Đình nói: “Quê làng của ông có một ông quan lớn, mãn nhiệm vinh quang trở về xóm làng, khép cửa tạ khách, đối với chuyện gì không liên quan đến ông ta đều không ngó ngàng tới, an phận hưởng thụ, nhàn nhã ẩn cư. Chỉ khi nghĩ đến tuổi già, không có con cháu, trong lòng lại âu sầu. Không bao lâu, phu nhân của ông sanh được một con trai, hai vợ chồng rất là an vui, xem như là châu báu trong đời, thương yêu hết mình.
Sau này, người con trai bị bệnh, tính mạng nguy kịch, làm cho hai ông bà già phải lo âu hết lòng. Ông nghe nói tại Dư Sơn có ông đạo sĩ bói toán có thể đoán trước được tương lai nên đích thân ông tìm đến cầu bái hỏi thăm. Sau khi đạo sĩ nghe lời tường thuật thỉnh cầu của ông ta xong, chỉ mỉm cười nói: “Thằng quý tử của ông còn nhiều điều chưa làm, làm sao mà có thể chết sớm như vậy?”.
Ông nghe xong lòng thật buồn bã, không biết là chuyện lành hay xấu. Đi về mời một thầy thuốc có tiếng, không ngờ lại trị hết bệnh cho con trai ông ta.
Công tử này lớn lên và trưởng thành, tính tình kiêu ngạo buông thả, hành vi sa đọa, cờ bạc rong chơi, không thiếu thứ nào, không bao lâu đã tiêu tan hết gia tài của cha ông để lại. Đến sau này, mất nhà mất của, phải gửi thân xứ người, giống như là ưu hồn ma quỷ, lưu lạc tứ phương không người cúng giỗ.
Bà con xóm làng bàn luận và nói: “Ông lão tiên sinh này không làm chuyện ác, tại sao lại đẻ ra con hư đốn này? Nghĩ lại trước kia, ông chỉ là một thư sinh nghèo nàn, khi lên chức làm quan, nhiệm kỳ chưa đến 10 năm, đột nhiên thành một tỷ phú. Làm quan mà đột nhiên giàu nhanh như thế thì mọi người tự hiểu là bằng cách nào. Vì vậy có được quả báo như thế, cũng là thuận tình thuận lý”.
Người xưa thường có nói: “Nếu sử dụng thủ đoạn không chính đáng kiếm được tiền tài đó là sẽ không bền lâu, không kiên cố là ý như thế đấy”.
—————-           
Chương 8 – Mục 9: Cung kính vô ư, làm quan chánh nghĩa
Số từ: 788
Thiện Ác có quả báo
Ông Quan Tô Tiên tại Bắc Xuyên, một ngày kia thấy một giấc mộng, mơ thấy mình đi xuống Diêm phủ, nhìn thấy Diêm Vương đang xử án dưới âm phủ. Ông Quan Tô Tiên nhìn thấy một bà lão già ở xóm lân cận bị dẫn lên trước sảnh, sắc mặt của Diêm Vương trở nên nghiêm trang, đứng dậy bước đến bà lão đưa tay chào, mời bà ta lên ngồi, kêu người rót nước mời. Sau đó, lại ra lệnh quan thẩm phán và nói: “Đưa bà ta đến nơi phước lành đầu thai”.
Ông Quan Tô Tiên nhỏ tiếng hỏi thăm ông quan đứng ở kế bên: “Bà lão này lúc còn sống đã làm công đức gì mà Diêm Vương ưu đãi bà ta đến thế?”
Ông quan Diêm phủ nói: “Công đức của bà lão này là suốt cả đời không bao giờ có tồn tâm hại người lợi kỷ. Lòng hại người lợi kỷ hầu như người nào cũng có, cho dù là gia sư có học, người tu hành hoặc quan viên, cũng không thể tránh khỏi. Người khi có tâm này, nhiều ít cũng có tổn hại đến người khác. Cho nên, rất nhiều mánh khóe gian lận đều phát sinh ra; rất nhiều tội oán thù, cũng từ đó mà có, thậm chí còn gây nên chuyện tứ hải thông độc, hôi thối vạn niên. Tất cả những thứ này cũng là do người có lòng tâm hại người lợi kỷ mà gây ra, còn bà lão già này suốt cả đời cố gắng kiềm chế lòng, không hại người lợi kỷ, không làm việc gì vì lợi ích riêng mà tổn hại đến người khác, dựa vào phẩm đức của bà lão mà so sánh với những nho học thư sinh và quan viên miệng luôn đầy chữ Nho đạo nghĩa mà lòng có tà ý đầy trong lòng, sẽ không có chỗ cho họ dung thân! Nên Diêm Vương lễ phép đối xử với bà lão, thì đâu có gì quá đáng?”
Ông Tô Tiên hồi tưởng lại và nói: “Trước khi bà lão này dẫn lên đại sảnh thì có một người mặc áo quan phục, hùng hổ bước lên sảnh, người này có nói với Diêm Vương: “Từ khi tôi làm quan đến giờ, đi đến các nơi đều chỉ uống một ly trà, không có hành vi nào tham ô hay hối lộ, nay đứng trước mặt các vị Quỷ Thần, tôi có thể không phải hổ thẹn!”
Diêm Vương nghe những lời nói của ông ta chỉ mỉm cười, nói: “Quốc gia, triều đình thiết lập quan chức để quản lý địa phương, chăm nom bá tánh. Kể cả các quan nhỏ chỉ đứng gác giao thông với quản lý đập nước cũng phải làm tốt trách nhiệm của mình. Nếu chỉ không tham lam, không ăn uống nhiều mà là quan tốt thì bộ máy chính quyền sinh ra để làm bù nhìn hết sao. Như thế, lập một người gỗ trong quan phủ, một ly trà nó cũng chẳng uống, không phải còn khá hơn cả ông sao”.
Ông mặc áo quan lại biện hộ mà nói: “Tuy tôi không có công lao nhưng tôi cũng chẳng làm gì nên tội mà”.
Diêm Vương nói: “Ông suốt đời chỉ cầu toàn cho riêng mình, chứ lợi ích của Quốc gia, địa phương và bá tánh ông không lo. Tất cả các vụ án, ông chỉ trốn tránh vì sợ bị liên lụy và tình nghi, không dám đứng ra tranh cãi, như thế không phải tổn hại cho bá tánh sao? Những việc trốn thuế, ông không cách mạng cải tiến mà còn sợ gây phiền phức cho chính mình, tăng thêm lượng công việc, ông lại sợ phải gánh trách nhiệm lớn, cố ý không thực thi. Như vậy, không phải làm tổn hại cho Quốc gia sao? Bao năm qua trách nhiệm của ông để ở đâu? Ông phải biết, nếu thân là quan, vô trách nhiệm tức là có tội”.
Người mặc áo quan sắc mặt hiện lên xấu hổ, cảm thấy đứng ngồi bất an nhưng khí sắc kiêu ngạo lúc nãy hoàn toàn biến mất.
Diêm Vương nhìn thấy sắc mặt ông ta, lại cười lên và nói: “Trách không được ông kiêu ngạo đến thế, thật lòng mà nói, ông cũng được xem là vị quan tốt thuộc loại hạng ba, hạng bốn rồi. Đừng bận tâm, kiếp sau ông vẫn còn có thể làm quan!” Lập tức phớt tay hạ lệnh lính quỷ đưa ông ta đến điện thứ mười gặp Chuyển Luân Vương để đi đầu thai.
—————-           
Chương 8 – Mục 10: Vu oan người trong sạch, con cháu vô phước
Số từ: 607
Thiện Ác có quả báo
Năm Hàm Phong, có một ông nọ họ Hoàng là người của Quý Châu, lấy thân phận tiến sĩ đảm nhiệm trưởng quan hành chính tại huyện Tiêu Ninh. Sau khi đảm nhiệm rồi, mỗi lần ngồi trên ghế thụ lý kiện tụng thì nói: “Kiếp trước vào năm Gia Khánh tôi đã từng đảm nhiệm chức trưởng quan hành chính tại huyện Tiêu Ninh, có một người phụ nữ thôn quê do nhiễm bệnh bụng chướng ứ nước, bị chồng nghi ngờ là ngoại tình có thai, tố cáo lên quan huyện. Lúc ấy, tôi đang thụ lý vụ án này, ngộ tin lời nói của ông làm vườn, tra hỏi cô ta có phải đang mang thai, làm cho cô ta xấu hổ, lấy dao tự rạch bụng mà chết”.
Ông Hoàng mỗi lần lên công đường làm việc thì đều ú ớ nói ra những lời đó. Chờ khi nào thụ lý xử án văn kiện xong, lại trở lại như thường. Các bộ phận cấp dưới của ông đều rất kinh ngạc nên âm thầm nhờ bên văn thư tra xét xem sự thật ra sao. Một quan văn thư lớn tuổi, sau khi tìm hiểu xong đã nói: “Không sai! Câu chuyện này phát sinh hồi năm Gia Khánh, lúc tôi còn trẻ, tôi đã làm văn thư cho phòng hành chính xử án rồi, sắp xếp văn bản văn thư, đã tận mắt chứng kiến chuyện này. Tôi đã xem xét qua vụ án này, trùng khớp với mỗi câu nói của ông Hoàng lúc lên xử đường đã nói”.
Lúc ấy, chuyện này đã truyền đến tai của trưởng quan, nghe thấy vụ án oan ức này quá ly kỳ, đồng thời thương hại cho ông ta tuổi trẻ có tài nên ra lệnh quan học (quản lý việc dạy học) phụ trách việc hòa giải, cho phép lập bảng công bố danh dự trinh tiết cho cô ta. Đồng thời, kêu ông Hoàng lập bàn thờ, suốt đời thờ cúng bà ta.
Xong chuyện rồi, có một lần ưu hồn của cô thôn nữ kia lại nhập vào xác ông Hoàng nói: “Dưới âm phủ rất chú trọng chuyện trinh tiết, đạo hiếu, ông Hoàng có ba đời đều đậu tiến sĩ, nay đã có thi đậu tiến sĩ rồi, đời sau vẫn còn có thể thi đậu tiến sĩ nữa. Vì suốt đời ông rất chú trọng đạo hiếu nên không bị tước đoạt đi sinh mạng, chỉ bị giảm bớt phước phần. Nếu không, dựa theo tội xử án lầm, ông ta phải chết oan ngoài phố. Tôi thuật lại luật hình dưới Diêm Phủ, không thể giải trừ tội hình cho ông Hoàng”. Học quan nghe xong, không thể nói gì.
Sau này, ông Hoàng quả nhiên do thay đổi giáo chức mà phải từ quan, trở về quê cố gắng hành thiện, để tu dưỡng phước phần cho kiếp sau. Chỉ vì do xử oan vụ án của một phụ nữ, đến đời thứ ba rồi, dù có thi đậu tiến sĩ cũng không được hưởng phước phần và phước lộc. May thay, ông Hoàng ngày thường rất hiếu thảo, kính nể với cha mẹ nên đã tránh khỏi chịu cảnh chết vì tai nạn. Giả sử ông Hoàng không có lòng hiếu thảo, gặp phải tội báo ứng của kiếp trước, còn có thể sống đến nay chăng? Nhà chồng của cô thôn quê kia vu khống cô ta và ông làm vườn nhận hối lộ kia làm nhân chứng giả cũng phải chịu quả báo rất nghiêm trọng.
—————-           
Chương 8 – Mục 11: Quả báo thành lợn của kẻ thấy chết không cứu
Số từ: 573
Thiện Ác có quả báo
Một tiệm vải lụa tại Hàng Châu, thành lập hơn mười mấy năm. Chủ nhân đã hơn 50 tuổi nhưng lại có lòng bất lương. Có một năm, nơi này phát sinh hỏa hoạn, tiệm tơ lụa cũng bị liên lụy. Đằng sau tiệm có căn hộ nghèo, cả nhà ba người, lấy nghề giặt vải làm mưu sinh, ra vào bắt buộc phải đi qua bên hông cửa tiệm tơ lụa. Khi lúc lửa cháy lan qua nhà hộ nghèo, cả nhà ba người dùng sức gõ cửa bên hông của tiệm vải la lớn: “Mở cửa, mở cửa đi!”, hy vọng có thể thoát ra từ cửa bên hông để bảo tồn sinh mạng. Đâu ngờ, chủ nhân của tiệm vải do muốn tiện lợi việc khiêng dọn tài sản của mình. Cho người dùng sức chặn cửa lại, không được mở cửa ra. Đợi khi hàng dọn xong, lửa cũng đã tắt, cả nhà hộ người nghèo bị thiêu chết trong biển lửa.
Trải qua một năm, chủ nhân của tiệm vải đột nhiên qua đời. Có một đêm, báo mộng về cho con trai và nói: “Tôi hại chết cả gia đình nhà hộ nghèo, Diêm phủ không cho phép tôi đầu thai làm người mà bắt tôi phải đầu thai thành heo, tôi bây giờ đã đầu thai vào nông trại một nhà có đàn heo đang sinh sản, tổng cộng có 4 con heo con, trên mình con heo có chấm là tôi đầu thai đó, con có thể đến nhà nông kia xin mua tôi về nhà nuôi, để tránh bị giết mổ”, nói xong thì òa lên khóc.
Con trai ông tỉnh dậy, cảm thấy mộng như thật và dựa theo địa chỉ trong mộng chỉ dẫn đi tìm, quả nhiên, nhà nọ có heo mới đẻ ra được mấy hôm, trong đó có một con heo có chấm đen, heo con nhìn thấy con trai đến, la hét lên, hiện lên bộ mặt tội nghiệp. Con trai bỏ tiền để mua con heo về nhà nuôi, ngoài ra chuẩn bị một căn phòng để cung dưỡng nó và mướn một người về chăm sóc. Mỗi ngày tắm cho heo, dùng thức ăn thượng đẳng nuôi dưỡng, y như cung dưỡng lúc cha còn sống trên đời. Lúc còn sống, ông rất thích hút thuốc, uống rượu nên con trai ông lúc nào cũng cho thuốc, rượu, cung phụng cho heo, mỗi bữa cơm đều uống đến mặt đỏ ngầu. Lúc ông hút thuốc, người làm tay cầm điếu thuốc đưa vô miệng, nuốt vô bụng như điên cuồng.
Như thế trải qua mấy năm, heo lại đến báo mộng cho con trai và nói: “Tôi còn sống đã tội ác vạn kiếp, chết đi đã đầu thai vô đạo súc vật, nếu như còn hưởng thụ như người sống trên trần gian, thì chỉ càng tăng tội lỗi cho tôi. Từ nay về sau, không cần đem thuốc lá, rượu, càng không nên mướn người để chăm sóc cho tôi, chỉ cần nuôi tôi bằng cơm là được rồi”.
Chuyện này xảy ra không có người nào trong thành mà không biết. Thông tin này có phát trên báo đài hồi năm dân quốc thứ 17 (năm 1928), vào ngày 1 tháng 4, trên Báo Tin Tức (Trung Quốc), trang 6, do Tiêu Sơn Ngụy ghi nhận chuyện này.
—————-           
Chương 8 – Mục 12: Lương tâm và Thiên lý
Số từ: 397
Thiện Ác có quả báo
Thời nhà Tống, có một ông tên là Vương Siêu, có tài có sức. Vì công danh, tâu lên Triều đình yêu cầu ra quân chiếm thổ địa Khoan Cương, tiến tới Cam Tiêu, dọc đường giết rất nhiều người. Sau này, ông được tôn làm an sĩ. Nhưng không hiểu tại sao, trong lòng ông bất an.
Có một ngày ông đi đến Cam Lộ Tự, gặp được cao nhân Tiêu Cảnh Thuận, ông hỏi: “Theo lệnh vương pháp của triều đình giết người, có tội hay không?”.
Trả lời: “Trước tiên, không nên hỏi có tội hay vô tội, chỉ cần biết có qua được lòng mình hay không”.
Vương Siêu lại nói: “Qua được”.
Tiêu Cảnh Thuần nói: “Nếu qua được thì không cần đến hỏi tôi, nghĩ lại mới cảm thấy không thể qua được lòng mình rồi!”.
Sau này Vương Tiêu bị bệnh, sợ hãi hay dùng đôi tay che bịt hai mắt, kêu ông buông hai tay ra để ăn cơm hoặc uống thuốc, ông hay nói: “Mở không được, trước mắt tôi có biết bao nhiêu người không đầu, không chân đứng trước mặt tôi!”.
Những người này đều là ưu hồn ma quỷ, lúc trước ông hạ lệnh giết chết. Lúc này, mới phát hiện, “Tâm không thể lừa, Quỷ Thần không thể lừa”.
Có người cho là tuân theo chỉ thị hoặc chính sách của Nhà nước làm việc gây ra hậu quả bất lương, thì người chấp hành không có lỗi mà đó là tội của người ban hành, xem ra cũng có chút đạo lý nhất định. Nhưng phải xem người chấp hành trong lòng có phải theo lệnh ban hành hay lạm dụng chức quyền để gây xáo trộn chính sách, xem có tham nhũng ngang ngược lộng hành không. Có người lợi dụng mình có chức quyền, mượn danh nghĩa chính sách và chỉ thị của cấp trên, hà hiếp dân lành, kết bè chia phái… Nếu như vậy, nhất định phải chịu nhân quả báo.
Lương tâm tức là Thiên lý. Tâm là Thần, Thần là tâm, nếu như gạt tâm, tức là gạt Thần. Phận làm quan, phải lấy tâm tự hỏi, có phải hại người lợi mình? Có phải giả công việc riêng? Có qua được lương tâm? Thì quả báo thiện ác sẽ tự hiểu.
—————-           
Chương 8 – Mục 13: Nhận hối lộ hại người, con cháu bần tiện
Số từ: 434
Thiện Ác có quả báo
Dư Tân, tại huyện Giang Âm, có danh tiếng gần xa. Năm Càn Long đời nhà Thanh, ông tham gia thi cử nhân, chưa làm bài xong, đã thu gom đồ dùng ra ngoài, sắc mặt xanh xao và hụt hẫng, một thí sinh cùng thi chung đi theo, nhiều lần thăm hỏi nguyên do, anh ta mới nói:
“Cha ta làm quan nửa đời người mới nghỉ hưu về nhà. Lúc ông lâm chung, kêu bốn anh em tôi đến bên cạnh ông, khóc lóc và căn dặn: “Tôi còn sống trên đời không có làm chuyện gì vô lương tâm, chỉ là lúc làm trưởng huyện, đã từng nhận hai ngàn lượng vàng tiền hối lộ, giết oan hai tù phạm. Đêm hôm qua, linh hồn của tôi đi xuống Diêm phủ để đối chiếu vụ án, trên pháp lý mà nói, đáng lẽ tôi phải tuyệt giống nối dòng. Do tổ tiên ông cố đã từng cứu người chết đuối nên lập được công đức, có thể để lại được một người con trai, nối dòng năm đời, nhưng đều phải chịu cảnh bần tiện suốt đời. Tội hình trong địa ngục tôi không thể tránh khỏi, nếu còn vọng tưởng con cháu có công danh, chỉ có tăng thêm tội cho tôi mà thôi, đại đại bất hiếu”. Nói xong, ông đã tắt thở.
Sau này mấy anh em chúng tôi lần lượt qua đời, chỉ còn sót một mình tôi. Tôi hai lần trước tham gia thi cử tại làng, đang thi tự nhiên làm dơ bẩn đề thi (thời ấy Quốc pháp quy định, làm bẩn đề thi giám thị không xem, không duyệt đề thi, xem như mình không có thi). Hôm qua, nửa đêm canh ba, đột nhiên thấy cha mình lật mành che lên mang giọng trách móc mà nói: “Ngươi không có làm những việc để tích đức, công đức chuyển đạt lên Trời để ta có thể giảm nhẹ tội hình, lại còn làm trái lời dặn của di chúc, làm cho ta tội càng chồng chất”. Nói xong, dùng dụng cụ còng trên tay làm tắt nến đèn.
Tôi không đành lòng, chỉ tiếc là đã để cho cha ôm hận bị giam cầm trong âm phủ: “Tôi sẽ vào núi xuất gia, học tập hiếu hạnh của Mục Kiền Liên cứu mẹ”.
Nghe xong người nào cũng kinh ngạc đến không nói ra lời. Cùng phòng trọ, có một thí sinh tên Trần Hộ Thanh, sáng tác một bài thơ “Quy Sơn” tặng cho anh ta.
—————-           
Chương 8 – Mục 14: Những quả báo thiện ác về cân gian đong thiếu
Số từ: 1292
Thiện Ác có quả báo
Sự kiện này phát sinh vào cuối năm Thanh Triều trong hộ Long Cảnh tại Kinh Đông, có ông lão viên ngoại tên gọi Thôi Đức Phương, ngày qua ngày sống rất sung sướng, nhân vượng tài vượng, đầy đủ sung túc, ông có ba người con trai, đều đã cưới vợ. Lúc ngày đại thọ 60 tuổi của ông lão viên ngoại, ông kêu ba người con trai đến trước mặt mình, nói:
“Con à, các con hãy nghe, lúc trước ta xuất thân nhờ tay trắng mà khởi nghiệp, để giành được gia nghiệp như hiện nay. Ta thành gia lập nghiệp chỉ nhờ một cái cân không tim, cân này trong ruột có đong thủy ngân, lúc nhà ta thu mua, có thể mua 20 lạng tính thành một cân (Chú thích: Trung Quốc thời này tính 16 lạng là 1 cân), lúc nhà ta bán, có thể tính 14 lạng thành 1 cân. Hai mươi năm trước, ta mua được mấy ngàn cân bông gòn, mỗi cân hơn 4 lạng, người bán bông gòn lỗ nặng, tức giận lên phát bệnh thương hàn mà chết. Đối với chuyện này, trong lòng ta rất hối hận và cũng có một ông bán thuốc bắc, cũng bị chuyện tính toán của ta mà tức chết đi. Hiện giờ, ta không chỉ có được phần gia sản, vả lại còn có con cháu đầy nhà, khi các con đứng trước mặt ta, ta sẻ hủy cái cân này, từ nay về sau cải ác hành thiện”.
Ba người con trai nghe được đều nói: “Cha đáng lẽ phải làm như thế mà”.
Sau khi ông lão viên ngoại hủy bỏ cái cân không tim đó, từ đó về sau ông cải ác hành thiện, ưa thích việc làm bố thí. Không ngờ, ông lão viên ngoại từ khi hủy cái cân rồi hay làm việc thiện, gia đình lại xảy ra nhiều chuyện không may. Không đến một tháng, con trai lớn của ông bị bệnh nặng mà qua đời, con dâu lớn đi lấy chồng khác; sau khi lão viên ngoại lo xong chuyện hậu sự của con trai lớn, con trai thứ cũng đột nhiên phát bệnh và qua đời, con dâu thứ cũng đi lấy chồng khác; ông lão viên ngoại vừa lo xong chuyện hậu sự của con trai thứ, lại đến con trai thứ ba cũng tựa như vậy luôn, dâu thứ ba vì đang mang thai nên không có bước thêm bước nữa. Gia đình gặp chuyện tang tóc liên tục làm cho Thôi Đức Phương rất đau buồn, ông nói với người ta:
“Tôi cân lớn biến thành cân nhỏ, gian lận lại có được con cháu đầy nhà, gia đình phát tài phát lộc. Nay tôi tích đức hành thiện lại mang đến cho gia đình sự tang tóc, vậy chuyện nhân quả báo thật sự có hay không?”, hàng xóm nghe được cũng nói là Trời không có mắt.
Vào ngày này, con dâu thứ ba sắp lâm bồn, không hiểu sao suốt 3 ngày 3 đêm vẫn chưa sanh con được. Mời biết bao nhiêu bà mụ đỡ đẻ cũng vô hiệu. Có người nói, nên giữ mẹ rồi bỏ con, người nói giữ con mà mất mẹ, ông Thôi nghĩ gia đình mình lúc này toàn chuyện không may, trong lòng càng buồn phiền hơn. Trong lúc đang bối rối, có một vị hòa thượng đi đến trước cửa hóa duyên. Lão quản gia từ trong nhà bước ra nói:
“Đại pháp sư, ông muốn hóa duyên thì xin đến nơi khác cho, cô Ba nhà tôi lâm bồn ba ngày ba đêm rồi mà vẫn chưa sanh được con, lão gia nhà tôi đang buồn phiền, không có tâm trí tiếp ông đâu, đạo tăng vô duyên rồi, không bố thí đâu”.
Hòa thượng nói: “Không sao cả, ông vô trình báo với lão gia nhà ông, tôi có linh thuốc giục sanh, uống vào là sanh liền”.
Ông quản gia nghe được, không dám chậm trễ, vội đi trình báo với chủ gia, sau khi nghe được, ông vội mời vị hòa thượng vào nhà. Ông mời hòa thượng vào phòng sách, rồi hỏi thăm đại sư cư trú tại đâu. Hòa thượng nói: “Tôi là người giao du, không nơi cố định, nơi nào có duyên là tôi đi đến nơi đó”.
Sau đó, vị hòa thượng lấy thuốc ra. Thôi viên ngoại liền kêu người mang xuống phòng sanh, tiếp tục nói chuyện với vị hòa thượng. Đang nói chuyện có người đến báo, nói con dâu thứ ba sau khi uống thuốc của hòa thượng thì sanh ra được thằng con trai. Thôi Đức Phương sau khi nghe được mình đã có cháu nội, mừng lắm, nói với hòa thượng: “Tăng Thánh đúng là Thần Tiên”. Nói xong, ông lập tức ra lệnh cho người hầu làm tiệc ăn mừng.
Sau khi làm tiệc xong, ông Thôi viên ngoại mời vị hòa thượng tham gia nhập tiệc. Trong tiệc, lão viên ngoại nói: “Thánh tăng, tôi có một việc không rõ, muốn hỏi thánh tăng”.
Thôi Phương Đức nói: “Tôi có một cái cân không tim làm ác mà khởi nghiệp, mấy tháng trước, tôi hủy bỏ cái cân đó, quyết tâm cải ác hành thiện nhưng không hiểu tại sao thời gian chưa đến nửa năm, ba người con trai của tôi đều qua đời, hai người con dâu đã tái hôn với người khác, con dâu thứ ba này sanh được thằng cháu nội cho tôi, cũng may là tôi chưa tuyệt giống nối dòng. Tôi không hiểu, tôi hành thiện tại sao lại phải chịu ác báo đến thế?”
Vị hòa thượng cười lên và nói: “Ông không cần suy nghĩ nhiều, tôi nói với ông, con trai lớn của ông là người thương nhân bán thuốc bắc, ông hại ông ta chết thì ông ấy đầu thai làm con trai ông, đến đòi nợ ông đó; con trai thứ hai là đến phá gia bại sản, con trai thứ ba là đến gây tai họa động trời cho ông. Ông đến tuổi già phải bị bệnh đau đớn và đói khát chết đi nhưng vì ông đã cải ác hành thiện, ông Trời có mắt, đã thu hồi 3 người con trai bại gia của ông, ông được xem là người thiện số một”.
Thôi Đức Phương nghe rồi, người như từ mộng thức tỉnh, nói: “Đa tạ thánh tăng chỉ bảo, bây giờ tôi đã có một cháu nội, có thể nuôi thành không?”
Hòa thượng nói: “Cháu nội này của ông sẽ mang cho gia đình và tổ tiên vinh quang, thay đổi môn đình”. Thôi Đức Phương nghe được, rất vui mừng.
Hòa thượng lại nói: “Thôi viên ngoại, ông biết tại sao cân phải dùng là 16 lạng?”
Thôi Đức Phương nói: “Nguyện nghe thánh tăng chỉ bảo”.
Hòa thượng nói: “16 lạng này đại diện cho Bắc Đẩu Thất Tinh, Nam Đẩu Lục Tinh, ngoài ra thêm Phước, Lộc, Thọ tổng là 16. Ông đưa thiếu cho người ta một lạng thì hao Phước, thiếu 2 lạng thì hao Lộc, thiếu 3 lạng thì hao Thọ, ông càng đưa cho người ta càng ít thì càng tổn hại cho mình càng nhiều. Ông nghĩ xem, một cái cân ác tâm đã gây ra biết bao nhiêu nghiệp?”
Ông Thôi Đức Phương nghe được, cảm thấy người toát mồ hôi lạnh, lại thêm lần nữa đa tạ sự chỉ bảo của hòa thượng. Từ đó, ông tin vào tính phân minh của quả báo thiện và ác, không một chút do dự.
—————-           
Chương 8 – Mục 15: Chịu quả báo bại liệt vì xử oan người vô tội
Số từ: 701
Thiện Ác có quả báo
(Câu chuyện này được trích trong cuốn sách “Địa Ngục Biến Hiện Ký” của Liên Sanh Hoạt Phật – Lư Thắng Ngạn)
Có một quan chức (Đài Loan) ngồi trên xe lăn đến gặp tôi. Ông ta nói: “Không hiểu vì sao, hai chân của tôi đột nhiên không có một tí cảm giác nào, hoàn toàn vô lực?”
Tôi hỏi: “Đã đến bệnh viện kiểm tra chưa?”
Ông ta trả lời: “Đã kiểm tra toàn thân, nhưng không tìm ra nguyên nhân bệnh”.
Tôi bèn nhắm hai mắt lại, kỹ lưỡng quan sát toàn thân ông (xin chú ý, nhắm hai mắt để nhìn), tôi lờ mờ trông thấy hai chân ông này bị trói chặt lại bởi một sợi thừng đen từ trên xuống dưới. Tôi nói: “Hai chân của ông bị một sợi dây thừng đen trói chặt lại rồi”.
Viên quan nói: “Sao tôi chẳng trông thấy gì cả vậy?”
Tôi cười đáp: “Nếu ông có thể trông thấy, thì đến kiếm tôi làm gi?”
Viên quan lại nói: “Xin Lư Sư Tôn hãy giúp tôi mau mau cởi trói!”
Tôi nói:” Hãy chậm rãi, sợi dây thừng đen này là vật của Hắc Thằng Địa Ngục (Điện thứ 3 – Tống Đế Vương phụ trách), ngày mai ông trở lại đây, tôi sẽ giải đáp cho ông”.
Ngay đêm hôm ấy, tôi tới “Hắc Thằng Địa Ngục”, hỏi Minh Vương về sự việc viên quan kể trên, 2 chân bị trói bởi sợi dây thừng đen. Minh Vương nói: “Viên quan ấy đã phán xét oan một người”.
“Có phải người ấy bị tù oan không?” – “Đúng vậy”. – “Làm sao giải quyết được việc này?”
“Người bị phán xử oan lấy cái chết để chứng minh mình vô tội và đã treo cổ tự tử. Một người do số mệnh, một người do vận hạn,
vậy làm sao mà giải đây?”
Tôi nói với Minh Vương: “Treo cổ tự vẫn thì mệnh đã không còn nữa, nhưng dây thừng đen trói 2 chân phải có phương pháp giải quyết chứ”.
Minh Vương nói: “Tôi không có phương pháp nào giải quyết. Nhưng do Ngài hỏi, nhờ lực uy thần của Ngài, siêu độ luân hồi cho người đã chết, oan của người chết tự động giải. Về phương diện viên quan, Ngài yêu cầu ông ta hãy ấn tống 5 ngàn quyển “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tự mình đọc tụng “Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh” 49 lần thì chẳng cần sử dụng tay, sợi dây thừng đen sẽ tự động được tháo gỡ”.
Ngày hôm sau, viên quan trở lại gặp tôi, tôi bèn bá cáo với ông ta nguyên nhân vì sự việc nghi phạm đã tự vẫn. Viên quan này nghe xong hoảng hồn, quả nhiên là có câu chuyện này, đúng thực là: “Sợ tội nên tự sát”.
Viên quan này tỏ vẻ sám hối. Tôi nói với viên quan rằng tôi tất nhiên siêu độ cho người chết giải tỏa oan khí, nhưng viên quan phải in ấn 5 ngàn cuốn thiện thư, niệm Địa Tạng Kinh 49 lần. Viên quan thật tình sợ hãi, tự nguyện in ấn 2 vạn cuốn thiện thư, tụng Địa Tạng Kinh 108 lần. Tôi nói rằng nên tụng càng nhiều càng tốt.
Vị quan này nói rằng thật lạ lùng, vào ngày in ấn xong sách, nhà in báo cho ông ta toàn bộ đã đóng thành sách, viên quan bước xuống khỏi xe lăn, bước bước đầu tiên, sau đó từ từ điều chỉnh và cuối cùng thì hai chân hoàn toàn được khôi phục lại như thường.
“Hắc Thằng Địa Ngục” trong 8 đại địa ngục được xếp hạng thứ 2, thứ tự là:
1/ Đẳng Hoạt địa ngục, 2/ Hắc Thằng địa ngục, 3/ Chúng Hợp địa ngục, 4/ Khiếu Hoán địa ngục, 5/ Đại Khiếu Hoán địa ngục, 6/ Nhiệt Não địa ngục, 7/ Đại Nhiệt Não địa ngục, 8/ Vô Gián địa ngục. Trong 8 địa ngục thì Vô Gián địa ngục là địa ngục cực kỳ đau khổ, Vô Gián địa ngục hay thường gọi là A Tỳ địa ngục.
—————-           
Chương 8 – Mục 16: Đức năng thắng số
Số từ: 799
Thiện Ác có quả báo
Vào triều Bắc Tống, ở một làng nọ có một cậu bé tàn tật chừng mười tuổi, gãy chân, sống một cuộc sống ăn xin nghèo khổ. Trước làng là một con suối lớn. Vì không có cầu, nên dân làng muốn qua suối là phải lội, rất bất tiện, nhất là đối với những người già vào mùa nước lũ. Nhiều năm đã qua đi như vậy, cho đến một hôm người ta thấy cậu bé ăn xin què quặt gom những tảng đá về bên suối. “Cháu muốn xây cầu để mọi người đi lại thuận tiện”, cậu giải thích. Người làng cho đó là chuyện khôi hài của một cậu bé khùng nên không để ý đến.
Nhưng đống đá dần dần lớn lên qua tháng năm trở thành một cái gò, và dân làng bắt đầu hiểu ra. Nhiều người cũng góp thêm sức vào, chẳng mấy chốc đã đủ đá xây cầu. Rồi người ta thuê thợ xây dựng đến làm. Trong quá trình cùng làm, cậu bé bị mảnh đá bắn vào mắt và mù cả hai mắt. Người dân lấy làm thương cảm lắm. Nhưng cậu bé, mặc dù đã què lại thêm mù, vẫn không một lời ca thán và cố gắng trong khả năng của mình cùng góp sức xây cầu với dân làng.
Cuối cùng, sau những tháng ngày nhọc nhằn vất vả, cây cầu đã được xây xong. Dẫu không nhìn thấy gì, nhưng trên khuôn mặt của cậu hiện một nụ cười rạng rỡ. Đột nhiên một tiếng sấm nổ vang dù trời quang mây tạnh. Và người ta thấy rằng cậu bé ăn mày đáng thương đã bị sét đánh chết ngay trên chiếc cầu mới xây.
Bấy giờ đúng lúc Bao Công đi thị sát qua làng. Dân làng kéo ra kêu oan với Bao Công, rằng tại sao trời xanh lại hại người tốt. Trước câu chuyện quá thương tâm, và cảm thấy quá bất công, Bao Thanh Thiên chẳng cầm nổi lòng mình, bèn viết “宁行恶勿行善” (ninh hành ác vật hành thiện: thà làm điều ác còn hơn làm điều thiện).
Trở về Kinh thành sau chuyến công du, Bao Công cảm thấy trong lòng không thoải mái, nhất là về những gì ông đã viết trong lúc không dằn được lòng mình. Trong bản tấu trình, ông đã không tâu lên Hoàng thượng về sự kiện hy hữu đó. Hoàng thượng hôm ấy mời Bao Công đến chơi và dẫn Bao Công đến gặp hoàng tử mới ra đời trong lúc Bao Công đi thị sát ngoại tỉnh. Hoàng tử trông khôi ngô nhưng mắc tật khóc suốt ngày. Hoàng thượng cũng muốn hỏi Bao Công xem có cách nào cho hoàng tử hết khóc.
Bao Công thấy hoàng tử da dẻ trắng trẻo mịn màng, và trong lòng bàn tay dường như có một hàng chữ. Ghé mắt vào nhìn kỹ thì chính là “宁行恶勿行善” (ninh hành ác vật hành thiện: thà làm điều ác còn hơn làm điều thiện). Quá bất ngờ và xấu hổ, Bao Công lấy tay để xoá, và kỳ lạ thay, ông vừa vuốt qua thì dòng chữ biến mất. Hoàng tử nín khóc tức thì.
Hoàng thượng rất đỗi ngạc nhiên, hỏi tại sao lại như thế. Bao Công sợ hãi quỳ xuống kể lại hết đầu đuôi câu chuyện, và xin Hoàng thượng xá tội vì đã không báo cáo về chuyện này trong bản tấu trình. Hoàng thượng bèn ra lệnh Bao Công phải điều tra cho rõ vụ việc.
Đêm ấy Bao Công ngả đầu lên chiếc gối “âm dương địa phủ” và lập tức trong mộng đi đến cõi âm gian. Diêm Vương kể cho ông rằng hoàng tử đó vào mấy đời trước từng làm việc đại gian ác, nên Thần đã an bài phải trả nghiệp ác ấy trong ba đời: Đời thứ nhất què cụt, đời thứ hai mù lòa, và đời thứ ba bị sét đánh chết. Nhưng khi què quặt xin ăn, cậu bé đã luôn vì người làm việt tốt, nên Thần đã rút lại thời gian trả nghiệp và khiến cậu bé ăn xin bị mù. Sau khi mù, cậu bé đã không những không oán thán ai hết mà vẫn luôn vì người làm điều thiện. Vì lý do ấy mà Thần đã an bài lại một lần nữa để cậu bé trả hết nghiệp trong một đời.
Diêm Vương nói với Bao Công: “Một đời trả hết nghiệp thay cho ba đời, lại còn được chuyển sinh làm đương kim Thái tử, hưởng thụ phúc phận của Thiên tử”.
Việc thiện nên làm, việc ác nên tránh. Lành thay! Lành thay! “Đức năng thắng số” là vậy!
—————-           
Chương 8 – Mục 17: Truyện Nhân Quả báo ứng thời hiện đại
Số từ: 1743
Thiện Ác có quả báo
Truyện thứ nhất:
Trưa hôm đó, có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Bụng đói cồn cào mà lục túi chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi, cậu liều xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Nhưng cậu giật mình xấu hổ khi thấy một cô bé ra mở cửa. Và thay vì xin gì đó để ăn, cậu đành xin một ly nước uống. Cô bé trông cậu có vẻ đang đói nên bưng ra một ly sữa lớn.
Cậu bé uống xong, hỏi “Tôi nợ bạn bao nhiêu?”. “Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt”. Cậu bé cám ơn và đi khỏi. Lúc này, Howard Kelly thấy tự tin hơn nhiều, mạnh mẽ hơn nhiều.
Nhiều năm sau, cô gái đó bị căn bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị. Tiến sĩ Howard Kelly được mời khám. Khi nghe tên địa chỉ của bệnh nhân, một tia sáng loé lên trong mắt ông. Ông đứng bật dậy và đi đến phòng bệnh nhân và nhận ra cô bé ngày nào ngay lập tức. Ông đã gắng sức cứu được cô gái này.
Sau thời gian dài, căn bệnh của cô gái cũng qua khỏi. Trước khi tờ hoá đơn thanh toán viện phí được chuyển đến cô gái, ông đã viết gì đó lên bên cạnh. Cô gái lo sợ không dám mở ra, bởi vì cô chắc chắn rằng cho đến hết đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này. Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn…
“Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa”. Ký tên, Tiến sĩ Howard Kelly.
Nước mắt vui mừng cứ thế dâng trào và lời từ trái tim cô gái thốt lên trong nước mắt: “Cảm ơn ông!”.
Đây là câu chuyện có thật. Dr. Howard Kelly là một nhà vật lý lỗi lạc, đã sáng lập ra Khoa Ung thư tại trường Đại học John Hopkins năm 1895.
Truyện thứ hai:
Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào năm 1892 tại trường đại học Standford. Một sinh viên 18 tuổi đang cố xoay sở để trả học phí. Cậu mồ côi và không biết nhờ cậy vào ai để xin tiền. Rồi cậu nghĩ ra một cách thật hay ho. Cậu và một người bạn quyết định tổ chức một buổi hòa nhạc tại trường để gây quỹ kiếm tiền trả học phí cho cả hai. Họ tìm đến nhà dương cầm nổi tiếng Ignacy J. Paderewski. Ông bầu của nhạc sĩ yêu cầu các cậu phải đảm bảo thanh toán một khoản thù lao là 2.000$ cho buổi độc tấu dương cầm.
Ngày trọng đại đó rồi cũng đến. Paderewski biểu diễn tại Standford. Nhưng không may, hai bạn trẻ không thể xoay sở để bán hết số vé. Tổng số tiền mà họ thu được chỉ vỏn vẹn 1.600 $. Thất vọng, họ tìm đến Stanford để giải thích hoàn cảnh của họ. Hai cậu sinh viên trao hết 1.600$ cho Paderewski cùng tấm chi phiếu 400$ cho khoản tiền còn thiếu với lời hứa rằng họ sẽ tranh thủ thanh toán tấm séc này sớm nhất.
Paderewski nói, “Không, việc này không thể chấp nhận được”. Ông xé tấm chi phiếu, đưa lại 1.600$ cho hai cậu sinh viên và nói: “Đây là 1.600$. Hãy thanh toán mọi chi phí mà các bạn còn thiếu nợ, giữ số tiền mà các bạn cần để thanh toán học phí, tôi chỉ lấy phần tiền còn dư”. Hai cậu sinh viên ngạc nhiên và rối rít cám ơn Paderewski.
Nó chỉ là một nghĩa cử nhỏ bé thể hiện một tấm lòng tử tế, nhưng rõ ràng cho thấy rằng Paderewski là một con người có nhân cách lớn. Tại sao ông ta phải giúp hai thanh niên mà ông chẳng hề quen biết. Chúng ta ai cũng tình cờ gặp những tình huống như vậy trong đời mình. Và hầu hết chúng ta chỉ nghĩ: “Nếu giúp họ, ta sẽ được gì?”
Nhưng những con người vĩ đại thì lại nghĩ rằng: “Nếu ta không giúp, điều gì sẽ xảy ra với họ?” Họ giúp và không mong có sự đền đáp. Họ làm điều đó vì họ cảm thấy rằng đó là một việc đúng cần phải làm.
Paderewski sau đó trở thành Thủ tướng của Ba Lan. Ông là một nhà lãnh đạo tài ba nhưng không may, chiến tranh Thế giới xảy ra, Ba Lan bị tàn phá. Hơn 1,5 triệu người dân trong nước lâm vào cảnh đói và không có tiền để cung cấp cái ăn cho họ. Paderewski không biết cầu cứu ở đâu, ông quyết định tìm đến Tổ chức Cứu trợ Lương thực Hoa Kỳ để xin giúp đỡ. Lãnh đạo của tổ chức này lúc bấy giờ là Herbert Hoover, sau này trở thành Tổng thống Hoa Kỳ.
Hoover đồng ý giúp và nhanh chóng gửi hàng tấn ngũ cốc để cứu trợ cho người dân Ba Lan. Thảm họa được đẩy lùi. Thủ Tướng Paderewski cảm thấy nhẹ nhõm. Ông quyết định sang Mỹ gặp Hoover để đích thân cảm ơn. Khi Paderewski bắt đầu nói lời cảm ơn Hoover vì nghĩa cử cao thượng của ông, thì Hoover vội cắt ngang và nói:
“Ngài không cần phải cảm ơn tôi, thưa Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ câu chuyện này, nhưng nhiều năm trước, ngài đã giúp hai cậu sinh viên trẻ tuổi tiếp tục học đại học tại Hoa Kỳ, và tôi là một trong hai sinh viên ấy”.
Truyện thứ ba:
Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland. Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu đang giãy giụa gào khóc. Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.
Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một quý ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé được ông cứu sống ngày hôm qua. Ông ta nói: “Tôi đến để cảm ân và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi”.
Ông Fleming đáp: “Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.”
Ngay lúc đó, cậu con trai khoảng 10 tuổi của Fleming bước vào lều. Ông nhà giàu hỏi: “Đây là con trai anh phải không?”.
“Vâng” – Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.
Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé: “Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?”
Cậu bé nhỏ nhẹ thưa: “Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu”.
Nhà quý tộc lại gặng hỏi: “Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?”
Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời: “Dạ thưa bác, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?”
Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình: “Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì?”
Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà: “Thưa bác, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!”.
“Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming, hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện”.
Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý. Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London. Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận.
Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming. Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming là người đã chế ra thuốc kháng sinh Pénicilline cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới.
Vài năm sau, người con trai của quý ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ chính thuốc Pénicilline này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu chính là Winston Churchill, sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là thủ tướng trứ danh của nước Anh – Winston Churchill.
Điều thú vị là Ngài Winston Churchill và bác sĩ tài danh Alexander Fleming là đôi bạn rất thân của nhau trong suốt cuộc đời. Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.
Điều này chứng minh rằng: “Hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho đi đều sẽ được nhận lại. Bạn đừng lo sẽ mất đi, những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất”.
Vì vậy đừng quá coi trọng đồng tiền, mà hãy tô bồi phẩm hạnh, đạo đức. Vì đức hạnh và lòng tốt của bạn sẽ tạo ra Thiên Đường cho chính bạn và những người xung quanh… Xin hãy gởi câu chuyện này đến tất cả bạn bè của bạn. Mong rằng cuộc sống tất cả chúng ta đều tươi sáng, tốt đẹp hơn. Hãy mở rộng tấm lòng, tích đức tu thiện để cải tạo vận mệnh cho chính mình.
—————-           
Chương 9 – Mục 1: Chuyện ly kỳ chuyển kiếp của sơn ca
Số từ: 901
Năm 1997, trong nước có rất nhiều hãng thông tin cử phóng viên đến nhà ông Mã ở 4803 đường Thị Lầu, thị xã Đông Đài, tỉnh Giang Tô để phỏng vấn về chuyện được xem là sự kiện ly kỳ có thật về chuyển kiếp luân hồi.
Ông Mã là một công nhân của nhà máy thực phẩm, phu nhân của ông là công nhân của xưởng bao bì. Năm 1983, mới 18 tuổi, con gái duy nhất của ông bị bệnh bạch huyết. Đối mặt với khoản tiền trị bệnh rất lớn, trường học của con gái và bảo trợ xã hội đều muốn quyên góp trợ giúp nhưng con gái của ông không cho phép chuyện đau buồn này đăng công khai trên báo chí, còn an ủi cha mẹ và nói sau khi chết đi mình sẽ đến nhà này “đầu thai”, xin cha mẹ đừng buồn. Không bao lâu, con gái ông do điều trị vô hiệu quả đã qua đời.
Vào ngày 12 tháng 3 năm 1995, một ngày đẹp trời. Buổi sáng sớm, ông Mã đi đến nhà máy sớm hơn mọi lần, trong nhà người vợ Thị Đơn đang rửa mặt. Lúc này, ngoài sân không biết từ đâu bay đến một con chim, đậu vào phía đông của nhà bếp, đầu hướng vào Thị Đơn hót không ngừng, Thị Đơn lấy ghế leo lên thử, hoàn toàn không tốn công sức đã bắt được con chim. Buổi trưa, ông Mã về nhà thấy có con chim sơn ca, vui mừng và liền chạy đến chợ mua về cái lồng chim và thức ăn. Nuôi khoảng được thời gian hai tháng, cả nhà không ai dạy cho cách nói chuyện nhưng không ngờ con chim lại biết nói và biết kêu tên của ông Mã là “Mã Tam Mao”.
Tiếp đó, chim ngày càng nói được càng nhiều, vả lại còn nói được rất nhiều tiếng làng của Đông Đài, phát âm rất chuẩn, dựa theo chứng thực của ông Mã và hàng xóm, tiếng nói giống y như tiếng con gái ông đã mất hồi hai năm trước. Thật là kỳ lạ, có mấy cô học sinh trung học kể: kể cả chủ nhân của con chim này nuôi bấy lâu nay mà còn dạy nó phát âm kêu tên mình mà còn không được, vậy mà bây giờ nó có thể kêu tên từng bạn học của chúng nó, không bị sai chút nào.
Theo lời ông Mã nói: ông chưa từng nói trước mặt con chim về mình và bà con thân thiết của mình, tên của hàng xóm nhưng không hiểu sao con chim sơn ca này biết kêu được ông Mã, tên của hàng xóm và bà con. Tự nhiên, con chim cũng hay thường kêu tên cúng cơm của Thị Đơn “Tiếu Phụng”.
Con chim sơn ca này rất hiểu biết chuyện, có một lần ông Mã cùng bà con đến khuôn viên góc phải chơi mạc chược, trong lúc đang chơi hứng, con chim sơn ca ở ngoài cửa nói ra hai câu “Trời sắp đổ mưa, còn không đến dẹp mền”. Chủ nhân nhìn lên, quả nhiên thấy trời đang âm u, liền đi thu dọn mền. Vào một ngày, chủ nhân lại cùng bạn chơi mạc chược, chưa đặt lên bàn, con chim đã nói: “Không được đặt tiền, ở ngoài đang bắt!”. Thậm chí, nó còn có thể nói với khách chơi cờ là: “Hôm nay, sắc mặt của ngươi không hên, sợ sẽ bị thua tiền”. Không những thế, cả từ ngữ của mạt chược nó đều thuộc lòng hết.
Chỉ cần trong nhà điện thoại reo, chim sơn ca sẽ hét lên: “Điện thoại, điện thoại, Mã Tam Mao nghe điện thoại” hoặc “Tiếu Phụng nghe điện thoại”, thường hay sắp đến giờ nấu cơm, chim sẽ nhắc nhở: “Mã Tam Mao nấu cơm!”, rất nhiều người từng kêu ông Mã đem con chim ra trung tâm triển lãm. Năm 1997, ông Mã đem con chim ra trung tâm thu vé vào cửa, chỉ một ngày thôi mà thu hơn một ngàn đồng.
Nhưng mà, tính tình của con chim cũng “cường”, chủ nhân thấy nó biết nói chuyện, nhiều lần dạy nó nói: “Cung Hỷ Phát Tài” các câu nói cát tường, nhưng nó không hề nói ra. Ngược lại, khi nhà của ông Mã có khách đến, nhiều khi là ba mẹ của ông Mã, không cần biết tuổi tác lớn hay nhỏ, con chim đều gọi tên cúng cơm của người đó, nhiều khi có ông đã ngoài năm sáu chục năm không nghe người gọi rồi mà lại phát từ miệng con chim kêu ra.
Theo ông Mã nói: từ khi con gái ông mất, họ thật sự không có nhìn thấy như chuyện dân gian thường hay nói “Thần Quỷ” nhưng trong nhà có con chim này thật sự làm cho nhiều người xung quanh khó mà lý giải. Con chim này sao tiếng nói của nó lại giống y như cô chủ đã mất? Là sự trùng hợp chăng? Nhìn lại mà nói: cho dù là cô chủ có “đầu thai” sao lại biết được tên của bà con và hàng xóm? Nếu như không phải là cô chủ hóa thân, các bạn học của cô con chim đều kêu được từng tên của họ.
—————-           
Chương 9 – Mục 2: Người cai quản luân hồi trong Âm phủ
Số từ: 263
Cư sĩ Lý Bách Nông nói: có một người họ Lăng, làm giáo sư thông dịch tiếng Anh tại Hồng Kông, tính người này rất là trung thực, sống có nghĩa đạo. Lăng quân mỗi tháng đều phải ngủ suốt bảy ngày bảy đêm, ông nói là đi làm chức vụ dưới Âm phủ, cai quản chuyện luân hồi, người người không thể tin. Hỏi ông ta trong bảy ngày thả ra bao nhiêu vong linh? Ông ta nói có khoảng 100 mấy ngàn, lại hỏi có bao nhiêu người cộng sự với ông? Ông ta nói rất nhiều. Hỏi ông ta trên cõi Trời có nhiều người đầu thai đến thế sao?
Ông nói: “Người Hồng Kông, Quảng Đông thích ăn bồ câu non, một ngày sát sanh vô số, những vong linh của số bồ câu và động vật này thường sống sống chết chết trong vòng mấy mươi ngày là thường phải chịu luân hồi, cũng đi qua tay của chúng tôi”.
Còn nói hai người đồng nghiệp có đại nạn, một là do bất hiếu, hai là do tham nhũng oan pháp, sẽ phân biệt chết theo dưới vùng biển lửa, kêu hai người không nên đến tỉnh thành trong lúc này. Hai người không tin, vừa lúc ấy, hai người đi đến nhà bà con tại tỉnh thành vui chơi, không ngờ mấy ngày này bị lũ lớn, cửa Tây lại bị cháy lớn, một người chết trong nước lũ, một người chết trong lửa cháy.
Lăng quân còn nói dưới âm phủ chú trọng Phật Pháp nhất.
—————-           
Chương 9 – Mục 3: Hai chị em bên nước Anh biết được chuyện kiếp trước
Số từ: 410
Theo thông tin của báo chí, tại Anh có một cặp chị em bị tai nạn giao thông chết trên xe hơi, cùng nhau đi đầu thai chuyển kiếp, trở thành một cặp song sinh của người mẹ mình! Cô Tony 11 tuổi và Jacky Lan 6 tuổi, mấy năm trước bất hạnh bị tai nạn tại nước Anh và qua đời, ông bà Porocat là cha mẹ của hai đứa vô cùng đau thương, quyết định rời khỏi nơi thương tâm này.
Nửa năm sau, bà Porocat có thai lần nữa, thuận sanh ra một cặp con gái sinh đôi, phân biệt đặt tên con gái là Jeny và Kalin, chuyện lạ từ đó liên tiếp xảy ra. Jeny có một cái bớt trên trán màu trắng, giống với vị trí vết thương của Jacky Lan lúc chết, ngoài ra trên mông của cô bé có cái bớt cũng giống vị trí với Jacky Lan.
Ba năm sau, ông bà Porocat dẫn cặp song sinh này trở về thăm khu ngôi nhà cũ, tại đây cũng là nơi Tony và Jacky Lan mất. Khi lái xe hơi vào khu nhà, Jeny và Kalin hét lên nói: “Chúng mình trước kia thường hay đến đây chơi, trường của tụi mình ở gốc bên kia nè, đây là cầu tuột chúng mình hay chơi đó”, chúng nó còn có thể chỉ ra địa điểm của ngôi nhà cũ.
Năm 4 tuổi, cặp song sinh này được Porocat quyết định cho chúng chơi những đồ chơi của hai chị đã mất để lại, Jeny lập tức biết kêu tên của hai con búp bê. Jeny và Kalin không có gì khác biệt với những đứa trẻ khác nhưng chúng chỉ là không quên được sự thảm họa của kiếp trước mà thôi, rất nhiều lần, nửa đêm hay bật khóc lên vì sợ hãi, ôm ấp nhau, hét lên “Chiếc xe kia đang đi đến đụng mình kìa!” Đồng thời, Kalin còn cầm cái đầu của Jeny, vừa khóc vừa hét lên nói máu của nó đang chảy ra.
Vợ chồng ông Porocat chưa từng nói chuyện tai nạn của hai đứa con trước kia cho chúng nó nghe, chuyên gia bệnh tâm thần phụ trách điều tra sự việc này, chỉ có sự đầu thai và chuyển kiếp luân hồi là có lý do, ngoài ra không còn lý do gì hợp lý nhất để giải thích cho sự kiện này.
—————-           
Chương 9 – Mục 4: Bé gái biết nói ngôn ngữ của tám quốc gia
Số từ: 338
Một cô gái mang quốc tịch Bungari, chưa đầy hai tháng tuổi lại có thể nói ra ngôn ngữ của tám quốc gia: ngôn ngữ Bungari, nước Anh, nước Pháp, Latin, Tây Ban Nha, Nga, A-rập, Bồ Đào Nha, tất cả ai ai nói đều nghe hiểu hết, sự kiện này gây cho giới các nhà khoa học và chuyên gia về ngôn ngữ học đều kinh ngạc, không tài nào giải thích được, chuyện không thể ngờ này là có nguyên nhân ra sao.
Bé gái này tên là Sofia-Pahafun, ra đời trong gia đình trí thức bình thường, nay đã hai tháng tuổi, chỉ nặng 10 pound, khuôn mặt rất chững chạc như người thành niên. Bé gái mới ra đời khoảng 2 tuần tuổi, đã biết nói hoàn chỉnh một câu từ, thậm chí còn sử dụng được mấy thứ tiếng. Các nhà khoa học nổi tiếng tại Bungari sau khi xem xét xác nhận là khoảng tuổi như Sofia chỉ có thể phát ra những âm thanh đơn giản thôi, chứ không tài nào có thể nói như Sofia, chưa từng thông qua học tập mà nói ra được những thứ tiếng như trên.
Căn cứ theo lời bật mí của cha mẹ Sofia, bé lúc một tháng tuổi có thể nói chuyện với họ được, thủ thỉ về cảm xúc cuộc đời ngắn ngủi của nó Matxico và Liên Xô, “hội tái sinh thuyết học” ông Kaoria, sử dụng quan điểm “mật mã trí tuệ di truyền”, để giải thích việc này, tiếp nhận được biết bao sự ủng hộ của các học sĩ, cũng có một số chuyên gia phản đối nhưng trong đời người khó mà có thể có ai trả lời hoàn hảo về sự kiện này.
Chỉ dựa vào vì kiếp trước của cô bé này là một người biết nói nhiều thứ ngôn ngữ mà kiếp này vẫn còn duy trì theo sự chuyển kiếp luân hồi, như vậy có thể là sự giải thích hoàn hảo nhất.
—————-           
Chương 9 – Mục 5: Tin tức về chuyện luân hồi
Số từ: 248
Thông tin của Phật giáo Đài Châu thông báo kỳ thứ 8 của năm 1991, về một chuyện luân hồi: vụ án này phát sinh tại tỉnh Triều Châu.
Ông Dương Thu Thủy là một nhân viên xây dựng công trình, cư trú tại lộ Thái Bình, thị xã Triều Châu, đã qua đời 8 năm trước, hưởng thọ sáu mươi mấy tuổi. Đầu năm nay, cô con gái của ông đã lấy chồng tên Dương Thục Phương đã nằm mộng, trong mộng người cha nói với cô: “Tôi phải đi chuyển kiếp”.
Cô con gái hỏi: “Chuyển đến đâu?”
Ông nói: “Phải chuyển đi làm hàng xóm của con”.
Con gái hỏi: “Như vậy có cần làm đám giỗ cho cha nữa không?”
Người cha trả lời: “Vẫn còn phải làm. Con phải mua những thứ mà ta thích ăn lúc còn sống”.
Do tình cảnh trong mơ rất rõ và chi tiết, ngày hôm sau, Thục Phương đến địa chỉ mà cha cô chỉ dẫn thăm viếng. Nào ngờ, chủ của nhà này là bạn cũ của cô hồi xưa, cô bạn này đúng ngày hôm qua sanh được một cháu trai. Hẻm nhà cô bạn này cách nhà cô không xa lắm nhưng vì sau khi có gia đình, mạnh ai nấy bận việc nhà gia đình, rất ít qua lại với nhau. Cho nên, chuyện giấc mộng này không phải do ban ngày hay nghĩ mà tối nằm mơ gặp những chuyện giống nhau.
—————-           
Chương 9 – Mục 6: Cựu tổng thống Sirilanca đầu thai chuyển kiếp
Số từ: 283
Khoảng thời gian ngày 18 tháng 1 năm 1999, các báo chí của nước Sirilanca có đăng tải chi tiết chuyện đầu thai chuyển kiếp của cựu tổng thống nước Sirilanca, ông Panoima, ở trong nước, các báo chí đều đăng tải sự kiện này.
Căn cứ theo thông báo của địa phương: một người con trai 22 tuổi được xem là đầu thai chuyển kiếp của cựu tổng thống Sirilanca. Mấy trăm ngàn người vì muốn xem tận mắt người con trai này có khuôn mặt giống y như Tổng thống, đã đều đi đến thị trấn Hancualan, nơi sinh sống của người con trai này. Ông Tổng Thống do bị một người xung kích cầm mìn gây nổ giết hại, đã chết vào tháng 5 năm 1993.
Căn cứ theo lời thông báo: người con trai này xuất thân trong một gia đình nông dân. Cha mẹ đặt tên cho cậu ta là “Uykibahua” nhưng mà anh ta cứ tự xưng hô mình là “Panoima”. Người con trai này thậm chí còn xem người nhà của Panoima như là người nhà của mình. Uykibahua có nhắc đến chuyện mình bị một người nam tên là Babu sát hại. Vả lại, hung thủ sát hại ông Tổng Thống đúng là có tên Babu.
Căn cứ theo thông tin đưa ra, mỗi buổi sáng Uykibahua thức dậy lúc 3 giờ sáng, làm nghi lễ Phật giáo giống y như cố Tổng Thống đã làm. Một người chỉ có tuổi đời một tuổi mấy chưa biết chữ mà lại biết được nhiều chuyện như vậy, không thể không nói có lẽ là người của kiếp trước chuyển kiếp đầu thai luân hồi trở về.
—————-           
Chương 9 – Mục 7: Thân trâu xuất hiện tên người
Số từ: 316
Vào ngày 28 tháng 1 năm 1958, tại Đài Trung, Văn Tín Nhật Báo đăng tải tin tức như sau:
“tại huyện Triển Đông có con bò cái, mới đẻ ra con bê trên lưng hiện lên ba chữ “Lâm Tân Giáo”, chủ chăn nuôi của con bò này tên là Ưu Vạn Kim, ông ta có một cậu con trai tên là Ưu Vạn Đạt, gia đình rất nghèo khổ. Lúc huyện này chưa phát triển, ông ta làm thuê cho một y sư Lâm Tân Giáo.
Không may, gia đình họ Lâm bị mất cắp hai ngàn mấy cân lúa, sự thật số lúa này là do ông ta tự lấy cắp nhưng lại đổ tội vu khống cho là Ưu Vạn Đạt lấy cắp. Do lúc ấy, viên cảnh sát hình sự có đánh đập khi tra hỏi, Ưu Vạn Đạt không chịu được tra hình, bị đánh bức công, lòng căm thù ôm hận, đã tự vẫn để minh bạch sự trong sạch cho mình.
Không bao lâu, Lâm Tân Giáo cũng qua đời, thời gian nhanh như gió, trải qua mười năm, trong trại chăn nuôi của Ưu Vạn Kim có con bò mới đẻ ra con bê trên lưng lại xuất hiện ba chữ Lâm Tân Giáo.
Chuyện này được con trai của Lâm Tân Giáo là Lâm Vinh Quang hay biết, lập tức sang nhượng với chủ trại chăn nuôi bên hàng xóm, đồng ý bỏ ra mười ngàn năm trăm đồng mua con bê con về nhưng ông chủ chăn nuôi từ chối”.
Sau khi tin tức này truyền ra, gây xôn xao dư luận “Chuyện lúc còn sống gây chết oan một mạng người” sau khi chết hiện tên trên lưng bò, xảy ra tại huyện Triển Đông, Đài Loan, rất nhiều người hay biết. Có thể minh chứng cho việc luân hồi là có căn cứ.
—————-           
Chương 9 – Mục 8: Đi đầu thai lưng vẫn có dấu bớt
Số từ: 130
Nhà họ Hoàng tại thôn Liên Xứ, huyện Vĩnh Xuân, mấy tháng trước chết một đứa con trai, họ Hoàng thương xót con quá, lấy viết đỏ vẽ trên lưng con hai hàng chữ; xong mới đem đi chôn cất.
Ba ngày sau, thôn bên kia gia đình họ Lâm sanh được một cậu con trai; trên lưng có ghi hai hàng chữ màu đỏ, giống y như hàng chữ mà họ Hoàng ghi trên lưng con trai, lấy khăn chùi càng rõ hơn, có người nói lúc tắm rửa cho con mời cha của kiếp trước của đứa trẻ đến lau bỏ hàng chữ thì mới có hiệu quả.
Nhà họ Lâm sai người đến mời và cho phép con trai làm con cháu đời sau cho hai họ.
—————-           
Chương 9 – Mục 9: Bé 3 tuổi nhớ lại tiền kiếp, nhận dạng kẻ sát nhân và chỉ ra nơi chôn thi thể
Số từ: 598
Một đứa trẻ 3 tuổi ở khu vực Golan Heights gần biên giới Syria và Israel nói rằng cậu đã bị sát hại bởi một cây rìu trong kiếp trước. Cậu chỉ cho các bậc lão niên trong làng nơi kẻ sát hại chôn cậu, và quả thật họ đã tìm thấy bộ xương của một người đàn ông ở đó. Cậu cũng cho các bậc lão niên xem nơi chôn giấu hung khí, và khi đào lên, họ thật sự đã tìm được một cái rìu ở đó.
Trong quyển sách của ông, “Những Đứa Trẻ Đã Từng Sống Trước Đây: Đầu Thai Thời Hiện Đại” (Children Who Have Lived Before: Reincarnation Today), Nhà trị liệu người Đức Trutz Hardo kể lại câu chuyện của một cậu bé, cùng với nhiều câu chuyện của những đứa trẻ khác dường như nhớ lại được các kiếp sống trước của mình với độ chính xác đã được kiểm chứng.
Tiến sỹ Eli Lasch đã chứng kiến câu chuyện của cậu bé này, Lasch rất nổi tiếng vì đã phát triển hệ thống y học ở Gaza thành một phần trong hoạt động của chính phủ Israel vào những năm 60. Tiến sỹ Lasch mất vào năm 2009, và đã kể lại những trường hợp đáng kinh ngạc này cho Hardo.
Cậu bé thuộc nhóm dân tộc Druze, và nền văn hóa của cậu tin tưởng vào luân hồi. Dù vậy câu chuyện của cậu vẫn làm chấn kinh cộng đồng nơi đây. Cậu chào đời với một vết chàm dài màu đỏ trên đầu. Giống như trong một số nền văn hóa khác, người Druze tin rằng vết chàm có liên quan đến cái chết trong kiếp trước. Khi đã đủ lớn để có thể nói chuyện, cậu kể với gia đình rằng cậu đã bị sát hại bởi một nhát rìu vào đỉnh đầu.
Theo phong tục ở đây, các bậc lão niên sẽ dẫn trẻ con lúc 3 tuổi về nhà cũ trong kiếp trước nếu đứa bé có thể nhớ lại. Cậu bé biết được ngôi làng nơi cậu từng sinh sống, vì vậy họ đi tới đó. Khi họ tới nơi, cậu đột nhiên nhớ lại được tên của mình trong kiếp trước.
Một người dân làng nói rằng người đàn ông mà cậu bé cho rằng là kiếp trước của mình đã mất tích bốn năm trước đây. Gia đình và bạn bè nghĩ rằng có thể anh ta đã đi lạc vào một khu vực nguy hiểm gần đó, như một vài vụ việc tương tự thi thoảng vẫn xảy ra trước đó.
Cậu bé cũng nhớ lại được tên đầy đủ của kẻ đã sát hại cậu. Khi cậu đối mặt với người này, mặt hắn tái mét, Lasch kể với Hardo, nhưng hắn ta không nhận tội. Sau đó cậu bé nói cậu có thể dẫn các bậc lão niên đến nơi thi thể cậu được chôn cất. Ở chính nơi đó, họ tìm thấy một bộ xương của người đàn ông với một vết thương ở trên đầu, trùng khớp với vết chàm của cậu bé. Họ cũng tìm thấy chiếc rìu, hung khí dùng để sát hại cậu. Đối diện với bằng chứng này, kẻ sát nhân thừa nhận tội lỗi của mình.
Tiến sỹ Lasch, người duy nhất không thuộc dân tộc Druze, đã có mặt ở đó trong suốt diễn biến sự việc. Để đọc thêm về các câu chuyện của Hardo, hãy đọc quyển sách của ông, “Những Đứa Trẻ Mà Đã Từng Sống Trước Đây”.
—————-           
Chương 9 – Mục 10: Một cậu bé mới 5 tuổi lại có thể kể rõ ràng cuộc sống kiếp trước của mình
Số từ: 646
Cậu bé Ryan, 5 tuổi, sống ở bang Oklahoma, nước Mỹ khiến dư luận xôn xao khi có thể vanh vách câu chuyện hồi kiếp trước của mình. Dù mới 5 tuổi nhưng cậu bé này lại có thể kể ra những câu chuyện từ rất lâu và hoàn toàn đúng sự thật.
Khi xem những trang sách cũ về những nhân vật Hollywood trước đây Ryan có thể đọc tên từng người nổi tiếng đồng thời nói đó là… bạn của mình. Ryan cũng có thể kể được những chi tiết về những bộ phim đen trắng từ rất lâu và thậm chí cậu bé còn có thể nói được những bí mật hậu trường mà không phải ai cũng biết.
Mẹ của Ryan là Cindy vô cùng kinh ngạc về việc con mình có thể biết được những chuyện ở kiếp trước. Cindy kể rằng Ryan đã có lần chỉ vào một bức ảnh của bộ phim Night After Night được chụp vào năm 1932 và nói rằng: “Mẹ ơi, đây chính là con. Con đã tìm thấy chính bản thân mình!”. Sau đó Ryan còn mô tả cho mẹ một cảnh trong phim có một tủ quần áo chứa rất nhiều súng đạn. Cindy đã xem bộ phim và khẳng định có cảnh phim như Ryan kể lại.
Cindy đã gửi thư cho Tucker B Jim, người nổi tiếng với những cuốn sách nói về kiếp trước. Tucker đã tìm ra người đàn ông trong kiếp trước của Ryan, đó là Marty Martyn, một người nổi tiếng ở Hollywood trước đây. Marty sống ở Los Angeles và qua đời vì ung thư vào năm 1963.
Ryan kể rằng mình chết trong một căn phòng với rất nhiều con số trên cửa. Sự thật là Marty đã qua đời trong căn phòng ở bệnh viện có đánh số. Ryan cũng kể lại rằng chị em gái và mẹ của mình có tóc xoăn màu nâu, gia đình có căn biệt thự tại Los Angeles hay những chuyến đi đến Pháp… Ryan còn cho biết mình đã nhìn thấy Marilyn Monroe tại một bữa tiệc nhưng chưa kịp tiến lại gần ngôi sao này thì đã bị một vệ sĩ tặng cho một cú đấm vào mắt. Ryan nói rằng Marty muốn quay về để chuộc lỗi vì trong quá khứ người đàn ông này quá yêu công việc và không có thời gian dành cho gia đình.
Về phía Ryan, cậu bé đôi khi rất mệt mỏi, Ryan cũng được gặp con gái của Marty, tuy nhiên sau khi gặp Ryan rất thất vọng và nói rằng: “Tại sao cô ấy lại quá già, cô ấy không còn là một cô gái trẻ như xưa nữa”. Tuy nhiên, con gái của Marty cũng đã xác nhận những gì Ryan kể lại là đúng sự thật. Thế nhưng sau một vài tháng tiếp xúc với con gái của Marty, những kí ức về kiếp trước của Ryan bỗng lu mờ dần.
Tucker cho biết, trẻ con thường chỉ bị ảnh hưởng nhiều bởi cuộc sống hiện tại và Ryan có một khả năng đặc biệt. Ngoài những câu chuyện về kiếp trước, Ryan còn có thể nói ra những điều mà ít người biết như bà ngoại mình có một người con đã chết ngay khi mới chào đời hay biết được ai đang gọi điện thoại trước khi có người nhấc máy… Tucker cho rằng, Ryan có được những thông tin không thể xuất phát từ hoạt động thông thường của bộ não và có những dạng lưu giữ thông tin vượt qua giới hạn của con người.
Tucker là tác giả của cuốn sách Return to life. Cuốn sách kể về những đứa trẻ tin rằng mình được đầu thai và có thể kể lại những câu chuyện ở kiếp trước.
Theo Dailymail
—————-           
Chương 10 – Mục 1: Liên Sanh Hoạt Phật kể chuyện quả báo do sát sanh
Số từ: 770
(Trích từ sách “Địa Ngục Biến Hiện Ký của Liên Sanh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn)
Từng có một người nữ mắc bệnh “thiên đầu thống” lâu cả 10 năm rồi, đã tìm gặp các bác sĩ trong cũng như ngoài nước, nhưng trước sau không cách nào làm thuyên giảm bệnh. Có thể nói các bác sĩ đã bó tay, vô phương cứu chữa. Bà này đến quy y tôi. Trì “Thượng Sư Tâm Chú” cả trăm vạn lần, liên tục tụng niệm.
Có một lần, bà đến gặp nói với tôi: “Sư Tôn, con thực sự có việc muốn cầu xin nên mới quy y Ngài, hy vọng Ngài tha lỗi cho con”.
Tôi nói: “Tôi không để ý gì đâu, rất nhiều người đến quy y, tôi đều xem như nhau cả”.
Tôi hỏi: “Bà cầu xin gì vậy?” Lúc này bà mới nói ra nguyên do quy y là vì muốn Sư Tôn trị bệnh thiên đầu thống cho bà. Khởi đầu tôi dùng “gia trì lực”, “phù chú lực” giúp bà ta, nhưng trước sau không đúng yếu điểm. Cuối cùng tôi dùng Thiên nhãn quan sát, lúc này tôi đột nhiên phát hiện ra trên đầu bà bị cấy một cây đinh vô hình làm đau. Đinh màu tím, dài 5 tấc, xúc chạm làm đau dây thần kinh. Tôi kinh hãi biết rằng cây đinh vô hình làm đau này là từ âm phủ mà ra, do đó tôi phải tìm sự chỉ giáo của Diêm Vương.
Tôi đã hỏi Diêm Vương việc gì đã liên quan đến cây đinh vô hình làm đau của bà đệ tử này. Diêm Vương nói:
“Đệ tử của Ngài khi còn trẻ rất thích ăn loại gà đồng, ếch, lúc ăn ếch thì lấy dầu đốt nướng ếch, số ếch bị nướng chết vô số kể, đã
vượt qua phước báo của mình, cho nên Âm phủ mới cho phát ra cây đinh làm đau này để trừng phạt”. – “Lý do như thế, bây giờ làm sao để giải cứu?”
Diêm Vương đáp: “Chỉ có phóng sanh và trì Vãng Sanh chú”
Tôi nói: “Tôi sẽ khuyến khích bà ta phóng sanh và trì chú Vãng Sanh. Trước mắt bà ấy đã trì cả trăm vạn Thượng Sư tâm chú rồi”.
Diêm Vương nói: “Như thế cây đinh làm đau sẽ tự nhiên biến mất thôi”.
Phải nói điều thật kỳ lạ là chuyến đi Âm phủ gặp Diêm Vương xong thì bệnh thiên đầu thống của bà đệ tử như không có cánh mà bay, sau một giấc ngủ tỉnh dậy, bệnh bà không còn đau gì nữa, cơn đau giống như được nhổ ra khỏi đầu, khác trước kia một trời một vực, đau đớn hoàn toàn được giải trừ. Tôi lại sử dụng Thiên nhãn xem thì không còn trông thấy cây đinh làm đau nữa.
Tôi hỏi: “Bà thích ăn ếch lắm phải không?”
Bà ta trả lời: “Sư Tôn biết cả rồi!” – “Ăn tất cả bao nhiêu con?”
“Tôi đi chợ mua về nướng ăn không biết là bao nhiêu nữa”.
“Bây giờ thì không được ăn nữa, thấy rồi đó, mua mà phóng sanh, niệm cho thật nhiều chú Vãng Sanh, như thế thì bệnh thiên đầu thống sẽ không tái phát” – “Xin tuân lệnh Sư Tôn”.
Nữ đệ tử này, từ đó không ăn thịt ếch nữa mà ngược lại chỉ lo phóng sinh ếch, niệm chú Vãng Sanh cả trăm vạn lần. Lấy sự linh cảm đến với mình báo cho nhiều người biết, dẫn rất nhiều người đến quy y tôi.
Cứ theo tôi biết rằng có rất nhiều người bị cây đinh làm đau tháp (cấy) vào người rồi. Những cây đinh này là từ Địa Ngục phát xuất có tác dụng trừng giới, có người bị đau vai, người bị đau lưng, người bị đau đầu, người bị đau các khớp xương, có những người bị đau răng, đau chân, đau ngón tay, vân vân. Cũng có thể không nhất định từ Minh phủ tạo ra, nhưng hy vọng mọi người làm việc phóng sanh thật nhiều, đọc chú Vãng Sanh thật nhiều. Tiêu trừ nghiệp chướng!
Tôi xin thực sự bá cáo với mọi người, phúc đừng hưởng cho hết tận, hưởng hết phúc ắt sinh ra tai ương. Chúng ta là những người học Phật phải biết quý trọng phúc, tạo ra phúc mới đúng. Phật từng đã dạy chúng ta “phải buông xả”, thử hỏi câu “phải buông xả” là buông xả cái gì nào? Hãy trả lời xem.
—————-           
Chương 10 – Mục 2: Đầu bếp đổi nghề, cả nhà được phước
Số từ: 599
Nghề nghiệp của A Dung là một đầu bếp một nhà hàng, ông ta chuyên phụ trách giết mổ cầm thú, gia súc. Không cần suy tính, lương cũng tương đối, trong túi lúc nào cũng đầy tiền. Chỉ tiếc là 16 năm nay không tiết kiệm được đồng nào, mẹ, vợ, người thân thường hay bị bệnh nên tiền đều tiêu hết vào để chữa trị bệnh cho người thân, bệnh tình còn không có chiều hướng tốt.
Trong lòng ông ta mong muốn có đứa con để bế bồng và nối dòng thờ cúng nhưng cầu xin thế nào cũng đều vô hiệu, đã trạc tuổi trên 40 rồi vẫn biệt tâm vô tức.
Khi xem cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mới biết mình đã làm chuyện sát sanh trong thời gian quá lâu dài, sát sinh cũng có rất nhiều nguyên do nhưng trong thời gian ngắn không có cách nào chuyển nghề được. Đứng trước tấm thớt chặt thịt quen rồi, trong giấc mộng cũng toàn thấy mình chặt thịt. Có mấy lần mơ thấy mình đứng chặt toàn thịt người. Cho nên thường hay thức giấc giữa đêm khuya. Tuy nhiên đối với công việc sát sinh của mình có sự kinh sợ nhưng vì phải duy trì đời sống của gia đình, ông ta vẫn tiếp tục hành nghề như thế, không bao lâu vợ ông ta có thai, ông rất vui mừng.
Một đêm nọ, ông đang nằm cơn ác mộng, mơ thấy mình đi đến một hố sâu thẳm, lơ lửng đi trên một cây cầu treo, bưng rất nhiều cánh tay, bàn chân, thịt người, bưng hoài không hết. Lúc này ông bị vợ đánh thức giấc mộng vì bà ta sắp lâm bồn nên đau bụng dữ dội, ông liền đưa vợ đến bệnh viện, bác sĩ chúc mừng ông vì vợ sanh được một thằng con trai nhưng vì sanh sớm hai tháng nên cháu bé phải ngủ trong lồng kính, A Dung mỗi ngày đứng cách lồng kính nhìn vào một sinh vật nhỏ đang vật lộn với ranh giới sống chết lòng đau như dao cắt, cuối cùng cũng xuất viện về nhà nhưng ẵm về nhà một cháu bé yếu ớt xanh xao, tay trái chỉ có bốn ngón tay, ngón cái tụ máu nên đã bị hoại tử, như là bị dao cắt, người vợ mặt xanh xao nhìn ngơ ngác, ông nhìn thấy đau lòng đến rơi nước mắt.
Ông thề nguyện trong lòng, trong vòng một năm ông nhất quyết phải đổi nghề và cầu xin Bồ Tát chỉ dẫn.
Người có thiện nguyện, Thiên nhất tòng tri, A Dung cuối cùng cũng được một thầy giáo thiện tri giới thiệu đến một quán ăn chay làm đầu bếp. Một tháng nay, ông luôn niệm Phật ăn chay, những ác mộng như trước nay và sự bất an đã từ từ không còn. Kỳ diệu nhất là đứa con cưng của ông, một tháng nay không cần uống thuốc, không còn bị bệnh, chỉ lâu lâu bị cảm nhẹ mà thôi và sức khỏe của người mẹ và vợ cũng dần bình phục khỏe lên, cả nhà sống trong không khí hòa thuận vui mừng, ông cảm thấy hiện giờ mới thật là một gia đình hạnh phúc.
Trong Kinh Phật nói: “Trong tất cả các hành vi tội ác, sát hại sinh mạng là tội ác lớn nhất, nghiêm trọng nhất; trong tất cả các công đức hành thiện, không sát sinh và phóng sinh là công đức lớn nhất”.
—————-           
Chương 10 – Mục 3: Ra sức phóng sanh, bệnh tật được lành
Số từ: 243
Ông Diệp Hồng Ngũ tại Tiền Đường, Triết Giang, lúc 9 tuổi, mơ thấy “Thần mặt xanh” dẫn ông ta đến một cung thành có cổng tường to cao, rồi cho ông ta vào trong cung có cổng màu đỏ. Ông nhìn thấy trong cổng có một vị đang ngồi “Thần mặt vàng”, nhìn ông ta bằng khuôn mặt rất giận dữ, nhìn một hồi thật lâu lại gật đầu liên tục, “Thần mặt xanh” kéo ông ta ra ngoài cung rồi tát một chưởng trên lưng, ông sợ quá đã thức giấc mộng, ói máu ra đầy giường.
Mời bác sĩ đến chữa trị cả năm trời cũng không hết bệnh, máu vẫn không cầm được. Bé trai của nhà họ Diệp này lúc nhỏ rất thông minh, trong gia tộc ai ai cũng đều thương yêu nó, thường ngày hay cho tiền và đã tích lũy được số tiền lớn. Bây giờ thì bị bệnh đến như vầy, bà nội dùng tay chỉ vào mặt cháu mà nói: “Con bệnh đến không thể bước xuống giường những số tiền đâu còn có ích gì đối với con? Đưa hết những số tiền bày để ta mua động vật đi phóng sanh thôi”. Đợi khi nào những số tiền này chi tiêu hết cho việc phóng sanh thì khi ấy con mới có thể hết bệnh.
Sau này, Diệp Hồng Ngũ trở thành một thương gia có tiếng trong thành Triết Giang.
—————-           
Chương 10 – Mục 4: Con lươn hiện linh báo mộng
Số từ: 253
Ông Ninh Ni là luật sư có tiếng tại Nam Xương, trong giấc mộng thấy 7 người đầu đội nón nhọn màu vàng, lật đật đi đến trước mặt ông ta cúi đầu xuống đất cầu bái và cùng hét lên “Cứu mạng!”
Ông nhìn thấy lòng từ bi nổi lên, trả lời: “Được, được!” biểu thị là tìm cách cứu trợ. Những người này lại hét lên lời cảm tạ rồi đi.
Qua buổi sáng ngày hôm sau ông Ninh thức dậy đi rửa mặt, suy lại chuyện ly kì trong giấc mộng ngày hôm qua, không hiểu lý do gì. Vừa lúc ấy, ông đầu bếp đến nói: “Tiên sinh, hôm trước ông mua về những con lươn để chuẩn bị đãi khách, hôm nay có nấu ra ăn không?”, ông trả lời: “Từ từ, để tôi xem sao”.
Quả nhiên có 7 con lươn đang lội trên thau nước như là đang cầu cứu với ông ta, thấy vậy ông mới hiểu rõ giấc mộng của đêm hôm qua và đã kể lại chuyện giấc mộng cho cả nhà nghe, kêu đầu bếp đem toàn bộ số lươn ra sông phóng sanh, thực hiện lời hứa trong giấc mộng.
Chiêu chiêu Phật tính, động vật như nhau. Lươn như linh hồn, báo mộng cầu cứu với chủ nhân, để miễn bị nạn chém giết cùng nghĩa với văn chương phóng sanh của Liên Trì Đại Sư “trong nạn cầu sanh, hiện áo vàng mà nhập mộng” cùng ý với nhau.
—————-           
Chương 10 – Mục 5: Phóng sanh hóa giải dịch bệnh, cả nhà bình an
Số từ: 168
Những nông dân trên đảo Thái Hồ, chuyên làm nghề bắt cá, làm lò mổ giết thú vật. Chỉ có Thẩm Văn Bửu không làm nghề này, cả nhà hay làm việc thiện, khi thấy những người bắt được những con cá và chim hay mua lại để phóng sanh. Rất nhiều người chê cười ông ta làm những chuyện này là không thích hợp với thời đại nhưng ông Thẩm Văn Bửu vẫn không sợ gian khó đi làm chuyện này.
Sau này, làng thôn này phát lên dịch bệnh. Người trong làng mơ thấy “Thần ôn dịch” tay cầm một cây cờ, nói với lũ ma quỷ: “Ngoại trừ nhà họ Thẩm chuyên làm việc phóng sanh hành thiện, tất cả các nhà đều phải lui tới, đều phải cầm cờ dịch bệnh”.
Không đầy mấy ngày, một làng 300 mấy gia đình, bị nhiễm bệnh dịch chết hết khoảng một nửa số người, chỉ có gia đình họ Thẩm là không ai bị nhiễm bệnh.
—————-           
Chương 10 – Mục 6: Phóng sinh cá được Quý tử, đời đời bình an
Số từ: 128
Thời nhà Tống, ông Trương Toàn là người huyện Tiền Đường. Lúc bé, dùng dao nhỏ cắt cá, không chú ý bị cắt tay nên đã cảm nhận ra mà nói: “Tôi chỉ bị thương ở một ngón tay đã đau đớn dữ dội, con cá mà bị xẻ bụng thì sẽ đau đến cỡ nào?” nên đã đem nguyên rổ cá đổ xuống sông lại.
Từ đó, ông hay kiêng sát sanh mà thích phóng sanh. Sau này, mơ gặp một người tặng cho ông một con cá lớn, vợ của ông ta không bao lâu thì sanh được một cậu quý tử, khi thanh niên đã thi đậu bằng tiến sĩ, lại làm quan tại Vĩnh Châu, đời đời sống rất hạnh phúc và phú quý.
—————-           
Chương 10 – Mục 7: Kiêng sát sanh mà phóng sanh, gieo nhiều nhân quả
Số từ: 216
Tại thành Hàng Châu, thôn Hằng Sơn có một cái chùa Dương Thự, trong chùa thờ cúng thần rất linh nghiệm. Cho nên người đến cúng vái rất đông. Ngụy Ngọc Thụ tại Triệu Hưng đến chùa cầu xin được sanh con trai, hứa nguyện nếu sanh được con trai, nhất định đem heo, cừu, gà, ngỗng, rượu và lễ vật đến tạ lễ, còn nói sẽ hát tuồng để đa tạ Thần minh.
Ngọc Thụ đêm hôm đó mơ thấy Thần linh nói với ông: “Ông dự định khi sanh được con trai, lập nguyện vọng giết mổ thú cầm để tạ lễ Thần linh, tôi tuy là Thần nhân không ăn chay nhưng không thể nào tùy tiện để cho ông sát sanh, tham ăn lễ vật của ngươi? Ông Ngụy mau quỳ xuống cúi đầu bái, cầu xin thần linh chỉ thị”.
Thần nói: “Ông mong có con trai, các động vật khác cũng mong muốn có con, trong động vật tôm và ốc sanh đẻ rất nhiều, ông nên suy nghĩ lại phải làm sao”.
Từ đó về sau, ông nhìn thấy những người bắt tôm mò ốc thì mua lại để thả xuống sông phóng sanh. Sau này, vợ ông ta sanh liên tiếp cho ông ta mấy cậu con trai.
—————-           
Chương 10 – Mục 8: Cứu nhiều sinh linh, tăng thêm tuổi thọ
Số từ: 216
Tại Tống Vi có một ông thương nhân rất giàu có tên là Dương Tự, lúc năm 28 tuổi, ông mơ thấy một Thần nhân nói với ông: “Ông sống thêm 10 ngày nữa thì phải chết. Nhưng nếu ông cứu được 10 ngàn sinh mạng, có thể miễn chết”.
Dương Tự nói: “Trong thời gian mười ngày ngắn ngủi phải cứu sống 10 ngàn sinh mạng, sợ không thể dễ mà làm đủ con số đó”.
Thần nhân nói: “Trong Kinh Phật có nói, trứng của cá chỉ cần không qua ướp muối, cho dù trải qua thời gian ba năm vẫn có thể sinh đẻ thành cá con, tại sao ngươi không suy tính về vấn đề này?”.
Từ đó, ông Dương Tự dựa vào lời nói của Thần nhân mà viết ở khắp nơi trên đường và trên tường, để người người biết được không dùng muối ướp trứng cá; còn khi nào thấy người giết cá thì xin lại trứng cá, cho xuống hồ nước.
Một tháng sau, ông lại mơ thấy Thần nhân lúc trước nói: “Ông đã cứu sống lại cả tỷ con sinh mạng rồi, số lượng đã đủ, mạng sống của ông sẽ được kéo dài “.
Sau này ông sống thọ đến 90 tuổi mới qua đời.
—————-           
Chương 10 – Mục 9: Ký sự trả báo của người nổ cá tài giỏi
Số từ: 274
Nhà tôi (Lý Kiến Quốc) ở cách xa Tương Giang 3 km, thường hay nghe thấy tiếng pháo nổ trên bờ. Đây là một thanh niên 26 tuổi tên là Đường Phú Lai, kiếm sống bằng nghề phát nổ để đánh bắt cá.
Mỗi ngày từ sáng đến tối đem những quả mìn đã cột sẵn trèo ghe ra ngoài sông đi nổ cá. Anh ta rất có khiếu trong nổ cá đã được người dân địa phương đặt tên là tay nổ cá tài giỏi, những con cá bị hắn nổ chết, đâu chỉ hàng ngàn hàng vạn con, cho nên hắn đã có được một khoản tiền lớn.
Thường hay có câu: “Thiện ác đến cùng sẽ có báo”. Năm 1970, một buổi sáng mùa hạ đẹp trời, anh ta đem theo thuốc nổ chèo ghe ra sông nổ cá, đột nhiên thấy một con cá lớn nhảy lên mặt nước, anh ta nghĩ thời cơ đã đến, liền dùng khoanh nhang muỗi đang cháy, mồi vào ống thuốc nổ đang cầm trên tay. Đột nhiên, mắt miệng cứng đơ, quỷ mê hồn vía, giống như bị ai khống chế, tay cầm ống thuốc nổ đang cháy mà không chịu buông tay ra, hắn cũng không nghe thấy, lập tức đùng một tiếng lớn, người nổ cả máu thịt bay tứ tung, chết thảm tại nơi mình nổ cá, vợ và con chạy đến đau xót khóc thảm thiết, bà con hàng xóm chỉ lắc đầu than thở.
Quả báo của sát sinh rất là thảm kịch lại nhanh đến thế! Những người sau này noi gương để mà kiêng sát sinh.
—————-           
Chương 11 – Mục 1: Đạo tâm kiên cố
Số từ: 228
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Đạo tâm kiên cố
Căn cứ theo lịch sử nhân loại đời trước, đồng thời quan sát biến hóa sự việc của đời này, có thể xác định được rằng đạo lý cảm ứng âm dương – nhân quả là hoàn toàn có thực, chỉ là cảm ứng đó đến nhanh hay chậm mà thôi.
Con người ngày nay thực sự không có bước tiến nào trong việc nghiên cứu phạm trù này. Những người trẻ tuổi thường không có lòng tin, chỉ khi nào đã từng trải qua, mới từ từ tỉnh ngộ. Lúc đó tuổi đã già, nghiệp tội đã gây, muốn tận dụng tuổi cuối đời để mà tiêu trừ hết những tội nghiệp cũng như dùng nước nhỏ mà muốn dập tắt một đống lửa cháy dữ dội.
Cho nên, khi người nào có đọc qua cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, phải phát lòng tin tưởng mãnh liệt, dựa vào một niệm lòng tin làm hạt giống, nuôi dưỡng thành một niệm chồi non có thiện căn, cuối cùng, tu đến niệm niệm cũng là hạt giống của lòng tin, niệm niệm cũng là thiện căn. Tiểu tín sanh tiểu phước, đại tín sanh đại phước, nếu như bán tin bán nghi thì sẽ tự sinh tự diệt.
—————-           
Chương 11 – Mục 2: Nắm bắt cơ duyên
Số từ: 210
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Nắm bắt cơ duyên
Ai có sở hữu cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đọc qua sách này hoặc là có nghe qua nội dung câu chuyện của cuốn sách này thì tương đương như là đang có một vé để đi đến con đường thắng lợi và thành công.
Phải nắm bắt cơ hội, cố gắng tích tụ phước đức và uy lực của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, nhanh tay vì sự nghiệp thành công của cá nhân, vì may mắn bình an của người nhà, vì sức khỏe trường thọ của cha mẹ, vì bài ưu giải nạn cho người thân, vì thịnh vượng phát đạt cho công ty, vì chúng sanh được thoát khỏi khổ đau mà được vui lạc và tích cực hành động liền, chớ nên đợi khi có tai nạn hoặc mắc bệnh mới đi làm công đức.
Phải nghĩ đến cơ hội rất khó nắm bắt, thiện duyên khó gặp, phước đức khó tu. Cuộc sống người đời khó trồng, hiện giờ đã gặp phải kỳ duyên nên trân trọng mà nắm bắt, kịp thời trợ giúp in ấn lưu truyền, chớ nên để mất cơ hội.
—————-           
Chương 11 – Mục 3: Không ngừng tu trì
Số từ: 76
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Không ngừng tu trì
Người đọc sách này, phải có tiến triển dũng mãnh.
Phải biết: Quỷ Thần bay khắp nơi nơi, giám sát rất chặt chẽ. Phải luôn luôn suy lại những gì mình nghĩ, mình làm, việc làm nào cũng phải theo lý mới làm, mới không phụ lòng kiếp này mình có được cơ duyên như thế.
—————-           
Chương 11 – Mục 4: Kiên nhẫn
Số từ: 143
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Kiên nhẫn
Tiểu thiện báo ứng thì nhanh, đại thiện báo ứng hơi lâu dài; phước báo ứng cận thì nhẹ, phước báo ứng xa thì phước hậu.
Thời hiện đại tin tưởng về nhân quả báo không phải là không có, chỉ là kiên trì, lâu dài thực hiện từng ít. Sau khi làm vài chuyện việc thiện, ngẫu nhiên gặp phải công việc, gia đình, học tập, sinh hoạt không ưng ý, thì ngộ nhận là Thiên lý bất minh, nhân quả bất thật, những việc thiện trước đã từng làm lập tức tiêu tan hết.
Đình chỉ, đây cũng là do mình đòi hỏi phước báo nhanh chóng, lòng ham muốn phước báo nhanh chóng đã hại chính mình.
Khuyến người phải kiên nhẫn.
—————-           
Chương 11 – Mục 5: Thành tâm
Số từ: 71
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Thành tâm
Những người nào cứu trợ giúp người, phải rất thành tâm thiết thực.
Khi phát tâm phải kiên trì mà sự phù hộ của thần minh, nhất định không sai lệch.
Chỉ một niệm chân thành, có thể cảm động Thiên Địa, đây toàn là nguyên do của sự thành tâm thành ý.
—————-           
Chương 11 – Mục 6: Quảng vị tuyên thuyết
Số từ: 370
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Quảng vị tuyên thuyết
Tình hình trả báo của thiện và ác, trong cuốn sách này có ngăn cấm rất chính xác và minh bạch, đây là Bồ Tát mở lòng từ bi, cũng là chân đạo minh trí của Ngọc Hoàng Thần Thánh, còn là vụ án chính xác dưới Diêm Phủ. Những người mà biên soạn, in ấn phát hành, lưu thông không nhất định phải lưu tên, vì không muốn nhờ thiện hành này để tạo dựng tên đẹp cho mình, bán sách này cũng chớ nên nghĩ đến lợi nhuận, không dám tận dụng công đức hành thiện này để mưu lợi nhuận.
Ngoài sự tồn tại của cuốn sách này là địa điểm sinh ra thiện duyên, nên đưa thiện duyên này truyền bá khắp nơi, như vậy mới có thể tích thiện thành đức, tích đức thành phước, nhanh thấy linh nghiệm. Cho nên, có thể lưu truyền cho một người, tương đương làm được 10 việc thiện; lưu truyền đến tay 10 người, tương đương làm được 100 việc thiện; lưu truyền đến tay người đại phú quý, được xem như là người đại hào kiệt trong hành thiện.
Người phát tâm sức lực lớn, công thiện của người đó xem như ngàn lần thiện, có thể quảng bá để lưu truyền, lại in ấn thì tương đương là hành thiện vạn lần. Có thể thuyết giảng đạo lý khuyên giải hóa của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thường hay khuyên người hồi tâm hướng thiện, tạo cho người trên thế gian hay biết mà cảm động, chuyển hóa hành ác, đổi mới hành thiện, nhất định thiện duyên sẽ vô biên, phước duyên cũng sẽ vô biên.
Trong quá trình lưu truyền và ấn tống cuốn Ngọc Lịch Bửu Phiêu này, rất nhiều điềm lành đã đến với các đạo hữu phát tâm đóng góp. Sau này nếu có bất kỳ linh ứng nào xin quý đạo hữu chia sẻ tại hòm thư ngoclichbuuphieu@gmail. com để đóng góp cho sách ngày một cập nhật và gần gũi với mọi người hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
—————-           
Chương 11 – Mục 7: Nghèo mà kiên trì, không sa thải thiện trí
Số từ: 230
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Nghèo mà kiên trì, không sa thải thiện trí
Người nghèo khổ không có tiền hoặc không có điều kiện để in ấn sách, có thể đưa cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho người khác mượn để đọc (hoặc tuyên truyền cho người khác nghe) có thể xem như là in ấn được 1 cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, hoàn toàn không có trở ngại về công đức này. Nếu có thể hóa giải thành công thuyết phục người khác quyên góp in ấn sách để lưu truyền. Công đức càng lớn.
Những ai đã đọc qua Ngọc Lịch Bửu Phiêu cần hiểu rõ, Nhân Quả tường minh chỉ là chờ đến nhân duyên phù hợp thì mới trổ. Vả lại đã biết chết không phải là hết, sau khi chết còn có những cảnh giới khác.
Do vậy, cho dù nghèo khó, vất vả cũng không thể làm việc sai quấy, không ngừng kiên trì tu tâm tích đức, thuyết giảng về sách quý thiện thư. Có thể đi làm việc có ích cho chúng sanh trong thiên hạ là công đức hành thiện, như thế phước báo sẽ vô lượng mà tính. Đời này tuy chưa được hưởng nhưng con cháu đời sau nhất định sẽ được nở mày nở mặt.
—————-           
Chương 11 – Mục 8: Cảnh báo người phát tâm in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 473
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Cảnh báo người phát tâm in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
1. Nếu muốn in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có thể dùng cuốn sách này làm bản gốc, cuốn sách này là bản đã chỉnh sửa chính xác, đối chiếu, phiên dịch nghiêm túc, dễ đọc dễ hiểu. Vả lại, đã chính chỉnh nhiều lần sự sai lệch trong cuốn sách này, có đầy đủ chuyện của xưa kia và thời nay, nội dung phong phú muôn ngàn, tài liệu có thật và khả tin.
2. Cuốn sách này có nhiều chương, người muốn in ấn có thể xóa và giảm bớt, nhưng trực tiếp liên quan đến nội dung của cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là từ chương 1 đến chương 5, xin không được xóa bỏ. Ngoài ra những chương khác có thể xóa bớt nội dung, xem tình hình tài chính của người in ấn sách mà quyết định.
3. Nếu có tìm hiểu và điều tra được những sự kiện linh nghiệm sau khi in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” có thể biên soạn vào trong cuốn sách này.
4. Nếu như muốn soạn lại bản mới để in ấn cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” người chủ trì nếu không có năng khiếu, tốt nhất là mời một người có trình độ nhất định để biên soạn, người thiện sĩ có trách nhiệm đọc lại nhiều lần, đối chiếu, tuyệt đối không để thiếu xót xảy ra, để tỏ lòng nghiêm túc kính trọng.
5. “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là một cuốn sách có thiên pháp luật Diêm Phủ của Thần Thánh, người chủ trì nên chọn xưởng in ấn có trách nhiệm, thiết kế, chất liệu giấy, in ấn, đóng sách đều có khả năng đạt tiêu chuẩn chất lượng. Đạt được nghiêm trang, rõ rệt, lâu bền, có vẻ mỹ quan và hiệu quả, tạo cho người khi nhìn, khi đọc có lòng tin và cảm giác tôn kính.
6. Nếu vốn có hạn, in ấn số lượng không nhiều (trong vòng 500 cuốn) có thể sử dụng phương thức in ấn là “bản thủy tinh” (không cần phơi bản lụa), chất lượng hơi kém. Nếu yêu cầu in nét chữ rõ ràng thì tốt nhất đến các hãng chuyên in ấn sách đặt in, giá cả phải chăng và tiện lợi.
7. Người có điều kiện, có thể chuyên in ấn cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cung cấp bán và tặng cho các giới thiện sĩ, vừa có thể thu lại chi phí in ấn để duy trì xoay sở. Tuy lợi nhuận hơi ít nhưng quảng bá kết duyên thiện, trời nhất định ban phước lành phú quý, đây là một công đức lớn.
—————-           
Chương 11 – Mục 9: Phương pháp sám hối tiêu trừ nghiệp chướng
Số từ: 911
Biện pháp muốn bài trừ những khổ nguy trong cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” đã nêu
Phương pháp sám hối tiêu trừ nghiệp chướng
“Tại sao người thời nay hay phát sanh nhiều chứng bệnh lạ kỳ như vậy? Nói tóm lại một câu, đó là từ sát sanh mà ra. Quý vị giết mạng chúng sanh, thì chúng sanh sẽ tìm đến quý vị để đòi mạng. Đối với những thứ bệnh tật kỳ quái đó, bác sĩ cũng đành bó tay thôi. Thế thì quý vị nên làm sao đây? Tức là quý vị phải nên thành tâm sám hối, sửa đổi lỗi lầm để làm lại con người mới và làm nhiều việc công đức có lợi ích cho chúng sanh, như thế mới có thể tiêu trừ được các tội nghiệp từ xưa nay. Nếu quý vị không làm như thế, e rằng quý vị sẽ không dễ gì lành bệnh được. Đây là chân lý chứ không phải là mê tín”. (HT. Tuyên Hóa)
Phương pháp sám hối mong bài trừ khổ nguy, tiêu trừ nghiệp chướng, ung thư, bệnh tật hiểm nghèo hoặc gửi gắm những ước nguyện quan trọng cần có các phần sau:
1. Hàng ngày thành tâm tụng kệ sám hối và lạy Phật cầu tiêu
trừ nghiệp chướng:
Chọn giờ an tĩnh trong ngày để thực hành phép sám hối. Giờ tốt nhất là từ 4-7 giờ mỗi buổi sáng. Trước khi làm phép Sám Hối nên tắm rửa thay y phục sạch sẽ. Sau đó thắp ba nén hương thơm, thỉnh (gõ) 3 tiếng chuông (nếu có), và quỳ gối khấn:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần):
Đệ Tử con tên… Pháp Danh (nếu có)… tuổi… sinh ngày… tháng… Năm…, Tụng kệ sám hối: (3 lần, mỗi lần một lạy)
Nay con xin chí thành sám hối
Xưa kia gây nên bao ác nghiệp
Đều bởi vì tam độc tham sân si
Do thân khẩu ý phát sinh ra.
Từng phạm tội thập ác ngũ nghịch
Vô lượng vô biên chư trọng tội
Hết thảy nay con xin sám hối.
Cầu Phật từ bi thương tiếp nhận
Xin đừng xa lìa con đến khi con thành Phật.
Sau đó niệm thần chú “Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn” (7 lần, mỗi lần một lạy): “Li pô li pô tê. Khìu hố khìu hố tê. Thổ lổ nỉ tê. Nỉ hố lả tê. Pê lê nê tê. Mô hô tre tê. Chân lỉnh trẻn tê. Sô Ha”.
Trì niệm Thần chú này không ngừng, bất cứ lúc nào có thể, càng nhiều càng tốt. Lúc rảnh rỗi phải ưu tiên lạy Phật miên mật, ít nhất mỗi lần lạy từ 21-50 lạy. Tư thế lạy Phật: đứng thẳng chắp tay trên trán, cúi xuống từ từ hai tay chạm đất đỡ người quỳ xuống, từ từ đưa ngực xuống sát đầu gối, trán chạm đất. Mỗi lần lạy là một lần niệm: “Nam Mô Tam Thập Lục Vạn Ức Nhất Thập Nhất Vạn Cửu Thiên Ngũ Bách Đồng Danh Đồng Hiệu ADiĐà Phật”.
2. Ấn tống kinh sách:
Tiến hành ấn tống kinh sách, thiện thư và hồi hướng công đức cho nguyện giải nghiệp, oán thân trái chủ hoặc cho lành bệnh. v. v.
Kinh sách ấn tống có thể là “Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh”, “Kinh ADiĐà”, “Kinh Dược Sư”, “Kinh Quán Vô Lượng Thọ”, “Cao Vương Kinh “… ; Thiện thư có sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, “Liễu Phàm Tứ Huấn” hoặc tùy hỷ có duyên với kinh sách nào thì ấn tống kinh sách đó.
Trong trường hợp cầu nguyện do nạo phá thai thì nên ấn tống kinh “Phật Thuyết Kinh Diệt Tội Trường Thọ và Hộ Chư Đồng Tử Đà La Ni” rồi hồi hướng cho bố mẹ và thai nhi được giải oan cắt kết, tiêu trừ nghiệp chướng.
Trong trường hợp hồi hướng cho khỏi bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là ung thư thì ngoài những kinh sách trên, nên ấn tống thêm kinh “Phật Thuyết Liệu Trĩ Bệnh Kinh” (Kinh trị ung thư – Nội dung xin xem trang cuối).
Số lượng ấn tống tùy thuộc vào mức độ nhận thức nặng nhẹ và điều kiện kinh tế của hành giả. Nếu như tài chính khó khăn có thể chia ra làm nhiều đợt.
3. Phóng sanh:
Kinh Dược Sư Lưu Ly bổn nguyện công đức dạy rằng: “Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn”.
Chúng sanh đáng quý nhất chính là sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất chính là chúng sanh. Chính vì thế phóng sanh tức là hoàn thành tâm nguyện của chư Phật, sẽ được chư Phật tán thán, công đức vô lượng.
Bởi vậy nếu muốn gia tăng tuổi thọ, bệnh tật tiêu trừ quý vị hãy phóng sanh ngay mỗi khi có thể. Sau khi thực hiện cần hồi hướng công đức phóng sanh đó cho sức khỏe được phục hồi, bệnh tật tiêu tán.
Nếu như người bệnh quá mệt mỏi không thể đi lại được thì phải ở trên giường mà chắp tay khấn nguyện, niệm chú. Toàn bộ những công việc cần phải di chuyển thì người nhà có thể làm thay rồi hồi hướng công đức cho người bệnh.
Thượng tọa: Thích Tục Bách
(Trụ trì chùa An Biên – Vẻn ĐC: 244 Tô Hiệu, Lê Chân, Hải Phòng)
—————-           
Chương 11 – Mục 10: Phật thuyết liệu trĩ bệnh kinh
Số từ: 460
Phật thuyết liệu trĩ bệnh kinh
Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: một thời đức Bạc-già-phạm (Đức Thế Tôn) cùng năm trăm vị tì-kheo ưu tú an trú tại Trúc lâm, thành Vương Xá. Bấy giờ trong chúng có nhiều tì-kheo bị các bệnh trĩ nội ngoại và ung nhọt khiến thân thể ốm gầy, đau đớn bức bách, ngày đêm vô cùng lo buồn, khổ não.
Cụ thọ A-nan-đà thấy vậy, vội đến trụ xứ của Thế Tôn, đảnh lễ nơi chân Ngài rồi đứng qua một bên thưa: Bạch đức Thế Tôn! Ngày nay trong thành Vương Xá có nhiều tì-kheo bị bệnh trĩ, khiến thân thể ốm gầy, đau đớn bức bách, ngày đêm vô cùng lo buồn, khổ não. Bạch Thế Tôn! Làm thế nào để chữa trị căn bệnh này?
Đức Phật dạy: Này A-nan! Ông hãy lắng nghe kinh Liệu trĩ bệnh rồi lãnh thọ, đọc tụng, ghi nhớ kĩ không để quên sót, rồi sau đó thuyết lại cho mọi người cùng nghe. Như thế tất cả các chứng bệnh trĩ sẽ lành. Đó là các bệnh trĩ do phong, trĩ do nhiệt, trĩ do tâm, trĩ do cả ba hợp lại gây ra; hoặc là trĩ từ máu; hay các ung nhọt trong bụng, trong mũi, trong răng, trong lưỡi, trong tai, trên đỉnh đầu, trên tay chân, trong xương sống, trong đường phân tiểu, ung nhọt xuất hiện trên toàn thân. Các bệnh trĩ và ung nhọt như vậy nhất định sẽ khô lành, rơi rụng, tiêu trừ. A-nan-đà! Ông hãy lãnh thọ và trì tụng bài thần chú này.
Đức Phật liền tuyên thuyết: Đát điệt tha, át lan đế, át lam mê, thất lị tì, thất lí thất lí, ma yết thất chí, tam ma bạt đô, sa ha.
Này A-nan-đà! Trên dãy Đại Tuyết sơn vương ở phương bắc có cây sa-la Nan Thắng rất cao lớn. Hoa của nó có ba thời kì: một là lúc mới trổ, hai là lúc nở tròn đầy, ba là lúc khô héo. Bệnh trĩ này khô rụng cũng giống như hoa kia đến lúc héo khô rồi rơi rụng vậy, không bao giờ chảy máu hay tuôn mủ nữa. Tất cả đều khô lành,vĩnh viễn không còn đau đớn.
Nếu người nào thường xuyên tụng kinh này sẽ được trí Túc mạng, nhớ được những việc trong bảy đời quá khứ, thành tựu chú pháp. Sa ha! Thế Tôn thuyết thần chú: Đát điệt tha, thiêm mê thiêm mê, xả thiêm mê, thiêm một nễ, xả thiêm nê, sa ha.
Nghe Đức Phật thuyết kinh này xong, cụ thọ A-nan-đà và đại chúng vui vẻ tin nhận và cung kính hành trì.
Việt dịch: Tì-kheo Thích Nguyên Chơn
—————-           
Chương 11 – Mục 11: Cao vương quan thế âm chân kinh
Số từ: 791
Cao vương quan thế âm chân kinh
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng. Phật quốc hữu duyên, Phật Pháp tương nhân. Thương lạc ngã tịnh. Hữu duyên Phật Pháp.
Nam Mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, thị Đại Thần Chú.
Nam Mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, thị Đại Minh Chú.
Nam Mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, thị Vô Thượng Chú.
Nam Mô Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, thị Vô Đẳng Đẳng Chú.
Nam Mô Tịnh Quang Bí Mật Phật. Pháp Tạng Phật. Sư Tử Hống Thần Túc U Vương Phật.
Phật cáo Tu Di Đăng Vương Phật, Pháp Hộ Phật, Kim Cương Tạng Sư Tử Du Hí Phật, Bảo Thắng Phật, Thần Thông Phật, Dược Sư Lưu Li Quang Vương Phật, Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật, Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật, Quá Khứ thất Phật, Vị Lai Hiền Kiếp thiên Phật, thiên ngũ bách Phật, vạn ngũ thiên Phật, ngũ bách Hoa Thắng Phật, bách ức Kim Cương Tạng Phật, Định Quang Phật.
Lục phương lục Phật danh hiệu. Đông phương Bảo Quang Nguyệt Điện Nguyệt Diệu Tôn Âm Vương Phật. Nam phương Thụ Căn Hoa Vương Phật. Tây phương Tạo Vương Thần Thông Diễm Hoa Vương Phật. Bắc phương Nguyệt Điện Thanh tịnh Phật.
Thượng phương vô số Tinh Tấn Bảo Thủ Phật. Hạ phương Thiện Tịch Nguyệt Âm Vương Phật. Vô lượng chư Phật, Đa Bảo Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lặc Phật, A Sơ Phật, Di Đà Phật.
Trung ương nhất thiết chúng sinh, tại Phật Thế Giới trung giả, hành trú ư Địa thượng, cập tại hư không trung, từ âu lo nhất thiết chúng sinh, các lệnh an ổn, hưu tức. Trú dạ tu trì, tâm thường cầu tụng thử kinh, năng diệt sinh tử khổ, tiêu trừ chư độc hại.
Nam Mô Đại Minh Quán Thế Âm, Quán Minh Quán Thế Âm, Cao Minh Quán Thế Âm, Khai Minh Quán Thế Âm, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Bảo Sơn ức vạn Bồ Tát, Phổ Quang Vương Như Lai, Hóa Thắng Bồ Tát.
Niệm niệm tụng thử kinh, thất Phật Thế Tôn tức thuyết chú viết:
Li Bà Li Bà Đế, Cầu Ha Cầu Ha Đế, Đà La Ni Đế, Ni Ha La Đế, Bì Li Ni Đế, Ma Ha Già Đế, Chân Linh Càn Đế, Thoa Ha. (07 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Diệu Cát Tường Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát
Hướng Dẫn
Mười phương Quán Thế Âm, toàn thể chư Bồ Tát thệ nguyện cứu chúng sinh. Xướng danh tất được giải thoát. Nếu có bậc trí giả thành tâm cầu giải thoát lại có nhân duyên, đọc tụng không ngưng nghỉ và đọc được đầy đủ đúng nghìn (1000) lần, niệm niệm không dứt thì lửa cháy không làm thương tổn, đao binh lập tức ngưng chiến, nóng giận đổi thành hoan hỉ, người phải chết được cứu sống. Chớ nói điều này là không có, chư Phật không bao giờ vọng ngôn. Cao Vương Quán Thế Âm có khả năng cứu mọi khổ nạn.
Trong lúc nguy cấp, người phải chết được sống lại. Chư Phật không nói chơi. Vậy nên phải đảnh lễ và hãy trì tụng kinh đủ nghìn (ngàn) lần, thì trọng tội ắt tiêu diệt. Người phúc đức hãy kiên trì tin tưởng, chuyên tâm trì đọc kinh này.
Nguyện đem công đức của kinh này phổ biến đến tất cả: Đọc tụng kinh đủ nghìn (ngàn) lần thì trọng tội đều phải tiêu tan.
Hồi Hướng
Đệ tử:.. (tên tuổi)……………, xin kính cẩn hồi hướng công đức đọc tụng kinh này đến………… (toàn thể chúng sanh trong tam ác đạo, các vong linh còn chưa siêu thoát, còn đang ở cõi trần và dương, và con xin hồi hướng tới tất cả mọi người trên trái đất này gồm có ông bà tổ tiên nhà con họ… . ông bà cha mẹ anh em bạn bè v.v………………… Công đức viên mãn!
Ghi lại số lần đã đọc, đủ 1000 lần đem hóa và khấn hồi hướng.
OM MA NI PAD ME HOM
—————-           
Ngôn Lộc Của Chư Thánh
Số từ: 286
Ngôn Lộc của Chư Thánh
Thiên địa vô tư, thần minh giám sát, không vì cúng bái mà ban phúc, không vì thất lễ cho ban họa, người có chức thế không hưởng trọn, không hưởng trọn khi có phước, không ăn hiếp người nghèo khổ, ba hạng người là thiên vận tuần hoàn, một ngày hành thiện, phước tuy chưa đến, họa tự xa dần; một ngày hành ác, họa tuy chưa đến, phước dần trôi xa.
Những người hành thiện, như cỏ trong vườn xuân, không thấy trưởng dài, ngày một tăng trưởng; những người hành ác, như đá mài dao, không thấy hư hại, ngày một hao mòn, hại người lợi kỷ, phải nhất thiết cải bỏ!
Đông Nhạc Đại Đế – Hồi sinh bửu luyện
Khát vọng cầu vinh, vinh dự không dương, cay nhiệt làm giàu, con cháu tử nạn; hành huệ bố đức, phước lộc giá lâm; ước vọng đạm nhạt, bình an vạn thọ; không gạt người đơn côi, không mờ mịt tam quang; tâm hồn chân thật, thần linh kề vai; tai qua nạn khỏi, phù hộ vô biên.
Chân Võ Đế Quân
Súc sinh bổn là người làm ra, người và súc vật luân hồi từ muôn thuở đến nay; Không nên đội lông và treo sừng, khuyên người chớ nên nổi tâm súc sinh.
Phổ Am Sư Tổ
Phước họa vô cửa, do người tự mang; thiện ác trả báo, như bóng theo hình;
Thái thượng cảm ứng thiên
Thiện có thiện báo, ác có ác báo, đừng nghĩ chưa báo, thời khắc chưa đến; Nhà tạo phước tích thiện, nhất định may mắn; nhà không tạo phước tích thiện, luôn có tai họa.
—————-           
Mười Công Đức Của Việc Ấn Tống Kinh Sách
Số từ: 304
Mười Công Đức Của Việc Ấn Tống Kinh Sách
1. Đã lỡ phạm tội, nếu tội nhẹ thì liền được tiêu tan, nếu tội nặng thì được chuyển thành nhẹ.
2. Thường được thiện thần ủng hộ, tránh khỏi tất cả ôn dịch, đao binh, giặc cướp, tù tội, lửa cháy, nước trôi v.v…
3. Nhờ chánh pháp mà những kẻ oán thù với mình trong kiếp trước được giải thoát nên tránh được sự khổ sở về tội báo thù.
4. Ác Quỷ Dạ xoa không thể xâm phạm, cọp đói, rắn độc không hại được.
5. Tâm được yên ổn, ngày không có sự nguy hiểm, đêm không có ác mộng, nhan sắc sáng sủa tươi tắn, khí lực dồi dào, việc làm
tốt, lợi.
6. Hết lòng phụng sự chánh pháp, tuy không mong cầu nhưng cơm ăn áo mặc tự nhiên đầy đủ, gia đình hòa thuận phước thọ miên trường.
7. Lời nói và việc làm, trời, người đều hoan hỷ; đến nơi nào cũng được nhiều người kính mến.
8. Nếu ngu si thì chuyển thành trí huệ, bệnh tật chuyển thành lành mạnh, nguy hiểm chuyển thành yên ổn, nếu là đàn bà sau khi chết sẽ chuyển thành đàn ông.
9. Xa lìa các đường dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), được sanh vào các cõi thiện (người, trời) tướng mạo đoan chánh, thông minh, xuất chúng phước lộc hơn người.
10. Đủ năng lực để gây căn lành cho chúng sanh, lấy tâm chúng sanh làm ruộng phước và sẽ thâu hoạch được nhiều quả tốt. Sanh vào chỗ nào cũng được thấy Phật, nghe pháp; ba thứ trí huệ (văn, tư, tu) mở rộng, chứng được sáu thần thông (thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thần túc và lậu tận thông).
—————-           
Nhân Duyên Ấn Tống
Số từ: 1031
Nhân Duyên Ấn Tống
Viên Liễu Phàm là một danh sĩ sống vào đời nhà Minh. Sinh thời, ông tinh thông Phật pháp và để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị về thực hành thiền định. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Liễu Phàm Tứ Huấn (có bản đề là “Môn Học Lập Mệnh” hoặc “Làm Chủ Vận Mệnh”).
Sách này kể về chính cuộc đời ông. Khi còn trẻ ngài gặp Khổng lão tiên sinh, là người tinh thông đoán mệnh, xem trăm lần trăm trúng, cả cuộc đời của Viên Liễu Phàm từ học hành, thi cử, chức tước, bổng lộc đều được chỉ rõ không có sai lệch. Chiêm nghiệm trong hơn 20 năm, Viên Liễu Phàm hoàn toàn tin tưởng số mệnh đã được an bài, chẳng cần cố gắng.
Một lần tình cờ được gặp Vân Cốc thiền sư, Viên Liễu Phàm được ngài khai thị phương pháp cải đổi số mệnh. Phương pháp này thực sự là việc dễ dàng trong tầm tay của mọi người, không nằm ngoài: khiêm tốn, nhìn nhận lỗi lầm, lập công bồi đức, năng làm việc thiện, khuyên người làm việc thiện, kính trên nhường dưới… Viên Liễu Phàm như được vén mây mù để thấy lại trời xanh. Ông triệt để thực hành thiện pháp, giúp người, giúp đời, tích đức cải mệnh. Toàn bộ cuộc đời của ông những năm sau đã thay đổi hoàn toàn, từ công danh sự nghiệp cho đến tài vận, con cái cũng được hưởng phúc lớn…
Đầu tháng 03 năm 2014, một Phật tử đến vãn cảnh tại Chùa An Biên (Vẻn 244 Tô Hiệu Hải Phòng). Khi cúi xuống vái lạy tượng ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, người này thấy bên dưới chân tượng một cuốn sách có tựa đề: “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Anh thỉnh về nhà đọc.
Thì ra “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là sách khuyến thiện, dạy con người biết Nhân Quả – Luân Hồi bằng những câu chuyện thực tế có niên đại từ thời nhà Minh – Thanh (Trung Hoa) trở về đây. Ngoài ra các cảnh giới quả báo khủng khiếp của địa ngục cũng được tường thuật lại rất rõ ràng, chi tiết.
Nhận thấy giá trị của cuốn sách, anh phát nguyện in 100 cuốn nhưng do điều kiện kinh tế chưa cho phép, anh này khấn xin rằng:” con xin in 10 cuốn trước để trên Chùa Vẻn, xin chư vị thần thánh có linh thiêng thì phù hộ cho con được hoàn thành tâm nguyện”.
Buổi tối hôm đó (29/03/2014), Kim Cang Thượng Sư Thích Liên Chiếu – Chân Phật Tông có buổi giảng pháp tại Chùa Vẻn. Khi đi ngang qua tủ sách ấn tống, ngài cầm một cuốn mang vào pháp hội. Đó chính là “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, thì ra trước đây ngài cũng từng có một nhân duyên lớn với cuốn sách này.
Năm 1977, Thượng Sư Thích Liên Chiếu (là người Việt gốc Hoa, khi đó chưa thọ tỳ kheo giới) trên biển Đông. Không may tàu bị cháy máy, trôi vô định trên biển nhiều tuần, hơn bảy mươi người không còn đồ ăn thức uống, chỉ nằm chờ chết, có lúc xung quanh thuyền còn bị bao vây bởi rất nhiều cá mập. Trong lúc thập tử nhất sinh ấy ngài chợt nhớ lại cuốn kỳ thư đã đọc từ thuở nhỏ, thành tâm khấn xin Quán Thế Âm Bồ Tát cứu nạn và phát nguyện in 500 cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Khi mọi người đã mất hết hy vọng, thì phép màu xảy ra. Ngay ngày hôm sau một tàu lớn tình cờ đi ngang qua đã thả dây xuống kéo và tiếp tế cho thuyền. Tuy nhiên đêm đó, biển động dữ dội, sóng nước cực lớn. Thuyền nhỏ có thể bị đắm bất kỳ lúc nào. Đúng lúc đó Thượng Sư Thích Liên Chiếu nhìn thấy toàn bộ con thuyền được bao bọc bởi một vầng sáng trắng. Chính nhờ vầng sáng này thuyền giữ được thăng bằng trong gió bão và an toàn cập cảng Malaysia. Mười năm sau, Thượng Sư Thích Liên Chiếu định cư tại Úc Châu, mới hoàn thành phát nguyện ấn tống sách này.
Trước đây, khi đọc cuốn sách “Môn Học Lập Mệnh” của Viên Liễu Phàm, chúng tôi từng có ý định sao chép ấn tống. Nhưng vì sách vốn có niên đại khá xa nên chúng tôi có ý tìm kiếm câu chuyện nào đó gần gũi hơn. Nay nhân duyên đã tới, chúng tôi biên soạn lại cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, giữ nguyên phần gốc, ngoài ra thêm vào một chương: “Truyện nhân quả luân hồi ở Việt Nam”. Trong đó bao gồm những chuyện nhân quả luân hồi chân thực, gần gũi với đầy đủ hình ảnh, tên tuổi và địa chỉ của nhân vật tại Việt Nam nhằm tăng thêm tính thuyết phục của cuốn sách.
Được sự ủng hộ của Thượng Tọa Thích Tục Bách (trụ trì chùa An Biên – Vẻn) cùng thiện nam tín nữ gần xa, trong lần ấn tống đầu tiên, hàng ngàn cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu đã được in.
Nếu ai có duyên vì tha nhân mà quảng vị tuyên thuyết thời được công đức vô lượng. Nếu ai phát tâm mà in sách này thời cũng được công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nguyện công đức ấn tống sách này xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo, tất cả các Phật tử đạo tâm kiên cố, gặp dữ hóa lành, thân thể được khỏe mạnh, tu hành được viên mãn thành tựu. Nguyện công đức ấn tống sách này xin hồi hướng cho đất nước Việt Nam quốc gia hưng thịnh, mưa thuận gió hòa, kinh tế vững mạnh, người người được hoan hỷ, nhà nhà được an cư lạc nghiệp.
Liên Hoa Thái Dương
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát
Nam Mô Phật Nam Mô Pháp Nam Mô Tăng
—————-           
Thiện Niệm Không Ngừng Thay Đổi Số Phận
Số từ: 1384
Thiện Niệm Không Ngừng Thay Đổi Số Phận
Thiệu Tử Kiến tiên sinh tại Triết Giang có viết lời giới thiệu cho cuốn sách khuyên người hành thiện Ngọc Lịch Bửu Phiêu như sau:
Tục ngữ có câu “Ám thất khuy tâm, thần mục như điện, nhân gian tư ngữ, thiên vấn nhược lôi” nghĩa là khi làm những việc xấu, dù không ai biết nhưng thần tiên trên trời đều thấy rõ, lời nói tưởng chừng không ai nghe được nhưng Thần Tiên trên Trời nghe rõ như sấm bên tai, điều này cho thấy không việc gì có thể che giấu được Thần Tiên, mà quỷ thần không có nơi nào không tồn tại.
Không thể vì một lần thành tâm hành thiện mà được thần tiên khen thưởng, cũng không thể vì một lần hành ác thì lập tức bị trời phạt, họa hay phúc đều phụ thuộc vào hành vi thiện ác, hành ác sẽ gặp quả ác, hành thiện sẽ gặp quả thiện, đó là nhân quả báo ứng, mà gốc rễ của nó chính tại nội tâm mỗi người.
Cái gọi là phúc điền, tâm tức là điền, trồng tức là nhân, thu hoạch tức là quả, thiên đạo rõ ràng, tơ hào không sai, cũng không cần phải đàm luận về đạo lý nhân quả báo ứng, mà bản thân báo ứng vốn đã tồn tại ở bên trong.
Nho gia cho rằng nhân quả báo ứng hay thiên đàng địa ngục là quan điểm hoang đường, phi thực tế, mê hoặc phụ nữ trẻ em, ngay cả những cuốn sách kinh điển như: Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Văn Xương Đan Quế Tịch, Quan Thánh Giác Thế Kinh và những bảo thư của Thần Tiên khác cũng bị Nho gia cho là thần đạo thuyết giáo (đạo về thần linh), nhưng họ đâu hiểu rằng, thần đạo có thể bổ sung cho những thiếu sót của thánh hiền, vương đạo (tư tưởng thờ vua của Nho gia) vốn là đạo thế nhân, huống chi thần đạo vượt trên cả vương đạo. Làm việc mà thấy tâm an, không hổ thẹn với Trời Đất, thì thánh hiền cũng khen ngợi, Tiên Phật cũng khen ngợi, nếu thực sự có thượng đế thì Thượng Đế cũng khen ngợi.
Một tấc vuông linh đài (tâm thiện) cũng như là cung điện hoàng kim, thế giới lưu ly, phú quý phúc lộc, cầu gì được nấy… Đến những bậc Thánh Hiền không thẹn với lòng, quân tử oai phong lẫm liệt, cũng chỉ sợ không giữ được thiện tâm kiên định, gây ra họa mà vô phương cứu vãn, đắc tội với Trời Đất.
Thế giới đen tối ngày nay đầy những gian trá hiểm ác, để cho nhân tâm tìm được một tia sáng, một lối đi thoát khỏi mọi sự đau khổ, thì duy nhất chỉ có Ngọc Lịch Bửu Phiêu.
Ba năm trước đây tôi có đọc Ngọc Lịch Bửu Phiêu, sau khi đọc xong cảm thấy đây là cuốn sách đại thiện, giúp đỡ rất nhiều cho thế giới nhân tâm. Đọc cuốn sách này, tôi hiểu được cái quyết tâm cứu người của Thần Tiên, do vậy tôi đã trợ tiền in sách tặng cho mọi người, cũng kêu gọi người có thiện tâm giúp đỡ trợ tiền in ấn, trực tiếp thông qua nhà sách Thụy Thành ở Đài Trung để mua sách kính tặng người khác, những cuốn sách tôi đã tặng, có trên cả ngàn cuốn. Đọc cuốn sách này tôi có cảm tưởng như sau:
Thứ nhất: Đây là cuốn bảo thư nhận định rằng địa ngục có thật, trước khi cuốn sách này ra đời, không có một người nào miêu tả chi tiết, tường tận tình hình địa ngục như vậy. Có thể nói cuốn sách này đã tiết lộ thiên cơ. Vốn dĩ không được nói tình trạng địa ngục, bởi vì địa ngục là chân lý “Có Không”, có thể nói là có, có thể nói là không, luôn luôn biến đổi không ngừng, hình ảnh địa ngục hoàn toàn dựa theo biến hóa của lòng người mà ra. Tôi là một người tin có địa ngục, vì sao tôi thừa nhận điều này, bởi vì ngay lúc tôi sống này, đã thấy địa ngục khổ ải của nhân gian rồi, nhân gian đã có địa ngục, đương nhiên âm gian cũng có địa ngục.
Thứ hai: Những nhà đại học vấn, đại khoa học hay người tự nhận mình là thiên tài và rất nhiều người không tin rằng có thiên đường địa ngục, cho rằng đó là sự bịa đặt của tôn giáo, mê hoặc người già trẻ nhỏ, là thần đạo thiết giáo, là không thực tế. Không biết họ có nghĩ rằng, con người khi làm việc thiện thì tâm sẽ thấy bình an, khi làm việc ác tâm sẽ bất an, hình tượng của tâm an là thiên đường, hình tượng của tâm bất an chính là địa ngục, trong bóng đêm có quỷ thần, mà quỷ thần thực tế chính là cảm giác và biến hóa của tự tâm.
Thứ ba: Nhà Phật tuy không nói đến định mệnh, nhưng vì tồn tại quy luật nhân quả, vận mệnh của con người như khuôn mặt vậy, mỗi người đều có khuôn mặt khác nhau, thậm chí vừa sinh đã khác người. Trong mắt tôi, vận mệnh của con người một nửa do Trời định, do vậy tôi mới có được ngày hôm nay, tôi tin sự tồn tại của vận mệnh, bởi vì vận mệnh của tôi đích thực cảm giác như đã biết trước. Có nhiều người tìm tôi muốn thay đổi vận mệnh, tôi luôn nói với họ rằng:
“Muốn thay đổi vận mệnh, tất cả nằm trong tay của chính mình, không cần phải mong cầu thay đổi vận mệnh, chúng ta cả đời làm việc, chỉ cần không thẹn với lòng mình, chỉ cần tâm an là được rồi, không ngừng hành thiện sẽ thay đổi được vận mệnh, muốn biết cái đạo lý này, thì xem cuốn Ngọc Lịch Bửu Phiêu, hoặc xem cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn. Vận mệnh vốn dĩ do mình tạo ra, đương nhiên chỉ có mình mới có thể thay đổi được nó, như hôm nay tôi chỉ có thể nói cho mọi người, không ngừng hành thiện sẽ thay đổi vận mệnh, bạn mong muốn người khác thay đổi vận mệnh cho bạn, chẳng khác nào lên cây bắt cá”.
Thứ tư: Đọc những lời mở đầu của Thiệu Tử Kiến tiên sinh, tôi thấy nhân quả tuần hoàn dù sao cũng là báo ứng không xác định, mà thiên đường địa ngục, thiện ác tất cả biến hóa trong tâm của mỗi người, tôi đã khô họng kiệt sức cố gắng khuyên người hành thiện, mà bản thân vẫn bị người ta chê cười, lòng người thế gian sắp luân lạc rồi, luân lạc rồi!
Tôi viết:
“Đại thiện năng cách thiên, bởi vì trời có mắt, vì thế vận mệnh có thể thay đổi, nếu vận mệnh không thể thay đổi, thì cần gì đến vận mệnh nữa? Sự nghiệp cần có tâm, có trí thức.
Vận mệnh cần có chính có thiện Hành thiện không ngừng, ắt sẽ được trời giúp. Vận mệnh vốn chỉ là nhất thời như tiếng sấm trong mưa, như sương, như điện (lóe lên rồi vụt mất), muốn thoát khỏi vận mệnh, muốn vượt qua vận mệnh thì thân tâm đừng chịu sự trói buộc của vận mệnh.
Tất cả các pháp thuật phải xuất phát từ thiện, vì hành thiện Trời ắt tương trợ. Ngược lại, nếu xuất phát từ ác, đó là tà đạo, Trời ắt giáng họa. Địa ngục có thực, xin quý vị đọc Ngọc Lịch Bửu Phiêu, xin hãy xem cuốn Linh Thư này”.
Tôi viết bài kệ như sau:
“Thánh triết thiện công chuyển thiên thu
Thần minh quang hoa tâm khả thu
Mệnh vận chân lý đương bất hoặc
Đại thiện đức hành bất tu ưu”.
(Liên Sanh Hoạt Phật – Pháp Vương Lợi Thắng Ngạn –
Chân Phật Tông bình luận về sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu vào
khoảng năm 1977 tại Đài Loan)
—————-           
Lời Chia Sẻ Của Người Dịch Sách
Số từ: 704
Dịch cuốn sách này là cô Thạch Mỹ Nghi (Pháp Diệu), người Việt gốc Hoa, sống tại Q10 – TP Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình phiên dịch, cô đã được trải nghiệm rất nhiều điều kỳ diệu. Sau đây là lời cô chia sẻ:
“Giữa tháng 7 – 2005 tình cờ cô phát hiện trong ngực có cục hạch, nên cô đi khám và được bác sĩ chuẩn đoán là mình bị ung thư. Lúc đó trời như sập xuống, tất cả niềm hy vọng được sống đều tan biến hết, tuyệt vọng và tuyệt vọng.
Nhưng cô là người rất lạc quan, biết chấp nhận sự thật. Cô vẫn bình tĩnh phiên dịch hết hồ sơ cho công ty rồi bàn giao công việc rõ ràng, thỏa thuận với công ty rồi bắt đầu lộ trình để giành lại sự sống cho mình. Trong thời gian điều trị cô vẫn đi làm, thường thì hóa trị xong là cô nghỉ 5 ngày rồi lại đi làm bình thường…
Một hôm đồng nghiệp người Trung Quốc tặng cô cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu bằng tiếng Hoa. Sẵn thời gian nghỉ bệnh 5 ngày cô đọc hết cuốn sách, trong đó có nhiều đoạn nhắc đến việc “in hoặc đọc sách cho nhiều người thì sẽ khỏi bệnh hiểm nghèo”. Cô nghĩ sách tiếng Hoa đã có nhiều, nếu như có thể dịch ra tiếng Việt thì quá hay. Vì sách được lưu truyền tại Việt Nam thì sẽ có nhiều người đọc và hưởng ứng hơn. Cô quyết định dịch thử.
Trong thời gian dịch sách, có nhiều lần cô định bỏ cuộc vì dịch cuốn sách này từ tiếng Hoa sang tiếng Việt so với năng lực của cô là quá khó, cô ngừng dịch. Nhưng hình như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy, cô lại dịch tiếp và cứ như vậy lặp đi lặp lại, ngừng rồi lại dịch kéo dài trong 2 năm thì hoàn thành. Để có động lực tiếp tục dịch sách, không thể không kể đến những điều kỳ lạ đã xảy ra:
Đầu tiên là lúc mới dịch sách cũng là lúc khó khăn kinh khủng về tài chính, một toa thuốc hóa trị tốn 13 triệu đồng, vào thời điểm năm 2005 đó là một khoản tiền rất lớn. Khi cô đang không biết lấy tiền đâu mà điều trị thì tình cờ một người bạn hảo tâm đã tự nguyện giúp đỡ cô về tài chính.
Sau đó có những chuyện mà cô chỉ thầm ước trong lòng thôi mà cũng được toại nguyện rồi. Đó là việc chồng cô tự nhiên bỏ thuốc lá mà cô không hề nói gì. Hoặc có lần mấy người hàng xóm đánh nhau vì mâu thuẫn. Cô đứng ra can ngăn, người hàng xóm đã dùng gậy gỗ chạy ra đập thẳng vào đầu cô, gậy sắp đập đến rồi, cô nghĩ rằng nếu mà trúng đầu thì cô không chết cũng vỡ đầu. Vậy mà người này tự dưng bị vấp ngã còn cô thì không hề hấn gì.
Năm 2007 cô được chẩn đoán ung thư tái phát nhưng nhờ phát hiện sớm đã được chữa khỏi. Tổng cộng cô trải qua 2 lần phẫu thuật, 1 lần xạ trị, hóa trị và hoàn toàn khỏe mạnh cho đến nay. Khi vừa dịch sách xong vào năm 2008, cô nằm mơ thấy Phật Tổ Như Lai ban cho cô 2 bàn tay đầy là xá lợi 7 màu. Cô nghe nói chỉ cần nhìn thấy xá lợi là có phước lắm rồi vậy mà cô được cho đầy cả 2 nắm tay. Năm 2012 cô gặp tai nạn trên đường đi làm, xe ôtô bị đâm nát đầu nhưng cô hoàn toàn không bị sao. Ngoài ra còn rất nhiều khó khăn nữa trong cuộc sống đều suôn sẻ vượt qua một cách kỳ lạ, khi nào nhớ ra cô sẽ kể thêm… ”
—————-           
Thiện Pháp Trân Quý
Số từ: 299
THIỆN PHÁP TRÂN QUÝ
“Ngọc Lịch Bửu Phiêu” là một cuốn “luật âm” được truyền xuống nhân gian nhờ lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát và Ngọc Hoàng Đại Đế nên còn có tên gọi khác là “Từ Ân Ngọc Lịch”. Cuốn thiện thư này vốn được truyền chép lâu năm, tác giả đầu tiên là vị cao tăng đắc đạo có tên Đạm Si.
Sách từng được ghi nhận trong kinh điển Phật giáo Trung Hoa cổ đại, ngoài ra trong kinh điển của Đạo giáo “Thần Tiên Thông Giám” cũng có ghi chép. Thời nay cao tăng pháp sư Tịnh Không rất coi trọng công đức khuyến hóa của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đã tận tay viết sách để tôn sùng. Liên Sanh Hoạt Phật – Lư Thắng Ngạn cũng suốt một đời khuyên người đọc và in ấn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu, bản thân ngài cũng từng in hàng ngàn cuốn để tặng cho tha nhân. Năm 1933 tại Việt Nam, sách từng được xuất bản với tựa đề “Ngọc Lịch Minh Kinh”.
Để tạo cho cuốn sách ngày càng dễ đọc dễ hiểu, chúng tôi nhiều lần đối chiếu với sách bản cổ xưa, trích dịch hoàn thiện, chỉnh sửa và tăng thêm những câu chuyện nhân quả có thực gần đây để mở rộng thêm. Nội dung lại đính kèm phương pháp sám hối hóa giải khổ đau, khuyến khích độc giả đọc xong giới thiệu bạn bè, gần xa linh ứng, rung động lòng người. Hy vọng những thiện tín có duyên tái bản in ấn, lưu truyền đại chúng, cứu người giúp đời, cùng dẫn dắt chúng sanh đi trên con đường tươi sáng Chân – Thiện – Mỹ.
Trân trọng!
Ban Ấn Tống
—————-           
Trình Tự Giá Lâm Phù Hộ Của Đế Quân
Số từ: 595
Trình Tự Giá Lâm Phù Hộ Của Đế Quân
Hiện tại nhân loại trên xã hội, hành vi và bản tính ngày càng nông cạn, không mấy chút thì làm việc xấu, dẫn đến phong khí đạo đức ngày một tha hóa, tỷ lệ phạm tội cũng không ngừng tăng cao khiến cho xã hội càng thiếu ổn định, lòng người bất an.
Từ bi Bồ Tát Địa Tạng Vương và các vị Thần minh cùng nhau thảo luận, muốn đưa sự thật về Quả Báo Luân Hồi viết thành một cuốn sách lưu truyền đến nhân gian, để cho loài người hiểu biết chuyển ác thành thiện, tu nhân tích đức, giúp ổn định xã hội và lòng người. Trên trời từ bi, rất nhanh phê duyệt báo cáo này và soạn vào trong “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” ban phát để thông báo cho thiên hạ: Tất cả tuân thủ nội dung của “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, những người nào biết sám hối và tu sửa lỗi lầm, được đặc biệt khoan dung, miễn giảm trừng phạt. Hy vọng loài người giác ngộ chân lý, bỏ dữ làm lành, tu sửa thân tâm, tích phúc cải mệnh.
Hiện nay, loài người cũng không biết được, cứ mỗi ngày Canh Thân của âm lịch, các chủ quản của thần linh ở các thành thị ấp xã – Thần Thành Vương và Thần Thổ Địa, sẽ đều phái các thần linh như Trú Du Thần, Dạ Du Thần, Thần Táo Quân… đến các địa điểm và các hộ để tuần tra, khảo sát và ghi lại những hành vi thiện ác của loài người trên thế gian và tình hình tuân thủ “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để trình báo lên thiên đình.
Tất cả ai quyên góp tiền hoặc ra sức in ấn cuốn Bửu Điển này mở rộng truyền bá, trên trời sẽ ban phước cho họ, để cho người đó đời đời hưởng thụ vinh hoa phú quý; cũng vì các bệnh nan y và dị bệnh đã trị lâu ngày không khỏi mà in ấn truyền bá cuốn sách này, sẽ cho người đó được khỏi bệnh, sức khỏe an lành; nếu có tình trạng như vợ chồng không hòa, bà con oán hận, số vận không tốt, con cháu bất hiếu… nếu chịu in ấn và truyền bá cuốn sách này, gia đình sẽ thuận hòa, số vận cũng sẽ chuyển tốt; nếu như muốn xuất ngoại kinh doanh, cầu học hoặc đi đến nước khác làm công việc, nếu được in ấn cuốn sách này hoặc thuận đường truyền bá thì sẽ tránh khỏi các nguy hiểm giao thông và cướp giật dọc đường… những sự kiện bất lợi, và công việc sẽ thuận lợi; nếu vượt được núi sông, đi vào các thôn xóm ở vùng núi sâu xa, mở rộng lưu truyền và khuyến cáo loài người tuân thủ ý nghĩa và nội dung cuốn sách này, các thứ yêu ma quỷ quái, rắn độc, thú dữ đều không dám xâm phạm, vả lại công đức vô lượng, phước hỷ chóng đến.
Công đức của sự lưu truyền, in ấn, tuyên dương cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” không chỉ có thể siêu thoát linh hồn của tổ tiên và có thể miễn giảm trừng phạt trong Diêm Phủ về những tội lỗi mình đã từng vi phạm mà còn có thể tạo cho người đang sống trên trần gian được các thứ phước đức lợi ích, đây là một việc rất được vui mừng hoan hỉ cho loài người.
—————-           
Nguyên Tự Của Người Hàn Chân Khuyến Dâng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Số từ: 1108
Nguyên Tự Của Người Hàn Chân Khuyến Dâng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
Trong sâu xa của vũ trụ, Phật, Bồ Tát và các chư vị Thần Linh đã để lại cho chúng sanh rất nhiều kinh điển để độ hóa, nhiều cuốn mang nội dung đề cập đến quả báo và biến hóa của địa ngục. Tuy vậy, không có cuốn nào giống như cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” cho thấy chi tiết về những việc loài người đã từng làm và những sự việc quả báo tương ứng và cũng không cuốn nào có thể như “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này đề cập đến các chuyện bi thảm lớn nhỏ trong địa ngục và những tình trạng đau khổ có thật.
Nội dung của sách đủ để cho người tỉnh giấc, tu sửa những lỗi lầm. Cuốn sách có công đức rất lớn đối với thế gian này. Tâm tính của loài người trên thế gian này chênh lệch không đều. Những người có trí tuệ cao thượng đều hiểu rõ đạo lý nhân quả, về thiện báo, về ác báo, cố gắng tu dưỡng đạo đức, để cho tâm linh của chính mình được thanh tịnh, triệt để giác ngộ chân lý, vượt qua tam giới. Những người này không cần phải tuyên giảng đạo đức phước họa với họ mà họ biết tự giác tuân theo quy luật nhân quả mà tạo phước hưởng thụ.
Những người có trí tuệ trung cấp, do quá xem trọng vật chất mà chưa biết, chưa hiểu, chưa chứng thực, chưa nhận thức ra phi vật chất của thế giới tâm linh, thậm chí còn nhầm lẫn xem là mê tín dị đoan, không hiểu đó là một phần tất yếu của vũ trụ, nên có những cử chỉ nói năng tùy tiện, không ngại ngần làm chuyện ác, hành sự không có lương tâm, không hiểu được quả báo đau khổ nhận được khi hạ địa ngục?
Từ xưa đến nay, tướng quân, vương hầu, cũng thường vì sai lệch trong tích tắc mà phải hứng chịu sự hành hạ của quả báo. Ví dụ như: danh tướng Bạch Khởi của triều đình nhà Tần thời Xuân Thu Chiến Quốc, tại chiến khu Trường Bình đã giết chết bốn trăm ngàn quân hàng quân địch. Cho nên, đến kiếp sau ông đầu thai trần gian làm gà, rắn, con rít đều bị sét đánh chết. Thân xác đều có tên ông “Bạch Khởi”. Lúc tại địa ngục, ông thường xuyên bị ngâm mình trong phân uế, chịu đủ các loại cực hình, những thứ này đều được khảo chứng.
Quan Tể Tướng Lý Lâm Bù của nhà Đường, xây phòng “Uyển Nguyệt” tại nhà để sát hại các vị quan khi bất đồng ý kiến. Khi hắn chết đi, bảy kiếp làm gái điếm, chín kiếp làm trâu, đời đời sau này đầu thai làm động vật dưới nước cho người giết mổ, trêu đùa và nấu ăn.
Tướng quân nhà Tống, Tào Hàn, sau khi chiếm lĩnh thành thị đã giết biết bao bá tánh vô tội trong thành. Khi chết, ông nhiều lần báo mộng cho dân chúng trong thành biết: “Tôi một thời oai phong nhưng đã giết chết bá tánh toàn thành cho nên trong trăm kiếp, tôi phải đầu thai làm gà cho người ta giết mổ. Sau khi quả báo này kết thúc, tôi còn phải đọa lạc vào địa ngục”. Than ôi! Thời gian một đời người không dài lắm, nhưng nửa giờ trong địa ngục cực kỳ dài và khó qua. Trong Kinh Phật nói súc sinh, quỷ đói, địa ngục, một lần quả báo trong tam ác đạo lâu như ngàn kiếp, những chúng sinh đầu thai vào đó thật là đáng thương hại.
Đạo Nho, đạo Thiên Chúa, đạo Phật đều hướng dẫn con người quy thiện làm cơ bản, có thể khống chế những suy nghĩ bất lương, phân biệt sự khác nhau giữa thánh nhân và kẻ ác. Ba tôn giáo này đều mang tư tưởng thương xót chúng sinh, từ bi độ thế.
Khổng Tử đã từng nói: “Chuyện không tốt không nên xem, nghe, bàn luận và truyền đạt thì càng không nên làm. Đây chính là mấu chốt để quyết định một người trở thành một dân hiền hoặc dân tục”. Khổng Tử còn nói: “Không nên vì lợi ích cho riêng mình, nếu thực sự làm được việc này thì người đó không còn là dân hiền mà là thánh nhân”.
Mạnh Tử nói: “Quan niệm của Khổng Tử rất là quý báu!” Những quan niệm này định ra sự khác biệt của nhân loại và loài cầm thức. Nếu như thường xuyên làm việc thiện, kiếp sau nhất định được phát đạt thịnh vượng, kiếp này thuận lợi cát tường.
Trong Phật giáo nói, tất cả mọi việc đều do nhân duyên, cuối cùng qui về không tính, quán xét tâm tính mà được tỉnh ngộ; phương pháp của đạo giáo là tuân thủ trung dung chi đạo, kiên trì noi theo quy luật nguyên tắc khách quan mà không theo ý tưởng chủ quan của chính mình mà hành động. Tóm lại, trong đời người, tham vọng, dục vọng và khống chế, kiểm soát chúng là mấu chốt quyết định sống, chết và họa phước sở tại. Cho nên, nhân loại có thể không đọc, chấp hành, tuân thủ “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và cảnh giác với sự nhân quả ác báo?
Trên Trời có đức háo sanh, đặc biệt phê duyệt cho giáo chủ Diêm phủ Địa Tạng Vương Bồ Tát công bố một số điều khoản liên quan đến nhân loại sám hối lỗi lầm, ban cho “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” lưu truyền thế gian, đồng ý cho những người đã phạm sai lầm tu chỉnh làm người, sau khi chết cũng có thể lên thiên giới hoặc thanh nhàn hưởng phước. Cho nên, cuốn sách này cũng được gọi là “Từ Ân Ngọc Lịch”. Người trên thế gian căn cứ năng lực của mình, trước mặt thần Táo Quân trong nhà bếp (nếu chưa thờ thần Táo quân thì có thể thờ trong nhà bếp bất cứ hướng nào), hoặc trong phòng sạch sẽ, hoặc Phật đường, hoặc ngoài trời, bất kể mùng một, rằm mười năm, hoặc ngày ba mươi, thành tâm phát nguyện in ấn, truyền bá, tuyên truyền cuốn sách này, để cho đại chúng đều biết được, người người bỏ ác hành thiện. Như vậy, xã hội sẽ an lành ổn định, gia đình và chính mình cũng được thịnh vượng phát đạt.
—————-           
Bồ Đề Chân Nhân Giáng Tự
Số từ: 410
Bồ Đề Chân Nhân Giáng Tự
Thánh hiền cứu giúp và độ hóa tâm nguyện của chúng sinh, giống như thiên địa vũ trụ không có đường cùng, vô biên! Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và các Chư Thần thập điện Diêm Vương thương xót chúng sinh hứng chịu những sự đau khổ trong địa ngục, nên đã trình báo Đại Đế Ngọc Hoàng để cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này được lưu truyền trên thế gian, để đánh thức thế nhân tu thiện tích phước. Khi đọc cuốn sách này, dường như thân tại trong địa ngục, xung quanh đều là những phán quan, lính quỷ, những cảnh thảm họa trong địa ngục. Như thế không thể không tạo cho người thức tỉnh; sống chết luân hồi là không thể tránh được, kẻ làm chuyện xấu phải chịu báo ứng thảm ác là tuyệt đối không sai.
Cuốn sách nói lên những đạo lý sự kiện có thật, dù trải qua thời gian bao lâu cũng không thay đổi. Sách nói rõ trong Phật giáo, Đạo giáo, Đạo nho với những tư tưởng về nhân quả báo ứng của thiện ác và sự kiện quan niệm về từ bi hóa độ, tạo cho những người làm việc thiện nhiều trong kiếp này hoặc kiếp sau được hưởng phước báo, vừa có thể ân xá cho những người đã từng phạm lỗi lầm tu sửa và sám hối, đấy là nội dung căn bản của cuốn sách này. Cho nên, cuốn sách này có khác biệt với những cuốn sách thiện khác, có một số người không hiểu biết, xem cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” này là tà kiến, cho là như người thời xưa thường nói câu: “Bất vi bằng cớ” (không đủ bằng chứng), hoặc cho là một cuốn sách mang tính chất mê tín dị đoan. Thực tế, những thứ người thiếu hiểu biết, coi thường và khinh bỉ thần linh không có chí hành thiện thì rất dễ đọa vào địa ngục.
Hiện nay, đối với thiện tín đang muốn hướng nguyện được biên soạn lại và xuất bản cuốn sách này thường nói: người in và truyền sách thiện, vạn sự đại cát tường; đời đời kiếp kiếp hưởng phước báo, huống chi là in ấn lưu truyền cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” bửu điển như vậy? Người phát lên thiện tâm thiện ý thì sẽ thăng hoa đạo đức, thấu tận trời xanh.
—————-
LÊ ANH MINH
Lần cập nhật cuối Bài viết được cập nhật lần cuối vào ngày 21/02/2010
BIỆN CHỨNG 辯 證 – THẮNG BẠI 勝 敗
376. Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện hĩ. Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy. [Đạo Đức Kinh, chương 2]
天下皆知美之為美,斯惡已﹔皆知善之為善,斯不善矣。故有無相生,難易相成,長短相形,高下相傾,音聲相和,前后相隨。《道德經 • 第二章》
【Dịch】 Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, là vì đã có cái xấu; đều biết tốt là tốt, là vì đã có cái không tốt. Cho nên có và không sinh ra nhau, khó và dễ thành tựu cho nhau, dài và ngắn tạo hình thể cho nhau, cao và thấp làm nghiêng nhau, âm và thanh hoà nhau, trước và sau theo nhau.
377. Khúc tắc toàn; uổng tắc trực; hóa tắc doanh; tệ tắc tân; thiểu tắc đắc; đa tắc hoặc. [Đạo Đức Kinh, chương 22]
曲則全,枉則直,窪則盈,敝則新,少則得,多則惑。《道德經 • 第二十二章》
【Dịch】 Cái gì khiếm khuyết sẽ được làm cho toàn vẹn. Cái gì cong sẽ được làm cho ngay. Cái gì trũng sẽ được làm cho đầy. Cái gì cũ sẽ được làm cho mới. Có ít sẽ được thêm. Có nhiều sẽ mê muội.
378. Trọng vi khinh căn. Tĩnh vi táo quân. [Đạo Đức Kinh, ch. 26]
重為輕根,靜為躁君。《道德經 • 第二十六章》
【Dịch】Nặng là gốc của nhẹ. Tĩnh là chủ của xao động.
379. Thiện hành vô triệt tích. Thiện ngôân vô hà trích. Thiện số bất dụng trù sách. Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai. Thiện kết vô thằng ước, nhi bất khả giải. [Đạo Đức Kinh, chương 27]
善行,無轍跡﹔善言,無瑕謫﹔善數,不用籌策﹔善閉,無關楗而不可開﹔善結,無繩約而不可解。《道德經 • 第二十七章》
【Dịch】 Giỏi đi thì không lưu dấu vết xe. Giỏi nói thì không để bị chỉ trích. Giỏi đếm thì không dùng que đếm. Giỏi đóng cửa dù không có then chốt mà không ai mở được. Giỏi thắt dây dù không có dây nhợ mà không ai cởi được.
380. Vật tráng tắc lão. [Đạo Đức Kinh, chương 30]
物壯則老。《道德經 • 第三十章》
【Dịch】Vật lớn mạnh ắt già.
381. Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố hưng chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. [Đạo Đức Kinh, chương 36]
將欲歙之,必故張之﹔將欲弱之,必故強之﹔將欲廢之,必故興之﹔將欲奪之,必故與之。《道德經 • 第三十六章》
【Dịch】 Muốn làm cho cái gì chùng, trước hết phải căng nó ra cho thẳng. Muốn làm cho cái gì suy yếu, trước hết phải giúp cho nó mạnh thêm. Muốn vứt bỏ cái gì, trước hết phải làm cho nó hưng vượng. Muốn tước đoạt cái gì của nó, trước hết phải tặng nó cái gì đó.
382. Quí dĩ thiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ. [Đạo Đức Kinh, chương 39]
貴以賤為本,高以下為基。《道德經 • 第三十九章》
【Dịch】Sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền.
383. Minh Đạo nhược muội. Tiến Đạo nhược thoái. Di Đạo nhược lỗi. Thượng Đức nhược cốc. Đại bạch nhược nhục. Quảng đức nhược bất túc. Kiến đức nhược thâu. Chất chân nhược du. Đại phương vô ngung; đại khí vãn thành; đại âm hi thanh; đại tượng vô hình. Đạo ẩn vô danh. [Đạo Đức Kinh, chương 41]
明道若昧,進道若退,夷道若纇,上德若谷,大白若辱,廣德若不足,建德若偷﹔質真若渝,大方無隅,大器晚成,大音希聲﹔大象無形。道隱無名。《道德經 • 第四十一章》
【Dịch】 Đạo sáng, dường như tăm tối. Đạo tiến, dường như thoái lui. Đạo bằng phẳng, dường như gồ ghề. Đức cao tột dường như hang cốc. Trắng tinh dường như hoen ố. Đức dầy dăn dường như khiếm khuyết. Đức chắc khoẻ dường như mềm yếu. Chất phác trinh thuần dường như biến đổi. Hình vuông lớn không góc. Vật dụng lớn lâu hoàn thành. Tiếng lớn nghe không thấy. Tượng lớn không có hình. Đạo ẩn nơi không tên.
384. Chính phục vi kỳ, thiện phục vi yêu. [Đạo Đức Kinh, chương 58]
正復為奇,善復為妖。《道德經 • 第五十八章》
【Dịch】Cái ngay thẳng lại biến thành gian trá, cái thiện lại biến thành gian tà.
385. Phù khinh nặc, tất quả tín. Đa dị tất đa nan. [Đạo Đức Kinh, chương 63]
夫輕諾必寡信,多易必多難。《道德經 • 第六十三章》
【Dịch】Những kẻ hứa hẹn bừa bãi, sẽ khó giữ được lời. Coi cái gì cũng dễ, sẽ gặp nhiều cái khó.
386. Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. [Đạo Đức Kinh, chương 66]
以其不爭,故天下莫能與之爭。《道德經 • 第六十六章》
【Dịch】Chính vì thánh nhân không tranh với ai, nên trong thiên hạ không có ai tranh với ngài.
387. Duy vô dĩ thiên hạ vi giả khả dĩ thác thiên hạ dã. [Trang Tử, Nhượng Vương]
唯無以天下為者可以托天下也。《莊子 • 讓王》
【Dịch】Chỉ ai không màng cai trị thiên hạ là mới đáng được giao thiên hạ cho mà thôi.
388. Đại bạch nhược nhục, thịnh đức nhược bất túc. [Trang Tử, Ngụ Ngôn]
大白若辱,盛德若不足。《莊子 • 寓言》
【Dịch】Trắng tinh phải làm như bị hoen ố; đức dày phải làm như còn khiếm khuyết.
389. Chung thân ngôn, vị thường ngôn; chung thân bất ngôn, vị thường bất ngôn. [Trang Tử, Ngụ Ngôn]
終身言,未嘗言;終身不言,未嘗不言。《莊子 • 寓言》
【Dịch】Cả đời nói, mà chưa từng nói gì; cả đời không nói, mà chưa từng không nói gì.
390. Nhất xích chi chủy, nhật thủ kỳ bán, vạn thế bất kiệt. [Trang Tử, Thiên Hạ]
一尺之捶,日取其半,萬世不竭。《莊子 • 天下》
【Dịch】Gậy dài một thước, mỗi ngày chặt một nửa, chặt hoài suốt đời cũng không hết cây gậy này.
391. Trường giả bất vi hữu dư, đoản giả bất vi bất túc. [Trang Tử, Mã Đề]
長者不為有餘,短者不為不足。《莊子 • 駢拇》
【Dịch】Cái đã dài thì ta đừng cho là quá dài; và cái đã ngắn cũng đừng cho là quá ngắn.
392. Vật vật giả dữ vật vô tế, nhi vật hữu tế giả, sở vị vật tế giả dã. Bất tế chi tế, tế chi bất tế giả dã. [Trang Tử, Trí Bắc Du]
物物者與物無際,而物有際者,所謂物際者也。不際之際,際之不際者也。《莊子 • 知北游》
【Dịch】 Cái tạo ra vật (tức Đạo) không có sự hạn chế với vật, nhưng vật có sự hạn chế. Đó gọi là sự hạn chế của vật. Cái giới hạn của cái không giới hạn là cái không giới hạn của cái giới hạn.
393. Phàm ngoại trọng giả nội chuyết. [Trang Tử, Đạt Sinh]
凡外重者內拙。《莊子 • 達生》
【Dịch】Ai có bề ngoài trịnh trọng thì bên trong vụng về kém cỏi.
394. Tự kỳ dị giả thị chi, can đảm Sở Việt dã; tự kỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai nhất dã. [Trang Tử, Đức Sung Phù]
自其異者視之,肝膽楚越也;自其同者視之,萬物皆一也。《莊子 • 德充符》
【Dịch】 Về mặt khác nhau mà xét thì vạn vật [khác nhau] ví như gan với mật, hay nước Sở với nước Việt. Về mặt giống nhau mà xét thì vạn vật đều là một.
395. Khả dĩ ngôn luận giả, vật chi thô dã; khả dĩ ý trí giả, vật chi tinh dã; ngôn chi sở bất năng luận, ý chi sở bất năng sát giả, bất kỳ tinh thô yên. [Trang Tử, Thu Thủy]
可以言論者,物之粗也;可以意致者,物之精也;言之所不能論,意之所不能察者,不期精粗焉。《莊子 • 秋水》
【Dịch】 Cái mà ta bàn luận được là phần thô của vật; cái mà ta dùng ý niệm để đạt được là phần tinh tuý của vật. Cái không thể bàn luận được của lời nói và cái không thể đạt được của ý niệm thì không liên can phần tinh hay thô của vật.
396. Dĩ đạo quan chi, vật vô quý tiện; dĩ vật quan chi, tự quý nhi tương tiện; dĩ tục quan chi, quý tiện bất tại kỷ. Dĩ sai quan chi, nhân kỳ sở đại nhi đại chi, tắc vạn vật mạc bất đại; nhân kỳ sở tiểu nhi tiểu chi, tắc vạn vật mạc bất tiểu. [Trang Tử, Thu Thủy]
以道觀之,物無貴賤;以物觀之,自貴而相賤;以俗觀之,貴賤不在己。以差觀之,因其所大而大之,則萬物莫不大;因其所小而小之,則萬物莫不小。《莊子 • 秋水》
【Dịch】 Theo phương diện Đạo mà xét, vật chẳng quý chẳng tiện. Từ bản thân của vật mà xét, mỗi vật tự cho mình quý và coi vật khác là tiện. Từ quan điểm thế tục mà xét, quý và tiện không nằm tại bản thân sự vật. Từ sự khác biệt của vật mà xét, do tầm cỡ lớn mà cho rằng chúng lớn thì vạn vật chẳng thứ nào mà không lớn; do tầm cỡ nhỏ mà cho rằng chúng nhỏ thì vạn vật chẳng thứ nào mà không nhỏ.
397. Chí tinh vô hình, chí đại bất khả vi. [Trang Tử, Thu Thủy]
至精無形,至大不可圍。《莊子 • 秋水》
【Dịch】Cái cực tinh tế thì vô hình, cái cực lớn thì không thể bị [cái khác] vây bọc được.
398. Niên bất khả cử, thời bất khả chỉ. Tiêu tức doanh hư, chung tắc hữu thủy. [Trang Tử, Thu Thủy]
年不可舉,時不可止。消息盈虛,終則有始。《莊子 • 秋水》
【Dịch】[Chỉ có] thời gian trôi đi thì không thể bắt đầu lại và không thể dừng lại, [còn các thứ nào] tiêu vong và phát khởi, đầy và rỗng, hễ chúng tận cùng thì sẽ trở lại ban đầu.
399. Nhân kỳ sở nhiên nhi nhiên chi, tắc vạn vật mạc bất nhiên. Nhân kỳ sở phi nhi phi chi, tắc vạn vật mạc bất phi. [Trang Tử, Thu Thủy]
因其所然而然之,則萬物莫不然。因其所非而非之,則萬物莫不非。《莊子 • 秋水》
【Dịch】 Theo xu hướng thiên hạ cho điều gì là đúng mà ta bảo là đúng, thì vạn vật cái gì cũng đúng; theo xu hướng thiên hạ cho điều gì là sai, thì vạn vật cái gì cũng sai.
400. Đa nam tử tắc đa cụ, phú tắc đa sự, thọ tắc đa nhục. [Trang Tử, Thiên Địa]
多男子則多懼,富則多事,壽則多辱。《莊子 • 天地》
【Dịch】Càng nhiều con trai, càng thêm lo sợ. Càng giàu có, càng lắm sự sinh. Càng sống lâu, càng thêm nhục.
401. Tri kỳ ngu giả, phi đại ngu dã; tri kỳ hoặc giả, phi đại hoặc dã. [Trang Tử, Thiên Địa]
知其愚者,非大愚也;知其惑者,非大惑也。《莊子 • 天地》
【Dịch】Biết mình ngu tức không phải là quá ngu; biết mình bị dối lừa tức không bị lừa dối nhiều.
402. Thiên chi tiểu nhân, nhân chi quân tử; nhân chi quân tử, thiên chi tiểu nhân dã. [Trang Tử, Đại Tông Sư]
天之小人,人之君子;人之君子,天之小人也。《莊子 • 大宗師》
【Dịch】Tiểu nhân của Trời là quân tử của người; quân tử của người là tiểu nhân của trời.
403. Nhân mạc giám vu lưu thủy nhi giám vu chỉ thủy, duy chỉ năng chỉ chúng chỉ. [Trang Tử, Đức Sung Phù]
人莫鑒于流水而鑒于止水,唯止能止眾止。《莊子 • 德充符》
【Dịch】 Người ta không soi bóng vào mặt nước trôi chảy, mà chỉ soi bóng vào mặt nước yên tĩnh. Chỉ có nước yên tĩnh mới có thể làm mọi người dừng lại để tìm sự yên tĩnh.
404. Phương sinh phương tử, phương tử phương sinh; phương khả phương bất khả, phương bất khả phương khả; nhân thị nhân phi, nhân phi nhân thị. [Trang Tử, Tề Vật Luận]
方生方死,方死方生;方可方不可,方不可方可;因是因非,因非因是。《莊子 • 齊物論》
【Dịch】[Bất cứ vật gì] đang sống là đang chết, đang chết là đang sống; có thể là không thể, không thể là có thể. Nguyên do đúng là nguyên do sai, nguyên do sai là nguyên do đúng.
405. Phân dã giả, hữu bất phân dã; biện dã giả, hữu bất biện dã. [Trang Tử, Tề Vật Luận]
分也者,有不分也; 辯也者,有不辯也。《莊子 • 齊物論》
【Dịch】Trong mỗi sự phân tích có cái không phân tích được; trong mỗi sự biện luận có cái không biện luận được.
406. Xử minh giả bất kiến ám trung nhất vật, xử ám giả năng kiến minh trung khu sự. [Quan Doãn Tử, Nhất Vũ]
處明者不見暗中一物,處暗者能見明中區事。《關尹子 • 一宇》
【Dịch】 Người ở nơi sáng sủa không thấy được vật gì trong bóng tối; người ở nơi tối có thể thấy được sự vật rất bé nhỏ trong ánh sáng.
407. Chuyên dụng thông minh, tắc công bất thành; chuyên dụng hối muội, tắc sự tất bội; nhất minh nhất hối, chúng chi sở tái. [Doãn Văn Tử Dật Văn]
專用聰明,則功不成;專用晦昧,則事必悖;一明一晦,眾之所載。《尹文子佚文》
【Dịch】 Chỉ thuần thông minh sẽ không thành công; chỉ thuần tối tăm sẽ gặp việc trái ý muốn. Vừa sáng vừa tối là cách làm mọi việc.
408. Mục tương miểu giả, tiên đổ thu hào; nhĩ tương lung giả, tiên văn nhuế phi, […] cố vật bất chí giả tắc bất phản. [Liệt Tử, Trọng Ni]
目將眇者,先睹秋毫;耳將聾者,先聞蚋飛,…故物不至者則不反。《列子 • 仲尼》
【Dịch】 Mắt sắp mờ thì trước tiên hãy nhìn vật cực bé, tai sắp điếc thì trước tiên hãy nghe tiếng muỗi bay vo ve. […] Cho nên sự vật chưa phát triển đến chỗ cùng cực thì chưa quay trở lại.
409. Dục cương, tất dĩ nhu thủ chi; dục cường, tất dĩ nhược bảo chi. [Liệt Tử, Hoàng Đế]
欲剛必以柔守之;欲強必以弱保之。《列子 • 黃帝》
【Dịch】Muốn nó cứng thì lấy mềm giữ nó; muốn nó mạnh thì lấy yếu bảo vệ nó.
410. Thiên hạ lý vô thường thị, sự vô thường phi. Tiên nhật sở dụng, kim hoặc khí chi; kim chi sở khí, hậu hoặc dụng chi. [Liệt Tử, Thuyết Phù]
天下理無常是,事無常非。先日所用,今或棄之;今之所棄,後或用之。《列子 • 說符》
【Dịch】 Sự và lý trong thiên hạ không bao giờ đúng mãi hay sai mãi. Có thứ ngày trước áp dụng mà nay có người bỏ đi; cái ngày nay bỏ đi thì ngày sau có người áp dụng.
411. Đắc điểu giả, la nhất mục; nhất mục chi la, bất khả đắc điểu. [Doãn Văn Tử]
得鳥者,羅一目;一目之羅,不可得鳥。《尹文子》
【Dịch】Bắt được chim là nhờ ở một mắt lưới; nhưng cái lưới chỉ có một mắt lưới thì không thể bắt được chim.
412. Nhập thủy tăng nhu, hoài xú cầu phương, bất khả đắc dã. [Doãn Văn Tử]
入水憎濡,懷臭求芳,不可得也。《尹文子》
【Dịch】Vào nước ghét bị ướt, ôm giữ cái hôi thối cầu mong được thơm tho, điều đó là không thể.
413. Nhật bất tri dạ, nguyệt bất tri trú, nhật nguyệt vi minh nhi phất năng kiêm dã. [Hoài Nam Tử, Mậu Xưng Huấn]
日不知夜,月不知晝,日月為明而弗能兼也。《淮南子 • 繆稱訓》
【Dịch】 Mặt trời không biết đến đêm tối, mặt trăng không biết đến ban ngày. Mặt trời và mặt trăng cho ánh sáng nhưng không thể cùng biết ban ngày và ban đêm của nhau.
414. Thủy tuy bình, tất hữu ba; hành tuy chính, tất hữu sai. [Hoài Nam Tử, Thuyết Lâm Huấn]
水雖平必有波;衡雖正必有差。《淮南子 • 說林訓》
【Dịch】Nước mặc dù yên tĩnh nhưng cũng có lúc gợn sóng, cái cân mặc dù thăng bằng nhưng cũng có lúc sai lệch.
415. Đắc vạn nhân chi binh, bất như văn nhất ngôn chi đáng; đắc Tuỳ Hầu chi châu, bất nhược đắc sự chi sở do; đắc Oa thị chi bích, bất nhược đắc sự chi sở thích. [Hoài Nam Tử, Thuyết Sơn Huấn]
得萬人之兵,不如聞一言之當;得隋侯之珠,不若得事之所由;得咼氏之璧,不若得事之所適。《淮南子。說山訓》
【Dịch】 Có được quân binh vạn người không bằng nghe được một lời nói đúng đạo lý; có được ngọc châu Tùy Hầu không bằng có được nguyên do của sự việc; có được ngọc bích của họ Hoà không bằng có được sự thích đáng của sự việc.
416. Hoặc dự nhân nhi thích túc dĩ bại chi, hoặc hủy nhân nhi nãi phản dĩ thành chi. [Hoài Nam Tử, Nhân Gian Huấn]
或譽人而適足以敗之,或毀人而乃反成之。《淮南子 • 人間訓》
【Dịch】Có khi tán dương ai mà làm cho hắn bị thất bại; có khi hủy báng ai mà làm cho hắn được thành công.
417. Sự hoặc đoạt chi nhi phản dữ chi, hoặc dữ chi nhi phản thủ chi. [Hoài Nam Tử, Nhân Gian Huấn]
事或奪之而反與之,或與之而反取之。《淮南子 • 人間訓》
【Dịch】 Sự đời, có khi tước đoạt ai cái gì thì trái lại làm cho họ được tặng cái khác; có khi cho ai cái gì thì trái lại ta nhận được cái khác.
418. Sơn sinh kim, phản tự khắc; mộc sinh đố, phản tự thực; nhân sinh sự, phản tự tặc. [Hoài Nam Tử, Thuyết Lâm Huấn]
山生金,反自刻;木生蠹,反自食;人生事,反自賊。《淮南子 • 說林訓》
【Dịch】 Núi sinh vàng, trái lại nó bị tổn hao (do người ta khai thác vàng); gỗ sinh mối mọt, trái lại nó bị mọt ăn mòn; người phát sinh sự rắc rối, trái lại tự làm hại bản thân.
419. Dĩ cận luận viễn, dĩ tiểu tri đại. [Hoài Nam Tử, Phạm Luận Huấn]
以近論遠,以小知大。《淮南子 • 氾論訓》
【Dịch】Căn cứ cái gần mà suy luận ra cái xa xôi, căn cứ việc nhỏ mà biết việc lớn.
420. Nhất điều chi khô, bất tổn phồn lâm chi ông ái. [Bão Phác Tử, Bác Dụ]
一條之枯,不損繁林之蓊藹。《抱朴子 • 博喻》
【Dịch】Một cây khô không làm mất dáng vẻ sum suê um tùm của rừng cây dày đặc.
421. Giang hà chi lưu, bất năng doanh vô để chi khí dã. [Bão Phác Tử, Cực Ngôn]
江河之流,不能盈無底之器也。《抱朴子 • 極言》
【Dịch】Nước sông ngòi không thể đổ đầy một đồ vật để chứa nước mà không có đáy.
422. Tiểu tì bất túc dĩ tổn đại khí. [Bão Phác Tử, Bác Dụ]
小疵不足以損大器。《抱朴子 • 博喻》
【Dịch】Tì vết nhỏ không đủ để làm hại đồ vật lớn.
423. Tục hữu kiến du vân tây trì, nhi vị nguyệt chi đông hành. [Bão Phác Tử, Tắc Nan]
俗有見游雲西馳,而謂月之東行。《抱朴子 • 塞難》
【Dịch】Kẻ kiến thức thiển lậu hễ thấy mây bay về hướng tây thì nói mặt trăng đi về hướng đông.
LÊ ANH MINH
—————-           
Chỉ có tâm mới xây nên ngôi tiên vị phật
Hườn Cung Đàn, Tý thời 29 rạng Mùng 1 tháng 4 Nhâm Dần (3.5.1962)
Tiếp điển :
THI
NGỌC kinh mở cửa đợi chờ ai ?
LỊCH lãm đường trần chớ trả vay;
NGUYỆT rạng ven Trời, tinh đẩu rạng,
Mừng chư đệ muội cách bao ngày.
Bần Đạo chào chư Thiên Mạng, chào chư liệt vị lưỡng phái đàn trung. Bần Đạo muốn mượn linh cơ trong một đàn đông đủ chư hiền để cùng nhau bàn luận về đạo. Chư hiền hãy an tọa nghe Bần Đạo phân đây. Chư hiền ôi !
BÀI
Khuôn Tạo Hóa in hình nhơn loại,
Lò thiên nhiên đúc dải sơn xuyên;
Thú cầm thảo môc căn nguyên,
Một bầu vũ trụ cơ Thiên sắp bày.
Khí âm dương hình hài un đúc,
Chất tinh ba cốt nhục dưỡng sanh;
Từ trong tam giới ngũ hành,
Cũng đều riêng một máy linh đất Trời.
Lỡ mang một kiếp người trên thế,
Trót hẹn cùng bốn bể năm châu;
Trải qua cay đắng dãi dầu,
Nhớ chăng tiếng khóc buổi đầu sơ sanh.
Tạo Hóa đã riêng dành nhơn loại,
Nhơn loại còn oằn oại núi sông;
Đỉnh thần một chủ nhơn ông,
Tâm linh một quả ngự trong hình hài.
Tâm chúa tể trong ngoài bĩnh trị;
Tánh với tình sự lý tể khanh;
Thất tình lục dục bao quanh,
Quân binh sĩ tốt giữ gìn bản thân.
Thân sanh giữa hồng trần trọng trược,
Tâm là nguồn họa phước tạo nên;
Tâm là ngôi phật thánh tiên,
Cũng là quí tiện nghiệp duyên thú cầm.
Tâm cho vững định cầm linh tánh,
Tánh với tình hùng mạnh cố kiên;
Đóng bền sáu cửa khóa then,
Quân minh thần dũng giữ yên sơn hà.
Trường huấn luyện phong ba khói lửa,
Lớp thí sinh mài giũa chạm trau;
Tâm linh sáng suốt dồi dào,
Chớ cho vọng động, chớ xao khí thần.
Luyện nguơn tinh, tinh thuần hóa khí,
Khí vận hành, hành kỷ Thiên cơ;
Nguơn thần an trụ kịp giờ,
Xây dựng đấp móng để chờ vị ngôi.
Hiểu Chơn Đạo Ta, Trời có một,
Thuận nghịch hành, tiên tục hóa hai;
Bởi chưng sáu cửa không gài,
Bảy tên tướng cướp bên ngoài xâm lăng.
Tâm danh lợi tham tàn khát vọng,
Tâm tước quyền hách hống tự cao;
Mắt nhìn tâm lại động xao,
Tánh tình khó nỗi đón rào ma tham.
Tâm tật đố tài nhơn lánh mặt,
Tâm điêu ngoa hạnh phúc giảm suy;
Tai nghe lòng đã lỗi nghì,
Để hai tướng cướp sân si lộng hành.
Tâm tư dục ham danh mến sắc,
Tâm vọng cầu vật chất đỉnh chung;
Mũi kia ưa hửi mùi nồng,
Lưỡi hay nếm vị não nùng đắng cay.
Sắc không bén giết ngay cân não,
Rượu không say lộn đảo hình dung;
Được mừng, mất giận, lung tung,
Hai ma hỉ nộ buông lung dấy loàn.
Tâm đấu tranh gây oan chác nghiệt,
Tâm bạo tàn tiêu diệt trầm luân;
Muốn đem giả lợi vào thân,
Ý mong dệt cảnh mộng trần trong mơ.
Ma ai lạc chực chờ sẵn đó,
Kẻ thường vui lạc ngỏ lầm đường;
Cũng vì vui, cũng vì thương,
Mở toang sáu cửa vô thường để chân.
Đem ra một bản thân suy luận,
Với hai đường thối tấn đạo đời;
Nghe chăng hỡi bạn trần ơi !
Đã vào phận sự đổi dời sao đang.
Bịnh đã trót vương mang bất trị,
Thuốc thần đây mấy vị trừ căn;
Cõi đời vật dục lăng xăng,
Mấy ai giữ đặng nguyên căn của mình ?
Xem những bực tiền trình thánh đức,
Muốn cho đời thiết thực yêu thương;
Chánh tâm tu kỷ lo lường,
Mới mong nhà nước an khương thái bình.
Đời như thế, đạo in như thế,
Nhiệm vụ đâu, mà thể thống đâu ?
Tâm linh thấu triệt cơ mầu,
Bịnh trần lấp lửng khá mau trị lành.
Tâm bác ái hy sinh vật chất,
Tâm từ bi đùm bọc thương yêu;
Nhẫn kiên un đúc sớm chiều.
Thủ trì hành sự là liều thuốc hay.
Chữa những bịnh chua cay thắc mắc,
Dằn những cơn phẫn uất ưu phiền;
Muốn nên ngôi vị phật tiên,
Đừng cho sóng tục đánh nghiêng tâm lành.
Đây là bài học cho các em nam cũng như nữ, vì đề tài chữ Tâm rất quan hệ đối với người tu hành, vì chỉ có Tâm mới định được mọi việc chính cho đường tu. Nếu các em hiểu tường thì tâm chính là một chánh điểm quyết định cho sự thành tiên tác phật của kẻ tu hành.
Đề tài nầy cũng là một khởi điểm cho nền chơn đạo. Nếu em nào thấy cần tu học và phát nguyện thì lần lần sẽ được giáo truyền.
TIẾP BÀI
Lời tha thiết của anh cặn kẽ,
Bước đường dài thương Mẹ đợi trông;
Em ôi ! Mình giống Tiên Long,
Phải đâu cánh én mênh mông phương trời.
Cơ thử thách đổi dời chua chát,
Thấy nhơn tình sắc bạc như vôi;
Nhủ ta thôi chớ nhìn người,
Nhìn người ở chỗ chung Trời thương yêu.
Tâm cho vững, lái lèo cho vững,
Chí nam nhi cho xứng hiếu nhi;
Thành công thất bại quản gì,
Trên đường sứ mạng thủ trì mới ngoan.
Chia sớt nhau trên đành hành sự,
Thông cảm nhau cư xử bại thành;
Tình nhơn loại, nghĩa em anh,
Muốn cho bao quát phải dành nghĩa nhơn.
Cơ Thống Nhứt Trung Ương đã định,
Nhưng cuộc đời gặp cảnh tang thương;
Chi nên chuyển hướng lập trường,
Cho cơ Đại Đạo biểu dương cứu đời.
Pháp chẳng gia cho người quân tử,
Luật bao giờ chấp đứa tiểu nhơn;
Tánh hà thủy, tâm thái sơn,
Mới là đáng mặt vi nhơn cõi trần.
Bần Đạo để ít lời các em cần hiểu.
Bần Đạo cũng nhắc lại để các em nhớ, chỉ có tâm mới xây nên ngôi tiên, vị phật, trường sanh bất lão.
Hơn nữa, các em nhớ : liều thuốc ngủ không làm cho bịnh nhơn ngũ yên lành vì bịnh tâm tư; đạo không đắc quả cho người trường chay tuyệt dục là do tâm động.
Các em hiểu chăng ? Cười…
NGỌC LỊCH NGUYỆT
—————-           
Đức Ngọc Lịch Nguyệt dạy chữ TÂM (trước 1975)
THI
NGỌC kinh mở cửa đợi chờ ai ?
LỊCH lãm đường trần chớ trả vay;
NGUYỆT rạng ven Trời, tinh đẩu rạng,
Mừng chư đệ muội cách bao ngày.
Bần Đạo chào chư Thiên Mạng, chào chư liệt vị lưỡng phái đàn trung. Bần Đạo muốn mượn linh cơ trong một đàn đông đủ chư hiền để cùng nhau bàn luận về đạo. Chư hiền hãy an tọa nghe Bần Đạo phân đây. Chư hiền ôi !
                                
THI
Nhớ buổi khi xưa những ngậm ngùi,
Duyên trần nghiệp tục bấy nhiêu thôi;
Hai mươi năm chẳng xây nền đạo,
Mười sáu thu qua tránh cuộc đời.
Chiếc áo Thiên phong chưa rủ cánh,
Nỗi lòng kẻ sĩ dễ- gì nguôi;
Đã sang bến giác còn lưu lại,
Nỗi bạn tình ta tỏ khúc nôi.
  Dẫu cho tấm lòng nhiệt huyết của chư hiền đến đâu đâu cũng phải phai mờ khi gặp cơn khảo đảo.
Hỡi chư hiền sứ mạng ôi ! Trải qua thời gian khai đạo trên khoảnh đất Việt Nam nầy, có phải chăng toàn thể sứ mạng cũng như nhơn sanh, lòng đạo muốn già hơn tuổi đạo. Chư hiền hãy suy nghiệm lại thì thấy, vì ở đời muốn tìm ngọc phải dày sành đạp sỏi, muốn tìm vàng phải chịu nỗi phong ba, muốn cho thoát được cõi trần la thì phải vận hết tâm tánh hồn nhiên của Tạo Hóa thì mới mong thấy vàng ròng ngọc tốt, mới mong tìm được cảnh tự tại thung dung.
Nói tóm lại, hiện cảnh của đời là một trường của những vở tuồng danh vọng tước quyền đấu tranh tiêu diệt, thì trong trường Đại Đạo, ai là những thí sinh đã chịu khó nhọc với bao công phu đèn sách thì phải bình tâm định tánh trước khúc nhạc bi quan hòa lẫn với những tiếng diễn viên quyến rũ, để đạt thành nguyện vọng của những bực môn đệ Chí Tôn. Hễ là nguyên nhân Phật Thánh thì mau tránh cảnh đổi bá thay vương, bao giả tạm của cuộc đời. Ôi ! vì lẽ đó, đối với cơ đạo và đối với nhiệm vụ của các Thiên Mạng trong giờ phút này, Bần Đạo không có chi hơn, đem đề tài chữ “ Tâm: hiến cho các em học theo lịnh GIÁO TÔNG.”
                           
BÀI
1.Khuôn Tạo Hóa in hình nhơn loại,
Lò thiên nhiên đúc dải sơn xuyên;
Thú cầm thảo môc căn nguyên,
Một bầu vũ trụ cơ Thiên sắp bày.
2.Khí âm dương hình hài un đúc,
Chất tinh ba cốt nhục dưỡng sanh;
Từ trong tam giới ngũ hành,
Cũng đều riêng một máy linh đất Trời.
3.Lỡ mang một kiếp người trên thế,
Trót hẹn cùng bốn bể năm châu;
Trải qua cay đắng dãi dầu,
Nhớ chăng tiếng khóc buổi đầu sơ sanh.
4.Tạo Hóa đã riêng dành nhơn loại,
Nhơn loại còn oằn oại núi sông;
Đỉnh thần một chủ nhơn ông,
Tâm linh một quả ngự trong hình hài.
5.Tâm chúa tể trong ngoài bình trị;
Tánh với tình sự lý tể khanh;
Thất tình lục dục bao quanh,
Quân binh sĩ tốt giữ gìn bản thân.
6.Thân sanh giữa hồng trần trọng trược,
Tâm là nguồn họa phước tạo nên;
Tâm là ngôi Phật Thánh Tiên,
Cũng là quí tiện nghiệp duyên thú cầm.
7.Tâm cho vững định cầm linh tánh,
Tánh với tình hùng mạnh cố kiên;
Đóng bền sáu cửa khóa then,
Quân minh thần dũng giữ yên sơn hà.
8.Trường huấn luyện phong ba khói lửa,
Lớp thí sinh mài giũa chạm trau;
Tâm linh sáng suốt dồi dào,
Chớ cho vọng động, chớ xao khí thần.
9.Luyện nguơn tinh, tinh thần hóa khí,
Khí vận hành, hành kỷ Thiên cơ;
Nguơn thần an trụ kịp giờ,
Xây dựng đấp móng để chờ vị ngôi.
10.Hiểu Chơn Đạo Ta, Trời có một,
Thuận nghịch hành, tiên tục hóa hai;
Bởi chưng sáu cửa không gài,
Bảy tên tướng cướp bên ngoài xâm lăng.
11.Tâm danh lợi tham tàn khát vọng,
Tâm tước quyền hách hống tự cao;
Mắt nhìn tâm lại động xao,
Tánh tình khó nỗi đón rào ma tham.
12.Tâm tật đố tài nhơn lánh mặt,
Tâm điêu ngoa hạnh phúc giảm suy;
Tai nghe lòng đã lỗi nghì,
Để hai tướng cướp sân si lộng hành.
13.Tâm tư dục ham danh mến sắc,
Tâm vọng cầu vật chất đỉnh chung;
Mũi kia ưa hửi mùi nồng,
Lưỡi hay nếm vị não nùng đắng cay.
14.Sắc không bén giết ngay cân não,
Rượu không say lộn đảo hình dung;
Được mừng, mất giận, lung tung,
Hai ma hỉ nộ buông lung dấy loàn.
15.Tâm đấu tranh gây oan chác nghiệt,
Tâm bạo tàn tiêu diệt trầm luân;
Muốn đem giả lợi vào thân,
Ý mong dệt cảnh mộng trần trong mơ.
16.Ma ai lạc chực chờ sẵn đó,
Kẻ thường vui lạc ngỏ lầm đường;
Cũng vì vui, cũng vì thương,
Mở toang sáu cửa vô thường để chân.
17.Đem ra một bản thân suy luận,
Với hai đường thối tấn đạo đời;
Nghe chăng hỡi bạn trần ơi !
Đã vào phận sự đổi dời sao đang.
18..Bịnh đã trót vương mang bất trị,
Thuốc thần đây mấy vị trừ căn;
Cõi đời vật dục lăng xăng,
Mấy ai giữ đặng nguyên căn của mình ?
19.Xem những bực tiền trình thánh đức,
Muốn cho đời thiết thực yêu thương;
Chánh tâm tu kỷ lo lường,
Mới mong nhà nước an khương thái bình.
20.Đời như thế, đạo in như thế,
Nhiệm vụ đâu, mà thể thống đâu ?
Tâm linh thấu triệt cơ mầu,
Bịnh trần lấp lửng khá mau trị lành.
21.Tâm bác ái hy sinh vật chất,
Tâm từ bi đùm bọc thương yêu;
Nhẫn kiên un đúc sớm chiều.
Thủ trì hành sự là liều thuốc hay.
22.Chữa những bịnh chua cay thắc mắc,
Dằn những cơn phẫn uất ưu phiền;
Muốn nên ngôi vị Phật Tiên,
Đừng cho sóng tục đánh nghiêng tâm lành.
Đây là bài học cho các em nam cũng như nữ, vì đề tài chữ Tâm rất quan hệ đối với người tu hành, vì chỉ có Tâm mới định được mọi việc chính cho đường tu. Nếu các em hiểu tường thì tâm chính là một chánh điểm quyết định cho sự thành tiên tác phật của kẻ tu hành.
Đề tài nầy cũng là một khởi điểm cho nền chơn đạo. Nếu em nào thấy cần tu học và phát nguyện thì lần lần sẽ được giáo truyền.
TIẾP BÀI
23.Lời tha thiết của anh cặn kẽ,
Bước đường dài thương Mẹ đợi trông;
Em ôi ! Mình giống Tiên Long,
Phải đâu cánh én mênh mông phương trời.
24.Cơ thử thách đổi dời chua chát,
Thấy nhơn tình sắc bạc như vôi;
Nhủ ta thôi chớ nhìn người,
Nhìn người ở chỗ chung Trời thương yêu.
25.Tâm cho vững, lái lèo cho vững,
Chí nam nhi cho xứng hiếu nhi;
Thành công thất bại quản gì,
Trên đường sứ mạng thủ trì mới ngoan.
26.Chia sớt nhau trên đành hành sự,
Thông cảm nhau cư xử bại thành;
Tình nhơn loại, nghĩa em anh,
Muốn cho bao quát phải dành nghĩa nhơn.
27.Cơ Thống Nhứt Trung Ương đã định,
Nhưng cuộc đời gặp cảnh tang thương;
Chi nên chuyển hướng lập trường,
Cho cơ Đại Đạo biểu dương cứu đời.
28.Pháp chẳng gia cho người quân tử,
Luật bao giờ chấp đứa tiểu nhơn;
Tánh hà thủy, tâm thái sơn,
Mới là đáng mặt vi nhơn cõi trần.
Bần Đạo để ít lời các em cần hiểu.Bần Đạo cũng nhắc lại để các em nhớ, chỉ có tâm mới xây nên ngôi Tiên, Vị Phật, trường sanh bất lão.
Hơn nữa, các em nhớ : liều thuốc ngủ không làm cho bịnh nhơn ngũ yên lành vì bịnh tâm tư; đạo không đắc quả cho người trường chay tuyệt dục là do tâm động. Các em hiểu chăng ? Cười…
Thôi thì giờ quá ư nhặt thúc. Bần Đạo nhờ chư phận sự Trung Ương ban truyền đàn này cho tất cả các em trong những Thánh Thất còn đương chiêm ngưỡng Bần Đạo. Nếu có thể ban hành rộng hơn càng tốt.
NGỌC LỊCH NGUYỆT
—————-           
THÁNH GIÁO ĐỨC MẸ & ĐỨC ĐẠO TỔ
Lần cập nhật cuối Bài viết được cập nhật lần cuối vào ngày 11/01/2010
Do đâu có hòa bình an lạc cho thế giới?
Đức Vô Cực Từ Tôn:
“Kìa con ! Đời đang loạn lạc, người người mong vọng hòa bình, tôn giáo đang chia rẽ, tín đồ đạo hữu mong vọng điều hiệp nhứt, mà hòa bình do nơi đâu hỡi con ? Hòa bình hay hiệp nhứt, Đức Thượng Đế đã ban cho mỗi con từ khi mới đến trần gian. Con hãy tìm đem ra mà sử dụng. Tâm con hòa bình, thế giới sẽ hòa bình, tâm con hiệp nhứt, tôn giáo sẽ hiệp nhứt. Các thứ ấy con không thể cầu ở tha lực tha nhân mà có đâu con ![1]
Đức Đạo Tổ:
“Đã học đạo, hành đạo,  tất biết đạo hằng  có trong vạn vật.  Vạn vật sinh tồn trong lý đạo. Những phương pháp, phương châm, bí quyết để con người được biết rõ chính mình và biết sống trong lý đạo để bảo trì nhân bản trên xã hội nhân loại này đều tóm vào một ý  nghĩa của mùa  xuân, bởi xuân  là mùa lập  lại qua cuộc  sanh trưởng thâu tàng, biết hòa dịu để lưu hành trưởng dưỡng. [. . .]
“Nếu toàn thể những người được đứng  trong khuôn viên tôn  giáo đạo đức, đều  đồng lòng hòa hợp  lại trong tinh thần vô cố, vô chấp, vô ngã, vô công, vô danh thì có lo chi không giải được sự cộng nghiệp của chúng sanh, đem lại thanh bình an lạc chung cho thế giới nhân loại.”[2]
[1]Thánh Thất Bình Hòa, 14 rạng Rằm tháng 8 Canh Tuất (14-9-70)
[2]MLTH,mùng 4 tháng Giêng, năm Át Mão 
THÁNH GIÁO ĐỨC MẸ & ĐỨC ĐẠO TỔ
—————-           

Kinh Hồi Dương Nhân Quả _ Ngọc Lịch Bửu Kinh

Kinh Hồi Dương Nhân Quả _ Ngọc Lịch Bửu Kinh

Kinh Hồi Dương Nhân Quả _ Ngọc Lịch Bửu Kinh

Kinh Hồi Dương Nhân Quả _ Ngoc Lich Buu Kinh 
HUỆ ĐỨC THẮNG HƠN PHƯỚC ĐỨC
Lúc năm Thuận Trị thời nhà Thanh, tại huyện Thuận Nghĩa, Bắc
Kinh có một đại gia đình họ Cung, nhà có ruộng đất cả trăm mẫu, lừa
ngựa cả đàn. Lúc trung niên, họ sanh được một cậu con trai, đặt tên
cúng cơm là Khánh Hữu. Trong lúc này, ông Lý làm quản gia quản lý
việc tá điền cho nhà họ Cung cũng sanh được một thằng con trai, đặt
tên là Lý Phúc. Đợi Cung Khánh được 7 tuổi, Cung đại gia mời một gia
sư đến dạy học cho con trai. Lý quản gia thấy con trai của Cung đại gia
được học sách, nên cầu xin ông Cung đại gia cho con mình học cùng với
Cung Khánh, được Cung đại gia đồng ý. Tháng ngày qua mau, lúc Lý
Phúc đến 14 tuổi thì cùng Cung Khánh tá túc tại học viện, tức ngày thì
học chung, đêm thì ngủ chung. Có một đêm, Lý Phúc đang ngủ ngon,
mơ thấy trên trời mở một cổng lớn, từ trên trời hạ xuống hai ông thần,
hạ đúng trong học viện, có một ông thần chỉ ngón tay đến Cung Khánh
Hữu, còn ông thần kia nói: “Anh ta ra sao?” Ông thần kia nói: “Anh ta
là người toàn phước, năm 17 tuổi đậu tú tài, 1 tuổi đậu cử nhân, tương
lai sẽ thăng quan đến cấp nhị phẩm, suốt đời hưởng vinh hoa phú quý.”
Ông thần nọ lại chỉ vào Lý Phúc, hỏi ông thần kia: “Còn anh kia?” Ông
thần kia nói: “Người này thuộc mạng khổ vô công danh, vô phận nghèo
suốt đời.” Nói xong, hai ông thần bay về trời. Sau khi hai ông thần đi
vào cửa trời, cửa trời đóng lại như trước. Lý Phúc tỉnh dậy, cảm thấy
kỳ lạ liền kể hết chuyện trong mơ cho cha mẹ và những người khác
nghe.
Đợi đến khi Khánh Hữu năm 17 tuổi, quả nhiên thi đậu tú tài, lúc
này Lý Phúc không còn học nữa. Nhà có ruộng đất, Lý Phúc tuy canh
tác nhưng luôn để ý đến hành vi của Khánh Hữu, anh ta thấy Khánh
Hữu có tính độc đoán, luôn làm chuyện ác, tàn nhẫn bạo hành, không
thức nào tốt. Sau khi Khánh Hữu thi đậu tú tài và tiếp tục thăng tiến,
đúng là thăng chức đến làm đại quan nhị phẩm. Nhưng Khánh Hữu
làm quan thì tham nhũng, tàn độc với bá tánh, đánh người trung lương.
Hành vi của Khánh Hữu, trong lòng của Lý Phúc xem đó là tội ác, cảm
thấy Khánh Hữu sau này phải chịu quả báo. Ai ngờ, Khánh Hữu sống
thọ đến năm 71 tuổi vẫn, nhân tài song vượng, con cháu đầy nhà.
Không chỉ có vậy, Khánh Hữu còn có thể biết được mình lúc nào chết,
lúc ông chưa chết, ông nói với con trai làm sao lo hậu sự cho ông. Nhưng
hành vi của Lý Phúc lại khác biệt hoàn toàn so với Khánh Hựu, Lý
Phúc sống rất cần kiệm, đối xử với người dân rất kỹ lưỡng, hướng thiện
mà đi, không làm chuyện độc ác. Đối với loại người ác độc như Khánh
Hữu lại được hưởng phước trọn đời, còn biết trước ngày mình mất.
Trong lòng ông ta cảm thấy bất bình, cảm thấy dưới âm phủ cũng có
chuyện mua chuộc hối lộ, quyết tâm cùng Khánh Hữu đến Diêm Phủ
hỏi cho ra lẽ. Nên ông nói với con trai của ông là sẽ chết vào ngày tháng
đó, chuẩn bị lo cho hậu sự của ông. Ông Lý Phúc muốn đi cùng Khánh
Hữu đến âm phủ xem như thế nào, nhất thiết phải xem rõ ràng cho
bằng được. Lý Phúc nói với con trai là mình chết vào lúc nào, không
phải vì ông ta tự biết ngày giờ chết mà là ông ta mua sẵn một gói thuốc
độc. Nếu như Khánh Hữu thật sự chết vào ngày ông ta nói thì ông sẽ
uống thuốc độc để chết theo Khánh Hữu đi xuống âm phủ gặp Diêm
Vương. Không ngờ, Khánh Hữu đến ngày đó thật sự chết đi, ông Lý
Phúc cũng uống thuốc độc chết theo để đi xuống âm phủ mới kịp nhìn
thấy Diêm Vương đi ra đón Khánh Hữu. Diêm Vương xử lý xong công
việc của Khánh Hữu mới ra gặp Lý Phúc, nói: “Sao ngươi cũng đến
vậy?” Lý Phúc trả lời: “Tôi vì Khánh Hữu mà đi xuống đây. Trên trần
gian, người người sợ quyền thế, kính chủ tài, tại sao Diêm Vương dưới
âm phủ cũng phải sợ quyền thế và chủ tài sao? Tôi nghĩ ông Khánh
Hữu sống trên trần gian, tàn nhẫn độc ác, làm việc ác vạn lần, ông ta
lúc trên trần gian không phải chịu ác báo, đến âm phủ, chắc phải chịu
hình phạt, không ngờ trần gian với âm phủ cũng như nhau.”
Diêm Vương nói: “Ông ráng chờ một lát thì sẽ hiểu.” Diêm
Vương ra lệnh cho phán quan mở ra cuốn sổ sanh tử thiện ác để xem,
trên tên của Cung Khánh Hữu có một hàng chữ. Diêm Vương nói: “Vì
kiếp trước Khánh Hữu làm rất nhiều việc thiện to lớn, kiếp này tuy làm
ác, đã tiêu hao không ít công thiện của kiếp trước nhưng vẫn còn dư
rất nhiều việc thiện to lớn, chuyển đến kiếp sau vẫn được hưởng phước,
nhưng không có lớn như kiếp trước rồi. Với những chuyện ác mà ông
ta đã làm, vẫn chưa đến thời kỳ thuần thục, Lý Phúc nhà ngươi vì kiếp
trước không có làm việc thiện nên kiếp này phải chịu khổ. Nhưng vì do
ông giác ngộ, một lòng làm việc tốt, cho nên ông sống trên đời tuy không
hưởng phước nhưng ăn mặc không thiếu thốn gì, khi ông chuyển kiếp
sau, ông sẽ hưởng phước thật là lớn.” Lý Phúc cầu xin Diêm Vương lúc
chuyển kiếp đừng cho ông ta uống nước mê hồn, để kiếp sau có thể xem
được kết quả hành vi của Khánh Hữu. Diêm Vương đồng ý lời cầu xin
của Lý Phúc.
Lý Phúc lại đi theo Khánh Hữu đi chuyển kiếp luân hồi. Vì ông
ta chưa uống nước mê hồn, biết hết sự việc, biết được Khánh Hữu lại
đầu thai đến một gia đình phú quý. Ông thì đầu thai đến một gia đình
trung bình, vẫn tu hành giữ thiện. Khánh Hữu sau này trưởng thành,
làm quan huyện trưởng, vẫn tàn ác với bá tánh, hoàn toàn không có
một chút buồn tủi, dựa vào quyền thế tham nhũng, vu lương thành
cướp. Vì ép buộc khẩu cung, đã móc đi hai con mắt của người ta; vì
một vụ án, chém mất đôi chân của người khác, Khánh Hữu sống thọ
đến tuổi thọ bảy mươi mấy, bị bệnh và qua đời. Lý Phúc do có trí tu
hành từ bi, đã tu đến ưu hồn có thể đi xuống âm phủ. Lý Phúc ngồi
thiền, lúc này, ông ta nhìn thấy Khánh Hữu sau khi chết, linh hồn đi
theo Khánh Hữu xuống gặp Diêm Vương. Lúc này khác với lúc trước,
Diêm Vương tiếp đến Lý Phúc trước rồi mới xử Khánh Hữu sau. Khi
thấy dưới tên của Khánh Hữu trong sổ, phước thiện đã hoàn toàn tiêu
hao hết. Lúc làm quan, móc mắt người ta, chém đôi chân người khác,
hai sự việc này, chỉ có thể lấy thân mà trả nợ, phán quyết Khánh Hữu
kiếp sau đầu thai đến một gia đình nghèo khổ, đôi mắt mù lòa, tàn tật
hai chân, mỗi ngày ra mặt đường ăn xin, khổ hết biết. Khi Lý Phúc
nhìn thấy Khánh Hữu có quả báo của ba kiếp, trong lòng sợ mất đi bản
tính mà phải tọa lạc sự luân hồi, nên kiên trì tu hành, độ kỷ độ nhân,
cuối cùng công quả thành tựu, đạt được chánh quả, vĩnh viễn thoát
khỏi khổ đau của sự luân hồi.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
————-
TỪ ÂN NGỌC LỊCH MINH KINH
LỜI TỪA CỦA TÔ LAN TỰ NHƠN THU
Kinh Ngọc Lịch nầy, gốc thầy tu hiệu Đạm – Si, gặp thần Phật truyền bổn nầy, về giảng cho đời hiểu. Sau truyền lại cho đệ tử là Vật Mê đạo nhơn (thầy tu để tóc) lưu truyền đã lậu, giảng điều quả báo minh bạch. 
Ngặt người đời, kẻ tỉnh ăn năn thì ít, mê mà không tin thì nhiều. Chê lành nhỏ mà chẳng làm, làm dữ nhỏ không sợ. Cũng có người: đã biết tội xưa, muốn chừa lỗi cũ. Chưa làm lành bao nhiêu, mà mong đặng phước gặp sẵn dịp dễ lắm liền cải lương tâm! Trách chi ông thánh nói: ‘Người khác hơn cầm thú có bao nhiêu! ‘ Thiệt là phải lắm. Coi các vị giàu sang trên đời, đều có căn lành theo Ngọc Lịch. Còn kẻ khó hèn, tuy tại tội kiếp trước, song cũng phạm trong Ngọc Lịch. Người sống bao lâu, ăn năn sao kịp! Kinh Diệc nói: ‘Coi làm việc lành, xảy gặp phước tốt ‘. Kinh thơ nói: ‘ Làm dữ cầu may ví như đạp nhằm đuôi cọp, hoặc đi trên giá mùa xuân, có khi tan ra nước mà sụp ‘. Lại nói: ‘ Làm lành, trời cho phước xuống, làm dữ, trời cho hoạ xuống ‘. Phàm làm người việc nào đã thấy trước con mắt chẳng sai, thì chớ lôi thôi lây lất. Tôi chưa dám chắc mình là không quê, song cầu cho khỏi tội nghiệp mà thôi. 
Niên hiệu vua Gia Khánh, năm Kĩ Mão thánh 11. 
lỜI TỰA CỦA KIM – DẦN Ở HUYỆN TIỀN ĐƯỜNG
Người quân tử lập thân, làm việc nào mà không lành. 
Miễn giữ theo lương tâm trời phú, cho khỏi tội với trời đất quỉ thần mà thôi. Nếu muốn làm gì thì làm, không sợ phép trời, chẳng tin báo ứng, thì càng ngày càng tệ, còn dạy nỗi gì? Tuy ông thánh nói: ‘ Làm lành trời trả phước, làm dữ trời trả hoạ. ‘ Họ nói: ‘ Lành không chắc phước, dữ không chắc hoạ ‘. Như vậy các án trốn khỏi lưới dương gian, chẳng là bỏ qua sao? Đời tệ như vậy, người quân tử mới giảng làm sao? Nay có kinh Ngoc-Lịch truyền ra, khắc bản tới lần thứ tư, dạy dự phòng nghiêm nhặt, giảng quả báo rõ ràng, ai đọc tới cũng giựt mình sợ tội. Làm lành tuy không cần phước mà có phước, làm dữ sợ hoạ cũng không khỏi. Nếu không biết kiêng có trời soi xét, thì làm dữ luôn luôn. Xem kinh nầy mỗi việc coi như có thần biên tội phước, ở phải thì ngó trời đất, mình cũng không hổ thẹn là đủ rồi. 
Niên hiệu Đạo -quang, năm Nhâm ngũ, tháng 9. 
LỜI DẶN CŨNG CỦA ÔNG KIM -DẦN
Kinh Ngọc -Lịch này, ghi xét công quả, phân biệt ngay gian,
linh hiển rõ ràng, quả báo trước mắt. Ai làm lành thì đặng phước, ai làm dữ thì mắc hoạ. Kẻ dữ mà ăn năn cải ác tùng thiện, lâu ngày cũng đổi hoạ ra phước. Lời dạy rẽ ròi, dẫu đàn bà con nít, nghe cũng hiểu mà giữ theo. Nếu ai không tin, gọi chuyện đặt điều, như phụ chiếc thuyền lành với mình cơn té sông, không chịu leo lên, thì phải bị chìm nơi biển khổ, sa Địa ngục đã lành rồi. Tôi ước ao cho các vị quân tử, để cuốn kinh này trên bàn, dựa đầu nằm, hằng ngày xem đọc, mắt thấy lòng ghê, thì răn mình không dám làm quấy. Như vậy thì hiệp theo lời thánh dạy, lành gặp phước, dữ mang tai. Nếu chừa lỗi làm phải cho trọn lành, tôi mừng giùm lắm. 
PHỤ TRẠ NIÊM HIỆU KINH NGỌC LỊCH
Thầy Đạm -Si là Hồ -Tăng sãi nước Hồ, nước Liêu. 
Tên Kinh -Ngô, năm canh ngũ, nước Liêu, niên hiệu Thái Bình thứ mười. Nhằm trào Tổng, vua Nhơn- Tông, niên hiệu Tiên -Thánh thứ tám, năm canh ngũ, ngày trùng cửu. Đạm -Si đi núi gặp kinh Ngọc -Lịch. 
KINH NGỌC LỊCH
ÔNG TỬ HOÀNG LÀ THẦN ĐÔNG NHẠC DẠY: 
Trời đất không tư vị, thần minh hay xét soi. Chẳng vị cúng tế mà cho lành, không trách thiếu lễ mà cho hoạ. Có quyền đừng
ỷ thế lắm, giàu sang đừng xài phí lắm, nghèo khó đừng dối trá lường gạt tham gian. Bởi vì ba bực ấy, trời sẽ cho luân phiên xây vần, giáp vòng trở lại banđầu như đồng hồ vậy. (Nếu có quyền mà ỷ thế quá, thì mau hết thế, tới thất thế sẽ bị báo cừu. Giàu xài phí quá thì hưởng mau hết phước, trở nên nghèo mà chịu khổ. Còn kẻ nghèo nếu biết kiếp trước tội nặng, nay chịu trả quả, phải ăn năn thủ phận không dám làm quấy, hết vận bỉ, tới vận thới, trời cho trở nên khá nếu liều mạng gian tham,
trí trá lường gạt giựt của chúng, là buộc thêm tội, trời phạt chồng án tới già, e để hoạ dư cho con cháu khổ nữa, vì phạt dời mình chưa hết). Cho nên mới làm lành một ngày, tuy phước chưa tới, mà hoạ đã lánh xa (như tai qua nạn khỏi). Hoặc mới làm dữ một ngày, tuy hoạ chưa tới, mà phước đã lánh xa (như sẽ gặp) sự may, mà khiến ăn trược). Người làm lành như vườn cỏ mùa mưa, tuy chẳng thấy lớn, mà càng ngày tốt tươi. Người làm dữ như đá mài dao, tuy chẳng hao, mà càng ngày mòn mổi. Phải nhớ mà răn lòng điều nầy, đừng làm những việc tốn của người cho đặng lợi mình, phải cữ kiêng cho lắm. Thà làm một mảy lành, tìm phương giúp cho tiện sự người cơn bất tiện. Khuyên người chớ làm một mảy dữ. Ăn mặc tuỳ theo bổn phận, độ cho vừa sức mình tự nhiên vui vẽ, lựa là còn số mạng làm chi? Xin xăm sủ quẻ bói khoa, mà hỏi hoạ phước làm chi? Ta nói sự hoạ phước, chắc cho đời rõ như vậy ; khinh khi gạt người thì mắc hoạ, độ lượng rộng và hay dung người thì đặng
phước. Nếu nghe lời ta mà ở theo, quỉ thần kính phục, thiên hạ kiêng vì. 
BÀI BỬU CÁO DẠY BÁO ÂN
của Huyền Thiên Thượng Đế
Nếu đọc tụng, chừa các điều dữ, làm các điều lành thì khỏi hoạ. 
Lạy ba lạy rồi tụng, hết rồi cũng lạy ba lạy. Huyền nguơn ứng hoá. Võ khúc phân chơn, Thuỳ niệm ngã đẳng chúng sanh, hữu tướng thoát sanh phụ mẫu. Hoài đam thập ngoạt, nhủ bộ tam niêm, Tân khổ bá thiên, ân cần khốn niệm. Liên ngã phụ mẫu, nhựt tiệm suy hủ. Ngã kim trị niệm bình đẳng, tất diệt hiểm tuấn tham sâu, kỳ ân báo bổn. Nguyện ngã, hiện tại phụ mẫu, phước thọ tăng diên. Quá khứ phụ mẫu, tảo đắc siêu sanh. Đại thánh đại từ, đại nhơn, đại hiếu. Bát thập nhị hoá, báo ân giáo chủ hưu thành chơn với trị thế phước thần, ngọc hư sư tướng, Huyền thiên thượng đế kim huyết hoá thân, chung kiếp tế khổ thân tôn. Giải nghĩa kinh Báo ân của Huyền thiên thượng đế. 
Đức Huyền thiên thượng đế, thương chúng tôi có cha mẹ ơn mang mển mười tháng, cho bú ba năm cay đắng trăm bề tấc lòng lo lắng nuôi con. Nay thương cha mẹ tôi càng ngày càng già yếu tôi nguyện tụng kinh này, thì lòng ở công bình ngay thẳng bỏ lòng độc hiểm, tham lam, giận hờn. Thờ Đức Huyền thiên thượng đế làm thầy: lại tụng cầu cho cha mẹ mà báo ân cội rễ. Nếu cha mẹ tôi còn sức khoẻ thì đặng sống lâu, nhờ trời thêm tuổi: còn như có mãn phần rồi thì được siêu thăng. 
(từ ấy sắp sau là phước ngài dài lắm).
———-
MƯỜI ĐIỀU CẤM CỦA ĐỨC VĂN – XƯƠNG ĐẾ – QUÂN
1.___ Cấm chẳng ngay chúa (chủ), chẳng thảo cha mẹ bất nhơn, phi
nghĩa. Phải ngay chúa, thảo cha mẹ, ở thiệt tình với người. 
2.___Cấm không đặng tính mưu kế lấy của người cho lợi mình. Phải
làm âm chất (âm đức) mà cứu giúp thiên hạ. 
3.___ Cấm đừng sát sanh mạng vật mà ăn, nếu trùng kiến vô cớ cũng đừng sát hại, là lòng nhơn với vật mọn. 
4.___ Cấm tà dâm hoa nguyệt, giữ giới kỳ, là kỉnh
vía thần. 
5.___ Cấm không đặng phá việc tốt của người, cho thất công người. 
Đừng làm cho rời rã ruột thịt của người. Phải giúp bà con mình, anh chi em cho hoà thuận với nhau. 
6.___ Cấm nói dèm siểm, chê bực tài hiền. Không đặng kiêu ngạo
khoe mình, phải khen tài năng sự phải của người. Còn mình có công lao không khoe, dùng xưng mình (giỏi khiem).
7.___ Cấm say rượu, phải cữ thịt trâu, thịt chó. Phải ăn đồ hiền kiêng đồ độc, theo cách vệ sanh cho khỏi bịnh. 
8.___ Cấm tham lam không nhàm, bỏ đãy buộc chặt không bố thí. 
Phải giữ chữ cần kiệm, có dư mà giúp kẻ nghèo. 
9.___ Cấm kết bạn với kẻ quấy, hoặc ở xóm tiểu nhơn, gần kẻ nết xấu, phải thân với người tài đức mà bắt chước. 
10.___ Cấm không đặng bạ nói bạ cười, làm điều trái lẽ. Phải giữ mình ít nói, giữ theo đạo nghĩa đức hạnh mà ở. 
———–
ĐỨC VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN DẠY RẰNG: 
Loạn luân là bà con lấy nhau, phạt đoạ ngục Vô gián bị hành bào lạc
1.5OO lần, vì tội loạn luân nặng hơn tội tà dâm với người ngoài. (Bào lạc là cột đồng trống ruột cao 20 thước, đổ lửa than trong ruột cột đồng đốt cho đỏ, rồi quỉ sứ xiềng hồn tội cho ôm cột đồng mà đẩy lên, cháy tiêu thành than rớt xuống lại
huờn nguyên hình như trước mà hành nữa cho đủ 1.500 lần). Nếu ai biết ăn năn trước, thì chừa lỗi, làm công mà chuộc tội, đừng phạm tội loạn luân dâm ác nữa. 
Còn kẻ văn học đặt tuồng hoa nguyệt cho hát bộ hát, bài ca dâm, thơ dâm vẽ hình
tục tĩu, hoặc in mà bán, làm cho ngươi tập thói dâm, hại hư phong hoá, hoặc
mướn hát tuồn dâm, đều bị tội nặng, thác cầm vào ngục Vô gián (Vô gián nghĩa là
không hở). Giã, rồi xay, rồi bào lạc, rồi nấu dầu, hàng xây vần hoài không hở. 
Gái trai hành nhu8 nhau. 
Thầy Liên Trí hoà thượng nói: ‘ Ai thấy tuổng dâm truyện dâm, hoặc đọc lời hoa nguyệt, xem hình ảnh tục tỉu, đều động tâm sanh ra dâm loạn. Những tuồng dâm như truyện Tây sương ký, đặt chuyện Trương quân Thoại với Thôi -Oanh -Oanh mà hát cho đời mê mẫn, thiệt không phải người tài tử với giai nhân mà làm nết xấu nguyệt hoa như vậy. Nếu các viên quan có quyền thế, đốt tuồng truyện
ấy, hoặc huỷ diệt đi, thì được phước lớn vô cùng. Còn con người ai cũng muốn sống, vật nào cùng sợ chết, nỡ nào giết nó ăn thịt cho bố mình, đành đoạn chặt đầu lột da, thọc huyết cắt cổ, nhổ lông đánh vảy, bằm xắt luộc nướng, đau rát khó kêu oan! Làm tội ác mà gây oan báo muôn đời, đến thác bị hành tội rồi còn phải đầu thai mà thường mạng nhiều kiếp. Sau đặng làm người, tật bịnh chết yểu, hoặc bị hùm tha rắn cắn đau bịnh hành hình thuốc độc, vân vân, đều bởi hay sát sanh mà khổ đó. Nay ta khuyên đời, chẳng phải biểu ăn chay trường hết, song khuyên trước cữ sát sanh. Nhà nào cữ sát sanh thì thần phật phò hộ, khỏi tai hoạ, ít bịnh, sống lâu, con thảo cháu hiền, đặng các điều may phước lớn, kể chẳng xiết. Nếu có của dư phóng sanh. thả rùa trạch chim cá, tụng kinh niệm Phật chẳng những hưởng phước thọ mà thôi, thác hồn được lên thiên -đường, hoặc về Tây – phương, khỏi luân hồi nữa, có đâu sa Địa ngục mà chịu hành hình. Ai có phước thấy lời ta khuyên, mau hồi tâm chừa dữ làm lành cho sớm, đừng để gần thác ăn năn không kịp Nếu làm chẳng đặng, cũng rán khuyên người ‘.
———–
LỜI BỬU – HUẤN
của Ông Lữ Tổ (Lữ – đồng – Tân) giáng cơ: 
Con người linh hơn muôn vật. Sao người đời không biết thân mạng. Cứ biết một sự dâm ác. Sự dâm ác dầu vua chúa quan dân xưa
nay đều bị hư hại, vì dâm ác mà quên nước, quên nhà, quên danh, quên mạng, không kể gươm đao nước lửa mà theo dâm ác, không cần thể diện, tội phước hại đến chừng nào! Đức Văn -đế chỉ dụ: ‘ muôn tội
dữ, án tà dâm, đứng đầu! ‘ Lạy dạy rằng: ‘ Nếu có dâm ác thì hư trăm việc ‘. Hai câu ấy thật hay lắm, quả lắm? Người đời thái quá tới loạn luân không cần lớn nhỏ cũng vì thói tà dâm! Không kể thân mạng, thể diện, danh giá, tiền của cũng vì tà dâm! Không rõ vì cớ nào thói tà dâm
truyền nhiễm khắp thế gian như vậy! Song bọn ấy có kẻ mắc hoạ, có kẻ tuyệt tự, xuống âm ti còn bị ngục hình, Các người giữ lòng tự nhiên sạch, mới là đáng bực anh hào. Chẳng nói làm chi đến bực thượng sĩ là
khó đặng, miễn các người chừa lỗi cũ, thì thờ thần cầu vái mới linh, khỏi thác yểu cho trọn danh con thảo, và dạy con cháu em út tập theo gương
tốt của mình. Lời ngay phái chịu nghe, thuốc đắng phải lo uống. Các đệ tử khá nhớ đừng quên! Nếu mình ngay khỏi phạm thì biên lời ta khuyên đây mà dán trên vách cho em út con cháucoi, kẻ khác cũng thấy mà sửa nết. 
Thương mạng vật thì sống lâu. Tiếc cơm gạo mà giàu được. Trọng
giấy chữ thì làm quan. Dè lời nói thì đặng phước. Làm gương tốt cho cháu con. Đừng phạm tội nơi trời đất. 
LỜI DẠY CỦA CỬU – THIÊN TƯ -MẠNG TÁO -QUÂN
Ta tuy coi sổ cái tại Cửu thiên, mỗi năm 24 tháng chạp tâu một kỳ. Song mỗi nhà điều có Táo quân thay mặt cho ta, mỗi tháng chạy tờ công quá mỗi người cho ta gài vào sổ chánh. Ta chẳng nỡ cho đời phạm tội vì lầm lỗi, nên dạy sau đây: Cấm đốt giấy chữ trong bếp, vì sợ tro ấy nữa đổ nhằm chỗ dơ. Cấm ca, khóc, hoặc chửi rủa, mắng nhiếc trong bếp. Chẳng nên đâm hành tỏi trong bếp, hoặc bửa củi trước bếp. Cấm bỏ lông gà, xương thú, củi dơ trong bếp (ngồi chồm hổm ngay bếp), hoặc quét động vô bếp. Cữ ăn thịt trâu, thịt chó, thì trong nhà bình an. Nếu ai loã lồ trong bếp, thì phạt nặng. Nhứt là cấm gõ gạc trên bếp, cạo dẫy chảo nồi trên bết. 
TÍCH ĐÔI LIỄN ÔNG QUAN – ĐẾ
Tại phủ Hàng châu, tỉnh Chiết giang, có người Tú tài
Trương đại Mỹ, ở phía tả núi Ngô san, thuật chuyện rằng: Hồi ta tắt hơi, hồn đến ngoài thành Phong đô vào lạy Quan đế mà khóc. Quan đế hỏi: ‘ Tới số thì thác, lạy khóc ích chi? Ta bèn tâu: ‘ Tôi cũng biết thác rồi không lẽ sống lại song thương mẹ già không ai nuôi, nên đau lòng mà khóc. Quan đế nói: ‘ Như vậy để ta tâu cho “. Giây phút kêu ta mà nói: ‘ Ta đã tâu rồi, Thượng đế khen ngươi có hiếu, cho sống thêm một kỷ (12 tuổi).’ Liền cho ta uống một chén nước trà dạy rằng: ‘ Chùa ta khắp trong thiên hạ treo liễn rất nhiều, song không vừa ý ta, nên ta đặt một đôi liễn như vầy đây, ngươi coi cho nhớ, về mà truyền thiên hạ ‘. Ta coi thấy: 
Số định tam phân, phò Diêm hán, tiễu Ngô phạt Ngụy, tân khổ dị thường, vị liễu bình sanh sự ngiệp ;
Chí tôn nhứt thống, tá Hi triền, phục ma đảng khấu oai linh phi chấn, chỉ huờn đương nhựt tinh trung. 
———–
Thích nôm: 
Số trời định ba phân phò Diêm hán, đánh Ngô dẹp Nguy, cay đắng nếm đều, sự nghiệp bấy lâu chưa dứt. 
Lòng ta thâu một mối, giúp Hi triều, trừ yêu dẹp loạn, oai linh dậy khắp,
tình trung thuở ấy vừa xuôi. 
Ta đọc thuộc rồi, lạy tạ ơn Quan đế cho hồng ta về nhập xác, sống lại biết đã liệm rồi. Ta liền kêu lớn, bảo giở nắp săng cho ta ra. Ra rồi thuật chuyện vân vân, té ra quên hết nửa câu liễm trước! Cặp con mắt lại không thấy đường! Giây phút nghe gõ cửa, mẹ ta chạy ra trước thấy người bận áo xanh, đưa phong thơ mà nói rằng: ‘ Xin trao thơ nầy cho con bà xem ‘. Mẹ ta nói: ‘ Con tôi bịnh con mắt, coi thơ sao đặng? ‘
Người áo xanh nói: ‘ Ấy là toa thuốc, bà trao cho mau ‘. Mẹ ta đem vào trao liền. Ta xé thơ ra xem thử thấy chăng? Té ra mắt sáng như xưa, coi rõ là nửa câu liễn trước? Kẻ xa người gần, đều lấy làm lạ! Hứa triệu Đình ở Nhơn hoà nghe ta đọc liền biên đôi liễn ấy, khắc treo tại chùa Ông núi Ngô san, lại có khắc một tấm bảng thuật chuyện sự tình đôi liễn, mà treo trước cửa chùa, cho kẻ có hiếu xem, kẻ bất hiếu biết chừa lỗi. Xin rán lưu truyền. 
KINH NGỌC – LỊCH của Thập ư Vương dọn kiểu, Thượng đế có phê, cho truyền trung giới, cải ác tùng thiện. 
Nguyên ngày ba mươi tháng bảy. Địa Tạng vương bồ tát ăn vía sanh, bởi ngài làm chức U minh giáo chủ cai trị mười vua thập điện. Nên bữa vía ngài, thập vương với các vị thần đều đến chầu mừng. Địa Tạng vương phán rằng: ‘ Ta muốn siêu độ chúng xanh, nên mỗi năm ngày vía nầy, ta truyền ân xá các phạm tội nhẹ được đầu thai, tội nặng thì giảm bớt. Ngặt người đời làm lành có ít, làm dữ rất nhiều, ta thấy thập vương các ngục hành hình thảm thiết! Vậy phải tra xét cho kỹ, những ai tại dương thế biết ăn năn chừa lỗi, có khuyên đời làm một hai điều lành, thì trừ bớt tội cho nó ‘. Thập vương tâu: ‘ Chúng tôi y luật hội nghị ‘. Nếu ai làm lành tự nhỏ đến già, thì đưa lên cõi thần tiên. Còn kẻ nào công quả bằng nhau, khỏi hành tội, đặng đầu thai kiếp khác như thường. Nếu công ít, quả nhiều, thì hành tội tuỳ theo dư quá nhiều ít, rồi cho đầu thai kẻ khó hèn. Nếu biết chừa lỗi làm lành kiếp sau sẽ cho đầu thai hưởng phước. Nếu còn làm dữ nữa, sẽ bắt xuống hành hình, rồi cho đầu thai cùng khổ đáo để, sống chịu hoạ tai, đến thác sẽ giam vào Địa ngục không đặng luân hồi nữa. Còn kẻ quá ít, công nhiều, trừ còn dư công, thì đặng đầu thai hưởng phước giàu sang trường thọ. Trừ ra tội bất trung là phản chủ, bất hiếu với ông bà cha mẹ, hoặc là liều mình (tự vận), hoặc sát sanh thái quá không tin luân hồi báo ứng. Cứ nói theo tục ngữ: ‘ Người thác thì hồn phách tiêu tan hết, bỏ xác thúi rồi, còn hồn đâu mà bị hành tội nơi âm phủ. Thường thấy người sống bị tội, nào thấy ma chết mang gông, chết rồi thì thôi, còn biết sự gì nữa! ‘.
Mấy lời ấy quê lắm! Tuy thác thời bỏ xác, chớ linh hồn con hoài, sống làm dữ bao nhiêu, thì thác bị hành tội bấy nhiêu. Mấy kẻ bày đặt nói trước, cho người không tin âm phủ, thì đã bị Vô gián địa ngục, không đặng đầu thai. Người đời tuy thấy kinh sách tam giáo giảng dạy, song không tin, rất uổng công tiên Phật thánh thần dạy bảo. Trăm người không có một người tin mà cải ác tùng thiện, nên phải lập thêm địa ngục mà hành hình mới đủ. Nay Bồ tát thấy vậy mà thương, truyền chỉ thế giảm. Chúng tôi cũng vưng lời, cho các người dữ chịu hồi tâm, ngày vía Bồ -tát với các ngày vía chúng tôi, ăn chay thệ nguyện thiệt tình ăn năn, cải ác tùng thiện, không dám làm dữ nữa, rán sức làm một điều lành chi đó, sau thác xuống hồn khỏi bị hành tội. Trừ ra tội tôi chẳng ngay, con chẳng thảo, hoặc giết mình, hoặc làm mưu mà gạt người lương thiện đến nỗi phải bị trời đánh, chết trôi, chết thiêu, cọp ăn, rắn cắn, thì hồn xuống âm phủ phải chịu hành phạt, song cũng chế giảm một bực vì sự ăn năn chừa lỗi. Nay chúng tôi truyền các phán quan biên hết các sự tội phước, sống làm điều lành nào, mà được phước chi, làm điều dữ nào, thác bị hành ngục chi, ai ai nghe qua cũng hiểu, để dưng cho Bồ -tát xem. Đợi gặp ai cho đức hồi dương, sẽ lưu truyền cho thiên hạ ‘.
Khi ấy phán quan điện nào, biên theo điện nấy, thành ra bổn Ngọc -lịch, dưng cho Địa -tạng vương xem, Ngài khen hay. 
Qua mùng ba tháng tám, Người với thập vương chư thần đồng dưng Ngọc -lịch cho Thượng -đế ngự duyện Thượng -đế phán rằng: ‘ Hay lắm! Từ nầy chư thần rán xem xét, người đời nguyện chừa lỗi không phạm nữa, làm một sự phước thì cho trừ hai tội cũ, năm điều phước cho trừ hết tội xưa, lại đặng ghét làm siêu độ cho thân quyến nữa, trai đặng đầu thai phú quí, gái đặng đầu thai làm trai Thành hoàng Táo thần tuân chỉ ‘.
———–
VUA TẦN QUẢNG NGỰ ĐIỀN THỨ NHỨT
Làm điều lành nào, được thưởng phước,kể ra sau đây: 
1. Lượm giấy chữ nho, đốt trong trả, đổ tro xuống sông, thì được con thảo cháu hiền. Nếu đốt trong bếp thì có tội. 
2. Đốt các thơ truyện hoa nguyệt, cho khỏi hư phong tục, hoặc làm lành làm phước, đều hưởng phước và sống lâu. 
Làm điều dữ chi, phạt tội gì, kể ra sau đây: 
1__ Liều mạng giết mình, cho người mắc hoạ phạt làm ngạ quỉ (ma đói).
2__ Các sãi ăn của thập phương mà tụng kinh thiếu, hoặc chịu của người công đức mà tụng kinh thiếu, đều phải tụng bổ lại. 
Tần quảng vương cầm sổ sống thác, trị việc âm phủ. Đền ở tại dưới biển lớn, chánh hướng tây theo đường Hắc đạo suối vàng. Phàm người lành mãn phần, thì cho người tiếp dẫn lên Thiên đường, hoặc về Tây phương. Còn ai công quả bằng nhau, thì qua cửa thứ mười cho đầu thai hoặc gái làm trai, hoặc trai làm gái, mắc nợ nần thì trả quả cho nhau. Nếu công ít quả nhiều, thì dẫn ra phía hữu cái đền, lên đài Nghiệt Cảnh mà soi. Đài cao 11 thước mộc, treo kiếng lớn mười ôm, day mặt qua hướng đông, trên đề bảy chữ rằng: ‘ Nhiệt cảnh đài tiền vô hảo nhơn ‘. Các hồn soi thấy bình sanh việc chi, đều ứng đủ lớp lang như hát bóng,
nên chối không được. Tới đó mới hay rằng. ‘ Muôn lượng vàng ròng đem chẳng đặng, cả đời bản có tội theo mình ‘. Soi kiếng làm án rồi, sai quỉ giải hồn qua cửa thứ nhì, cầm ngục hành tội. Người không kể cha mẹ sanh thân vì sự tức mà tự vận thắt họng, trầm mình, uống thuốc độc, hoặc kiếm cớ chi mà liều mình, không đợi tới số đòi hồn mà chết về nghiệp giết mình (trừ ra vì trung hiếu tiết nghĩa mà giận lẫy, hoặc bị phạm tội sợ hành, tội chẳng đến chết, hoặc muốn liều mạng mà hại người mắc hoạ: làm như chơi mà ra chết thiệt cho người mắc hoạ: các hồn chết về nghiệp ấy, Táo quân với chư thần, bắt hồn giải đến cửa đền nầy, giam vào ngục ngạ quỉ, gặp ngày tuất ngày hợi, thì phải làm cách
liều mình ấy, cầm 70 ngày, hoặc một hai năm, rồi dẫn hồn về ở chỗ liều
mình gia quyến có cúng thì được về ăn, đốt vàng bạc giấy áo thì đặng
lãnh. Nếu biết lỗi không hiện hình nhát người, hoặc không bắt ai mà thế, đợi mấy người trên Dương gian bị làm nhơn mạng đặng khỏi hoạ, thì chư thần giải hồn ấy đến đây, sẽ giải qua cửa thứ nhì tra công quả, nếu trừ rồi dư quá bao nhiêu thì hành tội và giải qua cửa khác hành nữa. 
Còn khi sống mà lòng mong liều mạng đặng hại người, hoạc hăm làm nhơn mạng cho ai, tuy liều mình mà chưa chết, cũng ghi lòng tội hành hình, tu có làm lành cũng trừ tội ấy không đặng. Lúc hồn còn ở chỗ liều
mình, mà hiện hình làm ma nhát cho chúng sợ mà chết, thì sai quỉ mặt xanh nanh vút bắt hồn xuống hành tội cho đến kiếp, rồi cầm ngục mãi không cho đầu thai. 
Còn các thầy chùa, thầy pháp, thầy tu, người ta mướn tụng kinh mà tụng thiếu sót, chừng hồn xuống đây phải ở sở bở kinh, chỗ ấy có đủ thứ kinh, cho đèn lưu ly mờ mờ, mà tụng cho đủ các chỗ thiếu hồi đó. 
Dầu thầy chơn tu cho mấy cũng phải bổ cho đủ vì tiền người. Nếu kẻ tu tại gia tụng cho mình, có sái chữ đọc thiếu cũng không chấp, trọng tại có lòng thì đặng phước khỏi tụng bổ. 
Ngày vía vua Nhứt điện là ngày mồng một tháng hai, nếu ngày ấy ai ăn chay, đặt bàn trở về mặt hướng bắc, nguyện không làm các điều dữ, đọc trải qua bài này một bận, hoặc in Ngọc lịch mà cho thiên hạ, cải ác tùng thiện, đến mãn phần trăm sai thanh y đồng tử rước hồn đem về Tây phương. 
———–
VUA SỞ GIANG NGỰ TẠI ĐIỆN THỨ NHÌ
Các điều lành đặng phước, kể ra sau nầy: 
1. Bố thí cơm cháo, được hưởng phước giàu có
2. Thí thuốc cứu người, đời đời giàu sang. 
Các điều dữ bị hành tội, kể ra sau nầy: 
1.Ban đêm tính việc quấy, phạt vào ngục Hắc vân sa cho mây đen đè mình, vùng không đặng. 
2. Các viên quan ăn hối lộ, đánh ép kẻ ngay, bắt chịu án oan, phạt
giam hoài trong tù xa, ló cổ ra mà chịu. 
3. Dỗ dành con nít làm quấy, bị cầm ao giá lạnh. Sở giang vương ở dưới đáy biển nam, địa ngục rộng năm trăm dặm do tuần, gồm 16 cái
ngục nhỏ, kể ra đây: 
1. Ngục Hắc vân sa
2. Ngục Phẩn thỉ nê, Phẩn
3. Ngục Ngũ xa, đâm
4. Ngục Cơ ngạ, đói
5. Ngục Tiêu Khát, khát nuớc
6. Ngục Nung huyết, máu
7. Ngục Nhứt đồng phủ, 1 chảo đồng
8. Ngục Đa đồng phủ, nhiều chảo đồng
9. Ngục Thiết đối, cối xay sắt
10.Ngục Bân lương, đong lường
11. Ngục Kê trác, gà mổ
12. Ngục Khôi hà, ao tro
13. Ngục chước triệt, chặt khúc
14. Ngục Kiếm diệp, gươm lá
15. Ngục Hồ lang, cáo, chó sói
16. Nguc Hàng băng trì, ao giá
Nếu phạm tội dụ dỗ trẽ nhỏ, cạo đầu vô chùa làm sãi, làm cô vải ;
hoặc còn nhỏ tự ý cạo đầu vô chùa đi tu bỏ cha mẹ, mang tội bất hiếu ;
hoặc ai gởi thơ (kinh sách) hoặc đồ đạc, cố ý nói làm mất mà làm của
mình hoặc làm hại tai mắt tay chưn người ; không biết coi mạch làm thuốc bướng hại người mà lấy tiền: hoặc nhà giàu bất nhơn mua mọi gái, sau người chuộc lại mà không cho: hay là làm mai ham ăn của mướn giáu tuổi, tráo tuổi, rõ biết gái trai có tật bịnh, gian giảo, mà nói
gạt người sau chúng nó bị tức tối: các tội kể trên đó, tuỳ theo nặng nhẹ, giam vào 16 ngục hành cho đáng kiếp, rồi giải qua cửa thứ ba hành nữa. 
Nếu ai giảng Ngọc lịch, hoặc in cho thiên hạ, hoặc thấy kẻ bịnh nghèo mà cứu giúp, hoặc bố thí cơm cháo gạo tiền, hoặc biết ăn năn chừa lỗi, thì cho trừ tội trước khỏi tính trước khỏi tính, được qua cửa thứ
mười đi đầu thai làm người. 
Nếu cữ sát sanh, cấm con cháu không giết trùng dế và đến mồng
một tháng ba là ngày vía trẫm ăn chay nguyện phóng sanh, sau khỏi bị
đoạ địa ngục được qua cửa thứ mười đầu thai hưởng phước. 
Xưa nay lượm giấy chữ thì sống lâu, ai cũng rõ biết. Nếu đạp giấy chữ,
chẳng hề hưởng giàu sang phước thọ bao giờ. Như việc buôn bán đồ thiệt tốt giá vừa phải thì nhiều người mua,lựa phải dán lời rạo, vậy cho chúng tin miếng giấy áp tới mua nhiều sao? Huống chi dán nơi vách tường, mặt chợ mới, coi tử tế, lâu gió mưa rớt xuống bùn lấm ướt nhẹp,
kẻ muốn lượm cũng không thể lượm được. Cho đến chỗ dơ, thấy đầy những cán dù, cán viết, miểng sành, giầy guốc, đều cũng có chữ trong đó, kẻ trong chữ nghĩa, cũng không thế lượm cho hết. Nên ta khuyên đời phải xét cho kỹ, mà khuyên nhau rằng: ‘ Giàu nghèo có phần số mạng, không phải tham mà đặng nhiều. Muốn đặng phước thì trước đừng làm tội. Nếu làm tội như vậy sao đặng nên giàu có? Nếu tin lời ta,
thì đừng dán lời rao chữ nho. Các món vật dụng đừng viết nho in chữ nho vào đó. Tự nhiên không cầu lợi mà lợi nhiều, chẳng cầu phước mà phước đến, là vì trọng chữ nho, không đụng đâu để đó. 
———–
VUA TỐNG ĐẾ NGỰ ĐIỆN CỬA THỨ BA
Làm lành được phước: 
Làm cầu, sửa cho thiên hạ đi, thần thường phò hộ. 
Làm dữ phạt tội: 
1. Giết người mà cướp của, bị cọp nhai
2. Đoạt thơ của người không đem tới, bị bắn. 
3. Làm mưu giết chồng, hại chồng bị phân thây xẻ thịt. 
4. Đốt nhà hoặc săn bắn bị bào lạc. 
Tống đế vương, đến tại đáy biển đông nam. Địa ngục rộng năm trăm dặm do tuần, chia ra 16 ngục nhỏ, kể ra sau nầy: 
1.___ Ngục hàm lỗ nước mặn. 
2.___ Ngục mà huờn dà nu, gông xiềng. 
3.___ Ngục xuyên lặt, đục sườn. 
4.___ Ngục đồng thiết, quát hiểm, nạo mắt. 
5.___ Ngục quát chỉ, nạo mỡ. 
6.___ Ngục kiềm sài tâm cang, móc gan tim. 
7.___ Ngục khối nhãn, móc mắt. 
8.___ Ngục sản bì, lột da, căng da. 
9.___ Ngục nguyệt túc, cưa cẳng. 
10.___ Ngục bát thủ cước giáp, rút móng. 
11.___ Ngục hấp huyết, hút huyết. 
12.___ Ngục đảo điêu, treo ngược. 
13.___ Ngục phân ngung, sả vai. 
14.___ Ngục thơ hoa, ăn giòi tửa. 
15.___ Ngục kích tất, đập đầu gối. 
16.___ Ngục ba lâm, mổ trái tim. 
Làm quan không biết ơn vua, không đạo tôi: dân không lo sưu thuế cho nhà nước: vợ phụ bạc chồng, lộn chồng bỏ chồng, trốn chồng hỗn với chồng, hồi nhỏ cha mẹ đã chịu cho người nuôi làm con, lớn bỏ cha mẹ nuôi mà cãi họ lại, đầy tớ phản chủ thơ -kỳ quân lính ở bạc với người làm đầu (quan thầy của mình): kẻ làm công ăn gian chủ tiệm ; tù vượt ngục, bị đày mà trốn, hại người bảo lãnh và quan cai trị trong sở, hoặc làm cho người thân bị khổ ; không biết ăn năn chừa lỗi, trừ công còn dư quá thì hành ; cứ theo địa lý để quân lâu, hoặc cữ không cho làm mả, hoặc bày cải táng đào mả lấy cốt tồi tàn, hoặc không đắp mả ông bà cha mẹ để loạn lạc (xiêu mồ lạc mả): dụ người làm phạm luật ; xúi chúng kiện cáo làm thơ rơi giấu tên, hoặc dán lời kiêu ngạo mà giấu tên, hoặc dán lời nói xấu tiết cho con gái, phá đám hôn nhơn (cưới hỏi) mà giấu tên ; hoặc viết thơ hồi, tờ để: làm giấy tờ giả mạo ; đòi tiền bán chịu rồi mà chẳng dỉ sổ, hoặc trả nợ rồi mà không cho giấy không xé giấy: tập ký tên giả, khắc con dấu giả ; sửa số bạc tiền trong giấy tờ, đều làm hại người, các tội kể ra đó, tra ra nhẹ nạng, sai quỉ Đại lực giam vào khám lớn, tùy theo tội, dẫn vào các ngục nhỏ hành cho đủ số rồi giải qua cửa thứ tư mà hành theo các ngục khác. 
Nếu ai nhớ ngày vía trẫm, là mồng 8 tháng 2 hay ăn chay nguyện vái không phạm các tội kể trên đó nữa lo việc làm lành mà trừ, sau thác xuống khỏi bị ngục nầy. 
Thầy Nguơn Hiền thiền sư đặt bài khuyên đừng ủ con gái. Mạng người là trọng, nên phép nước nghiêm trị việc án mạng (nhơn mạng). Nếu làm mưu làm hại oan, dẫu trốn khỏi tội Dương gian trời cũng hại mau lắm. Bởi cái mưu giết người, là lòng độc ác, mang tội nghịch thiên là trái lòng ưa sống của trời. Kíp chầy cũng trả chẳng tha. Người đời làm cho loại chí một hồi, sau an8 năn không kịp. Nay nhiều kẻ phạm tội dương gian âm phủ, nhứt là tội ủ con gái! hoặc ủ con chửa hoang! Tuy việc ấy là kẻ ngu hay làm, song quen thói rồi, nhiều nơi bắt chước. Bởi cớ ấy trời bớt số giảm kỷ, hoặc phạt cùng mạt tuyệt tự (không con trai). Nói chi đầu thai kiếp khác thường mạng là luật chung. Nghĩ thử nó đầu thai làm con, mà đền ơn cho mình, nỡ nào mà giết con cho đành đoạn? Huống chi kẻ vô hậu, cầu có chút gái còn khó thay, như vậy đủ biết phước nhiều thì có trai, phước ít mới có gái, còn vô phước thì không có con chi hết. Mình phải răn lòng sát hại làm phước mà cầu trời cho sanh trai, vì muốn kế tự, thì phải tu nhơn tích đức. Độc ác con gái chửa hoang, sanh ra thì quyết giết! Sao không biết xét, rất đỗi kẻ vô hậu còn nuôi con nuôi thay! Huống chi máu thịt của mình trong bụng sanh ra, cũng lập thế mà nuôi như kẻ nuôi quá phòng vậy, thì khỏi mắc oan nghiệp. Nếu không chừa lỗi độc, thì bị tuyệt tự, trông chi sanh đặng con trai. Người quân tử có nhơn, rán khuyên đời mà cứu nhiều mạng, thì âm đức lớn lắm. 
———–
VUA NGŨ QUAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ TƯ
Làm lành hưởng phước: 
Thí quan tài và đồ liệm, thì nhà có thần phò hộ. 
(Phong Sắc xin thích nghĩa khoảng nầy: bởi kinh Ngọc lịch tàu có in hình, khoảng nầy có vẽ cái trại thí hòm, có chất hòm, nhiều người đến khiêng những hòm thí. Các sãi dốt không biết, bổn đạo thấy vẽ hình như thế, thì hỏi hòm gì nhiều vậy? Sãi dốt nói bướng rằng: Ai chết rồi hồn phải đem cái hòm của mình mà nạp cho vua Tứ điện. Nên chôn hòm nhẹ, dễ nạp, nếu hòm lớn khổ cho vong hồn đẩy không nổi! Bó bảy tấm vạc nhẹ nhàng dễ vác! Ôi, bổn đạo quê cũng nghe theo lời ấy, mà trối với con cháu, sợ chôn hòm lớn! Lưu truyền lời phi lý tới nay! Vì sãi dốt bày nói sàm một chút, để hại kẻ dốt muôn đời! Sao không biết xét cho kỹ vua thứ tư thâu hòm ấy mà làm chi? Mấy muôn triệu hòm chỗ đâu mà để? Vả lại hồn ma mà chuyển vận đồ hữu hình sao đặng, gọi đẩy hòm nạp quách là nghĩa gì? Nếu cực khổ như vầy sau còn gọi kẻ thí hòm được phước có thần lành phò hộ? như vậy một lời nói bậy, tổn đức biết chừng nào? Làm cho kẻ dốt nghe lầm, chôn cất tức tưởi không ấm cúng! Muốn cho kẻ dốt khỏi lầm, nên tôi phải giải cho rành, may người dốt tỉnh lại. Nếu nạp hòm hết, sao lại lấy cốt còn hòm??? )
Làm các điều dữ mắc những tội, kể ra sau đây: 
1. Giạ già giạ non, đong nhẹ đong nặng, lòn thăng tráo đấu gian lận, hoặc bán lúa tưới nước, đều bị cối đạp giã, cho chó ăn. 
2. Cân lận, bị móc lưng treo hoài. Đo lận cũng phạt vậy. 
3. Không kính người lớn tuổi, già cả, lường gạt giựt của người, vay mượn chẳng trả, du thủ du thực hoang đàng, không giữ bổn phận, háo sắc tà dâm, lấy vợ người, ngoại tình huê nguyện, ngã mặn và tội ăn vụng, say rượu, bài bạc, trùm đĩ nhà chứa điếm, rủa chửi, trù ếm du đãng, chọc ghẹo phá hại người hiền, đổ đồ dơ uế xuống sông, phơi quần áo dơ giọt bóng tam quan là mặt nhựt mặt nguyện, yến sao, hoặc dơ uế mà lên chỗ thờ phượng hoặc vào bếp núc: Các tội kể trên đó đều xô xuống Tát trì là (huyết ô trì) ao huyết dơ mà lặn hụp, tuỳ theo tội nhiều ít, phạt ở lâu mau. 
(Ấy là chánh kinh Ngọc lịch như vậy, kẻ sau muốn răn phụ nữ, bày ra kinh huyết hồn, mà cấm sự nhơ uế nơi tam quan, hoặc giặt dưới sông, hoặc vào trong bếp mà dạy đờn bà con gái. Kẻ dốt tin thiệt có tụng thì khỏi đoạ huyết ô trì. Kẻ dốt nữa thích nghĩa rằng: con gái đàn bà có đường kinh, hoặc chửa đẻ, đều bị xuống huyết ô trì hết thảy, nên có kẻ quê tụng kinh huyết hồn cầu mẹ khỏi tội! Lưu truyền lâu đời, đàn ông ít học cũng tụng nữa! Sao không thông lý, tại trời sanh phụ nữ phải có sự ấy, mà còn bị tội là nghĩa gì? Thầy chùa xưa có học, thông hiểu chỗ đó, bày đặt thơ Hứa sử nói nhờ Hứa sử xin vua Tử điện tha tội ấy. Nói vậy trời đất còn lầm sao? Thua Hứa sử sao? )
Ngũ quan vương ở dưới đáy biển đông, nội cõi ấy rộng năm trăm dặm do tuần 1 dặm do tuần tròn giáp vòng 240 dặm, bề ngang mặt băng gian, là ngang giữa trung tâm 80 dặm. Còn mỗi dặm là 360 bộ, bộ là bước đôi, mỗi chưn một bước, nên một bộ là 5 thước mộc, như vậy 1 dặm là 1800 thước mộc. Còn 1 dặm do tuần bề ngang xuyên tâm đo 80 dặm là 144.080 thước mộc. Như vậy 580 dặm do tuần giáp vòng đo ra 72.000.000 thước mộc bề ngang mặt xuyên tâm 24.000.000 thước mộc. Lập 16 ngục nhỏ: 
1. Ngục Tát trì là huyết ô trì. 
2. Ngục Vụ liêng trước tim, xiềng, với tâm để xăm. 
3. Ngục Phi thanh kiên thủ, xối nước sôi
4. Ngục Chưởng trướng lưu dịch, vả mặt sưng. 
5. Ngục Đoạn cân tích cốt, chặt gân xương
6. Ngục Yễn kiên sát bì, khứa vai lột da. 
7. Ngục Đoan phu, khoan da thịt
8. Ngục Tổn phong núi chim trĩ mổ. 
9. Ngục Thiết y, bận áo sắt
10. Ngục Mộng thạch thổ ngoa yễm, cây, lá dẳn. 
11. Ngục Lục nhãn, khoét mắt. 
12. Ngục Phi khôi tắc khẩu, tro vô lấp miệng. 
13. Ngục Quán dược, đổ thuốc độc. 
14. Ngục Du đậu hượt diệt, trợt nhớt té,
15. Ngục Thích chỉ, xâm miệng. 
16. Ngục Tốt thạch mai thân, chôn đá vụn. 
Những tội trốn xâu lậu thuế; nói ngược lúa ruộng, nói ngược nợ, cân ăn gian; bán thuốc giả; bán gạo mắc nước; làm bạc giả, ăn gian ăn bớt bạc vàng; bán hàng lụa nhiễu; bán vải mỏng mà hồ gọi dày, đi đường không nhường tránh kẻ tật nguyền, hoặc người già, trẻ nhỏ nhít; lập mưu thần mà đoạt nghề kẻ buôn gánh bán bưng, cho mất sở làm ăn kẻ cùng khổ mà thủ lợi; lãnh thơ không đưa cho sớm, để trễ hư việc người; ăn cắp cạy gạch lề lộ, hoặc rót trộm dầu đèn ngoài đường; nghèo không giữ bổn phận, sanh ra gian giảo, giàu bất nhơn, không thương kẻ nghèo, hứa cho mượn cho vay, đến kỳ không cho, hại hư việc người; thấy người nghèo bịnh, trong nhà có thuốc hay mà không cho; giấu phương thuốc hay, sắc ra bán thuốc nước không cho thấy xác, không chịu truyền cho ai; quăng miểng sành miểng chai, gai chông ra đường đi; thả súc vật ỉa dơ đường sá; để bụi gai góc sầm uất cho hư vách rào của người; trù rủa ếm đối, hăm hoạ chúng; các tội ấy đều tuỳ nặng nhẹ hành tội các ngục, giải qua Ngũ điện. 
Ngày vía trẫm 18 tháng hai, nếu ai ăn năn ngày ấy ăn chay thề nguyền không dám phạm các tội ấy nữa, lo làm lành tu bỉ sau khỏi hành các ngục nầy, nếu thêm việc nhơn quả kể sau Ngọc lịch để cho người coi mà cải ác tùng thiện, người ăn năn chừa lỗi khỏi tội thì có công có phước. 
Nếu thấy ai bị tai nạn ngặt nghèo, mình có thể cứu mà làm hiểm bỏ qua, hoặc quên ơn bạc nghĩa hoặc cố oán quyết hại cho đặng, đều là lòng độc ác: tuy tụng kinh làm lành bố thí thác rồi khỏi hành các ngục mà thôi, chớ không đặng đầu thai hưởng phước phạt làm quỉ mị yêu tinh, như hồ ly mãng xà, mấy năm, tuỳ theo lòng độc nhẹ nặng. Nếu biết lỗi không dám sanh sự hại đời, thì thâu hồn về cho đầu thai phú quý. Như hiện hình nhát chúng khuấy đời, đáng tội thì bị Thiên lôi đánh hoá ra con Tích, thì hết đầu thai lâu tiêu hồn mất. 
Phàm các quân binh đánh giặc, kể từ ngày đi đánh, hết lòng hết sức vì nước, không hãm hiếp ai, không đốt nhà dân giả; dầu tử trận hồn xuống điện này, dẫu có các tội xưa cũng bỏ qua hết, vì đặng chữ trung lương mà trừ, giải đến cửa thứ mười, cho đầu thai hưởng phước. Nếu đánh lộn sanh tử mà chết, hoặc theo kẻ làm phản, đều bị tội gia bội hành hình theo các lỗi bấy lâu. 
———–
VUA DIÊM-LA NGỰ ĐIỆN THỨ NĂM
Làm các điều lành được phước: 
1. Nhiều năm bố thí dân nghèo, con cháu nối đời, giàu có
2. Thí lúa gạo, cơm cháo, con cháu thi đậu làm quan lớn. 
Làm các điều dữ mắc hành tội: 
1. Tội bất hiếu với ông bà cha mẹ, bị chém ngang lưng đứt hai.
2. Đổ cơm cháo đồ ăn, bỏ cơm cháy, đạp cơm cháo, đổ huỷ lúa gạo, đều mang gông, cho ăn cơm thiu hóa giòi lửa. 
3. Mỗi người có tội, cho lên đài vọng hương, ngó về xứ sở nhà cửa, thương nhớ mà về không đặng, khóc than thảm thiết. 
Vua Diêm-la phán rằng: “Khi trước trẫm ở Nhứt -điện, bởi thương những kẻ thác oan, hay thả hồn về sống lại để kêu oan. Thượng -đế đổi trẫm về Ngũ -điện tại đáy biển đông bắc, cai trị 16 cửa ngục tru tâm làm mổ trái tim. Phàm các phạm hồn giải đến đây, thì đã bị hành các ngục mấy điện kia lâu ngày, dầu tội nhẹ khỏi hành, song cứ giải bảy ngày mới tới một cửa điện tới đây cũng đã 35 ngày rồi, thây thúi hết, không thể nào sống lại đặng. Nhiều phạm hồn muốn sống lại, kiếm
tâu rằng: “Tôi làm chưa rồi lời vái hoặc cất chùa làm cầu đắp lộ, khai kinh đào
giếng thí chưa rồi, hoặc đặt lời khuyến thiện chưa đủ, hoặc lời nguyện phóng sanh
chưa đủ số, hoặc nuôi ông bà cha mẹ chưa rồi, sắm sửa hàn rương chưa đủ, hoặc trả ơn chưa đặng xin cho sống lại thề làm duyên làm phước. Trẫm than rằng: Xưa người làm dữ quỉ thần hay, nay thuyền đã ra khơi xảm muộn quá! Bởi vậy Địa -Tạng -Vương ban ơn truyền chỉ, khuyên các cửa điện chung làm Ngọc -lịch cho đời tu mà chuộc tội. Thập vương làm rồi, dâng cho Địa -Tạng -Vương ngự xem, xem đủ liền đem thập vương với chư thần lên thiên đình dưng Ngọc -lịch xin sắc chỉ của Thượng -đế, nhờ ơn Thượng -đế ngự duyệt bằng lòng ban chỉ cho truyền đời tu chuộc tội. Từ Phong Đô đại đế với Thập vương lãnh Ngọc lịch có chiếu chỉ Thượng -đế phê đến nay đã lâu năm, mà chưa gặp người nào có đức hạnh xuống âm phủ, mà trao cuốn Ngọc -lịch đặng lưu truyền cho đời, chớ hồn mà hồi đương đem kinh có hình về sao đặng? Nếu truyền đặng cho đời biết ăn năn chừa lỗi, thì dưới âm phủ sẽ ít hồn tù tội, tại dương gian ít kẻ thán oán. Như vậy đủ biết trên đời không kẻ tu luyện cho đặng nhục thân (xác phàm) xuống âm phủ. (Trừ ra thân ngoại hữu thân thì đi mới đặng).
Từ đó đến nay các hồn soi Nghiệt cảnh đều là người dữ mới giải lần đến cửa này, đừng kiếm cớ chữa mình nhiều chuyện. Quỉ đầu trâu mặt ngựa dẫn chúng nó lên đài Vọng hương cho mau.” Cái đài Vọng hương nhiều cửa vòng nguyệt, hình đài ấy như cái cung lên thẳng dây, giáp vòng 81 dậm, bề dài về hướng bắc, ngay như dây cung, còn đông, tây, nam, ba hướng trước với hai bên đều vòng tròn như cái cung, cao 490 thước, gươm giáo dựng làm chông xung quanh mặt thành, 63 từng rộng rãi. Kẻ hiền lành không lên đài ấy. Kẻ tầm thường công qúa bằng nhau, cũng khỏi lên, được đầu thai. Trừ ra phạm tội nhiều, trừ hết công, còn dư quá, mới cho lên đó. Nghĩa vọng hương là ngó mong về thấy nhà cửa quê hương mình, cho thấy cho nghe đặng biết việc ra thể nào. Các hồn ngó thấy những là người nàh không y theo lời mình trối, cãi các lời dạy, hoặc chuyên vận hết của mình, hoặc chồng cưới vợ khác, vợ lấy chồng khác, hoặc con cháu kiện chia gia sản ruộng đất, sổ sách giấy tờ bấy lâu, bây giờ xé hết. 
Giấy tờ thiếu nợ họ đòi không đúng. Còn kẻ thiếu mình mượn mình, không giấy, hoặc người nhà kiếm không đặng giấy thì bị chúng nói ngược hết, cãi lẩy với nhau, đều đổ thừa trả rồi cho mình (người chết)! Bà con hờn giận rầy rà, con cái giấu đút, bằng hữu nói tước. Có kẻ nghĩ tình khóc một tiếng, rồi cười bằng hai! Lại còn mấy kẻ tội dữ, thấy con trai bị tù tội, vợ bịnh hoạn, con gái bị chúng hãm hiếp, hoặc sự nghiệp tiêu điều, hoặc cháy nhà, hoặc hết của! Các hồn thấy việc như vậy tức tối mà khóc nhào! Quỉ sứ dẫn xuống, giam vào khám lớn, tra coi phạm tội gì thì dẫn vào 16 ngục tru tâm mà mổ ruột. Mỗi cái ngục đều trồng một cây trụ, rắn bằng đồng làm lòi tói, chó hình bằng sắt làm ghế đôn. Trói hết tay chưn vào trụ, rồi lấy dao nhỏ mổ bụng kéo tim, xẻ lần cắt bỏ cho rắn ăn. Rồi rút ruột cắt bỏ cho chó ăn, hành đủ ngày giờ mãn tội rồi, huờn hình như thường, giải qua Lục điện. Mười sáu ngục kể ra: 
1. Ngục mổ tim không tin báo ứng. 
2. Ngục mổ tim sát sanh hại mạng. 
3. Ngục mổ tim bỏ phải mà làm quấy. 
4. Nguc mổ tim làm dữ tập phép trường sanh
5. Ngục mổ tim khi lành muốn người mau chết. 
6. Ngục mổ tim toan mưu vu vạ (hoạ).
7. Ngục mổ tim trai gian dâm, gái ngoại tình. 
8. Ngục mổ tim tốn của người lợi cho mình. 
9. Ngục mổ tim gắt gao không kể ai chết. 
10. Ngục mổ tim trộm cắp nói ngược. 
11. Ngục mổ tim quên ơn báo thù quá. 
12. Ngục mổ tim độc ác xui hại người. 
13. Ngục mổ tim lường gạt dỗ dành. 
14. Ngục mổ tim háo thắng, ham đánh lộn. 
15. Ngục mổ tim ganh hiền ghét ngõ. 
16. Ngục mổ tim ngu mê không tỉnh kiêu ngạo. 
Những tội không tin Thiên đường Địa ngục luân hồi, quả báo ; ngăn trở kẻ làm sự lành ; mượn tiếng đi chùa dòm hành sự lỗi của người mà nói: đốt hủy kinh sách ; ăn mặn mà tụng kinh niệm Phật ; thấy người ăn chay tụng kinh niệm chú mà chê: chê bai tiên Phật ; kẻ hay chữ coi kinh sách mà không giảng cho kẻ dốt phụ nữ nghe: cuốc phá mã hoang, làm cho loạn lạc ; vô cớ đốt rừng: để người nhà lơ đểnh làm cháy nhà, hại lây cả xóm ; hay bắn cầm thú ; vật kẻ yếu bịnh ; quăng liệng phá người: đăng dò bắt cá ; chày lưới các cuộc bắt cá ; gát chim. (Lấy mủ cây làm cho dính giò bẫy, các đồ lề bất chim, hoặc đổ thuốc độc dưới đất) ; những mèo chết, rắn độc chết không chôn cho sâu, hại người đào nhằm móc nhằm trúng độc khí bịnh chết: trời lạnh run mà bắt dân đào đất dầm nước đặng làm vách đắp lò bếp mới ; lấy thế cất dinh quan, lấn ranh chiếm đoạt ruộng đất dân, lấp giếng bí ngọn rạch (thuộc về ỷ thế) ; các tội kể trên đó, những kẻ phạm tội ấy, cho lên Vọng hương coi rồi, giam vào khám lớn, tùy theo tội mà mổ tim, mới giải qua Luc -điện tra tội khác. Nếu cơn còn sống không phạm các tội ấy, hoặc đã phạm lỡ, ngày vía trẫm là ngày mùng tám tháng giêng, mà ăn chay thề nguyền không tái phạm các tội ấy nữa, sau trẫm tha hỏi hành, lại tư tờ qua Lục -điện giải tội nữa. Trừ ra tội sát nhơn, hoặc theo tà thuật, xưng đặng trường sanh: hoặc hãm hiếp phụ nữ ; hoặc đàn bà tham dâm ghen độc: hoặc vu oan cho hư danh tiết người ; hoặc trộm cướp nói ngược ; hoặc trộm cướp nói ngược ; hoặc quên ơn bạc ngãi, báo oán quá lẽ ; nhứt là nghe kinh khuyên giảng mà không ăn năn chừa lỗi! Các tội ấy chẳng hề châm chế. 
Còn người đời, gọi tài thần giữ của cho người, tưởng vậy là sái lắm! Ấy là mấy người chôn tiền bạc của cải hoặc các quan chôn của báu, đến thác phần hồn còn mê mà tiếc của, sợ chúng đào, nên hồn ma ở đó giữ mãi, ai tới thì hiện hồn ma mà nhát. Thần thánh nghĩ nó vô tội, nên bỏ qua cho ma giữ của. Chừng nào nghe câu kinh Phật dạy: ‘ Cái thân cũng không phải của mình, ngũ uẫn (năm mối) là tham. sân, si, ái dục, đều không ‘. Hồn ma giữ của mới tỉnh lại rằng: ‘Cái thân là xác còn bỏ, không phải của mình mà dùng được, huống chi là của tiền ‘. Mới chịu bỏ của mà xin đầu thai kiếp khác. Còn mấy kẻ vô phước lại gần chỗ đó bị ma nhát mà hết hồn sanh bịnh. Như thế -gian ai nghe chỗ nào có ma quỉ hiện hình hay nhát, biết là chỗ ma giữ của, thì van vái thề nguyền, xin đào đặng của ấy thì chia ra như vầy: 10 phần xuất ra ba phần mà làm siêu độ tụng kinh cho hồn ấy đầu thai hưởng phước, ba phần nữa phóng sanh cho vong ấy, một phần bố thí cho bần nhơn thì hết 7 phần rồi, còn ba phần thì mình hưởng. Vái nguyện như vậy rồi đào, thì có thánh thần làm chứng, lấy làm như vậy không hệ gì,
———–
VUA BIỆN THÀNH NGỰ CỬA ĐỀN THỨ SÁU
Làm lành được phước: 
Cất chùa, tu bổ am tự con cháu thi đậu làm quan. 
Làm các điều dữ mắc tội: 
1. Vừa lúa đợi giá cao, nhà nghèo mua ít không bán ; quá phòng người nuôi làm con, lớn bỏ cha mẹ nuôi, mà theo họ cũ ; hoặc cạo vàng trong mình Phật cốt mà bán, cũng như bán Phật ; các tội ấy đều bị đóng đinh căng lút vô bàn chông đứng. 
2. Ăn cắp kinh sách, hoặc mua mà xé, bị treo mà lột da. 
3. Kêu trời van đất, không cung kính thánh thần, bị cưa ngược. 
4. Ăn trộm, ăn cắp, bị quì trên chông sắt luôn luôn. 
Biện thành vương, điện tại đáy biển chánh bắc, khám lớn gọi là Đại hiến đoán, địa ngục rông 500 dặm do tuần, 16 ngục nhỏ: 
1. Ngục thường quị thiết sa, quì chông. 
2. Ngục chi nê tẩm thân, hầm phẩn. 
3. Ngục mạ tồi lưu huyết, xay bột. 
4. Ngục kiềm chỉ hàm châm, ngậm kim. 
5. Ngục cát hận thử giảo, thiến dái cho chuột ăn
6. Ngục cực võng hoàn toàn, đĩa cắn trong lưới gan
7. Ngục ngối đão nhục tương quết nem. 
8. Ngục liệt bì khí lôi, nghiến rách da. 
9. Ngục hàm hỏa bế hầu, ngậm lửa. 
10. Ngục tang hỏa bại hông, thổi lửa đốt (lửa giân).
11. Ngục phẩn tự, rạch phẩn. 
12. Ngục ngưu điêu mả táo, trâu báng ngựa đạp. 
13. Ngục phỉ khiếu, khoan lỗ (xoi).
14. Ngục trát đầu thoát xác, bửa sọ. 
15. Ngục yêu trảm, xắt ngang lưng. 
16. Ngục bác bì, tuyên thảo, lột da, đóng chông đứng. 
Phàm giận trời trách đất, ghét gió sấm lạnh nực nắng mưa ; day mặt về hướng bắc mà tiểu tiêu, hĩ mũi, khạc phun, khoét, cạo vàng hình Phật, móc tiền dằn tâm ông Tiêu ; kêu tên tộc Tiên Phật thánh thần ; không kỉnh giấy chữ kinh sách ; để đồ dơ uế gần chùa đình, bàn thờ: hương đăng trà quả, đồ cúng không, tinh khiết ; dơ dáy trong bếp, không cữ thịt trâu, thịt chó, học sách tà dâm (thể chiến), tà đạo, để sách ấy trong nhà mà không đốt, sách ếm hại người cũng vậy, bôi xé kinh sách, đồ khí dụng. vẽ hình Thái -cực (mặt trăng lộn âm dương), hoặc vẽ nhựt nguyệt sao bắc đẩu, hoặc hai hình hoà hiệp (nguyệt hiệp lão nhơn), hoặc hình Tây-vương-mẫu (Diêu trì), hình Phước Lộc Thọ, hoặc hình Bát -tiên, mà làm nhãn gói đồ, hoặc thêu chữ (Vạn) vô hàng giẻ vải cờ, giường, ghế, bàn tơ và đồ khí dụng, hoặc dùng làm chữ hiệu, phạm thượng bận quần áo có hình rồng phụng, vựa lúa chờ giá cao không bán ít cho nhà nghèo: các tội kể trên đó, đều giam vào khám Đại -kiếu -hoán. Tra tội nào đáng hành 16 ngục nhỏ, đủ ngày giải qua Thất -điện, tra tội khác hành nữa. 
Nếu ai ở dương thế, ăn chay ngày mồng tám, tháng ba là vía trẫm, thề nguyền tự hậu không dám phạm tội nói trên đó, và 14 rằm tháng năm, mồng ba tháng tám, mồng 10 tháng mười, trong bốn ngày ấy ăn chay, cấm phòng, (vợ chồng không ăn nằm với nhau) cũng như các ngày vía lớn vậy, lo cầu khẩn ăn năn chừa lỗi thường năm giữ được năm ngày ấy như vậy, sau khỏi hành các ngục nầy. 
Thế tục lưu truyền nói: ‘Thập bát tằng địa ngục ‘. Dưới Âm -phủ có 18 từng địa ngục, ấy là nói sái, chánh là: ‘ Nhập bát tằng địa ngục ‘. Vào tám cửa địa ngục lớn. Kể tám ngục lớn ra sau đây: Nhị điện có khám lớn gọi là Huợt đại địa ngục. Tam điện có Hắc thằng đại địa ngục. Tứ điện có Hiệp đại địa ngục. Ngũ điện có Kiếu -hoán đại địa ngục. Tại Lục điện đây có Đại Kiếu hoán đại địa ngục. Thất điện có Nhiệt não đại địa ngục. Bát điện có Đại Nhiệt não đại địa ngục. Cửu điện A tì đại địa ngục. Cộng tám cái khám lớn, mỗi khám lớn đều có 16 địa ngục nhỏ để hành tội và Huyết ô trì, Uổng tử thành, cộng vừa lớn vừa nhỏ 138 địa ngục ; lại còn bào lạc rằng khác. Phàm các phạm bị hành rồi, tuy cháy da nát thịt, đứt gân, dập xương, không còn lông tóc, chừng giải qua điện khác huờn hình lại như khi mới chết mà hành hình nữa, rồi giải qua cửa khác cũng như vậy. Trẩm thích nghĩa cho rành, kẻo tưởng có 18 địa ngục. Nhứt là tội đặt bài ca huê nguyệt, tuồng truyện tà dâm, hoặc vẽ hình tục tĩu, hoặc làm thuốc phá thai, hoặc thuốc mê, hay là khắc bản in ra, hoặc sao tả lưu truyền các bài các hình ấy, nếu bản ấy còn, bổn còn không tuyệt đồ đó, thì người bày đặt còn bị hành tội hoài, dẫu muôn ngàn đời cũng không khỏi hình phạt nơi địa ngục vì bày tà dâm dục lòng người cho hư phong hoá. 
———–
VUA THÁI -SAN NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ BẢY
Làm lành hưởng phước: 
Phàm con có hiếu, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, kính yêu mười phần. Khi nuôi đau càng hầu hạ thức thối cần mẫn hơn nữa, đến nỗi cha mẹ bịnh liệt, ăn không được có khi đặt bàn cầu trời, mình lóc chút thịt cánh tay, mà nấu ra nước cho cha mẹ uống cầm hơi. Ấy là lời nói thí dụ tỏ lòng thương hết sức chạy lo như vậy. Có hiếu thì động lòng trời. 
Làm các điều dữ mắc tội: 
1. Ăn trộm đồ trong hòm, hoặc bày thuốc phá thai bị quăng lên núi lửa. 
2. Sang đoạt, hoặc dỗ dành gạt chúng, bị ngục trảm thủ (chặt tay).
3. Lấy xương người mà làm thuốc, bị nấu dầu. 
Đền thái -san vương tại đáy biển tây-bắc, khám Nhiệt -não đại địa ngục giáp vòng 500 dậm do tuần, có 16 ngục nhỏ. 
1. Ngục chày nục tự thôn, đánh sặc máu bắt nuốt! 
2. Ngục thềm thối hỏa bức khanh, hầm lửa. 
3. Ngục liệt hung, bửa ngực. 
4. Ngục nha xa ngoạn phát, cột tóc trên nạng. 
5. Ngục khuyển giảo kinh cốt, chó cắn cẳng. 
6. Ngục đảnh thạch tồn thân đội đá. 
7. Ngục lả đảnh khai ngạch, đập óc xả trán. 
8. Ngục úc thống khốc cẩu đôn, chó cắn. 
9. Ngục lê bì trư tha (trư đà), lột da, heo cắn mà trì. 
10. Ngục đoạn hảo thượng hạ trác giảo, trên chim
lắc nước mổ, dưới heo rừng xé. 
11. Ngục điếu đạp túc, treo cẳng. 
12. Ngục bạt thiệt xuyên tai, kéo lưỡi xỏ má. 
13. Ngục sưu trường, rút ruột. 
14. Ngục loa đạp hoa trước, la đạp, heo rừng cẳn. 
15. Ngục lạc thủ chỉ, đốt ngón tay. 
16. Ngục du phủ cổn phanh, nấu dấu. 
Nếu ai có uống hồng diên (kinh nguyệt lần vỏ da, thứ nhứt)
tử hà xa nhau (nhau) ; hoặc uống rượu phí dụng thái quá ; mua đồ trong hòm người chết ; hoặc lấy xương cốt người mà làm thuốc: phân rẽ vợ chồng, thân thích người ; gả dâu làm thiếp, hoặc đợ ; để cho vợ trấn nước con gái: hoặc chửa hoang đẻ ra liền ủ ; bài bạc đánh môn đánh cặp chia tiền của, hoặc gian lận ; thầy không cần dạy để đệ -tử hư: không cần tội nặng nhẹ, cứ chửi tôi đánh tớ tới bị thương tích: hà hiếp xóm diềng: không kính người lớn hơn mình, dạy phải chẳng vâng lời: khua môi uốn lưỡi, xúi rầy đánh lộn ; các tội ấy tùy nhẹ nặng hành hình đủ 16 ngục. Hành đủ rồi, giải qua Bát điện tra tội khác nữa. 
Trong đời thiếu chi vị thuốc, nỡ nào giết vật sống mà làm thuốc, trị bịnh thiệt ở bất nhơn. Còn như uống hồng diên, nhau rún đồ dơ trong mình đàn bà, như ăn thịt người, thì cái miệng cũng như một thứ uế trược kia dẫu có làm lành tụng kinh niệm chú đã không linh, mà càng thêm tội, nên án ấy không dung. Nếu ai nghe khuyên nầy, mau mau chừa lỗi, nguyện cữ sát sanh, lại phóng sanh được một trăm vạn mạng mỗi ban mai súc miệng niệm Phật cho nhiều, đến khi mãn phần, Phật sai Tịnh nghiệt sứ giả đem đèn soi cho tiêu hơi uế mới đặng. 
Nếu ai lấy xương cốt kẻ chết thiêu, hoặc thây con nít chết mà làm thuốc, hoặc lấy sọ người bán mà làm vị thuốc có kẻ ác kiếm xương người tới cả gánh, chắc thì làm đồ khí dụng, mục thì tán ra bột pha đồ. Hầm các vật dụng thì dầu có công gì, trừ cũng không đặng, thà hành tội ấy công nọ để trừ tội khác, dư sẽ cho hưởng kiếp sau. Còn bây giờ hành các ngục rồi, rốt giải qua vua thứ mười đặng cắt tay khoét mắt, chặt tay chưn, hớt môi miệng mũi, đầu thai làm kẻ tật nguyền, thậm chí hai tật mà trừ tội ấy. Nếu ai còn sống biết tội, phải thề nguyền ăn năn, không dám phạm nữa, hoặc phải thí hòm mà đi liệm thí nhiều xác, sau chết đeo đính bài, trên đính bài ông Táo có chấm một điểm mực làm dấu, xuống đây mới khỏi hành hình. 
Có năm thất mùa đói lắm, tới nỗi kẻ sống đói quá ăn thịt thây ma. Nếu ai ngất ngư hấp hối còn chút hơi thở mà nỡ lòng cắt thịt nấu ăn, hoặc làm nhưn bánh bao, bánh in mà bán cho người ăn, ở lòng độc như vậy bị hành xây vần 16 cửa ngục nầy đủ 49 ngày, thì cho Thập -điện ghi vào sổ, rồi chạy tờ cho Nhứt điện đem tên vào bộ nữa, cho đầu thai lên làm súc vật chết đói, cho thấy đồ đổ trước mắt mà nuốt không vô, phải chịu đói tới chết. Tội này không phước nào trừ được, cũng không đặng đầu thai làm người mà trả quả. Còn kẻ ăn lầm, biết rồi mà còn ăn nữa, phạt đầu thai làm súc vật sưng họng đói lắm mà ăn không đặng, nhịn cho tới chết. Nếu biết lầm mà không ăn nữa, thì chế cho bố thí năm đói mà trừ (như thí lúa gạo tiền bạc cơm cháo hoặc nước gừng, nước trà), được như vậy đã tiêu hết tội trước, lại trả phước nhãn tiền và kiếp sau. 
Ba điều trên ấy là quan văn, quan võ với các phán quan điện nầy hội nghị hai điều, còn Địa -ngục thứ tư (chúa ngục) nghị một điều, là ba điều, trẫm cũng cho viết theo sau, dưng Thượng đế, nhờ ân chỉ phê cho và thăng thưởng các viên hội nghị. 
Lại truyền chỉ dụ: Thế gian làm điều dữ, chư thần đã nghị tội hành phạt rồi. 
Hỡi còn việc quân lính, việc công vụ, lễ nghị, chế riêng điều lệ nhỏ, các khoảng ấy điều y thao luật của nước nào chế, thì trị theo luật nước nấy. Nếu chúng nó chối mà đổ tội cho kẻ khác, tức thì phải tra minh mà trị tội y luật. Các cửa âm ti y chỉ dụ ‘.
27 tháng ba nhằm ngày vía trẫm, ai ăn chay day mặt lạy về phía bắc, thề nguyền ăn năn chừa lỗi, làm lành in cuốn Ngọc -lịch cho đời coi mà cải ác, sau khỏi hành các ngục nầy ‘.
———–
VUA BÌNH -ĐẲNG NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ TÁM
Làm lành hưởng phước: 
Kẻ giàu có trai tăng bố thí cho thầy tu, được phước lộc. 
Làm các điều dữ mắc tội: 
1. Bất hiếu, cha mẹ sống không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc hồi cha mẹ còn sống làm cho cha mẹ ưu phiền bất bình, hoặc làm điều phạm phép, cho cha mẹ kinh hãi, đều bị xe cán. 
2. Ở quấy với người ơn của mình, hoặc chắp cây chiết chi, đem nhánh nầy chắp qua gốc cây kia, đều bị xắt ngang lưng. 
3. Nói tục -tĩu về việc phụ nữ, bị kéo lưỡi mà cắt. 
4. Khi người nghèo, dua bợ giàu sang bị mổ bụng móc tim. 
Ngục nầy có thành Uổng tử để giam hồn tự tận (giết mình).
Bình Đẳng vương đền tại đáy biển chánh tây, khám lớn là Đại Nhiệt não đại địa ngục, rộng 500 dặm do tuần, có 16 ngục nhỏ: 
1. Ngục xa băng, xe cán. 
2. Ngục mộng hoa, chảo đậy ngột. 
3. Ngục tối quả, lóc thịt tận xương. 
4. Ngục lao khổng, bóp mũi, bóp họng. 
5. Ngục tiển thiệp, hớt chót lưỡi. 
6. Ngục thường thinh, nhà tiêu. 
7. Ngục đoạn chi, chặt tay chơn. 
8. Ngục tiền tạng, nấu đồ lòng. 
9. Ngục chích tủy, nướng mỡ xương. 
10. Ngục bát trường, móc ruột. 
11. Ngục phần tiêu, đốt trái thận. 
12. Ngục khai đường, mổ ức. 
13. Ngục hoạch hung, sả ngực. 
14. Ngục phá đảnh náo xỉ, bửa đầu xeo răng. 
15. Ngục phê cát, bằm xắt. 
16. Ngục cang xa, chĩa sắt đâm. 
Những con bất hiếu, cha mẹ còn không nuôi, cha mẹ thác không chôn, hoặc làm cho cha mẹ hay là cha mẹ chồng hết hồn, giựt mình, phiền hờn, rầu buồn, nếu không ăn năn chừa lỗi, ông Táo ghi vào sổ tội thứ nhứt tâu Thiên -tào cho bớt lộc bớt tuổi, cho tà quỉ làm điên khùng, thác rồi còn bị hành hình các ngục khác, giải đến cửa nầy ngưu đầu mã diện xách giò quăng vô khám lớn, rồi dẫn lại các ngục nhỏ hành hình cho đến kiếp, mới giải qua cửa thứ mười cho đầu thai làm súc vật. Nếu ai thấy Ngọc lịch mà tin, mỗi năm vía trẫm là ngày mồng một tháng tư, ăn chay thề nguyền chừa tội lỗi, sớm tối nguyện với ông Táo, xin ăn năn chừa lỗi, đến mãn phần ông Táo đề chữ Tuân trên trán, hoặc chữ Thuận, chữ Cải dầu hồn xuống từ Nhứt điện đến Thất điện có tội chi khác đều giảm phân nửa và khỏi phải giải qua điện nầy, đi luôn qua Cửa điện tra có đốt nhà, hoặc tính mưu thầm hay không. Rồi giải qua Thập điện cho đầu thai làm người tử tế. 
Thượng đế có chỉ dụ: “Nếu ai ăn năn chừa lỗi, in Ngọc lịch cho thiên hạ coi mà hồi tâm, thì sau thác xuống đi luôn từ Nhứt điện thẳng tới Bát điện khỏi hành các ngục. Tới cửa điện tra tội phước nếu không tội thì giao qua Thập điện cho đầu thai nhà giàu sang mà hưởng phước lâu dài. “
Còn Huyết ô trì phía sau điện, mé bên tả. Sãi vãi tại thế gian giảng sái rằng: “Đàn bà sanh đẻ có tội, sau bị sa Huyết ô trì”. Ấy là nói sai lắm! Sự đó tại trời sanh còn làm tội là nghĩa gì, dầu đàn bà đẻ mà thác, cũng không tội nhơ uế chi hết. Tội là vầy: Đẻ chưa đầy tháng mà xách nước, lội sông, vô bếp, giặt quần áo dơ, phơi hứng tam quang, các tội ấy về chủ nhà (người lớn trong nhà) chịu ba phần còn bảy phần đích thân nàng ấy chịu. Ao Huyết ô để phạt gái dâm dục sau bàn Phật, trước chỗ thờ thần, hoặc không cữ giao hiệp bốn ngày kị nhụt thần trong mỗi năm, là 14, rằm tháng năm, mồng ba tháng tám, mồng mười tháng mười, nội bốn ngày đêm ấy, mà ăn nằm thì tại dương thế đã mang bịnh, hoặc chết rắp, hồn xuống đây còn bị lăn lội dưới ao ấy lâu ngày. Hoặc sát sanh vấy máu trong bếp, hoặc bàn thờ, hoặc vấy máu vô kinh sách, hoặc đồ đựng cúng tế, cũng bị sa Huyết ô trì. Trừ ra có người thân nguyện cữ sát sanh lại phóng sanh cho vong hồn, lạy Phật tụng kinh cầu mới khỏi. 
———–
VUA ĐÔ THỊ NGỰ CỬA ĐIỆN THỨ CHÍN
Làm các điều lành được hưởng phước: 
1- Mùa đông thì nước gừng, mùa hè thì trà nước, có phước. 
2- Đưa đò thí, con cháu thi đỗ hiễn vinh.
Làm các điều dữ mắc tội: 
1- Đi tới tiền làm chùa sửa chùa quan thếp Phật, mà ăn gian, hoặc rủ người đậu tiền khắc bản kinh, hoặc in kinh, ăn gian, hoặc bán mà thủ lợi, đều bị quăng trên núi cao. 
2- Bắt ếch, nhái, lươn cá, thuốc cá, bắt chim, ăn thịt trâu chó ngựa, hay sát sanh bắt rùa rắn, vô cớ mà hại vật, đều bị quạ xé thây ăn gan tim, rắn đục tai, niệng mũi. 
3- Phân vợ rẽ chồng người, nói đâm thọc cho ruột thịt xa nhạu Vẽ hình tục tĩu, làm thuốc tráng cho tà dậm. Hoặc đặt đồ huê tình, hoa-nguyệt cho sanh thói dâm. Hoặc đập chó. Các tội ấy đều bị chó vật chết, xé thây ăn thịt tim phổi. 
Đô thị vương đền tại đáy biển tây nam, khám lớn là A tì đại địa ngục, rông 8 trăm dặm do tuần đều bao lưới sắt, lập riêng 16 địa ngục nhỏ: 
1- Ngục xao cốt chước thân, đập xương đốt mình. 
2- Ngục sưn cân lôi cốt, rút gân nghiền xương. 
3- Ngục nha thực tâm can, quạ ăn tim gan.
4- Ngục cẩu thực trường phế, chó ăn ruột phổi. 
5- Ngục thân tiện nhiệt du, mình, tưới dầu sôi. 
6- Ngục não cô bạt thiệt, bạt xỉ, nỏ đầu, kéo lưỡi, nhổ răng.
7- Ngục thủ não vị điền, con nhím khoét sọ ăn óc. 
8- Ngục chưng đầu, quái não, nấu dầu, nạo óc. 
9- Ngục dương súc thành hải, dê cụng bấu. 
10- Ngục mộc hiệp đảnh, ta nỏ nát sọ. 
11- Ngục mạ tâm, móc tim mà xay.
12- Ngục phị thang tâm thân, trấn nước sôi.
13- Ngục huỳnh phong, ong vò vẽ đánh. 
14- Ngục nghị chú ngao thầm, kiến đục tóp (thắng mỡ ra tóp cho kiến ăn.)
15- Ngục yết câu, bồ cạp chích. 
16- Ngục tử xích độc xà toàn khổng, rắn đỏ độc chun cửu khiếu. 
Phàm vua thế gian chế luật hình phạt, như tội nặng lắm xử lăng trì (chém rồi xả tư), xử trảm (chém), xử giảo (thắt họng), hồn xuống chịu các ngục trước hành rồi, giải đến điện nầy, hoặc kẻ đốt nhà, nuôi xâu ngải, thuốc độc, phá thai, hút hơi rún cho bổ, nút tinh trai, hoặc vẽ hình tục tỉu, đặt thơ truyện ca huê nguyệt (thơ ân tình) hay là bài thuốc mê, thuốc phá thai. Ai có phạm đều, thấy Ngọc -lịch thì ăn năn, thề chừa lỗi, không dám phạm nữa, nếu dâm thơ thì xé não, in rồi thì hủy bản, đốt sách, không truyền phương thuốc tà vạy nữa (thuốc tráng) thì sau xuống đây tha hành các ngục, giao qua Thập điện cho đầu thai làm người. Nếu nghe Ngọc – lịch mà còn làm các tội ấy, thì sau hành từ Nhị điện cho tới đây, đây trước hành bào lạc (xiềng tay chân vô ống cột đồng đốt đỏ, đẩy lên cháy thành than), huờn hồn lại giam vào ngục A tì mà hành theo 16 ngục nhỏ, rồi huờn hồn nữa, đâm gươm vô họng thấu tim phổi, giam hoài đợi các nhà bị hại trên thế gian khá lại, kẻ chết đầu thai hết, hoặc não bổn dâm thơ hết lưu truyền nữa, hoặc phương thuốc độc hết truyền, hoặc kiểu hình tục tĩu tuyệt hết, thì hồn phạm mới khỏi giam đặng đi đầu thai. 
Nếu ai phạm các tội ấy, đến ngày vía trẩm là mồng tám tháng tư, ăn chay, day mặt về hướng bắc, vái nguyện chùa lỗi, mua thâu dâm thơ mà đốt, hoặc in Ngọc -lịch cho người, hết sức khuyên đời cải ác tùng thiện, đến mãn phần, ông Táo đề hai chữ ‘ Phụng hành trên trán, thì từ Nhị điện đến đây, tra công mà trừ các tội khác. (Nếu kẻ giàu sang có quyền thế cho bắt kẻ hung hoang hay đốt nhà chúng, hoặc cấm dâm thơ, hủy bản đốt sách dán yết thị cấm các việc hại đời ấy, thì cho con cháu nối đời thi đỗ làm quan. Nếu kẻ nghèo, dốt, phụ in Ngọc lịch khuyên đời sau đầu thai hưởng phước. 
Vua Phong đô đại đế phán rằng: ‘ Tay Bát điện có thành Uổng tử, ở phía hữu điện nầy (vì 2 đền gần nhau). Thế tục nói sái rằng: ‘ Ai bị thác oan, thì hồn bị cầm thành Uổng tử ‘. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt! Sao không xét cho đủ lý, người đã thác oan, cầm ngục nghĩa là gì? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan trước cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai Còn thành nẩyđể giam những kẻ vô cớ giận lẩy mà giết mình, trầm mình thắt họng, uống thuốc độc vân vân, giam đỡ đây đợi hành tội chưa đặng đầu thai chớ không phải các hồn bị người giết Uổng -tử. Nếu kẻ liều mình vì sự trung hiếu tiết nghĩa, hoặc quân lính vì nước mà tử trận, các bực ấy kẻ đáng thành thần thì hiển thánh, kẻ còn tội lỗi, không đặng thành thần, thì đã cho nguyên hình mà đi đầu thai, có đâu giam cầm thành nầy mà chịu bó buộc thảm khổ hay sao? 
———–
VUA CHUYỂN -LUÂN NGỰ ĐIỆN THỨ MƯỜI
Làm các điều lành được phước: 
1. Nhà giàu sang thí kinh lành, hoặc thí Ngọc -lịch phước lớn. 
2. Tụng kinh, tụng cảm -ứng tu hành niệm Phật, giàu sang sống lâu. 
Làm các điều dữ mắc tội: 
1. Hãm hiếp, dụ trẻ thơ mà ăn của, đều bị xay ra bột
2. Không kỉnh giấy chữ, rủ ăn trâu, chó, phát làm hành khất
3. Không kính người lớn, dạy khuyên điều phải mà chẳng vưng lời, hoặc thầy bảo học trò trọng giấy chữ, đều bị đá đè. 
4. Không phải cúng ông bà, nuôi cha mẹ mà sát sanh. Hoặc mưu kế lường gạt ăn gian. Bày kiện thưa báo đời. Hoặc nghề võ đánh độc cho người chết. Các tội ấy đi ngang cầu Nại -hà bị té xuống sông cho rắn mãn xà cua đinh ăn thịt. 
Chuyển -Luận -Vương đền tại đáy biển đông, ngay rún trái đất, có làm cầu bằng vàng, cầu bằng bạc, cầu ngọc, cầu bằng đá, cầu cây (cầu ván) và cầu Nại -hà, cộng sáu cái cầu. Các điện giải hồn đến, xét tội phước cho đầu thai các phương thế gian, định giàu sang hèn khó, sống lâu thác yểu, đều ghi sở rõ ràng mỗi tháng chạy tờ về Nhất điện ghi sổ rồi nạp cho vua Phong đô đại đế. 
Luật Âm phủ, phàm tứ sanh là loài đẻ con, loài đẻ trứng, loài dưới nước, loài biến hoá lộn kiếp, những loài không chân cẳng, hoặc hai giò, 4 chân, nhiều cẳng, các vật ấy chết rồi hoá ra con tích (mà chết một kiếp nữa) xoay vần như cối xay, hoặc số một năm nửa năm, hoặc sớm mai sanh chiều chết, đổi dời biến hoá mạt kiếp, không định số, là loài phải bị giết cho hết kiếp, cho đầu thai các nơi mà trả quả. Mãn năm cũng phải trình sổ ấy cho vua Phong đô đại đế xem. 
Phàm kẻ học nho có đọc kinh Diệc, các sãi, mấy thầy tu có tụng kinh niệm chú, mà phạm tội nhiều quá, tuỳ bắt hồn đến các điện, cũng chưa hành đặng, phải giải đến đền trẫm vẽ hình và biên tên vào sổ Đoạ lạc danh sách. Rồi giao cho Mạnh bà ở đài Ứ Vong, đổ thuốc mê, cho đầu thai chết trong bụng, hoặc sanh ra một đôi ngày mà chết hoặc hơn
trăm ngày mà chết, hoặc một hai năm rồi chết, đặng cho quên hết kinh chú, rồi Nhứt điện bắt hồn tra tội mà hành Nếu ai công quả bằng nhau, hoặc dư quá chút đỉnh, thì định cho đầu thai làm trai, làm gái, xấu tốt, khoẻ cực, giàu nghèo, đều giao Mạnh bà cho uống nước mê (lú) rồi mới đầu thai. 
Trẫm hằng kêu tên mà cho đầu thai làm người, nhiều kẻ phụ nữ khóc lạy rằng: ‘ Còn thù lớn chưa trả đặng, nên không muốn đầu thai, thà chịu làm ma đói (ngạ quỉ), Trẫm hỏi rỡ, thì chúng nó kể ra: hoặc con gái đồng trinh hoặc con tiết phụ, bị các trò tốt trai háo sắc, hoặc tham của các nàng ấy, lập kế dỗ dành, làm mặt nhơn nghĩa, nói tiếng ân hậu, mà tư tình cho được ; kẻ nói dối chưa vợ, thề sẽ cậy mai đến cưới, hoặc gạt tớ gái, hứa sẽ lập làm thiếp mà lấy chơi phá trinh rồi bỏ, hoặc hứa nuôi mẹ già trọn đời, hoặc hứa nuôi con ghẻ. Các phụ nữ vì tin mà mắc, té ra hết của, thất tiết, mà chẳng đặng chồng! Sao lại bán rao cho cha mẹ anh chị hành hà, xóm giềng đàm tiếu, tức mình hổ thẹn mà liều mình, hoặc tức tối thất tình phát bịnh mà chết! Nay nghe đứa phụ tình đi thi khoa nầy chắc đậu, nên xin ở lại đợi tới khoa mà báo oán đòi mạng, ngặt nó chưa tới số, hoặc phước đức tổ phụ nó còn nhiều, xin cho lên phá nó hồn mê, thi chẳng đậu, hoặc cáo với Văn Xương đế quân phạt nó phải rớt (mới ra sự đổi tên có đứa khác đậu thế) đợi tới số sẽ xin lên vật hồn báo oán, các vụ ấy trẩm tra rõ oan ức, thì cho tờ nó tới Nhứt điện cáo. Nếu ai ăn chay ngày vía trẫm la 17 tháng tư, thề nguyền tin Ngọc lịch mà ở, và đem bài này mà giảng cho các trò nghe mà đặng giữ mình, thì người giảng ấy trọn đời khỏi thủy tai hoả hoạn, khỏi việc qua quan hình phạt. 
Còn sở luân hồi rộng bảy trăm dặm do tuần, trên dưới xung quanh đều có rào sắt và bao lưới phép, chia ra 81 chỗ, mỗi chỗ đều có nhà mát, các phán quan thơ lại, để bàn ghế biên chép. Ngoài rào sắt có 108.000 đường dương trường (nhỏ như ruột con dế) quanh co đi thông lên các nước. Chia ra sáu ngã (lục đạo) luân hồi, loài người có hai: 1. giàu sang, 2. khó hèn, trong ngoài đều sáng. Còn bốn ngã tứ sanh, là: Thai sanh, loài đẻ con (thú bốn cẳng). Noãn sanh, loài đẻ trứng có hai cánh. Thấp sanh, loài ở dưới nước, như cá, tôm cua ốc, rùa, trạnh, lươn, chạch, ếch nhái vân vân. Hoá sanh là loài tằm hóa nhộng, sâu lộn bướm, sùng hoá bồ xè, đuông hóa kiến dương, quăng hoá muỗi, kiến mốc mọc cánh, vân vân. Bốn loài ấy đường ở trong tối đen như sơn, ngó ra ngoài sáng như thủy tinh, như hai ngã loài người vậy. Các phán quan thơ lại kêu tên nhìn mặt rõ ràng cho luân hồi sáu ngã, một mảy không sai. Các phán quan thơ lại, đều là người hiếu đễ, cữ sát sanh, phóng sanh, tu hành, nên phong chức thần, mà coi sở luân hồi ấy. Coi năm năm công bình không sai thì đặng lên chức, nếu trể nải, hoặc lộng quyền, hoặc để tội trốn, thì bị phạt giáng chức, nhỏ thì bị đày. 
Phàm kẻ bất hiếu, hoặc sát sanh nhiều quá, bị các ngục hành rồi, giải đến đây, sai quỉ sứ lấy nhánh đào đập chết, hoá ra con tích, cho đội lốt tứ sanh đi đầu thai trả quả. 
Phàm cầm thú: cá, loài trùng (tứ sanh), đầu thai muôn ngàn kiếp đã mãn tội, thì loài hóa sanh được làm thấp sanh, thấp sanh trở lại noãn sanh, noãn sanh trở lại thai sanh, ba đời mà không giết hại mạng vật, thì được đầu thai làm người. Tại đây cũng làm sổ, gởi qua Nhứt điện phê, rồi cho uống thuốc mê nơi Mạnh bà, rồi đầu thai lên thế gian các nước. 
———–
MẠNH -BÀ NƯƠNG CON BÀ Ứ -VONG
Thần Mạnh Bà sanh đời tiền Hán, hồi nhỏ học sách nho
lớn tụng kinh Phật. Không nhớ sự đã qua, chẳng mơ việc sẽ đến. Cứ lo khuyên người cữ sát sanh và ăn chay như mình. Không chồng tới 81 tuổi, tóc bạc mà mặt còn tơ. Bởi họ Mạnh nên kêu là Mạnh -Bà (bà họ Mạnh). Sau bà lên núi tu tới thành. Qua đời hậu Hán nhiều người biết kiếp trước, nhớ mạy đi nhìn bà con xưa, lại trí hóa nhiều, nói lậu sự Âm -phủ. Bởi cớ ấy, Thượng -đế phong Mạng -Bà lên chức Ứ -vong nương nương, là bà thần cho uống nước mê (tục kêu cháo lú), ở đài Ứ -vong nơi âm -phủ, trước đền Thập -điện ; đài ầy mới lập rộng lắm, cấp thơ lại quỷ sứ cho bà sai. Lấy vị thuốc của thế tục, chế ra như rượu, có đủ mùi ngọt đắng cay chua mặn, cho các hồn sẽ đầu thai đều uống, cho lú quên các việc kiếp trước, lại cho mỗi hồn có vài ba phần tật, như nhớ cười lo giận sợ, nhểu nước miếng, đổ mồ hôi, sổ mũi, khóc, khạc nhổ. Người lương thiện, cho thêm thông minh, tỏ tai sáng mắt, mạnh khoẻ ; kẻ làm dữ cho tới tinh thần, trở ra bịnh yếu phạt lần, làm cho người biết cải ác tùng thiện. 
Đài Ứ -vong ở trước đền Thập -điện, ngoài sáu cái cầu, cao lớn như nhà khách trong chùa (phương trượng) xung quanh 108 căn, phía đông có đường rộng một thước bốn tấc. Trong các căn đều để bình chén mà đãi các hồn uống nước rồi đi đầu thai. Miễn có uống bao nhiêu cũng đặng. Hồn nào nghịch mạng không uống, quỉ sứ trói giò lại, thọc ống đồng vô miệng mà đổ nhiều nước mê, ực rồi mới mở trói đỡ ra ngoài đường, xô lên cầu tre nổi, dưới sông nước suối chảy đỏ lòm, ngó thấy bên mé có gành đỏ núi gie mé sông đề bốn hàng chữ phấn trắng, nét lớn lắm, bốn hàng chữ như vầy: 
Vì nhơn dung dị tác nhơn nan,
Tài yếu vi nhơn khũng cánh nan! 
Dục sanh phước địa vô nan xứ: 
Khẩu dữ tâm đồng, khước bất nan. 
Thích nôm: 
Xưa dễ làm người, nay khó bì,
Mong làm người nữa khó nhiều khi,
Muốn sang phú quí không chi lạ: 
Lòng miệng như nhau chẳng khó gì. 
Các hồn coi rồi, hoặc đọc rồi, có hai con quỉ cao lớn ở mé biển nhảy ra tới mặt nước: một quỉ đội mão đẹn, bận áo gấm, tay cầm giấy viết,vai mang gươm trường lưng đeo còng xiềng, trơn cạp mắt tròn vo cười ngất, ấy là quỉ Huợt vô Thường ; còn quỉ kia mặt dơ chảy máu, mình bận áo cổ giữa trắng, tay xách bàn toán, vai vác túi gạo đeo đính bài trước ngực, châu mày nhăn mặt thở ra than dài, ấy là quỉ Sanh hữu Phận Hai quỉ xô các hồn nhào xuống khe nước đỏ mà đầu thai. Kẻ có tội nhiều mừng đặng đầu thai làm người. Kẻ có công chưa đủ siêu thăng, thì tức và khóc rằng. Tu chưa đúng bực nên phải luân hồi cõi trần nữa! Các hồn như say như mê, nhập vào xác con nít trong bụng, hai chơn đạp cái nhao, chung ra khỏi mình mẹ. Lâu ngày tham mùi ngon, không thương mạng vật, xa cách tánh lành, phụ ơn trời phật rộng thương, chẳng lo thác hiền chết dữ, thân sau thể nào, thì cũng làm hồn ma mang thây nữa! 
Bài nầy là thơ lại ở đài Ứng -vong, viết rõ dưng Thượng đế xin cho để sau Ngọc lịch cho đời hiểu (Nhậm tấu).
Vì Thập vương làm não rồi, giao cho các phán quan chép lại vẽ hình kỹ càng, có đề họ tên thuật tích, dưng cho Địa tạng vương xem lại ngày 30 tháng bảy. Qua mồng ba tháng tám Địa tạng với Phong đô Thập điện chư thần đồng dưng cho Thượng -đế phê chuẩn rồi, song chưa có ai xác phàm xuống Am -phủ mà trao Ngọc lịch đem về truyền lại thế giạn. 
Qua cuối đời Tống Nhân – tôn (nước Liêu niên hiệu vua Thái Bình) nhằm năm Canh ngũ, ngày mồng chín tháng chín (trùng cửu trùng dương), Đạm Si đạo nhơn (Kinh Ngô là thầy tu nước Liêu,Hồ tăng) ở gần núi, ngày trùng cửu, lên đỉnh núi dạo chơi, xảy thấy một tấm bia đá, chạm 32 chữ cổ tự như vầy: 
Vô vi đại đạo, thiên tri nhơn tình. 
Vô vi yển minh, quỉ kiến nhơn hình. 
Tâm ngôn ý ngữ, quỉ văn nhơn thinh. 
Phạm cấm mãn dinh, địa thâu nhơn hồn. 
Thích nôm: 
Đạo cả thinh không trời biết lòng,
U minh thần quỉ thấy người ròng. 
Nói thầm, suy nghĩ, thần nghe hiểu. 
Tội nặng thâu hồn, đất bắt vong. 
Xảy thấy phía trong thắp đèn vàng, trước cửa điện có treo tấm biển 4 chữ: ‘ Xuất sanh nhập tử ‘ (nghĩa là: đầu thai thì đi ra, thác rồi hồn trở về đó). Đạm Si đương coi, xảy thấy đồng tử áo xanh kéo vào đơn trì (sân sơn son đỏ) quì lạy, rồi thối lui đứng trước thềm. Xảy thấy Thập vương kéo vào, đọc lời chúc ngày vía Phong đô đại đế và dưng bổn Ngọc lịch. Phong đô đại đế xem rồi, truyền văn võ các phán quán, đòi các quỉ sứ ngưu đầu mã diện mang lông đội sừng đều đến chầu, đứng tám hướng. Truyền phán quan đọc bổn Ngọc -lịch một bận. Các quỉ sứ lạy tạ ơn tâu rằng: ‘ Nếu ngày sau chúng tôi được đầu thai, hễ thấy Ngọc lịch nầy thì thề nguyện y theo cho đặng siêu độ ‘. Xảy thấy hào quang chiếu sáng, các phán quan cai trị thành Uổng tử và ao Huyến Ô, đều đem bổn sổ đến dưng và tâu rằng: ‘ Từ năm Thượng đế phê chỉ, cho ban phát Ngoc -lịch đến nay, bởi chưa có dịp đem lên Dương gian, nên chúng tôi, tra kỹ những phạm dư trăm ngục, có nhiều hồn khi còn sống hay giảng nhơn quả trong chốn đông người, hoặc giữa chợ đông, hoặc ngả ba ngả bảy, có người nghe tội phước mà hồi tâm. Chiếu theo luật Ngọc – lịch, cũng là khuyên người chừa lỗi, đáng ân xá tội nhỏ, cộng 50.480 hồn khuyến thiện, giảng quả báo. Nên thập vương hội nghị ân xá bọn ấy, định vào sổ đầu thai, tùy theo tội ít tội nhiều cho vào đường phú quí nhỏ, hoặc tầm thường. Kẻ tội nhiều cho làm người khó hèn, hoặc quan quả cô độc (quan là không vợ, goá vợ ; quả là goá chồng ; cô là mồ côi ; độc vô hậu không con, độc mộc đến già), đáng cho uống nước mê mà đầu thai, khỏi hành hình nữa, nên dưng sổ cho Đại đế xem ‘. Phong đô đại đế xem qua khen phải. 
Xảy nghe báo rằng: ‘ Có Phật Quan -Âm Bồ -Tát giáng hạ ‘. Phong đô đại đế với Thập vương đồng ra chào mừng. Quan -Âm mới xuống thì hình phụ nữ, có Thiện tài theo hầu, Long -nữ cầm phướng. Đến khi Đại -đế Thập -vương ra chào mừng thì Quan -âm hoá ra hình ông Tiêu Diện đại sĩ (mặt xanh lưỡi đỏ), mình cao mười sáu thước mộc, truyền chỉ rằng: Ta phụng chỉ Thượng -đế, y lời tâu của Địa Tạng với Thập vương chư thần, xin ban Ngọc – lịch năm đó, cho thế gian ăn năn, nguyện tu chuộc tội, khỏi hành địa ngục: nay cho hồn phạm đầu thai, trẫm rất vui lòng. Lại nghe vời đặng Đam Si mà trao Ngọc lịch, về dạy thế gian cải ác tùng thiện. Trẫm ao ước có người tin Ngọc lịch, truyền giảng mà khuyên đời, chừa lỗi làm lành như mình, được đông người sửa lòng như vậy, thì núi đạo ao huyết cũng bỏ không, các địa ngục càng ngày càng trống, thì người khuyến thiện thành chức: Trí huệ dẫn thiện diễn kiếp Phật ‘ (vì Phật Trí huệ đem lành khỏi tội).
Đại đế Thập vương với các thần thành hoàng (thần trong đình) đồng chắp tay nói theo rằng: ‘ Vị khuyến thiện đáng thành chức Phật ấy ‘.
———–
Quan âm nói: ‘ Nếu người tu ở thế thấy Ngọc lịch mà diễn dịch ra cho người dốt đàn bà con nít dễ hiểu, người ấy thành công đức nhơn thứ pháp thắng Phật ‘, (Phật công đức nhơn xét tài năng).
Các vị ấy cũng chắp tay nói theo rằng: ‘ Đáng thành Phật ‘.
Quan âm nói: ‘ Nếu ai thấy Ngọc lịch đi đứng nằm ngồi cũng cám mến ơn trời, rèn lòng thanh tịnh, khuyên giảng độ người ăn năn làm lành đặng năm điều thiện, sẽ được làm bạt tiến cho vong hồn tiên nhơn thân quyến. Lòng công bình muốn cho người đặng phước như mình, quyết khuyên dạy nhiều người tu hành, làm bạt tiến cho phạm hồn được đầu thai, địa ngục phải trống, thì người ấy thành: Cứu khổ tiêu huệ Phật ‘. (Phật Cứu khổ nạn, ơn khắp nơi).
Các vị hết thảy đều chắp tay nói theo rằng: ‘ Đáng thành
Phật ‘.
Khi ấy Phong đô đại đế phán rằng: ‘ Bởi Địa tạng vương muốn siêu độ các phạm hồn nên truyền xét hồn nào hồi ở thế có biết ăn năn chừa lỗi, thì ân xá khỏi hành các ngục. Chư thần đã vưng chỉ, Ngài lại truyền Thập vương hội làm Ngọc lịch, dưng xin phê nơi Thượng đế. Nhờ ơn Thượng đế phê cho và có chỉ dụ sửa các khoản. .. rồi đây Trẫm sẽ dạy. Bởi bấy lâu chưa gặp ai đức hạnh, nhục thân đến cõi U-minh, mà trao Ngọc lịch, đem về Dương gian khuyến thế. Nay Đạm -Si đến dưới thềm, xứng đáng truyền kinh Ngọc lịch. Như vậy nay đã có người rồi các phán quan thơ lại đem cuốn Ngọc lịch, viết thêm lời Quan âm phụng chỉ mới truyền, với chư thần truyền dạy, biên thêm đủ điều và bảo Đam -Si ghi sự tích mình gặp truyền Ngọc lịch vân vân, cho đời hiểu cội rễ. Còn khi trước có chiếu Thượng đế chỉ dụ sửa các khoản: 
1. Các văn biểu tâu xin phê chuẩn, đều bỏ đừng biên vì rộn ràng e đời khó hiểu. 
2. Các vị thần với Thập vương đề tên họ thiệt, và thuật lý lịch tích mình vì làm sao mà thành, khoản ấy cũng bỏ, không cho đời biết sự tích làm chi, cứ đề nội tước (chức) như mỗ Bồ tát mỗ đế, mỗ điện mỗ vương, phán quan, thơ lại, để trống mà thôi, không cho đời biết tên họ. Ví dụ: Phong đô đại đế viết Diêm la vương viết. Đề chữ viết, bỏ họ tên, như phán quan viết vân vân, phải chấm câu vòng câu theo lời nói, cho đời dễ hiểu, e ít học khó phân câu. Cứ y chỉ như vậy, các phán quan viết lại, không nên làm sái. Còn mấy bài trẫm bảo thích nghĩa, Dương gian nói sái nói lầm như Huyết ô trì. Uổng tử thành, thập bát tằng địa ngục vân vân, ngày giáp thìn tháng ba, năm nhâm ngũ, trẫm có dưng sớ, Thượng đế cho biên thêm vào Ngọc lịch. Thôi cứ vậy bôi sửa đi ‘.
Khi ấy Thập vương cầm viết, điện nào sửa theo điện nấy, rồi đưa cho phán quan thơ ký chép tinh lại. Khi ấy Đạm Si quỳ dựa bàn án mà xem các phán quan chép tinh lại. Xảy thấy Tiêu diện đại sĩ, hiện lại hình bà Quan -âm, cầm nhành dương liễu châm bình nước cam lồ rải xuống ba lần, rồi đằng vân bay lên cao hết thấy. 
Còn Thập vương cũng từ tạ lui về các điện. Phong đô đại đế bãi chầu, ngự vào trong. 
Lúc này các phán quan chép các lời Quan âm, sao Ngọc lịch, biên các lời chư thần và đọc cho tôi viết từ chữ: ‘ Thời thiên hạ thái bình canh ngũ niên. .. tới chữ chúc tất ‘, cộng 129 chữ. Rồi giao cho các vị viết thêm đủ điều, mới trao cho tôi mà dặn rằng: ‘ Người biết mặt với họ tên chư thần đã nhiều, nay trở về Dương gian, xin đừng nói lậu tên họ anh em chúng ta, e người đời biết có tổ tiên thân thích làm phán quan thơ lại dưới âm phủ, cơn nào nó có bịnh trọng, không lo làm phước cho mau mạnh, nó lại làm nhăng sát sanh cúng tế, đốt sớ điệp, cầu tổ tiên phò hộ cho thêm tội với chúng ta. Vả lại Thượng đế chỉ dụ cho Đại đế tại điện này với Thập vương chư thần, còn phải bôi hết ên họ lý lịch, quê hương sự tích thay! Huống chi chúng ta là phán quan, thơ lại? Bởi lòng người đời khó lường (khó độ) lắm, e khi mượn kế sanh sự nữa, thì người với chúng ta khó mà khỏi tội lỗi, Xin nhớ lời dặn đừng quên? ‘ Tôi thích huyết thề nguyền, không dám nói lậu, lại ghi thêm các lời phán quan thơ lại dặn cho đời hiểu. Nếu tôi đặt điều mà giả mạo lời thần phật, trời đất thánh thần há dung sao? 
Nội đêm trùng cữu ấy, Đạm Si đạo nhơn ghi lời bạt. 
———–
LỜI BẠT CỦA VẬT -MÊ ĐẠO -NHƠN
Tôi hiệu là Vật -Mê đạo nhơn (người tu, thầy tu tiên), tháng sáu, năm Mậu Thân, đi dạo qua tỉnh Tứ -xuyên, huyện Song -lưu, dọc đường gặp thầy tôi là Đạm Si tôn giả (Hồ tăng sãi nước Liêu. Tôi hỏi thăm thầy ở đâu? Thầy tôi trả lời rằng: Ta ở đất Luân hồi sanh tử (sống thác xây vần) ải Nhơn quỉ khứ lai (người ma qua lại) nghĩa là đi lạc xuống Âm phủ mà về đây. Ta nói cho ngươi rõ: những kẻ ở thế gian được phép đến mấy ngày vía Thập Vương, ăn chay cầu nguyện chừa lỗi cũ, cải ác tùng thiện, cứ lạy hướng bắc (chỗ Ngọc đế), nguyện chừa lỗi cũ, không dám phạm nữa, làm lành mà chuộc tội, sau thác hồn khỏi hành hình nơi các địa ngục ; ấy là ân xá giảm tội. Tại thế gian nhiều án chạy khỏi chối được chớ xuống âm phủ không lọt một mảy lông, không than cũng chẳng phép chuộc tội. Quí tại còn sống ăn năn làm lành mà trừ tội mới đặng. Ngặt người đời chẳng xét, tại cái thiện thì làm người, tâm ác thời làm vật. Song kẻ phụ nữ trăm người còn biết ăn năn làm lành một hai người. Chớ đàn ông ngàn người, may có một người cải ác! Có nhiều khi gần chết mà chưa biết ăn năn, thì phải chịu hành nơi địa ngục! 
Nay nhờ ơn Địa tạng vương bồ tát truyền Thập vương dọn Ngọc lịch, xin chỉ Thượng đế phê cho thế gian, biết ngày ăn năn nguyện làm lành chuộc tội, lại truyền bổn Ngọc lịch cho ta. Ta khuyên đời phải biết: có phước mới đặng làm người, còn sống, rán ăn năn lành lành kẻo muộn. Ngươi có lòng khuyến thiện, nay ta trao Ngọc lịch cho ngươi sao ra truyền cho đời biết ‘. Ta quì lạy lãnh cuốn Ngọc lịch thầy ta lần lần bay lên cao. Nên ta sao ra cho đời, ai khắc in ra lưu truyền cho đời khỏi tội thì mình được phước. Khuyên ai phạm tội mau chừa, không phạm thì rán mà giữ. Đừng đợi thác rồi, mới muốn sống lại mà tu không đặng. 
VẬT MÊ ĐẠO NHƠN (ghi ký)
Mười ngày vía Thập vương, đều lạy hướng bắc: 
Nhứt điện Tần quảng vương mồng 1 tháng 2
Nhị điện Sở giang vương mồng 1 tháng 3.
Tam điện Tống đế vương mồng 8 tháng 2.
Tứ điện Ngũ -quan-vương 18 tháng 2.
Ngũ điện Diêm-la-vương mồng 8 tháng giêng. 
Lục điện Biên-thanh-vương mồng 8 tháng 3.
Thất điện Thái -san-vương 27 tháng 3.
Bát điện Bình -Đẳng -vương mồng 1 tháng 4.
Cửu điện Đô-thị -vương mồng 8 tháng 4.
Thập điện Chuyển -luân-vương 17 tháng 4.
Và 14, rằm, 16 tháng 5, mồng 3 tháng 8, mồng 10 tháng 10
ăn chay ngủ riêng như trên. Vía 10 vua, nội 4 tháng 1, 2, 3, 4.
———–
THÁNH ĐÀN TRAI KỲ GIỚI KỲ
(cấm phòng)
Các vía lớn, ăn chay, hoặc ngủ riêng, khỏi tội đặng phước. Tuy không ăn chay mà ngủ riêng cũng quí hơn. Tháng nào nhuần thì theo tháng trước: Tháng giêng: Mồng 1 vía Di Lặc, Thiên-Lập, ngày cúng trời. Mồng 3 vía Tôn chơn -nhơn, tổ thuốc và Hát chơn nhơn, ông tiên. Mồng 6 vía Định -chơn -Phật. Mồng 8 ngũ điện, Giang- đông thần. Mồng 9 vía Ngọc -hoàng thượng đế. 13 Lưu -mãnh tướng quân. Rằm vía Thượng -nguơn, Thiên -quan đại đế. Hựu -thành Tịnh -ứng chơn quân. Từ mồng 8 đến rằm, các vị ấy đi dẹp yêu quái, ai ăn chay, ngủ riêng, tụng kinh, có phước hơn mấy ngày thường thập bội, 19 Khưu -trường Xuân, ông tiên, cũng tổ thuốc ông đặt chuyện Tây-du. Tháng hai: Mồng 1 vía Nhị – điện, Thái dương, Câu-trận. Mồng 2 vía Thổ địa chánh, Tử -đông Văn -xương (Tụng Bổn nguyện, Bảo sanh). Mồng 4 Táo tướng quân. Mồng 6 Đông-Huê đế quân. Mồng 8, Trương đại -đế, Tam điện, Thích -Ca xuất gia (tụng Kim cang) 13 vía Các -chơn -quan, tổ thuốc, Rằm vía Thái, thượng lão -quân (tụng Cảm ứng). Tinh -trung Nhạc nguơn-soái -17 vía Đỗ -tướng -quân. 18 Tứ -điện. 19 Quan -âm (tụng Phổ -môn, Cứu -khổ). 21 vía Phổ -hiền bồ tát, Thủy -long Thánh -mẫu nương -nương. 25 vía Huyền -thiên thượng -đế thánh -phụ Minh chơn -đế. 
Tháng ba: Mồng 1 vía Nhị điện. Mộng 3 vía Huyền thiên thượng đế (tụng kinh Báo ân cho cha mẹ). Mồng 6 vía Thượng lão tướng công, Nhạng hương. Mồng 8 Lục điện, 13 Trung ương ngũ đạo. Rằm Hạo thiên, Huyền đàn, Lôi đình, 16 vía Chuẩn đề Sơn thần, 18 Hậu thổ nương nương, Trung nhạc. 20 vía Tử tôn nương nương (bà chúa thai sanh). 23 Thiên hậu nương nương 27 vía Thất điện, 28 vía Đông nhạc đại đế, Khương hiệt (ông thánh chế chữ).
Thánh tư: Mồng 1 Bát -điện. Mồng 4 Văn thù bồ tát. Mồng 8 Thích -ca Phật tổ, Cửu điện, Doãn -chơn -nhơn. 14 Lữ -tổ, Thuần dương, Rằm Thích -Ca thành (tụng Kim -cang). 17 vía Thập -điện. .. 18 Tử -vi đại -đế. 20 Nhãn -quang thánh -mẫu. 26 vía Chung -san tướng công. 28 vía Dược -vương cổ Phật. 
Tháng năm: Mồng 1 Nam -cực đại -đế. Mồng 5 Địa -lạp (cúng đất). Ôn -ngươn-soái, Đặng -thiên quân. Mồng 7 vía Châu -thái -úy. Mồng 8 Nam phương ngũ -đạo 11 vía Đỗ -thành -hoàng (cai trị các thành -hoàng). 12 Bỉnh -linh -công. 13 vía Quan thái tử. 14 rằm, 16, ba ngày kị thần (cấm phòng). 17 Trương -thiên-sư. 20 Phùng chơn -nhơn. 29 Hứa oai hiển vương. 
Tháng sáu: Mồng 4 chư Phật giáng. Mồng 6 Thôi -phủ -quân. Mồng 10 Lưu -hải -thềm đế quân. 13 Tỉnh -tuyền Long -vương. 19 Quan -âm thành đạo 23 vía Quan -đế, Vương linh-quan. Hỏa -thần. 24 Lôi -tổ. 26 Nhị -lang 27 Thiên -xu tả tướng (châu tử).
Tháng bảy: Mồng 7 Đạo -đức -lạp (cúng thần tiên), Ngưu -lang Chức -nữ. 12 Trường -chơn, Đàm chơn -nhơn. 13 Đại -thế chí bồ tát. Rằm Trung -nguơn, Địa quan đại đế. Linh -tế chơn quân. 18 Diêu -trì Tây -vương -mẫu nương nương. 19 Trị -niên thái -tuế (An giao). 21 Phổ -am tổ sư, Thượng nguơn đạo hoá. Đường chơn -quán. 22 Tăng phước tài thần, 23 Thiên -xu thượng -tướng chơn -quân (Gia -cát). 24 Long -thọ -vương bồ tát. 30 Địa -tạng -vương bồ -tát (U -Minh giáo chủ). Tháng tám: Mồng 1 Thần -công Diệu -tế Hứa -chơn -quân. Mồng 3 vía Táo -quân (mồng 3 với 27 Bắc -đẩu giáng hạ phải cữ)
Mồng 5 Lôi -thinh đại -đế. Mồng 10 Bắc -nhạc đại -đế. 12 Tây -phương ngũ đạo Rằm thái -âm triều nguơn (tụng Thái -âm), 18 Tửu -tiên (Lý -thái -Bạch). 22 Nhiên Đăng Cổ Phật. 23 Phục -ma phó -tướng Trương -hiên -vương (ông Trương). 24 Táo -Mẫu (bà Táo. )
Tháng chín: Mồng 1 Nam đẩu giáng hạ (Từ mồng 1 đến mồng 9, 9 sao). Mùng 3 Ngũ ôn. Mùng chín Cữu thiên huyền nữ. Phong đô đại -đế. 16 Cơ thần. 17 Kim Long tự đại lương, Hồng ân chơn quân. 23 Tát chơn nhơn. 26 Ngũ hiển linh quan. 30 Dược Sư Phật. 
Tháng mười: Mồng 1 Dân tuế lạp, Đồng hoàng. Châu chơn quân. Mồng 3 Tam mao ứng hoá chơn quân. Mồng 5 Đạt ma sư tổ. Mồng 6 Thiên tào chư tư, Ngũ nhạc Ngũ đế giáng hạ. Mồng 8 vía chư Phật hội niết bàn, phóng sanh có phước thập bội. (Nếu ngày mồng 8 tháng 10, làm một tội nặng bá bội ngày thường). Rằm Hạ nguơn Thủy quan đại đế, Đậu thần: Lưu sứ giả. 20 Trường hư Tịnh thiền sư. 27 Bắc cực Tử vi đại đế. 
Tháng mười một: Mồng 4 Đại thánh chí thánh Văn tuyên vương (Khổng tử). Mồng 6 Tây nhạc đại đế. 11 Thái Ất Cứu khổ thiên tôn. 17 A di đà Phật (tụng Di đà). 19 Nhựt quang thiên tử, Cữu liên bồ tát. 23 Nam đẩu giáng hạ, Trương tiên, 26 Bắc phương ngũ đạo. 
Tháng chạp: Mồng 1 Tiên phật giáng hạ (tụng kinh phước hơn nhiều). Mồng 8 Vương hầu lạp, Trương anh Đế, Thích Ca thành Phật (tụng Kim cang). 16 Nam nhạc đại -đế. 20 Lỗ ban. 21 Thiên du thượng đế. 24 Tư mạng Táo quân chầu trời (tối 23 cúng đưa trước). 29 Hoa nghiêm bồ tát. 30 Chư Phật giáng thế xét lành dữ. 
Mỗi tháng mồng 8, 14 ; rằm, 23,29, 30 Bắc đẩu giáng hạ, ăn chay tụng kinh. 
Tùng nhiên hòa thượng ở chùa Thiên thai đặt bài khuyên thế. 
Người đời chẳng tin nhơn quả báo ứng, nên có kẻ số thọ mà yểu, số giàu mà nghèo, tướng làm quan mà thi rớt! Sách Bửu giám nói: ‘ Lành thì trả lành, dữ thì trả dữ: nếu chưa trả, tại ngày chưa đến ‘. Lại có bài thơ rằng: 
Trời sanh khó dối bởi không tây (tư -vị).
Mới tính thần hay nạp sổ nầy. 
Lành dữ rốt rồi đều trả quả. 
Chẳng qua đều kíp với đều chầy. 
Kinh Nhơn quả nói ;’ Phỏng kiếp trước dữ lành, coi đời nầy hoạ phước. Độ kiếp sau hoạ phước, tại đời nầy dữ lành ‘. Lại nói rằng: ‘ Dầu làm dữ mấy kiếp, cũng trả cho mình ‘. Kinh Niết -bàn nói: ‘ Quả báo có ba cắch! 10 Hiện báo, làm lành dữ đời nầy, trả phước họa cũng nội đời nầy ; 20 Sanh báo: kiếp trước làm, trả kiếp nầy, đời nầy làm, trả đời sau ; 30 Tốc báo: mới làm lành dữ, trả phước hoạ nhãn tiền, trước mắt tức thì ‘. Phải biết trời đất không tư vị ai, tại mình làm lành dữ nặng nhẹ, nên trả mau chậm khác nhau. Người đời khó hèn, điếc câm đi nhót, gãy tay, tật nguyền bịnh trời cho, đói lạnh, đều tại kiếp trước hưởng xài quá lẽ, làm dữ phạt nội đời ấy chưa hết kế tới số chết, nên đầu thai kiếp nầy phải phạt thêm cho đủ tội, Như vậy mà không tin nhơn quả báo ứng làm sao? 
Người đời những kẻ không tin địa ngục, đến gần chết hay thấy ma quỉ, hoặc nghe tiếng binh khí, xiềng tỏa mới tin có quỉ thần địa ngục, liền van vái cầu thần. Té ra đèn giữa gió, gần tắt, ăn năn muộn sao kịp, khó trốn quỉ Vô thường. Quí tại ăn năn cho sớm, tỉnh lại mà tu, gần chết mới sợ vô ích. 
Đời Tùy vua Khai hoàng, có quan tự thừa Triệu văn Xương chết đi sống lại nói rằng: ‘ Hồn xuống âm phủ thấy Châu Võ đế bị xiềng ba lớp tại phòng, kêu Xương lại mà nhắn rằng: ‘ Khanh về tâu với Tùy hoàng đế rằng: các tội trẫm cãi lẽ xuôi hết, còn một tội hủy Phật nặng lắm, mau làm phước bố thí, tụng kinh mà cầu cho trẫm khỏi tội, ‘ Xương ra ngoài thấy một người dưới hầm phẩn ló đầu lên, hỏi ai đó? Người ấy đáp rằng: ‘ Ta là Bạch -Khởi, tướng mạnh đời Tần ‘.
Sách Danh thần ghi: ‘ Kinh Công có tên con Phương dữ lắm, xúi Kinh Công làm nhiều điều trái lẽ. Đến Phương thác, Kinh Công mơ màng thấy Phương mang gông đứng dựa cửa. Kinh Công sửa nhà làm ra kiểng chùa, bố thí tụng kinh cầu Phương khỏi tội ‘. Lấy sách nho đó làm chứng, đủ tin Ngọc lịch, thì khỏi khổ phần hồn, Ông Tư mã Ôn công nói: ‘ Trên có Thiên đường. Người quân tử thác rồi, lên Thiên đường, dưới có Địa ngục, tiểu nhân thác rồi hồn sa Địa ngục. ‘ Sao gọi không Thiên đường Địa ngục? 
———–
Đoan sơn đại tiên là ông Vương chương, đặt kinh thế lục rằng: ‘ Thiệt quả có Địa ngục. Bởi người tính lành, thì thuộc dương sáng, nên khí thanh lên thiên đường. Còn lòng tính dữ, thuộc âm tối nên khí trược xuống Địa ngục. Diêm quân tra hỏi, hành tội mổ bụng rút ruột, đốt cháy nấu dầu là tại lòng chứa dữ ‘.
Người đời không tin thác rồi đầu thai. Như kẻ không con, cưới vợ bé nhiều cũng vô ích, vì không thai nghén hoặc có nghén bị tử phúc trung, hoặc chết theo mẹ, không thì nuôi lớn chưa kịp có con mà chết yểu, thì cũng vô hậu, những kẻ ấy thiệt là vô phước lắm. Nếu vợ chồng có con sum hiệp đến già, tuy khó hèn cũng là có phước nhiều ít mới đặng vậy. 
Sách danh thần nói: ‘ Mẹ ông Phạm -tổ -Võ, lúc gần sanh ổng, chiêm bao thấy người cao lớn xưng mình là Đặng -Võ tướng quân đời Hán, thức dậy sanh con trai mới đặt tên Tổ -Võ. Đến lớn ở thuần lắm, nên đặt tự Thuần -Phu ‘.
Còn sách Tự -Loại, sách Mông -Cầu, có ghi tích Dương Hộ sanh ra, mà nhớ chiếc vòng kiếp trước. Bảo Tịnh nhớ cái giếng kiếp trước. Con gái Hướng Tịnh chết non. rồi đầu thai lại nữa, nàng nói chuyện kiếp trước không sai. (Con ranh con lộn mà nuôi được). Ngươi Văn Thẩm sống lại nhập vào xác khác. Những tích ấy đều tại sách Nho, sao không tin luân hồi đầu thai kiếp khác. 
Phàn người lành, đầu thai nhà giầu sang có đức mà hưởng phước. Công quả bằng nhau đầu thai nhà tầm thường. Công ít quả nhiều, đầu thai nhà rủi ro, hèn khó mà trả quả. Như trong Ngọc lịch nói: ‘ Thử lòng kẻ ấy, còn làm dữ nữa, không biết ăn năn mà làm lành, Thác Địa ngục làm con Tích, đầu thai làm thú vật, nếu về hoá sanh lộn mãi, hết trông làm người ‘.
Bà Diệu Huệ chơn nhơn (bà thân ông Văn Xương) nói: ‘ Con người ở đời, sống thác không nhứt định, ở tạm rồi đi, như trăng tròn khuyết, như hoa nở tàn. Ngày nay mới sanh là hồn chết kiếp trước lộn lại. Nếu thân trước chưa thác, thì hồn ấy có lộn vào xác nầy mà sanh ra đâu. Nếu ngày nay đến chết mà biết mình tội nhiều, thì trông chi đầu thai tử tế. 
Người đời chẳng tin thác rồi đầu thai làm thú vật. Sách Nho biên sự đầu thai ấy rất nhiều, chẳng phải một tích. Sử Tùy thơ, Lý sĩ Khiêm nói: ‘ Ông Cổn là cha Địa Võ, hoá làm con cua đinh ba cẳng, gọi là con ba ba, Ngươi Đỗ Võ hóa làm đề Quyên là con quốc. (Nên chim quốc tên là Đỗ Võ Đỗ Quyên). Bao Quân hóa rồng. Ngưu Ai hóa cọp, Bành Sanh hóa heo rừng. Như Y hóa chó. Huỳnh Mẫu hóa vịt, như càng thay lớn lắm. Tuyên Võ hóa trạch (cua đinh, tục kêu là cá giải). Đặng Văn hóa trâu. Từ Bá hóa cá. Kim Hạ hóa quạ, Thơ Sanh hóa rắn ‘. Các điều đó biên nơi sách Nho, sao mà không tin? 
Đức Thánh Khổng -tử nói: ‘ Sanh ra đến già phải thác, làm người chẳng sống đời, nếu theo dữ bỏ lành, sao khỏi làm loài khác ‘. Kinh Lăng Nghiêm nói: ‘ Người thác làm dê, dê thác làm người ‘. Phổ Am tổ sư đặt bài kệ rặng: ‘ Súc sanh bổn thị nhân lai tác, nhân xuất luân hồi cổ đáo câm, Bất yếu phi mao tinh đái giác, khuyến quân hưu sử súc sanh tâm ‘. Nghĩa là: người lộn súc sanh cũng tại tâm, xưa nay người vật chuyển luân thầm. Muốn không đội gạc mang lòng xấu, khuyên chớ làm theo dạ thú cầm. 
Ông Tịnh Trai học sĩ nói. ‘ Thông minh bất năng địch nghiệp, phú quý, khởi miễn luân hồi ‘. Nghĩa là: Khôn lanh khó chữa tội, phú quý cũng luân hồi. 
Ông Hồng Mai nói: ‘ Hay coi thọc huyết heo, làm thịt dê, sau gần chết la như tiếng heo dê kêu vậy, có khi chết rồi đầu thai làm chim, cho người mua mà thả. Nếu đàn bà hay coi sát sanh dê heo lắm, có khi đẻ ra đầu dê, hoặc mình rắn, hoặc trứng như trái cầu (đẻ bọc) ‘. Cứ theo lời ấy, người ta còn đẻ súc vật côn trùng, hoặc đẻ trứng, huống chi thác rồi đầu thai làm súc vật, mà gọi không lẽ. Bởi luân hồi mà trả nợ thường mạng, là nhơn quả xoay vần. Khuyên đời đừng gọi mắt chưa thấy nên chẳng tin, cứ làm dữ mãi (tin tại phải lý, lựa chờ mắt thấy, đợi mắt thấy đà chết rồi còn gì! ).
Xưa có kẻ hỏi thầy Trình -tử rằng: ‘ Phật nói chết rồi đi đầu thai nữa, sự ấy thấy thiệt chăng? Thấy Trình -tử nói: ‘ Sử ấy nói có nói không cũng khó hiểu. Song xét lời đức thánh Khổng -tử dạy rằng: ‘ Vị tri sanh, yên trí tử ‘ (chưa biết sự mới sanh đâu biết sự thác rồi), do một câu ấy thì đủ hiểu rồi ‘. Coi Trình -tử và ông thánh đời Tống ; mà chưa dám gọi không luân hồi đầu thai. Còn xét lời nói đức thánh Khổng -tử, đâu biết việc thác, thì sự luân hồi đầu thai không phải huyễn. 
Ông Châu -liêm -Khuê tự Mậu -thức, là thầy hai ông Trình -tử, Trình -Hi, Trình -Hạo, (Y Xuyên với Minh Đạo). Khi ấy ông Châu -liêm -Khuê hỏi thầy Huỳnh -Long-Nam thiền -sư rằng: ‘ Chẳng hay đạo Phật có dạy sự nhiệm mầu riêng hơn đạo nho chăng? ‘ Huỳnh -Long Nam thiền -sư nói: ‘ Thầy hãy xét các câu sách nhà nho của thầy như đức Khổng -tử nói: ‘ Triêu văn đạo, tịch tử khá hỉ ‘ Nghĩa là ‘Sớm mai nghe thấu mùi đạo, chiều thác cũng đành ‘. Xét đạo ấy nghĩa là chi? Còn ông nhan -tử không đổi sự vui, là vui việc gì? Xét ra lý hai câu ấy, lâu lâu mới biết hiệp cái nhiệm mầu của đạo Phật, chớ không chi lạ mà hỏi ‘.
(Đạo là thông hiểu sự phải, chắc ý mà làm, chẳng hồ nghi chi hết, vì biết số mạng trời định, cứ phải mà làm, tố nào theo tố nấy, chẳng phải rán cượng cầu mà đặng, nên đức Khổng -tử nói: ‘ Nếu cầu đặng sự giàu, tuy ra sức mệt nhọc, làm việt hèn hạ như kẻ đánh xe, mà đặng giàu ta cũng rán chịu cực chịu nhục mà làm cho giàu. Nếu tại số trời định, có cượng cầu cũng vô ích, thì thà an phận mà theo tố, là chỗ ưa của ta ‘. Nên ông Nhan -tử thông mùi đạo, cứ giữ đức hạnh học hành sửa mình gọi là vui theo tố bần tiện, chớ không rầu buồn sự nghèo khó, nên sau ngày mãn phần làm chức Tu -văn -Lang tại Âm phủ cũng đồng liêu với thầy Tử -Hạ. Đức thánh Khổng -tử cũng nói: ‘ Thực sơ phạn, ẫm thủy, khúc hoăng nhi chẩm chi, lạc tại kỳ trung hỉ. Ăn cơm rau, uống nước lã, co tay làm gối nằm, ngài cũng vui vậy, là tại biết đạo, biết mạng, tố nào theo tố nấy. ‘ Quân tử vô nhập, nhi bất tự đắc ‘. Người quân tử không gặp cảnh nào mà chẳng vui, bởi vậy ngài mới thành thánh. Người đời không biết đạo, lòng tham vọng tưởng, cượng cầu cực khổ, không lợi lại bị hại, mau chết mà mắc tội nhiều, hại tới thân kiếp sau và để họa cho con cháu. 
Người đời xem Ngọc -lịch mà nửa tin nửa nghi, chưa dám đoán chắc là tại học chưa đủ lý ; té ra gặp phước mà bỏ qua. Nếu hiểu nhơn quả đời trước làm lành dữ, đời nay chịu phước họa. Đời nay làm lành dữ, thì kiếp sau chịu phước họa mà còn nghi chi nữa? Nay nhờ ơn trời, nhậm lời Thập vương chư thần, cho truyền Ngọc lịch đủ bằng chứng khỏi nghi, cũng như tích Lâm -tự -Kỳ sống lại, ghi lại cuốn Hồi -dương nhơn -quả thì mau ăn năn làm phước chuộc tội nếu đợi gần chết ăn năn sao kịp? 
———–
TÍCH TRUYỀN NGỌC LỊCH MÀ CỨU HỒN MẸ
Tỉnh Tứ Xuyên, thân Dậu đường, ông Viện- cẩn- An mãn phần, để một trai lại, tên là Dức- Sơ mới bảy tuổi. Vợ Cẩn An là Thiệu- thị thương con ốm yếu, nghe lời họ bày phép bổ nguơn, mỗi ngày dùng gà mập, nấu lấy nước thịt gà làm canh cho con ăn cơm. Nên mua gà nhiều lắm, đào trùng dế, nuôi cho mập đặng nấu cho con ăn. Dức-Sơ 15 tuổi Thiệu- thị bịnh ghẻ đau nhức cùng mình, như dế
cắn gà mổ, mà cũng còn nhắc đầy tớ gái, làm gà cho con ăn. Đức-Sơ hiểu ý liền
cản cấm không cho làm gà nữa. Thiệu thị đau bảy năm, gần chết làm gà gáy, dế kêu, cào rách mình mà chết! Đức-Sơ khóc kể vì mẹ thương mình, nên sát sanh mới bị quả báo, liền thề cữ sát sanh Cách một năm có nàng Ning-Cô là chị con nhà bác, gả cho Tiền bị đẻ mà chết. Hồn xuống Nhựt-điện, vua xem bộ phán rằng: ‘ Nàng nầy tội nhiều, đáng bị sản nạn, giao qua Nhị-điện hành hình ‘. Phán quan tâu rằng: ‘ Viện-ninh-Cô có khuyên cha mẹ chồng đừng đốt cây khô nhiều kiến, đã ba lần. Lại khuyên chồng khắc in van giới sát
cho người 5000 tờ và phụ in kinh Quan-âm phóng sanh văn 3000 tờ. Táo quân tâu Thượng-đế cho sống thêm 30 năm nữa. Vua Nhứt-điện đứng dậy phán rằng: ‘ Lành thay! ‘ Liền sai kẻ áo xanh cầm phướng đưa hồn về. Ra tới cửa ngõ đỏ, có thắp đèn vàng, nghe tiếng kêu rằng: ‘ Ninh-Cô cứu ta với! ‘ Ninh-Cô ngỏ thấy thiếm là Thiệu-Thị đầu tóc chôm bôm, mình máu lội bộ, chạy theo khóc rằng: ‘ Cháu sống lại nói cho con ta hay, rằng ta bị khổ dưới âm-phủ bảo làm phước mà chuộc tội cho ta, nếu khỏi tội, ta về cho chiêm bao mách bảo trả lời. Xảy thấy quỷ tóc đỏ cầm chĩa đâm họng Thiệu thị mà dẫn đi, Ninh cô sống lại, thuật chuyện… Đức sơ hay, liền lạy Phật làm chay, tụng kinh tới 19 năm mà không thấy chiêm bao. Cưới vợ là Thi thị, cũng cữ sát sanh. Sau thấy kinh Ngọc Lịch, Đức Sơ nguyện sao tả cho người đặng chuộc tội mẹ. Mới tả được 120 bổn lẻ, cho mới được 108 cuốn. Nhằm niên hiệu vua Càn-long trào Thanh, là năm canh ngũ, đêm rằm tháng giêng, chiêm bao thấy Thiệu thị về vỗ lưng con mà khen rằng: ‘ Con thiệt có hiếu. mẹ ra khỏi ngục, nhờ phát Ngọc lịch 49 người hồi tâm, vua đà tha tội, lại cho về mách bảo con hay, hồn mẹ được về ở tại mã, giờ tý ngày 18 nầy, sẽ đi đầu thai hưởng phước. Còn con cũng đặng sống lâu nữa ‘.
Đức Sơ hỏi: ‘ Cha tôi bây giờ ở đâu? ‘ Thiệu thị nói: ‘ Đầu thai đã lâu, lại chú giải kinh Nhơn quả với Thiệu thơ, nên thi đậu làm quan và mạnh khoẻ ‘. Đức Sơ hỏi: ‘ Ở tại xứ nào? ‘ Thiệu thị không nói, xơ Đức Sơ thức dậy. Đức Sơ thuật chuyện cho vợ nghe…Thi thị nói: ‘ Tại mình mơ tưởng sao tả Ngọc lịch nên chiêm bao thấy vậy ‘. Sáng Đức Sơ dọn đồ ăn bưng tế mã mẹ và đốt giấy áo, vàng bạc, vái rằng: ‘Nếu mẹ cho con thấy chiêm bao nữa, thì con mới tin chắc ‘. Đêm ấy, Đức Sơ thấy Thiệu-thị về điểm mặt Thi-thị mà mắng rằng: ‘ Mầy ghét chồng sao Ngọc-lịch nên mầy xé năm cuốn, thiếu chút nữa mà hại ta! Lại nói cho chồng không tin điềm thiệt, mầy sẽ mắc họa bây giờ ‘. Đức-Sơ giựt mình dậy hỏi vợ, sao mình xé 5 cuốn Ngọc lịch. Thi thị nói: “Đừng có nói yêu nói ma, có ba điều không đáng tin lắm: 1. Cữ sát sanh, không cho đồ sống vô nhà, như sãi vãi một thứ; 2. Đêm nào ngày nấy, thầy sãi tụng kinh hơn hai mươi năm mà cũng còn mắc tội dưới âm phủ! Giá gì sao mấy bổn kinh mà phước nhiều vậy? Còn tin là nghĩa gì? 3. Nói tôi xé 5 cuốn, sao mình không nghĩ? Mình viết rồi cất vô tủ khóa lại, tôi làm sao mở đặng mà xé, còn tin nỗi gì? Chẳng phải thiệt hồn mẹ về mách bảo đâu! Ấy là mình vọng tưởng mà thấy bậy, e không bao lâu, sẽ điên cuồng mà chớ! ” Đức Sơ nghe nói lưỡng lự, vì cũng phải lý dễ nghe. Đêm 17 qua ứng mộng bên nhà em
Thi thị và ứng mộng nhà cháu là Ninh-Cô, rồi ứng mộng dâu con mà mắng rằng: ‘ Mồng sáu tháng bảy năm ngoái Châu-phụng-Cô là gái xóm nầy vào nhà ngồi chung với mầy mà thêu giày, mầy có lấy một cuốn Ngọc lịch để trong rổ may. Đêm sau mầy giận chồng mầy không cho Phụng-Cô vô nữa, nên
mầy xé 5 bổn Ngọc lịch. Bữa sau em mầy là Thị-Phúc đến thăm, thấy kinh rách, năn nỉ xin về đóng lại dán lại viết vô mà cho người, Âm phủ đã ghi phước cho Thị-Phúc. May sao con ta để vô tủ mà khóa, phải không thì mầy cũng xé nữa! Nay lại chối lức đặt chuyện ba điều không đáng tin, tội già làm nặng lắm. Táo thần với Thổ địa đã chịu cho tà quỉ vô nhà hành mầy chạy đâu
cho khỏi họa! ‘ Nói rồi xô đổ bàn để đồ trang điểm một cái rầm! Vợ chồng giựt mình thức dậy! Đức -Sơ hỏi vợ tin không! Thị-thị nói: Ai tin thì gọi có, ai không tin thì gọi không ‘. Xảy thấy một đống khói đen bay vô cửa phòng! Thị thị rùng mình, ngó chồng mà nói rằng: ‘ Mình tả thêm ít cuốn nữa, thà tin là có, chớ gọi là không ‘. Đức Sơ biết vợ có xé kinh thiệt, nên mới nói như vậy. May mẹ đã đầu thai, nên tin chắc, thôi cậy sãi tụng kinh nữa, quyết lòng tả Ngọc lịch làm phước.
Đêm ấy Thi-thị phát óng, lưng vai đau nhức như đánh như dần. Rước thầy thuốc coi mạch. Thầy thuốc nói: ‘ Ấy là âm độc làm ghẻ ác, phần thím có thai, nên không dùng thuốc nóng mà trị, thế phải chịu phép! ‘ Đức Sơ rầu lắm. Kế em vợ là Thị Phúc ghé. Ninh-Cô cũng đến thăm, đồng thuật chuyện chiêm bao, bảo Dức-Sơ van vái. Đức Sơ vào bếp, vái ông Táo, nguyện tả một trăm bổn Ngọc lịch mà cầu cho vợ mạnh. Thi thị đương nóng mê, vùng dậy quì dưới đất, lạy khan mà nói rằng: ‘ Từ rày sắp lên, tôi tin Ngọc lịch, tình nguyện bán hết đồ nữ trang mướn tả Ngọc lịch, cho người mà chuộc tội ‘. Xảy thấy ông đội mão thất tinh, bận áo đen, đuổi đống khói đen dưới giường lăn ra bay ra mất. Thi-thị bớt nóng hết sưng lưng vai (chứng phát-bối). Bữa sau sanh con trai, mẹ con mạnh khoẻ. Nội trong hai tháng, vợ chồng mướn nhiều người tả đủ một trăm bổn Ngọc-lịch cho người. Bởi vợ chồng cám ơn thần, nên biên sự tích vào đây mà khuyên đời, không dám giấu sự lỗi.
———–
BỞI CHÊ NGỌC LỊCH BỊ PHẠT NHÃN TIỀN
Phan ngưỡng Chí là học nho, không tin Ngoc lịch, viết bậy vô mà kiêu ngạo. Phê tại câu: ‘ Đâu thấy hồn ma mang gông ‘. Đề ba chữ son rằng: ‘ Thị chi chỉ ‘. (rất phải lắm). Bởi mực mấy bài từ Nhứt điện tới thắt điện. Tại Ngũ điện lấy son gạt tréo. Trên câu nói: ‘ Uống rượu lảng phí, ‘ nó đề hai chữ son lởn. ‘ Khả tiếu ‘ (Tức cười quá! ). Chỗ Thập điện nói câu: ‘ Đàn bà con gái bị học trò gật nên thuận theo thất tiết… ‘ Nó đề II chữ mực: ‘ Phụ nữ tự kỉ tầm tử, dữ nam tử hà thiệp?’ (Tại phụ nữ liều mình, đàn ông có can cớ gì? ‘ Chỗ nói đầu thai, nó đề hai chữ son: ‘ Loạn họa! ‘ (nói bậy! ) Chỗ Mạnh bà, mấy câu ấy, nó chấm mực vài hàng. Trên bốn chữ ‘ Khổ căn nan đoạn ‘ (còn đầu thai cõi trần cực khổ) nó khuyên son trết! Tới câu: ‘ Làm hồn ma mang thây nữa,’ nó khuyên son 9 khuyên. Từ ấy sắp sau, chỗ bôi chỗ gạt tréo, cho tới chỗ câu: ‘ Hào quang chiếu sáng, Quan âm giáng hạ,’ nó vùng phát điên. Nửa đêm nó mở cửa chạy ra phố chợ, hai tay chống đất, bò càng, lật phao tay đổ máu, trầy đầu gối lả giò, bò một hồi làm như bị trói cẳng, mọp đó la lớn rằng: ‘ Bớ con ơi!! Mau đem cuốn kinh Ngọc lịch ra đây, đặng đưa cho lối xóm, đem cúng trong chùa Tây Nhạc đại đế ‘. Con nó về lấy kinh trao cho xóm, trở vô thấy nhà phát hỏa, cóng cẳng chạy ra không kịp nên bị chết thiêu! Nó nóng họng chạy về chữa lửa, thấy vợ nó là Hoăng thị lõa thể (trần truồng) chạy ra, Ngưỡng Chí mắc cở nói với xóm rằng: ‘ Người đời đừng bắt chước tôi ở độc nhiều năm, nay thấy Ngọc lịch, còn không tin mà chừa lỗi, lại phê ngạo nhiều câu, nên bị trời phạt nhãn tiền độc quá! ‘ Nói rồi lửa cháy tới, cứng cẳng chạy không đặng, phải bị chết thiêu. Bầy chó nhảy vô kéo thây ra, xé ăn tới xương cốt! Xóm coi thấy phê trong Ngọc lịch như vậy, ai cũng rùng mình! Mới biết tại tội nặng quá, nên trả lẹ lắm!!! Còn vợ nó mắc cở trốn xứ nào bặt tin không biết! 
———–
GANH GHÉT MUỐN DẸP NGỌC LỊCH BỊ BÁO NHÃN TIỀN
Tại xứ Tây hương, chùa Thổ cốc (ông Trương), có một sãi, tên Đạt Viễn, đặng cuốn ngọc lịch, cầm qua am Thuần dương mà coi với đạo -sĩ (thầy pháp) tên Quán-Tiên. Hai thầy coi tới chỗ thầy chùa thầy pháp ăn tiền tụng mướn mà tụng sót, thác sau phải vào sổ Bổ kinh mà tụng bổ, vân vân. Lại coi tới chỗ luân hồi, nói thầy chùa thầy pháp có tội nhiều, các ngục hành hình không đặng, phải cho uống thuốc mê, đầu thai tử phúc trung, hoặc chết yểu nhiều kiếp, cho lú quên hết kinh chú, rồi mới hành hình, vân vân. Đạt -Viễn nói: ‘ Chúng ta nhờ cậy tụng kinh mướn mà khá, nếu Ngọc lịch lưu truyền nhiều chỗ, thì nghề làm ăn chúng ta phải ế! Dầu xé đốt Ngọc-lịch cũng không hết đặng, biết tính làm sao? Quán-Tiên nói: ‘ Tôi biết cầm cơ thỉnh tiên. Thầy sẽ bảo các sãi rủ người ngoài, hoặc bổn đạo đến coi thỉnh tiên. Tôi làm bộ cơ lên, viết chữ nói phá Ngọc-lịch thì chúng hết tin ‘. Đạt -Viễn đi khoe cùng nói tại am Thuần-dương (Lữ-đồng -Tân) thỉnh tiên linh lắm, ai cầu hỏi việc gì, thì đến mà hỏi, hoặc xin toa thuốc xin bùa, thần tiên cũng cho ‘. Thiên hạ nghe nói lưu truyền lần ra, nên ngày nọ nhiều người đến am Thuần-dương coi đạo -sĩ thỉnh tiên tới dưng hương chật trong chật ngoài. Quán-Tiên làm bộ lập bàn xông cơ, lúc đỏ đèn niệm chú, phun nước đốt bùa… Một lát cơ lên, đồng bưng cơ, thầy lại coi, viết chữ trên mâm cây vuông đổ cát. Quán-Tiên kêu ai biết chữ lên coi chữ tiên viết, Người biết chữ lên đàn, coi thấy trong mâm cát có bảy chữ lớn rằng: ‘ Ngô Thuần-dương tổ-sư chí hỉ ‘ và chín chữ nhỏ: ‘ Phàm nhơn khấu vấn giả, tốc tốc lai vấn ‘. (Nghĩa là: Ta là Thuần-dương tổ-sư đến rồi. Ai hỏi sự chi, mau lên mà hỏi). Ai nấy nghe đọc như vậy, thì rùng rùng lên đàn. Quán-Tiên nói: ‘ Đừng lại đông lắm, hỏi rộn không nên, vô từ người mà hỏi tử tế ‘. Đạt -Viễn quì lạy vái lớn rằng: ‘ Chẳng hay trong đời việc chi quí hơn hết, xin tổ-sư chỉ dạy Cơ viết nhiều chữ nhỏ như vầy: 
‘ Thứ nhứt kính đạo -sĩ (thầy pháp) thứ nhì trọng thầy chùa, Đạo -sĩ dâng sớ, cầu đặng sống lâu. Hòa-thượng tụng kinh siêu-độ, đưa vong hồn về Tây-phương. Duy có một chuyện không nên nghe, là thứ Ngọc-lịch bảo ăn năn chừa lỗi làm lành mà trừ tội! Có đâu dễ như vậy! Nhiều người tin khắc bản lưu truyền mà gạt kẻ dốt phải lầm! Nếu ai gặp Ngọc-lịch thì xé mà đốt đi, thì đặng phước lớn ‘.
Người coi đọc rồi, lấy giấy chép ra chưa rồi bài ấy. Xảy thấy hào quang xanh lét chiếu vô đàn, Quán Tiên rùng mình té xuống đất, Đạt Viễn cũng nhào theo. Người chép bài ấy, đứng dựa bàn Lữ tổ, trợn mắt hét lớn rằng: ‘ Ta là Liễu tiên đây! Vưng lịnh tổ sư truyền dạy cho đời rõ: Bởi vì người đời vô phước làm dữ không ăn năn. May nhờ trời nhậm lời Thập vương các thần tâu, ban phát Ngọc Lịch cho Đạm Si đem về, truyền người đời xem mà chừa lỗi, không dám phạm nữa, lời thần tiếng Phật tiên thánh khuyên răn. Thượng đế truyền chỉ Đô thành hoàng mỗi ngày canh phân phiên các du thần ngày đêm soi xét nhơn gian lành dữ. Nay có thầy chùa là Đạt Viễn, thầy pháp là Quán Tiến, dám ganh ghét Ngọc lịch, lên cơ mà giả nói gạt đời. Tội hai đứa ấy đáng đọa địa ngục hành tội cho đến kiếp rồi giam ngoài ngục A tì, không đặng đầu thai. Nếu ai ghét Ngọc lịch, mà không tin, cũng phạt như Quán Tiên Đạt Viễn vậy ‘. Nói rồi, ngó thấy cơ tự nhiên không ai vịn mà lên, viết 33 chữ như vầy: 
Tâm bịnh tư tương tâm dược y.
Huyến nhục huân tính thiểu ngật ta.
Thơ trung tự hữu ba la mật.
Năng sử oan khiên tận thoát ly.
Ngô Liễu Tiên khứ dã
Thích nôm: 
Bịnh tâm, thời trị thuốc bằng tâm.
Huyết thịt ít ăn đặng phước thầm.
Ngọc lịch thánh thần tiên Phật dạy.
Độ đời khỏi đọa, hết mê lầm,
Ta là Liễu Tiên đi rồi
Người coi chữ sao chép rồi, bước xuống nói rằng: ‘ Hồi nãy tôi chép còn một ít chữ thì hết bài trước. Xảy thấy một ông mặt xanh môi đỏ, lên đàn, bảo tôi truyền lời Lữ-tổ dạy, rồi đằng vân bay mất! ‘. Ai nấy hãi kinh về hết. Không biết Quán Tiên với Đạt Viễn đâu mất! Cách vài bữa nghe nói Quán Tiên với Đạt Viễn hai người bầm mình la hoài cho tới chết, mới biết quả báo nhãn tiền lẹ quá! Ghê thay!! 
———–
ĐỊA -TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT GIÁNG BÚT
(Tựa Công-quá-cách)
Người đời không cho con học chữ nho, nên không thông đạo lý. Cứ tưởng cúng chùa dưng hương là lành, rước sãi thầy tu tụng kinh làm chay thì siêu độ vong hồn đặng! Các điều ấy có phải làm lành làm phước đâu? Làm lành là làm phải lý, lại khuyên người làm phải, thì trời xuống phước. Ta thấy người đời ở với cha mẹ không hiếu gì, cha mẹ mãn phần thì nói: ‘ Sa địa ngục rồi! Phải rước sãi làm siêu độ! ‘ Các sãi bày ra làm mị, như gởi kho vàng bạc, phá ngục, bong đầu phướng đặng tiếp dẫn vong hồn lên Tây phương. Có lẽ gì thọc cây tre mà phá đặng địa ngục? Nếu quả như vậy, thì kẻ giàu sang làm dữ, thác rồi con cháu rước đông sãi tụng kinh niệm Phật thì vong ra khỏi ngục sao? Người hiền lành mà nghèo, không tiền rước sãi làm như vậy, thì không ra khỏi ngục sao? Như vậy trời đất cũng vị nhà giàu mà hà hiếp nhà khó hay sao? 
Còn như Phật ở Tây phương, công đâu mà vị nhà có tiền phải cứu vớt? Tâm là Phật, tâm là thiên đường, lòng lành thuận lòng trời thì cầu vong khỏi tội, lòng chẳng lành nghịch lòng trời thì cầu không đặng. Nếu không làm phước cứ mỗi ngày rước thầy tụng kinh cầu siêu hoài, Phật muốn cứu cũng không lẽ cứu được. Ta cũng là Phật lẽ đâu không hiểu phép. Làm lành tuy không cầu Phật mà Phật cũng phò hộ. Nếu làm dữ, có lạy Phật cho đến sói đầu, cầu cũng không đặng. Ta khuyên đời nghe lời ta, cứ ở theo luật Công quá cách, đừng làm các điều dị đoan trái lẽ, tuy chẳng cầu ta cũng độ vọng, không cần rước sãi.
VĂN-ĐẾ BÁ-TỰ-MINH (GHI TRĂM CHỮ DẠY ĐỜI)
Quả dục tinh thần sảng Dục ít tinh thần khoẻ.
Đa tư huyết khí suy, Lo nhiều khí huyết phai.
Thiểu bôi bất loạn tánh. Vài chung khôn loạn tánh.
Nhẫn khí miễn thương tài. Một nhịn khỏi hao tài.
Quí tự tân cần đắc. Sang tại siêng năng, đổ.
Phú tùng kiệm ước lai. Giàu nhờ tiện tặn dai.
On nhu chung hữu ích. Dịu mềm sau có ích.
Cường bạo tất chiêu tai, Hung dữ sẽ mang tai.
Thuận xử chơn quân tử.
Khiêu toa thị họa tại.
Am trung hưu sử tiễn.
Qai lý Phóng ta ngai.
Dưỡng tánh nghi tu thiện
Khi tâm mạt ngật trai,
Nha môn hưu xuất nhập
Hương đảng yếu hòa hài.
An phận thân vô nhục.
Nhàn phi khẩu vật khai.
Thế nhơn y thử khuyến.
Nạn thối phước tin hồi.
Khéo xử nên quân tử,
Xui mưu rấm họa thai.
Chốn thầm đừng bắn lén
Cảnh nghịch giả ngây hoài.
Tánh tốt gìn tam thiện.
Lòng gian uổng thập trai.
Nha môn đừng kiện cáo
Làng xóm chớ chê bai.
Bổn phận nương cơ tạo.
Thị phi lấp lỗ tai.
Lời nầy ai giữ đặng.
Nạn khỏi phước lâu dài.
ĐƯƠNG -THỦ TRAI -KỲ
(một năm ăn chay 61 ngày vía lớn)
Bốn ngày tháng giêng: mồng 1, lệ tế trời và vía Phật Di -Lạc, (vái…) Mồng 8 vía Ngũ -điện Diêm La Vương (vía ăn năn làm lành như mồng 1). Mồng 9 vía Ngọc-hoàng thượng đế (bái cải quá…) Rằm Thiên quan đại đế.
Sáu ngày tháng hai: Mồng 1 vía Nhứt điện Tân -quáng vương (nguyên y Ngọc lịch). Mồng 2 vía Thổ địa chánh-thần. Mồng 3 vía Tử -đồng Văn -xương đế quân. Mồng 8 vía Tam điện Tống đế vương (vái…). Rằm vía Thái thượng Nhạc nguyên soái (tụng Cảm ứng). 19 Quan-âm, (tụng Phổ môn Cứu khổ, Cao-vương).
Sáu ngày tháng ba: Mồng 1 vía Nhị -điện Sở-giang-vương (vía…). Mồng 2 Chơn -Võ Huyền thiên thượng đế (nguyện tụng kinh Báo ân). Mồng 8 vía Lục điện Biện -thành -vương (vái…). Rằm Lôi -đình đại tướng. 16 vía Chuẩn -đề Bồ -tát. 27 Thất điện: Thái sơn vương, 28 Đông -nhạc đại -đế.
Năm ngày tháng tư: Mồng 1 Bát đẳng vương (vái…) Mồng 8 Cửu điện Đô thị vương (vái…) 14 Lữ Tổ Rằm Thích -ca Như -lai (tụng Kim -cang). 17 Thập -điện Chuyển -luân xương (vái…)
Sáu ngày tháng năm: Mồng 1 Nam-cực tiên ông. Mồng 5
Lôi đình Đặng thiên quân, 11 Đô-thành – hoàng. 13 Quan Thái tử, (14, rằm 2 ngày cấm phòng).
Bốn ngày tháng sáu: Mồng 1 Rằm 19 Quan-âm thành. 23 Quan đế Linh quan. 
Bốn ngày tháng bảy ; Mồng 1 ngày sóc. Rằm Địa -quang đại đế. 18 Diêu-trì Tây vương mẫu. 30 Địa tạng vương (vái. ..).
Bốn ngày tháng tám: Mồng 1 Diệu -tế chơn-quân, Mồng 3 Táo -quân (tụng kinh. ..) Rằm Thái âm hoàng hậu (tụng thái -âm). 24 Táo mẫu (bà Táo) tụng kinh ông Táo).
Bốn ngày tháng chín: Mồng 1 Nam-đẩu. Mồng 9 Phong đô đại đế, 13 vía Mạnh -bà. Rằm ngày vọng. 
Năm ngày tháng mười: Mồng 1 Đông-hoàng đại -đế. Mồng 8 Niết bàn (phóng sanh). Mồng 10 ngày cấm phòng. Rằm Thủy quan đại đế. 30 Châu tướng quân (ông Châu).
Bảy ngày tháng mười một: Mồng 1 ngày sóc. Mồng 4 Khổng tử thánh nhơn. Mồng 6 Tây nhạc đại đế. Rằm ngày vọng. 17 A Di Đà Phật (tụng Di Đà). 19 Thái dương (tụng kinh Thái dương), 23 Trương tiên (Phàm vía này, vía Linh quan Thái tử, ông Châu, vía ông Quan đế, đều tụng kinh ông ; Minh thánh Vĩnh Mạng).
Sáu ngày tháng chạp: Mồng 1 ngày sóc. Mồng 8 Thích ca. Rằm ngày vọng, 23 đưa ông Táo chánh vía 24, 30 chư Phật giáng thế. 
Tháng nào thiếu, 29 thế 30. Tháng nhuần tính theo tháng trước. 
Nếu ai ăn chay vía trước nhiều không nổi, thì giữ chay nầy. 
BÀI SÁM HỐI QUÁ, TIÊU TỘI NHỰT KỲ
Trần -huyền -Trang là thầy Tam-Tạng thỉnh kinh Tây-phương về, có dưng sớ cho vua Đường Thái -Tôn, mỗi tháng có một ngày nhằm giờ lay sám hối cho nhằm hướng chư Phật hội nghị. Vái nguyện ăn năn chừa lỗi cữ và nguyện làm phước mới cho tiêu tội. Chẳng phải lạy không mà trừ tội đặng. Phật cho hối quá tùng thiện. 
Tháng giêng, tảng sáng ngày mùng 1, lạy hướng nam 4 lạy, vái. ‘ 2, mùng 9, 5 giờ sáng, lạy hướng nam 4 lạy, nguyện. ‘ 3, ‘ 7, tối 10 giờ, lạy hướng tây 4 lạy, tháng 4, mùng 8, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng đông 4 lạy, nguyện ‘
‘ 5, ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
‘ 6, ‘ 7, tối 10 giờ rưỡi lạy hướng nam 4 lạy, ‘
‘ 7, ‘ 6, mặt trời lặn, lạy hướng đông 4 lạy, ‘
‘ 8, ‘ 8, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 9, ‘ 9, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 10, ‘ 1, đứng bóng, lạy hướng nam 9 lạy, ‘
‘ 11, ‘ 3, đỏ đền, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
‘ chạp ‘ 3, mặt trời lặn, lạy hướng tây 9 lạy, ‘
Ngày ấy ăn chay niệm thầm: Nam mô A-di-đà Phật, đặng lấy câu lạy mấy câu. Chừng lạy, thắp nhang ba cây, căm trên hương, nhắc ghế (bàn) để ngay hướng đó, có đèn cũng đủ, à quả tự ý, không ngơ cũng được. Bận áo dài, đứng chắp tay iệm 6 chữ Di-đà 100 câu, ít nữa 10 câu. Rồi vái tên họn mình gày nay nguyện cải ác tùng thiện. Ở theo Công-quá -cách, cầu êu tội cũ, mà nhờ phước trời Phật thánh thần cho, rồi lạy y số. ân hương, dẹp bàn ghế, niệm Phật. Làm được như vậy ba ăm, thì cảm động bề trên, trong nhà bình an, tai qua nạn khỏi, làm hoài chung thân, sống được phước, thác khỏi tội. Cũng như lặt bàn lạy vía Thập -vương, lạy Thập -vương cứ hướng bắc. 
VĂN-XƯƠNG ĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ DẠY CẦN GẤP
Ta đã thấy chiếu chỉ Thượng -đế ban cho Bắc -đế (Huyền hiên Thượng -đế) nội tháng chạp, dẫn âm binh đi tra xét tội bất hiếu mà phạt, có hiếu thưởng phước, là xét các mồ mả tử tế, thì là coi con cháu là tên họ gì mà lo cho cha mẹ ông bà, thì hưởng phước lộc thọ gọi là thưởng thiện (hiếu). Nếu mả nào hoang lạnh, tồi tệ, bỏ bê thì tra ra con cháu bất hiếu, thì phạt tai hoạ, bịnh hoạn, nghèo khổ thác yểu. Tùy theo hư nhiều ít ; mà hạt nặng nhẹ. Tại con cháu không biết cội rễ, nên phạt gia đạo hông an. Vì Huyền -thiên thượng -đế là giáo chủ việc báo ân, nên in thưởng có hiếu và phạt bất hiếu. Nên ta cho đời hay trước là giữ. 
———–
KHẮC BẢN NGỌC -LỊCH, THỈNH TIÊN CHO TỰA
Lữ Tổ giáng bút: 
Người đời làm dữ thái quá, nhờ ơn Địa -tạng truyền chỉ Phong-đô, Thập -vương dọn Ngọc -lịch, xin chỉ Thượng -đế, ban phát trung giới cho người ăn năn chừa lỗi, làm phước đền tội. Lúc đời Tống, nhằm nước Liêu niên hiệu Thái -bình năm Canh-ngũ, sãi nước Liêu là Đạm Si lãnh về, giao cho Phạm nhứt Chơn là Vật Mê đạo -nhơn truyền cho đời. Sau ta đã dọn 20 khoảng xin chỉ ân -xá, giáng bút đem vào sau Ngọc -lịch. Thượng -đế truyền chỉ các thành hoàng mỗi ngày Canh-thân sai du thần đi xét những người tin Ngọc -lịch ăn năn chừa lỗi làm lành, thì cho tiêu tội, ai khắc bản in thí thì cho phước, có bịnh hứa in mà cầu tiêu bịnh lượng theo số mà cho. Bất luận cầu việc chi, cũng cho nguyện in thứ Ngọc -lịch cho nhiều thì đặng. Nay khắc bản thêm, xin ta cho tựa ta nói thêm ít lời. Sự thiên -đường địa -ngục rõ ràng, đừng nghi không có, cứ làm dữ mà mang khổ. Y theo Ngọc -lịch, ăn năn chừa lỗi, làm lành làm phước chuộc tội, công lớn thì theo tiên Phật thánh thần, dư phước đức con cháu được hiển vinh miên viễn. Lành ít sau khỏi sa địa -ngục, đầu thai hưởng phước. Khuyên đời chớ hồ nghi. 
LIỄU -TIÊN GIÁNG CƠ TỰA CHÓT
Thượng -đế cho tựa kinh nầy là Từ -ân Ngọc -lịch, nghĩa là như lịch ngọc thường ngày xem, ban ân xá, tha tội kẻ ăn năn. Nếu làm một phước cho trừ hai tội cũ. Làm dư phước thì Táo -quân tâu thưởng nhiều sự may, vân vân. 
———–
MƯỜI -CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH, TƯỢNG PHẬT
* Một là, những tội lỗi đã tao từ trước, nhe thì được tiêu từ. nàng thì chuyền thành nhe. 
* Hai là, thường được các thiên thần ùng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù,
* Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này. 
* Bốn là, các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc hùm beo tránh xa không dám hảm hại. 
Năm là, tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộnh. Diện mạo hiền sáng, mạnh khoẻ an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt. 
* Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ gia đình hoà thuận, phước lộc đời đời. 
* Bảy là, lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen. 
* Tám là, ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khoẻ, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt. Nhâm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân. 
* Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy. 
* Mười là, hay vỉ tất cả chúng sanh trồng các cân lành. Lấy tâm cầu của chúng sinh làm ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Phép, phước huệ rông lớn, chúng đạt lục thông, sớm thành Phật quả. 
ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY: 
Ấn tống Kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ tặt bịnh, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ Đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc. 
ẤN TỐNG KINH
Chúng con góp lòng thành Tâm Ấn Tống 1000 cuốn Kinh Nhơn Quả, Nghiệp và Luân Hồi để cầu an và cầu siêu.
Nam Mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật
Nam Mô a Di đà Phật. 
Nam Mô đương lai hạ sanh di lặc Tôn Phật. 
Nam Mô Quang Thế Âm Bồ Tát. 
Cầu An
Nguyện cầu hồng ân tam bảo. Thế giới Hoà Bình an lạc thịch vượng và Gia Hộ toàn thể thân bằng quyến thuộc Nội Ngoại, Ông Bà Cha Mẹ, Cô Chú Dì Dượng, Anh Chị Em con cháu Thân Tầm thường an lạc, Bồ đề tâm tân trưởng, Tu hành kinh tiến. 
Cầu Siêu
Cầu nguyện Hồi hướng công đức đến bảy đời phụ mẫu và tất cả Chư Vong Linh đồng bào tử nạn khắp cõi hoàn cầu được siêu sanh tịnh độ. 
Nam Mô đại nguyện địa Tạn Vương bồ tát Ma Ha Tát. 
CÁC NGÀY KỶ NIỆM
(Tính theo Âm-lịch)
THÁNG GIÊNG
Ngày 1.- Vía đức Di-Lặc. 
22.- Tổ Thập -Tháp (Phước -Huệ,chứng -minh Đạo sư Hội
Phật -giáo Trung-Phần) viên tích. 
23.- Tổ Khánh -Anh (Thượng -thủ Giáo -hội Tăng-Già toàn
quốc V.N. niên khóa II. Pháp -chủ Gióa -hội Tăng -già
V.N. niên khóa II) viên tịch 30.
THÁNG HAI: 
Ngày 8.- Vía Phật Thích -Ca xuất -gia. 
15.- Vía Phật Thích -Ca nhập – diệt. 
19.- Vía Phật Quán -Thế -Âm Bồ -Tát. 
20.- Vía Đức Phổ -Hiền Bồ -Tát. 
THÁNG BA: 
Ngày 16.- Vía Đức Chuẩn -Đề Bồ -Tát. 
THÁNG TƯ: 
Ngày 3.- Tổ Tuệ -Tạng (Thượng -thủ Giáo -hội Tâng già toàn
quốc V.N. niên khóa I) viên tịch. 
04.- Vía Đức Vân -Thù Bồ Tát. 
15.- Vía Phật Thích -Ca Giáng -sanh. 
20.- Bồ Tát Thích Quảng -Đức vị pháp thiêu thân
(nhằm 11-6-1963). 20.-
THÁNG SÁU: 
Ngày 15.- Đại -Thích -Nguyên-Hương vị pháp thiêu thân
(nhằm 4-8-1963).
19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -Tát. 
19.- Tổ Khánh -Hòa (Sơ-tổ Phong-trào Chấn -hưng
Phật giáo miền Nam) viên tịch. 
24.- Đại -đức Thích -Thanh-Tuệ vị pháp thiêu thân
(nhằm 15-8-1963).
26.- Thích -nử Diệu -Quang vị pháp thiêu thân
(nhằm 15-8-1963).
27.- Đại -đức Thích -Tiêu -Diêu vị pháp thiêu thân
(nhằm 16-8-1963).
THÁNG BẢY: 
Ngày 13.- Vía Đức Đại -Thế -Chí Bồ -tát. 
15.- Lễ Vu -Lan Bồn. 
30.- Vía Đức Địa -Tạng Bồ -tát. 
THÁNG CHÍN: 
Ngày 02.- Đại đức Thích -Quãng -Hương vị pháp thiêu thân
(nhằm 5-10-1963).
11.- Đại đức Thích -Thiện -Mỹ vị pháp thiêu thân
(nhằm ngày 27-10-1963).
19.- Vía Đức Quán -Thế -Âm Bồ -tát. 
30.- Vía Phật Dược -Sư. 
THÁNG MƯỜI MỘT: 
Ngày 01.- Tổ Huệ -Quang (pháp chủ G.H.T.G.N.V. niên khóa I)
viên tịch. 
07.- Vía Phật -A-Di-Đà. 
THÁNG CHẠP: 
Ngày 08.- Vía Phật Thích -Ca thành đạo. 
08.- Tổ Vĩnh -Nghiêm (Thiên-gia Pháp -chủ Giáo hội Tăng –
già BV) viên tịch. 
NHỮNG NGÀY TRAI
Thập trai: Mổi tháng mười ngày: 
Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30. 
(nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27).
Lục trai: Mổi tháng sáu ngày: 
Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30. 
Tứ trai: Mỗi tháng bốn ngày: 
Mồng 1, 14, 15, 30. 
Nhị trai: Mỗi tháng hai ngày: 
Mồng 1, 15. 
Tam ngoạt trai: Một năm ba tháng: 
Tháng giêng, tháng bảy, tháng mười. 
*** Những ngày trai không nên dùng các món
gia-vị như: hành, hẹ, nên, tỏi, tổi tây v.v…
*** Người tu hành ăn các món này thì tụng kinh
trì chú không linh nghiệm và khiêu gợi dục tình,
sanh thêm các tánh hung dữ. 
———–
NHỮNG QUẢ BÁO THIỆN ÁC VỀ CÂN GIAN ĐONG THIẾU
Sự kiện này phát sinh vào cuối năm Thanh Triều trong hộ Long
Cảnh tại Kinh Đông, có ông lão viên ngoại tên gọi Thôi Đức Phương,
ngày qua ngày sống rất sung sướng, nhân vượng tài vượng, đầy đủ sung
túc, ông có ba người con trai, đều đã cưới vợ.
Lúc ngày đại thọ 60 tuổi của ông lão viên ngoại, ông kêu ba người
con trai đến trước mặt mình, nói: “Con à, các con hãy nghe, lúc trước
ta xuất thân nhờ tay trắng mà khởi nghiệp, để giành được gia nghiệp
như hiện nay. Ta thành gia lập nghiệp chỉ nhờ một cái cân không tim,
cân này trong ruột có đong thủy ngân, lúc nhà ta thu mua, có thể mua
20 lạng tính thành một cân (Chú thích: Trung Quốc thời này tính 16
lạng là 1 cân), lúc nhà ta bán, có thể tính 14 lạng thành 1 cân. Hai mươi
năm trước, ta mua được mấy ngàn cân bông gòn, mỗi cân hơn 4 lạng,
người bán bông gòn lỗ nặng, tức giận lên phát bệnh thương hàn mà
chết. Đối với chuyện này, trong lòng ta rất hối hận và cũng có một ông
bán thuốc bắc, cũng bị chuyện tính toán của ta mà tức chết đi. Hiện giờ,
ta không chỉ có được phần gia sản, vả lại còn có con cháu đầy nhà, khi
các con đứng trước mặt ta, ta sẻ hủy cái cân này, từ nay về sau cải ác
hành thiện.”
Ba người con trai nghe được đều nói: “Cha đáng lẽ phải làm như
thế mà.”
Sau khi ông lão viên ngoại hủy bỏ cái cân không tim đó, từ đó về
sau ông cải ác hành thiện, ưa thích việc làm bố thí. Không ngờ, ông lão
viên ngoại từ khi hủy cái cân rồi hay làm việc thiện, gia đình lại xảy ra
nhiều chuyện không may. Không đến một tháng, con trai lớn của ông
bị bệnh nặng mà qua đời, con dâu lớn đi lấy chồng khác; sau khi lão
viên ngoại lo xong chuyện hậu sự của con trai lớn, con trai thứ cũng đột
nhiên phát bệnh và qua đời, con dâu thứ cũng đi lấy chồng khác; ông
lão viên ngoại vừa lo xong chuyện hậu sự của con trai thứ, lại đến con
trai thứ ba cũng tựa như vậy luôn, dâu thứ ba vì đang mang thai nên
không có bước thêm bước nữa. Gia đình gặp chuyện tang tóc liên tục
làm cho Thôi Đức Phương rất đau buồn, ông nói với người ta: “Tôi cân
lớn biến thành cân nhỏ, gian lận lại có được con cháu đầy nhà, gia đình
phát tài phát lộc. Nay tôi tích đức hành thiện lại mang đến cho gia đình
sự tang tóc, vậy chuyện nhân quả báo thật sự có hay không?”, hàng
xóm nghe được cũng nói là trời không có mắt.
Vào ngày này, con dâu thứ ba sắp lâm bồn, không hiểu sao suốt 3
ngày 3 đêm vẫn chưa sanh con được. Mời biết bao nhiêu bà mụ đỡ đẻ
cũng vô hiệu. Có người nói, nên giữ mẹ rồi bỏ con, người nói giữ con
mà mất mẹ, ông Thôi nghĩ gia đình mình lúc này toàn chuyện không
may, trong lòng càng buồn phiền hơn.
Trong lúc đang bối rối, có một vị hòa thượng đi đến trước cửa
hóa duyên. Lão quản gia từ trong nhà bước ra nói: “Đại pháp sư, ông
muốn hóa duyên thì xin đến nơi khác cho, cô Ba nhà tôi lâm bồn ba
ngày ba đêm rồi mà vẫn chưa sanh được con, lão gia nhà tôi đang buồn
phiền, không có tâm trí tiếp ông đâu, đạo tăng vô duyên rồi, không bố
thí đâu.” Hòa thượng nói: “Không sao cả, ông vô trình báo với lão gia
nhà ông, tôi có linh thuốc giục sanh, uống vào là sanh liền.”
Ông quản gia nghe được, không dám chậm trễ, vội đi trình báo
với chủ gia, sau khi nghe được, ông vội mời vị hòa thượng vào nhà.
Ông mời hòa thượng vào phòng sách, rồi hỏi thăm đại sư cư trú
tại đâu. Hòa thượng nói: “Tôi là người giao du, không nơi cố định, nơi
nào có duyên là tôi đi đến nơi đó.”
Sau đó, vị hòa thượng lấy thuốc ra. Thôi viên ngoại liền kêu người
mang xuống phòng sanh, tiếp tục nói chuyện với vị hòa thượng. Đang
nói chuyện có người đến báo, nói con dâu thứ ba sau khi uống thuốc
của hòa thượng thì sanh ra được thằng con trai. Thôi Đức Phương sau
khi nghe được mình đã có cháu nội, mừng lắm, nói với hòa thượng:
“Tăng thánh đúng là thần tiên.” Nói xong, ông lập tức ra lệnh cho
người hầu làm tiệc ăn mừng.
Sau khi làm tiệc xong, ông Thôi viên ngoại mời vị hòa thượng
tham gia nhập tiệc. Trong tiệc, lão viên ngoại nói: “Tăng thánh, tôi có
một việc không rõ, muốn hỏi Tăng thánh.”
Thôi Phương Đức nói: “Tôi có một cái cân không tim làm ác mà
khởi nghiệp, mấy tháng trước, tôi hủy bỏ cái cân đó, quyết tâm cải ác
hành thiện nhưng không hiểu tại sao thời gian chưa đến nửa năm, ba
người con trai của tôi đều qua đời, hai người con dâu đã tái hôn với
người khác, con dâu thứ ba này sanh được thằng cháu nội cho tôi, cũng
may là tôi chưa tuyệt giống nối dòng. Tôi không hiểu, tôi hành thiện tại
sao lại phải chịu ác báo đến thế?”
Vị hòa thượng cười lên và nói: “Ông không cần suy nghĩ nhiều,
tôi nói với ông, con trai lớn của ông là người thương nhân bán thuốc
bắc, ông hại ông ta mất thì ông ấy đầu thai làm con trai ông, đến đòi nợ
ông đó; con trai thứ hai là đến bại gia cho ông, con trai thứ ba là đến
gây tai họa động trời cho ông, ông đến tuổi già phải bị bệnh đau đớn và
đói khát chết đi nhưng vì ông đã cải ác hành thiện, ông trời có mắt, đã
thu hồi 3 người con trai bại gia của ông, ông được xem là người thiện
thứ nhất.”
Thôi Đức Phương nghe rồi, người như từ mộng thức tỉnh, nói: “
Đa tạ thánh tăng chỉ bảo, bây giờ tôi đã có một cháu nội, có thể nuôi
thành không?” Hòa thượng nói: “Cháu nội này của ông sẽ mang cho
gia đình và tổ tiên vinh quang, thay đổi môn đình.” Thôi Đức Phương
nghe được, rất vui mừng. Hòa thượng lại nói: “Thôi viên ngoại, ông
biết tại sao cân phải dùng là 16 lạng?” Thôi Đức Phương nói: “Nguyện
nghe thánh tăng chỉ bảo”. Hòa thượng nói: “16 lạng này đại diện cho
Bắc Đẩu Thất Tinh, Nam Đẩu Lục Tinh, ngoài tăng phước lộc thọ Ba
Tinh. Cho nên, ông đưa thiếu cho người ta một lạng thì hao phước,
thiếu 2 lạng thì hao lộc, thiếu 3 lạng thì hao thọ, ông càng đưa cho người
ta càng ít thì càng tổn hại cho mình càng nhiều. Ông nghĩ xem, một cái
cân ác tâm đã gây ra biết bao nhiêu nghiệp?”
Ông Thôi Đức Phương nghe được, cảm thấy người toát mồ hôi
lạnh, lại thêm lần nữa đa tạ sự chỉ bảo của hòa thượng. Từ đó, ông tin
vào tính phân minh của quả báo thiện và ác, không một chút do dự.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 8.14>
ghi chú: hình ảnh chi mang tính chất minh họa
———–
PHÓNG SANH HÓA GIẢI DỊCH BỆNH, CẢ NHÀ BÌNH AN
Những nông dân trên đảo Thái Hồ, chuyên làm nghề bắt cá, làm
lò mổ giết thú vật. Chỉ có Thẩm Văn Bửu không làm nghề này, cả nhà
hay làm việc thiện, khi thấy những người bắt được những con cá và
chim hay mua lại để phóng sanh. Rất nhiều người chê cười ông ta làm
những chuyện này là không thích hợp với thời đại nhưng ông Thẩm
Văn Bửu vẫn không sợ gian khó đi làm chuyện này. Sau này, làng thôn
này phát lên dịch bệnh. Người trong làng mơ thấy “Thần ôn dịch” tay
cầm một cây cờ, nói với lũ ma quỷ: “Ngoại trừ nhà họ Thẩm chuyên
làm việc phóng sanh hành thiện, tất cả các nhà đều phải lui tới, đều
phải cầm cờ dịch bệnh”. Không đầy mấy ngày, một làng 300 mấy gia
đình, bị nhiễm bệnh dịch chết hết khoảng một nửa số người, chỉ có gia
đình họ Thẩm là không ai bị nhiễm bệnh.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
**************************** 
———–
ĐIỆN THỨ NHẤT: TẦN QUẢNG VƯƠNG
Chức trách của Tần Quảng Vương là chuyên cai quản trường thọ
và chết yểu trong dân gian, những danh sách hộ tịch về ngày ra đời và
ngày thiệt mạng; thống nhất quản lý các phán quỷ và cát tường. Bổn
điện (tức chỗ làm việc) có vị trí dưới lòng biển, chỗ đá ngầm, có một
đường tối trong suối vàng bên chánh tây.
Tất cả người thiện sau khi mãn thọ sẽ có số được dẫn lên thiên
đàng, có số được dẫn đến thế giới Tây Phương cực lạc.
Nếu như là nam hoặc nữ có công đức và tội lỗi, mỗi thứ đều nhau
thì sau khi chết sẽ giao họ đến điện thứ mười, vẫn để cho họ được đầu
thai lên trần gian. Có người nam chuyển hóa thành nữ, có người nữ
chuyển hóa thành nam tùy theo các hành vi lúc họ đã làm khi còn sống
trên trần gian, do nhân duyên nên có sự phân biệt khác nhau về việc
nhận quả báo trên trần gian.
Tất cả những người lúc sống trên trần gian, lúc sống làm việc ác
nhiều, việc thiện ít sẽ được dẫn vô một đài cao bên trái, ở trong điện,
đài đó có tên là đài Kính Nghiệp. Đài cao một trượng, có chiếc kính lớn
bằng mười người quay vòng lại ôm, kính treo bên hướng đông. Trên
kính viết một hàng ngang bảy chữ: “Trước mặt kính nghiệp, không
người tốt”.
Những ma quỷ bị áp giải lên đài, soi vào kính, tự nhiên như đang
xem lại bộ phim cuộc đời mình, quay lại những cảnh gian hiểm hung
tàn cùng tất cả việc xấu đã làm của chính mình lúc sống trên trần gian
và sau khi chết đi phải chịu những thảm cảnh trong địa ngục. Đến lúc
này mới biết được: vạn lượng thỏi vàng và các thứ tiền tài châu báu, và
các phước lợi danh tiếng, hưởng thụ đều không thể đem xuống đây, chỉ
có những nghiệp tội của chính mình đi theo đến địa ngục.
Sau khi soi kiếng xong, bị áp giải đến điện thứ hai, bắt đầu phân
giải phạm nhân đến các địa ngục; dùng các dụng cụ cực hình để những
người làm việc ác phải chịu các loại hình phạt đau khổ. Việc kết tội chịu
phạt chi tiết như sau:
(1): TỘI HÌNH CỦA NHỮNG KẺ TỰ SÁT
Nếu như có những người trên trần gian, không nghĩ về thiên địa
sinh ra con người và ân dưỡng dục của mẹ cha mà được một thân thể
là trân trọng biết bao, ân trọng như núi; ân cha mẹ; ân chúng sanh, ân
quốc vương, ân Tam Bảo và các loại ân tình chưa báo đáp, chưa nhận
được lời kêu gọi dưới địa đạo âm phủ thì tự nguyện quyên sinh, sử
dụng các phương pháp như treo cổ, nhảy lầu, uống thuốc độc, nhảy
sông… để tự tử. Ngoại trừ ra những người mà vì trung hiếu tiết nghĩa
mà hy sinh tính mạng, sau khi chết có thể làm Thần, nếu như chỉ vì
một oán hận nhỏ hoặc do làm những việc xấu mà phạm tội và bị phát
giác ra mà đi tự tử, thì xem xét các tội hình của họ đã vi phạm, chưa
dẫn đến phải kết tội chết; hoặc những kẻ muốn hãm hại và gây họa cho
người khác dẫn đến từ giả ra thật mà chết đi. Những tình huống như
trên, Thần Môn, Thần Táo Quân sẽ áp giải họ đến bổn điện, giam giải
đến tù đói khát.
Những ma quỷ tự sát này, mỗi khi đến ngày Tuất, Hợi hoàn toàn
đau khổ giống như lúc chết, tất cả các cảnh tượng đau khổ, căn cứ như
lúc chết ban đầu, tái xuất hiện lần nữa. Có một số là sau 70 ngày, có
một số sau một đến hai năm, hồn phách của họ bị áp giải quay lại địa
phương nơi họ tự sát, chịu sự hối hận tra tấn rất khổ sở. Tuy nhiên, họ
không được nhận các đồ cúng bái như cơm canh, giấy tiền và vàng bạc.
Nếu như những hồn ma tự sát mà biết sám hối, cam tâm ẩn dấu,
không xuất hiện hình ma để hù dọa người, cũng không tìm người thế
thân loạn xạ. Như vậy, chờ đến lúc người mà do họ gây ra bị liên lụy đã
thoát khỏi liên lụy, đau khổ thì Thần Môn, Thần Táo Quân sẽ áp giải
những tội phạm ma đến bổn điện, rồi sẽ chuyển tiếp đến điện thứ hai,
sau đó kiểm tra lại quá khứ và công đức của họ, gia tăng hình phạt,
chuyển đến các điện kế tiếp, đưa đi các địa ngục chịu hình phạt.
Nếu như hồn ma đã hiện hồn ma quỷ hù dọa người và có tâm tư
muốn tìm người thế thân hoặc dùng các ngôn ngữ hù dọa hoặc lừa gạt
người, tuy chưa dẫn đến thiệt mạng người, cho dù trước đấy có làm
việc thiện, nhưng địa ngục vẫn không cho phép miễn hoặc giảm các
hình phạt cho họ nữa.
Nếu như sau khi tự tử chết đi, không ẩn dấu, lại hiện hình ma
quỷ, hù dọa người dẫn đến thiệt mạng thì hồn ma đó lập tức bị lính quỷ
nhe nanh mặt xanh móc đi đến các địa ngục chịu hình phạt đau khổ.
Sau khi đủ 100 ngày, đưa đến A Tỳ đại địa ngục, vĩnh viễn bị dây xích
xiềng và treo lên, không được siêu thoát.
(2): TỘI HÌNH KHI TỤNG KINH THIẾU SÓT CÂU TỪ
Tất cả những hòa thượng xuất gia,đạo sĩ,tiếp nhận tiền tài của
người khác,thay người cúng bái tụng kinh,thiếu sót từ ngữ,hoặc số
trang sẽ bị dẫn đến bổn điện,đưa họ vô “Sở Bù Kinh” – phòng bảo tồn
sách kinh, trong một phòng tối tăm.Ngoài những từ ngữ mà họ đã tụng
thiếu ra, tất cả đều sao chép rõ ràng, bù tụng rõ ràng.
Nơi này có đốt đèn dầu, tồn trữ mười cân dầu. Chỉ được dùng
một tim nhỏ đốt, khi sáng khi tối, không được một hơi có thể bù chép
hoàn tất nhanh chóng được.
(3): TỘI HÌNH NGƯỜI TU HÀNH THAM NHŨNG NGƯỜI
CÚNG NGƯỠNG
Nếu như một người xuất gia tu hành thanh tịnh hoặc đạo sĩ, nảy
sinh lòng tham, cố cầu xin tiền cúng ngưỡng để hưởng thụ, cũng phải
đến nơi này bù kinh.
(4): LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI THÀNH TÂM TU HÀNH, MỞ
RỘNG PHẬT PHÁP
Một số thiện nam tín nữ tự tu tâm tại nhà, rất thành tâm, tâm
khẩu như nhất địa, bái niệm tất cả kinh, câu chú, hồng danh, dù có sai
sót, bỏ sót, nhưng trọng vào thành tâm mà không trọng vào từ ngữ.
Những người có thành ý tu tâm này, Phật sẽ truyền ban chỉ thị, không
cần bù kinh, mùng một của mỗi tháng, sẽ ghi lại công đức vào trong sổ
sách tích thiện.
Người trên thế gian, nếu như vào mùng một tháng hai mỗi năm,
thanh tịnh tu chay, quay mặt về hướng Bắc, thành tâm thành ý lập lời
thề nguyện: chuyện ác bất làm, hành thiện tích đức, do khái niệm thiện
ý này mà miễn được vào địa ngục; đồng thời truyền in thiện sách, tạo
cho nhiều người biết hối cải hướng thiện. Nếu cố gắng niệm “Nam Mô
A Di Đà Phật” hồng danh, lập lời nguyện lớn, xin cầu kiếp này sẽ được
đến thế giới Tây Phương cực lạc, và sẽ hành thiện tích đức niệm Phật
hoàn hướng tịnh thổ, như thế, người này sau khi mãn thọ chết đi, lập
tức lệnh đồng tử áo xanh đưa đến sở Tây Phương cực lạc, hoặc lập tức
được Phật Bồ Tát tiếp nhận đến nơi sanh cực lạc.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 3.1>
———–
THẢM BÁO CỦA KẺ KINH DOANH SÁCH BÁO, TRANH VẼ KHIÊU DÂM 
Tại khu Giang Nam có một thương gia bán sách tên là Chu Tường, vì muốn tranh giành lợi nhuận cao, chuyên lén lút phát hành in ấn buôn bán và cho thuê những sách truyện khiêu dâm với giá cao, bạn bè đã khuyên anh ta đừng kinh doanh những loại sách này nữa có ngày chuốc họa vào thân và chịu sự ác báo, Chu Tường cho là sự mê tín đáng mắc cười, không sợ tới. Hai năm sau, thị lực của Chu Tường bắt đầu mờ dần, cho đến một ngày mắt bị mù, tìm kiếm rất nhiều y bác sĩ để chữa trị, tốn bao nhiêu tiền vẫn không chữa được. Một ngày, tiệm sách bị hỏa hoạn, mắt của hắn bị mù không thấy đường để tháo chạy, nửa người bị bỏng nặng, cơ thịt bị hoại tử, mỗi ngày đều kêu la trong sự đau đớn, không đến ba ngày thì tử vong. Trước khi chết đã nói: “Tôi in ấn kinh doanh những sách khiêu dâm như vậy, tuy kiếm được nhiều tiền nhưng đều tiêu tan hết vào để chữa bệnh, vả lại tôi hại người không ít, chịu sự trả báo như thế cũng là đáng đời, hi vọng các vị hằng lấy tôi làm gương, đừng kinh doanh những loại sách truyện giống như vậy nữa”. Vợ của Chu Tường sau này do cuộc sống khó khăn vay mượn rất nhiều tiền, tiếp đó bị người đòi nợ bắt cóc bán đi khu núi rừng để làm nô lệ. 
Nguồn: Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
THOÁT ĐẠI NẠN NHỜ NIỆM HỒNG DANH QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Có lẽ người Việt Nam chúng ta, ai cũng biết nghệ sĩ hài hải ngoại Vân Sơn 
rất nổi tiếng trong cộng đồng người Việt sống ở Mỹ. Gia đình thờ Phật, nhưng 
anh lại không tin Phật, vì anh cho rằng Đức Phật chỉ là truyền thuyết. 
Nhưng trong một lần gặp nạn, sự sống chết chỉ trong gang tấc, không còn 
cách nào thoát được nên anh mới cầu cứu đến Phật.Câu chuyện xảy ra trong 
chuyến vượt biên rời khỏi Việt Nam vào tháng 11 năm 1988, nghệ sĩ hài Vân Sơn 
đi chung trên con tàu chở bốn mươi mốt người. Sau bảy ngày lênh đênh trên biển 
khoảng 3-4 giờ sáng ngày thứ tám, con tàu đến gần bờ biển Malaysia thì bất ngờ 
tàu lạc vào vùng xoáy nước, con tàu không thể di chuyển được, đứng im một 
chỗ. Tất cả mọi người trên tàu đều tuyệt vọng chờ chết. 
Lúc đó, anh cùng người lái tàu tên Hùng đứng trên khoang trao đổi. Anh 
hỏi:- Anh có cách nào điều khiển cho tàu đi tiếp được không?Anh Hùng đáp:- Dạ 
không! Xưa nay, em chưa bao giờ rơi vào tình cảnh khó xử như thế này. Lúc đó, 
Vân Sơn ước gì có bụi cây, hay có một thứ gì đó ở xung quanh để còn chút cơ hội 
bám víu, nhưng quả thật không một thứ gì, chỉ có trời cao, biển rộng, sóng nước 
mênh mông. Bình thường anh ít nghĩ đến Phật, nhưng lúc này tính mạng như 
nghìn cân treo sợi tóc. Anh chợt nhớ đến Bồ-tát Quán Thế Âm mà gia đình thờ. 
Lập tức, anh niệm danh hiệu Ngài liên tục, không có chút mảy may xen 
tạp việc gì, cho đến khi mở mắt, anh nhìn vào bờ. Ôi thật linh ứng vô cùng! Anh 
thấy Bồ-tát đang đứng trên ngọn núi, ánh sáng chiếu sáng rực rỡ. Anh không tin 
vào mắt mình, nghĩ mình đã chết, hoặc bị hoa mắt nên anh gọi người lái tàu nhìn thử xem có phải là Bồ-tát không? Và anh Hùng cũng hớn hở vui mừng hét lên: 
“Bồ-tát Quán Thế Âm đến kìa!”Tiếp đến, anh Hùng điều khiển được con tàu, 
chạy theo hướng của Bồ-tát thật nhẹ nhàng, lướt sóng tới đảo. Khoảng một lúc 
sau, họ còn thấy Bồ-tát bay lên hư không, vẫy tay chào và mỉm cười với mọi 
người. Thật là kỳ diệu! Từ đó về sau, Vân Sơn hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối sự 
nhi ệm mầu của Phật pháp. Anh kết l uận: “Trên đời quả l à có
những điều mà khoa học không thể nào giải thích nổi, có những điều ngoài sức 
tưởng tượng của con người, nhưng đó lại là sự thật!”.
(Diệu Âm Lệ Hiếu ghi lại lời kể của nghệ sĩ Vân Sơn)
NỘI DUNG CỦA NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU <chương 13.9>
———–
CỨU NHIỀU SINH LINH, TĂNG THÊM TUỔI THỌ
Tại Tống Vi có một ông thương nhân rất giầu có tên là Dương
Tự, lúc năm 28 tuổi, ông mơ thấy một Thần nhân nói với ông: “Ông
sống thêm 10 ngày nữa thì phải chết. Nhưng nếu ông cứu được 10 ngàn
sinh mạng, có thể miễn chết”. Dương Tự nói: “Trong thời gian mười
ngày ngắn ngủi phải cứu sống 10 ngàn sinh mạng, sợ không thể dễ mà
làm đủ con số đó”. Thần nhân nói: “Trong Kinh Phật có nói, trứng của
cá chỉ cần không qua ướp muối, cho dù trải qua thời gian ba năm vẫn
có thể sinh đẻ thành cá con, tại sao ngươi không suy tính về vấn đề
này?”. Từ đó, ông Dương Tự dựa vào lời nói của Thần nhân mà viết ở
khắp nơi trên đường và trên tường, để người người biết được không
dùng muối ướp trứng cá; còn khi nào thấy người giết cá thì xin lại
trứng cá, cho xuống hồ nước. Một tháng sau, ông lại mơ thấy Thần
nhân lúc trước nói: “Ông đã cứu sống lại cả tỷ con sinh mạng rồi, số
lượng đã đủ, mạng sống của ông sẽ được kéo dài ”. Sau này ông sống
thọ đến 90 tuổi mới qua đời.
NỘI DUNG CỦA NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU <chương 11.8>
==================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
QUẢ BÁO UNG THƯ DO NẠO PHÁ THAI Ở HÀ NỘI
Tại Hà Nội, có một CLB Khí Công mà ở đó thường tổ chức hướng dẫn mọi người tập luyện để nâng cao sức khỏe và tự chữa bệnh cho mình. Rất nhiều người bệnh từ khắp nơi tham gia tập luyện. Những bệnh đau nhức cảm cúm thông thường cũng có, những người mắc chứng nan y như tiểu đường, ung thư cũng không ít. Trong đó có một bệnh nhân ung thư gan mà mọi người trong CLB đều nhớ rõ. Cô là một dược sĩ trong quân đội. Cô vốn đang khỏe mạnh bình thường, một hôm bỗng cảm thấy như có ai đó (1 luồng gió) nhảy vào trong người mình, sức khỏe từ đó giảm sút. Cô đi siêu âm thì phát hiện một khối u trong gan. Sau đó một lần nữa, cô lại cảm thấy như có ai đó nhảy vào người. Tuy nhiên lần này cô biết đó là ai. Cô quả quyết chính là đứa bé mà cô đã bỏ cách đây hơn 20 năm, bởi khi đó cô đã có 2 con mà kinh tế cũng rất khó khăn. Thế là khi siêu âm cô lại phát hiện thêm một khối u nữa ở gan. Từ đó cô rất chăm chỉ tụng kinh niệm Phật sám hối nhưng đáng tiếc cô vẫn không qua khỏi vào ngày 21/7/2011 âm lịch. Câu chuyện của cô thường được CLB xem là ví dụ điển hình được gọi là Nghiệp bệnh. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một trường hợp và mọi người có quyền hồ nghi về điều này. Nhưng câu chuyện tiếp theo đây, có thể sẽ gợi mở ít nhiều cho những ai còn đang phân vân.
Mới đây, giáo sư Gregory Roberts và Naji J. Touma từ Đại học Queen bang Ontario, Canada, đã thực hiện loạt siêu âm để kiểm tra khối u bất thường trong tinh hoàn của một bệnh nhân 45 tuổi. Điều bất ngờ là khi siêu âm, các bác sĩ sửng sốt nhìn thấy khối u khiến bệnh nhân đau đớn lại có hình mặt người và đang nhìn chằm chằm vào họ. 
Hình ảnh mặt người đàn ông, có vẻ đau khổ, được gửi tới Urology – tạp chí chính thức của Hiệp hội quốc tế về tiết niệu học, và công bố trên số tháng 9 của tạp chí này.
Viết trên tạp chí, hai người cho biết: “Các bác sĩ và nhân viên y tế đều kinh ngạc khi nhìn thấy vẻ mặt của người đàn ông trong bức ảnh siêu âm, miệng anh ta há ra như thể anh ta cũng mắc bệnh tinh hoàn nghiêm trọng”. Liệu có phải người đàn ông trong ảnh có ân oán gì với người bệnh nên anh ta cũng nhảy vào để báo oán giống trường hợp của cô dược sĩ?
NỘI DUNG CỦA NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU <CHƯƠNG 9>
==========================
 Điều bất ngờ là khi siêu âm, các bác sĩ sửng sốt nhìn thấy khối u khiến bệnh nhân đau đớn lại có hình mặt người và đang nhìn chằm chằm vào họ. 
Hình ảnh mặt người đàn ông, có vẻ đau khổ, được gửi tới Urology – tạp chí chính thức của Hiệp hội quốc tế về tiết niệu học, và công bố trên số tháng 9 của tạp chí này.
———–
ĐẦU BẾP ĐỔI NGHỀ, CẢ NHÀ ĐƯỢC PHƯỚC
Nghề nghiệp của A Dung là một đầu bếp một nhà hàng, ông ta
chuyên phụ trách giết mổ cầm thú, gia súc. Không cần suy tính, lương
cũng tương đối, trong túi lúc nào cũng đầy tiền. Chỉ tiếc là 16 năm nay
không tiết kiệm được đồng nào, mẹ, vợ, người thân thường hay bị bệnh
nên tiền đều tiêu hết vào để chữa trị bệnh cho người thân, bệnh tình
còn không có chiều hướng tốt. Trong lòng ông ta mong muốn có đứa
con để bế bồng và nối dòng thờ cúng nhưng cầu xin thế nào cũng đều
vô hiệu, đã trạc tuổi trên 40 rồi vẫn biệt tâm vô tức. Khi xem cuốn sách
“Ngọc Lịch Bửu Phiêu” mới biết mình đã làm chuyện sát sanh trong
thời gian quá lâu dài, sát sinh cũng có rất nhiều nguyên do nhưng trong
thời gian ngắn không có cách nào chuyển nghề được.
Đứng trước tấm thớt chặt thịt quen rồi, trong giấc mộng cũng
toàn thấy mình chặt thịt. Có mấy lần mơ thấy mình đứng chặt toàn thịt
người. Cho nên thường hay thức giấc giữa đêm khuya. Tuy nhiên đối
với công việc sát sinh của mình có sự kinh sợ nhưng vì phải duy trì đời
sống của gia đình, ông ta vẫn tiếp tục hành nghề như thế, không bao
lâu vợ ông ta có thai, ông rất vui mừng.
Một đêm nọ, ông đang nằm cơn ác mộng, mơ thấy mình đi đến
một hố sâu thẳm, lơ lửng đi trên một cây cầu treo, bưng rất nhiều cánh
tay, bàn chân, thịt người, bưng hoài không hết. Lúc này ông bị vợ đánh
thức giấc mộng vì bà ta sắp lâm bồn nên đau bụng dữ dội, ông liền đưa
vợ đến bệnh viện, bác sĩ chúc mừng ông vì vợ sanh được một thằng con
trai nhưng vì sanh sớm hai thang nên cháu bé phải ngủ trong lồng kính,
A Dung mỗi ngày đứng cách lồng kính nhìn vào một sinh vật nhỏ đang
vật lộn với ranh giới sống chết lòng đau như dao cắt, cuối cùng cũng
xuất viện về nhà nhưng ẵm về nhà một cháu bé yếu ớt xanh xao, tay
trái chỉ có bốn ngón tay, ngón cái tụ máu nên đã bị hoại tử, như là bị
dao cắt, người vợ mặt xanh xao nhìn ngơ ngác, ông nhìn thấy đau lòng
đến rơi nước mắt. Ông thề nguyện trong lòng, trong vòng một năm ông
nhất quyết phải đổi nghề và cầu xin Bồ Tát chỉ dẫn.
Người có thiện nguyện, thiên nhất tòng tri, A Dung cuối cùng
cũng được một thầy giáo thiện tri giới thiệu đến một quán ăn chay làm
đầu bếp. Một tháng nay, ông luôn niệm Phật ăn chay, những ác mộng
như trước nay và sự bất an đã từ từ không còn. Kỳ diệu nhất là đứa
con cưng của ông, một tháng nay không cần uống thuốc, không còn bị
bệnh, chỉ lâu lâu bị cảm nhẹ mà thôi và sức khỏe của người mẹ và vợ
cũng dần bình phục khỏe lên, cả nhà sống trong không khí hòa thuận
vui mừng, ông cảm thấy hiện giờ mới thật là một gia đình hạnh phúc.
Trong Kinh Phật nói: “Trong tất cả các hành vi tội ác, sát hại
sinh mạng là tội ác lớn nhất, nghiêm trọng nhất; trong tất cả các công
đức hành thiện, không sát sinh và phóng sinh là công đức lớn nhất.”
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu:
======================
hình ảnh cho quả báo sát sinh
———–
LIÊN SINH HOẠT PHẬT KỂ CHUYỆN QUÁ BÁO LIỆT DƯƠNG DO TÀ DÂM
(Trích từ sách ” Địa Ngục Biến Hiện Ký của Liên Sinh Hoạt Phật – Lư Thắng Ngạn)
Tôi đi thần hành ở âm gian, phát hiện ra có một địa ngục,
tên là “cát điểu địa ngục” (địa ngục xẻo chim, dái), tôi thấy thật lạ
kỳ. Trong lúc đang thần hành thì nghe tiếng của một người nam
gọi tôi: “Sư Tôn, xin cứu tôi với, tôi sẽ bị cắt chim!” Tôi trông thấy
2 Minh Sứ trói một người nam, một vị Minh Sứ khác cầm đao
chính đang muốn xẻo dái của người nam bị trói, như cùng sắp ra
tay làm vậy. Chỉ cần cắt, xẻo một nhát đao, người nam này chính
thức mất bộ phận sinh dục, “mất dái”, thành một vị thái giám
thuở xưa, vị Công Công trong hoàng cung. Tôi trông thấy cảnh này
thì vội kêu lên: “Tạm ngưng, tạm ngưng.” Minh Sứ trông thấy tôi 
biết ngay, tạm ngừng tay. Tôi thấy người nam này, nguyên lai tên
là Hoàng, đúng là đệ tử của tôi.
Tôi nói: “Anh chưa chết mà sao lại ở tại địa ngục thế này?”
Hoàng đáp: “Tôi chưa chết, nhưng trong mộng lại bị mang xuống
địa ngục, Minh Sứ muốn xẻo chim của tôi.” Tôi hỏi: “Anh phạm tội
gì vậy?” Hoàng cúi đầu không nói.
Tôi nói: “Dù anh không nói ra, tôi cũng biết rồi, anh phạm
nghiệp tà dâm, dạy anh phải giữ 5 giới, anh không chịu tuân thủ.
Bây giờ đã phạm giới, trong mộng bị xẻo dái, còn biết nói sao?”
Hoàng rất xấu hổ nói: “Bây giờ tôi biết được luật lệ của Minh
Vương là có thật, tôi thật phải sám hối, từ nay trở đi không bao
giờ tái phạm, tôi kiên định giữ 5 giới.” Lời nói của Hoàng nghe
thành khẩn và sợ sệt, từ “chân tâm” nói ra, nên từ tâm phát ra
một luồng ánh sáng trắng, dây trói chân tay Hoàng tự động cởi
lỏng, rơi xuống đất. Hoàng bèn quỳ trước mặt tôi nói: “Tôi tất
nhiên cho in ấn thành sách luật lệnh của Minh Vương, bá cáo cho
mọi người biết, đây không chỉ là luật lệnh, đồng thời cũng là chỉ
dẫn cho chúng sinh làm điều thiện, tà dâm đích thực là trăm hại,
không có một tí ích lợi gì.”
Tôi nói: “Lành thay! Lành thay! A Di Đà Phật!” Hoàng tự
động bỏ đi. Hoàng từ trong mộng tỉnh dậy, cảnh, mộng rất là
trong sáng, rõ rệt! Sự kiện này, Hoàng tự động đến gặp tôi, trong
mộng đã thấy rằng thật là may mắn, anh Hoàng căn bản bị xẻo
chim (dái), nhưng kết quả vì lý do “thành thật sám hối”, Sư Tôn
lại đến thật đúng lúc, nên Hoàng đã được cứu. Hoàng hỏi tôi:
“Nếu như trong mộng bị xẻo chim thì sẽ như thế nào?”
Tôi đáp: “Không cử động, cử động nhưng không cứng, cứng
thì không lâu.” Hoàng nói: “Giống như vật phế bỏ vậy.” – “Đúng.”
Hoàng nói: “Ngày nay, có rất nhiều người nam trên thế gian
này, bề ngoài trông rất dõng mãnh, sự thực lại bị xuất tinh sớm,
dương vật sớm bị suy tàn, không cử động, không cứng, không lâu,
đây có phải đều bị Minh Sứ xẻo chim?” Tôi đáp:
“Những người bị như kể trên có phải qua địa ngục xẻo chim
hay không thì tôi không biết, nhưng việc anh phải đến địa ngục
xẻo chim là sự thực. Nhưng bất kể có qua hay không qua địa ngục
xẻo chim nhưng xuất tinh sớm, dương vật suy sụp, tiêu lụi, không
cử động, không cứng, không lâu, đây cũng là những sự thực.”
Hoàng nói: “Đây chính là nhân quả, vì dâm dục quá độ, không tiết
chế, tất nhiên bị xẻo chim thôi.” Tôi nói: “Minh Sứ kỳ thực không
chỉ cai quản âm gian, những người thế gian phạm nghiệp, lúc sinh
thời đã phải chịu sự báo ứng, rất nhiều người bị như vậy.”
Tôi muốn hỏi mọi người: “Chúng ta tu hành, sắc thân
nguyên lai là sinh diệt, bạn phải làm sao trong pháp sinh diệt này
tu xuất ra được pháp bất sinh bất diệt, lý tu của nó ở chỗ nào, thử
bàn luận xem.”
Nội Dung Của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 12>
======================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
HIẾU ĐẠO MẸ CHỒNG, CẢ NHÀ HÓA GIẢI DỊCH BỆNH
Thời Thanh Triều tháng ba năm Giáp Ngọ, huyện Võ Tiến tỉnh
Giang Tô, cư dân của Thành Đông, con trai Ngụy Thành cưới cô Thị
Tiền làm vợ. Có một lần, Thị Tiền về nhà thăm song thân, không bao
lâu, xóm làng phía bên chồng phát sinh dịch bệnh cấp tính, truyền
nhiễm rất rộng, bệnh gây chết rất nhiều người, người nào cũng sợ bị
truyền nhiễm, bà con thân thiết cũng không dám thăm hỏi, lo tháo chạy
tránh dịch không kịp. Ngụy Thành không may cũng bị nhiễm dịch, sau
này cả gia đình họ tám người, đều bị nhiễm hết dịch bệnh. Thị Tiền tại
bên làng gái nghe tin ba mẹ chồng đều bị nhiễm dịch bệnh, nóng lòng
muốn về nhà hỏi thăm bệnh tình, cha mẹ cô ta thương con, sợ con gái
về nhà chồng sẽ bị nhiễm bệnh, nên khuyên con gái không nên về nhà
chồng vào lúc này. Nhưng Thị Tiền thấu hiểu đại nghĩa, cô ta nói:
“Chồng cưới vợ về là muốn để vợ mình phụ chăm lo cho cha mẹ chồng.
Bây giờ cha mẹ chồng đang bệnh nguy kịch, nếu như con nhẫn tâm
không về, như vậy đâu khác biệt với cầm thú!”. Cuối cùng không nghe
sự phản đối của cha mẹ, không sợ sự truyền nhiễm của dịch bệnh, tự
mình về nhà chồng. Khi Thị Tiền về đến nhà chồng, vợ chồng Ngụy
Thành và cả tám người nhà đều kỳ tích đột nhiên khỏi bệnh. Những
người trong nhà lúc ấy, đều cho rằng cả nhà Ngụy Thành được thoái
khỏi sự chết chóc của dịch bệnh là do sự hiếu thảo của Thị Tiền, cảm
động đã nhận được sự cảm ứng của thần linh.
Hiện giờ, trong xã hội có con cháu biết hiếu thảo với cha mẹ rất ít
mà cầu có nàng dâu biết hiếu thảo với cha mẹ chồng còn khó thêm.
Nguyên do của bệnh tật là do vi khuẩn cảm nhiễm, nhưng chức năng
miễn dịch trong cơ thể con người bị hạ thấp cũng là một nguyên nhân
quan trọng. Đại học Megigan của nước Mỹ đã tiến hành thử nghiệm
theo dõi điều tra trong vòng 14 năm đối với 2700 người, phát hiện người
thường xuyên hành thiện bản năng có hệ thống miễn dịch rất cường
tráng. Đại học Hạ Phật bên nước Mỹ nghiên cứu, đã từng để học sinh
xem một bộ phim ký sự, nội dung nói về một phụ nữ người Mỹ cả đời
đi đến nước Ấn Độ cứu trợ các người nghèo và người bệnh tật. Học
sinh bị ký sự này làm cho cảm động, tiếp theo là nhà khoa học này đã
lấy nước bọt của mỗi học sinh tiến hành thí nghiệm, phát hiện tiêu
chuẩn của bạch cầu miễn dịch tăng cao nhiều hơn trước khi xem phim
đạt kỷ lục. Cảm ứng này là do Thị Tiên có chính khí vĩ đại, dũng cảm,
hiếu thảo, tăng cường sức đề kháng của cả gia đình, làm cho vi khuẩn
dịch bệnh không có chỗ phát sinh nên được thoát chết. Những chuyện
nhân quả thật sự là phù hợp nguyên lý của khoa học.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
HIẾU THÂN BÁO ƠN, TỤ PHƯỚC CHÁNH ĐẠO
Lâm Thành Mỹ người Phúc Kiến, lúc còn nhỏ đã mồ côi cha,
người mẹ của anh nhất định không chịu tái giá, tận tâm nuôi dưỡng
anh ta lên người. Khi Thành Mỹ lớn lên nghĩ đến công ơn của cha mẹ
khó báo đáp, nên đã khóc suốt ngày đêm. Có một ông thiền sư nói với
anh ta: “Con hiếu thảo tưởng nhớ ơn thân, chỉ khóc thì không có lợi
ích, nên phải tìm cách đền đáp mới có ích lợi, thời cổ xưa có câu: “Hành
thiện với thân có ích, làm ác với thân có ưu phiền”. Nếu muốn báo đáp
song thân, chỉ có kiêng sát sanh mà đi phóng sanh, quảng tích âm đức,
mới chính là hiếu đạo báo đáp”. Thành Mỹ nghe được, cảm thấy rất có
đạo lý, từ nay về sau, lập trí kiêng sát sanh mà phóng sanh, quảng tu
các việc thiện để cứu thế thân. Sau này ông già được hưởng thọ đến 96
tuổi, con cháu đều học thành tài và có danh vọng.
Người cổ xưa thường xem ngày sinh nhật của mình gọi là ngày
“ngày mẫu nan”, người mẹ đã mang thai 10 tháng, thân xác nặng nề
đau đớn, trong lòng luôn lo âu cho thai nhi, ngày sanh đẻ biết bao đau
đớn, càng sợ hãi và lo âu càng nhiều. Cho nên, ơn nghĩa mẹ to lớn. Kinh
Phật có nói: “Những người còn từ mẫu là những người giàu có, từ mẫu
đã mất là người nghèo nhất; từ mẫu còn sống ngày ngày trong sáng, từ
mẫu đã mất như là mặt trời xuống núi”. Trong kinh Phật còn nói với
chúng ta: “Kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ như cúng Phật đều tậu
được phước đức giống nhau”.
Không ít người đã tiêu khoản tiền lớn lặn lội đến cả ngàn dặm
cây số cầu phước, cầu lộc hoặc cầu đông, cầu tây để mong được số may
phước đỏ. Lại không biết được, nhà nhà đều có một tượng Phật, đâu
cần phải lao thân đi xa để cầu xin tại ngoại.
Người trong thời đại hiện nay, mỗi khi đến ngày sinh nhật thì đua
nhau giết mổ gà vịt, có cá có thịt để đãi khách chúc mừng. Đây chính là
phản lại chỉ định của thiên đạo về đền ơn báo đáp ơn nghĩa, làm như
vậy không được tăng thêm phước lộc, ngược lại còn tiêu hủy phước báo
và số mạng. Cho nên, ngày sinh nhật nên đi mua động vật phóng sanh
hoặc truy tưởng lại công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ hoặc đi bố thí người
nghèo khổ, in tặng sách thiện hoặc niệm kinh niệm Phật hành thiện,
mới là chính đạo làm phước cho thiên địa.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
MẮNG THIÊN NHỤC THẦN, ÁC VẬN ĐEO THÂN 
Tôi là người Sơn Đông, từ nhỏ đã rất thông minh, sinh ra nhìn
rất kháu khỉnh và khả ái. Tuy gia cảnh nghèo nàn nhưng có khí chất và
cá tính khác so với những con nít xung quanh, thành tích học tập luôn
đạt hạng nhất, tôi luôn là tiêu điểm của thầy giáo, bạn học và hàng xóm.
Không ít những thầy bói toán tinh vi, xem tướng đều cùng có một đoán
định, đời tôi sẽ giàu sang phú quý thuận phát.
Nhưng từ năm 1988 trở đi, không biết tại sao, vận mạng của tôi
xuống cấp trầm trọng như là rớt xuống ngàn vạn dặm vực sâu thẳm.
Tôi bắt đầu lâm bệnh, trí nhớ giảm dần, đầu tắt mặt tối, thân xác đau
nhức cả người. Cơn bệnh đột phát đã đi cùng tôi trải qua suốt 15 năm.
Cho dù có lên đại học hay công tác tại đơn vị, đều rất gian nan và khó
khăn, 15 năm nay, tôi tìm đủ mọi cách làm đủ thứ chuyện nhưng vẫn
không thành, những việc có liên quan đến tương lai của tôi cho dù cố
gắng hết mình vẫn vô hiệu quả, không thể thực hiện được. những năm
gần đây, tôi cứ suy nghĩ mãi, nguyên do gì mà vận mạng của tôi lại tối
tăm như thế?
Sau khi quy y Phật đường, do tiến triển tu trì, hơi có ít chuyển
biến về các mặt nhưng vẫn không có chuyển biến về phần cơ bản, tôi
bắt đầu tự an ủi, số phận của tôi chắc là do nhân quả kiếp trước của
mình gây nên. Sau này đọc được Kinh Địa Tạng biết được Địa Tạng Bồ
Tát có thần uy lớn, có thể tạo cho chúng sinh biết được nhân quả của
kiếp trước để tiêu trừ nhân nghiệp. Nên bắt đầu tháng riêng năm 2003,
tôi bắt đầu siêng năng niệm Kinh Địa Tạng và đã khóc trước mặt Địa
Tạng Bồ Tát than vãn sự đời đau khổ của mình trong 15 năm nay, xin
Bồ Tát để cho tôi được tỉnh ngộ.
Sau 20 ngày trong trí nhớ của tôi đột nhiên hiện lên một việc tôi
đã làm 15 năm trước, hình như có cảm giác mình bạch được nhưng lại
không dám xác định. Cho đến tháng 11 năm 2003, tôi vừa niệm xong
200 trang của Kinh Địa Tạng, trong ngày đó tôi gặp một tu sĩ đưa cho
tôi cuốn sách Ngọc Linh Bửu Phiêu xem xong, tôi như tỉnh giấc mộng,
bỗng nhiên hiểu rõ sự tình. Cuối cùng, tôi đã tìm ra nguyên do 15 năm
nay tôi phải chịu dày vò trong sự đau khổ, gian khó của tôi không phải
do ác nghiệp từ kiếp trước gây nên, chủ yếu là do, trong đời này tôi đã
phạm vào bất tôn trọng với thần linh thiên địa mà gây ra.
Vào một buổi chiều tháng 8 của 15 năm trước, do tôi bị chuyện
của gia đình gây sốc, không giải quyết được, chạy ra ngoài sân, chỉ
thiên dậm chân thô tục dùng hết những loại thần chú câu từ tôi biết
được để chửi bới thiên địa. Từ lúc ấy, không đến 100 ngày sau, tất cả
thân xác tôi đau nhức hết, bắt đầu 15 năm vận xui của mình. Tính từ
ngày bắt đầu lâm bệnh đến tháng 11 năm 2003 vừa tròn 15 năm. Thời
gian mười mấy giây chửi thiên mắng thần, đổi lại 15 năm vận xui tột
cùng. Thật là ghê sợ! Tôi chỉ có cúi đầu nhận tội, sám hối và quyết tâm
quyên góp tiền in tặng truyền bá sách Ngọc Linh Bửu Phiêu, cung kính
thần linh. Không ngờ khi những tâm niệm nảy lên trong lòng, nguyện
chung thân thiện tâm, không đến thời gian 1 tuần, đơn vị nơi làm việc
có văn bản ra, tôi được thăng chức. Kể từ khi tôi bắt đầu làm việc trong
thời gian 8 năm mà không tưởng tượng ra. Kỳ lạ hơn, hai hôm trước
lòng bàn tay của tôi phát ngứa, lúc đầu tôi tưởng bị muỗi trích gây ra,
nhìn kĩ lại phát hiện chỉ tay đã đứt của mình 15 năm qua nay đã kết nối
lại, thật là quá thần kỳ và linh nghiệm, không thể ngờ! Tôi không có
hướng về Bồ Tát và Thần linh cầu xin việc gì, chỉ là quyết tâm sám hối
và phát nguyện in tặng sách thiện và truyền bá sách Ngọc Linh Bửu
Phiêu, đúng là một cuốn sách không bình thường!
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
CON LƯƠN HIỆN LINH BÁO MỘNG
Ông Ninh Ni là luật sư có tiếng tại Nam Xương, trong giấc mộng
thấy 7 người đầu đội nón nhọn màu vàng, lật đật đi đến trước mặt ông
ta cúi đầu xuống đất cầu bái và cùng hét lên “Cứu mạng!” Ông nhìn
thấy lòng từ bi nổi lên, trả lời: “Được, được!” biểu thị là tìm cách cứu
trợ.Những người này lại hét lên lời cảm tạ rồi đi.Qua buổi sáng ngày
hôm sau ông Ninh thức dậy đi rửa mặt, suy lại chuyện ly kì trong giấc
mộng ngày hôm qua, không hiểu lý do gì. Vừa lúc ấy, ông đầu bếp đến
nói: “Tiên sinh, hôm trước ông mua về những con lươn để chuẩn bị
đãi khách, hôm nay có nấu ra ăn không?”, ông trả lời: “Từ từ, để tôi
xem sao”. Quả nhiên có 7 con lươn đang lội trên thau nước như là đang
cầu cứu với ông ta, thấy vậy ông mới hiểu rõ giấc mộng của đêm hôm
qua và đã kể lại chuyện giấc mộng cho cả nhà nghe, kêu đầu bếp đem
toàn bộ số lươn ra sông phóng sanh, thực hiện lời hứa trong giấc
mộng.Chiêu chiêu Phật tính, động vật như nhau. Lươn như linh hồn,
báo mộng cầu cứu với chủ nhân, để miễn bị nạn chém giết cùng nghĩa
với văn chương phóng sanh của Liên Trì Đại Sư “ trong nạn cầu sanh,
hiện áo vàng mà nhập mộng” cùng ý với nhau.
NỘI DUNG CỦA NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU <chương 11.4>
==========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
QUAN THÁNH CHIẾN THẮNG ÔN THẦN
Thời Dân quốc, các thành thị làng quê nước ta đều có tổ chức
bang phái, lúc thời Thanh Triều còn gọi là Hội đồng hương, thời dân
quốc gọi là Hội quán, người An Trưng có An Trưng hội quán, người
Hồ Nam có Hồ Nam hội quán… chủ yếu là phòng hộ không để cho
người địa phương và người xứ lạ ăn hiếp, khi có xảy ra sự cố thì hội
quán sẽ đứng ra can thiệp. Năm 1946, năm thứ 2 của năm kháng chiến
thắng lợi, ông Tôn Vịnh Trấn trưởng làng của hội quán người An
Trưng đến mời cậu tôi là Huỳnh Hạc Ban vẽ cho họ một bức tranh lớn
hình tượng Quan Công, cậu tôi là họa sĩ nổi tiếng tại Viễn Nam, có
khiếu tạo hình lập thể nhân vật. Sau khi hai bên bàn bạc ổn thỏa việc
tranh vẽ và tiền công. Năm ngày sau thì hoàn thành, người hội quán
xem rồi khen tranh thật trang nghiêm và mở tiệc chiêu đãi tạ lễ. Trong
lúc dự tiệc, cậu tôi hơi hiếu kì, trong địa phương có rất nhiều hội quán
không thấy có tín ngưỡng Quan Công, chỉ có hội quán của An Trưng
chịu bỏ ra giá cao để vẽ tranh thần tượng Quan Công, nhất định phải
có nguyên do. Cho nên hỏi thăm, ông trưởng lão hội quán trả lời:
“Quan Công đã từng cứu bá tánh của toàn huyện chúng ta, nên đã kể
ra câu chuyện như sau:
– Thời cuối Thanh Triều, Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh khích
chiến với binh lính nhà Thanh tại An Trưng không bao lâu, Viễn Nam
các huyện phát dịch bệnh (bệnh truyền nhiễm), chỉ độc nhất huyện
Kinh không có bá tánh nào bị bệnh, nguyên nhân là do Quan Công hiện
thánh đuổi khỏi ôn thần.
– Trưởng lão hội quán nói: cửa phía Nam của huyện chúng ta có
thiết lập một cái miếu để cung phụng thánh Quan Công, trong miếu có
một ông chuyên quản lý chăm sóc nhang đèn trong miếu (gọi là ông
chay), trước dịch bệnh bùng phát 1 tháng, có một đêm thánh Quan
Công báo mộng cho ông chay và 2 người trong làng lân cận và nói: “Ôn
thần sắp giá lâm huyện này, vì để tránh sinh linh phải chịu tai họa, đêm
mai ông phải đến miếu tôi gõ chuông, để trợ giúp thần uy, trục xuất ôn
thần, có thể tránh khỏi nạn kiếp”. Sáng ngày hôm sau, hai ông trong
làng ko hẹn mà đi đến miếu thông báo cho ông chay nghe, mới biết là 3
người cùng mơ một giấc mơ. 11h đêm hôm đó, ba người đột nhiên nghe
thấy trên trời cao có tiếng ngựa chạy và tiếng đánh kiếm thì lập tức gõ
chuông, trong đêm khuya tiếng đánh kiếm càng quyết liệt, chỉ thấy các
thần tượng trong miếu tiết mồ hôi ra như mưa, ông chay không ngừng
dùng khăn lau, ra lệnh hai ông trong làng mạnh tay gõ chuông, khoảng
1 giờ đồng hồ sau, tiếng kim mã dần biến mất, đêm khuya trở lại im
lặng, ba người quỳ xuống tạ ơn thần, những người trong làng bị đánh
thức giấc đã bu quanh dò hỏi nguyên do. Sau chuyện này không bao
lâu, toàn huyện phát ra dịch bệnh, trong 10 người chỉ còn giữ lại 3
người, độc nhất huyện Kinh không có bùng phát dịch bệnh, sau này
người trong làng lập bia khắc lên sự tích Quan Công đuổi ôn thần lưu
truyền trong miếu. Từ đó, người nào c ng biết đến, đều tín ngưỡng linh
nghiệm của Quan Thánh.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
NHẬN HỐI LỘ OAN MẠNG, CON CHÁU BẦN TIỆN
Dư Tân, tại huyện Giang Âm, có danh tiếng gần xa. Năm Càn
Long đời nhà Thanh, ông tham gia thi cử nhân, chưa làm bài công, đã
thu gom đồ dùng ra ngoài, sắc mặt xanh xao và hụt hẫng, một thí sinh
cùng thi chung đi theo, nhiều lần thăm hỏi nguyên do, anh ta mới nói:
“Cha ta làm quan nửa đời người mới nghỉ hưu về nhà. Lúc ông lâm
chung, kêu bốn anh em tôi đến bên cạnh ông, khóc lóc và căn dặn: “Tôi
còn sống trên đời không có làm chuyện gì vô lương tâm, chỉ là lúc làm
trưởng huyện, đã từng nhận hai ngàn lượng vàng tiền hối lộ, giết oan
hai tù phạm. Đêm hôm qua, linh hồn của tôi đi xuống Diêm phủ để đối
chiếu vụ án, trên pháp lý mà nói, đáng lẽ tôi phải tuyệt giống nối dòng.
Do tổ tiên ông cố đã từng cứu người chết đuối nên lập được công đức,
có thể để lại được một người con trai, nối dòng năm đời, nhưng đều
phải chịu cảnh bần tiện suốt đời. Tội hình trong địa ngục tôi không thể
tránh khỏi, nếu còn vọng tưởng con cháu có công danh, chỉ có tăng
thêm tội cho tôi mà thôi, đại đại bất hiếu.” Nói xong, ông đã tắt thở.
Sau này mấy anh em chúng tôi lần lượt qua đời, chỉ còn sót một mình
tôi. Tôi hai lần trước tham gia thi cử tại làng, đang thi tự nhiên làm dơ
bẩn đề thi (thời ấy Quốc pháp quy định, làm bẩn đề thi giám thị không
xem, không duyệt đề thi, xem như mình không có thi). Hôm qua, nửa
đêm canh ba, đột nhiên thấy cha mình lật mành che lên mang giọng
trách móc mà nói: “Người không có làm những việc để tích đức, công
đức chuyển đạt lên trời để tôi có thể giảm nhẹ tội hình, lại còn làm trái
lời dặn của di chúc, tạo cho tôi nay phải đi tứ phương, vả lại tội còn
nặng thêm.” Nói xong, dùng dụng cụ còng trên tay làm tắt nến đèn. Tôi
danh hạ Tôn sơn không đành lòng, chỉ tiếc là đã để cho cha ôm hận bị
giam cầm trong âm phủ. Tôi sẽ vào núi xuất gia, học tập hiếu hạnh của
Mục Liên cứu mẹ”, người người nghe được, người nào c ng kinh ngạc
đến không nói ra lời. Cùng phòng trọ, có một thí sinh tên Trần Hộ
Thanh, sáng tác một bài thơ “Quy Sơn” tặng cho anh ta.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
CUNG THẦN VÀ CẦU PHƯỚC
Trước mắt, các nơi trên toàn đất nước có không ít các loại chùa
miếu lớn nhỏ (không phải nói về chùa Phật Bồ Tát), có số miếu đến
ngày viếng thần hay phô trương giết mổ súc sinh, dùng phương thức
vừa thịt vừa cá để cúng phước. Vậy là trên cơ bản đã làm trái với đạo
giáo, sai lệch ý nghĩa thiên đạo của Phật giáo.
“Thượng thiên có đức háo sanh” kinh điển có tiếng của Đạo giáo
“Tập Thái Thượng Cảm Ứng”. Trong sách có văn khuyến cáo nhân
loài không được “xạ phi” (chim) rược đuổi (thú), lắp ổ đào tổ, hại thai
phá trứng, không được “giết rùa đánh rắn”, “xâm hại bọ sâu”; vả lại
phải hiểu biết nói với loài người, nếu có thể “từ tâm với vật, không sát
sanh, chắc được thiên đạo hộ thân, phước lộc tùy chi, thần linh vệ chi”.
Phật trong cuốn “Trung Bản Khởi Kinh” nói: “Sát sanh giỗ Tổ,
không tậu được phước, thiên thần không ăn, kẻ sát có tội”. Tại sao
thiên thần không ăn? Tại vì thiên thần trú tại cung điện trên cõi trời là
xây bằng thất bảo, ăn toàn các mỹ vị ngọt ngào như cam lộ, làm gì mà
phải ăn những thứ thịt của súc sinh vừa hôi tanh, dơ bẩn, xấu xí. Khi
thiên thần không đến ăn thì sẽ không cầu được phước, kẻ sát sanh để
làm giỗ cúng bái còn phải gánh thêm tội sát sanh, thật là tự gây phiền
phức cho mình! Cho nên, sát sanh để cúng thần là một chuyện tà ngộ
chánh, một hành vi vô công mà có tội.
Trong cuốn “An Sĩ Toàn Sách” có ghi lại một câu chuyện “thần
sông thụ giới”: xứ mỏ cá sấu trong tỉnh Giang Tây, có con sông nước
trôi mạnh rất nguy hiểm, có tên gọi “không gió ba thước sóng”. Bản xứ
này có một miếu Long Vương, được xem là rất linh ứng, các thương gia
vãng lai, nhất định sát sanh cúng bái, khi hàng hải mới được bình an,
trường kì như vậy vì cúng bái không biết đã sát sanh biết bao súc sinh
không thể tính nổi. Đến thời Minh Triều, có một vị pháp sư có đức giới
rất cao siêu từ đâu đi ngang qua, trước một ngày ông đến, người quản
lý của miếu Long Vương, mơ thấy thần Long Vương đến nói với ông
“ngày mai sẽ có một vị đại hòa thượng đến đây, ông ta kiếp trước tu
hành đã bái cùng một sư phụ xuất gia với tôi, ông tu hành không nguôi,
kiếp này đã trở thành cao tăng, tôi chỉ sai lệch một bước, đã tọa lạc
thành một thần ăn vật máu tanh (dùng sát sanh súc vật để làm cúng bái
cho các thần), nghiệp tôi sát sanh tội rất nặng, tương lai nhất định phải
vào đại địa ngục chịu khổ báo. Ngày mai, nhờ ông thay tôi cầu xin pháp
sư truyền tôi Phật giới, sau này các người lại vãng đến cúng bái tôi,
nhất định không được dùng rượu thịt!”. Qua ngày hôm sau, ông chủ
quản miếu đi dò xét, quả nhiên gặp được một pháp sư giống vậy nên đã
nói rõ nguyên do cho ông ta nghe và mời ông ta đến miếu Long Vương
để thuyết pháp giới. Từ nay về sau, sóng gió bên sông rất bình yên,
người qua lại không cần phải sát sanh để dâng cúng. Cho nên, tức đã là
thần nếu tham hưởng thức ăn có mùi tanh cũng phải chịu sát giới, cũng
phải vào địa ngục chịu khổ báo.
Trên thế gian thật sự là có chuyện sát sinh để cúng bái thần quỷ
cho việc cầu phước, chúng ta nên hiểu rõ, thần quỷ không phải thật sự
tu hành để trở thành một thánh linh đại từ đại bi, cũng có lúc phạm
qua lỗi lầm, vả lại thật sự có không ít tà ma ác quỷ yêu ma háo thịt máu
tanh, hành động tác quái trên thế gian. Nếu do tham hưởng máu tanh
mà lãnh sự cung phụng của máu thịt thì sẽ ban cho mình một phước
mà mình không đáng có, giúp mình làm những chuyện không nên làm.
Đây sẽ là một hành vi mua chuộc vừa phạm nghiệp tội sát sinh
nghiệp trộm cắp, sau này sẽ tự hứng chịu khổ báo; từ mình mà nói,
ngoại trừ phải cùng gánh chịu nghiệp tội sát sanh còn phải chịu sự khổ
báo do cưỡng cầu mà miễn, phải biết có trốn được một thời mà không
trốn được vĩnh viễn, hưởng những phước báo mà mình không đáng
được hưởng, ai biết được có khi nào do tà ma ác thần xoay chuyển cho
mình hưởng trước những phước lộc mà mình đáng được, như vậy có gì
để đáng vui mừng? Dựa trên cho biết, sát sanh cúng bái, đối với thần
hoặc người, cả hai đều có hại. Cho nên “Kinh Pháp Cú” có nói: “Yểu
nghiệp thấy phước, vì ác chưa đến, khi ác đến mùi, tự chịu tội hình”
Như vậy, chúng ta cầu phước phải sử dụng phương pháp thanh tịnh từ
bi như phóng sinh, ăn chay, tụng kinh, kính hiếu trưởng bối, cứu trợ
người già neo đơn và người có hoàn cảnh khốn khổ, hỗ trợ trẻ em nghèo
thất học, niệm Phật, cúng tăng, cúng dưỡng Phật Tam Bảo, tuyên
dương sự việc nhân quả báo của thiện ác. Trợ giúp tiền in sách thiện
truyền bá nhân loài mới chính là phương thức chánh đạo để cầu phước.
Nếu như cúng Phật có thể dùng hoa quả, thực phẩm chay rất tốt. Chỉ
cần thành tâm đều được cảm thông.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu 
———–
Linh ứng pháp hội Homa và quán đảnh pháp Chuẩn Đề 2013. 
——————————–
Đầu năm 2013, 2 vợ chồng bạn Quang Bách ở Hà Nội đã góp công đức ấn tống sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu. Đặc biệt người vợ khấn nguyện hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh đang trầm luân trong địa ngục. Những ngày sau đó 2 vợ chồng Bách liên tục nằm mơ thấy Chúa Bà Năm Phương (vị chúa tiên thánh mẫu bản cảnh Hải Phòng) gọi xuống Hải Phòng.
Cuối cùng 2 bạn quyết định xuống Hải Phòng thăm đền Ngũ Phương Chúa Bà vào đúng ngày 6/3 âm lịch – ngày vía Phật Mẫu Chuẩn Để. Tình cờ khi đó tại chùa Vẻn 244 Tô Hiệu Hải Phòng, Thượng sư Thích Liên Chiếu – Chân Phật Tông tổ chức pháp hội Homa và quán đảnh pháp Chuẩn Đề nên 2 vợ chồng đều tham dự.
Trong pháp hội hỏa cung Homa, vợ của Bách đột nhiên nhìn thấy Địa Tạng Vương Bồ Tát từ trong lò lửa hiện ra, rồi bay thẳng đến trước mặt, ngài vung gậy tích trượng, ném vào người cô ấy rồi biến mất. Khi kết thúc pháp hội, 2 vợ chồng có đem chuyện này kể lại cho tôi.
Suy nghĩ một lúc, tôi trả lời: Cuốn sách Ngọc Lịch Bửu Phiêu vốn do Địa Tạng Vương Bồ Tát gia trì, nay vợ Bách ấn tống lại hồi hướng công đức cho chúng sanh dưới địa ngục là trùng với hạnh nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nhờ công đức này mà được chứng kiến kim thân của Bồ Tát, ngoài ra việc ném gậy tích trượng chính là tiêu trừ và thanh tịnh nghiệp chướng cho cô ấy. Xin chúc mừng 2 vợ chồng đã tạo được công đức lớn. 
Ngoài ra mật pháp Chuẩn Đề chính là mật pháp mà Bách đã mong ước được quán đảnh để tu luyện đã lâu, nay tình cờ khởi sự mà duyên lành đến quá trùng hợp. Thực sự là bất khả tư nghì.
FB bạn Quang Bách. 
-Liên Hoa Thái Dương-
(Ảnh minh họa là một pháp hội Homa của Chân Phật Tông trong thập niên 90.)
———–
HÀNH Y KHÔNG DÂM ĐƯỢC TÀI LỘC
Có một người tên là Hà Đăng, y thuật linh thông. Ông Lý người
cùng huyện mang bệnh lâu nay trị không khỏi, nên nhờ người tìm ông
đến điều trị. Ông Lý có người vợ trẻ và đẹp, cô ta lén nói nhỏ với Hà
Đăng: “Chồng tôi bị bệnh từ rất lâu những gì trong nhà có giá đều
mang đi tiệm cầm đồ bán hết rồi, thật ra chẳng có tiền chi trả cho ông,
tôi nguyện quyến thân để hậu tạ tiền khám chữa bệnh và thuốc thang”,
Hà Đăng nghiêm túc nói: “Sao phu nhân lại nói ra những câu nói hồ đồ
như thế, gia đình của bà đã vét sạch tài sản để chữa trị cho ông, tôi làm
sao có thể dựa vào thời cơ để chiếm đoạt? Tôi sẽ hết lòng chữa trị cho
chồng bà mà không lấy đồng xu nào, xin bà hãy tự trọng chính mình,
không nên bôi nhiễm nhân cách của tôi và tự làm nhục mình”. Vợ của
ông Lý rất xấu hổ và cảm kích. Ngay đêm hôm đó, Hà Đăng mơ thấy
một người dẫn ông ta đến một quan phủ, trên quan đường có ông quan
viên nói: “Ngươi hành y có công đức, nhất là không lựa thời nguy cơ
của người khác để chiếm lấy thân xác của người đàn bà, tinh thần đáng
kính, cảm động thần minh, tuân theo chỉ định của Ngọc Hoàng Đại Đế
ban cho nhà ngươi một chức quan, thưởng tiền năm vạn”. Khi ông thức
giấc ông cảm thấy rất buồn cười, một y sĩ nhà quê, làm sao có thể làm
quan? Nửa năm sau, Hoàng Thái Tử lâm bệnh, Thái y trong cung chữa
trị bất lực vô hiệu, Hoàng Đế cho người xuống dân gian để tìm y bác sĩ,
nghe nói Hà Đăng có y thuật tài giỏi và lương hiền, nên hạ lệnh triệu
tập vô cung, Thái Tử chỉ uống một thang thuốc của Hà Đăng thì đã có
hiệu lực, uống thêm mấy lần thì khỏi bệnh hoàn toàn. Nên Hoàng
Thượng ban cho ông ta làm quan Thái y, thưởng năm vạn tiền. Lúc
này, Hà Đăng rất kinh ngạc chuyện trong giấc mộng. Đúng là thần
minh khả tín.
chú giải: hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa
———–
IN TẶNG SÁCH ” NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU “, BỆNH NẶNG KHỎI ĐỘT NGỘT
Trong ghi nhận “Nhuận Đường Tập” của Thị Hà nói:
Ông Lưu Đặc Thiện tại huyện Cảnh Lăng Hà Bắc, sinh ra một
con trai tên là Thiên Dư, mới được có một ngày,Thiên Dư đã bị bệnh
rất nặng, bách dược đều vô hiệu, Bác sĩ nói, Thiên Dư: “Cho dù chim
hạc tái thế, cũng khó mà phục sanh, hết cứu được rồi.” Cả nhà rất bàng
hoàng nhưng cũng đành phải chịu thôi. Ông Đặc Thiện xưa nay sống
thiện tâm kiên vững, cho nên ông đã thành tâm hướng trời thỉnh cầu:
“Tôi nguyện in tặng “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” trăm cuốn để khuyên thế
nhân, hi vọng con trai tôi được nhanh lành bệnh”. Sau khi thỉnh cầu
xong, kỳ tích đã xuất hiện. Trong chớp mắt, thân xác con trai đã từ từ
khôi phục và khỏe lên, kể cả ông bác sĩ đã từng trị liệu cho cháu cũng
kinh ngạc mà nói: “Làm sao có thể như vậy được, làm sao có thể như
vậy được”. Tại sao bệnh tình từ sáng đến chiều có thể thay đổi lớn như
thế, thật là không thể ngờ. Như vậy, trải qua điều trị thêm 10 ngày, con
trai ông đã hoàn toàn khỏi bệnh. Sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” thật là
ân huệ to lớn.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.5.5>
———–
KIÊNG TÀ DÂM ĐƯỢC THẦN VĂN XƯƠNG BAN CÔNG DANH
Đường Vịnh lúc thời thiếu niên thường hay treo đèn khổ học đến
khuya. Một đêm nọ, có một thiếu nữ thầm yêu anh ta thường dùng tay
xé rách giấy của cửa sổ, hay chọc ghẹo và quyến r anh ta. Đường Vịnh
khuyên giải mãi mà không có tác dụng, liền dùng giấy dán lại chỗ đã
rách, dùng bút ghi lên: “Móc rách giấy cửa sổ dễ dán lại, gây tổn hại
lòng người khó mà hàn gắn lại”. Cô gái này nhìn thấy mới chịu bỏ đi.
Nửa năm sau, có một vị Tăng tu luyện có nội công đi ngang qua trước
cửa nhà Đường Vịnh, hiền từ bước vô, nhìn thấy họ, có treo tập trạng
nguyên, bên trái phải treo một đèn dầu, trước cửa còn có hai câu đối,
ông Tăng cảm thấy rất lạ, nên gõ cửa và trò chuyện với họ, khi anh ta
nghe được lời nói của ông Tăng cũng cảm thấy rất lạ, anh ta liền kể lại
sự tình của câu đối cho ông Tăng nghe. Ông Tăng nói: “Văn Xương Đế
Quân thần linh tối cao chuyên cai quản công danh thi cử và sự nghiệp
văn hóa rất kính nể những người không phạm vào tà dâm, người nhất
định thi trúng cử trạng nguyên”. Sau này, Đường Vịnh quả nhiên thi
trúng trạng nguyên và nổi tiếng trong thiên hạ.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
GẮNG SỨC HIẾU MẸ, CON ĐƯỢC TƯỚNG HIỀN 
Thôi Hảo, từ nhỏ đã có tính bẩm sinh là hiếu thảo. Cha của anh
ta qua đời rất sớm, người mẹ vì thương nhớ ưu sầu, khóc nhiều quá
dẫn đến bị bệnh mắt. Thôi Hảo bán hết gia tài trong nhà, đi khắp nơi
tìm bác sĩ đến chữa bệnh cho mẹ nhưng vẫn vô hiệu quả, đôi mắt bị
mù. Từ đó, anh ta rất thành kính phụng dưỡng người mẹ, ba mươi năm
như một ngày. Tất cả các thứ đồ dùng ăn mặc của mẹ, đều sắm theo
thời tiết nóng lạnh, đời sống sinh hoạt của người mẹ rất thoải mái,
không có thiếu thốn chút nào. Mỗi khi trời đẹp không khí trong lành,
nhất định dìu dắt mẹ đi ra ngoài du ngoạn, để được hít hơi thở trong
lành của thiên nhiên. Tuy đôi mắt của người mẹ bị mù, không được
chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp như tranh, ông Thôi miêu tả cảnh vật
thiên nhiên như rồng bay phượng múa, kể cho người mẹ nghe rất hứng
thú, mọi sự kiện tin tức phát sinh trong ngày, cùng bàn luận với mẹ
trong tiếng cười vui nhộn, giải sầu cho tuổi già, quên đi đau khổ về đôi
mắt mù, rất vui vẻ. Sau này, ông Thôi tuổi càng lớn dần, quan vị được
tôn vinh, còn tự tay cùng với con cháu trồng những cây hoa quả trong
vườn như đào, mận, hồng và các loại cây khác để bốn mùa đều có quả
tươi ăn. Khi người mẹ qua đời, để báo đáp ơn nghĩa cho mẹ, đến dần
cuối đời chuyển ăn chay trường. Do ông Thôi hành đức cao thượng,
cho nên làm được chức quan lớn, con trai ông Nhược Phôi, cũng thành
một đại tướng trong đời sau.
Trong tập “Cảm ứng ký sự” có nói: Hiếu thảo song thân, không
nên lạnh nhạt với cha mẹ, không nên để cho cha mẹ già phải bận tâm
lo âu, không nên để cho cha mẹ phải sợ hãi, không nên để cho cha mẹ
phải buồn phiền, không nên để cho cha mẹ có tâm sự khó nói ra, không
nên để cho cha mẹ có lòng hận thù. Nếu làm được hành vi hiếu thảo
như vậy, thiên địa nhân quỷ đều tôn kính chúng ta. Làm phận con cái,
dùng vật chất để cung dưỡng, tinh thần chăm lo để ổn định tâm trí
người già, là việc hiếu thảo căn bản nhất; cố sức học tập, thiết thật kính
nghiệp, để thành một người có ích cho xã hội, cho quốc gia, vì cha mẹ
thăng quang, là một đại hiếu; dẫn đạo cha mẹ già học tập chính đạo
Phật Pháp, khuyên đạo niệm câu thánh ngôn “Nam Mô A Di Đà Phật”
để cầu đến tịnh thổ trong thế giới Tây Phương cực lạc, vĩnh viễn thoát
khỏi đau khổ của sự luân chuyển, là một đại hiếu mỹ mãn nhất trên thế
gian.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
BỆNH NẶNG SẮP CHẾT, IN “BỬU PHIÊU” ĐƯỢC KHỎI BỆNH
Ông Lô Thiệu Hồng tại Từ Châu, do mẹ bị bệnh nặng đã mời bác
sĩ đến chữa bệnh. Bác sĩ nói: “Bệnh tình của mẹ anh rất nặng, không
thể nào trị khỏi”. Nên ông đã thành tâm cầu Phật Tổ từ bi phù hộ và
thề nguyện in tặng 200 cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, cầu xin bệnh
tình của mẹ được thuyên giảm và khỏi bệnh. Kết quả, không đến thời
gian nửa tháng, quả nhiên không cần đến thuốc men mà vẫn khỏi bệnh.
Sự kiện như trên là do ông Thiệu Hồng đích thân nói với ông Qúy
Lượng ghi dựng lại.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
KHÔNG TIN BÁO MỘNG, NẤU BA BA THIỆT MẠNG
Có một ông tên Trương Kỳ Quang tại Tô Châu, thích ăn con ba
ba, trong đêm, anh ta mơ thấy một người mặc áo đen đến cầu xin anh
ta tha mạng và nói: “Ngày mai anh sẽ có tai họa lớn”. Sáng hôm sau,
người thuê mướn đất vườn của anh ta bắt được một con ba ba lớn, đem
tặng cho anh. Kỳ Quang thấy con ba ba lớn như vậy rất mừng, người
vợ nhắc nhở anh ta nói: “Đêm hôm qua anh nằm mơ thấy người mặc
áo đen có thể là con ba ba này đó, nên thả nó đi thôi.” Kỳ Quang trả lời
: “Sinh vật là có thể biết báo mộng cho người nhưng con này là con ngu
khờ, cũng biết báo mộng sao?” Lập tức ra lệnh kêu đầu bếp để nấu ăn.
Kỳ Quang ăn hết nguyên con ba ba trong một ngày. Đêm hôm đó, anh
ta đau bụng bị tiêu chảy như là bị mổ bụng ra tiêu chảy liên tục không
ngừng, chữa trị vô hiệu, bệnh suốt ba tháng trời thì qua đời.
Nội Dung Của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 11.12>
———–
SỰ CHẾT THẢM CỦA KẺ TÀ DÂM
Tại Triết Giang có một cậu học sinh họ Ngô muốn hiếp dâm một
cô gái nhưng vẫn chưa thành. Nên hắn bàn mưu kế với người bạn họ
Phương, Phương Mậu thì lập mưu kế chuẩn bị cho ngày nào để hành
động. Không bao lâu, cha của Ngô Mậu mơ thấy có một người mặc áo
đỏ nói với công ta: “Con trai ông đáng lẽ có thể thi đậu tiến sĩ nhưng vì
lòng anh ta đen tối, Thiên Đế đã tước đi công danh của hắn. Phương
Mậu đang sống cuộc sống nghèo khó, nay lại lập mưu cho người thực
hiện hành vi tà ác, Diêm Vương đã phán cho anh ta phải xuống địa
ngục móc ruột, phải bị móc ruột ra từng khúc cho đến chết”. Cha của
Ngô Mậu thức giấc rất sợ hãi, khi trời sáng liền chạy đến trường học
tìm con trai để hỏi rõ sự tình, nghe con trai nói Phương Mậu tối hôm
qua mới bị đau ruột thừa cấp tính đã tử vong. Không bao lâu, Ngô Mậu
bị chứng bệnh suy nhược thần kinh, đầu óc bù xù ra vào trong thị xã,
không bao lâu cũng tiêu mạng qua đời! 
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 12.4>
ghi chú: hành ảnh chỉ mang tính chất minh họa
———–
BÁN BẢO VẬT CỨU NẠN QUAN TRI THƯỢNG THƯ
Ông Ưng Đại Hiến tại Triết Giang Đài Châu, khi ông còn học
sách tại xóm làng bên vùng núi, có một ngày, đang đốt đèn dầu sao
chép cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, đột nhiên nghe được đám ma quỷ
đang bàn tán và nói: “Tại nơi kia có một đàn bà, vì chồng đã thời gian
lâu chưa về nhà, bố mẹ bên chồng ép gả bà ta cho người khác. Nhưng
người đàn bà này sống rất trinh tiết, không bằng lòng, ngày mai nếu bị
ép quá, sẽ treo cổ tự tử, chúng mình sẽ tìm được người thế thân rồi.”
Ngày hôm sau, ông Ưng Đại Hiến đi tìm hiểu và đúng sự thật như
hôm qua mình nghe được. Ông trở về phòng đọc sách của mình, lén lút
đem chiếc đàn hiệu và đồ cổ của ông nội để lại cho mình đi bán được
bốn lượng tiền bạc. Lấy thân phận của chồng, viết ra một lá thư gửi về
an ủi người phụ nữ kia và bố mẹ, vừa gửi số tiền đó cho gia đình họ.
Khi bố mẹ họ nhận được thư và tiền, tin tưởng người con trai của họ
bình an, cũng không còn ép gả người đàn bà kia lấy chồng khác, tự
nhiên bà ta sẽ không còn muốn treo cổ tự tử nữa. Thời gian không lâu,
người chồng của bà ta trở về đoàn tụ với gia đình thật. Đối chiếu với
nhau về chuyện trên, cũng không biết ai đã làm ra chuyện tốt như vậy.
Qua không lâu, ông lại nghe thấy bọn ma quỷ nói với nhau:
“Theo thường lệ, chúng mình có thể tìm được người để thế thân, nhưng
do ông tú tài này đã phá hoại chuyện tốt của mình, một con ma đứng
bên cạnh mà nói:“Tại sao không gây họa cho ông ta để trả thù?”
Con ma này lại nói: “Ông ta thường chép “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
để khuyên thế gian, còn có lòng từ bi cứu giúp người, Thượng Đế ban
lệnh cho ông ta làm Âm Đức thượng thư, chúng mình còn có thể gây
họa cho ông ta sao?”. Sau này ông Ưng Đại Hiến đã thực sự thăng quan
làm thượng thư.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.2.2>
=========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
NẠO PHÁ THAI VÀ QUẢ BÁO
Trước tiên xin mời quý đạo hữu đọc một trích đoạn trong kinh 
“Phật Thuyết Kinh Diệt Tội Trường Thọ và Hộ Chư Đồng Tử Đà La Ni”:
“Đức Phật mỉm cười, bảo khắp đại chúng: 
Trên thế gian có năm thứ ác nặng, sám hối khó diệt. Những gì là năm? 
Một là giết Cha; Hai là giết Mẹ; Ba là phá Thai; 
Bốn là làm cho thân Phật chảy máu; Năm là phá sự hòa hợp của Tăng.
Khi ấy, người nữ có tên Điên Đảo, kêu khóc nghẹn ngào, nước mắt như 
mưa, năm vóc gieo xuống, lăn lộn trước Phật, và bạch lên rằng: 
Lạy Đức Thế Tôn, từ bi rộng lớn, cứu hộ tất cả, cúi xin Thế Tôn, thương 
xót nói pháp.Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai bảo một lần nữa: 
Nghiệp ác của ngươi, rồi sẽ sa đọa, địa ngục A-tỳ, không sao dừng ngớt. 
Các vị lắng nghe! Như Lai sẽ vì các vị mà nói. Về đời quá khứ, có thế giới 
tên, Vô Cấu Thanh Tịnh, cõi đó có Phật, hiệu là Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai, 
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô 
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, được vô 
lượng vô biên, các đại Bồ-tát, lúc nào cũng thường, cung kính vây quanh. Trong 
pháp Phật ấy, có cận sự nữ, tên là Điên Đảo, cô này nghe Phật, xuất hiện nơi đời, 
muốn cầu xuất gia, buồn bã kêu khóc, bạch Đức Phật rằng: 
Kính bạch Thế Tôn! Con có nghiệp ác, muốn xin sám hối, cúi mong Thế 
Tôn, cho con nói rõ: Con về trước kia, thân mang thai nghén, mới đủ tám tháng, 
cũng vì phép nhà, cho nên con chẳng ham muốn con cái, bèn uống thuốc độc, 
phá thai giết con, chỉ sanh đứa chết, đủ cả hình người. Có bậc triết giả đến bảo 
con rằng: “Nếu cố sẩy thai, người này hiện đời, mắc báo bệnh nặng, mạng 
sống ngắn ngủi, chết đọa A-tỳ, chịu khổ não lớn”. Nay con suy nghĩ, rất sanh 
buồn sợ. Cúi xin Thế Tôn, đem sức Từ bi, vì con nói pháp, cho con xuất gia, để 
khỏi khổ ấy. Lúc đó, Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến bảo nàng Điên Đảo: 
Trong địa ngục nóng, tạm gặp gió lạnh, tội nhân tạm mát, trong địa ngục 
lạnh, tạm gặp gió nóng, tội nhân tạm ấm. Địa ngục A-tỳ, không có điều đó, lửa 
trên suốt xuống, lửa dưới suốt lên, bốn bề vách sắt, trên đặt lưới sắt, bốn cửa 
Đông Tây, có lửa nghiệp mạnh, nếu chỉ một người, tân cũng đầy ngục, thân to lớn 
đến tám vạn do tuần, nếu đông nhiều người, cũng đều đầy ngục. Khắp thân tội 
nhân, có rắn sắt lớn, khổ độc của nó, hơn cả lửa mạnh, lại có chim sắt, mổ thịt tội 
nhân, hoặc có chó đồng, nhai thân tội nhân, ngục tốt đầu trâu, tay cầm binh khí, 
phát tiếng hung tợn, như tiếng sấm sét, bảo tội nhân rằng: “Người cố giết thai, 
phải chịu khổ này! ”…Ta nếu nói sai, chẳng phải là Phật.”
Nghĩa là cách đây 2500 năm trước, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã vì 
chúng sanh mà thuyết rõ quả báo của việc nạo phá thai: “Nếu cố sẩy thai, người 
này hiện đời, mắc báo bệnh nặng, mạng sống ngắn ngủi, chết đọa A-tỳ, chịu khổ 
não lớn”. 
Ngày nay, xã hội càng phát triển, con người càng trở nên lạnh lùng với sự 
sống. Việc quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai, phá thai trở thành một vòng 
tròn khép kín giống nhau ở khá nhiều người. Họ quan niệm rằng thai nhi chưa là 
người nên không có quyền con người. Lối suy nghĩ đó đã khiến cho hàng triệu 
sinh linh bé nhỏ bị tước đoạt đi quyền sống khi chưa nhìn thấy ánh mặt trời.
Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, cứ 1000 người phụ nữ trong độ tuổi sinh 
đẻ ở Trung Quốc thì có tới 24 người nạo phá thai. Kinh khủng hơn, cũng tiêu chí 
này, tỉ lệ ở Nga là 50 người trên 1000 người. Với Hàn Quốc, đất nước có luật 
chống phá thai, tỉ lệ phá thai cũng không phải là nhỏ. Theo Bộ Y tế an sinh xã hội 
Hàn, có tới 342.433 vụ phá thai năm 2005. Theo nghiên cứu năm 2012, số ca phá 
thai tính tới năm 2010 ở Hàn Quốc đã giảm xuống còn 160.000 ca. Tuy nhiên, 
con số này không phải là dấu hiệu khả quan. Lí do vì Hàn Quốc là đất nước quy 
định phá thai là hành vi phạm tội, có thể bị bắt đi tù nên nhiều người đã ra nước 
ngoài để làm việc này. 
Hiện nay, theo bà Tô Thị Kim Hoa, Phó Giám đốc sở Y tế, Chi cục trưởng 
Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình Thành phố Hồ Chí Minh cho biết:
Hiện nay, tỉ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là khoảng 300.000 ca mỗi năm. 
Trong đó có khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. Con số lạnh lùng này cho thấy 
chúng ta đang là nước đứng thứ 5 trên thế giới và số một khu vực Đông Nam Á về 
tình trạng nạo phá thai. (theo báo V ietnamnet)
Có vẻ như con người ngày càng xa rời những bài học của Đức Từ Phụ
Thích Ca để lấn sâu vào vòng ái dục mà không biết rằng phá thai là một tội ác, phá 
thai sẽ đem đến những quả báo khôn lường. Người ta thường nói rằng những 
trường hợp sinh con khó nuôi, khó sinh, xảy thai, vô sinh, con chết yểu và một số 
bệnh hiểm nghèo thường là quả báo của việc nạo phá thai. Sau đây là một số câu 
truyện thực tế được ghi nhận:
Nội Dung Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
PHÁT NGUYỆN IN SÁCH – THẦN LINH TẶNG THUỐC
Con dâu thứ của tôi là Thị Lưu, đã từng bị nhiễm dịch bệnh, cả
thân thể nổi lên chấm đỏ. Uống thuốc cũng vô hiệu, bệnh ngày càng
nghiêm trọng. Đến ngày thứ 12, bác sĩ nói: “Độc tố của bệnh đã di
chuyển vô tim, mạch khí đã tuyệt, rất nguy kịch trong nay mai.”, cả
nhà đã bó tay. Cho nên, tôi gấp rút đến đền thờ Thần Táo Quân đốt
nhang cầu vái: “Nếu như bệnh tình dâu thứ của tôi được khỏi bệnh, tôi
đồng ý in tặng 100 cuốn sach “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, vả lại khuyên
giải người đời kính ngưỡng cuốn sách này để cải thiện.” Đến giờ khuya
canh hai, lại đến trước đền thờ Thần Táo Quân cầu vái thật lâu. Đến
giờ canh bốn, cùng với con trai thứ âm thầm cầu vái trong phòng: “Nếu
Ngọc Hoàng Đại Đế từ bi, có thể cứu được bệnh của dâu và vợ của
chúng con, có thể khỏi bệnh, chúng con cố gắng hết sức mình để khuyên
độ thế nhân kính ngưỡng đạo lý của sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.” Đến
lúc giờ canh năm, người nhà ngủ thiếp đi tại bếp, trong mơ nghe thấy
tiếng người gõ cửa. Khi mở cửa ra, nhìn thấy có một lão già, trong tay
cầm một viên thuốc màu đen, nói là đến trị bệnh cho Thị Lưu. Vừa nói
xong, bước thẳng vô nhà, cùng với con trai thứ cho thị Lưu uống thuốc.
Cả nhà đứng ở phòng ngoài mong đợi, đột nhiên nghe trong phòng có
tiếng nói: “Phải cử động nhiều!”, ngay lập tức nhìn thấy có một người
hầu tay bưng thùng ra. Đột ngột rớt xuống, làm đổ thùng phân, để
phân văng đầy mình của người nhà, giật mình thức tỉnh.
Chạy vào trong phòng, nghe bệnh tình của dâu thứ khỏe lên
nhiều. Sau khi trời sáng, mời bác sĩ đến khám, phát hiện mạch nguyệt
đã hồi sinh. Uống thuốc thêm mấy liều, đã khỏi bệnh.
Đây chính là thần linh đã âm thầm phù hộ, là chuyện có cầu có
ứng. Ban cho các quân tử thích hành thiện, nếu thấy cuốn sách “Ngọc
Lịch Bửu Phiêu” nhất định phải thành thật ban hành chân lý trong
sách. Hoặc sao chép in ấn, truyền tặng cho người khác: hoặc truyền cáo
những sự kiện như vậy cho người khác hiểu, dùng để khuyên giải đời
người cải hóa lòng thiện, nhất định nhận được vô lượng phước báo.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.9.1>
===========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
BỐ THÍ THUỐC MEN CỨU NGƯỜI, VINH DỰ BỔ NHIỆM CHỨC THÀNH VƯƠNG
Vào giữa năm Gia Thiện, ông Hồng Thiệu Đỉnh tại Nam Xương
Phủ Tây Giang, lúc còn trẻ theo học y khoa môn nội ngoại khoa. Năm
mười chín tuổi, đã từng đọc cuốn “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, khi đọc được
trong điện thứ hai có nội dung nói “chỉ hạ bất minh” (tức khám bệnh
cho người chỉ qua loa không kỹ), lấy thuốc trị bệnh để chuộc lợi thì bị
chuyển tiếp đến tiểu địa ngục chịu cực hình tiếp. Tin và kính ngưỡng,
đã bố thí thuốc men để trị bệnh cho rất nhiều người và sao chép cuốn
“Ngọc Lịch Bửu Phiêu” nói cho người trên thế gian hiểu biết, hy vọng
tất cả mọi người cảnh giác, biết sám hối. Vừa phát đại lòng tin, trị bệnh
không tính toán tiền bạc, không phân biệt giàu nghèo. Khi gặp có người
bị bệnh nguy kịch, phải sử dụng nhân sâm, nếu người bệnh đó nghèo
khổ, mua không nổi thì ông sẽ thái nhân sâm ra từng miếng nhỏ, trộn
vào chung các loại thuốc khác, bán giá rẻ cho họ để trị bệnh. Tận dụng
tiền thưởng thu được của người giàu có, cứu trợ cho các người bệnh
nặng khó chữa. Nếu như gặp năm thất thu đói khát thì không ngồi kiệu
mà đi bộ để khám bệnh cho bá tánh. Phu nhân của ông rất hiền năng,
luôn tuân thủ ý nguyện hành thiện của người chồng. Khi mùa đông, 
cho dù mặc áo quần bằng vải thô cũng không một trách hờn. Trong
ngày mừng thọ tám mươi tuổi, tự nhiên ông nhìn thấy trên trần cao của
phòng khách treo lên một băng-rôn màu đỏ, trên có dòng chữ màu
vàng: “Phùng Thiên Đế Mạng”, Hồng Thiệu Đỉnh đến Thành Hoàng
tỉnh Phúc Kiến thi nhiệm. Ba ngày sau, trong nhà đền thờ nên thay áo
tắm rửa, ông lìa đời trong trạng thái ngồi.
Tất cả con cháu của ông trong sự nghiệp đều rất thành công và
danh tiếng.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4. 1. 9>
=========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
QUYÊN GÓP IN TẶNG “NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU” MỘNG THẤY TRỊ BỆNH
Ông Tuyên Hoàn Chương tại Bửu Sơn, trường kỳ bị bệnh trĩ, trị
liệu khắp phương đều vô hiệu, rất là đau khổ. Vào tháng ba năm Tuất
Thìn, tự nhiên ông đọc được cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, ngay
lập tức ông phát lên lòng tín ngưỡng. Ông lập tức đứng trước đền thờ
Thần Táo Quân, lập nguyện in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và
“Tiếc Chữ Thuyết”, “Tập Kính Táo” vv…cầu xin tiêu trừ bệnh trĩ.
Một thời gian, sau khi âm thầm cầu vái. Vào một buổi tối, ông mơ
thấy một ông hòa thượng, tay cầm kiếm sắt, đi đến trước mặt ông và
nói: “Để tôi chặt đứt cục trĩ của ông!”. Nói xong giơ kiếm lên và chém
một phát xuống, ông hốt hoảng thức giấc. Không bao lâu, phát hiện
bệnh trĩ của mình cũng biến mất từ nay. Đây là sự kiện được ghi lại do
ông Lưu Bửu Sơ tường thuật lại với ông Qúy Lương.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.5.7>
=========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
———–
THẢM BÁO CỦA KẺ KINH DOANH SÁCH BÁO, TRANH VẼ KHIÊU DÂM
Tại khu Giang Nam có một thương gia bán sách tên là Chu
Tường, vì muốn tranh giành lợi nhuận cao, chuyên lén lút phát hành in
ấn buôn bán và cho thuê những sách truyện khiêu dâm với giá cao, bạn
bè đã khuyên răn anh ta đừng kinh doanh những loại sách này nữa có
ngày chuốc họa vào thân và chịu sự ác báo, Chu Tường cho là sự mê
tín đáng mắc cười, không sợ tới. Hai năm sau, thị lực của Chu Tường
bắt đầu mờ dần, cho đến một ngày mắt bị mù, tìm kiếm rất nhiều y bác
sĩ để chữa trị, tốn biết bao nhiêu tiền vẫn không chữa được. Một ngày,
tiệm sách bị hỏa hoạn, mắt của hắn lại bị mù không thấy đường để tháo
chạy, nửa người bị bỏng nặng, cơ thịt bị hoại tử, mỗi ngày đều kêu la
trong sự đau đớn, không đến ba ngày thì tử vong. Trước khi chết đã
nói: “Tôi in ấn kinh doanh những sách khiêu dâm như vậy, tuy kiếm
được nhiều tiền nhưng đều tiêu tan hết vào để chữa bệnh, vả lại tôi hại
người không ít, chịu sự trả báo như thế cũng là đáng đời, hi vọng các vị
bạn hàng lấy tôi mà làm gương, đừng kinh doanh những loại sách
truyện giống như vậy nữa”. Vợ của Chu Tường sau này do cuộc sống
khó khăn vay mượn rất nhiều tiền, tiếp đó bị người đòi nợ bắt cóc bán
đi khu núi rừng để làm nô lệ
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 12>
———–
KÝ SỰ TĂNG THỌ KHI IN SÁCH ” NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU “
Ông Trần Ưu Dung tại thôn Đại Nghĩa tỉnh Phúc Kiến, bốn anh
em đều buôn bán, Trần Ưu Dung làm công tay đại lý khí đốt, ông biết
được người bạn có cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” và mượn để đọc.
Mẫu thân của ông ta đã 82 tuổi, vào tháng 5 năm 1992, bà phát bệnh
nặng, bác sĩ đã tuyên không thể trị khỏi nên ông về nhà mau chuẩn bị
hậu sự cho bà. Ông tưởng nhớ đến ơn đức của mẹ, rất đau buồn lại
không làm gì được, đột nhiên ông nhớ ra cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu
Phiêu” có ghi lại một số ký sự cầu xin tăng thọ và trị bệnh rất là kinh
nghiệm. Tối hôm đó, ông đứng ngay trước bàn thờ Thần Táo Quân
thành tâm cầu khẩn, lòng nguyện in tặng sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”
để cầu xin mẹ tăng thêm tuổi thọ. Hai hôm sau, vào một buổi tối, ông
Trần Ưu Dung nằm mơ thấy mình đi đến một quan phủ, hơi giống như
quan phủ của Thành Hoàng. Ưu Dung thấy mẹ mình đang đi đi lại lại
trong đó, trên sảnh không thấy có người, chỉ có một người đang cầm
cuốn sổ đang kêu tên Ưu Dung và nói với ông, trời sắp tối rồi, sẽ đóng
cửa thôi. Ưu Dung rất hốt hoảng, hét to kêu cháu gái đến rước mẹ đi
về. Người đó ngăn lại và kêu ông không được lên tiếng. Ưu Dung như
thế đã dắt mẹ trở về nhà. Sau khi thức giấc, ông đến ngay đầu giường
của mẹ để xem, chưa đợi đến Ưu Dung mở miệng, bà mẹ với tiếng yếu
ớt kể lại chuyện giấc mộng của bà cho Ưu Dung nghe, không ngờ giấc
mộng của hai người hoàn toàn giống nhau. Từ nay về sau, bệnh tình
của bà mẹ ngày một khỏe hơn, sau này hoàn toàn khỏe mạnh lại. Cả
nhà anh em rất vui mừng, thề nguyện in tặng thêm sách “Ngọc Lịch
Bửu Phiêu”
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.10.7>
———–
IN ẤN ” NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU ” THI ĐẬU LIÊN TIẾP
Người đồng hương với tôi, ông Trần Trọng Trường, lâu nay rất
ngưỡng mộ thiện lý trong cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”. Nhưng
nghĩ gần những khu này không thể mua được cuốn sách này, rất hối
tiếc.
Có một ngày, ông đi đến một miếu cổ trong thành thị Tô Châu để
thắp hương, rất may mắn được biếu tặng một cuốn. Sau khi đọc xong,
ông rất kinh ngạc, tóc dựng hết lên. Cho nên, nói với một ông sư xuất
gia quen biết: “Sách thiện trên thế gian, chưa từng thấy có cuốn sách
hay như thế. Không chỉ các người có trí tuệ đọc xong có thể tỉnh ngộ
mà một số người phổ biến khi nghe hay vẫn hiểu rõ đạo lý bên trong,
cũng sẽ cẩn thận về hành vi của mình. Và sám hối những gì mình đã sai
phạm.”
Nên ông phát tâm nguyện theo nguyên sách như ban đầu, giao
cho một nhà xuất bản để in ấn, truyền bá đến lâu dài, thành tâm mong
muốn người trên trần gian đều quy tụ với thiện đạo.
Ba năm sau khi in ấn, con trai ông tên Bửu Kiệm, tham gia thi cử
trong tỉnh huyện, đã thi đậu cử nhân vào năm Giáp Tuất, tham gia hội
thi cũng đậu hạng nhất, đã mang danh dự về cho cả làng xóm. Đấy
chính là trời ban phước cho thiện nhân, có thể nói là rất lớn, rất nhanh
và rất rõ ràng.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
ĂN HỐI LỘ XỬ ÁN SAI, CHUYỂN KIẾP THÀNH CON LỪA
Có một tiến sĩ họ Trưởng, đảm nhiệm chức vụ quản lý an ninh
trật tự tại tỉnh Sơn Đông. Đến một ngày, hai anh em vì tranh giành gia
tài của tổ tiên để lại đến thưa kiện. Người anh đưa hai trăm lượng vàng
để hối lộ cho ông Trưởng, yêu cầu xét cho anh ta được thắng kiện;
người em lại đưa cho hắn ba trăm lượng vàng để hối lộ, cũng yêu cầu
mình được thắng kiện. Ông Trưởng thu hết hai bên, vì người em đưa
hơn một trăm lượng vàng, nên xét được thắng hưởng gia tài của tổ tiên
để lại, người anh tức giận thành bệnh, không bao lâu thì qua đời. Sau
này, ông Trưởng cũng qua đời. Trong làng có một thân sĩ, sau khi chết
đi được 3 hôm, ông hồi dương lại. Kêu người đến mời con trai của ông
Trưởng đến, nói với anh ta: “Khi xuống Diêm phủ, tôi nhìn thấy ba
cậu, ông ta sắp đầu thai thành con lừa, hiện giờ, sẽ đầu thai xuống một
nhà kia.”, con trai của ông Trưởng không tin. Ông thân sĩ nói: “ Trong
lúc cha ông làm quan tại tỉnh Sơn Đông, do nhận hối lộ đã xử oan cho
người ta, tiền hối lộ là thông qua người hầu của nhà người nhận, nếu
như anh không tin, có thể về hỏi thăm xem.” Khi hỏi, quả nhiên là như
thế. Thân sĩ lại nói: “Phụ thân của ngươi nhờ tôi truyền lại cho anh;
nhất định phải trả lại số tiền nhận hối lộ, đồng thời phải in tặng sách
“Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để giảm nhẹ tội cho ông.” Con trai của ông
Trưởng sau khi nghe xong, lập tức làm theo lời chỉ dẫn của phụ thân
và đi đến nơi cha mình đã đầu thai mua về con lừa, gửi nuôi vào nơi am
phóng sanh tại Dương Châu, mướn hai người làm chăm sóc. Trải qua
thời gian ba năm, con lừa mới chết.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
=========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG, A DI ĐÀ PHẬT
<hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa>
———–
PHÁT NGUYỆN IN TRUYỀN SÁCH, ĐƯỢC TÁI HỒI SINH
Bà ngoại của tôi tên là Ưu Quỳnh Phân năm nay 78 tuổi, bị tai
biến mạch máu não đã liệt nửa người hai mươi mấy năm trời, gần đây
lại phát hiện bị bệnh tiểu đường. Vào ngày mồng 9 tháng 5 năm 2004,
bà đến bệnh viện của thị trấn Lê Đường khám bệnh. Khi truyền dịch
không được bao lâu thì xuất hiện tình trạng khó chịu bất an, tiếp theo
sắc mặt trở nên tím tái, không tự chủ được đại tiểu tiện. Hai mắt lật
lên, bất tỉnh hôn mê. Cấp cứu không hiệu quả nên chuyển đến bệnh
viện Uy Hiệu cấp cứu, cấp cứu khoảng 2 tiếng đồng hồ, bác sĩ nói đã
ngưng thở, hết cứu chữa được nửa, kêu người nhà chuẩn bị hậu sự cho
bà. Bắt đầu, rút ống khí ô-xy, dọn dẹp các thiết bị cấp cứu. Thì vào lúc
này, tôi nhận được cú điện thoại của người em trai, nói bà ngoại không
được rồi, mau trở về nhà. Khi đó, tôi nhớ ra nhiều sự kiện trong cuốn
sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tôi có ý niệm thử xem, tôi liền bước đến
bàn bếp cầu xin Ngọc Hoàng Đại Đế, Thần Táo Quân, và các Thần Phật
phù hộ cho bà ngoại được chuyển nguy thành an. Và phát nguyện in
tặng 100 cuốn sách và cố sức truyền bá lưu thông. Không ngờ, chỉ trong
giây phút đầu, người bà ngoại còn nằm trong giường bệnh như vừa
thức tỉnh, hét lên một tiếng yếu ớt. Quả nhiên tỉnh lại! Bác sĩ cũng cảm
thấy chuyện rất ly kỳ nên bắt đầu tiến hành trị liệu cho bà, không bao
lâu, bà được xuất viện ra về. Đây chính là sự kiện có thật đích thân tôi
từng trải, không nửa câu dối trá đặt chuyện.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
LIÊN SINH HOẠT PHẬT KỂ TRUYỆN QUẢ BÁO DO SÁT SANH
(Trích từ sách ” Địa Ngục Biến Hiện Ký của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn)
Từng có một người nữ mắc bệnh “thiên đầu thống” lâu cả 10 năm rồi, đã tìm gặp các bác sĩ trong cũng như ngoài nước, nhưng trước sau không cách nào làm thuyên giảm bệnh. Có thể nói các bác sĩ đã bó tay, vô phương cứu chữa. Bà này đến quy y tôi. Trì “Thượng Sư Tâm Chú” cả trăm vạn lần, liên tục tụng niệm. Có một lần, bà đến gặp nói với tôi: “Sư Tôn, con thực sự có việc muốn cầu xin nên mới quy y Ngài, hy vọng Ngài tha lỗi cho con.”
Tôi nói: “Tôi không để ý gì đâu, rất nhiều người đến quy y, tôi đều xem như nhau cả.” Tôi hỏi: “Bà cầu xin gì vậy?” Lúc này bà mới nói ra nguyên do quy y là vì muốn Sư Tôn trị bệnh thiên đầu thống cho bà. Khởi đầu tôi dùng “gia trì lực”, “phù chú lực” giúp bà ta, nhưng trước sau không đúng yếu điểm. Cuối cùng tôi dùng Thiên nhãn quan sát, lúc này tôi đột nhiên phát hiện ra trên đầu bà bị tháp vào một cây đinh vô hình làm đau. Đinh màu tím, dài 5 tấc, xúc chạm làm đau dây thần kinh. Tôi kinh hãi biết rằng cây đinh vô hình làm đau này là từ âm phủ mà ra, do đó tôi phải tìm sự chỉ giáo của Minh Vương.
Tôi đã hỏi Minh Vương việc gì đã liên quan đến cây đinh vô hình làm đau của bà đệ tử này. Minh Vương nói:
“Đệ tử của Ngài khi còn trẻ rất thích ăn loại gà đồng, ếch, lúc ăn ếch thì lấy dầu đốt nướng ếch, số ếch bị nướng chết vô số kể, đã vượt qua phước báo của mình, cho nên Minh phủ mới cho phát ra cây đinh làm đau này để trừng phạt.” – “Lý do như thế, bây giờ làm sao để giải cứu?” Minh Vương đáp:
“Chỉ có phóng sinh và trì Vãng Sanh chú” Tôi nói:
“Tôi sẽ khuyến khích bà ta phóng sinh và trì chú Vãng Sanh. Trước mắt bà ấy đã trì cả trăm vạn Thượng Sư tâm chú rồi.” Minh Vương nói: “Như thế cây đinh làm đau sẽ tự nhiên biến mất thôi.” Phải nói điều thật kỳ lạ là chuyến đi Minh phủ gặp Minh Vương xong thì bệnh thiên đầu thống của bà đệ tử như không có cánh mà bay, sau một giấc ngủ tỉnh dậy, bệnh bà không còn đau gì nữa, cơn đau giống như được nhổ ra khỏi đầu, khác trước kia một trời một vực, đau đớn hoàn toàn được giải trừ. Tôi lại xử dụng Thiên nhãn xem thì không còn trông thấy cây đinh làm đau nữa.
Tôi hỏi: “Bà thích ăn ếch lắm phải không?” Bà ta trả lời:
“Sư Tôn biết cả rồi!” – “Ăn tất cả bao nhiêu con?”
“Tôi đi chợ mua về nướng ăn không biết là bao nhiêu nữa.”
“Bây giờ thì không được ăn nữa, thấy rồi đó, mua mà phóng sanh, niệm cho thật nhiều chú Vãng Sanh, như thế thì bệnh thiên đầu thống sẽ không tái phát” – “Xin tuân lệnh Sư Tôn.”
Nữ đệ tử này, từ đó không ăn thịt ếch nữa mà ngược lại chỉ lo phóng sinh ếch, niệm chú Vãng Sanh cả trăm vạn lần. Lấy sự linh cảm đến với mình báo cho nhiều người biết, dẫn rất nhiều người đến quy y tôi.
Cư theo tôi biết rằng có rất nhiều người bị cây đinh làm đau tháp (cấy) vào người rồi. Những cây đinh này là từ Minh phủ phát xuất có tác dụng trừng giới, có người bị đau vai, người bị đau lưng, người bị đau đầu, người bị đau các khớp xương, có những người bị đau răng, đau chân, đau ngón tay, vân vân. Nói rằng không nhất định từ Minh phủ tạo ra, nhưng hy vọng mọi người lo việc phóng sanh thật nhiều, đọc chú Vãng Sanh thật nhiều. Tiêu, tiêu trừ nghiệp chướng!
Tôi xin thực sự bá cáo với mọi người, phúc đừng hưởng cho hết tận, hưởng hết phúc ắt sinh ra tai ương. Chúng ta là những người học Phật phải biết quí trọng phúc, tạo ra phúc mới đúng. Phật từng đã dạy chúng ta “phải buông xả”, thử hỏi câu “phải buông xả” là buông xả cái gì nào? Hãy trả lời xem.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 11.1>
———–
SÁM HỐI CHUYỆN QUÁ KHỨ, HỒN MA SIÊU THOÁT
Trong cuốn “Tự cầu đường tập” có một đoạn do ông Khầu Đại
Vinh nói với ông Lâm Xuân:
Cha tôi là ông Khầu Phục Sơ tại Nam Kinh, sống rất hiếu thảo
với ông bà nội của tôi. Mẹ tôi qua đời sớm, tôi là con trai ông tên là
Khầu Đại Vinh, cũng rất hiếu thảo, đồng thời thích hành thiện làm việc
tốt lành. Nhưng cha tôi Khầu Phục Sơ lại không tin là có quỷ thần và
có địa ngục.
Vào năm Nhâm Tý, tôi có đi Tô Châu buôn bán, đem về một cuốn
sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, tôi cùng cha xem chung với nhau. Cha tôi
vừa cười vừa nói: “thật là hoang đường!”. Vừa nói xong đã vứt cuốn
sách vào trong hộc tủ. Nhưng tôi lại rất kính ngưỡng, muốn tìm người
để in ấn biếu tặng truyền bá, lại sợ cha biết được sẽ mắng chửi, nên
đành buông xuôi. Năm Qúy Sửu, khi cha tôi lâm trọng bệnh và than
thở nói với con trai: “Gần đây, ta thường nhìn thấy các ma quỷ tụ tập
trong nhà mình phá phách, ta mới tin thật sự là có ma, theo ta nghĩ
chắc là cũng có địa ngục. Ta rất hối hận khi không tín ngưỡng sách
“Ngọc Lịch Bửu Phiêu”.
Sau khi nghe được cha tôi nói. Trong lòng mọi ưu sầu đều biến
mất, lập tức thề nguyện in ấn 300 cuốn sách để truyền bá. Lúc này,
Phục Sơ nghe được phía ma quỷ nói: “Ông ta tuy sắp chết đến nơi rồi
nhưng Thần Táo Quân đã ghi lên trán ông ta chữ “Thuân Tuân” lại
nghe thấy các ma quỷ khác đang hét lên và nói: “Ngọc chỉ sắp đến rồi,
ta mau rời khỏi nơi này, không sẽ bị trừng phạt”. Bệnh tình của Phục
Sơ quả nhiên không bao lâu thì khỏi bệnh, hiệu quả đúng nhanh như
thế, không thể để cho người ta không tín ngưỡng vào cuốn “Ngọc Lịch
Bửu Phiêu”.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
SÁM HỐI, DỨT BỎ TÀ DÂM, CHUYỂN THIỆN, CẦU CON ĐƯỢC NHƯ MONG MUỐN
*Câu chuyện thứ nhất:
Có một người tên là Giá Nhân, đã ngoài 50 tuổi còn chưa có con,
trong lòng rất mong. Một buổi tối, ông mơ thấy một phủ điểm, trên có
ghi chữ: “Sinh dục tự”. Giá Nhân liền cầu khấn về chuyện con cái của
mình. Người kia lấy một cuốn sổ tay lật ra xem và nói: “Ông đã từng
cưỡng hiếp một phụ nữ, muốn cầu xin con cái là chuyện bất khả năng”.
Giá Nhân nghe được rất kinh ngạc, tiếp theo nhất lòng thành tâm cầu
xin và nói: “Tiểu dân lúc ấy vô tri, cầu xin được khoan dung chuộc tội”.
Quan thần nói:“ Tuy ông có lòng hối cải, phải khuyên nhủ 10 người
không phạm tà dâm (không phải vợ chồng mà có quan hệ tình dục nam
nữ) mới có thể xóa được nghiệp tội mà mình mắc phải, mới hi vọng có
con để nối dòng”. Khi Giá Nhân thức giấc, lòng quyết tâm sám hối,
khuyên bạn bè thân thuộc kiêng tà dâm, vả lại còn góp tiền in ấn sách
thiện có nội dung khuyên giải không mắc vào tà dâm và sách “Ngọc
Lịch Bửu Phiêu”, cảm hóa được rất nhiều người. Quả nhiên, sau này
ông sinh được hai cậu con trai.
* Câu chuyện thứ hai:
Huyện Hoa Đình có ông họ Trương, lúc thời trẻ thường hay cài
bẫy dụ dỗ thiếu nữ tiến hành mại dâm. Sau khi kết hôn sinh được hai
cậu con trai nhưng vì do suy dinh dưỡng bẩm sinh nên đã tử vong,
chính ông cũng bị mắc bệnh bướu hạch, điều trị nhiều năm cũng vô
hiệu quả. Sau này ông đọc được cuốn sách nói về đủ loại nhân quả trả
báo liên quan đến tà dâm dục vọng, cảm thấy rất hối hận, biết được sự
bất hạnh của mình là do trả báo sự tà dân của mình. Cho nên, ông đứng
trước tượng thần Phật xin thề vĩnh viễn từ bỏ kiêng trừ tà dâm, bỏ tiền
ra in ấn rất nhiều cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” để truyền bá đến
thiên hạ. Một năm sau bệnh của ông đã khỏi, không bao lâu liên tiếp
sanh được ba đứa con.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
NGƯỜI MẮC BỆNH PHONG MUA DÂM, NGƯỜI BÁN DÂM THIỆT MẠNG
Những năm gần đây, nạn mại dâm ngày càng gia tăng, những kẻ
mất đạo đức ngày càng nhiều, mại dâm mua dâm nghiêm cấm nhiều
lần không hết, dẫn đến bùng phát căn bệnh HIV và những căn bệnh lây
nhiễm khác, gây độc hại đến xã hội. Nhưng mà thiện ác ắt phải có báo,
sự kiện dưới nay lấy làm cảnh tỉnh cho những kẻ có hành vi tà dâm.
Vào ngày 25 tháng 8 năm 2001, tại tỉnh Hồ Nam trong làng Thị
của nhà họ Trương có trại phong cùi, có ông Trương Mậu sau khi xem
xong cuốn băng hình khiêu dâm ngay lập tức đón xe chung với La Mậu
thoát ra đi đến làng thị họ Trương, đi đến nhà trọ Từ Dung. Nhờ La
Mậu môi giới, giới thiệu gái bán dâm họ Lữ cho ông Trương. Lữ Mậu
nhìn thấy ông Trương đầu tóc chân mày hơi rụng, cả mình tấy đỏ như
đang lột da vậy, trong lòng hoài nghi. La Mậu bịa ra lời dối và nói:
“Hắn ta là dân quân phục ngũ, hai chân là do bị thương ở chiến
trường”, cô bán dâm nửa tín nửa nghi, nhưng nghĩ đến tờ giấy bạc 50
đồng sắp được bay vào túi mình, nên đồng ý bán dâm.
Xong việc, La Mậu nói với mại dâm Lữ Mậu, người mua dâm là
người mắc bệnh phong cùi. Lữ Mậu nghe xong người cứng đơ, sau đó
căn theo lời tố cáo của quần chúng, cảnh sát bắt ngay tại trận ông
Trương, ông La tất cả 4 người do vi phạm và đưa Lữ Mậu đến bệnh
viện xét nghiệm, bác sĩ dặn cô phải sớm nhập viện để chữa trị bệnh. Lữ
Mậu rất hối hận, về đến nhà đã treo cổ tự vẫn.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương12>
===========================
GHI CHÚ: MỌI NGƯỜI HÃY VÀO NHÓM ĐỂ TẢI SÁCH NGỌC LỊCH BỬU PHIÊU VÀ ĐỌC NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN QUẢ BÁO ỨNG
———–
PHÁT TÂM IN TẶNG SÁCH ĐƯỢC THOÁT NẠN SÔNG BIỂN
Vào năm 1940, tôi tại chức tại Phúc Kiến, ông Mã của công ty
thuốc lá có tặng tôi một cuốn sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu”, sau khi đọc
xong, cảm thấy là một thuốc bổ để cứu thế gian, rất là quý báu. Trước
hai ngày, khi đưa tiễn vợ tôi về Thượng Hải, tôi mơ thấy có một người
mặc bộ đồ màu đen nói với tôi: “Cuốn sách này rất tốt, nếu mà có thể
in tặng 1000 ngàn, sẽ trợ giúp cho anh rất nhiều.” Khi thức tỉnh anh
dặn dò vợ mình, sau khi về đến Thượng Hải nhớ in sách biếu tặng.
Lúc ấy, con sông Giáp Giang do chiến tranh bị quân lính phong
tỏa, những người đi tàu đều phải đến cảng Phúc Thanh để đáp tàu
chuyển tải, người đến Thượng Hải mà đáp thuyền buồm đã chen đầy
bảy chiếc thuyền buồm. Trong đó, đã có 6 chiếc gặp sóng gió bị chìm,
chỉ có chiếc thuyền mà vợ anh ngồi được đi bình an. Thật là chuyện
không thể ngờ được. Thật là do Thần Phật phù hộ. Y như trong cuốn
“Tập Thái Thượng Cảm Ứng” đã nói: khái niệm thiện tâm đã dạy
trong lòng, tuy vẫn chưa thực hiện bằng hành động, thì đã được ban
phước lành, thật là chuyện không sai chút nào, tôi đưa câu chuyện đích
thân tôi từng trải, nếu như có nửa lời nói dối, tôi sẽ bị cho xuống địa
ngục chịu hình phạt đau khổ.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.10.12>
ghi chú: hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa
———–
CẢN NGƯỜI IN TẶNG SÁCH, HỒN MA ÂM PHỦ ĐẾN QUẤY
Ông La Lượng Phong tại Trúc Tây đã từng ghi chú lại một đoạn
văn chương trong cuốn “Tự cầu đường tập” bên nhà họ Lý:
Vào năm Bính Thìn, ông Lưu Hạc Triều tại huyện Sơn Âm, dẫn
cả gia đình vào kinh hầu tuyển. Một ngày nọ, dọc đường gặp một phụ
nữ mặc áo hồng nói với ông ta: “Lúc tôi còn trên trần gian, muốn in
sách “Ngọc Lịch Bửu Phiêu” 100 cuốn. Lúc đó, ông nói in sách này
chẳng có tác dụng gì và đã cản trở tôi, làm cho tôi sau khi chết đi không
thể thoát khỏi sự tội hình đau khổ trong âm phủ”. Sau khi nói xong
chớp mắt đã biến mất.
Ông Lưu sau một hồi rất kinh ngạc và suy nghĩ lại, mới nhớ ra
Trịnh Ma Ma là người lúc trước làm mướn cho nhà ông. Hốt hoảng
lên! Về đến nhà thì bị phát bệnh. Lúc đang bệnh thường mơ thấy hồn
của Trịnh Ma Ma đến quấy rối. Bà vợ Thị Khương biết được sự tình,
mau thề nguyện đồng ý in gấp hai lần số lượng sách “Ngọc Lịch Bửu
Phiêu” để truyền bá. Miệng ông Lưu Hạc Triều phát ra tiếng nói giống
y như tiếng của Trịnh Ma Ma và nói: “Bệnh của chủ nhân là do đã mãn
thọ. Cho nên, một mặt tôi đến để báo trước sự việc, mặt khác tôi đến
dẫn ông ấy đi xuống âm phủ. Nay do đồng ý vì tôi in ấn sách “Ngọc
Lịch Bửu Phiêu” để truyền bá, tôi sẽ dựa vào công đức này tâu dưới
diêm phủ để được phước, có thể được siêu thoát, kiếp sau đầu thai
thành người. Nếu như có thể tăng số lượng in ấn sách “Ngọc Lịch Bửu
Phiêu” không chừng chủ nhân có thể tăng thọ”.
Thị Khương lại quyên góp tiền để in thêm 400 cuốn sách, phát đi
tứ phương bá tánh để truyền bá khuyến thiện. Nửa tháng sau, hai vợ
chồng đều mơ thấy Trịnh Ma Ma đến tạ ơn và cung kính nói: “Nhờ
cuốn sách thiện này truyền bá, rất may mắn được sám hối tội lỗi trong
quá khứ, địa ngục dưới âm phủ đã cho phép tôi được đầu thai thành
người. Với lại chủ nhân ông cũng được kéo dài thọ sống và công đức
của bà chủ cũng không ít, sau này nhất định được báo phước muôn
ngàn”.
Sau khi vợ chồng thức giấc, tường thuật lại thấy chuyện trong mơ
đều giống nhau. Vả lại, bệnh tình của ông Lưu c ng có chuyển biến tốt
và đã mau chóng khỏi bệnh.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 4.5.3>
———–
NGƯỜI CAI QUẢN LUÂN HỒI TRONG ÂM PHỦ
Cư sĩ Lý Bách Nông nói: có một người họ Lăng, làm giáo sư thông
dịch tiếng Anh tại Hồng Kông, tính người này rất là trung thực, sống
có nghĩa đạo. Lăng quân mỗi tháng đều phải ngủ suốt bảy ngày bảy
đêm, ông nói là đi làm chức vụ dưới âm phủ, cai quản chuyện luân hồi,
người người không thể tin. Hỏi ông ta trong bảy ngày thả ra bao nhiêu
vong linh? Ông ta nói có khoảng 100 mấy ngàn, lại hỏi có bao nhiêu
người cộng sự với ông? Ông ta nói rất nhiều. Hỏi ông ta trên cõi trời có
nhiều người đầu thai đến thế sao? Ông nói: “Người Hồng Kông, Quảng
Đông thích ăn bồ câu non, một ngày sát sanh vô số, những vong linh
của số bồ câu và động vật này thường sống sống chết chết trong vòng
mấy mươi ngày là thường phải chịu luân hồi, cũng đi qua tay của chúng
tôi.” Còn nói hai người đồng nghiệp có đại nạn, một là do bất hiếu, hai
là do tham nhũng oan pháp, sẽ phân biệt chết theo dưới vùng biển lửa,
kêu hai người không nên đến tỉnh thành trong lúc này. Hai người
không tin, vừa lúc ấy, hai người đi đến nhà bà con tại tỉnh thành vui
chơi, không ngờ mấy ngày này bị lũ lớn, cửa Tây lại bị cháy lớn, một
người chết trong nước lũ, một người chết trong lửa cháy. Lăng quân
còn nói dưới âm phủ chú trọng Phật Pháp nhất.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
ĂN THỊT ẾCH, MIỆNG PHÁT ÂM THÀNH ẾCH
Vào ngày 23 tháng 11 năm 1987, “Báo Tối Hiền Giang” có đăng
tải: thị xã Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam có một học sinh sau khi ăn thịt
ếch xong tinh thần bị thất thường, miệng phát âm như ếch, ai nhìn cũng
cảm thấy kì lạ.
Giữa tháng 5 năm 1987, thôn 8, khu Bắc thị xã Nhạc Dương có
một trường học có một học sinh 17 tuổi, trên bãi cỏ trước cổng trường
phát hiện một con ếch to, bắt lên nhìn kĩ mới phát hiện là hai con ếch
dính liền nhà nhau. Anh ta bắt đem về nhà, lột da mổ bụng xong cân có 
trọng 
lượng hơn 2 kg, ngay tối hôm đó thì nấu ra ăn. Ai ngờ sau khi ăn xong
qua ngày hôm sau thì tinh thần bị thất thường, trong miệng hét ra liên
tục câu “Ộp! Ộp! Ộp!” như tiếng ếch kêu. Trải qua nhiều nơi chữa trị,
bệnh tình có chuyển biến tốt nhưng vẫn có di chứng bệnh về sau.
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu
———–
GIẾT BA BA LỚN, SANH CON RA GIỐNG BA BA NHỎ
Có một ngày nùa hè năm 1968, thị xã Từ Cung tại tỉnh Tứ Xuyên
có vợ chồng anh Lưu Ngọc Hoài, Ôn Minh. Anh mua con ba ba lớn,
giết mổ để nấu ăn cho khỏe thân.
Sang năm sau ngày 13 tháng 3, Minh Anh sanh được một cậu con
trai. Họ đã có 2 đứa con gái trước, nay sinh được quý tử thật là vui
mừng. Nhưng cậu con trai này, sau khi nhìn vào thì thấy sợ hãi hết hồn,
đầu thì nhỏ, nguyên hình như cái mai con ba ba, hai tay hai chân co và
lật ngược lại, không tự cử động được. 1 năm tuổi còn chưa biết lật
người lại, chỉ nằm đó mà thôi, khi nào nổi giận thì giơ tay, giơ chân,
miệng la “Oa oa”.
Lúc sanh con ra chưa đủ 2 kg, đặt tên là Lưu Kiến Quốc, người
chỉ cao có 1 mét. Suốt đời cậu ra không đứng lên được, sinh hoạt hàng
ngày do người mẹ chăm sóc như cơm ăn, mặc áo, đại tiểu tiện đều phải
có người phụ, trị bệnh lại tiêu hết rất nhiều tiền. Ôn Minh Anh thừa
nhận là con ba ba đang đến đòi nợ.
Sự kiện này thực sự cả tỉnh Tô Châu không ai là không biết, kẻ
sát sanh ăn thịt thì sẽ bị trả báo, thiết thật phải biết cảnh tỉnh!
Nội dung của Ngọc Lịch Bửu Phiêu <chương 11.14>
———–

The Confucianism Doctrines of The Descriptions Books 隐公

The Confucianism Doctrines of The Descriptions Books

隐公

The Confucianism Doctrines of The Descriptions Books 
隐公

隐公  【元年~十一年】
  【传】惠公元妃孟子。孟子卒,继室以声子,生隐公。宋武公生仲子,仲子生而有文在其手,曰为鲁夫人,故仲子归于我。生桓公而惠公薨,是以隐公立而奉之。
  ◎ 隐公元年
  【经】元年春王正月。三月,公及邾仪父盟于蔑。夏五月,郑伯克段于鄢。秋七月,天王使宰咺来归惠公、仲子之赗。九月,及宋人盟于宿。冬十有二月,祭伯来。公子益师卒。
  【传】元年春,王周正月。不书即位,摄也。
  三月,公及邾仪父盟于蔑,邾子克也。未王命,故不书爵。曰”仪父”,贵之也。公摄位而欲求好于邾,故为蔑之盟。
  夏四月,费伯帅师城郎。不书,非公命也。
  初,郑武公娶于申,曰武姜,生庄公及共叔段。庄公寤生,惊姜氏,故名曰”寤生”,遂恶之。爱共叔段,欲立之。亟请于武公,公弗许。及庄公即位,为之请制。公曰:”制,岩邑也,虢叔死焉,佗邑唯命。”请京,使居之,谓之京城大叔。祭仲曰:”都,城过百雉,国之害也。先王之制:大都,不过参国之一;中,五之一;小,九之一。今京不度,非制也,君将不堪。”公曰:”姜氏欲之,焉辟害?”对曰:”姜氏何厌之有?不如早为之所,无使滋蔓!蔓,难图也。蔓草犹不可除,况君之宠弟乎?”公曰:”多行不义,必自毙,子姑待之。”
  既而大叔命西鄙、北鄙贰于己。公子吕曰:”国不堪贰,君将若之何?欲与大叔,臣请事之;若弗与,则请除之。无生民心。”公曰:”无庸,将自及。”大叔又收贰以为己邑,至于廪延。子封曰:”可矣,厚将得众。”公曰:”不义不暱,厚将崩。”
  大叔完、聚,缮甲、兵,具卒,乘,将袭郑,夫人将启之。公闻其期,曰:”可矣!”命子封帅车二百乘以伐京。京叛大叔段,段入于鄢,公伐诸鄢。五月辛丑,大叔出奔共。
  书曰:”郑伯克段于鄢。”段不弟,故不言弟;如二君,故曰克;称郑伯,讥失教也:谓之郑志。不言出奔,难之也。
  遂置姜氏于城颍,而誓之曰:”不及黄泉,无相见也。”既而悔之。颍考叔为颍谷封人,闻之,有献于公,公赐之食,食舍肉。公问之,对曰:”小人有母,皆尝小人之食矣,未尝君之羹,请以遗之。”公曰:”尔有母遗,繄我独无!”颍考叔曰:”敢问何谓也?”公语之故,且告之悔。对曰:”君何患焉?若阙地及泉,隧而相见,其谁曰不然?”公従之。公入而赋:”大隧之中,其乐也融融!”姜出而赋:”大隧之外,其乐也泄泄!”遂为母子如初。
  君子曰:”颍考叔,纯孝也,爱其母,施及庄公。《诗》曰’孝子不匮,永锡尔类。’其是之谓乎!”
  秋七月,天王使宰咺来归惠公、仲子之赗。缓,且子氏未薨,故名。天子七月而葬,同轨毕至;诸侯五月,同盟至;大夫三月,同位至;士逾月,外姻至。赠死不及尸,吊生不及哀,豫凶事,非礼也。
  八月,纪人伐夷。夷不告,故不书。
  有蜚。不为灾,亦不书。
  惠公之季年,败宋师于黄。公立而求成焉。九月,及宋人盟于宿,始通也。
  冬十月庚申,改葬惠公。公弗临,故不书。惠公之薨也,有宋师,太子少,葬故有阙,是以改葬。卫侯来会葬,不见公,亦不书。郑共叔之乱,公孙滑出奔卫。卫人为之伐郑,取廪延。郑人以王师、虢师伐卫南鄙。请师于邾。邾子使私于公子豫,豫请往,公弗许,遂行。及邾人、郑人盟于翼。不书,非公命也。
  新作南门。不书,亦非公命也。
  十二月,祭伯来,非王命也。
  众父卒。公不与小敛,故不书日。
  ◎ 隐公二年
  【经】二年春,公会戎于潜。夏五月,莒人入向。无骇帅师入极。秋八月庚辰,公及戎盟于唐。九月,纪裂繻来逆女。冬十月,伯姬归于纪。纪子帛、莒子盟于密。十有二月乙卯,夫人子氏薨。郑人伐卫。
  【传】二年春,公会戎于潜,修惠公之好也。戎请盟,公辞。
  莒子娶于向,向姜不安莒而归。夏,莒人入向以姜氏还。
  司空无骇入极,费庈父胜之。
  戎请盟。秋,盟于唐,复修戎好也。
  九月,纪裂繻来逆女,卿为君逆也。
  冬,纪子帛、莒子盟于密,鲁故也。
  郑人伐卫,讨公孙滑之乱也。
  ◎ 隐公三年
  【经】三年春王二月,己巳,日有食之。三月庚戌,天王崩。夏四月辛卯,君氏卒。秋,武氏子来求赙。八月庚辰,宋公和卒。冬十有二月,齐侯,郑伯盟于石门。癸未,葬宋穆公。
  【传】三年春,王三月壬戌,平王崩,赴以庚戌,故书之。
  夏,君氏卒。声子也。不赴于诸侯,不反哭于寝,不祔于姑,故不曰薨。不称夫人,故不言葬,不书姓。为公故,曰”君氏”。
  郑武公、庄公为平王卿士。王贰于虢,郑伯怨王,王曰”无之”。故周、郑交质。王子狐为质于郑,郑公子忽为质于周。王崩,周人将畀虢公政。四月,郑祭足帅师取温之麦。秋,又取成周之禾。周、郑交恶。
  君子曰:”信不由中,质无益也。明恕而行,要之以礼,虽无有质,谁能间之?苟有明信,涧溪沼沚之毛,蘋蘩蕰藻之菜,筐筥锜釜之器,潢污行潦之水,可荐于鬼神,可羞于王公,而况君子结二国之信。行之以礼,又焉用质?《风》有《采繁》、《采蘋》,《雅》有《行苇》、《泂酌》,昭忠信也。”
  武氏子来求赙,王未葬也。
  宋穆公疾,召大司马孔父而属殇公焉,曰:”先君舍与夷而立寡人,寡人弗敢忘。若以大夫之灵,得保首领以没,先君若问与夷,其将何辞以对?请子奉之,以主社稷,寡人虽死,亦无悔焉。”对曰:”群臣愿奉冯也。”公曰:”不可。先君以寡人为贤,使主社稷,若弃德不让,是废先君之举也。岂曰能贤?光昭先君之令德,可不务乎?吾子其无废先君之功。”使公子冯出居于郑。八月庚辰,宋穆公卒。殇公即位。
  君子曰:”宋宣公可谓知人矣。立穆公,其子飨之,命以义夫。《商颂》曰:’殷受命咸宜,百禄是荷。’其是之谓乎!”
  冬,齐、郑盟于石门,寻卢之盟也。庚戌,郑伯之车偾于济。
  卫庄公娶于齐东宫得臣之妹,曰庄姜,美而无子,卫人所为赋《硕人》也。又娶于陈,曰厉妫,生孝伯,早死。其娣戴妫生桓公,庄姜以为己子。公子州吁,嬖人之子也,有宠而好兵,公弗禁,庄姜恶之。石碏谏曰:”臣闻爱子,教之以义方,弗纳于邪。骄、奢、淫、泆,所自邪也。四者之来,宠禄过也。将立州吁,乃定之矣,若犹未也,阶之为祸。夫宠而不骄,骄而能降,降而不憾,憾而能珍者鲜矣。且夫贱妨贵,少陵长,远间亲,新间旧,小加大,淫破义,所谓六逆也。君义,臣行,父慈,子孝,兄爱,弟敬,所谓六顺也。去顺效逆,所以速祸也。君人者将祸是务去,而速之,无乃不可乎?”弗听,其子厚与州吁游,禁之,不可。桓公立,乃老。
  ◎ 隐公四年
  【经】四年春王二月,莒人伐杞,取牟娄。戊申,卫州吁弑其君完。夏,公及宋公遇于清。宋公、陈侯、蔡人、卫人伐郑。秋,翚帅师会宋公、陈侯、蔡人、卫人伐郑。九月,卫人杀州吁于濮。冬十有二月,卫人立晋。
  【传】四年春,卫州吁弑桓公而立。公与宋公为会,将寻宿之盟。未及期,卫人来告乱。夏,公及宋公遇于清。
  宋殇公之即位也,公子冯出奔郑,郑人欲纳之。及卫州吁立,将修先君之怨于郑,而求宠于诸侯以和其民,使告于宋曰:”君若伐郑以除君害,君为主,敝邑以赋与陈、蔡従,则卫国之愿也。”宋人许之。于是,陈、蔡方睦于卫,故宋公、陈侯、蔡人、卫人伐郑,围其东门,五日而还。
  公问于众仲曰:”卫州吁其成乎?”对曰:”臣闻以德和民,不闻以乱。以乱,犹治丝而棼之也。夫州吁,阻兵而安忍。阻兵无众,安忍无亲,众叛亲离,难以济矣。夫兵犹火也,弗戢,将自焚也。夫州吁弑其君而虐用其民,于是乎不务令德,而欲以乱成,必不免矣。”
  秋,诸侯复伐郑。宋公使来乞师,公辞之。羽父请以师会之,公弗许,固请而行。故书曰”翚帅师”,疾之也。诸侯之师败郑徒兵,取其禾而还。
  州吁未能和其民,厚问定君于石子。石子曰:”王觐为可。”曰:”何以得觐?”曰:”陈桓公方有宠于王,陈、卫方睦,若朝陈使请,必可得也。”厚従州吁如陈。石碏使告于陈曰:”卫国褊小,老夫耄矣,无能为也。此二人者,实弑寡君,敢即图之。”陈人执之而请莅于卫。九月,卫人使右宰丑莅杀州吁于濮,石碏使其宰乳羊肩莅杀石厚于陈。
  君子曰:”石碏,纯臣也,恶州吁而厚与焉。’大义灭亲’,其是之谓乎!”
  卫人逆公子晋于邢。冬十二月,宣公即位。书曰”卫人立晋”众也。
  ◎ 隐公五年
  【经】五年春,公矢鱼于棠。夏四月,葬卫桓公。秋,卫师入郕。九月,考仲子之宫。初献六羽。邾人、郑人伐宋。螟。冬十有二月辛巳,公子彄卒。宋人伐郑,围长葛。
  【传】五年春,公将如棠观鱼者。臧僖伯谏曰:”凡物不足以讲大事,其材不足以备器用,则君不举焉。君将纳民于轨物者也。故讲事以度轨量谓之轨,取材以章物采谓之物,不轨不物谓之乱政。乱政亟行,所以败也。故春蒐夏苗,秋狝冬狩,皆于农隙以讲事也。三年而治兵,入而振旅,归而饮至,以数军实。昭文章,明贵贱,辨等列,顺少长,习威仪也。鸟兽之肉不登于俎,皮革齿牙、骨角毛羽不登于器,则公不射,古之制也。若夫山林川泽之实,器用之资,皂隶之事,官司之守,非君所及也。”公曰:”吾将略地焉。”遂往,陈鱼而观之。僖伯称疾,不従。书曰”公矢鱼于棠”,非礼也,且言远地也。
  曲沃庄伯以郑人、邢人伐翼,王使尹氏、武氏助之。翼侯奔随。
  夏,葬卫桓公。卫乱,是以缓。
  四月,郑人侵卫牧,以报东门之役。卫人以燕师伐郑。郑祭足、原繁、泄驾以三军军其前,使曼伯与子元潜军军其后。燕人畏郑三军而不虞制人。六月,郑二公子以制人败燕师于北制。君子曰:”不备不虞,不可以师。”
  曲沃叛王。秋,王命虢公伐曲沃而立哀侯于翼。
  卫之乱也,郕人侵卫,故卫师入郕。
  九月,考仲子之宫,将万焉。公问羽数于众仲。对曰:”天子用八,诸侯用六,大夫四,士二。夫舞所以节八音而行八风,故自八以下。”公従之。于是初献六羽,始用六佾也。
  宋人取邾田。邾人告于郑曰:”请君释憾于宋,敝邑为道。”郑人以王师会之。伐宋,入其郛,以报东门之役。宋人使来告命。公闻其入郛也,将救之,问于使者曰:”师何及?”对曰:”未及国。”公怒,乃止,辞使者曰:”君命寡人同恤社稷之难,今问诸使者,曰’师未及国’,非寡人之所敢知也。”
  冬十二月辛已,臧僖伯卒。公曰:”叔父有憾于寡人,寡人弗敢忘。葬之加一等。
  宋人伐郑,围长葛,以报入郛之役也。
  ◎ 隐公六年
  【经】六年春,郑人来渝平。,夏五月辛酉,公会齐侯盟于艾。秋七月。冬,宋人取长葛。
  【传】六年春,郑人来渝平,更成也。
  翼九宗、五正顷父之子嘉父逆晋侯于随,纳诸鄂。晋人谓之鄂侯。
  夏,盟于艾,始平于齐也。
  五月庚申,郑伯侵陈,大获。
  往岁,郑伯请成于陈,陈侯不许。五父谏曰:”亲仁善邻,国之宝也。君其许郑。”陈侯曰:”宋、卫实难,郑何能为?”遂不许。
  君子曰:”善不可失,恶不可长,其陈桓公之谓乎!长恶不悛,従自及也。虽欲救之,其将能乎?《商书》曰:’恶之易也,如火之燎于原,不可乡迩,其犹可扑灭?’周任有言曰:’为国家者,见恶如农夫之务去草焉,芟夷蕴崇之,绝其本根,勿使能殖,则善者信矣。'”
  秋,宋人取长葛。
  冬,京师来告饥。公为之请籴于宋、卫、齐、郑,礼也。
  郑伯如周,始朝桓王也。王不礼焉。周桓公言于王曰:”我周之东迁,晋、郑焉依。善郑以劝来者,犹惧不,况不礼焉?郑不来矣!”
  ◎ 隐公七年
  【经】七年春王三月,叔姬归于纪。滕侯卒。夏,城中丘。齐侯使其弟年来聘。秋,公伐邾。冬,天王使凡伯来聘。戎伐凡伯于楚丘以归。
  【传】七年春,滕侯卒。不书名,未同盟也。凡诸侯同盟,于是称名,故薨则赴以名,告终嗣也,以继好息民,谓之礼经。
  夏,城中丘,书,不时也。
  齐侯使夷仲年来聘,结艾之盟也。
  秋,宋及郑平。七月庚申,盟于宿。公伐邾,为宋讨也。
  初,戎朝于周,发币于公卿,凡伯弗宾。冬,王使凡伯来聘。还,戎伐之于楚丘以归。
  陈及郑平。十二月,陈五父如郑莅盟。壬申,及郑伯盟,歃如忘泄伯曰:”五父必不免,不赖盟矣。”
  郑良佐如陈莅盟,辛巳,及陈侯盟,亦知陈之将乱也。
  郑公子忽在王所,故陈侯请妻之。郑伯许之,乃成昏。
  ◎ 隐公八年
  【经】八年春,宋公、卫侯遇于垂。三月,郑伯使宛来归祊。庚寅,我入祊。夏六月己亥,蔡侯考父卒。辛亥,宿男卒。秋七月庚午,宋公、齐侯、卫侯盟于瓦屋。八月,葬蔡宣公。九月辛卯,公及莒入盟于浮来。螟。冬十有二月,无骇卒。
  【传】八年春,齐侯将平宋、卫,有会期。宋公以币请于卫,请先相见,卫侯许之,故遇于犬丘。
  郑伯请释泰山之祀而祀周公,以泰山之祊易许田。三月,郑伯使宛来归祊,不祀泰山也。
  夏,虢公忌父始作卿士于周。
  四月甲辰,郑公子忽如陈逆妇妫。辛亥,以妫氏归。甲寅,入于郑。陈钅咸子送女。先配而后祖。钅咸子曰:”是不为夫妇。诬其祖矣,非礼也,何以能育?”
  齐人卒平宋、卫于郑。秋,会于温,盟于瓦屋,以释东门之役,礼也。
  八月丙戌,郑伯以齐人朝王,礼也。
  公及莒人盟于浮来,以成纪好也。
  冬,齐侯使来告成三国。公使众仲对曰:”君释三国之图以鸠其民,君之惠也。寡君闻命矣,敢不承受君之明德。”
  无骇卒。羽父请谥与族。公问族于众仲。众仲对曰:”天子建德,因生以赐姓,胙之土而命之氏。诸侯以字为谥,因以为族。官有世功,则有官族,邑亦如之。”公命以字为展氏。
  ◎ 隐公九年
  【经】九年春,天子使南季来聘。三月癸酉,大雨,震电。庚辰,大雨雪。挟卒。夏,城郎。秋七月。冬,公会齐侯于防。
  【传】九年春,王三月癸酉,大雨霖以震,书始也。庚辰,大雨雪,亦如之。书,时失也。凡雨,自三日以往为霖。平地尺为大雪。
  夏,城郎,书,不时也。
  宋公不王。郑伯为王左卿士,以王命讨之,伐宋。宋以入郛之役怨公,不告命。公怒,绝宋使。
  秋,郑人以王命来告伐宋。
  冬,公会齐侯于防,谋伐宋也。
  北戎侵郑,郑伯御之。患戎师,曰;”彼徒我车,惧其侵轶我也。”公子突曰:”使勇而无刚者尝寇,而速去之。君为三覆以待之。戎轻而不整,贪而无亲,胜不相让,败不相救。先者见获必务进,进而遇覆必速奔,后者不救,则无继矣。乃可以逞。”従之。
  戎人之前遇覆者奔。祝聃逐之。衷戎师,前后击之,尽殪。戎师大奔。十一月甲寅,郑人大败戎师。
  ◎ 隐公十年
  【经】十年春王二月,公会齐侯、郑伯于中丘。夏,翚帅师会齐人、郑人伐宋。六月壬戌,公败宋师于菅。辛未,取郜。辛巳,取防。秋,宋人、卫人入郑。宋人、蔡人、卫人伐戴。郑伯伐取之。冬十月壬午,齐人、郑人入郕。
  【传】十年春,王正月,公会齐侯,郑伯于中丘。癸丑,盟于邓,为师期。
  夏五月羽父先会齐侯、郑伯伐宋。
  六月戊申,公会齐侯、郑伯于老桃。壬戌,公败宋师于菅。庚午,郑师入郜。辛未,归于我。庚辰,郑师入防。辛巳,归于我。
  君子谓:”郑庄公于是乎可谓正矣。以王命讨不庭,不贪其土以劳王爵,正之体也。”
  蔡人、卫人、郕人不会王命。
  秋七月庚寅,郑师入郊。犹在郊,宋人、卫人入郑。蔡人従之,伐戴。八月壬戌,郑伯围戴。癸亥,克之,取三师焉。宋、卫既入郑,而以伐戴召蔡人,蔡人怒,故不和而败。
  九月戊寅,郑伯入宋。
  冬,齐人、郑人入郕,讨违王命也。
  ◎ 隐公十一年
  【经】十有一年春,滕侯、薛侯来朝。夏,公会郑伯于时来。秋七月壬午,公及齐侯、郑伯入许。冬十有一月壬辰,公薨。
  【传】十一年春,滕侯、薛侯来朝,争长。薛侯曰:”我先封。”滕侯曰:”我,周之卜正也。薛,庶姓也,我不可以后之。”
  公使羽父请于薛侯曰:”君与滕君辱在寡人。周谚有之曰:’山有木,工则度之;宾有礼,主则择之。’周之宗盟,异姓为后。寡人若朝于薛,不敢与诸任齿。君若辱贶寡人,则愿以滕君为请。”
  薛侯许之,乃长滕侯。
  夏,公会郑伯于郲,谋伐许也。
  郑伯将伐许,五月甲辰,授兵于大宫。公孙阏与颍考叔争车,颍考叔挟辀以走,子都拔棘以逐之,及大逵,弗及,子都怒。
  秋七月,公会齐侯、郑伯伐许。庚辰,傅于许,颍考叔取郑伯之旗蝥弧以先登。子都自下射之,颠。瑕叔盈又以蝥弧登,周麾而呼曰:”君登矣!”郑师毕登。壬午,遂入许。许庄公奔卫。
  齐侯以许让公。公曰:”君谓许不共,故従君讨之。许既伏其罪矣,虽君有命,寡人弗敢与闻。”乃与郑人。
  郑伯使许大夫百里奉许叔以居许东偏,曰:”天祸许国,鬼神实不逞于许君,而假手于我寡人。寡人唯是一二父兄不能共亿,其敢以许自为功乎?寡人有弟,不能和协,而使,糊其口于四方,其况能久有许乎?吾子其奉许叔以抚柔此民也,吾将使获也佐吾子。若寡人得没于地,天其以礼悔祸于许?无宁兹许公复奉其社稷。唯我郑国之有请谒焉,如旧昏媾,其能降以相従也。无滋他族,实逼处此,以与我郑国争此土也。吾子孙其覆亡之不暇,而况能禋祀许乎?寡人之使吾子处此,不唯许国之为,亦聊以固吾圉也。”
  乃使公孙获处许西偏,曰:”凡而器用财贿,无置于许。我死,乃亟去之。吾先君新邑于此,王室而既卑矣,周之子孙日失其序。夫许,大岳之胤也,天而既厌周德矣,吾其能与许争乎?”
  君子谓:”郑庄公于是乎有礼。礼,经国家,定社稷,序民人,利后嗣者也。许无刑而伐之,服而舍之,度德而处之,量力而行之,相时而动,无累后人,可谓知礼矣。”
  郑伯使卒出豭,行出犬鸡,以诅射颍考叔者。君子谓:”郑庄公失政刑矣。政以治民,刑以正邪,既无德政,又无威刑,是以及邪。邪而诅之,将何益矣!”
  王取邬、刘、功蒍、邗之田于郑,而与郑人苏忿生之田温、原、纟希、樊、隰郕、欑茅、向、盟、州、陉、隤、怀。君子是以知桓王之失郑也。恕而行之,德之则也,礼之经也。己弗能有而以与人,人之不至,不亦宜乎?
  郑、息有违言,息侯伐郑。郑伯与战于竟,息师大败而还。君子是以知息之将亡也。不度德,不量力,不亲亲,不征辞,不察有罪,犯五不韪而以伐人,其丧师也,不亦宜乎!
  冬十月,郑伯以虢师伐宋。壬戌,大败宋师,以报其入郑也。宋不告命,故不书。凡诸侯有命,告则书,不然则否。师出臧否,亦如之。虽及灭国,灭不告败,胜不告克,不书于策。羽父请杀桓公,将以求大宰。公曰:”为其少故也,吾将授之矣。使营菟裘,吾将老焉。”羽父惧,反谮公于桓公而请弑之。公之为公子也,与郑人战于狐壤,止焉。郑人囚诸尹氏,赂尹氏而祷于其主钟巫,遂与尹氏归而立其主。十一月,公祭钟巫,齐于社圃,馆于寪氏。壬辰,羽父使贼弑公于寪氏,立桓公而讨寪氏,有死者。不书葬,不成丧也。
************************
桓公  【元年~十八年】
  ◎ 桓公元年
  【经】元年春王正月,公即位。三月,公会郑伯于垂,郑伯以璧假许田。夏四月丁未,公及郑伯盟于越。秋,大水。冬十月。
  【传】元年春,公即位,修好于郑。郑人请复祀周公,卒易祊田。公许之。三月,郑伯以璧假许田,为周公、祊故也。
  夏四月丁未,公及郑伯盟于越,结祊成也。盟曰:”渝盟无享国。”
  秋,大水。凡平原出水为大水。
  冬,郑伯拜盟。
  宋华父督见孔父之妻于路,目逆而送之,曰:”美而艳。”
  ◎ 桓公二年
  【经】二年春,王正月戊申,宋督弑其君与夷及其大夫孔父。滕子来朝。三月,公会齐侯、陈侯、郑伯于稷,以成宋乱。夏四月,取郜大鼎于宋。戊申,纳于大庙。秋七月,杞侯来朝。蔡侯、郑伯会于邓。九月,入杞。公及戎盟于唐。冬,公至自唐。
  【传】二年春,宋督攻孔氏,杀孔父而取其妻。公怒,督惧,遂弑殇公。
  君子以督为有无君之心而后动于恶,故先书弑其君。会于稷以成宋乱,为赂故,立华氏也。
  宋殇公立,十年十一战,民不堪命。孔父嘉为司马,督为大宰,故因民之不堪命,先宣言曰:”司马则然。”已杀孔父而弑殇公,召庄公于郑而立之,以亲郑。以郜大鼎赂公,齐、陈、郑皆有赂,故遂相宋公。
  夏四月,取郜大鼎于宋。戊申,纳于大庙。非礼也。臧哀伯谏曰:”君人者将昭德塞违,以临照百官,犹惧或失之。故昭令德以示子孙:是以清庙茅屋,大路越席,大羹不致,粢食不凿,昭其俭也。衮、冕、黻、珽,带、裳、幅、舄,衡、紞、纮、綖,昭其度也。藻、率、鞞、革咅,鞶、厉、游、缨,昭其数也。火、龙、黼、黻,昭其文也。五色比象,昭其物也。锡、鸾、和、铃,昭其声也。三辰旂旗,昭其明也。夫德,俭而有度,登降有数。文、物以纪之,声、明以发之,以临照百官,百官于是乎戒惧,而不敢易纪律。今灭德立违,而置其赂器于大庙,以明示百官,百官象之,其又何诛焉?国家之败,由官邪也。官之失德,宠赂章也。郜鼎在庙,章孰甚焉?武王克商,迁九鼎于雒邑,义士犹或非之,而况将昭违乱之赂器于大庙,其若之何?”公不听。周内史闻之曰:”臧孙达其有后于鲁乎!君违不忘谏之以德。”
  秋七月,杞侯来朝,不敬,杞侯归,乃谋伐之。
  蔡侯、郑伯会于邓,始惧楚也。
  九月,入杞,讨不敬也。
  公及戎盟于唐,修旧好也。
  冬,公至自唐,告于庙也。凡公行,告于宗庙;反行,饮至、舍爵,策勋焉,礼也。
  特相会,往来称地,让事也。自参以上,则往称地,来称会,成事也。
  初,晋穆侯之夫人姜氏以条之役生太子,命之曰仇。其弟以千亩之战生,命之曰成师。师服曰:”异哉,君之名子也!夫名以制义,义以出礼,礼以体政,政以正民。是以政成而民听,易则生乱。嘉耦曰妃。怨耦曰仇,古之命也。今君命大子曰仇,弟曰成师,始兆乱矣,兄其替乎?”
  惠之二十四年,晋始乱,故封桓叔于曲沃,靖侯之孙栾宾傅之。师服曰:”吾闻国家之立也,本大而末小,是以能固。故天子建国,诸侯立家,卿置侧室,大夫有贰宗,士有隶子弟,庶人、工、商,各有分亲,皆有等衰。是以民服事其上而下无觊觎。今晋,甸侯也,而建国。本既弱矣,其能久乎?”
  惠之三十年,晋潘父弑昭侯而立桓叔,不克。晋人立孝侯。
  惠之四十五年,曲沃庄伯伐翼,弑孝侯。翼人立其弟鄂侯。鄂侯生哀侯。哀侯侵陉庭之田。陉庭南鄙启曲沃伐翼。
  ◎ 桓公三年
  【经】三年春正月,公会齐侯于嬴。夏,齐侯、卫侯胥命于蒲。六月,公会杞侯于郕。秋七月壬辰朔,日有食之,既。公子翚如齐逆女。九月,齐侯送姜氏于欢。公会齐侯于欢。夫人姜氏至自齐。冬,齐侯使其弟年来聘。有年。
  【传】三年春,曲沃武公伐翼,次于陉庭,韩万御戎,梁弘为右,逐翼侯于汾隰,骖絓而止。夜获之,及栾共叔。
  会于嬴,成昏于齐也。
  夏,齐侯、卫侯胥命于蒲,不盟也。
  公会杞侯于欢,杞求成也。
  秋,公子翚如齐逆女。修先君之好。故曰”公子”。
  齐侯送姜氏于欢,非礼也。凡公女嫁于敌国,姊妹则上卿送之,以礼于先君,公子则下卿送之。于大国,虽公子亦上卿送之。于天子,则诸卿皆行,公不自送。于小国,则上大夫送之。
  冬,齐仲年来聘,致夫人也。
  芮伯万之母芮姜恶芮伯之多宠人也,故逐之,出居于魏。
  ◎ 桓公四年
  【经】四年春正月,公狩于郎。夏,天王使宰渠伯纠来聘。
  【传】四年春正月,公狩于郎。书,时,礼也。
  夏,周宰渠伯纠来聘。父在,故名。
  秋,秦师侵芮,败焉,小之也。
  冬,王师、秦师围魏,执芮伯以归。
  ◎ 桓公五年
  【经】五年春正月,甲戌、己丑,陈侯鲍卒。夏,齐侯郑伯如纪。天王使仍叔之子来聘。葬陈桓公。城祝丘。秋,蔡人、卫人、陈人従王伐郑。大雩。螽。冬,州公如曹。
  【传】五年春正月,甲戌,己丑,陈侯鲍卒,再赴也。于是陈乱,文公子佗杀大子免而代之。公疾病而乱作,国人分散,故再赴。
  夏,齐侯、郑伯朝于纪,欲以袭之。纪人知之。
  王夺郑伯政,郑伯不朝。
  秋,王以诸侯伐郑,郑伯御之。
  王为中军;虢公林父将右军,蔡人、卫人属焉;周公黑肩将左军,陈人属焉。
  郑子元请为左拒以当蔡人、卫人,为右拒以当陈人,曰:”陈乱,民莫有斗心,若先犯之,必奔。王卒顾之,必乱。祭、卫不枝,固将先奔,既而萃于王卒,可以集事。”従之。曼伯为右拒,祭仲足为左拒,原繁、高渠弥以中军奉公,为鱼丽之陈,先偏后伍,伍承弥缝。战于繻葛,命二拒曰:”旝动而鼓。”蔡、卫、陈皆奔,王卒乱,郑师合以攻之,王卒大败。祝聃射王中肩,王亦能军。祝聃请従之。公曰:”君子不欲多上人,况敢陵天子乎!苟自救也,社稷无陨,多矣。”
  夜,郑伯使祭足劳王,且问左右。
  仍叔之子,弱也。
  秋,大雩,书,不时也。凡祀,启蛰而郊,龙见而雩,始杀而尝,闭蛰而烝。过则书。
  冬,淳于公如曹。度其国危,遂不复。
  ◎ 桓公六年
  【经】六年春正月,实来。夏四月,公会纪侯于成。秋八月壬午,大阅。蔡人杀陈佗。九月丁卯,子同生。冬,纪侯来朝。
  【传】六年春,自曹来朝。书曰”实来”,不复其国也。
  楚武王侵随,使薳章求成焉。军于瑕以待之。随人使少师董成。斗伯比言于楚子曰:”吾不得志于汉东也,我则使然。我张吾三军而被吾甲兵,以武临之,彼则惧而协以谋我,故难间也。汉东之国随为大,随张必弃小国,小国离,楚之利也。少师侈,请羸师以张之。”熊率且比曰:”季梁在,何益?”斗伯比曰:”以为后图,少师得其君。”王毁军而纳少师。
  少师归,请追楚师,随侯将许之。季梁止之曰:”天方授楚,楚之蠃,其诱我也,君何急焉?臣闻小之能敌大也,小道大淫。所谓道,忠于民而信于神也。上思利民,忠也;祝史正辞,信也。今民馁而君逞欲,祝史矫举以祭,臣不知其可也。”公曰:”吾牲牷肥腯,粢盛丰备,何则不信?”对曰:”夫民,神之主也。是以圣王先成民而后致力于神。故奉牲以告曰’博硕肥腯’,谓民力之普存也,谓其畜之硕大蕃滋也,谓其不疾瘯蠡也,谓其备腯咸有也。奉盛以告曰’洁粢丰盛’,谓其三时不害而民和年丰也。奉酒醴以告曰’嘉栗旨酒’,谓其上下皆有嘉德而无违心也。所谓馨香,无谗慝也。故务其三时,修其五教,亲其九族,以致其禋祀。于是乎民和而神降之福,故动则有成。今民各有心,而鬼神乏主,君虽独丰,其何福之有!君姑修政而亲兄弟之国,庶免于难。”随侯惧而修政,楚不敢伐。
  夏,会于成,纪来咨谋齐难也。
  北戎伐齐,齐侯使乞师于郑。郑大子忽帅师救齐。六月,大败戎师,获其二帅大良、少良,甲首三百,以献于齐。于是,诸侯之大夫戍齐,齐人馈之饩,使鲁为其班,后郑。郑忽以其有功也,怒,故有郎之师。
  公之未昏于齐也,齐侯欲以文姜妻郑大子忽。大子忽辞,人问其故,大子曰:”人各有耦,齐大,非吾耦也。《诗》云:’自求多福。’在我而已,大国何为?”君子曰:”善自为谋。”及其败戎师也,齐侯又请妻之,固辞。人问其故,大子曰:”无事于齐,吾犹不敢。今以君命奔齐之急,而受室以归,是以师昏也。民其谓我何?”遂辞诸郑伯。
  秋,大阅,简车马也。
  九月丁卯,子同生,以大子生之礼举之,接以大牢,卜士负之,士妻食之。公与文姜、宗妇命之。
  公问名于申繻。对曰:”名有五,有信,有义,有象,有假,有类。以名生为信,以德命为义,以类命为象,取于物为假,取于父为类。不以国,不以官,不以山川,不以隐疾,不以畜牲,不以器币。周人以讳事神,名,终将讳之。故以国则废名,以官则废职,以山川则废主,以畜牲则废祀,以器币则废礼。晋以僖侯废司徒,宋以武公废司空,先君献,武废二山,是以大物不可以命。”公曰:”是其生也,与吾同物,命之曰同。”
  冬,纪侯来朝,请王命以求成于齐,公告不能。
  ◎ 桓公七年
  【经】七年春二月己亥,焚咸丘。夏,谷伯绥来朝。邓侯吾离来朝。
  【传】七年春,谷伯、邓侯来朝。名,贱之也。
  夏,盟、向求成于郑,既而背之。
  秋,郑人、齐人、卫人伐盟、向。王迁盟、向之民于郏。
  冬,曲沃伯诱晋小子侯,杀之。
  ◎ 桓公八年
  【经】八年春正月己卯,烝。天王使家父来聘。夏五月丁丑,烝秋,伐邾。冬十月,雨雪。祭公来,遂逆王后于纪。
  【传】八年春,灭翼。
  随少师有宠。楚斗伯比曰:”可矣。仇有衅,不可失也。”
  夏,楚子合诸侯于沈鹿。黄、随不会,使薳章让黄。楚子伐随,军于汉、淮之间。
  季梁请下之:”弗许而后战,所以怒我而怠寇也。”少师谓随侯曰:”必速战。不然,将失楚师。”随侯御之,望楚师。季梁曰:”楚人上左,君必左,无与王遇。且攻其右,右无良焉,必败。偏败,众乃携矣。”少师曰:”不当王,非敌也。”弗従。战于速杞,随师败绩。随侯逸,斗丹获其戎车,与其戎右少师。
  秋,随及楚平。楚子将不许,斗伯比曰:”天去其疾矣,随未可克也。”乃盟而还。
  冬,王命虢仲立晋哀侯之弟缗于晋。
  祭公来,遂逆王后于纪,礼也。
  ◎ 桓公九年
  【经】九年春,纪季姜归于京师。夏四月,秋七月。冬,曹伯使其世子射姑来朝。
  【传】九年春,纪季姜归于京师。凡诸侯之女行,唯王后书。
  巴子使韩服告于楚,请与邓为好。楚子使道朔将巴客以聘于邓。邓南鄙郁人攻而夺之币,杀道朔及巴行人。楚子使薳章让于邓,邓人弗受。
  夏,楚使斗廉帅师及巴师围郁。邓养甥、聃甥帅师郁救。三逐巴师,不克。斗廉衡陈其师于巴师之中,以战,而北。邓人逐之,背巴师而夹攻之。邓师大败,郁人宵溃。
  秋,虢仲、芮伯、梁伯、荀侯、贾伯伐曲沃。
  冬,曹大子来朝,宾之以上卿,礼也。享曹大子,初献,乐奏而叹。施父曰:”曹大子其有忧乎?非叹所也。”
  ◎ 桓公十年
  【经】十年春王正月,庚申,曹伯终生卒。夏五月,葬曹桓公。秋,公会卫侯于桃丘,弗遇。冬十有二月丙午,齐侯、卫侯、郑伯来战于郎。
  【传】十年春,曹桓公卒。
  虢仲谮其大夫詹父于王。詹父有辞,以王师伐虢。夏,虢公出奔虞。
  秋,秦人纳芮伯万于芮。
  初,虞叔有玉,虞公求旃。弗献。既而悔之。曰:”周谚有之:’匹夫无罪,怀璧其罪。’吾焉用此,其以贾害也?”乃献。又求其宝剑。叔曰:”是无厌也。无厌,将及我。”遂伐虞公,故虞公出奔共池。
  冬,齐、卫、郑来战于郎,我有辞也。
  初,北戎病齐,诸侯救之。郑公子忽有功焉。齐人饩诸侯,使鲁次之。鲁以周班后郑。郑人怒,请师于齐。齐人以卫师助之。故不称侵伐。先书齐、卫,王爵也。
  ◎ 桓公十一年
  【经】十有一年春正月,齐人、卫人、郑人盟于恶曹。夏五月癸未,郑伯寤生卒。秋七月,葬郑庄公。九月,宋人执郑祭仲。突归于郑。郑忽出奔卫。柔会宋公、陈侯、蔡叔盟于折。公会宋公于夫钟。冬十月有二月,公会宋公于阚。
  【传】十一年春,齐、卫、郑、宋盟于恶曹。
  楚屈瑕将盟贰、轸。郧人军于蒲骚,将与随、绞、州、蓼伐楚师。莫敖患之。斗廉曰:”郧人军其郊,必不诫,且日虞四邑之至也。君次于郊郢,以御四邑。我以锐师宵加于郧,郧有虞心而恃其城,莫有斗志。若败郧师,四邑必离。”莫敖曰:”盍请济师于王?”对曰:”师克在和,不在众。商、周之不敌,君之所闻也。成军以出,又何济焉?”莫敖曰:”卜之?”对曰:”卜以决疑,不疑何卜?”遂败郧师于蒲骚,卒盟而还。郑昭公之败北戎也,齐人将妻之,昭公辞。祭仲曰:”必取之。君多内宠,子无大援,将不立。三公子皆君也。”弗従。
  夏,郑庄公卒。
  初,祭封人仲足有宠于庄公,庄公使为卿。为公娶邓曼,生昭公,故祭仲立之。宋雍氏女于郑庄公,曰雍姞,生厉公。雍氏宗有宠于宋庄公,故诱祭仲而执之,曰:”不立突,将死。”亦执厉公而求赂焉。祭仲与宋人盟,以厉公归而立之。
  秋九月丁亥,昭公奔卫。己亥,厉公立。
  ◎ 桓公十二年
  【经】十有二年春正月。夏六月壬寅,公会杞侯、莒子盟于曲池。秋七月丁亥,公会宋公、燕人盟于谷丘。八月壬辰,陈侯跃卒。公会宋公于虚。冬十有一月,公会宋公于龟。丙戌,公会郑伯,盟于武父。丙戌,卫侯晋卒。十有二月,及郑师伐宋。丁未,战于宋。
  【传】十二年夏,盟于曲池,平杞、莒也。
  公欲平宋、郑。秋,公及宋公盟于句渎之丘。宋成未可知也,故又会于虚。冬,又会于龟。宋公辞平,故与郑伯盟于武父。遂帅师而伐宋,战焉,宋无信也。
  君子曰:”苟信不继,盟无益也。《诗》云:’君子屡盟,乱是用长。’无信也。”
  楚伐绞,军其南门。莫敖屈瑕曰:”绞小而轻,轻则寡谋,请无扞采樵者以诱之。”従之。绞人获三十人。明日,绞人争出,驱楚役徒于山中。楚人坐其北门,而覆诸山下,大败之,为城下之盟而还。
  伐绞之役,楚师分涉于彭。罗人欲伐之,使伯嘉谍之,三巡数之。
  ◎ 桓公十三年
  【经】十有三年春二月,公会纪侯、郑伯。己巳,及齐侯、宋公、卫侯、燕人战。齐师、宋师、卫师、燕师败绩。三月,葬卫宣公。夏,大水。秋七月。冬十月。
  【传】十三年春,楚屈瑕伐罗,斗伯比送之。还,谓其御曰:”莫敖必败。举趾高,心不固矣。”遂见楚子曰:”必济师。”楚子辞焉。入告夫人邓曼。邓曼曰:”大夫其非众之谓,其谓君抚小民以信,训诸司以德,而威莫敖以刑也。莫敖狃于蒲骚之役,将自用也,必小罗。君若不镇抚,其不设备乎?夫固谓君训众而好镇抚之,召诸司而劝之以令德,见莫敖而告诸天之不假易也。不然,夫岂不知楚师之尽行也?”楚子使赖人追之,不及。
  莫敖使徇于师曰:”谏者有刑。”及鄢,乱次以济。遂无次,且不设备。及罗,罗与卢戎两军之。大败之。莫敖缢于荒谷,群帅囚于冶父以听刑。楚子曰:”孤之罪也。”皆免之。
  宋多责赂于郑,郑不堪命。故以纪、鲁及齐与宋、卫、燕战。不书所战,后也。
  郑人来请修好。
  ◎ 桓公十四年
  【经】十有四年春正月,公会郑伯于曹。无冰。夏五,郑伯使其弟语来盟。秋八月壬申,御廪灾。乙亥,尝。冬十有二月丁巳,齐侯禄父卒。宋人以齐人、蔡人、卫人、陈人伐郑。
  【传】十四年春,会于曹。曹人致饩,礼也。
  夏,郑子人来寻盟,且修曹之会。
  秋八月壬申,御廪灾。乙亥,尝。书,不害也。
  冬,宋人以诸侯伐郑,报宋之战也。焚渠门,入,及大逵。伐东郊,取牛首。以大宫之椽归,为卢门之椽。
  ◎ 桓公十五年
  【经】十有五年春二月,天王使家父来求车。三月乙未,天王崩。夏四月己巳,葬齐僖公。五月,郑伯突出奔蔡。郑世子忽复归于郑。许叔入于许。公会齐侯于艾。邾人、牟人、葛人来朝。秋九月,郑伯突入于栎。冬十有一月,公会宋公、卫侯、陈侯于衰,伐郑。
  【传】十五年春,天王使家父来求车,非礼也。诸侯不贡车、服,天子不私求财。
  祭仲专,郑伯患之,使其婿雍纠杀之。将享诸郊。雍姬知之,谓其母曰:”父与夫孰亲?”其母曰:”人尽夫也,父一而已,胡可比也?”遂告祭仲曰:”雍氏舍其室而将享子于郊,吾惑之,以告。”祭仲杀雍纠,尸诸周氏之汪。公载以出,曰:”谋及妇人,宜其死也。”夏,厉公出奔蔡。
  六月乙亥,昭公入。
  许叔入于许。
  公会齐侯于艾,谋定许也。
  秋,郑伯因栎人杀檀伯,而遂居栎。
  冬,会于衰,谋伐郑,将纳厉公也。弗克而还。
  ◎ 桓公十六年
  【经】十有六年春正月,公会宋公、蔡侯、卫侯于曹。夏四月,公会宋公、卫侯、陈侯、蔡侯伐郑。秋七月,公至自伐郑。冬,城向。十有一月,卫侯朔出奔齐。
  【传】十六年春正月,会于曹,谋伐郑也。
  夏,伐郑。
  秋七月,公至自伐郑,以饮至之礼也。
  冬,城向,书,时也。
  初,卫宣公烝于夷姜,生急子,属诸右公子。为之娶于齐,而美,公取之,生寿及朔,属寿于左公子。夷姜缢。宣姜与公子朔构急子。公使诸齐,使盗待诸莘,将杀之。寿子告之,使行。不可,曰:”弃父之命,恶用子矣!有无父之国则可也。”及行,饮以酒,寿子载其旌以先,盗杀之。急子至,曰:”我之求也。此何罪?请杀我乎!”又杀之。二公子故怨惠公。
  十一月,左公子洩、右公子职立公子黔牟。惠公奔齐。
  ◎ 桓公十七年
  【经】十有七年春正月丙辰,公会齐侯、纪侯盟于黄。二月丙午,公会邾仪父,盟于趡。夏五月丙午,及齐师战于奚。六月丁丑,蔡侯封人卒。秋八月,蔡季自陈归于蔡。癸巳,葬蔡桓侯。及宋人、卫人伐邾。冬十月朔,日有食之。
  【传】十七年春,盟于黄,平齐、纪,且谋卫故也。
  乃邾仪父盟于趡,寻蔑之盟也。
  夏,及齐师战于奚,疆事也。于是齐人侵鲁疆,疆吏来告,公曰:”疆场之事,慎守其一,而备其不虞。姑尽所备焉。事至而战,又何谒焉?”
  蔡桓侯卒。蔡人召蔡季于陈。
  秋,蔡季自陈归于蔡,蔡人嘉之也。
  伐邾,宋志也。
  冬十月朔,日有食之。不书日,官失之也。天子有日官,诸侯有日御。日官居卿以底日,礼也。日御不失日,以授百官于朝。
  初,郑伯将以高渠弥为卿,昭公恶之,固谏,不听,昭公立,惧其杀己也。辛卯,弑昭公,而立公子亹。
  君子谓昭公知所恶矣。公子达曰:”高伯其为戮乎?复恶已甚矣。”
  ◎ 桓公十八年
  【经】十有八年春王正月,公会齐侯于泺。公与夫人姜氏遂如齐。夏四月丙子,公薨于齐。丁酉,公之丧至自齐。秋七月,冬十有二月己丑,葬我君桓公。
  【传】十八年春,公将有行,遂与姜氏如齐。申繻曰:”女有家,男有室,无相渎也,谓之有礼。易此,必败。”
  公会齐侯于泺,遂及文姜如齐。齐侯通焉。公谪之,以告。
  夏四月丙子,享公。使公子彭生乘公,公薨于车。
  鲁人告于齐曰:”寡君畏君之威,不敢宁居,来修旧好,礼成而不反,无所归咎,恶于诸侯。请以彭生除之。”齐人杀彭生。
  秋,齐侯师于首止;子亹会之,高渠弥相。七月戊戌,齐人杀子亹而轘高渠弥,祭仲逆郑子于陈而立之。是行也,祭仲知之,故称疾不往。人曰:”祭仲以知免。”仲曰:”信也。”
  周公欲弑庄王而立王子克。辛伯告王,遂与王杀周公黑肩。王子克奔燕。
  初,子仪有宠于桓王,桓王属诸周公。辛伯谏曰:”并后、匹嫡、两政、耦国,乱之本也。”周公弗従,故及。
************************
庄公  【元年~三十二年】
  ◎ 庄公元年
  【经】元年春王正月。三月,夫人孙于齐。夏,单伯送王姬。秋,筑王姬之馆于外。冬十月乙亥,陈侯林卒。王使荣叔来锡桓公命。王姬归于齐。齐师迁纪、郱、鄑、郚。
  【传】元年春,不称即位,文姜出故也。
  三月,夫人孙于齐。不称姜氏,绝不为亲,礼也。
  秋,筑王姬之馆于外。为外,礼也。
  ◎ 庄公二年
  【经】二年春王二月,葬陈庄公。夏,公子庆父帅师伐于余丘。秋七月,齐王姬卒。冬十有二月,夫人姜氏会齐侯于禚。乙酉,宋公冯卒。
  【传】二年冬,夫人姜氏会齐侯于禚。书,奸也。
  ◎ 庄公三年
  【经】三年春王正月,溺会齐师伐卫。夏四月,葬宋庄公。五月,葬桓王。秋,纪季以酅入于齐。冬,公次于滑。
  【传】三年春,溺会齐师伐卫,疾之也。
  夏五月,葬桓王,缓也。
  秋,纪季以酅入于齐,纪于是乎始判。
  冬,公次于滑,将会郑伯,谋纪故也。郑伯辞以难。凡师,一宿为舍,再宿为信,过信为次。
  ◎ 庄公四年
  【经】四年春王二月,夫人姜氏享齐侯于祝丘。三月,纪伯姬卒。夏,齐侯、陈侯、郑伯遇于垂。纪侯大去其国。六月乙丑,齐侯葬纪伯姬。秋七月。冬,公及齐人狩于禚。
  【传】四年春,王三月,楚武王荆尸,授师孑焉,以伐随,将齐,入告夫人邓曼曰:”余心荡。”邓曼叹曰:”王禄尽矣。盈而荡,天之道也。先君其知之矣,故临武事,将发大命,而荡王心焉。若师徒无亏,王薨于行,国之福也。”王遂行,卒于樠木之下。令尹斗祁、莫敖屈重除道、梁溠,营军临随。随人惧,行成。莫敖以王命入盟随侯,且请为会于汉汭,而还。济汉而后发丧。
  纪侯不能下齐,以与纪季。夏,纪侯大去其国,违齐难也。
  ◎ 庄公五年
  【经】五年春王正月。夏,夫人姜氏如齐师。秋,郳犁来来朝。冬,公会齐人、宋人、陈人、蔡人伐卫。
  【传】五年秋,郳犁来来朝,名,未王命也。
  冬,伐卫纳惠公也。
  ◎ 庄公六年
  【经】六年春王正月,王人子突救卫。夏六月,卫侯朔入于卫。秋,公至自伐卫。螟。冬,齐人来归卫俘。
  【传】六年春,王人救卫。
  夏,卫侯入,放公子黔牟于周,放宁跪于秦,杀左公子泄、右公子职,乃即位。
  君子以二公子之立黔牟为不度矣。夫能固位者,必度于本末而后立衷焉。不知其本,不谋。知本之不枝,弗强。《诗》云:”本枝百世。”
  冬,齐人来归卫宝,文姜请之也。
  楚文王伐申,过邓。邓祁侯曰:”吾甥也。”止而享之。骓甥、聃甥、养甥请杀楚子,邓侯弗许。三甥曰:”亡邓国者,必此人也。若不早图,后君噬齐。其及图之乎?图之,此为时矣。”邓侯曰:”人将不食吾余。”对曰:”若不従三臣,抑社稷实不血食,而君焉取余?”弗従。还年,楚子伐邓。十六年,楚复伐邓,灭之。
  ◎ 庄公七年
  【经】七年春,夫人姜氏会齐侯于防。夏四月辛卯,夜,恒星不见。夜中,星陨如雨。秋,大水。无麦、苗。冬,夫人姜氏会齐侯于谷。
  【传】七年春,文姜会齐侯于防,齐志也。
  夏,恒星不见,夜明也。星陨如雨,与雨偕也。
  秋,无麦苗,不害嘉谷也。
  ◎ 庄公八年
  【经】八年春王正月,师次于郎,以俟陈人,蔡人。甲午,治兵。夏,师及齐师围郕,郕降于齐师。秋,师还。冬十有一月癸未,齐无知弑其君诸儿。
  【传】八年春,治兵于庙,礼也。
  夏,师及齐师围郕。郕降于齐师。仲庆父请伐齐师。公曰:”不可。我实不德,齐师何罪?罪我之由。《夏书》曰:’皋陶迈种德,德,乃降。’姑务修德以待时乎。”秋,师还。君子是以善鲁庄公。
  齐侯使连称、管至父戍葵丘。瓜时而往,曰:”及瓜而代。”期戍,公问不至。请代,弗许。故谋作乱。
  僖公之母弟曰夷仲年,生公孙无知,有宠于僖公,衣服礼秩如适。襄公绌之。二人因之以作乱。连称有従妹在公宫,无宠,使间公,曰:”捷,吾以女为夫人。”
  冬十二月,齐侯游于姑棼,遂田于贝丘。见大豕,従者曰:”公子彭生也。”公怒曰:”彭生敢见!”射之,豕人立而啼。公惧,坠于车,伤足丧屦。反,诛屦于徒人费。弗得,鞭之,见血。走出,遇贼于门,劫而束之。费曰:”我奚御哉!”袒而示之背,信之。费请先入,伏公而出,斗,死于门中。石之纷如死于阶下。遂入,杀孟阳于床。曰:”非君也,不类。”见公之足于户下,遂弑之,而立无知。
  初、襄公立,无常。鲍叔牙曰:”君使民慢,乱将作矣。”奉公子小白出奔莒。乱作,管夷吾、召忽奉公子纠来奔。
  初,公孙无知虐于雍廪。
  ◎ 庄公九年
  【经】九年春,齐人杀无知。公及齐大夫盟于既。夏,公伐齐纳子纠。齐小白入于齐。秋七月丁酉,葬齐襄公。八月庚申,及齐师战于乾时,我师败绩。九月,齐人取子纠杀之。冬,浚洙。
  【传】九年春,雍廪杀无知。
  公及齐大夫盟于既,齐无君也。
  夏,公伐齐,纳子纠。桓公自莒先入。
  秋,师及齐师战于乾时,我师败绩,公丧戎路,传乘而归。秦子、梁子以公旗辟于下道,是以皆止。
  鲍叔帅师来言曰:”子纠,亲也,请君讨之。管、召、仇也,请受而甘心焉。”乃杀子纠于生窦,召忽死之。管仲请囚,鲍叔受之,乃堂阜而税之。归而以告曰:”管夷吾治于高傒,使相可也。”公従之。
  ◎ 庄公十年
  【经】十年春王正月,公败齐师于长勺。二月,公侵宋。三月,宋人迁宿。夏六月,齐师、宋师次于郎。公败宋师于乘丘。秋九月,荆败蔡师于莘,以蔡侯献舞归。冬十月,齐师灭谭,谭子奔莒。
  【传】十年春,齐师伐我。公将战,曹刿请见。其乡人曰:”肉食者谋之,又何间焉。刿曰:”肉食者鄙,未能远谋。”乃入见。问何以战。公曰:”衣食所安,弗敢专也,必以分人。”对曰:”小惠未遍,民弗従也。”公曰:”牺牲玉帛,弗敢加也,必以信。”对曰:”小信未孚,神弗福也。”公曰:”小大之狱,虽不能察,必以情。”对曰:”忠之属也,可以一战,战则请従。”
  公与之乘。战于长勺。公将鼓之。刿曰;”未可。”齐人三鼓,刿曰:”可矣。”齐师败绩。公将驰之。刿曰:”未可。”下,视其辙,登,轼而望之,曰:”可矣。”遂逐齐师。
  既克,公问其故。对曰:”夫战,勇气也,一鼓作气,再而衰,三而竭。彼竭我盈,故克之。夫大国难测也,惧有伏焉。吾视其辙乱,望其旗靡,故逐之。”
  夏六月,齐师、宋师次于郎。公子偃曰:”宋师不整,可败也。宋败,齐必还,请击之。”公弗许。自雩门窃出,蒙皋比而先犯之。公従之。大败宋师于乘丘。齐师乃还。
  蔡哀侯娶于陈,息侯亦娶焉。息妫将归,过蔡。蔡侯曰:”吾姨也。”止而见之,弗宾。息侯闻之,怒,使谓楚文王曰:”伐我,吾求救于蔡而伐之。”楚子従之。秋九月,楚败蔡师于莘,以蔡侯献舞归。
  齐侯之出也,过谭,谭不礼焉。及其入也,诸侯皆贺,谭又不至。冬,齐师灭谭,谭无礼也。谭子奔莒,同盟故也。
  ◎ 庄公十一年
  【经】十有一年春王正月。夏五月,戊寅,公败宋师于鄑。秋,宋大水。冬,王姬归于齐。
  【传】十一年夏,宋为乘丘之役故侵我。公御之,宋师未陈而薄之,败诸鄑。
  凡师,敌未陈曰败某师,皆陈曰战,大崩曰败绩,得亻隽曰克,覆而败之曰取某师,京师败曰王师败绩于某。
  秋,宋大水。公使吊焉,曰:”天作淫雨,害于粢盛,若之何不吊?”对曰:”孤实不敬,天降之灾,又以为君忧,拜命之辱。”臧文仲曰:”宋其兴乎。禹、汤罪己,其兴也悖焉、桀、纣罪人,其亡也忽焉。且列国有凶称孤,礼也。言惧而名礼,其庶乎。”既而闻之曰公子御说之辞也。臧孙达曰:”是宜为君,有恤民之心。”
  冬,齐侯来逆共姬。
  乘丘之役,公之金仆姑射南宫长万,公右遄孙生搏之。宋人请之,宋公靳之,曰:”始吾敬子,今子,鲁囚也。吾弗敬子矣。”病之。
  ◎ 庄公十二年
  【经】十有二年春王三月,纪叔姬归于酅。夏四月。秋八月甲午,宋万弑其君捷及其大夫仇牧。十月,宋万出奔陈。
  【传】十二年秋,宋万弑闵公于蒙泽。遇仇牧于门,批而杀之。遇大宰督于东宫之西,又杀之。立子游。群公子奔萧。公子御说奔亳。南宫牛、猛获帅师围亳。
  冬十月,萧叔大心及戴、武、宣、穆、庄之族以曹师伐之。杀南宫牛于师,杀子游于宋,立桓公。猛获奔卫。南宫万奔陈,以乘车辇其母,一日而至。
  宋人请猛获于卫,卫人欲勿与,石祁子曰:”不可。天下之恶一也,恶于宋而保于我,保之何补?得一夫而失一国,与恶而弃好,非谋也。”卫人归之。亦请南宫万于陈,以赂。陈人使妇人饮之酒,而以犀革裹之。比及宋手足皆见。宋人皆醢之。
  ◎ 庄公十三年
  【经】十有三年春,齐侯、宋人、陈人、蔡人、邾人会于北杏。夏六月,齐人灭遂。秋七月。冬,公会齐侯盟于柯。
  【传】十三年春,会于北杏,以平宋乱。遂人不至。
  夏,齐人灭遂而戍之。
  冬,盟于柯,始及齐平也。
  宋人背北杏之会。
  ◎ 庄公十四年
  【经】十有四年春,齐人、陈人、曹人伐宋。夏,单伯会伐宋。秋七月,荆入蔡。冬,单伯会齐侯、宋公、卫侯、郑伯于鄄。
  【传】十四年春,诸侯伐宋,齐请师于周。夏,单伯会之,取成于宋而还。
  郑厉公自栎侵郑,及大陵,获傅瑕。傅瑕曰:”苟舍我,吾请纳君。”与之盟而赦之。六月甲子,傅瑕杀郑子及其二子而纳厉公。
  初,内蛇与外蛇斗于郑南门中,内蛇死。六年而厉公入。公闻之,问于申繻曰:”犹有妖乎?”对曰:”人之所忌,其气焰以取之,妖由人兴也。人无衅焉,妖不自作。人弃常则妖兴,故有妖。”
  厉公入,遂杀傅瑕。使谓原繁曰:”傅瑕贰,周有常刑,既伏其罪矣。纳我而无二心者,吾皆许之上大夫之事,吾愿与伯父图之。且寡人出,伯父无里言,入,又不念寡人,寡人憾焉。”对曰:”先君桓公命我先人典司宗祏。社稷有主而外其心,其何贰如之?苟主社稷,国内之民其谁不为臣?臣无二心,天之制也。子仪在位十四年矣,而谋召君者,庸非二乎。庄公之子犹有八人,若皆以官爵行赂劝贰而可以济事,君其若之何?臣闻命矣。”乃缢而死。
  蔡哀侯为莘故,绳息妫以语楚子。楚子如息,以食入享,遂灭息。以息妫归,生堵敖及成王焉,未言。楚子问之,对曰:”吾一妇人而事二夫,纵弗能死,其又奚言?”楚子以蔡侯灭息,遂伐蔡。秋七月,楚入蔡。
  君子曰:”《商书》所谓’恶之易也,如火之燎于原,不可乡迩,其犹可扑灭’者,其如蔡哀侯乎。”
  冬,会于鄄,宋服故也。
  ◎ 庄公十五年
  【经】十有五年春,齐侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯会于鄄。夏,夫人姜氏如齐。秋,宋人、齐人、邾人伐郳。郑人侵宋。冬十月。
  【传】十五年春,复会焉,齐始霸也。
  秋,诸侯为宋伐郳。郑人间之而侵宋。
  ◎ 庄公十六年
  【经】十有六年春王正月。夏,宋人、齐人、卫人伐郑。秋,荆伐郑。冬十有二月,会齐侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯、许男、滑伯、滕子同盟于幽。邾子克卒。
  【传】十六年夏,诸侯伐郑,宋故也。
  郑伯自栎入,缓告于楚。秋,楚伐郑,及栎,为不礼故也。
  郑伯治与于雍纠之乱者。九月,杀公子阏,刖强鉏。公父定叔出奔卫。三年而复之,曰:”不可使共叔无后于郑。”使以十月入,曰:”良月也,就盈数焉。”
  君子谓:”强鉏不能卫其足。”
  冬,同盟于幽,郑成也。
  王使虢公命曲沃伯以一军为晋侯。
  初,晋武公伐夷,执夷诡诸。蒍国请而免之。既而弗报。故子国作乱,谓晋人曰:”与我伐夷而取其地。”遂以晋师伐夷,杀夷诡诸。周公忌父出奔虢。惠王立而复之。
  ◎ 庄公十七年
  【经】十有七年春,齐人执郑詹。夏,齐人歼于遂。秋,郑詹自齐逃来。冬,多麋。
  【传】十七年春,齐人执郑詹,郑不朝也。
  夏,遂因氏,颌氏、工娄氏、须遂氏飨齐戍,醉而杀之,齐人歼焉。
  ◎ 庄公十八年
  【经】十有八年春王三月,日有食之。夏,公追戎于济西。秋,有蜮。冬十月。
  【传】十八年春,虢公、晋侯朝王,王飨醴,命之宥,皆赐玉五珏,马三匹。非礼也。王命诸侯,名位不同,礼亦异数,不以礼假人。
  虢公、晋侯、郑伯使原庄公逆王后于陈。陈妫归于京师,实惠后。
  夏,公追戎于济西。不言其来,讳之也。
  秋,有蜮,为灾也。
  初,楚武王克权,使斗缗尹之。以叛,围而杀之。迁权于那处,使阎敖尹之。及文王即位,与巴人伐申而惊其师。巴人叛楚而伐那处,取之,遂门于楚。阎敖游涌而逸。楚子杀之,其族为乱。冬,巴人因之以伐楚。
  ◎ 庄公十九年
  【经】十有九年春王正月。夏四月。秋,公子结媵陈人之妇于鄄,遂及齐侯、宋公盟。夫人姜氏如莒。冬,齐人、宋人、陈人伐我西鄙。
  【传】十九年春,楚子御之,大败于津。还,鬻拳弗纳。送伐黄,败黄师于碏陵。还,及湫,有疾。夏六月庚申卒,鬻拳葬诸夕室,亦自杀也,而葬于绖
  初,鬻拳强谏楚子,楚子弗従,临之以兵,惧而従之。鬻拳曰:”吾惧君以皇。兵,罪莫大焉。”遂自刖也。楚人以为大阍,谓之大伯,使其后掌之。君子”鬻拳可谓爱君矣,谏以自纳于刑,刑犹不忘纳君于善。”
  初,王姚嬖于庄王,生子颓。子颓有宠,蒍国为之师。及惠王即位。取蒍国之圃以为囿,边伯之宫近于王宫,王取之。王夺子禽祝跪与詹父田,而收膳夫之秩。故蒍国、边伯、石速、詹父、子禽祝跪作乱,因苏氏。秋,五大夫奉子颓以伐王,不克,出奔温。苏子奉子颓以奔卫。卫师、燕师伐周。冬,立子颓。
  ◎ 庄公二十年
  【经】二十年春王二月,夫人姜氏如莒。夏,齐大灾。秋七月。冬,齐人伐戎。
  【传】二十年春,郑伯和王室,不克。执燕仲父。夏,郑伯遂以王归,王处于栎。秋,王及郑伯入于邬。遂入成周,取其宝器而还。
  冬,王子颓享五大夫,乐及遍舞。郑伯闻之,见虢叔,曰:”寡人闻之,哀乐失时,殃咎必至。今王子颓歌舞不倦,乐祸也。夫司寇行戮,君为之不举,而况敢乐祸乎!奸王之位,祸孰大焉?临祸忘忧,忧必及之。盍纳王乎?”虢公曰:”寡人之愿也。”
  ◎ 庄公二十一年
  【经】二十有一年春,王正月。夏五月辛酉,郑伯突卒。秋七月戊戌,夫人姜氏薨。冬十有二月,葬郑厉公。
  【传】二十一年春,胥命于弭。夏,同伐王城。郑伯将王,自圉门入,虢叔自北门入,杀王子颓及五大夫。郑伯享王于阙西辟,乐备。王与之武公之略,自虎牢以东。原伯曰:”郑伯效尤,其亦将有咎。”五月,郑厉公卒。
  王巡虢守。虢公为王宫于玤,王与之酒泉。郑伯之享王也,王以后之鞶鉴予之。虢公请器,王予之爵。郑伯由是始恶于王。
  冬,王归自虢。
  ◎ 庄公二十二年
  【经】二十二年春王正月,肆大眚。癸丑,葬我小君文姜。陈人杀其公子御寇。夏五月。秋七月丙申,及齐高傒盟于防。冬,公如齐纳币。
  【传】二十二年春,陈人杀其大子御寇,陈公子完与颛孙奔齐。颛孙自齐来奔。
  齐侯使敬仲为卿。辞曰:”羁旅之臣,幸若获宥,及于宽政,赦其不闲于教训而免于罪戾,弛于负担,君之惠也,所获多矣。敢辱高位,以速官谤。请以死告。《诗》云:’翘翘车乘,招我以弓,岂不欲往,畏我友朋。'”使为工正。
  饮桓公酒,乐。公曰:”以火继之。”辞曰:”臣卜其昼,未卜其夜,不敢。”君子曰:”酒以成礼,不继以淫,义也。以君成礼,弗纳于淫,仁也。”
  初,懿氏卜妻敬仲,其妻占之,曰:”吉,是谓’凤皇于飞,和鸣锵锵,有妫之后,将育于姜。五世其昌,并于正卿。八世之后,莫之与京。'”陈厉公,蔡出也。故蔡人杀五父而立之,生敬仲。其少也。周史有以《周易》见陈侯者,陈侯使筮之,遇《观》之《否》。曰:”是谓’观国之光,利用宾于王。’代陈有国乎。不在此,其在异国;非此其身,在其子孙。光,远而自他有耀者也。《坤》,土也。《巽》,风也。《乾》,天也。风为天于土上,山也。有山之材而照之以天光,于是乎居土上,故曰:’观国之光,利用宾于王。’庭实旅百,奉之以玉帛,天地之美具焉,故曰:’利用宾于王。’犹有观焉,故曰其在后乎。风行而著于土,故曰其在异国乎。若在异国,必姜姓也。姜,大岳之后也。山岳则配天,物莫能两大。陈衰,此其昌乎。”
  及陈之初亡也,陈桓子始大于齐。其后亡成,成子得政。
  ◎ 庄公二十三年
  【经】二十有三年春,公至自齐。祭叔来聘。夏,公如齐观社。公至自齐。荆人来聘。公及齐侯遇于谷。萧叔朝公。秋,丹桓宫楹。冬十有一月,曹伯射姑卒。十有二月甲寅,公会齐侯盟于扈。
  【传】二十三年夏,公如齐观社,非礼也。曹刿谏曰:”不可。夫礼,所以整民也。故会以训上下之则,制财用之节;朝以正班爵之义,帅长幼之序;征伐以讨其不然。诸侯有王,王有巡守,以大习之。非是,君不举矣。君举必书,书而不法,后嗣何观?”
  晋桓、庄之族逼,献公患之。士蒍曰:”去富子,则群公子可谋也已。”公曰:”尔试其事。”士蒍与群公子谋,谮富子而去之。
  秋,丹桓宫之楹。
  ◎ 庄公二十四年
  【经】二十有四年春王三月,刻桓宫桷。葬曹庄公。夏,公如齐逆女。秋,公至自齐。八月丁丑,夫人姜氏入。戊寅,大夫宗妇觌,用币。大水。冬,戎侵曹。曹羁出奔陈。赤归于曹。郭公。
  【传】二十四年春,刻其桷,皆非礼也。御孙谏曰:”臣闻之:’俭,德之共也;侈,恶之大也。’先君有共德而君纳诸大恶,无乃不可乎!”
  秋,哀姜至。公使宗妇觌,用币,非礼也。御孙曰:”男贽大者玉帛,小者禽鸟,以章物也。女贽不过榛栗枣修,以告虔也。今男女同贽,是无别也。男女之别,国之大节也。而由夫人乱之,无乃不可乎!”
  晋士蒍又与群公子谋,使杀游氏之二子。士蒍告晋侯曰:”可矣。不过二年,君必无患。”
  ◎ 庄公二十五年
  【经】二十有五年春,陈侯使女叔来聘。夏五月癸丑,卫侯朔卒。六月辛未,朔,日有食之,鼓、用牲于社。伯姬归于杞。秋,大水,鼓、用牲于社、于门。冬,公子友如陈。
  【传】二十五年春,陈女叔来聘,始结陈好也。嘉之,故不名。
  夏六月辛未,朔,日有食之。鼓,用牲于社,非常也。唯正月之朔,慝未作,日有食之,于是乎用币于社,伐鼓于朝。
  秋,大水。鼓,用牲于社、于门,亦非常也。凡天灾,有币无牲。非日月之眚,不鼓。
  晋士蒍使群公子尽杀游氏之族,乃城聚而处之。
  冬,晋侯围聚,尽杀群公子。
  ◎ 庄公二十六年
  【经】二十有六年春,公伐戎。夏,公至自伐戎。曹杀其大夫。秋,公会宋人、齐人,伐徐。冬十有二月癸亥,朔,日有食之。
  【传】二十六年春,晋士蒍为大司空。
  夏,士蒍城绛,以深其宫。
  秋,虢人侵晋。冬,虢人又侵晋。
  ◎ 庄公二十七年
  【经】二十有七年春,公会杞伯姬于洮。夏六月,公会齐侯、宋公、陈侯、郑伯同盟于幽。秋,公子友如陈,葬原仲。冬,杞伯姬来。莒庆来逆叔姬。杞伯来朝。公会齐侯于城濮。
  【传】二十七年春,公会杞伯姬于洮,非事也。天子非展义不巡守,诸侯非民事不举,卿非君命不越竟。
  夏,同盟于幽,陈,郑服也。
  秋,公子友如陈,葬原仲,非礼也。原仲,季友之旧也。
  冬,杞伯姬来,归宁也。凡诸侯之女,归宁曰来,出曰来归。夫人归宁曰如某,出曰归于某。
  晋侯将伐虢,士蒍曰:”不可,虢公骄,若骤得胜于我,必弃其民。无众而后伐之,欲御我谁与?夫礼乐慈爱,战所畜也。夫民让事乐和,爱亲哀丧而后可用也。虢弗畜也,亟战将饥。”
  王使召伯廖赐齐侯命,且请伐卫,以其立子颓也。
  ◎ 庄公二十八年
  【经】二十有八年春,王三月甲寅,齐人伐卫。卫人及齐人战,卫人败绩。夏四月丁未,邾子琐卒。秋,荆伐郑,公会齐人、宋人救郑。冬,筑郿。大无麦、禾,臧孙辰告籴于齐。
  【传】二十八年春,齐侯伐卫。战,败卫师。数之以王命,取赂而还。
  晋献公娶于贾,无子。烝于齐姜,生秦穆夫人及大子申生。又娶二女于戎,大戎狐姬生重耳,小戎子生夷吾。晋伐骊戎,骊戎男女以骊姬。归生奚齐。其娣生卓子。骊姬嬖,欲立其子,赂外嬖梁五,与东关嬖五,使言于公曰:”曲沃,君之宗也。蒲与二屈,君之疆也。不可以无主。宗邑无主则民不威,疆埸无主则启戎心。戎之生心,民慢其政,国之患也。若使大子主曲沃,而重耳、夷吾主蒲与屈,则可以威民而惧戎,且旌君伐。”使俱曰:”狄之广莫,于晋为都。晋之启土,不亦宜乎?”晋侯说之。夏,使大子居曲沃,重耳居蒲城,夷吾居屈。群公子皆鄙,唯二姬之子在绛。二五卒与骊姬谮群公子而立奚齐,晋人谓之二耦。
  楚令尹子元欲蛊文夫人,为馆于其宫侧,而振万焉。夫人闻之,泣曰:”先君以是舞也,习戎备也。今令尹不寻诸仇雠,而于未亡人之侧,不亦异乎!”御人以告子元。子元曰:”妇人不忘袭仇,我反忘之!”
  秋,子元以车六百乘伐郑,入于桔柣之门。子元、斗御疆、斗梧、耿之不比为旆,斗班、王孙游、王孙喜殿。众车入自纯门,及逵市。县门不发,楚言而出。子元曰:”郑有人焉。”诸侯救郑,楚师夜遁。郑人将奔桐丘,谍告曰:”楚幕有乌。”乃止。
  冬,饥。臧孙辰告籴于齐,礼也。
  筑郿,非都也。凡邑有宗庙先君之主曰都,无曰邑。邑曰筑,都曰城。
  ◎ 庄公二十九年
  【经】二十有九年春,新延廄。夏,郑人侵许。秋,有蜚。冬十有二月,纪叔姬卒。城诸及防。
  【传】二十九年春,新作延廄。书,不时也。凡马日中而出,日中而入。
  夏,郑人侵许。凡师有钟鼓曰伐,无曰侵,轻曰袭。
  秋,有蜚,为灾也。凡物不为灾不书。
  冬十二月,城诸及防,书,时也。凡土功,龙见而毕务,戒事也。火见而致用,水昏正而栽,日至而毕。
  樊皮叛王。
  ◎ 庄公三十年
  【经】三十年春王正月。夏,次于成。秋七月,齐人降鄣。八月癸亥,葬纪叔姬。九月庚午朔,日有食之,鼓、用牲于社。冬,公及齐侯遇于鲁济。齐人伐山戎。
  【传】三十年春,王命虢公讨樊皮。夏四月丙辰,虢公入樊,执樊仲皮,归于京师。
  楚公子元归自伐郑,而处王宫,斗射师谏,则执而梏之。
  秋,申公斗班杀子元,斗谷於菟为令尹,自毁其家以纾楚国之难。
  冬,遇于鲁济,谋山戎也,以其病燕故也。
  ◎ 庄公三十一年
  【经】三十有一年春,筑台于郎。夏四月,薛伯卒。筑台于薛。六月,齐侯来献戎捷。秋,筑台于秦。冬,不雨。
  【传】三十一年夏六月,齐侯来献戎捷,非礼也。凡诸侯有四夷之功,则献于王,王以警于夷。中国则否。诸侯不相遗俘。
  ◎ 庄公三十二年
  【经】三十有二年春,城小谷。夏,宋公、齐侯遇于梁丘。秋七月癸巳,公子牙卒。八月癸亥,公薨于路寝。冬十月己未,子般卒。公子庆父如齐。狄伐邢。
  【传】三十二年春,城小谷,为管仲也。
  齐侯为楚伐郑之故,请会于诸侯。宋公请先见于齐侯。夏,遇于梁丘。
  秋七月,有神降于莘。
  惠王问诸内史过曰:”是何故也?”对曰:”国之将兴,明神降之,监其德也;将亡,神又降之,观其恶也。故有得神以兴,亦有以亡,虞、夏、商、周皆有之。”王曰:”若之何?”对曰:”以其物享焉,其至之日,亦其物也。”王従之。内史过往,闻虢请命,反曰:”虢必亡矣,虐而听于神。”
  神居莘六月。虢公使祝应、宗区、史嚚享焉。神赐之土田。史嚚曰:”虢其亡乎!吾闻之:国将兴,听于民;将亡,听于神。神,聪明正直而一者也,依人而行。虢多凉德,其何土之能得!”
  初,公筑台临党氏,见孟任,従之。閟,而以夫人言许之。割臂盟公,生子般焉。雩,讲于梁氏,女公子观之。圉人荦自墙外与之戏。子般怒,使鞭之。公曰:”不如杀之,是不可鞭。荦有力焉,能投盖于稷门。”
  公疾,问后于叔牙。对曰:”庆父材。”问于季友,对曰:”臣以死奉般。”公曰:”乡者牙曰庆父材。”成季使以君命命僖叔待于钅咸巫氏,使钅咸季鸩之,曰:”饮此则有后于鲁国,不然,死且无后。”饮之,归及逵泉而卒,立叔孙氏。
  八月癸亥,公薨于路寝。子般即位,次于党氏。冬十月己未,共仲使圉人荦贼子般于党氏。成季奔陈。立闵公。
************************
闵公  【元年~二年】
  ◎ 闵公元年
  【经】元年春王正月。齐人救邢。夏六月辛酉,葬我君庄公。秋八月,公及齐侯盟于落姑。季子来归。冬,齐仲孙来。
  【传】元年春,不书即位,乱故也。
  狄人伐邢。管敬仲言于齐侯曰:”戎狄豺狼,不可厌也。诸夏亲暱,不可弃也。宴安鸩毒,不可怀也。《诗》云:’岂不怀归,畏此简书。’简书,同恶相恤之谓也。请救邢以従简书。”齐人救邢。
  夏六月,葬庄公,乱故,是以缓。
  秋八月,公及齐侯盟于落姑,请复季友也。齐侯许之,使召诸陈,公次于郎以待之。”季子来归”,嘉之也。
  冬,齐仲孙湫来省难。书曰”仲孙”,亦嘉之也。
  仲孙归曰:”不去庆父,鲁难未已。”公曰:”若之何而去之?”对曰:”难不已,将自毙,君其待之。”公曰:”鲁可取乎?”对曰:”不可,犹秉周礼。周礼,所以本也。臣闻之,国将亡,本必先颠,而后枝叶従之。鲁不弃周礼,未可动也。君其务宁鲁难而亲之。亲有礼,因重固,间携贰,覆昬乱,霸王之器也。”
  晋侯作二军,公将上军,大子申生将下军。赵夙御戎,毕万为右,以灭耿、灭霍、灭魏。还,为大子城曲沃。赐赵夙耿,赐毕万魏,以为大夫。
  士蒍曰:”大子不得立矣,分之都城而位以卿,先为之极,又焉得立。不如逃之,无使罪至。为吴大伯,不亦可乎?犹有令名,与其及也。且谚曰:’心苟无瑕,何恤乎无家。’天若祚大子,其无晋乎。”
  卜偃曰:”毕万之后必大。万,盈数也;魏,大名也;以是始赏,天启之矣。天子曰兆民,诸侯曰万民。今名之大,以従盈数,其必有众。”
  初,毕万筮仕于晋,遇《屯》之《比》。辛廖占之,曰:”吉。《屯》固《比》入,吉孰大焉?其必蕃昌。《震》为土,车従马,足居之,兄长之,母覆之,众归之,六体不易,合而能固,安而能杀。公侯之卦也。公侯之子孙,必复其始。”
  ◎ 闵公二年
  【经】二年春王正月,齐人迁阳。夏五月乙酉,吉禘于庄公。秋八月辛丑,公薨。九月,夫人姜氏孙于邾。公子庆父出奔莒。冬,齐高子来盟。十有二月,狄入卫。郑弃其师。
  【传】二年春,虢公败犬戎于渭汭。舟之侨曰:”无德而禄,殃也。殃将至矣。”遂奔晋。
  夏,吉禘于庄公,速也。
  初,公傅夺卜齮田,公不禁。
  秋八月辛丑,共仲使卜齮贼公于武闱。成季以僖公适邾。共仲奔莒,乃入,立之。以赂求共仲于莒,莒人归之。及密,使公子鱼请,不许。哭而往,共仲曰:”奚斯之声也。”乃缢。
  闵公,哀姜之娣叔姜之子也,故齐人立之。共仲通于哀姜,哀姜欲立之。闵公之死也,哀姜与知之,故孙于邾。齐人取而杀之于夷,以其尸归,僖公请而葬之。
  成季之将生也,桓公使卜楚丘之父卜之。曰:”男也。其名曰友,在公之右。间于两社,为公室辅。季氏亡,则鲁不昌。”又筮之,遇《大有》之《乾》,曰:”同复于父,敬如君所。”及生,有文在其手曰”友”,遂以命之。
  冬十二月,狄人伐卫。卫懿公好鹤,鹤有乘轩者。将战,国人受甲者皆曰:”使鹤,鹤实有禄位,余焉能战!”公与石祁子玦,与宁庄子矢,使守,曰:”以此赞国,择利而为之。”与夫人绣衣,曰:”听于二子。”渠孔御戎,子伯为右,黄夷前驱,孔婴齐殿。及狄人战于荧泽,卫师败绩,遂灭卫。卫侯不去其旗,是以甚败。狄人囚史华龙滑与礼孔以逐卫人。二人曰:”我,大史也,实掌其祭。不先,国不可得也。”乃先之。至则告守曰:”不可待也。”夜与国人出。狄入卫,遂従之,又败诸河。
  初,惠公之即位也少,齐人使昭伯烝于宣姜,不可,强之。生齐子、戴公、文公、宋桓夫人、许穆夫人。文公为卫之多患也,先适齐。及败,宋桓公逆诸河,宵济。卫之遗民男女七百有三十人,益之以共,滕之民为五千人,立戴公以庐于曹。许穆夫人赋《载驰》。齐侯使公子无亏帅车三百乘、甲士三千人以戍曹。归公乘马,祭服五称,牛羊豕鸡狗皆三百,与门材。归夫人鱼轩,重锦三十两。
  郑人恶高克,使帅师次于河上,久而弗召。师溃而归,高克奔陈。郑人为之赋《清人》。
  晋侯使大子申生伐东山皋落氏。里克谏曰:”大子奉冢祀,社稷之粢盛,以朝夕视君膳者也,故曰冢子。君行则守,有守则従。従曰抚军,守曰监国,古之制也。夫帅师,专行谋,誓车旅,君与国政之所图也,非大子之事也。师在制命而已。禀命则不威,专命则不孝。故君之嗣适不可以帅师。君失其官,帅师不威,将焉用之。且臣闻皋落氏将战,君其舍之。”公曰:”寡人有子,未知其谁立焉。”不对而退。
  见大子,大子曰:”吾其废乎?”对曰:”告之以临民,教之以军旅,不共是惧,何故废乎?且子惧不孝,无惧弗得立,修己而不责人,则免于难。”
  大子帅师,公衣之偏衣,佩之金玦。狐突御戎,先友为右,梁余子养御罕夷,先丹木为右。羊舌大夫为尉。光友曰:”衣身之偏,握兵之要,在此行也,子其勉之。偏躬无慝,兵要远灾,亲以无灾,又何患焉!”狐突叹曰:”时,事之征也;衣,身之章也;佩,衷之旗也。故敬其事则命以始,服其身则衣之纯,用期衷则佩之度。今命以时卒,閟其事也;衣之龙服,远其躬也;佩以金玦,弃其衷也。服以远之,时以閟之,龙凉冬杀,金寒玦离,胡可恃也?虽欲勉之,狄可尽乎?”梁余子养曰:帅师者受命于庙,受脤于社,有常服矣。不获而龙,命可知也。死而不孝,不如逃之。”罕夷曰:”龙奇无常,金玦不复,虽复何为,君有心矣。”先丹木曰:”是服也。狂夫阻之。曰’尽敌而反’,敌可尽乎!虽尽敌,犹有内谗,不如违之。”狐突欲行。羊舌大夫曰:”不可。违命不孝,弃事不忠。虽知其寒,恶不可取,子其死之。”
  大子将战,狐突谏曰:”不可,昔辛伯谂周桓公云:’内宠并后,外宠二政,嬖子配適,大都耦国,乱之本也。’周公弗従,故及于难。今乱本成矣,立可必乎?孝而安民,子其图之,与其危身以速罪也。”
  成风闻成季之繇,乃事之,而属僖公焉,故成季立之。
  僖之元年,齐桓公迁邢于夷仪。二年,封卫于楚丘。邢迁如归,卫国忘亡。
  卫文公大布之衣,大帛之冠,务材训农,通商惠工,敬教劝学,授方任能。元年革车三十乘,季年乃三百乘。
************************
僖公  【元年~三十三年】
  ◎ 僖公元年
  【经】元年春王正月。齐师、宋师、曹伯次于聂北,救邢。夏六月,邢迁于夷仪。齐师、宋师、曹师城邢。秋七月戊辰,夫人姜氏薨于夷,齐人以归。楚人伐郑。八月,公会齐侯、宋公、郑伯、曹伯、邾人于柽。九月,公败邾师于偃。冬十月壬午,公子友帅师败莒于郦。获莒拏。十有二月丁巳,夫人氏之丧至自齐。
  【传】元年春,不称即位,公出故也。公出复入,不书,讳之也。讳国恶,礼也。
  诸侯救邢。邢人溃,出奔师。师遂逐狄人,具邢器用而迁之,师无私焉。
  夏,邢迁夷仪,诸侯城之,救患也。凡侯伯救患分灾讨罪,礼也。
  秋,楚人伐郑,郑即齐故也。盟于荦,谋救郑也。
  九月,公败邾师于偃,虚丘之戍将归者也。
  冬,莒人来求赂。公子友败诸郦,获莒子之弟拏。非卿也,嘉获之也。公赐季友汶阳之田及费。
  夫人氏之丧至自齐。君子以齐人杀哀姜也为已甚矣,女子,従人者也。
  ◎ 僖公二年
  【经】二年春王正月,城楚丘。夏五月辛巳,葬我小君哀姜。虞师、晋师灭下阳。秋九月,齐侯、宋公、江人、黄人盟于贯。冬十月,不雨。楚人侵郑。
  【传】二年春,诸侯城楚丘而封卫焉。不书所会,后也。
  晋荀息请以屈产之乘与垂棘之璧,假道于虞以伐虢。公曰:”是吾宝也。”对曰:”若得道于虞,犹外府也。”公曰:”宫之奇存焉。”对曰:”宫之奇之为人也,懦而不能强谏,且少长于君,君暱之,虽谏,将不听。”乃使荀息假道于虞,曰:”冀为不道,入自颠軨,伐鄍三门。冀之既病。则亦唯君故。今虢为不道,保于逆旅,以侵敝邑之南鄙。敢请假道以请罪于虢。”虞公许之,且请先伐虢。宫之奇谏,不听,遂起师。夏,晋里克、荀息帅师会虞师伐虢,灭下阳。先书虞,贿故也。
  秋,盟于贯,服江、黄也。
  齐寺人貂始漏师于多鱼。
  虢公败戎于桑田。晋卜偃曰:”虢必亡矣。亡下阳不惧,而又有功,是天夺之鉴,而益其疾也。必易晋而不抚其民矣,不可以五稔。”
  冬,楚人伐郑,斗章囚郑聃伯。
  ◎ 僖公三年
  【经】三年春王正月,不雨。夏四月不雨。徐人取舒。六月雨。秋,齐侯、宋公、江人、黄人会于阳谷。冬,公子友如齐涖盟。楚人伐郑。
  【传】三年春,不雨。夏六月,雨。自十月不雨至于五月,不曰旱,不为灾也。
  秋,会于阳谷,谋伐楚也。
  齐侯为阳谷之会,来寻盟。冬,公子友如齐涖盟。
  楚人伐郑,郑伯欲成。孔叔不可,曰:”齐方勤我,弃德不祥。”
  齐侯与蔡姬乘舟于囿,荡公。公惧,变色。禁之,不可。公怒,归之,未绝之也。蔡人嫁之。
  ◎ 僖公四年
  【经】四年春王正月,公会齐侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯,许男、曹伯侵蔡。蔡溃,遂伐楚,次于陉。夏,许男新臣卒。楚屈完来盟于师,盟于召陵。齐人执陈辕涛涂。秋,及江人、黄人伐陈。八月,公至自伐楚。葬许穆公。冬十有二月,公孙兹帅师会齐人、宋人、卫人、郑人、许人、曹人侵陈。
  【传】四年春,齐侯以诸侯之师侵蔡。蔡溃。遂伐楚。楚子使与师言曰:”君处北海,寡人处南海,唯是风马牛不相及也。不虞君之涉吾地也,何故?”管仲对曰:”昔召康公命我先君大公曰:’五侯九伯,女实征之,以夹辅周室。’赐我先君履,东至于海,西至于河,南至于穆陵,北至于无棣。尔贡包茅不入,王祭不共,无以缩酒,寡人是征。昭王南征而不复,寡人是问。”对曰:”贡之不入,寡君之罪也,敢不共给。昭王之不复,君其问诸水滨。”师进,次于陉。
  夏,楚子使屈完如师。师退,次于召陵。
  齐侯陈诸侯之师,与屈完乘而观之。齐侯曰:”岂不谷是为?先君之好是继。与不谷同好,如何?”对曰:”君惠徼福于敝邑之社稷,辱收寡君,寡君之愿也。”齐侯曰:”以此众战,谁能御之?以此攻城,何城不克?”对曰:”君若以德绥诸侯,谁敢不服?君若以力,楚国方城以为城,汉水以为池,虽众,无所用之。”
  屈完及诸侯盟。
  陈辕涛涂谓郑申侯曰:”师出于陈、郑之间,国必甚病。若出于东方,观兵于东夷,循海而归,其可也。”申侯曰:”善。”涛涂以告,齐侯许之。申侯见,曰:”师老矣,若出于东方而遇敌,惧不可用也。若出于陈、郑之间,共其资粮悱屦,其可也。”齐侯说,与之虎牢。执辕涛涂。
  秋,伐陈,讨不忠也。
  许穆公卒于师,葬之以侯,礼也。凡诸侯薨于朝会,加一等;死王事,加二等。于是有以衮敛。
  冬,叔孙戴伯帅师,会诸侯之师侵陈。陈成,归辕涛涂。
  初,晋献公欲以骊姬为夫人,卜之,不吉;筮之,吉。公曰:”従筮。”卜人曰:”筮短龟长,不如従长。且其繇曰:’专之渝,攘公之羭。一薰一莸,十年尚犹有臭。’必不可。”弗听,立之。生奚齐,其娣生卓子。及将立奚齐,既与中大夫成谋,姬谓大子曰:”君梦齐姜,必速祭之。”大子祭于曲沃,归胙于公。公田,姬置诸宫六日。公至,毒而献之。公祭之地,地坟。与犬,犬毙。与小臣,小臣亦毙。姬泣曰:”贼由大子。”大子奔新城。公杀其傅杜原款。或谓大子:”子辞,君必辩焉。”大子曰:”君非姬氏,居不安,食不饱。我辞,姬必有罪。君老矣,吾又不乐。”曰:”子其行乎!”大子曰:”君实不察其罪,被此名也以出,人谁纳我?”
  十二月戊申,缢于新城。姬遂谮二公子曰:”皆知之。”重耳奔蒲。夷吾奔屈。
  ◎ 僖公五年
  【经】五年春,晋侯杀其世子申生。杞伯姬来朝其子。夏,公孙兹如牟。公及齐侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯、许男、曹伯会王世子于首止。秋八月,诸侯盟于首止。郑伯逃归不盟。楚人灭弦,弦子奔黄。九月戊申朔,日有食之。冬,晋人执虞公。
  【传】五年春,王正月辛亥朔,日南至。公既视朔,遂登观台以望。而书,礼也。凡分、至、启、闭,必书云物,为备故也。
  晋侯使以杀大子申生之故来告。
  初,晋侯使士蒍为二公子筑蒲与屈,不慎,置薪焉。夷吾诉之。公使让之。士蒍稽首而对曰:”臣闻之,无丧而戚,忧必仇焉。无戎而城,仇必保焉。寇仇之保,又何慎焉!守官废命不敬,固仇之保不忠,失忠与敬,何以事君?《诗》云:’怀德惟宁,宗子惟城。’君其修德而固宗子,何城如之?三年将寻师焉,焉用慎?”退而赋曰:”狐裘龙茸,一国三公,吾谁适従?”及难,公使寺人披伐蒲。重耳曰:”君父之命不校。”乃徇曰:”校者吾仇也。”逾垣而走。披斩其祛,遂出奔翟。
  夏,公孙兹如牟,娶焉。
  会于首止,会王大子郑,谋宁周也。
  陈辕宣仲怨郑申侯之反己于召陵,故劝之城其赐邑,曰:”美城之,大名也,子孙不忘。吾助子请。”乃为之请于诸侯而城之,美。遂谮诸郑伯,曰:”美城其赐邑,将以叛也。”申侯由是得罪。
  秋,诸侯盟。王使周公召郑伯,曰:”吾抚女以従楚,辅之以晋,可以少安。”郑伯喜于王命而惧其不朝于齐也,故逃归不盟,孔叔止之曰:”国君不可以轻,轻则失亲。失亲患必至,病而乞盟,所丧多矣,君必悔之。”弗听,逃其师而归。
  楚斗谷於菟灭弦,弦子奔黄。
  于是江、黄、道、柏方睦于齐,皆弦姻也。弦子恃之而不事楚,又不设备,故亡。
  晋侯复假道于虞以伐虢。宫之奇谏曰:”虢,虞之表也。虢亡,虞必従之。晋不可启,寇不可玩,一之谓甚,其可再乎?谚所谓’辅车相依,唇亡齿寒’者,其虞、虢之谓也。”公曰:”晋,吾宗也,岂害我哉?”对曰:大伯、虞仲,大王之昭也。大伯不従,是以不嗣。虢仲、虢叔,王季之穆也,为文王卿士,勋在王室,藏于盟府。将虢是灭,何爱于虞?且虞能亲于桓,庄乎,其爱之也?桓、庄之族何罪,而以为戮,不唯逼乎?亲以宠逼,犹尚害之,况以国乎?”公曰:”吾享祀丰洁,神必据我。”对曰:”臣闻之,鬼神非人实亲,惟德是依。故《周书》曰:’皇天无亲,惟德是辅。’又曰:’黍稷非馨,明德惟馨。’又曰:’民不易物,惟德繄物。’如是,则非德,民不和,神不享矣。神所冯依,将在德矣。若晋取虞而明德以荐馨香,神其吐之乎?”弗听,许晋使。宫之奇以其族行,曰:”虞不腊矣,在此行也,晋不更举矣。”
  八月甲午,晋侯围上阳。问于卜偃曰:”吾其济乎”?对曰:”克之。”公曰:”何时?”对曰:”童谣云:’丙之晨,龙尾伏辰,均服振振,取虢之旂。鹑之贲贲,天策焞,火中成军,虢公其奔。’其九月、十月之交乎。丙子旦,日在尾,月在策,鹑火中,必是时也。”
  冬十二月丙子朔,晋灭虢,虢公丑奔京师。师还,馆于虞,遂袭虞,灭之,执虞公及其大夫井伯,以媵秦穆姬。而修虞祀,且归其职贡于王。
  故书曰:”晋人执虞公。”罪虞,且言易也。
  ◎ 僖公六年
  【经】六年春王正月。夏,公会齐侯、宋公、陈侯、卫侯、曹伯伐郑,围新城。秋,楚人围许,诸侯遂救许。冬,公至自伐郑。
  【传】六年春,晋侯使贾华伐屈。夷吾不能守,盟而行。将奔狄郤芮曰:”后出同走,罪也。不如之梁。梁近秦而幸焉。”乃之梁。
  夏,诸侯伐郑,以其逃首止之盟故也。围新密,郑所以不时城也。
  秋,楚子围许以救郑,诸侯救许,乃还。
  冬,蔡穆侯将许僖公以见楚子于武城。许男面缚,衔璧,大夫衰绖,士舆榇。楚子问诸逢伯,对曰:”昔武王克殷,微子启如是。武王亲释其缚,受其璧而祓之。焚其榇,礼而命之,使复其所。”楚子従之。
  ◎ 僖公七年
  【经】七年春,齐人伐郑。夏,小邾子来朝。郑杀其大夫申侯。秋七月,公会齐侯、宋公、陈世子款、郑世子华盟于宁母。曹伯班卒。公子友如齐。冬葬曹昭公。
  【传】七年春,齐人伐郑。孔叔言于郑伯曰:”谚有之曰:’心则不竞,何惮于病。’既不能强,又不能弱,所以毙也。国危矣,请下齐以救国。”公曰:”吾知其所由来矣。姑少待我。”对曰:”朝不及夕,何以待君?”
  夏,郑杀申侯以说于齐,且用陈辕涛涂之谮也。
  初,申侯,申出也,有宠于楚文王。文王将死,与之璧,使行,曰,”唯我知女,女专利而不厌,予取予求,不女疵瑕也。后之人将求多于女,女必不免。我死,女必速行。无适小国,将不女容焉。”既葬,出奔郑,又有宠于厉公。子文闻其死也,曰:”古人有言曰’知臣莫若君。’弗可改也已。”
  秋,盟于宁母,谋郑故也。
  管仲言于齐侯曰:”臣闻之,招携以礼,怀远以德,德礼不易,无人不怀。”齐侯修礼于诸侯,诸侯官受方物。
  郑伯使大子华听命于会,言于齐侯曰:”泄氏、孔氏、子人氏三族,实违君命。若君去之以为成。我以郑为内臣,君亦无所不利焉。”齐侯将许之。管仲曰:”君以礼与信属诸侯,而以奸终之,无乃不可乎?子父不奸之谓礼,守命共时之谓信。违此二者,奸莫大焉。”公曰:”诸侯有讨于郑,未捷。今苟有衅。従之,不亦可乎?”对曰:”君若绥之以德,加之以训辞,而帅诸侯以讨郑,郑将覆亡之不暇,岂敢不惧?若总其罪人以临之,郑有辞矣,何惧?且夫合诸侯以崇德也,会而列奸,何以示后嗣?夫诸侯之会,其德刑礼义,无国不记。记奸之位,君盟替矣。作而不记,非盛德也。君其勿许,郑必受盟。夫子华既为大子而求介于大国,以弱其国,亦必不免。郑有叔詹、堵叔、师叔三良为政,未可间也。”齐侯辞焉。子华由是得罪于郑。
  冬,郑伯请盟于齐。
  闰月,惠王崩。襄王恶大叔带之难,惧不立,不发丧而告难于齐。
  ◎ 僖公八年
  【经】八年春王正月,公会王人、齐侯、宋公、卫侯、许男、曹伯、陈世子款盟于洮。郑伯乞盟。夏,狄伐晋。秋七月,禘于大庙,用致夫人。冬十有二月丁未,天王崩。
  【传】八年春,盟于洮,谋王室也。郑伯乞盟,请服也。襄王定位而后发丧。
  晋里克帅师,梁由靡御。虢射为右,以败狄于采桑。梁由靡曰:”狄无耻,従之必大克。”里克曰:”拒之而已,无速众狄。”虢射曰:”期年,狄必至,示之弱矣。”
  夏,狄伐晋,报采桑之役也。复期月。
  秋,禘而致哀姜焉,非礼也。凡夫人不薨于寝,不殡于庙,不赴于同,不祔于姑,则弗致也。
  冬,王人来告丧,难故也,是以缓。
  宋公疾,大子兹父固请曰:”目夷长,且仁,君其立之。”公命子鱼,子鱼辞,曰:”能以国让,仁孰大焉?臣不及也,且又不顺。”遂走而退。
  ◎ 僖公九年
  【经】九年春王三月丁丑,宋公御说卒。夏,公会宰周公、齐侯、宋子、卫侯、郑伯、许男、曹伯于葵丘。秋七月乙酉,伯姬卒。九月戊辰,诸侯盟于葵丘。甲子,晋侯佹诸卒。冬,晋里奚克杀其君之子奚齐。
  【传】九年春,宋桓公卒,未葬而襄公会诸侯,故曰子。凡在丧,王曰小童,公侯曰子。
  夏,会于葵丘,寻盟,且修好,礼也。
  王使宰孔赐齐侯胙,曰:”天子有事于文武,使孔赐伯舅胙。”齐侯将下拜。孔曰:”且有后命。天子使孔曰:’以伯舅耋老,加劳,赐一级,无下拜'”。对曰:”天威不违颜咫尺,小白余敢贪天子之命无下拜?恐陨越于下,以遗天子羞。敢不下拜?”下,拜;登,受。
  秋,齐侯盟诸侯于葵丘,曰:”凡我同盟之人,既盟之后,言归于好。”宰孔先归,遇晋侯曰:”可无会也。齐侯不务德而勤远略,故北伐山戎,南伐楚,西为此会也。东略之不知,西则否矣。其在乱乎。君务靖乱,无勤于行。”晋侯乃还。
  九月,晋献公卒,里克、ぶ郑欲纳文公,故以三公子之徒作乱。
  初,献公使荀息傅奚齐,公疾,召之,曰:”以是藐诸孤,辱在大夫,其若之何?”稽首而对曰:”臣竭其股肱之力,加之以忠贞。其济,君之灵也;不济,则以死继之。”公曰:”何谓忠贞?”对曰:”公家之利,知无不为,忠也。送往事居,耦俱无猜。贞也。”及里克将杀奚齐,先告荀息曰:”三怨将作,秦、晋辅之,子将何如?”荀息曰:”将死之。”里克曰:”无益也。”荀叔曰:”吾与先君言矣,不可以贰。能欲复言而爱身乎?虽无益也,将焉辟之?且人之欲善,谁不如我?我欲无贰而能谓人已乎?”
  冬十月,里克杀奚齐于次。书曰:”杀其君之子。”未葬也。荀息将死之,人曰:”不如立卓子而辅之。”荀息立公子卓以葬。十一月,里克杀公子卓于朝,荀息死之。君子曰:”诗所谓’白圭之玷,尚可磨也;斯言之玷,不可为也,’荀息有焉。”
  齐侯以诸侯之师伐晋,及高梁而还,讨晋乱也。令不及鲁,故不书。
  晋郤芮使夷吾重赂秦以求入,曰:”人实有国,我何爱焉。入而能民,土于何有。”従之。齐隰朋帅师会秦师,纳晋惠公。秦伯谓郤芮曰:”公子谁恃?”对曰:”臣闻亡人无党,有党必有仇。夷吾弱不好弄,能斗不过,长亦不改,不识其他。”公谓公孙枝曰:”夷吾其定乎?对曰:”臣闻之,唯则定国。《诗》曰:’不识不知,顺帝之则。’文王之谓也。又曰:’不僭不贼,鲜不为则。’无好无恶,不忌不克之谓也。今其言多忌克,难哉!”公曰:”忌则多怨,又焉能克?是吾利也。”
  宋襄公即位,以公子目夷为仁,使为左师以听政,于是宋治。故鱼氏世为左师。
  ◎ 僖公十年
  【经】十年春王正月,公如齐。狄灭温,温子奔卫。晋里克弑其君卓及其大夫荀息。夏,齐侯、许男伐北戎。晋杀其大夫里克。秋七月。冬,大雨雪。
  【传】十年春,狄灭温,苏子无信也。苏子叛王即狄,又不能于狄,狄人伐之,王不救,故灭。苏子奔卫。
  夏四月,周公忌父、王子党会齐隰朋立晋侯。晋侯杀里克以说。将杀里克,公使谓之曰:”微子则不及此。虽然,子弑二君与一大夫,为子君者不亦难乎?”对曰:”不有废也,君何以兴?欲加之罪,其无辞乎?臣闻命矣。”伏剑而死。于是ぶ郑聘于秦,且谢缓赂,故不及。
  晋侯改葬共大子。
  秋,狐突适下国,遇大子,大子使登,仆,而告之曰:”夷吾无礼,余得请于帝矣。将以晋畀秦,秦将祀余。”对曰:”臣闻之,神不歆非类,民不祀非族。君祀无乃殄乎?且民何罪?失刑乏祀,君其图之。”君曰:”诺。吾将复请。七日新城西偏,将有巫者而见我焉。”许之,遂不见。及期而往,告之曰:”帝许我罚有罪矣,敝于韩。”
  ぶ郑之如秦也,言于秦伯曰:”吕甥、郤称、冀芮实为不従,若重问以召之,臣出晋君,君纳重耳,蔑不济矣。”
  冬,秦伯使冷至报问,且召三子。郤芮曰:”币重而言甘,诱我也。”遂杀ぶ郑、祁举及七舆大夫:左行共华、右行贾华、叔坚、骓颛、累虎、特宫、山祁,皆里、ぶぇ修。ぶ豹奔秦,言于秦伯曰:”晋侯背大主而忌小怨,民弗与也,伐之必出。”公曰:”失众,焉能杀。违祸,谁能出君。”
  ◎ 僖公十一年
  【经】十有一年春。晋杀其大夫ぶ郑父。夏,公及夫人姜氏会齐侯于阳谷。秋八月,大雩。冬,楚人伐黄。
  【传】十一年春,晋侯使以ぶ郑之乱来告。
  天王使召武公、内史过赐晋侯命。受玉惰。过归,告王曰:”晋侯其无后乎。王赐之命而惰于受瑞,先自弃也已,其何继之有?礼,国之干也。敬,礼之舆也。不敬则礼不行,礼不行则上下昏,何以长世?”
  夏,扬、拒、泉、皋、伊、洛之戎同伐京师,入王城,焚东门,王子带召之也。秦、晋、伐戎以救周。秋,晋侯平戎于王。
  黄人不归楚贡。冬,楚人伐黄。
  ◎ 僖公十二年
  【经】十有二年春王三月庚午,日有食之。夏,楚人灭黄。秋七月。冬十有二月丁丑,陈侯杵臼卒。
  【传】十二年春,诸侯城卫楚丘之郛,惧狄难也。
  黄人恃诸侯之睦于齐也,不共楚职,曰:”自郢及我九百里,焉能害我?”夏,楚灭黄。
  王以戎难故,讨王子带。秋,王子带奔齐。
  冬,齐侯使管夷吾平戎于王,使隰朋平戎于晋。
  王以上卿之礼飨管仲,管仲辞曰:”臣,贱有司也,有天子之二守国、高在。若节春秋来承王命,何以礼焉?陪臣敢辞。”王曰:”舅氏,余嘉乃勋,应乃懿德,谓督不忘。往践乃职,无逆朕命。”管仲受下卿之礼而还。君子曰:”管氏之世祀也宜哉!让不忘其上。《诗》曰:’恺悌君子,神所劳矣。'”
  ◎ 僖公十三年
  【经】十有三年春,狄侵卫。夏四月,葬陈宣公。公会齐侯、宋公、陈侯、郑伯、许男、曹伯于咸。秋九月,大雩。冬,公子友如齐。
  【传】十三年春,齐侯使仲孙湫聘于周,且言王子带。事毕,不与王言。归,复命曰:”未可。王怒未怠,其十年乎。不十年,王弗召也。”
  夏,会于咸,淮夷病杞故,且谋王室也。
  秋,为戎难故,诸侯戍周,齐仲孙湫致之。
  冬,晋荐饥,使乞籴于秦。秦伯谓子桑:”与诸乎?”对曰:”重施而报,君将何求?重施而不报,其民必携,携而讨焉,无众必败。”谓百里:”与诸乎?”对曰:”天灾流行,国家代有,救灾恤邻,道也。行道有福。”
  ぶ郑之子豹在秦,请伐晋。秦伯曰:”其君是恶,其民何罪?”秦于是乎输粟于晋,自雍及绛相继,命之曰泛舟之役。
  ◎ 僖公十四年
  【经】十有四年春,诸侯城缘陵。夏六月,季姬及鄫子遇于防。使鄫子来朝。秋八月辛卯,沙鹿崩。狄侵郑。冬,蔡侯肝卒。
  【传】十四年春,诸侯城缘陵而迁杞焉。不书其人,有阙也。
  鄫季姬来宁,公怒,止之,以鄫子之不朝也。夏,遇于防,而使来朝。
  秋八月辛卯,沙鹿崩。晋卜偃曰:”期年将有大咎,几亡国。”
  冬,秦饥,使乞籴于晋,晋人弗与。庆郑曰:”背施无亲,幸灾不仁,贪爱不祥,怒邻不义。四德皆失,何以守国?”虢射曰:”皮之不存,毛将安傅?”庆郑曰:”弃信背邻,患孰恤之?无信患作,失授必毙,是则然矣。”虢射曰:”无损于怨而厚于寇,不如勿与。”庆郑曰:”背施幸灾,民所弃也。近犹仇之,况怨敌乎?”弗听。退曰:”君其悔是哉!”
  ◎ 僖公十五年
  【经】十有五年春王正月,公如齐。楚人伐徐。三月,公会齐侯、宋公、陈侯、卫候、郑伯、许男、曹伯盟于牡丘,遂次于匡。公孙敖帅师及诸侯之大夫救徐。夏五月,日有食之。秋七月,齐师、曹师伐厉。八月,螽。九月,公至自会。季姬归于鄫。己卯晦,震夷伯之庙。冬,宋人伐曹。楚人败徐于娄林。十有一月壬戌,晋侯及秦伯战于韩,获晋侯。
  【传】十五年春,楚人伐徐,徐即诸夏故也。三月,盟于牡丘,寻蔡丘之盟,且救徐也。孟穆伯帅师及诸侯之师救徐,诸侯次于匡以待之。
  夏五月,日有食之。不书朔与日,官失之也。
  秋,伐,厉,以救徐也。
  晋侯之入也,秦穆姬属贾君焉,且曰:”尽纳群公子。”晋侯烝于贾君,又不纳群公子,是以穆姬怨之。晋侯许赂中大夫,既而皆背之。赂秦伯以河外列城五,东尽虢略,南及华山,内及解梁城,既而不与。晋饥,秦输之粟;秦饥,晋闭之籴,故秦伯伐晋。
  卜徒父筮之,吉。涉河,侯车败。诘之,对曰:”乃大吉也,三败必获晋君。其卦遇《蛊》,曰:’千乘三去,三去之余,获其雄狐。’夫狐蛊,必其君也。《蛊》之贞,风也;其悔,山也。岁云秋矣,我落其实而取其材,所以克也。实落材亡,不败何待?”
  三败及韩。晋侯谓庆郑曰:”寇深矣,若之何?”对曰:”君实深之,可若何?”公曰:”不孙。”卜右,庆郑吉,弗使。步扬御戎,家仆徒为右,乘小驷,郑入也。庆郑曰:”古者大事,必乘其产,生其水土而知其人心,安其教训而服习其道,唯所纳之,无不如志。今乘异产,以従戎事,及惧而变,将与人易。乱气狡愤,阴血周作,张脉偾兴,外强中干。进退不可,周旋不能,君必悔之。”弗听。
  九月,晋侯逆秦师,使韩简视师,复曰:”师少于我,斗士倍我。”公曰:”何故?”对曰:”出因其资,入用其宠,饥食其粟,三施而无报,是以来也。今又击之,我怠秦奋,倍犹未也。”公曰:”一夫不可狃,况国乎。”遂使请战,曰:”寡人不佞,能合其众而不能离也,君若不还,无所逃命。”秦伯使公孙枝对曰:”君之未入,寡人惧之,入而未定列,犹吾忧也。苟列定矣,敢不承命。”韩简退曰:”吾幸而得囚。”
  壬戌,战于韩原,晋戎马还泞而止。公号庆郑。庆郑曰:”愎谏违卜,固败是求,又何逃焉?”遂去之。梁由靡御韩简,虢射为右,辂秦伯,将止之。郑以救公误之,遂失秦伯。秦获晋侯以归。晋大夫反首拔舍従之。秦伯使辞焉,曰:”二三子何其戚也?寡人之従君而西也,亦晋之妖梦是践,岂敢以至。”晋大夫三拜稽首曰:”君履后土而戴皇天,皇天后土实闻君之言,群臣敢在下风。”
  穆姬闻晋侯将至,以大子荦、弘与女简、璧登台而履薪焉,使以免服衰绖逆,且告曰:”上天降灾,使我两君匪以玉帛相见,而以兴戎。若晋君朝以入,则婢子夕以死;夕以入,则朝以死。唯君裁之。”乃舍诸灵台。
  大夫请以入。公曰:”获晋侯,以厚归也。既而丧归,焉用之?大夫其何有焉?且晋人戚忧以重我,天地以要我。不图晋忧,重其怒也;我食吾言,背天地也。重怒难任,背天不祥,必归晋君。”公子絷曰:”不如杀之,无聚慝焉。”子桑曰:”归之而质其大子,必得大成。晋未可灭而杀其君,只以成恶。且史佚有言曰:’无始祸,无怙乱,无重怒。’重怒难任,陵人不祥。”乃许晋平。
  晋侯使郤乞告瑕吕饴甥,且召之。子金教之言曰:”朝国人而以君命赏,且告之曰:’孤虽归,辱社稷矣。其卜贰圉也。'”众皆哭。晋于是乎作爰田。吕甥曰:”君亡之不恤,而群臣是忧,惠之至也。将若君何?”众曰:”何为而可?”对曰:”征缮以辅孺子,诸侯闻之,丧君有君,群臣辑睦,甲兵益多,好我者劝,恶我者惧,庶有益乎!”众说。晋于是乎作州兵。
  初,晋献公筮嫁伯姬于秦,遇《归妹》三之《睽》三。史苏占之曰:”不吉。其繇曰:’士刲羊,亦无亡也。女承筐,亦无贶也。西邻责言,不可偿也。《归妹》之《睽》,犹无相也。’《震》之《离》,亦《离》之《震》,为雷为火。为嬴败姬,车说问其輹,火焚其旗,不利行师,败于宗丘。《归妹》《睽》孤,寇张之弧,侄其従姑,六年其逋,逃归其国,而弃其家,明年其死于高梁之虚。”及惠公在秦,曰:”先君若従史苏之占,吾不及此夫。”韩简侍,曰:”龟,象也;筮,数也。物生而后有象,象而后有滋,滋而后有数。先君之败德,乃可数乎?史苏是占,勿従何益?《诗》曰:’下民之孽,匪降自天,僔沓背憎,职竞由人。'”
  震夷伯之庙,罪之也,于是展氏有隐慝焉。
  冬,宋人伐曹,讨旧怨也。
  楚败徐于娄林,徐恃救也。
  十月,晋阴饴甥会秦伯,盟于王城。
  秦伯曰:”晋国和乎?”对曰:”不和。小人耻失其君而悼丧其亲,不惮征缮以立圉也,曰:’必报仇,宁事戎狄。’君子爱其君而知其罪,不惮征缮以待秦命,曰:’必报德,有死无二。’以此不和。”秦伯曰:”国谓君何?”对曰:”小人戚,谓之不免。君子恕,以为必归。小人曰:’我毒秦,秦岂归君?’君子曰:’我知罪矣,秦必归君。贰而执之,服而舍之,德莫厚焉,刑莫威焉。服者怀德,贰者畏刑。此一役也,秦可以霸。纳而不定,废而不立,以德为怨,秦不其然。'”秦伯曰:”是吾心也。”改馆晋侯,馈七牢焉。
  蛾析谓庆郑曰:”盍行乎?”对曰:”陷君于败,败而不死,又使失刑,非人臣也。臣而不臣,行将焉入?”十一月,晋侯归。丁丑,杀庆郑而后入。
  是岁,晋又饥,秦伯又饩之粟,曰:”吾怨其君而矜其民。且吾闻唐叔之封也,箕子曰:’其后必大。’晋其庸可冀乎!姑树德焉以待能者。”于是秦始征晋河东,置官司焉。
  ◎ 僖公十六年
  【经】十有六年春王正月戊申朔,陨石于宋五。是月,六鹢退飞,过宋都。三月壬申,公子季友卒。夏四月丙申,鄫季姬卒。秋七月甲子,公孙兹卒。冬十有二月,公会齐侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯、许男、邢侯、曹伯于淮。
  【传】十六年春,陨石于宋五,陨星也。六鹢退飞过宋都,风也。周内史叔兴聘于宋,宋襄公问焉,曰;”是何祥也?吉凶焉在?”对曰:”今兹鲁多大丧,明年齐有乱,君将得诸侯而不终。”退而告人曰:”君失问。是阴阳之事,非吉凶所生也。吉凶由人,吾不敢逆君故也。”
  夏,齐伐厉不克,救徐而还。
  秋,狄侵晋,取狐、厨、受铎,涉汾,及昆都,因晋败也。
  王以戎难告于齐,齐征诸侯而戍周。
  冬,十一月乙卯,郑杀子华。
  十二月会于淮,谋郐,且东略也。城鄫,役人病。有夜登丘而呼曰:”齐有乱。”不果城而还。
  ◎ 僖公十七年
  【经】十有七年春,齐人、徐人伐英氏。夏,灭项。秋,夫人姜氏会齐侯于卞。九月,会至自会。冬十有二月乙亥,齐侯小白卒。
  【传】十七年春,齐人为徐伐英氏,以报娄林之役也。
  夏,晋大子圉为质于秦,秦归河东而妻之。惠公之在梁也,梁伯妻之。梁赢孕,过期,卜招父与其子卜之。其子曰:”将生一男一女。”招曰:”然。男为人臣,女为人妾。”故名男曰圉,女曰妾。及子圉西质,妾为宦女焉。
  师灭项。淮之会,公有诸侯之事未归而取项。齐人以为讨,而止公。
  秋,声姜以公故,会齐侯于卞。九月,公至。书曰:”至自会。”犹有诸侯之事焉,且讳之也。
  齐侯之夫人三:王姬,徐嬴,蔡姬,皆无子。齐侯好内,多内宠,内嬖如夫人者六人:长卫姬,生武孟;少卫姬,生惠公;郑姬,生孝公;葛嬴,生昭公;密姬,生懿公,宋华子,生公子雍。公与管仲属孝公于宋襄公,以为太子。雍巫有宠于卫共姬,因寺人貂以荐羞于公,亦有宠,公许之立武孟。
  管仲卒,五公子皆求立。冬十月乙亥,齐桓公卒。易牙入,与寺人貂因内宠以杀群吏,而立公子无亏。孝公奔宋。十二月乙亥赴。辛巳夜殡。
  ◎ 僖公十八年
  【经】十有八年春王正月,宋公、曹伯、卫人、邾人伐齐。夏,师救齐。五月戊寅,宋师及齐师战于甗。齐师败绩。狄救齐。秋八月丁亥,葬齐桓公。冬,邢人,狄人伐卫。
  【传】十八年春,宋襄公以诸侯伐齐。三月,齐人杀无亏。
  郑伯始朝于楚,楚子赐之金,既而悔之,与之盟曰:”无以铸兵。”故以铸三钟。
  齐人将立孝公,不胜,四公子之徒遂与宋人战。夏五月,宋败齐师于甗,立孝公而还。
  秋八月,葬齐桓公。
  冬,邢人、狄人伐卫,围菟圃。卫侯以国让父兄子弟及朝众曰:”苟能治之,毁请従焉。”众不可,而后师于訾娄。狄师还。
  梁伯益其国而不能实也,命曰新里,秦取之。
  ◎ 僖公十九年
  【经】十有九年春王三月,宋人执滕子婴齐。夏六月,宋公、曹人、邾人盟于曹南。鄫子会盟于邾。己酉,邾人执郐子,用之。秋,宋人围曹。卫人伐邢。冬,会陈人、蔡人、楚人、郑人盟于齐。梁亡。
  【传】十九年春,遂城而居之。
  宋人执滕宣公。
  夏,宋公使邾文公用鄫子于次睢之社,欲以属东夷。司马子鱼曰:”古者六畜不相为用,小事不用大牲,而况敢用人乎?祭祀以为人也。民,神之主也。用人,其谁飨之?齐桓公存三亡国以属诸侯,义士犹曰薄德。今一会而虐二国之君,又用诸淫昏之鬼,将以求霸,不亦难乎?得死为幸!”
  秋,卫人伐邢,以报菟圃之役。于是卫大旱,卜有事于山川,不吉。宁庄子曰:”昔周饥,克殷而年丰。今邢方无道,诸侯无伯,天其或者欲使卫讨邢乎?”従之,师兴而雨。
  宋人围曹,讨不服也。子鱼言于宋公曰:”文王闻崇德乱而伐之,军三旬而不降,退修教而复伐之,因垒而降。《诗》曰:’刑于寡妻,至于兄弟,以御于家邦。’今君德无乃犹有所阙,而以伐人,若之何?盍姑内省德乎?无阙而后动。”
  陈穆公请修好于诸侯,以无忘齐桓之德。冬,盟于齐,修桓公之好也。
  梁亡,不书其主,自取之也。初,梁伯好土功,亟城而弗处,民罢而弗堪,则曰:”某寇将至。”乃沟公宫,曰:”秦将袭我。”民惧而溃,秦遂取梁。
  ◎ 僖公二十年
  【经】二十年春,新作南门。夏,郜子来朝。五月乙巳,西宫灾。郑人入滑。秋,齐人、狄人盟于邢。冬,楚人伐随。
  【传】二十年春,新作南门。书,不时也。凡启塞従时。
  滑人叛郑而服于卫。夏,郑公子士、洩堵寇帅师入滑。
  秋,齐、狄盟于邢,为邢谋卫难也。于是卫方病邢。
  随以汉东诸侯叛楚。冬,楚斗谷于菟帅师伐随,取成而还。君子曰:”随之见伐,不量力也。量力而动,其过鲜矣。善败由己,而由人乎哉?《诗》曰:’岂不夙夜,谓行多露。'”
  宋襄公欲合诸侯,臧文仲闻之,曰:”以欲従人,则可;以人従欲,鲜济。”
  ◎ 僖公二十一年
  【经】二十有一年春,狄侵卫。宋人、齐人、楚人盟于鹿上。夏,大旱。秋,宋公、楚子、陈侯、蔡侯、郑伯、许男、曹伯会于盂。执宋公以伐宋。冬,公伐邾。楚人使宜申来献捷。十有二月癸丑,公会诸侯盟于薄。释宋公。
  【传】二十一年春,宋人为鹿上之盟,以求诸侯于楚。楚人许之。公子目夷曰:”小国争盟,祸也。宋其亡乎,幸而后败。”
  夏,大旱。公欲焚巫兀。臧文仲曰:”非旱备也。修城郭,贬食省用,务穑劝分,此其务也。巫兀何为?天欲杀之,则如勿生;若能为旱,焚之滋甚。”公従之。是岁也,饥而不害。
  秋,诸侯会宋公于盂。子鱼曰:”祸其在此乎!君欲已甚,其何以堪之?”于是楚执宋公以伐宋。
  冬,会于薄以释之。子鱼曰:”祸犹未也,未足以惩君。”
  任、宿、须句、颛臾,风姓也。实司大皞与有济之祀,以服事诸夏。邾人灭须句,须句子来奔,因成风也。成风为之言于公曰:”崇明祀,保小寡,周礼也;蛮夷猾夏,周祸也。若封须句,是崇皞、济而修祀,纾祸也。”
  ◎ 僖公二十二年
  【经】二十有二年春,公伐邾,取须句。夏,宋公、卫侯、许男、滕子伐郑。秋八月丁未,及邾人战于升陉。冬十有一月己巳朔,宋公及楚人战于泓,宋师败绩。
  【传】二十二年春,伐邾,取须句,反其君焉,礼也。
  三月,郑伯如楚。
  夏,宋公伐郑。子鱼曰:”所谓祸在此矣。”
  初,平王之东迁也,辛有适伊川,见被发而祭于野者,曰:”不及百年,此其戎乎!其礼先亡矣。”秋,秦、晋迁陆浑之戎于伊川。
  晋大子圉为质于秦,将逃归,谓嬴氏曰:”与子归乎?”对曰:”子,晋大子,而辱于秦,子之欲归,不亦宜乎?寡君之使婢子侍执巾栉,以固子也。従子而归,弃君命也。不敢従,亦不敢言。”遂逃归。
  富辰言于王曰:”请召大叔。《诗》曰:’协比其邻,昏姻孔云。’吾兄弟之不协,焉能怨诸侯之不睦?”王说。王子带自齐复归于京师,王召之也。
  邾人以须句故出师。公卑邾,不设备而御之。臧文仲曰:”国无小,不可易也。无备,虽众不可恃也。《诗》曰:’战战兢兢,如临深渊,如履薄冰。’又曰:’敬之敬之,天惟显思,命不易哉!’先王之明德,犹无不难也,无不惧也,况我小国乎!君其无谓邾小。蜂虿有毒,而况国乎?”弗听。
  八月丁未,公及邾师战于升陉,我师败绩。邾人获公胄,县诸鱼门。
  楚人伐宋以救郑。宋公将战,大司马固谏曰:”天之弃商久矣,君将兴之,弗可赦也已。”弗听,
  冬十一月己巳朔,宋公及楚人战于泓。宋人既成列,楚人未既济。司马曰:”彼众我寡,及其未既济也请击之。”公曰:”不可。”既济而未成列,又以告。公曰:”未可。”既陈而后击之,宋师败绩。公伤股,门官歼焉。
  国人皆咎公。公曰:”君子不重伤,不禽二毛。古之为军也,不以阻隘也。寡人虽亡国之余,不鼓不成列。”子鱼曰:”君未知战。勍敌之人隘而不列,天赞我也。阻而鼓之,不亦可乎?犹有惧焉。且今之勍者,皆吾敌也。虽及胡,获则取之,何有于二毛?明耻教战,求杀敌也,伤未及死,如何勿重?若受重伤,则如勿伤;爱其二毛,则如服焉。三军以利用也,金鼓以声气也。利而用之,阻隘可也;声盛致志,鼓儳可也。”
  丙子晨,郑文夫人羋氏、姜氏劳楚子于柯泽。楚子使师缙示之俘馘。君子曰:”非礼也。妇人送迎不出门,见兄弟不逾阈,戎事不迩女器。”
  丁丑,楚子入飨于郑,九献,庭实旅百,加笾豆六品。飨毕,夜出,文羋送于军,取郑二姬以归。叔詹曰:”楚王其不没乎!为礼卒于无别,无别不可谓礼,将何以没?”诸侯是以知其不遂霸也。
  ◎ 僖公二十三年
  【经】二十有三年春,齐侯伐宋,围緍。夏五月庚寅,宋公兹父卒。秋,楚人伐陈。冬十有一月,杞子卒。
  【传】二十三年春,齐侯伐宋,围缗,以讨其不与盟于齐也。
  夏五月,宋襄公卒,伤于泓故也。
  秋,楚成得臣帅师伐陈,讨其贰于宋也。遂取焦、夷,城顿而还。子文以为之功,使为令尹。叔伯曰:”子若国何?”对曰:”吾以靖国也。夫有大功而无贵仕,其人能靖者与有几?”
  九月,晋惠公卒。怀公命无従亡人。期,期而不至,无赦。狐突之子毛及偃従重耳在秦,弗召。冬,怀公执狐突曰:”子来则免。”对曰:”子之能仕,父教之忠,古之制也。策名委质,贰乃辟也。今臣之子,名在重耳,有年数矣。若又召之,教之贰也。父教子贰,何以事君?刑之不滥,君之明也,臣之愿也。淫刑以逞,谁则无罪?臣闻命矣。”乃杀之。
  卜偃称疾不出,曰:”《周书》有之:’乃大明服。’己则不明而杀人以逞,不亦难乎?民不见德而唯戮是闻,其何后之有?”
  十一月,杞成公卒。书曰”子”,杞,夷也。不书名,未同盟也。凡诸侯同盟,死则赴以名,礼也。赴以名,则亦书之,不然则否,辟不敏也。
  晋公子重耳之及于难也,晋人伐诸蒲城。蒲城人欲战。重耳不可,曰:”保君父之命而享其生禄,于是乎得人。有人而校,罪莫大焉。吾其奔也。”遂奔狄。従者狐偃、赵衰、颠颉、魏武子、司空季子。狄人伐啬咎如,获其二女:叔隗、季隗,纳诸公子。公子取季隗,生伯儵、叔刘,以叔隗妻赵衰,生盾。将适齐,谓季隗曰:”待我二十五年,不来而后嫁。”对曰:”我二十五年矣,又如是而嫁,则就木焉。请待子。”处狄十二年而行。
  过卫。卫文公不礼焉。出于五鹿,乞食于野人,野人与之块,公子怒,欲鞭之。子犯曰:”天赐也。”稽首,受而载之。
  及齐,齐桓公妻之,有马二十乘,公子安之。従者以为不可。将行,谋于桑下。蚕妾在其上,以告姜氏。姜氏杀之,而谓公子曰:”子有四方之志,其闻之者吾杀之矣。”公子曰:”无之。”姜曰:’行也。怀与安,实败名。”公子不可。姜与子犯谋,醉而遣之。醒,以戈逐子犯。
  及曹,曹共公闻其骈胁。欲观其裸。浴,薄而观之。僖负羁之妻曰:”吾观晋公子之従者,皆足以相国。若以相,夫子必反其国。反其国,必得志于诸侯。得志于诸侯而诛无礼,曹其首也。子盍蚤自贰焉。”乃馈盘飨,置璧焉。公子受飨反璧。
  及宋,宋襄公赠之以马二十乘。
  及郑,郑文公亦不礼焉。叔詹谏曰:”臣闻天之所启,人弗及也。晋公子有三焉,天其或者将建诸,君其礼焉。男女同姓,其生不蕃。晋公子,姬出也,而至于今,一也。离外之患,而天不靖晋国,殆将启之,二也。有三士足以上人而従之,三也。晋、郑同侪,其过子弟,固将礼焉,况天之所启乎?”弗听。
  及楚,楚之飨之,曰:”公子若反晋国,则何以报不谷?”对曰:”子女玉帛则君有之,羽毛齿革则君地生焉。其波及晋国者,君之余也,其何以报君?”曰:”虽然,何以报我?”对曰:”若以君之灵,得反晋国,晋、楚治兵,遇于中原,其辟君三舍。若不获命,其左执鞭弭、右属櫜健,以与君周旋。”子玉请杀之。楚子曰:”晋公子广而俭,文而有礼。其従者肃而宽,忠而能力。晋侯无亲,外内恶之。吾闻姬姓,唐叔之后,其后衰者也,其将由晋公子乎。天将兴之,谁能废之。违天必有大咎。”乃送诸秦。秦伯纳女五人,怀嬴与焉。奉也活盥,既而挥之。怒曰:”秦、晋匹也,何以卑我!”公子惧,降服而囚。
  他日,公享之。子犯曰:”吾不如衰之文也。请使衰従。公子赋《河水》,公赋《六月》。赵衰曰:”重耳拜赐。”公子降,拜,稽首,公降一级而辞焉。衰曰:”君称所以佐天子者命重耳,重耳敢不拜。”
  ◎ 僖公二十四年
  【经】二十有四年春王正月。夏,狄伐郑。秋七月。冬,天王出居于郑。晋侯夷吾卒。
  【传】二十四年春,王正月,秦伯纳之,不书,不告入也。
  及河,子犯以璧授公子,曰:”臣负羁绁従君巡于天下,臣之罪甚多矣。臣犹知之,而况君乎?请由此亡。”公子曰:”所不与舅氏同心者,有如白水。”投其璧于河。济河,围令狐,入桑泉,取臼衰。二月甲午,晋师军于庐柳。秦伯使公子絷如晋师,师退,军于郇。辛丑,狐偃及秦、晋之大夫盟于郇。壬寅,公子入于晋师。丙午,入于曲沃。丁未,朝于武宫。戊申,使杀怀公于高梁。不书,亦不告也。吕、郤畏逼,将焚公宫而弑晋侯。寺人披请见,公使让之,且辞焉,曰:”蒲城之役,君命一宿,女即至。其后余従狄君以田渭滨,女为惠公来求杀余,命女三宿,女中宿至。虽有君命,何其速也。夫祛犹在,女其行乎。”对曰:”臣谓君之入也,其知之矣。若犹未也,又将及难。君命无二,古之制也。除君之恶,唯力是视。蒲人、狄人,余何有焉。今君即位,其无蒲、狄乎?齐桓公置射钩而使管仲相,君若易之,何辱命焉?行者甚众,岂唯刑臣。”公见之,以难告。三月,晋侯潜会秦伯于王城。己丑晦,公宫火,瑕甥、郤芮不获公,乃如河上,秦伯诱而杀之。晋侯逆夫人嬴氏以归。秦伯送卫于晋三千人,实纪纲之仆。
  初,晋侯之竖头须,守藏者也。其出也,窃藏以逃,尽用以求纳之。及入,求见,公辞焉以沐。谓仆人曰:”沐则心覆,心覆则图反,宜吾不得见也。居者为社稷之守,行者为羁绁之仆,其亦可也,何必罪居者?国君而仇匹夫,惧者甚众矣。”仆人以告,公遽见之。
  狄人归季隗于晋而请其二子。文公妻赵衰,生原同、屏括、搂婴。赵姬请逆盾与其母,子余辞。姬曰:”得宠而忘旧,何以使人?必逆之!”固请,许之,来,以盾为才,固请于公以为嫡子,而使其三子下之,以叔隗为内子而己下之。
  晋侯赏従亡者,介之推不言禄,禄亦弗及。推曰”献公之子九人,唯君在矣。惠、怀无亲,外内弃之。天未绝晋,必将有主。主晋祀者,非君而谁?天实置之,而二三子以为己力,不亦诬乎?窃人之财,犹谓之盗,况贪天之功以为己力乎?下义其罪,上赏其奸,上下相蒙,难与处矣!”其母曰:”盍亦求之,以死谁怼?”对曰:”尤而效之,罪又甚焉,且出怨言,不食其食。”其母曰:”亦使知之若何?”对曰:”言,身之文也。身将隐,焉用文之?是求显也。”其母曰:”能如是乎?与女偕隐。”遂隐而死。晋侯求之,不获,以绵上为之田,曰:”以志吾过,且旌善人。”
  郑之入滑也,滑人听命。师还,又即卫。郑公子士、泄堵俞弥帅师伐滑。王使伯服、游孙伯如郑请滑。郑伯怨惠王之入而不与厉公爵也,又怨襄王之与卫、滑也,故不听王命而执二子。王怒,将以狄伐郑。富辰谏曰:”不可。臣闻之,大上以德抚民,其次亲亲以相及也。昔周公吊二叔之不咸,故封建亲戚以蕃屏周。管蔡郕霍,鲁卫毛聃,郜雍曹滕,毕原酆郇,文之昭也。邗晋应韩,武之穆也。凡蒋刑茅胙祭,周公之胤也。召穆公思周德之不类,故纠合宗族于成周而作诗,曰:’常棣之华,鄂不韦韦,凡今之人,莫如兄弟。’其四章曰:’兄弟阋于墙,外御其侮。’如是,则兄弟虽有小忿,不废懿亲。今天子不忍小忿以弃郑亲,其若之何?庸勋亲亲,暱近尊贤,德之大者也。即聋従昧,与顽用嚚,奸也大者也。弃德崇奸,祸之大者也。郑有平、惠之勋,又有厉、宣之亲,弃嬖宠而用三良,于诸姬为近,四德具矣。耳不听五声之和为聋,目不别五色之章为昧,心不则德义之经为顽,口不道忠信之言为嚚,狄皆则之,四奸具矣。周之有懿德也,犹曰’莫如兄弟’,故封建之。其怀柔天下也,犹惧有外侮,扞御侮者莫如亲亲,故以亲屏周。召穆公亦云。今周德既衰,于是乎又渝周、召以従诸奸,无乃不可乎?民未忘祸,王又兴之,其若文、武何?”王弗听,使颓叔、桃子出狄师。夏,狄伐郑,取栎。
  王德狄人,将以其女为后。富辰谏曰:”不可。臣闻之曰:’报者倦矣,施者未厌。’狄固贪淋,王又启之,女德无极,妇怨无终,狄必为患。”王又弗听。
  初,甘昭公有宠于惠后,惠后将立之,未及而卒。昭公奔齐,王复之,又通于隗氏。王替隗氏。颓叔、桃子曰:”我实使狄,狄其怨我。”遂奉大叔,以狄师攻王。王御士将御之。王曰:”先后其谓我何?宁使诸。侯图之。璲出。及坎臽,国人纳之。
  秋,颓叔、桃子奉大叔,以狄师伐周,大败周师,获周公忌父、原伯、毛伯、富辰。王出适郑,处于汜。大叔以隗氏居于温。
  郑子华之弟子臧出奔宋,好聚鹬冠。郑伯闻而恶之,使盗诱之。八月,盗杀之于陈、宋之间。君子曰:”服之不衷,身之灾也。《诗》曰:’彼己之子,不称其服。’子臧之服,不称也夫。《诗》曰,’自诒伊戚’,其子臧之谓矣。《夏书》曰,’地平天成’,称也。”
  宋及楚平。宋成公如楚,还入于郑。郑伯将享之,问礼于皇武子。对曰:”宋,先代之后也,于周为客,天子有事膰焉,有丧拜焉,丰厚可也。”郑伯従之,享宋公有加,礼也。
  冬,王使来告难曰:”不谷不德,得罪于母弟之宠子带,鄙在郑地汜,敢告叔父。”臧文仲对曰:”天子蒙尘于外,敢不奔问官守。”王使简师父告于晋,使左鄢父告于秦。天子无出,书曰”天王出居于郑”,辟母弟之难也。天子凶服降名,礼也。郑伯与孔将鉏、石甲父、侯宣多省视官具于汜,而后听其私政,礼也。
  卫人将伐邢,礼至曰:”不得其守,国不可得也。我请昆弟仕焉。”乃往,得仕。
  ◎ 僖公二十五年
  【经】二十有五年春王正月,丙午,卫侯燬灭邢。夏四月癸酉,卫侯燬卒。宋荡伯姬来逆妇。宋杀其大夫。秋,楚人围陈,纳顿子于顿。葬卫文公。冬十有二月癸亥,公会卫子、莒庆盟于洮。
  【传】二十五年春,卫人伐邢,二礼従国子巡城,掖以赴外,杀之。正月丙午,卫侯毁灭邢,同姓也,故名。礼至为铭曰:”余掖杀国子,莫余敢止。”
  秦伯师于河上,将纳王。狐偃言于晋侯曰:”求诸侯,莫如勤王。诸侯信之,且大义也。继文之业而信宣于诸侯,今为可矣。”使卜偃卜之,曰:”吉。遇黄帝战于阪泉之兆。”公曰:”吾不堪也。”对曰:”周礼未改。今之王,古之帝也。”公曰:”筮之。”筮之,遇《大有》之《睽》,曰:”吉。遇’公用享于天子’之卦也。战克而王飨,吉孰大焉,且是卦也,天为泽以当日,天子降心以逆公,不亦可乎?《大有》去《睽》而复,亦其所也。”晋侯辞秦师而下。三月甲辰,次于阳樊。右师围温,左师逆王。夏四月丁巳,王入于王城,取大叔于温,杀之于隰城。
  戊午,晋侯朝王,王飨醴,命之宥。请隧,弗许,曰:”王章也。未有代德而有二王,亦叔父之所恶也。”与之阳樊、温、原、欑茅之田。晋于是始启南阳。
  阳樊不服,围之。苍葛呼曰:”德以柔中国,邢以威四夷,宜吾不敢服也。此谁非王之亲姻,其俘之也!”乃出其民。
  秋,秦、晋伐鄀。楚斗克、屈御寇以申、息之师戍商密。秦人过析隈,入而系舆人以围商密,昏而傅焉。宵,坎血加书,伪与子仪、子边盟者。商密人惧曰:”秦取析矣,戍人反矣。”乃降秦师。囚申公子仪、息公子边以归。楚令尹子玉追秦师,弗及,遂围陈,纳顿子于顿。
  冬,晋侯围原,命三日之粮。原不降,命去之。谍出,曰:”原将降矣。”军吏曰:”请待之。”公曰:”信,国之宝也,民之所庇也,得原失信,何以庇之?所亡滋多。”退一舍而原降。迁原伯贯于冀。赵衰为原大夫,狐溱为温大夫。
  卫人平莒于我,十二月,盟于洮,修卫文公之好,且及莒平也。
  晋侯问原守于寺人勃鞮,对曰:”昔赵衰以壶食従径,馁而弗食。”故使处原。
  ◎ 僖公二十六年
  【经】二十有六年春王正月,己未,公会莒子、卫宁速盟于向。齐人侵我西鄙,公追齐师,至酅,不及。夏,齐人伐我北鄙。卫人伐齐。公子遂如楚乞师。秋,楚人灭夔,以夔子归。冬,楚人伐宋,围緍。公以楚师伐齐,取谷。公至自伐齐。
  【传】二十六年春,王正月,公会莒兹ぶ宁庄子盟于向,寻洮之盟也。齐师侵我西鄙,讨是二盟也。夏,齐孝公伐我北鄙。卫人伐齐,洮之盟故也。公使展喜犒师,使受命于展禽。
  齐侯未入竟,展喜従之,曰:”寡君闻君亲举玉趾,将辱于敝邑,使下臣犒执事。”齐侯曰:”鲁人恐乎?”对曰:”小人恐矣,君子则否。”齐侯曰:”室如县罄,野无青草,何恃而不恐?”对曰:”恃先王之命。昔周公、大公股肱周室,夹辅成王。成王劳之而赐之盟,曰:’世世子孙,无相害也。’载在盟府,大师职之。桓公是以纠合诸侯而谋其不协,弥缝其阙而匡救其灾,昭旧职也。及君即位,诸侯之望曰:’其率桓之功。’我敝邑用不敢保聚,曰:’岂其嗣世九年而弃命废职,其若先君何?’君必不然。恃此以不恐。”齐侯乃还。
  东门襄仲、臧文仲如楚乞师,臧孙见子玉而道之伐齐、宋,以其不臣也。
  夔子不祀祝融与鬻熊,楚人让之,对曰:”我先王熊挚有疾,鬼神弗赦而自窜于夔。吾是以失楚,又何祀焉?”秋,楚成得臣、斗宜申帅师灭夔,以夔子归。
  宋以其善于晋侯也,叛楚即晋。冬,楚令尹子玉、司马子西帅师伐宋,围缗。
  公以楚师伐齐,取谷。凡师能左右之曰以。置桓公子雍于谷,易牙奉之以为鲁援。楚申公叔侯戍之。桓公之子七人,为七大夫于楚。
  ◎ 僖公二十七年
  【经】二十有七年春,杞子来朝。夏六月庚寅,齐侯昭卒。秋八月乙未,葬齐孝公。乙巳,公子遂帅师入杞。冬,楚人、陈侯、蔡侯、郑伯、许男围宋。十有二月甲戌,公会诸侯,盟于宋。
  【传】二十七年春,杞桓公来朝,用夷礼,故曰子。公卑杞,杞不共也。
  夏,齐孝公卒。有齐怨,不废丧纪,礼也。
  秋,入杞,责无礼也。
  楚子将围宋,使子文治兵于睽,终朝而毕,不戮一人。子玉复治兵于蒍,终日而毕,鞭七人,贯三人耳。国老皆贺子文,子文饮之酒。蒍贾尚幼,后至,不贺。子文问之,对曰:”不知所贺。子之传政于子玉,曰:’以靖国也。’靖诸内而败诸外,所获几何?子玉之败,子之举也。举以败国,将何贺焉?子玉刚而无礼,不可以治民。过三百乘,其不能以入矣。苟入而贺,何后之有?”
  冬,楚子及诸侯围宋,宋公孙固如晋告急。先轸曰:”报施救患,取威定霸,于是乎在矣。”狐偃曰:”楚始得曹而新昏于卫,若伐曹、卫,楚必救之,则齐、宋免矣。”于是乎蒐于被庐,作三军。谋元帅。赵衰曰:”郤縠可。臣亟闻其言矣,说礼乐而敦《诗》《书》。《诗》、《书》,义之府也。礼乐,德之则也。德义,利之本也。《夏书》曰:’赋纳以言,明试以功,车服以庸。’君其试之。”及使郤縠将中军,郤溱佐之;使狐偃将上军,让于狐毛,而佐之;命赵衰为卿,让于栾枝、先轸。使栾枝将下军,先轸佐之。荀林父御戎,魏准为右。
  晋侯始入而教其民,二年,欲用之。子犯曰:”民未知义,未安其居。”于是乎出定襄王,入务利民,民怀生矣,将用之。子犯曰:”民未知信,未宣其用。”于是乎伐原以示之信。民易资者不求丰焉,明征其辞。公曰:”可矣乎?”子犯曰:”民未知礼,未生其共。”于是乎大蒐以示之礼,作执秩以正其官,民听不惑而后用之。出谷戍,释宋围,一战而霸,文之教也。
  ◎ 僖公二十八年
  【经】二十有八年春,晋侯侵曹,晋侯伐卫。公子买戍卫,不卒戍,刺之。楚人救卫。三月丙午,晋侯入曹,执曹伯。畀宋人。夏四月己巳,晋侯、齐师、宋师、秦师及楚人战于城濮,楚师败绩。楚杀其大夫得臣。卫侯出奔楚。五月癸丑,公会晋侯、齐侯、宋公、蔡侯、郑伯、卫子、莒子,盟于践土。陈侯如会。公朝于王所。六月,卫侯郑自楚复归于卫。卫元咺出奔晋。陈侯款卒。秋,杞伯姬来。公子遂如齐。冬,公会晋侯、齐侯、宋公、蔡侯、郑伯、陈子、莒子、邾人、秦人于温。天王狩于河阳。壬申,公朝于王所。晋人执卫侯,归之于京师。卫元咺自晋复归于卫。诸侯遂围许。曹伯襄复归于曹,遂会诸侯围许。
  【传】二十八年春,晋侯将伐曹,假道于卫,卫人弗许。还,自南河济。侵曹伐卫。正月戊申,取五鹿。二月,晋郤縠卒。原轸将中军,胥臣佐下军,上德也。晋侯、齐侯盟于敛盂。卫侯请盟,晋人弗许。卫侯欲与楚,国人不欲,故出其君以说于晋。卫侯出居于襄牛。
  公子买戍卫,楚人救卫,不克。公惧于晋,杀子丛以说焉。谓楚人曰:”不卒戍也。”
  晋侯围曹,门焉,多死,曹人尸诸城上,晋侯患之,听舆人之谋曰称:”舍于墓。”师迁焉,曹人凶惧,为其所得者棺而出之,因其凶也而攻之。三月丙午,入曹。数之,以其不用僖负羁而乘轩者三百人也。且曰:”献状。”令无入僖负羁之宫而免其族,报施也。魏准、颠颉怒曰:”劳之不图,报于何有!”蓺僖负羁氏。魏准伤于胸,公欲杀之而爱其材,使问,且视之。病,将杀之。魏准束胸见使者曰:”以君之灵,不有宁也。”距跃三百,曲踊三百。乃舍之。杀颠颉以徇于师,立舟之侨以为戎右。
  宋人使门尹般如晋师告急。公曰:”宋人告急,舍之则绝,告楚不许。我欲战矣,齐、秦未可,若之何?”先轸曰:”使宋舍我而赂齐、秦,藉之告楚。我执曹君而分曹、卫之田以赐宋人。楚爱曹、卫,必不许也。喜赂怒顽,能无战乎?”公说,执曹伯,分曹、卫之田以畀宋人。
  楚子入居于申,使申叔去谷,使子玉去宋,曰:”无従晋师。晋侯在外十九年矣,而果得晋国。险阻艰难,备尝之矣;民之情伪,尽知之矣。天假之年,而除其害。天之所置,其可废乎?《军志》曰:’允当则归。’又曰:’知难而退。’又曰:’有德不可敌。’此三志者,晋之谓矣。”子玉使伯棼请战,曰:”非敢必有功也,愿以间执谗慝之口。”王怒,少与之师,唯西广、东宫与若敖之六卒实従之。
  子玉使宛春告于晋师曰:”请复卫侯而封曹,臣亦释宋之围。”子犯曰:”子玉无礼哉!君取一,臣取二,不可失矣。”先轸曰:”子与之。定人之谓礼,楚一言而定三国,我一言而亡之。我则无礼,何以战乎?不许楚言,是弃宋也。救而弃之,谓诸侯何?楚有三施,我有三怨,怨仇已多,将何以战?不如私许复曹、卫以携之,执宛春以怒楚,既战而后图之。”公说,乃拘宛春于卫,且私许复曹、卫。曹、卫告绝于楚。
  子玉怒,従晋师。晋师退。军吏曰:”以君辟臣,辱也。且楚师老矣,何故退?”子犯曰:”师直为壮,曲为老。岂在久乎?微楚之惠不及此,退三舍辟之,所以报也。背惠食言,以亢其仇,我曲楚直。其众素饱,不可谓老。我退而楚还,我将何求?若其不还,君退臣犯,曲在彼矣。”退三舍。楚众欲止,子玉不可。
  夏四月戊辰,晋侯、宋公、齐国归父、崔夭、秦小子慭次于城濮。楚师背酅而舍,晋侯患之,听舆人之诵,曰:”原田每每,舍其旧而新是谋。”公疑焉。子犯曰:”战也。战而捷,必得诸侯。若其不捷,表里山河,必无害也。”公曰:”若楚惠何?”栾贞子曰:”汉阳诸姬,楚实尽之,思小惠而忘大耻,不如战也。”晋侯梦与楚子搏,楚子伏己而监其脑,是以惧。子犯曰:”吉。我得天,楚伏其罪,吾且柔之矣。”
  子玉使斗勃请战,曰:”请与君之士戏,君冯轼而观之,得臣与寓目焉。”晋侯使栾枝对曰:”寡君闻命矣。楚君之惠未之敢忘,是以在此。为大夫退,其敢当君乎?既不获命矣,敢烦大夫谓二三子,戒尔车乘,敬尔君事,诘朝将见。”
  晋车七百乘,革显、革引、鞅、革半。晋侯登有莘之虚以观师,曰:”少长有礼,其可用也。”遂伐其木以益其兵。鲁巳,晋师陈于莘北,胥臣以下军之佐当陈、蔡。子玉以若敖六卒将中军,曰:”今日必无晋矣。”子西将左,子上将右。胥臣蒙马以虎皮,先犯陈、蔡。陈、蔡奔,楚右师溃。狐毛设二旆而退之。栾枝使舆曳柴而伪遁,楚师驰之。原轸、郤溱以中军公族横击之。狐毛、狐偃以上军夹攻子西,楚左师溃。楚师败绩。子玉收其卒而止,故不败。
  晋师三日馆谷,及癸酉而还。甲午,至于衡雍,作王宫于践土。
  乡役之三月,郑伯如楚致其师,为楚师既败而惧,使子人九行成于晋。晋栾枝入盟郑伯。五月丙午,晋侯及郑伯盟于衡雍。丁未,献楚俘于王,驷介百乘,徒兵千。郑伯傅王,用平礼也。己酉,王享醴,命晋侯宥。王命尹氏及王子虎、内史叔兴父策命晋侯为侯伯,赐之大辂之服,戎辂之服,彤弓一,彤矢百,玈弓矢千,秬鬯一卣,虎贲三百人。曰:”王谓叔父,敬服王命,以绥四国。纠逖王慝。”晋侯三辞,従命。曰:”重耳敢再拜稽首,奉扬天子之丕显休命。”受策以出,出入三觐。
  卫侯闻楚师败,惧,出奔楚,遂适陈,使元咺奉叔武以受盟。癸亥,王子虎盟诸侯于王庭,要言曰:”皆奖王室,无相害也。有渝此盟,明神殛之,俾队其师,无克祚国,及而玄孙,无有老幼。”君子谓是盟也信,谓晋于是役也能以德攻。
  初,楚子玉自为琼弁玉缨,未之服也。先战,梦河神谓己曰:”畀余,余赐女孟诸之麋。”弗致也。大心与子西使荣黄谏,弗听。荣季曰:”死而利国。犹或为之,况琼玉乎?是粪土也,而可以济师,将何爱焉?”弗听。出,告二子曰:”非神败令尹,令尹其不勤民,实自败也。”既败,王使谓之曰:”大夫若入,其若申、息之老何?”子西、孙伯曰:”得臣将死,二臣止之曰:’君其将以为戮。'”及连谷而死。晋侯闻之而后喜可知也,曰:”莫余毒也已!蒍吕臣实为令尹,奉己而已,不在民矣。”
  或诉元咺于卫侯曰:”立叔武矣。”其子角従公,公使杀之。咺不废命,奉夷叔以入守。
  六月,晋人复卫侯。宁武子与卫人盟于宛濮,曰:”天祸卫国,君君臣不协,以及此忧也。今天诱其衷,使皆降心以相従也。不有居者,谁守社稷?不有行者,谁扞牧圉?不协之故,用昭乞盟于尔大神以诱天衷。自今日以往,既盟之后,行者无保其力,居者无惧其罪。有渝此盟,以相及也。明神先君,是纠是殛。”国人闻此盟也,而后不贰。卫侯先期入,宁子先,长佯守门以为使也,与之乘而入。公子颛犬、华仲前驱。叔孙将沐,闻君至,喜,捉发走出,前驱射而杀之。公知其无罪也,枕之股而哭之。颛犬走出,公使杀之。元咺出奔晋。
  城濮之战,晋中军风于泽,亡大旆之左旃。祁瞒奸命,司马杀之,以徇于诸侯,使茅伐代之。师还。壬午,济河。舟之侨先归,士会摄右。秋七月丙申,振旅,恺以入于晋。献俘授馘,饮至大赏,征会讨贰。杀舟之侨以徇于国,民于是大服。
  君子谓:”文公其能刑矣,三罪而民服。《诗》云:’惠此中国,以绥四方。’不失赏刑之谓也。”
  冬,会于温,讨不服也。
  卫侯与元咺讼,宁武子为辅,钅咸庄子为坐,士荣为大士。卫侯不胜。杀士荣,刖钅咸庄子,谓宁俞忠而免之。执卫侯,归之于京师,置诸深室。宁子职纳橐饘焉。元咺归于卫,立公子瑕。
  是会也,晋侯召王,以诸侯见,且使王狩。仲尼曰:”以臣召君,不可以训。”故书曰:”天王狩于河阳。”言非其地也,且明德也。
  壬申,公朝于王所。
  丁丑,诸侯围许。
  晋侯有疾,曹伯之竖侯孺货筮史,使曰:”以曹为解。齐桓公为会而封异姓,今君为会而灭同姓。曹叔振铎,文之昭也。先君唐叔,武之穆也。且合诸侯而灭兄弟,非礼也。与卫偕命,而不与偕复,非信也。同罪异罚,非刑也。礼以行义,信以守礼,刑以正邪,舍此三者,君将若之何?”公说,复曹伯,遂会诸侯于许。
  晋侯作三行以御狄,荀林父将中行,屠击将右行,先蔑将左行。
  ◎ 僖公二十九年
  【经】二十有九年春,介葛卢来。公至自围许。夏六月,会王人、晋人、宋人、齐人、陈人、蔡人、秦人盟于翟泉。秋,大雨雹。冬,介葛卢来。
  【传】二十九年春,葛卢来朝,舍于昌衍之上。公在会,馈之刍米,礼也。
  夏,公会王子虎、晋狐偃、宋公孙固、齐国归父、陈辕涛涂、秦小子慭,盟于翟泉,寻践土之盟,且谋伐郑也。卿不书,罪之也。在礼,卿不会公、侯,会伯、子、男可也。
  秋,大雨雹,为灾也。
  冬,介葛卢来,以未见公,故复来朝,礼之,加燕好。
  介葛卢闻牛鸣,曰:”是生三牺,皆用之矣,其音云。”问之而信。
  ◎ 僖公三十年
  【经】三十年春王正月。夏,狄侵齐。秋,卫杀其大夫元咺及公子瑕。卫侯郑归于卫。晋人、秦人围郑。介人侵萧。冬,天王使宰周公来聘。公子遂如京师。遂如晋。
  【传】三十年春,晋人侵郑,以观其可攻与否。狄间晋之有郑虞也,夏,狄侵齐。
  晋侯使医衍鸩卫侯。宁俞货医,使薄其鸩,不死。公为之请,纳玉于王与晋侯。皆十王许之。秋,乃释卫侯。卫侯使赂周颛、治廑,曰:”苟能纳我,吾使尔为卿。”周、冶杀元咺及子适、子仪。公入祀先君。周、冶既服将命,周颛先入,及门,遇疾而死。冶廑辞卿。
  九月甲午,晋侯、秦伯围郑,以其无礼于晋,且贰于楚也。晋军函陵,秦军汜南。佚之狐言于郑伯曰:”国危矣,若使烛之武见秦君,师必退。”公従之。辞曰:”臣之壮也,犹不如人,今老矣,无能为也已。”公曰:”吾不能早用子,今急而求子,是寡人之过也。然郑亡,子亦有不利焉。”许之,夜缒而出,见秦伯,曰:”秦、晋围郑,郑既知亡矣。若亡郑而有益于君,敢以烦执事。越国以鄙远,君知其难也,焉用亡郑以陪邻。邻之厚,君之薄也。若舍郑以为东道主,行李之往来,共其乏困,君亦无所害。且君尝为晋君赐矣,许君焦、瑕,朝济而夕设版焉,君之所知也。夫晋何厌之有?既东封郑,又欲肆其西封,不阙秦,将焉取之?阙秦以利晋,唯君图之。”秦伯说,与郑人盟,使杞子、逢孙、扬孙戍之,乃还。
  子犯请击之,公曰:”不可。微夫人力不及此。因人之力而敝之,不仁。失其所与,不知。以乱易整,不武。吾其还也。”亦去之。
  初,郑公子兰出奔晋,従于晋侯。伐郑,请无与围郑。许之,使待命于东。郑石甲父、侯宣多逆以为大子,以求成于晋,晋人许之。
  冬,王使周公阅来聘,飨有昌蜀、白、黑、形盐。辞曰:”国君,文足昭也,武可畏也,则有备物之飨以象其德。荐五味,羞嘉谷,盐虎形,以献其功。吾何以堪之?”
  东门襄仲将聘于周,遂初聘于晋。
  ◎ 僖公三十一年
  【经】三十有一年春,取济西田。公子遂如晋。夏四月,四卜郊,不従,乃免牲。犹三望。秋七月。冬,杞伯姬来求妇。狄围卫。十有二月,卫迁于帝丘。
  【传】三十一年春,取济西田,分曹地也。使臧文仲往,宿于重馆。重馆人告曰:”晋新得诸侯,必亲其共,不速行,将无及也。”従之,分曹地,自洮以南,东傅于济,尽曹地也。
  襄仲如晋,拜曹田也。
  夏四月,四卜郊,不従,乃免牲,非礼也。犹三望,亦非礼也。礼不卜常祀,而卜其牲、日,牛卜日曰牲。牲成而卜郊,上怠慢也。望,郊之细也。不郊,亦无望可也。
  秋,晋搜于清原,作五军御狄。赵衰为卿。
  冬,狄围卫,卫迁于帝丘。卜曰三百年。卫成公梦康叔曰:”相夺予享。”公命祀相。宁武子不可,曰:”鬼神非其族类,不歆其祀。杞、鄫何事?相之不享于此。久矣,非卫之罪也,不可以间成王、周公之命祀。请改祀命。”
  郑泄驾恶公子瑕,郑伯亦恶之,故公子瑕出奔楚。
  ◎ 僖公三十二年
  【经】三十有二年春王正月。夏四月己丑,郑伯捷卒。卫人侵狄。秋,卫人及狄盟。冬十有二月己卯,晋侯重耳卒。
  【传】三十二年春,楚斗章请平于晋,晋阳处父报之。晋、楚始通。
  夏,狄有乱。卫人侵狄,狄请平焉。秋,卫人及狄盟。
  冬,晋文公卒。庚辰,将殡于曲沃,出绛,柩有声如牛。卜偃使大夫拜。曰:”君命大事。将有西师过轶我,击之,必大捷焉。”杞子自郑使告于秦,曰:”郑人使我掌其北门之管,若潜师以来,国可得也。”穆公访诸蹇叔,蹇叔曰:”劳师以袭远,非所闻也。师劳力竭,远主备之,无乃不可乎!师之所为,郑必知之。勤而无所,必有悖心。且行千里,其谁不知?”公辞焉。召孟明、西乞、白乙,使出师于东门之外。蹇叔哭之,曰:”孟子,吾见师之出而不见其入也。”公使谓之曰:”尔何知?中寿,尔墓之木拱矣。”蹇叔之子与师,哭而送之,曰:”晋人御师必于殽。殽有二陵焉。其南陵,夏后皋之墓也;其北陵,文王之所辟风雨也。必死是间,余收尔骨焉。”秦师遂东。
  ◎ 僖公三十三年
  【经】三十有三年春王二月,秦人入滑。齐侯使国归父来聘。夏四月辛巳,晋人及姜戎败秦师于殽。癸巳,葬晋文公。狄侵齐。公伐邾,取訾娄。秋,公子遂帅师伐邾。晋人败狄于箕。冬十月,公如齐。十有二月,公至自齐。乙巳,公薨于小寝。陨霜不杀草。李梅实。晋人、陈人、郑人伐许。
  【传】三十三年春,秦师过周北门,左右免胄而下。超乘者三百乘。王孙满尚幼,观之,言于王曰:”秦师轻而无礼,必败。轻则寡谋,无礼则脱。入险而脱。又不能谋,能无败乎?”及滑,郑商人弦高将市于周,遇之。以乘韦先,牛十二犒师,曰:”寡君闻吾子将步师出于敝邑,敢犒従者,不腆敝邑,为従者之淹,居则具一日之积,行则备一夕之卫。”且使遽告于郑。
  则束载、厉兵、秣马矣。使皇武子辞焉,曰:”吾子淹久于敝邑,唯是脯资饩牵竭矣。为吾子之将行也,郑之有原圃,犹秦之有具囿也。吾子取其麋鹿以闲敝邑,若何?”杞子奔齐,逢孙、扬孙奔宋。孟明曰:”郑有备矣,不可冀也。攻之不克,围之不继,吾其还也。”灭滑而还。
  齐国庄子来聘,自郊劳至于赠贿,礼成而加之以敏。臧文仲言于公曰:”国子为政,齐犹有礼,君其朝焉。臣闻之,服于有礼,社稷之卫也。”
  晋原轸曰:”秦违蹇叔,而以贪勤民,天奉我也。奉不可失,敌不可纵。纵敌患生,违天不祥。必伐秦师。”栾枝曰:”未报秦施而伐其师,其为死君乎?”先轸曰:”秦不哀吾丧而伐吾同姓,秦则无礼,何施之为?吾闻之,一日纵敌,数世之患也。谋及子孙,可谓死君乎?”遂发命,遽兴姜戎。子墨衰绖,梁弘御戎,莱驹为右。
  夏四月辛巳,败秦师于殽,获百里孟明视、西乞术、白乙丙以归,遂墨以葬文公。晋于是始墨。
  文嬴请三帅,曰:”彼实构吾二君,寡君若得而食之,不厌,君何辱讨焉!使归就戮于秦,以逞寡君之志,若何?”公许之,先轸朝。问秦囚。公曰:”夫人请之,吾舍之矣。”先轸怒曰:”武夫力而拘诸原,妇人暂而免诸国。堕军实而长寇仇,亡无日矣。”不顾而唾。公使阳处父追之,及诸河,则在舟中矣。释左骖,以公命赠孟明。孟明稽首曰:”君之惠,不以累臣衅鼓,使归就戮于秦,寡君之以为戮,死且不朽。若従君惠而免之,三年将拜君赐。”
  秦伯素服郊次,乡师而哭曰:”孤违蹇叔以辱二三子,孤之罪也。不替孟明,孤之过也。大夫何罪?且吾不以一眚掩大德。”
  狄侵齐,因晋丧也。
  公伐邾,取訾娄,以报升陉之役。邾人不设备。秋,襄仲复伐邾。
  狄伐晋,及箕。八月戊子,晋侯败狄于箕。郤缺获白狄子。先轸曰:”匹夫逞志于君而无讨,敢不自讨乎?”免胄入狄师,死焉。狄人归其元,面如生。
  初,臼季使过冀,见冀缺耨,其妻盍之。敬,相待如宾。与之归,言诸文公曰:”敬,德之聚也。能敬必有德,德以治民,君请用之。臣闻之,出门如宾,承事如祭,仁之则也。”公曰:”其父有罪,可乎?”对曰:”舜之罪也殛鲧,其举也兴禹。管敬仲,桓之贼也,实相以济。《康诰》曰:’父不慈,子不祗,兄不友,弟不共,不相及也。’《诗》曰:’采葑采菲,无以下体。’君取节焉可也。”文公以为下军大夫。反自箕,襄公以三命命先且居将中军,以再命命先茅之县赏胥臣曰:”举郤缺,子之功也。”以一命命郤缺为卿,复与之冀,亦未有军行。
  冬,公如齐,朝,且吊有狄师也。反,薨于小寝,即安也。
  晋、陈、郑伐许,讨其贰于楚也。
  楚令尹子上侵陈、蔡。陈、蔡成,遂伐郑,将纳公子瑕,门于桔柣之门。瑕覆于周氏之汪,外仆髡屯禽之以献。文夫人敛而葬之郐城之下。
  晋阳处父侵蔡,楚子上救之,与晋师夹泜而军。阳子患之,使谓子上曰:”吾闻之,文不犯顺,武不违敌。子若欲战,则吾退舍,子济而陈,迟速唯命,不然纾我。老师费财,亦无益也。”乃驾以待。子上欲涉,大孙伯曰:”不可。晋人无信,半涉而薄我,悔败何及,不如纾之。”乃退舍。阳子宣言曰:”楚师遁矣。”遂归。楚师亦归。大子商臣谮子上曰:”受晋赂而辟之,楚之耻也,罪莫大焉。”王杀子上。
  葬僖公,缓作主,非礼也。凡君薨,卒哭而祔,祔而作主,特祀于主,烝尝禘于庙。
************************
文公  【元年~十八年】
  ◎ 文公元年
  【经】元年春王正月,公即位。二月癸亥,日有食之。天王使叔服来会葬。夏四月丁巳,葬我君僖公。天王使毛伯来锡公命。晋侯伐卫。叔孙得臣如京师。卫人伐晋。秋,公孙敖会晋侯于戚。冬十月丁未,楚世子商臣弑其君頵。公孙敖如齐。
  【传】元年春,王使内史叔服来会葬。公孙敖闻其能相人也,见其二子焉。叔服曰:”谷也食子,难也收子。谷也丰下,必有后于鲁国。”
  于是闰三月,非礼也。先王之正时也,履端于始,举正于中,归余于终。履端于始,序则不愆。举正于中,民则不惑。归余于终,事则不悖。
  夏四月丁巳,葬僖公。
  王使毛伯卫来锡公命。叔孙得臣如周拜。
  晋文公之季年,诸侯朝晋。卫成公不朝,使孔达侵郑,伐绵、訾,及匡。晋襄公既祥,使告于诸侯而伐卫,及南阳。先且居曰:”效尤,祸也。请君朝王,臣従师。”晋侯朝王于温,先且居、胥臣伐卫。五月辛酉朔,晋师围戚。六月戊戌,取之,获孙昭子。
  卫人使告于陈。陈共公曰:”更伐之,我辞之。”卫孔达帅师伐晋,君子以为古。古者越国而谋。
  秋,晋侯疆戚田,故公孙敖会之。
  初,楚子将以商臣为大子,访诸令尹子上。子上曰:”君之齿未也。而又多爱,黜乃乱也。楚国之举。恒在少者。且是人也。蜂目而豺声,忍人也,不可立也。”弗听。既又欲立王子职而黜大子商臣。商臣闻之而未察,告其师潘崇曰:”若之何而察之?”潘崇曰:”享江问而勿敬也。”従之。江羋怒曰:”呼,役夫!宜君王之欲杀女而立职也。”告潘崇曰:”信矣。”潘崇曰:”能事诸乎?”曰:”不能。””能行乎?”曰:”不能。””能行大事乎?”曰:”能。”
  冬十月,以宫甲围成王。王请食熊蹯而死。弗听。丁未,王缢。谥之曰:”灵”,不瞑;曰:”成”,乃瞑。穆王立,以其为大子之室与潘崇,使为大师,且掌环列之尹。
  穆伯如齐,始聘焉,礼也。凡君即位,卿出并聘,践修旧好,要结外授,好事邻国,以卫社稷,忠信卑让之道也。忠,德之正也;信,德之固也;卑让,德之基也。
  殽之役,晋人既归秦帅,秦大夫及左右皆言于秦伯曰:”是败也,孟明之罪也,必杀之。”秦伯曰:”是孤之罪也。周芮良夫之诗曰;’大风有隧,贪人败类,听言则对,诵言如醉,匪用其良,覆俾我悖。’是贪故也,孤之谓矣。孤实贪以祸夫子,夫子何罪?”复使为政。
  ◎ 文公二年
  【经】二年春王二月甲子,晋侯及秦师战于彭衙,秦师败绩。丁丑,作僖公主。三月乙巳,及晋处父盟。夏六月,公孙敖会宋公、陈侯、郑伯、晋士縠盟于垂陇。自十有二月不雨,至于秋七月。八月丁卯,大事于大庙,跻僖公。冬,晋人、宋人、陈人、郑人伐秦。公子遂如齐纳币。
  【传】二年春,秦孟明视帅师伐晋,以报殽之役。二月晋侯御之。先且居将中军,赵衰佐之。王官无地御戎,狐鞫居为右。甲子,及秦师战于彭衙。秦师败绩。晋人谓秦”拜赐之师”。
  战于殽也,晋梁弘御戎,莱驹为右。战之明日,晋襄公缚秦囚,使莱驹以戈斩之。囚呼,莱驹失戈,狼瞫取戈以斩囚,禽之以従公乘,遂以为右。箕之役,先轸黜之而立续简伯。狼瞫怒。其友曰:”盍死之?”瞫曰:”吾未获死所。”其友曰:”吾与女为难。”瞫曰;”《周志》有之,’勇则害上,不登于明堂。’死而不义,非勇也。共用之谓勇。吾以勇求右,无勇而黜,亦其所也。谓上不我知,黜而宜,乃知我矣。子姑待之。”及彭衙,既陈,以其属驰秦师,死焉。晋师従之,大败秦师。君子谓:”狼瞫于是乎君子。诗曰:’君子如怒,乱庶遄沮。’又曰:’王赫斯怒,爰整其旅。’怒不作乱而以従师,可谓君子矣。”
  秦伯犹用孟明。孟明增修国政,重施于民。赵成子言于诸大夫曰:”秦师又至,将必辟之,惧而增德,不可当也。诗曰:’毋念尔祖,聿修厥德。’孟明念之矣,念德不怠,其可敌乎?”
  丁丑,作僖公主,书,不时也。
  晋人以公不朝来讨,公如晋。夏四月己巳,晋人使阳处父盟公以耻之。书曰:”及晋处父盟。”以厌之也。适晋不书,讳之也。公未至,六月,穆伯会诸侯及晋司空士縠盟于垂陇,晋讨卫故也。书士縠,堪其事也。
  陈侯为卫请成于晋,执孔达以说。
  秋八月丁卯,大事于大庙,跻僖公,逆祀也。于是夏父弗忌为宗伯,尊僖公,且明见曰:”吾见新鬼大,故鬼小。先大后小,顺也。跻圣贤,明也。明、顺,礼也。”
  君子以为失礼。礼无不顺。祀,国之大事也,而逆之,可谓礼乎?子虽齐圣,不先父食久矣。故禹不先鲧,汤不先契,文、武不先不窋。宋祖帝乙,郑祖厉王,犹上祖也。是以《鲁颂》曰:”春秋匪解,享祀不忒,皇皇后帝,皇祖后稷。”君子曰礼,谓其后稷亲而先帝也。《诗》曰:”问我诸姑,遂及伯姊。”君子曰礼,谓其姊亲而先姑也。仲尼曰:”臧文仲,其不仁者三,不知者三。下展禽,废六关,妾织蒲,三不仁也。作虚器,纵逆祀,祀爰居,三不知也。”
  冬,晋先且居、宋公子成、陈辕选、郑公子归生伐秦,取汪,及彭衙而还,以报彭衙之役。卿不书,为穆公故,尊秦也,谓之崇德。
  襄仲如齐纳币,礼也。凡君即位,好舅甥,修昏姻,娶元妃以奉粢盛,孝也。孝,礼之始也。
  ◎ 文公三年
  【经】三年春王正月,叔孙得臣会晋人、宋人、陈人、卫人、郑人伐沈。沈溃。夏五月,王子虎卒。秦人伐晋。秋,楚人围江。雨螽于宋。冬,公如晋。十有二月己巳,公及晋侯盟。晋阳处父帅师伐楚以救江。
  【传】三年春,庄叔会诸侯之师伐沈,以其服于楚也。沈溃。凡民逃其上曰溃,在上曰逃。
  卫侯如陈,拜晋成也。
  夏四月乙亥,王叔文公卒,来赴吊如同盟,礼也。
  秦伯伐晋,济河焚舟,取王官,及郊。晋人不出,遂自茅津济,封殽尸而还。遂霸西戎,用孟明也。君子是以知”秦穆公之为君也,举人之周也,与人之壹也;孟明之臣也,其不解也,能惧思也;子桑之忠也,其知人也,能举善也。《诗》曰:’于以采蘩,于沼于沚,于以用之公侯之事’,秦穆有焉。’夙夜匪解,以事一人’,孟明有焉。’诒阙孙谋,以燕翼子’,子桑有焉。”
  秋,雨螽于宋,队而死也。
  楚师围江。晋先仆伐楚以救江。
  冬,晋以江故告于周。王叔桓公、晋阳处父伐楚以救江,门于方城,遇息公子朱而还。
  晋人惧其无礼于公也,请改盟。公如晋,及晋侯盟。晋侯飨公,赋《菁菁者莪》。庄叔以公降,拜,曰:”小国受命于大国,敢不慎仪。君贶之以大礼,何乐如之。抑小国之乐,大国之惠也。”晋侯降,辞。登,成拜。公赋《嘉乐》。
  ◎ 文公四年
  【经】四年春,公至自晋。夏,逆妇姜于齐。狄侵齐。秋,楚人灭江。晋侯伐秦。卫侯使宁俞来聘。冬十有一月壬寅,夫人风氏薨。
  【传】四年春,晋人归孔达于卫,以为卫之良也,故免之。
  夏,卫侯如晋拜。曹伯如晋,会正。
  逆妇姜于齐,卿不行,非礼也。君子是以知出姜之不允于鲁也。曰:”贵聘而贱逆之,君而卑之,立而废之,弃信而坏其主,在国必乱,在家必亡。不允宜哉?《诗》曰:’畏天之威,于时保之。’敬主之谓也。”
  秋,晋侯伐秦,围刓、新城,以报王官之役。
  楚人灭江,秦伯为之降服、出次、不举、过数。大夫谏,公曰:”同盟灭,虽不能救,敢不矜乎!吾自惧也。”君子曰:”《诗》云:’惟彼二国,其政不获,惟此四国,爰究爰度。’其秦穆之谓矣。”
  卫宁武子来聘,公与之宴,为赋《湛露》及《彤弓》。不辞,又不答赋。使行人私焉。对曰:”臣以为肄业及之也。昔诸侯朝正于王,王宴乐之,于是乎赋《湛露》,则天子当阳,诸侯用命也。诸侯敌王所忾而献其功,王于是乎赐之彤弓一,彤矢百,玈弓矢千,以觉报宴。今陪臣来继旧好,君辱贶之,其敢干大礼以自取戾。”
  冬,成风薨。
  ◎ 文公五年
  【经】五年春王正月,王使荣叔归含,且赗。三月辛亥,葬我小君成风。王使召伯来会葬。夏,公孙敖如晋。秦人入鄀。秋,楚人灭六。冬十月甲申,许男业卒。
  【传】五年春,王使荣叔来含且赗,召昭公来会葬,礼也。
  初,鄀叛楚即秦,又贰于楚。夏,秦人入鄀。
  六人叛楚即东夷。秋,楚成大心、仲归帅师灭六。
  冬,楚公子燮灭蓼,臧文仲闻六与蓼灭,曰:”皋陶庭坚不祀忽诸。德之不建,民之无援,哀哉!”
  晋阳处父聘于卫,反过宁,宁嬴従之,及温而还。其妻问之,嬴曰;”以刚。《商书》曰:’沈渐刚克,高明柔克。’夫子壹之,其不没乎。天为刚德,犹不干时,况在人乎?且华而不实,怨之所聚也,犯而聚怨,不可以定身。余惧不获其利而离其难,是以去之。”
  晋赵成子,栾贞子、霍伯、臼季皆卒。
  ◎ 文公六年
  【经】六年春,葬许僖公。夏,季孙行父如陈。秋,季孙行父如晋。八月乙亥,晋侯欢卒。冬十月,公子遂如晋。葬晋襄公。晋杀其大夫阳处父。晋狐射姑出奔狄。闰月不告月,犹朝于庙。
  【传】六年春,晋蒐于夷,舍二军。使狐射姑将中军,赵盾佐之。阳处父至自温,改蒐于董,易中军。阳子,成季之属也,故党于赵氏,且谓赵盾能,曰:”使能,国之利也。”是以上之。宣子于是乎始为国政,制事典,正法罪。辟狱刑,董逋逃。由质要,治旧污,本秩礼,续常职,出滞淹。既成,以授大傅阳子与大师贾佗,使行诸晋国,以为常法。
  臧文仲以陈、卫之睦也,欲求好于陈。夏,季文子聘于陈,且娶焉。
  秦伯任好卒。以子车氏之三子奄息、仲行、钅咸虎为殉。皆秦之良也。国人哀之,为之赋《黄鸟》。君子曰:”秦穆之不为盟主也,宜哉。死而弃民。先王违世,犹诒之法,而况夺之善人乎!《诗》曰:’人之云亡,邦国殄瘁。’无善人之谓。若之何夺之?”古之王者知命之不长,是以并建圣哲,树之风声,分之采物,著之话言,为之律度,陈之艺极,引之表仪,予之法制,告之训典,教之防利,委之常秩,道之礼则,使毋失其土宜,众隶赖之,而后即命。圣王同之。今纵无法以遗后嗣,而又收其良以死,难以在上矣。君子是以知秦之不复东征也。
  秋,季文子将聘于晋,使求遭丧之礼以行。其人曰:”将焉用之?”文子曰:”备豫不虞,古之善教也。求而无之,实难,过求何害?”
  八月乙亥,晋襄公卒。灵公少,晋人以难故,欲立长君。赵孟曰:”立公子雍。好善而长,先君爱之,且近于秦。秦,旧好也。置善则固,事长则顺,立爱则孝,结旧则安。为难故,故欲立长君,有此四德者,难必抒矣。贾季曰:”不如立公子乐。辰嬴嬖于二君,立其子,民必安之。”赵孟曰:”辰嬴贱,班在九人,其子何震之有?且为二嬖,淫也。为先君子,不能求大而出在小国,辟也。母淫子辟,无威。陈小而远,无援。将何安焉?杜祁以君故,让逼姞而上之,以狄故,让季隗而己次之,故班在四。先君是以爱其子而仕诸秦,为亚卿焉。秦大而近,足以为援,母义子爱,足以威民,立之不亦可乎?”使先蔑、士会如秦,逆公子雍。贾季亦使召公子乐于陈。赵孟使杀诸郫。贾季怨阳子之易其班也,而知其无援于晋也。九月,贾季使续鞫居杀阳处父。书曰:”晋杀其大夫。”侵官也。
  冬十月,襄仲如晋。葬襄公。
  十一月丙寅,晋杀续简伯。贾季奔狄。宣子使臾骈送其帑。夷之蒐,贾季戮臾骈,臾骈之人欲尽杀贾氏以报焉。臾骈曰:”不可。吾闻《前志》有之曰:’敌惠敌怨,不在后嗣’,忠之道也。夫子礼于贾季,我以其宠报私怨,无乃不可乎?介人之宠,非勇也。损怨益仇,非知也。以私害公,非忠也。释此三者,何以事夫子?”尽具其帑,与其器用财贿,亲帅扞之,送致诸竟。
  闰月不告朔,非礼也。闰以正时,时以作事,事以厚生,生民之道,于是乎在矣。不告闰朔,弃时政也,何以为民?
  ◎ 文公七年
  【经】七年春,公伐邾。三月甲戌,取须句。遂城郚。夏四月,宋公王臣卒。宋人杀其大夫。戊子,晋人及秦人战于令狐。晋先蔑奔秦。狄侵我西鄙。秋八月,公会诸侯、晋大夫盟于扈。冬,徐伐莒。公孙敖如莒莅盟。
  【传】七年春,公伐邾。间晋难也。
  三月甲戌,取须句,置文公子焉,非礼也。
  夏四月,宋成公卒。于是公子成为右师,公孙友左师,乐豫为司马,鳞矔为司徒,公子荡为司城,华御事为司寇。
  昭公将去群公子,乐豫曰:”不可。公族,公室之枝叶也,若去之则本根无所庇荫矣。葛藟犹能庇其本根,故君子以为比,况国君乎?此谚所谓庇焉而纵寻斧焉者也。必不可,君其图之。亲之以德,皆股肱也,谁敢携贰?若之何去之?”不听。穆、襄之族率国人以攻公,杀公孙固、公孙郑于公宫。六卿和公室,乐豫舍司马以让公子卬,昭公即位而葬。书曰:”宋人杀其大夫。”不称名,众也,且言非其罪也。
  秦康公送公子雍于晋,曰:”文公之入也无卫,故有吕、郤之难。”乃多与之徒卫。穆赢日抱大子以啼于朝,曰:”先君何罪?其嗣亦何罪?舍适嗣不立而外求君,将焉置此?”出朝,则抱以适赵氏,顿首于宣子曰:”先君奉此子也而属诸子,曰:’此子也才,吾受子之赐;不才,吾唯子之怨。’今君虽终,言犹在耳,而弃之,若何?”宣子与诸大夫皆患穆嬴,且畏逼,乃背先蔑而立灵公,以御秦师。箕郑居守。赵盾将中军,先克佐之。荀林父佐上军。先蔑将下军,先都佐之,步招御戎,戎津为右。及堇阴,宣子曰:”我若受秦,秦则宾也;不受,寇也。既不受矣,而复缓师,秦将生心。先人有夺人之心,军之善谋也。逐寇如追逃,军之善政也。”训卒利兵,秣马蓐食,潜师夜起。戊子,败秦师于令狐,至于刳首。己丑,先蔑奔秦。士会従之。
  先蔑之使也,荀林父止之,曰:”夫人、大子犹在,而外求君,此必不行。子以疾辞,若何?不然,将及。摄卿以往可也,何必子?同官为寮,吾尝同寮,敢不尽心乎!”弗听。为赋《板》之三章。又弗听。及亡,荀伯尽送其帑及其器用财贿于秦,曰:”为同寮故也。”
  士会在秦三年,不见士伯。其人曰:”能亡人于国,不能见于此,焉用之?”士季曰:”吾与之同罪,非义之也,将何见焉?”及归,遂不见。
  狄侵我西鄙,公使告于晋。赵宣子使因贾季问酆舒。且让之。酆舒问于贾季曰:”赵衰、赵盾孰贤?”对曰:”赵衰,冬日之日也。赵盾,夏日之日也。”
  秋八月,齐侯、宋公、卫侯、郑伯、许男、曹伯会晋赵盾盟于扈,晋侯立故也。公后至,故不书所会。凡会诸侯,不书所会,后也。后至,不书其国,辟不敏也。
  穆伯娶于莒,曰戴己,生文伯,其娣声己生惠叔。戴己卒,又聘于莒,莒人以声己辞,则为襄仲聘焉。
  冬,徐伐莒。莒人来请盟。穆伯如莒莅盟,且为仲逆。及鄢陵。登城见之,美,自为娶之。仲请攻之,公将许之。叔仲惠伯谏曰:”臣闻之,兵作于内为乱,于外为寇,寇犹及人,乱自及也。今臣作乱而君不禁,以启寇仇,若之何?”公止之,惠伯成之。使仲舍之,公孙敖反之,复为兄弟如初。従之。
  晋郤缺言于赵宣子曰:”日卫不睦,故取其地,今已睦矣,可以归之。叛而不讨,何以示威?服而不柔,何以示怀?非威非怀,何以示德?无德,何以主盟?子为正卿,以主诸侯,而不务德,将若之何?《夏书》曰:’戒之用休,董之用威,劝之以《九歌》,勿使坏。’九功之德皆可歌也,谓之九歌。六府、三事,谓之九功。水、火、金、木、土、谷,谓之六府。正德、利用、厚生,谓之三事。义而行之,谓之德、礼。无礼不乐,所由叛也。若吾子之德莫可歌也,其谁来之?盍使睦者歌吾子乎?”宣子说之。
  ◎ 文公八年
  【经】八年春王正月。夏四月。秋八月戊申,天王崩。冬十月壬午,公子遂会晋赵盾盟于衡雍。乙酉,公子遂会洛戎盟于暴。公孙敖如京师,不至而复。丙戌,奔莒。螽。宋人杀其大夫司马。宋司城来奔。
  【传】八年春,晋侯使解扬归匡、戚之田于卫,且复致公婿池之封,自申至于虎牢之竟。
  夏,秦人伐晋,取武城,以报令狐之役。
  秋,襄王崩。
  晋人以扈之盟来讨。冬,襄仲会晋赵孟,盟于衡雍,报扈之盟也,遂会伊洛之戎。书曰”公子遂”,珍之也。
  穆伯如周吊丧,不至,以币奔莒,従己氏焉。
  宋襄夫人,襄王之姊也,昭公不礼焉。夫人因戴氏之族,以杀襄公之孙孔叔、公孙钟离及大司马公子卬,皆昭公之党也。司马握节以死,故书以官。司城荡意诸来奔,效节于府人而出。公以其官逆之,皆复之,亦书以官,皆贵之也。
  夷之蒐,晋侯将登箕郑父、先都,而使士縠、梁益耳将中军。先克曰:”狐、赵之勋,不可废也。”従之。先克夺蒯得田于堇阴。故箕郑父、先都、士縠、梁益耳、蒯得作乱。
  ◎ 文公九年
  【经】九年春,毛伯来求金。夫人姜氏如齐。二月,叔孙得臣如京师。辛丑,葬襄王。晋人杀其大夫先都。三月,夫人姜氏至自齐。晋人杀其大夫士縠及箕郑父。楚人伐郑。公子遂会晋人、宋人、卫人、许人救郑。夏,狄侵齐。秋八月,曹伯襄卒。九月癸西,地震。冬,楚子使椒来聘。秦人来归僖公、成风之襚。葬曹共公。
  【传】九年春,王正月己酉,使贼杀先克。乙丑,晋人杀先都,梁益耳。
  毛伯卫来求金,非礼也。不书王命,未葬也。
  二月庄叔如周。葬襄王。
  三月甲戌,晋人杀箕郑父、士縠、蒯得。
  范山言于楚子曰:”晋君少,不在诸侯,北方可图也。”楚子师于狼渊以伐郑。囚公子坚、公子龙及乐耳。郑及楚平。公子遂会晋赵盾、宋华耦、卫孔达、许大夫救郑,不及楚师。卿不书,缓也,以惩不恪。
  夏,楚侵陈,克壶丘,以其服于晋也。
  秋,楚公子朱自东夷伐陈,陈人败之,获公子伐。陈惧,乃及楚平。
  冬,楚子越椒来聘,执币傲。叔仲惠伯曰:”是必灭若敖氏之宗。傲其先君,神弗福也。”
  秦人来归僖公、成风之襚,礼也。诸侯相吊贺也,虽不当事,苟有礼焉,书也,以无忘旧好。
  ◎ 文公十年
  【经】十年春王三月辛卯,臧孙辰卒。夏,秦伐晋。楚杀其大夫宜申。自正月不雨,至于秋七月。及苏子盟于女栗。冬,狄侵宋。楚子、蔡侯次于厥貉。
  【传】十年春,晋人伐秦,取少梁。
  夏,秦伯伐晋,取北征。
  初,楚范巫矞似谓成王与子玉、子西曰:”三君皆将强死。”城濮之役,王思之,故使止子玉曰:”毋死。”不及。止子西,子西缢而县绝,王使适至,遂止之,使为商公。沿汉溯江,将入郢。王在渚宫,下,见之。惧而辞曰:”臣免于死,又有谗言,谓臣将逃,臣归死于司败也。”王使为工尹,又与子家谋弑穆王。穆王闻之。五月杀斗宜申及仲归。
  秋七月,及苏子盟于女栗,顷王立故也。
  陈侯、郑伯会楚子于息。冬,遂及蔡侯次于厥貉。将以伐宋。宋华御事曰:”楚欲弱我也。先为之弱乎,何必使诱我?我实不能,民何罪?”乃逆楚子,劳,且听命。遂道以田孟诸。宋公为右盂,郑伯为左盂。期思公复遂为右司马,子朱及文之无畏为左司马。命夙驾载燧,宋公违命,无畏抶其仆以徇。
  或谓子舟曰:”国君不可戮也。”子舟曰:”当官而行,何强之有?《诗》曰:’刚亦不吐,柔亦不茹。”毋従诡随,以谨罔极。’是亦非辟强也,敢爱死以乱官乎!”
  厥貉之会,麇子逃归。
  ◎ 文公十一年
  【经】十有一年春,楚子伐麋。夏,叔仲彭生会晋郤缺于承筐。秋,曹伯来朝。公子遂如宋。狄侵齐。冬十月甲午,叔孙得臣败狄于咸。
  【传】十一年春,楚子伐麇,成大心败麇师于防渚。潘崇复伐麇,至于锡穴。
  夏,叔仲惠伯会晋郤缺于承筐,谋诸侯之従于楚者。
  秋,曹文公来朝,即位而来见也。
  襄仲聘于宋,且言司城荡意诸而复之,因贺楚师之不害也。
  鄋瞒侵齐。遂伐我。公卜使叔孙得臣追之,吉。侯叔夏御庄叔,绵房甥为右,富父终甥驷乘。冬十月甲午,败狄于咸,获长狄侨如。富父终甥摏其喉以戈,杀之,埋其首于子驹之门,以命宣伯。
  初,宋武公之世,鄋瞒伐宋,司徒皇父帅师御之,耏班御皇父充石,公子谷甥为右,司寇牛父驷乘,以败狄于长丘,获长狄缘斯,皇父之二子死焉。宋公于是以门赏耏班,使食其征,谓之耏门。晋之灭潞也,获侨如之弟焚如。齐襄公之二年,鄋瞒伐齐,齐王子成父获其弟荣如,埋其首于周首之北门。卫人获其季简如,鄋瞒由是遂亡。
  郕大子朱儒自安于夫钟,国人弗徇。
  ◎ 文公十二年
  【经】十有二年春王正月,郕伯来奔。杞伯来朝。二月庚子,子叔姬卒。夏,楚人围巢。秋,滕子来朝。秦伯使术来聘。冬十有二戊午,晋人、秦人战于河曲。季孙行父帅师城诸及郓。
  【传】十二年春,郕伯卒,郕人立君。大子以夫钟与郕邽来奔。公以诸侯逆之,非礼也。故书曰:”郕伯来奔。”不书地,尊诸侯也。
  杞桓公来朝,始朝公也。且请绝叔姬而无绝昏,公许之。
  二月,叔姬卒,不言杞,绝也。书叔姬,言非女也。
  楚令尹大孙伯卒,成嘉为令尹。群舒叛楚。夏,子孔执舒子平及宗子,遂围巢。
  秋,滕昭公来朝,亦始朝公也。
  秦伯使西乞术来聘,且言将伐晋。襄仲辞玉曰:”君不忘先君之好,照临鲁国,镇抚其社稷,重之以大器,寡君敢辞玉。”对曰:”不腆敝器,不足辞也。”主人三辞。宾客曰:”寡君愿徼福于周公、鲁公以事君,不腆先君之敝器,使下臣致诸执事以为瑞节,要结好命,所以藉寡君之命,结二国之好,是以敢致之。”襄仲曰:”不有君子,其能国乎?国无陋矣。”厚贿之。
  秦为令狐之役故,冬,秦伯伐晋,取羁马。晋人御之。赵盾将中军,荀林父佐之。郤缺上军,臾骈佐之。栾盾将下军,胥甲佐之。范无恤御戎,以従秦师于河曲。臾骈曰:”秦不能久,请深垒固军以待之。”従之。
  秦人欲战,秦伯谓士会曰:”若何而战?”对曰:”赵氏新出其属曰臾骈,必实为此谋,将以老我师也。赵有侧室曰穿,晋君之婿也,有宠而弱,不在军事,好勇而狂,且恶臾骈之佐上军也,若使轻者肆焉,其可。”秦伯以璧祈战于河。
  十二月戊午,秦军掩晋上军,赵穿追之,不及。反,怒曰:”裹粮坐甲,固敌是求,敌至不击,将何俟焉?”军吏曰:”将有待也。”穿曰:”我不知谋,将独出。”乃以其属出。宣子曰:”秦获穿也,获一卿矣。秦以胜归,我何以报?”乃皆出战,交绥。秦行人夜戒晋师曰:”两君之士皆未慭也,明日请相见也。”臾骈曰:”使者目动而言肆,惧我也,将遁矣。薄诸河,必败之。”胥甲、赵穿当军门呼曰:”死伤未收而弃之,不惠也;不待期而薄人于险,无勇也。”乃止。秦师夜遁。复侵晋,入瑕。
  城诸及郓,书,时也。
  ◎ 文公十三年
  【经】十有三春王正月。夏五月壬午,陈侯朔卒。邾子蘧蒢卒。自正月不雨,至于秋七月。大室屋坏。冬,公如晋。卫侯会公于沓。狄侵卫。十有二月己丑,公及晋侯盟。公还自晋,郑伯会公于棐。
  【传】十三年春,晋侯使詹嘉处瑕,以守桃林之塞。
  晋人患秦之用士会也,夏,六卿相见于诸浮,赵宣子曰;”随会在秦,贾季在狄,难日至矣,若之何?”中行桓子曰:”请复贾季,能外事,且由旧勋。”郤成子曰:”贾季乱,且罪大,不如随会,能贱而有耻,柔而不犯,其知足使也,且无罪。”
  乃使魏寿余伪以魏叛者以诱士会,执其帑于晋,使夜逸。请自归于秦,秦伯许之。履士会之足于朝。秦伯师于河西,魏人在东。寿余曰:”请东人之能与夫二三有司言者,吾与之先。”使士会。士会辞曰:”晋人,虎狼也,若背其言,臣死,妻子为戮,无益于君,不可悔也。”秦伯曰:”若背其言,所不归尔帑者,有如河。”乃行。绕朝赠之以策,曰:”子无谓秦无人,吾谋适不用也。”既济,魏人噪而还。秦人归其帑。其处者为刘氏。
  邾文公卜迁于绎。史曰:”利于民而不利于君。”邾子曰:”苟利于民,孤之利也。天生民而树之君,以利之也。民既利矣,孤必与焉。”左右曰:”命可长也,君何弗为?”邾子曰:”命在养民。死之短长,时也。民苟利矣,迁也,吉莫如之!”遂迁于绎。
  五月,邾文公卒。君子曰:”知命。”
  秋七月,大室之屋坏,书,不共也。
  冬,公如晋,朝,且寻盟。卫侯会公于沓,请平于晋。公还,郑伯会公于棐,亦请平于晋。公皆成之。郑伯与公宴于棐。子家赋《鸿雁》。季文子曰:”寡君未免于此。”文子赋《四月》。子家赋《载驰》之四章。文子赋《采薇》之四章。郑伯拜。公答拜。
  ◎ 文公十四年
  【经】十有四年春王正月,公至自晋。邾人伐我南鄙,叔彭生帅师伐邾。夏五月乙亥,齐侯潘卒。六月,公会宋公、陈侯、卫侯、郑伯、许男、曹伯、晋赵盾。癸酉,同盟于新城。秋七月,有星孛入于北斗。公至自会。晋人纳捷菑于邾。弗克纳。九月甲申,公孙敖卒于齐。齐公子商人弑其君舍。宋子哀来奔。冬,单伯如齐。齐人执单伯。齐人执子叔姬。
  【传】十四年春,顷王崩。周公阅与王孙苏争政,故不赴。凡崩、薨,不赴,则不书。祸、福,不告亦不书,惩不敬也。
  邾文公之卒也,公使吊焉,不敬。邾人来讨,伐我南鄙,故惠伯伐邾。
  子叔姬齐昭公,生舍。叔姬无宠,舍无威。公子商人骤施于国,而多聚士,尽其家,贷于公,有司以继之。夏五月,昭公卒,舍即位。
  邾文公妃元齐姜生定公,二妃晋姬生捷菑。文公卒,邾人立定公,捷菑奔晋。
  六月,同盟于新城,従于楚者服,且谋邾也。
  秋七月乙卯夜,齐商人弑舍而让元。元曰:”尔求之久矣。我能事尔,尔不可使多蓄憾。将免我乎?尔为之!”
  有星孛入于北斗,周内史叔服曰:”不出七年,宋、齐、晋之君皆将死乱。”
  晋赵盾以诸侯之师八百乘纳捷菑于邾。邾人辞曰:”齐出玃且长。”宣子曰:”辞顺而弗従,不祥。”乃还。
  周公将与王孙苏讼于晋,王叛王孙苏,而使尹氏与聃启讼周公于晋。赵宣子平王室而复之。
  楚庄王立,子孔、潘崇将袭群舒,使公子燮与子仪守而伐舒蓼。二子作乱,城郢而使贼杀子孔,不克而还。八月,二子以楚子出,将如商密。庐戢梨及叔麋诱之,遂杀斗克及公子燮。
  初,斗克囚于秦,秦有殽之败,而使归求成,成而不得志。公子燮求令尹而不得。故二子作乱。
  穆伯之従己氏也,鲁人立文伯。穆伯生二子于莒而求复,文伯以为请。襄仲使无朝。听命,复而不出,二年而尽室以复适莒。文伯疾而请曰:”谷之子弱,请立难也。”许之。文伯卒,立惠叔。穆伯请重赂以求复,惠叔以为请,许之。将来,九月卒于齐,告丧,请葬,弗许。
  宋高哀为萧封人,以为卿,不义宋公而出,遂来奔。书曰:”宋子哀来奔去贵之也。”
  齐人定懿公,使来告难,故书以九月。齐公子元不顺懿公之为政也,终不曰”公”,曰”夫己氏”。
  襄仲使告于王,请以王宠求昭姬于齐。曰:”杀其子,焉用其母?请受而罪之。”
  冬,单伯如齐,请子叔姬,齐人执之。又执子叔姬。
  ◎ 文公十五年
  【经】十有五年春,季孙行父如晋。三月,宋司马华孙来盟。夏,曹伯来朝。齐人归公孙敖之丧。六月辛丑朔,日有食之。鼓、用牲于社。单伯至自齐。晋郤缺帅师伐蔡。戊申,入蔡。齐人侵我西鄙。季孙行父如晋。冬十有一月,诸侯盟于扈。十有二月,齐人来归子叔姬。齐侯侵我西鄙,遂伐曹入期郛。
  【传】十五年春,季文子如晋,为单伯与子叔姬故也。
  三月,宋华耦来盟,其官皆従之。书曰”宋司马华孙”,贵之也。
  公与之宴,辞曰:”君之先臣督,得罪于宋殇公,名在诸侯之策。臣承其祀,其敢辱君,请承命于亚旅。”鲁人以为敏。
  夏,曹伯来朝,礼也。诸侯五年再相朝,以修王命,古之制也。
  齐人或为孟氏谋,曰:”鲁,尔亲也。饰棺置诸堂阜,鲁必取之。”従之。卞人以告。惠叔犹毁以为请。立于朝以待命。许之,取而殡之。齐人送之。书曰:”齐人归公孙敖之丧。”为孟氏,且国故也。葬视共仲。
  声己不视,帷堂而哭。襄仲欲勿哭,惠伯曰:”丧,亲之终也。虽不能始,善终可也。史佚有言曰:’兄弟致美。’救乏、贺善、吊灾、祭敬、丧哀,情虽不同,毋绝其爱,亲之道也。子无失道,何怨于人?”襄仲说,帅兄弟以哭之。他年,其二子来,孟献子爱之,闻于国。或谮之曰:”将杀子。”献子以告季文子。二子曰:”夫子以爱我闻,我以将杀子闻,不亦远于礼乎?远礼不如死。”一人门于句鼆,一人门于戾丘,皆死。
  六月辛丑朔,日有食之,鼓、用牲于社,非礼也。日有食之,天子不举,伐鼓于社,诸侯用币于社,伐鼓于朝,以昭事神、训民、事君,示有等威。古之道也。
  齐人许单伯请而赦之,使来致命。书曰:”单伯至自齐。”贵之也。
  新城之盟,蔡人不与。晋郤缺以上军、下军伐蔡,曰:”君弱,不可以怠。”戊申,入蔡,以城下之盟而还。凡胜国,曰灭之;获大城焉,曰入之。
  秋,齐人侵我西鄙,故季文子告于晋。
  冬十一月,晋侯、宋公、卫侯、蔡侯、郑伯、许男、曹伯盟于扈,寻新城之盟,且谋伐齐也。齐人赂晋侯,故不克而还。于是有齐难,是以公不会。书曰:”诸侯盟于扈。”无能为故也。凡诸侯会,公不与,不书,讳君恶也。与而不书,后也。
  齐人来归子叔姬,王故也。
  齐侯侵我西鄙,谓诸侯不能也。遂伐曹,入其郛,讨其来朝也。季文子曰:”齐侯其不免乎。己则无礼,而讨于有礼者,曰:’女何故行礼!’礼以顺天,天之道也,己则反天,而又以讨人,难以免矣。诗曰:’胡不相畏,不畏于天?’君子之不虐幼贱,畏于天也。在周颂曰:’畏天之威,于时保之。’不畏于天,将何能保?以乱取国,奉礼以守,犹惧不终,多行无礼,弗能在矣!”
  ◎ 文公十六年
  【经】十有六年春,季孙行父会齐侯于阳谷,齐侯弗及盟。夏五月,公四不视朔。六月戊辰,公子遂及齐侯盟于郪丘。秋八月辛未,夫人姜氏薨。毁泉台。楚人、秦人、巴人灭庸。冬十有一月,宋人弑其君杵臼。
  【传】十六年春,王正月,及齐平。公有疾,使季文子会齐侯于阳谷。请盟,齐侯不肯,曰:”请俟君间。”
  夏五月,公四不视朔,疾也。公使襄仲纳赂于齐侯,故盟于郪丘。
  有蛇自泉宫出,入于国,如先君之数秋八月辛未,声姜薨,毁泉台。
  楚大饥,戎伐其西南,至于阜山,师于大林。又伐其东南,至于阳丘,以侵訾枝。庸人帅群蛮以叛楚。麇人率百濮聚于选,将伐楚。于是申、息之北门不启。
  楚人谋徙于阪高。蒍贾曰:”不可。我能往,寇亦能住。不如伐庸。夫麇与百濮,谓我饥不能师,故伐我也。若我出师,必惧而归。百濮离居,将各走其邑,谁暇谋人?”乃出师。旬有五日,百濮乃罢。自庐以往,振廪同食。次于句澨。使庐戢黎侵庸,及庸方城。庸人逐之,囚子扬窗。三宿而逸,曰:”庸师众,群蛮聚焉,不如复大师,且起王卒,合而后进。”师叔曰:”不可。姑又与之遇以骄之。彼骄我怒,而后可克,先君蚡冒所以服陉隰也。”又与之遇,七遇皆北,唯裨、鯈、鱼人实逐之。
  庸人曰:”楚不足与战矣。”遂不设备。楚子乘驲,会师于临品,分为二队,子越自石溪,子贝自仞,以伐庸。秦人、巴人従楚师,群蛮従楚子盟。遂灭庸。
  宋公子鲍礼于国人,宋饥,竭其粟而贷之。年自七十以上,无不馈诒也,时加羞珍异。无日不数于六卿之门,国之才人,无不事也,亲自桓以下,无不恤也。公子鲍美而艳,襄夫人欲通之,而不可,夫人助之施。昭公无道,国人奉公子鲍以因夫人。
  于是华元为右师,公孙友为左师,华耦为司马,鳞鱼雚为司徒,荡意诸为司城,公子朝为司寇。初,司城荡卒,公孙寿辞司城,请使意诸为之。既而告人曰:”君无道,吾官近,惧及焉。弃官则族无所庇。子,身之贰也,姑纾死焉。虽亡子,犹不亡族。”既,夫人将使公田孟诸而杀之。公知之,尽以宝行。荡意诸曰:”盍适诸侯?”公曰:”不能其大夫至于君祖母以及国人,诸侯谁纳我?且既为人君,而又为人臣,不如死。”尽以其宝赐左右以使行。夫人使谓司城去公,对曰:”臣之而逃其难,若后君何?”
  冬十一月甲寅,宋昭公将田孟诸,未至,夫人王姬使帅甸攻而杀之。荡意诸死之。书曰:”宋人弑其君杵臼。”君无道也。
  文公即位,使母弟须为司城。华耦卒,而使荡虺为司马。
  ◎ 文公十七年
  【经】十有七年春,晋人、卫人、陈人、郑人伐宋。夏四月癸亥,葬我小君声姜。齐侯伐我西鄙。六月癸未,公及齐侯盟于谷。诸侯会于扈。秋,公至自谷。冬,公子遂如齐。
  【传】十七年春,晋荀林父、卫孔达、陈公孙宁、郑石楚伐宋。讨曰:”何故弑君!”犹立文公而还,卿不书,失其所也。
  夏四月癸亥,葬声姜。有齐难,是以缓。
  齐侯伐我北鄙,襄仲请盟。六月,盟于谷。
  晋侯蒐于黄父,遂复合诸侯于扈,平宋也。公不与会,齐难故也。书曰”诸侯”,无功也。
  于是,晋侯不见郑伯,以为贰于楚也。
  郑子家使执讯而与之书,以告赵宣子,曰:”寡君即位三年,召蔡侯而与之事君。九月,蔡侯入于敝邑以行。敝邑以侯宣多之难,寡君是以不得与蔡侯偕。十一月,克灭侯宣多而随蔡侯以朝于执事。十二年六月,归生佐寡君之嫡夷,以请陈侯于楚而朝诸君。十四年七月,寡君又朝,以蒇陈事。十五年五月,陈侯自敝邑往朝于君。往年正月,烛之武往朝夷也。八月,寡君又往朝。以陈、蔡之密迩于楚而不敢贰焉,则敝邑之故也。虽敝邑之事君,何以不免?在位之中,一朝于襄,而再见于君。夷与孤之二三臣相及于绛,虽我小国,则蔑以过之矣。今大国曰:’尔未逞吾志。’敝邑有亡,无以加焉。古人有言曰:’畏首畏尾,身其余几。’又曰:’鹿死不择音。’小国之事大国也,德,则其人也;不德,则其鹿也,铤而走险,急何能择?命之罔极,亦知亡矣。将悉敝赋以待于鯈,唯执事命之。
  文公二年六月壬申,朝于齐。四年二月壬戌,为齐侵蔡,亦获成于楚。居大国之间而従于强令,岂其罪也。大国若弗图,无所逃命。”
  晋巩朔行成于郑,赵穿、公婿池为质焉。
  秋,周甘蜀败戎于垂,乘其饮酒也。
  冬十月,郑大子夷、石楚为质于晋。
  襄仲如齐,拜谷之盟。复曰:”臣闻齐人将食鲁之麦。以臣观之,将不能。齐君之语偷。臧文仲有言曰:’民主偷必死’。”
  ◎ 文公十八年
  【经】十有八年春王二月丁丑,公薨于台下。秦伯荦卒。夏五月戊戌,齐人弑其君商人。六月癸酉,葬我君文公。秋,公子遂、叔孙得臣如齐。冬十月,子卒。夫人姜氏归于齐。季孙行父如齐。莒弑其君庶其。
  【传】十八年春,齐侯戒师期,而有疾,医曰:”不及秋,将死。”公闻之,卜曰:”尚无及期。”惠伯令龟,卜楚丘占之曰:”齐侯不及期,非疾也。君亦不闻。令龟有咎。”二月丁丑,公薨。
  齐懿公之为公子也,与邴蜀之父争田,弗胜。及即位,乃掘而刖之,而使蜀仆。纳阎职之妻,而使职骖乘。
  夏五月,公游于申池。二人浴于池,蜀以扑抶职。职怒。曰:”人夺女妻而不怒,一抶女庸何伤!”职曰:”与刖其父而弗能病者何如?”乃谋弑懿公,纳诸竹中。归,舍爵而行。齐人立公子元。
  六月,葬文公。
  秋,襄仲、庄叔如齐,惠公立故,且拜葬也。
  文公二妃敬赢生宣公。敬赢嬖而私事襄仲。宣公长而属诸襄仲,襄仲欲立之,叔仲不可。仲见于齐侯而请之。齐侯新立而欲亲鲁,许之。
  冬十月,仲杀恶及视而立宣公。书曰”子卒”,讳之也。仲以君命召惠伯。其宰公冉务人止之,曰:”入必死。”叔仲曰:”死君命可也。”公冉务人曰:”若君命可死,非君命何听?”弗听,乃入,杀而埋之马矢之中。公冉务人奉其帑以奔蔡,既而复叔仲氏。
  夫人姜氏归于齐,大归也。将行,哭而过市曰:”天乎,仲为不道,杀适立庶。”市人皆哭,鲁人谓之哀姜。
  莒纪公生大子仆,又生季佗,爱季佗而黜仆,且多行无礼于国。仆因国人以弑纪公,以其宝玉来奔,纳诸宣公。公命与之邑,曰:”今日必授。”季文子使司寇出诸竟,曰:”今日必达。”公问其故。季文子使大史克对曰:”先大夫臧文仲教行父事君之礼,行父奉以周旋,弗敢失队。曰:’见有礼于其君者,事之如孝子之养父母也。见无礼于其君者,诛之如鹰鹯之逐鸟雀也。’先君周公制《周礼》曰:’则以观德,德以处事,事以度功,功以食民。’作《誓命》曰:’毁则为贼,掩贼为藏,窃贿为盗,盗器为奸。主藏之名,赖奸之用,为大凶德,有常无赦,在《九刑》不忘。’行父还观莒仆,莫可则也。孝敬忠信为吉德,盗贼藏奸为凶德。夫莒仆,则其孝敬,则弑君父矣;则其忠信,则窃宝玉矣。其人,则盗贼也;其器,则奸兆也,保而利之,则主藏也。以训则昏,民无则焉。不度于善,而皆在于凶德,是以去之。
  ”昔高阳氏有才子八人,苍舒、隤岂、檮寅、大临、龙降、庭坚、仲容、叔达,齐圣广渊,明允笃诚,天下之民谓之八恺。高辛氏有才子八人,伯奋、仲堪、叔献、季仲、伯虎、仲熊、叔豹、季狸,忠肃共懿,宣慈惠和,天下之民谓之八元。此十六族也,世济其美,不陨其名,以至于尧,尧不能举。舜臣尧,举八恺,使主后土,以揆百事,莫不时序,地平天成。举八元,使布五教于四方,父义、母慈、兄友、弟共、子孝,内平外成。昔帝鸿氏有不才子,掩义隐贼,好行凶德,丑类恶物,顽嚚不友,是与比周,天下之民谓之浑敦。少嗥氏有不才子,毁信废忠,崇饰恶言,靖谮庸回,服谗蒐慝,以诬盛德,天下之民谓之穷奇。颛顼有不才子,不可教训,不知话言,告之则顽,舍之则嚚,傲很明德,以乱天常,天下之民谓之檮杌。此三族也,世济其凶,增其恶名,以至于尧,尧不能去。缙云氏有不才子,贪于饮食,冒于货贿,侵欲崇侈,不可盈厌,聚敛积实,不知纪极,不分孤寡,不恤穷匮,天下之民以比三凶,谓之饕餮。舜臣尧,宾于四门,流四凶族浑敦、穷奇、檮杌、饕餮,投诸四裔,以御魑魅。是以尧崩而天下如一,同心戴舜以为天子,以其举十六相,去四凶也。故《虞书》数舜之功,曰’慎徽五典,五典克従’,无违教也。曰’纳于百揆,百揆时序’,无废事也。曰’宾于四门,四门穆穆’,无凶人也。
  舜有大功二十而为天子,今行父虽未获一吉人,去一凶矣,于舜之功,二十之一也,庶几免于戾乎!”
  宋武氏之族道昭公子,将奉司城须以作乱。十二月,宋公杀母弟须及昭公子,使戴、庄、桓之族攻武氏于司马子伯之馆。遂出武、穆之族,使公孙师为司城,公子朝卒,使乐吕为司寇,以靖国人。
************************
宣公  【元年~十八年】
  ◎ 宣公元年
  【经】元年春王正月,公即位。公子遂如齐逆女。三月,遂以夫人妇姜至自齐。夏,季孙行父如齐。晋放其大夫胥甲父于卫。公会齐侯于平州。公子遂如齐。六月,齐人取济西田。秋,邾子来朝。楚子、郑人侵陈,遂侵宋。晋赵盾帅师救陈。宋公、陈侯、卫侯、曹伯会晋师于棐林,伐郑。冬,晋赵穿帅师侵崇。晋人、宋人伐郑。
  【传】元年春,王正月,公子遂如齐逆女,尊君命也。三月,遂以夫人妇姜至自齐,尊夫人也。
  夏,季文子如齐,纳赂以请会。
  晋人讨不用命者,放胥甲父于卫,而立胥克。先辛奔齐。
  会于平州,以定公位。东门襄仲如齐拜成。
  六月,齐人取济西之田,为立公故,以赂齐也。
  宋人之弑昭公也,晋荀林父以诸侯之师伐宋,宋及晋平,宋文公受盟于晋。又会诸侯于扈,将为鲁讨齐,皆取赂而还。郑穆公曰:”晋不足与也。”遂受盟于楚。陈共公之卒,楚人不礼焉。陈灵公受盟于晋。
  秋,楚子侵陈,遂侵宋。晋赵盾帅师救陈、宋。会于棐林,以伐郑也。楚蒍贾救郑,遇于北林。囚晋解扬,晋人乃还。
  晋欲求成于秦,赵穿曰:”我侵崇,秦急崇,必救之。吾以求成焉。”冬,赵穿侵崇,秦弗与成。
  晋人伐郑,以报北林之役。于是,晋侯侈,赵宣子为政,骤谏而不入,故不竞于楚。
  ◎ 宣公二年
  【经】二年春王二月壬子,宋华元帅师及郑公子归生帅师,战于大棘。宋师败绩,获宋华元。秦师伐晋。夏,晋人、宋人、卫人、陈人侵郑。秋九月乙丑,晋赵盾弑其君夷皋。冬十月乙亥,天王崩。
  【传】二年春,郑公子归生受命于楚,伐宋。宋华元、乐吕御之。二月壬子,战于大棘,宋师败绩,囚华元,获乐吕,及甲车四百六十乘,俘二百五十人,馘百人。狂狡辂郑人,郑人入于井,倒戟而出之,获狂狡。君子曰:”失礼违命,宜其为禽也。戎,昭果毅以听之之谓礼,杀敌为果,致果为毅。易之,戮也。”
  将战,华元杀羊食士,其御羊斟不与。及战,曰:”畴昔之羊,子为政,今日之事,我为政。”与人郑师,故败。郡了谓:”羊斟非人也,以其私憾,败国殄民。于是刑孰大焉。《诗》所谓’人之无良’者,其羊斟之谓乎,残民以逞。”
  宋人以兵车百乘、文马百驷以赎华元于郑。半入,华元逃归,立于门外,告而入。见叔佯,曰:”子之马然也。”对曰:”非马也,其人也。”既合而来奔。
  宋城,华元为植,巡功。城者讴曰:”睅其目,皤其腹,弃甲而复。于思于思,弃甲复来。”使其骖乘谓之曰:”牛则有皮,犀兕尚多,弃甲则那?”役人曰:”従其有皮,丹漆若何?”华元曰:”去之,夫其口众我寡。”
  秦师伐晋,以报崇也,遂围焦。夏,晋赵盾救焦,遂自阴地,及诸侯之师侵郑,以报大棘之役。楚斗椒救郑,曰:”能欲诸侯而恶其难乎?”遂次于郑以待晋师。赵盾曰:”彼宗竞于楚,殆将毙矣。姑益其疾。”乃去之。
  晋灵公不君:厚敛以雕墙;従台上弹人,而观其辟丸也;宰夫肠熊蹯不熟,杀之,置诸畚,使妇人载以过朝。赵盾、士季见其手,问其故,而患之。将谏,士季曰:”谏而不入,则莫之继也。会请先,不入则子继之。”三进,及溜,而后视之。曰:”吾知所过矣,将改之。”稽首而对曰:”人谁无过?过而能改,善莫大焉。《诗》曰:’靡不有初,鲜克有终。’夫如是,则能补过者鲜矣。君能有终,则社稷之固也,岂唯群臣赖之。又曰:’衮职有阙,惟仲山甫补之。’能补过也。君能补过,兖不废矣。”犹不改。宣子骤谏,公患之,使锄麑贼之。晨往,寝门辟矣,盛服将朝,尚早,坐而假寐。麑退,叹而言曰:”不忘恭敬,民之主也。贼民之主,不忠。弃君之命,不信。有一于此,不如死也。”触槐而死。
  秋九月,晋侯饮赵盾酒,伏甲将攻之。其右提弥明知之,趋登曰:”臣侍君宴,过三爵,非礼也。”遂扶以下,公嗾夫獒焉。明搏而杀之。盾曰:”弃人用犬,虽猛何为。”斗且出,提弥明死之。
  初,宣子田于首山,舍于翳桑,见灵辄饿,问其病。曰:”不食三日矣。”食之,舍其半。问之,曰:”宦三年矣,未知母之存否,今近焉,请以遗之。”使尽之,而为之箪食与肉,置诸橐以与之。既而与为公介,倒戟以御公徒,而免之。问何故。对曰:”翳桑之饿人也。”问其名居,不告而退,遂自亡也。
  乙丑,赵穿攻灵公于桃园。宣子未出山而复。大史书曰:”赵盾弑其君。”以示于朝。宣子曰:”不然。”对曰:”子为正卿,亡不越竟,反不讨贼,非子而谁?”宣子曰:”乌呼,’我之怀矣,自诒伊戚’,其我之谓矣!”孔子曰:”董孤,古之良史也,书法不隐。赵宣子,古之良大夫也,为法受恶。惜也,越竟乃免。”
  宣子使赵穿逆公子黑臀于周而立之。壬申,朝于武宫。
  初,丽姬之乱,诅无畜群公子,自是晋无公族。及成公即位,乃宦卿之适子而为之田,以为公族,又宦其余子亦为余子,其庶子为公行。晋于是有公族、余子、公行。赵盾请以括为公族,曰:”君姬氏之爱子也。微君姬氏,则臣狄人也。”公许之。
  冬,赵盾为旄车之族。使屏季以其故族为公族大夫。
  ◎ 宣公三年
  【经】三年春王正月,郊牛之口伤,改卜牛。牛死,乃不郊。犹三望。葬匡王。楚子伐陆浑之戎。夏,楚人侵郑。秋,赤狄侵齐。宋师围曹。冬十月丙戌。郑伯兰卒。葬郑穆公。
  【传】三年春,不郊而望,皆非礼也。望,郊之属也。不郊亦无望,可也。
  晋侯伐郑,及郔。郑及晋平,士会入盟。
  楚子伐陆浑之戎,遂至于洛,观兵于周疆。定王使王孙满劳楚子。楚子问鼎之大小轻重焉。对曰:”在德不在鼎。昔夏之方有德也,远方图物,贡金九牧,铸鼎象物,百物而为之备,使民知神、奸。故民入川泽山林,不逢不若。螭魅罔两,莫能逢之,用能协于上下以承天休。桀有昏德,鼎迁于商,载祀六百。商纣暴虐,鼎迁于周。德之休明,虽小,重也。其建回昏乱,虽大,轻也。天祚明德,有所底止。成王定鼎于郏鄏,卜世三十,卜年七百,天所命也。周德虽衰,天命未改,鼎之轻重,未可问也。”
  夏,楚人侵郑,郑即晋故也。
  宋文公即位三年,杀母弟须及昭公子。武氏之谋也,使戴、桓之族攻武氏于司马子伯之馆。尽逐武、穆之族。武、穆之族以曹师伐宋。秋,宋师围曹,报武氏之乱也。
  冬,郑穆公卒。
  初,郑文公有贱妾曰燕姞,梦天使与己兰,曰:”余为伯鯈。余,而祖也,以是为而子。以兰有国香,人服媚之如是。”既而文公见之,与之兰而御之。辞曰:”妾不才,幸而有子,将不信,敢征兰乎。”公曰:”诺。”生穆公,名之曰兰。
  文公报郑子之妃,曰陈妫,生子华、子臧。子臧得罪而出。诱子华而杀之南里,使盗杀子臧于陈、宋之间。又娶于江,生公子士。朝于楚,楚人鸩之,及叶而死。又娶于苏,生子瑕、子俞弥。俞弥早卒。泄驾恶瑕,文公亦恶之,故不立也。公逐群公子,公子兰奔晋,従晋文公伐郑。石癸曰:”吾闻姬、姞耦,其子孙必蕃。姞,吉人也,后稷之元妃也,今公子兰,姞甥也。天或启之,必将为君,其后必蕃,先纳之可以亢宠。”与孔将锄、侯宣多纳之,盟于大宫而立之。以与晋平。
  穆公有疾,曰:”兰死,吾其死乎,吾所以生也。”刈兰而卒。
  ◎ 宣公四年
  【经】四年春王正月,公及齐侯平莒及郯。莒人不肯。公伐莒,取向。秦伯稻卒。夏六月乙酉,郑公子归生弑其君夷。赤狄侵齐。秋,公如齐。公至自齐。冬,楚子伐郑。
  【传】四年春,公及齐侯平莒及郯,莒人不肯。公伐莒,取向,非礼也。平国以礼不以乱,伐而不治,乱也。以乱平乱,何治之有?无治,何以行礼?
  楚人献鼋于郑灵公。公子宋与子家将见。子公之食指动,以示子家,曰:”他日我如此,必尝异味。”及入,宰夫将解鼋,相视而笑。公问之,子家以告,及食大夫鼋,召子公而弗与也。子公怒,梁指于鼎,尝之而出。公怒,欲杀子公。子公与子家谋先。子家曰:”畜老,犹惮杀之,而况君乎?”反谮子家,子家惧而従之。夏,弑灵公。书曰:”郑公子归生弑其君夷。”权不足也。君子曰:”仁而不武,无能达也。”凡弑君,称君,君无道也;称臣,臣之罪也。
  郑人立子良,辞曰:”以贤则去疾不足,以顺则公子坚长。”乃立襄公。襄公将去穆氏,而舍子良。子良不可,曰:”穆氏宜存,则固愿也。若将亡之,则亦皆亡,去疾何为?”乃舍之,皆为大夫。
  初,楚司马子良生子越椒,子文曰:”必杀之。是子也,熊虎之状,而豺狼之声,弗杀,必灭若敖氏矣。谚曰:’狼子野心。’是乃狼也,其可畜乎?”子良不可。子文以为大戚,及将死,聚其族,曰:”椒也知政,乃速行矣,无及于难。”且泣曰:”鬼犹求食,若敖氏之鬼,不其馁而?”及令尹子文卒,斗般为令尹,子越为司马。蒍贾为工正,谮子扬而杀之,子越为令尹,己为司马。子越又恶之,乃以若敖氏之族圄伯嬴于尞阳而杀之,遂处烝野,将攻王。王以三王之子为质焉,弗受,师于漳澨。秋七月戊戌,楚子与若敖氏战于皋浒。伯棼射王,汰辀,及鼓跗,著于丁宁。又射汰辀,以贯笠毂。师惧,退。王使巡师曰:”吾先君文王克息,获三矢焉。伯棼窃其二,尽于是矣。”鼓而进之,遂灭若敖氏。
  初,若敖娶于云阝,生斗伯比。若敖卒,従其母畜于云阝,淫于云阝子之女,生子文焉云阝夫人使弃诸梦中,虎乳之。云阝子田,见之,惧而归,以告,遂使收之。楚人谓乳谷,谓虎於菟,故命之曰斗谷於菟。以其女妻伯比,实为令尹子文。其孙箴尹克黄使于齐,还,及宋,闻乱。其人曰,”不可以入矣。”箴尹曰:”弃君之命,独谁受之?尹,天也,天可逃乎?”遂归,复命而自拘于司败。王思子文之治楚国也,曰:”子文无后,何以劝善?”使复其所,改命曰生。
  冬,楚子伐郑,郑未服也。
  ◎ 宣公五年
  【经】五年春,公如齐。夏,公至自齐。秋九月,齐高固来逆叔姬。叔孙得臣卒。冬,齐高固及子叔姬来。楚人伐郑。
  【传】五年春,公如齐,高固使齐侯止公,请叔姬焉。
  夏,公至自齐,书,过也。
  秋九月,齐高固来逆女,自为也。故书曰:”逆叔姬。”即自逆也。
  冬,来,反马也。
  楚子伐郑,陈及楚平。晋荀林父救郑,伐陈。
  ◎ 宣公六年
  【经】六年春,晋赵盾、卫孙免侵陈。夏四月。秋八月,螽。冬十月。
  【传】六年春,晋、卫侵陈,陈即楚故也。
  夏,定王使子服求后于齐。
  秋,赤狄伐晋。围怀,及邢丘。晋侯欲伐之。中行桓子曰:”使疾其民,以盈其贯,将可殪也。《周书》曰:’殪戎殷。’此类之谓也。”
  冬,召桓公逆王后于齐。
  楚人伐郑,取成而还。
  郑公子曼满与王子伯廖语,欲为卿。伯廖告人曰:”无德而贪,其在《周易》《丰》三之《离》三,弗过之矣。”间一岁,郑人杀之。
  ◎ 宣公七年
  【经】七年春,卫侯使孙良夫来盟。夏,公会齐侯伐莱。秋,公至自伐莱。大旱。冬,公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯于黑壤。
  【传】七年春,卫孙桓子来盟,始通,且谋会晋也。
  夏,公会齐侯伐莱,不与谋也。凡师出,与谋曰及,不与某曰会。
  赤狄侵晋,取向阴之禾。
  郑及晋平,公子宋之谋也,故相郑伯以会。冬,盟于黑壤,王叔桓公临之,以谋不睦。
  晋侯之立也,公不朝焉,又不使大夫聘,晋人止公于会,盟于黄父。公不与盟,以赂免。故黑壤之盟不书,讳之也。
  ◎ 宣公八年
  【经】八年春,公至自会。夏六月,公子遂如齐,至黄乃复。辛巳,有事于大庙,仲遂卒于垂。壬午,犹绎。万入,去籥。戊子,夫人赢氏薨。晋师、白狄伐秦。楚人灭舒蓼。秋七月甲子,日有食之,既。冬十月己丑,葬我小君敬赢。雨,不克葬。庚寅,日中而克葬。城平阳。楚师伐陈。
  【传】八年春,白狄及晋平。夏,会晋伐秦。晋人获秦谍,杀诸绛市,六日而苏。
  有事于大庙,襄仲卒而绎,非礼也。
  楚为众舒叛,故伐舒蓼,灭之。楚子疆之,及滑汭。盟吴、越而还。
  晋胥克有蛊疾,郤缺为政。秋,废胥克。使赵朔佐下军。
  冬,葬敬赢。旱,无麻,始用葛茀。雨,不克葬,礼也。礼,卜葬,先远日,辟不怀也。
  城平阳,书,时也。
  陈及晋平。楚师伐陈,取成而还。
  ◎ 宣公九年
  【经】九年春王正月,公如齐。公至自齐。夏,仲孙蔑如京师。齐侯伐莱。秋,取根牟。八月,滕子卒。九月,晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯会于扈。晋荀林父帅师伐陈。辛酉,晋侯黑臀卒于扈。冬十月癸酉,卫侯郑卒。宋人围滕。楚子伐郑。晋郤缺帅师救郑。陈杀其大夫洩冶。
  【传】九年春,王使来征聘。夏,孟献于聘于周,王以为有礼,厚贿之。
  秋,取根牟,言易也。
  滕昭公卒。
  会于扈,讨不睦也。陈侯不会。晋荀林父以诸侯之师伐陈。晋侯卒于扈,乃还。
  冬,宋人围滕,因其丧也。
  陈灵公与孔宁、仪行父通于夏姬,皆衷其礻日服以戏于朝。泄冶谏曰:”公卿宣淫,民无效焉,且闻不令,君其纳之。”公曰:”吾能改矣。”公告二子,二子请杀之,公弗禁,遂杀泄冶。孔子曰:”《诗》云:’民之多辟,无自立辟。’其泄冶之谓乎。”
  楚子为厉之役故,伐郑。
  晋郤缺救郑,郑伯败楚师于柳棼。国人皆喜,唯子良忧曰:”是国之灾也,吾死无日矣。”
  ◎ 宣公十年
  【经】十年春,公如齐。公至自齐。齐人归我济西田。夏四月丙辰,日有食之。己巳,齐侯元卒。齐崔氏出奔卫。公如齐。五月,公至自齐。癸巳,陈夏征舒弑其君平国。六月,宋师伐滕。公孙归父如齐,葬齐惠公。晋人、宋人、卫人、曹人伐郑。秋,天王使王季子来聘。公孙归父帅师伐邾,取绎。大水。季孙行父如齐。冬,公孙归父如齐。齐侯使国佐来聘。饥。楚子伐郑。
  【传】十年春,公如齐。齐侯以我服故,归济西之田。
  夏,齐惠公卒。崔杼有宠于惠公,高、国畏其逼也,公卒而逐之,奔卫。书曰”崔氏”,非其罪也,且告以族,不以名。凡诸侯之大夫违,告于诸侯曰:”某氏之守臣某,失守宗庙,敢告。”所有玉帛之使者,则告,不然,则否。
  公如齐奔丧。
  陈灵公与孔宁、仪行父饮酒于夏氏。公谓行父曰:”征舒似女。”对曰:”亦似君。”征舒病之。公出,自其厩射而杀之。二子奔楚。
  滕人恃晋而不事宋,六月,宋师伐滕。
  郑及楚平。诸侯之师伐郑,取成而还。
  秋,刘康公来报聘。
  师伐邾,取绎。
  季文子初聘于齐。
  冬,子家如齐,伐邾故也。
  国武子来报聘。
  楚子伐郑。晋士会救郑,逐楚师于颍北。诸侯之师戍郑。郑子家卒。郑人讨幽公之乱,斫子家之棺而逐其族。改葬幽公,谥之曰灵。
  ◎ 宣公十一年
  【经】十有一年春王正月。夏,楚子、陈侯、郑伯盟于辰陵。公孙归父会齐人伐莒。秋,晋侯会狄于欑函。冬十月,楚人杀陈夏征舒。丁亥,楚子入陈。纳公孙宁、仪行父于陈。
  【传】十一年春,楚子伐郑,及栎。子良曰:”晋、楚不务德而兵争,与其来者可也。晋、楚无信,我焉得有信。”乃従楚。夏,楚盟于辰陵,陈、郑服也。
  楚左尹子重侵宋,王待诸郔。令尹蒍艾猎城沂,使封人虑事,以授司徒。量功命日,分财用,平板干,称畚筑,程土物,议远迩,略基趾,具糇粮,度有司,事三旬而成,不愆于素。
  晋郤成子求成于众狄,众狄疾赤狄之役,遂服于晋。秋,会于欑函,众狄服也。是行也。诸大夫欲召狄。郤成子曰:”吾闻之,非德,莫如勤,非勤,何以求人?能勤有继,其従之也。《诗》曰:’文王既勤止。’文王犹勤,况寡德乎?”
  冬,楚子为陈夏氏乱故,伐陈。谓陈人无动,将讨于少西氏。遂入陈,杀夏征舒,轘诸栗门,因县陈。陈侯在晋。
  申叔时使于齐,反,复命而退。王使让之曰:”夏征舒为不道,弑其君,寡人以诸侯讨而戮之,诸侯、县公皆庆寡人,女独不庆寡人,何故”对曰:”犹可辞乎?”王曰:”可哉”曰:夏征舒弑其君,其罪大矣,讨而戮之,君之义也。抑人亦有言曰:’牵牛以蹊人之田,而夺之牛。’牵牛以蹊者,信有罪矣;而夺之牛,罚已重矣。诸侯之従也,曰讨有罪也。今县陈,贪其富也。以讨召诸侯,而以贪归之,无乃不可乎?王曰:”善哉!”吾未之闻也。反之,可乎?对曰:”可哉!吾侪小人所谓取诸其怀而与之也。”乃复封陈,乡取一人焉以归,谓之夏州。故书曰:”楚子入陈,纳公孙宁、仪行父于陈。”书有礼也。
  厉之役,郑伯逃归,自是楚未得志焉。郑既受盟于辰陵,又徼事于晋。
  ◎ 宣公十二年
  【经】十有二年春,葬陈灵公。楚子围郑。夏六月乙卯,晋荀林父帅师及楚子战于邲,晋师败绩。秋七月。冬十有二月戊寅,楚子灭萧。晋人、宋人、卫人、曹人同盟于清丘。宋师伐陈。卫人救陈。
  【传】十二年春,楚子围郑。旬有七日,郑人卜行成,不吉。卜临于大宫,且巷出车,吉。国人大临,守陴者皆哭。楚子退师,郑人修城,进复围之,三月克之。入自皇门,至于逵路。郑伯肉袒牵羊以逆,曰:”孤不天,不能事君,使君怀怒以及敝邑,孤之罪也。敢不唯命是听。其俘诸江南以实海滨,亦唯命。其翦以赐诸侯,使臣妾之,亦唯命。若惠顾前好,徼福于厉、宣、桓、武,不泯其社稷,使改事君,夷于九县,君之惠也,孤之愿之,非所敢望也。敢布腹心,君实图之。”左右曰:”不可许也,得国无赦。”王曰:”其君能下人,必能信用其民矣,庸可几乎?”退三十里而许之平。潘尫入盟,子良出质。
  夏六月,晋师救郑。荀林父将中军,先縠佐之。士会将上军,郤克佐之。赵朔将下军,栾书佐之。赵括、赵婴齐为中军大夫。巩朔、韩穿为上军大夫。荀首、赵同为下军大夫。韩厥为司马。及河,闻郑既及楚平,桓子欲还,曰:”无及于郑而剿民,焉用之?楚归而动,不后。”随武子曰:”善。会闻用师,观衅而动。德刑政事典礼不易,不可敌也,不为是征。楚军讨郑,怒其贰而哀其卑,叛而伐之,服而舍之,德刑成矣。伐叛,刑也;柔服,德也。二者立矣。昔岁入陈,今兹入郑,民不罢劳,君无怨讟,政有经矣。荆尸而举,商农工贾不败其业,而卒乘辑睦,事不奸矣。蒍敖为宰,择楚国之令典,军行,右辕,左追蓐,前茅虑无,中权,后劲,百官象物而动,军政不戒而备,能用典矣。其君之举也,内娃选于亲,外姓选于旧;举不失德,赏不失劳;老有加惠,旅有施舍;君子小人,物有服章,贵有常尊,贱有等威;礼不逆矣。德立,刑行,政成,事时,典従,礼顺,若之何敌之?见可而进,知难而退,军之善政也。兼弱攻昧,武之善经也。子姑整军而经武乎,犹有弱而昧者,何必楚?仲虺有言曰:’取乱侮亡。’兼弱也。《汋》曰:’於铄王师,遵养时晦。’耆昧也。《武》曰:’无竞惟烈。’抚弱耆昧以务烈所,可也。”彘子曰:”不可。晋所以霸,师武臣力也。今失诸侯,不可谓力。有敌而不従,不可谓武。由我失霸,不如死。且成师以出,闻敌强而退,非夫也。命为军师,而卒以非夫,唯群子能,我弗为也。”以中军佐济。
  知庄子曰:”此师殆哉。《周易》有之,在《师》三之《临》三,曰:’师出以律,否臧凶。’执事顺成为臧,逆为否,众散为弱,川壅为泽,有律以如己也,故曰律。否臧,且律竭也。盈而以竭,夭且不整,所以凶也。不行谓之《临》,有帅而不従,临孰甚焉!此之谓矣。果遇,必败,彘子尸之。虽免而归,必有大咎。”韩献子谓桓子曰:”彘子以偏师陷,子罪大矣。子为元师,师不用命,谁之罪也?失属亡师,为罪已重,不如进也。事之不捷,恶有所分,与其专罪,六人同之,不犹愈乎?”师遂济。
  楚子北师次于郔,沈尹将中军,子重将左,子反将右,将饮马于河而归。闻晋师既济,王欲还,嬖人伍参欲战。令尹孙叔敖弗欲,曰:”昔岁入陈,今兹入郑,不无事矣。战而不捷,参之肉其足食乎?”参曰:”若事之捷,孙叔为无谋矣。不捷,参之肉将在晋军,可得食乎?”令尹南辕反旆,伍参言于王曰:”晋之従政者新,未能行令。其佐先縠刚愎不仁,未肯用命。其三帅者专行不获,听而无上,众谁适従?此行也,晋师必败。且君而逃臣,若社稷何?”王病之,告令尹,改乘辕而北之,次于管以待之。
  晋师在敖、鄗之间。郑皇戌使如晋师,曰:”郑之従楚,社稷之故也,未有贰心。楚师骤胜而骄,其师老矣,而不设备,子击之,郑师为承,楚师必败。”彘子曰:”败楚服郑,于此在矣,必许之。”栾武子曰:”楚自克庸以来,其君无日不讨国人而训之于民生之不易,祸至之无日,戒惧之不可以怠。在军,无日不讨军实而申儆之于胜之不可保,纣之百克,而卒无后。训以若敖、蚡冒,筚路蓝缕,以启山林。箴之曰:’民生在勤,勤则不匮。’不可谓骄。先大夫子犯有言曰:’师直为壮,曲为老。’我则不德,而徼怨于楚,我曲楚直,不可谓老。其君之戎,分为二广,广有一卒,卒偏之两。右广初驾,数及日中;左则受之,以至于昏。内官序当其夜,以待不虞,不可谓无备。子良,郑之良也。师叔,楚之崇也。师叔入盟,子良在楚,楚、郑亲矣。来劝我战,我克则来,不克遂往,以我卜也,郑不可従。”赵括、赵同曰:”率师以来,唯敌是求。克敌得属,又何矣?必従彘子。”知季曰:”原、屏,咎之徒也。”赵庄子曰:”栾伯善哉,实其言,必长晋国。”
  楚少宰如晋师,曰:”寡君少遭闵凶,不能文。闻二先君之出入此行也,将郑是训定,岂敢求罪于晋。二三子无淹久。”随季对曰:”昔平王命我先君文侯曰:’与郑夹辅周室,毋废王命。’今郑不率,寡君使群臣问诸郑,岂敢辱候人?敢拜君命之辱。”彘子以为谄,使赵括従而更之,曰:”行人失辞。寡君使群臣迁大国之迹于郑,曰:’无辟敌。’群臣无所逃命。”
  楚子又使求成于晋,晋人许之,盟有日矣。楚许伯御乐伯,摄叔为右,以致晋师,许伯曰:”吾闻致师者,御靡旌摩垒而还。”乐伯曰:”吾闻致师者,左射以菆,代御执辔,御下两马,掉鞅而还。”摄叔曰:”吾闻致师者,右入垒,折馘,执俘而还。”皆行其所闻而复。晋人逐之,左右角之。乐伯左射马而右射人,角不能进,矢一而已。麋兴于前,射麋丽龟。晋鲍癸当其后,使摄叔奉麋献焉,曰:”以岁之非时,献禽之未至,敢膳诸従者。”鲍癸止之,曰:”其左善射,其右有辞,君子也。”既免。
  晋魏锜求公族未得,而怒,欲败晋师。请致师,弗许。请使,许之。遂往,请战而还。楚潘党逐之,及荧泽,见六麋,射一麋以顾献曰:”子有军事,兽人无乃不给于鲜,敢献于従者。”叔党命去之。赵旃求卿未得,且怒于失楚之致师者。请挑战,弗许。请召盟。许之。与魏锜皆命而往。郤献子曰:”二憾往矣,弗备必败。”彘子曰:”郑人劝战,弗敢従也。楚人求成,弗能好也。师无成命,多备何为。”士季曰:”备之善。若二子怒楚,楚人乘我,丧师无日矣。不如备之。楚之无恶,除备而盟,何损于好?若以恶来,有备不败。且虽诸侯相见,军卫不彻,警也。”彘子不可。
  士季使巩朔、韩穿帅七覆于敖前,故上军不败。赵婴齐使其徒先具舟于河,故败而先济。
  潘党既逐魏锜,赵旃夜至于楚军,席于军门之外,使其徒入之。楚子为乘广三十乘,分为左右。右广鸡鸣而驾,日中而说。左则受之,日入而说。许偃御右广,养由基为右。彭名御左广,屈荡为右。乙卯,王乘左广以逐赵旃。赵旃弃车而走林,屈荡搏之,得其甲裳。晋人惧二子之怒楚师也,使軘车逆之。潘党望其尘,使聘而告曰:”晋师至矣。”楚人亦惧王之入晋军也,遂出陈。孙叔曰:”进之。宁我薄人,无人薄我。《诗》云:’元戎十乘,以先启行。’先人也。《军志》曰:’先人有夺人之心’。薄之也。”遂疾进师,车驰卒奔,乘晋军。桓子不知所为,鼓于军中曰:”先济者有赏。”中军、下军争舟,舟中之指可掬也。
  晋师右移,上军未动。工尹齐将右拒卒以逐下军。楚子使唐狡与蔡鸠居告唐惠侯曰:”不谷不德而贪,以遇大敌,不谷之罪也。然楚不克,君之羞也,敢藉君灵以济楚师。”使潘党率游阙四十乘,従唐侯以为左拒,以従上军。驹伯曰:”待诸乎?”随季曰:”楚师方壮,若萃于我,吾师必尽,不如收而去之。分谤生民,不亦可乎?”殿其卒而退,不败。
  王见右广,将従之乘。屈荡尸之,曰:”君以此始,亦必以终。”自是楚之乘广先左。
  晋人或以广队不能进,楚人惎之脱扃,少进,马还,又惎之拔旆投衡,乃出。顾曰:”吾不如大国之数奔也。”
  赵旃以其良马二,济其兄与叔父,以他马反,遇敌不能去,弃车而走林。逢大夫与其二子乘,谓其二子无顾。顾曰:”赵傁在后。”怒之,使下,指木曰:”尸女于是。”授赵旃绥,以免。明日以表尸之,皆重获在木下。
  楚熊负羁囚知荦。知庄子以其族反之,厨武子御,下军之士多従之。每射,抽矢,菆,纳诸厨子之房。厨子怒曰:”非子之求而蒲之爱,董泽之蒲,可胜既乎?”知季曰:”不以人子,吾子其可得乎?吾不可以苟射故也。”射连尹襄老,获之,遂载其尸。射公子谷臣,囚之。以二者还。
  及昏,楚师军于邲,晋之余师不能军,宵济,亦终夜有声。
  丙辰,楚重至于邲,遂次于衡雍。潘党曰:”君盍筑武军,而收晋尸以为京观。臣闻克敌必示子孙,以无忘武功。”楚子曰:”非尔所知也。夫文,止戈为武。武王克商。作《颂》曰:’载戢干戈,载櫜弓矢。我求懿德,肆于时夏,允王保之。’又作《武》,其卒章曰’耆定尔功’。其三曰:’铺时绎思,我徂求定。’其六曰:’绥万邦,屡丰年。’夫武,禁暴、戢兵、保大、定功、安民、和众、丰财者也。故使子孙无忘其章。今我使二国暴骨,暴矣;观兵以威诸侯,兵不戢矣。暴而不戢,安能保大?犹有晋在,焉得定功?所违民欲犹多,民何安焉?无德而强争诸侯,何以和众?利人之几,而安人之乱,以为己荣,何以丰财?武有七德,我无一焉,何以示子孙?其为先君宫,告成事而已。武非吾功也。古者明王伐不敬,取其鲸鲵而封之,以为大戮,于是乎有京观,以惩淫慝。今罪无所,而民皆尽忠以死君命,又可以为京观乎?”祀于河,作先君宫,告成事而还。
  是役也,郑石制实入楚师,将以分郑而立公子鱼臣。辛未,郑杀仆叔子服。君子曰:”史佚所谓毋怙乱者,谓是类也。《诗》曰:’乱离瘼矣,爰其适归?’归于怙乱者也夫。”
  郑伯、许男如楚。
  秋,晋师归,桓子请死,晋侯欲许之。士贞子谏曰:”不可。城濮之役,晋师三日谷,文公犹有忧色。左右曰:’有喜而忧,如有忧而喜乎?’公曰:’得臣犹在,忧未歇也。困兽犹斗,况国相乎!’及楚杀子玉,公喜而后可知也,曰:’莫余毒也已。’是晋再克而楚再败也。楚是以再世不竞。今天或者大警晋也,而又杀林父以重楚胜,其无乃久不竞乎?林父之事君也,进思尽忠,退思补过,社稷之卫也,若之何杀之?夫其败也,如日月之食焉,何损于明?”晋侯使复其位。
  冬,楚子伐萧,宋华椒以蔡人救萧。萧人囚熊相宜僚及公子丙。王曰:”勿杀,吾退。”萧人杀之。王怒,遂围萧。萧溃。申公巫臣曰:”师人多寒。”王巡三军,拊而勉之。三军之士,皆如挟纩。遂傅于萧。还无社与司马卯言,号申叔展。叔展曰:”有麦曲乎?”曰:”无”。”有山鞠穷乎?”曰:”无”。”河鱼腹疾奈何?”曰:”目于眢井而拯之。””若为茅绖,哭井则己。”明日萧溃,申叔视其井,则茅绖存焉,号而出之。
  晋原縠、宋华椒、卫孔达、曹人同盟于清丘。曰:”恤病讨贰。”于是卿不书,不实其言也。宋为盟故,伐陈。卫人救之。孔达曰:”先君有约言焉,若大国讨,我则死之。”
  ◎ 宣公十三年
  【经】十有三年春,齐师伐莒。夏,楚子伐宋。秋,螽。冬,晋杀其大夫先縠。
  【传】十三年春,齐师伐莒,莒恃晋而不事齐故也。
  夏,楚子伐宋,以其救萧也。君子曰:”清丘之盟,唯宋可以免焉。”
  秋,赤狄伐晋,及清,先縠召之也。
  冬,晋人讨邲之败,与清之师,归罪于先縠而杀之,尽灭其族。君子曰:”恶之来也,己则取之,其先縠之谓乎。”
  清丘之盟,晋以卫之救陈也讨焉。使人弗去,曰:”罪无所归,将加而师。”孔达曰:”苟利社稷,请以我说。罪我之由。我则为政而亢大国之讨,将以谁任?我则死之。”
  ◎ 宣公十四年
  【经】十有四年春,卫杀其大夫孔达。夏五月壬申,曹伯寿卒。晋侯伐郑。秋九月,楚子围宋。葬曹文公。冬,公孙归父会齐侯于谷。
  【传】十四年春,孔达缢而死。卫人以说于晋而免。遂告于诸侯曰:”寡君有不令之臣达,构我敝邑于大国,既伏其罪矣,敢告。”卫人以为成劳,复室其子,使复其位。
  夏,晋侯伐郑,为邲故也。告于诸侯,搜焉而还。中行桓子之谋也。曰:”示之以整,使谋而来。”郑人惧,使子张代子良于楚。郑伯如楚,谋晋故也。郑以子良为有礼,故召之。
  楚子使申舟聘于齐,曰:”无假道于宋。”亦使公子冯聘于晋,不假道于郑。申舟以孟诸之役恶宋,曰:”郑昭宋聋,晋使不害,我则必死。”王曰:”杀女,我伐之。”见犀而行。及宋,宋人止之,华元曰:”过我而不假道,鄙我也。鄙我,亡也。杀其使者必伐我,伐我亦亡也。亡一也。”乃杀之。楚子闻之,投袂而起,屦及于窒皇,剑及于寝门之外,车及于蒲胥之市。秋九月,楚子围宋。
  冬,公孙归父会齐侯于谷。见晏桓子,与之言鲁乐。桓子告高宣子曰:”子家其亡乎,怀于鲁矣。怀必贪,贪必谋人。谋人,人亦谋己。一国谋之,何以不亡?”
  孟献子言于公曰:”臣闻小国之免于大国也,聘而献物,于是有庭实旅百。朝而献功,于是有容貌采章嘉淑,而有加货。谋其不免也。诛而荐贿,则无及也。今楚在宋,君其图之。”公说。
  ◎ 宣公十五年
  【经】十有五年春,公孙归父会楚子于宋。夏五月,宋人及楚人平。六月癸卯,晋师灭赤狄潞氏,以潞子婴儿归。秦人伐晋。王札子杀召伯、毛伯。秋,螽。仲孙蔑会齐高固于无娄。初,税亩。冬,蝝生。饥。
  【传】十五年春,公孙归父会楚子于宋。
  宋人使乐婴齐告急于晋。晋侯欲救之。伯宗曰:”不可。古人有言曰:’虽鞭之长,不及马腹。’天方授楚,未可与争。虽晋之强,能违天乎?谚曰:’高下在心。’川泽纳污,山薮藏疾,瑾瑜匿瑕,国君含垢,天之道也,君其待之。”乃止。使解扬如宋,使无降楚,曰:”晋师悉起,将至矣。”郑人囚而献诸楚,楚子厚赂之,使反其言,不许,三而许之。登诸楼车,使呼宋人而告之。遂致其君命。楚子将杀之,使与之言曰:”尔既许不谷而反之,何故?非我无信,女则弃之,速即尔刑。”对曰:”臣闻之,君能制命为义,臣能承命为信,信载义而行之为利。谋不失利,以卫社稷,民之主也。义无二信,信无二命。君之赂臣,不知命也。受命以出,有死无,又可赂乎?臣之许君,以成命也。死而成命,臣之禄也。寡君有信臣,下臣获考死,又何求?”楚子舍之以归。
  夏五月,楚师将去宋。申犀稽首于王之马前,曰:”毋畏知死而不敢废王命,王弃言焉。”王不能答。申叔时仆,曰:”筑室反耕者,宋必听命。”従之。宋人惧,使华元夜入楚师,登子反之床,起之曰:”寡君使元以病告,曰:’敝邑易子而食,析骸以爨。虽然,城下之盟,有以国毙,不能従也。去我三十里,唯命是听。'”子反惧,与之盟而告王。退三十里。宋及楚平,华元为质。盟曰:”我无尔诈,尔无我虞。”
  潞子婴儿之夫人,晋景公之姊也。酆舒为政而杀之,又伤潞子之目。晋侯将伐之,诸大夫皆曰:”不可。酆舒有三俊才,不如待后之人。”伯宗曰:”必伐之。狄有五罪,俊才虽多,何补焉?不祀,一也。耆酒,二也。弃仲章而夺黎氏地,三也。虐我伯姬,四也。伤其君目,五也。怙其俊才,而不以茂德,兹益罪也。后之人或者将敬奉德义以事神人,而申固其命,若之何待之?不讨有罪,曰将待后,后有辞而讨焉,毋乃不可乎?夫恃才与众,亡之道也。商纣由之,故灭。天反时为灾,地反物为妖,民反德为乱,乱则妖灾生。故文反正为乏。尽在狄矣。”晋侯従之。六月癸卯,晋荀林父败赤狄于曲梁。辛亥,灭潞。酆舒奔卫,卫人归诸晋,晋人杀之。
  王孙苏与召氏、毛氏争政,使王子捷杀召戴公及毛伯卫。卒立召襄。
  秋七月,秦桓公伐晋,次于辅氏。壬午,晋侯治兵于稷以略狄土,立黎侯而还。及洛,魏颗败秦师于辅氏。获杜回,秦之力人也。
  初,魏武子有嬖妾,无子。武子疾,命颗曰:”必嫁是。”疾病,则曰:”必以为殉。”及卒,颗嫁之,曰:”疾病则乱,吾従其治也。”及辅氏之役,颗见老人结草以亢杜回,杜回踬而颠,故获之。夜梦之曰:”余,而所嫁妇人之父也。尔用先人之治命,余是以报。”
  晋侯赏桓子狄臣千室,亦赏士伯以瓜衍之县。曰:”吾获狄土,子之功也。微子,吾丧伯氏矣。”羊舌职说是赏也,曰:”《周书》所谓’庸庸祗祗’者,谓此物也夫。士伯庸中行伯,君信之,亦庸士伯,此之谓明德矣。文王所以造周,不是过也。故《诗》曰:’陈锡哉周。’能施也。率是道也,其何不济?”
  晋侯使赵同献狄俘于周,不敬。刘康公曰:”不及十年,原叔必有大咎,天夺之魄矣。”
  初税亩,非礼也。谷出不过藉,以丰财也。
  冬,蝝生,饥。幸之也。
  ◎ 宣公十六年
  【经】十有六年春王正月。晋人灭赤狄甲氏及留吁。夏,成周宣榭火。秋,郯伯姬来归。冬,大有年。
  【传】十六年春,晋士会帅师灭赤狄甲氏及留吁、铎辰。
  三月,献狄俘。晋侯请于王。戊申,以黻冕命士会将中军,且为大傅。于是晋国之盗逃奔于秦。羊舌职曰:”吾闻之,’禹称善人,不善人远’,此之谓也夫。《诗》曰:’战战兢兢,如临深渊,如履薄冰。’善人在上也。善人在上,则国无幸民。谚曰:’民之多幸,国之不幸也。’是无善人之谓也。”
  夏,成周宣榭火,人火之也。凡火,人火曰火,天火曰灾。
  秋,郯伯姬来归,出也。
  为毛、召之难故,王室复乱。王孙苏奔晋,晋人复之。
  冬,晋侯使士会平王室,定王享之,原襄公相礼,殽烝。武子私问其故。王闻之,召武子曰:”季氏,而弗闻乎?王享有体荐,宴有折俎。公当享,卿当宴,王室之礼也。”武子归而讲求典礼,以修晋国之法。
  ◎ 宣公十七年
  【经】十有七年春王正月庚子,许男锡我卒。丁未,蔡侯申卒。夏,葬许昭公。葬蔡文公。六月癸卯,日有食之。己未,公会晋侯、卫侯、曹伯、邾子同盟于断道。秋,公至自会。冬十有一月壬午,公弟叔肸卒。
  【传】十七年春,晋侯使郤克征会于齐。齐顷公帷妇人,使观之。郤子登,妇人笑于房。献子怒,出而誓曰:”所不此报,无能涉河。”献子先归,使栾京庐待命于齐,曰:”不得齐事,无复命矣。”郤子至,请伐齐,晋侯弗许。请以其私属,又弗许。
  齐侯使高固、晏弱、蔡朝、南郭偃会。及敛孟,高固逃归。夏,会于断道,讨贰也。盟于卷楚,辞齐人。晋人执晏弱于野王,执蔡朝于原,执南郭偃于温。苗贲皇使,见晏桓子,归言于晋侯曰:”夫晏子何罪?昔者诸侯事吾先君,皆如不逮,举言群臣不信,诸侯皆有贰志。齐君恐不得礼,故不出,而使四子来。左右或沮之,曰:’君不出,必执吾使。’故高子及敛盂而逃。夫三子者曰:’若绝君好,宁归死焉。’为是犯难而来,吾若善逆彼以怀来者。吾又执之,以信齐沮,吾不既过矣乎?过而不改,而又久之,以成其悔,何利之有焉?使反者得辞,而害来者,以惧诸侯,将焉用之?”晋人缓之,逸。
  秋八月,晋师还。
  范武子将老,召文子曰:”燮乎!吾闻之,喜怒以类者鲜,易者实多。《诗》曰:’君子如怒,乱庶遄沮;君子如祉,乱庶遄已。’君子之喜怒,以已乱也。弗已者,必益之。郤子其或者欲已乱于齐乎?不然,余惧其益之也。余将老,使郤子逞其志,庶有豸乎?尔従二三子唯敬。”乃请老,郤献子为政。
  冬,公弟叔肸卒。公母弟也。凡大子之母弟,公在曰公子,不在曰弟。凡称弟,皆母弟也。
  ◎ 宣公十八年
  【经】十有八年春,晋侯、卫世子臧伐齐。公伐杞。夏四月。秋七月,邾人伐鄫子于鄫。甲戌,楚子旅卒。公孙归父如晋。冬十月壬戌,公薨于路寝。归父还自晋,至笙。遂奔齐,
  【传】十八年春,晋侯、卫大子臧伐齐,至于阳谷。齐侯会晋侯盟于缯,以公子强为质于晋。晋师还,蔡朝、南郭偃逃归。
  夏,公使如楚乞师,欲以伐齐。
  秋,邾人戕鄫子于鄫。凡自虐其君曰弑,自外曰戕。
  楚庄王卒。楚师不出,既而用晋师,楚于是乎有蜀之役。
  公孙归父以襄仲之立公也,有宠,欲去三桓以张公室。与公谋而聘于晋,欲以晋人去之。冬,公薨。季文子言于朝曰:”使我杀適立庶以失大援者,仲也夫。”臧宣叔怒曰:”当其时不能治也,后之人何罪?子欲去之,许请去之。”遂逐东门氏。子家还,及笙,坛帷,复命于介。既复命,袒、括发,即位哭,三踊而出。遂奔齐。书曰”归父还自晋。”善之也。
************************
成公  【元年~十八年】
  ◎ 成公元年
  【经】元年春王正月,公即位。二月辛酉,葬我君宣公。无冰。三月,作丘甲。夏,臧孙许及晋侯盟于赤棘。秋,王师败绩于茅戎。冬十月。
  【传】元年春,晋侯使瑕嘉平戎于王,单襄公如晋拜成。刘康公徼戎,将遂伐之。叔服曰:”背盟而欺大国,此必败。背盟,不祥;欺大国,不义;神人弗助,将何以胜?”不听,遂伐茅戎。三月癸未,败绩于徐吾氏。
  为齐难故,作丘甲。
  闻齐将出楚师,夏,盟于赤棘。
  秋,王人来告败。
  冬,臧宣叔令修赋、缮完、具守备,曰:”齐、楚结好,我新与晋盟,晋、楚争盟,齐师必至。虽晋人伐齐,楚必救之,是齐、楚同我也。知难而有备,乃可以逞。”
  ◎ 成公二年
  【经】二年春,齐侯伐我北鄙。夏四月丙戌,卫孙良夫帅师及齐师战于新筑,卫师败绩。六月癸酉,季孙行父、臧孙许、叔孙侨如、公孙婴齐帅师会晋郤克、卫孙良夫、曹公子首及齐侯战于鞍,齐师败绩。秋七月,齐侯使国佐如师。己酉,及国佐盟于袁娄。八月壬卒。宋公鲍卒。庚寅,卫侯速卒。取汶阳田。冬,楚师、郑师侵卫。十有一月,公会楚公子婴齐于蜀。丙申,公及楚人、秦人、宋人、陈人、卫人、郑人、齐人、曹人、邾人、薛人、鄫人盟于蜀。
  【传】二年春,齐侯伐我北鄙,围龙。顷公之嬖人卢蒲就魁门焉,龙人囚之。齐侯曰:”勿杀!吾与而盟,无入而封。”弗听,杀而膊诸城上。齐侯亲鼓,士陵城,三日,取龙,遂南侵及巢丘。
  卫侯使孙良夫、石稷、宁相、向禽将侵齐,与齐师遇。石子欲还,孙子曰:”不可。以师伐人,遇其师而还,将谓君何?若知不能,则如无出。今既遇矣,不如战也。”
  夏,有。
  石成子曰:”师败矣。子不少须,众惧尽。子丧师徒,何以复命?”皆不对。又曰:”子,国卿也。陨子,辱矣。子以众退,我此乃止。”且告车来甚众。齐师乃止,次于鞫居。新筑人仲叔于奚救孙桓子,桓子是以免。
  既,卫人赏之以邑,辞。请曲县、繁缨以朝,许之。仲尼闻之曰:”惜也,不如多与之邑。唯器与名,不可以假人,君之所司也。名以出信,信以守器,器以藏礼,礼以行义,义以生利,利以平民,政之大节也。若以假人,与人政也。政亡,则国家従之,弗可止也已。”
  孙桓子还于新筑,不入,遂如晋乞师。臧宣叔亦如晋乞师。皆主郤献子。晋侯许之七百乘。郤子曰:”此城濮之赋也。有先君之明与先大夫之肃,故捷。克于先大夫,无能为役,请八百乘。”许之。郤克将中军,士燮佐上军,栾书将下军,韩厥为司马,以救鲁、卫。臧宣叔逆晋师,且道之。季文子帅师会之。及卫地,韩献子将斩人,郤献子驰,将救之,至则既斩之矣。郤子使速以徇,告其仆曰:”吾以分谤也。”
  师従齐师于莘。六月壬申,师至于靡笄之下。齐侯使请战,曰:”子以君师,辱于敝邑,不腆敝赋,诘朝请见。”对曰:”晋与鲁、卫,兄弟也。来告曰:’大国朝夕释憾于敝邑之地。’寡君不忍,使群臣请于大国,无令舆师淹于君地。能进不能退,君无所辱命。”齐侯曰:”大夫之许,寡人之愿也;若其不许,亦将见也。”齐高固入晋师,桀石以投人,禽之而乘其车,系桑本焉,以徇齐垒,曰:”欲勇者贾余馀勇。”
  癸酉,师陈于安。邴夏御齐侯,逢丑父为右。晋解张御郤克,郑丘缓为右。齐侯曰:”余姑翦灭此而朝食。”不介马而驰之。郤克伤于矢,流血及屦,未绝鼓音,曰:”余病矣!”张侯曰:”自始合,而矢贯余手及肘,余折以御,左轮朱殷,岂敢言病。吾子忍之!”缓曰:”自始合,苟有险,余必下推车,子岂识之?然子病矣!”张侯曰:”师之耳目,在吾旗鼓,进退従之。此车一人殿之,可以集事,若之何其以病败君之大事也?擐甲执兵,固即死也。病未及死,吾子勉之!”左并辔,右援枹而鼓,马逸不能止,师従之。齐师败绩。逐之,三周华不注。
  韩厥梦子舆谓己曰:”且辟左右。”故中御而従齐侯。邴夏曰:”射其御者,君子也。”公曰:”谓之君子而射之,非礼也。”射其左,越于车下。射其右,毙于车中,綦毋张丧车,従韩厥,曰:”请寓乘。”従左右,皆肘之,使立于后。韩厥俛,定其右。逢丑父与公易位。将及华泉,骖絓于木而止。丑父寝于轏中,蛇出于其下,以肱击之,伤而匿之,故不能推车而及。韩厥执絷马前,再拜稽首,奉觞加璧以进,曰:”寡君使群臣为鲁、卫请,曰:’无令舆师陷入君地。’下臣不幸,属当戎行,无所逃隐。且惧奔辟而忝两君,臣辱戎士,敢告不敏,摄官承乏。”丑父使公下,如华泉取饮。郑周父御佐车,宛伐为右,载齐侯以免。韩厥献丑父,郤献子将戮之。呼曰:”自今无有代其君任患者,有一于此,将为戮乎!”郤子曰:”人不难以死免其君。我戮之不祥,赦之以劝事君者。”乃免之。
  齐侯免,求丑父,三入三出。每出,齐师以帅退。入于狄卒,狄卒皆抽戈楯冒之。以入于卫师,卫师免之。遂自徐关入。齐侯见保者,曰:”勉之!齐师败矣。”辟女子,女子曰:”君免乎?”曰:”免矣。”曰:”锐司徒免乎?”曰:”免矣。”曰:”苟君与吾父免矣,可若何!”乃奔。齐侯以为有礼,既而问之,辟司徒之妻也。予之石窌。
  晋师従齐师,入自丘舆,击马陉。齐侯使宾媚人赂以纪甗、玉磬与地。不可,则听客之所为。宾媚人致赂,晋人不可,曰:”必以萧同叔子为质,而使齐之封内尽东其亩。”对曰:”萧同叔子非他,寡君之母也。若以匹敌,则亦晋君之母也。吾子布大命于诸侯,而曰:’必质其母以为信。’其若王命何?且是以不孝令也。《诗》曰:’孝子不匮,永锡尔类。’若以不孝令于诸侯,其无乃非德类也乎?先王疆理天下物土之宜,而布其利,故《诗》曰:’我疆我理,南东其亩。’今吾子疆理诸侯,而曰’尽东其亩’而已,唯吾子戎车是利,无顾土宜,其无乃非先王之命也乎?反先王则不义,何以为盟主?其晋实有阙。四王之王也,树德而济同欲焉。五伯之霸也,勤而抚之,以役王命。今吾子求合诸侯,以逞无疆之欲。《诗》曰’布政优优,百禄是遒。’子实不优,而弃百禄,诸侯何害焉!不然,寡君之命使臣则有辞矣,曰:’子以君师辱于敝邑,不腆敝赋以,犒従者。畏君之震,师徒尧败,吾子惠徼齐国之福,不泯其社稷,使继旧好,唯是先君之敝器、土地不敢爱。子又不许,请收合余烬,背城借一。敝邑之幸,亦云従也。况其不幸,敢不唯命是听。'”鲁、卫谏曰:”齐疾我矣!其死亡者,皆亲昵也。子若不许,仇我必甚。唯子则又何求?子得其国宝,我亦得地,而纾于难,其荣多矣!齐、晋亦唯天所授,岂必晋?”晋人许之,对曰:”群臣帅赋舆以为鲁、卫请,若苟有以藉口而复于寡君,君之惠也。敢不唯命是听。”
  禽郑自师逆公。
  秋七月,晋师及齐国佐盟于爰娄,使齐人归我汶阳之田。公会晋师于上鄍,赐三帅先路三命之服,司马、司空、舆帅、候正、亚旅,皆受一命之服。
  八月,宋文公卒。始厚葬,用蜃炭,益车马,始用殉。重器备,椁有四阿,棺有翰桧。
  君子谓:”华元、乐举,于是乎不臣。臣治烦去惑者也,是以伏死而争。今二子者,君生则纵其惑,死又益其侈,是弃君于恶也。何臣之为?”
  九月,卫穆公卒,晋二子自役吊焉,哭于大门之外。卫人逆之,妇人哭于门内,送亦如之。遂常以葬。
  楚之讨陈夏氏也,庄王欲纳夏姬,申公巫臣曰:”不可。君召诸侯,以讨罪也。今纳夏姬,贪其色也。贪色为淫,淫为大罚。《周书》曰:’明德慎罚。’文王所以造周也。明德,务崇之之谓也;慎罚,务去之之谓也。若兴诸侯,以取大罚,非慎之也。君其图之!”王乃止。子反欲取之,巫臣曰:”是不祥人也!是夭子蛮,杀御叔,弑灵侯,戮夏南,出孔、仪,丧陈国,何不祥如是?人生实难,其有不获死乎?天下多美妇人,何必是?”子反乃止。王以予连尹襄老。襄老死于邲,不获其尸,其子黑要烝焉。巫臣使道焉,曰:”归!吾聘女。”又使自郑召之,曰:”尸可得也,必来逆之。”姬以告王,王问诸屈巫。对曰:”其信!知荦之父,成公之嬖也,而中行伯之季弟也,新佐中军,而善郑皇戌,甚爱此子。其必因郑而归王子与襄老之尸以求之。郑人惧于邲之役而欲求媚于晋,其必许之。”王遣夏姬归。将行,谓送者曰:”不得尸,吾不反矣。”巫臣聘诸郑,郑伯许之。及共王即位,将为阳桥之役,使屈巫聘于齐,且告师期。巫臣尽室以行。申叔跪従其父将适郢,遇之,曰:”异哉!夫子有三军之惧,而又有《桑中之喜,宜将窃妻以逃者也。”及郑,使介反币,而以夏姬行。将奔齐,齐师新败曰:”吾不处不胜之国。”遂奔晋,而因郤至,以臣于晋。晋人使为邢大夫。子反请以重币锢之,王曰:”止!其自为谋也,则过矣。其为吾先君谋也,则忠。忠,社稷之固也,所盖多矣。且彼若能利国家,虽重币,晋将可乎?若无益于晋,晋将弃之,何劳锢焉。”
  晋师归,范文子后入。武子曰:”无为吾望尔也乎?”对曰:”师有功,国人喜以逆之,先入,必属耳目焉,是代帅受名也,故不敢。”武子曰:”吾知免矣。”
  郤伯见,公曰:”子之力也夫!”对曰:”君之训也,二三子之力也,臣何力之有焉!”范叔见,劳之如郤伯,对曰:”庚所命也,克之制也,燮何力之有焉!栾伯见,公亦如之,对曰:”燮之诏也,士用命也,书何力之有焉!”
  宣公使求好于楚。庄王卒,宣公薨,不克作好。公即位,受盟于晋,会晋伐齐。卫人不行使于楚,而亦受盟于晋,従于伐齐。故楚令尹子重为阳桥之役以求齐。将起师,子重曰:”君弱,群臣不如先大夫,师众而后可。《诗》曰:’济济多士,文王以宁。’夫文王犹用众,况吾侪乎?且先君庄王属之曰:’无德以及远方,莫如惠恤其民,而善用之。'”乃大户,已责,逮鳏,救乏,赦罪,悉师,王卒尽行。彭名御戎,蔡景公为左,许灵公为右。二君弱,皆强冠之。
  冬,楚师侵卫,遂侵我,师于蜀。使臧孙往,辞曰:”楚远而久,固将退矣。无功而受名,臣不敢。”楚侵及阳桥,孟孙请往,赂之以执斫、执针、织纴,皆百人。公衡为质,以请盟,楚人许平。
  十一月,公及楚公子婴齐、蔡侯、许男、秦右大夫说、宋华元、陈公孙宁、卫孙良夫、郑公子去疾及齐国之大夫盟于蜀。卿不书,匮盟也。于是乎畏晋而窃与楚盟,故曰匮盟。蔡侯、许男不书,乘楚车也,谓之失位。君子曰:”位其不可不慎也乎!蔡、许之君,一失其位,不得列于诸侯,况其下乎?《诗》曰:’不解于位,民之攸塈。’其是之谓矣。”
  楚师及宋,公衡逃归。臧宣叔曰:”衡父不忍数年之不宴,以弃鲁国,国将若之何?谁居?后之人必有任是夫!国弃矣。”
  是行也,晋辟楚,畏其众也。君子曰:”众之不可以已也。大夫为政,犹以众克,况明君而善用其众乎?《大誓》所谓商兆民离,周十人同者众也。”
  晋侯使巩朔献齐捷于周,王弗见,使单襄公辞焉,曰:”蛮夷戎狄,不式王命,淫湎毁常,王命伐之,则有献捷,王亲受而劳之,所以惩不敬,劝有功也。兄弟甥舅,侵败王略,王命伐之,告事而已,不献其功,所以敬亲昵,禁淫慝也。今叔父克遂,有功于齐,而不使命卿镇抚王室,所使来抚余一人,而巩伯实来,未有职司于王室,又奸先王之礼,余虽欲于巩伯、其敢废旧典以忝叔父?夫齐,甥舅之国也,而大师之后也,宁不亦淫従其欲以怒叔父,抑岂不可谏诲?”士庄伯不能对。王使委于三吏,礼之如侯伯克敌使大夫告庆之礼,降于卿礼一等。王以巩伯宴,而私贿之。使相告之曰:”非礼也,勿籍。”
  ◎ 成公三年
  【经】三年春王正月,公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯伐郑。辛亥,葬卫穆公。二月,公至自伐郑。甲子,新宫灾。三日哭。乙亥,葬宋文公。夏,公如晋。郑公子去疾帅师伐许。公至自晋。秋,叔孙侨如帅师围棘。大雩。晋郤克、卫孙良夫伐啬咎如。冬十有一月,晋侯使荀庚来聘。卫侯使孙良夫来聘。丙午,及荀庚盟。丁未,及孙良夫盟。郑伐许。
  【传】三年春,诸侯伐郑,次于伯牛,讨邲之役也,遂东侵郑。郑公子偃帅师御之,使东鄙覆诸鄤,败诸丘舆。皇戌如楚献捷。
  夏,公如晋,拜汶阳之田。
  许恃楚而不事郑,郑子良伐许。
  晋人归公子谷臣与连尹襄老之尸于楚,以求知荦。于是荀首佐中军矣,故楚人许之。王送知荦,曰:”子其怨我乎?”对曰:”二国治戎,臣不才,不胜其任,以为俘馘。执事不以衅鼓,使归即戮,君之惠也。臣实不才,又谁敢怨?”王曰:”然则德我乎?”对曰:”二国图其社稷,而求纾其民,各惩其忿以相宥也,两释累囚以成其好。二国有好,臣不与及,其谁敢德?”王曰:”子归,何以报我?”对曰:”臣不任受怨,君亦不任受德,无怨无德,不知所报。”王曰:”虽然,必告不谷。”对曰:”以君之灵,累臣得归骨于晋,寡君之以为戮,死且不朽。若従君之惠而免之,以赐君之外臣首;首其请于寡君而以戮于宗,亦死且不朽。若不获命,而使嗣宗职,次及于事,而帅偏师以修封疆,虽遇执事,其弗敢违。其竭力致死,无有二心,以尽臣礼,所以报也。”王曰:”晋未可与争。”重为之礼而归之。
  秋,叔孙侨如围棘,取汶阳之田。棘有服,故围之。
  晋郤克、卫孙良夫伐啬咎如,讨赤狄之余焉。啬咎如溃,上失民也。
  冬十一月,晋侯使荀庚来聘,且寻盟。卫侯使孙良夫来聘,且寻盟。公问诸臧宣叔曰:”中行伯之于晋也,其位在三。孙子之于卫也,位为上卿,将谁先?”对曰:”次国之上卿当大国之中,中当其下,下当其上大夫。小国之上卿当大国之下卿,中当其上大夫,下当其下大夫。上下如是,古之制也。卫在晋,不得为次国。晋为盟主,其将先之。”丙午,盟晋,丁未,盟卫,礼也。
  十二月甲戌,晋作六军。韩厥、赵括、巩朔、韩穿、荀骓、赵旃皆为卿,赏鞍之功也。
  齐侯朝于晋,将授玉。郤克趋进曰:”此行也,君为妇人之笑辱也,寡君未之敢任。”晋侯享齐侯。齐侯视韩厥,韩厥曰:”君知厥也乎?”齐侯曰:”服改矣。”韩厥登,举爵曰:”臣之不敢爱死,为两君之在此堂也。”
  荀荦之在楚也,郑贾人有将置诸褚中以出。既谋之,未行,而楚人归之。贾人如晋,荀荦善视之,如实出己,贾人曰:”吾无其功,敢有其实乎?吾小人,不可以厚诬君子。”遂适齐。
  ◎ 成公四年
  【经】四年春,宋公使华元来聘。三月壬申,郑伯坚卒。杞伯来朝。夏四月甲寅,臧孙许卒。公如晋。葬郑襄公。秋,公至自晋。冬,城郓。郑伯伐许。
  【传】四年春,宋华元来聘,通嗣君也。
  杞伯来朝,归叔姬故也。
  夏,公如晋,晋侯见公,不敬。季文子曰:”晋侯必不免。《诗》曰:’敬之敬之!天惟显思,命不易哉!’夫晋侯之命在诸侯矣,可不敬乎?”
  秋,公至自晋,欲求成于楚而叛晋,季文子曰:”不可。晋虽无道,未可叛也。国大臣睦,而迩于我,诸侯听焉,未可以贰。史佚之《志》有之,曰:’非我族类,其心必异。’楚虽大,非吾族也,其肯字我乎?”公乃止。
  冬十一月,郑公孙申帅师疆许田,许人败诸展陂。郑伯伐许,鉏任、泠敦之田。
  晋栾书将中军,荀首佐之,士燮佐上军,以救许伐郑,取汜、祭。楚子反救郑,郑伯与许男讼焉。皇戌摄郑伯之辞,子反不能决也,曰:”君若辱在寡君,寡君与其二三臣共听两君之所欲,成其可知也。不然,侧不足以知二国之成。”
  晋赵婴通于赵庄姬。
  ◎ 成公五年
  【经】五年春王正月,杞叔姬来归。仲孙蔑如宋。夏,叔孙侨如会晋荀首于谷。梁山崩。秋,大水。冬十有一月己酉,天王崩。十有二月己丑,公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、邾子、杞伯同盟于虫牢。
  【传】五年春,原、屏放诸齐。婴曰:”我在,故栾氏不作。我亡,吾二昆其忧哉!且人各有能有不能,舍我何害?”弗听。婴梦天使谓己:”祭余,余福女。”使问诸士贞伯,贞伯曰:”不识也。”既而告其人曰:”神福仁而祸淫,淫而无罚,福也。祭,其得亡乎?”祭之,之明日而亡。、孟献子如宋,报华元也。
  孟献子如宋,报华元也。
  夏,晋荀首如齐逆女,故宣伯餫诸谷。
  梁山崩,晋侯以传召伯宗。伯宗辟重,曰:”辟传!”重人曰:”待我,不如捷之速也。”问其所,曰:”绛人也。”问绛事焉,曰:”梁山崩,将召伯宗谋之。”问:”将若之何?”曰:”山有朽壤而崩,可若何?国主山川。故山崩川竭,君为之不举,降服,乘缦,彻乐,出次,祝币,史辞以礼焉。其如此而已,虽伯宗若之何?”伯宗请见之,不可。遂以告而従之。
  许灵公愬郑伯于楚。六月,郑悼公如楚,讼,不胜。楚人执皇戌及子国。故郑伯归,使公子偃请成于晋。秋八月,郑伯及晋赵同盟于垂棘。
  宋公子围龟为质于楚而还,华元享之。请鼓噪以出,鼓噪以复入,曰:”习功华氏。”宋公杀之。
  冬,同盟于虫牢,郑服也。诸侯谋复会,宋公使向为人辞以子灵之难。
  十一月己酉,定王崩。
  ◎ 成公六年
  【经】六年春王正月,公至自会。二月辛巳,立武宫。取鄟卫孙良夫帅师侵宋。夏六月,邾子来朝。公孙婴齐如晋。壬申,郑伯费卒。秋,仲孙蔑、叔孙侨如帅师侵宋。楚公子婴齐帅师伐郑。冬,季孙行父如晋。晋栾书帅师救郑。
  【传】六年春,郑伯如晋拜成,子游相,授玉于东楹之东。士贞伯曰:”郑伯其死乎?自弃也已!视流而行速,不安其位,宜不能久。”
  二月,季文子以鞍之功立武宫,非礼也。听于人以救其难,不可以立武。立武由己,非由人也。
  取鄟,言易也。
  三月,晋伯宗、夏阳说,卫孙良夫、宁相,郑人,伊、洛之戎,陆浑,蛮氏侵宋,以其辞会也。师于钅咸,卫人不保。说欲袭卫,曰:”虽不可入,多俘而归,有罪不及死。”伯宗曰:”不可。卫唯信晋,故师在其郊而不设备。若袭之,是弃信也。虽多卫俘,而晋无信,何以求诸侯?”乃止,师还,卫人登陴。
  晋人谋去故绛。诸大夫皆曰:”必居郇瑕氏之地,沃饶而近盬,国利君乐,不可失也。”韩献子将新中军,且为仆大夫。公揖而入。献子従。公立于寝庭,谓献子曰:”何如?”对曰:”不可。郇瑕氏土薄水浅,其恶易觏。易觏则民愁,民愁则垫隘,于是乎有沉溺重膇之疾。不如新田,土厚水深,居之不疾,有汾、浍以流其恶,且民従教,十世之利也。夫山、泽、林、盬,国之宝也。国饶,则民骄佚。近宝,公室乃贫,不可谓乐。”公说,従之。夏四月丁丑,晋迁于新田。
  六月,郑悼公卒。
  子叔声伯如晋。命伐宋。
  秋,孟献子、叔孙宣伯侵宋,晋命也。
  楚子重伐郑,郑従晋故也。
  冬,季文子如晋,贺迁也。
  晋栾书救郑,与楚师遇于绕角。楚师还,晋师遂侵蔡。楚公子申、公子成以申、息之师救蔡,御诸桑隧。赵同、赵括欲战,请于武子,武子将许之。知庄子、范文子、韩献子谏曰:”不可。吾来救郑,楚师去我,吾遂至于此,是迁戮也。戮而不已,又怒楚师,战必不克。虽克,不令。成师以出,而败楚之二县,何荣之有焉?若不能败,为辱已甚,不如还也。”乃遂还。
  于是,军帅之欲战者众,或谓栾武子曰:”圣人与众同欲,是以济事。子盍従众?子为大政,将酌于民者也。子之佐十一人,其不欲战者,三人而已。欲战者可谓众矣。《商书》曰:’三人占,従二人。’众故也。”武子曰:”善钧,従众。夫善,众之主也。三卿为主,可谓众矣。従之,不亦可乎?”
  ◎ 成公七年
  【经】七年春王正月,鼷鼠食郊牛角,改卜牛。鼷鼠又食其角,乃免牛。吴伐郯。夏五月,曹伯来朝。不郊,犹三望。秋,楚公子婴齐帅师伐郑。公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、曹伯、莒子、邾子、杞伯救郑。八月戊辰,同盟于马陵。公至自会。吴入州来。冬,大雩。卫孙林父出奔晋。
  【传】七年春,吴伐郯,郯成。季文子曰:”中国不振旅,蛮夷入伐,而莫之或恤,无吊者也夫!《诗》曰:’不吊昊天,乱靡有定。’其此之谓乎!有上不吊,其谁不受乱?吾亡无日矣!”君子曰:”如惧如是,斯不亡矣。”
  郑子良相成公以如晋,见,且拜师。
  夏,曹宣公来朝。
  秋,楚子重伐郑,师于汜。诸侯救郑。郑共仲、侯羽军楚师,囚郧公钟仪,献诸晋。
  八月,同盟于马陵,寻虫牢之盟,且莒服故也。
  晋人以钟仪归,囚诸军府。
  楚围宋之役,师还,子重请取于申、吕以为赏田,王许之。申公巫臣曰:”不可。此申、吕所以邑也,是以为赋,以御北方。若取之,是无申、吕也。晋、郑必至于汉。”王乃止。子重是以怨巫臣。子反欲取夏姬,巫臣止之,遂取以行,子反亦怨之。及共王即位,子重、子反杀巫臣之族子阎、子荡及清尹弗忌及襄老之子黑要,而分其室。子重取子阎之室,使沈尹与王子罢分子荡之室,子反取黑要与清尹之室。巫臣自晋遗二子书,曰:”尔以谗慝贪婪事君,而多杀不辜。余必使尔罢于奔命以死。”
  巫臣请使于吴,晋侯许之。吴子寿梦说之。乃通吴于晋。以两之一卒适吴,舍偏两之一焉。与其射御,教吴乘车,教之战陈,教之叛楚。置其子狐庸焉,使为行人于吴。吴始伐楚,伐巢、伐徐。子重奔命。马陵之会,吴入州来。子重自郑奔命。子重、子反于是乎一岁七奔命。蛮夷属于楚者,吴尽取之,是以始大,通吴于上国。
  卫定公恶孙林父。冬,孙林父出奔晋。卫侯如晋,晋反戚焉。
  ◎ 成公八年
  【经】八年春,晋侯使韩穿来言汶阳之田,归之于齐。晋栾书帅师侵蔡。公孙婴齐如莒。宋公使华元来聘。夏,宋公使公孙寿来纳币。晋杀其大夫赵同、赵括。秋七月,天子使召伯来赐公命。冬十月癸卯,杞叔姬卒。晋侯使士燮来聘。叔孙侨如会晋士燮、齐人、邾人代郯。卫人来媵。
  【传】八年春,晋侯使韩穿来言汶阳之田,归之于齐。季文子饯之,私焉,曰:”大国制义以为盟主,是以诸侯怀德畏讨,无有贰心。谓汶阳之田,敝邑之旧也,而用师于齐,使归诸敝邑。今有二命曰:’归诸齐。’信以行义,义以成命,小国所望而怀也。信不可知,义无所立,四方诸侯,其谁不解体?《诗》曰:’女也不爽,士贰其行。士也罔极,二三其德。’七年之中,一与一夺,二三孰甚焉!士之二三,犹丧妃耦,而况霸主?霸主将德是以,而二三之,其何以长有诸侯乎?《诗》曰:’犹之未远,是用大简。’行父惧晋之不远犹而失诸侯也,是以敢私言之。”
  晋栾书侵蔡,遂侵楚获申骊。楚师之还也,晋侵沈,获沈子揖初,従知、范、韩也。君子曰:”従善如流,宜哉!《诗》曰:’恺悌君子,遐不作人。’求善也夫!作人,斯有功绩矣。”是行也,郑伯将会晋师,门于许东门,大获焉。
  声伯如莒,逆也。
  宋华元来聘,聘共姬也。
  夏,宋公使公孙寿来纳币,礼也。
  晋赵庄姬为赵婴之亡故,谮之于晋侯,曰:”原、屏将为乱。”栾、郤为征。六月,晋讨赵同、赵括。武従姬氏畜于公宫。以其田与祁奚。韩厥言于晋侯曰:”成季之勋,宣孟之忠,而无后,为善者其惧矣。三代之令王,皆数百年保天之禄。夫岂无辟王,赖前哲以免也。《周书》曰:’不敢侮鳏寡。’所以明德也。”乃立武,而反其田焉。
  秋,召桓公来赐公命。
  晋侯使申公巫臣如吴,假道于莒。与渠丘公立于池上,曰:”城已恶!”莒子曰:”辟陋在夷,其孰以我为虞?”对曰:”夫狡焉思启封疆以利社稷者,何国蔑有?唯然,故多大国矣,唯或思或纵也。勇夫重闭,况国乎?”
  冬,杞叔姬卒。来归自杞,故书。
  晋士燮来聘,言伐郯也,以其事吴故。公赂之,请缓师,文子不可,曰:”君命无贰,失信不立。礼无加货,事无二成。君后诸侯,是寡君不得事君也。燮将复之。”季孙惧,使宣伯帅师会伐郯。
  卫人来媵共姬,礼也。凡诸侯嫁女,同姓媵之,异姓则否。
  ◎ 成公九年
  【经】九年春王正月,杞伯来逆叔姬之丧以归。公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、杞伯,同盟于蒲。公至自会。二月伯姬归于宋。夏,季孙行父如宋致女。晋人来媵。秋七月丙子,齐侯无野卒。晋人执郑伯。晋栾书帅师伐郑。冬十有一月,葬齐顷公。楚公子婴齐帅师伐莒。庚申,莒溃。楚人入郓。秦人、白狄伐晋。郑人围许。城中城。
  【传】九年春,杞桓公来逆叔姬之丧,请之也。杞叔姬卒,为杞故也。逆叔姬,为我也。
  为归汶阳之田故,诸侯贰于晋。晋人惧,会于蒲,以寻马陵之盟。季文子谓范文子曰:”德则不竞,寻盟何为?”范文子曰:”勤以抚之,宽以待之,坚强以御之,明神以要之,柔服而伐贰,德之次也。”是行也,将始会吴,吴人不至。
  二月,伯姬归于宋。
  楚人以重赂求郑,郑伯会楚公子成于邓。
  夏,季文子如宋致女,复命,公享之。赋《韩奕》之五章,穆姜出于房,再拜,曰:”大夫勤辱,不忘先君以及嗣君,施及未亡人。先君犹有望也!敢拜大夫之重勤。”又赋《绿衣》之卒章而入。
  晋人来媵,礼也。
  秋,郑伯如晋。晋人讨其贰于楚也,执诸铜鞮。
  栾书伐郑,郑人使伯蠲行成,晋人杀之,非礼也。兵交,使在其间可也。楚子重侵陈以救郑。
  晋侯观于军府,见钟仪,问之曰:”南冠而絷者,谁也?”有司对曰:”郑人所献楚囚也。”使税之,召而吊之。再拜稽首。问其族,对曰:”泠人也。”公曰:”能乐乎?”对曰:”先父之职官也,敢有二事?”使与之琴,操南音。公曰:”君王何如?”对曰:”非小人之所得知也。”固问之,对曰:”其为大子也,师保奉之,以朝于婴齐而夕于侧也。不知其他。”公语范文子,文子曰:”楚囚,君子也。言称先职,不背本也。乐操土风,不忘旧也。称大子,抑无私也。名其二卿,尊君也。不背本,仁也。不忘旧,信也。无私,忠也。尊君。敏也。仁以接事,信以守之,忠以成之,敏以行之。事虽大,必济。君盍归之,使合晋、楚之成。”公従之,重为之礼,使归求成。
  冬十一月,楚子重自陈伐莒,围渠丘。渠丘城恶,众溃,奔莒。戊申,楚入渠丘。莒人囚楚公子平,楚人曰:”勿杀!吾归而俘。”莒人杀之。楚师围莒。莒城亦恶,庚申,莒溃。楚遂入郓,莒无备故也。
  君子曰:”恃陋而不备,罪之大者也;备豫不虞,善之大者也。莒恃其陋,而不修城郭,浃辰之间,而楚克其三都,无备也夫!《诗》曰:’虽有丝、麻,无弃菅、蒯;虽有姬、姜,无弃蕉萃。凡百君子,莫不代匮。’言备之不可以已也。”
  秦人、白狄伐晋,诸侯贰故也。
  郑人围许,示晋不急君也。是则公孙申谋之,曰:”我出师以围许,为将改立君者,而纾晋使,晋必归君。”
  城中城,书,时也。
  十二月,楚子使公子辰如晋,报钟仪之使,请修好结成。
  ◎ 成公十年
  【经】十年春,卫侯之弟黑背帅师侵郑。夏四月,五卜郊,不従,乃不郊。五月,公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、曹伯伐郑。齐人来媵。丙午,晋侯獳卒。秋七月,公如晋。冬十月。
  【传】十年春,晋侯使籴伐如楚,报大宰子商之使也。
  卫子叔黑背侵郑,晋命也。
  郑公子班闻叔申之谋。三月,子如立公子繻。夏四月,郑人杀繻,立髡顽。子如奔许。栾武子曰:”郑人立君,我执一人焉,何益?不如伐郑而归其君,以求成焉。”晋侯有疾。五月,晋立大子州蒲以为君,而会诸侯伐郑。郑子罕赂以襄钟,子然盟于修泽,子驷为质。辛巳,郑伯归。
  晋侯梦大厉,被发及地,搏膺而踊,曰:”杀余孙,不义。余得请于帝矣!”坏大门及寝门而入。公惧,入于室。又坏户。公觉,召桑田巫。巫言如梦。公曰:”何如?曰:”不食新矣。”公疾病,求医于秦。秦伯使医缓为之。未至,公梦疾为二竖子,曰:”彼,良医也。惧伤我,焉逃之?”其一曰:”居肓之上,膏之下,若我何?”医至,曰:”疾不可为也。在肓之上,膏之下,攻之不可,达之不及,药不至焉,不可为也。”公曰:”良医也。”厚为之礼而归之。六月丙午,晋侯欲麦,使甸人献麦,馈人为之。召桑田巫,示而杀之。将食,张,如厕,陷而卒。小臣有晨梦负公以登天,及日中,负晋侯出诸厕,遂以为殉。
  郑伯讨立君者,戊申,杀叔申、叔禽。君子曰:”忠为令德,非其人犹不可,况不令乎?”
  秋,公如晋。晋人止公,使送葬。于是籴伐未反。
  冬,葬晋景公。公送葬,诸侯莫在。鲁人辱之,故不书,讳之也。
  ◎ 成公十一年
  【经】十有一年春王三月,公至自晋。晋侯使郤犨来聘,己丑,及郤犨盟。夏,季孙行父如晋。秋,叔孙侨如如齐。冬十月。
  【传】十一年春,王三月,公至自晋。晋人以公为贰于楚,故止公。公请受盟,而后使归。
  郤犨来聘,且莅盟。
  声伯之母不聘,穆姜曰:”吾不以妾为姒。”生声伯而出之,嫁于齐管于奚。生二子而寡,以归声伯。声伯以其外弟为大夫,而嫁其外妹于施孝叔。郤犨来聘,求妇于声伯。声伯夺施氏妇以与之。妇人曰:”鸟兽犹不失俪,子将若何?”曰:”吾不能死亡。”妇人遂行,生二子于郤氏。郤氏亡,晋人归之施氏,施氏逆诸河,沉其二子。妇人怒曰:”己不能庇其伉俪而亡之,又不能字人之孤而杀之,将何以终?”遂誓施氏。
  夏,季文子如晋报聘,且莅盟也。
  周公楚恶惠、襄之逼也,且与伯与争政,不胜,怒而出。及阳樊,王使刘子复之,盟于鄄而入。三日,复出奔晋。
  秋,宣伯聘于齐,以修前好。
  晋郤至与周争鄇田,王命刘康公、单襄公讼诸晋。郤至曰:”温,吾故也,故不敢失。”刘子、单子曰:”昔周克商,使诸侯抚封,苏忿生以温为司寇,与檀伯达封于河。苏氏即狄,又不能于狄而奔卫。襄王劳文公而赐之温,狐氏、阳氏先处之,而后及子。若治其故,则王官之邑也,子安得之?”晋侯使郤至勿敢争。
  宋华元善于令尹子重,又善于栾武子。闻楚人既许晋籴伐成,而使归复命矣。冬,华元如楚,遂如晋,合晋、楚之成。
  秦、晋为成,将会于令狐。晋侯先至焉,秦伯不肯涉河,次于王城,使史颗盟晋侯于河东。晋郤犨盟秦伯于河西。范文子曰:”是盟也何益?齐盟,所以质信也。会所,信之始也。始之不従,其何质乎?”秦伯归而背晋成。
  ◎ 成公十二年
  【经】十有二年春,周公出奔晋。夏,公会晋侯、卫侯于琐泽。秋,晋人败狄于交刚。冬十月。
  【传】十二年春,王使以周公之难来告。书曰:”周公出奔晋。”凡自周无出,周公自出故也。
  宋华元克合晋、楚之成。夏五月,晋士燮会楚公子罢、许偃。癸亥,盟于宋西门之外,曰:”凡晋、楚无相加戎,好恶同之,同恤菑危,备救凶患。若有害楚,则晋伐之。在晋,楚亦如之。交贽往来,道路无壅,谋其不协,而讨不庭有渝此盟,明神殛之,俾队其师,无克胙国。”郑伯如晋听成,会于琐泽,成故也。
  狄人间宋之盟以侵晋,而不设备。秋,晋人败狄于交刚。
  晋郤至如楚聘,且莅盟。楚子享之,子反相,为地室而县焉。郤至将登,金奏作于下,惊而走出。子反曰:”日云莫矣,寡君须矣,吾子其入也!”宾曰:”君不忘先君之好,施及下臣,贶之以大礼,重之以备乐。如天之福,两君相见,何以代此。下臣不敢。”子反曰:”如天之福,两君相见,无亦唯是一矢以相加遗,焉用乐?寡君须矣,吾子其入也!”宾曰:”若让之以一矢,祸之大者,其何福之为?世之治也,诸侯间于天子之事,则相朝也,于是乎有享宴之礼。享以训共俭,宴以示慈惠。共俭以行礼,而慈惠以布政。政以礼成,民是以息。百官承事,朝而不夕,此公侯之所以扞城其民也。故《诗》曰:’赳赳武夫,公侯干城。’及其乱也,诸侯贪冒,侵欲不忌,争寻常以尽其民,略其武夫,以为己腹心股肱爪牙。故《诗》曰:’赳赳武夫,公侯腹心。’天下有道,则公侯能为民干城,而制其腹心。乱则反之。今吾子之言,乱之道也,不可以为法。然吾子,主也,至敢不従?”遂入,卒事。归,以语范文子。文子曰:”无礼必食言,吾死无日矣夫!”
  冬,楚公子罢如晋聘,且莅盟。十二月,晋侯及楚公子罢盟于赤棘。
  ◎ 成公十三年
  【经】十有三年春,晋侯使郤锜来乞师。三月,公如京师。夏五月,公自京师,遂会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、邾人、滕人伐秦。曹伯卢卒于师。秋七月,公至自伐秦。冬,葬曹宣公。
  【传】十三年春,晋侯使郤锜来乞师,将事不敬。孟献子曰:”郤氏其亡乎!礼,身之干也。敬,身之基也。郤子无基。且先君之嗣卿也,受命以求师,将社稷是卫,而惰,弃君命也。不亡何为?”
  三月,公如京师。宣伯欲赐,请先使,王以行人之礼礼焉。孟献子従。王以为介,而重贿之。
  公及诸侯朝王,遂従刘康公、成肃公会晋侯伐秦。成子受脤于社,不敬。刘子曰:”吾闻之,民受天地之中以生,所谓命也。是以有动作礼义威仪之则,以定命也。能者养以之福,不能者败以取祸。是故君子勤礼,小人尽力,勤礼莫如致敬,尽力莫如敦笃。敬在养神,笃在守业。国之大事,在祀与戎,祀有执膰,戎有受脤,神之大节也。今成子惰,弃其命矣,其不反乎?”
  夏四月戊午,晋侯使吕相绝秦,曰:”昔逮我献公,及穆公相好,戮力同心,申之以盟誓,重之以昏姻。天祸晋国,文公如齐,惠公如秦。无禄,献公即世,穆公不忘旧德,俾我惠公用能奉祀于晋。又不能成大勋,而为韩之师。亦悔于厥心,用集我文公,是穆之成也。文公躬擐甲胄,跋履山川,逾越险阻,征东之诸侯,虞、夏、商、周之胤,而朝诸秦,则亦既报旧德矣。郑人怒君之疆埸,我文公帅诸侯及秦围郑。秦大夫不询于我寡君,擅及郑盟。诸侯疾之,将致命于秦。文公恐惧,绥静诸侯,秦师克还无害,则是我有大造于西也。无禄,文公即世,穆为不吊,蔑死我君,寡我襄公,迭我淆地,奸绝我好,伐我保城,殄灭我费滑,散离我兄弟,挠乱我同盟,倾覆我国家。我襄公未忘君之旧勋,而惧社稷之陨,是以有淆之师。犹愿赦罪于穆公,穆公弗听,而即楚谋我。天诱其衷,成王殒命,穆公是以不克逞志于我。穆、襄即世,康、灵即位。康公,我之自出,又欲阙翦我公室,倾覆我社稷,帅我蝥贼,以来荡摇我边疆。我是以有令狐之役。康犹不悛,入我河曲,伐我涷川,俘我王官,翦我羁马,我是以有河曲之战。东道之不通,则是康公绝我好也。
  及君之嗣也,我君景公引领西望曰:’庶抚我乎!’君亦不惠称盟,利吾有狄难,入我河县,焚我箕、郜,芟夷我农功,虔刘我边陲。我是以有辅氏之聚。”君亦悔祸之延,而欲徼福于先君献、穆,使伯车来,命我景公曰:’吾与女同好弃恶,复修旧德,以追念前勋,’言誓未就,景公即世,我寡君是以有令狐之会。君又不祥,背弃盟誓。白狄及君同州,君之仇仇,而我之昏姻也。君来赐命曰:’吾与女伐狄。’寡君不敢顾昏姻,畏君之威,而受命于吏。君有二心于狄,曰:’晋将伐女。’狄应且憎,是用告我。楚人恶君之二三其德也,亦来告我曰:’秦背令狐之盟,而来求盟于我:”昭告昊天上帝、秦三公、楚三王曰:’余虽与晋出入,余唯利是视。’不谷恶其无成德,是用宣之,以惩不壹。”诸侯备闻此言,斯是用痛心疾首,昵就寡人。寡人帅以听命,唯好是求。君若惠顾诸侯,矜哀寡人,而赐之盟,则寡人之愿也。其承宁诸侯以退,岂敢徼乱。君若不施大惠,寡人不佞,其不能以诸侯退矣。敢尽布之执事,俾执事实图利之!”
  秦桓公既与晋厉公为令狐之盟,而又召狄与楚,欲道以伐晋,诸侯是以睦于晋。晋栾书将中军,荀庚佐之。士燮将上军,郤锜佐之。韩厥将下军,荀罃佐之。赵旃将新军,郤至佐之。郤毅御戎,栾钅咸为右。孟献子曰:”晋帅乘和,师必有大功。”五月丁亥,晋师以诸侯之师及秦师战于麻隧。秦师败绩,获秦成差及不更女父。曹宣公卒于师。师遂济泾,及侯丽而还。迓晋侯于新楚。
  成肃公卒于瑕。
  六月丁卯夜,郑公子班自訾求入于大宫,不能,杀子印、子羽。反军于市,己巳,予驷帅国人盟于大宫,遂従而尽焚之,杀子如、子龙、孙叔、孙知。
  曹人使公子负刍守,使公子欣时逆曹伯之丧。秋,负刍杀其大子而自立也。诸侯乃请讨之,晋人以其役之劳,请俟他年。冬,葬曹宣公。既葬,子臧将亡,国人皆将従之。成公乃惧,告罪,且请焉,乃反,而致其邑。
  ◎ 成公十四年
  【经】十有四年春王正月,莒子朱卒。夏,卫孙林父自晋归于卫。秋,叔孙侨如如齐逆女。郑公子喜帅师伐许。九月,侨如以夫人妇姜氏至自齐。冬十月庚寅,卫侯臧卒。秦伯卒。
  【传】十四年春,卫侯如晋,晋侯强见孙林父焉,定公不可。夏,卫侯既归,晋侯使郤犨送孙林父而见之。卫侯欲辞,定姜曰:”不可。是先君宗卿之嗣也,大国又以为请,不许,将亡。虽恶之,不犹愈于亡乎?君其忍之!安民而宥宗卿,不亦可乎?”卫侯见而复之。
  卫侯飨苦成叔,宁惠子相。苦成叔傲。宁子曰:”苦成家其亡乎!古之为享食也,以观威仪、省祸福也。故《诗》曰:’兕觥其觩,旨酒思柔,彼交匪傲,万福来求。’今夫子傲,取祸之道也。”
  秋,宣伯如齐逆女。称族,尊君命也。
  八月,郑子罕伐许,败焉。戊戌,郑伯复伐许。庚子,入其郛。许人平以叔申之封。
  九月,侨如以夫人妇姜氏至自齐。舍族,尊夫人也。故君子曰:”《春秋》之称,微而显,志而晦,婉而成章,尽而不污,惩恶而劝善。非圣人谁能修之?”
  卫侯有疾,使孔成子、宁惠子立敬姒之子衎以为大子。冬十月,卫定公卒。夫人姜氏既哭而息,见大子之不哀也,不内酌饮。叹曰:”是夫也,将不唯卫国之败,其必始于未亡人!乌呼!天祸卫国也夫!吾不获鱄也使主社稷。”大夫闻之,无不耸惧。孙文子自是不敢舍其重器于卫,尽置诸戚,而甚善晋大夫。
  ◎ 成公十五年
  【经】十有五年春王二月,葬卫定公。三月乙巳,仲婴齐卒。癸丑,公会晋侯、卫侯、郑伯、曹伯、宋世子成、齐国佐,邾人同盟于戚。晋侯执曹伯归于京师。公至自会。夏六月,宁公固卒。楚子伐郑。秋八月庚辰,葬宋共公。宋华元出奔晋。宋华元自晋归于宋。宋杀其大夫山。宋鱼石出奔楚。冬十有一月,叔孙侨如会晋士燮、齐高无咎、宋华元、卫孙林父、郑公子鯂、邾人会吴于钟离。许迁于叶。
  【传】十五年春,会于戚,讨曹成公也。执而归诸京师。书曰:”晋侯执曹伯。”不及其民也。凡君不道于其民,诸侯讨而执之,则曰某人执某侯。不然,则否。
  诸侯将见子臧于王而立之,子臧辞曰:”《前志》有之,曰:’圣达节,次守节,下失节。’为君,非吾节也。虽不能圣,敢失守乎?”遂逃,奔宋。
  夏六月,宋共公卒。
  楚将北师。子囊曰:”新与晋盟而背之,无乃不可乎?”子反曰:”敌利则进,何盟之有?”申叔时老矣,在申,闻之,曰:”子反必不免。信以守礼,礼以庇身,信礼之亡,欲免得乎?”楚子侵郑,及暴隧,遂侵卫,及首止。郑子罕侵楚,取新石。栾武子欲报楚,韩献子曰:”无庸,使重其罪,民将叛之。无民,孰战?”
  秋八月,葬宋共公。于是华元为右师,鱼石为左师,荡泽为司马,华喜为司徒,公孙师为司城,向为人为大司寇,鳞朱为少司寇,向带为大宰,鱼府为少宰。荡泽弱公室,杀公子肥。华元曰:”我为右师,君臣之训,师所司也。今公室卑而不能正,吾罪大矣。不能治官,敢赖宠乎?”乃出奔晋。
  二华,戴族也;司城,庄族也;六官者,皆桓族也。鱼石将止华元,鱼府曰:”右师反,必讨,是无桓氏也。”鱼石曰:”右师苟获反,虽许之讨,必不敢。且多大功,国人与之,不反,惧桓氏之无祀于宋也。右师讨,犹有戌在,桓氏虽亡,必偏。”鱼石自止华元于河上。请讨,许之,乃反。使华喜、公孙师帅国人攻荡氏,杀子山。书曰:”宋杀大夫山。”言背其族也。
  鱼石、向为人、鳞朱、向带、鱼府出舍于睢上。华元使止之,不可。冬十月,华元自止之,不可。乃反。鱼府曰:”今不従,不得入矣。右师视速而言疾,有异志焉。若不我纳,今将驰矣。”登丘而望之,则驰。聘而従之,则决睢澨,闭门登陴矣。左师、二司寇、二宰遂出奔楚。华元使向戌为左师,老佐为司马,乐裔为司寇,以靖国人。
  晋三郤害伯宗,谮而杀之,及栾弗忌。伯州犁奔楚。韩献子曰:”郤氏其不免乎!善人,天地之纪也,而骤绝之,不亡何待?”
  初,伯宗每朝,其妻必戒之曰:”‘盗憎主人,民恶其上。’子好直言,必及于难。”
  十一月,会吴于钟离,始通吴也。
  许灵公畏逼于郑,请迁于楚。辛丑,楚公子申迁许于叶。
  ◎ 成公十六年
  【经】十有六年春王正月,雨,木冰。夏四月辛未,滕子卒。郑公子喜帅师侵宋。六月丙寅朔,日有食之。晋侯使栾黡来乞师。甲午晦,晋侯及楚子、郑伯战于鄢陵。楚子、郑师败绩。楚杀其大夫公子侧。秋,公会晋侯、齐侯、卫侯、宋华元、邾人于沙随,不见公。公至自会。公会尹子,晋侯、齐国佐、邾人伐郑。曹伯归自京师。九月,晋人执季孙行父,舍之于苕丘。冬十月乙亥,叔孙侨如出奔齐。十有二月乙丑,季孙行父及晋郤犨盟于扈。公至自会。乙酉,刺公子偃。
  【传】十六年春,楚子自武城使公子成以汝阴之田求成于郑。郑叛晋,子驷従楚子盟于武城。
  夏四月,滕文公卒。
  郑子罕伐宋,宋将鉏、乐惧败诸汋陂。退,舍于夫渠,不儆,郑人覆之,败诸汋陵,获将鉏、乐惧。宋恃胜也。
  卫侯伐郑,至于鸣雁,为晋故也。
  晋侯将伐郑,范文子曰:”若逞吾愿,诸侯皆叛,晋可以逞。若唯郑叛,晋国之忧,可立俟也。”栾武子曰:”不可以当吾世而失诸侯,必伐郑。”乃兴师。栾书将中军,士燮佐之。郤锜将上军,荀偃佐之。韩厥将下军,郤至佐新军,荀罃居守。郤犨如卫,遂如齐,皆乞师焉。栾黡来乞师,孟献子曰:”有胜矣。”戊寅,晋师起。
  郑人闻有晋师,使告于楚,姚句耳与往。楚子救郑,司马将中军,令尹将左,右尹子辛将右。过申,子反入见申叔时,曰:”师其何如?”对曰:”德、刑、详、义、礼、信,战之器也。德以施惠,刑以正邪,详以事神,义以建利,礼以顺时,信以守物。民生厚而德正,用利而事节,时顺而物成。上下和睦,周旋不逆,求无不具,各知其极。故《诗》曰:’立我烝民,莫匪尔极。’是以神降之福,时无灾害,民生敦庞,和同以听,莫不尽力以従上命,致死以补其阙。此战之所由克也。今楚内弃其民,而外绝其好,渎齐盟,而食话言,奸时以动,而疲民以逞。民不知信,进退罪也。人恤所底,其谁致死?子其勉之!吾不复见子矣。”姚句耳先归,子驷问焉,对曰:”其行速,过险而不整。速则失志,不整丧列。志失列丧,将何以战?楚惧不可用也。”
  五月,晋师济河。闻楚师将至,范文子欲反,曰:”我伪逃楚,可以纾忧。夫合诸侯,非吾所能也,以遗能者。我若群臣辑睦以事君,多矣。”武子曰:”不可。”
  六月,晋、楚遇于鄢陵。范文子不欲战,郤至曰:”韩之战,惠公不振旅。箕之役,先轸不反命,邲之师,荀伯不复従。皆晋之耻也。子亦见先君之事矣。今我辟楚,又益耻也。”文子曰:”吾先君之亟战也,有故。秦、狄、齐、楚皆强,不尽力,子孙将弱。今三强服矣,敌楚而已。唯圣人能外内无患,自非圣人,外宁必有内忧。盍释楚以为外惧乎?”
  甲午晦,楚晨压晋军而陈。军吏患之。范匄趋进,曰:”塞井夷灶,陈于军中,而疏行首。晋、楚唯天所授,何患焉?”文子执戈逐之,曰:”国之存亡,天也。童子何知焉?”栾书曰:”楚师轻窕,固垒而待之,三日必退。退而击之,必获胜焉。”郤至曰:”楚有六间,不可失也。其二卿相恶。王卒以旧。郑陈而不整。蛮军而不陈。陈不违晦,在陈而嚣,合而加嚣,各顾其后,莫有斗心。旧不必良,以犯天忌。我必克之。”
  楚子登巢车以望晋军,子重使大宰伯州犁侍于王后。王曰:”骋而左右,何也?”曰:”召军吏也。””皆聚于军中矣!”曰:”合谋也。””张幕矣。”曰:”虔卜于先君也。””彻幕矣!”曰:”将发命也。””甚嚣,且尘上矣!”曰:”将塞井夷灶而为行也。””皆乘矣,左右执兵而下矣!”曰:”听誓也。””战乎?”曰:”未可知也。””乘而左右皆下矣!”曰:”战祷也。”伯州犁以公卒告王。苗贲皇在晋侯之侧,亦以王卒告。皆曰:”国士在,且厚,不可当也。”苗贲皇言于晋侯曰:”楚之良,在其中军王族而已。请分良以击其左右,而三军萃于王卒,必大败之。”公筮之,史曰:”吉。其卦遇《复》三,曰:’南国戚,射其元王中厥目。’国戚王伤,不败何待?”公従之。有淖于前,乃皆左右相违于淖。步毅御晋厉公,栾钅咸为右。彭名御楚共王,潘党为右。石首御郑成公,唐苟为右。栾、范以其族夹公行,陷于淖。栾书将载晋侯,钅咸曰:”书退!国有大任,焉得专之?且侵官,冒也;失官,慢也;离局,奸也。有三不罪焉,可犯也。”乃掀公以出于淖。
  癸巳,潘尫之党与养由基蹲甲而射之,彻七札焉。以示王,曰:”君有二臣如此,何忧于战?”王怒曰:”大辱国。诘朝,尔射,死艺。”吕锜梦射月,中之,退入于泥。占之,曰:”姬姓,日也。异姓,月也,必楚王也。射而中之,退入于泥,亦必死矣。”及战,射共王,中目。王召养由基,与之两矢,使射吕锜,中项,伏弢。以一矢复命。
  郤至三遇楚子之卒,见楚子,必下,免胄而趋风。楚子使工尹襄问之以弓,曰:”方事之殷也,有韎韦之跗注,君子也。识见不谷而趋,无乃伤乎?”郤至见客,免胄承命,曰:”君之外臣至,従寡君之戎事,以君之灵,间蒙甲胄,不敢拜命,敢告不宁君命之辱,为事之故,敢肃使者。”三肃使者而退。
  晋韩厥従郑伯,其御杜溷罗曰:”速従之!其御屡顾,不在马,可及也。”韩厥曰:”不可以再辱国君。”乃止。郤至従郑伯,其右茀翰胡曰:”谍辂之,余従之乘而俘以下。”郤至曰:”伤国君有刑。”亦止。石首曰:”卫懿公唯不去其旗,是以败于荧。”乃旌于弢中。唐苟谓石首曰:”子在君侧,败者壹大。我不如子,子以君免,我请止。”乃死。
  楚师薄于险,叔山冉谓养由基曰:”虽君有命,为国故,子必射!”乃射。再发,尽殪。叔山冉搏人以投,中车,折轼。晋师乃止。囚楚公子伐。
  栾钅咸见子重之旌,请曰:”楚人谓夫旌,子重之麾也。彼其子重也。日臣之使于楚也,子重问晋国之勇。臣对曰:’好以众整。’曰:’又何如?’臣对曰:’好以暇。’今两国治戎,行人不使,不可谓整。临事而食言,不可谓暇。请摄饮焉。”公许之。使行人执榼承饮,造于子重,曰:”寡君乏使,使钅咸御持矛。是以不得犒従者,使某摄饮。”子重曰:”夫子尝与吾言于楚,必是故也,不亦识乎!”受而饮之。免使者而复鼓。
  旦而战,见星未已。子反命军吏察夷伤,补卒乘,缮甲兵,展车马,鸡鸣而食,唯命是听。晋人患之。苗贲皇徇曰:”搜乘补卒,秣马利兵,修陈固列,蓐食申祷,明日复战。”乃逸楚囚。王闻之,召子反谋。谷阳竖献饮于子反,子反醉而不能见。王曰:”天败楚也夫!余不可以待。”乃宵遁。晋入楚军,三日谷。范文子立于戎马之前,曰:”君幼,诸臣不佞,何以及此?君其戒之!《周书》曰’唯命不于常’,有德之谓。”
  楚师还,及瑕,王使谓子反曰:”先大夫之覆师徒者,君不在。子无以为过,不谷之罪也。”子反再拜稽首曰:”君赐臣死,死且不朽。臣之卒实奔,臣之罪也。”子重复谓子反曰:”初陨师徒者,而亦闻之矣!盍图之?”对曰:”虽微先大夫有之,大夫命侧,侧敢不义?侧亡君师,敢忘其死。”王使止之,弗及而卒。
  战之日,齐国佐、高无咎至于师。卫侯出于卫,公出于坏隤。宣伯通于穆姜,欲去季、孟,而取其室。将行,穆姜送公,而使逐二子。公以晋难告,曰:”请反而听命。”姜怒,公子偃、公子鉏趋过,指之曰:”女不可,是皆君也。”公待于坏隤,申宫儆备,设守而后行,是以后。使孟献子守于公宫。
  秋,会于沙随,谋伐郑也。宣伯使告郤犨曰:”鲁侯待于坏隤以待胜者。”郤犨将新军,且为公族大夫,以主东诸侯。取货于宣伯而诉公于晋侯,晋侯不见公。
  曹人请于晋曰:”自我先君宣公即位,国人曰:’若之何忧犹未弭?’而又讨我寡君,以亡曹国社稷之镇公子,是大泯曹也。先君无乃有罪乎?若有罪,则君列诸会矣。君唯不遗德刑,以伯诸侯。岂独遗诸敝邑?取私布之。”
  七月,公会尹武公及诸侯伐郑。将行,姜又命公如初。公又申守而行。诸侯之师次于郑西。我师次于督扬,不敢过郑。子叔声伯使叔孙豹请逆于晋师。为食于郑郊。师逆以至。声伯四日不食以待之,食使者而后食。
  诸侯迁于制田。知武子佐下军,以诸侯之师侵陈,至于鸣鹿。遂侵蔡。未反,诸侯迁于颍上。戊午,郑子罕宵军之,宋、齐、卫皆失军。
  曹人复请于晋,晋侯谓子臧:”反,吾归而君。”子臧反,曹伯归。子臧尽致其邑与卿而不出。
  宣伯使告郤犨曰:”鲁之有季、孟,犹晋之有栾、范也,政令于是乎成。今其谋曰:’晋政多门,不可従也。宁事齐、楚,有亡而已,蔑従晋矣。’若欲得志于鲁,请止行父而杀之,我毙蔑也而事晋,蔑有贰矣。鲁不贰,小国必睦。不然,归必叛矣。”
  九月,晋人执季文子于苕丘。公还,待于郓。使子叔声伯请季孙于晋,郤犨曰:”苟去仲孙蔑而止季孙行父,吾与子国,亲于公室。”对曰:”侨如之情,子必闻之矣。若去蔑与行父,是大弃鲁国而罪寡君也。若犹不弃,而惠徼周公之福,使寡君得事晋君。则夫二人者,鲁国社稷之臣也。若朝亡之,鲁必夕亡。以鲁之密迩仇雠,亡而为仇,治之何及?”郤犨曰:”吾为子请邑。”对曰:”婴齐,鲁之常隶也,敢介大国以求厚焉!承寡君之命以请,若得所请,吾子之赐多矣。又何求?”范文子谓栾武子曰:”季孙于鲁,相二君矣。妾不衣帛,马不食粟,可不谓忠乎?信谗慝而弃忠良,若诸侯何?子叔婴齐奉君命无私,谋国家不贰,图其身不忘其君。若虚其请,是弃善人也。子其图之!”乃许鲁平,赦季孙。
  冬十月,出叔孙侨如而盟之,侨如奔齐。
  十二月,季孙及郤犨盟于扈。归,刺公子偃,召叔孙豹于齐而立之。
  齐声孟子通侨如,使立于高、国之间。侨如曰:”不可以再罪。”奔卫,亦间于卿。
  晋侯使郤至献楚捷于周,与单襄公语,骤称其伐。单子语诸大夫曰:”温季其亡乎!位于七人之下,而求掩其上。怨之所聚,乱之本也。多怨而阶乱,何以在位?《夏书》曰:’怨岂在明?不见是图。’将慎其细也。今而明之,其可乎?”
  ◎ 成公十七年
  【经】十有七年春,卫北宫括帅师侵郑。夏,公会尹子、单子、晋侯、齐侯、宋公、卫侯、曹伯、邾人伐郑。六月乙酋,同盟于柯陵。秋,公至自会。齐高无咎出奔莒。九月辛丑,用郊。晋侯使荀罃来乞师。冬,公会单子、晋侯、宋公、卫侯、曹伯、齐人、邾人伐郑。十有一月,公至自伐郑。壬申,公孙婴卒于貍脤。十有二月丁巳朔,日有食之。邾子玃且卒。晋杀其大夫郤锜、郤犨、郤至。楚人灭舒庸。
  【传】十七年春,王正月,郑子驷侵晋虚、滑。卫北宫括救晋,侵郑,至于高氏。
  夏五月,郑大子髡顽、侯孺为质于楚,楚公子成、公子寅戍郑。公会尹武公、单襄公及诸侯伐郑,自戏童至于曲洧。
  晋范文子反自鄢陵,使其祝宗祈死,曰:”君骄侈而克敌,是天益其疾也。难将作矣!爱我者惟祝我,使我速死,无及于难,范氏之福也。”六月戊辰,士燮卒。
  乙酉同盟于柯陵,寻戚之盟也。
  楚子重救郑,师于首止。诸侯还。
  齐庆克通于声孟子,与妇人蒙衣乘辇而入于闳。鲍牵见之,以告国武子,武子召庆克而谓之。庆克久不出,而告夫人曰:”国子谪我!”夫人怒。国子相灵公以会,高、鲍处守。及还,将至,闭门而索客。孟子诉之曰:”高、鲍将不纳君,而立公子角。国子知之。”秋七月壬寅,刖鲍牵而逐高无咎。无咎奔莒,高弱以卢叛。齐人来召鲍国而立之。
  初,鲍国去鲍氏而来为施孝叔臣。施氏卜宰,匡句须吉。施氏之宰,有百室之邑。与匡句须邑,使为宰。以让鲍国,而致邑焉。施孝叔曰:”子实吉。”对曰:”能与忠良,吉孰大焉!”鲍国相施氏忠,故齐人取以为鲍氏后。仲尼曰:”鲍庄子之知不如葵,葵犹能卫其足。”
  冬,诸侯伐郑。十月庚午,围郑。楚公子申救郑,师于汝上。十一月,诸侯还。
  初,声伯梦涉洹,或与己琼瑰,食之,泣而为琼瑰,盈其怀。従而歌之曰:”济洹之水,赠我以琼瑰。归乎!归乎!琼瑰盈吾怀乎!”惧不敢占也。还自郑,壬申,至于狸脤而占之,曰:”余恐死,故不敢占也。今众繁而従余三年矣,无伤也。”言之,之莫而卒。
  齐侯使崔杼为大夫,使庆克佐之,帅师围卢。国佐従诸侯围郑,以难请而归。遂如卢师,杀庆克,以谷叛。齐侯与之盟于徐关而复之。十二月,卢降。使国胜告难于晋,待命于清。
  晋厉公侈,多外嬖。反自鄢陵,欲尽去群大夫,而立其左右。胥童以胥克之废也,怨郤氏,而嬖于厉公。郤锜夺夷阳五田,五亦嬖于厉公。郤犨与长鱼矫争田,执而梏之,与其父母妻子同一辕。既,矫亦嬖于厉公。栾书怨郤至,以其不従己而败楚师也,欲废之。使楚公子伐告公曰:”此战也,郤至实召寡君。以东师之未至也,与军帅之不具也,曰:’此必败!吾因奉孙周以事君。'”公告栾书,书曰:”其有焉!不然,岂其死之不恤,而受敌使乎?君盍尝使诸周而察之?”郤至聘于周,栾书使孙周见之。公使觇之,信。遂怨郤至。
  厉公田,与妇人先杀而饮酒,后使大夫杀。郤至奉豕,寺人孟张夺之,郤至射而杀之。公曰:”季子欺余。”
  厉公将作难,胥童曰:”必先三郤,族大多怨。去大族不逼,敌多怨有庸。”公曰:”然。”郤氏闻之,郤锜欲攻公,曰:”虽死,君必危。”郤至曰:”人所以立,信、知、勇也。信不叛君,知不害民,勇不作乱。失兹三者,其谁与我?死而多怨,将安用之?君实有臣而杀之,其谓君何?我之有罪,吾死后矣!若杀不辜,将失其民,欲安,得乎?待命而已!受君之禄是以聚党。有党而争命,罪孰大焉!”
  壬午,胥童、夷羊五帅甲八百,将攻郤氏。长鱼矫请无用众,公使清沸魋助之,抽戈结衽,而伪讼者。三郤将谋于榭。矫以戈杀驹伯、苦成叔于其位。温季曰:”逃威也!”遂趋。矫及诸其车,以戈杀之,皆尸诸朝。
  胥童以甲劫栾书、中行偃于朝。矫曰:”不杀二子,忧必及君。”公曰:”一朝而尸三卿,余不忍益也。”对曰:”人将忍君。臣闻乱在外为奸,在内为轨。御奸以德,御轨以刑。不施而杀,不可谓德。臣逼而不讨,不可谓刑。德刑不立,奸轨并至。臣请行。”遂出奔狄。公使辞于二子,曰:”寡人有讨于郤氏,既伏其辜矣。大夫无辱,其复职位。”皆再拜稽首曰:”君讨有罪,而免臣于死,君之惠也。二臣虽死,敢忘君德。”乃皆归。公使胥童为卿。
  公游于匠丽氏,栾书、中行偃遂执公焉。召士匄,士匄辞。召韩厥,韩厥辞,曰:”昔吾畜于赵氏,孟姬之谗,吾能违兵。古人有言曰:’杀老牛莫之敢尸。’而况君乎?二三子不能事君,焉用厥也!”
  舒庸人以楚师之败也,道吴人围巢,伐驾,围厘、虺,遂恃吴而不设备。楚公子櫜师袭舒庸,灭之。
  闰月乙卯晦,栾书、中行偃杀胥童。民不与郤氏,胥童道君为乱,故皆书曰:”晋杀其大夫。”
  ◎ 成公十八年
  【经】十有八年春王正月,晋杀其大夫胥童。庚申,晋弑其君州蒲。齐杀其大夫国佐。公如晋。夏,楚子、郑伯伐宋。宋鱼石复入于彭城。公至自晋。晋侯使士匄来聘。秋,杞伯来朝。八月,邾子来朝,筑鹿囿。己丑,公薨于路寝。冬,楚人、郑人侵宋。晋侯使士鲂来乞师。十有二月,仲孙蔑会晋侯、宋公、卫侯、邾子、齐崔杼同盟于虚朾。丁未,葬我君成公。
  【传】十八年春,王正月庚申,晋栾书、中行偃使程滑弑厉公,葬之于翼东门之外,以车一乘。使荀罃、士鲂逆周子于京师而立之,生十四年矣。大夫逆于清原,周子曰:”孤始愿不及此。虽及此,岂非天乎!抑人之求君,使出命也,立而不従,将安用君?二三子用我今日,否亦今日,共而従君,神之所福也。”对曰:”群臣之愿也,敢不唯命是听。”庚午,盟而入,馆于伯子同氏。辛巳,朝于武宫,逐不臣者七人。周子有兄而无慧,不能辨菽麦,故不可立。
  齐为庆氏之难故,甲申晦,齐侯使士华免以戈杀国佐于内宫之朝。师逃于夫人之宫。书曰:”齐杀其大夫国佐。”弃命,专杀,以谷叛故也。使清人杀国胜。国弱来奔,王湫奔莱。庆封为大夫,庆佐为司寇。既,齐侯反国弱,使嗣国氏,礼也。
  二月乙酉朔,晋侯悼公即位于朝。始命百官,施舍、己责,逮鳏寡,振废滞,匡乏困,救灾患,禁淫慝,薄赋敛,宥罪戾,节器用,时用民,欲无犯时。使魏相、士鲂、魏颉、赵武为卿。荀家、荀会、栾黡、韩无忌为公族大夫,使训卿之子弟共俭孝弟。使士渥浊为大傅,使修范武子之法。右行辛为司空,使修士蒍之法。弁纠御戎,校正属焉,使训诸御知义。荀宾为右,司士属焉,使训勇力之士时使。卿无共御,立军尉以摄之。祁奚为中军尉,羊舌职佐之,魏绛为司马,张老为候奄。铎遏寇为上军尉,籍偃为之司马,使训卒乘亲以听命。程郑为乘马御,六驺属焉,使训群驺知礼。凡六官之长,皆民誉也。举不失职,官不易方,爵不逾德,师不陵正,旅不逼师,民无谤言,所以复霸也。
  公如晋,朝嗣君也。
  夏六月,郑伯侵宋,及曹门外。遂会楚子伐宋,取朝郏。楚子辛、郑皇辰侵城郜,取幽丘,同伐彭城,纳宋鱼石、向为人、鳞朱、向带、鱼府焉,以三百乘戍之而还。书曰”复入”,凡去其国,国逆而立之,曰”入”;复其位,曰”复归”;诸侯纳之,曰”归”。以恶曰复入。宋人患之。西鉏吾曰:”何也?若楚人与吾同恶,以德于我,吾固事之也,不敢贰矣。大国无厌,鄙我犹憾。不然,而收吾憎,使赞其政,以间吾衅,亦吾患也。今将崇诸侯之奸,而披其地,以塞夷庚。逞奸而携服,毒诸侯而惧吴、晋。吾庸多矣,非吾忧也。且事晋何为?晋必恤之。”
  公至自晋。晋范宣子来聘,且拜朝也。君子谓:”晋于是乎有礼。”
  秋,杞桓公来朝,劳公,且问晋故。公以晋君语之。杞伯于是骤朝于晋而请为昏。
  七月,宋老佐、华喜围彭城,老佐卒焉。
  八月,邾宣公来朝,即位而来见也。
  筑鹿囿,书,不时也。
  己丑,公薨于路寝,言道也。
  冬十一月,楚子重救彭城,伐宋,宋华元如晋告急。韩献子为政,曰:”欲求得人,必先勤之,成霸安强,自宋始矣。”晋侯师于台谷以救宋,遇楚师于靡角之谷。楚师还。
  晋士鲂来乞师。季文子问师数于臧武仲,对曰:”伐郑之役,知伯实来,下军之佐也。今彘季亦佐下军,如伐郑可也。事大国,无失班爵而加敬焉,礼也。”従之。
  十二月,孟献子会于虚朾,谋救宋也。宋人辞诸侯而请师以围彭城。孟献子请于诸侯,而先归会葬。
  丁未,葬我君成公,书,顺也。
************************
襄公  【元年~十七年】
  ◎ 襄公元年
  【经】元年春王正月,公即位。仲孙蔑会晋栾黡、宋华元、卫宁殖、曹人、莒人、邾人、滕人、薛人围宋彭城。夏,晋韩厥帅师伐郑,仲孙蔑会齐崔杼、曹人、邾人、杞人次于鄫。秋,楚公子壬夫帅师侵宋。九月辛酉,天王崩。邾子来朝。冬,卫侯使公孙剽来聘。晋侯使荀罃来聘。
  【传】元年春己亥,围宋彭城。非宋地,追书也。于是为宋讨鱼石,故称宋,且不登叛人也,谓之宋志。彭城降晋,晋人以宋五大夫在彭城者归,置诸瓠丘。齐人不会彭城,晋人以为讨。二月,齐大子光为质于晋。
  夏五月,晋韩厥、荀偃帅诸侯之师伐郑,入其郛,败其徒兵于洧上。于是东诸侯之师次于鄫,以待晋师。晋师自郑以鄫之师侵楚焦夷及陈,晋侯、卫侯次于戚,以为之援。
  秋,楚子辛救郑,侵宋吕、留。郑子然侵宋,取犬丘。
  九月,邾子来朝,礼也。
  冬,卫子叔、晋知武子来聘,礼也。凡诸侯即位,小国朝之,大国聘焉,以继好结信,谋事补阙,礼之大者也。
  ◎ 襄公二年
  【经】二年春王正月,葬简王。郑师伐宋。夏五月庚寅,夫人姜氏薨。六月庚辰,郑伯仑卒。晋师、宋师、卫宁殖侵郑。秋七月,仲孙蔑会晋荀罃、宋华元、卫孙林父、曹人、邾人于戚。己丑,葬我小君齐姜。叔孙豹如宋。冬,仲孙蔑会晋荀罃、齐崔杼、宋华元、卫孙林父、曹人、邾人、滕人、薛人、小邾人于戚,遂城虎牢。楚杀其大夫公子申。
  【传】二年春,郑师侵宋,楚令也。
  齐侯伐莱,莱人使正舆子赂夙沙卫以索马牛,皆百匹,齐师乃还。君子是以知齐灵公之为”灵”也。
  夏,齐姜薨。初,穆姜使择美槚,以自为榇与颂琴。季文子取以葬。君子曰:”非礼也。礼无所逆,妇,养姑者也,亏姑以成妇,逆莫大焉。《诗》曰:’其惟哲人,告之话言,顺德之行。’季孙于是为不哲矣。且姜氏,君之妣也。《诗》曰:’为酒为醴,烝畀祖妣,以洽百礼,降福孔偕。'”
  齐侯使诸姜宗妇来送葬。召莱子,莱子不会,故晏弱城东阳以逼之。
  郑成公疾,子驷请息肩于晋。公曰:”楚君以郑故,亲集矢于其目,非异人任,寡人也。若背之,是弃力与言,其谁昵我?免寡人,唯二三子!”
  秋七月庚辰,郑伯仑卒。于是子罕当国,子驷为政,子国为司马。晋师侵郑,诸大夫欲従晋。子驷曰:”官命未改。”
  会于戚,谋郑故也。孟献子曰:”请城虎牢以逼郑。”知武子曰:”善。鄫之会,吾子闻崔子之言,今不来矣。滕、薛、小邾之不至,皆齐故也。寡君之忧不唯郑。罃将复于寡君,而请于齐。得请而告,吾子之功也。若不得请,事将在齐。君子之请,诸侯之福也,岂唯寡君赖之。”
  穆叔聘于宋,通嗣君也。
  冬,复会于戚,齐崔武子及滕、薛、小邾之大夫皆会,知武子之言故也。遂城虎牢,郑人乃成。
  楚公子申为右司马,多受小国之赂,以逼子重、子辛,楚人杀之。故书曰:”楚杀其大夫公子申。”
  ◎ 襄公三年
  【经】三年春,楚公子婴齐帅师伐吴。公如晋。夏四月壬戌,公及晋侯盟于长樗。公至自晋。六月,公会单子、晋侯、宋公、卫侯、郑伯、莒子、邾子、齐世子光。己未,同盟于鸡泽。陈侯使袁侨如会。戊寅,叔孙豹及诸侯之大夫及陈袁侨盟。秋,公至自会。冬,晋荀罃帅师伐许。
  【传】三年春,楚子重伐吴,为简之师,克鸠兹,至于衡山。使邓廖帅组甲三百、被练三千以侵吴。吴人要而击之,获邓廖。其能免者,组甲八十、被练三百而已。子重归,既饮至,三日,吴人伐楚,取驾。驾,良邑也。邓廖,亦楚之良也。君子谓:”子重于是役也,所获不如所亡。”楚人以是咎子重。子重病之,遂遇心病而卒。
  公如晋,始朝也。夏,盟于长樗。孟献子相,公稽首。知武子曰:”天子在,而君辱稽首,寡君惧矣。”孟献子曰:”以敝邑介在东表,密迩仇雠,寡君将君是望,敢不稽首?”
  晋为郑服故,且欲修吴好,将合诸侯。使士匄告于齐曰:”寡君使匄,以岁之不易,不虞之不戒,寡君愿与一二兄弟相见,以谋不协,请君临之,使匄乞盟。”齐侯欲勿许,而难为不协,乃盟于耏外。
  祁奚请老,晋侯问嗣焉。称解狐,其仇也,将立之而卒。又问焉,对曰:”午也可。”于是羊舌职死矣,晋侯曰:”孰可以代之?”对曰:”赤也可。”于是使祁午为中军尉,羊舌赤佐之。君子谓:”祁奚于是能举善矣。称其仇,不为谄。立其子,不为比。举其偏,不为党。《商书》曰:’无偏无党,王道荡荡。’其祁奚之谓矣!解狐得举,祁午得位,伯华得官,建一官而三物成,能举善也夫!唯善,故能举其类。《诗》云:’惟其有之,是以似之。’祁奚有焉。”
  六月,公会单顷公及诸侯。己未,同盟于鸡泽。
  晋侯使荀会逆吴子于淮上,吴子不至。
  楚子辛为令尹,侵欲于小国。陈成公使袁侨如会求成,晋侯使和组父告于诸侯。秋,叔孙豹及诸侯之大夫及陈袁侨盟,陈请服也。
  晋侯之弟扬干乱行于曲梁,魏绛戮其仆。晋侯怒,谓羊舌赤曰:”合诸侯以为荣也,扬干为戮,何辱如之?必杀魏绛,无失也!”对曰:”绛无贰志,事君不辟难,有罪不逃刑,其将来辞,何辱命焉?”言终,魏绛至,授仆人书,将伏剑。士鲂、张老止之。公读其书曰:”日君乏使,使臣斯司马。臣闻师众以顺为武,军事有死无犯为敬。君合诸侯,臣敢不敬?君师不武,执事不敬,罪莫大焉。臣惧其死,以及扬干,无所逃罪。不能致训,至于用钅戊。臣之罪重,敢有不従,以怒君心,请归死于司寇。”公跣而出,曰:”寡人之言,亲爱也。吾子之讨,军礼也。寡人有弟,弗能教训,使干大命,寡人之过也。子无重寡人之过,敢以为请。”
  晋侯以魏绛为能以刑佐民矣,反役,与之礼食,使佐新军。张老为中军司马,士富为候奄。
  楚司马公子何忌侵陈,陈叛故也。
  许灵公事楚,不会于鸡泽。冬,晋知武子帅师伐许。
  ◎ 襄公四年
  【经】四年春王三月己酉,陈侯午卒。夏,叔孙豹如晋。秋七月戊子,夫人姒氏薨。葬陈成公。八月辛亥,葬我小君定姒。冬,公如晋。陈人围顿。
  【传】四年春,楚师为陈叛故,犹在繁阳。韩献子患之,言于朝曰:”文王帅殷之叛国以事纣,唯知时也。今我易之,难哉!”
  三月,陈成公卒。楚人将伐陈,闻丧乃止。陈人不听命。臧武仲闻之,曰:”陈不服于楚,必亡。大国行礼焉而不服,在大犹有咎,而况小乎?”夏,楚彭名侵陈,陈无礼故也。
  穆叔如晋,报知武子之聘也,晋侯享之。金奏《肆夏》之三,不拜。工歌《文王》之三,又不拜。歌《鹿鸣》之三,三拜。韩献子使行人子员问之,曰:”子以君命,辱于敝邑。先君之礼,藉之以乐,以辱吾子。吾子舍其大,而重拜其细,敢问何礼也?”对曰:”三《夏》,天子所以享元侯也,使臣弗敢与闻。《文王》,两君相见之乐也,使臣不敢及。《鹿鸣》,君所以嘉寡君也,敢不拜嘉。?《四牡》,君所以劳使臣也,敢不重拜?《皇皇者华》,君教使臣曰:’必咨于周。’臣闻之:’访问于善为咨,咨亲为询,咨礼为度,咨事为诹,咨难为谋。’臣获五善,敢不重拜?”
  秋,定姒薨。不殡于庙,无榇,不虞。匠庆谓季文子曰:”子为正卿,而小君之丧不成,不终君也。君长,谁受其咎?”
  初,季孙为己树六槚于蒲圃东门之外。匠庆请木,季孙曰:”略。”匠庆用蒲圃之槚,季孙不御。君子曰:”《志》所谓’多行无礼,必自及也’,其是之谓乎!”
  冬,公如晋听政,晋侯享公。公请属鄫,晋侯不许。孟献子曰:”以寡君之密迩于仇雠,而愿固事君,无失官命。鄫无赋于司马,为执事朝夕之命敝邑,敝邑褊小,阙而为罪,寡君是以愿借助焉!”晋侯许之。
  楚人使顿间陈而侵伐之,故陈人围顿。
  无终子嘉父使孟乐如晋,因魏庄子纳虎豹之皮,以请和诸戎。晋侯曰:”戎狄无亲而贪,不如伐之。”魏绛曰:”诸侯新服,陈新来和,将观于我,我德则睦,否则携贰。劳师于戎,而楚伐陈,必弗能救,是弃陈也,诸华必叛。戎,禽兽也,获戎失华,无乃不可乎?《夏训》有之曰:’有穷后羿。'”公曰:”后羿何如?”对曰:”昔有夏之方衰也,后羿自鉏迁于穷石,因夏民以代夏政。恃其射也,不修民事而淫于原兽。弃武罗、伯困、熊髡、龙圉而用寒浞。寒浞,伯明氏之谗子弟也。伯明后寒弃之,夷羿收之,信而使之,以为己相。浞行媚于内而施赂于外,愚弄其民而虞羿于田,树之诈慝以取其国家,外内咸服。羿犹不悛,将归自田,家众杀而亨之,以食其子。其子不忍食诸,死于穷门。靡奔有鬲氏。浞因羿室,生浇及豷,恃其谗慝诈伪而不德于民。使浇用师,灭斟灌及斟寻氏。处浇于过,处豷于戈。靡自有鬲氏,收二国之烬,以灭浞而立少康。少康灭浇于过,后杼灭豷于戈。有穷由是遂亡,失人故也。昔周辛甲之为大史也,命百官,官箴王阙。于《虞人之箴》曰:’芒芒禹迹,尽为九州,经启九道。民有寝庙,兽有茂草,各有攸处,德用不扰。在帝夷羿,冒于原兽,忘其国恤,而思其麀牡。武不可重,用不恢于夏家。兽臣司原,敢告仆夫。’《虞箴》如是,可不惩乎?”于是晋侯好田,故魏绛及之。
  公曰:”然则莫如和戎乎?”对曰:”和戎有五利焉:戎狄荐居,贵货易土,土可贾焉,一也。边鄙不耸,民狎其野,穑人成功,二也。戎狄事晋,四邻振动,诸侯威怀,三也。以德绥戎,师徒不勤,甲兵不顿,四也。鉴于后羿,而用德度,远至迩安,五也。君其图之!”公说,使魏绛盟诸戎,修民事,田以时。
  冬十月,邾人、莒人伐鄫。臧纥救鄫,侵邾,败于狐骀。国人逆丧者皆髽。鲁于是乎始髽,国人诵之曰:”臧之狐裘,败我于狐骀。我君小子,朱儒是使。朱儒!朱儒!使我败于邾。”
  ◎ 襄公五年
  【经】五年春,公至自晋。夏,郑伯使公子发来聘。叔孙豹、鄫世子巫如晋。仲孙蔑、卫孙林父子会吴于善道。秋,大雩。楚杀其大夫公子壬夫。公会晋侯、宋公、陈侯、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、齐世子光、吴人、鄫人于戚。公至自会。冬,戍陈。楚公子贞帅师伐陈。公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、齐世子光救陈。十有二月,公至自救陈。辛未,季孙行父卒。
  【传】五年春,公至自晋。
  王使王叔陈生愬戎于晋,晋人执之。士鲂如京师,言王叔之贰于戎也。
  夏,郑子国来聘,通嗣君也。
  穆叔觌鄫大子于晋,以成属鄫。书曰:”叔孙豹、鄫大子巫如晋。”言比诸鲁大夫也。
  吴子使寿越如晋,辞不会于鸡泽之故,且请听诸侯之好。晋人将为之合诸侯,使鲁、卫先会吴,且告会期。故孟献子、孙文子会吴于善道。
  秋,大雩,旱也。
  楚人讨陈叛故,曰:”由令尹子辛实侵欲焉。”乃杀之。书曰:”楚杀其大夫公子壬夫。”贪也。君子谓:”楚共王于是不刑。《诗》曰:’周道挺挺,我心扃扃,讲事不令,集人来定。’己则无信,而杀人以逞,不亦难乎?《夏书》曰:’成允成功。'”
  九月丙午,盟于戚,会吴,且命戍陈也。穆叔以属鄫为不利,使鄫大夫听命于会。
  楚子囊为令尹。范宣子曰:”我丧陈矣!楚人讨贰而立子囊,必改行而疾讨陈。陈近于楚,民朝夕急,能无往乎?有陈,非吾事也,无之而后可。”
  冬,诸侯戍陈。子囊伐陈。十一月甲午,会于城棣以救之。
  季文子卒。大夫入敛,公在位。宰庀家器为葬备,无衣帛之妾,无食粟之马,无藏金玉,无重器备。君子是以知季文子之忠于公室也。相三君矣,而无私积,可不谓忠乎?
  ◎ 襄公六年
  【经】六年春王三月,壬午,杞伯姑容卒。夏,宋华弱来奔。秋,杞葬桓公。滕子来朝。莒人灭鄫。冬,叔孙豹如邾,季孙宿如晋。十有二月,齐侯灭莱。
  【传】六年春,杞桓公卒,始赴以名,同盟故也。
  宋华弱与乐辔少相狎,长相优,又相谤也。子荡怒,以弓梏华弱于朝。平公见之,曰:”司武而梏于朝,难以胜矣!”遂逐之。夏,宋华弱来奔。司城子罕曰:”同罪异罚,非刑也。专戮于朝,罪孰大焉!”亦逐子荡。子荡射子罕之门,曰:”几日而不我従!”子罕善之如初。
  秋,滕成公来朝,始朝公也。
  莒人灭鄫,鄫恃赂也。
  冬,穆叔如邾,聘,且修平。
  晋人以鄫故来讨,曰:”何故亡鄫?”季武子如晋见,且听命。
  十一月,齐侯灭莱,莱恃谋也。于郑子国之来聘也,四月,晏弱城东阳,而遂围莱。甲寅,堙之环城,傅于堞。及杞桓公卒之月,乙未,王湫帅师及正舆子、棠人军齐师,齐师大败之。丁未,入莱。莱共公浮柔奔棠。正舆子、王湫奔莒,莒人杀之。四月,陈无宇献莱宗器于襄宫。晏弱围棠,十一月丙辰,而灭之。迁莱于郳。高厚、崔杼定其田。
  ◎ 襄公七年
  【经】七年春,郯子来朝。夏四月,三卜郊,不従,乃免牲。小邾子来朝。城费。秋,季孙宿如卫。八月,螽。冬十月,卫侯使孙林父来聘。壬戌,及孙林父盟。楚公子贞帅师围陈。十有二月,公会晋侯、宋公、陈侯、卫侯、曹伯、莒子、邾子于鄬。郑伯髡顽如会,未见诸侯,丙戌,卒于鄵。陈侯逃归。
  【传】七年春,郯子来朝,始朝公也。
  夏四月,三卜郊,不従,乃免牲。孟献子曰:”吾乃今而后知有卜筮。夫郊,祀后稷以祈农事也。是故启蛰而郊,郊而后耕。今既耕而卜郊,宜其不従也。”
  南遗为费宰。叔仲昭伯为隧正,欲善季氏而求媚于南遗,谓遗:”请城费,吾多与而役。”故季氏城费。
  小邾穆公来朝,亦始朝公也。
  秋,季武子如卫,报子叔之聘,且辞缓报,非贰也。
  冬十月,晋韩献子告老。公族穆子有废疾,将立之。辞曰:”《诗》曰:’岂不夙夜,谓行多露。’又曰:’弗躬弗亲,庶民弗信。’无忌不才,让,其可乎?请立起也!与田苏游,而曰好仁。《诗》曰:’靖共尔位,好是正直。神之听之,介尔景福。’恤民为德,正直为正,正曲为直,参和为仁。如是,则神听之,介福降之。立之,不亦可乎?”庚戌,使宣子朝,遂老。晋侯谓韩无忌仁,使掌公族大夫。
  卫孙文子来聘,且拜武子之言,而寻孙桓子之盟。公登亦登。叔孙穆子相,趋进曰:”诸侯之会,寡君未尝后卫君。今吾子不后寡君,寡君未知所过。吾子其少安!”孙子无辞,亦无悛容。
  穆叔曰:”孙子必亡。为臣而君,过而不悛,亡之本也。《诗》曰:’退食自公,委蛇委蛇。’谓従者也。衡而委蛇必折。”
  楚子囊围陈,会于鄬以救之。
  郑僖公之为大子也,于成之十六年,与子罕适晋,不礼焉。又与子丰适楚,亦不礼焉。及其元年,朝于晋。子丰欲愬诸晋而废之,子罕止之。及将会于鄬,子驷相,又不礼焉。侍者谏,不听,又谏,杀之。及鄵,子驷使贼夜弑僖公,而以疟疾赴于诸侯。简公生五年,奉而立之。
  陈人患楚。庆虎、庆寅谓楚人曰:”吾使公子黄往而执之。”楚人従之。二庆使告陈侯于会,曰:”楚人执公子黄矣!君若不来,群臣不忍社稷宗庙,惧有二图。”陈侯逃归。
  ◎ 襄公八年
  【经】八年春王正月,公如晋。夏,葬郑僖公。郑人侵蔡,获蔡公子燮。季孙宿会晋侯、郑伯、齐人、宋人、卫人、邾人于邢丘。公至自晋。莒人伐我东鄙。秋九月,大雩。冬,楚公子贞帅师伐郑。晋侯使士匄来聘。
  【传】八年春,公如晋,朝,且听朝聘之数。
  郑群公子以僖公之死也,谋子驷。子驷先之。夏四月庚辰,辟杀子狐、子熙、子侯、子丁。孙击、孙恶出奔卫。
  庚寅,郑子国、子耳侵蔡,获蔡司马公子燮。郑人皆喜,唯子产不顺,曰:”小国无文德,而有武功,祸莫大焉。楚人来讨,能勿従乎?従之,晋师必至。晋、楚伐郑,自今郑国不四五年,弗得宁矣。”子国怒之曰:”尔何知?国有大命,而有正卿。童子言焉,将为戮矣。”
  五月甲辰,会于邢丘,以命朝聘之数,使诸侯之大夫听命。季孙宿、齐高厚、宋向戌、卫宁殖、邾大夫会之。郑伯献捷于会,故亲听命。大夫不书,尊晋侯也。
  莒人伐我东鄙,以疆鄫田。
  秋九月,大雩,旱也。
  冬,楚子囊伐郑,讨其侵蔡也。
  子驷、子国、子耳欲従楚,子孔、子蟜、子展欲待晋。子驷曰:”《周诗》有之曰:’俟河之清,人寿几何?兆云询多,职竞作罗。’谋之多族,民之多违,事滋无成。民急矣,姑従楚以纾吾民。晋师至,吾又従之。敬共币帛,以待来者,小国之道也。牺牲玉帛,待于二竞,以待强者而庇民焉。寇不为害,民不罢病,不亦可乎?”子展曰:”小所以事大,信也。小国无信,兵乱日至,亡无日矣。五会之信,今将背之,虽楚救我,将安用之?亲我无成,鄙我是欲,不可従也。不如待晋。晋君方明,四军无阙,八卿和睦,必不弃郑。楚师辽远,粮食将尽,必将速归,何患焉?舍之闻之:’杖莫如信。’完守以老楚,杖信以待晋,不亦可乎?”子驷曰:”《诗》云:’谋夫孔多,是用不集。发言盈庭,谁敢执其咎?如匪行迈谋,是用不得于道。’请従楚,非也受其咎。”乃及楚平。
  使王子伯骈告于晋,曰:”君命敝邑:’修而车赋,儆而师徒,以讨乱略。’蔡人不従,敝邑之人,不敢宁处,悉索敝赋,以讨于蔡,获司马燮,献于邢丘。今楚来讨曰:’女何故称兵于蔡?’焚我郊保,冯陵我城郭。敝邑之众,夫妇男女,不皇启处,以相救也。翦焉倾覆,无所控告。民死亡者,非其父兄,即其子弟,夫人愁痛,不知所庇。民知穷困,而受盟于楚,狐也与其二三臣不能禁止。不敢不告。”知武子使行人子员对之曰:”君有楚命,亦不使一介行李告于寡君,而即安于楚。君之所欲也,谁敢违君?寡君将帅诸侯以见于城下,唯君图之!”
  晋范宣子来聘,且拜公之辱,告将用师于郑。公享之,宣子赋《摽有梅》。季武子曰:”谁敢哉!今譬于草木,寡君在君,君之臭味也。欢以承命,何时之有?”武子赋《角弓》。宾将出,武子赋《彤弓》。宣子曰:”城濮之役,我先君文公献功于衡雍,受彤弓于襄王,以为子孙藏。匄也,先君守官之嗣也,敢不承命?”君子以为知礼。
  ◎ 襄公九年
  【经】九年春,宋灾。夏,季孙宿如晋。五月辛酉,夫人姜氏薨。秋八月癸未,葬我小君穆姜。冬,公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯,小邾子、齐世子光伐郑。十有二月己亥,同盟于戏。楚子伐郑。
  【传】九年春,宋灾。乐喜为司城以为政。使伯氏司里,火所未至,彻小屋,涂大屋;陈畚挶具绠缶,备水器;量轻重,蓄水潦,积土涂;巡丈城,缮守备,表火道。使华臣具正徒,令隧正纳郊保,奔火所。使华阅讨右官,官庀其司。向戌讨左,亦如之。使乐遄庀刑器,亦如之。使皇郧命校正出马,工正出车,备甲兵,庀武守使西鉏吾庀府守,令司宫、巷伯儆宫。二师令四乡正敬享,祝宗用马于四墉,祀盘庚于西门之外。
  晋侯问于士弱曰:”吾闻之,宋灾,于是乎知有天道。何故?”对曰:”古之火正,或食于心,或食于咮,以出内火。是故咮为鹑火,心为大火。陶唐氏之火正阏伯居商丘,祀大火,而火纪时焉。相土因之,故商主大火。商人阅其祸败之衅,必始于火,是以日知其有天道也。”公曰:”可必乎?”对曰:”在道。国乱无象,不可知也。”
  夏,季武子如晋,报宣子之聘也。
  穆姜薨于东宫。始往而筮之,遇《艮》之八三。史曰:”是谓《艮》之《随》三。《随》其出也。君必速也。”姜曰:”亡。是于《周易》曰:’《随》,元亨利贞,无咎。’元,体之长也;享,嘉之会也;利,义之和也;贞,事之干也。体仁足以长人,嘉德足以合礼,利物足以和义,贞固足以干事,然,故不可诬也,是以虽《随》无咎。今我妇人而与于乱。固在下位而有不仁,不可谓元。不靖国家,不可谓亨。作而害身,不可谓利。弃位而姣,不可谓贞。有四德者,《随》而无咎。我皆无之,岂《随》也哉?我则取恶,能无咎乎?必死于此,弗得出矣。”
  秦景公使士雅乞师于楚,将以伐晋,楚子许之。子囊曰:”不可。当今吾不能与晋争。晋君类能而使之,举不失选,官不易方。其卿让于善,其大夫不失守,其士竞于教,其庶人力于农穑。商工皂隶,不知迁业。韩厥老矣,知罃禀焉以为政。范匄少于中行偃而上之,使佐中军。韩起少于栾黡,而栾黡、士鲂上之,使佐上军。魏绛多功,以赵武为贤而为之佐。君明臣忠,上让下竞。当是时也,晋不可敌,事之而后可。君其图之!”王曰:”吾既许之矣。虽不及晋,必将出师。”秋,楚子师于武城以为秦援。秦人侵晋,晋饥,弗能报也。
  冬十月,诸侯伐郑。庚午,季武子、齐崔杼、宋皇郧従荀罃、士匄门于鄟门。卫北宫括、曹人、邾人従荀偃、韩起门于师之梁。滕人、薛人従栾黡、士鲂门于北门。杞人、郳人従赵武、魏绛斩行栗。甲戌,师于汜,令于诸侯曰:”修器备,盛糇粮,归老幼,居疾于虎牢,肆眚,围郑。”郑人恐,乃行成。中行献子曰:”遂围之,以待楚人之救也而与之战。不然,无成。”知武子曰:”许之盟而还师,以敝楚人。吾三分四军,与诸侯之锐以逆来者,于我未病,楚不能矣,犹愈于战。暴骨以逞,不可以争。大劳未艾。君子劳心,小人劳力,先王之制也”诸侯皆不欲战,乃许郑成。十一月己亥,同盟于戏,郑服也。
  将盟,郑六卿公子非、公子发、公子嘉、公孙辄、公孙虿、公孙舍之及其大夫、门子皆従郑伯。晋士庄子为载书,曰:”自今日既盟之后,郑国而不唯晋命是听,而或有异志者,有如此盟。”公子非趋进曰:”天祸郑国,使介居二大国之间。大国不加德音而乱以要之,使其鬼神不获歆其禋祀,其民人不获享其土利,夫妇辛苦垫隘,无所底告。自今日既盟之后,郑国而不唯有礼与强可以庇民者是従,而敢有异志者,亦如之。”荀偃曰:”改载书。”公孙舍之曰:”昭大神,要言焉。若可改也,大国亦可叛也。”知武子谓献子曰:”我实不德,而要人以盟,岂礼也哉!非礼,何以主盟?姑盟而退,修德息师而来,终必获郑,何必今日?我之不德,民将弃我,岂唯郑?若能休和,远人将至,何恃于郑?”乃盟而还。
  晋人不得志于郑,以诸侯复伐之。十二月癸亥,门其三门。闰月,戊寅,济于阴阪,侵郑。次于阴口而还。子孔曰:”晋师可击也,师老而劳,且有归志,必大克之。”子展曰:”不可。”
  公送晋侯。晋侯以公晏于河上,问公年,季武子对曰:”会于沙随之岁,寡君以生。”晋侯曰:”十二年矣!是谓一终,一星终也。国君十五而生子。冠而生子,礼也,君可以冠矣!大夫盍为冠具?”武子对曰:”君冠,必以祼享之礼行之,以金石之乐节之,以先君之祧处之。今寡君在行,未可具也。请及兄弟之国而假备焉。”晋侯曰:”诺。”公还,及卫,冠于成公之庙,假钟磬焉,礼也。
  楚子伐郑,子驷将及楚平。子孔、子蟜曰:”与大国盟,口血未干而背之,可乎?”子驷、子展曰:”吾盟固云:’唯强是従。’今楚师至,晋不我救,则楚强矣。盟誓之言,岂敢背之?且要盟无质,神弗临也,所临唯信。信者,言之瑞也,善之主也,是故临之。明神不蠲要盟,背之可也。”乃及楚平。公子罢戎入盟,同盟于中分。
  楚庄夫人卒,王未能定郑而归。
  晋侯归,谋所以息民。魏绛请施舍,输积聚以贷。自公以下,苟有积者,尽出之。国无滞积,亦无困人。公无禁利,亦无贪民。祈以币更,宾以特性,器用不作,车服従给。行之期年,国乃有节。三驾而楚不能与争。
  ◎ 襄公十年
  【经】十年春,公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子、齐世子光会吴于柤。夏,五月甲午,遂灭逼阳。公至自会。楚公子贞、郑公孙辄帅师伐宋。晋师伐秦。秋,莒人伐我东鄙。公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯、莒子、邾子、齐世子光、滕子、薛伯、杞伯、小邾子伐郑。冬,盗杀郑公子非、公子发、公孙辄。戍郑虎牢。楚公子贞帅师救郑。公至自伐郑。
  【传】十年春,会于柤,会吴子寿梦也。三月癸丑,齐高厚相大子光以先会诸侯于钟离,不敬。士庄子曰:”高子相大子以会诸侯,将社稷是卫,而皆不敬,弃社稷也,其将不免乎!”
  夏四月戊午,会于柤。
  晋荀偃、士匄请伐逼阳,而封宋向戌焉。荀罃曰:”城小而固,胜之不武,弗胜为笑。”固请。丙寅,围之,弗克。孟氏之臣秦堇父辇重如役。逼阳人启门,诸侯之士门焉。县门发,郰人纥抉之以出门者。狄虒弥建大车之轮而蒙之以甲以为橹,左执之,右拔戟,以成一队。孟献子曰:”《诗》所谓’有力如虎’者也。”主人县布,堇父登之,及堞而绝之。队则又县之,苏而复上者三。主人辞焉乃退,带其断以徇于军三日。
  诸侯之师久于逼阳,荀偃、士匄请于荀罃曰:”水潦将降,惧不能归,请班师。”知伯怒,投之以机,出于其间,曰:”女成二事而后告余。余恐乱命,以不女违。女既勤君而兴诸侯,牵帅老夫以至于此,既无武守,而又欲易余罪,曰:’是实班师,不然克矣’。余赢老也,可重任乎?七日不克,必尔乎取之!”五月庚寅,荀偃、士匄帅卒攻逼阳,亲受矢石。甲午,灭之。书曰”遂灭逼阳”,言自会也。以与向戌,向戌辞曰:”君若犹辱镇抚宋国,而以逼阳光启寡君,群臣安矣,其何贶如之?若专赐臣,是臣兴诸侯以自封也,其何罪大焉?敢以死请。”乃予宋公。
  宋公享晋侯于楚丘,请以《桑林》。荀罃辞。荀偃、士匄曰:”诸侯宋、鲁,于是观礼。鲁有禘乐,宾祭用之。宋以《桑林》享君,不亦可乎?”舞,师题以旌夏,晋侯惧而退入于房。去旌,卒享而还。及著雍,疾。卜,桑林见。荀偃、士匄欲奔请祷焉。荀罃不可,曰:”我辞礼矣,彼则以之。犹有鬼神,于彼加之。”晋侯有间,以逼阳子归,献于武宫,谓之夷俘。逼阳妘姓也。使周内史选其族嗣,纳诸霍人,礼也。
  师归,孟献子以秦堇父为右。生秦丕兹,事仲尼。
  六月,楚子囊、郑子耳伐宋,师于訾毋。庚午,围宋,门于桐门。
  晋荀罃伐秦,报其侵也。
  卫侯救宋,师于襄牛。郑子展曰:”必伐卫,不然,是不与楚也。得罪于晋,又得罪于楚,国将若之何?”子驷曰:”国病矣!”子展曰:”得罪于二大国,必亡。病不犹愈于亡乎?”诸大夫皆以为然。故郑皇耳帅师侵卫,楚令也。孙文子卜追之,献兆于定姜。姜氏问繇。曰:”兆如山陵,有夫出征,而丧其雄。”姜氏曰:”征者丧雄,御寇之利也。大夫图之!”卫人追之,孙蒯获郑皇耳于犬丘。
  秋七月,楚子囊、郑子耳伐我西鄙。还,围萧,八月丙寅,克之。九月,子耳侵宋北鄙。孟献子曰:”郑其有灾乎!师竞已甚。周犹不堪竞,况郑乎?有灾,其执政之三士乎!”
  莒人间诸侯之有事也,故伐我东鄙。
  诸侯伐郑。齐崔杼使大子光先至于师,故长于滕。己酉,师于牛首。
  初,子驷与尉止有争,将御诸侯之师而黜其车。尉止获,又与之争。子驷抑尉止曰:”尔车,非礼也。”遂弗使献。初,子驷为田洫,司氏、堵氏、侯氏、子师氏皆丧田焉,故五族聚群不逞之人,因公子之徒以作乱。于是子驷当国,子国为司马,子耳为司空,子孔为司徒。冬十月戊辰,尉止、司臣、侯晋、堵女父、子师仆帅贼以入,晨攻执政于西宫之朝,杀子驷、子国、子耳,劫郑伯以如北宫。子孔知之,故不死。书曰”盗”,言无大夫焉。
  子西闻盗,不儆而出,尸而追盗,盗入于北宫,乃归授甲。臣妾多逃,器用多丧。子产闻盗,为门者,庀群司,闭府库,慎闭藏,完守备,成列而后出,兵车十七乘,尸而攻盗于北宫。子蟜帅国人助之,杀尉止,子师仆,盗众尽死。侯晋奔晋。堵女父、司臣、尉翩、司齐奔宋。
  子孔当国,为载书,以位序,听政辟。大夫、诸司、门子弗顺,将诛之。子产止之,请为之焚书。子孔不可,曰:”为书以定国,众怒而焚之,是众为政也,国不亦难乎?”子产曰:”众怒难犯,专欲难成,合二难以安国,危之道也。不如焚书以安众,子得所欲,众亦得安,不亦可乎?专欲无成,犯众兴祸,子必従之。”乃焚书于仓门之外,众而后定。
  诸侯之师城虎牢而戍之。晋师城梧及制,士鲂、魏绛戍之。书曰”戍郑虎牢”,非郑地也,言将归焉。郑及晋平。楚子囊救郑。十一月,诸侯之师还郑而南,至于阳陵,楚师不退。知武子欲退,曰:”今我逃楚,楚必骄,骄则可与战矣。”栾黡曰:”逃楚,晋之耻也。合诸侯以益耻,不如死!我将独进。”师遂进。己亥,与楚师夹颍而军。子矫曰:”诸侯既有成行,必不战矣。従之将退,不従亦退。退,楚必围我。犹将退也。不如従楚,亦以退之。”宵涉颍,与楚人盟。栾黡欲伐郑师,荀罃不可,曰:”我实不能御楚,又不能庇郑,郑何罪?不如致怨焉而还。今伐其师,楚必救之,战而不克,为诸侯笑。克不可命,不如还也!”丁未,诸侯之师还,侵郑北鄙而归。楚人亦还。
  王叔陈生与伯舆争政。王右伯舆,王叔陈生怒而出奔。及河,王复之,杀史狡以说焉。不入,遂处之。晋侯使士匄平王室,王叔与伯舆讼焉。王叔之宰与伯舆之大夫瑕禽坐狱于王庭,士匄听之。王叔之宰曰:”筚门闺窦之人而皆陵其上,其难为上矣!”瑕禽曰:”昔平王东迁,吾七姓従王,牲用备具。王赖之,而赐之骍旄之盟,曰:’世世无失职。’若筚门闺窦,其能来东底乎?且王何赖焉?今自王叔之相也,政以贿成,而刑放于宠。官之师旅,不胜其富,吾能无筚门闺窦乎?唯大国图之!下而无直,则何谓正矣?”范宣子曰:”天子所右,寡君亦右之。所在,亦左之。”使王叔氏与伯舆合要,王叔氏不能举其契。王叔奔晋。不书,不告也。单靖公为卿士,以相王室。
  ◎ 襄公十一年
  【经】十有一年春王正月,作三军。夏四月,四卜郊,不従,乃不郊。郑公孙舍之帅师侵宋。公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯、齐世子光、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子伐郑。秋七月己未,同盟于亳城北。公至自伐郑。楚子、郑伯伐宋。公会晋侯、宋公、卫侯、曹伯、齐世子光、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子伐郑,会于萧鱼。公至自会。楚执郑行人良霄。冬,秦人伐晋。
  【传】十一年春,季武子将作三军,告叔孙穆子曰:”请为三军,各征其军。”穆子曰:”政将及子,子必不能。”武子固请之,穆子曰:”然则盟诸?”乃盟诸僖闳,诅诸五父之衢。
  正月,作三军,三分公室而各有其一。三子各毁其乘。李氏使其乘之人,以其役邑入者,无征;不入者,倍征。孟氏使半为臣,若子若弟。叔孙氏使尽为臣,不然,不舍。
  郑人患晋、楚之故,诸大夫曰:”不従晋,国几亡。楚弱于晋,晋不吾疾也。晋疾,楚将辟之。何为而使晋师致死于我,楚弗敢敌,而后可固与也。”子展曰:”与宋为恶,诸侯必至,吾従之盟。楚师至,吾又従之,则晋怒甚矣。晋能骤来,楚将不能,吾乃固与晋。”大夫说之,使疆埸之司恶于宋。宋向戌侵郑,大获。子展曰:”师而伐宋可矣。若我伐宋,诸侯之伐我必疾,吾乃听命焉,且告于楚。楚师至,吾又与之盟,而重赂晋师,乃免矣。”夏,郑子展侵宋。
  四月,诸侯伐郑。己亥,齐大子光、宋向戌先至于郑,门于东门。其莫,晋荀罃至于西郊,东侵旧许。卫孙林父侵其北鄙。六月,诸侯会于北林,师于向,右还,次于琐,围郑。观兵于南门,西济于济隧。郑人惧,乃行成。
  秋七月,同盟于亳。范宣子曰:”不慎,必失诸侯。诸侯道敝而无成,能无贰乎?”乃盟,载书曰:”凡我同盟,毋蕴年,毋壅利,毋保奸,毋留慝,救灾患,恤祸乱,同好恶,奖王室。或间兹命,司慎司盟,名山名川,群神群祀,先王先公,七姓十二国之祖,明神殛之,俾失其民,队命亡氏,踣其国家。”
  楚子囊乞旅于秦,秦右大夫詹帅师従楚子,将以伐郑。郑伯逆之。丙子,伐宋。
  九月,诸侯悉师以复伐郑。郑人使良霄、大宰石如楚,告将服于晋,曰:”孤以社稷之故,不能怀君。君若能以玉帛绥晋,不然则武震以摄威之,孤之愿也。”楚人执之,书曰”行人”,言使人也。诸侯之师观兵于郑东门,郑人使王子伯骈行成。甲戌,晋赵武入盟郑伯。冬十月丁亥,郑子展出盟晋侯。十二月戊寅,会于萧鱼。庚辰,赦郑囚,皆礼而归之。纳斥候,禁侵掠。晋侯使叔肸告于诸侯。公使臧孙纥对曰:”凡我同盟,小国有罪,大国致讨,苟有以藉手,鲜不赦宥。寡君闻命矣。”郑人赂晋侯以师悝、师触、师蠲,广车、軘车淳十五乘,甲兵备,凡兵车百乘,歌钟二肆,及其鏄磐,女乐二八。
  晋侯以乐之半赐魏绛,曰:”子教寡人和诸戎狄,以正诸华。八年之中,九合诸侯,如乐之和,无所不谐。请与子乐之。”辞曰:”夫和戎狄,国之福也;八年之中,九合诸侯,诸侯无慝,君之灵也,二三子之劳也,臣何力之有焉?抑臣愿君安其乐而思其终也!《诗》曰:’乐只君子,殿天子之邦。乐只君子,福禄攸同。便蕃左右,亦是帅従。’夫乐以安德,义以处之,礼以行之,信以守之,仁以厉之,而后可以殿邦国,同福禄,来远人,所谓乐也。《书》曰:’居安思危。’思则有备,有备无患,敢以此规。”公曰:”子之教,敢不承命。抑微子,寡人无以待戎,不能济河。夫赏,国之典也,藏在盟府,不可废也,子其受之!”魏绛于是乎始有金石之乐,礼也。
  秦庶长鲍、庶长武帅师伐晋以救郑。鲍先入晋地,士鲂御之,少秦师而弗设备。壬午,武济自辅氏,与鲍交伐晋师。己丑,秦、晋战于栎,晋师败绩,易秦故也。
  ◎ 襄公十二年
  【经】十有二年春王二月,莒人伐我东鄙,围台。季孙宿帅师救台,遂入郓。夏,晋侯使士鲂来聘。秋九月,吴子乘卒。冬,楚公子贞帅师侵宋。公如晋。
  【传】十二年春,莒人伐我东鄙,围台。季武子救台,遂入郓,取其钟以为公盘。
  夏,晋士鲂来聘,且拜师。
  秋,吴子寿梦卒。临于周庙,礼也。凡诸侯之丧,异姓临于外,同姓于宗庙,同宗于祖庙,同族于祢庙。是故鲁为诸姬,临于周庙。为邢、凡、蒋、茅、胙、祭临于周公之庙。
  冬,楚子囊、秦庶长无地伐宋,师于扬梁,以报晋之取郑也。
  灵王求后于齐。齐侯问对于晏桓子,桓子对曰:”先王之礼辞有之,天子求后于诸侯,诸侯对曰:’夫妇所生若而人。妾妇之子若而人。’无女而有姊妹及姑姊妹,则曰:’先守某公之遗女若而人。'”齐侯许昏,王使阴里逆之。
  公如晋,朝,且拜士鲂之辱,礼也。
  秦嬴归于楚。楚司马子庚聘于秦,为夫人宁,礼也。
  ◎ 襄公十三年
  【经】十有三年春,公至自晋。夏,取邿。秋九月庚辰,楚子审卒。冬,城防。
  【传】十三年春,公至自晋,孟献子书劳于庙,礼也。
  夏,邿乱,分为三。师救邿,遂取之。凡书”取”,言易也。用大师焉曰”灭”。弗地曰”入”。
  荀罃、士鲂卒。晋侯搜于上以治兵,使士匄将中军,辞曰:”伯游长。昔臣习于知伯,是以佐之,非能贤也。请従伯游。”荀偃将中军,士匄佐之。使韩起将上军,辞以赵武。又使栾黡,辞曰:”臣不如韩起。韩起愿上赵武,君其听之!”使赵武将上军,韩起佐之。栾黡将下军,魏绛佐之。新军无帅,晋侯难其人,使其什吏,率其卒乘官属,以従于下军,礼也。晋国之民,是以大和,诸侯遂睦。君子曰:”让,礼之主也。范宣子让,其下皆让。栾黡为汰,弗敢违也。晋国以平,数世赖之。刑善也夫!一人刑善,百姓休和,可不务乎?《书》曰:’一人有庆,兆民赖之,其宁惟永。’其是之谓乎?周之兴也,其《诗》曰:’仪刑文王,万邦作孚。’言刑善也。及其衰也,其《诗》曰:’大夫不均,我従事独贤。’言不让也。世之治也,君子尚能而让其下,小人农力以事其上,是以上下有礼,而谗慝黜远,由不争也,谓之懿德。及其乱也,君子称其功以加小人,小人伐其技以冯君子,是以上下无礼,乱虐并生,由争善也,谓之昏德。国家之敝,恒必由之。”
  楚子疾,告大夫曰:”不谷不德,少主社稷,生十年而丧先君,未及习师保之教训,而应受多福。是以不德,而亡师于鄢,以辱社稷,为大夫忧,其弘多矣。若以大夫之灵,获保首领以殁于地,唯是春秋窀穸之事,所以従先君于祢庙者,请为’灵’若’厉’。大夫择焉!”莫对。及五命乃许。
  秋,楚共王卒。子囊谋谥。大夫曰:”君有命矣。”子囊曰:”君命以共,若之何毁之?赫赫楚国,而君临之,抚有蛮夷,奄征南海,以属诸夏,而知其过,可不谓共乎?请谥之’共’。”大夫従之。
  吴侵楚,养由基奔命,子庚以师继之。养叔曰:”吴乘我丧,谓我不能师也,必易我而不戒。子为三覆以待我,我请诱之。”子庚従之。战于庸浦,大败吴师,获公子党。君子以吴为不吊。《诗》曰:”不吊昊天,乱靡有定。”
  冬,城防,书事,时也。于是将早城,臧武仲请俟毕农事,礼也。
  郑良霄、大宰石犹在楚。石言于子囊曰:”先王卜征五年,而岁习其祥,祥习则行,不习则增修德而改卜。今楚实不竞,行人何罪?止郑一卿,以除其逼,使睦而疾楚,以固于晋,焉用之?使归而废其使,怨其君以疾其大夫,而相牵引也,不犹愈乎?”楚人归之。
  ◎ 襄公十四年
  【经】十有四年春王正月,季孙宿、叔老会晋士匄、齐人、宋人、卫人、郑公孙虿、曹人、莒人、邾人、滕人、薛人、杞人、小邾人会吴于向。二月乙朔,日有食之。夏四月,叔孙豹会晋荀偃、齐人、宋人、卫北宫括、郑公孙虿、曹人、莒人、邾人、滕人、薛人、杞人、小邾人伐秦。己未,卫侯出奔齐。莒人侵我东鄙。秋,楚公子贞帅师伐吴。冬,季孙宿会晋士匄、宋华阅、卫孙林父、郑公孙虿、莒人、邾人于戚。
  【传】十四年春,吴告败于晋。会于向,为吴谋楚故也。范宣子数吴之不德也,以退吴人。
  执莒公子务娄,以其通楚使也。
  将执戎子驹支。范宣子亲数诸朝,曰:”来!姜戎氏!昔秦人迫逐乃祖吾离于瓜州,乃祖吾离被苫盖,蒙荆棘,以来归我先君。我先君惠公有不腆之田,与女剖分而食之。今诸侯之事我寡君不知昔者,盖言语漏泄,则职女之由。诘朝之事,尔无与焉!与将执女!”对曰:”昔秦人负恃其众,贪于土地,逐我诸戎。惠公蠲其大德,谓我诸戎,是四岳之裔胄也,毋是翦弃。赐我南鄙之田,狐狸所居,豺狼所嗥。我诸戎除翦其荆棘,驱其狐狸豺狼,以为先君不侵不叛之臣,至于今不贰。昔文公与秦伐郑,秦人窃与郑盟而舍戍焉,于是乎有殽之师。晋御其上,戎亢其下,秦师不复,我诸戎实然。譬如捕鹿,晋人角之,诸戎掎之,与晋踣之,戎何以不免?自是以来,晋之百役,与我诸戎相继于时,以従执政,犹殽志也。岂敢离逖?今官之师旅,无乃实有所阙,以携诸侯,而罪我诸戎!我诸戎饮食衣服,不与华同,贽币不通,言语不达,何恶之能为?不与于会,亦无瞢焉!”赋《青蝇》而退。宣子辞焉,使即事于会,成恺悌也。于是,子叔齐子为季武子介以会,自是晋人轻鲁币,而益敬其使。
  吴子诸樊既除丧,将立季札。季札辞曰:”曹宣公之卒也,诸侯与曹人不义曹君,将立子臧。子臧去之,遂弗为也,以成曹君。君子曰:’能守节。’君,义嗣也。谁敢奸君?有国,非吾节也。札虽不才,愿附于子臧,以无失节。”固立之。弃其室而耕。乃舍之。
  夏,诸侯之大夫従晋侯伐秦,以报栎之役也。晋侯待于竟,使六卿帅诸侯之师以进。及泾,不济。叔向见叔孙穆子。穆子赋《匏有苦叶》。叔向退而具舟,鲁人、莒人先济。郑子蟜见卫北宫懿子曰:”与人而不固,取恶莫甚焉!若社稷何?”懿子说。二子见诸侯之师而劝之济,济泾而次。秦人毒泾上流,师人多死。郑司马子蟜帅郑师以进,师皆従之,至于棫林,不获成焉。荀偃令曰:”鸡鸣而驾,塞井夷灶,唯余马首是瞻!”栾黡曰:”晋国之命,未是有也。余马首欲东。”乃归。下军従之。左史谓魏庄子曰:”不待中行伯乎?”庄子曰:”夫子命従帅。栾伯,吾帅也,吾将従之。従帅,所以待夫子也。”伯游曰:”吾令实过,悔之何及,多遗秦禽。”乃命大还。晋人谓之迁延之役。
  栾钅咸曰:”此役也,报栎之败也。役又无功,晋之耻也。吾有二位于戎路,敢不耻乎?”与士鞅驰秦师,死焉。士鞅反,栾黡谓士匄曰:”余弟不欲住,而子召之。余弟死,而子来,是而子杀余之弟也。弗逐,余亦将杀之。”士鞅奔秦。
  于是,齐崔杼、宋华阅、仲江会伐秦,不书,惰也。向之会亦如之。卫北宫括不书于向,书于伐秦,摄也。
  秦伯问于士鞅曰:”晋大夫其谁先亡?”对曰:”其栾氏乎!”秦伯曰:”以其汰乎?”对曰:”然。栾黡汰虐已甚,犹可以免。其在盈乎!”秦伯曰:”何故?”对曰:”武子之德在民,如周人之思召公焉,爱其甘棠,况其子乎?栾黡死,盈之善未能及人,武子所施没矣,而黡之怨实章,将于是乎在。”秦伯以为知言,为之请于晋而复之。
  卫献公戒孙文子、宁惠子食,皆服而朝。日旰不召,而射鸿于囿。二子従之,不释皮冠而与之言。二子怒。孙文子如戚,孙蒯入使。公饮之酒,使大师歌《巧言》之卒章。大师辞,师曹请为之。初,公有嬖妾,使师曹诲之琴,师曹鞭之。公怒,鞭师曹三百。故师曹欲歌之,以怒孙子以报公。公使歌之,遂诵之。
  蒯惧,告文子。文子曰:”君忌我矣,弗先。必死。”并帑于戚而入,见蘧伯玉曰:”君之暴虐,子所知也。大惧社稷之倾覆,将若之何?”对曰:”君制其国,臣敢奸之?虽奸之,庸如愈乎?”遂行,従近关出。公使子蟜、子伯、子皮与孙子盟于丘宫,孙子皆杀之。四月己未,子展奔齐。公如鄄,使子行于孙子,孙子又杀之。公出奔齐,孙氏追之,败公徒于河泽。鄄人执之。
  初,尹公佗学射于庚公差,庚公差学射于公孙丁。二子追公,公孙丁御公。子鱼曰:”射为背师,不射为戮,射为礼乎。”射两軥而还。尹公佗曰:”子为师,我则远矣。”乃反之。公孙丁授公辔而射之,贯臂。
  子鲜従公,及竟,公使祝宗告亡,且告无罪。定姜曰:”无神何告?若有,不可诬也。有罪,若何告无?舍大臣而与小臣谋,一罪也。先君有冢卿以为师保,而蔑之,二罪也。余以巾栉事先君,而暴妾使余,三罪也。告亡而已,无告无罪。”
  公使厚成叔吊于卫,曰:”寡君使瘠,闻君不抚社稷,而越在他竟,若之何不吊?以同盟之故,使瘠敢私于执事曰:’有君不吊,有臣不敏,君不赦宥,臣亦不帅职,增淫发泄,其若之何?'”卫人使大叔仪对曰:”群臣不佞,得罪于寡君。寡君不以即刑而悼弃之,以为君忧。君不忘先君之好,辱吊群臣,又重恤之。敢拜君命之辱,重拜大贶。”厚孙归,复命,语臧武仲曰:”卫君其必归乎!有大叔仪以守,有母弟鱄以出,或抚其内,或营其外,能无归乎?”
  齐人以郲寄卫侯。及其复也,以郲粮归。右宰谷従而逃归,卫人将杀之。辞曰:”余不说初矣,余狐裘而羔袖。”乃赦之。卫人立公孙剽,孙林父、宁殖相之,以听命于诸侯。
  卫侯在郲,臧纥如齐,唁卫侯。与之言,虐。退而告其人曰:”卫侯其不得入矣!其言粪土也,亡而不变,何以复国?”子展、子鲜闻之,见臧纥,与之言,道。臧孙说,谓其人曰:”卫君必入。夫二子者,或輓之,或推之,欲无入,得乎?”
  师归自伐秦,晋侯舍新军,礼也。成国不过半天子之军,周为六军,诸侯之大者,三军可也。于是知朔生盈而死,盈生六年而武子卒,彘裘亦幼,皆未可立也。新军无帅,故舍之。
  师旷侍于晋侯。晋侯曰:”卫人出其君,不亦甚乎?”对曰:”或者其君实甚。良君将赏善而刑淫,养民如子,盖之如天,容之如地。民奉其君,爱之如父母,仰之如日月,敬之如神明,畏之如雷霆,其可出乎?夫君,神之主而民之望也。若困民之主,匮神乏祀,百姓绝望,社稷无主,将安用之?弗去何为?天生民而立之君,使司牧之,勿使失性。有君而为之贰,使师保之,勿使过度。是故天子有公,诸侯有卿,卿置侧室,大夫有贰宗,士有朋友,庶人、工、商、皂、隶、牧、圉皆有亲昵,以相辅佐也。善则赏之,过则匡之,患则救之,失则革之。自王以下,各有父兄子弟,以补察其政。史为书,瞽为诗,工诵箴谏,大夫规诲,士传言,庶人谤,商旅于市,百工献艺。故《夏书》曰:’遒人以木铎徇于路。官师相规,工执艺事以谏。’正月孟春,于是乎有之,谏失常也。天之爱民甚矣。岂其使一人肆于民上,以従其淫,而弃天地之性?必不然矣。”
  秋,楚子为庸浦之役故,子囊师于棠以伐吴,吴不出而还。子囊殿,以吴为不能而弗儆。吴人自皋舟之隘要而击之,楚人不能相救。吴人败之,获楚公子宜谷。
  王使刘定公赐齐侯命,曰:”昔伯舅大公,右我先王,股肱周室,师保万民,世胙大师,以表东海。王室之不坏,繄伯舅是赖。今余命女环!兹率舅氏之典,纂乃祖考,无忝乃旧。敬之哉,无废朕命!”
  晋侯问卫故于中行献子,对曰:”不如因而定之。卫有君矣,伐之,未可以得志而勤诸侯。史佚有言曰:’因重而抚之。’仲虺有言曰:’亡者侮之,乱者取之,推亡固存,国之道也。’君其定卫以待时乎!”
  冬,会于戚,谋定卫也。
  范宣子假羽毛于齐而弗归,齐人始贰。
  楚子囊还自伐吴,卒。将死,遗言谓子庚:”必城郢。”君子谓:”子囊忠。君薨不忘增其名,将死不忘卫社稷,可不谓忠乎?忠,民之望也。《诗》曰:’行归于周,万民所望。’忠也。”
◎ 襄公十五年
  【经】十有五年春,宋公使向戌来聘。二月己亥,及向戌盟于刘。刘夏逆王后于齐。夏,齐侯伐我北鄙,围成。公救成,至遇。季孙宿、叔孙豹帅师城成郛。秋八月丁巳,日有食之。邾人伐我南鄙。冬十有一月癸亥,晋侯周卒。
  【传】十五年春,宋向戌来聘,且寻盟。见孟献子,尤其室,曰:”子有令闻,而美其室,非所望也!”对曰:”我在晋,吾兄为之,毁之重劳,且不敢间。”
  官师従单靖公逆王后于齐。卿不行,非礼也。
  楚公子午为令尹,公子罢戎为右尹,蒍子冯为大司马,公子櫜师为右司马,公子成为左司马,屈到为莫敖,公子追舒为箴尹,屈荡为连尹,养由基为宫厩尹,以靖国人。君子谓:”楚于是乎能官人。官人,国之急也。能官人,则民无觎心。《诗》云:”嗟我怀人,置彼周行。’能官人也。王及公、侯、伯、子、男,甸、采、卫大夫,各居其列,所谓周行也。”
  郑尉氏、司氏之乱,其余盗在宋。郑人以子西、伯有、子产之故,纳贿于宋,以马四十乘与师伐、师慧。三月,公孙黑为质焉。司城子罕以堵女父、尉翩、司齐与之。良司臣而逸之,托诸季武子,武子置诸卞。郑人醢之,三人也。
  师慧过宋朝,将私焉。其相曰:”朝也。”慧曰:”无人焉。”相曰:”朝也,何故无人?”慧曰:”必无人焉。若犹有人,岂其以千乘之相易淫乐之矇?必无人焉故也。”子罕闻之,固请而归之。
  夏,齐侯围成,贰于晋故也。于是乎城成郛。
  秋,邾人伐我南鄙。使告于晋,晋将为会以讨邾、莒晋侯有疾,乃止。冬,晋悼公卒,遂不克会。
  郑公孙夏如晋奔丧,子蟜送葬。
  宋人或得玉,献诸子罕。子罕弗受。献玉者曰:”以示玉人,玉人以为宝也,故敢献之。”子罕曰:”我以不贪为宝,尔以玉为宝,若以与我,皆丧宝也。不若人有其宝。”稽首而告曰:”小人怀璧,不可以越乡。纳此以请死也。”子罕置堵其里,使玉人为之攻之,富而后使复其所。
  十二月,郑人夺堵狗之妻,而归诸范氏。
◎ 襄公十六年
  【经】十有六年春王正月,葬晋悼公。三月,公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、薛伯、杞伯、小邾子,于湨梁。戊寅,大夫盟。晋人执莒子、邾子以归。齐侯伐我北鄙。夏,公至自会。五月甲子,地震。叔老会郑伯、晋荀偃、卫宁殖、宋人伐许。秋,齐侯伐我北鄙,围郕。大雩。冬,叔孙豹如晋。
  【传】十六年春,葬晋悼公。平公即位,羊舌肸为傅,张君臣为中军司马,祁奚、韩襄、栾盈、士鞅为公族大夫,虞丘书为乘马御。改服修官,烝于曲沃。警守而下,会于湨梁。命归侵田。以我故,执邾宣公、莒犁比公,且曰:”通齐、楚之使。”
  晋侯与诸侯宴于温,使诸大夫舞,曰:”歌诗必类!”齐高厚之诗不类。荀偃怒,且曰:”诸侯有异志矣!”使诸大夫盟高厚,高厚逃归。于是,叔孙豹、晋荀偃、宋向戌、卫宁殖、郑公孙虿、小邾之大夫盟曰:”同讨不庭。”
  许男请迁于晋。诸侯遂迁许,许大夫不可。晋人归诸侯。
  郑子蟜闻将伐许,遂相郑伯以従诸侯之师。穆叔従公。齐子帅师会晋荀偃。书曰:”会郑伯。”为夷故也。
  夏六月,次于棫林。庚寅,伐许,次于函氏。
  晋荀偃、栾黡帅师伐楚,以报宋扬梁之役。楚公子格帅师及晋师战于湛阪,楚师败绩。晋师遂侵方城之外,复伐许而还。
  秋,齐侯围郕,孟孺子速缴之。齐侯曰:”是好勇,去之以为之名。”速遂塞海陉而还。
  冬,穆叔如晋聘,且言齐故。晋人曰:”以寡君之未禘祀,与民之未息。不然,不敢忘。”穆叔曰:”以齐人之朝夕释憾于敝邑之地,是以大请!敝邑之急,朝不及夕,引领西望曰:’庶几乎!’比执事之间,恐无及也!”见中行献子,赋《圻父》。献子曰:”偃知罪矣!敢不従执事以同恤社稷,而使鲁及此。”见范宣子,赋《鸿雁》之卒章。宣子曰:”匄在此,敢使鲁无鸠乎?”
    ◎ 襄公十七年
  【经】十有七年春王二月庚午,邾子卒。宋人伐陈。夏,卫石买帅师伐曹。秋,齐侯伐我北鄙,围桃。高厚帅师伐我北鄙,围防。九月,大雩。宋华臣出奔陈。冬,邾人伐我南鄙。
  【传】十七年春,宋庄朝伐陈,获司徒卬,卑宋也。
  卫孙蒯田于曹隧,饮马于重丘,毁其瓶。重丘人闭门而訽之,曰:”亲逐而君,尔父为厉。是之不忧,而何以田为?”
  夏,卫石买、孙蒯伐曹,取重丘。曹人愬于晋。
  齐人以其未得志于我故,秋,齐侯伐我北鄙,围桃。高厚围臧纥于防。师自阳关逆臧孙,至于旅松。郰叔纥、臧畴、臧贾帅甲三百,宵犯齐师,送之而复。齐师去之。
  齐人获臧坚。齐侯使夙沙卫唁之,且曰:”无死!”坚稽首曰:”拜命之辱!抑君赐不终,姑又使其刑臣礼于士。”以杙抉其伤而死。
  冬,邾人伐我南鄙,为齐故也。
  宋华阅卒。华臣弱皋比之室,使贼杀其宰华吴。贼六人以铍杀诸卢门合左师之后。左师惧曰:”老夫无罪。”贼曰:”皋比私有讨于吴。”遂幽其妻,曰:”畀余而大璧!”宋公闻之,曰:”臣也,不唯其宗室是暴,大乱宋国之政,必逐之!”左师曰:”臣也,亦卿也。大臣不顺,国之耻也。不如盖之。”乃舍之。左师为己短策,苟过华臣之门,必聘。
  十一月甲午,国人逐狗,狗入于华臣氏,国人従之。华臣惧,遂奔陈。
  宋皇国父为大宰,为平公筑台,妨于农功。子罕请俟农功之毕,公弗许。筑者讴曰:”泽门之皙,实兴我役。邑中之黔,实尉我心。”子罕闻之,亲执扑,以行筑者,而抶其不勉者,曰:”吾侪小人,皆有阖庐以辟燥湿寒暑。今君为一台而不速成,何以为役?”讴者乃止。或问其故,子罕曰:”宋国区区,而且诅有祝,祸之本也。”
  齐晏桓子卒。晏婴粗縗斩,苴绖、带、杖,菅屦,食鬻,居倚庐,寝苫,枕草。其老曰:”非大夫之礼也。”曰:”唯卿为大夫。”
************************
襄公  【十八年~三十一年】
◎ 襄公十八年
  【经】十有八年春,白狄来。夏,晋人执卫行人石买。秋,齐师伐我北鄙。冬十月,公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子同围齐。曹伯负刍卒于师。楚公子午帅师伐郑。
  【传】十八年春,白狄始来。
  夏,晋人执卫行人石买于长子,执孙蒯于纯留,为曹故也。
  秋,齐侯伐我北鄙。中行献子将伐齐,梦与厉公讼,弗胜,公以戈击之,首队于前,跪而戴之,奉之以走,见梗阳之巫皋。他日,见诸道,与之言,同。巫曰:”今兹主必死,若有事于东方,则可以逞。”献子许诺。
  晋侯伐齐,将济河。献子以朱丝系玉二,而祷曰:”齐环怙恃其险,负其众庶,弃好背盟,陵虐神主。曾臣彪将率诸侯以讨焉,其官臣偃实先后之。苟捷有功,无作神羞,官臣偃无敢复济。唯尔有神裁之!”沉玉而济。
  冬十月,会于鲁济,寻湨梁之言,同伐齐。齐侯御诸平阴,堑防门而守之,广里。夙沙卫曰:”不能战,莫如守险。”弗听。诸侯之士门焉,齐人多死。范宣子告析文子曰:”吾知子,敢匿情乎?鲁人、莒人皆请以车千乘自其乡入,既许之矣。若入,君必失国。子盍图之?”子家以告公,公恐。晏婴闻之曰:”君固无勇,而又闻是,弗能久矣。”齐侯登巫山以望晋师。晋人使司马斥山泽之险,虽所不至,必旗而疏陈之。使乘车者左实右伪,以旗先,舆曳柴而従之。齐侯见之,畏其众也,乃脱归。丙寅晦,齐师夜遁。师旷告晋侯曰:”鸟乌之声乐,齐师其遁。”邢伯告中行伯曰:”有班马之声,齐师其遁。”叔向告晋侯曰:”城上有乌,齐师其遁。”
  十一月丁卯朔,入平阴,遂従齐师。夙沙卫连大车以塞隧而殿。殖绰、郭最曰:”子殿国师,齐之辱也。子姑先乎!”乃代之殿。卫杀马于隘以塞道。晋州绰及之,射殖绰,中肩,两矢夹脰,曰:”止,将为三军获。不止,将取其衷。”顾曰:”为私誓。”州绰曰:”有如日!”乃弛弓而自后缚之。其右具丙亦舍兵而缚郭最,皆衿甲面缚,坐于中军之鼓下。
  晋人欲逐归者,鲁、卫请攻险。己卯,荀偃、士匄以中军克京兹。乙酉,魏绛、栾盈以下军克邿。赵武、韩起以上军围卢,弗克。十二月戊戌,及秦周,伐雍门之萩。范鞅门于雍门,其御追喜以戈杀犬于门中。孟庄子斩其以为公琴。己亥,焚雍门及西郭、南郭。刘难、士弱率诸侯之师焚申池之竹木。壬寅,焚东郭、北郭。范鞅门于扬门。州绰门于东闾,左骖迫,还于门中,以枚数阖。
  齐侯驾,将走邮棠。大子与郭荣扣马,曰:”师速而疾,略也。将退矣,君何惧焉!且社稷之主,不可以轻,轻则失众。君必待之。”将犯之,大子抽剑断鞅,乃止。甲辰,东侵及潍,南及沂。
  郑子孔欲去诸大夫,将叛晋而起楚师以去之。使告子庚,子庚弗许。楚子闻之,使杨豚尹宜告子庚曰:”国人谓不谷主社稷,而不出师,死不従礼。不谷即位,于今五年,师徒不出,人其以不谷为自逸,而忘先君之业矣。大夫图之!其若之何?”子庚叹曰:”君王其谓午怀安乎!吾以利社稷也。”见使者,稽首而对曰:”诸侯方睦于晋,臣请尝之。若可,君而继之。不可,收师而退,可以无害,君亦无辱。”子庚帅师治兵于汾。于是子蟜、伯有、子张従郑伯伐齐,子孔、子展、子西守。二子知子孔之谋,完守入保。子孔不敢会楚师。
  楚师伐郑,次于鱼陵。右师城上棘,遂涉颍,次于旃然。蒍子冯、公子格率锐师侵费滑、胥靡、献于、雍梁,右回梅山,侵郑东北,至于虫牢而反。子庚门于纯门,信于城下而还。涉于鱼齿之下,甚雨及之,楚师多冻,役徒几尽。
  晋人闻有楚师,师旷曰:”不害。吾骤歌北风,又歌南风。南风不竞,多死声。楚必无功。”董叔曰:”天道多在西北,南师不时,必无功。”叔向曰:”在其君之德也。”
  ◎ 襄公十九年
  【经】十有九年春王正月,诸侯盟于祝柯。晋人执邾子,公至自伐齐。取邾田,自漷水。季孙宿如晋。葬曹成公。夏,卫孙林父帅师伐齐。秋七月辛卯,齐侯环卒。晋士匄帅师侵齐,至谷,闻齐侯卒,乃还。八月丙辰,仲孙蔑卒。齐杀其大夫高厚。郑杀其大夫公子嘉。冬,葬齐灵公。城西郛。叔孙豹会晋士匄于柯。城武城。
  【传】十九年春,诸侯还自沂上,盟于督扬,曰:”大毋侵小。”
  执邾悼公,以其伐我故。遂次于泗上,疆我田。取邾田,自漷水归之于我。晋侯先归。公享晋六卿于蒲圃,赐之三命之服。军尉、司马、司空、舆尉、候奄,皆受一命之服。贿荀偃束锦,加璧,乘马,先吴寿梦之鼎。
  荀偃瘅疽,生疡于头。济河,及著雍,病,目出。大夫先归者皆反。士匄请见,弗内。请后,曰:”郑甥可。”二月甲寅,卒,而视,不可含。宣子盥而抚之,曰:”事吴,敢不如事主!”犹视。栾怀子曰:”其为未卒事于齐故也乎?”乃复抚之曰:”主苟终,所不嗣事于齐者,有如河!”乃暝,受含。宣子出,曰:”吾浅之为丈夫也。”
  晋栾鲂帅师従卫孙文子伐齐。季武子如晋拜师,晋侯享之。范宣子为政,赋《黍苗》。季武子兴,再拜稽首曰:”小国之仰大国也,如百谷之仰膏雨焉!若常膏之,其天下辑睦,岂唯敝邑?”赋《六月》。
  季武子以所得于齐之兵,作林钟而铭鲁功焉。臧武仲谓季孙曰:”非礼也。夫铭,天子令德,诸侯言时计功,大夫称伐。今称伐则下等也,计功则借人也,言时则妨民多矣,何以为铭?且夫大伐小,取其所得以作彝器,铭其功烈以示子孙,昭明德而惩无礼也。今将借人之力以救其死,若之何铭之?小国幸于大国,而昭所获焉以怒之,亡之道也。”
  齐侯娶于鲁,曰颜懿姬,无子。其侄鬲声姬,生光,以为大子。诸子仲子、戎子,戎子嬖。仲子生牙,属诸戎子。戎子请以为大子,许之。仲子曰:”不可。废常,不祥;间诸侯,难。光之立也,列于诸侯矣。今无故而废之,是专黜诸侯,而以难犯不祥也。君必悔之。”公曰:”在我而已。”遂东大子光。使高厚傅牙,以为大子,夙沙卫为少傅。
  齐侯疾,崔杼微逆光。疾病,而立之。光杀戎子,尸诸朝,非礼也。妇人无刑。虽有刑,不在朝市。
  夏五月壬辰晦,齐灵公卒。庄公即位,执公子牙于句渎之丘。以夙沙卫易己,卫奔高唐以叛。
  晋士匄侵齐,及谷,闻丧而还,礼也。
  于四月丁未,郑公孙虿卒,赴于晋大夫。范宣子言于晋侯,以其善于伐秦也。六月,晋侯请于王,王追赐之大路,使以行,礼也。
  秋八月,齐崔杼杀高厚于洒蓝而兼其室。书曰:”齐杀其大夫。”従君于昏也。
  郑子孔之为政也专。国人患之,乃讨西宫之难,与纯门之师。子孔当罪,以其甲及子革、子良氏之甲守。甲辰,子展、子西率国人伐之,杀子孔而分其室。书曰:”郑杀其大夫。”专也。子然、子孔,宋子之子也;士子孔,圭妫之子也。圭妫之班亚宋子,而相亲也;二子孔亦相亲也。僖之四年,子然卒,简之元年,士子孔卒。司徒孔实相子革、子良之室,三室如一,故及于难。子革、子良出奔楚,子革为右尹。郑人使子展当国,子西听政,立子产为卿。
  齐庆封围高唐,弗克。冬十一月,齐侯围之,见卫在城上,号之,乃下。问守备焉,以无备告。揖之,乃登。闻师将傅,食高唐人。殖绰、工偻会夜缒纳师,醢卫于军。
  城西郛,惧齐也。
  齐及晋平,盟于大隧。故穆叔会范宣子于柯。穆叔见叔向,赋《载驰》之四章。叔向曰:”肸敢不承命。”穆叔曰:”齐犹未也,不可以不惧。”乃城武城。
  卫石共子卒,悼子不哀。孔成子曰:”是谓蹶其本,必不有其宗。”
  ◎ 襄公二十年
  【经】二十年春王正月辛亥,仲孙速会莒人盟于向。夏六月庚申,公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯,小邾子盟于澶渊。秋,公至自会。仲孙速帅师伐邾。蔡杀其大夫公子燮。蔡公子履出奔楚。陈侯之弟黄出奔楚。叔老如齐。冬十月丙辰朔,日有食之。季孙宿如宋。
  【传】二十年春,及莒平。孟庄子会莒人,盟于向,督扬之盟故也。
  夏,盟于澶渊,齐成故也。
  邾人骤至,以诸侯之事,弗能报也。秋,孟庄子伐邾以报之。
  蔡公子燮欲以蔡之晋,蔡人杀之。公子履,其母弟也,故出奔楚。
  陈庆虎、庆寅畏公子黄之逼,愬诸楚曰:”与蔡司马同谋。”楚人以为讨。公子黄出奔楚。
  初,蔡文侯欲事晋,曰:”先君与于践士之盟,晋不可弃,且兄弟也。”畏楚,不能行而卒。楚人使蔡无常,公子燮求従先君以利蔡,不能而死。书曰:”蔡杀其大夫公子燮”,言不与民同欲也;”陈侯之弟黄出奔楚”,言非其罪也。公子黄将出奔,呼于国曰:”庆氏无道,求专陈国,暴蔑其君,而去其亲,五年不灭,是无天也。”
  齐子初聘于齐,礼也。
  冬,季武子如宋,报向戌之聘也。褚师段逆之以受享,赋《常棣》之七章以卒。宋人重贿之。归,复命,公享之。赋《鱼丽》之卒章。公赋《南山有台》。武子去所,曰:”臣不堪也。”
  卫宁惠子疾,召悼子曰:”吾得罪于君,悔而无及也。名藏在诸侯之策,曰:’孙林父、宁殖出其君。’君入则掩之。若能掩之,则吾子也。若不能,犹有鬼神,吾有馁而已,不来食矣。”悼子许诺,惠子遂卒。
  ◎ 襄公二十一年
  【经】二十有一年春王正月,公如晋。邾庶其以漆、闾丘来奔。夏,公至自晋。秋,晋栾出奔楚。九月庚戌朔,日有食之。冬十月庚辰朔,日有食之。曹伯来朝。公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子于商任。
  【传】二十一年春,公如晋,拜师及取邾田也。
  邾庶其以漆、闾丘来奔。季武子以公姑姊妻之,皆有赐于其従者。
  于是鲁多盗。季孙谓臧武仲曰:”子盍诘盗?”武仲曰:”不可诘也,纥又不能。”季孙曰:”我有四封,而诘其盗,何故不可?子为司寇,将盗是务去,若之何不能?”武仲曰:”子召外盗而大礼焉,何以止吾盗?子为正卿,而来外盗;使纥去之,将何以能?庶其窃邑于邾以来,子以姬氏妻之,而与之邑,其従者皆有赐焉。若大盗礼焉以君之姑姊与其大邑,其次皋牧舆马,其小者衣裳剑带,是赏盗也。赏而去之,其或难焉。纥也闻之,在上位者,洒濯其心,壹以待人,轨度其信,可明征也,而后可以治人。夫上之所为,民之归也。上所不为而民或为之,是以加刑罚焉,而莫敢不惩。若上之所为而民亦为之,乃其所也,又可禁乎?《夏书》曰:’念兹在兹,释兹在兹,名言兹在兹,允出兹在兹,惟帝念功。’将谓由己壹也。信由己壹,而后功可念也。”
  庶其非卿也,以地来,虽贱必书,重地也。
  齐侯使庆佐为大夫,复讨公子牙之党,执公子买于句渎之丘。公子鉏来奔。叔孙还奔燕。
  夏,楚子庚卒,楚子使薳子冯为令尹。访于申叔豫,叔豫曰:”国多宠而王弱,国不可为也。”遂以疾辞。方署,阙地,下冰而床焉。重茧衣裘,鲜食而寝。楚子使医视之,复曰:”瘠则甚矣,而血气未动。”乃使子南为令尹。
  栾桓子娶于范宣子,生怀子。范鞅以其亡也,怨栾氏,故与栾盈为公族大夫而不相能。桓子卒,栾祁与其老州宾通,几亡室矣。怀子患之。祁惧其讨也,愬诸宣子曰:”盈将为乱,以范氏为死桓主而专政矣,曰:’吾父逐鞅也,不怒而以宠报之,又与吾同官而专之,吾父死而益富。死吾父而专于国,有死而已,吾蔑従之矣!’其谋如是,惧害于主,吾不敢不言。”范鞅为之征。怀子好施,士多归之。宣子畏其多士也,信之。怀子为下卿,宣子使城著而遂逐之。
  秋,栾盈出奔楚。宣子杀箕遗、黄渊、嘉父、司空靖、邴豫、董叔、邴师、申书、羊舌虎、叔罴。囚伯华、叔向、籍偃。人谓叔向曰:”子离于罪,其为不知乎?”叔向曰:”与其死亡若何?《诗》曰:’优哉游哉,聊以卒岁。’知也。”乐王鲋见叔向曰:”吾为子请!”叔向弗应。出,不拜。其人皆咎叔向。叔向曰:”必祁大夫。。”室老闻之,曰:”乐王鲋言于君无不行,求赦吾子,吾子不许。祁大夫所不能也,而曰’必由之’,何也?”叔向曰:”乐王鲋,従君者也,何能行?祁大夫外举不弃仇,内举不失亲,其独遗我乎?《诗》曰:’有觉德行,四国顺之。’夫子,觉者也。”
  晋侯问叔向之罪于乐王鲋,对曰:”不弃其亲,其有焉。”于是祁奚老矣,闻之,乘驲而见宣子,曰:”《诗》曰:’惠我无疆,子孙保之。’《书》曰:’圣有谟勋,明征定保。’夫谋而鲜过,惠训不倦者,叔向有焉,社稷之固也。犹将十世宥之,以劝能者。今壹不免其身,以弃社稷,不亦惑乎?鲧殛而禹兴。伊尹放大甲而相之,卒无怨色。管、蔡为戮,周公右王。若之何其以虎也弃社稷?子为善,谁敢不勉?多杀何为?”宣子说,与之乘,以言诸公而免之。不见叔向而归。叔向亦不告免焉而朝。
  初,叔向之母石叔虎之母美而不使,其子皆谏其母。其母曰:”深山大泽,实生龙蛇。彼美,余惧其生龙蛇以祸女。女,敝族也。国多大宠,不仁人间之,不亦难乎?余何爱焉!”使往视寝,生叔虎。美而有勇力,栾怀子嬖之,故羊舌氏之族及于难。
  栾盈过于周,周西鄙掠之。辞于行人,曰:”天子陪臣盈,得罪于王之守臣,将逃罪。罪重于郊甸,无所伏窜,敢布其死。昔陪臣书能输力于王室,王施惠焉。其子黡,不能保任其父之劳。大君若不弃书之力,亡臣犹有所逃。若弃书之力,而思黡之罪,臣,戮余也,将归死于尉氏,不敢还矣。敢布四体,唯大君命焉!”王曰:”尤而效之,其又甚焉!”使司徒禁掠栾氏者,归所取焉。使候出诸轘辕。
  冬,曹武公来朝,始见也。
  会于商任,锢栾氏也。齐侯、卫侯不敬。叔向曰:”二君者必不免。会朝,礼之经也;礼,政之舆也;政,身之守也;怠礼失政,失政不立,是以乱也。”
  知起、中行喜、州绰、邢蒯出奔齐,皆栾氏之党也。乐王鲋谓范宣子曰:”盍反州绰、邢蒯,勇士也。”宣子曰:”彼栾氏之勇也,余何获焉?”王鲋曰:”子为彼栾氏,乃亦子之勇也。”
  齐庄公朝,指殖绰、郭最曰:”是寡人之雄也。”州绰曰:”君以为雄,谁敢不雄?然臣不敏,平阴之役,先二子鸣。”庄公为勇爵。殖绰、郭最欲与焉。州绰曰:”东闾之役,臣左骖迫,还于门中,识其枚数。其可以与于此乎?”公曰:”子为晋君也。”对曰:”臣为隶新。然二子者,譬于禽兽,臣食其肉而寝处其皮矣。”
  ◎ 襄公二十二年
  【经】二十有二年春王正月,公至自会。夏四月。秋七月辛酉,叔老卒。冬,公会晋侯、齐侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、薛伯、杞伯、小邾子于沙随。公至自会。楚杀其大夫公子追舒。
  【传】二十二年春,臧武仲如晋,雨,过御叔。御叔在其邑,将饮酒,曰:”焉用圣人!我将饮酒而己,雨行,何以圣为?”穆叔闻之曰:”不可使也,而傲使人,国之蠹也。”令倍其赋。
  夏,晋人征朝于郑。郑人使少正公孙侨对曰:”在晋先君悼公九年,我寡君于是即位。即位八月,而我先大夫子驷従寡君以朝于执事。执事不礼于寡君。寡君惧,因是行也,我二年六月朝于楚,晋是以有戏之役。楚人犹竞,而申礼于敝邑。敝邑欲従执事而惧为大尤,曰晋其谓我不共有礼,是以不敢携贰于楚。我四年三月,先大夫子蟜又従寡君以观衅于楚,晋于是乎有萧鱼之役。谓我敝邑,迩在晋国,譬诸草木,吾臭味也,而何敢差池?楚亦不竞,寡君尽其土实,重之以宗器,以受齐盟。遂帅群臣随于执事以会岁终。贰于楚者,子侯、石盂,归而讨之。湨梁之明年,子蟜老矣,公孙夏従寡君以朝于君,见于尝酎,与执燔焉。间二年,闻君将靖东夏,四月又朝,以听事期。不朝之间,无岁不聘,无役不従。以大国政令之无常,国家罢病,不虞荐至,无日不惕,岂敢忘职?大国若安定之,其朝夕在庭,何辱命焉?若不恤其患,而以为口实,其无乃不堪任命,而翦为仇雠,敝邑是惧。其敢忘君命?委诸执事,执事实重图之。”
  秋,栾盈自楚适齐。晏平仲言于齐侯曰:”商任之会,受命于晋。今纳栾氏,将安用之?小所以事大,信也。失信不立,君其图之。”弗听。退告陈文子曰:”君人执信,臣人执共,忠信笃敬,上下同之,天之道也。君自弃也,弗能久矣!”
  九月,郑公孙黑肱有疾,归邑于公。召室老、宗人立段,而使黜官、薄祭。祭以特羊,殷以少牢。足以共祀,尽归其余邑。曰:”吾闻之,生于乱世,贵而能贫,民无求焉,可以后亡。敬共事君,与二三子。生在敬戒,不在富也。”己巳,伯张卒。君子曰:”善戒。《诗》曰:’慎尔侯度,用戒不虞。’郑子张其有焉。”
  冬,会于沙随,复锢栾氏也。
  栾盈犹在齐,晏子曰:”祸将作矣!齐将伐晋,不可以不惧。”
  楚观起有宠于令尹子南,未益禄,而有马数十乘。楚人患之,王将讨焉。子南之子弃疾为王御士,王每见之,必泣。弃疾曰:”君三泣臣矣,敢问谁之罪也?”王曰:”令尹之不能,尔所知也。国将讨焉,尔其居乎?”对曰:”父戮子居,君焉用之?泄命重刑,臣亦不为。”王遂杀子南于朝,轘观起于四竟。子南之臣谓弃疾,请徙子尸于朝,曰:”君臣有礼,唯二三子。”三日,弃疾请尸,王许之。既葬,其徒曰:”行乎?”曰:”吾与杀吾父,行将焉入?”曰:”然则臣王乎?”曰:”弃父事仇,吾弗忍也。”遂缢而死。
  复使薳子冯为令尹,公子齮为司马。屈建为莫敖。有宠于薳子者八人,皆无禄而多马。他日朝,与申叔豫言。弗应而退。従之,入于人中。又従之,遂归。退朝,见之,曰:”子三困我于朝,吾惧,不敢不见。吾过,子姑告我。何疾我也?”对曰:”吾不免是惧,何敢告子?”曰:”何故?”对曰:”昔观起有宠于子南,子南得罪,观起车裂。何故不惧?”自御而归,不能当道。至,谓八人者曰:”吾见申叔,夫子所谓生死而肉骨也。知我者,如夫子则可。不然,请止。”辞八人者,而后王安之。
  十二月,郑游贩将归晋,未出竟,遭逆妻者,夺之,以馆于邑。丁巳,其夫攻子明,杀之,以其妻行。子展废良而立大叔,曰:”国卿,君之贰也,民之主也,不可以苟。请舍子明之类。”求亡妻者,使复其所。使游氏勿怨,曰:”无昭恶也。”
  ◎ 襄公二十三年
  【经】二十有三年春王二月癸酉朔,日有食之。三月己巳,杞伯匄卒。夏,邾畀我来奔。葬杞孝公。陈杀其大夫庆虎及庆寅。陈侯之弟黄自楚归于陈。晋栾盈复入于晋,入于曲沃。秋,齐侯伐卫,遂伐晋。八月,叔孙豹帅师救晋次于雍榆。己卯,仲孙速卒。冬十月乙亥,臧孙纥出奔邾。晋人杀栾盈。齐侯袭莒。
  【传】二十三年春,杞孝公卒,晋悼夫人丧之。平公不彻乐,非礼也。礼,为邻国阙。
  陈侯如楚。公子黄愬二庆于楚,楚人召之。使庆乐往,杀之。庆氏以陈叛。夏,屈建従陈侯围陈。陈人城,板队而杀人。役人相命,各杀其长。遂杀庆虎、庆寅。楚人纳公子黄。君子谓:”庆氏不义,不可肆也。故《书》曰:’惟命不于常。'”
  晋将嫁女于吴,齐侯使析归父媵之,以藩载栾盈及其士,纳诸曲沃。栾盈夜见胥午而告之。对曰:”不可。天之所废,谁能兴之?子必不免。吾非爱死也,知不集也。”盈曰:”虽然,因子而死,吾无悔矣。我实不天,子无咎焉。”许诺。伏之,而觞曲沃人。乐作。午言曰:”今也得栾孺子,何如?”对曰:”得主而为之死,犹不死也。”皆叹,有泣者。爵行,又言。皆曰:”得主,何贰之有?”盈出,遍拜之。
  四月,栾盈帅曲沃之甲,因魏献子,以昼入绛。初,栾盈佐魏庄子于下军,献子私焉,故因之。赵氏以原、屏之难怨栾氏,韩、赵方睦。中行氏以伐秦之役怨栾氏,而固与范氏和亲。知悼子少,而听于中行氏。程郑嬖于公。唯魏氏及七舆大夫与之。
  乐王鲋待坐于范宣子。或告曰:”栾氏至矣!”宣子惧。桓子曰:”奉君以走固宫,必无害也。且栾氏多怨,子为政,栾氏自外,子在位,其利多矣。既有利权,又执民柄,将何惧焉?栾氏所得,其唯魏氏乎!而可强取也。夫克乱在权,子无懈矣。”公有姻丧,王鲋使宣子墨縗冒绖,二妇人辇以如公,奉公以如固宫。
  范鞅逆魏舒,则成列既乘,将逆栾氏矣。趋进,曰:”栾氏帅贼以入,鞅之父与二三子在君所矣。使鞅逆吾子。鞅请骖乘。”持带,遂超乘,右抚剑,左援带,命驱之出。仆请,鞅曰:”之公。”宣子逆诸阶,执其手,赂之以曲沃。
  初,斐豹隶也,著于丹书。栾氏之力臣曰督戎,国人惧之。斐豹谓宣子曰:”苟焚丹书,我杀督戎。”宣子喜,曰:”而杀之,所不请于君焚丹书者,有如日!”乃出豹而闭之,督戎従之。逾隐而待之,督戎逾入,豹自后击而杀之。范氏之徒在台后,栾氏乘公门。宣子谓鞅曰:”矢及君屋,死之!”鞅用剑以帅卒,栾氏退。摄车従之,遇栾氏,曰:”乐免之,死将讼女于天。”乐射之,不中;又注,则乘槐本而覆。或以戟钩之,断肘而死。栾鲂伤。栾盈奔曲沃,晋人围之。
  秋,齐侯伐卫。先驱,谷荣御王孙挥,召扬为右。申驱,成秩御莒恒,申鲜虞之傅挚为右。曹开御戎,晏父戎为右。贰广,上之登御邢公,卢蒲癸为右。启,牢成御襄罢师,狼蘧疏为右。胠,商子车御侯朝,桓跳为右。大殿,商子游御夏之御寇,崔如为右,烛庸之越驷乘。
  自卫将遂伐晋。晏平仲曰:”君恃勇力以伐盟主,若不济,国之福也。不德而有功,忧必及君。”崔杼谏曰:”不可。臣闻之,小国间大国之败而毁焉,必受其咎。君其图之!”弗听。陈文子见崔武子,曰:”将如君何?”武子曰:”吾言于君,君弗听也。以为盟主,而利其难。群臣若急,君于何有?子姑止之。”文子退,告其人曰:”崔子将死乎!谓君甚,而又过之,不得其死。过君以义,犹自抑也,况以恶乎?”
  齐侯遂伐晋,取朝歌,为二队,入孟门,登大行,张武军于荧庭,戍郫邵,封少水,以报平阴之役,乃还。赵胜帅东阳之师以追之,获晏牦。八月,叔孙豹帅师救晋,次于雍榆,礼也。
  季武子无适子,公弥长,而爱悼子,欲立之。访于申丰,曰:”弥与纥,吾皆爱之,欲择才焉而立之。”申丰趋退,归,尽室将行。他日,又访焉,对曰:”其然,将具敝车而行。”乃止。访于臧纥,臧纥曰:”饮我酒,吾为子立之。”季氏饮大夫酒,臧纥为客。既献,臧孙命北面重席,新尊絜之。召悼之,降,逆之。大夫皆起。及旅,而召公鉏,使与之齿,季孙失色。
  季氏以公鉏为马正,愠而不出。闵子马见之,曰:”子无然!祸福无门,唯人所召。为人子者,患不孝,不患无所。敬共父命,何常之有?若能孝敬,富倍季氏可也。奸回不轨,祸倍下民可也。”公鉏然之。敬共朝夕,恪居官次。季孙喜,使饮己酒,而以具往,尽舍旃。故公鉏氏富,又出为公左宰。
  孟孙恶臧孙,季孙爱之。孟氏之御驺丰点好羯也,曰:”従余言,必为孟孙。”再三云,羯従之。孟庄子疾,丰点谓公鉏:”苟立羯,请仇臧氏。”公鉏谓季孙曰:”孺子秩,固其所也。若羯立,则季氏信有力于臧氏矣。”弗应。己卯,孟孙卒,公鉏奉羯立于户侧。季孙至,入,哭,而出,曰:”秩焉在?”公鉏曰:”羯在此矣!”季孙曰:”孺子长。”公鉏曰:”何长之有?唯其才也。且夫子之命也。”遂立羯。秩奔邾。
  臧孙入,哭甚哀,多涕。出,其御曰:”孟孙之恶子也,而哀如是。季孙若死,其若之何?”臧孙曰:”季孙之爱我,疾疢也。孟孙之恶我,药石也。美疢不如恶石。夫石犹生我,疢之美,其毒滋多。孟孙死,吾亡无日矣。”
  孟氏闭门,告于季秋曰:”臧氏将为乱,不使我葬。”季孙不信。臧孙闻之,戒。冬十月,孟氏将辟,藉除于臧氏。臧孙使正夫助之,除于东门,甲従己而视之。孟氏又告季孙。季孙怒,命攻臧氏。乙亥,臧纥斩鹿门之关以出,奔邾。
  初,臧宣叔娶于铸,生贾及为而死。继室以其侄,穆姜之姨子也。生纥,长于公宫。姜氏爱之,故立之。臧贾、臧为出在铸。臧武仲自邾使告臧贾,且致大蔡焉,曰:”纥不佞,失守宗祧,敢告不吊。纥之罪,不及不祀。子以大蔡纳请,其可。”贾曰:”是家之祸也,非子之过也。贾闻命矣。”再拜受龟。使为以纳请,遂自为也。臧孙如防,使来告曰:”纥非能害也,知不足也。非敢私请!苟守先祀,无废二勋,敢不辟邑。”乃立臧为。臧纥致防而奔齐。其人曰:”其盟我乎?”臧孙曰:”无辞。”将盟臧氏,季孙召外史掌恶臣,而问盟首焉,对曰:”盟东门氏也,曰:’毋或如东门遂,不听公命,杀适立庶。’盟叔孙氏也,曰:’毋或如叔孙侨如,欲废国常,荡覆公室。'”季孙曰:”臧孙之罪,皆不及此。”孟椒曰:”盍以其犯门斩关?”季孙用之。乃盟臧氏曰:”无或如臧孙纥,干国之纪,犯门斩关。”臧孙闻之,曰:”国有人焉!谁居?其孟椒乎!”
  晋人克栾盈于曲沃,尽杀栾氏之族党。栾鲂出奔宋。书曰:”晋人杀栾盈。”不言大夫,言自外也。
  齐侯还自晋,不入。遂袭莒,门于且于,伤股而退。明日,将复战,期于寿舒。杞殖、华还载甲,夜入且于之隧,宿于莒郊。明日,先遇莒子于蒲侯氏。莒子重赂之,使无死,曰:”请有盟。”华周对曰:”贪货弃命,亦君所恶也。昏而受命,日未中而弃之,何以事君?”莒子亲鼓之,従而伐之,获杞梁。莒人行成。
  齐侯归,遇杞梁之妻于郊,使吊之。辞曰:”殖之有罪,何辱命焉?若免于罪,犹有先人之敝庐在,下妾不得与郊吊。”齐侯吊诸其室。
  齐侯将为臧纥田。臧孙闻之,见齐侯,与之言伐晋,对曰:”多则多矣!抑君似鼠。夫鼠昼伏夜动,不穴于寝庙,畏人故也。今君闻晋之乱而后作焉。宁将事之,非鼠如何?”乃弗与田。
  仲尼曰:”知之难也。有臧武仲之知,而不容于鲁国,抑有由也。作不顺而施不恕也。《夏书》曰:’念兹在兹。’顺事、恕施也。”
  ◎ 襄公二十四年
  【经】二十有四年春,叔孙豹如晋。仲孙羯帅师侵齐。夏,楚子伐吴。秋七月甲子朔,日有食之,既。齐崔杼帅师伐莒。大水。八月癸巳朔,日有食之。公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子于夷仪。冬,楚子、蔡侯、陈侯、许男伐郑。公至自会。陈钅咸宜咎出奔楚。叔孙豹如京师。大饥。
  【传】二十四年春,穆叔如晋。范宣子逆之,问焉,曰:”古人有言曰,’死而不朽’,何谓也?”穆叔未对。宣子曰:”昔匄之祖,自虞以上,为陶唐氏,在夏为御龙氏,在商为豕韦氏,在周为唐杜氏,晋主夏盟为范氏,其是之谓乎?”穆叔曰:”以豹所闻,此之谓世禄,非不朽也。鲁有先大夫曰臧文仲,既没,其言立。其是之谓乎!豹闻之,大上有立德,其次有立功,其次有立言,虽久不废,此之谓不朽。若夫保姓受氏,以守宗祊,世不绝祀,无国无之,禄之大者,不可谓不朽。”
  范宣子为政,诸侯之币重。郑人病之。二月,郑伯如晋。子产寓书于子西以告宣子,曰:”子为晋国,四邻诸侯,不闻令德,而闻重币,侨也惑之。侨闻君子长国家者,非无贿之患,而无令名之难。夫诸侯之贿聚于公室,则诸侯贰。若吾子赖之,则晋国贰。诸侯贰,则晋国坏。晋国贰,则子之家坏。何没没也!将焉用贿?夫令名,德之舆也。德,国家之基也。有基无坏,无亦是务乎!有德则乐,乐则能久。《诗》云:’乐只君子,邦家之基。’有令德也夫!’上帝临女,无贰尔心。’有令名也夫!恕思以明德,则令名载而行之,是以远至迩安。毋宁使人谓子’子实生我’,而谓’子濬我以生’乎?象有齿以焚其身,贿也。”宣子说,乃轻币。是行也,郑伯朝晋,为重币故,且请伐陈也。郑伯稽首,宣子辞。子西相,曰:”以陈国之介恃大国而陵虐于敝邑,寡君是以请罪焉。敢不稽首。”
  孟孝伯侵齐,晋故也。
  夏,楚子为舟师以伐吴,不为军政,无功而还。
  齐侯既伐晋而惧,将欲见楚子。楚子使薳启强如齐聘,且请期。齐社,搜军实,使客观之。陈文子曰:”齐将有寇。吾闻之,兵不戢,必取其族。”
  秋,齐侯闻将有晋师,使陈无宇従薳启强如楚,辞,且乞师。崔杼帅师送之,遂伐莒,侵介根。
  会于夷仪,将以伐齐,水,不克。
  冬,楚子伐郑以救齐,门于东门,次于棘泽。诸侯还救郑。晋侯使张骼、辅跞致楚师,求御于郑。郑人卜宛射犬,吉。子大叔戒之曰:”大国之人,不可与也。”对曰:”无有众寡,其上一也。”大叔曰:”不然,部娄无松柏。”二子在幄,坐射犬于外,既食而后食之。使御广车而行,己皆乘乘车。将及楚师,而后従之乘,皆踞转而鼓琴。近,不告而驰之。皆取胄于櫜而胄,入垒,皆下,搏人以投,收禽挟囚。弗待而出。皆超乘,抽弓而射。既免,复踞转而鼓琴,曰:”公孙!同乘,兄弟也。胡再不谋?”对曰:”曩者志入而已,今则怯也。”皆笑,曰:”公孙之亟也。”
  楚子自棘泽还,使薳启强帅师送陈无宇。
  吴人为楚舟师之役故,召舒鸠人,舒鸠人叛楚。楚子师于荒浦,使沈尹寿与师祁犁让之。舒鸠子敬逆二子,而告无之,且请受盟。二子复命,王欲伐之。薳子曰:”不可。彼告不叛,且请受盟,而又伐之,伐无罪也。姑归息民,以待其卒。卒而不贰,吾又何求?若犹叛我,无辞有庸。”乃还。
  陈人复讨庆氏之党,钅咸宜咎出奔楚。
  齐人城郏。穆叔如周聘,且贺城。王嘉其有礼也,赐之大路。
  晋侯嬖程郑,使佐下军。郑行人公孙挥如晋聘。程郑问焉,曰:”敢问降阶何由?”子羽不能对。归以语然明,然明曰:”是将死矣。不然将亡。贵而知惧,惧而思降,乃得其阶,下人而已,又何问焉?且夫既登而求降阶者,知人也,不在程郑。其有亡衅乎?不然,其有惑疾,将死而忧也。”
  ◎ 襄公二十五年
  【经】二十有五年春,齐崔杼帅师伐我北鄙。夏五月乙亥,齐崔杼弑其君光。公会晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子于夷仪。六月壬子,郑公孙舍之帅师入陈。秋八月己巳,诸侯同盟于重丘。公至自会。卫侯入于夷仪。楚屈建帅师灭舒鸠。冬,郑公孙夏帅师伐陈。十有二月,吴子遏伐楚,门于巢,卒。
  【传】二十五年春,齐崔杼帅师伐我北鄙,以报孝伯之师也。公患之,使告于晋。孟公绰曰:”崔子将有大志,不在病我,必速归,何患焉!其来也不寇,使民不严,异于他日。”齐师徒归。
  齐棠公之妻,东郭偃之姊也。东郭偃臣崔武子。棠公死,偃御武子以吊焉。见棠姜而美之,使偃取之。偃曰:”男女辨姓,今君出自丁,臣出自桓,不可。”武子筮之,遇《困》三之《大过》三。史皆曰:”吉。”示陈文子,文子曰:”夫従风,风陨,妻不可娶也。且其《繇》曰:’困于石,据于蒺藜,入于其宫,不见其妻,凶。’困于石,往不济也。据于蒺藜,所恃伤也。入于其宫,不见其妻,凶,无所归也。”崔子曰:”嫠也何害?先夫当之矣。”遂取之。庄公通焉,骤如崔氏。以崔子之冠赐人,侍者曰:”不可。”公曰:”不为崔子,其无冠乎?”崔子因是,又以其间伐晋也,曰:”晋必将报。”欲弑公以说于晋,而不获间。公鞭侍人贾举而又近之,乃为崔子间公。
  夏五月,莒为且于之役故,莒子朝于齐。甲戌,飨诸北郭。崔子称疾,不视事。乙亥,公问崔子,遂従姜氏。姜入于室,与崔子自侧户出。公拊楹而歌。侍人贾举止众従者,而入闭门。甲兴,公登台而请,弗许;请盟,弗许;请自刃于庙,勿许。皆曰:”君之臣杼疾病,不能听命。近于公宫,陪臣干掫有淫者,不知二命。”公逾墙。又射之,中股,反队,遂弑之。贾举,州绰、邴师、公孙敖、封具、铎父、襄伊、偻堙皆死。祝佗父祭于高唐,至,复命。不说弁而死于崔氏。申蒯侍渔者,退,谓其宰曰:”尔以帑免,我将死。”其宰曰:”免,是反子之义也。”与之皆死。崔氏杀融蔑于平阴。
  晏子立于崔氏之门外,其人曰:”死乎?”曰:”独吾君也乎哉?吾死也。”曰:”行乎?”曰:”吾罪也乎哉?吾亡也。””归乎?”曰:”君死,安归?君民者,岂以陵民?社稷是主。臣君者,岂为其口实,社稷是养。故君为社稷死,则死之;为社稷亡,则亡之。若为己死而为己亡,非其私昵,谁敢任之?且人有君而弑之,吾焉得死之,而焉得亡之?将庸何归?”门启而入,枕尸股而哭。兴,三踊而出。人谓崔子:”必杀之!”崔子曰:”民之望也!舍之,得民。”卢蒲癸奔晋,王何奔莒。
  叔孙宣伯之在齐也,叔孙还纳其女于灵公。嬖,生景公。丁丑,崔杼立而相之。庆封为左相。盟国人于大宫,曰:”所不与崔、庆者。”晏子仰天叹曰:”婴所不唯忠于君利社稷者是与,有如上帝。”乃歃。辛巳,公与大夫及莒子盟。
  大史书曰:”崔杼弑其君。”崔子杀之。其弟嗣书而死者,二人。其弟又书,乃舍之。南史氏闻大史尽死,执简以往。闻既书矣,乃还。
  闾丘婴以帷缚其妻而栽之,与申鲜虞乘而出,鲜虞推而下之,曰:”君昏不能匡,危不能救,死不能死,而知匿其昵,其谁纳之?”行及弇中,将舍。婴曰:”崔、庆其追我!”鲜虞曰:”一与一,谁能惧我?”遂舍,枕辔而寝,食马而食。驾而行,出弇中,谓婴曰:”速驱这!崔、庆之众,不可当也。”遂来奔。
  崔氏侧庄公于北郭。丁亥,葬诸士孙之里,四翣,不跸,下车七乘,不以兵甲。
  晋侯济自泮,会于夷仪,伐齐,以报朝歌之役。齐人以庄公说,使隰鉏请成。庆封如师,男女以班。赂晋侯以宗器、乐器。自六正、五吏、三十帅、三军之大夫、百官之正长、师旅及处守者,皆有赂。晋侯许之。使叔向告于诸侯。公使子服惠伯对曰:”君舍有罪,以靖小国,君之惠也。寡君闻命矣!”
  晋侯使魏舒、宛没逆卫侯,将使卫与之夷仪。崔子止其帑,以求五鹿。
  初,陈侯会楚子伐郑,当陈隧者,井堙木刊。郑人怨之,六月,郑子展、子产帅车七百乘伐陈,宵突陈城,遂入之。陈侯扶其大子偃师奔墓,遇司马桓子,曰:”载余!”曰:”将巡城。”遇贾获,载其母妻,下之,而授公车。公曰:”舍而母!”辞曰:”不祥。”与其妻扶其母以奔墓,亦免。子展命师无入公宫,与子产亲御诸门。陈侯使司马桓子赂以宗器。陈侯免,拥社。使其众,男女别而累,以待于朝。子展执絷而见,再拜稽首,承饮而进献。子美入,数俘而出。祝祓社,司徒致民,司马致节,司空致地,乃还。
  秋七月己巳,同盟于重丘,齐成故也。
  赵文子为政,令薄诸侯之币而重其礼。穆叔见之,谓穆叔曰:”自今以往,兵其少弭矣!齐崔、庆新得政,将求善于诸侯。武也知楚令尹。若敬行其礼,道之以文辞,以靖诸侯,兵可以弭。”
  楚薳子冯卒,屈建为令尹。屈荡为莫敖。舒鸠人卒叛楚。令尹子木伐之,及离城。吴人救之,子木遽以右师先,子强、息桓、子捷、子骈、子盂帅左师以退。吴人居其间七日。子强曰:”久将垫隘,隘乃禽也。不如速战!请以其私卒诱之,简师陈以待我。我克则进,奔则亦视之,乃可以免。不然,必为吴禽。”従之。五人以其私卒先击吴师。吴师奔,登山以望,见楚师不继,复逐之,傅诸其军。简师会之,吴师大败。遂围舒鸠,舒鸠溃。八月,楚灭舒鸠。
  卫献公入于夷仪。
  郑子产献捷于晋,戎服将事。晋人问陈之罪,对曰:”昔虞阏父为周陶正,以服事我先王。我先王赖其利器用也,与其神明之后也,庸以元女大姬配胡公,而封诸陈,以备三恪。则我周之自出,至于今是赖。桓公之乱,蔡人欲立其出。我先君庄公奉五父而立之,蔡人杀之。我又与蔡人奉戴厉公,至于庄、宣,皆我之自立。夏氏之乱,成公播荡,又我之自入,君所知也。今陈忘周之大德,蔑我大惠,弃我姻亲,介恃楚众,以凭陵我敝邑,不可亿逞。我是以有往年之告。未获成命,则有我东门之役。当陈隧者,井堙木刊。敝邑大惧不竟,而耻大姬。天诱其衷,启敝邑之心。陈知其罪,授手于我。用敢献功!”晋人曰:”何故侵小?”对曰:”先王之命,唯罪所在,各致其辟。且昔天子之地一圻,列国一同,自是以衰。今大国多数圻矣!若无侵小,何以至焉?”晋人曰:”何故戎服?”对曰:”我先君武、庄,为平、桓卿士。城濮之役,文公布命,曰:’各复旧职!’命我文公戎服辅王,以授楚捷,不敢废王命故也。”士庄伯不能诘,复于赵文子。文子曰:”其辞顺,犯顺不祥。”乃受之。
  冬十月,子展相郑伯如晋,拜陈之功。子西复伐陈,陈及郑平。仲尼曰:”《志》有之:’言以足志,文以足言。’不言,谁知其志?言之无文,行而不远。晋为伯,郑入陈,非文辞不为功。慎辞也!”
  楚蒍掩为司马,子木使庀赋,数甲兵。甲午,蒍掩书土田,度山林,鸠薮泽,辨京陵,表淳卤,数疆潦,规偃猪,町原防,牧隰皋,井衍沃,量入修赋。赋车籍马,赋车兵、徒卒、甲楯之数。既成,以授子木,礼也。
  十二月,吴子诸樊伐楚,以报舟师之役。门于巢。巢牛臣曰:”吴王勇而轻,若启之,将亲门。我获射之,必殪。是君也死,强其少安!”従之。吴子门焉,牛臣隐于短墙以射之,卒。
  楚子以灭舒鸠赏子木。辞曰:”先大夫蒍子之功也。”以与蒍掩。
  晋程郑卒。子产始知然明,问为政焉。对曰:”视民如子。见不仁者诛之,如鹰鹯之逐鸟雀也。”子产喜,以语子大叔,且曰:”他日吾见蔑之面而已,今吾见其心矣。”子大叔问政于子产。子产曰:”政如农功,日夜思之,思其始而成其终。朝夕而行之,行无越思,如农之有畔。其过鲜矣。”
  卫献公自夷仪使与宁喜言,宁喜许之。大叔文子闻之,曰:”乌乎!《诗》所谓’我躬不说,皇恤我后’者,宁子可谓不恤其后矣。将可乎哉?殆必不可。君子之行,思其终也,思其复也。《书》曰:’慎始而敬终,终以不困。’《诗》曰:’夙夜匪解,以事一人。’今宁子视君不如弈棋,其何以免乎?弈者举棋不定,不胜其耦。而况置君而弗定乎?必不免矣。九世之卿族,一举而灭之。可哀也哉!”
  会于夷仪之岁,齐人城郏。其五月,秦、晋为成。晋韩起如秦莅盟,秦伯车如晋莅盟,成而不结。
  ◎ 襄公二十六年
  【经】二十有六年春王二月辛卯,卫宁喜弑其君剽。卫孙林父入于戚以叛。甲午,卫侯衎复归于卫。夏,晋侯使荀吴来聘。公会晋人、郑良霄、宋人、曹人于澶渊。秋,宋公弑其世子痤。晋人执卫宁喜。八月壬午,许男宁卒于楚。冬,楚子、蔡侯、陈侯伐郑。葬许灵公。
  【传】二十六年春,秦伯之弟钅咸如晋修成,叔向命召行人子员。行人子朱曰:”朱也当御。”三云,叔向不应。子朱怒,曰:”班爵同,何以黜朱于朝?”抚剑従之。叔向曰:”秦、晋不和久矣!今日之事,幸而集,晋国赖之。不集,三军暴骨。子员道二国之言无私,子常易之。奸以事君者,吾所能御也。”拂衣従之。人救之。平公曰:”晋其庶乎!吾臣之所争者大。”师旷曰:”公室惧卑。臣不心竞而力争,不务德而争善,私欲已侈,能无卑乎?”
  卫献公使子鲜为复,辞。敬姒强命之。对曰:”君无信,臣惧不免。”敬姒曰:”虽然,以吾故也。”许诺。初,献公使与宁喜言,宁喜曰:”必子鲜在,不然必败。”故公使子鲜。子鲜不获命于敬姒,以公命与宁喜言,曰:”苟反,政由宁氏,祭则寡人。”宁喜告蘧伯玉,伯玉曰:”瑗不得闻君之出,敢闻其入?”遂行,従近关出。告右宰谷,右宰谷曰:”不可。获罪于两君,天下谁畜之?”悼子曰:”吾受命于先人,不可以贰。”谷曰:”我请使焉而观之。”遂见公于夷仪。反曰:”君淹恤在外十二年矣,而无忧色,亦无宽言,犹夫人也。若不已,死无日矣。”悼子曰:”子鲜在。”右宰谷曰:”子鲜在,何益?多而能亡,于我何为?”悼子曰:”虽然,不可以已。”孙文子在戚,孙嘉聘于齐,孙襄居守。
  二月庚寅,宁喜、右宰谷伐孙氏,不克。伯国伤。宁子出舍于郊。伯国死,孙氏夜哭。国人召宁子,宁子复攻孙氏,克之。辛卯,杀子叔及大子角。书曰:”宁喜弑其君剽。”言罪之在宁氏也。孙林父以戚如晋。书曰:”入于戚以叛。”罪孙氏也。臣之禄,君实有之。义则进,否则奉身而退,专禄以周旋,戮也。
  甲午,卫侯入。书曰:”复归。”国纳之也。大夫逆于竟者,执其手而与之言。道逆者,自车揖之。逆于门者,颔之而已。公至,使让大叔文子曰:”寡人淹恤在外,二三子皆使寡人朝夕闻卫国之言,吾子独不在寡人。古人有言曰:’非所怨勿怨。’寡人怨矣。”对曰:”臣知罪矣!臣不佞不能负羁泄,以従扌干牧圉,臣之罪一也。有出者,有居者。臣不能贰,通外内之言以事君,臣之罪二也。有二罪,敢忘其死?”乃行,従近关出。公使止之。
  卫人侵戚东鄙,孙氏愬于晋,晋戍茅氏。殖绰伐茅氏,杀晋戍三百人。孙蒯追之,弗敢击。文子曰:”厉之不如!”遂従卫师,败之圉。雍鉏获殖绰。复愬于晋。
  郑伯赏入陈之功。三月甲寅朔,享子展,赐之先路,三命之服,先八邑。赐子产次路,再命之服,先六邑。子产辞邑,曰:”自上以下,隆杀以两,礼也。臣之位在四,且子展之功也。臣不敢及及赏礼,请辞邑。”公固予之,乃受三邑。公孙挥曰:”子产其将知政矣!让不失礼。”
  晋人为孙氏故,召诸侯,将以讨卫也。夏,中行穆子来聘,召公也。
  楚子、秦人侵吴,及雩娄,闻吴有备而还。遂侵郑,五月,至于城麇。郑皇颉戍之,出,与楚师战,败。穿封戌囚皇颉,公子围与之争之。正于伯州犁,伯州犁曰:”请问于囚。”乃立囚。伯州犁曰:”所争,君子也,其何不知?”上其手,曰:”夫子为王子围,寡君之贵介弟也。”下其手,曰:”此子为穿封戌,方城外之县尹也。谁获子?”囚曰:”颉遇王子,弱焉。”戌怒,抽戈逐王子围,弗及。楚人以皇颉归。
  印堇父与皇颉戍城麇,楚人囚之,以献于秦。郑人取货于印氏以请之,子大叔为令正,以为请。子产曰:”不获。受楚之功而取货于郑,不可谓国,秦不其然。若曰:’拜君之勤郑国,微君之惠,楚师其犹在敝邑之城下。’其可。”弗従,遂行。秦人不予。更币,従子产而后获之。
  六月,公会晋赵武、宋向戌、郑良霄、曹人于澶渊以讨卫,疆戚田。取卫西鄙懿氏六十以与孙氏。赵武不书,尊公也。向戌不书,后也。郑先宋,不失所也。于是卫侯会之。晋人执宁喜、北宫遗,使女齐以先归。卫侯如晋,晋人执而囚之于士弱氏。
  秋七月,齐侯、郑伯为卫侯故,如晋,晋侯兼享之。晋侯赋《嘉乐》。国景子相齐侯,赋《蓼萧》。子展相郑伯,赋《缁衣》。叔向命晋侯拜二君曰:”寡君敢拜齐君之安我先君之宗祧也,敢拜郑君之不贰也。”国子使晏平仲私于叔向,曰:”晋君宣其明德于诸侯,恤其患而补其阙,正其违而治其烦,所以为盟主也。今为臣执君,若之何?”叔向告赵文子,文子以告晋侯。晋侯言卫侯之罪,使叔向告二君。国子赋《辔之柔矣》,子展赋《将仲子兮》,晋侯乃许归卫侯。叔向曰:”郑七穆,罕氏其后亡者也。子展俭而壹。”
  初,宋芮司徒生女子,赤而毛,弃诸堤下,共姬之妾取以入,名之曰弃。长而美。平公入夕,共姬与之食。公见弃也,而视之,尤。姬纳诸御,嬖,生佐。恶而婉。大子痤美而很,合左师畏而恶之。寺人惠墙伊戾为大子内师而无宠。
  秋,楚客聘于晋,过宋。大子知之,请野享之。公使往,伊戾请従之。公曰:”夫不恶女乎?”对曰:”小人之事君子也,恶之不敢远,好之不敢近。敬以待命,敢有贰心乎?纵有共其外,莫共其内,臣请往也。”遣之。至,则臽欠,用牲,加书,征之,而聘告公曰:”大子将为乱,既与楚客盟矣。”公曰:”为我子,又何求?”对曰:”欲速。”公使视之,则信有焉。问诸夫人与左师,则皆曰:”固闻之。”公囚大子。大子曰:”唯佐也能免我。”召而使请,曰:”日中不来,吾知死矣。”左师闻之,聒而与之语。过期,乃缢而死。佐为大子。公徐闻其无罪也,乃亨伊戾。
  左师见夫人之步马者,问之,对曰:”君夫人氏也。”左师曰:”谁为君夫人?余胡弗知?”圉人归,以告夫人。夫人使馈之锦与马,先之以玉,曰:”君之妾弃使某献。”左师改命曰:”君夫人。”而后再拜稽首受之。
  郑伯归自晋,使子西如晋聘,辞曰:”寡君来烦执事,惧不免于戾,使夏谢不敏。”君子曰:”善事大国。”
  初,楚伍参与蔡太师子朝友,其子伍举与声子相善也。伍举娶于王子牟,王子牟为申公而亡,楚人曰:”伍举实送之。”伍举奔郑,将遂奔晋。声子将如晋,遇之于郑郊,班荆相与食,而言复故。声子曰:”子行也!吾必复子。”及宋向戌将平晋、楚,声子通使于晋。还如楚,令尹子木与之语,问晋故焉,且曰:”晋大夫与楚孰贤?”对曰:”晋卿不如楚,其大夫则贤,皆卿材也。如杞、梓、皮革,自楚往也。虽楚有材,晋实用之。”子木曰:”夫独无族姻乎?”对曰:”虽有,而用楚材实多。归生闻之:’善为国者,赏不僭而刑不滥。’赏僭,则惧及淫人;刑滥,则惧及善人。若不幸而过,宁僭无滥。与其失善,宁其利淫。无善人,则国従之。《诗》曰:’人之云亡,邦国殄瘁。’无善人之谓也。故《夏书》曰:’与其杀不幸,宁失不经。’惧失善也。《商颂》有之曰:’不僭不滥,不敢怠皇,命于下国,封建厥福。’此汤所以获天福也。古之治民者,劝赏而畏刑,恤民不倦。赏以春夏,刑以秋冬。是以将赏,为之加膳,加膳则饫赐,此以知其劝赏也。将刑,为之不举,不举则彻乐,此以知其畏刑也。夙兴夜寐,朝夕临政,此以知其恤民也。三者,礼之大节也。有礼无败。今楚多淫刑,其大夫逃死于四方,而为之谋主,以害楚国,不可救疗,所谓不能也。子仪之乱,析公奔晋。晋人置诸戎车之殿,以为谋主。绕角之役,晋将遁矣,析公曰:’楚师轻窕,易震荡也。若多鼓钧声,以夜军之,楚师必遁。’晋人従之,楚师宵溃。晋遂侵蔡,袭沈,获其君;败申、息之师于桑隧,获申丽而还。郑于是不敢南面。楚失华夏,则析公之为也。雍子之父兄谮雍子,君与大夫不善是也。雍子奔晋。晋人与之鄐,以为谋主。彭城之役,晋、楚遇于靡角之谷。晋将遁矣。雍子发命于军曰:’归老幼,反孤疾,二人役,归一人,简兵搜乘,秣马蓐食,师陈焚次,明日将战。’行归者而逸楚囚,楚师宵溃。晋绛彭城而归诸宋,以鱼石归。楚失东夷,子辛死之,则雍子之为也。子反与子灵争夏姬,而雍害其事,子灵奔晋。晋人与之邢,以为谋主。扞御北狄,通吴于晋,教吴判楚,教之乘车、射御、驱侵,使其子孤庸为吴行人焉。吴于是伐巢、取驾、克棘、入州来,楚罢于奔命,至今为患,则子灵之为也。若敖之乱,伯贲之子贲皇奔晋。晋人与之苗,以为谋主。鄢陵之役,楚晨压晋军而陈,晋将遁矣。苗贲皇曰:’楚师之良,在其中军王族而已。若塞井夷灶,成陈以当之,栾、范易行以诱之,中行、二郤必克二穆。吾乃四萃于其王族,必大败之。’晋人従之,楚师大败,王夷师熠,子反死之。郑叛吴兴,楚失诸侯,则苗贲皇之为也。”子木曰:”是皆然矣。”声子曰:”今又有甚于此。椒举娶于申公子牟,子牟得戾而亡,君大夫谓椒举:’女实遣之!’惧而奔郑,引领南望曰:’庶几赦余!’亦弗图也。今在晋矣。晋人将与之县,以比叔向。彼若谋害楚国,岂不为患?”子木惧,言诸王,益其禄爵而复之。声子使椒鸣逆之。
  许灵公如楚,请伐郑,曰:”师不兴,孤不归矣!”八月,卒于楚。楚子曰:”不伐郑,何以求诸侯?”冬十月,楚子伐郑。郑人将御之,子产曰:”晋、楚将平,诸侯将和,楚王是故昧于一来。不如使逞而归,乃易成也。夫小人之性,衅于勇,啬于祸,以足其性而求名焉者,非国家之利也。若何従之?”子展说,不御寇。十二月乙酉,入南里,堕其城。涉于乐氏,门于师之梁。县门发,获九人焉。涉入汜而归,而后葬许灵公。
  卫人归卫姬于晋,乃释卫侯。君子是以知平公之失政也。
  晋韩宣子聘于周。王使请事。对曰:”晋士起将归时事于宰旅,无他事矣。”王闻之曰:”韩氏其昌阜于晋乎!辞不失旧。”
  齐人城郏之岁,其夏,齐乌余以廪丘奔晋,袭卫羊角,取之;遂袭我高鱼。有大雨,自其窦入,介于其库,以登其城,克而取之。又取邑于宋。于是范宣子卒,诸侯弗能治也,及赵文子为政,乃卒治之。文子言于晋侯曰:”晋为盟主。诸侯或相侵也,则讨而使归其地。今乌余之邑,皆讨类也,而贪之,是无以为盟主也。请归之!”公曰:”诺。孰可使也?”对曰:”胥梁带能无用师。”晋侯使往。
  ◎ 襄公二十七年
  【经】二十有七春,齐侯使庆封聘。夏,叔孙豹会晋赵武、楚屈建、蔡公孙归生、卫石恶、陈孔奂、郑良霄、许人、曹人于宋。卫杀其大夫宁喜。卫侯之弟鱄出奔晋。秋七月辛巳,豹及诸侯之大夫盟于宋。冬十有二月乙卯朔,日有食之。
  【传】二十七年春,胥梁带使诸丧邑者具车徒以受地,必周。使乌余车徒以受封,乌余以众出。使诸侯伪效乌余之封者,而遂执之,尽获之。皆取其邑而归诸侯,诸侯是以睦于晋。
  齐庆封来聘,其车美。孟孙谓叔孙曰:”庆季之车,不亦美乎?”叔孙曰:”豹闻之:’服美不称,必以恶终。’美车何为?”叔孙与庆封食,不敬。为赋《相鼠》,亦不知也。卫宁喜专,公患之。公孙免余请杀之。公曰:”微宁子不及此,吾与之言矣。事未可知,只成恶名,止也。”对曰:”臣杀之,君勿与知。”乃与公孙无地、公孙臣谋,使攻宁氏。弗克,皆死。公曰:”臣也无罪,父子死余矣!”夏,免余复攻宁氏,杀宁喜及右宰谷,尸诸朝。石恶将会宋之盟,受命而出。衣其尸,枕之股而哭之。欲敛以亡,惧不免,且曰:”受命矣。”乃行。
  子鲜曰:”逐我者出,纳我者死,赏罚无章,何以沮劝?君失其信,而国无刑。不亦难乎!且鱄实使之。”遂出奔晋。公使止之,不可。及河,又使止之。止使者而盟于河,托于木门,不乡卫国而坐。木门大夫劝之仕,不可,曰:”仕而废其事,罪也。従之,昭吾所以出也。将准愬乎?吾不可以立于人之朝矣。”终身不仕。公丧之,如税服,终身。
  公与免余邑六十,辞曰:”唯卿备百邑,臣六十矣。下有上禄,乱也,臣弗敢闻。且宁子唯多邑,故死。臣惧死之速及也。”公固与之,受其半。以为少师。公使为卿,辞曰:”大叔仪不贰,能赞大事。君其命之!”乃使文子为卿。
  宋向戌善于赵文子,又善于令尹子木,欲弭诸侯之兵以为名。如晋,告赵孟。赵孟谋于诸大夫,韩宣子曰:”兵,民之残也,财用之蠹,小国之大灾也。将或弭之,虽曰不可,必将许之。弗许,楚将许之,以召诸侯,则我失为盟主矣。”晋人许之。如楚,楚亦许之。如齐,齐人难之。陈文子曰:”晋、楚许之,我焉得已。且人曰弭兵,而我弗许,则固携吾民矣!将焉用之?”齐人许之。告于秦,秦亦许之。皆告于小国,为会于宋。
  五月甲辰,晋赵武至于宋。丙午,郑良霄至。六月丁未朔,宋人享赵文子,叔向为介。司马置折俎,礼也。仲尼使举是礼也,以为多文辞。戊申,叔孙豹、齐庆封、陈须无、卫石恶至。甲寅,晋荀盈従赵武至。丙辰,邾悼公至。壬戌,楚公子黑肱先至,成言于晋。丁卯,宋戌如陈,従子木成言于楚。戊辰,滕成公至。子木谓向戌:”请晋、楚之従交相见也。”庚午,向戌复于赵孟。赵孟曰:”晋、楚、齐、秦,匹也。晋之不能于齐,犹楚之不能于秦也。楚君若能使秦君辱于敝邑,寡君敢不固请于齐?”壬申,左师复言于子木。子木使驲谒诸王,王曰:”释齐、秦,他国请相见也。”秋七月戊寅,左师至。是夜也,赵孟及子皙盟,以齐言。庚辰,子木至自陈。陈孔奂、蔡公孙归生至。曹、许之大夫皆至。以藩为军,晋、楚各处其偏。伯夙谓赵孟曰:”楚氛甚恶,惧难。”赵孟曰:”吾左还,入于宋,若我何?”
  辛巳,将盟于宋西门之外,楚人衷甲。伯州犁曰:”合诸侯之师,以为不信,无乃不可乎?夫诸侯望信于楚,是以来服。若不信,是弃其所以服诸侯也。”固请释甲。子木曰:”晋、楚无信久矣,事利而已。苟得志焉,焉用有信?”大宰退,告人曰:”令尹将死矣,不及三年。求逞志而弃信,志将逞乎?志以发言,言以出信,信以立志,参以定之。信亡,何以及三?”赵孟患楚衷甲,以告叔向。叔向曰:”何害也?匹夫一为不信,犹不可,单毙其死。若合诸侯之卿,以为不信,必不捷矣。食言者不病,非子之患也。夫以信召人,而以僭济之。必莫之与也,安能害我?且吾因宋以守病,则夫能致死,与宋致死,虽倍楚可也。子何惧焉?又不及是。曰弭兵以召诸侯,而称兵以害我,吾庸多矣,非所患也。”
  季武子使谓叔孙以公命,曰:”视邾、滕。”既而齐人请邾,宋人请滕,皆不与盟。叔孙曰:”邾、滕,人之私也;我,列国也,何故视之?宋、卫,吾匹也。”乃盟。故不书其族,言违命也。
  晋、楚争先。晋人曰:”晋固为诸侯盟主,未有先晋者也。”楚人曰:”子言晋、楚匹也,若晋常先,是楚弱也。且晋、楚狎主诸侯之盟也久矣!岂专在晋?”叔向谓赵孟曰:”诸侯归晋之德只,非归其尸盟也。子务德,无争先!且诸侯盟,小国固必有尸盟者。楚为晋细,不亦可乎?”乃先楚人。书先晋,晋有信也。
  壬午,宋公兼享晋、楚之大夫,赵孟为客。子木与之言,弗能对。使叔向侍言焉,子木亦不能对也。
  乙酉,宋公及诸侯之大夫盟于蒙门之外。子木问于赵孟曰:”范武子之德何如?”对曰:”夫人之家事治,言于晋国无隐情。其祝史陈信于鬼神,无愧辞。”子木归,以语王。王曰:”尚矣哉!能歆神人,宜其光辅五君以为盟主也。”子木又语王曰:”宜晋之伯也!有叔向以佐其卿,楚无以当之,不可与争。”晋荀寅遂如楚莅盟。
  郑伯享赵孟于垂陇,子展、伯有、子西、子产、子大叔、二子石従。赵孟曰:”七子従君,以宠武也。请皆赋以卒君贶,武亦以观七子之志。”子展赋《草虫》,赵孟曰:”善哉!民之主也。抑武也不足以当之。”伯有赋《鹑之贲贲》,赵孟曰:”床第之言不逾阈,况在野乎?非使人之所得闻也。”子西赋《黍苗》之四章,赵孟曰:”寡君在,武何能焉?”子产赋《隰桑》,赵孟曰:”武请受其卒章。”子大叔赋《野有蔓草》,赵孟曰:”吾子之惠也。”印段赋《蟋蟀》,赵孟曰:”善哉!保家之主也,吾有望矣!”公孙段赋《桑扈》,赵孟曰:”‘匪交匪敖’,福将焉往?若保是言也,欲辞福禄,得乎?”卒享。文子告叔向曰:”伯有将为戮矣!诗以言志,志诬其上,而公怨之,以为宾荣,其能久乎?幸而后亡。”叔向曰:”然。已侈!所谓不及五稔者,夫子之谓矣。”文子曰:”其余皆数世之主也。子展其后亡者也,在上不忘降。印氏其次也,乐而不荒。乐以安民,不淫以使之,后亡,不亦可乎?”
  宋左师请赏,曰:”请免死之邑。”公与之邑六十。以示子罕,子罕曰:”凡诸侯小国,晋、楚所以兵威之。畏而后上下慈和,慈和而后能安靖其国家,以事大国,所以存也。无威则骄,骄则乱生,乱生必灭,所以亡也。天生五材,民并用之,废一不可,谁能去兵?兵之设久矣,所以威不轨而昭文德也。圣人以兴,乱人以废,废兴存亡昏明之术,皆兵之由也。而子求去之,不亦诬乎?以诬道蔽诸侯,罪莫大焉。纵无大讨,而又求赏,无厌之甚也!”削而投之。左师辞邑。向氏欲攻司城,左师曰:”我将亡,夫子存我,德莫大焉,又可攻乎?”君子曰:”‘彼己之子,邦之司直。’乐喜之谓乎?’何以恤我,我其收之。’向戌之谓乎?”
  齐崔杼生成及强而寡。娶东郭姜,生明。东郭姜以孤入,曰棠无咎,与东郭偃相崔氏。崔成有病,而废之,而立明。成请老于崔,崔子许之。偃与无咎弗予,曰:”崔,宗邑也,必在宗主。”成与强怒,将杀之。告庆封曰:”夫子之身亦子所知也,唯无咎与偃是従,父兄莫得进矣。大恐害夫子,敢以告。”庆封曰:”子姑退,吾图之。”告卢蒲弊。卢蒲弊曰:”彼,君之仇也。天或者将弃彼矣。彼实家乱,子何病焉!崔之薄,庆之厚也。”他日又告。庆封曰:”苟利夫子,必去之!难,吾助女。”
  九月庚辰,崔成、崔强杀东郭偃、棠无咎于崔氏之朝。崔子怒而出,其众皆逃,求人使驾,不得。使圉人驾,寺人御而出。且曰:”崔氏有福,止余犹可。”遂见庆封。庆封曰:”崔、庆一也。是何敢然?请为子讨之。”使卢蒲弊帅甲以攻崔氏。崔氏堞其宫而守之,弗克。使国人助之,遂灭崔氏,杀成与强,而尽俘其家。其妻缢。弊复命于崔子,且御而归之。至,则无归矣,乃缢。崔明夜辟诸大墓。辛巳,崔明来奔,庆封当国。
  楚薳罢如晋莅盟,晋将享之。将出,赋《既醉》。叔向曰:”薳氏之有后于楚国也,宜哉!承君命,不忘敏。子荡将知政矣。敏以事君,必能养民。政其焉往?”
  崔氏之乱,申鲜虞来奔,仆赁于野,以丧庄公。冬,楚人召之,遂如楚为右尹。
  十一月乙亥朔,日有食之。辰在申,司历过也,再失闰矣。
  ◎ 襄公二十八年
  【经】二十有八年春,无冰。夏,卫石恶出奔晋。邾子来朝。秋八月,大雩。仲孙羯如晋。冬,齐庆封来奔。十有一月,公如楚。十有二月甲寅,天王崩。乙未,楚子昭卒。
  【传】二十八年春,无冰。梓慎曰:”今兹宋、郑其饥乎?岁在星纪,而淫于玄枵,以有时灾,阴不堪阳。蛇乘龙。龙,宋、郑之星也,宋、郑必饥。玄枵,虚中也。枵,秏名也。土虚而民秏,不饥何为?”
  夏。齐侯、陈侯、蔡侯、北燕伯、杞伯、胡子、沈子、白狄朝于晋,宋之盟故也。齐侯将行,庆封曰:”我不与盟,何为于晋?”陈文子曰:”先事后贿,礼也。小事大,未获事焉,従之如志,礼也。虽不与盟,敢叛晋乎?重丘之盟,未可忘也。子其劝行!”
  卫人讨宁氏之党,故石恶出奔晋。卫人立其従子圃以守石氏之祀,礼也。
  邾悼公来朝,时事也。
  秋八月,大雩,旱也。
  蔡侯归自晋,入于郑。郑伯享之,不敬。子产曰:”蔡侯其不免乎?日其过此也,君使子展廷劳于东门之外,而傲。吾曰:’犹将更之。’今还,受享而惰,乃其心也。君小国事大国,而惰傲以为己心,将得死乎?若不免,必由其子。其为君也,淫而不父。侨闻之,如是者,恒有子祸。”
  孟孝伯如晋,告将为宋之盟故如楚也。
  蔡侯之如晋也,郑伯使游吉如楚。及汉,楚人还之,曰:”宋之盟,君实亲辱。今吾子来,寡君谓吾子姑还!吾将使驲奔问诸晋而以告。”子大叔曰:”宋之盟,君命将利小国,而亦使安定其社稷,镇抚其民人,以礼承天之休,此君之宪令,而小国之望也。寡君是故使吉奉其皮币,以岁之不易,聘于下执事。今执事有命曰:’女何与政令之有?必使而君弃而封守,跋涉山川,蒙犯霜露,以逞君心。’小国将君是望,敢不唯命是听。无乃非盟载之言,以阙君德,而执事有不利焉,小国是惧。不然,其何劳之敢惮?”子大叔归,复命,告子展曰:”楚子将死矣!不修其政德,而贪昧于诸侯,以逞其愿,欲久,得乎?《周易》有之,在《复》三之《颐》三,曰:’迷复,凶。’其楚子之谓乎?欲复其愿,而弃其本,复归无所,是谓迷复。能无凶乎?君其往也!送葬而归,以快楚心。楚不几十年,未能恤诸侯也。吾乃休吾民矣。”裨灶曰:”今兹周王及楚子皆将死。岁弃其次,而旅于明年之次,以害鸟帑。周、楚恶之。”
  九月,郑游吉如晋,告将朝于楚,以従宋之盟。子产相郑伯以如楚,舍不为坛。外仆言曰:”昔先大夫相先君,适四国,未尝不为坛。自是至今,亦皆循之。今子草舍,无乃不可乎?”子产曰:”大适小,则为坛。小适大,苟舍而已,焉用坛?侨闻之,大适小有五美:宥其罪戾,赦其过失,救其灾患,赏其德刑,教其不及。小国不困,怀服如归。是故作坛以昭其功,宣告后人,无怠于德。小适大有五恶:说其罪戾,请其不足,行其政事,共某职贡,従其时命。不然,则重其币帛,以贺其福而吊其凶,皆小国之祸也。焉用作坛以昭其祸?所以告子孙,无昭祸焉可也。”
  齐庄封好田而耆酒,与庆舍政。则以其内实迁于卢蒲弊氏,易内而饮酒。数日,国迁朝焉。使诸亡人得贼者,以告而反之,故反卢蒲癸。癸臣子之,有宠,妻之。庆舍之士谓卢蒲癸曰:”男女辨姓。子不辟宗,何也?”曰:”宗不余辟,余独焉辟之?赋诗断章,余取所求焉,恶识宗?”癸言王何而反之,二人皆嬖,使执寝戈,而先后之。
  公膳,日双鸡。饔人窃更之以鹜。御者知之,则去其肉而以其洎馈。子雅、子尾怒。庆封告卢蒲弊。卢蒲弊曰;”譬之如禽兽,吾寝处之矣。”使析归父告晏平仲。平仲曰:”婴之众不足用也,知无能谋也。言弗敢出,有盟可也。”子家曰:”子之言云,又焉用盟?”告北郭子车。子车曰:”人各有以事君,非佐之所能也。”陈文子谓桓子曰:”祸将作矣!吾其何得?”对曰:”得庆氏之木百车于庄。”文子曰:”可慎守也已!”
  卢蒲癸、王何卜攻庆氏,示子之兆,曰:”或卜攻仇,敢献其兆。”子之曰:”克,见血。”冬十月,庆封田于莱,陈无宇従。丙辰,文子使召之。请曰:”无宇之母疾病,请归。”庆季卜之,示之兆,曰:”死。”奉龟而泣。乃使归。庆嗣闻之,曰:”祸将作矣!谓子家:”速归!祸作必于尝,归犹可及也。”子家弗听,亦无悛志。子息曰:”亡矣!幸而获在吴、越。”陈无宇济水而戕舟发梁。卢蒲姜谓癸曰:”有事而不告我,必不捷矣。”癸告之。姜曰:”夫子愎,莫之止,将不出,我请止之。”癸曰:”诺。”十一月乙亥,尝于大公之庙,庆舍莅事。卢蒲姜告之,且止之。弗听,曰:”谁敢者!”遂如公。麻婴为尸,庆圭为上献。卢蒲癸、王何执寝戈。庆氏以其甲环公宫。陈氏、鲍氏之圉人为优。庆氏之马善惊,士皆释甲束马而饮酒,且观优,至于鱼里。栾、高、陈、鲍之徒介庆氏之甲。子尾抽桷击扉三,卢蒲癸自后刺子之,王何以戈击之,解其左肩。犹援庙桷,动于甍,以俎壶投,杀人而后死。遂杀庆绳、麻婴。公惧,鲍国曰:”群臣为君故也。”陈须无以公归,税服而如内宫。
  庆封归,遇告乱者,丁亥,伐西门,弗克。还伐北门,克之。入,伐内宫,弗克。反,陈于岳,请战,弗许。遂来奔。献车于季武子,美泽可以鉴。展庄叔见之,曰:”车甚泽,人必瘁,宜其亡也。”叔孙穆子食庆封,庆封汜祭。穆子不说,使工为之诵《茅鸱》,亦不知。既而齐人来让,奔吴。吴句余予之朱方,聚其族焉而居之,富于其旧。子服惠伯谓叔孙曰:”天殆富淫人,庆封又富矣。”穆子曰:”善人富谓之赏,淫人富谓之殃。天其殃之也,其将聚而歼旃?”
  癸巳,天王崩。未来赴,亦未书,礼也。
  崔氏之乱,丧群公子。故鉏在鲁,叔孙还在燕,贾在句渎之丘。及庆氏亡,皆召之,具其器用而反其邑焉。与晏子邶殿,其鄙六十,弗受。子尾曰:”富,人之所欲也,何独弗欲?”对曰:”庆氏之邑足欲,故亡。吾邑不足欲也。益之以邶殿,乃足欲。足欲,亡无日矣。在外,不得宰吾一邑。不受邶殿,非恶富也,恐失富也。且夫富如布帛之有幅焉,为之制度,使无迁也。夫民生厚而用利,于是乎正德以幅之,使无黜嫚,谓之幅利。利过则为败。吾不敢贪多,所谓幅也。”与北郭佐邑六十,受之。与子雅邑,辞多受少。与子尾邑,受而稍致之。公以为忠,故有宠。
  释卢蒲弊于北竟。求崔杼之尸,将戮之,不得。叔孙穆子曰:”必得之。武王有乱臣十人,崔杼其有乎?不十人,不足以葬。”既,崔氏之臣曰:”与我其拱璧,吾献其柩。”于是得之。十二月乙亥朔,齐人迁庄公,殡于大寝。以其棺尸崔杼于市,国人犹知之,皆曰:”崔子也。”
  为宋之盟故,公及宋公、陈侯、郑伯、许男如楚。公过郑,郑伯不在。伯有廷劳于黄崖,不敬。穆叔曰:”伯有无戾于郑,郑必有大咎。敬,民之主也,而弃之,何以承守?郑人不讨,必受其辜,济泽之阿,行潦之苹藻,置诸宗室,季兰尸之,敬也。敬可弃乎?”
  及汉,楚康王卒。公欲反,叔仲昭伯曰:”我楚国之为,岂为一人?行也!”子服惠伯曰:”君子有远虑,小人従迩。饥寒之不恤,谁遑其后?不如姑归也。”叔孙穆子曰:”叔仲子专之矣,子服子始学者也。”荣成伯曰:”远图者,忠也。”公遂行。宋向戌曰:”我一人之为,非为楚也。饥寒之不恤,谁能恤楚?姑归而息民,待其立君而为之备。”宋公遂反。
  楚屈建卒。赵文子丧之如同盟,礼也。
  王人来告丧,问崩日,以甲寅告,故书之,以征过也。
  ◎ 襄公二十九年
  【经】二十有九年春王正月,公在楚。夏五月,公至自楚。庚午,卫侯衎卒,阍弑吴子余祭。仲孙羯会晋荀盈、齐高止、宋华定、卫世叔仪、郑公孙段、曹人、莒人、滕子、薛人、小邾人城杞。晋侯使士鞅来聘。杞子来盟。吴子使札来聘。秋九月,葬卫献公。齐高止出奔北燕。冬,仲孙羯如晋。
  【传】二十九年春,王正月,公在楚,释不朝正于庙也。楚人使公亲襚,公患之。穆叔曰:”祓殡而襚,则布币也。”乃使巫以桃列先祓殡。楚人弗禁,既而悔之。
  二月癸卯,齐人葬庄公于北郭。
  夏四月,葬楚康王。公及陈侯、郑伯、许男送葬,至于西门之外。诸侯之大夫皆至于墓。楚郏敖即位。王子围为令尹。郑行人子羽曰:”是谓不宜,必代之昌。松柏之下,其草不殖。”
  公还,及方城。季武子取卞,使公冶问,玺书追而与之,曰:”闻守卞者将叛,臣帅徒以讨之,既得之矣,敢告。”公冶致使而退,及舍而后闻取卞。公曰:”欲之而言叛,只见疏也。”公谓公冶曰:”吾可以入乎?”对曰:”君实有国,谁敢违君!”公与公冶冕服。固辞,强之而后受。公欲无入,荣成伯赋《式微》,乃归。五月,公至自楚。公冶致其邑于季氏,而终不入焉。曰:”欺其君,何必使余?”季孙见之,则言季氏如他日。不见,则终不言季氏。及疾,聚其臣,曰:”我死,必以在冕服敛,非德赏也。且无使季氏葬我。”
  葬灵王,郑上卿有事,子展使印段往。伯有曰:”弱,不可。”子展曰:”与其莫往,弱不犹愈乎?《诗》云:’王事靡盬,不遑启处,东西南北,谁敢宁处?坚事晋、楚,以蕃王室也。王事无旷,何常之有?”遂使印段如周。
  吴人伐越,获俘焉,以为阍,使守舟。吴子余祭观舟,阍以刀弑之。
  郑子展卒,子皮即位。于是郑饥而未及麦,民病。子皮以子展之命,饩国人粟,户一钟,是以得郑国之民。故罕氏常掌国政,以为上卿。宋司城子罕闻之,曰:”邻于善,民之望也。”宋亦饥,请于平公,出公粟以贷。使大夫皆贷。司城氏贷而不书,为大夫之无者贷。宋无饥人。叔向闻之,曰:”郑之罕,宋之乐,其后亡者也!二者其皆得国乎!民之归也。施而不德,乐氏加焉,其以宋升降乎!”
  晋平公,杞出也,故治杞。六月,知悼子合诸侯之大夫以城杞,孟孝伯会之。郑子大叔与伯石往。子大叔见大叔文子,与之语。文子曰:”甚乎!其城杞也。”子大叔曰:”若之何哉?晋国不恤周宗之阙,而夏肄是屏。其弃诸姬,亦可知也已。诸姬是弃,其谁归之?吉也闻之,弃同即异,是谓离德。《诗》曰:’协比其邻,昏姻孔云。’晋不邻矣,其谁云之?”
  齐高子容与宋司徒见知伯,女齐相礼。宾出,司马侯言于知伯曰:”二子皆将不免。子容专,司徒移,皆亡家之主也。”知伯曰:”何如?”对曰:”专则速及,侈将以其力毙,专则人实毙之,将及矣。”
  范献子来聘,拜城杞也。公享之,展庄叔执币。射者三耦,公臣不足,取于家臣,家臣:展瑕、展玉父为一耦。公臣,公巫召伯、仲颜庄叔为一耦,鄫鼓父、党叔为一耦。
  晋侯使司马女叔侯来治杞田,弗尽归也。晋悼夫人愠曰:”齐也取货。先君若有知也,不尚取之!”公告叔侯,叔侯曰:”虞、虢、焦、滑、霍、扬、韩、魏,皆姬姓也,晋是以大。若非侵小,将何所取?武、献以下,兼国多矣,谁得治之?杞,夏余也,而即东夷。鲁,周公之后也,而睦于晋。以杞封鲁犹可,而何有焉?鲁之于晋也,职贡不乏,玩好时至,公卿大夫相继于朝,史不绝书,府无虚月。如是可矣,何必瘠鲁以肥杞?且先君而有知也,毋宁夫人,而焉用老臣?”
  杞文公来盟。书曰”子”,贱之也。
  吴公子札来聘,见叔孙穆子,说之。谓穆子曰:”子其不得死乎?好善而不能择人。吾闻’君子务在择人’。吾子为鲁宗卿,而任其大政,不慎举,何以堪之?祸必及子!”
  请观于周乐。使工为之歌《周南》、《召南》,曰:”美哉!始基之矣,犹未也。然勤而不怨矣。”为之歌《邶》、《鄘》、《卫》,曰:”美哉,渊乎!忧而不困者也。吾闻卫康叔、武公之德如是,是其《卫风》乎?”为之歌《王》,曰:”美哉!思而不惧,其周之东乎?”为之歌《郑》,曰:”美哉!其细已甚,民弗堪也,是其先亡乎!”为之歌《齐》,曰:”美哉!泱泱乎!大风也哉!表东海者,其大公乎!国未可量也。”为之歌《豳》,曰:”美哉!荡乎!乐而不淫,其周公之东乎?”为之歌《秦》,曰:”此之谓夏声。夫能夏则大,大之至也,其周之旧乎?”为之歌《魏》,曰:”美哉!沨沨乎!大而婉,险而易行,以德辅此,则明主也。”为之歌《唐》,曰:”思深哉!其有陶唐氏之遗民乎?不然,何忧之远也?非令德之后,谁能若是?”为之歌《陈》,曰:”国无主,其能久乎?”自《郐》以下无讥焉。为之歌《小雅》,曰:”美哉!思而不贰,怨而不言,其周德之衰乎?犹有先王之遗民焉。”为之歌《大雅》,曰:”广哉!熙熙乎!曲而有直体,其文王之德乎?”为之歌《颂》,曰:”至矣哉!直而不倨,曲而不屈,迩而不逼,远而不携,迁而不淫,复而不厌,哀而不愁,乐而不荒,用而不匮,广而不宣,施而不费,取而不贪,处而不底,行而不流,五声和,八风平,节有度,守有序,盛德之所同也。”
  见舞《象箾》《南籥》者,曰:”美哉!犹有憾。”见舞《大武》者,曰:”美哉!周之盛也,其若此乎!”见舞《韶濩》者,曰:”圣人之弘也,而犹有惭德,圣人之难也。”见舞《大夏》者,曰:”美哉!勤而不德,非禹其谁能修之?”见舞《韶箾》者,曰:”德至矣哉!大矣!如天之无不帱也,如地之无不载也,虽甚盛德,其蔑以加于此矣。观止矣!若有他乐,吾不敢请已!”
  其出聘也,通嗣君也。故遂聘于齐,说晏平仲,谓之曰:”子速纳邑与政!无邑无政,乃免于难。齐国之政,将有所归,未获所归,难未歇也。”故晏子因陈桓子以纳政与邑,是以免于栾、高之难。
  聘于郑,见子产,如旧相识,与之缟带,子产献纟宁衣焉。谓子产曰:”郑之执政侈,难将至矣!政必及子。子为政,慎之以礼。不然,郑国将败。”
  适卫,说蘧瑗、史狗、史鳅,公子荆、公叔发、公子朝,曰:”卫多君子,未有患也。”
  自卫如晋,将宿于戚。闻钟声焉,曰:”异哉!吾闻之也:’辩而不德,必加于戮。’夫子获罪于君以在此,惧犹不足,而又何乐?夫子之在此也,犹燕之巢于幕上。君又在殡,而可以乐乎?”遂去之。文子闻之,终身不听琴瑟。
  适晋,说赵文子、韩宣子、魏献子,曰:”晋国其萃于三族乎!”说叔向,将行,谓叔向曰:”吾子勉之!君侈而多良,大夫皆富,政将在家。吾子好直,必思自免于难。”
  秋九月,齐公孙虿、公孙灶放其大夫高止于北燕。乙未,出。书曰:”出奔。”罪高止也。高止好以事自为功,且专,故难及之。
  冬,孟孝伯如晋,报范叔也。
  为高氏之难故,高竖以卢叛。十月庚寅,闾丘婴帅师围卢。高竖曰:”苟请高氏有后,请致邑。”齐人立敬仲之曾孙宴,良敬仲也。十一月乙卯,高竖致卢而出奔晋,晋人城绵而置旃。
  郑伯有使公孙黑如楚,辞曰:”楚、郑方恶,而使余往,是杀余也。”伯有曰:”世行也。”子皙曰:”可则往,难则已,何世之有?”伯有将强使之。子皙怒,将伐伯有氏,大夫和之。十二月己巳,郑大夫盟于伯有氏。裨谌曰:”是盟也,其与几何?《诗》曰:’君子屡盟,乱是用长。’今是长乱之道也。祸未歇也,必三年而后能纾。”然明曰:”政将焉往?”裨谌曰:”善之代不善,天命也,其焉辟子产?举不逾等,则位班也。择善而举,则世隆也。天又除之,夺伯有魄,子西即世,将焉辟之?天祸郑久矣,其必使子产息之,乃犹可以戾。不然,将亡矣。”
  ◎ 襄公三十年
  【经】三十年春王正月,楚子使薳罢来聘。夏四月,蔡世子般弑其君固。五月甲午。宋灾。宋伯姬卒。天王杀其弟佞夫。王子瑕奔晋。秋七月,叔弓如宋,葬宋共姬。郑良霄出奔许,自许入于郑,郑人杀良霄。冬十月,葬蔡景公。晋人、齐人、宋人、卫人、郑人、曹人、莒人、邾人、滕子、薛人、杞人、小邾人会于澶渊,宋灾故。
  【传】三十年春,王正月,楚子使薳罢来聘,通嗣君也。穆叔问:”王子之为政何如?”对曰:”吾侪小人,食而听事,犹惧不给命而不免于戾,焉与知政?”固问焉,不告。穆叔告大夫曰:”楚令尹将有大事,子荡将与焉,助之匿其情矣。”
  子产相郑伯以如晋,叔向问郑国之政焉。对曰:”吾得见与否,在此岁也。驷、良方争,未知所成。若有所成,吾得见,乃可知也。”叔向曰:”不既和矣乎?”对曰:”伯有侈而愎,子皙好在人上,莫能相下也。虽其和也,犹相积恶也,恶至无日矣。”
  三月癸未,晋悼夫人食舆人之城杞者。绛县人或年长矣,无子,而往与于食。有与疑年,使之年。曰:”臣小人也,不知纪年。臣生之岁,正月甲子朔,四百有四十五甲子矣,其季于今三之一也。”吏走问诸朝,师旷曰:”鲁叔仲惠伯会郤成子于承匡之岁也。是岁也,狄伐鲁。叔孙庄叔于是乎败狄于咸,获长狄侨如及虺也豹也,而皆以名其子。七十三年矣。”史赵曰:”亥有二首六身,下二如身,是其日数也。”士文伯曰:”然则二万六千六百有六旬也。”
  赵孟问其县大夫,则其属也。召之,而谢过焉,曰:”武不才,任君之大事,以晋国之多虞,不能由吾子,使吾子辱在泥涂久矣,武之罪也。敢谢不才。”遂仕之,使助为政。辞以老。与之田,使为君复陶,以为绛县师,而废其舆尉。于是,鲁使者在晋,归以语诸大夫。季武子曰:”晋未可媮也。有赵孟以为大夫,有伯瑕以为佐,有史赵、师旷而咨度焉,有叔向、女齐以师保其君。其朝多君子,其庸可媮乎?勉事之而后可。”
  夏四月己亥,郑伯及其大夫盟。君子是以知郑难之不已也。
  蔡景侯为大子般娶于楚,通焉。大子弑景侯。
  初,王儋季卒,其子括将见王,而叹。单公子愆期为灵王御士,过诸廷,闻其叹而言曰:”乌乎!必有此夫!”入以告王,且曰:”必杀之!不戚而愿大,视躁而足高,心在他矣。不杀,必害。”王曰:”童子何知?”及灵王崩,儋括欲立王子佞夫,佞夫弗知。戊子,儋括围蒍,逐成愆。成愆奔平畦。五月癸巳,尹言多、刘毅、单蔑、甘过、巩成杀佞夫。括、瑕、廖奔晋。书曰”天王杀其弟佞夫。”罪在王也。
  或叫于宋大庙,曰:”譆,譆!出出!”鸟鸣于亳社,如曰:”譆譆。”甲午,宋大灾。宋伯姬卒,待姆也。君子谓:”宋共姬,女而不妇。女待人,妇义事也。”
  六月,郑子产如陈莅盟。归,复命。告大夫曰:”陈,亡国也,不可与也。聚禾粟,缮城郭,恃此二者,而不抚其民。其君弱植,公子侈,大子卑,大夫敖,政多门,以介于大国,能无亡乎?不过十年矣。”
  秋七月,叔弓如宋,葬共姬也。
  郑伯有耆酒,为窟室,而夜饮酒击钟焉,朝至未已。朝者曰:”公焉在?”其人曰:”吾公在壑谷。”皆自朝布路而罢。既而朝,则又将使子皙如楚,归而饮酒。庚子,子皙以驷氏之甲伐而焚之。伯有奔雍梁,醒而后知之,遂奔许。大夫聚谋,子皮曰:”《仲虺之志》云:’乱者取之,亡者侮之。推亡固存,国之利也。’罕、驷、丰同生。伯有汰侈,故不免。”
  人谓子产:”就直助强!”子产曰:”岂为我徒?国之祸难,谁知所儆?或主强直,难乃不生。姑成吾所。”辛丑,子产敛伯有氏之死者而殡之,不乃谋而遂行。印段従之。子皮止之,众曰:”人不我顺,何止焉?”子皮曰:”夫人礼于死者,况生者乎?”遂自止之。壬寅,子产入。癸卯,子石入。皆受盟于子皙氏。乙巳,郑伯及其大夫盟于大宫。盟国人于师之梁之外。
  伯有闻郑人之盟己也,怒。闻子皮之甲不与攻己也,喜。曰:”子皮与我矣。”癸丑,晨,自墓门之渎入,因马师颉介于襄库,以伐旧北门。驷带率国人以伐之。皆召子产。子产曰:”兄弟而及此,吾従天所与。”伯有死于羊肆,子产襚之,枕之股而哭之,敛而殡诸伯有之臣在市侧者。既而葬诸斗城。子驷氏欲攻子产,子皮怒之曰:”礼,国之干也,杀有礼,祸莫大焉。”乃止。
  于是游吉如晋还,闻难不入,复命于介。八月甲子,奔晋。驷带追之,及酸枣。与子上盟,用两珪质于河。使公孙肸入盟大夫。己巳,复归。书曰”郑人杀良霄。”不称大夫,言自外入也。
  于子蟜之卒也,将葬,公孙挥与裨灶晨会事焉。过伯有氏,其门上生莠。子羽曰:”其莠犹在乎?”于是岁在降娄,降娄中而旦。裨灶指之曰:”犹可以终岁,岁不及此次也已。”及其亡也,岁在娵訾之口。其明年,乃及降娄。
  仆展従伯有,与之皆死。羽颉出奔晋,为任大夫。鸡泽之会,郑乐成奔楚,遂适晋。羽颉因之,与之比,而事赵文子,言伐郑之说焉。以宋之盟故,不可。子皮以公孙鉏为马师。
  楚公子围杀大司马蒍掩而取其室。申无宇曰:”王子必不免。善人,国之主也。王子相楚国,将善是封殖,而虐之,是祸国也。且司马,令尹之偏,而王之四体也。绝民之主,去身之偏,艾王之体,以祸其国,无不祥大焉!何以得免?”
  为宋灾故,诸侯之大夫会,以谋归宋财。冬十月,叔孙豹会晋赵武、齐公孙虿、宋向戌、卫北宫佗、郑罕虎及小邾之大夫,会于澶渊。既而无归于宋,故不书其人。
  君子曰:”信其不可不慎乎!澶渊之会,卿不书,不信也夫!诸侯之上卿,会而不信,宠名皆弃,不信之不可也如是!《诗》曰:’文王陟降,在帝左右。’信之谓也。又曰:’淑慎尔止,无载尔伪。’不信之谓也。”书曰”某人某人会于澶渊,宋灾故。”尤之也。不书鲁大夫,讳之也。
  郑子皮授子产政,辞曰:”国小而逼,族大宠多,不可为也。”子皮曰:”虎帅以听,谁敢犯子?子善相之,国无小,小能事大,国乃宽。”
  子产为政,有事伯石,赂与之邑。子大叔曰:”国,皆其国也。奚独赂焉?”子产曰:”无欲实难。皆得其欲,以従其事,而要其成,非我有成,其在人乎?何爱于邑?邑将焉往?”子大叔曰:”若四国何?”子产曰:”非相违也,而相従也,四国何尤焉?《郑书》有之曰:’安定国家,必大焉先。’姑先安大,以待其所归。”既,伯石惧而归邑,卒与之。伯有既死,使大史命伯石为卿,辞。大史退,则请命焉。复命之,又辞。如是三,乃受策入拜。子产是以恶其为人也,使次己位。
  子产使都鄙有章,上下有服,田有封洫,庐井有伍。大人之忠俭者,従而与之。泰侈者,因而毙之。
  丰卷将祭,请田焉。弗许,曰:”唯君用鲜,众给而已。”子张怒,退而征役。子产奔晋,子皮止之而逐丰卷。丰卷奔晋。子产请其田里,三年而复之,反其田里及其入焉。
  従政一年,舆人诵之,曰:”取我衣冠而褚之,取我田畴而伍之。孰杀子产,吾其与之!”及三年,又诵之,曰;”我有子弟,子产诲之。我有田畴,子产殖之。子产而死,谁其嗣之?”
  颉∠骞荒?
  【经】三十有一年春王正月。夏六月辛巳,公薨于楚宫。秋九月癸巳,子野卒。己亥,仲孙羯卒。冬十月,滕子来会葬。癸酉,葬我君襄公。十有一月,莒人杀其君密州。
  【传】三十一年春,王正月,穆叔至自会,见孟孝伯,语之曰:”赵孟将死矣。其语偷,不似民主。且年未盈五十,而谆谆焉如八九十者,弗能久矣。若赵孟死,为政者其韩子乎!吾子盍与季孙言之,可以树善,君子也。晋君将失政矣,若不树焉,使早备鲁,既而政在大夫,韩子懦弱,大夫多贪,求欲无厌,齐、楚未足与也,鲁其惧哉!”孝伯曰:”人生几何?谁能无偷?朝不及夕,将安用树?”穆叔出而告人曰:”孟孙将死矣。吾语诸赵孟之偷也,而又甚焉。”又与季孙语晋故,季孙不従。
  及赵文子卒,晋公室卑,政在侈家。韩宣子为政,为能图诸侯。鲁不堪晋求,谗慝弘多,是以有平丘之会。
  齐子尾害闾丘婴,欲杀之,使帅师以伐阳州。我问师故。夏五月,子尾杀闾丘婴以说于我师。工偻洒、渻灶、孔虺、贾寅出奔莒。出群公子。
  公作楚宫。穆叔曰:”《大誓》云:’民之所欲,天必従之。’君欲楚也夫!故作其宫。若不复适楚,必死是宫也。”六月辛巳,公薨于楚宫。叔仲带窃其拱璧,以与御人,纳诸其怀而従取之,由是得罪。
  立胡女敬归之子子野,次于季氏。秋九月癸巳,卒,毁也。
  己亥,孟孝伯卒。
  立敬归之娣齐归之子公子裯,穆叔不欲,曰:”大子死,有母弟则立之,无则长立。年钧择贤,义钧则卜,古之道也。非适嗣,何必娣之子?且是人也,居丧而不哀,在戚而有嘉容,是谓不度。不度之人,鲜不为患。若果立之,必为季氏忧。”武子不听,卒立之。比及葬,三易衰,衰衽如故衰。于是昭公十九年矣,犹有童心,君子是以知其不能终也。
  冬十月,滕成公来会葬,惰而多涕。子服惠伯曰:”滕君将死矣!怠于其位,而哀已甚,兆于死所矣。能无従乎?”癸酉,葬襄公。
  公薨之月,子产相郑伯以如晋,晋侯以我丧故,未之见也。子产使尽坏其馆之垣而纳车马焉。士文伯让之,曰:”敝邑以政刑之不修,寇盗充斥,无若诸侯之属辱在寡君者何?是以令吏人完客所馆,高其闬闳,厚其墙垣,以无忧客使。今吾子坏之,虽従者能戒,其若异客何?以敝邑之为盟主,缮完葺墙,以待宾客,若皆毁之,其何以共命?寡君使匄请命。”对曰:”以敝邑褊小,介于大国,诛求无时,是以不敢宁居,悉索敝赋,以来会时事。逢执之不间,而未得见,又不获闻命,未知见时,不敢输币,亦不敢暴露。其输之,则君之府实也,非荐陈之,不敢输也。其暴露之,则恐燥湿之不时而朽蠹,以重敝邑之罪。侨闻文公之为盟主也,宫室卑庳,无观台榭,以崇大诸侯之馆。馆如公寝,库厩缮修,司空以时平易道路,圬人以时塓馆宫室。诸侯宾至,甸设庭燎,仆人巡宫,车马有所,宾従有代,巾车脂辖,隶人牧圉,各瞻其事,百官之属,各展其物。公不留宾,而亦无废事,忧乐同之,事则巡之,教其不知,而恤其不足。宾至如归,无宁灾患?不畏寇盗,而亦不患燥湿。今铜鞮之宫数里,而诸侯舍于隶人。门不容车,而不可逾越。盗贼公行,而天厉不戒。宾见无时,命不可知。若又勿坏,是无所藏币,以重罪也。敢请执事,将何以命之?虽君之有鲁丧,亦敝邑之忧也。若获荐币,修垣而行,君之惠也,敢惮勤劳?”文伯复命,赵文子曰:”信!我实不德,而以隶人之垣以赢诸侯,是吾罪也。”使士文伯谢不敏焉。晋侯见郑伯,有加礼,厚其宴好而归之。乃筑诸侯之馆。
  叔向曰:”辞之不可以已也如是夫!子产有辞,诸侯赖之,若之何其释辞也?《诗》曰:’辞之辑矣,民之协矣。辞之绎矣,民之莫矣。’其知之矣。”
  郑子皮使印段如楚,以适晋告,礼也。
  莒犁比公生去疾及展舆,既立展舆,又废之。犁比公虐,国人患之。十一月,展舆因国人以攻莒子,弑之,乃立。去疾奔齐,齐出也。展舆,吴出也。书曰”莒人弑其君买朱鉏。”言罪之在也。
  吴子使屈狐庸聘于晋,通路也。赵文子问焉,曰:”延州来季子其果立乎?巢陨诸樊,阍戕戴吴,天似启之,何如?”对曰:”不立。是二王之命也,非启季子也。若天所启,其在今嗣君乎!甚德而度,德不失民,度不失事,民亲而事有序,其天所启也。有吴国者,必此君之子孙实终之。季子,守节者也。虽有国,不立。”
  十二月,北宫文子相卫襄公以如楚,宋之盟故也。过郑,印段廷劳于棐林,如聘礼而以劳辞。文子入聘。子羽为行人,冯简子与子大叔逆客。事毕而出,言于卫侯曰:”郑有礼,其数世之福也,其无大国之讨乎!《诗》曰:’谁能执热,逝不以濯。’礼之于政,如热之有濯也。濯以救热,何患之有?”
  子产之従政也,择能而使之。冯简子能断大事,子大叔美秀而文,公孙挥能知四国之为,而辨于其大夫之族姓、班位、贵贱、能否,而又善为辞令,裨谌能谋,谋于野则获,谋于邑则否。郑国将有诸侯之事,子产乃问四国之为于子羽,且使多为辞令。与裨谌乘以适野,使谋可否。而告冯简子,使断之。事成,乃授子大叔使行之,以应对宾客。是以鲜有败事。北宫文子所谓有礼也。
  郑人游于乡校,以论执政。然明谓子产曰:”毁乡校,何如?”子产曰:”何为?夫人朝夕退而游焉,以议执政之善否。其所善者,吾则行之。其所恶者,吾则改之。是吾师也,若之何毁之?我闻忠善以损怨,不闻作威以防怨。岂不遽止,然犹防川,大决所犯,伤人必多,吾不克救也。不如小决使道。不如吾闻而药之也。”然明曰:”蔑也今而后知吾子之信可事也。小人实不才,若果行此,其郑国实赖之,岂唯二三臣?”
  仲尼闻是语也,曰:”以是观之,人谓子产不仁,吾不信也。”
  子皮欲使尹何为邑。子产曰:”少,未知可否?”子皮曰:”愿,吾爱之,不吾叛也。使夫往而学焉,夫亦愈知治矣。”子产曰:”不可。人之爱人,求利之也。今吾子爱人则以政,犹未能操刀而使割也,其伤实多。子之爱人,伤之而已,其谁敢求爱于子?子于郑国,栋也,栋折榱崩,侨将厌焉,敢不尽言?子有美锦,不使人学制焉。大官、大邑,身之所庇也,而使学者制焉,其为美锦,不亦多乎?侨闻学而后入政,未闻以政学者也。若果行此,必有所害。譬如田猎,射御贯则能获禽,若未尝登车射御,则败绩厌覆是惧,何暇思获?”子皮曰:”善哉!虎不敏。吾闻君子务知大者、远者,小人务知小者、近者。我,小人也。衣服附在吾身,我知而慎之。大官、大邑所以庇身也,我远而慢之。微子之言,吾不知也。他日我曰:’子为郑国,我为吾家,以庇焉,其可也。’今而后知不足。自今,请虽吾家,听子而行。”子产曰:”人心之不同,如其面焉。吾岂敢谓子面如吾面乎?抑心所谓危,亦以告也。”子皮以为忠,故委政焉。子产是以能为郑国。
  卫侯在楚,北宫文子见令尹围之威仪,言于卫侯曰:”令尹似君矣!将有他志,虽获其志,不能终也。《诗》云:’靡不有初,鲜克有终。’终之实难,令尹其将不免?”公曰:”子何以知之?”对曰:”《诗》云:’敬慎威仪,惟民之则。’令尹无威仪,民无则焉。民所不则,以在民上,不可以终。”公曰:”善哉!何谓威仪?”对曰:”有威而可畏谓之威,有仪而可象谓之仪。君有君之威仪,其臣畏而爱之,则而象之,故能有其国家,令闻长世。臣有臣之威仪,其下畏而爱之,故能守其官职,保族宜家。顺是以下皆如是,是以上下能相固也。《卫诗》曰:’威仪棣棣,不可选也。’言君臣、上下、父子、兄弟、内外、大小皆有威仪也。《周诗》曰:’朋友攸摄,摄以威仪。’言朋友之道,必相教训以威仪也。《周书》数文王之德,曰:’大国畏其力,小国怀其德。’言畏而爱之也。《诗》云:’不识不知,顺帝之则。’言则而象之也。纣囚文王七年,诸侯皆従之囚。纣于是乎惧而归之,可谓爱之。文王伐崇,再驾而降为臣,蛮夷帅服,可谓畏之。文王之功,天下诵而歌舞之,可谓则之,文王之行,至今为法,可谓象之。有威仪也。故君子在位可畏,施舍可爱,进退可度,周旋可则,容止可观,作事可法,德行可象,声气可乐,动作有文,言语有章,以临其下,谓之有威仪也。”
?
************************
昭公  【元年~十四年】
  ◎ 昭公元年
  【经】元年春王正月,公即位。叔孙豹会晋赵武、楚公子围、齐国弱、宋向戌、卫齐恶、陈公子招、蔡公孙归生、郑罕虎、许人、曹人于虢。三月,取郓。夏,秦伯之弟钅咸出奔晋。六月丁巳,邾子华卒。晋荀吴帅师败狄于大卤。秋,莒去疾自齐入于莒。莒展舆出奔吴。叔弓帅师疆郓田。葬邾悼公。冬十有一月己酉,楚子麇卒。公子比出奔晋。
  【传】元年春,楚公子围聘于郑,且娶于公孙段氏,伍举为介。将入馆,郑人恶之,使行人子羽与之言,乃馆于外。既聘,将以众逆。子产患之,使子羽辞,曰:”以敝邑褊小,不足以容従者,请墠听命!”令尹命大宰伯州犁对曰:”君辱贶寡大夫围,谓围:’将使丰氏抚有而室。围布几筵,告于庄、共之庙而来。若野赐之,是委君贶于草莽也!是寡大夫不得列于诸卿也!不宁唯是,又使围蒙其先君,将不得为寡君老,其蔑以复矣。唯大夫图之!”子羽曰:”小国无罪,恃实其罪。将恃大国之安靖己,而无乃包藏祸心以图之。小国失恃而惩诸侯,使莫不憾者,距违君命,而有所壅塞不行是惧!不然,敝邑,馆人之属也,其敢爱丰氏之祧?”伍举知其有备也,请垂橐而入。许之。
  正月乙未,入,逆而出。遂会于虢,寻宋之盟也。祁午谓赵文子曰:”宋之盟,楚人得志于晋。今令尹之不信,诸侯之所闻也。子弗戒,惧又如宋。子木之信称于诸侯,犹诈晋而驾焉,况不信之尤者乎?楚重得志于晋,晋之耻也。子相晋国以为盟主,于今七年矣!再合诸侯,三合大夫,服齐、狄,宁东夏,平秦乱,城淳于,师徒不顿,国家不罢,民无谤讟,诸侯无怨,天无大灾,子之力也。有令名矣,而终之以耻,午也是惧。吾子其不可以不戒!”文子曰:”武受赐矣!然宋之盟,子木有祸人之心,武有仁人之心,是楚所以驾于晋也。今武犹是心也,楚又行僭,非所害也。武将信以为本,循而行之。譬如农夫,是麃是衮,虽有饥馑,必有丰年。且吾闻之:’能信不为人下。’吾未能也。《诗》曰:’不僭不贼,鲜不为则。’信也。能为人则者,不为人下矣。吾不能是难,楚不为患。”
  楚令尹围请用牲,读旧书,加于牲上而已。晋人许之。
  三月甲辰,盟。楚公子围设服离卫。叔孙穆子曰:”楚公子美矣,君哉!”郑子皮曰:”二执戈者前矣!”蔡子家曰:”蒲宫有前,不亦可乎?”楚伯州犁曰:”此行也,辞而假之寡君。”郑行人挥曰:”假不反矣!”伯州犁曰:”子姑忧子皙之欲背诞也。”子羽曰:”当璧犹在,假而不反,子其无忧乎?”齐国子曰:”吾代二子愍矣!”陈公子招曰:”不忧何成,二子乐矣。”卫齐子曰:”苟或知之,虽忧何害?”宋合左师曰:”大国令,小国共。吾知共而已。”晋乐王鲋曰:”《小旻》之卒章善矣,吾従之。”
  退会,子羽谓子皮曰:”叔孙绞而婉,宋左师简而礼,乐王鲋字而敬,子与子家持之,皆保世之主也。齐、卫、陈大夫其不免乎?国子代人忧,子招乐忧,齐子虽忧弗害。夫弗及而忧,与可优而乐,与忧而弗害,皆取忧之道也,忧必及之。《大誓》曰:’民之所欲,天必従之。’三大夫兆忧,能无至乎?言以知物,其是之谓矣。”
  季武子伐莒,取郓,莒人告于会。楚告于晋曰:”寻盟未退,而鲁伐莒,渎齐盟,请戮其使。”乐桓子相赵文子,欲求货于叔孙而为之请,使请带焉,弗与。梁其跁曰:”货以藩身,子何爱焉?”叔孙曰:”诸侯之会,卫社稷也。我以货免,鲁必受师。是祸之也,何卫之为?人之有墙,以蔽恶也。墙之隙坏,谁之咎也?卫而恶之,吾又甚焉。虽怨季孙,鲁国何罪?叔出季处,有自来矣,吾又谁怨?然鲋也贿,弗与,不已。”召使者,裂裳帛而与之,曰:”带其褊矣。”赵孟闻之,曰:”临患不忘国,忠也。思难不越官,信也;图国忘死,贞也;谋主三者,义也。有是四者,又可戮乎?”乃请诸楚曰:”鲁虽有罪,其执事不辟难,畏威而敬命矣。子若免之,以劝左右可也。若子之群吏处不辟污,出不逃难,其何患之有?患之所生,污而不治,难而不守,所由来也。能是二者,又何患焉?不靖其能,其谁従之?鲁叔孙豹可谓能矣,请免之以靖能者。子会而赦有罪,又赏其贤,诸侯其谁不欣焉望楚而归之,视远如迩?疆埸之邑,一彼一此,何常之有?王伯之令也,引其封疆,而树之官。举之表旗,而著之制令。过则有刑,犹不可壹。于是乎虞有三苗,夏有观、扈,商有姺、邳,周有徐、奄。自无令王,诸侯逐进,狎主齐盟,其又可壹乎?恤大舍小,足以为盟主,又焉用之?封疆之削,何国蔑有?主齐盟者,谁能辩焉?吴、濮有衅,楚之执事岂其顾盟?莒之疆事,楚勿与知,诸侯无烦,不亦可乎?莒、鲁争郓,为日久矣,苟无大害于其社稷,可无亢也。去烦宥善,莫不竞劝。子其图之!”固请诸楚,楚人许之,乃免叔孙。
  令尹享赵孟,赋《大明》之首章。赵孟赋《小宛》之二章。事毕,赵孟谓叔向曰:”令尹自以为王矣,何如?”对曰:”王弱,令尹强,其可哉!虽可,不终。”赵孟曰:”何故?”对曰:”强以克弱而安之,强不义也。不义而强,其毙必速。《诗》曰:’赫赫宗周,褒姒灭之。’强不义也。令尹为王,必求诸侯。晋少懦矣,诸侯将往。若获诸侯,其虐滋甚。民弗堪也,将何以终?夫以强取,不义而克,必以为道。道以淫虐,弗可久已矣!”
  夏四月,赵孟、叔孙豹、曹大夫入于郑,郑伯兼享之。子皮戒赵孟,礼终,赵孟赋《瓠叶》。子皮遂戒穆叔,且告之。穆叔曰:”赵孟欲一献,子其従之!”子皮曰:”敢乎?”穆叔曰:”夫人之所欲也,又何不敢?”及享,具五献之笾豆于幕下。赵孟辞,私于子产曰:”武请于冢宰矣。”乃用一献。赵孟为客,礼终乃宴。穆叔赋《鹊巢》。赵孟曰:”武不堪也。”又赋《采蘩》,曰:”小国为蘩,大国省穑而用之,其何实非命?”子皮赋《野有死麇》之卒章。赵孟赋《常棣》,且曰:”吾兄弟比以安,龙也可使无吠。”穆叔、子皮及曹大夫兴,拜,举兕爵,曰:”小国赖子,知免于戾矣。”饮酒乐。赵孟出,曰:”吾不复此矣。”
  天王使刘定公劳赵孟于颍,馆于洛汭。刘子曰:”美哉禹功,明德远矣!微禹,吾其鱼乎!吾与子弁冕端委,以治民临诸侯,禹之力也。子盍亦远绩禹功,而大庇民乎?”对曰:”老夫罪戾是惧,焉能恤远?吾侪偷食,朝不谋夕,何其长也?”刘子归,以语王曰:”谚所为老将知而耄及之者,其赵孟之谓乎!为晋正卿,以主诸侯,而侪于隶人,朝不谋夕,弃神人矣。神怒民叛,何以能久?赵孟不复年矣。神怒,不歆其祀;民叛,不即其事。祀事不従,又何以年?”
  叔孙归,曾夭御季孙以劳之。旦及日中不出。曾夭谓曾阜曰:”旦及日中,吾知罪矣。鲁以相忍为国也,忍其外不忍其内,焉用之?”阜曰:”数月于外,一旦于是,庸何伤?贾而欲赢,而恶嚣乎?”阜谓叔孙曰:”可以出矣!”叔孙指楹曰:”虽恶是,其可去乎?”乃出见之。
  郑徐吾犯之妹美,公孙楚聘之矣,公孙黑又使强委禽焉。犯惧,告子产。子产曰:”是国无政,非子之患也。唯所欲与。”犯请于二子,请使女择焉。皆许之,子皙盛饰入,布币而出。子南戎服入。左右射,超乘而出。女自房观之,曰:”子皙信美矣,抑子南夫也。夫夫妇妇,所谓顺也。”适子南氏。子皙怒,既而櫜甲以见子南,欲杀之而取其妻。子南知之,执戈逐之。及冲,击之以戈。子皙伤而归,告大夫曰:”我好见之,不知其有异志也,故伤。”
  大夫皆谋之。子产曰:”直钧,幼贱有罪。罪在楚也。”乃执子南而数之,曰:”国之大节有五,女皆奸之:畏君之威,听其政,尊其贵,事其长,养其亲。五者所以为国也。今君在国,女用兵焉,不畏威也。奸国之纪,不听政也。子皙,上大夫,女,嬖大夫,而弗下之,不尊贵也。幼而不忌,不事长也。兵其従兄,不养亲也。君曰:’余不女忍杀,宥女以远。’勉,速行乎,无重而罪!”
  五月庚辰,郑放游楚于吴,将行子南,子产咨于大叔。大叔曰:”吉不能亢身,焉能亢宗?彼,国政也,非私难也。子图郑国,利则行之,又何疑焉?周公杀管叔而蔡蔡叔,夫岂不爱?王室故也。吉若获戾,子将行之,何有于诸游?”
  秦后子有宠于桓,如二君于景。其母曰:”弗去,惧选。”癸卯,钅咸适晋,其车千乘。书曰:”秦伯之弟钅咸出奔晋。”罪秦伯也。后子享晋侯,造舟于河,十里舍车,自雍及绛。归取酬币,终事八反。司马侯问焉,曰:”子之车,尽于此而已乎?”对曰:”此之谓多矣!若能少此,吾何以得见?”女叔齐以告公,且曰:”秦公子必归。臣闻君子能知其过,必有令图。令图,天所赞也。”
  后子见赵孟。赵孟曰:”吾子其曷归?”对曰:”钅咸惧选于寡君,是以在此,将待嗣君。”赵孟曰:”秦君何如?”对曰:”无道。”赵孟曰:”亡乎?”对曰:”何为?一世无道,国未艾也。国于天地,有与立焉。不数世淫,弗能毙也。”赵孟曰:”天乎?”对曰:”有焉。”赵孟曰:”其几何?”对曰:”钅咸闻之,国无道而年谷和熟,天赞之也。鲜不五稔。”赵孟视荫,曰:”朝夕不相及,谁能待五?”后子出,而告人曰:”赵孟将死矣。主民,玩岁而愒日,其与几何?”
  郑为游楚乱故,六月丁巳,郑伯及其大夫盟于公孙段氏,罕虎、公孙侨、公孙段、印段、游吉、驷带私盟于闺门之外,实薰隧。公孙黑强与于盟,使大史书其名,且曰七子。子产弗讨。
  晋中行穆子败无终及群狄于大原,崇卒也。将战,魏舒曰:”彼徒我车,所遇又厄,以什共车必克。困诸厄,又克。请皆卒,自我始。”乃毁车以为行,五乘为三伍。荀吴之嬖人不肯即卒,斩以徇。为五陈以相离,两于前,伍于后,专为左角,参为左角,偏为前拒,以诱之。翟人笑之。未陈而薄之,大败之。
  莒展舆立,而夺群公子秩。公子召去疾于齐。秋,齐公子鉏纳去疾,展舆奔吴。
  叔弓帅师疆郓田,因莒乱也。于是莒务娄、瞀胡及公子灭明以大厖与常仪靡奔齐。君子曰:”莒展之不立,弃人也夫!人可弃乎?《诗》曰:’无竞维人。’善矣。”
  晋侯有疾,郑伯使公孙侨如晋聘,且问疾。叔向问焉,曰:”寡君之疾病,卜人曰:’实沈、台骀为祟。’史莫之知,敢问此何神也?”子产曰:”昔高辛氏有二子,伯曰阏伯,季曰实沈,居于旷林,不相能也。日寻干戈,以相征讨。后帝不臧,迁阏伯于商丘,主辰。商人是因,故辰为商星。迁实沈于大夏,主参。唐人是因,以服事夏、商。其季世曰唐叔虞。当武王邑姜方震大叔,梦帝谓己:’余命而子曰虞,将与之唐,属诸参,其蕃育其子孙。’及生,有文在其手曰:’虞’,遂以命之。及成王灭唐而封大叔焉,故参为晋星。由是观之,则实沈,参神也。昔金天氏有裔子曰昧,为玄冥师,生允格、台骀。台骀能业其官,宣汾、洮,障大泽,以处大原。帝用嘉之,封诸汾川。沈、姒、蓐、黄,实守其祀。今晋主汾而灭之矣。由是观之,则台骀,汾神也。抑此二者,不及君身。山川之神,则水旱疠疫之灾,于是乎禜之。日月星辰之神,则雪霜风雨之不时,于是乎禜之。若君身,则亦出入饮食哀乐之事也,山川星辰之神,又何为焉”?侨闻之,君子有四时:朝以听政,昼以访问,夕以修令,夜以安身。于是乎节宣其气,勿使有所壅闭湫底,以露其体。兹心不爽,而昏乱百度。今无乃壹之,则生疾矣。侨又闻之,内官不及同姓,其生不殖,美先尽矣,则相生疾,君子是以恶之。故《志》曰:’买妾不知其姓,则卜之。’违此二者,古之所慎也。男女辨姓,礼之大司也。今君内实有四姬焉,其无乃是也乎?若由是二者,弗可为也已。四姬有省犹可,无则必生疾矣。”叔向曰:”善哉!肸未之闻也。此皆然矣。”
  叔向出,行人挥送之。叔向问郑故焉,且问子皙。对曰:”其与几何?无礼而好陵人,怙富而卑其上,弗能久矣。”
  晋侯闻子产之言,曰:”博物君子也。”重贿之。
  晋侯求医于秦。秦伯使医和视之,曰:”疾不可为也。是谓:’近女室,疾如蛊。非鬼非食,惑以丧志。良巨将死,天命不佑'”公曰:”女不可近乎?”对曰:”节之。先王之乐,所以节百事也。故有五节,迟速本末以相及,中声以降,五降之后,不容弹矣。于是有烦手淫声,慆堙心耳,乃忘平和,君子弗德也。物亦如之,至于烦,乃舍也已,无以生疾。君子之近琴瑟,以仪节也,非以慆心也。天有六气,降生五味,发为五色,征为五声,淫生六疾。六气曰阴、阳、风、雨、晦、明也。分为四时,序为五节,过则为灾。阴淫寒疾,阳淫热疾,风淫末疾,雨淫腹疾,晦淫惑疾,明淫心疾。女,阳物而晦时,淫则生内热惑蛊之疾。今君不节不时,能无及此乎?”出,告赵孟。赵孟曰:”谁当良臣?”对曰:”主是谓矣!主相晋国,于今八年,晋国无乱,诸侯无阙,可谓良矣。和闻之,国之大臣,荣其宠禄,任其宠节,有灾祸兴而无改焉,必受其咎。今君至于淫以生疾,将不能图恤社稷,祸孰大焉!主不能御,吾是以云也。”赵孟曰:”何谓蛊”对曰:”淫溺惑乱之所生也。于文,皿虫为蛊。谷之飞亦为蛊。在《周易》,女惑男,风落山,谓之《蛊》三。皆同物也。”赵孟曰:”良医也。”厚其礼归之。
  楚公子围使公子黑肱、伯州犁城雠、栎、郏,郑人惧。子产曰:”不害。令尹将行大事,而先除二子也。祸不及郑,何患焉?”
  冬,楚公子围将聘于郑,伍举为介。未出竟,闻王有疾而还。伍举遂聘。十一月己酉,公子围至,入问王疾,缢而弑之。遂杀其二子幕及平夏。右尹子干出奔晋。宫厩尹子皙出奔郑。杀大宰伯州犁于郏。葬王于郏,谓之郏敖。使赴于郑,伍举问应为后之辞焉。对曰:”寡大夫围。”伍举更之曰:”共王之子围为长。”
  子干奔晋,従车五乘。叔向使与秦公子同食,皆百人之饩。赵文子曰:”秦公子富。”叔向曰:”底禄以德,德钧以年,年同以尊。公子以国,不闻以富。且夫以千乘去其国,强御已甚。《诗》曰:’不侮鳏寡,不畏强御。’秦、楚,匹也。”使后子与子干齿。辞曰:”钅咸惧选,楚公子不获,是以皆来,亦唯命。且臣与羁齿,无乃不可乎?史佚有言曰:’非羁何忌?'”
  楚灵王即位,薳罢为令尹,薳启强为大宰。郑游吉如楚,葬郏敖,且聘立君。归,谓子产曰:”具行器矣!楚王汰侈而自说其事,必合诸侯。吾往无日矣。”子产曰:”不数年,未能也。”
  十二月,晋既烝,赵孟适南阳,将会孟子余。甲辰朔,烝于温。庚戌,卒。郑伯如晋吊,及雍乃复。
  ◎ 昭公二年
  【经】二年春,晋侯使韩起来聘。夏,叔弓如晋。秋,郑杀其大夫公孙黑。冬,公如晋,至河乃复。季孙宿如晋。
  【传】二年春,晋侯使韩宣子来聘,且告为政而来见,礼也。观书于大史氏,见《易》《象》与《鲁春秋》,曰:”周礼尽在鲁矣。吾乃今知周公之德,与周之所以王也。”公享之。季武子赋《绵》之卒章。韩子赋《角弓》。季武子拜,曰:”敢拜子之弥缝敝邑,寡君有望矣。”武子赋《节》之卒章。既享,宴于季氏,有嘉树焉,宣子誉之。武子曰:”宿敢不封殖此树,以无忘《角弓》。”遂赋《甘棠》。宣子曰:”起不堪也,无以及召公。”
  宣子遂如齐纳币。见子雅。子雅召子旗,使见宣子。宣子曰:”非保家之主也,不臣。”见子尾。子尾见强,宣子谓之如子旗。大夫多笑之,唯晏子信之,曰:”夫子,君子也。君子有信,其有以知之矣。”自齐聘于卫。卫侯享之,北宫文子赋《淇澳》。宣子赋《木瓜》。
  夏四月,韩须如齐逆女。齐陈无宇送女,致少姜。少姜有宠于晋侯,晋侯谓之少齐。谓陈无宇非卿,执诸中都。少姜为之请曰:”送従逆班,畏大国也,犹有所易,是以乱作。”
  叔弓聘于晋,报宣子也。晋侯使郊劳。辞曰:”寡君使弓来继旧好,固曰:’女无敢为宾!’彻命于执事,敝邑弘矣。敢辱郊使?请辞。”致馆。辞曰:”寡君命下臣来继旧好,好合使成,臣之禄也。敢辱大馆?”叔向曰:”子叔子知礼哉!吾闻之曰:’忠信,礼之器也。卑让,礼之宗也。’辞不忘国,忠信也。先国后己,卑让也。《诗》曰:’敬慎威仪,以近有德。’夫子近德矣。”
  秋,郑公孙黑将作乱,欲去游氏而代其位,伤疾作而不果。驷氏与诸大夫欲杀之。子产在鄙,闻之,惧弗及,乘遽而至。使吏数之,曰:”伯有之乱,以大国之事,而未尔讨也。尔有乱心,无厌,国不女堪。专伐伯有,而罪一也。昆弟争室,而罪二也。薰隧之盟,女矫君位,而罪三也。有死罪三,何以堪之?不速死,大刑将至。”再拜稽首,辞曰:”死在朝夕,无助天为虐。”子产曰:”人谁不死?凶人不终,命也。作凶事,为凶人。不助天,其助凶人乎?”请以印为褚师。子产曰:”印也若才,君将任之。不才,将朝夕従女。女罪之不恤,而又何请焉?不速死,司寇将至。”七月壬寅,缢。尸诸周氏之衢,加木焉。
  晋少姜卒。公如晋,及河。晋侯使士文伯来辞,曰:”非伉俪也。请君无辱!”公还,季孙宿遂致服焉。叔向言陈无宇于晋侯曰:”彼何罪?君使公族逆之,齐使上大夫送之。犹曰不共,君求以贪。国则不共,而执其使。君刑已颇,何以为盟主?且少姜有辞。”冬十月,陈无宇归。
  十一月,郑印段如晋吊。
  ◎ 昭公三年
  【经】三年春王正月丁未,滕子原卒。夏,叔弓如滕。五月,葬滕成公。秋,小邾子来朝。八月,大雩。冬,大雨雹。北燕伯款出奔齐。
  【传】三年春,王正月,郑游吉如晋,送少姜之葬。梁丙与张趯见之。梁丙曰:”甚矣哉!子之为此来也。”子大叔曰:”将得已乎?昔文、襄之霸也,其务不烦诸侯。令诸侯三岁而聘,五岁而朝,有事而会,不协而盟。君薨,大夫吊,卿共葬事。夫人,士吊,大夫送葬。足以昭礼命事谋阙而已,无加命矣。今嬖宠之丧,不敢择位,而数于守適,唯惧获戾,岂敢惮烦?少姜有宠而死,齐必继室。今兹吾又将来贺,不唯此行也。”张趯曰:”善哉!吾得闻此数也。然自今,子其无事矣。譬如火焉,火中,寒暑乃退。此其极也,能无退乎?晋将失诸侯,诸侯求烦不获。”二大夫退。子大叔告人曰:”张趯有知,其犹在君子之后乎!”
  丁未,滕子原卒。同盟,故书名。
  齐侯使晏婴请继室于晋,曰:”寡君使婴曰:’寡人愿事君,朝夕不倦,将奉质币,以无失时,则国家多难,是以不获。不腆先君之適,以备内官,焜耀寡人之望,则又无禄,早世殒命,寡人失望。君若不忘先君之好,惠顾齐国,辱收寡人,徼福于大公、丁公,照临敝邑,镇抚其社稷,则犹有先君之適及遗姑姊妹若而人。君若不弃敝邑,而辱使董振择之,以备嫔嫱,寡人之望也。'”韩宣子使叔向对曰:”寡君之愿也。寡君不能独任其社稷之事,未有伉俪。在縗绖之中,是以未敢请。君有辱命,惠莫大焉。若惠顾敝邑,抚有晋国,赐之内主,岂唯寡君,举群臣实受其贶。其自唐叔以下,实宠嘉之。”
  既成昏,晏子受礼。叔向従之宴,相与语。叔向曰:”齐其何如?”晏子曰:”此季世也,吾弗知。齐其为陈氏矣!公弃其民,而归于陈氏。齐旧四量,豆、区、釜、钟。四升为豆,各自其四,以登于釜。釜十则钟。陈氏三量,皆登一焉,钟乃大矣。以家量贷,而以公量收之。山木如市,弗加于山。鱼盐蜃蛤,弗加于海。民参其力,二入于公,而衣食其一。公聚朽蠹,而三老冻馁。国之诸市,屦贱踊贵。民人痛疾,而或燠休之,其爱之如父母,而归之如流水,欲无获民,将焉辟之?箕伯、直柄、虞遂、伯戏,其相胡公、大姬,已在齐矣。”
  叔向曰:”然。虽吾公室,今亦季世也。戎马不驾,卿无军行,公乘无人,卒列无长。庶民罢敝,而宫室滋侈。道堇相望,而女富溢尤。民闻公命,如逃寇仇。栾、郤、胥、原、狐、续、庆、伯,降在皂隶。政在家门,民无所依,君日不悛,以乐慆忧。公室之卑,其何日之有?《谗鼎之铭》曰:’昧旦丕显,后世犹怠。’况日不悛,其能久乎?”
  宴子曰:”子将若何?”叔向曰:”晋之公族尽矣。肸闻之,公室将卑,其宗族枝叶先落,则公従之。肸之宗十一族,唯羊舌氏在而已。肸又无子。公室无度,幸而得死,岂其获祀?”
  初,景公欲更晏子之宅,曰:”子之宅近市,湫隘嚣尘,不可以居,请更诸爽垲者。”辞曰:”君之先臣容焉,臣不足以嗣之,于臣侈矣。且小人近市,朝夕得所求,小人之利也。敢烦里旅?”公笑曰:”子近市,识贵贱乎?”对曰:”既利之,敢不识乎?”公曰:”何贵何贱?”于是景公繁于刑,有鬻踊者。故对曰:”踊贵屦贱。”既已告于君,故与叔向语而称之。景公为是省于刑。君子曰:”仁人之言,其利博哉。晏子一言而齐侯省刑。《诗》曰:’君子如祉,乱庶遄已。’其是之谓乎!”
  及宴子如晋,公更其宅,反,则成矣。既拜,乃毁之,而为里室,皆如其旧。则使宅人反之,曰:”谚曰:’非宅是卜,唯邻是卜。’二三子先卜邻矣,违卜不祥。君子不犯非礼,小人不犯不祥,古之制也。吾敢违诸乎?”卒复其旧宅。公弗许,因陈桓子以请,乃许之。
  夏四月,郑伯如晋,公孙段相,甚敬而卑,礼无违者。晋侯嘉焉,授之以策,曰:”子丰有劳于晋国,余闻而弗忘。赐女州田,以胙乃旧勋。”伯石再拜稽首,受策以出。君子曰:”礼,其人之急也乎!伯石之汰也,一为礼于晋,犹荷其禄,况以礼终始乎?《诗》曰:’人而无礼,胡不遄死?’其是之谓乎!”
  初,州县,栾豹之邑也。及栾氏亡,范宣子、赵文子、韩宣子皆欲之。文子曰:”温,吾县也。”二宣子曰:”自郤称以别,三传矣。晋之别县不唯州,谁获治之?”文子病之,乃舍之。二子曰:”吾不可以正议而自与也。”皆舍之。及文子为政,赵获曰:”可以取州矣。”文子曰:”退!二子之言,义也。违义,祸也。余不能治余县,又焉用州?其以徼祸也?君子曰:’弗知实难。’知而弗従,祸莫大焉。有言州必死。”
  丰氏故主韩氏,伯石之获州也,韩宣子为请之,为其复取之之故。
  五月,叔弓如滕,葬滕成公,子服椒为介。及郊,遇懿伯之忌,敬子不入。惠伯曰:”公事有公利,无私忌,椒请先入。”乃先受馆。敬子従之。
  晋韩起如齐逆女。公孙虿为少姜之有宠也,以其子更公女而嫁公子。人谓宣子:”子尾欺晋,晋胡受之?”宣子曰:”我欲得齐而远其宠,宠将来乎?”
  秋七月,郑罕虎如晋,贺夫人,且告曰:”楚人日征敝邑,以不朝立王之故。敝邑之往,则畏执事其谓寡君’而固有外心。’其不往,则宋之盟云。进退罪也。寡君使虎布之。”宣子使叔向对曰:”君若辱有寡君,在楚何害?修宋盟也。君苟思盟,寡君乃知免于戾矣。君若不有寡君,虽朝夕辱于敝邑,寡君猜焉。君实有心,何辱命焉?君其往也!苟有寡君,在楚犹在晋也。”
  张趯使谓大叔曰:”自子之归也,小人粪除先人之敝庐,曰子其将来。今子皮实来,小人失望。”大叔曰:”吉贱,不获来,畏大国,尊夫人也。且孟曰:’而将无事。’吉庶几焉。”
  小邾穆公来朝。季武子欲卑之,穆叔曰:”不可。曹、滕、二邾,实不忘我好,敬以逆之,犹惧其贰。又卑一睦,焉逆群好也?其如旧而加敬焉!《志》曰:’能敬无灾。’又曰:’敬逆来者,天所福也。'”季孙従之。
  八月,大雩,旱也。
  齐侯田于莒,卢蒲弊见,泣且请曰:”余发如此种种,余奚能为?”公曰:”诺,吾告二子。”归而告之。子尾欲复之,子雅不可,曰:”彼其发短而心甚长,其或寝处我矣。”九月,子雅放卢蒲弊于北燕。
  燕简公多嬖宠,欲去诸大夫而立其宠人。冬,燕大夫比以杀公之外嬖。公惧,奔齐。书曰:”北燕伯款出奔齐。”罪之也。
  十月,郑伯如楚,子产相。楚子享之,赋《吉日》。既享,子产乃具田备,王以田江南之梦。
  齐公孙灶卒。司马灶见晏子,曰:”又丧子雅矣。”晏子曰:”惜也!子旗不免,殆哉!姜族弱矣,而妫将始昌。二惠竞爽,犹可,又弱一个焉,姜其危哉!”
  ◎ 昭公四年
  【经】四年春王正月,大雨雹。夏,楚子、蔡侯、陈侯、郑伯、许男、徐子、滕子、顿子、胡子、沈子、小邾子、宋世子佐、淮夷会于申。楚子执徐子。秋七月,楚子、蔡侯、陈侯、许男、顿子、胡子、沈子、淮夷伐吴,执齐庆封,杀之。遂灭赖。九月,取鄫。冬十有二月乙卯,叔孙豹卒。
  【传】四年春,王正月,许男如楚,楚子止之,遂止郑伯,复田江南,许男与焉。使椒举如晋求诸侯,二君待之。椒举致命曰:”寡君使举曰:’日君有惠,赐盟于宋,曰:晋、楚之従,交相见也。以岁之不易,寡人愿结欢于二三君。’使举请间。君若苟无四方之虞,则愿假宠以请于诸侯。”
  晋侯欲勿许。司马侯曰:”不可。楚王方侈,天或者欲逞其心,以厚其毒而降之罚,未可知也。其使能终,亦未可知也。晋、楚唯天所相,不可与争。君其许之,而修德以待其归。若归于德,吾犹将事之,况诸侯乎?若适淫虐,楚将弃之,吾又谁与争?”曰:”晋有三不殆,其何敌之有?国险而多马,齐、楚多难。有是三者,何乡而不济?”对曰:”恃险与马,而虞邻国之难,是三殆也。四岳、三涂、阳城、大室、荆山、中南,九州之险也,是不一姓。冀之北土,马之所生,无兴国焉。恃险与马,不可以为固也,従古以然。是以先王务修德音以亨神人,不闻其务险与马也。邻国之难,不可虞也。或多难以固其国,启其疆土;或无难以丧其国,失其守宇。若何虞难?齐有仲孙之难而获桓公,至今赖之。晋有里、丕之难而获文公,是以为盟主。卫、邢无难,敌亦丧之。故人之难,不可虞也。恃此三者,而不修政德,亡于不暇,又何能济?君其许之!纣作淫虐,文王惠和,殷是以陨,周是以兴,夫岂争诸侯?”乃许楚使。使叔向对曰:”寡君有社稷之事,是以不获春秋时见。诸侯,君实有之,何辱命焉?”椒举遂请昏,晋侯许之。
  楚子问于子产曰:”晋其许我诸侯乎?”对曰:”许君。晋君少安,不在诸侯。其大夫多求,莫匡其君。在宋之盟,又曰如一,若不许君,将焉用之?”王曰:”诸侯其来乎?”对曰:”必来。従宋之盟,承君之欢,不畏大国,何故不来?不来者,其鲁、卫、曹、邾乎?曹畏宋,邾畏鲁,鲁、卫逼于齐而亲于晋,唯是不来。其余,君之所及也,谁敢不至?”王曰:”然则吾所求者,无不可乎?”对曰:”求逞于人,不可;与人同欲,尽济。”
  大雨雹。季武子问于申丰曰:”雹可御乎?”对曰:”圣人在上,无雹,虽有,不为灾。古者,日在北陆而藏冰;西陆,朝觌而出之。其藏冰也,深山穷谷,固阴冱寒,于是乎取之。其出之也,朝之禄位,宾食丧祭,于是乎用之。其藏之也,黑牲、秬黍,以享司寒。其出之也,桃弧、棘矢,以除其灾。其出入也时。食肉之禄,冰皆与焉。大夫命妇,丧浴用冰。祭寒而藏之,献羔而启之,公始用之。火出而毕赋。自命夫、命妇,至于老疾,无不受冰。山人取之,县人传之,舆人纳之,隶人藏之。夫冰以风壮,而以风出。其藏之也周,其用之也遍,则冬无愆阳,夏无伏阴,春无凄风,秋无苦雨,雷不出震,无灾霜雹,疠疾不降,民不夭札。今藏川池之冰,弃而不用。风不越而杀,雷不发而震。雹之为灾,谁能御之?《七月》之卒章,藏冰之道也。”
  夏,诸侯如楚,鲁、卫、曹、邾不会。曹、邾辞以难,公辞以时祭,卫侯辞以疾。郑伯先待于申。六月丙午,楚子合诸侯于申。椒举言于楚子曰:”臣闻诸侯无归,礼以为归。今君始得诸侯,其慎礼矣。霸之济否,在此会也。夏启有钧台之享,商汤有景亳之命,周武有孟津之誓,成有岐阳之搜,康有酆宫之朝,穆有涂山之会,齐桓有召陵之师,晋文有践土之盟。君其何用?宋向戌、郑公孙侨在,诸侯之良也,君其选焉。”王曰:”吾用齐桓。”王使问礼于左师与子产。左师曰:”小国习之,大国用之,敢不荐闻?”献公合诸侯之礼六。子产曰:”小国共职,敢不荐守?”献伯、子、男会公之礼六。君子谓合左师善守先代,子产善相小国。王使椒举侍于后,以规过。卒事,不规。王问其故,对曰:”礼,吾所未见者有六焉,又何以规?”宋大子佐后至,王田于武城,久而弗见。椒举请辞焉。王使往,曰:”属有宗祧之事于武城,寡君将堕币焉,敢谢后见。”
  徐子,吴出也,以为贰焉,故执诸申。
  楚子示诸侯侈,椒举曰:”夫六王二公之事,皆所以示诸侯礼也,诸侯所由用命也。夏桀为仍之会,有緍叛之。商纣为黎之搜,东夷叛之。周幽为大室之盟,戎狄叛之。皆所以示诸侯汰也,诸侯所由弃命也。今君以汰,无乃不济乎?”王弗听。
  子产见左师曰:”吾不患楚矣,汰而愎谏,不过十年。”左师曰:”然。不十年侈,其恶不远,远恶而后弃。善亦如之,德远而后兴。”
  秋七月,楚子以诸侯伐吴。宋大子、郑伯先归。宋华费遂、郑大夫従。使屈申围朱方,八月甲申,克之。执齐庆封而尽灭其族。将戮庆封。椒举曰:”臣闻无瑕者可以戮人。庆封唯逆命,是以在此,其肯従于戮乎?播于诸侯,焉用之?”王弗听,负之斧钺,以徇于诸侯,使言曰:”无或如齐庆封,弑其君,弱其孤,以盟其大夫。”庆封曰:”无或如楚共王之庶子围,弑其君、兄之子麇而代之,以盟诸侯。”王使速杀之。
  遂以诸侯灭赖。赖子面缚衔璧,士袒,舆榇従之,造于中军。王问诸椒举,对曰:”成王克许,许僖公如是,王亲释其缚,受其璧,焚其榇。”王従之。迁赖于鄢。楚子欲迁许于赖,使斗韦龟与公子弃疾城之而还。申无宇曰:”楚祸之首,将在此矣。召诸侯而来,伐国而克,城竟莫校。王心不违,民其居乎?民之不处,其谁堪之?不堪王命,乃祸乱也。”
  九月,取鄫,言易也。莒乱,著丘公立而不抚鄫,鄫叛而来,故曰取。凡克邑不用师徒曰取。
  郑子产作丘赋。国人谤之,曰:”其父死于路,己为虿尾。以令于国,国将若之何?”子宽以告。子产曰:”何害?苟利社稷,死生以之。且吾闻为善者不改其度,故能有济也。民不可逞,度不可改。《诗》曰:’礼义不愆,何恤于人言。’吾不迁矣。浑罕曰:”国氏其先亡乎!君子作法于凉,其敝犹贪。作法于贪,敝将若之何?姬在列者,蔡及曹、滕其先亡乎!逼而无礼。郑先卫亡,逼而无法。政不率法,而制于心。民各有心,何上之有?”
  冬,吴伐楚,入棘、栎、麻,以报朱方之役。楚沈尹射奔命于夏汭,咸尹宜咎城钟离,薳启强城巢,然丹城州来。东国水,不可以城。彭生罢赖之师。
  初,穆子去叔孙氏,及庚宗,遇妇人,使私为食而宿焉。问其行,告之故,哭而送之。适齐,娶于国氏,生孟丙、仲壬。梦天压己,弗胜。顾而见人,黑而上偻,深目而豭喙。号之曰:”牛!助余!”乃胜之。旦而皆召其徒,无之。且曰:”志之。”及宣伯奔齐,馈之。宣伯曰:”鲁以先子之故,将存吾宗,必召女。召女,何如?”对曰:”愿之久矣。”鲁人召之,不告而归。既立,所宿庚宗之妇人,献以雉。问其姓,对曰:”余子长矣,能奉雉而従我矣。”召而见之,则所梦也。未问其名,号之曰:”牛!”曰:”唯”。皆召其徒,使视之,遂使为竖。有宠,长使为政。公孙明知叔孙于齐,归,未逆国姜,子明取之。故怒,其子长而后使逆之。田于丘莸,遂遇疾焉。竖牛欲乱其室而有之,强与孟盟,不可。叔孙为孟钟,曰:”尔未际,飨大夫以落之。”既具,使竖牛请日。入,弗谒。出,命之日。及宾至,闻钟声。牛曰:”孟有北妇人之客。”怒,将往,牛止之。宾出,使拘而杀诸外,牛又强与仲盟,不可。仲与公御莱书观于公,公与之环。使牛入示之。入,不示。出,命佩之。牛谓叔孙:”见仲而何?”叔孙曰:”何为?”曰:”不见,既自见矣。公与之环而佩之矣。”遂逐之,奔齐。疾急,命召仲,牛许而不召。
  杜泄见,告之饥渴,授之戈。对曰:”求之而至,又何去焉?”竖牛曰:”夫子疾病,不欲见人。”使置馈于个而退。牛弗进,则置虚,命彻。十二月癸丑,叔孙不食。乙卯,卒。牛立昭子而相之。
  公使杜泄葬叔孙。竖牛赂叔仲昭子与南遗,使恶杜泄于季孙而去之。杜泄将以路葬,且尽卿礼。南遗谓季孙曰:”叔孙未乘路,葬焉用之?且冢卿无路,介卿以葬,不亦左乎?”季孙曰:”然。”使杜泄舍路。不可,曰:”夫子受命于朝,而聘于王。王思旧勋而赐之路。复命而致之君,君不敢逆王命而复赐之,使三官书之。吾子为司徒,实书名。夫子为司马,与工正书服。孟孙为司空,以书勋。今死而弗以,同弃君命也。书在公府而弗以,是废三官也。若命服,生弗敢服,死又不以,将焉用之?”乃使以葬。
  季孙谋去中军。竖牛曰:”夫子固欲去之。”
  ◎ 昭公五年
  【经】五年春王正月,舍中军。楚杀其大夫屈申。公如晋。夏,莒牟夷以牟娄及防、兹来奔。秋七月,公至自晋。戊辰,叔弓帅师败莒师于蚡泉。秦伯卒。冬,楚子、蔡侯、陈侯、许男、顿子、沈子、徐人、越人伐吴。
  【传】五年春,王正月,舍中军,卑公室也。毁中军于施氏,成诸臧氏。初作中军,三分公室而各有其一。季氏尽征之,叔孙氏臣其子弟,孟氏取其半焉。及其舍之也,四分公室,季氏择二,二子各一。皆尽征之,而贡于公。以书。使杜泄告于殡,曰:”子固欲毁中军,既毁之矣,故告。”杜泄曰:”夫子唯不欲毁也,故盟诸僖闳,诅诸五父之衢。”受其书而投之,帅士而哭之。叔仲子谓季孙曰:”带受命于子叔孙曰:’葬鲜者自西门。'”季孙命杜泄。杜泄曰:”卿丧自朝,鲁礼也。吾子为国政,未改礼,而又迁之。群臣惧死,不敢自也。”既葬而行。
  仲至自齐,季孙欲立之。南遗曰:”叔孙氏厚则季氏薄。彼实家乱,子勿与知,不亦可乎?”南遗使国人助竖牛以攻诸大库之庭。司宫射之,中目而死。竖牛取东鄙三十邑,以与南遗。
  昭子即位,朝其家众,曰:”竖牛祸叔孙氏,使乱大従,杀适立庶,又披其邑,将以赦罪,罪莫大焉。必速杀之。”竖牛惧,奔齐。孟、仲之子杀诸塞关之外,投其首于宁风之棘上。
  仲尼曰:”叔孙昭子之不劳,不可能也。周任有言曰:’为政者不赏私劳,不罚私怨。’《诗》云:’有觉德行,四国顺之。'”
  初,穆子之生也,庄叔以《周易》筮之,遇《明夷》三之《谦》三,以示卜楚丘。曰:”是将行,而归为子祀。以谗人入,其名曰牛,卒以馁死。《明夷》,日也。日之数十,故有十时,亦当十位。自王已下,其二为公,其三为卿。日上其中,食日为二,旦日为三。《明夷》之《谦》,明而未融,其当旦乎,故曰:’为子祀’。日之《谦》,当鸟,故曰’明夷于飞’。明之未融,故曰’垂其翼’。象日之动,故曰’君子于行’。当三在旦,故曰’三日不食’。《离》,火也。《艮》,山也。《离》为火,火焚山,山败。于人为言,败言为谗,故曰’有攸往,主人有言’,言必谗也。纯《离》为牛,世乱谗胜,胜将适《离》,故曰’其名曰牛’。谦不足,飞不翔,垂不峻,翼不广,故曰’其为子后乎’。吾子,亚卿也,抑少不终。”
  楚子以屈申为贰于吴,乃杀之。以屈生为莫敖,使与令尹子荡如晋逆女。过郑,郑伯劳子荡于汜,劳屈生于菟氏。晋侯送女于邢丘。子产相郑伯,会晋侯于邢丘。
  公如晋,自郊劳至于赠贿,无失礼。晋侯谓女叔齐曰:”鲁侯不亦善于礼乎?”对曰:”鲁侯焉知礼?”公曰:”何为?自郊劳至于赠贿,礼无违者,何故不知?”对曰:”是仪也,不可谓礼。礼所以守其国,行其政令,无失其民者也。今政令在家,不能取也。有子家羁,弗能用也。奸大国之盟,陵虐小国。利人之难,不知其私。公室四分,民食于他。思莫在公,不图其终。为国君,难将及身,不恤其所。礼这本末,将于此乎在,而屑屑焉习仪以亟。言善于礼,不亦远乎?君子谓:”叔侯于是乎知礼。”
  晋韩宣子如楚送女,叔向为介。郑子皮、子大叔劳诸索氏。大叔谓叔向曰:”楚王汰侈已甚,子其戒之。”叔向曰:”汰侈已甚,身之灾也,焉能及人?若奉吾币帛,慎吾威仪,守之以信,行之以礼,敬始而思终,终无不复,従而不失仪,敬而不失威,道之以训辞,奉之以旧法,考之以先王,度之以二国,虽汰侈,若我何?”
  及楚,楚子朝其大夫,曰:”晋,吾仇敌也。苟得志焉,无恤其他。今其来者,上卿、上大夫也。若吾以韩起为阍,以羊舌肸为司宫,足以辱晋,吾亦得志矣。可乎?”大夫莫对。薳启强曰:”可。苟有其备,何故不可?耻匹夫不可以无备,况耻国乎?是以圣王务行礼,不求耻人,朝聘有珪,享有璋。小有述职,大有巡功。设机而不倚,爵盈而不饮;宴有好货,飧有陪鼎,入有郊劳,出有赠贿,礼之至也。国家之败,失之道也,则祸乱兴。城濮之役,晋无楚备,以败于邲。邲之役,楚无晋备,以败于鄢。自鄢以来,晋不失备,而加之以礼,重之以睦,是以楚弗能报而求亲焉。既获姻亲,又欲耻之,以召寇仇,备之若何?谁其重此?若有其人,耻之可也。若其未有,君亦图之。晋之事君,臣曰可矣:求诸侯而麇至;求昏而荐女,君亲送之,上卿及上大夫致之。犹欲耻之,君其亦有备矣。不然,奈何?韩起之下,赵成、中行吴、魏舒、范鞅、知盈;羊舌肸之下,祁午、张趯、籍谈、女齐、梁丙、张骼、辅跞、苗贲皇,皆诸侯之选也。韩襄为公族大夫,韩须受命而使矣。箕襄、邢带、叔禽、叔椒、子羽,皆大家也。韩赋七邑,皆成县也。羊舌四族,皆强家也。晋人若丧韩起、杨肸,五卿八大夫辅韩须、杨石,因其十家九县,长毂九百,其余四十县,遗守四千,奋其武怒,以报其大耻,伯华谋之,中行伯、魏舒帅之,其蔑不济矣。君将以亲易怨,实无礼以速寇,而未有其备,使群臣往遗之禽,以逞君心,何不可之有?”王曰:”不谷之过也,大夫无辱。”厚为韩子礼。王欲敖叔向以其所不知,而不能,亦厚其礼。
  韩起反,郑伯劳诸圉。辞不敢见,礼也。
  郑罕虎如齐,娶于子尾氏。晏子骤见之,陈桓子问其故,对曰:”能用善人,民之主也。”
  夏,莒牟夷以牟娄及防兹来奔。牟夷非卿而书,尊地也。莒人愬于晋。晋侯欲止公,范献子曰:”不可。人朝而执之,诱也。讨不以师,而诱以成之,惰也。为盟主而犯此二者,无乃不可乎?请归之,间而以师讨焉。”乃归公。秋七月,公至自晋。
  莒人来讨,不设备。戊辰,叔弓败诸分泉,莒未陈也。
  冬十月,楚子以诸侯及东夷伐吴,以报棘、栎、麻之役。薳射以繁扬之师,会于夏汭。越大夫常寿过帅师会楚子于琐。闻吴师出,薳启强帅师従之,遽不设备,吴人败诸鹊岸。
  楚子以驲至于罗汭。吴子使其弟蹶由犒师,楚人执之,将以衅鼓。王使问焉,曰:”女卜来吉乎?”对曰:”吉。寡君闻君将治兵于敝邑,卜之以守龟,曰:’余亟使人犒师,请行以观王怒之疾徐,而为之备,尚克知之。’龟兆告吉,曰:’克可知也。’君若欢焉,好逆使臣,滋邑休殆,而忘其死,亡无日矣。今君奋焉,震电冯怒,虐执使臣,将以衅鼓,则吴知所备矣。敝邑虽羸,若早修完,其可以息师。难易有备,可谓吉矣。且吴社稷是卜,岂为一人?使臣获衅军鼓,而敝邑知备,以御不虞,其为吉孰大焉?国之守龟,其何事不卜?一臧一否,其谁能常之?城濮之兆,其报在邲。今此行也,其庸有报志?”乃弗杀。
  楚师济于罗汭,沈尹赤会楚子,次于莱山。薳射帅繁扬之师,先入南怀,楚师従之。及汝清,吴不可入。楚子遂观兵于坻箕之山。是行也,吴早设备,楚无功而还,以蹶由归。楚子惧吴,使沈尹射待命于巢。薳启强待命于雩娄。礼也。
  秦后子复归于秦,景公卒故也。
  ◎ 昭公六年
  【经】六年春王正月,杞伯益姑卒。葬秦景公。夏,季孙宿如晋。葬杞文公。宋华合比出奔卫。秋九月,大雩。楚薳罢帅师伐吴。冬,叔弓如楚。齐侯伐北燕。
  【传】六年春,王正月,杞文公卒,吊如同盟,礼也。大夫如秦,葬景公,礼也。
  三月,郑人铸刑书。叔向使诒子产书,曰:”始吾有虞于子,今则已矣。昔先王议事以制,不为刑辟,惧民之有争心也。犹不可禁御,是故闲之以义,纠之以政,行之以礼,守之以信,奉之以仁,制为禄位以劝其従,严断刑罚以威其淫。惧其未也,故诲之以忠,耸之以行,教之以务,使之以和,临之以敬,莅之以强,断之以刚。犹求圣哲之上,明察之官,忠信之长,慈惠之师,民于是乎可任使也,而不生祸乱。民知有辟,则不忌于上,并有争心,以征于书,而徼幸以成之,弗可为矣。夏有乱政而作《禹刑》,商有乱政而作《汤刑》,周有乱政而作《九刑》,三辟之兴,皆叔世也。今吾子相郑国,作封洫,立谤政,制参辟,铸刑书,将以靖民,不亦难乎?《诗》曰:’仪式刑文王之德,日靖四方。’又曰:’仪刑文王,万邦作孚。’如是,何辟之有?民知争端矣,将弃礼而征于书。锥刀之末,将尽争之。乱狱滋丰,贿赂并行,终子之世,郑其败乎!肸闻之,国将亡,必多制,其此之谓乎!”复书曰:”若吾子之言,侨不才,不能及子孙,吾以救世也。既不承命,敢忘大惠?”
  士文伯曰:”火见,郑其火乎?火未出而作火以铸刑器,藏争辟焉。火如象之,不火何为?”
  夏,季孙宿如晋,拜莒田也。晋侯享之,有加笾。武子退,使行人告曰:”小国之事大国也,苟免于讨,不敢求贶。得贶不过三献。今豆有加,下臣弗堪,无乃戾也。”韩宣子曰:”寡君以为欢也。”对曰:”寡君犹未敢,况下臣,君之隶也,敢闻加贶?”固请彻加而后卒事。晋人以为知礼,重其好货。
  宋寺人柳有宠,大子佐恶之。华合比曰:”我杀之。”柳闻之,乃坎、用牲、埋书,而告公曰:”合比将纳亡人之族,既盟于北郭矣。”公使视之,有焉,遂逐华合比,合比奔卫。于是华亥欲代右师,乃与寺人柳比,従为之征,曰”闻之久矣。”公使代之,见于左师,左师曰:”女夫也。必亡!女丧而宗室,于人何有?人亦于女何有?《诗》曰:’宗子维城,毋俾城坏,毋独斯畏。’女其畏哉!”
  六月丙戌,郑灾。
  楚公子弃疾如晋,报韩子也。过郑,郑罕虎、公孙侨、游吉従郑伯以劳诸柤。辞不敢见,固请见之,见,如见王,以其乘马八匹私面。见子皮如上卿,以马六匹。见子产,以马四匹。见子大叔,以马二匹。禁刍牧采樵,不入田,不樵树,不采刈,不抽屋,不强丐。誓曰:”有犯命者,君子废,小人降。”舍不为暴,主不慁宾。往来如是。郑三卿皆知其将为王也。
  韩宣子之适楚也,楚人弗逆。公子弃疾及晋竟,晋侯将亦弗逆。叔向曰:”楚辟我衷,若何效辟?《诗》曰:’尔之教矣,民胥效矣。’従我而已,焉用效人之辟?《书》曰:’圣作则。’无宁以善人为则,而则人之辟乎?匹夫为善,民犹则之,况国君乎?”晋侯说,乃逆之。
  秋九月,大雩,旱也。
  徐仪楚聘于楚。楚子执之,逃归。惧其叛也,使薳泄伐徐。吴人救之。令尹子荡帅师伐吴,师于豫章,而次于乾溪。吴人败其师于房钟,获宫厩尹弃疾。子荡归罪于薳泄而杀之。
  冬,叔弓如楚聘,且吊败也。
  十一月,齐侯如晋,请伐北燕也。士匄相士鞅,逆诸河,礼也。晋侯许之。十二月,齐侯遂伐北燕,将纳简公。晏子曰:”不入。燕有君矣,民不贰。吾君贿,左右谄谀,作大事不以信,未尝可也。”
  ◎ 昭公七年
  【经】七年春王正月,暨齐平。三月,公如楚。叔孙婼如齐莅盟。夏四月甲辰朔,日有食之。秋八月戊辰,卫侯恶卒。九月,公至自楚。冬十有一月癸未,季孙宿卒。十有二月癸亥,葬卫襄公。
  【传】七年春,王正月,暨齐平,齐求之也。癸巳,齐侯次于虢。燕人行成,曰:”敝邑知罪,敢不听命?先君之敝器,请以谢罪。”公孙皙曰:”受服而退,俟衅而动,可也。”二月戊午,盟于濡上。燕人归燕姬,赂以瑶瓮、玉椟、斗耳,不克而还。
  楚子之为令尹也,为王旌以田。芋尹无宇断之,曰:”一国两君,其谁堪之?”及即位,为章华之宫,纳亡人以实之。无宇之阍入焉。无宇执之,有司弗与,曰:”执人于王宫,其罪大矣。”执而谒诸王。王将饮酒,无宇辞曰:”天子经略,诸侯正封,古之制也。封略之内,何非君土?食土之毛,谁非君臣?故《诗》曰:’普天之下,莫非王土。率土之滨,莫非王臣。’天有十日,人有十等,下所以事上,上所以共神也。故王臣公,公臣大夫,大夫臣士,士臣皂,皂臣舆,舆臣隶,隶臣僚,僚臣仆,仆臣台。马有圉,牛有牧,以待百事。今有司曰:’女胡执人于王宫?’将焉执之?周文王之法曰:’有亡,荒阅’,所以得天下也。吾先君文王,作仆区之法,曰:’盗所隐器,与盗同罪’,所以封汝也。若従有司,是无所执逃臣也。逃而舍之,是无陪台也。王事无乃阙乎?昔武王数纣之罪,以告诸侯曰:’纣为天下逋逃主,萃渊薮’,故夫致死焉。君王始求诸侯而则纣,无乃不可乎?若以二文之法取之,盗有所在矣。”王曰:”取而臣以往,盗有宠,未可得也。”遂赦之。
  楚子成章华之台,愿与诸侯落之。大宰薳启强曰:”臣能得鲁侯。”薳启强来召公,辞曰:”昔先君成公,命我先大夫婴齐曰:’吾不忘先君之好,将使衡父照临楚国,镇抚其社稷,以辑宁尔民’。婴齐受命于蜀,奉承以来,弗敢失陨,而致诸宗祧。日我先君共王,引领北望,日月以冀。传序相授,于今四王矣。嘉惠未至,唯襄公之辱临我丧。孤与其二三臣,悼心失图,社稷之不皇,况能怀思君德!今君若步玉趾,辱见寡君,宠灵楚国,以信蜀之役,致君之嘉惠,是寡君既受贶矣,何蜀之敢望?其先君鬼神,实嘉赖之,岂唯寡君?君若不来,使臣请问行期,寡君将承质币而见于蜀,以请先君之贶。”
  公将往,梦襄公祖。梓慎曰:”君不果行。襄公之适楚也,梦周公祖而行。今襄公实祖,君其不行。”子服惠伯曰:”行。先君未尝适楚,故周公祖以道之。襄公适楚矣,而祖以道君,不行,何之?”
  三月,公如楚,郑伯劳于师之梁。孟僖子为介,不能相仪。及楚,不能答郊劳。
  夏四月甲辰朔,日有食之。晋侯问于士文伯曰:”谁将当日食?”对曰:”鲁、卫恶之,卫大鲁小。”公曰:”何故?”对曰:”去卫地,如鲁地。于是有灾,鲁实受之。其大咎,其卫君乎?鲁将上卿。”公曰:”《诗》所谓’彼日而食,于何不臧’者,何也?”对曰:”不善政之谓也。国无政,不用善,则自取谪于日月之灾,故政不可不慎也。务三而已,一曰择人,二曰因民,三曰従时。”
  晋人来治杞田,季孙将以成与之。谢息为孟孙守,不可。曰:”人有言曰:’虽有挈瓶之知,守不假器,礼也’。夫子従君,而守臣丧邑,虽吾子亦有猜焉。”季孙曰:”君之在楚,于晋罪也。又不听晋,鲁罪重矣。晋师必至,吾无以待之,不如与之,间晋而取诸杞。吾与子桃,成反,谁敢有之?是得二成也。鲁无忧而孟孙益邑,子何病焉?”辞以无山,与之莱、柞,乃迁于桃。晋人为杞取成。
  楚子享公于新台,使长鬣者相,好以大屈。既而悔之。薳启强闻之,见公。公语之,拜贺。公曰:”何贺?对曰:”齐与晋、越欲此久矣。寡君无适与也,而传诸君,君其备御三邻。慎守宝矣,敢不贺乎?”公惧,乃反之。
  郑子产聘于晋。晋侯疾,韩宣子逆客,私焉,曰:”寡君寝疾,于今三月矣,并走群望,有加而无瘳。今梦黄熊入于寝门,其何厉鬼也?”对曰:”以君之明,子为大政,其何厉之有?昔尧殛鲧于羽山,其神化为黄熊,以入于羽渊,实为夏郊,三代祀之。晋为盟主,其或者未之祀也乎?”韩子祀夏郊,晋侯有间,赐子产莒之二方鼎。
  子产为丰施归州田于韩宣子,曰:”日君以夫公孙段为能任其事,而赐之州田,今无禄早世,不获久享君德。其子弗敢有,不敢以闻于君,私致诸子。”宣子辞。子产曰:”古人有言曰:’其父析薪,其子弗克负荷’。施将惧不能任其先人之禄,其况能任大国之赐?纵吾子为政而可,后之人若属有疆场之言,敝邑获戾,而丰氏受其大讨。吾子取州,是免敝邑于戾,而建置丰氏也。敢以为请。”宣子受之,以告晋侯。晋侯以与宣子。宣子为初言,病有之,以易原县于乐大心。
  郑人相惊以伯有,曰”伯有至矣”,则皆走,不知所往。铸刑书之岁二月,或梦伯有介而行,曰:”壬子,余将杀带也。明年壬寅,余又将杀段也。”及壬子,驷带卒,国人益惧。齐、燕平之月壬寅,公孙段卒。国人愈惧。其明月,子产立公孙泄及良止以抚之,乃止。子大叔问其故,子产曰:”鬼有所归,乃不为厉,吾为之归也。”大叔曰:”公孙泄何为?”子产曰:”说也。为身无义而图说,従政有所反之,以取媚也。不媚,不信。不信,民不従也。”
  及子产适晋,赵景子问焉,曰:”伯有犹能为鬼乎?”子产曰:”能。人生始化曰魄,既生魄,阳曰魂。用物精多,则魂魄强。是以有精爽,至于神明。匹夫匹妇强死,其魂魄犹能冯依于人,以为淫厉,况良霄,我先君穆公之胄,子良之孙,子耳之子,敝邑之卿,従政三世矣。郑虽无腆,抑谚曰’蕞尔国’,而三世执其政柄,其用物也弘矣,其取精也多矣。其族又大,所冯厚矣。而强死,能为鬼,不亦宜乎?”
  子皮之族饮酒无度,故马师氏与子皮氏有恶。齐师还自燕之月,罕朔杀罕魋。罕朔奔晋。韩宣子问其位于子产。子产曰:”君之羁臣,苟得容以逃死,何位之敢择?卿违,従大夫之位,罪人以其罪降,古之制也。朔于敝邑,亚大夫也,其官,马师也。获戾而逃,唯执政所置之。得免其死,为惠大矣,又敢求位?”宣子为子产之敏也,使従嬖大夫。
  秋八月,卫襄公卒。晋大夫言于范献子曰:”卫事晋为睦,晋不礼焉,庇其贼人而取其地,故诸侯贰。《诗》曰:’即鸰在原,兄弟急难。’又曰:’死丧之威,兄弟孔怀。’兄弟之不睦,于是乎不吊,况远人,谁敢归之?今又不礼于卫之嗣,卫必叛我,是绝诸侯也。”献子以告韩宣子。宣子说,使献子如卫吊,且反戚田。
  卫齐恶告丧于周,且请命。王使臣简公如卫吊,且追命襄公曰:”叔父陟恪,在我先王之左右,以佐事上帝。余敢高圉、亚圉?”
  九月,公至自楚。孟僖子病不能相礼,乃讲学之,苟能礼者従之。及其将死也,召其大夫曰:”礼,人之干也。无礼,无以立。吾闻将有达者曰孔丘,圣人之后也,而灭于宋。其祖弗父何,以有宋而授厉公。及正考父,佐戴、武、宣,三命兹益共。故其鼎铭云:’一命而偻,再命而伛,三命而俯。循墙而走,亦莫余敢侮。饘是,鬻于是,以糊余口。’其共也如是。臧孙纥有言曰:’圣人有明德者,若不当世,其后必有达人。’今其将在孔丘乎?我若获没,必属说与何忌于夫子,使事之,而学礼焉,以定其位。”故孟懿子与南宫敬叔师事仲尼。仲尼曰:”能补过者,君子也。《诗》曰:’君子是则是效。’孟僖子可则效已矣。”
  单献公弃亲用羁。冬十月辛酉,襄、顷之族杀献公而立成公。
  十一月,季武子卒。晋侯谓伯瑕曰:”吾所问日食,従矣,可常乎?”对曰:”不可。六物不同,民心不一,事序不类,官职不则,同始异终,胡可常也?《诗》曰:’或燕燕居息,或憔悴事国。’其异终也如是。”公曰:”何谓六物?”对曰:”岁、时、日、月、星、辰,是谓也。”公曰:”多语寡人辰,而莫同。何谓辰?”对曰:”日月之会,是谓辰,故以配日。”
  卫襄公夫人姜氏无子,嬖人婤姶生孟絷。孔成子梦康叔谓己:”立元,余使羁之孙圉与史苟相之。”史朝亦梦康叔谓己:”余将命而子苟与孔烝锄之曾孙圉相元。”史朝见成子,告之梦,梦协。晋韩宣子为政聘于诸侯之岁,婤姶生子,名之曰元。孟絷之足不良,能行。孔成子以《周易》筮之,曰:”元尚享卫国主其社稷。”遇《屯》三。又曰:”余尚立絷,尚克嘉之。”遇《屯》三之《比三。以示史朝。史朝曰:’元亨’,又何疑焉?”成子曰:”非长之谓乎?”对曰:”康叔名之,可谓长矣。孟非人也,将不列于宗,不可谓长。且其繇曰’利建侯’。嗣吉,何建?建非嗣也。二卦皆云,子其建之。康叔命之,二筮袭于梦,武王所用也,弗従何为?弱足者居,侯主社稷,临祭祀,奉民人,事民人,鬼神,従会朝,又焉得居?各以所利,不亦可乎?”故孔成子立灵公。十二月癸亥,葬卫襄公。
  ◎ 昭公八年
  【经】八年春,陈侯之弟招杀陈世子偃师,夏四月辛丑,陈侯溺卒。叔弓如晋。楚人执陈行人干征师杀之。陈公子留出奔郑。秋,蒐于红。陈人杀其大夫公子过。大雩,冬十月壬午,楚师灭陈。执陈公子招,放之于越。杀陈孔奂。葬陈哀公。
  【传】八年春,石言于晋魏榆。晋侯问于师旷曰:”石何故言?”对曰:”石不能言,或冯焉。不然,民听滥也。抑臣又闻之曰:’作事不时,怨讟动于民,则有非言之物而言。’今宫室崇侈,民力凋尽,怨讟并作,莫保其性。石言,不亦宜乎?”于是晋侯方筑虒祁之宫。叔向曰:”子野之言,君子哉!君子之言,信而有征,故怨远于其身。小人之言,僭而无征,故怨咎及之。《诗》曰:’哀哉不能言,匪舌是出,唯躬是瘁。哿矣能言,巧言如流,俾躬处休。’其是之谓乎?是宫也成,诸侯必叛,君必有咎,夫子知之矣。”
  陈哀公元妃郑姬,生悼大子偃师,二妃生公子留,下妃生公子胜。二妃嬖,留有宠,属诸徒招与公子过。哀公有废疾。三月甲申,公子招、公子过杀悼大子偃师,而立公子留。
  夏四月辛亥,哀公缢。干征师赴于楚,且告有立君。公子胜愬之于楚,楚人执而杀之。公子留奔郑。书曰”陈侯之弟招杀陈世子偃师”,罪在招也;”楚人执陈行人干征师杀之”,罪不在行人也。
  叔弓如晋,贺虒祁也。游吉相郑伯以如晋,亦贺虒祁也。史赵见子大叔,曰:”甚哉,其相蒙也!可吊也,而又贺之?”子大叔曰:”若何吊也?其非唯我贺,将天下实贺。”
  秋,大蒐于红,自根牟至于商、卫,革车千乘。
  七月甲戌,齐子尾卒,子旗欲治其室。丁丑,杀梁婴。八月庚戌,逐子成、子工、子车,皆来奔,而立子良氏之宰。其臣曰:”孺子长矣,而相吾室,欲兼我也。”授甲,将攻之。陈桓子善于子尾,亦授甲,将助之。或告子旗,子旗不信。则数人告。将往,又数人告于道,遂如陈氏。桓子将出矣,闻之而还,游服而逆之。请命,对曰:”闻强氏授甲将攻子,子闻诸?”曰:”弗闻。””子盍亦授甲?无宇请従。”子旗曰:”子胡然?彼孺子也,吾诲之犹惧其不济,吾又宠秩之。其若先人何?子盍谓之?《周书》曰:’惠不惠,茂不茂。’康叔所以服弘大也。”桓子稽颡曰:”顷、灵福子,吾犹有望。”遂和之如初。
  陈公子招归罪于公子过而杀之。九月,楚公子弃疾帅师奉孙吴围陈,宋戴恶会之。冬十一月壬午,灭陈。舆嬖袁克,杀马毁玉以葬。楚人将杀之,请置之。既又请私,私于幄,加绖于颡而逃。使穿封戌为陈公,曰:”城麇之役,不谄。”侍饮酒于王,王曰:”城麇之役,女知寡人之及此,女其辟寡人乎?”对曰:”若知君之及此,臣必致死礼,以息楚。”晋侯问于史赵,曰:”陈其遂亡乎?”对曰:”未也。”公曰:”何故?”对曰:”陈,颛顼之族也。岁在鹑火,是以卒灭,陈将如之。今在析木之津,犹将复由。且陈氏得政于齐而后陈卒亡。自幕至于瞽瞍,无违命。舜重之以明德,置德于遂,遂世守之。及胡公不淫,胡周赐之姓,使祀虞帝。臣闻盛德必百世祀,虞之世数未也。继守将在齐,其兆既存矣。”
  ◎ 昭公九年
  【经】九年春,叔弓会楚子于陈。许迁于夷。夏四月,陈灾。秋,仲孙玃如齐。冬,筑郎囿。
  【传】九年春,叔弓、宋华亥、郑游吉、卫赵黡会楚子于陈。
  二月庚申,楚公子弃疾迁许于夷,实城父,取州来淮北之田以益之。伍举授许男田。然丹迁城父人于陈,以夷濮西田益之。迁方城外人于许。
  周甘人与晋阎嘉争阎田。晋梁丙、张趯率阴戎伐颍。王使詹桓伯辞于晋曰:”我自夏以后稷,魏、骀、芮、岐、毕,吾西土也。及武王克商,蒲姑、商奄,吾东土也;巴、濮、楚、邓,吾南土也;肃慎、燕、亳,吾北土也。吾何迩封之有?文、武、成、康之建母弟,以蕃屏周,亦其废队是为,岂如弁髦而因以敝之?先王居檮杌于四裔,以御螭魅,故允姓之奸,居于瓜州,伯父惠公归自秦,而诱以来,使逼我诸姬,入我郊甸,则戎焉取之。戎有中国,谁之咎也?后稷封殖天下,今戎制之,不亦难乎?伯父图之。我在伯父,犹衣服之有冠冕,木水之有本原,民人之有谋主也。伯父若裂冠毁冕,拔本塞原,专弃谋主,虽戎狄其何有余一人?”叔向谓宣子曰:”文之伯也,岂能改物?翼戴天子而加之以共。自文以来,世有衰德而暴灭宗周,以宣示其侈,诸侯之贰,不亦宜乎?且王辞直,子其图之。”宣子说。
  王有姻丧,使赵成如周吊,且致阎田与襚,反颍俘。王亦使宾滑执甘大夫襄以说于晋,晋人礼而归之。
  夏四月,陈灾。郑裨灶曰:”五年,陈将复封。封五十二年而遂亡。”子产问其故,对曰:”陈,水属也,火,水妃也,而楚所相也。今火出而火陈,逐楚而建陈也。妃以五成,故曰五年。岁五及鹑火,而后陈卒亡,楚克有之,天之道也,故曰五十二年。”
  晋荀盈如齐逆女,还,六月,卒于戏阳。殡于绛,未葬。晋侯饮酒,乐。膳宰屠蒯趋入,请佐公使尊,许之。而遂酌以饮工,曰:”女为君耳,将司聪也。辰在子卯,谓之疾日。君彻宴乐,学人舍业,为疾故也。君之卿佐,是谓股肱。股肱或亏,何痛如之?女弗闻而乐,是不聪也。”又饮外嬖嬖叔曰:”女为君目,将司明也。服以旌礼,礼以行事,事有其物,物有其容。今君之容,非其物也,而女不见。是不明也。”亦自饮也,曰:”味以行气,气以实志,志以定言,言以出令。臣实司味,二御失官,而君弗命,臣之罪也。”公说,彻酒。
  初,公欲废知氏而立其外嬖,为是悛而止。秋八月,使荀跞佐下军以说焉。
  孟僖子如齐殷聘,礼也。
  冬,筑郎囿,书,时也。季平子欲其速成也,叔孙昭子曰:”《诗》曰:’经始勿亟,庶民子来。’焉用速成?其以剿民也?无囿犹可,无民其可乎?”
  ◎ 昭公十年
  【经】十年春王正月。夏,齐栾施来奔。秋七月,季孙意如、叔弓、仲孙玃帅师伐莒。戊子,晋侯彪卒。九月,叔孙婼如晋,葬晋平公。十有二月甲子,宋公成卒。
  【传】十年春,王正月,有星出于婺女。郑裨灶言于子产曰:”七月戊子,晋君将死。今兹岁在颛顼之虚,姜氏、任氏实守其地。居其维首,而有妖星焉,告邑姜也。邑姜,晋之妣也。天以七纪。戊子,逢公以登,星斯于是乎出。吾是以讥之。”
  齐惠栾、高氏皆耆酒,信内多怨,强于陈、鲍氏而恶之。
  夏,有告陈桓子曰:”子旗、子良将攻陈、鲍。”亦告鲍氏。桓子授甲而如鲍氏,遭子良醉而骋,遂见文子,则亦授甲矣。使视二子,则皆従饮酒。桓子曰:”彼虽不信,闻我授甲,则必逐我。及其饮酒也,先伐诸?”陈、鲍方睦,遂伐栾、高氏。子良曰:”先得公,陈、鲍焉往?”遂伐虎门。
  晏平仲端委立于虎门之外,四族召之,无所往。其徒曰:”助陈、鲍乎?”曰:”何善焉?””助栾、高乎?”曰:”庸愈乎?””然则归乎?”曰:”君伐,焉归?”公召之而后入。公卜使王黑以灵姑钅ぶ率,吉,请断三尺焉而用之。五月庚辰,战于稷,栾、高败,又败诸庄。国人追之,又败诸鹿门。栾施、高强来奔。陈、鲍分其室。
  晏子谓桓子:”必致诸公。让,德之主也,谓懿德。凡有血气,皆有争心,故利不可强,思义为愈。义,利之本也,蕴利生孽。姑使无蕴乎!可以滋长。”桓子尽致诸公,而请老于莒。
  桓子召子山,私具幄幕、器用、従者之衣屦,而反棘焉。子商亦如之,而反其邑。子周亦如之,而与之夫于。反子城、子公、公孙捷,而皆益其禄。凡公子、公孙之无禄者,私分之邑。国之贫约孤寡者,私与之粟。曰:”《诗》云:’陈锡载周’,能施也,桓公是以霸。”
  公与桓子莒之旁邑,辞。穆孟姬为之请高唐,陈氏始大。秋七月,平子伐莒,取郠,献俘,始用人于亳社。臧武仲在齐,闻之,曰:”周公其不飨鲁祭乎!周公飨义,鲁无义。《诗》曰:’德音孔昭,视民不佻。’佻之谓甚矣,而壹用之,将谁福哉?”
  戊子,晋平公卒。郑伯如晋,及河,晋人辞之。游吉遂如晋。九月,叔孙婼、齐国弱、宋华定、卫北宫喜、郑罕虎、许人、曹人、莒人、邾人、薛人、杞人、小邾人如晋,葬平公也。郑子皮将以币行。子产曰:”丧焉用币?用币必百两,百两必千人,千人至,将不行。不行,必尽用之。几千人而国不亡?”子皮固请以行。既葬,诸侯之大夫欲因见新君。叔孙昭子曰:”非礼也。”弗听。叔向辞之,曰:”大夫之事毕矣。而又命孤,孤斩焉在衰绖之中。其以嘉服见,则丧礼未毕。其以丧服见,是重受吊也。大夫将若之何?”皆无辞以见。子皮尽用其币,归,谓子羽曰:”非知之实难,将在行之。夫子知之矣,我则不足。《书》曰:’欲败度,纵败礼。’我之谓矣。夫子知度与礼矣,我实纵欲而不能自克也。”
  昭子至自晋,大夫皆见。高强见而退。昭子语诸大夫曰:”为人子,不可不慎也哉!昔庆封亡,子尾多受邑而稍致诸君,君以为忠而甚宠之。将死,疾于公宫,辇而归,君亲推之。其子不能任,是以在此。忠为令德,其子弗能任,罪犹及之,难不慎也?丧夫人之力,弃德旷宗,以及其身,不亦害乎?《诗》曰:’不自我先,不自我后。’其是之谓乎!”
  冬十二月,宋平公卒。初,元公恶寺人柳。欲杀之。及丧,柳炽炭于位,将至,则去之。比葬,又有宠。
  ◎ 昭公十一年
  【经】十有一年春王二月,叔弓如宋。葬宋平公。夏四月丁巳,楚子虔诱蔡侯般杀之于申。楚公子弃疾帅师围蔡。五月甲申,夫人归氏薨。大蒐于比蒲。仲孙玃会邾子,盟于祲祥。秋,季孙意如会晋韩起、齐国弱、宋华亥、卫北宫佗、郑罕虎、曹人、杞人于厥慭。九月己亥,葬我小君齐归。冬十有一月丁酉,楚师灭蔡,执蔡世子有以归,用之。
  【传】十一年春,王二月,叔弓如宋,葬平公也。
  景王问于苌弘曰:”今兹诸侯,何实吉?何实凶?”对曰:”蔡凶。此蔡侯般弑其君之岁也,岁在豕韦,弗过此矣。楚将有之,然壅也。岁及大梁,蔡复,楚凶,天之道也。”
  楚子在申,召蔡灵侯。灵侯将往,蔡大夫曰:”王贪而无信,唯蔡于感,今币重而言甘,诱我也,不如无往。”蔡侯不可。五月丙申,楚子伏甲而飨蔡侯于申,醉而执之。夏四月丁巳,杀之,刑其士七十人。公子弃疾帅师围蔡。
  韩宣子问于叔向曰:”楚其克乎?”对曰:”克哉!蔡侯获罪于其君,而不能其民,天将假手于楚以毙之,何故不克?然肸闻之,不信以幸,不可再也。楚王奉孙吴以讨于陈,曰:’将定而国。’陈人听命,而遂县之。今又诱蔡而杀其君,以围其国,虽幸而克,必受其咎,弗能久矣。桀克有緍以丧其国,纣克东夷而陨其身。楚小位下,而亟暴于二王,能无咎乎?天之假助不善,非祚之也,厚其凶恶而降之罚也。且譬之如天,其有五材而将用之,力尽而敝之,是以无拯,大可没振。”
  五月,齐归薨,大蒐于比蒲,非礼也。
  孟僖子会邾庄公,盟于祲祥,修好,礼也。泉丘人有女梦以其帷幕孟氏之庙,遂奔僖子,其僚従之。盟于清丘之社,曰:”有子,无相弃也。”僖子使助薳氏之簉。反自祲祥,宿于薳氏,生懿子及南宫敬叔于泉丘人。其僚无子,使字敬叔。
  楚师在蔡,晋荀吴谓韩宣子曰:”不能救陈,又不能救蔡,物以无亲,晋之不能,亦可知也已!为盟主而不恤亡国,将焉用之?”
  秋,会于厥慭,谋救蔡也。郑子皮将行,子产曰:”行不远。不能救蔡也。蔡小而不顺,楚大而不德,天将弃蔡以壅楚,盈而罚之。蔡必亡矣,且丧君而能守者,鲜矣。三年,王其有咎乎!美恶周必复,王恶周矣。”晋人使狐父请蔡于楚,弗许。
  单子会韩宣子于戚,视下言徐。叔向曰:”单子其将死乎!朝有著定,会有表,衣有禬带有结。会朝之言,必闻于表著之位,所以昭事序也。视不过结、禬之中,所以道容貌也。言以命之,容貌以明之,失则有阙。今单子为王官伯,而命事于会,视不登带,言不过步,貌不道容,而言不昭矣。不道,不共;不昭,不従。无守气矣。”
  九月,葬齐归,公不戚。晋士之送葬者,归以语史赵。史赵曰:”必为鲁郊。”侍者曰:”何故?”曰:”归姓也,不思亲,祖不归也。”叔向曰:”鲁公室其卑乎?君有大丧,国不废蒐。有三年之丧,而无一日之戚。国不恤丧,不忌君也。君无戚容,不顾亲也。国不忌君,君不顾亲,能无卑乎?殆其失国。”
  冬十一月,楚子灭蔡,用隐大子于冈山。申无宇曰:”不祥。五牲不相为用,况用诸侯乎?王必悔之。”
  十二月,单成公卒。
  楚子城陈、蔡、不羹。使弃疾为蔡公。王问于申无宇曰:”弃疾在蔡,何如?”对曰:”择子莫如父,择臣莫如君。郑庄公城栎而置子元焉,使昭公不立。齐桓公城谷而置管仲焉,至于今赖之。臣闻五大不在边,五细不在庭。亲不在外,羁不在内,今弃疾在外,郑丹在内。君其少戒。”王曰:”国有大城,何如?”对曰:”郑京、栎实杀曼伯,宋萧、亳实杀子游,齐渠丘实杀无知,卫蒲、戚实出献公,若由是观之,则害于国。末大必折,尾大不掉,君所知也。”
  ◎ 昭公十二年
  【经】十有二年春,齐高偃帅师纳北燕伯于阳。三月壬申,郑伯嘉卒。夏,宋公使华定来聘。公如晋,至河乃复。五月,葬郑简公。楚杀其大夫成熊。秋七月。冬十月,公子慭出奔齐。楚子伐徐。晋伐鲜虞。
  【传】十二年春,齐高偃纳北燕伯款于唐,因其众也。
  三月,郑简公卒,将为葬除。及游氏之庙,将毁焉。子大叔使其除徒执用以立,而无庸毁,曰:”子产过女,而问何故不毁,乃曰:’不忍庙也!诺,将毁矣!'”既如是,子产乃使辟之。司墓之室有当道者,毁之,则朝而塴;弗毁,则日中而塴。子大叔请毁之,曰:”无若诸侯之宾何!”子产曰:”诸侯之宾,能来会吾丧,岂惮日中?无损于宾,而民不害,何故不为?”遂弗毁,日中而葬。君子谓:”子产于是乎知礼。礼,无毁人以自成也。”
  夏,宋华定来聘,通嗣君也。享之,为赋《蓼萧》,弗知,又不答赋。昭子曰:”必亡。宴语之不怀,宠光之不宣,令德之不知,同福之不受,将何以在?”
  齐侯、卫侯、郑伯如晋,朝嗣君也。公如晋,至河乃复。取郠之役,莒人诉于晋,晋有平公之丧,未之治也,故辞公。公子慭遂如晋。晋侯享诸侯,子产相郑伯,辞于享,请免丧而后听命。晋人许之,礼也。晋侯以齐侯宴,中行穆子相。投壶,晋侯先。穆子曰:”有酒如淮,有肉如坻。寡君中此,为诸侯师。”中之。齐侯举矢,曰:”有酒如渑,有肉如陵。寡人中此,与君代兴。”亦中之。伯瑕谓穆子曰:”子失辞。吾固师诸侯矣,壶何为焉,其以中俊也?齐君弱吾君,归弗来矣!”穆子曰:”吾军帅强御,卒乘竞劝,今犹古也,齐将何事?”公孙傁趋进曰:”日旰君勤,可以出矣!”以齐侯出。
  楚子谓成虎若敖之余也,遂杀之。或谮成虎于楚子,成虎知之而不能行。书曰:”楚杀其大夫成虎。”怀宠也。
  六月,葬郑简公。
  晋荀吴伪会齐师者,假道于鲜虞,遂入昔阳。秋八月壬午,灭肥,以肥子绵皋归。
  周原伯绞虐其舆臣,使曹逃。冬十月壬申朔,原舆人逐绞而立公子跪寻,绞奔郊。
  甘简公无子,立其弟过。过将去成、景之族,成、景之族赂刘献公。丙申,杀甘悼公,而立成公之孙鳅。丁酉,杀献太子之傅庾皮之子过,杀瑕辛于市,及宫嬖绰、王孙没、刘州鸠、阴忌、老阳子。
  季平子立,而不礼于南蒯。南蒯谓子仲:”吾出季氏,而归其室于公。子更其位。我以费为公臣。”子仲许之。南蒯语叔仲穆子,且告之故。
  季悼子之卒也,叔孙昭子以再命为卿。及平子伐莒,克之,更受三命。叔仲子欲构二家,谓平子曰:”三命逾父兄,非礼也。”平子曰:”然。”故使昭子。昭子曰:”叔孙氏有家祸,杀适立庶,故婼也及此。若因祸以毙之,则闻命矣。若不废君命,则固有著矣。”昭子朝,而命吏曰:”婼将与季氏讼,书辞无颇。”季孙惧,而归罪于叔仲子。故叔仲小、南蒯、公子慭谋季氏。慭告公,而遂従公如晋。南蒯惧不克,以费叛如齐。子仲还,及卫,闻乱,逃介而先。及郊,闻费叛,遂奔齐。
  南蒯之将叛也,其乡人或知之,过之而叹,且言曰:”恤恤乎,湫乎,攸乎!深思而浅谋,迩身而远志,家臣而君图,有人矣哉”南蒯枚筮之,遇《坤》三之《比》三,曰:”黄裳元吉。”以为大吉也,示子服惠伯,曰:”即欲有事,何如?”惠伯曰:”吾尝学此矣,忠信之事则可,不然必败。外强内温,忠也。和以率贞,信也。故曰’黄裳元吉’。黄,中之色也。裳,下之饰也。元,善之长也。中不忠,不得其色。下不共,不得其饰。事不善,不得其极。外内倡和为忠,率事以信为共,供养三德为善,非此三者弗当。且夫《易》,不可以占险,将何事也?且可饰乎?中美能黄,上美为元,下美则裳,参成可筮。犹有阙也,筮虽吉,未也。”
  将适费,饮乡人酒。乡人或歌之曰:”我有圃,生之杞乎!従我者子乎,去我者鄙乎,倍其邻者耻乎!已乎已乎,非吾党之士乎!”
  平子欲使昭子逐叔仲小。小闻之,不敢朝。昭子命吏谓小待政于朝,曰:”吾不为怨府。”楚子狩于州来,次于颍尾,使荡侯、潘子、司马督、嚣尹午、陵尹喜帅师围徐以惧吴。楚子次于乾溪,以为之援。雨雪,王皮冠,秦复陶,翠被,豹舄,执鞭以出,仆析父従。右尹子革夕,王见之,去冠、被,舍鞭,与之语曰:”昔我先王熊绎,与吕级、王孙牟、燮父、禽父,并事康王,四国皆有分,我独无有。今吾使人于周,求鼎以为分,王其与我乎?”对曰:”与君王哉!昔我先王熊绎,辟在荆山,筚路蓝缕,以处草莽。跋涉山林,以事天子。唯是桃弧、棘矢,以共御王事。齐,王舅也。晋及鲁、卫,王母弟也。楚是以无分,而彼皆有。今周与四国服事君王,将唯命是従,岂其爱鼎?”王曰:”昔我皇祖伯父昆吾,旧许是宅。今郑人贪赖其田,而不我与。我若求之,其与我乎?”对曰:”与君王哉!周不爱鼎,郑敢爱田?”王曰:”昔诸侯远我而畏晋,今我大城陈、蔡、不羹,赋皆千乘,子与有劳焉。诸侯其畏我乎?”对曰:”畏君王哉!是四国者,专足畏也,又加之以楚,敢不畏君王哉!”
  工尹路请曰:”君王命剥圭以为钅戚铋,敢请命。”王入视之。析父谓子革:”吾子,楚国之望也!今与王言如响,国其若之何?”子革曰:”摩厉以须,王出,吾刃将斩矣。”王出,复语。左史倚相趋过。王曰:”是良史也,子善视之。是能读《三坟》、《五典》、《八索》、《九丘》。”对曰:”臣尝问焉。昔穆王欲肆其心,周行天下,将皆必有车辙马迹焉。祭公谋父作《祈招》之诗,以止王心,王是以获没于祗宫。臣问其诗而不知也。若问远焉,其焉能知之?”王曰:”子能乎?”对曰:”能。其诗曰:’祈招之愔愔,式昭德音。思我王度,式如玉,式如金。形民之力,而无醉饱之心。'”王揖而入,馈不食,寝不寐,数日,不能自克,以及于难。
  仲尼曰:”古也有志:’克己复礼,仁也’。信善哉!楚灵王若能如是,岂其辱于乾溪?”
  晋伐鲜虞,因肥之役也。
  ◎ 昭公十三年
  【经】十有三年春,叔弓帅师围费。夏四月,楚公子比自晋归于楚,杀其君虔于乾溪。楚公子弃疾杀公子比。秋,公会刘子、晋侯、宋公、卫侯、郑伯、曹伯、莒子、邾子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子于平丘。八月甲戌,同盟于平丘。公不与盟。晋人执季孙意如以归。公至自会。蔡侯庐归于蔡。陈侯吴归于陈。冬十月,葬蔡灵公。公如晋,至河乃复。吴灭州来。
  【传】十三年春,叔弓围费,弗克,败焉。平子怒,令见费人执之以为囚俘。冶区夫曰:”非也。若见费人,寒者衣之,饥者食之,为之令主,而共其乏困。费来如归,南氏亡矣,民将叛之,谁与居邑?若惮之以威,惧之以怒,民疾而叛,为之聚也。若诸侯皆然,费人无归,不亲南氏,将焉入矣?”平子従之,费人叛南氏。
  楚子之为令尹也,杀大司马薳掩而取其室。及即位,夺薳居田;迁许而质许围。蔡洧有宠于王,王之灭蔡也,其父死焉,王使与於守而行。申之会,越大夫戮焉。王夺斗韦龟中犨,又夺成然邑而使为郊尹。蔓成然故事蔡公,故薳氏之族及薳居、许围、蔡洧、蔓成然,皆王所不礼也。因群丧职之族,启越大夫常寿过作乱,围固城,克息舟,城而居之。
  观起之死也,其子従在蔡,事朝吴,曰:”今不封蔡,蔡不封矣。我请试之。”以蔡公之命召子干、子皙,及郊,而告之情,强与之盟,入袭蔡。蔡公将食,见之而逃。观従使子干食,坎,用牲,加书,而速行。己徇于蔡曰:”蔡公召二子,将纳之,与之盟而遣之矣,将师而従之。”蔡人聚,将执之。辞曰:”失贼成军,而杀余,何益?”乃释之。朝吴曰:”二三子若能死亡,则如违之,以待所济。若求安定,则如与之,以济所欲。且违上,何适而可?”众曰:”与之。”乃奉蔡公,召二子而盟于邓,依陈、蔡人以国。楚公子比、公子黑肱、公子弃疾、蔓成然、蔡朝吴帅陈、蔡、不羹、许、叶之师,因四族之徒,以入楚。及郊,陈、蔡欲为名,故请为武军。蔡公知之曰:”欲速。且役病矣,请藩而已。”乃藩为军。蔡公使须务牟与史卑先入,因正仆人杀大子禄及公子罢敌。公子比为王,公子黑肱为令尹,次于鱼陂。公子弃疾为司马,先除王宫。使观従従师于乾溪,而遂告之,且曰:”先归复所,后者劓。”师及訾梁而溃。
  王闻群公子之死也,自投于车下,曰:”人之爱其子也,亦如余乎?”侍者曰:”甚焉。小人老而无子,知挤于沟壑矣。”王曰:”余杀人子多矣,能无及此乎?”右尹子革曰:”请待于郊,以听国人。”王曰:”众怒不可犯也。”曰:”若入于大都而乞师于诸侯。”王曰:”皆叛矣。”曰:”若亡于诸侯,以听大国之图君也。”王曰:”大福不再,只取辱焉。”然丹乃归于楚。王沿夏,将欲入鄢。芋尹无宇之子申亥曰:”吾父再奸王命,王弗诛,惠孰大焉?君不可忍,惠不可弃,吾其従王。”乃求王,遇诸棘围以归。夏五月癸亥,王缢于芋尹申亥氏。申亥以其二女殉而葬之。
  观従谓子干曰:”不杀弃疾,虽得国,犹受祸也。”子干曰:”余不忍也。”子玉曰:”人将忍子,吾不忍俟也。”乃行。国每夜骇曰:”王入矣!”乙卯夜,弃疾使周走而呼曰:”王至矣!”国人大惊。使蔓成然走告子干、子皙曰:”王至矣!国人杀君司马,将来矣!君若早自图也,可以无辱。众怒如水火焉,不可为谋。”又有呼而走至者曰:”众至矣!”二子皆自杀。丙辰,弃疾即位,名曰熊居。葬子干于訾,实訾敖。杀囚,衣之王服而流诸汉,乃取而葬之,以靖国人。使子旗为令尹。
  楚师还自徐,吴人败诸豫章,获其五帅。
  平王封陈、蔡,复迁邑,致群赂,施舍宽民,宥罪举职。召观従,王曰:”唯尔所欲。”对曰:”臣之先,佐开卜。”乃使为卜尹。使枝如子躬聘于郑,且致犨、栎之田。事毕,弗致。郑人请曰:”闻诸道路,将命寡君以犨、栎,敢请命。”对曰:”臣未闻命。”既复,王问犨、栎。降服而对,曰:”臣过失命,未之致也。”王执其手,曰:”子毋勤。姑归,不谷有事,其告子也。”他年芋尹申亥以王柩告,乃改葬之。
  初,灵王卜,曰:”余尚得天下。”不吉,投龟,诟天而呼曰:”是区区者而不余畀,余必自取之。”民患王之无厌也,故従乱如归。
  初,共王无冢适,有宠子五人,无适立焉。乃大有事于群望,而祈曰:”请神择于五人者,使主社稷。”乃遍以璧见于群望,曰:”当璧而拜者,神所立也,谁敢违之?”既,乃与巴姬密埋璧于大室之庭,使五人齐,而长入拜。康王跨之,灵王肘加焉,子干、子皙皆远之。平王弱,抱而入,再拜,皆厌纽。斗韦龟属成然焉,且曰:”弃礼违命,楚其危哉!”
  子干归,韩宣子问于叔向曰:”子干其济乎?”对曰:”难。”宣子曰:”同恶相求,如市贾焉,何难?”对曰:”无与同好,谁与同恶?取国有五难:有宠而无人,一也;有人而无主,二也;有主而无谋,三也;有谋而无民,四也;有民而无德,五也。子干在晋十三年矣,晋、楚之従,不闻达者,可谓无人。族尽亲叛,可谓无主。无衅而动,可谓无谋。为羁终世,可谓无民。亡无爱征,可谓无德。王虐而不忌,楚君子干,涉五难以弑旧君,谁能济之?有楚国者,其弃疾乎!君陈、蔡,城外属焉。苛慝不作,盗贼伏隐,私欲不违,民无怨心。先神命之。国民信之,羋姓有乱,必季实立,楚之常也。获神,一也;有民,二也;令德,三也;宠贵,四也;居常,五也。有五利以去五难,谁能害之?子干之官,则右尹也。数其贵宠,则庶子也。以神所命,则又远之。其贵亡矣,其宠弃矣,民无怀焉,国无与焉,将何以立?”宣子曰:”齐桓、晋文,不亦是乎?”对曰:”齐桓,卫姬之子也,有宠于僖。有鲍叔牙、宾须无、隰朋以为辅佐,有莒、卫以为外主,有国、高以为内主。従善如流,下善齐肃,不藏贿,不従欲,施舍不倦,求善不厌,是以有国,不亦宜乎?我先君文公,狐季姬之子也,有宠于献。好学而不贰,生十七年,有士五人。有先大夫子余、子犯以为腹心,有魏犨、贾佗以为股肱,有齐、宋、秦、楚以为外主,有栾、郤、狐、先以为内主。亡十九年,守志弥笃。惠、怀弃民,民従而与之。献无异亲,民无异望,天方相晋,将何以代文?此二君者,异于子干。共有宠子,国有奥主。无施于民,无援于外,去晋而不送,归楚而不逆,何以冀国?”
  晋成虒祁,诸侯朝而归者皆有贰心。为取郠故,晋将以诸侯来讨。叔向曰:”诸侯不可以不示威。”乃并征会,告于吴。秋,晋侯会吴子于良。水道不可,吴子辞,乃还。
  七月丙寅,治兵于邾南,甲车四千乘,羊舌鲋摄司马,遂合诸侯于平丘。子产、子大叔相郑伯以会。子产以幄幕九张行。子大叔以四十,既而悔之,每舍,损焉。及会,亦如之。
  次于卫地,叔鲋求货于卫,淫刍荛者。卫人使屠伯馈叔向羹,与一箧锦,曰:”诸侯事晋,未敢携贰,况卫在君之宇下,而敢有异志?刍荛者异于他日,敢请之。”叔向受羹反锦,曰:”晋有羊舌鲋者,渎货无厌,亦将及矣。为此役也,子若以君命赐之,其已。”客従之,未退,而禁之。
  晋人将寻盟,齐人不可。晋侯使叔向告刘献公曰:”抑齐人不盟,若之何?”对曰:”盟以厎信。君苟有信,诸侯不贰,何患焉?告之以文辞,董之以武师,虽齐不许,君庸多矣。天子之老,请帅王赋,’元戎十乘,以先启行’,迟速唯君。”叔向告于齐,曰:”诸侯求盟,已在此矣。今君弗利,寡君以为请。”对曰:”诸侯讨贰,则有寻盟。若皆用命,何盟之寻?”叔向曰:”国家之败,有事而无业,事则不经。有业而无礼,经则不序。有礼而无威,序则不共。有威而不昭,共则不明。不明弃共,百事不终,所由倾覆也。是故明王之制,使诸侯岁聘以志业,间朝以讲礼,再朝而会以示威,再会而盟以显昭明。志业于好,讲礼于等。示威于众,昭明于神。自古以来,未之或失也。存亡之道,恒由是兴。晋礼主盟,惧有不治。奉承齐牺,而布诸君,求终事也。君曰:’余必废之,何齐之有?’唯君图之,寡君闻命矣!”齐人惧,对曰:”小国言之,大国制之,敢不听従?既闻命矣,敬共以往,迟速唯君。”叔向曰:”诸侯有间矣,不可以不示众。”八月辛未,治兵,建而不旆。壬申,复旆之。诸侯畏之。
  邾人、莒人讠斥于晋曰:”鲁朝夕伐我,几亡矣。我之不共,鲁故之以。”晋侯不见公,使叔向来辞曰:”诸侯将以甲戌盟,寡君知不得事君矣,请君无勤。”子服惠伯对曰:”君信蛮夷之诉,以绝兄弟之国,弃周公之后,亦唯君。寡君闻命矣。”叔向曰:”寡君有甲车四千乘在,虽以无道行之,必可畏也,况其率道,其何敌之有?牛虽瘠,偾于豚上,其畏不死?南蒯、子仲之忧,其庸可弃乎?若奉晋之众,用诸侯之师,因邾、莒、杞、鄫之怒,以讨鲁罪,间其二忧,何求而弗克?”鲁人惧,听命。
  甲戌,同盟于平丘,齐服也。令诸侯日中造于除。癸酉,退朝。子产命外仆速张于除,子大叔止之,使待明日。及夕,子产闻其未张也,使速往,乃无所张矣。
  及盟,子产争承,曰:”昔天子班贡,轻重以列,列尊贡重,周之制也。卑而贡重者,甸服也。郑伯,男也,而使従公侯之贡,惧弗给也,敢以为请。诸侯靖兵,好以为事。行理之命,无月不至,贡之无艺,小国有阙,所以得罪也。诸侯修盟,存小国也。贡献无及,亡可待也。存亡之制,将在今矣。”自日中以争,至于昏,晋人许之。既盟,子大叔咎之曰:”诸侯若讨,其可渎乎?”子产曰:”晋政多门,贰偷之不暇,何暇讨?国不竞亦陵,何国之为?”
  公不与盟。晋人执季孙意如,以幕蒙之,使狄人守之。司铎射怀锦,奉壶饮冰,以蒲伏焉。守者御之,乃与之锦而入。晋人以平子归,子服湫従。
  子产归,未至,闻子皮卒,哭,且曰:”吾已,无为为善矣,唯夫子知我。”仲尼谓:”子产于是行也,足以为国基矣。《诗》曰:’乐只君子,邦家之基。’子产,君子之求乐者也。”且曰:”合诸侯,艺贡事,礼也。”
  鲜虞人闻晋师之悉起也,而不警边,且不修备。晋荀吴自著雍以上军侵鲜虞,及中人,驱冲竞,大获而归。
  楚之灭蔡也,灵王迁许、胡、沈、道、房、申于荆焉。平王即位,既封陈、蔡,而皆复之,礼也。隐大子之子庐归于蔡,礼也。悼大子之子吴归于陈,礼也。
  冬十月,葬蔡灵公,礼也。
  公如晋。荀吴谓韩宣子曰:”诸侯相朝,讲旧好也,执其卿而朝其君,有不好焉,不如辞之。”乃使士景伯辞公于河。
  吴灭州来。令尹子期请伐吴,王弗许,曰:”吾未抚民人,未事鬼神,未修守备,未定国家,而用民力,败不可悔。州来在吴,犹在楚也。子姑待之。”
  季孙犹在晋,子服惠伯私于中行穆子曰:”鲁事晋,何以不如夷之小国?鲁,兄弟也,土地犹大,所命能具。若为夷弃之,使事齐、楚,其何瘳于晋?亲亲,与大,赏共、罚否,所以为盟主也。子其图之。谚曰:’臣一主二。’吾岂无大国?”穆子告韩宣子,且曰:”楚灭陈、蔡,不能救,而为夷执亲,将焉用之?”乃归季孙。惠伯曰:”寡君未知其罪,合诸侯而执其老。若犹有罪,死命可也。若曰无罪而惠免之,诸侯不闻,是逃命也,何免之?为请従君惠于会。”宣子患之,谓叔向曰:”子能归季孙乎?”对曰:”不能。鲋也能。”乃使叔鱼。叔鱼见季孙曰:”昔鲋也得罪于晋君,自归于鲁君。微武子之赐,不至于今。虽获归骨于晋,犹子则肉之,敢不尽情?归子而不归,鲋也闻诸吏,将为子除馆于西河,其若之何?”且泣。平子惧,先归。惠伯待礼。
  ◎ 昭公十四年
  【经】十有四年春,意如至自晋。三月,曹伯滕卒。夏四月。秋,葬曹武公。八月,莒子去疾卒。冬,莒杀其公子意恢。
  【传】十四年春,意如至自晋,尊晋罪己也。尊晋、罪己,礼也。
  南蒯之将叛也,盟费人。司徒老祁、虑癸伪废疾,使请于南蒯曰:”臣愿受盟而疾兴,若以君灵不死,请待间而盟。”许之。二子因民之欲叛也,请朝众而盟。遂劫南蒯曰:”群臣不忘其君,畏子以及今,三年听命矣。子若弗图,费人不忍其君,将不能畏子矣。子何所不逞欲?请送子。”请期五日。遂奔齐。侍饮酒于景公。公曰:”叛夫?”对曰:”臣欲张公室也。”子韩皙曰:”家臣而欲张公室,罪莫大焉。”司徒老祁、虑癸来归费,齐侯使鲍文子致之。
  夏,楚子使然丹简上国之兵于宗丘,且抚其民。分贫,振穷;长孤幼,养老疾,收介特,救灾患,宥孤寡,赦罪戾;诘奸慝,举淹滞;礼新,叙旧;禄勋,合亲;任良,物官。使屈罢简东国之兵于召陵,亦如之。好于边疆,息民五年,而后用师,礼也。
  秋八月,莒著丘公卒,郊公不戚。国人弗顺,欲立著丘公之弟庚舆。蒲余侯恶公子意恢而善于庚舆,郊公恶公子铎而善于意恢。公子铎因蒲余侯而与之谋曰:”尔杀意恢,我出君而纳庚舆。”许之。
  楚令尹子旗有德于王,不知度。与养氏比,而求无厌。王患之。九月甲午,楚子杀斗成然,而灭养氏之族。使斗辛居郧,以无忘旧勋。
  冬十二月,蒲余侯兹夫杀莒公子意恢,郊公奔齐。公子铎逆庚舆于齐。齐隰党、公子锄送之,有赂田。
  晋邢侯与雍子争赂田,久而无成。士景伯如楚,叔鱼摄理,韩宣子命断旧狱,罪在雍子。雍子纳其女于叔鱼,叔鱼蔽罪邢侯。邢侯怒,杀叔鱼与雍子于朝。宣子问其罪于叔向。叔向曰:”三人同罪,施生戮死可也。雍子自知其罪而赂以买直,鲋也鬻狱,刑侯专杀,其罪一也。己恶而掠美为昏,贪以败官为墨,杀人不忌为贼。《夏书》曰:’昏、墨、贼,杀。’皋陶之刑也。请従之。”乃施邢侯而尸雍子与叔鱼于市。
  仲尼曰:”叔向,古之遗直也。治国制刑,不隐于亲,三数叔鱼之恶,不为末减。曰义也夫,可谓直矣。平丘之会,数其贿也,以宽卫国,晋不为暴。归鲁季孙,称其诈也,以宽鲁国,晋不为虐。邢侯之狱,言其贪也,以正刑书,晋不为颇。三言而除三恶,加三利,杀亲益荣,犹义也夫!”
************************
昭公  【十五年~三十二年】
◎ 昭公十五年
  【经】十有五年春王正月,吴子夷末卒。二月癸酉,有事于武宫。籥入,叔弓卒。去乐,卒事。夏,蔡朝吴出奔郑。六月丁巳朔,日有食之。秋,晋荀吴帅师伐鲜虞。冬,公如晋。
  【传】十五年春,将禘于武公,戒百官。梓慎曰:”禘之日,其有咎乎!吾见赤黑之祲,非祭祥也,丧氛也。其在莅事乎?”二月癸酉,禘,叔弓莅事,籥入而卒。去乐,卒事,礼也。
  楚费无极害朝吴之在蔡也,欲去之。乃谓之曰:”王唯信子,故处子于蔡。子亦长矣,而在下位,辱。必求之,吾助子请。”又谓其上之人曰:”王唯信吴,故处诸蔡,二三子莫之如也。而在其上,不亦难乎?弗图,必及于难。”夏,蔡人遂朝吴。朝吴出奔郑。王怒,曰:”余唯信吴,故置诸蔡。且微吴,吾不及此。女何故去之?”无极对曰:”臣岂不欲吴?然而前知其为人之异也。吴在蔡,蔡必速飞。去吴,所以翦其翼也。”
  六月乙丑,王大子寿卒。
  秋八月戊寅,王穆后崩。
  晋荀吴帅师伐鲜虞,围鼓。鼓人或请以城叛,穆子弗许。左右曰:”师徒不勤,而可以获城,何故不为?”穆子曰:”吾闻诸叔向曰:’好恶不愆,民知所适,事无不济。’或以吾城叛,吾所甚恶也。人以城来,吾独何好焉?赏所甚恶,若所好何?若其弗赏,是失信也,何以庇民?力能则进,否则退,量力而行。吾不可以欲城而迩奸,所丧滋多。”使鼓人杀叛人而缮守备。围鼓三月,鼓人或请降,使其民见,曰:”犹有食色,姑修而城。”军吏曰:”获城而弗取,勤民而顿兵,何以事君?”穆子曰:”吾以事君也。获一邑而教民怠,将焉用邑?邑以贾怠,不如完旧,贾怠无卒,弃旧不祥。鼓人能事其君,我亦能事吾君。率义不爽,好恶不愆,城可获而民知义所,有死命而无二心,不亦可乎!”鼓人告食竭力尽,而后取之。克鼓而反,不戮一人,以鼓子鸢鞮归。
  冬,公如晋,平丘之会故也。
  十二月,晋荀跞如周,葬穆后,籍谈为介。既葬,除丧,以文伯宴,樽以鲁壶。王曰:”伯氏,诸侯皆有以镇抚室,晋独无有,何也?”文伯揖籍谈,对曰:”诸侯之封也,皆受明器于王室,以镇抚其社稷,故能荐彝器于王。晋居深山,戎狄之与邻,而远于王室。王灵不及,拜戎不暇,其何以献器?”王曰:”叔氏,而忘诸乎?叔父唐叔,成王之母弟也,其反无分乎?密须之鼓,与其大路,文所以大蒐也。阙巩之甲,武所以克商也。唐叔受之以处参虚,匡有戎狄。其后襄之二路,钅戚钺,秬鬯,彤弓,虎贲,文公受之,以有南阳之田,抚征东夏,非分而何?夫有勋而不废,有绩而载,奉之以土田,抚之以彝器,旌之以车服,明之以文章,子孙不忘,所谓福也。福祚之不登,叔父焉在?且昔而高祖孙伯黡,司晋之典籍,以为大政,故曰籍氏。及辛有之二子董之晋,于是乎有董史。女,司典之后也,何故忘之?”籍谈不能对。宾出,王曰:”籍父其无后乎!数典而忘其祖。”
  籍谈归,以告叔向。叔向曰:”王其不终乎!吾闻之:’所乐必卒焉。’今王乐忧,若卒以忧,不可谓终。王一岁而有三年之丧二焉,于是乎以丧宾宴,又求彝器,乐忧甚矣,且非礼也。彝器之来,嘉功之由,非由丧也。三年之丧,虽贵遂服,礼也。王虽弗遂,宴乐以早,亦非礼也。礼,王之大经也。一动而失二礼,无大经矣。言以考典,典以志经,忘经而多言举典,将焉用之?”
  ◎ 昭公十六年
  【经】十有六年春,齐侯伐徐。楚子诱戎蛮子杀之。夏,公至自晋。秋八月己亥,晋侯夷卒。九月,大雩。季孙意如如晋。冬十月,葬晋昭公。
  【传】十六年春,王正月,公在晋,晋人止公。不书,讳之也。
  齐侯伐徐。
  楚子闻蛮氏之乱也,与蛮子之无质也,使然丹诱戎蛮子嘉杀之,遂取蛮氏。既而复立其子焉,礼也。
  二月丙申,齐师至于蒲隧。徐人行成。徐子及郯人、莒人会齐侯,盟于蒲隧,赂以甲父之鼎。叔孙昭子曰:”诸侯之无伯,害哉!齐君之无道也,兴师而伐远方,会之,有成而还,莫之亢也,无伯也夫!《诗》曰:’宗周既灭,靡所止戾。正大夫离居,莫知我肄。’其是之谓乎!”
  二月,晋韩起聘于郑,郑伯享之。子产戒曰:”苟有位于朝,无有不共恪。”孔张后至,立于客间。执政御之,适客后。又御之,适县间。客従而笑之。事毕,富子谏曰:”夫大国之人,不可不慎也,几为之笑而不陵我?我皆有礼,夫犹鄙我。国而无礼,何以求荣?孔张失位,吾子之耻也。”子产怒曰:”发命之不衷,出令之不信,刑之颇类,狱之放纷,会朝之不敬,使命之不听,取陵于大国,罢民而无功,罪及而弗知,侨之耻也。孔张,君之昆孙子孔之后也,执政之嗣也,为嗣大夫,承命以使,周于诸侯,国人所尊,诸侯所知。立于朝而祀于家,有禄于国,有赋于军,丧祭有职,受脤、归脤,其祭在庙,已有著位,在位数世,世守其业,而忘其所,侨焉得耻之?辟邪之人而皆及执政,是先王无刑罚也。子宁以他规我。”
  宣子有环,有一在郑商。宣子谒诸郑伯,子产弗与,曰:”非官府之守器也,寡君不知。”子大叔、子羽谓子产曰:”韩子亦无几求,晋国亦未可以贰。晋国、韩子,不可偷也。若属有谗人交斗其间,鬼神而助之,以兴其凶怒,悔之何及?吾子何爱于一环,其以取憎于大国也,盍求而与之?”子产曰:”吾非偷晋而有二心,将终事之,是以弗与,忠信故也。侨闻君子非无贿之难,立而无令名之患。侨闻为国非不能事大字小之难,无礼以定其位之患。夫大国之人,令于小国,而皆获其求,将何以给之?一共一否,为罪滋大。大国之求,无礼以斥之,何餍之有?吾且为鄙邑,则失位矣。若韩子奉命以使,而求玉焉,贪淫甚矣,独非罪乎?出一玉以起二罪,吾又失位,韩子成贪,将焉用之?且吾以玉贾罪,不亦锐乎?”
  韩子买诸贾人,既成贾矣,商人曰:”必告君大夫。”韩子请诸子产曰:”日起请夫环,执政弗义,弗敢复也。今买诸商人,商人曰,必以闻,敢以为请。”子产对曰:”昔我先君桓公,与商人皆出自周,庸次比耦,以艾杀此地,斩之蓬蒿藜藿,而共处之。世有盟誓,以相信也,曰:’尔无我叛,我无强贾,毋或丐夺。尔有利市宝贿,我勿与知。’恃此质誓,故能相保,以至于今。今吾子以好来辱,而谓敝邑强夺商人,是教弊邑背盟誓也,毋乃不可乎!吾子得玉而失诸侯,必不为也。若大国令,而共无艺,郑,鄙邑也,亦弗为也。侨若献玉,不知所成,敢私布之。”韩子辞玉,曰:”起不敏,敢求玉以徼二罪?敢辞之。”
  夏四月,郑六卿饯宣子于郊。宣子曰:”二三君子请皆赋,起亦以知郑志。”子■赋《野有蔓草》。宣子曰:”孺子善哉!吾有望矣。”子产赋《郑之羔裘》。宣子曰:”起不堪也。”子大叔赋《褰裳》。宣子曰:”起在此,敢勤子至于他人乎?”子大叔拜。宣子曰:”善哉,子之言是!不有是事,其能终乎?”子游赋《风雨》,子旗赋《有女同车》,子柳赋《萚兮》。宣子喜曰:”郑其庶乎!二三君子以君命贶起,赋不出郑志,皆昵燕好也。二三君子数世之主也,可以无惧矣。”宣子皆献马焉,而赋《我将》。子产拜,使五卿皆拜,曰:”吾子靖乱,敢不拜德?”宣子私觐于子产以玉与马,曰:”子命起舍夫玉,是赐我玉而免吾死也,敢不藉手以拜?”
  公至自晋。子服昭伯语季平子曰:”晋之公室,其将遂卑矣。君幼弱,六卿强而奢傲,将因是以习,习实为常,能无卑乎?”
  平子曰:”尔幼,恶识国?”
  秋八月,晋昭公卒。
  九月,大雩,旱也。郑大旱,使屠击、祝款、竖柎有事于桑山。斩其木,不雨。子产曰:”有事于山,蓺山林也,而斩其木,其罪大矣。”夺之官邑。
  冬十月,季平子如晋葬昭公。平子曰:”子服回之言犹信,子服氏有子哉!”
  ◎ 昭公十七年
  【经】十有七年春,小邾子来朝。夏六月甲戌朔,日有食之。秋,郯子来朝。八月,晋荀吴帅师灭陆浑之戎。冬,有星孛于大辰。楚人及吴战于长岸。
  【传】十七年春,小邾穆公来朝,公与之燕。季平子赋《采叔》,穆公赋《菁菁者莪》。昭子曰:”不有以国,其能久乎?”
  夏六月甲戌朔,日有食之。祝史请所用币。昭子曰:”日有食之,天子不举,伐鼓于社;诸侯用币于社,伐鼓于朝。礼也。”平子御之,曰:”止也。唯正月朔,慝未作,日有食之,于是乎有伐鼓用币,礼也。其余则否。”大史曰:”在此月也。日过分而未至,三辰有灾。于是乎百官降物,君不举,辟移时,乐奏鼓,祝用币,史用辞。故《夏书》曰:’辰不集于房,瞽奏鼓,啬夫驰,庶人走。’此月朔之谓也。当夏四月,是谓孟夏。”平子弗従。昭子退曰:”夫子将有异志,不君君矣。”
  秋,郯子来朝,公与之宴。昭子问焉,曰:”少皞氏鸟名官,何故也?”郯子曰:”吾祖也,我知之。昔者黄帝氏以云纪,故为云师而云名;炎帝氏以火纪,故为火师而火名;共工氏以水纪,故为水师而水名;大皞氏以龙纪,故为龙师而龙名。我高祖少皞挚之立也,凤鸟适至,故纪于鸟,为鸟师而鸟名。凤鸟氏,历正也。玄鸟氏,司分者也;伯赵氏,司至者也;青鸟氏,司启者也;丹鸟氏,司闭者也。祝鸠氏,司徒也;鴡鸠氏,司马也;鸤鸠氏,司空也;爽鸠氏,司寇也;鹘鸠氏,司事也。五鸠,鸠民者也。五雉,为五工正,利器用、正度量,夷民者也。九扈为九农正,扈民无淫者也。自颛顼以来,不能纪远,乃纪于近,为民师而命以民事,则不能故也。”仲尼闻之,见于郯子而学之。既而告人曰:”吾闻之:’天子失官,学在四夷’,犹信。”
  晋侯使屠蒯如周,请有事于雒与三涂。苌弘谓刘子曰:”客容猛,非祭也,其伐戎乎?陆浑氏甚睦于楚,必是故也。君其备之!”乃警戎备。九月丁卯,晋荀吴帅师涉自棘津,使祭史先用牲于洛。陆浑人弗知,师従之。庚午,遂灭陆浑,数之以其贰于楚也。陆浑子奔楚,其众奔甘鹿。周大获。宣子梦文公携荀吴而授之陆浑,故使穆子帅师,献俘于文宫。
  冬,有星孛于大辰,西及汉。申须曰:”彗所以除旧布新也。天事恒象,今除于火,火出必布焉。诸侯其有火灾乎?”梓慎曰:”往年吾见之,是其征也,火出而见。今兹火出而章,必火入而伏。其居火也久矣,其与不然乎?火出,于夏为三月,于商为四月,于周为五月。夏数得天。若火作,其四国当之,在宋、卫、陈、郑乎?宋,大辰之虚也;陈,大皞之虚也;郑,祝融之虚也,皆火房也。星孛天汉,汉,水祥也。卫,颛顼之虚也,故为帝丘,其星为大水,水,火之牡也。其以丙子若壬午作乎?水火所以合也。若火入而伏,必以壬午,不过其见之月。”郑裨灶言于子产曰:”宋、卫、陈、郑将同日火,若我用瓘斝玉瓚,郑必不火。”子产弗与。
  吴伐楚。阳丐为令尹,卜战,不吉。司马子鱼曰:”我得上流,何故不吉。且楚故,司马令龟,我请改卜。”令曰:”鲂也,以其属死之,楚师继之,尚大克之”。吉。战于长岸,子鱼先死,楚师继之,大败吴师,获其乘舟余皇。使随人与后至者守之,环而堑之,及泉,盈其隧炭,陈以待命。吴公子光请于其众,曰:”丧先王之乘舟,岂唯光之罪,众亦有焉。请藉取之,以救死。”众许之。使长鬣者三人,潜伏于舟侧,曰:”我呼皇,则对,师夜従之。”三呼,皆迭对。楚人従而杀之,楚师乱,吴人大败之,取余皇以归。
  ◎ 昭公十八年
  【经】十有八年春王三月,曹伯须卒。夏五月壬午,宋、卫、陈、郑灾。六月,邾人入鄅。秋,葬曹平公。冬,许迁于白羽。
  【传】十八年春,王二月乙卯,周毛得杀毛伯过而代之。苌弘曰:”毛得必亡,是昆吾稔之日也,侈故之以。而毛得以济侈于王都,不亡何待!”
  三月,曹平公卒。
  夏五月,火始昏见。丙子,风。梓慎曰:”是谓融风,火之始也。七日,其火作乎!”戊寅,风甚。壬午,大甚。宋、卫、陈、郑皆火。梓慎登大庭氏之库以望之,曰:”宋、卫、陈、郑也。”数日,皆来告火。裨灶曰:”不用吾言,郑又将火。”郑人请用之,子产不可。子大叔曰:”宝,以保民也。若有火,国几亡。可以救亡,子何爱焉?”子产曰:”天道远,人道迩,非所及也,何以知之?灶焉知天道?是亦多言矣,岂不或信?”遂不与,亦不复火。
  郑之未灾也,里析告子产曰:”将有大祥,民震动,国几亡。吾身泯焉,弗良及也。国迁其可乎?”子产曰:”虽可,吾不足以定迁矣。”及火,里析死矣,未葬,子产使舆三十人,迁其柩。火作,子产辞晋公子、公孙于东门。使司寇出新客,禁旧客勿出于宫。使子宽、子上巡群屏摄,至于大宫。使公孙登徙大龟。使祝史徙主祏于周庙,告于先君。使府人、库人各儆其事。商成公儆司宫,出旧宫人,置诸火所不及。司马、司寇列居火道,行火所欣。城下之人,伍列登城。明日,使野司寇各保其征。郊人助祝史除于国北,禳火于玄冥、回禄,祈于四鄘。书焚室而宽其征,与之材。三日哭,国不市。使行人告于诸侯。宋、卫皆如是。陈不救火,许不吊灾,君子是以知陈、许之先亡也。
  六月,鄅人藉稻。邾人袭鄅,鄅人将闭门。邾人羊罗摄其首焉,遂入之,尽俘以归。鄅子曰:”余无归矣。”従帑于邾,邾庄公反鄅夫人,而舍其女。秋,葬曹平公。往者见周原伯鲁焉,与之语,不说学。归以语闵子马。闵子马曰:”周其乱乎?夫必多有是说,而后及其大人。大人患失而惑,又曰:’可以无学,无学不害。’不害而不学,则苟而可。于是乎下陵上替,能无乱乎?夫学,殖也,不学将落,原氏其亡乎?”
  七月,郑子产为火故,大为社祓禳于四方,振除火灾,礼也。乃简兵大蒐,将为蒐除。子大叔之庙在道南,其寝在道北,其庭小。过期三日,使除徒陈于道南庙北,曰:”子产过女而命速除,乃毁于而乡。”子产朝,过而怒之,除者南毁。子产及冲,使従者止之曰:”毁于北方。”
  火之作也,子产授兵登陴。子大叔曰:”晋无乃讨乎?”子产曰:”吾闻之,小国忘守则危,况有灾乎?国之不可小,有备故也。”既,晋之边吏让郑曰:”郑国有灾,晋君、大夫不敢宁居,卜筮走望,不爱牲玉。郑之有灾,寡君之忧也。今执事扌间然授兵登陴,将以谁罪?边人恐惧不敢不告。子产对曰:”若吾子之言,敝邑之灾,君之忧也。敝邑失政,天降之灾,又惧谗慝之间谋之,以启贪人,荐为弊邑不利,以重君之忧。幸而不亡,犹可说也。不幸而亡,君虽忧之,亦无及也。郑有他竟,望走在晋。既事晋矣,其敢有二心?”
  楚左尹王子胜言于楚子曰:”许于郑,仇敌也,而居楚地,以不礼于郑。晋、郑方睦,郑若伐许,而晋助之,楚丧地矣。君盍迁许?许不专于楚。郑方有令政。许曰:’余旧国也。’郑曰:’余俘邑也。’叶在楚国,方城外之蔽也。土不可易,国不可小,许不可俘,仇不可启,君其图之。”楚子说。冬,楚子使王子胜迁许于析,实白羽。
  ◎ 昭公十九年
  【经】十有九年春,宋公伐邾。夏五月戊辰,许世子止弑其君买。己卯,地震。秋,齐高发帅师伐莒。冬,葬许悼公。
  【传】十九年春,楚工尹赤迁阴于下阴,令尹子瑕城郏。叔孙昭子曰:”楚不在诸侯矣!其仅自完也,以持其世而已。”
  楚子之在蔡也,狊阝阳封人之女奔之,生大子建。及即位,使伍奢为之师。费无极为少师,无宠焉,欲谮诸王,曰:”建可室矣。”王为之聘于秦,无极与逆,劝王取之,正月,楚夫人嬴氏至自秦。
  鄅夫人,宋向戌之女也,故向宁请师。二月,宋公伐邾,围虫。三月,取之。乃尽归鄅俘。
  夏,许悼公疟。五月戊辰,饮大子止之药卒。大子奔晋。书曰:”弑其君。”君子曰:”尽心力以事君,舍药物可也。”
  邾人、郳人、徐人会宋公。乙亥,同盟于虫。
  楚子为舟师以伐濮。费无极言于楚子曰:”晋之伯也,迩于诸夏,而楚辟陋,故弗能与争。若大城城父而置大子焉,以通北方,王收南方,是得天下也。”王说,従之。故太子建居于城父。
  令尹子瑕聘于秦,拜夫人也。
  秋,齐高发帅师伐莒。莒子奔纪鄣。使孙书伐之。初,莒有妇人,莒子杀其夫,已为嫠妇。及老,托于纪鄣,纺焉以度而去之。及师至,则投诸外。或献诸子占,子占使师夜缒而登。登者六十人。缒绝。师鼓噪,城上之人亦噪。莒共公惧,启西门而出。七月丙子,齐师入纪。
  是岁也,郑驷偃卒。子游娶于晋大夫,生丝,弱。其父兄立子瑕。子产憎其为人也,且以为不顺,弗许,亦弗止。驷氏耸。他日,丝以告其舅。冬,晋人使以币如郑,问驷乞之立故。驷氏惧,驷乞欲逃。子产弗遣。请龟以卜,亦弗予。大夫谋对,子产不待而对客曰:”郑国不天,寡君之二三臣,札瘥夭昏,今又丧我先大夫偃。其子幼弱,其一二父兄惧队宗主,私族于谋而立长亲。寡君与其二三老曰:’抑天实剥乱是,吾何知焉?’谚曰:’无过乱门。’民有兵乱,犹惮过之,而况敢知天之所乱?今大夫将问其故,抑寡君实不敢知,其谁实知之?平丘之会,君寻旧盟曰:’无或失职。’若寡君之二三臣,其即世者,晋大夫而专制其位,是晋之县鄙也,何国之为?”辞客币而报其使。晋人舍之。
  楚人城州来。沈尹戌曰:”楚人必败。昔吴灭州来,子旗请伐之。王曰:’吾未抚吾民。’今亦如之,而城州来以挑吴,能无败乎?”侍者曰:”王施舍不倦,息民五年,可谓抚之矣。”戌曰:”吾闻抚民者,节用于内,而树德于外,民乐其性,而无寇仇。今宫室无量,民人日骇,劳罢死转,忘寝与食,非抚之也。”
  郑大水,龙斗于时门之外洧渊。国人请为■焉,子产弗许,曰:”我斗,龙不我觌也。龙斗,我独何觌焉?禳之,则彼其室也。吾无求于龙,龙亦无求于我。”乃止也。
  令尹子瑕言蹶由于楚子曰:”彼何罪?谚所谓’室于怒,市于色’者,楚之谓矣。舍前之忿可也。”乃归蹶由。
  ◎ 昭公二十年
  【经】二十年春王正月。夏,曹公孙会自鄸出奔宋。秋,盗杀卫侯之兄絷。冬十月,宋华亥、向宁、华定出奔陈。十有一月辛卯,蔡侯卢卒。
  【传】二十年春,王二月己丑,日南至。梓慎望氛曰:”今兹宋有乱,国几亡,三年而后弭。蔡有大丧。”叔孙昭子曰:”然则戴、桓也!汏侈无礼已甚,乱所在也。”
  费无极言于楚子曰:”建与伍奢将以方城之外叛。自以为犹宋、郑也,齐、晋又交辅之,将以害楚。其事集矣。”王信之,问伍奢。伍奢对曰:”君一过多矣,何言于谗?”王执伍奢。使城父司马奋扬杀大子,未至,而使遣之。三月,大子建奔宋。王召奋扬,奋扬使城父人执己以至。王曰:”言出于余口,入于尔耳,谁告建也?”对曰:”臣告之。君王命臣曰:’事建如事余。’臣不佞,不能苟贰。奉初以还,不忍后命,故遣之。既而悔之,亦无及已。”王曰:”而敢来,何也?”对曰:”使而失命,召而不来,是再奸也。逃无所入。”王曰:”归。”従政如他日。
  无极曰:”奢之子材,若在吴,必忧楚国,盍以免其父召之。彼仁,必来。不然,将为患。”王使召之,曰:”来,吾免而父。”棠君尚谓其弟员曰:”尔适吴,我将归死。吾知不逮,我能死,尔能报。闻免父之命,不可以莫之奔也;亲戚为戮,不可以莫之报也。奔死免父,孝也;度功而行,仁也;择任而往,知也;知死不辟,勇也。父不可弃,名不可废,尔其勉之,相従为愈。”伍尚归。奢闻员不来,曰:”楚君、大夫其旰食乎!”楚人皆杀之。
  员如吴,言伐楚之利于州于。公子光曰:”是宗为戮而欲反其仇,不可従也。”员曰:”彼将有他志。余姑为之求士,而鄙以待之。”乃见鱄设诸焉,而耕于鄙。
  宋元公无信多私,而恶华、向。华定、华亥与向宁谋曰:”亡愈于死,先诸?”华亥伪有疾,以诱群公子。公子问之,则执之。夏六月丙申,杀公子寅、公子御戎、公子朱、公子固、公孙援、公孙丁、拘向胜、向行于其廪。公如华氏请焉,弗许,遂劫之。癸卯,取大子栾与母弟辰、公子地以为质。公亦取华亥之子无戚、向宁之子罗、华定之子启,与华氏盟,以为质。
  卫公孟絷狎齐豹,夺之司寇与鄄,有役则反之,无则取之。公孟恶北宫喜、褚师圃,欲去之。公子朝通于襄夫人宣姜,惧,而欲以作乱。故齐豹、北宫喜、褚师圃、公子朝作乱。
  初,齐豹见宗鲁于公孟,为骖乘焉。将作乱,而谓之曰:”公孟之不善,子所知也。勿与乘,吾将杀之。”对曰:”吾由子事公孟,子假吾名焉,故不吾远也。虽其不善,吾亦知之。抑以利故,不能去,是吾过也。今闻难而逃,是僭子也。子行事乎,吾将死之,以周事子,而归死于公孟,其可也。”
  丙辰,卫侯在平寿,公孟有事于盖获之门外,齐子氏帷于门外而伏甲焉。使祝蛙置戈于车薪以当门,使一乘従公孟以出。使华齐御公孟,宗鲁骖乘。及闳中,齐氏用戈击公孟,宗鲁以背蔽之,断肱,以中公孟之肩,皆杀之。
  公闻乱,乘,驱自阅门入,庆比御公,公南楚骖乘,使华寅乘贰车。及公宫,鸿駵魋驷乘于公,公载宝以出。褚师子申遇公于马路之衢,遂従。过齐氏,使华寅肉袒,执盖以当其阙。齐氏射公,中南楚之背,公遂出。寅闭郭门,逾而従公。公如死鸟,析朱锄宵従窦出,徒行従公。
  齐侯使公孙青聘于卫。既出,闻卫乱,使请所聘。公曰:”犹在竟内,则卫君也。”乃将事焉。遂従诸死鸟,请将事。辞曰:”亡人不佞,失守社稷,越在草莽,吾子无所辱君命。”宾曰:”寡君命下臣于朝,曰:’阿下执事。’臣不敢贰。”主人曰:”君若惠顾先君之好,昭临敝邑,镇抚其社稷,则有宗祧在。”乃止。卫侯固请见之,不获命,以其良马见,为未致使故也。卫侯以为乘马。宾将掫,主人辞曰:”亡人之忧,不可以及吾子。草莽之中,不足以辱従者。敢辞。”宾曰:”寡君之下臣,君之牧圉也。若不获扞外役,是不有寡君也。臣惧不免于戾,请以除死。”亲执铎,终夕与于燎。
  齐氏之宰渠子召北宫子。北宫氏之宰不与闻谋,杀渠子,遂伐齐氏,灭之。丁巳晦,公入,与北宫喜盟于彭水之上。秋七月戊午朔,遂盟国人。八月辛亥,公子朝、褚师圃、子玉霄、子高鲂出奔晋。闰月戊辰,杀宣姜。卫侯赐北宫喜谥曰贞子,赐析朱锄谥曰成子,而以齐氏之墓予之。
  卫侯告宁于齐,且言子石。齐侯将饮酒,遍赐大夫曰:”二三子之教也。”苑何忌辞,曰:”与于青之赏,必及于其罚。在《康诰》曰:’父子兄弟,罪不相及。’况在群臣?臣敢贪君赐以干先王?”
  琴张闻宗鲁死,将往吊之。仲尼曰:”齐豹之盗,而孟絷之贼,女何吊焉?君子不食奸,不受乱,不为利疚于回,不以回待人,不盖不义,不犯非礼。”
  宋华、向之乱,公子城、公孙忌、乐舍、司马强、向宜、向郑、楚建、郳甲出奔郑。其徒与华氏战于鬼阎,败子城。子城适晋。华亥与其妻必盥而食所质公子者而后食。公与夫人每日必适华氏,食公子而后归。华亥患之,欲归公子。向宁曰:”唯不信,故质其子。若又归之,死无日矣。”公请于华费遂,将攻华氏。对曰:”臣不敢爱死,无乃求去忧而滋长乎!臣是以惧,敢不听命?”公曰:”子死亡有命,余不忍其訽。”冬十月,公杀华、向之质而攻之。戊辰,华、向奔陈,华登奔吴。向宁欲杀大子,华亥曰:”干君而出,又杀其子,其谁纳我?且归之有庸。”使少司寇牼以归,曰:”子之齿长矣,不能事人,以三公子为质,必免。”公子既入,华牼将自门行。公遽见之,执其手曰:”余知而无罪也,入,复而所。”
  齐侯疥,遂痁,期而不瘳,诸侯之宾问疾者多在。梁丘据与裔款言于公曰:”吾事鬼神丰,于先君有加矣。今君疾病,为诸侯忧,是祝史之罪也。诸侯不知,其谓我不敬。君盍诛于祝固、史嚣以辞宾?”公说,告晏子。晏子曰:”日宋之盟,屈建问范会之德于赵武。赵武曰:’夫子之家事治,言于晋国,竭情无私。其祝史祭祀,陈信不愧。其家事无猜,其祝史不祈。’建以语康王,康王曰:’神人无怨,宜夫子之光辅五君,以为诸侯主也。'”公曰:”据与款谓寡人能事鬼神,故欲诛于祝史。子称是语,何故?”对曰:”若有德之君,外内不废,上下无怨,动无违事,其祝史荐信,无愧心矣。是以鬼神用飨,国受其福,祝史与焉。其所以蕃祉老寿者,为信君使也,其言忠信于鬼神。其适遇淫君,外内颇邪,上下怨疾,动作辟违,従欲厌私。高台深池,撞钟舞女,斩刈民力,输掠其聚,以成其违,不恤后人。暴虐淫従,肆行非度,无所还忌,不思谤讟不惮鬼神,神怒民痛,无悛于心。其祝史荐信,是言罪也。其盖失数美,是矫诬也。进退无辞,则虚以求媚。是以鬼神不飨其国以祸之,祝史与焉。所以夭昏孤疾者,为暴君使也。溲再辕稼鬼神。”公曰:”然则若之何?”对曰:”不可为也:山林之木,衡鹿守之;泽之萑蒲,舟鲛守之;薮之薪蒸,虞候守之。海之盐蜃,祈望守之。县鄙之人,入従其政。逼介之关,暴征其私。承嗣大夫,强易其贿。布常无艺,征敛无度;宫室日更,淫乐不违。内宠之妾,肆夺于市;外宠之臣,僭令于鄙。私欲养求,不给则应。民人苦病,夫妇皆诅。祝有益也,诅亦有损。聊、摄以东,姑、尤以西,其为人也多矣。虽其善祝,岂能胜亿兆人之诅?君若欲诛于祝史,修德而后可。”公说,使有司宽政,毁关,去禁,薄敛,已责。
  十二月,齐侯田于沛,招虞人以弓,不进。公使执之,辞曰:”昔我先君之田也,旃以招大夫,弓以招士,皮冠以招虞人。臣不见皮冠,故不敢进。”乃舍之。仲尼曰:”守道不如守官,君子韪之。”
  齐侯至自田,晏子侍于遄台,子犹驰而造焉。公曰:”唯据与我和夫!”晏子对曰:”据亦同也,焉得为和?”公曰:”和与同异乎?”对曰:”异。和如羹焉,水火醯醢盐梅以烹鱼肉,燀之以薪。宰夫和之,齐之以味,济其不及,以泄其过。君子食之,以平其心。君臣亦然。君所谓可而有否焉,臣献其否以成其可。君所谓否而有可焉,臣献其可以去其否。是以政平而不干,民无争心。故《诗》曰:’亦有和羹,既戒既平。鬷嘏无言,时靡有争。’先王之济五味,和五声也,以平其心,成其政也。声亦如味,一气,二体,三类,四物,五声,六律,七音,八风,九歌,以相成也。清浊,小大,短长,疾徐,哀乐,刚柔,迟速,高下,出入,周疏,以相济也。君子听之,以平其心。心平,德和。故《诗》曰:’德音不瑕。’今据不然。君所谓可,据亦曰可;君所谓否,据亦曰否。若以水济水,谁能食之?若琴瑟之专一,谁能听之?同之不可也如是。”
  饮酒乐。公曰:”古而无死,其乐若何?”晏子对曰:”古而无死,则古之乐也,君何得焉?昔爽鸠氏始居此地,季荝因之,有逢伯陵因之,蒲姑氏因之,而后大公因之。古者无死,爽鸠氏之乐,非君所愿也。”
  郑子产有疾,谓子大叔曰:”我死,子必为政。唯有德者能以宽服民,其次莫如猛。夫火烈,民望而畏之,故鲜死焉。水懦弱,民狎而玩之,则多死焉。故宽难。”疾数月而卒。大叔为政,不忍猛而宽。郑国多盗,取人于萑苻之泽。大叔悔之,曰:”吾早従夫子,不及此。”兴徒兵以攻萑苻之盗,尽杀之,盗少止。
  仲尼曰:”善哉!政宽则民慢,慢则纠之以猛。猛则民残,残则施之以宽。宽以济猛,猛以济宽,政是以和。《诗》曰:’民亦劳止,汔可小康。惠此中国,以绥四方。’施之以宽也。’毋従诡随,以谨无良。式遏寇虐,惨不畏明。’纠之以猛也。’柔远能迩,以定我王。’平之以和也。又曰:’不竞不絿,不刚不柔。布政优优,百禄是遒。’和之至也。”
  及子产卒,仲尼闻之,出涕曰:”古之遗爱也。”
  ◎ 昭公二十一年
  【经】二十有一年春王三月,葬蔡平公。夏,晋侯使士鞅来聘。宋华亥、向宁、华定自陈入于宋南里以叛。秋七月壬午朔,日有食之。八月乙亥,叔辄卒。冬,蔡侯朱出奔楚。公如晋,至河乃复。
  【传】二十一年春,天王将铸无射。泠州鸠曰:”王其以心疾死乎?夫乐,天子之职也。夫音,乐之舆也。而钟,音之器也。天子省风以作乐,器以钟之,舆以行之。小者不窕,大者不瓠,则和于物,物和则嘉成。故和声入于耳而藏于心,心亿则乐。窕则不咸,总则不容,心是以感,感实生疾。今钟瓠矣,王心弗堪,其能久乎?”
  三月,葬蔡平公。蔡大子朱失位,位在卑。大夫送葬者归,见昭子。昭子问蔡故,以告。昭子叹曰:”蔡其亡乎!若不亡,是君也必不终。《诗》曰:’不解于位,民之攸塈。’今蔡侯始即位,而适卑,身将従之。”
  夏,晋士鞅来聘,叔孙为政。季孙欲恶诸晋,使有司以齐鲍国归费之礼为士鞅。士鞅怒,曰:”鲍国之位下,其国小,而使鞅従其牢礼,是卑敝邑也。将复诸寡君。”鲁人恐,加四牢焉,为十一牢。
  宋华费遂生华貙、华多僚、华登。貙为少司马,多僚为御士,与貙相恶,乃谮诸公曰:”貙将纳亡人。”亟言之。公曰:”司马以吾故,亡其良子。死亡有命,吾不可以再亡之。”对曰:”君若爱司马,则如亡。死如可逃,何远之有?”公惧,使侍人召司马之侍人宜僚,饮之酒而使告司马。司马叹曰:”必多僚也。吾有谗子而弗能杀,吾又不死,抑君有命,可若何?”乃与公谋逐华貙,将使田孟诸而遣之。公饮之酒,厚酬之,赐及従者。司马亦如之。张丐尤之,曰:”必有故。”使子皮承宜僚以剑而讯之。宜僚尽以告。张丐欲杀多僚,子皮曰:”司马老矣,登之谓甚,吾又重之,不如亡也。”五月丙申,子皮将见司马而行,则遇多僚御司马而朝。张丐不胜其怒,遂与子皮、臼任、郑翩杀多僚,劫司马以叛,而召亡人。壬寅,华、向入。乐大心、丰愆、华牼御诸横。华氏居卢门,以南里叛。六月庚午,宋城旧鄘及桑林之门而守之。
  秋七月壬午朔,日有食之。公问于梓慎曰:”是何物也,祸福何为?”对曰:”二至、二分,日有食之,不为灾。日月之行也,分,同道也;至,相过也。其他月则为灾,阳不克也,故常为水。”
  于是叔辄哭日食。昭子曰:”子叔将死,非所哭也。”八月,叔辄卒。
  冬十月,华登以吴师救华氏。齐乌枝鸣戍宋。厨人濮曰:”《军志》有之:’先人有夺人之心,后人有待其衰。’盍及其劳且未定也伐诸?若入而固,则华氏众矣,悔无及也。”従之。丙寅,齐师、宋师败吴师于鸿口,获其二帅公子苦雂、偃州员。华登帅其余以败宋师。公欲出,厨人濮曰:”吾小人,可藉死而不能送亡,君请待之。”乃徇曰:”杨徽者,公徒也。”众従之。公自杨门见之,下而巡之,曰:”国亡君死,二三子之耻也,岂专孤之罪也?”齐乌枝鸣曰:”用少莫如齐致死,齐致死莫如去备。彼多兵矣,请皆用剑。”従之。华氏北,复即之。厨人濮以裳裹首而荷以走,曰:”得华登矣!”遂败华氏于新里。翟偻新居于新里,既战,说甲于公而归。华妵居于公里,亦如之。
  十一月癸未,公子城以晋师至。曹翰胡会晋荀吴、齐苑何忌、卫公子朝救宋。丙戌,与华氏战于赭丘。郑翩愿为鹳,其御愿为鹅。子禄御公子城,庄堇为右。干犨御吕封人华豹,张丐为右。相遇,城还。华豹曰:”城也!”城怒而反之,将注,豹则关矣。曰:”平公之灵,尚辅相余。”豹射,出其间。将注,则又关矣。曰:”不狎,鄙!”押矢。城射之,殪。张丐抽殳而下,射之,折股。扶伏而击之,折轸。又射之,死。干丐请一矢,城曰:”余言汝于君。”对曰:”不死伍乘,军之大刑也。干刑而従子,君焉用之?子速诸。”乃射之,殪。大败华氏,围诸南里。华亥搏膺而呼,见华貙,曰:”吾为栾氏矣。”貙曰:”子无我迋。不幸而后亡。”使华登如楚乞师。华貙以车十五乘,徒七十人,犯师而出,食于睢上,哭而送之,乃复入。楚薳越帅师将逆华氏。大宰犯谏曰:”诸侯唯宋事其君,今又争国,释君而臣是助,无乃不可乎?”王曰:”而告我也后,既许之矣。”
  蔡侯朱出奔楚。费无极取货于东国,而谓蔡人曰:”朱不用命于楚,君王将立东国。若不先従王欲,楚必围蔡。”蔡人惧,出朱而立东国。朱诉于楚,楚子将讨蔡。无极曰:”平侯与楚有盟,故封。其子有二心,故废之。灵王杀隐大子,其子与君同恶,德君必甚。又使立之,不亦可乎?且废置在君,蔡无他矣。”公如晋,及河,鼓叛晋。晋将伐鲜虞,故辞公。
  ◎ 昭公二十二年
  【经】二十有二年春,齐侯伐莒。宋华亥、向宁、华定自宋南里出奔楚。大蒐于昌间。夏四月乙丑,天王崩。六月,叔鞅如京师,葬景王,王室乱。刘子、单子以王猛居于皇。秋,刘子、单子以王猛入于王城。冬十月,王子猛卒。十有二月癸酉朔,日有食之。
  【传】二十二年春,王二月甲子,齐北郭启帅师伐莒。莒子将战,苑羊牧之谏曰:”齐帅贱,其求不多,不如下之。大国不可怒也。”弗听,败齐师于寿余。齐侯伐莒,莒子行成。司马灶如莒莅盟,莒子如齐莅盟,盟子稷门之外。莒于是乎大恶其君。
  楚薳越使告于宋曰:”寡君闻君有不令之臣为君忧,无宁以为宗羞?寡君请受而戮之。”对曰:”孤不佞,不能媚于父兄,以为君忧,拜命之辱。抑君臣日战,君曰’余必臣是助’,亦唯命。人有言曰:’唯乱门之无过’。君若惠保敝邑,无亢不衷,以奖乱人,孤之望也。唯君图之!”楚人患之。诸侯之戍谋曰:”若华氏知困而致死,楚耻无功而疾战,非吾利也。不如出之,以为楚功,其亦能无为也已。救宋而除其害,又何求?”乃固请出之。宋人従之。己巳,宋华亥、向宁、华定、华貙、华登、皇奄伤、省臧,士平出奔楚。宋公使公孙忌为大司马,边卬为大司徒,乐祁为司马,仲几为左师,乐大心为右师,乐輓为大司寇,以靖国人。
  王子朝、宾起有宠于景王,王与宾孟说之,欲立之。刘献公之庶子伯蚡事单穆公,恶宾孟之为人也,愿杀之。又恶王子朝之言,以为乱,愿去之。宾孟适郊,见雄鸡自断其尾。问之,侍者曰:”自惮其牺也。”遽归告王,且曰:”鸡其惮为人用乎?人异于是。牺者,实用人,人牺实难,己牺何害?”王弗应。
  夏四月,王田北山,使公卿皆従,将杀单子、刘子。王有心疾,乙丑,崩于荣锜氏。戊辰,刘子挚卒,无子,单子立刘。五月庚辰,见王,遂攻宾起,杀之,盟群王子于单氏。
  晋之取鼓也,既献,而反鼓子焉,又叛于鲜虞。
  六月,荀吴略东阳,使师伪籴负甲以息于昔阳之门外,遂袭鼓,灭之。以鼓子鸢鞮归,使涉佗守之。
  丁巳,葬景王。王子朝因旧官、百工之丧职秩者,与灵、景之族以作乱。帅郊、要、饯之甲,以逐刘子。壬戌、刘子奔扬。单子逆悼王于庄宫以归。王子还夜取王以如庄宫。癸亥,单子出。王子还与召庄公谋,曰:”不杀单旗,不捷。与之重盟,必来。背盟而克者多矣。”従之。樊顷子曰:”非言也,必不克。”遂奉王以追单子。及领,大盟而复,杀挚荒以说。刘子如刘,单子亡。乙丑,奔于平畤,群王子追之。单子杀还、姑、发、弱、鬷延、定、稠,子朝奔京。丙寅,伐之,京人奔山。刘子入于王城。辛未,巩简公败绩于京。乙亥,甘平公亦败焉。叔鞅至自京师,言王室之乱也。闵马父曰:”子朝必不克,其所与者,天所废也。”单子欲告急于晋,秋七月戊寅,以王如平畤,遂如圃车,次于皇。刘子如刘。单子使王子处守于王城,盟百工于平宫。辛卯,鄩肸伐皇,大败,获鄩肸。壬辰,焚诸王城之市。八月辛酉,司徒丑以王师败绩于前城,百工叛。己巳,伐单氏之宫,败焉。庚午,反伐之。辛未,伐东圉。冬十月丁巳,晋籍谈、荀跞帅九州之戎及焦、瑕、温、原之师,以纳王于王城。庚申,单子、刘蚡以王师败绩于郊,前城人败陆浑于社。十一月乙酉,王子猛卒,不成丧也。已丑,敬王即位,馆于子族氏。
  十二月庚戌,晋籍谈、荀跞、贾辛、司马督帅师军于阴,于侯氏,于溪泉,次于社。王师军于氾,于解,次于任人。闰月,晋箕遗、乐征,右行诡济师,取前城,军其东南。王师军于京楚。辛丑,伐京,毁其西南。
  ◎ 昭公二十三年
  【经】二十有三年春王正月,叔孙若如晋。癸丑,叔鞅卒。晋人执我行人叔孙若。晋人围郊。夏六月,蔡侯东国卒于楚。秋七月,莒子庚舆来奔。戊辰,吴败顿、胡沈、蔡、陈、许之师于鸡父,胡子髡、沈子逞灭,获陈夏啮。天王居于狄泉。尹氏立王子朝。八月乙未,地震。冬,公如晋,至河,有疾,乃复。
  【传】二十三年春,王正月壬寅朔,二师围郊。癸卯,郊、鄩溃。丁未,晋师在平阴,王师在泽邑。王使告间,庚戌,还。
  邾人城翼,还,将自离姑。公孙锄曰:”鲁将御我。”欲自武城还,循山而南。徐锄、丘弱、茅地曰:”道下,遇雨,将不出,是不归也。”遂自离姑。武城人塞其前,断其后之木而弗殊。邾师过之,乃推而蹶之。遂取邾师,获锄、弱、地。
  邾人诉于晋,晋人来讨。叔孙蹶如晋,晋人执之。书曰:”晋人执我行人叔孙若。”言使人也。晋人使与邾大夫坐。叔孙曰:”列国之卿,当小国之君,固周制也。邾又夷也。寡君之命介子服回在,请使当之,不敢废周制故也。”乃不果坐。
  韩宣子使邾人取其众,将以叔孙与之。叔孙闻之,去众与兵而朝。士弥牟谓韩宣子曰:”子弗良图,而以叔孙与其仇,叔孙必死之。鲁亡叔孙,必亡邾。邾君亡国,将焉归?子虽悔之,何及?所谓盟主,讨违命也。若皆相执,焉用盟主?”乃弗与,使各居一馆。士伯听其辞而诉诸宣子,乃皆执之。士伯御叔孙,従者四人,过邾馆以如吏。先归邾子。士伯曰:”以刍荛之难,従者之病,将馆子于都。”叔孙旦而立,期焉。乃馆诸箕。舍子服昭伯于他邑。
  范献子求货于叔孙,使请冠焉。取其冠法,而与之两冠,曰:”尽矣。”为叔孙故,申丰以货如晋。叔孙曰:”见我,吾告女所行货。”见,而不出。吏人之与叔孙居于箕者,请其吠狗,弗与。及将归,杀而与之食之。叔孙所馆者,虽一日必葺其墙屋,去之如始至。
  夏四月乙酉,单子取訾,刘子取墙人、直人。六月壬午,王子朝入于尹。癸未,尹圉诱刘佗杀之。丙戌,单子従阪道,刘子従尹道伐尹。单子先至而败,刘子还。己丑,召伯奂、南宫极以成周人戍尹。庚寅,单子、刘子、樊齐以王如刘。甲午,王子朝入于王城,次于左巷。秋七月戊申,鄩罗纳诸庄宫。尹辛败刘师于唐。丙辰,又败诸鄩。甲子,尹辛取西闱。丙寅,攻蒯,蒯溃。
  莒子庚舆虐而好剑,苟铸剑,必试诸人。国人患之。又将叛齐。乌存帅国人以逐之。庚舆将出,闻乌存执殳而立于道左,惧将止死。苑羊牧之曰:”君过之!乌存以力闻可矣,何必以弑君成名?”遂来奔。齐人纳郊公。
  吴人伐州来,楚薳越帅师及诸侯之师奔命救州来。吴人御诸钟离。子瑕卒,楚师熸薳。吴公子光曰:”诸侯従于楚者众,而皆小国也。畏楚而不获己,是以来。吾闻之曰:’作事威克其爱,虽小必济’。胡、沈之君幼而狂,陈大夫啮壮而顽,顿与许、蔡疾楚政。楚令尹死,其师熸。帅贱、多宠,政令不壹。而七国同役不同心,帅贱而不能整,无大威命,楚可败也,若分师先以犯胡、沈与陈,必先奔。三国败,诸侯之师乃摇心矣。诸侯乖乱,楚必大奔。请先者去备薄威,后者敦陈整旅。”吴子従之。戊辰晦,战于鸡父。吴子以罪人三千,先犯胡、沈与陈,三国争之。吴为三军以击于后,中军従王,光帅右,掩余帅左。吴之罪人或奔或止,三国乱。吴师击之,三国败,获胡、沈之君及陈大夫。舍胡、沈之囚,使奔许与蔡、顿,曰:”吾君死矣!”师噪而従之,三国奔,楚师大奔。书曰:”胡子髡、沈子逞灭,获陈夏啮。”君臣之辞也。不言战,楚未陈也。
  八月丁酉,南宫极震。苌弘谓刘文公曰:”君其勉之!先君之力可济也。周之亡也,其三川震。今西王之大臣亦震,天弃之矣!东王必大克。”
  楚大子建之母在狊阝,召吴人而启之。冬十月甲申,吴大子诸樊入狊阝,取楚夫人与其宝器以归。楚司马薳越追之,不及。将死,众曰:”请遂伐吴以徼之。”薳越曰:”再败君师,死且有罪。亡君夫人,不可以莫之死也。”乃缢于薳澨。
  公为叔孙故如晋,及河,有疾而复。
  楚囊瓦为令尹,城郢。沈尹戌曰:”子常必亡郢!苟不能卫,城无益也。古者,天子守在四夷;天子卑,守在诸侯。诸侯守在四邻;诸侯卑,守在四竟。慎其四竟,结其四援,民狎其野,三务成功,民无内忧,而又无外惧,国焉用城?今吴是惧而城于郢,守己小矣。卑之不获,能无亡乎?昔梁伯沟其公宫而民溃。民弃其上,不亡何待?夫正其疆场,修其土田,险其走集,亲其民人,明其伍候,信其邻国,慎其官守,守其交礼,不僭不贪,不懦不耆,完其守备,以待不虞,又何畏矣?《诗》曰:’无念尔祖,聿修厥德。’无亦监乎若敖、蚡冒至于武、文?土不过同,慎其四竟,犹不城郢。今土数圻,而郢是城,不亦难乎?”
  ◎ 昭公二十四年
  【经】二十四年春王三月丙戌,仲孙玃卒。若至自晋。夏五月乙未朔,日有食之。秋八月,大雩。丁酉,杞伯郁厘卒。冬,吴灭巢。葬杞平公。
  【传】二十四年春,王正月辛丑,召简公、南宫嚚以甘桓公见王子朝。刘子谓苌弘曰:”甘氏又往矣。”对曰:”何害?同德度义。《大誓》曰:’纣有亿兆夷人,亦有离德。余有乱臣十人,同心同德。’此周所以兴也。君其务德,无患无人。”戊午,王子朝入于邬。
  晋士弥牟逆叔孙于箕。叔孙使梁其踁待于门内,曰:”余左顾而欬,乃杀之。右顾而笑,乃止。”叔孙见士伯,士伯曰:”寡君以为盟主之故,是以久子。不腆敝邑之礼,将致诸従者。使弥牟逆吾子。”叔孙受礼而归。二月,若至自晋,尊晋也。
  三月庚戌,晋侯使士景伯莅问周故,士伯立于乾祭而问于介众。晋人乃辞王子朝,不纳其使。
  夏五月乙未朔,日有食之。梓慎曰:”将水。”昭子曰:”旱也。日过分而阳犹不克,克必甚,能无旱乎?阳不克莫,将积聚也。”
  六月壬申,王子朝之师攻瑕及杏,皆溃。
  郑伯如晋,子大叔相,见范献子。献子曰:”若王室何?”对曰:”老夫其国家不能恤,敢及王室。抑人亦有言曰:’嫠不恤其纬,而忧宗周之陨,为将及焉。’今王室实蠢蠢焉,吾小国惧矣。然大国之忧也,吾侪何知焉?吾子其早图之!《诗》曰:瓶之罄矣,惟罍之耻。’王室之不宁,晋之耻也。”献子惧,而与宣子图之。乃征会于诸侯,期以明年。
  秋八月,大雩,旱也。
  冬十月癸酉,王子朝用成周之宝珪于河。甲戌,津人得诸河上。阴不佞以温人南侵,拘得玉者,取其玉,将卖之,则为石。王定而献之,与之东訾。
  楚子为舟师以略吴疆。沈尹戌曰:”此行也,楚必亡邑。不抚民而劳之,吴不动而速之,吴踵楚,而疆埸无备,邑能无亡乎?”
  越大夫胥犴劳王于豫章之汭。越公子仓归王乘舟,仓及寿梦帅师従王,王及圉阳而还。吴人踵楚,而边人不备,遂灭巢及钟离而还。沈尹戌曰:”亡郢之始,于此在矣。王一动而亡二姓之帅,几如是而不及郢?《诗》曰:’谁生厉阶,至今为梗?’其王之谓乎?”
  ◎ 昭公二十五年
  【经】二十五年春,叔孙若如宋。夏,叔诣会晋赵鞅、宋乐大心,卫北宫喜、郑游吉、曹人、邾人、滕人、薛人、小邾人于黄父。有鸲鹆来巢。秋七月上辛,大雩;季辛,又雩。九月己亥,公孙于齐,次于阳州。齐侯唁公于野井。冬十月戊辰,叔孙若卒。十有一月己亥,宋公佐卒于曲棘。十有二月,齐侯取郓。
  【传】二十五年春,叔孙若聘于宋,桐门右师见之。语,卑宋大夫,而贱司城氏。昭子告其人曰:”右师其亡乎!君子贵其身而后能及人,是以有礼。今夫子卑其大夫而贱其宗,是贱其身也,能有礼乎?无礼必亡。”
  宋公享昭子,赋《新宫》。昭子赋《车辖》。明日宴,饮酒,乐,宋公使昭子右坐,语相泣也。乐祁佐,退而告人曰:”今兹君与叔孙,其皆死乎?吾闻之:’哀乐而乐哀,皆丧心也。’心之精爽,是谓魂魄。魂魄去之,何以能久?”
  季公若之姊为小邾夫人,生宋元夫人,生子以妻季平子。昭子如宋聘,且逆之。公若従,谓曹氏勿与,鲁将逐之。曹氏告公,公告乐祁。乐祁曰:”与之。如是,鲁君必出。政在季氏三世矣,鲁君丧政四公矣。无民而能逞其志者,未之有也。国君是以镇抚其民。《诗》曰:’人之云亡,心之忧矣。’鲁君失民矣,焉得逞其志?靖以待命犹可,动必忧。”
  夏,会于黄父,谋王室也。赵简子令诸侯之大夫输王粟,具戍人,曰:”明年将纳王。”子大叔见赵简子,简子问揖让周旋之礼焉。对曰:”是仪也,非礼也。”简子曰:”敢问何谓礼?”对曰:”吉也闻诸先大夫子产曰:’夫礼,天之经也。地之义也,民之行也。’天地之经,而民实则之。则天之明,因地之性,生其六气,用其五行。气为五味,发为五色,章为五声,淫则昏乱,民失其性。是故为礼以奉之:为六畜、五牲、三牺,以奉五味;为九文、六采、五章,以奉五色;为九歌、八风、七音、六律,以奉五声;为君臣、上下,以则地义;为夫妇、外内,以经二物;为父子、兄弟、姑姊、甥舅、昏媾、姻亚,以象天明,为政事、庸力、行务,以従四时;为刑罚、威狱,使民畏忌,以类其震曜杀戮;为温慈、惠和,以效天之生殖长育。民有好、恶、喜、怒、哀、乐,生于六气。是故审则宜类,以制六志。哀有哭泣,乐有歌舞,喜有施舍,怒有战斗;喜生于好,怒生于恶。是故审行信令,祸福赏罚,以制死生。生,好物也;死,恶物也;好物,乐也;恶物,哀也。哀乐不失,乃能协于天地之性,是以长久。”简子曰:”甚哉,礼之大也!”对曰:”礼,上下之纪,天地之经纬也,民之所以生也,是以先王尚之。故人之能自曲直以赴礼者,谓之成人。大,不亦宜乎?”简子曰:”鞅也请终身守此言也。”宋乐大心曰:”我不输粟。我于周为客?”若之何使客?”晋士伯曰:”自践土以来,宋何役之不会,而何盟之不同?曰’同恤王室’,子焉得辟之?子奉君命,以会大事,而宋背盟,无乃不可乎?”右师不敢对,受牒而退。士伯告简子曰:”宋右师必亡。奉君命以使,而欲背盟以干盟主,无不祥大焉。”
  ’有鸲鹆来巢’,书所无也。师己曰:”异哉!吾闻文、武之世,童谣有之,曰:’鸲之鹆之,公出辱之。鸲鹆之羽,公在外野,往馈之马。鸲鹆跦跦,公在乾侯,征褰与襦。鸲鹆之巢,远哉遥遥。稠父丧劳,宋父以骄。鸲鹆鸲鹆,往歌来哭。’童谣有是,今鸲鹆来巢,其将及乎?”
  秋,书再雩,旱甚也。
  初,季公鸟娶妻于齐鲍文子,生甲。公鸟死,季公亥与公思展与公鸟之臣申夜姑相其室。及季姒与饔人檀通,而惧,乃使其妾抶己,以示秦遄之妻,曰:”公若欲使余,余不可而抶余。”又诉于公甫,曰:”展与夜姑将要余。”秦姬以告公之,公之与公甫告平子。平子拘展于卞而执夜姑,将杀之。公若泣而哀之,曰:”杀是,是杀余也。”将为之请。平子使竖勿内,日中不得请。有司逆命,公之使速杀之。故公若怨平子。
  季、郤之鸡斗。季氏介其鸡,郤氏为之金距。平子怒,益宫于郤氏,且让之。故郤昭伯亦怨平子。臧昭伯之従弟会,为谗于臧氏,而逃于季氏,臧氏执旃。平子怒,拘臧氏老。将褅于襄公,万者二人,其众万于季氏。臧孙曰:”此之谓不能庸先君之庙。”大夫遂怨平子。公若献弓于公为,且与之出射于外,而谋去季氏。公为告公果、公贲。公果、公贲使侍人僚柤告公。公寝,将以戈击之,乃走。公曰:”执之。”亦无命也。惧而不出,数月不见,公不怒。又使言,公执戈惧之,乃走。又使言,公曰:”非小人之所及也。”公果自言,公以告臧孙,臧孙以难。告郤孙,郤孙以可,劝。告子家懿伯,懿伯曰:”谗人以君侥幸,事若不克,君受其名,不可为也。舍民数世,以求克事,不可必也。且政在焉,其难图也。”公退之。辞曰:”臣与闻命矣,言若泄,臣不获死。”乃馆于公。
  叔孙昭子如阚,公居于长府。九月戊戌,伐季氏,杀公之于门,遂入之。平子登台而请曰:”君不察臣之罪,使有司讨臣以干戈,臣请待于沂上以察罪。”弗许。请囚于费,弗许。请以五乘亡,弗许。子家子曰:”君其许之!政自之出久矣,隐民多取食焉。为之徒者众矣,日入慝作,弗可知也。众怒不可蓄也,蓄而弗治,将蕰。蕰畜,民将生心。生心,同求将合。君必悔之。”弗听。郤孙曰:”必杀之。”公使郤孙逆孟懿子。叔孙氏之司马鬷戾言于其众曰:”若之何?”莫对。又曰:”我,家臣也,不敢知国。凡有季氏与无,于我孰利?”皆曰:”无季氏,是无叔孙氏也。”鬷戾曰:”然则救诸!”帅徒以往,陷西北隅以入。公徒释甲,执冰而踞。遂逐之。孟氏使登西北隅,以望季氏。见叔孙氏之旌,以告。孟氏执郈昭伯,杀之于南门之西,遂伐公徒。子家子曰:”诸臣伪劫君者,而负罪以出,君止。意如之事君也,不敢不改。”公曰:”余不忍也。”与臧孙如墓谋,遂行。
  己亥,公孙于齐,次于阳州。齐侯将唁公于平阴,公先于野井。齐侯曰:”寡人之罪也。使有司待于平阴,为近故也。”书曰:”公孙于齐,次于阳州,齐侯唁公于野井。”礼也。将求于人,则先下之,礼之善物也。齐侯曰:”自莒疆以西,请致千社,以待君命。寡人将帅敝赋以従执事,唯命是听,君之忧,寡人之忧也。”公喜。子家子曰:”天禄不再,天若胙君,不过周公,以鲁足矣。失鲁,而以千社为臣,谁与之立”且齐君无信,不如早之晋。”弗従。臧昭伯率従者将盟,载书曰:”戮力壹心,好恶同之。信罪之有无,缱绻従公,无通外内。”以公命示子家子。子家子曰:”如此,吾不可以盟,羁也不佞,不能与二三子同心,而以为皆有罪。或欲通外内,且欲去君。二三子好亡而恶定,焉可同也?陷君于难,罪孰大焉?通外内而去君,君将速入,弗通何为?而何守焉?”乃不与盟。
  昭子自阚归,见平子。平子稽颡,曰:”子若我何?”昭子曰:”人谁不死?子以逐君成名,子孙不忘,不亦伤乎!将若子何?”平子曰:”苟使意如得改事君,所谓生死而肉骨也。”昭子従公于齐,与公言。子家子命适公馆者执之。公与昭子言于幄内,曰将安众而纳公。公徒将杀昭子,伏诸道。左师展告公,公使昭子自铸归。平子有异志。冬十月辛酉,昭子齐于其寝,使祝宗祈死。戊辰,卒。左师展将以公乘马而归,公徒执之。
  壬申,尹文公涉于巩,焚东訾,弗克。
  十一月,宋元公将为公故如晋。梦大子栾即位于庙,己与平公服而相之。旦,召六卿。公曰:”寡人不佞,不能事父兄,以为二三子忧,寡人之罪也。若以群子之灵,获保首领以没,唯是楄柎所以藉干者,请无及先君。”仲几对曰:”君若以社稷之故,私降昵宴,群臣弗敢知。若夫宋国之法,死生之度,先君有命矣。群臣以死守之,弗敢失队。臣之失职,常刑不赦。臣不忍其死,君命只辱。”宋公遂行。己亥,卒于曲棘。
  十二月庚辰,齐侯围郓。
  初,臧昭伯如晋,臧会窃其宝龟偻句,以卜为信与僭,僭吉。臧氏老将如晋问,会请往。昭伯问家故,尽对。及内子与母弟叔孙,则不对。再三问,不对。归,及郊,会逆,问,又如初。至,次于外而察之,皆无之。执而戮之,逸,奔郤。郤鲂假使为贾正焉。计于季氏。臧氏使五人以戈盾伏诸桐汝之闾。会出,逐之,反奔,执诸季氏中门之外。平子怒,曰:”何故以兵入吾门?”拘臧氏老。季、臧有恶。及昭伯従公,平子立臧会。会曰:”偻句不余欺也。”
  楚子使薳射城州屈,复茄人焉。城丘皇,迁訾人焉。使熊相衤某郭巢,季然郭卷。子大叔闻之,曰:”楚王将死矣。使民不安其土,民必忧,忧将及王,弗能久矣。”
  ◎ 昭公二十六年
  【经】二十有六年春王正月,葬宋元公。三月,公至自齐,居于郓。夏,公围成。秋,公会齐侯、莒子、邾子、杞伯,盟于鄟陵。公至自会,居于郓。九月庚申,楚子居卒。冬十月,天王入于成周。尹氏、召伯、毛伯以王子朝奔楚。
  【传】二十六年春,王正月庚申,齐侯取郓。
  葬宋元公,如先君,礼也。
  三月,公至自齐,处于郓,言鲁地也。
  夏,齐侯将纳公,命无受鲁货。申丰従女贾,以币锦二两,缚一如瑱,适齐师。谓子犹之人高齮:”能货子犹,为高氏后,粟五千庾。”高齮以锦示子犹,子犹欲之。能货子犹,为高氏后,粟五千庚。高齮以锦示子犹,子犹欲之。齮曰:”鲁人买之,百两一布,以道之不通,先入币财。”子犹受之,言于齐侯曰:”群臣不尽力于鲁君者,非不能事君也。然据有异焉。宋元公为鲁君如晋,卒于曲棘。叔孙昭子求纳其君,无疾而死。不知天之弃鲁耶,抑鲁君有罪于鬼神,故及此也?君若待于曲棘,使群臣従鲁君以卜焉。若可,师有济也。君而继之,兹无敌矣。若其无成,君无辱焉。”齐侯従之,使公子锄帅师従公。成大夫公孙朝谓平子曰:”有都以卫国也,请我受师。”许之。请纳质,弗许,曰:”信女,足矣。”告于齐师曰:”孟氏,鲁之敝室也。用成已甚,弗能忍也,请息肩于齐。”齐师围成。成人伐齐师之饮马于淄者,曰:”将以厌众。”鲁成备而后告曰:”不胜众。”师及齐师战于炊鼻。齐子渊捷従泄声子,射之,中楯瓦。繇朐汰辀,匕入者三寸。声子射其马,斩鞅,殪。改驾,人以为鬷戾也而助之。子车曰:”齐人也。”将击子车,子车射之,殪。其御曰:”又之。”子车曰:”众可惧也,而不可怒也。”子囊带従野泄,叱之。泄曰:”军无私怒,报乃私也,将亢子。”又叱之,亦叱之。冉竖射陈武子,中手,失弓而骂。以告平子,曰:”有君子白皙,鬒须眉,甚口。”平子曰:”必子强也,无乃亢诸?”对曰:”谓之君子,何敢亢之?”林雍羞为颜鸣右,下。苑何忌取其耳,颜鸣去之。苑子之御曰:”视下顾。”苑子刜林雍,断其足。{轻金}而乘于他车以归,颜鸣三入齐师,呼曰:”林雍乘!”
  四月,单子如晋告急。五月戊午,刘人败王城之师于尸氏。戊辰,王城人、刘人战于施谷,刘师败绩。
  秋,盟于鄟陵,谋纳公也。
  七月己巳,刘子以王出。庚午,次于渠。王城人焚刘。丙子,王宿于褚氏。丁丑,王次于萑谷。庚辰,王入于胥靡。辛巳,王次于滑。晋知跞、赵鞅帅师纳王,使汝宽守关塞。
  九月,楚平王卒。令尹子常欲立子西,曰:”大子壬弱,其母非适也,王子建实聘之。子西长而好善。立长则顺,建善则治。王顺国治,可不务乎?”子西怒曰:”是乱国而恶君王也。国有外援,不可渎也。王有适嗣,不可乱也。败亲、速仇、乱嗣,不祥,我受其名。赂吾以天下,吾滋不従也。楚国何为?必杀令尹!”令尹惧,乃立昭王。
  冬十月丙申,王起师于滑。辛丑,在郊,遂次于尸。十一月辛酉,晋师克巩。召伯盈逐王子朝,王子朝及召氏之族、毛伯得、尹氏固、南宫嚚奉周之典籍以奔楚。阴忌奔莒以叛。召伯逆王于尸,及刘子、单子盟。遂军圉泽,次于堤上。癸酉,王入于成周。甲戌,盟于襄宫。晋师使成公般戍周而还。十二月癸未,王入于庄宫。
  王子朝使告于诸侯曰:”昔武王克殷,成王靖四方,康王息民,并建母弟,以蕃屏周。亦曰:’吾无专享文、武之功,且为后人之迷败倾覆,而溺入于难,则振救之。’至于夷王,王愆于厥身,诸侯莫不并走其望,以祈王身。至于厉王,王心戾虐,万民弗忍,居王于彘。诸侯释位,以间王政。宣王有志,而后效官。至于幽王,天不吊周,王昏不若,用愆厥位。携王奸命,诸侯替之,而建王嗣,用迁郏鄏。则是兄弟之能用力于王室也。至于惠王,天不靖周,生颓祸心,施于叔带,惠、襄辟难,越去王都。则有晋、郑,咸黜不端,以绥定王家。则是兄弟之能率先王之命也。在定王六年,秦人降妖,曰:’周其有頿王,亦克能修其职。诸侯服享,二世共职。王室其有间王位,诸侯不图,而受其乱灾。’至于灵王,生而有頿。王甚神圣,无恶于诸侯。灵王、景王,克终其世。今王室乱,单旗、刘狄,剥乱天下,壹行不若。谓:’先王何常之有?唯余心所命,其谁敢请之?’帅群不吊之人,以行乱于王室。侵欲无厌,规求无度,贯渎鬼神,慢弃刑法,倍奸齐盟,傲很威仪,矫诬先王。晋为不道,是摄是赞,思肆其罔极。兹不谷震荡播越,窜在荆蛮,未有攸厎。若我一二兄弟甥舅,奖顺天法,无助狡猾,以従先王之命,毋速天罚,赦图不谷,则所愿也。敢尽布其腹心,及先王之经,实深图之。昔先王之命曰:’王后无适,则择立长。年钧以德,德钧以卜。’王不立爱,公卿无私,古之制也。穆后及大子寿早夭即世,单、刘赞私立少,以间先王,亦唯伯仲叔季图之!”
  闵马父闻子朝之辞,曰:”文辞以行礼也。子朝干景之命,远晋之大,以专其志,无礼甚矣,文辞何为?”
  齐有彗星,齐侯使禳之。晏子曰:”无益也,只取诬焉。天道不谄,不贰其命,若之何禳之?且天之有彗也,以除秽也。君无秽德,又何禳焉?若德之秽,禳之何损?《诗》曰:’惟此文王,小心翼翼,昭事上帝,聿怀多福。厥德不回,以受方国。’君无违德,方国将至,何患于彗?《诗》曰:’我无所监,夏后及商。用乱之故,民卒流亡。’若德回乱,民将流亡,祝史之为,无能补也。”公说,乃止。
  齐侯与晏子坐于路寝,公叹曰:”美哉室!其谁有此乎?”晏子曰:”敢问何谓也?”公曰:”吾以为在德。”对曰:”如君之言,其陈氏乎!陈氏虽无大德,而有施于民。豆区釜钟之数,其取之公也簿,其施之民也厚。公厚敛焉,陈氏厚施焉,民归之矣。《诗》曰:’虽无德与女,式歌且舞。’陈氏之施,民歌舞之矣。后世若少惰,陈氏而不亡,则国其国也已。”公曰:”善哉!是可若何?”对曰:”唯礼可以已之。在礼,家施不及国,民不迁,农不移,工贾不变,士不滥,官不滔,大夫不收公利。”公曰:”善哉!我不能矣。吾今而后知礼之可以为国也。”对曰:”礼之可以为国也久矣。与天地并。君令臣共,父慈子孝,兄爱弟敬,夫和妻柔,姑慈妇听,礼也。君令而不违,臣共而不贰,父慈而教,子孝而箴;兄爱而友,弟敬而顺;夫和而义,妻柔而正;姑慈而従,妇听而婉:礼之善物也。”公曰:”善哉!寡人今而后闻此礼之上也。”对曰:”先王所禀于天地,以为其民也,是以先王上之。”
  ◎ 昭公二十七年
  【经】二十有七年春,公如齐。公至自齐,居于郓。夏四月,吴弑其君僚。楚杀其大夫郤宛。秋,晋士鞅、宋乐祁犁、卫北宫喜、曹人、邾人、滕人会于扈。冬十月,曹伯午卒。邾快来奔。公如齐。公至自齐,居于郓。
  【传】二十七年春,公如齐。公至自齐,处于郓,言在外也。
  吴子欲因楚丧而伐之,使公子掩余、公子烛庸帅师围潜。使延州来季子聘于上国,遂聘于晋,以观诸侯。楚莠尹然,工尹麇帅师救潜。左司马沈尹戌帅都君子与王马之属以济师,与吴师遇于穷。令尹子常以舟师及沙汭而还。左尹郤宛、工尹寿帅师至于潜,吴师不能退。
  吴公子光曰:”此时也,弗可失也。”告鱄设诸曰:”上国有言曰:’不索何获?’我,王嗣也,吾欲求之。事若克,季子虽至,不吾废也。”鱄设诸曰:”王可弑也。母老子弱,是无若我何。”光曰:”我,尔身也。”
  夏四月,光伏甲于堀室而享王。王使甲坐于道,及其门。门阶户席,皆王亲也,夹之以铍。羞者献体改服于门外,执羞者坐行而入,执铍者夹承之,及体以相授也。光伪足疾,入于堀室。鱄设诸置剑于鱼中以进,抽剑剌王,铍交于胸,遂弑王。阖庐以其子为卿。
  季子至,曰:”苟先君废无祀,民人无废主,社稷有奉,国家无倾,乃吾君也。吾谁敢怨?哀死事生,以待天命。非我生乱,立者従之,先人之道也。”复命哭墓,复位而待。吴公子掩余奔徐,公子烛庸奔钟吾。楚师闻吴乱而还。
  郤宛直而和,国人说之。鄢将师为右领,与费无极比而恶之。令尹子常贿而信谗,无极谮郤宛焉,谓子常曰:”子恶欲饮子酒。”又谓子恶:”令尹欲饮酒于子氏。”子恶曰:”我,贱人也,不足以辱令尹。令尹将必来辱,为惠已甚。吾无以酬之,若何?”无极曰:”令尹好甲兵,子出之,吾择焉。”取五甲五兵,曰:”置诸门,令尹至,必观之,而従以酬之。”及飨日,帷诸门左。无极谓令尹曰:”吾几祸子。子恶将为子不利,甲在门矣,子必无往。且此役也,吴可以得志,子恶取赂焉而还,又误群帅,使退其师,曰:’乘乱不祥。’吴乘我丧,我乘其乱,不亦可乎?”令尹使视郤氏,则有甲焉。不往,召鄢将师而告之。将师退,遂令攻郤氏,且爇之。子恶闻之,遂自杀也。国人弗爇,令曰:”爇郤氏,与之同罪。”或取一编菅焉,或取一秉秆焉,国人投之,遂弗也。令尹炮之,尽灭郤氏之族党,杀阳令终与其弟完及佗与晋陈及其子弟。晋陈之族呼于国曰:”鄢氏、费氏自以为王,专祸楚国,弱寡王室,蒙王与令尹以自利也。令尹尽信之矣,国将如何?”令尹病之。
  秋,会于扈,令戍周,且谋纳公也。宋、卫皆利纳公,固请之。范献子取货于季孙,谓司城子梁与北宫贞子曰:”季孙未知其罪,而君伐之,请囚,请亡,于是乎不获。君又弗克,而自出也。夫{山乙}无备而能出君乎?季氏之复,天救之也。休公徒之怒,而启叔孙氏之心。不然,岂其伐人而说甲执冰以游?叔孙氏惧祸之滥,而自同于季氏,天之道也。鲁君守齐,三年而无成。季氏甚得其民,淮夷与之,有十年之备,有齐、楚之援,有天之赞,有民之助,有坚守之心,有列国之权,而弗敢宣也,事君如在国。故鞅以为难。二子皆图国者也,而欲纳鲁君,鞅之愿也,请従二子以围鲁。无成,死之。”二子惧,皆辞。乃辞小国,而以难复。
  孟懿子、阳虎伐郓。郓人将战,子家子曰:”天命不慆久矣。使君亡者,必此众也。天既祸之,而自福也,不亦难乎?犹有鬼神,此必败也。乌呼!为无望也夫,其死于此乎!”公使子家子如晋,公徒败于且知。
  楚郤宛之难,国言未已,进胙者莫不谤令尹。沈尹戌言于子常曰:”夫左尹与中厩尹莫知其罪,而子杀之,以兴谤讟,至于今不已。戌也惑之。仁者杀人以掩谤,犹弗为也。今吾子杀人以兴谤,而弗图,不亦异乎?夫无极,楚之谗人也,民莫不知。去朝吴,出蔡侯朱,丧太子建,杀连尹奢,屏王之耳目,使不聪明。不然,平王之温惠共俭,有过成、庄,无不及焉。所以不获诸侯,迩无极也。今又杀三不辜,以兴大谤,几及子矣。子而不图,将焉用之?夫鄢将师矫子之命,以灭三族,国之良也,而不愆位。吴新有君,疆埸日骇,楚国若有大事,子其危哉!知者除谗以自安也,今子爱谗以自危也,甚矣其惑也!”子常曰:”是瓦之罪,敢不良图。”九月己未,子常杀费无极与鄢将师,尽灭其族,以说于国。谤言乃止。
  冬,公如齐,齐侯请飨之。子常子曰:”朝夕立于其朝,又何飨焉?其饮酒也。”乃饮酒,使宰献,而请安。子仲之子曰重,为齐侯夫人,曰:”请使重见。”子家子乃以君出。
  十二月,晋籍秦致诸侯之戍于周,鲁人辞以难。
  ◎ 昭公二十八年
  【经】二十有八年春王三月,葬曹悼公。公如晋,次于乾侯。夏四月丙戌,郑伯宁卒。六月,葬郑定公。秋七月癸巳,滕子宁卒。冬,葬滕悼公。
  【传】二十八年春,公如晋,将如乾侯。子家子曰:”有求于人,而即其安,人孰矜之?其造于竟。”弗听。使请逆于晋。晋人曰:”天祸鲁国,君淹恤在外。君亦不使一个辱在寡人,而即安于甥舅,其亦使逆君?”使公复于竟而后逆之。
  晋祁胜与邬臧通室,祁盈将执之,访于司马叔游。叔游曰:”《郑书》有之:’恶直丑正,实蕃有徒。’无道立矣,子惧不免。《诗》曰:’民之多辟,无自立辟。’姑已,若何?”盈曰:”祁氏私有讨,国何有焉?”遂执之。祁胜赂荀跞,荀跞为之言于晋侯,晋侯执祁盈。祁盈之臣曰:”钧将皆死,慭使吾君闻胜与臧之死以为快。”乃杀之。夏六月,晋杀祁盈及杨食我。食我,祁盈之党也,而助乱,故杀之。遂灭祁氏、羊舌氏。
  初,叔向欲娶于申公巫臣氏,其母欲娶其党。叔向曰:”吾母多而庶鲜,吾惩舅氏矣。”其母曰:”子灵之妻杀三夫,一君,一子,而亡一国、两卿矣。可无惩乎?吾闻之:’甚美必有甚恶,’是郑穆少妃姚子之子,子貉之妹也。子貉早死,无后,而天钟美于是,将必以是大有败也。昔有仍氏生女,鬒黑而甚美,光可以鉴,名曰玄妻。乐正后夔取之,生伯封,实有豕心,贪婪无餍,忿类无期,谓之封豕。有穷后羿灭之,夔是以不祀。且三代之亡,共子之废,皆是物也。女何以为哉?夫有尤物,足以移人,苟非德义,则必有祸。”叔向惧,不敢取。平公强使取之,生伯石。伯石始生,子容之母走谒诸姑,曰:”长叔姒生男。”姑视之,及堂,闻其声而还,曰:”是豺狼之声也。狼子野心,非是,莫丧羊舌氏矣。”遂弗视。
  秋,晋韩宣子卒,魏献子为政。分祁氏之田以为七县,分羊舌氏之田以为三县。司马弥牟为邬大夫,贾辛为祁大夫,司马乌为平陵大夫,魏戊为梗阳大夫,知徐吾为涂水大夫,韩固为马首大夫,孟丙为盂大夫,乐霄为铜鞮大夫,赵朝为平阳大夫,僚安为杨氏大夫。谓贾辛、司马乌为有力于王室,故举之。谓知徐吾、赵朝、韩固、魏戊,余子之不失职,能守业者也。其四人者,皆受县而后见于魏子,以贤举也。
  魏子谓成鱄:”吾与戊也县,人其以我为党乎?”对曰:”何也?戊之为人也,远不忘君,近不逼同,居利思义,在约思纯,有守心而无淫行。虽与之县,不亦可乎?昔武王克商,光有天下。”其兄弟之国者十有五人,姬姓之国者四十人,皆举亲也。夫举无他,唯善所在,亲疏一也。《诗》曰:’唯此文王,帝度其心。莫其德音,其德克明。克明克类,克长克君。王此大国,克顺克比。比于文王,其德靡悔。既受帝祉,施于孙子。’心能制义曰度,德正应和曰莫,照临四方曰明,勤施无私曰类,教诲不倦曰长,赏庆刑威曰君,慈和遍服曰顺,择善而従之曰比,经纬天地曰文。九德不愆,作事无悔,故袭天禄,子孙赖之。主之举也,近文德矣,所及其远哉!”
  贾辛将适其县,见于魏子。魏子曰:”辛来!昔叔向适郑,鬲蔑恶,欲观叔向,従使之收器者而往,立于堂下。一言而善。叔向将饮酒,闻之,曰:’必鬷明也。’下,执其手以上,曰’昔贾大夫恶,娶妻而美,三年不言不笑,御以如皋,射雉,获之。其妻始笑而言。贾大夫曰:”才之不可以已,我不能射,女遂不言不笑夫!”今子少不扬,子若无言,吾几失子矣。言不可以已也如是。’遂知故在。今女有力于王室,吾是以举女。行乎!敬之哉!毋堕乃力!”
  仲尼闻魏子之举也,以为义,曰:”近不失亲,远不失举,可谓义矣。”又闻其命贾辛也,以为忠:”《诗》曰:’永言配命,自求多福’,忠也。魏子之举也义,其命也忠,其长有后于晋国乎!”
  冬,梗阳人有狱,魏戊不能断,以狱上。其大宗赂以女乐,魏子将受之。魏戊谓阎没、女宽曰:”主以不贿闻于诸侯,若受梗阳人,贿莫甚焉。吾子必谏。”皆许诺。退朝,待于庭。馈入,召之。比置,三叹。既食,使坐。魏子曰:”吾闻诸伯叔,谚曰:’唯食忘忧。’吾子置食之间三叹,何也?”同辞而对曰:”或赐二小人酒,不夕食。馈之始至,恐其不足,是以叹。中置,自咎曰:’岂将军食之,而有不足?’是以再叹。及馈之毕,愿以小人之腹为君子之心,属厌而已。”献子辞梗阳人。
  ◎ 昭公二十九年
  【经】二十有九年春,公至自乾侯,居于郓,齐侯使高张来唁公。公如晋,次于乾侯。夏四月庚子,叔诣卒。秋七月。冬十月,郓溃。
  【传】二十九年春,公至自乾侯,处于郓。齐侯使高张来唁公,称主君。子家子曰:”齐卑君矣,君只辱焉。”公如乾侯。
  三月己卯,京师杀召伯盈、尹氏固及原伯鲁之子。尹固之复也,有妇人遇之周郊,尤之,曰:”处则劝人为祸,行则数日而反,是夫也,其过三岁乎?”
  夏五月庚寅,王子赵车入于鄻以叛,阴不佞败之。
  平子每岁贾马,具従者之衣屦,而归之于乾侯。公执归马者,卖之,乃不归马。卫侯来献其乘马曰启服,堑而死,公将为之椟。子家子曰:”従者病矣,请以食之。”乃以帏裹之。
  公赐公衍羔裘,使献龙辅于齐侯,遂入羔裘。齐侯喜,与之阳谷。公衍、公为之生也,其母偕出。公衍先生,公为之母曰:”相与偕出,请相与偕告。”三日,公为生,其母先以告,公为为兄。公私喜于阳谷而思于鲁,曰:”务人为此祸也。且后生而为兄,其诬也久矣。”乃黜之,而以公衍为大子。
  秋,龙见于绛郊。魏献子问于蔡墨曰:”吾闻之,虫莫知于龙,以其不生得也。谓之知,信乎?”对曰:”人实不知,非龙实知。古者畜龙,故国有豢龙氏,有御龙氏。”献子曰:”是二氏者,吾亦闻之,而知其故,是何谓也?”对曰:”昔有飂叔安,有裔子曰董父,实甚好龙,能求其耆欲以饮食之,龙多归之。乃扰畜龙,以服事帝舜。帝赐之姓曰董,氏曰豢龙。封诸鬷川,鬷夷氏其后也。故帝舜氏世有畜龙。及有夏孔甲,扰于有帝,帝赐之乘龙,河、汉各二,各有雌雄,孔甲不能食,而未获豢龙氏。有陶唐氏既衰,其后有刘累,学扰龙于豢龙氏,以事孔甲,能饮食之。夏后嘉之,赐氏曰御龙,以更豕韦之后。龙一雌死,潜醢以食夏后。夏后飨之,既而使求之。惧而迁于鲁县,范氏其后也。”献子曰:”今何故无之?”对曰:”夫物,物有其官,官修其方,朝夕思之。一日失职,则死及之。失官不食。官宿其业,其物乃至。若泯弃之,物乃坻伏,郁湮不育。故有五行之官,是谓五官。实列受氏姓,封为上公,祀为贵神。社稷五祀,是尊是奉。木正曰句芒,火正曰祝融,金正曰蓐收,水正曰玄冥,土正曰后土。龙,水物也。水官弃矣,故龙不生得。不然,《周易》有之,在《乾》ⅰⅰ之《姤》ⅰⅳ,曰:’潜龙勿用。’其《同人》ⅰⅵ曰:’见龙在田。’其《大有》ⅵⅰ曰:’飞龙在天。’其《夬》ⅷⅰ曰:’亢龙有悔。’其《坤》ⅱⅱ曰:’见群龙无首,吉。’《坤》之《剥》ⅶⅱ曰:’龙战于野。’若不朝夕见,谁能物之?”献子曰:”社稷五祀,谁氏之五官也?”对曰:”少皞氏有四叔,曰重、曰该、曰修、曰熙,实能金、木及水。使重为句芒,该为蓐收,修及熙为玄冥,世不失职,遂济穷桑,此其三祀也。颛顼氏有子曰犁,为祝融;共工氏有子曰句龙,为后土,此其二祀也。后土为社;稷,田正也。有烈山氏之子曰柱为稷,自夏以上祀之。周弃亦为稷,自商以来祀之。”
  冬,晋赵鞅、荀寅帅师城汝滨,遂赋晋国一鼓铁,以铸刑鼎,著范宣子所为刑书焉。仲尼曰:”晋其亡乎!失其度矣。夫晋国将守唐叔之所受法度,以经纬其民,卿大夫以序守之。民是以能尊其贵,贵是以能守其业。贵贱不愆,所谓度也。文公是以作执秩之官,为被庐之法,以为盟主。今弃是度也,而为刑鼎,民在鼎矣,何以尊贵?贵何业之守?贵贱无序,何以为国?且夫宣子之刑,夷之蒐也,晋国之乱制也,若之何以为法?蔡史墨曰:”范氏、中行氏其亡乎!中行寅为下卿,而干上令,擅作刑器,以为国法,是法奸也。又加范氏焉,易之,亡也。其及赵氏,赵孟与焉。然不得已,若德,可以免。”
  ◎ 昭公三十年
  【经】三十年春王正月,公在乾侯。夏六月庚辰,晋侯去疾卒。秋八月,葬晋顷公。冬十有二月,吴灭徐,徐子章羽奔楚。
  【传】三十年春,王正月,公在乾侯。不先书郓与乾侯,非公,且征过也。
  夏六月,晋顷公卒。秋八月,葬。郑游吉吊,且送葬,魏献子使士景伯诘之,曰:”悼公之丧,子西吊,子蟜送葬。今吾子无贰,何故?”对曰:”诸侯所以归晋君,礼也。礼也者,小事大,大字小之谓。事大在共其时命,字小在恤其所无。以敝邑居大国之间,共其职贡,与其备御不虞之患,岂忘共命?先王之制:诸侯之丧,士吊,大夫送葬;唯嘉好、聘享、三军之事,于是乎使卿。晋之丧事,敝邑之间,先君有所助执绋矣。若其不间,虽士大夫有所不获数矣。大国之惠,亦庆其加,而不讨其乏,明厎其情,取备而已,以为礼也。灵王之丧,我先君简公在楚,我先大夫印段实往,敝邑之少卿也。王吏不讨,恤所无也。今大夫曰:’女盍従旧?’旧有丰有省,不知所従。従其丰,则寡君幼弱,是以不共。従其省,则吉在此矣。唯大夫图之。”晋人不能诘。
  吴子使徐人执掩余,使钟吾人执烛庸二公子奔楚,楚子大封,而定其徙。使监马尹大心逆吴公子,使居养莠尹然、左司马沈尹戌城之,取于城父与胡田以与之。将以害吴也。子西谏曰:”吴光新得国,而亲其民,视民如子,辛苦同之,将用之也。若好吴边疆,使柔服焉,犹惧其至。吾又疆其仇以重怒之,无乃不可乎!吴,周之胄裔也,而弃在海滨,不与姬通。今而始大,比于诸华。光又甚文,将自同于先王。不知天将以为虐乎,使翦丧吴国而封大异姓乎?其抑亦将卒以祚吴乎?其终不远矣。我盍姑亿吾鬼神,而宁吾族姓,以待其归。将焉用自播扬焉?”王弗听。吴子怒。冬十二月,吴子执钟吴子,遂伐徐,防山以水之。己卯,灭徐。徐子章禹断其发,携其夫人,以逆吴子。吴子唁而送之,使其迩臣従之,遂奔楚。楚沈尹戌帅师救徐,弗及,遂城夷,使徐子处之。
  吴子问于伍员曰:”初而言伐楚,余知其可也,而恐其使余往也,又恶人之有余之功也。今余将自有之矣,伐楚何如?”对曰:”楚执政众而乖,莫适任患。若为三师以肄焉,一师至,彼必皆出。彼出则归,彼归则出,楚必道敝。亟肄以罢之,多方以误之。既罢而后以三军继之,必大克之。”阖庐従之,楚于是乎始病。
  ◎ 昭公三十一年
  【经】三十有一年春王正月,公在乾侯。季孙意如晋荀跞于适历。夏四月丁巳,薛伯谷卒。晋侯使荀跞唁公于乾侯。秋,葬薛献公。冬,黑肱以滥来奔。十有二月辛亥朔,日有食之。
  【传】三十一年春,王正月,公在乾侯,言不能外内也。
  晋侯将以师纳公。范献子曰:”若召季孙而不来,则信不臣矣。然后伐之,若何?”晋人召季孙,献子使私焉,曰:”子必来,我受其无咎。”季孙意如会晋荀跞于适历。荀跞曰:”寡君使跞谓吾子:’何故出君?有君不事,周有常刑,子其图之!'”季孙练冠麻衣跣行,伏而对曰:”事君,臣之所不得也,敢逃刑命?君若以臣为有罪,请囚于费,以待君之察也,亦唯君。若以先臣之故,不绝季氏,而赐之死。若弗杀弗亡,君之惠也,死且不朽。若得従君而归,则固臣之愿也。敢有异心?”
  夏四月,季孙従知伯如乾侯。子家子曰:”君与之归。一惭之不忍,而终身惭乎?”公曰:”诺。”众曰:”在一言矣,君必逐之。”荀跞以晋侯之命唁公,且曰:”寡君使跞以君命讨于意如,意如不敢逃死,君其入也!”公曰:”君惠顾先君之好,施及亡人将使归粪除宗祧以事君,则不能夫人。己所能见夫人者,有如河!”荀跞掩耳而走,曰:”寡君其罪之恐,敢与知鲁国之难?臣请复于寡君。”退而谓季孙:”君怒未怠,子姑归祭。”子家子曰:”君以一乘入于鲁师,季孙必与君归。”公欲従之,众従者胁公,不得归。
  薛伯谷卒,同盟,故书。
  秋,吴人侵楚,伐夷,侵潜、六。楚沈尹戌帅师救潜,吴师还。楚师迁潜于南冈而还。吴师围弦。左司马戌、右司马稽帅师救弦,及豫章。吴师还。始用子胥之谋也。
  冬,邾黑肱以滥来奔,贱而书名,重地故也。君子曰:”名之不可不慎也如是。夫有所名,而不如其已。以地叛,虽贱,必书地,以名其人。终为不义,弗可灭已。是故君子动则思礼,行则思义,不为利回,不为义疚。或求名而不得,或欲盖而名章,惩不义也。齐豹为卫司寇,守嗣大夫,作而不义,其书为’盗’。邾庶其、莒牟夷、邾黑肱以土地出,求食而已,不求其名,贱而必书。此二物者,所以惩肆而去贪也。若艰难其身,以险危大人,而有名章彻,攻难之士将奔走之。若窃邑叛君,以徼大利而无名,贪冒之民将置力焉。是以《春秋》书齐豹曰’盗’,三叛人名,以惩不义,数恶无礼,其善志也。故曰:《春秋》之称微而显,婉而辨。上之人能使昭明,善人劝焉,淫人惧焉,是以君子贵之。”
  十二月辛亥朔,日有食之。是夜也,赵简子梦童子羸而转以歌。旦占诸史墨,曰:”吾梦如是,今而日食,何也?”对曰:”六年及此月也,吴其入郢乎!终亦弗克。入郢,必以庚辰,日月在辰尾。庚午之日,日始有谪。火胜金,故弗克。”
  ◎ 昭公三十二年
  【经】三十有二年春王正月,公在乾侯。取阚。夏,吴伐越。秋七月。冬,仲孙何忌会晋韩不信、齐高张、宋仲几、卫世叔申、郑国参、曹人、莒人、薛人、杞人、小邾人城成周。十有二月己未,公薨于乾侯。
  【传】三十二年春,王正月,公在乾侯。言不能外内,又不能用其人也。
  夏,吴伐越,始用师于越也。史墨曰:”不及四十年,越其有吴乎!越得岁而吴伐之,必受其凶。”
  秋八月,王使富辛与石张如晋,请城成周。天子曰:”天降祸于周,俾我兄弟并有乱心,以为伯父忧。我一二亲昵甥舅,不遑启处,于今十年,勤戍五年。余一人无日忘之,闵闵焉如农夫之望岁,惧以待时。伯父若肆大惠,复二文之业,驰周室之忧,徼文、武之福,以固盟主,宣昭令名,则余一人有大愿矣。昔成王合诸侯,城成周,以为东都,崇文德焉。今我欲徼福假灵于成王,修成周之城,俾戍人无勤,诸侯用宁,蝥贼远屏,晋之力也。其委诸伯父,使伯父实重图之。俾我一人无征怨于百姓,而伯父有荣施,先王庸之。”范献子谓魏献子曰:”与其戍周,不如城之。天子实云,虽有后事,晋勿与知可也。従王命以纾诸侯,晋国无忧。是之不务,而又焉従事?”魏献子曰:”善!”使伯音对曰:”天子有命,敢不奉承,以奔告于诸侯。迟速衰序,于是焉在。”
  冬十一月,晋魏舒、韩不信如京师,合诸侯之大夫于狄泉,寻盟,且令城成周。魏子南面。卫彪徯曰:”魏子必有大咎。干位以令大事,非其任也。《诗》曰:’敬天之怒,不敢戏豫。敬天之渝,不敢驰驱。’况敢干位以作大事乎?”
  己丑,士弥牟营成周,计丈数,揣高卑,度厚薄,仞沟恤,物土方,议远迩,量事期,计徒庸,虑材用,书餱粮,以令役于诸侯,属役赋丈,书以授帅,而效诸刘子。韩简子临之,以为成命。
  十二月,公疾,遍赐大夫,大夫不受。赐子家子双琥,一环,一璧,轻服,受之。大夫皆受其赐。己未,公薨。子家子反赐于府人,曰:”吾不敢逆君命也。”大夫皆反其赐。书曰:”公薨于乾侯。”言失其所也。
  赵简子问于史墨曰:”季氏出其君,而民服焉,诸侯与之,君死于外,而莫之或罪也。”对曰:”物生有两,有三,有五,有陪贰。故天有三辰,地有五行,体有左右,各有妃耦。王有公,诸侯有卿,皆有贰也。天生季氏,以贰鲁侯,为日久矣。民之服焉,不亦宜乎?鲁君世従其失,季氏世修其勤,民忘君矣。虽死于外,其谁矜之?社稷无常奉,君臣无常位,自古以然。故《诗》曰:’高岸为谷,深谷为陵。’三后之姓,于今为庶,王所知也。在《易》卦,雷乘《乾》曰《大壮》,天之道也。昔成季友,桓之季也,文姜之爱子也,始震而卜。卜人谒之,曰:’生有嘉闻,其名曰友,为公室辅。’及生,如卜人之言,有文在其手曰’友’,遂以名之。既而有大功于鲁,受费以为上卿。至于文子、武子,世增其业,不废旧绩。鲁文公薨,而东门遂杀适立庶,鲁君于是乎失国,政在季氏,于此君也,四公矣。民不知君,何以得国?是以为君,慎器与名,不可以假人。”
************************
哀公  【元年~二十七年】
  ◎ 哀公元年
  【经】元年春王正月,公即位。楚子、陈侯、随侯、许男围蔡。鼷鼠食郊牛,改卜牛。夏四月辛巳,郊。秋,齐侯,卫侯伐晋。冬,仲孙何忌帅师伐邾。
  【传】元年春,楚子围蔡,报柏举也。里而栽,广丈,高倍。夫屯昼夜九日,如子西之素。蔡人男女以辨,使疆于江、汝之间而还。蔡于是乎请迁于吴。
  吴王夫差败越于夫椒,报槜李也。遂入越。越子以甲楯五千,保于会稽。使大夫种因吴大宰嚭以行成,吴子将许之。伍员曰:”不可。臣闻之树德莫如滋,去疾莫如尽。昔有过浇杀斟灌以伐斟鄩,灭夏后相。后緍方娠,逃出自窦,归于有仍,生少康焉,为仍牧正。惎浇,能戒之。浇使椒求之,逃奔有虞,为之庖正,以除其害。虞思于是妻之以二姚,而邑诸纶。有田一成,有众一旅,能布其德,而兆其谋,以收夏众,抚其官职。使女艾谍浇,使季杼诱豷,遂灭过、戈,复禹之绩。祀夏配天,不失旧物。今吴不如过,而越大于少康,或将丰之,不亦难乎?句践能亲而务施,施不失人,亲不弃劳。与我同壤而世为仇雠,于是乎克而弗取,将又存之,违天而长寇仇,后虽悔之,不可食已。姬之衰也,日可俟也。介在蛮夷,而长寇仇,以是求伯,必不行矣。”弗听。退而告人曰:”越十年生聚,而十年教训,二十年之外,吴其为沼乎!”三月,越及吴平。吴入越,不书,吴不告庆,越不告败也。
  夏四月,齐侯、卫侯救邯郸,围五鹿。
  吴之入楚也,使召陈怀公。怀公朝国人而问焉,曰:”欲与楚者右,欲与吴者左。陈人従田,无田従党。”逢滑当公而进,曰:”臣闻国之兴也以福,其亡也以祸。今吴未有福,楚未有祸。楚未可弃,吴未可従。而晋,盟主也,若以晋辞吴,若何?”公曰:”国胜君亡,非祸而何?”对曰:”国之有是多矣,何必不复。小国犹复,况大国乎?臣闻国之兴也,视民如伤,是其福也。其亡也,以民为土芥,是其祸也。楚虽无德,亦不艾杀其民。吴日敝于兵,暴骨如莽,而未见德焉。天其或者正训楚也!祸之适吴,其何日之有?”陈侯従之。及夫差克越,乃修先君之怨。秋八月,吴侵陈,修旧怨也。
  齐侯、卫侯会于乾侯,救范氏也,师及齐师、卫孔圉、鲜虞人伐晋,取棘蒲。
  吴师在陈,楚大夫皆惧,曰:”阖庐惟能用其民,以败我于柏举。今闻其嗣又甚焉,将若之何?”子西曰:”二三子恤不相睦,无患吴矣。昔阖庐食不二味,居不重席,室不崇坛,器不彤镂,宫室不观,舟车不饰,衣服财用,择不取费。在国,天有灾疠,亲巡孤寡,而共其乏困。在军,熟食者分,而后敢食。其所尝者,卒乘与焉。勤恤其民而与之劳逸,是以民不罢劳,死知不旷。吾先大夫子常易之,所以败我也。今闻夫差次有台榭陂池焉,宿有妃嫱嫔御焉。一日之行,所欲必成,玩好必従。珍异是聚,观乐是务,视民如仇,而用之日新。夫先自败也已。安能败我?”
  冬十一月,晋赵鞅伐朝歌。
  ◎ 哀公二年
  【经】二年春王二月,季孙斯、叔孙州仇、仲孙何忌帅师伐邾,取漷东田及沂西田。癸巳,叔孙州仇、仲孙何忌及邾子盟于句绎。夏四月丙子,卫侯元卒。滕子来朝。晋赵鞅帅师纳卫世子蒯聩于戚。秋八月甲戌,晋赵鞅帅师及郑罕达帅师战于铁,郑师败绩。冬十月,葬卫灵公。十有一月,蔡迁于州来。蔡杀其大夫公子驷。
  【传】二年春,伐邾,将伐绞。邾人爱其土,故赂以淳阝、沂之田而受盟。
  初,卫侯游于郊,子南仆。公曰:”余无子,将立女。”不对。他日,又谓之。对曰:”郢不足以辱社稷,君其改图。君夫人在堂,三揖在下。君命只辱。”
  夏,卫灵公卒。夫人曰:”命公子郢为大子,君命也。”对曰:”郢异于他子。且君没于吾手,若有之,郢必闻之。且亡人之子辄在。”乃立辄。
  六月乙酉,晋赵鞅纳卫大子于戚。宵迷,阳虎曰:”右河而南,必至焉。”使大子絻,八人衰绖,伪自卫逆者。告于门,哭而入,遂居之。
  秋八月,齐人输范氏粟,郑子姚、子般送之。士吉射逆之,赵鞅御之,遇于戚。阳虎曰:”吾车少,以兵车之旆,与罕、驷兵车先陈。罕、驷自后随而従之,彼见吾貌,必有惧心。于是乎会之,必大败之。”従之。卜战,龟焦。乐丁曰:”《诗》曰:’爰始爰谋,爰契我龟。’谋协,以故兆询可也。”简子誓曰:”范氏、中行氏,反易天明,斩艾百姓,欲擅晋国而灭其君。寡君恃郑而保焉。今郑为不道,弃君助臣,二三子顺天明,従君命,经德义,除诟耻,在此行也。克敌者,上大夫受县,下大夫受郡,士田十万,庶人工商遂,人臣隶圉免。志父无罪,君实图之。若其有罪,绞缢以戮,桐棺三寸,不设属辟,素车朴马,无入于兆,下卿之罚也。”甲戌,将战,邮无恤御简子,卫太子为右。登铁上,望见郑师众,大子惧,自投于车下。子良授大子绥而乘之,曰:”妇人也。”简子巡列,曰:”毕万,匹夫也。七战皆获,有马百乘,死于牖下。群子勉之,死不在寇。”繁羽御赵罗,宋勇为右。罗无勇,麇之。吏诘之,御对曰:”痁作而伏。”卫大子祷曰:”会孙蒯聩敢昭告皇祖文王、烈祖康叔、文祖襄公:郑胜乱従,晋午在难,不能治乱,使鞅讨之。蒯聩不敢自佚,备持矛焉。敢告无绝筋,无折骨,无面伤,以集大事,无作三祖羞。大命不敢请,佩玉不敢爱。”
  郑人击简子中肩,毙于车中,获其峰旗。大子救之以戈,郑师北,获温大夫赵罗。大子复伐之,郑师大败,获齐粟千车。赵孟喜曰:”可矣。”傅傁曰:”虽克郑,犹有知在,忧未艾也。”
  初,周人与范氏田,公孙尨税焉。赵氏得而献之,吏请杀之。赵孟曰:”为其主也,何罪?”止而与之田。及铁之战,以徒五百人宵攻郑师,取峰旗于子姚之幕下,献曰:”请报主德。”
  追郑师。姚、般、公孙林殿而射,前列多死。赵孟曰:”国无小。”既战,简子曰:”吾伏弢呕血,鼓音不衰,今日我上也。”大子曰:”吾救主于车,退敌于下,我,右之上也。”邮良曰:”我两靷将绝,吾能止之,我,御之上也。”驾而乘材,两靷皆绝。
  吴泄庸如蔡纳聘,而稍纳师。师毕入,众知之。蔡侯告大夫,杀公子驷以说,哭而迁墓。冬,蔡迁于州来。
  ◎ 哀公三年
  【经】三年春,齐国夏、卫石曼姑帅师围戚。夏四月甲午,地震。五月辛卯,桓宫、僖宫灾。季孙斯、叔孙州仇帅师城启阳。宋乐髡帅师伐曹。秋七月丙子,季孙斯卒。蔡人放其大夫公孙猎于吴。冬十月癸卯,秦伯卒。叔孙州仇、仲孙何忌帅师围邾。
  【传】三年春,齐、卫围戚,救援于中山。
  夏五月辛卯,司铎火。火逾公宫,桓、僖灾。救火者皆曰:”顾府。”南宫敬叔至,命周人出御书,俟于宫,曰:”庀女而不在,死。”子服景伯至,命宰人出礼书,以待命:”命不共,有常刑。”校人乘马,巾车脂辖。百官官备,府库慎守,官人肃给。济濡帷幕,郁攸従之,蒙葺公屋。自大庙始,外内以悛,助所不给。有不用命,则有常刑,无赦。公父文伯至,命校人驾乘车。季桓子至,御公立于象魏之外,命救火者伤人则止,财可为也。命藏《象魏》,曰:”旧章不可亡也。”富父槐至,曰:”无备而官办者,犹拾■也。”于是乎去表之藁,道还公宫。孔子在陈,闻火,曰:”其桓、僖乎!”
  刘氏、范氏世为婚姻,苌弘事刘文公,故周与范氏。赵鞅以为讨。六月癸卯,周人杀苌弘。
  秋,季孙有疾,命正常曰:”无死。南孺子之子,男也,则以告而立之。女也,则肥也可。”季孙卒,康子即位。既葬,康子在朝。南氏生男,正常载以如朝,告曰:”夫子有遗言,命其圉臣曰:’南氏生男,则以告于君与大夫而立之。’今生矣,男也,敢告。”遂奔卫。康子请退。公使共刘视之,则或杀之矣,乃讨之。召正常,正常不反。
  冬十月,晋赵鞅围朝歌,师于其南。荀寅伐其郛,使其徒自北门入,己犯师而出。癸丑,奔邯郸。十一月,赵鞅杀士皋夷,恶范氏也。
  ◎ 哀公四年
  【经】四年春王二月庚戌,盗杀蔡侯申。蔡公孙辰出奔吴。葬秦惠公。宋人执小邾子。夏,蔡杀其大夫公孙姓、公孙霍。晋人执戎蛮子赤归于楚。城西郛。六月辛丑,亳社灾。秋八月甲寅,滕子结卒。冬十有二月,葬蔡昭公。葬滕顷公。
  【传】四年春,蔡昭侯将如吴,诸大夫恐其又迁也,承,公孙翩逐而射之,入于家人而卒。以两矢门之。众莫敢进。文之锴后至,曰:”如墙而进,多而杀二人。”锴执弓而先,翩射之,中肘。锴遂杀之。故逐公孙辰,而杀公孙姓、公孙盱。
  夏,楚人既克夷虎,乃谋北方。左司马眅、申公寿余、叶公诸梁致蔡于负函,致方城之外于缯关,曰:”吴将氵斥江入郢,将奔命焉。”为一昔之期,袭梁及霍。单浮余围蛮氏,蛮氏溃。蛮子赤奔晋阴地。司马起丰、析与狄戎,以临上雒。左师军于菟和,右师军于仓野,使谓阴地之命大夫士蔑曰:”晋、楚有盟,好恶同之。若将不废,寡君之愿也。不然,将通于少习以听命。”士蔑请诸赵孟。赵孟曰:”晋国未宁,安能恶于楚,必速与之。”士蔑乃致九州之戎。将裂田以与蛮子而城之,且将为之卜。蛮子听卜,遂执之,与其五大夫,以畀楚师于三户。司马致邑,立宗焉,以诱其遗民,而尽俘以归。
  秋七月,齐陈乞、弦施、卫宁跪救范氏。庚午,围五鹿。九月,赵鞅围邯郸。冬十一月,邯郸降。荀寅奔鲜虞,赵稷奔临。十二月,弦施逆之,遂堕临。国夏伐晋,取邢、任、栾、鄗、逆畤、阴人、盂、壶口。会鲜虞,纳荀寅于柏人。
  ◎ 哀公五年
  【经】五年春,城毗。夏,齐侯伐宋。晋赵鞅帅师伐卫。秋九月癸酉,齐侯杵臼卒。冬,叔还如齐。闰月,葬齐景公。
  【传】五年春,晋围柏人,荀寅、士吉射奔齐。初,范氏之臣王生恶张柳朔,言诸昭子,使为柏人。昭子曰:”夫非而仇乎?”对曰:”私仇不及公,好不废过,恶不去善,义之经也。臣敢违之?”及范氏出,张柳朔谓其子:”尔従主,勉之!我将止死,王生授我矣。吾不可以僭之。”遂死于柏人。
  夏,赵鞅伐卫,范氏之故也,遂围中牟。
  齐燕姬生子,不成而死,诸子鬻姒之子荼嬖。诸大夫恐其为大子也,言于公曰:”君之齿长矣,未有大子,若之何?”公曰:”二三子间于忧虞,则有疾疢。亦姑谋乐,何忧于无君?”公疾,使国惠子、高昭子立荼,置群公子于莱。秋,齐景公卒。冬十月,公子嘉、公子驹、公子黔奔卫,公子锄、公子阳生来奔。莱人歌之曰:”景公死乎不与埋,三军之事乎不与谋。师乎师乎,何党之乎?”
  郑驷秦富而侈,嬖大夫也,而常陈卿之车服于其庭。郑人恶而杀之。子思曰:”《诗》曰:’不解于位,民之攸塈。’不守其位,而能久者鲜矣。《商颂》曰:’不僭不滥,不敢怠皇,命以多福。'”
  ◎ 哀公六年
  【经】六年春,城邾瑕。晋赵鞅帅师伐鲜虞。吴伐陈。夏,齐国夏及高张来奔。叔还公吴于柤。秋七月庚寅,楚子轸卒。齐阳生入齐。齐陈乞弑其君荼。冬,仲孙何忌帅师伐邾。宋向巢帅师伐曹。
  【传】六年春,晋伐鲜虞,治范氏之乱也。
  吴伐陈,复修旧怨也。楚子曰:”吾先君与陈有盟,不可以不救。”乃救陈,师于城父。
  齐陈乞伪事高、国者,每朝必骖乘焉。所従必言诸大夫,曰:”彼皆偃蹇,将弃子之命。皆曰:’高、国得君,必逼我,盍去诸?’固将谋子,子早图之。图之,莫如尽灭之。需,事之下也。”及朝,则曰:”彼虎狼也,见我在子之侧,杀我无日矣。请就之位。”又谓诸大夫曰:”二子者祸矣!恃得君而欲谋二三子,曰:’国之多难,贵宠之由,尽去之而后君定。’既成谋矣,盍及其未作也,先诸?作而后悔,亦无及也。”大夫従之。
  夏六月戊辰,陈乞、鲍牧及诸大夫,以甲入于公宫。昭子闻之,与惠子乘如公,战于庄,败。国人追之,国夏奔莒,遂及高张、晏圉、弦施来奔。
  秋七月,楚子在城父,将救陈。卜战,不吉;卜退,不吉。王曰:”然则死也!再败楚师,不如死。弃盟逃仇,亦不如死。死一也,其死仇乎!”命公子申为王,不可;则命公子结,亦不可;则命公子启,五辞而后许。将战,王有疾。庚寅,昭王攻大冥,卒于城父。子闾退,曰:”君王舍其子而让,群臣敢忘君乎?従君之命,顺也。立君之子,亦顺也。二顺不可失也。”与子西、子期谋,潜师闭涂,逆越女之子章,立之而后还。
  是岁也,有云如众赤鸟,夹日以飞,三日。楚子使问诸周大史。周大史曰:”其当王身乎!若禜之,可移于令尹、司马。”王曰:”除腹心之疾,而置诸股肱,何益?不谷不有大过,天其夭诸?有罪受罚,又焉移之?”遂弗禜。
  初,昭王有疾。卜曰:”河为祟。”王弗祭。大夫请祭诸郊,王曰:”三代命祀,祭不越望。江、汉、雎、章,楚之望也。祸福之至,不是过也。不谷虽不德,河非所获罪也。”遂弗祭。孔子曰:”楚昭王知大道矣!其不失国也,宜哉!《夏书》曰:’惟彼陶唐,帅彼天常,有此冀方。今失其行,乱其纪纲,乃灭而亡。’又曰:’允出兹在兹。’由己率常可矣。”
  八月,齐邴意兹来奔。
  陈僖子使召公子阳生。阳生驾而见南郭且于,曰:”尝献马于季孙,不入于上乘,故又献此,请与子乘之。”出莱门而告之故。阚止知之,先待诸外。公子曰:”事未可知,反,与壬也处。”戒之,遂行。逮夜,至于齐,国人知之。僖子使子士之母养之,与馈者皆入。
  冬十月丁卯,立之。将盟,鲍子醉而往。其臣差车鲍点曰:”此谁之命也?”陈子曰:”受命于鲍子。”遂诬鲍子曰:”子之命也。”鲍子曰:”女忘君之为孺子牛而折其齿乎?而背之也!”悼公稽首,曰:”吾子奉义而行者也。若我可,不必亡一大夫。若我不可,不必亡一公子。义则进,否则退,敢不唯子是従?废兴无以乱,则所愿也。”鲍子曰:”谁非君之子?”乃受盟。使胡姬以安孺子如赖。去鬻姒,杀王甲,拘江说,囚王豹于句窦之丘。
  公使朱毛告于陈子,曰:”微子则不及此。然君异于器,不可以二。器二不匮,君二多难,敢布诸大夫。”僖子不对而泣,曰:”君举不信群臣乎?以齐国之困,困又有忧。少君不可以访,是以求长君,庶亦能容群臣乎!不然,夫孺子何罪?”毛复命,公悔之。毛曰:”君大访于陈子,而图其小可也。”使毛迁孺子于骀,不至,杀诸野幕之下,葬诸殳冒淳。
  ◎ 哀公七年
  【经】七年春,宋皇瑗帅师侵郑。晋魏曼多帅师侵卫。夏,公会吴于鄫。秋,公伐邾。八月己酉,入邾,以邾子益来。宋人围曹。冬,郑驷弘帅师救曹。
  【传】七年春,宋师侵郑,郑叛晋故也。
  晋师侵卫,卫不服也。
  夏,公会吴于鄫。吴来征百牢,子服景伯对曰:”先王未之有也。”吴人曰:”宋百牢我,鲁不可以后宋。且鲁牢晋大夫过十,吴王百牢,不亦可乎?”景伯曰:”晋范鞅贪而弃礼,以大国惧敝邑,故敝邑十一牢之。君若以礼命于诸侯,则有数矣。若亦弃礼,则有淫者矣。周之王也,制礼,上物不过十二,以为天之大数也。今弃周礼,而曰必百牢,亦唯执事。”吴人弗听。景伯曰:”吴将亡矣!弃天而背本不与,必弃疾于我。”乃与之。
  大宰嚭召季康子,康子使子贡辞。大宰嚭曰:”国君道长,而大夫不出门,此何礼也?”对曰:”岂以为礼?畏大国也。大国不以礼命于诸侯,苟不以礼,岂可量也?寡君既共命焉,其老岂敢弃其国?大伯端委以治周礼,仲雍嗣之,断发文身,赢以为饰,岂礼也哉?有由然也。”反自鄫,以吴为无能为也。
  季康子欲伐邾,乃飨大夫以谋之。子服景伯曰:”小所以事大,信也。大所以保小,仁也。背大国,不信。伐小国,不仁。民保于城,城保于德,失二德者,危,将焉保?”孟孙曰:”二三子以为何如?恶贤而逆之?”对曰:”禹合诸侯于涂山,执玉帛者万国。今其存者,无数十焉。唯大不字小,小不事大也。知必危,何故不言?鲁德如邾,而以众加之,可乎?”不乐而出。
  秋,伐邾,及范门,犹闻钟声。大夫谏,不听,茅成子请告于吴,不许,曰:”鲁击柝闻于邾,吴二千里,不三月不至,何及于我?且国内岂不足?”成子以茅叛,师遂入邾,处其公宫,众师昼掠,邾众保于绎。师宵掠,以邾子益来,献于亳社,囚诸负瑕。负瑕故有绎。邾茅夷鸿以束帛乘韦,自请救于吴,曰:”鲁弱晋而远吴,冯恃其众,而背君之盟,辟君之执事,以陵我小国。邾非敢自爱也,惧君威之不立。君威之不立,小国之忧也。若夏盟于鄫衍,秋而背之,成求而不违,四方诸侯,其何以事君?且鲁赋八百乘,君之贰也。邾赋六百乘,君之私也。以私奉贰,唯君图之。”吴子従之。
  宋人围曹。郑桓子思曰:”宋人有曹,郑之患也。不可以不救。”冬,郑师救曹,侵宋。
  初,曹人或梦众君子立于社宫,而谋亡曹,曹叔振铎请待公孙强,许之。旦而求之曹,无之。戒其子曰:”我死,尔闻公孙强为政,必去之。”及曹伯阳即位,好田弋。曹鄙人公孙强好弋,获白雁,献之,且言田弋之说,说之。因访政事,大说之。有宠,使为司城以听政。梦者之子乃行。强言霸说于曹伯,曹伯従之,乃背晋而奸宋。宋人伐之,晋人不救。筑五邑于其郊,曰黍丘、揖丘、大城、钟、邗。
  ◎ 哀公八年
  【经】八年春王正月,宋公入曹,以曹伯阳归。吴伐我。夏,齐人取讙及阐。归邾子益子邾。秋七月。冬十有二月癸亥,杞伯过卒。齐人归讙及阐。
  【传】八年春,宋公伐曹,将还,褚师子肥殿。曹人诟之,不行,师待之。公闻之,怒,命反之,遂灭曹。执曹伯及司城强以归,杀之。
  吴为邾故,将伐鲁,问于叔孙辄。叔孙辄对曰:”鲁有名而无情,伐之,必得志焉。”退而告公山不狃。公山不狃曰:”非礼也。君子违,不适仇国。未臣而有伐之,奔命焉,死之可也。所托也则隐。且夫人之行也,不以所恶废乡。今子以小恶而欲覆宗国,不亦难乎?若使子率,子必辞,王将使我。”子张疾之。王问于子泄,对曰:”鲁虽无与立,必有与毙;诸侯将救之,未可以得志焉。晋与齐、楚辅之,是四仇也。夫鲁、齐、晋之唇,唇亡齿寒,君所知也。不救何为?”
  三月,吴伐我,子泄率,故道险,従武城。初,武城人或有因于吴竟田焉,拘鄫谒之沤菅者,曰:”何故使吾水滋?”及吴师至,拘者道之,以伐武城,克之。王犯尝为之宰,澹台子羽之父好焉。国人惧,懿子谓景伯:”若之何?”对曰:”吴师来,斯与之战,何患焉?且召之而至,又何求焉?”吴师克东阳而进,舍于五梧,明日,舍于蚕室。公宾庚、公甲叔子与战于夷,获叔子与析朱锄。献于王,王曰:”此同车,必使能,国未可望也。”明日,舍于庚宗,遂次于泗上。微虎欲宵攻王舍,私属徒七百人,三踊于幕庭,卒三百人,有若与焉,及稷门之内。或谓季孙曰:”不足以害吴,而多杀国士,不如已也。”乃止之。吴子闻之,一夕三迁。吴人行成,将盟。景伯曰:”楚人围宋,易子而食,析骸而爨,犹无城下之盟。我未及亏,而有城下之盟,是弃国也。吴轻而远,不能久,将归V请少待之。”弗従。景伯负载,造于莱门,乃请释子服何于吴,吴人许之。以王子姑曹当之,而后止。吴人盟而还。
  齐悼公之来也,季康子以其妹妻之,即位而逆之。季鲂侯通焉,女言其情,弗敢与也。齐侯怒,夏五月,齐鲍牧帅师伐我,取讙及阐。
  或谮胡姬于齐侯,曰:”安孺子之党也。”六月,齐侯杀胡姬。
  齐侯使如吴请师,将以伐我,乃归邾子。邾子又无道,吴子使大宰子余讨之,囚诸楼台,栫之以棘。使诸大夫奉大子革以为政。
  秋,及齐平。九月,臧宾如如齐莅盟,齐闾丘明来莅盟,且逆季姬以归,嬖。
  鲍牧又谓群公子曰:”使女有马千乘乎?”公子愬之。公谓鲍子:”或谮子,子姑居于潞以察之。若有之,则分室以行。若无之,则反子之所。”出门,使以三分之一行。半道,使以二乘。及潞,麇之以入,遂杀之。
  冬十二月,齐人归讙及阐,季姬嬖故也。
  ◎ 哀公九年
  【经】九年春王二月,葬杞僖公。宋皇瑗帅师取郑师于雍丘。夏,楚人伐陈。秋,宋公伐郑。冬十月。
  【传】九年春,齐侯使公孟绰辞师于吴。吴子曰:”昔岁寡人闻命。今又革之,不知所従,将进受命于君。”
  郑武子賸之嬖许瑕求邑,无以与之。请外取,许之。故围宋雍丘。宋皇瑗围郑师,每日迁舍,垒合,郑师哭。子姚救之,大败。二月甲戌,宋取郑师于雍丘,使有能者无死,以郏张与郑罗归。
  夏,楚人伐陈,陈即吴故也。
  宋公伐郑。
  秋,吴城邗,沟通江、淮。
  晋赵鞅卜救郑,遇水适火,占诸史赵、史墨、史龟。史龟曰:”是谓沈阳,可以兴兵。利以伐姜,不利子商。伐齐则可,敌宋不吉。”史墨曰:”盈,水名也。子,水位也。名位敌,不可干也。炎帝为火师,姜姓其后也。水胜火,伐姜则可。”史赵曰:”是谓如川之满,不可游也。郑方有罪,不可救也。救郑则不吉,不知其他。”阳虎以《周易》筮之,遇《泰》ⅱⅰ之《需》ⅴⅰ,曰:”宋方吉,不可与也。微子启,帝乙之元子也。宋、郑,甥舅也。祉,禄也。若帝乙之元子归妹,而有吉禄,我安得吉焉?”乃止。
  冬,吴子使来亻敬师伐齐。
  ◎ 哀公十年
  【经】十年春王二月,邾子益来奔。公会吴伐齐。三月戊戌,齐侯阳生卒。夏,宋人伐郑。晋赵鞅帅师侵齐。五月,公至自伐齐。葬齐悼公。卫公孟彄自齐归于卫。薛伯夷卒。秋,葬薛惠公。冬,楚公子结帅师伐陈。吴救陈。
  【传】十年春,邾隐公来奔。齐甥也,故遂奔齐。
  公会吴子、邾子、郯子伐齐南鄙,师于鄎。齐人弑悼公,赴于师。吴子三日哭于军门之外。徐承帅舟师,将自海入齐,齐人败之,吴师乃还。
  夏,赵鞅帅师伐齐,大夫请卜之。赵孟曰:”吾卜于此起兵,事不再令,卜不袭吉,行也。”于是乎取犁及辕,毁高唐之郭,侵及赖而还。
  秋,吴子使来复亻〗敬师。
  冬,楚子期伐陈。吴延州来季子救陈,谓子期曰:”二君不务德,而力争诸侯,民何罪焉?我请退,以为子名,务德而安民。”乃还。
  ◎ 哀公十一年
  【经】十有一年春,齐国书帅师伐我。夏,陈辕颇出奔郑。五月,公会吴伐齐。甲戌,齐国书帅师及吴战于艾陵,齐师败绩,获齐国书。秋七月辛酉,滕子虞母卒。冬十有一月,葬滕隐公。卫世叔齐出奔宋。
  【传】十一年春,齐为鄎故,国书、高无丕帅师伐我,及清。季孙谓其宰冉求曰:”齐师在清,必鲁故也。若之何?”求曰:”一子守,二子従公御诸竟。”季孙曰:”不能。”求曰:”居封疆之间。”季孙告二子,二子不可。求曰:”若不可,则君无出。一子帅师,背城而战。不属者,非鲁人也。鲁之群室,众于齐之兵车。一室敌车,优矣。子何患焉?二子之不欲战也宜,政在季氏。当子之身,齐人伐鲁而不能战,子之耻也。大不列于诸侯矣。”季孙使従于朝,俟于党氏之沟。武叔呼而问战焉,对曰:”君子有远虑,小人何知?”懿子强问之,对曰:”小人虑材而言,量力而共者也。”武叔曰:”是谓我不成丈夫也。”退而蒐乘,孟孺子泄帅右师,颜羽御,邴泄为右。冉求帅左师,管周父御,樊迟为右。季孙曰:”须也弱。”有子曰:”就用命焉。”季氏之甲七千,冉有以武城人三百为己徒卒。老幼守宫,次于雩门之外。五日,右师従之。公叔务人见保者而泣,曰:”事充政重,上不能谋,士不能死,何以治民?吾既言之矣,敢不勉乎!”
  师及齐师战于郊,齐师自稷曲,师不逾沟。樊迟曰:”非不能也,不信子也。请三刻而逾之。”如之,众従之。师入齐军,右师奔,齐人従之,陈瓘、陈庄涉泗。孟之侧后入以为殿,抽矢策其马,曰:”马不进也。”林不狃之伍曰:”走乎?”不狃曰:”谁不如?”曰:”然则止乎?”不狃曰:”恶贤?”徐步而死。师获甲首八十,齐人不能师。宵,谍曰:”齐人遁。”冉有请従之三,季孙弗许。孟孺子语人曰:”我不如颜羽,而贤于邴泄。子羽锐敏,我不欲战而能默。泄曰:’驱之。'”公为与其嬖僮汪锜乘,皆死,皆殡。孔子曰:”能执干戈以卫社稷,可无殇也。”冉有用矛于齐师,故能入其军。孔子曰:”义也。”
  夏,陈辕颇出奔郑。初,辕颇为司徒,赋封田以嫁公女。有余,以为己大器。国人逐之,故出。道渴,其族辕咺进稻醴、梁糗、糗脯焉。喜曰:”何其给也?”对曰:”器成而具。”曰:”何不吾谏?”对曰:”惧先行。”
  为郊战故,公会吴子伐齐。五月,克博,壬申,至于羸。中军従王,胥门巢将上军,王子姑曹将下军,展如将右军。齐国书将中军,高无丕将上军,宗楼将下军。陈僖子谓其弟书:”尔死,我必得志。”宗子阳与闾丘明相厉也。桑掩胥御国子,公孙夏曰:”二子必死。”将战,公孙夏命其徒歌《虞殡》。陈子行命其徒具含玉。公孙挥命其徒曰:”人寻约,吴发短。”东郭书曰:”三战必死,于此三矣。”使问弦多以琴,曰:”吾不复见子矣。”陈书曰:”此行也,吾闻鼓而已,不闻金矣。”
  甲戌,战于艾陵,展如败高子,国子败胥门巢。王卒助之,大败齐师。获国书、公孙夏、闾丘明、陈书、东郭书,革车八百乘,甲首三千,以献于公。将战,吴子呼叔孙,曰:”而事何也?”对曰:”従司马。”王赐之甲、剑、铍,曰:”奉尔君事,敬无废命。”叔孙未能对,卫赐进,曰:”州仇奉甲従君。”而拜。公使大史固归国子之元,置之新箧,褽之以玄纁,加组带焉。置书于其上,曰:”天若不识不衷,何以使下国?”
  吴将伐齐,越子率其众以朝焉,王及列士,皆有馈赂。吴人皆喜,惟子胥惧,曰:”是豢吴也夫!”谏曰:”越在我,心腹之疾也。壤地同,而有欲于我。夫其柔服,求济其欲也,不如早従事焉。得志于齐,犹获石田也,无所用之。越不为沼,吴其泯矣,使医除疾,而曰:’必遗类焉’者,未之有也。《盘庚之诰》曰:’其有颠越不共,则劓殄无遗育,无俾易种于兹邑。’是商所以兴也。今君易之,将以求大,不亦难乎?”弗听,使于齐,属其子于鲍氏,为王孙氏。反役,王闻之,使赐之属镂以死,将死,曰:”树吾墓梵槚槚可材也。吴其亡乎!三年,其始弱矣。盈必毁,天之道也。”
  秋,季孙命修守备,曰:”小胜大,祸也。齐至无日矣。”
  冬,卫大叔疾出奔宋。初,疾娶于宋子朝,其娣嬖。子朝出。孔文子使疾出其妻而妻之。疾使侍人诱其初妻之娣,置于犁,而为之一宫,如二妻。文子怒,欲攻之。仲尼止之。遂夺其妻。或淫于外州,外州人夺之轩以献。耻是二者,故出。卫人立遗,使室孔姞。疾臣向魋纳美珠焉,与之城锄。宋公求珠,魋不与,由是得罪。及桓氏出,城锄人攻大叔疾,卫庄公复之。使处巢,死焉。殡于郧,葬于少禘。
  初,晋悼公子慭亡在卫,使其女仆而田。大叔懿子止而饮之酒,遂聘之,生悼子。悼子即位,故夏戊为大夫。悼子亡,卫人翦夏戊。孔文子之将攻大叔也,访于仲尼。仲尼曰:”胡簋之事,则尝学之矣。甲兵之事,未之闻也。”退,命驾而行,曰:”鸟则择木,木岂能择鸟?”文子遽止之,曰:”圉岂敢度其私,访卫国之难也。”将止。鲁人以币召之,乃归。
  季孙欲以田赋,使冉有访诸仲尼。仲尼曰:”丘不识也。”三发,卒曰:”子为国老,待子而行,若之何子之不言也?”仲尼不对。而私于冉有曰:”君子之行也,度于礼,施取其厚,事举其中,敛従其薄。如是则以丘亦足矣。若不度于礼,而贪冒无厌,则虽以田赋,将又不足。且子季孙若欲行而法,则周公之典在。若欲苟而行,又何访焉?”弗听。
  ◎ 哀公十二年
  【经】十有二年春,用田赋。夏五月甲辰,孟子卒。公会吴于皋阜。秋,公会卫侯、宋皇瑗于郧。宋向巢帅师伐郑。冬十有二月,螽。
  【传】十二年春,王正月,用田赋。
  夏五月,昭夫人孟子卒。昭公娶于吴,故不书姓。死不赴,故不称夫人。不反哭,故言不葬小君。孔子与吊,适季氏。季氏不絻,放绖而拜。
  公会吴于橐皋。吴子使大宰嚭请寻盟。公不欲,使子贡对曰:”盟所以周信也,故心以制之,玉帛以奉之,言以结之,明神以要之。寡君以为苟有盟焉,弗可改也已。若犹可改,日盟何益?今吾子曰:’必寻盟。’若可寻也,亦可寒也。”乃不寻盟。
  吴征会于卫。初,卫人杀吴行人且姚而惧,谋于行人子羽。子羽曰:”吴方无道,无乃辱吾君,不如止也。”子木曰:”吴方无道,国无道,必弃疾于人。吴虽无道,犹足以患卫。往也。长木之毙,无不噬也。国狗之,无不噬也。而况大国乎?”
  秋,卫侯会吴于郧。公及卫侯、宋皇瑗盟,而卒辞吴盟。吴人藩卫侯之舍。子服景伯谓子贡曰:”夫诸侯之会,事既毕矣,侯伯致礼,地主归饩,以相辞也。今吴不行礼于卫,而藩其君舍以难之,子盍见大宰?”乃请束锦以行。语及卫故,大宰嚭曰:”寡君愿事卫君,卫君之来也缓,寡君惧,故将止之。”子贡曰:”卫君之来,必谋于其众。其众或欲或否,是以缓来。其欲来者,子之党也。其不欲来者,子之仇也。若执卫君,是堕党而崇仇也。夫堕子者得其志矣!且合诸侯而执卫君,谁敢不惧?堕党崇仇,而惧诸侯,或者难以霸乎!”大宰嚭说,乃舍卫侯。卫侯归,效夷言。子之尚幼,曰:”君必不免,其死于夷乎!执焉,而又说其言,従之固矣。”
  冬十二月,螽。季孙问诸仲尼,仲尼曰:”丘闻之,火伏而后蜇者毕。今火犹西流,司历过也。”
  宋郑之间有隙地焉,曰弥作、顷丘、玉畅、岩、戈、锡。子产与宋人为成,曰:”勿有是。”及宋平、元之族自萧奔郑,郑人为之城岩、戈、锡。九月,宋向巢伐郑,取锡,杀元公之孙,遂围岩。十二月,郑罕达救岩。丙申,围宋师。
  ◎ 哀公十三年
  【经】十有三年春,郑罕达帅师取宋师于岩。夏,许男成卒。公会晋侯及吴子于黄池。楚公子申帅师伐陈。于越入吴。秋,公至自会。晋魏曼多帅师侵卫。葬许元公。九月,螽。冬十有一月,有星孛于东方。盗杀陈夏区夫。十有二月,螽。
  【传】十三年春,宋向魋救其师。郑子剩使徇曰:”得桓魋者有赏。”魋也逃归,遂取宋师于岩,获成讙、郜延。以六邑为虚。
  夏,公会单平公、晋定公、吴夫差于黄池。
  六月丙子,越子伐吴,为二隧。畴无余、讴阳自南方,先及郊。吴大子友、王子地、王孙弥庸、寿于姚自泓上观之。弥庸见姑蔑之旗,曰:”吾父之旗也。不可以见仇而弗杀也。”大子曰:”战而不克,将亡国。请待之。”弥庸不可,属徒五千,王子地助之。乙酉,战,弥庸获畴无余,地获讴阳。越子至,王子地守。丙戌,复战,大败吴师。获大子友、王孙弥庸、寿于姚。丁亥,入吴。吴人告败于王,王恶其闻也,自刭七人于幕下。
  秋七月辛丑,盟,吴、晋争先。吴人曰:”于周室,我为长。”晋人曰:”于姬姓,我为伯。”赵鞅呼司马寅曰:”日旰矣,大事未成,二臣之罪也。建鼓整列,二臣死之,长幼必可知也。”对曰:”请姑视之。”反,曰:”肉食者无墨。今吴王有墨,国胜乎?大子死乎?且夷德轻,不忍久,请少待之。”乃先晋人。吴人将以公见晋侯,子服景伯对使者曰:”王合诸侯,则伯帅侯牧以见于王。伯合诸侯,则侯帅子男以见于伯。自王以下,朝聘玉帛不同。故敝邑之职贡于吴,有丰于晋,无不及焉,以为伯也。今诸侯会,而君将以寡君见晋君,则晋成为伯矣,敝邑将改职贡。鲁赋于吴八百乘,若为子男,则将半邾以属于吴,而如邾以事晋。且执事以伯召诸侯,而以侯终之,何利之有焉?”吴人乃止。既而悔之,将囚景伯,景伯曰:”何也立后于鲁矣。将以二乘与六人従,迟速唯命。”遂囚以还。及户牖,谓大宰曰:”鲁将以十月上辛,有事于上帝先王,季辛而毕。何世有职焉,自襄以来,未之改也。若不会,祝宗将曰:’吴实然。’且谓鲁不共,而执其贱者七人,何损焉?”大宰嚭言于王曰:”无损于鲁,而只为名,不如归之。”乃归景伯。
  吴申叔仪乞粮于公孙有山氏,曰:”佩玉、■忌兮,余无所系之。旨酒一盛兮,余与褐之父睨之。”对曰:”梁则无矣,粗则有之。若登首山以呼曰:’庚癸乎!’则诺。”
  王欲伐宋,杀其丈夫而囚其妇人。大宰嚭曰:”可胜也,而弗能居也。”乃归。
  冬,吴及越平。
  ◎ 哀公十四年
  【经】十有四年春,西狩获麟。小邾射以句绎来奔。夏四月,齐陈忄互执其君,置于舒州。庚戌,叔还卒。五月庚申朔,日有食之。陈宗竖出奔楚。宋向魋入于曹以叛。莒子狂卒。六月,宋向魋自曹出奔卫。宋向巢来奔。齐人弑其君壬于舒州。秋,晋赵鞅帅师伐卫。八月辛丑,仲孙何忌卒。冬,陈宗竖自楚复入于陈,陈人杀之。陈辕买出奔楚。有星孛。饥。
  【传】十四年春,西狩于大野,叔孙氏之车子锄商获麟,以为不祥,以赐虞人。仲尼观之,曰:”麟也。”然后取之。
  小邾射以句绎来奔,曰:”使季路要我,吾无盟矣。”使子路,子路辞。季康子使冉有谓之曰:”千乘之国,不信其盟,而信子之言,子何辱焉?”对曰:”鲁有事于小邾,不敢问故,死其城下可也。彼不臣而济其言,是义之也。由弗能。”
  齐简公之在鲁也,阚止有宠焉。及即位,使为政。陈成子惮之,骤顾诸朝。诸御鞅言于公曰:”陈、阚不可并也,君其择焉。”弗听。子我夕,陈逆杀人,逢之,遂执以入。陈氏方睦,使疾,而遗之潘沐,备酒肉焉,飨守囚者,醉而杀之,而逃。子我盟诸陈于陈宗。
  初,陈豹欲为子我臣,使公孙言己,已有丧而止。既,而言之,曰:”有陈豹者,长而上偻,望视,事君子必得志,欲为子臣。吾惮其为人也,故缓以告。”子我曰:”何害?是其在我也。”使为臣。他日,与之言政,说,遂有宠,谓之曰:”我尽逐陈氏,而立女,若何?”对曰:”我远于陈氏矣。且其违者,不过数人,何尽逐焉?”遂告陈氏。子行曰:”彼得君,弗先,必祸子。”子行舍于公宫。
  夏五月壬申,成子兄弟四乘如公。子我在幄,出,逆之。遂入,闭门。侍人御之,子行杀侍人。公与妇人饮酒于檀台,成子迁诸寝。公执戈,将击之。大史子余曰:”非不利也,将除害也。”成子出舍于库,闻公犹怒,将出,曰:”何所无君?”子行抽剑,曰:”需,事之贼也。谁非陈宗?所不杀子者,有如陈宗!”乃止。子我归,属徒,攻闱与大门,皆不胜,乃出。陈氏追之,失道于弇中,适丰丘。丰丘人执之,以告,杀诸郭关。成子将杀大陆子方,陈逆请而免之。以公命取车于道,及耏,众知而东之。出雍门,陈豹与之车,弗受,曰:”逆为余请,豹与余车,余有私焉。事子我而有私于其仇,何以见鲁、卫之士?”东郭贾奔卫。
  庚辰,陈恒执公于舒州。公曰:”吾早従鞅之言,不及此。”
  宋桓魋之宠害于公,公使夫人骤请享焉,而将讨之。未及,魋先谋公,请以鞍易薄,公曰:”不可。薄,宗邑也。”乃益鞍七邑,而请享公焉。以日中为期,家备尽往。公知之,告皇野曰:”余长魋也,今将祸余,请即救。”司马子仲曰:”有臣不顺,神之所恶也,而况人乎?敢不承命。不得左师不可,请以君命召之。”左师每食击钟。闻钟声,公曰:”夫子将食。”既食,又奏。公曰:”可矣。”以乘车往,曰:”迹人来告曰:’逢泽有介麇焉。’公曰:’虽魋未来,得左师,吾与之田,若何?’君惮告子。野曰:’尝私焉。’君欲速,故以乘车逆子。”与之乘,至,公告之故,拜,不能起。司马曰:”君与之言。”公曰:”所难子者,上有天,下有先君。”对曰:”魋之不共,宋之祸也,敢不唯命是听。”司马请瑞焉,以命其徒攻桓氏。其父兄故臣曰:”不可。”其新臣曰:”従吾君之命。”遂攻之。子颀骋而告桓司马。司马欲入,子车止之,曰:”不能事君,而又伐国,民不与也,只取死焉。”向魋遂入于曹以叛。六月,使左师巢伐之。欲质大夫以入焉,不能。亦入于曹,取质。魋曰:”不可。既不能事君,又得罪于民,将若之何?”乃舍之。民遂叛之。向魋奔卫。向巢来奔,宋公使止之,曰:”寡人与子有言矣,不可以绝向氏之祀。”辞曰:”臣之罪大,尽灭桓氏可也。若以先臣之故,而使有后,君之惠也。若臣,则不可以入矣。”
  司马牛致其邑与珪焉,而适齐。向魋出于卫地,公文氏攻之,求夏后氏之璜焉。与之他玉,而奔齐,陈成子使为次卿。司马牛又致其邑焉,而适吴。吴人恶之,而反。赵简子召之,陈成子亦召之。卒于鲁郭门之外,阬氏葬诸丘舆。
  甲午,齐陈恒弑其君壬于舒州。孔丘三日齐,而请伐齐三。公曰:”鲁为齐弱久矣,子之伐之,将若之何?”对曰:”陈恒弑其君,民之不与者半。以鲁之众,加齐之半,可克也。”公曰:”子告季孙。”孔子辞。退而告人曰:”吾以従大夫之后也,故不敢不言。”
  初,孟孺子泄将圉马于成。成宰公孙宿不受,曰:”孟孙为成之病,不圉马焉。”孺子怒,袭成。従者不得入,乃反。成有司使,孺子鞭之。秋八月辛丑,孟懿子卒。成人奔丧,弗内。袒免哭于衢,听共,弗许。惧,不归。
  ◎ 哀公十五年
  【经】十有五年春王正月,成叛。夏五月,齐高无ぶ出奔北燕。郑伯伐宋。秋八月,大雩。晋赵鞅帅师伐卫。冬,晋侯伐郑。及齐平。卫公孟彄出奔齐。
  【传】十五年春,成叛于齐。武伯伐成,不克,遂城输。
  夏,楚子西、子期伐吴,乃桐汭。陈侯使公孙贞子吊焉,及良而卒,将以尸入。吴子使大宰嚭劳,且辞曰:”以水潦之不时,无乃廪然陨大夫之尸,以重寡君之忧。寡君敢辞。”上介芋尹盖对曰:”寡君闻楚为不道,荐伐吴国,灭厥民人。寡君使盖备使,吊君之下吏。无禄,使人逢天之戚,大命陨队,绝世于良,废日共积,一日迁次。今君命逆使人曰:’无以尸造于门。’是我寡君之命委于草莽也。且臣闻之曰:’事死如事生,礼也。’于是乎有朝聘而终,以尸将事之礼。又有朝聘而遭丧之礼。若不以尸将命,是遭丧而还也,无乃不可乎!以礼防民,犹或逾之。今大夫曰:’死而弃之’,是弃礼也。其何以为诸侯主?先民有言曰:’无秽虐士。’备使奉尸将命,苟我寡君之命达于君所,虽陨于深渊,则天命也,非君与涉人之过也。”吴人内之。
  秋,齐陈瓘如楚。过卫,仲田见之,曰:”天或者以陈氏为斧斤,既斫丧公室,而他人有之,不可知也。其使终飨之,亦不可知也。若善鲁以待时,不亦可乎?何必恶焉?”子玉曰:”然,吾受命矣,子使告我弟。”
  冬,及齐平。子服景伯如齐,子赣为介,见公孙成,曰:”人皆臣人,而有背人之心。况齐人虽为子役,其有不贰乎?子,周公之孙也,多飨大利,犹思不义。利不可得,而丧宗国,将焉用之?”成曰:”善哉!吾不早闻命。”
  陈成子馆客,曰:”寡君使恒告曰:’寡君愿事君如事卫君。'”景伯揖子赣而进之。对曰:”寡君之愿也。昔晋人伐卫,齐为卫故,伐晋冠氏,丧车五百,因与卫地,自济以西,禚、媚、杏以南,书社五百。吴人加敝邑以乱,齐因其病,取讙与阐。寡君是以寒心。若得视卫君之事君也,则固所愿也。”成子病之,乃归成。公孙宿以其兵甲入于嬴。
  卫孔圉取大子蒯聩之姊,生悝。孔氏之竖浑良夫长而美,孔文子卒,通于内。大子在戚,孔姬使之焉。大子与之言曰:”苟使我入获国,服冕乘轩,三死无与。”与之盟,为请于伯姬。
  闰月,良夫与大子入,舍于孔氏之外圃。昏,二人蒙衣而乘,寺人罗御,如孔氏。孔氏之老栾宁问之,称姻妾以告。遂入,适伯姬氏。既食,孔伯姬杖戈而先,大子与五人介,舆豭従之。迫孔悝于厕,强盟之,遂劫以登台。栾宁将饮酒,炙未熟,闻乱,使告季子。召获驾乘车,行爵食炙,奉卫侯辄来奔。季子将入,遇子羔将出,曰:”门已闭矣。”季子曰:”吾姑至焉。”子羔曰:”弗及,不践其难。”季子曰:”食焉,不辟其难。”子羔遂出。子路入,及门,公孙敢门焉,曰:”无入为也。”季子曰:”是公孙,求利焉而逃其难。由不然,利其禄,必救其患。”有使者出,乃入。曰:”大子焉用孔悝?虽杀之,必或继之。”且曰:”大子无勇,若燔台,半,必舍孔叔。”大子闻之,惧,下石乞、盂黡敌子路。以戈击之,断缨。子路曰:”君子死,冠不免。”结缨而死。孔子闻卫乱,曰:”柴也其来,由也死矣。”孔悝立庄公。庄公害故政,欲尽去之,先谓司徒瞒成曰:”寡人离病于外久矣,子请亦尝之。”归告褚师比,欲与之伐公,不果。
  ◎ 哀公十六年
  【经】十有六年春王正月己卯,卫世子蒯聩自戚入于卫,卫侯辄来奔。二月,卫子还成出奔宋。夏四月己丑,孔丘卒。
  【传】十六年春,瞒成、褚师比出奔宋。
  卫侯使鄢武子告于周曰:”蒯聩得罪于君父君母,逋窜于晋。晋以王室之故,不弃兄弟,置诸河上。天诱其衷,获嗣守封焉。使下臣肸敢告执事。”王使单平公对曰:”肸以嘉命来告余一人。往谓叔父,余嘉乃成世,复尔禄次。敬之哉!方天之休,弗敬弗休,悔其可追?”
  夏四月己丑,孔丘卒。公诔之曰:”旻天不吊,不慭遗一老。俾屏余一人以在位,茕茕余在疚。呜呼哀哉!尼父。无自律。”子赣曰:”君其不没于鲁乎!夫子之言曰:’礼失则昏,名失则愆。’失志为昏,失所为愆。生不能用,死而诔之,非礼也。称一人,非名也。君两失之。”
  六月,卫侯饮孔悝酒于平阳,重酬之,大夫皆有纳焉。醉而送之,夜半而遣之。载伯姬于平阳而行,及西门,使贰车反祏于西圃。子伯季子初为孔氏臣,新登于公,请追之,遇载祏者,杀而乘其车。许公为反祏,遇之,曰:”与不仁人争明,无不胜。”必使先射,射三发,皆远许为。许为射之,殪。或以其车従,得祏于囊中。孔悝出奔宋。
  楚大子建之遇谗也,自城父奔宋。又辟华氏之乱于郑,郑人甚善之。又适晋,与晋人谋袭郑,乃求复焉。郑人复之如初。晋人使谍于子木,请行而期焉。子木暴虐于其私邑,邑人诉之。郑人省之,得晋谍焉。遂杀子木。其子曰胜,在吴。子西欲召之,叶公曰:”吾闻胜也诈而乱,无乃害乎?”子西曰:”吾闻胜也信而勇,不为不利,舍诸边竟,使卫藩焉。”叶公曰:”周仁之谓信,率义之谓勇。吾闻胜也好复言,而求死士,殆有私乎?复言,非信也。期死,非勇也。子必悔之。”弗従。召之使处吴竟,为白公。请伐郑,子西曰:”楚未节也。不然,吾不忘也。”他日,又请,许之。未起师,晋人伐郑,楚救之,与之盟。胜怒,曰:”郑人在此,仇不远矣。”
  胜自厉剑,子期之子平见之,曰:”王孙何自厉也?”曰:”胜以直闻,不告女,庸为直乎?将以杀尔父。”平以告子西。子西曰:”胜如卵,余翼而长之。楚国第,我死,令尹、司马,非胜而谁?”胜闻之,曰:”令尹之狂也!得死,乃非我。”子西不悛。胜谓石乞曰:”王与二卿士,皆五百人当之,则可矣。”乞曰:”不可得也。”曰:”市南有熊宜僚者,若得之,可以当五百人矣。”乃従白公而见之,与之言,说。告之故,辞。承之以剑,不动。胜曰:”不为利谄,不为威惕,不泄人言以求媚者,去之。”
  吴人伐慎,白公败之。请以战备献,许之。遂作乱。秋七月,杀子西、子期于朝,而劫惠王。子西以袂掩面而死。子期曰:”昔者吾以力事君,不可以弗终。”抉豫章以杀人而后死。石乞曰:”焚库弑王,不然不济。”白公曰:”不可。弑王,不祥,焚库,无聚,将何以守矣?”乞曰:”有楚国而治其民,以敬事神,可以得祥,且有聚矣,何患?”弗従。叶公在蔡,方城之外皆曰:”可以入矣。”子高曰:”吾闻之,以险侥幸者,其求无餍,偏重必离。”闻其杀齐管修也而后入。
  白公欲以子闾为王,子闾不可,遂劫以兵。子闾曰:”王孙若安靖楚国,匡正王室,而后庇焉,启之愿也,敢不听従。若将专利以倾王室,不顾楚国,有死不能。”遂杀之,而以王如高府,石乞尹门,圉公阳穴宫,负王以如昭夫人之宫。叶公亦至,及北门,或遇之,曰:”君胡不胄?国人望君如望慈父母焉。盗贼之矢若伤君,是绝民望也。若之何不胄?”乃胄而进。又遇一人曰:”君胡胄?国人望君如望岁焉,日日以几。若见君面,是得艾也。民知不死,其亦夫有奋心,犹将旌君以徇于国,而反掩面以绝民望,不亦甚乎?”乃免胄而进。遇箴尹固,帅其属将与白公。子高曰:”微二子者,楚不国矣。弃德従贼,其可保乎?”乃従叶公。使与国人以攻白公。白公奔山而缢,其徒微之。生拘石乞而问白公之死焉,对曰:”余知其死所,而长者使余勿言。”曰:”不言将烹。”乞曰:”此事克则为卿,不克则烹,固其所也,何害?”乃烹石乞。王孙燕奔頯黄氏。诸梁兼二事,国宁,乃使宁为令尹,使宽为司马,而老于叶。
  卫侯占梦,嬖人求酒于大叔僖子,不得,与卜人比而告公曰:”君有大臣在西南隅,弗去,惧害。”乃逐大叔遗。遗奔晋。卫侯谓浑良夫曰:”吾继先君而不得其器,若之何?良夫代执火者而言,曰:”疾与亡君,皆君之子也。召之而择材焉可也,若不材,器可得也。”竖告大子。大子使五人舆豭従己,劫公而强盟之,且请杀良夫。公曰:”其盟免三死。”曰:”请三之后,有罪杀之。”公曰:”诺哉!”
  ◎ 哀公十七年
  【传】十七年春,卫侯为虎幄于藉圃,成,求令名者,而与之始食焉。大子请使良夫。良夫乘衷甸两牡,紫衣狐裘,至,袒袭,不释剑而食。大子使牵以退,数之以三罪而杀之。
  三月,越子伐吴。吴子御之笠泽,夹水而陈。越子为左右句卒,使夜或左或右,鼓噪而进。吴师分以御之。越子以三军潜涉,当吴中军而鼓之,吴师大乱,遂败之。
  晋赵鞅使告于卫曰:”君之在晋也,志父为主。请君若大子来,以免志父。不然,寡君其曰,志父之为也。”卫侯辞以难。大子又使椓之。
  夏六月,赵鞅围卫。齐国观、陈瓘救卫,得晋人之致师者。子玉使服而见之,曰:”国子实执齐柄,而命瓘曰:’无辟晋师。’岂敢废命?子又何辱?”简子曰:”我卜伐卫,未卜与齐战。”乃还。
  楚白公之乱,陈人恃其聚而侵楚。楚既宁,将取陈麦。楚子问帅于大师子谷与叶公诸梁,子谷曰:”右领差车与左史老,皆相令尹、司马以伐陈,其可使也。”子高曰:”率贱,民慢之,惧不用命焉。”子谷曰:”观丁父,鄀俘也,武王以为军率,是以克州、蓼,服随、唐,大启群蛮。彭仲爽,申俘也,文王以为令尹,实县申、息,朝陈、蔡,封畛于汝。唯其任也,何贱之有?”子高曰:”天命不謟。令尹有憾于陈,天若亡之,其必令尹之子是与,君盍舍焉?臣惧右领与左史有二俘之贱,而无其令德也。”王卜之,武城尹吉。使帅师取陈麦。陈人御之,败,遂围陈。秋七月己卯,楚公孙朝帅师灭陈。
  王与叶公枚卜子良以为令尹。沈尹朱曰:”吉,过于其志。”叶公曰:”王子而相国,过将何为?”他日,改卜子国而使为令尹。
  卫侯梦于北宫,见人登昆吾之观,被发北面而噪曰:”登此昆吾之虚,绵绵生之瓜。余为浑良夫,叫天无辜。”公亲筮之,胥弥赦占之,曰:”不害。”与之邑,置之,而逃奔宋。卫侯贞卜,其繇曰:”如鱼赪尾,衡流而方羊。裔焉大国,灭之将亡。阖门塞窦,乃自后逾。”
  冬十月,晋复伐卫,入其郛。将入城,简子曰:”止。叔向有言曰:’怙乱灭国者无后。'”卫人出庄公而晋平,晋立襄公之孙般师而还。十一月,卫侯自鄄入,般师出。
  初,公登城以望,见戎州。问之,以告。公曰:”我姬姓也,何戎之有焉?”翦之。公使匠久。公欲逐石圃,未及而难作。辛已,石圃因匠氏攻公,公阖门而请,弗许。逾于北方而队,折股。戎州人攻之,大子疾、公子青逾従公,戎州人杀之。公入于戎州己氏。初,公自城上见己氏之妻发美,使髡之,以为吕姜髢。既入焉,而示之璧,曰:”活我,吾与女璧。”己氏曰:”杀女,璧其焉往?”遂杀之而取其璧。卫人复公孙般师而立之。十二月,齐人伐卫,卫人请平。立公子起,执般师以归,舍诸潞。
  公会齐侯,盟于蒙,孟武伯相。齐侯稽首,公拜。齐人怒,武伯曰:”非天子,寡君无所稽首。”武伯问于高柴曰:”诸侯盟,谁执牛耳?”季羔曰:”鄫衍之役,吴公子姑曹。发阳之役,卫石魋。”武伯曰:”然则彘也。”
  宋皇瑗之子麇,有友曰田丙,而夺其兄劖般邑以与之。劖般愠而行,告桓司马之臣子仪克。子仪克适宋,告夫人曰:”麇将纳桓氏。”公问诸子仲。初,仲将以杞姒之子非我为子。曰:”必立伯也,是良材。”子仲怒,弗従,故对曰:”右师则老矣,不识麇也。”公执之。皇瑗奔晋,召之。
  ◎ 哀公十八年
  【传】十八年春,宋杀皇瑗。公闻其情,复皇氏之族,使皇缓为右师。
  巴人伐楚,围鄾。初,右司马子国之卜也,观瞻曰:”如志。”故命之。及巴师至,将卜帅。王曰:”宁如志,何卜焉?”使帅师而行。请承,王曰:”寝尹、工尹,勤先君者也。”三月,楚公孙宁、吴由于、薳固败巴师于鄾,故封子国于析。君子曰:”惠王知志。《夏书》曰’官占,唯能蔽志,昆命于元龟。’其是之谓乎!《志》曰:’圣人不烦卜筮。’惠王其有焉!”
  夏,卫石圃逐其君起,起奔齐。卫侯辄自齐复归,逐石圃,而复石魋与大叔遗。
  ◎ 哀公十九年
  【传】十九年春,越人侵楚,以误吴也。夏,楚公子庆、公孙宽追越师,至冥,不及,乃还。
  秋,楚沈诸梁伐东夷,三夷男女及楚师盟于敖。
  冬,叔青如京师,敬王崩故也。
  ◎ 哀公二十年
  【传】二十年春,齐人来征会。夏,会于廪丘。为郑故,谋伐晋。郑人辞诸子侯,秋,师还。
  吴公子庆忌骤谏吴子,曰:”不改,必亡。”弗听。出居于艾,遂适楚。闻越将伐吴,冬,请归平越,遂归。欲除不忠者以说于越,吴人杀之。
  十一月,越围吴。赵孟降于丧食。楚隆曰:”三年之丧,亲昵之极也。主又降之,无乃有故乎!”赵孟曰:”黄池之役,先主与吴王有质,曰:’好恶同之。’今越围吴,嗣子不废旧业而敌之,非晋之所能及也,吾是以为降。”楚隆曰:”若使吴王知之,若何?”赵孟曰:”可乎?”隆曰:”请尝之。”乃往。先造于越军,曰:”吴犯间上国多矣,闻君亲讨焉,诸夏之人莫不欣喜,唯恐君志之不従。请入视之。”许之。告于吴王曰:”寡君之老无恤,使陪臣隆敢展谢其不共。黄池之役,君之先臣志父得承齐盟,曰:’好恶同之。’今君在难,无恤不敢惮劳。非晋国之所能及也,使陪臣敢展布之。”王拜稽首曰:”寡人不佞,不能事越,以为大夫忧,拜命之辱。”与之一箪珠,使问赵孟,曰:”句践将生忧寡人,寡人死之不得矣。”王曰:”溺人必笑,吾将有问也,史黯何以得为君子?”对曰:”黯也进不见恶,退无谤言。”王曰:”宜哉。”
  ◎ 哀公二十一年
  【传】二十一年夏五月,越人始来。
  秋八月,公及齐侯、邾子盟于顾。齐有责稽首,因歌之曰:”鲁人之皋,数年不觉,使我高蹈。唯其儒书。以为二国忧。”
  是行也,公先至于阳谷。齐闾丘息曰:”君辱举玉趾,以在寡君之军。群臣将传遽以告寡君,比其复也,君无乃勤。为仆人之未次,请除馆于舟道。”辞曰:”敢勤仆人?”
  ◎ 哀公二十二年
  【传】二十二年夏四月,邾隐公自齐奔越,曰:”吴为无道,执父立子。”越人归之,大子革奔越。
  冬十一月丁卯,越灭吴。请使吴王居甬东,辞曰:”孤老矣,焉能事君?”乃缢。越人以归。
  ◎ 哀公二十三年
  【传】二十三年春,宋景曹卒。季康子使冉有吊,且送葬,曰:”敝邑有社稷之事,使肥与有职竞焉,是以不得助执绋,使求従舆人。曰:’以肥人得备弥甥也,有不腆先人之产马,使求荐诸夫人之宰,其可以称旌繁乎?'”
  夏六月,晋荀瑶伐齐。高无丕帅师御之。知伯视齐师,马骇,遂驱之,曰:”齐人知余旗,其谓余畏而反也。”乃垒而还。将战,长武子请卜。知伯曰:”君告于天子,而卜之以守龟于宗祧,吉矣,吾又何卜焉?且齐人取我英丘,君命瑶,非敢耀武也,治英丘也。以辞伐罪足矣,何必卜?”
  壬辰,战于犁丘。齐师败绩,知伯亲禽颜庚。
  秋八月,叔青如越,始使越也。越诸鞅来聘,报叔青也。
  ◎ 哀公二十四年
  【传】二十四年夏四月,晋侯将伐齐,使来乞师,曰:”昔臧文仲以楚师伐齐,取谷。宣叔以晋师伐齐,取汶阳。寡君欲徼福于周公,愿乞灵于臧氏。”臧石帅师会之,取廪丘。军吏令缮,将进。莱章曰:”君卑政暴,往岁克敌,今又胜都。天奉多矣,又焉能进?是躗言也。役将班矣!”晋师乃还。饩臧石牛,大史谢之,曰:”以寡君之在行,牢礼不度,敢展谢之。”
  邾子又无道,越人执之以归,而立公子何。何亦无道。
  公子荆之母嬖,将以为夫人,使宗人衅夏献其礼。对曰:”无之。”公怒曰:”女为宗司,立夫人,国之大礼也,何故无之?”对曰:”周公及武公娶于薛,孝、惠娶于商,自桓以下娶于齐,此礼也则有。若以妾为夫人,则固无其礼也。”公卒立之,而以荆为大子。国人始恶之。
  闰月,公如越,得大子适郢,将妻公,而多与之地。公孙有山使告于季孙,季孙惧,使因大宰嚭而纳赂焉,乃止。
  ◎ 哀公二十五年
  【传】二十五年夏五月庚辰,卫侯出奔宋。卫侯为灵台于藉圃,与诸大夫饮酒焉。褚师声子袜而登席,公怒,辞曰:”臣有疾,异于人。若见之,君将殽之,是以不敢。”公愈怒,大夫辞之,不可。褚师出,公戟其手,曰:”必断而足。”闻之,褚师与司寇亥乘,曰:”今日幸而后亡。”公之入也,夺南氏邑,而夺司寇亥政。公使侍人纳公文懿子之车于池。
  初,卫人翦夏丁氏,以其帑赐彭封弥子。弥子饮公酒,纳夏戊之女,嬖,以为夫人。其弟期,大叔疾之従孙甥也,少畜于公,以为司徒。夫人宠衰,期得罪。公使三匠久。公使优狡盟拳弥,而甚近信之。故褚师比、公孙弥牟、公文要、司寇亥、司徒期因三匠与拳弥以作乱,皆执利兵,无者执斤。使拳弥入于公宫,而自大子疾之宫噪以攻公。鄄子士请御之。弥援其手,曰:”子则勇矣,将若君何?不见先君乎?君何所不逞欲?且君尝在外矣,岂必不反?当今不可,众怒难犯,休而易间也。”乃出。将适蒲,弥曰:”晋无信,不可。”将适鄄,弥曰:”齐、晋争我,不可。”将适泠,弥曰:”鲁不足与,请适城锄以钩越,越有君。”乃适城锄。弥曰:”卫盗不可知也,请速,自我始。”乃载宝以归。
  公为支离之卒,因祝史挥以侵卫。卫人病之。懿子知之,见子之,请逐挥。文子曰:”无罪。”懿子曰:”彼好专利而妄。夫见君之入也,将先道焉。若逐之,必出于南门而适君所。夫越新得诸侯,将必请师焉。”挥在朝,使吏遣诸其室。挥出,信,弗内。五日,乃馆诸外里,遂有宠,使如越请师。
  六月,公至自越。季康子、孟武伯逆于五梧。郭重仆,见二子,曰:”恶言多矣,君请尽之。”公宴于五梧,武伯为祝,恶郭重,曰:”何肥也!”季孙曰:”请饮彘也。以鲁国之密迩仇雠,臣是以不获従君,克免于大行,又谓重也肥。”公曰:”是食言多矣,能无肥乎?”饮酒不乐,公与大夫始有恶。
  ◎ 哀公二十六年
  【传】二十六年夏五月,叔孙舒帅师会越皋如、后庸、宋乐茷,纳卫侯。文子欲纳之,懿子曰:”君愎而虐,少待之,必毒于民,乃睦于子矣。”师侵外州,大获。出御之,大败。掘褚师定子之墓,焚之于平庄之上。文子使王孙齐私于皋如,曰:”子将大灭卫乎,抑纳君而已乎?”皋如曰:”寡君之命无他,纳卫君而已。”文子致众而问焉,曰:”君以蛮夷伐国,国几亡矣。请纳之。”众曰:”勿纳。”曰:”弥牟亡而有益,请自北门出。”众曰:”勿出。”重赂越人,申开守陴而纳公,公不敢入。师还,立悼公,南氏相之,以城锄与越人。公曰:”期则为此。”令苟有怨于夫人者,报之。司徒期聘于越。公攻而夺之币。期告王,王命取之。期以众取之。公怒,杀期之甥之为大子者。遂卒于越。
  宋景公无子,取公孙周之子得与启,畜诸公宫,未有立焉。于是皇缓为右师,皇非我为大司马,皇怀为司徒,灵不缓为左师,乐茷为司城,乐朱锄为大司寇。六卿三族降听政,因大尹以达。大尹常不告,而以其欲称君命以令。国人恶之。司城欲去大尹,左师曰:”纵之,使盈其罪。重而无基,能无敝乎?”
  冬十月,公游于空泽。辛巳,卒于连中。大尹兴空泽之士千甲,奉公自空桐入,如沃宫。使召六子,曰:”闻下有师,君请六子画。”六子至,以甲劫之,曰:”君有疾病,请二三子盟。”乃盟于少寝之庭,曰:”无为公室不利。”大尹立启,奉丧殡于大宫。三日,而后国人知之。司城茷使宣言于国曰:”大尹惑蛊其君而专其利,令君无疾而死,死又匿之,是无他矣,大尹之罪也。”得梦启北首而寝于卢门之外,己为鸟而集于其上,咮加于南门,尾加于桐门。曰:”余梦美,必立。”大尹谋曰:”我不在盟,无乃逐我,复盟之乎?”使祝为载书,六子在唐盂。将盟之。祝襄以载书告皇非我,皇非我因子潞、门尹得、左师谋曰:”民与我,逐之乎?”皆归授甲,使徇于国曰:”大尹惑蛊其君,以陵虐公室。与我者,救君者也。”众曰:”与之。”大尹徇曰:”戴氏、皇氏将不利公室,与我者,无忧不富。”众曰:”无别。”戴氏、皇氏欲伐公,乐得曰:”不可。彼以陵公有罪,我伐公,则甚焉。”使国人施于大尹,大尹奉启以奔楚,乃立得。司城为上卿,盟曰:”三族共政,无相害也。”
  卫出公自城锄使以弓问子赣,且曰:”吾其入乎?”子赣稽首受弓,对曰:”臣不识也。”私于使者曰:”昔成公孙于陈,宁武子、孙庄子为宛濮之盟而君入。献公孙于卫齐,子鲜、子展为夷仪之盟而君入。今君再在孙矣,内不闻献之亲,外不闻成之卿,则赐不识所由入也。《诗》曰:’无竞惟人,四方其顺之。’若得其人,四方以为主,而国于何有?”
  ◎ 哀公二十七年
  【传】二十七年春,越子使后庸来聘,且言邾田,封于骀上。
  二月,盟于平阳,三子皆従。康子病之,言及子赣,曰:”若在此,吾不及此夫!”武伯曰:”然。何不召?”曰:”固将召之。”文子曰:”他日请念。”
  夏四月己亥,季康子卒。公吊焉,降礼。
  晋荀瑶帅师伐郑,次于桐丘。郑驷弘请救于齐。齐师将兴,陈成子属孤子三日朝。设乘车两马,系五色焉。召颜涿聚之子晋,曰:”隰之役,而父死焉。以国之多难,未女恤也。今君命女以是邑也,服车而朝,毋废前劳。”乃救郑。及留舒,违谷七里,谷人不知。乃濮,雨,不涉。子思曰:”大国在敝邑之宇下,是以告急。今师不行,恐无及也。”成子衣制,杖戈,立于阪上,马不出者,助之鞭之。知伯闻之,乃还,曰:”我卜伐郑,不卜敌齐。”使谓成子曰:”大夫陈子,陈之自出。陈之不祀,郑之罪也。故寡君使瑶察陈衷焉。谓大夫其恤陈乎?若利本之颠,瑶何有焉?”成子怒曰:”多陵人者皆不在,知伯其能久乎?”中行文子告成子曰:”有自晋师告寅者,将为轻车千乘,以厌齐师之门,则可尽也。”成子曰:”寡君命恒曰:’无及寡,无畏众。’虽过千乘,敢辟之乎?将以子之命告寡君。”文子曰:”吾乃今知所以亡。君子之谋也,始衷终皆举之,而后入焉。今我三不知而入之,不亦难乎?”
  公患三桓之侈也,欲以诸侯去之。三桓亦患公之妄也,故君臣多间。公游于陵阪,遇孟武伯于孟氏之衢,曰:”请有问于子,余及死乎?”对曰:”臣无由知之。”三问,卒辞不对。公欲以越伐鲁,而去三桓。秋八月甲戌,公如公孙有陉氏,因孙于邾,乃遂如越。国人施公孙有山氏。
  悼之四年,晋荀瑶帅师围郑。未至,郑驷弘曰:”知伯愎而好胜,早下之,则可行也。”乃先保南里以待之。知伯入南里,门于桔柣之门。郑人俘酅魁垒,赂之以知政,闭其口而死。将门,知伯谓赵孟:”入之。”对曰:”主在此。”知伯曰:”恶而无勇,何以为子?”对曰:”以能忍耻,庶无害赵宗乎!”知怕不悛,赵襄子由是惎知伯,遂丧之。知伯贪而愎,故韩、魏反而丧之。
************************
定公  【元年~十五年】
  ◎ 定公元年
  【经】元年春王三月。晋人执宋仲几于京师。夏六月癸亥,公之丧至自乾侯。戊辰,公即位。秋七月癸巳,葬我君昭公。九月,大雩。立炀宫。冬十月,陨霜杀菽。
  【传】元年春,王正月辛巳,晋魏舒合诸侯之大夫于狄泉,将以城成周。魏子莅政。卫彪傒曰:”将建天子,而易位以令,非义也。大事奸义,必有大咎。晋不失诸侯,魏子其不免乎!”是行也,魏献子属役于韩简子及原寿过,而田于大陆,焚焉,还,卒于宁。范献子去其柏椁,以其未复命而田也。
  孟懿子会城成周,庚寅,栽。宋仲几不受功,曰:”滕、薛、郳,吾役也。”薛宰曰:”宋为无道,绝我小国于周,以我适楚,故我常従宋。晋文公为践土之盟,曰:’凡我同盟,各复旧职。’若従践土,若従宋,亦唯命。”仲几曰:”践土固然。”薛宰曰:”薛之皇祖奚仲,居薛以为夏车正。奚仲迁于邳,仲虺居薛,以为汤左相。若复旧职,将承王官,何故以役诸侯?”仲几曰:”三代各异物,薛焉得有旧?为宋役,亦其职也。”士弥牟曰:”晋之従政者新,子姑受功。归,吾视诸故府。”仲几曰:”纵子忘之,山川鬼神其忘诸乎?”士伯怒,谓韩简子曰:”薛征于人,宋征于鬼,宋罪大矣。且己无辞而抑我以神,诬我也。启宠纳侮,其此之谓矣。必以仲几为戮。”乃执仲几以归。三月,归诸京师。
  城三旬而毕,乃归诸侯之戌。
  齐高张后,不従诸侯。晋女叔宽曰:”周苌弘、齐高张皆将不免。苌叔违天,高子违人。天之所坏,不可支也。众之所为,不可奸也。”
  夏,叔孙成子逆公之丧于乾侯。季孙曰:”子家子亟言于我,未尝不中吾志也。吾欲与之従政,子必止之,且听命焉。”子家子不见叔孙,易几而哭。叔孙请见子家子,子家子辞,曰:”羁未得见,而従君以出。君不命而薨,羁不敢见。”叔孙使告之曰:”公衍、公为实使群臣不得事君。若公子宋主社稷,则群臣之愿也。凡従君出而可以入者,将唯子是听。子家氏未有后,季孙愿与子従政,此皆季孙之愿也,使不敢以告。”对曰:”若立君,则有卿士、大夫与守龟在,羁弗敢知。若従君者,则貌而出者,入可也;寇而出者,行可也。若羁也,则君知其出也,而未知其入也,羁将逃也。”
  丧及坏隤,公子宋先入,従公者皆自坏隤反。
  六月癸亥,公之丧至自乾侯。戊辰,公即位。季孙使役如阚公氏,将沟焉。荣驾鹅曰:”生不能事,死又离之,以自旌也。纵子忍之,后必或耻之。”乃止。季孙问于荣驾鹅曰:”吾欲为君谥,使子孙知之。”对曰:”生弗能事,死又恶之,以自信也。将焉用之?”乃止。
  秋七月癸巳,葬昭公于墓道南。孔子之为司寇也,沟而合诸墓。
  昭公出,故季平子祷于炀公。九月,立炀宫。
  周巩简公弃其子弟,而好用远人。
  ◎ 定公二年
  【经】二年春王正月。夏五月壬辰,雉门及两观灭。秋,楚人伐吴。冬十月,新作雉门及两观。
  【传】二年夏四月辛酉,巩氏之群子弟贼简公。
  桐叛楚。吴子使舒鸠氏诱楚人,曰:”以师临我,我伐桐,为我使之无忌。”
  秋,楚囊瓦伐吴,师于豫章。吴人见舟于豫章,而潜师于巢。冬十月,吴军楚师于豫章,败之。遂围巢,克之,获楚公子繁。
  邾庄公与夷射姑饮酒,私出。阍乞肉焉。夺之杖以敲之。
  ◎ 定公三年
  【经】三年春王正月,公如晋,至河,乃复。二月辛卯,邾子穿卒。夏四月。秋,葬邾庄公。冬,仲孙何忌及邾子盟于拔。
  【传】三年春二月辛卯,邾子在门台,临廷。阍以瓶水沃廷。邾子望见之,怒。阍曰:”夷射姑旋焉。”命执之,弗得,滋怒。自投于床,废于炉炭,烂,遂卒。先葬以车五乘,殉五人。庄公卞急而好洁,故及是。
  秋九月,鲜虞人败晋师于平中,获晋观虎,恃其勇也。
  冬,盟于郯,修邾好也。
  蔡昭侯为两佩与两裘,以如楚,献一佩一裘于昭王。昭王服之,以享蔡侯。蔡侯亦服其一。子常欲之,弗与,三年止之。唐成公如楚,有两肃爽马,子常欲之,弗与,亦三年止之。唐人或相与谋,请代先従者,许之。饮先従者酒,醉之,窃马而献之子常。子常归唐侯。自拘于司败,曰:”君以弄马之故,隐君身,弃国家,群臣请相夫人以偿马,必如之。”唐侯曰:”寡人之过也,二三子无辱。”皆赏之。蔡人闻之,固请而献佩于子常。子常朝,见蔡侯之徒,命有司曰:”蔡君之久也,官不共也。明日,礼不毕,将死。”蔡侯归,及汉,执玉而沈,曰”余所有济汉而南者,有若大川。”蔡侯如晋,以其子元与其大夫之子为质焉,而请伐楚。
  ◎ 定公四年
  【经】四年春王二月癸巳,陈侯吴卒。三月,公会刘子、晋侯、宋公、蔡侯、卫侯、陈子、郑伯、许男、曹伯、莒子、邾子、顿子、胡子、滕子、薛伯、杞伯、小邾子、齐国夏于召陵,侵楚。夏四月庚辰,蔡公孙姓帅师灭沈,以沈子嘉归,杀之。五月,公及诸侯盟于皋鼬。杞伯成卒于会。六月,葬陈惠公。许迁于容城。秋七月,至自会。刘卷卒。葬杞悼公。楚人围蔡。晋士鞅、卫孔围帅师伐鲜虞。葬刘文公。冬十有一月庚午,蔡侯以吴子及楚人战于柏举,楚师败绩。楚囊瓦出奔郑。庚辰,吴入郢。
  【传】四年春三月,刘文公合诸侯于召陵,谋伐楚也。
  晋荀寅求货于蔡侯,弗得。言于范献子曰:”国家方危,诸侯方贰,将以袭敌,不亦难乎!水潦方降,疾疟方起,中山不服,弃盟取怨,无损于楚,而失中山,不如辞蔡侯。吾自方城以来,楚未可以得志,只取勤焉。”乃辞蔡侯。
  晋人假羽旄于郑,郑人与之。明日,或旆以会。晋于是乎失诸侯。将会,卫子行敬子言于灵公曰:”会同难,啧有烦言,莫之治也。其使祝佗従!”公曰:”善。”乃使子鱼。子鱼辞,曰:”臣展四体,以率旧职,犹惧不给而烦刑书,若又共二,徼大罪也。且夫祝,社稷之常隶也。社稷不动,祝不出竟,官之制也。君以军行,祓社衅鼓,祝奉以従,于是乎出竟。若嘉好之事,君行师従,卿行旅従,臣无事焉。”公曰:”行也。”及皋鼬,将长蔡于卫。卫侯使祝佗私于苌弘曰:”闻诸道路,不知信否。若闻蔡将先卫,信乎?”苌弘曰:”信。蔡叔,康叔之兄也,先卫,不亦可乎?”子鱼曰:”以先王观之,则尚德也。昔武王克商,成王定之,选建明德,以蕃屏周。故周公相王室,以尹天下,于周为睦。分鲁公以大路,大旂,夏后氏之璜,封父之繁弱,殷民六族,条氏、徐氏、萧氏、索氏、长勺氏、尾勺氏。使帅其宗氏,辑其分族,将其类丑,以法则周公,用即命于周。是使之职事于鲁,以昭周公之明德。分之土田倍敦,祝、宗、卜、史,备物、典策,官司、彝器。因商奄之民,命以《伯禽》,而封于少皞之虚。分康叔以大路、少帛、綪茷、旃旌、大吕,殷民七族,陶氏、施氏、繁氏、锜氏、樊氏、饥氏、终葵氏;封畛土略,自武父以南,及圃田之北竟,取于有阎之土,以共王职。取于相土之东都,以会王之东蒐。聃季授土,陶叔授民,命以《康诰》,而封于殷虚。皆启以商政,疆以周索。分唐叔以大路,密须之鼓,阙巩,沽洗,怀姓九宗,职官五正。命以《唐诰》,而封于夏虚,启以夏政,疆以戎索。三者皆叔也,而有令德,故昭之以分物。不然,文、武、成康、之伯犹多,而不获是分也,唯不尚年也。管蔡启商,惎间王室。王于是乎杀管叔而蔡蔡叔,以车七乘,徒七十人。其子蔡仲,改行帅德,周公举之,以为己卿士。见诸王而命之以蔡,其命书云:’王曰:胡!无若尔考之违王命也。’若之何其使蔡先卫也?武王之母弟八人,周公为大宰,康叔为司寇,聃季为司空,五叔无官,岂尚年哉!曹,文之昭也;晋,武之穆也。曹为伯甸,非尚年也。今将尚之,是反先王也。晋文公为践土之盟,卫成公不在,夷叔,其母弟也,犹先蔡。其载书云:’王若曰,晋重、鲁申、卫武、蔡甲午、郑捷、齐潘、宋王臣、莒期。’藏在周府,可覆视也。吾子欲复文、武之略,而不正其德,将如之何?”苌弘说,告刘子,与范献子谋之,乃长卫侯于盟。
  反自召陵,郑子大叔未至而卒。晋赵简子为之临,甚哀,曰:”黄父之会,夫子语我九言,曰:’无始乱,无怙富,无恃宠,无违同,无敖礼,无骄能,无复怒,无谋非德,无犯非义。'”
  沈人不会于召陵,晋人使蔡伐之。夏,蔡灭沈。
  秋,楚为沈故,围蔡。伍员为吴行人以谋楚。楚之杀郤宛也,伯氏之族出。伯州犁之孙嚭为吴大宰以谋楚。楚自昭王即位,无岁不有吴师。蔡侯因之,以其子乾与其大夫之子为质于吴。
  冬,蔡侯、吴子、唐侯伐楚。舍舟于淮汭,自豫章与楚夹汉。左司马戌谓子常曰:”子氵公汉而与之上下,我悉方城外以毁其舟,还塞大隧、直辕、冥厄,子济汉而伐之,我自后击之,必大败之。”既谋而行。武城黑谓子常曰:”吴用木也,我用革也,不可久也。不如速战。”史皇谓子常:”楚人恶而好司马,若司马毁吴舟于淮,塞城口而入,是独克吴也。子必速战,不然不免。”乃济汉而陈,自小别至于大别。三战,子常知不可,欲奔。史皇曰:”安求其事,难而逃之,将何所入?子必死之,初罪必尽说。”
  十一月庚午,二师陈于柏举。阖庐之弟夫概王,晨请于阖庐曰:”楚瓦不仁,其臣莫有死志,先伐之,其卒必奔。而后大师继之,必克。”弗许。夫概王曰:”所谓’臣义而行,不待命’者,其此之谓也。今日我死,楚可入也。”以其属五千,先击子常之卒。子常之卒奔,楚师乱,吴师大败之。子常奔郑。史皇以其乘广死。吴従楚师,及清发,将击之。夫王曰:”困兽犹斗,况人乎?若知不免而致死,必败我。若使先济者知免,后者慕之,蔑有斗心矣。半济而后可击也。”従之。又败之。楚人为食,吴人及之,奔。食而従之,败诸雍澨五战及郢。
  己卯,楚子取其妹季羋畀我以出,涉睢。针尹固与王同舟,王使执燧象以奔吴师。
  庚辰,吴入郢,以班处宫。子山处令尹之宫,夫概王欲攻之,惧而去之,夫王入之。
  左司马戌及息而还,败吴师于雍澨,伤。初,司马臣阖庐,故耻为禽焉。谓其臣曰:”谁能免吾首?”吴句卑曰:”臣贱可乎?”司马曰:”我实失子,可哉!”三战皆伤,曰:”吾不用也已。”句卑布裳,刭而裹之,藏其身而以其首免。楚子涉雎,济江,入于云中。王寝,盗攻之,以戈击王。王孙由于以背受之。中肩。王奔郧,钟建负季羋以従,由于徐苏而従。郧公辛之弟怀将弑王,曰:”平王杀吾父,我杀其子,不亦可乎?”辛曰:”君讨臣,谁敢仇之?君命,天也,若死天命,将谁仇?《诗》曰:’柔亦不茹,刚亦不吐,不侮矜寡,不畏强御。’唯仁者能之。违强陵弱,非勇也。乘人之约,非仁也。灭宗废祀,非孝也。动无令名,非知也。必犯是,余将杀女。”斗辛与其弟巢以王奔随。吴人従之,谓随人曰:”周之子孙在汉川者,楚实尽之。天诱其衷,致罚于楚,而君又窜之。周室何罪?君若顾报周室,施及寡人,以奖天衷,君之惠也。汉阳之田,君实有之。”楚子在公宫之北,吴人在其南。子期似王,逃王,而己为王,曰:”以我与之,王必免。”随人卜与之,不吉。乃辞吴曰:”以随之辟小而密迩于楚,楚实存之,世有盟誓,至于今未改。若难而弃之,何以事君?执事之患,不唯一人。若鸠楚竟,敢不听命。”吴人乃退。鑢金初官于子期氏,实与随人要言。王使见,辞,曰:”不敢以约为利。”王割子期之心,以与随人盟。
  初,伍员与申包胥友。其亡也,谓申包胥曰:”我必复楚国。”申包胥曰:”勉之!子能复之,我必能兴之。”及昭王在随,申包胥如秦乞师,曰:”吴为封豕、长蛇,以荐食上国,虐始于楚。寡君失守社稷,越在草莽。使下臣告急,曰:’夷德无厌,若邻于君,疆埸之患也。逮吴之未定,君其取分焉。若楚之遂亡,君之土也。若以君灵抚之,世以事君。'”秦伯使辞焉,曰:”寡人闻命矣。子姑就馆,将图而告。”对曰:”寡君越在草莽,未获所伏。下臣何敢即安?”立,依于庭墙而哭,日夜不绝声,勺饮不入口七日。秦哀公为之赋《无衣》,九顿首而坐,秦师乃出。
  ◎ 定公五年
  【经】五年春王三月辛亥朔,日有食之。夏,归粟于蔡。于越入吴。六月丙申,季孙意如卒。秋七月壬子,叔孙不敢卒。冬,晋士鞅帅师围鲜虞。
  【传】五年春,王人杀子朝于楚。
  夏,归粟于蔡,以周亟,矜无资。
  越入吴,吴在楚也。
  六月,季平子行东野,还,未至,丙申,卒于房。阳虎将以与璠敛,仲梁怀弗与,曰:”改步改玉。”阳虎欲逐之,告公山不狃。不狃曰:”彼为君也,子何怨焉?”既葬,桓子行东野,及费。子泄为费宰,逆劳于郊,桓子敬之。劳仲梁怀,仲梁怀弗敬。子泄怒,谓阳虎:”子行之乎?”
  申包胥以秦师至,秦子蒲、子虎帅车五百乘以救楚。子蒲曰:”吾未知吴道。”使楚人先与吴人战,而自稷会之,大败夫王于沂。吴人获薳射于柏举,其子帅奔徒以従子西,败吴师于军祥。秋七月,子期、子蒲灭唐。
  九月,夫王归,自立也。以与王战而败,奔楚,为堂溪氏。吴师败楚师于雍澨,秦师又败吴师。吴师居麇,子期将焚之,子西曰:”父兄亲暴骨焉,不能收,又焚之,不可。”子期曰:”国亡矣!死者若有知也,可以歆旧祀,岂惮焚之?”焚之,而又战,吴师败。又战于公婿之溪,吴师大败,吴子乃归。囚闉舆罢,闉舆罢请先,遂逃归。叶公诸梁之弟后臧従其母于吴,不待而归。叶公终不正视。
  乙亥,阳虎囚季桓子及公父文伯,而逐仲梁怀。冬十月丁亥,杀公何藐。己丑,盟桓子于稷门之内。庚寅,大诅,逐公父歜及秦遄,皆奔齐。
  楚子入于郢。初,斗辛闻吴人之争宫也,曰:”吾闻之:’不让则不和,不和不可以远征。’吴争于楚,必有乱。有乱则必归,焉能定楚?”王之奔随也,将涉于成臼,蓝尹亹涉其帑,不与王舟。及宁,王欲杀之。子西曰:”子常唯思旧怨以败,君何效焉?”王曰:”善。使复其所,吾以志前恶。”王赏斗辛、王孙由于、王孙圉、钟建、斗巢、申包胥、王孙贾、宋木、斗怀。子西曰:”请舍怀也。”王曰:”大德灭小怨,道也。”申包胥曰:”吾为君也,非为身也。君既定矣,又何求?且吾尤子旗,其又为诸?”遂逃赏。王将嫁季羋,季羋辞曰:”所以为女子,远丈夫也。钟建负我矣。”以妻钟建,以为乐尹。
  王之在随也,子西为王舆服以保路,国于脾泄。闻王所在,而后従王。王使由于城麇,复命,子西问高厚焉,弗知。子西曰:”不能,如辞。城不知高厚,小大何知?”对曰:”固辞不能,子使余也。人各有能有不能。王遇盗于云中,余受其戈,其所犹在。”袒而示之背,曰:”此余所能也。脾泄之事,余亦弗能也。”
  晋士鞅围鲜虞,报观虎之役也。
  ◎ 定公六年
  【经】六年春王正月癸亥,郑游速帅师灭许,以许男斯归。二月,公侵郑。公至自侵郑。夏,季孙斯、仲孙何忌如晋。秋,晋人执宋行人乐祁犁。冬,城中城。季孙斯、仲孙忌帅师围郓。
  【传】六年春,郑灭许,因楚败也。
  二月,公侵郑,取匡,为晋讨郑之伐胥靡也。往不假道于卫;及还,阳虎使季、孟自南门入,出自东门,舍于豚泽。卫侯怒,使弥子瑕追之。公叔文子老矣,辇而如公,曰:”尤人而效之,非礼也。昭公之难,君将以文之舒鼎,成之昭兆,定之鞶鉴,苟可以纳之,择用一焉。公子与二三臣之子,诸侯苟忧之,将以为之质。此群臣之所闻也。今将以小忿蒙旧德,无乃不可乎!大姒之子,唯周公、康叔为相睦也。而效小人以弃之,不亦诬乎!天将多阳虎之罪以毙之,君姑待之,若何?”乃止。
  夏,季桓子如晋,献郑俘也。阳虎强使孟懿子往报夫人之币。晋人兼享之。孟孙立于房外,谓范献子曰:”阳虎若不能居鲁,而息肩于晋,所不以为中军司马者,有如先君!”献子曰:”寡君有官,将使其人。鞅何知焉?”献子谓简子曰:”鲁人患阳虎矣,孟孙知其衅,以为必适晋,故强为之请,以取入焉。”
  四月己丑,吴大子终累败楚舟师,获潘子臣、小惟子及大夫七人。楚国大惕,惧亡。子期又以陵师败于繁扬。令尹子西喜曰:”乃今可为矣。”于是乎迁郢于郤,而改纪其政,以定楚国。
  周儋翩率王子朝之徒,因郑人将以作乱于周。郑于是乎伐冯、滑、胥靡、负黍、狐人、阙外。六月,晋阎没戍周,且城胥靡。
  秋八月,宋乐祁言于景公曰:”诸侯唯我事晋,今使不往,晋其憾矣。”乐祁告其宰陈寅。陈寅曰:”必使子往。”他日,公谓乐祁曰:”唯寡人说子之言,子必往。”陈寅曰:”子立后而行,吾室亦不亡,唯君亦以我为知难而行也。”见溷而行。赵简子逆,而饮之酒于绵上,献杨楯六十于简子。陈寅曰:”昔吾主范氏,今子主赵氏,又有纳焉。以杨楯贾祸,弗可为也已。然子死晋国,子孙必得志于宋。”范献子言于晋侯曰:”以君命越疆而使,未致使而私饮酒,不敬二君,不可不讨也。”乃执乐祁。
  阳虎又盟公及三桓于周社,盟国人于亳社,诅于五父之衢。
  冬,十二月,天王处于姑莸,辟儋翩之乱也。
  ◎ 定公七年
  【经】七年春王正月。夏四月。秋,齐侯、郑伯盟于咸。齐人执卫行人北宫结以侵卫。齐侯、卫侯盟于沙。大雩。齐国夏帅师伐我西鄙。九月,大雩。冬十月。
  【传】七年春二月,周儋翩入于仪栗以叛。
  齐人归郓、阳关,阳虎居之以为政。
  夏四月,单武公、刘桓公败尹氏于穷谷。
  秋,齐侯、郑伯盟于咸,征会于卫。卫侯欲叛晋,诸大夫不可。使北宫结如齐,而私于齐侯曰:”执结以侵我。”齐侯従之,乃盟于琐。
  齐国夏伐我。阳虎御季桓子,公敛处父御孟懿子,将宵军齐师。齐师闻之,堕,伏而待之。处父曰:”虎不图祸,而必死。”苫夷曰:”虎陷二子于难,不待有司,余必杀女。”虎惧,乃还,不败。
  冬十一月戊午,单子、刘子逆王于庆氏。晋籍秦送王。己巳,王入于王城,馆于公族党氏,而后朝于庄宫。
  ◎ 定公八年
  【经】八年春王正月,公侵齐。公至自侵齐。二月,公侵齐。三月,公至自侵齐。曹伯露卒。夏,齐国夏帅师伐我西鄙。公会晋师于瓦。公至自瓦。秋七月戊辰,陈侯柳卒。晋士鞅帅师侵郑,遂侵卫。葬曹靖公。九月,葬陈怀公。季孙斯、仲孙何忌帅师侵卫。冬,卫侯、郑伯盟于曲濮。従祀先公。盗窃宝玉、大弓。
  【传】八年春,王正月,公侵齐,门于阳州。士皆坐列,曰:”颜高之弓六钧。”皆取而传观之。阳州人出,颜高夺人弱弓,籍丘子锄击之,与一人俱毙。偃,且射子锄,中颊,殪。颜息射人中眉,退曰:”我无勇,吾志其目也。”师退,冉猛伪伤足而先。其兄会乃呼曰:”猛也殿!”
  二月己丑,单子伐谷城,刘子伐仪栗。辛卯,单子伐简城,刘子伐盂,以定王室。
  赵鞅言于晋侯曰:”诸侯唯宋事晋,好逆其使,犹惧不至。今又执之,是绝诸侯也。”将归乐祁。士鞅曰:”三年止之,无故而归之,宋必,叛晋。”献子私谓子梁曰:”寡君惧不得事宋君,是以止子。子姑使溷代子。”子梁以告陈寅,陈寅曰:”宋将叛晋是弃溷也,不如侍之。”乐祁归,卒于大行。士鞅曰:”宋必叛,不如止其尸以求成焉。”乃止诸州。
  公侵齐,攻廪丘之郛。主人焚冲,或濡马褐以救之,遂毁之。主人出,师奔。阳虎伪不见冉猛者,曰:”猛在此,必败。”猛逐之,顾而无继,伪颠。虎曰:”尽客气也。”苫越生子,将待事而名之。阳州之役获焉,名之曰阳州。
  夏,齐国夏、高张伐我西鄙。晋士鞅、赵鞅、荀寅救我。公会晋师于瓦。范献子执羔,赵简子、中行文子皆执雁。鲁于是始尚羔。
  晋师将盟卫侯于鄟泽。赵简子曰:”群臣谁敢盟卫君者?”涉佗、成何曰:”我能盟之。”卫人请执牛耳。成何曰:”卫,吾温、原也,焉得视诸侯?”将歃,涉佗捘卫侯之手,及捥。卫侯怒,王孙贾趋进,曰:”盟以信礼也。有如卫君,其敢不唯礼是事,而受此盟也。”
  卫侯欲叛晋,而患诸大夫。王孙贾使次于郊,大夫问故。公以晋诟语之,且曰:”寡人辱社稷,其改卜嗣,寡人従焉。”大夫曰:”是卫之祸,岂君之过也?”公曰:”又有患焉。谓寡人’必以而子与大夫之子为质。'”大夫曰:”苟有益也,公子则往。群臣之子,敢不皆负羁绁以従?”将行。王孙贾曰:”苟卫国有难,工商未尝不为患,使皆行而后可。”公以告大夫,乃皆将行之。行有日,公朝国人,使贾问焉,曰:”若卫叛晋,晋五伐我,病何如矣?”皆曰:”五伐我,犹可以能战。”贾曰:”然则如叛之,病而后质焉,何迟之有?”乃叛晋。晋人请改盟,弗许。
  秋,晋士鞅会成桓公,侵郑,围虫牢,报伊阙也。遂侵卫。
  九月,师侵卫,晋故也。
  季寤、公锄极、公山不狃皆不得志于季氏,叔孙辄无宠于叔孙氏,叔仲志不得志于鲁。故五人因阳虎。阳虎欲去三桓,以季寤更季氏,以叔孙辄更叔孙氏,己更孟氏。冬十月,顺祀先公而祈焉。辛卯,禘于僖公。壬辰,将享季氏于蒲圃而杀之,戒都车曰:”癸巳至。”成宰公敛处父告孟孙,曰:”季氏戒都车,何故?”孟孙曰:”吾弗闻。”处父曰:”然则乱也,必及于子,先备诸?”与孟孙以壬辰为期。
  阳虎前驱,林楚御桓子,虞人以铍盾夹之,阳越殿,将如蒲圃。桓子咋谓林楚曰:”而先皆季氏之良也,尔以是继之。”对曰:”臣闻命后。阳虎为政,鲁国服焉。违之,征死。死无益于主。”桓子曰:”何后之有?而能以我适孟氏乎?”对曰:”不敢爱死,惧不免主。”桓子曰:”往也。”孟氏选圉人之壮者三百人,以为公期筑室于门外。林楚怒马及衢而骋,阳越射之,不中,筑者阖门。有自门间射阳越,杀之。阳虎劫公与武叔,以伐孟氏。公敛处父帅成人,自上东门入,与阳氏战于南门之内,弗胜。又战于棘下,阳氏败。阳虎说甲如公宫,取宝玉、大弓以出,舍于五父之衢,寝而为食。其徒曰:”追其将至。”虎曰:”鲁人闻余出,喜于征死,何暇追余?”従者曰:”嘻!速驾!公敛阳在。”公敛阳请追之,孟孙弗许。阳欲杀桓子,孟孙惧而归之。子言辨舍爵于季氏之庙而出。阳虎入于欢、阳关以叛。
  郑驷歂嗣子大叔为政。
  ◎ 定公九年
  【经】九年春王正月。夏四月戊申,郑伯虿卒。得宝玉、大弓。六月,葬郑献公。秋,齐侯、卫侯次于五氏。秦伯卒。冬,葬秦哀公。
  【传】九年春,宋公使乐大心盟于晋,且逆乐祁之尸。辞,伪有疾。乃使向巢如晋盟,且逆子梁之尸。子明谓桐门右师出,曰:”吾犹衰绖,而子击钟,何也?”右师曰:”丧不在此故也。”既而告人曰:”己衰绖而生子,余何故舍钟?”子明闻之,怒,言于公曰:”右师将不利戴氏,不肯适晋,将作乱也。不然无疾。”乃逐桐门右师。
  郑驷歂杀邓析,而用其《竹刑》。君子谓子然:”于是不忠。苟有可以加于国家者,弃其邪可也。《静女》之三章,取彤管焉。《竿旄》’何以告之’,取其忠也。故用其道,不弃其人。《诗》云:’蔽芾甘棠,勿翦勿伐、召伯所茇。’思其人犹爱其树,况用其道而不恤其人乎?子然无以劝能矣。”
  夏,阳虎归宝玉、大弓。书曰”得”,器用也。凡获器用曰得,得用焉曰获。
  六月,伐阳关。阳虎使焚莱门。师惊,犯之而出,奔齐,请师以伐鲁,曰:”三加必取之。”齐侯将许之。鲍文子谏曰:”臣尝为隶于施氏矣,鲁未可取也。上下犹和,众庶犹睦,能事大国,而无天灾,若之何取之?阳虎欲勤齐师也,齐师罢,大臣必多死亡,己于是乎奋其诈谋。夫阳虎有宠于季氏,而将杀季孙,以不利鲁国,而求容焉。亲富不亲仁,君焉用之?君富于季氏,而大于鲁国,兹阳虎所欲倾覆也。鲁免其疾,而君又收之,无乃害乎!”齐侯执阳虎,将东之。阳虎愿东,乃囚诸西鄙。尽借邑人之车,锲其轴,麻约而归之。载葱灵,寝于其中而逃。追而得之,囚于齐。又以葱灵逃,奔晋,适赵氏。仲尼曰:”赵氏其世有乱乎!”
  秋,齐侯伐晋夷仪。敝无存之父将室之,辞,以与其弟,曰:”此役也不死,反,必娶于高、国。”先登,求自门出,死于溜下。东郭书让登,犁弥従之,曰:”子让而左,我让而右,使登者绝而后下。”书左,弥先下。书与王猛息。猛曰:”我先登。”书敛甲,曰:”曩者之难,今又难焉!”猛笑曰:”吾従子如骖之靳。”
  晋车千乘在中牟。卫侯将如五氏,卜过之,龟焦。卫侯曰:”可也。卫车当其半,寡人当其半,敌矣。”乃过中牟。中牟人欲伐之,卫褚师圃亡在中牟,曰:”卫虽小,其君在焉,未可胜也。齐师克城而骄,其帅又贱,遇,必败之。不如従齐。”乃伐齐师,败之。齐侯致禚、媚、杏于卫。齐侯赏犁弥,犁弥辞,曰:”有先登者,臣従之,皙帻而衣狸制。”公使视东郭书,曰:”乃夫子也,吾贶子。”公赏东郭书,辞,曰:”彼,宾旅也。”乃赏犁弥。
  齐师之在夷仪也,齐侯谓夷仪人曰:”得敝无存者,以五家免。”乃得其尸。公三襚之。与之犀轩与直盖,而先归之。坐引者,以师哭之,亲推之三。
  ◎ 定公十年
  【经】十年春王三月,乃齐平。夏,公会齐侯于夹谷。公至自夹谷。晋赵鞅帅师围卫。齐人来归郓、欢、龟阴田。叔孙州仇、仲孙何忌帅师围郈。秋,叔孙州仇、仲孙何忌帅师围郈。宋乐大心出奔曹。宋公子地出奔陈。冬,齐侯、卫侯、郑游速会于安甫。叔孙州仇如齐。宋公之弟辰暨仲佗、石彄出奔陈。
  【传】十年春,及齐平。
  夏,公会齐侯于祝其,实夹谷。孔丘相。犁弥言于齐侯曰:”孔丘知礼而无勇,若使莱人以兵劫鲁侯,必得志焉。”齐侯従之。孔丘以公退,曰:”士,兵之!两君合好,而裔夷之俘以兵乱之,非齐君所以命诸侯也。裔不谋夏,夷不乱华,俘不干盟,兵不逼好。于神为不祥,于德为愆义,于人为失礼,君必不然。”齐侯闻之,遽辟之。
  将盟,齐人加于载书曰:”齐师出竟,而不以甲车三百乘従我者,有如此盟。”孔丘使兹无还揖对曰:”而不反我汶阳之田,吾以共命者,亦如之。”齐侯将享公,孔丘谓梁丘据曰:”齐、鲁之故,吾子何不闻焉?事既成矣,而又享之,是勤执事也。且牺象不出门,嘉乐不野合。飨而既具,是弃礼也。若其不具,用秕稗也。用秕稗,君辱,弃礼,名恶,子盍图之?夫享,所以昭德也。不昭,不如其已也。”乃不果享。
  齐人来归郓、欢、龟阴之田。
  晋赵鞅围卫,报夷仪也。
  初,卫侯伐邯郸午于寒氏,城其西北而守之,宵熸。及晋围卫,午以徒七十人门于卫西门,杀人于门中,曰:”请报寒氏之役。”涉佗曰:”夫子则勇矣,然我往,必不敢启门。”亦以徒七十人,旦门焉,步左右,皆至而立,如植。日中不启门,乃退。反役,晋人讨卫之叛故,曰:”由涉佗、成何。”于是执涉佗以求成于卫。卫人不许,晋人遂杀涉佗。成何奔燕。君子曰:”此之谓弃礼,必不钧。《诗》曰:’人而无礼,胡不遄死。’涉佗亦遄矣哉!”
  初,叔孙成子欲立武叔,公若藐固谏曰:”不可。”成子立之而卒。公南使贼射之,不能杀。公南为马正,使公若为郈宰。武叔既定,使郈马正侯犯杀公若,不能。其圉人曰:”吾以剑过朝,公若必曰:’谁也剑也?’吾称子以告,必观之。吾伪固,而授之末,则可杀也。”使如之,公若曰:”尔欲吴王我乎?”遂杀公若。侯犯以郈叛,武叔懿子围郈,弗克。
  秋,二子及齐师复围郈,弗克。叔孙谓郈工师驷赤曰:”郈非唯叔孙氏之忧,社稷之患也。将若之何?”对曰:”臣之业,在《扬水》卒章之四言矣。”叔孙稽首。驷赤谓侯犯曰:”居齐、鲁之际,而无事,必不可矣。子盍求事于齐以临民?不然,将叛。”侯犯従之。齐使至,驷赤与郈人为之宣言于郈中曰:”侯犯将以郈易于齐,齐人将迁郈民。”众凶惧。驷赤谓侯犯曰:”众言异矣。子不如易于齐,与其死也。犹是郈也,而得纾焉,何必此?齐人欲以此逼鲁,必倍与子地。且盍多舍甲于子之门,以备不虞?”侯犯曰:”诺。”乃多舍甲焉。侯犯请易于齐,齐有司观郈,将至。驷赤使周走呼曰:”齐师至矣!”郈人大骇,介侯犯之门甲,以围侯犯。驷赤将射之。侯犯止之,曰:”谋免我。”侯犯请行,许之。驷赤先如宿,侯犯殿。每出一门,郈人闭之。及郭门,止之,曰:”子以叔孙氏之甲出,有司若诛之,群臣惧死。”驷赤曰:”叔孙氏之甲有物,吾未敢以出。”犯谓驷赤曰:”子止而与之数。”驷赤止,而纳鲁人。侯犯奔齐,齐人乃致郈。
  宋公子地嬖蘧富猎,十一分其室,而以其五与之。公子地有白马四。公嬖向魋,魋欲之,公取而朱其尾鬣以与之。地怒,使其徒扶魋而夺之。魋惧,将走。公闭门而泣之,目尽肿。母弟辰曰:”子分室以与猎也,而独卑魋,亦有颇焉。子为君礼,不过出竟,君必止子。”公子地奔陈,公弗止。辰为之请,弗听。辰曰:”是我迋吾兄也。吾以国人出,君谁与处?”冬,母弟辰暨仲佗、石彄出奔陈。
  武叔聘于齐,齐侯享之,曰:”子叔孙!若使郈在君之他竟,寡人何知焉?属与敝邑际,故敢助君忧之。”对曰:”非寡君之望也。所以事君,封疆社稷是以。敢以家隶勤君之执事?夫不令之臣,天下之所恶也。君岂以为寡君赐?”
  ◎ 定公十一年
  【经】十有一年春,宋公之弟辰及仲佗、石彄、公子地自陈入于萧以叛。夏四月。秋,宋乐大心自曹入于萧。冬,及郑平。叔还如郑莅盟。
  【传】十一年春,宋公母弟辰暨仲佗、石彄、公子地入于萧以叛。秋,乐大心従之,大为宋患,宠向魋故也。
  冬,及郑平,始叛晋也。
  ◎ 定公十二年
  【经】十有二年春,薛伯定卒。夏,葬薛襄公。叔孙州仇帅师堕郈。卫公孟彄帅师伐曹。季孙斯、仲孙何忌帅师堕费。秋,大雩。冬十月癸亥,公会齐侯盟于黄。十有一月丙寅朔,日有食之。公至自黄。十有二月,公围成。公至自侯成。
  【传】十二年夏,卫公孟彄伐曹,克郊。还,滑罗殿。未出,不退于列。其御曰:”殿而在列,其为无勇乎?”罗曰:”与其素厉,宁为无勇。”
  仲由为季氏宰,将堕三都,于是叔孙氏堕郈。季氏将堕费,公山不狃、叔孙辄帅费人以袭鲁。公与三子入于季氏之宫,登武子之台。费人攻之,弗克。入及公侧。仲尼命申句须、乐颀下,伐之,费人北。国人追之,败诸姑蔑。二子奔齐,遂堕费。将堕成,公敛处父谓孟孙:”堕成,齐人必至于北门。且成,孟氏之保障也,无成,是无孟氏也。子伪不知,我将不堕。”
  冬十二月,公围成,弗克。
  ◎ 定公十三年
  【经】十有三年春,齐侯、卫侯次于垂葭。夏,筑蛇渊囿。大蒐于比蒲。卫公孟彄帅师伐曹。晋赵鞅入于晋阳以叛。冬,晋荀寅、士吉射入于朝歌以叛。晋赵鞅归于晋。薛弑其君比。
  【传】十三年春,齐侯、卫侯次于垂葭,实狊阝氏。使师伐晋,将济河。诸大夫皆曰:”不可。”邴意兹曰:”可。锐师伐河内,传必数日而后及绛。绛不三月,不能出河,则我既济水矣。”乃伐河内。齐侯皆敛诸大夫之轩,唯邴意兹乘轩。齐侯欲与卫侯乘,与之宴,而驾乘广,载甲焉。使告曰:”晋师至矣!”齐侯曰:”比君之驾也,寡人请摄。”乃介而与之乘,驱之。或告曰:”无晋师。”乃止。
  晋赵鞅谓邯郸午曰:”归我卫贡五百家,吾舍诸晋阳。”午许诺。归,告其父兄,父兄皆曰:”不可。卫是以为邯郸,而置诸晋阳,绝卫之道也。不如侵齐而谋之。”乃如之,而归之于晋阳。赵孟怒,召午,而囚诸晋阳。使其従者说剑而入,涉宾不可。乃使告邯郸人曰:”吾私有讨于午也,二三子唯所欲立。”遂杀午。赵稷、涉宾以邯郸叛。夏六月,上军司马籍秦围邯郸。邯郸午,荀寅之甥也;荀寅,范吉射之姻也,而相与睦。故不与围邯郸,将作乱。董安于闻之,告赵孟,曰:”先备诸?”赵孟曰:”晋国有命,始祸者死,为后可也。”安于曰:”与其害于民,宁我独死,请以我说。”赵孟不可。秋七月,范氏、中行氏伐赵氏之宫,赵鞅奔晋阳。晋人围之。范皋夷无宠于范吉射,而欲为乱于范氏。梁婴父嬖于知文子,文子欲以为卿。韩简子与中行文子相恶,魏襄子亦与范昭子相恶。故五子谋,将逐荀寅而以梁婴父代之,逐范吉射而以范皋夷代之。荀跞言于晋侯曰:”君命大臣,始祸者死,载书在河。今三臣始祸,而独逐鞅,刑已不钧矣。请皆逐之。”
  冬十一月,荀跞、韩不信、魏曼多奉公以伐范氏、中行氏,弗克。二子将伐公,齐高强曰:”三折肱知为良医。唯伐君为不可,民弗与也。我以伐君在此矣。三家未睦,可尽克也。克之,君将谁与?若先伐君,是使睦也。”弗听,遂伐公。国人助公,二子败,従而伐之。丁未,荀寅、士吉射奔朝歌。
  韩、魏以赵氏为请。十二月辛未,赵鞅入于绛,盟于公宫。
  初,卫公叔文子朝而请享灵公。退,见史鳅而告之。史鳅曰:”子必祸矣。子富而君贪,其及子乎!”文子曰:”然。吾不先告子,是吾罪也。君既许我矣,其若之何?”史鳅曰:”无害。子臣,可以免。富而能臣,必免于难,上下同之。戍也骄,其亡乎。富而不骄者鲜,吾唯子之见。骄而不亡者,未之有也。戍必与焉。”及文子卒,卫侯始恶于公叔戍,以其富也。公叔戍又将去夫人之党,夫人诉之曰:”戍将为乱。”
  ◎ 定公十四年
  【经】十有四年春,卫公叔戍来奔。卫赵阳出奔宋。二月辛巳,楚公子结、陈公孙佗人帅师灭顿,以顿子牂归。夏,卫北宫结来奔。五月,于越败吴于槜李。吴子光卒。公会齐侯、卫侯于牵。公至自会。秋,齐侯、宋公会于洮。天王使石尚来归脤。卫世子蒯瞆出奔宋。卫公孟彄出奔郑。宋公之弟辰自萧来奔。大蒐于比蒲。邾子来会公。城莒父及霄。
  【传】十四年春,卫侯逐公叔戍与其党,故赵阳奔宋,戍来奔。
  梁婴父恶董安于,谓知文子曰:”不杀安于,使终为政于赵氏,赵氏必得晋国。盍以其先发难也,讨于赵氏?”文子使告于赵孟曰:”范、中行氏虽信为乱,安于则发之,是安于与谋乱也。晋国有命,始祸者死。二子既伏其罪矣,敢以告。”赵孟患之。安于曰:”我死而晋国宁,赵氏定,将焉用生?人谁不死,吾死莫矣。”乃缢而死。赵孟尸诸市,而告于知氏曰:”主命戮罪人,安于既伏其罪矣,敢以告。”知伯従赵孟盟,而后赵氏定,祀安于于庙。
  顿子牂欲事晋,背楚而绝陈好。二月,楚灭顿。
  夏,卫北宫结来奔,公叔戍之故也。
  吴伐越。越子句践御之,陈于槜李。句践患吴之整也,使死士再禽焉,不动。使罪人三行,属剑于颈,而辞曰:”二君有治,臣奸旗鼓,不敏于君之行前,不敢逃刑,敢归死。”遂自刭也。师属之目,越子因而伐之,大败之。灵姑浮以戈击阖庐,阖庐伤将指,取其一屦。还,卒于陉,去槜李七里。夫差使人立于庭,苟出入,必谓己曰:”夫差!而忘越王之杀而父乎?”则对曰:”唯,不敢忘!”三年,乃报越。
  晋人围朝歌,公会齐侯、卫侯于脾、上梁之间,谋救范、中行氏。析成鲋、小王桃甲率狄师以袭晋,战于绛中,不克而还。士鲋奔周,小王桃甲入于朝歌。秋,齐侯、宋公会于洮,范氏故也。
  卫侯为夫人南子召宋朝,会于洮。大子蒯聩献盂于齐,过宋野。野人歌之曰:”既定尔娄猪,盍归吾艾豭。”大子羞之,谓戏阳速曰:”従我而朝少君,少君见我,我顾,乃杀之。”速曰:”诺。”乃朝夫人。夫人见大子,大子三顾,速不进。夫人见其色,啼而走,曰:”蒯聩将杀余。”公执其手以登台。大子奔宋,尽逐其党。故公孟彄出奔郑,自郑奔齐。
  大子告人曰:”戏阳速祸余。”戏阳速告人曰:”大子则祸余。大子无道,使余杀其母。余不许,将戕于余;若杀夫人,将以余说。余是故许而弗为,以纾余死。谚曰:’民保于信。’吾以信义也。”
  冬十二月,晋人败范、中行氏之师于潞,获籍秦、高强。又败郑师及范氏之师于百泉。
  ◎ 定公十五年
  【经】十有五年春王正月,邾子来朝。鼷鼠食郊牛,牛死,改卜牛。二月辛丑,楚子灭胡,以胡子豹归。夏五辛亥,郊。壬申,公薨于高寝。郑罕达帅师伐宋。齐侯、卫侯次于渠蒢。邾子来奔丧。秋七月壬申,姒氏卒。八月庚辰朔,日有食之。九月,滕子来会葬。丁巳,葬我君定公,雨,不克葬。戊午,日下昊,乃克葬。辛巳,葬定姒。冬,城漆。
  【传】十五年春,邾隐公来朝。子贡观焉。邾子执玉高,其容仰。公受玉卑,其容俯。子贡曰:”以礼观之,二君者,皆有死亡焉。夫礼,死生存亡之体也。将左右周旋,进退俯仰,于是乎取之;朝祀丧戎,于是乎观之。今正月相朝,而皆不度,心已亡矣。嘉事不体,何以能久?高仰,骄也,卑俯,替也。骄近乱,替近疾。君为主,其先亡乎!”
  吴之入楚也,胡子尽俘楚邑之近胡者。楚既定,胡子豹又不事楚,曰:”存亡有命,事楚何为?多取费焉。”二月,楚灭胡。
  夏五月壬申,公薨。仲尼曰:”赐不幸言而中,是使赐多言者也。”
  郑罕达败宋师于老丘。
  齐侯、卫侯次于蘧挐,谋救宋也。
  秋七月壬申,姒氏卒。不称夫人,不赴,且不祔也。
  葬定公。雨,不克襄事,礼也。
  葬定姒。不称小君,不成丧也。
  冬,城漆。书,不时告也。
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************
************************

The Confucianism Sutram Doctrines of The Primal Literature 尚书简介

尚书简介

The Confucianism Sutram Doctrines of The Primal Literature

尚书简介

尚书
The Confucianism Sutram Doctrines of The Primal Literature  

  尚书
  目录
  《尚书》简介
  尚书
  目录
  《尚书》简介
  虞夏书 尧典 
  尧帝功德满天下
  春夏秋冬怎样划分
  尧帝挑选接班人
  舜帝代行天道
  舜帝即位后的“三把火”
  诗与歌可以感天动地惊鬼神
  皋陶谟
  对从政者的告诫
  从政者要具备九种品德
  尊卑等级由上天命定
  大禹治水的自述
  甘 誓
  夏启的战争动员令
  商书 汤誓
  世上没有不落的太阳
  盘庚(上)
  盘庚洞若观火劝贵族
  盘庚(中)
  盘庚是东方的摩西?
  盘庚(下)
  民众才是国家的根本
  西伯戡黎
  自作孽,不可活
  微 子
  出逃是一种明智的人生选择
  周 书
  得道多助
  洪 范
  谁制定了治国安邦的规则
  对数目字和秩序的酷爱
  做家长的法则
  作威作福是天子的特权
  解除疑惑要靠占卜算卦
  自然时序与君主统治
  幸福和不幸有哪些
  康 诰
  用德政去征服人心
  谨慎严明的施用刑
  酒 诰
  周公发布的戒酒令
  ——————
  《尚书》简介
  《尚书》是中国古代最早的一部历史文献汇编。最早时它被称为《书》,到了汉代被叫做《尚书》,意思是“上古之书”。汉代以后,《尚书》成为儒家的重要经典之一,所以又叫做《书经》。这部书的写作和编辑年代、作者已很难确定,但在汉代以前就已又了定本。据说孔子曾经编纂过《尚书》,而不少人认为这个说法不可靠。
  《尚书》所记载的历史,上起传说中的尧虞舜时代,下至东周(春秋中期),历史约1500多年。它的基本内容是古代帝王的文告和军臣谈话记录,由此可以推断作者很可能是史官。《尚书》作为我国最早的政事史料汇编,记载了虞、夏商、周的许多重要史实,真实的 反映了 这一历史时期的天文、地理、哲学思想、教育、刑法和典章制度等,对后世产生过重要影响,是我们了解古代社会的珍贵史料。
  《尚书》用散文写成,按朝代编排,分成《虞书》、《夏书》、《商书》和《周书》。它大致有四种体式:一是“典”,主要记载当时的典章制度;二是“训诰”,包括君臣之间、大臣之间的谈话和祭神的祷告辞;三是“誓”,记录了君王和诸侯的誓众辞;四是“命”,记载了帝王任命官员、赏赐诸侯的册命。《尚书》使用的语言、词汇比较古老,因而较难读懂。
  流传至今的《尚书》包括《今文尚书》和《古文尚书》两部分。《今文尚书》共二十八篇,《古文尚书》共二十五篇。从唐代以来,人们把《今文尚书》和《古文尚书》混编在一起后来经过明、清两代的一些学者考证、辨析,确认相传由汉代孔安国传下来的二十五篇《古文尚书》和孔安国写的《尚书传》是伪造的因此被称为《伪古文尚书》和《尚书伪孔传》。这个问题在学术界已成为定论。
  现存二十八篇《今文尚书》传说是秦、汉之际的博士伏生传下来的,用当时的文字写成,所以叫做《今文尚书》(《古文尚》用古代文字写成)。其中《虞夏书》四篇,《商书》五篇,《周书》十九篇。我们选录的是《今文尚书》,不包括书《古文尚书》。原文主要依据清代阮元校订的《十三经注疏》注释和译文广泛参考了研究《尚书》的各种专著。
  ——————
  尧帝功德满天下
  【原文】
  日若稽古(1),帝尧曰放勋,钦明文思安安(3),允恭克让(4),光被四表(5),格于上下(6)。克明俊德(7),以亲九族(8)。九族既睦,平章百姓(9)。百姓昭明,协和万帮,黎民与变时雍(10)。
  【注释】
  (1)日若:用作追述往事开头德发语词,没有实际意义。稽:考察。古 :这里指古时传说。(2)钦:恭谨严肃。(3)允:诚实。恭:恭谨。克:能够。让:让贤。(4)被:覆盖。四表:四方极远德地方。(5)格:到达。(7)俊德:指才德兼备德人。(8)九族:指同族的人。(9)平:辨别。章:使明显。百姓:白官族姓。(10)黎民:民众。于:随着。使:友善。雍:和睦。
  【译文】 
  考查古代传说,帝尧德名字叫放勋。他严肃恭谨,明察是非,善于治理天下,宽宏温和,诚实尽职,能够让贤,光辉普照四面八方,以至于天上地下。他能够明察有才有德德人,使同族人亲密团结。族人亲密和睦了,又明察和表彰有善行德百官协调诸侯各国的关系民众也随着变的友善和睦起来了。
  【读解】
  尧使古代传说中的帝王,,也算得上使“开国元勋”。为帝王歌功颂德,使作为臣子的史官责无旁贷的职守,因为古代书写历史的人使官员,而不是学者,他必须站在官方的立场上维护最高统治者。这种做法后来相沿为习,很少有人脱出这个框框。 
  这样一来,历史就成为成功者的历史,帝王功绩德行的帐薄。历史也显得极端重要。他的价值主要在为统治者树碑立传。供后来的统治者学习借鉴,以便把好传统发扬光大。
  虽然我们无法知道我们最早的帝王长相如何,习惯、个性、个人生活如何,但我们明确地知道他英明伟大,功高德重,万民拥戴,名垂千古。所以我们不得不敬仰,并为我们有这样德祖先而自豪,庆幸自己是他的后代子孙。
  ——————
  春夏秋冬怎样划分
  【原文】
  乃命羲和(1),钦若昊天(2),梨想历象日月星辰(3),敬授人时(4)。分命羲仲,宅崳夷(5),日旸谷(6)。寅宾出日(7),平秩东作(8)。日中(9),星鸟(10)以殷仲春厥民析(12),鸟兽孳尾(13)。申命羲叔,宅南交(14)。平秩南讹(15),敬致(16)。日永(17),星火(18),以正仲夏。厥民因(19),鸟兽希革(20)。分命和仲,宅西,曰昧谷。寅饯纳日(21),平秩西成(22)。宵中(23),星虚(24),以殷仲秋。厥民夷(25),毛毨(26)。申命和叔,宅塑方,曰幽都(27),平在塑易(28)。日短(29),星昴(30),以正仲冬。厥民隩(31),鸟兽 氄毛(32)。帝曰:“咨!汝羲暨和。期三百有六旬有六日(33),以闰月定 四时(34),成岁。允厘百工(35),庶绩咸熙(36)。”
  【注释】
  1)羲和:羲氏与和氏,相传是世代掌管天地四时的官重黎氏的后代。 (2)钦:恭敬。若:顺从。昊:广大。③历:推算岁时。象:观 察天象④人时:民时.⑤宅:居住。崳(yu)夷:地名,在东方。 (6)旸(yang)谷:传说中日出的地方。(7)寅:恭敬。宾:迎接。 (8)平秩:辨别测定。作。兴起,开始。(9)日中:指春分。春分这天昼 夜时间相等,因此叫日中。(10)星鸟:星名,指南方朱雀七宿。朱雀是鸟 名,所以则星鸟。(11)殷:确定。仲:每个季度三个月中的第二个月。 (12)厥:其.析:分散开来。(13)孳(zi)尾:生育繁殖。(14)交:地 名,指交趾。(15)讹:运转,运行。(16)致:到来。(17)日永:指夏 至。”夏至这天白天最长,因此叫日永。(18)星火:指火星。夏至这天黄昏, 火星出现南方。(19)因:意思是居住在高地。(20)希:稀疏。希革:意 思是鸟兽皮毛稀疏。(21)饯:送行。纳日。落日(22)西成:太阳在西 边落下的时刻。(23)宵中:指秋分。秋分这天昼夜时间相等,因此叫宵中。 (24)星虚:星名,指虚星,为北方玄武七宿之一。(25)夷:平。这里指 回到平地居住。(26)毛毨(xian):生长新羽毛。(27)朔方:北方。幽都:幽 州.(28)在:观察。易:变化。这里指运行。(29)日短:指冬至。冬至 这天白天最短,所以叫日短。(30)星昴(mao):星名,指昴星,为西方白 虎七宿之一。(31)隩(yu):奥,意思是内室。(32)氄(rong):鸟兽细软 的毛。(33)期(ji):一周年。有:又。(34)以闰月定四时:古代一年十 二个月,大月三十天,小月二十九天,共计三百五十四天,比一年的实际天 数少十一天又四分之一天。三年累计超过了一个月,所以安排闰月来补足,使 四时不错乱。(35)允:用,以。厘:治,规定。百工:百官。(36)庶:众, 多。熙:兴起,兴盛。
  【译文】 
  于是尧命令羲氏与和氏,恭敬地遵循上天的规律,根据日月星辰运行的情况来制定历法,教导人民按照时令从事生产活动。尧 又命令羲仲居住在东方的旸谷,恭敬地迎接日出,观察辨别太阳 东升的时刻。昼夜时间相等,黄昏时鸟星出现在南方,据此来确 定仲春时节。这时民众散布在田野上耕作,鸟兽开始生育繁殖。尧 再命令羲叔住在南方的交趾,观察辨别太阳向南运行的情况,恭 敬地迎接太阳南来。根据白天最长,黄昏时火星出现在南方的天 象,来确定仲夏时节。这时民众居住在高处,鸟兽羽毛稀疏。尧 又命令和仲住在西边的昧谷,恭敬地为太阳送行,观察辨别太阳 西落的情况。根据昼夜时间相等,黄昏时虚星出现在南方的天象, 来确定仲秋时节。这时人们回到平原居住,鸟兽的羽毛重新生长。 尧还命令和叔住在北方的幽都,观察太阳向北运行的情况。根据 白天时间最短,黄昏时昴星出现在南方,来确定仲冬时节。这时 人们住在室内避寒,鸟兽长出了细软的毛。尧帝说:“唉!你们羲 氏与和氏啊,一周年有三百六十六天,用增加闰月的办法来确定 春夏秋冬四时,这就成为一年。以此来规定各种事情就都会兴盛 起来。”
  【读解】
  这一段记载了神明的尧帝制定历法的情况。细节是否真实并 不重要,重要的是这样一些信息:中国远在民族部落时代就已有了划分春夏秋冬四时和周年的历法,通过对天体运行的变化和地 上物候变化的仔细观察,来确定时令。我们现在已很难想象这件 事对人类进步文明的巨大价值和意义。这标志着人们有了比较深 刻的时间迁移感,同时也初步有了空间方位感。
  时空意识的产生,导致了对时间流动的划分、确认和记录,对 方位变化的辨认,在人们生存的层面上,时间和空间的确立有助 于人们迁徙定居,从事农业生产,商业贸易等物质生产活动,也 有利于人们的生活:春种秋收,夏避洪水酷热,冬避严寒冰雪。在 意义的层面上,时空感使人确认人自身在天地万物间的位置,体验人在天地间存在的意义和价值。   从尧帝制定历法的情况看,对自然现象的仔细观察和对自然 变化规律的准确把握,是第一位的。这个立足点带来的结果是对 自然的重视、崇敬和顺从,把人的存在纳入自然的轨道,使人的 生产、生活、思维合乎自然法则,因而最具有意义的生活,便是顺应自然的生活。
  我们的民族崇尚自然的传统,大概就始于尧的时代。崇尚自然 的意识,囊中体现在“敬天”的观念上。“天”是万物的主宰,它 既是神灵意志的体现,又是自然法则的体现;作为自然的一部分 的人,必须敬重上天,服从上天。帝王是上天派到人间的代表,他 以上天赋予的绝对权力来统治人世间,因此被称为“天子”。冒犯 天子,就是冒犯天神、自然法则,罪该万死。小人真要冒犯天子 起来造反,也要打着“替天行道”的旗号。
  把“天”、自然、神灵同权力、特权和专制结合起来,也算是 民族传统之一,即把自然涂上权力意志的色彩,敬重、顺从自然, 也就是敬重、顺从权力。个人存在的意义和价值便在敬天、顺应自然、服从权力中消解了。这也是儒家要把《书》作为经典的原 因之一。
  ——————
  尧帝挑选接班人
  【原文】
  帝曰:“咨!四岳。朕在位七十载,汝能庸命①,龚朕位②?” 
  岳曰:“否德添帝位③。” 
  曰:“明明扬侧陋④。”师锡帝曰⑤:“有鳏在下(6),曰虞舜。” 
  帝曰:“俞(7)!予闻,如何?”
  岳曰:“瞽子(8),父顽,母嚣,象傲,克谐。以孝烝烝(9),乂不格奸(10)。”
  乂帝曰:“我其诚哉!女于时(11),观厥刑于二女(12)。”厘降二女 于妫汭(13),嫔于虞(14)。
  帝曰:“钦哉!” 
  慎微五典(15),五典克从(16)。纳于百揆(17),百揆时叙(18)。宾于四门(19),四门穆穆(20)。纳于大麓(21),烈风雷雨弗迷。 
  帝曰:“格(22)!汝舜。询事考言(23),乃言凪可绩(24),三载。汝陟 帝位(25)。”舜让于德,弗嗣。
  【注释】
  ①庸命:顺应天命。②袭:用作“践”,意思是履行,这里指接替帝位。③否(PT):鄙陋。添(tian):辱,意思是不配。④明明:明察 贤明的人。扬:选拔,举荐。侧陋:隐伏卑微的人。⑤师:众人,大家。 锡:赐,这里指提出意见。(6)鳏(guan):困苦的人。(7)俞:是的, 就这样。(8)瞽(gu):瞎子,这里指舜的父亲乐官瞽瞍。(9)烝烝:形 容孝德美厚。(10)乂(y i):治理。格:至,达到。奸:邪恶。(11)女: 嫁女。时:是,这个人,这里指舜。(12)刑:法度,法则。二女:指尧的 女儿娥皇和女英。(13)厘:命令。妫(guT):水名。汭(rui):河流弯曲的 地方。(14)嫔:嫁给别人作妻子。,(15)徽:美善。五黄:五常,指父义, 母慈、兄友、弟恭、子孝。(16)克:能够。从:顺从。(17)纳:赐予职 位。百接;掌管一切事务的官。(18)时叙。承顺,意思是服从领导。 (19)宾:迎接宾客。(20)穆穆:形容仪容齐整。(21)麓:山脚。(22)格 到来,来。(23)询:谋划。考:考察。(24)乃:你。凪(zhi):求得。 (25)陟:升,登。
  【译文】 
  尧帝说:“唉!四方的部落首领!我在位任职七十年,你们中 有谁能顺应天命,接替我的帝位?”。
  四方部落首领说:“我们德行鄙陋,不配登上帝位。”
  尧帝说:“可以考察贵戚中贤明的人,也可以推举地位低微的贤人。” 
  大家向尧推荐说;“民间有个处境困苦的人,名叫虞舜。”
  尧帝说:“是啊,我听说过。这个人到底怎么样?” 。
  四方部落首领回答说:“他是乐官瞽瞍的儿子。他的父亲心术 不正,母亲善于说谎,,他的弟弟象十分傲慢,但舜能与他们和睦 相处.他用自己的孝行美德感化他们,使他们改恶从善,不走邪 路。”
  尧帝说。“那我就考验考验他吧!把我的两个女儿嫁给他,通 过两个女儿考察他的德行。”于是,尧命令两个女儿到妫河的弯曲 处,在那里嫁给了虞舜。 
  尧帝说:“恭谨地处理政务吧!”
  舜谨慎地推行父义、母慈、兄友、弟恭、子孝五种美德,臣 民都能顺从。他又受命管理百官,百官都能服从。他在明堂四门 迎接前来朝见的四方诸侯。四方诸侯全都仪容整肃。他还到深山 老林中去经受风雨考验,即使在狂风暴雨和电闪雷鸣时也不迷失方向。 
  尧帝说:“来吧,舜啊。我同你谋划政事,考察你的言论,你 提的意见十分正确。经过三年考验,你一定能成就大业。你现在 可以登上帝位了。”舜要把帝位让给更有德行的人,不愿就位。 
  【读解】
  对君王来说,挑选接班人是件大事,它关系到国家会不会变 颜色。尧帝当了70年君王,功德满天下,无奈年龄不饶人,总有退位的一天,要把权力交给下一代。 
  值得注意的是,在尧的时代还没有皇帝江山不外传的世袭制, 可以把权力交给家族以外的人。这种移交权力的做法,在古代叫 做“禅让”。并且,把权力交给谁,可以由各方氏族首领参与讨论, 提出建议,推荐人选。这就很有点民主色彩了,不是由最高统治 者一个人说了就算。
  移交权力的确不是一件简单的事。且不说众多争权夺利的复 杂瓜葛,单就享受够了尊严、顺从、声名、功绩、荣华富贵等等 的心态来说,需要有巨大的心理承受能力。可能在尧的时代这是。 不成问题的,即使从最高职位上退下来,依然会受到崇敬,不会 失去得太多,不会人一走茶就凉,毕竟那时世风还很淳朴。
  退出权力中心造成的心理上的失衡,会带来恐惧感。处于权 力中心的诱惑力,实在太大了。诱惑力越大,失衡就越重,恐惧 感就越强。这大概是后世的帝王们即使路上黄泉路也不愿交出权 力的重要心理原因。于是,后来有了世袭制。天下是朕的天下,也 是朕儿子孙子的天下,接班人早已由制度规定好了,用不着挑选, 也不容外人讨论、提意见。西晋开国皇帝晋武帝把王位传给了白 痴太子司马衷,只不过短短十六年,司马家的天下就被白痴皇帝 葬送掉了。
  从今天想昨天,“禅让”帝位和民主评选接班人,还是有几分 让人神往。 
  ——————
  舜帝代行天道
  【原文】
  正月上日①,受终于文祖②。在璇玑玉衡③,以齐七政④。肆类 于上帝⑤,禋于六宗(6),望于山川(7),遍于群神。辑五端(8)。既月乃 日(9),觐四岳群牧(10),班瑞于群后(11)。 岁二月,东巡守,至于岱宗(12),柴(13)。望秩于山川(14),肆觐东后(15) 协时月正日(16),同律度量衡(17)。修五礼、五玉、三帛、二生、一死 贽(18)。如五器(19),卒乃复(20)。五月南巡守,至于南岳,如岱礼。八月 西巡守,至于西岳,如初。十有一月朔巡守,至于北岳,如西礼。归 ,格于艺祖(21),用特(22)。五载一巡守,群后四朝。敷奏以言(23),明试以功,车服以庸(24)。
  【注释】
  ①上日;吉利的日子.②终;这里指尧退下帝位。文祖:尧太祖的 宗庙.③在:观察。璇玑玉衡:指北斗七星。④齐:排比整理。七 政:指祭祀、班瑞、东巡、南巡、西巡、北巡、归格艺祖七项政事。⑤ 肆:于是。类:一种祭祀礼节,这里指向上天报告继承帝位。(6)禋(yin) :祭祀。六宗;指天、地和春、夏、秋、冬四时。(7)望:祭祀祖山川 的仪式。(8)辑:收集,聚敛。五瑞:五种等级的玉器,诸侯用来作为信 符。(9)既月乃日:挑选吉利的月份、日子。(10)觐(qin):朝见天子。 牧:官员.(11)班:颁,分发。后:指诸侯国君。(12)岱宗:东岳泰山。 (13)柴赐:祭天的礼仪。(14)秩;次序,依次。(15)东后:东方诸侯国 君。(16)协:合。时:春夏秋冬四时。正:确定。(17)同:统一。律:音 律。度:丈尺。量,斗斛。衡:斤两。(18)五礼;指公、侯、伯、子、男 五等礼节。五玉:即前面说的“五瑞”。三帛:三种不同颜色的丝织品,用于 垫玉。二生;活羊羔和活雁。一死:一只死野鸡。(19)如:而。五器:指五玉。(20)卒:指礼仪完毕。乃:然后。复:归还。(21)格:到,至。艺 祖:文祖,即尧太祖的宗庙。(22)特:一头公牛。(23)敷:普遍。 (24)庸:功劳。
  【译文】 
  正月的一个吉日,舜在尧的太祖宗庙接受了禅让的帝位。他 观察了北斗星的运行情况,列出了七项政事。接着举行祭祖,向 上天报告继承帝位一事,并祭祖天地四时,祭祖山川和群神。舜 聚集了诸侯的五等圭玉,挑选良辰吉日,接受四方诸侯头领的朝 见,把圭玉颁发给他们。
  这一年的二月,舜到东方巡视,到了泰山,举行了柴祭,并按等级依次祭祀了其它山川,接受了东方诸侯国君的朝见。舜协调了春夏秋冬的月份,确定了天数;统一了音律和长度、容量、重 量的单位;制定了公侯伯于男朝见的礼节,规定了五等圭玉、三种颜色丝织物、活羊羔、活雁和死野鸡的用法。礼仪结束后,便把五等圭玉归还给诸侯。五月,舜到南方巡视,到了衡山,像祭 祀泰山一样行礼仪。八月,舜到四方巡视,到了华山,祭把礼仪同祭泰山一样。十一月,舜到北方巡视,到了恒山,祭祀礼仪同 在华山一样。舜回来后,到尧太祖的宗庙祭祖,用的祭品是一头牛。
  此后,舜每隔五年就巡视一次。各方诸侯在四岳朝见,各自 报告政绩。舜根据诸侯的政绩进行评定,论功行赏,赐给他们车马和服服饰。 
  【读解】
  这一节写舜帝登基的情况。尧顺利地移交了权力,舜顺利地 登上了帝位。祭祀是必不可少的礼仪,种类之多,场面之大,气 氛之隆重,全都可以想见。毕竟,这是新天子的诞生,其意义得 用盛大的礼仪来表示。因此,礼仪的规模,便体现了意义的大小。 
  礼仪的作用还在于发布信息,一是通报天地神灵,以取得合 法身份;二是通报四方臣民,以归顺人心。
  出身微贱的舜帝,上任后的动作十分大:修订历法,统一乐 律和度量衡,严明礼仪等级,巡视四方,赏赐功臣,大有重振河 山的王者气度,表现出王者的大智慧和大德行。这当中包含着一 个重要的潜台词:禅让是英明的,接班人是可靠的,天下河山将 大放光彩,生民百姓将幸福安康。
  重要的是,天下是上天的天下,生民是上天的生民;天子不 过是代行上天之道,负责播撒上天的恩惠。说白了,天子也是侍 者,今天的话叫做服务员,公仆;既伺候上天,又伺候万众,此 外没有什么特殊之处。这与世袭制的“家天下”有着天壤之别。如 果说公仆有什么特别之处的话,不外乎才干、德行、智慧、气度等,而不是罩在头上的光环,可以为所欲为地玩弄权术、为自己大捞好处、光宗耀祖、飞扬跋扈。
  不知从什么时候起,侍者变成了主子,公仆变成了上帝,一切都颠倒了。江山有了归属姓氏,生民成了统治者的供养人和可 以任意支配、宰杀的奴仆。龙颜不可冒犯,太岁头上的土动不得,刑不上大夫,礼不下庶人,君君臣臣父父子子。反正,天下变了。
  重温帝尧、帝舜的事迹,我们最古老的这两位祖宗,能够给我们的启示该不算少吧!
  ——————
  舜帝即位后的“三把火”
  【原文】
  肇十有二州①,封十有二山,浚川②。
  象以典刑(3),流宥五刑(4),鞭作官刑,扑作教刑(5),金作赎刑。眚灾肆赦(6),怙终贼刑(7)。钦哉,钦哉,惟刑之恤哉(8)! 
  流共工于幽州(9),放驩兜于崇(10)!窜三苗于三危(11),殛鳏于羽 山(12),四罪而天下咸服。
  【注释】
  ①肇:这里指划分地域。②浚:疏通。③象:刻画。典:常,常 用。典刑:常用的墨、劓、剕、宫、大辟五种刑罚。(4)流:流放。宥:宽 恕。⑤扑:檟(jia)楚,古代学校用作体罚的工具。(6)眚(sheng): 过失。肆:于是。(7)怙:依仗。贼:用作“则”。(8)恤:慎重。 (9)幽州:地名,在北方边远地区。(10)崇山:地名,在现在湖北黄陂以南。 (11)三苗:古代国名,在现在湖南、江西境内。三危:地名,在现在甘肃 敦煌一带。(12)殛(ji):流放。羽山:地名,在东方。
  【译文】 
  舜划定了十二个州的疆界,在十二座山上封土为坛,作祭祀用,并疏通了河道。 
  舜把五种常用的刑罚刻画在器物上,用流放的办法代替五刑 以示宽大,用鞭刑来惩罚犯了罪的官员,用木条打来惩罚有罪过的掌管教化的人,用铜作为赎罪的刑罚。因为过失犯罪,可以赦免;要是犯了罪又不知悔改,就要用刑罚。慎重啊,慎重啊,使用刑罚时一定要慎重。
  舜把共工流放到幽州,把驩兜流放到崇山,把三苗驱逐到三 危,把鳏流放到羽山。这四个罪人受到了应有的处罚,天下的人 都心悦诚服。 
  【读解】
  舜帝上任后烧了三把火:划定州界,制定刑罚,放逐尧的大 臣共工、驩兜、鳏,以及三苗,于是天下人心归顺。接下来是任 用百官,使国家机器运转起来。舜三十岁出道从政,在帝王位置 上呆了五十年,身后名垂青史。 
  咱们中国人对新任官员的信心,多半寄托在“三把火”上。舜 帝的“三把火”的重心在刑罚,表明他重视“依法治国”。这和后 世的帝王得天下后大兴土木、赏赐功臣、争权夺利形成鲜明对比。 
  还可注意的是,舜帝在重慎用刑罚,以惩戒为目的,区别罪 行,处罚适度。这是开明君主与暴君(如秦始皇、隋场帝)的区 别所在。治国的关键在治人心。不仅要赏罚分明,还要赏罚适度, 才能使人心归)烦,天下大治。以忧国忧民著称的诗人杜甫曾说: “致君尧舜上,再使风俗淳。”这话表明了他对尧、舜时代的向往。
  ——————
  诗与歌可以感天动地惊鬼神
  【原文】
  帝曰:“夔!命汝典乐①,教胄子②,直而温,宽而栗③,刚而 无虐④,简而无傲。诗言志,歌永言⑤,声依永,律和声。八音克 谐,无相夺伦(6),神人以和。”
  夔曰:“於(7)!予击石拊石(8),百兽率舞。” 
  【注释】
  ①乐;乐官。②胄(zhou)子:未成年的人。③栗:恭谨。 ④无:不要。⑤永:咏,意思是吟唱。(6)夺:失去。伦:次序,这 里指和谐。(7)於(wu):是啊,好吧。(8)拊:轻轻敲击。石:石 磬,古代的一种乐器。
  【译文】 
  舜帝说:“夔啊!我任命你掌管乐官,教导年轻人,使他们正 直温和,宽厚恭谨,刚强而不暴虐,简约而不傲慢。诗是表达思 想情感的,歌吟唱表达思想情感的语言,音调要合乎吟唱的音律,音律要谐和五声。八种乐器的音调能够调和,不失去相互间的次 序,让神和人听了都感到和谐。”
  夔说:“好吧!我轻重有致地击打石磬,使各种兽类都能随着音乐舞蹈起来。” 
  【读解】
  舜帝对夔说的这段关于诗歌和音乐的作用的看法,后来被儒家当作“诗教”的经典言论,也成了历代官方所推崇的文艺观,成 了我们的民族传统。 
  按这种观点,诗歌和音乐是人们内心想法和情感的表现;表 现的最高标准,是和谐;和谐就是美,是优雅,可以感天动地惊神鬼;和谐的诗歌和音乐被用来培育、陶冶人们的内在情操,培养性情高雅的君子。
  简单地说,诗歌和音乐是最重要的教育手段,而不是供自我发泄或娱乐消遣。现在的流行音乐、交谊舞是不可能培养出传统意义上的君子的,诗歌也成了少数被认为神经有毛病的人的自我发泄。这种天翻地覆的变化,是我们的幸事,同时也是我们的不幸,正如钢筋水泥丛林之于田园牧歌的幸与不幸一样。 
  ——————
  对从政者的告诫
  【原文】
  曰若稽古。皋陶曰:“允迪厥德(2),谟明弼谐(3)。”
  禹曰:“俞,如何?” 皋陶曰:“都!慎厥身,修思永④。淳叙九族⑤,庶明励翼(6),还 可远,在兹。”
  禹拜昌言曰:“俞!”
  皋陶曰:“都!在知人(7),在安民。” 
  禹曰:“吁!咸若时(8),惟帝其难之。知人则哲(9),能官人(10)。安 民则惠,黎民怀之。能哲而惠,何忧乎讙兜?何迁乎有苗(11)?何畏 乎巧言令色孔壬(12)?”
  【注释】
  (1)皋陶(gao yao)是舜帝的大臣,掌管刑法狱讼。谟的意思是商讨,谋 划。本篇的内容是舜帝、大禹和皋陶在一起商讨大事的讨论记录,虽然经过 了后人的加工润色,但仍保存有较高的史料价值。②允:诚信。迪:履 行,遵循。③明:高明,英明。弼:辅佐。④都:啊。永:长久。 ⑤淳:敦厚。叙:顺从。(6)庶:众人。励:努力。翼:辅佐。(7) 人:这里指官员。(8)咸:全部,完全。时:这样。(9)哲:明智。。 (10)官:管理,任用。(11)迁:流放。(12)巧言:花言巧语。令:善于。 色:脸色。孔;十分,非常。壬:奸侫的人。
  【译文】 
  考察古代传说。皋陶曾说:“要真正履行先王的德政,就会决策英明,大臣们团结一致。” 
  禹说:“是啊!怎样才能做到呢?”
  皋陶说:“啊,对自己的言行要谨慎,自己的修养要持之以恒。 要使亲属宽厚顺从,使众多贤明的人努力辅佐,由近及远,首先 从这里做起。”
  禹十分佩服这种精当的见解,说:“是这样啊!”
  皋陶说:“啊!重要的还在于知人善任,在于安定民心。”
  禹说:“唉!要是完全做到这些,连尧帝也会感到困难啊!知人善任是明智的表现,能够用人得当。能安定民心便是给他们的 恩惠,臣民都会记在心里。能做到明智和给臣民恩惠,哪里会担 讙兜?哪里还会放逐三苗?哪里会惧怕花言巧语、察言观色的 奸侫之人呢?” 
  【读解】
  皋陶对参与治理国家的人提出了修身、知人、安民三项要求。 这些要求的前提是实行德政,而不是苛政、暴政。孟子曾说,“苛政猛于虎。”意思是说残暴的统治者像凶猛的老虎一样吃人不眨眼。这是后来的事情,与尧、舜时代的清明廉正的政治是两码事。
  修身、知人、安民从理论上说起来很容易,在实际当中却非 常非常不容易。政治家因为公务繁忙,权力斗争激烈,少有时间用于增加修养提高素质,况且应酬宴席交际游玩占去了不少业余 时间,加上有秘书操劳,修不修身就无关紧要了。知人更难。官 场上野心家、阴谋家、奉承献媚的人不在少数,他们多半戴着厚厚的面具,难以识破。他们抓住人性中喜欢别人奉承的弱点,化 装表演,实则为自己捞取好处。得逞了,就为世人做出了榜样,以 行动告诉人们还是做官的好。安民要付出巨大的心血和人力物力。 .老百姓的生活内容多种多样,除了最基本的吃喝拉撒睡之外,还 。要有精神生活的要求、娱乐等等,单是满足基本必需的物质生活 条件就够忙乎的了,要处处让老百姓满意,非得全心全意做老黄牛才行。再说,老黄牛也有累的趴下的时候。
  ——————
  从政者要具备九种品德
  【原文】
  皋陶曰:“都!亦行有九德①。亦言,其人有德,乃言曰,载采采②” 
  禹曰:“何?”
  皋陶曰:“宽而栗③,柔而立④,愿而恭⑤,乱而敬(6),扰而毅(7),直而温(8),简而廉(9),刚而塞(10),强而义(11)。彰厥有常吉哉(12)! 
  “日宣三德(13),夙夜浚明有家(14);日严祗敬六德(15),亮采有邦(16)。翕受敷施(17),九德咸事(18),俊乂在官(19)。百僚师师(20),百工惟时(21),抚于五辰(22),庶绩其凝(23)。
  【注释】
  ①亦:检验。行;德行。②乃:考察。载:为,这里的意思是以… 为证明。采:事,采采就是很多事,这里指事实。③栗;严肃恭谨。 ④柔:指性情温和。立;指有自己的主见。⑤愿:小心谨慎。恭:庄 重严肃。(6)乱:治,这里指有治国才干。敬:认真。(7)扰:柔顺,指 能听取他人意见。毅:果断。(8)直:正直,耿直。温:温和。(9)简; 直率而不拘小节。廉:方正。(10)刚:刚正。塞:充实。(11)强:坚毅。 义:善,合符道义。(12)常:祥,常吉的意思是吉祥。(13)宣:表现。 (14)夙:早晨。浚明:恭敬努力。家:这里指卿大夫的封地。(15)严:严 肃庄重。祗:恭敬。(16)亮:辅佐。邦:诸侯的封地。(17)翕(Xi):集 中。敷施:普遍推行。(18)咸:全部。事:担任事务。(19)俊乂:指特 别有才德的人。(20)百僚:指众大夫。师师:互相学习和仿效。(21)百 工:百官。惟:想。时:善。(22)抚:顺从。五辰:指金木水火土五星。 (23)庶:众多。绩;功绩。凝:成就。
  【译文】 
  皋陶说:“啊!检验一个人的行为可以依据九种品德。检验言论也一样,如果说一个人有德行,那就要指出许多事实作分依据。”
  禹说:“什么叫做九德?” 
  皋陶说:“宽宏大量而又严肃恭谨,性情温和而又有主见,态 度谦虚而又庄重严肃,具有才干而又办事认真,善于听取别人意 见而又刚毅果断,行为正直而又态度温和,直率旷达而又注重小 节,刚正不阿而又脚踏实地,坚强勇敢而又合符道义。能在行为 中表现出这九种品德,就会吉祥顺利啊! 
  “每天都能在行为中表现出九德中的三德,早晚恭敬努力地去 实行,就可以做卿大夫。每天都能庄重恭敬地实行九德中的六德, 就可以协助天子处理政务而成为诸侯。如果能把九种品德集中起 来全面地实行,使有这些品德的人都担任一定职务,那么在职官 员都是才德出众的人了。大夫们互相学习仿效,官员们都想尽职 尽责,严格按照五展运行和四时变化行事,众多的功业就可以建成了。”
  【读解】
  皋陶提出的从政者应具备的九种品德,可以毫不夸张地说是 对政治家们最高的要求,是政治家能达到的最理想的境界。倘若全部具备九德难以企及的话,可以退而求其次,只要六德;再不 行,还可以退一步,只具备三德,便可以于国于家于民有益了。一德都不具备,就该回家种田卖红薯。
  具备九德需要足够的修养,而且还要经过实际行动来考验和 陶冶。比如,性情温和的人往往没有主见,要他两者皆备,可以让他多去处理一些棘手的事情来锻炼。有才干的人往往自视甚高, 恃才傲物,主观自信;这样的人让他多碰几次壁,多摔几次跟斗, 让他知道世界有多大、有多复杂、有多少人力所不及的意外,他 才会知道“锅儿是铁铸的”。 
  所以,培养九德就是一个过程,也许还是一个很长很长的过程。这就有个问题:让无德的人或少德的人到重要的领导岗位去摔打锻炼,岂不是误国误家误民?也可以反问:如果不通过摔 打锻炼的实际考验,不把驴和马牵出场路一溜,怎么知道是马还是驴,有德还是无德?
  好在人民群众的眼睛是雪亮的。可是有时候,人民群众的眼睛再雪亮,也作不了主。培养德行靠个人的自觉。对从政者应具有的德行,恐怕光靠自觉远远不够,还得要有一种法律的和社会 的制约机制来进行规范,才会更合理。这一点,先辈皋陶没有想到。
  ——————
  尊卑等级由上天命定
  【原文】
  “无教逸欲①,有邦兢兢业业,一日二日万几②。无旷庶官③,天 工(4),人其代之。天叙有典⑤, 勅我五典五敦惇哉(6)!天秩有礼(7),自我五礼有庸哉(8)!同寅协恭和衷哉(9)!叫天命有德,五服五章哉(10)!天 讨有罪(11)十五刑五用哉(12)!政事懋哉!懋哉(13)! 
  “天聪明(14),自我民聪明。天明畏(15),自我民明威。达于上下, 敬哉有土(16)!” 
  皋陶曰:“朕言惠可氐行(17)?”
  禹曰:“俞!乃言氐可绩。”
  皋陶曰:“予未有知,思曰赞赞襄哉(18)!”
  【注释】
  ①无教:不要。逸欲:安逸贪欲。(2)一日二日:意思是天天,每天 几:机,这里指事情。③旷:空,这里指虚设。庶官;众官。(4)天 工:上天命令的事。⑤叙:秩序,指伦理、等级秩序。典;常法。 (6)勅(Chi):命令。五典:指君臣、父子、兄弟、夫妇、朋友间的伦理关系 (7)秩:规定等级次序。(8)自:遵循。五礼:指天子、诸侯、卿大夫 士、庶民五种礼节。庸:经常。(9)寅:恭敬。协恭和衷:同心同德,结一致。(10)五服:天子、诸侯、卿、大夫、士五种等级的礼服。章;显 示。(11)讨:惩治。(12)五刑:墨、剔、剐、宫、大辟五种刑罚。 (13)懋:勉励,努力。(14)聪:听力好,这里指听取意见。明:视力好,这 里指观察问题。(15)明:表扬。畏:惩罚。(16)有土:保有国土。 (17)氐(ZhT):一定,必须。(18)赞:辅佐。襄;治理。
  【译文】 
  “不要贪图安逸和放纵私欲,当诸侯就要兢兢业业,每天要处理成千上万的事。不要虚设各种官职,上天命定的事情,要由人来完成。上天安排了等级秩序的常法,命令我们遵循君臣、父子、 兄弟、夫妇、朋友之间的伦理,并使它们淳厚起来!上天规定了尊卑等级次序,要我们遵循天子、诸侯、卿大夫、士、庶民五种 等级的礼节,并使它们经常化!君臣之间要相互敬重,同心同德!上天任命有德的人管理民众,要用天子、诸侯、卿、大夫、士五 种等级的礼服来显示有德者的区别!上天惩罚有罪的人,要用墨、劓、剕、宫、大辟五种刑罚来处治犯了罪的人!处理政务要互相勉 励!要共同努力!”
  “上天明察一切,来自于臣民的意见。上天赏罚分明,来自于 臣民的赏罚意愿。上天和下民之间互相通达,所以要恭敬从政才 能保有国土。”
  皋陶说:“我的话一定会得到实行吗?” 
  禹说:“是的,你的话会得到实行并会获得成功。” 
  皋陶说:“其实我没有什么智慧,只是想辅佐君王治理好国家 啊!”
  【读解】
  皋陶本人是谦卑的,心目中没有自我,只有上天、君王和民 众。他的自我价值和人生目标,就是按照上天事先规定好了的一 切,履行自己的职责。离开了君臣父子兄弟夫妇朋友这样的等级 座标,自我就不存在,就没有价值和意义。
  那么,上天是谁?他凭什么规定了人与人之间的尊卑等级秩 序?他凭什么命令人们必须遵守他规定的这种等级秩序?   说穿了,“上天”其实是人自己。是人自己规定了人有尊卑贵贱之分,是人自己要求遵守等级秩序。反复宣扬这样的观点,造 成的实际效果是:人有尊卑贵贱之分是不言自明、不容置疑的真 理,于是有了“龙生龙,凤生凤,老鼠生儿会打洞”的说法。另一方面,相信命定论造成的效果是普遍的愚昧,是对自我和个人 价值的无情否定。
  可以作一个设想:如果真有“上天”存在,那么“上天”说 人人生来都是天使,人人都可以做国王,人人都可以升官发财成 为款爷,江山轮流坐,即使是鸡也可以变凤凰,效果会是怎样?天 下会不会乱套、会不会群龙无首?
  看历史,想今天,答案不言自明。乞丐可以当皇帝,皇帝也 有沦为阶下囚的时候。人生是个大舞台,大伙儿闹哄哄你方唱罢 我登台。再美好的筵席,也有结束的时候。自古英雄出草莽,成 者为王,败者为寇,全没有了尊卑贵贱的等级秩序。
  如果“上天”有眼,该不会气得糊涂吧? 
  ——————
  大禹治水的自述
  【原文】
  帝曰:“来,禹!汝亦昌言。”禹拜曰:“都!帝,予何言?予 思日孜孜。”皋陶曰:“吁!如何?”禹曰:“洪水滔天,浩浩怀山 襄陵①,下民昏垫②。予乘四载③,随山刊木④,暨益奏庶鲜食(5)。予 决九川距四海(6),浚赋治距川(7)。暨稷播(8),奏庶艰食鲜食(9)。懋迁 有无化居(10)。蒸民乃粒(11),万邦作乂(12)。”皋陶曰:“俞!师汝昌言(13)。”
  【注释】
  ①怀:包围。襄:淹没。②昏垫:意思是沉陷,吞队③四载:四种交通工具,指车、船、橇、轿。④刊:砍削,这里指砍削树木作路 标。⑤暨:及,和。益:人名,伯益。奏:进。鲜食:刚杀了的鸟兽。(6)决:疏通。距:到达。(7)浚;疏通。欧法(qbon kodi):田间的水沟。 (8)稷:人名,后稷。传说他教人们播种庄稼。(9)艰食:根生的粮食, 指谷类。(10)懋:用作“贸”,懋迁的意思就是贸易。化居:迁移囤积的货 物。(11)粒:立,意思是成,定。(12)作:开始。乂;治理。(13)师: 用作“斯”,意思是这里。
  【译文】 
  舜帝说:“来吧,禹!你也谈谈高见吧。”禹拜谢说:“是啊,君王,我说些什么呢?我整天考虑的是孜孜不倦地工作。”皋陶说:“哦,到底是些什么工作?”禹说:“大水与天相接,浩浩荡荡包围 了大山,淹没了山丘,民众被大水吞没。我乘坐着四种交通工具, 顺着山路砍削树木作路标,和伯益一起把刚猎获的鸟兽送给民众。 我疏通了九州的河流,使大水流进四海,还疏通了田间小沟,使 田里的水都流进大河。我和后稷一起播种粮食,为民众提供谷物 和肉食。还发展贸易,互通有无,使民众安定下来,各个诸侯国 开始得到治理。”皋陶说:“是啊!你这番话说得真好。”
  【读解】
  我们从小就知道大禹治水三过家门而不入的故事传说,现在 我们读到的是大禹自己谈如何整治洪水。听了他的叙述,我们不 由得赞叹:“真神奇!”然后仔细一想,发现不要由此产生误会。 
  如果真有大禹整治洪水这回事儿,那么可以肯定的是,这事 儿他一个人干不了!这道理就像拿破仑在阿尔卑斯山上望着追赶 他的敌军时明智地说的,要是没有面前这些敌人,他成不了英雄。 大禹是治水的英雄;但是没有洪水,没有众多的人齐心协力,他也成不了英雄。 
  把大禹治水的事说出来写出来,是想说明圣人君子不要忘记为民造福。做官是通过治理人民来为人民造福,为民除害也是为民造福,殊途同归。可是还要补充一点,想一想是谁来为圣人君子造福的呢? 回答这个问题不需脑筋急转弯儿。
  ——————
  夏启的战争动员令
  【原文】
  大战于甘,乃召六卿②。王曰:“嗟!六事之人(3),予誓告汝: 有扈氏威侮五行(4),怠弃三正⑤。天用剿绝其命(6),今予惟恭行天之罚(7)。
  “左不攻于左(8),汝不恭命;右不攻于右,汝不恭命;御非其马之正(9),汝不恭命。用命,赏于祖(10);弗用命,戮于社。予则孥戮汝(11)”
  【注释】
  ①甘誓是一篇战争动员令,是后人根据传闻写成的。甘是地名,在有扈氏国都的南郊。誓是古时告诫将士的言辞。大禹死后,他的儿子夏启继承了帝位。启所确立的新制度,遭到了有扈氏的反对,启便发动了讨伐有扈氏的 战争。结果以有扈氏失败、夏启胜利而告终。甘誓就是这次战争前启告诫六 军将士的言辞。②六卿:六军的将领。古时天子拥有六军。③六事: 六军的将士。④威侮:轻慢,轻视。五行:金、木、水、火、土五种物 质。⑤怠:懈怠。三正:指建于、建丑、建寅,意思是指历法。③ 用:因此。剿:灭绝。(7)恭行:奉行。(8)左:战车左边。古时战车 载三人,分左中有,左边的人负责射箭,中间的人驾车,右边的人用矛刺杀。攻;善。(9)御:驾车的人,即处在战车中间位置上的人。(10)赏于祖: 古时天子亲征,随军带着祖庙的神主和社神的神主。有功的,就在祖庙神主 之前赏赐,惩罚则在社神神主前进行,表示不敢自己专行。(11)孥:奴,降 为奴隶。戮:刑戮,惩罚。
  【译文】 
  即将在甘进行一场大战,于是夏启召集了六军的将领。王说: “啊!六军的将士们,我要向你们宣告:有扈氏违背天意,轻视金木水火土这五行,怠慢甚至抛弃了我们颁布的历法。上天因此要 断绝他们的国运,现在我只有奉行上天对他们的惩罚。 
  “战车左边的兵士如果不善于用箭射杀敌人,你们就是不奉行我的命令;战车右边的兵士如果不善于用矛刺杀敌人,你们也是不奉行我的命令;中间驾车的兵士如果不懂得驾车的技术,你们也是不奉行我的命令。服从命令的人,我就在先祖的神位前行赏;不服从命令的人,我就在社神的神位前惩罚。我将把你们降为奴 隶,或者杀掉。”
  【读解】
  天子率领将士亲自出征,必定是一场关系到国家命运的决战, 一定要使将士们明白为谁和为什么而战,否则不明不白上战场,多半要吃败仗。主帅是天子,由他来发布战争动员令,既有权威性, 又有感召力,还可以证明出征打仗的正义。 其中没有豪言壮语和长篇大话,没有一个接一个地表态和表决心,最足以征服人心的理由就是奉行天命,简洁而震撼人心。
  也许是社会在不断前进吧,后来的檄讨书越来越长,废话越 来越多,理由列出了一大堆却难以震撼人心,成了空洞无物的玩意儿。政治家更能干,可以滔滔不绝地说得天昏地暗,实际上连 鸡都杀不死。事情常常坏在一张嘴上。
  学学夏启是有益的。干脆果断,直来直去,表明了意图,就到战场上见分晓,看看到底谁是英雄谁是狗熊。好男儿志在疆场,骑马射箭打枪,不说废话空话。 
  ——————
  世上没有不落的太阳
  【原文】
  王曰:“格尔众庶(1),悉听朕言。非台小子(2),民敢行称乱(3)!有 夏多罪,天命殛之(4)。今尔有众,汝曰:‘我后不恤我众,舍我穑 事(5),而割正夏(6)?’予惟闻汝众言,夏氏有罪,予畏上帝,不敢不正。今汝其曰:‘夏罪其如台(7)?’夏王率曷众力(8),率割夏邑(9)。有 众率怠弗协(10),曰:‘时日易丧(11)?予及汝皆亡。’夏德若兹,今朕 必往。 
  “尔尚辅予一人,致天之罚,予其大赉汝(12)!尔无不信,朕不食言(134)。尔不从誓言,予则孥戮汝,罔有攸赦(14)。”
  【注释】
  (1)格:来。众庶:众人,大家。(2)台(yi):我。小子:对自己的谦称。(3)称。举,发动。 (4)殛(ji):诛杀。(5)穑(se)事:农事。(6)割(he):易,意思 是为什么。正:征,征讨。(7)如台(yi):如何。(8)曷:竭,尽力,竭力。(9)割:剥削。 (10)有众:臣民。率:大多。怠:怠工。协:和。(11)时:这个。曷:什么时候。日:这里指夏桀 (12)赉(lai):赏赐。(13)食:吞没。食言:指不讲信用。(14)罔:无。攸:所。 
  【译文】 
  王说:“来吧,你们各位!都听我说。不时我小子敢于贸然发难!实在是因为夏王犯了许多罪行,上天命令我去讨伐他。现在你们大家会问:‘我们的国君不体贴我们,放弃我们 种庄稼的事,却去征讨夏王?’这样的言论我早已听说过,但是夏桀有罪,我敬畏上帝,不敢不去征讨。 现在你们要问:‘夏桀的罪行到底怎么样呢?’夏桀耗尽了民力,剥削夏国人民。民众大多怠慢不恭,不予 合作,并说;‘这个太阳什么时候才能消失?我们宁可和你一起灭亡。’夏桀的德行败坏到这种程度,现在我一定 要去讨伐他。 ”
  你们只要辅佐我,行使上天对夏桀的惩罚,我将大大的赏赐你们!你们不要不相信,我决不会不守信用。如果你们不听从我的誓言,我就让你们去当奴隶,以示惩罚,没有谁会得到赦免。”
  【读解】
  夏桀在历史上以残暴著称,由此导致了夏王朝覆灭。他自比为太阳,以为光照万里,何等地自高自大!但是他忘了一点,当太阳最耀眼的时候,便预示着它即将西下殒落,辉煌难再。这世上从古至今,没有永不殒落的太阳,而只有殒落之后有新的太阳升起。果然,夏桀的残暴激起了天怨人怒,众叛亲离。从此,夏王朝的太阳便永远殒落了。
  商汤正是看准了天怨人怒的大好时机,举兵伐桀他显得没 有夏启讨伐有扈氏时那么自信,那么正气凛然,而是以劝说加威 胁,软硬兼施,不由得有些让人怀疑他振振有词地控诉夏桀暴行 时,是不是心怀鬼胎,另有打算?
  慷慨激昂最容易激起听众的共鸣。善于演说的讲演者早已把听众的心理揣摩透底了,正如有人很懂得用一把鼻涕一把泪来赚去别人同情爱怜一样。
  商汤肯定算得上是出色的演说家,那句“时日曷丧,予及汝皆亡”(是他编出来的吗?)有巨大的穿透力, 可以算得上是个千古名句。
  我们应该学习商汤的演说技巧:先摆出一副谦和的 姿态赢得印象分;直接了当提出最过硬的理由, 表明目的;以自问自答的方式消除听众的顾虑,进一步说服和打动听众;表明自己决心已定,义无返顾; 最后严辞威胁加上利诱。别的不说,商汤在印象、心理、权威性诸方面都得分。有了民众得支持,他成功了。
  ——————
  盘庚洞若观火劝贵族
  【原文】
  王若曰:“格汝众,予告汝训汝,猷黜乃心②,无傲从康③。古 我先王,亦惟图任旧人共政④。王播告之修⑤,不匿厥指(6),王用丕 钦(7)。罔有逸言(8),民用丕变。今汝联聒聒(9),起信险肤(10),予弗知乃 所讼(11)。
  “非予自荒兹德(12),惟汝含德(13),不惕予一人(14)。予若观火,予 亦拙谋作(15),乃逸(16)。若网在纲(17),有条而不紊(18);若农服田(19),力 穑乃亦有秋(20)。汝克黜乃心(21),施安德于民(22),至于婚友(23),丕乃敢 大言汝有积德(24)。乃不畏戎毒于远迩(25),惰农自安,不昏作劳(26),不。 服田亩,越其罔有黍稷(27)。
  “汝不和吉言于百姓(28),惟汝自生毒(29)。乃败祸奸宄(30),以自灾 于厥身。乃既先恶于民(31),乃奉其恫(32),汝悔身何及?相时憸民(33), 犹胥顾于箴言,其发有逸口(34),矧予制乃短长之命(35)?汝曷弗告朕, 而胥动以浮言,恐沈于众(36)?若火之燎于原,不可向迩,其犹可扑, 灭?则惟汝众自作弗靖(37),民非予有咎。”    
  【注释】
  ( ①盘庚是汤的第十世孙,商朝的第二十位君王。他为避免水患,复兴殷, 商,率领臣民把国都从奄(今山东曲阜)迁往殷(今河南安阳)。此举遇到了 来自各方面的反对,盘庚极力申说迁都的好处,前后三次告喻臣民,终于完 成了迁都。《盘庚》(分上、中、下三篇)记述了这次迁徙的经过。上篇记述 盘庚迁殷之前告诫群臣的话,中篇是盘庚告诫殷民的话,下篇是迁都后盘庚 告诫群臣的话。历代学者大都认为《盘庚》三篇是殷代的作品,具有很高的 史料价值。②猷:为了。黜:除去。心:指私心。③从:纵,放纵。 康:安逸。④惟:想。任:任用。旧人:指世代做官的人。共政:共同 管理政事。(5)王:指先王。播台:公布命令。修:施行。 (6)匿:隐瞒。指:旨,意旨。(7)丕:大。钦:敬重。(8)逸:过失,错误。 (9)聒聒(guo):拒绝别人的好意而自以为是。(10)信:伸,伸说。险:邪 恶。肤:浮夸。(11)讼:争辩。(12)荒:废弃。(13)含:怀着,藏着。 (14)惕:施,给予。(15)谋作:谋略。(16)乃。则。逸。过错。 (17)纲:网的总绳。(18)紊:乱。(19)服:从事。(20)力穑:努力收获 庄稼。(21)黜乃心:去掉你们的私心。(22)实德。实惠的德行。(23) 婚:指有姻亲关系的亲戚。(24)丕乃:于是。(25)乃。如果。戎:大。毒: 毒害(26)昏:努力。(27)越其:于是就。(28)和:宣布。吉言:好 话。(29)惟:是。毒。祸根。(30)败。败露。奸宄(gU1):做坏事。 (31)先:引导。(32)奉:承受。恫(dong):痛苦。(33)相:看。时:这。 憸(xian):小。(34)发:说出。逸口:从口中说出错话。(35)矧(shen): 况且。制:操纵,掌握。(36)恐:恐吓。沈:煽动。(37)靖:善。
  【译文】 
  王这样说道:“来吧,你们各位!我要告诫你们,教训你们,为的是要去掉你们的私心,使你们不要傲慢放肆并追求安逸。从 前我们的先王,也只考虑任用世家旧臣共同管理政事。先王向群 臣发布政令,群臣都不隐瞒先王的旨意,先王因此对他们非常看 重。大臣们没有错误的言论,因而臣民的行动大有变化。现在你 们拒绝别人的好意而又自以为是,到处散布邪恶浮夸的言论,我 真不知道你们争辩的是什么。
  “并不是我自己放弃了任用世家旧臣的美德,只是你们欺瞒了 我的好意,不能处处为我着想。我对这一切像看火一样地一清二 世,如果我又不善于谋划,则是过错。就像只有把网结在纲上,才 会有条有理不紊乱;就像农民只有努力耕种,才会有秋天的好收 成。你们能够去掉私心,给予臣民实实在在的好处,以至于你们 的亲戚朋友,那么你们才敢说你们积有恩德。如果你们不怕自己 的言论会大大毒害远近的臣民,就像懒惰的农民一样自求安逸,不 努力操劳,不从事田间劳动,那就不会有黍稷收获。 
  “你们不把我的善言向百姓宣布,这是你们自生祸害。你们所 做的一些坏事已经败露,这是你们自己害自己。你们既引导人们 做了坏事,就要由你们来承担痛苦,悔恨自己又怎么来得及?看 看一般的小民吧,他们还顾及到我所劝诫的话,担心说出错误的 话,何况我掌握着你们的生杀之权呢?你们有话为什么不告诉我, 却用流言蜚语相互煽动,恐吓蛊惑臣民呢?就像大火已在原野上 燃烧起来,使人无法面对接近,还能够扑灭吗?这都是你们做了 许多坏事造成的,不是我有过错。”
  【读解】
  这是盘庚对他的臣僚们进行规劝,责备他们不恪守先王的旧 规矩,态度傲慢,贪图享受舒适,还以谣言蛊惑民心。盘庚的良 苦用心日月可鉴,顽固的臣僚们作何感想,不得而知,而他们的 丑恶嘴脸却清晰可见。 
  大凡能做臣僚的人,总是其先辈或本人有功于国于民,才会参与国政,享有功名利禄。有了功名利禄,就会滋生骄奢淫逸,目中无人,有恃无恐。有恃无恐,就敢于胡作非为,骑在别人头上 拉屎拉尿。腐败就是由此产生的。尧、舜的太平盛世、清明政治 已一去不复返了,接踵而来的是日甚一日的腐败。
  古代政治腐败大概有两个重要根源:一是人治和世袭制造成 了庞大的特权阶层,从天子下至芝麻官,无不如此。二是专制制 度为人性丑恶的一面和弱点提供了温床。盘庚大概不会想到这些。 他请出先王和旧时制度,是他所能想到的最好的理由,毕竟血缘、 祖先、传统在中国古代社会生活中起着巨大的纽带作用,毕竟腐 败的官员内心总是有所畏惧,否则就真的是“和尚打伞,无法无 天”了。
  话说回来。争论不过起于迁移国都,而实质是盘庚试图对日 益腐败的政治机器动手术———“去奢行俭”。用意虽好,却是治标 不治本。再出现腐败,又往哪儿还?迁来过去,总不会还出地球, 更要紧的是根子在制度和人身上。不作开膛剖肚的手术,是无法 真正解决问题的。 
  当然,盘庚迁殷的结果,的确带来了商王朝暂时的兴盛,用 今天的话说,他算得上是个改革者。他受到众多客观条件的制约, 能力排众议,推行自己的设想,需要很大的勇气和决心、耐心。他 采用的是文的一套——一规劝说服,而不是武的一套,他显然知道; 迫使人顺从容易,而要使人真心诚意地顺从,就难多了。从这个 意义上说,迁都的成功,也是盘庚征服人心的成功。因此,盘庚 是值得称赞的。
  此外,这篇经典性的劝诫文,为我们的汉语成语增添了一些 词汇,比如予若观火,若网在纲,有条不紊,燎原之火。这从一 个侧面说明,改革者要有文化,有智慧,见多识广,了解民心所 向,才可能获得多数人的支持,事业才可能成功。 
  ——————
  盘庚是东方的摩西?
  【原文】
  “呜呼!今子告汝:不易(1)!永敬大恤,无骨绝远②!汝分猷念 以相从(3),各设中于乃心④。乃有不吉不迪⑤,颠越不恭(6),暂遇奸宄(7),我乃劓殄灭之(8),无遗育(9),无俾易种于兹新邑(10)。”
  “往哉生生!今予将试以汝迁,永建乃家。” 
  【注释】
  ①易。变更,这里指迁都的计划不会变更。②晋:相互。绝远:疏 远。③分:比,亲近。猷:谋划。④中:衷,和。⑤迪:道路, 正路。(6)颠:狂。越:越轨。(7)暂:渐,欺诈。遇:隅,奸邪 (8)劓(yi):割鼻。殄(tian):灭绝。(9)育:胄,指后代。(10)俾: 使。易:延续。种:后代。
  【译文】 
  “啊!现在我告诉你们:迁徙的计划不会改变!要永远提防大 忧大患,不要互相疏远!你们要相互顾念依从,各人心里都要想到和衷共济。如果你们行为不善,不走正道,敢于违法越轨,欺 诈奸邪,我就动用刑罚把你们灭绝,连子孙都不留下,不让你们 的后代在新国都里继续繁衍。
  “去吧!去寻求新的生活吧!现在我将率领你们迂徙,在新国 都为你们建立永久的家园。”
  【读解】
  盘庚现在是在对臣民训话,口气已大不一样。对臣僚.他语气委婉,循循善诱,即使是责怪,也是,温而不怒。对臣民,便显出了领袖的姿态,口气强硬坚决,以断子绝孙(这在古代非同小 可!)相要挟,以新的永久家园为诱惑,不容有叛逆。
  寻找家园的诱惑实在太大。这让人想起希伯来人最伟大的先 知和导师摩西。他为了希伯来人摆脱埃及人的奴役,率领他们历 尽艰辛走出埃及,到西奈山去建立家园。这事发生在公元前13世 纪,约比盘庚迁殷晚一个世纪(公元前144纪)。都是为了建立新家园,寻找新生活,都是部落首领,但一个是为摆脱统治集团内部的腐败,一个是为摆脱外族的奴役。
  不知道盘庚的臣民是否把他看作是先知和导师,但他们肯定会受到永久家园的诱惑。即便是今天的我们,也会被诱惑的,因为寻找永久的家园,是人类永恒的冲动,永恒的主题。
  ——————
  民众才是国家的根本
  【原文】
  盘庚既迁,奠厥攸居①,乃正厥位,绥爱有众②。
  曰:“无戏怠③,懋建大命(4)!今予其敷心腹肾肠⑤,历告尔百 姓于朕志(6)。罔罪尔众,尔无共怒,协比谗言予一人(7)。 
  “古我先王,将多于前功(8),适于山(9)。用降我凶(10),德嘉绩于 朕邦(11)。今我民用荡析离居(12),罔有定极(13),尔谓朕易震动万民以迁? 肆上帝将复我高祖之德(14),乱越我家(15)。朕及笃敬(16),恭承民命,用 永地于新邑。肆子冲人(17,非废厥谋,吊由灵各(18);非敢违卜,用 宏兹贲(19)。
  “呜呼!邦伯师长百执事之人(20),尚皆隐哉(21)!予其懋简相尔, 念敬我众(22)。朕不肩好货(23),敢恭生生(24)。鞠人谋人之保居(25),叙钦(26) 今我既羞告尔于朕志若否(27),目有弗钦!无总于货宝(28),生生自庸(29)。 式敷民德(33),永屑一心(31)。”
  【注释】
  ①奠:定,安定。②绥:告诉。爱:于。③戏:游戏。怠:懒 惰。④懋:勉力,努力。大命:指重新建家园。⑤敷:布,开诚布 公。心腹肾肠:指心里话。(6)历告;尽情相告。(7)协比:串通,协 同一致。(8)多:侈,大。(9)适:往,迁往。(10)用:因此。降:减 少。(11)德:升。(12)荡析:离散。(13)极:止,至。(14)肆:今, 现在。高祖:指成汤。(15)乱;治,治理。越:于。(16)及:汲,急迫。 笃:厚。(17)肆:故,因此。冲人:年幼的人。(18)吊:善,指迁都善 事。灵各:灵格,专门负责占卜的人,据说可传达上帝的命令。(19)宏:弘 扬。贲:大宝龟,用于占卜。(20)邦伯:邦国之长,指诸侯。师长:公卿 大臣。百执事:负责具体事务的众位官员。(21)尚:希望。隐:废,考虑。 (22)简相:视察,考察。(23)肩:任用。好贷:指喜好财货的官员。(24) 恭:举用。生生:营生。(25)鞠:抚养。保:安。(26)叙:次序。钦:敬 重。(27)羞:进,提供。若:顺,赞成。否:反对。(28)总:聚敛 (29)庸:功劳。(30)式:用。敷:施。德:恩德。(31)肩:克,能够。
  【译文】 
  盘庚迁都以后,在住地安定下来,选定了王宫和宗庙的方位,然后告诫众人。
  他说:“不要贪图享乐,不要懒惰,要努力完成重建家园的大 业。现在我要开诚布公地把我的意见告诉你们各位官员。我没有惩罚你们,你们也不要心怀不满,彼此串通起来诽谤我。 “从前我们的先王成汤,他的功劳大大超过了前人,把臣民迁移到山地去。因此减少了我们的灾祸,为我们的国家立下了大功。现在我的臣民由于水灾而流离失所,没有固定的住处,你们责问我为什么要兴师动众地迁居?这是因为上帝将要复兴我们高祖成。汤的美德,治理好我们的国家。我迫切而恭敬地遵从天意拯救臣 民,在新国都永远居住下去。因此,我这个年轻人不敢放弃迁都 的远大谋略,上帝的旨意通过使者传达了下来;我不敢违背占卜; 的结果,而要使占得的天意发扬光大。
  “啊!各位诸侯,各位大臣,各位官员,希望你们各自考虑自。 己的责任!我将认真对你们进行考察,看你们是否体恤我的臣民。 我不会任用那些贪恋财货的人,而要任用帮助臣民谋生的人。能 够养育臣民并使他们安居乐业的人,我将论功行赏。现在我已经 把我心里赞成什么和反对什么都告诉了你们,不要有不顺从!不要聚敛财富,要为民谋生以立功。要把思德施予臣民,永远能与 臣民同心同德。” 
  【读解】
  迁都之后,盘庚再次向群臣训话,要群臣克勤克俭,不要贪 婪聚财;体恤民情,恭谨从政,率领臣民共建家园。这其实也是 盘庚的施政方针,体现了他的“保民”思想。
  民众是建立国家的根本。过去常把民众比做水,把统治民众的人比做浮在水上的舟船 。
  这种比喻也对也不对。水用以载舟,没有水舟无法行驶;水 也可以使舟倾覆,让舟上的人溺水身亡。还有道理。但是,水是无形的,水往低处走。要使水得到规范,需要进行疏通和引导。谁 来疏通和引导?当然是统治者。还有,舟总在水上行,在上层;水 在舟下推,为上层服务。这种上层与下层、舟与水、引导者和被 引导者的人为的、武断的划分,在根本上就走入了误区,所以才有“民可使由之,不可使知之”的说法。民众都变得聪明起来了,统治者还能为所欲为稳坐官位吗?
  把“保民”思想放到现代政治观的显微镜底下,就显出了它 的荒谬体理。不过,在强大的社会传统势力的制约之中,它也还具有一种积极的意义。为民众着想,为民众造福,在客观上会使 民众的日子稍微好过一点儿。而自此形成的民众心理,是把做官 的统治者看作自己的“父母”、“家长”,一心企盼“父母”恩赐、 开明、公正,盼望天上掉下个“包青天”。为什么就不反过来想, 自己就是自己的“父母”、“家长”,自己就是“包青天”,用得看别人来庇护和保佑吗?
  其实,统治者与被统治者的关系,应当像体育比赛。民众是运动员,统治者是裁判。运动员的职责是按照规则进行游戏,裁判的职责是监督和保证游戏按规则进行。规则是参加游戏者共同 制定并要共同遵守的,违者受罚。裁判的监督有偏差,也要受罚,或者被更换。这样,大家的共同目的是使游戏正常健康地进行。
  ——————
  自作孽,不可活
  【原文】
  西伯既勘黎,祖伊恐,奔告于王。
  曰:“天子!天既讫我殷命(2)。格人元龟(3),罔敢知吉。非先王 不相我后人④,惟王淫戏用自绝。故天弃我,不有康食⑤。不虞天 性(6),不迪率典(7)。今我民罔弗欲丧,曰:‘天易不降威?’大命不 挚(8),今王其如台?”
  王曰:“呜呼!我生不有命在天?”
  祖伊反曰:“呜呼!乃罪多,参在上(9),乃能责命于天(10)。殷之 即丧,指乃功(11),不无戮于尔邦(12)!”
  【注释】
  ①西伯指周文王。勘(kan)的意思是战胜。黎是殷王朝的属国,在今天 山西长治境内、全篇记述周文王战胜黎国之后,殷朝贤臣祖伊为殷朝安危担 忧,向殷纣王进谏,规劝他改弦更张.但遭到了纣王的拒绝。②既;其 恐怕。讫终止。(3)格人:能知天地吉凶的人.元龟大龟,用于占卜 (4)相:帮助,辅佐。⑤康食;安居饮食。(6)虞:度,猜测。 (7)迪:遵循。率典;常法.(8)挚:至,到来。(9)参:到。上:上天 。(10)乃:难道。责:祈求。(11)指:示,看。乃:你的。功:事,政事 (12)戮(lu):杀,消灭。尔邦:指周国。
  【译文】 
  周文王战胜黎国之后,祖伊非常恐慌,急忙跑来告诉殷纣王。
  祖伊说:“天子啊,上天恐怕要断绝我们殷商的国运了!那善知天命的人用大龟来占卜,觉察不到一点吉兆。这不是先王不力助我们这些后人,而是因为大王淫荡嬉戏自绝于天。因此,上天抛弃了我们,不让我们安居饮食、大王不测度天性,不遵循常法 现在我们的臣民没有谁不希望殷国灭亡,他们说:‘上天为什么还 不降下威罚呢?’天命不再属于我们了,大王现在打算怎么办呢?” 
  纣王说:“啊!我的命运难道不是早就由上天决定了吗?” 祖伊反问道:“啊!您的过错太多,上天已有所知,难道还能 祈求上天的福佑吗?殷商行将灭亡,从您的所作所为就看得出来, 您的国家能不被周国消灭吗!”
  祖伊反问道:“啊!您的过错太多,上天已有所知,难道还能 祈求上天的福佑吗?殷商行将灭亡,从您的所作所为就看得出来, 您的国家能不被周国消灭吗!”
  【读解】
  殷纣王是中国历史上有记载的、继二架之后的第二个有名的暴君。殷商从高祖成汤开国算起,历经30世、600余年,传到了纣王,殷商的江山就在他的手上的换了主人。 
  据说纣王本来并不是个等闲之辈,自幼便才思敏捷,能言善 辩,而且体格魁梧,力大无比,可以把九头牛拉着向后退,单手 托住宫殿大梁让人从客换掉梁柱而面不改色。他登上王位之时,也 有过风调雨顺、国泰民安、四夷拱手、八方臣服的好风光,曾号 令天下八百诸侯。
  他的弱点在于好色、奢侈、残暴。他在宠妃妲己的怂恿下,制 造了刑具“炮烙”,筑“酒池肉林”取乐,造鹿台笙歌宴舞,以 “虿盆”惩罚异己分子。妲己最后被周武王斩首辕门,纣王在鹿台 点火自焚,死前曾说“天亡我也”。
  其实,这是咎由自取,罪有应得。古人说,天作孽,犹可违; 自作孽,不可活。纣王用民脂民膏建造的鹿台,恰好成了他的葬 身之处。
  ——————
  出逃是一种明智的人生选择
  【原文】
  微子若曰;“父师、少师!殷其弗或乱正四方(2)我祖氐陈 于上③,我用沈酗于酒(4),用乱败厥德于下(5)。殷罔不小大好草窃奸 宄(6)、卿士师师非度(7)。凡有罪辜,乃罔恒获,小民方兴,相为敌 雠(8)。今殷其沦丧,若涉大水,其无津涯。殷遂丧,越至于今!”
  曰:“父师、少师,我其发出狂(9)?吾家耄逊于荒(10)?今尔无指 告(11),予颠隮(12),若之何其?”
  父师若曰;“王子(13)!天毒降灾荒殷邦(14),方兴沈酗于酒,乃罔畏畏(15),咈其耇长旧有位人(16)。今殷民乃攘窃神祗之牺牷牲用以诏 容(17),将食无灾。降监殷民,用乂雠敛(18),召敌雠不怠(19)。罪合于一, 多瘠罔诏(20)。 
  “商今其有灾,我兴受其败(21);商其沦丧,我罔为臣仆(22)。诏王 子出迪(23)。我旧云刻子、王子弗出(24),我乃颠隮(25)。自靖(26)!人自献 于先王,我不顾行遯(27)。” 
  【注释】
  ①微子是纣王的哥哥,因为封在微,爵位属于子,所以叫微子。他为维 护殷王朝的统治,曾多次规劝纣王改恶从善,但纣王充耳不闻。本篇记述了 微子与父师两人的谈话,讨论了在国家行将灭亡之时,各自应抱的态度。 ②其:恐怕。乱:治理。③我祖:指成汤。氐(zhT):定,致。遂:成。 陈:陈列。④用:因为,由于。酗(xu):发酒疯。⑤乱:淫乱。厥 德:成汤之德。下;后世。(6)小大;群臣民众。草窃:盗贼。奸宄:犯 法作乱。(7)师师:众官。度:法度。(8)雠(chou):仇敌。(9)发; 行。狂:往。(10)耄(mao):年老。逊;逃走。荒:荒野。(11)指:旨, 想法,打算。(12)颠;颠覆。隮(ji):坠落。(13)王子:指微子。 (14)毒:厚,重。荒:亡。(15)畏畏:惧怕天威。(16)咈(fu);违逆。耇 (gou):老年人。旧有位人:旧时在位的大臣。(17)攘窃:盗窃。牺:纯毛 牲畜。牷:健全的牲畜。牲:猪牛羊。用以容:从宽论处。(18)乂(yi): 杀。雠:稠,多。敛:聚敛。(19)召:招致。怠:松懈,缓和。(20)瘠: 疾苦。诏:告诉。(21)兴:起。败:灾祸。(22)臣仆:奴隶。(23)迪: 行,逃走。(24)旧:久。刻子:箕子。(25)我:指殷商。(26)自靖;各自打主意。(27)顾:顾虑。遯(dun);遁,逃走。
  【译文】 
  微子这样说道:“父师、少师,看来我们殷商是不能治理好天下了。我们的高祖成汤制定的成法在先,而我们的纣王却沉醉在酒中,因淫乱败坏了高祖的美德。殷商的大小臣民无不劫夺偷盗,犯法作乱,官员们都不遵守法度。凡是有罪的人都不加以逮捕和 惩治,小民们起来同我们结成仇敌。现在殷商可能要灭亡了,就 像要渡过大河,却找不到渡口和河岸。殷商到了现在这个样子,就 要灭亡了!”
  微子说:“父师、少师,我是被弃而出亡在外呢,还是呆在家中到老而避于荒野呢?现在你们不指点我,恐怕就要陷于非义,究 竟怎么办啊?” 父师这样说道:“王子!上天为我们殷商降下大祸,要使我们灭亡,国君却沉醉在酒中,不惧怕上天的威严,不听年高德劭的 旧时大臣的劝告。现在殷商的臣民偷窃祭祖天地神灵的各种贡品, 都会被宽恕,就是吃掉了贡品也没有灾祸。上天向下监视着殷民, 国君用杀戮和重刑横征暴敛,招致民怨也不放松。这些罪行都在 国君一人身上,臣民痛苦不堪却无处申诉。
  “殷商现在将有灾祸,我们都会承受灾难;如果殷商灭亡了, 我们不能去做别人的奴隶。我奉劝王子逃出去。我早就说过箕子、王子不逃走,我{fi的国家就要彻底灭亡了。您自己拿主意吧!各人要对先王的事业作出贡献,我没有考虑逃跑的事。” 
  【读解】
  人一旦到了众叛亲离的地步,大概便不可救药了。微子身为纣王的长兄,照理说,胳膊肘肯定是向纣王弯的。他多次劝阻纣王,纣王不予理睬。自己的亲属尚且如此,何况外人呢?大臣梅 伯看到纣王与妲己终日沉迷于淫乐,进宫规劝纣王,惹得纣王大怒,本想以“金瓜击顶”处死,结果却死在妲己想出的“炮烙”之下。
  纣王为什么能够为所欲为,一意孤行?这是值得深思的。表 面上的理由可以说出一些,比如纣王的残暴,比如妲己的使坏,但这些都不是根本。当一个人独揽大权而不受任何制约之时,就会造成殷纣王时代的情形。应当说,是政治制度本身,造就了纣王。 即使不是纣王,也会有别的什么王。所以,悲剧是制度的悲剧,而不是性格的悲剧。
  就微子而言,既然不能力挽狂澜,既然不能从根本上改变局 面,出逃肯定是上策。惹不起,躲得起。三十六计,走为上计。
  出逃本身是人生的一种出路,一种境遇。出逃的直接原因往 往是迫不得已,表面上看似乎是消极的选择,实际上却是十分明 智的。暴君专制一时难以推翻,以出逃保存自己,等待契机出现。 婚姻的城堡让人窒息,让人感受不到温馨、快乐和恩爱,逃出城堡寻求新的生活便是上佳选择。在一个工作环境中陷入困境,得不到理解和支持,四面楚歌,这时就应考虑以出逃来摆脱困境。面 对强大敌人的正面进攻难以抗拒,当然也可以用出逃来暂时回避, 寻找别的办法来打击敌人。
  所以,出逃不是耻辱,更不是背叛,而是个体应有的自主的主动选择,是一种人生策略和智慧。毛泽东游击战思想的核心和灵魂不就是这样吗?敌进我退,敌退我进,打一枪换一个地方,直到把敌人拖垮,打垮。
  ——————
  得道多助
  【原文】
  时甲子昧爽②,王朝至于商郊牧野③,乃誓。王左杖黄钺(4),右 秉白族以麾(5),曰:“逖矣(6),西土之人!”王曰:“嗟!我友邦冢君 御事(7),司徒、司马、司空(8),亚旅、师氏(9),千夫长、百夫长(10),及 庸(11)。蜀(12)、羌(13)、髦(14)、微(15)、卢(16)、彭(17)、濮人(18)。称尔戈(19),比尔 干(20),立尔矛,予其誓。”
  王曰:“古人有言曰:‘牝鸡无晨(21);牝鸡之晨,惟家之索(22)。’ 今商王受惟妇言是用(23),昏弃厥肆把弗答(24),昏弃厥遗王父母弟不 迪(25),乃惟四方之多罪道逃(26),是崇是长(27),是信是使(28),是以为大 夫卿土。俾暴虐于百姓(29),以奸宄于商邑。今予发惟恭行天之罚(30)。 今日之事,不愆于六步、七步(31),乃止齐焉(32)。夫子勖哉(33)!不愆于 四伐、五伐、六伐、七伐(34),乃止齐焉。勖哉夫子!尚桓桓(35),如 虎如貔(36),如熊如罴(37),于商郊。弗迓克奔以役西土(38),勖哉夫子! 尔所弗勖(39),其于尔躬有戮(40)!”
  【注释】
  ①《牧誓》是公元前1066年2月周武王伐纣、在与纣王决战前的誓师辞。 牧指牧野,在商朝都城朝歌(今河南淇县)以南七十里。这次决战以周武王 大胜、殷王朝覆灭告终。在这篇誓辞中,周武王勉励军土和助战的诸侯勇往 直前。②甲子:甲子日。按周历计算,这一天是周武王即位后第十三年 的二月五日。昧爽:太阳没有出来的时候。③王:指周武王。朝:早晨。 商郊:商朝都城朝歌的远郊。④杖:拿着。黄钺(yUe):铜制大斧。 ⑤秉:持。麾(mao):装饰着牛尾的旗。麾:指挥。(6)逖(ti):远。 (7)冢(zong):大。冢君:对邦国君主的尊称。御事:邦国的治事大臣。 (8)司徒、司马、司空:古代官名。司徒管理臣民,司马管理军队,司空 管理国土。(9)亚旅:官名,上大夫。师氏:官名,中大夫。(10)千夫 长:官名,师帅。百夫长:官名,旅帅。@庸:西南方诸侯国,在今天 湖北房县境内。(12)蜀:西南方诸侯国,在今天四川西部。(13)羌:西 南方诸侯国,在今天甘肃东南。(14)髦(mao):西南方诸侯国,在今天四 川、甘肃交界地区。(15)微:西南方诸侯国,在今天陕西郿县境内。 (16)卢:西南方诸俟国,在今天湖北南彰境内。(17)彭:西南方诸侯国,在 今天甘肃镇原东。(18)濮:西南方诸侯国,在今天湖北郧县与河南邓县之 间。(19)称:举起。尔:你们。(20)比:排列。干:盾牌。(21)牝(pin) 鸡:母鸡。晨:这里指早晨鸣叫。(22)索:尽,空,衰落。(23) 妇:指妲己。(24)昏弃:轻蔑,轻视。肆:祭祀祖先的祭名。答:问。 (25)迪:用,进用。(26)通逃:逃亡。(27)崇:尊重。长:恭敬。 (28)信:信任。使:使用。(29)俾:使。(30)发:周武王的名字,武王姓 姬。(31)愆(qian):超过。(32)止齐:意思是整顿队伍。(33)夫子:对 人的尊称,这里指将土。勖(xv):勉力,努力。(34)伐:刺杀,一击一刺 叫做一伐。(35)恒恒:威武的样子。(36)貔:豹一类的猛兽。 (37)罴(pi):一种大熊。(38)迓(ya):御,意思是禁止。役:帮助。西土: 指周国。(39)所:如果。(40)躬:自身。戮:杀。
  【译文】 
  在甲子日的黎明时分,周武王率领大军来到商朝都城郊外的牧野,在这里举行誓师。武王左手拿着铜制大斧,右手拿着白色 的指挥旗,说道:“辛苦了,远道而来的西方将士们!”
  武王说:“啊!我们尊敬的友邦国君和执事大臣,各位司徒、司马、司空、亚旅、师氏、千夫长、百夫长,还有庸、蜀、羌、髦、 微、卢、彭、濮诸邦的将士们,举起你们的戈,排列好你们的盾,用 竖起你们的矛,我要发布誓师令了。”
  武王说:“古人说过:‘母鸡在早晨不打鸣;如果谁家母鸡早 晨打鸣,这个家就要衰落了。’现在商纣王只是听信妇人的话,轻副 蔑地抛弃了对祖先的祭祖而不闻不问,抛弃他的先王的后裔,不 任用同宗的长辈和兄弟,却对四方八面的罪人逃犯十分崇敬、信 任、提拔、任用,让他们当上大夫、卿士,使他们残暴虐待老百 姓,在商国都城胡作非为。现在我姬发要恭敬地按上天的意志来 讨伐商纣。今天这场战斗,行进中不超过六步、七步,就要停下 来整顿队伍。努力吧,将士们!作战中刺杀不超过四次、五次、六 次、七次,然后停下来整顿。努力吧,将士们!你们要威武雄壮, 像虎、豹、熊、罴一样勇猛,在商都郊外大战一场。不要迎击向 我们投降的人,以便让他们为我们服务。努力吧,将士们!如果 你们不努力,你们自身就会遭到杀戮!”
  【读解】
  战争中最使人惴惴不安、最激动人心的时刻,是在一场生死 攸关地大决战即将开始地时候,而不是在战斗的进行过程中或结 束之后。当你意识到战斗的决定性意义,在内心推测可能出现的 任何情况以及最后的胜负之时,总会有千思万绪涌上心头,闪过 各种吉祥的和不祥的念头。 
  的确,这就像侦探,J、说一开头就设置的大悬念,让你作出种 种猜测,思路一下子被悬念紧紧牵引着。
  当周武王率领数万大军在牧野誓师之时,万众的心情大概就 是这样:决定命运的时刻到了,就在此时此刻此地;结果马上将 由拼杀来决定,成者为王,败者为寇。历史已经证明了,这是一个历史转折的关头,从此历史将翻开新的一页。
  不过,这并不是一场攻城掠地的单纯的决斗,而有一个道义 问题。周武王列举了商纣王的三条罪状:听信妇人的谗言(实指 妞己);不祭祀祖宗和上天;任用四方逃亡的罪犯而不用同宗兄弟。 这在当时足以称为弥天大罪,不容宽赦,单是其中一条就当诛伐。 正因为如此,周武王才会得到那么多人的拥护和支持,连遥远的 西南方的八个诸侯国也前来助战。他们拥护和支持的不一定是周 武王,而是人同此心心 同此理的道义:妇人的话与小人的话一 样不可信,祖宗和上天神圣不可亵溪,逃犯绝不能取代同宗兄弟。 与其说他们是为周武王而战,倒不如说是为道义而战。这就体现 了“得道多助,失道寡助”的道理。
  从力量对比上看,周武王统率的五、六万军队显然不是西纣 王七十万大军的对手。但武王的军队是“仁义之师”,仁义之师不 可战胜,所向无敌。因而,力量对比在冷兵器时代不一定是战争 取胜的绝对因素,完全可以利用其它条件变不利为有利,变弱小 为强大。
  历史的经验的确值得注意。人心的向背是个永远不可忽略的 关键因素。专制暴君绝对不相信这一点,只相信高压和暴力可以 消灭一切异己因素。这是导致他们覆灭的根本原因。搞政治要记 取这一历史教训,为人处世同样也可以从中受到启发。当一个人 把自己搞到孤家寡人的地步时,恐怕就走入了绝境。
  ——————
  谁制定了治国安邦的规则
  【原文】
  惟十有三祀(1),王访访于箕了。王乃言曰:“呜呼!箕子,惟天 阴骘下民(2),相协厥居(3),我不知其彝伦攸叙(4)。” 
  箕子乃言日:“我闻在昔,鲧陻洪水(5),汩陈其五行(6)。帝乃震 怒,不畀洪范九畴(7),彝伦攸斁(8)。鲧则殛死(9),禹乃嗣兴。天乃锡 禹洪范九畴(10),彝伦攸叙。
  “初一曰五行(11),次二曰敬用五事(12),次三曰农用八政(13),次四 曰协用五纪(14),次五曰建用皇极(15),次六曰义用三德(16),次七日明用 稽疑(17),次八曰念用庶征(18),次九曰向用五福(19),威用六极(20)。”
  【注释】
  (1)有:又。祀;年。十有三祀指周文王建国后的第十三年,也是周 武士即位后的第四年、灭商后的第二年。(2)阴骘(zhi):意思是庇护,保 护。(3)相;帮助。协:和。厥:他们,指臣民。(4)彝伦:常理。攸: 所以。叙:顺序,这里的意思是制定,规定。(5)鲧(gui):人名,夏禹 的父亲。陻(yin):堵塞。(6)汩(gu):乱。陈:列。行:用。五行指水 火木金上这五种被人利用的物质。(7)畀(bi):给予。畴:种类。九畴指 治国的几种大法。(8)斁(du):败坏。(9)殛(ji):诛,这平指流放。 (10)锡:赐,给予。(11)初一:第一。(12)次:第。五事:貌、言、视、 听、思五件事。(13)农:努力。八政:八种政事(14)协:合。五纪:五 种记时的方法。(15)建:建立。皇极:意思是指至高无上的法则。 (17)义(yi):治理,指治理臣民。(17)稽:考察。(18)念:考虑、庶:多 征:征兆。(19)向:劝导、(20)威:畏惧,警戒。 
  【译文】 
  周文王十三年,武王拜访箕子。武王说道:“啊!箕子,上天 庇护下民,帮助他们和睦地居住在一起,我不知道上天规定了哪 些治国的常理。”
  箕子回答说:“我听说从前鲧堵塞治理洪水,将水火木金上五 行的排列扰乱了。天帝大怒,没有把九种治国大法给鲧。治国安 邦的常理受到了破坏。鲧在流放中死去,禹起来继承父业,上天 于是就把九种大法赐给了禹,治国安邦的常理因此确立起来。 
  “第一是五行,第二是慎重做好五件事,第三是努力办好八种 政务,第四是合用五种记时方法,第五是建立最高法则,第六是 用三种德行治理臣民,第七是明智地用卜筮来排除疑惑,第八是 细致研究各种征兆,第九是用五福劝勉匝民,用六极惩戒罪恶。”
  【读解】
  治国安邦是政治家的首要职责,无论他主观上是否真的想把 国家治理得井井有条,欣欣向荣,人民安居乐业,幸福欢乐,只要他想在统治宝座上呆下去,就不得不考虑如何治理国家。这道 理就像商人为了赚钱,为了使生意长期做下去,就不得不使自己 的商品货真价实一样,否则只有丢掉自己的饭碗。 
  治国安邦要讲规则,正如游戏也要讲规则一样。规则来自哪 里?按照《洪范》的说法,是上天授与的,并且上天在授与规则 时还要加以选择。不能按规则办事的人就不授与,就让他下课, 比如鲧就是这样。这套说法对敬畏上天和天命的古人来说,是很 有效的,但对我们来说,却显得有些荒唐。 
  所谓上天,不过是人自己臆想出来的某种超人的存在,实质上是人自身意志的外化。用这种观点来看,天授治国大法,就是人授治国大法这。治国规则是人制定的,也要由人来执行和遵守。用 上天来解释这一切,大概是为了增加一点神秘性和权威性吧。 
  暴君和开明君主的区别在于:暴君把个人意志看得高于一切, 凌驾于规则之上,无法无天,为所欲为,比如商纣王;开明君主 尊重规则,讲究按规则办事,用今天的话说就是依法办事,使自 己的言行合于仪轨,比如周文王和周武王。箕子看中武王而授与 洪范九畴,正是看中了他是个守规矩的人,因为对蔑视规则的人 来说,任何规则都是没有意义的。对付不讲规则的人的最好办法, 也是不讲规则。
  ——————
  对数目字和秩序的酷爱
  【原文】
  “一、五行:一曰水,二曰火,三曰木,四曰金,五曰土。水 曰润下,火曰炎上、木曰曲直(1),金曰从革②,士爱穑(3)。润下作 咸,炎上作苦,曲直作酸,从革作辛,稼穑作甘。 
  “二、五事:一曰貌,二曰言,三曰视,四曰听,五曰思。貌 曰恭,言曰从(4),视曰明,听曰聪,思曰睿(5)。恭作肃(6),从作乂(7), 明作晰,聪作谋,睿作圣。 
  “三、八政(8):一曰食,二曰货,三日祭,四曰司空,五曰司 徒,六曰司寇,七日宾,八曰师。
  “四、五纪:一曰岁,二曰月,三曰日,四曰星辰(9),五曰历 数(10)。”
  【注释】
  ( ①曲直可曲可直、(2)从:顺从。革:变革。③爱:曰,助词, 没有实义。(4)从:正当合理。(5)睿(rui):通达。(6)作:则,就。肃:恭敬。(7)乂:治。(8)八政:八种政务官员。(9)星:指 二十八宿。(10)辰:指十二辰。(10)历数:日月运行经历周天的度数。
  【译文】 
  “一、五行;第一叫水,第二叫火,第三叫木,第四叫金,第 五叫土、水向下面润湿,火向上面燃烧,木可以弯曲伸直,金属 可以加工成不同形状,士可以种植庄稼。向下湿润的水产生咸味, 向上燃烧的火产生苦味,可曲可直的木产生酸味,可改变形状的 金属产生辣味,可种植庄稼的土产生甜味。
  “二、五事;一是态度,二是言论,三是观察,四是听闻,五 是思考。态度要恭敬.言论要正当,观察要明白,听闻要聪敏,思 考要通达。态度恭敬臣民就严肃,言论正当天下就大治,观察明 白就不会受蒙蔽,听闻聪敏就能判断正确,思考通达就能成为圣 明的人。 
  “三、八种政务一是管理粮食,二是管理财货,三是管理祭祀 ,四是管理民居,五是管理教育,六是管理治安,七是接待宾 客.八是管理军事。
  “四、五种记时方法:一是年,二是月,三是日.四是观察星 辰,五是推算周天度数。”
  【读解】
  我们说过,国人喜好数字,爱用数字来作概括,玩数字游戏。 这种爱好并非始自令日,而是自古皆然,由来已久。这种偏好自 然也有它的道理。你看,五彩缤纷的大千世界,林林总总的自然 事物,竟被“五行”囊括殆尽;复杂微妙的人的内心世界和言行, 竟只有“五事”;琐碎而让人头痛的衙门事务,也落入了“八政” 之中;记录时间也不过“五纪”。
  数子是中国的魔网,可以把宇宙天地之间的一切,上至天文下 至地理,外至大千世界内至隐秘的潜意识,都可以一网打尽,绝 无遗漏。从此,世界和人心变得简单了,仿佛一切都简单得一目 了然,只要转动数字魔方,再复杂棘手的难题都会迎刃而解。
  谢谢我们的老祖先.谢谢他们对秩序和条理化的酷爱,谢谢 他们排除了一切偶然性、随机性、复杂性和多元化,谢谢他们拒绝 广大的不可言说的之间地带,引领我们走单程的直线。直线上 没有坎坷、没有弯道、没有后退的路。这样,任何头脑简单的人 都可以沿着数字的光明大道勇往直前!
  ——————
  做家长的法则
  【原文】
  “五、皇极:是建其有极。敛时人福①,用敷锡厥庶民(2)。惟时 厥庶民汝极。锡汝保极(3):凡厥庶民,无有淫朋(4),人无有比德(5), 惟皇作极。凡厥庶民、有猷酞有为守(6),汝则念之。不协于极,不 罹于咎,皇则受之(8)。而康而色(9),曰:‘于攸好德。’汝则锡之低 时人斯其惟皇之极(10)。无虐茕独而畏高明(11)。人之有能有为。使羞 其行(12),而邦其昌、凡厥正人(13),既富方谷(14),汝弗能使有好于而家。 时人斯其辜(15)。于其无好德,汝虽锡之福,其作汝用咎。无偏无陂(16), 遵王之义;无有作好(17),遵王之道;无有作恶,遵王之路。无偏无 党,王道荡荡(18);无党无偏,王道平平;无反无侧(20),王道正直。 会其有极(21),归其有极。日皇极之救护,是彝是训(23),于帝其训(24)。 凡厥庶民,极之敷言,是训是行,以近天子之光(25)。曰:天子作民 父母,以为天下王。”
  【注释】
  ①敛:集中。时;是,这。②用以。敷:普遍。锡:赐。 (3)保:保持,遵守。(4)淫朋:通过交游结成的私下小集团。(5)比:勾 结,比德的意思是狼狈为奸。(6)猷:计谋。作为。守;操守。 (7)罹(li);陷入、咎:罪过、(8)受:宽容。(9)康:和悦。色:温润。 (10)斯:将。维:想。(11)茕(qiong)独:指鳏寡孤独、无依无靠的人。 (12)羞;贡献。(13)正人;指做官的人.(14)方:经常。谷:禄位。 (15)辜:罪,怪罪。(16)陂(po):不平。(17)好;私好,偏好。(18) 荡荡:宽广的样子。(19)平平:平坦的样子。(20)反:违反。侧:倾侧, 指违犯法度。(21)会:聚集。(22)敷:陈述。(23)彝:陈列。训:教 训。(24)训:顺从。(25)近:亲附。 
  【译文】 
  “五、最高法则:君主应当建立最高法则。把五福集中起来, 普遍赏赐给臣民。这样,臣民就会拥护最高法则。向您贡献保持 最高法则的方法:凡是臣民不允许结成私党,也不许各级官员狼 狈为奸,只把君王的法则看作最高法则。凡是有计谋、有作为、有 操守的臣民,您要惦己他们。行为不合法则,又没有构成犯罪的 人,君主就应宽恕他们。如果有人和颜悦色对您说:‘我所爱好的 就是美德。’您要赐给他们一些好处。这样,人们就会思念最高法 则。不要虐待那些无依无靠的人、要敬畏明智显贵的人。对有能 力有作为的人,要让他们有贡献才能的机会,这样,国家就会繁 荣昌盛。凡是有经常性丰厚待遇的官员,如果您不能使他们对国 家作出贡献,那么臣民就会怪罪您了。对于那些德行不好的人,你 虽然赐给了他们好处,他们也会给您带来灾祸。不要有任何偏颇, 要遵守王法;不要有任何私好,要遵守王道;不要为非作歹,要 遵行正路。不要偏私,不结朋党,王道宽广;不结朋党,不要偏 私,王道平坦;不违反王道,不偏离法度,王道正直。团结坚持 最高法则的人,臣民就将归附最高法则。所以说,对以上陈述的 最高法则,要宣扬训导,这就是顺从上天的旨意、凡是把天子宣 布的法则当作最高法则的臣民、只要遵照执行。就会接近天子的 光辉。就是说,天子只有成为臣民的父母,才会成为天下的君王。” 
  【读解】
  箕子所说的“最高法则”,就是家长制的典型法则。
  最后一句话已点出了这个法则的要害。天子只有成为臣民的 父母,才会成为天下的君主。这就明白告诉我们,我们都是最高 统治者的儿女,是“父母”(家长)生养了我们(而不是相反),人叵 此要服从、尊敬、孝顺家长,不要犯上作乱。
  家长都喜欢乖孩子。乖孩子听话,叫他往东走就往东走,往 西走就往西走。划船就划船,樁米就樁米。没有叫坐下,就得站 着。叫你不要哭再委屈也得把泪水往肚子里吞。最好不要有个 性,不要有想法,只认家长的道理。家长是真理的化身、他永远 不会错。
  家长却不喜欢调皮的孩子。调皮孩子不听话,叫他往东走,他 却故意往而去,往西走却往东去、划船时他戏水,樁米时他打盹儿。 叫他站着,他想坐下。叫他不要哭.他反而大声武气越哭越凶。他 想自个儿做主,不要家长指手划脚。他觉得家长总和自己的想法 不一致,家长也经常犯毛病。
  家长的脾气都不好。没有耐心,没有谦虚精神。不会认真倾 听孩子的诉说,不会认真研究孩子的态度。他总觉得孩子是自己 的私有财产,想骂就骂,想揍就揍,或者干脆宣布把调皮孩子革 出家门。他的自尊心、虚荣心、妒忌心很强,绝不允许任何孩子 说一个不字。遇到天真不懂事的孩子揭短,就会火冒三丈,暴跳 如雷,棍棒交加。要是孩子不服管教而造反,家长会要他的小命。 办法很多,有枭首、五马分尸、弃市、暴尸、鞭尸、碎尸万段……
  总之,家长心平气和的时候,要么是孩子们都听话做乖娃娃 的时候,要么是孩子们都进入了梦乡的时候。家长心平气和了,天 下就太平了;天下太平了,孩子们就幸福了。满天下都是乖孩子。 
  ——————
  作威作福是天子的特权
  【原文】
  “六、三德;一曰正直,二曰刚克,三曰柔克①。平康正直(2), 强弗友刚克(3),燮友及克(4)。沈潜刚克⑤,高明柔克(6)。惟辟作福,惟 辟作威,惟辟玉食(7)。臣无有作福作威玉食。臣之有作福作威玉食, 其害于而家,凶于而国。人用侧颇僻.民用僭忒(8)。”
  【注释】
  ①克;胜过。刚克:过于强硬。柔克:过于软弱、②平康:中止平 和。③友:亲近(4)燮(xie):和,柔和。燮友:柔和可亲。(5) 沈潜:沉潜,意思是仰制,压制。(6)高明:推崇,高扬。(7)玉食:美 食。(8)僭(jian):越轨。忒(te):作恶。
  【译文】 
  “六、三种德行:一是刚正直率,二是以刚取胜,三是以柔取 胜。中正平和就是正直,强硬不可亲近就是以刚取胜,和蔼可亲 就是以柔取胜。要抑制过分刚强,推崇和顺可亲。只有天子才会 为民造福,只有天子才能给民惩戒,只有天子才能享用美食。臣 子不允许为民造福、给民惩戒、享用美食。如果臣于有为民造福、 给民惩戒、享用美食的隋形,就会危害家国,祸乱国家。百官将 因此背离王道,臣民也将因此犯上作乱。”
  【读解】
  这一条为天子规定了所享有的特权:为民造福,惩戒臣民,享用美食。特权表示等级差别;企图抹杀差别就是犯上作乱,罪该万死!所以,皇上特别不奏欢刚强的人,偏爱柔弱的人。越没有个性,就越得宠。照这样的标准,做官是很容易的,因为越没有本事的人就越听话。正如宠物,之所以得宠,是由于没有头脑并且善解主子旨意。
  天子作威作福,臣子俯首贴耳,在等级制度中是相得益彰的。 天子刚强,臣子柔弱,刚柔相济,互相补充。不能作威作福、锦 衣工食,就不是好天子;不能何俯首贴耳、献媚取宠,就不是好臣子。把这个道理悟透了做:就容易了,君臣就和谐了,人民就幸福了。 
  ——————
  自然时序与君主统治
  【原文】
  “八、庶征:曰雨,曰旸(1),曰燠(2),曰寒,曰风.曰时五者来备,各以其叙(3),庶草蕃庑(4).一记备(5),凶;一级无,凶.。曰休征(6):曰肃,时雨若。曰咎征:曰狂(8),恒雨若;曰王省惟岁(12),卿土惟月,师尹惟日。岁月日时无易(13),百谷用成(14),乂用明,俊民用章(15),家用平康。日月岁时既易,百谷用不成,乂用昏不明,俊民用微(16),家用不宁。庶民惟星,星有好风(17),星有好雨。日月之行,则有冬有夏。月之从星,则以风雨。”
  【注释】
  (1)旸(yang):日出,这里指晴天。 ②燠(yu):温暖,暖和。 (3)叙:次序,这里指时序。(4)蕃:茂盛。庑:芜,草丰盛(5)一:指雨、旸、燠、寒、风五种现象中的一种。极:过甚。(6)休:美好。(7)若:像。(8)狂:狂妄,傲慢。(9)僭(jian):差错。(10)豫:安逸。(11)蒙:昏暗。(12)省:眚,过失。(13)易:改变。 (14)用:因。(15)俊民:又才能的人。章:彰,显明,这里指提拔任用。 (16)微:隐没,这里指不提拔任用。 (17)好:喜好。
  【译文】 
  “八、各种征兆:一是下雨,二是天晴,三是温暖,四是寒冷,五是刮风。如果这五种征兆俱全,并各自按时序发生,那么各种草木庄稼就会茂盛生长。如果其中一种天气过多,年成就不好;如果其中一种天气过少,年成也不好。各种好的征兆是:君王严肃恭敬,就像雨水及时将下;天下治理得好,就像天气及时晴朗;君主如果明智,就像气候及时温暖;君王深谋远虑,就像寒冷及时到来;君王圣明达理,就像风及时吹来。各种不好的征兆是:君王狂妄傲慢,就像久雨不停;君王办事错乱,就像久旱不雨;君王贪图享乐,就像久热不退;君王严酷急躁,就像持久寒冷;君王昏庸愚昧,就像持久刮风。君王有了过失,就会影响一年;卿士有了过失,就会影响一月;一般官员有了过失,会影响一天。如果年月日的时序没有改变,那么各种庄稼都会丰收,政治就会清明,有才能的人会得到重用,国家因此太平安宁。如果日月年的时序改变了,那么各种庄稼就不能成熟,政治昏暗不明,有才能的人得不到重用,国家因此不得安宁。民众就像星辰,有的星辰喜欢风,有的星辰喜欢雨。太阳和月亮运行,就有了冬天和夏天。如果月亮顺从群星,那么就会风雨无常。”
  【读解】
  把自然事物和现象同人事政治联系起来,从自然现象的发生演变中去窥测政治人事的发展变化、吉凶祸福,是中国人特有的思维方式,也带有某种神秘色彩。箕子认为自然物候是 君主政治的 象征,更是一大发明。
  古人相信这两者之间的必然联系,并从两个方面来注意观察;一是某种现象的出现是否正常,二是各种现象之间的顺序是否有错乱。他们根据这两方面的观察,来判断政治事务,作出决定和选择。
  我们今天肯定不会再相信政治的好与坏是由自然现象(尤其是气候)决定的。天灾就是天灾,奇寒酷热,雷电风雨,的确会影响到人们的生产和生活,会给人们造成诸多不便和生命财产的损失。人祸就是人祸,暴君的专横凶残,官员的昏庸腐败,人民遭受煎熬,却不会因天气的好坏而改变,而只有靠人自身的努力,才会扭转乾坤。
  把政治的好坏归因于天气物候,造成的效果之一,就是让人们相信上天命定的观念。国家治理得不好,生灵涂炭,责任在上天,不在从政者。人对上天是无能为力得,只有祈求,只有顺从,只有诅咒。这样,从政者把一切都推却得干干净净得,可以胡作非为而不负责任。人们所能祈求得,顶多只是上天得改朝换代。
  这一对比,还是觉得毛主席英明伟大。他老人家早已识破了这一切,一针见血地指出:“枪杆子里面出政权。”他这样去实践,他因此取得了成功。
  ——————
  幸福和不幸有哪些
  【原文】
  “九、五福:一曰寿,二曰富,三曰康宁,四曰攸好德(1),五曰考终命(2)。六极:一曰凶、短、折(3) ,二曰疾,三曰忧,四曰贫,五曰恶,六曰弱。”
  【注释】
  (1)攸:由,遵行。(2)考:老。终命:善终。(3)凶:没有到换牙就死去。短:不到二十岁就死去。折:没有结婚就死去。
  【译文】 
  “九、五种幸福:一是长寿,二是富贵,三是健康平安,四是修行美德,五是长寿善终。六种不幸:一是短命夭折,二是疾病,三是忧愁,四是贫穷,五是丑恶,六是懦弱。”
  【读解】
  幸福和不幸是价值观的体现。价值观因人而异,没有绝对的标准。在一个人看来是 幸福的事,在另一个人看来就可能是不幸的。比如升官发财,飞黄腾达在众多人看来是一种幸福,这意味着权÷利÷名三大收获,可以满足贪欲。在另一些人看来,人沦为乌纱帽金钱虚名的奴仆是天大的不幸,这意味着人丧失了自我,自己为自己招来诸多束缚和烦恼。
  天下最大的不幸恐怕是看不开。患得患失,斤斤计较,鼠目寸光,蝇营狗苟,围着油盐酱醋打转,都是看不开。想一想,人都是赤条条来到世上,也是赤条条离开,哪一样带得来带得走?
  “风物常以放眼量。”看得开就是幸福。
  ——————
  用德政去征服人心
  【原文】
  王曰:“呜呼!封,汝念哉!今民将在祇遹乃文考(2),绍闻衣德言(3)。往敷求于殷先哲王用保民。汝丕远惟商耇成人,宅心知训(4)。别求闻由古先哲王用康保民(5),弘于天(6),若德裕乃身(7),不废在王命(8)。”
  王曰:“呜呼!小子封,恫瘝乃身(9),敬哉(10)!天畏棐忱(11),民情大可见,小人难保。往尽乃心,无康好逸豫(12),乃其民。我闻曰:‘怨不在大,亦不在小。惠不惠(13),懋不懋(14)。’已!汝惟小子,乃服惟弘王应保殷民(15),亦惟助王宅天命,作新民(16)。”
  【注释】
  (1)这篇论文是周公德弟弟康叔到封地殷上任之前,周公对他德训诫辞。当时,周公刚刚平定了三监和武庚发动德叛乱。他要求康叔吸取历史教训,“明德慎罚”,治理好殷民,巩固已经取得德政权。这篇诰辞反映了周公德统治思想和司法制度,是一篇重要文献。这里节选了其中一部分。(2)在:观察。祗:敬。遹(yu):遵循。乃:你,指康叔。文:指文王。考:父。(3)绍:继。闻:旧闻。(4)丕:大。惟:思。商:指殷商。耇(gou):老。耇成人:指殷商遗民。宅:度,揣测。训:顺,顺眼。(5)别:另外。康:安。(6)弘:大。(7)德裕:德政,恩德。(8)废:停止。在:完成。王命:指周的统治。(9)恫:痛。瘝(guan):病。(10)敬:谨慎。(11)棐(fei):辅助。忱:诚。(12)豫:安乐。(13)惠:顺服。(14)懋(mao):勉力。(15)服:责任。应:受。(16)宅:定。作:振作。新:革新。
  【译文】 
  王说:“是啊,封!你要好好考虑!现在臣民都在看着你是否恭敬地遵循你父亲文王的传统,依据他的遗训来治理国家。你到殷后,要广泛寻求殷商遗民的心态,懂得怎样使他们顺服。另外,你还要访求古时圣明帝王的治国之道,使臣民得到安宁。要比天还宽宏,使臣民体验到你的恩德,不停地完成王命!”
  王说:“啊,年轻的封!治理国家要经受痛苦的磨难,可要小心谨慎啊!威严的上天辅助诚心的人;这可以从民心表现出来,小人却难以治理。你去那里要尽心尽力,不要贪图安逸享乐,才能治理好臣民。我听说:‘民怨不在于大,也不在于小;要使不顺从的人顺从,使不努力的人努力。’啊!你这年轻人,你的职责重大,我们君王受上天之命来保护殷民,你要协助君王实现上天之命,革新改造殷民。”
  【读解】
  这一段训诫体现了《康诰》的两个基本思想之一——明德尚德。明德尚德是为了实行德政,以便使前殷王朝德臣民人心归顺。
  归顺人心,用现今的话来说,就是改造思想,使旧人脱胎换骨成为新人。杨绛先生曾用“洗澡”来比喻这个过程,老外则叫做“洗脑”。
  归顺人心谈何容易!打江山易,改造江山也容易,只有归顺人心难。对殷朝遗民来说,纣王固然残暴,但这并不代表他们族类的全体。他们也有过自己圣明的先王成汤,有自己的血缘亲情习惯风俗文化传统,这是不可征服、不可同化的。
  用公毕竟是贤明君主,深知不可能凭武力÷暴政来迫使殷民“洗澡”,所以谆谆告诫康叔研究学习先王圣哲德治德经验,用来归顺殷民的人心。
  对被“洗澡”的人来说,脱胎换骨是极其痛苦的。“在灵魂深处爆发革命”,需要巨大的心理承受能力,需要有六亲不认的铁石心肠来割断“毛”和“皮”的关系,割断浓于水的血缘。但总有些人做不到,人还在,心不死,伺机举事,比如武庚的叛乱。
  不知道康叔去了殷地后是否办过学习班,是否要求过背诵周公语录,反正他的任务够艰巨的,也够棘手的。
  ——————
  谨慎严明的施用刑罚
  【原文】
  王曰:“呜呼!封,敬明乃罚(1)。人有小罪,非眚(2),乃惟终自作不典(3),式尔(4),有厥罪小(5),乃不可不杀。乃有大罪,非终,乃惟眚灾(6),适尔,既道极厥辜(7),时乃不可杀。” 
  王曰:“呜呼!封,有叙时(8),乃大明服(9),惟民其勅懋和(10)。若有疾,惟民其毕弃咎(11)。若保赤子(12),惟民其康。
  “非汝封刑人杀人,无或刑人杀人。非汝封又曰劓刵人,无或劓刵人(13)。” 
  王曰:“外事(14),汝陈时臬司师(15)。兹殷罚有伦(16)。”又曰:“要囚(17),服念五六日至于旬时(18),丕蔽要囚(19)。” 
  王曰:“汝陈时臬事罚(20),蔽殷彝(21),用其义刑义杀(22),勿庸以次汝封(23)。乃汝尽逊曰时叙(24),惟曰未有逊事。已!汝惟小子,未其有若汝封之心(25)。朕心朕德,惟乃知。”
  【注释】
  (1)敬:恭谨。明:严明。(2)眚(sheng):过失。(3)终:经常。典:法。(4)式:用。尔:如此。(5)有:虽然。(6)眚灾:由过失造成的灾祸。(7)适:偶然。道:指法律。极:穷尽。辜:罪。(8)有:能。叙:顺从。时,这。(9)明:顺服。(10)勅(chi):告诫。和:和顺。(11)毕:尽。咎:罪过。(12)赤子:小孩。(13)刵(er):古时割掉耳朵的刑罚。(14)外事:判断案件的事。(15)陈:公布。臬(nie):法度。司:治理,管理。师:治理,管理。师:众,指臣民。(16)伦:条理,法。(17)要囚:幽囚,囚禁犯人。(18)服念:思考。(19)丕:乃。蔽:判断。(20)事:从事,施行。(21)彝:法。(22)义:宜,应该。(23)勿庸:不用。次:恣,顺从。(24)逊:顺从。(25)若:顺从。
  【译文】 
  王说:“啊!封,对刑罚要谨慎严明。如果一个人犯了小罪,而不是过失,还经常干一些违法的事;这样,虽然他的罪过最小,却不能不杀。如果一个人犯了大罪,但不是一贯如此,而只是由过失造成的灾祸;这是偶然犯罪,可以按法律给予适当处罚,不应把他杀掉。“
  王说:“啊,封,如果你能照这样去做,就会使臣民顺服,臣民就会互相劝勉,和顺相处。要像医治病人一样,尽力让臣民抛弃自己的过错。要像护理孩子一样保护臣民,使他们健康安宁。
  “除了你封可以惩处人÷杀人之外,任何人都无权惩罚人、杀人。除了你封可以下令割罪人的鼻子和耳朵外,任何人都不能施行割鼻断耳的刑罚。”
  王说:“你宣布了这些法律后,要依据它们来惩治罪犯。根据殷商的刑罚来判罪时,该用刑的就用刑,该杀的就杀掉,不要照你的意思来行事。如果完全按照你的意思行事才叫顺从,那么就没有顺从的事。唉!你还是个年轻人,不可顺从你的意思。我的心愿和德行,只有你才能了解。”
  【读解】
  这一节专讲“慎罚”,即使用刑罚要慎重。我们可以发现这样几个要点:施用刑罚不能光看罪行,还要看动机,重罚故意犯罪且不思悔改者,适当处罚过失犯罪且愿意悔改者;惩罚罪犯像治病救人;执政者亲自掌握刑罚,确保刑罚的权威性;对判决要慎重,多考虑;不能用自己的意愿来代替刑罚。
  周公的这些观点很有点现代意味,并且是有意识地把刑罚作为维护统治地手段。值得注意地是强调不能用“人治”来代替“法律”,也就是要讲究规则,按规则办事,不管统治者个人是否喜欢,犯了规就得处罚。
  专制主义的“家天下”是没有规则的,从不讲规则。朕即天下,朕即法律,老子天下第一,老子就是家长,生杀予夺全凭家长一时兴之所至。高兴了,就赏赐爵位封地;不高兴了就投进牢狱,夺去性命,诛灭九族。对统治者来说,没有规则,就获得了最大的方便,可以恣意所为,就像一个人在足球场上可以抱着球横冲直撞一样。
  专制主义暴君的法律,规则就是他的个人意志。“顺我者昌,逆我者亡。”哪管什么国家不国家,什么老百姓不老百姓。国家、百姓、财富等等全是暴君的私有财产,全是揣在他兜里的钞票,可以任意支取,任意花销。
  周公推行“德政”,辅之以法律手段,使他获得了开明君主的美名。可惜的是他还没有开明到打破等级观念,提出人人平等÷人人在法律面前平等。他依然是把统治者当作奥林匹斯山上的神祗,居高临下地遥控人间。
  ——————
  酒诰(1)
  周公发布的戒酒令
  【原文】
  王若曰:“明大命于妹邦(2)。乃穆考文王(3),肇国在西土(4)。厥诰毖庶邦、庶士越少正御事朝夕曰(5):‘祀兹酒(6)。’惟天降命,肇我民(7),惟元祀(8)。天降威(9),我民用大乱丧德(10),亦罔非酒惟行(11);越小大邦用丧,亦罔非酒惟辜(12)。”
  “文王诰教小子有正有事(13):无彝酒(14);越庶国(15):饮惟祀,德将无醉(16)。惟曰我民迪小子惟土物爱(17),厥心臧(18)。聪听祖考之彝训(19),越小大德(20)。
  “小子惟一妹土(21),嗣尔股肱(22),纯其艺黍稷(23),奔走事厥考厥长(24)。肇牵车牛(25),远服贾用(26),孝养厥父母。厥父母庆(27),自洗腆(28),致用酒(29)。
  “庶士有正越庶伯君子(30),其尔典听朕教(31)!尔大克羞耇惟君(32),尔乃饮食醉饱。丕惟曰尔克永观省(33),作稽中德(34),尔尚克羞馈祀(35)。尔乃自介用逸(36),兹乃允惟王正事之臣(37)。兹亦惟天若无德(38),永不忘在王家(39)。” 
  【注释】
  (1)《酒诰》是周公命令康叔在卫国宣布戒酒的告诫之辞。殷商贵族嗜好喝酒,王公大臣酗酒成风,荒于政事。周公担心这种恶习会造成大乱,所以让康叔在卫国宣布戒酒令,不许酗酒,规定了禁酒的法令。(2)明:宣布。妹邦:指殷商故土。(3)穆:尊称,意思是尊敬的。(4)肇:开始,创建。西土:指周朝。(5)厥:其,指文王。诰毖:教训,告诫。庶邦:指各诸侯国君。庶土:各位官员。少正:副长官。御事:办事的官员。(6)兹:则,就。(7)肇:劝勉。(8)惟:只有。元:大。(9)威:惩罚。(10)用:因。大乱:造反。(11)惟:为。(12)辜:罪过。(13)小子:指文王的后代子孙。有正:指大臣。有事:指小臣。(14)无:不要。彝:经常。(15)越:和。庶国:指在诸侯国任职的文王子孙。(16)将:扶助。德将:以德相助,用道德来要求自己。(17)迪:开导,教育。小子:指臣民的子孙。土物:庄稼,农作物。爱:爱惜。(18)臧:善。(19)聪:听觉敏锐。祖考:指文王。彝训:遗训。(20)越:发扬。(21)小子:指殷民。惟一:同样。(22)嗣:用。股肱(gong):脚手。(23)纯:专一,专心。艺:种植。(24)事:奉养,侍奉。(25)肇:勉力。(26)服:从事。贾用:贸易。(27)庆:高兴。(28)洗:洁,指准备。腆:丰盛的膳食。(29)致:得到。(30)庶土÷有正÷庶伯÷君子:统称官员。越:和。(31)其:希望。典:经常。(32)克:能够。羞:进献。惟:与。(33)丕:语气词,没有意义。省:反省。(34)作:举动,行动。稽:符合。(35)馈祀:国君举行的祭祀。(36)乃:如果。介:限制。用逸:指饮酒作乐。(37)允:长期。惟:是。正事:政事。(38)若:善,赞美。元德:大德。(39)忘:被忘记。
  【译文】 
  王说:“要在卫国宣布一项重大命今。你那尊敬的先父文王,在西方创建了我们的国家。他从早到晚告诫诸候国君和各级官员说:‘只有祭祀时才可以用酒。’上天阵下旨意,劝勉我们的臣民,只在大祭时才能饮酒。上天降下惩罚,因为我们的臣民犯上作乱,丧失了道德,这都是因为酗酒造成的。那些大大小小的诸侯国的灭亡,也没有哪个不是由饮酒过度造成的祸患。
  “文王还告诫担任大小官员的子孙们说:不要经常饮酒。并告诫在诸侯国任职的子孙:只有祭祀时才可以饮酒,要用道德来约束自己,不要喝醉了。文王还告诫我们的臣民,要教导子孙爱惜粮食,使他们的心地变善良。要好好听取祖先留下的这些训诫,发扬大大小小的美德。
  “股民们,你们要一心留在故土,用你们自己的手脚,专心致志地种好庄稼,勤勉地侍奉你们的父兄。努力牵牛赶车,到外地去从事贸易,孝敬和赡养你们的父母亲;父母亲一定很高兴,会自己动手准备丰盛的饭菜,这时你们可以饮酒。
  “各级官员们,希望你们经常听从我的教导!只要你们能向老人和国君进献酒食,你们就可以酒足饭饱。这就是说,只要你们能经常反省自己,使自己的言行举止合乎道德,你们还可以参与国君举行的祭祀。如果你们自己能限制饮酒作乐,就可以长期成为君王的治事官员。这也是上天赞美的大德,王室将永远不会忘记你们是臣属。”’
  【读解】
  酒有酒的好处,可以舒筋活血,解除疲乏,振作精神,兴奋神经。酒中的人生境界妙不可言。酒也可以在朋友交际中化干戈为玉帛。酒还可以为勇士壮行,为祖先祭天,为天地献祭。
  酒也有酒的坏处,可以摧毁身体健康,麻痹神经,使人风狂,酒精中毒。正常人可以借酒浇愁、借酒撒野、借酒滋事。癌君子可以浸淫在酒缸中不能自拔。政府官员可以在酒杯中腐化堕落。妇人可以在酒气中失身。歹徒也可以借酒壮贼胆。
  人们是怎样发明酒这种神奇的玩意儿的,还不是很清楚,至少在商代,酒就在风行,商纣王造过酒池肉林以取悦妞己。古希腊神话传说中有酒神狄俄尼索斯,希腊悲剧便起源于祭祀狄俄尼索斯的“酒神颂”。酒神精神代表了人类的狂欢情结。
  周公发布的这篇戒酒令,让人想到在那个时候.人们对酒的偏好已到了难以收拾的地步,尤其是王公贵族和政府官员,酗酒误国,酗酒丧国,酒神放纵得失去了控制,人们狂欢得忘乎了所以,因此才要严令禁酒。
  不过,这个禁酒令是很有节制的。也就是说,它不彻底、不一律禁酒,因为酒要用于祭祀天地、神灵、祖先这些重大仪式,要用于孝敬国君、父母、兄长,因此要网开一面。
  其实,普通老百姓喝点酒算不了什么。他们一年四季辛苦到头,难以有机会轻松一下,放纵一下,实际上恐怕也只有逢年过节才有这样的机会。老百姓即使终日酗酒,也不会滋生腐败,不会误国误民。文人÷艺术家大概也离不了酒。酒可以放松意识的控制,促使灵感产生,让创造力得到解放。张旭的草书是酒灌出来的,李白的诗是酒浇出来的。如果没有了酒,这世上要失去多少文人、艺术家啊!
  真正的禁酒对象应该是王公贵族和政府官员。只有他们,才有机会有条件狂喝暴饮,寻欢作乐,因为有人进贡,因为可以搜刮民脂民膏。也只有他们,才有机会有条件腐化堕落,败坏社会风气。这是其他任何人都做不到的。

The Confucianism Sutram Doctrines of Transformation 易经

The Confucianism Sutram Doctrines of Transformation 易经

易经
The Confucianism Sutram Doctrines of Transformation 

易经
目 录
   第 一 卦  乾 乾为天 乾上乾下
第 二 卦  坤 坤为地 坤上坤下 
第 三 卦  屯 水雷屯 坎上震下 
第 四 卦  蒙 山水蒙 艮上坎下 
第 五 卦  需 水天需 坎上乾下 
第 六 卦  讼 天水讼 乾上坎下 
第 七 卦  师 地水师 坤上坎下 
第 八 卦  比 水地比 坎上下坤 
第 九 卦  小畜 风天小畜 巽上乾下 
第 十 卦  履 天泽履 乾上兑下 
第 十一 卦  泰 天地泰 坤上乾下 
第 十二 卦  否 地天否 乾上坤下 
第 十三 卦  同人 天火同人 乾上离下 
第 十四 卦  大有 火天大有 离上乾下 
第 十五 卦  谦 地山谦 坤上艮下 
第 十六 卦  豫 雷地豫 震上坤下 
第 十七 卦  随 泽雷随 兑上震下 
第 十八 卦  蛊 山风蛊 艮上巽下 
第 十九 卦  临 地泽临 坤上兑下 
第 二十 卦  观 风地观 巽上坤下 
第二十一卦  噬嗑 火雷噬嗑 离上震下 
第二十二卦  贲 山火贲 艮上离下 
第二十三卦  剥 山地剥 艮上坤下 
第二十四卦  复 地雷复 坤上震下 
第二十五卦  无妄 天雷无妄 乾上震下 
第二十六卦  大畜 山天大畜 艮上乾下 
第二十七卦  颐 山雷颐 艮上震下 
第二十八卦  大过 泽风大过 兑上巽下 
第二十九卦  坎 坎为水 坎上坎下 
第 三十 卦  离 离为火 离上离下 
第三十一卦  咸 泽山咸 兑上艮下 
第三十二卦  恒 雷风恒 震上巽下 
第三十三卦  遯 天山遯 乾上艮下 
第三十四卦  大壮 雷天大壮 震上乾下 
第三十五卦  晋 火地晋 离上坤下 
第三十六卦  明夷 地火明夷 坤上离下 
第三十七卦  家人 风火家人 巽上离下 
第三十八卦  睽 火泽睽 离上兑下 
第三十九卦  蹇 水山蹇 坎上艮下 
第 四十 卦  解 雷水解 震上坎下 
第四十一卦  损 山泽损 艮上兑下 
第四十二卦  益 风雷益 巽上震下 
第四十三卦  夬 泽天夬 兑上乾下 
第四十四卦  姤 天风姤 乾上巽下 
第四十五卦  萃 泽地萃 兑上坤下 
第四十六卦  升 地风升 坤上巽下 
第四十七卦  困 泽水困 兑上坎下 
第四十八卦  井 水风井 坎上巽下 
第四十九卦  革 泽火革 兑上离下 
第 五十 卦  鼎 火风鼎 离上巽下 
第五十一卦  震 震为雷 震上震下 
第五十二卦  艮 艮为山 艮上艮下 
第五十三卦  渐 风山渐 巽上艮下 
第五十四卦  归妹 雷泽归妹 震上兑下 
第五十五卦  丰 雷火丰 震上离下 
第五十六卦  旅 火山旅 离上艮下 
第五十七卦  巽 巽为风 巽上巽下 
第五十八卦  兑 兑为泽 兑上兑下 
第五十九卦  涣 风水涣 巽上坎下 
第 六十 卦  节 水泽节 坎上兑下 
第六十一卦  中孚 风泽中孚 巽上兑下 
第六十二卦  小过 雷山小过 震上艮下 
第六十三卦  既济 水火既济 坎上离下 
第六十四卦  未济 火水未济 离上坎下 
 
《易经·系辞上传》
第 一 章 第 二 章 
第 三 章 第 四 章 
第 五 章 第 六 章 
第 七 章 第 八 章 
第 九 章 第 十 章 
第十一章 第十二章 
 
《易经·系辞下传》
第 一 章 第 二 章 
第 三 章 第 四 章 
第 五 章 第 六 章 
第 七 章 第 八 章 
第 九 章 第 十 章 
第十一章 第十二章 
 
《易经·说卦传》
第 一 章 第 二 章 
第 三 章 第 四 章 
第 五 章 第 六 章 
第 七 章 第 八 章 
第 九 章 第 十 章 
第十一章 
《易经·序卦传》
《易经·杂卦传》
 
·关于本书
□ 作者:伏羲氏 
  
第一卦 乾 乾为天 乾上乾下
  乾:元,亨,利,贞。
  初九:潜龙,勿用。
  九二:见龙再田,利见大人。
  九三:君子终日乾乾,夕惕若,厉无咎。
  九四:或跃在渊,无咎。
  九五:飞龙在天,利见大人。
  上九:亢龙有悔。
  用九:见群龙无首,吉。 
  彖曰:大哉乾元,万物资始,乃统天。云行雨施,品物流形。大明始终,六位时成,时乘六龙以御天。乾道变化,各正性命,保合大和,乃利贞。首出庶物,万国咸宁。
  象曰:天行健,君子以自强不息。潜龙勿用,阳在下也。 见龙再田,德施普也。 终日乾乾,反复道也。 或跃在渊,进无咎也。飞龙在天,大人造也。 亢龙有悔,盈不可久也。 用九,天德不可为首也。
  文言曰:”元者,善之长也,亨者,嘉之会也,利者,义之和也,贞者,事之干也。 君子体仁,足以长人;嘉会,足以合礼;利物,足以和义;贞固,足以干事。 君子行此四者,故曰:乾:元亨利贞。”
  初九曰:”潜龙勿用。” 何谓也?
  子曰:”龙德而隐者也。不易乎世,不成乎名; 遯世而无闷,不见是而无闷;乐则行之,忧则违之;确乎其不可拔,乾龙也。”
  九二曰:”见龙在田,利见大人。” 何谓也?
  子曰:”龙德而正中者也。 庸言之信,庸行之谨,闲邪存其诚,善世而不伐,德博而化。 易曰:”见龙在田,利见大人。” 君德也。”
  九三曰:”君子终日乾乾,夕惕若,厉无咎。” 何谓也?
  子曰:”君子进德修业,忠信,所以进德也。修辞立其诚,所以居业也。知至至之,可与几也。 知终终之,可与存义也。 是故,居上位而不骄,在下位而不忧。故乾乾,因其时而惕,虽危而无咎矣。”
  九四:”或跃在渊,无咎。” 何谓也?
  子曰:”上下无常,非为邪也。 进退无恒,非离群也。 君子进德修业,欲及时也,故无咎。”
  九五曰:”飞龙在天,利见大人。” 何谓也?子曰:”同声相应,同气相求;水流湿,火就燥;云从龙,风从虎。 圣人作,而万物覩,本乎天者亲上,本乎地者亲下,则各从其类也。
  上九曰:”亢龙有悔。” 何谓也?子曰:”贵而无位,高而无民,贤人在下而无辅,是以动而有悔也。”
   乾龙勿用,下也。 见龙在田,时舍也。 终日乾乾,行事也。 或跃在渊,自试也。飞龙在天,上治也。 亢龙有悔,穷之灾也。乾元用九,天下治也。
  乾龙勿用,阳气潜藏。见龙在田,天下文明。终日乾乾,与时偕行。 或跃在渊,乾道乃革。飞龙在天,乃位乎天德。亢龙有悔,与时偕极。 乾元用九,乃见天则。
  乾元者,始而亨者也。 利贞者,性情也。 乾始能以美利利天下,不言所利。 大矣哉!大哉乾乎?刚健中正,纯粹精也。 六爻发挥,旁通情也。 时乘六龙,以御天也。 云行雨施,天下平也。
  君子以成德为行,日可见之行也。潜之为言也,隐而未见,行而未成,是以君子弗用也。
  君子学以聚之,问以辩之,宽以居之,仁以行之。易曰:”见龙在田,利见大人。” 君德也。
  九三, 重刚而不中,上不在天,下不在田。 故乾乾,因其时而惕,虽危无咎矣。
  九四, 重刚而不中,上不在天, 下不在田,中不在人,故或之。或之者,疑之也,故无咎。
  夫大人者,与天地合其德,与日月合其明,与四时合其序,与鬼神合其吉凶。 先天下而天弗违,后天而奉天时。 天且弗违,而况於人乎? 况於鬼神乎?
  亢之为言也,知进而不知退,知存而不知亡,知得而不知丧。其唯圣人乎? 知进退存亡,而不失其正者,其为圣人乎?
 
  
第二卦 坤 坤为地 坤上坤下
  坤:元,亨,利牝马之贞。 君子有攸往,先迷后得主,利西南得朋,东北丧朋。 安贞,吉。彖曰:至哉坤元,万物资生,乃顺承天。 坤厚载物,德合无疆。 含弘光大,品物咸亨。 牝马地类,行地无疆,柔顺利贞。 君子攸行,先迷失道,后顺得常。 西南得朋,乃与类行;东北丧朋,乃终有庆。 
  安贞之吉,应地无疆。 象曰:地势坤,君子以厚德载物。
  初六:履霜,坚冰至。
  象曰:履霜坚冰,阴始凝也。 驯致其道,至坚冰也。
  六二:直,方,大,不习无不利。
  象曰:六二之动,直以方也。 不习无不利,地道光也。
  六三:含章可贞。 或从王事,无成有终。
  象曰:含章可贞;以时发也。 或从王事,知光大也。
  六四:括囊;无咎,无誉。
  象曰:括囊无咎,慎不害也。
  六五:黄裳,元吉。
  象曰:黄裳元吉,文在中也。
  上六:战龙於野,其血玄黄。
  象曰:战龙於野,其道穷也。
  用六:利永贞。
  象曰:用六永贞,以大终也。文言曰:坤至柔,而动也刚,至静而德方,后得主而有常,含万物而化光。
  坤其道顺乎? 承天而时行。
  积善之家,必有馀庆;积不善之家,必有馀殃。 臣弑其君,子弑其父,非一朝一夕之故,其所由来者渐矣,由辩之不早辩也。 
  易曰:”履霜坚冰至。” 盖言顺也。
  直其正也,方其义也。 君子敬以直内,义以方外,敬义立,而德不孤。 “直,方,大,不习无不利”;则不疑其所行也。
  阴虽有美,含之;以从王事,弗敢成也。 地道也,妻道也,臣道也。 地道无成,而代有终也。
  天地变化,草木蕃; 天地闭,贤人隐。 易曰:”括囊;无咎,无誉。” 盖言谨也。
  君子黄中通理,正位居体,美在其中,而畅於四支,发於事业,美之至也。
  阴疑於阳,必战。为其嫌於无阳也,故称龙焉。犹未离其类也,
  故称血焉。 夫玄黄者,天地之杂也,天玄而地黄。
第三卦 屯 水雷屯 坎上震下
  屯:元,亨,利,贞,勿用,有攸往,利建侯。 
  彖曰:屯,刚柔始交而难生,动乎险中,大亨贞。雷雨之动满盈,天造草昧,宜建侯而不宁。 
  象曰:云,雷,屯;君子以经纶。
   
  初九:磐桓;利居贞,利建侯。
  象曰:虽磐桓,志行正也。 以贵下贱,大得民也。
  六二:屯如邅如,乘马班如。 匪寇婚媾,女子贞不字,十年乃字。
  象曰:六二之难,乘刚也。 十年乃字,反常也。
  六三:既鹿无虞,惟入于林中,君子几不如舍,往吝。
  象曰:既鹿无虞,以纵禽也。 君子舍之,往吝穷也。
  六四:乘马班如,求婚媾,无不利。
  象曰:求而往,明也。
 九五:屯其膏,小贞吉,大贞凶。
  象曰:屯其膏,施未光也。
  上六:乘马班如,泣血涟如。
  象曰:泣血涟如,何可长也。
第四卦 蒙 山水蒙 艮上坎下
  蒙:亨。 匪我求童蒙,童蒙求我。 初噬告,再三渎,渎则不告。利贞。彖曰:蒙,山下有险,险而止,蒙。 蒙亨,以亨行时中也。匪我求童蒙,童蒙求我,志应也。 初噬告,以刚中也。再三渎, 渎则不告,渎蒙也。 蒙以养正,圣功也。 象曰:山下出泉,蒙;君子以果行育德。初六:发蒙,利用刑人,用说桎梏,以往吝。 
  象曰:利用刑人,以正法也。
  九二:包蒙吉;纳妇吉;子克家。
  象曰:子克家,刚柔接也。
  六三:勿用娶女;见金夫,不有躬,无攸利。
  象曰:勿用娶女,行不顺也。
  六四:困蒙,吝。
  象曰:困蒙之吝,独远实也。
  六五:童蒙,吉。
  象曰:童蒙之吉,顺以巽也。
  上九:击蒙;不利为寇,利御寇。
  象曰:利用御寇,上下顺也。
第五卦 需 水天需 坎上乾下 
  需:有孚,光亨,贞吉。 利涉大川。彖曰:需,须也;险在前也。 刚健而不陷,其义不困穷矣。 需有孚,光亨,贞吉。 位乎天位,以正中也。 利涉大川,往有功也。 象曰:云上於天,需;君子以饮食宴乐。 
  初九:需于郊。 利用恒,无咎。
  象曰:需于郊,不犯难行也。 利用恒,无咎;未失常也。
  九二:需于沙。 小有言,终吉。
  象曰:需于沙,衍在中也。 虽小有言,以终吉也。
  九三:需于泥,致寇至。
  象曰:需于泥,灾在外也。 自我致寇,敬慎不败也。
  六四:需于血,出自穴。
  象曰:需于血,顺以听也。
  九五:需于酒食,贞吉。
  象曰:酒食贞吉,以中正也。
  上六:入于穴,有不速之客三人来,敬之终吉。
  象曰:不速之客来,敬之终吉。 虽不当位,未大失也。
第六卦 讼 天水讼 乾上坎下
  讼:有孚,窒。 惕中吉。 终凶。 利见大人,不利涉大川。彖曰:讼,上刚下险,险而健讼。讼有孚窒,惕中吉,刚来而得中也。终凶;讼不可成也。 利见大人;尚中正也。不利涉大川;入于渊也。象曰:天与水违行,讼;君子以作事谋始。 
  初六:不永所事,小有言,终吉。
  象曰:不永所事,讼不可长也。 虽有小言,其辩明也。
  九二:不克讼,归而逋,其邑人三百户,无眚。
  象曰:不克讼,归而逋也。 自下讼上,患至掇也。
  六三:食旧德,贞厉,终吉,或从王事,无成。
  象曰:食旧德,从上吉也。
  九四:不克讼,复自命,渝安贞,吉。
  象曰:复即命,渝安贞;不失也。
  九五:讼元吉。
  象曰:讼元吉,以中正也。
  上九:或锡之鞶带,终朝三褫之。
  象曰:以讼受服,亦不足敬也。
第七卦 师 地水师 坤上坎下
  师:贞,丈人,吉无咎。彖曰:师,众也,贞正也,能以众正,可以王矣。 刚中而应,行险而顺,以此毒天下,而民从之,吉又何咎矣。象曰:地中有水,师;君子以容民畜众。 
  初六:师出以律,否臧凶。
  象曰:师出以律,失律凶也。
  九二:在师中,吉无咎,王三锡命。
  象曰:在师中吉,承天宠也。 王三锡命,怀万邦也。
  六三:师或舆尸,凶。
  象曰:师或舆尸,大无功也。
  六四:师左次,无咎。
  象曰:左次无咎,未失常也。
  六五:田有禽,利执言,无咎。长子帅师,弟子舆尸,贞凶。
  象曰:长子帅师,以中行也。弟子舆师,使不当也。
  上六:大君有命,开国承家,小人勿用。
  象曰:大君有命,以正功也。 小人勿用,必乱邦也。
第八卦 比 水地比 坎上下坤
  比:吉。 原筮元永贞,无咎。 不宁方来,后夫凶。彖曰:比,吉也,比,辅也,下顺从也。 原筮元永贞,无咎,以刚中也。 
  不宁方来,上下应也。 后夫凶,其道穷也。象曰:地上有水,比;先王以建万国,亲诸侯。
  初六:有孚比之,无咎。 有孚盈缶,终来有他,吉。
  象曰:比之初六,有他吉也。
  六二:比之自内,贞吉。
  象曰:比之自内,不自失也。
  六三:比之匪人。
  象曰:比之匪人,不亦伤乎!
  六四:外比之,贞吉。
  象曰:外比於贤,以从上也。
  九五:显比,王用三驱,失前禽。 邑人不诫,吉。
  象曰:显比之吉,位正中也。舍逆取顺,失前禽也。 邑人不诫,上使中也。
  上六:比之无首,凶。
  象曰:比之无首,无所终也。
第九卦 小畜 风天小畜 巽上乾下
  小畜:亨。 密云不雨,自我西郊。彖曰:小畜; 柔得位,而上下应之,曰小畜。 健而巽,刚中而志行,乃亨。 密云不雨,尚往也。 自我西郊,施未行也。象曰:风行天上,小畜;君子以懿文德。 
  初九:复自道,何其咎,吉。
  象曰:复自道,其义吉也。
  九二:牵复,吉。
  象曰:牵复在中,亦不自失也。
  九三:舆说辐,夫妻反目。
  象曰:夫妻反目,不能正室也。
  六四:有孚,血去惕出,无咎。
  象曰:有孚惕出,上合志也。
  九五:有孚挛如,富以其邻。
  象曰:有孚挛如,不独富也。
  上九:既雨既处,尚德载,妇贞厉。 月几望,君子征凶。
  象曰:既雨既处,德积载也。 君子征凶,有所疑也。
第十卦 履 天泽履 乾上兑下
  履:履虎尾,不咥人,亨。彖曰:履,柔履刚也。说而应乎乾,是以履虎尾,不咥人,亨。刚中正,履帝位而不疚,光明也。象曰:上天下泽,履;君子以辨上下,安民志。 
  初九:素履,往无咎。
  象曰:素履之往,独行愿也。
  九二:履道坦坦,幽人贞吉。
  象曰:幽人贞吉,中不自乱也。
  六三:眇能视,跛能履,履虎尾,咥人,凶。 武人为于大君。
  象曰:眇能视;不足以有明也。跛能履;不足以与行也。咥人之凶;
  位不当也。 武人为于大君;志刚也。
  九四:履虎尾,愬愬终吉。
  象曰:愬愬终吉,志行也。
  九五:夬履,贞厉。
  象曰:夬履贞厉,位正当也。
  上九:视履考祥,其旋元吉。
  象曰:元吉在上,大有庆也。
第十一卦 泰 天地泰 坤上乾下
  泰:小往大来,吉亨。彖曰:泰,小往大来,吉亨。则是天地交,而万物通也;上下交,而其志同也。内阳而外阴,内健而外顺,内君子而外小人,君子道长,小人道消也。象曰:天地交泰,后以财(裁)成天地之道,辅相天地之宜,以左右民。 
  初九:拔茅茹,以其夤,征吉。
  象曰:拔茅征吉,志在外也。
  九二:包荒,用冯河,不遐遗,朋亡,得尚于中行。
  象曰:包荒,得尚于中行,以光大也。
  九三:无平不陂,无往不复,艰贞无咎。 勿恤其孚,于食有福。
  象曰:无往不复,天地际也。
  六四:翩翩不富,以其邻,不戒以孚。
  象曰:翩翩不富,皆失实也。 不戒以孚,中心愿也。
  六五:帝乙归妹,以祉元吉。
  象曰:以祉元吉,中以行愿也。
  上六:城复于隍,勿用师。 自邑告命,贞吝。
  象曰:城复于隍,其命乱也。
第十二卦 否 地天否 乾上坤下
  否:否之匪人,不利君子贞,大往小来。彖曰:否之匪人,不利君子贞。 大往小来, 则是天地不交,而万物不通也;上下不交,而天下无邦也。内阴而外阳,内柔而外刚,内小人而外君子。 小人道长,君子道消也。象曰:天地不交,否;君子以俭德辟难,不可荣以禄。 
  初六:拔茅茹,以其夤,贞吉亨。
  象曰:拔茅贞吉,志在君也。
  六二:包承。 小人吉,大人否亨。
  象曰:大人否亨,不乱群也。
  六三:包羞。
  象曰:包羞,位不当也。
  九四:有命无咎,畴离祉。
  象曰:有命无咎,志行也。
  九五:休否,大人吉。 其亡其亡,系于苞桑。
  象曰:大人之吉,位正当也。
  上九:倾否,先否后喜。
  象曰:否终则倾,何可长也。
第十三卦 同人 天火同人 乾上离下
  同人:同人于野,亨。 利涉大川,利君子贞。彖曰:同人,柔得位得中,而应乎乾,曰同人。 同人曰,同人于野,亨。 
  利涉大川,乾行也。 文明以健,中正而应,君子正也。 唯君子为能通天下之志。象曰:天与火,同人;君子以类族辨物。
  初九:同人于门,无咎。
  象曰:出门同人,又谁咎也。
  六二:同人于宗,吝。
  象曰:同人于宗,吝道也。
  九三:伏戎于莽,升其高陵,三岁不兴。
  象曰:伏戎于莽,敌刚也。 三岁不兴,安行也。
  九四:乘其墉,弗克攻,吉。
  象曰:乘其墉,义弗克也,其吉,则困而反则也。
  九五:同人,先号啕而后笑。 大师克相遇。
  象曰:同人之先,以中直也。 大师相遇,言相克也。
  上九:同人于郊,无悔。
  象曰:同人于郊,志未得也。
第十四卦 大有 火天大有 离上乾下
  大有:元亨。 彖曰:大有,柔得尊位,大中而上下应之,曰大有。其德刚健而文明,应乎天而时行,是以元亨。象曰:火在天上,大有;君子以竭恶扬善,顺天休命。 
  初九:无交害,匪咎,艰则无咎。
  象曰:大有初九,无交害也。
  九二:大车以载,有攸往,无咎。
  象曰:大车以载,积中不败也。
  九三:公用亨于天子,小人弗克。
  象曰:公用亨于天子,小人害也。
  九四:匪其彭,无咎。
  象曰:匪其彭,无咎;明辨晰也。
  六五:厥孚交如,威如;吉。
  象曰:厥孚交如,信以发志也。 威如之吉,易而无备也。
  上九:自天佑之,吉无不利。
  象曰:大有上吉,自天佑也。
第十五卦 谦 地山谦 坤上艮下
  谦:亨,君子有终。彖曰:谦,亨,天道下济而光明,地道卑而上行。天道亏盈而益谦,地道变盈而流谦,鬼神害盈而福谦,人道恶盈而好谦。谦尊而光,卑而不可逾,君子之终也。象曰:地中有山,谦;君子以裒多益寡,称物平施。 
  初六:谦谦君子,用涉大川,吉。
  象曰:谦谦君子,卑以自牧也。
  六二:鸣谦,贞吉。
 象曰:鸣谦贞吉,中心得也。
  九三:劳谦君子,有终吉。
  象曰:劳谦君子,万民服也。
  六四:无不利,撝谦。
  象曰:无不利,撝谦;不违则也。
  六五:不富,以其邻,利用侵伐,无不利。
  象曰:利用侵伐,征不服也。
  上六:鸣谦,利用行师,征邑国。
  象曰:鸣谦,志未得也。 可用行师,征邑国也。
第十六卦 豫 雷地豫 震上坤下
  豫:利建侯行师。彖曰:豫,刚应而志行,顺以动,豫。豫,顺以动,故天地如之,而况建侯行师乎?天地以顺动,故日月不过,而四时不忒;圣人以顺动,则刑罚清而民服。 豫之时义大矣哉!象曰:雷出地奋,豫。 先王以作乐崇德,殷荐之上帝,以配祖考。
  初六:鸣豫,凶。
  象曰:初六鸣豫,志穷凶也。
  六二:介于石,不终日,贞吉。
 象曰:不终日,贞吉;以中正也。
  六三:盱豫,悔。 迟有悔。
  象曰:盱豫有悔,位不当也。
  九四:由豫,大有得。勿疑。 朋盍簪。
  象曰:由豫,大有得;志大行也。
  六五:贞疾,恒不死。
  象曰:六五贞疾,乘刚也。 恒不死,中未亡也。
  上六:冥豫,成有渝,无咎。
  象曰:冥豫在上,何可长也。
第十七卦 随 泽雷随 兑上震下
  随:元亨利贞,无咎。彖曰:随,刚来而下柔,动而说,随。大亨贞,无咎,而天下随时,随之时义大矣哉!象曰:泽中有雷,随;君子以晦入宴息。 
  初九:官有渝,贞吉。 出门交有功。
  象曰:官有渝,从正吉也。 出门交有功,不失也。
  六二:系小子,失丈夫。
  象曰:系小子,弗兼与也。
  六三:系丈夫,失小子。 随有求得,利居贞。
  象曰:系丈夫,志舍下也。
  九四:随有获,贞凶。有孚在道,以明,何咎。
  象曰:随有获,其义凶也。 有孚在道,明功也。
  九五:孚于嘉,吉。
  象曰:孚于嘉,吉;位正中也。
  上六:拘系之,乃从维之。 王用亨于西山。
  象曰:拘系之,上穷也。
第十八卦 蛊 山风蛊 艮上巽下
  蛊:元亨,利涉大川。 先甲三日,后甲三日。彖曰:蛊,刚上而柔下,巽而止,蛊。 蛊,元亨,而天下治也。 利涉大川,往有事也。 先甲三日,后甲三日,终则有始,天行也。象曰:山下有风,蛊;君子以振民育德。 
  初六:干父之蛊,有子,考无咎,厉终吉。
  象曰:干父之蛊,意承考也。
  九二:干母之蛊,不可贞。
 象曰:干母之蛊,得中道也。
  九三:干父小有晦,无大咎。
  象曰:干父之蛊,终无咎也。
  六四:裕父之蛊,往见吝。
  象曰:裕父之蛊,往未得也。
  六五:干父之蛊,用誉。
  象曰:干父之蛊;承以德也。
  上九:不事王侯,高尚其事。
  象曰:不事王侯,志可则也。
第十九卦 临 地泽临 坤上兑下
  临:元,亨,利,贞。 至于八月有凶。彖曰:临,刚浸而长。 说而顺,刚中而应,大亨以正,天之道也。 至于八月有凶,消不久也。象曰:泽上有地,临; 君子以教思无穷,容保民无疆。 
  初九:咸临,贞吉。
  象曰:咸临贞吉,志行正也。
  九二:咸临,吉无不利。
  象曰:咸临,吉无不利;未顺命也。
  六三:甘临,无攸利。 既忧之,无咎。
  象曰:甘临,位不当也。 既忧之,咎不长也。
  六四:至临,无咎。
  象曰:至临无咎,位当也。
  六五:知临,大君之宜,吉。
  象曰:大君之宜,行中之谓也。
  上六:敦临,吉无咎。
  象曰:敦临之吉,志在内也。
第二十卦 观 风地观 巽上坤下
  观:盥而不荐,有孚顒若。彖曰:大观在上,顺而巽,中正以观天下。观,盥而不荐,有孚顒若,下观而化也。 观天之神道,而四时不忒, 圣人以神道设教,而天下服矣。象曰:风行地上,观;先王以省方,观民设教。 
  初六:童观,小人无咎,君子吝。
  象曰:初六童观,小人道也。
  六二:窥观,利女贞。
  象曰:窥观女贞,亦可丑也。
  六三:观我生,进退。
  象曰:观我生,进退;未失道也。
  六四:观国之光,利用宾于王。
  象曰:观国之光,尚宾也。
  九五:观我生,君子无咎。
  象曰:观我生,观民也。
  上九:观其生,君子无咎。
  象曰:观其生,志未平也。
第二十一卦 噬嗑 火雷噬嗑 离上震下
  噬嗑:亨。 利用狱。彖曰:颐中有物,曰噬嗑,噬嗑而亨。刚柔分,动而明,雷电合而章。柔得中而上行,虽不当位,利用狱也。象曰:雷电噬嗑;先王以明罚敕法。 
  初九:履校灭趾,无咎。
  象曰:履校灭趾,不行也。
  六二:噬肤灭鼻,无咎。
  象曰:噬肤灭鼻,乘刚也。
  六三:噬腊肉,遇毒;小吝,无咎。
  象曰:遇毒,位不当也。
  九四:噬乾胏,得金矢,利艰贞,吉。
  象曰:利艰贞吉,未光也。
  六五:噬乾肉,得黄金,贞厉,无咎。
  象曰:贞厉无咎,得当也。
  上九:何校灭耳,凶。
  象曰:何校灭耳,聪不明也。
第二十二卦 贲 山火贲 艮上离下
  贲:亨。 小利有所往。彖曰:贲,亨;柔来而文刚,故亨。分刚上而文柔,故小利有攸往。天文也;文明以止,人文也。观乎天文,以察时变;观乎人文,以化成天下。象曰:山下有火,贲;君子以明庶政,无敢折狱。 
  初九:贲其趾,舍车而徒。
  象曰:舍车而徒,义弗乘也。
  六二:贲其须。
  象曰:贲其须,与上兴也。
  九三:贲如濡如,永贞吉。
  象曰:永贞之吉,终莫之陵也。
  六四:贲如皤如,白马翰如,匪寇婚媾。
  象曰:六四,当位疑也。 匪寇婚媾,终无尤也。
  六五:贲于丘园,束帛戋戋,吝,终吉。
  象曰:六五之吉,有喜也。
  上九:白贲,无咎。
  象曰:白贲无咎,上得志也。
 
第二十三卦 剥 山地剥 艮上坤下
  剥:不利有攸往。彖曰:剥,剥也,柔变刚也。 不利有攸往,小人长也。 顺而止之,观象也。 君子尚消息盈虚,天行也。象曰:山附地上,剥;上以厚下,安宅。 
  初六:剥牀以足,蔑贞凶。
  象曰:剥牀以足,以灭下也。
  六二:剥牀以辨,蔑贞凶。
  象曰:剥牀以辨,未有与也。
  六三:剥之,无咎。
  象曰:剥之无咎,失上下也。
  六四:剥牀以肤,凶。
  象曰:剥牀以肤,切近灾也。
  六五:贯鱼,以宫人宠,无不利。
  象曰:以宫人宠,终无尤也。
  上九:硕果不食,君子得舆,小人剥庐。
  象曰:君子得舆,民所载也。 小人剥庐,终不可用也。
 
第二十四卦 复 地雷复 坤上震下
  复:亨。 出入无疾,朋来无咎。 反复其道,七日来复,利有攸往。彖曰:复亨;刚反,动而以顺行,是以出入无疾,朋来无咎。 反复其道,七日来复,天行也。 利有攸往,刚长也。 复其见天地之心乎?象曰:雷在地中,复;先王以至日闭关,商旅不行,后不省方。 
  初九:不复远,无只悔,元吉。
  象曰:不远之复,以修身也。
  六二:休复,吉。
  象曰:休复之吉,以下仁也。
  六三:频复,厉无咎。
  象曰:频复之厉,义无咎也。
  六四:中行独复。
  象曰:中行独复,以从道也。
  六五:敦复,无悔。
  象曰:敦复无悔,中以自考也。
  上六:迷复,凶,有灾眚。用行师,终有大败,以其国君,凶;至于十年,不克征。
  象曰:迷复之凶,反君道也。
第二十五卦 无妄 天雷无妄 乾上震下 
  无妄:元,亨,利,贞。 其匪正有眚,不利有攸往。彖曰:无妄,刚自外来,而为主於内。动而健,刚中而应,大亨以正,天之命也。 其匪正有眚,不利有攸往。无妄之往,何之矣? 天命不佑,行矣哉? 象曰:天下雷行,物与无妄;先王以茂对时,育万物。 
  初九:无妄,往吉。
  象曰:无妄之往,得志也。
  六二:不耕获,不菑畲,则利有攸往。
  象曰:不耕获,未富也。
  六三:无妄之灾,或系之牛,行人之得,邑人之灾。
  象曰:行人得牛,邑人灾也。
  九四:可贞,无咎。
  象曰:可贞无咎,固有之也。
  九五:无妄之疾,勿药有喜。
  象曰:无妄之药,不可试也。
  上九:无妄,行有眚,无攸利。
  象曰:无妄之行,穷之灾也。
 
第二十六卦 大畜 山天大畜 艮上乾下
  大畜:利贞,不家食吉,利涉大川。彖曰:大畜,刚健笃实辉光,日新其德,刚上而尚贤。 能止健,大正也。 
  不家食吉,养贤也。 利涉大川,应乎天也。象曰:天在山中,大畜;君子以多识前言往行,以畜其德。
  初九:有厉利已。
  象曰:有厉利已,不犯灾也。
  九二:舆说辐。
  象曰:舆说辐,中无尤也。
  九三:良马逐,利艰贞。 曰闲舆卫,利有攸往。
  象曰:利有攸往,上合志也。
  六四:童豕之牿,元吉。
  象曰:六四元吉,有喜也。
  六五:豮豕之牙,吉。
  象曰:六五之吉,有庆也。
  上九:何天之衢,亨。
  象曰:何天之衢,道大行也。
第二十七卦 颐 山雷颐 艮上震下
  颐:贞吉。 观颐,自求口实。彖曰:颐贞吉,养正则吉也。 观颐,观其所养也; 自求口实,观其自养也。 天地养万物,圣人养贤,以及万民;颐之时义大矣哉!象曰:山下有雷,颐;君子以慎言语,节饮食。 
  初九:舍尔灵龟,观我朵颐,凶。
  象曰:观我朵颐,亦不足贵也。
  六二:颠颐,拂经,于丘颐,征凶。
  象曰:六二征凶,行失类也。
  六三:拂颐,贞凶,十年勿用,无攸利。
  象曰:十年勿用,道大悖也。
  六四:颠颐吉,虎视眈眈,其欲逐逐,无咎。
  象曰:颠颐之吉,上施光也。
  六五:拂经,居贞吉,不可涉大川。
  象曰:居贞之吉,顺以从上也。
  上九:由颐,厉吉,利涉大川。
  象曰:由颐厉吉,大有庆也。
第二十八卦 大过 泽风大过 兑上巽下
  大过:栋桡,利有攸往,亨。彖曰:大过,大者过也。 栋桡,本末弱也。 刚过而中,巽而说行,利有攸往,乃亨。 大过之时义大矣哉!象曰:泽灭木,大过;君子以独立不惧,遯世无闷。 
  初六:藉用白茅,无咎。
  象曰:藉用白茅,柔在下也。
  九二:枯杨生祶,老夫得其女妻,无不利。
  象曰:老夫女妻,过以相与也。
  九三:栋桡,凶。
  象曰:栋桡之凶,不可以有辅也。
  九四:栋隆,吉;有它吝。
  象曰:栋隆之吉,不桡乎下也。
  九五:枯杨生华,老妇得士夫,无咎无誉。
  象曰:枯杨生华,何可久也。 老妇士夫,亦可丑也。
  上六:过涉灭顶,凶,无咎。
  象曰:过涉之凶,不可咎也。
第二十九卦 坎 坎为水 坎上坎下
  坎:习坎,有孚,维心亨,行有尚。彖曰:习坎,重险也。 水流而不盈,行险而不失其信。 维心亨,乃以刚中也。 行有尚,往有功也。 天险不可升也,地险山川丘陵也,王公设险以守其国,坎之时用大矣哉!象曰:水洊至,习坎;君子以常德行,习教事。 
  初六:习坎,入于坎錎,凶。
  象曰:习坎入坎,失道凶也。
  九二:坎有险,求小得。
  象曰:求小得,未出中也。
  六三:来之坎坎,险且枕,入于坎錎,勿用。
  象曰:来之坎坎,终无功也。
  六四:樽酒簋贰,用缶,纳约自牖,终无咎。
  象曰:樽酒簋贰,刚柔际也。
  九五:坎不盈,只既平,无咎。
  象曰:坎不盈,中未大也。
  上六:用徽纒,置于丛棘,三岁不得,凶。
  象曰:上六失道,凶三岁也。
第三十卦 离 离为火 离上离下
  离:利贞,亨。 畜牝牛,吉。彖曰:离,丽也;日月丽乎天,百谷草木丽乎土,重明以丽乎正,乃化成天下。 柔丽乎中正,故亨;是以畜牝牛吉也。象曰:明两作离,大人以继明照于四方。 
  初九:履错然,敬之无咎。
  象曰:履错之敬,以辟咎也。
  六二:黄离,元吉。
  象曰:黄离元吉,得中道也。
  九三:日昃之离,不鼓缶而歌,则大耋之嗟,凶。
  象曰:日昃之离,何可久也。
  九四:突如其来如,焚如,死如,弃如。
  象曰:突如其来如,无所容也。
  六五:出涕沱若,戚嗟若,吉。
  象曰:六五之吉,离王公也。
  上九:王用出征,有嘉折首,获其匪丑,无咎。
  象曰:王用出征,以正邦也。
第三十一卦 咸 泽山咸 兑上艮下
  咸:亨,利贞,取女吉。彖曰:咸,感也。柔上而刚下,二气感应以相与,止而说,男下女,是以亨利贞,取女吉也。天地感而万物化生,圣人感人心而天下和平;观其所感,而天地万物之情可见矣!象曰:山上有泽,咸;君子以虚受人。 
  初六:咸其拇。
  象曰:咸其拇,志在外也。
  六二:咸其腓,凶,居吉。
  象曰:虽凶,居吉,顺不害也。
  九三:咸其股,执其随,往吝。
  象曰:咸其股,亦不处也。 志在随人,所执下也。
  九四:贞吉悔亡,憧憧往来,朋从尔思。
  象曰:贞吉悔亡,未感害也。 憧憧往来,未光大也。
  九五:咸其脢,无悔。
  象曰:咸其脢,志末也。
  上六:咸其辅,颊,舌。
  象曰:咸其辅,颊,舌,滕脢说也。
第三十二卦 恒 雷风恒 震上巽下
  恒:亨,无咎,利贞,利有攸往。彖曰:恒,久也。 刚上而柔下,雷风相与,巽而动,刚柔皆应,恒。 恒亨无咎,利贞; 久於其道也,天地之道,恒久而不已也。 利有攸往,终则有始也。日月得天,而能久照,四时变化,而能久成,圣人久於其道,而天下化成;观其所恒,而天地万物之情可见矣!象曰:雷风,恒;君子以立不易方。 
  初六:浚恒,贞凶,无攸利。
  象曰:浚恒之凶,始求深也。
  九二:悔亡。
  象曰:九二悔亡,能久中也。
  九三:不恒其德,或承之羞,贞吝。
  象曰:不恒其德,无所容也。
  九四:田无禽。
  象曰:久非其位,安得禽也。
  六五:恒其德,贞,妇人吉,夫子凶。
  象曰:妇人贞吉,从一而终也。 夫子制义,从妇凶也。
  上六:振恒,凶。
  象曰:振恒在上,大无功也。
第三十三卦 遯 天山遯 乾上艮下
  遯:亨,小利贞。彖曰:遯亨,遯而亨也。 刚当位而应,与时行也。 小利贞,浸而长也。 
  遯之时义大矣哉!象曰:天下有山,遯;君子以远小人,不恶而严。
  初六:遯尾,厉,勿用有攸往。
  象曰:遯尾之厉,不往何灾也。
  六二:执之用黄牛之革,莫之胜说。
  象曰:执用黄牛,固志也。
  九三:系遯,有疾厉,畜臣妾吉。
  象曰:系遯之厉,有疾惫也。 畜臣妾吉,不可大事也。
  九四:好遯君子吉,小人否。
  象曰:君子好遯,小人否也。
  九五:嘉遯,贞吉。
  象曰:嘉遯贞吉,以正志也。
  上九:肥遯,无不利。
  象曰:肥遯,无不利;无所疑也。 
第三十四卦 大壮 雷天大壮 震上乾下
  大壮:利贞。彖曰:大壮,大者壮也。 刚以动,故壮。 大壮利贞;大者正也。正大而天地之情可见矣!象曰:雷在天上,大壮;君子以非礼勿履。 
  初九:壮于趾,征凶,有孚。
  象曰:壮于趾,其孚穷也。
  九二:贞吉。
  象曰:九二贞吉,以中也。
  九三:小人用壮,君子用罔,贞厉。 羝羊触藩,羸其角。
  象曰:小人用壮,君子罔也。
  九四:贞吉悔亡,藩决不羸,壮于大舆之輹。
  象曰:藩决不羸,尚往也。
  六五:丧羊于易,无悔。
  象曰:丧羊于易,位不当也。
  上六:羝羊触藩,不能退,不能遂,无攸利,艰则吉。
  象曰:不能退,不能遂,不祥也。 艰则吉,咎不长也。
第三十五卦 晋 火地晋 离上坤下
  晋:康侯用锡马蕃庶,昼日三接。彖曰:晋,进也。 明出地上,顺而丽乎大明,柔进而上行。 是以康侯用锡马蕃庶,昼日三接也。象曰:明出地上,晋;君子以自昭明德。 
  初六:晋如,摧如,贞吉。 罔孚,裕无咎。
  象曰:晋如,摧如;独行正也。 裕无咎;未受命也。
  六二:晋如,愁如,贞吉。 受兹介福,于其王母。
  象曰:受之介福,以中正也。
  六三:众允,悔亡。
  象曰:众允之,志上行也。
  九四:晋如硕鼠,贞厉。
  象曰:硕鼠贞厉,位不当也。
  六五:悔亡,失得勿恤,往吉无不利。
  象曰:失得勿恤,往有庆也。
  上九:晋其角,维用伐邑,厉吉无咎,贞吝。
  象曰:维用伐邑,道未光也。
第三十六卦 明夷 地火明夷 坤上离下
  明夷:利艰贞。彖曰:明入地中,明夷。 内文明而外柔顺,以蒙大难,文王以之。 利艰贞,晦其明也,内难而能正其志,箕子以之。象曰:明入地中,明夷;君子以莅众,用晦而明。 
  初九:明夷于飞,垂其翼。 君子于行,三日不食, 有攸往,主人有言。
  象曰:君子于行,义不食也。
  六二:明夷,夷于左股,用拯马壮,吉。
  象曰:六二之吉,顺以则也。
  九三:明夷于南狩,得其大首,不可疾贞。
  象曰:南狩之志,乃大得也。
  六四:入于左腹,获明夷之心,出于门庭。
  象曰:入于左腹,获心意也。
  六五:箕子之明夷,利贞。
  象曰:箕子之贞,明不可息也。
  上六:不明晦,初登于天,后入于地。
  象曰:初登于天,照四国也。 后入于地,失则也。
第三十七卦 家人 风火家人 巽上离下
  家人:利女贞。彖曰:家人,女正位乎内,男正位乎外,男女正,天地之大义也。家人有严君焉,父母之谓也。父父,子子,兄兄,弟弟,夫夫,妇妇,而家道正;正家而天下定矣。象曰:风自火出,家人;君子以言有物,而行有恒。 
  初九:闲有家,悔亡。
  象曰:闲有家,志未变也。
  六二:无攸遂,在中馈,贞吉。
  象曰:六二之吉,顺以巽也。
  九三:家人鎬鎬,悔厉吉;妇子嘻嘻,终吝。
  象曰:家人鎬鎬,未失也;妇子嘻嘻,失家节也。
  六四:富家,大吉。
  象曰:富家大吉,顺在位也。
  九五:王假有家,勿恤吉。
  象曰:王假有家,交相爱也。
  上九:有孚威如,终吉。
  象曰:威如之吉,反身之谓也。
第三十八卦 睽 火泽睽 离上兑下
  睽:小事吉。彖曰:睽,火动而上,泽动而下; 二女同居,其志不同行;说而丽乎明,柔进而上行,得中而应乎刚;是以小事吉。 天地睽,而其事同也;男女睽,而其志通也;万物睽,而其事类也;睽之时用大矣哉!象曰:上火下泽,睽;君子以同而异。 
  初九:悔亡,丧马勿逐,自复;见恶人无咎。
  象曰:见恶人,以辟咎也。
  九二:遇主于巷,无咎。
  象曰:遇主于巷,未失道也。
  六三:见舆曳,其牛掣,其人天且劓,无初有终。
  象曰:见舆曳,位不当也。 无初有终,遇刚也。
  九四:睽孤,遇元夫,交孚,厉无咎。
  象曰:交孚无咎,志行也。
  六五:悔亡,厥宗噬肤,往何咎。
  象曰:厥宗噬肤,往有庆也。
  上九:睽孤, 见豕负涂,载鬼一车, 先张之弧,后说之弧,匪寇婚媾,往遇雨则吉。
  象曰:遇雨之吉,群疑亡也。
  
第三十九卦 蹇 水山蹇 坎上艮下
  蹇:利西南,不利东北;利见大人,贞吉。彖曰:蹇,难也,险在前也。 见险而能止,知矣哉!蹇利西南, 往得中也;不利东北,其道穷也。 利见大人,往有功也。 当位贞吉,以正邦也。 蹇之时用大矣哉!象曰:山上有水,蹇;君子以反身修德。 
  初六:往蹇,来誉。
  象曰:往蹇来誉,宜待也。
  六二:王臣蹇蹇,匪躬之故。
  象曰:王臣蹇蹇,终无尤也。
  九三:往蹇来反。
  象曰:往蹇来反,内喜之也。
  六四:往蹇来连。
  象曰:往蹇来连,当位实也。
  九五:大蹇朋来。
  象曰:大蹇朋来,以中节也。
  上六:往蹇来硕,吉;利见大人。
  象曰:往蹇来硕,志在内也。 利见大人,以从贵也。
第四十卦 解 雷水解 震上坎下 
  解:利西南,无所往,其来复吉。 有攸往,夙吉。彖曰:解,险以动,动而免乎险,解。 解利西南,往得众也。其来复吉,乃得中也。有攸往夙吉,往有功也。 天地解,而雷雨作,雷雨作,而百果草木皆甲坼,解之时义大矣哉!象曰:雷雨作,解;君子以赦过宥罪。 
  初六:无咎。
  象曰:刚柔之际,义无咎也。
  九二:田获三狐,得黄矢,贞吉。
  象曰:九二贞吉,得中道也。
  六三:负且乘,致寇至,贞吝。
  象曰:负且乘,亦可丑也,自我致戎,又谁咎也。
  九四:解而拇,朋至斯孚。
  象曰:解而拇,未当位也。
  六五:君子维有解,吉;有孚于小人。
  象曰:君子有解,小人退也。
  上六:公用射隼,于高墉之上,获之,无不利。
  象曰:公用射隼,以解悖也。
第四十一卦 损 山泽损 艮上兑下
  损:有孚,元吉,无咎,可贞,利有攸往? 曷之用,二簋可用享。彖曰:损,损下益上,其道上行。损而有孚,元吉,无咎,可贞,利有攸往。 曷之用? 二簋可用享;二簋应有时。损刚益柔有时,损益盈虚,与时偕行。象曰:山下有泽,损;君子以惩忿窒欲。 
  初九:已事遄往,无咎,酌损之。
  象曰:已事遄往,尚合志也。
  九二:利贞,征凶,弗损益之。
  象曰:九二利贞,中以为志也。
  六三:三人行,则损一人;一人行,则得其友。
  象曰:一人行,三则疑也。
  六四:损其疾,使遄有喜,无咎。
  象曰:损其疾,亦可喜也。
  六五:或益之,十朋之龟弗克违,元吉。
  象曰:六五元吉,自上佑也。
  上九:弗损益之,无咎,贞吉,利有攸往,得臣无家。
  象曰:弗损益之,大得志也。
第四十二卦 益 风雷益 巽上震下
  益:利有攸往,利涉大川。彖曰:益,损上益下,民说无疆,自上下下,其道大光。利有攸往,中正有庆。 利涉大川,木道乃行。 益动而巽,日进无疆。 天施地生,其益无方。 凡益之道,与时偕行。象曰:风雷,益;君子以见善则迁,有过则改。 
  初九:利用为大作,元吉,无咎。
  象曰:元吉无咎,下不厚事也。
  六二:或益之,十朋之龟弗克违,永贞吉。 王用享于帝,吉。
  象曰:或益之,自外来也。
  六三:益之用凶事,无咎。有孚中行,告公用圭。
  象曰:益用凶事,固有之也。
  六四:中行,告公从。 利用为依迁国。
  象曰:告公从,以益志也。
  九五:有孚惠心,勿问元吉。 有孚惠我德。
  象曰:有孚惠心,勿问之矣。 惠我德,大得志也。
  上九:莫益之,或击之,立心勿恒,凶。
  象曰:莫益之,偏辞也。 或击之,自外来也。
第四十三卦 夬 泽天夬 兑上乾下
  夬:扬于王庭,孚号,有厉,告自邑,不利即戎,利有攸往。彖曰:夬,决也,刚决柔也。健而说,决而和,扬于王庭,柔乘五刚也。 
  孚号有厉,其危乃光也。 告自邑,不利即戎,所尚乃穷也。 利有攸往,刚长乃终也。象曰:泽上于天,夬;君子以施禄及下,居德则忌。
  初九:壮于前趾,往不胜为吝。
  象曰:不胜而往,咎也。
  九二:惕号,莫夜有戎,勿恤。
  象曰:莫夜有戎,得中道也。
  九三:壮于,有凶。 君子夬夬,独行遇雨,若濡有愠,无咎。
  象曰:君子夬夬,终无咎也。
  九四:臀无肤,其行次且。 牵羊悔亡,闻言不信。
  象曰:其行次且,位不当也。 闻言不信,聪不明也。
  九五:苋陆夬夬,中行无咎。
  象曰:中行无咎,中未光也。
  上六:无号,终有凶。
  象曰:无号之凶,终不可长也。 
第四十四卦 姤 天风姤 乾上巽下
  姤:女壮,勿用取女。彖曰:姤,遇也,柔遇刚也。勿用取女,不可与长也。 天地相遇,品物咸章也。 刚遇中正,天下大行也。 姤之时义大矣哉!象曰:天下有风,姤;后以施命诰四方。 
  初六:系于金柅,贞吉,有攸往,见凶,羸豕踟躅。
  象曰:系于金柅,柔道牵也。
  九二:包有鱼,无咎,不利宾。
  象曰:包有鱼,义不及宾也。
  九三:臀无肤,其行次且,厉,无大咎。
  象曰:其行次且,行未牵也。
  九四:包无鱼,起凶。
  象曰:无鱼之凶,远民也。
  九五:以杞包瓜,含章,有陨自天。
  象曰:九五含章,中正也。 有陨自天,志不舍命也。
  上九:姤其角,吝,无咎。
  象曰:姤其角,上穷吝也。
第四十五卦 萃 泽地萃 兑上坤下
  萃:亨。 王假有庙,利见大人,亨,利贞。 用大牲吉,利有攸往。彖曰:萃,聚也;顺以说,刚中而应,故聚也。王假有庙,致孝享也。利见大人亨,聚以正也。 用大牲吉,利有攸往,顺天命也。 观其所聚,而天地万物之情可见矣。象曰:泽上於地,萃;君子以除戎器,戒不虞。 
  初六:有孚不终,乃乱乃萃,若号一握为笑,勿恤,往无咎。
  象曰:乃乱乃萃,其志乱也。
  六二:引吉,无咎,孚乃利用禴。
  象曰:引吉无咎,中未变也。
  六三:萃如,嗟如,无攸利,往无咎,小吝。
  象曰:往无咎,上巽也。
  九四:大吉,无咎。
  象曰:大吉无咎,位不当也。
  九五:萃有位,无咎。 匪孚,元永贞,悔亡。
  象曰:萃有位,志未光也。
  上六: 齑咨涕洟,无咎。
  象曰: 齑咨涕洟,未安上也。
第四十六卦 升 地风升 坤上巽下 
  升:元亨,用见大人,勿恤,南征吉。彖曰:柔以时升,巽而顺,刚中而应,是以大亨。用见大人,勿恤;有庆也。 南征吉,志行也。象曰:地中生木,升;君子以顺德,积小以高大。 
  初六:允升,大吉。
  象曰:允升大吉,上合志也。
  九二:孚乃利用禴,无咎。
  象曰:九二之孚,有喜也。
  九三:升虚邑。
  象曰:升虚邑,无所疑也。
  六四:王用亨于岐山,吉无咎。
  象曰:王用亨于岐山,顺事也。
  六五:贞吉,升阶。
  象曰:贞吉升阶,大得志也。
  上六:冥升,利于不息之贞。
  象曰:冥升在上,消不富也。
第四十七卦 困 泽水困 兑上坎下
  困:亨,贞,大人吉,无咎,有言不信。彖曰:困,刚掩也。 险以说,困而不失其所,亨;其唯君子乎? 贞大人吉,以刚中也。 有言不信,尚口乃穷也。象曰:泽无水,困;君子以致命遂志。 
  初六:臀困于株木,入于幽谷,三岁不见。
  象曰:入于幽谷,幽不明也。
  九二:困于酒食,朱绂方来,利用亨祀,征凶,无咎。
  象曰:困于酒食,中有庆也。
  六三:困于石,据于蒺藜,入于其宫,不见其妻,凶。
  象曰:据于蒺藜,乘刚也。 入于其宫,不见其妻,不祥也。
  九四:来徐徐,困于金车,吝,有终。
  象曰:来徐徐,志在下也。 虽不当位,有与也。
  九五:劓刖,困于赤绂,乃徐有说,利用祭祀。
  象曰:劓刖,志未得也。乃徐有说,以中直也。利用祭祀,受福也。
  上六:困于葛藟,于臲靰,曰动悔。 有悔,征吉。
  象曰:困于葛藟,未当也。 动悔,有悔吉,行也。
第四十八卦 井 水风井 坎上巽下
  井:改邑不改井,无丧无得,往来井井。汔至,亦未蹫井,羸其瓶,凶。彖曰:巽乎水而上水,井;井养而不穷也。改邑不改井,乃以刚中也。汔至亦未蹫井,未有功也。 羸其瓶,是以凶也。象曰:木上有水,井;君子以劳民劝相。 
  初六:井泥不食,旧井无禽。
  象曰:井泥不食,下也。 旧井无禽,时舍也。
  九二:井谷射鲋,瓮敝漏。
  象曰:井谷射鲋,无与也。
  九三:井渫不食,为我民恻,可用汲,王明,并受其福。
  象曰:井渫不食,行恻也。 求王明,受福也。
  六四:井甃,无咎。
  象曰:井甃无咎,修井也。
  九五:井冽,寒泉食。
  象曰:寒泉之食,中正也。
  上六:井收勿幕,有孚无吉。
  象曰:元吉在上,大成也。
第四十九卦 革 泽火革 兑上离下
  革:己日乃孚,元亨利贞,悔亡。彖曰:革,水火相息,二女同居,其志不相得,曰革。己日乃孚;革而信也。 文明以说,大亨以正,革而当,其悔乃亡。天地革而四时成,汤武革命,顺乎天而应乎人,革之时义大矣哉!象曰:泽中有火,革;君子以治历明时。 
  初九:巩用黄牛之革。
  象曰:巩用黄牛,不可以有为也。
  六二:己日乃革之,征吉,无咎。
  象曰:己日革之,行有嘉也。
  九三:征凶,贞厉,革言三就,有孚。
  象曰:革言三就,又何之矣。
  九四:悔亡,有孚改命,吉。
  象曰:改命之吉,信志也。
  九五:大人虎变,未占有孚。
  象曰:大人虎变,其文炳也。
  上六:君子豹变,小人革面,征凶,居贞吉。
  象曰:君子豹变,其文蔚也。 小人革面,顺以从君也。
第五十卦 鼎 火风鼎 离上巽下
  鼎:元吉,亨。彖曰:鼎,象也。 以木巽火,亨饪也。 圣人亨以享上帝,而大亨以养圣贤。 巽而耳目聪明,柔进而上行,得中而应乎刚,是以元亨。象曰:木上有火,鼎;君子以正位凝命。 
  初六:鼎颠趾,利出否,得妾以其子,无咎。
  象曰:鼎颠趾,未悖也。 利出否,以从贵也。
  九二:鼎有实,我仇有疾,不我能即,吉。
  象曰:鼎有实,慎所之也。 我仇有疾,终无尤也。
  九三:鼎耳革,其行塞,雉膏不食,方雨亏悔,终吉。
  象曰:鼎耳革,失其义也。
  九四:鼎折足,覆公餗,其形渥,凶。
  象曰:覆公□,信如何也。
  六五:鼎黄耳金铉,利贞。
  象曰:鼎黄耳,中以为实也。
  上九:鼎玉铉,大吉,无不利。
  象曰:玉铉在上,刚柔节也。 
第五十一卦 震 震为雷 震上震下
  震:亨。 震来萀萀,笑言哑哑。 震惊百里,不丧匕鬯。彖曰:震,亨。 震来萀萀,恐致福也。笑言哑哑,后有则也。 震惊百里,惊远而惧迩也。 出可以守宗庙社稷,以为祭主也。象曰:洊雷,震;君子以恐惧修身。 
  初九:震来萀萀,后笑言哑哑,吉。
  象曰:震来萀萀,恐致福也。 笑言哑哑,后有则也。
  六二:震来厉,亿丧贝,跻于九陵,勿逐,七日得。
  象曰:震来厉,乘刚也。
  六三:震苏苏,震行无眚。
  象曰:震苏苏,位不当也。
  九四:震遂泥。
  象曰:震遂泥,未光也。
  六五:震往来厉,亿无丧,有事。
  象曰:震往来厉,危行也。 其事在中,大无丧也。
  上六:震索索,视矍矍,征凶。 震不于其躬,于其邻,无咎。 婚媾有言。
  象曰:震索索,未得中也。 虽凶无咎,畏邻戒也。
  
第五十二卦 艮 艮为山 艮上艮下
  艮:艮其背,不获其身,行其庭,不见其人,无咎。彖曰:艮,止也。 时止则止,时行则行,动静不失其时,其道光明。 艮其止,止其所也。 上下敌应,不相与也。 是以不获其身,行其庭不见其人,无咎也。象曰:兼山,艮;君子以思不出其位。 
  初六:艮其趾,无咎,利永贞。
  象曰:艮其趾,未失正也。
  六二:艮其腓,不拯其随,其心不快。
  象曰:不拯其随,未退听也。
  九三:艮其限,列其夤,厉薰心。
  象曰:艮其限,危薰心也。
  六四:艮其身,无咎。
  象曰:艮其身,止诸躬也。
  六五:艮其辅,言有序,悔亡。
  象曰:艮其辅,以中正也。
  上九:敦艮,吉。
  象曰:敦艮之吉,以厚终也。
第五十三卦 渐 风山渐 巽上艮下
  渐:女归吉,利贞。彖曰:渐之进也,女归吉也。 进得位,往有功也。进以正,可以正邦也。 
  其位刚,得中也。 止而巽,动不穷也。象曰:山上有木,渐;君子以居贤德,善俗。
  初六:鸿渐于干,小子厉,有言,无咎。
  象曰:小子之厉,义无咎也。
  六二:鸿渐于磐,饮食□□,吉。
  象曰:饮食衎衎,不素饱也。
  九三:鸿渐于陆,夫征不复,妇孕不育,凶;利御寇。
  象曰:夫征不复,离群丑也。 妇孕不育,失其道也。利用御寇,顺相保也。
  六四:鸿渐于木,或得其桷,无咎。
  象曰:或得其桷,顺以巽也。
  九五:鸿渐于陵,妇三岁不孕,终莫之胜,吉。
  象曰:终莫之胜,吉;得所愿也。
  上九:鸿渐于逵,其羽可用为仪,吉。
  象曰:其羽可用为仪,吉;不可乱也。
第五十四卦 归妹 雷泽归妹 震上兑下
  归妹:征凶,无攸利。彖曰:归妹,天地之大义也。天地不交,而万物不兴,归妹人之终始也。 
  说以动,所归妹也。 征凶,位不当也。 无攸利,柔乘刚也。象曰:泽上有雷,归妹;君子以永终知敝。
  初九:归妹以娣,跛能履,征吉。
  象曰:归妹以娣,以恒也。 跛能履吉,相承也。
  九二:眇能视,利幽人之贞。
  象曰:利幽人之贞,未变常也。
  六三:归妹以须,反归以娣。
  象曰:归妹以须,未当也。
  九四:归妹愆期,迟归有时。
  象曰:愆期之志,有待而行也。
  六五:帝乙归妹,其君之袂,不如其娣之袂良,月几望,吉。
  象曰:帝乙归妹,不如其娣之袂良也。 其位在中,以贵行也。
  上六:女承筐无实,士刲羊无血,无攸利。
  象曰:上六无实,承虚筐也。
第五十五卦 丰 雷火丰 震上离下
  丰:亨,王假之,勿忧,宜日中。彖曰:丰,大也。 明以动,故丰。王假之,尚大也。 勿忧宜日中,宜照天下也。日中则昃,月盈则食,天地盈虚,与时消息,而况人於人乎?况於鬼神乎?象曰:雷电皆至,丰;君子以折狱致刑。 
  初九:遇其配主,虽旬无咎,往有尚。
  象曰:虽旬无咎,过旬灾也。
  六二:丰其蔀,日中见斗,往得疑疾,有孚发若,吉。
  象曰:有孚发若,信以发志也。
  九三:丰其沛,日中见昧,折其右肱,无咎。
  象曰:丰其沛,不可大事也。 折其右肱,终不可用也。
  九四:丰其蔀,日中见斗,遇其夷主,吉。
  象曰:丰其蔀,位不当也。 日中见斗,幽不明也。 遇其夷主,吉;行也。
  六五:来章,有庆誉,吉。
  象曰:六五之吉,有庆也。
  上六:丰其屋,蔀其家,窥其户,阒其无人,三岁不见,凶。
  象曰:丰其屋,天际翔也。 窥其户,阒其无人,自藏也。
第五十六卦 旅 火山旅 离上艮下
  旅:小亨,旅贞吉。彖曰:旅,小亨,柔得中乎外,而顺乎刚,止而丽乎明,是以小亨,旅贞吉也。 旅之时义大矣哉!象曰:山上有火,旅;君子以明慎用刑,而不留狱。 
  初六:旅琐琐,斯其所取灾。
  象曰:旅琐琐,志穷灾也。
  六二:旅即次,怀其资,得童仆贞。
  象曰:得童仆贞,终无尤也。
  九三:旅焚其次,丧其童仆,贞厉。
  象曰:旅焚其次,亦以伤矣。 以旅与下,其义丧也。
  九四:旅于处,得其资斧,我心不快。
  象曰:旅于处,未得位也。 得其资斧,心未快也。
  六五:射雉一矢亡,终以誉命。
  象曰:终以誉命,上逮也。
  上九:鸟焚其巢,旅人先笑后号啕。 丧牛于易,凶。
  象曰:以旅在上,其义焚也。 丧牛于易,终莫之闻也。
第五十七卦 巽 巽为风 巽上巽下
  巽:小亨,利攸往,利见大人。彖曰:重巽以申命,刚巽乎中正而志行。柔皆顺乎刚,是以小亨,利有攸往,利见大人。象曰:随风,巽;君子以申命行事。 
  初六:进退,利武人之贞。
  象曰:进退,志疑也。 利武人之贞,志治也。
  九二:巽在□下,用史巫纷若,吉无咎。
  象曰:纷若之吉,得中也。
  九三:频巽,吝。
  象曰:频巽之吝,志穷也。
  六四:悔亡,田获三品。
  象曰:田获三品,有功也。
  九五:贞吉悔亡,无不利。 无初有终,先庚三日,后庚三日,吉。
  象曰:九五之吉,位正中也。
  上九:巽在□下,丧其资斧,贞凶。
  象曰:巽在□下,上穷也。 丧其资斧,正乎凶也。
  □ = 爿 + 木
第五十八卦 兑 兑为泽 兑上兑下
  兑:亨,利贞。彖曰:兑,说也。 刚中而柔外,说以利贞,是以顺乎天,而应乎人。 说以先民,民忘其劳;说以犯难,民忘其死;说之大,民劝矣哉!象曰:丽泽,兑;君子以朋友讲习。 
  初九:和兑,吉。
  象曰:和兑之吉,行未疑也。
  九二:孚兑,吉,悔亡。
  象曰:孚兑之吉,信志也。
  六三:来兑,凶。
  象曰:来兑之凶,位不当也。
  九四:商兑,未宁,介疾有喜。
  象曰:九四之喜,有庆也。
  九五:孚于剥,有厉。
  象曰:孚于剥,位正当也。
  上六:引兑。
  象曰:上六引兑,未光也。
第五十九卦 涣 风水涣 巽上坎下
  涣:亨。 王假有庙,利涉大川,利贞。彖曰:涣,亨。 刚来而不穷,柔得位乎外而上同。 王假有庙,王乃在中也。 利涉大川,乘木有功也。象曰:风行水上,涣;先王以享于帝立庙。 
  初六:用拯马壮,吉。
  象曰:初六之吉,顺也。
  九二:涣奔其机,悔亡。
  象曰:涣奔其机,得愿也。
  六三:涣其躬,无悔。
  象曰:涣其躬,志在外也。
  六四:涣其群,元吉。 涣有丘,匪夷所思。
  象曰:涣其群,元吉;光大也。
  九五:涣汗其大号,涣王居,无咎。
  象曰:王居无咎,正位也。
  上九:涣其血,去逖出,无咎。
  象曰:涣其血,远害也。
第六十卦 节 水泽节 坎上兑下
  节:亨。 苦节不可贞。彖曰:节,亨,刚柔分,而刚得中。苦节不可贞,其道穷也。说以行险,当位以节,中正以通。 天地节而四时成,节以制度,不伤财,不害民。象曰:泽上有水,节;君子以制数度,议德行。 
  初九:不出户庭,无咎。
  象曰:不出户庭,知通塞也。
  九二:不出门庭,凶。
  象曰:不出门庭,失时极也。
  六三:不节若,则嗟若,无咎。
  象曰:不节之嗟,又谁咎也。
  六四:安节,亨。
  象曰:安节之亨,承上道也。
  九五:甘节,吉;往有尚。
  象曰:甘节之吉,居位中也。
  上六:苦节,贞凶,悔亡。
  象曰:苦节贞凶,其道穷也。
第六十一卦 中孚 风泽中孚 巽上兑下
  中孚:豚鱼吉,利涉大川,利贞。彖曰:中孚,柔在内而刚得中。 说而巽,孚,乃化邦也。 豚鱼吉,信及豚鱼也。 利涉大川,乘木舟虚也。 中孚以利贞,乃应乎天也。象曰:泽上有风,中孚;君子以议狱缓死。 
  初九:虞吉,有他不燕。
  象曰:初九虞吉,志未变也。
  九二:鸣鹤在阴,其子和之,我有好爵,吾与尔靡之。
  象曰:其子和之,中心愿也。
  六三:得敌,或鼓或罢,或泣或歌。
  象曰:可鼓或罢,位不当也。
  六四:月几望,马匹亡,无咎。
  象曰:马匹亡,绝类上也。
  九五:有孚挛如,无咎。
  象曰:有孚挛如,位正当也。
  上九:翰音登于天,贞凶。
  象曰:翰音登于天,何可长也。
第六十二卦 小过 雷山小过 震上艮下
  小过:亨,利贞,可小事,不可大事。飞鸟遗之音,不宜上宜下,大吉。彖曰:小过,小者过而亨也。 过以利贞,与时行也。 柔得中,是以小事吉也。 刚失位而不中,是以不可大事也。 有飞鸟之象焉,有飞鸟遗之音,不宜上宜下,大吉;上逆而下顺也。象曰:山上有雷,小过;君子以行过乎恭,丧过乎哀,用过乎俭。 
  初六:飞鸟以凶。
  象曰:飞鸟以凶,不可如何也。
  六二:过其祖,遇其妣;不及其君,遇其臣;无咎。
  象曰:不及其君,臣不可过也。
  九三:弗过防之,从或戕之,凶。
  象曰:从或戕之,凶如何也。
  九四:无咎,弗过遇之。 往厉必戒,勿用永贞。
  象曰:弗过遇之,位不当也。 往厉必戒,终不可长也。
  六五:密云不雨,自我西郊,公弋取彼在穴。
  象曰:密云不雨,已上也。
  上六:弗遇过之,飞鸟离之,凶,是谓灾眚。
  象曰:弗遇过之,已亢也。
第六十三卦 既济 水火既济 坎上离下
  既济:亨,小利贞,初吉终乱。彖曰:既济,亨,小者亨也。利贞,刚柔正而位当也。 初吉,柔得中也。 
  终止则乱,其道穷也。象曰:水在火上,既济;君子以思患而预防之。
  初九:曳其轮,濡其尾,无咎。
  象曰:曳其轮, 义无咎也。
  六二:妇丧其髴,勿逐,七日得。
  象曰:七日得,以中道也。
  九三:高宗伐鬼方,三年克之,小人勿用。
  象曰:三年克之,惫也。
  六四:繻有衣袽,终日戒。
  象曰:终日戒,有所疑也。
  九五:东邻杀牛,不如西邻之禴祭,实受其福。
  象曰:东邻杀牛,不如西邻之时也;实受其福,吉大来也。
  上六:濡其首,厉。
  象曰:濡其首厉,何可久也。
第六十四卦 未济 火水未济 离上坎下
  未济:亨,小狐汔济,濡其尾,无攸利。彖曰:未济,亨;柔得中也。 小狐汔济,未出中也。 濡其尾,无攸利;不续终也。 虽不当位,刚柔应也。象曰:火在水上,未济;君子以慎辨物居方。 
  初六:濡其尾,吝。
  象曰:濡其尾,亦不知极也。
  九二:曳其轮,贞吉。
  象曰:九二贞吉,中以行正也。
  六三:未济,征凶,利涉大川。
  象曰:未济征凶,位不当也。
  九四:贞吉,悔亡,震用伐鬼方,三年有赏于大国。
  象曰:贞吉悔亡,志行也。
  六五:贞吉,无悔,君子之光,有孚,吉。
  象曰:君子之光,其晖吉也。
  上九:有孚于饮酒,无咎,濡其首,有孚失是。
  象曰:饮酒濡首,亦不知节也。
   未济卦终
 
《易经·系辞上传》
第一章
  天尊地卑,乾坤定矣。卑高以陈,贵贱位矣。 动静有常,刚柔断矣。方以类聚,物以群分,吉凶生矣。 在天成象,在地成形,变化见矣。 
  鼓之以雷霆,润之以风雨,日月运行,一寒一暑,乾道成男,坤道成女。
  乾知大始,坤作成物。
  乾以易知,坤以简能。
  易则易知,简则易从。 易知则有亲,易从则有功。 有亲则可久,有功则可大。 可久则贤人之德,可大则贤人之业。
  易简,而天下矣之理矣;天下之理得,而成位乎其中矣。
第二章
  圣人设卦观象,系辞焉而明吉凶,刚柔相推而生变化。 
  是故,吉凶者,失得之象也。 悔吝者,忧虞之象也。 变化者,进退之象也。 刚柔者,昼夜之象也。 六爻之动,三极之道也。
  是故,君子所居而安者,易之序也。 所乐而玩者,爻之辞也。是故,君子居则观其象,而玩其辞; 动则观其变,而玩其占。 是故自天佑之,吉无不利。
  
第三章
  彖者,言乎象也。爻者,言乎变者也。吉凶者,言乎其失得也。悔吝者,言乎其小疵也。 无咎者,善补过也。 
  是故,列贵贱者,存乎位。 齐小大者,存乎卦。辩吉凶者,存乎辞。忧悔吝者,存乎介。 震无咎者,存乎悔。 是故,卦有小大,辞有险易。辞也者,也各指其所之。
 
  
第四章
  易与天地准,故能弥纶天地之道。 
  仰以观於天文,俯以察於地理,是故知幽明之故。原始反终,故知死生之说。 精气为物,游魂为变,是故知鬼神之情状。
  与天地相似,故不违。 知周乎万物,而道济天下,故不过。 旁行而不流,乐天知命,故不忧。 安土敦乎仁,故能爱。
  范围天地之化而不过,曲成万物而不遗,通乎昼夜之道而知,故神无方而易无体。 
第五章
  一阴一阳之谓道,继之者善也,成之者性也。 
  仁者见之谓之仁,知者见之谓之知, 百姓日用不知; 故君子之道鲜矣!
  显诸仁,藏诸用,鼓万物而不与圣人同忧,盛德大业至矣哉!
  富有之谓大业,日新之谓盛德。
  生生之谓易,成象之谓乾,效法之谓坤,极数知来之谓占,通变之谓事,阴阳不测之谓神。
  
第六章
  夫易,广矣大矣!以言乎远,则不御;以言乎迩,则静而正;以言乎天地之间,则备矣! 
  夫乾,其静也专,其动也直,是以大生焉。夫坤,其静也翕,其动也辟,是以广生焉。
第七章
  子曰:”易其至矣乎!”夫易,圣人所以崇德而广业也。 知崇礼卑,崇效天,卑法地,天地设位,而易行乎其中矣。 成性存存,道义之门。 
第八章
  圣人有以见天下之赜,而拟诸其形容,象其物宜;是故谓之象。圣人有以见天下之动,而观其会通,以行其礼。系辞焉,以断其吉凶;是故谓之爻。 
  言天下之至赜,而不可恶也。 言天下之至动,而不可乱也。 拟之而后言,议之而后动,拟议以成其变化。
  ”鸣鹤在阴,其子和之,我有好爵,吾与尔靡之。”子曰:”君子居其室,出其言,善则千里之外应之,况其迩者乎? 居其室,出其言,不善千里之外违之,况其迩乎?言出乎身,加乎民; 行发乎远;言行君子之枢机,枢机之发,荣辱之主也。 言行,君子之所以动天地也,可不慎乎?”
  ”同人,先号啕而后笑。” 子曰: “君子之道,或出或处,或默或语,二人同心,其利断金;同心之言,其臭如兰。”
  ”初六,藉用白茅,无咎。” 子曰:”苟错诸地而可矣;席用白茅,何咎之有?慎之至也。 夫茅之为物薄,而用可重也。 慎斯术也以往,其无所失矣。”
  ”劳谦君子,有终吉。” 子曰: “劳而不伐,有功而不德,厚之至也, 语以其功下人者也。 德言盛, 礼言恭, 谦也者,致恭以存其位者也。”
  ”亢龙有悔。” 子曰:”贵而无位,高而无民,贤人在下位而无辅,是以动而有悔也。”
  ”不出户庭,无咎。” 子曰:”乱之所生也,则言语以为阶。 君不密,则失臣;臣不密,则失身;几事不密,则害成;是以君子慎密而不也也。”
  子曰:”作易者其知盗乎?易曰:”负且乘,致寇至。”负也者,小人之事也;小人而乘君子之器,盗思夺矣!上慢下暴,盗思伐之矣!慢藏诲盗,冶容诲淫,易曰:”负且乘,致寇至。”盗之招也。”
第九章
  天一地二,天三地四,天五地六,天七地八,天九地十。天数五,地数五,五位相得而各有合。天数二十有五,地数三十,凡天地之数,五十有五,此所以成变化而行鬼神也。 
  大衍之数五十,其用四十有九。分而为二以象两,挂一以象三,揲之以四以象四时,归奇於晅以象闰,故再□①而后挂。乾之策,二百一十有六。 坤之策,百四十有四。 凡三百有六十,当期之日。 二篇之策,万有一千五百二十,当万物之数也。
  是故,四营而成易,十有八变而成卦,八卦而小成。 引而伸之,触类而长之,天下之能事毕矣。
  显道神德行,是故可与酬酢,可与佑神矣。 子曰:”知变化之道者,其知神之所为乎!”
第十章
  是有圣人之道四焉, 以言者尚其辞, 以动者尚其变,以制器者尚其象,以卜筮者尚其占。 
  是以君主子将以有为也,将以有行也, 问焉而以言,其受命也如向,无有远近幽深,遂知来物。 非天下之至精,其孰能与於此。
  参伍以变,错综其数,通其变,遂马天地之文;极其数,遂定天下之象。 非天下之致变,其孰能与於此。
  易无思也,无为也,寂然不动,感而遂通天下之故。 非天下之致神,其孰能与於此。
  夫易,圣人之所以极深而研几也。 惟深也,故能通天下之志;惟几也,故能成天下之务;惟神也,故不疾而速,不行而至。 子曰: “易有圣人之道四焉”者,此之谓也。
 
第十一章
  子曰: “夫易何为者也? 夫易开物成务,冒天下之道,如斯而已者也。 是故,圣人以通天下之志,以定天下之业,以断天下之疑。” 
  是故,蓍之德,圆而神;卦之德,方以知;六爻之义,易以贡。圣人以此洗心,退藏於密,吉凶与民同患。神以知来,知以藏往,其孰能与於此哉! 古之聪明睿知神武而不杀者夫?
  是以,明於天之道,而察於民之故,是与神物以前民用。圣人以此斋戒,以神明其德夫!
  是故,阖户谓之坤; 辟户谓之乾; 一阖一辟谓之变;往来不穷谓之通; 见乃谓之象;形乃谓之器; 制而用之,谓之法;利用出入,民咸用之,谓之神。
  是故,易有太极,是生两仪, 两仪生四象, 四象生八卦,八卦定吉凶,吉凶生大业。
  是故,法象莫大乎天地;变通莫大乎四时;悬象著明莫在乎日月;崇高莫大乎富贵;备物致用,立成器以为天下利,莫大乎圣人; 探赜索隐,钩深致远,以定天下之吉凶,成天下之□②□②者,莫大乎蓍龟。
  是故,天生神物,圣人执之。 天地变化,圣人效之。 天垂象,见吉凶,圣人象之。 河出图,洛出书,圣人则之。 易有四象,所以示也。 系辞焉,所以告也。 定之以吉凶,所以断也。
第十二章
  易曰:”自天佑之,吉无不利。” 子曰:”佑者助也。天之所助者,顺也;人之所助者,信也。履信思乎顺,又以尚贤也。是以自天佑之,吉无不利也。” 
  子曰: “书不尽言,言不尽意;然则圣人之意,其不可见乎?” 子曰:”圣人立象以尽意,设卦以尽情伪,系辞焉以尽其言,变而通之以尽利,鼓之舞之以尽神。”
  乾坤其易之阆邪? 乾坤成列,而易立乎其中矣。乾坤毁,则无以见易;易不可见,则乾坤或几乎息矣。
  是故,形而上者谓之道;形而下者谓之器;化而裁之谓之变;推而行之谓之通;举而错之天下之民,谓之事业。
  是故,夫象,圣人有以见天下之赜,而拟诸形容,象其物宜,是故谓之象。圣人有以见天下之动,而观其会通,以行其典礼,系辞焉,以断其吉凶,是故谓之爻。极天下之赜者,存乎卦;鼓天下之动者,存乎辞;化而裁之,存乎变;推而行之,存乎通;神而明之,存乎其人;默而成之,不言而信,存乎德行。
 
《易经·系辞下传》
第一章
  八卦成列,象在其中矣。 因而重之,爻在其中矣。 刚柔相推,变在其中矣。 系辞焉而命之,动在其中矣。 
  吉凶者,贞胜者也。天地之道,贞观者也。日月之道,贞明者也。天下之动,贞夫一者也。
   夫乾,确然示人易矣。夫坤,聩然示人简矣。爻也者,效此者也。象也者,像此者也。
  爻象动乎内,吉凶见乎外,功业见乎变,圣人之情见乎辞。
  天地之大德曰生,圣人之大宝曰位。 何以守位曰仁。何以聚人曰财。理财正辞,禁民为非曰义。
第二章
  古者包羲氏之王天下也, 仰则观象於天, 俯则观法於地,观鸟兽之文,与地之宜,近取诸身,远取诸物,於是始作八卦,以通神明之德,以类万物之情。 
  作结绳而为网罟,以佃以渔,盖取诸离。
  包羲氏没,神农氏作,遤木为耜,揉木为耒,耒耨之利,以教天下,盖取诸益。
  日中为市,致天下之货,交易而退,各得其所, 盖取诸噬嗑。
  神农氏没,黄帝、尧、舜氏作,通其变,使民不倦,神而化之,使民宜之。 易穷则变,变则通,通则久。 是以自天佑之,吉无不利,黄帝、尧、舜,垂衣裳而天下治,盖取诸乾坤。
  刳木为舟,剡木为楫,舟楫之利,以济不通,致远以利天下,盖取诸涣。
  服牛乘马,引重致远,以利天下,盖取诸随。
   重门击輮,以待暴客,盖取诸豫。
  断木为杵,掘地为臼,臼杵之利,万民以济,盖取诸小过。
  弦木为弧,剡木为矢,弧矢之利,以威天下,盖取诸睽。
  上古穴居而野处,后世圣人易之以宫室, 上栋下宇, 以待风雨,盖取诸大壮。
  古之葬者,厚衣之以薪,葬之中野,不封不树,丧期无数,后世圣人易之以棺椁,盖取诸大过。
  上古结绳而治,后世圣人易之以书契,百官以治,万民以察,盖取诸蓏。
第三章
  是故,易者象也。 象也者,像也。 彖者材也。爻也者,效天下之动也。 是故,吉凶生,而悔吝著也。 
 
第四章
  阳卦多阴,阴卦多阳,其故何也?阳卦奇,阴卦耦。其德行何也?阳一君而二民,君子之道也。 阴二君而一民,小人之道也。 
第五章
  易曰:”憧憧往来,朋从尔思。” 子曰:”天下何思何虑? 天下同归而殊途,一致而百虑,天下何思何虑?” 
  ”日往则月来,月往则日来, 日月相推而明生焉。 寒往则暑来,暑往则寒来,寒暑相推而岁成焉。 往者屈也,来者信也, 屈信相感而利生焉。”
  ”尺蠖之屈,以求信也。 龙蛇之蛰,以存身也。 精义入神,以致用也。利用安身,以崇德也。 过此以往,未之或知也。 穷神知化,德之盛也。”
  易曰:”困于石, 据于蒺藜, 入于其宫, 不见其妻, 凶。 ” 子曰:”非所困而困焉,名必辱。 非所据而据焉,身必危。 既辱且危,死期将至,妻其可得见邪?”
  易曰:”公用射隼,于高墉之上,获之无不利。 ” 子曰:”隼者禽也,弓矢者器也,射之者人也。君子藏器於身,待时而动,何不利之有?动而不括,是以出而不获。 语成器而动者也。”
  子曰:”小人不耻不仁,不畏不义,不见利而不劝,不威不惩;小惩而大诫,此小人之福也。 易曰:”履校灭趾,无咎。”此之谓也。”
  ”善不积,不足以成名;恶不积,不足以灭身。 小人以小善为无益,而弗为也, 故恶积而不可掩, 罪大而不可解。 易曰:”履校灭耳,凶。””
  子曰:”危者,安其位者也; 亡者,保其存者也; 乱者,有其治者也。是故,君子安而不忘危,存而不忘亡,治而不忘乱;是以,身安而国家可保也。 易曰:『其亡其亡,系于包桑。””
  ”天地絪緼,万物化醇。男女构精,万物化生。 易曰:”三人行,则损一人;一人行,则得其友。” 言致一也。”
  子曰:”君子安其身而后动,易其心而后语,定其交而后求。君子修此三者,故全也。 危以动,则民不与也; 惧以语,则民不应也;无交而求,则民不与也。 莫之与,则伤之者至矣。 易曰: “莫益之,或击之,立心勿恒,凶。”
第六章
  子曰:”乾坤其易之门邪? 乾阳物也,坤阴物也。 阴阳合德,而刚柔有体,以体天地之撰,以通神明之德。 其称名也,杂而不越。 於稽其类,其衰世之意邪?” 
  子曰:”夫易,彰往而察来,而微显阐幽,开而当名,辨物正言,断辞则备矣。其称名也小,其取类也大,其旨远,其辞文,其言曲而中,其事肆而隐,因贰以济民行,以明失得之报。”
  
第七章
  易之兴也,其於中古乎? 作易者,其有忧患乎? 
  是故,履,德之基也; 谦,德之柄也; 复,德之本也;恒,德之固也;损,德之修也;益,德之裕也; 困,德之辨也;井,德之地也;巽,德之制也。
  履,和而至;谦,尊而光;复,小而辨於物;恒,杂而不厌;损,先难而后易;益,长裕而不设; 困,穷而通; 井,居其所而迁;巽,称而隐。
  履,以和行;谦,以制礼;复,以自知; 恒,以一德;损,以远害;益,以兴利;困,以寡怨;井,以辨义;巽,以行权。
  
第八章
  易之为书也,不可远;为道也,屡迁。变动不居,周流注虚,上下无常,刚柔相易,不可为曲要,唯变所适。 
  其出入以度,外内使知惧,又明於忧患与故,无有帅保,如临父母。
  初率其辞,而揆其方,既有曲常。 苟非其人,道不虚行。
第九章
  易之为书也,原始要终,以为质也。 六爻相杂,唯其时物也。 
  其初难知,其上易知,本末也。 初辞拟之,卒成之终。 若夫杂物撰德,辨是与非,则非其中爻不备。
  噫! 亦要存亡吉凶,则居可知矣。 知者观其彖辞,则思过半矣。
  二与四位,同功而异位,其善不同,二多誉,四多惧,近也。柔之为道,不利远者,其要无咎,其用柔中也。 三与五,同功而异位,三多凶,五多功,贵贱之等也。 其柔危,其刚胜邪?
第十章
  易之为书也,广大悉备,有天道焉,有人道焉,有地道焉。兼三才而两之,故六;六者非它也,三才之道也。道有变动,故曰爻;爻有等,故曰物;物相杂,故曰文;文不当,故吉凶生焉。 
  
第十一章
  易之兴也,其当殷之末世,周之盛德邪? 当文王与纣之事邪? 是故其辞危。 危者使平,易者使倾,其道甚大,百物不废。 惧以终始,其要无咎,此之谓易之道也。 
第十二章
  夫乾,天下之至健也,德行恒,易以知险。夫坤,天下之至顺也,德行恒简以知阻。 
  能说诸心,能研诸侯之虑,定天下之吉凶,成天下之亹亹者。
  是故,变化云为,吉事有祥,象事知器,占事未来。
  天地设位,圣人成能,人谋鬼谋,百姓与能。
  八卦以象告,爻彖以情言,刚柔杂居,而吉凶可见矣!
  变动以利言,吉凶以情迁。是故,爱恶相攻而吉凶生;远近相取而悔吝生,情伪相感而利害生。 凡易之情,近而不相得则凶; 或害之,悔且吝。
  将叛者,其辞惥,中心疑者其辞枝, 吉人之辞寡,躁人之辞多,诬善之人其辞游,失其守者其辞屈。
  
 
《易经·说卦传》
第一章
  昔者,圣人之作易也,幽赞神明而生蓍。 
  观变於阴阳,而立卦;发挥於刚柔,而生爻;和顺於道德,而理於义;穷理尽性,以至於命。
  
第二章
  昔者圣人之作易也,将以顺性命之理。 是以立天之道,曰阴与阳;立地之道,曰柔与刚;立人之道,曰仁与义。兼三才而两之,故易六画而成卦。 分阴分阳,迭用柔刚,故易六位而成章。 
  
第三章
  天地定位,山泽通气,雷风相薄,水火不相射,八卦相错,数往者顺,知来者逆;是故,易逆数也。 
第四章
  雷以动之,风以散之,雨以润之, 日以遯之,艮以止之,兑以说之,乾以君之,坤以藏之。 
 
  
第五章
  帝出乎震,齐乎巽,相见乎离,致役乎坤,说言乎兑,战乎乾,劳乎坎,成言乎艮。 万物出乎震,震东方也。 齐乎巽,巽东南也,齐也者,言万物之洁齐也。离也者,明也,万物皆相见,南方之卦也,圣人南面而听天下,向明而治,盖取诸此也。 坤也者地也,万物皆致养焉,故曰致役乎坤。兑正秋也,万物之所说也,故曰说;言乎兑。 战乎乾,乾西北之卦也,言阴阳相薄也。坎者水也,正北方之卦也,劳卦也,万物之所归也,故曰劳乎坎。 艮东北之卦也,万物之所成, 终而所成始也,故曰成言乎艮。 
  
第六章
  神也者,妙万物而为言者也。动万物者,莫疾乎雷;桡万物者,莫疾乎风;燥万物者,莫姤遤乎火; 说万物者,莫说乎泽;润万物者,莫润乎水;终万物始万物者,莫盛乎艮。故水火相逮,雷风不相悖,山泽通气,然后能变化,既成万物也。 
第七章
  乾,健也;坤,顺也; 震,动也; 巽,入也;坎,陷也;离,丽也;艮,止也;兑,说也。 
 
  
第八章
  乾为马,坤为牛,震为龙,巽为鸡,坎为豕,离为雉,艮为狗,兑为羊。 
  
第九章
  乾为首,坤为腹,震为足,巽为股,坎为耳,离为目,艮为手,兑为口。 
  
第十章
  乾天也,故称父,坤地也,故称母; 震一索而得男,故谓之长男;巽一索而得女,故谓之长女; 坎再索而男,故谓之中男; 离再索而得女,故谓之中女;艮三索而得男,故谓之少男;兑三索而得女,故谓之少女。 
  
第十一章
  乾为天、为圜、为君、为父、为玉、为金、为寒、为冰、为大赤、为良马、为瘠马、为驳马、为木果。 
  坤为地、为母、为布、为釜、为吝啬、为均、为子母牛、为大舆、为文、为众、为柄、其於地也为黑。
  震为雷、为龙、为玄黄、为敷、 为大涂、为长子、为决躁、为苍阆竹、为萑苇。 其於马也,为善鸣、为遤足,为的颡。 其於稼也,为反生。 其究为健,为蕃鲜。
  巽为木、为风、为长女、为绳直、 为工、为白、为长、为高、为进退、为不果、为臭。 其於人也,为寡发、为广颡、为多白眼、为近利市三倍。 其究为躁卦。
  坎为水、为沟渎、为隐伏、为矫輮、为弓轮。 其於人也,为加忧、为心病、为耳痛、为血卦、为赤。 其於马也,为美脊、为亟心、为下首、为薄蹄、为曳。其於舆也,为丁躜。 为通、为月、为盗。其於木也,为坚多心。 
  离为火、为日、为电、为中女、为甲胄、为戈兵。 其於人也,为大腹,为乾卦。 为鳖、为蟹、为蠃、为蚌、为龟。其於木也,为科上槁。
  艮为山、为径路、为小石、为门阙、为果蓏、为阍寺、为指、为狗、为鼠、为黔喙之属。 其於木也,为坚多节。
  兑为泽、为少女、为巫、为口舌、为毁折、为附决。 其於地也,刚卤。 为妾、为羊。
《易经·序卦传》
  有天地,然后万物生焉。 盈天地之间者,唯万物,故受之以屯;屯者盈也,屯者物之始生也。 物生必蒙,故受之以蒙;蒙者蒙也,物之穉也。物穉不可不养也,故受之以需;需者饮食之道也。饮食必有讼,故受之以讼。讼必有众起,故受之以师;师者众也。 众必有所比,故受之以比;比者比也。 比必有所畜也,故受之以小畜。物畜然后有礼,故受之以履。履 而泰,然后安,故受之以泰;泰者通也。 物不可以终通,故受之以否。物不可以终否,故受之以同人。 与人同者,物必归焉,故受之以大有。有大者不可以盈,故受之以谦。 有大而能谦,必豫,故受之以豫。 豫必有随,故受之以随。 以喜随人者,必有事,故受之以蛊;蛊者事也。有事而后可大,故受之以临;临者大也。 物大然后可观,故受之以观。可观而后有所合,故受之以噬嗑;嗑者合也。 物不可以苟合而已,故受之以贲;贲者饰也。 致饰然后亨,则尽矣,故受之以剥;剥者剥也。物不可以终尽,剥穷上反下,故受之以复。 复则不妄矣,故受之以无妄。有无妄然后可畜,故受之以大畜。 物畜然后可养,故受之以颐;颐者养也。不养则不可动,故受之以大过。物不可以终过,故受之以坎;坎者陷也。 陷必有所丽,故受之以离;离者丽也。
  有天地,然后有万物; 有万物,然后有男女; 有男女,然后有夫妇;有夫妇,然后有父子;有父子然后有君臣;有君臣,然后有上下;有上下,然后礼仪有所错。 夫妇之道,不可以不久也,故受之以恒;恒者久也。物不可以久居其所,故受之以遯; 遯者退也。 物不可终遯,故受之以大壮。物不可以终壮,故受之以晋;晋者进也。进必有所伤,故受之以明夷;夷者伤也。 伤於外者,必反其家,故受之以家人。家道穷必乖,故受之以睽;睽者乖也。 乖必有难,故受之以蹇;蹇者难也。物不可终难,故受之以解;解者缓也。 缓必有所失,故受之以损;损而不已,必益,故受之以益。益而不已,必决,故受之以夬; 夬者决也。决必有所遇,故受之以姤;姤者遇也。物相遇而后聚,故受之以萃;萃者聚也。 聚而上者,谓之升,故受之以升。升而不已,必困,故受之以困。 困乎上者,必反下,故受之以井。 井道不可不革,故受之以革。 革物者莫若鼎,故受之以鼎。主器者莫若长子,故受之以震;震者动也。 物不可以终动,止之,故受之以艮;艮者止也。 物不可以终止,故受之以渐;渐者进也。 进必有所归,故受之以归妹。 得其所归者必大,故受之以丰;丰者大也。穷大者必失其居,故受之以旅。 旅而无所容,故受之以巽;巽者入也。入而后说之,故受之以兑;兑者说也。 说而后散之,故受之以涣;涣者离也。物不可以终离,故受之以节。节而信之,故受之以中孚。 有其信者,必行之,故受之以小过。有过物者,必济,故受之既济。物不可穷也,故受之以未济终焉。
《易经·杂卦传》
  乾刚,坤柔,比乐,师忧。
  临、观之义,或与或求。
  屯见而不失其居。 蒙杂而著。
  震起也,艮止也;损益盛衰之始也。
  大畜时也。 无妄灾也。
  萃聚,而升不来也。 谦轻,而豫怠也。
  噬嗑食也,贲无色也。
  兑见,而巽伏也。
  随无故也,蛊则饬也。
  剥烂也,复反也。
  晋昼也,明夷诛也。
  井通,而困相遇也。
  咸速也,恒久也。
  涣离也,节止也;解缓也,蹇难也;睽外也,家人内也;否泰反其类也。
  大壮则止,遯则退也。
  大有众也,同人亲也;革去故也,鼎取新也;小过过也,中孚信也;丰多故,亲寡旅也。
  离上,而坎下也。 小畜寡也,履不处也。 需不进也,讼不亲也。
  大过颠也。 姤遇也,柔遇刚也。 渐女归,待男行也。 颐养正也,既济定也。 归妹女之终也。 未济男之穷也。 夬决也,刚决柔也,君子道长,小人道忧也。
                

Mun zu collection 孟子序說 The Confucianism Mercy Books

孟子序說
Mun zu collection 孟子序說

The Confucianism Mercy Books
mun zu collections

孟子序說 孟子序說 孟子序說
四書章句集注-孟子集注

Mun zu collection

孟子序說
《四書章句集注-孟子集注》
Mun zu collection

  孟子
  目录
  《孟子》简介
  梁惠王上
  以义治国,何必言利? 
  与民同乐 父母官的职责 
  仁者无敌
  谁能统一天下
  衣食足而知礼义 
  君子远庖厨
  不为与不能
  缘木求鱼
  梁惠王下
  小勇与大勇
  乐以天下,忧以天下
  贪财好色怎么办?
  王顾左右而言他
  听听国人怎么说
  民悦则取之,民不悦则不取
  进也民心,退也民心
  出尔反尔
  两大之间难为小 
  公孙丑上
  乘势待时,事半功倍
  浩然之气,至大至刚
  以德服人,心悦诚服
  恶湿居下,自作自受
  政策开放,国家兴旺
  人皆有不忍人之心
  选择职业,不可不慎
  从闻过则喜到与人为善 
  公孙丑下
  天时不如地利,地利不如人和
  贤才可拜不可召
  当受则受,当辞则辞
  无官无责,进退有余
  君子不以天下俭其亲
  官场与商场中的垄断现象
  当今之世,舍我其谁也?  
  滕文公上
  孟子道性善,言必称尧舜
  上行下效的实例
  劳心者治人,劳力者治于人
  滕文公下
  枉己者,未有能直人者也
  妾妇之道与大丈夫之道
  不收其道,钻穴之徒
  动机与效果的问题
  近朱者赤,近墨者黑
  胁肩诌笑,病于夏畦
  偷鸡的逻辑
  廉洁与酸腐 
  离娄上
  不以规矩,不能成方圆
  仁得天下,不仁则失
  行有不得,反求诸己
  人有恒言,天下国家
  水清濯缨,水浊濯足
  为渊驱鱼,为丛驱雀
  自暴自弃,岂不哀哉
  不要舍近求远,舍易求难
  真诚是立身之本
  眼睛是心灵的窗户
  嫂溺,援之以手
  毁誉不必太在意
  好为人师的毛病
  不孝有三,无后为大 
  离娄下
  小恩小惠,不知为政
  君臣之道,恩义为报
  中养不中,才养不才
  有所不为,而后有为
  言人不善,如后患何?
  言不必信,行不必果
  大人不失赤子之心
  深造的目的在于自得
  博学详说,将以返约
  以善养人,能服天下
  声闻过情,君子耻之
  人与禽兽的差别有多大?
  两可之间,最是为难
  逢蒙杀羿,里也有过
  西子蒙不洁,人皆掩鼻而过
  爱人者人恒爱之
  不孝有五,不顾父母
  齐人有一妻一妾
  万章上
  大孝终身慕父母
  君子也难免受骗
  以意逆志,是为得之
  君权谁授?  
  万章下
  圣人风范
  论友其德也,不可有挟
  位卑莫言高
  知人论世
  劝君不听怎么办? 
  告子上
  人性向善,犹水就下
  恻隐之心,人皆有之
  口之于味,有同嗜焉
  操则存,舍则亡
  一暴十寒与专心致志
  鱼与熊掌,不可得兼
  学问之道,求其放心
  忧指忘心,舍本逐末
  饮食之人,养小失大
  思则得之,不思则不得
  “天爵”与“人爵”
  自尊自贵,都是真贵
  杯水车薪,应怪自己
  大匠诲人,必以规矩 
  告子下
  怎样比较?
  人皆可以为尧舜
  仁义是和平的前提
  富国强兵与仁义道德
  无过无不及原则的运用
  以邻为壑,仁人所恶
  君子不亮,恶乎执?
  好善足以治天下
  生于忧患,死于安乐
  教亦多术  
  尽心上
  养性事天,修身立命
  莫非命也,顺受其正
  “求在我者”与“求在外者”
  万物旨备于我矣
  随波逐流,平庸之人
  无耻之耻,无耻矣
  耻之于人大矣
  古之贤士,乐道忘势
  穷则独善其身,达则兼善天下
  豪杰之士,虽无文王犹兴
  善政得民财,善教得民心
  良能良知,通行天下
  操心虚患,多能通达
  大人者正己而物正
  君子有三乐
  君子本色,表里如一
  圣人治天下,使有菽粟如水火
  观于海者难为水
  为谁辛苦为谁忙?
  举一废百,贼道也
  无以饥渴之害为心害
  掘井九轫不及泉,犹为弃井
  君子不素餐
  士尚志
  道德两难怎么办?
  地位对人的重要影响
  养而不爱如养猪
  君子之所以教者五
  大匠不为拙工改废绳墨
  以道殉身与以身殉道
  求教必须虚心
  真进锐者,其退速
  亲亲而仁民,仁民而爱物
  智仁难遍,当务之急  
  尽心下
  春秋无义战
  尽信书,则不如无书
  能与人规矩,不能使人巧
  民为贵,社稷次之,君为轻
  以其昭昭使人昭昭
  介然用之,茅塞顿开
  再作冯妇
  宝珠王者,殃必及身
  小才招祸,从政危险
  言语之盗,君子警惕
  人病舍其田而芸人之田
  说大人,则藐之
  养心莫善于寡欲
  狂者、狷者与好好先生
  谁来继承圣人的事业?
  ——————
  《孟子》简介
  《孟子》是记载孟子及其学生言行的一部书。
  孟子(约前372-前289),名轲,字子舆,战国中期皱国(今山东皱县东南人),离孔子的故乡曲阜不远。是著名的思想家、政治家、教育家,孔子学说的继承者,儒家的重要代表人物。
  孟子的出生距孔子之死(前479)大约百年左右。关于他的身世,流传下来的已很少,《韩诗外传》载有他母亲“断织”等故事,《列女传》载有他母亲“三迁”和“去齐”等故事,可见他得力于母亲的教育不少。据《列女传》和赵岐《孟子题辞》说,孟子曾受教于孔子的孙子子思。但从年代推算,似乎不可信。《史记.孟子荀卿列传》说他“受业子思之门人”,这倒是有可能的。无论是受业于子思也罢,孟子的学说都受到了子思的影响。所以,荀子把子思和孟子列为一派,这就是后世所称儒家中的思孟学派。
  和孔子一样,孟子也曾带领学生游历魏、齐、宋、鲁、滕、薛等国,并一度担任过齐宣王的客卿。由于他的政治主张也与孔子的一样不被重用,所以便回到家乡聚徒讲学,与学生万章等人著书立说,“序《诗》《书》,述仲尼之意,作《孟子》七篇。”(《史记.孟子荀卿列传》)今天我们所见的《孟子》七篇,每篇分为上下,约三万五千字,一共二百六十章。但《汉书.艺文志》著录“孟子十一篇”,比现存的《孟子》多出四篇。赵岐在为《孟子》作注时,对十一篇进行了鉴别,认为七篇为真,七篇以外的四篇为伪篇。东汉以后,这几篇便相继亡佚了。
  赵岐在《孟子题辞》中把《孟子》与《论语》相比,认为《孟子》是“拟圣而作”。所以,尽管《汉书.文艺志》仅仅把《孟子》放在诸子略中,视为子书,但实际上在汉代人的心目中已经把它看作辅助“经书”的“传”书了。汉文帝把《论语》、《孝经》、《 孟子》、《尔雅》各置博士,便叫“传记博士”。到五代后蜀时,后蜀主孟昶命令人楷书十一经刻石,其中包括了《孟子》,这可能是《孟子》列入“经书”的开始。后来宋太宗又翻刻了这十一经。到南宋孝宗时,朱熹编《四书》列入了《孟子》,正式把《孟子》提到了非常高的地位。元、明以后又成为科举考试的内容,更是读书人的必读书了。
  历代为《孟子》作注释比较重要的有东汉赵岐的《孟子》注和宋代朱熹的《孟子集注》。清代的焦循总结了前人的研究成果撰成《孟子正义》一书,是集大成的著作。
  孟子生活的战国中期较孔子生活的春秋末期更为变乱,社会更加动荡不安。同时,思想也更加活跃正当“百家争鸣”的时代。所以,孟子一方面继承了孔子的政治思想和教育思想等,另一方面又有所发展,形成了自己的政治和学术思想。同时,在与墨家、道家、法家等学派的激烈交锋中,孟子维护了儒家学派的理论,也确立了自己在儒学中的重要地位,成为仅次于孔子的正宗大儒。随着儒家地位的不断提高,孔子被尊为“圣人”,孟子也被称为“亚圣”。 
  与论语一样,《孟子》也是以记言为主的语录体散文,但它比《论语》又有明显的发展。《论语》的文字简约、含蓄,《孟子》却有许多长篇大论,气势磅礴,议论尖锐、机智而雄辩。如果说《论语》给人的感觉是仁者的谆谆告诫,那麽《孟子》给人的感觉就是侃侃而谈,对后世的散文写作产生了深刻的影响。 
  ——————
  以义治国,何必言利
  【原文】
  孟子见梁惠王①。王曰:“叟②!不员千里而来,亦将有以利吾国乎?”
  孟子对曰:“王!何必曰利?亦③有仁义而已矣。王曰,‘何以利吾国?’ 大夫曰,‘何以利吾家?’土庶人④曰,‘何以利吾身?’上下交征⑤利而国危矣。万乘之国,弑⑥其君者,必千乘之家;千乘之国,弑其君者,必百乘之家⑦。万取千焉,千取百焉,不为不多矣。苟⑧为后义而先利,不夺不餍⑨。未有仁而遗⑩其亲者也,未有义而后其君者也。王亦曰仁义而已矣,何必曰利?”
  【注释】
  ①梁惠王:就是魏惠王(前400-前319),惠是他的谥号。公元前370年继他父亲魏武侯即位,即位后九年由旧都安邑(今山西夏县北)迁都大梁(今河南开封西北),所以又叫梁惠王。 ②叟:老人。 ③亦:这里是“只”的意思。 ④土庶人:土和庶人。庶人即老百姓。 ⑤交征:互相争夺。征,取。 ⑥弑:下杀上,卑杀尊,臣杀君叫弑。 ⑦万乘、千乘、百乘:古代用四匹马拉的一辆兵车叫一乘,诸侯国的大小以兵车的多少来衡量。据刘向《战国策。序》说,战国末期的万乘之国有韩、赵、魏(梁)、燕、齐、楚、秦七国,千乘之国有宋、卫、中山以及东周、西周。至于千乘、百乘之家的“家”,则是指拥有封邑的公卿大夫,公卿封邑大,有兵车千乘;大夫封邑小,有兵车百乘。 ⑧苟:如果。 ⑨餍(yan):满足。 遗:遗弃,抛弃。 
  【译文】
  孟子拜见梁惠王。梁惠王说:“老先生,你不远千里而来,一定是有什麽对我的国家有利的高见吧?” 
  孟子回答说:“大王!何必说利呢?只要说仁义就行了。大王说‘怎样使我的国家有利?’大夫说,‘怎样使我的家庭有利?’一般人士和老百姓说,‘怎样使我自己有利?’结果是上上下下互相争夺利益,国家就危险了啊!在一个拥有一万辆兵车的国家里,杀害它国君的人,一定是拥有一千辆兵车的大夫;在一个拥有一千辆兵车的国家里,杀害它国君的人,一定是拥有一百辆兵车的大夫。这些大夫在一万辆兵车的国家中就拥有一千辆,在一千辆兵车的国家中就拥有一百辆,他们的拥有不算不多。可是,如果把义放在后而把利摆在前,他们不夺得国君的地位是永远不会满足的。反过来说,从来没有讲“仁”的人却抛弃父母的,从来也没有讲义的人却不顾君王的。所以,大王只说仁义就行了,何必说利呢?”
  【读解】
  是啊,何必一开口就说利呢?
  孔子不是早就说过吗?—— 
  “君子喻于义,小人喻于利。”(《论语.里仁》)
  为人处世是这样,治理国家也是这样。 
  荀子认为,盛世重义,乱世重利。(《荀子.大略篇》) 
  司马迁说自己读孟子见梁惠王,常常感叹不已:利实在是天下大乱的原因啊!(《史记.孟子荀卿列传》)
  所以,君子不言利。 这的确是儒学传统。
  不过,朱熹《孟子集注》说的好:“君子不言利并不是完全不想利,只不过不唯利是图而已。孟子之所以说的那麽坚决,是因为当时的人惟利是图不知世上有“仁义”二字,所以拔本塞源而救其弊,此圣贤之心也。”
  对于我们今天来说,利义齐飞,君子已不羞与言利,或者说,君子也要言利。但是不是也有必要多言“仁义”而“救其弊”呢? 当然,的确也不可能只说仁义而不说利,这已不合乎我们今天的现实。应该是既说利也说义,或者,还是用圣人孔子的那句话来调节,叫做—— 
  “见得思义。”(《论语.季氏》、《论语.子张》) 
  ——————
  与民同乐
  【原文】
  孟子见梁惠王。王立于沼上,顾鸿雁麋鹿,曰:“贤者亦乐此乎?”
  孟子对曰:“贤者而后乐此,不贤者虽有此,不乐也。《诗云》⑴:‘经始灵台⑵,经之营之。庶民攻⑶之,不日⑷成之。经史勿亟⑸,庶民子来⑹。王在灵囿⑺,幽鹿攸伏⑻。幽鹿濯濯⑼,白鸟鹤鹤⑽。王在灵沼⑾,於轫⑿鱼跃。’文王以民力为台为沼,而民欢乐之,谓其台曰:‘灵台’,谓其沼曰‘灵沼’,乐其有麋鹿鱼鳖。古之人与民偕乐,故能乐也。《汤誓》⒀曰:‘时日害丧⒁?予及女⒂偕亡!’民欲与之偕亡,虽有台池鸟兽,岂能独乐哉?”
  【注释】
  ⑴《诗》云:下面所引的是《诗经.大雅.灵台》,全诗共四章,文中引的是前两章。 ⑵ 经始:开始规划营造;灵台,台名,故址在今陕西西安西北。 ⑶攻:建造。 ⑷不日:不几天。 ⑸亟:急 ⑹庶民子来:老百姓像儿子似的来修建灵台。 ⑺囿:古代帝王畜养禽兽的园林。 ⑻幽鹿:母鹿;攸:同“所”。 ⑼濯(zhuo)濯:肥胖而光滑的样子。 ⑽鹤鹤:羽毛洁白的样子。 ⑾灵沼:池名。 ⑿於(wu):赞叹词;轫(ren),满。⒀《汤誓》:《尚书》中的一篇,记载商汤王讨伐夏桀是的誓师词。 ⒁时日害丧:这太阳什么时候毁灭呢?时,这;日,太阳;害,何,何时;丧,毁灭。 ⒂予及女:我和你。女同“汝”,你。 
  【译文】
  孟子拜见梁惠王。梁惠王站在池塘边上,一面顾盼着鸿雁麋鹿,等飞禽走兽,一面说:“贤人也以次为乐吗?”
  孟子回答说:“正因为是贤人才能够以次为乐,不贤的人就算有这些东西,也不能够快乐的。《诗经》说:‘开始规划造灵台,仔细营造巧安排。天下百姓都来干,几天建成速度快。建台本来不着急,百姓起劲自动来,国王游览灵园中,母鹿伏在深草丛。母鹿肥大毛色润,白鸟洁净羽毛丰。国王游览到灵沼,满池鱼儿欢跳跃。’周文王虽然用了老百姓的劳力来修建高台深池,可是老百姓非常高兴,把那个台叫做‘灵台’,把那个池叫做‘灵沼’,以那里面有麋鹿鱼鳖等珍禽异兽为快乐。古代的君王与民同乐,所以能真正快乐。相反,《汤誓》说:‘你这太阳啊,什麽时候毁灭呢?我宁肯与你一起毁灭!’老百姓恨不得与你同归于尽,即使你有高太深池、珍禽异兽,难道能独自享受快乐吗?”
  【读解】
  这一段记载很有点戏剧性。
  梁惠王正在花园中休闲散心,那个劝他不要谈利的‘叟’——孟老头又去拜见他了。他一边左顾右盼地观赏园林池台中的珍禽异兽,一边漫不经心的问:“你们这些不言利的贤人先生们觉得这园林风光,这珍禽异兽怎麽样啊?你们也会以次为乐吗?”语辞间满含奚落的味道。想不到孟老先生聪明人装糊涂,就像没有觉察出什麽来似的,反而将话就话,接过他的话头来就亮出了自己的主题:“贤者而后乐此,不贤者虽有此不乐也。”然后沿着这一正一反两条线索展开,以周文王和夏桀的典型例证作为论据,提出了当政者应“与民同乐”的思想主张。从而又一次教育了梁惠王。
  孟子的基本思想是:仁慈的政治领导人与民同乐,所以能享受到真正的快乐。残暴专制独裁者穷奢极欲,不顾老百姓的死活,其结果是自己也得不到真正的快乐。从历史的情况看,夏桀王固然没有好下场,后世的殷纣王造酒池肉林,秦始皇建阿房宫,隋炀帝修迷楼,宋徽宗筑艮岳,慈禧太后建颐和园等,大兴土木,原本都是为了享受快乐,但由于贪婪残暴,不顾人民死活,结果是民怨鼎沸,几乎没有一个有好结局,也没有一个享受到了真正的舒心的快乐。这些都证实了孟子“与民同乐”思想的正确性。
  其实与民同乐的思想对各级领导人来说都很重要,比如说,作为一个单位的领导人,是一心想中饱私囊,捞它一把,还是想致力于改善广大职工的福利,走大家共同富裕的道路,这的确是一块试金石。而实际情况是,往往那些只顾自己,不惜挺而走险的人,虽然也可能在短时间内满足自己的欲望,真的捞上了一把。但是,欲壑难填,其最终结果多半是以身试法,并不能获得真正的快乐。 
  甚至包括我们每个个人,只需要把与民同乐的“民”字稍加替换,改成“与人同乐”,对于我们立身处世都是具有非常积极意义的。我们的确看到,有的人通过千辛万苦的拼搏和奋斗,钱倒是挣了不少,可是晚景凄凉,并没有亲人乃至知心的人来与自己分享,结果是了无生趣,并不觉得人生有什麽快乐可言。相反,是穷家小户,“人亲喝口水也甜”,一家人和和美美,其乐也溶容。 
  说到底,乐的问题本来就不是一个物质的问题,而是一个精神的问题。虽然物质条件和环境的好坏可以影响精神和心理,但它毕竟不是决定的因素。决定的因素是人而不是物。如孔子:“饭疏食,饮水,曲肱枕之,乐亦在其中矣。”(《论语.述而》)又如颜回:“一箪食,一瓢饮,在陋巷,人不堪其忧,回也不改其乐。”(《论语.雍也》)不都是精神超越物质的典型吗?所以,如果精神方面出了问题,像孟子举出夏桀的例子那样,老百姓恨不得与你同归于尽,的确也是:“虽有台池鸟兽,其能独乐哉?”
  谁有快乐不愿意与人分享呢?反过来说,只有人与你分享时,你才会真正感到快乐。这恐怕是我们都会有的体验罢。
  回到孟子的思想上来,与民同乐实际上是他仁政思想的一个组成部分,具有浓厚的民族主义色彩。这一点,在以后的篇章中还会有所体会。
  ——————
  父母官的职责
  【原文】
  梁惠王曰:“寡人愿安①承教。”
  孟子对曰:“杀人以挺②与刃,有以异乎:?” 
  曰:“无以异也。”
  “以刃与政,有以异乎?”
  曰:“无以异也。” 
  曰:“庖③有肥肉,厩④有肥马,民有饥色,野有饿莩。此率兽而食人也!兽相食,且人恶⑤之;为民父母,行政,不免于率兽而食人,恶⑥在其为民父母也?仲尼曰:‘始作俑者⑦,其无后乎!’为其象⑧人而用之也。如之何其使斯民饥而死也?”
  【注释】
  ①安:乐意。 ②梃(ting):木棒。 ③庖(pao):厨房。 ④厩(jiu):马栏。 ⑤且人恶(wu)之:按现在的词序,应是“人且恶之”。且,尚且。 ⑥恶(wu):疑问副词,何,怎么。 ⑦俑(yong):古代陪葬用的土偶、木偶。 在用土偶、木偶陪葬之前,经历了一个用草人陪葬的阶段。草人只是略略像人形,而土偶、木偶却做得非常像活人。所以孔子深恶痛绝最初采用土偶、木偶陪葬的人。“始作俑者”就是指这最初采用土偶、木偶陪葬的人。后来这句话成为成语,指首开恶例的人。 ⑧象:同“像”。
  【译文】
  梁惠王说:“我很乐意听您的指教。” 
  孟子回答说:“用木棒打死人和用刀子杀死人有什么不同吗?”
  梁惠王说:“没有什么不同。”
  孟子又问:“用刀子杀死人和用政治害死人有什么不同吗?”
  梁惠王回答:“没有什么不同。”
  孟子于是说:“厨房里有肥嫩的肉,马房里有健壮的马,可是老百姓面带饥色,野外躺者饿死的人。这等于是在上位的人率领着野兽吃人啊!野兽自相残杀,人尚且厌恶它;作为老百姓的父母官,施行政治,却不免于率领野兽来吃人,那又怎么能够做老百姓的父母官呢?孔子说:‘最初采用土偶木偶陪葬的人,该是会断子绝孙吧!’这不过是因为土偶木偶太像活人而用来陪葬罢了。又怎么可以使老百姓活活地饿死呢?”
  【读解】
  现在已经不是孟子找梁惠王游说了,而是反过来,梁惠王主动向孟子请教。
  孟子也就当仁不让,再一次对梁惠王来了一次关于父母官为人民的教育。
  在孟子看来,执政者作为老百姓的父母官,让人民生活幸福是其基本的职责。相反,如果自己过着丰食足食的生活,而人民群众却在挨饿受冻,那简直就像是率领野兽吃人一样,是极大的犯罪。
  孟子的言论并不深奥,道理也是大家都懂得的,不外乎是一种民本主义的思想。问题还是出在实施上。
  梁惠王固然是实施得不好,不然怎么会出现“庖有肥肉,厩有肥马”而“民有饥色,野有饿莩”的现象呢?但是,无论是与梁惠王同时代的其它国家统治者,还是后世若干年的当权执政者,又有多少“父母官”实施得很好呢?
  这的确是千古政治的一大课题,或者说一大难题啊!
  今天我们树立人民公仆的意识,反腐倡廉,为民办实事等等,不是依然在考虑如何为人民谋利益,真正为人民服务吗? 
  所以,孟子的言论并不过时,直到今天,仍然对我们各级领导人起到警戒作用。 
  是啊,“当官不为民作主,不如回家卖红薯。”这不也是孟子思想的翻版吗?
  ——————
  仁者无敌
  【原文】
  梁惠王曰:“晋国①,天下莫强②焉,叟之所知也。及寡人之身,东败于齐,长子死焉③;西丧地于秦七百里④;南辱于楚⑤。寡人耻之,愿比死者一洒之⑥,如之何则可?”
  孟子对曰;“地方百里⑦而可以王。王如施仁政于民,省刑罚,薄税敛,深耕易耨⑧;壮者以暇日修其孝悌忠信,入以事其父兄,出以事其长上。可使制梃以达秦楚之坚甲利兵矣。
  “彼夺其民时,使不得耕耨以养其父母。父母冻饿,兄弟妻子离散,彼陷溺其民,王往而征之,夫谁与王敌?故曰:‘仁者无敌。’王请勿疑!”
  【注释】
  ①晋国:韩、赵、魏三家分晋,被周天子和各国承认为诸侯国,称三家为三晋,所以,梁(魏)惠王自称魏国也为晋国。 ②莫强:没有比它更强的。 ③东败于齐,长子死焉:公元前341年,魏与齐战于马陵,兵败,主将庞涓被杀,太子申被俘。 ④西丧地于秦七百里:马陵之战后,魏国国势渐衰,秦屡败魏国,迫使魏国献出河西之地和上郡的十五个县,约七百里地。 ⑤南辱于楚:公元前324年,魏又被楚将昭阳击败于襄陵,魏国失去八邑。 ⑥比:替,为;一:全,都;洒:洗刷。全句说,希望为全体死难者报仇雪恨。 ⑦地方百里:方圆百里的土地。 ⑧易耨:及时除草。易,疾,速,快;耨,除草。
  【译文】
  惠王说:“魏国曾一度在天下称强,这是老先生您知道的。可是到了我这时候,东边被齐国打败,连我的大儿子都死掉了;西边丧失了七百里土地给秦国;南边又受楚国的侮辱。我为这些事感到非常羞耻,希望替所有的死难者报仇雪恨,我要怎样做才行呢?”
  孟子回答说:“只要有方圆一百里的土地就可以使天下归服。大王如果对老百姓施行仁政,减免刑罚,少收赋税,深耕细作,及时除草;让身强力壮的人抽出时间修养孝顺、尊敬、忠诚、守信的品德,在家侍奉父母兄长,出门尊敬长辈上级.这样就是让他们制作木棒也可以打击那些拥有坚实盔甲锐利刀枪的秦楚军队了。
  “因为那些秦国、楚国的执政者剥夺了他们老百姓的生产时间,使他们不能够深耕细作来赡养父母。父母受冻挨饿,兄弟妻子东离西散。他们使老百姓陷入深渊之中,大王去征伐他们,有谁来和您抵抗呢?所以说:‘施行仁政的人是无敌于天下的。’大王请不要疑虑!”
  【读解】
  从一般的请教到倾诉苦衷,寻求雪耻图强的良方。梁惠王已经对孟子信任有加了。
  孟子因此也不再卖关子,而是直截了当的提出了他的仁政主张。其实还是不外乎物质生产和精神文明建设两手抓的问题。
  在物质生产方面,包括三项内容:一是刑罚,二是薄赋税,三是深耕易耨。虽然省刑罚属于法治,薄赋税属于财政,深耕易耨才属于农业生产。但说穿了,前两项的目的都是为了让老百姓能够提高劳动生产积极性,发展生产。
  在精神文明建设方面,主要还是教育问题,不过,在儒家政治的教育中,德育是第一位的,做人是第一位的,而文化知识还是第二位的,所以孟子在这里依然强调的是“孝、悌、忠、信”。
  只要这两手都抓住了,国无论大小都可以发展壮大。 
  小国可以打败大国,弱国可以战胜强国。因为,施行仁政的人是无敌于天下的。
  孟子当然也不是随便提虚劲,而是具体分析了敌对国的致命弱点,最后才鼓励惠王,请他不要怀疑自己的治国良方。
  其实,莫说梁惠王,就是我们今天听了孟子的一番阐述申说,不也是认为很有道理的吗?
  ——————
  谁能统一天下
  【原文】
  孟子见梁襄王①。出,语②人曰:“望之不似人君,就之而不见所畏焉。卒然③问曰:‘天下恶乎定?’ 
  “吾对曰:‘定于一。’
  “‘孰能一之?’
  “对曰:‘不嗜杀人者能一之。’
  “‘孰能与④之?’ 
  “对曰:‘天下莫不与也。王知夫苗乎?七八月之间旱,则苗槁矣。天油然作云,沛然下雨,则苗渤然⑤兴之矣。其如是,孰能御之?今夫天下之人牧⑥,未有不嗜杀人者也。如有不嗜杀人者也。如有不嗜杀人者,则天下之民皆引领而望之矣。诚如是也,民归之,由⑦水之就下,沛然谁能御之?’”
  【注释】
  ①梁襄王:梁惠王的儿子,名嗣,公元前318年至公元前296年在位。 ②语(yu):动词,告诉。 ③卒然:突然。卒同“猝”(cu). ④与:从,跟。 七八月:这里指周代的历法,相当于夏历的五六月,正是禾苗需要雨水的时候。 ⑤渤然:兴起的样子。渤然兴之即蓬勃地兴起。⑥人牧:治理人民的人,指国君。“牧”由牧牛、牧羊的意义引申过来。 ⑦由:同“犹”,好像,如同。
  【译文】
  孟子见了梁惠王,出来以后,告诉人说:“远看不像个国君,到了他跟前也看不出威严的样子。突然问我:‘天下要怎样才能安定?’
  “我回答说:‘要统一才会安定。’
  “他又问:‘谁能统一天下呢?’ 
  “我又答:‘不喜欢杀人的国君能统一天下。’
  “他又问:‘有谁愿意跟随不喜欢杀人的国君呢?’
  “我又答:‘天下的人没有不愿意跟随他的。大王知道禾苗的情况吗?当七八月间天旱的时候,禾苗就干枯了。一旦天上乌云密布,哗啦哗啦下起大雨来,禾苗便会蓬勃生长起来。这样的情况,谁能够阻挡的住呢?如今各国的国君,没有一个不喜欢杀人的。如果有一个不喜欢杀人的国君,那么,天下的老百姓都会伸长脖子期待着他来解救了。真象这样,老百姓归服他,就象雨水向下奔流一样,哗啦哗啦谁能阻挡的住呢?”
  【读解】
  天有不测风云,人有旦夕祸福。
  正当孟子与梁惠王越谈越投机的时候,梁惠王却一命呜呼了。
  惠王的儿子襄王继位,还是召见了一次孟子。这里记录的,就是孟子见了梁襄王后的感受和他的自述的谈话内容。 
  “望之不似人君,就之而不见所畏焉。”这两句著名的话描绘一个人不成器的样子,真是形象生动而入木三分。更为有意思的是,就是这个不成器的公子哥儿,居然一开口就问“天下恶乎定?”给人以小人说大话的感觉:他竟然也想定平定天下!值得我们注意的是,孟子并没有因为反感这人就拂袖而去或缄口不言,而是照样认真地给他来了一番关于统一天下的开导。这一点,要是换了我们就很难做到了。所谓“话不投机半句多”,我们在人际交往中往往喜怒形于色,不能掩饰自己的感情好恶。尤其是遇到自己看不惯的领导人,心里面咒骂“你算什么东西!”面子上也就难看而过不去了,没有孟老夫子那样的涵养。
  孟老夫子给梁襄王谈的其实是两个层次的内容。第一层,天下统一才能够安定。这个道理是非常简单的。天下不统一,四分五裂,战争不断,怎么可能安定呢?用以后各代的历史事实(如三国六朝等)来验证,也可以看到孟子论断的正确性。第二层,谁能统一天下?孟子说得非常简单:不喜欢杀人的人能够统一天下。用我们今天的眼光来看,谁喜欢杀人呢?除了心理变态的杀人狂而外,谁都不喜欢杀人。那岂不成了谁都可以统一天下了吗?这显然是近乎荒唐的结论。所以,我们要回到孟子谈话的具体环境和时代来理解,才不致于曲解了这位“亚圣”的本来意思。首先,孟子所说的“不嗜杀人者”是指执掌人的生死大权的国君。其次,在当时的时代,七雄纷争,战争不断。战争就要互相残杀。所以,孟子所说的“不嗜杀人者”实际上是指不喜欢战争的人,也就是世界和平的维护者,而“嗜杀人者”则是指那些战争贩子,“军国主义者”。不然的话,孟子说“今夫天下之人牧,未有不嗜杀人者也”,岂不成了个个国君都是心理变态的杀人狂吗?其实,孟子所说的道理并不深奥,正因为当时战火纷飞,征伐不断,各国的老百姓都吃够了战争的苦头,就像生活在水深火热之中一样,痛苦不堪。如果这时候有哪个国君公然树起和平的旗帜,不再让他的老百姓去打仗卖命,而营造出一派社会稳定和发展生产的局面,那天下的老百姓都会闻风而至,诚心归服了。孟子的理论依据实际上仍然是民众的心理。孟子的政治学说具有浓厚的政治心理学色彩,说穿了,还是“仁政”的思想了。
  从我们今天的研究来看,孟子的政治学说和治国方略在理论上说都非常有道理,使人听了后不得不信服。但从实践来看,则不一定适用于战国时代的特殊历史。在战争年代,军事和政治密不可分,要谋求天下统一也的确离不开军事,离不开战争本身。所以,一般国君都会认为孟子的思想过于“迂阔”而不实用,不如纵横家或兵家的计策来得实在。梁襄王显然也是这种看法。事实上,就在孟子走后不久,苏秦到了魏国,并没有费太多的口舌就说动了梁襄王参加六国合纵抗秦的计划。 
  人毕竟都是急功近利的啊,何况是在战国那个特殊的时代。
  ——————
  衣食足而知礼仪
  【原文】
  王曰:“吾惛①,不能进于是矣。愿夫子辅吾志,明以教我,我虽不敏,请尝试之。”
  曰:“无恒产②而有恒心者,惟土为能。若③民,则无恒产,因无恒心。苟无恒心,放辟邪侈④无不为已。及陷于罪,然后从而刑之是罔民⑤也。焉有仁人在位罔民而可为也?是故明君制⑥民之产,必是仰足以事父母,俯足以畜妻子;乐岁终身饱,凶年免于死亡。然后驱而之善,故民之从之也轻⑦。
  “今也制民之产,仰不足以事父母,俯不足以畜妻子;乐岁终身苦,凶年不免于死亡。此惟救死而恐不赡⑧,奚暇⑨礼仪哉? 
  “王欲行之则盍反其本矣?五亩之宅,树之以桑,五十者可以衣帛矣。鸡豚狗彘之畜,无失其时,七十者可以食肉矣。百亩之田,勿夺其时,八口之家可以无饥矣。谨庠畜之教,申之以孝悌之义,颁白者不负戴于道路矣。老者衣锦食肉,黎民不饥不寒,然而不王者,未之有也。”
  【注释】    
  ①惛:同“昏”,昏乱,糊涂。 ②恒产:可以赖以维持生活的固定财产。如土地、田园、林木、牧畜等。 ③若:转折连词,至于。 ④放:放荡。辟:同“僻”与“邪”的意思相近,均指歪门邪道;侈:放纵挥霍。放辟邪侈指放纵邪欲违法乱纪。 ⑤罔:同“网”,有“陷害”的意思。 ⑥制:订立制度、政策。 ⑦轻:轻松,容易。 ⑧赡:足够,充足。 ⑨奚暇:怎麽顾得上。奚,疑问词,怎麽,哪有。暇,余暇,空闲。
  【译文】
  齐宣王说:“我头脑昏乱,对您的说法不能作进一步的领会。希望先生开导我的心志,更明确的教我。我虽然不聪明,也不妨试它一试。”
  孟子说:“没有固定的产业收入却有固定的道德观念,只有读书人才能做到,至于一般老百姓,如果没有固定的产业收入,也就没有固定的道德观念。一旦没有固定的道德观念,那就会胡作非为,什麽事都做得出来。等到他们犯了罪,然后才去加以处罚,这等于是陷害他们。哪里有仁慈的人在位执政却去陷害百姓的呢?所以,贤明的国君制定产业政策,一定要让他们上足以赡养父母,下足以抚养妻子儿女;好年成丰衣足食,坏年成也不致饿死。然后督促他们走善良的道路,老百姓也就很容易听从了。
  “现在各国的国君制定老百姓的产业政策,上不足以赡养父母,下不足以抚养妻子儿女;好年成尚且艰难困苦,坏年成更是性命难保。到了这个地步,老百姓连保命都恐怕来不及哩,哪里还有什麽工夫来修养礼仪呢? 
  “大王如果想施行仁政,为什麽不从根本上着手呢?在五亩大的宅园中种上桑树,五十岁以上的老人都可以穿上丝绵衣服了。鸡狗猪等家禽家畜好好养起来,七十岁以上的老人都可以有肉吃了。百亩的耕地,不要去防碍他们的生产,八口人的家庭都可以吃得饱饱的了。认真地兴办学校,用孝顺父母尊敬兄长的道理反复教导学生,头发斑白的人也就不会在路上负重行走了。老年人有丝绵衣服穿,有肉吃,一般老百姓吃得饱,穿得暖,这样还不能使天下归服,是从来没有过的。”
  【读解】
  齐宣王已经完全被孟子的言语所打动,所以态度诚恳地请孟子“明以教我”,不要绕弯子了,打开窗户说亮话吧。直到这是孟子才完全正面地展开了他的治国方略和施政纲要。归结起来,也不过就是两层意思:
  第一层,有恒产才有恒心,所以要先足衣食后治礼仪。
  这就是《管子.牧民》所谓“仓廪实则知礼节,衣食足则知荣辱”的道理。
  其实,在一定程度上也合于两千年后卡尔.马克思那个伟大的发现:“人们首先必须吃、喝、住、穿,然后才能从事政治、科学、艺术、宗教等等。”
  所以,“光靠勒紧肚子闹革命”是不行的,越穷越光荣也是自欺欺人的。 
  而且,仅从社会稳定的角度来说,“无恒产者”也是最危险的因素。因此孟子认为在我们制订国民经济发展规划的时候,一定要从富民的角度出发。考虑到让老百姓过上丰衣足食,安居乐业的生活,让他们不仅能够养家糊口,而且还有一定的产业。只有做到了这一步,才谈得上进一步精神文明建设,即“治礼仪”的问题。
  讲清楚了这一层道理后,孟子才转到第二层意思,即较为具体的展示他的富民兴教的蓝图。我们不难发现,他在这里所展示的富民兴教的蓝图,几乎与他在梁惠王那里所展示的一模一样。(只是把“数口之家”改为了具体的“八口之家”,“七十者衣帛食肉”改为了“老者衣帛食肉”罢了)一个国家不能实现自己的政治抱负,又到了另一个国家。孟子就是这样,像他的前辈孔老夫子一样,东奔西走,周游列国,希望:行义以达其道“,为救世济民而不辞辛劳,甚至是”知其不可为而为之“。其积极入世的理想精神,给后世留下了深远的影响。
  从齐宣王到齐桓、晋文之事开始,以上四节在《孟子》原书中属于一章,我们为了阅读的方便把它相对分开。这一章长文,是孟子政治学说的重要篇章,其中许多名言名句,如“君子远庖厨”、“缘木求鱼”、“察秋毫之末而不见舆薪”、“是不为也非不能也”等等,甚至一些重要段落也都成了脍炙人口的文学名段,对于我们研究政治、哲学、经济、社会乃至于文学表达等等,都具有非常重要的价值。此外孟子极富心理分析色彩的谈话艺术,也值得引起我们的特别重视。在孟子的时代当然还没有什麽心理学的概念,心理分析大师弗洛依德更是两千多年后才出生,但这并不能否认孟子的心理分析技巧。自发的实践先于理论和科学的建立,这是没有什麽奇怪的。倒是我们应该对孟子的心理分析实践作为更深入的研究,以获取心理学史的珍贵资料,这才是至关重要的课题。当然已不是我们这里的任务了。 
  ——————
  君子远庖厨
  【原文】
  齐宣王①问曰:“齐桓、晋文②之事可得闻乎?”
  孟子对曰:“仲尼之徒无道桓、文之事者,是以后世无传焉。臣未之闻也。无以③,则王乎?”
  曰:“德何如,则可以王矣?”
  曰:“保民而王,莫之能御也。”
  曰:“若寡人者,可以保民乎哉?”
  曰:“可。” 
  曰:“何由知吾可也?”
  曰:“臣闻之胡龁④曰,王坐于堂上,有牵牛而过堂下者,王见之,曰:‘牛何之⑤?’对曰:‘将以衅钟⑥。’王曰:‘舍之!吾不忍其觳觫⑦,若无罪而就死地。’对曰:‘然则废衅钟与?’曰:‘何可废也?以羊易之!’不识有诸?”
  曰:“有之。”
  曰:“是心足以王矣。百姓皆以王为爱⑧也,臣固知王之不忍也。”
  王曰:“然。诚有百姓者。齐国虽褊⑨小,吾何爱一牛?即不忍其觳觫,若无罪而就死地,故以羊易之也。” 
  曰:“王无异⑩于百姓之以王为爱也。以小易大,彼恶知之?王若隐⑾其无罪而就死地,则牛羊何择焉?” 王笑曰:“是诚何心哉?我非爱其财。而易之以羊也,宜乎百姓之谓我爱也。” 
  曰:“无伤⑿也,是乃仁术也,见牛未见羊也。君子之于禽兽也,见其生,不忍见其死;闻其声,不忍食其肉。是以君子远庖厨⒀也。”
  【注释】    
  ①齐宣王:姓田,名辟疆。齐威王的儿子,齐泯王的父亲,约公元前319年至301年在位。 ②齐桓、晋文:指齐桓公、晋文公。齐桓公,春秋时齐国国君,姓姜,名小白。公元前685年至前643年在位,是春秋时第一个霸主。晋文公,春秋时晋国国君,姓姬,名重耳,公元前636至前628年在位,也是“春秋五霸”之一。 ③无以:不得已,以同“已”。 ④胡龁:人名,齐宣王身边的近臣。 ⑤之:动词,去,往。 ⑥衅钟:新钟铸成,杀牲取血涂抹钟的孔隙,用来祭祀。按照古代礼仪,凡是国家某件新器物或宗庙开始使用时,都要杀牲取血加以祭祀。 ⑦觳(hu)觫 (su):因恐惧而战栗的样子。 ⑧爱:吝啬。 ⑨褊(bian):狭小。⑩异:动词,奇怪,疑怪,责怪。 ⑾隐:疼爱,可怜。 ⑿无伤:没有关系,不要紧。 ⒀庖厨:厨房。
  【译文】
  齐宣王问道:“齐桓公、晋文公在春秋时代称霸的事情,您可以讲给我听听吗?”
  孟子回答说:“孔子的学生没有谈论齐桓公、晋文公称霸之事的,所以没有传到后代来,我也没有听说过。大王如果一定要我说。那我就说说用道德来统一天下的王道吧?”
  宣王问:“道德怎麽样就可以统一天下了呢?” 
  孟子说:“一切为了让老百姓安居乐业。这样去统一天下,就没有谁能够阻挡了。”
  宣王说:“像我这样的人能够让老百姓安居乐业吗?”
  孟子说:“能够。” 宣王说:“凭什麽知道我能够呢?”
  孟子说:“我曾经听胡 告诉过我一件事,说是大王您有一天坐在大殿上有人牵着牛从殿下走过,您看到了,便问:‘把牛牵到哪里去?’牵牛的人回答:‘准备杀了取血祭钟’。您便说:‘放了它吧!我不忍心看到它那害怕得发抖的样子,就像毫无罪过却被到处死刑一样。’牵牛的人问:‘那就不祭钟了吗?’您说:‘怎么可以不祭钟呢?用羊来代替牛吧!’—–不知道有没有这件事?”
  宣王说:“是有这件事。” 
  孟子说:“凭大王您有这样的仁心就可以统一天下了。老百姓听说这件事后都认为您是吝啬,我却知道您不是吝啬,而是因为不忍心。” 
  宣王说:“是,确实有的老百姓这样认为。不过,我们齐国虽然不大,但我怎么会吝啬到舍不得一头牛的程度呢?我实在是不忍心看到它害怕得发抖的样子,就像毫无罪过却被判处死刑一样,所以用羊来代替它。”
  孟子说:“大王也不要责怪老百姓认为您吝啬。他们只看到您用小的羊去代替大的牛,哪里知道其中的深意呢?何况,大王如果可怜它毫无罪过却被宰杀,那牛和羊又有什么区别呢?” 
  宣王笑者说:“是啊,这一点连我自己也不知道到底是一种什么心理了。我的确不是吝啬钱财才用羊去代替牛的,不过,老百姓这样认为,的确也有他们的道理啊。” 
  孟子说:“没有关系。大王这种不忍心正是仁慈的表现,只因为您当时亲眼见到了牛而没有见到羊。君子对于飞禽走兽,见到它们活着,便不忍心见到它们死区;听到它们哀叫,便不忍心吃它们的肉。所以,君子总是远离厨房。”
  【读解】
  孟子到底是从“望之不似人君”的梁襄王那里出走后才到齐国,还是先到齐国,随后才到魏国见梁惠王,这已经成了历史公案,学者们各有考证。我们姑且按《孟子》书的顺序,认为孟子是从梁襄王那里出走后才到齐国拜见齐宣王的罢。 
  齐宣王虽然不像梁惠王那样一开口就问“何以利吾国?”也不像梁惠王那个不成器的儿子口气更大地问“天下恶乎定?”而是很委婉含蓄地向大学者孟夫子请教历史问题:“齐桓、晋文之事可得闻乎?”但实际上,他所关心的仍然是同一个问题:如何称霸天下?因为齐桓公和晋文公在春秋时代都是靠“霸道”而称雄天下的。殊不知孟子所奉行的是反对霸权主义的儒学,不讲“霸道”而讲“王道”。也就是不讲武力,靠军事力量,靠战争称霸天下,而讲用道德,靠教化的力量,靠仁政统一天下,使天下人心归服。所以,孟子也就直言不讳地说:“您要问霸道,那我就不懂得。您要对王道感兴趣的话,我倒可以说一说。”好在齐宣王也还通泰随和,管他霸道、王道,只要是能称雄天下就行,也就与孟子一问一答地探讨起来了。 
  孟子依然用的是他一贯的手法,就是开心理医生诊所,从心理分析入手去抓住对方,自己掌握主动,剥茧抽丝,层层推进,迫使对方落入自己观点的觳中。这一段“君子远庖厨”的心理分析,是典型的孟子手法,精采绝伦,切中要害。它所起的作用,就是唤醒齐宣王内心“不忍”的仁慈之心。只要这种仁心被唤醒,下面的事情,什么王道啊,仁政啊,就统统有了接受的心理基础,那不过是顺理成章的事情罢了。
  所谓“君子远庖厨”,不过说的是一种不忍杀生的心理状态罢了。也就是齐宣王“以羊易牛”的心理,因为他亲眼看到了牛即将被杀的样子而没有亲眼看到羊即将被杀的样子。“眼不见为净”,所以君子远离宰鸡杀鸭的厨房。
  至于“君子远庖厨”这句话,则不是孟子的著作权,而是出自《礼记。玉藻》:“君子远庖厨,凡有血气之类弗身践也。”也就是说,凡有血气的东西都不要亲手去杀它们。汉代贾宜在《新书.礼篇》中引述了孟子的话后说》:“故远庖厨,仁之至也。”把“君子远庖厨”作为仁慈的品德加以提倡,这倒也是符合孟子的原意的。
  问题是,后世有不少人曲解了“君子远庖厨”这句话里的合理内核,也就是那种“不忍”之心,而片面轻率地说君子应该远离厨房,以此作为自己偷懒不下厨房的借口。这正如南怀谨先生已经很幽默地指出:“近代的年轻人,当太太要他到厨房里帮个小忙的时候,他就拿这句话来做挡箭牌。太太请原谅!孟老夫子说的,‘君子远庖厨’,我要做君子,你的先生不能是小人哪!于是坐在客厅沙发上看电视,等太太把热腾腾的菜饭端来。”(《孟子旁通》)
  不过,南怀谨先生的笑谈指出的只是一种情况。以我们今天见得更多的家庭状况来看,君子先生们“远庖厨”的时代似乎已远,宰鸡杀鸭无所不为了。当然,肉还是照食不误!”见其生,不忍见其死;闻其声,不忍食其肉。”都是成了迂腐。
  仁还是不仁呢? 
  那也只有等孟老夫子转世再来作心理分析了罢。
  ——————
  不为与不能
  【原文】
  王说⑴曰:“《诗》云⑵:‘他人有心,予忖度⑶之。’夫子之谓也。夫我乃行之,反而求之,不得吾心。夫子言之,于我心有戚戚⑷焉。此心之所以合于王者,何也?” 
  曰:“有复于王者曰:‘吾力足以举百钧⑸’,而不足以举一羽;‘明足以察秋毫之末⑹’,而不见舆薪⑺,则王许⑻之乎?”
  曰:“否。”
  “今恩足以及禽兽,而功不至于百姓者,独何与?然则一羽之不举,为不用力焉;舆薪之不见,为不用明焉,百姓之不见保,为不用恩焉。故王之不王,不为也,非不能也。”
  曰:“不为者与不能者之形⑼何以异?” 曰:“挟太山以超北海⑽,语人曰‘我不能’,是诚不能也。为长者折枝,语人曰‘我不能’,是不为也,非不能也。故王之不王,非挟太山以超北海之类也;王之不王,是折枝之类也。”
  ”老吾老,以及人之老;幼吾幼,以及人之幼⑾。天下可运于掌⑿。《诗》云⒀:‘刑于寡妻⒁,至于兄弟,以御⒂于家邦。’言举斯心加诸彼而已。故推恩足以保四海,不推恩无以保妻子。古之人所以大过人者无他焉,善推其所为而已矣。今恩足以及禽兽,而功不至于百姓者,独何与?”
  “权⒃,然后知轻重;度,然后知长短。物皆然,心为甚。王请度之!抑⒄王兴甲兵,危士臣,构怨⒅于诸侯,然后快于心与?” 
  王曰:“否。吾何快于是?将以求吾所大欲也。”
  【注释】    
  ⑴说:同“悦”。  ⑵《诗》云:引自《诗经.小雅.巧言》。 ⑶忖度:猜测,揣想。 ⑷戚戚:心有所动的感觉。 ⑸钧:古代重量单位,三十斤为一钧。 ⑹秋毫之末:指细微难见的东西。 ⑺舆:车子。薪:木柴。 ⑻许:赞许,同意。 ⑼形:情况,状况。 ⑽太山:泰山。北海:渤海。 ⑾老吾老幼吾幼:第一个“老”和“幼”都作动词用,老:尊敬;幼:爱护。 ⑿运于掌:在手心里运转,比喻治理天下很容易。 ⒀《诗》云:以下三句引自《诗经.大雅.思齐》。 ⒁刑:同“型”,指树立榜样,做示范。寡妻:国君的正妻。 ⒂御:治理。 ⒃权:本指秤锤,这里用作动词,指称物。 ⒄抑:选择连词,相当于现代汉语的“还是”。 ⒅构怨:结怨,构成仇恨。
  【译文】
  齐宣王很高兴地说:“《诗经》说:‘别人有什麽心思,我能揣测出。’这就是说的先生您吧。我自己这样做了,反过来想想为什麽要这样做,却说不出所以然来。倒是您老人家这麽一说,我的心便豁然开朗了。但您说我的这种心态与用道德统一天下的王道相合又怎麽理解呢?” 
  孟子说:“假如有人来向大王报告说:‘我的力量能够举得起三千斤,却拿不起一根羽毛;视力能够看得清秋天毫毛的末梢,却看不见摆在眼前的一车柴草。’大王您会相信他的话吗?”
  宣王说:“当然不会相信。”
  孟子便接着说:“如今大王您的恩惠能够施及动物,却偏偏不能够施及老百姓,是为什麽呢?一根羽毛拿不起,是不愿意用力气拿的缘故;一车柴草看不见,是不愿意用眼睛看的缘故;老百姓不能安居乐业,是君王不愿意施恩惠的缘故。所以大王您没有能够用道德来统一天下,是不愿意做,而不是做不到。”
  宣王说:“不愿意做和做不到有什麽区别呢?”
  孟子说:“要一个人把泰山夹在胳膊下跳过北海,这人告诉人说:‘我做不到。’这是真的做不到。要一个人为老年人折一根树枝这人告诉人说:‘我做不到。’这是不愿意做,而不是做不到。大王您没有做到用道德来统一天下,不是属于把泰山夹在胳膊下跳过北海的一类,而是属于为老年人折树枝的一类。 
  “尊敬自己的老人,并由此推广到尊敬别人的老人;爱护自己的孩子,并由此推广到爱护别人的孩子。做到了这一点,整个天下便会像在自己的手掌心里运转一样容易治理了。《诗经》说:‘先给妻子做榜样,再推广到兄弟,再推广到家族和国家。’说的就是要把自己的心推广到别人身上去。所以,推广恩德足以安定天下,不推广恩德连自己的妻子儿女都保不了。古代的圣贤之所以能远远超过一般人,没有别的什麽,不过是善于推广他们的好行为罢了。如今大王您的恩惠能够施及动物,却不能够施及老百姓,偏偏是为什麽呢? 
  “称一称才知道轻重,量一量才知道长短,什麽东西都是如此,人心更是这样。大王您请考虑考虑吧!难道真要发动全国军队,是将士冒着生命危险,去和别的国家结下仇怨,这样您的心里才痛快吗?” 
  宣王说:“不,我为什麽这样做心里才痛快呢?我只不过想实现我心里的最大愿望啊。”
  【读解】
  孟子关于“君子远庖厨”的一番心理分析说得齐宣王心服口服,就像我们去看医生而被诊断准确了病症了一样,于我心有戚器焉对医生悠然而生亲切之感,并得到进一步的诊断治疗。
  这一会,孟子用的是逻辑上的归谬法,先假定了两种荒唐的说法:“力足以举千钧,而不足以举一羽;明足以察秋毫之末,而不见舆薪。”齐宣王亲口对此加以否定,然后把宣王自己的做法加上去:“恩足以几禽兽,而功不至于百姓。”这样便轻而易举地使齐宣王认识到了自己存在的问题:不是不能,而是不为。也就是说,不是做不到,而是不愿做。
  当宣王对这两个概念的区别还有些不清楚时,孟子又作了生动的举例说明,这就是“挟太山以超北海”与“为长者折枝”的区别。“挟太山以超北海”是不能,是做不到,而“为长者折枝”则是愿不愿意做的问题了。说到底,关键是看你有没有朝这方面想,有没有这样一种精神。孟子的这一段分析,很容易使我们联想到毛泽东在《纪念白求恩》这篇文章中那一段著名的话:“一个人的能力有大小,但只要有这点精神,就是一个高尚的人,一个纯粹的人,一个有道德的人,一个脱离了低级趣味的人,一个有益于人民的人。”今天我们在生活中有许多这样事情,都是愿不愿意做,而不是做不做得到的问题。比如说为老年人让座,不要随地吐痰,遵守交通规则等等,的确都是“为长者折枝”举手之劳,而不是要你“挟太山以超北海”,做《封神演义》里的英雄。但我们就是生性懒惰,又缺乏“这点精神”,所以老是要去强坐,要随地吐痰,要闯红灯违反交通规则,如此等等,不一而足,都是没有想清楚“不为”与“不能”的道理。说到这里,是不是值得我们在生活小事上多加反省,多一点“为长者折枝”的精神呢? 
  回到孟子的话题上来,在讲清楚了“不为”与“不能”的问题后,他又一次施展出心理学方面的本事,对齐宣王来了一番政治行为心理学的开导,这就是著名的“老吾老,以及人之老;幼吾幼,以及人之幼”理论,“推己及人”,首先自己做起,然后推及自己的夫人、兄弟,再到整个家族和国家。说到底,这一方面合与孔子“己欲立而立人,己达立而达人”和“己所不欲,勿施于人”的忠恕之道,另一方面也合于《大学》里修身、齐家、治国、平天下的人生进修阶梯。一旦做到了这一点,“天下可运于掌”还有什麽不能统一的呢? 
  说完正题以后,孟子引用格言说:“权,然后知轻重;度,然后知长短;物皆然,心为甚。”希望齐宣王好好考虑,好好反省自己的所作所为。而最后还以“霸道”的做法、军国主义者的行为来加以反衬,刺激齐宣王逼他作出唯一正确的选择——实行仁政,推行以道德统一天下的王道。孟子在这里的做法,是由物理性的逻辑真理推及人的心理,要求齐宣王反躬自省,认识自己。我们在《论语》里已经知道,儒学非常重视人的自我反省功夫,所以曾子说:“吾日三省吾身”。在儒家看来只有经常衡量,才能认识自己,改善自己。不过,我们在这里突然想到的却是,认识自己固然需要自省,认识他人不是更需要权衡度量吗?俗话说:“虎豹不堪骑,人心隔肚皮。”谁能够造出这权衡度量人心的公平秤和标准尺子呢?让.保尔.萨特说:“他人就是你的地狱。”谁又能够知道“地狱”的长短轻重呢? 
  当然,这些都是题外话了。
  ——————
  缘木求鱼
  【原文】
  曰:“王之所大欲可得闻与?”
  王笑而不言。
  曰:“为肥甘不足于口与?轻暖不足于体与?抑为采色⑴不足视于目与?声音不足听于耳与?便嬖⑵不足使令于前与?王之诸臣皆足以供之,而王岂为是哉?”
  曰:“否。吾不为是也。”
  曰:“然则王之所大欲可知已。欲辟⑶土地,朝⑷秦楚,莅⑸中国而抚四夷也。以若所为,求若所欲⑹,犹缘木而求鱼也。” 
  王曰:“若是其甚与?” 
  曰:“殆⑺有甚焉。缘木求鱼,虽不得鱼,无后灾。以若所为,求若所欲,尽心力而为之,后必有灾。”
  曰:“可得闻与?”
  曰:“邹⑻人与楚⑼人战,则王以为孰胜?” 
  曰:“楚人胜。” 
  曰:“然则小固不可以敌大,寡固不可以敌众,弱固不可以敌强。海内之地方千里者九,齐集有其一。以一服八,何以异于邹敌楚哉?盍⑽亦反其本矣。
  “今王发政施仁,使天下仕者皆欲立于王之朝,耕者皆欲耕于王之野,商贾皆欲藏于王之市,行旅皆欲出于王之涂⑾,天下之欲疾其君者皆欲赴愬⑿于王。其若是,孰能御之?”
  【注释】    
  ⑴采色:即彩色。 ⑵便(pian)嬖(bi):君王左右被宠爱的人。⑶辟:开辟。 ⑷朝:使动用法,使……来朝。 ⑸莅(li):临。⑹若:人称代词,你。 ⑺殆:副词,表示不肯定,有“大概”、“几乎”、“可能”等多种含义。 ⑻皱:国名,就是当时的邾国,国土很少,首都在今山东皱县东南的邾城。 ⑼楚:即楚国,春秋和战国时期都是大国。⑽盍:“何不”的合音字,为什么不。 ⑾涂:同“途”。 ⑿愬(su):通“诉”,控告。
  【译文】
  孟子说:“大王的最大愿望是什么呢?可以讲给我听听吗?”
  齐宣王笑了笑,却不说话。
  孟子便说:“是为了肥美的食物不够吃吗?是为了轻暖的衣服不够穿吗?还是为了艳丽的色彩不够看呢?是为了美妙的音乐不够听吗?还是为了身边伺候的人不够使唤呢?这些,您手下的大臣都能够尽量给您提供,难道您还真是为了这些吗?” 
  宣王说:“不,我不是为了这些。”
  孟子说:“那么,您的最大愿望便可以知道了,您是想要扩张国土,使秦、楚这些大国都来朝贡您,自己君临中国,安抚四方落后的民族。不过,以您现在的做法来实现您现在的愿望,就好像爬到树上去捉鱼一样。” 
  宣王说:“竟然有这样严重吗?”
  孟子说:“恐怕比这还要严重哩。爬上树去捉鱼,虽然捉不到鱼,却也没有什么后患。以您现在的做法来实现您现在的愿望,费劲心力去干,一定会有灾祸在后头。”
  宣王说:“可以把道理说给我听听吗?” 
  孟子说:“假定皱国和楚国打仗,大王认为哪一国会打胜呢?”
  宣王说:“当然是楚国胜。” 
  孟子说:“显然,小国的确不可以与大国为敌,人口很少的国家的确不可以与人口众多的国家为敌,弱国的确不可以与强国为敌。中国的土地,方圆千里的共有九块,齐国不过占有其中一块罢了。想用这一块去征服其他八块,这跟皱国和楚国 打仗有什么区别呢?大王为什么不回过来好好想一想,从根本上着手呢?”
  “现在大王如果能施行仁政,使天下做官的人都想到您的朝廷上来做官,天下的农民都想到您的国家来种地,天下做生意的人都想到您的国家来做生意,天下旅行的人都想到您的国家来旅行,天下痛恨本国国君的人都想到您这儿来控诉。果真做到了这些,还有谁能够与您为敌呢?”
  【读解】
  上一节 宣王向孟子否认说,自己并不是一定要动用军事,发动战争心里才痛快,而是因为要实现自己心里的最大愿望,不得已而为之。孟子于是又一次不失时机地抓住了他的心理活动,问他的最大愿望到底是什么。 宣王已 教了孟子的厉害,所以笑而不答,不好意思说出自己的想法了。孟子果然厉害,你不说,他照样分析不误。而且是欲擒故纵,先虚设幌子,一连串问了五个不是问题的问题。这五个问题,在过去是属于声色狗马之类,用我们今天的说法,是属于个人生活中的物质享受或者说物欲方面的东西,诸如彩色电视机够不够大,组合音响够不够好,有没有不在话下。这些问题怎么会是一个国王心中最大的追求呢?孟子显然是在虚晃一枪。所以,当 宣王否定说自己不是为了这些时,孟子马上就收回花枪,切入正题,以他心理分析大师的水平,一下子和盘端出了宣王心中最大的愿望、最大的秘密。然后不等宣王承认与否就直杀本质,指出宣王已犯了一个最大的错误——缘木求鱼,爬到树上去捉鱼。
  缘木求鱼的荒唐性谁人不知呢?所以宣王说:“我难道有如此荒唐,错得如此严重吗?”心想,你莫不是在危言耸听吧。殊不知孟子告诉他说,不仅有如此荒唐,如此严重,而且问题还远远超过了缘木求鱼。这就是孟子的本事,铺张扬厉,逐步升级,让你听他说话连坐也坐不安稳。我们完全可以想象,那 宣王一听这话,真是吃惊不小,一下子跳了起来,也不顾国王的矜持和威严了,马上脱口而出:“可得闻与?”可以说给我听听吗?
  这下还有什么问题呢?孟子已完全掌握了说话的主动权,于是便把 宣王原本所想的靠战争来解决问题的“霸道”做法与自己要向他灌输的靠仁政来解决问题的“王道”做法作了一个对比,并指出两种做法的两种不同结局。
  这一节的最精彩和最深刻处是缘木求鱼的比喻。它不仅警醒了 宣王,而且成了后世千百年来大家常常引用的成语。就是到我们今天,也仍然有启发而“唤醒”的意义。还是以进入市场经济体制后读书人是否“下海”的问题为例。所谓“金钱不是万能的但没有金钱却是万万不能的。”所以,“君子不羞于言利”,甚而至于追求利,希望挣大钱,发大财。这些都是可以理解的,都不是问题。问题在于,到底如何来挣大钱,发大财?是不是“工农商学兵,一起做生意“,如我们在前面已经多次提到过,大家都“弃文经商”、“弃教经商”、“弃农经商”、“弃学经商”,甚至放下武器去经商或者就做起军工军火生意来了才是唯一出路呢?当然不是。如果真这样做,那才是缘木求鱼,“殆有甚焉!”不仅搞乱了文明社会越来越精细的社会分工,而且也压抑了各行各业专家的所长,浪费了人才。就个人来说,也浪费了自己。以其中最典型的例子即教授下“跳蚤市场”,教授卖馄钝来看,且不说有辱斯文的问题,就从挣钱的角度来看,废己所长,行己所短,不是“缘木求鱼”又是什么呢? 
  所以,缘木求鱼的道理没有什么深奥,大家都一说就懂,甚至不言而喻。可是在实№生活中,我们中的许多人,包括一些修养不低的人,稍微不注意就爬上树去了而自己还没有意识到,当人家问他干什么时,他还会理直气壮地高声回答:让我们捉鱼去!
  捉鱼固然是不错,但你怎么爬上树去了呢?树上有鱼只有两种情况:一是在童话世界里,二是沧海桑田变化,在树上留下了鱼的化石。不然的话,你去捉什么呢? 
  ——————
  小勇与大勇
  【原文】
  齐宣王问曰:“交邻国有道乎?”
  孟子对曰:“有。惟仁者为能以大事小,是故汤事葛⑴,文王事昆夷⑵;惟智者为能以小事大,故大王事獯鬻⑶,句践事吴⑷。以大事小者,乐天者也;以小事大者,畏天者也。乐天者保天下,畏天者保其国。诗云:‘畏天之威,于时保之⑸。’” 
  王曰:“大哉言矣!寡人有疾,寡人好勇。”
  对曰:“王请无好小勇。夫抚剑疾视曰,‘彼恶敢当我哉’!此匹夫之勇,敌一人者也。王请大之! 
  “《诗》云⑹:‘王赫斯⑺怒,爰⑻整其旅,以遏徂莒⑼,以笃周祜⑽,以对于天下。’此文王之勇也。文王一怒而安天下之民。 
  “《书》曰⑾:‘天降下民,作之君,作之师。惟曰其助上帝,宠之四方。有罪无罪,惟我在,天下曷敢有越厥⑿志?’一人衡行⒀于天下,武王耻之。此武王之勇也。而武王亦一怒而安天下之民。今王亦一怒而安天下之民,民惟恐王之不好勇也。”
  【注释】    
  ⑴汤事葛:汤,商汤,商朝的创建人。葛,葛伯,葛国的国君。葛国是商紧邻的小国,故城在今河南宁陵北十五里处。 ⑵文王事昆夷:文王,周文王。昆夷,也写作“混夷”,周朝初年的西戎国名。 ⑶太王事獯(xun)鬻(yu):太王,周文王的祖父,即古公 父。獯鬻又称猃狁,当时北方的少数民族。⑷勾践:春秋时越国国君(公元前497年至前465年在位)。吴:指春秋时吴国国君夫差。 ⑸畏天之威:,于时保之:引自《诗经。周颂。我将》。⑹《诗云》:以下诗句引自《诗经。大雅。皇矣》。⑺赫斯:发怒的样子。⑻爰:语首助词,无义。 ⑼遏:止;徂(cu):往,到。莒:古国名,在今山东莒县,公元前431年被楚国消灭。 ⑽笃:厚;祜:福。 ⑾《书》曰:书,《尚书》,以下引文见伪《古文尚书。周书。泰誓》。⑿厥:用法同“其”。 ⒀衡行:即“横行”。
  【译文】
  齐宣王问道:“和邻国交往有什么讲究吗?” 
  孟子回答说:“有。只有有仁德的人才能够以大国的身分侍奉小国,所以商汤侍奉大国,周文王侍奉昆夷。只有有智慧的人才能够以小国的身分侍奉大国,所以周太王侍奉獯鬻,越王勾践侍奉吴王夫差。以大国身分侍奉小国的,是以天命为乐的人;以小国身分侍奉大国的,是敬畏天命的人。以天命为乐的人安定天下,敬畏天命的人安定自己的国家。《诗经》说:‘畏惧上天的威灵,因此才能够安定。’”
  宣王说:“先生的话可真高深呀!不过,我有个毛病,就是逞强好勇。”
  孟子说:“那就请大王不要好小勇。有的人动辄按剑瞪眼说:‘他怎么敢抵挡我呢?’这其实只是匹夫之勇,只能与个把人较量。大王请不要喜好这样的匹夫之勇! 
  “《诗经》说:‘文王义愤激昂,发令调兵遣将,把侵略莒国的敌军阻挡,增添了周国的吉祥,不辜负天下百姓的期望。’这是周文王的勇。周文王一怒便使天下百姓都得到安定。
  “《尚书》说:‘上天降生了老百姓,又替他们降生了君王,降生了师表,这些君王和师表的唯一责任,就是帮助上帝来爱护老百姓。所以,天下四方的有罪者和无罪者,都由我来负责,普天之下,何人敢超越上帝的意志呢?’所以,只要有一人在天下横行霸道,周武王便感到羞耻。这是周武王的勇。周武王也是一怒便使天下百姓都得到安定。如今大王如果也做到一怒便使天下百姓都得到安定,那么,老百姓就会唯恐大王不喜好勇了啊。” 
  【读解】
  本章涉及两个方面的问题,一是外交策略;二是匹夫之勇与大勇的问题。
  此前我们看到孟子的谈论,主要是内政问题,而这一次齐宣王开口便问:“交邻国有道乎?”直端端地把问题引向了外交。孟子于是作出了他的外交策略阐述。归结起来,就是大国要仁,不要搞大国沙文主义和霸权主义,而要和小国友好相处。另一方面,小国要智,不要搞闭关锁国,不要夜郎自大,而要和大国搞好外交关系。做到了这两方面,那么,就会出现大国安定天下,小国安定国家的世界和平格局。而做到这两方面的心理基础,便是大国以天命为乐,顺应“天地生万物”的好生之德,不欺负弱小,替天行道;小国敬畏天命,服从天命,不与大国为敌,以维护自己的生存。这里的天命不一定作神秘化的理解,而就是历史、地理条件和时代形成的国际大趋势。
  孟子在这里所阐述的外交策略并不深奥,其中大国、小国的做法,在后世乃至于今天也仍然是有参考意义的。
  不过,齐宣王对孟子所说的这一套却感到有点不得要领。因为,作为战国时代的一位国君,齐宣王所眼见的和亲历的国与国之间的问题多半都是靠战争来解决的,那可真有点“强权就是真理”的味道。而现在照孟老夫子的一套说来,无论你是大国还是小国,似乎都不应该打仗,不该进行军事力量的较量了。根据以前和孟子的多次谈话,他已经领教过了,知道孟子说话总是会有一连串的道理,所以也不好说孟子说得不对。于是,他采用了一个自认为高明的以退为进的办法,一方面赞扬孟子的话高深,有道理;另一方面却自我批评说自己有毛病,恐怕难以接受孟子的高论。 
  孟子岂会不知道齐宣王心里到底在想什么。只需要把话锋轻轻一转,一下子就抓住了齐宣王,继续展开宏论。 
  齐宣王说自己的好勇,孟子便说好勇也没有关系,只要不是好小勇就行了。于是便连带进行了关于大勇与小勇问题的阐述。 
  小勇就是我们常说的匹夫之勇。这种匹夫之勇是一种血气之怒,动辄以性命相拼,而是以理义相斗。 
  从效果来说,小勇敌一人,大勇安天下。 
  从实例来说,莽张飞、黑李逵是小勇,刘皇叔、宋公明是大勇。在一定意义上,楚霸王也是小勇,而汉高祖却是大勇。对我们来说,孟子关于小勇和大勇的论述的确是可以使我们耳目一新并有所启迪的。比如说我们见到那些在大街上、公共汽车上动辄提劲逞勇的人,包括那些车匪路霸,一副亡命徒的样子,其实不过是“小勇”罢了,没有什么了不起。只要我们以社会公理为武器,大家挺身而出,往往也就可以战胜那些人的“匹夫之勇”,保护我们的安全和社会秩序的安定。
  说到底,真正的勇不是斗力而是斗智,不是斗血气而是斗理义。当然,在斗的过程中难免会有牺牲,如果大家都怕牺牲,当然也就胜负难卜,甚至有让“小勇”逞强得势的时候了。
  ——————
  乐以天下,忧以天下
  【原文】
  齐宣王见孟子于雪宫①。王曰:“贤者亦有此乐乎?” 
  孟子对曰:“有。人不得,则非②其上矣。不得而非其上者,非③也;为民上而不与民同乐者,亦非也。乐民之乐者,民亦乐其乐;忧民之忧者,民亦忧其忧。乐以天下,忧以天下,然而不王者,未之有也。 
  “昔者齐景公④问于晏子⑤曰:‘吾欲观于转附、朝舞⑥,遵海而南,放于琅邪⑦。吾何修而可以比于先王观也?’ 
  晏子对曰:‘善哉问也!天子适诸侯曰巡狩,巡狩者巡所守也;诸侯朝于天子曰述职,述职者述所职也。无非事者。春省耕而补不足,秋省敛而助不给。夏谚曰:“吾王不游,吾何以休?吾王不豫⑧,吾何以助?一游一豫,为诸侯度。”今也不然:师行而粮食,饥者弗食,劳者弗息。睊睊胥谗⑨,民乃作慝⑩。方命⑾虐民,饮食若流。流连荒亡,为诸侯忧。从流下而忘反谓之流,从流上而忘反谓之连,从兽无厌谓之荒,乐酒无厌谓之亡。先王无流连之乐,荒亡之行。惟君所行也。’ 
  景公悦,大戒⑿于国,出舍于郊。于是始兴发补不足。召大师⒀曰:‘为我作君臣相说之乐!’盖《徴招》、《角招》⒁是也。其诗曰:‘畜君何尤⒂?’畜君者,好君也。”
  【注释】    
  ①雪宫:齐宣王的离宫(古代帝王在正宫以外临时居住的宫室,相当于当今的别墅之类)。 ②非:动词,认为……非,即非难,埋怨。 ③非:不对,错误。 ④齐景公:春秋时代齐国国君,公元前547年至前490年在位。 ⑤晏子:春秋时齐国贤相,名婴,《晏子春秋》一书记载了他的事迹和学说。 ⑥转附、朝舞 :均为山名 ⑦琅邪:山名,在今山东省诸城东南。 ⑧豫:义同“游”。⑨睊睊:因愤恨侧目而视的样子;⑩胥:皆,都;谗:毁谤,说坏话。 慝:恶。 ⑾方命:违反命令。方,反,违反。 ⑿大戒:充分的准备。 ⒀大师:读为“太师”,古代的乐官。 ⒁《徴招》、《角招》: 与角是古代五音(宫、商、角、徴、羽)中的两个,招同“韶”,乐曲名。 ⒂蓄(xu):爱好,喜爱。尤:错误,过失。
  【译文】
  齐宣王在别墅雪宫里接见孟子。宣王说:“贤人也有在这样的别墅里居住游玩的快乐吗?” 
  孟子回答说:“有。人们要是得不到这种快乐,就会埋怨他们的国君。得不到这种快乐就埋怨国君是不对的;可是作为老百姓的领导人而不与民同乐也是不对的。国君以老百姓的忧愁为忧愁,老百姓也会以国君的有愁为忧愁。以天下人的快乐为快乐,以天下人的忧愁为忧愁,这样还不能这样还不能够使天下归服,是没有过的。 
  “从前齐景公问晏子说:‘我想到转附、朝舞两座山去观光游览,然后沿着海岸向南行,一直到琅邪。我该怎样做才能够和古代圣贤君王的巡游相比呢?’ 
  “晏子回答说:‘问得好呀!天子到诸侯国家去叫做巡狩。巡狩就是巡视各诸侯所守疆土的意思。诸侯去朝见天子叫述职。述职就是报告在他职责内的工作的意思。没有不和工作有关系的。春天里巡视耕种情况,对粮食不够吃的给予补助;秋天里巡视收获情况,对歉收的给予补助。夏朝的谚语说:“我王不出来游历,我怎么能得到休息?我王不出来巡视,我怎么能得到赏赐?一游历一巡视,足以作为诸侯的法度。”现在可不是这样了,国君一出游就兴师动众,索取粮食。饥饿的人得不到粮食补助,劳苦的人得不到休息。大家侧目而视,怨声载道,违法乱记的事情也就做出来了。这种出游违背天意,虐待百姓,大吃大喝如同流水一样浪费。真是流连荒亡,连诸侯们都为此而忧虑。什么叫流连荒亡呢?从上游向下游的游玩乐而忘返叫做流;从下游向上游的游玩乐而忘返叫做连;打猎不知厌倦叫做荒;嗜酒不加节制叫做亡。古代圣贤君王既无流连的享乐,也无荒亡的行为。至于大王您的行为,只有您自己选择了。’
  “齐景公听了晏子的话非常高兴,先在都城内作了充分的准备,然后驻扎在郊外,打开仓库赈济贫困的人。又召集乐官说:‘给我创作一些君臣同乐的乐曲!’这就是《徴招》、《角招》。其中的歌词说:‘畜君有什么不对呢?’‘畜君’,就是热爱国君的意思。”
  【读解】
  这一章的核心还是“与民同乐”的问题,只不过角度有所不同罢了。 
  在《梁惠王上》篇里孟子见梁惠王于沼上时已经谈到过“古之人与民偕乐,故能乐也”的问题。在本篇中,孟子也曾与齐宣王两次讨论过“与民同乐”的问题。一次是在谈到欣赏音乐时,孟子告诉齐宣王,只要能够做到与民同乐,无论是喜爱古典音乐还是流行音乐都是好事而不是坏事。(2.1)另一次是在谈到皇家园林的大小时,孟子告诉齐宣王,如果与民同乐,向老百姓开放,皇家园林再大(如周文王的方圆七十里),老百姓也不会嫌它大。如果不与民同乐,不准老百姓进入,皇家园林再小(如齐宣王的方圆四十里),老百姓也会嫌它大。(2.2)所以,本章其实是孟子第三次与齐宣王讨论“与民同乐”的问题了。
  这一次讨论的特点是不仅说到乐,而且还从乐说到忧,所谓“乐以天下,忧以天下”,更为完整地显示了孟子政治学说中的民本主义思想。 
  这也使我们想到,宋人范仲淹《岳阳楼记》中那传诵千古的名句——“先天下之忧而忧,后天下之乐而乐”——不正是从孟子这里的“乐以天下,忧以天下”而生发出来的吗?
  不过,从“乐以天下,忧以天下”的与民同乐同忧到“先”天下之忧而忧,“后”天下之乐而乐,的确注入了更为强烈的使命感和自我牺牲精神,而且,也更具有一种浓厚的悲剧意识。所以,它能更为激动人心地为人们所传诵。
  直到今天,当我们说到什么人为人民大众的利益而牺牲时,还会想到这两句名言。 
  追根溯原,其实还是一种“以民为本”的思想在影响着我们的认识,激动着我们的感情。而这一点,又不能不回到作为孟子“仁政”理论重要组成部分之一的“与民同乐”思想上来。 
  ——————
  贪财好色怎么办?
  【原文】
  齐宣王问曰:“人皆谓我毁明堂①。毁诸?已乎②?” 
  孟子对曰:“夫明堂者,王者之堂也。王欲行王政,则勿毁之矣。”王曰:“王政可得闻与?” 
  对曰:“昔者文王之治岐③也,耕者九一④,仕者世禄,关市讥而不征⑤,泽梁⑥无禁,罪人不孥⑦。老而无妻曰鳏。老而无夫曰寡。老而无子曰独。幼而无父曰孤。此四者,天下之穷民而无告者。文王发政施仁,必先斯四者。诗云:‘哿矣富人,哀此茕独⑧。’”王曰:“善哉言乎!” 
  曰:“王如善之,则何为不行?”王曰:“寡人有疾,寡人好货。” 
  对曰:“昔者公刘⑨好货;《诗》云⑩:‘乃积乃仓,乃裹糇粮⑾,于橐于囊⑿。思戢用光⒀。弓矢斯张,干戈戚扬⒁,爰方启行⒂。’故居者有积仓,行者有裹粮也,然后可以爰方启行。王如好货,与百姓同之,于王何有?”王曰:“寡人有疾,寡人好色。” 
  对曰:“昔者大王好色,爱厥⒃妃。〈诗〉云⒄:‘古公亶父⒅,来朝走马,率西水浒⒆,至于岐下。爰及姜女⒇,聿来胥宇(21)。’当是时也,内无怨女,外无旷夫(22)。王如好色,与百姓同之,于王何有?”
  【注释】    
  ⑴明堂:为天子接见诸侯而设的建筑。这里是指泰山明堂,是周天子东巡时设,至汉代还有遗址。 ⑵已:止,不。 ⑶岐:地名,在今陕西岐山县一带。 ⑷耕者九一:指井田制。把耕地划成井字形,每井九百亩,周围八家各一百亩,属私田,中间一百亩属公田,由八家共同耕种,收入归公家,所以叫九一税制。 ⑸关:道路上的关卡,近于现代“海关”的概念。市:集市。讥:稽查。征:征税。 ⑹泽梁:在流水中拦鱼的设备。 ⑺驽(nu):本指妻子儿女,这里用作动词,不孥即指不牵连妻子儿女。 ⑻哿(ge)矣富人,哀此茕(qiong)0独:引自《诗经.小雅。正月》。哿,可以。茕:孤单。 ⑼公刘:人名,后稷的后代,周朝的创业始祖。 ⑽《诗》云:引自《诗经。大雅。公刘》。 ⑾堠(hou)粮:干粮。 ⑿橐(tuo)囊:都是盛物的东西,囊大橐小。 ⒀v思:语气词,无义。戢:同“辑”,和睦。用:因而。光:发扬光大。 ⒁干戈戚扬:四种兵器。 ⒂爰方启行:爰,于是;方,开始;启行:出发。 ⒃厥:代词,他的,那个。 ⒄《诗》云:引自《诗经。大雅。绵》。 ⒅古公亶父:即周文王的祖父周太王。 ⒆率:循者。浒:水边。 ⒇爰:语首词,无义。姜女:太王的妃子。也称太姜。  (21)聿:语首词,无义。胥:动词,省视,视察。宇:屋宇。 (22)怨女:未出嫁的老处女。旷夫:未娶妻的单身汉。古代女子居内,男子居外,所以以内外代指。
  【译文】
  齐宣王问道:“别人都建议我拆毁明堂,究竟是拆毁好呢?还是不拆毁好呢? 
  孟子回答说:“明堂是施行王政的殿堂。大王如果想施行王政,就请不要拆毁它吧。”   宣王说:“可以把王政说给我听听吗?” 
  孟子回答说:“从前周文王治理岐山的时候,对农民的税率是九分抽一;对于做官的人是给予世代承袭的俸禄;在关卡和市场上只稽查,不征税;任何人到湖泊捕鱼都不禁止;对罪犯的处罚不牵连妻子儿女。失去妻子的老年人叫做鳏夫;失去丈夫的老年人叫做寡妇;没有儿女的老年人叫做独老;失去父亲的儿童叫做孤儿。这四种人是天下穷苦无靠的人。文王实行仁政,一定最先考虑到他们。《诗经》说:‘有钱人是可以过得去了,可怜那些无依无靠的孤人吧。” 
  宣王说:“说得好呀!” 
  孟子说:“大王如果认为说得好,为什么不这样做呢?” 
  宣王说:“我有个毛病,我喜爱钱财。” 
  孟子说:“从前公刘也喜爱钱财。《诗经》说:‘收割粮食装满仓,备好充足的干粮,装进小袋和大囊。紧密团结争荣光,张弓带箭齐武装。盾戈斧铆拿手上,开始动身向前方。’因此留在家里的人有谷,行军的人有干粮,这才能够率领军队前进。大王如果喜爱钱财,能想到老百姓也喜爱钱财,这对施行王政有什么影响呢?” 
  宣王说:“我还有个毛病,我喜爱女色。” 
  孟子回答说:“从前周太王也喜爱女色,非常爱他的妃子。《诗经》说:‘周太王古公亶父,一大早驱驰快马。沿着西边的河岸,一直走到岐山下。带着妻子姜氏女,勘察地址建新居。’那时,没有找不到丈夫的老处女,也没有找不到妻子的老光棍。大王如果喜爱女色,能想到老百姓也喜爱女色,这对施行王政有什么影响呢?” 
  【读解】
  孟子在这里所说的王政也就是前面给梁惠王说的王道,王政就是王道之政,用仁德来统一天下的政治,实际上也就是他的另一个术语——仁政。 
  与孔子一样,孟子也是言必称文、武、周公的。所以,他在这里向齐宣王介绍王道政治时也是以文王治理岐山的政策为依据的。这里的话虽不长,但包含的内容却是很广,牵涉到农业税收、官吏制度、商业政策、渔业开放、刑法制度等等,尤其是最后还重点说到了社会福利的问题。 
  按照孟子的思想,制国平天下的人不可不重视社会福利事业。敬老院、孤儿院等应大大加强,养老保险、人身保险等等也应该提上议事日程。当然,是不是还应该开设婚姻介绍所,甚至是是老年婚姻介绍所,这就不是孟老夫子所能想象的了。 
  当孟子描绘出周文王的仁政图景时,齐宣王不由的脱口而出,赞扬孟子所说的是“善哉言呼!”然而,有意思的是,当孟子自以为抓住了时机问齐宣王为什么不向周文王学习,施行仁政时,齐宣王竟然又一次找出遁词来,从上一次孟子劝他采取和平共处外交政策时的“寡人好勇”上升到说“寡人好货”,乃至于“寡人好色”来了。大有自甘堕落,自认是孔子的学生宰我“朽木不可雕也,粪土之墙不可杌也”的味道。用我们今天的话来说:“我贪财好色!”我就是这么不成器,你难道还要我实行你那高深廉洁的王道或仁政吗?殊不知孟子就是孟子,莫说你贪财好色,你就是说你“好杀”,是杀人狂,他也会告诉你说,喜欢杀人杀人不要紧,只要你杀的是十恶不赦的坏人!周武王不就逼杀了殷纣王吗?所以,针对齐宣王说自己“好货”、“好色”的问题,孟子又展开了谈天说地口,同样找出了史证,说周朝的始祖公就“好货”,而文王的祖父古公亶父就“好色”。当然,最关键的两句话依然是:“王如好货,与百姓同之,与王何有?”“王如好色,与百姓同之,与王何有?”一言以蔽之,还是“与民同乐”的思想,或者准确一点说,是“与民同欲”。看来,在孟子的心目中,只要你这做国君的是与老百姓同甘共苦的,干什么都是不会错的! 
  当然,我们也知道,作为儒家学派主要代表之一的“亚圣”孟子是奉行中庸之道,而不会如此走极端的。他之所以退让,如此纵容齐宣王,任齐宣王说什么他都顺水推舟,打蛇随棍上,其实是采用的欲擒故纵手法,使齐宣王没有退路,难以遁出王道政治的“彀中”。其用心良苦,实在值得我们今天的读书人细心体会。而不要捡了半句就开跑,以“亚圣”孟子曾经说过贪财好色没有关系为依据,使自己成为惟利是图的贪财小人和拈花惹草的好色之徒。 
  ——————
  王顾左右而言他
  【原文】
  孟子谓齐宣王曰:“王之臣有托其妻子于其友,而之楚游者。比其反也①,则②冻馁其妻子,则如之何?” 王曰:“弃之。” 曰:“士师③不能治士,则如之何?” 王曰:“已之。” 曰:“四境之内不治,则如之何?” 王顾左右而言他。
  【注释】    
  ①比(bi):及,至,等到。反:同“返”。 ②则:这里的用法是表示事情的结果。 ③士师:司法官。
  【译文】
  孟子对齐宣王说:“如果大王您有一个臣子把妻子儿女托付给他的朋友照顾,自己出游楚国去了。等他回来的时候,他的妻子儿女却在挨饿受冻。对待这样的朋友,应该怎么办呢?”
  齐宣王说:“和他绝交!”
  孟子说:“如果您的司法官不能管理他的下属,那应该怎么办呢?” 
  齐宣王说:“撤他的职!”
  孟子又说:“如果一个国家的治理得很糟糕,那又该怎么办呢?” 
  齐宣王左右张望,把话题扯到一边去了。 
  【读解】
  这是一段非常精彩的小品。尤其是最后“王顾左右而言他”一句,真是生动传神,成为了大家常用的名言。
  孟子采用的是层层推进的论证法,从生活中的事情入手,推论到中层干部的行为,再推论到高级领导人的身上。逼齐宣王毫无退路尴尬不已,也就只有“王顾左右而言他”的份了。
  孟子本身倒不一定非要出齐宣王的洋相,不过是因为他老东推西挡,东扯葫芦西扯瓜,不肯表态实施仁政,所以激他一激,逼他一逼,迫使他思考如何抓纲治国,作出选择罢了。
  我们平时在工作中、生活中也常常有被上司或下属问得一时之间不知怎样回答的情况,遇到这种时候,你虽然不是“王”,但是,“顾左右而言他”还是可以用来应一应急的罢。不过,反过来的情况是,对待你的上司,尤其是在众目睽睽之下,你可一定得当心,不要把他逼到“王”顾左右而言他的程度。不然的话,他那时尴尬是尴尬,可下来以后就有你够受的了。孟子不是最终没有在齐宣王那里呆下去吗?之所以如此,很难说没有这些使宣王尴尬的因素在内。
  所以,孟子的言谈和论辩术固然厉害,但我们如果要学习使用,也有一个运用的对象和场合问题需要注意。
  ——————
  听听国人怎么说
  【原文】
  孟子见齐宣王曰:“所谓故国①者,非谓有乔木②之谓也,有世臣之③谓也。王无亲臣矣,昔者所进④,今日不知其亡⑤也。” 
  王曰:“吾何以识其不才而舍之?”
  曰:“国君进贤,如不得已,将使卑踰尊,疏踰戚,可不慎与?左右皆曰贤,未可也;诸大夫皆曰贤,未可也;国人皆曰贤,然后察之;见贤焉,然后用之。左右皆曰不可,勿听;诸大夫皆曰不可,勿听;国人皆曰不可,然后察之;见不可焉,然后去之。左右皆曰可杀,勿听;诸大夫皆曰可杀,勿听;国人皆曰可杀,然后察之;见可杀焉,然后杀之。故曰,国人杀之也。如此,然后可以为民父母。”
  【注释】    
  ①故国:指历史悠久的国家。 ② 乔木:高大的树木。 ③ 世臣:世代建立功勋的大臣。 ④进:进用。 ⑤亡:去位,去职。
  【译文】
  孟子拜见齐宣王,说:“我们平时所说历史悠久的国家,并不是指那个国家有高大的树木,而是指有世代建立功勋的大臣。可大王您现在却没有亲信的大臣了,过去所任用的一些人,现在也不知到哪里去了。”
  齐宣王说:“我应该怎样去识别那些真正缺乏才能的人而不用他呢?
  孟子回答说:“国君选择贤才,在不得已的时候,甚至会把原本地位低的提拔到地位高的人之上,把原本关系疏远的提拔到关系亲近的人之上,这能够不谨慎吗?因此,左右亲信都说某人好,不可轻信;众位大夫都说某人好,还是不可轻信;全国的人都说某人好,然后去考察他,发现他是真正的贤才,再任用他。左右亲信都说某人不好,不可轻信;众位大夫都说某人不好,还是不可轻信;全国的人都说某人不好,然后去考查他,发现他真不好,再罢免他。左右亲信都说某人该杀,不可轻信;众位大夫都说某人该杀,还是不可轻信;全国的人都说某人该杀,然后去考查他,发现他真该杀,再杀掉他。所以说,是全国人杀的他。这样做,才可以做老百姓的父母官。”
  【读解】
  孟子在这里所谈论的人才选拔观一方面来自他的先辈孔子,另一方面又加进了自己的民本主义政治思想。
  在《论语.子路》篇里,子贡曾经问孔子说:“一乡的人都喜欢他,怎么样?”孔子仍然说:“还难说。不如一乡中的好人喜欢他,坏人厌恶他。”在《卫灵公》篇里,孔子又概括说:“众恶之,必察焉;众好之,必察焉。”我们不难发现,孟子在这里对齐宣王的论述几乎就是孔子思想的翻版而加以扩展。只不过,孔子是就一般人品或人才的识鉴发表看法,而孟子则是具体到为国家选拔人才,提拔干部的问题,所以又揉进了他“以民为本”的政治思想,要求国君听听国人的意见,用我们今天的话来说,也就是人民群众的意见。
  从理论上说,孟子的论述的确是非常有道理的。直到今天,我们的人民代表大会制度也就是要听听“国人”的意见,而由“人大”任命政府各级干部正是选拔任用人才听“国人”意见的具体体现。另一方面,我们一直坚持的干部考查制度也就是听取群众意见,“国人皆曰贤,然后察之;见贤焉,然后用之。国人皆曰不可,然后察之;见不可焉,然后去之。”
  当然,从实践的操作来看,我们也不能对孟子的论述作拘泥刻板的理解。因为事实上,我们不大可能就某一个人的情况而听到“国人皆曰”,全国人民都谈论他。除非他是围棋国手、体育世界冠军、顶尖级的电影明星或歌星一流的人物。而这一类人物多半又不一定适合做政府部门的领导人。
  所以,“国人皆曰”也是相对的。我们应该把握的精神实质是群众路线,“从群众中来,到群众中去”,多倾听人民群众的意见。不过如此罢了。 
  ——————
  民悦则取之,民不悦则不取
  【原文】
  齐人伐燕①,胜之。宣王问曰:“或谓寡人勿取,或谓寡人取之。以万乘之国伐万乘之国,五旬而举之②,人力不至于此。不取,必有天殃③。取之,何如?”
  孟子对曰:“取之而燕民悦,则取之。古之人有行之者,武王是也④。取之而燕民不悦,则勿取。古之人有行之者,文王是也⑤。以万乘之国伐万乘之国,箪食壶浆⑥,以迎王师。岂有他哉?避水火也。如水益深,如火益热,亦运⑦而已矣。”
  【注释】    
  ①齐人伐燕:公元前315年(齐宣王五年),燕王哙将燕国让给他的相国子之,国人不服气,将军市被和太子平进攻子之,子之反攻,杀死了市被和太子平,国内一片混乱。齐宣王趁机进攻燕国,很快就取得了胜利。 ②五旬而举之:据《战国策.燕策》记载,当齐国的军队攻打燕国时,燕国“士卒不战,城门不闭”,因此齐国军队五十天就攻进了燕国的首都,杀死了燕王哙和子之。 ③不取,必有天殃:因齐宣王认为他攻打燕国太顺利,“人力不至于此”,是天意。所以,如果不占领它就是违背天意,必有灾殃。它是当时人流行的观念。④ 武王是业:指武王灭纣。 ⑤文王是也:指文王已三分天下有其二,但仍然服事殷商而没有造反。⑥箪:盛饭的竹筐。食:饭。浆:米酒。 ⑦运:转。
  【译文】
  齐国人攻打燕国,大获全胜。齐宣王问道:“有人劝我不要占领燕国,有人又劝我占领它。我觉得,以一个拥有万辆兵车的大国去攻打一个同样拥有万辆兵车的大国,只用了五十天就打下来了,光凭人力是做不到的呀。如果我们不占领它,一定会遭到天灾吧。占领它,怎么样?” 
  孟子回答说:“占领它而使燕国的老百姓高兴,那就占领它。古人有这样做的,周武王便是。占领它而使燕国的老百姓不高兴,那就不要占领它。古人有这样做的,周文王便是。以齐国这样一个拥有万辆兵车的大国去攻打燕国这样一个同样拥有万辆兵车的大国,燕国的老百姓却用饭筐装着饭,用酒壶盛着酒浆来欢迎大王您的军队,难道有别的什么原因吗?不过是想摆脱他们那水深火热的日子罢了。如果您让他们的水更深,火更热,那他们也就会转而去求其他的出路了。”
  【读解】
  孟子在这里的表态非常谨慎,两种选择都摆给齐宣王了,任你自己去选择。用我们今天的看法,有点摸棱两可。不过,如果我们仔细琢磨,还是可以发现,孟子其实是支持齐宣王去占领燕国的。因为他已经说过,如果占领燕国而使燕国老百姓高兴,那就占领它。而他又明明知道,当齐国的军队进入燕国时,燕国的老百姓“箪食壶浆以迎王师”,怎么不高兴呢?所以,他的倾向性意见还是有的,只不过说得很谨慎罢了。毕竟,这是牵涉到战争的大事啊,而儒者在通常情况下是反对战争的。
  不过,我们看《战国策.燕策》的记载,孟子可就说得是不是这样含含糊糊了,而是直截了当地对齐宣王说:“今伐燕,此文、武之时,不可失也!”这也可以证明孟子是主张齐宣王占领燕国的。大概史书所记没有忌讳,而作为经书的《孟子》所记为圣者讳,作了润饰,因而显得含糊而谨慎,这也是可能的罢。
  问题并不在于怎么记,倒是在于,一贯反对“霸道”,反对战争的孟子,怎么会去支持齐宣王进占燕国呢?要知道,这不仅有侵略之嫌,而且还是趁火打劫啊!
  原来,作为亚圣人,孟子与圣人孔子一样,并不是死搬教条,抱缺守残的书呆子,而是具有非常灵活的通权达变思想。因为他认为当时燕国的老百姓是生活在水深火热之中,所以不反对齐宣王的占领军去进驻。只要燕国的老百姓真的欢迎齐国军队去,那这支军队去进驻。只要燕国的老百姓真的欢迎齐国军队去,那这支军队去解放他们,就是仁意之师。何况,他也说得很清楚,如果齐国的军队进驻以后反倒使燕国百姓的“水益深,火益热”,那也是不行的(这在下面一章得到了证实)!
  所以,孟子也并不是一味反对战争,只要是正义的,符合人民利益和愿望的战争,他也是支持的。这种权变的思想,正如前几章齐宣王说自己有好勇、贪财、好色等等毛病,他都说没有关系一样,是以“民本”为原则的。这一点值得我们特别注意。 
  ——————
  进也民心,退也民心
  【原文】
  齐人伐燕,取之。诸侯将谋救燕。宣王曰:“诸侯多谋伐寡人 者,何以待这?”
  孟子对曰:“臣闻七十里为政者,汤是也。未闻以千里 畏人者。《书》曰:‘汤一征,自葛始①。’天下信之,东面而征, 西夷怨;南面而征,北狄怨。曰:‘奚为后我?’民望之,若大旱 之望云霓②也。归市者③不止,耕者不变。诛其君而吊④其民。若时 雨降,民大悦。《书》曰:‘溪我后⑤,后来其苏(6)!’今燕虐其民, 王往而征之,民以为将拯己于水火之中也,箪食壶浆以迎王师。若 杀其父兄,系累(7)其子弟,毁其宗庙,迁其重器(8),如之何其可也。王 天下固畏齐之强也,今又倍地而不行仁政,是动天下之兵也.王 速出令,反其旄倪(9),止其重器,谋于燕众,置君而后去之,则犹 可及止也。”
  【注释】    
  ①汤一征,自葛始:《尚书》逸文。②云霓:霓,虹霓。虹霓在清晨 出现于西方是下雨的征兆。③归市者:指做生意的人。④吊:这里 是安抚、慰问的意思。⑤溪:等待。后:王,君主。⑤后来其苏:君 王来了就会有起色。苏:恢复,苏醒,复活。(7)系累:束缚,捆绑。 (8)重器:指贵重的祭器。(9)旄(mao)倪:旄,通“耄”,八十、九十 岁的人叫做耄,这里通指老年人。倪,指小孩子。
  【译文】
  齐国人攻打燕国,占领了它。一些诸侯国在谋划着要用救助燕 国。齐宣王说:“不少诸侯在谋划着要来攻打我,该怎么办呢?”
  孟子回答说:“我听说过,有凭借着方圆七十里的国土就统一 天下的,商汤就是。却没有听说过拥有方圆千里的国土而害怕别 国的。《尚书》说:‘商汤征伐,从葛国开始。’天下人都相信了. 所以,当他向东方进军时,西边国家的老百姓便抱怨;当他向南 方进军时,北边国家的老百姓便抱怨。都说:‘为什么把我们放到 后面呢?’老百姓盼望他,就像久旱盼乌云和虹霓一样。这是因为 汤的征伐一点也不惊扰百姓。做生意的照常做生意,种地的照常 种地。只是诛杀那些暴虐的国君一来抚慰那些受害的老百姓。就像 天上下了及时雨一样,老百姓非常高兴。《尚书》说:‘等待我们 的王,他来了,我们也就复活了!’如今,燕国的国君虐待老百姓, 大王您的军队去征代他,燕国的老百姓以为您是要把他们从水深 火热中拯救出来,所以用饭筐装着饭,用酒壶盛着酒浆来欢迎您 的军队。可您却杀死他们的父兄,抓走他们的子弟,毁坏他们的 宗庙,抢走他们宝器,这怎么能够使他们容忍呢?天下各国本来 就害怕齐国强大,现在齐国的土地又扩大了一倍,而且还不施行 仁政,这就必然会激起天下各国兴兵。大王您赶快发出命令,放 回燕国老老小小的俘虏,停止搬运燕国的宝器,再和燕国的各界 人士商议,为他们选立一位国君,然后从燕国撤回齐国的军队。这 样做,还可以来得及制止各国兴兵。”
  【读解】
  齐宣王听了孟子关于燕国百姓是否高兴的谈论后作出选择, 命令齐国的军队作为占领军占领了燕园。结果激起了各国的愤怒, 纷纷谋划要讨伐齐国这个侵略者,一场世界大战眼看就要爆发。齐 宣王于是又来问计于孟子 。
  孟子先是故作镇静,稳住齐宣王的情绪。然后由商汤的征伐 说起,又回到他那个以不变应万变,或者说万变不离其宗的话题 --民心向背。他告诉齐宣王说,商汤王的讨伐军随便到哪里都 受到当地人民群众的欢迎,甚至他们不去哪里,哪里的人民群众 还会抱怨。这是因为商汤王的军队只杀暴虐的君主,而根本不惊 扰百姓,所以老百姓盼他们就像盼及时雨一样。可现在倒好,本 来燕国老百姓以为齐国的军队是来解放他们的,所以箪食壶浆夹 道欢迎。殊不知却是引狼入室,齐国的军队无恶不作,不幸被孟 子言中,成了使藏国人民“水益深,火益热”的侵略者、强盗。这 怎么可能使燕国人民容忍,又怎么可能使其他各国的诸候服气呢? 作出分析以后,孟子又直陈意见,要齐宣王悬崖勒马,赶快撤军, 避免一场世界大战战火的燃烧。
  进也孟子,遇也孟子。
  不过,不能怪孟子反复无常,而是因为——
  进也民心,退也民心。
  民心向背是孟子政治思想的核心,国内问题如此,国际事务 也如此。
  话说回来,哪个时代,哪个国家。又不应当如此呢? 
  ——————
  出尔反尔
  【原文】
  邹与鲁拱①。穆公②问曰:“吾有司死者三十三人,而民莫之死 也”。诛之,则不可胜诛;不诛,则疾④视其长上之死而不救.如 之何则可也?”
  孟子对曰:“凶年饥岁,君之民老弱转乎沟壑⑤,壮者散而之 对方者,几(6)千人矣;而君之仓廪实,府库充,有司莫以告,是上 慢而残下也。曾子(7)曰:‘戒之戒之!出乎尔者,反乎尔者也。’夫 民今而后得反之也。君无尤(8)焉!君行仁政,斯民亲其上,死其长 矣。”
  【注释】    
  ①邹与鲁拱:邹国与鲁国交战。昭,争吵,冲突,交战。② 穆公:即邹穆公。孟子是邹国人,所以穆公问他。③莫之死:即“莫死 之的倒装,“之’”指“有司”。意思是“没有人为他们而死。”④疾:憎 恨。⑤转:弃尸的意思。(6)几:接近,差不多。(7)曾子:即孔 子的学生曾参。(8)尤:动词,责备、归罪。
  【译文】
  邹国与鲁国交战。邹穆公对孟子说:“我的官吏死了三十三个, 百姓却没有一个为他们而牺牲的。杀他们吧,杀不了那么多;不  杀他们吧,又实在恨他们眼睁睁地看着长官被杀而不去营救。到 底怎么办才好呢?”
  孟子回答说:“灾荒年岁,您的老百姓,年老体弱的弃尸于山 沟,年轻力壮的四处逃荒,差不多有上千人吧;而您的粮仓里堆 满粮食,货库里装满财宝,官吏们却从来不向您报告老百姓的情 况,这是他们不关心老百姓并且还残害老百姓的表现。曾子说: ‘小心啊,小心啊!你怎样对待别人,别人也会怎样对待你。’现 在就是老百姓报复他们的时候了。您不要归罪于老百姓吧!只要 您施行仁政,老百姓自然就会亲近他们的领导人,肯为他们的长 官而牺牲了。”
  【读解】
  出乎尔者,反乎尔者。也就是“一报还一报”,近于以其人之 道治其人之身的意思。但后世演变为成语“出尔反尔”,则成了 言行前后矛盾,此一时,彼一时,反复无常的意思了。
  在孟子这里,实际上还是说的君与民、官与民的关系问题。孟 子的意思很简单,普通老百姓看到当官的战死而见死不救固然是 不对,但当老百姓灾荒年岁饿死或逃荒时,你当官的见死不救就 对吗?当官不为民作主,又要你这当官的来干什么呢?说到底,就 是我们常说的“你不仁,我不义”,一报还一报,也就是曾子所说 的“出乎尔者,反乎尔者也’。话说回来,只要你当官的施行仁政 关心加民众的疾苦,那么,自然就会出现“你仁我义”的情况,那 还是叫做一报还一报,“出乎尔者,反乎尔者也”。
  所以,“出尔反尔”的思想其实与《易经》所谓“积善之家, 必有余庆;积不善之家,必有余殃”是相通的。善恶都是报应。当然 ,这里的报应不是佛教神秘意义上的来世因果报应,而是现世 现报,不是天报神报,而是人报。但其因果关系却是存在无疑的。
  引申开来,当然不只是君与民、官与民之间才有这种关系,就 是我们平常的人际交往中,也同样存在着这种关系。我们周围的 多人,不就是因为没有善处这种关系而弄得来“你不仁,我有 义”,今天你打我一个小报告,明天我戳你一下脊梁骨,关键时间 让你丢人现眼,下不了台。就这样愈演愈烈,最后酿成公冲突, 甚至大打出手,闹出事端来的也不鲜见。遇到这种事情,最后解 决的时候追根溯源,多半会发现正是“出尔反尔”所致。甚至我 们偶尔看新闻报道某个杀人案件,其事端也正是起于“出乎尔者, 反乎尔者也”。
  后果如此严重,难怪得曾子在说这句话时一再提醒我们:“成 之戒之!”难道我们不应当“戒之”吗? 
  ——————
  两大之间难为小
  【原文】
  滕文公①问曰:“滕,小国也,间②于齐、楚。事齐乎?事楚乎?”
  孟子对曰:“是谋非吾所能及也。无已,则有一焉:凿斯池③ 也,筑斯城也,与民守之,效④死而民弗去。则是可为也。”
  【注释】    
  ① 滕文公: 滕国国君。滕国,古国名,西周分封的诸侯国,姬姓,开国 国君是周文王的儿子错叔绣。在今山东滕县西南。公元前414年被越国灭,不 久复国,又被宋国消灭。②间:处。③池:城池,也就是护 城河。④效:献,致。
  【译文】
  滕文公问道:“腾国是一个小国,处在齐国和楚国两个大国之 司。是归服齐国好呢,还是归服楚国好呢?”
  孟子回答说:“到底归服哪个国家好我也说不清。如果您一定 要我谈谈看法,那倒是只有另一个办法:把护城河挖深,把城墙 筑坚固,与老百姓一起坚守它,宁可献出生命,老百姓也不退去. 做到了这样,那就可以有所作为了。”
  【读解】
  两大之间难为小。服从这个,那个会来找你的麻烦;服从那 个,这个又会来跟你过不去。
  所以股文公感到为难。
  孟子的意见很明确,换一种思路,换一种活法:为什么一定 要服从于哪一个呢?我就是我,哪个也不服从,哪个也不得罪。小 固然是小,但也要小得有志气。说穿了,就是要自强自立,不要 做大国的附庸国,而要争取独立自主,保持自己的领土和主权完 整。
  当然,要做到这一点,并不是凭空口说白话,而是要靠全国 人民同心同德,深沟高垒,加强国防建设。一旦有侵略者来犯,就 与国家共存亡,宁为玉碎,不为瓦全。
  所以,自强自立是“两大之间难为小”的根本出路。国家如 此,我们每个人的立身处世也有如此的情况,同样需要以自强自 主的精神来加以解决。 
  ——————
  公孙丑上
  公孙丑上 本篇前两章记载盂子与学生公孙丑的对话,其余均系孟子个 人言论的记录。总起来说,仍以政治学说,尤其是“仁政”理论 为主。即便是说到其它方面的问题,也往往落脚于“仕政”之上。 全篇原文共9章,本书选8章。其中第2章因原文较长,本书仅 节选一部分。
  乘势待时,事半功倍
  【原文】
  公孙丑①问曰:“夫子当路②于齐,管仲、晏子之功,可复许③ 乎?”
  盂子曰:“子诚齐人也,知管仲、晏子而已矣。或问乎曾西(4) 曰:‘吾子⑤与于路孰贤?’曾西蹵(6)然曰:‘吾先子(7)之所畏也。’曰: ‘然则吾子与管仲孰贤?’曾西艴然(8)不悦,曰:‘尔何曾(9)比予其管 仲!管仲得君如彼其专也,行乎国政如彼其久也,功烈如彼其单 也,尔何曾比予于是?’”曰:“管仲,曾西之所不为也,而子为(10) 我愿之乎?”
  曰:“管仲以其君霸,晏子以其君显。管仲、晏子犹不足为与?”
  曰:“以齐王,由(11)反手也。”
  曰:“若是,则弟子之惑滋甚。且以文王之德,百年而后崩(12), 犹未洽于天下;武王、周公(13)继之,然后大行。今言王若易然,则 文王不足法与?”
  曰:“文王何可当也!由汤至于武丁,贤圣之君六七作(14),天 下归殷久矣,久则难变也。武丁朝诸候,有天下,犹运之掌也。纣 之去武丁未久也,其故家遗俗,流风善风善政,犹有存者;又有微子、 微仲、王子比干、箕子、胶鬲--皆贤人也--相与(15)辅相(16)之,故 久而后失之也。尺地,莫非其有也;一民,莫非其臣也;然而文 王犹方百里起,是以难也。齐人有言曰:‘虽有智慧,不如乘势; 虽有鎡基,不如待时(17)’。,今时则易然也:夏后、殷、周之盛,地 未有过千里者也,而齐有其也矣;鸡鸣狗吠相闻,而达乎四境,而 齐有其民矣。地不改辟矣,民不改聚矣,行仁政而王,莫之能御 也。且王者之不作,未有疏于此时者也;民这憔悴于虐政,未有 甚于此时者也。饥者易为食,渴者易为饮。孔子曰:‘德之流行, 速于置邮(18)而传命。’当今之时,万乘之国行仁政,民之悦之,犹 解倒悬也。故事半古之人,功必倍之,惟此时为然。”
  【注释】    
  ①公孙丑:孟子的学生,齐国人。②当路:当权,当政。③许: 兴盛、复兴。(4)曾西:名曾申,字子西,鲁国人,孔子学生曾参的儿子。 (5)吾子:对友人的花色品种称,相当于“吾兄”、“老兄”之类。(6)蹵 然:不安的样子。(7)先子:指已逝世的长辈。这里指曾西的父亲曾 参。(8)艴然:恼怒的样子。(9)曾:副词,竟然、居然。 (10)为:同“谓”,认为。(11)由:同“犹”,好像。(12)百年而后崩:相 传周文王活了九十七岁。百年是泛指寿命很长。(13)周公:名姬旦,周文 王的儿子,武王的弟弟,辅助武王伐纣,统一天下,又辅助成王定乱,安定 天下成为鲁国的始祖。(14作:在这里为量词,相当于现代口语“起”。 (15)相与:双音副词,“共同”的意思。  (16)辅相:双音动词,辅助。 (17)鎡基:农具,相当于今天的锄头之类。(18)置邮:置和邮都是名词,相当于后代的驿站。
  【译文】
  公孙丑问道:“先生如果在齐国当权,管仲、晏子的功业可以 再度兴起来吗?”
  孟子说:“你可真是个齐国人啊,只知道管仲、晏子。曾经有 人间曾西:‘您和子路相比,哪个更有才能?”曾西不安他说:‘子 路可是我父亲所敬畏的人啊,我怎么能和他相比呢?,那人又问: ‘那么您和管仲相比,哪个更有才能呢?’曾西马上不高兴起来,说: ‘你怎么竟拿管仲来和我相比呢?管仲受到齐桓公那样信任不疑, 行使国家政权那样长久,而功绩却是那样少,你怎么竟拿他来和 我相比呢?’”孟子接着说:“管仲是曾西都不愿跟他相比的人,你 以为我愿意跟他相比吗?”
  公孙丑说:“管仲辅佐桓公称霸天下,晏子辅佐景公名扬诸侯。 难道管仲、晏子还不值得相比吗?“
  孟子说:“以齐国的实力用王道来统一天下,易如反掌。”
  公孙丑说:“您这样一说,弟子我就更力口疑惑不解了。以周文 王那样的仁德,活了将近一百岁才死,还没有能够统一天下。直 到周武王、周公继承他的事业,然后才统一天下。现在您说用王 道统一天下易如反掌,那么,连周文王都不值得学习了吗?”
  孟子说:“我们怎么可以比得上周文王呢?由商汤到武丁,贤 明的君主有六七个,天下人归服殷朝已经很久了,久就难以变动, 武丁使诸侯们来朝,统治天下就像在自己的手掌心里运转一样容 易。纣王离武丁并不久远,武丁的勋臣世家、良好习俗、传统风 尚、慈善政治都还有遗存,又有微于、微仲、王子比干、箕子、胶 鬲等一批贤臣共同辅佐,所以能统治很久以后才失去政权。当时 没有一尺土地不属于纣王所有,没有一个百姓不属于纣王统治,在 那种情况下,文王还只能从方圆百里的小地方兴起,所以是是非常 困难的。齐国人有句话说:‘虽然有智慧,不如趁形势;虽然有锄 头,不如等农时。’现在的时势就很利于用王道统一天下:夏、商、 周三代兴盛的时候,没有哪一国的国土有超过方圆千里的,而现 在的齐国却超过了;鸡鸣狗叫的声音处处都听得见,一直到四方 边境,这说明齐国人口众多。国土不需要新开辟,老百姓不需要 新团聚,如果施行仁政来统一天下,没有谁能够阻挡。何况,统 一天下的贤君没有出现,从来没有隔过这么久的;老百姓受暴政 的压榨,从来没有这么厉害过的。饥饿的人不择食物,口渴的人 不择饮料。孔子说:‘道德的流行,比驿站传递政令还要迅速。’现 在这个时候,拥有一万辆兵车的大国施行仁政,老百姓的高兴,就 像被吊着的人得到解救一样。所以,做古人一半的事,就可以成 就古人双倍的功绩。只有这个时候才做得到吧。”
  【读解】
  作为儒家“王道”政治的推行者,孟子不屑于与“霸道”政 治寡管仲、晏婴相比,这正如齐宣王问“齐桓、晋文之事”他不 予回答一样。
  他所热衷的,是在齐国推行“王道”政治,靠实施“仁政”来 统一天下。而且,他认为无论从土地、人口,还是从时机来看,目 前都是实施王道的最好时候,可以收到事半功倍的效果。
  姑且撇开孟子关于王道的种种论述不谈,只看他关于乘势待 时,事半功倍的思想,我们也可以得到较为深刻的启示。   所谓“赶得早不如赶得巧,算得精不如运气好。”这其实没有 什么神秘的地方,不外乎是强调抓住时机,捕捉机遇的重要性罢 了。
  在某种意义上说,个人智慧的确不如时势造英雄,工具优良 也的确不如时机重要。所以,很多人怨天尤人,认为自己怀才不 遇,实际上是自己没有抓住时机。居里夫人曾经说过:“弱者坐待 良机,强者制造时机。”就是强调主动出击,抓住时机。
  当然,这里所说的“乘势待时”,主要是说要分析情况,抓准 时机,而不是说在政治上赶形势,窥风向,搞投机。这里的区别, 可以以田径赛中的起跑为例。如果你错过了起跑的口令,老是慢 半拍才回过神来,这是没有抓住时机,自然要影响你的成绩,被 别人甩在后面。但是,如果你投机取巧,抢在口令发出之前起跑, 那你就不仅没有抓住时机,反而还犯了规,有被逐出赛场的危险 了。
  所以,反过来说,识时务者为俊杰。真正要乘势待进,其实 也离不开智慧。有智慧才能正确分析各方面错综复杂的情况,作 出决断,抓准时机,收到事半功倍的效果。相反,则很难做到这 一点,往往让时机从自己的身旁悄悄溜走而不自知。就像有人所 说:“许多人对于时机就如小孩子们在岸边所做的一样,他们的小 手盛满砂粒,又让那些砂粒漏下去,一粒粒地,以至于尽。”
  身处市场经济体制的时代,无论是做生意,炒股票,还是选 择自己的职业,机遇的问题都越来越突出地摆在大家面前。如何 乘势待时,抓住机遇,也就越来越引起人们的重视。盂子关于 “王道”、“霸道”的论述也许不会引起你的多大兴趣,但他关于 “虽有智慧,不如乘势;虽有鎡基,不如待时”的看法,关于如何 做到“事半功倍”的讨论,也许就不会不引起你的一些思考了罢。
  ——————
  浩然之气,至大至刚
  【原文】
  “敢问夫子恶乎长?”①
  曰:“我知言,我善养吾浩然②之气。”
  “敢问何谓浩然之气?”
  曰:“难言也。其为气也,至大至刚,以直养而元害,则塞于 天地之间。其为气也,配义与道;无是,馁也。是集义所生者,非 义袭而取之也。行有不慊③于心,则馁矣。我故曰,告子(4)未尝知 义,以其外之也。必有事焉,而勿正⑤,心勿忘,勿助长也。元若 宋人然:宋人有闵(6)其苗之不长而揠(7)之者,芒芒然(8)归,谓其人(9) 曰:‘今日病矣!予助苗长矣!’其子趋而注视之,苗则槁矣。天 下之不助苗长者寡矣。以为无益而舍之者,不耘(11)苗者也;助之长 者,揠苗者也——非徒无益,而又害之。”
  “何谓知言?”
  曰:“诐辞(12)知其所蔽,淫辞(13)知其所陷,邪辞知其所离,遁辞(14) 知其所穷。——生于其心,害于其政;发于其政,害于其事。圣 人复起,必从吾言矣。” 
  【注释】    
  ①这一段系节选公孙丑与孟子的对话。问这句话的是公孙丑。②浩 然:盛大而流动的样子。③慊:快,痛快。(4)告于:名不详, 可能曾受教于墨子。⑤正:止。“而勿正”即”“而勿止”。(6)闵 :担心,忧愁。(7)揠:拨。(8)芒芒然,疲倦的样子。 (9)其人,指他家里的人,(10)病,疲倦,劳累,(11)耘,除草。 (12)诐(bi)辞:偏颇的言辞。(13)淫辞:夸张、过分的言辞。(14)遁辞: 躲闪的言辞。
  【译文】
  公孙丑说:“请问老师您长于哪一方面呢?”
  孟子说:“我善于分析别人的言语,我善于培养自己的浩然之 气。”
  公孙丑说:“清问什么叫浩然之气呢?”
  孟子说:“这很难用一两句话说清楚。这种气,极端浩大,极 端有力量,用正直去培养它而不加以伤害,就会充满天地之间。不 过,这种气必须与仁义道德相配,否则就会缺乏力量。而且,必 须要有经常性的仁义道德蓄养才能生成,而不是靠偶尔的正义行 为就能获取的。一旦你的行为问心有愧,这种气就会缺乏力量了。 所以我说,告子不懂得义,因为他:把义看成心外的东西。我们一 定要不断地培养义,心中不要忘记,但也不要一厢情愿地去帮助 它生长。不要像宋人一样:宋国有个人嫌他种的禾苗老是长不高, 于是到地里去用手把它们一株一株地拔高,累得气喘吁吁地回家, 对他家里人说:‘今天可真把我累坏啦!不过,我总算让禾苗一下 子就长高了!’他的儿子跑到地里去一看,禾苗已全部于死了。天 下人不犯这种拔苗助长错误的是很少的。认为养护庄稼没有用处 而不去管它们的,是只种庄稼不除草的懒汉;一厢情愿地去帮助 庄稼生长的,就是这种拔苗助长的人--不仅没有益处,反而害 死了庄稼。”
  公孙丑问:“怎样才算善于分析别人的言语呢?” 
  孟子回答说:“偏颇的言语知道它片面在哪里;夸张的言语知 道它过分在哪里;怪僻的言语知道它离奇在哪里;躲闪的言语知 道它理穷在哪里。--从心里产生,必然会对政治造成危害,用 于政治,必然会对国家大事造成危害。如果圣人再世,也一定会 同意我的活。”
  【读解】
  浩然之气,至大至刚。
  不是一般所谓“精气”、“血气”,而是充满正义,充满仁义道 德的正气、骨气。不是属于医学的生理的范畴,而是属于人文的 精神范畴。
  这种气,阳刚而气壮山河,气贯长虹,气冲霄汉。
  “说大人则藐之,匆视其巍巍然。”(《孟子·尽心下》)
  靠是的这种气。
  “富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈。”(《盂子·膝文公 下》
  依然是靠的这种气。
  甚至如文天祥所写千古名句: 
  “天地有正气,杂然赋流形。下则为河岳,上则为日星;于人 曰浩然,沛乎塞苍冥。”(《正气歌》)
  也仍然是源于这种气。
  然而,这种气可养而不可得。“是集义所生者,非义袭而取之 也”就是养也要日积月累,水到渠成;而不能拔苗助长,急于求 成。
  不过,正如孟子所说:“天下之不助苗长者寡矣。”古往令来, 合天之下,能不急功近利,拔苗助长的又有几许呢? “记得小时候读书的时候,老师常常讲这样的道理给我们听:地 里庄稼,即使你站在它的面前随时观察,眼睛紧盯住它不放过,也 绝对不能亲眼看到它生长;但是久而久之,隔一段时间去看它,却 可以发现它已经长高了。人的身体长高也是同样的道理。那时,老 师给我们讲这个道理,是勉励我们要勤奋学习。只问耕耘,不问 收获不要心急图快,囫囵吞枣。现在想来,当然也包含着老师 不拨苗助长的一份苦心在内。可我们当时哪能体会出这些呢? 
  其实,不仅知识积累如此,技艺学习如此,我们进德修业,立 身处世的方方面面,又何尝不是如此呢?
  关键在于营养的吸取,年力的增强。万事总有规律,不是你 一厢情愿就可以如愿以偿的。
  放眼观世,红尘滚滚。再看看你的周围,那些追名逐利,急 急如律令的人们,一个个不都是那“芒芒然归”的宋人吗? 
  ——————
  以德服人,心悦诚服
  【原文】
  孟子曰:“以力假①仁者霸,霸必有大国。以德行仁者王,王 不待(2)大——汤以七十里,文王以百里。以力服人者,非心服也, 力不赡(3)也;以德服人者,中心悦而诚服也,如七十子之服孔子也。 《诗》云(4):‘自西自东,自南自北,无思不服(5),此之谓也。”
  【注释】    
  ①假:借,凭借。②待:等待,引申为依靠。③赡:充 足。 ④《诗》云:引自《诗经·大雅·文王有声》。⑤思:助词,无 义。
  【译文】
  孟子说:“用武力而假借仁义的人可以称霸,所以称霸必须是 大国。用道德而实行仁义的人可以使天下归服,使天下归服的不 一定是大国--商汤王只有方圆七十里,周文王只有方圆一百里, 用武力征服别人的,别人并不是真心服从他,只不过是力量不够 罢了;用道德使人归服的,是心悦诚服,就像七十个弟子归服孔 子那样。《诗经》说:‘从西从东,从南从北,无不心悦诚服。’正 是说的这种情况。”
  【读解】
  与孔子在《论语。子路》和《论语·季氏》中的有关论述一 样,都是讲的以德服人而不是以力服人。
  孔孟一脉相承,采用的,是攻心为上,以柔克刚的政治方针、
  后世诸葛亮七擒盂获,可以说正是活学活用孔盂思想的典型。 成都武候词的对联“能攻心则反侧自肖,从古知兵非好战”其实 也正是表达的这种思想。
  值得提出来略加讨论的是:以德服人到底还要不要力?
  从历史和现实的种种情况来看,似乎还是离不开力。就以诸 葛亮七擒孟获的情况为例,当诸葛亮第一次放走孟获后,众将都 感到不理解,一起来问诸葛亮。诸葛亮笑了笑说:“我要捉他,就 像在口袋中取东西一样容易,但只有使他口服心服,南方才会真 正平定。”可见,诸葛亮之所以敢于七擒七纵,还有赖于军事上的 绝对优势。用他自己的话来说,叫做“如囊中取物”般容易。不 然是开不得玩笑的,那就很可能成为放龙归海,放虎归山,有自 食其果的危害了。
  由此看来,以德服人还得与以力服人结合起来。只不过以力 是手段而不是目的,“打,是为了谈。”只有以德服人,攻心为上 才能长治久安。 
  ——————
  恶湿居下,自作自受
  【原文】
  孟子曰:“仁则荣,不仁则辱;今恶辱而居不仁,是犹恶湿而 居下也。如恶之,莫如贵德而尊士,贤者在位,能者在职;国家 闲暇①,及是时,明其政刑。虽大国,必畏之矣。《诗》云②:‘迨③ 天之未阴雨,彻彼桑土④,绸缪牖户(5)。今此下民③,或敢侮予?’孔子曰 :‘为此诗者,其知道乎!能治其国家,谁敢侮之,’今国家 闲暇,及是时,般乐怠敖(7),是自求祸也。祸福无不自己求之者。 《诗》云(8):‘永言配命民自求多福。’《太甲》(10)曰:“天作孽,犹可 违(11);自作孽,不可活(12)。’此之谓也。”
  【注释】    
  ①闲暇:指国家安定无元内忧外患。②《诗》云:引自《诗经·邪 风·鸱鸦》。 ③迨(dai):趁着。④彻:剥取。桑土(du):桑树根; 土同“杜”,东齐方言说“根”为“杜”。。⑤绸缪(mou):缠结。牖 (you):窗子;户:门。③下民:民义同“人”。这里的诗句是以鸱鸦 (一种形似黄雀而身体较小的鸟)的口吻,其巢在上,所以称人为“下民”。 (7)般(pan):乐。怠:怠情。敖:同“邀”,指出游。(9)《诗》云:引 自《涛经·大邪·文王》。③永:长久;言:语助同,大义。配:合。命: 天命。 (10)《太甲》《尚书》中的一篇。(11)违:避。(12)活:“逭” (huan)的借字,“逃”的意思。
  【译文】
  孟子说:“仁就光荣,不仁就耻辱;现在的人既厌恶耻辱却又 居于不仁的境地,这就好像既厌恶潮湿却又居于低洼的地方一样。 假如真的厌恶耻辱,那最好是以仁德为贵,尊敬读书人,使有贤 德的人处于一定的官位,有才能的人担任一定的职务。并且趁国 家无内忧外患的时候修明政治法律制度。这样做了即使是大国也 会畏惧你。《诗经》说:‘趁着天晴没阴雨,剥些桑树根上皮,补 好窗子和门户。现在你们下面人,有谁还敢欺侮我?’孔子说: ‘写这首诗的人很懂得道理呀!能够治理好自己的国家,谁还敢欺 侮他呢?’如今国家没有内忧外患,却趁着这个时候享乐腐化,这 是自己寻求祸害。祸害和幸福都没有不是自己找来的。《诗经》说: ‘长久地与天命相配合,自己寻求更多的幸福。’《尚书·大甲》说: ‘上天降下的灾害还可以逃避;自己造成的罪孽可就无处可逃。’说 的就是这个意思。”
  【读解】
  孟子的本意是规劝当政者施行仁政,可他指出的“恶湿居 下”现象却是普遍地存在于我们的生活之中。
  比如说,抽烟是损寿的,酗酒是要误大事的,睡懒觉也是不 利于健康的。至于赌博可能倾家荡产,嫖妓可能患“爱得死”(即 通译“爱滋”,但“爱得死”却译得更为深刻而大家都知道的。
  厌恶损寿,厌恶误事,厌恶不健康,更厌恶倾家荡产、“爱得死”……
  可就是要抽烟,喝酒,睡懒觉……
  谁还会想起“未雨绸浮”或“天作孽,犹可违;自作孽,不 可活”这些格言警句呢?
  个人生活中的小事有这样的现象,国家行政上的大事也完全 可能有这样的现象发生。所以孟子苦心提醒大家,既然厌恶潮湿, 就不要自居于低洼的地方;既然厌恶耻辱,就不要自居于不仁的 境地。说到底,还是要求当政者实施仁政。这才是孟子政治学说 中万变不离其宗的主题。 
  ——————
  政策开放,国家兴旺
  【原文】
  孟子曰:“尊贤使能,俊杰在位,则天下之士皆悦,而愿立于 其朝矣;市,廛而不征①,法而不廛②,则天下之商皆悦,而愿藏 于其市矣;关,讥而不征③,则天下之旅皆悦,而愿出于其路矣; 耕者,助而不税④,则天下之农皆悦,而愿耕于其野矣;廛,⑤无夫 里之布(6),则天下之民皆悦,而愿为之氓(7)矣。信能行此五者,则 邻国之民仰之若父母矣。率其子弟,攻其父母,自有生民以来未 有能济者也。如此,则无敌于天下。无敌于天下者,天吏(8)也。然 而不王者,未之有也。”
  【注释】    
  ①廛(Chan):市中储藏或堆积货物的货栈。征:征税。②法而不廛: 指官方依据法规收购长期积压于货栈的货物,以保证商人的利益。③讥 而不征:只稽查不征税。讥,查问。④助而不税:指“耕者九一”的井 田制只帮助种公田而不再收税。⑤廛:这里指民居,与“廛而不征”的 “廛”所指不同。(6)夫里之布:古代的一种税收名称,即“夫布”、“里 布”,大致相当于后世的土地税、劳役税。(7)氓:指从别处移居来的移民。 (8)天吏:顺从上天旨意的执政者。这里的“吏”不是指小官
  【译文】
  孟子说:“尊重贤才,使用能人,杰出的人物都有职位,那么, 天下的士人都乐于在这样的朝廷担任一官半职了;在市场上提供 储货的地方却不征税,把滞销的货物依法收购不使积压,那么,天 下的商人都乐于在这样的市场做生意了;海关只稽查而不征税,那 么,天下的旅客都乐于在这样的路上旅行了;种庄稼只按井田制 助耕公田而不再征税,那么,天下的农民都乐于在这样的土地上 耕种了;居民区没有额外的土地税和劳役税,那么,天下的百姓 都乐于成为这里的居民了。真正能够做到这五点,就连邻国的百 姓都会把他当父母一样仰慕。如果有谁想率领这些百姓来攻打他, 就好比率领儿人去攻打父母,自有人类以来就没有成功过的。使 这样,他就今天下大改了。天下无敌的可叫做‘天吏’。做到了 这个程度还不能够应天下归服的,是从来没有过的。’”
  【读解】
  这一章实际上是孟子与齐宣王对话中关于“发政施仁”(《梁 惠上》1.7)内容的进一步展开。
  我们从他展开的描述中,看到的走一幅开放的治国蓝图: 从干部政策到商业、农业、城市居民、海外关系等各个方面, 无不以开放的姿态来处理。
  开放则得民心.得民心则国家兴旺发达。
  古代已是如此,当今更是必然的趋势。
  当然,无论是在古代还是现代,关于用人,关于税收(商业 税、关税、农业税、城市人口上地占用税等等),恐怕都还有很多 地方不能尽如人意。这里面错综复杂的原因是非常之多的,需要 专题研究。其中根本的一条恐怕还是理论与实践的冲突。一方面, 理论毕竟含有很多理想的成分;另一方面,治理一个国家(甚至 一个地区)绝非纸上谈兵那样容易,其中千头万绪的矛盾,千丝 万缕的纠葛,非个中人绝难有所体会。
  尽管女。此,我们也不能不认为孟子在这里所描绘的开放蓝图 是诱人的。尤其是在他所处的那个战火纷飞、兵祸不断的时代,如 果有哪一个君王真能够做到实践他的这一系列规划,那的确是非 常难能可贵的。当然,是不是真能像他所说的那样行之有效,甚 至达到“无敌于天下”的理想程度,那又另当别论了。
  当今之世,改革开放,孟子的这一幅理想蓝图倒正好可以作 为我们的借鉴。 
  ——————
  人皆有不忍人之心
  【原文】
  孟子曰:“人皆有不忍人之心①。先王有不忍人之心,斯有不 忍之政矣。以不忍人之心,行不忍人之政,治天下可运之掌上。 所以谓人皆有不忍人之心者,今人乍②见孺子将人于打,皆有怵惕 恻隐之心--非所以内交④于孺子之父母也,非所以要誉⑤于乡 党朋友也,非恶其声而然也。由是观之,无恻隐之心,非人也;无 羞恶之心,非人也;无辞让之心,非人也;无是非之心,非人也。 恻隐之心,仁之端(6)也;羞恶之心,义之端也;辞让之心,礼之端 也;是非之心,智之端也。人之有是四端也,犹其有四体也。有 是四端而自谓不能者,自贼者也;谓其君不能者,贼其君者也。凡 刚端于我(7)者,知皆扩而充之矣,若人之始然(8),泉之始达。苟 能充之,足以保(9)四海;苟不充之,不足以事父母。”
  【注释】    
  ①不忍人之心;怜悯心,同情心。①乍:突然、忽然。③怵 惕:惊惧。侧隐:哀痛,同情。④内交,内交即结交,内同 “纳”。⑤要(yao)誉:博取名誉。要同“邀”,求。(6)端:开端,起 源.源头。(7)我:同“己”。(8)然,同“燃”。(9)保:定,安定。
  【译文】
  孟子说:“每个人都有怜悯体恤别人的心情。先王由于怜悯体 恤别人的心情,所以才有怜悯体恤百姓的政治。用怜悯体恤别人 的心情,施行怜悯体恤百姓的政治,治理天下就可以像在手掌心 里面运转东西一样容易了。之所以说每个人都有怜悯体恤别人的 心情,是因为,如果今天有人突然看见一个小孩要掉进井里面去 了,必然会产生惊棋同情的。心理——这不是因为要想去和这孩子 的父母拉关系,不是因为要想在乡邻朋友中博取声誉,也不是因 为厌恶这孩子的哭叫声才产生这种惊惧问情心理的。由此看来,没 有同情心,简直不是人;没有羞耻心,简直不是人;没有谦让心, 简直不是人;没有是非心,简直不是人。同情心是仁的发端;羞 耻心是义的发端;谦让心是礼的发端;是非心是智的发端。人有 这四种发端,就像有四肢一样。有了这四种发端却自认为不行的, 是自暴自弃的人;认为他的君主不行的,是暴弃君主的人。凡是 有这四种发端的人,知道都要扩大充实它们,就像火刚刚开始燃 烧,泉水刚刚开始流淌。如果能够扩充它们,便足以安定天下,如 果不能够扩充它们,就连赡养父母都成问题。”
  【读解】
  从人性的前提推导政治,具体说,从人人都有‘不忍人之 心”的仁心推导仁政。由于这种“不忍人之心”是人本身所固有 的,所以,仁政也应该是天经地义的。这就是孟子的思路。
  孟子的推导仍然是为了推行他那毕生的追求,即“仁政”理 想。但他的推导本身似乎没有产生很大影响,倒是他那推导的前 提——“人皆有不忍人之心”产生了巨大的影响,尤其是在此基 础上所提出的“仁义礼智”都发端于这种“不忍人之心”的看法, 更是成了中国古代哲学中“性善论”的理论基础和支柱。
  孔子曾经说过:“性相近也,习相远也。”(《论语·阳货》意 思是说,人性本来是相近的,只因为教养的不同,便相差很远了。 但孔子既没有说相近的人性是什么,是善还是恶,也没有展开论 述。而且,从我们的理解来看,孔子还主要强调的是后天教养的 一方面。
  孟子就不同了,他不仅展开了论述,指出了那相近的人性就 是发端仁义礼智的“不忍人之心”,而且还举出了生动的例证论证 这种“不忍人之心”是人所固有的。没有它,简直就不是人。从 这个角度来说,孟子的人性理论的确是“先验论”的,是主观唯 心主义的。因为他把“仁义礼智”这些社会性质的道德观念说成 是人的天性里所固有的,与生俱来的,甚至带有生理性的色彩。
  但从另一方面来说,孟子也不是完全否认后天培养的作用。因 为他认为“不忍人之心”包含四个方面,即“恻隐、羞恶、辞让、 是非”之心,简称即为“四心”。而这“四心”只是“仁义礼智” 这四种道德范畴的发端,或者说“四端”。这“四端”就像刚刚燃 烧的火或刚刚流出的泉水一样,还需要“扩而充之’才能够发扬 光大。不然的话,就会熄灭或枯竭。“扩而充之”也就是后天的培 养,也就是“习相远”。
  所以,从理论基础来说,孟子的确是从天赋性善论(“四 心”)推导出天赋道德论(“四端”),再推导出“不忍人之政” (仁政)。但从实践来说,他还是重视后天努力(“扩而充之”)的 作用的。而且,撇开关于先验还是后天、唯心还是唯物的抽象讨 论,联系到孟子所处的战国时代社会状况来历史地看问题,主张 人性本善,强调天赋道德,推行仁爱政治,这些都是具有积极意 义的。其实,也不仅仅限于孟子的时代,就是到任何时代,强调 这些,总比鼓吹人性本恶,放弃道德,施行暴政要好得多罢! 
  ——————
  选择职业,不可不慎
  【原文】
  孟子曰:“矢人①岂不仁于函人②哉?矢人唯恐不伤人,函人唯 恐伤人。巫匠亦然③。故术④不可不慎也。孔子曰:‘里仁为美,择 不处仁,焉得智?’夫仁,天之尊爵也,人之安宅也。莫之御而不 仁⑤,是不智也。不仁、不智,无礼、无义,人役也。人役而耻为 役,由(6)弓人而耻为弓,矢人而耻为矢也。如耻之,莫如为仁。仁 者如射:射者正己而后发;发而不中,不怨胜己者,反求诸己而 已矣。”
  【注释】    
  ①矢人:造箭的人。②函人,造销甲的人。③巫:巫医,鹅 生。匠:匠人,这里特指做棺材的木匠。④术:这里指选择谋生之术,也 就是选择职业。⑤御:阻挡。(6)由:同“犹”,好像。
  【译文】
  孟子说:“造箭的人难道不如造销甲的人仁慈吗?造箭的人唯 恐自己造的箭不能够伤害人,造销甲的人却唯恐箭伤害了人。医 生和棺材匠之间也是这样。所以,一个人选择谋生职业不可以不 谨慎。孔子说:‘居住在有仁厚风气的地方才好。选择住处而不迷 在有仁厚风气的地方,怎么能说是明智呢?’仁,是上天尊贵的爵 位,人间最安逸的住宅。没有人阻挡却不选择仁,是不明智。不 仁不智,无礼无义的人,只配被别人驱使。被别人驱使而引以为 耻,就像做了造弓的人却又以造弓为耻,做了造箭的人却又以造 箭为耻一样。如果真正引以为耻,那就不如好好行仁。有仁德的 人就像射手:射手先端正自己的姿势然后才放箭;如果没有射中, 不怪比自己射得好的人,而是反过来找自己的原因。”
  【读解】
  孟子的本意还是为“仁”而鼓与呼。但在我们读来,他所提 出的“术不可不慎”的问题却更为有意思。
  造箭的人生怕自己所造的箭不能够伤害人,而造铠甲的人却 生怕自己所造的党甲保护不了人。医生生怕自己的医术不高明救 不了人,而棺材店的老板却生怕没有人死,棺材卖不出去。这并 不是因为造箭的人和棺材店的老板就一定没有造党甲的人和医生 仁慈,而是职业使他们各自产生出不同的心理状态,或者说是职 业心理。
  所以,孟子得出结论说:“术不可不慎。”选择职业一定要谨 慎。
  问题是如果大家都把孟子的话听进去了,谁还愿意去做那造 军火的人,去开那棺材店或殡仪馆呢?
  从另一方面来说,既有社会分工,就有职业选择。
  虽然有“三百六十行,行行出状元”的说法,有“干一行,爱 一行,职业无高低贵贱之分的教育和宣传。但是,有教育和宣传 这个事实本身就说明了确实有差异存在,说无高低贵贱之分,正 说明有高低贵贱,只不过不同的时代和不同的个人有不同衡量标 准罢了。比如说,孟子所提出来的造弓箭的人和卖棺材的人的问 题,你从不同的角度来理解,造弓箭的人是为了让你拿去射杀如 桀纣那样的不仁之人,卖棺材的人是为了让你死后尸首有安放之 处,不也就都“仁”了吗?所以,造军火或开棺材店和殡仪馆不 都是可以选择的职业了吗?
  那么,有没有的确不可以选择的职业呢?
  当然也是有的,比如说走私贩毒,卖淫开妓院,行窃聚赌,杀 人越货,那可真是“行不得也哥哥”,“行不得也妹妹”的啊!
  归根到底,还是有必要记住孟老夫子的那句话:“故术不可不 慎也。” 
  ——————
  从闻过则喜到与人为善
  【原文】
  孟子曰:“子路,人告之以有过,则喜。禹闻善言,则拜。大 舜有①大焉,善与人同②,舍己从人,乐取于人以为善。自耕稼、陶、 渔以至为帝,无非取于人者。取诸人以为善,是与人为善③者也 故君于莫大乎与人为善。”
  【注释】    
  ①有:同“又”。②善与人同:与人共同做善事。③与人为善: 与:偕同。
  【译文】
  孟子说:“子路,别人指出他的过错,他就很高兴。大禹听到 有教益的活,就给人家敬礼。伟大的舜帝又更为了不得:总是与 别人共同做善事。舍弃自己的缺点,学习人家的优点,非常快乐 地吸取别人的长处来行善。从他种地、做陶器、捕鱼一直到做帝 王,没有哪个时候他不向别人学习。吸取别人的优点来行善,也 就是与别人一起来行善。君子。最重要的就是要与别人一起来行善。
  【读解】
  今天我们说,与人为善,是指善意帮助别人。这与孟子所说的 意思既密切相关又略为有所不同了。
  孟子的意思很简单,与人为善就是与别人一起行善,而这种 与人一起行善的基础是吸取别人的优点,改正自己的缺点。所以, 他是从子路说起。因为子路有一个很大的优点是闻过则喜,听到 别人给自己指出过错就高兴。除了子路而外,夏禹也是这方面的 模范,他只要一听到别人对他说有教益的话,不仅高兴,而且还 要就地下拜,行上一个大礼。当然,比起子路和夏禹来,大舜的 “与人为善”就更高一筹了,不仅高兴,不仅下拜,而且还要切实 吸取并付诸行动,这就等于和别人一起行善了。
  从闻过则善闻善言则拜,到与人为善,虽然有程度的不同,但 其性质都是一样的,这就是善于吸取别人的优点而改正自己的缺 点。
  在《论语·学而篇里,孔子曾经说过:“丘也幸,苟有过,人必知之。”把别人能够给自己指出过错看作一大幸事。 
  可见,孔、孟在如何正确对待自己的缺点和别人的优点这个 问题上也是一脉相承的。
  当然,在实际生活中,要真正按孔、孟的要求做是非常难的。 这里面的原因多种多样,但最根本的一点,还是有没有宽广的胸 襟和肚量的问题。 没有宽广的胸襟和肚量来处理人与我之间的关系,莫说与人 为善,就是闻过则喜也是绝对做不到的。做得到的,只有闻过则 想,文过饰非而已。
  ——————
  公孙丑下
  公孙丑下 本篇除第一章单纯介绍孟子言论外,其余各章兼记孟子的事迹、 行为和言论,以立身处世的态度为主,其中有不少名言。全篇原 文共14章,本书选7章。
  天时不如地利,地利不如人和
  【原文】
  孟子曰:“天时不如地利,地利不如人和①。三里之城,七里 之郭②,环而攻之而不胜。夫环而攻之,必有得天时者矣;然而不 胜者,是天时不如地利也。城非不高也,池③非不深也,兵革(4)非 不坚利也,米粟非不多也;委⑤而去之,是地利不如人和也。故曰: 域(6)民不以封疆之界,固国不以山溪(7)之险,威天下不以兵革之利。 得道者多助,失道者寡助。寡助之至,亲戚畔(8)之;多助之至,天 下顺之。以天下之所顺,攻亲戚之所畔;故君子有(9)不战,战必胜 矣。”
  【注释】    
  ①天时、地利、人和:《苟子·王霸篇》说:“农夫朴力而寡能,则上不 失天时,下不失地利,中得人和而百事不废。”苟子所指的“天时”指农时, “地利”指土壤肥沃,“人和”是指人的分工。而孟子在这里所说的“天时”则 指尖兵作战的时机、气候等;“地利”是指山川险要,城池坚固等;“人和”则 指人心所向,内部团结等。②三里之城,七里之郭:内城叫“城”,外城 叫“郭”。内外城比例一般是三里之城,七里之郭。③池:即护城河。 ④兵:武器,指戈矛刀箭等攻击性武器。革:皮革,指甲胄。古代甲胄确 皮革做的,也有用铜铁做的。(5)委:弃。(6)域民:限制人民。域, 界限.(8)畔:同“叛”。(9)有:或,要么。
  【译文】
  孟子说:“有利的时机和气候不如有利的地势,有利的地势不 如人的齐心协力。一个三里内城墙、七里外城墙的小城,四面围 攻都不能够攻破。既然四面围攻,总有遇到好时机或好天气的时 候,但还是攻不破,这说明有利的时机和气候不如有利的地势。另 一种情况是,城墙不是不高,护城河不是不深,兵器和甲胄不是 极利和坚固,粮草也不是不充足,但还是弃城而逃了,这就说 明有利的地势不如人的齐心协力。所以说:老百姓不是靠封锁边 境线就可以限制住的,国家不是靠山川险阻就可以保住的,扬威 天下也不是靠锐利的兵器就可以做到的。拥有道义的人得到的帮 助就多,失去道义的人得到的帮助就少。帮助的人少到极点时,连 亲戚也会叛离;帮助的人多到极点时,全人下的人都会顺从。以 全天下人都顺从的力量去攻打连亲戚都会叛离的人,必然是不战 则已,战无不胜的了。”
  【读解】
  天、地、人三者的关系问题古往今来都是人们所关注的。三 者到底谁最重要也就成了人们议论的话题。如我们在注释中所引, 荀子曾经从农业生产的角度论述过天时、地利、人和的问题。但 他并没有区分谁重要谁不重要,而是三者并重,缺一不可。
  孟子在这里则主要是从军事方面来分析论述天时、地利、人 和之间关系的,而且是观点鲜明:“天时不如地利,地利不如人和。” 三者之中,“人和”是最重要的,起决定作用的因素,“地利”次 之,“天时”又次之。这是与他重视人的主观能动性的一贯思想分 军开的,同时,也是与他论述天时、地利、人和关系的目的分不 开的,同时,也是与他论述天时、地利、人和关系的目的分不 开的。正是从强调“人和”的重要性出发,他得出了“得道者多 助,失道者寡助”的结论。这就把问题从军事引向了政治,实际 上又回到了他那“老生常谈”的“仁政”话题。
  按照孟子的看法,老百姓不是靠封锁边境线就可以限制住的, 国家也不是靠山川就可以险阻就可以保住的,所以,闭关锁国是没有出 路的。要改革,要开放,要提高自己的国力,让老百姓安居炙业。 只要做到了这一点,就会“得道者多助”,多助到了极点,全天下 的老百姓都会顺从归服。那就必然会出现孔子所说的那种情况 ——“则四方之民襁负其子而至矣。”(《论语·子路》各国人士 都来申请留学,申请经商,甚至携带妻子儿女前来申请移民定居 哪里还用得着“封疆之界”呢?只怕是赶也赶不走啊。 
  “得道者多助,失道者寡助”就这样成了名言,以至于我们为 现在还常常用它来评价国际关系,谴责霸权主义者。   当然,“天时不如地利,地利不如人和”也同样是名言,而且, 还更为广泛地应用于商业竞争、体育比赛尤其是足球比赛的狂热 之中。这充分说明它所蕴含的哲理是丰富、深刻而具广阔的延展 性的。
  所谓“人心齐,泰山移。”谁说“人和”不是最最重要的财 呢?
  ——————
  贤才可拜不可召
  【原文】
  孟子将朝王①,王使人来曰:“寡人如②就见者也,有寒疾,不 可以风。朝,将视朝③,不识④可使寡人得见乎?” 
  对曰:“不幸而有疾,不能造⑤朝。”
  明日,出吊于东郭氏(6)。公孙丑曰:“昔者辞以病,今日吊,或 者不可乎?”
  曰:“昔者疾,今日愈,如之何不吊?”
  王使人问疾,医来。
  孟仲子对曰:“昔者有王命,有采薪之忧(8),不能造朝。今病 小愈,趋造于朝,我不识能至否乎。”
  使数人要(9)于路,曰:“请必无归,而造于朝!”
  不得已而之景丑氏(10)宿焉。
  景子曰:“内则父子,外则君臣,人之大伦也。父子主恩,君 臣主敬。丑见王之敬子也,未见所以敬王也。”
  曰:“恶!是何言也!齐人无以仁义与王言者,岂以仁义为不 美?其心曰:‘是何足与言仁义也’云尔,则不敬莫大乎是。我 非尧舜之道,不敢以陈于王前,故齐人莫如我敬王也。”
  景子曰:“否,非此之谓也。礼曰:‘父召无诺(11);君命召不俟 驾(12)。’固将朝也,闻王命而遂不果,宜(13)与夫礼若不相似然。”
  曰:“岂谓是与?曾子曰:‘晋楚之富,不可及也;彼以其富, 我以吾仁;彼以其爵,我以吾义,吾何慊(14)乎哉?’夫岂不义而曾 子言之?是或一道也。天下有达尊三:爵一,齿一,德一。朝廷 莫如爵,乡党莫如齿,辅世长民莫如德。恶得有其一以慢其二哉? 故将大有为之君,必有所不召之臣;欲有谋焉,则就之。其尊德 乐道,不如是,不足与有为也。故汤之于伊尹,学焉而后臣之,故 不劳而王;桓公之于管仲,学焉而后臣之,故不劳而霸。今天下 地醜(15)德齐,莫能相尚,无他.好臣其所教,而不好臣其所受教。汤 之于伊尹,桓公之于管仲,则不敢召。管仲且犹不可召,而况不 为管仲者乎?”
  【注释】    
  ①王:指齐王。②如:宜,当,应当。③朝,将视朝:第一个 “朝”读zhao,即“清晨”的意思:第二个“朝”读Chao,意即“朝廷”,视 朝即在朝廷处理政务。④不识:不知。⑤造;到,上。(6)东郭 氏:齐国的大夫。(7)孟仲子:孟了的堂兄弟,跟随孟子学习。 (8)采 薪之忧:本意是说有病不能去打柴,引申为自称生病的代词。薪,柴草. (9)要(yao):拦截。(10)景丑氏:齐国的大夫。(11)父召无诺《礼记 ·曲礼》:“父召无诺,先生召无诺,唯而起。”“唯”和“诺”都是表示应答, 急时用“唯”,缓时用“诺”。父召无诺的意思是说,听到父亲叫,不等说 “诺”就要起身。(12)不俟驾:不等到车马备好就起身。(13)宜:义同 “殆”,大概,恐怕。(14)慊(qian):憾,少。(15)醜(Chou):类似,相 近,同。
  【译文】
  孟子准备去朝见齐王,恰巧齐王派了个人来转达说:“我本应 该来看您,但是感冒了,吹不得风。明早我将上朝处理政务,不 知您能否来朝廷上,让我见到您?”
  孟子回答说:“不幸得很,我也有病,不能上朝廷去。”
  第二天,孟子要到东郭大夫家里去吊丧。公孙丑说:“昨天您 托辞生病谢绝了齐王的召见,今天却又去东郭大夫家里吊丧,这 或许不太好吧?”
  孟子说:“昨天生病,今天好了,为什么不可以去吊丧呢?”
  齐王打发人来问候孟子的病,并且带来了医生。 孟仲子应付说:“昨天大王命令来时,他正生着病,不能上朝 廷去。今天病刚好了一点,已经上朝廷去了,但我不知道他能否 到达。”
  孟仲子又立即派人到路上去拦孟子,转告孟子说:“请您无论 如何不要回家,而赶快上朝廷去!”
  孟子不得已而到景丑的家里去住宿。 景丑说:“在家庭里有父子,在家庭外有君臣,这是人与人出 问最重要的伦理关系。父子之间以慈恩为主,君臣之间以恭敬为 主。我只看见齐王尊敬您,却没看见您尊敬齐王。”
  孟子说:“哎!这是什么话!在齐国人中,没有一个与齐王谈 论仁义的。难道是他们觉得仁义不好吗?不是。他们心里想的是: ‘这样的王哪里配和他谈论仁义呢?,这才是他们对齐王最大的不 恭敬.至于我,不是尧舜之道就不敢拿来向齐王陈述。所以,齐 国人没有谁比我更对齐王恭敬了。”
  景丑说:“不,我不是说的这个方面。礼经上说过,父亲召唤, 不等到应‘诺’,‘唯’一声就起身;君王召唤,不等到车马备好 就起身,可您呢,本来就谁备朝见齐王,听到齐王的召见却反而 不去了,这似乎和礼经上所说的不大相合吧。”
  孟子说:“原来你说的是这个呀!曾子说过:‘晋国和楚国的 财富,没有人赶得上。不过,他有他的财富,我有我的仁;他有 他的爵位,我有我的义。我有什么不如他的呢?’曾子说这些话难 道没有道理吗?应该是有道理的罢。天下有三样最尊贵的东西:一 样是爵位,一样是年龄,一样是德行。在朝廷上最尊贵的是爵位; 在乡里最尊贵的是年龄;至于辅助君王治理百姓,最尊贵的是德 行.他怎么能够凭爵位就来怠慢我的年龄和德行呢?所以,大有 作为的君主一定有他不能召唤的大臣,如果他有什么事情需要出 谋划策,就亲自去拜访他们。这就叫尊重德行喜爱仁道,不这样, 就不能够做到大有作为。因此,商汤对于伊尹,先向伊尹学习,然 后才以他为臣,于是不费大力气就统一了天下;桓公对于管仲,也 是先向他学习,然后才以他为臣,于是不费大力气就称霸于诸侯。 现在,天下各国的土地都差不多,君主的德行也都不相上下,相 互之间谁也不能高出一筹,没有别的原因,就是因为君王们只喜 欢用听他们的话的人为臣,而不喜欢用能够教导他们的人为臣。商 汤对于伊尹,桓公对于管仲就不敢召唤。管仲尚且不可以被召唤, 更何况连管仲都不屑于做的人呢?”
  【读解】
  这个连管仲都不屑于做的人就是孟子自己。因为在《公孙丑 上》里,当公孙王提出管仲来和孟子相比时,孟子已经说过,自 已根本不屑于与管仲相比。(参见 3·1)比都不愿意比,当然就更 不愿意做了。
  可见孟子的自视是很高的。
  自视既然这样高,当然就不愿意被呼来唤去的了。自己主动 要去朝见是一回事,被召唤去朝见又是另一回事。所以,孟子才 有为景丑等人所不理解的行为。这种行为,不仅孟子有,就是孔 子也是有的。我们读本章,有些地方就与《论语·阳货》记录孔 子虚与委蛇对付阳货的情况相似。说穿了,是因为凡是自视甚高 的人都很注意自己的立身“出处”。这种做法,在民间的看法可就 不一样了,说得好听一点是“清高”,说得不好听一点是“拿架 子”,再说得难听一点那可就是“迂腐”而“酸溜溜”的了。或许 正是因为这样,因为他们的“清高”(或“迂腐”)而不肯苟且,所 以无论是孔子还是孟子周游列国都不被重用,空有满腹经纶和济 世良方。相反,像苏秦、张仪那样的纵横家却完全没有孔、孟的 “清高”(或“迂腐”),“展开谈天说地口,来说名利是非人”,只 管游说得君王高兴,不择一切手段,结果却大行其道,甚至能够 “挂六国相印”。
  撇开对孔、孟与苏秦、张仪的比较不论,回到对用人一方面的 要求来看,孟子在这里的意思是很明确的,就是要求当政治目的 君王“尊贤使能”,“尊德乐道”,礼贤下士,主动放下自己尊贵的 架子而启用贤才,甚至拜贤才为老师,就像商汤王对待伊尹,齐 桓公对待管仲那样。其实,这也是儒学在用人问题上的基本观点。 虽然孔、孟本人一生宣扬这种观点而自身并没有受到过这种待遇, 但他们的思想却对后世的用人之道产生了极其深远的影响。 刘玄 德“三顾茅庐”请诸葛亮的故事,不就是这种影响最为典型的例 证吗?
  当然,有这种典型的例证并不意味着后世都在实施着孔、孟 的观点。而是恰恰相反,人们越是津津乐道于“三顾茅庐”的故 事,就越是说明现实中缺乏这,种“礼贤下士”、“求贤若渴”的作 风。事实上,孔、孟的思想永远都给我们以理想主义的感觉,他 们所提出的一些思想观点,就是在两千多年后的今天,也仍然使 人感到有很多理想的成分。或许,也正是因为有这种理想的成分 吧,才使他们的理论历久而常新,给人以启迪而不过时,这已经 是题外的话了。   回到用人和被用的问题上来,既然当政者多半“好臣其所教, 而不好臣其所受教”,既然任人唯贤、礼贤下士是如此困难,如此 难遇,作为被用的人,有一点“不可召”的清高和骨气,不也是 应该的吗?正如曾子所说:你有你的官位,我有我的正义,我又 输与你什么呢?
  所以,我们还不能简单地认为孟子“不能造朝”是故作姿态, 是迂腐,而应该肯定他的清高和骨气。不然的话,“亚圣”之名从 何得来呢?
  ——————
  当受则受,当辞则辞
  【原文】
  陈臻①问曰:“前日于齐,王馈兼金②一百③而不受;于宋,馈 七十镒而受;于薛④,馈五十镒而受。前日之不受是,则今日之受 非也;今日之受是,则前日之不受非也。夫子必居一于此矣。”
  孟子曰:“皆是也。当在宋也,予将有远行,行者必以赆(5);辞 曰:‘馈赆。’予何为不受?当在薛也,予有戒心;辞日:‘闻戒, 故为兵馈之。’予何为不受?若于齐,则未有处也(6)。无处而馈之, 是货之(7)也。焉有君子而可以货取乎?”(8)
  【注释】    
  (1)陈臻:孟子的学生。②兼金:好金。因其价格双倍于普通金,所 以称为“兼金”。③一百:即一百镒(yi)。镒为古代重量单位.一镒为 二十两。④薛:春秋时有薛国,但在孟子的时代已被齐国所灭,所以,这 里的薛是指齐国靖郭君田婴的封地,在今山东滕县东南。⑤赆(jin):给 远行的人送路费或礼物。(6)戒心:戒备意外发生。根据赵歧的注释,当 时有恶人要害孟子,所以孟子有所戒备。(7)未有处:没有出处,引申为 没有理由。(8)货:动词,收买,贿赂。
  【译文】
  陈臻问道:“以前在齐国的时候,齐王送给您好金一百镒,您 不接受;到宋国的时候,家王送给您七十镒,您却接受了;在薛 地,薛君送给您五十镒,您也接受了。如果以前的不接受是正确 的,那后来的接受便是错误的;如果后来的接受是正确的,那以 前的不接受便是错误的。老师您总有一次做错了吧。”
  孟子说:“都是正确的。当在宋国的时候,我准备远行,对远 行的人理应送些盘缠。所以宋王说:‘送上一些盘缠。’我怎么 不接受呢?当在薛地的时候,我听说路上有危险,需要戒备。薛 君说:‘听说您需要戒备,所以送上一点买兵器的钱。’我怎么能 不接受呢?至于在齐国,则没有任何理由。没有理由却要送给我 一些钱,这等于是用钱来收买我。哪里有君子可以拿钱收买的呢?”
  【读解】
  陈臻的推论看起来似乎有道理,二者必居其一,但实际上却 局限于形式逻辑的范畴,是就是,不是就不是,缺乏辨证逻辑的 灵活性,不能解决特殊性的问题。
  孟子的回答则是跳出了“两难推论”的藩篱,具体问题具体 分析,不同情况不同对待,辩证解决。用孔子、孟子等人的话 说,这就叫通权达变。
  在《论语·雍也》篇里,我们已经看到,当公西华被孔子派 去出使齐国时,冉有替公西华多要一些安家口粮,孔子认为,公 西华做大使“乘肥马,衣轻裘”,有的是钱财口粮,所以并没有多 给他安家口粮。(6· 4)可是,当原思做孔子家的总管而自己觉得 俸禄太高时,孔子却劝他不要推辞。(6·5)这与孟子在齐国推辞 而在宋国和薛地却接受一样,都是令一般人不理解。但无论是孔 子还是孟子,他们之所以这样做,都是有自己的一番道理的。总 起来说,就是孔子所说的:“富与贵,是人之所欲也,不以其道得 之,不处也。”(《论语·里仁》)也就是我们常说的“君子爱财, 取之有道。”从思想方法上来说,就是既坚持原则又通权达变。不 仅处理经济问题如此,就是个人的立身处世也是如此。所以孟子 说孔子是‘可以仕则仕,可以止则止;可以久则久,可以速则 速”(《公孙丑上》)的“圣之时者”。(《万章下》)也就是突出他 通权达变而识时务的一面。甚至包括孔子的名言“用之则行、舍 之则藏”(《论语。述而》和孟子的名言“穷则独善其身、达则 兼善天下”(《孟子·尽心下》)等,也无不是这种精种的体现。
  今天我们面临市场经济的时代,金钱的受与不受,辞与不辞 问题也时常摆在人们的面前。孟子的基本作则是“焉有君子而可 以货取乎?’,不拿不明不白的钱。在这样的原则前提下,当受则受, 当辞则辞。这种处理态度,恐怕对我们是有借鉴意义的罢。
  当然,关键是在对那“当”的理解上。理解错误,或者是故 意理解错误,把不当接受的作为了当接受的统统接受了下来,那 就要出问题,要被人“货取”了。 所以,君子不可不当心啊!
  ——————
  无官无责,进退有余
  【原文】
  孟子谓蚳蛙(1)曰:“子之辞灵丘(2)而请士师(3),似也,为其可以 言也。今既数月矣,未可以言与?”
  蚳蛙谏于王而不用,致为臣而去。齐人曰:“所以为蚳蛙则善矣; 所以自为,则吾不知也。”
  公都子④以告。
  曰:“吾闻之也:有官守者,不得其职则去;有言责者,不得 其言则去。我无官守,我无言责也,则吾进退,岂不绰绰然有余 裕哉?”
  【注释】    
  ①蚳(zhi)蛙:齐国大夫。②灵丘:齐国边境邑名。③士师: 官名,管禁令,狱讼,刑罚等,是法官的通称。④公都子:孟子的学生。
  【译文】
  孟于对蚳蛙说:“您辞去灵丘县长而请求做法官,这似乎有 道理,因为可以向齐王进言。可是现在你已经做了好几个月的法 官了,还不能向齐王进言吗?”
  蚳蛙蛙向齐王进谏,齐王不听。蚳蛙因此辞职而去。齐国人说: “孟子为蚳蛙的考虑倒是有道理,但是他怎样替自己考虑呢?我们 就不知道了。”
  公都子把齐国人的议论告诉了孟子。
  孟子说:“我听说过:有官位的人,如果无法尽其职责就应该 辞官不干;有进言责任的人,如果言不听,计不从,就应该辞职 不干。至于我,既无官位,又无进言的责任,那我的进退去留,岂 不是非常宽松而有自由的回旋余地吗?”
  【读解】
  有官有职就有责。
  不能尽职,不能尽责,当什么官呢?难免失落,难免苦闷与 烦恼。
  可是,要尽职,要尽责又免不了争斗,免不了权术,依然是 苦闷与烦恼。
  进退维谷。所谓“落入教中”,身不由己啊!如果再加上官场 黑暗腐败,尔虞我诈,你死我活,那就更是痛苦不堪,人性扭曲 了.
  只有无官一身轻,进退都有余地。
  可是,对很多人来说,这种“轻”是“人生不能承受之轻”, 真正“轻”下来了反而过得很沉重。这就叫“红尘滚滚过,几人 能参破?”所以还是要去汲汲于功名,拼命挤进“彀中”。
  倒是孟子看得很清楚:
  “我无官守,我无言责也,则吾进与退,岂不绰绰然有余裕哉?”
  对于要想潇洒走一回,轻轻松松过一生的人来说,还是听听 孟老夫子的话有好处。
  ——————
  君子不以天下俭其亲
  【原文】
  孟子自齐葬于鲁①,反于齐,止于嬴②。
  充虞③请曰:“前日不知虞之不肖,使虞敦匠事④。严(5),虞不 敢请.今愿窃有请也:木若以(6)美然。” 
  曰:“古者棺椁无度(7),中古(8)棺七寸,椁称之。自天子达于庶 人,非直为观美也,然后尽于人心。不得(9),不可以为悦;无财, 不可以为悦。得之为(10)有财,古之人皆用之,吾何为独不然?且比(11) 化者(12)无使土亲肤,于人心独无恔(13)乎?吾闻之:君子不以天下俭 赔。”
  【注释】    
  ①自齐葬于鲁:孟子在齐国时,随行的母亲去世,孟子从齐国把母亲遗 施购国安葬。②嬴:地名,故城在今山东莱芜西北。③充虞:孟 子的学生。④敦:治,管。匠事:木匠制作棺材的事。⑤严;急,忙。 (6)以:太。①棺椁(guo)无度:古代棺材分内外两层,内层叫棺, 外层的套棺叫椁。棺椁无度是说棺与椁都没有尺寸规定。(8)中古:指周 公治礼以后的时代。(9)不得:指礼制规定所不允许。(10)为:这里是 “与”的意思。(11)比;为了。(12)化者:死者。(13)恔(xiao):快, 快慰,满足。
  【译文】
  孟子从齐国到鲁国安葬母亲后返回齐国,住在嬴县。 
  学生充虞请教说:“前些日子承蒙老师您不嫌弃我,让我管理 做棺椁的事。当时大家都很忙碌,我不敢来请教。现在我想把心 里的疑问提出来请教老师:棺木似乎太好了一点吧!”
  孟子回答说:“上古对于棺律用木的尺寸没有规定;中古时规 定棺木厚七寸,椁木以与棺木的厚度相称为准。从天子到老百姓, 讲究棺木的质量并非仅仅是为了美观,而是因为要这样才能尽到 孝心。为礼制所限不能用上等木料做棺椁,不能够称心;没有钱 不能用上等木料做棺椁,也不能够称心。既为礼制所允许,又有 财力,古人都会这么做,我又怎么不可以呢?况且,这样做不过 是为了不让泥土沾上死者的尸体,难道孝子之心就不可以有这样 一点满足吗?我听说过:君子不因为天下大事而俭省应该用在父 母身上的钱财。”
  【读解】
  从流传下来很少的记载来看,我们已经知道孟子的母是一 位慈母,在孟子的教育上很花了些心血。所以,当母亲去世的时 候,孟子的孝子之心是可以理解的,把棺桂做得好一点也没有什 么不可以。
  当然,《孟子》一书之所以把这一章记载在这里,绝不仅是 为了给孟子为母亲做上等棺择作解释。而是为了表达孟子的思想: 在安葬父母的问题上,只要是礼制和财力两方面许可,就要尽力 做得好一些。尤其是本章最后的一句话——“君子不以天下俭其 亲”,更是格言似的表达了孟子关于“孝”的看法。
  我们已经知道,《论语》里有不少孔子及其弟子关于“孝”,关 于“丧”的问题的论述。其中比较重要而又与本章所论问题关系 密切的如孔子在《八佾》篇里的说法:“与其易也,宁戚。”意思 是说,丧礼与其铺张浪费,宁可悲哀可度。所以,孔子其实更重 视的是内在情感方面,而要求在物质方面节俭办事,反对丧事过 分大办,铺张浪费。这一点,在孟子这里显然已发生了变化。时 代不同,个人所处地位不同,财力状况不同都导致了这种变化。但 万变不离其宗,有一点是肯定的,就是强调丧事是“孝心”的重 要体现,必须要引起我们的高度重视。
  不过,高度重视并不意味着越铺张越好。就是为母亲做上等 棺椁的孟子,不也仍然坚持了礼制与财力许可这两条基本原则吗?
  所以,超出我们的“礼制”(文件〕规范(比如说动用几十辆 豪华公车)和财力大办丧事也罢,修豪华祖坟也罢,都不一定能 够在孔、孟这里得到支持。倒是真正诚心诚意地尽自己的财力,在 礼俗许可的范围内办好丧事,更重要的是在内。真正表达对失去 亲人的悲戚和悼念,才是先贤圣哲们所赞许的行为。
  ——————
  官场与商场中的垄断现象
  【原文】
  孟子致为臣而归①。王就见孟子,曰:“前日愿见而不可得;得 侍同朝,甚喜;今又弃寡人而归,不识可以继此而得见乎?”
  对曰:“不敢请耳,固所愿也。”
  他日,王谓时子②曰:“我欲中国③而授孟子室,养弟子以万 钟,使诸大夫国人皆有所矜式⑤。子盍为我言之?”
  时子因陈子(6)而以告孟子,陈子以时子之言告孟子。
  孟子曰:“然,夫时子恶知其不可也?如使予欲富,辞十万而 受万,是为欲富乎?季孙(7)曰:‘异哉子叔疑(8)!使己为政,不用, 则亦已矣,又使其子弟为卿。人亦孰不欲富贵?而独于富贵之中 有私龙断(9)焉。’古之为市也,以其所有易其所无者,有司者治之 耳。有贱丈夫@焉,必求龙断而登之,以左右望,而罔市利。人告 以为贱,故从而征之。征商自此贱丈夫始矣。”
  【注释】    
  ①致为臣而归:指孟子辞去齐宣王的客卿而归故乡。致,在古代有“致 仕”、“致禄”、“致政”等多种说法,其中的“致”都是“归还”的意思. ②时子:齐王的巨子。③中国:在国都中,指临淄城。“中”在这里是 介词,“国”即国都。④万钟:钟,古代量器。齐国量器有豆、区、釜、 钟四种。每豆四升,每区四斗,每釜四区,每钟十釜。万钟为六万四千石. ⑤矜式:敬重,效法。(6)陈子:即孟子的学生陈臻。(7)季孙:赵 歧注为孟子的弟子,朱熹则认为“不知何时人”。(8)子叔疑:人名,与季孙一 样不可考。(9)龙断:即“垄断”。原意是名词,指高而不相连属的土墩子, 后逐渐引申为把持、独占。(10)丈夫;对成年男子的通称。
  【译文】
  孟子辞去齐国的官职准备回乡。齐王专门去看孟子,说:‘从 前希望见到您而不可能;后来终于得以在一起共事,我感到很高 兴;现在您又将抛弃我而归去了,不知我们以后还能不能够相见?” 
  孟子回答说:“我不敢请求罢了,这本来就是我的愿望。” 
  过了几天,齐王对臣下时子说:‘我想在都城中拨一所房子给 孟子,再用万钟粮食供养他的学生,使我们的官吏和人民都有所 效法。您何不替我向孟子谈谈呢?” 
  时子便托陈子把这话转告给孟子。陈子也就把时子的话告诉 了孟子。
  孟子说:“嗯,那时子哪里知道这事做不得呢?如果我是贪图 财富的人,辞去十万钟傣禄的官不做却去接受一万钟的赏赐,这 的是想更富吗?季孙曾经说过:‘子叔疑真奇怪!自己要做官, 别人不重用,也就算了嘛,却又让自己的子弟去做卿大夫。谁不 想做官发财呢?可他却想在这做官发财中搞垄断。’这正如古代的 市场交易,本来不过是以有换无,有关的部门进行管理。但却有 那么一个卑鄙的汉子,一定要找一个独立的高地登上去,左边望 望,右边望望,恨不得把全市场的赚头都由他一人捞劳去。别人都 觉得这人卑鄙,因此向他征税。征收商业税也就从这个卑鄙的汉 子开始了。”
  【读解】
  孟子在齐宣王那里虽然受到比较好的接待,甚至做了客卿,在 不少问题上(例如是否攻打燕园,是否占领燕园等)齐宣王也征 求他的意见。但齐宣王却始终不愿意实施孟子所提出的“仁政”方 案,所以,孟子还是只有“致为臣而归”,辞职归家了。
  当齐宣王通过臣下来转达留住孟子的愿望时,孟子以“辞十 万而受万,是为欲富乎?”作为回答,表明了自己做官绝对不是为 了个人发财致富,而是为实现政治抱负,济世救民。接着,孟子 便说了一段寓言式的话,指出了官场和商场都有人想进行垄断的 现象。
  之所以说孟子的这段话像寓言,是因为它的含义极其深刻而 具有哲理。
  官场的垄断现象不用多说大家也很清楚,自古便有裙带关系, 就像孟子这里所指出的子叔疑,自己做官不算,还要让自己的子 弟都去做官。话说回来,世袭制度本身就是一种垄断制度。即便 不是世袭的科举制度,其垄断现象也是非常严重的。一部《官场 现形记》所揭露的种种丑恶,其实也并没有跳出孟子的时代多远。 所以,孟子所指出的官场垄断是深刻而意义深远的。
  尤其具有超前意义的是,孟子在指出官场垄断现象的同时,还 指出了市场垄断现象的起源。其“贱丈夫”的说法固然具有浓厚 的寓言色彩,商业税的征收也绝不会真正起源于这个“贱丈夫”。 但是,“贱丈夫”不过是“罔市利”的市场垄断行为的化身罢了, 所以,说征收商业税起源于这种市场垄断行为也不是没有道理的. 最为有意思的是,我们都知道垄断资本主义是近现代社会的产物, 而孟子早在两千多年前就指出了这个垄断的怪物—一“贱丈夫”。 虽然性质和程度都有所不同,但其超前意义,不是很值得深思吗?
  就我们今天而言,市场经济的竞争已愈来愈激烈,愈来愈卷 进全民的注意力。“赚进每一分可能赚到的钱“,已成为很多经商 者的心愿。但是,如果只图自己赚钱而“罔市利”,不顾别人利 益,则很可能成为孟子笔下的“贱丈夫”,成为大家群起而攻之的 对象。结果很可能会事与愿违,不仅不能“罔市利”,反而还会做 “市利”所罔,落入教中,走投无路。所以,还是不要做“贱丈 夫”而做“大丈夫”罢。
  就孟子的本意而言,“贱丈夫”的寓言是为了配合说明官场与 商场一样存在着垄断,干扰着他说服齐王实施仁政。而这,正是 他不愿意享受十万钟的俸禄而辞职还乡的根本原因。一心想称霸 于列强的齐宣王又哪能体会到这些呢?就算体会到,又会不会真 正采纳孟子的建议,实施以道德来统一天下的“仁政”呢?这些 都是孟子所不抱希望的了,所以他只能以近乎寓言的方式来表这, 让他的学生把它转达回齐王那里,任他去深思罢了。
  ——————
  膝文公上
  膝文公上 本篇前面三章记录孟子与膝文公之间的谈话和事迹,后两章 分别记录孟子对农家和墨家两个学派的观点。其中对农家的观点 论述社会分工问题,且有农家的资料价值,较为重要。全篇原文 一共只有5篇,本书选3篇。
  孟子道性善,言必称尧舜
  【原文】
  膝文公为世子①,将之楚,过宋而见孟子。孟子道性善,言必 称尧舜。
  世子自楚反,复见孟子。孟子曰:“世子疑吾言乎?夫道一而 已矣。成规②谓齐景公曰:‘彼,丈夫也;我,丈夫也;吾何畏彼 哉?’颜渊曰:‘舜,何人也?予,何人也?有为者亦若是。’公明 仪③曰:‘文王,我师也;周公岂欺我哉?’今膝,绝长补短,将五 十里也,犹可以为善国。《书》曰:‘若药不瞑眩④,厥疾不瘳⑤。’”
  【注释】    
  ①世子:即太子。“世”和“太”古音相同,古书常通用。②成规  :齐国的勇士。 ③公明仪:人名,复姓公明,名仪,鲁国贤人,曾 子学生.④瞑眩:眼睛昏花看不清楚。⑤瘳(Chou):病愈。
  【译文】
  滕文公还是太子的时候,要到楚国去,经过家国时拜访了孟 子。孟子给他讲善良是人的本性的道理,话题不离尧舜。   太子从楚国回来,又来拜访孟子。孟子说:“太子不相信我的 话吗?道理都是一致的啊。成脱对齐景公说:‘他是一个男子汉,我 也是一个男子汉,我为什么怕他呢?’颜渊说:‘舜是什么人,我 是什么人,有作为的人也会像他那样。’公明仪说:‘文王是我的 老师;周公难道会欺骗我吗?’现在的滕国,假如把疆土截长补短 也有将近方圆五十里吧。还可以治理成一个好国家。《尚书》说 ‘如果药不能使人头昏眼花,那病是不会痊愈的。”’
  【读解】
  “道性善”和“称尧舜”是孟子思想中的两条纲,而这两方面 又是密切联系在一起的。
  “道性善”就是宣扬“性善论”。“性善”的正式说法,最早就 见于这里。所以,本章还有重要的思想史资料价值。当然,从 “性善”的内容来看,在“人皆有不忍人之心”(《公孙五上》)的 论述中就已经展开了。
  “称尧舜”就是宣扬唐尧虞舜的“王道”政治,也就是孟子口 口声声所说的“仁政”。 所谓“先王有不忍人之心,斯有不忍人之政矣。”
  “不忍人之 心”的善良本性是“不忍人之政”的仁政的基础,二者的关系是 密不可分的。 所以,孟子“道性善”要“言必称尧舜”,这是非常清楚的了. 
  至于滕文公再次拜访时孟子所引述的那些话,不外乎鼓励他 要有实施仁政的勇气罢了。因为,古往令来,不论是圣贤还是普 通人,本性都是善良的,圣贤能做到的,普通人经过努力也能做 得到。何况,滕国虽然小,但折算起来也有方圆五十里国土嘛,只 要是实施仁政,照样可以治理成一个好的国家。
  这就是孟子的苦心,无论大国小国,只要是有机会就抓住不 放,抓住宣扬自己的政治学说和治国方案。 
  ——————
  上行下效的实例
  【原文】
  滕定公①薨②,世子谓然友③曰:“昔者孟子尝与我言于于宋,于 心终不忘,今也不幸至于大故④,吾欲使子问于孟子,然后行事。”
  然友之邹⑤问于孟子。
  孟子曰:“不亦善乎!亲丧,固所自尽(6)也。曾子曰:“生,事 之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼,可谓孝矣(7)。’诸侯之礼,吾 未之学也;虽然,吾尝闻之矣。三年之丧(8),齐疏之服(9),飦粥之 食(10),自天子达于庶人,三代共之。”
  然友反命,定为三年之丧。父兄百官皆不欲,曰:“吾宗国(11) 鲁先君莫之行,吾先君亦莫之行也,至于子之身而反之,不可,且 《志》(12)曰:‘丧祭从先祖。’曰:‘吾有所受之也。’”
  谓然友曰:“吾他日未尝学问,好驰马试剑。今也父兄百官不 我足也,恐其不能尽于大事,子为我问孟子!”   然友复之邹问孟子。
  孟子曰:“然,不可以他求者也。孔子曰:‘君薨,听于冢宰(13), 歠(14)粥,面深墨,即位而哭,百官有司莫敢不哀,先之也。’上有好者,下必有甚焉者矣。君子之德,风也;小人之德,草也。草尚之风,必偃(15)。是在世子。”
  然友反命。
  世子曰:“然;是诚在我。”
  五月居庐(16),未有命戒。百官族人可,谓曰知。及至葬,四方 来观之,颜色之戚,哭泣之哀,吊者大悦。 
  【注释】    
  ①滕定公:滕文公的父亲。 ② 薨:死。古代称侯王死叫 “薨”,唐代以后用于指二品以上官员死。③然友:人名,太子的老师. ④大故:重大的事故,指大丧、凶灾之类。⑤之:至,到。邹与滕相 距只有四十余里,所以可以问后行事。(6)自尽:尽自己最大的心力. (7)曾子曰:这几句话在《论语·为政》中是孔子对樊迟说的。(8)三年 之丧:指子女为父母、臣下为君主守孝三年。(9)齐(zi)疏之服:用粗 布做的缝边的丧服。齐,指衣服缝边。古代丧服叫做衰(CUT),不缝衣边的 叫“斩衰”,缝衣边的叫“齐衰”。(10)飦(zhan);稠粥。粥:稀粥.这里 是偏义复词,指稀粥。(11)宗国:鲁、膝诸国的始封祖都是周文王的儿子, 而周公封鲁,于行辈较长,所以其余姬姓诸国都以鲁为宗国。(12)《志》: 记国家世系等的一种书。(13)冢宰:官名。在君王居丧期间代理朝政. (14)歠(Chuo):饮。(15)君子之德………必偃:这几句出自《论语·颜 渊》篇孔子的话。“尚”与“上”同;偃,倒下。(16)五月居庐:居住在丧 庐中五个月。
  【译文】
  滕定公死了,太子对老师然友说:“上次在宋国的时候孟子和 我谈了许多,我记在心里久久不忘。今天不幸父亲去世,我想请 您先去请教孟子,然后才办丧事。”
  然友便到邹国去向孟子请教。
  孟子说:“好得很啊!父母的丧事本来就应该尽心竭力。曾子 说:‘父母活着的时候,依照礼节侍奉他们;父母去世,依照礼节 安葬他们,依照礼节祭把他们,就可以叫做孝了。’诸侯的礼节, 我不曾专门学过,但却也听说过。三年的丧期,穿着粗布做的孝 服,喝稀粥。从天子一直到老百姓,夏、商、周三代都是这样的.” 
  然友回国报告了太子,太子便决定实行三年的丧礼。滕国的 父老官吏都不愿意。他们说:“我们的宗国鲁国的历代君主没有这 样实行过,我们自己的历代祖先也没有这样实行过,到了您这一 代便改变祖先的做法,这是不应该的。而且《志》上说过:‘丧礼 祭祖一律依照祖先的规矩。’还说:‘道理就在于我们有所继承.’” 
  太子对然友说:‘我过去不曾做过什么学问,只喜欢跑马舞剑。 现在父老官吏们都对我实行三年丧礼不满,恐怕我处理不好这件 大事,请您再去替我问问孟子吧!”
  然友再次到邹国请教孟子。 孟子说:“要坚持这样做,不可以改变。孔子说过:‘君王死 了,太子把一切政务都交给家事代理,自己每天喝稀粥。脸色深 黑,就临孝子之位便哭泣,大小官吏没有谁敢不悲哀,这是因为 太子亲自带头的缘故。’在上位的人有什么喜好,下面的人一定就 会喜好得更厉害。领导人的德行是风,老百姓的德行是草。草受 风吹,必然随风倒。所以,这件事完全取决于太子。”
  然友回国报告了太子。
  太子说:“是啊,这件事确实取决于我。”
  于是太子在丧庐中住了五个月,没有颁布过任何命令和禁令。 大小官吏和同族的人都很赞成,认为太子知礼。等到下葬的那一 天,四面八方的人都来观看,太子面容的悲伤,哭泣的哀痛,使 前来吊丧的人都非常满意。
  【读解】
  领导人以身作则,上行下效是孔子反复申说的一个话题,孟 子也同样继承了孔子的思想。他在本章里所说的“君子之德,风 也;小人之德,草也。革尚之风,必惬。”正是孔子在《颜渊》里 面说的“君子之德风,小人之德草,草上之风,必修’的翻版 。
  由此可见,以身作则,上行下效是孔子、孟子都非常重视的政治领导原则。而本章正是这样一个上行下效的实例。   滕国的太子(也就是后来的膝文公)死了父亲,由于他上一 次在宋国听了孟子“道性善,言必称尧舜”,给他留下了很深刻很 听得进去的印象,所以这一次遇事,他就托自己的老师去向孟子 请教如何办丧事。孟子的意见回来以后,太子发出了实施三年丧 礼的命令,结果遭到了大家的反对,“虽令不从”。太子于是又再 次请老师去问计于孟子,这一次孟子讲了上行下效,以身作则的 道理,希望太子亲自带头这样作。结果,丧事办得非常成功,大 家都很满意,“不令而行”。
  从这件事上,我们固然可以看到儒家对于丧礼的观点,但对 我们更有启发意义的,还是领导人以身作则的问题,正如我们在 《论语·颜渊》的读解中所概括,这是一种“风吹草动”的统治术. 风不吹,草怎么会动起来呢?反过来说,要草动,风就得不断地 吹啊! 。 
  ——————
  劳心者治人,劳力者治于人
  【原文】
  有为神农之言①者许行②,自楚之膝,踵③门而告文公曰:“远 方之人闻君行仁政,愿受一廛而为氓④。”
  文公与之处。
  其徒数十人,皆衣褐,捆屦,织席以为食⑤。
  陈良之徒陈相与其弟辛(6),负耒耜而自宋之膝,日:“闻君行 圣人之政,是亦圣人也,愿为圣人氓。”
  陈相见许行而大悦,尽弃其学而学焉。
  陈相见孟子,道许行之言曰:“膝君则诚贤君也;虽然,未闻 道也。贤者与民并耕而食,饔飧(7)而治。今也膝有仓禀府库,则是 厉(9)民而以自养也,恶得贤?” 
  孟子曰:“许子必种粟而后食乎?”
  曰:“然。”
  “许子必织布而后衣乎?” 
  曰:“否,许子衣褐。”
  “许子冠乎?”
  曰:“冠。”
  曰:“奚冠?”
  曰:“冠素。”
  曰:“自织之与?” 
  曰:“否,以粟易之。” 
  曰:“许子奚为不自织?” 
  曰:“害于耕。”
  曰:“许子以釜甑爨,以铁耕乎(9)?” 
  曰:“然。” “自为之与?” 
  曰:“否,以票易之。”
  “以票易械器者,不为厉陶冶;陶冶亦以其诚器易粟者,岂为 厉农夫哉?且许子何不为陶冶,舍(10)皆取诸其宫中(11)而用之?何为 纷纷然与百工交易?何许子之不惮烦?”
  曰:“百工之事固不可耕且为也。” 
  “然则治天下独可耕且为与?有大人(12)之事,有小人之事。且 一人之身,而百工之所为备,如必自为而后用之,是率天下而路(13) 也。故曰,或劳心,或劳力;劳心者治人,劳力者治于人;治于 人者食人,治人者食于人;天下之通义也。
  “当尧之时,天下犹未平,洪水横流,泛滥于天下,草水畅茂, 禽兽繁殖,五谷不登,禽兽逼人,兽蹄鸟迹之道交于中国。尧独 忧之,举舜而敷(15)治焉。舜使益掌火,益烈山泽而焚之,禽兽逃匿。 禹疏九河,瀹济漯(16)而注诸海,决汝汉,排淮泗而注之江,然后中 国得而食也。当是时也,禹八年于外,三过其门而不人,虽欲 耕,得乎? 
  “后稷(17)教民稼穑,树艺(18)五谷;五谷熟而民人育。人之内道也, 饱食、暖衣、逸居而无教,则近于禽兽。圣人有忧之,使契(19)为司 徒,教以人伦--父子有亲,君臣有义,夫妇有别,长幼有叙,朋 友有信。放勋(20)曰:‘劳之来之(21),匡之直之,辅之翼之,使自得之, 又从而振德之。’圣人之忧民如此,而暇耕乎? 
  “尧以不得舜为己忧,舜以不得禹、皋陶(22)为己忧。夫以百亩 之不易(23)为己忧者,农夫也。分人以财谓之惠,教人以善谓之忠, 为天下得人者谓之仁。是故以天下与人易,为天下得人难。孔子 曰:‘大哉尧之为君!惟天为大,惟尧则之,荡荡乎民无能名焉! 君哉舜也!巍巍乎有天下而不与焉!’尧舜之治天下,岂无所用其 心哉?亦不用于耕耳。
  “吾闻用夏变夷者,未闻变于夷者也。陈良,楚产也,悦周公、 仲尼之道,北学于中国。北方之学者,未能或之先也。彼所谓豪 杰之士也。子之兄弟事之数十年,师死而遂倍(24)之!昔者孔子没, 三年之外,门人治任925)将归,人揖于子贡,相向而哭,皆失声,然 后归。子贡反,筑室于场,独居三年,然后归。他日,子夏、子 张、子游以有若似圣人,欲以所事孔子事之,强曾子。曾子曰: ‘不可;江汉以濯之,秋阳以暴(26)之,皜皜(27)乎不可尚已。’今也南 蛮鴃(28)舌之人,非先王之道,子倍子之师而学之,亦异于曾子矣. 吾闻出于幽谷迁于乔木者,未闻下乔木而人于幽谷者。《鲁颂》曰: ‘戎狄是膺,荆舒是惩(29)。’周公方且膺之,子是之学,亦为不善变 矣。” 
  “从许子之道,则市贾不贰(30),国中无伪,虽使五尺之童(31)运市, 莫之或欺。布帛长短同,则贸相若;麻缕丝絮轻重同,则贾相若; 五谷多寡同,则贾相若;屦大小同,则贾相若。” 
  曰:“夫物之不齐,物之情也;或相倍蓰(32),或相什百,或相 千万。子比而同之,是乱天下也。巨屦小屦(33)同贾,人岂为之哉? 从许子之道,相率而为伪者也,恶能治国家?”
  【注释】    
  ①神农之言:神农氏的学说。神农是上古传说中的人物,常与伏羹氏、燧 人氏一道被称为“三皇”。神农氏主要的功绩是教人从事农业生产,所以叫 “神农”。春秋战国时期诸子百家多托古圣贤之名而标榜自己的学说。“农家” 就假托为“神农之言”。②许行:农家代表人物之一,生平不详。③ 踵(zhong):至,到。④廛:住房。氓:移民。⑤衣褐,捆屦,织 席以为食:穿粗麻衣,靠编草鞋,织草席谋生。衣(yi),动词,穿;褐 (he),粗麻短衣;屦(ju),草鞋。(6)陈良:楚国的儒士。陈相、陈辛:都 是陈良的学生。(7)饔飧:饔(yong):早餐;飧(Sun):晚餐。(8)厉: 病.(9)釜:金属制的锅;甑:用瓦做的茶饭器;爨(cuan):烧火做饭; 铁:指用铁做的农具。(11)舍:相当于方一言“啥”,即什么东西、一切东西 的意思。(12)宫中:家中。古代住宅无论贵贱都可以叫“宫”,秦汉以后才 专指帝王所居为宫。(12)大人:这里指有地位的人,与下文“小人”相对。 (13)路:指奔波、劳累。(15)敷:遍。(16)瀹济漯: 瀹济漯(yue):疏导。济漯(ta):济水和漯水。(17)后稷:相传为周的始 祖,名弃,尧帝时为农师。(18)树艺:种植。(19)契(xie):人名,相 传是殷的祖先,姓子,尧帝时任司徒。(20)放勋:尧的称号,放是大,勋 是功劳,原本是史官的赞誉之辞,后来成为尧的称号。(21)劳之来之:劳、 来都读为去声,劝勉,慰劳。(22)皋(gao)陶(yao):人名,相传为虞舜 时的司法官。(23)易:治。(24)倍:同“背”,背叛。(25)治任:准备 行李。治,整治;任,负担。(26)秋阳以暴:秋阳,周历七八月相当于夏 历五六月,所以这里所说的秋阳实际相当于今天的夏阳。暴,同“曝”,晒。 皜皜(hao):光明洁白的样子。(28)鴃(jue):伯劳鸟。(29)戎狄 膺,荆舒是惩:引自《诗经·鲁颂·闷官》。膺,击退;惩,抵御;戎秋是 北方的异族;荆、舒是南方的异族。(30)市贾不贰:贾通“价”;不贰,没 有两样。(31)五尺之重:古代尺寸短,五尺约相当于现在三尺多一点。 (32)倍蓰(xi):倍,一倍;蓰,五倍。后文的什、百、千、万都是指倍数。 (33)巨屦小屦:粗糙的草鞋与精致的草鞋。
  【译文】
  有一个奉行神农氏学说,名叫许行的人从楚国到滕国进见滕 文公说:“我这个从远方来的人听说您施行仁政,希望得到一所住 处,成为您的百姓。”
  滕文公给了他住处。
  许地的门徒有几十个人,都穿着粗麻衣服,靠打草鞋织席子 谋生。
  陈良的门徒陈相和他弟弟陈辛背着农具从宋国来到滕国,也 进见滕文公说:听说您施行圣人的政治,那么,您也是圣人了, 我们都愿意做圣人的百姓。”
  陈相见到许行后非常高兴,完全抛弃了自己以前所学的而改 学许行的学说。
  陈相有一天去拜访孟子,转述许行的话说:“滕君的确是个贤 明的君主,不过,他还没有掌握真正的治国之道。贤人治国应该 和老百姓一道耕种而食,一道亲自做饭。现在滕国却有储藏粮食 的仓库,存放财物的仓库,这是损害老百姓来奉养自己,怎么能 够叫做贤明呢?” 
  孟子说:“许先生一定要自己种庄稼才吃饭吗?” 
  陈相回答说:“对。” 
  “许先生一定要自己织布然后才穿衣吗?” 
  回答说:“不,许先生只穿粗麻衣服。” 
  “许先生戴帽于吗?” 
  回答说:“戴。”
  孟子问:“戴什么帽子呢?” 
  回答说:“戴白帽子。” 
  孟子问:“他自己织的吗?” 
  回答说:“不是,是用粮食换来的。” 
  孟子问:“许先生为什么不自己织呢?” 
  回答说:“因为怕误了农活。” 
  孟子问:“许先生用锅和甄子做饭,用铁器耕种吗?” 
  回答说:“是的。” 
  “他自己做的吗?” 
  回答说:“不是,是用粮食换的。” 
  孟子于是说:“农夫用粮食换取锅、瓶和农具,不能说是损害 了瓦匠铁匠。那么,瓦匠和铁匠用锅、瓶和农具换取粮食,难道 就能够说是损害了农夫吗?而且,许先生为什么不自己烧窑冶铁 做成锅、甑和各种农具,什么东西都放在家里随时取用呢?为什 么要一件一件地去和各种工匠交换呢?为什么许先生这样不怕麻 烦呢?”
  陈相回答说:“各种工匠的事情当然不是可以一边耕种一边同 时干得了的。” 
  “那么治理国家就偏偏可以一边耕种一边治理了吗?官吏有官 吏的事,百姓有百姓的事。况且,每一个人所需要的生活资料都 要靠各种工匠的产品才能齐备,如果都一定要自己亲手做成才能 使用,那就是率领天下的人疲于奔命。所以说:有的人脑力劳动, 有的人体力劳动;脑力劳动者统治人,体力劳动者被人统治;被 统治者养活别人,统治者靠别人养活:这是通行天下的原则。 
  “在尧那个时代,天下还未太平,洪水成灾,四处泛滥;草木 无限制生长,禽兽大量繁殖,谷物没有收成,飞禽起兽危害人类, 到处都是它们的踪迹。尧为此而非常担忧,选拔舜出来全面治理。 舜派益掌管用火烧,益便用烈火焚烧山野沼泽的草木,飞禽走兽 于是四散而逃。大禹疏通九条河道,治理济水、源水,引流入海; 挖掘汝水、汉水,疏通淮水、泅水,引流进入长江。这样中国才 可以进行农业耕种。当时,禹八年在外,三次经过自己的家门前 都不进去,即便他想亲自种地,行吗? 
  “后稷教老百姓耕种收获,栽培五谷,五谷成熟了才能够养育 百姓。人之所以为人,吃饱了,穿暖了,住得安逸了,如果没有 教养,那就和禽兽差不多。圣人又为此而担忧,派契做司徒,用 人与人之间应有的伦常关系和道理来教育百姓——父子之间有骨 肉之亲,君臣之间有礼义之道,夫妻之间有内外之别,老少之间 有尊卑之序,朋友之间有诚信之德。尧说道:‘慰劳他们,安抚他 们,开导他们,纠正他们,辅助他们,保护他们,使他们创 所,再进一步提高他们的品德。’圣人为老百姓考虑得如此之 难道还有时间来亲自耕种吗?
  “尧把得不到舜这样的人作为自己的忧虑,舜把得不到禹和 陶这样的人作为自己的忧虑。那些把耕种不好田地作为自己忧虑 的,是农夫。把钱财分给别人叫做惠,把好的道理教给别人叫做 忠,为天下发现人才叫做仁。所以把天下让给人容易,为天下发 现人才却很难。孔子说:‘尧做天子真是伟大!只有天最伟大,只 有尧能够效法天,他的圣德无边无际,老百姓找不到恰当的词语 来赞美他!舜也是了不得的天子!虽然有了这样广阔的天下,自 己却并不占有它!’尧和舜治理天下,难道不用心思吗?只不过 用在耕田种地上罢了。
  “我只听说过用中原的一切来改变边远落后地区的,没有听说 过用边远落后地区的一切来改变中原的。陈良本来是楚国的人,喜 爱周公、孔子的学说,由南而北来到中原学习。北方的学者还没 有人能够超过他。他可以称得上是豪杰之士了。你们兄弟跟随他 学习几十年,他一死,你们就背叛了他!以前孔子死的时候,门 徒们都为他守孝三年,三年以后,大家才收拾行李准备回家。临 走的时候,都去向子贡行礼告别,相对而哭,泣不成声,然后才 离开。子贡又回到孔子的墓地重新筑屋,独自守墓三年,然后才 离开。后来,子夏、子张、子游认为有若有点像孔子,便想用尊 敬孔子的礼来尊敬他,他们希望曾子也同意。曾子说:‘不可以. 就像曾经用江汉的水清洗过,又在夏天的太阳下曝晒过,洁白无 暇。我们的老师是没有谁还能够相比的。’如今这个怪腔怪调的南 方蛮干,说话诽谤先王的圣贤之道,你们却背叛自己的老师而向 他学习,这和曾子的态度恰恰相反。我只听说过从幽暗的山沟飞 出来迁往高大的树木的,从没听说过从高大的树木飞下来迁往由 暗的山沟的。《鲁颂》说:‘攻击北方的戎狄,惩罚南方的荆舒。’ 周公尚且要攻击楚国这样的南方蛮干,你们却去向他学习,这简 直是越变越坏了啊。”
  陈相说:“如果听从许先生的学说,市场价格就会统一,人人 没有欺诈,就是打发一个小孩子去市场,也不会被欺骗。布匹丝” 绸的长短一样,价格也就一样;麻线丝绵的轻重一样,价格也就 一样;五谷的多少一样,价格也就一样;鞋子的大小一样,价格 也就一样。” 
  孟子说:“各种东西的质量和价格不一样,这是很自然的,有 的相差一倍五倍,有的相差十倍百倍,有的甚至相差千倍万倍。您 想让它们完全一样,只是搞乱天下罢了。一双粗糙的鞋子与一双 榆致的鞋子价格完全一样,人们难道会同意吗?听从许先生的学 说,是率领大家走向虚伪,怎么能够治理好国家呢?
  【读解】
  这一章文字很长,内容却并不算太复杂。既可以把它看作是 主子对当时流行的农家学说的有力批驳,又可以把它看作是孟子 对于社会分工问题的系统论述。
  社会分工是人类历史发展的必然规律,也是文明的表现。从 理论上说,生产力的发展必然导致社会分工,这是不可阻档的历 史趋势;社会分工又将进一步促进生产力的发展和社会进步,这 也是必然的结果。从实际情况来看,在原始社会中出现了农业和 畜牧业的分离,这是第一次社会大分工。在原始社会末期,又出 现了农业和手工业的分工。更进一步,随着人类由原始社会向文 明社会过渡,脑力劳动和体力劳动之间,管理者与被管理者之间 的分工也不可避免地出现了。而这种分工的出现,就必然导致统 治胡被统治者,管理者与被管理者,甚至,压迫者与被压迫者· 剥削者与被剥削者,一言以蔽之,也就走阶级矛盾和阶级对立的 出现。这种分工和矛盾对立的出现,从人类发展的总体上来看.’ 材的,不可转移的必然趋势,但从局部的阶段性的角度来看一 是充满了尖锐斗争,充满了暴力和邪恶。正是面对这种令人困惑 的复杂情况,思想家们提出了各自的观点和解决问题的办法。 
  许行的农家学说就是这些各种各样观点中的一种。他把各种 社会问题的出现都归咎于社会分工,认为“贤者与民并耕而食,饔 格而治”是解决社会矛盾的最佳办法。他不仅从理论上这样认为, 而且还身体力行地进行实践,率领弟子“衣褐,捆屦,织席以为 食。”他的这种观点和做法怪异而新鲜,吸引了不少人,就连一向 奉行儒家学说的陈相兄弟也从宋国赶来滕国,成为许行的门徒。陈 相兄弟不仅背叛了师门,而且还公然去拜访孟子,宣扬自己新学 到的农家学说。
  孟子当然不会容忍陈相兄弟的行为,也不能不对许行的学说 展开批驳。于是又使出了自己一贯擅长的推谬手法,一问一答,把 许行及其门徒的做法推到了极其荒唐的程度,迫使陈相承认“百 工之事固不可耕且为也。”实际上就承认了社会分工的合理性。孟 子这才展开自己的正面论述。首先提出他那一段著名的论断:“或 劳心,或劳力;劳心者治人,劳力者治于人;治于人者食人,治 人者食于人:天下之通义也。”然后再“言必称尧舜”,以尧舜等 古代圣王的事迹来论证社会分工的必要性。最后,在驳倒了许行 的观点和做法以后,孟子展开了对于陈相兄弟背叛师门,抛弃儒 学的行为的鞭挞。
  情况非常清楚,孟子所提出的“劳心者治人,劳力者治于 人”论断是讲的社会分工问题。而且,《左传·襄公九年》知武子 已经说过:“君子劳心,小人劳力,先王之制也。”所以,体力劳 动与脑力劳动的差别,在孟子的时代早已是一个普遍存在的现实 现象,他不过是对这种现象加以概括,而在“或劳心,或劳力”的 基础上进一步发挥为“劳心者治人,劳力者治于人”的著名“公 式”而已。
  由此,一方面的确为后世的统治者提供了理论依据,另一方 面。孟子又作为统治阶级的代言人而在一定历史时期内被批倒批 臭。其实,我们在这里已经知道,孟子的原意倒不是论述统治与 被统治的问题。阴差阳错,这个毕生为“民”请命,呼吁当政者 实施仁政的人倒成了统治阶级的代言人。
  平心而论,关键是看你从什么角度去看问题。如果从局部的 阶段性的角度去看,许行的学说主张统治者与老百姓“同吃同住 同劳动”,自己动手,丰衣足食,的确也是有一定意义因而具有吸 引力的。可是,如果从人类历史发展的总体和全程来看,他的观 点和做法就是非常荒唐而可笑的了,而且,越是进入文明发达的 现代社会,就越是近乎寓言般可笑了。我们令天有谁会想到要自 己造一台电视机然后才来看,自己造一辆汽车然后才来开呢?那 不被认为是疯子才怪。同理,从总体和全程的角度来看,“劳心者 治人,劳力者治于人”也不是什么大逆不道,反动透顶的学说,而 是人类社会发展阶段中的现象概括。如果我们还历史背景以真实, 从孟子说这话的具体情况来理解,也就是从社会分工问题的角度 来理解,那就没有什么可怪的了。
  就现有文献来看。《汉书·艺文志》虽曾著录《神农》二十篇, 但已经散失。所以真正要研究农家学派,《孟子》本章还是极为重 要的资料。这也是值得顺便一提的。 
  ——————
  滕文公下
  本篇以论立身处世的“出处”、气节等为主,很富有哲理性, 当然也仍然离不开政治。全篇原文共10章,本书选8章。
  枉己者,未有能直人者也
  【原文】
  陈代①曰:“不见诸侯,宜若小然;今一见之,大则以王,小 则以霸。且《志》曰:‘枉尺而直寻②’,宜若可为也。”
  孟子曰:“昔齐景公田③,招虞人以旌④,不至,将杀之。志士 不忘⑤在沟壑,勇士不忘丧其元(6)。孔子奚取焉?取非其招不往也. 如不待其招而往,何哉?且夫枉尺而直寻者,以利言也。如以利, 则枉寻直尺而利,亦可为与?昔者赵简子(7)使王良(8)与劈奚(9)乘,终 日而不获一禽。嬖奚反命(10)曰:‘天下之贱工也。’或以告王良。良 曰:‘请复之。’强而后可,一朝而获十禽。嬖奚反命曰:‘天下之 良工也。’简子曰:‘我使掌与女乘。’谓王良。良不可,曰:‘吾 为之范我驰驱(11),终日不获一;为之诡遇(12),一朝而获十。诗云: “不失其驰,舍矢如破(13)。”我不贯(14)小人乘,请辞。’御者且羞与 射者比(15);比而得禽兽,虽若丘陵,弗为也。如枉道而从被,何也? 且子过矣:枉己者,未有能直人者也。”
  【注释】    
  ①陈代:孟子的学生。②枉:屈。寻:八尺为一寻。③田:打 猎。④招虞人以旌:虞人,守猎场的小官。古代君王有所召唤,一定要 有相应的标志,旌旗是召唤大夫的,弓是召唤士的,若是召唤虞人,只能用 皮冠.所以这个虞人不理睬齐景公用旗旗的召唤。《左传·昭公二十年》曾经 载过这一件事,孔子并对这个虞人有所称赞,所以下文孟子说到“孔子奚取 焉”.⑤不忘:不忘本来是常常想到的意思,虽然常常想到自己“在沟 壑”和“丧其元”的结局,但并不因此而贪生怕死。所以,这里的“不忘”也 可以直接理解为“不怕”。(6)元:首,脑袋。(7)赵筒子:名鞍,晋国 大夫。(8)王良:春秋末年著名的善于驾车的人。(9)嬖奚:一个名叫 奚的受宠的小臣。(10)反命:复命。反同“返”。(11)范我驰驱:使我的 驱驰规范。“范”在这里作动词,使……规范。(12)诡遇:不按规范驾车。 (13)不失其驰,舍矢如破:引自《诗经·小雅·车攻》。意为按规范驾车, 箭放出就能射中目标。(14)贯:同“惯”,习惯。(15)比:合作。
  【译文】
  陈代说:“不去拜见诸侯,似乎只是拘泥于小节吧。如今一去 拜见诸侯,大则可以实施仁政,使天下归服;小则可以称霸诸侯。 况且《志》书上说:‘弯曲着一尺长,伸展开来八尺长。’似乎是 可以这样以屈求伸的罢。” 
  孟子说:“从前齐景公打猎,用族旗召唤猎场的管理员,那管 理员因为他召唤的方式不对而不予理睬。齐景公想杀了他,他却 一点也不怕。因而受到孔子的称赞。所以,有志之士不怕弃尸山 沟,勇敢的人不怕丢掉脑袋。孔子认为那猎场管理员哪一点可取 呢?就是取他因召唤不当就不去的精神。如果我不等到诸侯的召 唤就自己上门去,是为了什么呢?况且,所谓弯曲着一尺长,伸 展开来八尺长的说法,是从利益的角度来考虑问题的。如果从利 益的角度来考虑问题,就是弯曲着八尺长,伸展开一尺,那也是 有利益的啊,难道也可以于吗?从前赵简子命令王良为他所宠爱 的小臣名叫奚的驾车去打猎,整整一天没有打着一只猎物。那奚 回去后向赵简子报告说:‘王良真是天下最不会驾车的人了!’有 人把这话告诉了王良。王良便对奚说:‘请让我再为您驾一次车。’ 奚勉强同意了,结果一个清晨就打了十只猎物。奚回去后又向赵 简子报告说:‘王良真是天下最会驾车的人啊!’赵简子说:‘我让 他专门为你驾车吧。’当赵简子征求王良的意见时,王良却不肯干 了。他说:‘我按规范为他驾车,他一整天都打不到一只猎物;我 不按规范为他驾车,他却一个清晨就打了十只猎物。《诗经》说: “按照规范驾车去,箭一放出就中的。”我不习惯为他这样的小人 驾车,请您让我辞去这个差事。’驾车的人尚且羞于与不好的射手 合作,即便合作可以打到堆集如山的猎物也不于。如果我现在却 扭曲自己去追随那些诸侯,那又是为了什么呢?况且,你的看法 是错误的:扭曲自己,是不可能让别人正直的。”
  【读解】
  陈代为孟子所出的是一个以屈求伸的主意。“枉尺而直寻”,先 弯曲自己,哪怕显得只有一尺长,有朝一日实现抱负,伸展开来, 就可以有八尺长了。
  陈代所说的,其实正是苏秦、张仪等纵横家的做法。先顺着 诸侯们的味口来,然后再慢慢实施自己的思想主张。 说穿了,有一点机会主义的味道。所以,孟子坚决不同意,而 以“志士不忘在沟壑,勇士不忘丧其元”的方正刚直为行为主张.
  同时以齐景公时的猎场管理员和赵简子时的优秀驾驶员王良为范 例,说明了君子在立身出处上不能苟且,不能搞机会主义的道理。 最后指出,机会主义的路其实也是走不通的,因为,“枉己者,未 有能直人者也。”把自己弄得弯曲起来,扭曲了人格,怎么还可能 去让别人正直呢? 这就又回到他的前辈孔子的说法去了:“不能正其身,如正人 何?”(《论语·子路》)自己不能够正直,怎么可能去让别人正直 呢?
  内容大同小异,没有多大区别。只不过孟子的出发点是反对 投机取巧的机会主义。
  从这里我们可以看到,虽然孔、孟都很倡导通权达变的思想, 但在立身处世的出处方面,却是非常认真而不可苟且的。因为,对 他们来说,这是一个原则问题。
  或许正是因为坚持这个原则而影响了他们的学说为当世所 用,使他们在世的时候没有能够“大行其道”。但从另一方面来说, 也许正因为他们坚持了这个原则,才使他们的学说在身后流传下 下去,历千年而不衰,使他们本身也成为圣人、亚圣人。
  对于现代人来说,由于社会分工的愈益精细,职业的愈益分 化,立身处世的“出处”问题似乎已不那么突出了。但面临择业, 面临进退,面临铺天盖地的招聘广告和所谓“双向选择”,是否还 是有必要考虑考虑自己的“出处”问题呢? 
  ——————
  妾妇之道与大丈夫之道
  【原文】
  景春①曰:“公孙衍②、张仪②岂不诚大丈夫哉?一怒而诸侯惧, 安居而天下熄①”
  孟子曰:“是焉得为大丈夫乎?子未学礼乎?丈夫之冠也,父 命之(5);女子之嫁也,母命之,往送之门,戒之曰:‘往之女家,必 敬必戒,无违夫子!’以顺为正者,妾妇之道也。居天下之广居, 立天下之正位,行天下之大道(6);得志,与民由之;不得志,独行 其道。富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫。”
  【注释】    
  ①景春:人名,纵横家的信徒。②公孙衍:人名,即魏国人犀首,著 名的说客。③张仪:魏国人,与苏泰同为纵横家的主要代表。致力于游 以路横去服从秦国,与苏泰“合纵”相对。④熄:指战火熄灭,天 下太平。⑤丈夫之冠也,父命之:古代男子到二十岁叫做成年,行加冠 礼,父亲开导他。(6)广居、正位、大道:朱熹注释为:广居,仁也;正 位,礼也;大道,义也。
  【译文】
  景春说:“公孙衍和张仪难道不是真正的大丈夫吗?发起怒来, 诸侯们都会害怕;安静下来,天下就会平安无事。” 
  孟子说:“这个怎么能够叫大丈夫呢?你没有学过礼吗?男子 举行加冠礼的时候,父亲给予训导;女子出嫁的时候,母亲给予 训导,送她到门口,告诫她说:‘到了你丈夫家里,一定要恭敬. 一定要谨慎,不要违背你的丈夫!’以顺从为原则的,是妾妇之道。 至于大丈夫,则应该住在天下最宽广的住宅里,站在天下最正确 的位置上,走着天下最光明的大道。得志的时候,便与老百姓一 同前进;不得志的时候,便独自坚持自己的原则。富贵不能使我 骄奢淫逸,贫贱不能使我改移节操,威武不能使我屈服意志。这 样才叫做大丈夫!”
  【读解】
  景春认为公孙衍、张仪能够左右诸侯,挑起国与国之间的战 争,“一怒而诸侯惧,安居而天下熄,”是了不得的男子汉大丈夫.
  孟子则认为公孙衍、张仪之流靠摇唇鼓舌、曲意顺从诸侯的 意思往上爬,没有仁义道德的原则,因此,不过是小人、女人,奉 行的是“委妇之道”,哪里谈得上是大丈夫呢?
  孟子的说法含蓄而幽默,只是通过言“礼”来说明女子嫁 时母亲的嘱咐,由此得出“以顺为正者,妾妇之道也。”这里值得 我们注意的是,古人认为,妻道如臣道。臣对于君,当然也应该 顺从,但顺从的原则是以正义为标准,如果君行不义,臣就应该 劝谏。妻子对丈夫也是这样,妻子固然应当)顺从丈夫,但是,夫 君有过,妻也就当劝说补正。简言之,应该是“和而不同”。只有 太监小老婆婢女之流,才是不问是非,以一味顺从为原则,实际 上,也就是没有了任何原则。
  可见,“妾妇之道”还不能一般性地理解为妇人之道,而实实 在在就是“小老婆之道”。
  孟子的挖苦是深刻而尖锐的,对公孙衍、张仪之流可以说是 深恶痛绝了。
  遗憾的是,虽然孟子对这种“以顺为正”的妾妇之道已如此 痛恨,但两千多年来,这样的“妾妇”却一直生生不已,层出不 穷。时至今日,一夫一妻已受法律保护,“妾妇”难存,但“妾妇 说”却未必不存,甚或还在大行其道哩。   怎么办呢?
  孟子的办法是针锋相对地提出真正的大丈夫之道。这就是他 那流传千古的名言:“富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈。” 怎样做到? 那就得“居天下之广居,立天下之正位,行天下之大道。”就 还是回到儒学所一贯倡导的仁义礼智上去了。这样做了以后,再 抱以“得志与民由之,不得志独行其道”的立身处世态度,也就 是孔子所谓“用之则行,舍之则藏,”(《论语·述而》)或孟子在 另外的地方所说的“穷则独善其身,达则兼善天下。”(《尽心 上》那就能够成为真正的堂堂正正的大丈夫了。
  孟子关于“大丈夫”的这段名言,句句闪耀着思想和人格力 量的光辉,在历史上曾鼓励了不少志士仁人,成为他们不畏强暴, 坚持正义的座右铭。
  直到今天,当我们读这段书的时候,似乎仍然可以听到他那 金声玉振的声音。 
  ——————
  动机与效果的问题
  【原文】
  彭更①问曰:“后车数十乘,从者数百人,以传食②于诸侯,不 以泰(3)乎?”
  孟子曰:“非其道,则一章食不可受于人;如其道,则舜受尧 之天下,不以为泰——子以为泰乎?” 
  曰:“否。士无事而食,不可也。” 
  曰:“子不通功易事④,以羡⑤补不足,则农有余粟,女有余布。 子如通之,则梓匠轮舆(6)皆得食于子。于此有人焉,人则孝,出则 悌,守先王之道,以待(7)后之学者,而不得食于子。子何尊梓匠轮 舆而轻为仁义者哉?”   曰:“梓匠轮舆,其志将以求食也;君子之为道也,其志亦将 以求食与?” 
  曰:“子何以其志为哉?其有功于子,可食而食之矣。且子食 志乎?食功乎?” 
  曰:“食志。”
  曰:“有人于此,毁瓦画漫(8),其志将以求食也,则子食之乎?” 
  曰:“否”
  曰:“然则子非食志也,食功也。”
  【注释】    
  ①彭更:人名,孟子的学生。②传食:指住在诸侯的驿舍(宾馆)里 接受饮食。传,驿舍,相当于今天的宾馆。③泰:同“太”,过分。 (4)通功易事:交流成果,交换物资。⑤羡:余,多余。(6)梓匠轮舆: 梓人、匠人批木工;轮人、舆人指制造车轮和车箱的工人。 (7)待:同 “持”,扶持。 (8)墁(man):本义为粉刷墙壁的工具,这里指新粉刷过的 墙壁。
  【译文】
  彭更问道:“跟在身后的车几十辆,跟随的人几百个,从这个 诸侯国吃到那个诸侯国,不是太过分了吗?”
  孟子说:“如果不正当,就是一篮子饭也不能够接受;如果正 当,就是像舜那样接受了尧的天下也不过分。——你说得过分 吗?”
  彭更说:“不,我不是这个意思。我是觉得,读书人不劳动而 白吃饭,是不对的。”
  孟子说:“你如果不互通有无,交换各行各业的产品,用多余 的来补充不足的,就会使农民有多余的粮食没人吃,妇女有多余 的布没人穿。你如果互通有无,那么,木匠车工都可以从你那里 得到吃的。比如说这里有一个人,在家孝顺父母,出门尊敬长辈, 奉行先王的圣贤学说,来培养后代的学者,却不能从你那里得到 吃的。你怎么可以尊重木匠车工却轻视奉行仁义道德的人呢?” 
  彭更说:“木匠车工,他们干活的动机就是为了求饭吃。读书 人研究学问,其动机也是为了求饭吃吗?” 
  孟子说:“你为什么以他们的动机来看问题呢?只要他们对你 有或绩,应该给他们吃的,那就给他们吃的罢了。况且,你是论 动机给他们吃的呢?还是论功绩给他们吃的呢?”
  彭更说:“论动机。”
  孟子说:“比如这里有一个人,把屋瓦打碎,在新刷好的墙壁 上乱画,但他这样做的动机是为了弄到吃的,你给他吃的吗?”
  彭更说:“不。”
  孟子说:“那么,你不是论动机,而是论功绩的了。”
  【读解】
  这里实际上牵涉到两个方面的问题。
  一个还是当受不当受的问题。用我们的话来说,就是,只要 是正当的,再多也可以接受;如果不正当,再少也不应该接受。这 就涉及到我们今天一些经济案件的问题了。比如说某项技术发明 或新产品开发之类的成果收人问题,新闻媒介时有披露,其症结 点在就在于当事人的巨额收入是“如其道”还是“非其道”。如果是 “如其道”,那再多也不应该有问题(当然要按有关规定上税等 等),如果是“非其道”,那就是另外一回事了。这里的界限是很 清楚的。
  问题倒是在于,谁来认定是“如其道”还是“非其道”呢?混 乱也正是出在这里,往往是不同的人有不同的认识。这大概就需 要多多颁布法规了吧。 回到孟子的说法,我们看到,他在这里的观点与孔子所谓 “如利思义”(《论语·宪问》或“见得思义”(《论语·季氏》) 的观点以及他自己“当辞则辞,当受则受”的实际做法(见《公 孙丑下》4·3)都是一致的。说到底,还是我们今天常说的“君 子爱财,取之有道”。“有道”就是“如其道”,“无道”就是“非 其道”。
  本章牵涉的另一个方面是动机与效果的关系问题。 
  在这一点上,孟子同样采取了他一贯的推谬手法,把论辩对 手推到荒唐的境地,使之不得不承认错误,从而证实了自己观点 的正确性。
  在我们今天看来,他们师生之间所谈论的这个问题并不复杂. 学生彭更是从动机来看问题,解决问题。孟子则是从实际功绩,也 就是效果方面来看问题,解决问题。有点近似于我们今天说不听 大话、空话,只看工作实绩。 
  当然,上升到理论的高度,动机与效果的问题是一对哲学范 畴。我们的观点是二者的统一,也就是主观动机与客观效果统  一:无论你是共。办了错事,还是做好事的“动机不纯”,都是反 对的。
  只不过,面对生活与工作的实践,不可能事事都能做到二者 的统一。在这种情况下,恐怕还是应该主要看实绩,也就是“食 功”而“非食志”了吧。
  ——————
  近朱者赤,近墨者黑
  【原文】
  孟子谓戴不胜①曰:“子欲子之王之③善与?我明告子。有楚大 夫于此,欲其子之齐语也,则使齐人傅诸?使楚人傅诸?”
  曰:“使齐人傅之。”
  曰:“一齐人傅之,众楚人咻③之,虽日挞而求其齐也,不可 得矣;引而置之庄岳①之间数年,虽日挞而求其楚,亦不可得矣. 子谓薛居州,善士也,使之居于王所。在于王所者,长幼卑尊皆 薛居州也,王谁与为不善?在王所者,长幼卑尊皆非薛居州也,王 谁与为善?一薛居州,独如宋王何?”
  【注释】    
  ①戴不胜:人名,宋国大臣。②之:动词,向,往,到。③咻 (xiu):喧哗干扰。④庄岳:齐国的街里名。庄,街名;岳,里名。
  【译文】
  孟子对戴不胜说:“你希望你的君王向善吗?我明白告诉你吧。 比如说有一位楚国的大夫,希望他的儿子学会说齐国话,是找齐 国的人来教他好呢?还是找楚国的人来教他好?” 戴不胜说:“找 齐国人来教他好。”
  孟子说:“如果一个齐国人来教他,却有许多楚国人在他周围 观楚国话来干扰他,即使你每天鞭打他,要求他说齐国话,那也 是不可能的。反之,如果把他带到齐国去,住在齐国的某个街市 比方说名叫庄岳的地方,在那里生活几年,那么,即使你每天鞭 打他,要求他说楚国话,那也是不可能的了。你说薛居州是个好 人,要他住在王宫中。如果在王宫中的人,无论年龄大小还是地 位高低都是像薛居州那样的好人,那君王和谁去做坏事呢?相反, 如果在王宫中的人,无论年龄大小还是地位高低都不是像薛居州 和样的好人,那君王又和谁去做好事呢?单单一个薛居州能把宋 王怎么样呢?”
  【读解】
  孟子的本意还是在政治方面,用“近来者赤,近墨者黑”的 道理说明周围环境对人的影响的重要性,从而说明当政治国的国 君应注意自己身边所用亲信的考查和选择。因为,如果国君周围 以好人,那么国君也就会和大家一起向善做好事。相反,如果 国君周围多是坏人,那么国君也就很难做好人了。这里的道理并 不深奥,实际上也就是《大戴礼记·曾子制言》所说“蓬生麻中, 不扶自直;白沙在泥,与之俱黑”的意思。所谓“昔孟母,择邻 处”,“孟母三迁”不也就是为了找一个周围环境好一点的地方以 利于孩子的教育与成长吗?孟子是从小就受到这方面的熏陶,早 有切身体会的了,所以说得非常在理而又举例生动形象。
  我们感兴趣的不仅仅在他的政治的意图上,而且还在他所举 的例子上。这实际上是一个学习外语的问题了。原以为学习外语 是在“出国大串连”的时代才时髦的,却没想到早在两千多年前 的孟子就有这方面的论述了。而且,不管孟子所举的例子是真实 的还是假设的,生活中有这样的现象却是可以肯定的,就是达官 贵人让自己的孩子学习“外国语”。(我们当然知道,所谓“外 国”是指当时的概念而言,实际上是汉语的方言。)
  我们这里研究而加以肯定的是他所强调的语言环境问题。诚 如孟子在本章中所论,语言口耳之学,语言环境至关重要。这是 凡有过学习外语经历的人都深有体会的。孟子的分析具体而生动. 读来很有亲切感。我们真该把他的这一段论述收入学习外语方面 的入门教材中去。
  ——————
  不由其道,钻穴之徒
  【原文】
  曰①:“丈夫生而愿为之有室,女子生而愿为之有家;父母之 心,人皆有之。不待父母之命、媒妁②之言,钻穴隙相窥,逾墙相 从,则父母国人皆贱之。古之人未尝不欲仕也,又恶不由其道。不 由其道而往者,与钻穴隙之类也。”
  【注释】    
  ①本段系节选孟子与魏国人周霄的对话。“曰”指“孟子曰”。②媒 妁(Shuo):媒人,介绍婚姻的人。
  【译文】
  孟子说:“男孩子一生下来,父母便希望给他找一个好的妻室, 女孩子一生下来,父母便希望给好找一个好的婆家。父母这样的 心情,人人都有。但是,如果不等父母的安排,媒人的介绍,就 自己钻洞扒缝互相偷看,甚至翻墙过壁支私会,那就要受到父母 和社会上其他的人鄙视。同样的道理。古代人不是不想做官,只 不过厌恶不经过正当的途径去做官。不经过正当的途径去做官,与 男女之间钻洞扒缝的行为是一样的”
  【读解】
  孟子以男女苟合偷情为喻,谴责那些不由其道,不择手段去 争取做了的人,实际上还是在谴责靠游说君王起家的纵横术士们。
  根据孟子的观点,想做官,实现自己的政治抱负和理想是非 常正当的。但另一方面,“又恶不由其道”。说穿了,还是立身处 世的“出处”问题。其基本观点与“枉己者,未有能直人者”一 章是相同的,就是不能靠不正当手段去争取做官,不能扭曲自己 的人格。
  孟子关于男女偷情的比喻是非常生动而深刻的。不过,时代 发到今天,恋爱婚姻一律自由,“父母之命、媒妁之言”早已被 抛到了一边,少男少女们再也用不着钻洞扒缝,翻墙过壁,像张 君瑞和崔莺莺那样“待月西厢下”了。那么,“钻穴隙之类”是不 是也就合理了呢?
  当然不是这样,莫说是在政治上、官场上去“钻穴隙”,就是 男女关系上的“不由其道而往”,也仍然会遭到“父母国人皆贱 之”,总归不是什么光宗耀祖的事罢。 
  所以,还是光明磊落走正道,不要“钻穴隙之类”的好。
  孟子的比喻始终是意味深长的。 
  ——————
  胁肩诌笑,病于夏畦
  【原文】
  公孙五问曰:“不见诸侯何义?”
  孟子曰:“古者不为臣不见。段干木①逾垣而辟②之,泄柳闭门 而不内③,是皆已甚;迫,斯可以见矣。阳货欲见孔子④而恶无礼, 大夫有赐于士,不得受于其家,则往拜其门。阳货瞰⑤孔子之亡也, 而馈孔子蒸豚;孔子亦瞰其亡也,而往拜之。当是时,阳货先,岂 得不见?曾子曰:‘胁肩馅笑,病于夏畦(6)。’子路(7):‘未同而言, 观其色赧赧然,非由之所知也。’由是观之,则君子之所养,可知 已矣。”
  【注释】    
  ①段干木:姓段干,名木,晋国人,清高而不屑为官。魏文侯去拜访他, 他却翻墙逃走不见。②辟:同“避”。③泄柳:人名,鲁穆公时人。 办同“纳”。(4)阳货欲见孔子:事见《论语·阳货》(17·1)。“见”在 这里作使动用法,是阳货想让孔子来拜见他的意思。⑤瞰:窥视。 (6)胁肩诌笑,病于夏畦:胁肩,耸起肩头,故作恭敬的样子。胁肩诌笑形容 逢迎诌媚的丑态。畦:本指菜地间划分的行列,这里作动词用,指在菜地里 劳动.
  【译文】
  公孙王问道:“不主动去拜见诸侯是什么道理?”
  孟子说:“在古代,一个人如果不是诸侯的臣属便不去拜见。 段干木跳墙躲避魏文侯,泄柳闭门不接待鲁穆公,这些都做得过 分了。迫不得已时,见还是应该见的。从前阳货想要孔子去拜见 他,又厌恶别人说他不懂礼仪。大夫如果对士人有所赏赐,士人 没有在家亲自接受的话,就得上大夫家去拜谢。于是,阳货便趁 孔子不在家的时候,给孔子送去一只蒸乳猪。孔子也打听到阳货 不在家时,前去拜谢。当时,要是阳货真心诚意地先去看孔子,孔 子难道不去拜见他吗?曾子说:‘耸起两个肩头,做出一副讨好人 的笑脸,这真比顶着夏天的毒日头在菜地里干活还要令人难受 啊!’子路说:‘分明不愿意和那人谈话,却要勉强去谈,脸上还 做出羞惭的样子,这种人不是我所能够理解的。’从这里看来,君 子是怎样修养自己的,就可以知道了。”
  【读解】
  这里一方面是对《论语·阳货》所记“阳货欲见孔子”(17· 1)一章的补充说明;另一方面又是对孔子所说“巧言令色,鲜矣 仁”(《论语·学而 )》)的进一步发挥。
  所谓“胁肩诌笑”,就是“巧言令色”。包括子路所不理解的 那种“未同而言,观其色赧赧然”都是类似的行径。说穿了,就 是两个字--虚伪!
  说到虚伪,那可就真是一个说不清道不明的话题了。一方面, 它是“老鼠过街,人人喊打。”世上几乎找不到什么人不深恶痛绝, 把它作为人类的恶行败德而加以口诛笔伐。也就是说,似乎是一 个勿需讨论的问题了。但另一方面,我们又分明感觉到自己随时 随地都生活在虚伪的包围之中,世上几乎就找不到什么没有虚伪 存在的净土。所以,这似乎又是一个很有必要深入研究的问题。正 是这两个方面的二律背反使“虚伪”突现在我们的生活之中,不 仅令我们这些凡夫俗子,而且个圣贤们也困惑不已,所以有反复 论述。(仅仅关于“巧言令色”的论述,在《论语》中就有三次, 分别见于《学而》、《公冶长》、《阳货》三篇。) 
  至于孟子在这里为什么又说到这个话题,则是从“诌媚”引 起的。因为学生公孙丑提到为什么不主动去拜见诸侯的问题,孟 子在回答时说到两个方面的表现。一方面是像段干木、泄柳那样, 过于清高,过于孤芳自赏,似平也没有必要。因为儒者凡事反对 走极端,而主张中正平和、恰如其分。另一方面就说到诌媚的问 题了。虽然他这里没有明说,但我们可以揣测到,他所指的“胁 肩诌笑”之徒,正是那些逢迎、巴结各国诸侯的纵横术士们。而 这些人,因为是他反复鞭挞的对象,这里也就没有明说了。 
  从诌媚到虚伪,或者换句话说,诌媚本身也就是虚伪。有人 说:“虚伪及欺诈产生各种罪恶。”有人说得更为干脆:“虚伪乃罪 恶之源!” 
  问题还是在于,认识到这些以后,我们又拿什么来与之较量, 怎样来清除这人类的“罪恶之源”呢?
  这恐怕就不是能够“毕其功于一役”,甚而至于“毕其功于一 代”的事了吧。 
  ——————
  偷鸡贼的逻辑
  【原文】
  戴盈之①曰:“什一,去关市之征,今兹②未能,请轻之,以待 来年,然后已,何如?”
  孟子曰:“今有人日攘③其邻之鸡者,或告之曰:是非君子之 道!’曰:‘请损之,月攘一鸡,以待来年,然后已。’——如知其 非义,斯速已矣,何待来年?”
  【注释】    
  ①戴盈之:人名,宋国大夫。②兹:年。③攘;偷。
  【译文】
  戴盈之说:“税率十分抽一,免除关卡和市场的征税,今年内 还办不到,请让我们先减轻一些,等到明年再彻底实行,怎么样?”
  孟子说:“现在有一个人每天偷邻居家的一只鸡,有人告诫他 说:‘这不是正派人的行为!’他便说:‘请让我先减少一些,每月 偷一只,等到明年再彻底洗手不干。’——如果知道这种行为不合 于道义,就应该赶快停止,为什么要等到明年呢?”
  【读解】
  好一条偷鸡贼的逻辑!
  好一则偷鸡贼的寓言! 这条偷鸡贼的逻辑就是改错分步,明明认识到不对,但就是 不愿意彻底改正,而以数量减少来遮掩性质不改的问题。
  这则偷鸡贼的寓言生动幽默,看似荒唐可笑,实际上是人心 写照。在我们的生活中,无论是戒烟、戒赌、戒毒,还是“反腐 倡廉”中披露出来的一些案子,其当事人不是多少都有一点这个 偷鸡贼的心态和逻辑吗?
  改恶从善,痛改前非。好一个“痛”字了得!
  ——————
  廉洁与酸腐
  【原文】
  匡章①曰:“陈仲子②岂不诚廉士哉?居放陵③,三日不食,耳 无闻,目无见也。井上有李,螬食实者过半矣(4),匍匐往,将食之(5) 三咽,然后耳有闻,目有见。”
  孟子曰:“于齐国之士,吾必以仲子为巨孽⑤焉。虽然,仲子 恶能廉?充仲子之操,则蚓而后可者也。夫蚓,上食槁壤,下饮 黄泉。仲子所居之室,伯夷之所筑与?抑亦盗跖(7)之所筑与?所食 之粟,伯夷之所树与?抑亦盗路之所树与?是未可知也。”
  曰:“是何伤哉?彼身织屡,妻辟垆(8),以易之也。” 
  曰:“仲子,齐之世家也,兄戴,盖(9)禄万钟。以兄之禄为不 义之禄而不食也,以兄之室为不义之室而不居也,辟兄离母,处 于於陵。他日归,则有馈其兄生鹅者,己频顣(10):‘恶用是轻轻(11) 者为哉?’他日,其母杀是鹅也,与之食之。其兄自外至,曰: ‘是轻轻之肉也!’出而哇(12)之。以母则不食,以妻则食之;以兄之 室则弗居,以及陵则居之。是尚为能充其类也乎?若仲子者,蚓 而后充其操者也。”
  【注释】    
  ①匡章;齐国名将,其言行见于《战国策·齐策、燕策》和《吕氏春秋 ·不屈、爱类》。②陈仲子:齐国人,又称田仲、陈仲、於(Wu)陵仲 子等。③於陵:地名,在今山东长山县南,距临淄约二百里。(4)螬 (Cao):即蛴螬,俗称“地蚕”、“大蚕”,是金龟子的幼虫。⑤将:拿.取。 (6)巨擘(bo):大拇指,引申为在某一方面杰出的人或事物。(7)盗跖: 所说是春秋时有名的大盗,柳下惠的兄弟。③辟垆(lu):绩麻练麻。绩 麻为辟,练麻为垆。(9)盖(ge):地名,是陈戴的封邑。(10)频顣 (cu):即颦蹙,不愉快的样子。(11)轻轻(yi):鹅叫声。(12)哇:吐。
  【译文】
  匡章说:“陈仲子难道不是一个真正廉洁的人吗?住在於陵这 个地方,三天没有吃东西,耳朵没有了听觉,眼睛没有了视觉。井 上有个李子,金龟子的幼虫已经吃掉了一大半,他爬过去,拿过 来吃,吞了三口,耳朵才恢复了听觉,眼睛才恢复了视觉。”
  孟子说:“在齐国人中间,我一定把仲子看成大拇指。但是, 他么能叫做廉洁?要推广仲子的操守,那只有把人变成蚯蚓之 后能办到。蚯蚓,在地面上吃干土,在地面下喝泉水。可仲子 所住的房屋,是像伯夷那样廉洁的人所建筑的呢?还是像盗跖那 样的强盗所建筑的呢?他所吃的粮食,是像伯夷那样廉洁的人所 种植的呢?还是像盗路那样的强盗所种植的呢?这个还是不知道 的。”
  匡章说:“那有什么关系呢?他亲自编草鞋,他妻子绩麻练麻, 用这些去交换其它生活用品。”
  孟子说:“仲子是齐国的宗族世家,他的哥哥陈戴在盖邑的俸 禄便有几万石之多。可他却认为他哥哥的俸禄是不义之财而不去 吃,认为他哥哥的住房是不义之产而不去住,避开哥哥,离开母 亲,住在於陵这个地方。有一天他回家里去,正好看到有人送给 他哥哥一只鹅,他皱着眉头说:‘要这种呃呃叫的东西做什么呢?’ 过了几天,他母亲把那只鹅杀了给他吃,他的哥哥恰好从外面回 来,看见后便说:‘你吃的正是那呃呃叫的东西的肉啊!’他连忙 跑出门去,‘哇’地一声便呕吐了出来。母亲的食物不吃,却吃妻  子的;哥哥的房屋不住,却住在於陵,这能够算是推广他的廉洁  的操守吗?像他那样做,只有把人变成蚯蚓之后才能够办到。’”
  【读解】
  这一章可以当作讽刺文学来读。
  陈仲子是齐国著名的“廉士”,可孟子却认为他的作为并不能 算是廉洁,尤其是不能提倡、推广他的这种作为。为什么呢?因 为他的所作所为做得太过分了,是一种走极端的行为。孟子尖刻 地讽刺说,要做到他那样,除非把人先变成蚯蚓,只吃泥土,喝 地下水,这才能够做到彻底“廉洁”。而真正要用这种“廉”的 标准来衡量,就是陈仲子本人也没有能够做到。比如说,他住的 房屋,还不知道是哪个不廉洁的人甚至强盗一样的人建筑起来的 哩;他所吃的粮食,还不知道是哪个不廉洁的人甚至强盗一样的 人种植出来的哩。何况,他离开母亲,不吃母亲的食物,但却还 是要吃妻子的食物;他避开哥哥,不住哥哥的房屋,但却还是要 在於陵这个地方来住房屋。这些行为,难道能够说是彻底“廉 洁”吗?不是!说到头,只能算是一种沽名钓誉,一种酸腐,用 我们今天流行的话来说,就是一种“假”,一种虚伪。而用朱熹引 范氏的话来说,就更为严重:“仲子避兄离母,无亲戚、君臣、上 下,是无人伦也,岂有无人伦而可以为廉哉?”(《孟子集注》) 
  在“反腐倡廉”的今天,也的确有一个对廉洁的认定问题。廉 洁并不是谈钱色变,拿得越少越好;也并不是生活越俭朴越好,人 越清贫穷酸越好。其实,按照孔子、孟子的看法,廉洁就是“见 得思义’”(孔子),就是“非其道,则一箪食不可受于人;如其道, 则舜受尧之天下,不以为泰。”(孟子)所谓“真理再往前走一步 就成了谬误。”廉洁做过了头,“当受不受”,比如说你该领的工资 不领,该拿的奖金不拿,那就不是廉洁,而是酸腐,是“虚伪”, 是沽名钓誉了。
  所以,廉洁与酸腐的界限还是应该引起我们注意的一个问题。尤其是在当今这个经济问题时常引起人们困惑的时代。 
  最后回到讽刺的问题上来说几句。除了以蚯蚓为喻辛辣讽 刺外,孟子说:“于齐国之士,吾必以仲子为巨臂焉。”这里的讽 刺更是不露声色,一箭双雕。一方面以“巨臂”讽刺陈仲子,另 一方面却由于陈仲子之所以可以称为“巨臂”,是因为“于齐国之 士”,也就是说,像陈仲子这样的人,已经算是齐国人中最好的了, 那其他的齐国人真不知有多酸腐,多糟糕呢!此外,就是开始一 段匡章之口对陈仲子的描述,也是非常具有讽刺意味的。而关 于陈仲子吃“鸵鸵之肉”一事的整个描写,简直就可以直接放进 《儒林外史》的篇章里面去。
  ——————
  离娄上
  本篇开始出现短章,长篇大论减少。内容涉及政治和为人处 事的各个方面,以论“仁”的为最多。全篇原文共28章,本书选 14章。
  不以规矩,不能成方圆
  【原文】
  孟子曰:“离娄①之明、公输子(2)之巧,不以规矩,不能成方圆; 师旷③之聪,不以六律④,不能正五音⑤;尧舜之道,不以仁政,不 能平治天下。今有仁心仁闻(6)而民不被其泽,不可法于后世者,不 行先王之道也。故曰,徒善不足以为政,徒法不能以自行。《诗》 云:‘不愆不忘,率由旧章(7)。’遵先王之法而过者,未之有也。圣 人既竭目力焉,继之以规矩准绳,以为方圆平直,不可胜用也;既 竭耳力焉,继之以六律正五音,不可胜用也;既竭心思焉,继之 以不忍人之政,而仁覆天下矣。故曰,为高必因丘陵,为下必因 川泽;为政不因先王之道,可谓智乎?是以惟仁者宜在高位。不 仁而在高位,是播其恶于众也。上无道揆(8)也,下无法守也,朝不 信道,工不信度,君子犯义,小人犯刑,国之所存者幸也。故曰 城郭不完,兵甲不多,非国之灾也;田野不辟,货财不聚,非国 之害也。上无礼,下无学,贼民兴,丧无日矣。《诗》曰:‘天之 方蹶,无然泄泄。’(9)泄泄犹沓沓也。事君无义,进退无礼,言则非 先王之道者,犹沓沓也。故曰,责难于君谓之恭,陈善闭邪谓之 敬,吾君不能谓之贼。”
  【注释】    
  ①离娄:相传为黄帝时人,目力极强,能于百步之外望见秋毫之末。 ②公输子:即公输班(“班”也被写成“般”、“盘”),鲁国人,所以又叫 鲁班,古代著名的巧匠。约生活于鲁定公或者哀公的时代,年岁比孔子小,比 墨子大。事迹见于(《礼记·檀弓》、《战国策》、《墨子》等书。③师旷: 春秋时晋国的乐师,古代极有名的音乐家。事迹见于《左传》、《礼记》、《国 语》等。④六律:中国古代将音律分为阴吕、阳律两部分,各有六种音, 六律即阳律的六音,分别是太簇、姑洗、获宾、夷则、无射、黄钟。⑤ 五音:中国古代音阶名称,即宫、商、角、微、羽,相当于简谱中的1、2、 3、5、6这五音。(6)闻:名声。①不愆不忘,率由旧章:引自《诗 经-大雅-假乐》。愆(qian),过失;率,遵循。(8)揆(kui):度量。 (9)天之方蹶,无然泄泄(y i):引自《诗经·大雅·板》。蹶,动;泄泄,多 言,话多。(10)非:诋毁。
  【译文】
  孟子说:“即使有离娄那样好的视力,公输子那样好的技巧, 如果不用圆规和曲尺,也不能准确地画出方形和圆形;即使有师 旷样好的审音力,如果不用六律,也不能校正五音;即使有尧 舜的学说,如果不实施仁政,也不能治理好天下。现在有些诸侯, 虽然有仁爱的心和仁爱的名声,但老百姓却受不到他的恩泽,不 能成为后世效法的楷模,这是因为他没有实施前代圣王的仁政的 缘故。所以说,只有好心,不足以治理政治;只有好办法,好办 研能够自己实行起来。《诗经》说:‘不要偏高啊不要遗忘,一 切遵循原来的规章。’遵循前代圣王的法度而犯错误的,是从来 没有过的。圣人既用尽了目力,又用圆规、曲尺、水准、绳墨等 来制作方的、圆的、平的、直的东西,那些东西便用之不尽了;圣 人既用尽了听力,又用六律来校正五音,各种音阶也就运用无穷 了;圣人既用尽了脑力,又施行不忍人的仁政,他的仁爱之德便 覆盖于天下了。所以说,筑高台一定要凭借山陵;挖深池一定要 凭借山沟沼泽;如果执政不凭借前代圣王的办法,能够说是明智 吗?所以只有仁慈的人才应该居于统治地位。如果不仁慈的人占 据了统治地位,就会把他的恶行败德传播给老百姓。在上的没 有道德规范,在下的人没有法规制度;朝廷不信道义,工匠不信 尺度,官吏触犯义理,百姓触犯刑律。如此下去,国家还能生存 就真是太侥幸了。所以说,城墙不坚固,武器不充足,这不是国 家的灾难;田野没开辟,物资不富裕,这不是国家的祸害;如果 在上位的人没有礼义,在下位的人没有教育,违法乱纪的人越来 越多,国家的灭亡也就快了。《诗经》说:‘上天正在降骚乱,不 要多嘴又多言。’多嘴多言就是拖沓罗嗦。侍奉君主不讲忠义,行 为进退不讲礼仪,说话便诋毁前代圣王之道,这就是拖沓罗嗦。所 以说,用高标准来要求君王就叫做‘恭’,向君王出好主意而堵塞 坏主意就叫做‘敬’,认为自己的君王不能行仁政就叫做‘贼’。”
  【读解】
  还是要求当政者实施仁政的鼓吹与呐喊。具体落实到两个方 面:一是“法先王”;二是选贤才。
  “法先王”是因为“不以规矩,不能成方圆”;“不以六律,不 能正五音”;“不以仁政,不能平治天下。”相反,“遵先王之法而 过者,来之有也。”正反两方面的道理都说明了这一点,所以一定 要“法先王”。孟子的“法先王”思想,实际上也就是孔子“祖述 尧舜,宪章文武”思想的继承。
  选贤才是因为“惟仁者宜在高位。”一旦不仁者窃据了高位, 奸邪当道,残害忠良,必然就会是非颠倒,黑白混淆,世风日下, 天下大乱。历史依据不胜枚举。所以,一定要注意领导干部的选 拔。
  这两个方面在《论语》、《孟子》中都不是什么新思想,而近 乎老生常谈了。倒是所谓“不以规矩,不能成方圆”的说法成为 了人们在生活中常用的格言警句。尤其是面对日益紧张激烈的市 场竞争,许多新事物新现象冒出来,其是与非,正与邪,往往使 人感到困惑,感到难以评说。这时候,大家对“不以规矩,不能 成方圆”的感受就更加真切而深刻了。所以,要求健全法制法规 的呼声日益强烈。据有人统计说,当前的中国,几乎每天都有法 规出台。这种说法不知有没有夸张的成分,但大家对“规矩”的 重视,全民普法教育的进行,这些都是非常真实的。说起来,所 有这些,不都是在“以规矩”而“成方圆”吗? 
  ——————
  仁得天下,不仁则失
  【原文】
  孟子曰:“三代之得天下也以仁,其失天下也以不仁。国之所 以废兴存亡者亦然。天子不仁,不保四海;诸侯不仁,不保社稷; 卿大夫不仁,不保宗庙①;士庶人不仁,不保四体。今恶死亡而乐 不仁,是犹恶醉而强②酒。”
  【注释】    
  ①宗庙:这里指采邑(封地),因为卿大夫先有采邑然后才有宗庙。 ③强:勉强。
  【译文】
  孟子说:“夏商周三代获得天下是由于仁,失去天下是由于不 仁.诸侯国家的兴衰存亡也是由于同样的原因。天子不仁,不能 够保有天下;诸侯不仁,不能够保住国家;卿大夫不仁,不能够 保住祖庙;士人和平民百姓不仁,不能够保全身家性命。现在的 人既害怕死亡却又乐于做不仁义的事,这就好像既害怕醉却又偏 偏要拼命喝酒一样。”
  【读解】
  依然是对“仁”的呼唤。
  道理一说就清楚,勿需多谈。令我们感兴趣的是孟子雄辩的 句式:
  “今恶死亡而乐不仁,是犹恶醉而强酒。”现在的人既害怕死 亡却又乐于做不仁义的事,这就好像既害怕醉却又偏偏要用喝 酒一样。
  “今恶辱而居不仁,是犹恶湿而居下也。”(《公孙五上》3· 4)现在的人既厌恶耻辱却又居于不仁的境地,这就好像既厌恶潮 湿却又居于低洼的地方一样。 “今也欲无敌于天下而不以仁,是犹执热而不以濯也。”(《离 娄上))7·7)现在的人既想无敌于天下却又不行仁道。这就好像 既热得受不了却又不愿意洗澡一样。 
  这一类相同的句式,指出生活中的悖逆现象,以此来说明抽 象的道理,往往如以掌去背,令人幡然猛醒,尤其具有启迪意义.
  ——————
  行有不得,反求诸己
  【原文】
  孟子曰:“爱人不亲,反其仁;治人不治,反其智;礼人不答, 反其敬——行有不得者皆反求诸己,其身正而天下归之。诗云: ‘永言配命,自求多福。”’
  【译文】
  孟子说:“爱别人却得不到别人的亲近,那就应反问自己的仁 爱是否不够;管理别人却不能够管理好,那就应反问自己的管理 才智是否有问题;礼貌待人却得不到别人相应的礼貌,那用应反 问自己的礼貌是否到家——凡是行为得不到预期的效果,都应该 反来检查自己,自身行为端正了,天下的人自然就会归服。《诗 经》说:‘长久地与天命相配合,自己寻求更多的幸福。”’
  【读解】
  我们在《公孙丑上》里已听孟子说过:“仁者如射:射者正己 而后发;发而不中,不怨胜己者,反求诸己而已矣。” 
  意思都是一样的。从个人品质说,是严以律己,宽以待人,凡 事多作自我批评。也就是孔子所说的“躬自厚而薄责于人,则远 怨矣。”(《论语·卫灵公》)
  从治理国家政治说,是正己以正人。“其身正,不令而行;其 身不正,虽令不从。”(《论语·子路》) 
  儒家政治,强调从自身做起,从身边事做起,所以,多与个 人品质紧紧连在一起。而自我批评则是其手段之一,其相关论述, 在《论语》和《孟子》中可以说是不胜枚举。当然,古往今来,真 正能够做到的人又的确是太少了,所以仍然有强调的必要。
  ——————
  人有恒言,天下国家
  【原文】
  孟子曰:“人有恒言,皆曰,‘天下国家。’天下之本在国,国 之本在家,家之本在身。”
  【译文】
  孟子说:“人们有句口头语,都说‘天下国家。’天下的基础 是国,国的基础是家,家的基础是个人。”
  【读解】
  我们今天常说:“没有国哪有家?没有家哪有我?”
  似乎与孟子所说的路数恰恰相反。 
  关键是出发点不同。
  我们今天面对利益,要求奉献,所以强调公而忘私,先人后 己;先国家,后集体,再个人。
  儒者则是强调道德的自我完善,要求修身为本,所以是先己 后人,推己及人。“身修而后家齐,家齐而后国治,国治而后天下 平。”(《大学·经》) 
  可见,路数虽反,道理却是相通:都是要求为他人,为集体, 为国家,为人类作出贡献。这才是最根本的。
  ——————
  水清濯缨,水浊濯足
  【原文】
  孟子曰:“不仁者可与言哉?安其危而利其菑 ①,乐其所以亡 者。不仁而可与言,则何亡国败家之有?有孺子歌曰:‘沧浪②之 水清兮,可以濯③我缨④;沦浪之水浊兮,可以濯我足。’孔子曰: ‘小子听之!清斯濯缨,浊斯濯足矣。自取之也。’夫人必自侮,然 后人侮之;家必自毁,而后人毁之;国必自伐,而后人伐之。《太 甲》曰⑤:‘天作孽,犹可违;自作孽,不可活。’此之谓也。”
  【注解】
  ①菑:同“灾”。②沧浪:前人有多种解释。或认为是水名(汉水支 流),或认为是地名(湖北均县北),或认为是指水的颜色(青苍色)。各种意 思都不影响对原文的理解。③濯(Zhuo):洗。④缨:系帽子的丝带. ⑤《太甲》曰:《公孙丑上》(3·4)已引过这句话,可参见。
  【译文】
  孟子说:“不人的人难道可以和他商议吗?他们对别人的危险 心安理得,从别人的灾难中牟利,把导致家破国亡的事当作乐趣。 不仁的人如果可以和他商议,那怎么会有国亡家破的事发生呢?从 前有个小孩子唱道:‘沧浪的水清呀,可以洗我的帽缨;沧浪的水 浊呀,可以洗我的双脚。’孔子听了说:‘弟子们听好了啊!水清 就用来洗帽缨,水浊就用来洗双脚,这都是因为水自己造成的。’ 所以,一个人总是先有自取其辱的行为,别人才侮辱他;一个家 庭总是先有自取毁坏的因素,别人才毁坏它;一个国家总是先有 自取讨伐的原因,别人才讨伐它。《尚书·太甲》说:‘上天降下 的灾害还可以逃避;自己造成的罪孽可就无处可逃了。’说的就是 这个意思。”
  【读解】
  水的用途有贵有贱(“濯缨”与“濯足”),是因为水有清有 浊成的,人的有贵有贱,有尊有卑又何尝不是由自己造成的呢?
  不仅个人如此,一个家庭,一个国家,都莫不如此。
  人因为不自尊,他人才敢轻视;家由于不和睦,“第三者”才 有插足的缝隙;国家动乱,祸起萧墙之内,敌国才趁机入侵。所 有这些,都有太多的例证可以证实。我们今天说“保垒最容易从 力部攻破”,其实也正是这个意思。
  所以,人应自尊,家应自睦,国应自强。祸福贵贱都由自取。 你就是你自己的上帝。
  ——————
  为渊驱鱼,为丛驱雀
  【原文】
  孟子曰:“桀纣之失天下也,失其民也;失其民者,失其心也。 得天下有道:得其民,斯得天下矣;得其民有道:得其心,斯得 民矣;得其心有道:所欲与之聚之,所恶勿施,尔也①。民之归仁 也,犹水之就下、兽之走圹②也。故为渊驱鱼者,獭也;为丛驱爵③ 者,鹯 ④也;为汤武驱民者,桀与纣也。今天下之君有好亡者,则 诸侯皆为之驱矣。虽欲无王,不可得已。今之欲王者,犹七年之 病求三年之艾⑤也。苟为不畜,终身不得。苟不志于仁,终身忧辱,  以陷于死亡。《诗》云:‘其何能淑,载胥及溺(6)。’此之谓也。”
  【注解】
  ①尔也:如此罢了。②圹:同“旷”,旷野。③爵:同“雀”. ④鹯 (zhan):一种像鹞鹰的猛禽。⑤艾:即陈艾,常用于灸病,存放 时间越久,疗效越好。(6)其何能淑,载胥及溺:引自《诗经·大雅·桑 柔》。淑,善,好;载,句首语助词,无义;胥,相;及,与;溺,落水.
  【译文】
  孟子说:“桀和纣之所以失去天下,是因为失去了老百姓的支 持;之所以失去老百姓的支持,是因为失去了民心。获得天下有 办法:获得老百姓的支持,便可以获得天下;获得老百姓的支持 有办法:获得民心,便可以获得老百姓的支持;获得民心也有办 法:他们所希望的,就满足他们,他们所厌恶的,就不强加在他 们身上。如此罢了。老百姓归服仁德,就像水往低处流,兽向旷 野跑一样。所以,替深池把鱼赶来的是吃鱼的水獭;替森林把乌 雀赶来的是吃鸟雀的鹞鹰;替商汤王、周武王把老百姓赶来的是 残害老百姓的夏英和殷纣王。当今之世,如果有哪位诸侯喜好仁 德,那么,其他诸侯都会替他把老百姓赶来。就是他不想统一天 下,也会身不由己了。现在那些希望统一天下的人,就像害了七 年的病需要用三年以上的陈艾来治疗一样,如果平常不栽培积蓄, 终身都得不到。同样的道理,如果平常不立志行仁,终身都会忧 患受辱,一直到陷入死亡的深渊。《诗经》说:‘那如何做得好,不 过是相率落水罢了。’正是说的这个意思。”
  【读解】
  一个是民心问题,一个是仁政问题。二者密切相关,相辅相 成。
  民心问题反映的是民本主义思想,得民心者得天下,失民心 者失天下。当然,还没有上升到“人民,只有人民,才是创造世 界历史的动力”(毛泽东)的高度。
  仁政得民心,不仁则失民心。为渊驱鱼,为丛驱雀。坏人在 无意中帮助了好人,恶成了促进历史前进的动力。这里面所蕴含 的,正是善与恶的历史辩证法。
  小而言之,就是地区与地区之间,单位与单位之间,商家与 商家之间,也同样存在着这种“为渊驱鱼,为丛驱雀”的现象。比 如说人才“跳槽”,往往是由于原单位的领导人失去了人才的信赖 之心而发生,这等于是这个单位的领导人主动把自己的人才驱赶 到另外的单位去。又比如说商家竞争,如果哪一个商家销售假冒 伪劣品,抬高物价,服务态度又恶劣的话,等于是把顾客驱赶到 别的商家去,无意之中帮了自己竞争对手的忙。这里的道理是非 常简单的。只不过在实际生活与工作中,我们往往不知不觉地做 了这种“为渊驱鱼,为丛驱雀”的蠢事还没有意识到罢了。如此 说来,倒是有必要反省反省,看看我们自己是否做了那“为渊驱 鱼”的水獭或是“为丛驱雀”的鹞鹰。当然是但愿没有的好了。
  ——————
  自暴自弃,岂不哀哉
  【原文】
  孟子曰:“自暴①者,不可与有言也;自弃者,不可与有为也。 言非②礼义,谓之自暴也;吾身不能居仁由义,谓之自弃也。仁, 人之安宅也;义,人之正路也。旷安宅而弗居,舍正路而不由,哀 哉!”
  【注解】
  ①暴:损害,糟蹋。②非: 诋毁。
  【译文】
  孟子说:“自己糟蹋自己的人,和他没有什么好说的;自己抛 弃自己的人,和他没有什么好做的。出言使低毁礼义,叫做自己 糟蹋自己。自认为不能居仁心,行正义,叫做自己抛弃自己。仁, 是人类最安适的精神住宅;义,是人类最正确的光明大道。把最 安适的住宅空起来不去住,把最正确的大道舍弃在一边不去走.这 可真是悲哀啊!”
  【读解】
  在孟子这里,自暴自弃指自己不愿意居仁心,行正义,而且 还出言说毁礼义的行为。稍加引申,也就是自己不愿意学好人做 好事而自卑自贱,自甘落后,甚至自甘堕落。这就是成语自暴 自弃”的意思,只不过我们今天使用这个成语时,多半指那些遍 受挫折后不能重新振作的人罢了。
  从孟子宣传推广仁义道德的本意来看,他的这一段文字是非 常优美而具有吸引力的。我们今天动辄就说寻找“精神家园”,而 孟子早已明明白白地告诉你:“仁,人之安宅也。”仁,是人类最 安适的精神住宅、精神家园,你还到哪里去寻找呢?我们今天动 辄就劝人走光明大道,而孟子早已明明白白地告诉你:“义,人之 正路也。”义,是人类最正确的光明大道,你为什么还不去走呢? 所以,孟子非常动感情地说:“旷安居而弗居,舍正路而不由,哀 哉!” 
  所谓“苦海无边,回头是岸。”孟子这一段劝人不要自暴自弃 的文字,真应该在劳改农场、少管所、自新学校的大墙上广为书 写啊! 
  ——————
  不要舍近求远,舍易求难
  【原文】
  孟子曰:“道在迩①而求诸远,事在易而求诸难:人人亲其亲, 长其长②,而天下平。”
  【注解】
  ①迩:近。②亲其亲,长其长:前一个“亲”和“长”作动词,后 一个“亲”和“长”作名词,宾语。
  【译文】
  孟子说:“本来很近的路,却偏偏要跑老远去求;本来很容易 的事,却偏偏要往难处去做:其实,只要人人都亲近自己的亲人, 尊敬自己的长辈,天下就可以太平了。”
  【读解】
  “道在迩而求诸远”是舍近求远,“事在易而求诸难”是舍易 求难。在孟子看来,无论是舍近求远还是舍易求难都没有必要,都 是糊涂。相反,只要人人都从自己身边做起,从平易事努力,比 如说亲爱自己的亲人,尊敬自己的长辈,天下也就会太平了。
  孟子这几句话说得平易朴实,但其中却蕴含着儒家学说的核 心内容:一方面是“孝弟也者,其为仁之本与!”(《论语·学 而》)另一方面是“老吾老,以及人之老;幼吾幼,以及人之幼, 天下可运于掌。”(《孟子·梁惠王上》)归结起来,就是“亲亲而 仁民”,再进一步说,也就是《大学》所展开的“修身、齐家、治 目、平天下”阶梯了。 
  所以,我们绝不可以轻忽了孟子这几句看似简单的话。 
  从另一方面来说,人人从自己身边做起,从平凡小事做起,也 正是我们所应提倡的精神。比如说遵守交通规则,比如说爱护清 洁卫生,比如说为“希望工程”作贡献等等,诸如此类的事情,不 是都应该从我们自己做起,从身边做起吗?
  凡事不要舍近求远,舍易求难。这起码是我们都会认同的生 活哲理罢。
  ——————
  真诚是立身之本
  【原文】
  孟子曰:“居下位而不获于上,民不可得而治也;获于上有道: 不信于友,弗获于上矣;信于友有道:事亲弗悦,弗信于友矣;悦 亲有道:反身不诚,不悦于亲矣;诚身有道:不明乎善,不诚其亲 身矣。是故诚者,天之道也;思诚者,人之道也。至诚而不动者, 未之有也;不诚,未有能动者也。”
  【译文】
  孟子说:“在下位的人,如果得不到在上位的人信任,就不可 能治理好平民百姓。得到在上位的人信任有办法:得不到朋友的 信任就得不到在上位的人信任;得到朋友的信任有办法:侍奉父 母,不能够使父母高兴,就不能够得到朋友的信任;使父母高兴 有办法:自己不真诚就不能够使父母高兴;使自己真诚有办法:不 明白什么是善就不能够使自己真诚。所以,真诚是上天的原则,追 求真诚是做人的原则。极端真诚而不能够使人感动的,是没有过 的;不真诚是不能够感动人的。”
  【读解】
  这一章除了最后两句外,几乎与《中庸》第二十章里面的一 段文字完全相同。这说明《中庸》与“思孟学派”之间的密切关 系。朱熹认为,子思受教于孔子的学生曾子,孟子又受教于子思, 所以,是孟子“述《中庸》孔子之言”。但现代学者一般认为,应 该是《中庸》取于《孟子》,而不是相反。
  与《中庸》完全相同的内容还是强调“诚”的问题。我们已 经知道,《中庸》里有若干章都反复强调了这个问题,而《大学》 所提出的人生进修阶梯,里面非常重要的一级也是“诚意”的问 题。由此可见,“诚”的确是儒学的核心观念之一。以这里与《中 庸》相同的文字来看,由“明善”到“诚身”;由“诚身”到“悦 亲”;由“悦亲”到“信于友”;由“信于友”到“获于上”,直到 “民不可得而治也”的反面,那就应该是“民可得而治矣”。实际 上也就是《大学》所谓“修、齐、治、平”的序列,所以朱熹说 这段文字“亦与《大学》相表里,学者宜潜心焉。”(《孟子集 注》卷七)一句话归结起来,在儒家的学说里,真诚的确是立身 处世的根本所在,一个人如果没有真诚,一切都无从谈起。
  所以,孟子最后说,“至诚而不动者,来之有也;不诚,未有 能动者也。”所谓“精诚所至,金石为开。”也就是孟子这里所说 的意思了罢。 
  ——————
  眼睛是心灵的窗户
  【原文】
  孟子曰:“存①乎人者,莫良于眸子。眸子不能掩其恶。胸中 正,则眸子瞭②焉;胸中不正,则眸子眊③焉。听其言也,观其眸 子,人焉瘦、廋④哉?”
  【注释】
  ①存:察。②瞭:明。③眊(mao):不明,蒙眊。①廋 (sou):藏匿。
  【译文】
  孟子说:“观察一个人,再没有比观察他的眼睛更好的了。眼 睛不能掩盖一个人的丑恶。心中光明正大,眼睛就明亮;心中不 光明正大,眼睛就昏暗不明,躲躲闪闪。所以,听一个人说话的 时候,注意观察他的眼晴,他的善恶真伪能往哪里隐藏呢?”
  【读解】
  “眼睛是心灵的窗户。”
  这句名言是意大利文艺复兴时期画家达·芬奇从人物画的角 度来说的。而我们看到,早于他一千多年,中国的孟子就已经从 识人的角度把这个道理说得非常清楚了。 
  日莲宗的《妙法尼》也说过:“巨人也好,诛儒也罢,其志气 乃表现在一尺的脸上;一尺脸上的志气,则尽收在一寸的眼睛中.”
  所以,与其察言观色,不如观察他的眼睛。
  现代美容术已经使人的眼眶、眼角、眼梢、眼皮甚至眼睫毛 都成了它的试验场地,但是,仍有一点是它无能为力的,那就是 眼神。
  眼神是无法加以化妆或掩饰的,任你是如何高明的一位超级 美容大师。 
  观察眼神,洞若观火。
  别听他说得口若悬河,天花乱坠,你要看着他的眼睛。
  ——————
  嫂溺,援之以手
  【原文】
  淳于髡 ①曰:“男女授受不亲,礼与?”
  孟子曰:“礼也。” 
  曰:“嫂溺,则援之以手乎?” 
  曰:“嫂溺不援,是豺狼也。男女授受不亲,礼也;嫂溺,援 之以手者,权②也。” 
  曰:“今天下溺矣,夫子之不援,何也?” 曰:“天下溺,援之以道;嫂溺,援之以手——子欲手援天下 乎?”
  【注释】
  ①淳于髡(kun):齐国著名辩士,曾在齐威王、齐宣王和梁惠王的朝廷 做官。事迹见于《战国策·齐策》、《史记·孟荀列传》、《史记·滑稽列 传》等。②权:本指秤锤,衡量轻重。引申为衡量轻重而变通处理,即 变通之意。
  【译文】
  淳于髡问:“男女之间不亲手递接东西,这是礼的规定吗?”
  孟子说:“是的。”
  淳于髡又问:“那么,假如嫂嫂掉在水里,小叔子用手去拉她 吗?”
  孟子说:“嫂嫂掉在水里而不去拉,这简直是豺狼!男女之间 不亲手递接东西,这是礼的规定;嫂嫂掉在水里,小叔子用手去 拉她,这是通权达变。”
  淳于髡说:“现在整个天下都掉在水里了,先生不去救援,这 又是为什么呢?”
  孟子说:“整个天下掉在水里了,要用‘道’去救援;嫂嫂掉 在水里,用手去拉就可以了——您难道要我用手去救援天下吗?”
  【读解】
  男女授受不亲是中国古代礼制中一条微妙的牵涉性心理问题 的规定。由于有这一条规定,当“嫂溺”的时候是否“援之以 手”就成了一个令人尴尬的问题了。
  想来弗洛依德博士不一定知道“男女授受不亲”的规定,恐 怕也没有读到过淳于党先生与孟子的对话,不然的话,倒正好可 以作为一份性心理分析的村料了。
  我们既不是博士的学生,当然也没有办法来进行这方面加 析 只好从淳于髡先生与孟子的精采对白方面来欣赏了。   孟子虽是亚圣,但这淳于髡先生也非常了得,人虽矮小,其 貌不扬,但太史公在《史记》里称他“滑稽多群,数使诸侯,未 尝屈辱”。是当时齐国准外交部长级的人物,幽默诙谐的国际名士。 且看他问孟子的问题,出语不凡,神出鬼没而又直钉本质。稍有 反应不过来,不弄得你尴尬无措,“顾左右而言他”才怪。
  但亚圣毕竟是圣人级的高手,群才无碍。只需略施机锋转语, 以“权”释‘札”,便出人意表又合于情理地回答了对手的诘难, 令人不得不服。 
  通权达变,智者风范。
  而我们在前面的若干篇章中已经知道,无论是孔子还是孟子 都非常重视这种原则性和灵活性相统一的通权达变精神。 
  ——————
  毁誉不必太在意
  【原文】
  孟子曰:“有不虞①之誉,有求全之毁。”
  【注释】
  ①虞:预料。
  【译文】
  孟子说:“有意料不到的赞誉,也有过分苛求的诋毁。”
  【读解】
  所以要“宠辱不惊,闲看庭前花开花落。”(《菜根谭》因为 毁誉管本身就不一定客观准确,有时甚至还是黑白混淆,是非颠倒 的。何必因他人对自己赞誉或低毁而乱了自己的心性呢? 
  当然,说是这么说,能够完全无动于衷,超脱于毁誉之外,真 正“闲看庭前花开花落”的人毕竟是很少的。一般人总是听到别 人的赞誉就高兴,听到别人的低毁就生气。人之常情,也是完全 可以理解的。但至少不必太在意,还是我们应该抱有的态度罢。 
  ——————
  好为人师的毛病
  【原文】
  孟子曰:“人之患在好为人师。”
  【译文】
  孟子说:“人的毛病在于喜欢做别人的老师。”
  【读解】
  一语道破古今文人通病。
  问题在于,喜欢做别人的老师有什么不好呢?孔圣人不是 “自行束情以上,吾未尝无诲”吗?不是“诲人不倦”吗?我们今 天不也大张旗鼓地欢迎大家都去充实教师队伍,欢迎大家去做 “人类灵魂的工程师”吗?
  症结在于“好”为人师。 
  而到底有没有“病”却在于是否“能”为人师。
  所以“满罐水不响,半罐水响叮当。”真正胸有雄兵百万的人 并不急于露才扬己,倒是那些年瓶子醋自以为了不起,动辄喜欢 做别人的老师,出言就是教训别人,一副教师爷的派头。其结果 是误人子弟,令人啼笑皆非。
  不仅如此,好为人师的人还往往自满自足,不思深造精进,结 果是不但害人,也害自己。
  毛病就在于“好”为人师而“不能”。所以,真正具有真才实 学的为人师表者并不在此列。这是我们应当加以区分的。不然的 话,谁还敢去加入教师的队伍,去做那“人类灵魂的工程师”呢?
  ——————
  不孝有三,无后为大
  【原文】
  孟子曰:“不孝有三,无后为大。舜不告而娶,为无后也。君 子以为犹告也。”
  【译文】
  孟子说:“不孝的情况有三种,其中以没有后代的罪过为最大. 舜没有禀告父母就娶妻,为的就是怕没有后代。所以,君子认为 他虽然没有禀告,但实际上和禀告了一样。”
  【读解】
  这倒是发现了一个“新大陆”,大舜不是成了婚姻自主的先驱 者了吗? 
  三种不孝不又到底是哪三种呢? 
  赵岐《孟子注》补充说: 一味顺从,见父母有过错而不劝说,使他们陷入不义之中,这 是第一种不孝。 
  家境贫穷,父母年老,自己却不去当官吃俸禄来供养父母,这 是第二种不孝。 
  不娶妻生子,断绝后代,这是第三种不孝。也就是孟子所说 的最大的不孝了。 
  当今社会,独身主义流行,那“大不孝”的“无后”之人恐 怕正满街走,而且走得潇洒欢实着哩。
  儒家这种“无后”为“大不孝”的思想是不是太陈腐落后而 应该被批倒批臭了呢? 
  问题倒没有这样简单。从人类绵延发展需要人口再生产的角 度和“父母之心,人皆有之”的人性情态来看,“无后”似乎并非 没有罪过。不然的话,“断子绝孙”怎么会成为人们最刻毒的诅咒 呢? 
  想想看,如果人人都抱独身主义,人人“无后”,用不了百年, 人类何在呢?
  不可想象啊! 
  ——————
  离娄下
  本篇仍然是短章居多,内容涉及政治、历史、教育和个人立 身处世等诸多方面。全篇原文共 33章,本书选 18章。
  小恩小惠,不知为政
  【原文】
  子严①听郑国之政,以其乘舆②济人于溱洧③。孟子曰:“惠而 不知为政。岁十一月④,徒杠⑤成;十二月,舆梁(6)③成,民未病涉也。 君子平其政,行辟(7)人可也,焉得人人而济之?故为政者,每人而 悦之,日亦不足矣。”
  【注释】
  ①子产:名公孙侨,字子产,春秋时郑国的贤宰相。②乘舆:指子 产乘坐的车子。③溱(zhen)洧(wei):两条河水的名称,会合于河南 密县。④十一月:周历十一月为夏历九月,下文十二月为夏历十月。 ⑤徒杠:可供人徒步行走的小桥。(6)舆梁:能通车马的大桥。(7) 辟:开辟,即开道的意思。
  【译文】
  子产主持郑国的政事时,曾经用自己乘的车去帮助人们渡过 溱水和洧水。孟子评论说:“这是小恩小惠的行为,并不懂得从政. 如果他十一月修成走人的桥,十二月修成过车马的桥,老百姓就 不会为渡河而发愁了。在上位的人只要把政事治理好,就是出门 鸣锣开道都可以,怎么能够去帮助百姓一个一个地渡河呢?如果 执政的人要去讨得每个人的欢心,那时间可就太不够用了。”
  【读解】
  诸葛亮说:“治世以大德,不以小惠。”(《三国志》)裴注引 华阳国志》)
  说的正是孟子的意思。
  子产用自己乘坐的车子去帮助老百姓过河,这事在一般人看 来是属于爱人民的美德,因此传为美谈。但孟子从政治家的角度 来要求子产,则认为这是小恩小惠的行为,治末而没有能够治本, 于事无补。与其你这样一个一个地去帮助老百姓过河,倒不如利 用你手中的权力为他们把桥修好,一劳永逸地解决问题,使他们 再也没有过河的烦恼。 
  也就是说,政治家治国平天下,当以大局为重,而不应以小 恩小惠去取悦于人,更不应以此来沽名钓誉。
  从这个角度来说,孟子的观点是很有道理的。 
  ——————
  君臣之道,恩义为报
  【原文】
  孟子告齐宣王曰:“君之视臣如手足,则臣视君如腹心;君之 视臣如犬马,则臣视君如国人;君之视臣如土芥,则臣视君如寇 仇。”
  王曰:“礼,为旧君有服①,何如斯可为服矣?”
  曰:“谏行言听,膏泽下于民;有故而去,则君使人导之出疆, 又先于其所往;去三年不反,然后收其田里。此之谓三有礼焉。如 此,则为之服矣。今也为臣,谏则不行,言则不听;膏泽不下于 民;有故而去,则君搏执之,又极②之于其所往;去之日,遂收其 田里。此之谓寇仇。寇仇,何服之有?”
  【注释】
  ①为旧君有服:指离职的臣子为原先的君主服孝。②极:穷困,这 里作使动用法,意思是使其处境极端困难。
  【译文】
  孟子告诉齐宣王说:“君主把臣下当手足,臣下就会把君主当 腹心;君主把臣下当狗马,臣下就会把君主当一般不相干的人;君 主把巨下当泥土草芥,臣下就会把君主当仇敌。”
  齐宣王说:“礼制规定,已经离职的臣下也应为过去的君主展 孝。君主要怎样做才能使他们为他服孝呢?”
  孟子说:“臣下有劝谏,君主接受;臣下有建议,君主听从. 政治上的恩惠下达到老百姓。臣下有什么原因不得不离去,君主 打发人送他出国境,并派人先到臣下要去的地方作一番安排布置, 离开了三年还不回来,才收回他的土地和房屋。这就叫做三有礼. 这样做了,臣下就会为他服孝。如今做臣下的,劝谏,君王不接 受;建议,君王不听从。政治上的恩惠到不了老百姓身上。臣下 有什么原因不得不离去,君主把他捆绑起来,还想方设法使他到 所去的地方穷困万分,离开的当天就收回他的土地和房屋。这种 情况叫做仇敌。君臣之问像仇敌一样,还有什么孝可服呢?”
  【读解】
  所谓投桃报李,士为知己者死。又所谓滴水之恩,当涌泉相 报。
  贤明的君主总是懂得这个道理,所以待臣下如手足,臣下必 把君主当腹心,以死相报。比如说刘皇叔用关羽、张飞、诸葛亮, 至今传为美谈。
  其实,何止君王用臣下如此,现代的用人之道,又何尝不是 如此呢?
  说得通俗一点,也就是互相尊重,你敬我一寸,我敬你一尺。
  不然的话,反目成仇,两败俱伤,也就君不君,臣不臣;领 导不领导,被领导不被领导了。
  那又能怪谁呢?只能怪自己不会做领导人罢。
  ——————
  中养不中,才养不才
  【原文】
  孟子曰:“中也养不中,才也养不才①,故人乐有贤父兄也。如 中也弃不中,才也弃不才,则贤不肖之相去,其间不能以寸②。”
  【注释】
  ①中:指无过无不及的中庸之道,代指品德好的人。养:培养、熏陶、教 育。②其间不能以才:省略了“以寸量”的“量”字。
  【译文】
  孟子说:“品德修养好的人教育熏陶品德修养不好的人;有才 能的人教育熏陶没有才能的人,所以人人都乐于有好的父亲和兄 长。如果品德修养好的人抛弃品德修养不好的人;有才能的人抛 弃没有才能的人,那么,所谓好与不好之间的差别,也就相近得 不能用寸来计量了。”
  【读解】
  所谓“养不教,父之过;教不严,师之情。”(《三字经》 贤者为师,团结大家一道进步;能者为师,帮助大家共同提 高。一言以蔽之,人人都有教育熏陶他人的义务。否则,所谓的 “好人”又好在哪里呢?   模拟西方圣哲的话来说:“人啊,你们都是上帝的子民。要互爱,不要抛下任何一个兄弟姐妹不管!”
  所以我们要搞“希望工程”,要搞“心连心”、“手拉手”的活动。
  ——————
  有所不为,而后有为
  【原文】
  孟子曰:“人有不为也,而后可以有为。”
  【译文】
  孟子说:“人要有所不为,然后才能有所为。”
  【读解】
  人生苦短,世事茫茫。 能成大事者,贵在目标与行为的选择。如果事无巨细,事必 躬亲,必然陷入忙忙碌碌之中,成为碌碌无为的人。所以,一定 要舍弃一些事不做,然后才能成就大事,有所作为。 子夏说:“虽小道,必有可现者焉;致远恐泥,是以君子不为 也。”(《论语·子张》)正是孟子这里的意思。 总起来说,儒家所说的“不为”是为了“有为”,只不过是要 有所选择而为,与老庄清静“无为”的思想不是一家人。
  ——————
  言人不善,如后患何?
  【原文】
  孟子曰:“言人之不善,当如后患何?”
  【译文】
  孟子说:“说人家的坏话,招来后患如何是?”
  【读解】
  “谁人背后无人说,哪个人前不说人?” 人的劣根性的确如此。 不过,如果有人专以背后说人家的坏话为乐趣,嗜痂成癣,那 么个个专用名词赏给他(她)了,叫做--长舌妇! 孔子曾经说过:“道听而途说,德之弃也。”(《论语·阳货》) 我们也曾给这种道听途说者送了一个称号,叫做“小广播”。 与小广播相比,长舌妇如何? 小广播不一定是长舌妇,但长舌妇八九不离十是小广播一个。 小广播免费直销消息,义务广告,以先听为快,以消息灵通 为荣。无聊!   长舌妇东家长、西家短,以窥人隐私为快,以暗箭伤人为乐。 可恶! 小广播愚,长舌妇恶。 如果说,对小广播,我们要告之以“且住,且往!”那么,对 长舌妇,就应该“老鼠过街,人人喊打”了。 
  ——————
  言不必信,行不必果
  【原文】
  孟子曰:“大人者,言不必信,行不必果,惟义所在。”
  【译文】
  孟子说:“通达的人说话不一定句句守信,做事不一定非有结 果不可,只要合乎道义就行。”
  【读解】
  在《论语·子路》里,孔子与子贡讨论士的标准时已经说过: “言必信,行必果,任任然小人哉!”这是从反面来否定“言必信, 行必果”的行为。孟子这里则是从正面来告诉我们“言不必信,行 不必果。”可见,孟子的学说在很多方面都的确是与孔子一脉相承 的。
  关于“大信”与“小信”的问题,亦即“信”的通权达变问 题,我们在《论语》的有关读解中已说得很多。这里只作简单重 申,即,一方面,“信”是儒学的核心观念之一,最典型的强调就 是孔子所说“人而无信,不知其可也。”(《论语·为政》)但另一 方面,又不能拘泥固执于“信”而不知变通。用我们所说的最为 极端的情况就是,难道对你的敌人也要讲“信用”吗?所以.要 根据具体情况而通权达变。通权达变的标准就是孟子这里所说的 “惟义所在”。这是最基本的不能放弃的东西,也是指导我们在实 际生活中掌握的原则。
  有了原则,当然就要好办得多了。 
  ——————
  大人不失赤子之心
  【原文】
  孟子曰:“大人者,不失其赤子①之心者也。”
  【注释】
  ①赤子:婴儿。
  【译文】
  孟子说:“伟大的人是童心未泯的人。”
  【读解】
  老玩童么? 
  当然不是。
  伟大的人胸怀宽广,“宰相肚里能撑船”。而童心纯真不伪,本 色自然。
  宰相肚里之所以能撑船,是因为他不斤斤计较于一得之利,一 孔之见,而能够保全自然无伪的本色,永远以一种童心般的新奇 和纯真面对这个世界,生机蓬勃,以至于无的不知,无所不能。 这里面的关键其实就是两点:一是纯真,二是大度。正是在 这两点上,我们可以找到真正伟大的人物与童心的相通之处。
  老子说:“常德不离,复归于婴儿。”(《老子》第二十章)
  又说:“众人熙熙,如享太牢,如春登台,我独泊兮其未兆, 如婴儿之未孩。”(《老子》)第二章》你看那众人应对攘往,好 象赶赴丰盛的筵席,又像春天去登台眺望。只有我淡泊而无动于 衷,就像那不知笑的婴儿一样。
  老子的本意是宣扬归朴返真,淡泊宁静。不过,淡泊以明志, 宁静以致远。与孟子这里的思想倒有异曲同工之妙。  归结起来说,真正伟大的人,倒不像我们一般小鸡肚肠的人 那样想得复杂,患得患失,所以,反而能够保持一分童心,有时 候表现出来,就像是一个童心未泯的人。
  ——————
  深造的目的在于自得
  【原文】
  孟子曰:“君子深造之以道,欲其自得之也。自得之,则居之 安;居之安,则资①之深;资之深,则取之左右逢其原②。故君子 往其自得之也。”
  【注释】
  ①资:积累。②原:同“源”。
  【译文】
  孟子说:“君子遵循一定的方法来加深造诣,是希望自己有所 收获。自己有所收获,就能够掌握牢固;掌握得牢固,就能够积 累深厚;积累得深厚,用起来就能够左右逢源。所以,君子总是 希望自己有所收获。”
  【读解】
  深造的目在于自得。
  自得就是自己真正有所收获,而不是为了炫耀给别人看。简 言之,自得是内功,而不是招式。南郭先生滥竽充数,招式是做 够了的,但内功却一点也没有,所以,一旦过硬检验起来,就只 有溜之大吉。这是非常典型的例子。 现代学者莫不以南郭先生为耻,而其行为类似南郭先生的却 不在少数。他们或是“墙上芦苇,头重脚轻根底浅;山间竹笋,有 尖皮厚腹中空。”或是“拉大旗作虎皮”,以“名人’装点门面。其 招式花样翻新,不一而足。要害都在于不求自得而求得之于人,生 怕别人不知道自己,不怕自己没有才能,与孔子所说“不惑人之 不已知,患其不能也”(《论语·宪问》)的精神恰恰相反。
  总而言之,还是“古之学者为己,今之学者为人。”(《论语 ·宪问》) “欲其自得之’就是为己,反之则是为人。孔、孟论学问之道, 用心良苦。你我读书人理应深省,以免误入歧途。 
  ——————
  博学详说,将以返约
  【原文】
  孟子曰:“博学而详说之,将以反说约也。”
  【译文】
  孟子说:“广博地学习,详尽地解说,目的在于融会贯通后返 归到简约去。”
  【读解】
  真理原本是至简至约的,一半是因为我们理解的需要,一半 是因为所谓“饱学之士”的炫耀门楣,使它们变得越来越复杂,越 来越深奥了。
  “你不说我倒还明白,你越说我越糊涂了!”这是我们时常可 以听到的抱怨,或者说幽默。如果这抱怨发自一位勤勉的学生之 口,那老师恐怕真要腋下出汗,恨无地洞可钻哩。
  其实,在很多问题上,我们都是要恨无地洞可钻的。比方说, “人是什么?”“文化是什么?”不说人人都明白,一说人人都糊涂。 所以,博学详说不是为了炫耀渊博,故作深刻,而是为了深 入浅出,出博返约。
  教学如此,演说如此,舞文弄墨也莫不如此。
  所谓“绚烂之极归于平淡”,博学详说归于简约。
  博学评说是手段,归于简约才是目的。
  ——————
  以善养人,能服天下。
  【原文】
  孟子曰:“以善服人者,未有能服人者也;以善养人,然能 服大下。天下不心服而王者,未之有也。”
  【译文】
  孟子说:“单凭善就想陵人心服,是不能够使人心服的;要用 善去培养教育人,才能够使天下的人心服。天下的人不心服而想 统一天下,这是不可能的。”
  【读解】
  关键是“养人”。
  服人服心,教育的潜移默化功能是不可估量的。
  作为教育家,无论是孔子还是孟子对于教育的作用都非常重 视而身体力行。 
  因为,无论你有多么好的思想,多么好的治国平天下方略,一 言以蔽之,多么“善”。不通过“养人”--培养教育,怎么能够 让人们理解而化为他们的思想和行为呢? 
  就是我们今天,不也仍然强调“百年大计,教育为本”吗?
  ——————
  声闻过情,君子耻之
  【原文】
  徐子①曰:“仲尼亟②称于水,曰:‘水哉,水哉!’何取于水也?”
  孟子曰:“源泉混混③,不舍昼夜,盈科④而后进,放乎四海。 有本者如是,是之取尔⑤。苟为无本,七八月之问雨集,沟浍(6)皆 盈;其涸也,可立而待也。故声闻(7)过情,君子耻之。”
  【注释】
  ①徐子:孟子的学生徐辟。②亟:屡次。③混混:通“滚滚”, 水势盛大的样子。④科:坎。⑤是之取尔;“取是尔”的倒装句, “取这个罢了。”(6)侩(kuai):四间大沟渠。(7)声闻:名声,名誉。
  【译文】
  徐子说:“孔子曾多次赞叹水,说:‘水啊!水啊!’他到底觉 得水有什么可取之处呢?” 
  孟子说:“水从源泉里滚滚涌出,日夜不停地流着,把低洼之 处--填满,然后又继续向前,一直流向大海。它是如此水不枯 竭,奔流不息。孔子所取的,就是它的这种特性啊。试想,如果  水没有这种永不枯竭的本源,就会像那七八月问的暴雨一样,虽  然也可以一下子灌满大小沟渠,但也会一下子就于酒枯竭。所以,  声望名誉超过了实际情形,君子就会感到羞耻。”
  【读解】
  孟子一方面祖述仲尼之意,阐发水的特性;另一方面用水比 拟人的道德品质,强调务本求实,反对一个人的名誉声望与自己 的实际情况不符。要求大家像水一样,有永不枯竭的安身立命之 本,不断进取,自强不息。
  其实,我们在《韩诗外传》里发现了孔子自己对于为什么要 “亟称于水”这个问题的详细回答。
  问题是由子贡提出的。子贡说:“君子看见大水总是要观察, 这是为什么呢?”
  孔子回答说:“君子是用水来比拟人的道德啊!水到处给予而 无私,这不是像很有德行吗?所到之处万物生长,这不是像很有 仁爱吗?流向总是循着一定的道理,这不是像很有正义吗?浅处 流淌,深处莫测高深,这不是像很有智慧吗?奔赴深渊大谷而毫 无疑惧,这不是像很有勇气吗?任何细微之处也不放过,这不是 像很明察吗?遇到险恶地势也不避让,这不是像很容忍大度吗?脏 东西进去,干干净净出来,这不是像很善于化育吗?水面永远是 平的,这不是像很公正吗?不求一概满盈,这不是像很有节度吗? 无论经过多少曲折,始终向东流,这不是像意志很坚毅吗?正因 为水有这些特性,所以君子看见大水就一定要观察。” 
  这简直就是一首水的赞美诗啊!生动而深刻。既然如此,我 们何不观水去呢? 
  ——————
  人与禽兽的差别有多大?
  【原文】
  孟子曰:“人之所以异于禽兽者几希①,庶民去之,君子存之. 舜明于庶物,察于人伦,由仁义行,非行仁义也。”
  【注释】
  ①几希:少,一点点。
  【译文】
  孟子说:“人和禽兽的差异就那么一点儿,一般人抛弃它,君 子却保存它。舜明白一般事物的道理,了解人类的常情,于是从 仁义之路而行,而不是为行仁义而行仁义。”
  【读解】
  人与动物的差别何在?
  在今天,这已是一个人类学的命题了。可孟子却早在两千多 年前就提出了这个问题。
  孟子说,人与禽兽的差异就那么一点儿,至于那一点儿到底 在什么,他在这里没有说。不过,我们在《滕文公上》)里曾听他 说过人之所以为人,吃饱了,穿暖了,住得安逸了,如果没有 教养,那就和禽兽差不多。可见,在孟子看来,人和禽兽的差别 就在于有没有教采用我们今天的话来说,就是有没有精神方面 的东西。这和我们现在一般的看法是基本吻合的,即,人的动物 本能方面,亦即其自然属性是动物性的,但其精神文化方面,亦 即其社会属性是非动物性的,而人与动物的根本区别就在于后一 方面。既然如此,高尚的人当然就应该发展人与动物相区别的一 方面。所以,孟子说:“庶民去之,君子存之。”一般人往往容易 忽视这一点,只有品质高尚的人才注意保存和发展这一点。比如 说有的人认为“人生在世,吃穿二字”,那就是标榜“饱食、暖衣、 逸居而无教”,自然是“近于禽兽”了。当然,孟子也并不是要完 全否定“饱食、暖衣、逸居”,要求人们不食人间烟火,苦行禁欲。  而是认为应该像舜帝那样,“明于庶物,察于人伦,由仁义行”,从 一般事物的道理和人类的常情出发行仁义之道,而不是为行仁义 而行仁义,不顾人之常情。 
  从各方面的情况来看,孟子的主张,应该是“饱食、暖衣、逸 居而有教”,既不排除人之常情,又强调教育的重要性。物质生存 与精神追求都不可废弃。这一点,当然也是符合我们今天的基本观点的。
  ——————
  两可之间,最是为难
  【原文】
  孟子曰“可以取,可以无取,取伤廉;可以与,可以无与, 与伤惠;可以死,可以无死,死伤勇。”
  【译文】
  孟子说:“可以拿取,也可以不拿取的,拿取了有损廉洁;可 以给与,也可以不给与的,给予了有损恩惠;可以死,也可以不 死的,死了有损勇敢。”
  【读解】
  与著名的“鱼与熊掌”二者必居其一选择不同,孟子在这里 摆给我们的,是一种两可之间的选择,而且要为难得多。   比如说,杀人越货还是遵纪守法?这对绝大多数人来说不是 难题,可是,吃回扣还是不吃?收红包还是不收?这对很多人来 说,却是相当考人的难题了。
  就孟子所举的情况来看,“取伤廉”是比较好理解的,可“与 伤惠”和“死伤勇”却有些令人费解。揣摩起来,所谓“与伤 惠”大概是说,在可以给与,也可以不给与的情况下,还是不给 与的好。因为,“济人须济急时无”,也就是孔子所说的“君子周 急不继富”(《论语·雍也》)的意思。不然的话,给予了反而有 滥施恩惠的嫌疑,反而于真正的恩惠有所损伤。这就是“与伤 惠”。至于说“死伤勇”,则是指我们在面临生死抉择的时候,有 时候活下来比死去需要有更大的勇气和更强的战胜困难和耻辱的 毅力,在这种情况下,如果选择了死,很可能给人以轻生的感觉, 当然就是于勇气有所损伤的了。这就是“死伤勇”。
  有人认为,孟子之所以举出“与伟惠”和“死伤勇”,是因为 战国时代豪侠风气盛行,四豪滥施恩惠,荆(轲)聂(政)刺客 轻生,所以孟子针砭时弊,引以为戒。(毛奇龄《圣门释非录》引 全履祥语)
  如此说来,倒是一个时代性的话题了。那么,对我们来说,仍 然具有时代意义的是什么呢? 
  恐怕就是“取伤廉”了吧!
  ——————
  逢蒙杀羿,羿也有过
  【原文】
  逢蒙①学射于羿,尽羿②之道,思天下惟羿为愈己,于是杀异。 孟子曰:“是亦羿有罪焉。”
  公明仪曰:“宜若无罪焉。”
  曰:“薄乎云尔,恶得无罪?郑人使子濯孺子侵卫,卫使庚公 之斯追之。子濯孺子曰:‘今日我疾作,不可以执弓,吾死矣夫!’ 问其仆曰:‘追我者谁也?’其仆曰:‘质公之斯也。’曰;‘吾生矣。’ 其仆曰:‘庚公之斯,卫之善射者也;夫子曰吾生,何谓也?’曰: ‘庚公之斯学射于尹公之他,尹公之他学射于我。夫尹公之他,端 人也,其取友必端矣。’庚公之斯至,曰:‘夫子何为不执弓?’曰: ‘今日我疾作,不可以执弓。’曰:‘小人学射于尹公之他,尹公之 他学射于夫子。我不忍以夫子之道反害夫子。虽然,今日之事,君 事也,我不敢废。’抽矢,扣轮,去其金,发乘矢③而后反。”
  【注释】
  ①逢(peng)蒙:羿的学生和家众,后来叛变,帮助寒浞杀了羿。 ②羿:又称后羿,传说是夏代有穷国的君主。③乘矢:四支箭。
  【译文】
  逢蒙跟羿学射箭,学得了弄的技巧后,他便想,天下只有羿 的箭术比自己强了,于是便杀死了羿。孟子说:“这事也有羿自己 的罪过。”
  公明仪说:“羿不该有什么罪过罢。”
  孟子说:“罪过不大罢了,怎么能说没有呢?从前郑国派子濯 孺子侵入卫国,卫国派庚公之斯追击他。子濯孺子说:‘今天我的 病发作了,不能够拿弓,我死定了!’又问给他驾车的人说:‘追 我的人是谁呀?’驾车的人答道:‘是庚公之斯。’子濯孺子便说: ‘那我不会死了。’给他驾车的人说:‘庚公之斯是卫国著名的射手, 先生反而说不会死了,这是为什么呢?’子濯孺子说:‘庚公之斯 是向尹公之他学的射箭,尹公之他是向我学的射箭。那尹公之他 是个正直的人,他所选择的朋友也一定正直。’庚公之斯追上来了, 问:‘先生为什么不拿弓呢?’子濯孺子说:‘今天我疾病发作,不 能够拿引’庆公之斯说:‘我跟尹公之他学射箭,尹公之他又跟 您学射箭。我不忍心用您的箭术反过来害您。不过,今天这事是 国家的公事,我不敢不做。’于是抽出箭,在车轮上敲打了几下, 把箭头敲掉,发了四箭然后就回去了。”
  【读解】
  孟子没有把后面的话说完,那意思却是非常明确的了:子濯 孺子善于选择和教育学生,注重学生的人品正直,相信学生尹公 之他也会像他一样选择和教育学生,所以知道庚公之斯不会杀他。 可羿却不善于选择和教育学生,对于逢蒙的人品失察失教,结果 招致杀身之祸,所以,并对于自己的被害也负有一定责任。
  逢蒙艺成害师,历来为人所不齿,这本已是大家的共识,孟 子却提出了自己独特的见解,认为共有自取其祸的责任在内。乍 一听来,我们会和他的学生公明仪一样认为没有什么道理,但仔 细想想,也就觉得并非没有道理了。比如说我们今天有些人“引 狼入室”,引小偷进家门,往往是由于房主人自己平时不谨慎,把 一些不三不四的人带进屋,使之见财起意,产生歹心,结果发生 失窃甚至谋财害命的惨案。这能说房主人自己一点责任也没有吗? 这还只包含了交往中要注意识人察人的一方面,没有包含对学生 进行品德教育方面的问题。如果并不只是教逢蒙箭术,而且也教 他做人的道理,简言之,既传艺,也传德,那也许就不会发生 已遭害的悲剧了吧。 
  所以,从逢蒙杀并这件事上,我们至少可以得出两个方面的 教训:一方面,不仅选拔干部,交往朋友需要考察、认识人,就 是收学徒,招学生也同样需要慎重选择。另一方面,无论是教学 徒,教学生还是培养其他什么人,都一定要从德与才两个方面着 眼进行教育与培养,使之全面发展,成为德才兼备的人。只有做 到了这两个方面,才不会酿成祸端,使自己反遭其殃,后悔莫及。 当然,无论从我们今天的教育方针还是从我们的干部制度来 看,都是非常注意这两个方面的。只不过,实际操作中做得如何, 还有待调查研究。那就把孟子这段话,把逢蒙杀并这件事作为提 及我们注意的一份材料,一个经验教训吧。 
  ——————
  西子蒙不洁,人皆掩鼻而过
  【原文】
  孟子曰:“西子①蒙不洁,则人皆掩鼻而过之;虽有恶②人,斋 戒沐浴,则可以祀上帝。”
  【注释】
  ①西子:指春秋时越国美女西施,这里以她代指美女。②恶:这里 与“西子”相对,主要指丑陋。
  【译文】
  孟子说:“像西施那么美丽的女子,如果她沾染上污秽恶臭的 东西,别人也会捂着鼻子走过去;虽然是一个面貌奇丑的人,如 果他斋戒沐浴,也同样可以祭祖上帝。”
  【读解】
  幸好只是不洁,问题还不很大,如果是麻疯病、“爱得死” (爱滋病)之类的,那可就惨了!岂止是掩鼻而过?多半是谈“西 子”而色变了罢。
  相反,面貌奇丑如雨果笔下的卡西莫多,尚可以在巴黎圣母 院做敲钟人。上帝当然会接受他的祭祀,并为他祝福。
  所以,有美有善不足恃,贵在保持勿失;有丑有恶不足惧,贵 在自新。
  这就是美丑善恶相互转化的辩证法。
  自我把握尤其重要。
  ——————
  爱人者人恒爱之
  【原文】
  孟子曰:“君子所以异于人者,以其存心也。君子以仁存心. 以礼存心。仁者爱人,有礼者敬人。爱人者,人恒爱之;敬人者, 人恒敬之。有人于此,其待我以横逆①,则君子必自反也:我必不 仁也,必无礼也,此物奚宜至哉”?其自反而仁矣,自反而有礼矣, 其横逆由③是也,君子必自反也:我必不忠。自反而忠矣,其横道 由是也,君子曰:‘此亦妄人也已矣。如此,则与禽兽奚择④哉?于 禽兽又河难⑤焉?’是故君子有终身之忧,无一朝之患也。乃若所 忧则有之:舜,人也;我,亦人也。舜为法(6)于天下,可传于后世. 我由未免为乡人也,是则可忧也。忧之如何?如舜而已矣。若夫 君子所患则亡矣。非仁无为也,非礼无行也。如有一朝之患,则 君子不患矣。”
  【注释】
  ①横逆:蛮横无礼。②此物:指上文所说“横逆”的态度。奚宜:怎 么应当。③由:通“犹”。下文“我由未免为乡人也”中的“由”也通 “犹”。④择:区别。⑤难:责难。(6)法:楷模。
  【译文】
  孟子说:“君子与一般人不同的地方在于,他内心所怀的念头 不同。君子内心所怀的念头是仁,是礼。仁爱的人爱别人,礼让 的人尊敬别人。爱别人的人,别人也经常爱他;尊敬别人的人,别 人也经常尊敬他。假定这里有个人,他对我蛮横无礼,那君子必 定反躬自问:我一定不仁,一定无礼吧,不然的话,他怎么会对 我这样呢?如果反躬自问是仁的,是有礼的,而那人仍然蛮横无 礼,君子必定再次反躬自问:我一定不忠吧?如果反躬自问是忠 的,而那人仍然蛮横无礼,君子就会说:‘这人不过是个狂人罢了。 “这样的人和禽兽有什么区别呢?而对禽兽又有什么可责难的呢?’ 所以君子有终身的忧虑,但没有一朝一夕的祸患。比如说这样的 忧虑是有的:舜是人,我也是人;舜是天下的楷模,名声传于后 世,可我却不过是一个普通人而已。这个才是值得忧虑的事。忧 虑又怎么办呢?像舜那样做罢了。至于君子别的什么忧患就没有 了。不是仁爱的事不于,不合于礼的事不做。即使有一朝一夕的  祸患来到,君子也不会感到尤患了。”
  【读解】
  “爱人者人恒爱之。敬人者人恒敬之。”
  这是一段典型的劝人互爱互敬的文字,在论述中又强调了个 人修养中的反躬自省。读起来,使人感到与西方基督教的精神有 相通之处。 
  就像我们今天流行的歌曲所唱的那样:
  只要人人都献出一点爱,世界将变成美好的人间。
  让这世界有真心的爱,让这世界充满情和爱!
  道理并不深奥,可以说是不言而喻。关键是要有行动的热情。 如果人人都有这种行动的热情,许多人际之间的矛盾纠葛就会没 有了,许多事情就要好办得多了,社会的文明程度就会大大提高 了。问题是,我们从幼儿园时就接受这种互爱互敬的教育,而实 际到底做得怎么样呢?
  恐怕也应该接受孟子的建议,来一点反躬自省吧。
  ——————
  不孝有五,不顾父母
  【原文】
  孟子曰:“世俗所谓不孝者五:惰其四支①,不顾父母之养,一 不孝也;博养好饮酒,不顾父母之养,二不孝也;好货财,私妻 子,不顾父母之养,三不孝也;从②耳目之欲,以为父母戮③,四 不孝也;好勇斗很④,以危父母,五不孝也。
  【注释】
  ①四支:即四肢。②从:同“纵”。③戮:羞辱。④很:同 “狠”
  【译文】
  孟子说:“通常认为不孝的情况有五种:四肢懒惰,不管赡养 父母,这是第一种;酗酒聚赌,不管赡养父母,这是第二种;贪 吝钱财,只顾老婆孩子,不管赡养父母,这是第三种;放纵#色 享 乐,使父母感到羞辱,这是第四种;逞勇好斗,连累父母,这 是第五种。”
  【读解】
  这五种不孝与“不孝有三,无后为大”的三种不孝又有所不 同,加起来,不就是“不孝有八”了吗?
  对于我们今天的人来说,这五种不孝的情况都仍然程度不同 地存在着,但其中最为典型,最切中时弊的恐怕是第三种了:
  好财货,私妻子,不顾父母之养。
  新闻媒介报道也罢,漫画讽刺也罢,街谈巷议也罢,这一类 事情的确是见得很多了。
  养下不养上。下是“小皇帝”,上是“老长工”。
  这些人怎么就没有想到,自己有一天也会老啊,而“小皇 帝”又会有他们自己的“小皇帝”。 
  自己不就成为“老长工”了吗?
  如此恶性循环,岂不悲哉!
  可见,提倡孝敬父母,强调赡养父母,人人有责,到今天不 仅没有过时,反而还具有非常重要的现实意义。
  ——————
  齐人有一妻一妾
  【原文】
  齐人有一妻一妾而处室者,其良人①出,则必餍(2)酒肉而后反。 除问所与饮食者,则尽富贵也。其妻告其妾曰:“良人出,则必 展酒肉而后反;问其与饮食者,尽富贵也,而未尝有显者来,吾 将(3)间良人之所之也。”
  蚤④起,施⑤从良人之所之,遍国中③无与立谈者。卒之东郭墦 间(7),之祭者,乞其余;不足,又顾而之他——此其为展足之道也。 其妻归,告其妾,曰:“良人者,所仰望而终身也,今若 此!--”与其妾讪(8)其良人,而相泣于中庭(9),而良人未之知也, 施施(10)从外来,骄其妻妾。 
  由君子观之,则人之所以求富贵利达者,其妻妾不羞也,而 不相泣者,几希矣!
  【注释】
  ①良人:古代妇女对丈夫的称呼。②餍(yan):饱。③间 (Jian):窥视。④蚤:同“早”。⑤施(yi):斜。这里指斜行,斜从 跟随,以免被丈夫发现。(6)国中:都城中。(7)墦问:坟墓间。 (8)讪:讥消、讥骂。(9)中庭:庭中。(10)施施(shi):得意洋洋的样 子。
  【译文】
  齐国有一个人,家里有一妻一妾。那丈夫每次出门,必定是 吃得饱饱地,喝得醉醺醺地回家。他妻子问他一道吃喝的是些什 么人,据他说来全都是些有钱有势的人。他妻子告诉他的妾说: “丈夫出门,总是酒醉肉饱地回来;问他和些什么人一道吃喝,据 他说来全都是些有钱有势的人,但我们却从来没见到什么有钱有 势的人物到家里面来过,我打算悄悄地看看他到底去些什么地 方。”
  第二天早上起来,她便尾随在丈夫的后面,走遍全城,没有 看到一个人站下来和他丈夫说过话。最后他走到了东郊的墓地,向 祭扫坟墓的人要些剩余的祭品吃;不够,又东张西望地到别处去 乞讨--这就是他酒醉肉饱的办法。 
  他的妻子回到家里,告诉他的妾说:“丈夫,是我们仰望而终 身依靠的人,现在他竟然是这样的!--”二人在庭院中咒骂着, 哭泣着,而丈夫还不知道,得意洋洋地从外面回来,在他的两个 女人面前摆威风。 
  在君子看来,人们用来求取升官发财的方法,能够不使他们 的妻妾引以为耻而共同哭泣的,是很少的!
  【读解】
  这已经成了一则很著名的寓言故事。孟子为我们勾画的,是 一个内心极其卑劣下贱,外表却趾高气扬,不可一世的形象。他 为了在妻妾面前摆阔气,抖威风,自吹每天都有达官贵人请他吃 喝,实际上却每天都在坟地里乞讨。妻妾发现了他的秘密后痛苦 不堪,而他却并不知道事情已经败露,还在妻妾面前得意洋洋。读 完这一段故事,令人感到既好笑,又有几分恶心。孟子的讽刺是 辛辣而深刻的。孟子的原意是讽刺他那个时代不择手段去奔走于 诸侯之门,求升官发财的人,他们在光天化日下冠冕堂皇,自我 炫耀,暗地里却行径卑劣,干着见不得人的勾当。
  其实,在我们今天读来,也仍然可以感到生活中有这位齐国 飞人”的影子。他们当然已不可能像这位齐国“良人”那样“有 一妻一妾而处室”,无“妻妾”可“骄”了。但是可以“骄”同事, “骄”朋友嘛。今天我与某书记钓鱼,明天我与某局长喝酒,后天 又是某大款请我上茶楼,如此等等,不一而足。某小品讽刺的用 名片打扑克,鞭挞的不就是这位齐国“良人”似的人物吗? 
  ——————
  万章上
  本篇以长文为主,内容几乎全是有关尧、舜、禹、汤、孔子 百里奚等三代贤王和春秋贤人的事迹,具有重要的史料价值。但 一般读者读来较为生涩,全篇原文共9章,本书除9·5“君权谁 授”为全章外,前面3章均为节选。
  大孝终身慕父母
  【原文】
  人少,则慕①父母;知好色,则慕少艾②;有妻子,则慕妻子; 仕则慕君,不得于君则热中③。大孝终身慕父母。五十而慕者,予 于大舜见之矣。
  【注释】
  ①慕:爱慕,依恋。②少艾:指年轻美貌的人。③热中:焦急 得心中发热。
  【译文】
  人在年幼的时候,爱慕父母;懂得喜欢女子的时候,就爱慕 年轻漂亮的姑娘。有了妻子以后,便爱慕妻子;做了官便爱慕君 王,得不到君王的赏识便内心焦急得发热。不过,最孝顺的人却 是终身都爱慕父母。到了五十岁还爱慕父母的,我在伟大的舜身 上见到了。
  【读解】
  终身都爱慕父母的有两种情况:
  一种是终身都只爱慕父母,其他如年轻漂亮的姑娘、妻子、君 王等统统不爱。
  另一种是既终身爱慕你母,又不妨害爱姑娘,爱妻子,爱君 王等。 若以弗洛依德博士的观点来看,第二种是正常的情感心态,第 一种则出于“恋父”、“恋母”情结了。
  孟子这段话是通过对大舜作心理分析后引出的。大舜由于没 有得到父母的喜爱,所以,即使获得了绝色美女和妻子,甚至自 己已做了君王,达到了权力和财富的顶峰以后,也仍然郁郁寡欢, 思蓦父母之爱。
  所以,如果我们要做到“大孝”,那就应该既“终身慕父母”, 又爱少艾和妻子,这才是健康正常的心态。 
  ——————
  君子也难免受骗
  【原文】
  昔者有馈生鱼于郑子产,子产使校人①畜之池。校人烹之,反 命曰“始舍之,圉圉(2)焉;少则洋洋③焉;攸然④而逝。”子产曰: “得其所哉!得其所哉!”校人出,曰:“孰谓子产智?予既烹而食 之,曰,‘得其所哉!得其所哉!”’故君子可欺以其方,难罔以非 其道。
  【注释】
  ①校人:管理池塘的小官②圉圉(yu):疲惫的样子。③洋洋: 舒缓摇尾的样于。④攸然:迅速的样子。
  【译文】
  从前有人送条活鱼给郑国的子产,子产叫主管池塘的人把它 畜养在池塘里。那人却把鱼煮来吃了,回报说:“刚放进池塘里时, 它还要死不活的;一会儿便摇摆着尾巴活动起来了;突然间,一 下子就游得不知去向了。”于产说:“它去了它应该去的地方啦!它 去了它应该去的地方啦!”那人从子产那里出来后说:“谁说子产 聪明呢?我明明已经把鱼煮来吃了,可他还说‘它去了它应该去 的地方啦!它去了它应该去的地方啦!”所以,君子可能被合乎倩 理的方法所欺骗,但难以被不合情理的方法所欺骗。
  【读解】
  骗子有术,也有限。
  有术就能使人受骗,不仅使普通人受骗,就是有德有才的君 子,像郑国贤宰相于产那样的聪明人,也照样受骗。只不过这很 有个条件,就是你得把谎话说圆,说得合乎情理,就像那个“校 人”那样,把鱼开始怎么样,接着又怎么样,最后又怎么样说得 来非常生动细致,活灵活现,难怪得子产要上当,要相信他了。这 里面还有一层微妙的原因在于,越是君子,其实越容易受骗。因 为君子总是以君子之腹度人,凡事不大容易把人往坏处想,结果 往往上骗子的当。倒是真正的小人,以小人之心度人,把人往坏 处想,往往还不容易被欺瞒过去。所以,说君子也难免受骗,这 原本不应该是什么奇怪的问题。 
  当然,还是那句话,要让君子上当受骗,得有合乎情理的说 法,否则,还是容易被识破的。这就是骗亦有限的话题了。
  明白了这个道理以后,即使你是君子,是不是也应该保持戒 心,多一分警惕,以免上当受骗呢!
  ——————
  以意逆志,是为得之
  【原文】
  故说诗者,不以文害辞,不以辞害志。以意逆①志,是为得之。 如以辞而已矣,《云汉》之诗曰:“周余黎民,靡有子遗②。”信斯 也,是周无遗民也。
  【注释】
  ①逆:揣测。②靡有:没有。不遗;二字同义,都是“余”的意思。
  【译文】
  所以解说诗的人,不要拘于文字而误解词句,也不要拘于词 句而误解诗人的本意。要通过自己读作品的感受去推测诗人的本 意,这样才能真正读懂诗。如果拘于词句,那《云汉》这首诗说; “周朝剩余的百姓,没有一个留存。”相信这句话,那就会认为周 朝真是一个人也没有了。
  【读解】
  孟子是在和学生咸丘蒙讨论有关大舜的事迹时顺便说到读诗 的方法问题的。但他的这段话,尤其是关于“以意逆志”的命题, 却为了中国古代文学批评中的名言,直到今天,仍然受到现代 文学批评专家、学者们的重视。
  所谓“诗言志”,语言只是载体、媒介。因此,读诗贵在与诗 人交流思想感情。
  刘勰《文心雕龙·知音》)说:“夫缀文者情动而辞发,观文者 披文以入情,沿波讨源,虽幽必显。”
  “情动而辞发”是“诗言志”;“披文以入情”是“以意逆志”。 为勰发挥的,正是孟子的读诗法。
  至于现代批评所说的“一千个读者就有一千个哈姆雷特”,强 调鉴赏者的再创造,那就和孟子“以意运志”的读诗法相去较远了。 
  ——————
  君权谁授?
  【原文】
  万章曰:“尧以天下与舜,有诸?”
  孟子曰:“否,天子不能以天下与人。” 
  “然则舜有天下也,孰与之?” 
  曰:“天与之。”
  “天与之者,谆谆①然命之乎?”
  曰:“否,天不言,以行与事示之而已矣。” 
  曰:“以行与事示之者,如之何?” 
  曰:“天子能荐人于天,不能使天与之天下;诸侯能荐人于天 子,不能使天子与之诸侯;大夫能荐人于诸侯,不能使诸侯与之 大夫。昔者,尧荐舜于天,而天受之;暴②之于民,而民受之。故 曰,天不言,以行与事示之而已矣。”   曰:“敢问荐之于天,而天受之;暴之于民,而民受之,如何?” 
  曰:“使之主祭,而百神享之,是天受之;使之主事,而事治, 百姓安之,是民受之也。天与之,人与之,故曰,天子不能以天 下与人。舜相尧二十有八载,非人之所能为也,天也。尧崩,三 年之丧毕,舜避尧之子于南河③之南,天下诸侯朝觐者,不之尧之 子而之舜;讼狱者,不之尧之子而之舜;沤歌者,不沤歌尧之子 而沤歌舜。故曰,天也。夫然后之中国④,践天子位焉。而(5)居尧 之宫,逼尧之子,是篡也,非天与也。《太誓》曰:‘天视自我民 视,天听自我民听。’此之谓也。”
  【注释】
  ①谆谆(Zhun):反复叮咛。②暴(pu):显露,公开。③南河: 舜避居处,在今山东濮县东二十五里,河在尧都之南,故称南河。④中 国;这里指帝都。⑤而:如。
  【译文】
  万章问:“尧拿天下授与舜,有这回事吗?” 
  孟子说:“不,天子不能够拿天下授与人。” 
  万章问:“那么舜得到天下,是谁授与他的呢?” 
  孟子回答说:“天授与的。” 
  万章问:“天授与他时,反复叮咛告诫他吗?” 
  孟子说:“不,天不说话,拿行动和事情来表示罢了。” 
  万章问:“拿行动和事情来表示,是怎样的呢?” 
  孟子回答说:“天子能够向天推荐人,但不能强迫天把天下授 与人;诸侯能够向天子推荐人,但不能强迫天子把诸侯之位授 与这人;大夫能够向诸侯推荐人,但不能强迫诸侯把大夫之位授 一这人。从前,尧向天推荐了舜,天接受了;又把舜公开介绍给 老百姓,老百姓也接受了。所以说,天不说话,拿行动和事情来 表示罢了。” 
  万章说:“请问推荐给天,天接受了;公开介绍给老百姓,老 百姓也接受了是怎么回事呢?” 
  孟子说:“叫他主持祭祀,所有神明都来享用,这是天接受了; 叫他主持政事,政事治理得很好,老百姓很满意,这就是老百姓 也接受了。天授与他,老百姓授与他,所以说,天子不能够拿天 下授与人。舜辅佐尧治理天下二十八年,这不是凭一个人的意志 够做得到的,而是天意。尧去世后,舜为他服丧三年,然后便 避居于南河的南边去,为的是要让尧的儿子继承天下。可是,天 下诸侯朝见天子的,都不到芜的儿子那里去,却到舜那里去;打 官司的,都不到尧的儿子那里去,却到舜那里去;歌颂的人,也 不歌颂尧的儿子,却歌颂舜。所以你这是天意。这样,舜才回 到帝都,登上了天于之位。如果先前舜就占据尧的宫室,逼迫尧 的儿子让位,那就是篡夺,而不是天授与他的了。《太誓》说过: ‘上天所见来自我们老百姓的所见,上天所听来自我们老百姓的所 听。’说的正是这个意思。”
  【读解】
  君权谁授? 
  按照一般传统的理解,在禅让制的时代,这一代的君权是由 上一代的天子授与的。这也就是孟子的学生万章的看法。 
  可孟子却作出了与传统看法不一样的回答,认为天子个人并 没有权力把天下拿来授与谁,而只有上天和下民(老百姓)才有 这个权力。 很明显,孟子是脚跨上下两个方面,一只脚跨在上天,有 “君权神授”的神秘色彩;另一只脚却跨在民间,有“民约论”的 味道。而他的论述,则正好是在这两方面寻求沟通的桥粱,寻找 “天意”与“民意”的结合点。所谓“究天人之际”,研究天与人 的关系,这是中国古代哲学家、思想家探讨的核心问题,而孟子 在这里的探讨,是从政治、君权的角度来进行的,也算是一个重 要的课题罢。 
  事实上,孟子在这里的分析论述,与其说强调“天”的一方 面,不如说强调“民”的一方面更为贴切。就以他所分析的舜的 情况来看,舜之所以最终“之中国,践天子位”,完全是因为“天 下诸侯朝觐者,不之尧之子而之舜;讼狱者,不之尧之子而之舜 诓歌者,不诓歌尧之子而怄歌舜”。所以,与其说是“天授”,不 如说是“民授”。他最后所引《太誓》上的两句话:“天视自我民 视,天听自我民听。”不也一方面说明了“天人之际”的密切联系, 另一方面说明了“天意”从根本上说还是来自“民意”吗?
  可见,孟子的政治学说里的确怎么也抹不掉“以民为本”的 思想。
  君权谁授?
  从根本上来回答,是民授而不是神授、天授,当然更不是哪 个个人所授,即便你是伟大如尧,也没有那样大的权力。 
  ——————
  万章下
  本篇内容涉及圣人风范、古代礼制、交朋结友、立身处世和 大臣的权力、职责等。全篇原文共9章,本书选5章。
  圣人风范论
  【原文】
  孟子曰:“伯夷,目不视恶色,耳不听恶声。非其君,不事; 非其民,不使。治则进,乱则退。横①政之所出,横民之所止,不 忍居也。思与乡人处,如以朝衣朝冠坐于涂炭也。当纣之时,居 北海之滨,以待天下之清也。故闻伯夷之风者,顽②夫廉,懦夫有 立志。 “
  伊尹曰:‘何事非君?何使非民?’治亦进,乱亦进,曰: ‘天之生斯民也,使先知觉后知,使先觉觉后觉。予,天民之先觉 者也。予将以此道觉此民也。’思天下之民匹夫匹妇有不与被尧舜 之泽者,若己推而内之沟中——其自任以天下之重也。
  “柳下惠不羞污君,不辞小官。进不隐贤,必以其道。遗佚(3) 而不怨,厄穷而不悯。与乡人处,由由然不忍去也。‘尔为尔,我为我,虽袒裼裸裎④于我侧,尔焉能浼⑤我哉?’故闻柳下惠之风者, 鄙夫(6)宽,薄夫(7)敦。 
  “孔子之去齐,接淅(8)而行;去鲁,曰:‘迟迟吾行也,去父母 国之道也!’可以速而(9)速,可以久而久,可以处而处,可以仕而 仕,孔子也。” 
  孟子曰:“伯夷,圣之清者也;伊尹,圣之任者也;柳下惠, 圣之和者也;孔子,圣之时者也。孔子之谓集大成。集大成也者, 金声而玉振之(10)也。金声也者,始条理也;玉振之也者,终条理也。 始条理者,智之事也;终条理者,圣之事也。智,譬则巧也;圣, 譬力也。由(11)射于百步之外也,其至,尔力也;其中,菲尔力也。”
  【注释】
  ①横:暴。②顽:贪婪。③遗佚:不被重用。④袒揭 (XT)裸裎:四个字意思相近,同义复用,都是赤身露体的意思。⑤浼: 污染。(6)鄙夫:心胸狭窄的人。(7)薄夫:刻薄的人。(8)接淅:淘 米。(9)而:则。以下几句同。(10)金声:指钋(b6)钟发出的声音。玉 振:指玉磐收束的余韵。古代奏乐,先以钋钟起音,结束以玉磐收尾。 (11)由:通“犹”。
  【译文】
  孟子说:“伯夷,眼睛不看丑陋的事物,耳朵不听邪恶的声音。 不是他理想的君主,不侍奉;不是他理想的百姓,不使唤。天下 太平就出来做官,天下混乱就隐退不出。施行暴政的国家,住有 暴民的地方,他都不愿意居住。他认为和没有教养的乡下人相处, 就像穿戴着上朝的礼服礼帽却坐在泥途或炭灰上一样。当殷纣王 暴虐统治的时候,他隐居在渤海边,等待着天下太平。所以,听 到过伯夷风范的人,贪得无厌的会变得廉洁,懦弱的会变得意志 坚定。 “
  伊尹说:‘哪个君主不可以侍奉?哪个百姓不可以使唤?’所 以,他是天下太平做官,天下混乱也做官。他说;‘上天生育这些 百姓,就是要让先知的人来开导后知的人,先觉的人来开导后觉 的人。我就是这些人中先知先觉的人,我要开导这些后知后觉的 人.’他认为天下的百姓中,只要有一个普通男子或普通妇女没有 承受到尧舜的恩泽,就好像是他自己把别人推进山沟之中去了一 样--这就是他以挑起天下的重担为己任的态度。 
  “柳下惠不以侍奉坏君主为耻辱,也不因官小而不做。做官不 隐藏自己的才能,坚持按自己的原则办事。不被重用不怨恨,穷 困也不忧愁。与没有教养的乡下人相处,也照样很自在地不忍离 去。他说:‘你是你,我是我,你就是赤身裸体在我旁边,对我又 有什么污染呢?’所以,听到过柳下惠风范的人,心胸狭窄的会变 得宽阔起来,刻薄的会变得厚道起来。
  “孔子离开齐国的时候,不等把米淘完就走;离开鲁国时却说: ‘我们慢慢走吧,这是离开父母之邦的路啊!’应该快就快,应该 慢就慢;应该隐居就隐居,应该做官就做官。这就是孔子。”
  孟子说:‘伯夷是圣人里面最清高的;伊尹是圣人里面最负责 任的;柳下惠是圣人里面最随和的;孔子是圣人里面最识时务的. 孔子可以称为集大成者。集大成的意思,就好比乐队演奏,以钋 钟声开始起音,以玉磐声结束收尾。钋钟声起音是为了有条有理 地开始,玉磐声收尾是为了有条有理地结束。有条有理地开始是 智方面的事,有条育理地结束是圣方面的事。智好比是技巧,圣 好比是力量。犹如在百步以外射箭,箭能射拢靶子,是靠你的力 量;射中了,却是靠技巧而不是靠力量。”
  【读解】
  孟子在这里罗列的,是四种圣人的典型:伯夷清高,伊尹具 有强烈的责任感和使命感,柳下惠随遇而安,孔子识时务。比较 而言,孟子认为前三者都还只具有某一方面的突出特点,而孔子 则是集大成者,金声而玉振,具有“智”与“圣”相结合的包容 性。
  显然,孟子给了孔子以最高赞誉。 
  以我们今天的眼光来看,伯夷过于清高,清高得来有点不食 人间烟火,所以他最后要与叔齐一道“不食周粟”,饿死于首阳山. 但是,所谓“饿死事小,失节事大”的观念也就由此生成,对后 世产生了深远的影响。或许也正是由此观念出发,伯夷才被推崇 为“圣人”之一。伊尹“其自任以天下之重”,具有强烈的社会责 任感和使命感,是我们曾经说过,“把历史扛在肩头”的人。其实。 他的这种精神,正是曾子所谓“士不可以不弘毅,任重而道远。仁 以为己任,不亦重乎?死而后已,不亦远平?”(《论语·泰伯》) 所以,伊尹是非常符合儒教精神的“圣人之一,历来也的确成 为儒家所津津乐道的古代圣贤人物。但他的这种精神,在进入所 谓“现代主义”或“后现代主义”时期后,已被视为过于沉重,过 于执着的“古典意识”,与“轻轻松松过一生”的现代生活观念有 格格不入,或者说,已不那么合时宜了。柳下惠一方面是随遇 而安,另一方面却是坚持原则,我行我素。随遇而安体现在他不 至于侍奉坏的君主,不羞于做低贱的小官,不被重用不抱怨,穷 困不忧愁。这几句话说来容易,做起来可就太困难了,尤其是后 面两句,的确人有圣贤级的水平。所以,传说柳下惠能够做到 “坐怀不乱”,具有超人的克制力,圣人的风范。最后说到孔圣人。 事实上,到后世,尤其是到我们今天仍然家喻户晓为圣人的,四 人之中,也就是孔圣人了。孟子在这里并没有展开对孔子的全面 论述,而只是抓住他应该怎样就怎样的这一特点,来说明他是 “圣之时者”,圣人中识时务的人。所谓“识时务者为俊杰”。孟子 所强调的,是孔子通权这变,具有包容性的特点,所以才有“孔 子之谓集大成”的说法。而且,由“集大成”的分折,又过渡到 对于“智”与“圣”相结合的论述,而孔子正是这样一个“智” “圣”合一的典型。说穿了,也就是“德才兼备”的最高典范。这 样一说,圣人也就与我们有接近的地方了,我们今天不也仍然强 调“德才兼备”吗?当然,我们不可能要求人人都成为圣人,但 是,虽不能至,心向往之,作为精神方面的追求总还是可以的吧。 
  ——————
  友其德也,不可有挟
  【原文】
  万章问曰:“敢问友。”
  孟子曰:“不挟(1)长,不挟贵,不挟兄弟而友。友也者,友其 德也,不可以有挟也。孟献子(2),百乘之家也,有友五人焉:乐正 裘、牧仲,其三人,则予忘之矣。献子之与此五人者友也,无献 子之家者也。此五人者,亦有献子之家,则不与之友矣。非惟百 乘之家为然也,虽小国之君亦有之。费(3)惠公曰:‘吾于子思,则 师之矣;吾于颜般,则友之矣;王顺、长息则事我者也。’非惟小 国之君为然也,虽大国之君亦有之。晋平公之于亥唐(4)也。’入云则 入,坐云则坐,食云(5)则食;虽蔬食(6)菜羹,未尝不饱,盖不敢不 饱也。然终于此而已矣。弗与共天位也,弗与治天职也,弗与食 天禄也,士之尊贤者也,非王公之尊贤也。舜尚(7)见帝,帝馆甥(8) 于贰(9)室,亦飨舜,迭为宾主,是天子而友匹夫也。用(10)敬上,谓 之贵贵;用上敬下,谓之尊贤。贵贵尊贤,其 义一也。”
  【注释】
  ①挟:倚仗。②孟献子:鲁国大夫仲孙蔑。③费:春秋时小国, 旧地在今山东鱼台西南费亭。④亥唐:晋国人。晋平公时,朝中多贤臣, 但亥唐不愿为官,隐居穷巷,平公曾对他“致礼与相见面请事”,非访敬重。 ⑤入云、坐云、食云:是云入、云坐、云食的倒装。云,说。(6)蔬 食:粗糙的饮食。蔬同“疏”。(7)尚:同“上”。(8)甥:古时称妻子 的父亲叫外舅,所以,女婿也称“甥”,舜是尧帝的女婿。(9)贰室:副官, 即招待的宫邸。(10)用:以。
  【译文】
  万章问道:“请问交朋友的原则。” 
  孟子说:“不倚仗年龄大,不倚仗地位高,不倚仗兄弟的势力 去交朋友。交朋友,交的是品德,不能够有什么倚仗。孟献子是 一位拥有百辆车马的大夫,他有五位朋友:乐正裘、牧仲,其余 三位,我忘记了。献子与这五人交朋友,心目中并不存在自己是 联的观念,这五人,如果心目中存有献子是大夫的观念,也就 不与献子交朋友了。。不仅具有百辆车马的大夫有这样的,就是小 国的国君也有这样的。费惠公说:‘我对于子思,把他尊为老师; 我对于颜般,和他交为朋友;至于王顺和长息,不过是侍奉我的 人罢了。’不仅小国的国君有这样的,就是大国的国君也有这样的。 晋平公对待亥唐,亥唐叫他进去就进去,叫他坐就坐,叫他吃就 它。即使是糙米饭小菜汤,也没有不吃饱的,因为不敢不吃饱。不 过,晋平公也就是做到这一步而已。不同他一起共列官位,不同 他一起治理政事,不同他一起享受俸禄,这只是一般士人尊敬贤 者的态度,而不是王公贵族对贤者的态度。从前舜去拜见尧帝,尧 助他的这位女婿住在副官中。他请舜吃饭,舜也请他吃饭,二 人互为客人和主人。这是天子与普通百姓交朋友的范例。地位低 下的人尊敬地位高贵的人,这叫尊敬贵人;地位高贵的人尊敬地 位低下的人,这叫尊敬贤人。尊敬贵人和尊敬贤人,道理都是一 样的。”
  【读解】
  爱情要纯洁,友情也要纯洁,不可以掺杂金钱、地位等利害 关系的因素在内。古代人非常重视这一点。我们随手就可以写下 一连串这方面的名言:
  “以财交者,财尽则交绝;以色交者,华落而爱渝。”(《战国 策·楚策一》) 
  “以权利合者,权利尽而交疏。”(《史记·郑世家赞》) 
  “以势交者,势倾则绝;以利交者,利穷则散。”(《中说·礼 乐》) 
  一言以蔽之,也就是孟子在这里所说的“友其德”,而不要友 其财、色、权、利、势。 
  至于古今中外的文艺作品,如莎士比亚名剧《雅典的泰门》、 巴尔扎克的小说《高老头》,以及中国话本《杜十娘怒沉百宝箱》 等,更是生动形象、淋漓尽致地揭示了这个道理。
  问题还是在于,说得越多,文艺作品写得越多的,往往也就 是现实生活中存在问题最多的现象。古往今来,真正能够做到 “不挟”而“友其德”的,又有几人呢?
  岂不闻——
  “世人结交须黄金,黄金不多交不深。 纵令然诺暂相许,终是悠悠行路心。”(《增广贤文》)
  所谓“钱权交易”,至今不也仍然是我们“反腐败”中要着力 解决的一个大问题吗; 
  ——————
  位卑莫言高
  【原文】
  孟子曰:“仕非为贫也,而有时乎为贫;娶妻非为养也,而有 时乎为养。为贫者,辞尊居卑,辞富居贫。辞尊居卑,辞富居贫, 恶乎宜乎?抱关击柝(1)’。孔子尝为委吏②矣,曰:‘会计当而已矣.’ 尝为乘田③矣,曰:‘牛羊茁壮长而已矣。’位卑而言高,罪也;立 乎人之本朝④,而道不行,耻也。”
  【注释】
  ①抱关:守门的小卒。击拆(tuo):打更;柝指打更用的梆子。③ 委吏:管仓库的小史。③乘田:管苑囿的小吏,负责牲畜的饲养和放牧. ④本朝:朝廷。
  【译文】
  孟子说:“做官不是因为贫穷,但有时也是因为贫穷;娶妻不 是了孝养父母,但有时也是为了孝养父母。因为贫穷而做官的, 便应该拒绝高官而居于低位;拒绝厚禄而只受薄禄。拒绝高官而 居于低位;拒绝厚禄而只受薄禄,做什么合适呢?比如说做守门 打更一类的小吏。孔子曾经做过管理仓库的小吏,只说:‘出入的 帐目清楚了。’又曾经做过管理牲畜的小吏,只说:‘牛羊都长得 很壮实。’地位低下却议论朝廷大事,这是罪过;身在朝廷做官而 不能实现自己的抱负,这是耻辱。”
  【读解】
  “位卑未敢忘忧国。”(陆游)
  忧固然是忧,但如果你高谈阔论,指点江山,评议朝纲政纪, 那可就要小心你的脑袋了。 
  因此,孟子有“位卑而言高,罪也”的看法。尤其是在暴政 专制的时代,更是如此,所以有“莫谈国事”的警告。   另一方面,如果你不是“为贫而仕”,不是为了拿工资混饭吃, 而是为了实现自己的政治抱负,因而做了高官,“立乎人之本朝”, 加应该关心国家大事,发表自己的政见,尽到自己的一份责任。不然的话,“道不行”,就是耻辱。   总之还是《中庸》所说“素位而行”的意思。担任什么角色 就做什么样的事,说什么样的话,尽什么样的力。即便圣人如孔 子,不也是管帐就说管帐,放羊就说放羊吗?既然如此,我们又 放么多余的话可说呢? 
  ——————
  知人论世
  【原文】
  孟子谓万章曰:“一乡之善士斯友一乡之善士,一国之善士斯 友一国之善土,天下之善士斯友天下之善士。以友天下之善士为 未足,又尚①论古之人。颂②其诗,读其书,不知其人,可乎?是 以论其世也。是尚友也。”
  【注释】
  ①尚:同“上”。②颂:同“诵”。
  【译文】
  孟子对万章说:“一个乡的优秀人物就和一个乡的优秀人物交 朋友,一个国家的优秀人物就和一个国家的优秀人物交朋友,天 下的优秀人物就和天下的优秀人物交朋友。如果认为和天下的优 秀人物交朋友还不够,便又上溯古代的优秀人物。吟咏他们的诗, 读他们的书,不知道他们到底是什么人,可以吗?所以要研究他 们所处的社会时代。这就是上溯历史与古人交朋友。”
  【读解】
  孟了的本意是论述交朋友的范围问题。乡里人和乡里人交朋 友,国中人和国中人交朋友,更广泛的范围,则和天下的人交朋 友,也就是朋友遍天下了吧。如果朋友遍天下还嫌不足,那就只 有上溯历史,与古人交朋友了。当然,也只有神交而已。这种神 交,就是诵他们的诗,读他们的书。而为了要正确理解他们的诗 和他们的书,就应当要了解写诗著书的人,要了解写诗著书的人, 又离不开研究他们所处的社会时代。这就是所谓“知人论世”的 问题了。
  实际上,孟子这段话对后世真正发生影响的,正是“知人论 世”的主张。它与“以意邀志”一样,成为传统文学批评的重要 方法,也奠定了孟子在中国文学批评史上的重要地位。事实上,直 到今天,无论现代主义以来的新兴文学批评方式方法已走得有多 远,多新奇,但在我们的中小学课堂上,大学讲台上,以及占主 导地位的文学批评实践中,依然在主要使用着的,还是“知人论 世”和“以意逆志”的方式方法。所谓“时代背景分析”、“作者 介绍”、“中心思想”、“主题”等等,这些人们耳熟能详的概念,无 一不是“知人论世”或“以意逆志”的产物。由此足以见出孟子 对于中国文学批评的深远影响,而这种影响之一,正是由本章的 文字所发生的。 
  ——————
  劝君不听怎么办?
  【原文】
  齐宣王问卿。孟子曰:“王何卿之间也?”王曰:“卿不同乎?” 曰:“不同,有贵戚之卿①,有异姓之卿。”王曰:“请问贵戚之卿。” 曰:“君有大过则谏;反复之而不听,则易位。”王勃然变乎色。曰: “王勿异也。王问臣,臣不敢不以正②对。”王色定,然后请问异姓 之卿曰:‘君有过则谏,反复之而不听,则去。”
  【注释】
  ①贵戚之卿:指与君王同宗族的卿大夫。②正:诚。
  【译文】
  齐宣王问有关卿大夫的事。孟子说:“大王问的是哪一类的卿 大夫呢?”
  齐宣王说:‘卿大夫还有所不同吗?”
  孟子说:“不同。有王一室宗族的卿大夫,有异姓的卿大夫。” 
  宣王说:“那我请问王室宗族的卿大夫。” 
  孟子说:“君王有重大过错,他们便加以劝阻;反复劝阻了还 不听从,他们便改立君王。”
  宣王突然变了脸色。
  孟子说:“大王不要怪我这样说。您问我,我不敢不用老实话 来回答。” 
  宣王脸色正常了,然后又问非王族的异姓卿大夫。 
  孟子说:“君王有过错,他们便加以劝阻;反复劝阻了还不听 从,他们便辞职而去。”
  【读解】
  弘扬大臣的职责和权力而限制君主权力无限地膨胀,这也是 孟子仁政思想的内容之一,体现出一定程度的民主政治色彩。
  王室宗族的卿大夫因为与国君有亲缘关系,国君的祖先也就 是他的祖先,所以既不能离去,又不能坐视政权覆亡,当国君有 重大错误又不听劝谏时,就可以另立新君。孟子在这里是弘扬宗 族大臣的权力而限制君主个人的权力,从理论上说是正确的。但 我们知道,这种另立新君,在实践上往往酿成的,就是宫廷内乱. 所谓“祸起萧墙之内”,弄得不好,还会引起旷日持久的战争。 
  对异姓卿大夫来说,问题就要简单得多了,他们既没有王室 宗族卿大夫那么大的权力,也没有那么大的职责。所以,能劝谏 就劝谏,不能劝谏就辞职而去,各走一方罢了。其实,这也是孔 子“所谓大臣者,以道事君,不可则止”(《论语·先进》)的意 思。
  总起来说,孔、孟都提倡臣有臣道,臣有臣的气节和人格,反 对愚忠,反对一味顺从,这的确是有积极意义的。 
  ——————
  告子上
  本篇集中讨论人性问题,是孟子“性善论”思想较为完整的 体现。连带的是仁义道德与个人修养的问题。对精神与物质、感 性与理性、人性与动物性等问题也有所涉及。全篇原文共20章, 本书选14章。
  人性向善,犹水就下
  【原文】
  告子①曰:“性犹湍水②也,决诸东方则东流,决诸西方则西流。人性之无分于善不善也,犹水之无分于东西也。” 
  孟子曰:“水信③无分于东西。无分子上下乎?人性之善也,犹 水之就(4)下也。人无有不善,水无有不下。今天水,搏而跃之,可 使过颡(5);激而行之,可使在山。是岂水之性哉?其势则然也。人 之可使为不善,其性亦犹是也。”
  【注释】
  ①告子:生平不详,大约做过墨子的学生,较孟于年长。②湍 (tuan)水:急流的水。③信:诚,真。④就:趋向。⑤颡 (sang):额头。
  【译文】
  告子说:“人性就像那急流的水,缺口在东便向东方流,缺口 在西便向西方流。人性无所谓善与不善,就像水无所谓向东流向 西流一样。” 
  孟子说:“水的确无所谓向东流向西流,但是,也无所谓向上 流向下流吗?人性向善,就像水往低处流一样。人性没有不善良 的,水没有不向低处流的。当然,如果水受拍打而飞溅起来,能 使它高过额头;加压迫使它倒行,能使它流上山岗。这难道是水 的本性吗?形势迫使它如此的。人的可以迫使他做坏事,本性的 改变也像这样。”
  【读解】
  值得我们特别注意的,是孟子的雄辩风范。随口接过论敌的 论据而加以发挥,以水为喻就以水为喻。就好比我们格斗时说,你 用刀咱们就用刀,你用枪咱们就用枪。欲擒故纵,持之有故,言 之成理。“水信无分于东西。无分于上下平?”一语杀入穴道,只 需要轻轻一转,其论证便坚不可移,使读者读来,不得不束手就 擒。于是,我们便都是性善论者了。
  只不过,当我们放下书本而面对现实生活中的种种邪恶时,的 确又会发出疑问:人性真如孟老夫子所描述的那般善良,那般纯 洁得一尘不染吗?这种时候,我们即便不会成为苟子“性恶论”的 信徒,多半也会同意告子的观点了罢:“人性之无分于善不时, 犹水之无分于东西也。”
  ——————
  告子上
  本篇集中讨论人性问题,是孟子“性善论”思想较为完整的 体现。连带的是仁义道德与个人修养的问题。对精神与物质、感 性与理性、人性与动物性等问题也有所涉及。全篇原文共20章, 本书选14章。
  人性向善,犹水就下
  【原文】
  告子①曰:“性犹湍水②也,决诸东方则东流,决诸西方则西流。人性之无分于善不善也,犹水之无分于东西也。” 
  孟子曰:“水信③无分于东西。无分子上下乎?人性之善也,犹 水之就(4)下也。人无有不善,水无有不下。今天水,搏而跃之,可 使过颡(5);激而行之,可使在山。是岂水之性哉?其势则然也。人 之可使为不善,其性亦犹是也。”
  【注释】
  ①告子:生平不详,大约做过墨子的学生,较孟于年长。②湍 (tuan)水:急流的水。③信:诚,真。④就:趋向。⑤颡 (sang):额头。
  【译文】
  告子说:“人性就像那急流的水,缺口在东便向东方流,缺口 在西便向西方流。人性无所谓善与不善,就像水无所谓向东流向 西流一样。” 
  孟子说:“水的确无所谓向东流向西流,但是,也无所谓向上 流向下流吗?人性向善,就像水往低处流一样。人性没有不善良 的,水没有不向低处流的。当然,如果水受拍打而飞溅起来,能 使它高过额头;加压迫使它倒行,能使它流上山岗。这难道是水 的本性吗?形势迫使它如此的。人的可以迫使他做坏事,本性的 改变也像这样。”
  【读解】
  值得我们特别注意的,是孟子的雄辩风范。随口接过论敌的 论据而加以发挥,以水为喻就以水为喻。就好比我们格斗时说,你 用刀咱们就用刀,你用枪咱们就用枪。欲擒故纵,持之有故,言 之成理。“水信无分于东西。无分于上下平?”一语杀入穴道,只 需要轻轻一转,其论证便坚不可移,使读者读来,不得不束手就 擒。于是,我们便都是性善论者了。
  只不过,当我们放下书本而面对现实生活中的种种邪恶时,的 确又会发出疑问:人性真如孟老夫子所描述的那般善良,那般纯 洁得一尘不染吗?这种时候,我们即便不会成为苟子“性恶论”的 信徒,多半也会同意告子的观点了罢:“人性之无分于善不时, 犹水之无分于东西也。”
  ——————
  恻隐之心,人皆有之
  【原文】
  公都子①曰:“告子曰:‘性无善无不善也。’或曰:‘性可以为 善,可以为不善;是故文武兴,则民好善;幽厉兴,则民好暴.’ 或曰:‘有性善,有性不善。是故以尧为君而有象②,以省瞽瞍(3)为父 而有舜,以纣为兄之子,且以为君,而有微子启、王子比干。’今 曰‘性善’,然则被皆非与?”
  孟子曰:“乃若④其情⑤,则可以为善矣,乃所谓善也。若夫为 不善,非才③之罪也。恻隐之心,人皆有之;羞恶之心,人皆有之; 恭敬之心,人皆有之;是非之心,人皆有之。恻隐之心,仁也;羞 恶之心,义也;恭敬之心,礼也;是非之心智也。仁义礼智,非 由外铄(7)我也,我固有之也,弗思耳矣。故曰:‘求则得之,舍则 失之。’或相倍蓰(8)而无算者,不能尽其才者也。《诗》曰:‘天生 蒸民,有物有则。民之秉彝,好是懿德(9)。’孔子曰:‘为此诗者, 其知道乎!故有物必有则;民之秉彝也,故好是懿德。’”
  【注释】
  ①公都子:孟子的学生。②象:舜的异母弟,品行不善。③瞽 (gu)瞍(SOU):舜的父亲,品行不善。④乃若:转折连词,大致相当于 “至于”等。⑤情:指天生的性情。(6)才:指天生的资质。(7)铄 (shuo):授予。(8)蓰(xi):五倍。(9)《诗》曰:引自《诗经·大雅 ·蒸民》。蒸,众;则,法则;秉,执;彝,常;懿,美。
  【译文】
  公都子说:“告子说:‘人性无所谓善良不善良。’又有人说: ‘人性可以使它善良,也可以使它不善良。所以周文王、周武王当 朝,老百姓就善良;周幽王、周厉王当朝,老百姓就横暴。’也有 人说:‘有的人本性善良,有的人本性不善良。所以虽然有尧这样 善良的人做天子却有象这样不善良的臣民;虽然有瞽瞍这样不善 良的父亲却有舜这样善良的儿子;虽然有殷纣王这样不善良的侄 儿,并且做了天子,却也有微子启、王子比干这样善良的长辈和 贤臣。’如今老师说‘人性本善’,那么他们都说错了吗?” 
  孟子说:‘从天生的性情来说,都可以使之善良,这就是我说 人性本善的意思。至于说有些人不善良,那不能归罪于天生的资 质.同情心,人人都有;羞耻心,人人都有;恭敬心,人人都有; 是非心,人人都有。同情心属于仁;羞耻心属于义;恭敬心属于 礼;是非心属于智。这仁义礼智都不是由外在的因素加给我的,而 是我本身固有的,只不过平时没有去想它因而不觉得罢了。所以 说:‘探求就可以得到,放弃便会失去。’人与人之间有相差一倍、 五倍甚至无数倍的,正是由于没有充分发挥他们的天生资质的缘 故。《诗经》说:‘上天生育了人类,万事万物都有法则。老百姓 掌握了这些法则,就会崇高美好的品德。’孔子说:‘写这首诗的 人真懂得道啊!有事物就一定有法则;老百姓掌握了这些法则,所 以崇尚美好的品德。”’
  【读解】
  学生公都子更为全面地提出了人性问题来和孟子进行讨论, 除了告子的观点外,还另外举出了两种观点,且有理有据,说服 力较强。这一次孟子没有以诘难或推谬的方式进行辩论,而是正 面阐述了自己关于人性本善的看法。说是阐述,其实也是重申,因 为其主要内客,即关于恻隐、羞恶、恭敬、是非“四心”以及它 们与仁、义、礼、智之间的内在联系,他在《公孙五上》里已经 提出并阐述过了。只不过在那里是从“人皆有不忍人之心”出发, 探讨“四心”与“仁政”之间的关系,具有政治心理学的色彩。而 这里则是纯从人性探讨的角度出发,回答学生关于人性是否天生 善良的问题。
  其实,到底人性是如孟子的看法天生善良,还是如苟子的看 法天生邪恶,或者如告子等人的看法无所谓善也无所谓恶,这是 一个很难说得清的问题。即便是哲学思想进步发展到今天,对于 这个古老的话题,学者们往往也莫衷一是,各执一端。所以,孟 子的看法的确也只能代表一家之言。
  值得我们注意的是,孟子在这里进一步提出了“求则得之,舍 得失之”的问题。按照孟子的看法,不仅人性本善,人性本来有 “四心”,就连仁义礼智这四种品质道德,也都是“我固有之也, 只不过平时我们没有去想它因而不觉得罢了。所以,现在我们应 该做的就是要在自己的身上,自己的本性之中去发现仁义礼智, “尽其才”,充分发挥自己的天生资质。这使人想到他在《公孙丑 上》里面所说的,人有仁义礼智的四端,“犹其有四体也”。仁义 礼智已经植根于我们的本性之中,就像手脚四肢已长在我们的身上一样,由于太自然,太习惯了,反倒使我们浑然不知,意识不 到了。如果有一个人突然对我们说:‘我发现手脚就长在我们的身 上!”我们不认为他是个百分之百的白痴才怪。可今天突然有人对 我们说:“我发现仁义礼智就在我们的本性之中!”我们认为他是 白痴还是认为他发现了“新大陆”呢?
  古往今来,东南西北,多少人在寻求仁义礼智、世间公道,却 原来都是背着娃娃找娃娃。孟子向我们猛击一掌说:娃娃不就在 你的身上吗?于是我们都反省自身,在自己的身上,自己的本性 中去寻求仁义礼智的善的根苗,加以培养,使之茁壮成长。
  抛开抽象的哲学论争不说,孟子的“性善论”思想是不是有 它积极进取、健康向上的意义呢? 
  ——————
  操则存,舍则亡
  【原文】
  孟子曰:“牛山①之木尝美矣,以其郊于大国②也,斧斤伐之, 可以为美乎?是其日夜之所息③,雨露之所润,非无萌蘖④之生焉, 牛羊又从而牧之,是以若彼濯濯(5)也。人见其濯濯也,以为未尝有 材焉,此岂山之性也哉?虽存乎人者,岂无仁义之心哉?其所以 放其良心者,亦犹斧斤之于木也,旦旦而伐之,可以为美乎?其 日夜之所息,平旦(6)之气,其好恶与人相近也者几希,则其旦昼(7) 之所为,有梏亡之矣(8)。梏之反复,则其夜气不足以存;夜气不足 以存,则其违禽兽不远矣。人见其禽兽也,而以为未尝有才焉者, 是岂人之情也哉?故苟得其养,无物不长;苟失其养,无物不消。 孔子曰:‘操则存,舍则亡;出人无时,莫知其乡。’(9)惟心之谓与?”
  【注释】
  ①牛山:齐国首都临淄郊外的山。②郊:此处作动词用,在……郊. 大国:即大都市,指临淄。③息:生长。④萌蘖(nie):新枝嫩芽。 (5)濯濯(Zhuo):没有草木,光秃秃的样子。(6)平旦:黎明,天刚亮 时.(7)旦昼:第一天。(8)有:同“又”。梏(gu):拘禁,束缚。梏 亡指因受束缚而消亡。(9)乡:乡里,“居”的意思。
  【译文】
  孟子说:‘牛山的树木曾经是很茂盛的,但是由于它在大都市 的郊外,经常遭到人们用斧子去砍伐,还有够保持茂盛吗?当然, 山上的树木日日夜夜都在生长,雨水露珠也在滋润着,并非没有 清枝嫩芽长出来,但随即又有人赶着牛羊去放牧,所以也就像这 样光秃秃的了。人们看见它光秃秃的,便以为牛山从来也不曾有 过高大的树木,这难道是这山的本性吗?即使在一些人身上也是 如此,难道没仁义之心吗?他们的放任良。心失去,也像用斧头砍 伐树木一样,天天砍伐,还可以保持茂盛吗?他们日日夜夜的生 息,在天刚亮时的清明之气,这些在他心里所产生出未的好恶与 一般人相近的也有那么一点点,可到了第二天,他们的所作所为, 又把它们窒息而消亡了。反复窒息的结果,便使他们夜晚的息养 之气不足以存在了,夜晚的息养之气不足以存在,也就和禽兽差 不多了。人们见到这些人的所作所为和禽兽差不多,还以为他们 从来就没有过天生的资质。这难道是人的本性如此吗?所以,假 如得到滋养,没有什么东西不生长;假如失去滋养,没有什么东 西不消亡。孔子说过:‘把握住就存在,放弃就失去;进出没有一 定的时候,也不知道它去向何方。’这就是指人心而言的吧?”
  【读解】
  还是说性本善,只不过侧重于后天的滋养保持一方面罢了。
  人性虽然本来善良,但如果不加以滋养,而是放任良心失去, 那就会像用斧头天天去砍伐树木一样,即便是再茂盛的森林也会 被砍成光秃秃的。而一旦良心失去,心灵失去把持,还会以为原 本就不存在。 
  所谓伊人,在水一方。
  心灵的故乡在哪里呢? 
  现代人惶惑不安,不就正在到处寻找精神的家园、灵魂的故 乡吗?
  问圣人,圣人也只是回答“操则存,舍则亡”,至于它什么时 候出入,故乡在哪里,圣人也“莫知其乡。”
  实际上,按照孟子翻来覆去的阐述,精神的家园或故乡根本 就无它处可寻,而就在我们自己的身上,就在我们自己的本性之 中。
  所以,关键是自我把持,自我滋养,加以发扬光大,而不要 到身外去寻求。
  一句话—— 
  “还是回家种自己的园地要紧!” 伏尔泰笔下的老实人如是说。 
  ——————
  一暴十寒与专心致志
  【原文】
  孟子曰:“无或①乎王之不智也。虽有天下易生之物也,一日 暴②之,十日寒之,未有能生者也。吾见亦罕矣,吾退而寒之者至 矣,吾如有萌焉何哉?今夫奔③之为数④,小数也;不专心致志。则 不得也。奔秋,通国之善奕者也。使奔秋诲二人奔,其一人专心 致志,惟奔秋之为听。一人虽听之,一心以为有鸿鹄⑤将至,思援 弓缴(6)而射之,虽与之俱学,弗若之矣,为是其智弗若与?曰:非 然也。”
  【注释】
  ①或:同“惑”。②暴(pu):同“曝”,晒。③奔:围棋。 (4)数:技术,技巧。⑤鸿鹄(hu):天鹅。(6)缴(zhuo):系在箭上的 绳,代指箭。
  【译文】
  孟子说:“大王的不明智,没有什么不可理解的。即使有一种 天下最容易生长的植物,晒它一天,又冻它十天,没有能够生长 的。我和大王相见的时候也太少了。我一离开大王,那些‘冻’他 的奸邪之人就去了,他即使有一点善良之心的萌芽也被他们冻杀 了,我有什么办法呢?比如下棋作为一种技艺,只是一种小技艺; 但如果不专心致志地学习,也是学不会的。奔秋是全国闻名的下 棋能手,叫奔秋同时教两个人下棋,其中一个专心致志,只听弈 秋的话;另一个虽然也在听,但心里面却老是觉得有天鹅要飞来, 一心想着如何张弓搭箭去射击它。这个人虽然与专心致志的那个 人一起学习,却比不上那个人。是因为他的智力不如那个人吗?回 答很明确:当然不是。”
  【读解】
  这里所说的王,赵歧注为齐王,指当时有人怪齐王不明智而 孟子不曾辅佐,孟子因此而作解释。
  一暴十寒,或者如俗语所说“三天打鱼,两天晒网”,努力少,荒废多,很难奏效。因此,贵在坚持,责在有恒心。 
  世间万事莫不如此。即以生活小事而论,无论是练习写毛笔 字,写日记还是练习晨跑,坚持冬泳,真正能够持之以恒的有多 少人呢?
  至于孟子所举到的围棋,在他的那个时代也许的确只是雕虫 小技,但在我们今天,可已是了不得的盛事了。所谓“旷代棋 王”,所谓“棋圣”,其桂冠已大有与圣人比肩之势。当然,这是 题外话了。
  题内的话就很简单了。学习要专心致志,不能三心二意。这 在今天,已是小学生都能明白的道理。古令通则,放之四海而皆 准。 
  不过,孟子这段话说得非常生动形象,理应入选小学语文教材。
  ——————
  鱼与熊掌,不可得兼
  【原文】
  孟子曰:“鱼,我所欲也,熊掌亦我所欲也;二者不可得兼 舍鱼而取熊掌者也。生亦我所欲也,义亦我所欲也;二者不可得 兼,舍生而取义者也。生亦我所欲,所欲有甚于生者,故不为苟 得也;死亦我所恶,所恶有甚于死者,故患有所不辟 ①也。如使人 之所欲莫甚于生,则几可以得生者,何不用也?使人之所恶莫甚 于死者,则凡可以辟患者,何不为也?由是则生而有不用也,由 是则可以辟患而有不为也。是故所欲有甚于生者,所恶有甚于死 者。非独贤者有是心也,人皆有之,贤者能勿丧耳。一箪食,一 豆②羹,得之则生,弗得则死,呼尔③而与之,行道之人弗受;蹴 尔④而与之,乞人不屑也。万钟则不辨礼义而受之。万钟于我何加 焉?为宫室之美、妻妾之奉、所识穷乏者得⑤我与?乡(6)为身死而 不受,今为宫室之美为之;乡为身死而不受,今为妻妾之奉为之; 乡为身死而不受,今为所识穷乏者得我而为之,是亦不可以已乎? 此之谓失其本心。”
  【注释】
  ①辟:同“避”。②豆:古代盛羹汤的器具。③呼尔:轻勇地呼 喝。④蹴(Cu)尔:以脚践踏。⑤得:通“德”,这里指以我为德, 即感激的意思。⑤乡:同“向”,向来,一向,从前。
  【译文】
  孟子说:“鱼是我喜欢吃的,熊掌也是我喜欢吃的;如果不能 两样都吃,我就舍弃鱼而吃熊掌。生命是我想拥有的,正义也是 我想拥有的;如果不能两样都拥有,我就舍弃生命而坚持正义。生 命是我想拥有的,但是还有比生命更使我想拥有的,所以我不愿 意苟且偷生;死亡是我厌恶的,但是还有比死亡更使我厌恶的,所 以我不愿意因为厌恶死亡而逃避某些祸患。如果让人想拥有的没 有超过生命的,那么,只要是可以活命,什么事情于不出来呢?如 果让人厌恶的没有超过死亡的,那么,只要是可以逃避死亡的祸 患,什么事情干不出来呢?但也有些人,照此做就可以拥有生命, 时照此做;照此做就可以逃避死亡的祸患,却不照此做。由此 可知,的确有比生命更使人想拥有的东西,也的确有比死亡更使 人厌恶的东西。这种心原本不只是贤人才有,而是人人都有,只 不过贤人能够保持它罢了。一篮子饭,一碗汤,吃了便可以活下 去,不吃就要饿死。如果吆喝着给人吃,过路的人虽然饿着肚子 也不会接受;如果用脚踩踏后再给人吃,就是乞丐也不屑于接受。 可是现在,万钟的傣禄却有人不问合乎礼义与否就接受了。万钟 的俸禄对我有什么好处呢?为了住宅的华丽、妻妾的奉养以及我 所认识的穷苦人感激我吗?过去宁肯死亡都不接受的,现在却为 了住宅的华丽而接受了;过去宁肯死亡都不接受的,现在却为了 妻妾的奉养而接受了;过去宁肯死亡都不接受的,现在却为了我 所认识的穷苦人感激我而接受了。这些不是可以停止的吗?这种 做法叫做丧失了本性。”
  【读解】
  生命诚可贵,爱情价更高。
  若为自由故,二者皆可抛。(裴多菲)
  “鱼与熊掌”的确是我们的生命历程中经常遇到的二难选择。
  大而言之,想名又想利;想做官的权势又想不做官的潇洒自 由。
  小而言之,想读书又想打麻将;想工作又想休闲。如此等等, 不一而足。 
  之所以难,难在舍不得,难在那不可得兼的东西都是“我所 欲也”,甚至,也是人人所欲的。不然的话,也就没有什么可难的 了。
  生于朗朗乾坤、太平盛世,似乎已没有生与义,生命与爱情 与自由的不可得兼了,这是幸事。不过,面对滚滚而来的经济洪 流,义与利的二难选择却恒常悬在我们的面前了—— 
  利,我所欲也,义亦我所欲也;二者不可得兼,舍什么而取 什么呢? 
  至于孟子所说“呼尔而与之,行道之人弗受;蹴尔而与之,乞 人不屑”,则是所谓“不吃嗟来之食”的问题。这有《礼记·檀弓 下》的一个故事可以佐证: 
  齐国遭到饥荒,黔敖准备了食物在路边赈济饥民。一个人饥 饿不堪地走过来了,黔敖连忙左手端饭,右手端汤冲那人喊道: ‘嗟!来食!”那人瞪着眼睛对黔敖说:“我正因为不吃嗟来之食才 饿成这个样子!”尽管黔敖再三向他道歉,那人仍然坚决不吃,直 到饿死。 
  其穷棒子精神如此! 因为—— 
  “嗟来之食,吃下去肚子要痛的。”(毛泽东《别了,司徒雷 登》) 
  这算不算是“舍生而取义”呢? 
  ——————
  学问之道,求其放心
  【原文】
  孟子曰:“仁,人心也;义,人路也。舍其路而弗由,放(1)其 心而不知求,哀哉!人有鸡犬放,则知求之;有放心而不知求。学 问之道无他,求其放心而已矣。”
  【注释】
  ①放:放任,失去。
  【译文】
  孟子说:“仁是人的本心;义是人的大道。放弃了大道不走, 失去了本心而不知道寻求,真是悲哀啊!有的人,鸡狗丢失了倒 晓得去找回来,本心失去了却不晓得去寻求。学问之道没有别的 什么,不过就是把那失去了的本心找回来罢了。”
  【读解】
  现代人寻找失去的灵魂。
  这是二十世纪文学、艺术、哲学所津津乐道的时髦主题之一。 
  却原来,早在两千多年前,亚圣孟子就已呼声在前,要求我们寻找自己失去的灵魂(本心)–仁爱之心、正义之道了。时过境迁,孟子的呼唤与我们今天文学、艺术、哲学的现代追求还 有没有相通之处?他的呼声还能不能响越百代,发聋振聩于当代 国人呢?
  ——————
  忧指忘心,舍本逐末
  【原文】
  孟子曰:“今有无名之指屈而不信①,非疾痛害事也,如有能 信之者,则不远秦楚之路,为指之不若人也。指不若人,则知恶 之;心不若人,则不知恶。此之谓不知类(2)也。”
  【注释】
  ①信:同“伸”。②不知类:不知轻重,舍本逐末。
  【译文】
  孟子说:“现在有人,他的无名指弯曲而不能伸直,虽然并不 疼痛,也不妨碍做事情,但只要有人能使它伸直,就是到秦国、楚 国去,也不会嫌远,为的是无名指不如别人。无名指不如别人,就 知道厌恶;心不如别人,却不知道厌恶。这叫做不知轻重,舍本 逐末。”
  【读解】
  儒者的确是心灵美的呼唤者、卫道者。我们在孟子这里就可 以看到,他一而再,再而三地强调着这个主题。
  忧指忘心,当然是不知轻重,舍本逐末。究其原因,则有如 下两个方面:
  第一,指不若人,一目了然,无所藏匿(戴手套终不是办 法);心不若人,抽象无形,可以伪装(虽然总有暴露的时候)。
  第二,指不若人,标准清清楚楚,无可辨驳;心不若人,难 以有所度量,甚至可以自欺欺人。 
  所以,指不若人,羞愧难当,莫说秦楚之路,就是飞越太平 洋也在所不辞,只要能去其耻辱。心不若人,不以为耻,甚至反 以为荣,又有何秦楚之路可去呢?
  ——————
  饮食之人,养小失大
  【原文】
  孟子曰:“人之于身也,兼所爱。兼所爱,则兼所养也。无尺 寸之肤不爱焉,则无尺寸之肤不养也。所以考其善不善者,岂有 他哉?于己取之而已矣。体有贵贱,有小大。无以小害大,无以 贱害贵。养其小者为小人,养其大者为大人。今有场师,舍其梧 檟①,养其樲棘②,则为贱场师焉。养其一指而失其后背,而不知 也,则为狼疾③人也。饮食之人,则人贱之矣,为其养小以失大也。 饮食之人无有失也,则口腹岂适④为尺寸之肤哉?”
  【注释】
  ①檟:梧桐。檟(jia):即楸树,也是一种木质很好的树。②樲(er )酸枣。棘:荆棘。③狼疾:同“狼藉”,昏乱,糊涂。④适。通 啻”(Chi),仅仅,只。
  【译文】
  孟子说:“人对于身体,哪一部分都爱护。都爱护,便都保养。 没有一尺一寸的肌肤不爱护,便没有一尺一寸的肌肤不保养。考 察她护养得好不好,难道有别的方法吗?不过是看他注重的是身 体的哪一部分罢了。身体有重要的部分,有次要的部分;有小的 部分,也有大的部分。不要因为小的部分而损害大的部分,不要 因为次要部分而损害重要的部分。护养小的部分的是小人,护养 大的部分的是大人。如果有一位园艺师,舍弃梧桐楸树,却去培 养酸枣荆棘,那就是一位很糟糕的园艺师。如果有人为护养一根 指头而失去整个肩背,自己还不明白,那便是个糊涂透顶的人。那 种只晓得吃吃喝喝的人之所以受到人们的鄙视,就因为他护养了 小的部分而失去了大的部分。如果说他没有失去什么的话,那么, 一个人的吃喝难道就只是为了护养那一尺一寸的肌肤吗?”
  【读解】
  那失去了的“大的部分”到底是什么呢?孟子在这里没有明 说。不过,从他在其它地方所说的来看,我们知道,那就是“饱 食、暖衣、逸居而无教”(《滕文公上》)的“教”,也就是孔子所 谓“饱食终日,无所用心”(《论语·阳货》)的“用心”。也就是 说,这里所说的“饮食之人”就是“近于禽兽”的人了。
  赵歧注《孟子》说:“只晓得吃喝的人之所以受到人们鄙视; 是因为他保养口腹而失去道德。如果他不失道德,保养口腹也没 有什么不好。所以,一个人吃喝不仅仅是为了长一身细皮肥肉,也 是为了培养仁义道德啊!” 
  对我们今天的人来说,对于“细皮”的护养已到了登峰造极 的地步,不仅自己全心护养,而且还求助于美容师和不断“新登 场”的千奇百怪的美容护肤霜。
  对“细皮”的追求已如此,而肥肉却是谁也不愿意长的了。可 是,既不愿意长肥肉,又舍不得口腹之乐,于是便有减肥精减肥 茶减肥霜减肥操大行其道了。这才真正是“难矣哉!” 
  与其减肥,不如“养大”,不如有所“用心”。
  ——————
  思则得之,不思则不得
  【原文】
  公都子问曰:“钧①是人也,或为大人,或为小人,何也?”
  孟子曰:“从其大体为大人,从其小体为小人。” 
  曰:“钧是人也,或从其大体,或从其小体,何也?” 
  曰:“耳目之官不思,而蔽于物。物交物,则引之而已矣。心 之官则思,思则得之,不思则不得也。此天之所与我②者。先拉乎 其大者,则其小者弗能夺也。此为大人而已矣。” 
  【注释】
  ①钧:同“均”。②我:泛指人类。
  【译文】
  公都子问道:“同样是人,有的成为君子,有的成为小人,这 是为什么呢?” 
  孟子说:“注重身体重要部分的成为君子,注重身体次要部分 的成为小人。” 
  公都子说:“同样是人,有的人注重身体重要部分,有的人注 重身体次要部分,这又是为什么呢?” 
  孟子说:“眼睛耳朵这类器官不会思考,所以被外物所蒙蔽, 一与外物相接触,便容易被引入迷途。心这个器官则有思考的能 力,一思考就会有所得,不思考就得不到。这是上天特意赋予我 们人类的。所以,首先把心这个身体的重要部分树立起来,其它 次要部分就不会被引入迷途。这样便可以成为君子了。”
  【读解】
  这一章正好可以作为上一章的补充。上一章是从否定的方面 达了“养小失大”的害处,这一章则从正面来说怎样树立“大”的 问题。而且,所谓“大”“小”也很清楚了;“心”是体之大者,也 是体之贵者;其它器官如眼睛、耳朵等都只是体之小者,体之贱 者。所以要树立心的统帅作用,只要心的统帅作用树立起来,其 它感官也就不会被外物所蒙蔽而误入歧途了。
  单就本章内容来看,其中最突出的仍然是对心的重视,所谓 “心之官则思”成为了后世的名言,“思则得之,不思则不得”更 是强调了思考对人的重要性。联系到本篇所记载孟子对于人与动 物区别的一系列论述来看,这里所说的“此天之所与我者”实际 上正是用“心之官则思”这一人类所独有的特点来划分人与动物 协限,弘扬心灵的思考对于人类的重要意义。
  本章另一点值得重视的是心与耳目等感官的关系问题。耳目 等感官由于不会思考,所以容易为外物所蒙蔽,心由于会思考,所 以不容易为外物所蒙蔽。(当然,“思则得之”,思考了就会这样; “不思则不得”,如果你不思考,心也只是一种摆设,不起作用。) 所以,只要“先立乎其大者”,把心树立起来了,“则其小者不能 夺也”,其它次要的部分,比如耳目等感官就不会被外物所夺, 所蒙蔽了。我们看到,这实际上已接触到所谓感觉与理解、感性 认识与理性认识的问题,我们在前面曾经说过,孟子的整个学 说,具有非常浓厚了心理学色彩。所以,他虽然不可能提出感觉 与理解、感性认识与理性认识这些现代性的概念,但他对它们的 实质有所把握则是完全有可能的。
  至于他把“心”作为思考的器官,而没有发现“大脑”这个 新大陆,则是传统性的认识局限,不是他个人所能超载的了。事 实上,作为传统性的习惯,我们今天在语言运用中也仍然把 “心”作为思想器官的代名词,又何况在两千多年前的孟子时代呢? 
  ——————
  “天爵”与“人爵”
  【原文】
  孟子曰:‘有天爵者,有人爵者。仁义忠信,乐善不倦,此天 爵也;公卿大夫,此人爵也。古之人修其天爵,而人爵从之。今  之人修其天爵,以要①人爵,既得人爵,而弃其天爵,则惑之甚者 也,终亦必亡而已矣。”
  【注释】
  ①要(yao):即“邀”,求取,追求。
  【译文】
  孟子说:“有天赐的爵位,有人授的爵位。仁义忠信,不厌倦 地乐于行善,这是天赐的爵位;公卿大夫,这是人授的爵位。古 代的。人修养天赐的爵位,水到渠成地获得人授的爵位。现在的人 修养天赐的爵位,其目的就在于得到人授的爵位;一旦得到人授 的爵位,便抛弃了天赐的爵位。这可真是糊涂得很啊!最终连人 授的爵位也必定会失去。”
  【读解】
  所谓“天赐”只是一种比拟性的说法,天爵实际上是精神的 爵位,内在的爵位,无需谁来委任封赏,也无法世袭继承。人爵 则是偏于物质的、外在的爵位,必须靠人委任或封赏或世袭。
  说穿了,天爵是精神贵族,人爵是社会贵族。
  时代发展到民主的今天,社会贵族(至少在名份上)已日趋 消亡,而精神贵族(按照我们这里的特定含义,而不是通常的意 义)却长存。
  回过头来说,孔、孟又何尝不是他们时代的精神贵族呢? 
  “忠信仁义,乐善不倦。” 
  这样的精神贵族,即使是在我们这个平民化的时代,是不是也多多益善呢?
  ——————
  自尊自贵,才是真贵
  【原文】
  孟子曰:“欲贵者,人之同心也。人人有贵于己者,弗思耳。 人之所贵者,非良贵也。赵孟①之所贵,赵孟能贱之。《诗》云: ‘既醉以酒,既饱以德②。’而饱乎仁义也,所以不愿③人之膏粱④之 味也;令闻广誉施于身,所以不愿人之文绣(5)也。”
  【注释】
  ①赵孟:春秋时晋国正卿赵盾,字孟。他的子孙如著名的赵文子赵武、赵 简子赵鞅、赵襄子赵无恤等都因袭赵盾而称赵孟。这里以赵孟代指有权势的 人物,不一定具体指哪一个。②既醉以酒,既饱以德:引自《诗经·大 雅·既醉》。③愿:羡慕。④膏粱:肥肉叫膏;精细色白的小米叫粱, 而不是指今日的高粱。⑤文绣:古代要有爵位的人才能穿有文绣的衣服。
  【译文】
  孟子说:“希望尊贵,这是人们的共同心理。不过,每个人自 己其实都有可尊贵的东西,只不过平时没有去想到它罢了。别人 所给与的尊贵,并不是真正的尊贵。赵孟使你尊贵,赵孟也同样 可以使你下贱。《诗经》说:‘酒已经醉了,德已经饱了。’这是说 仁义道德很充实,也就不羡慕别人的美味佳肴了;四方传播的好 名声在我身上,也就不羡慕别人的绣花衣裳了。”
  【读解】
  “天上天下,唯我独尊。”
  佛主慈悲,一语道破天机,开悟众生。
  实际上,佛主所说,与孟子这里所说倒有了相通之处。 
  自尊者人尊之,自贵者人贵之。相反,自经沟读,自惭形秽, 妄自菲薄者人贱之。 
  因此,人以自尊自责为贵,千万不要“抛却自家无尽藏,沿 门持钵效贫儿。”用我们通俗的话来说,叫做“端着金饭碗讨。”
  要不端着金饭碗讨口,关键是要自己知道所端的是金饭碗,认 识它的价值。要自尊自贵,关键是要知道自己有值得尊贵的东西, 这就是孟子所说“人人有贵于己者”。从后文来看,这种己所贵, 实际上就是仁义道德、令闻广誉,与之相对的,则是膏粱文绣,也 就是金钱富贵。所以,在孟子看来,世上有两种尊贵的东西,一 是外在的,即膏粱文绣,这是要靠别人给与的;二是内在的,即 仁义道德,这是不靠别人给与而要靠自己良心发现,自己培育滋 养的。前者并不是真正尊贵的东西,因为别人可以给与你也可以 剥夺你;后者才是真正尊贵的,别人不可剥夺的。正如盂子引曾 子所言:“彼以其富,我以吾仁;彼以其爵,我以吾义。吾何慊 (少)乎哉?”(《孟子·公孙丑下》)这是自尊自责的典范。说到 这里,实际上又回到上一章所讨论的“天爵”与“人爵”问题上 去了。 
  孟子的这些思想,对于我们今天文人们所提出的保持社会良 心地位,“抵抗”金钱与物欲的诱惑,是不是有积极意义呢?
  ——————
  杯水车薪,应怪自己
  【原文】
  孟子曰:“仁之胜不仁也.犹水胜火。今之为仁者,犹以一杯 械一车薪之火也;不熄,则谓之水不胜火。此又与①于不仁之甚 者也,亦终必亡而已矣。”
  【注释】
  ①与:助。
  【译文】
  孟子说:“仁胜过不仁,就像水可以灭火一样。但如今奉行仁 道的人,就像用一杯水去灭一车柴草所燃烧的大火一样;灭不了, 没说是水不能够灭火。这样的说法正好又大大助长了那些不仁之 徒,结果连他们原本奉行的一点点仁道也必然会最终失去。”
  【读解】
  兵法说:“知已知彼,百战百胜。” 
  杯水车薪,自然是无济于事。不审时度势,反省自己是否尽 到了努力,而是自以为火不可灭,灰心丧气,放弃斗争。长他人 志气,灭自己威风,这实际上是助纣为虐。 
  所以,当不能取胜的时候,应自知努力不够而加强力量,改 杯水车薪为桶水车薪、池水车薪,最好是再加上水龙和其它现代 加灭火器。如此一来,莫说是车薪,就是你一屋子的薪所燃烧 的熊熊烈火也照灭不误。 
  不信,你拨119咨询去。
  ——————
  大匠诲人,必以规矩
  【原文】
  孟子曰:“到之教人射,必志于彀①,学者亦必志于彀。大匠 诲人必以规矩,学者亦必以规矩。”
  【注释】
  ①志:期望。彀(gou):拉满弓。
  【译文】
  孟子说:“界教人射箭,总是期望把弓拉满,学的人也总是 期望把弓拉满。高明的工匠教人手艺必定依照一定的规矩,学的 人也就必定依照一定的规矩。”
  【读解】
  这正是《离娄上》所说“离娄之明,公输子之巧,不以规矩, 不能成方圆;师旷之聪,不以六律,不能正五音”的意思。
  没有规矩,不能成方圆。 
  没有规矩,教师不能教,学生无法学。 
  小至手工技巧,大至安邦定国,治理天下,凡事都有法则可 依,有规律可循。 
  因此,一定要顺其规律,不可停逆而行。如果悖逆而行,就 会出现“上无道楼也,下无法守也,朝不信道,工不信度,君子 犯义,小人犯刑,国之所存者幸也’(《离娄上》)那样的情况,天 下大乱。所以,规矩绝不是小问题。大家都应该自觉遵守,从清 洁卫生、交通规则等身边事做起。 
  ——————
  告子下
  本篇包括政治、战争、财政税收等多方面的治国问题,也包 括教育、历史、个人修养等方面的内容。其中“生于忧患,死于 安乐”是非常著名的一章。全篇原文共 16章,本书选 10章。
  怎样比较?
  【原文】
  任①人有问屋庐子②曰:“礼与食孰重?”
  曰:“礼重。”
  “色与礼孰重?” 
  曰:“礼重。”
  曰:“以礼食,则饥而死;不以礼食,则得食,必以礼乎?亲 迎(3),则不得得妻;不亲迎,则得妻,必亲迎乎?”
  屋庐子不能对,明日之邹以告孟子。
  孟子曰:“于答是也何有?不揣其本,而齐其末,方寸之木可 使高于岑搂④。金重于羽者,岂谓一钩金(5)与一舆羽之谓哉?取食 之重者与礼之轻者而比之,奚翅(6)食重?取色之重者与礼之轻者而 比之,奚翅色重?往应之曰:‘紾(7)兄之臂而夺之食,则得食;不 紾,则不得食,则将紾之乎?逾东家墙而搂其处子(8),则得妻;不 搂,则不得妻,则将搂之乎?”’
  【注释】
  ①任:春秋时国名,故址在今山东济宁。②屋庐子:孟子的学生。 ③亲迎:古代婚姻制度,新郎亲迎新娘。这里代指按礼制娶亲。(4)岑 楼:尖顶高楼。⑤钩:衣带钩。一钩金即一衣带钩那样一点点金。 (6)翅:同“啻”,只,止,但。97)紾(zhen):扭转。(8)处子:处女。
  【译文】
  有个任国人问屋庐子说:“礼和食哪样重要?”屋庐子说:“礼 重要。” 那人问:“娶妻和礼哪样重要?” 
  屋庐子说:“礼重要。” 
  那人又问:“如果非要按照礼节才吃,就只有饿死;不按照礼 节而吃,就可以得到吃的,那还是一定要按照礼节吗?如果非要 按照‘亲迎’的礼节娶妻,就娶不到妻子;不按照‘亲迎’的礼 节娶妻,就可以娶到妻子,那还是一定要‘亲迎’吗?”
  屋庐子不能回答,第二天就到邹国,把这话告诉了孟子。 
  孟子说:“回答这个问题有什么困难呢?如果不比较基础的高 低是否一致,只比较顶端,那么,一块一寸见方的木头可以使它 高过尖顶高楼。我们说金属比羽毛重,难道是说一个衣带钩的金 属比一车羽毛还重吗?拿吃的重要方面和礼的细节相比较,何止 于吃的重要?拿娶妻的重要方面和礼的细节相比较,何止于娶妻 重要?你去这样答复他:‘扭折哥哥的胳膊,抢夺他的食物,就可 以得到吃的;不扭,便得不到吃的,那会去扭吗?爬过东边人家 的墙壁去搂抱人家的处女,就可以得到妻子;不去搂抱,便得不 到妻子,那会去搂抱吗?”’
  【读解】
  以诡辩对诡辩,以极端对极端。这是孟子在这里所采用论 辩方法。
  任国人采取诡辩的方式,把食与色的问题推到极端的地步来 和礼的细节相比较,提出哪个重要的问题,企图迫使孟子的学生 屋庐子回答食、色比礼更重要。屋庐子当然不会这样回答,但由 于他落入了对方的圈套而不能够跳出来,所以就只好语塞而求助 于老师了。
  孟子一听就识破了对方的诡辩手段,并且生动而一针见血地 指出:“不揣其本,而齐其末,方寸之木可使高于岑楼。”接着从 金属与羽毛的比重问题过渡到分析任国人诡辩的症结所在。这实 际上就是一个比较的方法问题。孟子的意思很明确,比较应该让 以较的对象双方在同一水平线上,同一基准上,而不应该把一 个对象推到极端来和另一个对象的细节相比较。这样比较出来的 结果,当然是错误而荒谬的了。所以,孟子以其人之道还治其人 之身,教给学生以诡辩对诡辩的说法,从而战胜论辩的对方。 
  所以,这一章内容固然也是孟子对礼的维护和捍卫,但对我 们来说,更有启发意义的却是他作为一个智者的思维方式和论辩 艺术。 
  ——————
  人皆可以为尧舜
  【原文】
  曹交①问曰:“人皆可以为尧舜,有诸?”
  孟子曰:“然。”
  “交闻文王十尺,汤九尺,今交九尺四寸以长,食粟而已,如 何则可?” 
  曰:“奚有于是?亦为之而已矣。有人于此,力不能胜一匹雏②, 则为无力人矣;今日举百钧,则为有力人矣。然则举乌获③之任, 是亦为乌获而已矣。夫人岂以不胜为患哉?弗为耳。徐行后长者 谓之弟,疾行先长者谓之不弟。夫徐行者,岂人所不能哉?所不 为也。尧舜之道,孝弟而已矣。子服尧之服,诵尧之言,行尧之 行,是尧而已矣。子服桀之服,诵桀之言,行禁之行,是桀而已 矣。” 
  曰:“交得见于邹君,可以假馆④,愿留而受业于门。” 
  曰:“夫道若大路然,岂难知哉?人病不求耳。子归而求之, 有余师。”
  【注释】
  ①曹交:赵歧注认为是曹君的弟弟,名交。但孟子的时代曹国已亡,所 以也不确切。②一匹雏:一只小鸡。③乌获:古代传说中的大力士. ④假馆:借客舍,意为找一个住处。
  【译文】
  曹交问道:“人人都可以做尧舜,有这说法吗?”
  孟子说:“有。” 
  曹交说:“我听说文王身高一丈,汤身高九尺,如今我身高九 尺四寸多,却只会吃饭罢了,要怎样做才行呢?”   孟子说:“这有什么关系呢?只要去做就行了。要是有人,自 以为他连一只小鸡都提不起来,那他便是一个没有力气的人。如 果有人说自己能够举起三千斤,那他就是一个很有力气的人。同 样的道理,举得起乌获所举的重量的,也就是乌获了。人难道以 不能胜任为忧患吗?只是不去做罢了。比如说,慢一点走,让在 长者之后叫做悌;快一点走,抢在长者之前叫做不悌。那慢一点 走难道是人做不到的吗?不那样做而已。尧舜之道,不过就是孝 和悌罢了。你穿尧的衣服,说尧的话,做尧的事,你便是尧了。你 穿桀的衣服,说桀的话,做桀的事,你便是桀了。” 
  曹交说:“我准备去拜见邹君,向他借个住处,情愿留在您 的门下做学生。” 
  孟子说:“道就像大路一样,难道难于了解吗?只怕人不去寻 求罢了。你回去自己寻求吧,老师多得很呢。”
  【读解】
  人皆可以为尧舜。
  这当然是植根于“性善论”而鼓励人人向善,个个都可以有 所作为的命题了。 
  其关键还是一个“不为”与“不能”的问题。也就是《梁惠 王上》里面所说的“挟泰山以超北海”和“为长者折枝”的问题。 只不过从与梁惠王讨论的政治问题过渡到与一般人讨论个人修养 问题罢了。所以,无论是君王从政治国还是个人立身处世都有一 个“不为”与“不能”的问题摆在我们面前。认识到这一点后,就 可以树立起我们每个人立志向善的信心,从自己力所能及的事情 做起,不断完善自己,最终成为一个有所作为的人。
  说到底,还是反对人自惭形秽,妄自菲薄,要求自尊自贵。 
  这大概也是“人皆可以为尧舜”的积极意义所在吧。
  ——————
  仁义是和平的前提
  【原文】
  宋牼①将之楚,孟子遇于石丘②,曰:“先生将何之?”
  曰:“吾闻秦楚构兵③,我将见楚王说④而罢之。楚王不悦,我 将见秦王说而罢之。二王我将有所遇⑤焉。”
  曰:“轲也请无问其详,愿闻其指(6)。说之将何如?” 
  曰:“我将言其不利也。” 
  曰:“先生之志则大矣,先生之号(7)则不可。先生以利说秦楚 之王,秦楚之王悦于利,以罢三军之师,是三军之士乐罢而悦于 利也。为人臣者怀利以事其君,为人子者怀利以事其父,为人弟 者怀利以事其兄,是君臣、父子、兄弟终去仁义,怀利以相接,然 而不亡者,未之有也。先生以仁义说秦楚之王,秦楚之王悦于仁 义,而罢三军之师,是三军之士乐罢而悦于仁义也。为人臣者怀 仁义以事其君,为人子者怀仁义以事其父,为人弟者怀仁义以事 其兄,是君臣、父子、兄弟去利,怀仁义以相接也,然而不王者, 末之有也。何必曰利?”
  【注释】
  ①宋牼(keng):战国时宋国著名学者,反对战争,主张和平。②石 丘:地名,其址不详。③构兵:交战。④说(Shui):劝说。⑤ 遇:说而相合。(6)指:同“旨”,大概,大意。(7)号:提法。
  【译文】
  宋牼准备到楚国去,孟子在石丘这个地方遇上了他。孟子问: “先生准备到哪里去?” 
  宋牼说:“我听说秦楚两国交战,我准备去见越王,劝说他罢 兵。如果楚王不听,我准备去见秦王,劝说他罢兵。在两个国王 中,我总会劝说通一个。” 
  孟子说:“我不想问得太详细,只想知道你的大意,你准备怎 样去劝说他们呢?” 
  宋释说:“我将告诉他们,交战是很不利的。” 
  孟子说:“先生的动机是很好的,可是先生的提法却不行。先 生用利去劝说秦王楚王,秦王楚王因为有利而高兴,于是停止军 事行动;军队的官兵也因为有利而高兴,于是乐于罢兵。做臣下 的心怀利害关系来侍奉君主,做儿子的心怀利害关系来侍奉父亲, 做弟弟的心怀利害关系来侍奉哥哥,这就会使君臣之问、父子之 间、兄弟之间都完全去掉仁义,心怀利害关系来互相对待,这样 不使国家灭亡的,是没有的。若是先生以仁义的道理去劝说秦王 楚王,秦王楚王因仁义而高兴,于是停止军事行动;军队的官兵 也因仁义而高兴,于是乐于罢兵。做臣下的心怀仁义来侍奉君主, 做儿子的心怀仁义来侍奉父亲,做弟弟的心怀仁义来侍奉哥哥,这 就会使君臣之间、父子之问,兄弟之间都完全去掉利害关系,心 怀仁义来互相对待,这样还不能够使天下归服的,是没有的。何 必要去谈听‘利’呢?”
  【读解】
  孟子在这里所讲的道理几乎就是他第一次见梁惠王时所说的 那一套的翻版,只不过那时主要是针对从政治国问题,这一次却 是谈的战争与和平的问题了。 
  在孟子看来,和平当然是很重要的,所以,他也非常支持宋 牼维护和平的行为。但是,和平的前提是仁义,而不是利害关系。 如果用利害关系去换得一时的和平,早晚也会失去和平,不仅失 去和平,还会失去国家,失去天下。因为,基于利害关系的和平, 实际上隐伏着很多不和平的因素,这就是人与人之间都以利害关 系相互对待,一旦利害关系发生冲突,必然导致争斗,失去稳定 与和平。相反,如果以仁义为前提赢得和平,则会保持长久的稳 定与发展,不仅不会失去和平,而且还会使天下人心归服,安定 统一。这是因为,基于仁义的和平,使人与人之间都以仁义道德 相互对待,没有根本的利害冲突,人人忠诚谦让,仁爱正义。用 我们今天的话来说,“让世界充满爱”,哪里还有什么战争的危机 呢?
  应该认为,从理论上说,孟子的学说是很有道理的,也是能 够自圆其说的。我们今天不是也依然呼唤“让世界充满爱”,呼唤 世界的长期稳定与和平吗?但是,从历史和现实的实践来看,无 论是战争还是和平,既然有军事行动发生,就不可能没有利害关 系在内,也不可能有纯粹为抽象的仁义道德而战的战争和纯粹为 抽象的仁义道德而罢兵停战的和平出现,在孟子所处的战国时代, 尤其没有这种可能。 
  所以,以仁义为前提的和平,在孟子的时代只能是一种理想。 正如以仁义为前提的战争只能是一种理想一样。 
  ——————
  富国强兵与仁义道德
  【原文】
  孟子曰:“今之事君者皆曰:‘我能为君辟土地,充府库。’今 之所谓良臣,古之所谓民贼也。君不乡道①,不志于仁,而求富之, 是富桀也。‘我能为君约与国②,战必克。’今之所谓良臣,古之所 谓民贼也。君不乡道,不志于仁,而求为之强战,是辅桀也。由 今之道,无变今之俗,虽与之天下,不能一朝居也。”
  【注释】
  ①乡道:向往道德。乡,同“向”,向往。②与国:盟国。
  【译文】
  孟子说:“如今服事国君的人都说:‘我能为国君开拓土地,充 实府库。’如今所说的好臣子,正是古代所说的残害百姓的人。国 君不向往道德,不立志行仁,却去想法让他富有,这等于是去让 夏桀富有。又说:‘我能够替国君邀约盟国,每战一定胜利。’如 今所说的好巨子,正是古代所说的残害百姓的人。国君不向往道 德,不立志行仁,却去想法让他武力强大,这等于是去帮助夏桀 从如今这样的道路走下去,不改变如今的风俗习气,即便把整个 天下给他,也是一天都坐不稳的。”
  【读解】
  所谓“今之事君者”的说法,显然是富国强兵的说法,而孟 子所反对的,正是这种不行仁政而穷兵续武的搞法,所以他深恶 痛绝地说:“今之所谓良臣,古之所谓民贼也。” 把那些自夸能富 国强兵的人称为“民贼”。 
  这里实际上就是“富国强兵”与“仁义道德”之间的冲突。 
  所谓“春秋无义战”,(《孟子·尽心下》)既然如此,战国又 有多少“义战”呢?所以,在孟子的时代,战争与仁义道德,至 少在孟子的思想上是格格不入的。正因为这样,他才一贯反对靠 战争,靠军事力量取胜的“霸道”,而主张靠政治,靠仁义道德吸 引人,感化人的“王道”。这是仁义道德与“强兵”的冲突。 
  至于“富国”,讲的是“利”,追求的是“辟土地,充府库”, 这与他所说的“以义治国,何必言利”正是针锋相对的观点。遭 到他的反对更是理所当然的了。 
  由此可见,孟子之所以深恶痛绝那些自诩能够富国强兵的 “今之所谓良臣”,是以“君不乡道,不志于仁”为前提的。换言 之,这些人所搞的富国强兵是与孟子心目中的仁义道德相对立的。 假如这些国家的君主“乡道而志于仁”,假如这些“今之所谓良 臣”既富国强兵又行仁义道德,那孟子又该怎么说呢? 
  当然,这都是“假如”,正如我们在前面所说,孟子之所以形 成他的这种思想,正是因为他所处的现实是“富国强兵”与“仁 义道德”相对立的。因此,要抽象出来问这个问题,就只有我们 自己来回答了。假如真能够既富国强兵及行仁义道德,二者得兼, 又何乐而不为呢?我们今天说一手抓物质文明建设,一手抓精神 文明建设;两手抓,两手都要硬,不正是这种“二者得兼”的追 求吗? 
  ——————
  无过无不及原则的运用
  【原文】
  白圭①曰:“吾欲二卜而取一,何如?”
  孟子曰:“子之道,貉②道也。万室之国,一人陶,则可乎?” 
  曰:“不可,器不足用也。” 
  曰:“夫貉,五谷不生,惟黍生之;无城郭、宫室、宗庙、祭 祀之礼,无诸侯币帛饔飧③,无百官有司,故二十取一而足也。今 居中国,去人伦,无君子④,如之何其可也?陶以寡,且不可以为 国,况无君子乎?欲轻之于尧舜之道者,大貉小貉也;欲重之于 尧舜之道者,大梁小梁也。”
  【注释】
  ①白圭:名丹,曾做过魏国的宰相.筑堤治水很有名。②貉(mo): 又作“貊”,古代北方的一个小国。③饔(yong):早餐。飧(sun):晚 餐。这里以饔飧代指请客吃饭的礼节。④去人伦,无君子:去人伦指无 君臣、祭祀、交际的礼节;无君子指无百官有司。
  【译文】
  白圭说:“我想定税率为二十抽一,怎么样?” 
  孟子说:“你的办法是貉国的办法。一个有一万户人的国家。 只有一个人做陶器,怎么样?” 
  白圭说:“不可以,因为陶器会不够用。” 
  孟子说:“貉国,五谷不能生长,只能长黍子;没有城墙、宫 廷、祖庙和祭祖的礼节,没有诸侯之间的往来送礼和宴饮,也没 有各种衙署和官吏,所以二十抽一便够了。如今在中原国家,取 消社会伦常,不要各种官吏,那怎么能行呢?做陶器的人太少,尚 且不能够使一个国家搞好,何况没有官吏呢?想要比尧舜十分抽 一的税率更轻的,是大貉小貉;想要比尧舜十分抽一的税率更重 的,是大桀小桀。”
  【读解】
  那就只能十分抽一,完全合于尧舜之道了。 
  白圭知道孟子主张薄赋税,所以故意来问他,定税率为二十 抽一怎么样。殊不知,孟子从实际情况出发,奉行的是无过无不 及的中庸之道,所以,在这里展开了一次中庸的现实运用。既回 答了白圭的问题,又表明了自己无过无不及的主张。
  财政税收是维持一个国家运转必不可少的手段。可是,财政 税收多少合适?这就是一个问题了。如果横征暴敛,苛捐杂税太 多,太重,老百姓就会受不了,怨声载道;如果偷税漏税太多,税 率太低,国家财政紧张,入不敷出,又会影响国家机构的正常运 转。孟子是深深知道这一点的,所以,他从实际出发,指出,如 果按照白圭所提出的税率,二十抽一,赋税倒是薄了,老百姓的 负担倒是减轻了,可国家怎么运转呢?除非像那边远落后的貉国 那样,根本就没有国家的机构,没有靠财政负担的单位和国家工 作人员。但文明进化的中原国家既然已不可能回到像貉国那样的 原始状态,怎能实现像貉国那样的税收制度呢?当然,这样说并 不意味着收得多越好,像暴虐的夏络那样,模征暴敛,把人民逼 入水深火热之中。所以,孟子提出了自己的看法。 
  只有恰到好处,才是儒者的追求。
  ——————
  以邻为壑,仁人所恶
  【原文】
  白圭白:“丹之治水①也愈于禹。”
  孟子曰:“子过矣。禹之治水,水之道也,是故禹以四海为壑②。今吾子以邻国为壑。水逆付谓之泽③水——一降水者,洪水也—一仁 人之所恶也。吾子过矣。”
  【注释】
  ①丹之治水:白圭治水的方法,据《韩非子·喻老篇》记载,主要在于筑堤塞穴,所以孟子要指责他“以邻国为壑”。②壑(he):本义为沟壑, 这里扩大指受水处。③洚(jiang):大水泛滥。
  【译文】
  白圭说:“我治理水比大禹还强。”
  孟子说:“你错了。大禹治理水患,是顺着水的本性而疏导, 所以使水流汪于四海。如今你却使水流到邻近的国家去。水逆流 而行叫做洚水--洚水就是洪水——是仁慈的人厌恶的。你错 了。”
  【读解】
  从方法上说,大禹治水顺应水性,重在疏导;白圭治水却高 筑堤防,重在堵塞。
  从效果上说,大禹最终将水导入四海,而白圭却把水堵塞后 流向邻国。导入四海造福人民而于人无害,流向邻国则是损人利 己,仁者厌恶的行为。
  所以孟子一再说:“你错了。”并不承认白圭治水有什么了不 起,更不用说超过大禹了。
  从白圭治水“以邻国为壑”联想到我们生活中“以邻为壑”的 现象,那可真是比比皆是,举不胜举的了。比如说,一个普遍现 象是,自己家里装修得非常豪华舒适,干净得一尘不染,但却把 垃圾桶垃圾袋放在与邻居共用的楼道里;自己家里的花岗石地面 或木地板或纯羊毛地毯要保持清洁,却把一家人乃至客人的臭鞋 子都堆在门外楼道上摆展览,让上上下下的邻居都在鞋阵中捂鼻 而行。这只是最为常见最为普遍的生活小事,至于那商家之间的 竞争,同事之间的勾心斗角,政治斗争中的你死我活,“以邻为 壑”的手段更是无所不用其极。总而言之就是一种损人利己,嫁 祸于人的行为。
  当然,你知道“以邻为壑”,人家也同样知道“以邻为壑”,结 果是人人都成了“邻”,成了“壑”’,到时候,也就没有一处干净, 没有一处不受灾害了。由此看来,“以邻为壑”的最终结果是害人 害己。所以,还是收起这种“仁人所恶”的“以邻为壑”手段, “以邻为友”,大家和睦相处,互相帮助的好。
  ——————
  君子不亮,恶乎执?
  【原文】
  孟子曰:“君子不亮①,恶乎执?”
  【注释】
  ①亮;同“谅”,诚信。
  【译文】
  孟子说:“君子不讲信用,怎么能够有操守呢?”
  【读解】
  关于“信”的问题,孔子、孟子都有表面上看来自相矛盾的 说法:
  孔子一方面说:“人而无信,不知其可也。”(《论语·为政》) 另一方面却又说:“言必信,行必果,孩在然小人哉!”(《论语· 子路》)
  孟子一方面说:“君子不亮,恶乎执?”另一方面却又说:“大 人者,言不必信,行不必果,惟义所在。”(《离娄下》)
  这种自相矛盾,正如我们已多次说过的那样,其实正是原则 与变通二者的对立统一。在孔子、孟子看来,一方面,“信”是君 子立身处世的基本原则之一;但另一方面,又不能拘泥于小节小 信。所以,应该以“义”来进行调节变通,这就是孟子所说的 “惟义所在。”其实,二者的辩证统一,孔子在《论语·卫灵公》里 也已经说到过,这就是“君子贞而不谅。”贞是大信,谅是小信 (与孟子本章的“亮”(谅)泛指一般的信不一样)。一句话,要大 信,不要小信;要在原则问题上讲信用,不要拘泥固守于小节上 的一成不变。 
  这就是孔子、孟子关于“信”的辩证观,值得我们特别注意. 以免引起思想认识上的迷惑不解乃至于混乱。
  ——————
  好善足以治天下
  【原文】
  鲁欲使乐正子①为政。孟子曰:“吾闻之,喜而不寐。”
  公孙丑曰:“乐正于强乎?” 
  曰:“否。” 
  “有知虑乎?”
  曰:“否。”
  “多闻识乎?”
  曰:“否。”
  “然则奚为喜而不寐?”
  曰:“其为人也好善②。”
  “好善足乎?”
  曰:“好善优于天下③,而况鲁国平?夫苟好善,则四海之内 皆将轻④千里而来告之以善;夫苟不好善,则人将曰:也也(6),予 既(5)已知之矣。’也也之声音颜色距(7)人于千里之外。士止于千里之 外,则谗谄面谀(8)之人至矣。与谗诌面谀之人居,国欲治,可得乎?”
  【注释】
  ①乐正子:复姓乐正,名克。②好善:这里特指喜欢听取善言。 ③优于天下:优于治天下的意思。优,充足。④轻:易,容易,不以 为难。⑤也也(yi):自满的样子。(6)既;尽,都。(7)距:同 “拒”。(8)谗:说陷害人的坏话。馅:巴结,奉承。谀:讨好逢迎。 
  【译文】
  鲁国打算让乐正子治理国政。孟子说:“我听到这一消息,欢 喜得睡不着觉。”
  公孙丑问:“乐正子很有能力吗?”
  孟子说:“不。”
  公孙丑问:“有智慧有远见吗?” 
  孟子说:“不。”
  公孙丑问:“见多识广吗?” 
  孟子说:“不。” 
  公孙丑问:“那您为什么高兴得睡不着觉呢?” 
  孟子回答说:“他为人喜欢听取善言。” 
  公孙丑问:“喜欢听取善言就够了吗?” 
  孟子说:“喜欢听取善言足以治理天下,何况治理鲁国呢?假 如喜欢听取善言,四面八方的人从千里之外都会赶来把善言告诉 他;假如不喜欢听取善言,那别人就会摹仿他说:‘呵呵,我都已 经知道了!’呵呵的声音和脸色就会把别人拒绝于千里之外。士人 在千里之外停止不来,那些进谗言的阿谈奉承之人就会来到。与 那些进谗言的阿波奉承之人住在一起,要想治理好国家,办得到 吗?”
  【读解】
  在孟子看来,治理好一个国家并不单靠执政者个人的能力、智 慧和学识,而应当广泛听取和采纳别人的意见,集思广益。这样, 就会吸引天下的有识之士,治理国家,乃至于治理天下就会游刃 有余了。相反,如果自以为是,听不进别人的意见,那真正的有 识之士就会被拒之于千里之外,而奸邪的馅媚之徒就会乘虚而入。 这样一来,想治理好国家就是不可能的了。
  这里所说的“好善”主要指喜欢听取善言。而问题则在于对 这“善言”的理解上。什么叫善言,善言不是一般意义上的“好 话”,而是指对于治理国家有益的忠言。所谓“良药苦口利于病, 忠言逆耳利于行。”忠言当然不都是“逆耳”的,正如良药不一定 都是苦口的一样。但却的确有那么些忠言是“逆耳”的,甚至是 非常不中听的。在这种情况下,就看那听取善言的人是真好善还 是假好善了。真好善的人雍容大度,宰相肚里能撑船,对于不那 么中听的话也照样能够听取,采纳其合理的对于治国平天下有益 的良方。假好善的人心里就不那么痛快,甚至会恼羞成怒,即便 不当面发作,也会在下来以后找个碴儿把那进言的人给开销掉。唐 太宗李世民是历史上著名的好皇帝,也是“好善”的典范之一,但 他不也多次想杀掉那一再进“逆耳”之言的魏徽吗? 
  由此看来,如果乐正于真是“好善”的人,那就的确非常不 简单。孟子一听说他将执政于鲁国就高兴得睡不着觉,也就没有 什么不可理解的了。
  ——————
  生于忧患,死于安乐
  【原文】
  孟子曰:“舜发于畎亩①之中,傅说②举于版筑③之间,胶鬲(4)举 于鱼盐之中,管夷吾举于土⑤,孙叔敖举于海(6),百里奚举于市(7)。 故天将降大任于是人也,必先苦其心志,劳其筋骨,饿其体肤,空 乏其身,行拂乱其所为,所以动心忍性,曾(8)益其所不能。人恒过, 然后能改;困于心,衡(9)于虑,而后作;征(10)于色,发于声,而后 喻。入则无法家拂士(11),出则无敌国外患者,国恒亡。然后知生于 忧患而死于安乐也。”
  【注释】
  ①畎(quan)亩:田间,田地。②傅说(yuo):殷武丁时人,曾为 刑徒,在傅险筑墙,后被武丁发现,举用为相。③版筑:一种筑墙工作, 在两块墙版中,填人泥土夯实。④胶鬲(ge):殷纣王时人,曾以贩卖鱼、 盐为生,周文王把他举荐给纣,后辅佐周武王。⑤管夷吾:管仲。士:此 处指狱囚管理者。当年齐桓公和公子纠争夺君位,公子纠失败后,管仲随他 一起逃到鲁国,齐桓公知道他贤能,所以要求鲁君杀死公子纠,而把管仲押 回自己处理。鲁君于是派狱囚管理者押管仲回国,结果齐桓公用管仲为宰相。 (6)孙叔敖:是春秋时楚国的隐士,隐居海边,被楚王发现后任为令尹 (宰相)。(7)百里奚举于市:春秋时的贤人百里奚,流落在楚国,秦穆公 用五张羊皮的价格把他买回,任为宰相,所以说“举于市”。(8)曾:同 “增”。(9)衡:通“横”,指横塞。(10)征:表征,表现。(11)法家拂 士:法家,有法度的大臣;拂,假借为“弼”,辅佐;拂士即辅佐的贤士。 
  【译文】
  孟子说:“舜从田间劳动中成长起来,傅说从筑墙的工作中被 选拔出来,胶鬲被选拔于鱼盐的买卖之中,管仲被提拔于囚犯的 位置上,孙叔敖从海边被发现,百里奚从市场上被选拔。所以,上 天将要把重大使命降落到某人身上,一定要先使他的意志受到磨 练,使他的筋骨受到劳累,使他的身体忍饥挨饿,使他备受穷困 之苦,做事总是不能顺利。这样来震动他的心志,坚韧他的性情, 增长他的才能。人总是要经常犯错误,然后才能改正错误;。心气 郁结,殚思极虑,然后才能奋发而起;显露在脸色上,表达在声 音中,然后才能被人了解。一个国家,内没有守法的大臣和辅佐 的贤士,外没有敌对国家的忧患,往往容易亡国。由此可以知道, 忧患使人生存,安逸享乐却足以使人败亡。”
  【读解】
  吃得苦中苦,方为人上人。
  孟子所举的例证是舜帝、傅说、胶鬲、管仲、孙叔敖、百里 奚六人。其实,为人所熟知的,还有姜子牙的故事。   所谓“天将降大任于是人也,必先苦其心志……”云云,成 为《孟子》最著名的篇章之一,后人常引以为座右铭,激励无数 志士仁人在逆境中奋起。其思想基础是一种至高无上的英雄观念 和浓厚的生命悲剧意识,一种崇高的献身精神。是对生命痛苦的 认同以及对艰苦奋斗而获致胜利的精神的弘扬。
  借用悲剧哲学家尼采的话来说,是要求我们“去同时面对人 类最大的痛苦和最高的希望。”(《快乐的科学》) 
  因为,痛苦与希望本来就同在。 
  说到生于忧患死于安乐,太史公说得好: 
  周文王被拘美里而演《周易》,孔子困陈蔡而编《春秋》,屈 原遭流放而赋《离骚》,左丘明失明而写《国语》,孙胺脚残而著 《兵法》,吕不韦迁蜀地而出《吕览》,韩非子被秦国囚有《说难》、 《孤愤》,《诗经》三百篇,大多都是发愤所作。(《史记·太史公 自序》) 
  之所以如此,正是因为他们身处逆境的忧患之中,心气郁结, 奋发而起,置之死地而后生的缘故。 
  至于死于安乐者,历代昏庸之君,荒淫逸乐而身死国亡,其 例更是不胜枚举。 
  所以,对人的一生来说,逆境和忧患不一定是坏事。生命说 到底是一种体验。因此,对逆境和忧患的体验倒往往是人生的一 笔宝贵财富。当你回首往事的时候,可以自豪而欣慰地说:“一切 都经历过了,一切都过来了!”这样的人生,是不是比那些一帆风 顺,没有经过什么磨难,没有什么特别体验的人生要丰富得多,因 而也有价值得多呢?
  ——————
  教亦多术
  【原文】
  孟子曰:“教亦多术矣。予不屑之教诲也者,是亦教诲之而已 矣。”
  【译文】
  孟子说:“教育也有多种方式方法。我不屑于教诲他,本身就 是对他的教诲。”
  【读解】
  教育有多种方式方法,这是不言而喻的。孟子这里着重谈到 的,则是一种独特的方法。 不屑之教,是亦教之。 其实,我们已经看到过,孔子正是采取这种“不屑之教”的 老手。 除了《论语·阳货》所记载他对孺悲的态度是典型的“不屑 之教”而外,他教育宰予:“朽木不可雕也,粪土之墙不可杇也。 于予与何诛?”(《论语·公冶长》)对于宰予这样的人,还有什么 好责备的呢?说没有什么好责备的,其实正是最严厉的责备。所 以,也是一种“不屑之教”。 “不屑之教”的奥妙在于,我之所以不屑于教诲他,是让他羞 愧而奋发向上。因此,不屑于教诲只是不从正面讲道理而已,是 从反面激发他的自尊心。想来宰予是羞愧而奋发向上了的,后来 还做了齐国的临淄大夫。 看来,儒家先贤教学很是注意教育心理学原理的运用,虽然 他们当时并不一定概括出了这些原理。 
  ——————
  尽心上
  本篇集中了孟子关于认识论和自身修养的论述,其中不少名 言警句,至今具有重要意义。本篇也是《孟子》全书章国最多的 一篇,全篇原文共46章,本书选 34章。
  养性事天,修身立命
  【原文】
  孟子曰:“尽其心者,知其性也。知其性,则知天矣。存其心, 养其性,所以事天也。夭寿不贰,修身以俟之,所以立命也。”
  【译文】
  孟子说:“充分运用心灵思考的人,是知道人的本性的人。知 道人的本性,就知道天命。保持心灵的思考,涵养本性,这就是 对待天命的方法。无论短命还是长寿都一心一意地修身以等待天 命,这就是安身立命的方法。”
  【读解】
  佛问:“你向什么处安身立命?”(《景德传灯录》
  儒答:“养性事天,修身立命。”
  孟子谈天命,谈人的本性,没有消极被动的神秘色彩,而是 充满了积极主动的个体精神。对待天命,不过是保持心灵的思考, 涵养人之所以为人的本性罢了;所谓安身立命,也不过是一心一 意地进行自身修养而已。用我们今天的话来说,就是要加强知识 学习和思想修养,充实自己的心灵。 
  所以,不要做悠悠天地中的匆匆过客,东奔西走,北觅南寻, ‘芒鞋踏破岭头云”。其结果,往往是占有外物越多,内心越空虚, 最终成为一个徒具外形,为外物所役的臭皮囊。 
  相反,“归来闲对梅花嗅,春在枝头已十分。”只要你保持心 灵的思考,涵养本性,顺受天命,身体自然就会有着落,精神自 然就会有寄托,生命之春就会永远在你的把持之中。 
  “锦城虽云乐,不如早还家!”
  ——————
  莫非命也,顺受真正
  【原文】
  孟子曰:“莫非命也,顺受其正。是故知命者不立乎岩墙之下。 尽道而死者,正命也;桎梏死者,非正命也。”
  【译文】
  孟子说:“一切都是命运,顺应它就承受正常的命运。所以知 道命运的人不站在危险的墙下。尽力行道而死的人,所承受的是 正常的命运;犯罪受刑而死的人,所承受的是非正常的命运。”
  【读解】
  一切都是命运。
  用我们今天通行的看法,这似乎是一种消极的宿命论思想。但 实际上,孟子的立足点是在“顺受其正”上,顺理而行,顺应命 运,也就承受正常的命运,没有什么神秘的地方了。怎样顺应呢? 比方说,知道命运的人不站在危险的墙下,这不难做到吧?为什 么不站在危险的墙下?因为你明知道它有倒塌的危险。同样的道 理,明知道打家劫合,杀人越货,走私贩毒,贪污受贿是铤而走 险的,你是不是还要往上靠呢?不往上靠是知道命运的人,是 “顺受其正”的人。往上靠则是不知道命运,不“顺受其正”的人。 所以,其结果,“尽其道而死者,正命也;征格而死者,非正命也。’ 一生做自己应该做的事,走正道;行正义,也就是正常的命运;相 反,如上所说,犯罪而死,则死于非命,不是正常的命运了。
  由此可见,在孟子这里,命运的确没有什么神秘,不过是顺 其自然,顺其正理罢了。 
  就一般情形而论,说到命运,二十岁以前的青少年不会有什 么感觉,无动于衷。二十岁到四十岁之间的青年人多半对命运不 屑一顾或者持否定态度,因为他们青春焕发,生命力蓬勃向上,对 自己,对前途都充满了信心,每天清晨的太阳都有所不同,每天 的生活都有新的内容,奋发向上是他们生命的主旋律。四十岁以 上可就不同了,所谓人到中年,孔子说:“四十而不惑,五十而知 天命。”(《论语·为政》)但对于现代人来说,“不惑”与“知天 命”似乎是紧紧联系在一起的,一旦“不惑”,也就“知天命”了; 或者反过来说,正因为“知天命’了,才谈得上“不惑”。其实, 孔子自己也说过:“四十、五十而无闻焉,斯亦不足畏也已。” (《论语·子罕》)可见,四十、五十的确是个划分不清的年龄段. 或许个体的情况有所不同,对有些人来说,知天命要早一些,对 有些人来说,则要晚一些,而这又决定于他们各自的人生经历与 境遇。总起来说,人到中年万事休,命运的影子也就不知不觉地 爬上心头,不由得你不信。这时,回顾自己半生之所为,少年时 代的理想与梦幻,青年时代的奋斗与血汗,怨天尤人是没有用的, 悔恨遗憾也是徒劳的,明智之举,还是接受孟子的说法:莫非命 也,顺受其正。这样,或许多少会有所慰藉,有所解脱而脚踏实 地,问心无愧,清洒自如地走完人生的下半截路程吧。 
  ——————
  “求在我者”与“求在外者”
  【原文】
  孟子曰:“求则得之,舍则失之,是求有益于得也,求在我者 也求之有道,得之有命,是求无益于得也,求在外者也。”
  【译文】
  孟子说:“求索就能得到,放弃便会失去,这种求索有益于得 到,因为所求的东西就在我自身。求索有一定的方法,能否得到 却决定于天命,这种求索无益于得到,因为所求的东西是身外之 物。”
  【读解】
  在我自身的,是知识的积累,思想的修养,人生境界的追求, 一句话,是精神的自我完善。身外之物则是金钱富贵,名誉地位。
  前者全在于自我,只要坚持追求,便可以一分耕耘,一分收 获,种瓜得瓜,种豆得豆。所以叫“求则得之,舍则失之。”
  后者则是谋事在人,成事在天。并不是你一厢情愿地追求就 可以得到的。所以,“命里有时终须有,命里无时莫强求。”更不 要抓苟且,失去自我。
  当然,不强求并不是完全拒斥,而是要)烦其自然。就像孔子 对待金钱富贵的态度:“如不可求,从吾所好。”(《论语·述而》) 如果求不到,那还是让我做自己喜欢的事吧。
  说来也是,所谓身外之物,生不带来,死不带去,何必看得 那么要紧呢?
  ——————
  万物旨备于我矣
  【原文】
  孟子曰:“万物皆备于我矣。反身而诚,乐莫大焉。强恕而行 求仁莫近焉。”
  【译文】
  孟子说:“万物我都具备了。反躬自问诚实无欺,便是最大的 快乐。尽力按恕道办事,便是最接近仁德的道路。”
  【读解】
  “万物皆备于我矣”作为一句名言,被认为是典型的主观唯心 主义哲学观。这里面的是与非不在我们关心的范围。我们关心的 是孟子说这话的意思。所谓“万物皆备于我”并不是像有些人所 理解的那样,说是“万物都为我而存在。”(由此来归结孟子为典 型的主观唯心主义者。)我们理解孟子的意思,是说天地万物我都 能够思考,认识,所以天地万物我都具备了。这样才会有下面的 一句话,“反身而诚,乐莫大焉。”反躬自问,我所认识的一切都 是诚实无欺的,所以非常快乐。这是一种认识的快乐,探求真理 的快乐。但是,仅有认识,仅有自身的发现还不够,所以要“强 恕而行”,尽力按恕道办事,这样来实行仁道。所谓恕道,我们在 本书中已经多次提到,这就是孔子反复强调的“己所不欲,勿施 于人。”(《论语·颜渊》、《论语·卫灵》)它的积极方便是 “己欲立而立人,己欲达而达人。”(《论语·雍也》)总起来说,是 一种将心比已,推己及人的思想,用这种思想来处理人与人之间 的关系。如果说,“反身而诚,乐莫大焉”是一种认识的快乐,局 限于自身;那么,“强恕而行,求仁莫近焉”就是一种实践的快乐, 涉及到他人与社会了。
  由此可见,“万物皆备于我矣”所引出的,是认识和实践两大 领域的儒学追求:一是“诚”,二是“恕”,都是儒学的核心内容。 单从“万物皆备于我矣”这句话给我们的感觉,则是一种充满主 体意识,乐观向上的心态,的确有法国哲学家笛卡尔那著名的命 题”政思故我在”的精神风貌,给人以认识世界,探索真理的勇 气和信心。
  ——————
  随波逐流,平庸之人
  【原文】
  孟子曰:“行之而不著焉,习矣而不察焉,终身由之而不知其 道者,众也。”
  【译文】
  孟子说:“做一件事不明白为什么要做,习惯了不想想为什么 习惯,一辈子随波逐流不知去向何方,这样的人是平庸的人。”
  【读解】
  在黑格尔哲学中,这样的人是处于“自在”状态的人,尚没 有达到“自为”的程度。所谓“自在”状态,就是缺乏“自觉”的 主体意识,不能自己认识自己。所谓‘咱为”,就是具有独立的主 体意识,几事都要问个“为什么”,做一件事,知道自己为什么要 做,在生活中不断反省,认识自己。如此一对照,孟子所说的 “众也”当然也就是“自在”状态的人了。当然,这个“自在”的 概念,不是我们平常所说“自由自在”的意思。 
  在们今天的生活中,这种人被视为做一天和尚撞一夭钟,随 波逐流混日子的人。
  不过,话说回来,所谓“子惯成自然”,在实际生活中,有多 少人真能凡事都问个为什么呢,?
  “认识你自己!”古希腊智者的确这样提醒过我们。 
  可当你每天蹬着自行车在上班的人流中“随波逐流,时,你 想过这到底是为了什么吗?
  ——————
  无耻之耻,无耻矣
  【原文】
  孟子曰:“人不可以无耻。无耻之①耻,无耻矣。”
  【注释】
  ①之:至。
  【译文】
  孟子说:“人不可以不知羞耻。从不知羞耻到知道羞耻,就可 以免于羞耻了。”
  【读解】
  俗话说:“人有脸,树有皮,电灯泡儿有玻璃。”
  羞耻之心,人皆有之。
  只有无耻之尤的卑鄙之徒才不知世间有羞耻二字。 
  《法句经》说:“那些不以该耻者为耻,而抱待邪恶之念的人, 将会下地狱。” 
  他们是莎士比亚笔下的伊阿古,莫里哀笔下的达尔丢夫,但, 丁《神曲》中那些下地狱的人,当然,或许还有西门庆、潘金莲 …… 
  然而,一旦他们知道羞耻,也就可以升迁炼狱,“浪子回头金 不换”,说不定还有一二上天堂的机会哩! 
  无耻至耻,免于羞耻。 
  ——————
  耻之于人大矣
  【原文】
  孟子曰:“耻之于人大矣!为机变①之巧者,无所用耻焉。不 耻不若人,何若人有?”
  【注释】
  ①机变:奸诈。
  【译文】
  孟子说:“羞耻之心对于人至关重要!搞阴谋诡计的人是不知 羞耻的。不以自己不如别人为羞耻,怎么赶得上别人呢?”
  【读解】
  “我 
  一念之差
  出卖了无辜的人
  我有大罪呀!”
  犹大羞愧难当,跟踉跄跄地跑出去,在一棵大树下吊死了。 (《马太福音》) 
  自从亚当夏娃在伊甸园里偷吃了善恶果,羞耻之心便油然而 生。人类虽然因此而犯下原罪,被逐出伊甸园,但却获得了在现 实土地上生存的权利。 
  “知耻近乎勇。”(《中庸》) 
  纵使罪孽深重如犹大,羞愧而死,灵魂尚能获得拯救。 
  如果及早知耻,以羞耻为动力,化羞耻为力量,亡羊补牢,未 为晚矣。
  否则,一次无耻,次次无耻,甚至不以为耻,反以为荣,嗜 痴成癖,那就万劫不复,无可救药了。 
  ——————
  古之贤士,乐道忘势
  【原文】
  孟子曰:“古之贤王好善而忘势;古之贤士何独不然?乐则 而忘人之势。故王公不致敬尽礼,则不得亟①见之。见且由不得亟; 而况得而臣之乎?”
  【注释】
  ①亟(qi):多次。
  【译文】
  孟子说:“古代的贤明君王喜欢听取善言,不把自己的权势放 在心上。古代的贤能之士又何尝不是这样呢?乐于自己的学说,不 把他人的权势放在心上。所以,即使是王公贵人,如果不对他恭 敬地尽到礼数,也不能够多次和他相见。相见的次数尚且不能够 多,何况要他做臣下呢?”
  【读解】
  乐道忘势,是弘扬读书人的气节和骨气。还是曾子所说的那 个道理:“彼以其富,我以吾仁;彼以其爵,我以吾义。吾何慊乎 哉?”(《孟子-公孙五下》)他有他的富,我有我的仁;他有他的 官位,我有我的正义。我有什么输于他的呢?这样一想,也就不 把他的权势放在心上了。所以,真正的贤士能够笑傲王侯,我行 我素。
  当然,如里王侯本身也能够好善而忘势,对贤能之士礼数有 加,当成真正的朋友而平等对待,那又是另一回事了。   总之,领导人好善忘势,尊重知识,尊重人才;人才乐道忘 势,不逢迎拍马,屈从权贵。这是相反相成的两方面。正如朱熹 《孟子集注》所说:“二者势若相反,而实则相成,盖亦各尽其道 而已。”
  ——————
  穷则独善其身,达则兼善天下
  【原文】
  孟子谓宋勾践①曰:“子好游②乎?吾语子游:人知之,亦嚣嚣(3); 人不知,亦嚣嚣。”
  曰:“何如斯可以嚣嚣矣?” 
  曰:“尊德乐义,则可以嚣嚣矣。故土穷不失义,达不离道。 穷不失义,故士得己①焉;达不离道,故民不失望焉。古之人,得 志,泽加于民;不得志,修身见于世。穷则独善其身,达则兼善 天下。”
  【注释】
  ①宋勾践:人名,姓宋,名勾践,生平不详。②游;指游说。 嚣嚣:安详自得的样子。④得己:即自得。
  【译文】
  孟子对宋勾践说:“你喜欢游说各国的君主吗?我告诉你游说 的态度:别人理解也安详自得;别人不理解也安详自得。” 
  宋勾践问:“怎样才能做到安详自得呢?” 
  孟子说:“尊崇道德,喜爱仁义,就可以安详自得了。所以士 人穷困时不失去仁义;显达时不背离道德。穷困时不失去仁义,所 以安详自得;显达时不背离道德,所以老百姓不失望。古代的人, 得时恩惠施于百姓;不得志时修养自身以显现于世。穷困时独 善其身,显达时兼善天下。”
  【读解】
  穷达都是身外事,只有道义都是根本。
  所以能穷不失义,达不离道。
  至于“穷则独善其身,达则兼善天下”,则与孔子所说“用之 则行,舍之则藏”一样,进可以攻,退可以守,成为两千多年来 中国知识分子立身处世的座右铭,成为最强有力的心理武器,既 对他人,也对这个世界,更对自身。 
  当你穷困不得志时,它以“独善其身”的清高抚慰着你那一 颗失落的心;
  当你飞黄腾达有时机时,它又以“兼善天下”的豪情为你心 安理得地做官提供着坚实的心理基础。
  因此,无论你穷与达,它都是一剂绝对见效的心理良药,是 知识分子战无不胜的思想武器与法宝。
  ——————
  豪杰之士,虽无文王犹兴
  【原文】
  孟子曰:“待文王而后兴者,凡民也。若夫豪杰之士,虽无文 王犹兴。”
  【译文】
  孟子说“一定要等待有周文王那样的人出现后才奋发的,是 平庸的人,至于豪杰之士,即使没有周文王那样的人出现,自己 也能奋发有为。”
  【读解】
  激励人奋发向上有所作为。
  所谓时势造英雄,在一定的时代和环境影响下,在领袖人物 的率领下,的确可以涌现出一大批奋发有为的人物来。   不过,按照孟子的观点,要等到一定的时势,一定的领袖人 物出现后才奋发的,还算不上是豪杰之士。真正的豪杰之士,是 可以造时势的人,是没有领袖人物出现,自己也知道奋发有为的 人。
  当然,孟子所谓“兴”,不一定非指改天换地、改朝换代的大 事,也不一定要求个个都去做那叱咤风云的英雄人物,而主要是 指精神方面的奋发有为,乐观向上。说到底,就是要求大家自强 不息,不要以“不能”为借口,这也不为,那也不为。
  只要人人奋发有为,个个都是“文王”。又何必一定要等到圣人出现才来拯救我们呢?激励人奋发向上,有所作为。
  上一页  回目录  下一页
  有所者作属权版,作制情倾湖西饮龙由书本
  123456789101112memgzi-118.htm
  上一页
  回目录
  善政得民财,善教得民心
  【原文】
  孟子曰:“仁言不如仁声之人人深也,善政不如善教之得民也。 善政,民畏之;善教,民爱之。善政得民财,善教得民心。”
  【译文】
  孟子说:“仁德的言语不如仁德的声望那样深入人心,好的政 令不如好的教育那样赢得民众。好的政令,百姓畏服;好的教育, 百姓喜爱。好的政令得到百姓的财富,好的教育得到百姓的心。”
  【读解】
  法家重政令法治,儒家重教育德治。
  政令法治治人,教育德治治心。 
  治人人畏,治心心服。
  以儒者的眼光来看,心服才是真服。因此,法治是不得已而 为之,德治才是根本所在。 
  “百年大计,教育为本。”
  这是德治。
  “严厉打击刑事犯罪活动。” 
  这是法治。 
  德治法治双管齐下,天下才能大治。 
  这是我们今天的看法。 是不是有点亦儒亦法的味道了呢? 
  ——————
  良能良知,通行天下
  【原文】
  孟子曰:“人之所不学而能者,其良能也;所不虑而知者,其 良知也①。孩提之童②无不知爱其亲者,及其长也,无不知敬其兄 也。亲亲,仁也;敬长,义也。无他,达之天下也。”
  【注释】
  ①良:指本能的,天然的。良能、良知已作为专门的哲学术语,以不译为妥。②孩提之童:指两三岁之间的小孩子。
  【译文】
  孟子说:“人不用学习就能的,是良能;不用思考就知道的, 是良知。两三岁的小孩子没有不知道亲爱他父母的,等到他长大, 没有不知道尊敬他兄长的。亲爱父母是仁;尊敬兄长是义。没有 其他原因,因为这两种品德是通行天下的。”
  【读解】
  良能良知是与生俱来,人人皆有的,正如“恻隐之心,人皆 有之;羞恶之心,人皆有之;恭敬之心,人皆有之;是非之心,人 皆有之”(《告子上》)一样。比如说,亲爱父母,尊敬兄长,这 长是人的良能良知,不用教导,不用学习就知道的。进一步推导, 亲爱父母是仁,尊敬兄长是义,所以,仁义也是属于人的良能良 知范围。这就又回到“仁义礼智,非由外好我也,我固有之也” ((告子上》)上面去了。由此可见,孟子为了推行仁义礼智这些 儒者所崇尚的道德,真可以说是煞费苦心,不遗余力。绕过去,绕 过来,从方方面面来论证,最后都落脚到仁义礼智这些天经地义 的道德上面来。由此要求人们行仁义,国君行仁政,天下成为仁 爱礼让的大同世界。
  应该说,儒者的理想是非常不错的,其主张人性向善,主张 仁爱礼让也是很有吸引力的。至于孟子所说的良能良知是否存在, 那就只有各人们心自问,体察自身,从而作出各自的回答了。但 起码的一条,亲爱父母,尊敬兄长,这似乎还是通行天下的伦理 道德。当然,并不排除有所谓件送不孝,大逆不道的特例,而且, 越到现代,这种特例似乎越多起来了。
  ——————
  操心虚患,多能通达
  【原文】
  孟子曰:“人之有德、慧、术、知者,恒存乎疢疾①。独孤臣 孽子②,其操心也危,其虑患也深,故达。”
  【注释】
  ①疢(chen)疾:灾患。②孽子:古代常一夫多妻,非嫡妻所生之 子叫庶子,也叫孽子,一般地位卑贱。
  【译文】
  孟子说:“人的品德、智慧、本领、知识,往往产生于灾患之 中。那些受疏远的大臣和贱妾所生的儿子,经常操心着危难之事, 深深忧虑着祸患降临,所以能通达事理。”
  【读解】
  最粗壮的树,并不是生长在丛林中,而是生长在空旷的地方. 最成功的人,并不是生长在顺境中,而是生长在逆境里。
  清代人石成金《传家宝》说:
  “世路风霜,吾人炼心之境也;世情冷暖,吾人忍性之地也。” 
  弗兰西斯·培根说:
  “顺臣境最易见败行,逆境最可见美德。”
  说到底,都是“生于忧患”。所以不要悲叹出身贫寒低微,不 要抱怨遭人排挤。要感谢命运,感谢困难,甚至,感谢你的敌人。
  ——————
  大人者正己而物正
  【原文】
  孟子曰:“有事君人者,事是君则为容悦者也;有安社稷臣者. 以安社稷为悦者也;有天民者,达可行于天下而后行之者也;有 大人者,正己而物正者也。”
  【译文】
  孟子说:“有侍奉君主的人,专以讨得君主的欢心为喜悦;有 安定国家的臣,以安定国家为喜悦;有顺应天理的人,当他的主 张能行于天下时,他才去实行;有伟大的人,端正自己,天下万 物便随之端正。”
  【读解】
  人有人不同,花有几样红。
  不仅人各不同,人品各异,就是从政的品格也有高低不同。孟 子这里所列举的,就是几种不同的从政品格。 
  “君人者”专以阿谈逢迎为务,尽妾妇以道,是宦官宠臣之 列。
  “安社稷者”是忠臣,不过,一朝天子一朝臣,忠也往往有愚 在其中。 
  “天民者”替天行道,不限于一国一君,如伊尹、姜太公之类。 
  “大人者”有圣德感化万物,领袖群伦,正己而天下平,是尧 舜禹汤文武等人中龙凤,百年难遇一二。
  孟子显然是赞赏“天民”,尤其是“大人”这样的圣贤级人物 的。但不知他会把孔子和他自己放在哪一个等次上?事关圣人,他 既没有说,我们也不好主观臆断,妄加揣测了罢。
  ——————
  君子有三乐
  【原文】
  孟子曰:“君子有三乐,而王天下不与存焉。父母俱存,兄弟 无故①,一乐也;仰不愧于天,俯不怍②于人,二乐也;得天下英 才而教育之,三乐也。君子有三乐,而王天下不与存焉。”
  【注释】
  ①故:事故,指灾患病丧。②怍(ZUo):惭愧。
  【译文】
  孟子说:“君子有三大快乐,以德服天下不在其中。父母健在, 兄弟平安,这是第一大快乐;上不愧对于天,下不愧对于人,这 是第二大快乐;得到天下优秀的人才进行教育,这是第三大快乐。 君子有三大快乐,以德服天下不在其中。”
  【读解】
  一乐家庭平安,二乐心地坦然,三乐教书育人。
  朱熹《集注》引林氏的话说:‘此三乐者,一系于天,一系于 人,其可以自致者,惟不愧不作而已。”
  也就是说,一乐取决于天意,三乐取决于他人,只有第二种 快乐才完全取决于自身。因此,我们努力争取的也在这第二种快 乐,因为它是属于“求则得之,舍则失之,是求有益于得也,求 在我者也”的范围,而不是“求之有道,得之有命,是求无益于 得也,求在外者也”的东西。(见本篇13·3) 
  “俯仰终宇宙,不乐复何如?”(陶渊明) 
  俯仰无愧,君子本色。 
  君子之乐,莫过于此。 
  当然,作为教书先生,孟子还有“得天下英才而教育之’的 快乐。如果我们不是教书先生,那除了一乐家庭平安,二乐俯仰 无愧之外,还该三乐什么呢?或者,时代进化了,还有没有四乐、 五乐呢?
  ——————
  君子本色,表里如一
  【原文】
  孟子曰:“广土众民,君子欲之,所乐不存焉;中天下而立, 定四海之民,君子乐之,所性不存焉。君子所性,虽大行①不加焉, 虽穷居不损焉,分定故也。君子所性,仁义礼智根于心,其生色 也睟然②,见于面,盎③于背,施于四体,四体不言而喻。”
  【注释】
  ①大行:指理想、抱负行于天下。②睟(sUi)然:颜色润泽。 (3)盎(ang):显露。
  【译文】
  孟子说:“拥有广阔的土地、众多的人民,这是君子所想望的, 但却不是他的快乐所在;立于天下的中央,安定天下的百姓,这 是君子的快乐,但却不是他的本性所在。君子的本性,纵使他的 抱负实现也不会增加,纵使他穷困也不会减少,因为他的本分已 经固定。君子的本性,仁义礼智植根于内心,外表神色清和润泽, 呈现于脸面,流溢于肩背,充实于四肢,四肢的动作,不用言语, 别人也能理解。”
  【读解】
  治国平天下是人间的赏心乐事,也是儒学外治(与内修相 应)的最高境界。但对于真正的君子来说,穷达都是身外事,只 有仁义礼智根于心,清和润泽显于外才是本性所在。
  孟子所描述的,是一个胸怀高远,雍容大度的儒雅君子!外 在形象与内在灵魂统一,表里如一,通体流溢着生命的光辉。
  想来,即便在儒教中,这也不过是一个理想人物罢了! 
  因为他已超越了治国平天下的境界,就像尼采笔下的查拉图 斯特拉,站在高高的山上,睥睨着人类。 
  但他不是超人,因为他并没有离开人间,没有上过查拉图斯 特拉那座山。
  ——————
  圣人治天下,使有菽粟如水火
  【原文】
  孟子曰:“易其田畴①,薄其税敛,民可使富也。食之以时,用 或礼,财不叮胜用也。民非水火不生活,昏暮叩人之门户求水 大,无弗与者,至足矣②。圣人治天下,使有寂票如水火。寂粟如 水火,而民焉有不仁者乎?”
  【注释】
  ①易其田畴:易,治,耕种;田畴,田地。②矣:这里的用法同 “也”
  【译文】
  孟子说:“搞好耕种,减轻税收,可以使老百姓富足。饮食有 一定时候,费用有一定节制,财物便用之不尽。老百姓离开了水 与火就不能够生活,可是,当有人黄昏夜晚敲别人的门求水与火 时,没有不给与的。为什么呢?因为水火都很充足。圣人治理天 下,使百姓的粮食像水与火一样充足。粮食像水与火一样充足了. 老百姓哪有不仁慈的呢?”
  【读解】
  这一段与孔子“先富后教”,以及孟子自己在《滕文公上》里 论述“有恒产者有恒心”的思想是相通的,而与《大学》所论 “德本财末”,孔子所论“放于利而行,多怨”,(《论语·里仁》) 以及孟子自己所论“以义治国,何必言利”(《粱惠王上》的观 点则有些不同。这在一定程度上的确反映出儒家学说在政治和经 济问题上的矛盾和困惑。“先富后教”、“有恒产者有恒心”和这里 所说的“圣人治天下,使有菽粟如水火”都表现了儒学抓经济基 础的一方面,而“德本财末”、“放于利而行,多怨”,以及“何必 言利”的观点则表现了儒学重政治,重教化的一方面。孔子也罢, 孟子也罢,儒家先贤们的确在不同的时候和不同的场合下有不同 的侧重和说法。所以,我们可以把以“德本财末”和“先富后 教”为代表性说法的两种思想看作是儒学在治国问题上的一对矛 盾对立范畴。至于这一对矛盾对立的范畴是否得到过“统一”的 解决,从理论上看,儒家的先贤们似乎没有作过这方面的专门论 述,而我们的感觉,他们总的倾向上还是更偏重于政治,偏重于 教化方面的。从实践上看,在不同的时代,不用的社会时期内,情 况有所不同。但总的说来,政治与经济作为对立统一而又相辅相 成的两极,对它们的不同侧重似乎贯穿了中国社会历史发展的各 个阶段。直到今天,我们不也还在探讨这个问题吗?从“政治是 统帅,是灵魂,政治工作是一切经济工作的生命线”到“以经济 建设为中心”而又要“谈政治”,使我们感到,政治与经济的关系, 的确是我们怎么也摆脱不了的一对矛盾对立而又应该得到统一的 施。至于怎样来使它们得到统一,则是一个非常复杂、因而不 是我们这里可以置一辞的问题了。
  当然,从这一章,我们也可以看到,孔、孟至少不是空谈 “礼义兴邦”的迂夫子罢,虽然后世不知出了多少迂腐的儒生!
  ——————
  观于海者难为水
  【原文】
  孟子曰:“孔子登东山①而小鲁,登泰山而小天下。故观于海 者难为水,游于圣人之厂工者难为言。观水有术,必观其澜。日月 有明,容光②必照焉。流水之为物也,不盈科不行;君子之志于道 也,不成章③不达。”
  【注释】
  ①东山:即蒙山,在今山东蒙阴县南。②容光:指能够容纳光线的 小缝隙。③成章:《说文》解释:“乐竟为一章。”由此引申,指事物达到 一定阶段或有一定规模。
  【译文】
  孟子说:“孔子登上东山,就觉得鲁国变小了;登上泰山,就 觉得整个天下都变小了。所以,观看过大海的人,便难以被其它 水所吸引了;在圣人门下学习过的人,便难以被其它言论所吸引 了。观看水有一定的方法,一定要观看它壮阔的波澜。太阳月亮 有光辉,不放过每条小缝隙;流水有规律,不把坑坑洼洼填满不 向前流;君子立志于道,不到一定的程度不能通达。”
  【读解】
  这里包含两方面的意思:
  一方面,立志要高远,胸襟要开阔;另一方面,基础要扎实, 要循序渐进,逐步通达。 
  “登东山而小鲁,登泰山而小天下。”这是胸襟的拓展,境界 的升华。 
  登山如此,观水也如此。所以有“观于海者难为水”一说。既然大海都看过了,其它小河小沟的水还有什么看头呢? 
  徐霞客说:“五岳归来不看山,黄山归来不看岳。”境界就是 这样一步一步提高的。 
  由此看来,我们还真不能小看了“游山玩水”的积极意义哩。 关键是看你怎么“游”,怎么“玩”。如果像报载某旅游局长所说: “现在旅游,不过是把麻将桌换个地方。”游山玩水都是打麻将,那 当然是极端腐败,极端没意思的了。如果不是这样,而是能够 “登山”则“小鲁”,“小天下”;“观海”则“难为水”,思想境界 真正得到提高,得到升华,那也就“不虚此行”,即便是“公费” 也总算有一定收获了罢。这是擦边的话了。回到本题,既然“在 东山而小鲁,登泰山而小天下”,既然“观于海者难为水”,那么, “游于圣人之门者难为言”也就是顺理成章的了。所以,登山就要 登泰山,现水就要观海水,做学问就要做于圣人之门。这就拓 展胸襟,升华境界的道理。立志要高远,胸襟要开阔。
  另一方面,“观水有术,必观其澜。”因为,光有本,水有源. 太阳和月亮的光辉不放过任何一个能够容纳光线的小缝隙,流水 不放过任何一个坑坑洼洼。那么,我们做学问,立志于道呢?也 同样应该不马虎,不敷衍,循序渐进,厚积薄发,因为,与“日 月有明,容先必照焉;流水之为物也,不盈科不行”同样的道理, ”君子之志于道也,不成章不达。”既然如此,我们怎能不打好基 础,一步一个脚印地踏实向前呢?
  总起来说,这是一段激励人立志向学和提高思想境界的绝妙 好文,深富哲理,值得我们把它当作座右铭来读。
  ——————
  为谁辛苦为谁忙?
  【原文】
  孟子曰:“鸡鸣而起,孳孳为善者,舜之徒也;鸡鸣而起,孳 孳利者,蹠②之徒也。欲知舜与路之分,无他,利与善之③间也。”
  【注释】
  ①孳孳(ZT):同“孜孜”,勤勉不懈。②腑(Zhi):通常作“跖”,相 传为柳下惠的弟弟,春秋时的大盗,所以又称“盗跖”。③间(jian):区 别,差异。
  【译文】
  孟子说:“鸡叫便起床,孜孜不倦地行善的人,是舜一类的人 物;鸡叫便起床,孜孜不倦地求利的人,是盗路一类的人物。要 想知道舜和路有什么区别,没有别的,利和善的不同罢了。”
  【读解】
  鸡鸣而起,为谁辛苦为谁忙? 
  “好忙啊!好累啊!好辛苦啊!” 
  这些都是现代人常常听到,而自己也常常发出的感叹,几近 于口头禅了。 
  同样的,我们也爱问同事和朋友:“这几天忙什么?” 
  匆匆忙忙的现代人时时处处似乎都在疲于奔命之中。虽然 “鸡鸣而起”往往已被“睡懒觉”取而代之,但“三更不寐”不也 同样是“孳孳”而为的吗? 
  还是那句话:“忙什么?为什么?” 
  处于连“君子也要言利”的时代,我们十有八九不会同意孟 老夫子关于“孳孳为利者,蹠之徒也”的看法,如果真是这样,那 我们的世界岂不成了“盗蹠”满街走了吗?“君子”不也都成了强 盗了吗? 
  但是,为谁辛苦为谁忙?这倒的确是我们应该扪心自问一番 的。虽然我们不同意“孳孳为利者,蹠之徒也”的看法,但如果 太看重利,在利害关系中不能自拔,“人为财死,鸟为食亡”,那 又是不是有些迷失本性了呢?更何况,如果一味逐利,不择一切 手段,不惜铤而走险,那倒很可能真正成为“蹠之徒”也未可知 呢? 
  所以,不要只顾匆匆忙忙,不要只抱怨太累太辛苦,而要忙 里偷闲,静下心来想一想,到底是为谁辛苦为谁忙。右铭来读。
  ——————
  举一废百,贼道也
  【原文】
  孟子曰:“杨子取为我①,拔一毛而利天下,不为也。墨子兼 爱②,摩顶放踵③利天下,为之。子莫④执中。执中为近之。执中无 权,犹执一也。所恶执一者,为其贼道也,举一而废百也。”
  【注释】
  ①杨子:战国初期哲学家,名朱,魏国人。他的学说与墨子的学说在战 则代都很流行。他重视个人利益,反对别人对自己的侵夺,但也反对侵夺 别人。他没有留下著作,事迹见于《孟子》、《庄子》、《韩非子》、《吕氏春 秋》等,《列子》里有《杨朱篇》,但不一定可靠。②墨子兼爱:墨子 (约前468一前376),春秋战国之际的思想家、政治家,墨家学派的创始人, 名翟。相传原为宋国人,后长期住在鲁国。“兼爱”是他的基本思想之一。  ③摩顶放(fang)踵:从头顶到脚跟都摩伤,形容不畏劳苦,不畏劳苦,不顾价格体伤。放,  到,到。④子莫:战国时鲁国人,其事迹已不可考。
  【译文】
  孟子说:“杨朱主张为自己,即使拔一根毫毛而有利于天下,他都  不肯干。墨子主张兼爱,即便是从头顶到脚跟都摩伤,只要 是对天下有利,他都肯干。子莫则主张中道。主张中道本来是不 错的,但如果只知中道而不知道权变,那也就和执着一点一样了。 为什么厌恶执着一点呢?因为它会损害真正的道,只是坚持一点 而废弃了其余很多方面。”
  【读解】
  这是孟子对杨朱和墨翟学派非常著名的一段评论,至今仍然 是对杨墨的权威性论断。我们这里不是搞学术研究,所以对他关 于杨墨的评论不予深说,而是侧重于他对子莫的看法。
  子莫执中。 
  照理说符合儒学的中庸之道,应该受到大加赞扬。事实上,孟 子也的确说了“执中为近之”,应该是很不错的。但“执中无权, 独执一也。”这就出了问题。这里的“权”是指“权变”,通权达 变。也就是说,如果只知道死板地坚持“执中”,没有变通,那就 不是执中,而是“执一”了。而我们知道,中庸之道本来是“执 两用中”(《中庸》)的,既然只是“执一”,当然也就不是中庸之 道了。因此,并不符合儒学的主张。
  为什么“执一”就有问题呢?因为它“举一而废百”,坚持一 点反而废弃了其余很多方面,具有片面性,其结果是“贼道”。 “贼”在这里作动词,指对真正的中庸之道有所损害。
  回过头来说到杨子的为我,墨子的兼爱,在孟子看来,都是 “执一”之道,因此,“为其贼道也”,是孟子所反对的。
  可见,这一章从对杨、墨的评论出发,表达了孟子主张“执 中”而变通的思想主张。对我们来说,既有学术史的价值,又有 思想方法上的启示。
  ——————
  无以饥渴之害为心害
  【原文】
  孟子曰:“饥者甘食,渴者甘饮。是未得饮食之正也,饥渴害 之也。岂惟口腹有饥渴之害?人心亦皆有害。人能无以饥渴之害 为心害,则不及人不为忧矣。”
  【译文】
  孟子说:“饥饿的人觉得任何食物都是美味的,干渴的人觉得 任何饮料都是可口的。他们不能够吃喝出饮料和食物的正常滋味, 是由于饥饿和干渴的妨害。难道只有嘴巴和肚子有饥饿和干渴的 妨害吗?心灵也同样有妨害。一个人能够不让饥饿和干渴那样的 妨害去妨害心灵,那就不会以自己不及别人为忧虑了。”
  【读解】
  饥渴对嘴巴和肚子的妨害使人饥不择食,渴不择饮。类似这 样的妨害如果对心灵发生,就会使一个人对精神的需求,对思想、 学术和主张也出现饥不择食,渴不择饮现象,失去辨别力。统 便会管它什么主义,管他什么意识形态都一古脑儿接受下来,缺 乏消化能力,最终误入歧途。 
  相反,如果一个人能够使心灵不受到类似饥渴那样的妨害,就 不会失去选择力和辨别力,对于各种思想意识和观念就会有所认 识,有所鉴别,从而选择适合自己的部分加以吸收,消化,使之 成为充实自己的精神营养。能够做到这样,即使发现自己有不及 他人的地方,那也是很容易迎头赶上的,有什么值得忧虑的呢? 
  要使自己的心灵不受到类似饥渴那样的妨害,别无良方,只 要使心灵经常吸收养份,就像我们平时不感到口渴也喝茶滋润,不 测饥饿也按时吃饭补充养价一样。这样,就不会导致心灵空虚, 以致饥不择食,渴不择饮,甚至囫囵吞枣,消化不良。
  回想前些年文化开禁,读书人如饥似渴,而西方各种思潮纷 至沓来,“你方唱罢我登场”,大学生们不辨古今,不管倾向而一 古脑儿吞食下去,今天是尼采、叔本华,明天是弗洛依德,后天 又是萨特、海德格尔的存在主义。如此等等,不一而足,不是很 有点饥不择食,渴不择饮的味道吗? 
  所以,心灵的修养也和身体的营养一样,是一个长期的,循 序渐进的过程,既不能担苗助长,也不能使之饥饿干渴而缺乏养 价。只有这样,才能使之良性发育,茁壮成长,成为一个身心都 健康的人。 
  ——————
  掘井九轫不及泉,犹为弃井
  【原文】
  孟子曰:“有为者辟①若掘井,掘井九动②而不及泉,犹为弃井 也。”
  【注释】
  ①辟:同“譬”。②九轫:韧,同“用”,古代量词,一用六尺或八 尺,九例则相当于六七丈。
  【译文】
  孟子说:“做事好比掘井一样,掘到六七丈深还没有见水,仍 然只是一口废井。”’
  【读解】
  “为山九仞,功亏一篑。”.(《尚书·旅獒》)
  为井九仞,同样也可能功亏于最后一仞。而一旦功亏,不管是一仞还是半仞,都是半途而废,留下的,是废井一口。 
  孔子说:“譬如为山,未成一篑,止,吾止也。譬如平地,而 覆一篑,进,吾往也”(《论语·子罕》)进退成败都在自己。 孔子最赞赏的,则是弟子颜渊的精神:“惜乎!吾见其进也,未见 其止也。”(同上)见其进而未见其止,当然也就不会“为山九仞, 功亏一贯”,不会因为“掘井九何而不及泉”便停止了。
  所以,孔子也罢,孟子也罢,都是反对半途而废,激赏积极 进取精神。这也算是儒家先贤所着力推崇的一种风范吧,时至今 日,也仍然对我们有激励价值。
  ——————
  君子不素餐
  【原文】
  公孙丑曰:“《诗》曰:‘不素餐兮!’①君子之不耕而食,何也? 孟子曰:“君子居是国也,其君用之,则安富尊荣;其子弟从 之,则孝悌忠信。‘不素餐兮!’孰大于是?”
  【注释】
  ①不素餐兮:引自《诗经·魏风·伐檀》。素餐,白吃饭。
  【译文】
  公孙丑说:“《诗经》说:‘不白吃饭啊!’可君子不种庄稼也 吃饭,为什么呢?” 孟子说:“君子居住在一个国家,国君用他,就会安定富足, 尊贵荣耀;学生们跟随他,就会孝敬父母,尊敬兄长,忠诚而守 信用。‘不白吃饭啊!’还有谁比他的贡献更大呢?”
  【读解】
  还是孔子所说“君子谋道不谋食”(《论语·卫灵公》)和孟 子自己所说“劳心者治人,劳力者治于人;治于人者食人,治人 论于人”(《膝文公上》)的意思。强调社会分工,强调脑力劳 批对社会的重要贡献。
  对我们今天来说,公孙丑所提的这类问题是不会有多少人提 了。但倒回去二十年,我们还时常可以听到送公粮进城的公社社 员骂街的声音:“俺农民伯伯不种出来,你们城里人吃狗屎!”理 直气壮,字正腔圆。倒回去二十年如此,倒回去二千年呢?想一 想吧,我们也许就可以理解孔子、孟子为什么要反复讲这个在今天看来是非常简单的道理了罢。
  ——————
  士尚志
  【原文】
  王子垫①问曰:“士何事?” 
  孟子曰:“尚志。” 
  曰:“何谓尚志?” 
  曰:“仁义而已矣。杀一无罪非仁也,非其有而取之非义也。 居恶在?仁是也;路恶在?义是也。居仁由义,大人之事备矣。”
  【注释】
  ①王子垫:齐王的儿子,名垫。
  【译文】
  王子垫问道:“士做什么事?” 
  孟子说:“使志行高尚。” 
  王子垫问:“使志行高尚指的是什么?” 
  孟子说:“仁和义罢了。杀死一个无罪的人,是不仁;不是自 己的东西却去占有,是不义。居住的地方在哪里?仁便是;道路 在哪里?义便是。居于仁而行于义,大人的事便齐备了。”
  【读解】
  所谓大人的事齐备了实际上是指大人的修养就够了。这里的 “大人”指一般意义上的君子,也就是士人。 
  “士尚志”,士人的修养就在于使自己的志行高尚。而高尚的 标准就是“居仁由义”。这一段其实并没有什么新的东西,还是孔、 孟所一贯呼吁的“仁义”二字,还是强调士人作为一个特殊阶层 的修身精神。 
  不过,“士尚志”言简意赅地概括了对士人的要求,给人的感 觉,好像士人的“专业”就是“尚志”而施行仁义,失去了这一 点,士人也就不成其为士人了一样。由此影响到后世的读书人一 直把“尚志”作为自己的精神寄托,把“仁”、“义”作为最基本 的道德品质。而“尚志”一词,也成为儒学的一个重要概念,成 为人们所熟知的一个词语,甚至为很多人的名字所采用。。
  ——————
  道德两难怎么办?
  【原文】
  桃应①问曰:“舜为天子,皋陶为士,瞽瞍杀人,则如之何?”
  孟子曰:“执之而已矣。” 
  “然则舜不禁与?”
  曰:“夫舜恶得而禁之?夫有所受之也。” 
  “然则舜如之何?” 
  曰:“舜视弃天下犹弃敝展②也。窃负而逃,通海滨而处,终 身沂然③,乐而忘天下。” 
  【注释】
  ①桃应:孟子的学生。②敝屣(XT):破鞋子。(3)訢(xin):同 “欣”。
  【译文】
  桃应问道:“舜做天子,皋陶做法官,假如舜的父亲瞽瞍杀了 人,那怎么办?” 
  孟子说:“把他逮起来就是了。” 
  桃应问:“难道舜不阻止吗?” 
  孟子说:“舜怎么能够阻止呢?皋陶是按所受职责办事。” 
  桃应问:“那么,舜该怎么办呢?” 孟子说:“舜把抛弃天子之位看得像抛弃破鞋子一样。他偷偷 地背负父亲逃走,沿着海滨住下来,终身逍遥,快乐得把曾经做 过天子的事情忘掉。”
  【读解】
  这是典型的道德两难问题,就像我们今天有人问:“母亲和妻 子同时掉进水里,你先救哪一个?”或者问:“妻子难产,母亲和 孩子只能保住一个,你保哪一个?” 
  一方面,“王子犯法,与庶民同罪。”王父犯法也应与庶民同 罪。所以孟子回答说:“执之而已矣。” 
  但另一方面。眼看父亲出事而坐视不救,又不符合孝道。对 一般人来说,这个道德难题叫做“忠孝不能两全”,对舜来说,这 个道德难题叫做“公(或法)孝不能两全”。怎么办呢? 
  孟子的解决动作可就大了,“舜视弃天下犹弃敝屣”,连天子 之位都不要做了,弃官救父,隐居海滨。这不就为了父亲而改变 了自己一生的道路了吗? 
  但在孟子看来,的确只有这样做才能做到公孝两全:一方面, 作为天子,在天子之位上,只能发令让司法官去逮捕作为罪犯的 瞽瞍;另一方面,抛弃天子之位,便作为儿子,锭而走险,冒死 救出父亲,隐居海滨,奉养父亲,不以失去天子之位而遗憾。
  这个两难问题,在我们今天来回答可就不一样。因为,我们 今天在很大程度上已把个体行为的“孝”归结为私人问题了(虽 然在总体上说“孝”还是一个社会问题),所以,“公孝不能两 全”就成了“公私不能两全”,既然如此,那也就不难解决了。虽 然在情感上仍然难,但至少在理论上是不难的了。 
  何况,我们今天的人,有几个会为了父亲而“弃天下”呢?莫 说“弃天下”,就是弃一局长处长的官位也会舍不得的啊,多半只 有为了自己的前程而弃父亲的。更何况,即便不为前程,仅为父 亲低微,父亲穷酸而弃之的,也有人在呢。在这种清况下,也就 没有什么“两难”了罢。 
  回到孟子的原文,应该一提的是,所谓“瞽瞍杀人”云云,当 然只是一种假设,就像我们今天的法律知识竟赛假设一些案例一 样,并非在舜做天子的时候他父亲真的杀了人,他也并没有因此 而偷偷背负父亲而逃,像一个被通缉的犯人一样隐居海滨。如果 真有这样的事,那我们倒应该特别欣赏舜的气度了,什么气度?进 为天子,退为逃犯,隐居海滨而“终身訢然,乐而忘天下。”这种 能进能退,“视弃天下犹弃敝屣”的气度,尤其是,终身“訢然”, “乐”而忘天下的乐观通达,真是非等闲之辈所能的特殊禀赋。从 这个意义上来说,舜作为圣贤是一点都不为过的。 
  当然,孟子“言必称尧舜”,而孟子所称的尧舜难免没有理想 化的色彩,这也是可以理解的。 
  ——————
  地位对人的重要影响
  【原文】
  孟子自范①之齐,望见齐王之子,喟然叹曰:“居移气,养移 体,大哉居乎!夫非尽人之子与?”
  孟子曰:“王子宫室、车马、衣服多与人同,而王子若彼者, 赔使之然也;况居天下之广居②者乎?鲁君之宋,呼于垤泽之 门(3)。守者曰:‘此非吾君也,何其声之似我君也?’此无他,居相 似也。” 
  【注释】
  ①范:地名,故城在今山东范县东南二十里,是魏国与齐国之间的要道。 ②广居:孟子的“广居”指仁。如《滕文公下》所说:“居天下之广居, 立天下之正位。”③垤(die)泽之门:宋国城门。
  【译文】
  孟子从范邑到齐都,远远地望见了齐王的儿子,非常感叹地 说:“地位改变气度,奉养改变体质,地位是多么重要啊!他不也 是人的儿子吗?”
  孟子说:“王子的住多、车马、衣服多半与他人相同,而王子 像那个样子,是他的地位使他那样的。何况那处在天下最广大地 位上的人呢?鲁国的国君到宋国去,在宋国的城门下呼喊。守门 的人说:‘这人不是我们的国君,他的声音怎么这样像我们的国君 呢?’这没有别的原因,他们的地位相似罢了。”
  【读解】
  存在决定意识,地位影响气度。
  不仅气度,就是一般气质、思想观念等,也都深受地位的影 响。
  所谓“王侯将相宁有种乎?” 
  莫说本来是王子的人气度与一般人不一样,就是原本为平民 老百姓,甚至出身苦寒低贱如替人看牛放羊的朱元璋,一旦地位 改变,做了天子,那气度与精神风貌也会变若天上地下,这就叫 做“居移气”。 
  当然,有所影响,有所改变并不意味着主体自身完全不起作 用,像“环境决定论”者所认为的那样,人完全是周围环境的奴 隶。事实上,我们也看到,有不少后来做了皇帝,贵为天子的人, 怎么也改不了早年做平民,做农民时的习性和脾气,甚至一些特 殊的喜好,这就是主体自身的能动性在起作用。用一句通行的话 来说,也可以叫做“江山易改,本性难移”。
  所以,一方面,环境地位对人的气质、气度的确具有很重要 的影响,但另一方面,主体自身的作用也不可忽视。   就以孟子在这里的意图来说,他之所以喟然而叹“大哉居乎!” 强调“其居使之然也’,其实是为了推出“况居天下之广居者乎” 一句话来,要求大家“居天下之广居,立天下之正位”,(滕文 公下》)处在“仁”的地位上。而要做到“居天下之广居,立天下 之正位”,选择“仁’的地位,离开主体自身的作用能行吗?这正 如孔子所说:“里仁为美。择不处仁,焉得知?”(《论语·里仁》) 一方面,要居住在有仁厚风气的地方才好,但另一方面,“择不处 仁,焉得知?”还是离不开主体的选择作用。 
  我们在这里再一次看到孟子的确是“祖述仲尼之意”,本意与 孔子“里仁为美”一章的表达方式虽然完全不同,但其思想却是 一脉相承而贯通的。“孔家店”的大小老板前后相隔百年,其配合 却是非常默契,后世之所以用“孔孟之道”合称二人学说,正是 体现了这种相互合拍。当然,所谓配合默契,所谓相互合拍,其 主动的方面都只可能是生于其后的孟子了。在孔子自己,可不知 道在他的身后还会有这样一个深得他的意旨甚至超过颜回的“私 淑弟子”,而如果他真的有什么“圣灵”可知,那还不知道有多么 欣慰哩,起码是可以抵消他奔走列国,“累累如丧家之犬”的劳顿 和遗憾了吧。
  回到正题上来,无论是孟子本章,还是孔子“里仁为美”的 一章,都既可以作为我们进行社会学研究、历史人物研究的参考, 又可以作为教育学研究的资料,对于学校教育,尤其是家长对子女的培养和教育具有非常重要的指导意义。
  ——————
  养而不爱如养猪
  【原文】
  孟子曰:“食①而弗爱,豕交之也;爱而不敬,兽畜之也。恭敬者,币之未将②者也。恭敬而无实,君子不可虚拘。”
  【注释】
  ①食:动词,使之食,引申为奉养。②币:指礼物。将;送。
  【译文】
  孟子说:“只是养活而不爱,那就如养猪一样;只是爱而不恭 敬,那就如养鸟儿养爱犬等畜生一样。恭敬之心是在送出礼物之 前有了的。徒具形式的恭敬,君子不可虚留。”
  【读解】
  “养而不爱如养猪,爱而不敬如养狗。” 
  这两句话对于我们在奉养老人时具有特别的警醒作用。
  一方面,我们常常看到新闻媒介报道各种各样的对老人大不 敬行为,不仅是不敬,甚至连赡养的应尽职责都不愿意尽到。而 在孟子看来,不仅应该赡养,而且应该满怀爱心,恭敬有礼地赡 养。如果不是这样,那你赡养老父老母也就和养猪养狗差不多了。 你的老父老母如猪狗,你自己不也是猪狗一样没有人性的了吗?何 况,如此下去,你自己也恐怕有被下一代当猪狗养的一天哩。 
  另一方面,我们也知道现在饲养宠物成风,一条爱犬动辄上 万元人民币,甚至有再翻上十倍、几十倍的,所以,养狗成风, “炒狗”成“疯”。个别人,把狗当作心肝宝贝一般,不仅“养而 有爱”,而且还恭敬有加,同桌吃“饭”,同床睡觉;甚至,吃得 比狗主人自己好,睡的地方也比构主人自己睡的地方还要舒服。可 见,这已超出了孟子的想象范围,不是“爱而不敬,兽畜之也”, 而是“兽畜之也,爱而有敬”了。养狗尚且“爱而有敬”,何况奉 养自己的父母呢?这应该是没有问题的了罢。遗憾的是,我们所 看到的报道,奉养父母“爱而不敬”的人还的确不少,对这些人 来说,已不是“爱而不敬,兽畜之也”,而是“爱而不敬,不如兽 畜”了。也就是说,他们待自己的父母连狗都不如。还是用我们 前面的推论来说,那他们实际上是把自己也看得连狗都不如的了, 或者,干脆说,他们的作为本来就是连狗都不如的!
  说到这里,必须郑重声明,我们在这里只是因为联系到孟子 所说“养而不爱如养猪,爱而不敬如养狗”的意思而加以理解发 挥,绝不是专门把矛头对准饲养宠物和“炒狗”的人,特此声明, 以免引起误会。 
  总起来说,这一章对我们的重要启示还是一个对父母的态度 问题,也就是“孝”的问题。在一般认为“孝道”已日渐式微的 今天,这个问题当然已没有孟子的时代那样在社会生活中举足轻 重。但从另一方面来说,在对老人的奉养已日益暴露出问题,而 且,在世人对这方面的问题日益关注的时候,孟子的论述不是对 我们很有警醒作用吗? 
  ——————
  君子之所以教者五
  【原文】
  孟子曰:“君子之所以教者五:有如时雨化之者,有成德者, 有达财①者,有答问者,有私淑艾②者。此五者,君子之所以教也。”
  【注释】
  ①财:通“材”。②淑:通“叔”,拾取。艾(yi):同“刈”,取。也 就是说,淑、艾同义,“私淑艾”也就是“私淑”,意为私下拾取,指不是直 接作为学生,而是自己仰慕而私下自学的。这也就是所谓“私淑弟于”的意 思。
  【译文】
  孟子说:“君子教育人的方式有五种:有像及时雨一样滋润化 育的;有成全品德的;有培养才能的;有解答疑问的;有以学识 风范感化他人使之成为私淑弟子的。这五种,就是君子教育人的 方式。”
  【读解】
  我们在前面已经听孟子说过:“教亦多术矣。”(《告子下》)但 他在那时并没有说“多术”到底体现在哪些方面,而只是重点说 了一种特殊的教育方式——“不屑之教”。现在,他又列出了五种 不同的教育方式。 
  朱熹曾经逐一列举了孔子、孟子用这五种方式在不同学生身 上的运用,比如说孔子对颜渊、曾子就是“如时雨化之者”;对冉 伯牛、闽子骞就是“成德者”;对子路、子贡就是“达财者”;而 孔子、孟子分别对樊迟、万章就是“答问者”。至于“私淑艾者”, 朱熹举的是孔子、孟子分别对陈亢、夷之。其实,孟子自己认为, 他就是孔子的私淑弟子,在《离娄下》里,他曾经说过:“予未得为孔子徒也,予私淑诸人也。”这其实就是对“私淑艾者”的最好 解释。
  虽然孟子在这里所列的五种教育方式已包括了德育、智育等 各方面,但严格说来,它并不是一个全面的教学体系,各种方式 之间也没有严密的逻辑关系,而只是一种列举的性质。
  尽管如此,我们还是可以看到,这些不同的教育方式,是根 据学生们本身的不同情况,因材施教而总结出来的经验。如果不 是从理论方面作系统的要求,而是从教学实际情况出发,把它们 引入教学实践,即使是在两千多年后的今天,也仍然是有推广与 应用价值的。 
  ——————
  大匠不为拙工改废绳墨
  【原文】
  公孙丑曰:“道则高矣,美矣,宜若登天然,似不可及也;何 不使彼为可几及而日孳孳也?” 
  孟子曰:“大匠不为拙工改废绳墨,羿不为拙射变其彀率①。君 子引而不发,跃如也。中道而立,能者从之。”
  【注释】
  ①彀率:拉开弓的标准。
  【译文】
  公孙丑说:“道倒是很高很好的,但就像登天一样,似乎高不 可攀。为什么不使它成为可以攀及的因而叫人每天都去勤勉努力 呢?”
  孟子说:“高明的工匠不因为拙劣的工人而改变或者废弃规 矩,绝不因为拙劣的射手而改变拉弓的标准。君子张满了弓而不 发箭,只做出要射的样子。他恰到好处地做出样子,有能力学习 的人便跟着他做。”
  【读解】
  这里包含相互联系的两层意思。 
  第一层,真理不能降格以求,不能因为追求真理的困难或目 标高远而降低目标或标准。从教育的角度来说也是一样,高明的 老师不能因为懒惰愚笨的学生而改变或放弃准则。这就是“大匠 不为拙工改废绳墨,羿不为拙射变其彀率。”
  第二层,“君子引而不发,跃如也。”善于引导的老师总是给 学生留有消化理解的余地,重在传授方法,以身作则激发学生的 学习主动积极性,这就是‘引而不发,跃如也。”把弓拉满,但却 并不把箭放出去,而只是做出要放的样子,启发学生理解,激发 他们跃跃欲试的愿望。所以,孟子又把这种做法归结到“中道而 立”的落脚点上。所谓“中道”,也就是无过无不及,做得恰到好 处的中庸之道。如此一来,孟子便很巧妙地把教育与学习的问题 与儒学所标榜的最高道德标准——中庸——联系在一起了。 
  做到了这一步,则老师教起来轻松,学生学起来愉快。 
  问题倒是在于,这样的启发式教育,要求老师不能只是照本 宣科,必须是一等一的高手,而不仅仅是眼高手低的裁判员。
  中道而立,谈何容易? 
  但总归是努力的方向罢。 
  ——————
  以道殉身与以身殉道
  【原文】
  孟子曰:“天下有道,以道殉身;天下无道,以身殉道。未闻 以道殉乎人者也。”
  【译文】
  孟子说:“天下政治清明的时份,用道义随身行事;天下政治 黑暗的时候,用生命捍卫道义。没有听说过牺牲道义而屈从于他 人的。”
  【读解】
  “天下有道,以道殉身”就是“天下有道则见”(《论语·泰 伯》),就是“邦有道则仕”(《论语·卫灵公》),也就是,“达则兼 善天下”(“孟子·尽心上》)。
  但“天下无道,以身殉道”却似乎比“无道则隐”,“邦无道 则可卷而怀之”和“穷则独善其身”来得要壮烈一些,而大有 “志士仁人,无求生以害仁,有杀身以成仁”(《论语·卫灵公》) 的意思了。 
  杀身成仁便是以身殉道。 
  只有叛徒才以道殉人。 
  当然,从更深层次的意思来理解,“无道则隐”,“邦无道则可 卷而怀之”和“穷则独善其身”也可以说得上是“以身殉道”的 表现,因为这样做是为了“道”而舍弃了自身的所谓“前程”,只 不过没有舍弃生命罢了。 
  只要不屈志变节,也就不是以道殉人。 
  “安能摧眉折腰事权贵,使我不得开心颜!”(李白) 
  这虽然也没有“杀身”,而只是“独善其身”,但却是不愿以 道殉人的典型。 
  虽无壮烈,却也大义凛然。
  ——————
  求教必须虚心
  【原文】
  公都子曰:“滕更①之在门也,若在所礼,而不答,何也?” 
  孟子曰:“挟②贵而问,挟贤而问,挟长而问,挟有勋劳而问, 挟故而问,皆所不答也。滕更有二焉。”
  【注释】
  ①滕更:滕国国君的弟弟,曾向孟子求学。②挟(Xie):倚仗。
  【译文】
  公都子说:“滕更在您门下学习,似乎应该在以礼相待之列, 可是您却不回答他的问题,为什么呢?”
  孟子说:“倚仗着自己的权势来发问,倚仗着自己贤能来发问, 倚仗着自己年长来发问,倚仗着自己有功劳来发问,倚仗着自己 是老交情来发问,都是我所不回答的。滕更有这五种中的两种。”
  【读解】
  至于滕更到底是倚仗的哪两种,孟子点到为止,并没有明说。 朱熹《集注》引赵氏说:“二,谓挟贵,挟贤也。”那也就是说,他 倚仗自己是国君弟弟的地位权势,倚仗自己很能干,很了不起。 
  其实,滕更到底倚仗什么,这对我们来说并不重要,重要的 是孟子为什么对这些有所倚仗的人不予回答。 
  这一点,孟子在论交朋友的原则时已经说过:“友也者,友其 德也,不可以有挟也。”因此要“不挟长,不挟贵,不挟兄弟而友。” (《万章下》)交朋友是“友其德也’,所心,不能够掺杂长、贵 兄弟权势等外在的因素,掺杂了这些因素,所谓的友谊也就不纯 了。同样的道理,求教于老师门下,目的是为了学习知识,切磋 学问,教学相长,因此,也不能掺杂贵、贤、长、勋劳、故旧等 外在的因素,一旦掺杂了这些因素,就会如朱熹《集注》引尹氏 所说:“有所挟,则受道之心不专,所以不答也。”所谓不专,也 就是指心不诚,求学心不诚,怎么能有所收获呢?所以孟子不予 回答。而这种不予回答,又是不是“予不屑之教诲也者,是亦教 诲之而已矣”呢?(《告子下》) 
  说起来,孟子的意思也很简单,就是要求我们虚心求教,而 不要自以为是。在老师的门下固然应该如此,向其他人请教又何 尝不应该如此呢?说到底,还是孔子所说的“敏而好学,不耻下 问”(《论语·公治长》)精神。既然“不耻下问”,当然也就不应 该有什么倚仗存于心中了。
  ——————
  真进锐者,其退速
  【原文】
  孟子曰:“于不可已而已者,无所不已。于所厚者薄,无所不 薄也。其进锐者,其退速。”
  【译文】
  孟子说:“对于不应该停止的却停止了,那就没有什么不可以 停止。对于应该厚待的却薄待了,那就没有什么不可以薄待。前 进太猛的人,后退也会快。” 
  【读解】
  这里一共说了三种情况,不过,前两种情况性质是一样的, 用孔子的术语来说,都是“不及”的问题,做得不够,因为不该 停止的却停止了,不该薄待的却薄待了。没有前进,没有厚待,都 是做得不够,所以是“不及”。后一种则是说的“太过”的问题, 前进太猛,做得过了头,其结果是退起来也会快得很,结果还是 达不到目的。这就应了孔子的话:“欲速则不达。”(《论语·子 路》)或者叫做—— 
  “过犹不及。”(《论语·先进》) 
  可见,孟子在这里依然是师承孔子的意思,分别说到“不 及”与“过”的弊病。 
  在我们一般的眼光看来,“不及”是消极,“过”是积极。消 极的弊病不言而喻,可积极的弊病在哪里呢? 
  从主观方面来说,“进锐者,用心太过,其气易衰,故退速。” 朱熹《孟子集注》)好比马拉松长跑,你一开始就以百米赛的速 度冲刺,其结果必然是很快败下阵来。 
  从客观方面来说,例证也有不少。《后汉书·李固传》说: “先帝宠遇阎氏,位号大疾,故其受祸,曾不旋时。”阎氏受皇帝 宠爱,升官太快,成了“火箭式”的干部,因此遭人嫉恨,迅速 遭祸。俗话说,枪打出头乌。官场险恶,尤其如此。
  所以,无论从主观方面还是从客观方面来说,都是“其进锐 者,其退速”。或者,还是用孔子的经典性表述:“欲速则不达”, “过犹不及。”
  只有中庸之道,做得恰到好处,无过无不及才是正确的,才 能够从容不迫地顺利地达到目的。
  ——————
  亲亲而仁民,仁民而爱物
  【原文】
  孟子曰:“君子之于物也,爱之而弗仁;于民也,仁之而弗亲。 亲亲而仁民,仁民而爱物。”
  【译文】
  孟子说:“君子对于万物,爱惜它,但谈不上仁爱;对于百姓, 仁爱,但谈不上亲爱。亲爱亲人而仁爱百姓,仁爱百姓而爱惜万 物。” 
  【读解】
  我们今天也说:“让世界充满爱。”不过,充满什么样的爱?我 们没有具体分析,也没有说。
  孟子这里作出了分析,说出了爱的层次差等。 
  对于物(朱熹注释说,指禽兽草木),主要是爱惜。爱惜的具 体表现,按照朱熹的说法,就是要“取之有时,用之有节。”这种 思想,倒是有我们今天环境保护,珍惜自然资源的意识了。 
  对于民,也就是老百姓,需要仁爱。仁爱的具体表现,按照 朱熹引程颐的看法,也就是孟子在《梁惠王上》里面所说的“老 吾老以及人之老,幼吾幼以及人之幼。”而这种推己及人的仁爱, 对禽兽草木等“物”是谈不上的。 
  对于亲,也就是自己的亲人,则不是爱情和仁爱的问题,而 是一种以血缘关系为纽带的亲爱,是爱之中最自然最亲密的一个 层次了。
  但是,只有当你能够亲爱亲人时,才有可能推己及人地去仁 爱百姓;只有当你能够仁爱百姓时,才有可能爱惜万物。不然的 话,就会成了无源之水,无本之木,是不可能维系下去的。所以, 爱虽然有亲疏,有差等,但这些亲疏差等之间却又有着内在的必 然的联系。另一方面的问题是,爱之所以有亲疏,有差等,不是 我们主观方面随意决定的,而是因为客观方面,这些对象本身有 所差别,用朱熹引杨氏的话来说,叫做“其分不同,故所施不能 无差等。”,总起来说,有差等又有联系,“统而言之则皆仁,分而 言之则首序。”(程颐)
  从亲爱自己的亲人出发,推向仁爱百姓,再推向爱惜万物,这 就形成了儒学的“爱的系列”,而我们发现,这个系列又正好是和 《大学》所开列的“修身、齐家、治国、平天下”阶梯相统一的。 由此可见,圣贤所论,无不用心深刻。既然如此,读者也只有用 心体会,才能得其真髓。 
  回到开始时的话题,“让世界充满爱。”是不是应该充满各种 各样的爱呢?
  ——————
  智仁难遍,当务之急
  【原文】
  孟子曰:“知者无不知也,当务之为急;仁者无不爱也,急亲 贤之为务。尧、舜之知而不遍物,急先务也;尧、舜之仁不遍爱 人,急亲贤也。不能三年之丧,而缌①小功②之察③;放饭流歠(4),而 问无齿决⑤,是之谓不知务。”
  【注释】
  ①缌(xi):细麻布,这里代指服丧三个月的孝服,穿这种孝服只服丧三 个月,是五种孝服中最轻的一种,如女婿为岳父母服孝就用这种。②小 功:服丧五个月的孝服,是五种孝服中次轻的一种,如外孙为外祖父母服孝 就用这种。③察:指仔细讲求。④放饭流歠(chuo):大吃猛喝。放 饭,大吃大嚼的意思;放,副词;饭,动词。流歠,猛喝的意思;流,长,副 词;歠,饮,动词。《礼记·曲礼》说:“毋放饭,毋流歠。”在尊长者面前大 吃猛喝是非常失礼的大不敬行为。⑤问无齿决:问,讲求;齿决,用牙 齿啃,这里指用牙齿啃于肉。《礼记·曲礼》说:“濡肉齿决,干肉不齿决。” 在尊长者面前啃干肉也是不礼貌的行为,但只是小不敬。
  【译文】
  孟子说:“智者没有什么事物不该知道,但是急于知道当前最 重要的事情;仁者没有什么人不该爱,但是急于爱德才兼备的贤 “人。”以尧舜的智慧尚且不能够知道一切事物,因为他们急于知道 对他们最重要的事情;以尧舜的仁德尚且不能够爱所有的人,因 为他们急于爱德才兼备的贤人。如果不能够实行该行三年的丧办礼, 却对三个月、五个月的丧礼仔细讲求;在尊长者面前大吃猛晚却 讲求不要用牙齿啃于肉,这就叫做不知道什么是最重要的事物。”
  【读解】
  俗话说:“丢了西瓜拣芝麻。”抓住了小的却失去了的,抓 住了次要的却失去了主要的,因小失大,舍本逐未,这就叫做 “不知务”。
  凡事总有轻重缓急,固此,要抓住当前急切应办的事先做。 
  郑玄《诗谱序)说得好:“举一纲而万目张。”善于化古人之 意而用之的毛泽东于是说:“路线是个纲,纲举目张。”其实这也 正是他老人家“矛盾论”哲学的基本思想之一:抓住主要矛盾,次 要矛盾便可迎刃而解了,当然,如果忽视了矛盾发展的一面,在 原本的主要矛盾已退居为次要矛盾,新的主要矛盾已经形成的时 候,比如说阶级斗争已经退居为次要矛盾,经济问题上升为主要 矛盾的时候,仍然紧紧抓住阶级斗争这个“纲”不放,那当然 “万目”都不张了。相反,如果适时地根据客观情况的变化,矛盾 的发展转化而进行调整,在经济问题已上升为主要矛盾,成为了 “当务之急”的时候,及时地抓住经济建设这个纲,“以经济建设 为中心”,那“万目”也都自然会张开了。 
  国家的情况是这样,个人的生活、工作也同样是这样。一个 人的能力总是有限的,要同时进行各方面的工作,全面开花是不 可能的。所谓“饭要一口一口地吃”,事情要一件一件地做,每一 个时期有一件最主要的事情,这样日积月累,就会像滚雪球一样, 不断取得成效。
  总而言之,“当务”的把握是最最重要的。还是用我们曾经提 到过的话来说,当我们朋友、同事、同学问互相见面时总爱问: ‘最近忙什么?”但愿你所忙的,正是“当务之急”,是“西瓜”而 不是“芝麻”,当然,更不要是自己也说不清道不明的“莫名堂” 的事情。
  ——————
  尽心下
  本篇是《孟子》全书的最后一篇,内容仍然很丰富,其中有 一些著名的章节和名言警句。全篇原文共 38章,本书选 15章。
  春秋无义战
  【原文】
  孟子曰:“春秋无义战。彼善于此,则有之矣。征者,上伐下 也,敌国 ①不相征也。”
  【注释】
  ①敌国:指地位相等的国家。“敌”在这里不是“敌对”的意思。
  【译文】
  孟子说:“春秋时代没有合乎义的战争。那一国或许比这一国 要好一点,这样的情况倒是有的。所谓征,是指上讨伐下,同等 级的国家之间是不能够相互讨伐的。”
  【读解】
  “春秋无义战”,这既表达了孟子的历史观,也是其政治观的 体现。因为,儒家认为,“礼乐征伐自天子出”,这才是合乎义的, 而春秋时代则是“礼崩乐坏”,“礼乐征伐自诸侯出”,所以没有合 乎义的战争。
  其买,孟子的思想依然是来自孔子。孔子在《论语·季氏》中 已经说过:“天下有道,则礼乐征伐自天子出;天下无道,则礼乐 征伐自诸侯出。”礼乐征伐自天子出是西周的时代,礼乐征伐自诸 侯出就是春秋时代了。
  战争的确是和政治紧紧联系在一起的,因此,也的确有正义 的战争和非正义的战争之分。但以我们今天的观点来看,衡量正 义的战争和非正义战争的标准主要是看发动战争的人目的是什么, 而不是看什么人来发动战争。就这一点来说,我们的观点与孟子 这里所论是不同的了。 
  所以,“春秋无义战”虽然已成为一句流传很广的名言,但我 们却有必要弄清楚孟子所谓“无义”的内涵。弄清楚内涵以后,我 们就会知道,以我们今天的观点来看,似乎还不能笼而统之地一 概认为“春秋无义战”,而要具体情况作具体的分析了。
  ——————
  尽信书,则不如无书
  【原文】
  孟子曰:“尽信书,则不如无书。吾于《武成》,取二三策② 而已矣。仁人无敌于天下,以至仁伐至不仁,而何其血之流杵③ 也?”
  【注释】
  ①《武成》:《尚书》的篇名。现存《武成》篇是伪古文。②策:竹 简。古代用竹简书写,一策相当于我们今天说一页。③杵(Chu):舂米 或捶衣的木棒。
  【译文】
  孟子说:“完全相信书,那还不如没有书。我对于《武成》这 一篇书,就只相信其中的二三页罢了。仁人在天下没有敌手,以 周武王这样极为仁道的人去讨伐商纣这样极不仁道的人,怎么会 使鲜血流得来可以漂起木棒呢?”
  【读解】
  “尽信书,则不如无书。” 
  这是精辟透脱的读书法,要求读者善于独立思考问题。 
  古往今来,人们关于书已不知有过多少礼赞。的确,书是我 们人类拥有专利的恩物,对很多人来说,还是他们崇拜的神圣对 象。但是,如果我们完全信书,唯书本是从,轻则使个人成为书 呆子,重则形成所谓“本本主义”、“教条主义”和“唯书”的作 风,误人子弟,贻害无穷。 
  今天,我们强调“实践是检验真理的唯一标准”,说到“尽信 书,则不如无书”,似乎也已经是浅显而容易明白的道理了。可是 在孟子的时代,这恐怕还是空谷足音吧。其实还用不着推得那么 远,只需要想想那些“唯书”、“唯上”的时代,孟子这话也不是 随随便便可以引用的。 
  终于有人说了:“不唯书,不唯上。” 
  于是我们也都可以说“尽信书,则不如无书”了。 
  尤其值得注意的是,孟子谈到“尽信书,则不如无书”时,所 举的例子是《尚书》中《武成》篇的内容,而我们知道,《尚书》 作为儒家经典之一,在孔。孟的时代也是有着极其权威性地位的。 因此,孟子这种对于权威著作,对经典保持独立思考,勇于怀疑 的精神,尤其难能可贵,体现出圣贤人物的治学风范。即便是对 于两千多年后的我们来说,也是值得学习的。
  更何况,我们今天出版业大大发展。日出一书的出版社已不 在少数,书籍汗牛充栋,其负面效应是“无错不成书”,这已成为 一个日益引起人们呼吁的社会问题。在这样的情况下,“尽信书, 则不如无书”的精神就显得尤其必要。不然的话,可是要出大问 题的了。
  ——————
  能与人规矩,不能使人巧
  【原文】
  孟子曰:“梓匠轮舆能与人规矩,不能使人巧。”
  【译文】
  孟子说:“能工巧匠能够教会别人规矩法则,但不能够教会别 人巧。”
  【读解】
  德国哲学家康德有一段对于诗歌艺术的分析正好可以借来发 挥孟子的这一思想。 
  康德说:“尽管对于诗艺有许多详尽的诗法著作和优秀的本典 范,但人不能学会巧妙地做好诗。”以大诗人荷马为例,他可以教 给人以作诗的方法、韵律等,但绝不可能教会第二个人也写出他 的那些伟大诗篇。因为他自己“也并不知道他的那些想象丰富而 思致深刻的意象是怎样涌上他的心头而集合在一起的。”(参见《判断力为批判》)第47节) 
  简单说,诗艺也罢,能工巧匠的手工艺技巧也罢,都只能教 会人规矩法则而不能教会人如何去“巧”。而规矩法则仅仅是及格 线,要想真正“巧”起来,关键还在于自己勤勉努力地去摸索,所 谓“心有灵犀一点通”,所谓“熟能生巧”,都离不开各人的体悟。 这也正是“师傅领进门,修行在各人”的意思罢。
  既然如此,当然也就只有看自己的了。 
  ——————
  民为贵,社稷次之,君为轻
  【原文】
  孟子曰:“民为贵,社稷①次之,君为轻。是故得乎丘②民而为 天子,得乎天子为诸侯,得乎诸侯为大夫。诸侯危社稷,则变置。 牺牲③既成,粢盛既洁④,祭祖以时,然而早干水溢,则变置社稷。
  【注释】
  ①社稷;社,土神。稷:谷神。古代帝王或诸侯建国时,都要立坛祭祀 “社”、“稷”,所以,“社稷”又作为国家的代称。②丘:众。③牺牲: 供祭祀用的牛、羊、猪等祭品。④粢(zi):稷,粟米。粢盛既洁的意思 是说,盛在祭器内的祭品已洁净了。
  【译文】
  孟子说:“百姓最为重要,代表国家的土神谷神其次,国君为 轻。所以,得到民。心的做天子,得到天子欢心的做国君,得到国 君欢心的做大夫。国君危害到土神谷神——国家,就改立国君。祭 品丰盛,祭品洁净,祭扫按时举行,但仍然遭受旱灾水灾,那就 改立土神谷神。”
  【读解】
  国君和社稷都可以改立更换,只有老百姓是不可更换的。所 以,百姓最为重要。 
  《尚书》也说:“民惟邦本,本固君宁。”老百姓才是国家的根 本,根本稳固了,国家也就安宁。
  改用现代的口号,那就是—— 
  人民万岁! 
  这一段是孟子民本思想最为典型,最为明确的体现,“民贵君 轻”成为后世广泛流传的名言,一直为人们所引用。   有必要提出的是,“民”是一个集合概念,“民”作为一个集 合的整体是贵的,重于国君的,但“民”当中的每一个个体,普 普通通的一介小民又怎么样呢?孟子这里没有说,也就很难说了。 不过,就我们的了解来看,个体的小民是不可能与国君的重要性 相抗衡的,不仅不能抗衡,而且还不知道要轻了多少倍哩。 
  或许,孟子在这个问题上的认识也有所局限。其实,又何止 是孟子有所局限,就是进化到两千多年后的民主时代,我们不也 仍然在花大力气清除封建主义思想的严重影响和桎梏吗?
  ——————
  以其昭昭使人昭昭
  【原文】
  孟子曰:“贤者以其昭昭使人昭昭,今以其昏昏使人昭昭。”
  【译文】
  孟子说:“贤人先使自己明白,然后才去使别人明白;今天的 人则是自己都没有搞清楚,却想去使别人明白。”
  【读解】
  我们今天说:“教育者先受教育。”或者说:“要给学生一碗水, 自己得有一桶水。”都是“以其昭昭使人昭昭”的意思。
  相反,身歪却要求影子正,源浊却要求流水清,自己都没搞 清楚,却想去使别人明白,“以其昏昏使人昭昭”,这不是缘木求鱼吗?
  而且,孟子说得好:“缘本求鱼虽然得不到鱼,但却没有什么 后患。以你的所作所为追求你想得到的,越是努力,越是后患无 穷。”(《梁惠王上》)这段批评粱惠玉的话,移在这里来批评“以 其昏昏使人昭昭”的人,真是准确极了。 
  是啊,如果是一位教师,“以其昏昏使人昭昭”,必然谬种流 专,误人子弟;如果是一位官员,“以其昏昏使人昭昭”,必然诬 枉不正,贻害他人。
  ——————
  介然用之,茅塞顿开
  【原文】
  孟子谓高子①曰:“山径之蹊②间,介然③用之而成路;为间④不 用,则茅塞之矣。今茅塞子之心矣。”
  【注释】
  ①高子:齐国人,孟子的学生。②径:山路。溪:人行处。山径之 蹊泛指很窄的山间小路。③介然:本指意志专一而不旁骛,这里是经常 不断的意思。④为间:即“有间”,短时,为时不久。
  【译文】
  孟子对高子说:“山坡间的小径,经常有人行走便踏成了一条 路;过一段时间没有人去走它,又会被茅草堵塞了。现在茅草也 把你的心堵塞了。”
  【读解】
  当年刘备三顾茅庐,诸葛亮话说天下大势,规划三国鼎立蓝 图。刘备听完以后,离开坐位向诸葛亮拱手谢道:“先生之言,顿 开茅塞,使备如拨云雾而睹青天。”(《三国演义》第三十八回)
  这“顿开茅塞”作为一个成语,其语源正出于孟子这里,没 有“茅塞”,谈何“顿开”呢? 诸葛亮开刘备之茅塞,孟子开高子之茅塞,假如你我的心被 茅草塞住,又请谁来“顿开”呢?
  恐怕只有靠自己了罢。
  好在,“这地上原本没有路,走的人多了,也就成了路。”(鲁 迅) 
  心路也是一样。 多走走,介然用之,“茅塞”虽然不一定会“顿开”,但总会 有开启的时候吧。何况,“介然用之而成路”,不被“茅塞”的可 能性也不是没有啊。 
  子曰:“学而时习之,不亦悦乎?”(《论语·学而》) 
  “学而时习之”是不是心路的“介然用之”呢? 
  如果是,那孔圣人是不是能够使你的“茅塞”顿开了呢? 
  ——————
  再作冯妇
  【原文】
  齐饥。陈臻曰:“国人皆以夫子将复为发棠①,殆不可复。”
  孟子曰:“是为冯妇②也。晋人有冯妇者,善搏虎,卒为善士。 则之野,有众逐虎。虎负嵎③,莫之敢撄(4)。望见冯妇,趋而迎之。 冯妇攘臂下车。众皆悦之,其为士者笑之。”
  【注释】
  ①复为发棠:重新劝齐王打开棠地的粮仓赈济灾民。发,汗。棠,地名, 在今山东即墨南。过去齐国灾荒时,孟子曾劝过齐上开棠地粮仓赈济灾民,所 以有此说。②冯妇:人名,姓冯.名妇。③嵎(yu):山势弯曲险阻 处。④撄(ying):迫近。
  【译文】
  齐国遭饥荒,陈臻对孟子说:“国内的人们都以为老师会再次 劝齐王打开棠地的粮仓来赈济灾民,大概不可以再这样做了吧。”
  孟子说:“再这样做就成了冯妇了。晋国有个人叫冯妇的,善 于打虎,后来成了善士,不再打虎了。有次他到野外去,看到有 很多人正在追逐一只老虎。那老虎背靠着山势险阻的地方,没有 人敢去迫近它。大家远远望见冯妇来了,连忙跑过去迎接他。冯 妇挽袖伸臂地走下车来,众人都很高兴,可士人们却讥笑他。”
  【读解】
  士人们讥笑他什么? 
  讥笑他重操旧业,又于起了打虎的勾当,而把自己做善士的 追求放弃了。所以,“再作冯妇”作为一个成语,是指人应该明己 见机守义,不应因环境而轻易放弃自己的追求与原则。简言之.就 是不应“再作冯妇”。
  但我们从孟子这段话的语气里又感到他并不是完全否定冯妇 的作为,因为“再作冯妇”实际上得到众人的拥护,而只是士人 们在讥笑他。难道孟子竟会因为怕士人讥笑而不再去劝齐王开仓 救民吗? 
  关于这个问题,朱熹有个解释,他认为主要因为孟子说这话 的时候,是齐王已不愿意用他,不愿意听他的话了,而孟子自己 也知道这个情况,已准备离开齐国了,所以才有这种说法。 
  可见,孟子说这段话时是处在一种矛盾的心态中,正如冯妇 再次打虎,“再作冯妇”一样,不再次去打虎吧,众人正有危难需 要自己。再次去打虎吧,又放弃了自己的追求与主张,且为士人 所讥笑。孟子也是一样,不去再劝齐王吧,灾民的确需要救济。再 次去劝齐王吧,明知他不会听,而自己正准备离开齐国,再去劝 他,不是又放弃了自己离开齐国的打算了吗?何况,如果自己现 在还要去劝齐王,必然受到齐王身边一批被重用的人的讥笑。权 衡的结果,还是不准备去“再作冯妇”。其实,学生陈臻是了解老 师的处境和心情的。所以在向老师提出大家的愿望后马上又说 “殆不可复。”
  不管怎么说,有一点是可以肯定的,孟子之所以说出再作冯 妇的典故,是表明了他对自己行为的一种把握,一种审时度势。这 正如赵歧注《孟子》说:“可为则从,不可则凶。言善见用,得其 时也非时逆指,犹若冯妇。暴虎无已,必有害也。”这可以说是 对孟子心态的深刻揭示。
  那么,这对我们又有什么启示呢?应该认为,是不是“再作 冯妇”并不绝对,关键是要审时度势,把握自己。如果“可为”, 如果“见用”而“得其时”,再做一次冯妇也未尝不可。如果“不 可”,如果‘非时逆指”,则不可“再作冯妇”,以免“暴虎无已, 必有害也”,而且还会受到有识之士的耻笑。
  ——————
  珠玉者,殃必及身
  【原文】
  孟子曰:“诸侯之宝三:土地、人民、政事。宝珠玉者,殃必 及身。”
  【译文】
  孟子说:“诸侯有三样宝:土地、人民和政事。如果错以珍珠 美玉为宝,灾祸必定落到他身上。”
  【读解】
  一般人玩物丧志,当政者玩物丧政,诸候玩物丧国,天子玩 物便丧失天下了。 
  历史依据不胜枚举,其中最典型的是“假途伐虢”的故事。 
  春秋时,晋国想吞并南边的虢国,但是在晋国和虢国之间还 隔着一个虞国,所以,一直未能得手。 
  晋献公当政的时候,大夫荀息向他献计,请求用晋国最好的 马和宝玉送给虞国的国君,以便向他借路去讨伐沈国。献公有些 舍不得,荀息说:“只要向虞国借到路,这些宝物放在他那里就像 放在我们国外的库房里一样?今后还不是大王您的。”
  献公同意了。于是,荀息便带了宝物到虞国去借路。 
  贪图宝物的虞公一见荀息送去的东西,满心欢喜,接了贵重 礼物,爱不释手,不仅一口答应了荀息的要求,而且还主动提出 自己先起兵作为先锋讨伐虢国。大臣宫之奇以唇亡齿寒的道理苦 苦功谏,虞公唯晋国的宝马和美玉是图,根本听不进去。
  结果,晋国灭了国,军队在返回的路上又顺道突然袭击,轻 而易举地拿下了虞国,活捉了虞公回国。原来送给虞公的宝马和 美玉,自然也顺理成章地回到了晋国。 
  这就是“宝珠玉者,殃必及身”的活生生写照。
  历史的经验值得注意。当然不仅仅是诸侯国君值得注意,就 是一般的当政为官者,贪财宝好女色也是大忌,弄不好就要惹出 祸患来。我们今天倡廉政,反腐败,看那反腐败的成果展览,腐 败者不都是因为“宝珠玉者,殃必及身”,弄得个身败名裂,遗恨 终身吗?
  所以,还是清廉一点好啊!
  ——————
  小才招祸,从政危险
  【原文】
  盆成括①仕于齐,孟子曰:“死矣盆成括!”
  盆成括见杀,门人问曰:“夫子何以知其将见杀?” 
  曰:“其为人也小有才,未闻君子之大道也,则足以杀其躯而 已矣。”
  【注释】
  ①盆成括:姓盆成,名括。
  【译文】
  盆成括在齐国做官,孟子说:“盆成括离死不远了!” 
  盆成括果然被杀,学生问孟子说:“老师怎么知道盆成括将被杀呢?” 
  孟子回答说:“盆成括是个小聪明,但不懂得君子应该知道的 大道理,这是足以招致杀身之祸的。”
  【读解】
  小聪明小有才气,机智敏感过人,但未能通过大的方面的道理。
  因为小聪明,细微之处看得清楚,算得精细,往往察人之隐, 超人之先。 
  因为未能通过大的方面的道理,眼界不宽,心胸狭窄,眼里 揉不进一粒砂子,心中容不下一点不平,往往在小事上放不开,丢不下。 
  所以,锋芒毕露,难得糊涂,常常招人嫉恨,惹火烧身而自 己还不知道。 
  这种人不从政已是不大容易处理好人际关系,一旦从政,官 场水深莫测,自然倍加危险。所以,孟子能够预先知道盆成括有 杀身之祸,而不幸真的被言中。 
  问题在于,到底什么是“君子之大道”呢? 
  焦循《孟子正义》说:“君子明足以察奸而仁义行之,智足以 面事而谦顺处之,是为大道也。” 
  “明足以察奸”和“智足以成事”都是必要的,小聪明做得到, 大聪明的“君子”也应该要做得到,简言之,聪明和敏感都是不 错的,关键在于处理的方式大有讲究。所谓“仁义行之”,“谦顺 处之”,就是要有所涵养,有所藏敛,小事上容得下,放得开,得饶人处且饶人,不必一个钉子一个眼,有时候甚至要睁只眼闭只 眼,“糊涂”一点才好。
  君子应力戒小聪明而修炼大家风度,大雅风度,宰相肚里能 撑船。也就是行“君子之大道。” 
  从政者尤其需要如此。
  ——————
  言语之盗,君子警惕
  【原文】
  士未可以言而言,是以言饴①之也;可以言而不言,是以不言 饴之也。是皆穿富之类也。
  【注释】
  ①饴(tian):探取,获取。
  【译文】
  士人不该说话的时候说话,是用言语来套取人;该成话的时 候不说话,是用沉默来套取人。都是钻洞爬墙的小偷行为。
  【读解】
  孔子也说过类似的话:“可与言而不与之言,失人;不可与之 言而与之言,失言。知者不失人,亦不失言。”(《论语·卫灵公》)
  同样是该.不该说话的问题,在孔子那里还只是“失”,属于智 与不智的范畴。可是,到了孟子这里就成了“话”,属于仁与不仁 的范畴了。 
  这是有时代发展因素在内的。 
  孟子时代,游说风起。“展开谈天说地。,来诱拿云捉雾人” 摇唇鼓舌之士,心术隐伏,欺世盗名,无异于窃人财物。孟子因 此而深恶痛绝,斥之为钻洞爬墙的贼,与孔子所谴责的色厉内荏 者一样了。(子曰:“色厉而内荏,譬诸小人,其犹穿窬之盗也与?”) 
  口是祸之门,舌是斩身刀。 
  说与不说,颇费斟酌,弄不好,进退不是人。所以,还是东 方朔那‘非有先生”的四个字深中肯綮,道出了千古尴尬——
  “谈何容易”。 
  这是从“说”的一方面来看。而我们既然知道当不当说有这 些讲究,知道有这种通过语言和沉默来套取人的“穿窬之类”存 在,那我们就应该知道,这种“穿窬之类”的言语之盗很可能就 在我们的身边,在我们的周围活动着,一有机会,就干那钻洞爬 墙的勾当,钻你语言的洞,爬你思想的墙。所以,我们一定要提 高警惕,严防这种专门以语言和沉默为手段来套取,诱惑你的贼。 比如说,当有人居心叵测地来和你套近乎,冠冕堂皇地来找你 “谈话”时,你就一定要警惕:是不是那“穿窬之类”皮笑肉不笑 地向你走过来了呢?
  ——————
  人病舍其田而芸人之田
  【原文】
  孟子曰:“言近而指远者,善言也;守约而施博者,善道也。 君子之言也,不下带①而道存焉;君子之守,修其身而天下平。人 病舍其田而苦人之田——所求于人者重,而所以自任者轻。’”
  【注释】
  ①带:束腰的带子。朱熹注:“古人视不下于带,则带之上乃目前常见至 近之处也。举目前之近事,而至理存焉。”所以,不下带指平常浅近的意思。
  【译文】
  孟子说:“言语浅近而意义深远的,是善言;操守简约而施与 广博的,是善道。君子的言语,讲的虽然是平常的事情,却蕴含 着深刻的道理;君子的操守,从修养自身开始,然后才使天下太 平。人们的毛病往往在于放弃自己的田地不耕种,却跑到别人的 田里去除草——要求别人很多很严格,要求自己却很少很轻松。”
  【读解】
  “向外觅菩提,总是痴顽汉。”
  我们可千万不要把那种放弃自己因地不耕种,却去别人田里 除草的人当作了助人为乐,大公无私的人啊! 
  耕云先生的禅学讲话说:“自己从来不认识自己,不知道自己 吃几碗饭,不知道自己能挑多重的担子,乃至于滔滔不绝地讲了 半天话,都不是自己所体验的,也不是自己能做得到的,却去要 求别人。”(《安祥集》) 
  所以,那种“舍其田而芸人之田”的人其实是没有注意看看 自己田里有没有草,而把眼睛盯在了别人的田地里。看到别人的 田地里尽是草,而自己的田地里全是大豆高粱。所以才出现“所 求于人者重,而所以自任者轻”的情况。 
  实际上,是“瞒心昧己”的人,也就是孟老夫子所诊断出的 病人。
  没有病的人则是先种自己的田,求实务本,然后才推己及人, 正己而后正人,“修其身而天下平”。 
  回到儒学的基本内容上,还是《大学》的进修阶梯和孔子 “己所不欲,勿施于人’,“己欲立而立人,己欲达而达人”的忠恕 之道。 
  ——————
  说大人,则藐之
  【原文】
  孟子曰:说①大人,则藐之,勿视其巍巍然。堂高数仞,榱 题②数尺,我得志,弗为也。食前方丈,侍妾数百人,我得志,弗 为也。般乐饮酒,驱骋田猎,后车千乘,我得志,弗为也。在彼 者,皆我所不为也;在我者,皆古之制也。吾何畏彼哉?”
  【注释】
  ①说(Shui):向……进言。②榱(CUI)题:也叫“出檐”,指屋檐 的前端。
  【译文】
  孟子说:“向位高显贵的人说话,要藐视他,不要把他的显赫 地位和权势放在眼里。哪怕他殿堂高两三丈,屋檐好几尺宽,如 果我得志,并不屑于这些;哪怕他佳肴满桌,侍奉的姬妾好几百, 如果我得志,并不屑于这些;哪怕他饮酒作乐,驰驱打猎,随从 车辆成百上千,如果我得志,并不屑于这些。他所拥有的,都是 我不屑于有的;我所希望的,是古代的礼乐制度。我为什么要怕 他呢?”
  【读解】
  “指点江山,
  激扬文字,
  粪土当年万户侯。”(毛泽东《沁园春·长沙》) 
  这种气势,并非壮空胆,提虚劲。其思想武器就在于“在彼 者,皆我所不为也。” 
  哪怕你金玉满堂,哪怕你姬妾成群,哪怕你随从如蚁,“不义 而富且贵,于我如浮云。”(《论语·述而》)
  其实,这也就是曾子所说的:“晋楚之富,不可及也。彼以其 富,我以吾仁;彼以其爵,我以吾义。吾何慊乎哉?”(《孟子· 公孙丑下》)有了这种认识,当然也就能“说大人,则藐之”了。 
  更何况还有“富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈”(《滕 文公下》)的浩然之气哩! 
  孟子论说气势磅蹲,气象恢宏,与孔子迂徐舒缓,从容不迫 有所不同,本章就是一个典型范例。
  ——————
  养心莫善于寡欲
  【原文】
  孟子曰:“养心莫善于寡欲。其为人也寡欲,虽有不存焉者, 寡矣;其为人也多欲,虽有存焉者,寡矣。”
  【译文】
  孟子说:“修养心性的最好办法是减少欲望。一个人如果欲望 很少,即便本性有所失去,那也是很少的;一个人如果欲望很多, 即便本性还有所保留,那也是很少的了。”
  【读解】
  那失去或保留的本性是什么?
  就是“人之初,性本善”的“善”。 
  外物改变人的本性,感官之欲减损人的善心。所以,欲望太 多的人,往往利令智昏,做了欲望的奴隶,其结果是“欲望号街 车”不知驶向哪里,失去控制,坠入万劫不复的深渊。 
  因此,修养心性的最好办法就是减少欲望,寡欲清心。 
  老子说:“见素抱朴,少私寡欲。”(《道德经》第十九章) 
  孟子当然不是老子的学生,在“寡欲”的问题上也绝不会走 得像老子那样远,不会到“禁欲”的程度。但在“养心莫善于寡 欲”的见解上有相通之处,这也的确是事实。毕竞,儒道两家并 非在所有问题上都是针锋相对的罢。
  ——————
  狂者、狷者与好好先生
  【原文】
  万章问曰:“孔子在陈曰:‘盍归乎来!吾党之小子狂简,进 取,不忘其初。’①孔子在陈,何思鲁之狂士?”   孟子曰:“孔子‘不得中道而与之,必也狂狷乎!狂者进取, 狷者有所不为也’。②孔子岂不欲中道哉?不可必得,故思其次也。”
  “敢问何如斯可谓狂矣?” 
  曰:“如琴张③、曾皙、牧皮(4)者,孔子之所谓狂矣。” 
  “何以谓之狂也?” 
  曰:“其志嘐嘐然,曰,‘古之人,古之人。’夷(6)考其行,而 不掩焉者也。狂者又不可得,欲得不屑不洁之士而与之,是狷也, 是又其次也。孔子曰:‘过我门而不入我室,我不憾焉者,其惟乡 原(7)乎!乡原,德之贼也(8)。”’
  曰:“何如斯可谓之乡原矣?” 
  曰:“‘何以是嘐嘐也?言不顾行,行不顾言,则曰,古之人, 古之人。行何为踽踽凉凉(9)?生斯世也,为斯世也,善斯可矣。’阉 然(10)媚于世也者,是乡原也。” 
  万子曰:“一乡皆称原人焉,无所往而不为原人,孔子以为德 之贼,何哉?” 
  曰:“非之无举也,刺之无刺也,同乎流俗,合乎污世,居之 似忠信,行之似廉洁,众皆悦之,自以为是,而不可与人尧舜之 道,故曰‘德之贼’也。孔子曰:‘恶似而非者:恶莠(11),恐其乱 苗也;恶佞,恐其乱义也;恶利口,恐其乱信也;恶郑声,恐其 乱乐也;恶紫,恐其乱朱也;恶乡原,恐其乱德也。’君子反经(12) 而已矣。经正,则庶民兴;庶民兴,斯无邪慝矣。”
  【注释】
  ①孔子在陈曰:见《论语·公冶长》,原文为:“子在陈曰:‘归与归与! 吾党之小子狂简,斐然成章,不知所以裁之。”’与万章所引略有不同。 ②孔子……:见《论语·子路》。原文和孟子这里所引一样。③琴张;人 名,不详。④牧皮:人名,不详。(5)嘐嘐(Xiao):赵歧注:“志大言 大者也。’”(6)夷:平。或认为作语助词,无义。(7)乡原(yuan);也 作“乡愿”。愿,谨慎。乡原指外貌忠诚谨慎,实际上欺世盗名的人,也就是 现代所谓“老好人”、“好好先生”。(8)孔子曰:这段话在《论语·阳货》 中只有“子日:‘乡原,德之贼也。”’(9)踽踽(ju):独行不进的样子。凉 凉:淡薄,冷漠。(10)阉:指阉人,即宦官。阉然指像宦官那样巴结逢迎 的样子。(11)四美:有害农作物的杂草。(12)反:同“返”、经:正常之道。 (13)慝(te):奸邪。
  【译文】
  万章问道:“孔子在陈国说:‘何不归去呢!我的那些学生们 忘大而狂放,进取而不忘本。’孔子在陈国、为什么思念鲁国的那 些狂放之士呢?”
  孟子说:“孔子‘得不到言行合于中庸之道的人相交,那就必 然是和狂与狷这两种人相交吧!狂的人具有进取精神,狷的人有 所不为。’孔子难道不想和言行合于中庸之道的人相交吗?不能够 得到,所以只能求次一等的罢了。” 
  万章问:“请问什么样的人可以叫做狂放的人?” 
  孟子说:“如琴张、曾皙、牧皮这些人,就是孔子称为狂放的 人。” 
  万章问:“为什么说他们是狂放的人呢?” 孟子说:“他们志向很远大,言语很夸张,嘴巴总是说‘古人 呀!古人呀!’可是一考察他们的行为,却不和言语相合。这种狂 放之人如果也得不到,那就和洁身自好的人相交往了,这些洁身 自好的人就是孔子所说的狷者,是比狂者又次一等的人。孔子说: ‘从我家门口经过却不进到我的屋里来,而我并不遗憾的,那就只 有好好先生了吧!好好先生是偷道德的贼。’” 
  万章问:“什么样的人可以称为好好先生呢?” 
  孟子说:“好好先生批评狂者说:‘为什么这样志大言大呢?言 语不能够和行为相照应,行为不能够和言语相照应,就只说古人 呀!古人呀!’又批评指者说:‘为什么这样落落寡合呢?生在这 个世界上,为这个世界做事,只要好就行了。’像宦官那样八面玲 球,四处讨好的人,就是好好先生。” 
  万章说:“一乡的人都说他是老好人,他也到处都表现得像个 老好人,孔子却认为他是偷道德的贼,这是为什么呢?”
  孟子说:“是啊,这种人,你要说他有什么不对,又举不出例 证来;你要指责他却又好像无可指责。他只是同流合污,为人好 像忠诚老实,行为好像清正廉洁,大家都很喜欢他,他自己也以 为很不错,但实际上,他的所作所为却并不合于尧舜之道,所以 说他是‘偷道德的贼’。孔子说:‘厌恶那些似是而非的东西:厌 恶杂草,怕的是它搞乱禾苗;厌恶花言巧语,怕的是它搞乱正义; 厌恶夸夸其谈,怕的是它搞乱信实;厌恶郑国的乐曲,怕的是它 搞乱雅乐;厌恶紫色,怕的是它搞乱正宗的红色;厌恶好好先生, 怕的是他搞乱道德。’君子的所作所为不过是为了让一切回到正道 罢了。回到正道,老百姓就会振作起来;老百姓振作起来,也就 没有邪恶了。”
  【读解】
  狂者、狷者毛病都很突出,让人一眼可以看出,没有迷惑性, 何况,他们也各有可取的一面。好好先生却正好相反,初看什么毛病也没有,很得人心,因而具有极大的迷惑性,实际上却是欺 世盗名。所以,孔子说好好先生是偷道德的贼,深恶痛绝。
  最近报载提出反对“好人主义”,实际上正是呼吁大家来捉 “好好先生”这偷道德的贼。 
  可见,好好先生不仅古代有,现在也同样有。而且,既然已 到了呼吁的程度,说明现在较古代更为严重也是有可能的。 
  其实,我们也知道,无论是狂者、狷者还是好好先生,都 不是孟子提出来的,而是孔子分别在《论语》的《公冶长》、《子 路》、《阳货》等篇提出来的。不过,通过本章内容,我们地可以 比较真切地看到孟子师生是如何“祖述仲尼之音”而加以上发挥的 所以,本章不仅具有内容方面把狂者、狷者和好好先生这几种人 集中在一起来加以比较,以帮助我们更为深刻地认识和理解的作 用,而且也具有儒家学说史的重要资料价值,值得引起我们的重视。
  ——————
  狂者、狷者与好好先生
  【原文】
  孟子曰:“由尧舜至于汤,五百有余岁,若禹、皋陶,则见而 知之。若汤,则闻而知之。由汤至于文王,五百有余岁,若伊尹、 莱朱①,则见而知之;若文王,则闻而知之。由文王至于孔子,五 百有余岁,若太公望、散宜生②,则见而知之;若孔子,则闻而知 之。由孔子而来至于今,百有余岁,去圣人之世若此其未远也。近 圣人之居若此其甚也,然而无有乎尔,则亦无有乎尔③!”
  【注释】
  ①莱朱:汤的贤臣。②散宜生;文王贤臣。③然而无有乎尔,则 亦无有乎尔:朱熹《集注》引林氏的解释认为:前半句“然而无有乎尔”指 没有“见而知之”者;后半句“则亦无有乎尔”指五百余岁之后更不会人 “闻而知之”者了。因此,是孟子对没有人继承孔子圣人学说的忧虑。
  【译文】
  孟子说:“从尧舜到汤,经历了五百多年,像禹、皋陶那样的 人,是亲眼看见尧舜之道而继承的;像汤,则是听说尧舜之道而 继承的人。从商汤到周文王,又有五百多年,像伊尹、莱朱那样的 人,是亲眼看见商汤之道而继承的;像文王,则是听说商汤之道 而继承的。从周文王到孔子,又是五百多年,像太公望、散宜生 那样的人,是亲眼看见文王之道而继承的:像孔子,则是听说文 王之道而继承的。从孔子到现在,一百多年,离开圣人在世的年 代这样的不远,距离圣人的家乡这样的近,但是却没有亲眼看见 圣人之道而继承的人了,以后恐怕也没有听说圣人之道而继承的 人了吧!”
  【读解】
  这是《孟子》全书收尾的一章,编《孟子》的人把这一章编 在这里,是很有深意的。
  一方面,本章从“五百年必有王者兴,其间必有名世者” (《公孙五下》)的观点出发,历述过去时代那些具有里程碑性质 的圣贤,形成了一个世代相传的“道统”。 
  另一方面,孟子感叹孔子以来没有众望所归的继承者,对圣 人的事业、圣贤的道统将会中断流露了深深的忧虑。   但是,不知孟子有没有预见到,正是他自己,身后有一天会 被人们推为圣人事业的继承者,“道统”的捍卫者。并被戴上“亚 圣”的桂冠。
  谁来继承圣人的事业? 
  不就是孟子自己吗?
  孟子以后呢?
**********************
《四書章句集注-孟子集注》
孟子序說
貢獻者:詹如校對/整理
孟子序說
孟子序說
貢獻者:詹如校對/整理
孟子序說
《史記列傳》曰:「孟軻,(趙氏曰:「孟子,魯公族孟孫之後。」漢書注云:「字子車。」一說:字子輿。)騶人也,(騶亦作鄒,本邾國也)受業子思之門人。(子思,孔子之孫,名伋。索隱云:「王劭以人為衍字。」而趙氏注及孔叢子等書亦皆云:孟子親受業於子思。未知是否?)道既通,(趙氏曰:「孟子通五經,尤長於詩書。」程子曰:「孟子曰:『可以仕則仕,可以止則止,可以久則久,可以速則速。』『孔子聖之時者也。』故知易者莫如孟子。又曰:『王者之跡熄而詩亡,詩亡然後春秋作。』又曰:『春秋無義戰。』又曰:『春秋天子之事』,故知春秋者莫如孟子。」尹氏曰:「以此而言,則趙氏謂孟子長於詩書而已,豈知孟子者哉?」)游事齊宣王,宣王不能用。適梁,梁惠王不果所言,則見以為迂遠而闊於事情。(按《史記》:「梁惠王之三十五年乙酉,孟子始至梁。其後二十三年,當齊湣王之十年丁未,齊人伐燕,而孟子在齊。」故古史謂孟子先事齊宣王後乃見梁惠王、襄王、齊湣王。獨孟子以伐燕為宣王時事,與史記、荀子等書皆不合。而通鑑以伐燕之歲為宣王十九年,則是孟子先游梁而後至齊見宣王矣。然考異亦無他據,又未知孰是也。)當是之時,秦用商鞅,楚魏用吳起,齊用孫子、田忌。天下方務於合從連衡,以攻伐為賢。而孟軻乃述唐、虞、三代之德,是以所如者不合。退而與萬章之徒序詩書,述仲尼之意,作孟子七篇。」(趙氏曰:「凡二百六十一章,三萬四千六百八十五字。」韓子曰:「孟軻之書,非軻自著。軻既沒,其徒萬章、公孫丑相與記軻所言焉耳。」愚按:二說不同,史記近是。)
韓子曰:「堯以是傳之舜,舜以是傳之禹,禹以是傳之湯,湯以是傳之文、武、周公,文、武、周公傳之孔子,孔子傳之孟軻,軻之死不得其傳焉。荀與楊也,擇焉而不精,語焉而不詳。」(程子曰:「韓子此語,非是蹈襲前人,又非鑿空撰得出,必有所見。若無所見,不知言所傳者何事。」)
又曰:「孟氏醇乎醇者也。荀與揚,大醇而小疵。」(程子曰:「韓子論孟子甚善。非見得孟子意,亦道不到。其論荀揚則非也。荀子極偏駁,只一句性惡,大本已失。揚子雖少過,然亦不識性,更說甚道。」)
又曰:「孔子之道大而能博,門弟子不能徧觀而盡識也,故學焉而皆得其性之所近。其後離散,分處諸侯之國,又各以其所能授弟子,源遠而末益分。惟孟軻師子思,而子思之學出於曾子。自孔子沒,獨孟軻氏之傳得其宗。故求觀聖人之道者,必自孟子始。」(程子曰:「孔子言參也魯。然顏子沒後,終得聖人之道者,曾子也。觀其啟手足時之言,可以見矣。所傳者子思、孟子,皆其學也。」)
又曰:「揚子雲曰:『古者楊墨塞路,孟子辭而闢之,廓如也。』夫楊墨行,正道廢。孟子雖賢聖,不得位。空言無施,雖切何補。然賴其言,而今之學者尚知宗孔氏,崇仁義,貴王賤霸而已。其大經大法,皆亡滅而不救,壞爛而不收。所謂存十一於千百,安在其能廓如也?然向無孟氏,則皆服左衽而言侏離矣。故愈嘗推尊孟氏,以為功不在禹下者,為此也。」
或問於程子曰:「孟子還可謂聖人否?」程子曰:「未敢便道他是聖人,然學已到至處。」(愚按:至字,恐當作聖字。)
程子又曰:「孟子有功於聖門,不可勝言。仲尼只說一箇仁字,孟子開口便說仁義。仲尼只說一箇志,孟子便說許多養氣出來。只此二字,其功甚多。」
又曰:「孟子有大功於世,以其言性善也。」
又曰:「孟子性善、養氣之論,皆前聖所未發。」
又曰:「學者全要識時。若不識時,不足以言學。顏子陋巷自樂,以有孔子在焉。若孟子之時,世既無人,安可不以道自任。」
又曰:「孟子有些英氣。才有英氣,便有圭角,英氣甚害事。如顏子便渾厚不同,顏子去聖人只毫髮間。孟子大賢,亞聖之次也。」或曰:「英氣見於甚處?」曰:「但以孔子之言比之,便可見。且如冰與水,精非不光。比之玉,自是有溫潤含蓄氣象,無許多光耀也。」
楊氏曰:「孟子一書,只是要正人心,教人存心養性,收其放心。至論仁、義、禮、智,則以惻隱、羞惡、辭讓、是非之心為之端。論邪說之害,則曰:『生於其心,害於其政。』論事君則曰:『格君心之非』,『一正君而國定』。千變萬化,只說從心上來。人能正心,則事無足為者矣。大學之脩身、齊家、治國、平天下,其本只是正心、誠意而已。心得其正,然後知性之善。故孟子遇人便道性善。歐陽永叔卻言『聖人之教人,性非所先』,可謂誤矣。人性上不可添一物,堯舜所以為萬世法,亦是率性而已。所謂率性,循天理是也。外邊用計用數,假饒立得功業,只是人欲之私。與聖賢作處,天地懸隔。」
 
 
梁惠王章句上
  111111111111
貢獻者:詹如校對/整理
孟子卷一 宋 朱子 集註
梁惠王章句上
凡七章。
○ 孟子見梁惠王。
梁惠王,魏侯罃也。都大梁,僭稱王,溢曰惠。史記:「惠王三十五年,卑禮厚幣以招賢者,而孟軻至梁。」
王曰:「叟不遠千里而來,亦將有以利吾國乎?」
叟,長老之稱。王所謂利,蓋富國彊兵之類。
孟子對曰:「王何必曰利?亦有仁義而已矣。
仁者,心之德、愛之理。義者,心之制、事之宜也。此二句乃一章之大指,下文乃詳言之。後多放此。
王曰『何以利吾國』?大夫曰『何以利吾家』?士庶人曰『何以利吾身』?上下交征利而國危矣。萬乘之國弒其君者,必千乘之家;千乘之國弒其君者,必百乘之家。萬取千焉,千取百焉,不為不多矣。苟為後義而先利,不奪不饜。
乘,去聲。饜,於艷反。○ 此言求利之害,以明上文何必曰利之意也。征,取也。上取乎下,下取乎上,故曰交征。國危,謂將有弒奪之禍。乘,車數也。萬乘之國者,天子畿內地方千里,出車萬乘。千乘之家者,天子之公卿采地方百里,出車千乘也。千乘之國,諸侯之國。百乘之家,諸侯之大夫也。弒,下殺上也。饜,足也。言臣之於君,每十分而取其一分,亦已多矣。若又以義為後而以利為先,則不弒其君而盡奪之,其心未肯以為足也。
未有仁而遺其親者也,未有義而後其君者也。
此言仁義未嘗不利,以明上文亦有仁義而已之意也。遺,猶棄也。後,不急也。言仁者必愛其親,義者必急其君。故人君躬行仁義而無求利之心,則其下化之,自親戴於己也。
王亦曰仁義而已矣,何必曰利?」
重言之,以結上文兩節之意。○ 此章言仁義根於人心之固有,天理之公也。利心生於物我之相形,人欲之私也。循天理,則不求利而自無不利;殉人欲,則求利未得而害已隨之。所謂毫釐之差,千里之繆。此孟子之書所以造端託始之深意,學者所宜精察而明辨也。○ 太史公曰:「余讀孟子書至梁惠王問何以利吾國,未嘗不廢書而歎也。曰嗟乎!利誠亂之始也。夫子罕言利,常防其源也。故曰『放於利而行,多怨』。自天子以至於庶人,好利之弊,何以異哉?」程子曰:「君子未嘗不欲利,但專以利為心則有害。惟仁義則不求利而未嘗不利也。當是之時,天下之人惟利是求,而不復知有仁義。故孟子言仁義而不言利,所以拔本塞源而救其弊,此聖賢之心也。」
○ 孟子見梁惠王,王立於沼上,顧鴻鴈麋鹿,曰:「賢者亦樂此乎?」
樂,音洛,篇內同。○ 沼,池也。鴻,鴈之大者。麋,鹿之大者。
孟子對曰:「賢者而後樂此,不賢者雖有此,不樂也。
此一章之大指。
詩云:『經始靈臺,經之營之,庶民攻之,不日成之。經始勿亟,庶民子來。王在靈囿,麀鹿攸伏,麀鹿濯濯,白鳥鶴鶴。王在靈沼,於牣魚躍。』文王以民力為臺為沼。而民歡樂之,謂其臺曰靈臺,謂其沼曰靈沼,樂其有麋鹿魚鱉。古之人與民偕樂,故能樂也。
亟,音棘。麀,音憂。鶴,詩作翯,戶角反。於,音烏。○ 此引詩而釋之,以明賢者而後樂此之意。詩大雅靈臺之篇,經,量度也。靈臺,文王臺名也。營,謀為也。攻,治也。不日,不終日也。亟,速也,言文王戒以勿亟也。子來,如子來趨父事也。靈囿、靈沼,臺下有囿,囿中有沼也。麀,牝鹿也。伏,安其所,不驚動也。濯濯,肥澤貌。鶴鶴,潔白貌。於,歎美辭。牣,滿也。孟子言文王雖用民力,而民反歡樂之,既加以美名,而又樂其所有。蓋由文王能愛其民,故民樂其樂,而文王亦得以享其樂也。
湯誓曰:『時日害喪?予及女偕亡。』民欲與之偕亡,雖有臺池鳥獸,豈能獨樂哉?」
害,音曷。喪,去聲。女,音汝。○ 此引書而釋之,以明不賢者雖有此不樂之意也。湯誓,商書篇名。時,是也。日,指夏桀。害,何也。桀嘗自言,吾有天下,如天之有日,日亡吾乃亡耳。民怨其虐,故因其自言而目之曰,此日何時亡乎?若亡則我寧與之俱亡,蓋欲其亡之甚也。孟子引此,以明君獨樂而不恤其民,則民怨之而不能保其樂也。
梁惠王曰:「寡人之於國也,盡心焉耳矣。河內凶,則移其民於河東,移其粟於河內。河東凶亦然。察鄰國之政,無如寡人之用心者。鄰國之民不加少,寡人之民不加多,何也?」
寡人,諸侯自稱,言寡德之人也。河內河東皆魏地。凶,歲不熟也。移民以就食,移粟以給其老稚之不能移者。
孟子對曰:「王好戰,請以戰喻。填然鼓之,兵刃既接,棄甲曳兵而走。或百步而後止,或五十步而後止。以五十步笑百步,則何如?」曰:「不可,直不百步耳,是亦走也。」曰:「王如知此,則無望民之多於鄰國也。
好,去聲。填,音田。○ 填,鼓音也。兵以鼓進,以金退。直,猶但也。言此以譬鄰國不恤其民,惠王能行小惠,然皆不能行王道以養其民,不可以此而笑彼也。楊氏曰:「移民移粟,荒政之所不廢也。然不能行先王之道,而徒以是為盡心焉,則末矣。」
不違農時,穀不可勝食也;數罟不入洿池,魚鱉不可勝食也;斧斤以時入山林,材木不可勝用也。谷與魚鱉不可勝食,材木不可勝用,是使民養生喪死無憾也。養生喪死無憾,王道之始也。
勝,音升。數,音促。罟,音古。洿,音烏。○ 農時,謂春耕夏耘秋收之時。凡有興作,不違此時,至冬乃役之也。不可勝食,言多也。數,密也。罟,網也。洿,窊下之地,水所聚也。古者網罟必用四寸之目,魚不滿尺,市不得粥,人不得食。山林川澤,與民共之,而有厲禁。草木零落,然後斧斤入焉。此皆為治之初,法制未備,且因天地自然之利,而撙節愛養之事也。然飲食宮室所以養生,祭祀棺椁所以送死,皆民所急而不可無者。今皆有以資之,則人無所恨矣。王道以得民心為本,故以此為王道之始。
五畝之宅,樹之以桑,五十者可以衣帛矣;雞豚狗彘之畜,無失其時,七十者可以食肉矣;百畝之田,勿奪其時,數口之家可以無飢矣;謹庠序之教,申之以孝悌之養,頒白者不負戴於道路矣。七十者衣帛食肉,黎民不飢不寒,然而不王者,未之有也。
衣,去聲。畜,敕六反。數,去聲。王,去聲。凡有天下者人稱之曰王,則平聲;據其身臨天下而言曰王,則去聲。後皆放此。○ 五畝之宅,一夫所受,二畝半在田,二畝半在邑。田中不得有木,恐妨五穀,故於牆下植桑以供蠶事。五十始衰,非帛不煖,未五十者不得衣也。畜,養也。時,謂孕子之時,如孟春犧性毋用牝之類也。七十非肉不飽,未七十者不得食也。百畝之田,亦一夫所受。至此則經界正,井地均,無不受田之家矣。庠序,皆學名也。申,重也,丁寧反覆之意。善事父母為孝,善事兄長為悌。頒,與斑同,老人頭半白黑者也。負,任在背。戴,任在首。夫民衣食不足,則不暇治禮義;而飽煖無教,則又近於禽獸。故既富而教以孝悌,則人知愛親敬長而代其勞,不使之負戴於道路矣。衣帛食肉但言七十,舉重以見輕也。黎,黑也。黎民,黑髮之人,猶秦言黔首也。少壯之人,雖不得衣帛食肉,然亦不至於飢寒也。此言盡法制品節之詳,極財成輔相之道,以左右民,是王道之成也。
狗彘食人食而不知檢,塗有餓莩而不知發;人死,則曰:『非我也,歲也。』是何異於刺人而殺之,曰:『非我也,兵也。』王無罪歲,斯天下之民至焉。」
莩,平表反。刺,七亦反。○ 檢,制也。莩,餓死人也。發,發倉廩以賑貸也。歲,謂歲之豐凶也。惠王不能制民之產,又使狗彘得以食人之食,則與先王制度品節之意異矣。至於民飢而死,猶不知發,則其所移特民間之粟而已。乃以民不加多,歸罪於歲凶,是知刃之殺人,而不知操刃者之殺人也。不罪歲,則必能自反而益修其政。天下之民至焉,則不但多於鄰國而已。○ 程子曰:「孟子之論王道,不過如此,可謂實矣。」又曰:「孔子之時,周室雖微,天下猶知尊周之為義,故春秋以尊周為本。至孟子時,七國爭雄,天下不復知有周,而生民之塗炭已極。當是時,諸侯能行王道,則可以王矣。此孟子所以勸齊梁之君也。蓋王者,天下之義主也。聖賢亦何心哉?視天命之改與未改耳。」
○ 梁惠王曰:「寡人願安承教。」
承上章言願安意以受教。
孟子對曰:「殺人以梃與刃,有以異乎?」曰:「無以異也。」
梃,徒頂反。○ 梃,杖也。
「以刃與政,有以異乎?」曰:「無以異也。」
孟子又問而王答也。
曰:「庖有肥肉,廄有肥馬,民有飢色,野有餓莩,此率獸而食人也。
厚斂於民以養禽獸,而使民飢以死,則無異於驅獸以食人矣。
獸相食,且人惡之。為民父母,行政不免於率獸而食人。惡在其為民父母也?
惡之之惡,去聲。惡在之惡,平聲。○ 君者,民之父母也。惡在,猶言何在也。
仲尼曰:『始作俑者,其無後乎!』為其象人而用之也。如之何其使斯民飢而死也?」
俑,音勇。為,去聲。○ 俑,從葬木偶人也。古之葬者,束草為人以為從衛,謂之芻靈,略似人形而已。中古易之以俑,則有面目機發,而大似人矣。故孔子惡其不仁,而言其必無後也。孟子言此作俑者,但用象人以葬,孔子猶惡之,況實使民飢而死乎?○ 李氏曰:「為人君者,固未嘗有率獸食人之心。然殉一己之欲,而不恤其民,則其流必至於此。故以為民父母告之。夫父母之於子,為之就利避害,未嘗頃刻而忘於懷,何至視之不如犬馬乎?」
○ 梁惠王曰:「晉國,天下莫強焉,叟之所知也。及寡人之身,東敗於齊,長子死焉;西喪地於秦七百里;南辱於楚。寡人恥之,願比死者一洒之,如之何則可?」
長,上聲。喪,去聲。比,必二反。洒與洗同。○ 魏本晉大夫魏斯,與韓氏趙氏共分晉地,號曰三晉。故惠王猶自謂晉國。惠王三十年,齊擊魏,破其軍,虜太子申。十七年,秦取魏少梁,後魏又數獻地於秦。又與楚將昭陽戰敗,亡其七邑。比,猶為也。言欲為死者雪其恥也。
孟子對曰:「地方百里而可以王。
百里,小國也。然能行仁政,則天下之民歸之矣。
王如施仁政於民,省刑罰,薄稅斂,深耕易耨。壯者以暇日修其孝悌忠信,入以事其父兄,出以事其長上,可使制梃以撻秦楚之堅甲利兵矣。
省,所梗反。斂、易皆去聲。耨,奴豆反。長,上聲。○ 省刑罰,薄稅斂,此二者仁政之大目也。易,治也。耨,耘也。盡己之謂忠,以實之謂信。君行仁政,則民得盡力於農畝,而又有暇日以修禮義,是以尊君親上而樂於效死也。
彼奪其民時,使不得耕耨以養其父母,父母凍餓,兄弟妻子離散。
養,去聲。○ 彼,謂敵國也。
彼陷溺其民,王往而征之,夫誰與王敵?
夫,音扶。○ 陷,陷於阱。溺,溺於水。暴虐之意。征,正也。以彼暴虐其民,而率吾尊君親上之民往正其罪。彼民方怨其上而樂歸於我,則誰與我為敵哉?
故曰:『仁者無敵。』王請勿疑!」
「仁者無敵」,蓋古語也。百里可王,以此而已。恐王疑其迂闊,故勉使勿疑也。○ 孔氏曰:「惠王之志在於報怨,孟子之論在於救民。所謂惟天吏則可以伐之,蓋孟子之本意。」
○ 孟子見梁襄王。
襄王,惠王子,名赫。
出,語人曰:「望之不似人君,就之而不見所畏焉。卒然問曰:『天下惡乎定?』吾對曰:『定于一。』
語,去聲。卒,七沒反。惡,平聲。○ 語,告也。不似人君,不見所畏,言其無威儀也。卒然,急遽之貌。蓋容貌辭氣,乃德之符。其外如此,則其中之所存者可知。王問列國分爭,天下當何所定。孟子對以必合於一,然後定也。
『孰能一之?』
王問也。
對曰:『不嗜殺人者能一之。』
嗜,甘也。
『孰能與之?』
王復問也。與,猶歸也。
對曰:『天下莫不與也。王知夫苗乎?七八月之間旱,則苗槁矣。天油然作雲,沛然下雨,則苗浡然興之矣。其如是,孰能禦之?今夫天下之人牧,未有不嗜殺人者也,如有不嗜殺人者,則天下之民皆引領而望之矣。誠如是也,民歸之,由水之就下,沛然誰能禦之?』」
夫,音扶。浡,音勃。由當作猶,古字借用。後多放此。○ 周七八月,夏五六月也。油然,雲盛貌。沛然,雨盛貌。浡然,興起貌。禦,禁止也。人牧,謂牧民之君也。領,頸也。蓋好生惡死,人心所同。故人君不嗜殺人,則天下悅而歸之。○ 蘇氏曰:「孟子之言,非苟為大而已。然不深原其意而詳究其實,未有不以為迂者矣。予觀孟子以來,自漢高祖及光武及唐太宗及我太祖皇帝,能一天下者四君,皆以不嗜殺人致之。其餘殺人愈多而天下愈亂。秦晉及隋,力能合之,而好殺不已,故或合而復分,或遂以亡國。孟子之言,豈偶然而已哉?」
○ 齊宣王問曰:「齊桓、晉文之事可得聞乎?」
齊宣王,姓田氏,名辟彊,諸侯僭稱王也。齊桓公、晉文公,皆霸諸侯者。
孟子對曰:「仲尼之徒無道桓、文之事者,是以後世無傳焉。臣未之聞也。無以,則王乎?」
道,言也。董子曰:「仲尼之門,五尺童子羞稱五霸。為其先詐力而後仁義也,亦此意也。」以、已通用。無已,必欲言之而不止也。王,謂王天下之道。
曰:「德何如,則可以王矣?」曰:「保民而王,莫之能禦也。」
保,愛護也。
曰:「若寡人者,可以保民乎哉?」曰:「可。」曰:「何由知吾可也?」曰:「臣聞之胡齕曰,王坐於堂上,有牽牛而過堂下者,王見之,曰:『牛何之?』對曰:『將以釁鐘。』王曰:『舍之!吾不忍其觳觫,若無罪而就死地。』對曰:『然則廢釁鐘與?』曰:『何可廢也?以羊易之!』不識有諸?」
齕,音核。舍,上聲。觳,音斛。觫,音速。與,平聲。○ 胡齕,齊臣也。釁鐘,新鑄鐘成,而殺牲取血以塗其釁郄也。觳觫,恐懼貌。孟子述所聞胡齕之語而問王,不知果有此事否?
曰:「有之。」曰:「是心足以王矣。百姓皆以王為愛也,臣固知王之不忍也。」
王見牛之觳觫而不忍殺,即所謂惻隱之心,仁之端也。擴而充之,則可以保四海矣。故孟子指而言之,欲王察識於此而擴充之也。愛,猶吝也。
王曰:「然。誠有百姓者。齊國雖褊小,吾何愛一牛?即不忍其觳觫,若無罪而就死地,故以羊易之也。」
言以羊易牛,其迹似吝,實有如百姓所譏者。然我之心不如是也。
曰:「王無異於百姓之以王為愛也。以小易大,彼惡知之?王若隱其無罪而就死地,則牛羊何擇焉?」王笑曰:「是誠何心哉?我非愛其財。而易之以羊也,宜乎百姓之謂我愛也。」
惡,平聲。○ 異,怪也。隱,痛也。擇,猶分也。言牛羊皆無罪而死,何所分別而以羊易牛乎?孟子故設此難,欲王反求而得其本心。王不能然,故卒無以自解於百姓之言也。
曰:「無傷也,是乃仁術也,見牛未見羊也。君子之於禽獸也,見其生,不忍見其死;聞其聲,不忍食其肉。是以君子遠庖廚也。」
遠,去聲。○ 無傷,言雖有百姓之言,不為害也。術,謂法之巧者。蓋殺牛既所不忍,釁鐘又不可廢。於此無以處之,則此心雖發而終不得施矣。然見牛則此心已發而不可遏,未見羊則其理未形而無所妨。故以羊易牛,則二者得以兩全而無害,此所以為仁之術也。聲,謂將死而哀鳴也。蓋人之於禽獸,同生而異類。故用之以禮,而不忍之心施於見聞之所及。其所以必遠庖廚者,亦以預養是心,而廣為仁之術也。
王說曰:「詩云:『他人有心,予忖度之。』夫子之謂也。夫我乃行之,反而求之,不得吾心。夫子言之,於我心有戚戚焉。此心之所以合於王者,何也?」
說,音悅。忖,七本反。度,待洛反。夫我之夫,音扶。○ 詩小雅巧言之篇。戚戚,心動貌。王因孟子之言,而前日之心復萌,乃知此心不從外得,然猶未知所以反其本而推之也。
曰:「有復於王者曰:『吾力足以舉百鈞』,而不足以舉一羽;『明足以察秋毫之末』,而不見輿薪,則王許之乎?」曰:「否。」「今恩足以及禽獸,而功不至於百姓者,獨何與?然則一羽之不舉,為不用力焉;輿薪之不見,為不用明焉,百姓之不見保,為不用恩焉。故王之不王,不為也,非不能也。」
與,平聲。為不之為,去聲。○ 復,白也。鈞,三十斤。百鈞,至重難舉也。羽,鳥羽。一羽,至輕易舉也。秋毫之末,毛至秋而末銳,小而難見也。輿薪,以車載薪,大而易見也。許,猶可也。今恩以下,又孟子之言也。蓋天地之性,人為貴。故人之與人,又為同類而相親。是以惻隱之發,則於民切而於物緩;推廣仁術,則仁民易而愛物難。今王此心能及物矣,則其保民而王,非不能也,但自不肯為耳。
曰:「不為者與不能者之形何以異?」曰:「挾太山以超北海,語人曰『我不能』,是誠不能也。為長者折枝,語人曰『我不能』,是不為也,非不能也。故王之不王,非挾太山以超北海之類也;王之不王,是折枝之類也。
語,去聲。為長之為,去聲。長,上聲。折,之舌反。○ 形,狀也。挾,以腋持物也。超,躍而過也。為長者折枝,以長者之命,折草木之枝,言不難也。是心固有,不待外求,擴而充之,在我而已。何難之有?
老吾老,以及人之老;幼吾幼,以及人之幼。天下可運於掌。詩云:『刑于寡妻,至于兄弟,以御于家邦。』言舉斯心加諸彼而已。故推恩足以保四海,不推恩無以保妻子。古之人所以大過人者無他焉,善推其所為而已矣。今恩足以及禽獸,而功不至於百姓者,獨何與?
與,平聲。○ 老,以老事之也。吾老,謂我之父兄。人之老,謂人之父兄。幼,以幼畜之也。吾幼,謂我之子弟。人之幼,謂人之子弟。運於掌,言易也。詩大雅思齊之篇。刑,法也。寡妻,寡德之妻,謙辭也。御,治也。不能推恩,則眾叛親離,故無以保妻子。蓋骨肉之親,本同一氣,又非但若人之同類而已。故古人必由親親推之,然後及於仁民;又推其餘,然後及於愛物,皆由近以及遠,自易以及難。今王反之,則必有故矣。故復推本而再問之。
權,然後知輕重;度,然後知長短。物皆然,心為甚。王請度之!
度之之度,待洛反。○ 權,稱錘也。度,丈尺也。度之,謂稱量之也。言物之輕重長短,人所難齊,必以權度度之而後可見。若心之應物,則其輕重長短之難齊,而不可不度以本然之權度,又有甚於物者。今王恩及禽獸,而功不至於百姓。是其愛物之心重且長,而仁民之心輕且短,失其當然之序而不自知也。故上文既發其端,而於此請王度之也。
抑王興甲兵,危士臣,構怨於諸侯,然後快於心與?」
與,平聲。○ 抑,發語辭。士,戰士也。構,結也。孟子以王愛民之心所以輕且短者,必其以是三者為快也。然三事實非人心之所快,有甚於殺觳觫之牛者。故指以問王,欲其以此而度之也。
王曰:「否。吾何快於是?將以求吾所大欲也。」
不快於此者,心之正也;而必為此者,欲誘之也。欲之所誘者獨在於是,是以其心尚明於他而獨暗於此。此其愛民之心所以輕短,而功不至於百姓也。
曰:「王之所大欲可得聞與?」王笑而不言。曰:「為肥甘不足於口與?輕煖不足於體與?抑為采色不足視於目與?聲音不足聽於耳與?便嬖不足使令於前與?王之諸臣皆足以供之,而王豈為是哉?」曰:「否。吾不為是也。」曰:「然則王之所大欲可知已。欲辟土地,朝秦楚,莅中國而撫四夷也。以若所為求若所欲,猶緣木而求魚也。」
與,平聲。為肥、抑為、豈為,不為之為,皆去聲。便、令皆平聲。辟,與闢同。朝,音潮。○ 便嬖,近習嬖幸之人也。已,語助辭。辟,開廣也。朝,致其來朝也。秦楚,皆大國。莅,臨也。若,如此也。所為,指興兵結怨之事。緣木求魚,言必不可得。
王曰:「若是其甚與?」曰:「殆有甚焉。緣木求魚,雖不得魚,無後災。以若所為,求若所欲,盡心力而為之,後必有災。」曰:「可得聞與?」曰:「鄒人與楚人戰,則王以為孰勝?」曰:「楚人勝。」曰:「然則小固不可以敵大,寡固不可以敵眾,弱固不可以敵彊。海內之地方千里者九,齊集有其一。以一服八,何以異於鄒敵楚哉?蓋亦反其本矣。
甚與、聞與之與,平聲。○ 殆、蓋,皆發語辭。鄒,小國。楚,大國。齊集有其一,言集合齊地,其方千里,是有天下九分之一也。以一服八,必不能勝,所謂後災也。反本,說見下文。
今王發政施仁,使天下仕者皆欲立於王之朝,耕者皆欲耕於王之野,商賈皆欲藏於王之市,行旅皆欲出於王之塗,天下之欲疾其君者皆欲赴愬於王。其若是,孰能禦之?」
朝,音潮。賈,音古。愬,與訴同。○ 行貨曰商,居貨曰賈。發政施仁,所以王天下之本也。近者悅,遠者來,則大小強弱非所論矣。蓋力求所欲,則所欲者反不可得;能反其本,則所欲者不求而至。與首章意同。
王曰:「吾惛,不能進於是矣。願夫子輔吾志,明以教我。我雖不敏,請嘗試之。」
惛,與昏同。
曰:「無恆產而有恆心者,惟士為能。若民,則無恆產,因無恆心。苟無恆心,放辟,邪侈,無不為已。及陷於罪,然後從而刑之,是罔民也。焉有仁人在位,罔民而可為也?
恆,胡登反。辟,與僻同。焉,於虔反。○ 恆,常也。產,生業也。恆產,可常生之業也。恆心,人所常有之善心也。士嘗學問,知義理,故雖無常產而有常心。民則不能然矣。罔,猶羅網,欺其不見而取之也。
是故明君制民之產,必使仰足以事父母,俯足以畜妻子,樂歲終身飽,凶年免於死亡。然後驅而之善,故民之從之也輕。
畜,許六反,下同。○ 輕,猶易也。此言民有常產而有常心也。
今也制民之產,仰不足以事父母,俯不足以畜妻子,樂歲終身苦,凶年不免於死亡。此惟救死而恐不贍,奚暇治禮義哉?
治,平聲。凡治字為理物之義者,平聲;為己理之義者,去聲。後皆放此。○ 贍,足也。此所謂無常產而無常心者也。
王欲行之,則盍反其本矣。
盍,何不也。使民有常產者,又發政施仁之本也。說具下文。
五畝之宅,樹之以桑,五十者可以衣帛矣;雞豚狗彘之畜,無失其時,七十者可以食肉矣;百畝之田,勿奪其時,八口之家可以無飢矣;謹庠序之教,申之以孝悌之義,頒白者不負戴於道路矣。老者衣帛食肉,黎民不飢不寒,然而不王者,未之有也。」
音見前章。○ 此言制民之產之法也。趙氏曰:「八口之家,次上農夫也。此王政之本,常生之道,故孟子為齊梁之君各陳之也。」楊氏曰:「為天下者,舉斯心加諸彼而已。然雖有仁心仁聞,而民不被其澤者,不行先王之道故也。故以制民之產告之。」○ 此章言人君當黜霸功,行王道。而王道之要,不過推其不忍之心,以行不忍之政而已。齊王非無此心,而奪於功利之私,不能擴充以行仁政。雖以孟子反覆曉告,精切如此,而蔽固已深,終不能悟,是可歎也。
梁惠王章句下
  1111111111111
貢獻者:詹如校對/整理
梁惠王章句下
凡十六章。
○ 莊暴見孟子,曰:「暴見於王,王語暴以好樂,暴未有以對也。」曰:「好樂何如?」孟子曰:「王之好樂甚,則齊國其庶幾乎!」
見於之見,音現,下見於同。語,去聲,下同。好,去聲,篇內並同。○ 莊暴,齊臣也。庶幾,近辭也。言近於治。
他日,見於王曰:「王嘗語莊子以好樂,有諸?」王變乎色,曰:「寡人非能好先王之樂也,直好世俗之樂耳。」
變色者,慚其好之不正也。
曰:「王之好樂甚,則齊其庶幾乎!今之樂猶古之樂也。」
今樂,世俗之樂。古樂,先王之樂。
曰:「可得聞與?」曰:「獨樂樂,與人樂樂,孰樂?」曰:「不若與人。」曰:「與少樂樂,與眾樂樂,孰樂?」曰:「不若與眾。」
聞與之與,平聲。樂樂,下字音洛。孰樂,亦音洛。○ 獨樂不若與人,與少樂不若與眾,亦人之常情也。
「臣請為王言樂: 為,去聲。○ 此以下,皆孟子之言也。
今王鼓樂於此,百姓聞王鐘鼓之聲,管籥之音,舉疾首蹙頞而相告曰:『吾王之好鼓樂,夫何使我至於此極也?父子不相見,兄弟妻子離散。』今王田獵於此,百姓聞王車馬之音,見羽旄之美,舉疾首蹙頞而相告曰:『吾王之好田獵,夫何使我至於此極也?父子不相見,兄弟妻子離散。』此無他,不與民同樂也。
蹙,子六反。頞,音遏。夫,音扶。同樂之樂,音洛。○ 鐘鼓管籥,皆樂器也。舉,皆也。疾首,頭痛也。蹙,聚也。頞,額也。人憂戚則蹙其額。極,窮也。羽旄,旌屬。不與民同樂,謂獨樂其身而不恤其民,使之窮困也。
今王鼓樂於此,百姓聞王鐘鼓之聲,管籥之音,舉欣欣然有喜色而相告曰:『吾王庶幾無疾病與?何以能鼓樂也?』今王田獵於此,百姓聞王車馬之音,見羽旄之美,舉欣欣然有喜色而相告曰『吾王庶幾無疾病與?何以能田獵也?』此無他,與民同樂也。
病與之與,平聲。同樂之樂,音洛。○ 與民同樂者,推好樂之心以行仁政,使民各得其所也。
今王與百姓同樂,則王矣。」
好樂而能與百姓同之,則天下之民歸之矣,所謂齊其庶幾者如此。○ 范氏曰:「戰國之時,民窮財盡,人君獨以南面之樂自奉其身。孟子切於救民,故因齊王之好樂,開導其善心,深勸其與民同樂,而謂今樂猶古樂。其實今樂古樂,何可同也?但與民同樂之意,則無古今之異耳。若必欲以禮樂治天下,當如孔子之言,必用韶舞,必放鄭聲。蓋孔子之言,為邦之正道;孟子之言,救時之急務,所以不同。」楊氏曰:「樂以和為主,使人聞鐘鼓管弦之音而疾首蹙頞,則雖奏以咸、英、韶、濩,無補於治也。故孟子告齊王以此,姑正其本而已。」
齊宣王問曰:「文王之囿方七十里,有諸?」孟子對曰:「於傳有之。」
囿,音又。傳,直戀反。○ 囿者,蕃育鳥獸之所。古者四時之田,皆於農隙以講武事,然不欲馳騖於稼穡場圃之中,故度閒曠之地以為囿。然文王七十里之囿,其亦三分天下有其二之後也與?傳,謂古書。
曰:「若是其大乎?」曰:「民猶以為小也。」曰:「寡人之囿方四十里,民猶以為大,何也?」曰:「文王之囿方七十里,芻蕘者往焉,雉兔者往焉,與民同之。民以為小,不亦宜乎?
芻,音初。蕘,音饒。○ 芻,草也。蕘,薪也。
臣始至於境,問國之大禁,然後敢入。臣聞郊關之內有囿方四十里,殺其麋鹿者如殺人之罪。則是方四十里,為阱於國中。民以為大,不亦宜乎?」
阱,才性反。○ 禮:入國而問禁。國外百里為郊,郊外有關。阱,坎地以陷獸者,言陷民於死也。
○ 齊宣王問曰:「交鄰國有道乎?」孟子對曰:「有。惟仁者為能以大事小,是故湯事葛,文王事昆夷;惟智者為能以小事大,故大王事獯鬻,句踐事吳。
獯,音熏。鬻,音育。句,音鉤。○ 仁人之心,寬洪惻怛,而無較計大小強弱之私。故小國雖或不恭,而吾所以字之之心自不能已。智者明義理,識時勢。故大國雖見侵陵,而吾所以事之之禮尤不敢廢。湯事見後篇。文王事見詩大雅。大王事見後章。所謂狄人,即獯鬻也。句踐,越王名。事見國語、史記。
以大事小者,樂天者也;以小事大者,畏天者也。樂天者保天下,畏天者保其國。
樂,音洛。○ 天者,理而已矣。大之字小,小之事大,皆理之當然也。自然合理,故曰樂天。不敢違理,故曰畏天。包含徧覆,無不周徧,保天下之氣象也。制節謹度,不敢縱逸,保一國之規模也。
詩云:『畏天之威,于時保之。』」
詩周頌我將之篇。時,是也。
王曰:「大哉言矣!寡人有疾,寡人好勇。」
言以好勇,故不能事大而恤小也。
對曰:「王請無好小勇。夫撫劍疾視曰,『彼惡敢當我哉』!此匹夫之勇,敵一人者也。王請大之!
夫撫之夫,音扶。惡,平聲。○ 疾視,怒目而視也。小勇,血氣所為。大勇,義理所發。
詩云:『王赫斯怒,爰整其旅,以遏徂莒,以篤周祜,以對于天下。』此文王之勇也。文王一怒而安天下之民。
詩大雅皇矣篇。赫,赫然怒貌。爰,於也。旅,眾也。遏,詩作「按」,止也。徂,往也。莒,詩作旅。徂旅,謂密人侵阮徂共之眾也。篤,厚也。祜,福也。對,答也,以答天下仰望之心也。此文王之大勇也。
書曰:『天降下民,作之君,作之師。惟曰其助上帝,寵之四方。有罪無罪,惟我在,天下曷敢有越厥志?』一人衡行於天下,武王恥之。此武王之勇也。而武王亦一怒而安天下之民。
衡,與橫同。○ 書周書大誓之篇也。然所引與今書文小異,今且依此解之。寵之四方,寵異之於四方也。有罪者我得而誅之,無罪者我得而安之。我既在此,則天下何敢有過越其心志而作亂者乎?衡行,謂作亂也。孟子釋書意如此,而言武王亦大勇也。
今王亦一怒而安天下之民,民惟恐王之不好勇也。」
王若能如文武之為,則天下之民望其一怒以除暴亂,而拯己於水火之中,惟恐王之不好勇耳。此章言人君能懲小忿,則能恤小事大,以交鄰國;能養大勇,則能除暴救民,以安天下。張敬夫曰:「小勇者,血氣之怒也。大勇者,理義之怒也。血氣之怒不可有,理義之怒不可無。知此,則可以見性情之正,而識天理人欲之分矣。」
○ 齊宣王見孟子於雪宮。王曰:「賢者亦有此樂乎?」孟子對曰:「有。人不得,則非其上矣。
樂,音洛,下同。○ 雪宮,離宮名。言人君能與民同樂,則人皆有此樂;不然,則下之不得此樂者,必有非其君上之心。明人君當與民同樂,不可使人有不得者,非但當與賢者共之而已也。
不得而非其上者,非也;為民上而不與民同樂者,亦非也。
下不安分,上不恤民,皆非理也。
樂民之樂者,民亦樂其樂;憂民之憂者,民亦憂其憂。樂以天下,憂以天下,然而不王者,未之有也。
樂民之樂而民樂其樂,則樂以天下矣;憂民之憂而民憂其憂,則憂以天下矣。
昔者齊景公問於晏子曰:『吾欲觀於轉附、朝儛,遵海而南,放于琅邪。吾何脩而可以比於先王觀也?』
朝,音潮。放,上聲。○ 晏子,齊臣,名嬰。轉附、朝儛,皆山名也。遵,循也。放,至也。琅邪,齊東南境上邑名。觀,遊也。
晏子對曰:『善哉問也!天子適諸侯曰巡狩,巡狩者巡所守也;諸侯朝於天子曰述職,述職者述所職也。無非事者。春省耕而補不足,秋省斂而助不給。夏諺曰:「吾王不遊,吾何以休?吾王不豫,吾何以助?一遊一豫,為諸侯度。」
狩,舒救反。省,悉井反。○ 述,陳也。省,視也。斂,收穫也。給,亦足也。夏諺,夏時之俗語也。豫,樂也。巡所守,巡行諸侯所守之土也。述所職,陳其所受之職也。皆無有無事而空行者,而又春秋循行郊野,察民之所不足而補助之。故夏諺以為王者一遊一豫,皆有恩惠以及民,而諸侯皆取法焉,不敢無事慢遊以病其民也。
今也不然:師行而糧食,飢者弗食,勞者弗息。睊睊胥讒,民乃作慝。方命虐民,飲食若流。流連荒亡,為諸侯憂。
睊,古縣反。○ 今,謂晏子時也。師,眾也。二千五百人為師。春秋傳曰:「君行師從。」糧,謂糗糒之屬。睊睊,側目貌。胥,相也。讒,謗也。慝,怨惡也,言民不勝其勞而起謗怨也。方,逆也。命,王命也。若流,如水之流,無窮極也。流連荒亡,解見下文。諸侯,謂附庸之國,縣邑之長。
從流下而忘反謂之流,從流上而忘反謂之連,從獸無厭謂之荒,樂酒無厭謂之亡。
厭,平聲。○ 此釋上文之義也。從流下,謂放舟隨水而下。從流上,謂挽舟逆水而上。從獸,田獵也。荒,廢也。樂酒,以飲酒為樂也。亡,猶失也,言廢時失事也。
先王無流連之樂,荒亡之行。
行,去聲。
惟君所行也。』
言先王之法,今時之弊,二者惟在君所行耳。
景公說,大戒於國,出舍於郊。於是始興發補不足。召大師曰:『為我作君臣相說之樂!』蓋徵招角招是也。其詩曰:『畜君何尤?』畜君者,好君也。」
說,音悅。為,去聲。樂,如字。徵,陟里反。招,與韶同。畜,敕六反。○ 戒,告命也。出舍,自責以省民也。興發,發倉廩也。大師,樂官也。君臣,己與晏子也。樂有五聲,三曰角為民,四曰徵為事。招,舜樂也。其詩,徵招角招之詩也。尤,過也。言晏子能畜止其君之欲,宜為君之所尤,然其心則何過哉?孟子釋之,以為臣能畜止其君之欲,乃是愛其君者也。○ 尹氏曰:「君之與民,貴賤雖不同,然其心未始有異也。孟子之言,可謂深切矣。齊王不能推而用之,惜哉!」
○ 齊宣王問曰:「人皆謂我毀明堂。毀諸?已乎?」
趙氏曰:「明堂,太山明堂。周天子東巡守朝諸侯之處,漢時遺址尚在。人欲毀之者,蓋以天子不復巡守,諸侯又不當居之也。王問當毀之乎?且止乎?」
孟子對曰:「夫明堂者,王者之堂也。王欲行王政,則勿毀之矣。」
夫,音扶。○ 明堂,王者所居,以出政令之所也。能行王政,則亦可以王矣。何必毀哉?
王曰:「王政可得聞與?」對曰:「昔者文王之治岐也,耕者九一,仕者世祿,關市譏而不征,澤梁無禁,罪人不孥。老而無妻曰鰥。老而無夫曰寡。老而無子曰獨。幼而無父曰孤。此四者,天下之窮民而無告者。文王發政施仁,必先斯四者。詩云:『哿矣富人,哀此煢獨。』」
與,平聲。孥,音奴。鰥,姑頑反。哿,工可反。煢,音瓊。○ 岐,周之舊國也。九一者,井田之制也。方一里為一井,其田九百畝。中畫井字,界為九區。一區之中,為田百畝。中百畝為公田,外八百畝為私田。八家各受私田百畝,而同養公田,是九分而稅其一也。世祿者,先王之世,仕者之子孫皆教之,教之而成材則官之。如不足用,亦使之不失其祿。蓋其先世嘗有功德於民,故報之如此,忠厚之至也。關,謂道路之關。市,謂都邑之市。譏,察也。征,稅也。關市之吏,察異服異言之人,而不征商賈之稅也。澤,謂瀦水。梁,謂魚梁。與民同利,不設禁也。孥,妻子也。惡惡止其身,不及妻子也。先王養民之政:導其妻子,使之養其老而恤其幼。不幸而有鰥寡孤獨之人,無父母妻子之養,則尤宜憐恤,故必以為先也。詩小雅正月之篇。哿,可也。煢,困悴貌。
王曰:「善哉言乎!」曰:「王如善之,則何為不行?」王曰:「寡人有疾,寡人好貨。」對曰:「昔者公劉好貨。詩云:『乃積乃倉,乃裹餱糧,于橐于囊。思戢用光。弓矢斯張,干戈戚揚,爰方啟行。』故居者有積倉,行者有裹糧也,然後可以爰方啟行。王如好貨,與百姓同之,於王何有?」
餱,音侯。橐,音托。戢,詩作輯,音集。○ 王自以為好貨,故取民無制,而不能行此王政。公劉,后稷之曾孫也。詩大雅公劉之篇。積,露積也。餱,乾糧也。無底曰橐,有底曰囊。皆所以盛餱糧也。戢,安集也。言思安集其民人,以光大其國家也。戚,斧也。揚,鉞也。爰,於也。啟行,言往遷於豳也。何有,言不難也。孟子言公劉之民富足如此,是公劉好貨,而能推己之心以及民也。今王好貨,亦能如此,則其於王天下也,何難之有?
王曰:「寡人有疾,寡人好色。」對曰:「昔者大王好色,愛厥妃。詩云:『古公亶甫,來朝走馬,率西水滸,至於岐下。爰及姜女,聿來胥宇。』當是時也,內無怨女,外無曠夫。王如好色,與百姓同之,於王何有?」
大,音泰。○ 王又言此者,好色則心志蠱惑,用度奢侈,而不能行王政也。大王,公劉九世孫。詩大雅緜之篇也。古公,大王之本號,後乃追尊為大王也。亶甫,大王名也。來朝走馬,避狄人之難也。率,循也。滸,水涯也。岐下,岐山之下也。姜女,大王之妃也。胥,相也。宇,居也。曠,空也。無怨曠者,是大王好色,而能推己之心以及民也。○ 楊氏曰:「孟子與人君言,皆所以擴充其善心而格其非心,不止就事論事。若使為人臣者,論事每如此,豈不能堯舜其君乎?」愚謂此篇自首章至此,大意皆同。蓋鐘鼓、苑囿、遊觀之樂,與夫好勇、好貨、好色之心,皆天理之所有,而人情之所不能無者。然天理人欲,同行異情。循理而公於天下者,聖賢之所以盡其性也;縱欲而私於一己者,眾人之所以滅其天也。二者之間,不能以髮,而其是非得失之歸,相去遠矣。故孟子因時君之問,而剖析於幾微之際,皆所以遏人欲而存天理。其法似疏而實密,其事似易而實難。學者以身體之,則有以識其非曲學阿世之言,而知所以克己復禮之端矣。
○ 孟子謂齊宣王曰:「王之臣有託其妻子於其友,而之楚遊者。比其反也,則凍餒其妻子,則如之何?」王曰:「棄之。」
比,必二反。○ 託,寄也。比,及也。棄,絕也。
曰:「士師不能治士,則如之何?」王曰:「已之。」
士師,獄官也。其屬有鄉士遂士之官,士師皆當治之。已,罷去也。
曰:「四境之內不治,則如之何?」王顧左右而言他。
治,去聲。○ 孟子將問此而先設上二事以發之,及此而王不能答也。其憚於自責,恥於下問如此,不足與有為可知矣。○ 趙氏曰「言君臣上下各勤其任,無墮其職,乃安其身。」
○ 孟子見齊宣王曰:「所謂故國者,非謂有喬木之謂也,有世臣之謂也。王無親臣矣,昔者所進,今日不知其亡也。」
世臣,累世勳舊之臣,與國同休戚者也。親臣,君所親信之臣,與君同休戚者也。此言喬木世臣,皆故國所宜有。然所以為故國者,則在此而不在彼也。昨日所進用之人,今日有亡去而不知者,則無親臣矣。況世臣乎?
王曰:「吾何以識其不才而舍之?」
舍,上聲。○ 王意以為此亡去者,皆不才之人。我初不知而誤用之,故今不以其去為意耳。因問何以先識其不才而舍之邪?
曰:「國君進賢,如不得已,將使卑踰尊,疏踰戚,可不慎與?
與,平聲。○ 如不得已,言謹之至也。蓋尊尊親親,禮之常也。然或尊者親者未必賢,則必進疏遠之賢而用之。是使卑者踰尊,疏者踰戚,非禮之常,故不可不謹也。
左右皆曰賢,未可也;諸大夫皆曰賢,未可也;國人皆曰賢,然後察之;見賢焉,然後用之。左右皆曰不可,勿聽;諸大夫皆曰不可,勿聽;國人皆曰不可,然後察之;見不可焉,然後去之。
去,上聲。○ 左右近臣,其言固未可信。諸大夫之言,宜可信矣,然猶恐其蔽於私也。至於國人,則其論公矣,然猶必察之者,蓋人有同俗而為眾所悅者,亦有特立而為俗所憎者。故必自察之,而親見其賢否之實,然後從而用舍之;則於賢者知之深,任之重,而不才者不得以幸進矣。所謂進賢如不得已者如此。
左右皆曰可殺,勿聽;諸大夫皆曰可殺,勿聽;國人皆曰可殺,然後察之;見可殺焉,然後殺之。故曰,國人殺之也。
此言非獨以此進退人才,至於用刑,亦以此道。蓋所謂天命天討,皆非人君之所得私也。
如此,然後可以為民父母。」 傳曰:「民之所好好之,民之所惡惡之,此之謂民之父母。」
○ 齊宣王問曰:「湯放桀,武王伐紂,有諸?」孟子對曰:「於傳有之。」
傳,直戀反。○ 放,置也。書曰:「成湯放桀于南巢。」
曰:「臣弒其君可乎?」
桀紂,天子,湯武,諸侯。
曰:「賊仁者謂之賊,賊義者謂之殘,殘賊之人謂之一夫。聞誅一夫紂矣,未聞弒君也。」
賊,害也。殘,傷也。害仁者,凶暴淫虐,滅絕天理,故謂之賊。害義者,顛倒錯亂,傷敗彝倫,故謂之殘。一夫,言眾叛親離,不復以為君也。書曰:「獨夫紂。」蓋四海歸之,則為天子;天下叛之,則為獨夫。所以深警齊王,垂戒後世也。○ 王勉曰:「斯言也,惟在下者有湯武之仁,而在上者有桀紂之暴則可。不然,是未免於篡弒之罪也。」
○ 孟子見齊宣王曰:「為巨室,則必使工師求大木。工師得大木。則王喜,以為能勝其任也。匠人斲而小之,則王怒,以為不勝其任矣。夫人幼而學之,壯而欲行之。王曰『姑舍女所學而從我』,則何如?
勝,平聲。夫,音扶。舍,上聲。女,音汝,下同。○ 巨室,大宮也。工師,匠人之長。匠人,眾工人也。姑,且也。言賢人所學者大,而王欲小之也。
今有璞玉於此,雖萬鎰,必使玉人彫琢之。至於治國家,則曰『姑舍女所學而從我』,則何以異於教玉人彫琢玉哉?」
鎰,音溢。○ 璞,玉之在石中者。鎰,二十兩也。玉人,玉工也。不敢自治而付之能者,愛之甚也。治國家則殉私欲而不任賢,是愛國家不如愛玉也。○ 范氏曰:「古之賢者,常患人君不能行其所學;而世之庸君,亦常患賢者不能從其所好。是以君臣相遇,自古以為難。孔孟終身而不遇,蓋以此耳。」
○ 齊人伐燕,勝之。
按史記,燕王噲讓國於其相子之,而國大亂。齊因伐之。燕士卒不戰,城門不閉,遂大勝燕。
宣王問曰:「或謂寡人勿取,或謂寡人取之。以萬乘之國伐萬乘之國,五旬而舉之,人力不至於此。不取,必有天殃。取之,何如?」
乘,去聲,下同。○ 以伐燕為宣王事,與史記諸書不同,已見序說。
孟子對曰:「取之而燕民悅,則取之。古之人有行之者,武王是也。取之而燕民不悅,則勿取。古之人有行之者,文王是也。
商紂之世,文王三分天下有其二,以服事殷。至武王十三年,乃伐紂而有天下。張子曰:「此事閒不容髮。一日之閒。天命未絕,則是君臣。當日命絕,則為獨夫。然命之絕否,何以知之?人情而已。諸侯不期而會者八百,武王安得而止之哉?」
以萬乘之國伐萬乘之國,簞食壺漿,以迎王師。豈有他哉?避水火也。如水益深,如火益熱,亦運而已矣。」
簞,音丹。食,音嗣。○ 簞,竹器。食,飯也。運,轉也。言齊若更為暴虐,則民將轉而望救於他人矣。○ 趙氏曰:「征伐之道,當順民心。民心悅,則天意得矣。」
○ 齊人伐燕,取之。諸侯將謀救燕。宣王曰:「諸侯多謀伐寡人者,何以待之?」孟子對曰:「臣聞七十里為政於天下者,湯是也。未聞以千里畏人者也。
千里畏人,指齊王也。
書曰:『湯一征,自葛始。』天下信之。『東面而征,西夷怨;南面而征,北狄怨。曰,奚為後我?』民望之,若大旱之望雲霓也。歸市者不止,耕者不變。誅其君而弔其民,若時雨降,民大悅。書曰:『徯我后,后來其蘇。』
霓,五稽反。徯,胡禮反。○ 兩引書,皆商書仲虺之誥文也。與今書文亦小異。一征,初征也。天下信之,信其志在救民,不為暴也。奚為後我,言湯何為不先來征我之國也。霓,虹也。雲合則雨,虹見則止。變,動也。徯,待也。后,君也。蘇,復生也。他國之民,皆以湯為我君,而待其來,使己得蘇息也。此言湯之所以七十里而為政於天下也。
今燕虐其民,王往而征之。民以為將拯己於水火之中也,簞食壺漿,以迎王師。若殺其父兄,係累其子弟,毀其宗廟,遷其重器,如之何其可也?天下固畏齊之彊也。今又倍地而不行仁政,是動天下之兵也。
累,力追反。○ 拯,救也。係累,縶縛也。重器,寶器也。畏,忌也。倍地,并燕而增一倍之地也。齊之取燕,若能如湯之征葛,則燕人悅之,而齊可為政於天下矣。今乃不行仁政而肆為殘虐,則無以慰燕民之望,而服諸侯之心,是以不免乎以千里而畏人也。
王速出令,反其旄倪,止其重器,謀於燕眾,置君而後去之,則猶可及止也。」
旄與耄同。倪,五稽反。○ 反,還也。旄,老人也。倪,小兒也。謂所虜略之老小也。猶,尚也。及止,及其未發而止之也。○ 范氏曰「孟子事齊梁之君,論道德則必稱堯舜,論征伐則必稱湯武。蓋治民不法堯舜,則是為暴;行師不法湯武,則是為亂。豈可謂吾君不能,而舍所學以徇之哉?」
○ 鄒與魯鬨。穆公問曰:「吾有司死者三十三人,而民莫之死也。誅之,則不可勝誅;不誅,則疾視其長上之死而不救,如之何則可也?」
鬨,胡弄反。勝,平聲。長,上聲,下同。○ 鬨,鬬聲也。穆公,鄒君也。不可勝誅,言人眾不可盡誅也。長上,謂有司也。民怨其上,故疾視其死而不救也。
孟子對曰:「凶年饑歲,君之民老弱轉乎溝壑,壯者散而之四方者,幾千人矣;而君之倉廩實,府庫充,有司莫以告,是上慢而殘下也。曾子曰:『戒之戒之!出乎爾者,反乎爾者也。』夫民今而後得反之也。君無尤焉。
幾,上聲。夫,音扶。○ 轉,饑餓輾轉而死也。充,滿也。上,謂君及有司也。尤,過也。
君行仁政,斯民親其上、死其長矣。」
君不仁而求富,是以有司知重斂而不知恤民。故君行仁政,則有司皆愛其民,而民亦愛之矣。○ 范氏曰:「書曰:『民惟邦本,本固邦寧。』有倉廩府庫,所以為民也。豐年則斂之,凶年則散之,恤其飢寒,救其疾苦。是以民親愛其上,有危難則赴救之,如子弟之衛父兄,手足之捍頭目也。穆公不能反己,猶欲歸罪於民,豈不誤哉?」
○ 滕文公問曰:「滕,小國也,間於齊楚。事齊乎?事楚乎?」
間,去聲。○ 滕,國名。
孟子對曰:「是謀非吾所能及也。無已,則有一焉:鑿斯池也,築斯城也,與民守之,效死而民弗去,則是可為也。」
無已見前篇。一,謂一說也。效,猶致也。國君死社稷,故致死以守國。至於民亦為之死守而不去,則非有以深得其心者不能也。○ 此章言有國者當守義而愛民,不可僥倖而苟免。
○ 滕文公問曰:「齊人將築薛,吾甚恐。如之何則可?」
薛,國名,近滕。齊取其地而城之,故文公以其偪己而恐也。
孟子對曰:「昔者大王居邠,狄人侵之,去之岐山之下居焉。非擇而取之,不得已也。
邠,與豳同。○ 邠,地名。言大王非以岐下為善,擇取而居之也。詳見下章。
苟為善,後世子孫必有王者矣。君子創業垂統,為可繼也。若夫成功,則天也。君如彼何哉?彊為善而已矣。」
夫,音扶。彊,上聲。○ 創,造。統,緒也。言能為善,則如大王雖失其地,而其後世遂有天下,乃天理也。然君子造基業於前,而垂統緒於後,但能不失其正,令後世可繼續而行耳。若夫成功,則豈可必乎?彼,齊也。君之力既無如之何,則但彊於為善,使其可繼而俟命於天耳。○ 此章言人君但當竭力於其所當為,不可徼幸於其所難必。
○ 滕文公問曰:「滕,小國也。竭力以事大國,則不得免焉。如之何則可?」孟子對曰:「昔者大王居邠,狄人侵之。事之以皮幣,不得免焉;事之以犬馬,不得免焉;事之以珠玉,不得免焉。乃屬其耆老而告之曰:『狄人之所欲者,吾土地也。吾聞之也:君子不以其所以養人者害人。二三子何患乎無君?我將去之。』去邠,踰梁山,邑于岐山之下居焉。邠人曰:『仁人也,不可失也。』從之者如歸市。
屬,音燭。○ 皮,謂虎、豹、麋、鹿之皮也。幣,帛也。屬,會集也。土地本生物以養人,今爭地而殺人,是以其所以養人者害人也。邑,作邑也。歸市,人眾而爭先也。
或曰:『世守也,非身之所能為也。效死勿去。』
又言或謂土地乃先人所受而世守之者,非己所能專。但當致死守之,不可舍去。此國君死社稷之常法。傳所謂國滅君死之,正也,正謂此也。
君請擇於斯二者。」
能如大王則避之,不能則謹守常法。蓋遷國以圖存者,權也;守正而俟死者,義也。審己量力,擇而處之可也。○ 楊氏曰:「孟子之於文公,始告之以效死而已,禮之正也。至其甚恐,則以大王之事告之,非得已也。然無大王之德而去,則民或不從而遂至於亡,則又不若效死之為愈。故又請擇於斯二者。」又曰:「孟子所論,自世俗觀之,則可謂無謀矣。然理之可為者,不過如此。舍此則必為儀秦之為矣。凡事求可,功求成。取必於智謀之末而不循天理之正者,非聖賢之道也。
○ 魯平公將出。嬖人臧倉者請曰:「他日君出,則必命有司所之。今乘輿已駕矣,有司未知所之。敢請。」公曰:「將見孟子。」曰:「何哉?君所為輕身以先於匹夫者,以為賢乎?禮義由賢者出。而孟子之後喪踰前喪。君無見焉!」公曰:「諾。」
乘,去聲。○ 乘輿,君車也。駕,駕馬也。孟子前喪父,後喪母。踰,過也,言其厚母薄父也。諾,應辭也。
樂正子入見,曰:「君奚為不見孟軻也?」曰:「或告寡人曰,『孟子之後喪踰前喪』,是以不往見也。」曰:「何哉君所謂踰者?前以士,後以大夫;前以三鼎,而後以五鼎與?」曰:「否。謂棺椁衣衾之美也。」曰:「非所謂踰也,貧富不同也。」
入見之見,音現。與,平聲。○ 樂正子,孟子弟子也,仕於魯。三鼎,士祭禮。五鼎,大夫祭禮。
樂正子見孟子,曰:「克告於君,君為來見也。嬖人有臧倉者沮君,君是以不果來也。」曰:「行或使之,止或尼之。行止,非人所能也。吾之不遇魯侯,天也。臧氏之子焉能使予不遇哉?」
為,去聲。沮,慈呂反。尼,女乙反。焉,於虔反。○ 克,樂正子名。沮尼,皆止之之意也。言人之行,必有人使之者。其止,必有人尼之者。然其所以行所以止,則固有天命,而非此人所能使,亦非此人所能尼也。然則我之不遇,豈臧倉之所能為哉?○ 此章言聖賢之出處,關時運之盛衰。乃天命之所為,非人力之可及。
公孫丑章句上
  1111111111111
貢獻者:詹如校對/整理
公孫丑章句上
凡九章。
○ 公孫丑問曰:「夫子當路於齊,管仲、晏子之功,可復許乎?」
復,扶又反。○ 公孫丑,孟子弟子,齊人也。當路,居要地也。管仲,齊大夫,名夷吾,相桓公,霸諸侯。許,猶期也。孟子未嘗得政,丑蓋設辭以問也。
孟子曰:「子誠齊人也,知管仲、晏子而已矣。
齊人但知其國有二子而已,不復知有聖賢之事。
或問乎曾西曰;『吾子與子路孰賢?』曾西蹵蹵然曰:『吾先子之所畏也。』曰:『然則吾子與管仲孰賢?』曾西艴然不悅,曰:『爾何曾比予於管仲?管仲得君,如彼其專也;行乎國政,如彼其久也;功烈,如彼其卑也。爾何曾比予於是?』」
蹵,子六反。艴,音拂。又音勃。曾,並音增。○ 孟子引曾西與或人問答如此。曾西,曾子之孫。蹵,不安貌。先子,曾子也。艴,怒色也。曾之言則也。烈,猶光也。桓公獨任管仲四十餘年,是專且久也。管仲不知王道而行霸術,故言功烈之卑也。楊氏曰「孔子言子路之才,曰:『千乘之國,可使治其賦也。』使其見於施為,如是而已。其於九合諸侯,一匡天下,固有所不逮也。然則曾西推尊子路如此,而羞比管仲者何哉?譬之御者,子路則範我馳驅而不獲者也;管仲之功,詭遇而獲禽耳。曾西,仲尼之徒也,故不道管仲之事。」
曰:「管仲,曾西之所不為也,而子為我願之乎?」
子為之為,去聲。○ 曰,孟子言也。願,望也。
曰:「管仲以其君霸,晏子以其君顯。管仲、晏子猶不足為與?」
與,平聲。○ 顯,顯名也。
曰:「以齊王,由反手也。」
王,去聲。由猶通。○ 反手,言易也。
曰:「若是,則弟子之惑滋甚。且以文王之德,百年而後崩,猶未洽於天下;武王、周公繼之,然後大行。今言王若易然,則文王不足法與?」
易,去聲,下同。與,平聲。滋,益也。文王九十七而崩,言百年,舉成數也。文王三分天下,纔有其二;武王克商,乃有天下。周公相成王,制禮作樂,然後教化大行。
曰:「文王何可當也?由湯至於武丁,賢聖之君六七作。天下歸殷久矣,久則難變也。武丁朝諸侯有天下,猶運之掌也。紂之去武丁未久也,其故家遺俗,流風善政,猶有存者;又有微子、微仲、王子比干、箕子、膠鬲皆賢人也,相與輔相之,故久而後失之也。尺地莫非其有也,一民莫非其臣也,然而文王猶方百里起,是以難也。
朝,音潮。鬲,音隔,又音歷。輔相之相,去聲。猶方之猶與由通。○ 當,猶敵也。商自成湯至於武丁,中間大甲、大戊、祖乙、盤庚皆賢聖之君。作,起也。自武丁至紂凡九世。故家,舊臣之家也。
齊人有言曰:『雖有智慧,不如乘勢;雖有鎡基,不如待時。』今時則易然也。
鎡音茲。○ 鎡基,田器也。時,謂耕種之時。
夏后、殷、周之盛,地未有過千里者也,而齊有其地矣;雞鳴狗吠相聞,而達乎四境,而齊有其民矣。地不改辟矣,民不改聚矣,行仁政而王,莫之能禦也。
辟,與闢同。○ 此言其勢之易也。三代盛時,王畿不過千里。今齊已有之,異於文王之百里。又雞犬之聲相聞,自國都以至於四境,言民居稠密也。
且王者之不作,未有疏於此時者也;民之憔悴於虐政,未有甚於此時者也。饑者易為食,渴者易為飲。
此言其時之易也。自文武至此七百餘年,異於商之賢聖繼作;民苦虐政之甚,異於紂之猶有善政。易為飲食,言饑渴之甚,不待甘美也。
孔子曰:『德之流行,速於置郵而傳命。』
郵,音尤。○ 置,驛也。郵,馹也。所以傳命也。孟子引孔子之言如此。
當今之時,萬乘之國行仁政,民之悅之,猶解倒懸也。故事半古之人,功必倍之,惟此時為然。」
乘,去聲。○ 倒懸,喻困苦也。所施之事,半於古人,而功倍於古人,由時勢易而德行速也。
○ 公孫丑問曰:「夫子加齊之卿相,得行道焉,雖由此霸王不異矣。如此,則動心否乎?」孟子曰:「否。我四十不動心。」
相,去聲。○ 此承上章,又設問孟子,若得位而行道,則雖由此而成霸王之業,亦不足怪。任大責重如此,亦有所恐懼疑惑而動其心乎?四十強仕,君子道明德立之時。孔子四十而不惑,亦不動心之謂。
曰:「若是,則夫子過孟賁遠矣。」曰:「是不難,告子先我不動心。」
賁,音奔。○ 孟賁,勇士。告子,名不害。孟賁血氣之勇,丑蓋借之以贊孟子不動心之難。孟子言告子未為知道,乃能先我不動心,則此亦未足為難也。
曰:「不動心有道乎?」曰:「有。
程子曰:「心有主,則能不動矣。」
北宮黝之養勇也,不膚撓,不目逃,思以一豪挫於人,若撻之於市朝。不受於褐寬博,亦不受於萬乘之君。視刺萬乘之君,若刺褐夫。無嚴諸侯。惡聲至,必反之。
黝,伊糾反。撓,奴效反。朝,音潮。乘,去聲。○ 北宮姓,黝名。膚撓,肌膚被刺而撓屈也。目逃,目被刺而轉睛逃避也。挫,猶辱也。褐,毛布。寬博,寬大之衣,賤者之服也。不受者,不受其挫也。刺,殺也。嚴,畏憚也。言無可畏憚之諸侯也。黝蓋刺客之流,以必勝為主,而不動心者也。
孟施舍之所養勇也,曰:『視不勝猶勝也。量敵而後進,慮勝而後會,是畏三軍者也。舍豈能為必勝哉?能無懼而已矣。』
舍,去聲,下同。○ 孟,姓。施,發語聲。舍,名也。會,合戰也。舍自言其戰雖不勝,亦無所懼。若量敵慮勝而後進戰,則是無勇而畏三軍矣。舍蓋力戰之士,以無懼為主,而不動心者也。
孟施舍似曾子,北宮黝似子夏。夫二子之勇,未知其孰賢,然而孟施舍守約也。
夫,音扶。○ 黝務敵人,舍專守己。子夏篤信聖人,曾子反求諸己。故二子之與曾子、子夏,雖非等倫,然論其氣象,則各有所似。賢,猶勝也。約,要也。言論二子之勇,則未知誰勝;論其所守,則舍比於黝,為得其要也。
昔者曾子謂子襄曰:『子好勇乎?吾嘗聞大勇於夫子矣:自反而不縮,雖褐寬博,吾不惴焉;自反而縮,雖千萬人,吾往矣。』
好,去聲。惴,之瑞反。○ 此言曾子之勇也。子襄,曾子弟子也。夫子,孔子也。縮,直也。檀弓曰:「古者冠縮縫,今也衡縫。」又曰:「棺束縮二衡三。」惴,恐懼之也。往,往而敵之也。
孟施舍之守氣,又不如曾子之守約也。」
言孟施舍雖似曾子,然其所守乃一身之氣,又不如曾子之反身循理,所守尤得其要也。孟子之不動心,其原蓋出於此,下文詳之。
曰:「敢問夫子之不動心,與告子之不動心,可得聞與?」「告子曰:『不得於言,勿求於心;不得於心,勿求於氣。』不得於心,勿求於氣,可;不得於言,勿求於心,不可。夫志,氣之帥也;氣,體之充也。夫志至焉,氣次焉。故曰:『持其志,無暴其氣。』」
聞與之與,平聲。夫志之夫,音扶。○ 此一節,公孫丑之問。孟子誦告子之言,又斷以己意而告之也。告子謂於言有所不達,則當舍置其言,而不必反求其理於心;於心有所不安,則當力制其心,而不必更求其助於氣,此所以固守其心而不動之速也。孟子既誦其言而斷之曰,彼謂不得於心而勿求諸氣者,急於本而緩其末,猶之可也;謂不得於言而不求諸心,則既失於外,而遂遺其內,其不可也必矣。然凡曰可者,亦僅可而有所未盡之辭耳。若論其極,則志固心之所之,而為氣之將帥;然氣亦人之所以充滿於身,而為志之卒徒者也。故志固為至極,而氣即次之。人固當敬守其志,然亦不可不致養其氣。蓋其內外本末,交相培養。此則孟子之心所以未嘗必其不動,而自然不動之大略也。
「既曰『志至焉,氣次焉』,又曰『持其志無暴其氣』者,何也?」曰:「志壹則動氣,氣壹則動志也。今夫蹶者趨者,是氣也,而反動其心。」
夫,音扶。○ 公孫丑見孟子言志至而氣次,故問如此則專持其志可矣,又言無暴其氣何也?壹,專一也。蹶,顛躓也。趨,走也。孟子言志之所向專一,則氣固從之;然氣之所在專一,則志亦反為之動。如人顛躓趨走,則氣專在是而反動其心焉。所以既持其志,而又必無暴其氣也。程子曰:「志動氣者什九,氣動志者什一。」
「敢問夫子惡乎長?」曰:「我知言,我善養吾浩然之氣。」
惡,平聲。○ 公孫丑復問孟子之不動心所以異於告子如此者,有何所長而能然,而孟子又詳告之以其故也。知言者,盡心知性,於凡天下之言,無不有以究極其理,而識其是非得失之所以然也。浩然,盛大流行之貌。氣,即所謂體之充者。本自浩然,失養故餒,惟孟子為善養之以復其初也。蓋惟知言,則有以明夫道義,而於天下之事無所疑;養氣,則有以配夫道義,而於天下之事無所懼,此其所以當大任而不動心也。告子之學,與此正相反。其不動心,殆亦冥然無覺,悍然不顧而已爾。
「敢問何謂浩然之氣?」曰:「難言也。
孟子先言知言而丑先問氣者,承上文方論志氣而言也。難言者,蓋其心所獨得,而無形聲之驗,有未易以言語形容者。故程子曰:「觀此一言,則孟子之實有是氣可知矣。」
其為氣也,至大至剛,以直養而無害,則塞于天地之閒。
至大初無限量,至剛不可屈撓。蓋天地之正氣,而人得以生者,其體叚本如是也。惟其自反而縮,則得其所養;而又無所作為以害之,則其本體不虧而充塞無間矣。○ 程子曰:「天人一也,更不分別。浩然之氣,乃吾氣也。養而無害,則塞乎天地;一為私意所蔽,則欿然而餒,卻甚小也。」謝氏曰:「浩然之氣,須於心得其正時識取。」又曰:「浩然是無虧欠時。」
其為氣也,配義與道;無是,餒也。
餒,奴罪反。○ 配者,合而有助之意。義者,人心之裁致。道者,天理之自然。餒,飢乏而氣不充體也。言人能養成此氣,則其氣合乎道義而為之助,使其行之勇決,無所疑憚;若無此氣,則其一時所為雖未必不出於道義,然其體有所不充,則亦不免於疑懼,而不足以有為矣。
是集義所生者,非義襲而取之也。行有不慊於心,則餒矣。我故曰,告子未嘗知義,以其外之也。
慊,口簟反,又口劫反。○ 集義,猶言積善,蓋欲事事皆合於義也。襲,掩取也,如齊侯襲莒之襲。言氣雖可以配乎道義,而其養之之始,乃由事皆合義,自反常直,是以無所愧怍,而此氣自然發生於中。非由只行一事偶合於義,便可掩襲於外而得之也。慊,快也,足也。言所行一有不合於義,而自反不直,則不足於心而其體有所不充矣。然則義豈在外哉?告子不知此理,乃曰仁內義外,而不復以義為事,則必不能集義以生浩然之氣矣。上文不得於言勿求於心,即外義之意,詳見告子上篇。
必有事焉而勿正,心勿忘,勿助長也。無若宋人然:宋人有閔其苗之不長而揠之者,芒芒然歸。謂其人曰:『今日病矣,予助苗長矣。』其子趨而往視之,苗則槁矣。天下之不助苗長者寡矣。以為無益而舍之者,不耘苗者也;助之長者,揠苗者也。非徒無益,而又害之。」
長,上聲。揠,烏八反。舍,上聲。○ 必有事焉而勿正,趙氏、程子以七字為句。近世或并下文心字讀之者亦通。必有事焉,有所事也,如有事於顓臾之有事。正,預期也。春秋傳曰「戰不正勝」,是也。如作正心義亦同。此與大學之所謂正心者,語意自不同也。此言養氣者,必以集義為事,而勿預期其效。其或未充,則但當勿忘其所有事,而不可作為以助其長,乃集義養氣之節度也。閔,憂也。揠,拔也。芒芒,無知之貌。其人,家人也。病,疲倦也。舍之不耘者,忘其所有事。揠而助之長者,正之不得,而妄有作為者也。然不耘則失養而已,揠則反以害之。無是二者,則氣得其養而無所害矣。如告子不能集義,而欲強制其心,則必不能免於正助之病。其於所謂浩然者,蓋不惟不善養,而又反害之矣。
「何謂知言?」曰:「詖辭知其所蔽,淫辭知其所陷,邪辭知其所離,遁辭知其所窮。生於其心,害於其政;發於其政,害於其事。聖人復起,必從吾言矣。」
詖,彼寄反。復,扶又反。○ 此公孫丑復問而孟子答之也。詖,偏陂也。淫,放蕩也。邪,邪僻也。遁,逃避也。四者相因,言之病也。蔽,遮隔也。陷,沈溺也。離,叛去也。窮,困屈也。四者亦相因,則心之失也。人之有言,皆本於心。其心明乎正理而無蔽,然後其言平正通達而無病;苟為不然,則必有是四者之病矣。即其言之病,而知其心之失,又知其害於政事之決然而不可易者如此。非心通於道,而無疑於天下之理,其孰能之?彼告子者,不得於言而不肯求之於心;至為義外之說,則自不免於四者之病,其何以知天下之言而無所疑哉?○ 程子曰:「心通乎道,然後能辨是非,如持權衡以較輕重,孟子所謂知言是也。」又曰:「孟子知言,正如人在堂上,方能辨堂下人曲直。若猶未免雜於堂下眾人之中,則不能辨決矣。」
「宰我、子貢善為說辭,冉牛、閔子、顏淵善言德行。孔子兼之,曰:『我於辭命則不能也。』然則夫子既聖矣乎?」
行,去聲。○ 此一節,林氏以為皆公孫丑之問是也。說辭,言語也。德行,得於心而見於行事者也。三子善言德行者,身有之,故言之親切而有味也。公孫丑言數子各有所長,而孔子兼之,然猶自謂不能於辭命。今孟子乃自謂我能知言,又善養氣,則是兼言語德行而有之,然則豈不既聖矣乎?此夫子,指孟子也。○ 程子曰:「孔子自謂不能於辭命者,欲使學者務本而已。」
曰:「惡!是何言也?昔者子貢、問於孔子曰:『夫子聖矣乎?』孔子曰:『聖則吾不能,我學不厭而教不倦也。』子貢曰:『學不厭,智也;教不倦,仁也。仁且智,夫子既聖矣!』夫聖,孔子不居,是何言也?」
惡,平聲。夫聖之夫,音扶。○ 惡,驚歎辭也。昔者以下,孟子不敢當丑之言,而引孔子、子貢問答之辭以告之也。此夫子,指孔子也。學不厭者,智之所以自明;教不倦者,仁之所以及物。再言「是何言也」,以深拒之。
「昔者竊聞之:子夏、子游、子張皆有聖人之一體,冉牛、閔子、顏淵則具體而微。敢問所安。」
此一節,林氏亦以為皆公孫丑之問,是也。一體,猶一肢也。具體而微,謂有其全體,但未廣大耳。安,處也。公孫丑復問孟子既不敢比孔子,則於此數子欲何所處也。
曰:「姑舍是。」
舍,上聲。○ 孟子言且置是者,不欲以數子所至者自處也。
曰:「伯夷、伊尹何如?」曰:「不同道。非其君不事,非其民不使;治則進,亂則退,伯夷也。何事非君,何使非民;治亦進,亂亦進,伊尹也。可以仕則仕,可以止則止,可以久則久,可以速則速,孔子也。皆古聖人也,吾未能有行焉;乃所願,則學孔子也。」
治,去聲。○ 伯夷,孤竹君之長子。兄弟遜國,避紂隱居,聞文王之德而歸之。及武王伐紂,去而餓死。伊尹,有莘之處士。湯聘而用之,使之就桀。桀不能用,復歸於湯。如是者五,乃相湯而伐桀也。三聖人事,詳見此篇之末及萬章下篇。
「伯夷、伊尹於孔子,若是班乎?」曰:「否。自有生民以來,未有孔子也。」
班,齊等之貌。公孫丑問,而孟子答之以不同也。
曰:「然則有同與?」曰:「有。得百里之地而君之,皆能以朝諸侯有天下。行一不義、殺一不辜而得天下,皆不為也。是則同。」
與,平聲。朝,音潮。○ 有,言有同也。以百里而王天下,德之盛也。行一不義、殺一不辜而得天下有所不為,心之正也。聖人之所以為聖人,其本根節目之大者,惟在於此。於此不同,則亦不足以為聖人矣。
曰:「敢問其所以異?」曰:「宰我、子貢、有若智足以知聖人。汙,不至阿其所好。
汙,音蛙。好,去聲。○ 汙,下也。三子智足以知夫子之道。假使汙下,必不阿私所好而空譽之,明其言之可信也。
宰我曰:『以予觀於夫子,賢於堯舜遠矣。』
程子曰:「語聖則不異,事功則有異。夫子賢於堯舜,語事功也。蓋堯舜治天下,夫子又推其道以垂教萬世。堯舜之道,非得孔子,則後世亦何所據哉?」
子貢曰:『見其禮而知其政,聞其樂而知其德。由百世之後,等百世之王,莫之能違也。自生民以來,未有夫子也。』
言大凡見人之禮,則可以知其政;聞人之樂,則可以知其德。是以我從百世之後,差等百世之王,無有能遁其情者,而見其皆莫若夫子之盛也。
有若曰:『豈惟民哉?麒麟之於走獸,鳳凰之於飛鳥,太山之於丘垤,河海之於行潦,類也。聖人之於民,亦類也。出於其類,拔乎其萃,自生民以來,未有盛於孔子也。』」
垤,大結反。潦,音老。○ 麒麟,毛蟲之長。鳳凰,羽蟲之長。垤,蟻封也。行潦,道上無源之水也。出,高出也。拔,特起也。萃,聚也。言自古聖人,固皆異於眾人,然未有如孔子之尤盛者也。○ 程子曰:「孟子此章,擴前聖所未發,學者所宜潛心而玩索也。」
○ 孟子曰:「以力假仁者霸,霸必有大國,以德行仁者王,王不待大。湯以七十里,文王以百里。
力,謂土地甲兵之力。假仁者,本無是心,而借其事以為功者也。霸,若齊桓晉文是也。以德行仁,則自吾之得於心者推之,無適而非仁也。
以力服人者,非心服也,力不贍也;以德服人者,中心悅而誠服也,如七十子之服孔子也。詩云:『自西自東,自南自北,無思不服。』此之謂也。」
贍,足也。詩大雅文王有聲之篇。王霸之心,誠偽不同。故人所以應之者,其不同亦如此。○ 鄒氏曰:「以力服人者,有意於服人,而人不敢不服;以德服人者,無意於服人,而人不能不服。從古以來,論王霸者多矣,未有若此章之深切而著明也。」
孟子曰:「仁則榮,不仁則辱。今惡辱而居不仁,是猶惡濕而居下也。
惡,去聲,下同。○ 好榮惡辱,人之常情。然徒惡之而不去其得之之道,不能免也。
如惡之,莫如貴德而尊士,賢者在位,能者在職。國家閒暇,及是時明其政刑。雖大國,必畏之矣。
閒,音閑。○ 此因其惡辱之情,而進之以強仁之事也。貴德,猶尚德也。士,則指其人而言之。賢,有德者,使之在位,則足以正君而善俗。能,有才者,使之在職,則足以修政而立事。國家閒暇,可以有為之時也。詳味及字,則惟日不足之意可見矣。
詩云:『迨天之未陰雨,徹彼桑土,綢繆牖戶。今此下民,或敢侮予?』孔子曰:『為此詩者,其知道乎!能治其國家,誰敢侮之?』
徹,直列反。土,音杜。綢,音稠。繆,武彪反。○ 詩豳風鴟鴞之篇,周公之所作也。迨,及也。徹,取也。桑土,桑根之皮也。綢繆,纏綿補葺也。牖戶,巢之通氣出入處也。予,鳥自謂也。言我之備患詳密如此,今此在下之人,或敢有侮予者乎?周公以鳥之為巢如此,比君之為國,亦當思患而預防之。孔子讀而贊之,以為知道也。
今國家閒暇,及是時般樂怠敖,是自求禍也。
般、音盤。樂,音洛。敖,音傲。○ 言其縱欲偷安,亦惟日不足也。
禍褔無不自己求之者。
結上文之意。
詩云:『永言配命,自求多褔。』太甲曰:『天作孽,猶可違;自作孽,不可活。』此之謂也。」
孽,魚列反。○ 詩大雅文王之篇。永,長也。言,猶念也。配,合也。命,天命也。此言褔之自己求者。太甲,商書篇名。孽,禍也。違,避也。活,生也,書作逭。逭,猶緩也。此言禍之自己求者。
○ 孟子曰:「尊賢使能,俊傑在位,則天下之士皆悅而願立於其朝矣。
朝,音潮。○ 俊傑,才德之異於眾者。
市廛而不征,法而不廛,則天下之商皆悅而願藏於其市矣。
廛,市宅也。張子曰:「或賦其市地之廛,而不征其貨;或治之以市官之法,而不賦其廛。蓋逐末者多則廛以抑之,少則不必廛也。」
關譏而不征,則天下之旅皆悅而願出於其路矣。
解見前篇。
耕者助而不稅,則天下之農皆悅而願耕於其野矣。
但使出力以助耕公田,而不稅其私田也。
廛無夫裡之布,則天下之民皆悅而願為之氓矣。
氓,音盲。○ 周禮:「宅不毛者有里布,民無職事者,出夫家之征。」鄭氏謂:「宅不種桑麻者,罰之使出一里二十五家之布;民無常業者,罰之使出一夫百畝之稅,一家力役之征也。」今戰國時,一切取之。市宅之民,已賦其廛,又令出此夫里之布,非先王之法也。氓,民也。
信能行此五者,則鄰國之民仰之若父母矣。率其子弟,攻其父母,自生民以來,未有能濟者也。如此,則無敵於天下。無敵於天下者,天吏也。然而不王者,未之有也。」
呂氏曰:「奉行天命,謂之天吏。廢興存亡,惟天所命,不敢不從,若湯武是也。」○ 此章言能行王政,則寇戎為父子;不行王政,則赤子為仇讎。
孟子曰:「人皆有不忍人之心。
天地以生物為心,而所生之物因各得夫天地生物之心以為心,所以人皆有不忍人之心也。
先王有不忍人之心,斯有不忍人之政矣。以不忍人之心,行不忍人之政,治天下可運之掌上。
言眾人雖有不忍人之心,然物欲害之,存焉者寡,故不能察識而推之政事之閒;惟聖人全體此心,隨感而應,故其所行無非不忍人之政也。
所以謂人皆有不忍人之心者,今人乍見孺子將入於井,皆有怵惕惻隱之心。非所以內交於孺子之父母也,非所以要譽於鄉黨朋友也,非惡其聲而然也。
怵,音黜。內,讀為納。要,平聲。惡,去聲,下同。○ 乍,猶忽也。怵惕,驚動貌。惻,傷之切也。隱,痛之深也。此即所謂不忍人之心也。內,結。要,求。聲,名也。言乍見之時,便有此心,隨見而發,非由此三者而然也。程子曰:「滿腔子是惻隱之心。」謝氏曰:「人須是識其真心。方乍見孺子入井之時,其心怵惕,乃真心也。非思而得,非勉而中,天理之自然也。內交、要譽、惡其聲而然,即人欲之私矣。」
由是觀之,無惻隱之心,非人也;無羞惡之心,非人也;無辭讓之心,非人也;無是非之心,非人也。
惡,去聲,下同。○ 羞,恥己之不善也。惡,憎人之不善也。辭,解使去己也。讓,推以與人也。是,知其善而以為是也。非,知其惡而以為非也。人之所以為心,不外乎是四者,故因論惻隱而悉數之。言人若無此,則不得謂之人,所以明其必有也。
惻隱之心,仁之端也;羞惡之心,義之端也;辭讓之心,禮之端也;是非之心,智之端也。
惻隱、羞惡、辭讓、是非,情也。仁、義、禮、智,性也。心,統性情者也。端,緒也。因其情之發,而性之本然可得而見,猶有物在中而緒見於外也。
人之有是四端也,猶其有四體也。有是四端而自謂不能者,自賊者也;謂其君不能者,賊其君者也。
四體,四支,人之所必有者也。自謂不能者,物欲蔽之耳。
凡有四端於我者,知皆擴而充之矣,若火之始然,泉之始達。苟能充之,足以保四海;苟不充之,不足以事父母。」
擴,音廓。○ 擴,推廣之意。充,滿也。四端在我,隨處發見。知皆即此推廣,而充滿其本然之量,則其日新又新,將有不能自已者矣。能由此而遂充之,則四海雖遠,亦吾度內,無難保者;不能充之,則雖事之至近而不能矣。○ 此章所論人之性情,心之體用,本然全具,而各有條理如此。學者於此,反求默識而擴充之,則天之所以與我者,可以無不盡矣。○ 程子曰:「人皆有是心,惟君子為能擴而充之。不能然者,皆自棄也。然其充與不充,亦在我而已矣。」又曰:「四端不言信者,既有誠心為四端,則信在其中矣。」愚按:四端之信,猶五行之土。無定位,無成名,無專氣。而水、火、金、木,無不待是以生者。故土於四行無不在,於四時則寄王焉,其理亦猶是也。
孟子曰:「矢人豈不仁於函人哉?矢人唯恐不傷人,函人唯恐傷人。巫匠亦然,故術不可不慎也。
函,音含。○ 函,甲也。惻隱之心人皆有之,是矢人之心,本非不如函人之仁也。巫者為人祈祝,利人之生。匠者作為棺椁,利人之死。
孔子曰:『里仁為美。擇不處仁,焉得智?』夫仁,天之尊爵也,人之安宅也。莫之禦而不仁,是不智也。
焉,於虔反。夫,音扶。○ 里有仁厚之俗者,猶以為美。人擇所以自處而不於仁,安得為智乎?此孔子之言也。仁、義、禮、智,皆天所與之良貴。而仁者天地生物之心,得之最先,而兼統四者,所謂元者善之長也,故曰尊爵。在人則為本心全體之德,有天理自然之安,無人欲陷溺之危。人當常在其中,而不可須臾離者也,故曰安宅。此又孟子釋孔子之意,以為仁道之大如此,而自不為之,豈非不智之甚乎?
不仁、不智、無禮、無義,人役也。人役而恥為役,由弓人而恥為弓,矢人而恥為矢也。
由,與猶通。○ 以不仁故不智,不智故不知禮義之所在。
如恥之,莫如為仁。
此亦因人愧恥之心,而引之使志於仁也。不言智、禮、義者,仁該全體。能為仁,則三者在其中矣。
仁者如射,射者正己而後發。發而不中,不怨勝己者,反求諸己而已矣。」
中,去聲。○ 為仁由己,而由人乎哉?
○ 孟子曰:「子路,人告之以有過則喜。
喜其得聞而改之,其勇於自修如此。周子曰:「仲由喜聞過,令名無窮焉。今人有過,不喜人規,如諱疾而忌醫,寧滅其身而無悟也。噫!」程子曰:「子路,人告之以有過則喜,亦可謂百世之師矣。」
禹聞善言則拜。
書曰:「禹拜昌言。」蓋不待有過,而能屈己以受天下之善也。
大舜有大焉,善與人同。舍己從人,樂取於人以為善。
舍,上聲。樂,音洛。○ 言舜之所為,又有大於禹與子路者。善與人同,公天下之善而不為私也。己未善,則無所繫吝而舍以從人;人有善,則不待勉強而取之於己,此善與人同之目也。
自耕、稼、陶、漁以至為帝,無非取於人者。
舜之側微,耕于歷山,陶于河濱,漁于雷澤。
取諸人以為善,是與人為善者也。故君子莫大乎與人為善。」
與,猶許也,助也。取彼之善而為之於我,則彼益勸於為善矣,是我助其為善也。能使天下之人皆勸於為善,君子之善,孰大於此。○ 此章言聖賢樂善之誠,初無彼此之閒。故其在人者有以裕於己,在己者有以及於人。
○ 孟子曰:「伯夷,非其君不事,非其友不友。不立於惡人之朝,不與惡人言。立於惡人之朝,與惡人言,如以朝衣朝冠坐於塗炭。推惡惡之心,思與鄉人立,其冠不正,望望然去之,若將浼焉。是故諸侯雖有善其辭命而至者,不受也。不受也者,是亦不屑就已。
朝,音潮。惡惡,上去聲,下如字。浼,莫罪反。○ 塗,泥也。鄉人,鄉里之常人也。望望,去而不顧之貌。浼,汙也。屑,趙氏曰:「潔也。」說文曰:「動作切切也。」不屑就,言不以就之為潔,而切切於是也。已,語助辭。
柳下惠,不羞汙君,不卑小官。進不隱賢,必以其道。遺佚而不怨,阨窮而不憫。故曰:『爾為爾,我為我,雖袒裼裸裎於我側,爾焉能浼我哉?』故由由然與之偕而不自失焉,援而止之而止。援而止之而止者,是亦不屑去已。」
佚,音逸。袒,音但。裼,音錫。裸,魯果反。裎,音程。焉能之焉,於虔反。○ 柳下惠,魯大夫展禽,居柳下而謚惠也。不隱賢,不枉道也。遺佚,放棄也。阨,困也。憫,憂也。爾為爾至焉能浼我哉,惠之言也。袒裼,露臂也。裸裎,露身也。由由,自得之貌。偕,並處也。不自失,不失其止也。援而止之而止者,言欲去而可留也。
孟子曰:「伯夷隘,柳下惠不恭。隘與不恭,君子不由也。」
隘,狹窄也。不恭,簡慢也。夷、惠之行,固皆造乎至極之地。然既有所偏,則不能無弊,故不可由也。
公孫丑章句下
  111111111111
貢獻者:詹如校對/整理
公孫丑章句下
凡十四章。自第二章以下,記孟子出處行實為詳。
○ 孟子曰:「天時不如地利,地利不如人和。
天時,謂時日支干、孤虛、王相之屬也。地利,險阻、城池之固也。人和,得民心之和也。
三里之城,七里之郭,環而攻之而不勝。夫環而攻之,必有得天時者矣;然而不勝者,是天時不如地利也。
夫,音扶。○ 三里七里,城郭之小者。郭,外城。環,圍也。言四面攻圍,曠日持久,必有值天時之善者。
城非不高也,池非不深也,兵革非不堅利也,米粟非不多也;委而去之,是地利不如人和也。
革,甲也。粟,榖也。委,棄也。言不得民心,民不為守也。
故曰:域民不以封疆之界,固國不以山谿之險,威天下不以兵革之利。得道者多助,失道者寡助。寡助之至,親戚畔之;多助之至,天下順之。
域,界限也。
以天下之所順,攻親戚之所畔;故君子有不戰,戰必勝矣。」
言不戰則已,戰則必勝。○ 尹氏曰:「言得天下者,凡以得民心而已。」
○ 孟子將朝王,王使人來曰:「寡人如就見者也,有寒疾,不可以風。朝將視朝,不識可使寡人得見乎?」對曰:「不幸而有疾,不能造朝。」
章內朝,並音潮,惟朝將之朝,如字。造,七到反,下同。○ 王,齊王也。孟子本將朝王,王不知而託疾以召孟子,故孟子亦以疾辭也。
明日出弔於東郭氏。公孫丑曰:「昔者辭以病,今日弔,或者不可乎?」曰:「昔者疾,今日愈,如之何不弔?」
東郭氏,齊大夫家也。昔者,昨日也。或者,疑辭。辭疾而出弔,與孔子不見孺悲取瑟而歌同意。
王使人問疾,醫來。孟仲子對曰:「昔者有王命,有采薪之憂,不能造朝。今病小愈,趨造於朝,我不識能至否乎?」使數人要於路,曰:「請必無歸,而造於朝!」
要,平聲。○ 孟仲子,趙氏以為孟子之從昆弟,學於孟子者也。采薪之憂,言病不能采薪,謙辭也。仲子權辭以對,又使人要孟子令勿歸而造朝,以實己言。
不得已而之景丑氏宿焉。景子曰:「內則父子,外則君臣,人之大倫也。父子主恩,君臣主敬。丑見王之敬子也,未見所以敬王也。」曰:「惡!是何言也!齊人無以仁義與王言者,豈以仁義為不美也?其心曰『是何足與言仁義也』云爾,則不敬莫大乎是。我非堯舜之道,不敢以陳於王前,故齊人莫如我敬王也。」
惡,平聲,下同。○ 景丑氏,齊大夫家也。景子,景丑也。惡,歎辭也。景丑所言,敬之小者也;孟子所言,敬之大者也。
景子曰:「否,非此之謂也。禮曰:『父召,無諾;君命召,不俟駕。』固將朝也,聞王命而遂不果,宜與夫禮若不相似然。」
夫,音扶,下同。○ 禮曰:「父命呼,唯而不諾。」又曰:「君命召,在官不俟屨,在外不俟車。」言孟子本欲朝王,而聞命中止,似與此禮之意不同也。
曰:「豈謂是與?曾子曰:『晉楚之富,不可及也。彼以其富,我以吾仁;彼以其爵,我以吾義,吾何慊乎哉?』夫豈不義而曾子言之?是或一道也。天下有達尊三:爵一,齒一,德一。朝廷莫如爵,鄉黨莫如齒,輔世長民莫如德。惡得有其一,以慢其二哉?
與,平聲。慊,口簟反。長,上聲。○ 慊,恨也,少也。或作嗛,字書以為口銜物也。然則慊亦但為心有所銜之義,其為快、為足、為恨、為少,則因其事而所銜有不同耳。孟子言我之意,非如景子之所言者。因引曾子之言,而云夫此豈是不義,而曾子肯以為言,是或別有一種道理也。達,通也。蓋通天下之所尊,有此三者。曾子之說,蓋以德言之也。今齊王但有爵耳,安得以此慢於齒德乎?
故將大有為之君,必有所不召之臣。欲有謀焉,則就之。其尊德樂道,不如是不足與有為也。
樂,音洛。○ 大有為之君,大有作為,非常之君也。程子曰:「古之人所以必待人君致敬盡禮而後往者,非欲自為尊大也,為是故耳。」
故湯之於伊尹,學焉而後臣之,故不勞而王;桓公之於管仲,學焉而後臣之,故不勞而霸。
先從受學,師之也。後以為臣,任之也。
今天下地醜德齊,莫能相尚。無他,好臣其所教,而不好臣其所受教。
好,去聲。○ 醜,類也。尚,過也。所教,謂聽從於己,可役使者也。所受教,謂己之所從學者也。
湯之於伊尹,桓公之於管仲,則不敢召。管仲且猶不可召,而況不為管仲者乎?」
不為管仲,孟子自謂也。范氏曰「孟子之於齊,處賓師之位,非當仕有官職者,故其言如此。」○ 此章見賓師不以趨走承順為恭,而以責難陳善為敬;人君不以崇高富貴為重,而以貴德尊士為賢,則上下交而德業成矣。
○ 陳臻問曰:「前日於齊,王饋兼金一百而不受;於宋,饋七十鎰而受;於薛,饋五十鎰而受。前日之不受是,則今日之受非也;今日之受是,則前日之不受非也。夫子必居一於此矣。」
陳臻,孟子弟子。兼金,好金也,其價兼倍於常者。一百,百鎰也。
孟子曰:「皆是也。
皆適於義也。
當在宋也,予將有遠行。行者必以贐,辭曰:『饋贐。』予何為不受?

Lun yu collection _ The Confucianism Representation Speeches Books 論語序說

論語序說

Lun yu collection

論語序說

The Confucianism Representation Speeches Books

論語序說
朱熹四書集注:論語集注
Lunyu collection 

論語序說
朱熹四書集注:論語集注
Lunyu collection 

The Confucianism Representation Speeches Books

論語序說
朱熹四書集注:論語集注
論語序說
《史記》世家曰:「孔子名丘,字仲尼,其先宋人,父叔梁紇,母顔氏,以魯襄公二十二年,庚戌之歲,十一月庚子,生孔子於魯昌平鄉陬邑。爲兒嬉戲,常陳俎豆,設禮容。及長,爲委吏,料量平。(委吏本作季氏。史索隱云:一本作委吏,與孟子合,今從之)爲司職吏,畜蕃息。(職見周禮牛人,讀為樴,義與杙同。蓋繫養犧牲之所。此官即孟子所謂來田)適周,問禮於老子,既反,而弟子益進。
昭公二十五年甲申,孔子年三十五,而昭公奔齊,魯亂,於是適齊,爲高昭子家臣,以通乎景公。(有聞韶問政二事)公欲封以尼谿之田,晏嬰不可,公惑之。(有季蓋吾老之語)孔子遂行,反乎魯。
定公元年壬辰,孔子年四十三,而季氏強僭,其臣陽虎作亂專政。故孔子不仕,而退脩詩、書、禮、樂,弟子彌衆。
九年庚子,孔子年五十一。公山不狃以費畔季氏,召,孔子欲往,而卒不行。(有答子路東周語)定公以孔子爲中都宰,一年,四方則之,遂爲司空,又爲大司寇。
十年辛醜,相定公會齊侯於夾谷,齊人歸魯侵地。
十二年癸卯,使仲由爲季氏宰,墮三都,收其甲兵。孟氏不肯墮成,圍之不克。
十四年乙巳,孔子年五十六,攝行相事,誅少正卯,與聞國政。三月,魯國大治。齊人歸女樂以沮之,季桓子受之。郊又不致膰俎於大夫,孔子行。(魯世家以此以上皆為十二年事)
適衛,主於子路妻兄顔濁鄒家。(孟子作顏讐由)適陳,過匡,匡人以爲陽虎而拘之。(有顏淵後及文王既沒之語)既解,還衛,主蘧伯玉家,見南子。(有天子路及未見好德之語)去適宋,司馬桓魋欲殺之。(有天生德語,及微服過宋事)又去,適陳,主司城貞子家。居三歲而反于衛,靈公不能用。(有三年有成之語)晉趙氏家臣佛肸以中牟畔,召孔子,孔子欲往,亦不果。(有答子路堅白語,及荷蕢過門事)將西見趙簡子,至河而反,又主蘧伯玉家。靈公問陳,不對而行,復如陳。(據論語則絕糧當在此時)
季桓子卒,遺言謂康子必召孔子,其臣止之,康子乃召冉求。(史記以論語歸與之嘆為在此時,又以孟子所記,歎辭為主司城貞子時語,疑不然,蓋語孟所記,本皆此一時語,而所記有異同耳)孔子如蔡及葉。(有葉公問答子路不對沮溺耦耕荷條丈人等事。史記云:於是楚昭王使人聘孔子,孔子將往拜禮,而陳蔡大夫發徒圍之故,孔子絕糧於陳蔡之間,有慍見及告子貢一貫之語。按:是時陳蔡臣服於楚,若楚王來聘孔子,陳蔡大夫安敢圍之?且據論語,絕糧當在去魏如陳之時。)楚昭王將以書社地封孔子,令尹子西不可,乃止。(史記云:書社地七百里。恐無此理。時則有接輿之歌。)又反乎衛,時靈公已卒,衛君輒欲得孔子爲政。(有魯衛兄弟及答子貢夷齊子路正名之語)而冉求爲季氏將,與齊戰有功,康子乃召孔子,而孔子歸魯,實哀公之十一年丁巳,而孔子年六十八矣。(有對哀公及康子語)然魯終不能用孔子,孔子亦不求仕,乃敘書傳禮記。(有杞宋損益從周等語)刪詩正樂,(有語大師及樂正之語)序易彖、繫、象、說卦、文言。(有假我數年之語)弟子蓋三千焉,身通六藝者七十二人。(弟子顏回最賢,蚤死後唯曾參得傳孔子之道)
十四年庚申,魯西狩獲麟,(有莫我知之歎)孔子作春秋。(有知我罪我等語。論語請討陳恒事亦在是年)明年辛酉,子路死於衛。
十六年壬戌、四月己丑,孔子卒,年七十三,葬魯城北泗上。弟子皆服心喪三年而去,惟子貢廬於塚上,凡六年。孔子生鯉,字伯魚,先卒。伯魚生伋,字子思,作中庸。」(子思學於曾子而孟子受業子思之門人)
何氏曰:「魯論語二十篇。齊論語別有問王、知道,凡二十二篇,其二十篇中章句,頗多於魯論。古論出孔氏壁中,分堯曰下章,子張問以爲一篇,有兩子張,凡二十一篇,篇次不與齊魯論同。」
程子曰:「論語之書,成於有子曾子之門人,故其書獨二子以子稱。」
程子曰:「讀論語:有讀了全然無事者,有讀了後其中得一兩句喜者,有讀了後知好之者,有讀了後直有不知手之舞之、足之蹈之者。」
程子曰:「今人不會讀書。如讀論語,未讀時是此等人,讀了後又只是此等人,便是不曾讀。」
程子曰:「頤自十七八讀論語,當時已曉文義。讀之愈久,但覺意味深長。」
學而第一
論語卷一     宋 朱子 集註
學而第一
此為書之首篇,故所記多務本之意,乃入道之門,積德之基,學者之先務也。凡十六章。
○ 子曰:「學而時習之,不亦說乎? 
說、悅同。○ 學之為言效也。人性皆善,而覺有先後,後覺者必效先覺之所為,乃可以明善而復其初也。習,鳥數飛也。學之不已,如鳥數飛也。說,喜意也。既學而又時時習之,則所學者熟,而中心喜說,其進自不能已矣。程子曰「習,重習也。時復思繹,浹洽於中,則說也。」又曰:「學者,將以行之也。時習之,則所學者在我,故說。」謝氏曰:「時習者,無時而不習。坐如尸,坐時習也;立如齊,立時習也。」
有朋自遠方來,不亦樂乎? 
樂,音洛。○ 朋,同類也。自遠方來,則近者可知。程子曰:「以善及人,而信從者眾,故可樂。」又曰:「說在心,樂主發散在外。」
人不知而不慍,不亦君子乎?」 
慍,紆問反。○ 慍,含怒意。君子,成德之名。尹氏曰:「學在己,知不知在人,何慍之有。」程子曰:「雖樂於及人,不見是而無悶,乃所謂君子。」愚謂及人而樂者順而易,不知而不慍者逆而難,故惟成德者能之。然德之所以成,亦曰學之正、習之熟、說之深,而不已焉耳。程子曰:「樂由說而後得,非樂不足以語君子。」 
○ 有子曰:「其為人也孝弟,而好犯上者,鮮矣;不好犯上,而好作亂者,未之有也。 
弟、好,皆去聲。鮮,上聲,下同。○ 有子,孔子弟子,名若。善事父母為孝,善事兄長為弟。犯上,謂干犯在上之人。鮮,少也。作亂,則為悖逆爭鬬之事矣。此言人能孝弟,則其心和順,少好犯上,必不好作亂也。
君子務本,本立而道生。孝弟也者,其為仁之本與!」 
與,平聲。○ 務,專力也。本,猶根也。仁者,愛之理,心之德也。為仁,猶曰行仁。與者,疑辭,謙退不敢質言也。言君子凡事專用力於根本,根本既立,則其道自生。若上文所謂孝弟,乃是為仁之本,學者務此,則仁道自此而生也。○ 程子曰:「孝弟,順德也,故不好犯上,豈復有逆理亂常之事。德有本,本立則其道充大。孝弟行於家,而後仁愛及於物,所謂親親而仁民也。故為仁以孝弟為本。論性,則以仁為孝弟之本。」或問:「孝弟為仁之本,此是由孝弟可以至仁否?」曰:「非也。謂行仁自孝弟始,孝弟是仁之一事。謂之行仁之本則可,謂是仁之本則不可。蓋仁是性也,孝弟是用也,性中只有箇仁、義、禮、智四者而已,曷嘗有孝弟來。然仁主於愛,愛莫大於愛親,故曰孝弟也者,其為仁之本與!」
○ 子曰:「巧言令色,鮮矣仁!」 
巧,好。令,善也。好其言,善其色,致飾於外,務以悅人,則人欲肆而本心之德亡矣。聖人辭不迫切,專言鮮,則絕無可知,學者所當深戒也。○ 程子曰:「知巧言令色之非仁,則知仁矣。」
○ 曾子曰:「吾日三省吾身:為人謀而不忠乎?與朋友交而不信乎?傳不習乎?」 
省,悉井反。為,去聲。傳,平聲。○ 曾子,孔子弟子,名參,字子輿。盡己之謂忠。以實之謂信。傳,謂受之於師。習,謂熟之於己。曾子以此三者日省其身,有則改之,無則加勉,其自治誠切如此,可謂得為學之本矣。而三者之序,則又以忠信為傳習之本也。○ 尹氏曰:「曾子守約,故動必求諸身。」謝氏曰:「諸子之學,皆出於聖人,其後愈遠而愈失其真。獨曾子之學,專用心於內,故傳之無弊,觀於子思孟子可見矣。惜乎!其嘉言善行,不盡傳於世也。其倖存而未泯者,學者其可不盡心乎!」
○ 子曰:「道千乘之國:敬事而信,節用而愛人,使民以時。」 
道、乘,皆去聲。○ 道,治也。千乘,諸侯之國,其地可出兵車千乘者也。敬者,主一無適之謂。敬事而信者,敬其事而信於民也。時,謂農隙之時。言治國之要,在此五者,亦務本之意也。○ 程子曰:「此言至淺,然當時諸侯果能此,亦足以治其國矣。聖人言雖至近,上下皆通。此三言者,若推其極,堯舜之治亦不過此。若常人之言近,則淺近而已矣。」楊氏曰:「上不敬則下慢,不信則下疑,下慢而疑,事不立矣。敬事而信,以身先之也。易曰:『節以制度,不傷財,不害民。』蓋侈用則傷財,傷財必至於害民,故愛民必先於節用。然使之不以其時,則力本者不獲自盡,雖有愛人之心,而人不被其澤矣。然此特論其所存而已,未及為政也。苟無是心,則雖有政,不行焉。」胡氏曰:「凡此數者,又皆以敬為主。」愚謂五者反復相因,各有次第,讀者宜細推之。
○ 子曰:「弟子入則孝,出則弟,謹而信,泛愛眾,而親仁。行有餘力,則以學文。」 
弟子之弟,上聲。則弟之弟,去聲。○ 謹者,行之有常也。信者,言之有實也。泛,廣也。眾,謂眾人。親,近也。仁,謂仁者。餘力,猶言暇日。以,用也。文,謂詩書六藝之文。○ 程子曰:「為弟子之職,力有餘則學文,不修其職而先文,非為己之學也。」尹氏曰:「德行,本也。文藝,末也。窮其本末,知所先後,可以入德矣。」洪氏曰:「未有餘力而學文,則文滅其質;有餘力而不學文,則質勝而野。」愚謂力行而不學文,則無以考聖賢之成法,識事理之當然,而所行或出於私意,非但失之於野而已。
○ 子夏曰:「賢賢易色,事父母能竭其力,事君能致其身,與朋友交言而有信。雖曰未學,吾必謂之學矣。」 
子夏,孔子弟子,姓卜,名商。賢人之賢,而易其好色之心,好善有誠也。致,猶委也。委致其身,謂不有其身也。四者皆人倫之大者,而行之必盡其誠,學求如是而已。故子夏言有能如是之人,苟非生質之美,必其務學之至。雖或以為未嘗為學,我必謂之已學也。○ 游氏曰:「三代之學,皆所以明人倫也。能是四者,則於人倫厚矣。學之為道,何以加此。子夏以文學名,而其言如此,則古人之所謂學者可知矣。故學而一篇,大抵皆在於務本。」吳氏曰:「子夏之言,其意善矣。然辭氣之間,抑揚太過,其流之弊,將或至於廢學。必若上章夫子之言,然後為無弊也。」
○ 子曰:「君子不重則不威,學則不固。 
重,厚重。威,威嚴。固,堅固也。輕乎外者,必不能堅乎內,故不厚重則無威嚴,而所學亦不堅固也。
主忠信。 
人不忠信,則事皆無實,為惡則易,為善則難,故學者必以是為主焉。程子曰:「人道惟在忠信,不誠則無物,且出入無時,莫知其鄉者,人心也。若無忠信,豈復有物乎?」
無友不如己者。 
無、毋通,禁止辭也。友所以輔仁,不如己,則無益而有損。
過則勿憚改。」 
勿,亦禁止之辭。憚,畏難也。自治不勇,則惡日長,故有過則當速改,不可畏難而苟安也。程子曰:「學問之道無他也,知其不善,則速改以從善而已。」○ 程子曰:「君子自修之道當如是也。」游氏曰:「君子之道,以威重為質,而學以成之。學之道,必以忠信為主,而以勝己者輔之。然或吝於改過,則終無以入德,而賢者亦未必樂告以善道,故以過勿憚改終焉。」
○ 曾子曰:「慎終追遠,民德歸厚矣。」 
慎終者,喪盡其禮。追遠者,祭盡其誠。民德歸厚,謂下民化之,其德亦歸於厚。蓋終者,人之所易忽也,而能謹之;遠者,人之所易忘也,而能追之:厚之道也。故以此自為,則己之德厚,下民化之,則其德亦歸於厚也。
○ 子禽問於子貢曰:「夫子至於是邦也,必聞其政,求之與?抑與之與?」 
之與之與,平聲,下同。○ 子禽,姓陳,名亢。子貢,姓端木,名賜。皆孔子弟子。或曰:「亢,子貢弟子。」未知孰是。抑,反語辭。
子貢曰:「夫子溫、良、恭、儉、讓以得之。夫子之求之也,其諸異乎人之求之與?」 
溫,和厚也。良,易直也。恭,莊敬也。儉,節制也。讓,謙遜也。五者,夫子之盛德光輝接於人者也。其諸,語辭也。人,他人也。言夫子未嘗求之,但其德容如是,故時君敬信,自以其政就而問之耳,非若他人必求之而後得也。聖人過化存神之妙,未易窺測,然即此而觀,則其德盛禮恭而不願乎外,亦可見矣。學者所當潛心而勉學也。○ 謝氏曰:「學者觀於聖人威儀之間,亦可以進德矣。若子貢亦可謂善觀聖人矣,亦可謂善言德行矣。今去聖人千五百年,以此五者想見其形容,尚能使人興起,而況於親炙之者乎?」張敬夫曰:「夫子至是邦必聞其政,而未有能委國而授之以政者。蓋見聖人之儀刑而樂告之者,秉彝好德之良心也,而私欲害之,是以終不能用耳。」
○ 子曰:「父在,觀其志;父沒,觀其行;三年無改於父之道,可謂孝矣。」 
行,去聲。○ 父在,子不得自專,而志則可知。父沒,然後其行可見。故觀此足以知其人之善惡,然又必能三年無改於父之道,乃見其孝,不然,則所行雖善,亦不得為孝矣。○ 尹氏曰:「如其道,雖終身無改可也。如其非道,何待三年。然則三年無改者,孝子之心有所不忍故也。」游氏曰:「三年無改,亦謂在所當改而可以未改者耳。」
○ 有子曰:「禮之用,和為貴。先王之道斯為美,小大由之。 
禮者,天理之節文,人事之儀則也。和者,從容不迫之意。蓋禮之為體雖嚴,而皆出於自然之理,故其為用,必從容而不迫,乃為可貴。先王之道,此其所以為美,而小事大事無不由之也。
有所不行,知和而和,不以禮節之,亦不可行也。」 
承上文而言,如此而復有所不行者,以其徒知和之為貴而一於和,不復以禮節之,則亦非復理之本然矣,所以流蕩忘反,而亦不可行也。○ 程子曰:「禮勝則離,故禮之用和為貴。先王之道以斯為美,而小大由之。樂勝則流,故有所不行者,知和而和,不以禮節之,亦不可行。」范氏曰:「凡禮之體主於敬,而其用則以和為貴。敬者,禮之所以立也;和者,樂之所由生也。若有子可謂達禮樂之本矣。」愚謂嚴而泰,和而節,此理之自然,禮之全體也。毫釐有差,則失其中正,而各倚於一偏,其不可行均矣。
○ 有子曰:「信近於義,言可復也;恭近於禮,遠恥辱也;因不失其親,亦可宗也。」 
近、遠,皆去聲。○ 信,約信也。義者,事之宜也。復,踐言也。恭,致敬也。禮,節文也。因,猶依也。宗,猶主也。言約信而合其宜,則言必可踐矣。致恭而中其節,則能遠恥辱矣。所依者不失其可親之人,則亦可以宗而主之矣。此言人之言行交際,皆當謹之於始而慮其所終,不然,則因仍苟且之間,將有不勝其自失之悔者矣。
○ 子曰:「君子食無求飽,居無求安,敏於事而慎於言,就有道而正焉,可謂好學也已。」 
好,去聲。○ 不求安飽者,志有在而不暇及也。敏於事者,勉其所不足。慎於言者,不敢盡其所有餘也。然猶不敢自是,而必就有道之人,以正其是非,則可謂好學矣。凡言道者,皆謂事物當然之理,人之所共由者也。○ 尹氏曰:「君子之學,能是四者,可謂篤志力行者矣。然不取正於有道,未免有差,如楊墨學仁義而差者也,其流至於無父無君,謂之好學可乎?」
○ 子貢曰:「貧而無諂,富而無驕,何如?」子曰:「可也。未若貧而樂,富而好禮者也。」 
樂,音洛。好,去聲。○ 諂,卑屈也。驕,矜肆也。常人溺於貧富之中,而不知所以自守,故必有二者之病。無諂無驕,則知自守矣,而未能超乎貧富之外也。凡曰可者,僅可而有所未盡之辭也。樂則心廣體胖而忘其貧,好禮則安處善,樂循理,亦不自知其富矣。子貢貨殖,蓋先貧後富,而嘗用力於自守者,故以此為問。而夫子答之如此,蓋許其所已能,而勉其所未至也。
子貢曰:「詩云:『如切如磋,如琢如磨。』其斯之謂與?」 
磋,七多反。與,平聲。○ 詩衛風淇澳之篇,言治骨角者,既切之而復磋之;治玉石者,既琢之而復磨之;治之已精,而益求其精也。子貢自以無諂無驕為至矣,聞夫子之言,又知義理之無窮,雖有得焉,而未可遽自足也,故引是詩以明之。
子曰:「賜也,始可與言詩已矣!告諸往而知來者。」 
往者,其所已言者。來者,其所未言者。○ 愚按:此章問答,其淺深高下,固不待辨說而明矣。然不切則磋無所施,不琢則磨無所措。故學者雖不可安於小成,而不求造道之極致;亦不可騖於虛遠,而不察切己之實病也。
○ 子曰:「不患人之不己知,患不知人也。」 
尹氏曰:「君子求在我者,故不患人之不己知。不知人,則是非邪正或不能辨,故以為患也。」  
為政第二
為政第二
凡二十四章。
○ 子曰:「為政以德,譬如北辰,居其所而眾星共之。」 
共,音拱,亦作拱。○ 政之為言正也,所以正人之不正也。德之為言得也,得於心而不失也。北辰,北極,天之樞也。居其所,不動也。共,向也,言眾星四面旋繞而歸向之也。為政以德,則無為而天下歸之,其象如此。○ 程子曰:「為政以德,然後無為。」范氏曰:「為政以德,則不動而化、不言而信、無為而成。所守者至簡而能御煩,所處者至靜而能制動,所務者至寡而能服眾。」
○ 子曰:「詩三百,一言以蔽之,曰『思無邪』。」 
詩三百十一篇,言三百者,舉大數也。蔽,猶蓋也。「思無邪」,魯頌駉篇之辭。凡詩之言,善者可以感發人之善心,惡者可以懲創人之逸志,其用歸於使人得其情性之正而已。然其言微婉,且或各因一事而發,求其直指全體,則未有若此之明且盡者。故夫子言詩三百篇,而惟此一言足以盡蓋其義,其示人之意亦深切矣。○ 程子曰:「『思無邪』者,誠也。」范氏曰:「學者必務知要,知要則能守約,守約則足以盡博矣。經禮三百,曲禮三千,亦可以一言以蔽之,曰『毋不敬』。」
○ 子曰:「道之以政,齊之以刑,民免而無恥; 
道,音導,下同。○ 道,猶引導,謂先之也。政,謂法制禁令也。齊,所以一之也。道之而不從者,有刑以一之也。免而無恥,謂苟免刑罰。而無所羞愧,蓋雖不敢為惡,而為惡之心未嘗忘也。
道之以德,齊之以禮,有恥且格。」 
禮,謂制度品節也。格,至也。言躬行以率之,則民固有所觀感而興起矣,而其淺深厚薄之不一者,又有禮以一之,則民恥於不善,而又有以至於善也。一說,格,正也。書曰:「格其非心。」○ 愚謂政者,為治之具。刑者,輔治之法。德禮則所以出治之本,而德又禮之本也。此其相為終始,雖不可以偏廢,然政刑能使民遠罪而已,德禮之效,則有以使民日遷善而不自知。故治民者不可徒恃其末,又當深探其本也。
○ 子曰:「吾十有五而志於學, 
古者十五而入大學。心之所之謂之志。此所謂學,即大學之道也。志乎此,則念念在此而為之不厭矣。
三十而立, 
有以自立,則守之固而無所事志矣。
四十而不惑, 
於事物之所當然,皆無所疑,則知之明而無所事守矣。
五十而知天命, 
天命,即天道之流行而賦於物者,乃事物所以當然之故也。知此則知極其精,而不惑又不足言矣。
六十而耳順, 
聲入心通,無所違逆,知之之至,不思而得也。
七十而從心所欲,不踰矩。」 
從,如字。○ 從,隨也。矩,法度之器,所以為方者也。隨其心之所欲,而自不過於法度,安而行之,不勉而中也。○ 程子曰:「孔子生而知之也,言亦由學而至,所以勉進後人也。立,能自立於斯道也。不惑,則無所疑矣。知天命,窮理盡性也。耳順,所聞皆通也。從心所欲,不踰矩,則不勉而中矣。」又曰:「孔子自言其進德之序如此者,聖人未必然,但為學者立法,使之盈科而後進,成章而後達耳。」胡氏曰:「聖人之教亦多術,然其要使人不失其本心而已。欲得此心者,惟志乎聖人所示之學,循其序而進焉。至於一疵不存、萬理明盡之後,則其日用之間,本心瑩然,隨所意欲,莫非至理。蓋心即體,欲即用,體即道,用即義,聲為律而身為度矣。」又曰:「聖人言此,一以示學者當優游涵泳,不可躐等而進;二以示學者當日就月將,不可半途而廢也。」愚謂聖人生知安行,固無積累之漸,然其心未嘗自謂已至此也。是其日用之間,必有獨覺其進而人不及知者。故因其近似以自名,欲學者以是為則而自勉,非心實自聖而姑為是退託也。後凡言謙辭之屬,意皆放此。
○ 孟懿子問孝。子曰:「無違。」 
孟懿子,魯大夫仲孫氏,名何忌。無違,謂不背於理。
樊遲御,子告之曰:「孟孫問孝於我,我對曰『無違』。」 
樊遲,孔子弟子,名須。御,為孔子御車也。孟孫,即仲孫也。夫子以懿子未達而不能問,恐其失指,而以從親之令為孝,故語樊遲以發之。
樊遲曰:「何謂也?」子曰:「生,事之以禮;死,葬之以禮,祭之以禮。」 
生事葬祭,事親之始終具矣。禮,即理之節文也。人之事親,自始至終,一於禮而不苟,其尊親也至矣。是時三家僭禮,故夫子以是警之,然語意渾然,又若不專為三家發者,所以為聖人之言也。○ 胡氏曰:「人之欲孝其親,心雖無窮,而分則有限。得為而不為,與不得為而為之,均於不孝。所謂以禮者,為其所得為者而已矣。」
○ 孟武伯問孝。子曰:「父母唯其疾之憂。」 
武伯,懿子之子,名彘。言父母愛子之心,無所不至,惟恐其有疾病,常以為憂也。人子體此,而以父母之心為心,則凡所以守其身者,自不容於不謹矣,豈不可以為孝乎?舊說,人子能使父母不以其陷於不義為憂,而獨以其疾為憂,乃可謂孝。亦通。
○ 子游問孝。子曰:「今之孝者,是謂能養。至於犬馬,皆能有養;不敬,何以別乎?」 
養,去聲。別,彼列反。○ 子游,孔子弟子,姓言,名偃。養,謂飲食供奉也。犬馬待人而食,亦若養然。言人畜犬馬,皆能有以養之,若能養其親而敬不至,則與養犬馬者何異。甚言不敬之罪,所以深警之也。○ 胡氏曰:「世俗事親,能養足矣。狎恩恃愛,而不知其漸流於不敬,則非小失也。子游聖門高弟,未必至此,聖人直恐其愛踰於敬,故以是深警發之也。
○ 子夏問孝。子曰:「色難。有事弟子服其勞,有酒食先生饌,曾是以為孝乎?」 
食,音嗣。○ 色難,謂事親之際,惟色為難也。食,飯也。先生,父兄也。饌,飲食之也。曾,猶嘗也。蓋孝子之有深愛者,必有和氣;有和氣者,必有愉色;有愉色者,必有婉容;故事親之際,惟色為難耳,服勞奉養未足為孝也。舊說,承順父母之色為難,亦通。○ 程子曰:「告懿子,告眾人者也。告武伯者,以其人多可憂之事。子游能養而或失於敬,子夏能直義而或少溫潤之色。各因其材之高下,與其所失而告之,故不同也。」
○ 子曰:「吾與回言終日,不違如愚。退而省其私,亦足以發。回也不愚。」 
回,孔子弟子,姓顏。字子淵。不違者,意不相背,有聽受而無問難也。私,謂燕居獨處,非進見請問之時。發,謂發明所言之理。愚聞之師曰:「顏子深潛純粹,其於聖人體段已具。其聞夫子之言,默識心融,觸處洞然,自有條理。故終日言,但見其不違如愚人而已。及退省其私,則見其日用動靜語默之間,皆足以發明夫子之道,坦然由之而無疑,然後知其不愚也。」
○ 子曰:「視其所以, 
以,為也。為善者為君子,為惡者為小人。
觀其所由, 
觀,比視為詳矣。由,從也。事雖為善,而意之所從來者有未善焉,則亦不得為君子矣。或曰:「由,行也。謂所以行其所為者也。」
察其所安。 
察,則又加詳矣。安,所樂也。所由雖善,而心之所樂者不在於是,則亦偽耳,豈能久而不變哉?
人焉廋哉?人焉廋哉?」 
焉,於虔反。廋,所留反。○ 焉,何也。廋,匿也。重言以深明之。○ 程子曰:「在己者能知言窮理,則能以此察人如聖人也。」
○ 子曰:「溫故而知新,可以為師矣。」 
溫,尋繹也。故者,舊所聞。新者,今所得。言學能時習舊聞,而每有新得,則所學在我,而其應不窮,故可以為人師。若夫記問之學,則無得於心,而所知有限,故學記譏其「不足以為人師」,正與此意互相發也。
○ 子曰:「君子不器。」 
器者,各適其用而不能相通。成德之士,體無不具,故用無不周,非特為一才一藝而已。
○ 子貢問君子。子曰:「先行其言而後從之。」 
周氏曰:「先行其言者,行之於未言之前;而後從之者,言之於既行之後。」○ 范氏曰:「子貢之患,非言之艱而行之艱,故告之以此。」
○ 子曰:「君子周而不比,小人比而不周。」 
周,普遍也。比,偏黨也。皆與人親厚之意,但周公而比私耳。○ 君子小人所為不同,如陰陽晝夜,每每相反。然究其所以分,則在公私之際,毫釐之差耳。故聖人於周比、和同、驕泰之屬,常對舉而互言之,欲學者察乎兩閒,而審其取捨之幾也。
○ 子曰:「學而不思則罔,思而不學則殆。」 
不求諸心,故昏而無得。不習其事,故危而不安。○ 程子曰:「博學、審問、慎思、明辨、篤行五者,廢其一,非學也。」
○ 子曰:「攻乎異端,斯害也已!」 
范氏曰:「攻,專治也,故治木石金玉之工曰攻。異端,非聖人之道,而別為一端,如楊墨是也。其率天下至於無父無君,專治而欲精之,為害甚矣!」○ 程子曰「佛氏之言,比之楊墨,尤為近理,所以其害為尤甚。學者當如淫聲美色以遠之,不爾,則駸駸然入於其中矣。」
○ 子曰:「由!誨女知之乎?知之為知之,不知為不知,是知也。」 
女,音汝。○ 由,孔子弟子,姓仲,字子路。子路好勇,蓋有強其所不知以為知者,故夫子告之曰:我教女以知之之道乎!但所知者則以為知,所不知者則以為不知。如此則雖或不能盡知,而無自欺之蔽,亦不害其為知矣。況由此而求之,又有可知之理乎?
○ 子張學干祿。 
子張,孔子弟子,姓顓孫,名師。干,求也。祿,仕者之奉也。
子曰:「多聞闕疑,慎言其餘,則寡尤;多見闕殆,慎行其餘,則寡悔。言寡尤,行寡悔,祿在其中矣。」 
行寡之行,去聲。○ 呂氏曰:「疑者所未信,殆者所未安。」程子曰:「尤,罪自外至者也。悔,理自內出者也。」愚謂多聞見者學之博,闕疑殆者擇之精,慎言行者守之約。凡言在其中者,皆不求而自至之辭。言此以救子張之失而進之也。○ 程子曰:「修天爵則人爵至,君子言行能謹,得祿之道也。子張學干祿,故告之以此,使定其心而不為利祿動,若顏閔則無此問矣。或疑如此亦有不得祿者,孔子蓋曰耕也餒在其中,惟理可為者為之而已矣。」
○ 哀公問曰:「何為則民服?」孔子對曰:「舉直錯諸枉,則民服;舉枉錯諸直,則民不服。」 
哀公,魯君,名蔣。凡君問,皆稱孔子對曰者,尊君也。錯,捨置也。諸,眾也。程子曰:「舉錯得義,則人心服。」○ 謝氏曰:「好直而惡枉,天下之至情也。順之則服,逆之則去,必然之理也。然或無道以照之,則以直為枉,以枉為直者多矣,是以君子大居敬而貴窮理也。」
○ 季康子問:「使民敬、忠以勸,如之何?」子曰:「臨之以莊則敬,孝慈則忠,舉善而教不能則勸。」 
季康子,魯大夫季孫氏,名肥。莊,謂容貌端嚴也。臨民以莊,則民敬於己。孝於親,慈於眾,則民忠於己。善者舉之而不能者教之,則民有所勸而樂於為善。○ 張敬夫曰:「此皆在我所當為,非為欲使民敬忠以勸而為之也。然能如是,則其應蓋有不期然而然者矣。」
○ 或謂孔子曰:「子奚不為政?」 
定公初年,孔子不仕,故或人疑其不為政也。
子曰:「書云:『孝乎惟孝、友于兄弟,施於有政。』是亦為政,奚其為為政?」 
書周書君陳篇。書云孝乎者,言書之言孝如此也。善兄弟曰友。書言君陳能孝於親,友於兄弟,又能推廣此心,以為一家之政。孔子引之,言如此,則是亦為政矣,何必居位乃為為政乎?蓋孔子之不仕,有難以語或人者,故託此以告之,要之至理亦不外是。
○ 子曰:「人而無信,不知其可也。大車無輗,小車無軏,其何以行之哉?」 
輗,五兮反。軏,音月。○ 大車,謂平地任載之車。輗,轅端橫木,縛軛以駕牛者。小車,謂田車、兵車、乘車。軏,轅端上曲,鉤衡以駕馬者。車無此二者,則不可以行,人而無信,亦猶是也。
○ 子張問:「十世可知也?」 
陸氏曰:「也,一作乎。」○ 王者易姓受命為一世。子張問自此以後,十世之事,可前知乎?
子曰:「殷因於夏禮,所損益,可知也;周因於殷禮,所損益,可知也;其或繼周者,雖百世可知也。」
馬氏曰:「所因,謂三綱五常。所損益,謂文質三統。」愚按:三綱,謂:君為臣綱,父為子綱,夫為妻綱。五常,謂:仁、義、禮、智、信。文質,謂:夏尚忠,商尚質,周尚文。三統,謂:夏正建寅為人統,商正建丑為地統,周正建子為天統。三綱五常,禮之大體,三代相繼,皆因之而不能變。其所損益,不過文章制度小過不及之間,而其已然之 迹,今皆可見。則自今以往,或有繼周而王者,雖百世之遠,所因所革,亦不過此,豈但十世而已乎!聖人所以知來者蓋如此,非若後世讖緯術數之學也。○ 胡氏曰「子張之問,蓋欲知來,而聖人言其既往者以明之也。夫自修身以至於為天下,不可一日而無禮。天敘天秩,人所共由,禮之本也。商不能改乎夏,周不能改乎商,所謂天地之常經也。若乃制度文為,或太過則當損,或不足則當益。益之損之,與時宜之,而所因者不壞,是古今之通義也。因往推來,雖百世之遠,不過如此而已矣。」
○ 子曰:「非其鬼而祭之,諂也。 
非其鬼,謂非其所當祭之鬼。諂,求媚也。
見義不為,無勇也。」
知而不為,是無勇也。
八佾第三
論語卷二   宋 朱子 集註
八佾第三 
凡二十六章。通前篇末二章,皆論禮樂之事。 
○ 孔子謂季氏:「八佾舞於庭,是可忍也,孰不可忍也?」
佾,音逸。○ 季氏,魯大夫季孫氏也。佾,舞列也,天子八、諸侯六、大夫四、士二。每佾人數,如其佾數。或曰:「每佾八人。」未詳孰是。季氏以大夫而僭用天子之樂,孔子言其此事尚忍為之,則何事不可忍為。或曰:「忍,容忍也。」蓋深疾之之辭。○ 范氏曰:「樂舞之數,自上而下,降殺以兩而已,故兩之間,不可以毫髮僭差也。孔子為政,先正禮樂,則季氏之罪不容誅矣。」謝氏曰:「君子於其所不當為不敢須臾處,不忍故也。而季氏忍此矣,則雖弒父與君,亦何所憚而不為乎?」
○ 三家者以雍徹。子曰:「『相維辟公,天子穆穆』,奚取於三家之堂?」
徹,直列反。相,去聲。○ 三家,魯大夫孟孫、叔孫、季孫之家也。雍,周頌篇名。徹,祭畢而收其俎也。天子宗廟之祭,則歌雍以徹,是時三家僭而用之。相,助也。辟公,諸侯也。穆穆,深遠之意,天子之容也。此雍詩之辭,孔子引之,言三家之堂非有此事,亦何取於此義而歌之乎?譏其無知妄作,以取僭竊之罪。○ 程子曰:「周公之功固大矣,皆臣子之分所當為,魯安得獨用天子禮樂哉?成王之賜,伯禽之受,皆非也。其因襲之弊,遂使季氏僭八佾,三家僭雍徹,故仲尼譏之。」
○ 子曰:「人而不仁,如禮何?人而不仁,如樂何?」
游氏曰「人而不仁,則人心亡矣,其如禮樂何哉?言雖欲用之,而禮樂不為之用也。」○ 程子曰:「仁者天下之正理。失正理,則無序而不和。」李氏曰:「禮樂待人而後行,苟非其人,則雖玉帛交錯,鐘鼓鏗鏘,亦將如之何哉?」然記者序此於八佾雍徹之後,疑其為僭禮樂者發也。
○ 林放問禮之本。
林放,魯人。見世之為禮者,專事繁文,而疑其本之不在是也,故以為問。
子曰:「大哉問!
孔子以時方逐末,而放獨有志於本,故大其問。蓋得其本,則禮之全體無不在其中矣。
禮,與其奢也,寧儉;喪,與其易也,寧戚。」
易,去聲。○ 易,治也。孟子曰:「易其田疇。」在喪禮,則節文習熟,而無哀痛慘怛之實者也。戚則一於哀,而文不足耳。禮貴得中,奢易則過於文,儉戚則不及而質,二者皆未合禮。然凡物之理,必先有質而後有文,則質乃禮之本也。○ 范氏曰:「夫祭與其敬不足而禮有餘也,不若禮不足而敬有餘也,喪與其哀不足而禮有餘也,不若禮不足而哀有餘也。禮失之奢,喪失之易,皆不能反本,而隨其末故也。禮奢而備,不若儉而不備之愈也;喪易而文,不若戚而不文之愈也。儉者物之質,戚者心之誠,故為禮之本。」楊氏曰:「禮始諸飲食,故汙尊而抔飲,為之簠、簋、籩、豆、罍、爵之飾,所以文之也,則其本儉而已。喪不可以徑情而直行,為之衰麻哭踴之數,所以節之也,則其本戚而已。周衰,世方以文滅質,而林放獨能問禮之本,故夫子大之,而告之以此。」
○ 子曰:「夷狄之有君,不如諸夏之亡也。」
吳氏曰:「亡,古無字,通用。」程子曰:「夷狄且有君長,不如諸夏之僭亂,反無上下之分也。」○ 尹氏曰:「孔子傷時之亂而歎之也。亡,非實亡也,雖有之,不能盡其道爾。」
○ 季氏旅於泰山。子謂冉有曰:「女弗能救與?」對曰:「不能。」子曰:「嗚呼!曾謂泰山,不如林放乎?」
女,音汝。與,平聲。○ 旅,祭名。泰山,山名,在魯地。禮,諸侯祭封內山川,季氏祭之,僭也。冉有,孔子弟子,名求,時為季氏宰。救,謂救其陷於僭竊之罪。嗚呼,歎辭。言神不享非禮,欲季氏知其無益而自止,又進林放以厲冉有也。○ 范氏曰:「冉有從季氏,夫子豈不知其不可告也,然而聖人不輕絕人。盡己之心,安知冉有之不能救、季氏之不可諫也。既不能正,則美林放以明泰山之不可誣,是亦教誨之道也。」
○ 子曰:「君子無所爭,必也射乎!揖讓而升,下而飲,其爭也君子。」
飲,去聲。○ 揖讓而升者,大射之禮,耦進三揖而後升堂也。下而飲,謂射畢揖降,以俟眾耦皆降,勝者乃揖不勝者升,取觶立飲也。言君子恭遜不與人爭,惟於射而後有爭。然其爭也,雍容揖遜乃如此,則其爭也君子,而非若小人之爭矣。
○ 子夏問曰:「『巧笑倩兮,美目盼兮,素以為絢兮。』何謂也?」
倩,七練反。盼,普莧反。絢,呼縣反。○ 此逸詩也。倩,好口輔也。盼,目黑白分也。素,粉地,畫之質也。絢,采色,畫之飾也。言人有此倩盼之美質,而又加以華采之飾,如有素地而加采色也。子夏疑其反謂以素為飾,故問之。
子曰:「繪事後素。」
繪,胡對反。○ 繪事,繪畫之事也。後素,後於素也。考工記曰:「繪畫之事後素功。」謂先以粉地為質,而後施五采,猶人有美質,然後可加文飾。
曰:「禮後乎?」子曰:「起予者商也!始可與言詩已矣。」
禮必以忠信為質,猶繪事必以粉素為先。起,猶發也。起予,言能起發我之志意。謝氏曰:「子貢因論學而知詩,子夏因論詩而知學,故皆可與言詩。」○ 楊氏曰:「『甘受和,白受采,忠信之人,可以學禮。苟無其質,禮不虛行。』此『繪事後素』之說也。孔子曰『繪事後素』,而子夏曰『禮後乎』,可謂能繼其志矣。非得之言意之表者能之乎?商賜可與言詩者以此。若夫玩心於章句之末,則其為詩也固而已矣。所謂起予,則亦相長之義也。」
○ 子曰:「夏禮吾能言之,杞不足徵也;殷禮吾能言之,宋不足徵也。文獻不足故也,足則吾能徵之矣。」
杞,夏之後。宋,殷之後。徵,證也。文,典籍也。獻,賢也。言二代之禮,我能言之,而二國不足取以為證,以其文獻不足故也。文獻若足,則我能取之,以證君言矣。
○ 子曰:「禘自既灌而往者,吾不欲觀之矣。」
禘,大計反。○ 趙伯循曰:「禘,王者之大祭也。王者既立始祖之廟,又推始祖所自出之帝,祀之於始祖之廟,而以始祖配之也。成王以周公有大勳勞,賜魯重祭。故得禘於周公之廟,以文王為所出之帝,而周公配之,然非禮矣。」灌者,方祭之始,用鬱鬯之酒灌地,以降神也。魯之君臣,當此之時,誠意未散,猶有可觀,自此以後,則浸以懈怠而無足觀矣。蓋魯祭非禮,孔子本不欲觀,至此而失禮之中又失禮焉,故發此歎也。○ 謝氏曰:「夫子嘗曰:『我欲觀夏道,是故之杞,而不足徵也;我欲觀殷道,是故之宋,而不足徵也。』又曰:『我觀周道,幽厲傷之,吾舍魯何適矣。魯之郊禘非禮也,周公其衰矣!』考之杞宋已如彼,考之當今又如此,孔子所以深歎也。」
○ 或問禘之說。子曰:「不知也。知其說者之於天下也,其如示諸斯乎!」指其掌。
先王報本追遠之意,莫深於禘。非仁孝誠敬之至,不足以與此,非或人之所及也。而不王不禘之法,又魯之所當諱者,故以不知答之。示,與視同。指其掌,弟子記夫子言此而自指其掌,言其明且易也。蓋知禘之說,則理無不明,誠無不格,而治天下不難矣。聖人於此,豈真有所不知也哉?
○ 祭如在,祭神如神在。
程子曰:「祭,祭先祖也。祭神,祭外神也。祭先主於孝,祭神主於敬。」愚謂此門人記孔子祭祀之誠意。
子曰:「吾不與祭,如不祭。」
與,去聲。○ 又記孔子之言以明之。言己當祭之時,或有故不得與,而使他人攝之,則不得致其如在之誠。故雖已祭,而此心缺然,如未嘗祭也。○ 范氏曰:「君子之祭,七日戒,三日齊,必見所祭者,誠之至也。是故郊則天神格,廟則人鬼享,皆由己以致之也。有其誠則有其神,無其誠則無其神,可不謹乎?吾不與祭如不祭,誠為實,禮為虛也。」
○ 王孫賈問曰:「與其媚於奧,寧媚於竈,何謂也?」
王孫賈,衛大夫。媚,親順也。室西南隅為奧。竈者,五祀之一,夏所祭也。凡祭五祀,皆先設主而祭於其所,然後迎尸而祭於奧,略如祭宗廟之儀。如祀 竈,則設主於竈陘,祭畢,而更設饌於奧以迎尸也。故時俗之語,因以奧有常尊,而非祭之主;竈雖卑賤,而當時用事。喻自結於君,不如阿附權臣也。賈,衛之權臣,故以此諷孔子。
子曰:「不然,獲罪於天,無所禱也。」
天,即理也;其尊無對,非奧竈之可比也。逆理,則獲罪於天矣,豈媚於奧竈所能禱而免乎?言但當順理,非特不當媚 竈,亦不可媚於奧也。○ 謝氏曰:「聖人之言,遜而不迫。使王孫賈而知此意,不為無益;使其不知,亦非所以取禍。」
○ 子曰:「周監於二代,郁郁乎文哉!吾從周。」
郁,於六反。○ 監,視也。二代,夏商也。言其視二代之禮而損益之。郁郁,文盛貌。○ 尹氏曰:「三代之禮至周大備,夫子美其文而從之。」
○ 子入大廟,每事問。或曰:「孰謂鄹人之子知禮乎?入大廟,每事問。」子聞之曰:「是禮也。」
大,音泰。鄹,側留反。○ 大廟,魯周公廟。此蓋孔子始仕之時,入而助祭也。鄹,魯邑名。孔子父叔梁紇,嘗為其邑大夫。孔子自少以知禮聞,故或人因此而譏之。孔子言是禮者,敬謹之至,乃所以為禮也。○ 尹氏曰:「禮者,敬而已矣。雖知亦問,謹之至也,其為敬莫大於此。謂之不知禮者,豈足以知孔子哉?」
○ 子曰:「射不主皮,為力不同科,古之道也。」
為,去聲。○ 射不主皮,鄉射禮文。為力不同科,孔子解禮之意如此也。皮,革也,布侯而棲革於其中以為的,所謂鵠也。科,等也。古者射以觀德,但主於中,而不主於貫革,蓋以人之力有強弱,不同等也。記曰:「武王克商,散軍郊射,而貫革之射息。」正謂此也。周衰,禮廢,列國兵爭,復尚貫革,故孔子歎之。○ 楊氏曰:「中可以學而能,力不可以強而至。聖人言古之道,所以正今之失。」
○ 子貢欲去告朔之餼羊。
去,起呂反。告,古篤反。餼,許氣反。○ 告朔之禮:古者天子常以季冬,頒來歲十二月之朔於諸侯,諸侯受而藏之祖廟。月朔,則以特羊告廟,請而行之。餼,生牲也。魯自文公始不視朔,而有司猶供此羊,故子貢欲去之。
子曰:「賜也,爾愛其羊,我愛其禮。」
愛,猶惜也。子貢蓋惜其無實而妄費。然禮雖廢,羊存,猶得以識之而可復焉。若併去其羊,則此禮遂亡矣,孔子所以惜之。○ 楊氏曰:「告朔,諸侯所以稟命於君親,禮之大者。魯不視朔矣,然羊存則告朔之名未泯,而其實因可舉。此夫子所以惜之也。」
○ 子曰:「事君盡禮,人以為諂也。」
黃氏曰:「孔子於事君之禮,非有所加也,如是而後盡爾。時人不能,反以為諂。故孔子言之,以明禮之當然也。」○ 程子曰:「聖人事君盡禮,當時以為諂。若他人言之,必曰我事君盡禮,小人以為諂,而孔子之言止於如此。聖人道大德宏,此亦可見。」
○ 定公問:「君使臣,臣事君,如之何?」孔子對曰:「君使臣以禮,臣事君以忠。」
定公,魯君,名宋。二者皆理之當然,各欲自盡而已。○ 呂氏曰:「使臣不患其不忠,患禮之不至;事君不患其無禮,患忠之不足。」尹氏曰:「君臣以義合者也。故君使臣以禮,則臣事君以忠。」
○ 子曰:「關雎,樂而不淫,哀而不傷。」
樂,音洛。○ 關雎,周南國風詩之首篇也。淫者,樂之過而失其正者也。傷者,哀之過而害於和者也。關雎之詩,言后妃之德,宜配君子。求之未得,則不能無寤寐反側之憂;求而得之,則宜其有琴瑟鐘鼓之樂。蓋其憂雖深而不害於和,其樂雖盛而不失其正,故夫子稱之如此。欲學者玩其辭,審其音,而有以識其性情之正也。
○ 哀公問社於宰我。宰我對曰:「夏后氏以松,殷人以柏,周人以栗,曰使民戰栗。」
宰我,孔子弟子,名予。三代之社不同者,古者立社,各樹其土之所宜木以為主也。戰栗,恐懼貌。宰我又言周所以用栗之意如此。豈以古者戮人於社,故附會其說與?
子聞之曰:「成事不說,遂事不諫,既往不咎。」
遂事,謂事雖未成,而勢不能已者。孔子以宰我所對,非立社之本意,又啟時君殺伐之心,而其言已出,不可復救,故歷言此以深責之,欲使謹其後也。○ 尹氏曰:「古者各以所宜木名其社,非取義於木也。宰我不知而妄對,故夫子責之。」
○ 子曰:「管仲之器小哉!」
管仲,齊大夫,名夷吾,相桓公霸諸侯。器小,言其不知聖賢大學之道,故局量褊淺、規模卑狹,不能正身修德以致主於王道。
或曰:「管仲儉乎?」曰:「管氏有三歸,官事不攝,焉得儉?」
焉,於虔反。○ 或人蓋疑器小之為儉。三歸,臺名。事見說苑。攝,兼也。家臣不能具官,一人常兼數事。管仲不然,皆言其侈。
「然則管仲知禮乎?」曰:「邦君樹塞門,管氏亦樹塞門;邦君為兩君之好,有反坫,管氏亦有反坫。管氏而知禮,孰不知禮?」
好,去聲。坫,丁念反。○ 或人又疑不儉為知禮。屏謂之樹。塞,猶蔽也。設屏於門,以蔽內外也。好,謂好會。坫,在兩楹之間,獻酬飲畢,則反爵於其上。此皆諸侯之禮,而管仲僭之,不知禮也。○ 愚謂孔子譏管仲之器小,其旨深矣。或人不知而疑其儉,故斥其奢以明其非儉。或又疑其知禮,故又斥其僭,以明其不知禮。蓋雖不復明言小器之所以然,而其所以小者,於此亦可見矣。故程子曰「奢而犯禮,其器之小可知。蓋器大,則自知禮而無此失矣。」此言當深味也。蘇氏曰:「自修身正家以及於國,則其本深,其及者遠,是謂大器。揚雄所謂『大器猶規矩準繩』,先自治而後治人者是也。管仲三歸反坫,桓公內嬖六人,而霸天下,其本固已淺矣。管仲死,桓公薨,天下不復宗齊。」楊氏曰:「夫子大管仲之功而小其器。蓋非王佐之才,雖能合諸侯、正天下,其器不足稱也。道學不明,而王霸之略混為一途。故聞管仲之器小,則疑其為儉,以不儉告之,則又疑其知禮。蓋世方以詭遇為功,而不知為之範,則不悟其小宜矣。」
○ 子語魯大師樂。曰:「樂其可知也:始作,翕如也;從之,純如也,皦如也,繹如也,以成。」
語,去聲。大,音泰。從,音縱。○ 語,告也。大師,樂官名。時音樂廢缺,故孔子教之。翕,合也。從,放也。純,和也。皦,明也。繹,相續不絕也。成,樂之一終也。○ 謝氏曰:「五音六律不具,不足以為樂。翕如,言其合也。五音合矣,清濁高下,如五味之相濟而後和,故曰純如。合而和矣,欲其無相奪倫,故曰皦如,然豈宮自宮而商自商乎?不相反而相連,如貫珠可也,故曰繹如也,以成。」
○ 儀封人請見。曰:「君子之至於斯也,吾未嘗不得見也。」從者見之。出曰:「二三子,何患於喪乎?天下之無道也久矣,天將以夫子為木鐸。」
請見、見之之見,賢遍反。從、喪,皆去聲。○ 儀,衛邑。封人,掌封疆之官,蓋賢而隱於下位者也。君子,謂當時賢者。至此皆得見之,自言其平日不見絕於賢者,而求以自通也。見之,謂通使得見。喪,謂失位去國,禮曰「喪欲速貧」是也。木鐸,金口木舌,施政教時所振,以警眾者也。言亂極當治,天必將使夫子得位設教,不久失位也。封人一見夫子而遽以是稱之,其所得於觀感之間者深矣。或曰:「木鐸所以 徇於道路,言天使夫子失位,周流四方以行其教,如木鐸之徇於道路也。」
○ 子謂韶,「盡美矣,又盡善也。」謂武,「盡美矣,未盡善也」。
韶,舜樂。武,武王樂。美者,聲容之盛。善者,美之實也。舜紹堯致治,武王伐紂救民,其功一也,故其樂皆盡美。然舜之德,性之也,又以揖遜而有天下;武王之德,反之也,又以征誅而得天下,故其實有不同者。○ 程子曰:「成湯放桀,惟有 慙德,武王亦然,故未盡善。堯、舜、湯、武,其揆一也。征伐非其所欲,所遇之時然爾。」
○ 子曰:「居上不寬,為禮不敬,臨喪不哀,吾何以觀之哉?」
居上主於愛人,故以寬為本。為禮以敬為本,臨喪以哀為本。既無其本,則以何者而觀其所行之得失哉?
里仁第四
里仁第四 
凡二十六章。
○ 子曰:「里仁為美。擇不處仁,焉得知?」
處,上聲。焉,於虔反。知,去聲。○ 里有仁厚之俗為美。擇里而不居於是焉,則失其是非之本心,而不得為知矣。
○ 子曰:「不仁者不可以久處約,不可以長處樂。仁者安仁,知者利仁。」
樂,音洛。知,去聲。○ 約,窮困也。利,猶貪也,蓋深知篤好而必欲得之也。不仁之人,失其本心,久約必濫,久樂必淫。惟仁者則安其仁而無適不然,知者則利於仁而不易所守,蓋雖深淺之不同,然皆非外物所能奪矣。○ 謝氏曰:「仁者心無內外遠近精粗之間,非有所存而自不亡,非有所理而自不亂,如目視而耳聽,手持而足行也。知者謂之有所見則可,謂之有所得則未可。有所存斯不亡,有所理斯不亂,未能無意也。安仁則一,利仁則二。安仁者非顏閔以上,去聖人為不遠,不知此味也。諸子雖有卓越之才,謂之見道不惑則可,然未免於利之也。」
○ 子曰:「唯仁者能好人,能惡人。」
好、惡,皆去聲。○ 唯之為言獨也。蓋無私心,然後好惡當於理,程子所謂「得其公正」是也。○ 游氏曰:「好善而惡惡,天下之同情,然人每失其正者,心有所繫而不能自克也。惟仁者無私心,所以能好惡也。」
○ 子曰:「苟志於仁矣,無惡也。」
惡,如字。○ 苟,誠也。志者,心之所之也。其心誠在於仁,則必無為惡之事矣。○ 楊氏曰:「苟志於仁,未必無過舉也,然而為惡則無矣。」
○ 子曰:「富與貴是人之所欲也,不以其道得之,不處也;貧與賤是人之所惡也,不以其道得之,不去也。
惡,去聲。○ 不以其道得之,謂不當得而得之。然於富貴則不處,於貧賤則不去,君子之審富貴而安貧賤也如此。
君子去仁,惡乎成名?
惡,平聲。○ 言君子所以為君子,以其仁也。若貪富貴而厭貧賤,則是自離其仁,而無君子之實矣,何所成其名乎?
君子無終食之間違仁,造次必於是,顛沛必於是。」
造,七到反。沛,音貝。○ 終食者,一飯之頃。造次,急遽苟且之時。顛沛,傾覆流離之際。蓋君子之不去乎仁如此,不但富貴、貧賤、取舍之間而已也。○ 言君子為仁,自富貴、貧賤、取舍之間,以至於終食、造次、顛沛之頃,無時無處而不用其力也。然取舍之分明,然後存養之功密;存養之功密,則其取舍之分益明矣。
○ 子曰:「我未見好仁者,惡不仁者。好仁者,無以尚之;惡不仁者,其為仁矣,不使不仁者加乎其身。
好、惡,皆去聲。○ 夫子自言未見好仁者、惡不仁者。蓋好仁者真知仁之可好,故天下之物無以加之。惡不仁者真知不仁之可惡,故其所以為仁者,必能絕去不仁之事,而不使少有及於其身。此皆成德之事,故難得而見之也。
有能一日用其力於仁矣乎?我未見力不足者。
言好仁惡不仁者,雖不可見,然或有人果能一旦奮然用力於仁,則我又未見其力有不足者。蓋為仁在己,欲之則是,而志之所至,氣必至焉。故仁雖難能,而至之亦易也。
蓋有之矣,我未之見也。」
蓋,疑辭。有之,謂有用力而力不足者。蓋人之氣質不同,故疑亦容或有此昏弱之甚,欲進而不能者,但我偶未之見耳。蓋不敢終以為易,而又歎人之莫肯用力於仁也。○ 此章言仁之成德,雖難其人,然學者苟能實用其力,則亦無不可至之理。但用力而不至者,今亦未見其人焉,此夫子所以反覆而歎惜之也。
○ 子曰:「人之過也,各於其黨。觀過,斯知仁矣。」
黨,類也。程子曰:「人之過也,各於其類。君子常失於厚,小人常失於薄;君子過於愛,小人過於忍。」尹氏曰:「於此觀之,則人之仁不仁可知矣。」○ 吳氏曰:「後漢吳祐謂:『掾以親故:受汙辱之名,所謂觀過知仁』是也。」愚按:此亦但言人雖有過,猶可即此而知其厚薄,非謂必俟其有過,而後賢否可知也。
○ 子曰:「朝聞道,夕死可矣。」
道者,事物當然之理。苟得聞之,則生順死安,無復遺恨矣。朝夕,所以甚言其時之近。○ 程子曰「言人不可以不知道,苟得聞道,雖死可也。」又曰:「皆實理也,人知而信者為難。死生亦大矣!非誠有所得,豈以夕死為可乎?」
○ 子曰:「士志於道,而恥惡衣惡食者,未足與議也。」
心欲求道,而以口體之奉不若人為恥,其識趣之卑陋甚矣,何足與議於道哉?○ 程子曰:「志於道而心役乎外,何足與議也?」
○ 子曰:「君子之於天下也,無適也,無莫也,義之與比。」
適,丁歷反。比,必二反。○ 適,專主也。春秋傳曰「吾誰適從」是也。莫,不肯也。比,從也。○ 謝氏曰:「適,可也。莫,不可也。無可無不可,苟無道以主之,不幾於猖狂自恣乎?此佛老之學,所以自謂心無所住而能應變,而卒得罪於聖人也。聖人之學不然,於無可無不可之間,有義存焉。然則君子之心,果有所倚乎?」
○ 子曰:「君子懷德,小人懷土;君子懷刑,小人懷惠。」
懷,思念也。懷德,謂存其固有之善。懷土,謂溺其所處之安。懷刑,謂畏法。懷惠,謂貪利。君子小人趣向不同,公私之間而已。○ 尹氏曰「樂善惡不善,所以為君子;苟安務得,所以為小人。」
○ 子曰:「放於利而行,多怨。」
放,上聲。○ 孔氏曰:「放,依也。多怨,謂多取怨。」○ 程子曰:「欲利於己,必害於人,故多怨。」
○ 子曰:「能以禮讓為國乎?何有?不能以禮讓為國,如禮何?」
讓者,禮之實也。何有,言不難也。言有禮之實以為國,則何難之有,不然,則其禮文雖具,亦且無如之何矣,而況於為國乎?
○ 子曰:「不患無位,患所以立;不患莫己知,求為可知也。」
所以立,謂所以立乎其位者。可知,謂可以見知之實。○ 程子曰:「君子求其在己者而已矣。」
○ 子曰:「參乎!吾道一以貫之。」曾子曰:「唯。」
參,所金反。唯,上聲。○ 參乎者,呼曾子之名而告之。貫,通也。唯者,應之速而無疑者也。聖人之心,渾然一理,而泛應曲當,用各不同。曾子於其用處,蓋已隨事精察而力行之,但未知其體之一爾。夫子知其真積力久,將有所得,是以呼而告之。曾子果能默契其指,即應之速而無疑也。
○ 子出。門人問曰:「何謂也?」曾子曰:「夫子之道,忠恕而已矣。」
盡己之謂忠,推己之謂恕。而已矣者,竭盡而無餘之辭也。夫子之一理渾然而泛應曲當,譬則天地之至誠無息,而萬物各得其所也。自此之外,固無餘法,而亦無待於推矣。曾子有見於此而難言之,故借學者盡己、推己之目以著明之,欲人之易曉也。蓋至誠無息者,道之體也,萬殊之所以一本也;萬物各得其所者,道之用也,一本之所以萬殊也。以此觀之,一以貫之之實可見矣。或曰:「中心為忠,如心為恕。」於義亦通。○ 程子曰:「以己及物,仁也;推己及物,恕也,違道不遠是也。忠恕一以貫之:忠者天道,恕者人道;忠者無妄,恕者所以行乎忠也;忠者體,恕者用,大本達道也。此與違道不遠異者,動以天爾。」又曰:「『維天之命,於穆不已』,忠也;『幹道變化,各正性命』,恕也。」又曰:「聖人教人各因其才,吾道一以貫之,惟曾子為能達此,孔子所以告之也。曾子告門人曰:『夫子之道,忠恕而已矣』,亦猶夫子之告曾子也。中庸所謂『忠恕違道不遠』,斯乃下學上達之義。」
○ 子曰:「君子喻於義,小人喻於利。」
喻,猶曉也。義者,天理之所宜。利者,人情之所欲。○ 程子曰:「君子之於義,猶小人之於利也。唯其深喻,是以篤好。」楊氏曰:「君子有舍生而取義者,以利言之,則人之所欲無甚於生,所惡無甚於死,孰肯舍生而取義哉?其所喻者義而已,不知利之為利故也,小人反是。」
○ 子曰:「見賢思齊焉,見不賢而內自省也。」
省,悉井反。○ 思齊者,冀己亦有是善;內自省者,恐己亦有是惡。○ 胡氏曰:「見人之善惡不同,而無不反諸身者,則不徒羨人而甘自棄,不徒責人而忘自責矣。」
○ 子曰:「事父母幾諫。見志不從,又敬不違,勞而不怨。」
此章與內則之言相表裡。幾,微也。微諫,所謂「父母有過,下氣怡色,柔聲以諫」也。見志不從,又敬不違,所謂「諫若不入,起敬起孝,悅則復諫」也。勞而不怨,所謂「與其得罪於鄉、黨、州、閭,寧熟諫。父母怒不悅,而撻之流血,不敢疾怨,起敬起孝」也。
○ 子曰:「父母在,不遠遊。遊必有方。」
遠遊,則去親遠而為日久,定省曠而音問疏;不惟己之思親不置,亦恐親之念我不忘也。遊必有方,如己告云之東,即不敢更適西,欲親必知己之所在而無憂,召己則必至而無失也。范氏曰:「子能以父母之心為心則孝矣。」
○ 子曰:「三年無改於父之道,可謂孝矣。」
胡氏曰:「已見首篇,此蓋複出而逸其半也。」
○ 子曰:「父母之年,不可不知也。一則以喜,一則以懼。」
知,猶記憶也。常知父母之年,則既喜其壽,又懼其衰,而於愛日之誠,自有不能已者。
○ 子曰:「古者言之不出,恥躬之不逮也。」
言古者,以見今之不然。逮,及也。行不及言,可恥之甚。古者所以不出其言,為此故也。○ 范氏曰:「君子之於言也,不得已而後出之,非言之難,而行之難也。人惟其不行也,是以輕言之。言之如其所行,行之如其所言,則出諸其口必不易矣。」
○ 子曰:「以約失之者鮮矣。」
鮮,上聲。○ 謝氏曰:「不侈然以自放之謂約。」尹氏曰:「凡事約則鮮失,非止謂儉約也。」
○ 子曰:「君子欲訥於言而敏於行。」
行,去聲。○ 謝氏曰:「放言易,故欲訥;力行難,故欲敏。」○ 胡氏曰:「自吾道一貫至此十章,疑皆曾子門人所記也。」
○ 子曰:「德不孤,必有鄰。」
鄰,猶親也。德不孤立,必以類應。故有德者,必有其類從之,如居之有鄰也。
○ 子游曰:「事君數,斯辱矣,朋友數,斯疏矣。」
數,色角反。○ 程子曰:「數,煩數也。」胡氏曰:「事君諫不行,則當去;導友善不納,則當止。至於煩瀆,則言者輕,聽者厭矣,是以求榮而反辱,求親而反疏也。」范氏曰:「君臣朋友,皆以義合,故其事同也。」
公冶長第五
公冶長第五 
此篇皆論古今人物賢否得失,蓋格物窮理之一端也。凡二十七章。胡氏以為疑多子貢之徒所記云。
○ 子謂公冶長,「可妻也。雖在縲絏之中,非其罪也」。以其子妻之。
妻,去聲,下同。縲,力追反。絏,息列反。○ 公冶長,孔子弟子。妻,為之妻也。縲,黑索也。絏,攣也。古者獄中以黑索拘攣罪人。長之為人無所考,而夫子稱其可妻,其必有以取之矣。又言其人雖嘗陷於縲 絏之中,而非其罪,則固無害於可妻也。夫有罪無罪,在我而已,豈以自外至者為榮辱哉?
子謂南容,「邦有道,不廢;邦無道,免於刑戮」。以其兄之子妻之。
南容,孔子弟子,居南宮。名縚,又名适。字子容,謚敬叔。孟懿子之兄也。不廢,言必見用也。以其謹於言行,故能見用於治朝,免禍於亂世也。事又見第十一篇。○ 或曰:「公冶長之賢不及南容,故聖人以其子妻長,而以兄子妻容,蓋厚於兄而薄於己也。」程子曰:「此以己之私心窺聖人也。凡人避嫌者,皆內不足也,聖人自至公,何避嫌之有?況嫁女必量其才而求配,尤不當有所避也。若孔子之事,則其年之長幼、時之先後皆不可知,惟以為避嫌則大不可。避嫌之事,賢者且不為,況聖人乎?」
○ 子謂子賤,「君子哉若人!魯無君子者,斯焉取斯」?
焉,於虔反。○ 子賤,孔子弟子,姓宓,名不齊。上斯斯此人,下斯斯此德。子賤蓋能尊賢取友以成其德者。故夫子既歎其賢,而又言若魯無君子,則此人何所取以成此德乎?因以見魯之多賢也。○ 蘇氏曰:「稱人之善,必本其父兄師友,厚之至也。」
○ 子貢問曰:「賜也何如?」子曰:「女器也。」曰:「何器也?」曰:「瑚璉也。」
女,音汝。瑚,音胡。璉,力展反。○ 器者,有用之成材。夏曰瑚,商曰璉,周曰簠簋,皆宗廟盛黍稷之器而飾以玉,器之貴重而華美者也。子貢見孔子以君子許子賤,故以己為問,而孔子告之以此。然則子貢雖未至於不器,其亦器之貴者歟?
○ 或曰:「雍也仁而不佞。」
雍,孔子弟子,姓冉,字仲弓。佞,口才也。仲弓為人重厚簡默,而時人以佞為賢,故美其優於德,而病其短於才也。
子曰:「焉用佞?御人以口給,屢憎於人。不知其仁,焉用佞?」
焉,於虔反。○ 禦,當也,猶應答也。給,辨也。憎,惡也。言何用佞乎?佞人所以應答人者,但以口取辨而無情實,徒多為人所憎惡爾。我雖未知仲弓之仁,然其不佞乃所以為賢,不足以為病也。再言焉用佞,所以深曉之。○ 或疑仲弓之賢而夫子不許其仁,何也?曰:仁道至大,非全體而不息者,不足以當之。如顏子亞聖,猶不能無違於三月之後;況仲弓雖賢,未及顏子,聖人固不得而輕許之也。」
○ 子使漆雕開仕。對曰:「吾斯之未能信。」子說。
說,音悅。○ 漆雕開,孔子弟子,字子若。斯,指此理而言。信,謂真知其如此,而無毫髮之疑也。開自言未能如此,未可以治人,故夫子說其篤志。○ 程子曰:「漆雕開已見大意,故夫子說之。」又曰:「古人見道分明,故其言如此。」謝氏曰:「開之學無可考。然聖人使之仕,必其材可以仕矣。至於心術之微,則一毫不自得,不害其為未信。此聖人所不能知,而開自知之。其材可以仕,而其器不安於小成,他日所就,其可量乎?夫子所以說之也。」
○ 子曰:「道不行,乘桴浮于海。從我者其由與?」子路聞之喜。子曰:「由也好勇過我,無所取材。」
桴,音孚。從、好,並去聲。與,平聲。材,與裁同,古字借用。○ 桴,筏也。程子曰:「浮海之歎,傷天下之無賢君也。子路勇於義,故謂其能從己,皆假設之言耳。子路以為實然,而喜夫子之與己,故夫子美其勇,而譏其不能裁度事理,以適於義也。」
○ 孟武伯問:「子路仁乎?」子曰:「不知也。」
子路之於仁,蓋日月至焉者。或在或亡,不能必其有無,故以不知告之。
又問。子曰:「由也,千乘之國,可使治其賦也,不知其仁也。」
乘,去聲。○ 賦,兵也。古者以田賦出兵,故謂兵為賦,春秋傳所謂「悉索敝賦」是也。言子路之才,可見者如此,仁則不能知也。
「求也何如?」子曰:「求也,千室之邑,百乘之家,可使為之宰也,不知其仁也。」
千室,大邑。百乘,卿大夫之家。宰,邑長家臣之通號。
「赤也何如?」子曰:「赤也,束帶立於朝,可使與賓客言也,不知其仁也。」
朝,音潮。○ 赤,孔子弟子,姓公西,字子華。
○ 子謂子貢曰:「女與回也孰愈?」
女,音汝,下同。○ 愈,勝也。
對曰:「賜也何敢望回。回也聞一以知十,賜也聞一以知二。」
一,數之始。十,數之終。二者,一之對也。顏子明睿所照,即始而見終;子貢推測而知,因此而識彼。「無所不悅,告往知來」,是其驗矣。
子曰:「弗如也!吾與女弗如也。」
與,許也。○ 胡氏曰:「子貢方人,夫子既語以不暇,又問其與回孰愈,以觀其自知之如何。聞一知十,上知之資,生知之亞也。聞一知二,中人以上之資,學而知之之才也。子貢平日以己方回,見其不可企及,故喻之如此。夫子以其自知之明,而又不難於自屈,故既然之,又重許之。此其所以終聞性與天道,不特聞一知二而已也。」
○ 宰予晝寢。子曰:「朽木不可雕也,糞土之牆不可杇也,於予與何誅。」
朽,許久反。杇,音汙。與,平聲,下同。○ 晝寢,謂當晝而寐。朽,腐也。雕,刻畫也。杇,鏝也。言其志氣昏惰,教無所施也。與,語辭。誅,責也。言不足責,乃所以深責之。
子曰:「始吾於人也,聽其言而信其行;今吾於人也,聽其言而觀其行。於予與改是。」
行,去聲。○ 宰予能言而行不逮,故孔子自言於予之事而改此失,亦以重警之也。胡氏曰:「『子曰』疑衍文,不然,則非一日之言也。」○ 范氏曰:「君子之於學,惟日孜孜,斃而後已,惟恐其不及也。宰予晝寢,自棄孰甚焉,故夫子責之。」胡氏曰:「宰予不能以志帥氣,居然而倦。是宴安之氣勝,儆戒之志惰也。古之聖賢未嘗不以懈惰荒寧為懼,勤勵不息自強,此孔子所以深責宰予也。聽言觀行,聖人不待是而後能,亦非緣此而盡疑學者。特因此立教,以警群弟子,使謹於言而敏於行耳。」
○ 子曰:「吾未見剛者。」或對曰:「申棖。」子曰:「棖也慾,焉得剛?」
焉,於虔反。○ 剛,堅強不屈之意,最人所難能者,故夫子歎其未見。申棖,弟子姓名。慾,多嗜慾也。多嗜慾,則不得為剛矣。○ 程子曰:「人有慾則無剛,剛則不屈於慾。」謝氏曰:「剛與慾正相反。能勝物之謂剛,故常伸於萬物之上;為物揜之謂欲,故常屈於萬物之下。自古有志者少,無志者多,宜夫子之未見也。棖之慾不可知,其為人得非悻悻自好者乎?故或者疑以為剛,然不知此其所以為慾爾。」
○ 子貢曰:「我不欲人之加諸我也,吾亦欲無加諸人。」子曰:「賜也,非爾所及也。」
子貢言我所不欲人加於我之事,我亦不欲以此加之於人。此仁者之事,不待勉強,故夫子以為非子貢所及。○ 程子曰:「我不欲人之加諸我,吾亦欲無加諸人,仁也;施諸己而不願,亦勿施於人,恕也。恕則子貢或能勉之,仁則非所及矣。」愚謂無者自然而然,勿者禁止之謂,此所以為仁恕之別。
○ 子貢曰:「夫子之文章,可得而聞也;夫子之言性與天道,不可得而聞也。」
文章,德之見乎外者,威儀文辭皆是也。性者,人所受之天理;天道者,天理自然之本體,其實一理也。言夫子之文章,日見乎外,固學者所共聞;至於性與天道,則夫子罕言之,而學者有不得聞者。蓋聖門教不躐等,子貢至是始得聞之,而歎其美也。○ 程子曰:「此子貢聞夫子之至論而歎美之言也。」
○ 子路有聞,未之能行,唯恐有聞。
前所聞者既未及行,故恐復有所聞而行之不給也。○ 范氏曰:「子路聞善,勇於必行,門人自以為弗及也,故著之。若子路,可謂能用其勇矣。」
○ 子貢問曰:「孔文子何以謂之文也?」子曰:「敏而好學,不恥下問,是以謂之文也。」
好,去聲。○ 孔文子,衛大夫,名圉。凡人性敏者多不好學,位高者多恥下問。故謚法有以「勤學好問」為文者,蓋亦人所難也。孔圉得謚為文,以此而已。○ 蘇氏曰:「孔文子使太叔疾出其妻而妻之。疾通於初妻之娣,文子怒,將攻之。訪於仲尼,仲尼不對,命駕而行。疾奔宋,文子使疾弟遺室孔姞。其為人如此而謚曰文,此子貢之所以疑而問也。孔子不沒其善,言能如此,亦足以為文矣,非經天緯地之文也。」
○ 子謂子產,「有君子之道四焉:其行己也恭,其事上也敬,其養民也惠,其使民也義。」
子產,鄭大夫公孫僑。恭,謙遜也。敬,謹恪也。惠,愛利也。使民義,如都鄙有章、上下有服、田有封洫、廬井有伍之類。○ 吳氏曰:「數其事而責之者,其所善者多也,臧文仲不仁者三、不知者三是也。數其事而稱之者,猶有所未至也,子產有君子之道四焉是也。今或以一言蓋一人、一事蓋一時,皆非也。」
○ 子曰:「晏平仲善與人交,久而敬之。」
晏平仲,齊大夫,名嬰。程子曰:「人交久則敬衰,久而能敬,所以為善。」
○ 子曰:「臧文仲居蔡,山節藻梲,何如其知也?」
梲,章悅反。知,去聲。○ 臧文仲,魯大夫臧孫氏,名辰。居,猶藏也。蔡,大龜也。節,柱頭斗栱也。藻,水草名。梲,樑上短柱也。蓋為藏龜之室,而刻山於節、畫藻於梲也。當時以文仲為知,孔子言其不務民義,而諂瀆鬼神如此,安得為知?春秋傳所謂作虛器,即此事也。○ 張子曰:「山節藻梲為藏龜之室,祀爰居之義,同歸於不知宜矣。」
○ 子張問曰:「令尹子文三仕為令尹,無喜色;三已之,無慍色。舊令尹之政,必以告新令尹。何如?」子曰:「忠矣。」曰:「仁矣乎?」曰:「未知,焉得仁?」
知,如字。焉,於虔反。○ 令尹,官名,楚上卿執政者也。子文,姓鬬,名穀於菟。其為人也,喜怒不形,物我無閒,知有其國而不知有其身,其忠盛矣,故子張疑其仁。然其所以三仕三已而告新令尹者,未知其皆出於天理而無人欲之私也,是以夫子但許其忠,而未許其仁也。
「崔子弒齊君,陳文子有馬十乘,棄而違之。至於他邦,則曰:『猶吾大夫崔子也。』違之。之一邦,則又曰:『猶吾大夫崔子也。』違之。何如?」子曰:「清矣。」曰:「仁矣乎?」曰:「未知。焉得仁?」
乘,去聲。○ 崔子,齊大夫,名杼。齊君,莊公,名光。陳文子,亦齊大夫,名須無。十乘,四十匹也。違,去也。文子潔身去亂,可謂清矣,然未知其心果見義理之當然,而能脫然無所累乎?抑不得已於利害之私,而猶未免於怨悔也。故夫子特許其清,而不許其仁。○ 愚聞之師曰:「當理而無私心,則仁矣。今以是而觀二子之事,雖其制行之高若不可及,然皆未有以見其必當於理,而真無私心也。子張未識仁體,而悅於苟難,遂以小者信其大者,夫子之不許也宜哉。」讀者於此,更以上章「不知其仁」、後篇「仁則吾不知」之語并與三仁夷齊之事觀之,則彼此交盡,而仁之為義可識矣。今以他書考之,子文之相楚,所謀者無非僭王猾夏之事。文子之仕齊,既失正君討賊之義,又不數歲而復反於齊焉,則其不仁亦可見矣。
○ 季文子三思而後行。子聞之,曰:「再,斯可矣。」
三,去聲。○ 季文子,魯大夫,名行父。每事必三思而後行,若使晉而求遭喪之禮以行,亦其一事也。斯,語辭。程子曰:「為惡之人,未嘗知有思,有思則為善矣。然至於再則已審,三則私意起而反惑矣,故夫子譏之。」○ 愚按:季文子慮事如此,可謂詳審,而宜無過舉矣。而宣公篡立,文子乃不能討,反為之使齊而納賂焉,豈非程子所謂私意起而反惑之驗歟?是以君子務窮理而貴果斷,不徒多思之為尚。
○ 子曰:「甯武子邦有道則知,邦無道則愚。其知可及也,其愚不可及也。」
知,去聲。○ 甯武子,衛大夫,名俞。按春秋傳,武子仕衛,當文公、成公之時。文公有道,而武子無事可見,此其知之可及也。成公無道,至於失國,而武子周旋其閒,盡心竭力,不避艱險。凡其所處,皆智巧之士所深避而不肯為者,而能卒保其身以濟其君,此其愚之不可及也。○ 程子曰:「邦無道能沈晦以免患,故曰不可及也。亦有不當愚者,比干是也。」
○ 子在陳曰:「歸與!歸與!吾黨之小子狂簡,斐然成章,不知所以裁之。」
與,平聲。斐,音匪。○ 此孔子周流四方,道不行而思歸之歎也。吾黨小子,指門人之在魯者。狂簡,志大而略於事也。斐,文貌。成章,言其文理成就,有可觀者。裁,割正也。夫子初心,欲行其道於天下,至是而知其終不用也。於是始欲成就後學,以傳道於來世。又不得中行之士而思其次,以為狂士志意高遠,猶或可與進於道也。但恐其過中失正,而或陷於異端耳,故欲歸而裁之也。
○ 子曰:「伯夷、叔齊不念舊惡,怨是用希。」
伯夷、叔齊,孤竹君之二子。孟子稱其「不立於惡人之朝,不與惡人言。與鄉人立,其冠不正,望望然去之,若將浼焉。」其介如此,宜若無所容矣,然其所惡之人,能改即止,故人亦不甚怨之也。○ 程子曰:「不念舊惡,此清者之量。」又曰:「二子之心,非夫子孰能知之?」
○ 子曰:「孰謂微生高直?或乞醯焉,乞諸其鄰而與之。」
醯,呼西反。○ 微生姓,高名,魯人,素有直名者。醯,醋也。人來乞時,其家無有,故乞諸鄰家以與之。夫子言此,譏其曲意殉物,掠美市恩,不得為直也。○ 程子曰:「微生高所枉雖小,害直為大。」范氏曰「是曰是、非曰非、有謂有、無謂無,曰直。聖人觀人於其一介之取予,而千駟萬鍾從可知焉。故以微事斷之,所以教人不可不謹也。」
○ 子曰:「巧言、令色、足恭,左丘明恥之,丘亦恥之。匿怨而友其人,左丘明恥之,丘亦恥之。」
足,將樹反。○ 足,過也。程子曰:「左丘明,古之聞人也。」謝氏曰:「二者之可恥,有甚於穿窬也。左丘明恥之,其所養可知矣。夫子自言『丘亦恥之』,蓋竊比老、彭之意。又以深戒學者,使察乎此而立心以直也。」
○ 顏淵、季路侍。子曰:「盍各言爾志?」
盍,音合。○ 盍,何不也。
子路曰:「願車馬、衣輕裘,與朋友共。敝之而無憾。」
衣,去聲。○ 衣,服之也。裘,皮服。敝,壞也。憾,恨也。
顏淵曰:「願無伐善,無施勞。」
伐,誇也。善,謂有能。施,亦張大之意。勞,謂有功,易曰「勞而不伐」是也。或曰:「勞,勞事也。勞事非己所欲,故亦不欲施之於人。」亦通。
子路曰:「願聞子之志。」子曰:「老者安之,朋友信之,少者懷之。」
老者養之以安,朋友與之以信,少者懷之以恩。一說:安之,安我也;信之,信我也;懷之,懷我也。亦通。○ 程子曰:「夫子安仁,顏淵不違仁,子路求仁。」又曰:「子路、顏淵、孔子之志,皆與物共者也,但有小大之差爾。」又曰「子路勇於義者,觀其志,豈可以勢利拘之哉?亞於浴沂者也。顏子不自私己,故無伐善;知同於人,故無施勞。其志可謂大矣,然未免出於有意也。至於夫子,則如天地之化工,付與萬物而己不勞焉,此聖人之所為也。今夫羈靮以御馬而不以制牛,人皆知羈靮之作在乎人,而不知羈靮之生由於馬,聖人之化,亦猶是也。先觀二子之言,後觀聖人之言,分明天地氣象。凡看論語,非但欲理會文字,須要識得聖賢氣象。」
○ 子曰:「已矣乎!吾未見能見其過而內自訟者也。」
已矣乎者,恐其終不得見而歎之也。內自訟者。口不言而心自咎也。人有過而能自知者鮮矣,知過而能內自訟者為尤鮮。能內自訟,則其悔悟深切而能改必矣。夫子自恐終不得見而歎之,其警學者深矣。
○ 子曰:「十室之邑,必有忠信如丘者焉,不如丘之好學也。」
焉,如字,屬上句。好,去聲。○ 十室,小邑也。忠信如聖人,生質之美者也。夫子生知而未嘗不好學,故言此以勉人。言美質易得,至道難聞,學之至則可以為聖人,不學則不免為鄉人而已。可不勉哉?
雍也第六
雍也第六 
凡二十八章。篇內第十四章以前,大意與前篇同。
○ 子曰:「雍也可使南面。」
南面者,人君聽治之位。言仲弓寬洪簡重,有人君之度也。
仲弓問子桑伯子,子曰:「可也簡。」
子桑伯子,魯人,胡氏以為疑即莊周所稱子桑戶者是也。仲弓以夫子許己南面,故問伯子如何。可者,僅可而有所未盡之辭。簡者,不煩之謂。
仲弓曰:「居敬而行簡,以臨其民,不亦可乎?居簡而行簡,無乃大簡乎?」
大,音泰。○ 言自處以敬,則中有主而自治嚴,如是而行簡以臨民,則事不煩而民不擾,所以為可。若先自處以簡,則中無主而自治疏矣,而所行又簡,豈不失之太簡,而無法度之可守乎?家語記伯子不衣冠而處,夫子譏其欲同人道於牛馬。然則伯子蓋太簡者,而仲弓疑夫子之過許與?
子曰:「雍之言然。」
仲弓蓋未喻夫子可字之意,而其所言之理,有默契焉者,故夫子然之。○ 程子曰「子桑伯子之簡,雖可取而未盡善,故夫子云可也。仲弓因言內主於敬而簡,則為要直;內存乎簡而簡,則為疏略,可謂得其旨矣。」又曰:「居敬則心中無物,故所行自簡;居簡則先有心於簡,而多一簡字矣,故曰太簡。」
○ 哀公問:「弟子孰為好學?」孔子對曰:「有顏回者好學,不遷怒,不貳過。不幸短命死矣!今也則亡,未聞好學者也。」
好,去聲。亡,與無同。○ 遷,移也。貳,復也。怒於甲者,不移於乙;過於前者,不復於後。顏子克己之功至於如此,可謂真好學矣。短命者,顏子三十二而卒也。既云今也則亡,又言未聞好學者,蓋深惜之,又以見真好學者之難得也。○ 程子曰:「顏子之怒,在物不在己,故不遷。有不善未嘗不知,知之未嘗復行,不貳過也。」又曰:「喜怒在事,則理之當喜怒者也,不在血氣則不遷。若舜之誅四凶也,可怒在彼,己何與焉。如鑑之照物,妍媸在彼,隨物應之而已,何遷之有?」又曰:「如顏子地位,豈有不善?所謂不善,只是微有差失。纔差失便能知之,纔知之便更不萌作。」張子曰:「慊於己者,不使萌於再。」或曰:「詩書六藝,七十子非不習而通也,而夫子獨稱顏子為好學。顏子之所好,果何學歟?」程子曰:「學以至乎聖人之道也。」「學之道奈何?」曰:「天地儲精,得五行之秀者為人。其本也真而靜。其未發也五性具焉,曰仁、義、禮、智、信。形既生矣,外物觸其形而動於中矣。其中動而七情出焉,曰喜、怒、哀、懼、愛、惡、欲。情既熾而益蕩,其性鑿矣。故學者約其情使合於中,正其心,養其性而已。然必先明諸心,知所往,然後力行以求至焉。若顏子之非禮勿視、聽、言、動,不遷怒貳過者,則其好之篤而學之得其道也。然其未至於聖人者,守之也,非化之也。假之以年,則不日而化矣。今人乃謂聖本生知,非學可至,而所以為學者,不過記誦文辭之間,其亦異乎顏子之學矣。」
○ 子華使於齊,冉子為其母請粟。子曰:「與之釜。」請益。曰:「與之庾。」冉子與之粟五秉。
使、為,並去聲。○ 子華,公西赤也。使,為孔子使也。釜,六斗四升。庾,十六斗。秉,十六斛。
子曰:「赤之適齊也,乘肥馬,衣輕裘。吾聞之也,君子周急不繼富。」
衣,去聲。○ 乘肥馬、衣輕裘,言其富也。急,窮迫也。周者,補不足。繼者,續有餘。
原思為之宰,與之粟九百,辭。
原思,孔子弟子,名憲。孔子為魯司寇時,以思為宰。粟,宰之祿也。九百不言其量,不可考。
子曰:「毋!以與爾鄰里鄉黨乎!」
毋,禁止辭。五家為鄰,二十五家為里,萬二千五百家為鄉,五百家為黨。言常祿不當辭,有餘自可推之以周貧乏,蓋鄰、里、鄉、黨有相周之義。○ 程子曰:「夫子之使子華,子華之為夫子使,義也。而冉子乃為之請,聖人寬容,不欲直拒人。故與之少,所以示不當與也。請益而與之亦少,所以示不當益也。求未達而自與之多,則己過矣,故夫子非之。蓋赤苟至乏,則夫子必自周之,不待請矣。原思為宰,則有常祿。思辭其多,故又教以分諸鄰里之貧者,蓋亦莫非義也。」張子曰:「於斯二者,可見聖人之用財矣。」
○ 子謂仲弓曰:「犁牛之子騂且角,雖欲勿用,山川其舍諸?」
犁,利之反。騂,息營反。舍,上聲。○ 犁,雜文。騂,赤色。周人尚赤,牲用騂。角,角周正,中犧牲也。用,用以祭也。山川,山川之神也。言人雖不用,神必不舍也。仲弓父賤而行惡,故夫子以此譬之。言父之惡,不能廢其子之善,如仲弓之賢,自當見用於世也。然此論仲弓云爾,非與仲弓言也。○ 范氏曰:「以瞽瞍為父而有舜,以鯀為父而有禹。古之聖賢,不係於世類,尚矣。子能改父之過,變惡以為美,則可謂孝矣。」
○ 子曰:「回也,其心三月不違仁,其餘則日月至焉而已矣。」
三月,言其久。仁者,心之德。心不違仁者,無私欲而有其德也。日月至焉者,或日一至焉,或月一至焉,能造其域而不能久也。○ 程子曰:「三月,天道小變之節,言其久也,過此則聖人矣。不違仁,只是無纖毫私欲。少有私欲,便是不仁。」尹氏曰:「此顏子於聖人,未達一閒者也,若聖人則渾然無閒斷矣。」張子曰:「始學之要,當知『三月不違』與『日月至焉』內外賓主之辨。使心意勉勉循循而不能已,過此幾非在我者。」
○ 季康子問:「仲由可使從政也與?」子曰:「由也果,於從政乎何有?」曰:「賜也,可使從政也與?」曰:「賜也達,於從政乎何有?」曰:「求也,可使從政也與?」曰:「求也藝,於從政乎何有?」
與,平聲。○ 從政,謂為大夫。果,有決斷。達,通事理。藝,多才能。○ 程子曰:「季康子問三子之才可以從政乎?夫子答以各有所長。非惟三子,人各有所長。能取其長,皆可用也。」
○ 季氏使閔子騫為費宰。閔子騫曰:「善為我辭焉。如有復我者,則吾必在汶上矣。」
費,音秘。為,去聲。汶,音問。○ 閔子騫,孔子弟子,名損。費,季氏邑。汶,水名,在齊南魯北竟上。閔子不欲臣季氏,令使者善為己辭。言若再來召我,則當去之齊。○ 程子曰:「仲尼之門,能不仕大夫之家者,閔子、曾子數人而已。」謝氏曰:「學者能少知內外之分,皆可以樂道而忘人之勢。況閔子得聖人為之依歸,彼其視季氏不義之富貴,不啻犬彘。又從而臣之,豈其心哉?在聖人則有不然者,蓋居亂邦、見惡人,在聖人則可;自聖人以下,剛則必取禍,柔則必取辱。閔子豈不能早見而豫待之乎?如由也不得其死,求也為季氏附益,夫豈其本心哉?蓋既無先見之知,又無克亂之才故也。然則閔子其賢乎?」
○ 伯牛有疾,子問之,自牖執其手,曰:「亡之,命矣夫!斯人也而有斯疾也!斯人也而有斯疾也!」
夫,音扶。○ 伯牛,孔子弟子,姓冉,名耕。有疾,先儒以為癩也。牖,南牖也。禮:病者居北牖下。君視之,則遷於南牖下,使君得以南面視己。時伯牛家以此禮尊孔子,孔子不敢當,故不入其室,而自牖執其手,蓋與之永訣也。命,謂天命。言此人不應有此疾,而今乃有之,是乃天之所命也。然則非其不能謹疾而有以致之,亦可見矣。○ 侯氏曰:「伯牛以德行稱,亞於顏、閔。故其將死也,孔子尤痛惜之。」
○ 子曰:「賢哉,回也!一簞食,一瓢飲,在陋巷。人不堪其憂,回也不改其樂。賢哉,回也!」
食,音嗣。樂,音洛。○ 簞,竹器。食,飯也。瓢,瓠也。顏子之貧如此,而處之泰然,不以害其樂,故夫子再言「賢哉回也」以深歎美之。○ 程子曰:「顏子之樂,非樂簞瓢陋巷也,不以貧窶累其心而改其所樂也,故夫子稱其賢。」又曰:「簞瓢陋巷非可樂,蓋自有其樂爾。其字當玩味,自有深意。」又曰「昔受學於周茂叔,每令尋仲尼顏子樂處,所樂何事?」愚按:程子之言,引而不發,蓋欲學者深思而自得之。今亦不敢妄為之說。學者但當從事於博文約禮之誨,以至於欲罷不能而竭其才,則庶乎有以得之矣。
○ 冉求曰:「非不說子之道,力不足也。」子曰:「力不足者,中道而廢。今女畫。」
說,音悅。女,音汝。○ 力不足者,欲進而不能。畫者,能進而不欲。謂之畫者,如畫地以自限也。○ 胡氏曰:「夫子稱顏回不改其樂,冉求聞之,故有是言。然使求說夫子之道,誠如口之說芻豢,則必將盡力以求之,何患力之不足哉?畫而不進,則日退而已矣,此冉求之所以局於藝也。」
○ 子謂子夏曰:「女為君子儒,無為小人儒。」
儒,學者之稱。程子曰:「君子儒為己,小人儒為人。」○ 謝氏曰:「君子小人之分,義與利之閒而已。然所謂利者,豈必殖貨財之謂?以私滅公,適己自便,凡可以害天理者皆利也。子夏文學雖有餘,然意其遠者大者或昧焉,故夫子語之以此。」
○ 子游為武城宰。子曰:「女得人焉爾乎?」曰:「有澹臺滅明者,行不由徑。非公事,未嘗至於偃之室也。」
女,音汝。澹,徒甘反。○ 武城,魯下邑。澹臺姓,滅明名,字子羽。徑,路之小而捷者。公事,如飲射讀法之類。不由徑,則動必以正,而無見小欲速之意可知。非公事不見邑宰,則其有以自守,而無枉己殉人之私可見矣。○ 楊氏曰:「為政以人才為先,故孔子以得人為問。如滅明者,觀其二事之小,而其正大之情可見矣。後世有不由徑者,人必以為迂;不至其室,人必以為簡。非孔氏之徒,其孰能知而取之?」愚謂持身以滅明為法,則無苟賤之羞;取人以子游為法,則無邪媚之惑。
○ 子曰:「孟之反不伐,奔而殿。將入門,策其馬,曰:『非敢後也,馬不進也。』」
殿,去聲。○ 孟之反,魯大夫,名側。胡氏曰「反即莊周所稱孟子反者是也。」伐,誇功也。奔,敗走也。軍後曰殿。策,鞭也。戰敗而還,以後為功。反奔而殿,故以此言自揜其功也。事在哀公十一年。○ 謝氏曰:「人能操無欲上人之心,則人欲日消、天理日明,而凡可以矜己誇人者,皆無足道矣。然不知學者欲上人之心無時而忘也,若孟之反,可以為法矣。」
○ 子曰:「不有祝鮀之佞而有宋朝之美,難乎免於今之世矣!」
鮀,徒河反。○ 祝,宗廟之官。鮀,衛大夫,字子魚,有口才。朝,宋公子,有美色。言衰世好諛悅色,非此難免,蓋傷之也。
○ 子曰:「誰能出不由戶?何莫由斯道也?」
言人不能出不由戶,何故乃不由此道邪?怪而歎之之辭。○ 洪氏曰:「人知出必由戶,而不知行必由道。非道遠人,人自遠爾。」
○ 子曰:「質勝文則野,文勝質則史。文質彬彬,然後君子。」
野,野人,言鄙略也。史,掌文書,多聞習事,而誠或不足也。彬彬,猶班班,物相雜而適均之貌。言學者當損有餘,補不足,至於成德,則不期然而然矣。○ 楊氏曰:「文質不可以相勝。然質之勝文,猶之甘可以受和,白可以受采也。文勝而至於滅質,則其本亡矣。雖有文,將安施乎?然則與其史也,寧野。」
○ 子曰:「人之生也直,罔之生也幸而免。」
程子曰:「生理本直。罔,不直也,而亦生者,幸而免爾。」
○ 子曰:「知之者不如好之者,好之者不如樂之者。」
好,去聲。樂,音洛。○ 尹氏曰:「知之者,知有此道也。好之者,好而未得也。樂之者,有所得而樂之也。」○ 張敬夫曰:「譬之五穀,知者知其可食者也,好者食而嗜之者也,樂者嗜之而飽者也。知而不能好,則是知之未至也;好之而未及於樂,則是好之未至也。此古之學者,所以自強而不息者歟?」
○ 子曰:「中人以上,可以語上也;中人以下,不可以語上也。」
以上之上,上聲。語,去聲。○ 語,告也。言教人者,當隨其高下而告語之,則其言易入而無躐等之弊也。○ 張敬夫曰:「聖人之道,精粗雖無二致,但其施教,則必因其材而篤焉。蓋中人以下之質,驟而語之太高,非惟不能以入,且將妄意躐等,而有不切於身之弊,亦終於下而已矣。故就其所及而語之,是乃所以使之切問近思,而漸進於高遠也。」
○ 樊遲問知。子曰:「務民之義,敬鬼神而遠之,可謂知矣。」問仁。曰:「仁者先難而後獲,可謂仁矣。」
知、遠,皆去聲。○ 民,亦人也。獲,謂得也。專用力於人道之所宜,而不惑於鬼神之不可知,知者之事也。先其事之所難,而後其效之所得,仁者之心也。此必因樊遲之失而告之。○ 程子曰:「人多信鬼神,惑也。而不信者又不能敬,能敬能遠,可謂知矣。」又曰:「先難,克己也。以所難為先,而不計所獲,仁也。」呂氏曰:「當務為急,不求所難知;力行所知,不憚所難為。」
○ 子曰:「知者樂水,仁者樂山;知者動,仁者靜;知者樂,仁者壽。」
知,去聲。樂,上二字並五教反,下一字音洛。○ 樂,喜好也。知者達於事理而周流無滯,有似於水,故樂水;仁者安於義理而厚重不遷,有似於山,故樂山。動靜以體言,樂壽以效言也。動而不括故樂,靜而有常故壽。○ 程子曰:「非體仁知之深者,不能如此形容之。」
○ 子曰:「齊一變,至於魯;魯一變,至於道。」
孔子之時,齊俗急功利,喜夸詐,乃霸政之餘習。魯則重禮教,崇信義,猶有先王之遺風焉,但人亡政息,不能無廢墜爾。道,則先王之道也。言二國之政俗有美惡,故其變而之道有難易。○ 程子曰:「夫子之時,齊強魯弱,孰不以為齊勝魯也,然魯猶存周公之法制。齊由桓公之霸,為從簡尚功之治,太公之遺法變易盡矣,故一變乃能至魯。魯則修舉廢墜而已,一變則至於先王之道也。」愚謂二國之俗,惟夫子為能變之而不得試。然因其言以考之,則其施為緩急之序,亦略可見矣。
○ 子曰:「觚不觚,觚哉!觚哉!」
觚,音孤。○ 觚,棱也,或曰酒器,或曰木簡,皆器之有棱者也。不觚者,蓋當時失其制而不為棱也。觚哉觚哉,言不得為觚也。○ 程子曰:「觚而失其形制,則非觚也。舉一器,而天下之物莫不皆然。故君而失其君之道,則為不君;臣而失其臣之職,則為虛位。」范氏曰:「人而不仁則非人,國而不治則不國矣。」
○ 宰我問曰:「仁者,雖告之曰:『井有仁焉。』其從之也?」子曰:「何為其然也?君子可逝也,不可陷也;可欺也,不可罔也。」
劉聘君曰,「有仁之仁當作人」,今從之。從,謂隨之於井而救之也。宰我信道不篤,而憂為仁之陷害,故有此問。逝,謂使之往救。陷,謂陷之於井。欺,謂誑之以理之所有。罔,謂昧之以理之所無。蓋身在井上,乃可以救井中之人;若從之於井,則不復能救之矣。此理甚明,人所易曉,仁者雖切於救人而不私其身,然不應如此之愚也。
○ 子曰:「君子博學於文,約之以禮,亦可以弗畔矣夫!」
夫,音扶。○ 約,要也。畔,背也。君子學欲其博,故於文無不考;守欲其要,故其動必以禮。如此,則可以不背於道矣。○ 程子曰:「博學於文而不約之以禮,必至於汗漫。博學矣,又能守禮而由於規矩,則亦可以不畔道矣。」
○ 子見南子,子路不說。夫子矢之曰:「予所否者,天厭之!天厭之!」
說,音悅。否,方九反。○ 南子,衛靈公之夫人,有淫行。孔子至衛,南子請見,孔子辭謝,不得已而見之。蓋古者仕於其國,有見其小君之禮。而子路以夫子見此淫亂之人為辱,故不悅。矢,誓也。所,誓辭也,如云「所不與崔、慶者」之類。否,謂不合於禮,不由其道也。厭,棄絕也。聖人道大德全,無可不可。其見惡人,固謂在我有可見之禮,則彼之不善,我何與焉。然此豈子路所能測哉?故重言以誓之,欲其姑信此而深思以得之也。
○ 子曰:「中庸之為德也,其至矣乎!民鮮久矣。」
鮮,上聲。○ 中者,無過無不及之名也。庸,平常也。至,極也。鮮,少也。言民少此德,今已久矣。○ 程子曰:「不偏之謂中,不易之謂庸。中者天下之正道,庸者天下之定理。自世教衰,民不興於行,少有此德久矣。」
○ 子貢曰:「如有博施於民而能濟眾,何如?可謂仁乎?」子曰:「何事於仁,必也聖乎!堯舜其猶病諸!
施,去聲。○ 博,廣也。仁以理言,通乎上下。聖以地言,則造其極之名也。乎者,疑而未定之辭。病,心有所不足也。言此何止於仁,必也聖人能之乎!則雖堯舜之聖,其心猶有所不足於此也。以是求仁,愈難而愈遠矣。
夫仁者,己欲立而立人,己欲達而達人。
夫,音扶。○ 以己及人,仁者之心也。於此觀之,可以見天理之周流而無閒矣。狀仁之體,莫切於此。
能近取譬,可謂仁之方也已。」
譬,喻也。方,術也。近取諸身,以己所欲譬之他人,知其所欲亦猶是也。然後推其所欲以及於人,則恕之事而仁之術也。於此勉焉,則有以勝其人欲之私,而全其天理之公矣。○ 程子曰:「醫書以手足痿痹為不仁,此言最善名狀。仁者以天地萬物為一體,莫非己也。認得為己,何所不至;若不屬己,自與己不相干。如手足之不仁,氣已不貫,皆不屬己。故博施濟眾,乃聖人之功用。仁至難言,故止曰:『己欲立而立人,己欲達而達人,能近取譬,可謂仁之方也已。』欲令如是觀仁,可以得仁之體。」又曰「論語言『堯舜其猶病諸』者二。夫博施者,豈非聖人之所欲?然必五十乃衣帛,七十乃食肉。聖人之心,非不欲少者亦衣帛食肉也,顧其養有所不贍爾,此病其施之不博也。濟眾者,豈非聖人之所欲?然治不過九州。聖人非不欲四海之外亦兼濟也,顧其治有所不及爾,此病其濟之不眾也。推此以求,脩己以安百姓,則為病可知。苟以吾治已足,則便不是聖人。」呂氏曰:「子貢有志於仁,徒事高遠,未知其方。孔子教以於己取之,庶近而可入。是乃為仁之方,雖博施濟眾,亦由此進。」
述而第七
述而第七 
此篇多記聖人謙己誨人之辭及其容貌行事之實。凡三十七章。
○ 子曰:「述而不作,信而好古,竊比於我老彭。」
好,去聲。○ 述,傳舊而已。作,則創始也。故作非聖人不能,而述則賢者可及。竊比,尊之之辭。我,親之之辭。老彭,商賢大夫,見大戴禮,蓋信古而傳述者也。孔子刪詩書,定禮樂,贊周易,脩春秋,皆傳先王之舊,而未嘗有所作也,故其自言如此。蓋不惟不敢當作者之聖,而亦不敢顯然自附於古之賢人;蓋其德愈盛而心愈下,不自知其辭之謙也。然當是時,作者略備,夫子蓋集群聖之大成而折衷之。其事雖述,而功則倍於作矣,此又不可不知也。
○ 子曰:「默而識之,學而不厭,誨人不倦,何有於我哉?」
識,音志,又如字。○ 識,記也。默識,謂不言而存諸心也。一說:識,知也,不言而心解也。前說近是。何有於我,言何者能有於我也。三者已非聖人之極至,而猶不敢當,則謙而又謙之辭也。
○ 子曰:「德之不脩,學之不講,聞義不能徙,不善不能改,是吾憂也。」
尹氏曰:「德必脩而後成,學必講而後明,見善能徙,改過不吝,此四者日新之要也。苟未能之,聖人猶憂,況學者乎?」
○ 子之燕居,申申如也,夭夭如也。
燕居,閒暇無事之時。楊氏曰:「申申,其容舒也。夭夭,其色愉也。」○ 程子曰:「此弟子善形容聖人處也,為申申字說不盡,故更著夭夭字。今人燕居之時,不怠惰放肆,必太嚴厲。嚴厲時著此四字不得,怠惰放肆時亦著此四字不得,惟聖人便自有中和之氣。」
○ 子曰:「甚矣吾衰也!久矣吾不復夢見周公。」
復,扶又反。○ 孔子盛時,志欲行周公之道,故夢寐之間,如或見之。至其老而不能行也,則無復是心,而亦無復是夢矣,故因此而自歎其衰之甚也。○ 程子曰:「孔子盛時,寤寐常存行周公之道;及其老也,則志慮衰而不可以有為矣。蓋存道者心,無老少之異;而行道者身,老則衰也。」
○ 子曰:「志於道,
志者,心之所之之謂。道,則人倫日用之間所當行者是也。如此而心必之焉,則所適者正,而無他歧之惑矣。
據於德,
據者,執守之意。德者,得也,得其道於心而不失之謂也。得之於心而守之不失,則終始惟一,而有日新之功矣。
依於仁,
依者,不違之謂。仁,則私欲盡去而心德之全也。功夫至此而無終食之違,則存養之熟,無適而非天理之流行矣。
游於藝。」
游者,玩物適情之謂。藝,則禮樂之文,射、御、書、數之法,皆至理所寓,而日用之不可闕者也。朝夕游焉,以博其義理之趣,則應務有餘,而心亦無所放矣。○ 此章言人之為學當如是也。蓋學莫先於立志,志道,則心存於正而不他;據德,則道得於心而不失;依仁,則德性常用而物欲不行;游藝,則小物不遺而動息有養。學者於此,有以不失其先後之序、輕重之倫焉,則本末兼該,內外交養,日用之間,無少間隙,而涵泳從容,忽不自知其入於聖賢之域矣。
○ 子曰:「自行束修以上,吾未嘗無誨焉。」
脩,脯也。十脡為束。古者相見,必執贄以為禮,束修其至薄者。蓋人之有生,同具此理,故聖人之於人,無不欲其入於善。但不知來學,則無往教之禮,故苟以禮來,則無不有以教之也。
○ 子曰:「不憤不啟,不悱不發,舉一隅不以三隅反,則不復也。」
憤,房粉反。悱,芳匪反。復,扶又反。○ 憤者,心求通而未得之意。悱者,口欲言而未能之貌。啟,謂開其意。發,謂達其辭。物之有四隅者,舉一可知其三。反者,還以相證之義。復,再告也。上章已言聖人誨人不倦之意,因并記此,欲學者勉於用力,以為受教之地也。○ 程子曰:「憤悱,誠意之見於色辭者也。待其誠至而後告之。既告之,又必待其自得,乃復告爾。」又曰:「不待憤悱而發,則知之不能堅固;待其憤悱而後發,則沛然矣。」
○ 子食於有喪者之側,未嘗飽也。
臨喪哀,不能甘也。
子於是日哭,則不歌。
哭,謂弔哭。日之內,餘哀未忘,自不能歌也。○ 謝氏曰:「學者於此二者,可見聖人情性之正也。能識聖人之情性,然後可以學道。」
○ 子謂顏淵曰:「用之則行,舍之則藏,唯我與爾有是夫!」
舍,上聲。夫,音扶。○ 尹氏曰:「用舍無與於己,行藏安於所遇,命不足道也。顏子幾於聖人,故亦能之。」
子路曰:「子行三軍,則誰與?」
萬二千五百人為軍,大國三軍。子路見孔子獨美顏淵,自負其勇,意夫子若行三軍,必與己同。
子曰:「暴虎馮河,死而無悔者,吾不與也。必也臨事而懼,好謀而成者也。」
馮,皮冰反。好,去聲。○ 暴虎,徒搏。馮河,徒涉。懼,謂敬其事。成,謂成其謀。言此皆以抑其勇而教之,然行師之要實不外此,子路蓋不知也。○ 謝氏曰:「聖人於行藏之間,無意無必。其行非貪位,其藏非獨善也。若有欲心,則不用而求行,舍之而不藏矣,是以惟顏子為可以與於此。子路雖非有欲心者,然未能無固必也,至以行三軍為問,則其論益卑矣。夫子之言,蓋因其失而救之。夫不謀無成,不懼必敗,小事尚然,而況於行三軍乎?」
○ 子曰:「富而可求也,雖執鞭之士,吾亦為之。如不可求,從吾所好。」
好,去聲。○ 執鞭,賤者之事。設言富若可求,則雖身為賤役以求之,亦所不辭。然有命焉,非求之可得也,則安於義理而已矣,何必徒取辱哉?○ 蘇氏曰:「聖人未嘗有意於求富也,豈問其可不可哉?為此語者,特以明其決不可求爾。」楊氏曰:「君子非惡富貴而不求,以其在天,無可求之道也。」
○ 子之所慎:齊,戰,疾。
齊,側皆反。○ 齊之為言齊也,將祭而齊其思慮之不齊者,以交於神明也。誠之至與不至,神之饗與不饗,皆決於此。戰則眾之死生、國之存亡繫焉,疾又吾身之所以死生存亡者,皆不可以不謹也。○ 尹氏曰:「夫子無所不謹,弟子記其大者耳。」
○ 子在齊聞韶,三月不知肉味。曰:「不圖為樂之至於斯也!」
史記三月上有「學之」二字。不知肉味,蓋心一於是而不及乎他也。曰:不意舜之作樂至於如此之美,則有以極其情文之備,而不覺其歎息之深也,蓋非聖人不足以及此。○ 范氏曰:「韶盡美又盡善,樂之無以加此也。故學之三月,不知肉味,而歎美之如此。誠之至,感之深也。」
○ 冉有曰:「夫子為衛君乎?」子貢曰:「諾。吾將問之。」
為,去聲。○ 為,猶助也。衛君,出公輒也。靈公逐其世子蒯聵。公薨,而國人立蒯聵之子輒。於是晉納蒯聵而輒拒之。時孔子居衛,衛人以蒯聵得罪於父,而輒嫡孫當立,故冉有疑而問之。諾,應辭也。
入,曰:「伯夷、叔齊何人也?」曰:「古之賢人也。」曰:「怨乎?」曰:「求仁而得仁,又何怨。」出,曰:「夫子不為也。」
伯夷、叔齊,孤竹君之二子。其父將死,遺命立叔齊。父卒,叔齊遜伯夷。伯夷曰:「父命也」,遂逃去。叔齊亦不立而逃之,國人立其中子。其後武王伐紂,夷、齊扣馬而諫。武王滅商,夷、齊恥食周粟,去隱于首陽山,遂餓而死。怨,猶悔也。君子居是邦,不非其大夫,況其君乎?故子貢不斥衛君,而以夷、齊為問。夫子告之如此,則其不為衛君可知矣。蓋伯夷以父命為尊,叔齊以天倫為重。其遜國也,皆求所以合乎天理之正,而即乎人心之安。既而各得其志焉,則視棄其國猶敝蹝爾,何怨之有?若衛輒之據國拒父而惟恐失之,其不可同年而語明矣。○ 程子曰:「伯夷、叔齊遜國而逃,諫伐而餓,終無怨悔,夫子以為賢,故知其不與輒也。」
○ 子曰:「飯疏食飲水,曲肱而枕之,樂亦在其中矣。不義而富且貴,於我如浮雲。」
飯,符晚反。食,音嗣。枕,去聲。樂,音洛。○ 飯,食之也。疏食,麤飯也。聖人之心,渾然天理,雖處困極,而樂亦無不在焉。其視不義之富貴,如浮雲之無有,漠然無所動於其中也。○ 程子曰:「非樂疏食飲水也,雖疏食飲水,不能改其樂也。不義之富貴,視之輕如浮雲然。」又曰:「須知所樂者何事。」
○ 子曰:「加我數年,五十以學易,可以無大過矣。」
劉聘君見元城劉忠定公自言嘗讀他論,「加」作假,「五十」作卒。蓋加、假聲相近而誤讀,卒與五十字相似而誤分也。愚按:此章之言,史記作為「假我數年,若是我於易則彬彬矣」。加正作假,而無五十字。蓋是時,孔子年已幾七十矣,五十字誤無疑也。學易,則明乎吉凶消長之理,進退存亡之道,故可以無大過。蓋聖人深見易道之無窮,而言此以教人,使知其不可不學,而又不可以易而學也。
○ 子所雅言,詩、書、執禮,皆雅言也。
雅,常也。執,守也。詩以理情性,書以道政事,禮以謹節文,皆切於日用之實,故常言之。禮獨言執者,以人所執守而言,非徒誦說而已也。○ 程子曰:「孔子雅素之言,止於如此。若性與天道,則有不可得而聞者,要在默而識之也。」謝氏曰:「此因學易之語而類記之。」
○ 葉公問孔子於子路,子路不對。
葉,舒涉反。○ 葉公,楚葉縣尹沈諸梁,字子高,僭稱公也。葉公不知孔子,必有非所問而問者,故子路不對。抑亦以聖人之德,實有未易名言者與?
子曰:「女奚不曰,其為人也,發憤忘食,樂以忘憂,不知老之將至云爾。」
未得,則發憤而忘食;已得,則樂之而忘憂。以是二者俛焉日有孳孳,而不知年數之不足,但自言其好學之篤耳。然深味之,則見其全體至極,純亦不已之妙,有非聖人不能及者。蓋凡夫子之自言類如此,學者宜致思焉。
○ 子曰:「我非生而知之者,好古,敏以求之者也。」
好,去聲。○ 生而知之者,氣質清明,義理昭著,不待學而知也。敏,速也,謂汲汲也。○ 尹氏曰:「孔子以生知之聖,每云好學者,非惟勉人也,蓋生而可知者義理爾,若夫禮樂名物,古今事變,亦必待學而後有以驗其實也。
○ 子不語怪,力,亂,神。
怪異、勇力、悖亂之事,非理之正,固聖人所不語。鬼神,造化之迹,雖非不正,然非窮理之至,有未易明者,故亦不輕以語人也。○ 謝氏曰:「聖人語常而不語怪,語德而不語力,語治而不語亂,語人而不語神。」
○ 子曰:「三人行,必有我師焉。擇其善者而從之,其不善者而改之。」
三人同行,其一我也。彼二人者,一善一惡,則我從其善而改其惡焉,是二人者皆我師也。○ 尹氏曰:「見賢思齊,見不賢而內自省,則善惡皆我之師,進善其有窮乎?」
○ 子曰:「天生德於予,桓魋其如予何?」
魋,徒雷反。○ 桓魋,宋司馬向魋也。出於桓公,故又稱桓氏。魋欲害孔子,孔子言天既賦我以如是之德,則桓魋其奈我何?言必不能違天害己。
○ 子曰:「二三子以我為隱乎?吾無隱乎爾。吾無行而不與二三子者,是丘也。」
諸弟子以夫子之道高深不可幾及,故疑其有隱,而不知聖人作、止、語、默無非教也,故夫子以此言曉之。與,猶示也。○ 程子曰:「聖人之道猶天然,門弟子親炙而冀及之,然後知其高且遠也。使誠以為不可及,則趨向之心不幾於怠乎?故聖人之教,常俯而就之如此,非獨使資質庸下者勉思企及,而才氣高邁者亦不敢躐易而進也。」呂氏曰:「聖人體道無隱,與天象昭然,莫非至教。常以示人,而人自不察。」
○ 子以四教:文,行,忠,信。
行,去聲。○ 程子曰:「教人以學文脩行而存忠信也。忠信,本也。」
○ 子曰:「聖人,吾不得而見之矣;得見君子者,斯可矣。」
聖人,神明不測之號。君子,才德出眾之名。
子曰:「善人,吾不得而見之矣;得見有恆者,斯可矣。
恆,胡登反。○ 「子曰」字疑衍文。恆,常久之意。張子曰:「有恆者,不貳其心。善人者,志於仁而無惡。」
亡而為有,虛而為盈,約而為泰,難乎有恆矣。」
亡,讀為無。○ 三者皆虛夸之事,凡若此者,必不能守其常也。○ 張敬夫曰:「聖人、君子以學言,善人、有恆者以質言。」愚謂有恆者之與聖人,高下固懸絕矣,然未有不自有恆而能至於聖者也。故章末申言有恆之義,其示人入德之門,可謂深切而著明矣。
○ 子釣而不綱,弋不射宿。
射,食亦反。○ 綱,以大繩屬網,絕流而漁者也。弋,以生絲繫矢而射也。宿,宿鳥。○ 洪氏曰:「孔子少貧賤,為養與祭,或不得已而釣弋,如獵較是也。然盡物取之,出其不意,亦不為也。此可見仁人之本心矣。待物如此,待人可知;小者如此,大者可知。」
○ 子曰:「蓋有不知而作之者,我無是也。多聞擇其善者而從之,多見而識之,知之次也。」
識,音志。○ 不知而作,不知其理而妄作也。孔子自言未嘗妄作,蓋亦謙辭,然亦可見其無所不知也。識,記也。所從不可不擇,記則善惡皆當存之,以備參考。如此者雖未能實知其理,亦可以次於知之者也。
○ 互鄉難與言,童子見,門人惑。
見,賢遍反。○ 互鄉,鄉名。其人習於不善,難與言善。惑者,疑夫子不當見之也。
子曰:「與其進也,不與其退也,唯何甚!人潔己以進,與其潔也,不保其往也。」
疑此章有錯簡。「人潔」至「往也」十四字,當在「與其進也」之前。潔,脩治也。與,許也。往,前日也。言人潔己而來,但許其能自潔耳,固不能保其前日所為之善惡也;但許其進而來見耳,非許其既退而為不善也。蓋不追其既往,不逆其將來,以是心至,斯受之耳。唯字上下,疑又有闕文,大抵亦不為已甚之意。○ 程子曰:「聖人待物之洪如此。」
○ 子曰:「仁遠乎哉?我欲仁,斯仁至矣。」
仁者,心之德,非在外也。放而不求,故有以為遠者;反而求之,則即此而在矣,夫豈遠哉?○ 程子曰:「為仁由己,欲之則至,何遠之有?」
○ 陳司敗問昭公知禮乎?孔子曰:「知禮。」
陳,國名。司敗,官名,即司寇也。昭公,魯君,名裯。習於威儀之節,當時以為知禮。故司敗以為問,而孔子答之如此。
孔子退,揖巫馬期而進之,曰:「吾聞君子不黨,君子亦黨乎?君取於吳為同姓,謂之吳孟子。君而知禮,孰不知禮?」
取,七住反。○ 巫馬姓,期字,孔子弟子,名施。司敗揖而進之也。相助匿非曰黨。禮不娶同姓,而魯與吳皆姬姓。謂之吳孟子者,諱之使若宋女子姓者然。
巫馬期以告。子曰:「丘也幸,苟有過,人必知之。」
孔子不可自謂諱君之惡,又不可以娶同姓為知禮,故受以為過而不辭。○ 吳氏曰:「魯蓋夫子父母之國,昭公,魯之先君也。司敗又未嘗顯言其事,而遽以知禮為問,其對之宜如此也。及司敗以為有黨,而夫子受以為過,蓋夫子之盛德,無所不可也。然其受以為過也,亦不正言其所以過,初若不知孟子之事者,可以為萬世之法矣。」
○ 子與人歌而善,必使反之,而後和之。
和,去聲。○ 反,復也。必使復歌者,欲得其詳而取其善也。而後和之者,喜得其詳而與其善也。此見聖人氣象從容,誠意懇至,而其謙遜審密,不掩人善又如此。蓋一事之微,而眾善之集,有不可勝既者焉,讀者宜詳味之。
○ 子曰:「文,莫吾猶人也。躬行君子,則吾未之有得。」
莫,疑辭。猶人,言不能過人,而尚可以及人。未之有得,則全未有得,皆自謙之辭。而足以見言行之難易緩急,欲人之勉其實也。○ 謝氏曰「文雖聖人無不與人同,故不遜;能躬行君子,斯可以入聖,故不居;猶言君子道者三我無能焉。」
○ 子曰:「若聖與仁,則吾豈敢?抑為之不厭,誨人不倦,則可謂云爾已矣。」公西華曰:「正唯弟子不能學也。」
此亦夫子之謙辭也。聖者,大而化之。仁,則心德之全而人道之備也。為之,謂為仁聖之道。誨人,亦謂以此教人也。然不厭不倦,非己有之則不能,所以弟子不能學也。○ 晁氏曰:「當時有稱夫子聖且仁者,以故夫子辭之。苟辭之而已焉,則無以進天下之材,率天下之善,將使聖與仁為虛器,而人終莫能至矣。故夫子雖不居仁聖,而必以為之不厭、誨人不倦自處也。」可謂云爾已矣者,無他之辭也。公西華仰而歎之,其亦深知夫子之意矣。
○ 子疾病,子路請禱。子曰:「有諸?」子路對曰:「有之。誄曰:『禱爾于上下神祇。』」子曰:「丘之禱久矣。」
誄,力[一]軌反。○ 禱,謂禱於鬼神。有諸,問有此理否。誄者,哀死而述其行之辭也。上下,謂天地。天曰神,地曰祇。禱者,悔過遷善,以祈神之佑也。無其理則不必禱,既曰有之,則聖人未嘗有過,無善可遷。其素行固已合於神明,故曰:「丘之禱久矣。」又士喪禮,疾病行禱五祀,蓋臣子迫切之至情,有不能自已者,初不請於病者而後禱也。故孔子之於子路,不直拒之,而但告以無所事禱之意。 [一]「力」原作「九」,據清仿宋大字本改。
○ 子曰:「奢則不孫,儉則固。與其不孫也,寧固。」
孫,去聲。○ 孫,順也。固,陋也。奢儉俱失中,而奢之害大。○ 晁氏曰:「不得已而救時之弊也。」
○ 子曰:「君子坦蕩蕩,小人長戚戚。」
坦,平也。蕩蕩,寬廣貌。程子曰:「君子循理,故常舒泰;小人役於物,故多憂戚。」○ 程子曰:「君子坦蕩蕩,心廣體胖。」
○ 子溫而厲,威而不猛,恭而安。
厲,嚴肅也。人之德性本無不備,而氣質所賦,鮮有不偏,惟聖人全體渾然,陰陽合德,故其中和之氣見於容貌之間者如此。門人熟察而詳記之,亦可見其用心之密矣。抑非,知足以知聖人而善言德行者不能也,故程子以為曾子之言。學者所宜反復而玩心也。
泰伯第八
泰伯第八
凡二十一章。
○ 子曰:「泰伯,其可謂至德也已矣!三以天下讓,民無得而稱焉。」
泰伯,周大王之長子。至德,謂德之至極,無以復加者也。三讓,謂固遜也。無得而稱,其遜隱微,無迹可見也。蓋大王三子:長泰伯,次仲雍,次季歷。大王之時,商道寖衰,而周日強大。季歷又生子昌,有聖德。大王因有翦商之志,而泰伯不從,大王遂欲傳位季歷以及昌。泰伯知之,即與仲雍逃之荊蠻。於是大王乃立季歷,傳國至昌,而三分天下有其二,是為文王。文王崩,子發立,遂克商而有天下,是為武王。夫以泰伯之德,當商周之際,固足以朝諸侯有天下矣,乃棄不取而又泯其 迹焉,則其德之至極為何如哉!蓋其心即夷齊扣馬之心,而事之難處有甚焉者,宜夫子之歎息而贊美之也。泰伯不從,事見春秋傳。
○ 子曰:「恭而無禮則勞,慎而無禮則葸,勇而無禮則亂,直而無禮則絞。
葸,絲里反。絞,古卯反。○ 葸,畏懼貌。絞,急切也。無禮則無節文,故有四者之弊。
君子篤於親,則民興於仁;故舊不遺,則民不偷。」
君子,謂在上之人也。興,起也。偷,薄也。○ 張子曰「人道知所先後,則恭不勞、慎不葸、勇不亂、直不絞,民化而德厚矣。」○ 吳氏曰:「君子以下,當自為一章,乃曾子之言也。」愚按:此一節與上文不相蒙,而與首篇慎終追遠之意相類,吳說近是。
○ 曾子有疾,召門弟子曰:「啟予足!啟予手!詩云『戰戰兢兢,如臨深淵,如履薄冰。』而今而後,吾知免夫!小子!」
夫,音扶。○ 啟,開也。曾子平日以為身體受於父母,不敢毀傷,故於此使弟子開其衾而視之。詩小旻之篇。戰戰,恐懼。兢兢,戒謹。臨淵,恐墜;履冰,恐陷也。曾子以其所保之全示門人,而言其所以保之之難如此;至於將死,而後知其得免於毀傷也。小子,門人也。語畢而又呼之,以致反覆丁寧之意,其警之也深矣。○ 程子曰:「君子曰終,小人曰死。君子保其身以沒,為終其事也,故曾子以全歸為免矣。」尹氏曰:「父母全而生之,子全而歸之。曾子臨終而啟手足,為是故也。非有得於道,能如是乎?」范氏曰:「身體猶不可虧也,況虧其行以辱其親乎?」
○ 曾子有疾,孟敬子問之。
孟敬子,魯大夫仲孫氏,名捷。問之者,問其疾也。
曾子言曰:「鳥之將死,其鳴也哀;人之將死,其言也善。
言,自言也。鳥畏死,故鳴哀。人窮反本,故言善。此曾子之謙辭,欲敬子知其所言之善而識之也。
君子所貴乎道者三:動容貌,斯遠暴慢矣;正顏色,斯近信矣;出辭氣,斯遠鄙倍矣。籩豆之事,則有司存。」
遠、近,並去聲。○ 貴,猶重也。容貌,舉一身而言。暴,粗厲也。慢,放肆也。信,實也。正顏色而近信,則非色莊也。辭,言語。氣,聲氣也。鄙,凡陋也。倍,與背同,謂背理也。籩,竹豆。豆,木豆。言道雖無所不在,然君子所重者,在此三事而已。是皆脩身之要、為政之本,學者所當操存省察,而不可有造次顛沛之違者也。若夫籩豆之事,器數之末,道之全體固無不該,然其分則有司之守,而非君子之所重矣。○ 程子曰:「動容貌,舉一身而言也。周旋中禮,暴慢斯遠矣。正顏色則不妄,斯近信矣。出辭氣,正由中出,斯遠鄙倍。三者正身而不外求,故曰籩豆之事則有司存。」尹氏曰「養於中則見於外,曾子蓋以脩己為為政之本。若乃器用事物之細,則有司存焉。」
○ 曾子曰:「以能問於不能,以多問於寡;有若無,實若虛,犯而不校,昔者吾友嘗從事於斯矣。」
校,計校也。友,馬氏以為顏淵是也。顏子之心,惟知義理之無窮,不見物我之有間,故能如此。○ 謝氏曰:「不知有餘在己,不足在人;不必得為在己,失為在人,非幾於無我者不能也。」
○ 曾子曰:「可以託六尺之孤,可以寄百里之命,臨大節而不可奪也。君子人與?君子人也。」
與,平聲。○ 其才可以輔幼君、攝國政,其節至於死生之際而不可奪,可謂君子矣。與,疑辭。也,決辭。設為問答,所以深著其必然也。○ 程子曰:「節操如是,可謂君子矣。」
○ 曾子曰:「士不可以不弘毅,任重而道遠。
弘,寬廣也。毅,強忍也。非弘不能勝其重,非毅無以致其遠。
仁以為己任,不亦重乎?死而後已,不亦遠乎?」
仁者,人心之全德,而必欲以身體而力行之,可謂重矣。一息尚存,此志不容少懈,可謂遠矣。○ 程子曰:「弘而不毅,則無規矩而難立;毅而不弘,則隘陋而無以居之。」又曰「弘大剛毅,然後能勝重任而遠到。」
○ 子曰:「興於詩,
興,起也。詩本性情,有邪有正,其為言既易知,而吟詠之間,抑揚反覆,其感人又易入。故學者之初,所以興起其好善惡惡之心,而不能自已者,必於此而得之。
立於禮。
禮以恭敬辭遜為本,而有節文度數之詳,可以固人肌膚之會,筋骸之束。故學者之中,所以能卓然自立,而不為事物之所搖奪者,必於此而得之。
成於樂。」
樂有五聲十二律,更唱迭和,以為歌舞八音之節,可以養人之性情,而蕩滌其邪穢,消融其查滓。故學者之終,所以至於義精仁熟,而自和順於道德者,必於此而得之,是學之成也。○ 按內則,十年學幼儀,十三學樂誦詩,二十而後學禮。則此三者,非小學傳授之次,乃大學終身所得之難易、先後、淺深也。程子曰:「天下之英才不為少矣,特以道學不明,故不得有所成就。夫古人之詩,如今之歌曲,雖閭里童稚,皆習聞之而知其說,故能興起。今雖老師宿儒,尚不能曉其義,況學者乎?是不得興於詩也。古人自洒埽應對,以至冠、昏、喪、祭,莫不有禮。今皆廢壞,是以人倫不明,治家無法,是不得立於禮也。古人之樂:聲音所以養其耳,采色所以養其目,歌詠所以養其性情,舞蹈所以養其血脈。今皆無之,是不得成於樂也。是以古之成材也易,今之成材也難。」
○ 子曰:「民可使由之,不可使知之。」
民可使之由於是理之當然,而不能使之知其所以然也。○ 程子曰:「聖人設教,非不欲人家喻而戶曉也,然不能使之知,但能使之由之爾。若曰聖人不使民知,則是後世朝四暮三之術也,豈聖人之心乎?」
○ 子曰:「好勇疾貧,亂也。人而不仁,疾之已甚,亂也。」
好,去聲。○ 好勇而不安分,則必作亂。惡不仁之人而使之無所容,則必致亂。二者之心,善惡雖殊,然其生亂則一也。
○ 子曰:「如有周公之才之美,使驕且吝,其餘不足觀也已。」
才美,謂智能技藝之美。驕,矜夸。吝,鄙嗇也。○ 程子曰:「此甚言驕吝之不可也。蓋有周公之德,則自無驕吝;若但有周公之才而驕吝焉,亦不足觀矣。」又曰:「驕,氣盈。吝,氣歉。」愚謂驕吝雖有盈歉之殊,然其勢常相因。蓋驕者吝之枝葉,吝者驕之本根。故嘗驗之天下之人,未有驕而不吝,吝而不驕者也。
○ 子曰:「三年學,不至於穀,不易得也。」
易,去聲。○ 穀,祿也。至,疑當作志。為學之久,而不求祿,如此之人,不易得也。○ 楊氏曰:「雖子張之賢,猶以干祿為問,況其下者乎?然則三年學而不至於穀,宜不易得也。」
○ 子曰:「篤信好學,守死善道。
好,去聲。○ 篤,厚而力也。不篤信,則不能好學;然篤信而不好學,則所信或非其正。不守死,則不能以善其道;然守死而不足以善其道,則亦徒死而已。蓋守死者篤信之效,善道者好學之功。
危邦不入,亂邦不居。天下有道則見,無道則隱。
見,賢遍反。○ 君子見危授命,則仕危邦者無可去之義,在外則不入可也。亂邦未危,而刑政紀綱紊矣,故潔其身而去之。天下,舉一世而言。無道,則隱其身而不見也。此惟篤信好學、守死善道者能之。
邦有道,貧且賤焉,恥也;邦無道,富且貴焉,恥也。」
世治而無可行之道,世亂而無能守之節,碌碌庸人,不足以為士矣,可恥之甚也。○ 晁氏曰:「有學有守,而去就之義潔,出處之分明,然後為君子之全德也。」
○ 子曰:「不在其位,不謀其政。」
程子曰:「不在其位,則不任其事也,若君大夫問而告者則有矣。」
○ 子曰:「師摯之始,關雎之亂,洋洋乎!盈耳哉。」
摯,音至。雎,七余反。○ 師摯,魯樂師名摯也。亂,樂之卒章也。史記曰「關雎之亂以為風始。」洋洋,美盛意。孔子自衛反魯而正樂,適師摯在官之初,故樂之美盛如此。
○ 子曰:「狂而不直,侗而不愿,悾悾而不信,吾不知之矣。」
侗,音通。悾,音空。○ 侗,無知貌。愿,謹厚也。悾悾,無能貌。吾不知之者,甚絕之之辭,亦不屑之教誨也。○ 蘇氏曰:「天之生物,氣質不齊。其中材以下,有是德則有是病。有是病必有是德,故馬之蹄齧者必善走,其不善者必馴。有是病而無是德,則天下之棄才也。」
○ 子曰:「學如不及,猶恐失之。」
言人之為學,既如有所不及矣,而其心猶竦然,惟恐其或失之,警學者當如是也。○ 程子曰:「學如不及,猶恐失之,不得放過。纔說姑待明日,便不可也。」
○ 子曰:「巍巍乎!舜禹之有天下也,而不與焉。」
與,去聲。○ 巍巍,高大之貌。不與,猶言不相關,言其不以位為樂也。
○ 子曰:「大哉堯之為君也!巍巍乎!唯天為大,唯堯則之。蕩蕩乎!民無能名焉。
唯,猶獨也。則,猶準也。蕩蕩,廣遠之稱也。言物之高大,莫有過於天者,而獨堯之德能與之準。故其德之廣遠,亦如天之不可以言語形容也。
巍巍乎!其有成功也;煥乎,其有文章!」
成功,事業也。煥,光明之貌。文章,禮樂法度也。堯之德不可名,其可見者此爾。○ 尹氏曰:「天道之大,無為而成。唯堯則之以治天下,故民無得而名焉。所可名者,其功業文章巍然煥然而已。」
○ 舜有臣五人而天下治。
治,去聲。○ 五人,禹、稷、契、皋陶、伯益。
武王曰:「予有亂臣十人。」
書泰誓之辭。馬氏曰:「亂,治也。」十人,謂周公旦、召公奭、太公望、畢公、榮公、太顛、閎夭、散宜生、南宮 适,其一人謂文母。劉侍讀以為子無臣母之義,蓋邑姜也。九人治外,邑姜治內。或曰:「亂本作乿,古治字也。」
孔子曰:「才難,不其然乎?唐虞之際,於斯為盛。有婦人焉,九人而已。
稱孔子者,上係武王君臣之際,記者謹之。才難,蓋古語,而孔子然之也。才者,德之用也。唐虞,堯舜有天下之號。際,交會之間。言周室人才之多,惟唐虞之際,乃盛於此。降自夏商,皆不能及,然猶但有此數人爾,是才之難得也。
三分天下有其二,以服事殷。周之德,其可謂至德也已矣。」
春秋傳曰,「文王率商之畔國以事紂」,蓋天下歸文王者六州,荊、梁、雍、豫、徐、揚也。惟青、兗、冀,尚屬紂耳。范氏曰:「文王之德,足以代商。天與之,人歸之,乃不取而服事焉,所以為至德也。孔子因武王之言而及文王之德,且與泰伯,皆以至德稱之,其指微矣。」或曰:「宜斷三分以下,別以孔子曰起之,而自為一章。」
○ 子曰:「禹,吾無間然矣。菲飲食,而致孝乎鬼神;惡衣服,而致美乎黻冕;卑宮室,而盡力乎溝洫。禹,吾無間然矣。」
閒,去聲。菲,音匪。黻,音弗。洫,呼域反。閒,罅隙也,謂指其罅隙而非議之也。菲,薄也。致孝鬼神,謂享祀豐潔。衣服,常服。黻,蔽膝也,以韋為之。冕,冠也,皆祭服也。溝洫,田間水道,以正疆界、備旱潦者也。或豐或儉,各適其宜,所以無罅隙之可議也,故再言以深美之。○ 楊氏曰:「薄於自奉,而所勤者民之事,所致飾者宗廟朝廷之禮,所謂有天下而不與也,夫何間然之有。」
子罕第九
子罕第九 
凡三十章。
○ 子罕言利與命與仁。
罕,少也。程子曰:「計利則害義,命之理微,仁之道大,皆夫子所罕言也。」
○ 達巷黨人曰:「大哉孔子!博學而無所成名。」
達巷,黨名。其人姓名不傳。博學無所成名,蓋美其學之博而惜其不成一藝之名也。
子聞之,謂門弟子曰:「吾何執?執御乎?執射乎?吾執御矣。」
執,專執也。射御皆一藝,而御為人僕,所執尤卑。言欲使我何所執以成名乎?然則吾將執御矣。聞人譽己,承之以謙也。○ 尹氏曰:「聖人道全而德備,不可以偏長目之也。達巷黨人見孔子之大,意其所學者博,而惜其不以一善得名於世,蓋慕聖人而不知者也。故孔子曰,欲使我何所執而得為名乎?然則吾將執御矣。」
○ 子曰:「麻冕,禮也;今也純,儉。吾從眾。
麻冕,緇布冠也。純,絲也。儉,謂省約。緇布冠,以三十升布為之,升八十縷,則其經二千四百縷矣。細密難成,不如用絲之省約。
拜下,禮也;今拜乎上,泰也。雖違眾,吾從下。」
臣與君行禮,當拜於堂下。君辭之,乃升成拜。泰,驕慢也。○ 程子曰:「君子處世,事之無害於義者,從俗可也;害於義,則不可從也。」
○ 子絕四:毋意,毋必,毋固,毋我。
絕,無之盡者。毋,史記作「無」是也。意,私意也。必,期必也。固,執滯也。我,私己也。四者相為終始,起於意,遂於必,留於固,而成於我也。蓋意必常在事前,固我常在事後,至於我又生意,則物欲牽引,循環不窮矣。○ 程子曰:「此毋字,非禁止之辭。聖人絕此四者,何用禁止。」張子曰:「四者有一焉,則與天地不相似。」楊氏曰:「非知足以知聖人,詳視而默識之,不足以記此。」
○ 子畏於匡。
畏者,有戒心之謂。匡,地名。史記云:「陽虎曾暴於匡,夫子貌似陽虎,故匡人圍之。」
曰:「文王既沒,文不在茲乎?
道之顯者謂之文,蓋禮樂制度之謂。不曰道而曰文,亦謙辭也。茲,此也,孔子自謂。
天之將喪斯文也,後死者不得與於斯文也;天之未喪斯文也,匡人其如予何?」
喪、與,皆去聲。○ 馬氏曰:「文王既沒,故孔子自謂後死者。言天若欲喪此文,則必不使我得與於此文;今我既得與於此文,則是天未欲喪此文也。天既未欲喪此文,則匡人其柰我何?言必不能違天害己也。」
○ 大宰問於子貢曰:「夫子聖者與?何其多能也?」
大,音泰。與,平聲。○ 孔氏曰:「大宰,官名。或吳或宋,未可知也。」與者,疑辭。大宰蓋以多能為聖也。
子貢曰:「固天縱之將聖,又多能也。」
縱,猶肆也,言不為限量也。將,殆也,謙若不敢知之辭。聖無不通,多能乃其餘事,故言又以兼之。
子聞之,曰:「大宰知我乎!吾少也賤,故多能鄙事。君子多乎哉?不多也。」
言由少賤故多能,而所能者鄙事爾,非以聖而無不通也。且多能非所以率人,故又言君子不必多能以曉之。
牢曰:「子云,『吾不試,故藝』。」
牢,孔子弟子,姓琴,字子開,一字子張。試,用也。言由不為世用,故得以習於藝而通之。○ 吳氏曰:「弟子記夫子此言之時,子牢因言昔之所聞有如此者。其意相近,故并記之。」
○ 子曰:「吾有知乎哉?無知也。有鄙夫問於我,空空如也,我叩其兩端而竭焉。」
叩,音口。○ 孔子謙言己無知識,但其告人,雖於至愚,不敢不盡耳。叩,發動也。兩端,猶言兩頭。言終始、本末、上下、精粗,無所不盡。○ 程子曰:「聖人之教人,俯就之若此,猶恐眾人以為高遠而不親也。聖人之道,必降而自卑,不如此則人不親,賢人之言,則引而自高,不如此則道不尊。觀於孔子、孟子,則可見矣。」尹氏曰:「聖人之言,上下兼盡。即其近,眾人皆可與知;極其至,則雖聖人亦無以加焉,是之謂兩端。如答樊遲之問仁知,兩端竭盡,無餘蘊矣。若夫語上而遺下,語理而遺物,則豈聖人之言哉?」
○ 子曰:「鳳鳥不至,河不出圖,吾已矣夫!」
夫,音扶。○ 鳳,靈鳥,舜時來儀,文王時鳴於岐山。河圖,河中龍馬負圖,伏羲時出,皆聖王之瑞也。已,止也。○ 張子曰:「鳳至圖出,文明之祥。伏羲、舜、文之瑞不至,則夫子之文章,知其已矣。」
○ 子見齊衰者、冕衣裳者與瞽者,見之,雖少必作;過之,必趨。
齊,音咨。衰,七雷反。少,去聲。○ 齊衰,喪服。冕,冠也。衣,上服。裳,下服。冕而衣裳,貴者之盛服也。瞽,無目者。作,起也。趨,疾行也。或曰:「少,當作坐。」○ 范氏曰:「聖人之心,哀有喪,尊有爵,矜不成人。其作與趨,蓋有不期然而然者。」尹氏曰「此聖人之誠心,內外一者也。」
○ 顏淵喟然歎曰:「仰之彌高,鑽之彌堅;瞻之在前,忽焉在後。
喟,苦位反。鑽,祖官反。○ 喟,歎聲。仰彌高,不可及。鑽彌堅,不可入。在前在後,恍惚不可為象。此顏淵深知夫子之道,無窮盡、無方體,而歎之也。
夫子循循然善誘人,博我以文,約我以禮。
循循,有次序貌。誘,引進也。博文約禮,教之序也。言夫子道雖高妙,而教人有序也。侯氏曰:「博我以文,致知格物也。約我以禮,克己復禮也。」程子曰:「此顏子稱聖人最切當處,聖人教人,惟此二事而已。」
○ 欲罷不能,既竭吾才,如有所立卓爾。雖欲從之,末由也已。」
卓,立貌。末,無也。此顏子自言其學之所至也。蓋悅之深而力之盡,所見益親,而又無所用其力也。吳氏曰:「所謂卓爾,亦在乎日用行事之間,非所謂窈冥昏默者。」程子曰:「到此地位,功夫尤難,直是峻絕,又大段著力不得。」楊氏曰:「自可欲之謂善,充而至於大,力行之積也。大而化之,則非力行所及矣,此顏子所以未達一閒也。」○ 程子曰:「此顏子所以為深知孔子而善學之者也。」胡氏曰:「無上事而喟然歎,此顏子學既有得,故述其先難之故、後得之由,而歸功於聖人也。高堅前後,語道體也。仰鑽瞻忽,未領其要也。惟夫子循循善誘,先博我以文,使我知古今,達事變;然後約我以禮,使我尊所間,行所知。如行者之赴家,食者之求飽,是以欲罷而不能,盡心盡力,不少休廢。然後見夫子所立之卓然,雖欲從之,末由也已。是蓋不怠所從,必欲至乎卓立之地也。抑斯歎也,其在請事斯語之後,三月不違之時乎?」
○ 子疾病,子路使門人為臣。
夫子時已去位,無家臣。子路欲以家臣治其喪,其意實尊聖人,而未知所以尊也。
病間,曰:「久矣哉!由之行詐也,無臣而為有臣。吾誰欺?欺天乎?
閒,如字。○ 病閒,少差也。病時不知,既差乃知其事,故言我之不當有家臣,人皆知之,不可欺也。而為有臣,則是欺天而已。人而欺天,莫大之罪。引以自歸,其責子路深矣。
且予與其死於臣之手也,無寧死於二三子之手乎?且予縱不得大葬,予死於道路乎?」
無寧,寧也。大葬,謂君臣禮葬。死於道路,謂棄而不葬。又曉 之以不必然之故。○ 范氏曰:「曾子將死,起而易簀。曰:『吾得正而斃焉,斯已矣。』子路欲尊夫子,而不知無臣之不可為有臣,是以陷於行詐,罪至欺天。君子之於言動,雖微不可不謹。夫子深懲子路,所以警學者也。」楊氏曰:「非知至而意誠,則用智自私,不知行其所無事,往往自陷於行詐欺天而莫之知也。其子路之謂乎?」 
○ 子貢曰:「有美玉於斯,韞匵而藏諸?求善賈而沽諸?」子曰:「沽之哉!沽之哉!我待賈者也。」
韞,紆粉反。匵,徒木反。賈,音嫁。○ 韞,藏也。匵,匱也。沽,賣也。子貢以孔子有道不仕,故設此二端以問也。孔子言固當賣之,但當待賈,而不當求之耳。○ 范氏曰:「君子未嘗不欲仕也,又惡不由其道。士之待禮,猶玉之待賈也。若伊尹之耕於野,伯夷、太公之居於海濱,世無成湯文王,則終焉而已,必不枉道以從人,衒玉而求售也。」
○ 子欲居九夷。
東方之夷有九種。欲居之者,亦乘桴浮海之意。
或曰:「陋,如之何!」子曰:「君子居之,何陋之有?」
君子所居則化,何陋之有?
○ 子曰:「吾自衛反魯,然後樂正,雅頌各得其所。」
魯哀公十一年冬,孔子自衛反魯。是時周禮在魯,然詩樂亦頗殘闕失次。孔子周流四方,參互考訂,以知其說。晚知道終不行,故歸而正之。
○ 子曰:「出則事公卿,入則事父兄,喪事不敢不勉,不為酒困,何有於我哉?」
說見第七篇,然此則其事愈卑而意愈切矣。
○ 子在川上,曰:「逝者如斯夫!不舍晝夜。」
夫,音扶。舍,上聲。○ 天地之化,往者過,來者續,無一息之停,乃道體之本然也。然其可指而易見者,莫如川流。故於此發以示人,欲學者時時省察,而無毫髮之間斷也。○ 程子曰:「此道體也。天運而不已,日往則月來,寒往則暑來,水流而不息,物生而不窮,皆與道為體,運乎晝夜,未嘗已也。是以君子法之,自強不息。及其至也,純亦不已焉。」又曰:「自漢以來,儒者皆不識此義。此見聖人之心,純亦不已也。純亦不已,乃天德也。有天德,便可語王道,其要只在謹獨。」愚按:自此至篇終,皆勉人進學不已之辭。
○ 子曰:「吾未見好德如好色者也。」
好,去聲。○ 謝氏曰:「好好色,惡惡臭,誠也。好德如好色,斯誠好德矣,然民鮮能之。」○ 史記:「孔子居衛,靈公與夫人同車,使孔子為次乘,招搖市過之。」孔子醜之,故有是言。
○ 子曰:「譬如為山,未成一簣,止,吾止也;譬如平地,雖覆一簣,進,吾往也。」
簣,求位反。覆,芳服反。○ 簣,土籠也。書曰:「為山九仞,功虧一簣。」夫子之言,蓋出於此。言山成而但少一簣,其止者,吾自止耳;平地而方覆一簣,其進者,吾自往耳。蓋學者自彊不息,則積少成多;中道而止,則前功盡棄。其止其往,皆在我而不在人也。
○ 子曰:「語之而不惰者,其回也與!」
語,去聲。與,平聲。○ 惰,懈怠也。范氏曰:「顏子聞夫子之言,而心解力行,造次顛沛未嘗違之。如萬物得時雨之潤,發榮滋長,何有於惰,此群弟子所不及也。」
○ 子謂顏淵,曰:「惜乎!吾見其進也,未見其止也。」
進止二字,說見上章。顏子既死而孔子惜之,言其方進而未已也。
○ 子曰:「苗而不秀者有矣夫!秀而不實者有矣夫!」
夫,音扶。:穀之始生曰苗,吐華曰秀,成穀曰實。蓋學而不至於成,有如此者,是以君子貴自勉也。
○ 子曰:「後生可畏,焉知來者之不如今也?四十、五十而無聞焉,斯亦不足畏也已。」
焉知之焉,於虔反。:孔子言後生年富力強,足以積學而有待,其勢可畏,安知其將來不如我之今日乎?然或不能自勉,至於老而無聞,則不足畏矣。言此以警人,使及時勉學也。曾子曰:「五十而不以善聞,則不聞矣」,蓋述此意。○ 尹氏曰:「少而不勉,老而無聞,則亦已矣。自少而進者,安知其不至於極乎?是可畏也。」
○ 子曰:「法語之言,能無從乎?改之為貴。巽與之言,能無說乎?繹之為貴。說而不繹,從而不改,吾末如之何也已矣。」
法語者,正言之也。巽言者,婉而導之也。繹,尋其緒也。法言人所敬憚,故必從;然不改,則面從而已。巽言無所乖忤,故必說;然不繹,則又不足以知其微意之所在也。○ 楊氏曰:「法言,若孟子論行王政之類是也。巽言,若其論好貨好色之類是也。語之而未達,拒之而不受,猶之可也。其或喻焉,則尚庶幾其能改繹矣。從且說矣,而不改繹焉,則是終不改繹也已,雖聖人其如之何哉?」
○ 子曰:「主忠信,毋友不如己者,過則勿憚改。」
重出而逸其半。
○ 子曰:「三軍可奪帥也,匹夫不可奪志也。」
侯氏曰:「三軍之勇在人,匹夫之志在己。故帥可奪而志不可奪,如可奪,則亦不足謂之志矣。」
○ 子曰:「衣敝縕袍,與衣狐貉者立,而不恥者,其由也與?
衣,去聲。縕,紆粉反。貉,胡各反。與,平聲。○ 敝,壞也。縕,枲著也。袍,衣有著者也,蓋衣之賤者。狐貉,以狐貉之皮為裘,衣之貴者。子路之志如此,則能不以貧富動其心,而可以進於道矣,故夫子稱之。
『不忮不求,何用不臧?』」
忮,之豉反。○ 忮,害也。求,貪也。臧,善也。言能不忮不求,則何為不善乎?此衛風雄雉之詩,孔子引之,以美子路也。呂氏曰:「貧與富交,彊者必忮,弱者必求。」
子路終身誦之。子曰:「是道也,何足以臧?」
終身誦之,則自喜其能,而不復求進於道矣,故夫子復言此以警之。○ 謝氏曰:「恥惡衣惡食,學者之大病。善心不存,蓋由於此。子路之志如此,其過人遠矣。然以眾人而能此,則可以為善矣;子路之賢,宜不止此。而終身誦之,則非所以進於日新也,故激而進之。」
○ 子曰:「歲寒,然後知松柏之後彫也。」
范氏曰:「小人之在治世,或與君子無異。惟臨利害、遇事變,然後君子之所守可見也。」○ 謝氏曰:「士窮見節義,世亂識忠臣。欲學者必周於德。」
○ 子曰:「知者不惑,仁者不憂,勇者不懼。」
明足以燭理,故不惑;理足以勝私,故不憂;氣足以配道義,故不懼。此學之序也。
○ 子曰:「可與共學,未可與適道;可與適道,未可與立;可與立,未可與權。」
可與者,言其可與共為此事也。程子曰:「可與共學,知所以求之也。可與適道,知所往也。可與立者,篤志固執而不變也。權,稱錘也,所以稱物而知輕重者也。可與權,謂能權輕重,使合義也。」○ 楊氏曰:「知為己,則可與共學矣。學足以明善,然後可與適道。信道篤,然後可與立。知時措之宜,然後可與權。」洪氏曰:「易九卦,終於巽以行權。權者,聖人之大用。未能立而言權,猶人未能立而欲行,鮮不仆矣。」程子曰:「漢儒以反經合道為權,故有權變權術之論,皆非也。權只是經也。自漢以下,無人識權字。」愚按:先儒誤以此章連下文偏其反而為一章,故有反經合道之說。程子非之,是矣。然以孟子嫂溺援之以手之義推之,則權與經亦當有辨。
○ 「唐棣之華,偏其反而。豈不爾思?室是遠而。」
棣,大計反。○ 唐棣,郁李也。偏,晉書作翩。然則反亦當與翻同,言華之搖動也。而,語助也。此逸詩也,於六義屬興。上兩句無意義,但以起下兩句之辭耳。其所謂爾,亦不知其何所指也。
○ 子曰:「未之思也,夫何遠之有?」
夫,音扶。○ 夫子借其言而反之,蓋前篇「仁遠乎哉」之意。○ 程子曰:「聖人未嘗言易以驕人之志,亦未嘗言難以阻人之進。但曰未之思也,夫何遠之有?此言極有涵蓄,意思深遠。」
鄉黨第十
鄉黨第十
楊氏曰:「聖人之所謂道者,不離乎日用之間也。故夫子之平日,一動一靜,門人皆審視而詳記之。」尹氏曰:「甚矣孔門諸子之嗜學也!於聖人之容色言動,無不謹書而備錄之,以貽後世。今讀其書,即其事,宛然如聖人之在目也。雖然,聖人豈拘拘而為之者哉?蓋盛德之至,動容周旋,自中乎禮耳。學者欲潛心於聖人,宜於此求焉。」舊說凡一章,今分為十七 節。
○ 孔子於鄉黨,恂恂如也,似不能言者。 
恂,相倫反。○ 恂恂,信實之貌。似不能言者,謙卑遜順。不以賢知先人也。鄉黨,父兄宗族之所在,故孔子居之,其容貌辭氣如此。
其在宗廟朝廷,便便言,唯謹爾。
朝,直遙反,下同。便,旁連反。○ 便便,辯也。宗廟,禮法之所在;朝廷,政事之所出;言不可以不明辨。故必詳問而極言之,但謹而不放爾。○ 此一節,記孔子在鄉黨、宗廟、朝廷言貌之不同。
○ 朝,與下大夫言,侃侃如也;與上大夫言,誾誾如也。
侃,苦旦反。○ 誾,魚巾反。○ 此君未視朝時也。王制,諸侯上大夫卿,下大夫五人。許氏說文:「侃侃,剛直也。誾誾,和悅而諍也。」
君在,踧踖如也。與與如也。
踧,子六反。踖,子亦反。與,平聲,或如字。○ 君在,視朝也。踧踖,恭敬不寧之貌。與與,威儀中適之貌。張子曰:「與與,不忘向君也。」亦通。○ 此一節,記孔子在朝廷事上接下之不同也。
○ 君召使擯,色勃如也,足躩如也。
擯,必刃反。躩,驅若反。○ 擯,主國之君所使出接賓者。勃,變色貌。躩,盤辟貌。皆敬君命故也。
揖所與立,左右手。衣前後,襜如也。
襜,亦占反。○ 所與立,謂同為擯者也。擯用命數之半,如上公九命,則用五人,以次傳命。揖左人,則左其手;揖右人,則右其手。襜,整貌。
趨進,翼如也。
疾趨而進,張拱端好,如鳥舒翼。
賓退,必復命曰:「賓不顧矣。」
紓君敬也。○ 此一節,記孔子為君擯相之容。
○ 入公門,鞠躬如也,如不容。
鞠躬,曲身也。公門高大而若不容,敬之至也。
立不中門,行不履閾。
閾,于逼反。○ 中門,中於門也。謂當棖闑之間,君出入處也。閾,門限也。禮:士大夫出入君門,由闑右,不踐閾。謝氏曰:「立中門則當尊,行履閾則不恪。」
過位,色勃如也,足躩如也,其言似不足者。
位,君之虛位。謂門屏之間,人君宁立之處,所謂宁也。君雖不在,過之必敬,不敢以虛位而慢之也。言似不足,不敢肆也。
攝齊升堂,鞠躬如也,屏氣似不息者。
齊,音咨。○ 攝,摳也。齊,衣下縫也。禮:將升堂,兩手摳衣,使去地尺,恐躡之而傾跌失容也。屏,藏也。息,鼻息出入者也。近至尊,氣容肅也。
出,降一等,逞顏色,怡怡如也。沒階趨,翼如也。復其位,踧踖如也。
陸氏曰:「趨下本無進字,俗本有之,誤也。」○ 等,階之級也。逞,放也。漸遠所尊,舒氣解顏。怡怡,和悅也。沒階,下盡階也。趨,走就位也。復位踧踖,敬之餘也。○ 此一節,記孔子在朝之容。
○ 執圭,鞠躬如也,如不勝。上如揖,下如授。勃如戰色,足縮縮,如有循。
勝,平聲。縮,色六反。○ 圭,諸侯命圭。聘問鄰國,則使大夫執以通信。如不勝,執主器,執輕如不克,敬謹之至也。上如揖,下如授,謂執圭平衡,手與心齊,高不過揖,卑不過授也。戰色,戰而色懼也。蹜蹜,舉足促狹也。如有循,記所謂舉前曳踵。言行不離地,如緣物也。
享禮,有容色。
享,獻也。既聘而享,用圭璧,有庭實。有容色,和也。儀禮曰:「發氣滿容。」
私覿,愉愉如也。
私覿,以私禮見也。愉愉,則又和矣。○ 此一節,記孔子為君聘於鄰國之禮也。晁氏曰:「孔子,定公九年仕魯,至十三年適齊,其間絕無朝聘往來之事。疑使擯執圭兩條,但孔子嘗言其禮當如此爾。」
○ 君子不以紺緅飾。
紺,古暗反。緅,側由反。○ 君子,謂孔子。紺,深青揚赤色,齊服也。緅,絳色。三年之喪,以飾練服也。飾,領緣也。
紅紫不以為褻服。
紅紫,間色不正,且近於婦人女子之服也。褻服,私居服也。言此則不以為朝祭之服可知。
當暑,袗絺綌,必表而出之。
袗,單也。葛之精者曰絺,麤者曰綌。表而出之,謂先著裡衣,表絺綌而出之於外,欲其不見體也。詩所謂「蒙彼縐絺」是也。
緇衣羔裘,素衣麑裘,黃衣狐裘。
麑,研奚反。○ 緇,黑色。羔裘,用黑羊皮。麑,鹿子,色白。狐,色黃。衣以裼裘,欲其相稱。
褻裘長。短右袂。
長,欲其溫。短右袂,所以便作事。
必有寢衣,長一身有半。
長,去聲。○ 齊主於敬,不可解衣而寢,又不可著明衣而寢,故別有寢衣,其半蓋以覆足。程子曰:「此錯簡,當在齊必有明衣布之下。」愚謂如此,則此條與明衣變食,既得以類相從;而褻裘狐貉,亦得以類相從矣。
狐貉之厚以居。
狐貉,毛深溫厚,私居取其適體。
去喪,無所不佩。
去,上聲。○ 君子無故,玉不去身。觿礪之屬,亦皆佩也。
非帷裳,必殺之。
殺,去聲。○ 朝祭之服,裳用正幅如帷,要有襞積,而旁無殺縫。其餘若深衣,要半下,齊倍要,則無襞積而有殺縫矣。
羔裘玄冠不以弔。
喪主素,吉主玄。弔必變服,所以哀死。
吉月,必朝服而朝。
吉月,月朔也。孔子在魯致仕時如此。○ 此一節,記孔子衣服之制。蘇氏曰:「此孔氏遺書,雜記曲禮,非特孔子事也。」
○ 齊,必有明衣,布。
齊,側皆反。○ 齊,必沐浴,浴竟,即著明衣,所以明潔其體也,以布為之。此下脫前章寢衣一簡。
齊,必變食,居必遷坐。
變食,謂不飲酒、不茹葷。遷坐,易常處也。○ 此一節,記孔子謹齊之事。楊氏曰:「齊所以交神,故致潔變常以盡敬。」
○ 食不厭精,膾不厭細。
食,音嗣。○ 食,飯也。精,鑿也。牛羊與魚之腥,聶而切之為膾。食精則能養人,膾麤則能害人。不厭,言以是為善,非謂必欲如是也。
食饐而餲,魚餒而肉敗,不食。色惡,不食。臭惡,不食。失飪,不食。不時,不食。
食饐之食,音嗣。饐,於冀反。餲,烏邁反。飪,而甚反。○ 饐,飯傷熱濕也。餲,味變也。魚爛曰餒。肉腐曰敗。色惡臭惡,未敗而色臭變也。飪,烹調生熟之節也。不時,五穀不成,果實未熟之類。此數者皆足以傷人,故不食。
割不正,不食。不得其醬,不食。
割肉不方正者不食,造次不離於正也。漢陸續之母,切肉未嘗不方,斷蔥以寸為度,蓋其質美,與此暗合也。食肉用醬,各有所宜,不得則不食,惡其不備也。此二者,無害於人,但不以嗜味而苟食耳。
肉雖多,不使勝食氣。惟酒無量,不及亂。
食,音嗣。量,去聲。○ 食以穀為主,故不使肉勝食氣。酒以為人合歡,故不為量,但以醉為節而不及亂耳。程子曰:「不及亂者,非惟不使亂志,雖血氣亦不可使亂,但浹洽而已可也。」
沽酒市脯不食。
沽、市,皆買也。恐不精潔,或傷人也。與不嘗康子之藥同意。
不撤薑食。
薑,通神明,去穢惡,故不撤。
不多食。
適可而止,無貪心也。
祭於公,不宿肉。祭肉不出三日。出三日,不食之矣。
助祭於公,所得胙肉,歸即頒賜。不俟經宿者,不留神惠也。家之祭肉,則不過三日,皆以分賜。蓋過三日,則肉必敗,而人不食之,是褻鬼神之餘也。但比君所賜胙,可少緩耳。
食不語,寢不言。
答述曰語。自言曰言。范氏曰:「聖人存心不他,當食而食,當寢而寢,言語非其時也。」楊氏曰:「肺為氣主而聲出焉,寢食則氣窒而不通,語言恐傷之也。」亦通。
雖疏食菜羹,瓜祭,必齊如也。
食,音嗣。陸氏曰:「魯論瓜作必。」○ 古人飲食,每種各出少許,置之豆閒之地,以祭先代始為飲食之人,不忘本也。齊,嚴敬貌。孔子雖薄物必祭,其祭必敬,聖人之誠也。○ 此一節,記孔子飲食之節。謝氏曰:「聖人飲食如此,非極口腹之欲,蓋養氣體,不以傷生,當如此。然聖人之所不食,窮口腹者或反食之,欲心勝而不暇擇也。」
○ 席不正,不坐。
謝氏曰:「聖人心安於正,故於位之不正者,雖小不處。」
○ 鄉人飲酒,杖者出,斯出矣。
杖者,老人也。六十杖於鄉,未出不敢先,既出不敢後。
鄉人儺,朝服而立於阼階。
儺,乃多反。○ 儺,所以逐疫,周禮方相氏掌之。阼階,東階也。儺雖古禮而近於戲,亦必朝服而臨之者,無所不用其誠敬也。或曰:「恐其驚先祖五祀之神,欲其依己而安也。」○ 此一節,記孔子居鄉之事。
○ 問人於他邦,再拜而送之。
拜送使者,如親見之,敬也。
康子饋藥,拜而受之。曰:「丘未達,不敢嘗。」
范氏曰:「凡賜食,必嘗以拜。藥未達則不敢嘗。受而不飲,則虛人之賜,故告之如此。然則可飲而飲,不可飲而不飲,皆在其中矣。楊氏曰:「大夫有賜,拜而受之,禮也。未達不敢嘗,謹疾也。必告之,直也。」○ 此一節,記孔子與人交之誠意。
○ 廄焚。子退朝,曰:「傷人乎?」不問馬。
非不愛馬,然恐傷人之意多,故未暇問。蓋貴人賤畜,理當如此。
○ 君賜食,必正席先嘗之;君賜腥,必熟而薦之;君賜生,必畜之。
食恐或餕餘,故不以薦。正席先嘗,如對君也。言先嘗,則餘當以頒賜矣。腥,生肉。熟而薦之祖考,榮君賜也。畜之者,仁君之惠,無故不敢殺也。
侍食於君,君祭,先飯。
飯,扶晚反。○ 周禮,「王日一舉,膳夫授祭,品嚐食,王乃食」。故侍食者,君祭,則己不祭而先飯。若為君嘗食然,不敢當客禮也。
疾,君視之,東首,加朝服,拖紳。
首,去聲。拖,徒我反。○ 東首,以受生氣也。病臥不能著衣束帶,又不可以褻服見君,故加朝服於身,又引大帶於上也。
君命召,不俟駕行矣。
急趨君命,行出而駕車隨之。○ 此一節,記孔子事君之禮。
○ 入太廟,每事問。
重出。
○ 朋友死,無所歸。曰:「於我殯。」
朋友以義合,死無所歸,不得不殯。
朋友之饋,雖車馬,非祭肉,不拜。
朋友有通財之義,故雖車馬之重不拜。祭肉則拜者,敬其祖考,同於己親也。○ 此一節,記孔子交朋友之義。
○ 寢不尸,居不容。
尸,謂偃臥似死人也。居,居家。容,容儀。范氏曰:「寢不尸,非惡其類於死也。惰慢之氣不設於身體,雖舒布其四體,而亦未嘗肆耳。居不容,非惰也。但不若奉祭祀、見賓客而已,申申夭夭是也。」
見齊衰者,雖狎,必變。見冕者與瞽者,雖褻,必以貌。
狎,謂素親狎。褻,謂燕見。貌,謂禮貌。餘見前篇。
凶服者式之。式負版者。
式,車前橫木。有所敬,則俯而憑之。負版,持邦國圖籍者。式此二者,哀有喪,重民數也。人惟萬物之靈,而王者之所天也,故周禮「獻民數於王,王拜受之」。況其下者,敢不敬乎?
有盛饌,必變色而作。
敬主人之禮,非以其饌也。
迅雷風烈,必變。
迅,疾也。烈,猛也。必變者,所以敬天之怒。記曰:「若有疾風、迅雷、甚雨則必變,雖夜必興,衣服冠而坐。」○ 此一節,記孔子容貌之變。
○ 升車,必正立執綏。
綏,挽以上車之索也。范氏曰「正立執綏,則心體無不正,而誠意肅恭矣。蓋君子莊敬無所不在,升車則見於此也。」
車中,不內顧,不疾言,不親指。
內顧,回視也。禮曰:「顧不過轂。」三者皆失容,且惑人。○ 此一節,記孔子升車之容。
○ 色斯舉矣,翔而後集。
言鳥見人之顏色不善,則飛去,回翔審視而後下止。人之見幾而作,審擇所處,亦當如此。然此上下,必有闕文矣。
曰:「山梁雌雉,時哉!時哉!」子路共之,三嗅而作。
共,九用反,又居勇反。嗅,許又反。○ 邢氏曰:「梁,橋也。時哉,言雉之飲啄得其時。子路不達,以為時物而共具之。孔子不食,三嗅其氣而起。」晁氏曰:「石經『嗅』作戛,謂雉鳴也。」劉聘君曰「嗅,當作狊,古闃反。張兩翅也。見爾雅。」愚按:如後兩說,則共字當為拱執之義。然此必有闕文,不可強為之說。姑記所聞,以俟知者。
先進第十一
先進第十一
此篇多評弟子賢否。凡二十五章。胡氏曰:「此篇記閔子騫言行者四,而其一直稱閔子,疑閔氏門人所記也。」 
○ 子曰:「先進於禮樂,野人也;後進於禮樂,君子也。
先進後進,猶言前輩後輩。野人,謂郊外之民。君子,謂賢士大夫也。程子曰:「先進於禮樂,文質得宜,今反謂之質朴,而以為野人。後進之於禮樂,文過其質,今反謂之彬彬,而以為君子。蓋周末文勝,故時人之言如此,不自知其過於文也。」
如用之,則吾從先進。」
用之,謂用禮樂。孔子既述時人之言,又自言其如此,蓋欲損過以就中也。
○ 子曰:「從我於陳、蔡者,皆不及門也。」
從,去聲。○ 孔子嘗厄於陳、蔡之間,弟子多從之者,此時皆不在門。故孔子思之,蓋不忘其相從於患難之中也。
德行:顏淵,閔子騫,冉伯牛,仲弓。言語:宰我,子貢。政事:冉有,季路。文學:子游,子夏
行,去聲。○ 弟子因孔子之言,記此十人,而并目其所長,分為四科。孔子教人各因其材,於此可見。○ 程子曰:「四科乃從夫子於陳、蔡者爾,門人之賢者固不止此。曾子傳道而不與焉,故知十哲世俗論也。」
○ 子曰:「回也非助我者也,於吾言無所不說。」
說,音悅。○ 助我,若子夏之起予,因疑問而有以相長也。顏子於聖人之言,默識心通,無所疑問。故夫子云然,其辭若有憾焉,其實乃深喜之。○ 胡氏曰:「夫子之於回,豈真以助我望之。蓋聖人之謙德,又以深贊顏氏云爾。」
○ 子曰:「孝哉閔子騫!人不間於其父母昆弟之言。」
閒,去聲。○ 胡氏曰:「父母兄弟稱其孝友,人皆信之無異辭者,蓋其孝友之實,有以積於中而著於外,故夫子歎而美之。」
○ 南容三復白圭,孔子以其兄之子妻之。
三、妻,並去聲。○ 詩大雅抑之篇曰:「白圭之玷,尚可磨也;斯言之玷,不可為也。」南容一日三復此言,事見家語,蓋深有意於謹言也。此邦有道所以不廢,邦無道所以免禍,故孔子以兄子妻之。○ 范氏曰:「言者行之表,行者言之實,未有易其言而能謹於行者。南容欲謹其言如此,則必能謹其行矣。」
○ 季康子問:「弟子孰為好學?」孔子對曰:「有顏回者好學,不幸短命死矣!今也則亡。」
好,去聲。○ 范氏曰:「哀公、康子問同而對有詳略者,臣之告君,不可不盡。若康子者,必待其能問乃告之,此教誨之道也。」
○ 顏淵死,顏路請子之車以為之椁。
顏路,淵之父,名無繇。少孔子六歲,孔子始教而受學焉。椁,外棺也。請為椁,欲賣車以買椁也。
子曰:「才不才,亦各言其子也。鯉也死,有棺而無椁。吾不徒行以為之椁。以吾從大夫之後,不可徒行也。」
鯉,孔子之子伯魚也,先孔子卒。言鯉之才雖不及顏淵,然己與顏路以父視之,則皆子也。孔子時已致仕,尚從大夫之列,言後,謙辭。○ 胡氏曰:「孔子遇舊館人之喪,嘗脫驂以賻之矣。今乃不許顏路之請,何邪?葬可以無 椁,驂可以脫而復求,大夫不可以徒行,命車不可以與人而鬻諸市也。且為所識窮乏者得我,而勉強以副其意,豈誠心與直道哉?或者以為君子行禮,視吾之有無而已。夫君子之用財,視義之可否豈獨視有無而已哉?
○ 顏淵死。子曰:「噫!天喪予!天喪予!」
喪,去聲。○ 噫,傷痛聲。悼道無傳,若天喪己也。
○ 顏淵死,子哭之慟。從者曰:「子慟矣。」
從,去聲。○ 慟,哀過也。
曰:「有慟乎?
哀傷之至,不自知也。
非夫人之為慟而誰為!」
夫,音扶。為,去聲。○ 夫人,謂顏淵。言其死可惜,哭之宜慟,非他人之比也。○ 胡氏曰:「痛惜之至,施當其可,皆情性之正也。」
○ 顏淵死,門人欲厚葬之,子曰:「不可。」
喪具稱家之有無,貧而厚葬,不循理也。故夫子止之。
門人厚葬之。
蓋顏路聽之。
子曰:「回也視予猶父也,予不得視猶子也。非我也,夫二三子也。」
歎不得如葬鯉之得宜,以責門人也。
○ 季路問事鬼神。子曰:「未能事人,焉能事鬼?」敢問死。曰:「未知生,焉知死?」
焉,於虔反。○ 問事鬼神,蓋求所以奉祭祀之意。而死者人之所必有,不可不知,皆切問也。然非誠敬足以事人,則必不能事神;非原始而知所以生,則必不能反終而知所以死。蓋幽明始終,初無二理,但學之有序,不可躐等,故夫子告之如此。○ 程子曰:「晝夜者,死生之道也。知生之道,則知死之道;盡事人之道,則盡事鬼之道。死生人鬼,一而二,二而一者也。或言夫子不告子路,不知此乃所以深告之也。」
○ 閔子侍側,誾誾如也;子路,行行如也;冉有、子貢,侃侃如也。子樂。
誾、侃,音義見前篇。行,胡浪反。樂,音洛。○ 行行,剛強之貌。子樂者,樂得英材而教育之。
「若由也,不得其死然。」
尹氏曰:「子路剛強,有不得其死之理,故因以戒之。其後子路卒死於衛孔悝之難。」洪氏曰:「漢書引此句,上有曰字。」或云:「上文樂字,即曰字之誤。」
○ 魯人為長府。
長府,藏名。藏貨財曰府。為,蓋改作之。
閔子騫曰:「仍舊貫,如之何?何必改作?」
仍,因也。貫,事也。王氏曰:「改作,勞民傷財。在於得已,則不如仍舊貫之善。」
子曰:「夫人不言,言必有中。」
夫,音扶。中,去聲。○ 言不妄發,發必當理,惟有德者能之。
○ 子曰:「由之瑟奚為於丘之門?」
程子曰:「言其聲之不和,與己不同也。」家語云:「子路鼓瑟,有北鄙殺伐之聲。」蓋其氣質剛勇,而不足於中和,故其發於聲者如此。
門人不敬子路。子曰:「由也升堂矣,未入於室也。」
門人以夫子之言,遂不敬子路,故夫子釋之。升堂入室,喻入道之次第。言子路之學,已造乎正大高明之域,特未深入精微之奧耳,未可以一事之失而遽忽之也。
○ 子貢問:「師與商也孰賢?」子曰:「師也過,商也不及。」
子張才高意廣,而好為苟難,故常過中。子夏篤信謹守,而規模狹隘,故常不及。
曰:「然則師愈與?」
與,平聲。○ 愈,猶勝也。
子曰:「過猶不及。」
道以中庸為至。賢知之過,雖若勝於愚不肖之不及,然其失中則一也。○ 尹氏曰:「中庸之為德也,其至矣乎!夫過與不及,均也。差之毫釐,繆以千里。故聖人之教,抑其過,引其不及,歸於中道而已。」
○ 季氏富於周公,而求也為之聚斂而附益之。
為,去聲。○ 周公以王室至親,有大功,位塚宰,其富宜矣。季氏以諸侯之卿,而富過之,非攘奪其君、刻剝其民,何以得此?冉有為季氏宰,又為之急賦稅以益其富。
子曰:「非吾徒也。小子鳴鼓而攻之,可也。」
非吾徒,絕之也。小子鳴鼓而攻之,使門人聲其罪以責之也。聖人之惡黨惡而害民也如此。然師嚴而友親,故己絕之,而猶使門人正之,又見其愛人之無已也。○ 范氏曰:「冉有以政事之才,施於季氏,故為不善至於如此。由其心術不明,不能反求諸身,而以仕為急故也。」
○ 柴也愚,
柴,孔子弟子,姓高,字子羔。愚者,知不足而厚有餘。家語記其「足不履影,啟蟄不殺,方長不折。執親之喪,泣血三年,未嘗見齒。避難而行,不徑不竇」。可以見其為人矣。
參也魯,
魯,鈍也。程子曰:「參也竟以魯得之。」又曰:「曾子之學,誠篤而已。聖門學者,聰明才辯,不為不多,而卒傳其道,乃質魯之人爾。故學以誠實為貴也。」尹氏曰:「曾子之才魯,故其學也確,所以能深造乎道也。」
師也辟,
辟,婢亦反。○ 辟,便辟也。謂習於容止,少誠實也。
由也喭。
喭,五旦反。○ 喭,粗俗也。傳稱喭者,謂俗論也。○ 楊氏曰:「四者性之偏,語之使知自勵也。」吳氏曰:「此章之首,脫『子曰』二字。」或疑下章子曰,當在此章之首,而通為一章。
○ 子曰:「回也其庶乎,屢空。
庶,近也,言近道也。屢空,數至空匱也。不以貧窶動心而求富,故屢至於空匱也。言其近道,又能安貧也。
賜不受命,而貨殖焉,億則屢中。」
中,去聲。○ 命,謂天命。貨殖,貨財生殖也。億,意度也。言子貢不如顏子之安貧樂道,然其才識之明,亦能料事而多中也。程子曰:「子貢之貨殖,非若後人之豐財,但此心未忘耳。然此亦子貢少時事,至聞性與天道,則不為此矣。」○ 范氏曰:「屢空者,簞食瓢飲屢絕而不改其樂也。天下之物,豈有可動其中者哉?貧富在天,而子貢以貨殖為心,則是不能安受天命矣。其言而多中者億而已,非窮理樂天者也。夫子嘗曰:『賜不幸言而中,是使賜多言也』,聖人之不貴言也如是。」
○ 子張問善人之道。子曰:「不踐迹,亦不入於室。」
善人,質美而未學者也。程子曰:「踐迹,如言循途守轍。善人雖不必踐舊迹而自不為惡,然亦不能入聖人之室也。」○ 張子曰:「善人欲仁而未志於學者也。欲仁,故雖不踐成法,亦不蹈於惡,有諸己也。由不學,故無自而入聖人之室也。」
○ 子曰:「論篤是與,君子者乎?色莊者乎?」
與,如字。○ 言但以其言論篤實而與之,則未知其為君子者乎?為色莊者乎?言不可以言貌取人也。
○ 子路問:「聞斯行諸?」子曰:「有父兄在,如之何其聞斯行之?」冉有問:「聞斯行諸?」子曰:「聞斯行之。」公西華曰:「由也問聞斯行諸,子曰『有父兄在』;求也問聞斯行諸,子曰『聞斯行之』。赤也惑,敢問。」子曰:「求也退,故進之;由也兼人,故退之。」
兼人,謂勝人也。張敬夫曰:「聞義固當勇為,然有父兄在,則有不可得而專者。若不稟命而行,則反傷於義矣。子路有聞,未之能行,唯恐有聞。則於所當為,不患其不能為矣;特患為之之意或過,而於所當稟命者有闕耳。若冉求之資稟失之弱,不患其不稟命也;患其於所當為者逡巡畏縮,而為之不勇耳。聖人一進之,一退之,所以約之於義理之中,而使之無過不及之患也。」
○ 子畏於匡,顏淵後。子曰:「吾以女為死矣。」曰:「子在,回何敢死?」
女,音汝。○ 後,謂相失在後。何敢死,謂不赴鬬而必死也。胡氏曰:「先王之制,民生於三,事之如一。惟其所在,則致死焉。況顏淵之於孔子,恩義兼盡,又非他人之為師弟子者而已。即夫子不幸而遇難,回必捐生以赴之矣。捐生以赴之,幸而不死,則必上告天子、下告方伯,請討以復讎,不但已也。夫子而在,則回何為而不愛其死,以犯匡人之鋒乎?」
○ 季子然問:「仲由、冉求可謂大臣與?」
與,平聲。○ 子然,季氏子弟。自多其家得臣二子,故問之。
子曰:「吾以子為異之問,曾由與求之問。
異,非常也。曾,猶乃也。輕二子以抑季然也。
所謂大臣者:以道事君,不可則止。
以道事君者,不從君之欲。不可則止者,必行己之志。
今由與求也,可謂具臣矣。」
具臣,謂備臣數而已。
曰:「然則從之者與?」
與,平聲。○ 意二子既非大臣,則從季氏之所為而已。
子曰:「弒父與君,亦不從也。」
言二子雖不足於大臣之道,然君臣之義則聞之熟矣,弒逆大故必不從之。蓋深許二子以死難不可奪之節,而又以陰折季氏不臣之心也。○ 尹氏曰:「季氏專權僭竊,二子仕其家而不能正也,知其不可而不能止也,可謂具臣矣。是時季氏已有無君之心,故自多其得人。意其可使從己也,故曰弒父與君亦不從也,其庶乎二子可免矣。」
○ 子路使子羔為費宰。
子路為季氏宰而舉之也。
子曰:「賊夫人之子。」
夫,音扶,下同。○ 賊,害也。言子羔質美而未學,遽使治民,適以害之。
子路曰:「有民人焉,有社稷焉。何必讀書,然後為學?」
言治民事神皆所以為學。
子曰:「是故惡夫佞者。」
惡,去聲。○ 治民事神,固學者事,然必學之已成,然後可仕以行其學。若初未嘗學,而使之即仕以為學,其不至於慢神而虐民者幾希矣。子路之言,非其本意,但理屈辭窮,而取辨於口以禦人耳。故夫子不斥其非,而特惡其佞也。○ 范氏曰:「古者學而後入政。未聞以政學者也。蓋道之本在於修身,而後及於治人,其說具於方冊。讀而知之,然後能行。何可以不讀書也?子路乃欲使子羔以政為學,失先後本末之序矣。不知其過而以口給禦人,故夫子惡其佞也。」
○ 子路、曾皙、冉有、公西華侍坐。
坐,才臥反。○ 皙,曾參父,名點。
子曰:「以吾一日長乎爾,毋吾以也。
長,上聲。○ 言我雖年少長於女,然女勿以我長而難言。蓋誘之盡言以觀其志,而聖人和氣謙德,於此亦可見矣。
居則曰:『不吾知也!』如或知爾,則何以哉?」
言女平居,則言人不知我。如或有人知女,則女將何以為用也?
子路率爾而對曰:「千乘之國,攝乎大國之間,加之以師旅,因之以饑饉;由也為之,比及三年,可使有勇,且知方也。」夫子哂之。
乘,去聲。饑,音機。饉,音僅。比,必二反,下同。哂,詩忍反。○ 率爾,輕遽之貌。攝,管束也。二千五百人為師,五百人為旅。因,仍也。穀不熟曰饑,菜不熟曰饉。方,向也,謂向義也。民向義,則能親其上,死其長矣。哂,微笑也。
「求!爾何如?」對曰:「方六七十,如五六十,求也為之,比及三年,可使足民。如其禮樂,以俟君子。」
求,爾何如,孔子問也,下放此。方六七十里,小國也。如,猶或也。五六十里,則又小矣。足,富足也。俟君子,言非己所能。冉有謙退,又以子路見哂,故其辭益遜。
「赤!爾何如?」對曰:「非曰能之,願學焉。宗廟之事,如會同,端章甫,願為小相焉。」
相,去聲。○ 公西華志於禮樂之事,嫌以君子自居。故將言己志而先為遜辭,言未能而願學也。宗廟之事,謂祭祀。諸侯時見曰會,眾 頫曰同。端,玄端服。章甫,禮冠。相,贊君之禮者。言小,亦謙辭。
「點!爾何如?」鼓瑟希,鏗爾,捨瑟而作。對曰:「異乎三子者之撰。」子曰:「何傷乎?亦各言其志也。」曰:「莫春者,春服既成。冠者五六人,童子六七人,浴乎沂,風乎舞雩,詠而歸。」夫子喟然歎曰;「吾與點也!」
鏗,苦耕反。舍,上聲。撰,士免反。莫、冠,並去聲。沂,魚依反。雩音于。○ 四子侍坐,以齒為序,則點當次對。以方鼓瑟,故孔子先問求、赤而後及點也。希,間歇也。作,起也。撰,具也。春服,單袷之衣。浴,盥濯也,今上巳祓除是也。沂,水名,在魯城南,地志以為有溫泉焉,理或然也。風,乘涼也。舞雩,祭天禱雨之處,有壇墠樹木也。詠,歌也。曾點之學,蓋有以見夫人欲盡處,天理流行,隨處充滿,無少欠闕。故其動靜之際,從容如此。而其言志,則又不過即其所居之位,樂其日用之常,初無舍己為人之意。而其胸次悠然,直與天地萬物上下同流,各得其所之妙,隱然自見於言外。視三子之規規於事為之末者,其氣象不侔矣,故夫子歎息而深許之。而門人記其本末獨加詳焉,蓋亦有以識此矣。
三子者出,曾皙後。曾皙曰:「夫三子者之言何如?」子曰:「亦各言其志也已矣。」
夫,音扶。
曰:「夫子何哂由也?」
點以子路之志,乃所優為,而夫子哂之,故請其說。
曰:「為國以禮,其言不讓,是故哂之。」
夫子蓋許其能,特哂其不遜。
「唯求則非邦也與?」「安見方六七十如五六十而非邦也者?」
與,平聲,下同。○ 曾點以冉求亦欲為國而不見哂,故微問之。而夫子之答無貶辭,蓋亦許之。
「唯赤則非邦也與?」「宗廟會同,非諸侯而何?赤也為之小,孰能為之大?」
此亦曾皙問而夫子答也。孰能為之大,言無能出其右者,亦許之之辭。○ 程子曰:「古之學者,優柔厭飫,有先後之序。如子路、冉有、公西赤言志如此,夫子許之。亦以此自是實事。後之學者好高,如人游心千里之外,然自身卻只在此。」又曰:「孔子與點,蓋與聖人之志同,便是堯、舜氣象也。誠異三子者之撰,特行有不掩焉耳,此所謂狂也。子路等所見者小,子路只為不達為國以禮道理,是以哂之。若達,卻便是這氣象也。」又曰:「三子皆欲得國而治之,故夫子不取。曾點,狂者也,未必能為聖人之事,而能知夫子之志。故曰浴乎沂,風乎舞雩,詠而歸,言樂而得其所也。孔子之志,在於老者安之,朋友信之,少者懷之,使萬物莫不遂其性。曾點知之,故孔子喟然歎曰「吾與點也。」又曰:「曾點、漆雕開,已見大意。」
顏淵第十二
顏淵第十二
凡二十四章。
○ 顏淵問仁。子曰:「克己復禮為仁。一日克己復禮,天下歸仁焉。為仁由己,而由人乎哉?」
仁者,本心之全德。克,勝也。己,謂身之私欲也。復,反也。禮者,天理之節文也。為仁者,所以全其心之德也。蓋心之全德,莫非天理,而亦不能不壞於人欲。故為仁者必有以勝私欲而復於禮,則事皆天理,而本心之德復全於我矣。歸,猶與也。又言一日克己復禮,則天下之人皆與其仁,極言其效之甚速而至大也。又言為仁由己而非他人所能預,又見其機之在我而無難也。日日克之,不以為難,則私欲淨盡,天理流行,而仁不可勝用矣。程子曰:「非禮處便是私意。既是私意,如何得仁?須是克盡己私,皆歸於禮,方始是仁。」又曰:「克己復禮,則事事皆仁,故曰天下歸仁。」謝氏曰:「克己須從性偏難克處克將去。」
○ 顏淵曰:「請問其目。」子曰:「非禮勿視,非禮勿聽,非禮勿言,非禮勿動。」顏淵曰:「回雖不敏,請事斯語矣。」
目,條件也。顏淵聞夫子之言,則於天理人欲之際,已判然矣,故不復有所疑問,而直請其條目也。非禮者,己之私也。勿者,禁止之辭。是人心之所以為主,而勝私復禮之機也。私勝,則動容周旋無不中禮,而日用之間,莫非天理之流行矣。事,如事事之事。請事斯語,顏子默識其理,又自知其力有以勝之,故直以為己任而不疑也。○ 程子曰:「顏淵問克己復禮之目,子曰,『非禮勿視,非禮勿聽,非禮勿言,非禮勿動』,四者身之用也。由乎中而應乎外,制於外所以養其中也。顏淵事斯語,所以進於聖人。後之學聖人者,宜服膺而勿失也,因箴以自警。其視箴曰:『心兮本虛,應物無 迹。操之有要,視為之則。蔽交於前,其中則遷。制之於外,以安其內。克己復禮,久而誠矣。』其聽箴曰:『人有秉彝,本乎天性。知誘物化,遂亡其正。卓彼先覺,知止有定。閑邪存誠,非禮勿聽。』其言箴曰:『人心之動,因言以宣。發禁躁妄,內斯靜專。矧是樞機,興戎出好,吉凶榮辱,惟其所召。傷易則誕,傷煩則支,己肆物忤,出悖來違。非法不道,欽哉訓辭!』其動箴曰『哲人知幾,誠之於思;志士勵行,守之於為。順理則裕,從欲惟危;造次克念,戰兢自持。習與性成,聖賢同歸。』」愚按:此章問答,乃傳授心法切要之言。非至明不能察其幾,非至健不能致其決。故惟顏子得聞之,而凡學者亦不可以不勉也。程子之箴,發明親切,學者尤宜深玩。
○ 仲弓問仁。子曰:「出門如見大賓,使民如承大祭。己所不欲,勿施於人。在邦無怨,在家無怨。」仲弓曰:「雍雖不敏,請事斯語矣。」
敬以持己,恕以及物,則私意無所容而心德全矣。內外無怨,亦以其效言之,使以自考也。○ 程子曰:「孔子言仁,只說出門如見大賓,使民如承大祭。看其氣象,便須心廣體胖,動容周旋中禮。惟謹獨,便是守之之法。」或問:「出門使民之時,如此可也;未出門使民之時,如之何?」曰:「此儼若思時也,有諸中而後見於外。觀其出門使民之時,其敬如此,則前乎此者敬可知矣。非因出門使民,然後有此敬也。」愚按:克己復禮,乾道也;主敬行恕,坤道也。顏、冉之學,其高下淺深,於此可見。然學者誠能從事於敬恕之間而有得焉,亦將無己之可克矣。
○ 司馬牛問仁。
司馬牛,孔子弟子,名犁,向魋之弟。
子曰:「仁者其言也訒。」
訒,音刃。○ 訒,忍也,難也。仁者心存而不放,故其言若有所忍而不易發,蓋其德之一端也。夫子以牛多言而躁,故告之以此。使其於此而謹之,則所以為仁之方,不外是矣。
曰:「其言也訒,斯謂之仁已乎?」子曰:「為之難,言之得無訒乎?」
牛意仁道至大,不但如夫子之所言,故夫子又告之以此。蓋心常存,故事不苟,事不苟,故其言自有不得而易者,非強閉之而不出也。楊氏曰「觀此及下章再問之語,牛之易其言可知。」○ 程子曰:「雖為司馬牛多言故及此,然聖人之言,亦止此為是。」愚謂牛之為人如此,若不告之以其病之所切,而泛以為仁之大 槩語之,則以彼之躁,必不能深思以去其病,而終無自以入德矣。故其告之如此。蓋聖人之言,雖有高下大小之不同,然其切於學者之身,而皆為入德之要,則又初不異也。讀者其致思焉。
○ 司馬牛問君子。子曰:「君子不憂不懼。」
向魋作亂,牛常憂懼。故夫子告之以此。
曰:「不憂不懼,斯謂之君子已乎?」子曰:「內省不疚,夫何憂何懼?」
夫,音扶。○ 牛之再問,猶前章之意,故復告之以此。疚,病也。言由其平日所為無愧於心,故能內省不疚,而自無憂懼,未可遽以為易而忽之也。○ 晁氏曰:「不憂不懼,由乎德全而無疵。故無入而不自得,非實有憂懼而強排遣之也。」
○ 司馬牛憂曰:「人皆有兄弟,我獨亡。」
牛有兄弟而云然者,憂其為亂而將死也。
子夏曰:「商聞之矣:
蓋聞之夫子。
死生有命,富貴在天。
命稟於有生之初,非今所能移;天莫之為而為,非我所能必,但當順受而已。
君子敬而無失,與人恭而有禮。四海之內,皆兄弟也。君子何患乎無兄弟也?」
既安於命,又當修其在己者。故又言苟能持己以敬而不間斷,接人以恭而有節文,則天下之人皆愛敬之,如兄弟矣。蓋子夏欲以寬牛之憂,故為是不得已之辭,讀者不以辭害意可也。○ 胡氏曰:「子夏四海皆兄弟之言,特以廣司馬牛之意,意圓而語滯者也,惟聖人則無此病矣。且子夏知此而以哭子喪明,則以蔽於愛而昧於理,是以不能踐其言爾。」
○ 子張問明。子曰:「浸潤之譖,膚受之愬,不行焉。可謂明也已矣。浸潤之譖膚受之愬不行焉,可謂遠也已矣。」
譖,莊蔭反。愬,蘇路反。○ 浸潤,如水之浸灌滋潤,漸漬而不驟也。譖,毀人之行也。膚受,謂肌膚所受,利害切身。如易所謂「剝牀以膚,切近災」者也。愬,愬己之冤也。毀人者漸漬而不驟,則聽者不覺其入,而信之深矣。愬冤者急迫而切身,則聽者不及致詳,而發之暴矣。二者難察而能察之,則可見其心之明,而不蔽於近矣。此亦必因子張之失而告之,故其辭繁而不殺,以致丁寧之意云。○ 楊氏曰:「驟而語之,與利害不切於身者,不行焉,有不待明者能之也。故浸潤之譖、膚受之愬不行,然後謂之明,而又謂之遠。遠則明之至也。書曰:『視遠惟明。』」
○ 子貢問政。子曰:「足食。足兵。民信之矣。」
言倉廩實而武備修,然後教化行,而民信於我,不離叛也。
子貢曰:「必不得已而去,於斯三者何先?」曰:「去兵。」
去,上聲,下同。○ 言食足而信孚,則無兵而守固矣。
子貢曰:「必不得已而去,於斯二者何先?」曰:「去食。自古皆有死,民無信不立。」
民無食必死,然死者人之所必不免。無信則雖生而無以自立,不若死之為安。故寧死而不失信於民,使民亦寧死而不失信於我也。○ 程子曰:「孔門弟子善問,直窮到底,如此章者。非子貢不能問,非聖人不能答也。」愚謂以人情而言,則兵食足而後吾之信可以孚於民。以民德而言,則信本人之所固有,非兵食所得而先也。是以為政者,當身率其民而以死守之,不以危急而可棄也。
○ 棘子成曰:「君子質而已矣,何以文為?」
棘子成,衛大夫。疾時人文勝,故為此言。
子貢曰:「惜乎!夫子之說,君子也。駟不及舌。
言子成之言,乃君子之意。然言出於舌,則駟馬不能追之,又惜其失言也。
文猶質也,質猶文也。虎豹之鞟猶犬羊之鞟。」
鞟,其郭反。○ 鞟,皮去毛者也。言文質等耳,不可相無。若必盡去其文而獨存其質,則君子小人無以辨矣。夫棘子成矯當時之弊,固失之過;而子貢矯子成之弊,又無本末輕重之差,胥失之矣。
○ 哀公問於有若曰:「年饑,用不足,如之何?」
稱有若者,君臣之辭。用,謂國用。公意蓋欲加賦以足用也。
有若對曰:「盍徹乎?」
徹,通也,均也。周制:一夫受田百畝,而與同溝共井之人通力合作,計畝均收。大率民得其九,公取其一,故謂之徹。魯自宣公稅畝,又逐畝什取其一,則為什而取二矣。故有若請但專行徹法,欲公節用以厚民也。
曰:「二,吾猶不足,如之何其徹也?」
二,即所謂什二也。公以有若不喻其旨,故言此以示加賦之意。
對曰:「百姓足,君孰與不足?百姓不足,君孰與足?」
民富,則君不至獨貧;民貧,則君不能獨富。有若深言君民一體之意,以止公之厚斂,為人上者所宜深念也。○ 楊氏曰:「仁政必自經界始。經界正,而後井地均、穀祿平,而軍國之需皆量是以為出焉。故一徹而百度舉矣,上下寧憂不足乎?以二猶不足而教之徹,疑若迂矣。然什一,天下之中正。多則桀,寡則貉,不可改也。後世不究其本而惟末之圖,故征斂無藝,費出無經,而上下困矣。又惡知盍徹之當務而不為迂乎?
○ 子張問崇德、辨惑。子曰:「主忠信,徙義,崇德也。
主忠信,則本立,徙義,則日新。
愛之欲其生,惡之欲其死。既欲其生,又欲其死,是惑也。
惡,去聲。○ 愛惡,人之常情也。然人之生死有命,非可得而欲也。以愛惡而欲其生死,則惑矣。既欲其生,又欲其死,則惑之甚也。
『誠不以富,亦祇以異。』」
此詩小雅我行其野之辭也。舊說:夫子引之,以明欲其生死者不能使之生死。如此詩所言,不足以致富而適足以取異也。程子曰:「此錯簡,當在第十六篇齊景公有馬千駟之上。因此下文亦有齊景公字而誤也。」○ 楊氏曰:「堂堂乎張也,難與並為仁矣。則非誠善補過不蔽於私者,故告之如此。」
○ 齊景公問政於孔子。
齊景公,名杵臼。魯昭公末年,孔子適齊。
孔子對曰:「君君,臣臣,父父,子子。」
此人道之大經,政事之根本也。是時景公失政,而大夫陳氏厚施於國。景公又多內嬖,而不立太子。其君臣父子之間,皆失其道,故夫子告之以此。
公曰:「善哉!信如君不君,臣不臣,父不父,子不子,雖有粟,吾得而食諸?」
景公善孔子之言而不能用,其後果以繼嗣不定,啟陳氏弒君篡國之禍。○ 楊氏曰:「君之所以君,臣之所以臣,父之所以父,子之所以子,是必有道矣。景公知善夫子之言,而不知反求其所以然,蓋悅而不繹者。齊之所以卒於亂也。」
○ 子曰:「片言可以折獄者,其由也與?」
折,之舌反。與,平聲。○ 片言,半言。折,斷也。子路忠信明決,故言出而人信服之,不待其辭之畢也。
子路無宿諾。
宿,留也,猶宿怨之宿。急於踐言,不留其諾也。記者因夫子之言而記此,以見子路之所以取信於人者,由其養之有素也。○ 尹氏曰:「小邾射以句繹奔魯,曰:『使季路要我,吾無盟矣。』千乘之國,不信其盟,而信子路之一言,其見信於人可知矣。一言而折獄者,信在言前,人自信之故也。不留諾,所以全其信也。」
○ 子曰:「聽訟,吾猶人也,必也使無訟乎!」
范氏曰:「聽訟者,治其末,塞其流也。正其本,清其源,則無訟矣。」○ 楊氏曰「子路片言可以折獄,而不知以禮遜為國,則未能使民無訟者也。故又記孔子之言,以見聖人不以聽訟為難,而以使民無訟為貴。」
○ 子張問政。子曰:「居之無倦,行之以忠。」
居,謂存諸心。無倦,則始終如一。行,謂發於事。以忠,則表裡如一。○ 程子曰「子張少仁。無誠心愛民,則必倦而不盡心,故告之以此。」
○ 子曰:「博學於文,約之以禮,亦可以弗畔矣夫!」
重出。
○ 子曰:「君子成人之美,不成人之惡。小人反是。」
成者,誘掖獎勸以成其事也。君子小人,所存既有厚薄之殊,而其所好又有善惡之異。故其用心不同如此。
○ 季康子問政於孔子。孔子對曰:「政者,正也。子帥以正,孰敢不正?」
范氏曰:「未有己不正而能正人者。」○ 胡氏曰:「魯自中葉,政由大夫,家臣效尤,據邑背叛,不正甚矣。故孔子以是告之,欲康子以正自克,而改三家之故。惜乎康子之溺於利欲而不能也。」
○ 季康子患盜,問於孔子。孔子對曰:「苟子之不欲,雖賞之不竊。」
言子不貪欲,則雖賞民使之為盜,民亦知恥而不竊。○ 胡氏曰「季氏竊柄,康子奪嫡,民之為盜,固其所也。盍亦反其本耶?孔子以不欲啟之,其旨深矣。」奪嫡事見春秋傳。
○ 季康子問政於孔子曰:「如殺無道,以就有道,何如?」孔子對曰:「子為政,焉用殺?子欲善,而民善矣。君子之德風,小人之德草。草上之風,必偃。」
焉,於虔反。○ 為政者,民所視效,何以殺為?欲善則民善矣。上,一作尚,加也。偃,仆也。○ 尹氏曰:「殺之為言,豈為人上之語哉?以身教者從,以言教者訟,而況於殺乎?」
○ 子張問:「士何如斯可謂之達矣?」
達者,德孚於人而行無不得之謂。
子曰:「何哉,爾所謂達者?」
子張務外,夫子蓋已知其發問之意。故反詰之,將以發其病而藥之也。
子張對曰:「在邦必聞,在家必聞。」
言名譽著聞也。
子曰:「是聞也,非達也。
聞與達相似而不同,乃誠偽之所以分,學者不可不審也。故夫子既明辨之,下文又詳言之。
夫達也者,質直而好義,察言而觀色,慮以下人。在邦必達,在家必達。
夫,音扶,下同。好、下,皆去聲。○ 內主忠信。而所行合宜,審於接物而卑以自牧,皆自修於內,不求人知之事。然德修於己而人信之,則所行自無窒礙矣。
夫聞也者,色取仁而行違,居之不疑。在邦必聞,在家必聞。」
行,去聲。○ 善其顏色以取於仁,而行實背之,又自以為是而無所忌憚。此不務實而專務求名者,故虛譽雖隆而實德則病矣。○ 程子曰:「學者須是務實,不要近名。有意近名,大本已失。更學何事?為名而學,則是偽也。今之學者,大抵為名。為名與為利雖清濁不同,然其利心則一也。」尹氏曰:「子張之學,病在乎不務實。故孔子告之,皆篤實之事,充乎內而發乎外者也。當時門人親受聖人之教,而差失有如此者,況後世乎?」
○ 樊遲從遊於舞雩之下,曰:「敢問崇德、修慝、辨惑。」
慝,吐得反。○ 胡氏曰:「慝之字從心從匿,蓋惡之匿於心者。修者,治而去之。」
子曰:「善哉問!
善其切於為己。
先事後得,非崇德與?攻其惡,無攻人之惡,非修慝與?一朝之忿,忘其身,以及其親,非惑與?」
與,平聲。○ 先事後得,猶言先難後獲也。為所當為而不計其功,則德日積而不自知矣。專於治己而不責人,則己之惡無所匿矣。知一朝之忿為甚微,而禍及其親為甚大,則有以辨惑而懲其忿矣。樊遲麤鄙近利,故告之以此,三者皆所以救其失也。○ 范氏曰:「先事後得,上義而下利也。人惟有利欲之心,故德不崇。惟不自省己過而知人之過,故慝不脩。感物而易動者莫如忿,忘其身以及其親,惑之甚者也。惑之甚者必起於細微,能辨之於早,則不至於大惑矣。故懲忿所以辨惑也。」
○ 樊遲問仁。子曰:「愛人。」問知。子曰:「知人。」
上知,去聲,下如字。○ 愛人,仁之施。知人,知之務。
樊遲未達。
曾氏曰:「遲之意,蓋以愛欲其周,而知有所擇,故疑二者之相悖爾。」
子曰:「舉直錯諸枉,能使枉者直。」
舉直錯枉者,知也。使枉者直,則仁矣。如此,則二者不惟不相悖而反相為用矣。
樊遲退,見子夏。曰:「鄉也吾見於夫子而問知,子曰,『舉直錯諸枉,能使枉者直』,何謂也?」
鄉,去聲。見,賢遍反。○ 遲以夫子之言,專為知者之事。又未達所以能使枉者直之理。
子夏曰:「富哉言乎!
歎其所包者廣,不止言知。
舜有天下,選於眾,舉皋陶,不仁者遠矣。湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者遠矣。」
選,息戀反。陶,音遙。遠,如字。○ 伊尹,湯之相也。不仁者遠,言人皆化而為仁,不見有不仁者,若其遠去爾,所謂使枉者直也。子夏蓋有以知夫子之兼仁知而言矣。○ 程子曰:「聖人之語,因人而變化。雖若有淺近者,而其包含無所不盡,觀於此章可見矣。非若他人之言,語近則遺遠,語遠則不知近也。」尹氏曰:「學者之問也,不獨欲聞其說,又必欲知其方;不獨欲知其方,又必欲為其事。如樊遲之問仁知也,夫子告之盡矣。樊遲未達,故又問焉,而猶未知其何以為之也。及退而問諸子夏,然後有以知之。使其未喻,則必將復問矣。既問於師,又辨諸友,當時學者之務實也如是。」
○ 子貢問友。子曰:「忠告而善道之,不可則止,無自辱焉。」
告,工毒反。道,去聲。○ 友所以輔仁,故盡其心以告之,善其說以道之。然以義合者也,故不可則止。若以數而見疏,則自辱矣。
○ 曾子曰:「君子以文會友,以友輔仁。」
講學以會友,則道益明;取善以輔仁,則德日進。
子路第十三
子路第十三 
凡三十章。
○ 子路問政。子曰:「先之,勞之。」
勞,如字。○ 蘇氏曰:「凡民之行,以身先之,則不令而行。凡民之事,以身勞之,則雖勤不怨。」
請益。曰:「無倦。」
無,古本作毋。○ 吳氏曰:「勇者喜於有為而不能持久,故以此告之。」○ 程子曰:「子路問政,孔子既告之矣。及請益,則曰『無倦』而已。未嘗復有所告,姑使之深思也。」
○ 仲弓為季氏宰,問政。子曰:「先有司,赦小過,舉賢才。」
有司,眾職也。宰兼眾職,然事必先之於彼,而後考其成功,則己不勞而事畢舉矣。過,失誤也。大者於事或有所害,不得不懲;小者赦之,則刑不濫而人心悅矣。賢,有德者。才,有能者。舉而用之,則有司皆得其人而政益修矣。
曰:「焉知賢才而舉之?」曰:「舉爾所知。爾所不知,人其舍諸?」
焉,於虔反。舍,上聲。○ 仲弓慮無以盡知一時之賢才,故孔子告之以此。程子曰:「人各親其親,然後不獨親其親。仲弓曰『焉知賢才而舉之』、子曰『舉爾所知,爾所不知,人其舍諸』便見仲弓與聖人用心之大小。推此義,則一心可以興邦,一心可以喪邦,只在公私之間爾。」○ 范氏曰:「不先有司,則君行臣職矣;不赦小過,則下無全人矣;不舉賢才,則百職廢矣。失此三者,不可以為季氏宰,況天下乎?」
○ 子路曰:「衛君待子而為政,子將奚先?」
衛君,謂出公輒也。是時魯哀公之十年,孔子自楚反乎衛。
子曰:「必也正名乎!」
是時出公不父其父而禰其祖,名實紊矣,故孔子以正名為先。謝氏曰「正名雖為衛君而言,然為政之道,皆當以此為先。」
子路曰:「有是哉,子之迂也!奚其正?」
迂,謂遠於事情,言非今日之急務也。
子曰:「野哉由也!君子於其所不知,蓋闕如也。
野,謂鄙俗。責其不能闕疑,而率爾妄對也。
名不正,則言不順;言不順,則事不成;
楊氏曰:「名不當其實,則言不順。言不順,則無以考實而事不成。」
事不成,則禮樂不興;禮樂不興,則刑罰不中;刑罰不中,則民無所措手足。
中,去聲。○ 范氏曰:「事得其序之謂禮,物得其和之謂樂。事不成則無序而不和,故禮樂不興。禮樂不興,則施之政事皆失其道,故刑罰不中。」
故君子名之必可言也,言之必可行也。君子於其言,無所苟而已矣。」
程子曰:「名實相須。一事苟,則其餘皆苟矣。」○ 胡氏曰:「衛世子蒯聵恥其母南子之淫亂,欲殺之不果而出奔。靈公欲立公子郢,郢辭。公卒,夫人立之,又辭。乃立蒯聵之子輒,以拒蒯聵。夫蒯聵欲殺母,得罪於父,而輒據國以拒父,皆無父之人也,其不可有國也明矣。夫子為政,而以正名為先。必將具其事之本末,告諸天王,請于方伯,命公子郢而立之。則人倫正,天理得,名正言順而事成矣。夫子告之之詳如此,而子路終不喻也。故事輒不去,卒死其難。徒知食焉不避其難之為義,而不知食輒之食為非義也。」
○ 樊遲請學稼,子曰:「吾不如老農。」請學為圃。曰:「吾不如老圃。」
種五穀曰稼,種蔬菜曰圃。
樊遲出。子曰:「小人哉,樊須也!
小人,謂細民,孟子所謂小人之事者也。
上好禮,則民莫敢不敬;上好義,則民莫敢不服;上好信,則民莫敢不用情。夫如是,則四方之民襁負其子而至矣,焉用稼?」
好,去聲。夫,音扶。襁,居丈反。焉,於虔反。○ 禮、義、信,大人之事也。好義,則事合宜。情,誠實也。敬服用情,蓋各以其類而應也。襁,織縷為之,以約小兒於背者。○ 楊氏曰:「樊須游聖人之門,而問稼圃,志則陋矣,辭而闢之可也。待其出而後言其非,何也?蓋於其問也,自謂農圃之不如,則拒之者至矣。須之學疑不及此,而不能問。不能以三隅反矣,故不復。及其既出,則懼其終不喻也,求老農老圃而學焉,則其失愈遠矣。故復言之,使知前所言者意有在也。
○ 子曰:「誦詩三百,授之以政,不達;使於四方,不能專對;雖多,亦奚以為?」
使,去聲。○ 專,獨也。詩本人情,該物理,可以驗風俗之盛衰,見政治之得失。其言溫厚和平,長於風諭。故誦之者,必達於政而能言也。○ 程子曰:「窮經將以致用也。世之誦詩者,果能從政而專對乎?然則其所學者,章句之末耳,此學者之大患也。」
○ 子曰:「其身正,不令而行;其身不正,雖令不從。」
○ 子曰:「魯衛之政,兄弟也。」
魯,周公之後。衛,康叔之後。本兄弟之國,而是時衰亂,政亦相似,故孔子歎之。
○ 子謂衛公子荊,「善居室。始有,曰:『苟合矣。』少有,曰:『苟完矣。』富有,曰:『苟美矣。』」
公子荊,衛大夫。苟,聊且粗略之意。合,聚也。完,備也。言其循序而有節,不以欲速盡美累其心。○ 楊氏曰:「務為全美,則累物而驕吝之心生。公子荊皆曰苟而已,則不以外物為心,其欲易足故也。」
○ 子適衛,冉有僕。
僕,御車也。
子曰:「庶矣哉!」
庶,眾也。
冉有曰:「既庶矣。又何加焉?」曰:「富之。」
庶而不富,則民生不遂,故制田里,薄賦斂以富之。
曰:「既富矣,又何加焉?」曰:「教之。」
富而不教,則近於禽獸。故必立學校,明禮義以教之。○ 胡氏曰:「天生斯民,立之司牧,而寄以三事。然自三代之後,能舉此職者,百無一二。漢之文明,唐之太宗,亦云庶且富矣,西京之教無聞焉。明帝尊師重傅,臨雍拜老,宗戚子弟莫不受學;唐太宗大召名儒,增廣生員,教亦至矣,然而未知所以教也。三代之教,天子公卿躬行於上,言行政事皆可師法,彼二君者其能然乎?」
○ 子曰:「苟有用我者。期月而已可也,三年有成。」
朞月,謂周一歲之月也。可者,僅辭,言綱紀布也。有成,治功成也。○ 尹氏曰:「孔子歎當時莫能用己也,故云然。」愚按:史記,此蓋為衛靈公不能用而發。
○ 子曰:「善人為邦百年,亦可以勝殘去殺矣。誠哉是言也!」
勝,平聲。去,上聲。○ 為邦百年,言相繼而久也。勝殘,化殘暴之人,使不為惡也。去殺,謂民化於善,可以不用刑殺也。蓋古有是言,而夫子稱之。程子曰「漢自高、惠至於文、景,黎民醇厚,幾致刑措,庶乎其近之矣。」○ 尹氏曰:「勝殘去殺,不為惡而已,善人之功如是。若夫聖人,則不待百年,其化亦不止此。」
○ 子曰:「如有王者,必世而後仁。」
王者謂聖人受命而興也。三十年為一世。仁,謂教化浹也。程子曰:「周自文武至於成王,而後禮樂興,即其效也。」○ 或問:「三年、必世,遲速不同,何也?」程子曰:「三年有成,謂法度紀綱有成而化行也。漸民以仁,摩民以義,使之浹於肌膚,淪於骨髓,而禮樂可興,所謂仁也。此非積久,何以能致?」
○ 子曰:「苟正其身矣,於從政乎何有?不能正其身,如正人何?」
○ 冉子退朝。子曰:「何晏也?」對曰:「有政。」子曰:「其事也。如有政,雖不吾以,吾其與聞之。」
朝,音潮。與,去聲。○ 冉有時為季氏宰。朝,季氏之私朝也。晏,晚也。政,國政。事,家事。以,用也。禮:大夫雖不治事,猶得與聞國政。是時季氏專魯,其於國政,蓋有不與同列議於公朝,而獨與家臣謀於私室者。故夫子為不知者而言,此必季氏之家事耳。若是國政,我嘗為大夫,雖不見用,猶當與聞。今既不聞,則是非國政也。語意與魏徵獻陵之對略相似。其所以正名分,抑季氏,而教冉有之意深矣。
○ 定公問:「一言而可以興邦,有諸?」孔子對曰:「言不可以若是其幾也。
幾,期也。詩曰:「如幾如式。」言一言之間,未可以如此而必期其效。
人之言曰:『為君難,為臣不易。』
易,去聲。○ 當時有此言也。
如知為君之難也,不幾乎一言而興邦乎?」
因此言而知為君之難,則必戰戰兢兢,臨深履薄,而無一事之敢忽。然則此言也,豈不可以必期於興邦乎?為定公言,故不及臣也。
曰:「一言而喪邦,有諸?」孔子對曰:「言不可以若是其幾也。人之言曰:『予無樂乎為君,唯其言而莫予違也。』
喪,去聲,下同。樂,音洛。○ 言他無所樂,惟樂此耳。
如其善而莫之違也,不亦善乎?如不善而莫之違也,不幾乎一言而喪邦乎?」
范氏曰:「言不善而莫之違,則忠言不至於耳。君日驕而臣日諂,未有不喪邦者也。」○ 謝氏曰:「知為君之難,則必敬謹以持之。惟其言而莫予違,則讒諂面諛之人至矣。邦未必遽興喪也,而興喪之源分於此。然此非識微之君子,何足以知之?」
○ 葉公問政。
音義並見第七篇。
子曰:「近者說,遠者來。」
說,音悅。○ 被其澤則悅,聞其風則來。然必近者悅,而後遠者來也。
○ 子夏為莒父宰,問政。子曰:「無欲速,無見小利。欲速,則不達;見小利,則大事不成。」
父,音甫。○ 莒父,魯邑名。欲事之速成,則急遽無序,而反不達。見小者之為利,則所就者小,而所失者大矣。○ 程子曰:「子張問政,子曰:『居之無倦,行之以忠。』子夏問政,子曰:『無欲速,無見小利。』子張常過高而未仁,子夏之病常在近小,故各以切己之事告之。」
○ 葉公語孔子曰:「吾黨有直躬者,其父攘羊,而子證之。」
語,去聲。○ 直躬,直身而行者。有因而盜曰攘。
孔子曰:「吾黨之直者異於是。父為子隱,子為父隱,直在其中矣。」
為,去聲。○ 父子相隱,天理人情之至也。故不求為直,而直在其中。○ 謝氏曰:「順理為直。父不為子隱,子不為父隱,於理順邪?瞽瞍殺人,舜竊負而逃,遵海濱而處。當是時,愛親之心勝,其於直不直,何暇計哉?」
○ 樊遲問仁。子曰:「居處恭,執事敬,與人忠。雖之夷狄,不可棄也。」
恭主容,敬主事。恭見於外,敬主乎中。之夷狄不可棄,勉其固守而勿失也。○ 程子曰:「此是徹上徹下語。聖人初無二語也,充之則睟面盎背;推而達之,則篤恭而天下平矣。」胡氏曰:「樊遲問仁者三:此最先,先難次之,愛人其最後乎?」
○ 子貢問曰:「何如斯可謂之士矣?」子曰:「行己有恥,使於四方,不辱君命,可謂士矣。」
使,去聲。○ 此其志有所不為,而其材足以有為者也。子貢能言,故以使事告之。蓋為使之難,不獨貴於能言而已。
曰:「敢問其次。」曰:「宗族稱孝焉,鄉黨稱弟焉。」
弟,去聲。○ 此本立而材不足者,故為其次。
曰:「敢問其次。」曰:「言必信,行必果,硜硜然小人哉!抑亦可以為次矣。」
行,去聲。硜,苦耕反。○ 果,必行也。硜,小石之堅確者。小人,言其識量之淺狹也。此其本末皆無足觀,然亦不害其為自守也,故聖人猶有取焉,下此則市井之人,不復可為士矣。
曰:「今之從政者何如?」子曰:「噫!斗筲之人,何足算也。」
筲,所交反。算,亦作筭,悉亂反。○ 今之從政者,蓋如魯三家之屬。噫,心不平聲。鬥,量名,容十升。筲,竹器,容斗二升。斗筲之人,言鄙細也。算,數也。子貢之問每下,故夫子以是警之。○ 程子曰:「子貢之意,蓋欲為皎皎之行,聞於人者。夫子告之,皆篤實自得之事。」
○ 子曰:「不得中行而與之,必也狂狷乎!狂者進取,狷者有所不為也。」
狷,音絹。○ 行,道也。狂者,志極高而行不掩。狷者,知未及而守有餘。蓋聖人本欲得中道之人而教之,然既不可得,而徒得謹厚之人,則未必能自振拔而有為也。故不若得此狂狷之人,猶可因其志節,而激厲裁抑之以進於道,非與其終於此而已也。○ 孟子曰:「孔子豈不欲中道哉?不可必得,故思其次也。如琴張、曾皙、牧皮者,孔子之所謂狂也。其志嘐嘐然,曰:『古之人!古之人!』夷考其行而不掩焉者也。狂者又不可得,欲得不屑不潔之士而與之,是狷也,是又其次也。」
○ 子曰:「南人有言曰:『人而無恆,不可以作巫醫。』善夫!」
恆,胡登反。夫,音扶。○ 南人,南國之人。恆,常久也。巫,所以交鬼神。醫,所以寄死生。故雖賤役,而猶不可以無常,孔子稱其言而善之。
「不恆其德,或承之羞。」
此易恆卦九三爻辭。承,進也。
子曰:「不占而已矣。」
復加「子曰」,以別易文也,其義未詳。楊氏曰:「君子於易苟玩其占,則知無常之取羞矣。其為無常也,蓋亦不占而已矣。」意亦略通。
○ 子曰:「君子和而不同,小人同而不和。」
和者,無乖戾之心。同者,有阿比之意。○ 尹氏曰:「君子尚義,故有不同。小人尚利,安得而和?」
○ 子貢問曰:「鄉人皆好之,何如?」子曰:「未可也。」「鄉人皆惡之,何如?」子曰:「未可也。不如鄉人之善者好之,其不善者惡之。」
好、惡,並去聲。○ 一鄉之人,宜有公論矣,然其間亦各以類自為好惡也。故善者好之而惡者不惡,則必其有苟合之行。惡者惡之而善者不好,則必其無可好之實。
○ 子曰:「君子易事而難說也:說之不以道,不說也;及其使人也,器之。小人難事而易說也:說之雖不以道,說也;及其使人也,求備焉。」
易,去聲。說,音悅。○ 器之,謂隨其材器而使之也。君子之心公而恕,小人之心私而刻。天理人欲之間,每相反而已矣。
○ 子曰:「君子泰而不驕,小人驕而不泰。」
君子循理,故安舒而不矜肆。小人逞欲,故反是。
○ 子曰:「剛毅、木訥,近仁。」
程子曰:「木者,質樸。訥者,遲鈍。四者,質之近乎仁者也。」楊氏曰:「剛毅則不屈於物欲,木訥則不至於外馳,故近仁。」
○ 子路問曰:「何如斯可謂之士矣?」子曰:「切切、偲偲、怡怡如也,可謂士矣。朋友切切、偲偲,兄弟怡怡。」
胡氏曰:「切切,懇到也。偲偲,詳勉也。怡怡,和悅也。皆子路所不足,故告之。又恐其混於所施,則兄弟有賊恩之禍,朋友有善柔之損,故又別而言之。」
○ 子曰:「善人教民七年,亦可以即戎矣。」
教民者,教之孝悌忠信之行,務農講武之法。即,就也。戎,兵也。民知親其上,死其長,故可以即戎。○ 程子曰:「七年云者,聖人度其時可矣。如云期月、三年、百年、一世、大國五年、小國七年之類,皆當思其作為如何乃有益。」
○ 子曰:「以不教民戰,是謂棄之。」
以,用也。言用不教之民以戰,必有敗亡之禍,是棄其民也。
憲問第十四
憲問第十四 
胡氏曰:「此篇疑原憲所記。」凡四十七章。
○ 憲問恥。子曰:「邦有道,穀;邦無道,穀,恥也。」
憲,原思名。穀,祿也。邦有道不能有為,邦無道不能獨善,而但知食祿,皆可恥也。憲之狷介,其於邦無道穀之可恥,固知之矣;至於邦有道穀之可恥,則未必知也。故夫子因其問而并言之,以廣其志,使知所以自勉,而進於有為也。
○ 「克、伐、怨、欲不行焉,可以為仁矣?」
此亦原憲以其所能而問也。克,好勝。伐,自矜。怨,忿恨。欲,貪欲。
子曰:「可以為難矣,仁則吾不知也。」
有是四者而能制之,使不得行,可謂難矣。仁則天理渾然,自無四者之累,不行不足以言之也。○ 程子曰:「人而無克、伐、怨、欲,惟仁者能之。有之而能制其情使不行,斯亦難能也。謂之仁則未也。此聖人開示之深,惜乎憲之不能再問也。」或曰:「四者不行,固不得為仁矣。然亦豈非所謂克己之事,求仁之方乎?」曰:「克去己私以復乎禮,則私欲不留,而天理之本然者得矣。若但制而不行,則是未有拔去病根之意,而容其潛藏隱伏於 胷中也。豈克己求仁之謂哉?學者察於二者之間,則其所以求仁之功,益親切而無滲漏矣。」
○ 子曰:「士而懷居,不足以為士矣。」
居,謂意所便安處也。
○ 子曰:「邦有道,危言危行;邦無道,危行言孫。」
行、孫,並去聲。○ 危,高峻也。孫,卑順也。尹氏曰:「君子之持身不可變也,至於言則有時而不敢盡,以避禍也。然則為國者使士言孫,豈不殆哉?」
○ 子曰:「有德者必有言,有言者不必有德;仁者必有勇,勇者不必有仁。」
有德者,和順積中,英華發外。能言者,或便佞口給而已。仁者,心無私累,見義必為。勇者,或血氣之強而已。○ 尹氏曰「有德者必有言,徒能言者未必有德也。仁者志必勇,徒能勇者未必有仁也。」
○ 南宮适問於孔子曰:「羿善射,奡盪舟,俱不得其死然;禹稷躬稼,而有天下。」夫子不答,南宮适出。子曰:「君子哉若人!尚德哉若人!」
适,古活反。羿,音詣。奡,五報反。盪,土浪反。○ 南宮适,即南容也。羿,有窮之君,善射,滅夏后相而篡其位。其臣寒浞又殺羿而代之。奡,春秋傳作「澆」,浞之子也,力能陸地行舟,後為夏后少康所誅。禹平水土暨稷播種,身親稼穡之事。禹受舜禪而有天下,稷之後至周武王亦有天下。 适之意蓋以羿奡比當世之有權力者,而以禹稷比孔子也。故孔子不答。然适之言如此,可謂君子之人,而有尚德之心矣,不可以不與。故俟其出而贊美之。
○ 子曰:「君子而不仁者有矣夫,未有小人而仁者也。」
夫,音扶。○ 謝氏曰:「君子志於仁矣,然毫忽之間,心不在焉,則未免為不仁也。」
○ 子曰:「愛之,能勿勞乎?忠焉,能勿誨乎?」
蘇氏曰:「愛而勿勞,禽犢之愛也;忠而勿誨,婦寺之忠也。愛而知勞之,則其為愛也深矣;忠而知誨之,則其為忠也大矣。」
○ 子曰:「為命:裨諶草創之,世叔討論之,行人子羽脩飾之,東里子產潤色之。」
裨,婢之反。諶,時林反。○ 裨諶以下四人,皆鄭大夫。草,略也。創,造也,謂造為草淤也。世叔,游吉也,春秋傳作子太叔。討,尋究也。論,講議也。行人,掌使之官。子羽,公孫揮也。脩飾,謂增損之。東里地名,子產所居也。潤色,謂加以文采也。鄭國之為辭命,必更此四賢之手而成,詳審精密,各盡所長。是以應對諸侯,鮮有敗事。孔子言此,蓋善之也。
○ 或問子產。子曰:「惠人也。」
子產之政,不專於寬,然其心則一以愛人為主。故孔子以為惠人,蓋舉其重而言也。
問子西。曰:「彼哉!彼哉!」
子西,楚公子申,能遜楚國,立昭王,而改紀其政,亦賢大夫也。然不能革其僭王之號。昭王欲用孔子,又沮止之。其後卒召白公以致禍亂,則其為人可知矣。彼哉者,外之之辭。
問管仲。曰:「人也。奪伯氏駢邑三百,飯疏食,沒齒無怨言。」
人也,猶言此人也。伯氏,齊大夫。駢邑,地名。齒,年也。蓋桓公奪伯氏之邑以與管仲,伯氏自知己罪,而心服管仲之功,故窮約以終身而無怨言。荀卿所謂「與之書社三百,而富人莫之敢拒」者,即此事也。○ 或問:「管仲子產孰優?」曰:「管仲之德,不勝其才。子產之才,不勝其德。然於聖人之學,則概乎其未有聞也。」
○ 子曰:「貧而無怨難,富而無驕易。」
易,去聲。○ 處貧難,處富易,人之常情。然人當勉其難,而不可忽其易也。
○ 子曰:「孟公綽為趙魏老則優,不可以為滕薛大夫。」
公綽,魯大夫。趙魏,晉卿之家。老,家臣之長。大家勢重,而無諸侯之事;家老望尊,而無官守之責。優,有餘也。滕薛,二國名。大夫,任國政者。滕薛國小政繁,大夫位高責重。然則公綽蓋廉靜寡欲,而短於才者也。○ 胡氏[一]曰:「知之弗豫,枉其才而用之,則為棄人矣。此君子所以患不知人也。言此,則孔子之用人可知矣。」 [一]「胡氏」,清仿宋大字本作「楊氏」。
○ 子路問成人。子曰:「若臧武仲之知,公綽之不欲,卞莊子之勇,冉求之藝,文之以禮樂,亦可以為成人矣。」
知,去聲。○ 成人,猶言全人。武仲,魯大夫,名紇。莊子,魯卞邑大夫。言兼此四子之長,則知足以窮理,廉足以養心,勇足以力行,藝足以泛應,而又節之以禮,和之以樂,使德成於內,而文見乎外。則材全德備,渾然不見一善成名之跡;中正和樂,粹然無復偏倚駁雜之蔽,而其為人也亦成矣。然亦之為言,非其至者,蓋就子路之所可及而語之也。若論其至,則非聖人之盡人道,不足以語此。
曰:「今之成人者何必然?見利思義,見危授命,久要不忘平生之言,亦可以為成人矣。」
復加「曰」字者,既答而復言也。授命,言不愛其生,持以與人也。久要,舊約也。平生,平日也。有是忠信之實,則雖其才知禮樂有所未備,亦可以為成人之次也。○ 程子曰:「知之明,信之篤,行之果,天下之達德也。若孔子所謂成人,亦不出此三者。武仲,知也;公綽,仁也;卞莊子,勇也;冉求,藝也。須是合此四人之能,文之以禮樂,亦可以為成人矣。然而論其大成,則不止於此。若今之成人,有忠信而不及於禮樂,則又其次者也。」又曰:「臧武仲之知,非正也。若文之以禮樂,則無不正矣。」又曰:「語成人之名,非聖人孰能之?孟子曰:『惟聖人然後可以踐形。』如此方可以稱成人之名。」○ 胡氏曰「今之成人以下,乃子路之言。蓋不復聞斯行之之勇,而有終身誦之之固矣。未詳是否?」
○ 子問公叔文子於公明賈曰:「信乎夫子不言、不笑、不取乎?」
公叔文子,衛大夫公孫拔也。公明姓,賈名,亦衛人。文子為人,其詳不可知,然必廉靜之士,故當時以三者稱之。
公明賈對曰:「以告者過也。夫子時然後言,人不厭其言;樂然後笑,人不厭其笑;義然後取,人不厭其取。」子曰:「其然,豈其然乎?」
厭者,苦其多而惡之之辭。事適其可,則人不厭,而不覺其有是矣。是以稱之或過,而以為不言、不笑、不取也。然此言也,非禮義充溢於中,得時措之宜者不能。文子雖賢,疑未及此,但君子與人為善,不欲正言其非也。故曰「其然豈其然乎」,蓋疑之也。
○ 子曰:「臧武仲以防求為後於魯,雖曰不要君,吾不信也。」
要,平聲。○ 防,地名,武仲所封邑也。要,有挾而求也。武仲得罪奔邾,自邾如防,使請立後而避邑。以示若不得請,則將據邑以叛,是要君也。范氏曰:「要君者無上,罪之大者也。武仲之邑,受之於君。得罪出奔,則立後在君,非己所得專也。而據邑以請,由其好知而不好學也。」楊氏曰:「武仲卑辭請後,其跡非要君者,而意實要之。夫子之言,亦春秋誅意之法也。」
○ 子曰:「晉文公譎而不正,齊桓公正而不譎。」
譎,古穴反。○ 晉文公,名重耳。齊桓公,名小白。譎,詭也。二公皆諸侯盟主,攘夷狄以尊周室者也。雖其以力假仁,心皆不正,然桓公伐楚,仗義執言,不由詭道,猶為彼善於此。文公則伐衛以致楚,而陰謀以取勝,其譎甚矣。二君他事亦多類此,故夫子言此以發其隱。
○ 子路曰:「桓公殺公子糾,召忽死之,管仲不死。」曰:「未仁乎?」
糾,居黝反。召,音邵。○ 按春秋傳,齊襄公無道,鮑叔牙奉公子小白奔莒。及無知弒襄公,管夷吾召忽奉公子糾奔魯。魯人納之,未克,而小白入,是為桓公。使魯殺子糾而請管召,召忽死之,管仲請囚。鮑叔牙言於桓公以為相。子路疑管仲忘君事讎,忍心害理,不得為仁也。
子曰:「桓公九合諸侯,不以兵車,管仲之力也。如其仁!如其仁!」
九,春秋傳作「糾」,督也,古字通用。不以兵車,言不假威力也。如其仁,言誰如其仁者,又再言以深許之。蓋管仲雖未得為仁人,而其利澤及人,則有仁之功矣。
○ 子貢曰:「管仲非仁者與?桓公殺公子糾,不能死,又相之。」
與,平聲。相,去聲。○ 子貢意不死猶可,相之則已甚矣。
子曰:「管仲相桓公,霸諸侯,一匡天下,民到于今受其賜。微管仲,吾其被髮左衽矣。
被,皮寄反。衽,而審反。○ 霸,與伯同,長也。匡,正也。尊周室,攘夷狄,皆所以正天下也。微,無也。衽,衣衿也。被髮左衽,夷狄之俗也。
豈若匹夫匹婦之為諒也,自經於溝瀆而莫之知也。」
諒,小信也。經,縊也。莫之知,人不知也。後漢書引此文,莫字上有人字。○ 程子曰:「桓公,兄也。子糾,弟也。仲私於所事,輔之以爭國,非義也。桓公殺之雖過,而糾之死實當。仲始與之同謀,遂與之同死,可也;知輔之爭為不義,將自免以圖後功亦可也。故聖人不責其死而稱其功。若使桓弟而糾兄,管仲所輔者正,桓奪其國而殺之,則管仲之與桓,不可同世之讎也。若計其後功而與其事桓,聖人之言,無乃害義之甚,啟萬世反覆不忠之亂乎?如唐之王圭魏徵,不死建成之難,而從太宗,可謂害於義矣。後雖有功,何足贖哉?」愚謂管仲有功而無罪,故聖人獨稱其功;王魏先有罪而後有功,則不以相掩可也。
○ 公叔文子之臣大夫僎,與文子同升諸公。
僎,士免反。○ 臣,家臣。公,公朝。謂薦之與己同進為公朝之臣也。
子聞之曰:「可以為文矣。」
文者,順理而成章之謂。謚法亦有所謂錫民爵位曰文者。○ 洪氏曰:「家臣之賤而引之使與己並,有三善焉:知人,一也;忘己,二也;事君,三也。」
○ 子言衛靈公之無道也,康子曰:「夫如是,奚而不喪?」
夫,音扶。喪,去聲。○ 喪,失位也。
孔子曰:「仲叔圉治賓客,祝鮀治宗廟,王孫賈治軍旅。夫如是,奚其喪?」
仲叔圉,即孔文子也。三人皆衛臣,雖未必賢,而其才可用。靈公用之,又各當其才。○ 尹氏曰「衛靈公之無道宜喪也,而能用此三人,猶足以保其國,而況有道之君,能用天下之賢才者乎?詩曰:『無競維人,四方其訓之。』」
○ 子曰:「其言之不怍,則為之也難。」
大言不慚,則無必為之志,而不自度其能否矣。欲踐其言,豈不難哉?
○ 陳成子弒簡公。
成子,齊大夫,名恆。簡公,齊君,名壬。事在春秋哀公十四年。
孔子沐浴而朝,告於哀公曰:「陳恆弒其君,請討之。」
朝,音潮。○ 是時孔子致仕居魯,沐浴齊戒以告君,重其事而不敢忽也。臣弒其君,人倫之大變,天理所不容,人人得而誅之,況鄰國乎?故夫子雖已告老,而猶請哀公討之。
公曰:「告夫三子!」
夫,音扶,下「告夫」同。○ 三子,三家也。時政在三家,哀公不得自專,故使孔子告之。
孔子曰:「以吾從大夫之後,不敢不告也。君曰『告夫三子』者。」
孔子出而自言如此。意謂弒君之賊,法所必討。大夫謀國,義所當告。君乃不能自命三子,而使我告之邪?
之三子告,不可。孔子曰:「以吾從大夫之後,不敢不告也。」
以君命往告,而三子魯之強臣,素有無君之心,實與陳氏聲勢相倚,故沮其謀。而夫子復以此應之,其所以警之者深矣。○ 程子曰:「左氏記孔子之言曰:『陳恆弒其君,民之不予者半。以魯之眾,加齊之半,可克也。』此非孔子之言。誠若此言,是以力不以義也。若孔子之志,必將正名其罪,上告天子,下告方伯,而率與國以討之。至於所以勝齊者,孔子之餘事也,豈計魯人之眾寡哉?當是時,天下之亂極矣,因是足以正之,周室其復興乎?魯之君臣,終不從之,可勝惜哉!」胡氏曰「春秋之法,弒君之賊,人得而討之。仲尼此舉,先發後聞可也。」
○ 子路問事君。子曰:「勿欺也,而犯之。」
犯,謂犯顏諫爭。○ 范氏曰:「犯非子路之所難也,而以不欺為難。故夫子教以先勿欺而後犯也。」
○ 子曰:「君子上達,小人下達。」
君子循天理,故日進乎高明;小人殉人欲,故日究乎汙下。
○ 子曰:「古之學者為己,今之學者為人。」
為,去聲。○ 程子曰:「為己,欲得之於己也。為人,欲見知於人也。」○ 程子曰:「古之學者為己,其終至於成物。今之學者為人,其終至於喪己。」愚按:聖賢論學者用心得失之際,其說多矣,然未有如此言之切而要者。於此明辨而日省之,則庶乎其不昧於所從矣。
○ 蘧伯玉使人於孔子。
使,去聲,下同。○ 蘧伯玉,衛大夫,名瑗。孔子居衛,嘗主於其家。既而反魯,故伯玉使人來也。
孔子與之坐而問焉,曰:「夫子何為?」對曰:「夫子欲寡其過而未能也。」使者出。子曰:「使乎!使乎!」
與之坐,敬其主以及其使也。夫子,指伯玉也。言其但欲寡過而猶未能,則其省身克己,常若不及之意可見矣。使者之言愈自卑約,而其主之賢益彰,亦可謂深知君子之心,而善於辭令者矣。故夫子再言使乎以重美之。按莊周稱「伯玉行年五十而知四十九年之非」。又曰:「伯玉行年六十而六十化。」蓋其進德之功,老而不倦。是以踐履篤實,光輝宣著。不惟使者知之,而夫子亦信之也。
○ 子曰:「不在其位,不謀其政。」
重出。
○ 曾子曰:「君子思不出其位。」
此艮卦之象辭也。曾子蓋嘗稱之,記者因上章之語而類記之也。○ 范氏曰:「物各止其所,而天下之理得矣。故君子所思不出其位,而君臣、上下、大小,皆得其職也。」
○ 子曰:「君子恥其言而過其行。」
行,去聲。○ 恥者,不敢盡之意。過者,欲有餘之辭。
○ 子曰:「君子道者三,我無能焉:仁者不憂,知者不惑,勇者不懼。」
知,去聲。○ 自責以勉人也。
子貢曰:「夫子自道也。」
道,言也。自道,猶云謙辭。○ 尹氏曰:「成德以仁為先,進學以知為先。故夫子之言,其序有不同者以此。」
○ 子貢方人。子曰:「賜也賢乎哉?夫我則不暇。」
夫,音扶。○ 方,比也。乎哉,疑辭。比方人物而較其短長,雖亦窮理之事。然專務為此,則心馳於外,而所以自治者疏矣。故褒之而疑其辭,復自貶以深抑之。○ 謝氏曰:「聖人責人,辭不迫切而意已獨至如此。」
○ 子曰:「不患人之不己知,患其不能也。」
凡章指同而文不異者,一言而重出也。文小異者,屢言而各出也。此章凡四見,而文皆有異。則聖人於此一事,蓋屢言之,其丁寧之意亦可見矣。
○ 子曰:「不逆詐,不億不信。抑亦先覺者,是賢乎!」
逆,未至而迎之也。億,未見而意之也。詐,謂人欺己。不信,謂人疑己。抑,反語辭。言雖不逆不億,而於人之情偽,自然先覺,乃為賢也。○ 楊氏曰:「君子一於誠而已,然未有誠而不明者。故雖不逆詐、不億不信,而常先覺也。若夫不逆不億而卒為小人所罔焉,斯亦不足觀也已。」
○ 微生畝謂孔子曰:「丘何為是棲棲者與?無乃為佞乎?」
與,平聲。○ 微生,姓,畝,名也。畝名呼夫子而辭甚倨,蓋有齒德而隱者。棲棲,依依也。為佞,言其務為口給以悅人也。
孔子曰:「非敢為佞也,疾固也。」
疾,惡也。固,執一而不通也。聖人之於達尊,禮恭而言直如此,其警之亦深矣。
○ 子曰:「驥不稱其力,稱其德也。」
驥,善馬之名。德,謂調良也。○ 尹氏曰:「驥雖有力,其稱在德。人有才而無德,則亦奚足尚哉?」
○ 或曰:「以德報怨,何如?」
或人所稱,今見老子書。德,謂恩惠也。
子曰:「何以報德?
言於其所怨,既以德報之矣;則人之有德於我者,又將何以報之乎?
以直報怨,以德報德。」
於其所怨者,愛憎取舍,一以至公而無私,所謂直也。於其所德者,則必以德報之,不可忘也。○ 或人之言,可謂厚矣。然以聖人之言觀之,則見其出於有意之私,而怨德之報皆不得其平也。必如夫子之言,然後二者之報各得其所。然怨有不讎,而德無不報,則又未嘗不厚也。此章之言,明白簡約,而其指意曲折反復。如造化之簡易易知,而微妙無窮,學者所宜詳玩也。
○ 子曰:「莫我知也夫!」
夫,音扶。○ 夫子自歎,以發子貢之問也。
子貢曰:「何為其莫知子也?」子曰:「不怨天,不尤人。下學而上達。知我者其天乎!」
不得於天而不怨天,不合於人而不尤人,但知下學而自然上達。此但自言其反己自修,循序漸進耳,無以甚異於人而致其知也。然深味其語意,則見其中自有人不及知而天獨知之之妙。蓋在孔門,惟子貢之智幾足以及此,故特語以發之。惜乎其猶有所未達也!○ 程子曰:「不怨天,不尤人,在理當如此。」又曰:「下學上達,意在言表。」又曰:「學者須守下學上達之語,乃學之要。蓋凡下學人事,便是上達天理。然習而不察,則亦不能以上達矣。」
○ 公伯寮愬子路於季孫。子服景伯以告,曰:「夫子固有惑志於公伯寮,吾力猶能肆諸市朝。」
朝,音潮。○ 公伯寮,魯人。子服氏,景謚,伯字,魯大夫子服何也。夫子,指季孫。言其有疑於寮之言也。肆,陳尸也。言欲誅寮。
子曰:「道之將行也與?命也。道之將廢也與?命也。公伯寮其如命何!」
與,平聲。○ 謝氏曰:「雖寮之愬行,亦命也。其實寮無如之何?」愚謂言此以曉景伯,安子路,而警伯寮耳。聖人於利害之際,則不待決于命而後泰然也。
○ 子曰:「賢者辟世,
辟,去聲,下同。○ 天下無道而隱,若伯夷太公是也。
其次辟地,
去亂國,適治邦。
其次辟色,
禮貌衰而去。
其次辟言。」
有違言而後去也。○ 程子曰:「四者雖以大小次第言之,然非有優劣也,所遇不同耳。」
○ 子曰:「作者七人矣。」
李氏曰:「作,起也。言起而隱去者,今七人矣。不可知其誰何。必求其人以實之,則鑿矣。」
○ 子路宿於石門。晨門曰:「奚自?」子路曰:「自孔氏。」曰:「是知其不可而為之者與?」
與,平聲。○ 石門,地名。晨門,掌晨啟門,蓋賢人隱於抱關者也。自,從也,問其何所從來也。胡氏曰「晨門知世之不可而不為,故以是譏孔子。然不知聖人之視天下,無不可為之時也。」
○ 子擊磬於衛。有荷蕢而過孔氏之門者,曰:「有心哉!擊磬乎!」
荷,去聲。○ 磬,樂器。荷,擔也。蕢,草器也。此荷蕢者,亦隱士也。聖人之心未嘗忘天下,此人聞其磬聲而知之,則亦非常人矣。
既而曰:「鄙哉!硜硜乎!莫己知也,斯己而已矣。深則厲,淺則揭。」
硜,苦耕反。莫己之己,音紀,餘音以。揭,起例反。○ 硜硜,石聲,亦專確之意。以衣涉水曰厲,攝衣涉水曰揭。此兩句,衛風匏有苦葉之詩也。饑孔子人不知己而不止,不能適淺深之宜。
○ 子曰:「果哉!末之難矣。」
果哉,歎其果於忘世也。末,無也。聖人心同天地,視天下猶一家,中國猶一人,不能一日忘也。故聞荷蕢之言,而歎其果於忘世。且言人之出處,若但如此,則亦無所難矣。
○ 子張曰:「書云:『高宗諒陰,三年不言。』何謂也?」
高宗,商王武丁也。諒陰,天子居喪之名,未詳其義。
子曰:「何必高宗,古之人皆然。君薨,百官總己以聽於塚宰三年。」
言君薨,則諸侯亦然。總己,謂總攝己職。塚宰,太宰也。百官聽於塚宰,故君得以三年不言也。○ 胡氏曰:「位有貴賤,而生於父母無以異者。故三年之喪,自天子達。子張非疑此也,殆以為人君三年不言,則臣下無所稟令,禍亂或由以起也。孔子告以聽於塚宰,則禍亂非所憂矣。」
○ 子曰:「上好禮,則民易使也。」
好、易,皆去聲。○ 謝氏曰「禮達而分定,故民易使。」
○ 子路問君子。子曰:「脩己以敬。」曰:「如斯而已乎?」曰:「脩己以安人。」曰:「如斯而已乎?」曰:「脩己以安百姓。脩己以安百姓,堯舜其猶病諸!」
脩己以敬,夫子之言至矣盡矣。而子路少之,故再以其充積之盛,自然及物者告之,無他道也。人者,對己而言。百姓,則盡乎人矣。堯舜猶病,言不可以有加於此。以抑子路,使反求諸近也。蓋聖人之心無窮,世雖極治,然豈能必知四海之內,果無一物不得其所哉?故堯舜猶以安百姓為病。若曰吾治已足,則非所以為聖人矣。○ 程子曰:「君子脩己以安百姓,篤恭而天下平。惟上下一於恭敬,則天地自位,萬物自育,氣無不和,而四靈畢至矣。此體信達順之道,聰明睿知皆由是出,以此事天饗帝。」
○ 原壤夷俟。子曰:「幼而不孫弟,長而無述焉,老而不死,是為賊!」以杖叩其脛。
孫、弟,並去聲。長,上聲。叩,音口。脛,其定反。○ 原壤,孔子之故人。母死而歌,蓋老氏之流,自放於禮法之外者。夷,蹲踞也。俟,待也。言見孔子來而蹲踞以待之也。述,猶稱也。賊者,害人之名。以其自幼至長,無一善狀,而久生於世,徒足以敗常亂俗,則是賊而已矣。脛,足骨也。孔子既責之,而因以所曳之杖,微擊其脛,若使勿蹲踞然。
○ 闕黨童子將命。或問之曰:「益者與?」
與,平聲。○ 闕黨,黨名。童子,未冠者之稱。將命,謂傳賓主之言。或人疑此童子學有進益,故孔子使之傳命以寵異之也。
子曰:「吾見其居於位也,見其與先生並行也。非求益者也,欲速成者也。」
禮,童子當隅坐隨行。孔子言吾見此童子,不循此禮。非能求益,但欲速成爾。故使之給使令之役,觀長少之序,習揖遜之容。蓋所以抑而教之,非寵而異之也。
衛靈公第十五
衛靈公第十五 
凡四十一章。
○ 衛靈公問陳於孔子。孔子對曰:「俎豆之事,則嘗聞之矣;軍旅之事,未之學也。」明日遂行。
陳,去聲。○ 陳,謂軍師行伍之列。俎豆,禮器。尹氏曰:「衛靈公,無道之君也,復有志於戰伐之事,故答以未學而去之。」
在陳絕糧,從者病,莫能興。
從,去聲。○ 孔子去衛適陳。興,起也。
子路慍見曰:「君子亦有窮乎?」子曰:「君子固窮,小人窮斯濫矣。」
見,賢遍反。○ 何氏曰:「濫,溢也。言君子固有窮時,不若小人窮則放溢為非。」程子曰:「固窮者,固守其窮。」亦通。○ 愚謂聖人當行而行,無所顧慮。處困而亨,無所怨悔。於此可見,學者宜深味之。
○ 子曰:「賜也,女以予為多學而識之者與?」
女,音汝。識,音志。與,平聲,下同。○ 子貢之學,多而能識矣。夫子欲其知所本也,故問以發之。
對曰:「然,非與?」
方信而忽疑,蓋其積學功至,而亦將有得也。
曰:「非也,予一以貫之。」
說見第四篇。然彼以行言,而此以知言也。○ 謝氏曰:「聖人之道大矣,人不能遍觀而盡識,宜其以為多學而識之也。然聖人豈務博者哉?如天之於眾形,匪物物刻而雕之也。故曰:『予一以貫之。』『德輶如毛,毛猶有倫。上天之載,無聲無臭。』至矣!」尹氏曰:「孔子之於曾子,不待其問而直告之以此,曾子復深諭之曰『唯』。若子貢則先發其疑而後告之,而子貢終亦不能如曾子之唯也。二子所學之淺深,於此可見。」愚按:夫子之於子貢,屢有以發之,而他人不與焉。則顏曾以下諸子所學之淺深,又可見矣。
○ 子曰:「由!知德者鮮矣。」
鮮,上聲。○ 由,呼子路之名而告之也。德,謂義理之得於己者。非己有之,不能知其意味之實也。○ 自第一章至此,疑皆一時之言。此章蓋為慍見發也。
○ 子曰:「無為而治者,其舜也與?夫何為哉,恭己正南面而已矣。」
與,平聲。夫,音扶。○ 無為而治者,聖人德盛而民化,不待其有所作為也。獨稱舜者,紹堯之後,而又得人以任眾職,故尤不見其有為之 迹也。恭己者,聖人敬德之容。既無所為,則人之所見如此而已。
子張問行。
猶問達之意也。
子曰:「言忠信,行篤敬,雖蠻貊之邦行矣;言不忠信,行不篤敬,雖州里行乎哉?
行篤、行不之行,去聲。貊,亡百反。○ 子張意在得行於外,故夫子反於身而言之,猶答干祿問達之意也。篤,厚也。蠻,南蠻。貊,北狄。二千五百家為州。
立,則見其參於前也;在輿,則見其倚於衡也。夫然後行。」
參,七南反。夫,音扶。○ 其者,指忠信篤敬而言。參,讀如毋往參焉之參,言與我相參也。衡,軛也。言其於忠信篤敬念念不忘,隨其所在,常若有見,雖欲頃刻離之而不可得。然後一言一行,自然不離於忠信篤敬,而蠻貊可行也。
子張書諸紳。
紳,大帶之垂者。書之,欲其不忘也。○ 程子曰:「學要鞭辟近裡,著己而已。博學而篤志,切問而近思;言忠信,行篤敬;立則見其參於前,在輿則見其倚於衡;只此是學。質美者明得盡,查滓便渾化,卻與天地同體。其次惟莊敬以持養之,及其至則一也。」
○ 子曰:「直哉史魚!邦有道,如矢;邦無道,如矢。」
史,官名。魚,衛大夫,名?。如矢,言直也。史魚自以不能進賢退不肖,既死猶以尸諫,故夫子稱其直。事見家語。
君子哉蘧伯玉!邦有道,則仕;邦無道,則可卷而懷之。」
伯玉出處,合於聖人之道,故曰君子。卷,收也。懷,藏也。如於孫林父甯殖放弒之謀,不對而出,亦其事也。○ 楊氏曰:「史魚之直,未盡君子之道。若蘧伯玉,然後可免於亂世。若史魚之如矢,則雖欲卷而懷之,有不可得也。」
○ 子曰:「可與言而不與之言,失人;不可與言而與之言,失言。知者不失人,亦不失言。」
知,去聲。
○ 子曰:「志士仁人,無求生以害仁,有殺身以成仁。」
志士,有志之士。仁人,則成德之人也。理當死而求生,則於其心有不安矣,是害其心之德也。當死而死,則心安而德全矣。○ 程子曰:「實理得之於心自別。實理者,實見得是,實見得非也。古人有捐軀隕命者,若不實見得,惡能如此?須是實見得生不重於義,生不安於死也。故有殺身以成仁者,只是成就一箇是而已。」
○ 子貢問為仁。子曰:「工欲善其事,必先利其器。居是邦也,事其大夫之賢者,友其士之仁者。」
賢以事言,仁以德言。夫子嘗謂子貢悅不若己者,故以是告之。欲其有所嚴憚切磋以成其德也。○ 程子曰:「子貢問為仁,非問仁也,故孔子告之以為仁之資而已。」
○ 顏淵問為邦。
顏子王佐之才,故問治天下之道。曰為邦者,謙辭。
子曰:「行夏之時,
夏時,謂以斗柄初昏建寅之月為歲首也。天開於子,地闢於丑,人生於寅,故斗柄建此三辰之月,皆可以為歲首。而三代迭用之,夏以寅為人正,商以丑為地正,周以子為天正也。然時以作事,則歲月自當以人為紀。故孔子嘗曰,「吾得夏時焉」而說者以為謂夏小正之屬。蓋取其時之正與其令之善,而於此又以告顏子也。
乘殷之輅,
輅,音路,亦作路。○ 商輅,木輅也。輅者,大車之名。古者以木為車而已,至商而有輅之名,蓋始異其制也。周人飾以金玉,則過侈而易敗,不若商輅之樸素渾堅而等威已辨,為質而得其中也。
服周之冕,
周冕有五,祭服之冠也。冠上有覆,前後有旒。黃帝以來,蓋已有之,而制度儀等,至周始備。然其為物小,而加於眾體之上,故雖華而不為靡,雖費而不及奢。夫子取之,蓋亦以為文而得其中也。
樂則韶舞。
取其盡善盡美。
放鄭聲,遠佞人。鄭聲淫,佞人殆。」
遠,去聲。○ 放,謂禁絕之。鄭聲,鄭國之音。佞人,卑諂辯給之人。殆,危也。○ 程子曰:「問政多矣,惟顏淵告之以此。蓋三代之制,皆因時損益,及其久也,不能無弊。周衰,聖人不作,故孔子斟酌先王之禮,立萬世常行之道,發此以為之兆爾。由是求之,則餘皆可考也。」張子曰:「禮樂,治之法也。放鄭聲,遠佞人,法外意也。一日不謹,則法壞矣。虞夏君臣更相飭戒,意蓋如此。」又曰「法立而能守,則德可久,業可大。鄭聲佞人,能使人喪其所守,故放遠之。」尹氏曰:「此所謂百王不易之大法。孔子之作春秋,蓋此意也。孔顏雖不得行之於時,然其為治之法,可得而見矣。」
○ 子曰:「人無遠慮,必有近憂。」
蘇氏曰:「人之所履者,容足之外,皆為無用之地,而不可廢也。故慮不在千里之外,則患在几席之下矣。」
○ 子曰:「已矣乎!吾未見好德如好色者也。」
好,去聲。○ 已矣乎,歎其終不得而見也。
○ 子曰:「臧文仲其竊位者與?知柳下惠之賢,而不與立也。」
者與之與,平聲。○ 竊位,言不稱其位而有愧於心,如盜得而陰據之也。柳下惠,魯大夫展獲,字禽,食邑柳下,謚曰惠。與立,謂與之並立於朝。范氏曰:「臧文仲為政於魯,若不知賢,是不明也;知而不舉,是蔽賢也。不明之罪小,蔽賢之罪大。故孔子以為不仁,又以為竊位。」
○ 子曰:「躬自厚而薄責於人,則遠怨矣。」
遠,去聲。○ 責己厚,故身益修;責人薄,故人易從。所以人不得而怨之。
○ 子曰:「不曰『如之何如之何』者,吾末如之何也已矣。」
如之何如之何者,熟思而審處之辭也。不如是而妄行,雖聖人亦無如之何矣。
○ 子曰:「群居終日,言不及義,好行小慧,難矣哉!」
好,去聲。○ 小慧,私智也。言不及義,則放辟邪侈之心滋。好行小慧,則行險僥倖之機熟。難矣哉者,言其無以入德,而將有患害也。
○ 子曰:「君子義以為質,禮以行之,孫以出之,信以成之。君子哉!」
孫,去聲。○ 義者制事之本,故以為質榦。而行之必有節文,出之必以退遜,成之必在誠實,乃君子之道也。○ 程子曰:「義以為質,如質榦然。禮行此,孫出此,信成此。此四句只是一事,以義為本。」又曰:「『敬以直內,則義以方外。』『義以為質,則禮以行之,孫以出之,信以成之。』」
○ 子曰:「君子病無能焉,不病人之不己知也。」
○ 子曰:「君子疾沒世而名不稱焉。」
范氏曰:「君子學以為己,不求人知。然沒世而名不稱焉,則無為善之實可知矣。」
○ 子曰:「君子求諸己,小人求諸人。」
謝氏曰:「君子無不反求諸己,小人反是。此君子小人所以分也。」○ 楊氏曰:「君子雖不病人之不己知,然亦疾沒世而名不稱也。雖疾沒世而名不稱,然所以求者,亦反諸己而已。小人求諸人,故違道干譽,無所不至。三者文不相蒙,而義實相足,亦記言者之意。」
○ 子曰:「君子矜而不爭,群而不黨。」
莊以持己曰矜。然無乖戾之心,故不爭。和以處眾曰群。然無阿比之意,故不黨。
○ 子曰:「君子不以言舉人,不以人廢言。」
○ 子貢問曰:「有一言而可以終身行之者乎?」子曰:「其恕乎!己所不欲,勿施於人。」
推己及物,其施不窮,故可以終身行之。○ 尹氏曰:「學貴於知要。子貢之問,可謂知要矣。孔子告以求仁之方也。推而極之,雖聖人之無我,不出乎此。終身行之,不亦宜乎?」
○ 子曰:「吾之於人也,誰毀誰譽?如有所譽者,其有所試矣。
譽,平聲。○ 毀者,稱人之惡而損其真。譽者,揚人之善而過其實。夫子無是也。然或有所譽者,則必嘗有以試之,而知其將然矣。聖人善善之速,而無所苟如此。若其惡惡,則已緩矣。是以雖有以前知其惡,而終無所毀也。
斯民也,三代之所以直道而行也。」
斯民者,今此之人也。三代,夏、商、周也。直道,無私曲也。言吾之所以無所毀譽者,蓋以此民,即三代之時所以善其善、惡其惡而無所私曲之民。故我今亦不得而枉其是非之實也。○ 尹氏曰:「孔子之於人也,豈有意於毀譽之哉?其所以譽之者,蓋試而知其美故也。斯民也,三代所以直道而行,豈得容私於其閒哉?
○ 子曰:「吾猶及史之闕文也,有馬者借人乘之。今亡矣夫!」
夫,音扶。○ 楊氏曰:「史闕文、馬借人,此二事孔子猶及見之。今亡矣夫,悼時之益偷也。」愚謂此必有為而言。蓋雖細故,而時變之大者可知矣。○ 胡氏曰:「此章義疑,不可強解。」
○ 子曰:「巧言亂德,小不忍則亂大謀。」
巧言,變亂是非,聽之使人喪其所守。小不忍,如婦人之仁、匹夫之勇皆是。
○ 子曰:「眾惡之,必察焉;眾好之,必察焉。」
好、惡,並去聲。○ 楊氏曰:「惟仁者能好惡人。眾好惡之而不察,則或蔽於私矣。」
○ 子曰:「人能弘道,非道弘人。」
弘,廓而大之也。人外無道,道外無人。然人心有覺,而道體無為;故人能大其道,道不能大其人也。○ 張子曰:「心能盡性,人能弘道也;性不知檢其心,非道弘人也。」
○ 子曰:「過而不改,是謂過矣。」
過而能改,則復於無過。惟不改則其過遂成,而將不及改矣。
○ 子曰:「吾嘗終日不食,終夜不寢,以思,
句。
無益,
句。
不如學也。」
此為思而不學者言之。蓋勞心以必求,不如遜志而自得也。李氏曰:「夫子非思而不學者,特垂語以教人爾。」
○ 子曰:「君子謀道不謀食。耕也,餒在其中矣;學也,祿在其中矣。君子憂道不憂貧。」
餒,奴罪反。○ 耕所以謀食,而未必得食。學所以謀道,而祿在其中。然其學也,憂不得乎道而已;非為憂貧之故,而欲為是以得祿也。○ 尹氏曰:「君子治其本而不卹其末,豈以在外者為憂樂哉?」
○ 子曰:「知及之,仁不能守之;雖得之,必失之。
知,去聲。○ 知足以知此理,而私欲間之,則無以有之於身矣。
知及之,仁能守之。不莊以涖之,則民不敬。
涖,臨也。謂臨民也。知此理而無私欲以間之,則所知者在我而不失矣。然猶有不莊者,蓋氣習之偏,或有厚於內而不嚴於外者,是以民不見其可畏而慢易之。下句放此。
知及之,仁能守之,莊以涖之。動之不以禮,未善也。」
動之,動民也。猶曰鼓舞而作興之云爾。禮,謂義理之節文。○ 愚謂學至於仁,則善有諸己而大本立矣。涖之不莊,動之不以禮,乃其氣稟學問之小疵,然亦非盡善之道也。故夫子歷言之,使知德愈全則責愈備,不可以為小節而忽之也。
○ 子曰:「君子不可小知,而可大受也;小人不可大受,而可小知也。」
此言觀人之法。知,我知之也。受,彼所受也。蓋君子於細事未必可觀,而材德足以任重;小人雖器量淺狹,而未必無一長可取。
○ 子曰:「民之於仁也,甚於水火。水火,吾見蹈而死者矣,未見蹈仁而死者也。」
民之於水火,所賴以生,不可一日無。其於仁也亦然。但水火外物,而仁在己。無水火,不過害人之身,而不仁則失其心。是仁有甚於水火,而尤不可以一日無也。況水火或有時而殺人,仁則未嘗殺人,亦何憚而不為哉?李氏曰:「此夫子勉人為仁之語。」下章放此。
○ 子曰:「當仁不讓於師。」
當仁,以仁為己任也。雖師亦無所遜,言當勇往而必為也。蓋仁者,人所自有而自為之,非有爭也,何遜之有?○ 程子曰:「為仁在己,無所與遜。若善名為外,則不可不遜。」 
○ 子曰:「君子貞而不諒。」
貞,正而固也。諒,則不擇是非而必於信。
○ 子曰:「事君,敬其事而後其食。」
後,與後獲之後同。食,祿也。君子之仕也,有官守者修其職,有言責者盡其忠。皆以敬吾之事而已,不可先有求祿之心也。
○ 子曰:「有教無類。」
人性皆善,而其類有善惡之殊者,氣習之染也。故君子有教,則人皆可以復於善,而不當復論其類之惡矣。
○ 子曰:「道不同,不相為謀。」
為,去聲。○ 不同,如善惡邪正之異。
○ 子曰:「辭達而已矣。」
辭,取達意而止,不以富麗為工。
○ 師冕見,及階,子曰:「階也。」及席,子曰:「席也。」皆坐,子告之曰:「某在斯,某在斯。」
見,賢遍反。○ 師,樂師,瞽者。冕,名。再言某在斯,歷舉在坐之人以詔之。
師冕出。子張問曰:「與師言之道與?」
與,平聲。○ 聖門學者,於夫子之一言一動,無不存心省察如此。
子曰:「然。固相師之道也。」
相,去聲。○ 相,助也。古者瞽必有相,其道如此。蓋聖人於此,非作意而為之,但盡其道而已。○ 尹氏曰:「聖人處己為人,其心一致,無不盡其誠故也。有志於學者,求聖人之心,於斯亦可見矣。」范氏曰:「聖人不侮鰥寡,不虐無告,可見於此。推之天下,無一物不得其所矣。」
季氏第十六
季氏第十六
洪氏曰:「此篇或以為齊論。」凡十四章。
○ 季氏將伐顓臾。
顓,音專。臾,音俞。○ 顓臾,國名。魯附庸也。
冉有、季路見於孔子曰:「季氏將有事於顓臾。」
見,賢遍反。○ 按左傳史記,二子仕季氏不同時。此云爾者,疑子路嘗從孔子自衛反魯,再仕季氏,不久而復之衛也。
孔子曰:「求!無乃爾是過與?
與,平聲。○ 冉求為季氏聚斂,尤用事。故夫子獨責之。
夫顓臾,昔者先王以為東蒙主,且在邦域之中矣,是社稷之臣也。何以伐為?」
夫,音扶。○ 東蒙,山名。先王封顓臾於此山之下,使主其祭,在魯地七百里之中。社稷,猶云公家。是時四分魯國,季氏取其二,孟孫叔孫各有其一。獨附庸之國尚為公臣,季氏又欲取以自益。故孔子言顓臾乃先王封國,則不可伐;在邦域之中,則不必伐;是社稷之臣,則非季氏所當伐也。此事理之至當,不易之定體,而一言盡其曲折如此,非聖人不能也。
冉有曰:「夫子欲之,吾二臣者皆不欲也。」
夫子,指季孫。冉有實與謀,以孔子非之,故歸咎於季氏。
孔子曰:「求!周任有言曰:『陳力就列,不能者止。』危而不持,顛而不扶,則將焉用彼相矣?
任,平聲。焉,於虔反。相,去聲,下同。○ 周任,古之良史。陳,布也。列,位也。相,瞽者之相也。言二子不欲則當諫,諫而不聽,則當去也。
且爾言過矣。虎兕出於柙,龜玉毀於櫝中,是誰之過與?」
兕,徐履反。柙,戶甲反。櫝,音獨。與,平聲。○ 兕,野牛也。柙,檻也。櫝,匱也。言在柙而逸,在櫝而毀,典守者不得辭其過。明二子居其位而不去,則季氏之惡,己不得不任其責也。
冉有曰:「今夫顓臾,固而近於費。今不取,後世必為子孫憂。」
夫,音扶。○ 固,謂城郭完固。費,季氏之私邑。此則冉求之飾辭,然亦可見其實與季氏之謀矣。
孔子曰:「求!君子疾夫舍曰欲之,而必為之辭。
夫,音扶。舍,上聲。○ 欲之,謂貪其利。
丘也聞有國有家者,不患寡而患不均,不患貧而患不安。蓋均無貧,和無寡,安無傾。
寡,謂民少。貧,謂財乏。均,謂各得其分。安,謂上下相安。季氏之欲取顓臾,患寡與貧耳。然是時季氏據國,而魯公無民,則不均矣。君弱臣強,互生嫌隙,則不安矣。均則不患於貧而和,和則不患於寡而安,安則不相疑忌,而無傾覆之患。
夫如是,故遠人不服,則修文德以來之。既來之,則安之。
夫,音扶。○ 內治修,然後遠人服。有不服,則修德以來之,亦不當勤兵於遠。
今由與求也,相夫子,遠人不服而不能來也;邦分崩離析而不能守也。
子路雖不與謀,而素不能輔之以義,亦不得為無罪,故并責之。遠人,謂顓臾。分崩離析,謂四分公室,家臣屢叛。
而謀動干戈於邦內。吾恐季孫之憂,不在顓臾,而在蕭牆之內也。」
干,楯也。戈,戟也。蕭牆,屏也。言不均不和,內變將作。其後哀公果欲以越伐魯而去季氏。○ 謝氏曰:「當是時,三家強,公室弱,冉求又欲伐顓臾以附益之。夫子所以深罪之,為其瘠魯以肥三家也。」洪氏曰:「二子仕於季氏,凡季氏所欲為,必以告於夫子。則因夫子之言而救止者,宜亦多矣。伐顓臾之事,不見於經傳,其以夫子之言而止也與?」
○ 孔子曰:「天下有道,則禮樂征伐自天子出;天下無道,則禮樂征伐自諸侯出。自諸侯出,蓋十世希不失矣;自大夫出,五世希不失矣;陪臣執國命,三世希不失矣。
先王之制,諸侯不得變禮樂,專征伐。陪臣,家臣也。逆理愈甚,則其失之愈速。大約世數,不過如此。
天下有道,則政不在大夫。
言不得專政。
天下有道,則庶人不議。」
上無失政,則下無私議。非箝其口使不敢言也。○ 此章通論天下之勢。
○ 孔子曰:「祿之去公室,五世矣;政逮於大夫,四世矣;故夫三桓之子孫,微矣。」
夫,音扶。○ 魯自文公薨,公子遂殺子赤,立宣公,而君失其政。歷成、襄、昭、定,凡五公。逮,及也。自季武子始專國政,歷悼、平、桓子,凡四世,而為家臣陽虎所執。三桓,三家,皆桓公之後。此以前章之說推之,而知其當然也。○ 此章專論魯事,疑與前章皆定公時語。蘇氏曰:「禮樂征伐自諸侯出,宜諸侯之強也,而魯以失政。政逮於大夫,宜大夫之強也,而三桓以微。何也?強生於安,安生於上下之分定。今諸侯大夫皆陵其上,則無以令其下矣。故皆不久而失之也。」
○ 孔子曰:「益者三友,損者三友。友直,友諒,友多聞,益矣。友便辟,友善柔,友便佞,損矣。」
便,平聲。辟,婢亦反。○ 友直,則聞其過。友諒,則進於誠。友多聞,則進於明。便,習熟也。便辟,謂習於威儀而不直。善柔,謂工於媚悅而不諒。便佞,謂習於口語,而無聞見之實。三者損益,正相反也。○ 尹氏曰:「自天子至於庶人,未有不須友以成者。而其損益有如是者,可不謹哉?」
○ 孔子曰:「益者三樂,損者三樂。樂節禮樂,樂道人之善,樂多賢友,益矣。樂驕樂,樂佚遊,樂宴樂,損矣。」
樂,五教反。禮樂之樂,音岳。驕樂宴樂之樂,音洛。○ 節,謂辨其制度聲容之節。驕樂,則侈肆而不知節。佚遊,則惰慢而惡聞善。宴樂,則淫溺而狎小人。三者損益,亦相反也。○ 尹氏曰:「君子之於好樂,可不謹哉?」
○ 孔子曰:「侍於君子有三愆:言未及之而言謂之躁,言及之而不言謂之隱,未見顏色而言謂之瞽。」
君子,有德位之通稱。愆,過也。瞽,無目,不能察言觀色。○ 尹氏曰:「時然後言,則無三者之過矣。」
○ 孔子曰:「君子有三戒:少之時,血氣未定,戒之在色;及其壯也,血氣方剛,戒之在鬬;及其老也,血氣既衰,戒之在得。」
血氣,形之所待以生者,血陰而氣陽也。得,貪得也。隨時知戒,以理勝之,則不為血氣所使也。○ 范氏曰:「聖人同於人者血氣也,異於人者志氣也。血氣有時而衰,志氣則無時而衰也。少未定、壯而剛、老而衰者,血氣也。戒於色、戒於 鬬、戒於得者,志氣也。君子養其志氣,故不為血氣所動,是以年彌高而德彌邵也。」
○ 孔子曰:「君子有三畏:畏天命,畏大人,畏聖人之言。
畏者,嚴憚之意也。天命者,天所賦之正理也。知其可畏,則其戒謹恐懼,自有不能已者。而付畀之重,可以不失矣。大人聖言,皆天命所當畏。知畏天命,則不得不畏之矣。
小人不知天命而不畏也,狎大人,侮聖人之言。」
侮,戲玩也。不知天命,故不識義理,而無所忌憚如此。○ 尹氏曰:「三畏者,修己之誠當然也。小人不務修身誠己,則何畏之有?」
○ 孔子曰:「生而知之者,上也;學而知之者,次也;困而學之,又其次也;困而不學,民斯為下矣。」
困,謂有所不通。言人之氣質不同,大約有此四等。○ 楊氏曰:「生知學知以至困學,雖其質不同,然及其知之一也。故君子惟學之為貴。困而不學,然後為下。」
○ 孔子曰:「君子有九思:視思明,聽思聰,色思溫,貌思恭,言思忠,事思敬,疑思問,忿思難,見得思義。」
難,去聲。○ 視無所蔽,則明無不見。聽無所壅,則聰無不聞。色,見於面者。貌,舉身而言。思問,則疑不蓄。思難,則忿必懲。思義,則得不苟。○ 程子曰:「九思各專其一。」謝氏曰:「未至於從容中道,無時而不自省察也。雖有不存焉者寡矣,此之謂思誠。」
○ 孔子曰:「見善如不及,見不善如探湯。吾見其人矣,吾聞其語矣。
探,吐南反。○ 真知善惡而誠好惡之,顏、曾、閔、冉之徒,蓋能之矣。語,蓋古語也。
隱居以求其志,行義以達其道。吾聞其語矣,未見其人也。」
求其志,守其所達之道也。達其道,行其所求之志也。蓋惟伊尹、太公之流,可以當之。當時若顏子,亦庶乎此。然隱而未見,又不幸而蚤死,故夫子云然。
○ 齊景公有馬千駟,死之日,民無德而稱焉。伯夷叔齊餓於首陽之下,民到于今稱之。
駟,四馬也。首陽,山名。
其斯之謂與?
與,平聲。○ 胡氏曰:「程子以為第十二篇錯簡『誠不以富,亦只以異』,當在此章之首。今詳文勢,似當在此句之上。言人之所稱,不在於富,而在於異也。」愚謂此說近是,而章首當有孔子曰字,蓋闕文耳。大抵此書後十篇多闕誤。
○ 陳亢問於伯魚曰:「子亦有異聞乎?」
亢,音剛。○ 亢以私意窺聖人,疑必陰厚其子。
對曰:「未也。嘗獨立,鯉趨而過庭。曰:『學詩乎?』對曰:『未也。』『不學詩,無以言。』鯉退而學詩。
事理通達,而心氣和平,故能言。
他日又獨立,鯉趨而過庭。曰:『學禮乎?』對曰:『未也。』『不學禮,無以立。』鯉退而學禮。
品節詳明,而德性堅定,故能立。
聞斯二者。」
當獨立之時,所聞不過如此,其無異聞可知。
陳亢退而喜曰:「問一得三,聞詩,聞禮,又聞君子之遠其子也。」
遠,去聲。○ 尹氏曰:「孔子之教其子,無異於門人,故陳亢以為遠其子。」
○ 邦君之妻,君稱之曰夫人,夫人自稱曰小童;邦人稱之曰君夫人,稱諸異邦曰寡小君;異邦人稱之亦曰君夫人。
寡,寡德,謙辭。○ 吳氏曰:「凡語中所載如此類者,不知何謂。或古有之,或夫子嘗言之,不可考也。」
陽貨第十七
陽貨第十七
凡二十六章。
○ 陽貨欲見孔子,孔子不見,歸孔子豚。孔子時其亡也,而往拜之,遇諸塗。
歸,如字,一作饋。○ 陽貨,季氏家臣,名虎。嘗囚季桓子而專國政。欲令孔子來見己,而孔子不往。貨以禮,大夫有賜於士,不得受於其家,則往拜其門。故瞰孔子之亡而歸之豚,欲令孔子來拜而見之也。
謂孔子曰:「來!予與爾言。」曰:「懷其寶而迷其邦,可謂仁乎?」曰:「不可。」「好從事而亟失時,可謂知乎?」曰:「不可。」「日月逝矣,歲不我與。」孔子曰:「諾。吾將仕矣。」
好、亟、知,並去聲。○ 懷寶迷邦,謂懷藏道德,不救國之迷亂。亟,數也。失時,謂不及事幾之會。將者,且然而未必之辭。貨語皆譏孔子而諷使速仕。孔子固未嘗如此,而亦非不欲仕也,但不仕於貨耳。故直據理答之,不復與辯,若不諭其意者。○ 陽貨之欲見孔子,雖其善意,然不過欲使助己為亂耳。故孔子不見者,義也。其往拜者,禮也。必時其亡而往者,欲其稱也。遇諸塗而不避者,不終絕也。隨問而對者,理之直也。對而不辯者,言之孫而亦無所詘也。楊氏曰:「揚雄謂孔子於陽貨也,敬所不敬,為詘身以信道。非知孔子者。蓋道外無身,身外無道。身詘矣而可以信道,吾未之信也。」
○ 子曰:「性相近也,習相遠也。」
此所謂性,兼氣質而言者也。氣質之性,固有美惡之不同矣。然以其初而言,則皆不甚相遠也。但習於善則善,習於惡則惡,於是始相遠耳。○ 程子曰:「此言氣質之性。非言性之本也。若言其本,則性即是理,理無不善,孟子之言性善是也。何相近之有哉?」
○ 子曰:「唯上知與下愚不移。」
知,去聲。○ 此承上章而言。人之氣質相近之中,又有美惡一定,而非習之所能移者。○ 程子曰「人性本善,有不可移者何也?語其性則皆善也,語其才則有下愚之不移。所謂下愚有二焉:自暴自棄也。人苟以善自治,則無不可移,雖昏愚之至,皆可漸磨而進也。惟自暴者拒之以不信,自棄者絕之以不為,雖聖人與居,不能化而入也,仲尼之所謂下愚也。然其質非必昏且愚也,往往強戾而才力有過人者,商辛是也。聖人以其自絕於善,謂之下愚,然考其歸則誠愚也。」或曰:「此與上章當合為一,子曰二字,蓋衍文耳。」
○ 子之武城,聞弦歌之聲。
弦,琴瑟也。時子游為武城宰,以禮樂為教,故邑人皆弦歌也。
夫子莞爾而笑,曰:「割雞焉用牛刀?」
莞,華版反。焉,於虔反。○ 莞爾,小笑貌,蓋喜之也。因言其治小邑,何必用此大道也。
子游對曰:「昔者偃也聞諸夫子曰:『君子學道則愛人,小人學道則易使也。』」
易,去聲。○ 君子小人,以位言之。子游所稱,蓋夫子之常言。言君子小人,皆不可以不學。故武城雖小,亦必教以禮樂。
子曰:「二三子!偃之言是也。前言戲之耳。」
嘉子游之篤信,又以解門人之惑也。○ 治有大小,而其治之必用禮樂,則其為道一也。但眾人多不能用,而子游獨行之。故夫子驟聞而深喜之,因反其言以戲之。而子游以正對,故復是其言,而自實其戲也。
○ 公山弗擾以費畔,召,子欲往。
弗擾,季氏宰。與陽貨共執桓子,據邑以叛。
子路不說,曰:「末之也已,何必公山氏之之也。」
說,音悅。○ 末,無也。言道既不行,無所往矣,何必公山氏之往乎?
子曰:「夫召我者而豈徒哉?如有用我者,吾其為東周乎?」
夫,音扶。○ 豈徒哉,言必用我也。為東周,言興周道於東方。○ 程子曰:「聖人以天下無不可有為之人,亦無不可改過之人,故欲往。然而終不往者,知其必不能改故也。」
○ 子張問仁於孔子。孔子曰:「能行五者於天下,為仁矣。」請問之。曰:「恭、寬、信、敏、惠。恭則不侮,寬則得眾,信則人任焉,敏則有功,惠則足以使人。」
行是五者,則心存而理得矣。於天下,言無適而不然,猶所謂雖之夷狄不可棄者。五者之目,蓋因子張所不足而言耳。任,倚仗也,又言其效如此。○ 張敬夫曰:「能行此五者於天下,則其心公平而周 徧可知矣,然恭其本與?」李氏曰:「此章與六言、六蔽、五美、四惡之類,皆與前後文體大不相似。」
○ 佛肸召,子欲往。
佛,音弼。肸,許密反。○ 佛肸,晉大夫趙氏之中牟宰也。
子路曰:「昔者由也聞諸夫子曰:『親於其身為不善者,君子不入也。』佛肸以中牟畔,子之往也,如之何!」
子路恐佛肸之浼夫子,故問此以止夫子之行。親,猶自也。不入,不入其黨也。
子曰:「然。有是言也。不曰堅乎,磨而不磷;不曰白乎,涅而不緇。
磷,力刃反。涅,乃結反。○ 磷,薄也。涅,染皁物。言人之不善,不能浼己。楊氏曰:「磨不磷,涅不緇,而後無可無不可。堅白不足,而欲自試於磨涅,其不磷緇也者,幾希。」
吾豈匏瓜也哉?焉能繫而不食?」
焉,於虔反。○ 匏,瓠也。匏瓜繫於一處而不能飲食,人則不如是也。○ 張敬夫曰:「子路昔者之所聞,君子守身之常法。夫子今日之所言,聖人體道之大權也。然夫子於公山佛肸之召皆欲往者,以天下無不可變之人,無不可為之事也。其卒不往者,知其人之終不可變而事之終不可為耳。一則生物之仁,一則知人之智也。」
○ 子曰:「由也,女聞六言六蔽矣乎?」對曰:「未也。」
女,音汝,下同。○ 蔽,遮掩也。
「居!吾語女。
語,去聲。○ 禮:君子問更端,則起而對。故孔子諭子路,使還坐而告之。
好仁不好學,其蔽也愚;好知不好學,其蔽也蕩;好信不好學,其蔽也賊;好直不好學,其蔽也絞;好勇不好學,其蔽也亂;好剛不好學,其蔽也狂。」
好、知,並去聲。○ 六言皆美德,然徒好之而不學以明其理,則各有所蔽。愚,若可陷可罔之類。蕩,謂窮高極廣而無所止。賊,謂傷害於物。勇者,剛之發。剛者,勇之體。狂,躁率也。○ 范氏曰:「子路勇於為善,其失之者,未能好學以明之也,故告之以此。曰勇、曰剛、曰信、曰直,又皆所以救其偏也。」
○ 子曰:「小子!何莫學夫詩?
夫,音扶。○ 小子,弟子也。
詩,可以興,
感發志意。
可以觀,
考見得失。
可以群,
和而不流。
可以怨。
怨而不怒。
邇之事父,遠之事君。
人倫之道,詩無不備,二者舉重而言。
多識於鳥獸草木之名。」
其緒餘又足以資多識。○ 學詩之法,此章盡之。讀是經者,所宜盡心也。
○ 子謂伯魚曰:「女為周南召南矣乎?人而不為周南召南,其猶正牆面而立也與?」
女,音汝。與,平聲。○ 為,猶學也。周南召南,詩首篇名。所言皆修身齊家之事。正牆面而立,言即其至近之地,而一物無所見,一步不可行。
○ 子曰:「禮云禮云,玉帛云乎哉?樂云樂云,鐘鼓云乎哉?」
敬而將之以玉帛,則為禮;和而發之以鐘鼓,則為樂。遺其本而專事其末,則豈禮樂之謂哉?○ 程子曰:「禮只是一箇序,樂只是一箇和。只此兩字,含蓄多少義理。天下無一物無禮樂 。且如置此兩椅,一不正,便是無序。無序便乖,乖便不和。又如盜賊至為不道,然亦有禮樂。蓋必有總屬,必相聽順,乃能為盜。不然,則叛亂無統,不能一日相聚而為盜也。禮樂無處無之,學者須要識得。」
○ 子曰:「色厲而內荏,譬諸小人,其猶穿窬之盜也與?」
荏,而審反。與,平聲。○ 厲,威嚴也。荏,柔弱也。小人,細民也。穿,穿壁。窬,踰牆。言其無實盜名,而常畏人知也。
○ 子曰:「鄉原,德之賊也。」
鄉者,鄙俗之意。原,與愿同。荀子原愨,注讀作愿是也。鄉原,鄉人之愿者也。蓋其同流合汙以媚於世,故在鄉人之中,獨以愿稱。夫子以其似德非德,而反亂乎德,故以為德之賊而深惡之。詳見孟子末篇。
○ 子曰:「道聽而塗說,德之棄也。」
雖聞善言,不為己有,是自棄其德也。○ 王氏曰:「君子多識前言往行以畜其德,道聽塗說,則棄之矣。」
○ 子曰:「鄙夫可與事君也與哉?
與,平聲。○ 鄙夫,庸惡陋劣之稱。
其未得之也,患得之;既得之,患失之。
何氏曰:「患得之,謂患不能得之。」
苟患失之,無所不至矣。」
小則吮癰舐痔,大則弒父與君,皆生於患失而已。○ 胡氏曰:「許昌靳裁之有言曰:『士之品大概有三:志於道德者,功名不足以累其心;志於功名者,富貴不足以累其心;志於富貴而已者,則亦無所不至矣。』志於富貴,即孔子所謂鄙夫也。」
○ 子曰:「古者民有三疾,今也或是之亡也。
氣失其平則為疾,故氣稟之偏者亦謂之疾。昔所謂疾,今亦無之,傷俗之益衰也。
古之狂也肆,今之狂也蕩;古之矜也廉,今之矜也忿戾;古之愚也直,今之愚也詐而已矣。」
狂者,志願太高。肆,謂不拘小節。蕩則踰大閑矣。矜者,持守太嚴。廉,謂稜角陗厲。忿戾則至於爭矣。愚者,暗昧不明。直,謂徑行自遂。詐則挾私妄作矣。○ 范氏曰:「末世滋偽。豈惟賢者不如古哉?民性之蔽,亦與古人異矣。」
○ 子曰:「巧言令色,鮮矣仁。」
重出。
○ 子曰:「惡紫之奪朱也,惡鄭聲之亂雅樂也,惡利口之覆邦家者。」
惡,去聲。覆,芳服反。○ 朱,正色。紫,閒色。雅,正也。利口,捷給。覆,傾敗也。○ 范氏曰:「天下之理,正而勝者常少,不正而勝者常多,聖人所以惡之也。利口之人,以是為非,以非為是,以賢為不肖,以不肖為賢。人君苟悅而信之,則國家之覆也不難矣。」
○ 子曰:「予欲無言。」
學者多以言語觀聖人,而不察其天理流行之實,有不待言而著者。是以徒得其言,而不得其所以言,故夫子發此以警之。
子貢曰:「子如不言,則小子何述焉?」
子貢正以言語觀聖人者,故疑而問之。
子曰:「天何言哉?四時行焉,百物生焉,天何言哉?」
四時行,百物生,莫非天理發見流行之實,不待言而可見。聖人一動一靜,莫非妙道精義之發,亦天而已,豈待言而顯哉?此亦開示子貢之切,惜乎其終不喻也。○ 程子曰:「孔子之道,譬如日星之明,猶患門人未能盡曉,故曰『予欲無言』。若顏子則便默識,其他則未免疑問,故曰『小子何述』。」又曰:「『天何言哉,四時行焉,百物生焉』,則可謂至明白矣。」愚按:此與前篇無隱之意相發,學者詳之。
○ 孺悲欲見孔子,孔子辭以疾。將命者出戶,取瑟而歌。使之聞之。
孺悲,魯人,嘗學士喪禮於孔子。當是時必有以得罪者。故辭以疾,而又使知其非疾,以警教之也。程子曰:「此孟子所謂不屑之教誨,所以深教之也。」
○ 宰我問:「三年之喪,期已久矣。
期,音基,下同。○ 期,周年也。
君子三年不為禮,禮必壞;三年不為樂,樂必崩。
恐居喪不習而崩壞也。
舊穀既沒,新穀既升,鑽燧改火,期可已矣。」
鑽,祖官反。○ 沒,盡也。升,登也。燧,取火之木也。改火,春取榆柳之火,夏取棗杏之火,夏季取桑柘之火,秋取柞楢之火,冬取槐檀之火,亦一年而周也。已,止也。言期年則天運一周,時物皆變,喪至此可止也。尹氏曰:「短喪之說,下愚且恥言之。宰我親學聖人之門,而以是為問者,有所疑於心而不敢強焉爾。」
子曰:「食夫稻,衣夫錦,於女安乎?」曰:「安。」
夫,音扶,下同。衣,去聲。女,音汝,下同。○ 禮。父母之喪:既殯,食粥、麤衰。既葬,疏食、水飲,受以成布。期而小祥,始食菜果,練冠縓緣、要絰不除,無食稻衣錦之理。夫子欲宰我反求諸心,自得其所以不忍者。故問之以此,而宰我不察也。
「女安則為之!夫君子之居喪,食旨不甘,聞樂不樂,居處不安,故不為也。今女安,則為之!」
樂,上如字,下音洛。○ 此夫子之言也。旨,亦甘也。初言女安則為之,絕之之辭。又發其不忍之端,以警其不察。而再言女安則為之以深責之。
宰我出。子曰:「予之不仁也!子生三年,然後免於父母之懷。夫三年之喪,天下之通喪也。予也有三年之愛於其父母乎?」
宰我既出,夫子懼其真以為可安而遂行之,故深探其本而斥之。言由其不仁,故愛親之薄如此也。懷,抱也。又言君子所以不忍於親,而喪必三年之故。使之聞之,或能反求而終得其本心也。○ 范氏曰:「喪雖止於三年,然賢者之情則無窮也。特以聖人為之中制而不敢過,故必俯而就之。非以三年之喪,為足以報其親也。所謂三年然後免於父母之懷,特以責宰我之無恩,欲其有以跂而及之爾。」
○ 子曰:「飽食終日,無所用心,難矣哉!不有博弈者乎,為之猶賢乎已。」
博,局戲也。弈,圍棋也。已,止也。李氏曰:「聖人非教人博弈也,所以甚言無所用心之不可爾。」
○ 子路曰:「君子尚勇乎?」子曰:「君子義以為上。君子有勇而無義為亂,小人有勇而無義為盜。」
尚,上之也。君子為亂,小人為盜,皆以位而言者也。尹氏曰:「義以為尚,則其勇也大矣。子路好勇,故夫子以此救其失也。」胡氏曰:「疑此子路初見孔子時問答也。」
○ 子貢曰:「君子亦有惡乎?」子曰:「有惡:惡稱人之惡者,惡居下流而訕上者,惡勇而無禮者,惡果敢而窒者。」
惡,去聲,下同。惟惡者之惡如字。訕,所諫反。○ 訕,謗毀也。窒,不通也。稱人惡,則無仁厚之意。下訕上,則無忠敬之心。勇無禮,則為亂。果而窒,則妄作。故夫子惡之。
曰:「賜也亦有惡乎?」「惡徼以為知者,惡不孫以為勇者,惡訐以為直者。」
徼,古堯反。知、孫,並去聲。訐,居謁反。○ 惡徼以下,子貢之言也。徼,伺察也。訐,謂攻發人之陰私。○ 楊氏曰:「仁者無不愛,則君子疑若無惡矣。子貢之有是心也,故問焉以質其是非。」侯氏曰:「聖賢之所惡如此,所謂唯仁者能惡人也。」
○ 子曰:「唯女子與小人為難養也,近之則不孫,遠之則怨。」
近、孫、遠,並去聲。○ 此小人,亦謂僕隸下人也。君子之於臣妾,莊以涖之,慈以畜之,則無二者之患矣。
○ 子曰:「年四十而見惡焉,其終也已。」
惡,去聲。○ 四十,成德之時。見惡於人,則止於此而已,勉人及時遷善改過也。蘇氏曰「此亦有為而言,不知其為誰也。」
微子第十八
微子第十八 
此篇多記聖賢之出處,凡十一章。
○ 微子去之,箕子為之奴,比干諫而死。
微、箕,二國名。子,爵也。微子,紂庶兄。箕子、比干,紂諸父。微子見紂無道,去之以存宗祀。箕子、比干皆諫,紂殺比干,囚箕子以為奴,箕子因佯狂而受辱。
孔子曰:「殷有三仁焉。」
三人之行不同,而同出於至誠惻怛之意,故不咈乎愛之理,而有以全其心之德也。楊氏曰:「此三人者,各得其本心,故同謂之仁。」
○ 柳下惠為士師,三黜。人曰:「子未可以去乎?」曰:「直道而事人,焉往而不三黜?枉道而事人,何必去父母之邦。」
三,去聲。焉,於虔反。○ 士師,獄官。黜,退也。柳下惠三黜不去,而其辭氣雍容如此,可謂和矣。然其不能枉道之意,則有確乎其不可拔者。是則所謂必以其道,而不自失焉者也。○ 胡氏曰:「此必有孔子斷之之言而亡之矣。」
○ 齊景公待孔子,曰:「若季氏則吾不能,以季、孟之閒待之。」曰:「吾老矣,不能用也。」孔子行。
魯三卿,季氏最貴,孟氏為下卿。孔子去之,事見世家。然此言必非面語孔子,蓋自以告其臣,而孔子聞之爾。○ 程子曰:「季氏強臣,君待之之禮極隆,然非所以待孔子也。以季、孟之閒待之,則禮亦至矣。然復曰『吾老矣不能用也』,故孔子去之。蓋不繫待之輕重,特以不用而去爾。」
○ 齊人歸女樂,季桓子受之。三日不朝,孔子行。
歸,如字,或作饋。朝,音潮。○ 季桓子,魯大夫,名斯。按史記,「定公十四年,孔子為魯司寇,攝行相事。齊人懼,歸女樂以沮之」。尹氏曰:「受女樂而怠於政事如此,其簡賢棄禮,不足與有為可知矣。夫子所以行也,所謂見幾而作,不俟終日者與?」○ 范氏曰:「此篇記仁賢之出處,而折中以聖人之行,所以明中庸之道也。」
○ 楚狂接輿歌而過孔子曰:「鳳兮!鳳兮!何德之衰?往者不可諫,來者猶可追。已而,已而!今之從政者殆而!」
接輿,楚人,佯狂辟世。夫子時將適楚,故接輿歌而過其車前也。鳳有道則見,無道則隱,接輿以比孔子,而譏其不能隱為德衰也。來者可追,言及今尚可隱去。已,止也。而,語助辭。殆,危也。接輿蓋知尊孔子而趨不同者也。
孔子下,欲與之言。趨而辟之,不得與之言。
辟,去聲。○ 孔子下車,蓋欲告之以出處之意。接輿自以為是,故不欲聞而避之也。
○ 長沮、桀溺耦而耕,孔子過之,使子路問津焉。
沮,七餘反。溺,乃歷反。○ 二人,隱者。耦,並耕也。時孔子自楚反乎蔡。津,濟渡處。
長沮曰:「夫執輿者為誰?」子路曰:「為孔丘。」曰:「是魯孔丘與?」曰:「是也。」曰:「是知津矣。」
夫,音扶。與,平聲。○ 執輿,執轡在車也。蓋本子路御而執轡,今下問津,故夫子代之也。知津,言數周流,自知津處。
問於桀溺,桀溺曰:「子為誰?」曰:「為仲由。」曰:「是魯孔丘之徒與?」對曰:「然。」曰:「滔滔者天下皆是也,而誰以易之?且而與其從辟人之士也,豈若從辟世之士哉?」耰而不輟。
徒與之與,平聲。滔,吐刀反。辟,去聲。耰,音憂。○ 滔滔,流而不反之意。以,猶與也。言天下皆亂,將誰與變易之?而,汝也。辟人,謂孔子。辟世,桀溺自謂。耰,覆種也。亦不告以津處。
子路行以告。夫子憮然曰:「鳥獸不可與同群,吾非斯人之徒與而誰與?天下有道,丘不與易也。」
憮,音武。與,如字。○ 憮然,猶悵然,惜其不喻己意也。言所當與同群者,斯人而已,豈可絕人逃世以為潔哉?天下若已平治,則我無用變易之。正為天下無道,故欲以道易之耳。○ 程子曰:「聖人不敢有忘天下之心,故其言如此也。」張子曰:「聖人之仁,不以無道必天下而棄之也。」
○ 子路從而後,遇丈人,以杖荷篠。子路問曰:「子見夫子乎?」丈人曰:「四體不勤,五穀不分。孰為夫子?」植其杖而芸。
篠,徒弔反。植,音值。○ 丈人,亦隱者。篠,竹器。分,辨也。五穀不分,猶言不辨菽麥爾,責其不事農業而從師遠遊也。植,立之也。芸,去草也。
子路拱而立。
知其隱者,敬之也。
止子路宿,殺雞為黍而食之,見其二子焉。
食,音嗣。見,賢遍反。
明日,子路行以告。子曰:「隱者也。」使子路反見之。至則行矣。
孔子使子路反見之,蓋欲告之以君臣之義。而丈人意子路必將復來,故先去之以滅其跡,亦接輿之意也。
子路曰:「不仕無義。長幼之節,不可廢也;君臣之義,如之何其廢之?欲潔其身,而亂大倫。君子之仕也,行其義也。道之不行,已知之矣。」
長,上聲。○ 子路述夫子之意如此。蓋丈人之接子路甚倨,而子路益恭,丈人因見其二子焉。則於長幼之節,固知其不可廢矣,故因其所明以曉之。倫,序也。人之大倫有五:父子有親,君臣有義,夫婦有別,長幼有序,朋友有信是也。仕所以行君臣之義,故雖知道之不行而不可廢。然謂之義,則事之可否,身之去就,亦自有不可苟者。是以雖不潔身以亂倫,亦非忘義以殉祿也。福州有國初時寫本,路下有「反子」二字,以此為子路反而夫子言之也。未知是否?○ 范氏曰:「隱者為高,故往而不反。仕者為通,故溺而不止。不與鳥獸同群,則決性命之情以饕富貴。此二者皆惑也,是以依乎中庸者為難。惟聖人不廢君臣之義,而必以其正,所以或出或處而終不離於道也。」
○ 逸民:伯夷、叔齊、虞仲、夷逸、朱張、柳下惠、少連。
少,去聲,下同。○ 逸,遺逸。民者,無位之稱。虞仲,即仲雍,與大伯同竄荊蠻者。夷逸、朱張,不見經傳。少連,東夷人。
子曰:「不降其志,不辱其身,伯夷、叔齊與!」
與,平聲。
謂:「柳下惠、少連,降志辱身矣。言中倫,行中慮,其斯而已矣。」
中,去聲,下同。○ 柳下惠事見上。倫,義理之次第也。慮,思慮也。中慮,言有意義合人心。少連事不可考。然記稱其「善居喪,三日不怠,三月不解。期悲哀,三年憂」。則行之中慮,亦可見矣。
謂:「虞仲、夷逸,隱居放言。身中清,廢中權。
仲雍居吳,斷髮文身,裸以為飾。隱居獨善,合乎道之清。放言自廢,合乎道之權。
我則異於是,無可無不可。」
孟子曰:「孔子可以仕則仕,可以止則止,可以久則久,可以速則速。」所謂無可無不可也。○ 謝氏曰「七人隱遯不汙則同,其立心造行則異。伯夷、叔齊,天子不得臣,諸侯不得友,蓋已遯世離群矣,下聖人一等,此其最高與!柳下惠、少連,雖降志而不枉己,雖辱身而不求合,其心有不屑也。故言能中倫,行能中慮。虞仲、夷逸隱居放言,則言不合先王之法者多矣。然清而不汙也,權而適宜也,與方外之士害義傷教而亂大倫者殊科。是以均謂之逸民。」尹氏曰:「七人各守其一節,而孔子則無可無不可,此所以常適其可,而異於逸民之徒也。」揚雄曰:「觀乎聖人則見賢人。是以孟子語夷,惠,亦必以孔子斷之。」
○ 大師摯適齊,
大,音泰。○ 大師,魯樂官之長。摯,其名也。
亞飯干適楚,三飯繚適蔡,四飯缺適秦。
飯,扶晚反。繚,音了。○ 亞飯以下,以樂侑食之官。干、繚、缺,皆名也。
鼓方叔入於河,
鼓,擊鼓者。方叔,名。河,河內。
播鼗武入於漢,
鼗,徒刀反。○ 播,搖也。鼗,小鼓。兩旁有耳,持其柄而搖之,則旁耳還自擊。武,名也。漢,漢中。
少師陽、擊磬襄入於海。
少,去聲。○ 少師,樂官之佐。陽、襄,二人名。襄即孔子所從學琴者。海,海島也。○ 此記賢人之隱遯以附前章,然未必夫子之言也。末章放此。張子曰:「周衰樂廢,夫子自衛反魯,一嘗治之。其後伶人賤工識樂之正。及魯益衰,三桓僭妄,自大師以下,皆知散之四方,逾河蹈海以去亂。聖人俄頃之助,功化如此。如有用我,期月而可。豈虛語哉?」
○ 周公謂魯公曰:「君子不施其親,不使大臣怨乎不以。故舊無大故,則不棄也。無求備於一人。」
施,陸氏本作弛,詩紙反。福本同。○ 魯公,周公子伯禽也。弛,遺棄也。以,用也。大臣非其人則去之,在其位則不可不用。大故,謂惡逆。李氏曰:「四者皆君子之事,忠厚之至也。」○ 胡氏曰:「此伯禽受封之國,周公訓戒之辭。魯人傳誦,久而不忘也。其或夫子嘗與門弟子言之歟?
○ 周有八士:伯達、伯適、仲突、仲忽、叔夜、叔夏、季隨、季騧。
騧,烏瓜反。○ 或曰「成王時人」,或曰「宣王時人」。蓋一母四乳而生八子也,然不可考矣。○ 張子曰:「記善人之多也。」○ 愚按:此篇孔子於三仁、逸民、師摯、八士,既皆稱贊而品列之;於接輿、沮、溺、丈人,又每有惓惓接引之意。皆衰世之志也,其所感者深矣。在陳之歎,蓋亦如此。三仁則無間然矣,其餘數君子者,亦皆一世之高士。若使得聞聖人之道,以裁其所過而勉其所不及,則其所立,豈止於此而已哉?
子張第十九
子張第十九
此篇皆記弟子之言,而子夏為多,子貢次之。蓋孔門自顏子以下,穎悟莫若子貢;自曾子以下,篤實無若子夏。故特記之詳焉。凡二十五章。
○ 子張曰:「士見危致命,見得思義,祭思敬,喪思哀,其可已矣。」
致命,謂委致其命,猶言授命也。四者立身之大節,一有不至,則餘無足觀。故言士能如此,則庶乎其可矣。
○ 子張曰:「執德不弘,信道不篤,焉能為有?焉能為亡?」
焉,於虔反。亡,讀作無,下同。○ 有所得而守之太狹,則德孤;有所聞而信之不篤,則道廢。焉能為有無,猶言不足為輕重。
○ 子夏之門人問交於子張。子張曰:「子夏云何?」對曰:「子夏曰:『可者與之,其不可者拒之。』」子張曰:「異乎吾所聞:君子尊賢而容眾,嘉善而矜不能。我之大賢與,於人何所不容?我之不賢與,人將拒我,如之何其拒人也?」
賢與之與,平聲。○ 子夏之言迫狹,子張譏之是也。但其所言亦有過高之病。蓋大賢雖無所不容,然大故亦所當絕;不賢固不可以拒人,然損友亦所當遠。學者不可不察。
○ 子夏曰:「雖小道,必有可觀者焉;致遠恐泥,是以君子不為也。」
泥,去聲。○ 小道,如農圃醫卜之屬。泥,不通也。○ 楊氏曰:「百家眾技,猶耳目鼻口,皆有所明而不能相通。非無可觀也,致遠則泥矣,故君子不為也。」
○ 子夏曰:「日知其所亡,月無忘其所能,可謂好學也已矣。」
亡,讀作無。好,去聲。○ 亡,無也。謂己之所未有。○ 尹氏曰:「好學者日新而不失。」
○ 子夏曰:「博學而篤志,切問而近思,仁在其中矣。」
四者皆學問思辨之事耳,未及乎力行而為仁也。然從事於此,則心不外馳,而所存自熟,故曰仁在其中矣。○ 程子曰:「博學而篤志,切問而近思,何以言仁在其中矣?學者要思得之。了此,便是徹上徹下之道。」又曰:「學不博則不能守約,志不篤則不能力行。切問近思在己者,則仁在其中矣。」又曰:「近思者以類而推。」蘇氏曰:「博學而志不篤,則大而無成;泛問遠思,則勞而無功。」
○ 子夏曰:「百工居肆以成其事,君子學以致其道。」
肆,謂官府造作之處。致,極也。工不居肆,則遷於異物而業不精。君子不學,則奪於外誘而志不篤。尹氏曰:「學所以致其道也。百工居肆,必務成其事。君子之於學,可不知所務哉?」愚按:二說相須,其義始備。
○ 子夏曰:「小人之過也必文。」
文,去聲。○ 文,飾之也。小人憚於改過,而不憚於自欺,故必文以重其過。
○ 子夏曰:「君子有三變:望之儼然,即之也溫,聽其言也厲。」
儼然者,貌之莊。溫者,色之和。厲者,辭之確。○ 程子曰:「他人儼然則不溫,溫則不厲,惟孔子全之。」謝氏曰:「此非有意於變,蓋並行而不相悖也,如良玉溫潤而栗然。」
○ 子夏曰:「君子信而後勞其民,未信則以為厲己也;信而後諫,未信則以為謗己也。」
信,謂誠意惻怛而人信之也。厲,猶病也。事上使下,皆必誠意交孚,而後可以有為。
○ 子夏曰:「大德不踰閑,小德出入可也。」
大德、小德,猶言大節、小節。閑,闌也,所以止物之出入。言人能先立乎其大者,則小節雖或未盡合理,亦無害也。○ 吳氏曰:「此章之言,不能無弊。學者詳之。」
○ 子游曰:「子夏之門人小子,當洒掃、應對、進退,則可矣。抑末也,本之則無。如之何?」
洒,色賣反。掃,素報反。○ 子游譏子夏弟子,於威儀容節之間則可矣。然此小學之末耳,推其本,如大學正心誠意之事,則無有。
子夏聞之曰:「噫!言游過矣!君子之道,孰先傳焉?孰後倦焉?譬諸草木,區以別矣。君子之道,焉可誣也?有始有卒者,其惟聖人乎!」
別,必列反。焉,於虔反。○ 倦,如誨人不倦之倦。區,猶類也。言君子之道,非以其末為先而傳之,非以其本為後而倦教。但學者所至,自有淺深,如草木之有大小,其類固有別矣。若不量其淺深,不問其生熟,而概以高且遠者強而語之,則是誣之而已。君子之道,豈可如此?若夫始終本末一以貫之,則惟聖人為然,豈可責之門人小子乎?○ 程子曰:「君子教人有序,先傳以小者近者,而後教以大者遠者。非先傳以近小,而後不教以遠大也。」又曰:「洒掃應對,便是形而上者,理無大小故也。故君子只在慎獨。」又曰:「聖人之道,更無精粗。從洒掃應對,與精義入神貫通只一理。雖洒掃應對,只看所以然如何。」又曰:「凡物有本末,不可分本末為兩段事。洒掃應對是其然,必有所以然。」又曰:「自洒掃應對上,便可到聖人事。」愚按:程子第一條,說此章文意,最為詳盡。其後四條,皆以明精粗本末。其分雖殊,而理則一。學者當循序而漸進,不可厭末而求本。蓋與第一條之意,實相表裡。非謂末即是本,但學其末而本便在此也。
○ 子夏曰:「仕而優則學,學而優則仕。」
優,有餘力也。仕與學理同而事異,故當其事者,必先有以盡其事,而後可及其餘。然仕而學,則所以資其仕者益深;學而仕,則所以驗其學者益廣。
○ 子游曰:「喪致乎哀而止。」
致極其哀,不尚文飾也。楊氏曰:「『喪,與其易也寧戚』,不若禮不足而哀有餘之意。」愚按:「而止」二字,亦微有過於高遠而簡略細微之弊。學者詳之。
○ 子游曰:「吾友張也,為難能也。然而未仁。」
子張行過高,而少誠實惻怛之意。
○ 曾子曰:「堂堂乎張也,難與並為仁矣。」
堂堂,容貌之盛。言其務外自高,不可輔而為仁,亦不能有以輔人之仁也。○ 范氏曰「子張外有餘而內不足,故門人皆不與其為仁。子曰:『剛、毅、木、訥近仁。』寧外不足而內有餘,庶可以為仁矣。」
○ 曾子曰:「吾聞諸夫子:人未有自致者也,必也親喪乎!」
致,盡其極也。蓋人之真情所不能自已者。○ 尹氏曰:「親喪固所自盡也,於此不用其誠,惡乎用其誠。」
○ 曾子曰:「吾聞諸夫子:孟莊子之孝也,其他可能也;其不改父之臣,與父之政,是難能也。」
孟莊子,魯大夫,名速。其父獻子,名蔑。獻子有賢德,而莊子能用其臣,守其政。故其他孝行雖有可稱,而皆不若此事之為難。
○ 孟氏使陽膚為士師,問於曾子。曾子曰:「上失其道,民散久矣。如得其情,則哀矜而勿喜。」
陽膚,曾子弟子。民散,謂情義乖離,不相維繫。謝氏曰:「民之散也,以使之無道,教之無素。故其犯法也,非迫於不得已,則陷於不知也。故得其情,則哀矜而勿喜。」
○ 子貢曰:「紂之不善,不如是之甚也。是以君子惡居下流,天下之惡皆歸焉。」
惡居之惡,去聲。○ 下流,地形卑下之處,眾流之所歸。喻人身有汙賤之實,亦惡名之所聚也。子貢言此,欲人常自警省,不可一置其身於不善之地。非謂紂本無罪,而虛被惡名也。
○ 子貢曰:「君子之過也,如日月之食焉:過也,人皆見之;更也,人皆仰之。」
更,平聲。
○ 衛公孫朝問於子貢曰:「仲尼焉學?」
朝,音潮。焉,於虔反。○ 公孫朝,衛大夫。
子貢曰:「文武之道,未墜於地,在人。賢者識其大者,不賢者識其小者,莫不有文武之道焉。夫子焉不學?而亦何常師之有?」
識,音志。下焉字,於虔反。○ 文武之道,謂文王、武王之謨訓功烈,與凡周之禮樂文章皆是也。在人,言人有能記之者。識,記也。
○ 叔孫武叔語大夫於朝,曰:「子貢賢於仲尼。」
語,去聲。朝,音潮。○ 武叔,魯大夫,名州仇。
子服景伯以告子貢。子貢曰:「譬之宮牆,賜之牆也及肩,窺見室家之好。
牆卑室淺。
夫子之牆數仞,不得其門而入,不見宗廟之美,百官之富。
七尺曰仞。不入其門,則不見其中之所有,言牆高而宮廣也。
得其門者或寡矣。夫子之云,不亦宜乎!」
此夫子,指武叔。
○ 叔孫武叔毀仲尼。子貢曰:「無以為也,仲尼不可毀也。他人之賢者,丘陵也,猶可踰也;仲尼,日月也,無得而踰焉。人雖欲自絕,其何傷於日月乎?多見其不知量也!」
量,去聲。○ 無以為,猶言無用為此。土高曰丘,大阜曰陵。日月,踰其至高。自絕,謂以謗毀自絕於孔子。多,與祗同,適也。不知量,謂不自知其分量。
○ 陳子禽謂子貢曰:「子為恭也,仲尼豈賢於子乎?」
為恭,謂為恭敬推遜其師也。
子貢曰:「君子一言以為知,一言以為不知,言不可不慎也。
知,去聲。○ 責子禽不謹言。
夫子之不可及也,猶天之不可階而升也。
階,梯也。大可為也,化不可為也,故曰不可階而升。
夫子之得邦家者,所謂立之斯立,道之斯行,綏之斯來,動之斯和。其生也榮,其死也哀,如之何其可及也。」
道,去聲。○ 立之,謂植其生也。道,引也,謂教之也。行,從也。綏,安也。來,歸附也。動,謂鼓舞之也。和,所謂於變時雍。言其感應之妙,神速如此。榮,謂莫不尊親。哀,則如喪考妣。程子曰:「此聖人之神化,上下與天地同流者也。」○ 謝氏曰:「觀子貢稱聖人語,乃知晚年進德,蓋極於高遠也。夫子之得邦家者,其鼓舞群動,捷於桴鼓影響。人雖見其變化,而莫窺其所以變化也。蓋不離於聖,而有不可知者存焉,此殆難以思勉及也。」
堯曰第二十
堯曰第二十 
凡三章。
○ 堯曰:「咨!爾舜!天之曆數在爾躬。允執其中。四海困窮,天祿永終。」
此堯命舜,而禪以帝位之辭。咨,嗟歎聲。曆數,帝王相繼之次第,猶歲時氣節之先後也。允,信也。中者,無過不及之名。四海之人困窮,則君祿亦永絕矣,戒之也。
舜亦以命禹。
舜後遜位於禹,亦以此辭命之。今見於虞書大禹謨,比此加詳。
曰:「予小子履,敢用玄牡,敢昭告于皇皇后帝:有罪不敢赦。帝臣不蔽,簡在帝心。朕躬有罪,無以萬方;萬方有罪,罪在朕躬。」
此引商書湯誥之辭。蓋湯既放桀而告諸侯也。與書文大同小異。曰上當有湯字。履,蓋湯名。用玄牡,夏尚黑,未變其禮也。簡,閱也。言桀有罪,己不敢赦。而天下賢人,皆上帝之臣,己不敢蔽。簡在帝心,惟帝所命。此述其初請命而伐桀之辭也。又言君有罪非民所致,民有罪實君所為,見其厚於責己薄於責人之意。此其告諸侯之辭也。
周有大賚,善人是富。
賚,來代反。○ 此以下述武王事。賚,予也。武王克商,大賚于四海。見周書武成篇。此言其所富者,皆善人也。詩序云「賚所以錫予善人」,蓋本於此。
「雖有周親,不如仁人。百姓有過,在予一人。」
此周書太誓之辭。孔氏曰:「周,至也。言紂至親雖多,不如周家之多仁人。」
謹權量,審法度,修廢官,四方之政行焉。
權,稱錘也。量,斗斛也。法度,禮樂制度皆是也。
興滅國,繼絕世,舉逸民,天下之民歸心焉。
興滅繼絕,謂封黃帝、堯、舜、夏、商之後。舉逸民,謂釋箕子之囚,復商容之位。三者皆人心之所欲也。
所重:民、食、喪、祭。
武成曰:「重民五教,惟食喪祭。」
寬則得眾,信則民任焉,敏則有功,公則說。
說,音悅。○ 此於武王之事無所見,恐或泛言帝王之道也。○ 楊氏曰:「論語之書,皆聖人微言,而其徒傳守之,以明斯道者也。故於終篇,具載堯舜咨命之言,湯武誓師之意,與夫施諸政事者。以明聖學之所傳者,一於是而已。所以著明二十篇之大旨也。孟子於終篇,亦歷敘堯、舜、湯、文、孔子相承之次,皆此意也。」
○ 子張問於孔子曰:「何如斯可以從政矣?」子曰:「尊五美,屏四惡,斯可以從政矣。」子張曰:「何謂五美?」子曰:「君子惠而不費,勞而不怨,欲而不貪,泰而不驕,威而不猛。」
費,芳味反
子張曰:「何謂惠而不費?」子曰:「因民之所利而利之,斯不亦惠而不費乎?擇可勞而勞之,又誰怨?欲仁而得仁,又焉貪?君子無眾寡,無小大,無敢慢,斯不亦泰而不驕乎?君子正其衣冠,尊其瞻視,儼然人望而畏之,斯不亦威而不猛乎?」
焉,於虔反。
子張曰:「何謂四惡?」子曰:「不教而殺謂之虐;不戒視成謂之暴;慢令致期謂之賊;猶之與人也,出納之吝,謂之有司。」
出,去聲。○ 虐,謂殘酷不仁。暴,謂卒遽無漸。致期,刻期也。賊者,切害之意。緩於前而急於後,以誤其民,而必刑之,是賊害之也。猶之,猶言均之也。均之以物與人,而於其出納之際,乃或吝而不果。則是有司之事,而非為政之體。所與雖多,人亦不懷其惠矣。項羽使人,有功當封,刻印刓,忍弗能予,卒以取敗,亦其驗也。○ 尹氏曰:「告問政者多矣,未有如此之備者也。故記之以繼帝王之治,則夫子之為政可知也。」
○ 子曰:「不知命,無以為君子也。
程子曰:「知命者,知有命而信之也。人不知命,則見害必避,見利必趨,何以為君子?」
不知禮,無以立也。
不知禮,則耳目無所加,手足無所措。
不知言,無以知人也。」
言之得失,可以知人之邪正。○ 尹氏曰:「知斯三者,則君子之事備矣。弟子記此以終篇,得無意乎?學者少而讀之,老而不知一言為可用,不幾於侮聖言者乎?夫子之罪人也,可不念哉?」
**************************              
论语通译
  论语通译
  学而篇第一
  (共十六章) 
  主要讲 务本 的道理, 引导初学者入 道德之门。 子曰
  ①
  : 学而时习之, 不亦说乎
  ②
  !有朋自远方来, 不亦
  乐乎!人不知而不愠
  ③
  , 不亦君子乎! 
  【今译】 
  孔子说: 学习了而时常温习, 不也高兴吗!有朋友从远方来, 不也快乐吗!别人不了解我, 我并不怨恨, 不也是君子吗! 
  【注释】 
  ① 子: 古代, 对有地位、有学问、有道德修养的人, 尊称为 子。 这里是尊称孔子。
  ② 说(yuè月): 同 悦, 高兴, 喜悦。③ 愠(yùn运): 怨恨, 恼。 有子曰
  ①
  : 其为人也孝弟
  ②
  , 而好犯上者, 鲜矣
  ③
; 不好
  犯上, 而好作乱者, 未之有也。君子务本, 本立而道生。孝弟也者, 其为仁之本与
  ④
  。 
  【今译】 
  有子说: 做人, 孝顺父母, 尊敬兄长, 而喜好冒犯长辈 和上级的, 是很少见的;不喜好冒犯长辈和上级, 而喜好造反作乱的人, 是没有的。君子要致力于根本, 根本确立了, 治国、做人的 则就产生了。所谓‘孝’ ‘悌’, 可为‘仁’ 的根本吧。 
  【注释】 
  ① 有子: 鲁国人, 姓有, 名若, 字子有。孔子的弟子。比孔子小三十三岁, 生于公元前 年, 卒年不详。另说, 比孔子小十三岁。后世, 有若的弟子也尊称有若为 子, 故称 有子。 ② 弟(tì替): 同 悌。 弟弟善事兄长, 称 悌。 ③ 鲜(x ǎn显): 少。
  ④ 与: 同 欤。 语气词。
  子曰: 巧言令色
  ①
  , 鲜矣仁。 
  【今译】 
  孔子说: 花言巧语, 一副和气善良的脸色, 这种人是很少有仁德的。 
  【注释】 
  ① 令色: 面色和善。这里指以恭维的态度讨好别人。曾子曰
  ①
  : 吾日三省吾身
  ②
; 为人谋而不忠乎?与朋友交
  而不信乎?传不习乎
  ③
  ? 
  【今译】 
  曾子说: 我每天多次检查反省自己: 为别人出主意做事情, 是否忠实呢?和朋友交往, 是否真诚讲信用呢?对老师所传授的知识, 是否复习了呢? 【注释】 
  ① 曾(zēn 增) 子: 姓曾, 名参(s ēn身), 字子舆。曾皙之子。鲁国南武城(在今山东省枣庄市附近) 人。孔子的弟子。比孔子小四十六岁, 生于公元前 年, 卒于公元前 年。其弟子也尊称曾参为 子。 
  ② 省(xǐn 醒): 检查反省自己。③ 传: 老师传授的知识、学问。孔子教学, 有 六艺: 礼, 乐, 射, 御, 书, 数。
  子曰: 道千乘之国
  ①
  , 敬事而信, 节用而爱人, 使民以时。 
  【今译】 
  孔子说: 治理拥有一千辆兵车的诸侯国, 要严肃慎重、专心认真办理国家的政事, 又严守信用;节约财政开支, 又爱护部下和人民;按照农时的忙闲去役使人民。 【注释】 
  ① 道: 同 导。 领导, 治理。 乘(s èn 胜): 古代称四匹马 的一辆车为 一乘。 古代军队使用兵车, 每辆兵车用四匹马, 车上有身着盔甲的士兵三人, 车下跟随有步兵七十二人, 另有相应的后勤人员二十五人, 因此, 所谓 一乘 的实际兵力就是一百人, 并非单指四匹马 一辆车。按规定, 八百家出车一乘。 古代衡量一个诸侯国的大小强弱, 就是看它拥有多少兵车, 所谓 千乘之国, 万乘之尊。 
  子曰: 弟子, 入则孝, 出则弟①
  , 谨而信, 泛爱众而亲
  仁。行有馀力, 则以学文。 
   【今译】 
  孔子说: 孩子们, 在家要孝顺父母, 出门要尊敬兄长, 做人言行要谨慎讲信用, 广泛地与众人友爱, 亲近有仁德的人。这样做了还有馀力, 就要用来学习各种文化知识。 【注释】 
  ① 出: 外出, 出门。一说, 离开自己住的房屋。 弟: 同 悌。 尊敬兄长。
  子夏曰
  ①
  : 贤贤易色
  ②
; 事父母, 能竭其力;事君, 能致其身
  ③
; 与朋友交, 言而有信。虽曰未学, 吾必谓之学矣。 【今译】 
  子夏说: 尊重有贤德的人, 而看轻貌美的女色;事奉父母, 能尽力而为;为君主做事, 能有献身精神;和朋友交往, 说话诚实能讲信用。这样的人即使是说没学习过什么, 我也一定要说他是学习过了。 
  【注释】 
  ① 子夏: 姓卜, 名商, 字子夏。孔子的弟子。比孔子小四十四岁, 生于公元前 年, 卒年不详。② 贤贤: 第一个 贤 做动词用, 表示敬重, 尊崇;第二个 贤 是名词, 即 圣贤 的 贤, 指有道德有学问的高尚的人。易: 轻视, 不看重。一说, 易 释为 移, 移好色之心而好贤德。③ 致: 做出奉献。
  子曰: 君子不重则不威, 学则不固①
  。主忠信。无友不
  如己者
  ②
  。过则无惮改
  ③
  。 
   【今译】 
  孔子说: 君子[举止]不注重, 就没有威严, [态度]不庄重, 学习的知识学问就不巩固。做人主要讲求忠诚, 守信用。不要同不如自己的人交朋友。如果有了过错, 就不要害怕改正。 
  【注释】 
  ① 固: 巩固, 牢固。一说, 固执, 闭塞不通。② 无: 同 毋。 不要。 友: 做动词用。交朋友。③ 过: 错误, 过失。 惮 (àn旦): 怕。曾子曰: 慎终
  ①
  , 追远
  ②
  , 民德归厚矣。 
  【今译】 
  曾子说: 要谨慎地办理好丧事, 虔诚地追祭祖先, [这样做了, ]人民的道德就会归复忠厚老实。 【注释】 
  ① 终: 寿终, 指父母去世。
  ② 远: 远祖, 祖先。
  子禽问于子贡曰
  ①
  : 夫子至于是邦也
  ②
  , 必闻其政, 求之
  与, 抑与之与
  ③
  ? 子贡曰: 夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也, 其诸异乎人之求之与④
  ? 
  【今译】 
  子禽问子贡: 我们老师每到一个诸侯国, 一定会了解那一国的政事, 是他自己求来的呢, 还是别人主动告诉他的呢? 子贡说: 老师是靠温和、善良、恭敬、俭朴、谦让来了解政事的。[也可以说是求来的, 但是, ]老师求得的方法, 大概 与别人求得的方法不相同吧? 【注释】 
  ① 子禽: 姓陈, 名亢(kàn 抗), 字子禽。一说, 即 亢。陈国人。孔子的弟子(一说, 不是孔子的弟子)。  子贡: 姓端木, 名赐, 字子贡。卫国人。孔子的弟子。比孔子小三十一岁, 生于公元前 年, 卒年不详。
  ② 夫子: 孔子的弟子敬称孔子。古代凡做过大夫官职的人, 可称 夫子 (孔子曾任鲁国司寇)。  邦: 诸侯国。③ 抑与之与: 抑, 连词, 表示选择, 还是。 与之, 给他。最后的 与, 同 欤, 语气词。④ 其诸: 或者, 大概。
  子曰: 父在, 观其志;父没, 观其行, 三年无改于父之道
  ①
  , 可谓孝矣。 
  【今译】 
  孔子说: [看一个人, ]当他父亲在世的时候, 要看他的志向;父亲死后, 要考察他的行为, 如果三年都不改变他父亲所坚持的准则, 这样的人可以说是做到了孝。 【注释】 
  ① 三年: 按照周礼的规定, 父亲死后, 儿子要守孝三年。这里也可指一段较长的时间, 或多年以后。有子曰: 礼之用
  ①
  , 和为贵。先王之道
  ②
  , 斯为美。小大
  由之。有所不行, 知和而和, 不以礼节之③
  , 亦不可行也。 
  【今译】 
  有子说: 礼的应用, 以[遇事做到]和谐为可贵。古代 贤王治理国家的方法, 可贵之处就在于此。小事大事, 都依着这个 则。如果有的地方行不通, 只知道为和谐而和谐, 不用礼来调节和约束, 那也是不可以的。 【注释】 
  ① 礼: 指周礼。周代先王留下的仪礼制度。② 先王: 指周文王等古代的贤王。③ 节: 节制, 约束。
  有子曰: 信近于义
  ①
  , 言可复也
  ②
  。恭近于礼, 远耻辱也
  ③
  。
  因不失其亲
  ④
  , 亦可宗也
  ⑤
  。 
  【今译】 
  有子说: 讲信用, 要符合于义;这种符合于义的信约诺言, 才能去实践、兑现。恭敬, 要符合于礼, [这样做, ]就能避免耻辱。所依靠的, 应当是亲近自己的人, [只有这些人]才是可尊崇而靠得住的。 【注释】 
  ① 近: 符合, 接近。 义: 合理的, 有道理的, 符合于周礼的。② 复: 实践, 实行。
  ③ 远: 避免, 免去。
  ④ 因: 依靠, 凭借。
  ⑤ 宗: 尊奉, 尊崇, 可靠。
  子曰: 君子食无求饱, 居无求安, 敏于事而慎于言, 就有道而正焉
  ①
  , 可谓好学也已。 
  【今译】 
  孔子说: 君子吃饭不追求饱足, 居住不追求享受安逸, 做事勤快敏捷, 说话小心谨慎, 向有道德的人看齐, 时时改正自己的缺点错误, [这样做, ]就可以说是一个好学的人了。 【注释】 
  ① 就: 靠近, 接近。
  子贡曰: 贫而无谄, 富而无骄, 何如? 子曰: 可也, 未若贫而乐, 富而好礼者也。 子贡曰: 《诗》 云: ‘如切如磋, 如琢如磨。’ 
  ①
  其斯之谓与? 子曰: 赐也, 始可与言《诗》 已矣, 告诸往而知来者
  ②
  。 
  【今译】 
  子贡说: 贫穷而不去巴结奉承, 富裕而不骄傲自大, [这种人]怎么样呢? 孔子说: 也算可以了, [但是, ]还不如贫穷仍然快快乐乐, 富裕而爱好礼义的人。 子贡说: 《诗》 说: ‘要像加工骨头、牛角、象牙、玉石一样, 过切磋琢磨[才能成为精美的器物]。’ 就是讲的这个意思吧? 孔子说: 端木赐呀, 我可以开始同你谈论《诗》 了。告诉你已 发生的事, 你就可以知道未来的事。 【注释】 
  ①  如切 句: 出自《诗 卫风 淇奥》 篇。 切, 古代把骨头加工成器物, 叫切。 磋 (u 搓), 把象牙加工成器物。 琢(z uó浊), 雕刻玉石, 做成器物。 磨, 把石头加工成器物。②  告诸 句: 诸, 之于 的合音。 往, 已发生的事, 已知的事。 来, 尚未发生的事, 未知的事。这里孔子是夸子贡能举一反三。
  子曰: 不患人之不己知
  ①
  , 患不知人也。 
   【今译】 
  孔子说: 不怕别人不了解自己[的长处好处], 怕的是自己不了解别人[的好歹]。 【注释】 
  ① 不己知: 不知己 的倒装句。 知, 了解, 理解。 为政篇第二
  (共二十四章) 
  主要讲治理国家的道理和方法。子曰: 为政以德, 譬如北辰
  ①
  , 居其所而众星共之
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: [国君]治理国家, 用道德教化来推行政治, 就像北极星一样, 处于它一定的方位上, 而群星都环绕在它的周围。 
  【注释】 
  ① 北辰: 北极星。距地球约 光年。由于太远, 从地球上看它似乎不动, 实际仍在高速运转。② 共: 同 拱。 环绕。
  子曰: 《诗》 三百, 一言以蔽之①
  , 曰: ‘思无邪
  ②
  。’ 
  【今译】 
  孔子说: 《诗》 三百[零五]篇, 用一句话来概括[它的全部内容], 可以说是: ‘思想纯正, 没有邪恶的东西。’ 【注释】 
  ① 蔽 (ì毕): 概括, 包盖。② 思无邪: 出《诗 鲁颂 駉》 篇。孔子借用这句话来评 论《诗》。 
  子曰: 道之以政
  ①
  , 齐之以刑
  ②
  , 民免而无耻
  ③
; 道之以
  德, 齐之以礼, 有耻且格
  ④
  。 
  【今译】 
  孔子说: 用行政命令来治理, 用刑法来处罚, 人民虽然能避免犯罪, 但还不是从心里知道[犯罪]是可耻的;用道德教化来治理, 用礼来约束, 人民就会有羞耻之心, 而且会[自觉地]改过。 
  【注释】 
  ① 道: 同 导。 治理, 引导。② 齐: 整治, 约束, 统一。
  ③ 免: 避免, 指避免犯错误。 无耻: 做了坏事, 心里不知羞耻;没有(或缺乏) 羞耻之心。④ 格: 正, 纠正。
  子曰: 吾十有五而志于学
  ①
  , 三十而立, 四十而不惑, 五
  十而知天命
  ②
  , 六十而耳顺, 七十而从心所欲, 不逾矩。 【今译】 
  孔子说: 我十五岁时开始立志学习;三十岁时能自立于世;四十岁时遇事就不迷惑;五十岁时懂得了什么是天命;六十岁时能听得进不同的意见;到了七十岁时才能达到随心所欲, 想怎么做便怎么做, 也不会超出规矩。 【注释】 
  ① 有: 同 又。 表示相加。 十有五, 即十加五, 十五岁。② 天命: 这里的 天命 含有上天的意旨、自然的禀赋与天性、 人生的道义和职责等多重含义。孟懿子问孝
  ①
  , 子曰: 无违。 樊迟御
  ②
  , 子告之曰: 孟
  孙问孝于我, 我对曰: ‘无违。’ 樊迟曰: 何谓也? 子曰: 生, 事之以礼;死, 葬之以礼, 祭之以礼。 【今译】 
  孟懿子问怎样做是孝, 孔子说: 不违背[周礼]。 樊迟为孔子赶马车, 孔子对他说: 孟孙氏问我怎样做是孝, 我回答他: ‘不违背[周礼]。’ 樊迟说: 是什么意思呢? 孔子说: [父母]在世时, 按周礼侍奉他们;去世了, 要按周礼为他们办丧事, 按周礼祭祀他们。 【注释】 
  ① 孟懿(yì意) 子: 姓仲孙, 亦即孟孙, 名何忌 懿 是谥号。鲁国大夫。与叔孙氏、季孙氏共同把执鲁国朝政。他的父亲孟僖子临终时嘱咐他要向孔子学礼。
  ② 樊 (án凡) 迟: 姓樊, 名须, 字子迟。孔子的弟子。曾与冉(rǎn染) 求一起为季康子做事。生于公元前 年, 卒年不详, 比孔子小三十六岁。 御: 赶车, 驾车。孟武伯问孝
  ①
  。子曰: 父母, 唯其疾之忧
  ②
  。 
  【今译】 
  孟武伯问怎样做是孝。孔子说: 对父母, 要特别担忧他们的疾病。 
  【注释】 
  ① 孟武伯: 姓仲孙, 名彘(z ì志)。 是前一章提到的孟懿子的儿子。 武 是谥号。
   ② 其: 代词, 指父母。此句意思是: 唯忧父母疾。一说, 其, 指子女。 疾, 指品德行为上的毛病。意思是: 父母唯忧其疾。做父母的就是担心子女的品行不好。所以, 孝顺父母, 就要自己品德好, 不要使父母担忧。另说, 其 指子女, 疾 指疾病。 言父母爱子之心, 无所不至, 惟恐其有疾病, 常以为忧也。人子体此, 而以父母之心为心, 则凡所以守其身者, 自不容于不谨矣。 (朱熹《四书集注》) 子游问孝
  ①
  , 子曰: 今之孝者, 是谓能养。至于犬马, 皆能有养。不敬, 何以别乎? 
  【今译】 
  子游问怎样做是孝, 孔子说: 现在所谓孝顺, 总说能够奉养父母就可以了。[但这却是很不够的, 因为]对狗对马, 也都能做到饲养它。如果对父母[只做到奉养]而不诚心孝敬的话, 那和饲养狗马有什么区别呢? 【注释】 
  ① 子游: 姓言, 名偃(yǎn演), 字子游吴国人。生于公元前 年, 卒年不详。孔子的弟子。比孔子小四十五岁。子夏问孝, 子曰: 色难
  ①
  。有事, 弟子服其劳
  ②
; 有酒食, 
  先生馔
  ③
  , 曾是以为孝乎
  ④
  ? 
  【今译】 
  子夏问怎样做是孝, 孔子说: [对父母]和颜悦色, 是最难的。[如果仅仅做到]有了事, 孩子为父母去做;有了酒饭, 让父母吃, [但是, 子女的脸色却很难看, ]难道能算是孝吗? 
   【注释】 
  ① 色: 脸色。指和颜悦色;心里敬爱父母, 脸面上好看。② 弟子: 晚辈。指儿女。
  ③ 先生: 长辈。指父母。 馔(z uàn赚): 吃喝。④ 曾(zēn 增): 副词。难道。 是: 代词。此, 这个。子曰: 吾与回言终日
  ①
  , 不违, 如愚。退而省其私
  ②
  , 亦
  足以发, 回也不愚。 
  【今译】 
  孔子说: 我给颜回讲学问一整天, 他都不提不同的意见, 好像是很愚笨。[可是, ]课后我考察他私下里的言行, 发现他对我所讲的课能充分发挥, 颜回并不是愚笨的。 【注释】 
  ① 回: 姓颜, 名回, 字子渊, 又称颜渊。鲁国人。生于公元前 年(一说, 公元前 年), 卒于公元前 年。是孔子早年最忠实的弟子, 被孔子器重、厚爱。比孔子小三十(一说四十) 岁。② 省(xǐn 醒): 观察, 考察。子曰: 视其所以
  ①
  , 观其所由
  ②
  , 察其所安。人焉旵哉
  ③
  ?
  人焉旵哉? 
  【今译】 
  孔子说: [了解人, 要]看他言行的动机, 观察他所采取的方法, 考察他安心于做什么。[这样去了解, ]人怎么能隐瞒得了呢?人怎么能隐瞒得了呢? 【注释】 
  ① 以: 根据, 因, 言行的动机。一说, 以, 通 与。 引申 为与, 同, 结交什么样的朋友。② 由: 由, 走的道路。指为达到目的而采用的方式方法。③ 焉: 代词, 表疑问。哪里, 怎么。 旵(s u搜): 隐藏, 隐瞒。
  子曰: 温故而知新
  ①
  , 可以为师矣。 
  【今译】 
  孔子说: 时时温习已 学过的知识, 由此就能获取新的更深的知识, 这样就可以为人师表了。 【注释】 
  ① 故: 旧的, 先的。
  子曰: 君子不器
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子不要像器具一样[只有固定的某一方面的用处]。 
  【注释】 
  ① 器: 器具, 只有一种固定用途的东西。比喻人只具备一种知识, 一种才能, 一种技艺。
  子贡问君子
  ①
  , 子曰: 先行其言而后从之。 【今译】 
  子贡问怎样做才是君子, 孔子说: 在说之前, 先去实行, 然后再按照做了的去说。 
  【注释】 
  ① 君子: 古代有学问有道德有作为的人, 人格高尚的人, 或有 官职、地位高的人都可称 君子。 子曰: 君子周而不比
  ①
  , 小人比而不周
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子能[在道义上]团结人但不[以私情而]互相勾结;小人善于 拢勾结而不[在道义上]团结人。 【注释】 
  ① 周: 同周围的人相处得很好, 合群, 团结。 比 (ì毕): 本义是并列, 挨着。在这里有贬义: 为私情而勾结, 帮结伙, 结党营私。
  ② 小人: 不正派、不道德、人格卑鄙的人。古代也称地位低的人。
  子曰: 学而不思则罔
  ①
  , 思而不学则殆
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 学习了而不深入思考, 就会迷惑;[但]只是去空想而不去学习, 那就危险了。 【注释】 
  ① 思: 思考, 思维。 罔(wǎn 网): 同 惘。 迷惑, 昏而无得。一说, 欺罔, 蒙蔽, 受。 另说, 罔, 即无, 无所得。② 殆 (à 代): 危险。一说, 没有信心。子曰: 攻乎异端
  ①
  , 斯害也已
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 去攻读钻研邪说, 那就有害了。 【注释】 
  ① 攻: 指学习攻读, 专治, 钻研。一说, 攻击。 异端: 不同的学说、主张。
  ② 斯: 代词。这, 那。 已: 语气词, 表慨叹, 相当 矣。 一说, 停止, 完毕。则此章的意思是: 攻击那些邪说, 祸害就没有了。子曰: 由
  ①
  , 诲女
  ②
  , 知之乎?知之为知之, 不知为不知, 是知也
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 仲由, 我教导你的[知识], 知道了吗?知道就是知道, 不知道就是不知道, 这种态度才是明智的。 【注释】 
  ① 由: 姓仲, 名由, 字子路, 又字季路。鲁国卞(今山东省平邑县东北) 人。是孔子早年的弟子。长期跟随孔子, 是忠实的警卫。曾做季康子的家臣, 后死于卫国内乱。生于公元前 年, 卒于公元前 年, 比孔子小九岁。
  ② 诲 (uì会): 教导, 教育, 诱导。 女: 同 汝。 你。③ 知: 前五个 知 字, 是知道, 了解, 懂得。最后 是知也 的 知, 同 智。 明智, 聪明, 真知。 之: 代词。指孔子所讲授的知识、学问。
  子张学干禄
  ①
  。子曰: 多闻阙疑
  ②
  , 慎言其馀, 则寡尤
  ③
; 
  多见阙殆, 慎行其馀, 则寡悔。言寡尤, 行寡悔, 禄在其中矣。 
  【今译】 
  子张学习如何谋求做官。孔子说: 要多听[各种意见], 把觉得可怀疑的地方避开, 谨慎地说出其馀的, 这样就能少犯错误;要多看[各种情况], 把觉得有危险的事情避开, 谨慎地去做其馀的, 这样就能减少后悔。说话少出错, 做事少后悔, 谋求官职的机会就在其中了。 【注释】 
  ① 子张: 姓颛(z uān专) 孙, 名师, 字子张。陈国人。孔子晚年的弟子, 比孔子小四十八岁。生于公元前 年, 卒年不详。 干禄: 求仕, 谋求做官。 干, 求, 谋。 禄, 官吏的俸禄, 官职。② 阙: 空, 缺, 有所保留。
  ③ 寡: 少。 尤: 过错, 错误。哀公问曰
  ①
  : 何为则民服
  ②
  ? 孔子对曰: 举直错诸枉
  ③
  , 
  则民服;举枉错诸直, 则民不服。 【今译】 
  鲁哀公问: 怎样做才能使人民服从呢? 孔子回答说: 选拔正直的人, 安排的位置在邪恶的人之上, 人民便服了;选拔邪恶的人, 安排的位置在正直的人之上, 人民就不服了。 【注释】 
  ① 哀公: 鲁国鲁定公的儿子, 姓姬, 名蒋。 哀 是死后的谥号。在位二十七年(自公元前 年至公元前 年)。 ② 何为: 怎样做, 做什么。
  ③ 举: 选拔, 推举。 直: 正直的、正派的人。 错: 同 措, 放置, 安排。一说, 废置, 舍弃。 诸: 之于 的合音。 枉: 不正直、不正派、邪恶的人。
  季康子问
  ①
  : 使民敬, 忠以劝
  ②
  , 如之何? 子曰: 临之
   以庄
  ③
  , 则敬;孝慈, 则忠;举善而教不能, 则劝。 【今译】 
  季康子问: 要使人民对我尊敬, 对我忠实而又努力干, 应该如何办呢? 孔子说: 你要用庄重严肃的态度来对待, 人民就会尊敬你;你[倡导]对父母孝顺, 对众人慈爱, 他们就会忠实于你;你选拔任用善良优秀的人, 又教育那些能力差的人, 人民就会互相勉励而努力干了。 【注释】 
  ① 季康子: 姓季孙, 名肥。 康 是谥号。 子, 是尊称。鲁哀公时, 任正卿(宰相), 政治上最有势力。② 以: 连词。而。 劝: 努力, 勤勉。③ 临: 对待。
  或谓孔子曰
  ①
  : 子奚不为政
  ②
  ? 子曰: 《书》 云
  ③
  : ‘孝
  乎惟孝, 友于兄弟, 施于有政
  ④
  。’ 是亦为政, 奚其为为政
  ⑤
  ? 
  【今译】 
  有人对孔子说: 你为什么不参与政治呢? 孔子说: 《尚书》 里有句话说: ‘孝啊就是孝敬父母, 并以友爱的态度对待兄弟。倡导孝悌的道理推广到政治方面。’ 这也算是参与了政治, 为什么非做官才算是参与政治呢? 【注释】 
  ① 或: 代词。有人。
  ② 奚: 疑问词。何, 怎么。
  ③ 书: 指《尚书》。 是商周时期的政治文告和历史资料的汇编。孔子在这里引用的三句, 见于伪古文《尚书 君陈》 篇。④ 施: 推广, 延及, 影响于。 有: 助词, 无意义。 ⑤  奚其 句: 奚, 为什么。 其, 代同, 指做官。 为, 是。 为政, 参与政治。鲁定公初年, 孔子没有出来做官, 所以, 有人疑其不为政。
  子曰: 人而无信
  ①
  , 不知其可也。大车无輗
  ②
  , 小车无軏
  ③
  , 
  其何以行之哉
  ④
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 人不讲信用, 真不知道怎么可以呢![就好比]大车上没有輗, 小车上没有軏, 它靠什么行走呢? 【注释】 
  ① 信: 讲信用, 说了算数。
  ② 輗(ní尼): 古代大车(用牛, 以载重) 车辕前面横木上揳嵌的起关联固定作用的木销子(榫头)。 ③ 軏(yuè月): 古代小车(用马, 以载人) 车辕前面横木上揳嵌的起关联固定作用的木销子(榫头)。 ④ 何以: 以何, 用什么, 靠什么。子张问: 十世可知也
  ①
  ? 子曰: 殷因于夏礼
  ②
  , 所损益
  ③
  , 
  可知也;周因于殷礼, 所损益, 可知也;其或继周者, 虽百世, 可知也。 
  【今译】 
  子张问: 往后十个朝代[礼法制度]的事, 可以知道吗? 孔子说: 商朝继承了夏朝的礼制, 所减少的和增加的, 是可以知道的;周朝又继承了商期的礼制, 所减少的和增加的, 可以知道;将来如有继承周朝的[礼法制度, 其基本内容不过增增减减], 即使传下一百代之久, 也是可以知道的。 【注释】 
  ① 世: 古时称三十年为一世。这里指朝代。② 殷: 就是商朝。商朝传至盘庚(商汤王的第九代孙), 从奄(今山东省曲阜市) 迁都于殷(今河南省安阳县西北), 遂称殷。商是国名, 殷是国都之名。 因: 因袭, 沿袭。 礼: 指整个仪礼制度, 是规范社会行为的法则、规范、仪式的总称。③ 损益: 减少和增加。
  子曰: 非其鬼而祭之
  ①
  , 谄也。见义不为, 无勇也。 【今译】 
  孔子说: 不是自己的祖先却去祭祀它, 就是谄媚。遇到符合正义的事而不去做, 就是没有勇气。 【注释】 
  ① 鬼: 这里指死去的祖先。
   八佾篇第三
  (共二十六章) 
  主要记孔子论礼乐之事。
  孔子谓季氏
  ①
  , 八佾舞于庭
  ②
  , 是可忍也, 孰不可忍也
  ③
  ?
  【今译】 
  孔子谈论季氏, 说他在家庙的庭院里居然冒用了八佾规格的乐舞, 这种事如果可以容忍, 那还有什么不可以容忍的事呢?
  【注释】 
  ① 季氏: 鲁国正卿季孙氏。此指季平子, 即季孙意如。一说, 季桓子。
  ② 八佾: 佾(yì意), 行, 列。特指古代奏乐舞蹈的行列。一佾, 是八个人的行列;八佾, 就是八八六十四个人。按周礼规定, 天子的乐舞, 才可用八佾。诸侯, 用六佾;卿、大夫, 用四佾;士, 用二佾。按季氏的官职, 只有用四佾的资格, 但他擅自僭(j àn剑。超越本分) 用了天子乐舞规格的八佾, 这是不可饶恕的越轨行为。③  是可 句: 忍, 容忍。 孰, 疑问代词。什么。一说, 忍, 忍心。则这两句的意思是: 这样的事他都忍心做出来, 什么事他不忍心做呢?
   三家者
  ①
  , 以《雍》 彻
  ②
  。子曰: ‘相维辟公, 天子穆穆
  ③
  ’, 奚取于三家之堂
  ④
  ? 
  【今译】 
  孟孙氏、叔孙氏、季孙氏这三家, 在桓公庙祭祖完毕时, 让乐工唱着《雍》 诗, 来撤掉祭品。孔子说: [《雍》 诗上说: ]‘ 助祭祀的是四方诸侯, 天子才是庄严肃穆的主祭者。’ 为什么在你三家祭祖的庙堂上却用了唱《雍》 诗的仪式? 【注释】 
  ① 三家: 春秋后期掌握各国政权的三家贵族: 孟孙氏(即仲孙氏), 叔孙氏, 季孙氏。他们是鲁桓公之子仲庆父(亦称孟氏) 、叔牙、季友的后裔, 又称 三桓。 在这三家中, 以季孙氏势力最大。他们自恃有政治 济的实力, 所以 常有越轨周礼的行为, 多次受到孔子的批判。
  ② 雍: 《诗 周颂》 中的一篇。古代, 天子祭祀宗庙的仪式举行完毕后, 在撤去祭品收拾礼器的时候, 专门唱这首诗。亦作 雝。 彻: 同 撤。 撤除, 拿掉。
  ③  相维 句: 《诗 周颂 雍》 中的句子。 相(x àn 向), 本指 助, 帮助。这里指傧相, 助祭者。 维, 助词, 没有意义。 辟 (ì毕), 本指君王。这里的 辟公, 指诸侯。 穆穆, 庄严肃静。形容至美至敬。
  ④ 奚: 何, 怎么, 为什么。 堂: 祭祀先祖或接待宾客的庙堂。子曰: 人而不仁, 如礼何
  ①
  ?人而不仁, 如乐何? 
  【今译】 
  孔子说: 一个人不讲仁德, 如何对待礼呢?一个人不讲仁德, 如何对待乐呢? 
   【注释】 
  ① 如礼何: 如 何 是古代常用句式, 当中一般插入代词、名词或其他词语, 意思是 把(对) 怎么样(怎么办)。 林放问礼之本
  ①
  。子曰: 大哉问!礼, 与其奢也②
  , 宁俭;
  丧, 与其易也
  ③
  , 宁戚
  ④
  。 
  【今译】 
  林放问礼的根本是什么。孔子说: 意义重大啊, 你提的问题。从礼节仪式来说, 与其奢侈, 不如节俭;从治办丧事来说, 与其在仪式上搞得很隆重而完备周到, 不如心里真正悲哀地悼念死者。 
  【注释】 
  ① 林放: 姓林, 名放, 字子上。鲁国人。一说, 孔子的弟子。② 与其: 连词。在比较两件事的利害得失而决定取舍的时候, 与其 用在放弃的一面。后面常用 毋宁 、 不如 、 宁 相呼应。③ 易: 本义是把土地整治得平坦。在这里指周到地治办丧葬的礼节仪式。
  ④ 戚: 心中悲哀。
  子曰: 夷狄之有君
  ①
  , 不如诸夏之亡也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 夷狄虽有君主[却没有礼仪], 还不如中 诸国没有君主[却保留着礼仪]好呢。 【注释】 
  ① 夷: 我国古代东方少数民族。 狄: 我国古代北方少数民族。② 诸夏: 当时中 黄河流域华夏族居住的各个诸侯国。 亡: 同 无。 鲁国的昭公、哀公, 都曾逃往国外, 形成某一时期内鲁国无国君的现象。由此, 孔子发出感叹。季氏旅于泰山
  ①
  。子谓冉有曰
  ②
  : 女弗能救与
  ③
  ? 对曰: 
   不能。 子曰: 呜呼!曾谓泰山不如林放乎④
  ? 
  【今译】 
  季氏去祭祀泰山。孔子对冉有说: 你不能劝阻吗? 冉有回答说: 不能。 孔子说: 啊呀!莫非说泰山之神还不如鲁国人林放[知道礼]吗? 
  【注释】 
  ① 旅: 古代, 祭祀山川叫 旅。  泰山: 在今山东省泰安市。按周礼规定, 天子才有资格祭祀天下名山大川, 诸侯只有资格祭祀在其封地境内的名山大川。季康子不过是鲁国的大夫, 却去祭祀泰山, 这是越礼行为。
  ② 冉有: 姓冉, 名求, 字子有, 也称冉有。鲁国人, 仲 之族。孔子的弟子, 比孔子小二十九岁, 生于公元前 年, 卒年不详。冉有当时是季康子的家臣。
  ③ 女: 同 汝。 你。 弗: 不。 救: 补救, 劝阻, 设法匡正。与: 同 欤。 语气词。
  ④ 曾: 副词。莫非, 难道, 竟然。子曰: 君子无所争。必也射乎①
  !揖让而升
  ②
  , 下而饮。
  其争也君子。 
  【今译】 
  孔子说: 君子之间没有可争的事。[如果有争, ]那一定是射箭比赛吧![就算是射箭相争, 也是]互相作揖, 谦让, 然后登堂;[射箭比赛完了]走下堂来, 又互相敬酒。这种争, 就是君子之争。 
  【注释】 
  ① 射: 本是射箭。此指射礼——按周礼所规定的射箭比赛。有四种: 一, 大射(天子, 诸侯, 卿, 大夫, 选属下善射之士而升进使用)。 二, 宾射(贵族之间, 朝见聘会时用)。 三, 燕射(贵族平时娱乐之用)。 四, 乡射(民间习射艺)。 ② 揖: 作揖。拱手行礼, 以表尊敬。子夏问曰: ‘巧笑倩兮
  ①
  , 美目盼兮
  ②
  , 素以为绚兮
  ③
  。’ 
  何谓也? 子曰: 绘事后素
  ④
  。 曰: 礼后乎? 子曰: 起予者商也
  ⑤
  !始可与言《诗》 已矣。 
  【今译】 
  子夏问道: ‘美好的笑容真好看啊, 美丽的眼睛黑白分明眼珠转啊, 粉白的脸庞着色化妆绚丽多彩好打扮啊。’ 是什么意思呢? 孔子说: 先有了白地子, 然后才 上。 [子夏]又问: [这使我想到, ]礼节仪式是不是在[仁德之]后呢? 孔子说: 能阐明我的意思的是你卜商呀!现在开始可以同你谈论《诗》 了。 
  【注释】 
  ① 巧笑: 美好的笑容。 倩(q àn欠): 指笑时面容格外妍美, 笑容好看。 兮: 助词。啊, 呀。② 盼: 眼珠黑白分明, 转动灵活。③ 绚: 有文彩, 绚丽多彩。 巧笑 二句, 见《诗 卫风 硕人》 篇。 素以为绚兮, 不见于现在通行的《毛诗》, 可能是佚句。④ 绘事后素: 绘事,。 后, 后于, 在 之后。 素, 白地子。意思说: 总是先有个白地子, 然后才能。 一说, 女子先用素粉敷面, 然后才用胭脂、青黛等着色, 打扮得漂亮。⑤ 起: 发挥, 阐明。 予: 我。 商: 卜商, 即子夏。子曰: 夏礼, 吾能言之, 杞不足征也①; 殷礼, 吾能言之, 宋不足征也
  ②
  。文献不足故也
  ③
  。足, 则吾能征之矣。 
  【今译】 
  孔子说: 夏朝的礼, 我能说出来, [但是, 夏的后代]杞国[现在施行的礼仪]却不足以作为考证的证明;殷代的礼, 我能说出来, [但是, 殷的后代]宋国[现在施行的礼仪]却不足以作为考证的证明。因为文字资料不足, 熟悉夏礼、殷礼的贤人也不多。如果‘文’ ‘献’ 足够的话, 我就能用它来作考证的证明了。 
  【注释】 
  ① 杞(qǐ起): 古国, 现在河南省杞县一带。杞国的君主是夏朝禹的后代。征: 证明, 引以为证。② 宋: 古国, 现在河南省商丘市南部一带。宋国的君主是商朝汤的后代。
  ③ 文: 指历史文字资料。 献: 指贤人。古代, 朝廷称德才兼备的贤人为 献臣。 
  子曰: 禘自既灌而往者
  ①
  , 吾不欲观之矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 举行禘祭的典礼时, 从第一次的献酒之后, 我就不愿看下去了。 
   【注释】 
  ① 禘 (ì地): 古代只有天子才可以举行的祭祀祖先的隆重典礼。既: 已。  灌: 禘礼初始即举行的献酒降神仪式。古代祭祀祖先, 一般用活人坐在灵位前象征受祭者(这个人叫 尸)。 煮香草为 郁, 合黍酿成气味芬芳的一种酒 郁鬯 (àn 唱)。 将 郁鬯 献于 尸 前, 使其闻一闻酒的香气而并不饮用, 然后将酒浇在地上。这整个过程就叫 灌。 
  ② 不欲观: 不愿看, 看不下去了。鲁国是周公旦的封地。据《礼记》 记载, 周公死后, 他的侄儿周成王(姬诵) 为了追念周公辅佐治国的伟大功勋, 特许周公的后代在祭祀时举行最高规格的 禘礼。 但这毕竟是不合礼的。而且, 一般在 过 灌 的仪式以后, 鲁国的君臣往往也都表现懈怠而无诚意了。所以, 孔子说了 不欲观 的话。或问禘之说。子曰: 不知也
  ①
  。知其说者之于天下也, 其
  如示诸斯乎
  ②
  ! 指其掌。
  【今译】 
  有人问起举行 禘祭 的来由道理。孔子说: 不知道。能懂这种道理的人治理天下, 会像把东西摆在这里一样吧! [孔子一面说, 一面]指着自己的手掌。【注释】 
  ① 不知也: 孔子对鲁国 禘祭 不满, 所以, 他故意避讳, 说不知道 禘祭 的道理。
  ②  其如 句: 示, 同 置。 摆, 放。 诸, 之于 的合音。 斯, 这。指手掌。这句话的意思是: 像把东西摆在掌中一样明白而容易。一说, 示, 同 视。 祭如在, 祭神如神在。子曰: 吾不与祭①
  , 如不祭。 
   【今译】 
  祭祀祖先就如同祖先真在那里, 祭祀神就如同神真在那里。孔子说: 我如果不亲自参加祭祀, [而由别人代祭, ]那就如同不祭祀一样。 
  【注释】 
  ① 与: 参与, 参预, 参加。
  王孙贾问曰
  ①
  : 与其媚于奥
  ②
  , 宁媚于灶
  ③
  。何谓也? 子
  曰: 不然。获罪于天, 无所祷也。 【今译】 
  王孙贾问: [人们说]与其奉承奥神, 不如奉承灶神。这话怎么讲? 孔子说: 不是那样。如果得罪了天, 向 祈祷都是没有用的。 
  【注释】 
  ① 王孙贾: 卫灵公时卫国的大夫, 有实权。② 媚: 谄媚, 巴结。 奥: 本义指室内的西南角。这里指屋内西南角的神。古时尊长居西南, 所以奥神的地位应比灶神尊贵些。③ 灶: 本义是炉灶, 用来烹煮食物或烧水。从夏代就以灶为神, 称 灶君, 为 五祀之一, 即老百姓所说的 灶王爷。 旧俗, 阴历腊月二十三(或二十四) 日, 烧纸马, 供奉饴糖, 送灶神上天, 谓之 送灶; 腊月三十日(除夕), 又 回来, 谓之 灶。 灶神地位虽较低, 但上可通天, 决定人的祸福, 故当时人们的俗话才说 宁媚于灶: 祭祀神明时首先要奉承巴结的是灶神。子曰: 周监于二代
  ①
  , 郁郁乎文哉
  ②
  !吾从周。 
   【今译】 
  孔子说: 周代[政治礼乐制度等]是借鉴于夏商两代[而发展演变建立起来的], 多么丰盛啊!我尊从周代[的一切]。 
  【注释】 
  ① 监: 通 鉴。 本义是镜子。引申为照, 考察, 可以作为警戒或引为教训的事。在这里是借鉴于前代的意思。 二代: 指夏、商两个朝代。
  ② 郁郁: 意是草木丰盛茂密的样子, 也指香气浓厚。这里指繁盛, 丰富多彩, 文采显著。
  子入太庙
  ①
  , 每事问。或曰: 孰谓鄹人之子知礼乎②
  ?入
  太庙, 每事问。 子闻之, 曰: 是礼也。 【今译】 
  孔子进入太庙[助祭], 对每件事都询问。有人说: 说鄹邑人的儿子知道礼呢?进入太庙, 每件事都要问一问。 孔子听到, 说: 这样做, 就是礼啊。 【注释】 
  ① 太庙: 古代指供奉祭祀君主祖先的庙。开国的君主叫太祖, 太祖的庙叫太庙。因为周公(姬旦) 是鲁国最初受封的君主, 所以, 当时鲁国的太庙, 就是周公庙。
  ② 孰谓: 说。 鄹(z u邹) 又写为 陬, 郰。 春秋时鲁国的邑名, 在今山东省曲阜市东南一带。孔子的父亲叔梁纥 (é和) 在鄹邑做过大夫。 鄹人, 指叔梁纥。 鄹人之子, 即指孔子。子曰: 射不主皮
  ①
  , 为力不同科
  ②
  , 古之道也。 
   【今译】 
  孔子说: [在举行射礼比赛时, ]射箭主要不在于射穿那皮靶子, 因为各个人的力气大小有所不同, 自古以来就是这个道理。 
  【注释】 
  ① 射不主皮: 射, 射箭。周代仪礼制度中有专门为演习礼乐而举行的射箭比赛, 称 射礼。 这里的 射 即指此。 皮, 指用兽皮做成的箭靶子。古代, 箭靶子叫 侯, 用布做或用皮做。《仪礼 乡射礼》: 礼射不主皮。 射礼比赛, 射箭应当以是否 中的 为主, 而不在于用力去射, 把皮靶子穿透。这与作战比武的 军射 不同。那是提倡用力射的, 有 射甲彻七札(穿透甲革七层) 之说。② 力: 指每个人天生的力气。 科: 指等级, 类别。子贡欲去告朔之饩羊
  ①
  。子曰: 赐也!尔爱其羊
  ②
  , 我爱
  其礼。 
  【今译】 
  子贡主张要把 告朔 时祭祖庙的那头饩羊去掉。孔子说: 端木赐呀!你爱惜的是那头羊, 我爱惜的却是那种礼仪。 【注释】 
  ① 告朔: 阴历的每月初一, 叫 朔。 古代制度, 诸侯在每月的初一来到祖庙, 杀一只活羊举行祭礼, 表示每月 听政 的开始, 叫 告朔。 其实, 在当时的鲁国, 君主已不亲自到祖庙会举行 告朔 礼了。饩(xì戏): 活的牲畜。② 尔: 代词。你。
  子曰: 事君尽礼
  ①
  , 人以为谄也
  ②
  。 
   【今译】 
  孔子说: 事奉君主, 完全按照周礼的规定, 别人却以为这样做是[对君主]谄媚。 
  【注释】 
  ① 事: 事奉, 服务于。
  ② 谄 (ǎn产): 谄媚, 用卑贱的态度向人讨好, 奉承。定公问
  ①
  : 君使臣
  ②
  , 臣事君, 如之何
  ③
  ? 孔子对曰: 
   君使臣以礼, 臣事君以忠。 【今译】 
  鲁定公问: 君主使用臣, 臣事奉君主, 应当怎样呢? 孔子回答: 君主使用臣应当以礼相待, 臣事奉君主应当以忠诚相待。 
  【注释】 
  ① 定公: 鲁国的君主, 姓姬, 名宋, 谥号 定。 襄公之子, 昭公之弟, 继昭公而立。在位十五年(公元前 —前 年)。 鲁定公时, 孔子担任过司寇, 代理过宰相。鲁定公的哥哥昭公, 曾被贵族季氏赶出国外。因此, 鲁定公询问孔子, 如何正确处理君臣关系, 以维持政权。
  ② 使: 使用。
  ③ 如之何: 如何, 怎样。 之 是虚词。子曰: 《关雎》 乐而不淫
  ①
  , 哀而不伤。 
  【今译】 
  孔子说: 《关雎》 篇, [它的主题表现了]快乐, 而不放荡;忧愁, 而不悲伤。 
   【注释】 
  ① 关雎(jū居): 《诗》 第一篇的篇名。因它的首句是 关关雎鸠, 在河之洲。 故名。 雎鸠, 是古代所说的一种水鸟。 关关, 是雎鸠的鸣叫声。这是一首爱情诗。古代也用这首诗作为对婚礼的祝贺词。 淫: 放纵, 放荡, 过分。哀公问社于宰我
  ①
  。宰我对曰: 夏后氏以松
  ②
  , 殷人以柏, 
  周人以栗, 曰: 使民战栗
  ③
  。 子闻之, 曰: 成事不说, 遂事不谏
  ④
  , 既往不咎
  ⑤
  。 
  【今译】 
  鲁哀公问宰我, 祭祀土地神的神主[要用什么木料做牌位]。宰我回答: 夏朝人用松树, 商朝用柏树, 周朝用栗子树。[用栗的意思是]说: 让老百姓战栗。 孔子听了以后, [批评宰我]说: 已 做过的事不用再说了, 已 完成的事不必再劝谏了, 已 过去的事不要再去责备追究了。 【注释】 
  ① 社: 土地神。这里指的是制作代表土地神的木头牌位。 宰我: 姓宰, 名予, 字子我。又称宰我。鲁国人。孔子早年的弟子。② 夏后氏: 本是部落名。相传禹是部落领袖。禹的儿子启, 建立了我国历史上第一个朝代——夏朝。后世指夏朝的人, 就称 夏后氏。 以: 用。 松: 古人以为神要凭借某种东西才能来享受人对神的祭祀, 而把这种所凭借的东西称为 神主 (木制的牌位)。 夏代人用松木做土地神的神主。一说, 是指栽树以作祭祀。夏代人居住在河东(今山西省西南部), 山野适宜栽松树;殷代人居住在北亳(今河南省商丘市以北), 山野适宜栽柏树;周代人, 居住在酆镐 (ēn   ào风浩) (今陕西省西安市西北、西南一带), 山野适宜栽栗树。 ③ 战栗: 因害怕而发抖, 哆嗦。这里, 宰我 让老百姓战栗 的解释有牵强之处, 孔子不满。
  ④ 遂: 已 完成, 成功。 谏(j àn见): 规劝, 使改正错误。⑤ 咎(j ù旧): 责备。
  子曰: 管仲之器小哉
  ①
  ! 或曰: 管仲俭乎? 曰: 管氏有三归
  ②
  , 官事不摄
  ③
  , 焉得俭
  ④
  ? 然则管仲知礼乎? 曰: 邦君树塞门
  ⑤
  , 管氏亦树塞门。邦君为两君之好, 有反坫⑥
  , 
  管氏亦有反坫。管氏而知礼, 孰不知礼? 【今译】 
  孔子说: 管仲的器量小啊! 有人问: 管仲节俭吗? [孔子]说: 管仲家收取老百姓大量的市租, 为他家管事的官员也是一人一职而不兼任, 哪能说是节俭呢? [那人又问: ] 那么, 管仲知礼吗? [孔子]说: 国君在宫殿大门前树立一道影壁短墙, 管仲家门口也树立影壁短墙。国君设宴招待别国的君主, 举行友好会见时, 在堂上专门设置献过酒后放空 子的土台, 管仲家也设置这样的土台。若说管仲知礼, 那 算不知礼呢? 
  【注释】 
  ① 管仲: 姓管, 名夷吾, 字仲。一名管敬仲。齐国姬姓之后人。颍(yǐn 影) 上(今安徽省西北部, 淮河北岸, 颍河下游) 人。生年不详, 卒于公元前 年。春秋初期有名的政治家。帮助齐桓公以 尊王攘夷 相号召, 使桓公成为春秋时诸侯中第一个霸主。孔子与管仲的政见不一致, 对管仲违背周礼的某些做法, 孔子进行了批评。器: 气量, 度量, 胸襟。
  ② 有三归: 指管仲将照例归公的市租据为己有。 三归, 指市 租。
  ③ 摄: 兼任, 兼职。当时, 大夫的家臣, 都是一人常兼数事。而管仲却是设许多管事的家臣, 一人一事一职。④ 焉得: 怎么可以, 哪能算是。⑤ 邦君: 诸侯, 国君。 树: 树立, 建立。 塞门: 塞, 遮蔽。古代, 天子和诸侯, 在宫殿大门口筑上一道短墙作为遮蔽物, 以区别内外。也称 萧墙, 相当于后世所说的 照壁, 影壁。 天子的塞门在大门之外, 诸侯的塞门在大门之内。⑥ 反坫: 坫 (àn电), 古代设于堂中, 供祭祀或宴会时放礼器和酒具的土台子。反坫, 是诸侯宴会时的一种礼节。指君主招待别国国君, 举行友好会见, 献过酒之后, 把空 子放回坫上。子语鲁大师乐
  ①
  , 曰: 乐其可知也: 始作, 翕如也②
; 从
  之
  ③
  , 纯如也
  ④
  , 皦如也
  ⑤
  , 绎如也
  ⑥
  , 以成。 
  【今译】 
  孔子对鲁国的乐官谈演奏音乐, 说: 奏乐的道理是可以知道的: 开始时合奏和谐 调;乐曲展开以后, 很美好, 节奏分明, 又连绵不断, 直到乐曲演奏终了。 【注释】 
  ① 语: 动词。对 说。 大师: 大, 同 太。 大师, 就是 太师, 是国家主管音乐的官。② 翕(xī西): 和顺, 调。一说, 兴奋, 热烈。③ 从: 通 纵。 放纵, 展开。④ 纯: 美好, 善, 佳。
  ⑤ 皦(j ǎo饺): 明亮, 清晰, 音节分明。⑥ 绎(yì意): 连续, 连绵不断。 仪封人请见
  ①
  , 曰: 君子之至于斯也
  ②
  , 吾未尝不得见
  也。 从者见之
  ③
  。出曰: 二三子何患于丧乎
  ④
  ?天下之无道
  也, 天将以夫子为木铎
  ⑤
  。 
  【今译】 
  有一位在仪地防守边界的官员, 请求见孔子。他说: 凡是君子到这地方来的, 我从来没有不能见的。 随从孔子的弟子领这官员去见了孔子。这官员出来以后, [对孔子的弟子们]说: 你们几位何必担心[孔子]没有官职呢?天下无道, 上天必将以孔子做为发布政令的木铎。 【注释】 
  ① 仪封人: 仪, 地名, 卫国的一个邑, 在今河南省兰考县境内。 封, 边界。仪封人, 指在仪这个地方镇守边界的官员。一说, 封人仪姓。孔子周游列国, 到过陈(今河南省淮阳县) 、蔡(今河南省上蔡县西南) 一带, 故能与仪地边界的官员见面。② 斯: 代词。这个地方。
  ③ 从者: 随从孔子的弟子。
  ④ 二三子: 这里是称呼孔子弟子。 二三, 表示约数, 犹言 各位。 子, 对人的尊称。 患: 担忧, 犯愁, 担心。 丧: 失去。这里指孔子失掉官位, 没有官职。孔子 为鲁国的司寇, 后离鲁去卫, 又去陈, 政治抱负未能实现。
  ⑤ 木铎: 铎 (uó夺), 一种金口木舌的大 铃。古代以召集群众, 下通知, 宣布政教法令, 或在有战事时使用。这里是以 木铎 作比喻, 说孔子将能起到为国家发布政令的作用(管理天下)。 子谓《韶》 
  ①
  : 尽美矣
  ②
  , 又尽善也
  ③
  。 谓《武》 
  ④
  : 尽美
  矣, 未尽善也。 
   【今译】 
  孔子谈到《韶》 这一乐舞说: 美极了啊, 又好极了。 谈到《武》 这一乐舞说: 美极了啊, 还不够很好。 【注释】 
  ① 韶(s áo勺): 传说上古虞舜时的一组乐舞, 也叫 大韶。 古解: 韶 就是 绍(继承), 舞乐主题表现了 舜绍尧之道德, 即指虞舜通过禅让继承帝位, 故舞乐中有一种太和之气, 可以称为 尽善。 
  ② 美: 指乐舞的艺术形式, 音调声容之盛美。③ 善: 指乐舞的思想内容, 蕴藉内 之美。④ 武: 周代用于祭祀的 六舞 之一, 是表现周武王战胜殷纣王的一组音乐和舞蹈, 也叫 大武。 古解: 武王用武除暴, 为天下所乐。《诗 周颂》 中有《武》 篇, 为武王克殷后作, 乃赞颂武王武功的乐舞歌词。孔子认为武王伐纣虽顺应天意民心, 但毕竟 过征战, 故说 未尽善。 
  子曰: 居上不宽
  ①
  , 为礼不敬
  ②
  , 临丧不哀, 吾何以观之
  哉! 
  【今译】 
  孔子说: 居上位, 待人不宽厚;举行仪礼时不恭敬;参加丧礼时不表示哀悼, 我如何能看得下去呢? 【注释】 
  ① 上: 上位, 高位。 宽: 待人宽厚, 宽宏大量。② 敬: 恭敬, 郑重, 慎重。
   里仁篇第四
  (共二十六章) 
  主要讲仁德的道理。
  子曰: 里仁为美
  ①
  。择不处仁
  ②
  , 焉得知
  ③
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 居住在有仁德的地方才是美好的。如果不选择有仁德的住处, 哪能算得上是明智呢? 【注释】 
  ① 里: 邻里。周制, 五家为邻, 五邻(二十五家) 为里。这里用作动词, 居住。 仁: 讲仁德而又风俗淳厚的地方。一说, 有仁德的人。文中的意思就是: 与有仁德的人居住在一起, 为邻里。② 处: 居住, 在一起相处。
  ③ 焉: 怎么, 哪里, 哪能。
  子曰: 不仁者不可以久处约
  ①
  , 不可以长处乐
  ②
  。仁者安
  仁, 知者利仁
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 没有仁德的人, 不能长久过穷困生活, 也不能长久过安乐生活。有仁德的人才能安心于实行仁德, 有智慧的人才能善于利用仁德。 
   【注释】 
  ① 约: 贫困, 俭约。
  ② 乐: 安乐, 富裕。
  ③ 知: 同 智。 
  子曰: 唯仁者能好人
  ①
  , 能恶人
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 只有有仁德的人, 才能[公正得当的]喜爱某人, 憎恨某人。 
  【注释】 
  ① 好 (ào号): 喜爱, 喜欢。② 恶(wù务): 厌恶, 讨厌。子曰: 苟志于仁矣
  ①
  , 无恶也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: [一个人]如果立志去实行仁德, 那就不会去做坏事了。 
  【注释】 
  ① 苟: 假如, 如果。 志: 立志。② 恶: 坏, 坏事。
  子曰: 富与贵, 是人之所欲也;不以其道得之, 不处也①
  。
  贫与贱, 是人之所恶也;不以其道得之, 不去也②
  。君子去仁, 
  恶乎成名
  ③
  ?君子无终食之间违仁
  ④
  , 造次必于是
  ⑤
  , 颠沛必于
  是
  ⑥
  。 
   【今译】 
  孔子说: 发财和升官, 是人们所想望的, [然而, ]若不是用正当的方法去获得, 君子是不接受的。生活穷困和地位卑微, 是人们所厌恶的, [然而, ]若不是用正当的方法去摆脱, 君子是受而不避的。君子假如离开仁德, 如何能成名呢?君子是连吃完一顿饭的工夫也不能违背仁的。[即使是]在最紧迫的时刻也必须按仁德去做, [即使是]在流离困顿的时候也必须按仁德去做。 
  【注释】 
  ① 处: 享受, 接受。
  ② 去: 避开, 摆脱。
  ③ 恶: 同 乌。 相当于 何。 疑问副词。怎样, 如何。④ 终食之间: 吃完一顿饭的工夫。 违: 违背, 离开。⑤ 造次: 紧迫, 仓卒, 急迫。 必于是: 必须这样做。 是, 代词。这, 此。
  ⑥ 颠沛: 本义是跌倒, 偃仆。引申为穷困, 受挫折, 流离困顿。子曰: 我未见好仁者, 恶不仁者。好仁者, 无以尚之①
; 
  恶不仁者, 其为仁矣, 不使不仁者加乎其身。有能一日用其力于仁矣乎?我未见力不足者。盖有之矣②
  , 我未之见也
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我没见过爱好仁德的人, 没见过厌恶不仁的人。爱好仁德的人, 是无法超过的;厌恶不仁的人, 在实行仁德时, 不会让不仁德的人影响自己。有能在某一天用自己的力量去实行仁德的吗?我还没见过[实行仁德而]力量不够的。这样的人会有的, 但我没见过。 【注释】 
  ① 尚: 超过。
  ② 盖: 发语词。表示肯定的语气。③ 未之见: 未见之。没看到过这种人或这种情况。子曰: 人之过也, 各于其党
  ①
  。观过, 斯知仁矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 人的错误, 各自同他那一类的人一样。观察一个人犯的什么错误, 就能知道是哪一类的人了。 【注释】 
  ① 党: 本指古代地方组织, 五百家为党。引申为朋辈, 意气相投的人, 同类的人。
  ② 斯: 代词。那。 仁: 同 人。 一说, 仁德。句中的意思则是: 观察一个人犯的什么错误, 就能知道是不是有仁德了。子曰: 朝闻道
  ①
  , 夕死可矣。 
  【今译】 
  孔子说: 早上明白知晓了真理, 晚上就死去, 也是可以的。 
  【注释】 
  ① 闻: 听到, 知道, 懂得。 道: 此指某种真理, 道理, 则。也即我们所说的儒家之道。
  子曰: 士志于道
  ①
  , 而耻恶衣恶食者, 未足与议也。 【今译】 
  孔子说: 士有志于道, 而又以穿的衣服不好吃的饭菜不 好为耻辱, [这种人]是不值得与他谈论的。 【注释】 
  ① 士: 读书人, 一般的知识分子, 小官吏。子曰: 君子之于天下也, 无适也, 无莫也①
  , 义之与比
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子对于天下[事情的处理], 没有一定要做的, 也没有一定不要做的, 而是服从于义。 【注释】 
  ① 适, 莫: 各家有三种解释: 一、 适, 厚。 莫, 薄。 无适无莫, 是一视同仁, 对人用情无亲疏厚薄, 不要有的亲近, 有的冷。 二、 适, 通 敌, 指敌对。 莫, 通 慕, 爱慕。 无适无莫, 是 无所为仇, 无所欣慕。 三、 适 (í笛), 主, 专主, 固定不变。 莫, 不肯, 没有。 无适无莫, 是无可无不可, 没有一成不变的。天下的事, 事无定形, 而有定理。君子处理天下的事, 没有一定要做的, 也没有一定不要做的, 而是唯义是从, 只要符合义——合情合理, 合于正义, 该做便做, 不该做便不做, 怎么干合适恰当就怎么干。这是朱熹《四书集注》 的说法。本书取此说。② 义之与比: 与义靠近, 向义靠拢, 也就是 与义比之。 比 (ì毕), 从, 靠近, 亲近。子曰: 君子怀德, 小人怀土;君子怀刑①
  , 小人怀惠。 
  【今译】 
  孔子说: 君子关心的是道德教化, 小人关心的是乡土田宅;君子关心的是法度, 小人关心的是实惠。【注释】 
  ① 刑: 指法度, 典范。
   子曰: 放于利而行
  ①
  , 多怨。 
  【今译】 
  孔子说: 为追求私利而行动, 会招来许多人的怨恨。 【注释】 
  ① 放: 通 仿。 仿照, 效法, 依照。引申为一味追求。子曰: 能以礼让为国乎
  ①
  , 何有
  ②
  ?不能以礼让为国, 如
  礼何? 
  【今译】 
  孔子说: 能够以礼让[的 则]来治理国家, 那还有什么困难呢?[如果]不能以礼让来治国, 如何能实行周礼呢? 【注释】 
  ① 礼让: 按照周礼, 注重礼仪与谦让。② 何有: 有何, 有什么。这里的意思指还有什么困难。子曰: 不患无位, 患所以立
  ①
  。不患莫己知, 求为可知
  也。 
  【今译】 
  孔子说: 不担忧没有官职地位, 担忧的是自己没有能用以站得住脚的[学问与本领]。不担忧没有人知道自己, 只求自己能成为值得别人知道的人。 【注释】 
  ① 立: 站得住脚, 有职位, 在社会有立足之地。子曰: 参乎!吾道一以贯之。 曾子曰: 唯①
  。 子出, 
   门人问曰: 何谓也? 曾子曰: 夫子之道忠恕而已矣②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 曾参啊!我所主张的‘道’ 是由一个根本的宗旨而贯彻始终的。 曾子说: 是的。 孔子走出去以后, 别的弟子问[曾参]: [老师的话]是什么意思? 曾子说: 老师所主张的道, 不过是忠恕罢了。 【注释】 
  ① 唯: 在这里是应答词。是的。② 忠: 忠诚, 真挚诚恳。 恕: 不计较别人的过错, 对别人宽容。
  子曰: 君子喻于义
  ①
  , 小人喻于利
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子懂得义, 小人只知道利。 【注释】 
  ① 喻: 知道, 明白, 懂得。 义: 公正合宜的道理或举动, 合乎正义。
  ② 利: 私利, 财利。
  子曰: 见贤思齐焉
  ①
  , 见不贤而内自省也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 看到贤人, 就应该想到要向他看齐;看到不贤的人, 就应该自我反省。 
  【注释】 
  ① 贤: 贤人, 有德行有才能的人。 齐: 平等, 向 看齐, 与 同等。
   ② 省(xǐn 醒): 反省, 内省, 检查自己的思想行为。子曰: 事父母几谏
  ①
  。见志不从, 又敬不违, 劳而不怨②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 侍奉父母, [假如他们有什么不对的地方, ]要委婉地进行劝说。看到父母从心里不愿听从意见, 还是要恭恭敬敬, 而不要违背;为父母而操劳, 也不要怨恨。 【注释】 
  ① 几(jī基): 委婉, 轻微, 隐微。② 劳: 操劳, 辛劳。一说, 忧愁。子曰: 父母在, 不远游
  ①
  , 游必有方
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 父母在世, 不要远离家乡;[非要]离开家乡[不可], 也必须有一定的地方。 【注释】 
  ① 游: 离家出游。如 游学 、 游宦。 ② 游必有方: 指让父母知道所游的确定地方, 而不要无固定地方地随处飘泊, 致使父母挂念担心。 方, 方向, 方位。子曰: 三年无改于父之道, 可谓孝矣①
  。 
  【今译】 
  孔子说: [父亲死后]如果三年都不改变他父亲所坚持的 则, 可以说是做到了孝。 【注释】 
  ①  三年 句: 又见《学而篇第一》 第十章。 子曰: 父母之年, 不可不知也。一则以喜, 一则以惧①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 父母的年龄, 不可以不知道。一方面为他们[年高]而喜欢, 一方面为他们[年高]而担心。 【注释】 
  ① 惧: 父母年纪大了就必然日益衰老、接近死亡, 故忧惧担心。子曰: 古者言之不出
  ①
  , 耻躬之不逮也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 古代的人不[轻易]把话说出来, 认为说出却做不到是耻辱的。 
  【注释】 
  ① 古者: 古代的人, 也往往指古代有统治地位的、做官的人。② 耻: 羞愧, 耻辱。在这里是意动用法, 以 为耻。 行 比 言 难, 行 往往赶不上 言; 说了话, 如果做不到, 就会感到失信的耻辱。躬: 亲身, 亲自。这里指自己的行动。 逮: 赶上。子曰: 以约失之者鲜矣
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 常能约束自己的人, 过失就少了。 【注释】 
  ① 约: 约束, 检束, 谨慎节制。这里指以一种立身处世的 则标准 常来约束自己。 失: 过失, 犯错误。 鲜: 少。子曰: 君子欲讷于言
  ①
  , 而敏于行
  ②
  。 
   【今译】 
  孔子说: 君子要谨慎地说话, 而要敏捷地行动。 【注释】 
  ① 讷: 本义是说话言语迟钝。这里指说话谨慎, 留有分寸。② 敏于行: 行, 行动, 行为。《四书集注》 说: 放言易, 故欲讷;力行难, 故欲敏。 意思与《学而篇第一》 第十四章 敏于事而慎于言 相同。可参阅。
  子曰: 德不孤, 必有邻
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 有道德的人不会孤立, 必然有同他相亲近的人。 
  【注释】 
  ① 邻: 邻人, 邻居。这里指思想品格一致, 志向相同, 能共同合作的人。
  子游曰: 事君数
  ①
  , 斯辱矣
  ②
; 朋友数, 斯疏矣。 
  【今译】 
  子游说: 事奉君主, [如果]频繁地反复提意见, 就会招致羞辱;对待朋友, [如果]频繁地反复提意见, 就会造成疏远。 
  【注释】 
  ① 数(s uò硕): 屡次, 多次。这里指频繁、烦琐地提意见, 过分地反复进行劝谏。《四书集注》 说: 事君, 谏不行, 则当去;导友, 善不纳, 则当止。至于烦渎, 则言者轻、听者厌矣。是以求荣而反辱, 求亲而反疏也。 一说, 数 读s ǔ(音暑)。 列举, 数落, 当面指责。 则本章的意思是: 应注意批评的方式方法, 不要当面直说、指出对方的过失加以责备;这样做, 反而使对方脸面上下不来台, 不容易接受, 致 辱 致 疏。 
  ② 斯: 副词。就。
   公冶长篇第五
  (共二十八章) 
  主要讲古今人物的贤否得失。
  子谓公冶长
  ①
  : 可妻也
  ②
  。虽在缧绁之中
  ③
  , 非其罪也。 
  以其子妻之
  ④
  。
  【今译】 
  孔子说到公冶长: 可以把女儿嫁给他。他虽然被囚禁在监狱中, 但不是他有罪过。 〔于是〕 把女儿嫁给了公冶长。【注释】 
  ① 公冶长: 姓公冶, 名长, 字子芝。鲁国人(一说, 齐国人)。 孔子的弟子。传说懂得鸟语。
  ② 妻: 本是名词, 在这里作动词用, 读qì(音气)。 把女儿嫁给他。
  ③ 缧绁(lé  X è雷谢): 捆绑犯人用的黑色的长绳子。这里代指监狱。
  ④ 子: 指自己的女儿。
  子谓南容
  ①
  : 邦有道
  ②
  , 不废
  ③
; 邦无道, 免于刑戮
  ④
  。 以
  其兄之子妻之。
   【今译】 
  孔子谈论南容, 说: 国家有道的时候, 他被任用做官;国家无道的时候, 他也会避免受刑戮。 〔于是〕 把哥哥的女儿嫁给了南容。
  【注释】 
  ① 南容: 姓南宫, 名适(kuò阔), 一作 括, 又名縚(tāo涛), 字子容。鲁国孟僖子之子, 孟懿子之兄(一说, 弟), 本名仲孙阅, 因居于南宫, 以之为姓。谥号敬叔, 故也称南宫敬叔。孔子的弟子。
  ② 邦有道: 指社会秩序好, 政治清明, 局面稳定, 政权巩固, 国家太平兴盛。
  ③ 废: 废弃, 废置不用。
  ④ 刑戮: 戮(lù路), 杀。刑戮, 泛指受刑罚, 受惩治。子谓子贱
  ①
  : 君子哉若人
  ②
  !鲁无君子者, 斯焉取斯
  ③
  ? 
  【今译】 
  孔子谈论子贱, 说: 真是君子啊这个人!假如鲁国没有君子, 他从哪里取得这种品德呢? 【注释】 
  ① 子贱: 姓宓 (ú浮), 名不齐, 字子贱, 鲁国人。公元前 年生, 卒年不详。孔子的弟子。子贱曾任单父(今山东省单县) 宰, 史称: 有才智, 爱百姓, 身不下堂, 鸣琴而治。能尊师取友, 以成其德。 著有《宓子》 十六篇。
  ② 若: 代词。此, 这。
  ③ 斯: 代词。在句中, 第一个 斯, 是代指子贱这个人。第二个 斯, 是代指君子的品德。 焉: 疑问代词。哪里, 怎么, 怎样。  取: 取得, 获得。
  子贡问曰: 赐也何如
  ①
  ? 子曰: 女
  ②
  , 器也。 曰: 何
  器也? 曰: 瑚琏也
  ③
  。 
  【今译】 
  子贡问孔子: 我端木赐怎么样呢? 孔子说: 你, 是个有用的器具。 〔子贡〕 问: 是个什么器具呢? 〔孔子〕 说: 是瑚琏。 
  【注释】 
  ① 何如: 如何, 怎样。
  ② 女: 汝, 你。
  ③ 瑚琏: 古代祭祀时盛粮食(黍稷) 用的一种贵重的器具, 竹制, 上面用玉装饰, 很华美, 有方形的, 有圆形的, 夏代称 瑚, 殷代称 琏。 在这里, 孔子用 瑚琏 比喻子贡, 虽是有用之材, 但也不过仅有一种具体的才干, 达不到最高标准的 君子不器。 或曰
  ①
  : 雍也仁而不佞
  ②
  。 子曰: 焉用佞?御人以口给③
  , 
  屡憎于人。不知其仁, 焉用佞? 【今译】 
  有的人说: 冉雍啊, 有仁德, 而不能言善辩。 孔子说: 何必要能言善辩呢?〔能说会道的人〕 同人家顶嘴, 嘴快话多, 常常引起别人的厌恶不满。我不知道冉雍是不是做到有仁德, 但哪里用得上能言善辩呢? 【注释】 
  ① 或: 代词。有的人。
  ② 雍: 姓冉, 名雍, 字仲。 鲁国人。生于公元前 年, 卒 年不详。孔子的弟子。 佞(nìn 泞): 强嘴利舌, 巧言花语。③ 御: 抗拒, 抵抗。这里指辩驳对方, 与人顶嘴。 口给: 给(jǐ挤), 本义是丰足, 也指言语敏捷。口给, 指嘴巧, 嘴快话多。孔子反对 巧言乱德 的人。
  子使漆雕开仕
  ①
  , 对曰: 吾斯之未能信
  ②
  。 子说
  ③
  。
  【今译】 
  孔子让漆雕开去做官, 〔漆雕开〕 回答: 我对做官还没有信心。 孔子〔听了这话〕 很高兴。【注释】 
  ① 漆雕开: 姓漆雕, 名开, 字子开(一说, 字子若)。 蔡国人(一说, 鲁国人)。 公元前 年生, 卒年不详。孔子弟子。②  吾斯 句: 吾未能信斯 的倒装。 斯, 做官的事。 信, 信心, 相信, 自信。这话是说自己还没有达到 学而优则仕 的程度。
  ③ 说: 同 悦。 
  子曰: 道不行, 乘桴浮于海
  ①
  。从我者
  ②
  , 其由与
  ③
  ! 子
  路闻之喜。子曰: 由也好勇过我, 无所取材④
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我的道得不到实行, 就乘木筏漂到海上去。能跟随我的人, 可能只有仲由吧! 子路听了这话很高兴。孔子却说: 仲由啊, 争强好勇超过了我, 〔其他方面〕 没有什么可取的。 
  【注释】 
  ① 桴 (ú扶): 用竹或木编成当船用的水上交通工具, 大的叫 筏, 小一点的叫 桴。 ② 从: 跟从, 跟随。
  ③ 其: 语助词, 表示揣测。大概, 可能。与: 同 欤。 语助词, 表疑问, 与 乎 同。
  ④ 材: 同 哉。 语助词。一说, 同 才。 才能, 本领。另说, 同 裁。 裁度事理。
  孟武伯问: 子路仁乎? 子曰: 不知也。 又问。子曰: 由也, 千乘之国, 可使治其赋也①
  , 不知其仁也。 求也何
  如? 子曰: 求也, 千室之邑②
  , 百乘之家
  ③
  , 可使为之宰也
  ④
  , 
  不知其仁也。 赤也何如
  ⑤
  ? 子曰: 赤也, 束带立于朝⑥
  , 可
  使与宾客言也, 不知其仁也。 【今译】 
  孟武伯问: 子路能做到仁吗? 孔子说: 不知道。 他又问。孔子说: 仲由啊, 在一个有一千辆兵车的国家里, 可以让他管理赋税, 掌握军政, 但是我不知道他能不能做到仁。 孟武伯问: 冉求怎么样? 孔子说: 冉求啊, 可以让他在一个有一千户人家的公邑, 或在有一百辆兵车的采邑里, 担任总管。但是我不知道他能不能做到仁。 孟武伯问: 公西赤怎么样? 孔子说: 公西赤啊, 可以让他穿上礼服, 系上袍带, 站在朝廷大堂上, 接待宾客, 但是我也不知道他能不能做到仁。 
  【注释】 
  ① 治其赋: 古代以田赋地税出兵役, 故称兵为赋。治其赋, 含有负责管理军事政治的意思。
  ② 邑: 古代居民的聚居点, 相当于后世的城镇, 周围的土地也 归属于邑。邑, 又可分为 公邑, 采邑。 公邑, 是直辖于诸侯的领地属地; 采邑, 是由诸侯分封给所属的卿、大夫的领地。文中 千室之邑, 指的是居有一千户人家的城邑, 当指 公邑。 ③ 家: 指的是卿、大夫的采地食邑。家, 可设 家臣, 以管理政务。
  ④ 宰: 最早的意思是奴隶的总管。后来是官吏的通称。邑的行政长官也称宰(相当于县长)。 ⑤ 赤: 姓公西, 名赤, 字子华, 鲁国人。公元前 年生, 卒年不详。孔子的弟子。
  ⑥ 束带: 整理衣服, 扎好衣带。这里指穿上礼服去上朝。子谓子贡曰: 女与回也
  ①
  , 孰愈
  ②
  ? 对曰: 赐也何敢望
  回
  ③
  ?回也闻一以知十, 赐也闻一以知二。 子曰: 弗如也④
  , 
  吾与女, 弗如也
  ⑤
  。 
  【今译】 
  孔子问子贡: 你与颜回相比, 更强一些? 子贡回答: 我怎么敢同颜回比呢?颜回听到一件事可以推测知道十件事, 我听到一件事只能推知两件事。 孔子说: [你]是不如他, 我赞同你的话, [你]是不如他。 【注释】 
  ① 女: 汝, 你。
  ② 孰:。  愈: 胜过, 更好, 更强。③ 望: 比。
  ④ 弗: 不。
  ⑤ 与: 动词。赞同, 同意。
   宰予昼寝。子曰: 朽木不可雕也, 粪土之墙不可杇也①
  。
  于予与何诛
  ②
  ? 子曰: 始吾于人也, 听其言而信其行;今吾于人也, 听其言而观其行。于予与改是③
  。 
  【今译】 
  宰予白天睡大觉。孔子说: 〔真像是〕 腐朽的木头不能再雕刻什么了, 粪土的墙壁不能再粉刷了。对于宰予这个人, 何必再谴责他呢? 孔子又说: 开始时, 我对于人, 是听了他的话便相信他的行为;现在, 我对于人, 是听了他的话还要观察他的行为。宰予这个人使我改变了观察人的方法。 【注释】 
  ① 杇(wū污): 同 圬。 本指用灰泥抹墙的工具, 俗称 抹子。 这里作动词用, 指粉刷墙壁。② 与: 同 欤。 语气词, 在这里表停顿。 诛: 谴责, 责备, 指责。
  ③ 是: 代词。此, 这。在这里指代观察人的方法。子曰: 吾未见刚者。 或对曰: 申枨①
  。 子曰: 枨也
  欲
  ②
  , 焉得刚? 
  【今译】 
  孔子说: 我没见过刚强不屈的人。 有人回答: 申枨〔是刚强的人〕。 孔子说: 申枨啊, 个人欲望太多, 怎么能刚强? 
  【注释】 
  ① 申枨 (én 成): 姓申, 名枨, 字周, 鲁国人。孔子的弟子。一说, 就是申党(见《史记 仲尼弟子列传》)。 另作 申棠。 ② 欲: 欲望多。
   子贡曰: 我不欲人之加诸我也①
  , 吾亦欲无加诸人。 子
  曰: 赐也, 非尔所及也
  ②
  。 
  【今译】 
  子贡说: 我不愿别人〔把某事〕 强加给我, 我也愿意不〔把事情〕 强加给别人。 孔子说: 端木赐呀, 这不是你所能做到的。 
  【注释】 
  ① 诸: 之于 的合音。
  ② 尔: 你。
  子贡曰: 夫子之文章
  ①
  , 可得而闻也;夫子之言性与天道
  ②
  , 不可得而闻也。 
  【今译】 
  子贡说: 老师关于文献方面的学问, 我们可以学到领会;老师关于人性和天道的论述, 我们却学不到领会不到。 【注释】 
  ① 文章: 指礼乐法度、诗、书、史等各种古代文献中的学问。② 性: 人的自然本性。 天道: 天命。这里指自然万物和人类社会的吉凶祸福的关系。
  子路有闻, 未之能行, 唯恐有闻①
  。
  【今译】 
  子路听到某一道理, 在还没实行的时候, 唯恐又听到另一道理。
   【注释】 
  ① 有: 同 又。 
  子贡问曰: 孔文子何以谓之‘文’ 也①
  ? 子曰: 敏而
  好学, 不耻下问, 是以谓之‘文’ 也。 【今译】 
  子贡问道: 孔文子〔的谥号〕 为什么称‘文’ 呢? 孔子说: 〔他〕 聪敏, 爱好学习, 向下面的人请教而不以为耻, 所以称他为‘文’。 
  【注释】 
  ① 孔文子: 卫国的执政上卿, 姓孔, 名圉(yǔ雨), 字仲叔。 文, 是谥号。古代, 帝王、贵族、大臣等死后, 根据他生前的品德、事迹, 所给予的表示褒贬的称号称谥号。 子, 是对孔圉的尊称。孔圉死于鲁哀公十五年(公元前 年)。 子谓子产
  ①
  : 有君子之道四焉: 其行己也恭, 其事上也敬, 其养民也惠, 其使民也义。 【今译】 
  孔子说到子产: 〔他〕 具有君子的四种道德: 在行为方面, 他自己很庄重, 谦逊谨慎;他事奉君主, 很恭敬顺从;他对待人民, 注意给予恩惠利益;他役使人民, 注意合乎义理。 【注释】 
  ① 子产: 名侨, 字子产, 郑国大夫, 是郑穆公的孙子, 公子发之子, 担任过正卿(相当于宰相)。 生年不详, 卒于公元前 年。是春秋末期杰出政治家。他在郑简公、郑定公时, 执政二十二年, 有过许多改革措施, 因而得到人民的拥护。当时曾被孔子称为 仁人, 惠人。 
  子曰: 晏平仲善与人交
  ①
  , 久而敬之
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 晏平仲善于同别人交往, 相处愈久, 别人愈尊敬他。 
  【注释】 
  ① 晏平仲: 姓晏, 名婴, 字仲。夷维(今山东省高密县) 人。齐国大夫, 历任灵公、庄公、景公三世, 曾任宰相, 是当时著名政治家。生年不详, 卒于公元前 年。死后, 谥号为 平, 故称他 晏平仲。 传世有《晏子春秋》, 系战国时人收集晏婴的言行编 而成。善: 在某一方面具有特长, 擅长, 长于。② 之: 代词, 代晏婴。一说, 之 指代朋友。此句意思是: 晏婴与友处久, 仍敬友如新。
  子曰: 臧文仲居蔡
  ①
  , 山节藻棁
  ②
  , 何如其知也
  ③
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 臧文仲为大乌龟盖了房子, 把房子的斗拱雕成山形, 房梁短柱上 了水草, 〔这个人〕 怎么能说是明智呢? 【注释】 
  ① 臧文仲: 鲁国的大夫, 姓臧孙, 名辰, 字仲。生年不详, 卒于公元前 年。死后谥号 文。 曾被孔子批评为 不仁 不智。 居蔡: 蔡, 春秋时的蔡国, 在今河南省上蔡、新蔡一带。蔡国出产大乌龟。据《淮南子 说山训》: 大蔡神龟, 出于沟壑。 这里用 蔡 代指大乌龟。 居, 居处, 房子。这里用作动词。古代常用乌龟壳来占卜吉凶, 居蔡 是指为大乌龟盖上房子藏起来以备占卜用。 ② 山节藻棁: 节, 是房柱子头上的斗拱; 山节, 是把斗拱雕刻成山的形状。 藻, 是水草; 棁(z u 桌), 是房子大梁上的短柱; 藻棁, 是把短柱上 上花草图案。山节藻棁, 也就是俗说的 雕梁 栋, 是古代建筑物的豪华装饰, 只有天子才能把大乌龟壳藏在如此豪华的房屋里。臧文仲也这样做, 显然是 越礼 行为。③ 何如: 如何, 怎么。 知: 同 智。 明智, 懂事理。子张问曰: 令尹子文三仕为令尹①
  , 无喜色;三已之
  ②
  , 
  无愠色。旧令尹之政, 必以告新令尹。何如? 子曰: 忠矣。 曰: 仁矣乎? 曰: 未知。焉得仁? 崔子弑齐君③
  , 陈文
  子有马十乘
  ④
  , 弃而违之
  ⑤
  , 至于他邦, 则曰: ‘犹吾大夫崔子也。’ 违之。之一邦, 则又曰: ‘犹吾大夫崔子也。’ 违之。何如? 子曰: 清矣。 曰: 仁矣乎? 曰: 未知。焉得仁? 【今译】 
  子张问孔子: 令尹子文几次担任宰相, 没表现出高兴的脸色;几次被罢免, 也没表现出怨恨的脸色。〔每次免职时〕 一定把自己旧日的一切政令公务告诉新任的宰相。〔这个人〕 怎么样呢? 孔子说: 够得上忠啊。 〔子张〕 说: 够得上仁了吗? 〔孔子〕 说: 不知道。这怎么能算是仁呢? 〔子张又问:〕 崔子杀了齐庄公, 陈文子有四十匹马, 舍弃不要, 离开齐国。到了另一国, 说: ‘〔这里的执政者〕 好比我国的大夫崔子一样。’ 又离开了。再到另一国, 又说: ‘〔这里的执政者〕 好比我国的大夫崔子一样。’ 又离开了。〔那么, 这个人〕 怎样呢? 孔子说: 够得上清白了。 〔子张〕 说: 够得上仁了吗? 〔孔子〕 说: 不知道。这怎么能算是仁呢? 【注释】 
  ① 令尹: 楚国的官职名, 相当于宰相。 子文: 姓鬬 (òu豆), 名穀於菟 (òu wū tú构乌徒), 字子文, 是楚国著名的贤相。 三仕: 三, 是虚数, 不一定只指三次, 而是代表多次, 几次。 仕, 是做官, 担任职务。
  ② 三已: 多次被免职。 已, 本义是停止, 完, 毕。这里指罢免, 去职。
  ③ 崔子: 指齐国大夫崔杼(z ù助)。 他把齐庄公杀了。 弑(s ì式): 古时称臣杀死君主或子女杀死父母。 齐君: 指齐庄公。姓姜, 名光。
  ④ 陈文子: 齐国的大夫, 名须无。崔杼杀死齐庄公时, 陈文子离开齐国, 两年后又返回。
  ⑤ 违: 离别, 离开。
  季文子三思而后行
  ①
  。子闻之, 曰: 再
  ②
  , 斯可矣。 
  【今译】 
  季文子要三次考虑以后才去做某一件事。孔子听到这事, 说: 考虑两次, 就可以了。 【注释】 
  ① 季文子: 鲁国的大夫, 姓季孙, 名行父。 文 是他死后的谥号。生年不详, 卒于公元前 年。历仕鲁文公、鲁宣公, 至鲁成公、鲁襄公时担任正卿。史称他 无衣帛之妾, 无食粟之马, 无金玉重器, 忠于公室者也。 因他世故太深, 过为谨慎, 遇事计较祸福利害太多, 容易徇私, 私意起而反惑。所以, 孔子才说了这番话。孔子还曾说: 事有贵于刚决, 多思转多私。 也是这个意思。② 再: 再次, 第二次。作副词用, 后面省略了动词 思。 子曰: 宁武子
  ①
  , 邦有道, 则知
  ②
; 邦无道, 则愚
  ③
  。其
  知可及也, 其愚不可及也。 
  【今译】 
  孔子说: 宁武子, 当国家有道的时候, 他显得聪明;当国家无道的时候, 他就装傻。他的那种聪明, 别人是可以赶得上的;他的那种装傻, 别人可就赶不上了。 【注释】 
  ① 宁武子: 卫国人, 庄公之子, 文公、成公时的大夫。姓宁, 名俞。 武, 是他死后的谥号。② 知: 同 智。 
  ③ 愚: 本义是愚笨。这里指装傻。子在陈曰
  ①
  : 归与
  ②
  !归与!吾党之小子狂简
  ③
  , 斐然成
  章
  ④
  , 不知所以裁之
  ⑤
  。 
  【今译】 
  孔子在陈国时, 说: 回去吧!回去吧!我们家乡的学生们, 志向远大, 心气挺高, 而行为粗率简单, 文采都有可观的成就, 我不知道该怎样去节制、指导他们。 【注释】 
  ① 陈: 春秋时的古国, 妫 (uī规) 姓。商殷灭亡后, 周武王找到了舜的后代妫满, 封他于陈。其地约在今河南省东部(开封市以东) 、安徽省北部(亳县以北) 一带, 故都在宛丘(今河南省淮阳县)。 春秋末年, 陈国被楚国所灭。
  ② 与: 同 欤。 语气助词。③ 吾党: 我的故乡(鲁国)。 古代五百家为一党。 狂简: 狂, 指心气很高, 志向远大; 简, 指行为粗率, 简单化, 做法不 高明。
  ④ 斐然: 斐 (ě 匪), 本义指五色错杂。形容有文采的样子。章: 花纹, 文采。引申为文学, 文章。⑤ 裁: 节制, 控制。这里有 指导 的意思。此句, 《史记 孔子世家》 为 吾不知所以裁之。 由此推断, 文中省略的主语应是 吾。 
  子曰: 伯夷、叔齐不念旧恶
  ①
  , 怨是用希
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 伯夷、叔齐, 不记过去的仇怨, 〔人们对他〕 怨恨因此就少了。 
  【注释】 
  ① 伯夷、叔齐: 是殷朝末年一个小国的国君孤竹君的两个儿子, 姓墨胎。兄伯夷(一说, 名允, 字公信, 夷 是谥号), 弟叔齐(一说, 名智, 字公达, 齐 是谥号)。 孤竹君死后, 伯夷、叔齐兄弟二人互相让位, 都不肯做国君。后来, 二人都逃到周文王所管辖的区域。周武王兴兵伐纣时, 他们曾拦车马进行劝阻。周灭殷后, 传说他们二人对改朝换代不满而耻食周粟, 隐居在首阳山, 采薇(一种野菜) 为食, 终于饿死。
  ② 是用: 因此。 希: 同 稀。 少。子曰: 孰谓微生高直
  ①
  ?或乞醯焉
  ②
  , 乞诸其邻而与之。 
  【今译】 
  孔子说: 说微生高这个人直爽呀?有人向他要点醋, 他〔没直说没有, 却是〕 到他的邻居家去要了点醋, 给了那人。 
   【注释】 
  ① 微生高: 姓微生, 名高。《庄子》 、《战国策》 中又称 尾生高。 鲁国人。以直爽、守信而著称。传说他与一女子相约在桥下见面。女子没按时来, 尾生高守信不移, 一直在约会处等候。后来, 河水暴涨, 尾生高抱住桥柱子死守, 终被淹死。后世戏曲以此情节编为 兰桥会。 
  ② 醯(xī西): 醋。
  子曰: 巧言, 令色, 足恭, 左丘明耻之①
  , 丘亦耻之。匿
  怨而友其人
  ②
  , 左丘明耻之, 丘亦耻之。 
  【今译】 
  孔子说: 花言巧语, 假装出一副好看的脸色, 表现出过分的恭敬, 对这种人, 左丘明以为可耻, 我孔丘也以为可耻。把怨恨隐藏在心里, 表面上却假装出一副与人友善要好的样子, 对这种人, 左丘明以为可耻, 我孔丘也以为可耻。 【注释】 
  ① 左丘明: 春秋时鲁国人, 担任过鲁国的太史(朝廷史官), 乃楚左史倚相之后, 与孔子同时或较早于孔子。相传左丘明曾为《春秋》 作传(称为《左传》), 又作《国语》 (也有学者认为, 《左传》 和《国语》 的作者并非一人, 二书也并非左丘明所作)。 又传说, 左丘明是个瞎子, 故有 左丘失明 之说。② 匿: 隐藏起来, 不让人知道。颜渊、季路侍
  ①
  。子曰: 盍各言尔志
  ②
  ? 子路曰: 愿车
  马衣裘
  ③
  , 与朋友共, 敝之而无憾。 颜渊曰: 愿无伐善④
  , 无
  施劳
  ⑤
  。 子路曰: 愿闻子之志。 子曰: 老者安之, 朋友信 之, 少者怀之。 
  【今译】 
  颜渊、子路在孔子身边侍立。孔子说: 何不各自说说你们自己的志向? 子路说: 愿意有车马乘坐, 穿又轻又暖的皮衣, 而且拿出来与朋友共同使用, 就是用坏了穿破旧了, 也不抱怨。 颜渊说: 我愿意不夸耀自己的长处, 不表白自己的功劳。 子路〔转问〕 说: 愿意听听老师您的志向。 孔子说: 使年老的人们得到安康舒适, 使朋友们互相得到信任, 使年轻的孩子们得到关怀养护。 【注释】 
  ① 季路: 即子路。因侍于季氏, 又称季路。 侍: 服侍, 陪从在尊长身边站着。《论语》 中, 单用 侍 字, 指孔子坐着, 弟子站着。用 侍坐, 指孔子坐着, 弟子也坐着。用 侍侧, 指弟子陪从孔子, 或立或坐。
  ② 盍 (é何): 何不。
  ③ 裘(q ú求): 皮衣。
  ④ 伐: 夸耀, 自夸。
  ⑤ 施: 表白。一说, 施, 是施加给别人。句中 无施劳, 是不把劳苦的事加在别人身上, 即自己不辞劳苦, 对劳累的事不推脱。子曰: 已矣乎
  ①
  !吾未见能见其过而内自讼者也②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 罢了啊!我还没见过看到自身的错误而能发自内心自我责备的人。 
  【注释】 
  ① 已: 罢了, 算了。下面的 矣 乎, 都是表示绝望的感叹 助词。
  ② 讼(sòn 宋): 责备, 争辩是非。子曰: 十室之邑
  ①
  , 必有忠信如丘者焉, 不如丘之好学也。 
  【今译】 
  孔子说: 就是十户人家的小村邑里, 也一定有如同我这样讲究忠信的人, 〔只是〕 不如我这样爱好学习啊。 【注释】 
  ① 十室: 十户人家。古时, 九夫为井, 四井为邑, 一邑共有三十二户人家。 十室之邑 极言其小, 是指尚且不满三十二家的小村邑。 雍也篇第六
  (共三十章) 
  主要讲孔子与弟子们的言行。
  子曰: 雍也, 可使南面
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 冉雍啊, 可以让他坐尊位做卿大夫。 【注释】 
  ① 南面: 就是脸朝南。古代以坐北朝南为尊位、正位。从君王、诸侯、将、相到地方军政长官, 坐堂听政, 都是面南而坐。仲 问子桑伯子
  ①
  。子曰: 可也, 简
  ②
  。 仲 曰: 居敬
  而行简
  ③
  , 以临其民
  ④
  , 不亦可乎?居简而行简, 无乃大简乎⑤
  ? 
  子曰: 雍之言然。 
  【今译】 
  仲 问子桑伯子这个人怎么样。孔子说: 还可以, 办事简要。 仲 说: 为人严肃认真, 严格要求自己, 又办事简要, 用这样的方法去对待人民, 不也是可以的吗?〔但是〕 为人随便, 办事又简易粗率, 〔如果那样〕 岂不是太简单化了吗? 孔子说: 冉雍, 你的话是对的。 【注释】 
  ① 仲: 就是冉雍。 子桑伯子: 人名。其身世情况不详。有的学者认为, 子桑伯子是鲁国人, 即《庄子》 中所说的 子桑户, 与 琴张 为友。又有人以为是秦穆公时的 子桑 (公孙枝)。 但皆无确考。
  ② 简: 简单, 简约, 不烦琐。③ 居: 平时的做人, 为人, 居心。④ 临: 面对, 面临。这里含有治理的意思。⑤ 无乃: 岂不是, 难道不是。 大: 同 太。 哀公问: 弟子孰为好学? 孔子对曰: 有颜回者好学, 不迁 
  ①
  , 不贰过
  ②
  。不幸短命死矣。今也则亡
  ③
  , 未闻好学者
  也。 
  【今译】 
  鲁哀公问: 〔你的〕 学生中 是爱好学习的呢? 孔子回答: 有一个叫颜回的, 很好学, 〔他从来〕 不拿别人出气, 不犯同样的过错。〔但〕 不幸短命死了。现在就没有那样的人了, 没听到有好学的人啊。 
  【注释】 
  ① 迁: 指自己不如意时, 对别人发火生气;或受了甲的气, 却转移目标, 拿乙去出气。 迁, 转移。② 贰: 二, 再一次, 重复。
  ③ 亡: 同 无。 
  子华使于齐
  ①
  , 冉子为其母请粟
  ②
  。子曰: 与之釜
  ③
  。 请
  益
  ④
  。曰: 与之庾
  ⑤
  。 冉子与之粟五秉
  ⑥
  。子曰: 赤之适齐
   也
  ⑦
  , 乘肥马, 衣轻裘
  ⑧
  。吾闻之也, 君子周急不继富
  ⑨
  。 
  【今译】 
  子华出使去齐国, 冉求为子华的母亲请求给些小米。孔子说: 给他六斗四升。 冉求请求再增加些。孔子说: 再给他二斗四升。 冉求却给了他小米八十石。孔子说: 公西赤到齐国去, 乘坐肥马驾的车, 身穿又轻又暖的皮衣。我听说过, 君子应周济急需的人, 而不要使富人更富。 【注释】 
  ① 子华: 即公西赤。
  ② 冉子: 即冉求。 子 是后世记录孔子和他的弟子的言行时加上的尊称。 粟: 谷子, 小米。③ 釜 (ǔ府): 古代容量名。一釜当时合六斗四升。古代的斗小, 一斗约合现在二升, 一釜约等于现在一斗二升八合。一釜粮食仅是一个人一月的口粮。
  ④ 益: 增添, 增加。
  ⑤ 庾(yǔ雨): 古代容量名。一庾合当时二斗四升, 约合现在四升八合。一说, 一庾当时合十六斗, 约合现在三斗二升。⑥ 秉 (ǐn 饼): 古代容量名。一秉合十六斛, 一斛合十斗。 五秉, 就是八百斗(八十石)。 约合现在十六石。⑦ 适: 往, 去。
  ⑧ 衣(yì义): 穿。
  ⑨ 周: 周济, 救济。 继: 接济, 增益。 思为之宰
  ①
  , 与之粟九百
  ②
  , 辞。子曰: 毋
  ③
  !以与尔
  邻里乡党乎
  ④
  ! 
  【今译】 
   思为孔子家做总管, [孔子]给他小米九百斗, [ 思]推辞不要。孔子说: 不要推辞!拿给你家乡的人们吧! 【注释】 
  ①  思: 孔子的弟子。姓, 名宪, 字子思。鲁国人(一说, 宋国人)。 生于公元前 年, 卒年不详。孔子在鲁国任司寇(司法官员) 时, 思在孔子家做过总管(家臣)。 孔子死后, 思退隐, 居卫国。 之: 指代孔子。
  ② 之: 代指 思。 九百: 九百斗。一说, 指九百斛, 则是九百石。不可确考。
  ③ 毋: 不要, 勿。
  ④ 邻里乡党: 古代以五家为邻, 二十五家为里, 五百家为党, 一万二千五百家为乡。这里泛指 思家乡的人们。子谓仲, 曰: 犁牛之子骍且角①
  , 虽欲勿用, 山川其
  舍诸
  ②
  ? 
  【今译】 
  孔子谈论仲, 说: 耕牛生的一个小牛犊, 长着整齐的红毛和周正的硬角, 虽然不想用它〔作为牺牲祭品〕, 山川之神怎么会舍弃它呢? 
  【注释】 
  ①  犁牛 句: 犁牛, 杂色的耕牛。 子, 指小牛犊。 骍, 赤色牛。周代崇尚赤色, 祭祀用的牛, 要求是长着红毛和端正的长角的牛, 不能用普通的耕牛来代替。这里用 犁牛之子, 比喻冉雍(仲)。 据说冉雍的父亲是失去贵族身份的 贱人, 品行也不好。孔子认为, 冉雍德行才学都好, 子能改父之过, 变恶以为美, 是可以做大官的(当时冉雍担任季氏的家臣)。 ② 山川: 指山川之神。这里比喻君主或贵族统治者。 其: 表示反问的语助词。怎么会, 难道, 哪能。 舍: 舍弃, 不用。 子曰: 回也, 其心三月不违仁①
  , 其馀则日月至焉而已
  矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 颜回啊, 他的心可以在长时间内不违背仁德, 其馀的〔弟子们〕 只能在短时间内做到仁德而已。 【注释】 
  ① 三月: 不是具体指三个月, 而是泛指较长的时间。② 日月: 一天, 一月。泛指较短的时间, 偶尔。 至: 达到, 做到。
  季康子问
  ①
  : 仲由可使从政也与? 子曰: 由也果, 于从政乎何有
  ②
  ? 曰: 赐也可使从政也与? 曰: 赐也达, 于从政乎何有? 曰: 求也可使从政也与? 曰: 求也艺, 于从政乎何有? 
  【今译】 
  季康子问: 仲由, 可以让他做官从政吗? 孔子说: 仲由果断勇敢, 对于从政有什么困难呢? 〔季康子〕 说: 端木赐, 可以让他做官从政吗? 〔孔子〕 说: 端木赐通达事理, 对于从政有什么困难呢? 〔季康子〕 说: 冉求, 可以让他做官从政吗? 〔孔子〕 说: 冉求, 多有才能, 对于从政有什么困难呢? 
  【注释】 
  ① 季康子: 季桓子之子, 公元前 年继其父任鲁国正卿。孔子的弟子冉求, 曾帮助季康子推行革新。② 何有: 有何困难。
   季氏使闵子骞为费宰
  ①
  。闵子骞曰: 善为我辞焉!如有复我者, 则吾必在汶上矣
  ②
  。 
  【今译】 
  季氏派人去请闵子骞担任费邑的行政长官。闵子骞〔对来的人〕 说: 请好好地为我辞掉吧!如果第二次再来找我, 那我必定是在汶河以北了。 
  【注释】 
  ① 闵子骞(q ān千): 姓闵, 名损, 字子骞。鲁国人。公元前 年生, 公元前 年卒(一说, 公元前?) 。 孔子早年的弟子。相传是有名的孝子, 受到孔子的赞赏。其德行与颜渊并称于世。 费: 此读 ì, 音毕, 是季氏的封邑, 在今山东省费县西北(故城在平邑县东南七十里)。 因为季氏不归顺鲁国, 他的封邑的总管(邑宰, 相当于一个县长) 常同他作对, 所以, 他想请闵子骞去做费宰。② 在汶上: 汶(wèn问), 今山东省的大汶河。当时汶水在齐国的南面, 鲁国的北面, 流 齐鲁之间。在汶上, 就是在汶水之上(汶水以北), 暗指要由鲁国去齐国, 不愿为季氏做事。宋代朱熹在《四书集注》 中议论闵子骞: 处乱世, 遇恶人当政, 刚则必取祸, 柔则必取辱, 走到他处以保存自己, 这种做法是可取的。伯牛有疾
  ①
  , 子问之, 自牖执其手
  ②
  , 曰: 亡之, 命矣夫
  ③
  !
  斯人也而有斯疾也, 斯人也而有斯疾也! 【今译】 
  伯牛有病, 孔子去探望, 从窗户外面握着伯牛的手, 说: 要永别了, 是命运吧!这样〔好〕 的人竟有了这样的病啊!这样〔好〕 的人竟有了这样的病啊! 【注释】 
  ① 伯牛: 孔子的弟子。姓冉, 名耕, 字伯牛。鲁国人。孔子任鲁国司寇时, 冉伯牛曾任中都宰, 有德行。传说他患的是 癞病 (即麻疯病), 当时为不治之症。
  ② 牖(yǒu友): 窗户。
  ③ 夫 (ú扶): 语气助词。表示感叹, 相当于 吧, 啊。 子曰: 贤哉, 回也!一箪食
  ①
  , 一瓢饮, 在陋巷, 人不
  堪其忧, 回也不改其乐。贤哉, 回也! 【今译】 
  孔子说: 品德好呀, 颜回啊!一竹筒子饭, 一瓢水, 住在简陋狭小的巷子里, 一般人都忍受不了这种困苦忧愁, 颜回却不改变他〔爱学乐善〕 的快乐。品德好呀, 颜回啊! 【注释】 
  ① 箪 (ān丹): 古时盛饭食用的一种圆形竹器。食(sì四): 饭。冉求曰: 非不说子之道
  ①
  , 力不足也。 子曰: 力不足者, 中道而废, 今女 
  ②
  。 
  【今译】 
  冉求〔对孔子〕 说: 我并非不喜欢您的道理, 而是我的力量不够。 孔子说: 力量不够的话, 是走到中途〔力量用尽不得已〕 才废弃而停止, 但现在你是给自己 了一条截止的界线。 
  【注释】 
  ① 说: 同 悦。 喜欢, 爱慕。② 女: 同 汝。 你。 : 线为界。 地以自限, 则止而不 进。
  子谓子夏曰: 女为君子儒
  ①
  , 无为小人儒。 
  【今译】 
  孔子对子夏说: 你要做君子式的儒者, 不要做小人式的儒者。 
  【注释】 
  ① 女: 你。 君子儒: 儒 古时本指为人们主持办理喜事丧事礼节仪式的一种专门职业, 即赞礼者(也称 相)。 君子儒, 指通晓周礼典章制度, 道德品质、人格高尚的儒者;反之, 就是 小人儒。 
  子游为武城宰
  ①
  。子曰: 女得人焉耳乎
  ②
  ? 曰: 有澹台
  灭明者
  ③
  , 行不由径
  ④
  , 非公事, 未尝至于偃之室也
  ⑤
  。 
  【今译】 
  子游任武城县官。孔子说: 在你管的地区你得到什么人才了吗? 〔子游〕 说: 有个名叫澹台灭明的人, 走路从来不 小道, 不是为公事, 从不到我的居室来。 【注释】 
  ① 武城: 鲁国的城邑。即今山东省嘉祥县。一说, 武城在山东省费县西南。
  ② 焉耳: 犹言 于此。 耳, 同 尔。 ③ 澹(tán谈) 台灭明: 姓澹台, 名灭明, 字子羽。武城人。为人公正。后来成为孔子的弟子。传说澹台灭明状貌甚丑, 孔子曾以为他才薄。而后, 澹台灭明受业修行, 名闻于世。孔子叹说: 吾以貌取人, 失之子羽。 
  ④ 径: 小路, 捷径。引申为正路之外的邪路。 ⑤ 偃: 即子游。姓言名偃, 字子游。这里是子游自称。子曰: 孟之反不伐
  ①
  。奔而殿
  ②
  , 将入门, 策其马
  ③
  , 曰: 
  ‘非敢后也, 马不进也。’ 
  【今译】 
  孔子说: 孟之反不夸耀自己。败退时, 他留在最后面, 将要进城门时, 他鞭打了一下自己的马, 说: ‘不是我勇敢要殿后, 是马〔跑不快〕 不往前进啊。’ 【注释】 
  ① 孟之反: 姓孟, 名侧, 字之反(《左传》 作 孟之侧, 《庄子》 作 孟子反)。 鲁国的大夫。 伐: 夸耀功劳。② 奔: 败走。 殿: 殿后, 即行军走在最后。鲁哀公十一年(公元前 年), 齐国进攻鲁国, 鲁 战, 季氏宰冉求所率领的右翼军队战败。撤退时, 众军争先奔走, 而孟之反却在最后作掩护。故孔子称赞孟之反: 人有功不难, 不夸功为难。③ 策: 鞭打。
  子曰: 不有祝鮀之佞
  ①
  , 而有宋朝之美
  ②
  , 难乎免于今之
  世矣。 
  【今译】 
  孔子说: 如果没有祝鮀的能言善辩, 没有宋朝的美貌, 是难以在当今之世免遭灾祸的。 【注释】 
  ① 祝鮀(tuó驼): 姓祝, 名鮀, 字子鱼。卫国的大夫。因他擅长外交辞令, 能言善辩, 而又会阿谀逢, 受到卫灵公的重用。② 而: 同 与。 和, 二者兼有。 宋朝: 宋国的公子朝, 貌美 闻名于世。《左传 昭公二十年》 及《定公十四年》 记述公子朝与襄夫人宣姜私通, 并参与发动祸乱, 出奔到卫国。又以貌美, 与卫灵公夫人南子私通, 而受到宠幸。
  子曰: 能出不由户
  ①
  ?何莫由斯道也
  ②
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 能外出而不 过屋门呢?为何没有人由〔我指出的〕 这条道走呢? 
  【注释】 
  ① 户: 门。
  ② 何莫: 为什么没有。 斯道: 这条路。指孔子所主张的仁义之道。
  子曰: 质胜文则野
  ①
  , 文胜质则史
  ②
  。文质彬彬
  ③
  , 然后
  君子。 
  【今译】 
  孔子说: 〔内在的〕 质朴胜过〔外在的〕 文采, 就未免粗野;〔外在的〕 文采胜过〔内在的〕 质朴, 就未免浮夸虚伪。只有把文采与质朴配合恰当, 然后才能成为君子。 【注释】 
  ① 质: 质地, 质朴、朴实的内容, 内在的思想感情。孔子认为, 仁义是质。 文: 文采, 华丽的装饰, 外在的礼仪。孔子认为, 礼乐是文。
  ② 史: 本义是宗庙里掌礼仪的祝官, 官府里掌文书的史官。这里指像 史 那样, 言词华丽, 虚浮铺陈, 心里并无诚意。含有浮夸虚伪的贬义。
   ③ 彬彬: 文质兼备相称;文与质互相融和, 配合恰当。子曰: 人之生也直
  ①
  , 罔之生也幸而免
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 一个人能生存, 是由于正直;不正直的人也能生存, 不过是由于侥幸而避免了祸患。 【注释】 
  ① 直: 正直, 无私曲。
  ② 罔(wǎn 往): 诬罔, 虚妄。指不正直的人。子曰: 知之者不如好之者
  ①
  , 好之者不如乐之者。 
  【今译】 
  孔子说: 〔对任何事业,〕 知道它的人, 不如爱好它的人;爱好它的人, 不如以实行它为快乐的人。 【注释】 
  ① 好 (ào号): 喜爱。
  子曰: 中人以上, 可以语上也①
; 中人以下, 不可以语
  上也。 
  【今译】 
  孔子说: 对有中等水平以上才智的人, 可以讲高深的知识学问;对中等水平以下才智的人, 不可以讲那些高深的知识学问。 
  【注释】 
  ① 语: 告, 讲, 说。
   樊迟问知
  ①
  , 子曰: 务民之义
  ②
  , 敬鬼神而远之, 可谓知
  矣。 问仁, 曰: 仁者先难而后获, 可谓仁矣。 【今译】 
  樊迟问, 怎样才是 智, 孔子说: 专心致力于〔倡导〕 人民应该遵从的仁义道德, 尊敬鬼神, 但要远离它〔不可沉迷于靠鬼神求福〕, 就可以说是‘智’ 了。 〔樊迟又〕 问怎样才是 仁, 〔孔子〕 说: 有仁德的人, 首先付出艰苦的努力, 获得的结果放在后边全不计较, 便可以说是‘仁’ 啊。 【注释】 
  ① 知: 同 智。 聪明, 智慧。② 务: 从事于, 致力于, 一心一意去专力倡导。子曰: 知者乐水
  ①
  , 仁者乐山
  ②
  。知者动, 仁者静。知者
  乐, 仁者寿。 
  【今译】 
  孔子说: 聪明智慧的人爱水, 有仁德的人爱山。聪明智慧的人活跃, 有仁德的人沉静。聪明智慧的人常乐, 有仁德的人长寿。 
  【注释】 
  ① 知者乐水: 水流动而不板滞, 随岸赋形, 与智者相似, 故曰。② 仁者乐山: 山形巍然, 屹立而不动摇, 与仁者相似, 故曰。子曰: 齐一变, 至于鲁;鲁一变, 至于道①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 把齐国改变一下, 便达到像鲁国这样;把鲁国改变一下, 就能达到先王之道了。 【注释】 
  ①  齐一变 句: 变, 进行政治改革, 推行教化。当时, 齐强鲁弱, 但是齐国施行霸道, 急功近利, 孔子认为齐离王道甚远。而鲁国重礼教、崇信义, 周公的法治犹存, 仁厚而近于王道。孔子曾说: 周礼尽在鲁矣。 所以孔子有此说。子曰: 觚不觚, 觚哉?觚哉
  ①
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 说是觚又不像觚, 这是觚吗?这是觚吗? 【注释】 
  ①  觚不觚 句: 觚 (ū姑), 古代木制酒具, 容量为古制二升(一说三升), 量不大, 以戒人贪酒。 先觚是上圆下方, 腹部足部都有四条棱角。后来, 可能是为了制造和使用上的方便, 改成了圆筒形, 也没有那四条棱角了。孔子言 觚不觚, 实是对事物有所改变、有名无实、名实不符的感叹, 含有对当时 君不君, 臣不臣, 父不父, 子不子 等社会现象的不满。
  宰我问曰: 仁者, 虽告之曰: ‘井有仁焉①
  。’ 其从之也? 
  子曰: 何为其然也?君子可逝也②
  , 不可陷也;可欺也, 不
  可罔也
  ③
  。 
  【今译】 
  宰我问道: 对于有仁德的人, 虽然告诉他: ‘有一位仁人掉到井里啦!’ 他会跟着跳下去吗? 孔子说: 为什么要他那样做呢?君子可以去〔井边看一看, 设法救人〕, 不可以〔也跟着〕 陷下去;〔君子〕 可能被欺, 却不可能被愚弄。 【注释】 
  ① 井有仁: 井里掉进一个有仁德的人。一说, 仁 同 人。 ② 逝: 往, 去。
  ③ 罔: 诬罔, 被无理陷害, 愚弄。子曰: 君子博学于文, 约之以礼, 亦可以弗畔矣夫①
  ! 
  【今译】 
  孔子说: 君子广泛地多学文化典籍, 用礼来约束自己, 就可以不违背〔君子之道〕 了吧! 【注释】 
  ① 畔: 同 叛。 背离, 背叛。 夫 (ú扶): 语气助词。吧。子见南子
  ①
  , 子路不说
  ②
  。夫子矢之曰
  ③
  : 予所否者
  ④
  , 天
  厌之!天厌之! 
  【今译】 
  孔子会见了南子, 子路不高兴。孔子发誓说: 假如我做了什么不正当的事, 〔那么,〕 上天会厌弃我!上天会厌弃我! 【注释】 
  ① 南子: 宋国的美女, 卫灵公的夫人, 行为淫乱, 名声不好。当时, 卫灵公年老昏庸, 南子实际上操纵、左右着卫国的政权。她派人召见孔子, 孔子起初辞谢不见, 但因依礼当见, 不得已才去见了南子。② 说: 同 悦。 
  ③ 矢: 通 誓。 
  ④ 予所否者: 予, 我。 所 者, 相当于 假如 的话, 古代用于誓言中。 否, 不是, 不对。指做了什么不正当的事情。 子曰: 中庸之为德也
  ①
  , 甚至矣乎!民鲜久矣。 
  【今译】 
  孔子说: 中庸作为一种道德, 是最高尚了!人民缺少这种道德已 很久了。 
  【注释】 
  ① 中庸: 中, 是折中, 调和, 无过无不及, 不偏不倚; 庸, 是平常, 普通, 常规常理(顺其自然) 而不变。子贡曰: 如有博施于民而能济众, 何如?可谓仁乎? 子曰: 何事于仁, 必也圣乎!尧、舜其犹病诸①
  。夫仁者, 己
  欲立而立人, 己欲达而达人。能近取譬②
  , 可谓仁之方也已。 
  【今译】 
  子贡说: 如果有人广泛地给人民许多好处, 又能周济众人, 怎么样呢?可以说是仁人吗? 孔子说: 何止是仁人, 那必定是圣人了!尧、舜尚且对做不到这样而感到为难呢。作为仁人, 自己想要立身, 就要帮助别人立身;自己想要通达, 也要帮助别人通达。凡事都能从切近的生活中将心比心, 推己及人, 可以说是实行仁的方法啊。 【注释】 
  ① 尧、舜: 传说是上古两位贤明的君主, 也是孔子心目中圣德典范。病: 忧虑, 犯难, 心有所不足。② 能近取譬: 近, 指切近的生活, 自身。 譬, 比喻, 比方。能够就自身打比方, 推己及人。 述而篇第七
  (共三十八章) 
  主要讲孔子谦己诲人之辞及容貌行事之实。子曰: 述而不作
  ①
  , 信而好古, 窃比于我老彭
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 只传述〔旧的文化典籍〕 而不创作〔新的〕, 相信而且喜爱古代的〔文化〕, 我把自己比作老彭。 【注释】 
  ① 述: 传述, 阐述。 作: 创造, 创作。② 窃: 私下, 私自。第一人称的谦称。 我老彭: 老彭, 指彭祖, 传说姓篯(j ān坚), 名铿, 是颛顼(五帝之一) 之孙陆终氏的后裔, 封于彭城(今徐州), 仕虞、夏、商三代, 至殷王时已七百六十七岁(一说长寿达八百岁)。 彭祖是有名的贤大夫, 自少爱恬静养生, 观览古书, 好述古事(见《神仙传》 、《列仙传》 、《庄子》)。 老彭 前加 我, 是表示了孔子对 老彭 的尊敬与亲切, 如同说 我的老彭。 一说, 老彭 指老子和彭祖两个人。子曰: 默而识之
  ①
  , 学而不厌
  ②
  , 诲人不倦
  ③
  , 何有于我
  哉
  ④
  ? 
   【今译】 
  孔子说: 默默地记住〔所见所闻所学的知识〕, 学习永不满足, 耐心地教导别人而不倦怠, 〔这三方面〕 我做到了哪些呢? 
  【注释】 
  ① 识(z ì志): 牢记, 记住。潜心思考, 加以辨别, 存之于心。② 厌: 通 餍。 本义是饱食。引申为满足, 厌烦。③ 诲 (uì会): 教诲, 教导, 诱导。④  何有 句: 即 于我何有哉。 这是孔子严格要求自己的谦虚之词, 意思说: 以上那几方面, 我做到了哪些(一说, 还有什么困难或遗憾) 呢?
  子曰: 德之不修, 学之不讲, 闻义不能徙①
  , 不善不能
  改
  ②
  , 是吾忧也。 
  【今译】 
  孔子说: 品德不去修养, 学问不去讲习, 听到了义却不能去做, 对缺点错误不能改正, 这些都是我所忧虑的。 【注释】 
  ① 义: 这里指正义的、合乎道义义理的事。 徙(xǐ喜): 本义是迁移。这里指徙而从之, 使自己的所做所为靠近义, 做到实践义, 走向义。
  ② 不善: 不好。指缺点, 错误。子之燕居
  ①
  , 申申如也
  ②
  , 夭夭如也
  ③
  。
  【今译】 
  孔子在家闲居, 衣冠整齐, 容貌舒展安详, 脸色显出和 悦轻松的样子。
  【注释】 
  ① 燕居: 燕, 通 宴。 安逸, 闲适。燕居, 指独自闲暇无事的时候的安居、家居。
  ② 申申: 衣冠整齐, 容貌舒展安详的样子。 如也: 像是 的样子。
  ③ 夭夭(yāo腰): 脸色和悦愉快, 斯文自在, 轻松舒畅的样子。子曰: 甚矣吾衰也, 久矣吾不复梦见周公①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我很衰老了啊, 好久好久啊我没再梦见周公了。 
  【注释】 
  ① 周公: 姓姬, 名旦。是周文王(姬昌) 的儿子, 周武王(姬发) 的弟弟, 周成王(姬诵) 的叔叔, 也是鲁国国君的始祖。传说周公是西周政治礼乐典章制度的制定者, 他辅佐周成王, 安天下, 有德政, 是孔子所崇尚的先圣先贤之一。孔子从年轻时就欲行周公之道, 但壮志至老未酬。这里表现了孔子对心有馀而力不足, 政治抱负已无可能实现的慨叹。
  子曰: 志于道, 据于德, 依于仁, 游于艺①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 以道为志向, 以德为根据, 以仁为凭借, 以六艺为活动范围。 
  【注释】 
  ① 游: 这里有玩习, 熟悉的意思。 艺: 六艺。指礼(礼节), 乐(音乐), 射(射箭), 御(驾车), 书(写字), 数(算术)。 孔子用这六个方面的知识技艺来培养教授学生。子曰: 自行束脩以上
  ①
  , 吾未尝无诲焉
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 〔只要〕 愿意亲自来送十条干肉〔作为薄礼〕 的人, 我从来没有不教诲的。 【注释】 
  ① 行: 实行, 做到。 束脩: 脩(x ū休), 干肉。束脩, 是捆在一起的一束干肉。每束十条。古代人们常用来作为见面的薄礼。② 未尝: 未曾, 从来没有。
  子曰: 不愤不启
  ①
  , 不 不发
  ②
  , 举一隅不以三隅反
  ③
  , 则
  不复也。 
  【今译】 
  孔子说: 〔教学生〕 不到他苦思冥想而仍领会不了的时候, 不去开导他;不到他想说而又说不出来的时候, 不去启发他。告诉他〔方形的〕 一个角, 他不能由此推知另外三个角, 就不要再重复去教他了。 【注释】 
  ① 愤: 思考问题有疑难之处, 苦思冥想, 而仍然没想通, 仍然领会不了的样子。
  ②  (ě 匪): 想说而不能明确地表达, 说不出来的样子。③ 隅(yú鱼): 角落, 角。这里比喻从已知的一点, 去进行推论, 由此及彼, 触类旁通。这句就是成语 举一反三 和 启发 一词的由来。
   子食于有丧者之侧
  ①
  , 未尝饱也。
  【今译】 
  孔子在有丧事的人旁边吃饭, 未曾吃饱过。【注释】 
  ① 有丧者: 有丧事的人。指刚刚死去亲属的人家。孔子在有丧事的人面前, 因同情失去亲人的人, 食欲不振, 吃饭无味, 故云 未尝饱也。 
  子于是日哭
  ①
  , 则不歌。
  【今译】 
  孔子在那一天吊丧哭泣过, 就不再唱歌了。【注释】 
  ① 哭: 指给别人吊丧时哭泣。一日之内, 由于心里悲痛, 馀哀未忘, 就不会再唱歌了。
  子谓颜渊曰: 用之则行, 舍之则藏①
  , 惟我与尔有是夫! 
  子路曰: 子行三军
  ②
  , 则 与
  ③
  ? 子曰: 暴虎冯河
  ④
  , 死而
  无悔者, 吾不与也。必也临事而惧, 好谋而成者也。 【今译】 
  孔子对颜渊说: 用我, 我就去干;不用我, 就隐藏起来。只有我和你能够做到这样吧! 子路〔在一旁插言〕 说: 〔老师〕 您如果统帅三军〔去作战〕, 那么, 您要和 在一起呢? 孔子说: 赤手空 要和老虎搏斗, 没有船要趟水过大河, 〔这样做〕 死了都不知后悔的人, 我不和他在一起。〔我要共事的人〕 必须是遇事小心谨慎, 严肃认真, 善于筹划谋略而能争取成功的人。 
   【注释】 
  ① 舍: 不用, 舍弃。
  ② 行: 视, 居 之位。这里犹言指挥, 统帅。 三军: 当时一个大国的所有军队。每军一万二千五百人, 三军相当于三万七千五百人。
  ③ 与: 在一起, 共事。
  ④ 暴虎冯河: 暴, 徒手搏击。句中指赤手空 与老虎搏斗。 冯(pín 平), 涉水。句中指无船而徒步趟水过大河。暴虎冯河, 是用来比喻那种有勇无谋, 冒险行事, 而往往导致失败的人。子曰: 富而可求也, 虽执鞭之士①
  , 吾亦为之。如不可
  求, 从吾所好
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 财富如果是可以求得的, 就是去当一名手拿皮鞭的下等差役, 我也去做。如果不可以求得, 我还是做我所爱好做的事。 
  【注释】 
  ① 执鞭之士: 指手里拿着皮鞭的下等差役。当时主要指两种人, 一种是市场的守门人, 执鞭以维持秩序;一种是为贵族外出时夹道执鞭开路、让行人让道的差役。
  ② 从: 顺从, 听从。
  子之所慎: 齐
  ①
  , 战
  ③
  , 疾
  ③
  。
  【今译】 
  孔子小心谨慎对待的事情是: 〔祭祀之前的〕 斋戒, 战争, 疾病。
   【注释】 
  ① 齐: 同 斋。 指古代在祭祀之前虔诚的斋戒。要求不喝酒, 不吃荤, 不与妻妾同房, 沐浴净身, 等等, 以达到身心的全面整洁。② 战: 战争。因关系国家民族的安危存亡和人民群众的死与伤。③ 疾: 疾病。因关系个人的健康与生死。子在齐, 闻《韶》 
  ①
  , 三月不知肉味
  ②
  , 曰: 不图为乐之
  至于斯也。 
  【今译】 
  孔子在齐国, 听到了〔演奏〕 《韶》 乐, 三个月吃肉都吃不出什么滋味, 说: 真料想不到〔虞舜时创作的〕 音乐竟然达到这么迷人的地步。 
  【注释】 
  ① 韶: 传说是虞舜时创作的乐曲, 水平很高, 音乐境界很优美。参见前《八佾篇第三》 第二十五章注。② 三月: 比喻很长时间, 不是实指三个月。冉有曰: 夫子为卫君乎
  ①
  ? 子贡曰: 诺
  ②
  , 吾将问之。 
  入, 曰: 伯夷、叔齐何人也? 曰: 古之贤人也。 曰: 怨乎? 曰: 求仁而得仁, 又何怨? 出, 曰: 夫子不为也。 【今译】 
  冉有〔问子贡〕 说: 老师会赞成卫国的国君吗? 子贡说: 嗯, 我要去问问他。 〔于是, 子贡〕 进屋去, 问〔孔子〕: 伯夷、叔齐是什么样的人呢? 〔孔子〕 说: 是古代的贤人。 〔子贡〕 问: 〔伯夷、叔齐〕 有怨恨吗? 〔孔子〕 说: 〔他们〕 求仁德而得到了仁德, 还有什么怨恨呢? 〔子贡〕 走出屋来〔对冉有〕 说: 老师不赞成〔卫国国君〕。 【注释】 
  ① 为: 赞成, 帮助。 卫君: 指卫灵公的孙子卫出公, 姓蒯(kuǎ 快上声), 名辄(z é哲)。 公元前 年至公元前 年在位。他的父亲蒯聩, 本是灵公所立的世子, 但因其谋杀卫灵公的夫人南子未成, 被灵公驱逐, 逃到了晋国。卫灵公死后, 蒯辄被立为国君。这时, 晋国的赵简子率军又把蒯聩送回卫国, 形成父亲同儿子争夺王位的局面。后来蒯聩以武力进攻其子蒯辄, 蒯辄出奔。蒯聩得王位, 为卫庄公。公元前 年, 晋攻卫, 蒯聩奔戎州, 被戎州人所杀。蒯辄奔宋之后, 卒于越。蒯聩、蒯辄父子争位的事, 与古代伯夷、叔齐两兄弟互相让位的事, 形成了鲜明的对比。本章这段对话, 表明孔子赞扬伯夷、叔齐的 礼让为国, 而对蒯聩、蒯辄非常不满。② 诺: 应答声。
  子曰: 饭疏食
  ①
  , 饮水, 曲肱而枕之
  ②
  , 乐亦在其中矣。
  不义而富且贵, 于我如浮云。 【今译】 
  孔子说: 吃粗粮, 喝冷水, 弯起胳膊垫着当枕头, 乐趣就在其中了。用不义的手段得到富与贵, 对于我, 〔那些富贵〕 如同〔天上的〕 浮云。 
  【注释】 
  ① 饭: 作动词用。吃。 疏食: 指粗粮, 粗糙的饭食。② 肱 (n 工): 由肩到胳膊肘这一部位, 一般也泛指胳膊。子曰: 加我数年
  ①
  , 五十以学《易》 
  ②
  , 可以无大过矣。 
  【今译】 
  孔子说: 再给我增添几年寿命, 到了五十岁学习《易》, 可以不犯大的错误了。 【注释】 
  ① 加: 增添, 增加。
  ② 五十: 五十岁。古人以为五十岁是老年的开始。一说, 五十 是 卒 字之误, 在这里用的意思, 指学完《易》。  易: 又名《周易》, 《易》, 古代一本用以占卜、预测吉凶祸福的书。有宗教迷信色彩, 但也保存了古代若干朴素辩证法的哲学观点。子所雅言
  ①
  , 《诗》 、《书》 、执礼, 皆雅言也。【今译】 
  孔子〔有时〕 讲官话, 读《诗》, 念《尚书》, 赞礼时, 都是用官话。
  【注释】 
  ① 雅言: 西周的政治中心在今陕西地区, 当时称以陕西语音为标准音的 官话, 为 雅言。 平时讲话, 孔子用的是鲁国的地方方言, 但在诵《诗》 《书》 和赞礼(主持仪礼, 当司仪) 时, 则用 雅言。 
  叶公问孔子于子路
  ①
  , 子路不对
  ②
  。子曰: 女奚不曰
  ③
  : 其
  为人也, 发愤忘食, 乐以忘忧, 不知老之将至云尔④
  。 
  【今译】 
  叶公向子路问到孔子, 子路没回答。孔子说: 你为什么不说: 他的为人啊, 发愤时, 竟忘记吃饭;快乐时, 便忘记忧愁;简直连衰老就会到来也不知道, 如此而已。 【注释】 
  ① 叶(s è社) 公: 姓沈, 名诸梁, 字子高, 楚国的大夫。他的 封邑在叶城(今河南省叶县南三十里有古叶城), 为叶尹, 故称叶公。② 不对: 不回答。 对, 是应答之意。③ 女: 同 汝。 你。 奚: 何, 为什么。④ 云尔: 如此而已, 罢了。
  子曰: 我非生而知之者, 好古, 敏以求之者也。 【今译】 
  孔子说: 我不是生下来就有知识的人, 而是爱好古代文化, 勤奋敏捷地去求得知识的人。 子不语怪、力、乱、神。
  【今译】 
  孔子不谈论怪异、暴力、变乱、鬼神〔一类的事〕。 子曰: 三人行, 必有我师焉。择其善者而从之, 其不善者而改之。 
  【今译】 
  孔子说: 〔如果〕 三个人在一起走, 其中必定有可以作为我的老师的人。选择他的优点长处, 而跟从〔学习〕; 看到有什么不好的地方, 就〔反省自己〕 加以改正。子曰: 天生德于予, 桓魋其如予何①
  ! 
  【今译】 
  孔子说: 上天使我具有了这种品德, 桓魋能把我怎么样! 
   【注释】 
  ① 桓魋(tuí颓): 宋国的司马(主管军事行政的长官)。 本名向魋, 因是宋桓公的后裔, 又称桓魋。公元前 年, 孔子周游列国, 从卫国去陈国时, 过宋国, 桓魋听到消息, 率兵来阻拦。当时, 孔子正在大树下同弟子们演习周礼的仪式, 桓魋砍掉大树, 而且要杀孔子。孔子离开时, 弟子们催促他快些走, 他在途中说了这番话。子曰: 二三子以我为隐乎
  ①
  ?吾无隐乎尔。吾无行而不
  与二三子者, 是丘也。 
  【今译】 
  孔子说: 诸位以为我〔对你们〕 有什么隐瞒吗?我没有隐瞒啊。我没有什么行为不能告诉你们, 这样才是我孔丘。 【注释】 
  ① 二三子: 这里是孔子客气地称呼弟子们。 二三, 表示约数。 子, 是尊称。
  子以四教: 文
  ①
  , 行
  ②
  , 忠
  ③
  , 信
  ④
  。
  【今译】 
  孔子从四个方面教育学生: 历史文献, 行为规范, 忠诚老实, 讲究信用。
  【注释】 
  ① 文: 文化知识, 历史文献。② 行: 行为规范, 道德修养, 社会实践。③ 忠: 忠诚老实。
  ④ 信: 讲信用, 言行一致。
   子曰: 圣人, 吾不得而见之矣, 得见君子者, 斯可矣①
  。 
  子曰: 善人, 吾不得而见之矣, 得见有恒者, 斯可矣。亡而为有
  ②
  , 虚而为盈
  ③
  , 约而为泰
  ④
  , 难乎有恒矣。 
  【今译】 
  孔子说: 圣人, 我不可能见到了, 能看到君子就可以了。 孔子又说: 善人, 我不可能见到了, 能看到有恒心〔保持良好品德节操〕 的人, 就可以了。〔有的人〕 本来没有〔什么知识、本领〕, 却假装有;本来空虚, 却假装充实;本来穷困, 却假装富裕。〔这样的人〕 是难以有恒心〔保持良好品德节操〕 的。 
  【注释】 
  ① 斯: 就, 乃, 则。
  ② 亡: 同 无。 
  ③ 盈: 丰满, 充实。
  ④ 约: 穷困。 泰: 宽裕, 豪华, 奢侈。子钓而不纲
  ①
  , 弋不射宿
  ②
  。
  【今译】 
  孔子钓鱼, 只用〔有一个鱼钩的〕 钓竿, 而不用纲;只射飞着的鸟, 不射宿窝的鸟。
  【注释】 
  ① 纲: 本意是提网的大绳。这里指在河流的水面上横着 一根大绳, 上面系有许多鱼钩以钓鱼。② 弋(yì义): 用带绳的箭射鸟, 叫 弋。 这种箭箭尾上所系的绳, 叫 缴(z uó浊), 是用生丝做成的, 又细又韧, 箭发射出去以后, 还能靠绳收回再连续用。 宿: 指归巢宿窝的鸟。 子曰: 盖有不知而作之者, 我无是也。多闻, 择其善者而从之;多见, 而识之
  ①
  。知之次也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 可能有什么都不懂却在凭空妄作的人, 可我不是这样。多听, 选择其中好的跟着来学习;多看, 记在心里。这样〔学而知之〕, 在知识上, 〔比 生而知之 的人〕 是仅次一等的。 
  【注释】 
  ① 识(z ì志): 记住。
  ② 知之次也: 即 学而知之者, 次也 的意思。 次, 即次一等。孔子主张 生而知之者, 上也;学而知之者, 次也。 参阅《季氏篇第十六》 第九章。
  互乡难与言
  ①
  。童子见, 门人惑。子曰: 与其进也②
  , 不
  与其退也, 唯何甚?人洁己以进, 与其洁也, 不保其往也③
  。 
  【今译】 
  互乡这个地方的人很难交谈。〔但〕 互乡的一个儿童却受到孔子的接见, 弟子们都疑惑不解。孔子说: 我是赞许他向前进, 而不是赞成他往后退的。〔做事〕 何必做得太过分呢?人家使自己清洁以求进步, 我是赞许他的清洁, 而不管他以往的行为。 
  【注释】 
  ① 互乡: 地名。究竟是何处, 已不可确考。一说, 北宋地理总志《太平寰宇记》 所记徐州沛县合乡的故城, 即古时 互乡 之地。② 与: 赞许, 赞成, 肯定。下同。③ 保: 守。引申为追究, 纠缠。 子曰: 仁远乎哉?我欲仁, 斯仁至矣。 【今译】 
  孔子说: 仁, 〔距离我〕 远吗?〔只要〕 我想要做到仁, 仁就〔随着心念〕 到了。 
  陈司败问
  ①
  : 昭公知礼乎
  ②
  ? 孔子曰: 知礼。 孔子退, 揖巫马期而进之曰
  ③
  : 吾闻君子不党
  ④
  , 君子亦党乎?君取于
  吴
  ⑤
  , 为同姓, 谓之‘吴孟子’ 
  ⑥
  。君而知礼, 孰不知礼! 巫
  马期以告。子曰: 丘也幸, 苟有过, 人必知之。 【今译】 
  陈司败问: 鲁昭公知礼吗? 孔子说: 知礼。 孔子出来以后, 〔陈司败〕 向巫马期作了个揖, 走近他说: 我听说君子是不偏袒别人的, 难道君子也偏袒别人吗?鲁君娶了一个吴国女子, 是同姓, 却称她为‘吴孟子’。 如果说鲁君知礼, 还有 不知礼呢? 巫马期〔把这些话〕 告诉孔子。孔子说: 我真幸运, 如果有了过错, 人家一定会知道。 【注释】 
  ① 陈司败: 陈国的司寇(主管司法的官员)。 一说, 姓陈, 名司败, 是齐国大夫。
  ② 昭公: 鲁国国君, 姓姬, 名裯 (óu愁), 公元前 年至公元前 年在位。 昭 是死后的谥号。③ 揖(yī衣): 拱手行礼, 作揖。 巫马期: 孔子的弟子, 姓巫马, 名施, 字子期。鲁国人。比孔子小三十岁, 生于公元前 年, 卒年不详。
  ④ 党: 偏袒, 包庇, 有偏私。 ⑤ 取: 同 娶。 
  ⑥ 吴孟子: 鲁昭公夫人。春秋时, 国君夫人的称号, 一般是用她出生的国名加上她的姓。吴孟子姓姬, 便应称 吴姬。 但是, 吴国与鲁国的国君都姓姬(吴国是周文王的伯父太伯的后代, 鲁国是周文王的儿子周公姬旦的后代), 按照周礼的规定, 同姓是不能通婚的。为了掩人耳目, 鲁昭公避讳, 不称她为 吴姬, 而称 吴孟子 (孟, 指她是长女; 子, 是宋国的姓。一说, 孟子 是昭公夫人的名字, 见《左传 哀公十二年》)。 故陈司败批评指责他 君而知礼, 孰不知礼。 然而, 孔子为什么还说鲁昭公 知礼 呢?这是因为周礼提倡 为尊者讳, 为贤者讳, 为亲者讳。 孔子宁可自己承担过错, 而不说鲁君不知礼。
  子与人歌而善, 必使反之
  ①
  , 而后和之
  ②
  。
  【今译】 
  孔子同别人一起唱歌, 〔如果〕 别人唱得好, 就一定让他再唱一遍, 然后自己跟着〔他的音调〕 唱和。【注释】 
  ① 反: 反复, 再一次。
  ② 和 (è贺): 跟随着唱, 应和, 唱和。子曰: 文, 莫吾犹人也
  ①
  。躬行君子, 则吾未之有得。 【今译】 
  孔子说: 在文化方面, 大概我和别人差不多。至于做一个身体力行的君子, 我还没有做到。 【注释】 
  ① 莫: 推测之词。大概, 或者, 也许。一说, 文莫 连读, 即 曤慔, 意为黾(mǐn敏) 勉努力。句中的意思是: 在奋勉努力方面, 我和别人差不多。
  子曰: 若圣与仁, 则吾岂敢!抑为之不厌①
  , 诲人不倦, 
  则可谓云尔已矣
  ②
  。 公西华曰: 正唯弟子不能学也。 【今译】 
  孔子说: 如果说到‘圣’ 与‘仁’, 那我怎么敢当!〔我〕 只不过〔要朝着‘圣’ 与‘仁’ 的方向〕 努力而从不满足, 教育别人从不感到疲倦, 〔对于我〕 尚且可以这样说吧。 公西华说: 这正是弟子学不到的。 【注释】 
  ① 抑: 转折语气词。然则, 抑或, 或许。② 云尔: 这样, 如此。
  子疾病
  ①
  , 子路请祷
  ②
  。子曰: 有诸
  ③
  ? 子路对曰: 有
  之。《诔》 曰
  ④
  : ‘祷尔于上下神祇
  ⑤
  。’ 子曰: 丘之祷久矣
  ⑥
  。 
  【今译】 
  孔子病重, 子路请求祈祷。孔子说: 有这个道理吗? 子路回答说: 有的。《诔》 文上说: ‘为您向天地上下的神灵祈祷。’ 孔子说: 我在祈祷已 很久了。 【注释】 
  ① 疾病: 疾, 就是病。再加一个 病 字, 指病情严重。② 祷: 向鬼神祝告, 请求福祐。③ 诸: 之乎 的合音。
  ④ 诔(lě 垒): 一种对死者表示哀悼的文章。这里当作 讄, 指古代为生者向鬼神祈福的祷文。 ⑤ 神祇(qí奇): 古代称天神为 神, 地神为 祇。 ⑥  丘之 句: 久, 长久。这句话的言外之意: 你不必再祈祷了。孔子并不相信向鬼神祈祷能治好病, 所以婉言谢绝子路的请求。子曰: 奢则不孙
  ①
  , 俭则固
  ②
  。与其不孙也, 宁固。 
  【今译】 
  孔子说: 奢侈了就会不逊, 节俭了就〔显得〕 鄙陋。与其不逊, 宁可鄙陋。 
  【注释】 
  ① 孙: 同 逊。 恭顺, 谦让。② 固: 固陋, 鄙陋, 小气, 寒酸。子曰: 君子坦荡荡
  ①
  , 小人长戚戚
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子心胸平坦宽广, 小人局促 常忧愁。 【注释】 
  ① 坦: 安闲, 开朗, 直率。 荡荡: 宽广, 辽阔。② 长: 常, 总是。 戚戚: 忧愁, 哀伤, 局促不安, 患得患失。
  子温而厉, 威而不猛, 恭而安。【今译】 
  孔子温厚而又严肃, 有威严而不凶猛, 恭谨而又安详。 泰伯篇第八
  (共二十一章) 
  主要讲孔子、曾子的言论, 及对古人的评赞。子曰: 泰伯其可谓至德也已矣①
  , 三以天下让
  ②
  , 民无得
  而称焉。 
  【今译】 
  孔子说: 泰伯可以称得上是品德最高尚的人了, 三次以天下相让, 人民真不知该怎样称赞他。 【注释】 
  ① 泰伯: 周朝姬氏的祖先有名叫古公晻 (ǎn胆) 父的, 又称 太王。 古公晻父共有三个儿子: 长子泰伯(又称 太伯), 次子仲雍, 三子季历(即周文王姬昌的父亲)。 传说古公晻父见孙儿姬昌德才兼备, 日后可成大业, 便想把王位传给季历, 以谋求后世能扩展基业, 有所发展。泰伯体察到了父亲的意愿, 就主动把王位的继承权让给三弟季历;而季历则认为, 按照惯例, 王位应当由长兄继承, 自己也不愿接受。后来, 泰伯和二弟仲雍密谋, 以去衡山采药为名, 一起悄悄离开国都, 避居于荆蛮地区的勾吴。泰伯后成为周代吴国的始祖。②  三以 句: 天下, 代指王位。第一次让, 是泰伯离开国都, 避而出走。第二次让, 是泰伯知悉父亲古公晻父去世, 故意不返回奔丧, 以避免被众臣拥立接受王位。第三次让, 是发丧之后, 众臣 议立新国君时, 泰伯在荆蛮地区, 索性与当地黎民一样, 断发纹身, 表示永不返回。这样, 他的三弟季历只好继承王位。有了泰伯的这 三让, 才给后来姬昌(周文王) 继位统一天下创设了条件, 奠定了基础。因此, 孔子高度称赞泰伯。
  子曰: 恭而无礼则劳, 慎而无礼则葸①
  , 勇而无礼则乱, 
  直而无礼则绞
  ②
  。君子笃于亲
  ③
  , 则民兴于仁;故旧不遗, 则
  民不偷
  ④
  。 
  【今译】 
  孔子说: [只是容貌态度]恭敬而没有礼[来指导]就会劳扰不安;[只是做事]谨慎而没有礼[来指导]就会畏缩多惧;[只是]刚强勇猛而没有礼[来指导]就会作乱;[只是]直率而没有礼[来指导]就会说话刻薄尖酸。君子如果厚待亲族, 老百姓就会按仁德来行动;君子如果不遗忘故旧, 老百姓也就厚道了。 
  【注释】 
  ① 葸(xǐ洗): 过分拘谨, 胆怯懦弱。② 绞: 说话尖酸刻薄, 出口伤人;太急切而无容忍。③ 笃 (ǔ赌): 诚实, 厚待。④ 偷: 刻薄。
  曾子有疾
  ①
  , 召门弟子曰: 启予足
  ②
  , 启予手!《诗》 云: 
  ‘战战兢兢, 如临深渊, 如履薄冰③
  。’ 而今而后, 吾知免夫。
  小子
  ④
  ! 
  【今译】 
  曾子病危, 召集他的弟子们来, 说: [掀开被子]看看 我的脚, 看看我的手[有无毁伤之处]。《诗》 中说: ‘战战兢兢, 就好像站在深渊旁边, 就好像踩在薄冰之上。’ 从今以后, 我知道[我的身体]会免于毁伤了。弟子们! 【注释】 
  ① 曾子: 曾参, 孔子的弟子。《论语》 成书时, 后世门生记其言行, 尊称为 子。 
  ② 启: 开。这里指掀开被子看一看。一说, 同 , 看。③  战战兢兢 句: 引自《诗 小雅 小旻(mín民)》 篇。曾参借用这句话, 表明自己一生处处小心谨慎, 避免身体受损伤, 算是尽了孝道。据《孝》 载, 孔子曾对曾参说: 身体发肤受之父母, 不敢毁伤, 孝之始也。 履, 本义是单底鞋, 也泛指鞋。这里作动词用, 走, 踩, 步行。
  ④ 小子: 称弟子们。这里说完一番话之后再呼弟子们, 表示反复叮咛。
  曾子有疾, 孟敬子问之
  ①
  。曾子言曰: 鸟之将死, 其鸣也哀
  ②
; 人之将死, 其言也善。君子所贵乎道者三: 动容貌③
  , 
  斯远暴慢矣;正颜色, 斯近信矣;出辞气④
  , 斯远鄙倍矣
  ⑤
  。笾
  豆之事
  ⑥
  , 则有司存
  ⑦
  。 
  【今译】 
  曾子病危, 孟敬子去探望他。曾子说: 鸟将要死的时候, 鸣叫的声音是悲哀的;人将要死的时候, 说的话是善意的。君子应当重视的道德有三方面: 使容貌谦和严肃, 就可以避免粗暴急躁, 放肆怠慢;使脸色正派庄重, 就接近于诚实守信;说话注意言词[得体]和口气[声调合宜], 就可以避免粗野和背理。至于祭祀和礼节仪式, 自有主管的官吏去办。 【注释】 
  ① 孟敬子: 姓仲孙, 名捷, 武伯之子, 鲁国大夫。 问: 看望, 探视, 问候。
  ② 也: 句中语气助词。表示提顿, 以起下文, 兼有舒缓语气的作用。
  ③ 动容貌: 即 动容貌以礼。 指容貌谦和, 恭敬, 从容, 严肃, 礼貌等。
  ④ 出辞气: 即 出辞气以礼。 出, 是出言, 发言。 辞气, 指所用的词句和语气。
  ⑤ 鄙倍: 鄙, 粗野。 倍, 同 背。 指背理, 不合理, 错误。⑥ 笾豆之事: 笾 (ān边), 古代一种竹制的礼器, 圆口, 下面有高脚, 在祭祀宴享时用来盛果脯。 豆, 古代一种盛食物盛肉的器皿, 木制, 有盖, 形状像高脚盘。笾和豆都是古代祭祀和典礼中的用具。笾豆之事, 就是指祭祀或礼仪方面的事务。⑦ 有司: 古代指主管某一方面事务的官吏。这里具体指管理祭祀或仪礼的小官吏。 存: 有, 存在。曾子曰: 以能问于不能, 以多问于寡;有若无, 实若虚;犯而不校
  ①
  。昔者吾友尝从事于斯矣
  ②
  。 
  【今译】 
  曾子说: 有才能却向没有才能的人询问, 知识多的却向知识少的人询问;有[本事]却好像没有, [知识学问]很充实却好像很空虚;被人冒犯也不去计较。从前我的朋友曾 这样做过。 
  【注释】 
  ① 校(j ào叫): 计较。② 吾友: 我的朋友。有人认为: 曾参指的是他的同学颜回。 曾子曰: 可以托六尺之孤①
  , 可以寄百里之命
  ②
  , 临大节
  而不可夺也
  ③
  。君子人与
  ④
  ?君子人也! 
  【今译】 
  曾子说: 可以把年幼的孤儿托付给他, 可以把国家的命运委托给他, 面临重大考验有气节而不动摇屈服。这是君子一类的人吗?是君子一类的人啊! 【注释】 
  ① 六尺之孤: 孩子死去父亲, 叫 孤。 六尺之孤, 指尚未成年而登基接位的年幼君主。古代的 尺 短, 一尺合现代市尺六寸九分。身长 六尺, 其实只合现在四尺一寸四分(约 公分), 一般指未成年的小孩(十五岁以下)。 
  ② 寄百里之命: 寄, 寄托, 委托。 百里, 指方圆百里的一个诸侯国。 命, 指国家的政权与命运。③ 不可夺: 指其志不可夺, 不能使他动摇屈服。④ 与: 同 欤。 语气词。
  曾子曰: 士不可以不弘毅
  ①
  , 任重而道远。仁以为己任
  ②
  , 
  不亦重乎?死而后已, 不亦远乎? 【今译】 
  曾子说: 士, 不可以不心胸开阔、意志坚强, [因为]责任重大, 道路遥远。把实现‘仁’ 看作是自己的任务, 不也是很重大吗?[要终生为之奋斗]到死才停止, 不也是很遥远吗? 
  【注释】 
  ① 弘毅: 弘, 广大, 开阔, 宽广。 毅, 坚强, 果敢, 刚毅。 宋代儒学家程颢解说: 弘而不毅, 则无规矩而难立;毅而不弘, 则隘陋而无以居之。 弘大刚毅, 然后能胜重任而远到。 ②  仁以 句: 以仁为己任 的倒装句。把实现 仁 看作是自己的任务。
  子曰: 兴于《诗》 
  ①
  , 立于礼
  ②
  , 成于乐
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 用《诗》 激励志气, 用礼作为行为规范的立足点, 用乐完成人格修养社会之治。 【注释】 
  ① 兴: 兴起, 勃发, 激励;受到《诗》 的感染, 而热爱真善美, 憎恨假恶丑。
  ② 立: 立足于社会, 树立道德。③ 成: 完成, 达到。这里指以音乐来陶冶性情, 养高尚的人格, 完成学业, 最终达到全社会 礼乐之治 的最高境界。子曰: 民可使由之
  ①
  , 不可使知之。 
  【今译】 
  孔子说: 对老百姓, 可以使他们顺着当政者所指点的路线去走, 而不可以使他们都知道为什么这样走。 【注释】 
  ① 由: 从, 顺从, 听从, 由什么道路。孔子认为下层百姓的才智能力、认识水平、觉悟程度各不一样, 当政者在施行政策法令时, 只能要求他们遵照着去做, 而不可以使人人都知道这样做的道理。子曰: 好勇疾贫
  ①
  , 乱也。人而不仁
  ②
  , 疾之已甚
  ③
  , 乱
   世。 
  【今译】 
  孔子说: 爱勇敢而恨贫穷, 会闯乱子。对不仁的人, 恨得太厉害, 也会激出祸乱。 
  【注释】 
  ① 疾: 厌恶, 憎恨。
  ② 人而不仁: 不仁的人。
  ③ 已甚: 太过分, 很厉害。
  子曰: 如有周公之才之美, 使骄且吝①
  , 其馀不足观也
  已。 
  【今译】 
  孔子说: [一个人]假如有周公那样美好的才能, 只要骄傲自大而且吝啬小气, 馀下的也就不值得一看了。 【注释】 
  ① 吝(lìn赁): 吝啬, 小气, 过分爱惜, 应当用而不用。子曰: 三年学, 不至于谷
  ①
  , 不易得也。 
  【今译】 
  孔子说: 学了三年, 并不转到要官做求俸禄的念头上去, 是难得的啊。 
  【注释】 
  ① 谷: 谷子, 小米。古代官吏以谷子来计算俸禄, 这里以 谷 代指做官及其俸禄。
  子曰: 笃信好学, 守死善道
  ①
  , 危邦不入, 乱邦不居
  ②
  。
   天下有道则见
  ③
  , 无道则隐。邦有道, 贫且贱焉, 耻也;邦无道, 富且贵焉, 耻也。 
  【今译】 
  孔子说: 坚定信念, 努力学习, 誓死保全并爱好〔治国作人之〕 道, 有危险的国家, 不要进入;有祸乱的国家, 不要在那儿居住。天下有道, 就出来从政;天下无道, 就隐居起来。国家有道, 而自己贫贱, 是耻辱;国家无道, 而自己富贵, 也是耻辱。 
  【注释】 
  ① 道: 这里指治国作人的 则与方法。下文 邦有道 邦无道 则指社会政治局面的好与坏, 国家政治是否走上正道。② 危邦, 乱邦: 东汉儒学家包咸解说: 臣弑君, 子弑父, 乱也;危者, 将乱之兆(征兆, 预兆) 也。 ③ 见: 同 现。 表现, 出现, 出来。子曰: 不在其位, 不谋其政
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 不在那个职位上, 就不要过问那方面的政事。 【注释】 
  ① 谋: 参与, 考虑, 谋划。
  子曰: 师挚之始
  ①
  , 《关雎》 之乱
  ②
  , 洋洋乎盈耳哉! 
  【今译】 
  孔子说: 从太师挚演奏开始, 到结尾演奏《关雎》, 多么美盛啊, 那充满在我耳朵中的乐曲! 【注释】 
  ① 师挚之始: 师, 指太师, 乐师。鲁国的乐师名挚(z ì志), 一名 乙。 因他擅长弹琴, 又称 琴挚。 始, 乐曲的开端, 即序曲。古代奏乐, 开端叫 升歌, 一般由太师演奏, 故说 师挚之始。 ② 关雎: 《诗》 的第一篇。参见前《八佾篇第三》 第二十章。乱: 乐曲结尾的一段, 由多种乐器合奏。这里指演奏到结尾时所奏的《关雎》 乐章。
  子曰: 狂而不直, 侗而不愿
  ①
  , 暎暎而不信
  ②
  , 吾不知之
  矣。 
  【今译】 
  孔子说: [有的人]狂妄而不正直, 幼稚无知还不谨慎, 表面上诚恳却不守信用, 我不知道这种人怎么会这样。 【注释】 
  ① 侗(tón 同): 幼稚无知。 愿: 谨慎, 老实, 厚道。② 暎暎(k n 空): 诚恳。这里指表面上装出诚恳的样子。子曰: 学如不及, 犹恐失之。 【今译】 
  孔子说: 学习就像追赶[什么]而追不上那样, [追上了]还恐怕再失去它。 
  子曰: 巍巍乎
  ①
  , 舜、禹之有天下也, 而不与焉②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 多么崇高伟大啊, 舜、禹得到了天下, 却不去谋取个人的私利呀。 
   【注释】 
  ① 巍巍: 本是形容高大雄伟的山, 在这里用, 是赞美舜和禹的崇高伟大。
  ② 而不与焉: 历来学者有四种解释: 一、 与, 赞许。意思是: 舜、禹, 难道不值得赞许吗?二、 与, 同 举。 拔取, 夺取。意思是: 舜、禹得到天下, 不是靠夺取而来的。三、 与, 参与政事。意思是: 舜、禹得到天下, 重视选贤任能, 发挥大臣们的作用, 自己并不亲自干预具体的政事。四、 与, 同 预。 参与, 含有私自占有和享受的意思。意思是: 尧把天下禅让给舜, 舜后来又禅让给禹, 他们不是孜孜以求王位, 不以得到王位为乐;虽然得了天下, 却好像同自己不相关一样, 不以国君的地位去谋取个人的私利、贪图个人的享受。本书取此说。
  子曰: 大哉, 尧之为君也!巍巍乎, 唯天为大, 唯尧则之
  ①
  。荡荡乎
  ②
  , 民无能名焉
  ③
  。巍巍乎, 其有成功也。焕乎
  ④
  , 
  其有文章
  ⑤
  。 
  【今译】 
  孔子说: 伟大呀, 尧做为这样的君主!多么崇高啊, 只有天是最高大的, 只有尧才能效法天。他的恩德功绩多么广大啊, 人民不知该怎样称赞他。多么崇高啊, 他成就的功业。多么光辉啊, 他制定的礼乐典章制度。 【注释】 
  ① 则: 效法, 取法。
  ② 荡荡: 广大, 广远, 广博无边。③ 名: 用言语去形容, 赞美。④ 焕: 光辉, 光明。
   ⑤ 文章: 指礼乐典章制度。舜有臣五人
  ①
  , 而天下治。武王曰: 予有乱臣十人②
  。 孔
  子曰: 才难。不其然乎?唐虞之际③
  , 于斯为盛
  ④
  , 有妇人焉, 
  九人而已。三分天下有其二
  ⑤
  , 以服事殷。周之德, 其可谓至德也已矣。 
  【今译】 
  舜有贤臣五人, 就能把天下治理好。周武王说: 我有能治理国家的大臣十人。 孔子[因此]说: 人才难得。难道不是这样么?在唐尧、虞舜时代[之后], 周武王时期人才最盛, 然而[十位治国大臣中]有一人是妇女, 实际上只有九人而已。[周文王]已 占有了三分之二的天下, 他却仍然向殷纣王称臣。周朝的道德, 可以说是最高的了。 【注释】 
  ①  舜有 句: 传说舜有五位贤臣, 分别是: 禹, 稷(jì记), 契(x è谢), 皋陶 (āoyáo高摇), 伯益。② 乱臣十人: 乱, 在这里是治理的意思。 乱臣, 指能治理国家的大臣。十人是: 周公旦, 召公奭(s ì式), 太公望, 毕公, 荣公, 太颠, 闳夭, 散宜生, 南宫适(武王曾命他 散鹿台之财, 发钜桥之粟, 以赈贫弱。 与孔子弟子南宫适不是一人), 另有一名妇女是邑姜(南宫适夫人, 专管内务)。 ③ 唐虞之际: 尧舜之时。 唐, 尧的国号。 虞, 舜的国号。 际, 时期, 时候。
  ④ 斯: 代词。指周武王时代。⑤  三分 句: 传说商纣时天下分为九州, 归附文王的已有六个州(荆, 梁, 雍, 豫, 徐, 扬), 只有青、兖、冀三州属商纣王。 子曰: 禹, 吾无间然矣①
  !菲饮食而致孝乎鬼神
  ②
; 恶衣
  服而致美乎黻冕
  ③
; 卑宫室而尽力乎沟洫
  ④
  。禹, 吾无间然矣! 
  【今译】 
  孔子说: 对于禹, 我没有可批评的地方啊。他的饮食菲薄, 却尽量[以丰洁的祭品]孝敬鬼神;他平时穿衣服很简朴, 而祭祀时却尽量穿华美的礼服;他住的宫室低矮狭小, 却尽力兴修水利, 挖沟开田间水道。对于禹, 我没有可批评的地方啊! 
  【注释】 
  ① 间(j àn见): 本意指空隙。这里用作动词, 含有挑剔、批评、非议等意思。
  ② 菲 (ě 匪); 菲薄, 不丰厚。 致: 致力, 努力去做。③ 黻冕 (ǔ m ǎn府免): 祭祀时穿的礼服, 叫黻;官职在大夫以上的人戴的礼帽, 叫冕。
  ④ 卑: 低矮狭小, 简陋。 洫(xù序): 田间的水道, 起着正疆界、备旱涝的作用。
   子罕篇第九
  (共三十章) 
  主要讲孔子提倡礼制, 鼓励人们好学不倦;以及记述孔子不肯说什么, 不肯做什么。
  子罕言利
  ①
  , 与命与仁
  ②
  。
  【今译】 
  孔子很少谈财利, 赞同天命, 赞许仁德。【注释】 
  ① 罕: 少。
  ② 与: 赞同, 肯定。一说, 与, 是连词 和。 则此句的意思为: 孔子很少谈财利、天命和仁德。宋儒程颐就曾说: 计利则害义, 命之理微, 仁之道大, 皆夫子所罕言也。 但是, 综观《论语》 全书, 共用 命 字 次, 其中含 命运 天命 意义的, 有 次;共用 仁 字 次, 其中含 仁德 意义的达 次。由此看来, 说孔子很少谈天命和仁德, 是缺乏根据的。达巷党人曰
  ①
  : 大哉孔子!博学而无所成名。 子闻之, 谓门弟子曰: 吾何执
  ②
  ?执御乎?执射乎?吾执御矣。 【今译】 
  达巷那个地方的人说: 真伟大呀孔子!知识学问很广博, 而没有可以成名的专长。 孔子听到这话, 对本门弟子们说: 我专做什么呢?做驾车的事吗?做射箭的事吗?[那么]我从事驾车吧! 
  【注释】 
  ① 达巷党人: 达巷那个地方的人。 达巷, 地名。山东省滋阳县(今兖州市) 西北, 相传即达巷党人所居。 党, 古代地方组织, 五百家为一党。一说, 达巷党人, 指项槖(tuó驼)。 传说项槖七岁为孔子师。
  ② 执: 专做, 专门从事。
  子曰: 麻冕
  ①
  , 礼也;今也纯
  ②
  , 俭
  ③
  。吾从众。拜下
  ④
  , 
  礼也;今拜乎上, 泰也
  ⑤
  。虽违众, 吾从下。 
  【今译】 
  孔子说: 用麻布做的礼帽, 符合古礼;现在用丝绸做, 比较节俭。我赞成众人的做法。[臣见君王]先在堂下跪拜行礼[然后升堂再跪拜一次], 符合古礼;现在[臣见君, 不先在堂下拜, 而是直接]升堂时行一次跪拜礼, 这是高傲轻慢的表现。虽然违反众人的做法, 我还是赞成先在堂下行跪拜礼。 
  【注释】 
  ① 麻冕: 用麻布制成的礼帽。按古时规定, 要用两千四百根麻线, 织成二尺二寸宽(约合现在一尺五寸) 的布来做。很费工, 所以不如用丝绸俭省。
  ② 纯: 黑色的丝绸。
   ③ 俭: 节俭, 俭省。④ 拜下: 按照传统古礼, 臣见君王, 先在堂下跪拜;君王打了招呼之后, 到堂上再跪拜一次。⑤ 泰: 轻慢, 骄奢。
  子绝四: 毋意
  ①
  , 毋必
  ②
  , 毋固
  ③
  , 毋我
  ④
  。
  【今译】 
  孔子杜绝了四种缺点: 不凭空猜测意料, 不绝对肯定, 不固执拘泥, 不自以为是。
  【注释】 
  ① 毋: 同 勿。 不, 不要。 意: 推测, 猜想。② 必: 必定, 绝对化。
  ③ 固: 固执, 拘泥。
  ④ 我: 自私, 自以为是, 唯我独尊。子畏于匡
  ①
  , 曰: 文王既没
  ②
  , 文不在兹乎
  ③
  ?天之将丧
  斯文也, 后死者不得与于斯文也④
; 天之未丧斯文也, 匡人其
  如予何
  ⑤
  ! 
  【今译】 
  孔子在匡地受到围困拘禁, 他说: 周文王已 死了, 周代的文化遗产不都是在我这里吗?上天如果想要毁灭这种文化, 我就不可能掌握这种文化了;上天如果不要毁灭这种文化, 匡人能把我怎么样呢? 
  【注释】 
  ① 子畏于匡: 畏, 受到威胁, 被拘禁。 匡, 地名。今河南省长垣县西南十五里有 匡城, 疑即此地。公元前 年, 孔子从卫 国去陈国时, 过匡地, 被围困拘禁。其 因有二: 一、当时楚国正进攻卫、陈, 群众不了解孔子, 对他怀疑, 有敌意, 有戒心。二、匡地曾遭受鲁国阳货的侵扰暴虐。阳货, 又名阳虎(一说, 字货), 是春秋后期鲁国季氏的家臣, 权势很大。当阳货侵扰匡地时, 孔子的一名弟子颜克曾 参与。这次, 孔子来到匡地, 正好是颜克驾马赶车, 而孔子的相貌又很像阳货, 人们认出了颜克, 于是以为是仇人阳货来了, 便将他包围, 拘禁了五天, 甚至想杀他。直到弄清真情, 才放了他们。② 文王: 周文王。姓姬, 名昌, 西周开国君王周武王(姬发) 的父亲。孔子认为文王是古代圣人之一。③ 兹: 这, 此。这里指孔子自己。④ 后死者: 孔子自称。 与: 参与。引申为掌握, 了解。一说, 通 举。 兴起。
  ⑤ 如予何: 把我如何, 能把我怎么样。 予, 我。太宰问于子贡曰
  ①
  : 夫子圣者与
  ②
  ?何其多能也? 子贡
  曰: 固天纵之将圣
  ③
  , 又多能也。 子闻之, 曰: 太宰知我乎?吾少也贱, 故多能鄙事
  ④
  。君子多乎哉?不多也。 
  【今译】 
  太宰问子贡道: 孔夫子是圣人吧?怎么这样多才多艺呢? 子贡说: 这本是上天使他成为圣人, 又使他多才多艺的。 孔子听到后, 说: 太宰了解我吗?我少年时贫贱, 所以会许多卑贱的技艺。[地位高的]君子会有这么多的技艺吗?不会多啊。 
  【注释】 
  ① 太宰: 周代掌管国君宫廷事务的官员。当时, 吴、宋二国的上大夫, 也称太宰。一说, 这人就是吴国的太宰伯嚭(pǐ匹), 不可确 考。
  ② 与: 同 欤。 语气助词。③ 纵: 让, 使, 听任, 不加限量。④ 鄙事: 低下卑贱的事。孔子年轻时曾从事农业劳动, 放过羊, 赶过车, 当过仓库保管, 还当过司仪, 会吹喇叭演奏乐器等等。牢曰
  ①
  : 子云: ‘吾不试
  ②
  , 故艺。’ 
  【今译】 
  牢说: 孔子说过: ‘[年少时]我没有[被任用]做官, 所以学会许多技艺。’ 
  【注释】 
  ① 牢: 有人认为是孔子的弟子琴牢。姓琴, 字子开, 一字子张, 或称 琴张。 卫国人。但《史记 仲尼弟子列传》 并无此人。② 试: 用。引申为被任用, 做官。子曰: 吾有知乎哉?无知也。有鄙夫问于我①
  , 空空如
  也。我叩其两端而竭焉
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我有知识吗?没有知识。有位乡下人问我[一些问题], 我脑子里像是空空的;可是我询问了[那些问题的]正反两方面, 就完全有了[答案]。 【注释】 
  ① 鄙夫: 这里指乡村的人。 鄙, 周制, 以五百家为 鄙。 后也称小邑、边邑为 鄙。 
  ② 叩: 询问。 两端: 两头。指事情(问题) 的正反、始终、本末等两个方面。 竭: 完全, 穷尽。 子曰: 凤鸟不至
  ①
  , 河不出图
  ②
  , 吾已矣夫! 
  【今译】 
  孔子说: 凤鸟不飞来, 黄河也不出现八卦图, 我[这一生]将要完了! 
  【注释】 
  ① 凤鸟: 古代传说中的一种神鸟。雄的叫 凤, 雌的叫 凰, 羽毛非常美丽, 为百鸟之王。传说凤鸟在舜的时代和周文王时代出现过。凤鸟的出现, 象征着天下太平, 圣王 将要出世。② 图: 传说上古伏羲时代, 黄河中有龙马背上驮着 八卦图 出现。 图 的出现, 是 圣人受命而王 的预兆。《尚书 周书 顾命》 篇, 记有 河图 之事。文中, 孔子以 凤 图 之说, 表示自己对当时政治黑暗, 天下混乱, 大道不行 的失望。子见齐衰者
  ①
  , 冕衣裳者与 者
  ②
  , 见之, 虽少, 必作
  ③
; 
  过之, 必趋
  ④
  。
  【今译】 
  孔子遇见穿丧服的人, 戴礼帽穿礼服的人和盲人, 虽然他们年轻, 相见时, 孔子一定站起身来;在他们面前 过的时候, 也一定要恭敬地迈小步快快走过。【注释】 
  ① 齐衰(zī uī资崔): 古代用麻布做的丧服。为五服之一, 因其缉边缝齐, 故称。 齐, 衣的下摆。② 冕衣裳者: 冕, 做官人戴的高帽子; 衣, 上衣; 裳, 下服。总起来指穿着礼服(官服) 的人。  (ǔ古): 双目失明, 盲人。③ 作: 站起身来。表示同情和敬意。④ 趋: 迈小步快走。也是表示敬意。 颜渊喟然叹曰
  ①
  : 仰之弥高
  ②
  , 钻之弥坚
  ③
; 瞻之在前
  ④
  , 
  忽焉在后。夫子 然善诱人
  ⑤
  , 博我以文, 约我以礼, 欲罢
  不能, 既竭吾才。如有所立卓尔⑥
  , 虽欲从之, 末由也已
  ⑦
  。 
  【今译】 
  颜渊感叹地说: [老师的道德品格和学识, ]抬头仰望, 越望越觉得高;努力去钻研, 越钻研越觉得艰深;看着好像在前面, 忽然又像是在后面。老师善于一步一步地诱导人, 用文化典籍来丰富我的知识, 用礼节来约束我的行动, 使我想停止前进也不可能, 直到竭尽了我的才力[也不能停止学习]。总好像有一个非常高大的东西立在前面, 虽然很想要攀登上去, 却没有途径。 
  【注释】 
  ① 喟(kuì溃): 叹气, 叹息。② 弥: 更加, 越发。
  ③ 钻: 深入钻研。 坚: 本意是坚硬, 坚固。这里引申为深, 艰深。
  ④ 瞻(z ān沾): 看, 视。⑤  然: 一步一步有次序地。 诱: 引导, 诱导。⑥ 卓尔: 高大直立的样子。
  ⑦ 末由: 指不知从什么地方, 不知怎么办, 没有办法去达到。 末, 没有, 无。 由, 途径。子疾病
  ①
  , 子路使门人为臣
  ②
  。病间
  ③
  , 曰: 久矣哉, 由
  之行诈也
  ④
  !无臣而为有臣。吾 欺?欺天乎?且予与其死于臣之手也, 无宁死于二三子之手乎⑤
  ?且予纵不得大葬
  ⑥
  , 予
  死于道路乎? 
   【今译】 
  孔子病重, 子路派弟子去做家臣[以便负责料理后事]。后来孔子的病好转一些, 便说: 很久了啊, 仲由干这种欺 人的事!我本来没有家臣, 却要装作有家臣。让我欺 呢?欺 上天吗?况且, 我与其在家臣的料理下死去, 倒不如在弟子你们的料理下死去。而且, 我即使不能以大夫之礼来隆重安葬, 难道我会死在道路上吗? 【注释】 
  ① 疾病: 疾, 生病。 病, 病重, 病危。② 臣: 指家臣。按当时礼法, 只有受封的大夫, 才有家臣, 死后丧事, 也是由家臣负责料理。孔子那时已 不做官了, 本来没有家臣, 但是子路却要安排门人去充当孔子的家臣, 这是为了摆一下排场, 准备以大夫之礼来安葬孔子。
  ③ 间(j àn见): 本指间隙。这里指疾病好了一些, 病势转轻。④ 由: 即子路。姓仲名由, 子路是字。⑤ 无宁: 无, 发语词, 没有意义。 宁, 宁可。 无宁 常与 与其 连用, 表示选择。 与其 用在放弃的一面, 无宁 用在肯定的一面。 二三子: 对弟子们的称呼, 犹言 你们几位。 ⑥ 大葬: 指按葬大夫的礼节来安葬。子贡曰: 有美玉于斯, 韫椟而藏诸①
  ?求善贾而沽诸
  ②
  ? 
  子曰: 沽之哉!沽之哉!我待贾者也! 【今译】 
  子贡说: 有一块美玉在这里, 是把它放入柜子里收藏起来呢?还是找一个识货的商人卖掉它呢? 孔子说: 卖它吧!卖它吧!我正等着识货的商人哩! 【注释】 
  ① 韫椟: 韫(yùn运), 收藏起来。 椟 (ú毒), 柜子。后以 韫椟 表示怀才未用。
  ② 贾 (ǔ古): 商人。古代称行商, 为商;有固定店铺的商人, 为贾。沽 (ū姑): 卖, 买。 诸: 之乎 二字的合音。子欲居九夷
  ①
  。或曰: 陋
  ②
  , 如之何? 子曰: 君子居之, 何陋之有? 
  【今译】 
  孔子想要迁到九夷地方居住。有人说: 那里很落后, 如何能居住呢? 孔子说: 君子居住到那里[去实行教化], 还有什么落后的呢? 
  【注释】 
  ① 九夷: 我国古代称东部的少数民族为夷。至于 九夷, 或说是指九个不同的部族;或说是对东部夷族地区的总称;或说即 淮夷, 是散居于淮水、泗水之间的一个部族。已不可确考。② 陋: 本义是狭小, 简陋。这里引申为 济、文化的落后。子曰: 吾自卫反鲁
  ①
  , 然后乐正, 《雅》 《颂》 各得其所②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我自卫国返回鲁国, 然后把乐曲进行了整理订正, 使雅归雅, 颂归颂, 各归于适当的位置。 【注释】 
  ① 自卫反鲁: 反, 同 返。 指公元前 年(鲁哀公十一年) 冬, 因卫国发生内乱, 孔子从那儿返回鲁国, 结束了他十四年来 周游列国 的生活。
   ② 雅, 颂: 《诗》 篇章分《风》 、《雅》 、《颂》 三大类。在古代, 《诗》 篇诗, 都是能唱的。不同的诗配有不同的乐曲。奏于朝曰雅, 奏于庙曰颂。这里指《雅》 、《颂》 的乐章内容和曲谱, 都得到了孔子的整理与订正, 而教之于徒, 传之于世。子曰: 出则事公卿, 入则事父兄, 丧事不敢不勉, 不为酒困, 何有于我哉
  ①
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 在外[从政就职]事奉君王公卿, 在家事奉父母兄长, 办理丧事不敢不勤勉尽力, 就是喝酒也不致被醉倒, [这些事]我做到了哪些呢? 【注释】 
  ①  何有 句: 一说, 此句意为: 我还有什么困难或遗憾呢?子在川上曰: 逝者如斯夫
  ①
  , 不舍昼夜
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子在河边说: 消逝的时光就像这河水一样啊!日日夜夜不停地流去。 
  【注释】 
  ① 逝者: 指逝去的岁月、时光。 斯: 这。这里指河水。 夫 (ú扶): 语气助词。
  ② 舍: 止, 停留。
  子曰: 吾未见好德如好色者也①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我没见过爱慕德行像爱慕美色[那样热切]的 人。 
  【注释】 
  ①  吾未见 句: 据《史记 孔子世家》 记载, 孔子 居卫月馀, 灵公与夫人(南子) 同车, 宦者雍渠参乘出, 使孔子为次乘(后面的第二部车子), 招摇市过之。 孔子因而发出了这一感叹。子曰: 譬如为山, 未成一篑
  ①
  , 止, 吾止也。譬如平地, 
  虽覆一篑
  ②
  , 进, 吾往也
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 比如用土来堆一座山, 只差一筐土便能堆成, 可是停止了, 那是我自己停止的。比如在平地上[堆土成山], 虽然才倒下一筐土, 可是前进[继续堆土], 那是我自己坚持往前的。 
  【注释】 
  ① 篑(kuì溃): 装土用的竹筐子。② 覆: 底朝上 过来倾倒。
  ③ 往: 犹言前进。这几句话的言外之意是: 办事中道而止, 则前功尽弃, 停止或前进, 责任在自己而不在别人。子曰: 语之而不惰者
  ①
  , 其回也与
  ②
  ! 
  【今译】 
  孔子说: 听我对他说话而不懈怠的, 莫非只有颜回吧! 【注释】 
  ① 惰: 懈怠, 不恭敬。
  ② 其: 表示揣测、反诘。莫非, 难道, 也许。 与: 同 欤。 语气助词。
   子谓颜渊曰: 惜乎!吾见其进也, 未见其止也。 【今译】 
  孔子谈到颜渊, [追叹]说: 真可惜呀[他不幸死了]!我只看到他不断前进, 从来没见他停止过。 子曰: 苗而不秀者有矣夫!秀而不实者有矣夫①
  ! 
  【今译】 
  孔子说: [种庄稼]只是出苗而不秀穗的是有的吧!只秀穗却不灌浆不结果实的也是有的吧! 【注释】 
  ① 据《论语注疏》, 此章是孔子惋惜颜渊早逝而作。子曰: 后生可畏, 焉知来者之不如今也?四十、五十而无闻焉, 斯亦不足畏也已。 
  【今译】 
  孔子说: 年轻人是值得敬服的, 怎么知道将来的人们不如现在的人们呢?但如果到了四十岁、五十岁还默默无闻, 那也就不值得敬服了。 
  子曰: 法语之言
  ①
  , 能无从乎?改之为贵。巽与之言②
  , 
  能无说乎
  ③
  ?绎之为贵
  ④
  。说而不绎, 从而不改, 吾末如之何也已矣。 
  【今译】 
  孔子说: 符合礼法的话, 能不听从吗?但只有[按照 则]改正[自己的缺点错误], 才是可贵的。顺耳好听的话, 能不让人高兴吗?但只有分析鉴别[这些话的真伪是非], 才是可贵的。如果只高兴而不分析鉴别, 只听从而不改正自己, [对于这样的人]我实在没有什么办法啊。 【注释】 
  ① 法语之言: 指符合礼法规范、符合国家法令的正确的话。 法, 法则, 规则, 则。
  ② 巽与之言: 巽(xùn逊), 通 逊, 谦逊, 恭顺。 与, 赞许, 称赞。巽与之言, 指那种顺耳好听的、恭维称道的言词。③ 说: 同 悦。 
  ④ 绎(yì义): 本义是抽丝。引申为寻究事理, 分析鉴别以便判断真假是非。
  子曰: 主忠信。毋友不如己者。过则勿惮改①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 做人, 主要讲求忠诚, 守信用。不要同不如自己的人交朋友。如果有了过错, 就不要怕改正。 【注释】 
  ① 《学而篇第一》 第八章文字与此略同, 可参阅。子曰: 三军可夺帅也
  ①
  , 匹夫不可夺志也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 三军可以丧失它的主帅, 一个人却不可以丧失他的志向。 
  【注释】 
  ① 三军: 古制, 一万二千五百人为一军。周朝, 一个大诸侯国可拥有三军(三万七千五百人)。 ② 匹夫: 普通的人, 男子汉。子曰: 衣敝缊袍
  ①
  , 与衣狐貉者立
  ②
  , 而不耻者, 其由也
  与?‘不忮不求, 何用不臧
  ③
  ?’ 子路终身诵之。子曰: 是道也, 何足以臧? 
  【今译】 
  孔子说: 穿着破旧的丝绵袍子, 同穿着狐貉皮袍子的人在一起站着, 而不觉得自己耻辱的人, 大概只有仲由吧?[《诗》 中说: ]‘不嫉妒别人, 不贪求财物, 什么行为能不好呢?’ 子路终身 常背诵这两句诗。孔子说: 做到这样固然是道之所在, 〔但〕 怎么能算得上十足的好呢? 【注释】 
  ① 衣敝缊袍: 衣, 做动词用, 穿。 敝, 破, 坏。 缊(yùn运): 乱麻、旧绵絮。全句指穿着破旧的用乱麻掺旧绵絮做的袍子。② 衣狐貉者: 穿着狐狸皮貉皮袍子的人。指富贵者。 貉 (é盒), 似狸, 毛皮珍贵。
  ③  不忮 二句: 出自《诗 邶风 雄雉》 篇。 忮(z ì志), 嫉妒别人。 求, 贪求财物。 何用, 何行, 什么行为。 臧(zān 脏), 好, 善。
  子曰: 岁寒, 然后知松柏之后凋也①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 到了一年最寒冷的时节, 才知道松柏树是最后凋谢的。 
  【注释】 
  ① 凋 (āo刁): 凋零, 萎谢, 草木花叶脱落。松柏树四季常青, 冬不凋。孔子以此为喻, 有 烈火见真金 、 路遥知马力 、 国乱识忠臣 、 士穷显节义 的含意。子曰: 知者不惑
  ①
  , 仁者不忧, 勇者不惧。 
  【今译】 
  孔子说: 聪明智慧的人不会迷惑, 实行仁德的人不会忧愁, 真正勇敢的人不会畏惧。 【注释】 
  ① 知: 同 智。 智, 仁, 勇, 是孔子所提倡的三种传统美德。子曰: 可与共学, 未可与适道①
; 可与适道, 未可与立;
  可与立, 未可与权
  ②
  。‘唐棣之华, 偏其反而。岂不尔思, 室是远而
  ③
  。’ 子曰: 未之思也, 夫何远之有? 【今译】 
  孔子说: 能够一起学习的人, 未必能一起学到‘道’; 能够学到‘道’ 的人, 未必能坚定不移地守‘道’; 能够坚守‘道’ 的人, 未必能灵活运用, 随机应变。古诗说: ‘唐棣树的花, 摇摇摆摆, 先开后合。难道我不思念你吗?你居住的太遥远了。’ 孔子[又]说: 这是没有真正思念啊, [如果真在思念]那还有什么遥远不遥远呢? 【注释】 
  ① 适: 往。这里含有达到、学到的意思。 道: 指真理。② 权: 本义是秤锤。引申为权衡, 随宜而变。③  唐棣 四句: 古诗。 唐棣 (ì弟), 又作 棠棣, 常棣, 树木名。生 南山谷中, 一名杉, 也叫郁李, 属蔷薇科, 落叶灌木。《诗 小雅 常棣》 有句: 常棣之华, 鄂不韡韡。 大意说, 常 棣树上的花啊, 花萼光明, 鲜鲜亮亮。其内 是借棠棣的花与萼相依相托, 比喻兄弟的亲密关系与互相友爱。 华, 同 花。 偏其反而, 此言唐棣之花在风中翩飞 舞。 偏, 同 翩。 疾飞, 随风 动摇摆。 反, 通。 动。 而, 语助词, 没有实际意义。 岂不尔思, 即 岂不思尔。 尔, 你。 室, 居住之处。此诗出处已不可确考。按诗意推测, 作者可能是借唐棣花起兴, 表达他希望同情人(或友人) 聚合的心情。
  孔子以上这段话, 阐明了掌握 道 、实行 道 的层次有五: 一、能学习 道; 二、能把 道 真正学到手;三、能坚守 道; 四、能灵活运用 道, 以随机应变;五、只要心中常想着 道, 道 并不遥远, 就在眼前;重要的不在于口头上讲, 而在于实际去做。 乡党篇第十
  (共二十七章) 
  主要讲孔子平素的举止言谈, 衣食住行, 生活习惯。孔子于乡党
  ①
  , 恂恂如也
  ②
  , 似不能言者。其在宗庙朝廷, 便便言
  ③
  , 唯谨尔。
  【今译】 
  孔子在家乡, 表现得信实谦卑、温和恭顺, 似乎是不善于讲话的人。[但是]在宗庙祭祀、在朝廷会见君臣的场合, 他非常善于言谈, 辩论详明, 只是比较谨慎罢了。【注释】 
  ① 乡党: 指在家乡本地。古代, 一万二千五百户为一乡, 五百户为一党。
  ② 恂恂(xún寻): 信实谦卑, 温和恭顺, 而又郑重谨慎的样子。③ 便便(p án骈): 擅长谈论, 善辩。朝, 与下大夫言
  ①
  , 侃侃如也
  ②
; 与上大夫言, 訒訒如也
  ③
  。
  君在, 踧踖如也
  ④
  , 与与如也
  ⑤
  。
  【今译】 
  [孔子]在朝廷上, [当君王还未临朝时]与[同级的]下 大夫说话, 刚直和乐, 从容不迫;与[地位尊贵的]上大夫说话, 和颜悦色, 中正诚恳。君王临朝到来, [孔子]表现出恭敬而又不安, 慢步行走而又小心谨慎。【注释】 
  ① 下大夫: 周代, 诸侯以下是大夫。大夫的最高一级, 称 卿, 即 上大夫; 地位低于上大夫的, 称 下大夫。 孔子当时的地位, 属下大夫。
  ② 侃侃(kǎn砍): 说话时刚直和乐, 理直气壮, 而又从容不迫。③ 訒訒(yín银): 和颜悦色, 而能中正诚恳, 尽言相诤。④ 踧踖 (ùjí醋急): 恭敬而又不安的样子。⑤ 与与: 漫步行走, 非常小心谨慎的样子。君召使摈
  ①
  , 色勃如也
  ②
  , 足躩如也
  ③
  。揖所与立, 左右手, 
  衣前后, 襜如也
  ④
  。趋进, 翼如也
  ⑤
  。宾退, 必复命曰: 宾不
  顾矣
  ⑥
  。 
  【今译】 
  [鲁国]国君下令使孔子接待外宾, [孔子]脸色立刻庄重起来, 脚步加快起来。[孔子]向同他站在一起的人作揖时, 向左向右拱手, 衣服前后摆动, 都很整齐。他快步向前时, 姿态像鸟儿要展翅飞翔。宾客走了以后, 一定向国君回报说: 宾客已 不回头看了。 
  【注释】 
  ① 摈 (ìn鬓): 同 傧。 古代称接引招待宾客的负责官员。这里用作动词, 指国君下令, 使孔子去接待外宾。② 勃如: 心情兴奋紧张, 脸面表现得庄重矜持。③ 躩(jué绝): 快步前进, 脚旋转而表敬意。 ④ 襜 (ān搀): 衣服整齐飘动。⑤ 翼如: 像鸟儿张开翅膀。
  ⑥ 不顾: 不回头看。指客人已走远了。入公门, 鞠躬如也
  ①
  , 如不容。立不中门, 行不履阈②
  。过
  位
  ③
  , 色勃如也, 足躩如也, 其言似不足者④
  。摄齐升堂
  ⑤
  , 鞠
  躬如也, 屏气似不息者
  ⑥
  。出, 降一等
  ⑦
  , 逞颜色
  ⑧
  , 怡怡如也
  ⑨
  。
  没阶
   
  , 趋进, 翼如也。复其位, 踧踖如也。【今译】 
  [孔子]走进诸侯国君的大门, 便低头躬身[非常恭敬], 好像不容他直着身子进去。站立时不在门的中间, 行走时不踩门坎。 过国君的席位时, 脸色立刻庄重起来, 脚步加快, 说话时好像气力不足的样子。提起衣服的下摆向大堂上走的时候, 低头躬身[恭敬谨慎], 憋住一口气好像停止呼吸一样。出来时, 走下一级台阶, 才舒展脸色, 显出轻松的样子。走完了台阶, 快步向前, 姿态像鸟儿展翅。回到自己的位置上, 还要表现出恭敬而又不安的样子。【注释】 
  ① 鞠躬: 这里指低头躬身恭敬而谨慎的样子。② 履: 走, 踩。 阈(yù玉): 门限, 门槛。③ 过位: 按照古代礼节, 君王上朝与群臣相见时, 前殿正中门屏之间的位置是君王所立之位。到议论政事进入内殿时, 群臣都要 过前殿君王所立的位子, 这时君王并不在, 只是一个虚位, 但大夫们 过位 时, 为了尊重君位, 态度仍必须恭敬严肃。④ 言似不足: 说话时声音低微, 好像气力不足的样子。一说, 同朝者要尽量少说话, 不得不应对时, 也要答而不详, 言似不足。这都 是为了表示恭敬。
  ⑤ 摄齐: 摄, 提起, 抠起。 齐(zī资), 衣服的下襟, 下摆, 下缝。朝臣升堂时, 一般要双手提起官服的下襟, 离地一尺左右, 以恐前后踩着衣襟或倾跌失礼。
  ⑥ 屏气: 屏 (ǐn 丙), 抑制, 强忍住。屏气, 就是憋住一口气。 息: 呼吸。
  ⑦ 降一等: 从台阶走下一级。⑧ 逞颜色: 这里指舒展开脸色, 放松一口气。 逞, 快意, 称心, 放纵。
  ⑨ 怡怡如: 轻松愉快的样子。  没阶: 指走完了台阶。 没(mò墨), 尽, 终。执圭
  ①
  , 鞠躬如也, 如不胜
  ②
  。上如揖, 下如授。勃如战
  色, 足蹜蹜
  ③
  , 如有 
  ④
  。享礼
  ⑤
  , 有容色。私觌
  ⑥
  , 愉愉如也
  ⑦
  。
  【今译】 
  [孔子出使到别的诸侯国去]举着圭, 低头躬身[非常恭敬], 好像举不动的样子。向上举好像作揖, 放下来好像递东西给别人。脸色庄重而昂奋, 好像战战兢兢;步子迈得又小又快, 好像沿着一条直线往前走。在赠送礼品的仪式上, 显出和颜悦色。[以个人身份]私下会见时, 满脸笑容。【注释】 
  ① 圭 (uī归): 一种上圆下方的长条形玉器。举行朝聘、祭祀、丧葬等礼仪大典时, 帝王、诸侯、大夫手里都要拿着这种玉器。依不同的地位身份, 所拿的圭也各有不同。这里指大夫出使到别的诸侯国去, 手里拿着代表本国君主的圭, 作为信物。② 不胜: 担当不起, 承受不住, 几乎不能做到。③ 蹜蹜(sù素); 形容脚步细碎紧密, 一种小步快走的样子。 ④ : 顺着, 沿着。⑤ 享礼: 向对方贡献礼品的仪式。 享, 献。⑥ 觌 (í笛): 见面, 会见, 以礼相见。⑦ 愉愉: 快乐, 心情舒畅, 露出笑容。君子不以绀緅饰
  ①
  , 红紫不以为亵服
  ②
  。当暑, 袝絺绤
  ③
  , 
  必表而出之
  ④
  。缁衣
  ⑤
  , 羔裘
  ⑥
; 素衣
  ⑦
  , 鸒 裘
  ⑧
; 黄衣, 狐裘。
  亵裘长, 短右袂
  ⑨
  。必有寝衣, 长一身有半。狐貉之厚以居 
  。
  去丧, 无所不佩。非帷裳
   
  , 必杀之
   
  。羔裘玄冠不以吊
   
  。吉
  月
   
  , 必朝服而朝。
  【今译】 
  君子不用深青透红或黑中透红的布做镶边, 不用红色或紫色的布做平日在家穿的便服。在夏天, 穿粗麻或细麻布做的单衣, 但一定要套在外面。[冬天]黑色罩衣, 配黑羊羔皮袍;白色罩衣, 配白鹿皮袍;黄色罩衣, 配狐狸皮袍。平常在家穿的皮袍, 要做得长一些, 右边的袖子短一些。必须有睡衣, 要一身半长。要用毛长的狐貉皮制作坐垫。[服丧期满]脱去丧服, 可以佩戴各种装饰品。如果不是礼服, 必须加以剪裁, 去掉多馀的布。不要穿黑羊羔皮袍戴黑色礼帽去吊丧。每月的初一, 一定要穿朝服去上朝。【注释】 
  ① 绀 (àn赣): 深青透红(带红) 的颜色(一说, 天青色)。 是古时斋戒服装所用的颜色。 緅(z u邹): 黑中透红的颜色(一说, 铁灰色)。 是古时丧服所用的颜色。 饰: 服装上的装饰。这里指衣服领子、袖子上的镶边等。
  ② 亵(x è谢) 服: 平常在家穿的私服、便服。贴身穿的内衣也 称亵服。因为红紫色是制做礼服的庄重的颜色, 所以, 亵服不能用红紫色。
  ③ 袝絺绤: 袝(z ěn诊), 单衣。 絺 (ī吃), 细麻布, 葛布。 绤(xì细), 粗麻布。袝絺绤, 指穿细麻布或粗麻布做的单衣。④  必表 句: 一定把麻布单衣穿在外表, 而里面还要衬上内衣。一说, 表, 是上衣, 是套在外表的衣服。古人不论冬夏, 出门时都要外加上衣。
  ⑤ 缁(zī兹): 黑色。
  ⑥ 羔裘: 黑色羊羔皮做的皮袍。⑦ 素: 白色。
  ⑧ 鸒 裘: 指用小鹿皮做的皮袍。 鸒 (ní尼), 白色幼鹿。⑨ 短右袂: 指右手的袖子做得短一些, 便于做事。 袂(mè 妹), 袖子。
     狐貉 句: 用厚毛的狐貉皮制做成坐垫。 以, 用。 居, 坐。
    帷裳: 朝拜和祭祀时穿的礼服。古时规定, 要用整幅的布来做礼服, 多馀的布不裁掉, 而要折叠起来缝上。 杀: 消除。这里指剪裁掉。如果不是制做礼服, 必须加以剪裁, 去掉多馀的布。
    玄冠: 黑色的礼帽。
    吉月: 阴历每月的初一。也称作朔月。一说, 只指每年正月岁首。
  齐
  ①
  , 必有明衣
  ②
  , 布。齐必变食
  ③
  , 居必迁坐
  ④
  。
  【今译】 
  斋戒时, 一定要有洗澡后换穿的干净内衣, 要用布做的。斋戒时, 一定要改变饮食, 住处一定要从卧室迁出。 【注释】 
  ① 齐: 同 斋。 斋戒。
  ② 明衣: 指斋戒期间沐浴后所换穿的贴身衣服。③ 变食: 改变平常的饮食。特指不饮酒, 不吃荤, 不吃葱蒜韭等有异味的东西。
  ④ 居必迁坐: 指斋戒时的住处, 要从内室(平时的卧室) 迁到外室, 不与妻妾同房。
  食不厌精
  ①
  , 脍不厌细
  ②
  。食饎而餲
  ③
  , 鱼馁而肉败
  ④
  , 不
  食。色恶, 不食。臭恶, 不食。失饪⑤
  , 不食。不时
  ⑥
  , 不食。
  割不正, 不食。不得其酱, 不食。肉虽多, 不使胜食气⑦
  。唯
  酒无量, 不及乱
  ⑧
  。沽酒市脯
  ⑨
  , 不食。不撤姜食。不多食
   
  。
  【今译】 
  饭食不嫌做得精, 鱼肉不嫌切得细。粮食陈旧变味了, 鱼不新鲜了, 肉腐烂了, 不吃。食物的颜色变坏了, 不吃。气味不好闻了, 不吃。烹煮的不得当, 不吃。不到该吃的时候, 不吃。不按一定方法宰割的肉, 不吃。酱、醋作料放得不适当, 不吃。肉虽然多, [吃时]不要超过主食的数量。唯独酒无限量, 但不能喝到昏醉的程度。买来的酒和市上的熟肉干, 不吃。不去掉姜。不要多吃。
  【注释】 
  ① 不厌: 不厌烦, 不排斥, 不以为不对。② 脍(kuà 快): 细切的鱼肉。③ 饎(yì义): 食物长久存放, 陈旧了, 霉烂变质了。 餲(à 艾): 食物放久变了味, 馊了。④ 馁(ně 内上声): 鱼类不新鲜了, 腐烂了。 败: 肉类不新 鲜了, 腐烂了。
  ⑤ 饪(rèn任): 烹调, 煮熟。⑥ 不时: 不到该吃的时候。指吃饭要定时。一说, 不吃过了时的、不新鲜的蔬菜。另说, 不到成熟期的粮食、果、菜, 不能吃, 吃了会伤人。
  ⑦ 气: 同 饩(xì戏)。 粮食。⑧ 不及乱: 不到喝醉而神智昏乱的地步。⑨ 脯 (ǔ府): 熟肉干, 干肉。  不多食: 不多吃, 不要吃得过饱而伤肠胃。另说, 与 不撤美食 相连, 指每餐都要吃点姜, 但也不要多吃姜。祭于公
  ①
  , 不宿肉
  ②
  。祭肉不出三日
  ③
  。出三日不食之矣。
  【今译】 
  参加国君祭祀典礼分到的肉, 不能过夜。[平常]祭祀用过的肉不能超过三天。超过了三天就不吃它了。【注释】 
  ① 祭于公: 指士大夫等参加国君举行的祭祀典礼。② 不宿肉: 肉, 指 胙肉, 祭祀所用的肉。胙肉一般由祭祀当天清晨特意宰杀的牲畜肉充任, 到第二天祭礼完全结束后再分赐给助祭者。故这种胙肉拿回家已是宰杀后的两三天了, 不宜再放过夜。③ 祭肉: 指自家祭祀所用的肉。食不语, 寝不言。
  【今译】 
  吃饭时不交谈, 睡觉时不说话。 虽疏食菜羹
  ①
  , 必祭
  ②
  , 必齐如也。
  【今译】 
  虽然是吃粗米饭蔬菜汤, 也一定先要祭一祭, 一定要像斋戒时那样恭敬严肃。
  【注释】 
  ① 疏食: 粗食, 吃蔬菜和谷米类。 羹 (ēn 庚): 浓汤。② 必: 底本作 瓜, 据《鲁论语》 改。 祭: 指吃饭前把席上的各种饭菜分别拿出一点, 另摆在食器之间, 以祭祀远古发明饮食的祖先, 表示不忘本。一说, 即指一般的祭祖先或祭鬼神。席不正
  ①
  , 不坐。
  【今译】 
  席子摆放不端正, 不要坐。
  【注释】 
  ① 席: 坐席。古代没有椅子凳子, 在地上铺上席子以为坐具。乡人饮酒
  ①
  , 杖者出
  ②
  , 斯出矣。
  【今译】 
  在举行乡饮酒礼后, 要等老年人先走出去, 自己才出去。【注释】 
  ① 乡人饮酒: 指举行乡饮酒礼。乡饮酒礼是周代仪礼的一种, 可参看《仪礼 乡饮酒礼》 及《礼记 乡饮酒义》。 ② 杖者: 拄拐杖的人, 即老年人。我国古代素有尊老敬老的传统美德。周礼讲: 五十杖于家, 六十杖于乡, 七十杖于国, 八十杖于朝。九十者, 天子欲有问焉, 则就于其家。 对九十岁的老人, 连天子有事要问, 也要到老人的家里去。 乡人傩
  ①
  , 朝服而立于阼阶
  ②
  。
  【今译】 
  本乡的人们举行 神赛会驱疫逐鬼仪式时, [孔子]总是穿着朝服站立在东面的台阶上。【注释】 
  ① 傩(nuó挪): 古代在腊月里举行的 神赛会、驱疫逐鬼的一种仪式。主持者头戴面具, 蒙熊皮, 穿黑衣, 执戈, 扬盾, 率百隶及童子, 敲着鼓, 跳着舞, 表演驱疫捉鬼的内容。② 阼(zuò作): 大堂前面靠东面的台阶。这里是主人站立以欢 客人的地方。
  问人于他邦
  ①
  , 再拜而送之。
  【今译】 
  [孔子]托别人代为问候在其他诸侯国的朋友时, 要躬身下拜, 拜两次, 送走所托的人。【注释】 
  ① 问: 问候, 问好。这里指托别人代为致意。康子馈药
  ①
  , 拜而受之。曰: 丘未达
  ②
  , 不敢尝。 
  【今译】 
  季康子赠药, [孔子]拜谢而接受了。并说: 我对药性不了解, 不敢尝。 
  【注释】 
  ① 康子: 即季康子。参阅《为政篇第二》 第二十章。 馈(kuì愧): 赠送。按当时的礼节, 接受别人送的药, 要当面尝一尝。② 达: 了解, 通达事理。
   厩焚
  ①
  。子退朝, 曰: 伤人乎? 不问马。【今译】 
  马棚失火焚毁了。孔子从朝廷回来, 问: 伤人了吗? 却不问马。
  【注释】 
  ① 厩(j ù旧): 马棚, 马房。后也泛指牲口房。君赐食, 必正席先尝之。君赐腥①
  , 必熟而荐之
  ②
  。君赐
  生, 必畜之。侍食于君, 君祭, 先饭。【今译】 
  国君赐给食物, [孔子]一定摆正坐席, 先尝一尝。国君赐给生肉, 一定煮熟了先供奉祖先。国君赐给活的牲畜, 一定把它饲养起来。陪同国君一起吃饭, 当国君饭前行祭礼时, 自己先吃饭[不吃菜]。
  【注释】 
  ① 腥: 生肉。
  ② 荐: 供奉, 进献。这里指煮熟了肉先放在祖先灵位前上供, 表示进奉。本章所述各种作法, 都是表示敬意。疾, 君视之
  ①
  , 东首
  ②
  , 加朝服, 拖绅
  ③
  。
  【今译】 
  [孔子]患病, 国君来看望, 他[躺在床上]头朝东, 把朝服加盖在身上, 拖着大束带。【注释】 
  ① 视: 探视, 看望。
  ② 东首: 指头朝东。
   ③ 绅(s ēn身): 朝服的束在腰间的大宽带子。孔子因病卧床, 不能穿朝服束腰, 故把朝服加盖在身上, 把 绅 放在朝服上, 拖下带子去, 表示对国君的尊敬与 接。君命召, 不俟驾行矣
  ①
  。
  【今译】 
  国君命令召见, [孔子]不等马车驾好, 就先步行走了。【注释】 
  ① 俟(sì四): 等待。 驾: 套上马 车。入太庙, 每事问
  ①
  。
  【今译】 
  [孔子]进入太庙[助祭], 对每件事都[向主事人仔细]询问。
  【注释】 
  ① 此章与《八佾篇第三》 第十五章文字相似, 可参阅。朋友死, 无所归
  ①
  , 曰: 于我殡。 
  【今译】 
  朋友死了, 没有人来料理后事。[孔子]说: 由我来负责安葬。 
  【注释】 
  ① 归: 归宿。这里指后事的安排, 如装殓, 发丧, 埋葬等。朋友之馈, 虽车马, 非祭肉
  ①
  , 不拜。
   【今译】 
  接受朋友赠送的礼物, 即使是车马[那样贵重的东西], 如果不是祭肉, [孔子]也不躬身下拜。【注释】 
  ① 祭肉: 指祭祀祖先用的胙肉。为了表示对朋友的祖先像对自己的祖先那样尊敬, 在接受祭肉时要拜。寝不尸
  ①
  , 居不客
  ②
  。
  【今译】 
  [孔子]睡觉时不是像死尸那样直挺挺的躺着, 平日在家坐着, 也不像做客或接待客人那样。【注释】 
  ① 尸: 死尸。这里指像死尸一样展开手足仰卧。② 居: 坐。 客: 宾客。这里用作动词, 指像做客或接待客人那样郑重地坐着——两膝平跪, 挺直腰板。这是一种比较费力的姿势。这一句, 有的版本是 居不容。 意思则成为: 平日居家可以随便一点, 不必像祭祀或接待宾客时那样拘谨, 使自己的容貌仪态十分郑重严肃。
  见齐衰者
  ①
  , 虽狎
  ②
  , 必变。见冕者与 者
  ③
  , 虽亵
  ④
  , 必
  以貌。凶服者
  ⑤
  , 式之
  ⑥
  。式负版者
  ⑦
  。有盛馔
  ⑧
  , 必变色而作
  ⑨
  。
  迅雷风烈必变。
  【今译】 
  [孔子]见到穿孝服的人, 即使是关系亲密, 也一定要把态度变得严肃起来。见到穿官服的和盲人, 即使是平日常在一起的熟人或卑贱的人, 也一定要对他很有礼貌。[乘车时途 中]遇上穿丧服或送死人衣物的人, 便俯下身去伏在车前的横木上。遇上背着国家的户籍册疆域图的人, 也要伏在车前的横木上。[做客时]遇有丰盛的筵席, 一定把态度变得庄重, 并且站起身来。遇上迅急的雷电和猛烈的大风, 一定要把神态变得庄严。
  【注释】 
  ① 齐衰(zī uī兹崔): 孝服。参见《子罕篇第九》 第十章。② 狎(x á侠): 亲近, 亲密。③ 冕者: 穿礼服、官服的人。  者: 盲人。④ 亵(x è谢): 亲近。这里指平日里常见面的、熟悉的人, 或卑贱的人。
  ⑤ 凶服: 丧服, 也指死人的衣物。⑥ 式: 同 轼, 车前做扶手用的横木。这里指身子向前微俯, 伏在横木上, 表示同情或尊敬。这是当时社会上的一种礼节。⑦ 负: 背负。 版: 指国家的图籍(疆域地图, 田亩、户口名册等)。 
  ⑧ 盛馔: 指盛大丰足的筵席。 馔(z uàn赚), 饮食。⑨ 作: 起立, 站起身来。
  升车, 必正立, 执绥
  ①
  。车中, 不内顾, 不疾言, 不亲指②
  。
  【今译】 
  [孔子]上车时, 一定先站正了身子, 住扶手上的索带[然后登车]。在车上, 不向车内回头看, 不急促地高声说话, 不举起自己的手指指划划。
  【注释】 
  ① 绥(suí随): 古代车上设置的 着上车的绳索。 ② 不亲指: 不举起自己的手指指划划。这里说的 不内顾, 不疾言, 不亲指, 都是为了集中精力驾好车, 防止自己的容态失礼或使别人产生疑惑。
  色斯举矣
  ①
  。翔而后集。曰: 山梁雌雉
  ②
  , 时哉时哉
  ③
  ! 
  子路共之
  ④
  , 三嗅而作
  ⑤
  。
  【今译】 
  [孔子看到]一群野鸡飞起来而神色动了一下。[这群野鸡]飞翔了一阵之后, 停落在树上。[孔子]说: 山梁上的雌野鸡, 时运真好呀, 时运真好呀! 子路[听了这话]向野鸡拱了拱手, 野鸡长叫了几声, 飞走了。【注释】 
  ① 色斯举矣: 色, 脸色。 举, 鸟飞起来。这句话的文字可能有错漏之处。按后面的文字来推测, 可能是说: 孔子在山谷中行走, 看见一群山鸡在自由飞翔, 心有感触, 神色动了一下。② 雉(z ì至): 野鸡。
  ③ 时哉: 犹言得其时, 时运好。孔子见野鸡能自由飞翔下落, 自己反没有实现政治抱负的自由, 故有此叹。④ 共: 同 拱。 拱手, 抱 致敬、致意。⑤ 三嗅: 嗅, 唐代石 《论语》 作 戛(j á颊)。 戛, 是鸟的长叫声。三嗅, 指野鸡长叫了几声。一说, 嗅, 当作 (jù巨), 鸟类张开两翅的样子。作: 飞起来。对这一章文字的理解诠释, 历来众说纷纭。有的理解为: 几只野鸡看到走过来的人脸色不善(以为要射猎它), 而飞起来了;飞翔了一阵, 而后集中落在树上。孔子感慨地说: 山中的雌野鸡能遇险而飞, 识时务呀, 识时务呀! 子路听了这话, 向野鸡拱了拱手表示敬意, 野鸡又受了惊, 拍打了几下翅膀而飞走了。可参。
   先进篇第十一
  (共二十六章) 
  主要讲孔子对弟子贤否的评论。子曰: 先进于礼乐
  ①
  , 野人也
  ②
; 后进于礼乐, 君子也
  ③
  。
  如用之, 则吾从先进。 
  【今译】 
  孔子说: 先学习礼乐〔而后做官〕 的人, 是在野的人;〔先做官〕 而后学习礼乐的人, 是卿大夫的子弟。如果要选用人才, 我将选用先学习礼乐的人。 【注释】 
  ①  先进 句: 指先在学习礼乐方面有所进益, 先掌握了礼乐方面的知识。 后进 反之。
  ② 野人: 这里指庶民, 没有爵禄的平民。与世袭贵族相对。③ 君子: 这里指有爵禄的贵族, 世卿子弟。子曰: 从我于陈、蔡者
  ①
  , 皆不及门也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 曾 随从我在陈国、蔡国的弟子们, 现在都不在我的门下了。 
   【注释】 
  ①  从我 句: 公元前 年(鲁哀公四年, 当时孔子六十一岁), 孔子周游列国, 率领弟子们从陈国去蔡国。途中, 楚国派人来聘请孔子, 孔子将往楚国拜礼。陈、蔡大夫怕与己不利, 便派徒役在郊野围困孔子。孔子和弟子们断粮七天, 许多人饿得不能行走。后由子贡去楚国告急, 楚昭王派兵前来 孔子, 才获解救。当时随从孔子的弟子有子路、子贡、颜回等。公元前 年, 孔子返回鲁国后, 子路、子贡等先后离开, 有的做了官, 有的回老家, 颜回也病死了。孔子时常思念那些在艰危中跟随他的弟子们。② 不及门: 门, 指学习、受教育的场所。 及, 在, 到。不及门, 指到不了、不在他的门下受教育。一说, 是 不及仕进(卿大夫) 之门, 孔子弟子无仕陈蔡者。 德行
  ①
  : 颜渊, 闵子骞, 冉伯牛, 仲。 言语②
  : 宰我, 子
  贡。政事
  ③
  : 冉有, 季路。文学
  ④
  : 子游, 子夏。
  【今译】 
  论德行, 〔弟子中优秀的有:〕 颜渊, 闵子骞, 冉伯牛, 仲。 论言语, 〔弟子中擅长的有:〕 宰我, 子贡。论政事, 〔弟子中能干的有:〕 冉有, 季路。论文学, 〔弟子中出色的有:〕 子游, 子夏。
  【注释】 
  ① 德行: 指能实行忠恕仁爱孝悌的道德。② 言语: 指长于应对辞令、办理外交。③ 政事: 指管理国家, 从事政务。④ 文学: 指通晓西周文献典籍。 子曰: 回也非助我者也, 于吾言无所不说①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 颜回啊, 不是能帮助我的人, 〔他〕 对我所说的话, 没有不心悦诚服的。 
  【注释】 
  ① 说: 同 悦。 这里是说颜渊对孔子的话从来不提出疑问或反驳。
  子曰: 孝哉闵子骞
  ①
  !人不间于其父母昆弟之言
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 真孝顺啊, 闵子骞!人们听了他的父母兄弟〔称赞他孝〕 的话, 也找不出什么可挑剔的地方。 【注释】 
  ① 闵子骞: 当时有名的孝子, 被奉为尽孝的典范。他的孝行事迹被后人编入《二十四孝》。参阅《雍也篇第六》 第九章。② 间: 挑剔, 找毛病。昆: 兄。南容三复 白圭 
  ①
  , 孔子以其兄之子妻之
  ②
  。
  【今译】 
  南容反复诵读关于 白圭 的诗句, 孔子便把哥哥的孩子嫁给了他。
  【注释】 
  ① 南容: 即南宫适。参阅《公冶长篇第五》 第二章注。三复: 多次重复。 三 是虚数, 指在一日之内多次诵读。 白圭: 指《诗 大雅 抑》 篇。其中有云: 白圭之玷, 尚可磨也(白圭上的斑点污点, 还可以磨掉); 斯言之玷, 不可为也(言语中的错误, 不能收回不能挽 救了)。 意思指: 说话一定要小心谨慎。② 妻: 作动词用。以女嫁人。季康子问: 弟子孰为好学? 孔子对曰: 有颜回者好学, 不幸短命死矣, 今也则亡
  ①
  。 
  【今译】 
  季康子问: 〔你的〕 弟子中 是爱好学习的呢? 孔子回答: 有一个叫颜回的, 很好学, 但不幸短命死了, 如今便没有好学的了。 
  【注释】 
  ① 亡: 同 无。 本章文字与《雍也篇第六》 第三章略同, 可参阅。
  颜渊死, 颜路请子之车以为之椁①
  。子曰: 才、不才, 亦
  各言其子也。鲤也死
  ②
  , 有棺而无椁。吾不徒行以为之椁。以吾从大夫之后
  ③
  , 不可徒行也。 
  【今译】 
  颜渊死了, 颜路请求孔子卖了车给颜渊买个椁。孔子说: 〔虽然你的儿子颜渊和我的儿子孔鲤〕 一个有才、一个无才, 但对各人说来都是自己的儿子啊。孔鲤死了, 只有棺而没有椁。我不能〔卖掉车〕 步行, 来给他买椁。因为我过去当过大夫, 是不可以步行的。 
  【注释】 
  ① 颜路: 姓颜, 名无繇(yóu由), 字路。娶齐姜氏, 生子颜回(颜渊)。 颜路是孔子早年在故乡阙里教学时所收的第一批弟子, 比孔子小六岁。生于公元前 年, 卒年不详。 椁 (uǒ果): 古代有地 位的人, 棺材有两层: 内层直接装殓尸体, 叫 棺, 有底;外面还套着一层套棺, 叫 椁, 无底。合称 棺椁。 ② 鲤: 孔鲤, 孔子的儿子。孔子十九岁, 娶宋国人亓官氏, 生子伯鱼。生伯鱼时, 鲁昭公以鲤鱼赐孔子, 因此给儿子起名叫孔鲤。孔鲤五十岁死, 时孔子七十岁。
  ③ 从大夫之后: 跟从在大夫们的后面。是自己曾是大夫(孔子任鲁国司寇, 是主管治安与司法的行政长官) 的谦虚的表达方法。按礼大夫出门要坐车, 否则为失礼。颜渊死。子曰: 噫!天丧予
  ①
  !天丧予! 
  【今译】 
  颜渊死了。孔子说: 咳呀!天要丧我的命呀!天要丧我的命呀!
  【注释】 
  ① 天丧予: 丧, 亡, 使 灭亡。孔子这句话的意思是, 颜渊一死, 他宣扬的儒道就无人继承, 无人可传了。颜渊死, 子哭之恸
  ①
  。从者曰: 子恸矣! 曰: 有恸乎?非夫人之为恸而 为
  ②
  ? 
  【今译】 
  颜渊死了, 孔子哭得很哀痛。随从的人说: 夫子您太哀痛了! 孔子说: 是太哀痛了吗?不为这样的人哀痛还为 呢? 
  【注释】 
  ① 恸(tòn 痛): 极度哀痛, 悲伤。②  非夫人 句: 即 非为夫人恸而为 的倒装。 夫, 指 示代词, 代指死者颜渊。 之 是虚词, 在语法上只起到帮助倒装的作用。
  颜渊死, 门人欲厚葬之, 子曰: 不可。 门人厚葬之。子曰: 回也视予犹父也, 予不得视犹子也①
  。非我也, 夫二三
  子也。 
  【今译】 
  颜渊死了, 弟子们想隆重丰厚地安葬他。孔子说: 不可以。 弟子们仍是隆重丰厚地安葬了颜渊。孔子说: 颜回啊, 看待我如同父亲, 我却不能看待他如同儿子。不是我〔主张厚葬〕 啊, 是那些弟子们呀。 【注释】 
  ①  予不得 句: 意谓我不能像对待亲生儿子那样按礼来安葬颜渊。孔子认为办理丧葬应 称家之有亡(无), 当时颜渊家贫, 办丧事铺张奢侈, 与礼不合;同时, 按颜渊的身份与地位, 也是不应该厚葬的。
  季路问事鬼神
  ①
  。子曰: 未能事人, 焉能事鬼? 曰: 敢问死。 曰: 未知生, 焉知死? 【今译】 
  子路问怎样事奉鬼神。孔子说: 没能把人事奉好, 哪能谈事奉鬼呢? 〔子路又〕 说: 我大胆地请问, 死是怎么回事? 〔孔子〕 说: 还不知道人生的道理, 怎能知道死呢? 【注释】 
  ① 季路: 即子路。因仕于季氏, 又称季路。参阅《为政篇第二》 第十七章注。
   闵子侍侧
  ①
  , 訒訒如也
  ②
; 子路, 行行如也
  ③
; 冉有、子贡, 
  侃侃如也。子乐。 若由也
  ④
  , 不得其死然
  ⑤
  。 
  【今译】 
  闵子侍立在孔子身边, 表现出正直而恭顺的样子;子路, 很刚强的样子;冉有、子贡, 和乐而理直气壮的样子。孔子很高兴。〔但又担心说:〕 像仲由这样〔过于勇猛刚强〕, 恐怕得不到善终哩。 
  【注释】 
  ① 闵子: 即闵子骞。后人敬称 子。 ② 訒訒(yín银): 和悦而能中正直言。③ 行行 (àn 沆): 形容性格刚强勇猛。④ 由: 仲由, 字子路。
  ⑤  不得 句: 指得不到善终, 不能正常地因衰老而死。孔子虑子路过于刚勇, 好斗取祸而危及生命。后来, 子路果猝死于卫国的孔悝(kuī亏) 之乱。 然, 语气词。鲁人为长府
  ①
  。闵子骞曰: 仍旧贯, 如之何?何必改作? 子曰: 夫人不言
  ②
  , 言必有中
  ③
  。 
  【今译】 
  鲁国的执政者要改建国库长府。闵子骞说: 仍旧沿袭老样子, 如何?何必改建呢? 孔子说: 这个人不说则已, 一说就说得正确。 
  【注释】 
  ① 鲁人: 指鲁国的当权者季氏。 为: 制造。在这里是改建、 修的意思。 长府: 鲁国国库名。一说宫室名。② 夫人: 这个人。指闵子骞。 ③ 中(z òn 众): 这里指说的话能正中要害, 说到点子上。子曰: 由之瑟奚为于丘之门
  ①
  ! 门人不敬子路。子曰: 
   由也升堂矣, 未入于室也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 仲由弹瑟为什么在我这里弹呢? 弟子们〔因此〕 不尊敬子路。孔子说: 仲由啊, 在学习上已 达到‘升堂’ 的程度了, 但是还没做到‘入室’。 【注释】 
  ①  由之瑟 句: 瑟, 古代一种拨弦乐, 二十五弦(一说五十弦)。 为, 做, 弹瑟。 丘之门, 我(孔丘) 这里。据《说苑 修文篇》, 孔子对子路弹瑟表示不满, 是因为子路性情刚猛, 中和不足, 故弹出的音调过于激越, 有杀伐之声。 ② 升堂、入室: 堂, 正厅。 室, 内室。从入门, 到升堂, 再到入室。孔子用此来比喻在学习上由浅入深的三个阶段: 从入门初步掌握;到高明一些, 达到一定水平;再到精微深奥的高妙境地。子贡问: 师与商也孰贤
  ①
  ? 子曰: 师也过, 商也不及。 曰: 然则师愈与
  ②
  ? 子曰: 过犹不及
  ③
  。 
  【今译】 
  子贡问: 颛孙师和卜商 好一些? 孔子说: 师过分, 商不够。 〔子贡〕 说: 那么是师〔比较) 好一些吗? 孔子说: 做过分了和做得不够, 是同样的。 【注释】 
  ① 师: 即子张。才高意旷, 做事常有过分之处。参阅《为政篇第二》 第十八章注。 商: 即子夏。拘谨保守, 做事常有不及之处。参 阅《学而篇第一》 第七章注。 孰:。 ② 愈: 胜过, 更好些, 强一些。 与: 同 欤。 语气助同, 表疑问。
  ③ 犹: 似, 如, 如同。
  季氏富于周公
  ①
  , 而求也为之聚敛而附益之
  ②
  。子曰: 非
  吾徒也, 小子鸣鼓而攻之可也。 【今译】 
  季氏比周朝的公卿还富, 而冉求还要为季氏聚敛更增加他的财富。孔子说: 〔冉求〕 不算是我的门徒了, 你们敲着鼓去攻击他好了。 
  【注释】 
  ① 周公: 周天子左右的公卿。如当时有周公黑肩、周公阅等人。鲁国之君, 本是周公旦的后代, 故用此比喻。②  而求也 句: 求, 冉求。 也, 助词, 用于句中, 表示停顿, 以引起下文。 之, 代指季氏。 聚敛(l ǎn脸), 聚积, 收集, 搜刮钱财。 而附益之, 而使季氏更增加了财富。鲁国本按 丘 (古代田地、区域的划分单位, 四 邑 为一 丘) 征收军赋。公元前 年(鲁哀公十二年), 季康子改为按每一户的田亩数来征收, 这就大大增加了赋税收入。冉求为季氏家臣, 曾参与其事。孔子主张 敛从其薄, 是反对季氏、冉求这种过分剥削人民的做法的。柴也愚
  ①
  , 参也鲁
  ②
  , 师也辟
  ③
  , 由也喭
  ④
  。
  【今译】 
  高柴愚笨, 曾参迟钝, 颛孙师偏激, 仲由莽撞。【注释】 
  ① 柴: 姓高, 名柴, 字子羔。齐国人, 身材很矮, 为人笃孝。孔 子的弟子。比孔子小三十岁, 生于公元前 年, 卒年不详。高柴老实, 忠厚, 正直, 但明智变通不足, 故孔子说他 愚。 ② 参也鲁: 参, 曾参。曾参诚恳, 信实, 学习扎实深入, 但反应有些迟钝, 不够聪敏, 故孔子说他 鲁。 ③ 师也辟: 师, 颛孙师。 辟, 通 僻, 邪僻, 偏激。颛孙师志向高, 好夸张, 习于容仪, 但诚实不足, 故孔子说他 辟。 ④ 由也喭: 由, 仲由。 喭(yàn燕), 粗鲁, 莽撞。仲由勇猛刚烈, 但失于粗俗而文雅不足, 故孔子说他 喭。 子曰: 回也其庶乎
  ①
  , 屡空
  ②
  。赐不受命, 而货殖焉
  ③
  , 亿
  则屡中
  ④
  。 
  【今译】 
  孔子说: 颜回嘛, 差不多了吧, 可是常常穷困。端木赐不接受命运安排, 去做买卖, 猜测〔市场行情〕 却常常能猜中。 
  【注释】 
  ① 庶: 庶几, 差不多。含有称赞之意。这里指颜回学问、道德都好。
  ② 空: 指贫乏, 困穷, 穷得没办法。孔子曾说颜回: 一箪食, 一瓢饮, 在陋巷, 人不堪其忧, 回也不改其乐。 (见《雍也篇第六》 第十一章) 
  ③ 货殖: 做买卖, 商。
  ④ 亿: 同 臆。 估计, 猜测。子张问善人之道
  ①
  。子曰: 不践迹, 亦不入于室②
  。 
  【今译】 
  子张请问做善人的道理。孔子说: 如果不踩着前人的脚 迹走, 〔学问、修养〕 也就不能‘入室’。 【注释】 
  ① 善人: 孔子认为, 善人 只是 质美(本质好) 欲仁, 所谓凭良心为善。然而, 这是不够的。如果 善人 不 着前人(足可效法的先王圣贤) 的脚步走, 不通过学习去锻炼修养自己, 也就达不到 入室 的高标准。
  ② 入于室: 参见本篇第十五章注。子曰: 论笃是与
  ①
  , 君子者乎?色庄者乎
  ②
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 〔人们〕 赞许言论诚恳笃实的人, 〔但要注意区分〕 是君子呢?还是神色伪装庄重的人呢? 【注释】 
  ① 论笃是与: 等于 与论笃。 论笃, 言论诚恳笃实的人。 与, 赞许。 是 无实义, 起帮助 论笃 这一宾语提前的语法作用。② 色庄: 神色庄重。这里指做出一副庄重的样子。子路问: 闻斯行诸
  ①
  ? 子曰: 有父兄在, 如之何其闻斯行之? 冉有问: 闻斯行诸? 子曰: 闻斯行之。 公西华曰: 由也问‘闻斯行诸’, 子曰‘有父兄在’; 求也问‘闻斯行诸’ 
  ②
  , 子曰‘闻斯行之’。 赤也惑
  ③
  , 敢问。 子曰: 求也
  退, 故进之;由也兼人
  ④
  , 故退之。 
  【今译】 
  子路问: 听到了道理就马上行动吗? 孔子说: 有父兄在, 如何能〔不请示父兄〕 马上行动呢? 冉有问: 听到了道理就马上行动吗? 孔子说: 听到了就马上行动。 公西华 〔问孔子〕 说: 仲由问‘听到了就马上行动吗’, 您说‘有父兄在’; 冉求问‘听到了就马上行动吗’, 您却说‘听到了就马上行动’。 这使我迷惑, 所以大胆地问问〔为何回答不同〕。 孔子说: 冉求做事畏缩不前, 所以要鼓励他大胆前进一步;仲由一个人能顶两个人, 所以要抑制约束他慎重地退后一步。 
  【注释】 
  ① 斯: 代词。这里代指道理, 义理, 应该做的事。 诸: 之乎 二字合音。
  ② 求: 即冉有。名求, 字子有, 也称冉有。③ 赤: 即公西华。名赤, 字子华, 也称公西华。④ 兼人: 指刚勇, 敢作敢为, 一个人能顶两个人。子畏于匡
  ①
  , 颜渊后。子曰: 吾以女为死矣。 曰: 子在, 回何敢死! 
  【今译】 
  孔子在匡地受到围困拘禁, 颜渊〔失落,〕 最后才逃出来。孔子〔惊喜地) 说: 我以为你死了呢。 〔颜渊〕 说: 夫子您还健在, 我怎么敢死呢? 
  【注释】 
  ① 畏: 畏惧, 有戒心。指孔子在匡地被人误以为是阳虎而受到围困。
  季子然问
  ①
  : 仲由、冉求可谓大臣与? 子曰: 吾以子为异之问
  ②
  , 曾由与求之问
  ③
  。所谓大臣者, 以道事君, 不可则止。今由与求也, 可谓具臣矣④
  。 曰: 然则从之者与? 子 曰: 弑父与君, 亦不从也。 【今译】 
  季子然问: 仲由、冉求可以说是大臣吗? 孔子说: 我以为您是问的别人, 来是问仲由和冉求啊。所谓大臣, 是能够用正道事奉君主的, 如果不能这样, 就宁可辞职不干。现在仲由和冉求, 只可以说是具备做大臣的才能。 〔季子然〕 说: 那么〔他们〕 做什么事都跟从〔季氏〕 吗? 孔子说: 杀父亲、杀君主〔那种事〕, 也是不会跟从的。 【注释】 
  ① 季子然: 姓季孙, 名平子, 字子然, 乃季孙意加之子。鲁国秀氏的同族人。因为季氏任用子路、冉有为臣, 所以, 季子然向孔子提出了这一问题。
  ② 子: 先生。尊称对方。 为异之间: 问的别的人。 异, 不同的, 其他的。
  ③ 曾: 乃, 来是。
  ④ 具臣: 有做官的才能。 具, 才具, 才能。子路使子羔为费宰
  ①
  。子曰: 贼夫人之子
  ②
  。 子路曰: 
   有民人焉, 有社稷焉
  ③
  , 何必读书然后为学? 子曰: 是故恶夫佞者
  ④
  。 
  【今译】 
  子路让子羔去费地任行政长官。孔子说: 这是害了人家的孩子。 子路说: 那地方有人民, 有社稷, 何必非读书才算是学习呢? 孔子说: 所以我讨厌巧言狡辩的人。 【注释】 
  ① 子羔: 高柴, 字子羔。孔子弟子。比孔子小三十岁。 ② 贼: 害, 毁坏, 坑害。孔子认为子羔年轻, 学业未成, 让他从政, 无异于害他。
  ③ 社稷: 社, 土地神。 稷(jì记), 谷神。古代说 社稷, 指祭祀土地神和谷神。后来又把 社稷 作为国家政权的象征。④ 恶(wù务): 讨厌。 佞(nìn 泞): 巧言, 谄媚。子路、曾晳、冉有、公西华侍坐①
  。子曰: 以吾一日长
  乎尔, 毋吾以也
  ②
  。居则曰
  ③
  : ‘不吾知也!’ 如或知尔, 则何以哉? 子路率尔而对曰
  ④
  : 千乘之国
  ⑤
  , 摄乎大国之间
  ⑥
  , 加
  之以师旅
  ⑦
  , 因之以饥馑
  ⑧
  , 由也为之, 比及三年
  ⑨
  , 可使有勇, 
  且知方也
   
  。 夫子哂之
   
  。 求!尔何如? 对曰: 方六七十, 如五六十, 求也为之, 比及三年, 可使足民。如其礼乐, 以俟君子
   
  。 赤
   
  , 尔何如? 对曰: 非曰能之, 愿学焉。宗庙之事, 如会同
   
  , 端章甫
   
  , 愿为小相焉
   
  。 点, 尔何如? 
  鼓瑟希
   
  , 铿尔
   J
  , 舍瑟而作
   K
  , 对曰: 异乎三子者之撰
  L 
  。 子
  曰: 何伤乎
  L 
  ?亦各言其志也。 曰: 莫春者L 
  , 春服既成
  L 
  , 
  冠者五六人
  L 
  , 童子六七人, 浴乎沂
  L 
  , 风乎舞雩
  L 
  , 咏而归。 
  夫子喟然叹曰: 吾与点也! 三子者出, 曾晳后。曾晳曰: 夫三子者之言何如? 子曰: 亦各言其志也已矣。 曰: 夫子何哂由也? 曰: 为国以礼, 其言不让, 是故哂之。 唯求则非邦也与
  L 
  ? 安见方六七十如五六十而非邦也者? 唯赤则非邦也与? 宗庙会同, 非诸侯而何, 赤也为之小, 孰能为之大? 
  【今译】 
  子路、曾晳、冉有、公西华, 陪奉孔子闲坐着。孔子说: 因我比你们年长一些, 不要因为我而拘束。〔你们〕 平时常说: ‘人家不了解我啊!’ 假如有人了解你们〔要任用你们〕, 那么〔你们〕 打算怎样做呢? 子路轻率直爽急忙回答说: 一个拥有一千辆兵车的国家, 夹在大国之间, 受别国军队的侵犯, 又遇上凶年饥荒, 让我去治理, 只要三年, 就可以使人民勇敢, 而且知道遵守礼义。 孔子微笑了一下。〔孔子又问:〕 冉求, 你如何呢? 〔冉求〕 回答说: 一个纵横六七十里, 或者五六十里的小国, 让我去治理, 只要三年, 就可以使人民富足。至于礼乐教化方面, 那要等待君子去实行了。 〔孔子又问:〕 公西赤, 你如何呢? 〔公西赤〕 回答说: 不敢说我能够做到些什么, 而是很愿意学习啊。在宗庙祭祀的事务上, 或者与别的国家的盟会中, 我穿上礼服, 戴上礼帽, 愿意做一个小小的赞礼人。 〔孔子又问:〕 曾点, 你如何呢? 〔曾点正在〕 弹瑟, 声音稀疏, 铿的一声停了, 放下瑟, 站起身来。回答说: 〔我的志向〕 不同于他们三位的陈述。 孔子说: 那又有什么妨 呢?也就是各人谈谈自己的志向啊! 〔曾点〕 说: 暮春时节, 春天的夹服已 穿定了, 和成年人五六人, 少年六七人, 去沂河洗洗澡, 到舞雩台上吹吹风, 唱着歌一路走回来。 孔子长叹了一声, 说: 我是赞成曾点的。 三人出去了, 曾晳最后走。曾晳〔问孔子〕 说: 这三位说的话如何呢? 孔子说: 也就是各人谈谈自己的志向罢了。 〔曾晳〕 说: 夫子为何笑仲由呢? 〔孔子〕 说: 治理国家要讲礼让, 他说话却不谦让, 所以笑他。 〔曾晳又问:〕 难道冉求所讲的不是邦国之事吗? 〔孔子说:〕 哪里见得纵横六七十里或者五六十里的地方就不是国家呢? 〔曾晳又问:〕 难道公西赤所讲的不是邦国之事吗? 〔孔子说:〕 有宗庙、有同别国的盟会, 那不是诸侯国又是什么呢?如果公西赤只能做一个小相, 还能做大相呢? 【注释】 
  ① 曾晳(xī西): 姓曾, 名点, 字子晳。曾参的父亲。南武城人。也是孔子的弟子。
  ② 毋吾以: 不要因我而受拘束, 而停止说话, 不肯发言。 毋, 不, 不要。 以, 同 已。 停止。③ 居: 平时, 平素。
  ④ 率尔: 轻率地, 急忙地。
  ⑤ 千乘之国: 乘(s èn 胜), 兵车。古代常以兵车数作为国家大小的标志。古代是按土地多少出兵车的, 出一千辆兵车就是拥有纵横一百里面积的诸侯国。
  ⑥ 摄: 夹在其中, 受局促, 受逼迫, 受管束。⑦ 师旅: 古代军队组织, 五人为伍, 五伍为两, 四两为卒 (人), 五卒为旅 (人), 五旅为师 (人), 五师为军。 加之以师旅, 犹言发生战争, 受别国军队的侵犯。⑧ 饥馑(jǐn紧): 荒年, 灾荒, 凶年。《尔雅 释天》: 谷不熟为饥, 蔬不熟为馑。 
  ⑨ 比及: 等到, 到了。
    知方: 指懂得道义, 遵守礼义。  哂(s ěn审): 微笑, 讥笑。  俟(sì四): 等待。
    赤: 即公西华。参阅《公冶长第五》 第八章注。  会同: 诸侯会盟。两诸侯相见, 叫 会; 许多诸侯一起相见, 叫 同。 
    端章甫: 端, 也写作 褍, 周代的一种礼服, 也叫 玄 端。 章甫, 一种礼帽。这里泛指穿着礼服。  相: 在祭祀、会同时, 行赞礼的人员。也叫傧相。有不同的职位等级, 故文中有 小相 大相 之说。  希: 通 稀。 稀疏(节奏速度放慢)。 J  铿(kēn 坑) 尔: 铿的一声。形容乐声有节奏而响亮。一说, 曲终拨动瑟弦的馀音。
   K  作: 站起身来。
  L  三子: 三位。 子 是对同学的尊称。 撰: 同 譔。 陈述的事, 说的话。
  l  伤: 妨害, 妨。 
  L  莫: 同 暮。 
  l  春服: 指春天穿的夹衣(里表两层)。  既: 已。  成: 定, 穿得住了。
  L  冠者: 成年人。古代男子二十岁举行冠礼, 束发加冠, 表示已 成年。
  l  沂(yí移): 水名。发源于山东省邹城市东北, 曲阜市南及 苏省北部, 流入黄海。传说当时该处有温泉。L  风: 作动词用, 吹风, 乘凉。 舞雩: 雩(yú鱼), 古代求雨的祭坛。因人们乞雨必舞, 故称 舞雩。 这里指鲁国祭天求雨的台子, 在今曲阜市南, 有坛有树。北魏郦道元《水 注》 称: 沂水北对稷门, 一名高门, 一名雩门。南隔水有雩坛, 坛高三丈, 即曾点所欲风处也。 
  L  唯: 语首助词, 无实际意义。 颜渊篇第十二
  (共二十四章) 
  主要讲孔子教育弟子如何为仁、为政、处世。颜渊问仁
  ①
  。子曰: 克己复礼为仁
  ②
  , 一日克己复礼, 天
  下归仁焉
  ③
  。为仁由己, 而由人乎哉? 颜渊曰: 请问其目④
  。 
  子曰: 非礼勿视, 非礼勿听, 非礼勿言, 非礼勿动。 颜渊曰: 回虽不敏, 请事斯语矣
  ⑤
  。 
  【今译】 
  颜渊问〔怎样是〕 仁。孔子说: 克制自己, 使言行回复和符合于‘礼’, 就是仁。有一天做到了克制自己, 符合于礼, 天下就都赞许你是仁人了。实行仁, 在于自己, 难道还在于别人吗? 颜渊说: 请问实行仁的纲领条目。 孔子说: 不符合礼的不看, 不符合礼的不听, 不符合礼的不说, 不符合礼的不做。 颜渊说: 我虽然不聪敏, 请让我按照您的话去做吧。 
  【注释】 
  ① 仁: 儒家学说中含义非常广泛的一种道德观念。包括了恭, 宽, 信, 敏, 惠, 智, 勇, 忠, 恕, 孝, 悌等内容, 而核心是指人与人的相亲相爱。 己所不欲, 勿施于人, 己欲立而立人, 己欲达而达 人 则是实行 仁 的主要方法。② 克己复礼: 克, 克制, 约束, 抑制。 己, 自己。这里指一己的私欲。 复, 回复。 礼, 人类社会行为的法则、标准、仪式的总称。包括了社会生活中由于风俗习惯而长期形成、又为大家所共同遵守的一整套的礼节仪式;人们相互之间表示尊敬谦让的言语或动作;也包括社会上通行的法纪、道德和礼貌。据《左传 昭公十二年》 记载: 仲尼曰: ‘古也有志: 克己复礼, 仁也。’ 可见 克已复礼 是孔子以前就有的古语, 儒家用之作为一种自我修养的方法。③ 归仁: 朱熹说: 归, 犹与也。 一日克己复礼, 则天下之人皆与其仁, 极言其效之甚速而至大也。 与, 赞许, 称赞。一说, 归, 归顺。这两句的意思就是: 有一天做到了克制自己, 符合于礼, 天下就归顺于仁人了。 
  ④ 目: 纲目, 条目, 具体要点。⑤ 事: 从事, 实行, 实践。
  仲 问仁
  ①
  。子曰: 出门如见大宾, 使民如承大祭。己所不欲, 勿施于人。在邦无怨, 在家无怨。 仲 曰: 雍虽不敏, 请事斯语矣。 
  【今译】 
  仲 问〔怎样是〕 仁。孔子说: 出门〔工作、办事〕 如同去接待贵宾, 使用差遣人民如同去承当重大的祭祀。自己不愿意承受的, 不要加给别人。为国家办事没有怨恨, 处理家事没有怨恨。 仲 说: 我虽然不聪敏, 请让我按照您的话去做吧。 
  【注释】 
  ① 仲: 冉雍, 字仲。 参阅《公冶长第五》 第五章注。 司马牛问仁
  ①
  。子曰: 仁者, 其言也讱
  ②
  。 曰: 其言也
  讱, 斯谓之仁已乎? 子曰: 为之难, 言之得无讱乎? 【今译】 
  司马牛问〔怎样是〕 仁。孔子说: 仁人, 说话慎重。 〔司马牛〕 说: 说话慎重, 就称作仁吗? 孔子说: 〔凡事〕 做起来都是困难的, 说话能不慎重吗? 【注释】 
  ① 司马牛: 孔子的弟子。姓司马, 名耕, 一名犁, 字子牛。宋国人。相传是宋国大夫桓魋(tuí颓) 的弟弟。② 讱(rèn认): 言语迟钝, 话难说出口, 言若有忍而不易发。引申为说话十分慎重, 不轻易开口。《史记 仲尼弟子列传》 说司马牛 多言而躁 (饶舌话多, 个性急躁), 由此可见, 孔子这一段话是针对司马牛 多言而躁 的毛病所提出的告诫。司马牛问君子。子曰: 君子不忧不惧。 曰: 不忧不惧, 斯谓之君子已乎? 子曰: 内省不疚①
  , 夫何忧何惧? 
  【今译】 
  司马牛问〔怎样是〕 君子。孔子说: 君子不忧愁, 不畏惧。 〔司马牛〕 说: 不忧愁不畏惧, 就称为君子了吗? 孔子说: 自己反省检查, 问心无愧, 那还忧愁什么畏惧什么? 【注释】 
  ① 省(xǐn 醒): 检查, 反省, 检讨。 疚(j ù旧): 对于自己的错误感到内心惭愧, 痛苦不安。司马牛忧曰: 人皆有兄弟, 我独亡①
  。 子夏曰: 商闻
  之矣: ‘死生有命, 富贵在天。’ 君子敬而无失, 与人恭而有 礼, 四海之内, 皆兄弟也。君子何患乎无兄弟也? 【今译】 
  司马牛忧愁地说: 人家都有兄弟, 唯独我没有。 子夏说: 我听说过: ‘死生命中注定, 富贵由天安排。’ 君子〔只要〕 认真谨慎没有过失, 对人恭敬而有礼貌, 天下的人都是兄弟呀。君子何必忧虑没有兄弟呢? 【注释】 
  ① 我独亡: 亡, 同 无。 关于司马牛没有兄弟的感叹, 传统的说法是: 司马牛之兄桓魋, 与有巢、子颀、子车等在宋国作乱, 失败后逃奔卫、齐、吴、鲁。司马牛虽始终未参与其兄的作乱, 不赞成这种行为, 但也被迫逃亡到鲁国。因此, 司马牛有兄弟等于无兄弟, 故发出这样的忧叹(事见《左传 哀公十四年》)。 子张问明。子曰: 浸润之谮
  ①
  , 肤受之曞
  ②
  , 不行焉
  ③
  , 可
  谓明也已矣。浸润之谮, 肤受之曞, 不行焉, 可谓远也已矣④
  。 
  【今译】 
  子张问〔怎样是〕 明。 孔子说: 像水浸润般的谗言, 像皮肤受痛般的诬告, 对你行不通, 就可以说是看得明白了。像水浸润般的谗言, 像皮肤受痛般的诬告, 对你行不通, 就可以说是看得远了。 
  【注释】 
  ① 浸润之谮: 浸(jìn进) 润, 水(液体) 一点一滴逐渐湿润渗透进去。 谮(zèn怎去声), 谗言, 说人的坏话。浸润之谮, 是说点滴而来、日积月累、好像水浸润般的诬陷中伤。② 肤受之曞: 肤受, 皮肤上感受到。 曞, 与谮义近, 诽谤。《正义》 说: 曞亦谮也, 变其文耳。 肤受之曞, 是说好像皮肤上感觉 到疼痛般急迫切身的诽谤诬告。③ 不行: 行不通。这里指不为那些暗里明里挑拨诬陷的话所迷惑, 不听信谗言。
  ④ 远: 古语说: 远则明之至也。 《尚书 太甲中》 说: 视远惟明, 听德惟聪。 可见 远 及上句中的 明 均指看得明白, 看得深远、透彻, 而 远 比 明 要更进一步。子贡问政。子曰: 足食, 足兵①
  , 民信之矣。 子贡曰: 
   必不得已而去, 于斯三者何先? 曰: 去兵。 子贡曰: 必不得已而去, 于斯二者何先? 曰: 去食。自古皆有死, 民无信不立。 
  【今译】 
  子贡问怎样治理国家。孔子说: 有充足的粮食, 有充足的军备, 人民信任政府啊。 子贡说: 不得已一定要去掉一项, 在这三项中哪一项先去掉呢? 〔孔子〕 说: 去掉军备。 子贡说: 不得已一定要再去掉一项, 在〔剩下的〕 这两项中去掉哪一项呢? 〔孔子〕 说: 去掉粮食。自古以来人都是要死的, 但如果人民对政府不信任, 〔国家政权〕 是立不住的。 【注释】 
  ① 兵: 兵器, 武器。这里指军备。棘子成曰
  ①
  : 君子质而已矣
  ②
  , 何以文为
  ③
  ? 子贡曰: 
   惜乎, 夫子之说君子也!驷不及舌④
  。文犹质也, 质犹文也。
  虎豹之鞟犹犬羊之鞟
  ⑤
  。 
  【今译】 
  棘子成说: 君子只要质朴就行了, 为何还要那些文采? 子贡说: 可惜呀, 夫子您竟这样评说君子。舌头一动, 话说出口, 就是套上四匹马 的车, 也追不回啊。文如同质, 质如同文〔, 两者同样重要〕。 去掉毛的虎豹皮, 与去掉毛的犬羊皮就很相似了。 
  【注释】 
  ① 棘子成: 卫国的大夫。
  ② 质: 质朴, 内在的思想品质、道德修养纯朴。③ 文: 花纹, 文采。引申为文辞、礼仪等方面的修养。④ 驷不及舌: 驷(sì四), 四匹马 的车。 舌, 指说出来的话。话一说出口, 是追不回来的。⑤ 鞟(kuò阔): 同 鞹。 去掉了毛的兽皮。哀公问于有若曰
  ①
  : 年饥, 用不足, 如之何? 有若对曰: 盍彻乎
  ②
  ? 曰: 二
  ③
  , 吾犹不足, 如之何其彻也? 对曰: 百姓足, 君孰与不足?百姓不足, 君孰与足? 【今译】 
  鲁哀公问有若: 年成不好有饥荒, 〔国家财政〕 用费不足, 怎么办呢? 有若回答说: 为何不实行抽取十分之一的‘彻’ 税法呢? 〔哀公〕 说: 抽十分之二的田税, 我还不够用, 如何能实行‘彻’ 税法呢? 〔有若〕 说: 百姓富足了, 国君怎么会不足?百姓不富足, 国君怎么会足? 【注释】 
  ① 哀公: 鲁国国君。参阅《为政篇第二》 第十九章注。有若: 姓有, 名若, 字子有。被后人尊称 有子。 参阅《学而篇第一》 第二章注。
  ② 盍 (é河): 何不, 为什么不。 彻: 西周的一种田税制度。 就是国家从耕地的收获中抽取十分之一作为田税。③ 二: 指国家从耕地的收获中抽取十分之二作为田税。鲁国自宣公十五年(公元前 年) 起, 不再实行 彻 法, 而是以 二 抽税。
  子张问崇德辨惑。子曰: 主忠信, 徙义①
  , 崇德也。爱
  之欲其生, 恶之欲其死, 既欲其生, 又欲其死, 是惑也。‘诚不以富, 亦只以异’ 
  ②
  。 
  【今译】 
  子张问怎样提高品德, 辨别迷惑。孔子说: 以忠诚信实为主, 努力做到义, 就是提高品德。喜爱一个人就希望他永远活着, 厌恶起来又恨不得让他马上死去, 既要他活, 又要他死, 这就是迷惑。〔《诗》 上说:〕 ‘确实不是因为富不富, 而只是因为见异思迁。’ 
  【注释】 
  ① 徙义: 指向义迁移、靠拢, 按照义去做。 徙(Xī洗), 迁移。②  诚不 句: 出自《诗 小雅 我行其野》。 意思是: (你这样对待我) 即使不是嫌贫爱富, 也是喜新厌旧。孔子在此引这两句诗的意思, 现已很难推测。有人认为这两句诗本是其他篇章的文字, 因竹简编排的次序错了而误引在此处。可参。齐景公问政于孔子
  ①
  , 孔子对曰: 君君, 臣臣, 父父, 子子。 公曰: 善哉!信如君不君, 臣不臣, 父不父, 子不子, 虽有粟, 吾得而食诸? 
  【今译】 
  齐景公向孔子问如何治理国家, 孔子回答说: 君要像君 的样子, 臣要像臣的样子, 父要像父的样子, 子要像子的样子。 齐景公说: 很好啊!果真是君不像君, 臣不像臣, 父不像父, 子不像子, 虽然有粮食, 我能得到而享受吗? 【注释】 
  ① 齐景公: 姓姜, 名杵臼 (ǔj ù楚旧)。 齐庄公异母弟。公元前 —前 年在位。鲁昭公末年, 孔子到齐国时, 齐大夫陈氏权势日重, 而齐景公爱奢侈, 多内嬖, 厚赋敛, 施重刑, 不立太子, 不听从晏婴的劝谏, 国内政治混乱。所以, 当齐景公问政时, 孔子作了以上的回答。景公虽然口头上赞许同意孔子的意见, 却未能真正采纳实行, 为君而不尽君道, 后来齐国终于被陈氏篡夺。子曰: 片言可以折狱者
  ①
  , 其由也与! 子路无宿诺
  ②
  。
  【今译】 
  孔子说: 仅根据〔诉讼双方之中〕 一方的言辞, 就可以断案的, 大概只有仲由吧! 子路没有过夜而不兑现的诺言。【注释】 
  ① 片言: 指 告被告诉讼双方中一方的片面言辞。 片, 单方面的。 折: 断, 判断, 区别是非曲直。 狱: 讼事, 案件。② 无宿诺: 没有过宿隔夜的诺言, 没有拖延而不实现的许诺。 宿, 隔夜。
  子曰: 听讼
  ①
  , 吾犹人也, 必也使无讼乎! 【今译】 
  孔子说: 〔要论〕 审理案件, 我如同别人一样, 〔但我所不同的是〕 必须使诉讼案件不发生啊! 【注释】 
  ① 听讼: 处理诉讼。 听, 判断, 审理, 处理。子张问政。子曰: 居之无倦, 行之以忠。 【今译】 
  子张问怎样为政。孔子说: 坚守职位, 不松懈倦怠, 执行政令要忠实。 
  子曰: 博学于文, 约之以礼, 亦可以弗畔矣夫①
  ! 
  【今译】 
  孔子说: 广泛地多学文化典籍, 用礼来约束自己, 就可以不违背〔君子之道〕 了吧! 【注释】 
  ① 本章与《雍也篇第六》 第二十七章文字略同, 可参阅。子曰: 君子成人之美, 不成人之恶。小人反是。 【今译】 
  孔子说: 君子成全别人的好事, 不帮别人做成坏事。小人与此相反。 
  季康子问政于孔子。孔子对曰: 政者, 正也。子帅以正, 孰敢不正? 
  【今译】 
  季康子向孔子问怎样为政。孔子回答说: 政, 就是正。您带头走正道, 敢不走正道? 季康子患盗, 问于孔子。孔子对曰: 苟子之不欲①
  , 虽
  赏之不窃。 
  【今译】 
  季康子担忧盗贼多。向孔子询问〔该怎么办〕。 孔子回答说: 假如您不贪财利, 就是奖励盗窃, 也没有人去盗窃。 【注释】 
  ① 苟 (ǒu狗): 假如, 如果。季康子问政于孔子曰: 如杀无道, 以就有道, 何如? 孔子对曰: 子为政, 焉用杀?子欲善而民善矣。君子之德风, 小人之德草, 草上之风
  ①
  , 必偃。 
  【今译】 
  季康子向孔子询问如何为政, 说: 如果杀掉作恶的坏人, 而去亲近为善的好人, 如何呢? 孔子回答说: 您为政, 怎么还用杀人呢?您要是想做好事, 百姓也会做好事的。君子的品德就像是风, 小人的品德就像是草, 草上有风, 草必然〔随风〕 倒下。 
  【注释】 
  ① 草上之风: 指草上有风, 风吹到草上。② 偃(yǎn眼): 仆倒, 倒下。子张问: 士何如斯可谓之达矣①
  ? 子曰: 何哉, 尔所
  谓达者? 子张对曰: 在邦必闻②
  , 在家必闻。 子曰: 是闻
  也, 非达也。夫达也者, 质直而好义, 察言而观色, 虑以下人。在邦必达, 在家必达。夫闻也者, 色取仁而行违, 居之 不疑。在邦必闻, 在家必闻。 【今译】 
  子张问: 士, 怎么样才叫做‘达’? 孔子说: 你所说的‘达’ 指什么? 子张回答说: 在朝廷做官一定有名声, 为大夫做家臣一定有名声。 孔子说: 这只是名声, 而不是‘达’。 所谓‘达’ 的人, 要质朴正直, 好尚礼义, 善于分析别人的言语, 观察别人的脸色, 常想着对人谦恭有礼貌。〔这样的人〕 在朝廷做官一定‘达’, 为大夫做家臣一定‘达’。 至于有虚名的人, 表面上好像主张仁德, 行动上却违反仁德, 还以仁人自居而不怀疑。〔这样的人〕 在朝廷一定要〔 取〕 虚名, 在大夫封地一定要〔 取〕 虚名。 【注释】 
  ① 达: 通达, 显达, 处事通情达理, 做官地位显贵。孔子认为: 达者必须质直好义, 具有仁德与智慧, 才能与官职地位名实相副。② 闻: 有名声, 名望。这里指虚有其名, 名实不副。 闻 与 达 相似, 而本质不同。达重在诚, 要务实, 自修于内。闻旨在伪, 外求虚名, 欺世盗名。
  樊迟从游于舞雩之下, 曰: 敢问崇德, 修慝①
  , 辨惑。 
  子曰: 善哉问!先事后得, 非崇德与?攻其恶, 无攻人之恶, 非修慝与?一朝之忿, 忘其身, 以及其亲, 非惑与? 【今译】 
  樊迟陪着〔孔子〕 出游于舞雩台下, 说: 我大胆地请问: 怎样提高品德?怎样消除邪念?怎样辨清迷惑? 孔子说: 问得很好啊!首先努力去做该做的事, 不计较后来得到的收获, 不就是提高品德么?改掉自己的错误, 不攻击别人的错 误, 不就是消除邪念么?忍不住一时的气愤, 而忘掉自身安危, 甚至连累自己的父母亲的人, 不就是迷惑么? 【注释】 
  ① 修: 整治, 消除改正。 慝(tè特): 邪恶的念头。樊迟问仁。子曰: 爱人。 问知①
  。子曰: 知人。 樊迟
  未达
  ②
  。子曰: 举直错诸枉
  ③
  , 能使枉者直。 樊迟退, 见子夏曰: 乡也
  ④
  , 吾见于夫子而问知, 子曰: ‘举直错诸枉, 能使枉者直。’ 何谓也? 子夏曰: 富哉言乎!舜有天下, 选于众, 举皋陶
  ⑤
  , 不仁者远矣
  ⑥
  。汤有天下
  ⑦
  , 选于众, 举伊尹
  ⑧
  , 
  不仁者远矣。 
  【今译】 
  樊迟问什么是仁。孔子说: 爱人。 〔樊迟又〕 问什么是智。孔子说: 知道识别人。 樊迟还不能透彻理解。孔子说: 推举选拔正直的人, 安排的位置在邪恶的人之上, 这样就能使邪恶的人转化为正直。 樊迟〔从孔子那儿〕 退出来, 见到子夏, 说: 刚才我见到老师, 问什么是智, 老师说: ‘选拔推举正直的人, 安排的位置在邪恶的人之上, 这样就能使邪恶的人转化为正直。’ 这话是什么意思呀? 子夏说: 这是〔意义〕 丰富而深刻的话啊!舜有了天下, 在众人中选拔人才, 推举了皋陶, 不仁的人就被疏远了。汤有了天下, 在众人中选拔人才, 推举了伊尹, 不仁的人就被疏远了。 【注释】 
  ① 知: 通 智。 
  ② 未达: 还没明白, 没透彻理解。 仁 是 爱人, 不分亲疏 远近都要爱;而 智 又要求知道了解人, 善于识别人, 辨明正、邪、贤、否、智、愚而区别对待;那么, 仁 与 智 是否矛盾, 要做到 智 是否会妨害 仁? 樊迟心里含糊, 弄不大通, 故说 未达。 ③ 错诸枉: 置于邪恶的人之上。参见《为政篇第二》 第十九章注。
  ④ 乡: 通 向。 从前。此犹说 刚才。 ⑤ 皋陶 (āoyáo高摇): 传说舜时大臣, 任 士师, 掌管刑法。⑥ 远: 疏远, 远离。
  ⑦ 汤: 商朝开国君主, 名履, 灭夏桀而得天下。⑧ 伊尹: 名挚, 汤任他为 阿衡 (即宰相), 曾辅助汤灭夏兴商。
  子贡问友。子曰: 忠告而善道之①
  , 不可则止, 毋自辱
  焉
  ②
  。 
  【今译】 
  子贡问怎样对待朋友。孔子说: 要忠诚地劝告他, 委婉恰当地开导他, 他还不听从, 就停止算了, 不要自受侮辱。 【注释】 
  ① 道: 同 导。 引导, 诱导。② 毋(wú吴): 勿, 不要。曾子曰: 君子以文会友, 以友辅仁。 【今译】 
  曾子说: 君子以讲习诗书礼乐文章学问来聚会结交朋友, 依靠朋友互相帮助来培养仁德。 子路篇第十三
  (共三十章) 
  主要讲孔子教育弟子怎样做人, 怎样为政。子路问政。子曰: 先之
  ①
  , 劳之
  ②
  。 请益。曰: 无倦。 
  【今译】 
  子路问怎样为政。孔子说: 先要领头去干, 带动老百姓都勤劳地干。 〔子路〕 请求多讲一点。〔孔子〕 说: 永远不要松懈怠惰。 
  【注释】 
  ① 先之: 指为政者身体力行, 凡事率先垂范, 以身作则。 之, 代词, 指百姓。
  ② 劳之: 这里指为政者亲身去干, 以自身的 先劳, 带动老百姓都勤劳地干, 虽勤而无怨。
  仲 为季氏宰, 问政。子曰: 先有司, 赦小过, 举贤才。 曰: 焉知贤才而举之? 子曰: 举尔所知;尔所不知, 人其舍诸
  ①
  ? 
  【今译】 
  仲 担任季氏的私邑总管, 问怎样为政。孔子说: 〔凡 事〕 要带头, 引导手下管事的众官吏去做, 宽赦他们的小错误, 推举贤良的人才。 〔仲〕 说: 怎么能知道 是贤才而选拔他们呢? 孔子说: 选拔你所知道的;你所不知道的, 别人难道能不推举他吗? 
  【注释】 
  ① 舍: 舍弃, 放弃。这里指不推举。 诸: 之乎 二字合音。子路曰: 卫君待子而为政
  ①
  , 子将奚先
  ②
  ? 子曰: 必也
  正名乎
  ③
  ! 子路曰: 有是哉, 子之迂也④
  , 奚其正? 子曰: 
   野哉, 由也!君子于其所不知, 盖阙如也⑤
  。名不正则言不
  顺, 言不顺则事不成, 事不成则礼乐不兴, 礼乐不兴则刑罚不中
  ⑥
  , 刑罚不中则民无所错手足
  ⑦
  。故君子名之必可言也, 言
  之必可行也。君子于其言, 无所苟而已矣⑧
  。 
  【今译】 
  子路〔对孔子〕 说: 〔假如〕 卫国国君等待您去治理国家, 您将要先做什么事呢? 孔子说: 必须先正名分吧。 子路说: 有这样做的吗?您太迂了, 为什么要正名分呢? 孔子说: 真粗野鲁莽啊, 仲由!君子对自己所不知道的事情, 大概总得抱着存疑的态度吧。〔如果〕 名分不正, 言语就不顺;言语不顺, 事情就办不成;事情办不成, 国家的礼乐制度就不能兴建起来;礼乐制度兴建不起来, 刑罚的执行就不会恰当;刑罚执行不恰当, 人民就手足失措。所以, 君子确定名分必须可以说得清楚有理, 说了也一定可以行得通。君子对自己所说的话, 只是不草率马虎罢了。 【注释】 
  ① 卫君: 卫出公蒯辄。他与父亲争位, 引起国内混乱。所以孔子主张, 要治理卫国, 必先 正名, 以明确 君君臣臣父父子子 的关系。参阅《述而篇第七》 第十五章注。② 奚: 何, 什么。
  ③ 正名: 纠正礼制名分上的用词不当, 正确地确定某个人的名分。 正, 纠正, 改正。 名, 名分, 礼制上的人的名义、身份、地位、等级等。
  ④ 迂(yū淤): 迂腐;拘泥守旧, 不切实际。⑤ 阙如: 存疑;对还没搞清楚的疑难问题暂时搁置, 不下判断;对缺乏确凿根据的事, 不武断, 不妄说。 阀, 同 缺。 ⑥ 中(z òn 众): 得当, 恰当, 适合。⑦ 错: 同 措。 放置, 安排, 处置。⑧ 苟 (ǒu狗): 苟且, 随便, 马虎。樊迟请学稼
  ①
  。子曰: 吾不如老农。 请学为圃②
  。曰: 
   吾不如老圃。 樊迟出。子曰: 小人哉, 樊须也!上好礼, 则民莫敢不敬;上好义, 则民莫敢不服;上好信, 则民莫敢不用情。夫如是, 则四方之民襁负其子而至矣③
  , 焉用稼! 
  【今译】 
  樊迟请教学习种庄稼。孔子说: 我不如老农夫。 〔樊迟〕 请教学习种菜。〔孔子〕 说: 我不如老菜农。 樊迟出去了。孔子说: 真是小人呀, 樊须。上边重视礼, 百姓就不敢不尊敬;上边重视义, 百姓就不敢不服从;上边重视信, 百姓就不敢不说出真情实况。假如做到这样, 四方的百姓就会背着小孩前来投奔, 〔从政者〕 哪里用得上自己去种庄稼呢? 【注释】 
  ① 樊迟: 姓樊, 名须, 字子迟。参阅《为政篇第二》 第五章注。② 圃(pǔ普): 菜地, 菜园。引申为种菜。③ 襁(q ǎn 抢): 背婴儿的背带、布兜。子曰: 诵《诗》 三百, 授之以政, 不达①
; 使于四方, 不
  能专对
  ②
  , 虽多, 亦奚以为
  ③
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 熟读《诗》 三百篇, 派他从政做官, 却不会处理政务;派他当外交使节, 却不能独立地办理处事交涉, 读得虽然很多, 又有什么用呢? 【注释】 
  ① 达: 通达, 通晓;会处理, 会运用。② 专对: 即根据外交的具体情况, 随机应变, 独立行事, 回答问题, 办理交涉。外交使臣在处理对外交涉的事务时, 因不可能时时事事都向本国朝廷请求指示, 所以必须有 专对 的能力。又, 当时在外交上往往以背诵《诗》 章句来委婉地进行提问和回答, 故 诵诗三百 是外交人才的必备条件。③ 以: 用。 为: 句末语助词, 表示感慨或疑问。子曰: 其身正, 不令而行;其身不正, 虽令不从。 【今译】 
  孔子说: 本身品行端正, 就是不发命令, 人民也会照着去做;本身品行不正, 即使发布命令, 人民也不会听从。 子曰: 鲁卫之政
  ①
  , 兄弟也。 
   【今译】 
  孔子说: 鲁国、卫国的政治, 像兄弟一般。 【注释】 
  ① 鲁卫之政: 鲁国是周公(姬旦) 的封地, 卫国是周公的弟弟康叔的封地。鲁、卫本兄弟之国, 后来衰乱又相似, 孔子遂有这样的感叹。
  子谓卫公子荆善居室
  ①
  。始有, 曰: 苟合矣
  ②
  。 少有, 曰: 
   苟完矣。 富有, 曰: 苟美矣。 【今译】 
  孔子说卫国的公子荆, 善于管理家业。开始有些财产时, 〔公子荆〕 说: 差不多合于我的要求了。 再增加一些财产时, 〔他〕 说: 差不多完备了。 到财产富足时, 说: 差不多是非常美好了。 
  【注释】 
  ① 公子荆: 卫国的大夫, 字南楚。是卫献公的儿子, 故称公子荆。传说他十五岁就代理宰相, 处理国事。对自己的家业和生活享受, 能随时知足, 不奢侈。吴国的公子季札, 曾把公子荆列为卫国的君子(见《左传 襄公二十九年》)。  善居室: 善于管理家业、管理财务 济, 会过日子。
  ② 苟: 差不多, 也算是。
  子适卫
  ①
  , 冉有仆
  ②
  。子曰: 庶矣哉
  ③
  ! 冉有曰: 既庶
  矣, 又何加焉
  ④
  ? 曰: 富之。 曰: 既富矣, 又何加焉? 曰: 教之
  ⑤
  。 
   【今译】 
  孔子到卫国去, 冉有驾车。孔子说: 〔这儿〕 人真多啊! 冉有说: 人已 多了, 又该怎么办呢? 〔孔子〕 说: 让他们富裕起来。 〔冉有〕 说: 已 富裕了, 又该怎么办呢? 〔孔子〕 说: 教育他们。 
  【注释】 
  ① 适: 往, 到, 去。
  ② 仆: 驾车。
  ③ 庶(s ù树): 众多。这里指卫国人口众多。④ 何加: 即 加何。 增加什么, 进一步干什么、办什么。⑤ 教: 教育, 教化。孔子主张 先富而后教。 子曰: 苟有用我者
  ①
  , 期月而已可也
  ②
  , 三年有成。 
  【今译】 
  孔子说: 如果有人用我〔治理国家〕, 一周年就可以〔初具规模, 有可观之处〕, 三年〔功业〕 会大有成效。 【注释】 
  ① 苟: 如果, 假如。
  ② 期月: 周一年十二个月, 即一周年。 期(jī基), 周。子曰: ‘善人为邦百年, 亦可以胜残去杀矣。’ 诚哉是言也
  ①
  ! 
  【今译】 
  孔子说: ‘善人治理国家一百年, 也就可以克服残暴、免去刑杀了。’ 真对啊, 这话! 【注释】 
  ① 是: 代词。这, 此。
  子曰: 如有王者
  ①
  , 必世而后仁
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 如果有王者兴起, 必须三十年以后才能实施仁政。 
  【注释】 
  ① 王者: 能治国安邦、以德行仁的贤明君王。② 世: 三十年是一世。
  子曰: 苟正其身矣, 于从政乎何有?不能正其身, 如正人何? 
  【今译】 
  孔子说: 如果端正了自身〔品行〕, 从事政治还有什么〔困难〕 呢?自身不能端正, 怎样使别人端正呢? 冉子退朝
  ①
  。子曰: 何晏也
  ②
  ? 对曰: 有政。 子曰: 
   其事也。如有政, 虽不吾以
  ③
  , 吾其与闻之。 
  【今译】 
  冉求〔从季氏官府〕 办完公事回来。孔子说: 为何回来晚了? 〔冉求〕 回答说: 有政务。 孔子说: 是〔季氏私家〕 一般的事务吧。如果有〔国家) 政务, 虽然〔国君〕 不任用我了, 我也会有所闻的。 【注释】 
  ① 冉子: 冉求。曾任季氏宰(家臣)。 参阅《八佾篇第三》 第六 章注。
  ② 晏(yàn砚): 晚, 迟。③ 吾以: 用我。 以, 用。定公问: 一言而可以兴邦, 有诸①
  ? 孔子对曰: 言不
  可以若是, 其几也
  ②
  , 人之言曰: ‘为君难, 为臣不易。’ 如知为君之难也, 不几乎一言而兴邦乎? 曰: 一言而丧邦, 有诸? 孔子对曰: 言不可以若是, 其几也, 人之言曰: ‘予无乐乎为君, 唯其言而莫予违也。’ 如其善而莫之违也, 不亦善乎?如不善而莫之违也, 不几乎一言而丧邦乎? 【今译】 
  鲁定公问: 一句话就可以使国家兴盛, 有这样的话吗? 孔子回答说: 话不可以讲得像这样肯定, 但有与这接近的, 有人说: ‘做君主难, 做臣也不容易。’ 如果知道做君主难, 这岂不接近于‘一句话就可以使国家兴盛’ 吗? 〔鲁定公〕 说: 一句话就可以使国家丧失, 有这样的话吗? 孔子回答说: 话不可以讲得像这样肯定, 但有与这接近的, 有人说: ‘我做君主并没有什么可高兴的, 只是〔高兴〕 我说的话没有人违抗。’ 如果君主说的话正确, 而没有人违抗, 不也是很好吗?如果说的话不正确, 而没有人违抗, 这岂不接近于‘一句话就可以使国家丧失’ 吗? 
  【注释】 
  ① 诸: 之乎 二字的合音。② 几(jī基): 将近, 接近。叶公问政
  ①
  。子曰: 近者说, 远者来。 【今译】 
  叶公问怎样为政。孔子说: 使近处的人民感到喜悦, 远处的人民来投奔归附。 
  【注释】 
  ① 叶公: 姓沈, 名诸梁, 楚国大夫。参阅《述而篇第七》 第十九章注。
  子夏为莒父宰
  ①
  , 问政。子曰: 无欲速, 无见小利。欲速则不达, 见小利则大事不成。 【今译】 
  子夏到莒父当地方长官, 问怎样为政。孔子说: 不要求速成, 不要贪图小利。想求速成, 反而达不到目的;贪图小利, 就做不成大事。 
  【注释】 
  ① 莒父(jǔ ǔ举甫): 鲁国城邑名, 在今山东省莒县境内。一说, 在高密县东南。
  叶公语孔子曰: 吾党有直躬者①
  , 其父攘羊而子证之
  ②
  。 
  孔子曰: 吾党之直者异于是, 父为子隐③
  , 子为父隐, 直在
  其中矣。 
  【今译】 
  叶公对孔子说: 我的家乡有个正直的人, 他的父亲偷了羊, 他便去告发。 孔子说: 我们家乡的正直的人和你所讲的不一样: 父亲为儿子隐瞒, 儿子为父亲隐瞒, 正直的品德就在其中了。 
   【注释】 
  ① 直躬者: 犹言正直、坦率的人。 躬, 身。② 攘(rǎn 嚷): 偷, 窃, 抢。 证: 检举, 告发。③ 父为子隐: 隐, 隐瞒, 隐讳。儒家提倡父慈子孝, 即使对方有错, 也要在外人面前为之隐瞒。这反映了儒家思想的局限性。樊迟问仁。子曰: 居处恭, 执事敬, 与人忠。虽之夷狄①
  , 
  不可弃也。 
  【今译】 
  樊迟问怎样是仁。孔子说: 在家能恭敬规矩, 办事能认真谨慎, 对人能忠实诚恳。虽然到了夷狄, 〔这三种德行〕 也是不可放弃的。 
  【注释】 
  ① 之: 动词。到, 去, 往。
  子贡问曰: 何如斯可谓之士矣? 子曰: 行已有耻, 使于四方, 不辱君命, 可谓士矣。 曰: 敢问其次? 曰: 宗族称孝焉, 乡党称弟焉
  ①
  。 曰: 敢问其次? 曰: 言必信, 行必果。硁硁然小人哉
  ②
  , 抑亦可以为次矣。 曰: 今之从政者何如? 子曰: 噫!斗筲之人③
  , 何足算也! 
  【今译】 
  子贡问: 如何才配称为‘士’? 孔子说: 对自己的行为能保持羞耻之心;出使到其他国家, 能不辜负君主委托的使命, 这样的人可配称为‘士’ 了。 〔子贡〕 说: 我冒昧地问, 次一等的呢? 〔孔子〕 说: 宗族里的人称赞他孝顺父母, 乡里的人称赞他敬爱兄长。 〔子贡〕 说: 我冒昧地问, 再次 一等的呢? 〔孔子〕 说: 说话一定守信用, 行动一定坚决果断。〔虽然这样做〕 是浅薄固执的小人, 不过也可以作为次一等的了。 〔子贡〕 说: 如今从政的人如何呢? 孔子说: 咳!这些器量小的卑贱的人, 算得了什么! 【注释】 
  ① 弟: 同 悌。 敬爱兄长。② 硁硁然: 硁(kēn 坑), 通 , 小石坚确貌。形容浅薄固执。孔子认为如果不问是非曲直, 在大事上糊涂, 只管自己的言行 必信 必果, 必然会陷于浅薄固执。《孟子 离娄下》 说: 大人者, 言不必信, 行不必果, 惟义所在。 意思是: 真正有德行的人, 说话不一定句句守信, 行为不一定贯彻始终, 只要合乎道义, 按道义行事便成。这话可作为《论语》 本章的补充。③ 斗筲: 筲(s āo烧), 盛饭用的小竹器, 饭筐。斗、筲容量都不大(一斗只容十升;一筲只容五升, 一说容一斗二升), 引申来形容人的见识短浅, 器量狭小。
  子曰: 不得中行而与之
  ①
  , 必也狂狷乎
  ②
  !狂者进取, 狷
  者有所不为也。 
  【今译】 
  孔子说: 找不到言行合于中庸之道的人与他交往, 那一定是要同狂者和狷者交往了。狂者有进取心, 敢作敢为;狷者拘谨, 洁身自好, 绝不肯做坏事。 【注释】 
  ① 中行: 合乎中庸之道的言行。 与: 相与, 交往, 来往;向他传道, 同他共事。
  ② 狂: 指志意高远, 纵情任性, 骄傲自大, 但勇往直前, 敢作 敢为, 有进取精神。 狷(juàn倦): 指为人耿直拘谨, 洁身自好, 安分守己, 不求有所作为亦绝不肯同流合污。子曰: 南人有言曰: ‘人而无恒, 不可以作巫医①
  。’ 善
  夫!‘不恒其德, 或承之羞
  ②
  。’ 子曰: 不占而已矣
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 南方人有句话说: ‘人如果没有恒心, 不可以当巫医。’ 〔这话) 真好啊!〔《易》 上也说:〕 ‘如果不能永恒地保持自己的德行, 免不了要承受羞辱。’ 孔子〔又〕 说: 〔这就是叫没有恒心的人〕 不用占卦罢了。 【注释】 
  ① 巫医: 巫, 巫师, 能降神占卜的人。 医, 医师。古代巫、医往往合于一身, 巫师亦往往掌握一定的医术, 或以禳祷之术替人疗疾。朱熹说: 巫, 所以交鬼神;医, 所以寄死生。故虽贱役, 而犹不可以无常。 
  ②  不恒 二句: 见《易 恒卦 九三爻辞》。 意为: 做人如果不能永恒地保持自己的德行(三心二意, 没有操守), 免不了要承受招来的羞辱。
  ③ 占: 占卜, 算卦。孔子这句话的言下之意或为: 没有恒心的人一定遇凶, 用不着再去占卜了。子曰: 君子和而不同
  ①
  , 小人同而不和。 
  【今译】 
  孔子说: 君子, 讲求和谐而不盲从附和;小人, 同流合污而不能和谐。 
   【注释】 
  ① 和, 同: 这是春秋时代常用的两个概念。 和, 和谐, 调和, 互相 调。指不同性质的各种因素的和谐统一。如五味的调和, 八音的合谐。君子尚义, 无乖戾之心, 能和谐共处, 但不盲从附和, 能用自己的正确意见来纠正别人的错误意见, 故说 和而不同。 同, 相同, 同类, 同一。小人尚利, 在利益一致时, 互相阿比, 同流合污, 能够 同; 然一旦利益发生冲突, 则不能和谐相处, 更不能用道义来 调人情世故。故说 同而不和。 子贡问曰: 乡人皆好之
  ①
  , 何如? 子曰: 未可也。 乡人皆恶之
  ②
  , 何如? 子曰: 未可也。不如乡人之善者好之, 其不善者恶之。 
  【今译】 
  子贡问: 全乡都喜欢的人, 如何呢? 孔子说: 未必可以。 〔子贡又问:〕 全乡都憎恶的人, 如何呢? 孔子说: 未必可以。不如是全乡中的好人都喜欢他, 坏人都讨厌他。 【注释】 
  ① 好 (ào号): 喜爱, 称道, 赞扬。② 恶(Wù务): 憎恨, 讨厌。子曰: 君子易事而难说也
  ①
  。说之不以道, 不说也。及
  其使人也, 器之。小人难事而易说也。说之虽不以道, 说也。及其使人也, 求备焉。 
  【今译】 
  孔子说: 给君子做事容易, 却难以讨他的喜欢。不以正道去讨他的喜欢, 他是不喜欢的。而到他使用人的时候, 对 人却能按才能的大小合理使用他。给小人做事很困难, 却容易讨他喜欢。虽然不以正道去讨他的喜欢, 他也会喜欢的。而到他使用人的时候, 对人就求全责备。 【注释】 
  ① 易事: 易与共事, 事奉他、给他做事容易。 说: 同 悦。 子曰: 君子泰而不骄
  ①
  , 小人骄而不泰。 
  【今译】 
  孔子说: 君子安舒坦然而不骄傲放肆, 小人骄傲放肆而不安舒坦然。 
  【注释】 
  ① 泰, 骄: 皇侃《论语义疏》: 君子坦荡荡, 心貌怡平, 是泰而不为骄慢也;小人性好轻凌, 而心恒戚戚, 是骄而不泰也。 朱熹说: 君子 理, 故安舒而不矜肆。小人逞欲, 故反是。 子曰: 刚, 毅, 木
  ①
  , 讷
  ②
  , 近仁。 
  【今译】 
  孔子说: 刚强不屈, 果敢坚毅, 质朴老实, 言语谨慎, 〔这四种品德〕 接近于仁。 
  【注释】 
  ① 木: 质朴, 朴实, 憨厚老实。② 讷: 说话迟钝。引申为言语非常谨慎, 不肯轻易说话。子路问曰: 何如斯可谓之士矣? 子曰: 切切偲偲①
  , 怡
  怡如也
  ②
  , 可谓士矣。朋友切切偲偲, 兄弟怡怡。 【今译】 
  子路问: 如何才配称为‘士’ 呢? 孔子说: 互相勉励督促, 待人亲切和气, 可以称为‘士’ 了。朋友之间要互相勉励督促, 兄弟之间要亲切和气。 【注释】 
  ① 切切偲偲(sī私): 恳切地责勉、告诫, 善意地互相批评;相互切磋, 相互督促, 和睦相处。② 怡怡(yí移): 和气, 安适, 愉快。子曰: 善人教民七年
  ①
  , 亦可以即戎矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 有作为的领导人教练百姓七年, 就可以〔使百姓〕 从军作战了。 
  【注释】 
  ① 善人: 好的有作为的领导人。一说, 善于治军作战的人。② 即: 靠近, 从事, 参加。 戎(rón 荣): 军队, 战争。子曰: 以不教民战
  ①
  , 是谓弃之。 
  【今译】 
  孔子说: 用没有 过军事训练的人去作战打仗, 这就叫做抛弃他们。 
  【注释】 
  ① 不教民: 即 不教之民。 没有 过军事教育训练的人。 宪问篇第十四
  (共四十四章) 
  主要记孔子及其弟子论修身作人之道, 兼有对历史人物的评价。
  宪问耻
  ①
  。子曰: 邦有道, 谷
  ②
  。邦无道, 谷, 耻也。 
   克、伐、怨、欲
  ③
  , 不行焉, 可以为仁矣? 子曰: 可以为难矣, 仁则吾不知也。 
  【今译】 
   宪问怎样是可耻。孔子说: 国家有道, 应做官拿俸禄。国家无道, 仍然做官拿俸禄, 就是可耻。 [ 宪又问: ] 好胜, 自夸, 怨恨, 贪欲, [这些毛病]都能克制, 可以算做到了仁吧? 孔子说: 可以说是难能可贵的, 至于[算不算做到]仁, 我不知道。 
  【注释】 
  ① 宪: 即 思。参阅《雍也篇第六》 第五章注。 思, 当属于前章孔子所说的 狷者 类型的人物, 故孔子言 邦有道 应有为而立功食禄, 邦无道 才应独善而不贪位慕禄, 以激励 思的志向, 使他自勉而进于有为。
  ② 谷: 谷米。指当官拿俸禄。③ 克: 争强好胜。 伐: 自我夸耀。 怨: 怨恨, 恼。  欲: 贪求多欲。
  子曰: 士而怀居
  ①
  , 不足以为士矣。 
  【今译】 
  孔子说: 作为‘士’, 如果留恋家庭, 就不足以成为‘士’ 了。 
  【注释】 
  ① 怀居: 怀, 留恋, 思念。 居, 家居, 家庭。《左传》 上有 怀与安, 实败名 的话(《僖公二十三年》), 士若怀恋家居之安, 心有所累, 就成功不了事业。
  子曰: 邦有道, 危言危行
  ①
; 邦无道, 危行言孙
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 国家有道, 要说话正直, 行为正直;国家无道, 行为仍可正直, 但说话要随和顺从。 【注释】 
  ① 危: 正直。言人所不敢言, 行人所不敢行。② 孙: 同 逊。 谦逊, 恭顺。在这里, 有随和顺从而谨慎之意。孔子认为, 处乱世, 要 言孙 以避祸, 不应 危言 而招祸(作无谓牺牲)。 
  子曰: 有德者必有言, 有言者不必有德。仁者必有勇, 勇者不必有仁。 
  【今译】 
  孔子说: 有德行的人一定有[好的]言论, 有[好的]言论的人却不一定有德行。有仁德的人必定勇敢, 勇敢的人 却不一定有仁德。 
  南宫适问于孔子曰
  ①
  : 羿善射
  ②
  , 奡荡舟
  ③
  , 俱不得其死
  然。禹、稷躬稼而有天下
  ④
  。 夫子不答。南宫适出。子曰: 君子哉若人!尚德哉若人! 【今译】 
  南宫适问孔子: 羿善于射箭, 奡善于水战, 最后都不得好死。禹、稷亲自种庄稼, 却取得了天下。[应怎样评价这些历史人物呢?] 孔子没回答。南宫适出去了。孔子说: 真是君子啊, 这个人!真是尊崇道德啊, 这个人! 【注释】 
  ① 南宫适: 孔子弟子。参阅《公冶长篇第五》 第二章注。② 羿: 在上古神话传说中有三个羿, 都是善于射箭的英雄。一是唐尧时的射箭能手。传说尧时十日并出, 晒得大地河干草枯, 羿射掉九日以解救民困。二是帝喾时的射师。三是夏时有穷国的君主。传说他本是夷族的一个酋长, 曾一度篡夺了夏的政权而代理夏政。其理政后荒淫喜猎, 把朝政交给亲信家臣寒浞(z uó浊) 管理。寒浞觊觎羿的地位和美貌的妻子, 收买了羿的家奴逢蒙, 乘羿打猎回来毫无防备, 将其杀害。本章中的羿即指有穷国的羿。③ 奡荡舟: 奡(ào傲), 一作 浇。 寒浞的儿子。是个大力士, 又善于水战。传说他能 陆地行舟(在陆地上推着船走)。 荡舟, 摇船, 划船。据顾炎武《日知录》 说: 古人以左右冲杀为 荡。 这里便可理解为水战, 即以舟师冲杀。《竹书纪年》 曾记: 奡伐斟砺, 大战于淮, 覆其舟, 灭之。 后在征战中, 奡被夏朝中兴之主少康所杀。④ 禹: 夏代开国祖先, 善治水, 重视发展农业。 稷(jì计): 传说是帝喾之子, 名弃, 善农耕, 尧举为农师。至舜时, 受封于邰(今 陕西省武功县西南), 号曰 后稷, 别姓姬氏, 是周朝的祖先。后世又被奉为谷神。
  子曰: 君子而不仁者有矣夫, 未有小人而仁者也。 【今译】 
  孔子说: 君子当中没有仁德的人是有的呀, [可是]小人当中从来没有有仁德的人。 子曰: 爱之, 能勿劳乎
  ①
  ?忠焉, 能勿诲乎? 
  【今译】 
  孔子说: 爱他, 能不让他勤劳吗?忠于他, 能不劝告教诲他吗? 
  【注释】 
  ① 劳: 勤劳, 劳苦, 操劳。此有进行劳动教育的含意。朱熹《四书集注》 说: 爱而知劳之, 则其为爱也深矣;忠而知诲之, 则其为忠也大矣。 《国语 鲁语下》: 夫民劳则思, 思则善心生;逸则淫, 淫则忘善, 忘善则恶心生。 
  子曰: 为命
  ①
  , 裨谌草创之
  ②
  , 世叔讨论之
  ③
  , 行人子羽
  修饰之
  ④
  , 东里子产润色之
  ⑤
  。 
  【今译】 
  孔子说: [郑国]创制外交公文, 总是由裨谌创作写出草稿;由世叔组织讨论;由外交官员子羽加以修饰;再由东里的子产润色。 
  【注释】 
  ① 命: 旧注谓指诸侯 盟会之辞, 即外交辞令。 ② 裨谌(pí én皮臣): 郑国大夫。③ 世叔: 《左传》 作 子太叔 (太 、 世 二字古时通用), 名游吉, 郑国大夫。子产死后, 继任郑国宰相。④ 行人: 掌使之官(外交官员)。  子羽: 公孙挥, 字子羽。郑国大夫。
  ⑤ 东里: 郑国邑名, 在今河南郑州市, 子产所居。 子产: 名侨, 字子产。郑国大夫, 后任宰相, 有政声。或问子产, 子曰: 惠人也。 问子西①
  , 曰: 彼哉!彼
  哉
  ②
  ! 问管仲, 曰: 人也。夺伯氏骈邑三百③
  , 饭疏食, 没
  齿无怨言
  ④
  。 
  【今译】 
  有人问到子产[是怎样的人], 孔子说: 是惠爱于民的人。 问到子西, [孔子]说: 他呀!他呀! 问到管仲, [孔子]说: 是个人才。他剥夺了伯氏骈邑的三百户采地, [伯氏]只得吃粗粮和蔬菜, [可是]直到老死, 也没有怨言。 【注释】 
  ① 子西: 春秋时, 载入史籍的有三个子西。其一, 楚国的公子申(楚平王的庶长子), 曾任令尹(即宰相), 有贤名, 立楚昭王。他和孔子同时, 死于孔子之后。其二, 楚国的斗宜申。后谋乱被杀。生活在鲁僖公、鲁文公之世。其三, 郑国的公孙夏, 是子产(公孙侨) 的同宗兄弟。曾掌握郑国政权, 他死后, 才由于产继他而执政。生当鲁襄公之世。本章的子西, 或说指楚国的公子申, 或说指郑国的公孙夏, 已不可确考。
  ②  彼哉 句: 他呀, 他呀。这是古代曾 流行的一个习惯用语, 表示轻视, 犹言算得了什么, 不值得一提。③ 伯氏: 名偃, 齐国大夫。 骈邑: 齐国的地名。据清代阮元 《积古斋钟鼎彝器款识》 考证, 今山东省临朐县柳山寨, 即春秋时的骈邑, 现仍残留有古城城基。
  ④ 没(mò默) 齿: 老到牙齿都掉没了。指老死, 终身。 无怨言: 没有抱怨、怨恨的话。史载: 伯氏有罪, 管仲为宰相, 奉齐桓公之命, 依法下令剥夺了伯氏的采邑三百户。因管仲执法公允, 所以伯氏口服心服, 始终无怨言。
  子曰: 贫而无怨难, 富而无骄易。 【今译】 
  孔子说: 贫穷而没有怨恨, 是困难的;富裕了而不骄傲, 是容易的。 
  子曰: 孟公绰为赵、魏老则优①
  , 不可以为滕、薛大夫
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 孟公绰做赵氏、魏氏的家臣, 是优良的;但是不可以做滕、薛的大夫。 
  【注释】 
  ① 孟公绰: 鲁国大夫, 属于孟孙氏家族。廉静寡欲而短于才。其德为孔子所敬重。 老: 古代对大夫家臣之长的尊称, 也称 室老。 ② 滕, 薛: 古代两个小诸侯国。 滕, 故城在今山东省滕州市西南十五里。 薛, 故城在今山东省滕州市东南四十馀里官桥至薛城一带。为何孟公绰不宜任小国的大夫呢?朱熹说: 大家势重, 而无诸侯之事;家老望尊, 而无官守之责。 滕、薛国小政繁, 大夫位高责重。 所以, 孔子说像孟公绰这种 廉静寡欲而短于才 的人, 可以任大国上卿的家臣(望尊而职不杂, 德高则能胜任), 而不可以任小国的大夫(政烦责重, 才短则难以胜任)。 这说明了知人善任的重要性。 子路问成人
  ①
  。子曰: 若臧武仲之知
  ②
  , 公绰之不欲, 卞
  庄子之勇
  ③
  , 冉求之艺, 文之以礼乐, 亦可以为成人矣。 曰: 今之成人者何必然?见利思义, 见危授命, 久要不忘平生之言
  ④
  , 亦可以为成人矣。 
  【今译】 
  子路问怎样才是一个完美的人。孔子说: 假若有臧武仲的明智, 孟公绰的不贪欲, 卞庄子的勇敢, 冉求的多才多艺, 再用礼乐以增文采, 也就可以成为完美的人了。 [孔子又]说: 现在要成为完美的人何必一定这样要求呢?[只要他]见到财利时能想到道义, 遇到[国家]有危难而愿付出生命, 长久处于穷困的境遇也不忘记平日的诺言, 也就可以成为一个完美的人了。 
  【注释】 
  ① 成人: 完人;人格完备, 德才兼备的人。② 臧武仲: 即臧孙纥 (é盒), 臧文仲之孙。鲁国大夫, 因不容于鲁国权臣而出逃。逃到齐国后, 他预料到齐庄公不能长久, 便设法拒绝了齐庄公给他的田, 孔子认为他很明智(见《左传 襄公二十三年》)。 
  ③ 卞庄子: 鲁国大夫, 封地在卞邑(今山东省泗水县东)。 传说他曾一个人去打虎, 以勇著称。一说, 即孟庄子。④ 久要: 长久处于穷困的境遇。 要(yāo腰), 通 约。 穷困。一说, 久要 即旧约, 旧时答应过别人的话, 从前同别人约定的事。平生: 平日。
  子问公叔文子于公明贾曰
  ①
  : 信乎, 夫子不言、不笑、不取乎
  ②
  ? 公明贾对曰: 以告者过也③
  。夫子时然后言, 人不
   厌其言;乐然后笑, 人不厌其笑;义然后取, 人不厌其取。 子曰: 其然, 岂其然乎? 
  【今译】 
  孔子向公明贾问到公叔文子, 说: 是真的吗?[有人说公叔文子]老先生不说、不笑、不取财。 公明贾回答说: 这是传话的人说得过分了。[公叔文子]老先生是到适当的时候然后说, 别人就不讨厌他的讲话;快乐了然后笑, 别人就不讨厌他的笑;符合礼义然后取财, 别人就不讨厌他的取。 孔子说: 来是这样, 怎么会[传成]那样呢? 【注释】 
  ① 公叔文子: 名拔(一作发)。 卫国大夫, 卫献公之孙。死后谥 文, 故称公叔文子。 公明贾: 姓公明, 名贾。卫国人。公叔文子的使臣。一说, 公明 即 公羊, 是《礼记》 中说的公羊贾。② 夫子: 敬称公叔文子。
  ③ 过: 说得过分, 传话传错了。子曰: ‘臧武仲以防求为后于鲁①
  , 虽曰不要君
  ②
  , 吾不信
  也。 
  【今译】 
  孔子说: 臧武仲凭借防而请求[鲁国国君]为他在鲁国立后代为大夫, 虽然有人说[臧武仲这样做]不是要挟君主, 可是我不相信。 
  【注释】 
  ①  臧武 句: 防, 鲁国地名, 在今山东省费县东北六十里的华城, 紧靠齐国边境, 是臧武仲受封的地方。公元前 年(鲁襄公二十三年), 臧武仲因帮助季氏废长立少得罪了孟孙氏, 逃到邻近邾 国。不久, 他又回到他的故邑防城, 向鲁国国君请求为臧氏立后代(让他的子孙袭受封地, 并任鲁国大夫)。 言辞甚逊, 但言外之意: 否则将据邑以叛。得到允许后, 他逃亡到齐国(见《左传 襄公二十三年》)。 
  ② 要(yāo腰): 胁迫, 要挟。子曰: 晋文公谲而不正
  ①
  , 齐桓公正而不谲
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 晋文公诡诈不正派;齐桓公正派不诡诈。 【注释】 
  ① 晋文公: 春秋时有作为的政治家。晋献公之子, 姓姬, 名重耳。因献公宠骊姬, 立幼子为嗣, 他受到迫害, 流亡国外十九年;后由秦国送回晋国, 即位, 为文公。他整顿内政, 加强军队, 使国力强盛。又平定周朝内乱, 接周襄王复位, 以 尊王 相号召。他伐卫致楚, 城濮之战 用阴谋而大败楚军。在践土(今河南省荥阳县东北) 大会诸侯, 成为春秋时著名的霸主之一。公元前 —前 年在位。 谲(jué绝): 欺诈, 玩弄权术, 耍弄阴谋手段。② 齐桓公: 春秋时有作为的政治家。姓姜, 名小白, 姜尚(太公) 的后人, 齐襄公之弟。襄公被杀后, 他从莒回国, 取得政权。任用管仲为相, 进行改革, 富国强兵。以 尊王攘夷 相号召, 帮助燕国打败北戎, 营救邢、卫二国, 制止戎狄入侵;又联合中 诸侯进攻蔡、楚, 与楚会盟于召陵(今河南省郾城东北); 还平定了东周王室的内乱, 多次与诸侯结盟, 互不使用武力, 使天下太平了四十年。齐桓公成为春秋时第一个霸主。公元前 —前 年在位。子路曰: 桓公杀公子纠
  ①
  , 召忽死之
  ②
  , 管仲不死。 曰: 
   未仁乎? 子曰: 桓公九合诸侯③
  , 不以兵车
  ④
  , 管仲之力也!
   如其仁!如其仁! 
  【今译】 
  子路说: 齐桓公杀了公子纠, 召忽自杀殉节, 但管仲却没有自杀。 [子路又]说: [这样, 管仲]算是没有仁德吧? 孔子说: 齐桓公多次召集各诸侯国, 主持盟会, 没用武力, 而制止了战争, 这都是管仲的力量啊!这就算他的仁德!这就算他的仁德! 
  【注释】 
  ① 公子纠: 小白(即后来的齐桓公) 的哥哥。他二人都是齐襄公的弟弟。襄公无道, 政局混乱, 他二人怕受连累, 于是, 小白由鲍叔牙事奉逃亡莒国, 公子纠由管仲、召忽事奉逃亡鲁国。而后, 齐襄公被公孙无知杀死, 公孙无知立为君。次年, 雍廪又杀死公孙无知, 齐国当时就没有国君了。在鲁庄公发兵护送公子纠要回齐国即位的时候, 小白用计抢先回到齐国, 立为君。接着兴兵伐鲁, 逼迫鲁国杀死了公子纠(见《左传》 庄公八年、九年)。 ② 召忽: 他与管仲都是公子纠的家臣、师傅。公子纠被杀后, 召忽自杀殉节。管仲却归服齐桓公, 并由鲍叔牙推荐当了宰相。③ 九合诸侯: 多次会合诸侯。 九, 不是确数, 极言其多。一说, 九 便是 纠’, 古字通用。 合, 集合。④ 不以: 不用。 兵车: 战车。代指武力。子贡曰: 管仲非仁者与?桓公杀公子纠, 不能死, 又相之。 子曰: 管仲相桓公, 霸诸侯, 一匡天下①
  , 民到于今受
  其赐。微管仲
  ②
  , 吾其被发左衽矣
  ③
  。岂若匹夫匹妇之为谅也
  ④
  , 
  自 于沟渎而莫之知也
  ⑤
  ! 
   【今译】 
  子贡说: 管仲不是仁人吧?桓公杀了公子纠, [管仲]没自杀, 却又辅佐桓公。 孔子说: 管仲辅佐桓公, [使齐国]在诸侯中称霸, 匡正了天下, 人民到如今还受到他给的好处。如果没有管仲, 我们恐怕已 沦为披头散发衣襟在左边开的落后民族了。难道[管仲]像一般的平庸男女那样, 为了守小节, 在小山沟里上吊自杀, 而不被人所知道吗? 【注释】 
  ① 一匡天下: 使天下的一切得到匡正。 匡, 正, 纠正。② 微: 非, 无, 没有。一般用于和既成事实相反的假设句前面。③ 被发左衽: 当时边疆地区夷狄少数民族的风俗、打扮。 被, 同 披。 衽(rèn任), 衣襟。④ 匹夫匹妇: 指一般的平民百姓, 平庸的人。 谅: 信实, 遵守信用。这里指拘泥小的信义、小的节操。⑤ 自: 自缢, 上吊自杀。 沟渎 (ú毒): 古时, 田间水道称沟, 邑间水道称渎。这里指小山沟。公叔文子之臣大夫僎与文子同升诸公①
  。子闻之, 曰: 
   可以为‘文’ 矣
  ②
  。 
  【今译】 
  公叔文子的家臣大夫僎, 与文子同在朝廷为大夫。孔子听到这件事, 说: [公叔文子死后]可以用‘文’ 作谥号了。 【注释】 
  ① 僎(xún寻): 人名。 是公叔文子的家臣, 由于文子的推荐, 当上卫国的大夫。 同升诸公: 谓僎由家臣 公叔文子推荐而与之同为卫国的大夫。 公, 公室, 朝廷。 ② 为文: 谥号为 文。 实际上, 公叔文子死后, 其子戍请谥于君。卫君说: 过去卫国遭荒年时, 公叔文子曾煮粥赈济, 施恩惠于饥民;又在国家危难时对君王表现非常忠贞。故给他的谥号是 贞惠文子。 
  子言卫灵公之无道也, 康子曰: 夫如是, 奚而不丧①
  ? 
  孔子曰: 仲叔圉治宾客
  ②
  , 祝鮀治宗庙
  ③
  , 王孙贾治军旅。夫
  如是, 奚其丧? 
  【今译】 
  孔子说到卫灵公的昏庸无道, 季康子说: 像这样[无道], 为什么还不失位丧亡呢? 孔子说: 有仲叔圉接待宾客办理外交, 祝鮀主管祭祀, 王孙贾统率军队。像这样[用人得当], 怎么会失位丧亡呢? 【注释】 
  ① 奚: 为何, 为什么。
  ② 仲叔圉(yǔ雨): 即孔文子。卫国大夫, 世袭贵族。③ 祝鮀(tuó驼): 卫国大夫, 世袭贵族。子曰: 其言之不怍
  ①
  , 则为之也难。 
  【今译】 
  孔子说: 一个人大言不惭, 那么实际去做就困难了。 【注释】 
  ① 怍(zuò作): 惭愧。这里是形容好说大话, 虚夸, 而不知惭愧的人。这种人善于吹嘘, 自然就难以实现他所说的话。陈成子弑简公
  ①
  。孔子沐浴而朝
  ②
  , 告于哀公曰: 陈恒弑
   其君, 请讨之。 公曰: 告夫三子③
  。 孔子曰: 以吾从大夫
  之后
  ④
  , 不敢不告也。君曰‘告夫三子’ 者! 之三子告⑤
  , 不
  可。孔子曰: 以吾从大夫之后, 不敢不告也。 【今译】 
  陈成子杀了齐简公, 孔子[得知]马上沐浴上朝, 向鲁哀公报告说: 陈恒弑其君主, 请出兵讨伐。 哀公说: 去报告三位大夫吧! 孔子说: 因为我曾 当过大夫, 不敢不来报告。君主却说‘去报告三位大夫吧!’ [孔子]到三位大夫那里去报告, 他们表示不可以[出兵]。孔子[又]说: 因为我曾当过大夫, 不敢不来报告。 【注释】 
  ① 陈成子: 齐国大夫陈恒, 又名田成子。他在齐国用大斗借粮、小斗收粮的方法, 获得百姓拥护。政治上逐渐取得优势后, 在公元前 年(鲁哀公十四年) 杀死齐简公, 掌握了齐国政权。此后的齐国在历史上也称 田齐。  简公: 齐简公, 姓姜, 名壬。公元前 —前 年在位。
  ② 沐浴: 洗头, 洗澡。指上朝前表示尊敬与严肃而举行的斋戒。③ 告夫三子: 三子, 指季孙氏、孟孙氏、叔孙氏。因当时的季孙、孟孙、叔孙权势很大, 实际操纵鲁国政局, 鲁哀公不敢作主, 故叫孔子去报告这三位大夫。
  ④ 从大夫之后: 犹言我过去曾 当过大夫。参阅《先进篇第十一》 第八章注。
  ⑤ 之: 去, 往, 到。
  子路问事君。子曰: 勿欺也, 而犯之①
  。 
   【今译】 
  子路问怎样事奉君主。孔子说: 不要欺 他, 而要犯颜直言规劝他。 
  【注释】 
  ① 犯: 触犯, 冒犯。这里引申为对君主犯颜诤谏。子曰: 君子上达, 小人下达
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子向上, 通达于仁义;小人向下, 通达于财利。 
  【注释】 
  ① 上达, 下达: 古今学者解释各有不同: 一, 君子通达于仁义, 小人通达于财利。二, 上达指渐进而上, 下达指渐流而下。有 君子天天长进向上, 小人日日沉沦, 每况愈下 之意。三, 君子 天理, 故日进乎高明;小人徇人欲, 故日究乎污下。四, 君子追求高层次的通达, 小人追求低层次的通达。五, 君子上达达于道, 小人下达达于器。本书取第一说。其馀供参考。
  子曰: 古之学者为己, 今之学者为人。 【今译】 
  孔子说: 古代学习的人, 是为了[充实提高]自己;现在学习的人, 是为了[装饰门面做样子]给别人看。 蘧伯玉使人于孔子
  ①
  , 孔子与之坐而问焉, 曰: 夫子何为? 对曰: 夫子欲寡其过而未能也。 使者出, 子曰: 使乎!使乎! 
   【今译】 
  蘧伯玉派使者去看望孔子, 孔子让他坐下, 问道: 蘧老先生[近来]在做些什么? 使者回答说: 他老先生想少犯些错误, 却常感觉没能做到。 使者走了以后, 孔子说: 好使者啊!好使者啊! 
  【注释】 
  ① 蘧(qú渠) 伯玉: 姓蘧, 名瑗, 字伯玉, 卫国大夫。孔子去卫国时, 曾住在他家里。当时, 蘧伯玉是有名的有道德修养的人, 古人对他颇多赞誉, 如 蘧伯玉年五十而知四十九年非 (《淮南子 道训》), 蘧伯玉行年六十而六十化 (《庄子 则阳篇》)。 所谓化就是 与日俱新, 随年变化 (郭庆藩《庄子集释》 之意。从本章所叙也可看出: 使者说的话很谦卑, 而由此却越能显出蘧伯玉善于改过的贤德。
  子曰: 不在其位, 不谋其政
  ①
  。 曾子曰
  ②
  : 君子思不出
  其位
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 不在那个职位, 就不要过问那方面的政事。 曾子说: 君子考虑事情, 不超出他职位的范围。 【注释】 
  ①  不在 句: 已见前《泰伯篇第八》 第十四章, 可参阅。② 曾子: 曾参。参阅《学而篇第一》 第四章注。③  君子 句: 本句也见于《周易 艮卦 象辞》: 君子以思不出其位。 
  子曰: 君子耻其言而过其行。 【今译】 
  孔子说: 君子以说得多做得少为可耻。 子曰: 君子道者三, 我无能焉: 仁者不忧, 知者不惑, 勇者不惧。 子贡曰: 夫子自道也! 【今译】 
  孔子说: 君子之道有三条, 我都没能做到: 仁德的人不忧愁, 智慧的人不迷惑, 勇敢的人不畏惧。 子贡说: [这正是]老师您的自我表述啊! 子贡方人
  ①
  。子曰: 赐也贤乎哉?夫我则不暇②
  。 
  【今译】 
  子贡指责别人。孔子说: 赐呀, 你就那么好吗?要叫我呀, 可没有那种闲功夫[指责别人]。 【注释】 
  ① 方: 同 谤。 指责, 说别人的坏处。一说, 比长较短。句中的意思则是: 子贡喜欢将人拿来做比较, 评论其短长。② 不暇: 没有空闲的时间。
  子曰: 不患人之不已知
  ①
  , 患其不能也。 
  【今译】 
  孔子说: 不忧虑别人不知道自己[有长处好处], 只忧虑自己无能。 
  【注释】 
  ① 患: 忧虑, 担心, 怕。
   子曰: 不逆诈
  ①
  , 不亿不信
  ②
  , 抑亦先觉者, 是贤乎! 
  【今译】 
  孔子说: 事前不预先怀疑别人欺诈, 不主观猜测别人不诚实, [但若遇上欺诈情伪的人]却也能及早地发现察觉, 这样的人该是贤人吧! 
  【注释】 
  ① 逆: 预先, 预测。
  ② 亿: 同 臆。 主观推测, 猜测。微生亩谓孔子曰
  ①
  : 丘, 何为是栖栖者与
  ②
  ?无乃为佞
  乎
  ③
  ?’ 孔子曰: 非敢为佞也, 疾固也。 【今译】 
  微生亩对孔子说: 孔丘, 你为什么做一个这样忙碌不安[到处游说]的人呢?岂不成了花言巧语的人吗? 孔子说: 我不敢花言巧语, 而是厌恨那些固执的人。 【注释】 
  ① 微生亩: 姓微生, 名亩。传说是一位年长的隐士。一作 尾生亩。 又说, 即微生高。
  ② 栖栖(xī西): 忙碌不安, 到处奔波不安定的样子。③ 佞: 花言巧语, 能言善辩, 卖弄口才。子曰: 骥不称其力
  ①
  , 称其德也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 千里马, 值得称赞的不是它[善跑]的气力, 称赞的是它的品质。 
   【注释】 
  ① 骥(jì计): 古代称善跑的千里马。② 德: 这里指千里马能吃苦耐劳的优良品质。或曰: 以德报怨何如
  ①
  ? 子曰: 何以报德?以直报怨, 以德报德。 
  【今译】 
  有人说: 用恩德来报答仇怨, 如何呢? 孔子说: [那么]用什么来报答恩德呢?[应该]以公平无私来对待仇怨, 用恩德来报答恩德。 
  【注释】 
  ① 以德报怨: 德, 恩惠, 恩德。 怨, 怨恨, 仇怨。这话可能是当时的俗语。《老子》: 大小多少, 报怨以德。 这是老子哲学中一种调和化解矛盾的思想。孔子对这种思想提出了批评。子曰: 莫我知也夫
  ①
  ! 子贡曰: 何为其莫知子也②
  ? 子
  曰: 不怨天, 不尤人
  ③
  , 下学而上达。知我者其天乎! 【今译】 
  孔子说: 没有人了解我啊! 子贡说: 为什么会没有人了解您呢? 孔子说: [我]不埋怨天, 不责备人, 下学人事, 上达天命。了解我的大概只有天吧! 【注释】 
  ① 莫我知: 即 莫知我 的倒装。没有人知道、了解我。② 何为: 为何。
  ③ 尤: 责怪, 归咎, 怨恨。
   公伯寮曞子路于季孙
  ①
  。子服景伯以告
  ②
  , 曰: 夫子固有
  惑志于公伯寮, 吾力犹能肆诸市朝③
  。 子曰: 道之将行也与, 
  命也;道之将废也与, 命也。公伯寮其如命何? 【今译】 
  公伯寮对季孙说子路的坏话。子服景伯把这事告知孔子, 并说: [季孙]老先生已 被公伯寮迷惑住了, 我的力量还能[设法把真相辨明, 杀掉公伯寮]把他的尸首摆到街市上去示众。 孔子说: 我的道能得到实行, 是天命;我的道被废掉, 也是天命。公伯寮能把天命怎么样? 【注释】 
  ① 公伯寮: 字子周。《史记 仲尼弟子列传》 作 公伯寮。 一作 缭。 孔子的弟子。曾任季氏家臣。政治上的投机分子。 曞(sù素): 同 诉。 诬谤, 告发, 背后说人的坏话。② 子服景伯: 姓子服, 名何, 字伯, 景 是死后谥号。鲁国大夫。
  ③ 肆: 指处以死刑后陈尸示众。 市朝: 被处死的罪犯中, 自士以下的, 陈尸于市集;自大夫以上的, 陈尸于朝廷。子曰: 贤者辟世
  ①
  , 其次辟地, 其次辟色, 其次辟言。 子曰: 作者七人矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 贤人避开社会而隐居;其次是[离开乱国]避到别的地方去;再其次是避开别人难看的脸色;再其次是避开难听的恶言。 孔子[又]说: 这样做的已 有七人了。 【注释】 
  ① 辟世: 指不干预世事而隐居。 辟, 同 避。 避开。 ② 七人: 指传说中的七位贤人隐士。具体所指其说不一。有的说是: 伯夷, 叔齐, 虞仲(太公), 夷逸, 朱张, 柳下惠, 少连。有的说是: 长沮, 桀溺, 荷丈人, 石门守门者, 荷蒉者, 仪封人, 楚狂接舆。不可确考。
  子路宿于石门
  ①
  。晨门曰: 奚自
  ②
  ? 子路曰: 自孔氏。 
  曰: 是知其不可而为之者与? 【今译】 
  子路在石门住宿。早晨值班看守城门的人问: 你从哪里来? 子路说: 从孔氏那儿。 [守城门的人]说: 是那个明知做不成而偏要坚持去做的人吗? 【注释】 
  ① 石门: 鲁国都城(曲阜) 外城的城门。一说, 曲阜共有七个城门, 南边的第二个门就叫石门。孔子第二次周游列国, 道不能行, 于六十八岁时, 结束了他十四年的游说生活, 率弟子们回鲁国的老家。子路打前站, 先到石门, 已天晚, 在城门外住了一宿。② 奚自: 自奚 的倒装。从哪里来。子击磬于卫
  ①
  , 有荷蒉而过孔氏之门者
  ②
  , 曰: 有心哉, 
  击磬乎! 既而曰
  ③
  : 鄙哉, 硁硁乎
  ④
  !莫己知也
  ⑤
  , 斯己而已
  矣。‘深则厉, 浅则揭’ 
  ⑥
  。 子曰: 果哉!末之难矣。 【今译】 
  孔子在卫国, 有一天正在敲着磬, 有位挑着草筐的人从孔子门口 过, 说: 有[忧世的]心思啊, 敲磬吧! 过了一会儿, 又说: 鄙陋啊, 那硁硁的声音, 好像表明没有人了解自己;[既然没人了解]那么自己就[停止]算了吧。[人 生好像趟水, 《诗》 上有句比喻的话: ]‘水深, 就穿着衣服趟过去;水浅, 就撩起衣服趟过去。’ 孔子说: 说得真果断坚决啊![如果真像趟水那样]就没有什么困难了。 【注释】 
  ① 磬(qìn 庆): 古代一种打击乐器, 形状像曲尺, 用玉或美石制成。
  ② 荷蒉: 荷 (è贺), 背, 扛, 担负。 蒉(kuì愧), 草编的筐。《高士传》: 荷蒉者, 卫人也, 避乱不仕, 自匿姓名, 故荷草器而自食其力也。
  ③ 既而: 不久, 一会儿。
  ④ 硁硁(kēn 坑): 象声词。击石声。这里用来形容敲磬的声音。⑤ 莫己知也: 即 莫知己也。 ⑥  深则厉 句: 出自《诗 邶风 匏有苦叶》: 匏有苦叶, 济有深涉。深则厉, 浅则揭。 大意是说: 大葫芦叶儿枯黄已 成熟, 济水上有个看上去水挺大的渡口。如果水深, 就穿着衣服下水过去;如果水浅, 就撩起衣服趟过去。这里 荷蒉者 以涉水为喻, 讥孔子不知己而不止, 不能适浅深之宜。子张曰: 《书》 云: ‘高宗谅阴, 三年不言。’ ①
  何谓也? 
  子曰: 何必高宗, 古之人皆然。君薨②
  , 百官总己以听于冢
  宰三年
  ③
  。 
  【今译】 
  子张说: 《尚书》 上说: ‘殷高宗居丧守孝, 住在凶庐, 三年不问政事。’ 为何这样呢? 孔子说: 何必高宗这样, 古人都这样。君主死了, 文武百官总摄自己的职事都要听命于冢宰三年之久。 
   【注释】 
  ①  高宗 句: 出自《尚书 无逸》 篇。 高宗, 殷王武丁, 为商代王朝第十一世的贤王。他即位后, 用奴隶傅说(yuè悦) 为相, 又得贤臣甘盘辅佐, 国家大治。武丁在位时, 是殷王朝最隆盛的时代。 谅阴, 也写作 亮阴, 谅暗, 梁暗。 传统的读法是l án ān(良安)。 其意历来学者说法各异: 一, 亮, 同 谅, 诚信。 阴, 沉默。指武丁即王位之初, 怀着满心的诚信, 态度沉默, 三年之中不大讲话。二, 指武丁遭遇父丧, 三年居丧守孝。后世帝王居丧守孝还沿称 谅阴。 三, 指居丧时所住的房子。这种房子, 只用一根梁作屋脊, 周围没有楹柱, 上边铺上茅草作檐, 下垂于地。整个房子没有门窗, 光线很暗。故称 梁暗。 此取第三说。 不言, 指不大过问政事。② 薨 (n 轰): 周代诸侯之死叫 薨。 ③ 冢(z ǒn 肿) 宰: 商代官名, 相当于后世的宰相。子曰: 上好礼则民易使也
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 在上位的人好礼, 人民就容易听从役使了。 【注释】 
  ① 使: 使唤, 役使。
  子路问君子。子曰: 修己以敬。 曰: 如斯而已乎? 曰: 修己以安人
  ①
  。 曰: 如斯而已乎? 曰: 修己以安百姓。修己以安百姓, 尧舜其犹病诸
  ②
  ! 
  【今译】 
  子路问怎样才是君子。孔子说: 修养自己, 保持严肃恭敬的态度。 [子路]说: 像这样就够了吗? [孔子]说: 修养自己, 使贵族、大夫们安乐。 [子路]说: 像这样就够了吗? [孔子]说: 修养自己, 使全体百姓安乐。修养自己, 使全体老百姓安乐, 尧舜尚且担心做不到哩! 【注释】 
  ① 人: 与 己 相对。这里当指士大夫以上的贵族、上层人士。比下面的 百姓 所指范围要。 ② 病: 担心, 忧虑。
   壤夷俟
  ①
  。子曰: 幼而不孙弟
  ②
  , 长而无述焉
  ③
  , 老而
  不死, 是为贼
  ④
  。 以杖叩其胫
  ⑤
  。
  【今译】 
   壤左右伸腿叉开两只脚坐在地上等[孔子]。孔子说: 你年幼时不讲孝悌, 长大了没有作为, 老了还不死, 简直是个害人的贼。 [说着]就用手杖敲了敲 壤的小腿[让他把腿收回去]。
  【注释】 
  ①  壤: 鲁国人, 据说是周文王第十六子 伯的后人, 是孔子多年的老朋友。《礼记 檀》 记载: 壤的母亲死了, 孔子去帮助他治丧, 他却站在棺材上大声歌唱。孔子假装没听见, 不去理会。跟从的人看不下去了, 就劝孔子别帮 壤料理丧事了。孔子认为, 无论如何, 亲总是亲, 故总是故, 看在老朋友的分上, 该帮他料理丧事, 还要帮他料理。不过, 孔子确也认为 壤是不礼不敬不近人情的。夷: 指 箕踞, 即屁股坐地, 两条腿左右斜伸出去, 叉开两只脚呈八字形。因像只簸箕故称。古人认为, 以这种姿态坐在地上是一种轻慢无礼的表现。 俟(sì四): 等待。
  ② 孙: 同 逊。  弟: 同 悌。 ③ 长: 长大, 年长。 无述: 无作为, 没成就, 没贡献。④  老而 句: 这句话孔子是专对 壤一人而发, 有恨铁不成钢的意思。 贼, 指为害社会的坏人。后世有人断章取义, 把这句话连起来说成 老而不死是为贼, 误以为是孔子对老年人的一种侮骂。这显然与孔子本来的意思截然不同。⑤ 胫(jìn 竞): 小腿。阙党童子将命
  ①
  。或问子曰: 益者与? 子曰: 吾见其居于位也
  ②
  , 见其与先生并行也
  ③
  。非求益者也, 欲速成者也。 【今译】 
  阙党地方的一个儿童来向孔子传信。有人问孔子: [这儿童]是要求上进的人吗? 孔子说: 我见他坐在成年人的位子上, 又见他与长辈并肩而行。他不是要求上进的人, 而是一个想急于求成的人。 
  【注释】 
  ① 阙(què确) 党: 鲁国地名, 在今山东省曲阜市境内。一说, 即 阙里, 是孔子的家乡。 将(j ān) 命: 传达信息, 传话。② 居于位: 坐在席位上。按古代礼节, 大人可以有正式的席位就坐, 儿童没有席位。可是, 这位童子却与大人一起坐在席位上, 可见其不知礼。
  ③ 先生: 这里是对年长者、长辈的尊称。 卫灵公篇第十五
  (共四十二章) 
  主要记孔子及其弟子在周游列国时所论的以仁德治国的道理。
  卫灵公问陈于孔子
  ①
  。孔子对曰: 俎豆之事
  ②
  , 则尝闻之
  矣
  ③
; 军旅之事, 未之学也。 明日遂行④
  。
  【今译】 
  卫灵公向孔子问军队怎样列阵。孔子回答说: 礼节仪式方面的事, 我曾听说一些;军队作战方面的事, 我没学过。 第二天, [孔子]就离开了卫国。【注释】 
  ① 陈: 同 阵。 军队作战布列阵势。② 俎豆之事: 指礼节仪式方面的事。 俎(Zǔ祖), 古代祭祀宴享, 用以盛放牲肉的器具。 豆, 古代盛食物的器具, 似高脚盘。二者都是古代祭祀宴享用的礼器。③ 尝: 曾。 
  ④ 遂行: 就走了。孔子主张礼治, 反对使用武力。见卫灵公无道, 而又有志于战伐, 不能以仁义治天下, 故而未答 军旅之事, 第二天就离开了卫国。
   在陈绝粮, 从者病
  ①
  , 莫能兴
  ②
  。子路愠见曰
  ③
  : 君子亦
  有穷乎? 子曰: 君子固穷
  ④
  , 小人穷斯滥矣
  ⑤
  。 
  【今译】 
  [孔子与弟子们]在陈国某地断绝了粮食, 随从的人饿坏了, 不能起身行走。子路满脸恼, 来见[孔子]说: 君子也有困厄的时候吗? 孔子说: 君子困厄时尚能安守, 小人困厄了就不约束自己而胡作非为了。 【注释】 
  ① 病: 苦, 困。这里指饿极了, 饿坏了。② 兴: 起来, 起身。这里指行走。③ 愠(yùn运): 恼, 怨恨。④ 固: 安守, 固守。
  ⑤ 滥: 像水一样漫溢、泛滥。比喻人不能检点约束自己, 什么事都干得出来。
  子曰: 赐也
  ①
  , 女以予为多学而识之者与
  ②
  ? 对曰: 然。
  非与? 曰: 非也, 予一以贯之③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 端木赐呀, 你以为我是学习了很多而又一一记住的吗? [端木赐]回答说: 是的。不是这样吗? [孔子]说: 不是的。我是用一个基本的思想观念来贯穿它们的。 【注释】 
  ① 赐: 端木赐, 字子贡。
  ② 女: 同 汝。 你。
  ③ 以: 用。 一: 一个基本的 则、思想。孔子这里指的是 忠恕 之道。贯: 贯穿, 贯通。 子曰: 由, 知德者鲜矣①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 仲由, 懂得道德的人少啊。 【注释】 
  ① 鲜(x ǎn险): 少。因为道德必须由自身加强学习与修养, 日积月累, 长期努力, 才能将其义理得之于心, 见之于行, 故孔子说 知德者鲜。 
  子曰: 无为而治者
  ①
  , 其舜也与?夫何为哉?恭己正南面而已矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 好像无所作为而使天下得到治理的, 大概只有虞舜吧?他做了些什么呢?他只是恭敬郑重地脸朝南面[坐着]而已。 
  【注释】 
  ① 无为而治: 无为, 无所作为。据传, 舜当政时, 一切沿袭尧的旧法来治国, 似乎没有什么新的改变和作为, 而使天下太平。后泛指以德化民, 无事于政刑。朱熹《四书集注》 说: 圣人德盛而民化, 不待其有所作为也。独称舜者, 绍尧之后, 而又得人以任众职, 故尤不见有为之迹也。 
  ② 南面: 古代传统礼法, 王位总是坐北朝南的。子张问行, 子曰: 言忠信, 行笃敬, 虽蛮貊之邦①
  , 行
  矣。言不忠信, 行不笃敬, 虽州里②
  , 行乎哉?立则见其参于
  前也
  ③
  , 在舆则见其倚于衡也
  ④
  , 夫然后行。 子张书诸绅
  ⑤
  。
   【今译】 
  子张问[自己的主张]如何能行得通。孔子说: 说话忠诚守信, 行为敦厚恭敬, 即使在蛮貊地区, 也行得通。说话不忠信, 行为不笃敬, 即使在本乡州里, 能行得通吗?[ 忠信笃敬 这几个字]站着, 仿佛看见它直立在眼前;坐车, 仿佛看见它依靠在车辕的横木上。这样做了以后就能行得通。 子张[把孔子的话]写在自己的衣带上。【注释】 
  ① 蛮: 南蛮, 泛指南方边疆少数民族。貊(mò墨): 北狄, 泛指北方边疆少数民族。
  ② 州里: 古代二千五百家为州。五家为邻, 五邻为里。这里代指本乡本土。
  ③ 参: 本意为直、高。这里引申为像一个高大的东西直立在眼前。
  ④ 舆(yú余): 车。 倚: 依靠在物体或人身上。 衡: 车辕前的横木。
  ⑤ 书诸绅: 即 书之于绅。 绅, 系在腰间下垂的宽大的衣带。把警句、格言写在腰间的大带子上, 一低头就能看到, 从而时时提醒自己, 指导自己的言行。这是古人一种加强自我修养的方法。子曰: 直哉史鱼
  ①
  !邦有道如矢, 邦无道如矢。君子哉蘧伯玉
  ②
  !邦有道则仕, 邦无道则可卷而怀之。 【今译】 
  孔子说: 史鱼真正直啊!国家有道, [他的言行]像[射出的]箭头一样刚直;国家无道, 也像箭头一样刚直。蘧伯玉真是一位君子啊!国家有道时, 出来做官;国家无道时, [把正确主张]收起来辞官隐居。 【注释】 
  ① 史鱼: 卫国大夫, 名(q ū丘), 字子鱼。他曾多次向卫灵公推荐贤臣蘧伯玉, 未被采纳。史鱼病危临终时, 嘱咐儿子, 不要 治丧正堂, 用这种做法再次劝告卫灵公一定要进用蘧伯玉, 而贬斥奸臣弥子瑕。等卫灵公采纳实行之后, 才 从丧北堂成礼。 史鱼这种正直的行为, 被古人称为 尸谏 (事见《孔子家语》 及《韩诗外传》)。 ② 蘧伯玉: 参见《宪问篇第十四》 第二十五章注。子曰: 可与言而不与之言, 失人;不可与言而与之言, 失言。知者不失人
  ①
  , 亦不失言。 
  【今译】 
  孔子说: 可以与他说话却不与他说, 就会失掉友人错过人才;不可与他说话却与他说, 就是浪费言语。聪明人既不失掉友人错过人才, 也不浪费言语。 【注释】 
  ① 知: 同 智。 智者, 聪明人。子曰: 志士仁人, 无求生以害仁①
  , 有杀身以成仁
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 有志之士, 仁义之人, 不能为求得保住生命而损害仁, 而应为做到仁献出生命。 【注释】 
  ① 求生: 贪生怕死, 为保活命苟且偷生。② 杀身: 勇于自我牺牲, 为仁义当死而死, 心安德全。 子贡问为仁, 子曰: 工欲善其事①
  , 必先利其器
  ②
  。居是
  邦也, 事其大夫之贤者
  ③
  , 友其士之仁者。 
  【今译】 
  子贡问怎样实行仁德。孔子说: 工匠要把活儿干得好, 必须先把工具弄得精良合用。[要实行仁德, ]住在一个国家, 就要事奉大夫中有贤德的人, 与士中有仁德的人交朋友。 【注释】 
  ① 善: 用作动词。做好, 干好, 使其完善。② 利: 用作动词。搞好, 弄好, 使其精良。③ 事: 事奉, 为 服务。
  颜渊问为邦
  ①
  , 子曰: 行夏之时
  ②
  , 乘殷之辂
  ③
  , 服周之
  冕
  ④
  , 乐则《韶》 《舞》 
  ⑤
  , 放郑声
  ⑥
  , 远佞人
  ⑦
  。郑声淫, 佞人
  殆
  ⑧
  。 
  【今译】 
  颜渊问怎样建设国家。孔子说: 遵行夏代的历法, 驾乘殷代的车子, 戴周代的礼帽, 奏《韶乐》 、《舞乐》, 禁止郑国的乐曲, 疏远花言巧语善于狡辩的小人。郑国的乐曲不正派, 花言巧语的小人危险。 
  【注释】 
  ① 为: 建设, 治理。 邦: 邦国, 诸侯国。② 夏之时: 时, 时令, 时节。此指历法。夏之时, 就是沿用至今的夏历(又称阴历, 农历)。 周历建子(以夏历十一月为正月), 殷历建丑(以夏历十二月为正月), 夏历建寅(以建寅之月的朔日为岁首), 而夏历最合于农时, 有利于农业生产, 故孔子主张推行夏历。③ 乘殷之辂: 辂(lù路), 古代的大车。旧说殷代的大车木质 而无饰, 最俭朴实用, 故孔子提倡 乘殷之辂。 ④ 服周之冕: 冕, 礼帽。旧说周代的礼帽体制完备而华美, 而孔子是一向提倡礼服应讲究、华美的, 故说要 服周之冕。 ⑤ 韶: 舜时音乐。 舞: 同《武》。 周武王时音乐。参阅《八佾篇第三》 第二十五章注。
  ⑥ 放: 驱逐, 排斥, 禁止。 郑声: 郑国的民间音乐。郑国民间音乐形式活泼, 与典雅板滞的古乐有很大不同。孔子难以接受, 认为它多靡靡之音, 故主张 放郑声。 ⑦ 远: 作动词用。疏远。
  ⑧ 殆: 危险。
  子曰: 人无远虑, 必有近忧
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 人没有对将来的考虑, 必定会有近在眼前的忧患。 
  【注释】 
  ① 远, 近: 指时间。犹言未来, 目前。一说, 指地方。朱熹说: 人之所履者, 容足之外, 皆为无用之地, 而不可废也。故虑不在千里之外, 则患在几席之下矣。 
  子曰: 已矣乎, 吾未见好德如好色者也①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 罢了啊, 我没见过爱慕德行像爱慕美色[那样热切]的人。 
  【注释】 
  ① 本章文字与《子罕篇第九》 第十八章略同, 可参阅。 子曰: 臧文仲其窃位者与①
  ?知柳下惠之贤
  ②
  , 而不与立
  也
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 臧文仲大概是个窃据官位的人吧?明知柳下惠是贤人, 却不给他官位。 
  【注释】 
  ① 臧文仲: 即臧孙辰。鲁国大夫, 历仕鲁庄公、鲁闵公、鲁僖公、鲁文公四朝。知贤而不举, 故孔子批评他 不仁, 窃位。 参见《公冶长篇第五》 第十八章注。 窃位: 窃据高位, 占有官位而不称职、不尽责。
  ② 柳下惠: 本姓展, 名获, 字禽, 又名展季。他的封地(一说是居处) 叫 柳下; 死后, 由他的妻子倡议, 给他的 私谥 (并非由朝廷授予的谥号) 叫 惠, 故称 柳下惠。 春秋中期的贤者, 鲁国大夫, 曾任 士师 (掌管刑狱的官员)。 以讲究礼节而著称。③ 与立: 即 与之并立于朝, 给予官位。一说, 立 同 位。 与立, 即 与位。 子曰: 躬自厚而薄责于人
  ①
  , 则远怨矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 自己多责备自己而少责备别人, 就可以避开怨恨了。 
  【注释】 
  ① 躬自厚: 意为责己要重, 应多多反省责备自己。 躬, 自身。 厚, 这里指厚责, 重责。 薄责于人: 意为待人要宽, 要行恕道, 少挑剔责备别人。 薄责, 轻责, 少责备。② 远: 远离, 避开。
   子曰: 不曰‘如之何, 如之何’ 者①
  , 吾末如之何而已
  矣
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 不说‘怎么办, 怎么办’ 的人, 我[对这种人]也没办法啊。 
  【注释】 
  ① 如之何: 犹言怎么办。孔子这里的意思是: 做事一定要 过深思熟虑, 多问几个 该怎么办。 因为只有深忧远虑的人, 才能真正想出解决问题的好办法。
  ② 末如之何: 犹言没办法。 末, 没。子曰: 群居终日, 言不及义, 好行小慧, 难矣哉! 【今译】 
  孔子说: 众人整天聚在一处, 说的话从不涉及义理, 还好卖弄一点小聪明, [对这种人]真难[教育]啊! 子曰: 君子义以为质
  ①
  , 礼以行之, 孙以出之
  ②
  , 信以成
  之。君子哉! 
  【今译】 
  孔子说: 君子以义为根本, 以礼法来实行[义], 以谦逊的语言来表达[义], 以忠诚的态度来完成[义], 这就是君子啊! 
  【注释】 
  ① 质: 本意为本质、质地。引申为基本 则, 根本。② 孙: 同 逊。  出: 出言, 表达。 子曰: 君子病无能焉①
  , 不病人之不己知也。 
  【今译】 
  孔子说: 君子只忧虑[自己]没有才能, 不忧虑别人不知道自己。 
  【注释】 
  ① 病: 担心, 忧虑。
  子曰: 君子疾没世而名不称焉①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子就怕死后没有[好的]名声被人称颂。 【注释】 
  ① 疾: 恨, 怕, 感到遗憾。 没世: 终身, 死。 称: 称述, 称道。
  子曰: 君子求诸己
  ①
  , 小人求诸人。 
  【今译】 
  孔子说: 君子要求自己, 小人要求别人。 【注释】 
  ① 求: 要求。一说, 求助, 求得。则此章意为: 君子一切求之于自己, 小人一切求之于他人。子曰: 君子矜而不争
  ①
  , 群而不党
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子庄重矜持而不同别人争执, 合群而不结党营私。 
   【注释】 
  ① 矜(jīn今): 庄重, 矜持, 慎重拘谨。② 党: 结党营私, 帮结伙, 搞小宗派。子曰: 君子不以言举人, 不以人废言。 【今译】 
  孔子说: 君子不仅根据言论推举选拔人才, 也不因某人有缺点错误而废弃他的言论。 子贡问曰: 有一言而可以终身行之者乎? 子曰: 其‘恕’ 乎!己所不欲, 勿施于人。 【今译】 
  子贡问道: 有一个字而可以终身奉行的吗? 孔子说: 那就是‘恕’ 吧!自己不愿意的, 不要加给别人。 子曰: 吾之于人也, 毁 誉①
  ?如有所誉者, 其有所
  试矣。斯民也, 三代之所以直道而行也②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 我对于别人, 诋毁过? 赞誉过? 如有所赞誉, 那是 过实践考验过的。夏商周三代如此[大公无私地]用民, 所以能按正直之道行事。 【注释】 
  ① 毁;诋毁。指称人之恶而失其真。 誉: 赞誉, 溢美。指扬人之善而过其实。
  ②  斯民也 句: 斯, 此, 如此。 民, 指用民。 三代, 指夏、商、周。此句是说如此用民, 无所偏私, 这就是三代能按正直之 道行事的 因。
  子曰: 吾犹及史之阙文也
  ①
  , 有马者借人乘之
  ②
  。今亡矣
  夫。 
  【今译】 
  孔子说: [早年]我还能看到史官存疑的阙文, 有马的人把马借给别人骑。[这些]今天没有了啊。 【注释】 
  ① 史之阙文: 阙, 同 缺。 指缺疑, 存疑。史官记载历史, 对于有疑问(缺乏确凿根据) 的事, 缺而不录, 抱存疑态度, 故有 阙文。 一说, 写史的书吏, 遇到可疑的字, 存疑待问, 宁可把缺少的字空起来, 也不创造新字, 不妄以己意另写别的字来代替。② 借: 借出, 把自己的东西暂时给别人使用。句意为: 有马的人不敢自私, 而愿借给别人骑。一说, 借, 借助。句意为: 有马的人, 不会驾驭(训练) 自己的马, 而借助善驯马的人来调习训练。 史阙文 与 马借人 这两句话, 看来意义不够连贯。有的学者推测 有马者 句可能是衍文;也有的学者认为, 这两件事均说明古人淳厚朴实, 与孔子时的人情浇薄不同, 故孔子伤叹。可参。子曰: 巧言乱德。小不忍则乱大谋。 【今译】 
  孔子说: 花言巧语会败坏道德。小事上不能忍耐就会坏了大事。 
  子曰: 众恶之, 必察焉;众好之, 必察焉。 【今译】 
  孔子说: 众人都厌恶他, 一定要仔细考察详情 因;众人都喜欢他, 一定要仔细考察详情 因。 子曰: 人能弘道
  ①
  , 非道弘人。 
  【今译】 
  孔子说: 人能够弘扬道, 不是道能弘扬人。 【注释】 
  ① 弘 (ón 红): 弘扬, 光大。子曰: 过而不改
  ①
  , 是谓过矣。 
  【今译】 
  孔子说: 有过错而不改, 这才真叫做过错呢。 【注释】 
  ① 改: 改正, 纠正。孔子主张: 过而能改, 复于无过。有些人犯错误, 起初是无心的, 只要能改, 就没有错了;如坚持不肯改正, 那才是真正的错误。
  子曰: 吾尝终日不食, 终夜不寝, 以思, 无益, 不如学也。 
  【今译】 
  孔子说: 我曾 整天的不吃饭, 整夜的不睡觉, 去冥思苦想, [结果]没有什么益处, 还不如去学习呢。 子曰: 君子谋道不谋食。耕也, 馁在其中矣①
; 学也, 禄
   在其中矣
  ②
  。君子忧道不忧贫。 
  【今译】 
  孔子说: 君子谋求学道行道, 不谋求衣食。耕田, 未必不挨饿;学习知识, 则可以获得俸禄。君子担忧道[学不成或不能行], 不担忧贫穷。 
  【注释】 
  ① 馁: 饥饿。
  ② 禄: 做官的俸禄。
  子曰: 知及之
  ①
  , 仁不能守之, 虽得之, 必失之。知及之, 仁能守之, 不庄以莅之
  ②
  , 则民不敬。知及之, 仁能守之, 庄以莅之, 动之不以礼
  ③
  , 未善也。 
  【今译】 
  孔子说: 依靠聪明才智得到的[职位、政权], [如果]不能用仁德去守住它, 虽然得到, 也必定会失去它。依靠聪明才智得到的, 能够用仁德去守住它, [但如]不用庄重严肃的态度去认真治理百姓, 百姓也不会敬服。依靠聪明才智得到的, 能用仁德去守住它, 又能用庄重严肃的态度去认真对待, [但是]行动不符合礼义, 也不能算是完善的。 【注释】 
  ① 知: 同 智。 聪明, 才智。② 莅(lì立): 到, 临。这里指临民, 即掌握政权, 治理百姓。③ 动之: 动, 行动。 之, 语助词, 无义。孔子认为, 治理天下, 智、仁、庄、礼, 四者缺一不可, 只用智, 其失在荡;只用仁, 其失在宽;只用庄, 其失在猛;所以必须用礼来调和。 子曰: 君子不可小知而可大受也①
  , 小人不可大受而可
  小知也。 
  【今译】 
  孔子说: 对君子, 不可让他只做小事情, 而可让他接受重大任务;对小人, 不可让他接受重大任务, 而可让他做些小事情。 
  【注释】 
  ① 小知: 知, 主持, 主管。小知, 即任用做小事情, 管小范围内的具体事务。一说, 知, 了解, 识别。小知, 即从小处、从任用做小事情上, 去了解、识别。子曰: 民之于仁也, 甚于水火, 水火吾见蹈而死者矣, 未见蹈仁而死者也
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 人民对于仁德, 比对水火更急切需要;[但是]我见过溺水蹈火而死的, 却没见过实践仁德而死的。 【注释】 
  ① 蹈 (ǎo岛): 踏, 踩, 投入。引申为追求, 实行, 实践。朱熹《四书集注》 说: 民之于水火, 所赖以生, 不可一日无。其于仁也亦然。但水火外物, 而仁在己。无水火, 不过害人之身, 而不仁则失其心。是仁有甚于水火, 而尤不可以一日无者也。况水火或有时而杀人, 仁则未尝杀人, 亦何惮而不为哉? 可见本章精神在于 勉人为仁。 
  子曰: 当仁不让于师。 
   【今译】 
  孔子说: 面对着合于仁德的事, 即使对老师, 也不必谦让。 
  子曰: 君子贞而不谅
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子坚定执着于正道, 而不固执拘泥于讲小信。 
  【注释】 
  ① 贞: 正, 固守正道, 恪守节操。 谅: 信, 守信用, 固执。本章与孔子所说 言不必信, 行不必果 同一意思。可参阅《子路篇第十三》 第二十章。
  子曰: 事君, 敬其事而后其食①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 事奉君主, 要恭敬谨慎地办事, 而把领取俸禄的事往后放。 
  【注释】 
  ① 食: 食禄, 俸禄, 官吏的薪水。子曰: 有教无类
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 对 都进行教育, 不分[贫富、智愚的]类别。 【注释】 
  ① 无类: 不分类, 没有富贵贫贱、天资优劣智愚、等级地位高低、地域远近、善恶不同等等的区别与限制。孔子提倡全民教育, 希 望教育所有的人而同归于善。他的弟子中, 富有的(如冉有, 子贡), 贫穷的(如颜回, 思), 地位高的(如孟懿子为鲁国贵族), 地位低的(如子路为卞之野人), 鲁钝一点的(如曾参), 愚笨一点的(如高柴), 各种人都有。
  子曰: 道不同
  ①
  , 木相为谋。 
  【今译】 
  孔子说: 主张不同, 不能互相谋划商讨。 【注释】 
  ① 道: 道路, 主张, 所追求的目标。子曰: 辞达而已矣。 
  【今译】 
  孔子说: 言辞足以表达意思就行了。 师冕见
  ①
  , 及阶, 子曰: 阶也。 及席, 子曰: 席也。 皆坐, 子告之曰: 某在斯, 某在斯。 师冕出, 子张问曰: 与师言之道与? 子曰: 然, 固相师之道也②
  。 
  【今译】 
  师冕来见孔子, 走到台阶边, 孔子说: 这是台阶。 走到坐席边, 孔子说: 这是坐席。 大家都坐下后, 孔子告诉他说: 某人在这里, 某人在那里。 师冕走了以后, 子张问: 这就是与乐师讲话的方式方法吗? 孔子说: 是的, 诚然是帮助乐师的方式方法。 
  【注释】 
  ① 师: 指乐师。一般是盲人。 冕: 盲人乐师的名字。② 相: 帮助, 辅助。
   季氏篇第十六
  (共十四章) 
  主要记孔子论君子怎样修身、如何以礼法治国。季氏将伐颛臾
  ①
  。冉有、季路见于孔子曰
  ②
  : 季氏将有事
  于颛臾
  ③
  。 孔子曰: 求, 无乃尔是过与④
  ?夫颛臾, 昔者先
  王以为东蒙主
  ⑤
  , 且在邦域之中矣, 是社稷之臣也⑥
  。何以伐
  为
  ⑦
  ? 冉有曰: 夫子欲之
  ⑧
  , 吾二臣者皆不欲也。 孔子曰: 求!周任有言曰
  ⑨
  : ‘陈力就列
   
  , 不能者止。’ 危而不持, 颠
  而不扶, 则将焉用彼相矣
   
  ?且尔言过矣。虎兕出于柙
   
  , 龟
  玉毁于椟中
   
  , 是 之过与? 冉有曰: 今夫颛臾, 固而近于费
   
  。今不取, 后世必为子孙忧。 孔子曰: 求!君子疾夫舍曰欲之而必为之辞
   
  。丘也闻有国有家者, 不患贫而患不均, 不患寡而患不安
   
  。盖均无贫, 和无寡, 安无倾。夫如是, 故远人不服, 则修文德以来之
   
  。既来之, 则安之。今由与求也, 相夫子, 远人不服, 而不能来也;邦分崩离析 J
  , 而不能守也;
  而谋动干戈于邦内。吾恐季孙之忧, 不在颛臾, 而在萧墙之内也
   K
  。 
  【今译】 
  季氏将要讨伐颛臾。冉有、子路去见孔子, 说: 季氏将 对颛臾采取军事行动。 孔子说: 冉求!这难道不该归咎于你吗?颛臾, 过去周天子曾 授权它主持东蒙山的祭祀, 而且就在鲁国的疆域之中, 是我们鲁国共安危的臣属, 为什么要讨伐它呢? 冉有说: 季孙大夫想这么做, 我们二人作为家臣, 都不想这么做。 孔子说: 冉求!周任曾有句话说: ‘能够施展自己的才力, 就担任职务;实在做不到, 就该辞职。’ 〔比如盲人〕 遇到危险却不扶持 住他, 摔倒了却不搀扶他起来, 那么, 用你这助手做什么呢?而且你的话错了。老虎、犀牛从关它的笼子里跑了出来, 占卜用的龟甲、祭祀用的玉器在木匣中被毁坏了, 这是 的过错呢? 冉有说: 如今颛臾城墙坚固, 而且离费邑很近。现在不占领它, 后世必然成为子孙的祸患。 孔子说: 冉求!君子厌恶那种嘴上不说‘想得到它’, 一定要找个借口的人。我听说过, 对于拥有国家的诸侯和拥有采邑的大夫, 担心的不是贫穷, 而是分配不均;担心的不是人少, 而是社会不安定。因为财富分配均匀了, 就无所谓贫穷;国内和睦团结了, 就不显得人少势弱;社会安定了, 国家就没有倾覆的危险。要是这样做了, 远方的人还不归服, 便提倡仁义礼乐道德教化, 以招徕他们。〔远方的人〕 已 来了, 就使他安心住下来。现在仲由、冉求你们二人辅佐季康子, 远处的人不归服, 而不能招徕他们;国家四分五裂, 而不能保全;反而打算在国境之内使用武力。我只怕季孙氏的忧患, 不在颛臾, 而在于宫殿的门屏之内呢。 【注释】 
  ① 季氏: 即季孙氏, 指季康子, 名肥。 鲁国大夫。颛臾(z uānyú专鱼): 附属于鲁国的一个小国, 子爵。故城在今山东省费县西北 八十里。
  ② 冉有, 季路: 孔子弟子。冉有即冉求, 字子有, 也称冉有。季路即仲由, 字子路, 因仕于季氏, 又称季路。③ 有事: 这里指施加武力, 采取军事行动。④ 无乃: 岂不是, 恐怕是, 难道不是。⑤ 先王: 鲁国的始祖周公(姬旦), 系周武王(姬发) 之弟, 故这里称周天子为先王。 东蒙主: 谓主祭东蒙山。 东蒙, 即蒙山。因在鲁国东部, 故称东蒙。在今山东省蒙阴县南四十里, 与费县连接。 主, 主持祭祀。
  ⑥ 社稷之臣: 国家的重臣。
  ⑦ 何以伐为: 何以, 以何, 为什么。 为, 语气助词。相当于 呢。 为什么要讨伐他呢?⑧ 夫子: 古时对老师、长者、尊贵者的尊称。这里指季康子。⑨ 周任: 周朝有名的史官。
    陈力: 发挥、尽量施展自己的才力。 就列: 走上当官的行列, 担任职务。
    相: 辅佐, 帮助。古代扶引盲人的人叫 相。 引申为助手。  兕(sì四): 古代犀牛类的野兽。或说即雌犀牛。 柙(x á侠): 关猛兽的木笼子。
    椟 (ú毒): 木制的柜子, 匣子。  费 (ì毕): 季氏的采邑。在今山东省费县西南, 有费城。颛臾与费邑相距仅七十里, 故说 近于费。  疾: 厌恶, 痛恨。 辞: 托辞, 借口。   不患贫 句: 为 不患寡而患不均, 不患贫而患不安, 清代俞樾《群 平议》 以为 寡 当作 贫, 贫 当作 寡。 《春秋繁露 度制》 和《魏书 张普惠传》 引此文, 都是 不患贫而患不均, 不患寡而患不安。 据改。朱熹说: 均, 谓各得其分;安, 谓上 下相安。 
    来: 通 徕。 招徕, 吸引, 使其感化归服。 J  分崩离析: 崩, 倒塌。 析, 分开。形容集团、国家等分裂瓦解, 不可收拾。当时鲁国不统一, 四分五裂, 被季孙、孟孙、叔孙三大贵族所分割。
   K  萧墙之内: 萧墙, 宫殿当门的小墙, 或称 屏。 古代臣子进见国君, 至屏而肃然起敬, 故称 萧墙。 萧 、 肃 古字通。这里用 萧墙, 借指宫内。当时鲁国的国君鲁哀公名义上在位, 实际上政权被季康子把持;这样发展下去, 一旦鲁君不能容忍, 必起内乱。故孔子含蓄地说了这话。
  孔子曰: 天下有道, 则礼乐征伐自天子出;天下无道, 则礼乐征伐自诸侯出。自诸侯出, 盖十世希不失矣①
; 自大夫
  出, 五世希不失矣;陪臣执国命②
  , 三世希不失矣。天下有道, 
  则政不在大夫。天下有道, 则庶人不议。 【今译】 
  孔子说: 天下有道, 制礼作乐, 军事征伐, 由天子作决定;天下无道, 制礼作乐, 军事征伐, 由诸侯作决定。由诸侯作决定, 大概传十代就很少有不丧失政权的;由大夫作决定, 传五代就很少有不丧失政权的;由卿、大夫的家臣来掌握国家的命运, 传上三代就很少有不丧失政权的。天下有道, 国家政权不会落在大夫手里。天下有道, 黎民百姓就不议论朝政了。 
  【注释】 
  ①  十世 句: 世, 代。 十世, 即十代。朱熹说: 先王之制, 诸侯不得变礼乐, 专征伐。 逆理愈甚, 则其失之愈速。 因为天 下无道, 天子无实权, 才会形成 礼乐征伐自诸侯出 的局面;再混乱, 就会到 自大夫出 、 陪臣执国命 的地步。这样的政权当然不会巩固。 十世 及后面的 五世 、 三世 均为约数, 只是说明逆理愈甚, 则失之愈速。这也是孔子对当时各国政权变动实况进行观察研究而得出的结论。 希: 同 稀。 少有。② 陪臣: 卿、大夫的家臣。
  孔子曰: 禄之去公室五世矣
  ①
  , 政逮于大夫四世矣
  ②
  , 故
  夫三桓之子孙微矣
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 〔鲁国的国君〕 失去国家政权有五代了, 政权落在大夫〔季孙氏〕 手里有四代了, 所以, 三桓的子孙就衰微了。 
  【注释】 
  ① 禄: 爵禄。这里代指国家政权。 公室: 指鲁国朝廷。 五世: 五代。公元前 年, 鲁文公死, 大夫东门遂(襄仲) 杀嫡长子子赤而立宣公, 掌握了鲁国政权。宣公死, 政权实际上落在季氏手中。到孔子说这段话时, 已又 鲁成公、鲁襄公、鲁昭公, 到鲁定公, 共五代。
  ② 逮: 及, 到。 四世: 公元前 年, 鲁宣公死, 季文子驱逐了东门氏, 此后, 由季氏为正卿, 掌握了鲁国政权。从文子, 武子、平子、桓子, 到孔子说这段话时, 正为四代。③ 三桓: 即鲁国的 三卿: 季孙氏, 叔孙氏, 孟孙(即仲孙) 氏。因这三家都是鲁桓公的后代, 故称 三桓。 这三家一直掌握鲁国政权, 到鲁定公时, 曾出现 陪臣执国命 的局面, 三桓势力一度衰弱。
   孔子曰: 益者三友, 损者三友。友直, 友谅①
  , 友多闻, 
  益矣。友便辟
  ②
  , 友善柔
  ③
  , 友便佞
  ④
  , 损矣。 
  【今译】 
  孔子说: 有益的朋友有三种, 有害的朋友也有三种。与正直的人交友, 与诚信的人交友, 与见闻学识广博的人交友, 是有益的。与习于歪门邪道的人交友, 与善于阿谀奉承的人交友, 与惯于花言巧语的人交友, 是有害的。 【注释】 
  ① 谅: 诚实。
  ② 便辟(p án pì蹁僻): 习于摆架子装样子, 内心却邪恶不正。③ 善柔: 善于阿谀奉承, 内心却无诚信。④ 便佞(p án nìn 蹁泞): 善于花言巧语, 而言不符实。孔子曰: 益者三乐, 损者三乐。乐节礼乐, 乐道人之善, 乐多贤友, 益矣。乐骄乐, 乐佚游①
  , 乐宴乐, 损矣。 
  【今译】 
  孔子说: 有益的快乐有三种, 有损的快乐也有三种。以得到礼乐的调节陶冶为快乐, 以称道别人的优点好处为快乐, 以多交贤德的友人为快乐, 是有益处的。以骄奢放肆为快乐, 以闲佚游荡为快乐, 以宴饮纵欲为快乐, 是有损害的。 【注释】 
  ① 佚: 同 逸。 安闲, 休息。孔子曰: 侍于君子有三愆
  ①
  : 言未及之而言谓之躁, 言
  及之而不言谓之隐
  ②
  , 未见颜色而言谓之 
  ③
  。 
   【今译】 
  孔子说: 侍奉君子容易有三种过失: 〔君子〕 还未说到, 〔你〕 就先说了, 叫做急躁;〔君子〕 已 说到, 〔你〕 还不说, 叫做隐瞒;不看〔别人〕 脸色而贸然说话, 叫做瞎子。 【注释】 
  ① 愆(q ān千): 过失, 差错, 失误。② 隐: 隐瞒, 有意缄默。
  ③  (ǔ古): 双目失明, 盲人。这里比喻不能察言观色, 说话不看时机就如盲人一样。
  孔子曰: 君子有三戒: 少之时, 血气未定①
  , 戒之在色;
  及其壮也, 血气方刚, 戒之在斗;及其老也, 血气既衰, 戒之在得
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 君子有三件事要警惕戒备: 年轻时, 血气还不成熟, 要警惕贪恋女色;到了壮年时, 血气正旺盛, 要警惕争强好斗;到了老年时, 血气已 衰弱, 要警惕贪得无厌。 【注释】 
  ① 未定: 未成熟, 未固定。
  ② 得: 泛指对于名誉、地位、钱财、女色等等的贪欲、贪求。子曰: 君子有三畏
  ①
  : 畏天命, 畏大人
  ②
  , 畏圣人之言。
  小人不知天命而不畏也, 狎大人③
  , 侮圣人之言。 
  【今译】 
  孔子说: 君子有三畏: 敬畏天命, 敬畏在高位的人, 敬畏圣人的话。小人不知天命而不畏, 不尊重在上位的人, 蔑 视圣人的话。 
  【注释】 
  ① 畏: 怕。这里指心存敬畏, 敬服。要时时处处注意修身诫己, 有敬慎之心。
  ② 大人: 在高位的贵族、官僚。③ 狎(x á侠): 狎侮, 轻慢, 不尊重。孔子曰: 生而知之者, 上也;学而知之者, 次也;困而学之, 又其次也;困而不学, 民斯为下矣。 【今译】 
  孔子说: 生来就有知识, 是上等; 过学习而有知识是次一等;遇到困难然后学习, 是再次一等;遇到困难还不学习, 这样的百姓就是下等了。 孔子曰: 君子有九思: 视思明, 听思聪, 色思温, 貌思恭, 言思忠, 事思敬, 疑思问, 忿思难①
  , 见得思义。 
  【今译】 
  孔子说: 君子在九个方面多用心考虑: 看, 考虑是否看得清楚;听, 考虑是否听得明白;脸色, 考虑是否温和;态度, 考虑是否庄重恭敬;说话, 考虑是否忠诚老实;做事, 考虑是否认真谨慎;有疑难, 考虑应该询问请教别人;发火发, 考虑是否会产生后患;见到财利, 考虑是否合于仁义。 【注释】 
  ① 难(nàn南去声): 这里指发 可能带来的灾难、留下的后患。孔子曰: 见善如不及, 见不善如探汤①
  。吾见其人矣, 吾
   闻其语矣。隐居以求其志, 行义以达其道②
  。吾闻其语矣, 未
  见其人也。 
  【今译】 
  孔子说: 看见善的〔就努力追求〕, 如同怕自己赶不上似的;看见邪恶, 如同把手伸进开水〔要赶快避开〕。 我见过这种人, 我听过这种话。以隐居来求得保全自己的志向, 以实行仁义来贯彻自己的主张。我听过这种话, 没见过这种人。 【注释】 
  ① 探汤: 汤, 开水, 热水。把手伸到滚烫的水里。指要赶紧躲避开。
  ② 达: 达到, 全面贯彻。
  齐景公有马千驷
  ①
  , 死之日, 民无德而称焉。伯夷、叔齐饿于首阳之下
  ②
  , 民到于今称之。(诚不以富, 亦只以异。) ③
  其
  斯之谓与。
  【今译】 
  齐景公有四千匹马, 死的时候, 人民认为他没有什么美德可称颂。伯夷、叔齐饿死在首阳山下, 但人民到现在还称颂他们。(这实在不是因为富或不富, 也只是因为品德行为的不同。) 说的就是这个意思吧。【注释】 
  ① 千驷: 古代一辆车套四匹马, 驷就是四匹马的统称。千驷就是四千匹马。作为诸侯而有马千驷, 在当时是豪侈而越制的。② 首阳: 首阳山。又称雷首山, 独领山。在今山西省运城(一说永济) 县南, 为当年伯夷叔齐采薇隐居处。南山有古冢, 松柏茂盛, 传说即伯夷叔齐的墓。关于伯夷、叔齐, 已见前《公冶长篇第五》 第 二十三章注, 可参阅。③  诚不 句: 这两句 在《颜渊篇第十二》 第十章中。有人说应加在这里, 与后句 其斯之谓与 衔接。姑按前人之说, 加括号补入。注详见《颜渊篇第十二》。 陈亢问于伯鱼曰
  ①
  : 子亦有异闻乎? 对曰: 未也。尝独立, 鲤趋而过庭
  ②
  。曰: ‘学《诗》 乎?’ 对曰: ‘未也。’ ‘不学《诗》 无以言。’ 鲤退而学《诗》。 他日, 又独立, 鲤趋而过庭。曰: ‘学礼乎?’ 对曰: ‘未也。’ ‘不学礼, 无以立。’ 鲤退而学礼。闻斯二者。 陈亢退而喜曰: 问一得三, 闻《诗》, 闻礼, 又闻君子之远其子也③
  。 
  【今译】 
  陈亢问伯鱼: 您〔从老师那里〕 听到过什么特别不同的教导吗? 〔伯鱼〕 回答: 没有。有一天, 〔我父亲〕 一个人站在那里, 我快步 过庭院。〔父亲〕 问: ‘学过《诗》 吗?’ 〔我〕 回答: ‘没有。’ 〔父亲说:〕 ‘不学《诗》, 〔在社会交往中〕 就不会说话。’ 我回去就学《诗》。 又一天, 〔父亲〕 又一个人站在那里, 我快步 过庭院。〔父亲〕 问: ‘学过礼吗?’ 〔我〕 回答: ‘没有。’ 〔父亲说:〕 ‘不学礼, 〔在社会上做人做事〕 不能立足。’ 我回去就学礼。〔我〕 只听说过这两件事。 陈亢回去高兴地说: 问了一件事, 得到三个收获: 听到学《诗》 的意义, 听到学礼的好处, 又听到君子并不偏向自己的儿子。 
  【注释】 
  ① 陈亢: 字子禽。参阅《学而篇第一》 第十章注。 伯鱼: 孔子的儿子, 名鲤, 字伯鱼。
   ② 趋: 小步快速而行, 以示恭敬。③ 远: 远离, 避开, 不亲近。这里指对自己的儿子不偏向, 没有偏爱, 没有特殊照顾和过分关照。邦君之妻
  ①
  , 君称之曰夫人, 夫人自称曰小童②
; 邦人称
  之曰君夫人, 称诸异邦曰寡小君③
; 异邦人称之亦曰君夫人。
  【今译】 
  国君的妻子, 国君称她为 夫人, 夫人自己〔谦〕 称‘小童; 国内的人称她为 君夫人, 在其他国家的人面前〔谦〕 称她为 寡小君; 其他国家的人也称呼她 君夫人。 【注释】 
  ① 邦君: 指诸侯国的国君。
  ② 小童: 谦称。犹说自己无知如童子。③ 诸: 之于 的合音。
   阳货篇第十七
  (共二十六章) 
  主要记孔子教育弟子讲究仁德, 阐发以礼乐治国的道理。阳货欲见孔子
  ①
  , 孔子不见, 归孔子豚
  ②
  。孔子时其亡也
  ③
  , 
  而往拜之。遇诸涂
  ④
  。谓孔子曰: 来!予与尔言。 曰: 怀其宝而迷其邦
  ⑤
  , 可谓仁乎? 曰: 不可。 好从事而亟失时⑥
  , 
  可谓知乎
  ⑦
  ? 曰: 不可。 日月逝矣, 岁不我与⑧
  。 孔子曰: 
   诺, 吾将仕矣。 
  【今译】 
  阳货想让孔子去拜见他, 孔子不去见, 他便赠送给孔子一只〔蒸熟的〕 小猪。孔子暗中打听到阳货不在家, 才去回拜他。两人却在途中遇见了。阳货对孔子说: 过来!我有话对你说。 〔孔子近前, 阳货〕 说: 把自己的宝物藏在怀里, 而听任国家迷乱, 这样做可以称为仁吗? 〔孔子〕 说: 不可以。 〔阳货又说:〕 喜欢参与政事而又屡次错过机会, 可以称为智吗? 〔孔子〕 说: 不可以。 〔阳货又说:〕 时间消逝了, 年岁是不等待人的。 孔子说: 好吧, 我将要去做官了。 【注释】 
  ① 阳货: 又名阳虎, 杨虎。鲁国季氏的家臣。曾一度掌握了季 氏一家的大权, 甚而掌握了鲁国的大权, 是孔子说的 陪臣执国命 的人物。阳货为了发展自己的势力, 极力想 孔子给他做事。但孔子不愿随附于阳货, 故采取设法回避的态度。后阳货因企图消除三桓未成而逃往国外, 孔子最终也未仕于阳货。② 归: 同 馈。 赠送。 豚(tún屯): 小猪。这里指蒸熟了的小猪。按照当时的礼节, 地位高的人赠送礼物给地位低的人, 受赠者如果不在家, 没能当面接受, 事后应当回拜。因为孔子一直不愿见阳货, 阳货就用这种办法, 想以礼节来逼迫孔子去回拜。③ 时: 同 伺。 意指窥伺, 暗中打听, 探听消息。 亡: 同 无。 这里指不在家。
  ④ 涂: 同 途。 途中, 半道上。⑤ 迷其邦: 听任国家迷乱, 政局动荡不安。⑥ 亟(qì气): 副词。屡次。⑦ 知: 同 智。 
  ⑧ 岁不我与: 即 岁不与我, 年岁不等待我。 与, 在一起。这里有等待意。
  子曰: 性相近也
  ①
  , 习相远也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 人的本性是相近的, 由于环境影响的不同才相距甚远了。 
  【注释】 
  ① 性: 人的本性, 性情, 先天的智力、气质。② 习相远: 指由于社会影响, 所受教育不同, 习俗、习气的沾染有别, 人的后天的行为习惯会有很大差异。这里孔子是勉励人为学, 通过学习提高自己的修养。
   子曰: 唯上知与下愚不移①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 只有最上等的有智慧的人和最下等的愚笨的人是不可改变的。
  【注释】 
  ① 知: 同 智。  不移: 不可移易、改变。子之武城
  ①
  , 闻弦歌之声。夫子莞尔而笑
  ②
  , 曰: 割鸡焉
  用牛刀? 子游对曰: 昔者偃也闻诸夫子曰③
  : ‘君子学道则
  爱人, 小人学道则易使也。’ 子曰: 二三子, 偃之言是也。前言戏之耳
  ④
  。 
  【今译】 
  孔子到了武城, 听见弹琴唱歌的声音。孔子微笑, 说: 杀鸡何必用宰牛的刀呢? 子游接过话茬说: 过去我听老师说: ‘在上位的人学了道, 就能惠爱百姓;一般老百姓学了道, 就容易役使了。’ 孔子〔对随从的弟子〕 说: 诸位, 言偃说的话是对的。〔我〕 刚才说的话不过是开玩笑罢了。 【注释】 
  ① 武城: 鲁国的一个小城邑。在今山东省嘉祥县境。一说, 指南武城, 在今山东省费县西南。公元前 年, 鲁襄公筑武城以御齐。另说, 即城武县, 在今山东省菏泽市西北七十里, 有弦歌里。当时, 言偃(子游) 任武城行政长官。
  ② 莞(wǎn晚) 尔: 微笑的样子。③ 诸: 之于 的合音。
  ④ 戏: 开玩笑, 逗趣。
   公山弗扰以费畔
  ①
  , 召, 子欲往。子路不说, 曰: 末之也已
  ②
  , 何必公山氏之之也
  ③
  ? 子曰: 夫召我者, 而岂徒哉?如有用我者, 吾其为东周乎
  ④
  ! 
  【今译】 
  公山弗扰据费邑叛乱, 召请〔孔子〕, 孔子想去。子路很不高兴, 说: 没有可去的地方就算了, 何必非去公山氏那里呢? 孔子说: 召我去的人, 难道会让我白去吗?如果有人用我, 我就要在东方复兴周公之道啊! 【注释】 
  ① 公山弗扰: 疑即《左传》 定公五年、八年、十二年及哀公八年提到的公山不狃(n ǔ扭)。 季氏家臣, 后据费邑叛季氏, 失败后逃亡齐国, 又奔吴。 畔: 同 叛。 ② 末之也已: 没有可去的地方就算了。 末, 没有。 之, 去, 往。 已, 止, 算了。
  ③  何必 句: 何必非去公山氏那个地方呢?句中第一个 之 是助词, 起把宾语提前的语法作用。第二个 之 是动词, 去, 往。
  ④  吾其 句: 孔子此句意为: 将要在东方建立起一个西周式的社会, 使文王武王之道重现于东方。关于此章所说孔子拟应公山弗扰之召事, 许多学者提出质疑: 一, 《左传 定公十二年》 记公山不狃叛鲁之事, 并无召请孔子的记载, 且当时孔子正任鲁国司寇, 还派兵打败了公山不狃。二, 依本章所记, 孔子显有 助叛 之嫌, 这与孔子的一贯主张不符。史实究竟如何, 已不可确考。子张问仁于孔子。孔子曰: 能行五者于天下, 为仁矣。 请问之。 曰: 恭, 宽, 信, 敏, 惠。恭则不侮, 宽则得众, 信则人任焉, 敏则有功, 惠则足以使人。 【今译】 
  子张向孔子问怎样做到仁。孔子说: 能在天下实行这五项, 就是仁了。 〔子张说:〕 请问哪五项? 〔孔子〕 说: 庄重, 宽厚, 守信, 勤敏, 慈惠。恭敬庄重, 就不会受到侮慢;宽厚, 就能获得众人拥护;守信, 就能得到别人的任用;勤敏, 就能取得成功;慈惠, 就能更好地役使别人。 佛肸召
  ①
  , 子欲往。子路曰: 昔者由也闻诸夫子曰: ‘亲于其身为不善者, 君子不入也。’ 佛肸以中牟畔②
  , 子之往也, 
  如之何? 子曰: 然, 有是言也。不曰坚乎, 磨而不磷③
  ?不
  曰白乎, 涅而不缁
  ④
  ?吾岂匏瓜也哉
  ⑤
  ?焉能系而不食? 
  【今译】 
  佛肸召请, 孔子想去。子路说: 从前我听老师说过: ‘亲身做坏事的人那里, 君子是不去的。’ 佛肸据中牟叛乱, 您要去, 为什么? 孔子说: 是的, 我说过这话。〔但是〕 不是说坚硬的东西, 磨也磨不薄吗?不是说洁白的东西, 染也染不黑吗?我难道是个匏瓜吗?怎么能只挂在那里而不给人吃呢? 
  【注释】 
  ① 佛肸 (ì xī毕西): 晋国大夫范中行的家臣, 是中牟城的行政长官。公元前 年, 晋国赵简子攻打范氏, 包围中牟, 佛肸抵抗。佛肸召请孔子, 就在这时(事见《左传 哀公五年》)。 ② 中牟: 晋国地名, 约在今河北省邢台市和邯郸市之间。一说, 在今河南省鹤壁市西, 古代牟山之侧。 畔: 同 叛。 ③ 磷(lìn吝): 本义是薄石。引申为把石头磨薄, 使其受到磨损。
  ④ 涅(n è聂): 一种矿物, 也叫 皂矾, 古代用作黑色染料。这里用作动词, 染黑。 缁(zī滋): 黑色。⑤ 匏(páo袍) 瓜: 葫芦的一种, 果实比一般葫芦大。老后中空轻于水, 可系于腰助人渡河泅水;或可对半剖开, 做水瓢舀水用。子曰: 由也, 女闻六言六蔽矣乎①
  ? 对曰: 未也。 
   居
  ②
  !吾语女。好仁不好学, 其蔽也愚;好知不好学③
  , 其蔽
  也荡
  ④
; 好信不好学, 其蔽也贼
  ⑤
; 好直不好学, 其蔽也绞
  ⑥
; 
  好勇不好学, 其蔽也乱;好刚不好学, 其蔽也狂。 【今译】 
  孔子说: 仲由, 你听说过六个字〔的德行〕, 会有六种弊病吗? 〔子路起身〕 回答: 没有。 〔孔子说:〕 坐下!我告诉你。爱好仁德却不好学习, 其弊病是愚蠢;爱好聪明却不好学习, 其弊病是放荡;爱好诚实却不好学习, 其弊病是伤害自己和亲人;爱好直率却不好学习, 其弊病是说话尖刻刺人;爱好勇敢却不好学习, 其弊病是容易闹乱子闯祸;爱好刚强却不好学习, 其弊病是狂妄。 【注释】 
  ① 女: 同 汝。 你。 六言: 六个字, 即文中的仁、知、信、直、勇、刚等德行的六个方面。 蔽: 通 弊。 弊病, 害处。② 居: 坐。
  ③ 知: 同 智。 
  ④ 荡: 放荡不羁。
  ⑤ 贼: 害, 伤害。这里指容易给自己和亲人带来伤害。 ⑥ 绞: 说话尖酸刻薄, 不通情理。子曰: 小子何莫学夫《诗》? 《诗》 可以兴①
  , 可以观
  ②
  , 
  可以群
  ③
  , 可以怨
  ④
; 迩之事父
  ⑤
  , 远之事君;多识于鸟兽草木
  之名。 
  【今译】 
  孔子说: 弟子们何不学习《诗》 呢?《诗》 可以激发人的意志和感情, 可以提高观察能力, 可以合群, 可以抒发怨恨不平;近可以事奉父母, 远可以事奉君主;还可以多认识鸟兽草木的名字。 
  【注释】 
  ① 兴: 本义是兴起, 发动。这里指激发人的意志和感情。好的诗歌都是有感而发的, 读之可以使人受到感动, 而兴发爱憎的感情, 在潜移默化中陶冶情操。
  ② 观: 本义是观察, 观看。这是指提高人的观察能力。《诗》 的内容丰富, 题材多样, 历史上的政治得失、现实生活的状况, 乃至各国各地的风俗民情、自然风物等在诗中都有反映。读诗可以丰富知识, 从而相应地提高观察能力。③ 群: 使合群。诗离不开写人, 多读诗就可以更深切地了解人, 懂得如何与人相处、相交, 培养锻炼人的合群的本领。④ 怨: 怨恨。《诗》 中有不少怨刺诗, 表达对现实的愤懑, 抒发人们心中的不平, 讽刺不合理的社会现象。读了以后, 可以学会用讽刺的方法, 用正当的宣泄, 来表达心中怨恨不平的感情。⑤ 迩(ěr耳): 近。
  子谓伯鱼曰: 女为《周南》 《召南》 矣乎①
  ?人而不为
   《周南》 《召南》, 其犹正墙面而立也与②
  ! 
  【今译】 
  孔子对伯鱼说: 你学了《周南》 《召南》 了吗?人如果不学《周南》 《召南》, 就好像面对墙壁站着啊! 【注释】 
  ① 为: 本义是做。这里指学习。 周南, 召(s ào哨) 南: 《诗》 十五国风中的第一、第二两部分。本为地名, 周南 约在汉水流域东部, 今陕西、河南之间直到湖北。 召南 约在汉水流域西部, 今河南、湖北之间。这两个地域收集在《诗》 中的民歌, 就叫《周南》 《召南》。 孔子认为《周南》 《召南》 中有许多修身齐家的道理, 故提倡学习, 并加以重视。
  ②  其犹 句: 正, 对着。就好像面对着墙壁站着。比喻被阻挡而无法向前, 一物无所见, 一步不可行。一说, 《周南》 《召南》 中的诗, 多用于乡乐, 是众人合唱的, 不用来独诵。如果一个人不会《周南》 《召南》, 那就得独自保持沉默, 虽在合唱的人群之中, 也像面对着墙壁而孤立一般。
  子曰: 礼云礼云, 玉帛云乎哉①
  ?乐云乐云, 钟鼓云乎
  哉
  ②
  ? 
  【今译】 
  孔子说: 礼呀礼呀, 只是指玉帛之类的礼器吗?乐呀乐呀, 只是指钟鼓之类的乐器吗? 【注释】 
  ① 玉帛: 指古代举行礼仪时使用的玉器、丝帛等礼器、礼品。② 钟鼓: 古代乐器。朱熹说: 敬而将之以玉帛, 则为礼;和而发之以钟鼓, 则为乐。 这说明礼乐之可贵在于在百姓中提倡 敬 、 和。 如果只是在形式上摆玉帛、敲钟鼓, 而忽略了它的深刻的内容, 那就失去了礼乐本来的意义与作用。子曰: 色厉而内荏
  ①
  , 譬诸小人, 其犹穿窬之盗也与②
  ! 
  【今译】 
  孔子说: 外表神色严厉而内心怯懦虚弱, 以小人来作比喻, 就像是挖墙洞爬墙头行窃的盗贼吧! 【注释】 
  ① 色厉内荏: 外貌似乎刚强威严, 而内心却柔弱怯惧。 色, 神色, 脸色, 外表的样子。 荏(rěn忍), 软弱, 怯懦, 虚弱。② 穿: 挖, 透, 破。 窬(yú鱼): 洞, 窟窿。从墙上爬过去也叫窬。
  子曰: 乡愿
  ①
  , 德之贼也
  ②
  。 
  【今译】 
  孔子说: 所谓‘乡愿’, 是败坏道德的人。 【注释】 
  ① 乡愿: 特指当时社会上那种不分是非, 同于流俗, 言行不一, 伪善欺世, 处处讨好, 也不得罪的乡里中以 谨厚老实 为人称道的 老好人。 孔子尖锐地指出: 这种 乡愿, 言行不符, 实际上是似德非德而乱乎德的人, 乃德之 贼。 世人对之不可不辨。而后, 孟子更清楚地说明这种人乃是 同乎流俗, 合乎污世 的人。虽然表面上看, 是个对乡人全不得罪的 好好先生, 其实, 他抹煞了是非, 混淆了善恶, 不主持正义, 不抵制坏人坏事, 全然成为危害道德的人(见《孟子 尽心下》)。 愿’, 谨厚, 老实。② 贼: 败坏, 侵害, 危害。
   子曰: 道听而涂说
  ①
  , 德之弃也。 
  【今译】 
  孔子说: 听到传闻不加考证而随意传播, 从道德来讲, 是应当抛弃的。 
  【注释】 
  ①  道听 句: 在道上听到的不可靠的传闻, 途中又向别人传说。 涂, 同 途。 
  子曰: 鄙夫可与事君也与哉
  ①
  ?其未得之也, 患得之
  ②
  。
  既得之, 患失之。苟患失之, 无所不至矣③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 与品德恶劣的人怎么可以一起事奉君主呢?他没得到官位、富贵时, 总怕得不到。既得到了, 又怕失掉。假如老怕失掉官位、富贵, 那就无论什么事都做得出来了。 【注释】 
  ① 鄙夫: 鄙陋、庸俗、道德品质恶劣的人。② 患得之: 实际上是 患不能得之 的意思。 患, 怕, 担心。③ 无所不至: 无所不用其极, 无所不为。子曰: 古者民有三疾
  ①
  , 今也或是之亡也
  ②
  。古之狂也肆, 
  今之狂也荡;古之矜也廉
  ③
  , 今之矜也忿戾
  ④
; 古之愚也直, 今
  之愚也诈而已矣。 
  【今译】 
  孔子说: 古代的百姓有三种毛病, 现在, 或者连那样的毛病也没有了。古代狂妄的人不过有些放肆直言, 不拘小节, 现在狂妄的人却是放荡越礼, 毫无顾忌了;古代骄傲的人不 过是持守过严, 不可触犯他, 现在骄傲的人却是忿怨乖戾, 蛮横无理了;古代愚笨的人不过头脑有些简单直率, 现在愚笨的人却是明目张胆地虚伪欺诈罢了。 【注释】 
  ① 疾: 本义是病。这里指气质上的缺点。由于世风日下, 今人的缺点毛病也无法同古人的缺点毛病相比了。古人气质上有缺点的尚且朴实可贵, 今人则变得更加道德低下, 风俗日衰了。② 亡: 同 无。 
  ③ 矜(jīn金): 骄傲, 自尊自大。 廉: 本义是器物的棱角。这里引申为不可触犯, 碰不得, 惹不得。④ 忿戾(lì利): 凶恶好争, 蛮横无理。子曰: 巧言令色, 鲜矣仁
  ①
  。 
  【今译】 
  孔子说: 花言巧语, 一副和气善良的脸色, 这种人是很少有仁德的。 
  【注释】 
  ① 本章与《学而篇第一》 第三章重复。可参阅。子曰: 恶紫之夺朱也
  ①
  , 恶郑声之乱雅乐也, 恶利口之覆邦家者。 
  【今译】 
  孔子说: 〔我〕 厌恶用紫色顶替红色, 厌恶用郑国的音乐扰乱雅乐, 厌恶以巧言善辩的嘴巴来倾覆国家的人。 【注释】 
  ① 恶(wù务): 厌恶, 讨厌。 紫之夺朱: 夺, 强行取得, 取 代, 顶替。 朱, 大红色。古代传统称为正色。紫是红色和蓝色混合而成的颜色, 虽与红色接近, 然而不是正色而是杂色。但在春秋时期, 史载鲁桓公和齐桓公都喜欢穿紫色衣服, 可见那时紫色已取代了朱色的传统地位, 连诸侯的衣服都以紫色为正色了。而孔子认为: 朱色的光彩与地位不应被紫色所夺去。子曰: 予欲无言。 子贡曰: 子如不言, 则小子何述焉? 子曰: 天何言哉?四时行焉
  ①
  , 百物生焉。天何言哉? 
  【今译】 
  孔子说: 我想不说话了。 子贡说: 您如果不说话, 那么弟子们还传述什么呢? 孔子说: 天何尝说话呢?四季照样运行不息, 各种动植物照样发育生长。天何尝说话呢? 【注释】 
  ① 四时: 指春、夏、秋、冬四季。孺悲欲见孔子
  ①
  , 孔子辞以疾。将命者出户
  ②
  , 取瑟而歌, 
  使之闻之。
  【今译】 
  孺悲想见孔子, 孔子推辞说有病。传话的人出了门, 〔孔子〕 拿过瑟来又弹又唱, 〔故意〕 让孺悲听到。【注释】 
  ① 孺悲: 鲁国人。鲁哀公曾派孺悲向孔子学习士丧礼。孔子这次为何不愿见孺悲, 因不明。② 将命者: 传话的人。
  宰我问: 三年之丧, 期已久矣①
  。君子三年不为礼, 礼
   必坏;三年不为乐, 乐必崩。旧谷既没, 新谷既升, 钻燧改火
  ②
  , 期可已矣
  ③
  。 子曰: 食夫稻
  ④
  , 衣夫锦, 于女安乎
  ⑤
  ? 
  曰: 安。 女安, 则为之!夫君子之居丧, 食旨不甘⑥
  , 闻
  乐不乐
  ⑦
  , 居处不安
  ⑧
  , 故不为也。今女安, 则为之! 宰我出, 子曰: 予之不仁也!子生三年, 然后免于父母之怀。夫三年之丧, 天下之通丧也。予也有三年之爱于其父母乎⑨
  ? 
  【今译】 
  宰我问: 父母去世, 子女守孝三年, 期限太久了。君子三年不讲习礼仪, 礼仪必然荒废败坏;三年不演奏音乐, 音乐必然生疏忘记。旧谷子已吃完, 新谷子已上场, 取火用的木料也都轮了一遍, 守孝一周年就可以了。 孔子说: 〔父母去世还不满三年〕 你便吃大米饭, 穿锦绸缎, 你心安吗? 〔宰我〕 说: 〔我〕 心安。 〔孔子说:〕 你心安, 就这样做吧!君子居丧守孝, 吃美味不觉香甜, 听音乐不觉快乐, 住好房子不觉安适, 所以不那样做。如今你心安, 就去做吧! 宰我出去后, 孔子说: 是宰予的不仁啊!孩子生下三年之后, 才能脱离父母的怀抱。为父母守孝三年, 是天下通行的丧礼。宰予是不是也有三年的爱心报答于他的父母呢? 【注释】 
  ① 期: 时间, 期限。
  ② 钻燧改火: 燧(suì岁), 木燧, 古代钻木取火的工具。古人钻木取火, 所用的木料四季不同。春天用榆柳, 孟夏与仲夏用枣杏, 季夏用桑柘, 秋天用柞楢, 冬天用槐檀。各种木料一年轮用一遍, 第二年按上年的次序依次取用, 叫 改火。 钻燧改火, 即指过了一年。③ 期: 指一周年。
  ④ 食夫稻: 夫, 指示代词。这, 那。古代水稻的种植面积很 小, 大米是很珍贵的粮食, 居丧者更不宜食。因按礼, 父母之丧, 既殡, 食粥, 粗衰。既葬, 疏食, 水饮, 受以成布。期而小祥, 始食菜果。 (朱熹《四书集注》) ⑤ 女: 同 汝。 你。
  ⑥ 旨: 美味, 好吃的食物。
  ⑦ 乐: 第一个 乐, 指音乐。第二个 乐, 指快乐。⑧ 居处: 指住在平时所住的好房子里。古代守孝, 应在父母坟墓附近搭一个临时性的草棚子或住茅草房, 睡在地下草苫子上, 以表示不忍心住在安适的屋子里。
  ⑨  予也 句: 于, 给, 与。一说, 于, 自, 从。则此句意为: 难道宰予没从父母那里得到过三年的爱护抚育吗?子曰: 饱食终日
  ①
  , 无所用心, 难矣哉!不有博弈者乎②
  ?
  为之, 犹贤乎已
  ③
  。 
  【今译】 
  孔子说: 饱食终日, 无所用心, 〔这种人〕 真难办啊!不是有掷彩下棋的游戏吗?下下棋, 也比什么都不干要好些。 【注释】 
  ① 终日: 整天。
  ② 博: 古代一种棋局游戏, 用六箸十二棋为博具, 以争输赢。弈(yì义): 围棋。
  ③ 贤: 好, 胜过, 超过。 已: 止。指什么都不干。子路曰: 君子尚勇乎? 子曰: 君子义以为上。君子有勇而无义为乱, 小人有勇而无义为盗。 【今译】 
  子路问道: 君子崇尚勇敢吗? 孔子说: 君子以为义是 最高尚的。君子有勇而无义, 就会犯上作乱;小人有勇而无义, 就会做强盗。 
  子贡曰: 君子亦有恶乎? 子曰: 有恶。恶称人之恶者, 恶居下流而讪上者
  ①
  , 恶勇而无礼者, 恶果敢而窒者②
  。 曰: 
   赐也亦有恶乎? 恶徼以为知者③
  , 恶不孙以为勇者
  ④
  , 恶讦
  以为直者
  ⑤
  。 
  【今译】 
  子贡问道: 君子也有所厌恶吗? 孔子说: 有厌恶。厌恶专好称扬散播别人坏处的人, 厌恶身居下位而诽谤上位的人, 厌恶恃强勇敢而无礼的人, 厌恶果决敢为而固执不通事理的人。 〔孔子又〕 说: 端木赐呀, 你也有所厌恶吗? 〔子贡说:〕 厌恶窃取 袭〔别人的知识成果〕 却自以为聪明的人, 厌恶不谦逊却自以为勇敢的人, 厌恶揭发攻击别人却自以为正直的人。 
  【注释】 
  ① 流: 据清乾隆年间 学大家惠栋《九 古义》 和清嘉庆年间学者冯登府《论语异文考证》, 流 字衍。晚唐以前的《论语》 版本中无 流 字, 至宋代, 才有此衍误。 讪(s àn善): 诽谤, 讥讽, 诋毁。以言毁人称谤, 在下谤上称讪。② 窒(z ì志): 阻塞, 不通。引申为固执, 头脑僵化, 顽固不化。
  ③ 徼(j āo交): 袭, 窃取, 剽窃他人的知识成果(如言论, 学问, 见解, 做出的成绩等)。 一说, 私察他人之言行动静, 而自作聪明, 假以为知。知: 同 智。 
  ④ 孙: 同 逊。 
   ⑤ 讦(j é杰): 攻击别人的短处, 揭发别人的隐私。子曰: 唯女子与小人为难养也①
  , 近之则不孙
  ②
  , 远之则
  怨。 
  【今译】 
  孔子说: 唯独女子和小人是难以相处的。亲近他, 就无礼;疏远他, 就怨恨。 
  【注释】 
  ① 养: 供养, 共同相处。这里主要指的是对婢妾, 对仆隶下人, 故用 养 字。
  ② 不孙: 指不恭顺, 不守规矩, 放肆无礼。 孙, 同 逊。 子曰: 年四十而见恶焉
  ①
  , 其终也已。 
  【今译】 
  孔子说: 年纪到了四十岁还被人厌恶, 他这一辈子算是完了。 
  【注释】 
  ① 见恶: 被别人所厌恶, 所讨厌。 见, 助词, 表示被动。 微子篇第十八
  (共十一章) 
  主要记历史上圣贤的事迹, 孔子及其弟子周游列国时的行为, 以及世人对于处乱世的不同态度。微子去之
  ①
  , 箕子为之奴
  ②
  , 比干谏而死
  ③
  。孔子曰: 殷
  有三仁焉! 
  【今译】 
  〔纣王无道,〕 微子离开了纣王, 箕子被纣王拘囚降为奴隶, 比干屡次劝谏被〔纣王〕 杀死。孔子说: 殷朝有这三位仁人啊! 
  【注释】 
  ① 微子: 名启, 采邑在微(今山西省潞城县东北)。 微子是纣王的同母兄, 但微子出生时其母只是帝乙的妾, 后来才立为正妻生了纣, 于是纣获得立嗣的正统地位而继承了帝位, 微子则封为子爵, 成了纣王的卿士。纣王无道, 微子屡谏不听, 遂隐居荒野。周武王灭殷后, 被封于宋。 去: 离开。 之: 代词。指殷纣王。② 箕子: 名胥馀, 殷纣王的叔父。他的采邑在箕(在今山西省太谷县东北)。 子爵, 官太师。曾多次劝说纣王, 纣王不听, 箕子披发装疯, 被纣王拘囚, 降为奴隶。周武王灭殷后才被释放。③ 比干: 殷纣王的叔父。官少师, 屡次竭力强谏纣王, 并表明 主过不谏, 非忠也;畏死不言, 非勇也;过则谏, 不用则死, 忠之至也。 纣王大, 竟说: 吾闻圣人之心有七窍, 信诸? (《史记 殷本纪》 注引《括地志》) 遂将比干剖胸挖心, 残忍地杀死。柳下惠为士师
  ①
  , 三黜
  ②
  。人曰: 子未可以去乎
  ③
  ? 曰: 
   直道而事人, 焉往而不三黜
  ④
  ?枉道而事人
  ⑤
  , 何必去父母之
  邦
  ⑥
  ? 
  【今译】 
  柳下惠担任〔鲁国〕 掌管司法刑狱的官员, 多次被免职。有人说: 您不可以离开〔这个国家〕 吗? 〔柳下惠〕 说: 正直地事奉人君, 到哪一国去不会被多次免职?〔如果〕 不正直地事奉人君, 何必要离开自己父母所在的祖国呢? 【注释】 
  ① 士师: 古代掌管司法刑狱的官员。② 三黜 (ù处): 多次被罢免。 三, 表示多次, 不一定只有三次。
  ③ 去: 离开。
  ④ 焉: 代词, 表疑问。哪里。 往: 去。⑤ 枉: 不正。
  ⑥ 父母之邦: 父母所在之国, 即本国, 祖国。齐景公待孔子曰: 若季氏, 则吾不能;以季孟之间待之。 曰: 吾老矣, 不能用也。 孔子行①
  。
  【今译】 
  齐景公讲到对待孔子〔的礼节、爵禄〕 说: 若像〔鲁国国君〕 对待季氏那样〔来对待孔子〕, 我不能;要用比季孙氏 低比孟孙氏高的待遇来对待孔子。 〔后来齐景公又〕 说: 我老了, 不能用他了。 孔子便动身走了。【注释】 
  ① 孔子行: 公元前 年, 孔子到齐国, 想得到齐景公的重用;结果, 有人反对, 甚至扬言要杀孔子。齐景公迫于压力, 不敢任用, 孔子于是离开齐国。
  齐人归女乐
  ①
  , 季桓子受之
  ②
  , 三日不朝, 孔子行
  ③
  。
  【今译】 
  齐国人赠送了许多歌姬舞女〔给鲁国〕, 季桓子接受了, 三天不上朝。孔子便离开了鲁国。【注释】 
  ① 归: 同 馈。 赠送。
  ② 季桓子: 鲁国贵族, 姓季孙, 名斯, 季孙肥(康子) 的父亲。从鲁定公时至鲁哀公初年, 一直担任鲁国执政的上卿(宰相)。 ③ 孔子行: 《史记 孔子世家》: 定公十四年, 孔子为鲁司寇, 摄行相事。齐人惧, 归(馈) 女乐以沮(阻止) 之。 孔子看到鲁国君臣这样迷恋女乐, 朝政日衰, 不足有为, 便大大失望而去职离鲁。楚狂接舆歌而过孔子曰
  ①
  : 凤兮
  ②
  !凤兮!何德之衰?往
  者不可谏
  ③
  , 来者犹可追
  ④
  。已而, 已而, 今之从政者殆而⑤
  。 
  孔子下, 欲与之言。趋而辟之
  ⑥
  , 不得与之言。
  【今译】 
  楚国有位狂人接舆, 唱着歌 过孔子的车旁, 歌里唱道: 凤凰呀!凤凰呀!为何道德这么衰微?过去的事不可挽回了, 将来的事还未得及改正。算了吧, 算了吧, 如今从政的人危 险啊。 孔子下车, 想同他说话。〔接舆〕 快步避开了, 〔孔子〕 没能同他说话。
  【注释】 
  ① 接舆: 接,。 舆, 车。 面遇着孔子的车。这里因其事而呼其人为 接舆。 传说乃楚国人, 是 躬耕以食 的隐者贤士, 用唱歌来批评时政, 被世人视为狂人。一说, 接舆本姓陆, 名通, 字接舆。见楚昭王政事无常, 乃佯狂不仕, 于是被人们看做是楚国的一个疯子。
  ② 凤: 凤凰。古时传说, 世有道则凤鸟见, 无道则隐。这里比喻孔子。接舆认为孔子世无道而不能隐, 故说 德衰。 ③ 谏: 规劝, 使改正错误。
  ④ 犹可追: 尚可补救, 还来得及改正。⑤ 而: 语助词, 相当于 矣。 ⑥ 辟: 同 避。 
  长沮、桀溺耦而耕
  ①
  , 孔子过之, 使子路问津焉。长沮曰: 夫执舆者为 
  ②
  ? 子路曰: 为孔丘。 曰: 是鲁孔丘与③
  ? 
  曰: 是也。 曰: 是知津矣。 问于桀溺。桀溺曰: 子为? 曰: 为仲由。 曰: 是鲁孔丘之徒与? 对曰: 然。 曰: 滔滔者天下皆是也, 而 以易之?且而与其从辟人之士也④
  , 
  岂若从辟世之士哉
  ⑤
  。 耰而不辍
  ⑥
  。子路行以告。夫子怃然
  曰
  ⑦
  : 鸟兽不可与同群, 吾非斯人之徒与而 与⑧
  ?天下有道, 
  丘不与易也
  ⑨
  。 
  【今译】 
  长沮、桀溺两人一起耕田, 孔子 过那里, 让子路去打听渡口。长沮说: 那驾车的人是? 子路说: 是孔丘。 〔长沮〕 说: 是鲁国的孔丘吗? 〔子路〕 说: 是的。 〔长沮) 说: 那他自己该知道渡口〔在哪里〕。 去问桀溺。桀溺说: 您是? 〔子路〕 说: 是仲由。 〔桀溺〕 说: 是鲁国孔丘的徒弟吗? 〔子路〕 回答: 是的。 〔桀溺〕 说: 〔世上纷纷乱乱, 礼坏乐崩,〕 如滔滔的大水弥漫, 天下都是这样, 你们和 去改变这种现状呢?而且, 你与其跟随躲避人的人, 还不如跟随避开整个社会的人呢。 一边说一边不停地用耰 土覆盖播下的种子。子路回来告诉〔孔子〕。 孔子怅惘地叹息说: 〔人〕 与鸟兽是不可同群的, 我不同世人一起生活又同 呢?假若天下有道, 我孔丘就不参与变革〔现实的活动〕 了。 【注释】 
  ① 长沮, 桀溺: 长, 个头高大。 沮(jù句), 沮洳, 泥水润泽之处。 桀, 同 杰。 身材魁梧。 溺, 身浸水中。这是两位在泥水中从事劳动的隐者。长沮、桀溺, 都是形容人的形象, 不是真实姓名。 耦(ǒu藕): 二人合耕, 各执一耜(sì四), 左右并发。② 执舆者: 驾车的人。此指孔子。本来是子路驾车的, 因下车问津, 所以由孔子代为驾车, 孔子便成了 执舆者。 ③ 与: 通 欤。 吗。
  ④ 且: 而且。 而: 同 尔。 你。 辟人之士: 躲避人的人。指孔子。孔子离开鲁国, 到处奔波, 躲避与自己志趣不合的人, 不同他们合作, 故称。 辟, 同 避。 ⑤ 辟世之士: 避开整个社会的隐士。⑥ 耰(y u优): 古代农具, 用来击碎土块和平整土地。这里指用耰 土去覆盖种子。 辍 (uò绰): 停止, 中止。⑦ 怃(wǔ午) 然: 怅惘失意的样子。⑧ 斯人之徒: 指世上的人们, 现实社会的那些从政者, 统治者。 ⑨ 与: 相与, 参与。 易: 变易, 改革。子路从而后, 遇丈人
  ①
  , 以杖荷
  ②
  。子路问: 子见夫子
  乎? 丈人曰: 四体不勤, 五谷不分, 孰为夫子? 植其杖而芸
  ③
  。子路拱而立。止子路宿, 杀鸡为黍而食之④
  , 见其二子
  焉。明日, 子路行以告。子曰: 隐者也。 使子路反见之⑤
  , 
  至则行矣。子路曰: 不仕无义。长幼之节不可废也, 君臣之义如之何其废之?欲洁其身而乱大伦。君子之仕也, 行其义也。道之不行, 已知之矣。 
  【今译】 
  〔孔子周游列国时〕 子路跟从, 〔有一次〕 落在后面。遇上一位老人, 用木杖挑着除草的农具。子路问: 您看见我的老师了吗? 老人说: 〔你们〕 四肢不劳动, 五谷分不清, 知哪个是你老师? 接着把木杖插在地上, 就去除草了。子路拱手站在一旁。老人留子路到他家住宿, 杀鸡、做黍米饭给子路吃, 并让两个儿子见了子路。第二天, 子路赶上了孔子, 告诉了这件事。孔子说: 这是位隐士。 让子路返回去看老人。子路到了那里, 〔老人〕 已 走了。子路说: 不从政做官是不义的。长幼之间的礼节不可废弃, 君臣之间的名分如何能废弃呢?只想洁身自好, 却乱了君臣间大的伦理关系。君子之所以要从政做官, 就是为了实行君臣之义。〔至于〕 道之不能行, 〔我们〕 已 知道了。 【注释】 
  ① 丈人: 老人。姓名身世不详。一说, 楚国叶县人。② 荷 (è贺): 挑, 担, 扛。  (ào掉): 古代一种竹制农 具。用以除草。
  ③ 芸: 同 耘。 除草。
  ④ 食(sì四): 拿东西给别人吃。⑤ 反: 同 返。 返回去。
  逸民
  ①
  : 伯夷, 叔齐, 虞仲
  ②
  , 夷逸
  ③
  , 朱张
  ④
  , 柳下惠, 少
  连
  ⑤
  。子曰: 不降其志, 不辱其身, 伯夷、叔齐与! 谓: 柳下惠、少连, 降志辱身矣, 言中伦⑥
  , 行中虑, 其斯而已
  矣。 谓: 虞仲、夷逸, 隐居放言, 身中清, 废中权。我则异于是, 无可无不可
  ⑦
  。 
  【今译】 
  逸民有: 伯夷, 叔齐, 虞仲, 夷逸, 朱张, 柳下惠, 少连。孔子说: 不贬抑自己的意志, 不辱没自己的身份, 就是伯夷、叔齐吧! 又说: 柳下惠、少连, 〔被迫〕 贬抑自己的意志, 辱没自己的身份, 但说话合乎伦理, 行为深思熟虑, 他们只是这样做而已啊。 又说: 虞仲、夷逸, 过隐居生活, 说话放纵无忌, 能保持自身清白, 废弃官位而合乎权宜变通。可是我与这些人不同, 没有什么可以, 也没有什么不可以。 【注释】 
  ① 逸民: 隐退不仕的人, 失去政治、 济地位的贵族。② 虞仲: 即仲雍, 为推辞王位, 与兄泰伯一同隐至荆蛮。见《泰伯篇第八》 第一章注。一说, 是《史记》 中吴君周章之弟。③ 夷逸: 古代隐士。自称是牛, 可耕于野, 而不忍被诱入庙而为牺牲。
  ④ 朱张: 字子。 身世不详。⑤ 少连: 东夷人。善于守孝, 达于礼。 ⑥ 中(z òn 众): 符合, 合于。⑦  无可 句: 意思是说: 根据客观实际情况的发展变化而考虑怎样做适宜。得时则驾, 随遇而安。《孟子 万章下》 说: 孔子是 圣之时者也, 可以速而速, 可以久而久, 可以处而处, 可以仕而仕。 随机应变, 见机行事。不一定这样做, 也不一定不这样做。太师挚适齐
  ①
  , 亚饭干适楚
  ②
  , 三饭缭适蔡, 四饭缺适秦;
  鼓方叔入于河
  ③
  , 播鼗武入于汉
  ④
; 少师阳、击磬襄
  ⑤
  , 入于海。
  【今译】 
  太师挚去了齐国, 亚饭乐师干去了楚国, 三饭乐师缭去了蔡国, 四饭乐师缺去了秦国;打鼓的方叔去了黄河地区, 摇小鼓的武去了汉水地区;少师阳和击磬的襄, 去了海滨。【注释】 
  ① 太师挚: 可能就是《泰伯篇第八》 第十五章中所说的 师挚, 是乐官之长。可参阅。
  ② 亚饭: 按周朝制度规定, 天子和诸侯吃饭时要奏乐。 亚饭 是第二次吃饭时奏乐的乐师, 三饭 、 四饭 依此类推。 干: 及下文 缭 、 缺, 均为乐师名。③ 鼓方叔: 打鼓的乐师, 名方叔。 河: 专指黄河。④ 播: 摇。 鼗(táo桃): 长柄摇鼓, 两旁系有小槌。 武: 是摇小鼓的乐师的名字。
  ⑤ 少师阳: 乐官之佐(副乐师), 名阳。 击磬襄: 敲磬的乐师, 名襄。孔子曾向他学琴。以上这些鲁国的乐师流亡四方, 各找出路, 说明鲁公室已日益衰微。
  周公谓鲁公曰
  ①
  : 君子不施其亲
  ②
  , 不使大臣怨乎不以
  ③
; 
  故旧无大故, 则不弃也;无求备于一人。 【今译】 
  周公对鲁公说: 君子不能疏远怠慢自己的亲族, 不能让大臣埋怨不任用他们;老臣老友, 如果没有重大的过错, 不要遗弃他们;不要对一个人求全责备。 【注释】 
  ① 周公: 武王之弟, 名姬旦。 鲁公: 指周公的儿子伯禽。② 施: 同 弛。 松弛, 放松, 弃置。引申为疏远, 怠慢。③ 以: 用, 任用。
  周有八士
  ①
  : 伯达, 伯适, 仲突, 仲忽, 叔夜, 叔夏, 季随, 季。
  【今译】 
  周朝有八位名士: 伯达, 伯适, 仲突, 仲忽, 叔夜, 叔夏, 季随, 季。
  【注释】 
  ① 八士: 身世生平不详。或说, 周初盛时, 有这八名才德之士: 伯达通达义理, 伯适(kuò扩) 大度能容, 仲突有御难之才, 仲忽有综理之才, 叔夜柔顺不迫, 叔夏刚明不屈, 季随有应顺之才能, 季 (uā瓜) 德同良马。八人都很有教养, 有贤名。或传说八士为一母所生的四对孪生子(见《逸周书》)。 子张篇第十九
  (共二十五章) 
  主要记孔子的弟子们探讨求学求道的言论, 以及对孔子的敬仰与赞颂。
  子张曰: 士见危致命
  ①
  , 见得思义
  ②
  , 祭思敬, 丧思哀, 
  其可已矣
  ③
   
  【今译】 
  子张说: 作为一个士, 遇见国家危难, 能献出自己生命;遇见有利可得, 能考虑是否合乎义;祭祀时, 能想到恭敬严肃;临丧时, 能想到悲哀。这样做就可以了。 【注释】 
  ① 致命: 授命, 舍弃生命。
  ② 思: 反省, 考虑。
  ③ 其可已矣: 见危致命, 见得思义, 祭思敬, 丧思哀 这四方面是立身之大节。作为士, 如能做到这些, 就算可以了。子张曰: 执德不弘
  ①
  , 信道不笃, 焉能为有?焉能为亡②
  ? 
  【今译】 
  子张说: 执守仁德不能发扬光大, 信仰道义不能专一诚 实, 〔这种人〕 哪能算有?哪能算无? 【注释】 
  ① 弘: 弘扬, 发扬光大。一说, 弘 即今之 强 字, 坚强, 坚定不移(见章炳麟《广论语骈枝》)。 ②  焉能 句: 意谓无足轻重;有他不为多, 无他不为少;有他没他一个样。 亡, 同 无。 子夏之门人问交于子张。子张曰: 子夏云何? 对曰: 子夏曰: ‘可者与之, 其不可者拒之。’ 子张曰: 异乎吾所闻: 君子尊贤而容众, 嘉善而矜不能①
  。我之大贤与
  ②
  , 于人
  何所不容?我之不贤与, 人将拒我, 如之何其拒人也? 【今译】 
  子夏的门人向子张询问交友之道。子张反问: 子夏是怎样说的? 〔子夏的门人〕 回答: 子夏说: ‘可交的就与他交, 不可交的就拒绝他。’ 子张说: 这和我听说的不同: 君子能尊敬贤人, 又能容纳众人;能赞美好人, 又能怜悯能力差的人。我如果是很贤明的, 对于别人为何不能容纳呢?我如果不贤明, 别人将会拒绝我, 如何〔谈得上〕 拒绝别人呢? 【注释】 
  ① 矜(jīn金): 怜悯, 怜恤, 同情。② 与: 同 欤。 语气词。
  子夏曰: 虽小道
  ①
  , 必有可观者焉, 致远恐泥
  ②
  , 是以君
  子不为也。 
  【今译】 
  子夏说: 虽是小的技艺, 也一定有可取之处, 但对远大 的事业恐有妨, 所以君子不从事这些小技艺。 【注释】 
  ① 小道: 指某一方面的技能, 技艺, 如古代所谓农, 圃, 医, 卜, 乐, 百工之类。
  ② 泥(nì腻): 不通达, 留滞, 拘泥。子夏曰: 日知其所亡
  ①
  , 月无忘其所能, 可谓好学也已矣。 
  【今译】 
  子夏说: 每天知道一些过去所不知的, 每月不忘记已 掌握的, 〔这样〕 可以称为好学的人了。 【注释】 
  ① 亡: 同 无。 这里指自己所没有的知识、技能, 所不懂的道理等。
  子夏曰: 博学而笃志, 切问而近思, 仁在其中矣。 【今译】 
  子夏说: 广博地学习钻研, 坚定自己的志向, 恳切地提问, 多考虑当前的事, 仁德就在其中了。 子夏曰: 百工居肆以成其事
  ①
  , 君子学以致其道。 
  【今译】 
  子夏说: 各行业的工匠要〔整天〕 在作坊里完成自己分内的工作, 君子要〔终身〕 学习达到实现道的目的。 【注释】 
  ① 肆: 古代制造物品的场所。如官府营造器物的地方, 手工业 作坊。陈列商品的店铺, 也叫肆。子夏曰: 小人之过也必文。 【今译】 
  子夏说: 小人对过错必定掩饰。 子夏曰: 君子有三变: 望之俨然, 即之也温, 听其言也厉。 
  【今译】 
  子夏说: 君子〔的态度让你感到〕 有三种变化: 远看外表庄严可畏, 接近他温和可亲, 听他说的话严正精确。 子夏曰: 君子信而后劳其民
  ①
; 未信, 则以为厉己也
  ②
  。
  信而后谏;未信, 则以为谤己也。 【今译】 
  子夏说: 君子要先取得百姓的信任, 而后再役使他们;〔如果〕 不信任, 〔百姓〕 就会以为是虐待自己。要先取得〔君主〕 信任, 而后去劝谏;〔如果〕 不信任, 〔君主〕 就会以为是诽谤自己。 
  【注释】 
  ① 劳: 指役使, 让百姓去服劳役。② 厉: 虐待, 折磨, 坑害。
  子夏曰: 大德不逾闲
  ①
  , 小德出入可也。 
  【今译】 
  子夏说: 在德操大节上不要超过界限, 在细微小节上有 点出入是可以的。 
  【注释】 
  ① 大德: 与下 小德 相对, 犹言大节。小德即小节。一般认为, 大德指纲常伦理方面的节操。小德指日常的生活作风, 礼貌, 仪表, 待人接物, 言语文词等。 逾: 超越, 越过。 闲: 本义是阑, 栅栏。引申为限制, 界限, 法度。子游曰: 子夏之门人小子, 当洒扫应对进退, 则可矣, 抑末也
  ①
  。本之则无, 如之何? 子夏闻之, 曰: 噫!言游过矣!君子之道
  ②
  , 孰先传焉?孰后倦焉
  ③
  ?譬诸草木, 区以别
  矣。君子之道, 焉可诬也?有始有卒者, 其惟圣人乎! 【今译】 
  子游说: 子夏的门人, 做些洒水扫地接待 送的事是可以的, 但这不过是末节。根本的东西却没有〔学到〕, 怎么可以呢? 子夏听了这些话, 说: 唉!子游错了!君子之道, 哪些先传授, 哪些后传授呢?〔道〕 比之于草木, 〔各种各类〕 是有区别的。君子之道, 怎么可以诬蔑歪曲呢?能够有始有终〔按次序教授弟子的〕, 大概只有圣人吧! 【注释】 
  ① 抑: 抑或, 或许。 末: 非根本的方面, 末节。② 君子之道: 指君子的立身之道。与 本 有密切联系, 故《论语》 有 君子务本, 本立而道生 的话。③  孰先 句: 句中 倦 字, 当是 传 字之误。一说, 倦 字不误, 意思是: 君子之道, 传于人, 宜有先后, 非以其 末 为先而传之, 非以其 本 为后而倦教, 非专传其宜先者, 而倦传其宜后者。
   子夏曰: 仕而优则学①
  , 学而优则仕。 
  【今译】 
  子夏说: 做官要做得好就应该学习;学习好了才可以做官。 
  【注释】 
  ① 优: 优秀, 优良。一说, 优, 充足, 富裕。指人有馀力。此章的意思则是: 做了官的首先是为国为民尽职尽责, 有馀力, 便应学习(资其仕者益深); 为学的首先是明道修德掌握知识技能, 有馀力, 则可做官(验其学者益广)。 
  子游曰: 丧致乎哀而止
  ①
  。 
  【今译】 
  子游说: 居丧, 充分体现出悲哀之情就可以了。 【注释】 
  ①  丧致乎 句: 这句话包含两层含意: 一, 居丧尚有悲哀之情, 而不尚繁礼文饰。二, 既已哀, 则当止, 不当过哀以至毁身灭性。 丧, 指在直系亲长丧期之中。子游曰: 吾友张也为难能也
  ①
  , 然而未仁。 
  【今译】 
  子游说: 我的朋友子张, 是难能可贵的〔人物〕, 然而还没达到仁。 
  【注释】 
  ① 张: 即颛孙师, 字子张。朱熹说: 子张行过高, 而少诚实恻怛之意。 才高意广, 人所难能, 而心驰于外, 不能全其心德, 未得为仁。
   曾子曰: 堂堂乎张也①
  , 难与并为仁矣。 
  【今译】 
  曾子说: 仪表壮伟的子张啊, 〔却〕 很难同他一起做到仁。 
  【注释】 
  ① 堂堂: 形容仪表壮伟, 气派十足。据说子张外有馀而内不足, 他的为人重在 言语形貌, 不重在 正心诚意, 故人不能助他为仁, 他也不能助人为仁。
  曾子曰: 吾闻诸夫子, 人未有自致者也①
  , 必也亲丧乎! 
  【今译】 
  曾子说: 我听老师说过, 人没有自动充分表露内心真情的, 〔若有,〕 必定是父母去世吧! 【注释】 
  ① 致: 极, 尽。这里指充分表露和发泄内心全部的真实感情。父母之丧, 哀痛迫切之情, 不待人勉而自尽其极。曾子曰: 吾闻诸夫子: 孟庄子之孝也①
  , 其他可能也, 其
  不改父之臣与父之政, 是难能也。 【今译】 
  曾子说: 我听老师说过: 孟庄子行孝, 其他方面别的人都能做到, 不更换父亲的旧臣, 不改变父亲的政治措施, 那是别人难以做到的。 
  【注释】 
  ① 孟庄子: 鲁国大夫孟孙速。其父是孟孙蔑(孟献子), 品德好, 有贤名。
   孟氏使阳肤为士师
  ①
  。问于曾子。曾子曰: 上失其道, 民散久矣。如得其情, 则哀矜而勿喜②
  ! 
  【今译】 
  孟孙氏任命阳肤为司法刑狱长官。〔阳肤〕 请教于曾子。曾子说: 当政的人失去正道, 百姓离心离德已久了。如果了解了百姓〔因受苦、冤屈而犯法的〕 实情, 应当同情怜悯他们, 而不要〔因判他们罪而〕 沾沾自喜。 【注释】 
  ① 阳肤: 相传是曾参七名弟子中的一名。武城人。② 矜: 怜悯, 怜惜, 同情。
  子贡曰: 纣之不善
  ①
  , 不如是之甚也
  ②
  。是以君子恶居下
  流
  ③
  , 天下之恶皆归焉
  ④
  。 
  【今译】 
  子贡说: 殷纣王的不善, 不如传说的那样严重。因此, 君子非常憎恶居于下流, 〔一旦居于下流,〕 天下的一切坏事〔坏名〕 都会归到他的头上来。 【注释】 
  ① 纣: 名辛, 史称 帝辛, 纣 是谥号(按照谥法, 残忍不义称为 纣)。 商朝最后一个君主, 是历史上有名的暴君。据史料看, 纣有文武才能, 对东方的开发, 对文化的发展和中国的统一, 都曾有过贡献。但他宠爱妲己, 贪酒好色, 刚愎自用, 拒纳忠言。制定残酷的刑法, 压制人民。又大兴土木, 无休止地役使人民。后周武王会合西南各族向纣进攻, 牧野(今河南淇县西南) 一战, 纣兵败, 逃入城内, 引火自焚而死。殷遂灭。
   ② 是: 代词。指人们传说的那样。③ 恶(wù务): 讨厌, 憎恨, 憎恶。 下流: 地势卑下处。这里指由高位而降至低位。
  ④ 恶(è饿): 坏事, 罪恶。子贡说这番话的意思, 当然不是为纣王去辩解开脱, 而是要提醒世人(尤其是当权者), 应当 常自我警戒反省, 在台上的时候律己要严。否则一旦失势, 置身 下流, 天下的 恶名 将集于一身而遗臭万年。子贡曰: 君子之过也, 如日月之食焉①
  : 过也, 人皆见
  之;更也
  ②
  , 人皆仰之。 
  【今译】 
  子贡说: 君子的过错, 如同日蚀月蚀: 过错, 人们都看得见;更改, 人们都仰望着。 【注释】 
  ① 食: 同 蚀。 
  ② 更: 变更, 更改。
  卫公孙朝问于子贡曰
  ①
  : 仲尼焉学? 子贡曰: 文武之道, 未坠于地
  ②
  , 在人。贤者识其大者, 不贤者识其小者, 莫不有文武之道焉。夫子焉不学?而亦何常师之有③
  ? 
  【今译】 
  卫国的公孙朝问子贡: 仲尼的学问是从哪儿学来的? 子贡说: 周文王、周武王之道, 并未失传, 还有人能记得。贤能的人了解记住大的方面, 不贤的人了解记住小的方面, 无处不有文武之道。我的老师何处不学呢?又何尝有固定的老师呢? 
   【注释】 
  ① 公孙朝: 卫国大夫。
  ② 坠于地: 掉到地下。这里指被人们轻视而遗弃, 被人遗忘, 失传。
  ③ 常师: 固定的老师。子贡说孔子不是专向某一个人学习, 而是向众人学习。传说孔子曾 问礼于老聃 (ān丹), 访乐于长弘, 问官于郯子, 学琴于师襄。故唐代韩愈说 圣人无常师 (见《师说》)。 叔孙武叔语大夫于朝曰
  ①
  : 子贡贤于仲尼。 子服景伯以告子贡
  ②
  。子贡曰: 譬之宫墙
  ③
  , 赐之墙也及肩, 窥见室家之
  好。夫子之墙数仞
  ④
  , 不得其门而入, 不见宗庙之美, 百官之富
  ⑤
  。得其门者或寡矣。夫子之云, 不亦宜乎⑥
  ! 
  【今译】 
  叔孙武叔在朝廷上对大夫们说: 子贡比孔子强。 子服景伯把这话告诉了子贡。子贡说: 用房舍的围墙作个比喻吧, 我的围墙, 只够到肩膀那么高, 人们都能窥见房屋的美好。我老师的围墙有几丈高, 找不到门, 无法进去, 看不到宗庙的美好和各个房舍的丰富多彩。能找到门进去的人或许还很少呢。〔叔孙武叔〕 老先生那样说, 不也是很自然的吗! 【注释】 
  ① 叔孙武叔: 鲁国大夫, 三桓 之一, 名州仇。② 子服景伯: 名何, 鲁国大夫。③ 宫: 房屋, 住舍。古代不论尊卑贵贱, 住所都称 宫。 到了秦代才专称帝王的住所为宫。
  ④ 仞(rèn任): 古代长度, 七尺(或说八尺) 叫一仞。⑤ 官: 本义是房舍, 后来才引申为做官, 官职。这里用本义。 ⑥ 宜: 适宜, 相称, 很自然。叔孙武叔毁仲尼。子贡曰: 无以为也!仲尼不可毁也。他人之贤者, 丘陵也, 犹可逾也;仲尼, 日月也, 无得而逾焉。人虽欲自绝
  ①
  , 其何伤于日月乎?多见其不知量也②
  。 
  【今译】 
  叔孙武叔毁谤仲尼。子贡说: 不要这样做啊!仲尼是毁谤不了的。别的贤人, 如丘陵, 还可以越过去;仲尼, 如日月, 是无法越过的。有人虽然想要自绝〔于日月〕, 对日月有什么损伤呢?只是看出这种人不自量力啊。 【注释】 
  ① 自绝: 自行断绝跟对方之间的关系。② 多: 只是, 徒然, 恰好是。 不知量: 不知道自己的分量, 不知高低轻重, 不自量。
  陈子禽谓子贡曰
  ①
  : 子为恭也, 仲尼岂贤于子乎? 子贡曰: 君子一言以为知
  ②
  , 一言以为不知, 言不可不慎也。夫子之不可及也, 犹天之不可阶而升也。夫子之得邦家者, 所谓立之斯立, 道之斯行
  ③
  , 绥之斯来
  ④
  , 动之斯和。其生也荣, 
  其死也哀。如之何其可及也? 【今译】 
  陈子禽对子贡说: 您对仲尼有意表现恭敬吧, 他难道比您更贤能吗? 子贡说: 君子一句话可以表现出明智, 一句话也可以表现出不明智, 说话不可不谨慎呀。我们老师是不可及的, 好像天是不能通过阶梯登上去一样。我们老师如能 获得治理国家的权位, 就像〔我们〕 所说的: 要百姓立足于社会, 〔百姓〕 就会立足于社会;要引导百姓, 〔百姓〕 就会跟着走;要安抚百姓, 〔百姓〕 就会来归附;要发动百姓, 〔百姓〕 就会团结 力。老师活着很光荣, 死了会使人悲哀。〔我〕 怎么能赶上老师呢? 
  【注释】 
  ① 陈子禽: 陈亢, 字子禽。参阅《学而篇第一》 第十章注。② 知: 同 智。 聪明, 智慧, 明智。③ 道: 同 导。 引导。
  ④ 绥(suí随): 安抚。
   尧曰篇第二十
  (共三章) 
  主要记古代贤王尧、舜、禹、汤的言论以及孔子对为政的论述。
  尧曰
  ①
  : 咨
  ②
  !尔舜
  ③
  , 天之历数在尔躬
  ④
  , 允执其中
  ⑤
  。
  四海困穷, 天禄永终。 
  舜亦以命禹
  ⑥
  。
  曰: 予小子履敢用玄牡
  ⑦
  , 敢昭告于皇皇后帝
  ⑧
  : 有罪不
  敢赦。帝臣不蔽
  ⑨
  , 简在帝心
   
  。朕躬有罪
   
  , 无以万方;万方
  有罪, 罪在朕躬。 
  周有大赉
   
  , 善人是富。 虽有周亲, 不如仁人。百姓有过, 在予一人
   
  。 
  谨权量
   
  , 审法度
   
  , 修废官, 四方之政行焉。兴灭国, 继绝世, 举逸民, 天下之民归心焉。所重: 民, 食, 丧, 祭。
  宽则得众, 信则民任焉
   
  , 敏则有功, 公则说
   
  。
  【今译】 
  尧说: 啧啧!舜啊!按照天意所定的继承顺序, 帝位就在你身上了, 〔你〕 要诚实恰当地保持执守中正之道。〔如果 你执行有偏差,〕 天下百姓陷于贫困, 〔那么〕 上天赐给你的禄位就会永远终止了。 
  舜也是用这些话嘱咐了禹。
  〔商汤〕 说: 我小子履, 大胆虔诚地用黑色的公牛来祭祀, 冒昧地向光明而伟大的天帝祷告: 对有罪的人, 〔我〕 不敢擅自赦免。您的臣仆〔的善恶〕, 我也不敢隐瞒掩盖, 〔对此〕 您心里是清楚知道的。〔如果〕 我自身有罪过, 请不要责怪连累天下万方;天下万方〔如果〕 有罪过, 罪过都应归在我身上。 
  周朝〔初年〕 大发赏赐〔分封诸侯〕, 善人都得到富贵。〔周武王说:〕 虽有至亲, 却不如有仁德的人。百姓如有过错, 都应该由我一人来承担。 
  〔孔子常说:〕 谨慎地制定审查度量衡, 恢复被废弃的官职与机构, 天下四方的政令就通行了。复兴灭亡了的国家, 接续断绝了的世族, 推举起用前代被遗落的德才之士, 天下民心就归服了。
  〔国家〕 所要重视的是: 人民, 粮食, 丧葬, 祭祀。做人宽厚, 就会得到众人的拥护;诚实守信用, 就会得到别人的任用;做事勤敏, 就会取得成功;处事公平, 就会使大家高兴。
  【注释】 
  ① 尧: 传说中新石器时代我国父系氏族社会后期的部落联盟的领袖。他把君位禅(s àn善) 让给舜。史称 唐尧。 后被尊称为 圣君。 参阅《泰伯篇第八》 第二十章注。② 咨(zī资): 感叹词。犹 啧啧。 咂嘴表示赞叹、赞美。 ③ 舜: 传说中受尧禅位的君主。后来, 他又把君位禅让给禹。传说他眼睛有两个瞳仁, 又名 重华。 参阅《泰伯篇第八》 第二十章注。④ 天之历数: 天命。这里指帝王更替的一定次序。古代帝王常常假托天命, 都说自己能当帝王是由天命所决定的。⑤ 允: 诚信, 公平。 执: 掌握, 保持, 执守。 中: 正, 不偏不倚, 不 过 也无 不及。 ⑥  舜亦 句: 禹, 传说中受舜禅位的君主。姒(sì四) 姓, 亦称 大禹 、 夏禹 、 戎禹, 以治水名闻天下。关于舜禅位时嘱咐大禹的话, 可参阅《尚书 大禹谟》。 ⑦ 予小子履: 商汤自称。 予, 我。 小子, 祭天地时自称, 表示自己是天帝的儿子(天之子, 天子)。 履, 商汤的名字。商汤, 历史上又称武汤, 武王, 天乙, 成汤(或成唐), 也称高祖乙。他 为商族领袖, 任用伊尹执政, 积聚力量, 陆续攻灭邻近各小国, 最后一举灭夏桀, 建立了商朝, 是孔子所说的 贤王。  敢: 谦辞, 犹言 冒昧。 含虔诚意。 玄牡: 玄, 黑色。 牡, 公牛。宰杀后作祭祀用的牺牲。按此段文字又见《尚书 汤诰》, 文字略有不同, 可参阅。⑧ 皇皇: 大, 伟大。 后帝: 后, 指君主。古代天子和诸侯都称 后, 到了后世, 才称帝王的正妻为后。 帝, 古代指最高的天神。这里 后 和 帝 是同一个概念, 指天帝。⑨ 帝臣: 天下的一切贤人都是天帝之臣。  简: 本义是检阅, 检查。这里有知道, 明白, 清楚了解的意思。
    朕(z èn振): 我。古人不论地位尊卑都自称朕。从秦始皇起, 才成为帝王专用的至尊的自称。  大赉(là 赖): 大发赏赐, 奖赏百官, 分封土地。   虽有 句: 周, 至, 最。 百姓, 这里指各族各姓受封的贵族。传说商末就有八百个诸侯。此句又见《尚书 泰誓》, 文字略 有不同, 可参阅。
    权: 秤锤。指计重量的标准。 量: 量器。指计容积的标准。  法度: 指计量长度的标准。   信则 句: 民, 疑当作 人, 他人, 别人。 任, 任用。诚实守信就会得到他人任用。一说, 民, 百姓。 任, 信任。诚恳守信, 就会得到百姓信任。另说, 汉代石 等一些版本无此五字, 乃《阳货篇第十七》 第六章文字而误增于此。  说: 同 悦。 高兴。本章文字, 前后不连贯, 疑有脱漏。风格也不同。前半章文字古奥, 可能是《论语》 的编订者引自当时可见的古代文献。从 谨权量 以下, 大多数学者认为可能就是孔子所说的话了。
  子张问于孔子曰: 何如斯可以从政矣①
  ? 子曰: 尊五
  美, 屏四恶
  ②
  , 斯可以从政矣。 子张曰: 何谓五美? 子曰: 君子惠而不费, 劳而不怨, 欲而不贪③
  , 泰而不骄, 威而不
  猛。 子张曰: 何谓惠而不费? 子曰: 因民之所利而利之, 斯不亦惠而不费乎?择可劳而劳之, 又 怨?欲仁而得仁, 又焉贪?君子无众寡, 无小大, 无敢慢, 斯不亦泰而不骄乎?君子正其衣冠, 尊其瞻视, 俨然人望而畏之, 斯不亦威而不猛乎? 子张曰: 何谓四恶? 子曰: 不教而杀谓之虐;不戒视成谓之暴;慢令致期谓之贼;犹之与人也, 出纳之吝谓之有司
  ④
  。 
  【今译】 
  子张问孔子: 如何就可以从政呢? 孔子说: 要尊重五种美德, 摒除四种恶政, 就可以从政了。 子张说: 什么叫五种美德? 孔子说: 君子使百姓得到好处, 自己却无所耗 费;安排劳役, 百姓却不怨恨;希望实行仁义, 而不贪图财利;安舒矜持, 而不骄傲放肆;庄重威严, 而不凶猛。 子张说: 怎样能使百姓得到好处, 自己却无所耗费呢? 孔子说: 顺着百姓所能得到利益之处而让百姓去获得利益, 不就是使百姓得到好处而自己却无所耗费吗?选择百姓能干得了的劳役让他去干, 还怨恨呢?希望实行仁义而得到了仁义, 还贪求什么财利呢?君子无论人多人少, 势力大势力小, 都不敢轻慢, 这不就是安舒矜持而不骄傲放肆吗?君子衣冠端正整齐, 目光神色都郑重严肃, 使人望而敬畏, 这不就是庄重威严而不凶猛吗? 子张说: 什么叫四种恶政? 孔子说: 事先不进行教育, 〔犯了错〕 就杀, 这叫虐;事先不告诫不打招呼, 而要求马上做事成功, 这叫暴;很晚才下达命令, 却要求限期完成, 这叫贼;同样是给人东西, 拿出手时显得很吝啬, 这叫有司。 
  【注释】 
  ① 斯: 就。
  ② 屏 (ǐn 丙): 通 摒。 除去, 排除, 摈弃。
③ 欲而不贪: 指其欲在实行仁义, 而不在贪图财利。皇侃《论语义疏》: 欲仁义者为廉, 欲财色者为贪。 ④ 有司: 本为官吏的统称。这里指库吏之类的小官, 他们在财物出入时都要精确算计。从政的人如果这样, 就显得吝啬刻薄而小家子气了。
  孔子曰: 不知命
  ①
  , 无以为君子也;不知礼, 无以立也;不知言, 无以知人也。 
【今译】 
  孔子说: 不懂天命, 就无法做君子;不懂礼, 就无法立足于社会;不懂分析辨别别人的言论, 就无法了解认识他人。 【注释】 
  ① 命: 命运, 天命。儒家以为人在一生中的吉凶、祸福、生死、贫富、利害都是上天所主宰, 都是与生俱来而命中注定的;人对之无可奈何无力改变。这是唯心主义的一种哲学观点。不过, 孔子所说的 知命, 也包含有一些有积极意义的内, 如提倡要面对现实, 识时务;要了解与顺应客观事物发展规律而不应与之违背;要明确人生的道义与职责等。

Middle 四書章句集注-中庸章句

Middle 四書章句集注-中庸章句

四書章句集注-中庸章句
《四書章句集注-中庸章句》
中庸章句序

四書章句集注-中庸章句
《四書章句集注-中庸章句》
中庸章句序

  中庸
  目录
  中庸简介
  中和是天下的根本 
  君子中庸,小人反中庸
  最高的道德标准 
  谁能食而知其味
  隐恶扬善,执两用中 
  聪明反被聪明误
  牢牢抓住不要放弃 
  白刃可蹈,中庸难得
  什么是真正的强? 
  正道直行,默默无闻也不后
  君子之道费而隐悔 
  道不远人,远人非道
  素位而行,安分守己 
  行远自迩,登高自卑
  无所不在的道 
  天生我材必有用
  治国平天下的法则 
  诚则明,明则诚
  至诚可参天地 
  从一个方面下功夫
  国家兴亡,必有征兆 
  不能只做到自我完善
  真诚是没有止息的 
  明哲保身,进退自如
  不要自以为是,独断专行 
  无征不信,不信民弗从
  圣人的伟大之处 
  弘扬德行的最高境界
  ——————
  简介
  《中庸》原来也是《礼记》中的一篇,一般认为它出于孔子的孙子子思(前483-前402)之手。据《史记·孔于世家》记载,孔子的儿子名叫孔鲤,字伯鱼;伯鱼的儿子名叫孔伋,字子思。孔子去世后,儒家分为八派,子思是其中一派。荀子把子思和孟子看成是一派。从师承关系来看,子思学于孔子的得意弟子之一曾子,孟子又学于子思;从《中庸》和《孟子》的基本观点来看,也大体上是相同的。所以有“思孟学派”的说法。后代因此而尊称子思为“述圣”。不过,现存的《中庸》,已经经过秦代儒者的修改,大致写定于秦统一全国后不久。所以名篇方式已下同于《大学》,不是取正义开头的两个字为题,而是撮取文章的中心内容为题了。
  早在西汉时代就有专门解释《中庸》的著作,《汉书·艺文志》载录有《中庸说》二篇,以后各代都有关于这方面的著作相沿不绝。但影响最大的还是朱熹的《中庸章句》,他把《中庸》与《大学》、《论语》、《孟子》合在一起,使它成为“四书”之一,成为后世读书人求取功名的阶梯。
  朱熹认为《中庸》“忧深言切,虑远说详”,“历选前圣之书,所以提挈纲维,开示蕴奥,未有若是之明且尽者也。)(《中庸章句·序》)并且在《中庸章句》的开头引用程颐的话,强调《中庸》是“孔门传授心法”的著作,“放之则弥六合,卷之则退藏于密”,其味无穷,都是实用的学问。善于阅读的人只要仔细玩味,便可以终身受用不尽。
  程颐的说法也许有些过头,但《中庸》的确是内容丰富,不仅提出了“中庸”作为儒家的最高道德标难,而且还以此为基础讨论了一系列的问题,涉及到儒家学说的各个方面。所以,《中庸》被推崇为“实学”,被视为可供人们终身受用的经典,这也绝不是偶然的。
  ——————
  中和是天下的根本
  【原文】
  天命之谓性(1),性之谓道(2),修道之谓教。
  道也者,不可须臾离也,可离非道也。是故君子戒慎乎其所不睹,恐惧乎其所不闻。莫见乎隐,莫显乎微(3)。故君子慎其独也。
  喜怒哀乐之未发,谓之中(4);发而皆中节(5),谓之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之达道也。致(6)中和,天地位焉,万 物育焉。 (第1章)
  【注释】
  (1)天命:天赋。朱熹解释说:“天以阴阳五行化生万物,气以成形,而理亦赋焉,犹命令也。”(《中庸章句》)所以,这里的天命(天赋)实际上就是指的人的自然禀赋,并无神秘色彩。(2)率性:遵循本性,率,遵循,按照, (3)莫:在这里是“没有什么更……”的意思。见(xian):显现,明显。乎:于,在这里有比较的意味。(4)中(zhong):符合。(5)节:节度法度。 (6)致,达到。
  【译文】
  人的自然禀赋叫做“性”,顺着本性行事叫做“道”,按照“道”的原则修养叫做“教”。
  “道”是不可以片刻离开的,如果可以离开,那就不是“道”了。所以,品德高尚的人在没有人看见的地方也是谨慎的,在没有人听见的地方也是有所戒惧的。越是隐蔽的地方越是明显,越是细微的地方越是显著。所以,品德高尚的人在一人独处的时候也是谨慎的。   喜怒哀乐没有表现出来的时候,叫做“中”;表现出来以后符合节度,叫做“和”。“中”,是人人都有的本性;“和”,是大家遵循的原则,达到“中和”的境界,天地便各在其位了,万物便生长繁育了。
  【读解】
  这是《中庸》的第一章,从道不可片刻离开引入话题,强调在《大学》里面也阐述过的“慎其独”问题,要求人们加强自觉性,真心诚意地顺着天赋的本性行事,按道的原则修养自身。
  解决了上述思想问题后,本章才正面提出“中和”(即中庸)这一范畴,进入全篇的主题。
  作为儒学的重要范畴之一,历来对“中庸”有各种各样的理解。本章是从情感的角度切入,对“中”、“和”作正面的基本的解释。按照本章的意思,在一个人还没有表现出喜怒哀乐的情感时,心中是平静淡然的,所以叫做“中”,但喜怒哀乐是人人都有而不可避免的,它们必然要表现出来。表现出来而符合常理,有节度,这就叫做“和”。二者协调和谐,这便是“中和”。人人都达到“中和”的境界,大家心平气和,社会秩序井然,天下也就太平无事了。
  本章具有全篇总纲的性质,以下十章(2-11)都围绕本章内容而展开。
  《中庸》原来也是《礼记》中的一篇,一般认为它出于孔子的孙子子思(前483-前402)之手。据《史记·孔于世家》记载,孔子的儿子名叫孔鲤,字伯鱼;伯鱼的儿子名叫孔伋,字子思。孔子去世后,儒家分为八派,子思是其中一派。荀子把子思和孟子看成是一派。从师承关系来看,子思学于孔子的得意弟子之一曾子,孟子又学于子思;从《中庸》和《孟子》的基本观点来看,也大体上是相同的。所以有“思孟学派”的说法。后代因此而尊称子思为“述圣”。不过,现存的《中庸》,已经经过秦代儒者的修改,大致写定于秦统一全国后不久。所以名篇方式已下同于《大学》,不是取正义开头的两个字为题,而是撮取文章的中心内容为题了。
  早在西汉时代就有专门解释《中庸》的著作,《汉书·艺文志》载录有《中庸说》二篇,以后各代都有关于这方面的著作相沿不绝。但影响最大的还是朱熹的《中庸章句》,他把《中庸》与《大学》、《论语》、《孟子》合在一起,使它成为“四书”之一,成为后世读书人求取功名的阶梯。
  朱熹认为《中庸》“忧深言切,虑远说详”,“历选前圣之书,所以提挈纲维,开示蕴奥,未有若是之明且尽者也。)(《中庸章句·序》)并且在《中庸章句》的开头引用程颐的话,强调《中庸》是“孔门传授心法”的著作,“放之则弥六合,卷之则退藏于密”,其味无穷,都是实用的学问。善于阅读的人只要仔细玩味,便可以终身受用不尽。
  程颐的说法也许有些过头,但《中庸》的确是内容丰富,不仅提出了“中庸”作为儒家的最高道德标难,而且还以此为基础讨论了一系列的问题,涉及到儒家学说的各个方面。所以,《中庸》被推崇为“实学”,被视为可供人们终身受用的经典,这也绝不是偶然的。
  ——————
  君子中庸,小人反中庸
  【原文】 
  仲尼曰(1):“君于中庸(2),小人反中庸。君子之中庸也,君子而时中。小人之中庸也(3),小人而无忌惮(4)也。… (第2章)
  【注释】
  (1)仲尼:即孔子,名丘,字仲尼。(2)中庸:即中和。庸,“常”的意思。(3)小人之中庸也:应为“小人之反中庸也”。(4)忌惮:顾忌和畏惧。
  【译文】
  仲尼说:“君子中庸,小人违背中庸。君于之所以中庸,是因为君子随时做到适中,无过无不及;小人之所以违背中庸,是因为小人肆无忌惮,专走极端。”
  【读解】
  孔子的学生子贡曾经问孔子:“子张和子夏哪一个贤一些?”孔子回答说:“子张过分;子夏不够。”子贡问:“那么是子张贤一些吗?”孔子说:“过分与不够是一样的。”(《论语·先进》)
  这一段话是对“君子而时中”的生动说明。也就是说,过分与不够貌似不同,其实质却都是一样的,都不符合中庸的要求。中庸的要求是恰到好处,如宋玉笔下的大美人东家之子:“增之一分则太长,减之一分则太短;著粉则太白,施朱则太赤。”(《登徒子好色赋》)
  所以,中庸就是恰到好处
  ——————
  最高的道德标准
  【原文】
  子日,“中庸其至矣乎!民鲜能久矣(1)!”(第3章)
  【注释】
  ①鲜:少,不多。
  【译文】
  孔子说:“中庸大概是最高的德行了吧!大家缺乏它已经很久了!”
  【读解】
  正因为它是最高的德行,最高的道德标准,所以,很少有人能够真正实行它。这正如我们要求“大公无私”,很少有人能做到,提出“国家、集体、个人利益三兼顾”,就比较容易做到了。要求“跑步进入共产主义”难以做到,提出“社会主义初级阶段”,实现“小康”,这就比较容易做到了。
  这样说来,中庸之道是不是也只能作为一种理想的道德规范而加以提倡呢?
  ——————
  谁能食而知其味?
  【原文】
  子曰:“道(1)之不行也,我知之矣,知者(2)过之,愚者不及也。道之不明也,我知之矣:贤者过之,不肖者(3)不及也。人莫不饮食也,鲜能知味也。”(第4章)
  【注释】
  (1)道:即中庸之道。(2)知者:即智者,与愚者相对,指智慧超群的人。知,同“智”,(3)不肖者:与贤者相对,指不贤的人。
  【译文】
  孔子说:“中庸之道不能实行的原因,我知道了:聪明的人自以为是,认识过了头;愚蠢的人智力不及,不能理解它。中庸之道不能弘扬的原因,我知道了:贤能的人做得太过分:不贤的人根本做不到。就像人们每天都要吃喝,但却很少有人能够真正品尝滋味。”
  【读解】
  还是过与不及的问题。正因为要么太过,要么不及,所以,总是不能做得恰到好处。而无论是过还是不及,无论是智还是愚,或者说,无论是贤还是不肖,都是因为缺乏对“道”的自觉性,正如人们每天都在吃吃喝喝,但却很少有人真正品味一样,人们虽然也在按照一定的道德规范行事,但由于自觉性不高,在大多数情况下不是做得过了头就是做得不够,难以达到“中和”的恰到好处。所以,提高自觉性是推行中庸之道至关重要的一环。
  ——————
  隐恶扬善,执两用中
  【原文】
  子日:“舜其大知也与!舜好问而好察迩言(1),隐恶而扬善,执其两端,用其中于民。其斯以为舜乎(2)!”(第6章)
  【注释】
  (1)迩言,浅近的话。迩,近。(2)其斯以为舜乎,这就是舜之所以为舜的地方吧!其,语气词,表示推测。斯,这。“舜”字的本义是仁义盛明,所以孔子有此感叹。
  【译文】
  孔子说:“舜可真是具有大智慧的人啊!他喜欢向人问问题,又善于分析别人浅近话语里的含义。隐藏人家的坏处,宣扬人家的好处。过与不及两端的意见他都掌握,采纳适中的用于老百姓。这就是舜之所以为舜的地方吧!”
  【读解】
  隐恶扬善,执两用中。
  既是不偏不倚、无过无不及的中庸之道,又是杰出的领导艺术。
  要真正做到,当然得有非同一般的大智慧。
  困难之一在于,要做到执两用中,不仅要有对于中庸之道的自觉意识,而且得有丰富的经验和过人的识见。
  困难之二在于,要做到隐恶扬善,更得有博大的胸襟和宽容的气度。对于一般人来说,不隐你的善扬你的恶就算是谢天谢地了,岂敢奢望他隐你的恶而扬你的善!
  如此看来,仅有大智慧都还不一定做得到隐恶扬善,还得有大仁义才行啊。
  大智大仁的舜帝毕竟只有一个,不然的话,孔圣人又怎么会感叹又感叹呢?
  ——————
  聪明反被聪明误
  【原文】
  子日:“人皆日:‘予(1)知。’驱而纳诸罟擭陷阶之中(2),而莫之知辟也(3)。人皆曰:‘予知。’择乎中庸,而不能期月(4)守也。”(第7章)
  【注释】
  (1)予:我。(2)罟(gu):捕兽的网。擭(huo):装有机关的捕兽的木笼。(3)辟(bi):同“避”。(4)期月:一整月。
  【译文】
  孔子说:“人人都说自己聪明,可是被驱赶到罗网陷阶中去却不知躲避。人人都说自己聪明,可是选择了中庸之道却连一个月时间也不能坚持。”
  【读解】
  聪明反被聪明误。
  自以为聪明失好走极端,走偏锋,不知适可而止,不合中庸之道,所以往往自投罗网而自己却还不知道。
  另一方面,虽然知道适可而止的好处,知道选择中庸之道作为立身处世原则的意义。但好胜心难以满足,欲壑难填,结果是越走越远,不知不觉间又放弃了适可而止的初衷,背离了中庸之道。就像孔子所惋惜的那样,连一个月都不能坚持住。
  赌博也好,炒股票也好,贪污受贿也好,这类现象不都是常见的吗?
  ——————
  牢牢抓住不要放弃
  【原文】
  子日:“回(1)人也,择乎中庸,得一善,则拳拳服膺(2)而弗失之矣。” (第8章)
  【注释】
  (1)回:指孔子的学生颜回。(2)拳拳服膺:牢牢地放在心上。拳拳,牢握但不舍的样子,引申为恳切。服,著,放置。膺,胸口。
  【译文】
  孔子说:“颜回就是这样一个人,他选择了中庸之道,得到了它的好处,就牢牢地把它放在心上,再也不让它失去。”
  【读解】
  这是针对前一章所说的那些不能坚持中庸之道的人而言的。
  作为孔门的高足,颜回经常被老师推荐为大家学习的榜样,在中庸之道方面也不例外。
  一旦认定,就坚定不移地坚持下去。
  这是颜回的作为,也是孔圣人“吾道一以贯之”(《论语·里仁》)的风范。
  ——————
  白刃可蹈,中庸难得
  【原文】
  子曰,“天下国家可均也(1),爵禄可辞也(2),白刃可蹈(3)也,中庸不可能也。”(第9章)
  【注释】
  (1)均:即平,指治理。(2)爵,爵值,禄:官吏的薪俸。辞:放弃。(3)蹈:踏。
  【译文】
  孔子说:“天下国家可以治理,官爵傣禄可以放弃,雪白的刀 刃可以践踏而过,中庸却不容易做到。”
  【读解】
  孔子对中庸之道持高扬和捍卫态度。事实上,一般人对中庸的理解往往过于肤浅,看得比较容易。孔子正是针对这种情况有感而发,所以把它推到了比赴汤蹈火,治国平天下还难的境地。其目的还是在于引起人们对中庸之道的高度重视。
  ——————
  什么是真正的强?
  【原文】
  子路问强(1)。子曰:“南方之强与?北方之强与?抑而强与?(2)宽柔以教,不报无道(3),南方之强也,君子居之(4)。衽金革(5),死而不厌(6),北方之强也,而强者居之。故君子和而不流(7),强哉矫(8)!中立而不倚,强哉矫!国有道,不变塞焉(9),强哉矫!国无道,至死不变,强哉矫!”(第10章)
  【注释】
  (1)子路:名仲由,孔子的学生。(2)抑:选择性连词,意为“还是”。而:代词,你。与:疑问语气词。(3)报:报复。(4)居:处。(5)衽:卧席,此处用为动词。金:指铁制的兵器。革:指皮革制成的甲盾。(6)死而不厌:死而后已的意思。(7)和而不流:性情平和又不随波逐流。(8)矫:坚强的样子。 (9)不变塞:不改变志向。
  【译文】
  子路问什么是强。孔子说:“南方的强呢?北方的强呢?还是你认为的强呢?用宽容柔和的精神去教育人,人家对我蛮横无礼也不报复,这是南方的强,品德高尚的人具有这种强。用兵器甲盾当枕席,死而后已,这是北方的强,勇武好斗的人就具有这种强。所以,品德高尚的人和顺而不随波逐流,这才是真强啊!保持中立而不偏不倚,这才是真强啊!国家政治清平时不改变志向,这才是真强啊!国家政治黑暗时坚持操守,宁死不变,这才是真强啊!”
  【读解】
  子路性情鲁莽,勇武好斗,所以孔子教导他:有体力的强,有精神力量的强,但真正的强不是体力的强,而是精神力量的强。精神力量的强体现为和而不流,柔中有刚;体现为中庸之道;体现为坚持自己的信念不动摇,宁死不改变志向和操守。
  “三军可夺帅也,匹夫不可夺志也。”(《论语·子罕》这就是孔子所推崇的强。
  “砍头不要紧,只要主义真。杀了夏明翰,自有后来人。”这就是孔子所推崇的强。
  说起来,还是崇高的英雄主义,献身的理想主义。
  不过,回到《中庸》本章来,孔子在这里所强调的,还是“中立而不倚”的中庸之道,儒学中最为高深的道行。
  ——————
  正道直行,默默无闻也不后悔
  【原文】
  子曰:“素隐行怪(1),后世有述焉(2),吾弗为之矣。君子遵道而行,半途而废,吾弗能已矣(3)。君子依乎中庸,遁世不见知而不悔(4),唯圣者能之。”(第11章)
  【注释】
  (1)素:据《汉书》,应为“索”。隐:隐僻。怪:怪异。(2)述:记述。(3)已:止,停止。(4)见知:被知。见,被。
  【译文】
  孔子说:“寻找隐僻的歪歪道理,做些怪诞的事情来欺世盗名,后世也许会有人来记述他,为他立传,但我是绝不会这样做的。有些品德不错的人按照中庸之道去做,但是半途而废,不能坚持下去,而我是绝不会停止的。真正的君子遵循中庸之道,即使一生默默无闻不被人知道也不后悔,这只有圣人才能做得到。”
  【读解】
  钻牛角尖,行为怪诞,这些出风头、走极端欺世盗名的搞法根本不合中庸之道的规范,自然是圣人所不齿的。
  找到正确的道路,走到一半又停止了下来,这也是圣人所不欣赏的。
  唯有正道直行,一条大路走到底,这才是圣人所赞赏并身体力行的。
  所以,“路漫漫其修远兮,吾将上下而求索。”(屈原)这是圣人所赞赏的精神。   “鞠躬尽瘁,死而后已。”(诸葛亮)这也是圣人所赞赏的精神。
  以上几章从各个方面引述孔子的言论反复申说第一章所提出的“中和”(中庸)这一概念,弘扬中庸之道,是全篇的第一大部分。
  ——————
  君子之道费而隐
  【原文】
  君子之道费而隐(1)。夫妇(2)之愚,可以与知焉(3),及其至也,虽圣人亦有所不知焉。夫妇之不肖,可以能行焉,及其至也,虽圣人亦有所不能焉。天地之大也,人犹有所憾。故君子语大,天下莫能载焉;语小,天下莫能破焉(4)。《诗》云:“鸢飞戾天,鱼跃于渊(5)。”言其上下察也(6)。君子之道,造端乎夫妇(7),及其至也,察乎天地。(第12章)
  【注释】
  (1)费:广大。隐:精微。(2)夫妇:匹夫匹妇,指普通男女。(3)与:动词,参与。 (4)破:分开。 (5)鸢飞戾天,鱼跃于渊:引自《诗经·大雅·旱麓》。鸢,老鹰。戾,到达。(6)察:昭著,明显。 (7)造端:开始。
  【译文】
  君子的道广大而又精微。普通男女虽然愚昧,也可以知道君子的道;但它的最高深境界,即便是圣人也有弄不清楚的地方,普通男女虽然不贤明,也可以实行君子的道,但它的最高深境界,即便是圣人也有做不到的地方。大地如此之大,但人们仍有不满足的地方。所以,君子说到“大”,就大得连整个天下都载不下;君子说到“小”,就小得连一点儿也分不开。《诗经》说:“鸢鸟飞向天空,鱼儿跳跃深水。”这是说上下分明。君子的道,开始于普通男女,但它的最高深境界却昭著于整个天地。
  【读解】
  这一章另起炉灶,回到第一章“道也者,不可须臾离也,可离非道也”进行阐发,以下八章(13一20)都是围绕这一中心而展开的。
  正因为道不可须臾离开,所以,道就应该有普遍的可适应性,应该“放之四海而皆准”,连匹夫匹妇,普通男女都可以知道,可以学习,也可以实践。
  不过,知道是一回事,一般性地实践是一回事,要进入其高深境界又是另一回事了。所以,道又必须有精微奥妙的一方面,供德行高,修养深的学者进行深造,进行创造性的实践。
  如此两方面的性质结合起来,使道既广大又精微,既有普及性又有提高性,既下里巴人又阳春白雪,说到底,是一个开放的、兼容的、可发展的体系。
  道是如此,世界上的许多事情也都是如此。说到唱歌,卡拉0K谁都可以来上几句,但要唱出歌星级水平可就是另一回事了。
  说用电脑打字,坐下来一两个小时,一个完全的外行也可以打出一串字来,可要成为电脑专家就是另一回事了。说到下棋,知道下棋规则,棋瘾大得不可思议的人满街都是,可要成为一名真正的棋手就是另外一回事了。
  诸如此类,不胜枚举。凡事都有一知半解与精通的区别,匹夫匹妇与“圣人”的分别也就在这里。
  ——————
  道不远人,远人非道
  【原文】
  子日:“道不远人。人之为道而远人,不可以为道。”
  “《诗》云:‘伐柯伐柯,其则不远。(1)’执柯以伐柯,睨(2)而视之,犹以为远。故君子以人治人。改而止。”
  “忠恕违道不远(3),施诸己而不愿,亦勿施于人。”
  “君子之道四,丘未能一焉:所求乎子以事父,未能也;所求乎臣以事君,未能也;所求乎弟以事兄,未能也;所求乎朋友先施之,未能也。庸(4)德之行,庸言之谨。有所不足,不敢不勉;有余不敢尽。言顾行,行顾言,君子胡不慥慥尔(5)?”(第13章)
  【注释】
  (1)伐柯伐柯,其则不远:引自《诗经·豳风·伐柯》。伐柯,砍削斧柄。柯,斧柄。则,法则,这里指斧柄的式样。(2)睨:斜视。(3)违道:离道。违,离。(4)庸:平常。(5)胡:何、怎么。慥慥(zao),忠厚诚实的样子。
  【译文】
  孔子说:“道并不排斥人。如果有人实行道却排斥他人,那就不可以实行道了。”
  “《诗经》说:‘砍削斧柄,砍削斧柄,斧柄的式样就在眼前。’握着斧柄砍削斧柄,应该说不会有什么差异,但如果你斜眼一看,还是会发现差异很大。所以,君子总是根据不同人的情况采取不同的办法治理,只要他能改正错误实行道就行。”
  “一个人做到忠恕,离道也就差不远了。什么叫忠恕呢?自己不愿意的事,也不要施加给别人。”
  “君子的道有四项,我孔丘连其中的一项也没有能够做到:作为一个儿子应该对父亲做到的,我没有能够做到;作为一个臣民应该对君王做到的,我没有能够做到;作为一个弟弟应该对哥哥做到的,我没有能够做到;作为一个朋友应该先做到的,我没有能够做到。平常的德行努力实践,平常的言谈尽量谨慎。德行的实践有不足的地方,不敢不勉励自己努力;言谈却不敢放肆而无所顾忌。说话符合自己的行为,行为符合自己说过的话,这样的君子怎么会不忠厚诚实呢?…”
  【读解】
  道不可须臾离的基本条件是道不远人。换言之,一条大道,欢迎所有的人行走,就像马克思主义的理论欢迎所有的人学习、实践,社会主义的金光大道欢迎所有的人走一样。相反,如果只允许自己走,而把别人推得离道远远的,就像鲁迅笔下的假洋鬼子只准自己“革命”而不准别人(阿Q)“革命”,那自己也就不是真正的革命者了。
  推行道的另一条基本原则是从实际出发,从不同人不同的具体情况出发,使道既具有“放之四海而皆准”的普遍性,又能够适应不同个体的特殊性。这就是普遍性与特殊性相结合。
  既然如此,就不要对人求全责备,而应该设身处地,将心比心地为他人着想,自己不愿意的事,也不要施加给他人。因为,金无足赤,人无完人,不要说人家,就是自己,不也还有很多应该做到的而没有能够做到吗?所以,要开展批评,也要开展自我批评。圣贤如孔子,不就从四大方面对自己进行了严厉的批评吗?那就更不要说我们这些凡夫俗子了,哪里没有这样或那样的毛病呢?说不定还深沉得很呢。
  不过也不要紧,只要你做到忠恕,也就离道不远了。说到底,还是要“言顾行,行顾言”,凡事不走偏锋,不走极端,这就是“中庸”的原则,这就是中庸之道。
  ——————
  素位而行,安分守己
  【原文】
  君子素其位(1)而行,不愿乎其外。
  素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱:素夷狄(2),行乎夷狄;素患难,行乎患难。君子无入(3)而不自得焉。
  在上位,不陵(4)下;在下位,不援(5)上。正己而不求于人则无怨。上不怨天,下不尤(6)人。
  故君子居易(7)以俟命(8),小人行险以侥幸。子曰:“射(9)有似乎君子,失诸正鹄(10),反求诸其身。”(第14章)
  【注释】
  (1)素其位:安于现在所处的地位。素,平素。现在的意思,这里作动词用。(2)夷:指东方的部族;狄:指西方的部族。泛指当时的少数民族。(3)无入:无论处于什么情况下。入,处于。(4)陵:欺侮。(5)援:攀援,本指抓着东西往上爬,引申为投靠有势力的人往上爬。(6)尤:抱怨。(7)居易:居于平安的地位,也就是安居现状的意思。易,平安。(8)俟(si)命:等待天命。(9)射:指射箭。(10)正(zheng)鹄(gu):正、鹄:均指箭靶子;画在布上的叫正,画在皮上的叫鹄。
  【译文】
  君子安于现在所处的地位去做应做的事,不生非分之想。
  处于富贵的地位,就做富贵人应做的事;处于贫贱的状况,就做贫贱人应做的事;处于边远地区,就做在边远地区应做的事;处于患难之中,就做在患难之中应做的事。君子无论处于什么情况下都是安然自得的。
  处于上位,不欺侮在下位的人;处于下位,不攀援在上位的人。端正自己而不苛求别人,这样就不会有什么抱怨了。上不抱怨天,下不抱怨人。
  所以,君子安居现状来等待天命,小人却铤而走险妄图获得非分的东西。孔子说:“君子立身处世就像射箭一样,射不中,不怪靶子不正,只怪自己箭术不行。”
  【读解】
  素位而行近于《大学》里面所说的“知其所止”,换句话说,叫做安守本分,也就是人们常说的——安分守己。
  这种安分守己是对现状的积极适应、处置,是什么角色,就做好什么事,如台湾著名漫画家蔡志忠先生所说:“自己是什么就做什么;是西瓜就做西瓜,是冬瓜就做冬瓜,是苹果就做苹果;冬瓜不必羡慕西瓜,西瓜也不必嫉妒苹果……”然后才能游刃有余,进一步积累、创造自己的价值,取得水到渠成的成功。
  事实上,任何成功的追求、进取都是在对现状恰如其分的适应和处置后取得的。一个不能适应现状,在现实面前手足无措的人是很难取得成功的。回到我们在《大学》读解里面举过的例子,一位教授,因偶尔发现卖大饼的人很赚钱,一个月一两千,比自己给大学生上课还赚得多了许多,于是便放下课不上而去卖大饼。
  这样做值得吗?不值得,这就叫做不守本分,不“知其所止”,这个例子也许举得有点极端,但它却是当代中国知识分子在面对是否“下海”问题时的一个真实报道。在我们的现实生活中,诸如此类的例子其实还可以举出许多,这就是人们常说的“这山望到那山高”,实质上是没有认识清楚自己,迷失了方向。
  与“这山望到那山高”密切相关的另一种迷失是不满足自己的职位,总是奢望向上爬,奢望高升,总是怨天尤人,而不像圣人所说的那样“反求诸其身”。用耕云先生在其禅学讲话中的说法:这种人没有认识到“一部机器,大的轮轴固然重要,但如果少了一个小螺丝钉,就会出故障,就会由松散而解体。所以每个部门,每个环节,每个人的工作都很重要,也唯有人人都能构成需要,才能形成整体的健全。”其实,耕云先生在这里所说的道理,也正是毛泽东号召我们“向雷锋同志学习”,“做一颗革命的螺丝钉”的情神。只可惜很多人没有真正认识到这种精神的深刻内涵,不能“素其位而行”,安分守己,提高自己的修养,“居易以俟命”,而是心存妄想,只知道羡慕,甚至嫉妒别人,不惜采取一切手段向上爬,“行险以侥幸”,结果是深深地陷入无休无止的勾心斗角和无尽的烦恼之中,迷失了本性。
  凡有奢望,必生烦恼。
  所以,不要去妄想什么,只问自己该做什么吧——这就是素位而行,安分守己。
  ——————
  行远自迩,登高自卑
  【原文】
  君子之道,辟(1)如行远,必自迩(2);辟如登高,必自卑(3)。《诗》曰:“妻子好合,如鼓瑟琴。兄弟既翕,和乐且耽。宜尔室家,乐尔妻帑(4)。”子曰:“父母其顺矣乎!”(第15章)
  【注释】
  (1)辟:同“譬”。(2)迩:近。(3)卑:低处。 (4)“妻子好合……”:引自《诗经·小雅·常棣》。妻子,妻与子。好合,和睦。鼓,弹奏。翕(xi),和顺,融洽。耽,《诗经》原作“湛”,安乐。帑(nu),通“孥”,子孙。
  【译文】
  君子实行中庸之道,就像走远路一样,必定要从近处开始;就像登高山一样,必定要从低处起步。《诗经》说:“妻子儿女感情和睦,就像弹琴鼓瑟一样。兄弟关系融洽,和顺又快乐。使你的家庭美满,使你的妻儿幸福。”孔子赞叹说:“这样,父母也就称心如意了啊!”
  【读解】
  老子说:“千里之行,始于足下。”
  荀子说:“不积跬步,无以至千里;不积小流,无以成江海。”
  都是“行远必自迩,登高必自卑”的意思。
  万事总宜循序渐进,不可操之过急。否则,“欲速则不达”,效果适得其反。
  一切从自己做起,从自己身边切近的地方做起。要在天下实行中庸之道,首先得和顺自己的家庭。说到底,还是《大学》修、齐、治、平循序渐进的道理。
  ——————
  无所不在的道
  【原文】
  子曰:“鬼神之为德,其盛矣乎!视之而弗见,听之而弗闻,体物而不可遗。使天下之人,齐明盛服(1),以承祭祀。洋洋乎!如在其上,如在其左右。《诗》曰:‘神之格思,不可度思,矧可射思。’(2)夫微之显,诚之不可掩(3)如此夫!”(第16章)
  【注释】
  (1)齐(zhai):通“斋”,斋戒。明,洁净。盛服:即盛装。(2)“神之格思……”:引自《诗经;大雅。抑》。格,来临。思,语气词。度,揣度。矧(Shen),况且。射(yi),厌,指厌怠不敬。(3)掩:掩盖。
  【译文】
  孔子说:“鬼神的德行可真是大得很啊!看它也看不见,听它也听不到,但它却体现在万物之中使人无法离开它。天下的人都斋戒净心,穿着庄重整齐的服装去祭祀它,无所不在啊!好像就在你的头上,好像就在你左右。《诗经》说:‘神的降临,不可揣测,怎么能够怠慢不敬呢?’从隐微到显著,真实的东西就是这样不可掩盖!”
  【读解】
  这一章借孔子对鬼神的论述说明道无所不在,道“不可须臾离。”
  另一方面,也是照应第12章说明“君子之道费而隐”,广大而又精微。看它也看不见,听它也听不到是“隐”,是精微;但它却体现在万物之中使人无法离开它,是“费”,是广大。
  作一个形象的比喻,道也好,鬼神也好,就像空气一样,看不见,听不到,但却无处不在,无时不在,任何人也离不开它。
  既然如此,当然应该是人人皈依,就像对鬼神一样的虔诚礼拜了。
  ——————
  天生我材必有用
  【原文】
  子曰:“舜其大孝也与?德为圣人,尊为天子,富有四海之内。宗庙飨之(1),子孙保之。故大德必得其位,必得其禄,必得其名,必得其寿。故天之生物,必因其材(2)而笃(3)焉。故栽者培之(4),倾者覆之(5)。《诗》曰:‘嘉乐君子,宪宪令德。宜民宜人,受禄于天。保佑命之,自天申之。’(6)故大德者必受命。”(第17章)
  【注释】
  (1)宗庙:古代天子、诸侯祭祀先王的地方。飨(xiang):一种祭祀形式,祭先王。之,代词,指舜。(2)材,资质,本性。(3)笃:厚,这里指厚待。 (4)培:培育。 (5)覆:倾覆,摧败。(6)“嘉乐君子……”:引自《诗经·大雅·假乐》。嘉乐,即《诗经》之“假乐”,“假”通”嘉”,意为美善。宪宪,《诗经》作“显显”,显明兴盛的样子。令,美好。申,重申。
  【译文】
  孔子说:“舜该是个最孝顺的人了吧?德行方面是圣人,地位上是尊贵的天子,财富拥有整个天下,宗庙里祭祀他,子子孙孙都保持他的功业。所以,有大德的人必定得到他应得的地位,必定得到他应得的财富,必定得到他应得的名声,必定得到他应得的长寿。所以,上天生养万物,必定根据它们的资质而厚待它们。能成材的得到培育,不能成材的就遭到淘汰。《诗经》说:‘高尚优雅的君子,有光明美好的德行,让人民安居乐业,享受上天赐予的福禄。上天保佑他,任用他,给他以重大的使命。’所以,有大德的人必定会承受天命。”
  【读解】
  天生我材必有用。
  只要你修身而提高德行,“居易以俟命”,总有一天会受命于天,担当起治国平天下的重任。到那时,名誉、地位、财富都已不在话下,应有的都会有。就像前苏联故事片《列宁在十月》里的主人公瓦西里说的:“面包会有的,一切都会有的。”
  由此看来,儒学并不是绝对排斥功利,而只是反对那种急功近利,不安分守己的做法。换言之,儒学所强调的,是从内功练起,修养自身,提高自身的德行和才能,然后顺其自然,水到渠成地获得自己应该获得的一切。
  这其实也正是中庸之道的精神——凡事不走偏锋,不走极端,而是循序渐进,一步一个脚印走下去。
  ——————
  治国平天下的法则
  【原文】
  哀公(1)问政。子曰:“文武之政,布在方策(2)。其人存(3),则其政举;其人亡,则其政息(4)。人道敏(5)政,地道敏树。夫政也者,蒲卢也(6)。故为政在人,取人以身,修身以道,修道以仁。仁者,人也,亲亲为大。义者,宜也,尊贤为大。亲亲之杀(7),尊贤之等, 礼所生也。故君子不可以不修身。思修身,不可以不事亲;思事亲,不可以不知人;思知人,不可以不知天。”
  天下之达道五,所以行之者三。曰:君臣也,父子也,夫妇也,昆弟也(8),朋友之交也;五者,天下之达道也。知、仁、勇三者,天下之达德也。所以行之者一也:或生而知之,或学而知之,或困而知之;及其知之一也。或安而行之,或利而行之,或勉强而行之;及其成功一也。子曰:“好学近乎知,力行近乎仁,知耻近乎勇。知斯三者,则知所以修身;知所以修身,则知所以治人;知所以治人,则知所以治天下国家矣。”
  凡为天下国家有九经(9)。曰:修身也,尊贤也,亲亲也,敬大臣也,体(10)群臣也,子庶民也(11),来百工也(12),柔远人也(13),怀诸侯也(14)。修身则道立;尊贤则不惑;亲亲则诸父昆弟不怨;敬大臣则不眩;体群臣则士之报礼重;子庶民则百姓劝(15);来百工则财用足;柔远人则四方归之;怀诸侯则天下畏之。齐明盛服,非礼不动,所以修身也;去谗(16)远色,贱货而贵德,所以劝贤也;尊其位,重其禄,同其好恶,所以劝亲亲也;官盛任使,所以劝大臣也;忠信重禄,所以劝士也;时使薄敛(18),所以劝百姓也;日省月试(19),既禀称事(20),所以劝百工也;送往迎来,嘉善而矜(21)不能,所以柔远人也;继绝世(22),举废国(23),治乱持(24)危,朝聘(25)以时,厚往而薄来,所以怀诸侯也。凡为天下国家有九经,所以行之者一也。
  凡事豫(26)则立,不豫则废。言前定,则不跲(27);事前定,则不困;行前定,则不疚;道前定,则不穷。
  在下位不获乎上,民不可得而治矣。获乎上有道:不信乎朋友,不获乎上矣;信乎朋友有道:不顺乎亲,不信乎朋友矣;顺乎亲有道:反诸身不诚,不顺乎亲矣;诚身有道:不明乎善,不诚乎身矣(28)。
  诚者,天之道也;诚之者,人之道也。诚者,不勉而中,不思而得,从容中道,圣人也。诚之者,择善而固执之者也:博学之,审问之,慎思之,明辨之,笃行之。有弗学,学之弗能弗措也(29);有弗问,问之弗知弗措也;有弗思,思之弗得弗措也;有弗辨,辨之弗明弗措也;有弗行,行之弗笃弗措也。人一能之,己百之;人十能之,己千之。果能此道矣,虽愚必明,虽柔必强。(第20章)
  【注释】
  (1)哀公:春秋时鲁国国君。姓姬,名蒋,“哀”是谥号(2)布:陈列。方:书写用的木板。策,书写用的竹简。(3)其人:指文王、武王。(4)息:灭,消失。(5)敏:勉力,用力,致力。(6)蒲卢:即芦苇。芦苇性柔而具有可塑性。(7)杀(shai):减少,降等。(8)昆弟:兄和弟,也包括堂兄堂弟。(9)九经:九条准则。经,准则。(10)体:体察,体恤。(11)子庶民:以庶民为子。子,动词。庶民,平民。(12)来:招来。百工:各种工匠。(13)柔远人:安抚边远地方来的人。(14)怀,安抚。(15)劝:勉力,努力。(16)谗:说别人的坏话,这里指说坏话的人。(17)盛,多。任使:足够使用。(18)时使:指使用百姓劳役有一定时间,不误农时。薄敛:赋税轻。(19)省:视票。试,考核。(20)既(xi):即“饩”,指赠送别人粮食或饲料。禀:给予粮食。称:符合。(21)矜:怜悯,同情。(22)继绝世:延续已经中断的家庭世系。(23)举废国:复兴已经没落的邦国。(24)持:扶持。 (25)朝聘:诸侯定期朝见天子。每年一见叫小聘,三年一见叫大聘,五年一见叫朝聘。(26)豫:同“预”。(27)跲(jia):说话不通畅。(28)这一段与《孟子·离娄上》中一段基本相同。到底是《中庸》引《孟子》还是《孟子》引《中庸》,不好断定。张岱年先生《中国哲学史料学》认为是《孟子》引《中庸》。(29)弗措:不罢休。弗,不。措,停止,罢休。
  【译文】
  鲁哀公询问政事。孔子说:“周文王、周武王的政事都记载在典籍上。他们在世,这些政事就实施;他们去世,这些政事也就废弛了。治理人的途径是勤于政事;治理地的途径是多种树木。说起来,政事就像芦苇一样,完全取决于用什么人。要得到适用的人在于修养自己,修养自己在于遵循大道,遵循大道要从仁义做起。仁就是爱人,亲爱亲族是最大的仁。义就是事事做得适宜,尊重贤人是最大的义。至于说亲爱亲族要分亲疏,尊重贤人要有等级,这都是礼的要求。所以,君子不能不修养自己。要修养自己,不能不侍奉亲族;要侍奉亲族,不能不了解他人;要了解他人,不能不知道天理。”
  天下人共有的伦常关系有五项,用来处理这五项伦常关系的德行有三种。君臣、父子、夫妇、兄弟、朋友之间的交往,这五项是天下人共有的伦常关系;智、仁、勇,这三种是用来处理这五项伦常关系的德行。至于这三种德行的实施,道理都是一样的。比如说,有的人生来就知道它们,有的人通过学习才知道它们,有的人要遇到困难后才知道它们,但只要他们最终都知道了,也就是一样的了。又比如说,有的人自觉自愿地去实行它们,有的人为了某种好处才去实行它们,有的人勉勉强强地去实行,但只要他们最终都实行起来了,也就是一样的了。孔子说:“喜欢学习就 接近了智,努力实行就接近了仁,知道羞耻就接近了勇。知道这三点,就知道怎样修养自己,知道怎样修养自己,就知道怎样管理他人,知道怎样管理他人,就知道怎样治理天下和国家了。”
  治理天下和国家有九条原则。那就是:修养自身,尊崇贤人,亲爱亲族,敬重大臣,体恤群臣,爱民如子,招纳工匠,优待远客,安抚诸侯。修养自身就能确立正道;尊崇贤人就不会思想困惑;亲爱亲族就不会惹得叔伯兄弟怨恨;敬重大臣就不会遇事无措;体恤群臣,士人们就会竭力报效;爱民如子,老百姓就会忠心耿耿;招纳工匠,财物就会充足;优待远客,四方百姓就会归顺;安抚诸侯,天下的人都会敬畏了。像斋戒那样净心虔诚,穿着庄重整齐的服装,不符合礼仪的事坚决不做,这是为了修养自身;驱除小人,疏远女色,看轻财物而重视德行,这是为了尊崇贤人;提高亲族的地位,给他们以丰厚的俸禄,与他们爱憎相一致,这是为了亲爱亲族;让众多的官员供他们使用,这是为了敬重大臣;真心诚意地任用他们,并给他们以较多的俸禄,这是为了体恤群臣;使用民役不误农时,少收赋税,这是为了爱民如子;经常视察考核,按劳付酬,这是为了招纳工匠;来时欢迎,去时欢送,嘉奖有才能的人,救济有困难的人,这是为了优待远客;延续绝后的家族,复兴灭亡的国家,治理祸乱,扶持危难,按时接受朝见,赠送丰厚,纳贡菲薄,这是为了安抚诸侯。总而言之,治理天下和国家有九条原则,但实行这些原则的道理都是一样的。
  任何事情,事先有预备就会成功,没有预备就会失败。说话先有预备,就不会中断;做事先有预备,就不会受挫;行为先有预备,就不会后悔;道路预先选定,就不会走投无路。
  在下位的人,如果得不到在上位的人信任,就不可能治理好平民百姓。得到在上位的人信任有办法:得不到朋友的信任就得不到在上位的人信任;得到朋友的信任有办法:不孝顺父母就得不到朋友的信任;孝顺父母有办法:自己不真诚就不能孝顺父母;使自己真诚有办法:不明白什么是善就不能够使自己真诚。
  真诚是上天的原则,追求真诚是做人的原则。天生真诚的人,不用勉强就能做到,不用思考就能拥有,自然而然地符合上天的原则,这样的人是圣人。努力做到真诚,就要选择美好的目标执著追求:广泛学习,详细询问,周密思考,明确辨别,切实实行。要么不学,学了没有学会绝不罢休;要么不问,问了没有懂得绝不罢休;要么不想,想了没有想通绝不罢休;要么不分辨,分辨了没有明确绝不罢休;要么不实行,实行了没有成效绝不罢休。别人用一分努力就能做到的,我用一百分的努力去做;别人用十分的努力做到的,我用一千分的努力去做。如果真能够做到这样,虽然愚笨也一定可以聪明起来,虽然柔弱也一定可以刚强起来。
  ——————
  诚则明,明则诚
  【原文】
  自诚明(1),谓之性;自明诚,谓之教。诚则(2)明矣,明则诚矣。
  【注释】
  (1)自:从,由。明:明白。(2)则:即,就。
  【译文】
  由真诚而自然明白道理,这叫做天性;由明白道理后做到真诚,这叫做人为的教育。真诚也就会自然明白道理,明白道理后 也就会做到真诚。
  【读解】
  无论是天性还是后天人为的教育,只要做到了真诚,二者也 就合一了。
  革命不分先后,明道向善不问先天后天。从另一个角度看,这 里也表达了天人合一的思想。
  ——————
  至诚可参天地
  【原文】
  唯天下至诚,为能尽其性(1);能尽其性,则能尽人之性;能尽 人之性,则能尽物之性;能尽物之性,则可以赞大地之化育(2);可 以赞天地之化育,则可以与天地参矣(3)。
  【注释】
  (1)尽其性:充分发挥本性。 (2)赞:赞助。化育:化生和养育。 (3)参天地:与天地并列力三。参,并列。
  【译文】
  只有天下极端真诚的人能充分发挥他的本性;能充分发挥他的本性,就能充分发挥众人的本性;能充分发挥众人的本性,就能充分发挥万物的本性;能充分发挥万物的本性,就可以帮助天地培育生命;能帮助大地培育生命,就可以与天地并列为三了。
  【读解】
  真诚者只有首先对自己真诚,然后才能对全人类真诚。真诚可使自己立于与天地并列为三的不朽地位。它的功用居然有如此之大,那我们又何乐而不为呢。
  ——————
  从一个方面下功夫
  【原文】
  其次致曲(1),曲能有诚。诚则形(2),形则著(3),著则明(4),明则动,动则变,变则化(5)。唯天下至诚为能化。
  【注释】
  (1)其次:次一等的人,即次于”自诚明”的圣人的人,也就是贤人。致曲:致力于某一方面。曲,偏。(2)形:显露,表现。(3)著:显著。(4)明:光明。(5)化:即化育。
  【译文】
  比圣人次一等的贤人致力于某一方面,致力于某一方面也能做到真诚。做到了真诚就会表现出来,表现出来就会逐渐显著,显著了就会发扬光大,发扬光大就会感动他人,感动他人就会引起转变,引起转变就能化育万物。只有天下最真诚的人能化育万物。
  【读解】
  这一章相对于上一章而言。上一章说的是天生至诚的圣人,这一章说的是比圣人次一等的贤人。换句话说,圣人是“自诚明”,天生就真诚的人,贤人则是“自明诚”,通过后天教育明白道理后才真诚的人。贤人虽然致力于某一方面,但通过教育和修养,通过:“形、著、明、动、变、化”的阶段,同样可以一步一步地达到圣人的境界:化育万物,与天地并列为三。
  说到底,只要你努力奋斗,曲径通幽,条条道路通罗马,最终都可以大功告成,修成正果。
  在劝人真诚的问题上,《中庸》真可以说是苦口婆心,不遗余力的了。
  ——————
  国家兴亡,必有征兆
  【原文】
  至诚之道,可以前知(1)。国家将兴,必有帧祥(2);国家将亡,必有妖孽(3)。见乎起蓍龟(4),动乎四体(5)。祸福将至:善,必先知之;不善,必先知之。故至诚如神(6)。
  【注释】
  (1)前知:预知未来。 (2)祯祥:吉祥的预兆。③妖孽:物类反常的现象。草木之类称妖,虫豸之类称孽。(4)见(xian):呈现。蓍(shi)龟:蓍草和龟甲,用来占卜。(5)四体,手足,指动作仪态。(6)如神:如神一样微妙,不可言说。
  【译文】
  极端真诚可以预知未来的事。国家将要兴旺,必然有吉祥的征兆;国家将要衰亡,必然有不祥的反常现象。呈现在著草龟甲上,表现在手脚动作上。祸福将要来临时,是福可以预先知道,是祸也可以预先知道。所以极端真诚就像神灵一样微妙。
  【读解】
  心诚则灵。
  灵到能预知未来吉凶祸福的程度,可就不是一般人能达到的境界了。
  至于“国家将兴,必有祯祥;国家将亡,必有妖孽”的现象,历代的正史野史记载可以说是比比皆是,不胜枚举。你说它是迷信也罢,说它是无稽之谈也罢,反正不仅一般人津津乐道,就是正统儒学的经典,不也同样认为这种现象“几乎蓍龟,动乎四体”吗?
  其实,撩开神秘的迷雾,这里的意思不外乎是说,由于心灵达到了至诚的境界,不被私心杂念所述惑,就能洞悉世间万物的根本规律,因此而能够预知未来的吉凶祸福、兴亡盛衰。
  一言归总,还是说到真诚的出神入化功用。
  ——————
  不能只做到自我完善
  【原文】
  诚者,自成也(1);而道,自道也(2)。诚者,物之终始,不诚无物。是故君于诚之为贵。诚者,非自成己而已也(3),所以成物也。 成己,仁也;成物,知也。性之德也,合外内之道也,故时措(4)之宜也。
  【注释】
  (1)自成:自我成全,也就是自我完善的意思。(2)自道(dao):自我。
  【译文】
  真诚是自我的完善,道是自我的引导。真诚是事物的发端和归宿,没有真诚就没有了事物。因此君子以真诚为贵。不过,真诚并不是自我完善就够了,而是还要完善事物。自我完善是仁,完善事物是智。仁和智是出于本性的德行,是融合自身与外物的准则,所以任何时候施行都是适宜的。
  【读解】
  好学近乎智,力行近乎仁。
  这里把智、仁与真诚的修养结合起来了。因为,真诚从大的方面来说,是事物的根本规律,是事物的发端和归宿;真诚从细的方面来说,是自我的内心完善。所以,要修养真诚就必须做到物我同一,天人合一。而要做到这一点既要靠学习来理解,又要靠实践来实现。
  这里最值得注意的是真诚的外化问题,也就是说,真诚不仅仅像我们一般所理解的是一种主观内在的品质,自我的道德完善,而是还要外化到他人和一切事物当中去。作一个形象的比喻,倒正好用得上我们以前常爱引用的那句话:“只有解放全人类,才能最终彻底解放无产阶级自己。”
  自己解放了,全人类都解放了,世界也就大同了。自己真诚了,他人真诚了,真诚无处不在,无时不有,世界也就美好无欺了。
  说到底,还是真诚的奇妙神功。
  ——————
  真诚是没有止息的
  【原文】
  故至诚无息(1),不息则久,久则征(2),征则悠远,悠远则博厚,博厚则高明。博厚,所以载物也;高明,所以覆物也;悠久,所以成物也。博厚配地,高明配天,悠久无疆(3)。如此者,不见而章(4) 不动而变,无为而成。
  天地之道,可一言而尽也(5):其为物不贰(6),则其生物不测。天地之道,博也,厚也,高也,明也,悠也,久也。今夫天,斯昭昭之多(7),及其无穷也,日月星辰系焉,万物覆焉。今夫地,一撮土之多,及其广厚,载华岳(8)而不重,振(9)河海而不泄,万物载焉。
  今夫山,一卷石(10)之多,及其广大,草木生之,禽兽居之,宝藏兴焉。今夫水,一勺之多,及其不测,鼋、鼍、蛟、龙、鱼、鳖生焉(11),货财殖焉。
  《诗》云:“维天之命,於穆不已(12)!”盖曰天之所以为天也。“於乎不显,文王之德之纯!”盖曰文王之所以为文也,纯亦不已。
  【注释】
  (1)息:止息,休止。(2)征:征验,显露于外。(3)无疆:无穷无尽。(4)见(xian):显现。章:即彰,彰明。(5)一言:即一字,指“诚”字。(6)不贰:诚是忠诚如一,所以不贰。(7)斯:此。昭昭:光明。 (8)华岳:即华山。(9)振:通“整”,整治,引申为约束。(10)一卷(quan)石:一拳头大的石头。卷:通“拳”。(11)不测:不可测度,指浩瀚无涯。 (12)《诗》云:以下两句诗均引自《诗经·周颂·维天之命》。维,语气词。放(wu)语气词。穆,深远。不已,无穷。不显,”不”通“丕”,即大;显,即明显。
  【译文】
  所以,极端真诚是没有止息的。没有止息就会保持长久,保持长久就会显露出来,显露出来就会悠远,悠远就会广博深厚,广博深厚就会高大光明。广博深厚的作用是承载万物;高大光明的作用是覆盖万物;悠远长久的作用是生成万物。广博深厚可以与地相比,高大光明可以与天相比,悠远长久则是永无止境。达到 这样的境界,不显示也会明显,不活动也会改变,无所作为也会有所成就。
  天地的法则,简直可以用一个“诚”字来囊括:诚本身专一不二,所以生育万物多得不可估量。大地的法则,就是广博、深厚、高大、光明、悠远、长久。今天我们所说的大,原本不过是由一点一点的光明聚积起来的,可等到它无边无际时,日月星辰都靠它维系,世界万物都靠它覆盖。今天我们所说的地,原本不过是由一撮土一撮上聚积起来的,可等到它广博深厚时,承载像华山那样的崇山峻岭也不觉得重,容纳那众多的江河湖海也不会泄漏,世问万物都由它承载了。今大我们所说的山,原本不过是由拳头大的石块聚积起来的,可等到它高大无比时,草木在上面生长,禽兽在上面居住,宝藏在上面储藏。今天我们所说的水,原本不过是一勺一勺聚积起来的,可等到它浩瀚无涯时,蛟龙鱼鳖等都在里面生长,珍珠珊瑚等值价的东西都在里面繁殖。
  《诗经》说,“天命多么深远啊,永远无穷无尽!”这大概就是说的天之所以为天的原因吧。“多么显赫光明啊,文王的品德纯真无二!”这大概就是说的文王之所以被称为“文”王的原因吧。纯真也是没有止息的。
  【读解】
  “生命不息,冲锋不止。”这是军人的风范。
  生命不息,真诚不已。这是懦学修身的要求。不仅不已,而且还要显露发扬出来,达到悠远长久、广博深厚、高大光明,从而承载万物,覆盖万物,生成万物。而这正是天地的法则,说穿了,还是由真诚的追求而达到与天地并列为三的终极目的。这使人想到诗人屈原在《桔颂》里的咏叹:“秉德无私,参天地兮!”实质上足一种巨人哲学,一种英雄主义追求。
  这种哲学,这种追求在过去的时代里一直是天经地义,不容置疑的止统。直到现代主义兴起,市场经济发达,一种”非英雄化”、“非英雄主义”的思潮出现,这种哲学,这种追求才受到挑战。
  “参天地”的巨人是做不了了,不朽的英雄也难当了,但是否真诚的追求也不要了呢?   这倒是摆衣我们这个过渡的时代的一个严峻问题了。
  有人说:“无奸不商。”这当然是与“诚”相悖逆的选择。
  而你又作何回答,作何选择呢?
  ——————
  明哲保身,进退自如
  【原文】
  大哉圣人之道!洋洋乎(1)!发育万物,峻极于天。优优(2)大哉!礼仪(3)三百,威仪(4)三千。待其人(5)而后行。故曰苟不至德(6),至道不凝焉(7)。故君子尊德性而道问学(8),致广大而尽精微,极高明而道中庸。温故而知新,敦厚以崇礼。是故居上不骄,为下不倍(9)。国有道其言足以兴,国无道其默足以容(10)。《诗》曰:“既明且哲,以保其身。”(11)其此之谓与?
  【注释】
  (1)洋洋:盛大,浩翰无边。(2)优忧:充足有余,(3)礼仪:古代礼节的主要规则,又称经礼。(4)威仪:古代典礼中的动作规范及待人接物的礼节,又称曲礼。(5)其人:指圣人。(6)苟不至德:如果没有极高的德行。苟,如果。(7)凝聚,引申为成功。(8)问学:询问,学习。(9)倍:通”背”,背弃,背叛。(10)容:容身,指保全自己。(11)“既明且哲,以保其身”:引自《诗经·人雅.烝民》,哲,智慧,指通达事理。
  【译文】
  伟大啊,圣人的道!浩瀚无边,生养万物,与天一样崇高;充足有余,礼仪三百条,威仪三千条。这些都有侍于圣人来实行。所以说,如果没有极高的德行,就不能成功极高的道。因此,君子尊崇道德修养而追求知识学问;达到广博境界而又钻研精微之处;洞察一切而又奉行中庸之道;温习已有的知识从而获得新知识;诚心诚意地崇奉礼节。所以身居高位不骄傲,身居低位不自弃,国家政治清明时,他的言论足以振兴国家;国家政治黑暗时,他的沉默足以保全自己。《诗经》说:“既明智又通达事理,可以保全自身。”大概就是说的这个意思吧?
  【读解】
  这一章在继续盛赞圣人之道的基础上,提出了两个层次的重要问题。
  首先是修养德行以适应圣人之道的问题。因为没有极高的德行,就不能成功极高的道,所以君于应该“尊崇道德修养而追求知识学问;达到广博境界而又钻研精微之处;洞察一切而又奉行中庸之道;温习已有的知识从而获得新知识;诚心诚意地崇奉礼节。”朱熹认为,这五句“大小相资,首尾相应”,最得圣贤精神,要求学者尽心尽意研习。其实,五句所论不外乎尊崇道德修养和追求知识学问这两个方面,用我们今天的话来说,也就是“德育”和“智育”的问题,“又红又专”的问题。我们今天实施的教育方针,也不外乎是在这两方面之外加上“体育”一项。其性质内涵自然有本质的不同,但其入手的途径却是相通的。
  有了德、智两方面的修养,是不是就可以通行无阻地实现圣人之道了呢?问题当然不是如此简单。修养是主观方面的准备,而实现圣人之道还有赖于客观现实方面的条件。客观现实条件具备当然就可以大行其道,客观现实条件不具备又应该怎样做呢?这就需要“居上下骄,为下不倍”,身居高位不骄做,“富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈”(《孟子·滕文公下》的大丈夫气概。至于“国有道其言足以兴,国无道其默足以容”的态度,则是与孟子所说的“穷则独善其身,达则兼善天下”(《孟子·尽心上》)一脉相承的,都是对于现实政治的一种处置,一种适应。反过来说,也就是一种安身立命,进退仕途的艺术,所以,归根结底,还是:“既明且哲,以保其身。”当然,说者容易做者难,看似平淡却艰辛,要做到明哲保身,的确是非常不容易的。所以唐代大诗人白居易要协“明哲保身,进退始终,不失其道,自非贤达,孰能兼之?”(《杜佑致仕制》)宋代陆游更是直截了当地感叹道:“信乎明哲保身之难也!”(《跋范文正公书》)
  明哲保身,方能进退自如,使自己立于不败之地。
  这当然与那种“事不关己,高高桂起”的“自由主义表现”是风马牛不相及的,我们切莫把它混为一谈。
  ——————
  不要自以为是,独断专行
  【原文】
  子曰:“愚而好自用(1),贱而好自专(2),生乎今之世反(3)古之道。如此者,灾及其身者也。”
  非天子,不议礼,不制度(4),不考文(5)。今天下车同轨,书同文,行同伦(6)。虽有其位,苟无其德,不敢做礼乐焉,虽有其德, 苟无其位,亦不敢作礼乐焉。
  子日:“吾说夏礼(7),杞不足征也(8)吾学殷吸礼(9),有宋存焉(10);吾学周礼(11),今用之,吾从周(12)。”
  【注释】
  (1)自用:凭自己主观意图行事,自以为是,不听别人意见,即刚愎自用的意思。(2)自专:独断专行。(3)反:通”返”,回复的意思。(4)制度:在这里作动词用,指制订法度。(5)考文,考汀文字规范。(6)车同轨,书同文,行同伦:车同轨指车子的轮距一致;书同文指字体统一;行同指伦理道德相同。这种情况是秦始皇统一六国后才出现的,据此知道《中庸》有些章节的确是秦代儒者所增加的。(7)夏礼,夏朝的礼制。夏朝,约公元前2205年——前1776年,传说是禹建立的,(8)杞:国名,传说是周武王封夏禹的后代于此,故城在个河南杞县。征,验证, (9)殷礼:殷朝的礼制。商朝从盘庚迁都至殷(今河南安阳)到纣亡国,一般称为殷代,整个商朝也称商殷或殷商。(10)宋:国名,商汤的后代居此,故城在今河南商丘县南。(11)周礼:周朝的礼制。(12)以上这段孔子的话也散见于《论语·八佾恰》、《论语·为政》。
  【译文】
  孔子说:“愚昧却喜欢自以为是,卑贱却喜欢独断专行。生于现在的时代却一心想回复到古时去。这样做,灾祸一定会降临到自己的身上。”
  不是天子就不要议订礼仪,不要制订法度,不要考订文字规范。现在天下车子的轮距一致,文字的字体统一,伦理道德相同。虽有相应的地位,如果没有相应的德行,是不敢制作礼乐制度的;虽然有相应的德行,如果没有相应的地位,也是不敢制作礼乐制度的。
  孔子说:“我谈论夏朝的礼制,夏的后裔杞国已不足以验证它;我学习殷朝的礼制,殷的后裔宋国还残存着它;我学习周朝的礼制,现在还实行着它,所以我遵从周礼。”
  【读解】
  本章承接上一章发挥“为下不倍(背)”的意思。反对自以为是,独断专行,也有“不在其位,下谋其政”(《论语·泰伯》)的意思。归根结底,其实还是素位而行,安分守己的问题。
  此外有一点值得注意的是,这里所引孔子的话否定了那种“生乎今之世反古之道”的人,这与一般认为孔子主张“克己复礼”,具有复古主义倾向的看法似乎有些冲突。其实,孔子所要复的礼,恰好是那种“今用之”的“周礼”,而不是“古之道”的“夏礼”和“殷札”。因为夏礼已不可考,而殷礼虽然还在它的后裔宋国那里残存着,但毕竟也已是过去的了。所以,从本章所引孔子的两段话来看,的确不能随随便便地给他扣上”拉历史倒车”的复古主义者帽子。
  ——————
  无征不信,不信民弗从
  【原文】
  天下有三重蔫(1)其寡过矣乎!上焉者(2),虽善无征,无征不信,不信民弗从。下蔫者(3),虽善不尊,不尊不信,不信民弗从。
  故君子之道,本诸身,征诸庶民,考诸三王而不缪(4),建诸天地而不悖(5),质诸鬼神而无疑(6),百世以俟圣人而不丁惑(7)质诸鬼神而无疑,知天也;百世以俟圣人而下惑,知人也。是故君子动而世为天下道(8),行而世为天下法,言而世为天下则。远之则有望(9),近之则不厌。
  《诗》日:“在彼无恶,在此无射。庶几夙夜,以永终誉(10)。”君子未有不如此而蚤(11)有誉于天下者也。
  【注释】
  (1)王天下有三重蔫:王(Wang),作动词用,王天下即在天下做王的意思,也就是统治天下。三重,指上一章所说的三件重要的事:仪礼、制度、考文。(2)上焉者:指在上位的人,即君王。(3)下焉者:指在下位的人,即臣下。(4)三王:指夏、商、周三代君王。(5)建,立。(6)质:质询,询问,(7)俟:待。(8)道:通“导”,先导。(9)望:威望。(10)”《诗》曰”句:引自《诗经·周颂·振鹭》。。射(yi),《诗经》本作“斁”,厌弃的意思。庶几(ji),几乎。夙(sU)夜:早晚,夙,早。(11)蚤:即“早”。
  【译文】
  治理天下能够做好议订礼仪,制订法度,考订文字规范这三件重要的事,也就没有什么大的过失了吧!在上位的人,虽然行为很好,但如果没有验证的活,就不能使人信服,不能使人信服,老百姓就不会听从。在下位的人,虽然行为很好,但由于没有尊贵的地位,也不能使人信服,不能使人信服,老百姓就不会听从。
  所以君子治理天下应该以自身的德行为根本,并从老百姓那里得到验证。考查夏、商、周三代先王的做法而没有背谬,立于天地之间而没有悖乱,质询于鬼神而没有疑问,百世以后侍到圣人出现也没有什么不理解的地方。质询于鬼神而没有疑问,这是知道天理;百世以后侍到圣人出现也没有什么不理解的地方,这是知道人意。所以君于的举止能世世代代成为天下的先导,行为能世世代代成为天下的法度,语言能世世代代成为天下准则。在远处有威望,在近处也不使人厌恶。
  《诗经》说,“在那里没有人憎恶,在这里没有人厌烦,日日夜夜操劳啊,为了保持美好的名望。”君于没有不这样做而能够早早在天下获得名望的。
  【读解】
  这一章承接“居上下骄”的意思而发挥。要求当政者身体力行,不仅要有好的德行修养,而且要有行为实践的验证,才能取信于民,使人听从,这就好比我们今天要求政府为老百姓办实事一样。不管你把自己的德行吹上天,也不管你的规划有多宏伟,做一两件实事,拿一点政绩出来给我们看看:你修的路在哪里?你建的房在哪里?你办的学校在哪里?市场是否繁荣?物价是否上涨?如此等等,不一而足。只有这样,才能做到“远之则有望,近之则不厌”,成为老百姓的公仆。
  提高到理论上来说,这一章所强调的,依然是重实践的观点。“本诸身,征诸庶民”,以自身的德行为根本,并从老百姓那里得到验证。这是主客观的结合,理论与实践的统一,用客观实践来检验自己的主观意图、见解、理论是否符合老百姓的利益与愿望。从而使自己的举止能世世代代成为天下的先导,行为能世世代代成为天下的法度,语言能世世代代成为天下的准则。
  这里当然还是蕴含着儒者对伟大与崇高的向往和对不朽的渴望,也就是中国古代知识分子崇奉的立德、立功、立言三不朽追求。
  ——————
  圣人的伟大之处
  【原文】
  仲尼祖述(1)尧舜,宪章(2)文武,上律天时,下袭(3)水土。辟如大地之无不持载,无不覆帱(4),辟如四时之错行(5),如日月之代明(6)”。万物并育而不相害,道并行而不相悖。小德川流,大德敦化(7)。此天地之所以为大也!
  【注释】
  (1)祖述:效法、遵循前人的行为或学说。(2)宪章:遵从,效法。(3)袭:与上文的“律”近义,都是符合的意思。(4)覆帱(dao):覆盖。(5)错行:交错运行,流动不息。(6)代明:交替光明,循环变化。(7)敦化:使万物敦厚纯朴。
  【译文】
  孔子继承尧舜,以文王、武王为典范,上遵循天时,下符合地理。就像天地那样没有什么不承载,没有什么不覆盖。又好像四季的交错运行,日用的交替光明。刀物一起生长而互不妨害,道路同时并行而互不冲突。小的德行如河水一样长流不息,大的德行使万物敦厚纯朴。这就是天地的伟大之处啊!
  【读解】
  天地的伟大之处,就是孔子的伟大之处。因为孔于与天地比肩,与日月同辉。
  这一章以孔子为典范,盛赞他的德行,为学者塑造了一个伟大、崇高而不朽的形象,使他流芳百世而成为后代人永远学习与敬仰的楷摸。
  这就是大成至圣先师的孔圣人。
  从《中庸》本身的结构来看,这也是从理论到实际了,从中庸之道方方面面的阐述落实到一个具体的榜样上来。
  而榜样的力量是无穷的。
  ——————
  弘扬德行的最高境界
  【原文】
  《诗》曰,“衣锦尚絅(1)。”恶其文之著也。故君子之道,暗然(2)而日章;小人之道,的然(3)而日亡。君子之道,淡而不厌,简而文,温而理,知远之近,知风之自,知微之显,可与人德矣。
  《诗》云:“潜虽伏矣,亦孔之昭(4)!”故君子内省不疚,无恶于志。君于之所不可及者,其唯人之所不见乎?
  《诗》云,“相在尔室,尚不愧于屋漏(5)。”故君子不动而敬,不言而信。
  《诗》曰:“奏假无言,时靡有争(6)。”是故君子不赏而民劝,不怒而民威于鈇钺(7)。
  《诗》曰:“不显惟德,百辟其刑之(8)。”是故君于笃恭而天下
  《诗》云:“予怀明德,不大声以色(9)”子曰,“声色之于以化民,末也。”
  《诗》曰:“德輶如毛(10)。”毛犹有(11),“上天之载,无声无臭(12)。”至矣!
  【注释】
  (1)衣锦尚絅:引自《诗经·卫风,硕人》。衣(yi),此处作动词用,指穿衣。锦,指色彩鲜艳的衣服。尚,加。絅(jiong),同“裟”,用麻布制的罩衣。(2)暗然:隐藏不露。(3)的(di)然,鲜明,显著。(4)潜虽伏矣,亦孔之昭:引自《诗经·小雅·正月》。孔,很。昭,《诗经》原作“沼”·昭、搁同,意为明显。(5)相在尔室,尚不愧于屋漏:引自《诗经·大雅·抑》。相,注视。屋漏,指古代室内西北角设小帐的地方。相传是神明所在,所以这里是以屋漏代指神明。不愧屋漏喻指心地光明,不在暗中做坏事,起坏念头。(6)奏假无言,时靡有争:引自。诗经·商颂·烈祖》。奏,进奉,假(ge),通“格”,即感通,指诚心能与鬼神或外物互相感应。靡(mi),没有,(7)鈇(fu)钺(yue):古代执行军法时用的斧子。(8)不显惟德,百辟其刑之:引自《诗经·周颂,烈文》。不显,“不”通”丕”,不显即大显。辟(bi),诸侯。刑,通“型”,示范,效法。(9)予怀明德,不大声以色:引自《诗经·大雅·皇矣》。声,号令。色,容貌。以,与。(10)德輶如毛:引自《诗经·大雅·杰民)。輶(you),古代一种轻便车,引申为轻,(11)伦:比。(12)上天之载,无声无臭:引自《诗经.大雅·文王》。臭(Xiou),气味。
  【译文】
  《诗经》说:“身穿锦绣衣服,外面罩件套衫。”这是为了避免锦衣花纹大显露,所以,君子的道深藏不露而日益彰明;个人的道显露无遗而日益消亡。君子的道,平淡而有意味,简略而有文采,温和而有条理,由近知远,由风知源,由微知显,这样,就可以进入道德的境界了。
  《诗经》说:“潜藏虽然很深,但也会很明显的。”所以君子自我反省没有愧疚,没有恶念头存于心志之中。君于的德行之所以高于一般人,大概就是在这些不被人看见的地方吧?
  《诗经》说:“看你独自在室内的时候,是不是能无愧于神明。”所以,君子就是在没做什么事的时候也是恭敬的,就是在没有对人说什么的时候也是信实的。
  《诗经》说:“进奉诚心,感通神灵。肃穆无言,没有争执。”所以,君子不用赏赐,老百姓也会互相对勉;不用发怒,老百姓也会很畏惧。
  《诗经》说,“弘扬那德行啊,诸侯们都来效法。”所以,君子笃实恭敬就能使天下太平。
  《诗经》说:“我怀有光明的品德,不用厉声厉色。”孔子说:“用厉声厉色去教育老百姓,是最拙劣的行为。”
  《诗经》说:“德行轻如毫毛。”轻如毫毛还是有物可比拟。“上天所承载的,既没有声音也没有气味。”这才是最高的境界啊!
  【读解】
  这种最高的境界就是空气的境界。
  空气无声无色无味,谁也看不见听下到嗅不出,可是谁也离它不开。德行能到这种境界,当然是种仙至人了。可谁又能达到这种境界呢?就是孔圣人也未必就能达到吧。
  所以还有次一等的境界,这就是“轻如毫毛”的境界。借用诗圣杜甫的诗,是“好雨知时节,当春乃发生。随风潜入夜,润物细无声”(《春夜喜雨》的境界。这种境界,和风细雨,沁人心脾而入人肺腑,使人在潜移默化中受到感化,这大概就是圣人的境界吧。
  至于那种声色俱厉的疾风暴雨式的做法,那种强制性的劳动改造的方法,正如孔子所说:“末也!”已谈不上什么境界,不过是一种不得已而为之的手段罢了。
  本章是《中庸》全篇的结尾,重在强调德行的实施。从天理到人道,从知到行,从理沦到实践,从”君子笃恭”到”天下平”,既回到与《大学》相呼应的人生进修阶梯之上,又撮取《中庸》全篇的宗旨而加以概括。各段文字,既有诗为证又引申发挥。难怪得朱熹要在《中庸章句》的末尾大发感叹:“这样反复叮咛以教人的用意是多么深切啊,后世学者难道可以不用心去钻研体会吗?”
  的确也是如此啊!
******************
中庸章句序
中庸何為而作也?子思子憂道學之失其傳而作也。蓋自上古聖神繼天立極,而道統之傳有自來矣,其見於經則「允執厥中」者,堯之所以授舜也;「人心惟危,道心惟微,惟精惟一,允執厥中」者,舜之所以授禹也。堯之一言,至矣,盡矣!而舜復益之以三言者,則所以明夫堯之一言,必如是而後可庶幾也。
蓋嘗論之:心之虛靈知覺,一而已矣,而以為有人心、道心之異者,則以其或生於形氣之私,或原於性命之正,而所以為知覺者不同,是以或危殆而不安,或微妙而難見耳。然人莫不有是形,故雖上智不能無人心,亦莫不有是性,故雖下愚不能無道心,二者雜於方寸之間,而不知所以治之,則危者愈危,微者愈微,而天理之公卒無以勝夫人慾之私矣。精則察夫二者之間而不雜也,一則守其本心之正而不離也。從事於斯,無少閒斷,必使道心常為一身之主,而人心每聽命焉,則危者安、微者著,而動靜云為自無過不及之差矣。
夫堯、舜、禹,天下之大聖也。以天下相傳,天下之大事也。以天下之大聖,行天下之大事,而其授受之際,丁寧告戒,不過如此,則天下之理,豈有以加於此哉?自是以來,聖聖相承:若成湯、文、武之為君,皋陶、伊、傅、周、召之為臣,既皆以此而接夫道統之傳,若吾夫子,則雖不得其位,而所以繼往聖、開來學,其功反有賢於堯舜者。
然當是時,見而知之者,惟顏氏、曾氏之傳得其宗。及曾氏之再傳,而復得夫子之孫子思,則去聖遠而異端起矣。子思懼夫愈久而愈失其真也,於是推本堯舜以來相傳之意,質以平日所聞父師之言,更互演繹,作為此書,以詔後之學者。蓋其憂之也深,故其言之也切;其慮之也遠,故其說之也詳。其曰「天命率性」,則道心之謂也;其曰「擇善固執」,則精一之謂也;其曰「君子時中」,則執中之謂也。世之相後,千有餘年,而其言之不異,如合符節。歷選前聖之書,所以提挈綱維,開示蘊奧,未有若是之明且盡者也。
自是而又再傳,以得孟氏,為能推明是書,以承先聖之統,及其沒而遂失其傳焉。則吾道之所寄,不越乎言語文字之間,而異端之說,日新月盛,以至於老佛之徒出,則彌近理而大亂真矣。然而尚幸此書之不泯,故程夫子兄弟者出,得有所考,以續夫千載不傳之緒;得有所據,以斥夫二家似是之非。蓋子思之功於是為大,而微程夫子,則亦莫能因其語而得其心也。惜乎!其所以為說者不傳,而凡石氏之所輯錄,僅出於其門人之所記,是以大義雖明,而微言未析。至其門人所自為說,則雖頗詳盡而多所發明,然倍其師說而淫於老佛者,亦有之矣。
熹自蚤歲即嘗受讀而竊疑之,沈潛反覆,蓋亦有年,一旦恍然似有以得其要領者,然後乃敢會眾說而折其中,既為定著章句一篇,以俟後之君子,而一二同志。復取石氏書,刪其繁亂,名以輯略,且記所嘗論辯取捨之意,別為或問,以附其後。然後此書之旨,支分節解,脈絡貫通、詳略相因、巨細畢舉,而凡諸說之同異得失,亦得以曲暢旁通,而各極其趣。雖於道統之傳,不敢妄議,然初學之士,或有取焉,則亦庶乎升高行遠之一助云爾。
淳熙己酉春三月戊申,新安朱熹序
中庸章句集注(第1-10章)
中庸
中者,不偏不倚,無過不及之名。庸,平常也。
宋 朱子 章句
子程子曰:「不偏之謂中,不易之謂庸。中者,天下之正道;庸者,天下之定理。」此篇乃孔門傳授心法,子思恐其久而差也,故筆之於書,以授孟子。其書始言一理,中散為萬事,末復合為一理,放之則彌六合,卷之則退藏於密,其味無窮,皆實學也。善讀者玩索而有得焉,則終身用之,有不能盡者矣。
○ 天命之謂性,率性之謂道,脩道之謂教。
命,猶令也。性,即理也。天以陰陽五行化生萬物,氣以成形,而理亦賦焉,猶命令也。於是人物之生,因各得其所賦之理,以為健順五常之德,所謂性也。率,循也。道,猶路也。人物各循其性之自然,則其日用事物之間,莫不各有當行之路,是則所謂道也。脩,品節之也。性道雖同,而氣稟或異,故不能無過不及之差,聖人因人物之所當行者而品節之,以為法於天下,則謂之教,若禮、樂、刑、政之屬是也。蓋人之所以為人,道之所以為道,聖人之所以為教,原其所自,無一不本於天而備於我。學者知之,則其於學知所用力而自不能已矣。故子思於此首發明之,讀者所宜深體而默識也。
道也者,不可須臾離也,可離非道也。是故君子戒慎乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。
離,去聲。○ 道者,日用事物當行之理,皆性之德而具於心,無物不有,無時不然,所以不可須臾離也。若其可離,則為外物而非道矣。是以君子之心常存敬畏,雖不見聞,亦不敢忽,所以存天理之本然,而不使離於須臾之頃也。
莫見乎隱,莫顯乎微,故君子慎其獨也。
見,音現。○ 隱,暗處也。微,細事也。獨者,人所不知而己所獨知之地也。言幽暗之中,細微之事,跡雖未形而幾則已動,人雖不知而己獨知之,則是天下之事無有著見明顯而過於此者。是以君子既常戒懼,而於此尤加謹焉,所以遏人欲於將萌,而不使其滋長於隱微之中,以至離道之遠也。
喜怒哀樂之未發,謂之中;發而皆中節,謂之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之達道也。
樂,音洛。中節之中,去聲。○ 喜、怒、哀、樂,情也。其未發,則性也,無所偏倚,故謂之中。發皆中節,情之正也,無所乖戾,故謂之和。大本者,天命之性,天下之理皆由此出,道之體也。達道者,循性之謂,天下古今之所共由,道之用也。此言性情之德,以明道不可離之意。
致中和,天地位焉,萬物育焉。
致,推而極之也。位者,安其所也。育者,遂其生也。自戒懼而約之,以至於至靜之中,無少偏倚,而其守不失,則極其中而天地位矣。自謹獨而精之,以至於應物之處,無少差謬,而無適不然,則極其和而萬物育矣。蓋天地萬物本吾一體,吾之心正,則天地之心亦正矣,吾之氣順,則天地之氣亦順矣。故其效驗至於如此。此學問之極功、聖人之能事,初非有待於外,而修道之教亦在其中矣。是其一體一用雖有動靜之殊,然必其體立而後用有以行,則其實亦非有兩事也。故於此合而言之,以結上文之意。
右第一章。子思述所傳之意以立言。首明道之本原出於天而不可易,其實體備於己而不可離,次言存養省察之要,終言聖神功化之極。蓋欲學者於此反求諸身而自得之,以去夫外誘之私,而充其本然之善,楊氏所謂一篇之體要是也。其下十章,蓋子思引夫子之言,以終此章之義。
 
○ 仲尼曰:「君子中庸,小人反中庸。
中庸者,不偏不倚、無過不及,而平常之理,乃天命所當然,精微之極致也。惟君子為能體之,小人反是。
君子之中庸也,君子而時中;小人之中庸也,小人而無忌憚也。」
王肅本作「小人之反中庸也」,程子亦以為然。今從之。○ 君子之所以為中庸者,以其有君子之德,而又能隨時以處中也。小人之所以反中庸者,以其有小人之心,而又無所忌憚也。蓋中無定體,隨時而在,是乃平常之理也。君子知其在我,故能戒謹不睹、恐懼不聞,而無時不中。小人不知有此,則肆欲妄行,而無所忌憚矣。
右第二章。此下十章,皆論中庸以釋首章之義。文雖不屬,而意實相承也。變和言庸者,游氏曰:「以性情言之,則曰中和,以德行言之,則曰中庸是也。」然中庸之中,實兼中和之義。
 
○ 子曰:「中庸其至矣乎!民鮮能久矣!」
鮮,上聲。下同。○ 過則失中,不及則未至,故惟中庸之德為至。然亦人所同得,初無難事,但世教衰,民不興行,故鮮能之,今已久矣。論語無能字。
右第三章。
○ 子曰:「道之不行也,我知之矣,知者過之,愚者不及也;道之不明也,我知之矣,賢者過之,不肖者不及也。
知者之知,去聲。○ 道者,天理之當然,中而已矣。知愚賢不肖之過不及,則生稟之異而失其中也。知者知之過,既以道為不足行;愚者不及知,又不知所以行,此道之所以常不行也。賢者行之過,既以道為不足知;不肖者不及行,又不求所以知,此道之所以常不明也。人莫不飲食也,鮮能知味也。」道不可離,人自不察,是以有過不及之弊。
右第四章。
 
○ 子曰:「道其不行矣夫!」
夫,音扶。○ 由不明,故不行。
右第五章。此章承上章而舉其不行之端,以起下章之意。
 
○ 子曰:「舜其大知也與!舜好問而好察邇言,隱惡而揚善,執其兩端,用其中於民,其斯以為舜乎!」
知,去聲。與,平聲。好,去聲。○ 舜之所以為大知者,以其不自用而取諸人也。邇言者,淺近之言,猶必察焉,其無遺善可知。然於其言之未善者則隱而不宣,其善者則播而不匿,其廣大光明又如此,則人孰不樂告以善哉。兩端,謂眾論不同之極致。蓋凡物皆有兩端,如小大厚薄之類,於善之中又執其兩端,而量度以取中,然後用之,則其擇之審而行之至矣。然非在我之權度精切不差,何以與此。此知之所以無過不及,而道之所以行也。
右第六章。
○ 子曰:「人皆曰予知,驅而納諸罟擭陷阱之中,而莫之知辟也。人皆曰予知,擇乎中庸而不能期月守也。」
予知之知,去聲。罟,音古。擭,胡化反。阱,才性反。辟,避同。期,居之反。○ 罟,網也;擭,機檻也;陷阱,坑坎也;皆所以掩取禽獸者也。擇乎中庸,辨別眾理,以求所謂中庸,即上章好問用中之事也。期月,匝一月也。言知禍而不知辟,以況能擇而不能守,皆不得為知也。
右第七章。承上章大知而言,又舉不明之端,以起下章也。
 
○ 子曰:「回之為人也,擇乎中庸,得一善,則拳拳服膺而弗失之矣。」
回,孔子弟子顏淵名。拳拳,奉持之貌。服,猶著也。膺,胸也。奉持而著之心胸之間,言能守也。顏子蓋真知之,故能擇能守如此,此行之所以無過不及,而道之所以明也。
右第八章。
○ 子曰:「天下國家可均也,爵祿可辭也,白刃可蹈也,中庸不可能也。」
均,平治也。三者亦知仁勇之事,天下之至難也,然不必其合於中庸,則質之近似者皆能以力為之。若中庸,則雖不必皆如三者之難,然非義精仁熟,而無一毫人欲之私者,不能及也。三者難而易,中庸易而難,此民之所以鮮能也。
右第九章。亦承上章以起下章。
 
○ 子路問強。
子路,孔子弟子仲由也。子路好勇,故問強。
子曰:「南方之強與?北方之強與?抑而強與?
與,平聲。○ 抑,語辭。而,汝也。
寬柔以教,不報無道,南方之強也,君子居之。
寬柔以教,謂含容巽順以誨人之不及也。不報無道,謂橫逆之來,直受之而不報也。南方風氣柔弱,故以含忍之力勝人為強,君子之道也。
衽金革,死而不厭,北方之強也,而強者居之。
衽,席也。金,戈兵之屬。革,甲冑之屬。北方風氣剛勁,故以果敢之力勝人為強,強者之事也。
故君子和而不流,強哉矯!中立而不倚,強哉矯!國有道,不變塞焉,強哉矯!國無道,至死不變,強哉矯!」
此四者,汝之所當強也。矯,強貌。詩曰「矯矯虎臣」是也。倚,偏著也。塞,未達也。國有道,不變未達之所守;國無道,不變平生之所守也。此則所謂中庸之不可能者,非有以自勝其人欲之私,不能擇而守也。君子之強,孰大於是。夫子以是告子路者,所以抑其血氣之剛,而進之以德義之勇也。
右第十章。
中庸章句集注(第11-20章)
○ 子曰:「素隱行怪,後世有述焉,吾弗為之矣。
素,按漢書當作索,蓋字之誤也。索隱行怪,言深求隱僻之理,而過為詭異之行也。然以其足以欺世而盜名,故後世或有稱述之者。此知之過而不擇乎善,行之過而不用其中,不當強而強者也,聖人豈為之哉!
君子遵道而行,半塗而廢,吾弗能已矣。
遵道而行,則能擇乎善矣;半塗而廢,則力之不足也。此其知雖足以及之,而行有不逮,當強而不強者也。已,止也。聖人於此,非勉焉而不敢廢,蓋至誠無息,自有所不能止也。
君子依乎中庸,遯世不見知而不悔,唯聖者能之。
不為索隱行怪,則依乎中庸而已。不能半塗而廢,是以遯世不見知而不悔也。此中庸之成德,知之盡、仁之至、不賴勇而裕如者,正吾夫子之事,而猶不自居也。故曰唯聖者能之而已。
右第十一章。子思所引夫子之言,以明首章之義者止此。蓋此篇大旨,以知仁勇三達德為入道之門。故於篇首,即以大舜、顏淵、子路之事明之。舜,知也;顏淵,仁也;子路,勇也:三者廢其一,則無以造道而成德矣。餘見第二十章。
 
○ 君子之道費而隱。
費,符味反。○ 費,用之廣也。隱,體之微也。
夫婦之愚,可以與知焉,及其至也,雖聖人亦有所不知焉;夫婦之不肖,可以能行焉,及其至也,雖聖人亦有所不能焉。天地之大也,人猶有所憾。故君子語大,天下莫能載焉;語小,天下莫能破焉。
與,去聲。○ 君子之道,近自夫婦居室之間,遠而至於聖人天地之所不能盡,其大無外,其小無內,可謂費矣。然其理之所以然,則隱而莫之見也。蓋可知可能者,道中之一事,及其至而聖人不知不能。則舉全體而言,聖人固有所不能盡也。侯氏曰:「聖人所不知,如孔子問禮問官之類;所不能,如孔子不得位、堯舜病博施之類。」愚謂人所憾於天地,如覆載生成之偏,及寒暑災祥之不得其正者。
詩云:「鳶飛戾天,魚躍于淵。」言其上下察也。
鳶,余專反。○ 詩大雅旱麓之篇。鳶,鴟類。戾,至也。察,著也。子思引此詩以明化育流行,上下昭著,莫非此理之用,所謂費也。然其所以然者,則非見聞所及,所謂隱也。故程子曰:「此一節,子思喫緊為人處,活潑潑地,讀者其致思焉。」
君子之道,造端乎夫婦;及其至也,察乎天地。
結上文。
右第十二章。子思之言,蓋以申明首章道不可離之意也。其下八章,雜引孔子之言以明之。
 
○ 子曰:「道不遠人。人之為道而遠人,不可以為道。
道者,率性而已,固眾人之所能知能行者也,故常不遠於人。若為道者,厭其卑近以為不足為,而反務為高遠難行之事,則非所以為道矣!
詩云:『伐柯伐柯,其則不遠。』執柯以伐柯,睨而視之,猶以為遠。故君子以人治人,改而止。
睨,研計反。○ 詩豳風伐柯之篇。柯,斧柄。則,法也。睨,邪視也。言人執柯伐木以為柯者,彼柯長短之法,在此柯耳。然猶有彼此之別,故伐者視之猶以為遠也。若以人治人,則所以為人之道,各在當人之身,初無彼此之別。故君子之治人也,即以其人之道,還治其人之身。其人能改,即止不治。蓋責之以其所能知能行,非欲其遠人以為道也。張子所謂「以眾人望人則易從」是也。
忠恕違道不遠,施諸己而不願,亦勿施於人。
盡己之心為忠,推己及人為恕。違,去也,如春秋傳「齊師違穀七里」之違。言自此至彼,相去不遠,非背而去之之謂也。道,即其不遠人者是也。施諸己而不願亦勿施於人,忠恕之事也。以己之心度人之心,未嘗不同,則道之不遠於人者可見。故己之所不欲,則勿以施之於人,亦不遠人以為道之事。張子所謂「以愛己之心愛人則盡仁」是也。
君子之道四,丘未能一焉:所求乎子,以事父未能也;所求乎臣,以事君未能也;所求乎弟,以事兄未能也;所求乎朋友,先施之未能也。庸德之行,庸言之謹,有所不足,不敢不勉,有餘不敢盡;言顧行,行顧言,君子胡不慥慥爾!」
子、臣、弟、友,四字絕句。○ 求,猶責也。道不遠人,凡己之所以責人者,皆道之所當然也,故反之以自責而自修焉。庸,平常也。行者,踐其實。謹者,擇其可。德不足而勉,則行益力;言有餘而訒,則謹益至。謹之至則言顧行矣;行之力則行顧言矣。慥慥,篤實貌。言君子之言行如此,豈不慥慥乎,贊美之也。凡此皆不遠人以為道之事。張子所謂「以責人之心責己則盡道」是也。
右第十三章。道不遠人者,夫婦所能,丘未能一者,聖人所不能,皆費也。而其所以然者,則至隱存焉。下章放此。
 
○ 君子素其位而行,不願乎其外。
素,猶見在也。言君子但因見在所居之位而為其所當為,無慕乎其外之心也。
素富貴,行乎富貴;素貧賤,行乎貧賤;素夷狄,行乎夷狄;素患難,行乎患難;君子無入而不自得焉。
難,去聲。○ 此言素其位而行也。
在上位不陵下,在下位不援上,正己而不求於人則無怨。上不怨天,下不尤人。
援,平聲。○ 此言不願乎其外也。
故君子居易以俟命,小人行險以徼幸。
易,去聲。○ 易,平地也。居易,素位而行也。俟命,不願乎外也。徼,求也。幸,謂所不當得而得者。
子曰:「射有似乎君子;失諸正鵠,反求諸其身。」
正,音征。鵠,工毒反。○ 畫布曰正,棲皮曰鵠,皆侯之中,射之的也。子思引此孔子之言,以結上文之意。
右第十四章。子思之言也。凡章首無「子曰」字者放此。
 
○ 君子之道,辟如行遠必自邇,辟如登高必自卑。辟、譬同。
詩曰:「妻子好合,如鼓瑟琴;兄弟既翕,和樂且耽;宜爾室家;樂爾妻帑。」
好,去聲。耽,詩作湛,亦音耽。樂,音洛。○ 詩小雅常棣之篇。鼓瑟琴,和也。翕,亦合也。耽,亦樂也。帑,子孫也。
子曰:「父母其順矣乎!」
夫子誦此詩而贊之曰:人能和於妻子,宜於兄弟如此,則父母其安樂之矣。子思引詩及此語,以明行遠自邇、登高自卑之意。
右第十五章。
 
○ 子曰:「鬼神之為德,其盛矣乎!
程子曰:「鬼神,天地之功用,而造化之跡也。」張子曰:「鬼神者,二氣之良能也。」愚謂以二氣言,則鬼者陰之靈也,神者陽之靈也。以一氣言,則至而伸者為神,反而歸者為鬼,其實一物而已。為德,猶言性情功效。
視之而弗見,聽之而弗聞,體物而不可遺。
鬼神無形與聲,然物之終始,莫非陰陽合散之所為,是其為物之體,而物所不能遺也。其言體物,猶易所謂幹事。
使天下之人齊明盛服,以承祭祀。洋洋乎!如在其上,如在其左右。
齊,側皆反。○ 齊之為言齊也,所以齊不齊而致其齊也。明,猶潔也。洋洋,流動充滿之意。能使人畏敬奉承,而發見昭著如此,乃其體物而不可遺之驗也。孔子曰:「其氣發揚于上,為昭明焄蒿悽愴。此百物之精也,神之著也」,正謂此爾。
詩曰:『神之格思,不可度思!矧可射思!』
度,待洛反。射,音亦,詩作斁。○ 詩大雅抑之篇。格,來也。矧,況也。射,厭也,言厭怠而不敬也。思,語辭。
夫微之顯,誠之不可揜如此夫。」
夫,音扶。○ 誠者,真實無妄之謂。陰陽合散,無非實者。故其發見之不可揜如此。
右第十六章。不見不聞,隱也。體物如在,則亦費矣。此前三章,以其費之小者而言。此後三章,以其費之大者而言。此一章,兼費隱、包大小而言。
 
○ 子曰:「舜其大孝也與!德為聖人,尊為天子,富有四海之內。宗廟饗之,子孫保之。
與,平聲。○ 子孫,謂虞思、陳胡公之屬。
故大德必得其位,必得其祿,必得其名,必得其壽。
舜年百有十歲。
故天之生物,必因其材而篤焉。故栽者培之,傾者覆之。
材,質也。篤,厚也。栽,植也。氣至而滋息為培。氣反而游散則覆。
詩曰:『嘉樂君子,憲憲令德!宜民宜人;受祿于天;保佑命之,自天申之!』
詩大雅假樂之篇。假,當依此作嘉。憲,當依詩作顯。申,重也。
故大德者必受命。」
受命者,受天命為天子也。
右第十七章。此由庸行之常,推之以極其至,見道之用廣也。而其所以然者,則為體微矣。後二章亦此意。
 
○ 子曰:「無憂者其惟文王乎!以王季為父,以武王為子,父作之,子述之。
此言文王之事。書言「王季其勤王家」,蓋其所作,亦積功累仁之事也。
武王纘大王、王季、文王之緒。壹戎衣而有天下,身不失天下之顯名。尊為天子,富有四海之內。宗廟饗之,子孫保之。
大,音泰,下同。○ 此言武王之事。纘,繼也。大王,王季之父也。書云:「大王肇基王跡。」詩云「至于大王,實始翦商。」緒,業也。戎衣,甲冑之屬。壹戎衣,武成文,言一著戎衣以伐紂也。
武王末受命,周公成文武之德,追王大王、王季,上祀先公以天子之禮。斯禮也,達乎諸侯大夫,及士庶人。父為大夫,子為士;葬以大夫,祭以士。父為士,子為大夫;葬以士,祭以大夫。期之喪達乎大夫,三年之喪達乎天子,父母之喪無貴賤一也。」
追王之王,去聲。○ 此言周公之事。末,猶老也。追王,蓋推文武之意,以及乎王跡之所起也。先公,組紺以上至后稷也。上祀先公以天子之禮,又推大王、王季之意,以及於無窮也。制為禮法,以及天下,使葬用死者之爵,祭用生者之祿。喪服自期以下,諸侯絕;大夫降;而父母之喪,上下同之,推己以及人也。
右第十八章。
 
○ 子曰:「武王、周公,其達孝矣乎!
達,通也。承上章而言武王、周公之孝,乃天下之人通謂之孝,猶孟子之言達尊也。
夫孝者:善繼人之志,善述人之事者也。
上章言武王纘大王、王季、文王之緒以有天下,而周公成文武之德以追崇其先祖,此繼志述事之大者也。下文又以其所制祭祀之禮,通於上下者言之。
春秋修其祖廟,陳其宗器,設其裳衣,薦其時食。
祖廟:天子七,諸侯五,大夫三,適士二,官師一。宗器,先世所藏之重器;若周之赤刀、大訓、天球、河圖之屬也。裳衣,先祖之遺衣服,祭則設之以授尸也。時食,四時之食,各有其物,如春行羔、豚、膳、膏、香之類是也。
宗廟之禮,所以序昭穆也;序爵,所以辨貴賤也;序事,所以辨賢也;旅酬下為上,所以逮賤也;燕毛,所以序齒也。
昭,如字。為,去聲。○ 宗廟之次:左為昭,右為穆,而子孫亦以為序。有事於太廟,則子姓、兄弟、群昭、群穆咸在而不失其倫焉。爵,公、侯、卿、大夫也。事,宗祝有司之職事也。旅,眾也。酬,導飲也。旅酬之禮,賓弟子、兄弟之子各舉觶於其長而眾相酬。蓋宗廟之中以有事為榮,故逮及賤者,使亦得以申其敬也。燕毛,祭畢而燕,則以毛髮之色別長幼,為坐次也。齒,年數也。
踐其位,行其禮,奏其樂,敬其所尊,愛其所親,事死如事生,事亡如事存,孝之至也。
踐,猶履也。其,指先王也。所尊所親,先王之祖考、子孫、臣庶也。始死謂之死,既葬則曰反而亡焉,皆指先王也。此結上文兩節,皆繼志述事之意也。
郊社之禮,所以事上帝也,宗廟之禮,所以祀乎其先也。明乎郊社之禮、禘嘗之義,治國其如示諸掌乎。」
郊,祀天。社,祭地。不言后土者,省文也。禘,天子宗廟之大祭,追祭太祖之所自出於太廟,而以太祖配之也。嘗,秋祭也。四時皆祭,舉其一耳。禮必有義,對舉之,互文也。示,與視同。視諸掌,言易見也。此與論語文意大同小異,記有詳略耳。
右第十九章。
 
○ 哀公問政。
哀公,魯君,名蔣。
子曰:「文武之政,布在方策。其人存,則其政舉;其人亡,則其政息。
方,版也。策,簡也。息,猶滅也。有是君,有是臣,則有是政矣。
人道敏政,地道敏樹。夫政也者,蒲盧也。
夫,音扶。○ 敏,速也。蒲盧,沈括以為蒲葦是也。以人立政,猶以地種樹,其成速矣,而蒲葦又易生之物,其成尤速也。言人存政舉,其易如此。
故為政在人,取人以身,脩身以道,脩道以仁。
此承上文人道敏政而言也。為政在人,家語作「為政在於得人」,語意尤備。人,謂賢臣。身,指君身。道者,天下之達道。仁者,天地生物之心,而人得以生者,所謂元者善之長也。言人君為政在於得人,而取人之則又在脩身。能仁其身,則有君有臣,而政無不舉矣。
仁者人也,親親為大;義者宜也,尊賢為大;親親之殺,尊賢之等,禮所生也。
殺,去聲。○ 人,指人身而言。具此生理,自然便有惻怛慈愛之意,深體味之可見。宜者,分別事理,各有所宜也。禮,則節文斯二者而已。
在下位不獲乎上,民不可得而治矣!
鄭氏曰:「此句在下,誤重在此。」
故君子不可以不脩身;思脩身,不可以不事親;思事親,不可以不知人;思知人,不可以不知天。」
為政在人,取人以身,故不可以不脩身。脩身以道,脩道以仁,故思脩身不可以不事親。欲盡親親之仁,必由尊賢之義,故又當知人。親親之殺,尊賢之等,皆天理也,故又當知天。
天下之達道五,所以行之者三:曰君臣也,父子也,夫婦也,昆弟也,朋友之交也:五者天下之達道也。知、仁、勇三者,天下之達德也,所以行之者一也。
知,去聲。○ 達道者,天下古今所共由之路,即書所謂五典,孟子所謂「父子有親、君臣有義、夫婦有別、長幼有序、朋友有信」是也。知,所以知此也;仁,所以體此也;勇,所以強此也;謂之達德者,天下古今所同得之理也。一則誠而已矣。達道雖人所共由,然無是三德,則無以行之;達德雖人所同得,然一有不誠,則人欲間之,而德非其德矣。程子曰:「所謂誠者,止是誠實此三者。三者之外,更別無誠。」
或生而知之,或學而知之,或困而知之,及其知之一也;或安而行之,或利而行之,或勉強而行之,及其成功一也。
強,上聲。○ 知之者之所知,行之者之所行,謂達道也。以其分而言:則所以知者知也,所以行者仁也,所以至於知之成功而一者勇也。以其等而言:則生知安行者知也,學知利行者仁也,困知勉行者勇也。蓋人性雖無不善,而氣稟有不同者,故聞道有蚤莫,行道有難易,然能自強不息,則其至一也。呂氏曰:「所入之塗雖異,而所至之域則同,此所以為中庸。若乃企生知安行之資為不可幾及,輕困知勉行謂不能有成,此道之所以不明不行也。」
子曰:「好學近乎知,力行近乎仁,知恥近乎勇。
「子曰」二字衍文。好近乎知之知,並去聲。○ 此言未及乎達德而求以入德之事。通上文三知為知,三行為仁,則此三近者,勇之次也。呂氏曰:「愚者自是而不求,自私者殉人欲而忘反,懦者甘為人下而不辭。故好學非知,然足以破愚;力行非仁,然足以忘私;知恥非勇,然足以起懦。」
知斯三者,則知所以脩身;知所以脩身,則知所以治人;知所以治人,則知所以治天下國家矣。」
斯三者,指三近而言。人者,對己之稱。天下國家,則盡乎人矣。言此以結上文脩身之意,起下文九經之端也。
凡為天下國家有九經,曰:脩身也,尊賢也,親親也,敬大臣也,體群臣也,子庶民也,來百工也,柔遠人也,懷諸侯也。
經,常也。體,謂設以身處其地而察其心也。子,如父母之愛其子也。柔遠人,所謂無忘賓旅者也。此列九經之目也。呂氏曰:「天下國家之本在身,故脩身為九經之本。然必親師取友,然後脩身之道進,故尊賢次之。道之所進,莫先其家,故親親次之。由家以及朝廷,故敬大臣、體群臣次之。由朝廷以及其國,故子庶民、來百工次之。由其國以及天下,故柔遠人、懷諸侯次之。此九經之序也。」視群臣猶吾四體,視百姓猶吾子,此視臣視民之別也。
脩身則道立,尊賢則不惑,親親則諸父昆弟不怨,敬大臣則不眩,體群臣則士之報禮重,子庶民則百姓勸,來百工則財用足,柔遠人則四方歸之,懷諸侯則天下畏之。
此言九經之效也。道立,謂道成於己而可為民表,所謂皇建其有極是也。不惑,謂不疑於理。不眩,謂不迷於事。敬大臣則信任專,而小臣不得以間之,故臨事而不眩也。來百工則通功易事,農末相資,故財用足。柔遠人,則天下之旅皆悅而願出於其塗,故四方歸。懷諸侯,則德之所施者博,而威之所制者廣矣,故曰天下畏之。
齊明盛服,非禮不動,所以脩身也;去讒遠色,賤貨而貴德,所以勸賢也;尊其位,重其祿,同其好惡,所以勸親親也;官盛任使,所以勸大臣也;忠信重祿,所以勸士也;時使薄斂,所以勸百姓也;日省月試,既稟稱事,所以勸百工也;送往迎來,嘉善而矜不能,所以柔遠人也;繼絕世,舉廢國,治亂持危,朝聘以時,厚往而薄來,所以懷諸侯也。
齊,側皆反。去,上聲。遠、好、惡、斂,並去聲。既,許氣反。稟,彼錦、力錦二反。稱,去聲。朝,音潮。○ 此言九經之事也。官盛任使,謂官屬眾盛,足任使令也,蓋大臣不當親細事,故所以優之者如此。忠信重祿,謂待之誠而養之厚,蓋以身體之,而知其所賴乎上者如此也。既,讀曰餼。餼稟,稍食也。稱事,如周禮稿人職,曰「考其弓弩,以上下其食」是也。往則為之授節以送之,來則豐其委積以迎之。朝,謂諸侯見於天子。聘,謂諸侯使大夫來獻。王制「比年一小聘,三年一大聘,五年一朝」。厚往薄來,謂燕賜厚而納貢薄。
凡為天下國家有九經,所以行之者一也。
一者,誠也。一有不誠,則是九者皆為虛文矣,此九經之實也。
凡事豫則立,不豫則廢。言前定則不跲,事前定則不困,行前定則不疚,道前定則不窮。
跲,其劫反。行,去聲。○ 凡事,指達道達德九經之屬。豫,素定也。跲,躓也。疚,病也。此承上文,言凡事皆欲先立乎誠,如下文所推是也。
在下位不獲乎上,民不可得而治矣;獲乎上有道:不信乎朋友,不獲乎上矣;信乎朋友有道:不順乎親,不信乎朋友矣;順乎親有道:反諸身不誠,不順乎親矣;誠身有道:不明乎善,不誠乎身矣。
此又以在下位者,推言素定之意。反諸身不誠,謂反求諸身而所存所發,未能真實而無妄也。不明乎善,謂未能察於人心天命之本然,而真知至善之所在也。
誠者,天之道也;誠之者,人之道也。誠者不勉而中,不思而得,從容中道,聖人也。誠之者,擇善而固執之者也。
中,並去聲。從,七容反。○ 此承上文誠身而言。誠者,真實無妄之謂,天理之本然也。誠之者,未能真實無妄,而欲其真實無妄之謂,人事之當然也。聖人之德,渾然天理,真實無妄,不待思勉而從容中道,則亦天之道也。未至於聖,則不能無人欲之私,而其為德不能皆實。故未能不思而得,則必擇善,然後可以明善;未能不勉而中,則必固執,然後可以誠身,此則所謂人之道也。不思而得,生知也。不勉而中,安行也。擇善,學知以下之事。固執,利行以下之事也。
博學之,審問之,慎思之,明辨之,篤行之。
此誠之之目也。學、問、思、辨,所以擇善而為知,學而知也。篤行,所以固執而為仁,利而行也。程子曰:「五者廢其一,非學也。」
有弗學,學之弗能弗措也;有弗問,問之弗知弗措也;有弗思,思之弗得弗措也;有弗辨,辨之弗明弗措也;有弗行,行之弗篤弗措也;人一能之己百之,人十能之己千之。
君子之學,不為則已,為則必要其成,故常百倍其功。此困而知,勉而行者也,勇之事也。
果能此道矣,雖愚必明,雖柔必強。
明者擇善之功,強者固執之效。呂氏曰:「君子所以學者,為能變化氣質而已。德勝氣質,則愚者可進於明,柔者可進於強。不能勝之,則雖有志於學,亦愚不能明,柔不能立而已矣。蓋均善而無惡者,性也,人所同也;昏明強弱之稟不齊者,才也,人所異也。誠之者所以反其同而變其異也。夫以不美之質,求變而美,非百倍其功,不足以致之。今以鹵莽滅裂之學,或作或輟,以變其不美之質,及不能變,則曰天質不美,非學所能變。是果於自棄,其為不仁甚矣!」
右第二十章。此引孔子之言,以繼大舜、文、武、周公之緒,明其所傳之一致,舉而措之,亦猶是耳。蓋包費隱、兼小大,以終十二章之意。章內語誠始詳,而所謂誠者,實此篇之樞紐也。又按:孔子家語,亦載此章,而其文尤詳。「成功一也」之下,有「公曰:子之言美矣!至矣!寡人實固,不足以成之也」。故其下復以「子曰」起答辭。今無此問辭,而猶有「子曰」二字;蓋子思刪其繁文以附于篇,而所刪有不盡者,今當為衍文也。「博學之」以下,家語無之,意彼有闕文,抑此或子思所補也歟?
中庸章句集注(第21-33章)
○ 自誠明,謂之性;自明誠,謂之教。誠則明矣,明則誠矣。
自,由也。德無不實而明無不照者,聖人之德。所性而有者也,天道也。先明乎善,而後能實其善者,賢人之學。由教而入者也,人道也。誠則無不明矣,明則可以至於誠矣。
右第二十一章。子思承上章夫子天道、人道之意而立言也。自此以下十二章,皆子思之言,以反覆推明此章之意。
 
唯天下至誠,為能盡其性;能盡其性,則能盡人之性;能盡人之性,則能盡物之性;能盡物之性,則可以贊天地之化育;可以贊天地之化育,則可以與天地參矣。
天下至誠,謂聖人之德之實,天下莫能加也。盡其性者德無不實,故無人欲之私,而天命之在我者,察之由之,巨細精粗,無毫髮之不盡也。人物之性,亦我之性,但以所賦形氣不同而有異耳。能盡之者,謂知之無不明而處之無不當也。贊,猶助也。與天地參,謂與天地並立為三也。此自誠而明者之事也。 
右第二十二章。言天道也。
 
○ 其次致曲,曲能有誠,誠則形,形則著,著則明,明則動,動則變,變則化,唯天下至誠為能化。
其次,通大賢以下凡誠有未至者而言也。致,推致也。曲,一偏也。形者,積中而發外。著,則又加顯矣。明,則又有光輝發越之盛也。動者,誠能動物。變者,物從而變。化,則有不知其所以然者。蓋人之性無不同,而氣則有異,故惟聖人能舉其性之全體而盡之。其次則必自其善端發見之偏,而悉推致之,以各造其極也。曲無不致,則德無不實,而形、著、動、變之功自不能已。積而至於能化,則其至誠之妙,亦不異於聖人矣。
右第二十三章。言人道也。
 
○ 至誠之道,可以前知。國家將興,必有禎祥;國家將亡,必有妖孽;見乎蓍龜,動乎四體。禍福將至:善,必先知之;不善,必先知之。故至誠如神。
見,音現。○ 禎祥者,福之兆。妖孽者,禍之萌。蓍,所以筮。龜,所以卜。四體,謂動作威儀之閒,如執玉高卑,其容俯仰之類。凡此皆理之先見者也。然惟誠之至極,而無一毫私偽留於心目之間者,乃能有以察其幾焉。神,謂鬼神。
右第二十四章。言天道也。
 
○ 誠者自成也,而道自道也。
道也之道,音導。言誠者物之所以自成,而道者人之所當自行也。誠以心言,本也;道以理言,用也。
誠者物之終始,不誠無物。是故君子誠之為貴。
天下之物,皆實理之所為,故必得是理,然後有是物。所得之理既盡,則是物亦盡而無有矣。故人之心一有不實,則雖有所為亦如無有,而君子必以誠為貴也。蓋人之心能無不實,乃為有以自成,而道之在我者亦無不行矣。
誠者非自成己而已也,所以成物也。成己,仁也;成物,知也。性之德也,合外內之道也,故時措之宜也。
知,去聲。○ 誠雖所以成己,然既有以自成,則自然及物,而道亦行於彼矣。仁者體之存,知者用之發,是皆吾性之固有,而無內外之殊。既得於己,則見於事者,以時措之,而皆得其宜也。
右第二十五章。言人道也。
 
○ 故至誠無息。
既無虛假,自無間斷。
不息則久,久則徵。
久,常於中也。徵,驗於外也。
徵則悠遠,悠遠則博厚,博厚則高明。
此皆以其驗於外者言之。鄭氏所謂「至誠之德,著於四方」者是也。存諸中者既久,則驗於外者益悠遠而無窮矣。悠遠,故其積也廣博而深厚;博厚,故其發也高大而光明。
博厚,所以載物也;高明,所以覆物也;悠久,所以成物也。
悠久,即悠遠,兼內外而言之也。本以悠遠致高厚,而高厚又悠久也。此言聖人與天地同用。
博厚配地,高明配天,悠久無疆。
此言聖人與天地同體。
如此者,不見而章,不動而變,無為而成。
見,音現。○ 見,猶示也。不見而章,以配地而言也。不動而變,以配天而言也。無為而成,以無疆而言也。
天地之道,可一言而盡也:其為物不貳,則其生物不測。
此以下,復以天地明至誠無息之功用。天地之道,可一言而盡,不過曰誠而已。不貳,所以誠也。誠故不息,而生物之多,有莫知其所以然者。
天地之道:博也,厚也,高也,明也,悠也,久也。
言天地之道,誠一不貳,故能各極所盛,而有下文生物之功。今夫天,斯昭昭之多,及其無窮也,日月星辰繫焉,萬物覆焉。
今夫地,一撮土之多,及其廣厚,載華嶽而不重,振河海而不洩,萬物載焉。今夫山,一卷石之多,及其廣大,草木生之,禽獸居之,寶藏興焉。今夫水,一勺之多,及其不測,黿鼉、蛟龍、魚鱉生焉,貨財殖焉。
夫,音扶。華、藏,並去聲。卷,平聲。勺,市若反。○ 昭昭,猶耿耿,小明也。此指其一處而言之。及其無窮,猶十二章及其至也之意,蓋舉全體而言也。振,收也。卷,區也。此四條,皆以發明由其不貳不息以致盛大而能生物之意。然天、地、山、川,實非由積累而後大,讀者不以辭害意可也。
詩云:「維天之命,於穆不已!」蓋曰天之所以為天也。「於乎不顯!文王之德之純!」蓋曰文王之所以為文也,純亦不已。
於,音烏。乎,音呼。○ 詩周頌維天之命篇。於,歎辭。穆,深遠也。不顯,猶言豈不顯也。純,純一不雜也。引此以明至誠無息之意。程子曰:「天道不已,文王純於天道,亦不已。純則無二無雜,不已則無間斷先後。」
右第二十六章。言天道也。
 
○ 大哉聖人之道!
包下文兩節而言。
洋洋乎!發育萬物,峻極于天。
峻,高大也。此言道之極於至大而無外也。
優優大哉!禮儀三百,威儀三千。
優優,充足有餘之意。禮儀,經禮也。威儀,曲禮也。此言道之入於至小而無閒也。
待其人而後行。
總結上兩節。
故曰苟不至德,至道不凝焉。
至德,謂其人。至道,指上兩節而言也。凝,聚也,成也。
故君子尊德性而道問學,致廣大而盡精微,極高明而道中庸。溫故而知新,敦厚以崇禮。
尊者,恭敬奉持之意。德性者,吾所受於天之正理。道,由也。溫,猶燖溫之溫,謂故學之矣,復時習之也。敦,加厚也。尊德性,所以存心而極乎道體之大也。道問學,所以致知而盡乎道體之細也。二者修德凝道之大端也。不以一毫私意自蔽,不以一毫私欲自累,涵泳乎其所已知。敦篤乎其所已能,此皆存心之屬也。析理則不使有毫釐之差,處事則不使有過不及之謬,理義則日知其所未知,節文則日謹其所未謹,此皆致知之屬也。蓋非存心無以致知,而存心者又不可以不致知。故此五句,大小相資,首尾相應,聖賢所示入德之方,莫詳於此,學者宜盡心焉。
是故居上不驕,為下不倍,國有道其言足以興,國無道其默足以容。詩曰「既明且哲,以保其身」,其此之謂與!
倍,與背同。與,平聲。○ 興,謂興起在位也。詩大雅烝民之篇。
右第二十七章。言人道也。
 
○ 子曰:「愚而好自用,賤而好自專,生乎今之世,反古之道。如此者,烖及其身者也。」
好,去聲。烖,古灾字。○ 以上孔子之言,子思引之。反,復也。
非天子,不議禮,不制度,不考文。
此以下,子思之言。禮,親疏貴賤相接之體也。度,品制。文,書名。
今天下車同軌,書同文,行同倫。
行,去聲。○ 今,子思自謂當時也。軌,轍跡之度。倫,次序之體。三者皆同,言天下一統也。
雖有其位,苟無其德,不敢作禮樂焉;雖有其德,苟無其位,亦不敢作禮樂焉。
鄭氏曰:「言作禮樂者,必聖人在天子之位。」
子曰:「吾說夏禮,杞不足徵也;吾學殷禮,有宋存焉;吾學周禮,今用之,吾從周。」
此又引孔子之言。杞,夏之後。徵,證也。宋,殷之後。三代之禮,孔子皆嘗學之而能言其意;但夏禮既不可考證,殷禮雖存,又非當世之法,惟周禮乃時王之制,今日所用。孔子既不得位,則從周而已。
右第二十八章。承上章為下不倍而言,亦人道也。
 
○ 王天下有三重焉,其寡過矣乎!
王,去聲。○ 呂氏曰:「三重,謂議禮、制度、考文。惟天子得以行之,則國不異政,家不殊俗,而人得寡過矣。」
上焉者雖善無徵,無徵不信,不信民弗從;下焉者雖善不尊,不尊不信,不信民弗從。
上焉者,謂時王以前,如夏、商之禮雖善,而皆不可考。下焉者,謂聖人在下,如孔子雖善於禮,而不在尊位也。
故君子之道:本諸身,徵諸庶民,考諸三王而不繆,建諸天地而不悖,質諸鬼神而無疑,百世以俟聖人而不惑。
此君子,指王天下者而言。其道,即議禮、制度、考文之事也。本諸身,有其德也。徵諸庶民,驗其所信從也。建,立也,立於此而參於彼也。天地者,道也。鬼神者,造化之跡也。百世以俟聖人而不惑,所謂聖人復起,不易吾言者也。
質諸鬼神而無疑,知天也;百世以俟聖人而不惑,知人也。
知天知人,知其理也。
是故君子動而世為天下道,行而世為天下法,言而世為天下則。遠之則有望,近之則不厭。
動,兼言行而言。道,兼法則而言。法,法度也。則,準則也。
詩曰:「在彼無惡,在此無射;庶幾夙夜,以永終譽!」君子未有不如此而蚤有譽於天下者也。
惡,去聲。射,音妒,詩作斁。○ 詩周頌振鷺之篇。射,厭也。所謂此者,指本諸身以下六事而言。
右第二十九章。承上章居上不驕而言,亦人道也。
 
○ 仲尼祖述堯舜,憲章文武;上律天時,下襲水土。
祖述者,遠宗其道。憲章者,近守其法。律天時者,法其自然之運。襲水土者,因其一定之理。皆兼內外該本末而言也。
辟如天地之無不持載,無不覆幬,辟如四時之錯行,如日月之代明。
辟,音譬。幬,徒報反。○ 錯,猶迭也。此言聖人之德。
萬物並育而不相害,道並行而不相悖,小德川流,大德敦化,此天地之所以為大也。
悖,猶背也。天覆地載,萬物並育於其間而不相害;四時日月,錯行代明而不相悖。所以不害不悖者,小德之川流;所以並育並行者,大德之敦化。小德者,全體之分;大德者,萬殊之本。川流者,如川之流,脈絡分明而往不息也。敦化者,敦厚其化,根本盛大而出無窮也。此言天地之道,以見上文取辟之意也。
右第三十章。言天道也。
 
○ 唯天下至聖,為能聰明睿知,足以有臨也;寬裕溫柔,足以有容也;發強剛毅,足以有執也;齊莊中正,足以有敬也;文理密察,足以有別也。
知,去聲。齊,側皆反。別,彼列反。○ 聰明睿知,生知之質。臨,謂居上而臨下也。其下四者,乃仁義禮知之德。文,文章也。理,條理也。密,詳細也。察,明辯也。
溥博淵泉,而時出之。
溥博,周遍而廣闊也。淵泉,靜深而有本也。出,發見也。言五者之德,充積於中,而以時發見於外也。
溥博如天,淵泉如淵。見而民莫不敬,言而民莫不信,行而民莫不說。
見,音現。說,音悅。○ 言其充積極其盛,而發見當其可也。
是以聲名洋溢乎中國,施及蠻貊;舟車所至,人力所通;天之所覆,地之所載,日月所照,霜露所隊;凡有血氣者,莫不尊親,故曰配天。
施,去聲。隊,音墜。○ 舟車所至以下,蓋極言之。配天,言其德之所及,廣大如天也。
右第三十一章。承上章而言小德之川流,亦天道也。
 
○ 唯天下至誠,為能經綸天下之大經,立天下之大本,知天地之化育。夫焉有所倚?夫,音扶。焉,於虔反。○ 經,綸,皆治絲之事。經者,理其緒而分之;綸者,比其類而合之也。經,常也。大經者,五品之人倫。大本者,所性之全體也。惟聖人之德極誠無妄,故於人倫各盡其當然之實,而皆可以為天下後世法,所謂經綸之也。其於所性之全體,無一毫人欲之偽以雜之,而天下之道千變萬化皆由此出,所謂立之也。其於天地之化育,則亦其極誠無妄者有默契焉,非但聞見之知而已。此皆至誠無妄,自然之功用,夫豈有所倚著於物而後能哉。
肫肫其仁!淵淵其淵!浩浩其天!
肫,之純反。○ 肫肫,懇至貌,以經綸而言也。淵淵,靜深貌,以立本而言也。浩浩,廣大貌,以知化而言也。其淵其天,則非特如之而已。
苟不固聰明聖知達天德者,其孰能知之?
聖知之知,去聲。○ 固,猶實也。鄭氏曰:「惟聖人能知聖人也。」
右第三十二章。承上章而言大德之敦化,亦天道也。前章言至聖之德,此章言至誠之道。然至誠之道,非至聖不能知;至聖之德,非至誠不能為,則亦非二物矣。此篇言聖人天道之極致,至此而無以加矣。
 
○ 詩曰「衣錦尚絅」,惡其文之著也。故君子之道,闇然而日章;小人之道,的然而日亡。君子之道:淡而不厭,簡而文,溫而理,知遠之近,知風之自,知微之顯,可與入德矣。
衣,去聲。絅,口迥反。惡,去聲。闇,於感反。○ 前章言聖人之德,極其盛矣。此復自下學立心之始言之,而下文又推之以至其極也。詩國風衛碩人、鄭之丰,皆作「衣錦褧衣」。褧、絅同。襌衣也。尚,加也。古之學者為己,故其立心如此。尚絅故闇然,衣錦故有日章之實。淡、簡、溫,絅之襲於外也;不厭而文且理焉,錦之美在中也。小人反是,則暴於外而無實以繼之,是以的然而日亡也。遠之近,見於彼者由於此也。風之自,著乎外者本乎內也。微之顯,有諸內者形諸外也。有為己之心,而又知此三者,則知所謹而可入德矣。故下文引詩言謹獨之事。
詩云:「潛雖伏矣,亦孔之昭!」故君子內省不疚,無惡於志。君子之所不可及者,其唯人之所不見乎。
惡,去聲。○ 詩小雅正月之篇。承上文言「莫見乎隱、莫顯乎微」也。疚,病也。無惡於志,猶言無愧於心,此君子謹獨之事也。
詩云:「相在爾室,尚不愧于屋漏。」故君子不動而敬,不言而信。
相,去聲。○ 詩大雅抑之篇。相,視也。屋漏,室西北隅也。承上文又言君子之戒謹恐懼,無時不然,不待言動而後敬信,則其為己之功益加密矣。故下文引詩并言其效。
詩曰:「奏假無言,時靡有爭。」是故君子不賞而民勸,不怒而民威於鈇鉞。
假,格同。鈇,音夫。○ 詩商頌烈祖之篇。奏,進也。承上文而遂及其效,言進而感格於神明之際,極其誠敬,無有言說而人自化之也。威,畏也。鈇,莝斫刀也。鉞,斧也。
詩曰:「不顯惟德!百辟其刑之。」是故君子篤恭而天下平。
詩周頌烈文之篇。不顯,說見二十六章,此借引以為幽深玄遠之意。承上文言天子有不顯之德,而諸侯法之,則其德愈深而效愈遠矣。篤,厚也。篤恭,言不顯其敬也。篤恭而天下平,乃聖人至德淵微,自然之應,中庸之極功也。
詩云:「予懷明德,不大聲以色。」子曰:「聲色之於以化民,末也。」詩曰:「德輶如毛」,毛猶有倫。「上天之載,無聲無臭」,至矣!
輶,由酉二音。○ 詩大雅皇矣之篇。引之以明上文所謂不顯之德者,正以其不大聲與色也。又引孔子之言,以為聲色乃化民之末務,今但言不大之而已,則猶有聲色者存,是未足以形容不顯之妙。不若烝民之詩所言「德輶如毛」,則庶乎可以形容矣,而又自以為謂之毛,則猶有可比者,是亦未盡其妙。不若文王之詩所言「上天之事,無聲無臭」,然後乃為不顯之至耳。蓋聲臭有氣無形,在物最為微妙,而猶曰無之,故惟此可以形容不顯篤恭之妙。非此德之外,又別有是三等,然後為至也。
右第三十三章。子思因前章極致之言,反求其本,復自下學為己謹獨之事,推而言之,以馴致乎篤恭而天下平之盛。又贊其妙,至於無聲無臭而後已焉。蓋舉一篇之要而約言之,其反復丁寧示人之意,至深切矣,學者其可不盡心乎!
**************
**************
**************
《四書章句集注-中庸章句》
中庸章句序
中庸何為而作也?子思子憂道學之失其傳而作也。蓋自上古聖神繼天立極,而道統之傳有自來矣,其見於經則「允執厥中」者,堯之所以授舜也;「人心惟危,道心惟微,惟精惟一,允執厥中」者,舜之所以授禹也。堯之一言,至矣,盡矣!而舜復益之以三言者,則所以明夫堯之一言,必如是而後可庶幾也。
蓋嘗論之:心之虛靈知覺,一而已矣,而以為有人心、道心之異者,則以其或生於形氣之私,或原於性命之正,而所以為知覺者不同,是以或危殆而不安,或微妙而難見耳。然人莫不有是形,故雖上智不能無人心,亦莫不有是性,故雖下愚不能無道心,二者雜於方寸之間,而不知所以治之,則危者愈危,微者愈微,而天理之公卒無以勝夫人慾之私矣。精則察夫二者之間而不雜也,一則守其本心之正而不離也。從事於斯,無少閒斷,必使道心常為一身之主,而人心每聽命焉,則危者安、微者著,而動靜云為自無過不及之差矣。
夫堯、舜、禹,天下之大聖也。以天下相傳,天下之大事也。以天下之大聖,行天下之大事,而其授受之際,丁寧告戒,不過如此,則天下之理,豈有以加於此哉?自是以來,聖聖相承:若成湯、文、武之為君,皋陶、伊、傅、周、召之為臣,既皆以此而接夫道統之傳,若吾夫子,則雖不得其位,而所以繼往聖、開來學,其功反有賢於堯舜者。
然當是時,見而知之者,惟顏氏、曾氏之傳得其宗。及曾氏之再傳,而復得夫子之孫子思,則去聖遠而異端起矣。子思懼夫愈久而愈失其真也,於是推本堯舜以來相傳之意,質以平日所聞父師之言,更互演繹,作為此書,以詔後之學者。蓋其憂之也深,故其言之也切;其慮之也遠,故其說之也詳。其曰「天命率性」,則道心之謂也;其曰「擇善固執」,則精一之謂也;其曰「君子時中」,則執中之謂也。世之相後,千有餘年,而其言之不異,如合符節。歷選前聖之書,所以提挈綱維,開示蘊奧,未有若是之明且盡者也。
自是而又再傳,以得孟氏,為能推明是書,以承先聖之統,及其沒而遂失其傳焉。則吾道之所寄,不越乎言語文字之間,而異端之說,日新月盛,以至於老佛之徒出,則彌近理而大亂真矣。然而尚幸此書之不泯,故程夫子兄弟者出,得有所考,以續夫千載不傳之緒;得有所據,以斥夫二家似是之非。蓋子思之功於是為大,而微程夫子,則亦莫能因其語而得其心也。惜乎!其所以為說者不傳,而凡石氏之所輯錄,僅出於其門人之所記,是以大義雖明,而微言未析。至其門人所自為說,則雖頗詳盡而多所發明,然倍其師說而淫於老佛者,亦有之矣。
熹自蚤歲即嘗受讀而竊疑之,沈潛反覆,蓋亦有年,一旦恍然似有以得其要領者,然後乃敢會眾說而折其中,既為定著章句一篇,以俟後之君子,而一二同志。復取石氏書,刪其繁亂,名以輯略,且記所嘗論辯取捨之意,別為或問,以附其後。然後此書之旨,支分節解,脈絡貫通、詳略相因、巨細畢舉,而凡諸說之同異得失,亦得以曲暢旁通,而各極其趣。雖於道統之傳,不敢妄議,然初學之士,或有取焉,則亦庶乎升高行遠之一助云爾。
淳熙己酉春三月戊申,新安朱熹序
中庸章句集注(第1-10章)
中庸
中者,不偏不倚,無過不及之名。庸,平常也。
宋 朱子 章句
子程子曰:「不偏之謂中,不易之謂庸。中者,天下之正道;庸者,天下之定理。」此篇乃孔門傳授心法,子思恐其久而差也,故筆之於書,以授孟子。其書始言一理,中散為萬事,末復合為一理,放之則彌六合,卷之則退藏於密,其味無窮,皆實學也。善讀者玩索而有得焉,則終身用之,有不能盡者矣。
○ 天命之謂性,率性之謂道,脩道之謂教。
命,猶令也。性,即理也。天以陰陽五行化生萬物,氣以成形,而理亦賦焉,猶命令也。於是人物之生,因各得其所賦之理,以為健順五常之德,所謂性也。率,循也。道,猶路也。人物各循其性之自然,則其日用事物之間,莫不各有當行之路,是則所謂道也。脩,品節之也。性道雖同,而氣稟或異,故不能無過不及之差,聖人因人物之所當行者而品節之,以為法於天下,則謂之教,若禮、樂、刑、政之屬是也。蓋人之所以為人,道之所以為道,聖人之所以為教,原其所自,無一不本於天而備於我。學者知之,則其於學知所用力而自不能已矣。故子思於此首發明之,讀者所宜深體而默識也。
道也者,不可須臾離也,可離非道也。是故君子戒慎乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。
離,去聲。○ 道者,日用事物當行之理,皆性之德而具於心,無物不有,無時不然,所以不可須臾離也。若其可離,則為外物而非道矣。是以君子之心常存敬畏,雖不見聞,亦不敢忽,所以存天理之本然,而不使離於須臾之頃也。
莫見乎隱,莫顯乎微,故君子慎其獨也。
見,音現。○ 隱,暗處也。微,細事也。獨者,人所不知而己所獨知之地也。言幽暗之中,細微之事,跡雖未形而幾則已動,人雖不知而己獨知之,則是天下之事無有著見明顯而過於此者。是以君子既常戒懼,而於此尤加謹焉,所以遏人欲於將萌,而不使其滋長於隱微之中,以至離道之遠也。
喜怒哀樂之未發,謂之中;發而皆中節,謂之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之達道也。
樂,音洛。中節之中,去聲。○ 喜、怒、哀、樂,情也。其未發,則性也,無所偏倚,故謂之中。發皆中節,情之正也,無所乖戾,故謂之和。大本者,天命之性,天下之理皆由此出,道之體也。達道者,循性之謂,天下古今之所共由,道之用也。此言性情之德,以明道不可離之意。
致中和,天地位焉,萬物育焉。
致,推而極之也。位者,安其所也。育者,遂其生也。自戒懼而約之,以至於至靜之中,無少偏倚,而其守不失,則極其中而天地位矣。自謹獨而精之,以至於應物之處,無少差謬,而無適不然,則極其和而萬物育矣。蓋天地萬物本吾一體,吾之心正,則天地之心亦正矣,吾之氣順,則天地之氣亦順矣。故其效驗至於如此。此學問之極功、聖人之能事,初非有待於外,而修道之教亦在其中矣。是其一體一用雖有動靜之殊,然必其體立而後用有以行,則其實亦非有兩事也。故於此合而言之,以結上文之意。
右第一章。子思述所傳之意以立言。首明道之本原出於天而不可易,其實體備於己而不可離,次言存養省察之要,終言聖神功化之極。蓋欲學者於此反求諸身而自得之,以去夫外誘之私,而充其本然之善,楊氏所謂一篇之體要是也。其下十章,蓋子思引夫子之言,以終此章之義。
 
○ 仲尼曰:「君子中庸,小人反中庸。
中庸者,不偏不倚、無過不及,而平常之理,乃天命所當然,精微之極致也。惟君子為能體之,小人反是。
君子之中庸也,君子而時中;小人之中庸也,小人而無忌憚也。」
王肅本作「小人之反中庸也」,程子亦以為然。今從之。○ 君子之所以為中庸者,以其有君子之德,而又能隨時以處中也。小人之所以反中庸者,以其有小人之心,而又無所忌憚也。蓋中無定體,隨時而在,是乃平常之理也。君子知其在我,故能戒謹不睹、恐懼不聞,而無時不中。小人不知有此,則肆欲妄行,而無所忌憚矣。
右第二章。此下十章,皆論中庸以釋首章之義。文雖不屬,而意實相承也。變和言庸者,游氏曰:「以性情言之,則曰中和,以德行言之,則曰中庸是也。」然中庸之中,實兼中和之義。
 
○ 子曰:「中庸其至矣乎!民鮮能久矣!」
鮮,上聲。下同。○ 過則失中,不及則未至,故惟中庸之德為至。然亦人所同得,初無難事,但世教衰,民不興行,故鮮能之,今已久矣。論語無能字。
右第三章。
○ 子曰:「道之不行也,我知之矣,知者過之,愚者不及也;道之不明也,我知之矣,賢者過之,不肖者不及也。
知者之知,去聲。○ 道者,天理之當然,中而已矣。知愚賢不肖之過不及,則生稟之異而失其中也。知者知之過,既以道為不足行;愚者不及知,又不知所以行,此道之所以常不行也。賢者行之過,既以道為不足知;不肖者不及行,又不求所以知,此道之所以常不明也。人莫不飲食也,鮮能知味也。」道不可離,人自不察,是以有過不及之弊。
右第四章。
 
○ 子曰:「道其不行矣夫!」
夫,音扶。○ 由不明,故不行。
右第五章。此章承上章而舉其不行之端,以起下章之意。
 
○ 子曰:「舜其大知也與!舜好問而好察邇言,隱惡而揚善,執其兩端,用其中於民,其斯以為舜乎!」
知,去聲。與,平聲。好,去聲。○ 舜之所以為大知者,以其不自用而取諸人也。邇言者,淺近之言,猶必察焉,其無遺善可知。然於其言之未善者則隱而不宣,其善者則播而不匿,其廣大光明又如此,則人孰不樂告以善哉。兩端,謂眾論不同之極致。蓋凡物皆有兩端,如小大厚薄之類,於善之中又執其兩端,而量度以取中,然後用之,則其擇之審而行之至矣。然非在我之權度精切不差,何以與此。此知之所以無過不及,而道之所以行也。
右第六章。
○ 子曰:「人皆曰予知,驅而納諸罟擭陷阱之中,而莫之知辟也。人皆曰予知,擇乎中庸而不能期月守也。」
予知之知,去聲。罟,音古。擭,胡化反。阱,才性反。辟,避同。期,居之反。○ 罟,網也;擭,機檻也;陷阱,坑坎也;皆所以掩取禽獸者也。擇乎中庸,辨別眾理,以求所謂中庸,即上章好問用中之事也。期月,匝一月也。言知禍而不知辟,以況能擇而不能守,皆不得為知也。
右第七章。承上章大知而言,又舉不明之端,以起下章也。
 
○ 子曰:「回之為人也,擇乎中庸,得一善,則拳拳服膺而弗失之矣。」
回,孔子弟子顏淵名。拳拳,奉持之貌。服,猶著也。膺,胸也。奉持而著之心胸之間,言能守也。顏子蓋真知之,故能擇能守如此,此行之所以無過不及,而道之所以明也。
右第八章。
○ 子曰:「天下國家可均也,爵祿可辭也,白刃可蹈也,中庸不可能也。」
均,平治也。三者亦知仁勇之事,天下之至難也,然不必其合於中庸,則質之近似者皆能以力為之。若中庸,則雖不必皆如三者之難,然非義精仁熟,而無一毫人欲之私者,不能及也。三者難而易,中庸易而難,此民之所以鮮能也。
右第九章。亦承上章以起下章。
 
○ 子路問強。
子路,孔子弟子仲由也。子路好勇,故問強。
子曰:「南方之強與?北方之強與?抑而強與?
與,平聲。○ 抑,語辭。而,汝也。
寬柔以教,不報無道,南方之強也,君子居之。
寬柔以教,謂含容巽順以誨人之不及也。不報無道,謂橫逆之來,直受之而不報也。南方風氣柔弱,故以含忍之力勝人為強,君子之道也。
衽金革,死而不厭,北方之強也,而強者居之。
衽,席也。金,戈兵之屬。革,甲冑之屬。北方風氣剛勁,故以果敢之力勝人為強,強者之事也。
故君子和而不流,強哉矯!中立而不倚,強哉矯!國有道,不變塞焉,強哉矯!國無道,至死不變,強哉矯!」
此四者,汝之所當強也。矯,強貌。詩曰「矯矯虎臣」是也。倚,偏著也。塞,未達也。國有道,不變未達之所守;國無道,不變平生之所守也。此則所謂中庸之不可能者,非有以自勝其人欲之私,不能擇而守也。君子之強,孰大於是。夫子以是告子路者,所以抑其血氣之剛,而進之以德義之勇也。
右第十章。
中庸章句集注(第11-20章)
○ 子曰:「素隱行怪,後世有述焉,吾弗為之矣。
素,按漢書當作索,蓋字之誤也。索隱行怪,言深求隱僻之理,而過為詭異之行也。然以其足以欺世而盜名,故後世或有稱述之者。此知之過而不擇乎善,行之過而不用其中,不當強而強者也,聖人豈為之哉!
君子遵道而行,半塗而廢,吾弗能已矣。
遵道而行,則能擇乎善矣;半塗而廢,則力之不足也。此其知雖足以及之,而行有不逮,當強而不強者也。已,止也。聖人於此,非勉焉而不敢廢,蓋至誠無息,自有所不能止也。
君子依乎中庸,遯世不見知而不悔,唯聖者能之。
不為索隱行怪,則依乎中庸而已。不能半塗而廢,是以遯世不見知而不悔也。此中庸之成德,知之盡、仁之至、不賴勇而裕如者,正吾夫子之事,而猶不自居也。故曰唯聖者能之而已。
右第十一章。子思所引夫子之言,以明首章之義者止此。蓋此篇大旨,以知仁勇三達德為入道之門。故於篇首,即以大舜、顏淵、子路之事明之。舜,知也;顏淵,仁也;子路,勇也:三者廢其一,則無以造道而成德矣。餘見第二十章。
 
○ 君子之道費而隱。
費,符味反。○ 費,用之廣也。隱,體之微也。
夫婦之愚,可以與知焉,及其至也,雖聖人亦有所不知焉;夫婦之不肖,可以能行焉,及其至也,雖聖人亦有所不能焉。天地之大也,人猶有所憾。故君子語大,天下莫能載焉;語小,天下莫能破焉。
與,去聲。○ 君子之道,近自夫婦居室之間,遠而至於聖人天地之所不能盡,其大無外,其小無內,可謂費矣。然其理之所以然,則隱而莫之見也。蓋可知可能者,道中之一事,及其至而聖人不知不能。則舉全體而言,聖人固有所不能盡也。侯氏曰:「聖人所不知,如孔子問禮問官之類;所不能,如孔子不得位、堯舜病博施之類。」愚謂人所憾於天地,如覆載生成之偏,及寒暑災祥之不得其正者。
詩云:「鳶飛戾天,魚躍于淵。」言其上下察也。
鳶,余專反。○ 詩大雅旱麓之篇。鳶,鴟類。戾,至也。察,著也。子思引此詩以明化育流行,上下昭著,莫非此理之用,所謂費也。然其所以然者,則非見聞所及,所謂隱也。故程子曰:「此一節,子思喫緊為人處,活潑潑地,讀者其致思焉。」
君子之道,造端乎夫婦;及其至也,察乎天地。
結上文。
右第十二章。子思之言,蓋以申明首章道不可離之意也。其下八章,雜引孔子之言以明之。
 
○ 子曰:「道不遠人。人之為道而遠人,不可以為道。
道者,率性而已,固眾人之所能知能行者也,故常不遠於人。若為道者,厭其卑近以為不足為,而反務為高遠難行之事,則非所以為道矣!
詩云:『伐柯伐柯,其則不遠。』執柯以伐柯,睨而視之,猶以為遠。故君子以人治人,改而止。
睨,研計反。○ 詩豳風伐柯之篇。柯,斧柄。則,法也。睨,邪視也。言人執柯伐木以為柯者,彼柯長短之法,在此柯耳。然猶有彼此之別,故伐者視之猶以為遠也。若以人治人,則所以為人之道,各在當人之身,初無彼此之別。故君子之治人也,即以其人之道,還治其人之身。其人能改,即止不治。蓋責之以其所能知能行,非欲其遠人以為道也。張子所謂「以眾人望人則易從」是也。
忠恕違道不遠,施諸己而不願,亦勿施於人。
盡己之心為忠,推己及人為恕。違,去也,如春秋傳「齊師違穀七里」之違。言自此至彼,相去不遠,非背而去之之謂也。道,即其不遠人者是也。施諸己而不願亦勿施於人,忠恕之事也。以己之心度人之心,未嘗不同,則道之不遠於人者可見。故己之所不欲,則勿以施之於人,亦不遠人以為道之事。張子所謂「以愛己之心愛人則盡仁」是也。
君子之道四,丘未能一焉:所求乎子,以事父未能也;所求乎臣,以事君未能也;所求乎弟,以事兄未能也;所求乎朋友,先施之未能也。庸德之行,庸言之謹,有所不足,不敢不勉,有餘不敢盡;言顧行,行顧言,君子胡不慥慥爾!」
子、臣、弟、友,四字絕句。○ 求,猶責也。道不遠人,凡己之所以責人者,皆道之所當然也,故反之以自責而自修焉。庸,平常也。行者,踐其實。謹者,擇其可。德不足而勉,則行益力;言有餘而訒,則謹益至。謹之至則言顧行矣;行之力則行顧言矣。慥慥,篤實貌。言君子之言行如此,豈不慥慥乎,贊美之也。凡此皆不遠人以為道之事。張子所謂「以責人之心責己則盡道」是也。
右第十三章。道不遠人者,夫婦所能,丘未能一者,聖人所不能,皆費也。而其所以然者,則至隱存焉。下章放此。
 
○ 君子素其位而行,不願乎其外。
素,猶見在也。言君子但因見在所居之位而為其所當為,無慕乎其外之心也。
素富貴,行乎富貴;素貧賤,行乎貧賤;素夷狄,行乎夷狄;素患難,行乎患難;君子無入而不自得焉。
難,去聲。○ 此言素其位而行也。
在上位不陵下,在下位不援上,正己而不求於人則無怨。上不怨天,下不尤人。
援,平聲。○ 此言不願乎其外也。
故君子居易以俟命,小人行險以徼幸。
易,去聲。○ 易,平地也。居易,素位而行也。俟命,不願乎外也。徼,求也。幸,謂所不當得而得者。
子曰:「射有似乎君子;失諸正鵠,反求諸其身。」
正,音征。鵠,工毒反。○ 畫布曰正,棲皮曰鵠,皆侯之中,射之的也。子思引此孔子之言,以結上文之意。
右第十四章。子思之言也。凡章首無「子曰」字者放此。
 
○ 君子之道,辟如行遠必自邇,辟如登高必自卑。辟、譬同。
詩曰:「妻子好合,如鼓瑟琴;兄弟既翕,和樂且耽;宜爾室家;樂爾妻帑。」
好,去聲。耽,詩作湛,亦音耽。樂,音洛。○ 詩小雅常棣之篇。鼓瑟琴,和也。翕,亦合也。耽,亦樂也。帑,子孫也。
子曰:「父母其順矣乎!」
夫子誦此詩而贊之曰:人能和於妻子,宜於兄弟如此,則父母其安樂之矣。子思引詩及此語,以明行遠自邇、登高自卑之意。
右第十五章。
 
○ 子曰:「鬼神之為德,其盛矣乎!
程子曰:「鬼神,天地之功用,而造化之跡也。」張子曰:「鬼神者,二氣之良能也。」愚謂以二氣言,則鬼者陰之靈也,神者陽之靈也。以一氣言,則至而伸者為神,反而歸者為鬼,其實一物而已。為德,猶言性情功效。
視之而弗見,聽之而弗聞,體物而不可遺。
鬼神無形與聲,然物之終始,莫非陰陽合散之所為,是其為物之體,而物所不能遺也。其言體物,猶易所謂幹事。
使天下之人齊明盛服,以承祭祀。洋洋乎!如在其上,如在其左右。
齊,側皆反。○ 齊之為言齊也,所以齊不齊而致其齊也。明,猶潔也。洋洋,流動充滿之意。能使人畏敬奉承,而發見昭著如此,乃其體物而不可遺之驗也。孔子曰:「其氣發揚于上,為昭明焄蒿悽愴。此百物之精也,神之著也」,正謂此爾。
詩曰:『神之格思,不可度思!矧可射思!』
度,待洛反。射,音亦,詩作斁。○ 詩大雅抑之篇。格,來也。矧,況也。射,厭也,言厭怠而不敬也。思,語辭。
夫微之顯,誠之不可揜如此夫。」
夫,音扶。○ 誠者,真實無妄之謂。陰陽合散,無非實者。故其發見之不可揜如此。
右第十六章。不見不聞,隱也。體物如在,則亦費矣。此前三章,以其費之小者而言。此後三章,以其費之大者而言。此一章,兼費隱、包大小而言。
 
○ 子曰:「舜其大孝也與!德為聖人,尊為天子,富有四海之內。宗廟饗之,子孫保之。
與,平聲。○ 子孫,謂虞思、陳胡公之屬。
故大德必得其位,必得其祿,必得其名,必得其壽。
舜年百有十歲。
故天之生物,必因其材而篤焉。故栽者培之,傾者覆之。
材,質也。篤,厚也。栽,植也。氣至而滋息為培。氣反而游散則覆。
詩曰:『嘉樂君子,憲憲令德!宜民宜人;受祿于天;保佑命之,自天申之!』
詩大雅假樂之篇。假,當依此作嘉。憲,當依詩作顯。申,重也。
故大德者必受命。」
受命者,受天命為天子也。
右第十七章。此由庸行之常,推之以極其至,見道之用廣也。而其所以然者,則為體微矣。後二章亦此意。
 
○ 子曰:「無憂者其惟文王乎!以王季為父,以武王為子,父作之,子述之。
此言文王之事。書言「王季其勤王家」,蓋其所作,亦積功累仁之事也。
武王纘大王、王季、文王之緒。壹戎衣而有天下,身不失天下之顯名。尊為天子,富有四海之內。宗廟饗之,子孫保之。
大,音泰,下同。○ 此言武王之事。纘,繼也。大王,王季之父也。書云:「大王肇基王跡。」詩云「至于大王,實始翦商。」緒,業也。戎衣,甲冑之屬。壹戎衣,武成文,言一著戎衣以伐紂也。
武王末受命,周公成文武之德,追王大王、王季,上祀先公以天子之禮。斯禮也,達乎諸侯大夫,及士庶人。父為大夫,子為士;葬以大夫,祭以士。父為士,子為大夫;葬以士,祭以大夫。期之喪達乎大夫,三年之喪達乎天子,父母之喪無貴賤一也。」
追王之王,去聲。○ 此言周公之事。末,猶老也。追王,蓋推文武之意,以及乎王跡之所起也。先公,組紺以上至后稷也。上祀先公以天子之禮,又推大王、王季之意,以及於無窮也。制為禮法,以及天下,使葬用死者之爵,祭用生者之祿。喪服自期以下,諸侯絕;大夫降;而父母之喪,上下同之,推己以及人也。
右第十八章。
 
○ 子曰:「武王、周公,其達孝矣乎!
達,通也。承上章而言武王、周公之孝,乃天下之人通謂之孝,猶孟子之言達尊也。
夫孝者:善繼人之志,善述人之事者也。
上章言武王纘大王、王季、文王之緒以有天下,而周公成文武之德以追崇其先祖,此繼志述事之大者也。下文又以其所制祭祀之禮,通於上下者言之。
春秋修其祖廟,陳其宗器,設其裳衣,薦其時食。
祖廟:天子七,諸侯五,大夫三,適士二,官師一。宗器,先世所藏之重器;若周之赤刀、大訓、天球、河圖之屬也。裳衣,先祖之遺衣服,祭則設之以授尸也。時食,四時之食,各有其物,如春行羔、豚、膳、膏、香之類是也。
宗廟之禮,所以序昭穆也;序爵,所以辨貴賤也;序事,所以辨賢也;旅酬下為上,所以逮賤也;燕毛,所以序齒也。
昭,如字。為,去聲。○ 宗廟之次:左為昭,右為穆,而子孫亦以為序。有事於太廟,則子姓、兄弟、群昭、群穆咸在而不失其倫焉。爵,公、侯、卿、大夫也。事,宗祝有司之職事也。旅,眾也。酬,導飲也。旅酬之禮,賓弟子、兄弟之子各舉觶於其長而眾相酬。蓋宗廟之中以有事為榮,故逮及賤者,使亦得以申其敬也。燕毛,祭畢而燕,則以毛髮之色別長幼,為坐次也。齒,年數也。
踐其位,行其禮,奏其樂,敬其所尊,愛其所親,事死如事生,事亡如事存,孝之至也。
踐,猶履也。其,指先王也。所尊所親,先王之祖考、子孫、臣庶也。始死謂之死,既葬則曰反而亡焉,皆指先王也。此結上文兩節,皆繼志述事之意也。
郊社之禮,所以事上帝也,宗廟之禮,所以祀乎其先也。明乎郊社之禮、禘嘗之義,治國其如示諸掌乎。」
郊,祀天。社,祭地。不言后土者,省文也。禘,天子宗廟之大祭,追祭太祖之所自出於太廟,而以太祖配之也。嘗,秋祭也。四時皆祭,舉其一耳。禮必有義,對舉之,互文也。示,與視同。視諸掌,言易見也。此與論語文意大同小異,記有詳略耳。
右第十九章。
 
○ 哀公問政。
哀公,魯君,名蔣。
子曰:「文武之政,布在方策。其人存,則其政舉;其人亡,則其政息。
方,版也。策,簡也。息,猶滅也。有是君,有是臣,則有是政矣。
人道敏政,地道敏樹。夫政也者,蒲盧也。
夫,音扶。○ 敏,速也。蒲盧,沈括以為蒲葦是也。以人立政,猶以地種樹,其成速矣,而蒲葦又易生之物,其成尤速也。言人存政舉,其易如此。
故為政在人,取人以身,脩身以道,脩道以仁。
此承上文人道敏政而言也。為政在人,家語作「為政在於得人」,語意尤備。人,謂賢臣。身,指君身。道者,天下之達道。仁者,天地生物之心,而人得以生者,所謂元者善之長也。言人君為政在於得人,而取人之則又在脩身。能仁其身,則有君有臣,而政無不舉矣。
仁者人也,親親為大;義者宜也,尊賢為大;親親之殺,尊賢之等,禮所生也。
殺,去聲。○ 人,指人身而言。具此生理,自然便有惻怛慈愛之意,深體味之可見。宜者,分別事理,各有所宜也。禮,則節文斯二者而已。
在下位不獲乎上,民不可得而治矣!
鄭氏曰:「此句在下,誤重在此。」
故君子不可以不脩身;思脩身,不可以不事親;思事親,不可以不知人;思知人,不可以不知天。」
為政在人,取人以身,故不可以不脩身。脩身以道,脩道以仁,故思脩身不可以不事親。欲盡親親之仁,必由尊賢之義,故又當知人。親親之殺,尊賢之等,皆天理也,故又當知天。
天下之達道五,所以行之者三:曰君臣也,父子也,夫婦也,昆弟也,朋友之交也:五者天下之達道也。知、仁、勇三者,天下之達德也,所以行之者一也。
知,去聲。○ 達道者,天下古今所共由之路,即書所謂五典,孟子所謂「父子有親、君臣有義、夫婦有別、長幼有序、朋友有信」是也。知,所以知此也;仁,所以體此也;勇,所以強此也;謂之達德者,天下古今所同得之理也。一則誠而已矣。達道雖人所共由,然無是三德,則無以行之;達德雖人所同得,然一有不誠,則人欲間之,而德非其德矣。程子曰:「所謂誠者,止是誠實此三者。三者之外,更別無誠。」
或生而知之,或學而知之,或困而知之,及其知之一也;或安而行之,或利而行之,或勉強而行之,及其成功一也。
強,上聲。○ 知之者之所知,行之者之所行,謂達道也。以其分而言:則所以知者知也,所以行者仁也,所以至於知之成功而一者勇也。以其等而言:則生知安行者知也,學知利行者仁也,困知勉行者勇也。蓋人性雖無不善,而氣稟有不同者,故聞道有蚤莫,行道有難易,然能自強不息,則其至一也。呂氏曰:「所入之塗雖異,而所至之域則同,此所以為中庸。若乃企生知安行之資為不可幾及,輕困知勉行謂不能有成,此道之所以不明不行也。」
子曰:「好學近乎知,力行近乎仁,知恥近乎勇。
「子曰」二字衍文。好近乎知之知,並去聲。○ 此言未及乎達德而求以入德之事。通上文三知為知,三行為仁,則此三近者,勇之次也。呂氏曰:「愚者自是而不求,自私者殉人欲而忘反,懦者甘為人下而不辭。故好學非知,然足以破愚;力行非仁,然足以忘私;知恥非勇,然足以起懦。」
知斯三者,則知所以脩身;知所以脩身,則知所以治人;知所以治人,則知所以治天下國家矣。」
斯三者,指三近而言。人者,對己之稱。天下國家,則盡乎人矣。言此以結上文脩身之意,起下文九經之端也。
凡為天下國家有九經,曰:脩身也,尊賢也,親親也,敬大臣也,體群臣也,子庶民也,來百工也,柔遠人也,懷諸侯也。
經,常也。體,謂設以身處其地而察其心也。子,如父母之愛其子也。柔遠人,所謂無忘賓旅者也。此列九經之目也。呂氏曰:「天下國家之本在身,故脩身為九經之本。然必親師取友,然後脩身之道進,故尊賢次之。道之所進,莫先其家,故親親次之。由家以及朝廷,故敬大臣、體群臣次之。由朝廷以及其國,故子庶民、來百工次之。由其國以及天下,故柔遠人、懷諸侯次之。此九經之序也。」視群臣猶吾四體,視百姓猶吾子,此視臣視民之別也。
脩身則道立,尊賢則不惑,親親則諸父昆弟不怨,敬大臣則不眩,體群臣則士之報禮重,子庶民則百姓勸,來百工則財用足,柔遠人則四方歸之,懷諸侯則天下畏之。
此言九經之效也。道立,謂道成於己而可為民表,所謂皇建其有極是也。不惑,謂不疑於理。不眩,謂不迷於事。敬大臣則信任專,而小臣不得以間之,故臨事而不眩也。來百工則通功易事,農末相資,故財用足。柔遠人,則天下之旅皆悅而願出於其塗,故四方歸。懷諸侯,則德之所施者博,而威之所制者廣矣,故曰天下畏之。
齊明盛服,非禮不動,所以脩身也;去讒遠色,賤貨而貴德,所以勸賢也;尊其位,重其祿,同其好惡,所以勸親親也;官盛任使,所以勸大臣也;忠信重祿,所以勸士也;時使薄斂,所以勸百姓也;日省月試,既稟稱事,所以勸百工也;送往迎來,嘉善而矜不能,所以柔遠人也;繼絕世,舉廢國,治亂持危,朝聘以時,厚往而薄來,所以懷諸侯也。
齊,側皆反。去,上聲。遠、好、惡、斂,並去聲。既,許氣反。稟,彼錦、力錦二反。稱,去聲。朝,音潮。○ 此言九經之事也。官盛任使,謂官屬眾盛,足任使令也,蓋大臣不當親細事,故所以優之者如此。忠信重祿,謂待之誠而養之厚,蓋以身體之,而知其所賴乎上者如此也。既,讀曰餼。餼稟,稍食也。稱事,如周禮稿人職,曰「考其弓弩,以上下其食」是也。往則為之授節以送之,來則豐其委積以迎之。朝,謂諸侯見於天子。聘,謂諸侯使大夫來獻。王制「比年一小聘,三年一大聘,五年一朝」。厚往薄來,謂燕賜厚而納貢薄。
凡為天下國家有九經,所以行之者一也。
一者,誠也。一有不誠,則是九者皆為虛文矣,此九經之實也。
凡事豫則立,不豫則廢。言前定則不跲,事前定則不困,行前定則不疚,道前定則不窮。
跲,其劫反。行,去聲。○ 凡事,指達道達德九經之屬。豫,素定也。跲,躓也。疚,病也。此承上文,言凡事皆欲先立乎誠,如下文所推是也。
在下位不獲乎上,民不可得而治矣;獲乎上有道:不信乎朋友,不獲乎上矣;信乎朋友有道:不順乎親,不信乎朋友矣;順乎親有道:反諸身不誠,不順乎親矣;誠身有道:不明乎善,不誠乎身矣。
此又以在下位者,推言素定之意。反諸身不誠,謂反求諸身而所存所發,未能真實而無妄也。不明乎善,謂未能察於人心天命之本然,而真知至善之所在也。
誠者,天之道也;誠之者,人之道也。誠者不勉而中,不思而得,從容中道,聖人也。誠之者,擇善而固執之者也。
中,並去聲。從,七容反。○ 此承上文誠身而言。誠者,真實無妄之謂,天理之本然也。誠之者,未能真實無妄,而欲其真實無妄之謂,人事之當然也。聖人之德,渾然天理,真實無妄,不待思勉而從容中道,則亦天之道也。未至於聖,則不能無人欲之私,而其為德不能皆實。故未能不思而得,則必擇善,然後可以明善;未能不勉而中,則必固執,然後可以誠身,此則所謂人之道也。不思而得,生知也。不勉而中,安行也。擇善,學知以下之事。固執,利行以下之事也。
博學之,審問之,慎思之,明辨之,篤行之。
此誠之之目也。學、問、思、辨,所以擇善而為知,學而知也。篤行,所以固執而為仁,利而行也。程子曰:「五者廢其一,非學也。」
有弗學,學之弗能弗措也;有弗問,問之弗知弗措也;有弗思,思之弗得弗措也;有弗辨,辨之弗明弗措也;有弗行,行之弗篤弗措也;人一能之己百之,人十能之己千之。
君子之學,不為則已,為則必要其成,故常百倍其功。此困而知,勉而行者也,勇之事也。
果能此道矣,雖愚必明,雖柔必強。
明者擇善之功,強者固執之效。呂氏曰:「君子所以學者,為能變化氣質而已。德勝氣質,則愚者可進於明,柔者可進於強。不能勝之,則雖有志於學,亦愚不能明,柔不能立而已矣。蓋均善而無惡者,性也,人所同也;昏明強弱之稟不齊者,才也,人所異也。誠之者所以反其同而變其異也。夫以不美之質,求變而美,非百倍其功,不足以致之。今以鹵莽滅裂之學,或作或輟,以變其不美之質,及不能變,則曰天質不美,非學所能變。是果於自棄,其為不仁甚矣!」
右第二十章。此引孔子之言,以繼大舜、文、武、周公之緒,明其所傳之一致,舉而措之,亦猶是耳。蓋包費隱、兼小大,以終十二章之意。章內語誠始詳,而所謂誠者,實此篇之樞紐也。又按:孔子家語,亦載此章,而其文尤詳。「成功一也」之下,有「公曰:子之言美矣!至矣!寡人實固,不足以成之也」。故其下復以「子曰」起答辭。今無此問辭,而猶有「子曰」二字;蓋子思刪其繁文以附于篇,而所刪有不盡者,今當為衍文也。「博學之」以下,家語無之,意彼有闕文,抑此或子思所補也歟?
中庸章句集注(第21-33章)
○ 自誠明,謂之性;自明誠,謂之教。誠則明矣,明則誠矣。
自,由也。德無不實而明無不照者,聖人之德。所性而有者也,天道也。先明乎善,而後能實其善者,賢人之學。由教而入者也,人道也。誠則無不明矣,明則可以至於誠矣。
右第二十一章。子思承上章夫子天道、人道之意而立言也。自此以下十二章,皆子思之言,以反覆推明此章之意。
 
唯天下至誠,為能盡其性;能盡其性,則能盡人之性;能盡人之性,則能盡物之性;能盡物之性,則可以贊天地之化育;可以贊天地之化育,則可以與天地參矣。
天下至誠,謂聖人之德之實,天下莫能加也。盡其性者德無不實,故無人欲之私,而天命之在我者,察之由之,巨細精粗,無毫髮之不盡也。人物之性,亦我之性,但以所賦形氣不同而有異耳。能盡之者,謂知之無不明而處之無不當也。贊,猶助也。與天地參,謂與天地並立為三也。此自誠而明者之事也。 
右第二十二章。言天道也。
 
○ 其次致曲,曲能有誠,誠則形,形則著,著則明,明則動,動則變,變則化,唯天下至誠為能化。
其次,通大賢以下凡誠有未至者而言也。致,推致也。曲,一偏也。形者,積中而發外。著,則又加顯矣。明,則又有光輝發越之盛也。動者,誠能動物。變者,物從而變。化,則有不知其所以然者。蓋人之性無不同,而氣則有異,故惟聖人能舉其性之全體而盡之。其次則必自其善端發見之偏,而悉推致之,以各造其極也。曲無不致,則德無不實,而形、著、動、變之功自不能已。積而至於能化,則其至誠之妙,亦不異於聖人矣。
右第二十三章。言人道也。
 
○ 至誠之道,可以前知。國家將興,必有禎祥;國家將亡,必有妖孽;見乎蓍龜,動乎四體。禍福將至:善,必先知之;不善,必先知之。故至誠如神。
見,音現。○ 禎祥者,福之兆。妖孽者,禍之萌。蓍,所以筮。龜,所以卜。四體,謂動作威儀之閒,如執玉高卑,其容俯仰之類。凡此皆理之先見者也。然惟誠之至極,而無一毫私偽留於心目之間者,乃能有以察其幾焉。神,謂鬼神。
右第二十四章。言天道也。
 
○ 誠者自成也,而道自道也。
道也之道,音導。言誠者物之所以自成,而道者人之所當自行也。誠以心言,本也;道以理言,用也。
誠者物之終始,不誠無物。是故君子誠之為貴。
天下之物,皆實理之所為,故必得是理,然後有是物。所得之理既盡,則是物亦盡而無有矣。故人之心一有不實,則雖有所為亦如無有,而君子必以誠為貴也。蓋人之心能無不實,乃為有以自成,而道之在我者亦無不行矣。
誠者非自成己而已也,所以成物也。成己,仁也;成物,知也。性之德也,合外內之道也,故時措之宜也。
知,去聲。○ 誠雖所以成己,然既有以自成,則自然及物,而道亦行於彼矣。仁者體之存,知者用之發,是皆吾性之固有,而無內外之殊。既得於己,則見於事者,以時措之,而皆得其宜也。
右第二十五章。言人道也。
 
○ 故至誠無息。
既無虛假,自無間斷。
不息則久,久則徵。
久,常於中也。徵,驗於外也。
徵則悠遠,悠遠則博厚,博厚則高明。
此皆以其驗於外者言之。鄭氏所謂「至誠之德,著於四方」者是也。存諸中者既久,則驗於外者益悠遠而無窮矣。悠遠,故其積也廣博而深厚;博厚,故其發也高大而光明。
博厚,所以載物也;高明,所以覆物也;悠久,所以成物也。
悠久,即悠遠,兼內外而言之也。本以悠遠致高厚,而高厚又悠久也。此言聖人與天地同用。
博厚配地,高明配天,悠久無疆。
此言聖人與天地同體。
如此者,不見而章,不動而變,無為而成。
見,音現。○ 見,猶示也。不見而章,以配地而言也。不動而變,以配天而言也。無為而成,以無疆而言也。
天地之道,可一言而盡也:其為物不貳,則其生物不測。
此以下,復以天地明至誠無息之功用。天地之道,可一言而盡,不過曰誠而已。不貳,所以誠也。誠故不息,而生物之多,有莫知其所以然者。
天地之道:博也,厚也,高也,明也,悠也,久也。
言天地之道,誠一不貳,故能各極所盛,而有下文生物之功。今夫天,斯昭昭之多,及其無窮也,日月星辰繫焉,萬物覆焉。
今夫地,一撮土之多,及其廣厚,載華嶽而不重,振河海而不洩,萬物載焉。今夫山,一卷石之多,及其廣大,草木生之,禽獸居之,寶藏興焉。今夫水,一勺之多,及其不測,黿鼉、蛟龍、魚鱉生焉,貨財殖焉。
夫,音扶。華、藏,並去聲。卷,平聲。勺,市若反。○ 昭昭,猶耿耿,小明也。此指其一處而言之。及其無窮,猶十二章及其至也之意,蓋舉全體而言也。振,收也。卷,區也。此四條,皆以發明由其不貳不息以致盛大而能生物之意。然天、地、山、川,實非由積累而後大,讀者不以辭害意可也。
詩云:「維天之命,於穆不已!」蓋曰天之所以為天也。「於乎不顯!文王之德之純!」蓋曰文王之所以為文也,純亦不已。
於,音烏。乎,音呼。○ 詩周頌維天之命篇。於,歎辭。穆,深遠也。不顯,猶言豈不顯也。純,純一不雜也。引此以明至誠無息之意。程子曰:「天道不已,文王純於天道,亦不已。純則無二無雜,不已則無間斷先後。」
右第二十六章。言天道也。
 
○ 大哉聖人之道!
包下文兩節而言。
洋洋乎!發育萬物,峻極于天。
峻,高大也。此言道之極於至大而無外也。
優優大哉!禮儀三百,威儀三千。
優優,充足有餘之意。禮儀,經禮也。威儀,曲禮也。此言道之入於至小而無閒也。
待其人而後行。
總結上兩節。
故曰苟不至德,至道不凝焉。
至德,謂其人。至道,指上兩節而言也。凝,聚也,成也。
故君子尊德性而道問學,致廣大而盡精微,極高明而道中庸。溫故而知新,敦厚以崇禮。
尊者,恭敬奉持之意。德性者,吾所受於天之正理。道,由也。溫,猶燖溫之溫,謂故學之矣,復時習之也。敦,加厚也。尊德性,所以存心而極乎道體之大也。道問學,所以致知而盡乎道體之細也。二者修德凝道之大端也。不以一毫私意自蔽,不以一毫私欲自累,涵泳乎其所已知。敦篤乎其所已能,此皆存心之屬也。析理則不使有毫釐之差,處事則不使有過不及之謬,理義則日知其所未知,節文則日謹其所未謹,此皆致知之屬也。蓋非存心無以致知,而存心者又不可以不致知。故此五句,大小相資,首尾相應,聖賢所示入德之方,莫詳於此,學者宜盡心焉。
是故居上不驕,為下不倍,國有道其言足以興,國無道其默足以容。詩曰「既明且哲,以保其身」,其此之謂與!
倍,與背同。與,平聲。○ 興,謂興起在位也。詩大雅烝民之篇。
右第二十七章。言人道也。
 
○ 子曰:「愚而好自用,賤而好自專,生乎今之世,反古之道。如此者,烖及其身者也。」
好,去聲。烖,古灾字。○ 以上孔子之言,子思引之。反,復也。
非天子,不議禮,不制度,不考文。
此以下,子思之言。禮,親疏貴賤相接之體也。度,品制。文,書名。
今天下車同軌,書同文,行同倫。
行,去聲。○ 今,子思自謂當時也。軌,轍跡之度。倫,次序之體。三者皆同,言天下一統也。
雖有其位,苟無其德,不敢作禮樂焉;雖有其德,苟無其位,亦不敢作禮樂焉。
鄭氏曰:「言作禮樂者,必聖人在天子之位。」
子曰:「吾說夏禮,杞不足徵也;吾學殷禮,有宋存焉;吾學周禮,今用之,吾從周。」
此又引孔子之言。杞,夏之後。徵,證也。宋,殷之後。三代之禮,孔子皆嘗學之而能言其意;但夏禮既不可考證,殷禮雖存,又非當世之法,惟周禮乃時王之制,今日所用。孔子既不得位,則從周而已。
右第二十八章。承上章為下不倍而言,亦人道也。
 
○ 王天下有三重焉,其寡過矣乎!
王,去聲。○ 呂氏曰:「三重,謂議禮、制度、考文。惟天子得以行之,則國不異政,家不殊俗,而人得寡過矣。」
上焉者雖善無徵,無徵不信,不信民弗從;下焉者雖善不尊,不尊不信,不信民弗從。
上焉者,謂時王以前,如夏、商之禮雖善,而皆不可考。下焉者,謂聖人在下,如孔子雖善於禮,而不在尊位也。
故君子之道:本諸身,徵諸庶民,考諸三王而不繆,建諸天地而不悖,質諸鬼神而無疑,百世以俟聖人而不惑。
此君子,指王天下者而言。其道,即議禮、制度、考文之事也。本諸身,有其德也。徵諸庶民,驗其所信從也。建,立也,立於此而參於彼也。天地者,道也。鬼神者,造化之跡也。百世以俟聖人而不惑,所謂聖人復起,不易吾言者也。
質諸鬼神而無疑,知天也;百世以俟聖人而不惑,知人也。
知天知人,知其理也。
是故君子動而世為天下道,行而世為天下法,言而世為天下則。遠之則有望,近之則不厭。
動,兼言行而言。道,兼法則而言。法,法度也。則,準則也。
詩曰:「在彼無惡,在此無射;庶幾夙夜,以永終譽!」君子未有不如此而蚤有譽於天下者也。
惡,去聲。射,音妒,詩作斁。○ 詩周頌振鷺之篇。射,厭也。所謂此者,指本諸身以下六事而言。
右第二十九章。承上章居上不驕而言,亦人道也。
 
○ 仲尼祖述堯舜,憲章文武;上律天時,下襲水土。
祖述者,遠宗其道。憲章者,近守其法。律天時者,法其自然之運。襲水土者,因其一定之理。皆兼內外該本末而言也。
辟如天地之無不持載,無不覆幬,辟如四時之錯行,如日月之代明。
辟,音譬。幬,徒報反。○ 錯,猶迭也。此言聖人之德。
萬物並育而不相害,道並行而不相悖,小德川流,大德敦化,此天地之所以為大也。
悖,猶背也。天覆地載,萬物並育於其間而不相害;四時日月,錯行代明而不相悖。所以不害不悖者,小德之川流;所以並育並行者,大德之敦化。小德者,全體之分;大德者,萬殊之本。川流者,如川之流,脈絡分明而往不息也。敦化者,敦厚其化,根本盛大而出無窮也。此言天地之道,以見上文取辟之意也。
右第三十章。言天道也。
 
○ 唯天下至聖,為能聰明睿知,足以有臨也;寬裕溫柔,足以有容也;發強剛毅,足以有執也;齊莊中正,足以有敬也;文理密察,足以有別也。
知,去聲。齊,側皆反。別,彼列反。○ 聰明睿知,生知之質。臨,謂居上而臨下也。其下四者,乃仁義禮知之德。文,文章也。理,條理也。密,詳細也。察,明辯也。
溥博淵泉,而時出之。
溥博,周遍而廣闊也。淵泉,靜深而有本也。出,發見也。言五者之德,充積於中,而以時發見於外也。
溥博如天,淵泉如淵。見而民莫不敬,言而民莫不信,行而民莫不說。
見,音現。說,音悅。○ 言其充積極其盛,而發見當其可也。
是以聲名洋溢乎中國,施及蠻貊;舟車所至,人力所通;天之所覆,地之所載,日月所照,霜露所隊;凡有血氣者,莫不尊親,故曰配天。
施,去聲。隊,音墜。○ 舟車所至以下,蓋極言之。配天,言其德之所及,廣大如天也。
右第三十一章。承上章而言小德之川流,亦天道也。
 
○ 唯天下至誠,為能經綸天下之大經,立天下之大本,知天地之化育。夫焉有所倚?夫,音扶。焉,於虔反。○ 經,綸,皆治絲之事。經者,理其緒而分之;綸者,比其類而合之也。經,常也。大經者,五品之人倫。大本者,所性之全體也。惟聖人之德極誠無妄,故於人倫各盡其當然之實,而皆可以為天下後世法,所謂經綸之也。其於所性之全體,無一毫人欲之偽以雜之,而天下之道千變萬化皆由此出,所謂立之也。其於天地之化育,則亦其極誠無妄者有默契焉,非但聞見之知而已。此皆至誠無妄,自然之功用,夫豈有所倚著於物而後能哉。
肫肫其仁!淵淵其淵!浩浩其天!
肫,之純反。○ 肫肫,懇至貌,以經綸而言也。淵淵,靜深貌,以立本而言也。浩浩,廣大貌,以知化而言也。其淵其天,則非特如之而已。
苟不固聰明聖知達天德者,其孰能知之?
聖知之知,去聲。○ 固,猶實也。鄭氏曰:「惟聖人能知聖人也。」
右第三十二章。承上章而言大德之敦化,亦天道也。前章言至聖之德,此章言至誠之道。然至誠之道,非至聖不能知;至聖之德,非至誠不能為,則亦非二物矣。此篇言聖人天道之極致,至此而無以加矣。
 
○ 詩曰「衣錦尚絅」,惡其文之著也。故君子之道,闇然而日章;小人之道,的然而日亡。君子之道:淡而不厭,簡而文,溫而理,知遠之近,知風之自,知微之顯,可與入德矣。
衣,去聲。絅,口迥反。惡,去聲。闇,於感反。○ 前章言聖人之德,極其盛矣。此復自下學立心之始言之,而下文又推之以至其極也。詩國風衛碩人、鄭之丰,皆作「衣錦褧衣」。褧、絅同。襌衣也。尚,加也。古之學者為己,故其立心如此。尚絅故闇然,衣錦故有日章之實。淡、簡、溫,絅之襲於外也;不厭而文且理焉,錦之美在中也。小人反是,則暴於外而無實以繼之,是以的然而日亡也。遠之近,見於彼者由於此也。風之自,著乎外者本乎內也。微之顯,有諸內者形諸外也。有為己之心,而又知此三者,則知所謹而可入德矣。故下文引詩言謹獨之事。
詩云:「潛雖伏矣,亦孔之昭!」故君子內省不疚,無惡於志。君子之所不可及者,其唯人之所不見乎。
惡,去聲。○ 詩小雅正月之篇。承上文言「莫見乎隱、莫顯乎微」也。疚,病也。無惡於志,猶言無愧於心,此君子謹獨之事也。
詩云:「相在爾室,尚不愧于屋漏。」故君子不動而敬,不言而信。
相,去聲。○ 詩大雅抑之篇。相,視也。屋漏,室西北隅也。承上文又言君子之戒謹恐懼,無時不然,不待言動而後敬信,則其為己之功益加密矣。故下文引詩并言其效。
詩曰:「奏假無言,時靡有爭。」是故君子不賞而民勸,不怒而民威於鈇鉞。
假,格同。鈇,音夫。○ 詩商頌烈祖之篇。奏,進也。承上文而遂及其效,言進而感格於神明之際,極其誠敬,無有言說而人自化之也。威,畏也。鈇,莝斫刀也。鉞,斧也。
詩曰:「不顯惟德!百辟其刑之。」是故君子篤恭而天下平。
詩周頌烈文之篇。不顯,說見二十六章,此借引以為幽深玄遠之意。承上文言天子有不顯之德,而諸侯法之,則其德愈深而效愈遠矣。篤,厚也。篤恭,言不顯其敬也。篤恭而天下平,乃聖人至德淵微,自然之應,中庸之極功也。
詩云:「予懷明德,不大聲以色。」子曰:「聲色之於以化民,末也。」詩曰:「德輶如毛」,毛猶有倫。「上天之載,無聲無臭」,至矣!
輶,由酉二音。○ 詩大雅皇矣之篇。引之以明上文所謂不顯之德者,正以其不大聲與色也。又引孔子之言,以為聲色乃化民之末務,今但言不大之而已,則猶有聲色者存,是未足以形容不顯之妙。不若烝民之詩所言「德輶如毛」,則庶乎可以形容矣,而又自以為謂之毛,則猶有可比者,是亦未盡其妙。不若文王之詩所言「上天之事,無聲無臭」,然後乃為不顯之至耳。蓋聲臭有氣無形,在物最為微妙,而猶曰無之,故惟此可以形容不顯篤恭之妙。非此德之外,又別有是三等,然後為至也。
右第三十三章。子思因前章極致之言,反求其本,復自下學為己謹獨之事,推而言之,以馴致乎篤恭而天下平之盛。又贊其妙,至於無聲無臭而後已焉。蓋舉一篇之要而約言之,其反復丁寧示人之意,至深切矣,學者其可不盡心乎!
 

Da shay 大學章句 The Confucianism Great Studying Books

Da shay 大學章句

Da shay 大學章句 大學章句 大,舊音泰,今讀如字。大學章句序

大學章句序
Da shay 
大學章句 

The Confucianism Great Studying Books

  大学
—————————————————————–

大學章句序
Da shay 
大學章句 
The Confucianism Great Studying Books

  大学
—————————————————————–
  目录
  大学简介 
  三纲八目的追求
  弘扬光明的品德
  苟日新,日日新,又日新
  找准自己的位置
  凡事抓住根本
  获得知识的途径
  不要自欺欺人
  修身先正心
  齐家先修身
  治国先齐家
  平天下先治国 
  ——————
  大学简介
  《大学》原本是《礼记》中的一篇。宋代人把它从《礼记》中 抽出来,与《论语》、《孟子》、《中庸》相配合,到朱熹撰《四书 章句集注》时,便成了“四书”之一。 
  按朱熹和宋代另一位著名学者程颐的看法,《大学》是孔子及 其门徒留下来的遗书,是儒学的人门读物。所以,朱熹把它列为 “四书”之首。 
  朱熹又认为收在礼记中的《大学》本子有错乱,便把它重新 编排了一番,分为“经”和“传”两个部分。其中“经”一章,是 孔子的原话,由孔子的学生曾子记录;“传”十章,是曾子对 “经”的理解和阐述,由曾子的学生记录。 
  这样一编排,便有了我们今天所见到的《大学》版本。
  ——————
  三纲八目的追求
  【原文】 
  大学之道(1),在明明德(2),在亲民(3),在止于至善。 知止(4)而后有定;定而后能静;静而后能安;安而后能虑;虑而后能得(5)。 物有本末,事有终始。知所先后,则近道矣。 古之欲明明德于天下者,先治其国;欲治其国者,先齐其家(6); 欲齐其家者,先修其身(7);欲修其身者,先正其心;欲正其心者, 先诚其意;欲诚其意者,先致其知(8);致知在格物(9)。 物格而后知至;知至而后意诚;意诚而后心正;心正而后身 修;身修而后家齐;家齐而后国治;国治而后天下平。 自天子以至于庶人(10),壹是皆以修身为本(11)。其本乱而未治者 否矣(12)。其所厚者薄,而其所薄者厚(13),未之有也(14)! (经)
  【注释】 
  (1)大学之道:大学的宗旨。“大学”一词在古代有两种含义:一是“博 学”的意思;二是相对于小学而言的“大人之学”。古人八岁人小学,学习 “洒扫应对进退、礼乐射御书数”等文化基础知识和礼节;十五岁人大学,学 习伦理、政治、哲学等“穷理正心,修己治人”的学问。所以,后一种含义 其实也和前一种含义有相通的地方,同样有“博学”的意思。”道“的本义是 道路,引申为规律、原则等,在中国古代哲学、政治学里,也指宇宙万物的 本原、个体,一定的政治观或思想体系等,在不同的上下文环境里有不同的 意思。 (2)明明德:前一个“明”作动词,有使动的意味,即“使彰明”, 也就是发扬、弘扬的意思。后一个“明”作形容词,明德也就是光明正大的 品德。 (3)亲民:根据后面的“传”文,“亲”应为“新”,即革新、弃旧 图新。亲民,也就是新民,使人弃旧图新、去恶从善。(4)知止:知道目标所在。 (5)得:收获。 (6)齐其家:管理好自己的家庭或家族,使家 庭或家族和和美美,蒸蒸日上,兴旺发达。 (7)修其身:修养自身的品性。 (8)致其知:使自己获得知识。 (9) 格物:认识、研究万事万物。 。(10)庶人:指平民百姓。 (11)壹是:都是。本:根本。 (12)末:相对于本 而言,指枝末、枝节。 (13)厚者薄:该重视的不重视。薄者厚:不该重视 的却加以重视。 (14)未之有也:即未有之也。没有这样的道理(事情、做 法等)。 
  【译文】 
  大学的宗旨在于弘扬光明正大的品德,在于使人弃旧图新,在 于使人达到最完善的境界。 知道应达到的境界才能够志向坚定;志向坚定才能够镇静不 躁;镇静不躁才能够心安理得;心安理得才能够思虑周祥;思虑 周祥才能够有所收获。 每样东西都有根本有枝未,每件事情都有开始有终结。明白 了这本末始终的道理,就接近事物发展的规律了。 古代那些要想在天下弘扬光明正大品德的人,先要治理好自 己的国家;要想治理好自己的国家,先要管理好自己的家庭和家 族;要想管理好自己的家庭和家族,先要修养自身的品性;要想 修养自身的品性,先要端正自己的心思;要想端正自己的心思,先 要使自己的意念真诚;要想使自己的意念真诚,先要使自己获得 知识;获得知识的途径在于认识、研究万事万物。 通过对万事万物的认识、研究后才能获得知识;获得知识后 意念才能真诚;意念真诚后心思才能端正;心思端正后才能修养 品性;品性修养后才能管理好家庭和家族;管理好家庭和家族后 才能治理好国家;治理好国家后天下才能太平。 上自国家元首,下至平民百姓,人人都要以修养品性为根本。 若这个根本被扰乱了,家庭、家族、国家、天下要治理好是不可 能的。不分轻重缓急,本末倒置却想做好事情,这也同样是不可 能的! 
  【读解】 
  这里所展示的,是儒学三纲八目的追求。 所谓三纲,是指明德、新民、止子至善。它既是《大学》的 纲领旨趣,也是儒学“垂世立教”的目标所在。所谓八目,是指 格物、致知、诚意、正心、修身、齐家、治国、平天下。它既是 为达到“三纲”而设计的条目工夫,也是儒学为我们所展示的人 生进修阶梯。 纵览四书五经,我们发现,儒家的全部学说实际上都是循着 这三纲八目而展开的。所以,抓住这三纲八目你就等于抓住了 一把打开儒学大门的钥匙。循着这进修阶梯一步一个脚印,你就 会登堂入室,领略懦学经典的奥义。 就这里的阶梯本身而言,实际上包括“内修”和“外治”两 大方面:前面四级“格物、致知,诚意、正心”是“内修”;后面 三纲“齐家、治国、平天下”是“外治”。而其中间的“修身”一 环,则是连结“年修”和“外治”两方面的枢纽,它与前面的 “内修”项目连在一起,是“独善其身”;它与后面的“外治”项 目连在一起,是“兼善天下”。两千多年来,一代又一代中国知识 分子“穷则独善其身,达则兼善天下”(《孟子·尽心下》),把生 命的历程铺设在这一阶梯之上。所以,它实质上已不仅仅是一系 列学说怯质的进修步骤,而是具有浓厚实践色彩的人生追求阶梯 了。它铸造了一代又一代中国知识分子的人格心理,时至今日,仍 然在我们身上发挥着潜移默化的作用。不管你是否意识明确,不 管你积极还是消极,“格、致、诚、正,修、齐、治、平”的观念 总是或隐或显地在影响看你的思想,左右着你的行动,使你最终 发现,自己的人生历程也不过是在这儒学的进修阶梯上或近或远 地展开。事实上,作为中国知识分子,又有几人是真正出道入佛 的野鹤闲云、隐逸高士呢?说到底,依然是十人九儒,如此而已。
  ——————
  弘扬光明的品德
  【原文】 
  《康诰》(1)曰:“克明德。”(2)《大甲》(3)曰:“顾(讠是)天之明命。”(4)《帝 典》(5)曰:“克明峻德。”(6)皆自明也。(7)
  (传1)
  【注释】 
  (1)康浩:《尚书·周书》中的一篇。《尚书》是上古历史文献和追述古代 事迹的一些文章的汇编,是”五经”之一,称为“书经”。全书分为《虞书》、 《夏书》、《商书》、《周书》四部分。(2)克:能够。(3)大甲:即《太 甲》,《尚书·商书》中的一篇。(4)顾:思念。是:此。明命:光明的禀 性。 (5)帝典:即《尧典》,《尚书·虞书》中的一篇。(6)克明峻德: 《尧典》原句为“克明俊德”。俊:与“峻”相通,意为大、崇高等。(7) 皆:都,指前面所引的几句话。
  【译文】 
  《康诰》说:“能够弘扬光明的品德。”《太甲》说:“念念不忘 这上天赋予的光明禀性。”《尧典》说:“能够弘扬崇高的品德。”这 些都是说要自己弘扬光明正大的品德。
  【读解】 
  这是“传”的第一章,对“经”当中“大学之道,在明明 德”一句进行引证发挥,说明弘扬人性中光明正大的品德是从夏、 商、周三皇五帝时代就开始强调了的,有书为证,而不是我们今 天别出心裁,标新立异的产物。 《三字经》说:“人之初,性本善;性相近,习相远;苟不教, 性乃迁。”也就是说,人的本性生来都是善良的,只不过因为后天 的环境影响和教育才导致了不同的变化,从中生出许多恶的品质。 因此,儒家的先贤们强调后天环境和教育的作用,在作为“四书 五经”之首的《大学》一篇里开宗明义,提出“大学”的宗旨就 在于弘扬人性中光明正大的品德,使人达到最完善的境界。 以我们今天的眼光来看,“在明明德”就是加强道德的自我完 善,发掘、弘扬自己本性中的善根,而摒弃邪恶的诱惑。从这个 意义上说,无论是西方基督教的“忏悔”,东方佛教的“修行”,还 是列夫·托尔斯秦式的“道德自我完善”,毛泽东式的“狠斗私字 一闪念”,乃至于我们今天所倡导的“五讲四美三热爱”、“培养四 有新人”等等,都是“在明明德”,以弘扬人性中光明正大的品德 为目的。
  ——————
  苟日新,日日新,又日新
  【原文】 
  汤之,《盘铭》(1)曰:“苟日新,日日新,又日新。”(2)《康诰》曰:“作新民。”(3)《诗》曰:“周虽旧邦,其命维新。”(4)是故君子无所不用其极。
  (传2)
  【注释】 
  (1)汤:即成汤,商朝的开国君主。盘铭:刻在器皿上用来警戒自己的箴言 。这里的器皿是指商汤的洗澡盆。 (2)苟 :如果。新:这里的本义是指 洗澡除去身体上的污垢,使身体焕然一新,引申义则是指行精神上的弃旧图新。 (3)作:振作,激励。新民:即“经”里面说的“亲民”,实应为“新民”。意思是使新、民新,也就是使人弃旧图新,去恶从善。(4)“《诗曰》”句:这里的《诗》指《诗经.大雅.文王》。周,周朝。旧邦,旧国。其命,指周朝所禀受的天命。维:语助词,无意义。(5)是故君子无所不用其极:所以品德高尚的人无处不追求完善。是故,所以。君子,有时候指贵族,有时指品德高尚的人,根据上下文不同的语言环境而有不同的意思。
  【译文】 
  商汤王刻在洗澡盆上的箴言说”如果能够一天新,就应保持 天天新,新了还要更新。”《康诰》说:“激励人弃旧图新。”《诗 经》说,“周朝虽然是旧的国家,但却禀受了新的天命。”所以,品 德高尚的人无处下追求完善。
  【读解】 
  如果说“在明明德”还是相对静态地要求弘扬人性中光明正 大的品德的话,那么,“苟日新,日日新,又日新”就是从动态的 角度来强调不断革新,加强思想革命化的问题了。 “苟日新,日日新,又日新”被刻在商汤王的洗澡盆上,本来 是说洗澡的问题:假如今天把一身的污垢洗干净了,以后便要天 天把污垢洗干净,这样一大一大地下去,每人都要坚持。引申出 来,精神上的洗礼,品德上的修炼,思想上的改造又何尝不是这 样呢?这使人想到基督教的每日忏悔,使人联想到女作家杨绛把 她那本写“干校”生活的书起名为“洗澡”。精神上的洗澡就是 《庄子·知北游》所说的“澡雪而精神”,《礼记·儒行》所说的 “澡身而浴德”,说到底,也就是毛泽东所一再强调的”加强思想 革命化”。 话说回来,“苟日新,日日新,又日新”无论如何展示的是一 种革新的姿态,驱动人们弃旧图新。所以,你不仅可以像商汤王 一样把它刻在洗澡盆上,而且也可以把它刻在床头、案头,使它 成为你的座右铭。
  ——————
  找准自己的位置
  【原文】 
  《诗》云:“邦畿千里,惟民所止。”(1)《诗》云:“缗蛮黄鸟,止 于丘隅(2)。”子日:“于止,知其所止,可以人而不如鸟乎!” 《诗》云:“穆穆文王,於缉熙敬止(3)!”为人君,止于仁;为 人臣,止于敬;为人子,止于孝;为人父,止于慈;与国人交,止 于信。 《诗》云:“瞻彼淇澳,绿竹猗猗。有斐君子,如切如磋,如 琢如磨。瑟兮(亻闲)兮,赫兮喧兮。有斐君子,终不可(讠宣)(4)兮!”如切 如磋者,道学也(5);如琢如磨者,自修也;瑟兮(亻闲)兮者,恂栗也(6); 赫兮喧兮者,威仪也;有斐君子,终不可(讠宣)兮者,道盛德至善,民 之不能忘也。 《诗》云:“於戏!前王不忘(7)。”君子贤其贤而亲其亲,小人 乐其乐而利其利,此以没世不忘也。
  (传3)
  【注释】 
  (1)邦畿千里,惟民所止:引自〈诗经·商颂·玄鸟》。邦畿(ji),都城及 其周围的地区。止,有至、到、停止、居住、栖息等多种含义,随上下文而 有所区别。在这句里是居住的意思。(2)缗蛮黄鸟,止于丘隅:引自〈诗 经·小雅·绵蛮〉。缗蛮,即绵蛮,鸟叫声。隅,角落。止,栖息。(3) “穆穆”句:引自《诗经·大雅·文玉》。穆穆,仪表美好端庄的样子。於 (wu),叹词。缉,继续。熙,光明。止,语助词,无意义。(4)《诗》云: 这几句诗引自《诗经·卫风·淇澳》。淇,指淇水,在今河南北部。澳(yu) 水边。斐,文采。瑟兮(亻闲)(xian)兮,庄重而胸襟开阔的样子。赫兮喧兮,显 耀盛大的样子。(讠宣),《诗经》原文作“(讠爰)”,遗忘。(5)道:说、言的意思。 (6)恂栗,恐惧,戒惧。(7)於戏!前王不忘:引自《诗经·周颂·烈 文》。於戏(wuhu):叹词。前王:指周文王、周武王。(8)此以:因此。 没世:去世。
  【译文】 
  《诗经》说:“京城及其周围,都是老百姓向往的地方。”《诗 经》又说:“‘绵蛮’叫着的黄鸟,栖息在山冈上。”孔子说:“连 黄鸟都知道它该栖息在什么地方,难道人还可以不如一只鸟儿 吗?” 《诗经》说:“品德高尚的文王啊,为人光明磊落,做事始终 庄重谨慎。”做国君的,要做到仁爱;做臣子的,要做到恭敬;做 子女的,要做到孝顺;做父亲的,要做到慈爱;与他人交往,要 做到讲信用。 《诗经》说:“看那淇水弯弯的岸边,嫩绿的竹子郁郁葱葱。有 一位文质彬彬的君子,研究学问如加工骨器,不断切磋;修炼自 己如打磨美玉,反复琢磨。他庄重而开朗,仪表堂堂。这样的一 个文质彬彬的君子,真是令人难忘啊!”这里所说的“如加工骨器, 不断切磋”,是指做学问的态度;这里所说的“如打磨美玉,反复 琢磨”,是指自我修炼的精神;说他“庄重而开朗”,是指他内心 谨慎而有所戒惧;说他“仪表堂堂”,是指他非常威严;说“这样 一个文质彬彬的君子,可真是令人难忘啊!”是指由于他品德非常 高尚,达到了最完善的境界,所以使人难以忘怀。 《诗经》说:“啊啊,前代的君王真使人难忘啊!”这是因为君 主贵族们能够以前代的君王为榜样,尊重贤人,亲近亲族,一般 平民百姓也都蒙受恩泽,享受安乐,获得利益。所以,虽然前代 君王已经去世,但人们还是永远不会忘记他们。
  【读解】 
  这一段发挥“在止于至善”的经义。首先在于“知其所止”, 即知道你应该停在什么地方,其次才谈得上“止于至善”的问题。 俗语说:“人往高处走,水往低处流。”鸟儿尚且知道找一个 栖息的林子,人怎么可以不知道自己应该落脚的地方呢?所以, “邦畿千里,惟民所止。”大都市及其郊区古来就是人们向往而聚 居的地方。 但这还只是身体的“知其所止”,不是经义的所在。经义的所 在是精神的“知其所止”,也就是“在止于至善”。 要达到这“至善”的境界,不同的人,不同的身分有不同的 努力方向,而殊途同归,最后要实现的,就是通过“如切如磋,如 琢如磨”的研修而达到“盛德至善,民之不能忘也!”成为流芳百 世的具有完善人格的人。 这当然是一种理想主义的英雄主义的教育:渴望不朽,崇尚 伟大,追求完善。 对于一般读者,尤其是当今读者来说,这种要求似乎过于理 想化,过于远距离了。倒是回过头来说到“知其所止”,对于我们 来说,仍具有较深的启发意义。 “知其所止”,也就是知道自己应该“止”的地方,找准自己 的位置,这一点,说起来容易做起来难。天地悠悠,过客匆匆,多 少人随波逐流,终其一生而不知其所止,尤其是当今时代,生活 的诱惑太多,可供的机会太多,更给人们带来了选择的困惑。 比如说,在过去的时代,“万般皆下品,惟有读书高。”读书 人心态平衡,或许还“知其所止”,知道自己该干什么。可是,进 入市场经济时代后,所谓“下海”的机会与诱惑重重地叩击着人 们的心扉,读书人被推到了生活的十字路口:何去何从?所止何 处?使不少人不知道自己该干什么了——精神的流浪儿无家可归。 以至于出现了教授卖大饼之类的畸形社会现象。 其实,《大学》本身说得好:“为人君,止于仁;为人臣,止 于敬;为人子,止于孝;为人父,止于慈;与国人交,止于信。” 不同的身分,不同的人有不同的“所止”,关键在于寻找最适合自 身条件,最能扬长避短的位置和角色——“知其所止”。这才是最 最重要的。 这样一来,教授当然也就不会去卖大饼了!
  ——————
  凡事抓住根本
  【原文】
  子曰:“听讼,吾犹人也,必也使无讼乎!”(1)无情者不得尽其 辞(2)。大畏民志(3)。此谓知本。 (传4)
  【注释】
  (1)“子曰”句:引自《论语·颜渊》。听讼,听诉讼,即审案子。犹人, 与别人一样。
  (2)无情者不得尽其辞:使隐瞒真实情况的人不能够花言巧 语。
  (3)民志:民心,人心。
  【译文】
  孔子说:“听诉讼审理案子,我也和别人一样,目的在于使诉讼不再发生。”使隐瞒真实情况的人不敢花言巧语,使人心畏服,这就叫做抓住了根本。
  【读解】
  这一段以孔子谈诉讼的话来阐发“物有本末,事有终始”的道理,强调凡事都要抓住根本。审案的根本目的是使案子不再发生,这正如“但愿世间人无病,何愁架上药生尘”的道理一样。
  审案和卖药都只是手段,或 者说是“末”,使人心理畏服不再犯案和增强体质不再生病才是目的, 或者说才是“本”。
  说到底,是一个教化与治理的问题,教化是本,治理是末。正是由此出发,我们才能够理解《大学》强调以修身为本,齐家、治国、平天下都只是末的道理。
  本末的关系如此,终始的因果也一样。从哲学命题的角度来 看,本末是本质论,终始是发展观,千古哲学的两大范畴在《大学》这篇儒学的入门读物中以轻轻巧巧的八个字对仗而出:“物有本末,事有终始。”再以八个字加以干净利落的解决:“知所先后,则近道矣!”真是语言极度简洁而蕴含无比深刻,显出“经”的本色。
  ——————
  获得知识的途径
  【原文】
  所谓致知在格物者,言欲致吾之知,在即物而穷其理也(2)。盖 人心之灵莫不有知,而天下之物莫不有理,惟于理有未穷(5),故其 知有不尽也。是以《大学》始教,必始学者即凡天下之物,莫不 因其已知之理而益穷之(4),以求至乎其极。至于用力之久,而一旦 豁然贯通焉,则众物之表里精粗无不到,而吾心之全体大用无不 明矣。此谓物格,此谓知之至也。 (传5)
  【注释】
  ①这一章的原文只有“此谓知本。此谓知之至也”两句。朱熹认为,”此 谓知本”一句是上一章的衍文,”此谓知之至也”一句前面又缺了一段文字。 所以,朱熹根据上下文关系补充了一段文字,这里所选的,就是朱熹补充的 文字。②即,接近,接触。穷:穷究,彻底研究。③未穷,未穷尽,未彻底。④益,更加。
  【译文】
  说获得知识的途径在于认识、研究万事万物,是指要想获得知识,就必须接触事物而彻底研究它的原理。人的心灵都具有认识能力,而天下万事万物都总有一定的原理,只不过因为这些原理还没有被彻底认识,所以使知识显得很有局限。因此,《大学》一开始就教学习者接触天下万事万物,用自己已有的知识去进一步探究,以彻底认识万事万物的原理。经过长期用功,总有一天会豁然贯通,到那时,万事万物的里外巨细都被认识得清清楚楚,而自己内心的一切认识能力都得到淋漓尽致的发挥,再也没有蔽塞。这就叫万事万物被认识、研究了,这就叫知识达到顶点了。
  【读解】
  格物致知——通过对万事万物的认识、研究而获得知识,而不是从书本到书本地获得知识。这种认识论很具有实践的色彩,打破了一般对儒学死啃书本的误解。
  “格物致知”在宋以后成了中国哲学中的一个重要范畴,到清朝未年,“格致”(即“格物致知”的省称)又成了对声光化电等 自然科学部门的统称。鲁迅在《呐喊自序》里说:“在这学堂里, 我才知道在这世上,还有所谓格致,算学,地理。绘图和体操。”
  这说明“格物致知”的深刻影响。
  事实上,时至今日,当我们说到知识的获取时,仍离不开 “格物致知”这一条途径。因为,它不是说的“秀才不出门,全知 天下事。”而是说的“‘你要知道梨子的滋味,你就得变革梨子,亲口吃一吃。”(毛泽东《实践论》语)
  简言之,“格物致知”把我们引向万事万物,引向实践,引向“实践是检验真理的唯一标准”和“实践是认识的唯一源泉。”
  ——————
  不要自欺欺人
  【原文】
  所谓诚其意者(1),毋(2)自欺也。如恶恶臭(3),如好好色(4),此之谓自谦(5)。故君子必慎其独也(6)!
  小人闲居(7)为不善,无所不至,见君子而后厌然(8),掩(9)其不善, 而著(10)其善。人之视己,如见其肺肝然,则何益矣。此谓诚于中(11),形于外。故君子必慎其独也。
  曾子曰:“十目所视,十手所指,其严乎!”富润屋(12),德润身(13),心广体胖(14)。故君子必诚其意。(传6)
  【注释】
  ①(1)其意:使意念真诚。(2)毋:不要。(3)恶(wu)恶(e)臭 (xiu):厌恶腐臭的气味。臭,气味,较现代单指臭(chou)味的含义宽泛。 (4)好(hao)好(hao)色:喜爱美丽的女子。好(hao)色,美女。(5) 谦(qian):通“谦”,心安理得的样子。(6)慎其独:在独自一人时也谨慎 不苟。 (7)闲居:即独处。(8)厌然:躲躲闪闪的样子。(9)掩:遮 掩,掩盖。(10)著:显示。(11)中:指内心。下面的“外”指外表。 (12)润屋:装饰房屋。(13)润身,修养自身。(14)心广体胖(pan):心 胸宽广,身体舒泰安康,胖,大,舒但。
  【译文】
  使意念真诚的意思是说,不要自己欺骗自己。要像厌恶腐臭的气味一样,要像喜爱美丽的女人一样,一切都发自内心。所以,品德高尚的人哪怕是在一个人独处的时候,也一定要谨慎。
  品德低下的人在私下里无恶不作,一见到品德高尚的人便躲躲闪闪,掩盖自己所做的坏事而自吹自擂。殊不知,别人看你自己,就像能看见你的心肺肝脏一样清楚,掩盖有什么用呢?这就叫做内心的真实一定会表现到外表上来。所以,品德高尚的人哪怕是在一个人独处的时候,也一定要谨慎。
  曾子说:“十只眼睛看着,十只手指着,这难道不令人畏惧吗?!”
  财富可以装饰房屋,品德却可以修养身心,使心胸宽广而身体舒泰安康。所以,品德高尚的人一定要使自己的意念真诚。
  【读解】
  要做到真诚,最重要,也是最考验人的一课便是“慎其独” 在一个人独处的时候也谨慎,简而言之,就是人前人后一个样。人前真诚,人后也真诚,一切都发自肺腑,发自内心,发自我全部的感官,就像手脚长在我自己身上一样自然自如,一样真实无欺,而不是谁外加于我的“思想改造”,外加于我的清规戒律。
  这是从正面来说。
  从反面来说,“若要人不知,除非己莫为。”自欺欺人,掩耳盗铃,总有东窗事发的一天。
  说到这里,在市场经济时代,金钱诱惑滚滚而来,政府反腐倡廉,“慎其独”是不是也应该作为公务员们必修的一课呢?
  须知,金玉满堂,并不能保得你心情舒畅,身体安康,倒是那疯破道人的《好了歌》唱得好:“终朝只恨聚无多,及到多时眼闭了。”所以,比装修房屋(富润屋)更重要的还是装修你自己 (德润身),修养身心,做到心宽体胖。而要做到这一切,还得要 回到那起始的一点去——君子必诚其意。
  真诚做人,立身之本。
  ——————
  修身先正心
  【原文】
  所谓修身在正其心者,身有所忿懥(1),则不得其正;有所恐惧,则不得其正;有所好乐,则不得其正;有所忧患,则不得其正。
  心不在焉,视而不见,听而不闻,食而不知其味。此谓修身在正其心。(传7)
  【注释】
  ①身:程颐认为应为“心”。忿懥(zhl):愤怒。
  【译文】
  之所以说修养自身的品性要先端正自己的心思,是因为心有愤怒就不能够端正;心有恐惧就不能够端正;心有喜好就不能够端正;心有忧虑就不能够端正。
  心思不端正就像心不在自己身上一样:虽然在看,但却像没有看见一样;虽然在听,但却像没有听见一样;虽然在吃东西,但却一点也不知道是什么滋味。所以说,要修养自身的品性必须要先端正自己的心思。
  【读解】
  正心是诚意之后的进修阶梯。
  诚意是意念真诚,不自欺欺人。但是,仅仅有诚意还不行。因为,诚意可能被喜怒哀乐惧等情感支配役使,使你成为感情的奴隶而失去控制。
  所以,在“诚其意”之后,还必须要“正其心”,也就是要以端正的心思(理智)来驾驭感情,进行调节,以保持中正平和的心态,集中精神修养品性。
  这里需要注意的是,埋与情,正心和诚意不是绝对对立,互不相容的。朱嘉说:喜怒哀乐惧等都是人心所不可缺少的,但是,一旦我们不能自察,任其左右自己的行动,便会使心思失去端正。所以,正心不是要完全摒弃喜怒哀乐俱等情欲,不是绝对禁欲,而只是说要让理智来克制、驾驭情欲,使心思不被情欲所左右,从而做到情理和谐地修身养性。
  也就是说,修身在正其心不外乎是要心思端正,不要三心二意,不要为情所牵,“心不在焉,视而不见,听而不闻,食而不知 其味”。(这凡句后来成了成语和名言,用来生动地描绘那种心神不属,思想不集中的状态,是教书先生在课堂上批评学生的常用语言。)
  这样来理解,修身在正其心也就没有什么神秘感了罢。
  ——————
  齐家先修身
  【原文】
  所谓齐其家在修其身者,人之其所亲爱而辟焉①,之其所贱恶 而辟焉,之其所畏敬而辟焉,之其所哀矜②而辟焉,之其所敖情③ 而辟焉。故好而知其恶,恶而知其美者,天下鲜矣!故谚有之曰:“人莫知其子之恶,莫知其苗之硕④。”此谓身不修不可以齐其家。(传8)
  【注释】
  ①之:即“于”,对于。辟:偏颇,偏向。②哀矜:同情,怜悯。③敖,骄做。惰:怠慢。④硕:大,肥壮。
  【译文】
  之所以说管理好家庭和家族要先修养自身,是因为人们对于自己亲爱的人会有偏爱;对于自己厌恶的人会有偏恨;对于自己敬畏的人会有偏向;对于自己同情的人会有偏心;对于自己轻视的人会有偏见。因此,很少有人能喜爱某人又看到那人的缺点,厌恶某人又看到那人的优点。所以有谚语说:“人都不知道自己孩子的坏,人都不满足自己庄稼的好。”这就是不修养自身就不能管理好家庭和家族的道理。
  【读解】
  在这里,修养自身的关键是克服感情上的偏私:正己,然后 正人。
  儒学的进修阶梯由年向外展开,这里是中间过渡的一环。在此之前的格物。致知、诚意、正心都在个体自身进行,在此之后的齐家、治国、平天下开始处理人与人之间的关系,从家庭走向社会,从独善其身转向兼善天下。当然,其程序仍然是由内逐步外推:首先是与自身密切相关的家庭和家族,然后才依次是国家。天下。
  正因为首先是与自身密切相关的家(家庭和家族),所以才有一个首当其冲的克服感情偏私的问题。
  中国人常说:“家和万事兴。”
  美国人说,“家是父亲的王国,母亲的世界,儿童的乐园。”
  德国人说:“人无国王、庶民之分,只要家有和平,便是最幸 福的人。”
  法国人说得更好:“对于亚当而言,天堂是他的家;然而对于亚当的后裔而言,家是他们的天堂。”(伏尔泰语)
  家是永恒的话题。
  但是,如果你不排除偏私之见,修身正己以正人,你就不能管理好这个你所拥有的天堂和乐园,就会像有人所告诫的那样:“坏家庭无法养育我们纯洁的灵魂,倒有可能成为我们自掘的墓场。”
  天堂不就变成地狱了吗? 
  ——————
  治国先齐家
  【原文】
  所谓治国必先齐其家者,其家不可教而能教人者无之。故君子不出家而成教于国:孝者,所以事君也;悌(1)者,所以事长也;慈(2)者,所以使众也。
  《康诰》曰:“如保赤子。”(3)心诚求之,虽不中(4),不远矣。未有学养于而后嫁者也!
  一家仁,一国兴仁;一家让,一国兴让;一人贪戾,一国作乱。其机(5)如此。此谓一言偾事,一人定国。
  尧舜(7)帅(8)天下以仁,而民从之;桀纣(9)帅天下以暴,而民从之。其所令反其所好,而民不从。是故君子有诸(10)己而后求诸人,无诸己而后非诸人。所藏乎身不恕(11),而能喻(12)诸人者,未之有也。故治国在齐其家。
  《诗》云:“桃之夭夭,其叶蓁蓁。之子于归,宜其家人。”(13)宜其家人,而后可以教国人。《诗》云:“宜兄宜弟”(14)宜兄宜弟,而后可以教国人。《诗》云:“其仪不忒,正是四国。”(15)其为父子兄弟足法,而后民法之也。此谓治国在齐其家。(传9) 
  【注释】
  (1)悌(ti):指弟弟应该绝对服从哥哥。②慈:指父母爱子女。③如保赤子:《尚书·周书·康诰》原文作“若保赤子。”这是周成王告诫康 叔的话,意思是保护平民百姓如母亲养护婴孩一样。赤子,婴孩。(4)中 (zhong),达到目标。⑤机:本指弩箭上的发动机关,引申指关键。③偾(fen):败,坏,。尧舜:传说中父系氏族社会后期部落联盟的两位 领袖,即尧帝和舜帝,历来被认为是圣君的代表。(8)帅:同“率”,率领,统帅。③桀(jie):夏代最后一位君主。纣:即殷纣王,商代最后一位君 主。二人历来被认为是暴君的代表。(10)诸:”之于”的合音。(11)恕:即恕道。孔子说:“己所不欲,勿施于人。”意思是说,自己不想做的,也不要让别人去做,这种推己及人,将心比己的品德就是儒学所倡导的恕道。(12)喻:使别人明白。(13)”桃之夭夭……”:引自《诗经·周南;桃夭》。 夭夭(yao),鲜嫩,美丽。蓁蓁(zhen),茂盛的样子。之子,这个(之)女子(子)于归,指女子出嫁。(14)“宜兄宜弟”:引自《诗经·小雅·蓼 萧》。(15)“其仪不忒……:”引自《诗经·曹风·鸤鸠》。仪,仪表,仪容。忒(te),差错。
  【译文】
  之所以说治理国家必须先管理好自己的家庭和家族,是因为不能管教好家人而能管教好别人的人,是没有的,所以,有修养 的人在家里就受到了治理国家方面的教育:对父母的孝顺可以用于侍奉君主;对兄长的恭敬可以用于侍奉官长;对子女的慈爱可以用于统治民众。
  《康浩》说:“如同爱护婴儿一样。”内心真诚地去追求,即使达不到目标,也不会相差太远。要知道,没有先学会了养孩子再去出嫁的人啊!
  一家仁爱,一国也会兴起仁爱;一家礼让,一国也会兴起礼让;一人贪婪暴戾,一国就会犯上作乱。其联系就是这样紧密,这就叫做:一句话就会坏事,一个人就能安定国家。
  尧舜用仁爱统治天下,老百姓就跟随着仁爱;桀纣用凶暴统 治天下,老百姓就跟随着凶暴。统治者的命令与自己的实际做法相反,老百姓是不会服从的。所以,品德高尚的,总是自己先做到。然后才要求别人做到;自己先不这样做,然后才要求别人不这样做。不采取这种推己及人的恕道而想让别人按自己的意思去做,那是不可能的。所以,要治理国家必须先管理好自己的家庭 和家族。
  《诗经》说:“桃花鲜美,树叶茂密,这个姑娘出嫁了、让全家人都和睦。”让全家人都和睦,然后才能够让一国的人都和睦。《诗经》说:“兄弟和睦。”兄弟和睦了,然后才能够让一国的人都 和睦。《诗经》说:“容貌举止庄重严肃,成为四方国家的表率。”只有当一个人无论是作为父亲、儿子,还是兄长、弟弟时都值得人效法时,老百姓才会去效法他。这就是要治理国家必须先管理 好家庭和家族的道理。
  【读解】
  国家,国家,仅从语词关系来看,国和家的关系就是如此血 肉相连,密不可分;尤其是在以家族为中心的宗法制社会时代,家是一个小小的王国,家长就是它的国王;国是一个大大的家,国王就是它的家长。因此,无论是国王还是家(族)长都有生杀予 夺的至高权力;因此,有君君、臣臣、父父、子子的规范贯穿国与家;也正因为如此,我们才能理解,“治国必先齐其家”。
  不过,进入现代社会,情况已发生了极大变化:一方面,国已不允许实行家长制,另一方面,家已大大地民主化。”不仅君君、臣臣、父父、子子的规范已成为过去,就是孝、悌观念也日渐式 微,丧失了“君子不出家而成教于国”的基本条件。而且,“其家不可教而能救人者”的现象也不是“无之”,而是不难见到了,比如说,一个优秀教师教不好自己的子女,一些当政官员的公子以身试法等等。这类事情屡见不鲜,很是令人深思。
  从另一方面来看,《大学》的这一章反复强调以身作则,要求“君子有诸己而后求诸人,无诸己而后非诸人”,指出“其所令反 其所好,而民不从”,“所藏乎身不恕,而能喻诸人者,未之有也。… 这些思想却并不因为社会时代的变迁而失去光彩。它既是对“欲治其国者”的告诫,值得推荐给当政为官的人作为座右铭;也是对儒学“恕道”原则的阐发,可广泛应用于生活的各个方面,作为我们立身处世,待人接物的有益参照。
  ——————
  平天下先治国
  【原文】
  所谓平天下在治其国者,上老老(1)而民兴孝;上长长(2)而民兴弟;上恤孤(3)而民不倍(4)。是以君子有絜矩之道也(5)。
  所恶于上毋以使下;所恶于下毋以事上;所恶于前毋以先后;所恶于后毋以从前;所恶于右毋以交于左;所恶于左毋以交于右。此之谓絜矩之道。
  《诗》云:“乐只君子,民之父母(6)。”民之所好好之;民之所恶恶之。此之谓民之父母。《诗》云:“节彼南山,维石岩岩。赫赫师尹,民具尔瞻。”(7)有国者不可以不慎。辟,则为天下僇矣(8)。《诗》云:“殷之未丧师,克配上帝。仪监于殷,峻命不易(9)。”道得众则得国,失众则失国。
  是故君子先慎乎德。有德此(10)有人,有人此有土,有土此有财,有财此有用,德者,本也;财者,未也。外本内末,争民施夺(11)。是故财聚则民散,财散则民聚。是故言悖(12)而出者,亦悖而入。货悻而入者,亦悖而出。
  《康诰》曰:“惟命不于常。”道善则得之,不善则失之矣。《楚书》曰:“楚国无以为宝,惟善以为宝(13)”舅犯曰,“亡人无以为宝,仁亲以为宝(14)。”
  《秦誓》(15)曰:“若有一个臣,断断(16)兮,无他技,其心休休(17)焉,其如有容(18)焉。人之有技,若己有之。人之彦圣(19),其心好之,不啻(20)若自其口出,实能容之。以能保我子孙黎民,尚亦有利哉!人之有技,媢疾(21)以恶之。人之彦圣,而违(22)之俾(23)不通,实不能容。以不能保我子孙黎民、亦日殆哉!”唯仁人放流之(24),迸诸四夷(25),不与同中国(26)。此渭唯仁人为能爱人,能恶人。见贤而不能举,举而不能先,命也(27)。见不善而不能退,退而不能远,过也。好人之所恶,恶人之所好,是谓拂(28)人之性,灾必逮夫身(29)。是故君子有大道:必忠信以得之,骄泰(30)以失之。
  生财有大道:生之者众,食之者寡,为之者疾,用之者舒,则财恒足矣。仁者以财发身(31),不仁者以身发财。未有上好仁而下不好义者也,未有好义其事不终者也,未有府库(32)财非其财者也。孟献子(33)曰:“畜马乘(34)不察(35)于鸡豚,伐冰之家(36)不畜牛羊,百乘之家(37)不畜聚敛之臣(38)。与其有聚敛之臣,宁有盗臣。”此谓国不以利为利,以义为利也。长(39)国家而务财用者,必自小人矣。彼为善之,小人之使为国家,灾害并至。虽有善者,亦无如之何(40)矣!此谓国不以利为利,以义为利也。(传10)
  【注释】
  (1)老老:尊敬老人。前一个“老”字作动词,意思是把老人当作者人看待。(2)长长:尊重长辈。前一个“长”字作动词,意思是把长辈当作长辈看待。(3)恤:体恤,周济。孤,孤儿,古时候专指幼年丧失父亲的人。(4)倍:通“背”,背弃。⑤絜(xie)矩之道:儒家伦理思想之一,指一言一行要有示范作用。絜,量度。矩,画直角或方形用的尺子,引申为法度,规则。(6)乐只君子,民之父母,引自《诗经·小雅·南山有台》。乐(le),快乐,喜悦。只,语助词,(7)“节彼南山……”:引自《诗经·小雅·节南山》。节,高大。岩岩,险峻的样子。师尹,太师尹氏,太师是周代的三公之一。尔,你。瞻,瞻仰,仰望。(8)僇(lu):通“戮”,杀戮。(9)“殷之未丧师……”:引自《诗经,大雅·文王》。师,民众。配,符合。仪,宜。监,鉴戒。,峻,大。不易,指不容易保有。(10)此:乃,才。(11)争民施夺:争民,与民争利。施夺,施行劫夺。(12)悖:逆。(13)“《楚书》”句:《楚书》,楚昭王时史书。楚昭王派王孙圉(yu)出使晋国。晋国赵简子问楚国珍宝美玉现在怎么样了。王孙圉答道:楚国从来没有把美玉当作珍宝,只是把善人如观射父(人名)这样的大臣看作珍宝。事见《国语·楚语》。汉代刘向的《新序》中也有类似的记载。(14)“舅犯”句:舅犯,晋文公重耳的舅舅狐偃,字子犯。亡人,流亡的人,指重耳。晋僖公四年十二月,晋献公因受骊姬的谗言,逼迫太子申生自缢而死。重耳避难逃亡在外在狄国时,晋献公逝世。秦穆公派人劝重耳归国掌政。重耳将此事告子犯,子 犯以为不可,对重耳说了这几句话。事见《礼记·檀弓下》。(15)《秦誓》:《尚书·周书》中的一篇。(16)断断:真诚的样子。 (17)休休:宽宏大量。(18)有容:能够容人。 (19)彦圣:指德才兼备。彦,美。圣,明。(20)不啻(chi):不但。(21)媢(mao)疾:妒嫉。(22)违,阻抑。(23)俾:使。(24)放流:流放。(25)迸,即“屏”,驱逐。四夷,四方之夷。夷指古代东方的部族。(26)中国,全国中心地区。与现代意义的“中国”一同意义不一样。(27)命:东汉郑玄认为应该是“慢”字之误。慢即轻慢。(28)拂:逆,违背。(29)逮:及、到。夫(fu):助词。(30)骄泰:骄横放纵。(31)发身:修身。发,发达,发起,(32)府库:国家收藏财物的地方。(33)孟献子:鲁国大夫,姓仲孙名蔑。(34)畜,养。乘(Sheng):指用四匹马拉的车。畜马乘是士人初作大夫官的待遇。(35)察,关注。(36)伐冰之家:指丧祭时能用冰保存遗体的人家。是卿大夫类大官的待遇。(37)百乘之家,拥有一百辆车的人家,指有封地的诸侯王。(39)聚敛之臣:搜刮钱财的家臣。聚,聚集。敛,征收。④长(zbong)国家:成为国家之长,指君王。(40)无如之何:没有办法。
  【译文】
  之所队说平定天下要治理好自己的国家,是因为,在上位的人尊敬老人,老百姓就会孝顺自己的父母,在上位的人尊重长辈,老百姓就会尊重自己的兄长;在上位的人体恤救济孤儿,老百姓也会同样跟着去做。所以,品德高尚的人总是实行以身作则,推已及人的“絜矩之道”。
  如果厌恶上司对你的某种行为,就不要用这种行为去对待你的下属;如果厌恶下属对你的某种行为,就不要用这种行为去对待你的上司;如果厌恶在你前面的人对你的某种行为,就不要用这种行为去对待在你后面的人;如果厌恶在你后面的人对你的某种行为,就不要用这种行为去对待在你前面的人;如果厌恶在你右边的人对你的某种行为,就不要用这种行为去对待在你左边的人;如果厌恶在你左边的人对你的某种行为,就不要用这种行为去对待在你右边的人。这就叫做“絜矩之道”。
  《诗经》说:“使人心悦诚服的国君啊,是老百姓的父母。”老百姓喜欢的他也喜欢,老百姓厌恶的他也厌恶,这样的国君就可以说是老百姓的父母了。《诗经》说:“巍峨的南山啊,岩石耸立。显赫的尹太师啊,百姓都仰望你。”统治国家的人不可不谨慎。稍有偏颇,就会被天下人推翻。《诗经》说:“殷朝没有丧失民心的时候,还是能够与上天的要求相符的。请用殷朝作个鉴戒吧,守住天命并不是一件容易的事。”这就是说,得到民心就能得到国家,失去民心就会失去国家。
  所以,品德高尚的人首先注重修养德行。有德行才会有人拥护,有人拥护才能保有土地,有土地才会有财富,有财富才能供给使用,德是根本,财是枝末,假如把根本当成了外在的东西,却把枝末当成了内在的根本,那就会和老百姓争夺利益。所以,君王聚财敛货,民心就会失散;君王散财于民,民心就会聚在一起。这正如你说话不讲道理,人家也会用不讲道理的话来回答你;财货来路不明不白,总有一天也会不明不白地失去。
  《康浩》说:“天命是不会始终如一的。”这就是说,行善便会得到天命,不行善便会失去天命。《楚书》说:“楚国没有什么是宝,只是把善当作宝。”舅犯说,“流亡在外的人没有什么是宝,只是把仁爱当作宝。”
  《秦誓》说:“如果有这样一位大臣,忠诚老实,虽然没有什么特别的本领,但他心胸宽广,有容人的肚量,别人有本领,就如同他自己有一样; 别人德才兼备,他心悦诚服,不只是在口头上表示,而是打心眼里赞赏。用这种人,是可以保护我的子孙和百姓的,是可以为他们造福的啊!相反,如果别人有本领,他就妒嫉、厌恶;别人德才兼备,他便想方设法压制,排挤,无论如何容忍不得。用这种人,不仅不能保护我的子孙和百姓,而且可以说是危险得很!”因此,有仁德的人会把这种容不得人的人流放,把他们驱逐到边远的四夷之地去,不让他们同住在国中。这说明, 有德的人爱憎分明,发现贤才而不能选拔,选拔了而不能重用,这是轻慢:发现恶人而不能罢免,罢免了而不能把他驱逐得远远的,这是过错。喜欢众人所厌恶的,厌恶众人所喜欢的,这是违背人的本性,灾难必定要落到自己身上。所以,做国君的人有正确的途径:忠诚信义,便会获得一切;骄奢放纵,便会失去一切。
  生产财富也有正确的途径;生产的人多,消费的人少;生产的人勤奋,消费的人节省。这样,财富便会经常充足。仁爱的人仗义疏财以修养自身的德行,不仁的人不惜以生命为代价去敛钱发财。没有在上位的人喜爱仁德,而在下位的人却不喜爱忠义的;没有喜爱忠义而做事却半途而废的;没有国库里的财物不是属于国君的。孟献子说:“养了四匹马拉车的士大夫之家,就不需再去养鸡养猪;祭祀用冰的卿大夫家,就不要再去养牛养羊;拥有一百辆兵车的诸侯之家,就不要去收养搜刮民财的家臣。与其有搜刮民财的家臣,不如有偷盗东西的家臣。”这意思是说,一个国家不应该以财货为利益,而应该以仁义为利益。做了国君却还一心想着聚敛财货,这必然是有小人在诱导,而那国君还以为这些小人是好人,让他们去处理国家大事,结果是天灾人祸一齐降临。这时虽有贤能的人,却也没有办法挽救了。所以,一个国家不应该以财货为利益,而应该以仁义为利益。
*************************************
大學章句序
朱熹四書集注:大學章句
四書章句集注提要
四書總目
大學章句一卷
論語集註十卷
孟子集註七卷
中庸章句一卷
臣等謹案:四書之稱始於朱子,自漢以來注《論語》者孔安國而下,至宋凡百八十餘家,注《孟子》者趙岐而下,亦六十餘家。朱子融洽眾說,著為集註,心得之妙,超出前儒。
若取《中庸》於《戴記》而專行之者,漢儒已有之。《藝文志》所載《中庸說》二篇是也。其取《大學》則自司馬光始,二程子繼之,專為講明。朱子各為之注,名曰「章句」者,則於古本分章有所移改也,首《大學》,次《論語》,次《孟子》,次《中庸》,凡十九卷,後人便於誦習,或以《中庸》次《大學》。而明時定制科場,命題又以《中庸》次《論語》,至今因之,然非朱子之舊矣。 
內府開雕有二本,其一夾註,即世所稱監本者,其一仿宋板,註字亦大書單行,蓋取淳祐中泳澤書院本依刻,尤為精善。二本間有互異,一二字或多至數十字,今海內童而習之既,並從夾註本,故繕錄篇式亦準之,而悉取其與宋本不同者,詳為標識以資辨證云。
乾隆四十年五月恭校上
總纂官 臣紀昀 臣陸錫熊 臣孫士毅
總校官 臣陸費墀
 
大學章句序
大學之書,古之大學所以教人之法也。蓋自天降生民,則既莫不與之以仁義禮智之性矣。然其氣質之稟或不能齊,是以不能皆有以知其性之所有而全之也。一有聰明睿智能盡其性者出於其閒,則天必命之以為億兆之君師,使之治而教之,以復其性。此伏羲、神農、黃帝、堯、舜,所以繼天立極,而司徒之職、典樂之官所由設也。
三代之隆,其法寖備,然後王宮、國都以及閭巷,莫不有學。人生八歲,則自王公以下,至於庶人之子弟,皆入小學,而教之以灑掃、應對、進退之節,禮樂、射御、書數之文;及其十有五年,則自天子之元子、眾子,以至公、卿、大夫、元士之適子,與凡民之俊秀,皆入大學,而教之以窮理、正心、修己、治人之道。此又學校之教、大小之節所以分也。
夫以學校之設,其廣如此,教之之術,其次第節目之詳又如此,而其所以為教,則又皆本之人君躬行心得之餘,不待求之民生日用彝倫之外,是以當世之人無不學。其學焉者,無不有以知其性分之所固有,職分之所當為,而各俛焉以盡其力。此古昔盛時所以治隆於上,俗美於下,而非後世之所能及也!
及周之衰,賢聖之君不作,學校之政不修,教化陵夷,風俗頹敗,時則有若孔子之聖,而不得君師之位以行其政教,於是獨取先王之法,誦而傳之以詔後世。若曲禮、少儀、內則、弟子職諸篇,固小學之支流餘裔,而此篇者,則因小學之成功,以著大學之明法,外有以極其規模之大,而內有以盡其節目之詳者也。三千之徒,蓋莫不聞其說,而曾氏之傳獨得其宗,於是作為傳義,以發其意。及孟子沒而其傳泯焉,則其書雖存,而知者鮮矣!
自是以來,俗儒記誦詞章之習,其功倍於小學而無用;異端虛無寂滅之教,其高過於大學而無實。其他權謀術數,一切以就功名之說,與夫百家眾技之流,所以惑世誣民、充塞仁義者,又紛然雜出乎其閒。使其君子不幸而不得聞大道之要,其小人不幸而不得蒙至治之澤,晦盲否塞,反覆沈痼,以及五季之衰,而壞亂極矣!
天運循環,無往不復。宋德隆盛,治教休明。於是河南程氏兩夫子出,而有以接乎孟氏之傳。實始尊信此篇而表章之,既又為之次其簡編,發其歸趣,然後古者大學教人之法、聖經賢傳之指,粲然復明於世。雖以熹之不敏,亦幸私淑而與有聞焉。顧其為書猶頗放失,是以忘其固陋,采而輯之,閒亦竊附己意,補其闕略,以俟後之君子。極知僭踰,無所逃罪,然於國家化民成俗之意、學者修己治人之方,則未必無小補云。
 
淳熙巳酉二月甲子,新安朱熹序
大學章句
大學章句 大,舊音泰,今讀如字。 
子程子曰:「大學,孔氏之遺書,而初學入德之門也。」於今可見古人為學次第者,獨賴此篇之存,而論、孟次之。學者必由是而學焉,則庶乎其不差矣。  
○ 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。
程子曰:「親,當作新。」○大學者,大人之學也。明,明之也。明德者,人之所得乎天,而虛靈不昧,以具眾理而應萬事者也。但為氣稟所拘,人欲所蔽,則有時而昏;然其本體之明,則有未嘗息者。故學者當因其所發而遂明之,以復其初也。新者,革其舊之謂也,言既自明其明德,又當推以及人,使之亦有以去其舊染之污也。止者,必至於是而不遷之意。至善,則事理當然之極也。言明明德、新民,皆當至於至善之地而不遷。蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也。此三者,大學之綱領也。
知止而后有定,定而后能靜,靜而后能安,安而后能慮,慮而后能得。
后,與後同,後放此。○止者,所當止之地,即至善之所在也。知之,則志有定向。靜,謂心不妄動。安,謂所處而安。慮,謂處事精詳。得,謂得其所止。
物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。
明德為本,新民為末。知止為始,能得為終。本始所先,末終所後。此結上文兩節之意。
古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先脩其身;欲脩其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。
治,平聲,後放此。○明明德於天下者,使天下之人皆有以明其明德也。心者,身之所主也。誠,實也。意者,心之所發也。實其心之所發,欲其一於善而無自欺也。致,推極也。知,猶識也。推極吾之知識,欲其所知無不盡也。格,至也。物,猶事也。窮至事物之理,欲其極處無不到也。此八者,大學之條目也。
物格而后知至,知至而后意誠,意誠而后心正,心正而后身脩,身脩而后家齊,家齊而后國治,國治而后天下平。
治,去聲,後放此。○物格者,物理之極處無不到也。知至者,吾心之所知無不盡也。知既盡,則意可得而實矣,意既實,則心可得而正矣。脩身以上,明明德之事也。齊家以下,新民之事也。物格知至,則知所止矣。意誠以下,則皆得所止之序也。
自天子以至於庶人,壹是皆以脩身為本。
壹是,一切也。正心以上,皆所以脩身也。齊家以下,則舉此而措之耳。
其本亂而末治者否矣,其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也!
本,謂身也。所厚,謂家也。此兩節結上文兩節之意。 
右經一章,蓋孔子之言,而曾子述之。凡二百五字。其傳十章,則曾子之意而門人記之也。舊本頗有錯簡,今因程子所定,而更考經文,別為序次如左。
凡千五百四十六字。○凡傳文,雜引經傳,若無統紀,然文理接續,血脈貫通,深淺始終,至為精密。熟讀詳味,久當見之,今不盡釋也。 
○ 康誥曰:「克明德。」
康誥,周書。克,能也。
大甲曰:「顧諟天之明命。」
大,讀作泰。諟,古是字。○大甲,商書。顧,謂常目在之也。諟,猶此也,或曰審也。天之明命,即天之所以與我,而我之所以為德者也。常目在之,則無時不明矣。
帝典曰:「克明峻德。」
峻,書作俊。○帝典,堯典,虞書。峻,大也。
皆自明也。
結所引書,皆言自明己德之意。 
右傳之首章。釋明明德。
此通下三章至「止於信」,舊本誤在「沒世不忘」之下。
○ 湯之盤銘曰:「苟日新,日日新,又日新。」
盤,沐浴之盤也。銘,名其器以自警之辭也。苟,誠也。湯以人之洗濯其心以去惡,如沐浴其身以去垢。故銘其盤,言誠能一日有以滌其舊染之汙而自新,則當因其已新者,而日日新之,又日新之,不可略有間斷也。
康誥曰:「作新民。」
鼓之舞之之謂作,言振起其自新之民也。
詩曰:「周雖舊邦,其命惟新。」
詩大雅文王之篇。言周國雖舊,至於文王,能新其德以及於民,而始受天命也。
是故君子無所不用其極。
自新新民,皆欲止於至善也。 
右傳之二章。釋新民。
 
○ 詩云:「邦畿千里,惟民所止。」
詩商頌玄鳥之篇。邦畿,王者之都也。止,居也,言物各有所當止之處也。
詩云:「緡蠻黃鳥,止于丘隅。」子曰:「於止,知其所止,可以人而不如鳥乎!」
緡,詩作緜。○詩小雅緡蠻之篇。緡蠻,鳥聲。丘隅,岑蔚之處。子曰以下,孔子說詩之辭。言人當知所當止之處也。
詩云:「穆穆文王,於緝熙敬止!」為人君,止於仁;為人臣,止於敬;為人子,止於孝;為人父,止於慈;與國人交,止於信。
於緝之於,音烏。○詩文王之篇。穆穆,深遠之意。於,歎美辭。緝,繼續也。熙,光明也。敬止,言其無不敬而安所止也。引此而言聖人之止,無非至善。五者乃其目之大者也。學者於此,究其精微之蘊,而又推類以盡其餘,則於天下之事,皆有以知其所止而無疑矣。
詩云:「瞻彼淇澳,菉竹猗猗。有斐君子,如切如磋,如琢如磨。瑟兮僩兮,赫兮喧兮。有斐君子,終不可諠兮!」如切如磋者,道學也;如琢如磨者,自脩也;瑟兮僩兮者,恂慄也;赫兮喧兮者,威儀也;有斐君子,終不可諠兮者,道盛德至善,民之不能忘也。
澳,於六反。菉,詩作綠。猗,叶韻音阿。僩,下版反。喧,詩作咺,諠,詩作諼;並況晚反。恂,鄭氏讀作峻。○詩衛風淇澳之篇。淇,水名。澳,隈也。猗猗,美盛貌。興也。斐,文貌。切以刀鋸,琢以椎鑿,皆裁物使成形質也。磋以鑢鍚,磨以沙石,皆治物使其滑澤也。治骨角者,既切而復磋之。治玉石者,既琢而復磨之。皆言其治之有緒,而益致其精也。瑟,嚴密之貌。僩,武毅之貌。赫喧,宣著盛大之貌。諠,忘也。道,言也。學,謂講習討論之事,自脩者,省察克治之功。恂慄,戰懼也。威,可畏也。儀,可象也。引詩而釋之,以明明明德者之止於至善。道學自脩,言其所以得之之由。恂慄、威儀,言其德容表裏之盛。卒乃指其實而歎美之也。
詩云:「於戲前王不忘!」君子賢其賢而親其親,小人樂其樂而利其利,此以沒世不忘也。
於戲,音嗚呼。樂,音洛。○詩周頌烈文之篇。於戲,歎辭。前王,謂文、武也。君子,謂其後賢後王。小人,謂後民也。此言前王所以新民者止於至善,能使天下後世無一物不得其所,所以既沒世而人思慕之,愈久而不忘也。此兩節咏歎淫泆,其味深長,當熟玩之。 
右傳之三章。釋止於至善。
此章內自引淇澳詩以下,舊本誤在誠意章下。
 
○ 子曰:「聽訟,吾猶人也,必也使無訟乎!」無情者不得盡其辭。大畏民志,此謂知本。
猶人,不異於人也。情,實也。引夫子之言,而言聖人能使無實之人不敢盡其虛誕之辭。蓋我之明德既明,自然有以畏服民之心志,故訟不待聽而自無也。觀於此言,可以知本末之先後矣。
   右傳之四章。釋本末。此章舊本誤在「止於信」下。
 
○ 此謂知本,
程子曰:「衍文也。」
此謂知之至也。
此句之上別有闕文,此特其結語耳。 
右傳之五章,蓋釋格物、致知之義,而今亡矣。
此章舊本通下章,誤在經文之下。
 閒嘗竊取程子之意以補之曰:「所謂致知在格物者,言欲致吾之知,在即物而窮其理也。蓋人心之靈莫不有知,而天下之物莫不有理,惟於理有未窮,故其知有不盡也。是以大學始教,必使學者即凡天下之物,莫不因其已知之理而益窮之,以求至乎其極。至於用力之久,而一旦豁然貫通焉,則眾物之表裏精粗無不到,而吾心之全體大用無不明矣。此謂物格,此謂知之至也。」 
 
○ 所謂誠其意者:毋自欺也,如惡惡臭,如好好色,此之謂自謙,故君子必慎其獨也!
惡、好上字,皆去聲。謙讀為慊,苦劫反。○誠其意者,自脩之首也。毋者,禁止之辭。自欺云者,知為善以去惡,而心之所發有未實也。謙,快也,足也。獨者,人所不知而己所獨知之地也。言欲自脩者知為善以去其惡,則當實用其力,而禁止其自欺。使其惡惡則如惡惡臭,好善則如好好色,皆務決去,而求必得之,以自快足於己,不可徒苟且以殉外而為人也。然其實與不實,蓋有他人所不及知而己獨知之者,故必謹之於此以審其幾焉。
小人閒居為不善,無所不至,見君子而后厭然,揜其不善,而著其善。人之視己,如見其肺肝然,則何益矣。此謂誠於中,形於外,故君子必慎其獨也。
閒,音閑。厭,鄭氏讀為黶。○閒居,獨處也。厭然,消沮閉藏之貌。此言小人陰為不善,而陽欲揜之,則是非不知善之當為與惡之當去也;但不能實用其力以至此耳。然欲揜其惡而卒不可揜,欲詐為善而卒不可詐,則亦何益之有哉!此君子所以重以為戒,而必謹其獨也。
曾子曰:「十目所視,十手所指,其嚴乎!」
引此以明上文之意。言雖幽獨之中,而其善惡之不可揜如此。可畏之甚也。
富潤屋,德潤身,心廣體胖,故君子必誠其意。
胖,步丹反。○胖,安舒也。言富則能潤屋矣,德則能潤身矣,故心無愧怍,則廣大寬平,而體常舒泰,德之潤身者然也。蓋善之實於中而形於外者如此,故又言此以結之。 
右傳之六章。釋誠意。
 經曰:「欲誠其意,先致其知。」又曰:「知至而后意誠。」蓋心體之明有所未盡,則其所發必有不能實用其力,而苟焉以自欺者。然或己明而不謹乎此,則其所明又非己有,而無以為進德之基。故此章之指,必承上章而通考之,然後有以見其用力之始終,其序不可亂而功不可闕如此云。
 
○ 所謂脩身在正其心者,身有所忿懥,則不得其正;有所恐懼,則不得其正;有所好樂,則不得其正;有所憂患,則不得其正。
程子曰:「身有之身當作心。」忿,弗粉反。懥,敕直反。好、樂,並去聲。○忿懥,怒也。蓋是四者,皆心之用,而人所不能無者。然一有之而不能察,則欲動情勝,而其用之所行,或不能不失其正矣。
心不在焉,視而不見,聽而不聞,食而不知其味。
心有不存,則無以檢其身,是以君子必察乎此而敬以直之,然後此心常存而身無不脩也。
此謂脩身在正其心。
 
右傳之七章。釋正心脩身。
 此亦承上章以起下章。蓋意誠則真無惡而實有善矣,所以能存是心以檢其身。然或但知誠意,而不能密察此心之存否,則又無以直內而脩身也。○自此以下,並以舊文為正。
 
○ 所謂齊其家在脩其身者:人之其所親愛而辟焉,之其所賤惡而辟焉,之其所畏敬而辟焉,之其所哀矜而辟焉,之其所敖惰而辟焉。故好而知其惡,惡而知其美者,天下鮮矣!
辟,讀為僻。惡而之惡、敖、好,並去聲。鮮,上聲。○人,謂眾人。之,猶於也。辟,猶偏也。五者,在人本有當然之則;然常人之情惟其所向而不加審焉,則必陷於一偏而身不脩矣。
故諺有之曰:「人莫知其子之惡,莫知其苗之碩。」
諺,音彥。碩,叶韻,時若反。○諺,俗語也。溺愛者不明,貪得者無厭,是則偏之為害,而家之所以不齊也。
此謂身不脩不可以齊其家。
 
右傳之八章。釋脩身齊家。
 
○ 所謂治國必先齊其家者,其家不可教而能教人者,無之。故君子不出家而成教於國:孝者,所以事君也;弟者,所以事長也;慈者,所以使眾也。
弟,去聲。長,上聲。○身脩,則家可教矣;孝、弟、慈,所以脩身而教於家者也;然而國之所以事君事長使眾之道不外乎此。此所以家齊於上,而教成於下也。
康誥曰「如保赤子」,心誠求之,雖不中不遠矣。未有學養子而后嫁者也!
中,去聲。○此引書而釋之,又明立教之本不假強為,在識其端而推廣之耳。
一家仁,一國興仁;一家讓,一國興讓;一人貪戾,一國作亂;其機如此。此謂一言僨事,一人定國。
僨,音奮。○一人,謂君也。機,發動所由也。僨,覆敗也。此言教成於國之效。
堯舜帥天下以仁,而民從之;桀紂帥天下以暴,而民從之;其所令反其所好,而民不從。是故君子有諸己而后求諸人,無諸己而后非諸人。所藏乎身不恕,而能喻諸人者,未之有也。
好,去聲。○此又承上文一人定國而言。有善於己,然後可以責人之善;無惡於己,然後可以正人之惡。皆推己以及人,所謂恕也,不如是,則所令反其所好,而民不從矣。喻,曉也。
故治國在齊其家。
通結上文。
詩云:「桃之夭夭,其葉蓁蓁;之子于歸,宜其家人。」宜其家人,而后可以教國人。
夭,平聲。蓁,音臻。○詩周南桃夭之篇。夭夭,少好貌。蓁蓁,美盛貌。興也。之子,猶言是子,此指女子之嫁者而言也。婦人謂嫁曰歸。宜,猶善也。
詩云:「宜兄宜弟。」宜兄宜弟,而后可以教國人。
詩小雅蓼蕭篇。
詩云:「其儀不忒,正是四國。」其為父子兄弟足法,而后民法之也。
詩曹風鳴鳩篇。忒,差也。
此謂治國在齊其家。
此三引詩,皆以詠歎上文之事,而又結之如此。其味深長,最宜潛玩。
 
右傳之九章。釋齊家治國。
 
○ 所謂平天下在治其國者:上老老而民興孝,上長長而民興弟,上恤孤而民不倍,是以君子有絜矩之道也。
長,上聲。弟,去聲。倍,與背同。絜,胡結反。○老老,所謂老吾老也。興,謂有所感發而興起也。孤者,幼而無父之稱。絜,度也。矩,所以為方也。言此三者,上行下效,捷於影響,所謂家齊而國治也。亦可以見人心之所同,而不可使有一夫之不獲矣。是以君子必當因其所同,推以度物,使彼我之間各得分願,則上下四旁均齊方正,而天下平矣。
所惡於上,毋以使下;所惡於下,毋以事上;所惡於前,毋以先後;所惡於後,毋以從前;所惡於右,毋以交於左;所惡於左,毋以交於右:此之謂絜矩之道。
惡、先,並去聲。○此覆解上文絜矩二字之義。如不欲上之無禮於我,則必以此度下之心,而亦不敢以此無禮使之。不欲下之不忠於我,則必以此度上之心,而亦不敢以此不忠事之。至於前後左右,無不皆然,則身之所處,上下、四旁、長短、廣狹,彼此如一,而無不方矣。彼同有是心而興起焉者,又豈有一夫之不獲哉。所操者約,而所及者廣,此平天下之要道也。故章內之意,皆自此而推之。
詩云:「樂只君子,民之父母。」民之所好好之,民之所惡惡之,此之謂民之父母。
樂,音洛。只,音紙。好、惡,並去聲,下並同。○詩小雅南山有臺之篇。只,語助辭。言能絜矩而以民心為己心,則是愛民如子,而民愛之如父母矣。
詩云:「節彼南山,維石巖巖,赫赫師尹,民具爾瞻。」有國者不可以不慎,辟則為天下僇矣。
節,讀為截。辟,讀為僻。僇,與戮同。○詩小雅節南山之篇。節,截然高大貌。師尹,周太師尹氏也。具,俱也。辟,偏也。言在上者人所瞻仰,不可不謹。若不能絜矩而好惡殉於一己之偏,則身弒國亡,為天下之大戮矣。
詩云:「殷之未喪師,克配上帝;儀監于殷,峻命不易。」道得眾則得國,失眾則失國。
喪,去聲。儀,詩作宜。峻,詩作駿。易,去聲。○詩文王篇。師,眾也。配,對也。配上帝,言其為天下君,而對乎上帝也。監,視也。峻,大也。不易,言難保也。道,言也。引詩而言此,以結上文兩節之意。有天下者,能存此心而不失,則所以絜矩而與民同欲者,自不能已矣。
是故君子先慎乎德。有德此有人,有人此有土,有土此有財,有財此有用。
先慎乎德,承上文不可不慎而言。德,即所謂明德。有人,謂得眾。有土,謂得國。有國則不患無財用矣。
德者本也,財者末也,本上文而言。外本內末,爭民施奪。
人 君以德為外,以財為內,則是爭鬬其民,而施之以劫奪之教也。蓋財者人之所同欲,不能絜矩而欲專之,則民亦起而爭奪矣。
是故財聚則民散,財散則民聚。
外本內末故財聚,爭民施奪故民散,反是則有德而有人矣。
是故言悖而出者,亦悖而入;貨悖而入者,亦悖而出。
悖,布內反。○悖,逆也。此以言之出入,明貨之出入也。自先慎乎德以下至此,又因財貨以明能絜矩與不能者之得失也。
康誥曰:「惟命不于常!」道善則得之,不善則失之矣。
道,言也。因上文引文王詩之意而申言之,其丁寧反覆之意益深切矣。
楚書曰:「楚國無以為寶,惟善以為寶。」
楚書,楚語。言不寶金玉而寶善人也。
舅犯曰:「亡人無以為寶,仁親以為寶。」
舅 犯,晉文公舅狐偃,字子犯。亡人,文公時為公子,出亡在外也。仁,愛也。事見檀弓。此兩節又明不外本而內末之意。
秦誓曰:「若有一个臣,斷斷兮無他技,其心休休焉,其如有容焉。人之有技,若己有之,人之彥聖,其心好之,不啻若自其口出,寔能容之,以能保我子孫黎民,尚亦有利哉。人之有技,媢疾以惡之,人之彥聖,而違之俾不通,寔不能容,以不能保我子孫黎民,亦曰殆哉。」
个,古賀反,書作个。斷,丁亂反。媢,音冒。○秦誓,周書。斷斷,誠一之貌。彥,美士也。聖,通明也。尚,庶幾也。媢,忌也。違,拂戾也。殆,危也。
唯仁人放流之,迸諸四夷,不與同中國。此謂唯仁人為能愛人,能惡人。
迸,讀為屏,古字通用。○迸,猶逐也。言有此媢疾之人,妨賢而病國,則仁人必深惡而痛絕之。以其至公無私,故能得好惡之正如此也。
見賢而不能舉,舉而不能先,命也;見不善而不能退,退而不能遠,過也。
命,鄭氏云:「當作慢。」程子云:「當作怠。」未詳孰是。遠,去聲。○若此者,知所愛惡矣,而未能盡愛惡之道,蓋君子而未仁者也。
好人之所惡,惡人之所好,是謂拂人之性,菑必逮夫身。
菑,古災字。夫,音扶。○拂,逆也。好善而惡惡,人之性也;至於拂人之性,則不仁之甚者也。自秦誓至此,又皆以申言好惡公私之極,以明上文所引南山有臺、節南山之意。
是故君子有大道,必忠信以得之,驕泰以失之。
君子,以位言之。道,謂居其位而修己治人之術。發己自盡為忠,循物無違謂信。驕者矜高,泰者侈肆。此因上所引文王、康誥之意而言。章內三言得失,而語益加切,蓋至此而天理存亡之幾決矣。
生財有大道,生之者眾,食之者寡,為之者疾,用之者舒,則財恒足矣。
恒,胡登反。○呂氏曰:「國無遊民,則生者眾矣;朝無幸位,則食者寡矣;不奪農時,則為之疾矣;量入為出,則用之舒矣。愚按:此因有土有財而言,以明足國之道在乎務本而節用,非必外本內末而後財可聚也。自此以至終篇,皆一意也。
仁者以財發身,不仁者以身發財。
發,猶起也。仁者散財以得民,不仁者亡身以殖貨。
未有上好仁而下不好義者也,未有好義其事不終者也,未有府庫財非其財者也。
上好仁以愛其下,則下好義以忠其上;所以事必有終,而府庫之財無悖出之患也。
孟獻子曰:「畜馬乘不察於雞豚,伐冰之家不畜牛羊,百乘之家不畜聚斂之臣,與其有聚斂之臣,寧有盜臣。」此謂國不以利為利,以義為利也。
畜,許六反。乘、斂,並去聲。○孟獻子,魯之賢大夫仲孫蔑也。畜馬乘,士初試為大夫者也。伐冰之家,卿大夫以上,喪祭用冰者也。百乘之家,有采地者也。君子寧亡己之財,而不忍傷民之力;故寧有盜臣,而不畜聚斂之臣。此謂以下,釋獻子之言也。
長國家而務財用者,必自小人矣。彼為善之,小人之使為國家,菑害並至。雖有善者,亦無如之何矣!此謂國不以利為利,以義為利也。
長,上聲。「彼為善之」,此句上下,疑有闕文誤字。○自,由也,言由小人導之也。此一節,深明以利為利之害,而重言以結之,其丁寧之意切矣。 
右傳之十章。釋治國平天下。
此章之義,務在與民同好惡而不專其利,皆推廣絜矩之意也。能如是,則親賢樂利各得其所,而天下平矣。
凡傳十章:前四章統論綱領指趣,後六章細論條目功夫。其第五章乃明善之要,第六章乃誠身之本,在初學尤為當務之急,讀者不可以其近而忽之也。
*********************
*********************
*********************
朱熹四書集注:大學章句
四書章句集注提要
四書總目
大學章句一卷
論語集註十卷
孟子集註七卷
中庸章句一卷
臣等謹案:四書之稱始於朱子,自漢以來注《論語》者孔安國而下,至宋凡百八十餘家,注《孟子》者趙岐而下,亦六十餘家。朱子融洽眾說,著為集註,心得之妙,超出前儒。
若取《中庸》於《戴記》而專行之者,漢儒已有之。《藝文志》所載《中庸說》二篇是也。其取《大學》則自司馬光始,二程子繼之,專為講明。朱子各為之注,名曰「章句」者,則於古本分章有所移改也,首《大學》,次《論語》,次《孟子》,次《中庸》,凡十九卷,後人便於誦習,或以《中庸》次《大學》。而明時定制科場,命題又以《中庸》次《論語》,至今因之,然非朱子之舊矣。 
內府開雕有二本,其一夾註,即世所稱監本者,其一仿宋板,註字亦大書單行,蓋取淳祐中泳澤書院本依刻,尤為精善。二本間有互異,一二字或多至數十字,今海內童而習之既,並從夾註本,故繕錄篇式亦準之,而悉取其與宋本不同者,詳為標識以資辨證云。
乾隆四十年五月恭校上
總纂官 臣紀昀 臣陸錫熊 臣孫士毅
總校官 臣陸費墀
 
大學章句序
大學之書,古之大學所以教人之法也。蓋自天降生民,則既莫不與之以仁義禮智之性矣。然其氣質之稟或不能齊,是以不能皆有以知其性之所有而全之也。一有聰明睿智能盡其性者出於其閒,則天必命之以為億兆之君師,使之治而教之,以復其性。此伏羲、神農、黃帝、堯、舜,所以繼天立極,而司徒之職、典樂之官所由設也。
三代之隆,其法寖備,然後王宮、國都以及閭巷,莫不有學。人生八歲,則自王公以下,至於庶人之子弟,皆入小學,而教之以灑掃、應對、進退之節,禮樂、射御、書數之文;及其十有五年,則自天子之元子、眾子,以至公、卿、大夫、元士之適子,與凡民之俊秀,皆入大學,而教之以窮理、正心、修己、治人之道。此又學校之教、大小之節所以分也。
夫以學校之設,其廣如此,教之之術,其次第節目之詳又如此,而其所以為教,則又皆本之人君躬行心得之餘,不待求之民生日用彝倫之外,是以當世之人無不學。其學焉者,無不有以知其性分之所固有,職分之所當為,而各俛焉以盡其力。此古昔盛時所以治隆於上,俗美於下,而非後世之所能及也!
及周之衰,賢聖之君不作,學校之政不修,教化陵夷,風俗頹敗,時則有若孔子之聖,而不得君師之位以行其政教,於是獨取先王之法,誦而傳之以詔後世。若曲禮、少儀、內則、弟子職諸篇,固小學之支流餘裔,而此篇者,則因小學之成功,以著大學之明法,外有以極其規模之大,而內有以盡其節目之詳者也。三千之徒,蓋莫不聞其說,而曾氏之傳獨得其宗,於是作為傳義,以發其意。及孟子沒而其傳泯焉,則其書雖存,而知者鮮矣!
自是以來,俗儒記誦詞章之習,其功倍於小學而無用;異端虛無寂滅之教,其高過於大學而無實。其他權謀術數,一切以就功名之說,與夫百家眾技之流,所以惑世誣民、充塞仁義者,又紛然雜出乎其閒。使其君子不幸而不得聞大道之要,其小人不幸而不得蒙至治之澤,晦盲否塞,反覆沈痼,以及五季之衰,而壞亂極矣!
天運循環,無往不復。宋德隆盛,治教休明。於是河南程氏兩夫子出,而有以接乎孟氏之傳。實始尊信此篇而表章之,既又為之次其簡編,發其歸趣,然後古者大學教人之法、聖經賢傳之指,粲然復明於世。雖以熹之不敏,亦幸私淑而與有聞焉。顧其為書猶頗放失,是以忘其固陋,采而輯之,閒亦竊附己意,補其闕略,以俟後之君子。極知僭踰,無所逃罪,然於國家化民成俗之意、學者修己治人之方,則未必無小補云。
 
淳熙巳酉二月甲子,新安朱熹序
大學章句
大學章句 大,舊音泰,今讀如字。 
子程子曰:「大學,孔氏之遺書,而初學入德之門也。」於今可見古人為學次第者,獨賴此篇之存,而論、孟次之。學者必由是而學焉,則庶乎其不差矣。  
○ 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。
程子曰:「親,當作新。」○大學者,大人之學也。明,明之也。明德者,人之所得乎天,而虛靈不昧,以具眾理而應萬事者也。但為氣稟所拘,人欲所蔽,則有時而昏;然其本體之明,則有未嘗息者。故學者當因其所發而遂明之,以復其初也。新者,革其舊之謂也,言既自明其明德,又當推以及人,使之亦有以去其舊染之污也。止者,必至於是而不遷之意。至善,則事理當然之極也。言明明德、新民,皆當至於至善之地而不遷。蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也。此三者,大學之綱領也。
知止而后有定,定而后能靜,靜而后能安,安而后能慮,慮而后能得。
后,與後同,後放此。○止者,所當止之地,即至善之所在也。知之,則志有定向。靜,謂心不妄動。安,謂所處而安。慮,謂處事精詳。得,謂得其所止。
物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。
明德為本,新民為末。知止為始,能得為終。本始所先,末終所後。此結上文兩節之意。
古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先脩其身;欲脩其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。
治,平聲,後放此。○明明德於天下者,使天下之人皆有以明其明德也。心者,身之所主也。誠,實也。意者,心之所發也。實其心之所發,欲其一於善而無自欺也。致,推極也。知,猶識也。推極吾之知識,欲其所知無不盡也。格,至也。物,猶事也。窮至事物之理,欲其極處無不到也。此八者,大學之條目也。
物格而后知至,知至而后意誠,意誠而后心正,心正而后身脩,身脩而后家齊,家齊而后國治,國治而后天下平。
治,去聲,後放此。○物格者,物理之極處無不到也。知至者,吾心之所知無不盡也。知既盡,則意可得而實矣,意既實,則心可得而正矣。脩身以上,明明德之事也。齊家以下,新民之事也。物格知至,則知所止矣。意誠以下,則皆得所止之序也。
自天子以至於庶人,壹是皆以脩身為本。
壹是,一切也。正心以上,皆所以脩身也。齊家以下,則舉此而措之耳。
其本亂而末治者否矣,其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也!
本,謂身也。所厚,謂家也。此兩節結上文兩節之意。 
右經一章,蓋孔子之言,而曾子述之。凡二百五字。其傳十章,則曾子之意而門人記之也。舊本頗有錯簡,今因程子所定,而更考經文,別為序次如左。
凡千五百四十六字。○凡傳文,雜引經傳,若無統紀,然文理接續,血脈貫通,深淺始終,至為精密。熟讀詳味,久當見之,今不盡釋也。 
○ 康誥曰:「克明德。」
康誥,周書。克,能也。
大甲曰:「顧諟天之明命。」
大,讀作泰。諟,古是字。○大甲,商書。顧,謂常目在之也。諟,猶此也,或曰審也。天之明命,即天之所以與我,而我之所以為德者也。常目在之,則無時不明矣。
帝典曰:「克明峻德。」
峻,書作俊。○帝典,堯典,虞書。峻,大也。
皆自明也。
結所引書,皆言自明己德之意。 
右傳之首章。釋明明德。
此通下三章至「止於信」,舊本誤在「沒世不忘」之下。
○ 湯之盤銘曰:「苟日新,日日新,又日新。」
盤,沐浴之盤也。銘,名其器以自警之辭也。苟,誠也。湯以人之洗濯其心以去惡,如沐浴其身以去垢。故銘其盤,言誠能一日有以滌其舊染之汙而自新,則當因其已新者,而日日新之,又日新之,不可略有間斷也。
康誥曰:「作新民。」
鼓之舞之之謂作,言振起其自新之民也。
詩曰:「周雖舊邦,其命惟新。」
詩大雅文王之篇。言周國雖舊,至於文王,能新其德以及於民,而始受天命也。
是故君子無所不用其極。
自新新民,皆欲止於至善也。 
右傳之二章。釋新民。
 
○ 詩云:「邦畿千里,惟民所止。」
詩商頌玄鳥之篇。邦畿,王者之都也。止,居也,言物各有所當止之處也。
詩云:「緡蠻黃鳥,止于丘隅。」子曰:「於止,知其所止,可以人而不如鳥乎!」
緡,詩作緜。○詩小雅緡蠻之篇。緡蠻,鳥聲。丘隅,岑蔚之處。子曰以下,孔子說詩之辭。言人當知所當止之處也。
詩云:「穆穆文王,於緝熙敬止!」為人君,止於仁;為人臣,止於敬;為人子,止於孝;為人父,止於慈;與國人交,止於信。
於緝之於,音烏。○詩文王之篇。穆穆,深遠之意。於,歎美辭。緝,繼續也。熙,光明也。敬止,言其無不敬而安所止也。引此而言聖人之止,無非至善。五者乃其目之大者也。學者於此,究其精微之蘊,而又推類以盡其餘,則於天下之事,皆有以知其所止而無疑矣。
詩云:「瞻彼淇澳,菉竹猗猗。有斐君子,如切如磋,如琢如磨。瑟兮僩兮,赫兮喧兮。有斐君子,終不可諠兮!」如切如磋者,道學也;如琢如磨者,自脩也;瑟兮僩兮者,恂慄也;赫兮喧兮者,威儀也;有斐君子,終不可諠兮者,道盛德至善,民之不能忘也。
澳,於六反。菉,詩作綠。猗,叶韻音阿。僩,下版反。喧,詩作咺,諠,詩作諼;並況晚反。恂,鄭氏讀作峻。○詩衛風淇澳之篇。淇,水名。澳,隈也。猗猗,美盛貌。興也。斐,文貌。切以刀鋸,琢以椎鑿,皆裁物使成形質也。磋以鑢鍚,磨以沙石,皆治物使其滑澤也。治骨角者,既切而復磋之。治玉石者,既琢而復磨之。皆言其治之有緒,而益致其精也。瑟,嚴密之貌。僩,武毅之貌。赫喧,宣著盛大之貌。諠,忘也。道,言也。學,謂講習討論之事,自脩者,省察克治之功。恂慄,戰懼也。威,可畏也。儀,可象也。引詩而釋之,以明明明德者之止於至善。道學自脩,言其所以得之之由。恂慄、威儀,言其德容表裏之盛。卒乃指其實而歎美之也。
詩云:「於戲前王不忘!」君子賢其賢而親其親,小人樂其樂而利其利,此以沒世不忘也。
於戲,音嗚呼。樂,音洛。○詩周頌烈文之篇。於戲,歎辭。前王,謂文、武也。君子,謂其後賢後王。小人,謂後民也。此言前王所以新民者止於至善,能使天下後世無一物不得其所,所以既沒世而人思慕之,愈久而不忘也。此兩節咏歎淫泆,其味深長,當熟玩之。 
右傳之三章。釋止於至善。
此章內自引淇澳詩以下,舊本誤在誠意章下。
 
○ 子曰:「聽訟,吾猶人也,必也使無訟乎!」無情者不得盡其辭。大畏民志,此謂知本。
猶人,不異於人也。情,實也。引夫子之言,而言聖人能使無實之人不敢盡其虛誕之辭。蓋我之明德既明,自然有以畏服民之心志,故訟不待聽而自無也。觀於此言,可以知本末之先後矣。
   右傳之四章。釋本末。此章舊本誤在「止於信」下。
 
○ 此謂知本,
程子曰:「衍文也。」
此謂知之至也。
此句之上別有闕文,此特其結語耳。 
右傳之五章,蓋釋格物、致知之義,而今亡矣。
此章舊本通下章,誤在經文之下。
 閒嘗竊取程子之意以補之曰:「所謂致知在格物者,言欲致吾之知,在即物而窮其理也。蓋人心之靈莫不有知,而天下之物莫不有理,惟於理有未窮,故其知有不盡也。是以大學始教,必使學者即凡天下之物,莫不因其已知之理而益窮之,以求至乎其極。至於用力之久,而一旦豁然貫通焉,則眾物之表裏精粗無不到,而吾心之全體大用無不明矣。此謂物格,此謂知之至也。」 
 
○ 所謂誠其意者:毋自欺也,如惡惡臭,如好好色,此之謂自謙,故君子必慎其獨也!
惡、好上字,皆去聲。謙讀為慊,苦劫反。○誠其意者,自脩之首也。毋者,禁止之辭。自欺云者,知為善以去惡,而心之所發有未實也。謙,快也,足也。獨者,人所不知而己所獨知之地也。言欲自脩者知為善以去其惡,則當實用其力,而禁止其自欺。使其惡惡則如惡惡臭,好善則如好好色,皆務決去,而求必得之,以自快足於己,不可徒苟且以殉外而為人也。然其實與不實,蓋有他人所不及知而己獨知之者,故必謹之於此以審其幾焉。
小人閒居為不善,無所不至,見君子而后厭然,揜其不善,而著其善。人之視己,如見其肺肝然,則何益矣。此謂誠於中,形於外,故君子必慎其獨也。
閒,音閑。厭,鄭氏讀為黶。○閒居,獨處也。厭然,消沮閉藏之貌。此言小人陰為不善,而陽欲揜之,則是非不知善之當為與惡之當去也;但不能實用其力以至此耳。然欲揜其惡而卒不可揜,欲詐為善而卒不可詐,則亦何益之有哉!此君子所以重以為戒,而必謹其獨也。
曾子曰:「十目所視,十手所指,其嚴乎!」
引此以明上文之意。言雖幽獨之中,而其善惡之不可揜如此。可畏之甚也。
富潤屋,德潤身,心廣體胖,故君子必誠其意。
胖,步丹反。○胖,安舒也。言富則能潤屋矣,德則能潤身矣,故心無愧怍,則廣大寬平,而體常舒泰,德之潤身者然也。蓋善之實於中而形於外者如此,故又言此以結之。 
右傳之六章。釋誠意。
 經曰:「欲誠其意,先致其知。」又曰:「知至而后意誠。」蓋心體之明有所未盡,則其所發必有不能實用其力,而苟焉以自欺者。然或己明而不謹乎此,則其所明又非己有,而無以為進德之基。故此章之指,必承上章而通考之,然後有以見其用力之始終,其序不可亂而功不可闕如此云。
 
○ 所謂脩身在正其心者,身有所忿懥,則不得其正;有所恐懼,則不得其正;有所好樂,則不得其正;有所憂患,則不得其正。
程子曰:「身有之身當作心。」忿,弗粉反。懥,敕直反。好、樂,並去聲。○忿懥,怒也。蓋是四者,皆心之用,而人所不能無者。然一有之而不能察,則欲動情勝,而其用之所行,或不能不失其正矣。
心不在焉,視而不見,聽而不聞,食而不知其味。
心有不存,則無以檢其身,是以君子必察乎此而敬以直之,然後此心常存而身無不脩也。
此謂脩身在正其心。
 
右傳之七章。釋正心脩身。
 此亦承上章以起下章。蓋意誠則真無惡而實有善矣,所以能存是心以檢其身。然或但知誠意,而不能密察此心之存否,則又無以直內而脩身也。○自此以下,並以舊文為正。
 
○ 所謂齊其家在脩其身者:人之其所親愛而辟焉,之其所賤惡而辟焉,之其所畏敬而辟焉,之其所哀矜而辟焉,之其所敖惰而辟焉。故好而知其惡,惡而知其美者,天下鮮矣!
辟,讀為僻。惡而之惡、敖、好,並去聲。鮮,上聲。○人,謂眾人。之,猶於也。辟,猶偏也。五者,在人本有當然之則;然常人之情惟其所向而不加審焉,則必陷於一偏而身不脩矣。
故諺有之曰:「人莫知其子之惡,莫知其苗之碩。」
諺,音彥。碩,叶韻,時若反。○諺,俗語也。溺愛者不明,貪得者無厭,是則偏之為害,而家之所以不齊也。
此謂身不脩不可以齊其家。
 
右傳之八章。釋脩身齊家。
 
○ 所謂治國必先齊其家者,其家不可教而能教人者,無之。故君子不出家而成教於國:孝者,所以事君也;弟者,所以事長也;慈者,所以使眾也。
弟,去聲。長,上聲。○身脩,則家可教矣;孝、弟、慈,所以脩身而教於家者也;然而國之所以事君事長使眾之道不外乎此。此所以家齊於上,而教成於下也。
康誥曰「如保赤子」,心誠求之,雖不中不遠矣。未有學養子而后嫁者也!
中,去聲。○此引書而釋之,又明立教之本不假強為,在識其端而推廣之耳。
一家仁,一國興仁;一家讓,一國興讓;一人貪戾,一國作亂;其機如此。此謂一言僨事,一人定國。
僨,音奮。○一人,謂君也。機,發動所由也。僨,覆敗也。此言教成於國之效。
堯舜帥天下以仁,而民從之;桀紂帥天下以暴,而民從之;其所令反其所好,而民不從。是故君子有諸己而后求諸人,無諸己而后非諸人。所藏乎身不恕,而能喻諸人者,未之有也。
好,去聲。○此又承上文一人定國而言。有善於己,然後可以責人之善;無惡於己,然後可以正人之惡。皆推己以及人,所謂恕也,不如是,則所令反其所好,而民不從矣。喻,曉也。
故治國在齊其家。
通結上文。
詩云:「桃之夭夭,其葉蓁蓁;之子于歸,宜其家人。」宜其家人,而后可以教國人。
夭,平聲。蓁,音臻。○詩周南桃夭之篇。夭夭,少好貌。蓁蓁,美盛貌。興也。之子,猶言是子,此指女子之嫁者而言也。婦人謂嫁曰歸。宜,猶善也。
詩云:「宜兄宜弟。」宜兄宜弟,而后可以教國人。
詩小雅蓼蕭篇。
詩云:「其儀不忒,正是四國。」其為父子兄弟足法,而后民法之也。
詩曹風鳴鳩篇。忒,差也。
此謂治國在齊其家。
此三引詩,皆以詠歎上文之事,而又結之如此。其味深長,最宜潛玩。
 
右傳之九章。釋齊家治國。
 
○ 所謂平天下在治其國者:上老老而民興孝,上長長而民興弟,上恤孤而民不倍,是以君子有絜矩之道也。
長,上聲。弟,去聲。倍,與背同。絜,胡結反。○老老,所謂老吾老也。興,謂有所感發而興起也。孤者,幼而無父之稱。絜,度也。矩,所以為方也。言此三者,上行下效,捷於影響,所謂家齊而國治也。亦可以見人心之所同,而不可使有一夫之不獲矣。是以君子必當因其所同,推以度物,使彼我之間各得分願,則上下四旁均齊方正,而天下平矣。
所惡於上,毋以使下;所惡於下,毋以事上;所惡於前,毋以先後;所惡於後,毋以從前;所惡於右,毋以交於左;所惡於左,毋以交於右:此之謂絜矩之道。
惡、先,並去聲。○此覆解上文絜矩二字之義。如不欲上之無禮於我,則必以此度下之心,而亦不敢以此無禮使之。不欲下之不忠於我,則必以此度上之心,而亦不敢以此不忠事之。至於前後左右,無不皆然,則身之所處,上下、四旁、長短、廣狹,彼此如一,而無不方矣。彼同有是心而興起焉者,又豈有一夫之不獲哉。所操者約,而所及者廣,此平天下之要道也。故章內之意,皆自此而推之。
詩云:「樂只君子,民之父母。」民之所好好之,民之所惡惡之,此之謂民之父母。
樂,音洛。只,音紙。好、惡,並去聲,下並同。○詩小雅南山有臺之篇。只,語助辭。言能絜矩而以民心為己心,則是愛民如子,而民愛之如父母矣。
詩云:「節彼南山,維石巖巖,赫赫師尹,民具爾瞻。」有國者不可以不慎,辟則為天下僇矣。
節,讀為截。辟,讀為僻。僇,與戮同。○詩小雅節南山之篇。節,截然高大貌。師尹,周太師尹氏也。具,俱也。辟,偏也。言在上者人所瞻仰,不可不謹。若不能絜矩而好惡殉於一己之偏,則身弒國亡,為天下之大戮矣。
詩云:「殷之未喪師,克配上帝;儀監于殷,峻命不易。」道得眾則得國,失眾則失國。
喪,去聲。儀,詩作宜。峻,詩作駿。易,去聲。○詩文王篇。師,眾也。配,對也。配上帝,言其為天下君,而對乎上帝也。監,視也。峻,大也。不易,言難保也。道,言也。引詩而言此,以結上文兩節之意。有天下者,能存此心而不失,則所以絜矩而與民同欲者,自不能已矣。
是故君子先慎乎德。有德此有人,有人此有土,有土此有財,有財此有用。
先慎乎德,承上文不可不慎而言。德,即所謂明德。有人,謂得眾。有土,謂得國。有國則不患無財用矣。
德者本也,財者末也,本上文而言。外本內末,爭民施奪。
人 君以德為外,以財為內,則是爭鬬其民,而施之以劫奪之教也。蓋財者人之所同欲,不能絜矩而欲專之,則民亦起而爭奪矣。
是故財聚則民散,財散則民聚。
外本內末故財聚,爭民施奪故民散,反是則有德而有人矣。
是故言悖而出者,亦悖而入;貨悖而入者,亦悖而出。
悖,布內反。○悖,逆也。此以言之出入,明貨之出入也。自先慎乎德以下至此,又因財貨以明能絜矩與不能者之得失也。
康誥曰:「惟命不于常!」道善則得之,不善則失之矣。
道,言也。因上文引文王詩之意而申言之,其丁寧反覆之意益深切矣。
楚書曰:「楚國無以為寶,惟善以為寶。」
楚書,楚語。言不寶金玉而寶善人也。
舅犯曰:「亡人無以為寶,仁親以為寶。」
舅 犯,晉文公舅狐偃,字子犯。亡人,文公時為公子,出亡在外也。仁,愛也。事見檀弓。此兩節又明不外本而內末之意。
秦誓曰:「若有一个臣,斷斷兮無他技,其心休休焉,其如有容焉。人之有技,若己有之,人之彥聖,其心好之,不啻若自其口出,寔能容之,以能保我子孫黎民,尚亦有利哉。人之有技,媢疾以惡之,人之彥聖,而違之俾不通,寔不能容,以不能保我子孫黎民,亦曰殆哉。」
个,古賀反,書作个。斷,丁亂反。媢,音冒。○秦誓,周書。斷斷,誠一之貌。彥,美士也。聖,通明也。尚,庶幾也。媢,忌也。違,拂戾也。殆,危也。
唯仁人放流之,迸諸四夷,不與同中國。此謂唯仁人為能愛人,能惡人。
迸,讀為屏,古字通用。○迸,猶逐也。言有此媢疾之人,妨賢而病國,則仁人必深惡而痛絕之。以其至公無私,故能得好惡之正如此也。
見賢而不能舉,舉而不能先,命也;見不善而不能退,退而不能遠,過也。
命,鄭氏云:「當作慢。」程子云:「當作怠。」未詳孰是。遠,去聲。○若此者,知所愛惡矣,而未能盡愛惡之道,蓋君子而未仁者也。
好人之所惡,惡人之所好,是謂拂人之性,菑必逮夫身。
菑,古災字。夫,音扶。○拂,逆也。好善而惡惡,人之性也;至於拂人之性,則不仁之甚者也。自秦誓至此,又皆以申言好惡公私之極,以明上文所引南山有臺、節南山之意。
是故君子有大道,必忠信以得之,驕泰以失之。
君子,以位言之。道,謂居其位而修己治人之術。發己自盡為忠,循物無違謂信。驕者矜高,泰者侈肆。此因上所引文王、康誥之意而言。章內三言得失,而語益加切,蓋至此而天理存亡之幾決矣。
生財有大道,生之者眾,食之者寡,為之者疾,用之者舒,則財恒足矣。
恒,胡登反。○呂氏曰:「國無遊民,則生者眾矣;朝無幸位,則食者寡矣;不奪農時,則為之疾矣;量入為出,則用之舒矣。愚按:此因有土有財而言,以明足國之道在乎務本而節用,非必外本內末而後財可聚也。自此以至終篇,皆一意也。
仁者以財發身,不仁者以身發財。
發,猶起也。仁者散財以得民,不仁者亡身以殖貨。
未有上好仁而下不好義者也,未有好義其事不終者也,未有府庫財非其財者也。
上好仁以愛其下,則下好義以忠其上;所以事必有終,而府庫之財無悖出之患也。
孟獻子曰:「畜馬乘不察於雞豚,伐冰之家不畜牛羊,百乘之家不畜聚斂之臣,與其有聚斂之臣,寧有盜臣。」此謂國不以利為利,以義為利也。
畜,許六反。乘、斂,並去聲。○孟獻子,魯之賢大夫仲孫蔑也。畜馬乘,士初試為大夫者也。伐冰之家,卿大夫以上,喪祭用冰者也。百乘之家,有采地者也。君子寧亡己之財,而不忍傷民之力;故寧有盜臣,而不畜聚斂之臣。此謂以下,釋獻子之言也。
長國家而務財用者,必自小人矣。彼為善之,小人之使為國家,菑害並至。雖有善者,亦無如之何矣!此謂國不以利為利,以義為利也。
長,上聲。「彼為善之」,此句上下,疑有闕文誤字。○自,由也,言由小人導之也。此一節,深明以利為利之害,而重言以結之,其丁寧之意切矣。 
右傳之十章。釋治國平天下。
此章之義,務在與民同好惡而不專其利,皆推廣絜矩之意也。能如是,則親賢樂利各得其所,而天下平矣。
凡傳十章:前四章統論綱領指趣,後六章細論條目功夫。其第五章乃明善之要,第六章乃誠身之本,在初學尤為當務之急,讀者不可以其近而忽之也。

Phổ độ – widely spreading training salvation 1 _ TỨ NHIẾP PHÁP

Pho do – widely spreading training salvation
Phổ độ – widely spreading training salvation
Phổ độ 普 phổ 渡 widely spreading training salvation
generous, elegy compassionately, regulars, suitably, widely spreading training salvation.
普 phổ 渡 độ

Phổ độ – widely spreading training salvation 1
Phổ độ 普 phổ 渡 widely spreading training salvation
generous, elegy compassionately, regulars, suitably, widely spreading training salvation.
普 phổ 渡 độ

TỨ NHIẾP PHÁP

Phổ độ 
 Widely spreading training salvation

 
 
 
 
Pho do – widely spreading training salvation
Phổ độ – widely spreading training salvation
Phổ độ 普 phổ 渡 widely spreading training salvation
generous, elegy compassionately, regulars, suitably, widely spreading training salvation. 
普 phổ 渡 độ 
 
Phật chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, 
Ai tìm Phật khác ấy là sai, 
Trong tâm khảm ta đây, Ngài ngự, 
Chẳng phải riêng ta, khắp mọi loài. 
 
Phật vẫn ở trong, vẫn ở ngoài,
Ai tìm Phật khác ấy là sai, 
Trong tâm khảm ta đây, Ngài ngự, 
Chẳng phải riêng ta, khắp mọi loài. 
 
Thế gian cả hữu lẫn vô tình, 
Ấy là thân phật đại quang minh, 
Từ đó nảy sinh 3 phẩm giới: 
Nhiếp, luật, nghi, độ khắp sinh linh. 
 
攝律儀普渡
摄律仪普渡
攝律宜普渡
 
攝攝摄 
儀仪宜宐
普 phổ 渡 độ 
generous, elegy compassionately, regulars, suitably, widely spreading training salvation. 
———————- 
 
 

 TỨ NHIẾP PHÁP

I. VĂN: 
Hoằng pháp lợi sanh là hạnh nguyện của chư Phật, chư vị Bồ tát. Đức Phật ra đời với một ý nguyện lợi sanh. Cho nên trong, tất cả phương tiện giáo hoá khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.
 
Người Phật tử theo dấu chân Phật và Bồ tát, học Phật không chỉ riêng giác ngộ cho mình mà còn làm cho người khác cùng hiểu biết và hành trì pháp Phật cũng như mình, nghĩa là phải lợi sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” không chỉ là lời nói suông mà người Phật tử phải thể hiện trọn vẹn trong quá trình học đạo, tu đạo và sống đạo của mình.
 
Tứ nhiếp pháp còn gọi là 4 nhiếp sự, là nền tảng đạo đức của thế gian. Thế gian xoay quanh 4 nhiếp sự như bánh xe quay quanh trục. Đây là cương thường đạo lý của người Phật tử tại gia.
 
Tứ nhiếp pháp được Phật kiến lập trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, phẩm Bốn pháp.
 
Muốn thực hiện tinh thần lợi sanh, đức Phật kiến lập pháp môn TỨ NHIẾP PHÁP để dạy chúng ta hành đạo như sau:
 
1. Định nghĩa:
 
Tứ là bốn.
 
Nhiếp là nhiếp hóa, nghĩa là thâu độ.
 
Pháp là pháp môn, là phương pháp thâu độ người khác.
 
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp giúp mình xa lìa những thói hư tật xấu, hoàn thiện nhân cách, tăng trưởng phẩm hạnh, từ đó tiến đến phổ độ kẻ khác. Đây là bốn phương pháp để người Phật tử phổ độ người khác về với mình, để cùng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có đưa người khác đến với ta, thì ta mới có cơ duyên hóa độ.
 
Bốn phương pháp ấy là: “Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự”.
 
2. Nội dung Tứ nhiếp pháp:
 
a. Bố thí:
 
Nói nôm na bình dân thường là “Cho”, là “Giúp đỡ”, là “Dâng Tặng”, là “Cúng dường”.
 
Chữ THÍ là lấy của mình cho kẻ khác. Lấy của mình đem cho, tức ngầm chứa một sự hy sinh, dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều.
 
Bố có nghĩa là cùng khắp, rộng rãi.
 
Bố thí là cho một cách rộng rãi.
 
Một khía cạnh khác của Bố thí, khi đã hy sinh của mình đem cho người khác là đã biểu lộ lòng thương, lòng vị tha, thay thế cho lòng vị kỷ. Đây là động cơ đầu tiên cho lòng thương rộng lớn đó là lòng Từ bi.
 
Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn chu toàn nữa (all the ways).
 
Bố thí có ba phương diện: 
 
* Tài thí: gồm có Nội tài và Ngoại tài.
 
– Ngoại tài: nghĩa là đem của cải, tiền bạc, vật dụng nằm ngoài tài sức để giúp đỡ đời sống thiết thực cho chúng sanh.
 
– Nội tài: là bố thí chính tài sức của mình, sức lực, lời nói, tư tưởng, ý kiến v.v… một thứ tài sản dù nghèo đến mấy cũng có và tài sản ấy mới thật là của mình. Đừng viện cớ: tôi nghèo quá, không có gì để bố thí. Cho dù nghèo tận cùng con số không, vẫn còn có tài sức của mình, đó là vật sở hữu vô giá. Có tài sức là có sức lực, có trí tuệ bố thí cho người khác như gặp người gánh nặng ta gánh giúp, đẩy hộ một chiếc xe lên đốc cao… Đó cũng là cách bố thí. Phật dạy rằng: “Đời ai không có tài sức, có tài sức là có thể bố thí được”
 
* Pháp thí: nghĩa là đem giáo pháp chân chính mà giảng dạy cho chúng sanh thoát khỏi những đau buồn, đắng cay của cuộc đời, tạo niềm hân hoan vui sống cho họ hoặc tụng kinh niệm Phật để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh.
 
Đem Phật pháp cảm hoá mọi người đó mới là phương tiện chính của người tại gia phục vụ xã hội.
 
Đức Phật dạy, trong mọi cách cúng dường, cúng dường Pháp là tối thắng, vì Pháp đem lại an vui lợi lạc cho đời này và vô lượng phước báu cho đời sau, là nhân giải thoát trong tương lai.
 
* Vô úy thí: tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “Sự không khiếp sợ” trong những lúc nguy biến, ấy là vô uý thí.
 
Làm thân người ai cũng có nỗi lo sợ, sợ đói, sợ nghèo, sợ bệnh tật, sợ tai họa, ách quốc gia. Vô úy thí là dùng tất cả phương tiện bố thí để giúp chúng sanh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Gặp những tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương cách giải cứu. Sự khổ sống trong sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.
 
Vị Bồ tát có năng lực đem lại sự bình an cho chúng sanh là Ngài Quán Thế Âm. Đức Quan Thế Âm thực hành như vậy mà thế giới Ta Bà gọi Ngài là “đấng bố thí sự vô uý”.
 
Ngoài Tài thí, Pháp thí, còn chú trọng đến pháp Vô úy thí.
 
Thực hành tài thí để tương trợ đời sống vật chất cho chúng sanh. Thực hành Pháp thí để giáo hoá chúng sanh và thực hành hạnh Vô uý thí để loại bỏ những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.
 
Bố thí mà chỉ mong cầu báo đáp thì chỉ có phước báu, chứ không thực sự giúp ta ta vĩnh ly khổ ách, đạt cứu cánh Niết Bàn.
 
Bố thí Ba La Mật là hình thức bố thí cao cả nhất của Phật giáo. Đó là cách bố thí không thấy có kẻ bố thí, người được bố thí và của được bố thí, nên gọi là Tam luân không tịch. Câu chuyện Thái tử Tu Đại Noa nói lên ý nghĩa cao cả của việc bố thí này.
 
b. Ái ngữ:
 
Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất phát từ một thiện ý thành thực cảm hoá.
Dùng lời nói dịu dàng, hoà ái, khiêm tốn, khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ cảm mến. 
Nói lời hoà nhã nhằm an ủi, giúp người vượt qua sự khổ sở. Dù với bất cứ hoàn cảnh nào như đứng trước một nhân vật hung hăng, lời lẽ mình vẫn nhu hòa để cảm hóa họ trở về con đường thiện lành.
 
Muốn có ái ngữ phải luôn luôn trầm tĩnh thân tâm. Không nên xem thường ái ngữ, vì ái ngữ dễ nhiếp phục lòng người. 
* Ái ngữ có công năng giúp kẻ khác tiến lên đến chỗ tốt đẹp.
 
c. Lợi hành:
 
Là lợi hạnh với mọi người. Mỗi người sống đều có lý tưởng. Lợi hành là hành vi giúp người đạt được mục đích tốt đẹp mà họ mong muốn, là làm việc vì mục đích cao cả có lợi cho người, không so tính thiệt hơn, nếu không muốn nói hy sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cho người khác.
 
Lợi hạnh là cách thâu độ lòng người nhanh nhất, hữu hiệu nhất.
 
Hình ảnh vị Bồ tát Trì Địa là một tấm gương sáng về Lợi hành, suốt cuộc đời chuyên lo tu sửa đường sá, lấp các ao rạch ngăn trở lối đi, bắc cầu qua các kênh mương, gánh giúp cho người già cả, giúp đỡ kẻ tật nguyền neo đơn, từ những việc lặt vặt đến những việc lớn lao đều không từ chối nên được Phật ấn chứng.
 
d. Đồng sự:
 
Đồng sự là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã hội mà mình phải gánh vác. Đồng sự còn có nghĩa là phổ độ tương trợ, cảm hoá họ.
 
Cùng hòa nhã, thông cảm cảnh ngộ của người khác để dẫn dắt họ về với chánh pháp. Đây là một pháp vừa có hiệu quả lớn mà cũng vừa rất tế nhị. Cùng một cảnh ngộ thì dễ cảm thông với nhau hơn. Cụ thể, những người cùng hoàn cảnh rất dễ thông cảm nhau. Một tấm gương đồng sự của Bồ tát Duy Ma Cật: Đến nơi cờ bạc thì Ngài dùng nơi đó để độ người. Thấy ai Ngài cũng kính nhường. Ngài nhiếp phục kẻ lớn người nhỏ. Dạo chơi nơi ngả tư đường, Ngài giúp cho chúng sanh dự vào việc chánh đáng. Vào nơi giảng luận, Ngài dùng pháp Đại thừa mà dẫn dắt kẻ khác. Vào nơi học đường, Ngài khuyên thiện và khai hóa học viên. Vào chốn ăn chơi, Ngài chỉ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào quán rượu, Ngài vẽ phác chí hướng cho những đệ tử của say xỉn. (Phẩm Phương tiện).
 
Đồng sự với mọi người, với mục đích là giáo hoá. Do đó, không một chỗ nào dù là chỗ xấu xa như nơi cờ bạc, chốn buôn hương bán phấn, Duy Ma Cật lại không bước chân vào.
 
Gần chúng ta hơn, Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng từ bi thương xót chúng sanh và muốn chúng sanh an lạc tự tại, Ngài hiện 32 ứng tài sức tùy sở cầu của chúng sanh mà thi hiện cứu độ.
 
Đồng Sự với ý nghĩa cao sâu hơn, Đồng sự tức là Đồng ngã: nâng người lên ngang với mình về phương diện đạo đức. Đây là phần về Phật pháp: giúp người hiểu Phật pháp giữ giới ngang với mình, thấy người phạm giới giáo dục cho họ không phạm giới và giữ giới đã thọ như mình, giúp người khác (bạn tại gia) có kinh điển để học. Đối với người xuất gia: Kiến hoà đồng giải và Giới hoà đồng tu, đó là Đồng sự.
 
Yếu tố Lợi hành, Đồng sự giúp người chóng thích nghi với mọi môi trường ở cuộc đời và luôn tạo cho mình niềm an lạc tự tại để sống.
 
II. TƯ:
Tứ nhiếp pháp giúp huynh đệ tỷ muội tạo dựng cuộc sống an lạc, tự tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Tứ nhiếp pháp là một phương tiện thiện xảo để nhiếp phục, cảm hóa những người chung quanh.
Tứ nhiếp pháp còn giới hạn thân khẩu ý tạo tác các vọng nghiệp, tạo năng lực hành thiện độ sanh, giúp chúng ta sớm gần với chân lý giải thóat giác ngộ.
Thấy người thực hành Tứ nhiếp pháp mà sanh tâm hoan hỷ thì công đức vô lượng.
Câu chuyện “Gã cùng tử” trong kinh Pháp Hoa làm diễn tả Thế Tôn cũng như tâm nguyện của chúng ta trên con đường phục vụ chánh pháp.
III. TU:
Huynh đệ tỷ muội thực hành hạnh Bố thí để xả bỏ dần tánh tham lam keo lẩn.
Huynh đệ tỷ muội dùng lời nói nhu hòa để cảm hóa những người chung quanh.
Luôn làm mọi việc ích lợi cho tất cả chúng sanh.
Tự đặt mình vào hoàn cảnh của tha nhân mới thấu hiểu những trăn trở của họ, từ đó sẽ thông cảm, vị tha, độ lượng, nhân từ.
Tứ nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể. Tứ nhiếp pháp không phải là một giáo lý xuất thế, mà là yếu tố xây dựng cuộc đời, đưa mọi người vào ánh sáng chánh pháp.
 
Với hạnh nguyện lợi tha, Tứ nhiếp pháp là phương tiện khéo và đủ vậy.
 
IV. CÂU HỎI:
Tứ nhiếp pháp là gì?
Giải thích nghĩa 2 chữ Bố thí trong các trường hợp?
Thế nào là Vô úy thí?
Đồng sự là gì? Vị Bồ tát nào đã thực hành Đồng sự một cách rốt ráo?
Huynh đệ tỷ muội thực hành Tứ nhiếp pháp như thế nào trong cuộc sống?
———————- 
 
 
 

Tứ Nhiếp Pháp

Hòa thượng Thích Thiện Hoa

A. Mở Ðề

 
Tu hạnh lợi tha nhiếp hóa chúng sinh là bổn phận của Bồ Tát. Ðức Phật ra đời nhằm mục đích cứu đôĩ chúng sinh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.
 
Người Phật tử theo dấu chân Phật tất phải tập làm những gì đức Phật đã làm. Trong khi tu hành, Phật tử không bao giờ nên quá chú trọng đến mình mà quên người, không nên chỉ lo giác ngộ cho mình mà không tìm cách giác ngộ cho người. Trong đạo Phật, mình với người là một khối, mình không khác người, không thể phân chia ra được. Càng lo tự lợi chừng nào lại càng đi ngược với sự tu hành chừng ấy. Trái lại, càng hy sinh cho người, càng chú trọng đến lợi tha, lại càng mau chứng ngộ chừng ấy.
 
Phật có vô lượng phương pháp cứu độ chúng sanh, chúng ta muốn áp dụng phương pháp nào cũng được. Song muốn có kết quả cụ thể, chúng ta phải tùy theo căn cơ, hoài bão của chúng sanh mà lựa pháp môn tu hạnh lợi tha. Ðối với người đồng loại, chúng tôi tưởng không có phương pháp nào có hiệu quả thiết thực lợi ích cho người và làm cho người cảm hóa sâu xa bằng pháp môn Tứ nhiếp pháp.
 

B. Chánh Ðề

 

I. Ðịnh Nghĩa: 

Tứ nhiếp pháp là gì? Tức là bốn phương pháp lợi tha để nhiếp phục chúng sanh quay về với Phật pháp. Bốn phương pháp đó là:
 
– Bố thí nhiếp
– Ái ngũ nhiếp
– Lợi hành nhiếp
– Ðồng sự nhiếp
 

II. Hành Tướng Của Tứ Nhiếp Pháp

 
1. Bố thí nhiếp: Một xã hội tốt đẹp hay xấu xa, hòa bình hay hỗn loạn không phải là không nguyên nhân. Nguyên nhân của hỗn loạn xấu xa chính là lòng ích kỷ. Nhân loại đang quằn quại trong khổ đau, những cảnh nồi da xáo thịt, tái diễn hằng ngày là do đâu, nếu không phải chính là lòng tham lam ích kỷ?
 
Ðạo Phật là đạo từ bi, nghĩa là cứu khổ. Mà những nỗi khổ lớn của con người là gì? Ðó là sự thiếu thốn về vật chất sự mê mờ về tinh thần, và lòng lo sợ về đủ mọi thứ, như lo sợ mất tiền của, mất thân mạng, gặp tai biến v.v…
 
Vậy người có lòng từ bi, muốn cứu khổ thì trước tiên phải xả bỏ tánh ích kỷ, cho mọi người thứ mình có, cho những gì người khác mong muốn. Nghĩa là phải làm hạnh bố thí. Do sự bố thí ấy mà mình cảm phục được người chung quanh, mà người chung quanh thân mến mình và mong cầu học đạo giải thoát. Bố thí có 3 lối: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.
 
a) Tài thí: Tài là tiền của. tài thí là đem tiền của mà bố thí, để cứu vớt người đồng loại thoát khỏi đau khổ. Cảnh khổ của chúng sinh về vật chất không thể kể xiết: người thiếu cơm, kẻ thiếu áo, người thiếu thuốc thang, kẻ thiếu nơi nương náu… Ðứng trước bao cảnh khổ ấy, người Phật tử không thể nào an nhiên hưởng sự sung sướng riêng được, mà trái lại thấy mình có bổn phận xuất của, ra công giúp kẻ nghèo khổ, thiếu hụt.
 
Ðừng viện cớ, hay tự an ủi, mình nghèo không có của tiền giúp đỡ người chung quanh. Thật ra miễn là mình có từ tâm hay không, chứ không phải mình hoàn toàn thiếu phương tiện để giúp đỡ người khác. Một chén cơm vẫn có thể chia hai được, một manh chiếu vẫn còn đủ chỗ cho thêm một người nằm được. Người ta thường nói: “chật bụng chớ chật chi nhà”, là thế. Người triệu phú đem cho năm, bảy ngàn bạc cũng tốt. Người nghèo chỉ có hai bộ quần áo, mà đem cho bớt đi một bộ cũng tốt.
 
b) Pháp thí: Pháp là giáo pháp, là những lời dạy, những giáo lý của đức Phật và các bậc Thánh Hiền Tăng, là Tam tạng Kinh điển. Pháp thí là đem những giáo pháp quý báu ấy mà bố thí, giảng dạy cho chúng sinh.
 
Chúng sinh đang mê mẫn, xoay vần trong sáu cõi, gây nghiệp rồi thọ báo, khác nào tỉnh mộng rồi lại mơ. Trong lúc mộng nào biết có mơ, cứ lăn lộn vào đường ái, như bướm đâm đầu vào đèn. Vì thế, đức Phật mới đem giáo pháp ra giảng dạy khiến cho chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi.
 
Pháp của Phật nhiều vô số lượng, cao nhiêu cũng có, thấp bao nhiêu cũng có, đủ cỡ, đủ loại cho mọi căn cơ. Dù người nước nào, bực nào, căn cơ cao hay thấp, sáng hay tối, một khi nghe đến pháp của Phật, tùy sức đều được hiểu cả. Nên trong kinh có câu: “Phật thuyết nhất âm, chúng sinh tùy loại các đắc giải”.
 
Chúng ta đừng viện cớ mình còn kém Phật pháp, không thể làm công việc thí pháp được. Như trên dã nói, Pháp Phật có vô số lượng pháp môn, nếu không biết được pháp môn cao thâm, thì cũng biết được pháp môn thông thường. Mỗi Phật tử ít ra cũng biết tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật, ăn chay. Chúng ta đem những điều ấy chỉ bảo cho người, thế cũng là thí pháp rồi. Nếu làm những điều ấy với tấm lòng chân thật, hoan hỷ, cố mong sao cho người chung quanh đi đến với đạo để được lợi ích.
 
Tuy thế, đã là Phật tử thì chúng ta có bổn phận phải luôn luôn trao dồi, học hỏi để biết rộng hiểu nhiều, hầu tự giải thoát và để công việc thí pháp của chúng ta được hiệu quả hơn, phổ biến rộng rãi hơn và ứng dụng trong mọi trường hợp.
 
Thí pháp càng lan rộng, thì người xu hướng về với Phật pháp càng nhiều và cõi đời càng bớt đau khổ.
 
c) Vô úy thí: Vô úy là không sợ hãi. Vô úy thí là đem cái không sợ mà thí cho chúng sinh. Sự sợ hãi là một tâm trạng rất thông thường của chúng sinh trong cõi đời giả tạm và đầy đau khổ này. Vậy người có lòng từ bi, phải cố gắng làm sao cho chúng sinh chung quanh có được sự bình tĩnh, yên ổn của tâm hồn, không hoang mang lo lắng, sợ hãi.
 
Vô úy thí, không phải chỉ những người có can đảm, có tài năng, có uy quyền mới làm được. Hằng ngày chung quanh ta, biết bao người đang ở trong cảnh sợ hãi; nếu thật chúng ta có lòng từ muốn giúp đỡ cho họ khỏi sợ hãi thì không có lúc nào là không thể làm được: một đứa bé đang kinh hãi trước hàm răng của con chó dữ; một bà lão lo sợ bị xe cán không dám băng qua đường nhiều xe cộ; một thiếu nữ đi đêm “sợ ma”; một thí sinh run rẩy trước giờ vấn đáp v.v… đó là bao nhiêu cơ hội mà chúng ta có thể thi hành pháp Vô úy thí. gặp người bị tai nạn, ta đem tài năng hay thế lực ra đùm bọc, che chở, cho họ khỏi sợ hãi; gặp người đau ốm, lo sợ thần chết mang đi, ta lấy luật vô thường giảng giải cho họ và bảo họ niệm đức Quan Thế Âm Bồ Tát hay các đức Phật Thánh Thần Tiên (như là: Phật A Di Ðà, v.v…) đó là Vô úy thí. 
 
Tóm lại, bố thí là do lòng từ bi vô hạn mà làm. Nó có một phạm vi rộng rãi vô cùng. Khi nào còn có chúng sanh đau khổ thì ta còn bố thí.
 
Hình thức cao nhất của bố thí là bố thí Ba la mật, nghĩa là bố thí rất nhiều mà không thấy mình có bố thí; bố thí mà không phân biệt thân sơ, không chấp ta, người, thù, bạn; bố thí mà không chấp số lượng những vật thí. Như thế là ta đã thành tựu pháp “Tam luân không tịch” về bố thí. Khi ấy, bố thí không còn là một việc làm phúc hay ban ân nữa, mà chính là một việc tự nhiên, không thể bỏ qua được như ăn, như uống hàng ngày.
 
Vậy đã là Phật tử thì không thể nào không thi hành pháp bố thí được. Sự thi hành này tùy phương tiện, tài năng, thể lực của mình, và ở trong hoàn cảnh nào cũng làm được, chứ không phải đợi có đủ một số điều kiện nào đó mới làm được. Miễn là ta càng cố gắng giúp ích, cứu khổ cho người được chừng nào thì quí chừng ấy.
 
2. Ái ngữ nhiếp: Ái ngữ nhiếp là tùy theo căn cơ tánh chúng sanh mà khôn khéo nói năng, an ủi, khuyên lơn, nhân thế khiến cho họ sinh lòng thân mến, cảm phục, rồi từ đó họ mới theo ta mà học đạo.
 
Ở đời nhiều người đối với mọi người dùng lời không tao nhã, nên làm cho người chung quanh chán ghét. Vì thế, nhiều việc phải bị hư hỏng.
 
Tục ngữ có câu: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Thật thế, lời nói là một của báu mà mọi người đều có cả, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn. Nhưng cũng lời nói ấy người nầy sử dụng thì nên công việc, còn người kia sử dụng thì lại tán gia bại sản. Sở dĩ như thế là vì một bên biết lựa lời ăn nói dịu dàng, dễ nghe, còn một bên cộc cằn, thô tục. Nhiều người, tự bào chữa, thường bảo: “Tánh tôi ngay thẳng và có hơi nóng, nên hay ăn to nói lớn, chứ thật ra tôi không có ác ý”. Không có ác ý, nhưng làm cho người chung quanh phải đau khổ, khó chịu vì lời nói khiếm nhã, thô bạo của mình, thì có khác gì người ác?
 
Vậy Phật tử chúng ta muốn cảm hóa, dẫn dắt người chung quanh về con đường chánh, trước tiên phải áp dụng cho được phái ái ngữ, nghĩa là luôn luôn và trong mọi trường hợp, phải dùng lời dịu dàng, êm ái, thương yêu trong khi tiếp xúc với mọi người. Nhất là khi người ta đang ở trong cảnh khổ, thì những lời khuyên lơn, vỗ về lại càng vô cùng quí báu, vì có thể thoa dịu được vết thương lòng và làm cho người ta vô cùng cảm kích, khó mà có thể phai mờ được.
 
3. Lợi hành nhiếp: Lợi hành nhiếp là làm lợi ích cho người bằng ý nghĩ, lời nói hay hành động, khiến cho người ta sinh lòng thân mến mà học đạo.
 
Cái gương sáng nhất về phương diện lợi hành là cái gương Ngài Trì Ðịa Bồ Tát. Suốt đời, Ngài thường gánh đất đắp đường, ban cho bằng phẳng, hoặc bắc cầu để cho khách bộ hành đi lại được dễ dàng tiện lợi. Ngài thay người già gánh nặng, đẩy giúp cỗ xe lên dốc cao, chèo giúp cho người lái thuyền ngược nước… Tóm lại, bất luận việc lớn nhỏ, miễn giúp ích được cho người là Ngài không bao giờ từ nan. Xem thế, thì không cần phải đợi có dủ phương tiện mới làm lợi ích cho người được. Chỉ với một ít sức khỏe cũng có thể giúp được nhiều việc lợi ích cho người rồi.
 
Có khi chỉ cần một ý nghĩ tốt, một lời giới thiệu hay cũng có thể giúp cho người chung quanh có công ăn việc làm.
 
Ðối với người giàu có, nhiều phương tiện thì phạm vi hoạt động cho lợi hành lại càng rộng rãi. Họ có thể xuất tiền của ra làm nhà dưỡng lão, nuôi người tuổi già sức yếu, để tuổi già của họ bớt đen tối, nguy nan; hay họ xây viện dục anh, nuôi trẻ mồ côi cha mẹ, cho chúng học hành và có nghề nghiệp, huấn luyện cho chúng thành những công dân hữu dụng. Hay dựng trại tế bần, cấp dưỡng cơm ăn áo mặc cho kẻ đói khó, hay dựng bệnh xá để cứu chữa những kẻ bệnh tật; hay xây trường học giúp con em có nơi học hành. Ðó là bao nhiêu công việc vô cùng lợi ích, vừa cho đời vừa cho đạo. Những công việc lành ấy sẽ cảm hóa lòng người và hướng họ trở về con đường giải thoát là con đường của đạo Phật.
 
4. Ðồng sự nhiếp: Ðồng sự nhiếp là tùy theo căn cơ, hoài bão, địa vị, nghề nghiệp của người mà cộng sự với họ, để một mặt giúp đỡ họ, một mặt nêu cao gương lành, làm cho họ cảm mến mà theo ta đến gần đạo cả.
 
Chẳng hạn như khi ta cùng làm việc trong một công sở, trong một xí nghiệp, trong thương trường hay trong nông nghiệp, mà từ việc lớn cho đến việc nhỏ, từ ý nghĩ cho đến câu nói, ta luôn luôn nêu gương đạo đức, tận tâm tận lực làm việc, sẵn sàng hy sinh quyền lợi mình, cho bạn đồng nghiệp, dần dần những người cộng sự, sẽ tiêm nhiễm những đức tánh tốt đẹp của ta, sẵn sàng nghe theo, làm theo những điều ta khuyên bảo.
 
Ðồng sự nhiếp, là một phương pháp có hiệu quả để nhiếp hóa người chung quanh quay về con đường đạo. 
 
Với đồng sự nhiếp, ta có thể giúp đỡ một cách thiết thực và thường xuyên cho những người cùng sống. Ta nên thấu rõ những hoài bão, tâm trạng, nhu cầu của họ; nhờ thế ta có thể giúp ích cho họ một cách có hiệu quả hơn. Vì thế ta có thể nhiếp hóa họ dễ dàng, sâu xa hơn. 
Dù là ở đâu, công sở hay tư sở, nhà máy hay nông trường, có sự chân chính, thuần thiện, thời ở đó số người thiện lành càng ngày càng đông, càng mạnh.
 

III.Lợi Ích Của Tứ Nhiếp Pháp

 
Nếu ta thực hành đúng theo tứ nhiếp Pháp ta sẽ thấy những kết quả đẹp đẽ sau đây:
 
1. Về phương diện cá nhân: Ta sẽ là một con người gương mẫu; mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động của ta đều là một hạt giống thiện gieo vào ruộng phước mà sau nầy ta sẽ gặt được những kết quả quý báu, tốt lành. Những gì của ta nói ra, làm ra đều được thông cảm, tán thành, mến phục. Ta có thể phổ độ nhân tâm một cách dễ dàng, rộng rãi, và mỗi khi đi đến đâu, ta đều được tiếp đón một cách chân thành, nồng nhiệt. Do đó, ta sẽ dễ dàng thành công trong mọi việc.
 
2. Về phương diện gia đình: Do ảnh hưởng tốt đẹp, mọi người trong gia đình đều trở thành thuần lương, đức độ cả. Và một gia đình gồm những phần tử như thế, thì thể nào cũng được trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, nghĩa là có hạnh phúc.
 
3. Về phương diện xã hội: Một người tu hạnh tứ Nhiếp pháp cũng đã gây được ảnh hưởng tốt lành và hoán cải được một phần nào hoàn cảnh xã hội. Số người tu Tứ Nhiếp Pháp càng nhiều thì xã hội lại càng được cải tiến, và trở thành thuần lương, thiện mỹ.
 
Nếu áp dụng triệt để tứ Nhiếp Pháp vào cuộc đời thực tế, thì xã hội sẽ được cải tiến một cách vô cùng lợi lạc.
 

C.Kết Luận

 
Như trên đã nói, Tứ Nhiếp Pháp là một pháp môn để cải tiến xã hội một cách có hiệu quả nhất. Nó lấy lợi sanh làm căn bản, lấy hạnh phúc của chúng sanh làm mục đích. Ðây chúng ta hãy nhớ lại từng điểm một:
 
1) Hãy đem của cải giúp cho người túng thiếu, tật nguyền, đem Phật pháp giảng nói để cho mọi người cải ác tùng thiện, đem dũng lực tinh thần hay vật chất để che chở cho người chung quanh khỏi lo sợ.
 
2) Hãy nói lời ôn hòa nhã nhặn, để cảm hóa người ta đi theo con đường lành.
 
3) Hãy làm lợi ích cho mọi người trong mọi trường hợp.
 
4) Hãy hòa nhã với cuộc sống chung quanh, nhận rõ được người nhu cầu thiết tha của mọi người, hầu giúp đỡ họ một cách có hiệu quả, và đưa dần dần họ về con đường chánh.
 
Vậy chúng ta không thể dửng dưng trước những lời kêu gọi lợi tha ấy được.
 
Nếu chúng ta không nên làm ngơ, vì chúng ta hiểu hai yếu tố quan trọng nhất để tu hành: đó là lòng từ bi và lợi tha. Thiếu hai điểm ấy không bao giờ chúng ta có thể tiến triển trên đường đạo được.
 
Thích Thiện Hoa
(trích “Phật học Phổ thông”)
———————- 
 
 
 
 

TỨ NHIẾP PHÁP

 
 
THÍCH THÔNG HUỆ
 
 Tất cả chúng ta, ai tu hành cũng đều muốn nổ lực cho tự thân được lợi ích, đó gọi là tự lợi. Khi chính mình được chuyển hóa tốt đẹp, chúng ta đem kết quả đó san sẻ giúp ích cho người khác, đó gọi là lợi tha. Tự lợi và Lợi tha là con đường tu hành của các bậc Bồ Tát.
 
Chúng sanh đa bệnh nên phương tiện giáo hóa của Phật cũng phải có nhiều và tương ứng, cũng như tùy bệnh mà cho thuốc. Trong đó, phương tiện hữu hiệu và tác động sâu xa vào lòng người là Tứ nhiếp pháp.
 
Từ nhiếp pháp là bốn phương tiện để nhiếp phục, cảm hóa tâm lý của người đời. Khi đã cảm hóa được họ, lần hồi từng bước hướng dẫn người phát khởi niềm tin, mở mang trí tuệ và thâm nhập Phật pháp. Các phương tiện này là: Bố thí nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp và Đồng sự nhiếp.
 

1 – Bố thí nhiếp:

 
Là Phật tử, chúng ta đều biết, theo nhân quả hữu lậu, người hay bố thí sẽ được hưởng quả giàu sang phú quý, nếu gian tham keo kiệt thì phải chịu nghèo đói khó khăn. Nhưng cũng tùy tâm lượng của chúng ta khi bố thí mà quả hưởng được có khác nhau; nếu trước khi bố thí mà còn đắn đo toan tính, hoặc sau khi bố thí lại tiếc rẻ, thì có thể cũng được hưởng quả giàu sang nhưng phải làm lụng khó khăn cực nhọc lắm.
 
Nói cho cùng, mọi khổ sở đau thương trên cuộc đời này đều do lòng tham lam ích kỷ của con người mà ra. Từ tham lam đưa đến sân hận, khi lòng tham không được thỏa mãn, rồi có thể gay ra hậu quả không lường trước. Cho nên, nếu chúng ta chỉ biết bo bo giữ lợi ích cho riêng mình, thì ngay bản thân mình, và cả gia đình, xã hội sẽ mãi còn chìm đắm trong khổ đau. Chỉ khi nào chúng ta mở lòng ra để lo cho người có hòan cảnh khó khăn hơn mình, thì không những người khác bớt khổ mà chính mình cũng được an vui. Một số người đã kể, trước khi biết Phật pháp, họ thường xuyên buôn bán thua lỗ, chỉ vì ham tranh hơn tranh thua, gây hiềm khích với người khác. Khi đã quy y, biết cách xử sự, không còn quá tham lam, họ được cảm tình với mọi người nên công việc làm có kết quả hơn, chứ không phải nhờ sức gia trì của vị thần thánh nào cả.
 
Ở đây, chúng ta cũng cần phân biệt bố thí với cúng dường. Bố thí có ý nghĩa đem những gì mình có san sẻ cho người có hoàn cảnh, điều kiện sống khó khăn hơn mình, bất phước hơn mình. Cúng dường nguyên nghĩa là cung dưỡng, tức cung kính cấp dưỡng, là dâng phẩm vật, tài vật lên những người có địa vị, đạo dức cao hơn mình. Vì sao đức Phật lại khuyên chúng ta nên thực hành hạnh bố thí? – Để trong vòng luân hồi chúng ta có một đời sống kinh tế sung túc, dễ dàng hơn cho việc tu hành. Khi có điều kiện chúng ta lại tiếp tục bố thí cúng dường, và như vậy trong những kiếp về sau, chúng ta lại càng thuận lợi trong việc tiến tu hơn nữa.
 
Đối với các vị Bồ Tát, một trong những hạnh nguyện của các Ngài là giúp đỡ chúng sanh bằng tinh thần hay vật chất tùy nhu cầu của họ. Đến lúc gần gũi được họ, làm cho họ tin tưởng và cảm mến, Bồ tát mới thu nhiếp họ để đưa họ đến với Phật pháp. Đó gọi là Bố thí nhiếp. Con người thường sống bằng tình cảm hơn là lý trí, nên nếu chỉ dùng lời nói đạo lý, đôi khi thất bại. Vì vậy Bồ tát phải dùng bố thí như một phương tiện để nhiếp phục chúng sanh.
 
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm hạnh thứ 15, Phật dạy: “Này Thiện Nam! Bồ tát lúc thực hành bố thí, đối với chúng sanh khởi lòng thương tưởng như con. Lại nữa, lúc thực hành bố thí, đối với chúng sanh khởi lòng xót xa giống như cha me săn sóc đứa con đang bệnh. Lúc thực hành bố thí, tâm Bồ tát vui mừng như Cha Mẹ thấy con lành bệnh. Sau khi bố thí, tâm Bồ tát buông xả như cha mẹ thấy con đã lớn khôn, có thể sinh sống tự tại”. Đoạn kinh này đã diễn tả một cách chính xác tấm lòng của bồ tát đối với chúng sanh, khi thực hành hạnh bố thí, các vị xem chúng sanh như con đẻ của mình. Chúng ta khi có con, lo cho máu mủ của mình một cách chu đáo từ lúc nhỏ đến lúc lớn, tâm chúng ta thương con như thế nào thì Bồ tát thương chúng sanh như thế ấy. Tuy nhiên, tình thương của chúng ta đôi khi chan rải không đều giữa đứa con này với đứa con khác, còn Bồ tát thì bình đẳng. Các Ngài thương muôn loài chúng sanh không hạn cuộc, không phân biệt, còn chúng ta lại quên các Ngài như những đứa con hoang, bỏ cha mẹ ra đi lang thang trong ba cõi sáu đường.
 
Lúc thực hành bố thí, tâm lượng Bồ tát lo cho chúng sanh như cha mẹ săn sóc đứa con đang bệnh. Tình thương của cha mẹ bao la như biển cả, bất tận như suối nguồn, và đôi khi chúng ta cũng hiểu được, cảm nhận và biết ơn đối với tình thương đó. Nhưng rất ít người hiểu được tình thương của Bồ tát giành cho chúng sanh. Nếu cha mẹ chỉ lo được cho cái thân vật chất hữu hình hữu hoại của con, thì Bồ tát rất chú trọng đến đời sống tinh thần. Mà đời sống tinh thần thì vô vàng quý giá hơn so với đời sống vật chất, vì đó là hành trang cho tất cả chúng sanh đi suốt lộ trình đến giải thoát viên mãn. Bồ tát biết rõ, có rất nhiều người thiếu thốn, đau khổ về tinh thần, dù họ đang ở địa vị nào, hòan cảnh nào và chỉ có thuốc chánh pháp mới điều trị được bệnh khổ cho chúng sanh.
 
Khi hành hạnh bố thí và nhiếp phục được chúng sanh, hướng dẫn họ đi theo chánh đạo để được giác ngộ và giải thoát, tâm Bồ tát vui mừng như cha mẹ thấy con lành bệnh. Và sau đó tâm các Ngài buông xả như cha mẹ thấy con lớn khôn, đã vững bước trên đường đời. Sự buông xả này rất phù hợp với tinh thần Balamật, tức vô trước, vô trú, vô nhiễm. Dù làm tất cả mọi việc để được lợi ích cho chúng sanh, tâm các Ngài vẫn thênh thang như hư không, không thấy có người ban ơn, có kẻ chịu ơn và có một pháp để làm ơn. Đó gọi là “Tam luân không tịch”. Nhìn chung bố thí được chia ra làm ba loại
 
a)Tài thí: Gồm nội tài thí và ngoại tài thí.
 
• Nội tài thí: Dùng cả thân mạng hoặc một vài bộ phận trong cơ thể để bố thí. Đây là hạnh động buông xả lớn của Bồ tát. Hiện nay, có phong trào hiến máu nhân đạo, hiến tặng cơ quan hoặc hiến xác cho khoa học, đều thuộc về loại này.
 
• Ngọai tài thí: Dùng tài sản của mình kiếm được một cách lương thiện, san sẻ cho những người thiếu thốn, khó khăn về vật chất hơn mình.
 
Một điều chúng ta cần lưu ý: Ai cũng biết, nỗi khổ của chúng sanh thì vô hạn, nên sự bố thí cũng phải vô biên. Nhưng trong sự bố thí, ngoài lòng từ bi, chúng ta còn phải có trí tuệ. Nếu chúng ta nhẹ dạ, giúp người một cách mù quáng, như giúp tiền cho người nghiện hút, bài bạc… thì vô tình chúng ta càng làm hại cho họ. Mỗi người trong mặt trận đạo đức, chống lại những tệ nạn, những cái xấu ác, làm trong sạch hóa xã hội. Đó là giúp ích cho mọi người và cho cả bản thân mình.
 
b) Pháp thí: Sự thiếu thốn khó khăn về vật chất làm cho con người đau khổ, nhưng sự nghèo nàn mất mát về tinh thần càng làm họ thấy bất hạnh hơn. Cái khổ về tinh thần gây tổn hại nhiều hơn cái khổ về vật chất, nhiều khi ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và cả tính mạng con người. Y học đã chứng minh rất nhiều trường hợp loét dạ dày, tá tràng, bệnh tim mạch, và đặc biệt là hội chứng kích động thần kinh (stress) là hậu quả của sự căng thẳng, lo nghĩ hay buồn phiền lâu ngày.
 
Các vị tu hành đem Phật pháp giảng dạy cho chúng sanh, mục đích làm chúng sanh bớt khổ, đó gọi là pháp thí, nhưng cũng tùy trình độ căn cơ của từng người mà lập phương tiện giáo hóa, cũng như tùy bệnh mà cho thuốc (khế cơ), và những lời giảng dạy phải phù hợp với chánh pháp, phải có giá trị bất di bất dịch (khế lý). Khi Phật pháp được truyền bá rộng rãi theo tinh thần khế cơ và khế lý, chúng sanh nương vào đó tu hành, cuộc đời sẽ được an lạc, xã hội nhờ đó cũng yên bình thịnh vượng.
 
Pháp thí quan trọng hơn tài thí như thế nào? Trong kinh “Kim Quang Minh Tối Thắng vương”, Quyển Ba, phẩm Diệt Nghiệp Chướng, đức Phật dạy: “Này Thiện Nam! Giả sử có người đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới cúng dường Như Lai, nếu lại có người khuyến thỉnh Như Lai chuyển Đại Pháp Luân, thì người này được công đức hơn người kia. Vì sao? – vì người kia dùng tài thí, người này dùng pháp thí. Này Thiện Nam! Đừng nói chi đem cả bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí, mà nếu có người đem bảy báu nhiều như hằng hà sa tam thiên đại thiên thế giới cúng dường tất cả chư Phật, thì công đức khuyến thỉnh cũng vẫn hơn cả sự cúng dường ấy, do vì pháp thí có năm điều thù thắng. Những gì là năm? – Một là, pháp thí gồm cả lợi mình, lợi người, còn tài thí không được như thế. Hai là pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi, còn phước tài thí chẳng ra khỏi cõi dục. Ba là pháp thí làm pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Bốn là, pháp thí thì vô cùng, còn tài thí có cùng tận. Năm là, pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái. Thế cho nên, này thiện nam! Công đức khuyến thỉnh vô lượng vô biên, không thể thí dụ”.
 
Đức Phật chỉ rõ năm điều thù thắng của pháp thí: 
 
Thứ nhất: pháp thí gồm cả lợi mình, lợi người. Ví dụ, khi một người nói pháp cho một đám đông nghe, trước hết người ấy có lợi ích vì đã gieo một nhân tốt là bố thí pháp; người nghe được chánh pháp, nếu y đó tu hành, cuộc đời sẽ được chuyển hóa, tâm sẽ được thăng hoa. Tài thí thì không được như vậy, vì nếu bố thí để họ dùng phương tiện đó làm điều xấu, thì chính sự bố thí ấy lại làm hại cho họ và cho những người xung quanh. 
 
Thứ hai: Pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, nếu chúng sanh biết tu hành theo chánh pháp, đọan trừ tham – sân – si, được giác ngộ và giải thoát. Nếu dùng tài thí, đó là đang tu phước, có thể sanh về cõi giới thiên.
 
Thứ ba: Pháp thí làm pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Sắc thân của chúng ta do nghiệp tạo nên, dễ bị hoại diệt, biến đổi vô thường; nhưng trong đó còn có pháp thân vô tướng, không bị biến hoại theo thời gian và không gian. Nếu trong suốt cuộc đời, chúng ta chỉ lo chăm sóc cho cái sắc thân, thỏa mãn những nhu cầu của nó là ăn, mặc, ở, tức cái hạ tầng kiến trúc của đời sống, mà quên đi phần thượng tầng kiến trúc là văn hóa, tâm linh, thiền định, trí tuệ, thì rõ ràng chúng ta chỉ sống bằng bản năng như loài vật. Chỉ có thượng tầng kiến trúc mới nuôi dưỡng pháp thân, còn những nhu cầu vật chất tầm thường chỉ làm cho chúng ta mãi chìm trong vô minh tăm tối. Pháp thí sẽ giúp chúng ta biết chánh đạo, sống với cái cao cả, cái minh triết, là những yếu tố quyết định sự tiến hóa của toàn thể loài người.
 
Thứ tư: Pháp thí thì vô cùng, vì nó không có tướng mạo, nên không bị mai một theo thời gian. Người thí pháp vô cùng, vì có thể nói pháp suốt đời, nói ở mọi chỗ mà vẫn mãi mãi lưu xuất được; người nghe pháp cũng vô cùng, vì dùng pháp để tu theo suốt đời vẫn không hết, không cạn. Ngược lại vì tài thí có hình tướng, nên có giới hạn có cùng tận. 
 
Thứ năm: Pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái. Khi nghe pháp, sự hiểu biết của chúng ta càng sâu rộng, trí tuệ càng phát triển, đến rốt ráo có thể dứt được vô minh. Tài thí thì chỉ tạm giải quyết khó khăn trước mắt cho người được bố thí, còn người bố thí thì cũng tạm thời khuất phục được tham ái ngay lúc ấy mà thôi. 
 
Do những đặc tính quá ưu việt của pháp thí đã nói trên, rõ ràng công đức của người pháp thí và người khuyến thỉnh pháp thí vô lượng vô biên, tài thí không thể so sánh nổi. Nếu mỗi tự viện đều là những nơi được khuyến thỉnh pháp thí, thì Phật tử sẽ được muôn phần lợi lạc, đời sống được cải thiện, đau khổ sẽ không còn và xã hội cũng được trong sạch hơn lên. Vì vậy, đã là Phật tử, chúng ta phải luôn trao dồi học hỏi, ngày càng thâm nhập Phật pháp để chuyển hóa tự thân, tự cứu mình ra khỏi mọi ràng buộc khổ não của đời sống. Sau đó chúng ta đem sự hiểu biết bằng trí tuệ và sự thanh lương của tâm hồn mình ra giúp ích cho người khác, thì hành động pháp thí ấy mới có kết quả.
 
c) Vô úy thí: khi tu hành đắc lực, tâm yên tĩnh, trí tuệ mở mang, Bồ tát thấy rõ mọi lẽ thực-hư của cuộc đời, các Ngài không còn lầm chấp các pháp nữa. Được sức tự tại vô úy, các Ngài đem cái vô úy đó mà che chở đùm bọc chúng sanh, làm chúng sanh không còn lo sợ, được an ổn dù gặp bao hệ lụy. Đó gọi là Vô úy thí.
 
Chúng ta từ lúc sinh ra đã sợ sệt nhiều điều: sợ bóng tối, sợ cô đơn, sợ đau ốm tai nạn, sợ hoàn cảnh khó khăn, thậm chí sợ những điều không đáng sợ. Bồ tát hiểu rõ điều này, nên các Ngài dùng sức vô úy che chở cho chúng sanh. Khi chúng sanh đã an ổn, tin tưởng và có cảm tình, các Ngài mới hướng dẫn họ đến với Phật pháp. Hạnh vô úy này thật ra rất khó, đòi hỏi người bố thí phải tu hành có kết quả, thấy rõ và thâm nhập lý duyên sinh-vô ngã, mới có thể thực hiện được.
 
Tóm lại, chúng ta thấy bố thí là một quan niệm sống, một nghệ thuật sống cao đẹp, phát sinh từ tâm từ bi. Nếu không có tâm từ bi thì không thể hành hạnh bố thí. Ngoài ra, muốn bố thí đạt đến cứu cánh, thì phải hợp với tinh thần Ba la mật, nghĩa là khi giúp người mà chúng ta hoàn toàn không thấy mình là người ban ơn, chúng sanh là kẻ chịu ơn. Có như vậy chúng ta mới phục vụ người khác bằng một tâm trong sáng, không có tính tóan, mưu mô.
 

2- Ái ngữ nhiếp:

 
Ái ngữ nhiếp là dùng lời nói mềm mỏng dịu dàng, gây được cảm tình với người khác; và từ đó, hướng dẫn họ tu hành theo chánh pháp.
 
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người cần sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp, khi muốn bày tỏ ý kiến, tình cảm với người chung quanh. Một người có nổi buồn muốn thổ lộ, phải dùng lời nói; người có niềm vui muốn san sẻ, cũng phải dùng lời nói cho người khác cảm thông. Nhưng dù vui hay buồn, cũng phải biết cách sử dụng lời nói làm sao để ai nghe cũng mát lòng đẹp ý, đó gọi là Ái ngữ. Chỉ có loài người mới có ngôn ngữ, nên chúng ta cần biết trân quý để sử dụng đúng thời đúng mức. Thật ra ngôn ngữ là con dao hai lưỡi, có thể an ủi, xoa dịu nổi đau cho người khác, nhưng ngược lại có thể gây tổn thương tác hại cho cả mình và người. Do vậy, là Phật tử, lời nói chúng ta thốt ra phải mang tính cảm thông và xây dựng. Một số phụ huynh thường dùng áp lực, quyền hạn của bậc trưởng thượng, bắt con cháu phải theo đúng ý mình, đôi khi làm chúng bị tổn thương. Dĩ nhiên, quyền lực cũng cần thiết nhưng phải dùng đúng lúc. Cho nên sử dụng Ái ngữ đối với con cái hay người chung quanh là một nghệ thuật và là điều cần thiết.
 
Nếu đôi mắt được xem là cửa sổ của tâm hồn, thì ngôn ngữ chính là chổ biểu hiện của tâm hồn ấy. Vì sao nói như vậy? – Bởi vì lời nói của một người có thể biểu hiện được tư cách, trí tuệ, đạo đức và đời sống nội tâm của người đó. Một nhà hiền triết có nói: “Tạo hóa rất khéo sắp đặt, cho mỗi người hai mắt, hai mũi, hai tai nhưng chỉ có một miệng” cần hai mắt để thấy cho rõ, cần hai mũi để hít thở cho đủ dưỡng khí, cần hai tai để lắng nghe; nhưng chỉ cần một miệng để vừa ăn vừa nói. Đức Khổng Tử đã bảo: “Đa ngôn đa bại” (nói nhiều hại nhiều).
 
Trong kinh A Hàm, đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo! có ba lối nói: Một là nói như phân; hai là nói như hoa; ba là nói như mật.
 
Thế nào là nói như phân? – Này các Tỳ kheo! Hạng người nói không đúng sự thật, nói dối trá, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác ngữ. Đây là hạng người nói như phân.
 
Và này, các Tỳ kheo! Thế nào là nói như hoa? Hạng người nói đúng sự thật, không dối trá không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ. Đây là hạng người nói như hoa.
 
Và này, các Tỳ kheo! Thế nào là nói như mật? – Hạng người không những nói đúng sự thật, không dối trá, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ, mà còn luôn luôn nói những lời lợi ích, nói những lời không hại, nói những lời hướng thiện, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, thích ý. Đây là hạng người nói như mật”
 
Vì sao đức Phật ví những người vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu là nói như phân?
 
Trong cơ thể, chất hạ tiện nhất, bẩn thỉu nhất là phân. Khi một người nói ra những lời ấy, người khác cũng nhờm gớm, không muốn nhìn, không muốn gần, như đối với phân vậy.
 
Hạng người thứ hai khiến người chung quanh muốn gần gũi, yêu mến, được ví như hoa, vì hoa vừa có màu sắc vừa có hương thơm, khiến người thích nhìn ngắm, thưởng thức.
 
Hạng người thứ ba đặc biệt hơn cả, họ đã thành tựu được chánh ngữ và sử dụng chánh ngữ để làm lợi ích cho người khác, giúp người khác đi vào chánh đạo, thăng hoa trong cuộc sống. Đức Phật ví hạng người này như mật, vì ngoài hương vị thơm ngon và ngọt ngào, mật còn có tác dụng trị liệu. Y học hiện đại kết hợp với y học cổ truyền đã chứng minh, mật có một số tác dụng chính như thanh nhiệt giải độc, giúp an thần, tăng trí nhớ và trị suy nhược thần kinh, kích thích tiêu hóa và điều hòa độ axít trong dạ dày, long đàm và giảm ho, đặc biệt còn làm tăng thể trạng và sức đề kháng cho cơ thể. Hạng người nói như mật, không những dùng ái ngữ khiến người khác cảm mến muốn gần, mà lời nói của họ khiến người khác bớt khổ, điều trị được bệnh phiền não cho người.
 

3- Lợi hành nhiếp:

 
Lợi hành nhiếp là những hành động làm lợi ích cho một người hay nhiều người khác, sau đó đưa họ về với đạo lý. Ví dụ: Dắt một người mù qua đường, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tham gia các tổ chức công ích, từ thiện …
 
Trong thiền sử đã kể, nhiều vị thiền sư dùng y thuật điều trị bệnh cho người; sau khi lành bệnh mới đưa họ về với chánh pháp. Như thế Y-phương-minh là một trong ngũ minh, phương tiện hành đạo của Bồ tát, cũng thuộc lợi hành nhiếp. Hiện nay có rất nhiều tổ chức y tế phục vụ bệnh nhân nghèo vô điều kiện, như các bệnh viện miễn phí, các tổ phẫu thuật đem lại ánh sáng và nụ cười cho những người mù và dị tật sứt môi, tổ chức các thầy thuốc không biên giới … cũng nhằm mục đích đem lại sức khỏe cho con người. Có thể trong những tổ chức đó, các vị Bồ tát cũng có mặt để nhờ lợi hành mà thu nhiếp chúng sanh, nhưng các Ngài không bao giờ để lộ ra mình là Bồ tát.
 
Chúng ta cũng cần phân biệt lợi hành và đồng sự. Trong lợi hành luôn luôn có ý nghĩa phụng sự người khác mà quên lợi ích của bản thân mình. Còn đồng sư,ï sẽ phân tích ở sau, chỉ là cùng sống cùng làm, cùng hưởng thành quả như đối tượng mình muốn nhiếp phục. Trong lợi hành có sự hi sinh nhiều hơn, và lợi ích mình mang lại cho người có thể thấy một cách rõ ràng và tức thời, nên dễ khiến người cảm phục và tin theo.
 

4 – Đồng sự nhiếp:

 
Đồng sự nhiếp là hòa nhập vào việc làm, hoàn cảnh, cùng chia bùi xẻ ngọt với người, sau đó dẫn dắt họ đến với Phật pháp. Cuộc sống hòa mình, cùng chung buồn, vui, sướng, khổ với người là một nghệ thuật đắc nhân tâm. Nhưng muốn hòa đồng như thế, chúng ta phải có lối sống có phong cách, có ngôn ngữ gần giống người mà mình muốn nhiếp phục. Đối với nông dân, chúng ta lam lũ, tay lấm chân bùn, ăn nói bình dân như họ. Đối với hạng trí thức thượng lưu, chúng ta cũng có văn hóa trình độ, phong cách tao nhã tương tự như thế. Dĩ nhiên từ “hòa đồng” ở đây có ý “NGHĨA” là sống, nói năng và làm việc gần giống với đối tượng, chứ không phải giống hòan toàn, nhất là đối với những người kém văn hóa hay sống trụy lạc bê tha. Đây là ý “Nghĩa” của việc “Hòa quang đồng trần” của các vị Bồ tát. Các Ngài sống chung đụng với đủ các hạng người, từ giàu có thượng lưu đến tầng lớp bần cùng nghèo khổ, từ những người lương thiện đạo đức đến những kẻ trộm cướp lưu manh. Các Ngài gần gũi họ nên hiểu họ một cách sâu sắc, được họ tin tưởng yêu mến, từ đó mới giúp đỡ họ, nhiếp phục họ một cách hiệu quả. Hình ảnh đẹp đẽ và tiêu biểu nhất của đồng sự nhiếp là Tế điên Hòa thượng, có cuộc sống gần gũi với đời thường, thỏng tay vào chợ.
 
Một điều chúng ta cần ghi nhớ: vì sao các vị Bồ tát có thể hòa mình vào mọi tầng lớp trong xã hội mà không đánh mất mình? – Bởi vì các Ngài như một chai nước trong đã lọc hết cặn bã, dù lắc cách mấy vẫn không bị vẫn đục. Có như vậy các Ngài mới hướng dẫn, giáo dục được chúng sanh đi theo chánh đạo. Còn chúng ta như nước còn đục, không thể bắt chước các Ngài sống buông thả, đã không làm được lợi ích cho ai mà trái lại còn hại bản thân mình. Cho nên, chúng ta phải biết rõ trình độ tu tập, sức tự tại và thâm nhập Chánh pháp của mình đến đâu, để uyển chuyển linh động khi hành đồng sự nhiếp.
 
Thật ra, khi có phước duyên nghe và hiểu được Phật pháp, chúng ta đều muốn mọi người cũng đều có lợi ích như mình. Nhưng nếu chính bản thân mình chưa tu tập, chưa chuyển hóa, mà vội đem Phật pháp ra nhiếp phục người khác, thì việc làm đó đôi lúc gây tác dụng ngược với ý mình. Quan trọng là phải sống được với bản tâm chân thật của chính mình, từ đó có thể biểu hiện ra ngôn ngữ và hành động, ngay cả dáng vẻ cung cách cũng toát lên một sự bình an thanh lương, khiến người khác quý kính và tự giác nghe theo. Vào thời đức Phật, chỉ cần nhìn dáng đi, phong cách hay lối sống của Ngài và các Thánh đệ tử, nhiều người đã phát tâm tu hành thành tựu đạo nghiệp. 
 
Tứ nhiếp pháp mang tính tâm lý, tính thông cảm và tính xã hội rất cao. Nói rằng “mang tính tâm lý” vì cả bốn pháp nhiếp này đều đi sâu vào tâm hồn của người khác. Bồ tát sẵn sàng lăn xả vào cuộc đời, hy sinh vì mọi người để cảm hóa, thu phục người. Có thể nói đây là môn tâm lý học của Phật giáo.
 
“Mang tính thông cảm” vì có thông cảm với nổi khổ đau, khó khăn, thiếu thốn của người, ta mới giúp đỡ người bằng tất cả tấm lòng, không mong cầu đền đáp. Mà muốn thông cảm, ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của người. Có như thế ta mới thương mến người một cách chân thành, đem lại lợi ích cho người một cách vô vị lợi.
 
Về “Tính xã hội” thì quá rõ ràng, vì xã hội có tính cách cá thể và tập thể, mà thực hành Tứ nhiếp pháp là thực hành đối với một người, một tập thể nào đó. Nhờ mang tính xã hội mà đạo Phật được truyền bá rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, tận các vùng sâu vùng xa. Nhờ tính xã hội mà Đạo có mặt ở mọi tầng lớp, từ giàu có đến nghèo hèn, từ trí thức thượng lưu đến bình dân thất học.
 
Đạo Phật dùng tứ nhiếp pháp để chinh phục lòng người, như thế cũng là dùng “Vũ khí”. Nhưng thứ vũ khí này không phải là công cụ giết người để thỏa mãn quyền lực và tham vọng, mà là phương tiện để đưa con người về con đường chân chính, giúp người tìm được sự an bình nội tâm. Đạo lại mang tính tự do dân chủ, tôn trọng quyền con người một cách triệt để. Đạo Phật đặc biệt còn mang tính từ bi, vì từ bi nên chủ trương dùng đức báo oán; vì thế mới có sức mạnh vô địch, có thể san bằng mọi nghịch cảnh oán thù. Do vậy, Đạo đã tồn tại trên hai ngàn năm trăm năm. Đây là một nét đẹp tuyệt vời của Đạo giáo.
 
Khi thực hành Tứ Nhiếp Pháp, ta đã thể hiện tâm Từ Bi, tức ban vui và cứu khổ vào cuộc đời. Đây là pháp tu của hàng Bồ tát chứ không phải của người tầm thường, bởi đó không chỉ là tu riêng cho bản thân mình mà còn làm cho nhiều người khác cùng chuyển hóa. Nét tự lợi và lợi tha đều có đầy đủ, mà dường như lợi tha lại cao hơn một bậc. Tất cả chúng ta, nếu muốn thành tựu Phật quả, không có con đường nào hơn là phải theo lộ trình tự lợi và lợi tha của Bồ tát. Cũng cần lưu ý, trong công cuộc giáo hóa chúng sanh, phước duyên và công phu tu tập của từng vị Bồ tát là những điều kiện tiên quyết. Công huân tu tập là đời sống căn bản của một Bồ tát, còn phước duyên là do vị ấy tích lũy trong nhiều đời kiếp.
 
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa phước và duyên. Phước là có của cải, có điều kiện tốt để làm lợi ích rộng rãi, được nhiều người hỗ trợ; phước biểu hiện trên tư cách, trên cuộc sống của một người. Duyên là có khả năng lôi kéo, thuyết phục người khác, khiến người khác tu luyện. Tùy công huân tu tập và phước duyên mà một vị Bồ tát có quyến thuộc nhiều hay ít. Có nhiều người muốn giúp đỡ, làm lợi ích cho người khác, nhưng do phước duyên còn mỏng, nên thất bại trong công cuộc giáo hóa chúng sanh. Cũng có trường hợp, công huân tu tập chưa đủ, nên không thu được kết quả nhiều.
 
Tóm lại, Tứ nhiếp pháp là pháp môn phương tiện mang tính nhiếp hóa, cảm phục được lòng người một cách hữu hiệu. Đây là những hạnh tu lợi tha của những người có tâm Bồ tát, muốn hiến dâng cuộc đời mình cho lợi ích chung, bởi vì “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật” vậy. 
 
 
 

ẨN ÁC DƯƠNG THIỆN LÀ BẬC THÁNH; THÍCH THIỆN GHÉT ÁC LÀ BẬC HIỀN; TÁCH BẠCH THIỆN ÁC QUÁ ĐÁNG LÀ HẠNG NGƯỜI THƯỜNG; ĐIÊN ĐẢO THIỆN ÁC ĐỂ SƯỚNG MIỆNG GIÈM PHA LÀ HẠNG TIỂU NHÂN HIỂM ĐỘC.

KHỔNG TỬ

~*~

THIÊN ĐỊA VÔ TƯ, THẦN LINH XÉT THẤU CẢ ĐIỀU TỐI KÍN. KHÔNG VÌ CÚNG TẾ MÀ HÀNG PHÚC, KHÔNG VÌ LỖI TẾ MÀ HÀNG HỌA. HỄ NGƯỜI CÓ THẾ THÌ CHỚ Ỷ VÀO ĐẾN CÙNG, CÓ PHÚC CHỚ HƯỞNG CHO HẾT, THẤY NGHÈO KHÓ CHỚ KHINH KHI TẬN. BA ĐIỀU ẤY LÀ THIÊN ĐỊA TUẦN HOÀN, VÒNG ĐI VÒNG LẠI. CHO NÊN MỘT NGÀY LÀM VIỆC THIỆN, PHÚC DÙ CHƯA ĐẾN, HỌA ĐÃ XA RỒI. MỘT NGÀY LÀM VIỆC ÁC, HỌA DÙ CHƯA ĐẾN, PHÚC ĐÃ XA RỒI. NGƯỜI LÀM VIỆC THIỆN NHƯ CỎ TRONG VƯỜN XUÂN, KHÔNG THẤY DÀI HƠN, MÀ NGÀY CÀNG NHIỀU THÊM. NGƯỜI LÀM VIỆC ÁC NHƯ VIÊN ĐÁ MÀI DAO, KHÔNG THẤY NÓ MÒN MÀ NGÀY CÀNG GIẢM BỚT. VIỆC TỔN HẠI NGƯỜI ĐỂ MÌNH YÊN ỔN LÀ VIỆC RẤT NÊN RĂN MÌNH. VIỆC PHẢI DÙ NHỎ, CŨNG PHẢI XỬ SỰ PHƯƠNG TIỆN VỚI NGƯỜI; VIỆC ÁC DÙ NHỎ, KHUYÊN NGƯỜI CHỚ LÀM. ÁO CƠM TÙY DUYÊN, TỰ NHIÊN VUI VẺ. TÍNH TOÁN SỐ MỆNH LÀM GÌ? HỎI QUẺ BÓI LÀM GÌ? KHINH NGƯỜI LÀ HỌA, THA NGƯỜI LÀ PHÚC. LƯỚI TRỜI LỒNG LỘNG, BÁO ỨNG RẤT NHANH. HÃY NGHE LỜI TA DẠY CHO KỸ, DÙ THẦN CŨNG KÍNH, DÙ QUỶ CŨNG PHỤC.

天地無私,神明暗察。不為享祭而降福,不為失禮而降禍。凡人有勢不可倚盡,有福不可享盡,貧困不可欺盡。此三者乃天地循環,周而復始。故一日行善,福雖未至,禍自遠矣。一日行惡,禍雖未至,福自遠矣。行善之人,如春園之草,不見其長而日有所増。行惡之人,如磨刀之石,不見其損而日有所虧。損人安己,切宜戒之,一毫之善,與人方便。一毫之惡,勸人莫作。衣食隨緣,自然快樂。算甚麼命?問甚麼卜?欺人是禍,饒人是福。天网恢恢報應甚速。諦聽吾言,神欽鬼伏。

THIÊN ĐỊA VÔ TƯ, THẦN MINH ÁM SÁT. BẤT VI HƯỞNG TẾ NHI GIÁNG PHÚC, BẤT VI THẤT LỄ NHI GIÁNG HỌA. PHÀM NHÂN HỮU THẾ BẤT KHẢ Ỷ TẬN, HỮU PHÚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN, BẦN KHỐN BẤT KHẢ KHI TẬN. THỬ TAM GIẢ NÃI THIÊN ĐỊA TUẦN HOÀN, CHU NHI PHỤC THỦY. CỐ NHẤT NHẬT HÀNH THIỆN, PHÚC TUY VỊ CHÍ, HỌA TỰ VIỄN HĨ. NHẤT NHẬT HÀNH ÁC, HỌA TUY VỊ CHÍ, PHÚC TỰ VIỄN HĨ. HÀNH THIỆN CHI NHÂN, NHƯ XUÂN VIÊN CHI THẢO, BẤT KIẾN KỲ TRƯỞNG NHI NHẬT HỮU SỞ TĂNG. HÀNH ÁC CHI NHÂN, NHƯ MA ĐAO CHI THẠCH, BẤT KIẾN KỲ TỔN NHI NHỰT HỮU SỞ KHUY. TỔN NHÂN AN KỶ, THIẾT NGHI GIỚI CHI. NHẤT HÀO CHI THIỆN, DỮ NHÂN PHƯƠNG TIỆN. NHẤT HÀO CHI ÁC, KHUYẾN NHÂN MẠC TÁC. Y THỰC TÙY DUYÊN, TỰ NHIÊN KHOÁI LẠC. TOÁN THẬM MA MỆNH? VẤN THẬM MA BỐC? KHI NHÂN THỊ HỌA, NHIÊU NHÂN THỊ PHÚC. THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, BÁO ỨNG THẬM TỐC. ĐẾ THÍNH NGÔ NGÔN, THẦN KHÂM QUỶ PHỤC.

ĐÔNG NHẠC THÁNH ĐẾ

~*~

HỌA PHÚC KHÔNG CÓ CỬA, NGƯỜI TA TỰ VỜI ĐẾN CHO MÌNH. THIỆN ÁC CÓ BÁO ỨNG, NHƯ BÓNG VỚI HÌNH. CHO NÊN TRONG TÂM NUÔI DƯỠNG CÁI THIỆN, CHƯA LÀM VIỆC THIỆN, CÁT THẦN ĐÃ ĐẾN RỒI. TRONG TÂM NẢY SINH CÁI ÁC, DÙ CHƯA LÀM VIỆC ÁC, HUNG THẦN ĐÃ THEO RỒI. NẾU ĐÃ TỪNG LÀM VIỆC ÁC MÀ SAU HỒI TÂM ĂN NĂN HỐI CẢI, LÂU DÀI ẮT SẼ ƯỢC CÁT LÀNH, ẤY GỌI LÀ CHUYỂN HỌA THÀNH PHÚC.

禍福無門,惟人自招。善惡之報,如影隨形。所以人心起於善,善雖未為,而吉神已隨之。或心起於惡,惡雖未至,而凶神已隨之。其有曾行惡事,後自改悔,久久必獲吉慶,所謂轉禍為福也。

HỌA PHÚC VÔ MÔN, DUY NHÂN TỰ CHIÊU. THIỆN ÁC CHI BÁO, NHƯ ẢNH TÙY HÌNH. SỞ DĨ NHÂN TÂM KHỞI VU THIỆN, THIỆN TUY VỊ VI, NHI CÁT THẦN DĨ TÙY CHI. HOẶC TÂM KHỞI VU ÁC, ÁC TUY VỊ CHÍ, NHI HUNG THẦN DĨ TÙY CHI. KÌ HỮU TẰNG HÀNH ÁC SỰ, HẬU TỰ CẢI HỐI, CỬU CỬU TẤT HOẠCH CÁT KHÁNH, SỞ VỊ CHUYỂN HỌA VI PHÚC DÃ.

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

~*~

LÒNG TỐT MẠNG CŨNG TỐT, SỚM PHÁT ĐẠT VINH HOA. LÒNG TỐT MẠNG KHÔNG TỐT, ĐƯỢC ẤM NO MỘT ĐỜI. MẠNG TỐT LÒNG KHÔNG TỐT, KHÓ BẢO TOÀN CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC. LÒNG CHẲNG TỐT MẠNG CHẲNG TỐT, NGHÈO KHÓ MÃI TỚI GIÀ.

心好命又好,發達榮華早。心好命不好,一生也溫飽。命好心不好,前程恐難保。心命都不好,窮苦直到老。

TÂM HẢO MỆNH HỰU HẢO, PHÁT ĐẠT VINH HOA TẢO. TÂM HẢO MỆNH BẤT HẢO, NHẤT SINH DÃ ÔN BÃO. MỆNH HẢO TÂM BẤT HẢO, TIỀN TRÌNH KHỦNG NAN BẢO. TÂM MỆNH ĐÔ BẤT HẢO, CÙNG KHỔ TRỰC ĐÁO LÃO.

MINH TÂM BẢO GIÁM

~*~

CHỨA LÀNH GẶP LÀNH, CHỨA DỮ GẶP DỮ. XÉT KỸ MÀ COI, TRỜI ĐẤT CHẲNG LẦM VIỆC BÁO ỨNG ĐÂU. LÀM THIỆN GẶP THIỆN, LÀM ÁC GẶP ÁC. NẾU KHÔNG THẤY GẶP, LÀ VÌ CHƯA ĐẾN LÚC MÀ THÔI.

MINH TÂM BẢO GIÁM

~*~

NGƯỜI LÀM ĐIỀU THIỆN THÌ TRỜI LẤY PHÚC MÀ TRẢ LẠI; KẺ LÀM ĐIỀU BẤT THIỆN THÌ TRỜI LẤY HỌA MÀ TRẢ LẠI.

為善者,天報之以福;為不善者,天報之以禍。

VI THIỆN GIẢ, THIÊN BÁO CHI DĨ PHÚC; VI BẤT THIỆN GIẢ, THIÊN BÁO CHI DĨ HỌA.

KHỔNG TỬ

~*~

THẤY TAI VẠ MÀ HAY LÀM LÀNH, THỜI TAI VẠ KHÔNG ĐẾN NỮA.

THUYẾT UYỂN

~*~

ÁO CỪU TUY RÁCH, KHÔNG THỂ DÙNG DA CHÓ MÀ VÁ ĐƯỢC.

XUÂN THU HẬU NGỮ

~*~

HỄ AI LÀM VIỆC THIỆN THÌ TRỜI BAN XUỐNG TRĂM ĐIỀU PHÚC, HỄ AI LÀM VIỆC BẤT THIỆN THÌ TRỜI GIÁNG XUỐNG TRĂM ĐIỀU HỌA.

作善降之百祥,作不善降之百殃。

TÁC THIỆN GIÁNG CHI BÁCH TƯỜNG, TÁC BẤT THIỆN GIÁNG CHI BÁCH ƯƠNG.

MINH TÂM BẢO GIÁM

~*~

MỘT NGÀY KHÔNG NGHĨ ĐẾN ĐIỀU THIỆN, SỰ ÁC TỰ DẤY LÊN.

一日不念善,諸惡自皆起。

NHẤT NHẬT BẤT NIỆM THIỆN, CHƯ ÁC TỰ GIAI KHỞI.

TRANG TỬ

 
 

~*~

 

HTTPS://BIBLEBOOK.HOME.BLOG/2020/10/05/TAM-TONG-TU-DUC/
HTTPS://BIBLEBOOK.HOME.BLOG/2020/10/05/TAM-CANG-NGU-THUONG/
HTTPS://BIBLEBOOK.HOME.BLOG BOOK: TAI GIA BO TAT GIOI BON 優婆塞戒經 受戒品錄出 PRECEPTS IN THE SUTRA OF THE UPASAKA PRECEPTS TAI-GIA-BO-TAT-GIOI-BON-PRECEPTS-IN-THE-SUTRA-OF-THE-UPASAKA-PRECEPTS/
HTTPS://BIBLEBOOK.HOME.BLOG/2020/11/15/KINH-PHAM-VONG-QUYEN-THUONG/
HTTPS://BIBLEBOOK.HOME.BLOG/2020/11/15/NGHI-THUC-BO-TAT-TAI-GIA-BO-TAT-GIOI/

THESE ARE THE VERY IMPORTANT HELPFULLY NOTES GUIDE LINES:
THE HUMAN AND BEINGS SHOULD BE:
+ GENTLE, POLITELY, NICELY, RESPECTIVELY, RESPECTIVELY, RESPONSIBILITY, FRIENDLY,… AND SO ON…
+ FORGIVENESS, ABANDONED, TENDERLY SOFTENED-HEARTED, CONGENIALLY,… AND SO ON …
+ GENEROUSLY, BENEFICENTLY, HUMANE, BENEVOLENTLY, THANKFULLY, HELPFULLY, GRACEFULLY, GRATITUDE,… AND SO ON …
+ SAFELY, CLEVERLY, SMARTLY, WISELY, WISDOM, INTELLIGENTLY, UNDERSTANDING COGNITION AND HEEDS AND KNOWLEDGE CLEVERLY,… AND SO ON..
+ SOFT-TENDER-TOUCH-HEARTED, KINDNESS, COMPASSIONATELY ELEGY NICE KIND HEARTED, MOURNFULLY, SYMPATHETICALLY HEARTED, GENEROUSLY ABIDE LAMENTABLE,… AND SO ON…
+ SALVATION, SAVIORS, SAVING, TRAINING, AMENDING,… SO ON….
+ NOT GREEDY, UNDESIRED, UNAMBITIOUS, UNBIASED, COMPLETELY FAIR RELATIONSHIPS, UNDIFFERENTIATED, FAIRLY, KINDNESS, UNBIASED, IMPARTIALLY ATTITUDE IN MIND AND /OR BEHAVIOR AND /OR WAYS, AND SO ON….
+++ THE LEGAL AND LAWS AND RULES SHOULD BE FLEXIBLE OR APPLICABLY, AND PURELY, AND FRESHLY AND VIRTUE AND MORAL AND VIRGINAL INNOCENTLY AND CALMLY AND GENEROUSLY AND COMMONLY AND PUBLICITY, AND COMPASSIONATELY ELEGY, AND FORGIVENESS, AND CONGENIALLY, AND ABANDON, AND ENCOURAGE, AND TRAINING, AND REMEDIATE, AND AMENDING, AND EDIFICATION, AND SUITABLE, AND MORALITY, AND SALVATIONS, AND WIDELY SPREADING EDIFICATION, AND SAVING, AND SAFETY, AND COMFORTABLY, AND REASONABLY, AND HELPFULLY, AND PUBLICITY, AND EDIFICATEDLY, NOT GREEDY, UNDESIRED, UNAMBITIOUS, UNBIASED, AND FAIRLY, AND UNBIAS, AND COMPLETELY FAIR RELATIONSHIPS, UNDIFFERENTIATED, KINDNESS, UNBIASED, IMPARTIALLY ATTITUDE IN MIND AND /OR BEHAVIOR AND /OR WAYS, AND SO ON…., AND THIS IS THE MOST IMPORTANT ONE IS THAT THEY ARE ALWAYS DEPEND ON THE ABSOLUTELY HEAVENLY NATURAL CREATOR GOD MIND VALUE….

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Design a site like this with WordPress.com
Get started